Cập nhật mới

Khác Hồi ký chiến tranh - Một thời máu và hoa (Phần 2)

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
122996773-256-k610766.jpg

Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Tác giả: kanda_yuu
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Hồi ký của các bác các chú cựu chiến binh của một thời máu và hoa đã bỏ một thời tuổi trẻ, những phần máu thịt, cả những ký ức đau thương về những người bạn đã ngã xuống.

Để cho thế hệ trẻ hôm nay có được một cuộc sống hòa bình.

Nếu muốn tìm hiểu kỹ hơn các bài hồi ký, cũng như các thảo luận chi tiết, bạn có thể truy cập vào :http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?board=53.0 để hiểu và trân trọng hơn giá trị của hòa bình.

Có những hồi ký phải dừng ở một lưng chừng nào đó khi câu chuyện về một thời hoa lửa vẫn còn dang dở bởi có lẽ người chiến sỹ đã trở về với những đồng đội mãi mãi tuổi hai mươi.

Hãy trân trọng quá khứ.

Bởi không có máu thịt cha ông đổ xuống thì không có ngày hôm nay chúng ta ngồi đây viết và đọc những dòng này.

Sống vững chải bốn nghìn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Huy Cận)



tranh​
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Kỳ 8 - Hồi ký bác Trongc6


...

Ngày này nhiều năm trước...

Cả Trung đoàn hành quân bằng xe ô tô suốt từ Đức lập, qua Sông Bé vào Bình Dương.

Khí thế hừng hực.

Chỉ có quân vào mà không có quân ra.

Xe GMC lấy được của địch tại Cheo-reo ê chề.

Ban hậu cần Trung đoàn hỏi xuống các đại đội bộ binh: có đồng chí nào biết lái xe?

Tất nhiên là biết lái chứ không phải là lái xe, vì lái xe đâu có ở bộ binh.

Tất cả những thằng biết lái xe đều được điều lên trung đoàn.

Thằng Nhàn (Nam Hà) ở C tôi cũng lên.

Không biết nó tập tọng học ở đâu mà cũng biết các động tác nổ máy, cài số, đạp ga, vặn Vo-lăng.

Có lẽ nó chưa được lái xe tới nghìn mét.

Không hề gì.

Lên Trung đoàn tập huấn cấp tốc 1 ngày, nó cũng được giao 1 cái xe tải GMC để chở quân.

Mỗi B bộ binh lên một xe.

Mấy năm hành quân bộ rạc cẳng, nay được leo lên xe hành quân cơ giới sướng quá còn gì.

Trung đoàn sắp xếp xen kẽ các tay lái, chạy trong đội hình, tốc độ chậm, lại chạy thẳng ban ngày, trong chúng tôi chỉ thấy sướng chứ không thấy sợ.

Thế mà suốt mấy chặng đường dài, cả mấy chục xe chở cả Trung đoàn chẳng gặp sự cố gì.

Qua nhiều vùng thấy bạt ngàn đồn điền caosu.

Nhìn những hàng cây thẳng tắp rất sướng mắt.

Các trạm nghỉ cũng trong rừng caosu.

Nhưng thú thật là mắc võng trong rừng caosu không khoái bằng ở rừng.

Cây mọc cách nhau xa quá, lại thấy cứ thông thống thế nào ấy.

Nhìn phía nào cũng thấy lính, chỉ sợ mỗi chuyện địch nó phát hiện dội bom cho một trận thì khiêng nhau mệt.

Nhưng có vẻ tình hình chiến trường bây giờ đang đổi khác.

Suốt mấy ngày hành quân truy kích địch trên đường 7b từ Cheo-reo về đồng bằng Phú yên non tháng trước có thấy cái máy bay nào của địch đâu.

Ngày 18/4 đã vào đến Bình Dương.

Rừng lưa thưa.

Chỗ này chắc cách xa địch.

Đơn vị được bổ xung thêm tân binh.

Lính mới nghe chuyện lính cũ vừa qua vài trận trong chiến dịch Tây Nguyên, thấy háo hức lắm, hăm hở chờ ra trận.

Nhưng còn phải học chiến thuật đã.

Lính cũ cũng phải học, vì chúng tôi đánh trong thành phố còn lớ ngớ lắm.

Trận đánh Thị xã Tuy Hòa là trận đầu tiên trung đoàn đánh trong thành phố.

Xung lực AK và M79 bắn không có vấn đề gì.

Chúng tôi cứ nép dọc tường, hoặc tụt vào cửa nhà dân rồi lại thò ra bắn.

Chỉ có B40 và B41 là có vấn đề.

Lúc Đại đội vượt qua Nhạn Tháp đánh vòng sang đường Trần Hưng Đạo hướng ra biển thì vấp phải địch trụ lại chống cự.

Đánh nhau trên mặt phố thì địch bị đẩy lùi dần.

Khi vào đến gần bệnh viện (Tôi không nhớ Bệnh viện gì, nhưng chắc bệnh viện quân đội của VNCH, vì lúc làm chủ vào trong chỉ thấy toàn thương binh địch).

Bọn địch trụ cả trên những căn nhà tầng 2, thò cả Rocket66 ra bắn vào đội hình đơn vị.

Lính ta cũng điên tiết chổng B40, B41 lên bắn trả.

Mấy thằng đứng xa chỉ bị tạt lửa nhẹ.

Thằng Dung B tôi đứng gần quá, góc bắn cao nên khi quả B40 của nó nổ trúng một cửa sổ thì cu cậu cũng ngã lăn ra vì hơi lửa tạt làm xém cả quần và bắp chận.

Nó nằm lăn ra giãy giụa.

Thế là nó trở thành thương binh và đây cũng là trận đánh cuối cùng trong cuộc chiến tranh của nó.

Chính vì thế, lính cũ và mới đều phải tập hết.

Ai cũng phải tập bắn B40 để lúc chiến đấu còn có thể thay thế.

Chúng tôi làm những cái chòi cao giả làm nhà gác hai tầng, rồi tập ngắm bắn.

Quan sát góc nâng của súng khi bắn để tập thói quen nhìn khoảng cách.

Có nghĩa là chỉ được bắn xa ở cự ly nào đó thôi, tập nhìn cho quen.

Được cái ăn uống lúc này quá no đủ.

Tụi lính mới bổ xung được ăn sướng vậy nên không tin rằng các anh lính cũ ngày trước nhiều tháng đói vàng mắt, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến ăn (Cái đói nó làm suy nghĩ con người nhiều lúc thấp kém thế đấy.

Hạnh phúc mong ước nhiều khi chỉ là cả tiểu đội được một khúc dồi voi và nồi cơm đầy).

Khoái cái nữa là ngay cạnh thao trường tạm ấy có một con suối nhỏ, rộng chỉ hơn 2 mét nhưng nước trong veo, mát vô cùng.

Đêm 25/4,cả Tiểu đoàn chuyển quân.

Du kích Củ chi dẫn chúng tôi về địa bàn của họ...

...

Cái địa đạo Củ Chi chủ yếu dùng trong thời còn Mỹ.

Tụi Mỹ càn phá ghê quá, muốn bám trụ nên phải đào địa đạo.

Rồi cũng lại phải sống luôn trong địa đạo vì tụi Mỹ thường càn bất thình lình.

Sau 1973 thì không còn phải sống trong địa đạo nữa.

Tụi lính VNCH cũng kiềng mặt khu vùng ven này.

Cả Tiểu đoàn chúng tôi được vào thẳng một thôn.

Bây giờ cũng chẳng còn nhớ cụ thể là thôn gì, chỉ biết nơi đó thuộc Củ Chi.

Mỗi C về một xóm.

Một B trú tại hai nhà dân liền nhau.

Chỉ có BCH đại đội được vào nhà, còn lính tráng ở tất ngoài sân vườn.

Trải nilon mà nằm chứ không mắc được võng.

Vùng này an toàn nên du kích đi lại trên đường thôn đàng hoàng.

Chúng tôi nghỉ là chính chứ không phải tập tành gì.

Tất cả các cơ số đạn được bổ sung tại chỗ.

Các B tổ chức lau súng đạn, gói thủ pháo và bộc phá, chủ yếu là bộc phá ống để phá hàng rào.

Lúc này chúng tôi cũng chỉ đoán là sẽ đánh cứ điểm chứ cũng chưa biết sẽ đánh nơi nào.

Ngày hôm sau, chúng tôi được phép đi lại trong xóm, thuộc phạm vi của đại đội.

Cuối xóm có một cái quán bán dưa hấu.

Tôi dẫn cả B hơn chục người đến đó.

Lần đầu tiên sau mấy năm, chúng tôi tiếp xúc và giao dịch với dân bằng tiền.

Chả là tôi có tờ 1000 đồng miền Nam.

Nguyên do là ngay chiều 1/4 hôm đánh Tuy Hòa, lúc một tổ 3 người chúng tôi đang làm nhiệm vụ tảo thanh thì có 2 ông nhóc địa phương xán đến.

Chúng chỉ độ 13,14 tuổi, Chúng nó líu ríu kéo chúng tôi đi theo.

Một lúc sau mới biết không phải chúng nó chỉ chỗ nấp của tàn quân, mà là chúng dẫn chúng tôi đến một nơi gần như một chi nhánh ngân hàng gì đó.

Đã có nhiều người dân tụ tập ở đó.

Chả hiểu mô tê gì, một thằng bọn tôi cũng chiều ý họ, ra oai và nổ mấy phát AK phá tung cửa.

Đám dân ùa vào.

Rồi họ lại ùa ra cho một thằng nhóc tiến vào trong.

Nó nhanh nhẹn lôi ở đâu đó một quả US cài vào cái tủ và rút chốt rồi lăn ra nấp. chúng tôi cũng chúi vào một góc khuất.

Lựu đạn nổ xong mới thấy bay tung tóe ra cơ man nào là tiền.

Đám dân xô vào cướp.

Chúng tôi cũng ngẩn người ra như bò đội nón.

Mãi đến lúc dân chạy hết, rồi một thằng bé dúi vào tay tôi một tờ tiền trước khi lủi mất, thì ba chúng tôi mới chợt nhận ra là mình vừa tham gia thụ động vào một vụ cướp nhà băng.

Lại giật mình nhớ lại động tác cài lựu đạn của thằng bé lúc nãy.

Sao nó thành thạo thế và không hiểu nó lấy đâu ra quả lựu đạn.

Mất cảnh giác quá, may mà không ai bị sao.

Tôi đã cất cái tờ tiền mệnh giá 1000 đồng có in hình ông Trần Hưng Đạo ấy vào túi định giữ làm kỷ niệm.

Bây giờ lính tráng muốn ăn dưa hấu, dân lại không cho như trên vùng đồng bào dân tộc thì mới chợt nhớ đến cái tờ 1000 đ ấy.

Tôi đưa tờ tiền ra, mới biết là giá trị nó quá to vì cô bán hàng nói là cả bọn chúng tôi cũng không thể ăn hết được dưa ứng với tờ tiền ấy.

Đúng thế thật.

Chúng tôi ăn chán chê, cuối cùng chỉ hết có 300đ, còn được trả lại 700đ.

Suốt cả ngày hôm 27/4 tôi đã quan sát ngôi nhà nhỏ nằm kế bên nhà B tôi trú nhờ.

Nhà có 4 mẹ con.

Đứa con gái lớn 14 tuổi, còn hai đứa em còn bé, một trai một gái.

Đôi lần trong ngày, đứa con gái đi qua sân của ngôi nhà tôi trú.

Tôi chú ý đến khuôn mặt trái xoan với vẻ đẹp buồn của nó.

Phải thú thật rằng tôi đã hành quân qua nhiều làng quê đất Bắc, nhiều đợt phải đi tiền trạm liên hệ nơi nghỉ đêm cho đơn vị.

Chúng tôi xin nhờ dân từ nếp nhà trú đêm, nước tắm giặt, thậm chí cả củi rạ nấu cơm.

Đa phần các làng không còn thanh niên.

Họ cũng ra chiến trường như chúng tôi.

Trong làng chỉ có phụ nữ, người già và trẻ em.

Giúp đỡ bộ đội lúc đầu chủ yếu là dân quân nữ.

Nhưng tôi đặc biệt thích các em gái 14 tuổi.

Các bạn CCB hãy nhớ lại xem, thuở ấy của các bạn ra sao.

Ngẫm một chút đi sẽ hiểu tại sao lại thế.

Nhờ quen các cô bé 14 tuổi, tôi luôn nắm nhanh được tình hình trong thôn và hỏi được các nhà đồng ý cho bộ đội nghỉ nhờ chỉ trong một vòng lượn.

Bây giờ tôi không còn nhớ tên cô bé 14 tuổi đất Củ chi ấy, nhưng tôi vẫn nhớ đôi mắt to, đẹp và đượm buồn của em.

Một chút gì xao xuyến.

Nhưng tình cảm đó là trong sáng, đừng ai hiểu lầm gì.

Rồi tôi biết tại sao mắt cô bé đượm buồn.

Ba cô là một người lính cộng hòa chết trận.

Mẹ cô đang ốm.

Thật lạ lùng là giữa cái mảnh đất "Củ Chi đất thép" ấy tưởng chỉ toàn có quân ta, thế mà vẫn có người đi lính cộng hòa.

Có thể đó là lý do khiến du kích địa phương không cho chúng tôi vào ở nhờ nhà đó.

Rồi tôi biết nhà cô bé đang hết gạo ăn, chỉ toàn ăn cháo.

Tôi là người đa cảm, hay chạnh lòng trước cảnh khó của người khác, nên cứ thấy day dứt.

9 giờ tối 27/4, đơn vị báo động hành quân ra trận.

Tranh thủ lúc í ới tập hợp, tôi kéo nhanh thằng Sai (dân Hà Bắc) cùng B chạy sang nhà cô bé 14 tuổi.

Mấy đứa trẻ vẫn thức bên ngọn đèn dầu cạnh người mẹ ốm.

Tôi dúi vào tay cô bé 700đ tiền ăn dưa còn hôm trước và bảo thằng Sai cùng tụt nhanh hai ruột tượng gạo (mỗi cái 7 ký) của 2 đứa xuống.

Tôi nói nhanh: "Các chú cho gia đình cháu, thôi đừng nói gì cả", rồi hai thằng tôi chạy nhanh ra chỗ tập hợp.

Thấy thằng Sai hơi thắc mắc, tôi bảo: "Nhà đó toàn con nít, má nó ốm.

Đừng lo chuyện gạo.

Nếu thành tử sĩ thì tao với mày có còn ăn được đâu.

Còn nếu thắng, lấy gạo của địch, lo gì".

Tôi thường hay có quyết định đột xuất, quyết đoán và liều lĩnh như thế đấy.

Chuyện được giấu kín.

Sau trận đánh mấy hôm sau, đồ lấy của địch thừa mứa, còn ai hơi đâu lo chuyện gạo ta hay gạo địch.

Nhưng đêm đóvẫn chỉ là báo động giả.

Hành quân đi ra ngoài thôn độ ngàn mét, dừng lại nghỉmột tiếng cho nó có khí thế rồi lại quay về.

Hôm sau (28/4) mới là một ngày bậnrộn thật sự chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng của Trung đoàn...

...

Suốt ngày 28/4, chúng tôi tập trung chuẩn bị lần cuối cùng.

Mỗi người lính viết tên, đơn vị và quê quán của mình vào một tờ giấy rồi cho vào túi nilon cất nơi túi áo ngực.

Ai hy sinh hay bị thương cứ nằm lại, sẽ có du kích địa phương giải quyết, còn đơn vị cứ tiến.

Chúng tôi được phổ biến là toàn sư sẽ đánh căn cứ Đồng Dù của sư 5 VNVH.

Đây là trận đánh quan trọng cho một hướng tấn công vào Sài Gòn của chiến dịch HCM.

Cán bộ từ Trung đội trở lên được tập trung để nghe Tiểu đoàn phổ biến nhiệm vụ.

Toàn Trung đoàn sẽ tập trung một mũi cửa mở, nhưng thực chất chỉ có một D chúng tôi với sự chi viện tối đa hỏa lực của E sẽ mở cửa đột phá.

Một D khác nằm phía sau dự bị và đánh chặn viện binh.

Một D làm công tác đảm bảo.

Sẽ có 4 xe tăng T54 phối thuộc cho cửa mở của D tôi.

Trong đội hình tiểu đoàn, C5 đi đầu làm nhiệm vụ chính là phá các lớp rào để mở cửa, C tôi sẽ phụ đánh cửa mở và chiếm lô-cốt đầu cầu.

Vì thế ở C tôi, mỗi A chỉ mang theo 1 bộc phá ống.

Tiểu đoàn trưởng phổ biến nhiệm vụ thông qua cái sơ đồ căn cứ vạch nguệch ngoạc trên nền bãi đất đầu thôn.

Thú thực chúng tôi cũng chưa hình dung ra nổi cái căn cứ địch lớn thế nào.

Ngay cả chuyện chúng có bao nhiêu quân trong đó, vũ khí ra sao cũng không được phổ biến rõ.

Chỉ biết rằng cả sư cùng đánh căn cứ này trong cái thế của ta đang đà chiến thắng như chuyện đánh dọc miền Trung vừa qua, mỗi ngày ta giải phóng một tỉnh.

Đánh trong cái khí thế ấy thì không phải lo lắng bàn cãi gì cả.

Sống chết đã có số.

Nhưng cái thông tin căn cứ địch có tới 8 lớp hàng rào với chiều sâu hơn 200 mét, có cả hàng rào cũi lợn thì chúng tôi cũng đã hình dung ra mở cửa sẽ vất vả thế nào.

Đơn vị chúng tôi đã nhiều lần đánh cứ điểm kiên cố, nhiều trận đánh cùng xe tăng, nhưng chưa khi nào gặp hàng rào cũi lợn, kinh nghiệm phá loại rào này chưa có.

Chúng tôi ngầm hiểu và lường trước đánh căn cứ này sẽ khó thế nào.

Thực tế xảy ra còn hơn sức chúng tôi tưởng tượng nữa cơ.

Còn sống sót sau trận đánh thật quả là "may hơn khôn".

Cơm chiều xong, mỗi chúng tôi nhận một túi cơm kèm một ít thịt rang và chuẩn bị tiềm nhập.

Trận này chúng tôi không có cả bao cát lẫn tre gỗ để vào trận làm công sự có nắp như hồi đánh địch trên Tây Nguyên.

Ba-lô, súng đạn cá nhân mang theo hết.

Có phải là điềm gở không, khi chỉ huy đơn vị yêu cầu tất cả chúng tôi đều phải mặc bộ quân phục mới vừa được phát bổ xung trước đó có mươi ngày?

Tầm chín giờ tối thì đơn vị xuất phát.

Du kích Củ Chi và trinh sát dẫn đường.

Ra khỏi thôn một đoạn thì bắt đầu toàn là trảng trống.

Đêm không trăng nhưng không gian như sáng ửng lên nhờ những vùng sáng đô thị và khu cư dân phía xa.

Đường bằng, người sau bám người trước đi rất dễ.

Cuối cùng chúng tôi cũng đến một cánh rừng cao su.

Lại rồng rắn đi qua rừng.

Chợt bừng lên một vùng không gian rộng mênh mông khi vừa qua rừng cao su.

Căn cứ Đồng Dù hiện ra choáng ngợp ngay trước mắt cách chúng tôi chỉ chừng bảy tám trăm mét.

Nhìn rõ ánh điện sáng dọc rào căn cứ như những cột đèn đường trong cái sân bay Bạch Mai ở Hà Nội ngày tôi còn ở nhà.

Ngay thẳng hướng chúng tôi có một cái chòi gác cao đến 15 mét có mắc đèn pha rọi sáng cả một vùng không gian trước căn cứ.

Nhìn rõ cả những lớp hàng rào bao quanh căn cứ.

Cảm giác rất lạ trào dâng.

Cứ như đi đánh trận giả ấy.

Tưởng thằng địch ngồi trên chòi gác cũng thấy rõ chúng tôi, hóa ra không phải.

Từ vùng sáng nhìn ra rừng cao su chắc cũng chỉ thấy lờ mờ.

Chính vì thế toàn bộ C5 và các đơn vị hỏa lực của D, của E lọt vào sát trong cả hai lớp hàng rào để đào công sự mà địch vẫn không biết.

Đại đội tôitriển khai phía sau ngoài hàng rào, cách các lô-cốt địch cũng phải gần 300 mét.Đất thịt pha cát, đã qua vài cơn mưa đầu mùa nên rất mềm.

Chỉ chừng nửa tiếng,mỗi chúng tôi đã đào xong công sự cho mình.

Thực chất chỉ là những cái hố cánhân.

Vì là bãi đất trống nên phía trước không được vun cao đất, chỉ đắp mộtquầng đất lùm lùm lên một chút làm vật che đỡ.

Lạ cái là cả mấy trăm con ngườiđào công sự rào rào như vậy mà địch vẫn không hay biết gì.

Đào xong hầm vẫn cònrất sớm.

Không thể ngủ, nhưng cái cảm giác bình yên lớn đến nỗi chúng tôi thoảimái nằm dài ra trên đất ngửa mặt nhìn trời đêm.

Không gian mát mẻ, cảm giác nhưđêm hè nghịch ngợm kéo nhau ra bãi tha ma dọa nhau chán rồi ngủ quên ngoài đó

...

Trời sáng dần.

Cái ánh sáng của ngọn đèn pha trở nên vàng nhạt yếu ớt, nhòa dần trong không gian.

Chúng tôi đã nhìn rõ bóng một tên lính đứng trong cái chòi trên cao, nhưng chắc nó cũng chưa phát hiện ra cái gì ở bãi đất trước mặt trong cảnh còn tranh tối tranh sáng thế này.

Trời sáng hơn chút nữa thì có một tên lính khác lên thay gác.

Thằng kia đã tụt xuống quá nửa chòi.

5 giờ sáng.

Đúng cái giờ nổ súng truyền thống quen thuộc của đơn vị rồi.

Một vài tiếng đề-pa phía xa rồi nghe tiếng gió vút xoẹt qua đầu và tiếng pháo nổ sập vào trong căn cứ.

Phía trong khu hàng rào trước mặt bừng lên chớp sáng nhòa mắt, cùng tiếng nổ rầm trời của loạt mìn định hướng C5 đánh hàng rào.

Rồi chớp lửa liên tiếp và tiếng nổ rộ lên cả vùng không gian trong khu hàng rào.

Hỏa lực các loại tại chỗ của E đã khai hỏa.

Tôi nhìn rõ một trái đạn DK nổ trúng cái ống đèn pha khiến nó tắt ngóm.

Phát DK thứ hai nện đúng cái chòi cao có tên lính gác, cả cái chòi vỡ tung ra.

Lại nhìn rõ tên lính đổi gác đang tụt phía dưới buông tay nhào luôn xuống đất.

Rồi cối pháo mù trời, cả pháo to và H12 của Sư đoàn và mặt trận xoèn xoẹt bay vào nổ tung trong căn cứ, lẫn các loại cối pháo của E cấp tập nện vào khu đầu cầu.

Từ phía sau nghe tiếng nổ nhằng vào nhau nhưng rất rành mạch, phân biệt rõ từng loại đạn.

Tôi nhoài người nhô cao hẳn khỏi mặt đất quan sát, lúc ấy thật hệt như xem phim vậy.

Đây là lần thứ hai tôi thấy tiếc là bên cạnh mình không có tay phóng viên hay quay phim quân đội nào để ghi hình lại.

Sẽ là những thước phim thật và vô giá.

Các hỏa lực cá nhân như B40, B41 hay cối M79 của C5 chưa thể bắn được vì tầm còn quá xa, và còn để dùng lúc xung phong.

C chúng tôi cũng chỉ quan sát và chờ đợi.

Sau chừng vài phút thì tiếng 12ly7 phía trước bắt đầu "pành pành" rộ lên.

Trời chưa sáng hẳn nên còn nhìn rõ các đường đạn vạch lên nhằng nhịt trong không gian.

Tôi biết là các khẩu đội này bắt đầu bắn chế áp yểm hộ cho bộ binh đem bộc phá lên phá nốt hàng rào.

Theo kế hoạch, hai lớp rào ngoài cùng sẽ do công binh E cắt phá trong đêm.

Sau đó họ đặt mìn định hướng trong 4 lớp rào tiếp theo, có liên kết bằng dây nổ để nổ đồng thời khi có lệnh điểm hỏa.

Hai lớp rào trong cùng sẽ do C5 đem bộc phá lên đánh.

Bây giờ chính là lúc anh em C5 đang lên đánh nốt hai lớp hàng rào.

Lúc này súng địch đủ các loại cũng bắt đầu bắn mạnh ra.

Tôi vẫn nhô cao được đầu quan sát, vì các loại hỏa lực của địch đang còn tập trung bắn vào khu vực cửa mở.

Vài chục phút trôi qua.

Như các trận đánh cứ điểm thông thường thì bây giờ cửa mở đã mở thông, pháo cấp trên bắt đầu bắn chuyển làn vào trong, còn hỏa lực bộ binh tại chỗ thì cấp tập đợt hai để bộ đội xung phong.

Thê đội hai cũng nhổm đít là vừa để bám theo vượt qua đầu cầu đánh thọc vào tung thâm.

Vậy mà vẫn chưa thấy gì.

Pháo cấp trên bắn vào sâu bên trong đã thấy thưa dần.

Cái cứ điểm này quá lớn khiến mấy chục phút bắn pháo không đủ sức áp đảo.

Ngay cả tiếng súng trên hướng cửa mở phía Đông của E48, chúng tôi cũng chẳng nghe thấy gì, chắc xa quá.

Hỏa lực tại chỗ của E cũng đã nhạt dần.

Chỉ còn tiếng 12ly7 thỉnh thoảng mới rộ lên một hồi, thưa thớt kèm theo tiếng bộc phá nổ loãng toẹt trong không gian mênh mông.

Âm thanh thống soái bây giờ chủ yếu là tiếng cối và M72 của địch đều đặn nã ra khu cửa mở, thi thoảng xen một tràng đại liên nhưng cũng chẳng có gì là cuống quít.

Chúng đang rất bình tĩnh và chắc đã từng gặp cảnh này.

Thời gian cứ trôi.

Cả C tôi (C6) đều hiểu rằng C5 chưa mở xong hàng rào và chỗ tắc nhất định là tại hàng rào cũi lợn.

Nơi đó trống trải, gần địch hơn ta nên khó khăn tất không tránh khỏi.

Nếu C5 không mở thông rào thì sẽ tới lượt C tôi.

Điều đó cũng có nghĩa C5 đã tổn thất nặng, hết bộc phá.

Hỏa lực chi viện cạn, không đủ sức áo đảo thì với hơn chục ống bộc phá trong tay, chắc chúng tôi cũng sẽ lâm cảnh như C bạn.

Bộ binh đem bộc phá ống lên đánh hàng rào mà không có chi viện hỏa lực thật mạnh thì không khác gì những bia di động chậm.

Mà lúc này sao vẫn chưa thấy xe tăng của ta đâu.

Vẫn biết xe tăng không thể vượt qua hàng rào cũi lợn, không thể tấn công vào khi cửa mở chưa thông, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng mơ hồ vào điều gì đó ở những chiếc lô cốt di động lúc này.

Chừng 8 giờ sáng thì cũng có tiếng xe tăng nổ phành phạch ở hướng khu rừng cao su sau lưng chúng tôi.

Một chiếc, hai chiếc... rồi bốn chiếc xuất hiện.

Vượt qua phía trước mặt chúng tôi, cả 4 chiếc tăng T54 đã sắp hàng dọc thẳng hướng của mở.

Nếu mọi sự tốt đẹp thì đúng như hiệp đồng, những chiếc tăng sẽ rồ máy, tăng tốc, vừa chạy vừa nã pháo và 12ly7 vào cửa mở, còn chúng tôi cũng bật dậy bám sát, vượt qua mấy trăm mét cửa mở rồi bung ra đánh cận chiến với bộ binh địch.

Thế mà chúng tôi vẫn không thấy có lệnh gì.

Tiến được thêm vài chục mét, nã được vài phát pháo thì cả 4 chiếc tăng bỗng lùi lại rồi xoay ngang chắn ngay trước mặt chúng tôi.

Đang khi lúng túng ấy, chiếc tăng đi đầu bị pháo địch bắn cháy.

Một chiếc tăng khác vừa xoay ngang chếch trước hầm tôi vài chục mét cũng ăn trọn một phát pháo địch, đứt xích.

Từ một chỗ nào đó dưới gầm xe tăng, 4 người lính tăng lóp ngóp chui ra rồi lom khom chạy thẳng về hầm chúng tôi.

Họ chia nhau rúc chung vào mấy cái hầm của lính B tôi, không quản chật chội.

Tôi hỏi một người lính tăng: "Sao chưa vào mà các ông đã quay lui".

Anh ta bảo: "Tử sĩ các ông nằm ngổn ngang chật cửa mở thì vào sao được?

Chẹt nát các ông à?".

Rồi mấyngười lính tăng vừa khom người vừa chạy trở lại rừng cao su.

Hai chiếc tăng kiacũng đã lùi chạy sâu vào khuất trong rừng cao su.

Từ đó trở đi không còn thấybóng dáng xe tăng phối thuộc nữa.

...

Thời gian lại trôi.

Chẳng ai phổ biến tình hình, chẳng ai ra lệnh gì và chúng tôi vẫn ngồi trong hầm chờ đợi.

Chợt thấy súng nổ rộ lên phía bên kia rừng cao su sau lưng.

Toàn tiếng súng bộ binh.

Nghe rõ tiếng B40, B41, M79 và xung lực AK.

Uỳnh oàng chực hai chục phút thì thấy lính ta ào ào xông ra từ rừng cao su, tiến về phía chúng tôi.

Viện binh kiểu gì thế này.

Bọn mới tới té ra là lính K15 cùng E.

Chúng nó là D dự bị cho D tôi (K18).

Đang dự bị phía trước thì ở phía sau, chúng nó phát hiện thấy xe địch chạy rầm rầm.

Hóa ra có một đơn vị địch bị ta đánh mạnh phải rút chạy từ Trảng Bàng về, định hội quân với bọn trong căn cứ Đồng dù.

Bất ngờ gặp địch, K15 quay ngược lại thành đội hình phục kích, đánh luôn.

Đang hoảng loạn tháo chạy, bị đánh vỗ mặt bất ngờ, cả đám quân địch tan ngay.

Đánh xong, lính K15 thừa khí thế chủ động vượt luôn qua rừng cao su chi viện cho chúng tôi.

Chúng nó tưởng Đồng Dù sắp giải quyết xong rồi.

Lính K15 nằm rạp ngay trên mặt đất xen kẽ với C tôi rồi đì đùng nã súng vào căn cứ.

Đúng là vô duyên.

Từ đây vào đến lô-cốt (đất) của địch cũng gần ba trăm mét.

Hỏa lực bộ binh thì hết tầm không tới, còn AK thì bắn chim à.

Phí cả đạn.

Tình hình trở nên bất lợi cho ta.

Địch điều được cả một chiếc tăng M48 ra bít hướng cửa mở.

Quan sát mãi chúng tôi cũng đã hiểu ra rằng cái căn cứ này xây dựng ác chiến thật.

Bao quanh toàn bộ căn cứ (phía trong hàng rào) là một con đê đất cao chừng mét rưỡi.

Trong con đê đó đó chúng mới xây lô-cốt và các công sự.

Bên trong bờ đất có một con đường quai chạy sát cạnh.

Ngoài các loại DK và cối từ công sự bắn ra, cái xe tăng M48 cũng như một lô-cốt di động với hỏa lực pháo bắn thẳng rất mạnh.

Tất cả các cụm hỏa lực chi viện tại chỗ của E chúng tôi trên cửa mở phải thu súng tụt xuống hầm.

Chỗ nào còn nhô lên hoặc lộ ra là bị pháo địch dầm nát.

Lính hỏa lực E cũng hy sinh nhiều.

Lúc này phía giữa cửa mở đã yên ắng.

Địch bắt đầu rảnh tay quay sang xử lý bọn lính K15 lúc này đã lộ trơ trên mặt đất.

Ngoài đạn cối (cái món này nguy hiểm vô cùng cho hầm không có nắp), chúng còn bắn quét đại liên.

Chỉ một chặp sau, lính K15 phải rút vào rừng caosu, lại hy sinh và bị thương một số.

Lúc này khu vực C tôi cũng nằm trong tầm đạn của địch.

B tôi đã có 2 chiến sĩ bị đạn trúng đầu khi nhô lên hơi cao.

Tôi lấy cái thông nòng chọc vào cái mũ tai bèo dâng cao lên một chút để thử, cũng bị ăn luôn phát đạn.

Bực cả mình.

Chưa có trận đánh nào chúng tôi lâm vào cảnh bí rì như bây giờ.

Đánh trên Cao nguyên, tầm quan sát hẹp, nhiều vật che khuất che đỡ nên rất yên tâm, không có cái kiểu bị địch không chế thế này.

Gần trưa, trời bỗng đổ mưa.

Mưa rất to, nước tràn vào hầm rất nhanh, người ướt lẹp nhẹp.

Rồi mưa lại đột ngột dừng, trời quang trong veo.

Đất thịt pha cát nên thấm rất nhanh.

Lại phải sửa lại hầm vì mưa đã làm đất cát trôi vào hầm rất nhiều.

Thế là đã qua nửa ngày trời chúng tôi bị giam chân chết dí.

Đánh đấm kiểu này chán thật.

Rồi Tiểu đoàn lệnh cho C tôi cử người bò lên cửa mở giúp cho thương binh C5.

Tử sĩ đã đành, nhưng thương binh cũng phải nằm bẹp từ sáng, có đưa được về phía sau đâu.

Một B được cử lên.

Chỉ có bò thoài loài trên mặt đất như những con thạch sùng.

Địch vẫn quan sát và chúng lại nổ súng mãnh liệt.

Chưa lên tới chỗ C5 mà trung đội đã bị hy sinh quá nửa.

Một bên lộ diện không nổ được súng, còn một bên cứ bình tĩnh từ trong công sự ngắm bắn thì làm gì mà quân ta chả tổn thất.

Tiểu đoàn đành chấp nhận thu lệnh, để bộ đội nằm tại chỗ, chờ thời cơ.

Lúc này chỉ trừ C tôi còn chút hỏa lực cá nhân, còn các đơn vị khác trên cửa mở cũng hết cả đạn rồi mà không thể nào tiếp tế.

C7 thì nằm tít sau chúng tôi, nhưng chúng tôi còn nằm đây thì chúng nó cũng chưa thể lên được.

Mệt mỏi, về tinh thần là chính.

Chưa lần nào chúng tôi đánh trận bị dai dẳng thế này.

Trừ các trận vây ép đã xác định là dài ngày, còn các trận công phá cứ điểm khác thường chỉ gọn trong buổi sáng.

Cũng có trận đánh không nổi, bị thương vong nhiều thì rút lui.

Lúc này người cứ nôn nao, bồn chồn.

Không thấy no, cũng không thấy đói.

Nhưng vẫn phải lấy cơm ra ăn cho nó qua bữa.

Trệu trạo nhai, cố nuốt.

Chưa chính thức nổ súng mà tinh thần anh em trong B đã có phần giảm rồi.

Chỉ huy đại đội cũng lo.

Chính trị viên cũng nằm dí một chỗ, chẳng thể bò qua lại mà động viên chiến sĩ.

Đầu giờchiều, ta tiêu diệt được chiếc xe tăng M48 của địch.

Một khấu đội DK còn sótlại trên cửa mở của Trung đoàn đã dũng cảm bất ngờ dùng DK82 bắn cháy chiếc xetăng đó.�

Khoảng 2 giờ rưỡi chiều, phía con đường (từ Trảng bàng kéo về đi ngang qua cổng chính căn cứ Đồng Dù) bỗng rộ lên tiếng xe tăng ầm ầm.

Hóa ra theo kế hoạch của trên, trong lúc Sư tôi đánh Đồng Dù chưa dứt điểm, Sư 10 đã được lệnh cùng xe tăng thẳng đường cái tiến vào Sài gòn, bỏ qua các vị trí của địch bên đường.

Tất nhiên gặp chốt chặn của lính VNCH thì đánh mà tiến.

Cả đoàn xe pháo của ta ầm ầm kéo qua ngay trước cổng căn cứ Đồng Dù đã đánh đòn tâm lý mạnh vào tụi lính trong căn cứ, khiến chúng hoang mang, hoảng loạn.

Thấy có dấu hiệu địch trong căn cứ nhốn nháo, Tiểu đoàn chớp thời cơ lệnh cho bộ đội xung phong.

Tôi lập tức dẫn trung đội vọt lên.

Phía cứ điểm địch chỉ có một vài loạt đạn bắn thẳng ra nổ yếu ớt rồi im bặt.

Chúng tôi vẫn nhằm thẳng hướng cửa mở chạy vào.

Đoạn chạy qua nửa phía trong cửa mở (dài hơn trăm mét) là một cảnh tưởng gây xúc động mạnh.

Xác bộ đội ta hy sinh nằm la liệt suốt dọc hai bên cửa mở.

Nhiều tử sĩ nằm vắt miệng hố, nửa người dưới chìm trong đất cát vì cơn mưa, chỉ còn một phần người nhô lên, súng văng bên cạnh.

Thảo nào xe tăng sợ chẹt lên tử sĩ, không dám chạy vào, cũng phải.

Tại khu vực bố trí hỏa lực của E, cảnh tượng cũng gần như vậy.

Tại khu hàng rào cũi lợn sát gần bờ đất của căn cứ, tử sĩ nhiều hơn.

Tôi nhận ra cả anh Khung, một B trưởng cứng trong C tôi vừa mới được điều qua C5 làm C phó tháng trước nằm ngửa người cạnh một hố pháo.

Cả một hàng rào cũi lợn cao 40 phân có độ rộng tới 5 mét hầu như còn nguyên.

Trong lòng hàng rào này thấy lô nhô dăm ba chiếc đầu 3 râu của quả mìn râu tôm (mìn nhảy).

Tôi phải nhắc anh em đi theo đúng bước chân mình, rồi bước thấp bước cao như kiểu đi tiềm nhập vượt qua khu ràng rào.

Bọn địch trong công sự không bắn ra phát nào nữa, chứ nếu không làm sao chúng tôi vào nổi.

Lác đác trên mặt các công sự phía trong thấy có vài tên địch phất dù trắng.

Khi chúng tôi vào sát gần thì dù trắng phất nhiều hơn.

Chỉ còn toàn lính, chắc tụi sĩ quan đã chạy hết.

Bỏ qua bọn chúng, chúng tôi vượt qua con đường vành đai tiến thẳng vào trong cứ.

Ngay trong căn cứ, địch cũng phân khu và ngăn cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai đơn.

Chúng tôi cứ theo hướng trung tâm tiến thẳng.

Gặp rào phân khu, tôi cho bộ đội dùng bộc phá ống đánh thông rồi vượt qua.

Chỗ chúng tôi tiến vào hình như là khu huấn luyện tân binh.

Có đến dăm chục tên ngồi trật tự trên một bãi trống, khuơ dù trắng.

Chỗ khác thì gặp rất nhiều tên bị thương xếp thành hàng, hai tay giơ cao qua đầu.

Hầu như chúng tôi không phải chiến đấu.

Các hỏa lực B40, B41 và M79 không bắn được phát nào.

Chỉ có AK thỉnh thoảng bắn thị uy vài loạt.

Một đôi chỗ thấy cửa hầm sâu, gọi hàng vài tiếng không thấy gì, chúng tôi quăng thủ pháo vào rồi vượt qua nơi khác.

Vượt qua vài phân khu (cỡ dăm trăm mét), chúng tôi hội quân được với lính E48 cũng từ phía Đông kéo lại.

Điều đó chứng tỏ tình hình E bạn cũng không hơn gì chúng tôi, và giờ này chúng nó cũng mới vào được trong cứ điểm.

(

Sau này tôi có được họp quân chính, được nghe lại chiến lệ của trận đánh Đồng Dù, nhưng nó khác xa những gì tôi đã gặp.

Ngay cả những tài liệu hay sử sách sau này viết về F320, về trận Đồng Dù cũng không giống như những điều tôi đã kể trên.

Có lẽ phải thế thôi, vì sự thật diễn ra trần trụi quá.

Rồi sau này nữa, khi về lại Củ Chi gặp và nói chuyện với du kích hay dân Củ Chi, họ đều nói rằng năm xưa bộ đội giải phóng cũng từng đánh vào Đồng Dù của Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ, nhưng thất bại.

Họ còn khẳng định là nếu như còn trong năm 1974 thôi, thì cả sư tôi cũng chẳng thể động vào được sư 25 VNCH khi đánh vào căn cứ Đồng Dù.

Tôi tin điều đó là thật, vì nếu không có sư 10 hành quân xe pháo qua gây áp lực tâm lý, chắc gì bọn địch đã buông súng đầu hàng.

Đáng buồn thay).

Chúng tôi cùng lính E48 tổ chức tảo thanh.

Nơi chúng tôi bắt tay nhau là một khu gia binh.

Trong nhà nào cũng thấy đồ đạc vứt bừa bãi, lộn xộn, quang cảnh của sự tháo chạy vội vã.

Rồi chúng tôi vào một khu nhà Quân tiếp vụ to lớn (giống như cửa hàng bách hóa ngoài Bắc).

Hàng hóa nhiều vô kể, đủ loại, nhìn hoa cả mắt.

Có rất nhiều thứ chúng tôi không biết nó là cái gì.

Lính tráng xả Ak bắn tan tành (Bây giờ nghĩ lại mới thấy lãng phí, thấy vô tổ chức).

Còn những món quen thuộc, thiết thân như thuốc lá (Rất nhiều thuốc Rubi Queen), đường, sữa hộp và đồ hộp thì lính thi nhau khuân ra cửa.

Khuân ra rồi cũng lại vất đấy thôi vì mỗi thằng có tham cũng chỉ đem theo được một ít.

Nhiều lính còn khui những chai bia 33 cổ rụt ra uống.

May không ai say.

Rồi chúng tôi cũng phải thu quân theo lệnh tiểu đoàn.

Nghe trên phổ biến nhanh: Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư 25 VNCH bị du kích địa phương bắt sống hồi chiều khi đang cùng một số sĩ quan thân cận trốn ra ruộng khoai bên ngoài căn cứ Đồng Dù.

Tối đó C tôinghỉ quây lại cạnh một khu gia binh.

Anh nuôi lấy gạo địch nấu cơm (gạo Tháihạt dài ngon tới mức nấu lên chỉ cầnrưới mắm cũng chén được không biết no).

Thức ăn không cần nấu vì đã có đồ hộpnhiều (thịt gà, cá, thịt lợn, loại hộp 200 gam) lấy của địch, ai muốn ăn baonhiêu tùy thích.

Buổi tối không họp, không rút kinh nghiệm gì hết, tất cả ngồinghỉ ngơi, uống cà phê hút thuốc thơm, muốn nghĩ gì thì nghĩ.

Khác những trậntrước vì chúng tôi không phải giải quyết thương binh tử sĩ mà được nghỉ thảnhthơi ngay sau trận đánh.

Mà cũng chẳng dám nghĩ gì nhiều, vì mai chúng tôi lạihành quân tiếp, lại đánh nhau và ai biết được mình sẽ ngã xuống khi nào.

Đêm đóchúng tôi trải nilon nghỉ bên ngoài, không dám vào trong nhà ngủ, đề phòng bấttrắc.��

Đúng là không ngủ được.

Đơn vị nào trong trung đoàn trông coi tù binh, ở chỗ nào thì không biết.

Nhưng chỗ C tôi trú quân thì mọi sự yên ắng.

Trong cả căn cứ đêm đó không hề xảy ra chuyện tàn binh phản kích.

Phía địch, ai chạy đã chạy thoát, còn lại đều đã qui hàng.

Có lẽ tất cả hai bên đều hiểu tình thế lúc này.

Cuộc chiến đấu lần này nhất định sẽ đánh đến tận cùng, ngã ngũ bằng được mới thôi.

Mà phần thắng nhất định sẽ thuộc quân giải phóng.

Quân lực VNCH càng ngày càng hao quân, suy yếu trông thấy, chắc chắn không thể gượng lại được.

Nhưng sự hy sinh của bộ đội ta chưa phải đã hết.

Chúng tôi là người lính đang trên khí thế chiến thắng, không ai lo nghĩ gì cho riêng mình.

Chẳng ai lo rằng mình có thể hy sinh hay không.

Nếu chuyện phải đến thì sẽ đến, vậy thôi.

Nhưng quả thực là đêm đó không ngủ được.

Lính tráng thức đêm quen rồi, nhiều đêm còn chịu được thì đêm nay mới là đêm thứ hai chẳng có vấn đề gì.

Nhưng cái thao thức này khác lúc thao thức trước giờ ra trận.

Cảnh vật thì như trong đô thị, dù chỉ thắp giấy dầu.

Không gian rộng thênh thang, mình như người chủ nhưng cũng chỉ được đi lại loanh quanh trong khu vực nhỏ.

Không rút kinh nghiệm, không bàn tán, lo lắng, nhưng chúng tôi cứ nghĩ là không hiểu địch còn nhiều căn cứ thế này không.

Chứ cái kiểu đánh trận như hôm nay thì không phải sở trường của chúng tôi.

Chúng tôi vốn chỉ quen tác chiến rừng núi thôi.

Hôm nay chúng tôi đã chiếm được căn cứ, nhưng chiến thắng không tự tin, không hồ hởi.

Tổn thất nhiều quá.

Nói thật là lúc đó chúng tôi chưa biết được khi nào chiến tranh sẽ kết thúc, nên chưa có cái ngậm ngùi nghĩ nhiều về đồng đội ngã xuống trước giờ chiến thắng.

Suy nghĩ tình cảm cũng vẫn giống như sự tiếc thương anh em bình thường như những trận đánh khác thôi.

Chỉ có cáikhác là mọi khi đánh trận xong thì rút về hậu cứ.

Bây giờ sẽ là hành quân tiếp.Mà không hiểu sao đêm đó chúng tôi không tổ chức lau chùi súng đạn.

Đạn AK vẫncó một viên lên nòng như thông lệ.

Cà phê thuốc lá đấy, nhưng không túm tụmđông.

Không ồn ào.

Mỗi người ngồi một góc rồi tự ngủ lúc nào không biết.

Đêm đóvẫn phải tổ chức gác như mọi đêm...

Sáng ngày 30/4/1975.

Cả đơn vị dậy từ mờ sáng.

Anh nuôi nấu cơm.

Tất cả ăn vội vã, đùm cơm rồi tập trung.

Chúng tôi hành quân ra thẳng theo hướng cổng chính.

Xe hậu cần của đơn vị đỗ sẵn ngoài cổng để các B tranh thủ bổ sung cơ số đạn.

Rồi tất cả lên đường, nhằm thẳng hướng Sài gòn mà tiến.

Cả đơn vị cứ rồng rắn thẳng đường cái to mà đi.

Chừng quá nửa buổi sáng, loáng thoáng nghe chính quyền Dương Văn Minh kêu gọi binh lính VNCH buông súng.

Đang ngơ ngác thì lại nghe phổ biến không được chủ quan.

địch chỉ đang đánh đòn tâm lý.

Lại hành quân vội vã hơn.

Gần trưa nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng thật.

Thế là hết đánh nhau, hết chiến tranh rồi ư.

Tiểu đoàn truyền lệnh tạt vào một vườn cây ăn quả của dân bên đường để nghỉ trưa.

Lệnh trên cấm không bắn súng, không hò reo.

Lính tráng rì rầm bàn tán.

Thuốc lá thơm bỏ ra hút thả phanh.

Sẩm tối, đại đội được lệnh tạt vào một thôn cạnh đó để nghỉ.

Chẳng biết gọi vùng này là vùng ta hay địch.

Không có du kích địa phương.

Nhưng người dân chấp nhận chúng tôi một cách bình thản, không tỏ ra vui mừng, không sợ sệt.

Họ cho nghỉ nhờ ngoài vườn, cho củi nấu cơm.

Đêm đó chúng tôi vẫn tổ chức mỗi B một trạm gác.

Trong đêm, vẫn nghe thấy tiếng súng đì đạch nơi xa.

Lại một đêm nữa không ngủ.

Bây giờ mới nghĩ nhiều hơn về những thằng vừa ra đi trong trận đánh hôm qua.

Bởi vì chiến thanh hình như đã kết thúc.

Lúc đó chưa ai nói dến từ Giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngày 30 tháng tư chỉ mới hiểu là ngày địch đầu hàng.

Nhưng rất có thể không còn đánh trận nữa.

Hôm sau chúng tôi được nghỉ tại chỗ.

Vẫn nghỉ trong vườn nhà dân, chưa được đi tắm giặt.

Buổi trưa đại đội phổ biến tình hình: Đêm qua tại Sài Gòn, do say sưa chiến thắng, nhiều đơn vị không quản lý chặt để bộ đội đem súng ra bắn chơi, đã có nhiều người đi chơi lẻ đã bị bọn tàn quân thừa cơ bắn lén mà ta không phát hiện được vì lẫn tiếng súng.

Tiếc thay.

Rồi có lệnh hiện nay bộ đội trong thành phố sài Gòn quá đông nên các đơn vị còn ở ngoài không được vào nữa mà phải rút nhanh ra ngoài tạo chỗ đứng chân, đề phòng các đơn vị địch vẫn còn chưa tan rã.

Chúng tôi rút về Củ Chi.

Ngày sau nữa thì cả Sư cùng vào chia nhau đóng quân trong căn cứ Đồng Dù.

Dọn dẹp nơi ở còn phát hiện nhiều thứ của địch bỏ lại.

Có đơn vị còn lục ra nguyên cả một kho hậu cần của địch.

Tuy có lệnh trên đem nộp tập trung để chia cho Trạm xá, Sư bộ ... nhưng hầu như ai tìm thấy gì là được hưởng thứ đó.

D tôi quản nguyên một kho pháo sáng, một kho đồ hộp và một bãi hơn trăm chiếc xe máy Honda địch bỏ lại.

Đồ hộp thì đem giao lưu cùng các D khác đổi lấy đường, sữa.

Pháo sáng thì đêm đêm khi gác đem ra rìa căn cứ bắn ra cánh đồng.

Mỗi ống pháo sáng to như ống liều phóng B40, rút ống nắp ra lắp ngược ra ngoài rồi vỗ mạnh hoặc dập xuống nền gạch là quả pháo sáng bay vút ra, lơ lửng treo trên một cái dù nhỏ.

Có đến mấy mầu sáng khác nhau.

Riêng món xe máy thì khá đặc biệt.

Cấp trên không thu (mà thu lại để làm gì vì lúc này các loại xe GMC, xe DOT, xe Jep còn để đầy trong căn cứ).

Hầu như không ai biết đi, lại chẳng có xăng.

Thanh niên quanh vùng rất nhạy.

Nhiều gã thanh niên áo bó chẽn, quần loe ống, tóc dài đi theo đường cánh đồng lối phụ mà vào căn cứ.

Họ làm quen với chúng tôi, gạ gẫm đổi chác.

Lúc đầu vui vẻ, chúng tôi cho họ thích cái xe máy nào cứ lấy, tự dắt ra.

Về sau chính họ đề nghị đổi hai tút thuốc lá lấy một xe.

Cứ thế mà bãi xe vơi dần.

Quái hơn nữa là thằng Th.

"mốc", lính C5 (Lính C5 hy sinh nhiều nhưng được bổ sung san sẻ lại cho khỏi bị xóa sổ) vừa đem cho dân xe, vừa dắt dấu ra gửi nhờ nhà dân tới 3 chiếc xe Honda. (

Sau này năm 1976 ra quân, nó quay lại nhà dân tìm xin lại hai chiếc, bán một chiếc lấy lộ phí và đem một chiếc ra Bắc.

Nó là thằng duy nhất trong đơn vị có xe máy Honda đem về nhà khiến cả xã lác mắt).

Chúng tôi ở căn cứ Đồng dù ít ngày thì được chọn một số tham gia tập đội ngũ để duyệt binh 15/5 ở Sài Gòn.

Rồi thời gian sau đó lại tập tành đội ngũ, lại tập xạ kích nhưng chủ yếu vẫn là học chính trị.

Đến tháng 6/1975 thì có chế độ phát phụ cấp tháng bằng tiền (tiền miền Nam).

Cứ chủ nhật có chế độ nghỉ ngơi, 1/5 quân số được xe GMC của tiểu đoàn chở vào Sài Gòn chơi.

Chơi theo hướng dẫn, 4 giờ chiều xe lại chở về.

Phải làm thế không có mang tiếng lính tham gia chiến dịch HCM mà không biết mặt mũi Sài Gòn.

Thế mà khối thằng cũng chưa biết mùi vị bát hủ tiếu như thế nào.

Sài Gòn rộng quá, chỉ chơi Sài gòn một lần thì thật đúng là chỉ biết đến Sài Gòn như thày bói xem voi.

Chúng tôi được nghe đài thường xuyên.

Rồi vài bữa lại được xem truyền hình.

Cái này thật mới lạ.

Ở ngoài Bắc, giữa năm 1971, Hà Nội đã phát thử nghiệm chương trình truyền hình.

Thế nhưng đã mấy ai được nhìn thấy cái Vô tuyến truyền hình mà trong Nam này gọi là Ti vi nó như thế nào.

Tự nhiênthấy nhớ nhà...

(Chuyện bên lề:

Tôi có mặt tại sài gòn từ ngày 28/4 , nghe ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ở ngòai đường phố Sài gòn từ Q10 qua Q5, sáng 30 coi như đã ngã ngũ trên đường phố dân vẫn đi lại gần như bình thường, vẫn mua bán! .

Bác Trongc6 có nhận xét về dân tình người sài gòn rất đúng là bình thản không vui mừng cũng không sợ sệt!, những nhận xét này mới chỉ từ năm rồi trên một số bài viết đăng báo của các cựu chiến binh có mặt giải phóng Sài gòn 30/4.

Người Sài gòn nói riêng và người miền nam ở các đô thị cũng đã quen với chiến tranh trong thành phố từ hồi Mậu thân và tâm trạng cũng biết rõ kết cuộc của cuộc chiến vào những ngày cuối tháng 4/75 với suy nghĩ cũng mong chiến tranh chấm dứt!

Tâm lý và suy nghĩ về những ngày giải phóng Sài gòn, chấm dứt chiến tranh của các bác tham gia ngày ấy thì tôi cũng được nghe nhiều bác cựu nói như bác Trọng!

Đêm 30 giờ này 34 năm trước, sau những năm dài " đại bác đêm đêm vọng về thành phố " và tiếng súng giao tranh những ngày trước ngay cửa ngõ SG! thì lần đầu tiên có một đêm hoàn toàn không tiếng súng, một sự vắng lặng kỳ lạ với một thành phố lớn như SG!

đêm ấy tôi ngủ trên nóc xe tải nhà đậu trên lề đường Nguyễn Hoàng Q5 với nhiều ký ức cười ra nước mắt! buổi chiều súng ống vứt đầy đường phố người lớn tránh xa thì ngược lại đám trẻ con lại nhặt súng huơ huơ rồi chỉa lên trời xiết cả băng! cảnh tượng này chắc chỉ có ở VN! rồi chuyện hôi của... mặt mày rạng rỡ cũng có, ôm đầu máu vì bị cướp lại cũng có...!

sáng mùng 1 các cửa ngõ SG kẹt cứng vì tòan bộ hệ thống đèn tín hiệu không họat động!

đến tối tôi mới trở về đến được BH, nhờ đó mà cũng được tiếp xúc với các anh bộ đội Bắc Việt, cảm nhận đầu tiên là các anh cũng hiền và vui vẻ nếu không muốn nói là hơi... ngố!

Vài dòng ký ức xin được góp lại của một người dântrong những ngày lịch sử!)

Thế là chiến tranh đã kết thúc.

Dân tộc ta đã chiến thắng Đế quốc Mỹ sau một cuộc chiến dài hơn 20 năm.

Nói như vậy được lòng người hơn, dù rằng thời khắc này thật ra là sự sụp đổ của chính quyền VNCH theo Mỹ.

Với những người dân Việt, chúng ta đều là người chiến thắng, dù rằng có không ít người còn mặc cảm.

Còn chúng tôi, những người lính cũng có thể tự hào mình là người chiến thắng.

Dù nhỏ bé gì thì mình cũng vinh dự có mặt trong đội hình của những đơn vị đã trực tiếp làm nên chiến thắng hôm nay.

Chúng tôi đón chiến thắng giải phóng miền Nam với niềm vui rạng rỡ, hành động bột phát và cách thể hiện muôn hình muôn vẻ.

Có điều trong đơn vị tôi tuyệt đối không bắn súng chào mừng.

Người ta đã tổng kết rút kinh nghiệm trận đánh cuối cùng.

Chúng tôi chỉ được nghe cấp trên nói lại những điều đúc kết ở mức chung chung, oanh liệt và hoành tráng.

Tranh công đổ lỗi vốn là một thuộc tính xấu của con người.

Ở đâu, và khi nào thì cũng vẫn không bao giờ hết được chuyện tranh công đổ lỗi.

Nhưng đó là việc làm của những người ở cấp nào cơ, chứ không phải của những thằng lính quèn chúng tôi.

Chúng tôi chỉ thấy lờ mờ bóng dáng mình trong cái tổng kết chung ấy, đôi lúc còn không chính xác.

Nhưng có hề gì đâu.

Dù sao chiến tranh cũng kết thúc rồi, và chúng tôi cũng được gọi là người chiến thắng.

Hết chiến tranh rồi, không phải cầm súng chiến đấu, không phải hy sinh nữa.

"Rồi có một ngày... chinh chiến tàn...".

Vâng, đó chính là điều chúng tôi mong đợi.

"Nước còn giặc, còn đi đánh giặc", đó là cái lẽ thường tính của trai thời loạn.

Nay hết giặc rồi, chúng tôi sẽ trả lại Tổ quốc cây súng để trở về với ruộng đồng, với nhà máy hay đi học tiếp cho trọn ước mơ tuổi trẻ năm xưa.

Cũng giống như sau ngày 9/5/1945 kết thúc chiến tranh TG thứ II của mấy chục năm về trước, những đoàn tàu đã chở những người lính Xô-viết từ Berlin vượt qua Ba-Lan, qua những vùng ruộng đồng của Belarut, của Uykren để về nước Nga..., chúng tôi cũng hình dung có những chuyến xe, chuyến tàu như thế sẽ chở chúng tôi về quê, ra Bắc.

Và ở mọi bến xe, bến tàu sẽ có những nét mặt hồ hởi, hân hoan của người thân ra đón, những vòng tay đen sạm của những người lính áo bạc phong sương, sẽ có những cuộc đoàn tụ rơi nước mắt ...

Thời gian ở trong căn cứ Đồng dù, chúng tôi học chính trị, xây dựng doanh trại và tập tành.

Tất cả các đơn vị đều ở trong các khu nhà tôn hình vòm cuốn (như dạng cái hầm của tướng Đờ-cát ở ĐBP năm xưa), vốn là các doanh trại lính VNCH.

Chúng tôi vừa làm các việc theo trên yêu cầu, vừa hy vọng và chờ đợi vào ngày trở về.

Nhưng suốt mấy tháng trời, không ai nói đến chuyện chúng tôi sẽ được giải ngũ.

Cấp trên bảo chúng tôi còn phải chắc tay súng để bảo vệ chính quyền cách mạng.

Chúng tôi sẽ là những đơn vị sẵn sàng làm nhiệm vụ cơ động để tiêu diệt bọn phản động vẫn còn đang muốn chống phá chính quyền cách mạng, vì bản chất kẻ địch là ngoan cố.

Chúng tôi được phổ biến là trong cuộc di tản hỗn loạn ngày 30/4, có rất nhiều tàu hải quân và máy bay của lực lượng quân VNCH đã di tản sang nhờ ở các nước láng giềng.

Những thứ đó là tài sản của đất nước Việt Nam và những nước láng giềng sẽ phải trao trả lại ta.

Với thế mạnh vừa đi qua cuộc chiến tranh thắng Mỹ, quân đội ta được xếp vào hàng vô địch trên thế giới.

Các nước làng giềng như Thái Lan...

đang run sợ ta đánh tràn sang nên phải lên tiếng sẽ thu gom máy bay tàu chiến di tản của VNCH để trả gấp cho ta.

Không trả mà được à?

Chúng tôi hào hứng lắm.

Máu đánh nhau trong người vẫn còn nóng lắm, tưởng sẽ lên đường Tây phạt ngay.

Đóng quân ở lỳ trong căn cứ Đồng Dù, chúng tôi chỉ hiểu biết thế sự giống như "ếch ngồi đáy giếng".

Trên bảo sao nghe vậy.

Những chuyện như chính phủ ngoài Bắc vào thăm miền Nam, rồi có vị tuyên bố sẽ đưa nước ta phát triển giàu mạnh theo tiêu chuấn nhà nào cũng có một cái tủ lạnh... thì chúng tôi chẳng hề biết gì.

Một đôi lần được ra ngoài căn cứ hay vào chơi Sài Gòn, chúng tôi thấy người dân nơi đây có vẻ khá giả hơn ngoài Bắc.

Họ có nhiều thứ vật dụng có vẻ tối tân và lạ lẫm với chúng tôi.

Thế nhưng cấp trên bảo đó là cuộc sống phồn vinh giả tạo, là sản phẩm và tàn dư của chủ nghĩa Tư bản đang giãy chết.

Nói tóm lại chúng tôi phải có thái độ thờ ơ với những thứ vật chất tầm thường ấy.

Chúng tôi chấp hành, nhưng nhiều thằng trong đơn vị vẫn không giấu nổi sự thầm mong có một cái đồng hồ hay một cái đài bán dẫn mang về nhà lúc giải ngũ.

Mà nói đâu xa, những thứ trong các khu gia binh, trong kho Quân tiếp vụ ngay tại căn cứ Đồng dù này thôi cũng rất lạ lẫm và nhiều khi có phần hấp dẫn lính tráng.

Trong những cái ngô nghê gặp phải, tôi nhớ nhất chuyện kem đánh răng.

Vớ được những hộp kem Hynos to tướng có hình thằng da đen cười thì tha hồ chia nhau, mỗi hộp đủ dùng vài tháng.

Nhưng cái ý nghĩ đơn giản tuýp kem có nghĩa là hộp thuốc đánh răng đã làm hại khối đứa.

Tuýp nhỏ thôi, màu thuốc hơi xanh, rất thơm nhưng khi đánh răng thì mồm miệng co rúm lại, nắn bóp xoa xít kiểu gì cũng phải vài chục phút sau mới hết.

Chữ nghĩa nước ngoài viết trên hộp, có thằng quái nào biết đâu.

Về sau trên phổ biến mới biết đó là kem bôi của các cô gái "chuyên ngành" dùng vào cái chỗ mà lính tráng chúng tôi cũng chưa từng được nhìn thấy.

Thật nhớ đời.

(Chuyện bên lề:

Đọc chuyện của bạn Trọng c6 vừa cười vừa khóc .Đúng là như vậy đó,lính ta nghèo đất nước lo đánh giặc cũng nghèo đâu có biết những đồ khỉ gió của xã hội tiên tiến.Thương lắm ,mỗi anh bộ đội đều sung sướng khi có một vài mét vải đen mang về cho mẹ,cho chị ,cho vợ cho em may quần .Có một con búp bê mà trẻ con hồi đó ao ước cũng chả có mà chơi.Một khung xe đạp để về mua linh phụ kiện lắp lấy cái xe đạp là ghê lắm rồi.Bây giờ nghe thì thấy buồn cười nhưng ai sống vào những thời khắc đó mới biết nhu cầu của lính ta đơn giản lắm,hi sinh cả tuổi thanh xuân,cả cuộc đời nhưng chỉ có nhu cầu nhỏ nhoi vậy là hạnh phúc lắm rồi.Mình nhớ hồi đó dân Sài gòn không thích bộ đội miền bắc cứ cười anh lính cụ Hồ nào cũng to òng teng quanh cái ba lô con cóc một con búp bê nhựa,một cái khung xe đạp ,vải đen thì để trong ba lô.Mình thì thương lắm,tội nghiệp có người không biết mua phải loại vải đen pha ni lông thì phải may quần đen không mặc được vì nó cứ hút vào người dính lung tung.

Một thời kể ranhiều chuyện khó tưởng tượng nhưng thật là khó quên, mà không thể quên được ấychứ.

- em ở trong từ 79 đến cuối 82.Mỗi lần đi ra chợTân Định trên đường Hai Bà,là các cô thiếu nữ trường Lê...gần đó,trên đường đihọc trong cái áo dài thướt tha,ngồi trên xe đạp mini đạp theo chọc hoài.Nào làrau muống,ê hê hê...thế rồi cũng muốnghoài,muống hoài thành nghiện hổng có muống các cô ấy nhớ...hơn cố nội.

Lúc trước em nằm ở 332 Đồng khởi "HảiÂu,Caravel" trước Nhà Hát Lớn TP "Hạ Viện",một bên là đường TựDo có rạp chiếu bóng đó,và em ở 42 Trần Cao Vân,cái nhà mà dành cho cơ quan CIAcủa Mỹ ngày xưa ở Sè Gènh trước tháp con rùa đó.Em lúc trước ở đó thìxướng....sau này thì xuống Ch...... chỉưa phụng sự hết mình,,nhưng chẳng có chí làm quan.Trong họ nhà em cũng có nhữngngười đã từng đối diện nhau trong cuộc chiến và cũng có người ba là lính VNCHnhưng con vào năm 2001 đã là thượng tá của QDNDVN,chỉ có một số ít những ngườilính cũ của chế độ cũ vì một lý do gì đó làm họ chưa vừa lòng thôi,dù sao cũnglà người Việt chiến tranh đã đi rất xa,cái gì quên được là nên quên nó ngay vàlàm cho tốt hơn....

- Chuyện thứ nhất : Sau SGGP độ 1 vài tháng gì đó , có 1 anh bộ đội về phép về tới HN thì tối rồi nên vào đền Ngọc Sơn ngủ để sáng hôm sau về quê .

Cũng chính vì con búp bê nhắm mắt mở mắt và cái khung xe đạp mà anh đã bị giết đêm hôm đó .

Sau này CA bắt được cái thủ phạm và nó khai là nhìn thấy những đồ vật anh ấy mang theo nên nổi lòng tham .

Chuyện thứ 2 : Cũng không lâu sau SGGP , mấy đứa trẻ con ở phố Tuệ Tĩnh ra bơi ở hồ Thuyền Quang vớt được 1 quả mìn !!!???

Mấy thằng mang ra ghế đá ghè và quả mìn phát nổ .

3 đưa trẻ con chết không toàn thây (trong đó có 2 anh em ruột , thằng anh học cùng lớp với em) .

Tiếng nổ phát to đến nỗi nhà em ở ngã tư Tô Hiến Thành + Bà Triệu (khoảng hơn 1 km) mà cũng nghe thấy .

Sau đó thì dân kéo ra xem đông lắm , em là 1 trong những thằng trẻ con có mặt đầu tiên ở đấy .

CA phải mang cả xe cứu hỏa ra phun nước lên cây để những mảnh thịt dính trên ấy rơi xuống .

Vậy mà chỉ cách đấy độ chục mét , có 1 anh bộ đội cùng với con búp bê và cái khung xe (đã được buộc vào tay) vẫn cái mũ úp trên mặt , nằm trên ghế đá ngủ say sưa ...

Phải đến khi CA ra gọi dậy thì mới biết là anh BĐ đã chết , trên đỉnh đầu có 1 lỗ nhỏ xíu bằng hạt đỗ hơi rỉ máu .

Đúng là baonăm vào sinh ra tử không sao , vậy mà !

đến ngày chiến thắng trở về đoàn tụ vớigia đình thì chết , 1 cái chết không được công nhận LS .

2 câu chuyện này làmem bị ám ảnh mãi

- Mình kể chuyện mình vào Sài gòn lần đầu tiên ,ngày đầu tiên thế thôi, mà mình còn lớ ngớ thế này nữa cơ ,không có quà gì cho cháu cả vì đi vội vả lại hồi đó cũng nghèo,hai vợ chồng bộ đội lại có hai con rồi , thực chất là văn hóa mua quà còn kém lắm, thấy chị hàng rong bán xoài chọn ngay một quả to nhất mua có nhõn một quả,chắc mẩm cháu mình thích lắm đây.

Vào đến nhà bà chị cháu chạy ra đón dì ngoài Bắc vô hét ầm ĩ,Dì thở vì leo gác xong lấy ngay quả xoài đưa cho cháu.Nó mới có 5 tuổi nhưng đã kêu :má ơi dì cho con xoài tượng xanh.Mình còn chưa hiểu ra sao thì bà chị chạy ra giải thích :em ơi xoài này là xoài tượng chua,chỉ để nhậu hoăc dầm nước mắm thôi .

Bà dì được mẻ ngượng với cháu,hôm đi K về phải mua quà cho cháu bù.

Sau này thì thân với dân Sai gòn và nhậu với dân Nam bộ các kiểu.Quí dân trỏng vì sảng khoái thật thà,bụng để ngoài da.)

...

Nhớ lại cha anh ta hơn hai mươi năm trước.

Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến của cả dân tộc, làm nên trận Điện Biên "lừng lẫy địa cầu", ngày 10/10/1954, quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô.

Hà Nội rực rỡ cờ sao, năm cửa ô ngập nắng đón những anh "bộ đội cụ Hồ".

Phút xao xuyến qua đi, khi trở lại đời thường thì ngoài cái hiền lành bản chất, những người lính trở nên lơ ngơ trước cuộc sống thị thành.

Chỉ trừ những người lính trong trung đoàn Thủ đô vốn là những học sinh, sinh viên, người thợ...

đã từng quen với cuộc sống thị thành, còn lại ít nhiều đều lớ ngớ.

Nỡ nào trách họ, khi những người lính ấy vốn là những người nông dân chân đất áo vải, nghe theo lời kêu gọi của cụ Hồ mà lên đường cầm súng đánh Tây.

Lớ ngớ hôm nay, nhưng họ sẽ lại là những người xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước ngày mai.

Có lẽ cũng không khác nhiều khi so với những người lính giải phóng chúng tôi khi vào giải phóng Sài gòn.

Đơn giản, vì chúng tôi cũng là những "người lính cụ Hồ" như cha anh chúng tôi, cũng hy sinh tuổi trẻ của mình cho độc lập tự do của đất nước.

Là những người thợ, người nông dân áo vải từ mọi miền quê tụ lại trong đoàn quân giải phóng, khi ở trên rừng thì chúng tôi là những người làm chủ cuộc sống.

Chiến đấu đã đành, nhưng chúng tôi cùng nhau làm được mọi thứ.

Từ dựng nhà (lợp tranh, lợp nứa, lợp lá trung quân...) đến phát nương rẫy trồng lúa, trồng sắn để tự túc một phần lương thực chúng tôi đều làm được hết.

Chúng tôi biết rèn dao, rèn cuốc xẻng, tự tạo mìn định hướng, biết đánh bắt cá, biết cả cách làm bún, làm bánh cuốn giữa rừng già.

Giữa lúc dừng chân trong cảnh trời mưa như trút của những cơn mưa rừng giữa mùa, chúng tôi biết tìm củi, gơi bếp để bộ đội có cơm nóng, canh ngọt chỉ sau một tiếng dừng chân...

Còn nhiều lắm, và chúng tôi tự hào là biết cùng nhau tạo dựng tốt cuộc sống trong rừng giữa hai mùa chiến dịch.

Những "người lính cụ Hồ" là như thế đó.

Vì vậy sẽ chẳng đáng ngạc nhiên khi về đồng bằng, vào Sài gòn mà những người lính chúng tôi trở nên lớ ngớ.

Nói cho công bằng, không phải chỉ những người lính chúng tôi rơi vào cảnh "nhà quê ra tỉnh", mà nếu so sánh thì miền Bắc khi đó so với miền Nam cũng chỉ như nhà quê so với thành phố mà thôi.

Nhưng vượt lên tất cả, chúng tôi là những người lính cụ Hồ và chúng tôi tự hào về điều đó.

Ai đi xa mà lúc về chẳng mong có chút quà cho người thân?

Vậy thì những người lính xa nhà mấy năm trời không nghĩ đến sống chết có lỗi gì khi mua một con búp bê làm quà cho cô em gái út, một cái khung xe đạp cũ đem về để dựng nên cái xe làm chút tài sản nhỏ khi rời quân ngũ.

Mà chúng tôi mua bằng chút tiền phụ cấp ít ỏi mới có của mình, từ những đồng tiền "cửa rừng", tiền "phụ cấp xương máu" của mình đấy chứ.

Khi đó tôi nhớ là mình được 30đ tiền "cửa rừng" và 30đ tiền "phụ cấp xương máu" với 5% thương tật, cũng chỉ đủ mua hai cái áo nỉ cho đứa em, mua cho chị và mẹ mỗi người một cái khăn len là hết tiền.

Đến bố tôi cũng chẳng có chút quà gì.

Nhưng mẹ tôi bảo, "chỉ cần con trở về được thế này là đã đủ, mẹ mãn nguyện rồi".

Chẳng ai muốn chiến tranh để ngoài cái đau chung của cả dân tộc, còn có những góc khuất nhỏ đau lòng của những người lính.

Thời nào và ở đâu thì cũng không bao giờ thiếu những thằng láu cá trong một tập thể, dù đó là đơn vị bộ đội nghiêm khắc "quân lệnh như sơn" với tư tưởng chỉ đạo "kỷ luật là sức mạnh của quân đội".

Những thằng láu cá ấy xuất sứ từ mọi vùng quê.

Nhiều thằng lính Hà Nội hay Hải Phòng rất "chân chỉ hạt bột", thậm chí đến mức lơ ngơ, thộn ra mặt, trong khi mấy thằng tai quái và láu cá lại là dân Hà Tây, Thái Bình, thậm chí có cả thằng là người dân tộc Tày quê tít tận Cao Bằng "đá nhiều hơn đất".

Điển hình là lão Nghị quản lý đại đội dân Sơn Tây.

Trong khi chúng tôi chỉ còn toàn mũ tai bèo đã cũ thì hắn vẫn giữ được chiếc mũ cối tàu có gắn ngôi sao Quân hiệu mới chóe.

Đêm hôm 2/4 ở Thị xã Tuy Hòa, hắn đã suýt toi mạng vì đi đánh lẻ.

Chả là đêm đó chúng tôi đóng tại Trường Kỹ nghệ và tiếp quản trông coi một vùng dân cư khá lớn.

Có rất nhiều nhà vô chủ vì đã bỏ chạy.

Lão Nghị một mình mò ra khu dân cư chui vào lục lọi mấy cái nhà vô chủ.

Vô phúc cho lão vẫn nghênh ngang đội cái mũ cối, người lại đầy đặn hơn lính tráng chúng tôi nên bị mấy thằng tàn quân đoán là cán bộ cỡ to.

Chúng nó núp từ căn nhà nào đó chĩa súng ra bắn tỉa.

Vận lão Nghị còn dài nên viên đạn bắn trượt, tóe lửa trên mặt đường.

Viên đạn thứ hai cũng vậy.

Lão Nghị hoảng quá ù té chạy về (lão là quản lý, không có súng, quả là gan trời mới dám mò đi đánh lẻ như thế).

B tôi hay tin kéo lại khu nhà trên, xông vào các nhà, leo cả lên gác sục xạo mà cũng không thấy gì.

Tức quá chỉ biết quạt vài loạt AK vào mấy xó tối để thị uy.

Đã thế mà lão Nghị vẫn chưa chừa, còn bắt chúng tôi chờ đến hơn nửa tiếng nữa cho lão lục lọi cái khỉ gì đó, rồi mới chịu về.

Nói thực lúc ấy chúng tôi không thiếu thuốc lá thơm vì hôm qua lấy được chiến lợi phẩm cũng kha khá rồi.

Cũng chẳng biết lão Nghị có lấy cái gì không, nhưng chúng tôi không màng.

Trừ thuốc lá và đồ ăn, còn mọi thứ khác, lính tráng vốn kiêng, báu gì cái kiểu tham lam "Lý Thông" ấy.

Về đến căn cứ Đồng Dù cũng vậy.

Có cáimũ cối đội đầu, lão Nghị trông oai hơn hẳn lũ lính chúng tôi.

Lão thường mò rangoài căn cứ (đi tắt lối cổng phụ qua cánh đồng thôi) đến khu dân cư.

Nhiều nhàdân, có lẽ vốn không có người nhà theo "đằng mình", sợ bị chính quyềnmới o ép (chính quyền mới ở địa phương cũng chỉ là mấy ông du kích nằm vùngthôi) nên nghĩ ra mẹo mới.

Họ mời lão Nghị đội nguyên cả mũ cối, đeo xà-cộtđứng xen giữa chụp ảnh chung với gia đình, miệng nở nụ cười chiến thắng.

Chúngtôi biết được vì về sau ra một vài nhà dân, hay quán ăn (hủ tiếu) thấy nhữngbức ảnh đó phóng to treo trang trọng giữa nhà.

Ngón võ này cũng hù đọa được mấyông du kích quen nhũng nhẽo.

Còn lão Nghị được "trả công" cái gì thìlão không nói, chỉ thấy thỉnh thoảng lão có thuốc lá thơm mời anh em.

Đóng quân trong căn cứ Đồng Dù được hơn một tháng, một đêm chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị sắp xếp lại toàn bộ quân tư trang cá nhân để hôm sau chuyển căn cứ.

Có nghĩa là mang được cái gì thì mang, còn lại tức là vứt bỏ.

Có quái gì mà phải chuẩn bị cơ chứ.

Lính tráng báo động chiến đấu có nửa phút, báo động di chuyển có 5 phút còn kịp thì một đêm là quá dài đối với chúng tôi.

Nhưng việc gì cũng có lý do của nó.

Đêm hôm đó, những thứ ăn được chúng tôi mang ra liên hoan hết (thực ra cũng chỉ còn thịt hộp của dân, chúng tôi đổi được từ những chiếc xe máy cũ địch bỏ lại căn cứ).

Đã hành quân bộ thì không thằng nào muốn mang nặng.

Nếu có tiếc thì chỉ là gạo của địch phải bỏ lại, không mang được theo thì lại phải ăn theo tiêu chuẩn lính như trước thôi.

Sáng sau, chúng tôi ăn một bữa no cật lực, đùm cơm nắm rồi lục tục lên đường.

Đơn vị nhằm hướng Tây Ninh thẳng tiến.

Đi được chừng 15 cây số, cả đại đội dừng lại bên một cánh rừng cao su.

Mệnh lệnh tháo dỡ đồ đoàn để kiểm tra quân tư trang được phát ra.

Mỗi lính cách nhau 3 mét, rải nilon xuống đất và dỡ bỏ mọi thứ trong ba-lô xếp lên đó.

Những thứ trong túi áo quần cũng phải lộn bỏ ra hết.

Bây giờ thì chúng tôi đã hiểu rằng chẳng có chuyện chuyển căn cứ gì hết, mà chẳng qua chỉ là kiểm tra quân tư trang.

Trong đời lính, tôi đã phải bị tham gia kiểm tra quân tư trang không biết bao nhiêu lần.

Những cái mốc đó thường rơi vào lúc sau những trận đánh lớn hay sau những đợt chiến đấu dài ngày.

Trong đơn vị tôi chưa có trường hợp đáng tiếc nào xảy ra, tức là chưa có ai vi phạm kỷ luật về chiến lợi phẩm.

Các thứ nhét được vào mồm thì không tính, mà giả sử có tính thì lính tráng cũng chẳng từ.

Thiếu ăn và đói quá thì con người ta chỉ còn nghĩ đến chữ "con" trong con người thôi.

Danh dự đôi khi chẳng là cái gì khi đó.

Còn những thứ bị cấm như đài, đồng hồ, vàng bạc thì chúng tôi không màng, nhiều khi còn kiêng, thành truyền thống trong nếp nghĩ của lính rồi.

Mà cũng cần nói thêm rằng những thứ đó có phải lúc nào cũng có sẵn đâu.

Chỉ có đánh các căn cứ lớn, mà chúng tôi vốn không được đánh lớn bao nhiêu.

Đoàn kiểm tra của tiểu đoàn hì hục lật xem rồi ghi ghi chép chép chừng hai tiếng thì cũng xong.

Mọi chuyện có vẻ vẫn như trước thôi.

Nhưng rồi ban kiểm tra cũng tìm ra được một trường hợp.

Thằng Sớn (người Nam Hà) có một cái đồng hồ Seiko 2 cửa sổ.

Lý do, nó mua được giá 20 đồng bằng tiền phụ cấp của mấy anh em góp lại, nhưng chưa đủ thuyết phục, chiếc đồng hồ bị tịch thu.

Sau này khi trở lại căn cứ Đồng Dù, một số anh em trong trung đội phải lập danh sách góp đủ số tiền 20 đồng cho Sớn, đề đạt lên tiểu đoàn mãi mới xin lại được.

Tiểu đoàn trả đồng hồ, kèm theo lời phê bình là không chịu báo cáo trước khi mua. (Thực ra anh em thương mà nhận giúp nó thôi chứ nó mua lúc nào cũng đâu có ai biết).

Điều đáng nói thêm là hơn một tháng sau nữa, khi trung đoàn chúng tôi được lệnh trở lại Tây Nguyên làm nhiệm vụ truy quét Fulro thì các thủ trưởng các cấp trên E thi nhau cho công vụ đi các lán (doanh trại) thu vét các dụng cụ sinh hoạt, dù, bạt, thậm chí bóc cả các tấm Phooc-mi-ca mặt bàn cuộn từng bó chở lên cao nguyên để xây dựng doanh trại cho các thủ trưởng.

Các thủ trưởng D cũng muốn lắm, nhưng ở sát lính quá nên cũng không dám làm ẩu.

Trên Cao nguyên, thời truy quét Fulro còn nhiều chuyện nực cười nữa củacác thủ trưởng, nhưng có lẽ chuyện kể cũng đã đến điểm dừng.

Còn hơn một tháng nữa chúng tôi mới trở lại với Tây Nguyên, với mưa rừng và những cơn lũ, với những con đường đất đỏ Bazan mà mỗi bước chân đi là đất dính bết dép cao su nặng chịch.

Giờ đây chúng tôi vẫn đang ở giữa đồng bằng.

Tuy vẫn là trong căn cứ Đồng Dù, giữa trại lính mà sàn bê tông và mái tôn lợp tạo nên những cái lò nung hầm hập trưa hè và vang dội tiếng mưa đập dội ầm ầm đêm mưa, nhưng vẫn là cuộc sống đô thị.

Không phải tìm chặt củi rừng, không phải đào bếp Hoàng Cầm, đào hầm chữ A và nhất là những ca gác chỉ mang tính nếp sống quân đội, lỡ có lơ là đôi chút cũng không lo bị tập kích cả đơn vị.

Và những đêm mưa dù ầm ĩ mái tôn, nhưng vẫn ngủ ngon, không phải thấp thỏm chờ nghe tiếng pháo bắn để tụt vội xuống căn hầm ẩm ướt, mà sợ nhất là cái loại pháo "điếm" của các anh lính cộng hòa chiều "bạn gái" trong một đêm đồn trú.

Vẫn chỉ là tập tành thường nhật.

Ăn uống đầy đủ, thịt cá rau đủ chất.

Đặc biệt là không phải hành quân dã ngoại mà vẫn phải xơi đồ hộp liên tục (bây giờ mới biết đến khái niệm quá Date, chứ ngày đó cứ nghĩ đồ hộp là mặt hàng chiến lược để bao lâu chẳng được).

Ngày trở về nhà thì chẳng ai dám nói đến rồi vì hầu hết lính tráng trong đơn vị đều có tuổi quân chưa đủ 5 năm.

Chỉ có mấy cán bộ C là đi lính đã 7, 8 năm, nhưng các anh ấy bây giờ lại không muốn về nhà làm dân cày bám đít mấy con bò.

Có anh còn tiếc là chiến tranh kết thúc bất ngờ quá, không kịp để các anh ấy đi xa hơn trên con đường binh nghiệp.

Văn hóa lớp 5, lớp 7 mà còn chiến tranh thì khi leo lên đến cán bộ trung đoàn tiểu đoàn, quân đội khắc phải có chế độ bổ túc cho sĩ quan.

Nay hòa bình rồi, tất phải giải trừ quân bị thì các anh ấy chỉ còn nước về quê.

Cái tâm sự ấy tưởng như chuyện tiếu lâm vì nó ngược lại với ước mơ ngàn đời của dân lành là an cư lạc nghiệp trong thanh bình, thế mà lại là có thật.

Còn lính tráng chúng tôi, chắc cũng chưa thể về được vì quân đội phải là lực lượng chính để giải quyết hậu quả chiến tranh.

Những mảnh đất chiến trường mà không rà phá bom mìn thì mãi mãi chỉ là đất hoang.

Bom đạn địch dội xuống đã đành, ngay cả những bãi mìn chúng tôi lập trước khu vực chốt trên Gia-lai ngày trước, chúng tôi cũng chưa kịp gỡ bỏ vì tốc độ chiến thắng, tốc độ truy kích địch năm 1975 nhanh quá.

Liệu chúng tôi có quay lại đó gỡ bỏ không, hay nó lại tồn tại giống như những bãi mìn không hồ sơ của địch.

Nhưng chúng tôi lại chờ mong vào những ngày phép.

Mấy năm xa nhà rồi còngì.

Thế mà trong tất cả các đơn vị của trung đoàn không hề có rục rịch gì vềchuyện về phép.

Thế là vào những ca gác đêm, hay những đêm mưa to thức giấc khóngủ lại, tôi lại mơ mộng nhớ về gia đình, nhớ về chặng đường quân ngũ của mình,rành mạch lắm, như những thước phim trôi chầm chậm, kể từ một chiều cuối xuânnăm 1971 ấy...�

---------

...

Cuối tháng 3/1971, đài báo rầm rộ đăng tin thắng lớn của quân ta trên mặt trận đường 9 Nam Lào.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 mở đầu cho chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ-ngụy bị bẻ gấy trước cửa ngõ Sepon, Trung Lào.

Một lữ dù VNCH co cụm bị đánh tan, đại tá Tư lệnh Nguyễn Văn Thọ bị bắt sống tại trận.

Chiến thắng này được khuếch trương, rầm rộ chỉ sau Mậu Thân 1968.

Một thời gian dài người dân quê đã nghe quá nhiều về chảo lửa Khe-Sanh, làng xóm đón nhận nhiều thương binh, và những người lính ra đi từ 1965, 1967 thì hầu như bặt tin.

Gái quê cô nào lấy được một anh thương binh làm chồng thì coi như yên phận, hạnh phúc đã nắm chắc trong tầm tay.

Vì thế chiến thắng này được ca ngợi hết lời, hậu phương nức lòng.

Đoàn trường của các trường phổ thông ở Hà Nội lập tức phát động phong trào viết thư hỏi thăm chiến sĩ đường 9-Nam Lào.

Không khí nóng đến mức học sinh lớp 10 cuối cấp chúng tôi đã nhìn thấy con đường tòng quân trước mắt.

Chắc chỉ vài tháng nữa thôi.

Trong thư gửi chiến sĩ lần đó, tôi đã ước hẹn sớm ngày trở thành đồng đội của các anh.

Chúng tôi mới trở về Hà Nội được năm đầu, sau 5 năm đi học sơ tán.

Chỉ mới năm học 1969-1970 thôi, tôi còn học ở trường cấp III Yên Hòa B.

Đây là trường Chu Văn An (trường Bưởi) sơ tán về học chung trên đất ở Cầu Giấy của trường Yên Hòa.

Tôi học lớp 9C, cùng lớp với Phạm Như Anh, con gái của luật sư Phạm Thành Vinh. (Bác luật sư này cùng với bác Đỗ Xuân Sảng là 2 luật sư bào chữa cho vụ máy bay biệt kích C47 của Mỹ-ngụy bị bắn rơi ở Ninh Bình năm 1963 đó).

Tôi cũng biết anh Nguyễn Văn Thạc, học sinh giỏi văn toàn quốc học trên một lớp, đã mang vinh quang về cho trường năm đó. (Hơn 30 năm sau, khi có tập nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" của anh Thạc, tôi mới biết rằng Như Anh lớp tôi yêu anh ấy, và anh ấy đã hy sinh.

Lúc đó con gái lớp 9 mà đã yêu cũng hiếm lắm.

Như Anh bây giờ chắc còn nhớ chút ít con đường rẽ từ Cầu Giấy vào trường phải đi qua một cái xưởng của HTX làm mắm, lúc nào cũng nồng nặc mùi, và con đường làng nhỏ chạy men quanh mấy cái ao, không ít đứa học sinh nghịch trêu nhau đã lăn tòm cả người và xe đạp xuống đó).

Một tháng sau có đoàn dũng sĩ miền Nam đến thăm trường.

Toàn khối 10 tập trung ngồi trên sân nghe kể chuyện.

Có một dũng sĩ người miền Nam tuổi độ 16, 17 kể chuyện chiến đấu rất hay.

Say sưa quá, đến lúc chúng tôi hỏi súng B40 như thế nào mà bắn chảy xe tăng, anh ấy khoa tay giải thích một hồi rồi nhìn vào ngôi trường 3 tầng của chúng tôi bảo: "Cái nhà 3 tầng kia tôi chỉ bắn cho 3 phát B40 là đổ sập".

Hãi quá, và buồn nữa vì anh ấy lại lấy ngôi trường thân yêu của chúng tôi làm ví dụ mục tiêu.

Nhưng cũng buồn ít thôi, vì chúng tôi nghĩ anh ấy đi đánh giặc từ rất sớm, chắc không kịp học hành gì.

Tháng 4, chưa kịp thi tốt nghiệp, đã có 5 thằng trong trường tôi lên đường nhập ngũ, được đặc cách công nhận tốt nghiệp.

Lớp tôi có thằng Tuyên, cán sự môn thể dục, dáng người cứng cáp, mới 18 mà trông đã như gã 20, cũng lên đường.

Cả trường tiễn chúng nó đi như những người anh hùng.

Thằng Tuyên chưa hy sinh, chưa thành anh hùng mà chỗ ngồi cũ trong lớp của nó đã được khoanh thành chỗ ngồi danh dự.

Nhìn cái chỗ trống trong lớp ấy mà nhớ đến người anh hùng trong tương lai, thế thì đám con trai chúng tôi bị phân tán tư tưởng, học hành thòi thọp cũng phải thôi.

Một tháng sau, đúng lúc chúng tôi chuẩn bị làm lễ bế giảng thì thằng Tuyên về phép thăm trường (Về sau khi đã vào lính thì đoán ra là nó "tút" về chơi chứ mới đi có một tháng, thành tích gì mà được về phép?).

Nó mặc bộ quân phục còn mới (hình như có đôi chỗ hơi bạc màu phong sương!!), mặt cứ vênh lên giữa đám bạn bè và thày cô.

Học sinh lớp chúng tôi hãnh diện ra mặt.

Lũ con gái lớp tôi mặt mày rạng rỡ, xúm xít vây quanh, mặc cho bọn con gái lớp khác thòm thèm nhìn ngó, chỉ trỏ từ xa.

Bọn con trai kể cũng hơi tự ái, thầm nghĩ ngày mai cũng vào lính luôn cho bè bạn biết tay.

Tới tháng 7 thì chúng tôi thi xong cả tốt nghiệp PT lẫn thi đại học.

Nghỉ hè mà đường phố Hà Nội lúc này chỗ nào cũng nhan nhản áp phích hình anh Lê Mã Lương mặc quân phục giải phóng, đội mũ tai bèo, tay giơ khẩu Ak với hàng chữ bên dưới:

Lê Mã Lương.

"Cuộc đời đẹp nhất,

Là ở trêntrận tuyến đánh quân thù!"

Những ngày hè 1971.

Sinh hoạt và cuộc sống của người dân Thủ đô trôi qua bình lặng, im ả.

Tất cả chỉ mới giống như cuộc hồi cư trở lại quê hương sau chiến tranh của một dân tộc nghèo.

Chưa có cái gì gọi là tái thiết.

Hà Nội vẫn giữ lại được mấy cái bãi di tích của ba quả bom máy bay Mỹ ném xuống các phố Huế, Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương trong một ngày hồi năm 1966 bằng cách quét dọn sạch sẽ đám gạch vỡ.

Vẫn ăn độn bột mỳ, vẫn xếp hàng từ tờ mờ đất để mua gạo (nhiều khi chỉ được mua từng 5 cân, 10 cân một) và vẫn phải í ới gọi nhau rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra chợ xếp hàng tranh nhau mua mớ rau muống ngọn dài tới nửa mét khi phát hiện có xe rau về...

Có hai sự kiện đặc biệt.

Một là bắt đầu phát thử nghiệm vô tuyến truyền hình.

Chưa ai có máy thu, nhưng chúng tôi biết được nhờ những tối kéo nhau ra bờ hồ Hoàn Kiếm.

Người ta đặt một cái máy thu hình to tướng chỗ cột đồng hồ trước cửa hiệu kem Hồng Vân, Long Vân.

Cuộc phát thử nghiệm chỉ kéo dài chừng một tiếng.

Hình đen trắng, ruồi muỗi (nhiễu) lấn át cả hình ảnh.

Nhưng đôi lúc cũng nhận ra hình ảnh rõ nét.

Người dân dừng xe đạp đứng cả dãy choán một phần đường.

Xem vì nó lạ chứ lượng thông tin chả có gì.

Sự kiện thứ hai là dịch sốt xuất huyết lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, mà điểm nóng là Hà Nội, Hải Phòng.

Hàng trăm người nhập Viện, dăm ca tử vong.

Thế là đủ gây nên nỗi kinh hoàng.

Xuất huyết ngoại, những chấm đỏ li ti mọc đầy lưng, tay chân thì còn cứu chữa được, ai mà lỡ uống thuốc hạ sốt, gây xuất huyết nội là nhiều khả năng đi tong.

Nhưng cái không khí chiến trường thì lại ập rất rõ nét vào đám thanh niên, học sinh lứa tuổi 17, 18 chúng tôi.

Các Tiểu khu đồng loạt gọi thanh niên khám sức khỏe NVQS.

Chúng tôi bình thản vì đoán được con đường trước mắt chắc chắn là quân ngũ.

Tiêu chuẩn không cao lắm và người ta còn xuê xoa nhiều thứ để đáp ứng sự háo hức vào lính của lớp thanh niên được giáo dục tử tế qua 10 năm ngồi trên ghế nhà trường XHCN, mang danh thanh niên thời đại HCM.

Lúc đi khám sức khỏe nhập ngũ, mọi tiêu chuẩn của tôi đều đạt, chỉ mỗi trọng lượng là thiếu một chút.

Chuẩn mực là 44 kg trở lên, trong khi tôi mới được có 43,5 kg.

Nhưng không hề gì.

Ông bác sĩ bậc tuổi cha chú có vẻ mặt nhân hậu tươi cười vỗ vai tôi:

- Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xin "biếu" đồng chí nửa cân thịt.

Rồi ông ghi vào phiếu sức khỏe của tôi con số 44 kg.

Đến tháng 8 thì có kết quả.

Tôi nhận được giấy gọi đại học cùng lúc với giấy gọi nhập ngũ.

Ngày nhập trường đại học là 15/9, nhưng giấy gọi vào lính là 24/8.

Cái giấy sau được ưu tiên thực hiện trước.

Lớp 10 thân yêu của tôi có 22 thằng con trai thì có 17 đứa có giấy gọi nhập ngũ.

Những đứa còn lại thì hoặc là con một, hoặc là con liệt sĩ, nên không phải đi.

Một thằng đeo kính cận 1 diop cũng bị loại.

Lúc đó người ta còn coi trọng chất lượng, cần những thằng biết "nhìn xa trông rộng".

Đi lính khi đó tất nhiên là niềm vinh dự, đừng tưởng ai muốn đi cũng được đâu.

Lớp tôi còn có thằng Trường (thằng này là anh ruột ca sĩ-nghệ sĩ Hồng Kỳ của nhà hát Tuổi trẻ sau này đấy) học giỏi nhất lớp, sức khỏe dư thừa song do tiền bối "dẫm nhầm giày quốc tế" nên không được vào đại học, mà tức khí xin đi lính (viết đơn bằng máu thật hẳn hoi) cũng không được chấp nhận.

"Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực".

Đó là ý chí của bọn thanh niên chúng tôi khi đón chờ ngày vào lính.

Tất nhiên bao giờ cũng có ngoại lệ. (...

Tôi xóa đoạn này cho phù hợp với nguồn tin của bác PhongQuang.

Xin tạ lỗi và nghiêng mình trước vong linh Hồng Quang, người đồng chí đồng ngũ đã hy sinh nơi chiến trường Trị Thiên.)

Trước ngày chúng tôi nhập ngũ một tuần, miền Bắc mưa trắng đất mấy ngày liền, tưởng như có cơn hồng thủy trong chuyện cổ tích.

Đê sông Đuống vỡ.

Cả một vùng thôn quê miền kinh Bắc ngập chìm trong nước.

Sông Đáy (khi đó còn sâu, lúc thường chảy trong xanh hiền hòa đem cảm hứng cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác...) cũng dâng nước ngập lút đầu người suốt vùng Quốc Oai, Hoài Đức...

Con đê quai kéo từ Cầu giấy về qua Ô chợ Dừa, Kim Liên, Ô Đông Mác được đắp cao, chuẩn bị xả nước ngập các vùng Vọng, Ngã Tư Sở ...

để cứu nội thành Hà Nội.

Nhiều vùng dân cư trở thành ốc đảo.

Nhà nước phải cho máy bay chở bánh mỳ đựng trong các túi ni-lon đem thả cứu dân.

Thế mới có chuyện "chó đội nón" là xuất phát từ vụ lụt thế kỷ đó đấy.

Vậy là ngày nhập ngũ của chúng tôi lùi lại.

Đã có đợt tòng quân nào màthanh niên nhận tới hai giấy gọi nhập ngũ liên tục như chúng tôi đâu.

...

Lũ rút, nước cạn, đường khô là chúng tôi nhận tiếp luôn giấy gọi nhập ngũ (4/9/1971).

Lần này chỉ trước có 3 ngày.

Thế cũng đủ vì chỉ phải chuẩn bị tại nhà.

Nhà trường và tổ dân phố thì đã tổ chức tiễn chúng tôi từ tháng trước với đủ lời dặn dò rồi.

Lúc làm lễ chia tay tại trường cấp III mới lộ ra mấy cặp hẹn hò.

Những thằng đơn độc như tôi được chi đoàn tặng một cuốn sổ tay, có ảnh bác Hồ.

Còn mấy thằng có bạn gái thì chắc là thêm lắm thứ linh tinh khác.

Tôi cũng say cái máu "sa trường" nên dứt khoát không hẹn hò ai, để cho lòng thanh thản. (Thật ra có đứa quái nào nó yêu mình đâu?

Hoặc giả là nó yêu thầm mà mình không biết, song tôi không bận tâm, lòng dửng dưng).

Tranh thủ còn thời gian, tôi đến thăm bà ngoại.

Bà ngoại tôi cứ dặn đi dặn lại một câu:

- Nếu ở bộ đội, người ta có yêu cầu lên lấp lỗ châu mai, thì đừng có mà xung phong, cháu nhé.

Chả là bà ngoại tôi có một người con trai lớn, mà tôi gọi là cậu ruột, đã hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Khi đó cậu tôi là Đại đội trưởng pháo phòng không của Đại đoàn 308, hy sinh lúc 26 tuổi.

Nếu tôi cũng hy sinh, thì tình cảnh của mẹ tôi sẽ y hệt như bà ngoại tôi, vì tôi cũng có một chị gái.

(Còn chuyện tại sao bà ngoại tôi lại biết đến cái chuyện lấp lỗ châu mai.

Đó là do năm 1965, kỷ niệm 10 năm giải phóng Điện Biên, trong một tập hồi ký nào đó có kể câu chuyện đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm một đơn vị bộ đội trước ngày chiến dịch ĐBP.

Trong chuyện có tình tiết khi hạ quyết tâm ra trận, CTV hỏi: "Ai xung phong ôm bộc phá lên đánh hàng rào?".

Cả đơn vị đồng thanh giơ tay hô: "Tôi!".

Sau đó CTV lại hỏi: "Ai xung phong lên lấp lỗ châu mai?".

Cả đơn vị lại giơ tay đồng thanh hô: "Tôi!".

Chính câu chuyện đó đã ăn vào tâm trí bà ngoại tôi, vì dù là phụ nữ, bà cũng biết rằng lên lấp lỗ châu mai thì chắc chắn sẽ là liệt sĩ).

Một ông chú, em rể của mẹ tôi, vốn là một chính trị viên Tiểu đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nay đã chuyển ngành, thì dặn tôi một câu, đầy chất chính trị:

- Cháu đi bộ đội, dù có gian khổ, hy sinh đến mấy cũng nhất quyết không được đảo ngũ, làm mất danh dự gia đình.

Vậy thì con đường đi vào quân ngũ của tôi đã xác định rõ hướng, đúng như sau này CTV đại đội huấn luyện của tôi nói: " bộ đội chỉ có tiến, không có lùi".

Đợt chúng tôi đi có đủ cả thanh niên 4 khu nội thành và 4 huyện ngoại thành (Khi đó không gọi quận, mà gọi là khu phố).

Đi theo diện địa phương quản lý.

Hai ngày sau (6/9/1971) cũng có đợt tòng quân tại Hà Nội, nhưng là sinh viên năm đầu của các trường Đại học.

Cũng đến hơn nghìn người, bổ sung thẳng cho các sư chủ lực.

Anh Thạc "Mãi mãi tuổi 20" đi trong số này.

Dân khu phố chúng tôi đi có đến gần hai nghìn đứa, vào thẳng trung đoàn 1867 (D59) thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô (tư lệnh: trung tướng Chu Duy Kính) quản lý.

Mỗi khu phố một điểm giao nhận quân.

Tôi thuộc khu Đống Đa, tập trung tại rạp chiếu phim Đống Đa ở phố Thái Thịnh bây giờ.

Đọc tên xong ra xe, ô-tô chở thẳng chúng tôi vào Đại Mỗ (Hà Đông).

Trưa 4/9/1971 bắt đầu ăn bữa cơm lính đầu tiên.

Tất cả nghỉ nhờ nhà dân.

Chúng tôi nhận mặt A trưởng, rồi sau đó cứ bám vào đấy như lũ gà con theo mẹ cho khỏi lạc.

Rồi hỏi han tên nhau trong A, cặp từng hai ba thằng cho có bạn.

Cứ thấy ông nào mặc quân phục là gọi thủ trưởng tất.

Bangày đầu liên tục học chính trị.

Tối sinh hoạt, thời gian khép kín.

Ở nhờ nhàdân, chưa quen rõ hết nhau, lại mặc đồ dân sự nên quản lý cũng không chặt lắm.Thế cho nên sau 9 giờ tối, nhiều thằng vẫn chuồn về được nhà (bạn chúng nó mangxe đạp đến đón) rồi sáng sớm hôm sau trước giờ báo thức lại có mặt ở nhà dân.

...

Chiều ngày thứ ba, chúng tôi được phát quân trang.

Có 3 cỡ số, nhưng lính tráng toàn thuộc loại nhỏ con nên chỉ số 2 và 3 là phù hợp.

Thằng nào vớ phải số 1 thì như mặc áo phường tuồng.

Nhưng không có đăng ký lựa chọn gì, ai vớ phải ba lô có cái nào dùng cái đó.

Ba lô là của Việt Nam, còn quần áo là màu cứt ngựa, vải dày nhưng nhẽo nhèo nhèo, nghe nói của Triều Tiên viện trợ.

Chiều đấy mặc quân phục vào nhìn nhau lạ lắm.

Nhìn sau lưng ai cũng giống ai, chưa quen phân biệt dáng dấp riêng.

Một hai hôm sau mới thấy bình thường.

Thêm được một ngày nữa làm công tác chuẩn bị.

Buổi tối, đơn vị phổ biến lệnh hành quân.

Chưa phát súng nhưng mỗi thằng được phát ruộng tượng và 5 cân gạo.

Khi đó phát cả chiếu cói cá nhân.

Sáng ngày thứ năm, cả đơn vị lên đường hành quân, nhằm hướng Thị xã Hòa Bình thẳng tiến.

Đội hình là đại đội, nhưng mọi thứ nhất nhất theo lời A trưởng.

Chưa quen đi nên ai cũng mỏi mệt.

Mỗi tiếng giải lao 10 phút, cứ thế mà làm.

Dọc đường đi lên Quốc Oai còn thấy ngấn bùn đọng cao trên hàng cây to ven đường, dấu tích của trận lụt vừa qua.

Vị trí tập kết mới là Bãi Nai thuộc Kỳ Sơn, Hòa Bình.

Từ Đại Mỗ lên đó cỡ bảy chục cây số, chia làm 3 ngày đi đường.

Tôi được cử vào đoàn tiền trạm của một chặng, lếch thếch theo một anh B phó hành quân, đi trước đội hình đơn vị một ngày.

Tới trước nơi mà đơn vị sẽ định trú quân, tập làm mọi thứ để giao dịch với dân.

Tôi rất có ấn tượng với một xã thuộc huyện Quốc Oai, Hà Tây ấy.

Trong xã hầu như không có thanh niên.

Trung niên cũng lác đác, còn đa phần là phụ nữ.

Xã đội trưởng cũng là phụ nữ.

Về lý thì họ tiếp nhận, giúp chúng tôi phân chia địa bàn vào các xóm, còn hỏi nghỉ nhờ một đêm ở nhà ai thì chúng tôi phải tự đi hỏi.

Mang tiếng là bộ đội, nhưng chúng tôi bỡ ngỡ và ngờ nghệch lắm.

Toàn chào người nhiều tuổi là mẹ, xưng con, còn với các nữ dân quân thì gọi là đồng chí.

Ban đầu cứ nhấm nha nhấm nhẳn với các nữ dân quân, lúc thì đồng chí, khi anh em, mãi gần tiếng đồng hồ mà chưa hỏi được mấy nhà có chỗ cho nghỉ.

Cái khó không phải là mái hiên, mảnh vườn, mà khi đó chúng tôi yêu cầu có chỗ nằm trong nhà, lại còn xin dân củi nước nấu cơm nhờ nữa kia.

Lính Hà Nội không quen nấu cơm bằng rạ, muốn xin củi cơ, mà đồng bằng khó kiếm (dân Hà Nội khi đó còn phải mua than hay củi định lượng theo phiếu hàng tháng.

Tôi nhớ mỗi kỳ bão là bọn thanh niên rủ nhau ban đêm vác dao đi lượm cành khô hoặc chặt cành cây đổ do bão về làm củi.

Khi đó có cây đổ, chả đợi đến Công ty Công viên-cây xanh như bây giờ, dân tự dọn hết, sáng ra là đã đường thông hè thoáng rồi.

Mà gỗ xà cừ, chặt tươi còn dễ, đem về để khô mới chặt, chẻ thì vất lắm).

Đi lại loanh quanh mãi mà kết quả không bao nhiêu, tôi tách ra ngồi bệt xuống cạnh một cái rào duối để nghỉ, bụng nghĩ thây kệ, muốn ra sao thì ra.

Dùng rạ nấu cơm mà không xong thì tất cả nhịn.

Nhưng may quá, lần đầu tiên tôi biết thế nào là "thánh nhân đãi kẻ khù khờ".

Hai vị thánh của tôi xuất hiện.

Đó là hai cô bé chỉ độ 13, 14 tuổi.

Chúng nhìn thấy tôi là ngồi luôn xuống bên cạnh hỏi chuyện, cực kỳ mộc mạc và chân thật.

Tôi được phong lên hàng "chú" bộ đội, mặc dù về tuổi xét ra chúng là em, kém tôi chỉ 4, 5 tuổi.

Nghe tôi kể khổ, chúng nghe và không ngần ngại kể cho tôi biết trong xóm nhà nào dễ, nhà nào khó, nhà nào có thể cho bộ đội củi nấu cơm.

Rồi chúng hăm hở dẫn tôi đi.

Hơn nửa tiếng sau thì tôi đã hỏi nhờ được đủ số nhà dân cho trung đội nghỉ nhờ.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên trong lính như vậy đó.

Ôi, các cô bé gái tuổi niên thiếu.

Đủ độ để hiểu việc mà lại rất thực, không dấm dẳn à ơi như các "chị" mười tám đôi mươi, tán gẫu thì vui mà đụng vào việc nào là hỏng việc ấy.

Các em là những người thày thực tế đầu tiên đã làm cho anh hiểu thêm tâm lý con người.

Cái này nhà trường đâu có dạy.

Từ đó về sau, khi đóng quân nhà dân, bao giờ tôi cũng tìm cách làm thân với những em gái 13, 14 tuổi, và bao giờ cũng được việc khi muốn tìm hiểu tình hình xóm làng.

(

Sau này tôi có đúc rút kinh nghiệm vả kể lại rất nhiều trường hợp, rất tỉ mỉ cho một thằng bạn làm bên ngành giáo dục, đến nỗi thằng này chọn đó làm đề tài nghiên cứu tâm lý và thu về được một cái bằng Tiến sĩ, cũng hỉ hả như ai).

...

Chiều ngày hành quân thứ ba thì chúng tôi đến Bãi Nai.

Chỗ này còn cách thị xã Hòa Bình 10 cây số nữa.

Rẽ phải vào một đoạn thì gặp một con suối.

Lòng suối rộng, nước nông và trong, gập ghềnh toàn đá sỏi.

Suối này xe ô tô qua lại vô tư, không phải bắc cầu hay làm đường.

Qua suối phải đi thêm 7 cây số, qua 2 cái bản rồi mới đến địa danh gọi là dốc Bụt.

Lại qua một con suối nhỏ nhưng khá sâu nữa thì lên đến doanh trại.

Lán trại đã có sẵn từ đợt huấn luyện tân binh trước.

Địa hình rất dốc, các lán phải làm kiểu nửa nhà sàn.

Chỗ bằng phẳng do lính san ra không rộng hơn cái chiếu là mấy.

Sạp nằm bằng nứa dài đủ sáu bảy người nằm.

Mỗi A vào một gian lán.

Cuộc sống bộ đội bắt đầu.

Liên tục mấy ngày đầu phải đi gùi lương thực thực phẩm, súng ống ... từ mãi ngoài BCH Trung đoàn ở khu suối cạn.

Rồi cả D được thịt một con trâu khao lính.

Sau đó thì học chính trị, học 10 lời thề, kỷ luật quân đội ...

Hưởng trận mưa rừng đầu tiên, cả đơn bị ngồi bó giò trong lán.

Chỉ khổ thằng đi lấy cơm.

Nhưng mưa này là mưa rừng miền Bắc, chả thấm vào đâu so với mưa rừng Trường Sơn sau này.

Tối nào cũng sinh hoạt, học hát các bài quy định và tự hát "sinh hoạt văn nghệ" cho có không khí.

Sau tuần đầu tiên thì đơn vị bắt đầu có lính "tút".

Lần đầu tiên nghe từ "đảo ngũ".

Cho đến bây giờ nói quen miệng thôi chứ thật tình tôi vẫn chưa hiểu "bác" nào trên cục Quân huấn hay Cục chính trị sáng tác ra cái từ này.

Xem truyện của Liên xô thời Chiến tranh vệ quốc, thì những ai bỏ đơn vị không tham gia chiến đấu gọi là "đào ngũ", còn chạy sang đầu hàng địch gọi là phản bội.

Cái từ "đảo" này chả biết Hán ngữ hay Nôm ngữ, nhưng từ quan to đến lính đều gọi quen mồm thế chứ chưa ai giải thích được rõ ràng.

Tóm lại vẫn là theo qui tắc số đông.

Đợt tôi nhập ngũ, tuy là lính khu phố, nhưng vẫn phân ra hai loại.

Số ít là những thằng vừa học xong lớp 10 phổ thông (đã có giấy gọi đại học hoặc không), còn đa phần là dân tự do, công nhân hoặc chưa có việc gì làm.

Tuy là lính mới mà vẫn có trò bắt nạt nhau.

Những thằng vô công rồi nghề lúc ở nhà tỏ ra gấu nhất.

Thằng Th."mốc" (bây giờ là thương binh, cầm đầu một số anh em thương binh nặng-mất từ 2 chi trở lên- lập nhóm chuyên đòi nợ thuê trong dân sự) có cái mũi đỏ to còn hơn của nghệ sĩ Quang Thắng bây giờ, hay trợn mắt dọa bọn tôi: "Chúng mày có đi lính, chẳng qua đi nghĩa vụ, gọi mới đi, chứ tao đây còn tự nguyện viết đơn xin ra tù để đi lính cơ".

Chả là thằng này lúc ở nhà chuyên "giạt vòm", trộm cắp.

Trước ngày nhập ngũ nó bị bắt vì tội đánh nhau hay móc túi gì đó, gia đình phải bảo lãnh cho ra để kịp ngày đi bộ đội.

Nhưng cái vẻ hung hăng của nó làm khối người sợ.

Vào dốc Bụt được một tuần, nó rủ năm sáu thằng đảo ngũ.

Chúng nó không trở ra lối suối cạn, mà hỏi đường dân rồi đi sâu vào trong dốc Bụt rồi tìm lối tắt ra quốc lộ 6.

Một tuần sau chúng nó lên đơn vị, bị bắt gác đêm và học thuộc 10 lời thề QĐ.

Nghe chúng nó kể, lần đầu tiên tôi biết đến đơn vị đo chiều dài của người dân tộc là "một quãng dao".

Cả bọn suy diễn, đứa bảo là "một con dao quăng", đứa bảo là "một tay dao".

Xem ra thì "một tay xách dao" đúng hơn, vì xách mỏi tay thì nó đổi tay xách, quãng đường tương ứng rất dài chứ "một quăng dao" thì may lắm chỉ vài chục mét là cùng.

...

Đợt nhập ngũ của chúng tôi quân đông quá.

Cả đợt tới gần 1800 lính, mỗi A tới 17, 18 thằng nên ở rất chật chội, sinh hoạt có gì đó không ổn.

Vì vậy gần một tháng sau, từ 2 tiểu đoàn 48, 50 được tách ra một tiểu đoàn nữa (D52).

Tôi được sang D52, hành quân ra đóng quân ở cạnh một bản dân tộc Mường gần khu suối cạn.

Chỗ này địa hình bằng phẳng, cả 4 B quây mặt vào một cái sân rộng đủ chỗ tập trung cho cả C.

Chỉ khi đi sâu vào rừng mới phải leo dốc.

Thao trường cũng là bãi đất bằng cách xa doanh trại nửa cây số.

Chỗ tập đội ngũ theo từng B thì thoải mái, rộng rãi, chả bù cho trong dốc Bụt.

Thế là những ngày huấn luyện bắt đầu, Chúng tôi chỉ học 3 loại súng là AK, RPK và K63.

Chuyện học đội ngũ, học bắn súng, ném lựu đạn, đánh bộc phá, hay đào công sự thì có lẽ nơi nào cũng như nhau trong toàn quân.

Lúc đầu chưa quen, mệt và vất vả thì ai cũng như ai, rồi sẽ quen tất thôi.

Có mấy điều gây ấn tượng với chúng tôi.

Thứ nhất là được ăn nhiều hơn (tiêu chuẩn 1 tháng: 21kg gạo so với 13,5kg ở nhà và 2,4kg thịt so với 0,3kg ở nhà).

Thứ hai là phải tập đi bộ và đeo nặng 20-25kg.

C trưởng thông báo chúng tôi phải hành quân đủ 500 cây số thì mới được vào chiến trường chiến đấu.

Đời tân binh có đủ mọi chuyện lạ, nhất là đối với lính học sinh chúng tôi.

Đầu tiên là chuyện thằng Lương "vỗ vai".

Thằng này vóc dáng bình thường thôi, nhưng rắn chắc.

Nó chơi ghi-ta rất khá, lúc học sinh từng theo thày Văn Vượng ở khu Cửa Nam để học đàn.

Nghe ngón vê đàn của nó thì thật mê li. (Cái trò âm nhạc thu hút lòng người ghê lắm.

Bắc lính nào có ngón chơi đàn giắt lưng thì khi đóng quân nhà dân giao lưu, khối em chết).

Khi đó thấy trong C có một số thằng hay gây gổ, thằng Lương khó chịu lắm.

Cứ gặp thằng nào gây sự với mấy đứa thư sinh, nó lại gần thằng đó "vỗ vai" ghé tai nói nhỏ gì đó.

Thế là sau giờ sinh hoạt tối, Lương lặng lẽ cùng thằng đó trốn ra thao trường (cách doanh trại chỉ độ 500 mét).

Sau hơn nửa tiếng thấy hai thằng trở về, rồi từ hôm sau thấy thằng kia "dịu" hẳn đi.

Mấy vụ như thế, chúng tôi tò mò rồi bí mật theo chân chúng nó trốn ra thao trường ban tối để xem.

Thấy thằng Lương và đối phương chẳng nói chẳng rằng, xông vào nhau đấm túi bụi.

Kết quả bao giờ cũng là thằng Lương thắng.

Sau đó hai thằng đó lặng lẽ ra về.

Cứ như vậy, thằng Lương "so găng" đến hơn chục vụ.

Rồi anh em trong C cũng biết hết chuyện và nể nó ra mặt.

Từ đó Lương có tên là Lương "vỗ vai", nhiều khi chúng tôi còn phong nó là "Lê Mã Lương". (bác này bây giờ làm nghề tự do, sửa TV có tiếng trong khu Đống Đa.

Gần sáu chục tuổi rồi mà chiều nào bác ấy cũng chạy 2 vòng hồ công viên thống nhất, sau đó về giã gạo xà kép 2 chục chiếc vô tư, mặt không hề đỏ.

Thanh niên khối đứa chạy dài không kịp).

Rồi đến chuyện của mấy thằng bất trị.

Một tối họp đại đội, CTV đứng trên bục thông báo: "Có đồng chí nào lấy trộm cái mũ cối tàu của C trưởng thì trả ngay.

Đây là hành động trộm cắp lưu manh, không thể chấp nhận có trong bộ đội được...".

Cả C im lặng.

Nhiều thằng biết cái mũ cối ấy đã bị chuyển hóa thành kẹo dồi (kẹo lạc) ở quán nước ngoài suối cạn lúc sẩm tối, và đã chui vào bụng lính hết rồi, nhưng không đứa nào dám nói.

Lên lớp về phẩm chất cần có của anh bộ đội cụ Hồ chán chê mà không có kết quả, CTV cho cuộc họp giải tán.

Tối sau, chúng tôi lại họp C (Hơi bất thường).

CTV lại đăng đàn.

Lần này giọng nói của ông chùng xuống, nghe hơi run run.

Ông bảo: "Hôm qua tôi vừa nhắc nhở chuyện cái mũ cối của C trưởng, tìm chưa ra, thế mà đêm qua đ/c nào đã lấy mất của tôi cái ca uống nước.

Cái ca ấy không giá trị nhiều, nhưng là kỷ niệm tự tay tôi làm từ ống pháo sáng hồi chiến đấu bên Lào.

Thôi, đ/c nào lỡ lấy thì cho tôi xin".

CTV chỉ nói thế thôi, nhưng lần này lính tráng chúng tôi tỏ thái độ không đồng tình với kẻ bất thiện.

Hai hôm sau, một buổi sáng sớm, CTV ra đánh răng đã nhìn thấy cái ca "pháo sáng" ngoắc trên cái ba chạc gác chậu đầu hè.

Từđó về sau, không ai còn chính thức nhắc đến cái mũ cối và cái ca trong các cuộchọp nữa.

Ngay từ tuần thứ hai ra khu doanh trại mới, chúng tôi đã phải tập hành quân mang vác.

Phải tập đi những 500 cây số rèn luyện cơ mà.

Mỗi thằng tự nặn 4 cục đất (sét), mỗi cục 5 ký lô.

Mỗi tuần có hai buổi tối tập hành quân.

Vất quân tư trang ra sạp trong lán rồi lấy nilon gói 4 cục đất cho vào ba lô.

Buổi đó không phải sinh hoạt tối, đi ngay từ lúc 7 giờ.

Mỗi tối đi chừng 10 cây số, sau tăng dần nhưng chỉ thêm độ một hai cây số.

Đi và về một hướng nên nhiều thằng láu cá ra khỏi doanh trại một đoạn là giấu bớt một cục đất vào bụi, lúc trở về lại lấy ra cho vào ba lô, nên về đến doanh trại kiểm tra vẫn đủ.

Về sau cán bộ B, C đổi chiến thuật, mỗi lần đi một hướng, sau đó là đi theo đường vòng tròn, xuất phát hướng Tây, nhưng về doanh trại lại vào theo hướng Đông nên nhiều thằng bị vạch mặt.

Về sau, chúng tôi xác định nếu không tự rèn thì vào đến Trường Sơn mình tự chết trước, nên cái trò láu cá mất dần.

Sau nữa, đơn vị lại thỉnh thoảng tổ chức đi dã ngọai xa vài chục cây nên có láu cá cũng không được.

Chủ nhật, chúng tôi không được nghỉ mà phải vào rừng lấy củi.

Ba thằng chung một con dao dựa, khoán mỗi thằng 20 ký.

Thực chất mỗi chúng tôi chỉ chặt được một khúc to, chủ yếu là tươi, vác thấy nằng nặng là được.

Cái điệp khúc này, lính Bắc chắc ai cũng gặp và cũng ngán.

Chẳng qua đều là chặt cây rừng, trộm của dân.

Có điều khi đó rừng chưa giao cho dân, lại mang tiếng bộ đội thời chiến nên đồng bào Mường không ai kiện cáo gì.

Càng đợt lính sau càng phải đi xa, vào sâu hơn.

Đến tháng thứ hai, chúng tôi được phép đón người nhà lên thăm.

Có lán "nhà khách" dựng ngoài cổng doanh trại hẳn hoi.

Vì hầu như chưa lính nào có vợ nên người nhà chỉ lên thăm một ngày.

Cuối chiều về sớm để còn kịp ra Bãi Nai đón xe khách.

Được chút bánh kẹo đem về lán chia nhau, chủ yếu trong tổ tam tam.

Tiểu đội có 12 người nên không đủ chia cho tất cả.

Tôi còn nhớ vụ mẹ thằng K.

"con" lên thăm nó.

Hôm ấy C phó Hảo trực nhà khách nên có ra tiếp mẹ nó.

Ông Hảo (người Hà Tĩnh) 35 tuổi mà vẫn lẹt đẹt C phó, là người cao tuổi nhất đại đội, gọi thằng K. là em mà gọi mẹ nó cũng là em.

Lính tráng phì cười, mãi sau mới rõ là ông ấy có lý.

Mẹ thằng K năm ấy mới có 32 tuổi, sinh nó lúc chưa tròn 15 (!), mà thằng K năm đó cũng chưa đủ 18 tuổi.

Nó bị trêu ghê quá tới mức viết thư về dặn mẹ nó đừng lên thăm nữa.

Nó bé nhất A nên về sau ai có chút quà gì cũng chia cho nó, cho nó khỏi tủi thân. (Thằng này bây giờ chuyên bán gà làm sẵn ở chợ Vọng, người vẫn nhỏ con và tính vẫn tếu táo như ngày nào.

Không ai dám bảo thằng này đã quá 50 tuổi).

Trung đội tôi ở một khu đất quay sát vào một núi đất. sau lán có mấy rặng bương, vầu của dân.

Trong đơn vị có anh Thanh, vốn là công nhân lâm nghiệp, 27 tuổi rồi, nhưng vì sao đó nên phải nhập ngũ cùng đợt chúng tôi.

Anh ấy đã có vợ và con.

Tính cởi mở nhưng không tếu.

Chiều nào trước giờ cơm chiều anh ấy cũng ra sau lán bẻ bẹ vầu đun nước pha chè bồm trong cái ống bơ to.

Bát nước chè chuyền tay nhau cho mấy thằng trong tiểu đội.

Đôi khi anh ấy kể chuyện rừng, chuyện khai thác lâm nghiệp của xí nghiệp anh ấy.

Tôi có cái hứng uống nước chè từ khi đó. (

Sau này đến khi chúng tôi vào chiến trường thì anh ấy được giữ lại về làm thủ kho gì đó ở Bộ Tư lệnh thủ đô).

Rồi lại chuyện thằng Khiêm (thằng này vào chiến trường có nhiều chuyệnlắm, kể dần sau).

Nó kiếm đâu được cái đài khuyếch đại thẳng tự lắp bằng babóng Tranzistor nghe được đài tiếng nói Việt Nam.

Pin là tầng pin Vô tuyến cũxin đâu đó, một cực cứ phải cắm bằng cái kim băng để lấy đúng điện áp nguồn.Tối nào nó cũng đem ra nghe từ 9 giờ tối cho đến 9 giờ 30 thì phải tắt để đingủ.

Tôi nằm cạnh nó, được nghe ké nên cũng thấy đỡ nhớ nhà.

Bây giờ đến chuyện làm giúp anh nuôi.

Bốn anh nuôi trong C tôi vốn là lính thu dung của đợt D34, D36.

Chúng nó nhập ngũ đợt hè 1970, trước chúng tôi hơn một năm.

Khi đó, chúng nó được nhiều ưu đãi lắm, vì chưa phải cảnh tổng động viên.

Đóng quân bên Đông Anh, cách nhà chỉ trên hai chục cây số, thằng nào mà chả tranh thủ "tút" về nhà vài lượt.

Có khi chúng nó "tút" cả đám hơn chục thằng, về Hà Nội chơi vài ngày rồi lại nhập lên đơn vị vô tư.

Kỷ luật khá lỏng lẻo.

Đợt chúng nó chỉ gặp cảnh ăn bí ngô triền miên thay rau là xót ruột thôi, còn thì không có gì đáng phàn nàn.

Lúc ấy, mỗi chiều thứ bảy, chủ nhật, thấy bọn lính mặc quân phục bạc màu, tay áo thả dài không cài khuy, quần chít ống mà giày cao cổ lại không thắt dây, thả bước vào quán Gió, quán Bốn mùa gọi cà phê, hút thuốc lá thả khói hình vòng tròn điệu nghệ thì thanh niên Hà Nội mê lắm.

Cũng vì chiều quá nên lính tráng sinh hư.

Sau tết năm 1971, chúng nó chuẩn bị vào Nam.

Lính trung đoàn 1867 Bộ Tư lệnh thủ đô thường không bổ xung cho các sư chủ lực ở Bắc, mà hành quân theo đội hình đông vào bổ xung thẳng cho chiến trường.

Cả tiểu đoàn sáu trăm con người lên cả một chuyến tàu hỏa ở ga Yên viên.

Đợt đó chúng nó được phát ngay quân tư trang mới ở Đông Anh.

Súng đạn cũng phát luôn, toàn Ak và lựu đạn chày.

Toa hậu cần phía đầu tầu chất sẵn bánh kẹo, thuốc lá và nước ngọt. (Chủ yếu là si-rô thôi chứ chưa có bia).

Lính mà được phát thuốc lá Tam đảo, Điện biên, có cả bao bạc hẳn hoi.

Lúc đó ngay cả thời gian huấn luyện cũng chưa có lệ phát thuốc lá cho lính, vậy mà lúc đi B, chúng nó đầy đủ vậy.

Nghe nói toàn đồ úy lạo của thành phố. (cái này nghe giống như chuyện úy lạo của nhân dân TQ cho các chiến sĩ Quân giải phóng ND TQ trong chiến dịch Thượng Cam Lĩnh bên Bắc Triều tiên hồi 1953 quá).

Lên tàu là thuốc lá và bánh kẹo đã được phát tới tận tay lính.

Tàu chạy chậm, lính tráng ngả ngiêng hát hò, trò chuyện.

Sẩm tối thì qua cầu Long Biên.

Cầu Long Biên khi đó đã bị máy bay Mỹ đánh sập mấy nhịp trong chiến tranh phá hoại, được sửa lại, nhưng chỉ được phần cầu, còn những dầm khung giằng thép mang dáng dấp đặc trưng của cây cầu thì không có (đến bây giờ cũng vẫn thế) nên tàu chạy chậm.

Một thằng nào đó phởn chí chợt thò AK ra cửa sổ toa tàu nhả lên trời một loạt đạn.

Thằng khác thấy thế cũng hưởng ứng góp một loạt.

Thế là như phản ứng dây chuyền, lính ở các toa cùng thi nhau xả đạn lên trời.

Chỉ huy đi cùng toa quát được thằng này, thì thằng ở góc kia bắn, cứ loạn cả lên.

Trong cảnh láo nháo mà thằng lính nào cũng có súng đạn, tâm trạng đầy phấn khích thì chỉ có bó tay.

Quá đáng hơn, một thằng rút lựu đạn giật nụ xòe rồi quăng xuống lòng sông.

Tiếng nổ to và cột nước dựng lên gây ấn tượng hơn.

Một thằng làm được thì thằng khác cũng làm được.

Thế là mặt sông dọc cầu dậy lên tiếng nổ và cột nước.

Chắc khi đó dưới sông không có tàu bè và thuyền đánh cá qua lại, nếu không hậu quả sẽ khôn lường.

Bọn cá chết oan nổi lên mặt sông, chắc phải trôi cả cây số xuống dưới hạ lưu mới có người vớt.

Tàu vào đến ga Long Biên thì tình hình mới tạm ổn.

Lính tráng không dám bắn vào khu vực có dân.

Chúng nó chỉ thò cổ ra ngoài toa hò hét om sòm.

Tối rồi, đường Phùng Hưng cũng vắng vẻ nên không khí lịm dần.

Vào Ga Hàng cỏ thì tàu dừng lại.

Chắc các thủ trưởng cấp trên ở Bộ TLTĐ muốn dừng tàu để vào ga trấn chỉnh lính.

Nhưng hình như quyết định này là sai lầm.

Tàu dừng là lính tỏa xuống sân ga.

Rồi lếch thếch cả ba-lô và súng đạn, từng tốp lính kéo nhau ra hai đầu đường sắt phía Khâm Thiên và phố Nguyễn Khuyến.

Tốp thằng Luân phố Huế vừa ra đến gần cầu vượt phố Khâm thiên thì bị một đại uý đứng chặn giữa đường tàu giang tay ngăn lại.

Chẳng sợ chút nào, thằng Luân chỉ vào mặt người sĩ quan, hỏi anh em lính: "Lão này có phải thủ trưởng chúng ta không hả chúng mày?".

Một thằng kêu to: "Cóc phải".

Thế là chúng nó gạt ông sĩ quan ra rồi ào ào đi.

Sức ngăn không lại, cũng không thể rút súng ra bắn (bọn thằng Luân khi đó cũng súng ống đầy mình), ông đại úy đành bất lực nhìn đám thằng Luân, rồi nhiều tốp lính khác tràn qua trước mặt.

Đêm đó, cả tiểu đoàn lính, lớp ngủ lại sân ga, lớp ra công viên Thống Nhất chơi cả đêm, một số thằng về nhà ở gần.

Đến sáng, chúng nó cũng lục đục trở lại tàu.

Gần như đủ cả mới lạ chứ.

Trời sáng rõ, đoàn tàu mới chuyển bánh rời ga.

Nhưng như thế chưa phải là đã hết.

Vượt khỏi ga Văn Điển là đã thấy rõ cảnh nông thôn vắng vẻ.

Con đường quốc lộ 1 bé chỉ vừa hai xe tải tránh nhau chạy dọc theo đường sắt, chốc chốc mới có người.

Trời se lạnh, chỉ thấy bóng nông dân xa xa trên ruộng.

Đến gần Thường Tín thì gặp mấy em gái đèo nhau trên xe đạp đi cùng chiều.

Thế là lính tráng thò cổ ra trêu, huýt sáo ầm ĩ.

Các em e thẹn nghiêng nón che.

Thế là một thằng nào đó túm ngay gói kẹo quăng xuống.

Chưa kịp hiểu sao thì kẹo trên tàu ném xuống rào rào làm các em liêu xiêu suýt bẹp nón, ngã xe phải dừng lại.

Hoảng hồn, nhưng số kẹo ném xuống chắc đủ cho trẻ con cả xóm liên hoan.

Cứ như thế mà tiếp diễn kéo dài suốt dọc đường tiếp theo, không ai ngăn được.

Có nhẽ đến gần Phủ lý mới không còn kẹo để ném xuống đường.

Số lượng lính ăn chẳng bao nhiêu.

Hết khôn dồn đến dại.

Đoạn đường từ Phủ Lý đến Nam Định, lính tráng còn bắn bậy AK xuống ruộng.

Có thằng bắn cả trâu của dân trên ruộng.

Thật quá đội quân ô hợp.

Có lẽ cái thông tin trên đã truyền về Bộ TLTĐ.

Đến ga Núi Gôi thì tàu dừng.

Cả mấy trăm lính có lệnh xuống tàu, hành quân mấy cây số vào một khu doanh trại ở đó.

Có lệnh nộp súng vào kho.

Đến hôm sau thì có một đoàn xe tải quân sự chạy vào.

Lính tráng tập hợp xong, còn đang ngơ ngác thì thấy từng đám vệ binh vây quanh.

Rồi có một thủ trưởng đọc lệnh bắt gần trăm thằng.

Đọc tên thằng nào tống lên xe tải thằng đó, rồi trở về Hà Nội.

Hơn dăm trăm thằng khác ở lại Ninh Bình học chính trị 3 ngày cho thấm nhuần tư tưởng rồi tiếp tục lên tàu đi B.

Thằng Luân nằm trong đám bị dẫn về Hà Nội, gộp vào đơn vị thu dung.

Vài đứa đầu têu bị đưa về giam ở 33 Phạm Ngũ Lão.

Số đông còn lại vừa cải tạo lao động, vừa học chính trị.

Rồi sau đó chúng nó được chia nhỏ từng tốp về làm anh nuôi cho các đợt tân binh sau.

Đấy là tiểu sử bốn thằng anh nuôi trong C huấn luyện bọn tôi.

Chúng nó là lính cũ, chiến tích như thế nên khi nghe chúng nó kể lại, bọn tôi cũng hơi ngài ngại.

Vào lính mới biết cái kiểu họp hành thường xuyên, rồi phát biểu dân chủ này nọ.

Một lần khi họp góp ý anh nuôi, có một thằng phê bình anh nuôi nhặt rau không sạch, còn lẫn cả sợi cỏ.

Hôm sau tôi được cử xuống giúp anh nuôi nấu cơm.

Chỉ là bổ củi, nhặt rửa rau và bị sai vặt thôi.

Vừa rửa xong mấy rổ rau to tướng, chưa kịp ngồi nghỉ thì thằng Th.

"pi-tơ" anh nuôi quát tôi đi kiếm nắm rơm.

Đem nắm rơm về, còn đang phân vân không biết làm gì thì thằng Th. giằng nắm rơm cho vào thớt chặt nhỏ ra rồi trộn luôn vào rổ rau tôi vừa rửa.

Vừa trộn nó vừa lẩm bẩm: "Này thì lẫn cỏ này, rửa rau không sạch này...", rồi nó thản nhiên cho tất vào nồi luộc rau.

Tôi sợ quá không dám nói gì.

Bữa cơm ấy tôi được ăn cùng mấy thằng anh nuôi nên không dính rơm.

Còn lính tráng trong C nhiều thằng dính rơm nhưng cũng sợ không dám kêu vì cũng đoán là bọn anh nuôi cố tình.

Dây vào chúng nó chỉ dại.

Bài học đầu tiên về dân chủ và cảnh ma cũ bắt nạt ma mới như thế đấy.

Chúng tôi là đoàn tân binh thứ hai mà nhóm anh nuôi "thu dung"phục vụ.

Sau này đến khi chúng tôi đi chiến trường thì cả 4 thằng anh nuôi cũngđược biên chế vào cùng C để đi B như chúng tôi.

Mấy năm chiến trường, chúng tôilại sống chan hòa với nhau, không có chuyện gì xảy ra.

Cả 4 thằng đều sống đếnhết chiến tranh.

Có một thằng là thương binh, về làm ở quận đội Đống đa mãi mớinghỉ. (Bây giờ nó mở một quán bán cơm phở ở gần cái quán 88 "Đồngđội" đường Tô Vĩnh Diện mà bác TS1 và các bác QKTĐ hay off đó).

Trong đời chẳng có cái dại nào giống cái dại nào.

May mắn đa phần là nhờ số phận.

Sau lần đi bắn đạn thật bài 1, thằng Bắc "con" trong B tôi loay hoay xin được 3 viên đạn AK.

Nó khoái chí lắm, cứ đến phiên gác là lại lắp 3 viên đạn đó vào băng.

Nó bảo cầm súng có đạn khi gác đêm yên tâm lắm.

Thực tình khi đó chúng tôi gác để tập thói quen rèn luyện là chính, chứ đào đâu ra địch.

Kẻ gian thì cũng chẳng có ma nào mò lên cái xứ huấn luyện hẻo lánh này. (Từ doanh trại chúng tôi ra khu suối cạn rồi đến mấy cái quán nước bên đường số 6 cũng phải 2 cây số.

Chỉ có khi đi lấy gạo, chúng tôi mới được ra đó, tranh thủ mà tạt vào quán.

Tất cả tiền gia đình tiếp tế chỉ đổ vào mấy cái quán đó, mà chỉ có kẹo lạc dồi, thuốc lá quấn hay thuốc Lào.

Một lần ghé vào bưu điện cạnh đó, tôi mua được cuốn truyện "Vi-chi-a Ma-lê-ép ở nhà và ở trường" của Liên-xô đem về doanh trại đọc cho nhớ lại thời còn học sinh mới chỉ cách đó nửa năm trời.

Tưởng đỡ buồn nhưng càng đọc càng nhớ nhà, càng buồn thêm).

Một đêm thằng Bắc "con" gác, tầm 10 giờ thì đại phó Hảo đi kiểm tra.

Nó chờ ông ấy đến gần mới thỏ thẻ chào: "Thủ trưởng đi kiểm tra gác đấy ạ".

Tưởng được khen, được động viên mấy câu, ai dè đại phó Hảo lên lớp cho một bài.

Ông ấy cầm lấy súng của nó bảo: "Đồng chí phải đứng nép vào một góc khuất, thấy người đến bất kỳ ai phải chờ đến gần quát to, "ai!

đứng lại, giơ tay lên", đồng thời lên quy lát chỉa thẳng súng vào đối phương như thế này này".

Nghe ông ấy lên quy lát "roạt" một cái và chĩa súng vào mình, thằng Bắc "con" run như cầy sấy.

Nó biết một viên đạn đã thực sự được lên nòng.

Bây giờ mà ông ấy bóp cò "tạch" một cái là xong đời.

Nhưng nó không dám kêu vì sợ ông ấy thu mất 3 viên đạn.

May làm sao ông ấy đóng chốt an toàn rồi trả súng lại cho nó, qua kiểm tra vọng gác khác.

Ông ấy đi xa rồi, thằng Bắc mới hoàn hồn.

Không đến mức đái ra quần, nhưng mồ hôi ướt đầm, dù khi đó trời đã bắt đầu se lạnh.

Sau lần đó, Bắc "con" chỉ bỏ đạn trong túi quần, không dám lắp đạn vào băng khi gác.

Lính tráng mỗi thằng mỗi nghề, có ngón gì cũng đem theo vào lính.

C tôi có thằng Thịnh người Lệ Mật, Gia Lâm.

Lúc đó không phải ai cũng biết Lệ Mật là làng rắn.

Một lần cả C đang ngồi học chính trị trong hội trường, một thằng ngồi phía ngoài nhìn ra sân bỗng kêu to lên vì phát hiện thấy một con rắn rất to vừa trườn khỏi một bụi tre vào sân.

Nhanh như cắt, chẳng cần xin phép, thằng Thịnh lao ra sân chạy đến chỗ con rắn.

Nó chộp nhanh đuôi con rắn giật mạnh rồi quay tít.

Được một lát, nó dùng tay kia vuốt mạnh con rắn từ đuôi lên đầu, nghe roạt một tiếng rồi vứt ra đất.

Con rắn bị tuốt rạn xương sống không bò được phải nằm im.

Nói thì chậm vậy chứ làm thì nhanh, mọi chuyện diễn ra chắc chưa tới một phút.

Cả hội trường lính ồ lên khen ngợi.

Hôm đó thằng Thịnh đem con rắn biếu Ban chỉ huy làm bữa cải thiện.

Từ đó tiếng tăm Thịnh "rắn" bay khắp tiểu đoàn.

Trong thời gian huấn luyện ngắn ngủi sau đó, hễ ở đâu phát hiện rắn là gọi Thịnh "rắn" tới giúp sức và bao giờ cũng thành công.

Các thủ trưởng quý nó lắm.

Lại đến chuyện bên C38 có thằng Hùng con cháu nhà nghệ sĩ xiếc Tạ Hiển.Sau khi phát hiện khả năng của nó, Tiểu đoàn cho nó về phép 3 ngày, rồi manglên đơn vị một cái xe đạp một bánh.

Nó diễn xiếc mấy lần cho cả D xem.

Rồi lạidiễn cả cho đồng bào xem.

Thỉnh thoảng buổi chiều trước giờ ăn cơm, nó còn đixe 1 bánh ra con đường đất ngoài bản.

Phụ nữ và trẻ con bản Mường xem khá đông.Thằng này từ khi có món "xiếc xe đạp 1 bánh" không còn bao giờ phảiđi lấy củi hay lấy gạo ngoài kho đường số 6 nữa.

Sợ hỏng nhân tài.

Tuy thế hếtđợt huấn luyện nó vẫn phải đi B.

D tôi khi vào Trường Sơn có C38 bị xé ra bổxung cho chiến trường Quảng Nam nên không biết tin gì của nó nữa.�

Dịp 22/12 năm đó, chúng tôi tổ chức hội thao, có cả các thủ trưởng ở Bộ TLTĐ lên thăm.

Được ăn tươi, mỗi C được mổ một con lợn.

Từ đây tôi bắt đầu quen nếp và luôn mong đợi được ăn tươi vào những ngày kỷ niệm của quân đội.

Ngay cả khi vào chiến trường cũng thế.

Khó khăn quá, trên không cấp được thì chúng tôi tìm cách cải thiện tại chỗ.

Tóm lại cũng là một cái cớ để ăn.

Rồi một lần tiểu đoàn có lệnh báo động lúc 4 giờ sáng.

Tập trung hết cả ra sân đại đội, ngồi vêu mặt ngắm những ngôi sao muộn mằn.

Ngáp và gật trong khi đại đội phổ biến sẽ hành quân xa.

5 giờ sáng có cơm ăn.

Trời đông chưa sáng rõ lắm nên không vào nhà ăn mà đem hết ra sân.

Cơm sáng đơn giản nên cũng chẳng có gì phức tạp.

Ăn xong lại ngồi nghỉ theo đội hình, lại rì rầm cho đến 6 giờ.

Rồi tất cả được lệnh hành quân ra thao trường, giống như một buổi tập sớm.

Nhưng hình như không phải thế, chúng tôi lại được lệnh đi tiếp, vòng vèo qua những quả đồi lạ mà chúng tôi chưa từng qua.

Sau đó tập trung và có lệnh "giá súng" theo từng B.

Mỗi B cử 2 người ở lại trông những cái giá súng đó (tất nhiên có đại phó quản lý chung), còn tất cả hành quân sang một quả đồi khác.

Đến đây thì mới biết tất cả các C khác cũng đang lục đục tay không từ các hướng khác đi đến.

Cả tiểu đoàn tập trung thành hàng lối rồi lại ngồi nghỉ.

Mới có 7 giờ sáng.

Chẳng biết có chuyện gì, nhưng chúng tôi cứ ngồi gà gật như thế mãi.

Đến 10 giờ, khi tất cả đã bã người ra rồi (may hôm đó nắng không gắt lắm) thì chúng tôi được lệnh đứng dậy, hàng lối chỉnh tề.

D trưởng tuyên bố hôm nay tiểu đoàn vinh dự được đón Đại tướng Tổng tư lệnh đến thăm.

Thế là ồn ào cả lên.

Rồi chúng tôi được lệnh tập vỗ tay.

Phải vỗ to và đều.

Của đáng tội, cái món này cũng làm cho lính tỉnh táo hẳn ra.

Nhưng cũng phải nửa tiếng sau mới nghe tiếng ô-tô, rồi đoàn xe com-măng-ca xuất hiện.

Quả tình lúc đó chúng tôi cũng bị mất phương hướng, không biết là đoàn xe đi từ đâu tới.

Rồi Đại tướng cùng các thủ trưởng E và Bộ TL xuống xe đi vào bãi.

Chả biết là bàn và micro chuẩn bị từ khi nào.

Khi đó, các Thủ trưởng đều ăn mặc bình thường như lính, đội mũ mềm chứ không có lễ phục gì, thậm chí không đeo quân hàm (chúng tôi cũng vậy.

Từ lúc nhập ngũ đến lúc ra quân, tôi chưa hề được đeo quân hàm lần nào, thật chẳng biết cảm giác nó ra sao).

Chúng tôi được nghe Đại tướng huấn thị chừng 20 phút, đại loại là động viên lớp thanh niên chúng tôi chiến đấu lập công, giữ vững truyền thống quân đội và truyền thống Hà Nội...

Đoàn xe của Đại tướng lăn bánh về rồi, nửa tiếng sau chúng tôi mới được quay lại quả đồi kia lấy súng và hành quân trở về doanh trại.

Buổi chiều tất cả được nghỉ tắm giặt.

Sự kiện ấy được cấp trên phổ biến là niềm vinh dự đặc biệt của tiểu đoàn tân binh chúng tôi, vì không phải đợt luyện quân nào cũng được đón Đại tướng đến thăm.

Nhưng thật tình mà nói, khi đó chúng tôi cũng không thấy hết được niềm vinh dự đó.

Vả lại khi đó trong lính đang truyền tụng một câu nói của bác Hồ: "Tướng phải như tướng Thanh, tá phải như tá Kiện".

Nghe phổ biến sau 22/12 chúng tôi sẽ hành quân xuống Tân Lạc (giáp Ninh Bình), đoán rằng chúng tôi sắp vào chiến trường, có thể không được về phép thăm nhà, lính tráng rủ nhau "tút' hàng loạt.

Cả 4 đại đội đều diến ra cảnh như nhau.

Trên đường số 6 có đêm từng tốp lính "tút" của các C gặp nhau cứ như đi tiền trạm.

Khi đó có B hụt đến 1/3 quân số.

Đơn vị trống vắng hẳn, mà chúng nó "tút" đến cả tuần, ngày hành quân đã ngoại đi Tân Lạc sắp đến, nên các cán bộ C của các đại đội phải cử nhau về tận từng khu của Hà Nội gọi lính lên đơn vị.

Mục thức đêm học 10 lời thề quân đội diễn ra từng đêm.

Thế mà rồi cuối cùng, ngày tận cùng của năm 1971 ấy, đoàn tiền trạm vẫn kịp lên đường nhằm hướng thị xã Hòa Bình.

Một cái duyên nào đó lại dẫn tôi vào đoàn tiền trạm.

B phó Thụy (người Đông Anh) của B tôi dẫn đầu hớn hở kéo chúng tôi vượt suối cạn Bãi Nai ra đường 6.

Lội qua dòng suối mát lạnh, tôi không hề nghĩ rằng cho đến 38 năm sau tôi cũng không có dịp nào trở lại nơi đó, cứ như dòng nước trôi để người đời phải thốt lên rằng "con người ta không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông"...

Thị xã Hòa Bình quá nghèo nàn.

Con đường 6 xuyên qua Thị xã để lên hướng Tây Bắc đi Sơn La cũng chính là trục chính của Thị xã.

Nhà cửa thưa thớt.

Đây đó gặp mấy ngôi nhà cấp 4 là trụ sở của các cơ quan Dân Chính Đảng.

Rồi căn nhà gạch mà lợp mái nứa của một HTX mua bán.

Quá sơ sài.

Đúng là cảnh miền núi.

Đoàn tiền trạm lầm lũi đi qua.

Đến chân dốc Cun thì dừng lại làm điểm dừng chân thứ nhất.

Làng nông thôn miền núi nhỏ bé nhưng còn có vẻ ấm áp hơn mấy ngôi nhà ven đường Thị xã.

Hỏi nhờ nhà dân, tôi lại giở cái bài tìm các em 14 tuổi.

Nhưng điều đó không ấn tượng như ở Quốc Oai.

Các thôn nữ vùng sơn cước mang đậm nét chất phác thật thà vùng người dân tộc, dù làng là của người kinh.

Các em giúp lính thật nhiệt tình.

Chuyện củi nước ở đây cũng khá đơn giản.

Nhà nào cũng nhiệt tình đón bộ đội nghỉ nhờ.

Chúng tôi còn thời gian thảnh thơi tắm giặt trước khi trời tối.

Có ít người nên nấu cơm cũng đơn giản.

Tiếc là thức ăn quá xoàng.

Chẳng có gì ngoài nồi canh rau láo nháo vặt vội ngoài ruộng.

Rau dền cơm, càng cua, tập tàng ấy mà.

Dân cũng ăn vậy thôi.

Lấy đâu mà tiếp tế cho hơn chục thằng lính.

Được cái sau bữa ăn vẫn có nước chè do B phó Thụy mang theo một gói (chè Ba Đình loại 30gram một gói).

Cả tối ngồi tán chuyện, giao lưu với các em dân quân, không phải sinh hoạt, thế là sướng rồi.

Sáng sau một nửa ở lại đón đơn vị, còn 7 chiến sĩ lại lên đường.

Bữa cơm sáng ăn với đường cát nâu, lạ mồm nhưng cũng dễ nuốt.

Hành quân tiếp theo đường số 6.

Con đường vắng vẻ, cứ như chỉ dành cho lính.

Thảng hoặc mới có một chiếc xe tải chạy qua, hoặc mấy ngườii dân đẩy xe đạp lên lấy củi.

Hì hục nửa buổi mới bò lên đến đỉnh dốc Cun.

Thật may là ngay đỉnh dốc có một cái cửa hàng ăn uống mậu dịch.

Có độc món mì (sợi) nấu với nước canh đậu phụ, có pha chút gừng chống lạnh.

Chẳng có chút xương xẩu nào, và tất nhiên là không có mì chính.

Giá cũng bình dân, một hào rưỡi một bát.

Buổi chiều hành quân xuống đến chân dốc.

Trên con đường nhựa vắng tanh bỗng xuất hiện một đồng chí tiếp phẩm cưỡi cái xe đạp Vĩnh cửu chở rau đi ngược chiều.

Tôi đánh bạo lên tiếng: "Đồng chí ơi, cho chúng tôi mấy mớ rau".

Người lính ấy không nói gì, cũng không ngoái cổ lại, nhưng vòng tay ra sau kéo 4 mớ rau cải thả xuống đất.

Chúng tôi mừng quá nhặt vội, còn kịp nói với theo thật to: "Xin cảm ơn đồng chí và lời thề thứ bảy".

Chỉ thế thôi mà sao trong cái buổi chiều hoàng hôn mùa đông se lạnh ấy, tôi chợt thấy vô cùng ấm áp tình cảm thật là lính của những người mặc quân phục xanh mà mình cũng đang vinh dự khoác trên mình.

Qua khỏi chân dốc Cun chừng vài cây số, chúng tôi tách khỏi con đường số 6 đi Sơn la mà rẽ sang hướng đi Tân Lạc, xuống Ninh Bình.

Đi thêm dăm cây số thì chúng tôi đến một nông trường trồng cam.

Anh Thụy cho cả nhóm dừng lại, tuyên bố đây là nơi dừng chân.

Toàn là các gia đình công nhân nông trường, nhưng cũng chẳng khác gì bản làng.

Có chăng chỉ là cái kiểu bố trí nhà nằm theo cụm và chạy dọc theo quốc lộ.

Cũng muộn nên tối đó chúng tôi tạt nghỉ nhờ một nhà ngay ven đường chỉ có hai vợ chồng trẻ, chưa có con.

Cơm nước xong nắm tình hình qua nhà chủ rồi nghỉ ngơi.

Anh Thụy bảo chúng tôi sáng mai hẵng đi tìm nhà nghỉ nhờ cho đơn vị.

Một lệnh nữa cũng được đưa ra là đêm nay nghỉ tập trung ngoài hè, cấm thằng nào được lảng vảng vào nông trường lấy trộm cam.

Ở đây bảo vệ họ có đi tuần đêm bằng ngựa, có súng và sẵn sàng bắn hạ kẻ gian.

Làng quê vốn mến khách.

Nơi đây vắng vẻ lại càng mến khách hơn.

Tối đó có rất nhiều công nhân đến chơi, uống nước và hỏi thăm chuyện Thủ đô khi biết chúng tôi là lính Hà Nội.

Rất nhiều người tròn xoe mắt khi nghe chúng tôi kể chuyện về những chiếc tàu điện "leng keng" chạy trên nhiều tuyến phố. (Thời đó tàu điện còn hoành tráng lắm, không bị ví "lừ lừ như tàu điện" thời cuối những năm 70 đâu).

Rồi đủ các thứ chuyện khác nữa.

Đám lính chúng tôi cứ như những người mở mang đầu óc cho dân xứ núi không bằng.

Và tất nhiên là không cần phải đi ăn trộm cam mà vẫn có cam ăn.

Cam của Ban Giám đốc mời hẳn hoi nhé.

Nông trường còn giúp chúng tôi việc sắp xếp bộ đội của đơn vị chính vàonghỉ những nhà nào trong công nhân.

Thế là không phải đi hỏi nhờ từng nhà, quásướng.

Tình quân dân thời chiến ấy đầm ấm quá. (Chắc bây giờ chẳng bao giờ còntrở lại cảnh "Bao giờ cho đến tháng mười" như thế nữa).

(Chuyện bên lề:

Bác Trong c6 đã gợi nhớ về những món ăn sang trọng của một thời.

Còn nhớ, tại cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh ở Nhổn-Hà Tây, nằm ven đường 32, đối diện với chợ Nhổn.

Tại của hàng này cũng có phục vụ 2 món trứ danh, đó là: phở trứng và miến đậu phụ.

Phở trứng bao gồm 1 tô phở không người lái, có 1 chút hành, và tâm điểm là 1 miếng trứng vịt rán.

Miếng trứng được chế biến theo kiểu: trứng đánh tơi, nhanh tay đổ vào chiếc chảo to đang nóng vì mỡ sôi già, khéo léo lắc chiếc chảo cho trứng dàn mỏng được ra khắp lòng chảo, tạo thành 1 lớp trứng mỏng tang.

Sau đó, cuộn lớp trứng mỏng ấy lại như cuôn bánh cuốn.

Thành phẩm là được 1 chiếc chả trứng cuộn tròn và dài.

Khi dùng dao sắc như dao cạo râu cắt ra, ta được từng miếng trứng tráng có đủ độ đậm nhạt của sắc mầu và có những lớp lang như miếng bánh ga tô.

Mỗi bát phở trứng được 1 miếng trứng thái cuộn như trên, tầm 1 phần 3 quả trứng vịt.

Còn miến đậu phụ thì được đựng trong cái bát chiết yêu.

Bao gồm một chút miến dong, một chút hành, nước dùng là nước sôi có chêm muối-không mì chính.

Và đỉnh của đỉnh là có 2 miếng đậu phụ rán.

To bằng 2 nửa miếng đậu phụ loại 1 nghìn/bìa bây giờ.

Gía của bát phở trứng là 3 hào/bát.

Còn giá của tô miến đậu phụ là 2 hào/bát.

Cách phục của cửa hàng ăn thời đó cũng rất độc đáo.

Đó là phải xếp hàng để mua tích kê.

Phở trứng là cái mảnh sắt tây hình gần vuông hoặc gần chữ nhật.

Miến đậu phụ thì tích kê là mảnh sắt tây hình gần giống tam giác.

Còn xi-rô lựu (chẳng hiểu tại sao lại gọi là xi-rô lựu, chỉ biết đó là 1 thứ nước hơi ngòn ngọt và có mầu hơi hồng hoặc hơi đỏ-tùy theo tay nghề của nghệ nhân chế biến), thì tíc kê là miếng sắt tây hình gần tròn.

Cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh chỉ phục vụ 3 món đó, không có món thứ tư.

Vua đến ăn cũng mặc kệ, thực đơn chỉ có vậy.

Tất cả 3 loại tích kê trên, đều có 1 cái lỗ thủng ở gần giữa miếng sắt tây.

Và sau khi xếp hàng mua tích kê xong, đến lượt phải xếp hàng để lĩnh món sơn hào-hải vị kể trên.

Cái dây xếp hàng này có hướng ngược với dây xếp hàng tích kê, đầu hàng hướng về cái ô vuông phát ngọc thực.

Để chống bọn lưu manh-phản động làm giả giấy tờ có giá, cơ quan chuyên môn đã có cách thức sau: nối giữa quầy bán tích kê và ô lĩnh hàng, có ba sợi dây thép song song.

Một cái dây để lồng và dẫn hướng tích kê hình chữ nhật (hoặc vuông), một cái dây để lồng và dẫn hướng cái tích kê hình tam giác, cái dây thứ 3 còn lại thì để lồng và dẫn hướng cái tích kê tròn.

Đó là lý do tại sao, các tíc kê đều có lỗ thủng ở giữa.

Khi đã nộp tiền xong, thủ quỹ căn cứ vào vật phẩm được bán ra, sẽ lồng cái tíc kê tương ứng vào sợi dây thép phù hợp, rồi đẩy cái tíc kê ấy ra ngoài.

Khách hàng tự dẫn cái tíc kê của mình đến cái ô vuông thần tiên kia.

Nếu như có 1 ông hỗn ăn, mua cả 3 thứ, thì ông ta phải khéo léo đi vào giữa 3 hàng dây và phải nhanh tay đẩy 3 cái tíc kê của mình cùng lúc, không thì con ma đói phía sau nó chửi.

Baoleo còn nhớ đó là năm 1970, kết thúc đợt sơ tán chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lần thứ nhất.

Để liên hoan chia tay nơi sơ tán là thôn Kim Hoàng, baoleo quyết định lắc cái ống tre tiết kiệm (làm gì có tiền mua lợn đất-mà chỉ lấy cái đoạn ống tre, cưa vát 1 tý ở thân ống để làm chỗ đút tiền) ra 6 đồng 5 xu-tức là 3 hào, cuốc bộ ra thị trấn Nhổn để tự khao.

Sau khi đứng trước cửa hàng tầm gần 1 tiếng, nghiến răng cỡ mòn mất đề xi dem răng cho đỡ tiếc, baoleo hùng dũng tiến vào quầy mua tíc kê.

Lúc trao tiền, cô thủ quỹ kêu thét lên vì bỏng tay.

Hóa ra, do baoleo nghiến răng, nắm chặt 6 đồng 5 xu mạnh và lâu quá, đến mức cả 6 đồng xu đều nóng đỏ cả lên.

Đến tận hôm nay, khi gõ những dòng này, baoleo vẫn ânhận là đã dám xa xỉ tiêu tiền để ăn một cách hoang toàng, phá phách nhưthế.)

....

Hôm sau chúng tôi được cả một ngày nghỉ ngơi.

Tôi và thằng Xuyên được cử vào Bản Mường gần đó kiếm rau.

Tinh thần chỉ đạo là có thể mua, nhưng xin được là tốt nhất.

Hai chúng tôi hỏi đường rồi cứ theo con đường đất to mà đi vào phía chân núi.

Chưa được cây số thì thấy cả một không gian rộng mở ra trước mắt.

Một con suối nước to, nông, toàn đá và trong veo chảy hiền hòa na ná như suối cạn Bãi Nai.

Bờ bên kia là cả một khu vườn trồng rau rộng lớn ríu rít tiếng của hơn chục cô cậu học sinh.

Phụ trách chúng là một cô giáo ăn mặc kiểu dân tộc Mường, người nhỏ nhắn và... xinh quá đi mất.

Hai thằng tôi đứng ngây ra nhìn.

Chỉ một nhoáng là đám học sinh đã phát hiện ra có hai chú bộ đội đứng bên kia suối.

Chúng líu ríu vẫy tay gọi.

Hai chúng tôi nhìn nhau rồi cùng xắn quần lội sang.

Đám học sinh quây lấy chúng tôi như người nhà, còn cô giáo thì e thẹn đứng lùi sau một chút, nhưng không giấu được nụ cười tươi.

Vốn đã có một vài bài tập nho nhỏ về công tác dân vận, tôi và Xuyên hòa nhập ngay với cô giáo và học sinh.

Tôi đề nghị được cùng tham gia tưới rau và nhổ cỏ.

Việc này cũng dễ thôi, thằng Xuyên vốn là dân Thanh Trì, nông dân chính hiệu trước khi vào lính, còn tôi cũng đã nhiều năm sơ tán về quê.

Vừa làm vừa tán chuyện, chúng tôi nhanh chóng chiếm được cảm tình của đám học sinh và cả... cô giáo.

Chừng một tiếng sau, chúng tôi ra về sau khi được cô giáo và học sinh tặng cho một ôm rau cải to tướng, được biết tên cô giáo là Hoa, và còn được cô hẹn buổi tối sẽ ra chỗ chúng tôi chơi.

Giá không còn phải về lo cơm nước chung cho cả nhóm, chắc tôi và Xuyên còn muốn nhổ cỏ, bắt sâu lâu hơn nữa.

Hôm đó là một ngày thảnh thơi hiếm có từ ngày nhập ngũ.

Từ đấy, tôi bắt đầu hiểu được cái sướng của đi công tác lẻ.

Không chỉ ngoài Bắc mà sau này vào chiến trường cũng thế.

Không gò bó, ăn uống bao giờ cũng tốt hơn và nếu khéo sắp xếp thì kể cả không phải gác, dù ở gần ngay sát địch.

Tối đó chúng tôi tập trung tại nhà một công nhân nông trường có vợ cũng là cô giáo của cái trường cấp I mà lúc sáng chúng tôi đã tới.

Anh chị ấy mới có một đứa con gái chừng 3 tuổi.

Buổi tối trời lạnh ngồi trong nhà uống nước, tôi ngồi khoanh tròn trên giường và cho cháu bé ngồi trong lòng.

Đứa bé ngồi im, thỉnh thoảng ngoái cổ ngước nhìn mặt chú bộ đội.

Anh chị em công nhân cũng kéo nhau đến chơi khá đông.

Anh Thụy (vốn trước đây là lính trong Đội Danh dự của Quân đội, cao to, đẹp trai) trổ tài tán chuyện.

Đôi lúc tôi chợt quên đi mình đang là lính, và nghĩ rằng nếu cuộc đời cứ như thế này thì đẹp biết bao nhiêu.

Hơn tám giờ tối, cô giáo chủ nhà nháy tôi ra ngoài.

Cô giáo Hoa (dân tộc Mường) đang chờ tôi ngoài sân và rất mạnh bạo rủ tôi dạo chơi.

Bây giờ trông Hoa bình dị như một cô gái kinh, áo trắng (có khoác thêm một chiếc áo len hay sợi gì đó), quần lụa, cái hình ảnh thiếu nữ đơn giản một thời đã làm xao xuyến lòng trai của cả một thế hệ.

Chúng tôi chậm rãi đi dạo ra phía suối.

Trời mùa đông, mọi khi thì chiếc áo vệ sinh (một loại áo khoác nỉ dài tay cài khuy màu cỏ úa phát cho lính khi đó) chưa phải đủ ấm, nhưng hôm đó tôi lại không thấy lạnh.

Tôi mới 18 tuổi, và Hoa thì cũng chắc tuổi đó, nếu không muốn nói là nhỉnh hơn.

Nhưng cô ấy bé nhỏ và xinh xắn trước cái thằng trai mới lớn là tôi.

Vụng về và ngượng nghịu, nhưng cũng khoái vì chính tôi được rủ đi dạo chứ không phải mấy thằng khác trong tốp tiền trạm.

Chúng tôi cứ chậm rãi đi trên con đường đất nhỏ và nói đủ thứ chuyện linh tinh.

Hoa kể về mình ít thôi, nhưng gợi ý để tôi kể chuyện.

Kể chuyện Hà Nội, chuyện lính tráng tập tành chứ không phải là tán.

Thú thực là nếu cô giáo Hoa không bạo dạn, thì tôi không biết nói chuyện gì cho phải.

Nhưng tôi nhớ nhất cái cảm giác lúc đó là tuy nói chuyện rất vui vẻ, nhưng trong lòng tôi thoáng có chút buồn.

Chiến tranh không biết trước thế nào.

Số phận con người càng mong manh, khó đoán.

Đón nhận một tình cảm trên đường hành quân, liệu mình có đem lại điều tốt lành cho người ta?

Tính tôi cầu toàn nên không muốn làm điều gì trái lương tâm mình khi đó.

Chúng tôi chỉ lang thang và nói chuyện đâu đâu thế thôi, cho đến khi trở lại nhà cô giáo người kinh thì đã khuya khuya.

Chia tay nhau cũng chỉ là cái bắt tay chứ không phải cầm tay.

Rồi anh Thụy thò đầu ra gọi tôi đi ngủ.

Lại chơi gần một ngày nữa, chiều hôm sau thì đơn vị hành quân đến.

Rồi sau một đêm nghỉ, cả đơn vị hành quân tiếp xuống phía Ninh Bình.

Chuyện thoáng qua của tôi và Hoa, nhiều đứa trong C biết.

Chúng nó bàn tán đủ kiểu, nhưng nói chung là bậy bạ.

Tôi không chấp nhận cái kiểu sống gấp của kẻ sắp chết.

Tôi tự hào mình vừa là trai Hà Nội, có học và lại là anh bộ đội cụ Hồ, nên sẽ phải sống cho xứng với niềm tự hào đó.

Đến nơi mới hơn một tuần thì nhận được thư Hoa.

Chả hiểu cô ấy hỏi aiđược số Hòm thư của C tôi.

Không ngờ cô ấy mến tôi thật sự và muốn kết bạn.

Tôicũng có thư hồi âm cho cô ấy.

Chỉ một lần thôi.

Tôi đánh bạo nói là sẽ hẹn gặpcô ấy khi đơn vị hành quân trở lại Thị xã Hòa Bình sau đợt dã ngoại, khi đingang qua nông trường cam.

....

Cái bản mà chúng tôi đến đóng quân trong đợt dã ngọai cuối cùng này nằm ngay bên đường quốc lộ, địa hình bằng phẳng.

Tôi không còn nhớ tên bản, nhưng từ đó mà đi xuống Ninh Bình thì cũng không còn mấy xa.

Bản ở gần một cái hồ nước lớn, không có suối, cách khá xa rừng.

Cả đại đội chia nhau ở nhờ trong các nhà dân.

Nhà sàn khá to, vững chãi.

Các C khác trong tiểu đoàn cũng đóng ở các bản xung quanh.

Vùng dân cư này khá tập trung, đông đúc.

Thời gian ở đây chúng tôi tập trung tập tành chiến thuật.

Đất đồi toàn sim, mua ở đây rất rộng, chạy mỏi chân.

Chúng tôi tập nốt bài 3 bắn ban đêm.

Hầu như phải đi tập đêm nhiều nên nhiều khi không phải sinh hoạt.

Có thể nói là thời gian này khá thoải mái, vì dù sao cũng đang ở trong dân.

Đơn vị lại mua củi của dân bản tại chỗ nên chúng tôi không phải vào rừng lấy củi.

Mà có đi lấy, chắc cả ngày cũng không được một bó vì xa quá.

Chúng tôi bắn bài 3 vào một đêm trăng mờ.

Mỗi người được phát 10 viên đạn.

Bắn găm, bắn gần hết 2 loạt, còn 3 loạt nằm bắn bia đèn dầu (lỗ châu mai giả định).

Hai bia bắn găm, bắn gần tôi đều bắn trúng.

Bia đèn tôi nã loạt đầu trúng ngọn lửa tắt ngấm.

Đèn châm lên, tôi lại bắn trúng, tắt đèn.

Châm tiếp lần nữa thì tôi bắn gẫy cả bấc đèn.

Tôi bắn đạt loại xuất sắc (vì loạt bắn nào cũng trúng), nhưng không được thưởng phép vì chúng tôi sắp về nghỉ phép cả lượt để đi B rồi.

Tôi chỉ được biểu dương.

Thời gian đó có một lần chúng tôi được tập trung nghe kể chuyện chiến đấu ở chiến trường.

Người kể chuyện là anh hùng Trịnh Tố Tâm.

Khi đó anh là C trưởng công binh, chuyên phục kích đánh địch ở khu đèo Hải Vân.

Chuyện anh kể về phục kích, diệt địch với đầy mưu mẹo về lập tình huống này nọ để đưa địch vào bẫy mà nghe ngon lành cứ như tập đánh trận giả.

Tôi vẫn nhớ rõ con số tên địch mà cá nhân anh tiêu diệt là 153.

Buổi nói chuyện của anh đã thổi thêm luồng khí nóng vào nhiệt huyết chúng tôi, khiến chúng tôi cũng náo nức muốn ra trận ngay lập tức.

Gần cuối tháng 1/1972, chúng tôi còn phải tham gia một đợt dã ngoại nhỏ 3 ngày nữa lên một vùng núi cao cách nơi ở chừng ba chục cây số.

Các chỉ huy nói là vùng núi đá này có nhiều chỗ giống với Trường Sơn.

Khi ấy leo cũng thấy mệt mỏi, rã rời lắm, nhưng sau này vào Trường Sơn nhớ lại thì cái núi ấy chẳng thấm tháp vào đâu.

Trên đỉnh núi cao ấy thế mà cũng có một bản dân tộc có độ hơn chục nóc nhà.

Đặc biệt ấn tượng là có hoa đào và hoa mai đã lác đác nở.

Lại còn hoa Lan nữa chứ.

Tôi không tường nhiều về loài hoa này nhưng trông những nhành hoa Lan trắng muốt trên các cành cây cổ thụ trên núi cao này thì cũng thấy xao xuyến lòng.

Nghe nhiều đứa nói ở Hà Nội hoa lan đắt và quý, các cụ rất thích chơi.

Chiều và đêm đóng quân ở đó, mấy thằng lính nhà ở khu phố cổ hì hục đi xin và nhờ dân lấy giúp.

Lúc xuống núi cũng có bảy tám đứa mang theo được nhành lan về làm quà tết cho gia đình.

Tập tành xong rồi, bắn đạn thật và đi dã ngoại núi cao rồi, nên tuần cuối cùng với chúng tôi khá thảnh thơi.

Chủ nhật chúng tôi còn được nghỉ để đi chợ.

Cách chỗ chúng tôi chừng 2 cây số có một cái chợ to họp theo phiên, giống như chợ vùng trung du mà tôi đã gặp.

Lính tráng rủ nhau đi chợ khá đông.

Có 2 thứ được lính mua nhiều là cau khô và măng khô.

Tôi chọn mua nửa cân măng khô, nhớ tới nồi canh măng tết có chút ít sườn và móng giò cùng ít hành củ trắng bóng mẹ tôi thường nấu.

Lính năm đồng, cũng chẳng thể muốn gì hơn.

Một buổi, tôi được cử xuống giúp anh nuôi.

Tiêu chuẩn ăn của lính vốn đã cao hơn ở nhà, nay chuẩn bị tết nên càng tươi hơn.

Bếp ăn làm tạm bên rặng tre, cạnh một nhà sàn nơi BCH đại đội trú quân.

Cửa ngách nhà sàn mở ra, trông thẳng xuống bếp nấu.

Cơm canh nấu xong thì chia cho các A đem về nhà ăn chứ không ăn tập trung.

Tôi được trông nồi thịt lợn luộc.

Lúc nồi thịt vừa chín, tôi đang mở vung hít hà mùi thơm và lấy cái đũa chọc vào xem chín hết chưa, thì C phó Hảo từ trên nhà sàn thò đầu xuống gọi to:

- Cắt cho tớ một miếng nếm xem nào.

Tôixiên một miếng thịt to chừng nửa cân ra khỏi nồi, cắt đôi.

Một phần độ một lạngcòn phần kia to hơn.

Tôi đưa miếng nhỏ lên cho thủ trưởng Hảo.

Thế mà thủtrưởng không chịu, bắt tôi đổi miếng to.

Rồi cứ thế, thủ trưởng điềm nhiên dùngdao găm tỉa miếng thịt ấy ra nếm bằng hết, rồi khen chín rồi đấy, mặc kệ chothằng tôi đứng dưới đất nuốt hết cả nướcbọt của mình vì thèm.

Hình ảnh đó in đậm trong tôi đến mức nhiều lúc tôi chỉnghĩ mục tiêu phấn đấu của mình trong quân đội chỉ đơn giản là làm sao lên đượcđến đại phó để có lúc được nếm gần nửa cân thịt lợn luộc cho nó thỏa mãn cáiđời.

Những ngày đầu tháng 2/1972, tiểu đoàn huy động các C cử người ra khu ruộng cạn của dân cạnh đường cái để đắp sân khấu.

Không hiểu cái đợt nhập ngũ của chúng tôi có tầm quan trọng gì mà được ưu tiên nhiều thế.

Độ trước thì được Đại tướng đến thăm.

Bây giờ nghe nói là sẽ được đón đoàn văn công TCCT về biểu diễn.

Với lính tráng thì đơn giản nhất là đắp sân khấu đất.

Chả phải tốn vật liệu gì, còn công lính thì yên tâm đi, nhiều như... nước sông mà.

Ngày thứ bảy đầu tiên của tháng 2 đó, đoàn văn công về thật.

Chúng tôi được ăn cơm chiều sớm rồi hành quân tập kết đến khu sân khấu.

Cả tiểu đoàn ngồi thành hàng lối, súng ai nấy cầm, để tựa vai và tất nhiên là không có đạn.

Đoàn văn công về biểu diễn chủ yếu là hát, nhạc và độc tấu nhạc, không có múa.

Tôi chỉ còn nhớ nhất diễn viên Kim Quy hát bài "Người ở đừng về".

Tất nhiên là còn nhiều tiết mục hay khác nữa.

Sáng hôm sau, cả tiểu đoàn báo động sớm, sắp xếp ba-lô rồi nhận lệnh hành quân về Hà Nội.

Đợt dã ngoại xa này đã kết thúc đợt huấn luyện quân và chúng tôi chuẩn bị vào chiến trường.

Tiểu đoàn trưởng đọc lệnh hành quân, tuyên bố chúng tôi đã hành quân dã ngoại mang vác nặng đủ 400 cây số.

Còn thiếu 100 cây nữa mới đủ tiêu chuẩn đi B, thì từ đây về Hà Nội hơn 100 cây sô, cộng vào là đủ tiêu chuẩn.

Thế là cả đoàn quân hăm hở lên đường.

Không hiểu sao buổi sáng hôm ấy phấn khích lắm, không thấy mệt bao nhiêu.

Thằng Thái Pi-tơ (và cả nhóm 4 thằng anh nuôi) được biên chế vào các B để đợt này vào Nam luôn, không phải ở lại làm anh nuôi nữa.

Cái ba lô của nó lép xẹp, lại không phải mang súng (còn soong nồi thì ô-tô tiểu đoàn đã chở đi rồi, kỳ này chúng tôi tập nấu ăn theo từng A), nên nó phởn chí vừa đi vừa hát.

Thằng này có biệt tài âm nhạc.

Nó hát lại đúng theo các bài mà các anh chị văn công đã hát tối qua.

Nó uốn giọng theo diễn viên, kể cả giọng nữ nghe cũng lả lướt mềm mại lắm.

Nó làm chúng tôi không thấy mệt vì như được nghe lại buổi biểu diễn.

Đoan đường rút ngắn lại dần.

Tôi còn có một niềm vui khác ở nông trường cam.

Lần này tôi không được đi tiền trạm, nhưng nếu đêm nay dừng chân ở khu nông trường cam bữa trước thì tôi cũng sẽ gặp được Hoa.

Sẽ có người giúp tôi tìm Hoa, đó là vợ chồng cô giáo người Kinh, chủ nhà bữa đó tôi ở.

Nhưng số phận con người ta quả là do ông trời sắp đặt.

Khi còn cách nông trường cam rất xa thì đơn vị tôi lại rẽ theo một con đường khác để về Hà Nội theo hướng Kim Bôi. (con đường này là đường 128 hay gì đó, nghe nói do TNXP làm từ thời mới hòa bình 1954).

Tôi hẫng cả người, rồi từ đó cứ lầm lũi đi, không còn nghe cả tiếng thằng Thái "pi-tơ" hát hay thôi lúc nào nữa.

Tôi còn phải nghĩ vơ vẩn về cô giáo Hoa cho đến hết ngày hành quân đó.

Thôi, số trời là vậy.

Nhưng chắc Hoa cũng chẳng giận tôi hay phải buồn nhiều, vì tình cảm của chúng tôi chưa có bao nhiêu.

Rồi cô ấy sẽ nhanh quên tôi.

Nhưng có lẽ cô ấy cũng trách cái thằng trai Hà Nội không có được cái thật mộc mạc của những người dân tộc như cô.

Tự nhiên tôi lại nghĩ quẩn là nếu vào trong kia, tôi ngã xuống trong một trận đánh nào đó, rồi tin tôi hy sinh được báo tới cô, thì khi đó cô sẽ ra bên bờ suối cạnh trường, nơi có những vườn cải xanh mướt, ngồi khóc một mình rồi tha thứ hết cho tôi.

Hoa ơi, thôi anh đi đây.

Bao giờ anh cũng là người có lỗi mà chẳng biết làm thế nào được.

Đành đổ lỗi tất cả cho chiến tranh vậy, em nhé.

Cũng từ đó, tôi không còn tin gì của Hoa và cũng không bao giờ gặp lại cô ấy nữa.

...

Tối hôm đó chúng tôi dừng chân ở một bản Mường thuộc huyện Kim Bôi.

Không phải sinh hoạt nhiều, nhưng có một việc phải làm là mỗi lính chuẩn bị một bó củi độ 5 kg.

Củi sẵn đầy sân, dân cho, chỉ việc sắp lại và bó cho gọn. kế hoạch là ngày mai chúng tôi sẽ dừng chân ở Quốc Oai, đem sẵn củi ở rừng về để không làm phiền dân.

Ngày hôm sau, cả đơn vị hành quân cẳt qua Lương Sơn, đường số 6 về Quốc Oai.

Chúng tôi nghỉ nhờ ở một xã khác chứ không phải cái xã hôm chúng tôi lên Hòa Bình 6 tháng trước.

Về đến đồng bằng, lại đúng ngày 23 ông Công ông Táo, nên không khí tết đã rõ rệt lắm, dù khi ấy thành thị nông thôn đều nghèo như nhau.

Phú quý mới sinh lễ nghĩa.

Ngày đó cả nước nghèo nên ngày 23 cũng chỉ là ngày nhắc nhở sắp tết thôi, không có cúng lễ lằng nhằng như sau này.

Nhưng dù sao cũng có chút không khí tết.

Ở phố thì nhộn nhịp tem phiếu mua chút hàng tết, còn nông thôn thì đã chuẩn bị lá dong, đụng lợn, tát ao bắt cá... nên cũng náo nức.

Cuối chiều ngày thứ ba của cuộc hành quân huấn luyện cuối cùng, chúng tôi về đến Đại Mỗ, Hà Đông.

Hôm đó là ngày 24 tết rồi.

Thế mà chúng tôi còn phải nằm lại Đại mỗ, học chính trị, lau chùi súng ống nộp kho thêm 3 ngày.

Lạ cái là không khí Tết sát đít, hồ Hoàn Kiếm chỉ cách xa nơi này có 14 cây số, thế mà không ai chuồn.

Đến chiều ngày 11/2 (27 tết) chúng tôi tập trung nghe BCH từng C phổ biến kế hoạch nghỉ phép, ngày tập trung trở lại.

Chúng tôi nhận tiêu chuẩn tết (tôi không còn nhớ có những gì, chỉ nhớ 1 điểm đặc biệt là mỗi lính được một bao thuốc lá Thủ Đô bao bạc, hàng cao cấp lúc bấy giờ) rồi giải tán, tự túc về nhà.

Vậy là đợt chúng tôi lại có thêm một cái may mắn nữa là nghỉ phép chuẩn bị đi B đúng dịp tết.

Từng toán lính áo quần bụi bặm, ba-lô kềnh càng (lúc đó chúng tôi mang cả chiếu cói cá nhân, thằng nào có cành Lan rừng lấy ở núi Tân Lạc về mang theo còn lỉch kỉch hơn) bổ ra thị xã Hà Đông, ra bến tàu điện.

Lính tráng lên ngồi chật cả 3 toa tầu điện.

Lại một cái may nữa là không ai phải mất tiền vé, dù từ đó về bến Bờ Hồ dài nhất tiền vé cũng chỉ có 1 hào.

Có lẽ cả mấy chuyến tàu điện Bờ Hồ - Hà Đông tối đó cũng thế, các bác tài và bán vé tàu điện đã úy lạo cho cả một tiểu đoàn lính Thủ Đô, con em của họ chuẩn bị ra chiến trường.

Bảy giờ tối hôm đó, ngày 11/2/1972, tức là ngày 27 tết Tân Hợi, tôi vềđến ngôi nhà sau hơn nửa năm trời xa vắng.

Mươi ngày phép thật bận rộn.

Thằng nào có chút bạn gái học cùng lớp hẹn hò thì tha hồ mà bận.

Tán quanh tán quẩn, nhớ thương nhau kiểu gì thì cũng không thoát khỏi câu nói kinh điển thời chiến khi đó là "hẹn ngày chiến thắng", hoặc "hết chiến tranh anh sẽ về".

Lãng mạn và thơ mộng thế đó, dù rằng sau đó có nhiều thằng về trước cả ngày chiến thắng.

Đó là khi các cậu bị thương đủ tiêu chuẩn để ra Bắc, nhưng lúc đó chẳng ai nghĩ đến tình huống này.

Thằng Tuấn "đen" ở Khâm Thiên có cô người yêu xinh như mộng (Xinh tới mức không muốn cho những thằng lính khác trong đơn vị gặp mặt vì... ghen).

Cô nàng nũng nịu chia tay lúc lên đường bằng câu: "Hẹn anh nửa năm sau.

Em chỉ cho anh đi sáu tháng thôi đấy".

Không ngờ câu nói đó ám ảnh nó suốt.

Sáu tháng sau, thấy chẳng có vẻ gì là hết chiến tranh cả, thằng Tuấn "đen" nghĩ quẩn chọn đường về bằng cách tự thương vào tay.

Quân y phát hiện ra ngay.

Nó bị hành thêm 18 tháng gian lao nữa mới được tước quân tich đuổi ra Bắc.

Nhưng đó là chuyện sau này.

Còn tết đó chúng tôi đi chơi thả phanh.

Ngoài chuyện thăm hỏi chia tay họ hàng, bạn bè, ăn tết cùng gia đình ra, chúng tôi lại í ới tụ tập nhau.

Ngày ấy chưa có điện thoại gia đình.

Sang thì bon xe đạp tìm nhau, không thì cuốc bộ hay nhảy tàu điện.

Ra Bờ Hồ, ra công viên Thống Nhất chụp ảnh kỷ niệm, quân phục bèo nhèo, xộc xệch.

Có tối thì rủ nhau ra Quán Gió hay hiệu Bốn Mùa, ăn kem và uống cà-phê.

Bỏ bao thuốc lá Thủ Đô ra hút khoe với thiên hạ.

Hôm giáp tết còn tập trung ở Cột Đồng hồ xem đài "Tàng hình" phát thử chương trình truyền hình thời sự.

Đêm giao thừa rồi đêm mồng một, mồng hai Tết, toàn là lính cứ quấn lây nhau mà đi chơi.

Cùng một sắc áo bạc màu, nhận ra nhau ngay, gặp nhau chan chát trên phố.

Cụm lại tán chuyện ầm ĩ, cứ như Hà Nội chỉ có mình, rồi lại xé lẻ từng nhóm tiếp tục "bát" phố.

Rồi lại giăng nhau từng đàn đến hai chục đứa chật một góc phố, nghiêng ngó lần cuối khung cảnh Thủ Đô.

Có đêm đi chơi tới mấy giờ sáng mới về.

Bố mẹ cũng không kêu ca như thời còn đi học.

Hầu như cái gì ngon cũng được tập trung cho ăn.

Chẳng phải là bồi dưỡng sức quân gì đâu, mà là các cụ thương con, không biết sau này có còn được trở về nữa hay không.

Nhưng thật tình lúc đó chẳng ai nghĩ đến tình huống xấu.

Còn chính cái sự chơi bời nghịch ngợm vô tư của chúng tôi khi đó cũng làm cho các bậc phụ huynh bớt đi phần nào lo lắng.

Ngày 24/2, hết đợt phép ba thằng bạn cùng lớp 10 (chúng nó là diện con một hoặc đã có anh trai đang ở chiến trường nên không phải đi lính) đèo xe đưa tiễn tôi vào tận Đại Mỗ.

Tôi bị chậm một ngày phép.

Sáng sớm nay cả tiểu đoàn đã hành quân về hướng Vân Đình xuống Hà Nam rồi.

Anh Thụy (B phó) đang chờ đón mấy thằng lính muộn chúng tôi, chừng hơn chục thằng.

Tối đó chúng tôi ăn cơm và nghỉ lại nhà dân.

Ba đứa bạn học cũng cùng ăn cơm và ở chơi với chúng tôi tới khuya mới về.

Thế là kết thúc huấn luyện, kết thúc những ngày ở Bắc.

Từ ngày mai,chúng tôi sẽ chính thức bước chân lên đường vào chiến trường.

Sớm hôm sau anh Thụy dẫn chúng tôi ra bến xe ô-tô Hà Đông.

Lính tráng góp tiền mua vé xe đến Vân Đình.

Anh Thụy bảo phải đi ô tô cho kịp.

Tới Vân đình cả bọn xuống xe đi bộ sang tỉnh Hà Nam.

Đoạn đường cũng chỉ độ non chục cây gì đó thôi, vì chúng tôi tìm đên đơn vị thì cũng còn kịp ăn cơm trưa.

Nơi ấy là xã Đại Kim, huyện Kim Bảng, Hà Nam.

Tất cả đều ở trong nhà dân, nhưng hình như nơi đây có một cái trạm nào đó thì phải, vì có nhà bếp, có anh nuôi nghiêm chỉnh, nấu cơm bằng cái chảo gang to tường.

Đến bữa ăn là đi ăn tập trung.

Hôm sau chúng tôi học chính trị.

Cấp trên không phổ biến cụ thể, chúng tôi chỉ cần biết là đi B, thế là đủ.

Chính trị viên Trần Tính người Thanh Hóa có một bài chính trị vô cùng ấn tượng, nó theo suốt tôi những ngày quân ngũ và cho đến nay tôi vẫn còn nhớ, cứ như mới được nghe vừa hôm nào đấy thôi.

Cái giọng xứ Thanh nằng nặng quyện chất thuốc lào khi đã nghe quen thì mê li lắm.

Ông bảo:

" Các đồng chí là lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh.

Các đồng chí đang được hưởng một niềm vinh dự lớn lao mà không một thế hệ nào có được.

Đó là được đánh Mỹ và sẽ đánh thắng Mỹ.

Niềm vinh dự và tự hào này sẽ không bao giờ còn có nữa.

Đến đời con, đời cháu các đồng chí, dù có muốn cũng không còn Mỹ nữa mà đánh.

Các đồng chí hãy vững bước lên đường.

Quê hương luôn chờ tin chiến thắng của các đồng chí.

Chúc các đồng chí lên đường mạnh khỏe, lập công và chiến thắng trở về".

Những bài học chính trị không bao giờ thừa.

Còn khoác áo lính là còn học chính trị thường xuyên.

Nhưng ấn tượng với tôi chính là điều CTV Trần Tính khẳng định rằng chính thế hệ chúng tôi sẽ đánh thắng xong Mỹ.

Sau này tôi cứ ngẫm mãi điều này.

Ông nói suông theo kiểu chính trị, hay là một niềm tin mãnh liệt mang tính dự đoán thiên tài?

Tôi nhớ lại Di chúc của Bác Hồ, trong đó Bác chả nói rằng cuộc KCCM của chúng ta nhất định thắng lợi, nhưng có thể phải kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa đấy là gì?

Vậy thì cái gì là quyết tâm, cái gì là niềm tin thực tiễn?

Chính trị gì thì chính trị, nhưng thực tình lúc đó nghe bài chính trị ấy, chúng tôi háo hức lắm.

Đúng là náo nức ra trận thật chứ không phải là miễn cưỡng hay bắt buộc gì.

Rồi sau này suốt trong những ngày tháng hành quân trên Trường Sơn, mỗi khi nghe tin chiến thắng trong chiến trường là chúng tôi sốt ruột ghê lắm.

Kèm tin chiến thắng, CTV phó (Vì lúc đó cấp trưởng B,C và A ở lại, chỉ có cán bộ B,C cấp phó là theo vào chiến trường cùng chúng tôi thôi) bao giờ cũng thêm một câu:"Nhanh chân lên, khẩn trương lên các đồng chí, không có vào trong đó muộn các đơn vị bạn họ đánh hết Mỹ rồi thì còn gì mà đánh nữa".

Ừ nhỉ.

"Các đồng chí ơi, đánh nhè nhẹ thôi, còn dành Mỹ cho chúng tôi với.

Đừng lấy mất niềm tự hào được đánh Mỹ của chúng tôi".

Thật mà cứ như đùa.

Đúng là lúc đó suốt dọc đường chúng tôi cứ luôn có ý nghĩ luẩn quẩn như vậy.

*

Trở lại câu chuyện ở xã Đại Kim, Hà Nam.

Sau hai ngày học chính trị, chúng tôi chuẩn bị tinh thần để ngày mai nhận quân trang mới.

Hai bộ quần áo lính qua sáu tháng huấn luyện tuy đã cũ, nhưng còn tốt lắm.

Cứ so với cái tiêu chuẩn một năm được 5 mét vải của người dân khi đó, thấy cứ tiếc bộ quần áo lính thế nào ấy.

Đã vậy, bác chủ nhà còn lôi ra ở đâu mấy bộ quần áo lính còn cũ hơn, sờn rách cả vai và đầu gối bảo đổi cho chúng tôi để mai đem nộp.

Bác ấy bảo, đằng nào số quần áo thu lại của các chú cũng chỉ đem cho lính pháo làm giẻ lau thôi.

Nể quá, chúng tôi cũng lấy quần áo cũ của mình ra đổi, nhưng chỉ đổi bộ trong ba-lô, còn bộ mặc trên người dù sao anh em cũng đã quen nhìn lành lặn, mặc bộ rách quá thấy nó bôi bác thế nào ấy.

Hôm sau chúng tôi tập trung thành từng C ra sân kho đổi quân trang.

Chuyện nộp quân trang cũ xảy ra êm thấm.

Đến lúc được phát quan trang mới, chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng và sung sướng.

Toàn quần áo Tô-Châu xanh mượt.

Dép đúc, giày cao cổ, mũ cối, mũ tai bèo, thắt lưng, xanh-tuya-rông, rồi chăn, màn...

đủ cả.

Rồi cả ruốc, đường, Hăng-gô, bi-đông, thuốc chống vắt... nói chung là đầy đủ tới mức không thể ngờ.

Mối tổ 3 người được phát một khẩu súng AK có 20 viên đạn, 1 dao găm, 1 bật lửa Trung Quốc.

Đồ đoàn cá nhân thế mà cũng gần 20kg.

Chúng tôi mặc quần áo mới thay ngay tại chỗ, trông thằng nào cũng xúngxính.

Nhưng phải nói thật là đa số quần áo đều rộng so với số đông lính chúngtôi.

Quần toàn phải xắn gấu.

Áo lót cũng là một cái sơ mi cộc tay vải phin.

Cònquần đùi thì đúng là quần chính ủy.

Thắt cái dải rút xong mà nó rộng thùng thình,chim chóc thoáng mát cứ như không mặc gì.

Mặc cái quần đùi ấy mà đi quây bắtlợn, đảm bảo con lợn 20kg phi lọt từ ống quần này chui qua ống quần đùi kia củamình.

Sáng hôm sau, Cả tiểu đoàn lại được tập trung ra sân kho xem văn công biểu diễn.

Lần này là văn công Hà Nội, không phải văn công Trung ương.

Các tiết mục thập cẩm, có cả hát chèo lẫn chầu văn.

Tôi đang ngồi giữa hàng quân nghe hát, thì thấy anh Thụy lách vào ra hiệu cho tôi ra ngoài:"Mẹ cậu tới thăm đấy".

Tôi xin phép anh rồi chui ra ngoài.

Mẹ tôi và một thằng bạn học phổ thông đang đứng chờ. (Là một trong ba thằng tiễn tôi vào Hà Đông hôm trước.

Nó không phải đi lính vì hiện đang có anh trai là bộ đội đặc công chiến đấu trong Quảng Nam).

Mẹ tôi nói đã xin phép cấp chỉ huy, rồi dẫn tôi ra ngoài thôn.

Từ đây ra ga Đồng Văn ngoài đường 1 có 5 cây số.

Thằng bạn hỏi thăm biết đơn vị chúng tôi còn ở đây mấy ngày nên đưa mẹ tôi xuống thăm.

Mẹ tôi cũng biết đây là lần cuối cùng có thể gặp được tôi nên không quản đường xa.

Cả ba ra một cái quán nước bên đường ngồi nói chuyện.

Mẹ tôi mua đủ thứ cho tôi ăn, mà tôi lại không ăn được mấy (mà hàng quà lúc đó cũng chỉ lèo tèo ít hoa quả, bánh quê và vài thứ kẹo vờ vẩn rắn như đanh thôi).

Tôi biết mẹ thương tôi lắm, vì tôi là đứa có hiếu nhất nhà.

Hoàn cảnh của tôi lúc ấy, nếu tôi không đi bộ đội, mà đi học nước ngoài thì vẫn được vì khi đó bố tôi là một cán bộ cao cấp trong ngành ngoại giao.

Nhưng tôi không muốn bố tôi mang tiếng, ảnh hưởng đến thanh danh.

Mặt khác gia đình tôi có hai anh em trai, đứa em tuổi cũng gần kề tôi.

Trước ngày tôi nhập ngũ ít tháng, mẹ tôi đã suy nghĩ rồi bảo tôi:

- Đằng nào thì nhà mình cũng phải góp một người cho cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước này.

Con dù sao cũng có phần nhanh nhẹn hơn em con, đi bộ đội may ra cũng có thể còn sống mà trở về.

Nếu con đi học nước ngoài thì chắc chắn đến năm sau nữa, em con phải vào bộ đội.

Nó vốn chậm chạp, chắc không thoát khỏi cái chết.

Tôi vui lòng nghe lời mẹ, không lấn cấn điều gì.

Song, qua tâm sự của mẹ tôi, tôi cũng biết mẹ rất đau lòng.

Giàu con út, khó con út.

Mẹ thương em tôi cũng phải thôi.

Mà ngay cả tôi, tôi cũng rất thương em.

Nếu phải hy sinh một người trong nhà, thì đó sẽ là tôi.

Tôi vào lính và ra đi thanh thản lắm.

Tôi cũng có một chút cá tính.

Đợt 22/12 năm ngoái, quân lực trung đoàn chấm tôi cho về làm văn thư ở Bộ tư lệnh thủ đô, vì tôi là thằng văn hay chữ tốt. (Học phổ thông, tôi nhiều năm là học sinh tiên tiến A1, A2.

Năm lớp 10, tôi còn suýt đi thi học sinh giỏi văn.

Điểm văn trung bình của tôi năm đó là 8,2.

Tôi từng có những bài văn cô giáo cho điểm 10, được đọc trước toàn lớp).

Thế nhưng tôi đã từ chối, đơn giản vì ý nghĩ rât kiêu hùng của lớp lính thời đó: "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực".

Đã đi lính mà không được làm thằng lính cầm súng ra trận giết giặc, lại ngồi ru rú góc văn phòng thì đời trai còn có nghĩa lý gì nữa.

Mẹ tôi cũng biết chuyện này, nhưng không phàn nàn gì.

Mẹ không muốn làm chùn bước tôi.

Còn bố tôi thì nghĩ theo kiểu riêng.

Năm đó đang công tác nước ngoài không về được, ông bảo mẹ tôi gửi ảnh tôi sang rồi cặm cụi thuê làm một cái ảnh to như quyển sách giáo khoa trên một tấm gỗ bọc phim.

Cái ảnh là hình tôi màu sáng ở giữa với đôi mắt măng tơ mở to nhưng kiên nghị, mà xung quanh là cả một vùng tối, trông như ảnh thờ. (May mà bức ảnh không phải làm cái chức năng ấy).

Sau này tôi trở về, nhận lại tấm ảnh đó từ bố tôi.

Nó vẫn sáng như ngày năm đó, nước phim không hề mờ ố, đến nay vẫn vậy.

Thằng con tôi học đại học rồi mà vẫn treo cái ảnh ấy của bố nó trước bàn học.

Đấy là 2 thằng thanh niên của hai thế hệ đang nhìn nhau.

Buổi trưa mẹ tôi cho tôi đi ăn phở.

Gọi là phở cho oai thôi, thực ra là món bánh đa thái nhỏ, còn nước dùng là nồi nước ninh với dăm củ su hào cho ngọt.

Mẹ tôi cho thêm một tí mì chính vào, thế là ngon tuyệt.

Tôi chén ngon lành tới hai bát.

Rồi mẹ tôi cho tiền, nhưng lần này tôi dứt khoát không nhận.

Ngày cuối cùng rồi, từ mai đã trên đường hành quân, còn ở đất Bắc mấy ngày nữa mà mua với bán.

Thằng bạn tôi hầu như không bắt chuyện, nó ngồi im để cho mẹ con tôi rì rầm nói chuyện.

Đến đêm đơn vị mới lên tàu, nhưng buổi chiều tôi đã nói mẹ tôi nên ra ô-tô về Hà Nội kẻo trễ.

Tôi không muốn mẹ tôi tiễn tôi vào lúc tàu chạy, sợ mẹ buồn.

Mẹ tôi không khóc, nhưng lúc lên ô-tô, mẹ tôi đã kín đáo lấy khăn tay lau mắt.

Tôi biết mẹ tôi buồn lắm.

Đếnđêm, tôi cùng đơn vị ra ga, lên tàu vào chiến trường.

Thế là tôi đã ra đi, tôiđã đem theo cả cuộc đời của mẹ tôi mà ra trận.

Đoàn tàu xuất phát tại ga Đồng Văn vào quãng 10 giờ đêm.

Nơi này cách ga Hàng Cỏ đúng 45 cây số.

Anh Thụy giải thích là từ sau đợt bọn lính tiểu đoàn 34, 36 phá phách ghê quá, nên các đợt lính sau bị vạ lây.

Chúng tôi không được huấn luyện gần Hà Nội đã đành, mà ngay cả lúc vào chiến trường cũng phải hành quân mấy chục cây số để thu quân rồi mới được lên tàu.

Cả tiểu đoàn xuất quân im ắng.

Làng quê chắc đã quen với cảnh này.

Tất cả tập hợp một cách có trật tự, im lặng trên sân ga chờ tàu từ Hà Nội vào.

Chúng tôi lần lượt lên tàu một cách lặng lẽ.

Cả chuyến tàu đó chỉ có lính của tiểu đoàn tôi.

Chiếc đầu máy hơi nước kéo chừng chục toa xình xịch lăn bánh.

Mặc dù thời gian này Mỹ đã tạm ngừng ném bom miền Bắc, nhưng những cuộc chuyển quân vẫn phải đi lặng lẽ trong đêm.

Lính Hà Nội đa phần đã biết đến tàu hỏa, nhưng cũng có nhiều thằng mới được đi lần đầu, háo hức ra mặt.

Vài ga đầu từ Phủ Lý đến Ninh Bình, chúng tôi còn thức, rì rầm trò chuyện, cố ngắm cảnh trời đêm bên ngoài.

Khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn lướt qua khung cửa sổ.

Gió thổi mát rượi.

Rồi những cảnh đổ nát do bom Mỹ bắn phá các ga liên tục xuất hiện: Nam Định, Núi Gôi...

Trời đêm se lạnh dần, lại mệt mỏi nên lính tráng dần dần lăn ra ngủ.

Trải ngay nilon ra trên sàn tàu, nằm ngủ ngổn ngang.

Đến cầu Hàm Rồng - Thanh Hóa, nghe tiếng kêu to của cán bộ chỉ huy, chúng tôi láo nháo thức dậy nhòm ra ngoài.

Dòng sông Mã anh hùng và cây cầu huyền thoại đây rồi.

Nhưng sao bé nhỏ và trơ trọi quá, chỉ thấy loang loáng những nhịp thép đen sì.

Vài nhịp xình xịch là cây cầu đã lướt hết qua khung cửa.

Không nhìn thấy lòng sông vì trời tối.

Chả thể nào hình dung ra những chiếc ca nô phá thủy lôi từ trường chạy trên mặt sông ra sao.

Cũng chẳng biết trận địa pháo của người anh hùng Đinh Tích Nhưỡng bảo vệ cầu nằm ở nơi nào.

Thế là lại lăn ra ngủ.

Sáng bảnh mắt thì vào đến ga Vinh.

Chúng tôi bị đánh thức dậy.

Chả hiểu tàu dừng bánh từ lúc nào.

Tất cả xuống tàu tập trung gọn ghẽ theo hàng lối.

Tôi đưa mắt nhìn quanh.

Đây mà gọi là ga Vinh ư?

Chẳng có nhà ga.

Chẳng có những vệt hè lát gạch nằm bên đường tàu, dù chỉ là cái vệt bé rộng chưa tới ba mét như ở ga Đồng Đăng.

Xung quanh như một bãi đất trống rộng không ranh giới.

Thậm chí hình hài của những căn nhà đổ nát cũng không thấy rõ.

Cả tiểu đoàn lục tục hành quân.

Anh Thụy bảo đây là thành phố Vinh.

"Anh chỉ lòe bọn em.

Có thấy phố xá nhà cửa gì đâu".

Nhưng đúng là thành phố Vinh thật.

Một thành phố (hay thị xã to thì đúng hơn) đã bị bom Mỹ san bằng.

Tôi liên tưởng cứ như mình đang ở một đơn vị Hồng quân Liên-xô hành quân qua một thị trấn châu Âu đổ nát nào đó hồi thế chiến thứ hai. (Bây giờ khi trở lại Vinh, tôi không thể nào tìm lại hay hình dung nổi ra vệt đường hành quân ngày đó).

Đi mãi thì cũng tới một cái làng.

Bây giờ chỉ còn nhớ cái làng đó là nhà tranh nứa dựng trên nền đất pha cát.

Chúng tôi nghỉ ngoài vườn.

Tất cả các điểm chúng tôi dừng chân nghỉ ngày từ đây vào đến trạm 5 Trường Sơn đều là binh trạm, bố trí lẫn trong dân.

Không được lò mò đi đâu xa (mà cũng có biết nơi nào mà đi?).

Đến bữa có người báo đi lấy cơm.

Lấy cơm về ăn theo từng tiểu đội.

Chúng tôi đã có đầy đủ ca, thìa cá nhân.

Còn mỗi A được phát một soong 6, có cái nắp vung hình 3 khía để chia riêng thức ăn.

Sẩm tối chúng tôi hành quân ra Bến Thủy, lên ca-nô đi tiếp sang Hà Tĩnh.

Đây là lần đầu tiên tôi đi ca-nô.

Ban đêm nhìn ra mặt sông chỉ thấy mênh mông nước.

Mỗi ca -nô chở một trung đội gần bốn chục người.

Chắc đoàn ca-nô phải nhiều lắm mới chở hết cả tiểu đoàn chúng tôi.

Không biết cái ca-nô hay con tàu thủy mà bác Năm Sài Gòn khi xưa vẫy vùng kiếm ăn trên sông nước Thái Bình thời Pháp thuộc có to như ca-nô chúng tôi không?

Đêm hành quân đường sông vô cùng êm ái.

Chỉ chạy độ ba hay bốn tiếng gì đó thì tàu đã cập bờ.

Chúng tôi lên một cái làng gần đó để nghỉ.

Được ngủ no mắt thì trời mới sáng.

Những căn nhà dân ở đây cũng tựa như ngoài Nghệ An, nhưng có vẻ chắcchắn hơn.

Vẫn là nghỉ ngoài vườn thôi.

Ban ngày, chúng tôi được nghỉ ngơi.Không phải họp, cũng không phải làm gì giúp dân, chỉ cần trật tự là được.

Nơiđây tuy nghèo nàn, nhưng bác chủ nhà bắt đầu hướng dẫn chúng tôi một việc cầnlàm trước khi vào Nam.

Mặc dù giọng nói của bác nặng và rất khó nghe (nhưngchưa đến nỗi ngôn ngữ bất đồng), chúng tôi hiểu là cần phải tiêu hết tiền đi vìsắp vào đến nơi không dùng được tiền nữa rồi.

Thế là chúng tôi dốc tiền ra gópđể bác chủ nhà mua giúp gà và chuối.

Bác còn giúp chúng tôi làm gà (mỗi mónluộc).

Nếu như ở ngoài Hà Nội, 5 đồng là có một con gà to ngon lành thì trongnày là 20 đồng.

Của mua là của được, vì thế hầu như tiểu đội nào cũng mua gà.Nhưng cũng chỉ có món đó thôi, chẳng còn gì khác.

Ăn đi, rồi đi ngủ để đến đêmcòn phải hành quân.

Đêm nay chúng tôi chuyển sang hành quân bằng ô-tô Giải phóng của Trung Quốc.

Sẽ vượt đèo Ngang để sang Quảng Bình.

Quãng nửa đêm, cả đoàn xe dừng lại chừng một tiếng ven Thị xã Hà Tĩnh để chuẩn bị vượt đèo Ngang.

Đây là quê hương của đại đội phó Hảo của chúng tôi. (Tôi vẫn ấn tượng với cái màn nếm gần nửa cân thịt lợn hồi còn ở Tân Lạc của thủ trưởng).

Chẳng biết hiệp đồng tác chiến từ khi nào, mà đã có người nhà của thủ trưởng ra tận đoàn xe đón.

Họ nhanh chóng gặp nhau và thủ trưởng bàn giao cho người nhà hai ba lô chật căng.

Thảo nào mà suốt từ những ngày ở Đại Kim, Hà Nam, thủ trưởng chịu khó xin những thứ của lính, từ quần áo đến mũ cối.

Có lẽ đây cũng là một hình thức tiếp tế trợ giúp cho gia đình, nhưng không phải ai cũng có điều kiện làm được.

Vui vì được gặp người nhà, nhưng thủ trưởng Hảo cũng tâm sự buồn rằng, lần này phải vào chiến trường, không được làm công tác huấn luyện nữa.

Thủ trưởng vốn là cán bộ khung của BTL Thủ đô, chuyên luyện quân tới mấy năm nay rồi, từ ngày thành lập trung đoàn 1867 (trung đoàn 59) cơ.

Thủ trưởng đã 35 tuổi, là cán bộ nhiều tuổi nhất trong BCH C huấn luyện của tôi khi đó.

Lại nói về mũ cối.

Thú thật là mới chỉ qua mấy ngày hành quân và trò chuyện, chúng tôi đã thấy quân đội phát cả mũ tai bèo lẫn mũ cối cho chúng tôi là thừa.

Mũ tai bèo gọn bao nhiêu thì mũ cối cồng kềnh bấy nhiêu.

Nhiều thằng đã cho đi giao lưu ngay từ Hà Nam.

Hôm qua ở cái làng bên sông Lam, nhiều tiểu đội cũng mua gà không phải bằng tiền mà bằng mũ cối.

Vì thế cái chuyện chúng tôi cho thủ trưởng Hảo dăm cái mũ cối cũng là chuyện bình thường.

Rồi sau này cũng thế.

Chúng tôi giải tán mũ cối dọc đường hành quân hết.

Vào đến đơn vị chiến đấu thì chúng tôi đã thực thụ là người chiến sĩ giải phóng, quân của chị Ba Định với chiếc mũ tai bèo đặc trưng rồi.

Xe chúng tôi đến lượt vượt đèo Ngang.

Các thủ trưởng bảo bây giờ thuận lợi thế này mới có thể đi cả đoàn xe vượt đèo ngang, chứ ba năm trước không thể.

Khi đó phải đi bộ là chính, theo đường 12A qua ngã ba Đồng Lộc, hay đường 20 Quyết thắng.

Trên đỉnh đèo Ngang trong đêm nhìn ra biển chỉ thấy mờ mờ.

Thời gian vượt đèo Ngang cũng rất ngắn ngủi.

Có lẽ cái sự nổi tiếng của đèo chính vì nó chặn ngang con đường độc đạo vào Nam và vươn dài sát biển, chứ sự hùng vĩ của nó không phải là nhất nước.

Ngày xưa Bà Huyện Thanh Quan qua đây vào buổi xế chiều, chắc sau một hồi leo đèo chùn chân mỏi gối, ngồi trên đỉnh đèo hưởng gió mát, nhìn quanh thấy buồn cho cảnh heo hút đường xa mà tức cảnh làm nên bài thơ hay.

Nếu có đi thực tế mà học thơ của Bà, chắc cũng nên đi bộ lên đèo Ngang vào lúc xế chiều mà ngắm cảnh, chứ ngồi xe tải ban đêm như chúng tôi thì chỉ thấy vùng biển đen mịt mù xa xăm và đám sao trời li ti trong màn đêm lành lạnh thôi.

Lại dừng chân nghỉ ban ngày sau một đêm hành quân xe.

Đến đêm lại đi ca-nô, hình như vượt qua sông Lệ Thủy thì phải.

Thời gian đi ca-nô cũng chỉ vài giờ.

Nơi này vẫn thuộc trên đất Quảng Bình.

Chúng tôi được phổ biến đây là điểm dừng cuối cùng trước khi vào Binh trạm Trường Sơn.

Thế là ngày hôm đó, lính tráng có bao nhiêu tiền đều đốc hết vào ăn uống.

Thực phẩm ở đây nghèo nàn và đắt hơn rất nhiều so với bên Hà Tĩnh, nhưng giữ tiền cũng chẳng để làm gì.

Mũ cối ở đây cũng rất có giá trị, tất nhiên cũng chuyển thành gà.

Mà cũng lạ là khi đó chỉ có món gà mà thôi, chẳng còn thứ gì khác.

Một vài thằng cố giữ lại tờ 10 đồng màu đỏ có in hình Bác Hồ mà lính khi đó gọi là tờ "cụ mượt" để làm kỷ niệm.

Buổi chiều, chúng tôi được lĩnh gạo.

Cái ruột tượng bây giờ mới phải dùng đến.

Mỗi lính nhận 7kg gạo, tiêu chuẩn cho 10 ngày.

Chỉ còn bữa ăn chiều nay là tập trung thôi, còn từ mai, chúng tôi sẽ phải nấu ăn theo từng tiểu đội suốt chặng đường hành quân.

Buổi tối tập trung lên xe.

Đường xe chạy nhỏ dần, gập ghềnh và hai bên là rừng cây rậm rạp.

Xóc kinh khủng.

Cứ lầm lũi đi như thế trong màn đêm đen giữa rừng già, xe ô-tô chỉ bật đèn gầm.

Chắc vào quãng mấy giờ sáng gì đó thì tới nơi.

Cạnh bãi đổ quân là một bãi đất rộng mờ mờ nằm dưới những cây cổ thụ.

Chúng tôi xuống xe, được phân chia vào từng khu vực, ở đó đã có chi chít những hầm thùng đào sẵn sâu chừng 40 phân.

Mỗi thằng chiếm lấy một chiếc, trải ni-lon, xếp ba-lô, kê ruột tượng gạo rồi lăn ra ngủ.

Đây là Trạm 5 Trường Sơn, một trạm đầu mối của tuyến đường 559.

Chúng tôi được nghỉ ở đây một ngày.

Cả đại đội huấn luyện chỉ còn có 5 cán bộ khung gồm C phó Hảo và 4 B phó khác dẫn chúng tôi vào Nam.

Còn lại từng A chúng tôi phải tự bảo nhau.

Trừ thủ trưởng Hảo, các B phó huấn luyện đều lần đầu vào Trường Sơn nên cũng chẳng ai có kinh nghiệm gì hơn chúng tôi.

Nhất nhất đều phải nhận lệnh qua giao ban tại từng Trạm, hành quân có giao liên dẫn đường.

Giờ này chắc các thủ trưởng đi họp giao ban nên chẳng có ai đánh thức chúng tôi dậy sớm.

Chúng tôi ngủ ngon đến bảnh mắt.

Đêm qua dù tối om nhưng không hiểu sao tôi vẫn mắc được tấm tăng che cao trên cái hầm thùng mấy chục phân để tránh sương.

Bây giờ thức giấc rồi, tôi nằm im nhìn lên màn sáng đục sau tấm tăng.

Nằm mà nghĩ vơ vẩn thôi.

Thế là cái thân trai này đã nằm ngủ một đêm trên dãy Trường Sơn, cách nhà tới vài trăm cây số.

Khoảng cách địa lý thì đo được, nhưng cuộc đời từ đây chỉ có một hướng: phía trước là mặt trận và cứ phải theo đó mà đi, không hẹn ngày trở lại.

Không biết mấy tháng, mấy ngày nữa sẽ vào đến đơn vị mới, sẽ được xung trận, được nổ súng như các anh trong tiểu đội Bùi Ngọc Đủ trên đồi không tên đã đi vào bài hát "Dòng suối La La" bất diệt.

Bỗng nhiên nghe tiếng loạt xoạt rất khẽ nơi bao gạo gối đầu.

Rồi có tiếng nhai gạo lách cách.

Tôi hơi nghiêng người, thấy có con gì đó be bé như con chuột chạy vụt ra.

Quyết định nằm im tư thế đó mà theo rõi.

Lại nghe tiếng loạt xoạt.

Hé mắt khe khẽ ra thì thấy một con chuột đã chui vào cắn gạo.

Nhưng không phải chuột.

Nó to bằng nửa cổ tay, lông màu tro vằn vèo, đuôi dài và rậm.

Cái đầu giống con chuột nhưng đôi mắt lanh lợi, không đen sì và gian giảo như mắt chuột.

Con vật khá bạo, tiếp tục moi những hạt gạo ra ăn.

Phải nghĩ mãi tôi mới đoán ra là con sóc.

Nhưng sao con sóc này bé quá, đuôi không to như con sóc ăn hạt dẻ trong chuyện cổ tích.

Tôi vùng dậy và con sóc chạy mất.

Cởi bỏ tấm tăng, tôi nhìn quanh, thấy choáng ngợp trước quang cảnh của bãi khách.

Bắt đầu từ đây, tôi biết đến từ "bãi khách", là nơi được trạm giao liên chuẩn bị sẵn, có hầm, có cây mắc võng, nằm dưới những tán rừng già, dùng để cho các đoàn "khách" vào, ra dừng chân.

Một trạm có nhiều bãi khách.

Thường các đoàn quân vào, ra đều chỉ biết bãi khách chứ hầu như không biết vị trí Binh tram hay Trạm, nơi có BCH, có thông tin, có trạm xá... nằm chỗ nào.

Bãi khách này rộng thật.

Hầm thùng đủ cho cả đại đội tôi hơn trăm rưởi người nằm mà vẫn còn thừa.

Khi đó lính tráng đã dậy cả.

Nhiều đứa đã ra tắm ở con suối chảy ven bãi khách.

Suối không sâu nhưng rộng cỡ 2 mét, nước trong và mát.

Nhiều tốp lính đã bẻ củi bắc hăng-gô nấu cháo ăn sáng.

Củi khô ở đây nhiều vô biên, đúng là củi rừng.

Mỗi lính chúng tôi được phát 2kg ruốc (một cân loại trằng ít muối, còn một cân loại đen thì nhiều muối mặn chát xít dùng để nấu ăn).

Mỗi lính cũng được phát một gói cỡ 2 lạng mì chính cánh của Trung Quốc.

Thế là tự nấu ăn được rồi, nhưng buổi sáng lười nên chỉ toàn nấu cháo.

Đến trưa mới tổ chức nấu cơm theo tiểu đội.

Đại đội phát nốt từ hôm trước ở Quảng Bình cho các A một ít rau cải chở theo được bằng ô-tô.

Từ ngày mai thì chỉ còn ruốc và rau rừng.

Ngày hôm đó, chúng tôi được phổ biến tất cả mọi quy định chung cần thiết khi hành quân trên Trường Sơn.

Từ chuyện đội hình, giữ bí mật, vệ sinh theo kiểu "hố mèo"...

đến các quy định về ánh sáng, lửa khói...

Rồi học cách mắc tăng, mắc võng thế nào cho nhanh để khi tháo cũng chỉ rút dây một cái là xong, rồi cách buộc ni-lon khi đi trời mưa...

Tóm lại là một đống kiến thức cần thiết trên đường hành quân.

Không thể nhớ hết một lúc, nhưng dần dà qua những ngày hành quân dọc các binh trạm thì rồi tất cả ngấm vào người như một bản năng.

Nó ngấm mạnh tới mức bây giờ vẫn không quên điều đó. (Tôi vẫn còn giữ được chiếc võng vải dù chiến lợi phẩm và tấm tăng TQ zin làm kỷ niệm.

Chẳng có điều kiện mà dùng lại.

Đôi lúc cũng muốn đem ra vườn mắc lên nằm chơi một buổi để gặm nhấm quá khứ, nhưng lại sợ thiên hạ nhìn thấy, chê bố này lẩn thẩn rồi, nên đành vẫn để đấy).

Chúngtôi còn được nghỉ thêm một ngày nữa ở trạm 5.

Tôi cứ ngồi ngửa cổ nhìn lênnhững cây già cao vút, cỡ hơn người ôm.

Rồi nhận ra ở đây có rất nhiều lũ sócchuột bé tẹo ấy.

Hầu như ruột tượng của thằng nào cũng bị sóc cắn, chúng tôiphải khâu ríu lại.

Về sau vào sâu trong Nam và sống lâu trong rừng, tôi biếtrừng già nào cũng có sóc chuột.

Có thể ví chúng với chuột ở đồng bằng.

Và tôinhận ra rằng chỗ có người ở thì có chuột đủ loại, còn rừng già thì có sóc,nhưng không có chuột.

Ở đó chỉ có những con chuột núi (con dũi) to tướng hayđào gốc măng nhai kèn kẹt thôi.

Nhiều vùng rừng già lại có cả sóc bay nữa.Chúng cũng bé tì tẹo.

Lúc yên tĩnh, nhìn thấy chúng nó thả người từ một thâncây cao, vèo một cái đã thấy bám vào một cây khác cách đó một đoạn xa thì biếtnó là sóc bay.

Có điều nó chỉ bay từ trên cao xuống thấp thôi chứ không thấybay từ thấp lên cao bao giờ.

Sau ngày nghỉ tại trạm 5, chúng tôi hành quân sang trạm T6.

Đường đi độ non ba chục cây số.

Phần lớn đi trong rừng già.

Đường thoai thoải lên cao xuống thấp tí chút như miền trung du ngoài Bắc.

Có lẽ đây là vệt núi cùng bình độ với trạm 5.

Hành quân trong Trường Sơn mà khung cảnh yên tĩnh hòa bình, nhiều lúc cảm thấy như vẫn đang đi dã ngoại vậy.

Ngoài quân tư trang cá nhân giống nhau, chỉ có khẩu súng AK và cái soong là phải chia nhau mang.

Vẫn 3 người một khẩu phát từ ngoài Kim Bảng, chưa có thêm vũ khí gì.

Trạm T6 có bãi khách nhỏ hơn T5.

Con suối cũng nhỏ hơn.

Chúng tôi chỉ dừng chân một đêm, hôm sau sẽ đi tiếp.

Sáng hôm sau, C38 với hơn trăm rưởi lính trong tiểu đoàn chúng tôi chia tay hành quân theo hướng khác.

Họ đi theo trục Đông Trường Sơn.

Sau này hết chiến tranh gặp lại mấy thằng,chúng nó kể là được bổ xung vào tỉnh Quảng Ngãi, làm bộ đội địa phương.

Cũng xuống đồng bằng, vào làng, nằm hầm bí mật và chống càn.

Đến năm 1975, Quảng Ngãi giải phóng thì chúng nó làm công tác tiếp quản địa phương.

Không được theo đại quân vào chiến dịch Hồ chí Minh.

Đến 1976 thì những đứa sống sót cũng lần lượt được ra quân và về nhà hết.

Còn lại 3 đại đội chúng tôi hành quân theo ngả Tây Trường Sơn.

Con đường chúng tôi đi đúng là đường mòn, chỉ có thể đi bộ.

Chỗ rộng cũng chỉ đủ hai người đi ngược chiều tránh nhau.

Cứ hành quân non tiếng lại nghỉ giải lao mươi phút.

Đặt phịch ba-lô và ngồi ngay bên vệ đường.

Chúng tôi được dặn là nghỉ đâu thì ngồi ngay đó.

Đi giải thì cứ đứng mà chĩa ngang vệ đường.

Còn đại tiện thì chỉ cần đi vài mét rồi đào hố mèo là xong.

Nói thế nhưng chẳng thằng nào có xẻng mà đào hố, nên cứ thiên nhiên.

Một thằng đi là thể nào cũng có vài đứa chửi rầm rầm lên vì thối.

Giao liên còn dặn chúng tôi nên tập đi nhấc cao chân.

Đừng tạo thói quen đá vào các vật bên đường.

Chỉ qua ít trạm sau, chúng tôi còn được nghe phổ biến về cây nhiệt đới và mìn lá (loại này dẫm vào chỉ cụt nửa bàn chân, nhưng như thế cũng coi như bị loại ngũ rồi).

Hai của này bọn Mỹ thả rất nhiều trong các cánh rừng miền Trung.

Quá nửa chiều thì chúng tôi đến trạm T7.

Như vậy là mỗi trạm cũng chỉ cách nhau chừng năm sáu tiếng đi đường.

Chưa phải leo dốc nhiều.

Đại đội tôi ở vào một bãi khách nhỏ nhưng rất bẩn.

Mùi xú uế khắp nơi, cứ như có một bọn nào vừa rời khỏi đây.

Mà cũng vì bãi nhỏ, không đi rộng ra được (vướng các khe núi) nên mật độ ở dày.

Chúng tôi mắc võng san sát nhau.

Cạnh bãi khách chỉ có một con suối nhỏ.

Gọi là lạch thì đúng hơn, vì dòng chảy lờ đờ mà lại chỉ bé như cái cổ tay, vướng đầy lá.

Phải bới một vệt lõm, gạt lá ra, chờ cho nước tụ lại trong trong rồi lấy ca gạn cho vào bi-đông.

Hơn trăm rưởi thằng lính rải ra và chờ nhau mãi mới lấy đủ nước.

Chỉ có cơm canh là đun nước sôi (mà canh cũng chỉ là nồi nước đun sôi cho vào ít ruốc, đánh tơi ra, cho đũa vào ngoáy trông nó như nồi canh sợi bao tải rách. vò vào đó ít lá chua người ta chỉ cho quanh đó, chẳng biết lá cây gì).

Còn nước tất cả đều là nước lã, Mỗi bi-đông chúng tôi cho vào một viên thuốc lọc nước của Trung Quốc (Mỗi lính được phát một lọ nhựa có 50 viên).

Uống thấy mùi nó hơi ngai ngái.

Cấp trên thông báo chúng tôi đang ở đất Lào, thuộc tỉnh Khăm Muộn.

Cũng chẳng biết là đã vượt biên từ lúc nào.

À, thế ra là mình đã được "đi ngoài ra nước" (à không, "đi ra nước ngoài") rồi đấy.

Đúng là đi Tây, chứ không phải là đi Tây Bắc như những thằng đi học ở Đông Âu đâu nhé.

Hôm sau lại cuốn gói đi tiếp.

Bắt đầu quen với nhịp điệu hành quân.

Ngày đi đêm nghỉ.

Sáng dậy nấu cơm vào lúc trời sáng hẳn để không còn nhìn rõ ánh lửa.

Ăn sáng xong rồi mỗi thằng đùm một túm để ăn trưa.

Không hơi sức đâu mà nắm cơm chung, của ai nấy lo.

Ai muốn nắm thì nắm, ai ngại thì cứ gói vào khăn mặt hay ni-lon cũng được.

Buổi trưa giữa đường thì giở ra ăn, chan ít nước lã, cho tý ruốc vào là xong.

Mà cũng lạ là chẳng ai đau bụng.

Sau này chúng tôi được biết là nếu đang hành quân, ra mồ hôi và căng cơ bắp thì uống nước lã cũng như nước sôi.

Chỉ một lúc sau là nó bài tiết ra hết, kể cả vi trùng.

Khoảng 3 giờ chiều thì tới trạm T8.

Như vậy chặng đường này ngắn.

Được phổ biến nghỉ lại đây một ngày lấy sức.

Thếlà đua nhau tắm giặt.

May là ở đây có con suối nhỏ, nhưng là suối đá nên nướctrong, và chảy khá mạnh.

Giặt quần áo trên các mô đá rất khoái.

Chúng tôi đượcphát mỗi người một bánh xà phòng giặt của Liên-xô có in chìm số 72%.

Đây là mộtđiểm đặc biệt, vì lúc đó mọi thứ khác trang bị cho chúng tôi đều là của TQ, kểcả cái bật lửa.

Vậy mà lại lẫn vào trong đó con dao găm và bánh xà phòngLiên-xô.

Được cái bánh xà phòng này rất bền.

Mỗi lần giặt quần áo chỉ xát mộtít vào cổ áo và đũng quần, rồi giặt.

Chỉ có một ít xà phòng nhờ nhờ đục, thế màcũng sạch.

Cái bánh xà phòng hầu như không mòn.

Dùng mãi đến 3 năm sau, khi chỉcòn bé bằng cái lưỡi mèo thì nó mới trôi tuột đi lúc nào không biết.

Một ngày nghỉ không phải họp hành.

Chỉ được đi chơi loanh quanh trong bãi khách.

Tụ tập nhau tán chuyện và đun nước pha chè uống.

Cũng chỉ vài thằng còn lại tí chút chè Ba-Đình sót lại sau tết mang từ nhà đi.

Vài bữa nữa thôi là sẽ hết sạch.

Thuốc lá không mấy ai hút.

Cũng chỉ dăm ba thằng còn đem theo mấy bao thuốc Trường Sơn, chẳng ai xin làm gì.

Rồi nấu cháo xì xụp ăn.

Chiều đó mấy thằng liều lĩnh đột phá đi xa ngoài bãi khách và gặp dân.

Chắc họ từ bản nào đó gần đây.

Họ có chuối chín đem đổi.

Lính tráng moi nốt tiền Bắc ra gạ mua (thôi, còn giữ để kỷ niệm làm gì nữa), nhưng không được, vì dân họ không dùng tiền.

Đành nuốt nước bọt trở về.

Độ nửa tiếng sau, đang buồn vì tiếc thì mấy thằng ở C khác hiên ngang xách 3 nải chuối chín đó đi qua.

Xông ra hỏi chúng mày mua bằng gì mà tài thế.

Mua gì đâu, bọn tao đổi 2 cái kim băng lấy một nải đấy.

Thế là sùng sục bảo nhau tìm kim băng quay ra tìm dân, nhưng hết mất rồi.

Kinh nghiệm này được phổ biến, và nó có tác dụng ở những trạm sau, thậm chí ngang đường hành quân cũng gặp dân đổi chuối, đổi sắn.

Không chỉ đổi bằng kim băng đâu.

Khi hết loại này rồi thì ảnh màu con gái là loại hàng có giá.

Vô tình mà phát hiện ra điều này.

Lính mới chúng tôi chưa hiểu được rằng đem được một cân gạo từ miền Bắc vào đây là ít nhiều cũng có máu xương của các đồng đội lái xe.

Theo từng quãng nhất định, có những kho gạo binh trạm để phát cho các đoàn quân ra, quân vào.

Tiêu chuẩn vẫn là 7 lạng một ngày.

Hành quân đường dài thì như thế cũng chỉ là đủ, ăn vừa hết và không đói.

Thế mà có thằng trong A tôi ngại nặng đã trút bớt phần gạo của nó xuống khe núi cho nhẹ.

Lúc đến mỗi trạm, thấy nó nhường cho người khác bỏ gạo ra nấu trước, tưởng nó có tinh thần đồng đội cao cả.

Đến hôm cuối cùng tới lượt nó bỏ gạo ra nấu thấy còn có nửa, cả A chửi rầm lên.

Nó cãi là cái ruột tượng rách, nhưng anh em biết thừa.

Sau cái bữa đói đó, chúng tôi rút kinh nghiệm là đến bữa mỗi đứa góp một ít gạo đều nhau để nấu cho công bằng.

Thằng nào đổ gạo đi thì tự nhịn.

Về sau vào sâu hơn một chút thì chỉ lĩnh ăn 6 lạng gạo một ngày thôi.

Mà đừng tưởng cứ vào Trường Sơn là ăn lương khô thoải mái đâu nhé.

Của đó chỉ có lính lái xe, lính tăng pháo, lính binh trạm hay Bộ tư lệnh thôi.

Vào chiến trường hơn nửa năm sau, tôi mới được biết mùi vị bánh lương khô nó như thế nào.

Cũng vì còn đói nên chúng tôi hay nghĩ đến ăn.

Cứ mơ mộng là trong rừng sẽ có nhiều củ quả gì đó, hay là một rừng cây ăn quả nào chẳng hạn.

Nhưng cái đó (chắc chắn có) lại không nằm sẵn ven đường hành quân.

Có lần qua một khúc rừng thấy ngào ngạt mùi bánh mỳ.

Tưởng đến gần lò bánh của binh trạm nào đó, nhưng không phải.

Đó chỉ là mùi của một loại lá cây.

Cũng như có lần gặp lá cơm nếp.

Nó thơm mùi của bát cơm nếp mới sới.

Loại lá này đáng sợ lắm.

Kẹp khô trong cuốn sổ, nó giữ mùi thơm đến cả năm.

Ngửi nó đã không no mà còn làm mình thèm và thấy đói hơn.

Trong cảnh thèm ăn như thế, một lần chúng tôi gặp dân ven đường hành quân.

Họ có sắn, nhưng chúng tôi chẳng còn gì mà đổi cả.

Thằng Dũng "ú ớ" moi trong ví ra cái huy hiệu đoàn, đổi được một củ sắn dài độ gang tay.

Quá ít cho mấy cái vẻ mặt háo hức chờ ăn.

Loay hoay thế nào, nó đánh rơi cuốn lịch túi (loại lịch một hào, bằng lòng bàn tay, thịnh hành lúc ấy).

Trang bìa là ảnh của Ái Vân trong vai "chị Nhung" của bộ phim Việt nam cùng tên, kể về chiến công của nữ biệt động Sài Gòn, chiếu năm 1971.

Năm đóng phim, Ái Vân (cô ca sĩ sau này) mới 17 tuổi, kém lứa lính chúng tôi đúng một tuổi.

Ảnh nhân vật chị Nhung của cô được lên trang bìa của lịch túi năm 1972.

Phải nói là cô rất xinh, ảnh in màu nên hầu như lính nào cũng có một cuốn.

Nhìn thấy cái hình cô gái, người dân đòi xem rồi gạ đổi 2 củ sắn.

Thằng Dũng đồng ý luôn.

Thế là chúng tôi rào rào lấy lịch ra đổi.

Chỉ một loáng, mấy người dân đổi hết sắn và hể hả cầm mấy cuốn lịch ấy đi về.

Không chỉ mấy người đàn ông, mà xem ra phụ nữ và cả trẻ con cũng thích ảnh con gái đẹp.

Cũng phải thôi, vì phụ nữ dân tộc vùng đó xấu lắm, không ai vượt nổi qua nước cản.

Vậy là sau đó, thằng nào còn lịch túi "chị Nhung" là bỏ sẵn hết ra túi áo để khi cần đổi cho nhanh.

Rồi đổi mãi cũng hết lịch.

Hết khôn dồn đến dại, nhiều thằng lấy cả ảnh người yêu ra đổi.

Nhưng bà con dân tộc cũng khôn.

Họ chỉ đổi ảnh màu thôi chứ không đổi ảnh đen trắng.

Lúc ấy chưa có ảnh chụp màu.

Sở dĩ có những tấm ảnh màu là do các bác thợ ảnh của mấy hiệu ảnh quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm dùng bút màu tô thêm cho ảnh ở những phần môi, mắt hay áo quần.

Lúc mới đầu đổi ảnh người yêu lấy sắn cũng thấy hơi áy náy, nhưng cái dạ dày đã chiến thắng.

Thôi, các bạn gái hãy vui lòng cho lính tráng có thêm sức mà chân cứng đá mềm.

Gửi các em ở lại trong dân cũng như là nhờ hậu phương che chở.

Theo bọn anh ra nơi hòn tên mũi đạn, nhỡ lọt vào tay quân thù thì lại đau lòng người lính hơn.

Nếu bây giờ có nhà khảo cổ hay nhà dân tộc học nào lặn lội vào dãyTrường Sơn mà gặp những tấm ảnh "chị Nhung" hay ảnh các thiếu nữ HàNội tô màu đã phai mờ theo năm tháng ở trong các bản dân tộc ít người, xin hãybình tĩnh, chớ vội reo mừng tưởng mình đã "tìm ra châu Mỹ".

Sau một ngày nghỉ ngơi ở T8, hôm sau chúng tôi hành quân đến T9.

Dọc đường, chúng tôi đi qua một cánh rừng toàn cây song.

Đó là loại cây dây họ cây mây, nhưng thân to hơn nhiều, vỏ màu sẫm.

Cả đoàn quân được dừng chân giải lao.

Hầu như ai cũng tìm chặt một đoạn song theo ý mình.

Rừng song này lớn lắm.

Có lẽ các đoàn quân ra, quân vào đều dừng lại nơi đây chặt song làm gậy chống.

Rừng song quá rộng, lại mọc liên tục nên lính có chặt cũng chẳng hao mòn bao nhiêu.

Chịu khó mang theo đến chiều tới trạm khách hơ lửa uốn thì sẽ có cây gậy ba-toong tuyệt đẹp.

Bây giờ và sau này cũng vậy.

Rất nhiều lần chúng tôi được gặp những thứ có thể gọi là sản vật của rừng.

Ở rừng Trường Sơn đây thì đơn giản, nhưng đó lại là thứ mơ ước rất lớn của người dân Hà Thành mà không phải ai cũng dễ có.

Sau một ít ngày hành quân thì chúng tôi nắm sơ bộ được về cách bố trí các binh trạm Trường Sơn.

Mỗi Binh trạm là 1 D, quản lý chừng 4 đến 5 trạm.

Khoảng cách giữa các trạm là khoảng một ngày đường.

Do địa hình nên khoảng cách không thể đều nhau.

Có những trạm cách nhau trên hai chục cây số nếu nhiều đường bằng, người ta không đặt xa quá vì còn phải có thời gian cho bộ đội nghỉ ngơi.

Không chỉ là đoàn quân mang vác bộ, mà ngay cả thương binh chuyển ra vào mùa mưa, cũng phải đảm bảo giao liên tải thương đi trong một ngày.

Còn có những cung đường như từ trạm 40 đến trạm 43A thì dốc kinh khủng.

Trên bản đồ, hai trạm chỉ cách nhau mươi cây số, nhưng một trạm là bên này núi, còn trạm kia là bên kia núi.

Khi leo lên thì ba-lô thằng đi trước đặt sát mặt thằng đi sau.

Chưa lên đến đỉnh mà mây mù đã phủ kín, cứ như đi thày trò Đường Tam tạng cưỡi mây.

Đi trong mây mù như thế, chỉ một lúc sau là mồ hôi thấm ra và hơi nước ngấm vào đã bắt được tay nhau trên lớp vải quân phục của lính rồi.

Mùa khô trên Trường Sơn không có vắt, nhưng những đoạn đường đỉnh núi cao ẩm ướt thì vắt bò như tằm trên noong dâu.

Lúc xuống dốc toàn phải đi lùi.

Người ta thường nói "gối mỏi, chân chùn", chắc là để chỉ với những lúc như thế này.

Thanh niên cả mà đi run lẩy bẩy như những người ốm do ham mê tửu sắc, loại "chân ống giang, đầu gối củ lạc".

Lúc giải lao, tử tế thì còn xoay người hạ ba-lô xuống đất, còn không thì cứ thế mà phệt cả người xuống, lúc đứng dậy hành quân tiếp lại phải nhờ người khác kéo tay.

Các trạm đánh số thứ tự, nhưng cứ đến ngã ba của nhánh đường rẽ hướng, là lại đánh số khác.

Từ trạm T5, chúng tôi cứ lần lượt đi đến trạm T13A.

Những trạm nào đường bằng thì đa phần bãi khách rộng, suối nước trong lành, dù to hay nhỏ.

Các trạm ở những vùng đường bình độ sít nhau, mặt bằng hẹp thì đa phần chật và bẩn.

Nhiều trạm có bãi khách mà không có hầm, hoặc hầm chỉ là những hôc đá chiếu lệ.

Chẳng may bị đánh bom thì đành chịu cảnh "nhà ngói cũng như nhà tranh".

Ở những chỗ như thế thì chỉ có cây nhỏ, mắc võng rất tiện.

Nhưng cũng thật bẩn nếu có các đoàn quân vào nối tiếp nhau, vì chẳng đủ diện tích dất để đào hố mèo.

Các đoàn quân vào thưa thì không sao, vì để lâu thì nó cũng "...hóa bùn" rồi.

Đến trạm T10 thì chúng tôi bắt đầu vào địa phận tỉnh Sa-va-na-khet của Lào.

Đêm đó gặp mưa.

Chiến trường Lào mùa mưa đến sớm hơn chiến trường miền Nam một tháng, nhưng cơn mưa đầu mùa này cũng là cơn mưa đến sớm, vì lúc này mới là nửa đầu tháng 3.

Mưa không to, nhưng dày hạt, kéo dài chừng hơn một giờ.

Lần đầu tiên được hưởng mưa rừng Trường Sơn, được thấy tác dụng thứ nhất của tấm tăng bộ đội (cái từ tăng mà xuất phát gốc của nó là TANK, thì rồi mãi về sau chúng tôi mới hiểu hết).

Lúc đó chưa khuya, nằm trên võng mà cảm nhận rõ cái tiếng rơi lộp bộp của những hạt mưa xuyên qua lớp lá rừng thưa đập vào mái tăng, ngay sát mặt mình chỉ chừng mấy chục phân.

Cảm giác hơi lạnh... và nhớ nhà.

Nhớ những ngày mưa ở nhà, trẻ con rủ nhau chui ra chui vào những hốc cây rơm, cây rạ để trú, để chơi trò, coi đó như là cái nhà riêng của mình.

Nhớ những lúc mưa ngồi núp kín dưới mấy tàu lá chuối tranh thủ vung cần xuống ao câu mấy con cá giếc đi ăn mưa, không hiểu sao lúc ấy cá cắn câu mạnh lắm.

Nhớ những cơn mưa rào đầu mùa rủ nhau ra đồng bắt cá rô rạch.

Nhớ những đêm mưa bão rủ nhau ra công viên chặt cành cây đổ về làm củi giúp mẹ.

Rồi cuối cùng lại quay về nhớ cái cảnh trời mưa ngồi bậu cửa chờ mẹ đi chợ về có gói quà là một ít bỏng ngô, hay mấy miếng bánh chè lam lọc bột không kỹ còn lạo xạo trấu mẹ mua ở chợ đầu làng...

Nước mắt không thành dòng, nhưng cũng đủ ướt hai khóe mắt... rồi chìm dầnvào trong giấc ngủ.

Hậu phương đã lùi xa, mà đường đến chiến trường thì vẫn còndài, còn xa xăm lắm...

Sau một ngày nghỉ lại trạm T10 để nhận gạo, chúng tôi hành quân sang T11.

Như vậy là cứ đi vài ngày lại nghỉ một ngày lấy sức.

Đôi khi được nghỉ lặp nhiều hơn, vì trạm chưa có giao liên dẫn đường, hoặc có tình hình đột xuất nào đó, nhưng cỡ lính tráng lèm nhèm thì không thể biết rõ.

Chúng tôi như đàn ngựa, con đầu đi đâu thì cả đàn theo đấy.

Dừng thì cùng dừng.

Vẫn là cái đội hình lính huấn luyện ngoài Bắc cùng nhau, dựa dẫm vào nhau nên chẳng phải lo lắng gì.

Ở trạm T11 rừng rất thấp.

Rặt một thứ cây gì đó lá mềm, to và mỏng.

Thân cây nào to chỉ cỡ bắp chân, còn thì bé tẹo.

Mắc võng nằm phải cột giằng mấy gốc mới đủ lực giữ.

Không dám căng tăng, và cứ thấy nó trống huếch trống hoác thế nào ấy, nhất là khi trời còn sáng.

Nhưng chịu khó rải lá khô ra, rồi trải ni-lon nằm thì thấy kín đáo hơn.

Lúc mới vào chiến trường cứ thấy rừng già cây to cổ thụ cao vút che hết cả nắng thì yên tâm vì kín đáo.

Nhưng thật ra những khu rừng thưa, rừng thấp, thậm chí rừng toàn lau lách, nếu giấu quân tốt thì đó mới thật là nơi an toàn.

Rừng già mà chẳng may gần tuyến đường chiến lược thì bị ăn B52 lúc nào không biết.

Nhưng đấy là kinh nghiệm về sau, còn lúc đó thì chỉ thấy sợ thôi.

Nấu cơm mà vừa nấu vừa lo khói.

Nhiều bãi khách có những bếp đào sẵn cho lính nấu cơm, hết đoàn này đến đoàn khác.

Chúng tôi nghe biết nó là bếp Hoàng Cầm, nhưng cấu tạo ra sao chưa biết.

Chỉ biết là đun ở các bếp đó không thấy có khói.

Trạm T12 và T13 nằm dọc bên một con sông, hình như là sông Se Băng Hiêng.

Sông ở đây dốc rất cao.

Vì thế ở bãi khách mà ra sông lấy nước nấu cơm như đồng bào vùng cao đi gùi nước.

Thằng nào đến phiên đó phải nấu cơm thì đúng là số ruồi.

Những thằng không phải nấu cơm thì thậm chí nhiều thằng không đi rửa mặt mũi, chân tay vì ngại.

Phải nhờ thằng khác lấy hộ bình tông nước dùng tạm qua đêm.

Hôm vượt sông phải dậy từ 2 giờ sáng.

Công binh mắc cho sợi dây soong chăng ngang mặt sông.

Chỗ vượt là một cái ghềnh, đi qua các mỏm đá cho nông, nhưng nước chảy rất siết.

Cái dây chăng cứ oặt ẹo, giằng qua giằng lại qua tay thằng này thằng khác, nên nhiều thằng mất đà ngã ướt hết.

Cuối cùng thì cũng qua hết được sông.

Không biết từ lúc nào, chúng tôi đã vứt hết giày.

Vừa nặng, vừa khó dùng.

Dép cao su đúc là ưu việt nhất.

Càng về sau, chúng tôi càng thấy tác dụng to lớn không gì sánh được của đôi dép đúc.

Vừa nhẹ, vừa bền, vừa chắc chắn.

Nhưng dứt khoát phải có tất.

Tốt nhất là tất len của bọn ngụy.

Đi khô, đi ướt, đi bùn kiểu gì đôi tất cũng làm cho chân bám chặt vào dép, không bị trơn hay xoay vòng.

Thế là sau chiếc mũ cối, đôi giày cao cổ phát cho lính vượt Trường Sơn đã cho thấy tác dụng kém của nó.

Qua sông, chúng tôi tới một ngã ba rẽ sang nhánh khác và thay giao liên.

Bây giờ là trạm T31.

Do vượt sông ngã rơi gạo... chúng tôi phải ăn cháo một ngày và phải nhịn ăn một ngày trong điều kiện vẫn phải hành quân đủ một cung đường hơn hai chục cây số.

Lính tráng làu bàu, nhưng chỉ có cây rừng nghe.

Cả đội hình tụt tạt, lõng thõng.

Thằng đi đầu tới trạm khách lăn ra ngủ đến hơn tiếng sau thằng cuối cùng mới tới.

Nhe răng ra mà nhìn nhau, đói cả lũ một lượt.

Hộp sữa bột 1 kg và cân đường cá nhân cũng chẳng mấy thằng còn.

Đành lấy ra nhúm ruốc mặn khuấy vào ca nước suối mà ăn uống tạm.

Hôm sau chúng tôi được lấy gạo bổ sung, ăn no, nghỉ một ngày chờ đêm hành quân vượt đường 9.

Con đường 9 đã trải qua 1 năm kể từ chiến dịch đường 9 Nam Lào.

Mùa khômà lau lách hai bên đường vẫn cao vút, bò lấn ra con đường lâu ngày không ngườiqua lại.

Chúng tôi vượt đường 9 không phải theo hướng cắt vuông góc, mà phải đidọc theo nó tới cả trăm mét.

Không thể tin là mình đang đi qua con đường đãlừng danh sử sách.

Đường đất, hẹp như một con đường miền trung du.

Có lẽ conđường 4 qua Đông Khê, Thất khê đầy bông lau hai bên đường, nơi bộ đội ta mở chiếndịch Biên giới 1950 cũng giống thế này.

Chẳng còn dấu tích nào của những trậnđánh năm ngoái, hay nơi đây chỉ đơn thuần là con đường hành quân của những lữđoàn dù ngụy?

Thế mà chúng tôi vẫn phải ngậm tăm, lom khom chạy để vượt qua conđường thật nhanh.

Mà có lẽ nơi này cũng gần với tuyến đường xe vận tải TrườngSơn rồi thì phải.

Đúng như vậy.

Sau khi vượt qua đường 9 thì tình hình có nhiều điều khác hẳn.

Chúng tôi chỉ đi được một chặng đến gần sông SeKong thì phải nghỉ.

Từ đây vào, phòng không của ta yếu hơn nên máy bay địch hoạt động rất nhiều.

Đường vượt sông của tuyến đi bộ sát ngay gần đường xe.

Trong này không thể có cầu, xe ô-tô phải đi qua sông bằng đường ngầm.

Nằm ở một cái trạm không ra trạm ngay gần bờ sông.

Có lẽ cũng không phải bãi khách vì ở đây chỉ thấy vô số hầm nằm dọc hai bên đường.

Rồi vào sâu hơn cũng thấy cảnh hầm dọc đường.

Đa phần là hầm nắp bằng, nhưng cũng nhiều hầm chữ A.

Có lẽ những hầm này dùng cho giao liên hoặc các đơn vị hành quân qua đường.

Thật đúng là "...Trên đường ta ra tiền phương, có những căn hầm ven Trường Sơn.

Hầm chở che ta trước giờ xuất kích, hầm cùng ta đi đánh giặc đêm ngày..." như lời một bài hát.

Chúng tôi chưa thể vượt sông vì địch đang đánh phá rất mạnh.

Phía ngầm địch thả pháo sáng suốt đêm.

Tiếng máy bay nghe cứ ì ì.

Vệt sáng của pháo sáng cứ nhập nhòe, chập chờn, chao đảo.

Rồi tiếng súng nghe lùng tùng lúc xa lúc gần.

Cảm giác rất lạ, vừa nôn nao, vừa là lạ như đang xem phim ngoài trời.

Chúng tôi lấy nước nấu cơm, không phải dưới sông mà phải đi lùi lại một con suối xa đến cả tiếng đồng hồ.

Cho đến lúc này chúng tôi vẫn chưa đi qua một bãi bom nào.

Các cánh rừng đều có vẻ yên bình.

Đến đêm thứ ba thì chúng tôi dược lệnh vượt sông.

Nhận lệnh từ tối.

Cả đơn vị đeo sẵn ba-lô ngồi ngủ vạ vật theo đội hình hàng dọc, đến tầm 3 giờ sáng thì được lệnh lên đường.

Hành quân đêm không phải là lần đầu với chúng tôi, nhưng ở nơi chưa quen biết địa hình, đêm tối đen, tốc độ hành quân lại do giao liên quyết định, lúc nhanh lúc chậm nên chỗ nào cũng xảy ra cảnh thấy thằng trước đi vèo vèo thì mình vội vàng chạy bám theo kẻo lạc.

Bất thình lình hàng quân dừng lại đột ngột, thế là thằng sau đâm sầm vào thằng trước ngã dúi dụi.

Nhất là đoạn xuống dốc ra bờ sông thì ngã xoành xoạch.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng ra được đến bờ sông và lội qua sông dưới khung trời bàng bạc.

Nước sâu đến ngang lưng.

Có muốn đội ba-lô lên đầu cũng không được vì không quen, lại mỏi, thế là lại bị ướt mất nửa ba-lô.

Tẳng sáng thì thằng lính cuối cùng cũng leo lên được bờ sông bên kia.

Không được nghỉ mà phải cắm cúi hành quân hơn một tiếng nữa mới được lệnh dừng lại.

Tất cả được phép nghỉ một tiếng rưới để nấu cơm.

Chỗ này có khoảng bằng rất rộng, gần một con suối nhỏ nên chuyện cơm nước cũng dễ dàng.

Hành quân tiếp đến chiều thì chúng tôi tới được bãi khách.

Bãi khách rộng, hầm rất nhiều và tốt.

Cạnh bãi khách có mấy căn nhà khá vững chắc.

Chắc nơi đây từng là nhà chỉ huy hay trạm phẫu gì đó.

Cột nhà to hơn bắp đùi, đều nhau chằn chặn, chẳng hiểu là thứ cây gì.

Trong này làm nhà, cột nhà chỉ là thân cây lóc vỏ, thế mà loại cây này như là thứ cây không vỏ, nhẵn như kiểu thân cây chuối.

Hôm sau hành quân qua một cánh rừng lớn, chúng tôi ngạc nhiên nhận ra loại cây có thứ gỗ làm cột nhà ở bãi khách đêm qua.

Hóa ra đó là cây xương rồng.

Nếu không tận mắt nhìn, chắc chẳng bao giờ tôi tin có thứ cây xương rồng to mà thân gỗ của nó làm được cột nhà.

Cả một cánh rừng chỉ toàn cây xương rồng.

Thân chúng mọc thẳng, cao vút và tự tróc hết vỏ.

Có ngửa cổ nhìn lên cao tới 3, 4 mét mới thấy đám ngọn xương rồng xanh cằn cỗi.

Tuổi thọ của chúng chắc không dưới vài chục năm.

Sang đến chiều thì phải qua một khu rừng trông như những ruông dâu.

Tất cả được lệnh bẻ mỗi thằng một cành cây to che đầu làm ngụy trang.

Con đường qua cánh rừng này dài tới mấy trăm mét, lối mòn nhỏ như không có mấy người qua.

Chắc là đường nhánh tránh con đường giao liên chính bị hỏng.

Hàng quân cũng dài nên không phải qua ngay được cùng một lúc.

Chợt có lệnh ngồi xuống tại chỗ và lấy cành cây che đầu vì có máy bay.

Một lúc cũng nghe thấy tiếng máy bay thật, nhưng nó cứ o o... như ở mãi đâu.

Rồi ngẩng đầu ngó lên trời thì cũng thấy một cái máy bay hai thân màu trắng bạc bay tít trên cao.

Nhìn nó bé tẹo, không biết nó có nhìn thấy mình không.

Đợi mãi đến khi nó vè vè đi đâu mất thì lại được lệnh lên đường.

Từ hôm đó trở đi, nhiều lần chúng tôi phải đi qua các khu rừng thưa, hầu như đều gặp loại máy bay trinh sát này.

Rồi được biết nó là OV10, chuyên thám thính cho B52 đánh bom.

Sau này ở chiến trường, cuối năm 1972 ra Sa-ra-van đánh nhau, chúng tôi gặp loại này thường xuyên.

Đi nhóm vài thằng thì cứ đậy lá nằm ngủ rồi ngắm nó bay vè vè cả ngày.

Cũng có lần bị nó nghi ngờ gọi B52 đến.

Chỉ nghe tiếng F105 bay thấp sạt cánh rừng trinh sát lần cuối rồi chưa đầy 10 phút sau thì bom đã rơi ngập đất.

May mà ở rìa bãi bom, căn hầm chữ A bị lật trơ lên một bên vách, trơ khấc ra mấy thằng lính, nhưng người chỉ bị chút sức ép mà không chết ai.

Dọc đường Trường Sơn, tiểu đoàn chúng tôi không bị dính bom trận nào.Thế những cũng phải đến dăm lần phải đi qua bãi bom B52 mới thả.

Có một lầnnghe tiếng bom ở xa mà rồi lại đi qua chính chỗ đó.

Cây cối đổ ngổn ngang, cànhlà còn tươi nguyên.

Mùi thuốc bom hòa mùi thân cây gãy còn ngai ngái, khen khétvà có lúc ngửi như mùi đường cháy.

Đi qua đó, dù chỉ là cắt ngang mà cũng vướngvíu vô cùng.

Nhưng giao liên bảo, đó mới là con đường an toàn nhất.

"...Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay,

Đất Thánh hiên ngang "tút" ban ngày..."

Chả hiểu cái câu đó do ai sáng tác, và bắt đầu có từ bao giờ.

Khi chúng tôi vào bộ đội, thì được nghe câu đó từ các cán bộ khung.

Nhắc nhở, giáo dục và răn đe, nhưng lính "tút" vẫn cứ "tút".

Chúng tôi không coi đó là tội lỗi, chỉ xem như là tranh thủ, vì trước sau chúng tôi vẫn vào Nam và sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ và cuộc đời cho Tổ Quốc trong những trận chiến đấu đang chờ chúng tôi trong chiến trường.

Đó là ngoài Bắc, còn đã vào đến Trường Sơn rồi thì không ai còn nghĩ đến chuyện quay lại.

Tât cả chỉ có một hướng phía trước là con đường vào chiến trường.

Mới chỉ vất vả thôi và trong lòng còn có niềm háo hức ra trận của tuổi trẻ.

Mùa khô quả là mùa ra trận, và "...

đường ra trận mùa này đẹp lắm...", đúng như nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết.

Nhìn lại chặng đường đã đi qua, quả là không ai muốn hoặc có gan quay lại.

Thế mà cái câu "..

Hà chuồn..." lại ứng đúng vào một buổi chiều, khi chúng tôi đang trên một cung đường thuộc đất bạn Lào ở tỉnh Sà-Vằn-Nà-Khẹt.

Cung đường này không có dốc cao; rừng già, đường rộng và có lắm khe suối nhỏ.

Hôm ấy đến phiên tôi mang khẩu AK.

Mỗi tổ tam tam có một khẩu AK được phát từ ngày nhận quân trang ở Hà Nam với 20 viên đạn nên cứ quay vòng ba ngày là tới lượt mình.

Chỉ có súng không, còn đạn do A trưởng cầm.

Thằng này không phải mang súng.

Thật đúng là chuyện quản lý dở hơi, vì nếu có gặp thám báo thì có súng mà không đạn thì còn vướng hơn, chạy đâu cho thoát.

Nhưng hôm trước qua một trạm lấy gạo bổ sung, tôi lân la xin được một anh lính giữ kho của binh trạm hơn chục viên đạn.

Thế là khoái lắm, tôi dấu kín trong ba-lô, coi như của riêng.

Hôm nay đến lượt mang súng, tôi lắp luôn 3 viên vào băng, thế là dù sao mình cũng có vũ khí ra vũ khí.

Tiểu đội tôi có thằng Nghị bị ốm (chưa phải là sốt rét), nên tôi mang đỡ ít đồ và đi cùng nó.

Chúng tôi đi sau cùng đội hình, có thêm đại đội phó Hảo khóa đuôi.

Lúc ăn cơm trưa, chúng tôi cũng ăn sau cùng, rồi lại lẽo đẽo đi sau đơn vị.

Giao liên đã chỉ sẵn đường nên thủ trưởng Hảo rất yên tâm.

Cả tốp đi chậm và phải nghỉ giải lao nhiều hơn so với cả đơn vị.

Khoảng gần giữa chiều, chúng tôi ngồi nghỉ lại bên một con suối.

Tôi đang duỗi chân tay khoan khoái trên một phiến đá, ngửa cổ nhìn lên tán cây cao vút của rừng già và ngó ngoáy nhìn quanh thì chợt thấy có làn khói mỏng ở khe suối phía xa.

"Thám báo"!

Tôi kêu lên rồi tụt ngay xuống khỏi mỏm đá, giương khẩu Ak (chưa kịp lên đạn) lên và vấy tay cho thủ trưởng Hảo.

Tât cả cùng nằm bẹp xuống.

Thủ trưởng Hảo rút cây K54 ra lăm lăm, nhưng cũng chưa ra lệnh gì.

Có đến mấy phút trôi qua, không thấy gì, thủ trưởng mới bảo tôi đi xuống khe suối rồi tiến lại xem khói ấy là gì.

Lính mới tò te, kinh nghiệm là số không, nhưng có khẩu AK trong tay nên tôi cũng vững dạ dò dẫm tiến lên.

Trượt chân mấy lần thì tôi cũng mò tới nơi.

Chỉ thấy có một cái hăng-gô treo trên hai chạc cây đang đỏ lửa, cạnh đó có một cái ba-lô như của lính chúng tôi mà không thấy có người.

Thủ trưởng Hảo cũng tới nơi, nhanh chóng nhận ra đây là quân tư trang của một thằng lính Bắc đang nấu cháo, thấy động thì bỏ trốn.

Đoán thằng này đang đảo ngũ, chúng tôi lần ra xung quanh tìm.

Nó chắc cũng vừa mới chạy, lại bỏ quên ba-lô nên cũng không thể chuồn thẳng.

Chúng tôi kiên nhẫn ngồi đợi.

Độ chục phút sau, tôi phát hiện có bụi cây gần đó lay động, mò lại thì phát hiện một thằng lính mình.

Nó thấy tôi có súng nên tất nhiên là sợ và phải chui ra ngay.

Thằng này cao và dáng khỏe hơn tôi rất nhiều.

Thủ trưởng Hảo bình tĩnh bảo nó ra ăn cháo cho khỏi đói rồi hỏi chuyện tỉ tê.

Tất nhiên là cu cậu phải khai vì đã lâm vào thế bí.

Hóa ra nó là lính đoàn Hà Tây, hành quân trước chúng tôi một ngày.

Sớm nay nó trốn lại, và lần theo đường cũ quay ra, đến đây nấu cháo ăn thì bị chúng tôi phát hiện.

Thế là nó phải cùng chúng tôi quay lại trạm khách, nơi đoàn của nó nghỉ đêm trước.

Thằng này cũng tử tế, mang vác luôn đồ cho thằng Nghị để tất cả cùng đi cho nhanh.

Chiều đó nhập vào được với đơn vị, tôi lại phải cùng thủ trưởng Hảo đưa nó vào giao cho Ban chỉ huy trạm.

Lúc này tôi đã biết tên nó là Mạnh.

Tuy không ủng hộ chuyện nó "B quay", nhưng trong lòng tôi cũng thấy nể nó một phần.

Có mỗi cái ruột tượng gạo, vũ khí không mà dám một mình lặn lội theo kiểu chui lủi để tìm đường về nhà thì ghê thật.

Thằng Mạnh được BCH Trạm tiếp nhận, còn chúng tôi ra về bãi khách.

Hôm sau, chúng tôi lại hành quân tiếp.

Đi chừng nửa tiếng, chúng tôi gặp một tốp giao liên binh trạm đi ngược chiều.

Chợt trong đoàn có một thằng nhảy ra ôm chầm lấy tôi rồi túm hai tay lắc lắc.

Tôi nhìn, nhận ra nó là thằng Mạnh đoàn Hà Tây gặp hôm qua.

Nó bảo nó đã được nhận vào bổ sung làm lính binh trạm. làm nhiệm vụ cùi hàng, tải thương.

Nó có vẻ mãn nguyện lắm, vì không phải vào Nam đánh nhau.

Nó nói rối rít rồi vội chạy cho kịp toán giao liên.

Tôi cũng nói vội câu chúc mừng nó.

Thế là nó vừa toại nguyện không phải đánh nhau, vừa vẫn được phục vụ Tổ quốc, không phải mang tiếng đào ngũ, sống lao động cải tạo trong mấy cái trại thu dung ngoài Bắc.

Cảnh đào ngũ trên con đường TrườngSơn, tôi cũng chỉ gặp một lần đó thôi.

Sau này vào chiến trường, trải qua gianlao, vất vả và ác liệt, lính trong trung đoàn và cả nhứng đồng đội Hà Thành củatôi đảo ngũ rất nhiều.

Nhưng đó lại là chuyện khác, chuyện của nhiều năm sau...

Không chỉ những đường mòn chuyển quân, mà cả những con đường vận chuyển hàng bằng xe ô-tô trên Trường Sơn, phần lớn nằm vắt qua đất Lào.

Ai cũng bảo có tuyến Đông và tuyến Tây Trường Sơn, nhưng những câu chuyện về các chiến sĩ công binh làm đường, làm ngầm và chuyện của cánh lính lái xe thì phần lớn đều mang dáng dấp rừng và địa danh Lào.

Tuyến đường ống của bộ đội xăng dầu trên Trường Sơn cũng vậy.

Nó tránh xa các con đường vận tải luôn bị bom Mỹ đánh phá vì nơi đó mất an toàn.

Nó bám theo các tuyến đường mòn của đoàn quân đi bộ.

Tôi biết điều đó vì không chỉ một lần, chúng tôi phát hiện thấy đường ống dẫn dầu.

Nhiều đoạn qua khe hay sườn núi, nó nằm lộ thiên ngay trên mặt đất.

Kẻ địch không thể đủ thám báo để tung ra mà lần mò khắp Trường Sơn, chứ đường ống dẫn dầu không phải là khó tìm.

Có những lần nó nằm sát đường đi, ngồi nghỉ giải lao ven đường chỉ cách nó độ một mét.

Lính tráng cũng là con người, nên có lúc, có thằng bộc lộ cái ngu hết sức ngớ ngẩn và dở hơi.

Thằng Bình bên Đông Dư (Gia Lâm), một lần dừng chân giải lao thấy cái ống dẫn dầu đã dùng dao găm cậy cái nắp ở một chỗ nối.

Đầu tiên là nó, rồi tất cả đám lính tại đó đều tranh nhau lấy xăng đổ bật lửa từ cái dòng xăng phọt ra không lấy gì làm mạnh đó.

Hết khôn dồn đến dại.

Lấy đủ hết xăng rồi thì không sao bịt lại được nữa.

Cái dòng xăng ấy dù bé nhưng cũng chảy dần ra thấm đẫm cả một khoảng đất.

Xăng cũng hòa vào không khí, bốc mùi ra một vùng rộng lớn xung quanh.

Cán bộ và giao liên không ai biết.

Đến lúc đứng dậy hành quân, một thằng ngu nào đó còn lấy bật lửa ra lách tách bật thử.

Thế là cả đám cỏ xung quanh bừng cháy rất nhanh.

Đám lửa lan nhanh ra cả khoảng đất thấm dầu, khói bốc cao.

Thế là tất cả bỏ chạy.

Bọn nghịch dại này nằm ở tốp sau cùng.

Thấy bọn đằng sau rầm rầm chạy lên kèm theo khói lửa bốc cao, chúng tôi ngồi nghỉ phía trên cũng bật dậy chạy.

Cứ thế, cả hành quân rùng rùng chạy.

Chạy cho mau vì lúc đấy cũng chưa ai hiểu ra tình hình là thế nào.

Lại sợ, lúc này mà có máy bay trinh sát OV-10 trên đầu thì chạy đằng trời.

Tất cả xanh mặt.

Cán bộ cũng phải chạy tới chạy lui, một lúc lâu sau mới hiểu ra tình thế.

Mấy thằng hiểu biết một chút còn đoán là một lúc nữa thôi cả đoạn ống sẽ nổ như bom.

Lính tráng sợ đã đành, mà cán bộ khung dẫn quân cũng sợ.

May thay đám cháy lùi lại ở phía sau chắc tắt dần, vì không thấy khói bôc lên nữa.

Không có nổ đường ống.

Đám cây rừng quanh đó cũng không bị cháy để có thể gây ra cháy rừng.

Sau này chúng tôi biết là đường ống dẫn dầu chỉ bơm từng trạm.

Trong lòng đoạn ống khi đó chỉ còn lượng xăng dính ống nên khi bị thủng chỉ chảy ra ít và không đủ để gây cháy nổ đường ống.

Thật hú vía.

Rồi chúng tôi cũng an toàn đến được trạm khách sau.

Đơn vị họp ngay để kiểm điểm, nhưng không đứa nào bị sao cả, vì thực ra cũng có tìm ra đứa nào bật lửa đâu.

Tất cả lại lên đường tiếp tục hành quân.

Về sau chúng tôi rút kinh nghiệm, xin luôn xăng của cánh lái xe khi gặp họ ở những trạm phải lấy gạo bổ sung.

*

Không hiểu bắt nguồn từ đâu mà tít trên dãy núi Trường Sơn, có chỗ tưởng như là đỉnh cao nhất rôi, mà vẫn có nhiều suối.

Mùa khô, nhiều con suối nhỏ và cạn đã đành, nhưng chúng tôi cũng gặp nhiều con suối to.

Chiều rộng dòng nước của nó cũng tới hai, ba mét.

Có nhiều chỗ dòng chảy quẩn lại, nước rất sâu.

Có lần dừng chân ở một bãi khách, lính tráng nhìn thấy cá, đem AK ra bắn mà cũng được cá.

Một điều rất may là trước đó, chúng tôi đã được phổ biến kiểu truyền miệng là không được thò nòng AK xuống nước rồi bắn.

Bắn kiểu đó nòng AK sẽ vỡ toắc ngay vì gây ra một thứ áp suất nào đó.

Không đứa nào dám thử, nhưng chắc là như vậy.

Vài con cá suối ranh, thế mà đem nấu cháo cũng thấy ngon tuyệt.

Dọc Trường Sơn, chúng tôi đứa nào cũng thạo cái món tự nấu cháo bằng hăng-gô rồi thả tí ruốc vào.

Lúc ấy là ruốc thịt, chưa biết tới ruốc cá.

Cháo ruốc ngon tuyệt vời, nhất là trong cảnh lúc bấy giờ.

Lúc ở nhà đọc chuyện cổ tích, tôi cứ nghĩ rừng có nhiều thứ ăn được lắm, và những cuộc đi chơi rừng sẽ vô cùng thơ mộng.

Nào là hái nấm, nhặt hạt dẻ...

Thực ra trong rừng cũng có rất nhiều thứ đó, sau này chúng tôi cũng có nhiều dịp hái nấm và nhặt hạt dẻ về rang ăn, nhưng lúc ấy dọc đường không thấy những của đó.

Chẳng có rừng vải, rừng chuối, rừng mơ gì cả.

Hành quân mùa khô nên hầu như không có rau ăn.

Gặp Tre, gặp Vầu, gặp Bương, gặp Luồng... vô khối ra đấy, nhưng không phải mùa măng.

Chỉ có đôi lần qua những đoạn có khe suối cạn, chúng tôi được giao liên chỉ cho cây rau tàu bay.

Ngày ở nhà nghe cha chú kể nhiều về loại rau này trong kháng chiến ở Việt bắc, nhưng bây giờ mới biết.

Rau mọc tốt, xanh um.

Chúng tôi hái cả ôm mang theo, để đến khi tới trạm thì nấu ăn.

Lúc đầu chưa có kinh nghiệm, hái dài ngoẵng, mang nặng.

Lúc nhặt vẫn phải bấm ngọn non như nhặt rau muống, bỏ cọng già rất nhiều.

Rau tàu bay lúc mới ăn thấy hơi hăng hắc, nhưng vì thiếu rau xanh lâu ngày nên chẳng để thừa tẹo nào.

Nhiều người còn bảo ăn thứ rau ấy hay bị ngã nước, nhưng chắc không phải.

Sau này có một thời gian mấy tháng trời, chúng tôi chỉ có thứ rau đó ăn.

Hết luộc lại sào, nhưng theo tôi ngon nhất là rau tàu bay muối dưa.

Dòn và đậm lắm.

Không phải ở rừng chỗ nào cũng có rau tàu bay mà ăn đâu.

Trong rừng mà ăn được nhiều nhất có lẽ là các thứ lá chua.

Không chỉ cây bứa, mà còn nhiều loại cây lá chua khác, chả biết tên nó là gì.

Cây chỉ nhỏ như cây mọc tái sinh, lá màu như lá sấu non.

Vò ăn thấy chua chua, đem ngắt thả bừa vào nồi nấu canh, lùa cơm cũng dễ.

Hết mơ rau lại đến mơ quả.

Đi mãi ngày này qua ngày khác mà không gặprừng cây ăn quả.

Nhiều lúc cũng thấy thứ cây có quả, nhưng không ăn được.

Đặcbiệt có những thứ quả quái quỷ gì đó màu sắc cực đẹp, rực rỡ.

Loại này chỉ cóđem bày cho đẹp.

Hỏi mấy anh giao liên, bọ bảo trong rừng quả gì càng đẹp, càngđộc.

Chớ có hái cắn thử mà có ngày chết.

Thậm chí họ còn bảo có thứ quả chim ănđược, nhưng người không thể ăn được.

Tốt nhất là nên hỏi lính cũ trong rừng chứđừng có mà cắn bừa.

Đấy cũng là những bài học vỡ lòng về rừng với lính mới chúngtôi...

Những lần được nghỉ thêm một ngày ở một trạm nào đó, nhiều đứa trong chúng tôi viết thư gửi về nhà.

Gửi về đơn phương thôi vì chúng tôi không có hòm thư.

Viết xong lá thư gửi đi đấy, chắc chắn thư mới đi được vài ngày chưa thể về đến nhà thì chúng tôi đã đi tiếp tới tận đâu rồi.

Chẳng có khái niệm gì về trạm quân bưu giữa rừng Trường Sơn này đâu.

Chẳng cán bộ nào phổ biến cho chúng tôi viết thư, vì chẳng có hòm thư để bỏ vào.

Cũng chẳng có binh trạm nào đứng ra nhận thư của lính.

Nhưng chúng tôi vẫn viết.

Dọc đường vào Nam, chúng tôi đã gặp rất nhiều đoàn ra.

Khi thì là đoàn cán bộ miền Nam, toàn người nhiều tuổi, mặc áo bà ba, đeo bòng, thắt khăn rằn, túi dết.

Có ông mặc toàn dân sự mà lại đeo súng ngắn.

Đa phần họ nói giọng miền nam.

Có khi thì gặp cả một đoàn thiếu nhi miền Nam.

Trai gái đủ cả, chừng 12, 13 tuổi, mỗi đứa đeo một túi nhỏ và có một cây gậy chống dài ngoãng.

Lúc lại gặp cả đoàn thương binh đến mấy chục người.

Dù là mùa khô, mùa xe chạy, nhưng chắc cũng không đủ xe, nên vẫn phải có nhiều người đi bộ ra.

Cảnh gặp nhau giữa rừng thì chào nhau ríu rít, vui như đi hội.

Thường là gặp những đoàn ra như thế, chúng tôi lấy ra những lá thư đã viết sẵn, đưa nhờ họ mang ra.

Mỗi đứa một lá, có đứa hai ba lá, nên mỗi người phải nhận cả tập thư.

Thời gian ấy chúng tôi còn có tem thư, mỗi lính lại được phát cả chục chiếc tem nên thư nào chúng tôi cũng dán tem.

Dặn nhờ người mang là cứ khi nào gặp hòm thư thì bỏ hộ vào đó cho tiện.

Chả biết bao giờ thư về tới nhà, nhưng vẫn cứ viết cứ gửi như thế, với suy nghĩ đơn giản là khi nhận được thư, bố mẹ biết là đến lúc đó con mình vẫn còn sống.

Tôi cũng nhiều lần viết thư như thế.

Chỉ toàn viết thư về nhà thôi.

Mỗi lần gửi được thư là lại đánh số và ghi vào cuốn sổ tay bé tí.

Dọc đường hành quân thì vừa đi vừa ngó nghiêng nhìn cảnh vật, nhất là ở những đoạn đường bằng đều đều chân bước.

Lớp trẻ chúng tôi khi đó được giáo dục lòng tự hào đất nước ta "rừng vàng biển bạc", nên tôi cố gắng tận hưởng tất cả cảnh đẹp mà mình nhìn thấy dọc đường.

Mà quả là cũng luôn tin như thế.

Cái mà tôi thích nhất là củi rừng.

Chỗ nào cũng có củi.

Dừng chân bất cứ đâu, dù bãi khách xấu đẹp hay rộng hẹp thì việc vơ lấy mấy cành cây để nấu hăng-gô cháo cá nhân quá dễ dàng.

Chẳng bù cho ở nhà, mỗi tháng cả nhà chỉ được mua 10 hay 15 kg củi theo phiếu phân phối và độ 30 kg than ướt.

Chính vì thế mà trong nhà tôi có một thứ vật dụng rất quý là con dao dựa mài sắc.

Những ngày tháng bảy mưa bão là những ngày hết sức háo hức.

Tôi chờ từng đêm có bão gió to để quần đùi áo may-ô cùng bọn thanh niên choai trong phố đi chặt cành cây đổ.

Cành xà cừ lúc tươi chặt rất dễ, để khô nó quánh lại đẽo ra đun đượm lửa vô cùng.

Mùa bão qua đi là nhà tôi cũng có đủ số củi bằng tiêu chuẩn phiếu hơn nửa năm trời và tôi luôn tự hào với thành tích đó.

Sau này vào bộ đội, lên Bãi Nai huấn luyện đi chặt củi rừng vào các chủ nhật, tuy có khá hơn ở nhà, nhưng những ngày đi lấy củi vẫn là vất vả đối với chúng tôi và càng ngày càng phải vào rừng sâu hơn.

Đi lấy củi vẫn là một công tác khó nhọc mà chúng tôi rất ngại.

Bây giờ vào giữa rừng Trường Sơn thì thấy quả là rừng vàng.

Mà lạ cái là đi trên tuyến Tây Trường Sơn thuộc đất bạn Lào, nhưng tôi không hề thấy có cái cảm giác của người được đi ra nước ngoài.

Vẫn như là đất của nước mình vậy.

Rừng "vàng" không phải chỉ là củi đâu thôi, tuy đó là thứ tôi cảm nhận thích nhất.

Thú rừng, một nguồn thực phẩm quý và nhiều mà sau này chúng tôi săn bắn được để cải thiện thì lũ bạn ở nhà đi học (bọn con gái và những thằng con một ấy mà) có mà nằm mơ cũng không thể nào hình dung ra được.

Còn cảnh đẹp thì miễn chê.

Tôi đã tận hưởng và sau này nghiệm lại thì mọi thứ phong cảnh hữu tình, ở núi rừng Trường Sơn đủ cả (không khí trong lành và tôi chưa hề có trong đầu khi đó khái niệm gọi là "ô nhiễm môi trường").

Chỉ riêng chuyện nơi đây có thứ cây xương rồng mà thân gỗ của nó dùng được để làm cột nhà thì đã không gì có thể so sánh được rồi.

Hồi hành quân dã ngoại ở ngoài Tân Lạc, tôi đã kể về chuyện có những giò phong lan rừng đã làm ngây ngất những thằng nhà chơi cây cảnh tới mức cố lấy và cất công mang hơn trăm cây số đi bộ về làm quà dịp nghỉ phép.

Những thằng mù tịt về cây cảnh như tôi chỉ có cảm nhận chung là đẹp thôi.

Từ Binh trạm 41 trở vào có nhiều rừng già, dốc cao.

Gặp mưa nhiều hơn.

Nói chung hành quân trong rừng mà gặp mưa thì kiểu gì cũng ướt.

Đừng mong che khô người bằng tấm ni-lon.

Đi ở chỗ quang thì còn được, chứ rừng rậm mà quàng ni-lon vướng cành cây thì chỉ có rách.

Mà rách thì sau này lấy cái gì dùng?

Ngay lính giao liên cũng chỉ thấy họ quàng cái tấm ni-lon bằng vải đựng gạo đồ cắt ra, chỉ quàng che mỗi chỗ vai và cái gùi nhỏ.

Phải nói là chúng tôi khi ấy được phổ biến kỹ càng và có ý thức giữ gìn ghê lắm.

Biết là lúc đi B được trang bị đầy đủ mọi thứ đấy, nhưng chắc chỉ có một lần, không lấy đâu ra mà cấp lại.

Ngay cả hai thứ căn bản là Tăng và võng, nó che chở mưa nắng cho mình lúc còn sống, và nó cũng sẽ là thứ cuối cùng theo mình sang thế giới bên kia, nếu số phận mình chỉ có vậy.

Một lần chúng tôi gặp một cánh rừng vô cùng nhiều hoa Lan.

Tôi khôngbiết hoa Lan có bao nhiêu loài, tên riêng là gì, nên gọi chung chúng là hoa Lanrừng.

Cành dài đầy hoa trắng muốt như mọc ra từ một cành cây rừng trên cao.

Nếuchỉ dăm bảy cành thì chẳng gây ấn tượng bao nhiêu.

Đằng này nhiều đếm khôngxuể.

Không biết cây rừng ở đây là loại gì mà hoa Lan ký sinh trên đó nhiều vậy.Trắng cả một khoảng rừng.

Không thể không reo lên thích thú và đòi nghỉ giảilao để ngắm.

Rất nhiều thằng chặc lưỡi hít hà tiếc rẻ.

Anh giao liên chỉ cười,bảo vùng rừng này nhiều lắm.

Lán giao liên nào ở binh trạm cũng lấy về treo dămcành.

Thật đúng là rừng vàng.

Nhưng thôi, đường ra chiến trường còn ở phíatrước.

Hẹn ngày chiến thắng trở lại đây kiếm nhành hoa Lan rừng thật đẹp tặngcho người con gái của đời mình thay bó hoa Lay-ơn ngày cưới.

Ngày hành quân thì ngắm cảnh rừng.

Đêm về nằm võng thì bắt đầu nghĩ về nhà và mơ những chuyện cổ tích.

Mơ cả chuyện Việt nam và mơ cả ở những phương trời xa xôi.

Lớp phổ thông của tôi có nhiều bạn gái sang Nga học.

Không biết có ai đến thành phố Leningrat để được thưởng thức đêm trắng như câu chuyện tình lãng mạn trong phim "Belưie Notri" không?

Nằm giữa rừng Trường Sơn mà mơ mình là chàng hoàng tử phóng ngựa đấu kiếm để cứu nàng công chúa bị nhốt trong lâu đài thì cũng thấy khoái lắm, quên cả gian nan vất vả ban ngày.

Rồi lại lẩm nhẩm đếm xem mình đã gửi về nhà bao nhiêu lá thư, và chúng đã đi tới đâu.

Hôm hành quân từ trạm 43A sang trạm 43B, tôi cũng đi ở một tốp sau cùng với đại đội phó Hảo.

Đoạn đường này có nhiều dốc dài thoai thoải, nhiều cây rừng già và khe suối đá rộng.

Cũng là sau bữa cơm trưa, được nghỉ lâu một chút.

Chỗ này quang đãng rộng rãi nên khi tôi muốn đi giải quyết nỗi buồn âm ỉ, thủ trưởng Hảo bắt tôi đi dọc theo suối vào sâu trong rừng một quãng xa.

Đi độ ba chục mét tới một khe đá, tôi bỗng hoa mắt lên khi nhìn thấy trong khe đá trắng xóa một đống thư.

Phải là hàng vài trăm, không, có lẽ tới cả ngàn bì thư được bỏ xuống đấy như được trút ra từ cái bao tải khổng lồ.

Tôi kêu lên gọi thủ trưởng Hảo.

Cả tốp lính chạy tới.

Chúng tôi nhặt lên xem, thấy địa chỉ nhận là nhiều vùng quê miền Bắc.

Tại sao những lá thư này lại ở đây.

Phải nói lúc ấy cái cảm giác thật khó tả.

Ngạc nhiên và không thể lý giải.

Người lính quân bưu nào hy sinh nơi đây ư?

Thủ trưởng Hảo đúng là người lính già đầy kinh nghiệm.

Chỉ vài phút, ông đã luận ra được đây là thư của những người lính đang trên đường vào chiến trường như chúng tôi.

Họ đã gửi những lá thư viết vội dọc đường, nhờ những tốp cán bộ hay thương binh đi ngược đường đem ra Bắc.

Những lá thư ấy nhiều quá đến mức là món hành lý nặng cho người mang.

Để nhẹ gánh, họ đã vứt lại nơi này.

Có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ.

Sao họ không đem gửi vào binh trạm rồi lúc nào đó thuận tiện thì binh trạm gửi ra?

- Có lẽ không dễ làm như vậy, vì từng này thư mà mang đến trạm cũng rất xa, mà chưa chắc đã có ai nhận gửi.

Khi con người ta leo núi quá mỏi mệt thì "Con ruồi đậu nặng đồng cân".

Cũng không nên trách họ quá, các cậu ạ.

Đại phó Hảo trầm ngâm nói vậy.

Và ông bảo chúng tôi châm lửa đốt hết số thư ấy trong khe núi, vì để đó cũng không ổn.

Chờ đám cháy gần hết, chúng tôi múc nước suối dập tắt hết tro nóng, rồi lên đường đuổi theo đơn vị.

Tôi còn nghĩ mãi về chuyện này, cảm thấy nó ngậm ngùi thế nào ấy.

Và cũng từ hôm đó, suốt dọc đường hành quân vào chiến trường, tôi không còn hứng để viết thư gửi về nhà nữa.

*

Trong thời gian đi trên Trường Sơn, chúng tôi chỉ họp theo trung đội.

Phần vì không mấy khi có bãi đất rộng, phần vì lý do an toàn nên không tập trung cả C.

Tin tức thời sự rồi cũng thưa dần.

Chúng tôi chỉ cặm cụi đi hết ngày này sang ngày khác, mặc kệ cho bao giờ tới nơi thì tới, chứ không còn háo hức muốn vào nhanh đơn vị chiến đấu để đánh trận như lúc mới hành quân nữa.

Sự khắc nghiệt của rừng núi bắt đầu xuất hiện.

Trong các đại đội bắt đầu có sốt rét.

Chúng tôi phải chia nhau mang đồ đoàn và dìu người ốm hành quân.

Cái món sốt rét này rất lạ, nhiều lúc cứ như giả vờ ấy.

Trời bình thường mà thấy có thằng kêu rét, sờ đầu thấy nóng.

Chỉ có ở binh trạm mới có y tá, còn trong đội hình hành quân không có.

Chúng tôi tự lấy thuốc Nivaquin được phát theo cá nhân để uống.

Ngày 4 viên, chia 2 lần.

Thằng ốm chẳng ăn được mấy, dù là cháo, nhưng vẫn bắt uống thuốc.

Viện Nivaquin rất đắng.

Ấy vậy mà hôm sau, thằng sốt lại có lúc vùng lên đi băng băng như thi việt dã, thằng khỏe theo không kịp.

Nhưng đó mới là dạng sốt bình thường.

Trong tiểu đoàn đã có thằng sốt ác tính, khiêng vào trạm xá binh trạm, sau này không gặp lại.

Nghe nói đã nằm lại Trường Sơn, trở thành liệt sĩ mà chưa được ra trận lần nào.

Trong C tôi cũng có 2 thằng sốt rét nặng phải gửi lại binh trạm, sau này được nhập vào trạm làm lính giao liên, hết chiến tranh cũng trở về nhà. (Một thằng trong số đó năm 1974 còn được ra Viện Quân y 103 học Bác sĩ.

Đến đợt những năm 1980 nó đi xuất khẩu lao động ở CHDC Đức rồi định cư luôn bên đó).

Thếmới biết đường ra trận cũng gian nan, đâu phải chỉ có bom đạn kẻ thù.

Sau nàylính tráng chúng tôi cũng lần lượt nếm mùi sốt rét hết.

Người ta bảo, không bịsốt rét thì không phải là lính Trường Sơn.

Có thể không chết ngay, nhưng nó làmtổn hại sức khỏe lính tráng rất nhiều.

Anh nào bị sốt nhiều còn bị ảnh lưởngtới gan và lá lách.

Khi chúng tôi vào tới mặt trận mà mình được bổ sung, còngặp một trường hợp thương tâm và ít nhiều ảnh hưởng tâm lý.

Có một anh ở chiếntrường 7 năm, bị sốt rét nhiều đã sa lá lách đến gần độ 4, mạng sườn to như đànbà có chửa.

Đơn vị cáng anh ấy ra, nghe nói anh ấy sẽ được ra Bắc.

Đi ngượcchiều đoàn quân vào của chúng tôi, những người cáng anh ấy trượt chân ngã, tấtcả cùng lăn xuống dốc.

Anh ấy bị vỡ lá lách, chết ngay trước mặt đám lính trẻchúng tôi.

Thần chết quả là phũ phàng trước số phận con người.

Tôi là thằng thích học văn (dù học toán xuất sắc hơn), thích những câu chuyện lịch sử của cả Ta và Tây, của cả Việt và Tàu.

Những thằng trong cùng A huấn luyện ngoài Bắc với tôi còn sống, đến bây giờ gặp nhau vẫn còn nhắc lại chuyện khi hành quân vào Nam đã có may mắn ở cùng A với tôi.

Tôi đã giúp cho những ngày hành quân trên Trường Sơn của chúng nó bớt buồn tẻ và đơn điệu.

Chả là sau khi hành quân từ Trạm 5 vào được dăm hôm, một tối chúng tôi đem chuyện Thủy Hử ra tranh luận xem cuộc sống của các hảo hán Lương Sơn Bạc có gần giống như Trường Sơn không.

Tôi đã đọc ra vanh vách cho chúng nó nghe rằng trước khi về Lương Sơn thì các Hảo hán còn ở những núi nào.

Từ núi Thiếu Hoa của bọn Chu Vũ, Trần Đạt, Dương Xuân đến núi Đào Hoa của Lý Trung và Chu Thông rồi núi Nhị Long của Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm, hay núi Thanh phong của Yến Thuận, Vương Nụy Hổ...

Có nhiều đoạn văn tả cảnh chiến trận, hay lời nói của các hảo hán, tôi đọc vanh vách.

Chúng nó tròn xoe mắt.

Thế là từ hôm đó, cứ tối đến sau lúc cơm nước và nghe phổ biến về lịch hành quân hôm sau, dăm bảy đứa trong A lại mắc võng túm tụm một chỗ, hoặc trải ngay ni-lon trên lớp lá rừng nếu trời khô ráo, quây quần nghe tôi "đọc" truyện.

Hết Thủy Hử lại đến Tam Quốc.

Hết chuyện sử xa xưa, lại đến chuyện cận đại, như "Hầm bí mật bên sông En-bơ" hay "Nam tước Phon-gon-rinh".

Đặc biệt có truyện "Nữ tài tử" chưa in thành sách mà chỉ là truyện đăng nhiều kỳ trên báo QĐND thì hầu như là của độc của riêng tôi.

Câu chuyện kể về nữ gián điệp Li-di-a, con gái của một sĩ quan Bạch vệ cũ được tung vào Liên-xô sau Thế chiến thứ hai.

Cả một lực lượng phản gián đông đảo của an ninh Liên-xô trong một thời gian dài chỉ tìm được dấu tích của cô gái còn lại, sau khi sự việc đã xảy ra.

Việc thu phục cô gái chỉ nhờ tình người chứ không phải biện pháp nghiệp vụ...

Những tối kể chuyện dọc đường hành quân đó quả là niềm vui thú vị trong A tôi.

Người "đọc" truyện cũng hào hứng, mà người nghe cũng say sưa.

Chúng nó rất thích giọng đọc truyện đầy truyền cảm của tôi.

Có thằng còn phong cho tôi là "Kim Cúc đọc truyện đêm khuya".

Mỗi tối như thế, tôi rì rầm độ 30 phút rồi kết thúc để còn đi ngủ, dành sức cho ngày hôm sau hành quân.

Tất nhiên hôm nào mệt quá hoặc gặp trời mưa thì buổi "tự đọc chuyện đêm khuya" phải hoãn.

Những cuốn tiểu thuyết tôi đã đọc để có thể kể cho chúng nó thì rất nhiều, nhưng đường hành quân liên miên nên kể mãi rồi cũng có lúc oải.

Chúng tôi quay sang kể cho nhau nghe chuyện gia đình của mình.

Trong A tôi có thằng đã cùng học phổ thông với tôi, nhưng thực tình chúng tôi cũng chỉ biết về nhau rất sơ sơ, đại loại nhà ở đâu, có mấy anh chị em, ai học hay làm gì.

Nhiều hơn nữa thì biết thêm tên bố mẹ.

Ngày đó người ta ít gọi tên bố mẹ ra như bây giờ mà còn kiêng kỵ, giống như ở nông thôn gọi theo tên con cả.

Bây giờ trên đường hành quân mới có dịp kể ra cho nhau nghe.

Kể về gia đình mình cho bạn nghe, cũng chính là tự trầm ngâm nhắc về người thân để vơi đi nỗi nhớ nhà.

Nhất là thằng nào xác định có bạn gái thì kể ra, chẳng còn giấu diếm gì nữa.

Có thằng kể chuyện bạn gái mình là cô bạn cùng lớp, con một ông thứ trưởng, nhà giàu.

Chuyện có xe đạp mà lại thích rủ nhau đi tàu điện để được đi bộ với nhau một đoạn dài, tha hồ ngắm trời đất mà trò chuyện cùng nhau ra sao...

Ngày đó rủ được đèo nhau bằng xe đạp cũng khó lắm.

Có ý đấy, nhưng đứa nào cũng sợ chuyện gán ghép. (Trong đám lính bạn học với tôi có tới 3 cặp yêu người cùng lớp.

Sau này cả 3 thằng đều trở về và có hai cặp thành công.

Còn thằng có câu chuyện tình thơ mộng nhất thì bạn gái đã đi lấy chồng trước ngày 30 tháng tư lịch sử).

*

Cao tít trên Trường Sơn vẫn có những bản người dân tộc.

Không hiểu họ sinh sống bằng gì.

Chỉ đôi ba lần gặp, thấy họ đứng bên đường đem sắn, chuối đổi cho bộ đội lấy bất cứ thứ gì họ cần.

Từ cái kim băng, kim khâu, sợi chỉ, đến cả viên đá lửa cùng những lọ xăng bé tẹo.

Chúng tôi không gặp nương rẫy nào.

Chỉ có một lần gặp một bản nhỏ chưa tới chục nóc nhà.

Con đường đi vòng qua cạnh bản, nhưng không hiểu sao đến giữa đội hình thì cứ thế cắt đường đi tắt qua bản.

Chỉ có vài đứa trẻ, vài phụ nữ già ngồi trên sàn nhà chỉ cao độ hơn mét im lặng nhìn chúng tôi lũ lượt đi qua.

Nhưng cuối bản thì chúng tôi thấy có một cô gái tuổi như chúng tôi đứng ngay trên sàn nhà.

Trang phục đơn sơ, nhưng ấn tượng vì ai cũng nhận ra vẻ đẹp cùng nước da trắng của cô gái.

Im lặng đi qua, không dám chào hỏi, chòng ghẹo, nhưng từ quan đến lính ai cũng ngước mắt nhìn vì ngỡ ngàng.

Đi qua rồi còn khối thằng ngoái lại nhìn.

Chuyện này ghi nhớ bởi đa phần những người dân tộc mà chúng tôi gặp sau này đều có nét chung là đen, gầy và khắc khổ.

Sau khoảng hơn một tháng hành quân tính từ trạm 5, chúng tôi tới Trạm 44.

Tất cả được nghỉ một ngày tắm giặt và bổ sung lương thực cùng một chút thực phẩm, chủ yếu là muối.

Đây là lần cuối cùng đường dây 559 cung cấp gạo và thực phẩm cho đơn vị.

Từ ngày mai, chúng tôi sẽ rời trục đường chính của Trường Sơn, rẽ nhánh đi sang hướng Tây Nam.

Bây giờ thì chúng tôi biết mình sẽ được bổ sung cho chiến trường Nam Lào.

Giao liên của đường dây 559 giao chúng tôi cho bộ phận nhận quân của mặt trận Nam Lào.

Từ đây trở đi sẽ không còn binh trạm, không còn bãi khách nữa.

Điểm dừng chân sau mỗi ngày hành quân sẽ do cán bộ nhận quân của mặt trận quyết định.

Đường sẽ nhánh sang phía Tây chưa phải đã hết dốc ngay.

Rừng núi vẫn chập trùng trước mặt.

Đường đi của chúng tôi cắt ngang liên tiếp các con đường trục của xe cơ giới.

Nói thật là thấy đường có vết xe chạy cắt với đường hành quân bộ thì biết là đường xe thôi, chứ tất cả những con đường ấy đều là đường đất trong rừng.

Bạt núi mở rừng mà tạo đường, san lấp cũng chỉ là đất đá tại chỗ.

Những con đường đó có thể biến mất chỉ qua một hai mùa mưa mà không có xe chạy.

Cảnh vật lúc này vẫn chưa khác cũ là mấy vì nó vẫn thuộc dãy Trường Sơn.

Sau ngày thứ nhất, chúng tôi được nghỉ giữa một cánh rừng già.

Tự chọn chỗ nấu cơm, phạt bớt cây rừng và mắc võng.

Nói chung là dừng chân chỗ nào thì cũng phải có suối, dù to hay bé để có nước mà nấu cơm.

Từ hôm vào Trường sơn không gặp cái ao hồ nào.

Hết ngày thứ hai thì đã thấy bớt núi rừng hơn.

Đường đi có vẻ xuống dốc.

Dọc đường qua nhiều chỗ có dấu vết của bom đạn, nhưng chỉ là dấu tích của quá khứ.

Có rất nhiều khu rừng non lẫn trong rừng già.

Bây giờ mới biết thực tế đến cái gọi là rừng tái sinh.

Cả một khu rừng rộng chỉ toàn những cây nhỏ đều nhau.

Cây nào to lắm cũng chỉ bằng bắp chân.

Xen trong đám rừng còn sót lại nhiều thân cây đổ nằm ngang cháy chưa hết, hoặc những thân cây chết đứng to cỡ người ôm.

Chúng tôi còn gặp một số đồi cỏ tranh.

Buổi chiều đi trên đó thấy gió thổi mát rượi.

Có hai loại rừng đặc trưng của vùng này khiến tôi nhớ mãi.

Một là rừng Bằng Lăng.

Chưa phải mùa hoa nên chỉ toàn rừng cây xanh lá.

Tôi nhận ra loại cây này vì nơi nhà tôi ở ngoài Hà Nội cũng có vài cây.

Hoa Bằng Lăng màu tím, nở sau hoa Phượng mùa hè, nhưng lại tàn nhanh trước.

Quả của nó to tròn và cứng, chỉ dùng để ném nhau thì tốt.

Thân cây Bằng Lăng không thẳng mà mọc cong queo, lắm cành.

Trong này cũng thế.

Tuy rừng cây Bằng Lăng bạt ngàn và nhiều cây rất to, thân cây có đường kính tới ba chục phân, nhưng cũng không thẳng để có thể làm cột nhà.

Sau này đóng quân gặp loại rừng này, kiếm gỗ làm hầm chữ A còn khó.

Cuối ngày thứ hai chúng tôi dừng chân cạnh một rừng cây Săng- lẻ.

Loại cây này thoáng trông giống cây bạch đàn, vỏ trơn, thân trắng.

Có lẽ nó cũng cùng họ với cây Bạch Dương mà tôi nhìn thấy trong các phim của Liên-xô.

Ở đây toàn cây Săng-lẻ to từ cỡ một người ôm trở lên, cao đến trên hai chục mét.

Nắng chiếu xuống tới đất chỉ nhạt và lốm đốm như những tấm vải hoa.

Loại cây này nghe nói rừng miền Trung của mình cũng nhiều.

Gỗ của loại cây này là thứ tốt số 1 dùng cho đóng thuyền đi biển.

Trong rừng ở đây còn có bãi rộng, dấu vết của một đơn vị xe ô-tô, nhưng không thấy chiếc xe nào.

Chúng tôi dừng lại đó vì có một con suối to nước rất trong.

Chỉ tội kiếm chỗ mắc võng khó, nên hầu như chúng tôi vun lá rồi trải ni-lon, ngủ đêm quanh gốc cây.

Rừng Săng-lẻ rất sạch sẽ, ít muỗi.

Đã sang hẳn đất Nam Lào rồi vì đây thuộc tỉnh Sa-ra-van.

Vùng này là bình nguyên.

Chúng tôi đã gặp một số bản người Lào, nhà cửa lèo tèo.

Có điều là dù bé thế nào thì cũng vẫn là dạng nhà sàn.

Thi thoảng cũng gặp một cái nương nho nhỏ.

Nhưng dân vùng này rất nghèo, nhìn họ ăn mặc xơ xác lắm, thua xa bộ đội.

Ba ngày sau, chúng tôi được tập trung ngay tại một cánh rừng thưa gần một bản nhỏ.

Đến đây, 3 đại đội của tiểu đoàn 52 (ngoài Bắc) chúng tôi được bổ sung cho sư đoàn 968, nhưng lại bị xé lẻ luôn (lần trước một C đã tách ra ngay trên Trường Sơn để bổ sung cho chiến trường miền Nam nên tiểu đoàn chúng tôi chỉ còn 3 đại đội).

Một C rưỡi bổ sung cho Trung đoàn 19, còn C tôi và nửa C nữa thì về Trung đoàn 9b.

Một điều bất ngờ là các cán bộ cấp phó B, C của đơn vị ngoài Bắc chúngtôi được Sư đoàn trả về Bắc cho BTL Thủ đô.

Mỗi C có 5 người gồm 4 B phó và 1 Cphó.

Đại phó Hảo thân yêu của chúng tôi cũng nằm trong số được quay ra Bắc.

Cácanh ấy mừng như cha... chưa chết và ríu rít chia tay chúng tôi.

Các anh ấy vui,còn chúng tôi, nói thật là cũng chưa biết gì để mà buồn.

Chỉ có một buổi chiềuđể chia tay.

Bây giờ chẳng còn gì để làm quà cho các anh ấy cả.

Vỏ chăn và cảmàn xô chúng tôi vẫn đang cần.

Mũ cối và giầy vải gần như đã vứt hết dọc đường.Chỉ còn một số thằng còn giữ mấy tờ tiền Bắc, thôi bây giờ đem cho các anh nốt,kỷ niệm cũng chẳng để làm gì.

Đại phó Hảo được quan tâm nhất vì quê hương HàTĩnh cũng là nơi tuyến lửa.

Có điều khi các thủ trưởng bảo chúng tôi viết thưđể mang ra, hầu như không mấy ai viết.

Cái vụ đống thư bên khe suối ngày nàovẫn còn ám ảnh chúng tôi.

Thôi, để cho các thủ trưởng nhẹ gánh, chân cứng đámềm để quay trở về hậu phương miền Bắc.

Chia quân, nhưng hầu như chúng tôi chưa có cảm giác khác lạ gì ngoài cái chuyện thủ trưởng dẫn quân của chúng tôi là người mới.

Chúng tôi thấy yên tâm vì đó là chỉ huy ở trong chiến trường, chắc chắn dày dạn kinh nghiệm hơn cán bộ khung huấn luyện.

Mọi lời nói các anh phát ra, chúng tôi đều chăm chú nghe và tuân lệnh răm rắp.

Hơn nữa đội hình của đám chúng tôi cũng còn đông tới trên hai trăm thằng, nên vẫn còn nguyên cái nếp cũ.

Chia quân xong, chia tay các thủ trưởng khung xong, chúng tôi được nghỉ lại một đêm yên ổn.

Cũng cần nói thêm là từ hôm bắt đầu hành quân từ Hà Nam đất Bắc đến nay, chúng tôi chưa phải tổ chức gác đêm lần nào.

Màn đêm buông xuống thì cứ yên tâm mà ngủ.

Mặt trận còn xa thì tuyến đường này vẫn còn là hậu phương.

Với lại có muốn gác cũng không ổn, vì đoàn quân chúng tôi không đủ vũ khí, lại không tổ chức chặt chẽ như ở ngoài Bắc thì cũng không biết phải gác thế nào.

Sáng hôm sau, chúng tôi nhận gạo bổ sung.

Mạng lưới hậu cần của ta vươn khắp mọi nơi, nhưng nơi đây thật quá đơn sơ.

Kho gạo chỉ là một cái nhà be bé nằm cạnh một bản nhỏ, không to và chắc chắn như các kho của binh trạm trên Trường Sơn.

Chúng tôi lĩnh gạo nếp.

Lính tráng khoái quá vì gạo nếp vốn hiếm và quý hơn gạo tẻ mà.

Tha hồ mà nấu cháo hay cơm nếp nhé.

Cơm nếp nấu khéo còn ngon như xôi đồ ấy chứ.

Lúc này chúng tôi vẫn ăn tiêu chuẩn 7 lạng/ngày, và vì cứ được lĩnh gạo bổ sung luôn nên chúng tôi chưa nhận ra được nguy cơ tiềm tàng của cái đói trong chiến trường.

Cũng vì bây giờ là mùa khô nên đường vận chuyển vẫn thông suốt. (Nhưng cũng chẳng lâu nữa đâu.

Khó khăn đằng trước mà chúng tôi đâu có biết thì cũng chỉ vài tháng sau là xảy ra.

Gạo ăn tiêu chuẩn 3 lạng rồi 2 lạng/ngày thật quá ít ỏi với sức ăn và làm của lính tráng tuổi trai trẻ.

Gạo tẻ còn đỡ, vì nấu cháo nó cũng nở ra ít nhiều.

Khổ nhất là gạo đồ của TQ đựng trong bao nhựa xanh 50 kg.

Hạt gạo đem nấu cứ trơ ra.

Cứ cho gạo vào nồi, cho bao nhiêu nước cũng được, cứ đun cạn nước để một lúc là cơm chín.

Còn định nấu cháo bằng thứ gạo đồ này thì đúng là bất khả thi.

Nếu có cho ca gạo vào nồi, đổ cả một huyện nước vào đun thì rồi mãi tới khi cạn nước, nó cũng chỉ thành cơm, vì hạt gạo không nở.

Còn gạo nếp, thú thực cũng không hơn, vì nó không nở.

Nấu cháo ăn mãi cũng chán (mà đói), còn nấu cơm thì mỗi bữa được nắm to chưa bằng quả trứng vịt.

Lại còn gặp lúc thiếu không có muối nữa thì "ôi thôi...").

Lĩnh gạo buổi sáng thì buổi chiều hành quân luôn.

Cung đường này sao xa thế.

Đi suốt buổi chiều tới một dòng sông rộng.

Tất cả được lệnh nấu cơm ăn khẩn trương để tối vượt sông.

Nghe bảo đây cũng là sông Sê-kông.

Sao lắm Sê-kong thế.

Hóa ra con sông này chảy từ Việt Nam sang, qua đất Lào thì nó chảy ngoằn ngoèo như con rắn trước khi trở lại Việt nam, nên vượt sông mấy lần mà vẫn là nó.

Chúng tôi vượt sông theo một cái ghềnh đá.

Đoạn này lội được, nhưng nước chảy rất xiết, lại rất trơn.

Chặt sẵn gậy chống rồi mà không biết có bao nhiêu là thằng bị ngã.

Ngã rồi lại túm gậy, túm tay nhau kéo cho khỏi bị trôi theo dòng nước.

Lội sông trong đêm tối mênh mông nước thấy rợn lắm.

Thằng biết bơi còn tự nhủ nếu có gì bất trắc thì cứ cởi bỏ mẹ nó ba-lô, vứt hết mọi thứ mà bơi cho thoát, thằng không biết bơi thì run như cầy sấy, chỉ lo bỏ xác nơi đây làm mồi cho cá, hết cả mộng làm anh giải phóng hưởng cuộc đời đẹp nhất nơi trận tuyến đánh quân thù.

Thế mà rồi cũng qua được hết, dù hầu như thằng nào cũng ướt (Ông thủ trưởng dẫn quân biết thế nào chúng tôi cũng ngã ướt hết rồi, nên trước lúc hành quân đã bắt tất cả quấn gạo bọc kín trong ni lon rồi cất vào trong ba-lô).

Vượt sông xong rồi thì đi tiếp, ngay đêm đó chúng tôi vượt đường 23 để đi sang phía Tây.

Con đường 23 kéo dài từ đường 9 chỗ ngã ba Mường Phìn, chạy thẳng xuống Nam rồi đâm vào ngay thị xã Sa-ra-van.

Đến đây nó lại đi tiếp vào cao nguyên Bô-lô-ven, đến thị trấn Pắc-soòng.

Lại chạy tiếp 50 cây số nữa theo hướng Tây Nam, đường 23 sẽ giao nhau với đường 13 từ Viên Chăn men sông Me-kông xuống tại Pắc-xế, thủ phủ của Chăm-Pa-Xắc, tỉnh cực Nam của đất bạn Lào.

Không biết ngày xưa con đường 23 được xây dựng thế nào chứ lúc chúng tôi qua, nó cũng chỉ là con đường đất giống như con đường 9 mà chúng tôi qua độ trước.

Có điều nơi đây quang đãng, chẳng có cây cỏ gì mọc xung quanh.

Đi dọc qua nó một quãng dài mới biết là đường.

Nơi này mà có xe chạy thì chẳng bao giờ sợ bị phục kích vì tầm nhìn quá rộng.

Chúng tôi đi qua một khoảng đất nhỏ có thứ cây gì đó không cao, ít lá mà lá rất to, tưởng như có thể đếm được lá trên cây.

Về sau có dịp trở lại tác chiến nơi này, gặp thứ cây đó giữa ban ngày nhiều hơn, chúng tôi mới biết đó là cây Khộp (hay khọoc), một thứ cây điển hình của vùng bình nguyên đất đá khô cằn.

Lại phải qua một ngày hành quân đường xa và nắng nóng nữa.

Bây giờ phải phơi đầu ra đi giữa trời nắng chang chang mới biết giá trị của tuyến đường trên Trường Sơn hầu như lúc nào cũng rợp bóng cây.

Lúc ngồi nghỉ cũng ngồi luôn giữa trời nắng vì chẳng có bóng cây nào.

Được cái không có bụi vì dưới chân toàn một thứ cỏ lưa thưa đã chết khô, loại cỏ như kiểu cỏ may mà trâu bò cũng không ăn được.

Đến chiều thì tới một vạt rừng nhỏ có con suối to.

Mệt nhưng cũng nhiều thằng tắm cho mát.

Kiểu tắm xong lại mặc luôn quần áo cũ vào ấy mà, vì vẫn còn phải hành quân tiếp.

Hôm sau chúng tôi lại lên đường từ sớm.

Đơn vị lại vượt qua một con sông không lớn lắm, bây giờ không còn nhớ rõ chính xác tên sông là gì.

Hình như là Xê-băng-phai thì phải.

Chỗ vượt sát ngay một một cây cầu sắt bị sập.

Cây cầu chắc chỉ dài hơn cái cầu Đuống lên ga Yên Viên (ngoài Bắc) một chút thôi.

Qua sông là địa phận thị xã Sa-ra-van.

Cái thị xã này không giống với sự tưởng tượng của tôi, vì tôi nghĩ nếu là thị xã thì nó cũng phải na ná như Phủ Lý, hay kém ra thì cũng phải như thị xã Hòa Bình, nhà cửa dọc đường chứ.

Ở đây gọi là thị xã mà chẳng thấy nhà cửa gì.

Đôi chỗ thấy có những nhà sàn đổ nát, nhưng có vẻ đó như cái bản nhỏ bên đường chứ không phải dãy nhà.

Chúng tôi rẽ vào một con đường đất rộng và cứ đi dọc theo nó mãi.

Từ đâybắt đầu làm quen với một loại đường gọi là đường xe bò.

Các bản Lào nối vớinhau bằng những con đường này để đi lại và vận chuyển.

Phương tiện của nó lànhững cái xe na ná như xe bò ngoài nông thôn miền Bắc.

Hai bên đường xe bò mọcnhiều loại lau lách.

Hôm đó đi rất xa.

Cuối chiều chúng tôi được dừng chân tạimột cánh rừng rộng, cây thưa nhưng toàn là những cây rất to.

Chỗ này gần mộtbản Lào, nhưng chúng tôi không được gặp dân.

Nơi đây bắt đầu là địa bàn đóngquân của Trung đoàn 9B

(Tạm ngắt để nói về một việc ngày hôm nay)

...

Cuộc hành quân bây giờ mới là đầu tháng tư năm 1972.

Nhưng xin tạm dừng lại để nói về một trận chiến đấu tấn công địch ở khu Xưởng cưa, sân bay Sa-ra-van sau thời điểm này hơn 8 tháng.

Trận đó đại đội tôi bị tổn thất nặng.

Lính Hà Nội bị "dính" khá nhiều.

Trong đêm tối hôm đó, có 2 người lính trong C tôi là Nguyễn Khả Nhật và Hoàn (cùng người huyện Từ Liêm) mải tấn công địch mà không thấy trở về đơn vị.

Trung đội trưởng Lê Đức Chèo (người Đình Bảng, Từ Sơn, Hà Bắc) chỉ còn nhớ được bóng 2 người lính của mình vào phút cuối đã nhập nhoạng lẫn vào bóng đêm mờ dần chạy về hướng Tây Nam.

Anh đã ghi vào cuốn nhật ký của mình một dòng chữ mang nội dung như thế.

Đêm hôm sau, chúng tôi cử một nhóm lần theo hướng đó đi tìm.

Kết quả cuối cùng chỉ là thấy nhiều nấm mộ mới.

Chúng tôi đoán các anh đã hy sinh và bị địch chôn cùng với lính chết trận của chúng.

Lúc ấy, các anh chỉ được coi là mất tích.

Sau đấy chúng tôi chuyển địa bàn như đèn cù rồi xa dần vùng đất ấy.

Cuối mùa mưa năm sau, chúng tôi có quay trở lại vùng Sa-ra-van để quy tập hài cốt các liệt sĩ, trước khi chuyển chiến trường khác, nhưng trong số đó không có các anh Nhật và Hoàn, bởi không ai xác định đâu là nấm mộ của các anh.

Báo cáo cuối cùng của đơn vị là đề nghị lên trên ghi tên các anh là Liệt sĩ.

Sau năm 1975, anh Hoàn trở về trong diện trao trả tù binh.

Khi ấy chúng tôi mới biết chắc Nguyễn Khả Nhật đã hy sinh.

Hoàn về nhà buồn chán (cảnh tù binh trao trả thì các bác có thể hình dung phần nào số phận), rượu chè rồi ốm chết mấy năm trước.

Còn gia đình của Nhật (Nhà có 4 anh em trai và 1 em gái, Nhật là con cả) vấn tiếp tục sang Hạ Lào để tìm kiếm hài cốt của anh.

Các đội quy tập của Nghệ An và Thừa Thiên Huế trong những năm sau chiến tranh có sang Lào quy tập hài cốt bộ đội tình nguyện, nhưng không có Nhật trong danh sách đó.

Điều này dễ hiểu vì Nhật hy sinh và được chôn cất trong trường hợp như tôi kể trên thì không ai dám xác nhận chính xác.

Sau mấy lần sang Nam Lào, gia đình cũng chỉ tìm được khu vực Nhật hy sinh thôi chứ không xác định được mộ.

Nhưng có một may mắn là nhờ chính quyền tỉnh Sa-ra-van giúp đỡ nên đã tìm được 2 người lính đối phương trong cái đơn vị ZM41 đã chiến đấu với chúng tôi ngày trước.

Một trong hai người lính đó đã ném quả lựu đạn khiến Nhật hy sinh, còn người lính kia thì đã chôn cất Nhật.

Nhưng thời gian trôi qua đã quá lâu, cảnh vật thay đổi, đô thị xây dựng nhiều, nấm mồ đã bị san bằng nên không thể xác định chính xác.

Tháng trước, nhờ một nhà ngoại cảm trên Hòa Bình giúp, cử hẳn người em trai đi cùng sang đó.

Nhà ngoại cảm đã tìm được chính xác vị trí, chính quyền địa phương của Bạn đã không ngần ngại phá cả một bức tường ở cái vị trí nghi ngờ ấy để đào bới.

Cuối cùng đã tìm thấy hài cốt của Nhật, để gia đình đưa anh trở về.

13h30 hôm nay (05/02/2010), chính quyền địa phương phường Mai Dịch đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu Nguyễn Khả Nhật.

Đồng đội cũ chúng tôi đã đến dự lễ truy điệu và cùng đưa anh về nơi vĩnh hằng ở nghĩa trang Nhổn.

Nhiều người nguyên là Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn 9B đã tới dự.

Nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Trung doàn 9B Lê Khả Phiêu cũng đã gửi vòng hoa đến viếng.

Tôi không chụp được ảnh vì không có phương tiện.

Xin viết mấy dòng này để chia sẻ cùng đồng đội, cùng các CCB và nghiêng mình tưởng nhớ đến anh, người lính Hà Nội Nguyễn Khả Nhật trong cùng đại đội 6 quân tình nguyện thân yêu của tôi, đã ngã xuống trên chiến trường đất bạn, vì một sự nghiệp cao cả như lời Bác Hồ dạy quân tình nguyện chúng tôi: "Giúp bạn chính là giúp mình".

Sáng dậy, chúng tôi được tập trung toàn đơn vị.

Đây là lần đầu tiên hơn hai trăm thằng chúng tôi được tập trung gặp nhau.

Thời gian gian qua chỉ toàn đi là đi theo đội hình đơn vị, nên biết là đi cùng nhau đấy, nhưng không dễ gặp nhau.

Bây giờ gặp nhau, cùng trong đoàn quân mà cứ như từ những nơi nào về ấy, hỏi thăm nhau ầm ĩ.

Tất cả được tập trung một chỗ học chính trị trong buổi sáng.

Nội dung là học truyền thống Trung đoàn 9B.

Chúng tôi háo hức nghe để biết mình được vào một đơn vị có tiếng tăm thế nào.

Đại khái sơ sơ một vài ý chính mà chúng tôi còn nhớ đến tận bây giờ.

Trung đoàn 9B được thành lập ngày 23/9/1947 tại Nông Cống, Thanh Hóa.

Đó là một trung đoàn độc lập.

Trong kháng chiến chống Pháp nó đã từng nhập về Đại đoàn 304, lập nên chiến công trên Đường số 6 (Xuân Mai) tháng 12 năm 1951 với thành tích một mình diệt xe tăng của anh hùng Cù chính Lan.

Sau hòa bình 1954, Trung Đoàn 9 được nhân đôi.

Bản gốc tách ra và lấy tên 9B lại trở về Quân khu 4.

Những năm sáu mươi, Trung đoàn 9B trở thành quân tình nguyện Việt Lào, cứ mùa khô sang Trung Lào chiến đấu, mùa mưa lại về Việt Nam củng cố.

Xuân Mậu Thân 1968, Trung đoàn tham gia đánh Huế, giữ cờ trên cố đô 26 ngày đêm, với người chỉ huy là Tư lệnh kiêm chính ủy Lê Khả Phiêu.

Hết đợt thì rút lên rừng.

Sau năm 1969, khi tổng kho 61 trên rừng Trường Sơn thuộc địa phận Trị Thiên bị Mỹ Ngụy đánh chiếm và phá tan tành, Trung đoàn rút ra Bắc, an dưỡng và huấn luyện ở Quảng Bình.

Cuối 1970, Trung đoàn làm dự bị cho Sư 2 Quảng Đà của tướng Nguyễn Chơn đánh Nam Lào, rồi tiếp quản Sa-ra-van.

Mặt trận 968 thành lập tháng 9/1968 vốn chỉ có một trung đoàn 39 (chuyên làm công tác dân vận), khi đó đã tiếp thu Trung đoàn 9B, thành lập thêm trung đoàn 19 để nâng cấp thành sư đoàn 968.

Đây là sư đoàn bộ binh duy nhất trực thuộc bộ đội Trường Sơn (559) có nhiệm vụ bảo vệ hành lang Tây Nam của tuyến đường. (Đoàn 559 còn có một đơn vị cấp sư đoàn nữa là sư đoàn vận tải 471.

Còn lại là các đơn vị như binh trạm, công binh, pháo cao xạ, đoàn xe... chỉ ở cấp Tiểu đoàn là chính).

Hiện tại, Trung đoàn 39 vẫn làm công tác dân vận, Trung đoàn 19 đảm nhận vùng A-tô-pơ, còn Trung đoàn 9B đảm nhận cao nguyên Bô-lô-ven.

Cái thông tin trên lúc đầu mới nghe chỉ ù ù cạc cạc nhớ được một ít.

Về sau được học, được nhắc lại nhiều nên nó mới ngấm như thế.

Buổi chiều chúng tôi được phát xẻng và đào hầm.

Đây là căn hầm đầu tiên tôi phải đào trong chiến trường.

Thực ra đó là cái hố thì đúng hơn vì nó không có nắp.

Chẳng biết mục đích là để chúng tôi làm quen hay để đề phòng địch tập kích hoặc tránh máy bay.

Thế mà chúng tôi chấp hành nghiêm ra phết.

Không phải là sợ chết (chẳng đứa nào tin nơi đây đã có địch) mà đơn giản là lính thì phải phục tùng.

Sau này, chuyển quân, ở hậu cứ chỗ nào chúng tôi cũng phải đào hầm nghiêm chỉnh.

Tối thiểu phải có hầm chữ A.

Ở lâu một chút phải làm thêm hầm thùng.

Còn đi đánh nhau thì trận nào cũng phải đào ít nhất một cái hầm cá nhân, dù là đánh phục kích, đánh điểm hay đánh chốt.

Có trận phục kích đón đuổi địch, trong có 2 ngày đêm mà mỗi thằng phải đào tới 3 hầm cá nhân.

Các hầm chốt thì phải làm loại hầm chữ A thật chắc chắn.

Nếu ở kiềng hay chốt công trình thì hầm chữ A phải to và đủ sâu để có thể chống được cả đạn pháo 105ly.

Chiều hôm đó có mấy thằng đào xong hầm còn rủ nhau mò ra phía bản gần đấy.

Đúng là dân Hà Nội chỉ biết đến đường nhựa mà dám học đòi dân vùng cao.

Chúng nó thấy một cái cây có tổ ong to tướng trên đó, tưởng bở có mật, lại nghĩ ong nó hiền như ong nuôi nên chặt gậy ném.

Cả bọn bị ong đuổi đốt chạy bằng chết.

Một đứa số không may bị ong đốt mặt sưng như cái lệnh vỡ, mắt díp lại không còn nhìn thấy gì.

Chỉ biết mỗi cái bài bôi vôi chống ong đốt, nhưng giữa chốn này lấy đâu ra vôi.

May được thủ trưởng nhận quân có cái bình-tông mật ong (không hiểu sao ông ấy lại có mà mang bên người), lấy mật ong ra bôi lên khắp mặt cho nó.

Tưởng bôi đùa làm phép, thế mà hôm sau mặt nó tẹt hẳn, lại hành quân được cùng anh em như thường.

Đấy là bài học đầu tiên về sản vật rừng.

Hôm sau chúng tôi hành quân tiếp.

Từ đây thấy toàn đi theo đường xe bò.

Đầu giờ chiều thì gặp mưa rất to, kéo dài cả tiếng đồng hồ.

Đường đi đã vào vùng cao nguyên Bô-lô-ven rồi và mùa mưa đã tới.

Đi theo đường xe bò nên khá trơn, nhiều thằng vồ ếch.

Mãi đến xẩm tối chúng tôi đến một hậu cứ, có các lán lợp cỏ tranh, có hầm thùng, trong đó có các sạp nằm bằng nứa ghép.

Nghe nói đây là hậu cứ của C công binh.

Đã có người nấu sẵn cơm, chúng tôi chỉ việc đi lấy cơm về ăn.

Chẳng có đèn đóm gì, nên ăn xong là chúng tôi dọn chỗ ngủ.

Ban đêm trời vẫn mưa rả rích.

Buổi sáng trời tạnh.

Chúng tôi được báo đi nhận cơm sáng, khẩn trương ăn rồi thu dọn mang ba-lô ra một bãi đất tập trung.

Có thêm nhiều cán bộ cũ nữa đến.

Chúng tôi bị tịch thu toàn bộ súng Ak (3 thằng có một khẩu), dao găm và hăng-gô.

Hai món trên thì được, nhưng hăng-gô là vật dụng cá nhân cơ mà.

Chúng tôi thắc mắc, nhưng vẫn bị thu, không í ó gì hết. (

Sau này nghĩ lại, chắc các thủ trưởng khi đó muốn triệt nọc từ gốc "bài ca ống cóng" của lính, và cũng để có cái mà trang bị cho các ban bệ, trạm xá...của Trung đoàn.

Sau này khi đã thành ma cũ rồi thì chúng tôi cũng tự kiếm cho mình một cái hăng-gô riêng từ các đợt tân binh vào sau.

Của lính cũ rồi thì chẳng bố nào dám thu.

Cái hăng-gô tôi mang về nhà sau chiến tranh làm kỷ niệm, bây giờ chuyên dùng để đựng mỡ là của một chú tân binh nào đó vào sau tôi cả năm, chứ không phải là cái tôi mang từ Bắc vào đâu).

Sauđấy một thủ trưởng đọc tên lính chúng tôi để chia quân.

Chúng tôi cũng chưahình dung được các đơn vị trong trung đoàn khác nhau như thế nào, nhưng cứ đọctên ai thì lại đứng ra thành tốp, có người nhận.

Một đám 30 thằng trong đó cótôi được chia về K18, là tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn.

Chia quân xong làchúng tôi lên đường về đơn vị ngay.

Tiểu đoàn tôi đang đứng chân ở tuyến trước,xa nhất nên không thể chậm trễ.

Chúng tôi phải qua 2 bản nhỏ rồi rẽ vào đi theocon đường xuyên rừng.

Đường nhỏ, cây rừng quệt cả vào ba-lô.

Có đoạn còn đingang qua vườn cà-phê của đồng bào.

Buổi trưa dừng lại ăn cơm nếp nhận từ sáng.Sau bảy giờ hành quân, chúng tôi đến một cánh rừng già, hậu cứ của D bộ K18.Đơn vị đang ở tuyến trước nên hậu cứ chỉ còn ít người.

Cả bọn được chia vào 3lán.

Cơm tối đã nấu sẵn.

Hậu cứ ở đây có vẻ chắc chắn, sạch sẽ, nhưng đườngxuống suối (và bếp ăn cũng ở dưới đó) xa quá, ngót 200 bậc nên lên xuống cũngngại.

Tối đó không phải là sinh hoạt chính thức, chỉ phổ biến qua loa nhiệm vụrồi ngồi nói chuyện phiếm hỏi han nhau.

Chúng tôi giới thiệu mình, rồi hỏi tìnhhình đơn vị với mấy anh lính cũ.

Buổi nói chuyện diến ra rất thân mật, có nướcchè và thuốc lá thơm có đầu lọc, chiến lợi phẩm tuyến trước gửi về.

Sang thật.

Lúc này cả tiểu đoàn K18 có tăng cường đang đánh một căn cứ địch gọi là Bãi đá nằm trên đường 23, nên cả bọn chúng tôi tạm thời ở lại tiểu đoàn bộ, do anh Choát, trợ lý tác chiến D phụ trách.

Anh cho chúng tôi nghỉ một ngày tắm giặt, sau đó sẽ tham gia cùi đạn và gạo ra tuyến trước, đồng thời cáng thương binh về.

Tối hôm trước trong bữa ăn các anh lính cũ có đãi chúng tôi món nấm xào.

Nấm trắng, mềm và rất ngọt.

Lúc ở nhà tôi cũng có thưởng thức mấy món nấm hương (của này hiếm, chỉ tết mới có một ít) hay nấm rơm, nhưng không so được với cái nấm ở đây.

Đặt miếng nấm lên miệng thấy vừa mát vừa mịn.

Vì chỉ được ăn nên chúng tôi không biết rõ hình thù cây nấm ra sao.

Cứ nghĩ đơn giản như chuyện vào rừng hái nấm trong chuyện cổ tích.

Hôm sau chúng tôi lang thang trong khu hậu cứ.

Có đi xa cũng chỉ cách độ vài trăm mét.

Rừng già, cây to lá đan kín, nhìn không thấy trời.

D bộ làm nhiều lán thành các khu vực của từng đơn vị nhỏ, nối với nhau bằng các đường mòn tự tạo.

Trong rừng rất nhiều sóc, ngoài ra không thấy con gì khác.

Vẫn là cái đám sóc chuột bé tẹo tôi đã thấy ở trạm 5.

Nhưng ở đây có cả sóc bay.

Bọn sóc này cũng không to hơn bọn sóc chuột bao nhiêu.

Ngồi im một chỗ đừng làm náo động thì chỉ một lúc là thấy sóc.

Lần đầu tiên ngắm sóc bay thấy thú vị lắm.

Giáo cụ trực quan sống về sinh vật rừng là đây chứ đâu.

Tự nhiên thấy cuộc đời lính có vẻ thơ mộng quá.

Thảo nào mà anh bộ đội trong bài "Nhạc rừng" hứng chí vừa đi vừa hát một mình trong rừng mà thấy đời lên hương.

Đi dịch ra phía suối thì nấm nhiều vô kể.

Chúng tôi thi nhau hái, đem về định đến tối tự nấu ăn với nhau (nấu vụng thôi, vì chúng tôi vẫn còn có ruốc mặn để làm gia vị.

Có nó mà nấu với nấm chắc ngon hơn đứt món nấm tối qua chỉ sào với muối).

Loanh quanh thế mà mãi gần tối vẫn chưa nấu được.

Phần vì suối xa, phần vì không mượn được soong nên chúng tôi xếp gọn đám nấm vào góc nhà.

Bữa cơm tối diễn ra với thức ăn mới là món kiệu sào.

Ở ngoài Bắc chỉ nghe nói củ kiệu muối đem ăn với thịt lợn quay rất hợp, chứ lúc đó lấy đâu ra thịt lợn quay mà ăn với kiệu.

Rất nhiều thằng còn chưa biết củ kiệu là gì.

Mới nhìn thì nó na ná giống củ hành, nhưng củ của nó lại không to tròn như hành củ.

Tất nhiên là vị khác rất nhiều.

Chẳng ai đem xào hành không để ăn cơm bao giờ.

Thế mà ở đây có món kiệu xào ăn lạ miệng mà ngon ra phết. (

Sau này sống lâu ở Lào chúng tôi mới biết là cả cái vùng Nam Lào người ta không trồng và ăn hành bao giờ.

Thâm chí chả bao giờ nhìn thấy cây hành.

Nhưng người Lào trồng kiệu thành nương, có khi là cả một vùng đồi bát ngát.

Bụi kiệu cũng gần giống bụi hành.

Mùa mưa kiệu mọc tốt, đẻ nhánh rất nhanh.

Có những bụi kiệu to bằng cả một vòng tay ôm.

Kiệu đem xào, muối, luộc hay nấu canh đều được.

Ngon nhất là kiệu muối, nhưng nhiều khi muối còn chả có thì đừng mơ kiệu muối).

Chúng tôi tạm quên đi món nấm.

Đến tối khi chúng tôi trở lại lán thì thấy cái đống nấm ban chiều của chúng tôi đang phát sáng rực lên ở góc nhà như ma trơi.

Màu lân tinh sáng xanh rõ hình từng chiếc nấm.

Chúng tôi gọi và kể chuyện cho các anh lính cũ.

Họ cười bò ra rồi giải thích.

Đó là một loại nấm độc.

May mà chúng tôi chưa nấu ăn, chứ nếu đã nấu ăn vụng với nhau rồi thì ngộ độc không biết sẽ thế nào.

Hú vía.

Chúng tôi vội dẹp hết vứt xa phía sau nhà.

Rồi các anh giảng giải cho chúng tôi.

Lính mới vào thằng nào cũng lớ ngớ, cần phải chịu khó mà nghe và học hỏi lính cũ.

Cứ tự ý làm mọi thứ có ngày đi ngủ với giun lúc nào không hay.

Hôm sau một anh dẫn chúng tôi đi lấy nấm để chúng tôi tạm làm quen.

Ngoài các nương rẫy của dân có những cây đổ nhưng không cháy hết khi đốt rẫy từ nhiều năm trước.

Bây giờ trên đó thường có loại nấm trắng xòe như cái dẻ quạt, to lắm cũng chỉ cỡ bàn tay.

Đó là nấm dai.

Loại nấm này không mềm thịt, nhưng nấu nước rất ngọt.

Loại thứ hai ngon hơn, đó là nấm mối mọc dưới đất, nhất là vùng đất ẩm có lá đã mục.

Lúc sáng sớm nó đẩy đất nhô cái mũ lên như chiếc ô cụp.

Sau đó nó nở rất nhanh.

Chỉ trong một hai tiếng, cái mũ nấm đã xòe to ra như chiếc ô.

Chính giữa mặt cái nấm có một vùng sậm như núm vú đàn bà.

Những chiếc to, mũ rộng có đường kính tới 20, 25 phân, cao chừng hơn gang tay thì chỉ 3 chiếc là đủ bữa cho một tiểu đội bốn năm thằng.

Hái lúc 9, 10 giờ là đẹp nhất.

Để chậm, những con muỗi, con dĩn nó bâu vào ăn lỗ chỗ mặt nấm.

Cây nấm mối già rất nhanh, đến chiều tối thì nó rũ ra, có khi thối ủng không còn ăn được nữa.

Đấy là hai loại nấm dễ nhớ nhất.

Nói chung cây nấm nào có con muỗi con dĩn (hay con sâu) ăn được là người cũng ăn được.

Còn loại nấm hôm trước chúng tôi được ăn thì hiếm hơn phải tinh mới biết.

Nghe vậy thôi nhưng tốt nhất là cứ đi theo các anh lính cũ cho nó chắc.

Tất nhiên là đến một lúc nào đó thì chúng tôi cũng phải thành thạo.

Liềnsuốt 10 ngày sau đó, anh Choát và một anh nữa chia chúng tôi làm hai nhóm thaynhau cùi đạn ra phía trước.

Chúng tôi phải bỏ toàn bộ quân tư trang ra gói vàocái tăng cất trong lán, còn ba-lô đem đựng đạn hay gạo.

Đạn cối 60 hay B40, B41thì mỗi lính cùi 8 quả.

Đạn cối 82 thì 5 quả.

Nếu là gạo thì mỗi người 20 kg.Không phải là nhiều lắm, nhưng bước đầu như thế cũng đủ nặng.

Đường ra trận địaBãi Đá xa 4 giờ đồng hồ.

Tất nhiên là đướng rừng và lội suối quanh co.

Mỗi chuyếnlà hết một ngày.

Trận đánh này hình như là vây ép nên đánh mấy ngày.

Chỗ chúngtôi đem đạn và gạo ra cách trận địa một quả đồi to.

Đó là khu bàn đạp.

D bộtiền phương đóng ở đó, hầm hố đàng hoàng.

Khung cảnh khẩn trương nhưng vẫn antoàn, chúng tôi chỉ nghe tiếng súng nổ ùng oàng xa xa.

Các anh lính cũ bảo chỗnày chỉ sợ máy bay hay pháo nó câu tới thôi.

Giao đạn gạo xong rồi thì chúngtôi được ăn cơm (cơm nếp mang đi từ hậu cứ) rồi ngồi uống nước chè với lính cũ.Trong này chè có mà thiếu giống, có làm có uống, lính cũ bảo thế.

Có lần chúngtôi còn được mời hút thuốc lá thơm có đầu lọc.

Đó là thuốc chữ A của Lào.

Có 2loại đầu lọc: đỏ và trắng.

Loại trắng có bạc hà hút thấy man mát trong lưỡi.Bao thuốc mềm trông rất đẹp, chữ loằng ngoằng như giun chỉ đọc được mỗi chữ A.Tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc từ lúc này, toàn được lính cũ cho.

Về sau tôicũng nghiện thuốc từ lúc nào không biết.

Ngày nào không có thuốc không thể chịuđược.

Rồi lúc đi đánh nhau luôn có ý thức trong đầu là sau trận đánh phải lục ba-lôvà túi của lính địch chết để tìm thuốc lá.

Thời gian ở Lào cũng chỉ có một loạithuốc lá chữ A thôi, không hề có loại thuốc nào khác.

Hết thuốc thẳng (thuốcđiếu trong bao) thì tự lấy lá thuốc của dân (dân Lào trồng ngoài nương nhiềulắm) về phơi hoặc sao lên, rồi quấn sâu kèn để hút.

Được mấy ngày đầu cùi đạn gạo như thế cũng chưa có gì là vất vả lắm, mệt nhưng quen ngay.

Đến ngày thứ 5 thì bắt đầu có thương binh.

Cứ ba thằng một thương binh, cáng võng buộc đòn tre thay nhau khiêng.

Bây giờ mới biết mặt nhé.

Đeo quai ba-lô dù sao cũng êm ái, bây giờ cáng võng bằng cái đòn tre cứng nó tì vào vai đau lắm.

Lính Hà Nội, thằng nào vốn dân ngoại thành đã quen gồng gánh còn đỡ, mấy thằng nội thành có gánh bao giờ, bây giờ mặt nhăn như bị.

Đảo vai liên tục rồi lại đỡ bằng cả hai tay cho khỏi đau vai.

Đoạn đường 4 tiếng đồng hồ cùi cõng trở nên vô tận.

Đau nhất là những đoạn lên xuống dốc, cáng nó cứ chuội sượt trên vai thằng đi phía đầu thấp.

Không hiểu sao cái trạm phẫu lại đặt xa trận địa thế không biết.

Đi hết 4 giờ đồng hồ về gần đến khu hậu cứ D bộ K18 rồi, lại bàn giao cho đơn vị khác khiêng tiếp về tuyến sau hơn.

Về đến nhà xuống suối ngồi nghỉ mãi vẫn không hết mệt.

Cởi áo ra mà thương xót cho cái vai mình quá.

Đỏ bầm tụ máu và đau ê ẩm.

Hôm cáng thương binh đầu tiên về đến hậu cứ mà bã hết cả người, không muốn ăn cơm nữa dù vẫn đói.

Hôm sau lại có lệnh đi cáng thương binh tiếp.

Ôi cha mẹ ơi.

Hôm đầu đau một thì hôm sau đau mười.

Lót cả cái khăn mặt vào vai rồi mà đặt cái cáng lên nó đè như muốn lột da.

Bây giờ mới biết thương cái kiếp con trâu con bò.

Nó kéo cày, cái vai nổi u lên một cục chai to tướng.

Thân trai này sắp thành con bò mất rồi.

Còn đâu trong tim hình ảnh anh Lê Mã Lương đội mũ tai bèo, khoác tấm khăn dù đứng nghiêng người quạt Ak giữa trận tiền nữa.

Hôm thứ ba nhóm bọn tôi phải cáng một thương binh bị thương vào chân.

Trong nhóm có thằng Sưởng người to cao nhưng lại vốn dân công tử bột, con nhà giàu.

Thằng này chẳng nể mặt ai đâu.

Huấn luyện ngoài Bắc đứa nào va chạm với nó là nó chửi thẳng thừng, chẳng nể nang gì.

Lần này tôi phải khiêng cùng nó mới khổ chứ.

Nó vốn cao hơn tôi đến cả chục phân, nên phần nặng tất nhiên lúc nào cũng nghiêng về phía tôi.

Đường không bằng phẳng nên cứ phải bước thấp bước cao mà tránh rễ cây rừng.

Cáng thương binh đi trước hay sau đều khổ.

Đi trước thì phải giữ cho cân mà chỉnh theo đường.

Nhiều lúc nặng quá đi không vững, chân nam đá chân chiêu loạng choạng như thằng say rượu.

Còn đi sau thì không nhìn rõ đường, thằng trước kéo thì cứ phải lao theo nó cho khỏi ngã.

Lần này anh thương binh có lẽ cũng to con nên nặng lắm.

Đã thế anh ấy còn rên la ghê lắm, nó đánh vào tinh thần làm cho người khiêng mệt thêm nhiều phần.

Nghe kêu rên ghê quá, thằng Sưởng cáu tiết bảo:

- Thôi ông ơi, ông làm ơn im cho chúng tôi nhờ.

Đã nặng bỏ mẹ...

Người thương binh không những không im mà vẫn kêu, có khi còn to hơn.

Thằng Sưởng lại bảo:

- Im đi không các bố mày vứt mẹ nó xuống đất bây giờ.

Thế là lập tức ông thương binh nhỏm ngay dậy giữa võng, chỉ mặt thằng Sưởng bảo:

- Này đồng chí tên là gì, ở đơn vị nào hả?

Có biết tôi là ai không?

Nghe thế bọn tôi cũng sợ.

Lúc này nhìn kỹ vào võng thấy bố này vẫn đeo nguyên cả cái Xanh-tuya-rông có khẩu súng ngắn.

Thảo nào mà cáng nặng thế.

Chúng tôi không dám nói thêm gì, lặng lẽ cáng tiếp.

Đến một đoạn đường dốc hơi trơn, thằng Sưởng trượt chân ngã.

Tôi cũng ngã theo, hất ông thường binh lăn mấy vòng trên đất.

Ông ấy gầm lên nhổm người dậy chửi ầm lên rồi rút súng ra dọa bắn.

Bọn tôi sợ quá ù té chạy núp vào mấy bụi cây, bỏ mặc ông ấy đứng ngoài bãi dốc với cái chân băng trắng toát.

Mãi sau anh Choát đi tới xin lỗi rồi dàn xếp lại người để khiêng tiếp.

Thằng Sưởng lủi sang nhóm khác, dứt khoát không khiêng cùng tôi nữa.

Thế là tôi đành chịu trận.

Nhưng tôi dứt khoát không nói tên thằng Sưởng, dù ông thương binh gặng hỏi.

Nhưng rồi cuối cùng ông ấy cũng biết chúng tôi là đám tân binh Hà Nội mới vào.

Sau này chúng tôi biết ông thương binh hôm ấy là CTV của K16 (vẫn còn may vì không phải K18 chúng tôi). (

Sau này ông ấy lên chính ủy Trung đoàn.

Năm 2000, ông ấy là chính ủy QĐ1, hàm thiếu tướng rồi mới nghỉ hưu).

Cáng thương binh mấy ngày mệt quá, chúng tôi chỉ mong được về các C để tham gia đánh nhau.

Cứ phải khiêng vác thương binh thế này mãi, nếu không gục ngã thì khéo cũng đến đảo ngũ mất thôi.

Sau đợt ấy, chúng tôi gùi đạn cho C5.

Hướng tác chiến quay sang phía khác vì trận đánh Bãi Đá đã xong rồi.

Đêm hôm ấy chúng tôi được nghỉ lại ngoài tuyến trước cùng C5, đơn vị cũng vừa tham gia đánh Bãi Đá.

Chúng tôi háo hức hỏi chuyện, còn các anh ấy trả lời và chuyện trò bình thản lắm, chẳng có gì là gay go ác liệt hay hào hùng gì.

Mọi việc xảy ra chỉ như chuyện thường ngày ở huyện vậy.

Thế nên bọn tôi càng phục và càng náo nức.

Đêm nằm hầm, hút thuốc thơm chiến lợi phẩm và thò cổ ngắm sao trên trời.

Nói chung lính cũ già trước tuổi, khó đoán chính xác.

Khi hỏi các anh vào chiến trường bao lâu, có anh bảo, bọn tớ vào cũng chỉ mới độ 3, 4 năm thôi.

Ôi chao ôi.

Từng ấy năm mà mới.

Còn chúng tôi mới vào chưa được 2 tuần, chỉ mới cùi cõng thôi mà đã thấy lâu lâu rồi.

Biết đến khi nào chúng tôi mới có được khoảng thời gian 3, 4 năm như các anh bây giờ.

Đêm đó tôi xin được của một anh lính cũ một quả lựu đạn mỏ vịt của Mỹ.

Cài nó vào Xanh-tuya-rông rồi lấy cái dây chun cột lại trông cũng ra dáng lắm.

Hôm sau về hậu cứ được nghỉ một ngày, tôi rủ hai thằng nữa mò ra một cái suối gần đó để thử quả lựu đạn và cũng để kiếm ít cá.

Tôi đã nghe nói nhiều về cái chuyện bộ đội đánh cá bằng lựu đạn.

Chúng tôi lần mò ra cách nơi ở đến hơn một cây số, tìm một khúc suối sâu nước lặng.

Nhìn xuống thấy có cá bơi.

Mấy thằng tôi nấp sau tảng đá, làm đúng thao tác yếu lĩnh rồi ném quả lựu đạn xuống suối.

Tiếng nổ không to lắm, chắc suối sâu.

Chúng tôi mò ra vớt được một ít cá bé tí tẹo, chắc khoảng 3, 4 lạng.

Đem về bếp, anh nuôi D bộ chỉ cười, nhưng cũng chiều lòng nấu cho chúng tôi nồi cháo cá gạo nếp.

Không có gạo tẻ nên nồi cháo quánh lắm.

Đứa nào ăn cũng khen ngon, nhưng thực chất lúc đó chắc đói và tự hào là kiếm được nên thấy thế thôi.

Chúng tôi ở D bộ đã được chục ngày.

Lúc đầu chúng tôi được phổ biến chờcác đơn vị ở tuyến trước rút về thì tiểu đoàn sẽ phân chia chúng tôi về các đạiđội.

Sau vì Tiểu đoàn vẫn còn ở phía trước dài ngày, nên chúng tôi được chiaquân luôn.

Các anh lính cũ của các C có việc về hậu cứ khi trở ra tuyến trướcđã kết hợp đón và dẫn chúng tôi về đại đội.

Chúng tôi được chia đều về 4 đạiđội và tiểu đoàn bộ.

Tôi được về C6, cùng với thằng Sưởng và thằng Thái"Pi-tơ" anh nuôi ngoài Bắc, lính thu dung của D36 mà khi trước tôi đãnhắc tới.

Lúc này chúng tôi mới được phát súng đạn.

Mỗi người nhận một khẩu AKcũ cùng hai trăm viên đạn.

Bao xe không có nên ngoài băng lắp ở súng, chúng tôiphải cho băng còn lại vào ba-lô.

Lúc này C6 đang đứng chân phía trước.

Từ D bộ, chúng tôi cũng phải đi hơn 6 giờ mới tới vị trí tập kết của đại đội.

Có hai B đóng trên đỉnh một giông đồi.

Cái giông đồi này chỉ rộng chừng dăm chục mét, nhưng dài tới hơn cây số.

Toàn cây to kiểu rừng già.

4 thằng trong bọn tôi được chia về 2 B đó, còn lại tôi với thằng Đức (người huyện Từ Liêm) đi tiếp hơn nửa tiếng nữa.

Lội qua một con suối to có tên là Huội Chăm-pi, lòng cạn mà cũng phải rộng tới hai chục mét, đi thêm hơn trăm mét nữa thì tới B5.

Khu vực trú quân là vạt rừng thưa có nhiều cây lúp xúp.

Địa hình không phẳng, các hầm phân tán.

Hầm bếp anh nuôi gần suối, còn hầm của các A nằm rải rác men theo sườn dốc.

Ở đây chỉ có đại trưởng và một B bộ binh.

Trong các hầm đều có người.

Chẳng thấy ai làm gì cả ngoài việc ôm cây súng ngồi ngay cửa hầm.

Ở đây toàn hầm chữ A.

Tôi được chỉ cho một căn hầm để cất ba-lô vào đó.

Có một anh nói đơn vị đang ở chốt, tối mới về.

Sẩm tối, từ một hướng trên dốc có mấy anh lính cũ chạy ào ào xuống.

Đó là các anh từ trên chốt về.

Một anh dừng lại chỗ hầm tôi ngồi, hạ cây B40 và cái ba-lô đạn xuống, rồi hỏi tôi: "Mày mới vào hả, tên gì?".

Tôi xưng tên.

Anh ấy cũng xưng tên là Trịnh, rồi nhoẻn miệng cười rất hiền và đưa cho tôi một túm dâu da to tướng, vỏ màu trắng hồng, ăn rất ngọt.

Cũng là anh chạy xuống bếp đem lên một bọc cơm nếp, ít muối vừng bảo tôi cùng ăn.

Chúng tôi ngồi ăn ngay trên miệng hầm, trời sập tối lúc nào không biết.

Tôi nhanh chóng được biết sẽ ở cùng tiểu đội và cùng nằm chung hầm với anh.

Đây là lần đầu tiên tôi được nằm hầm chữ A.

Hầm dài hơn 2 mét và cũng phải rộng cỡ mét rưỡi.

Tôi đưa tay sờ thấy hàng gỗ to cỡ cổ chân ken dày vách hầm.

Đáy hầm trải cỏ tranh, rải ni-lon nên nằm trong cũng thấy ấm cúng ra phết.

Mặc dù có nến bằng giấy dầu, nhưng ở đây không được đốt vì sợ ánh sáng.

Các lính cũ hầu như ai cũng có đèn pin chiến lợi phẩm, che miếng giấy chỉ để một lỗ sáng nhỏ với ánh sáng mờ.

Đêm đầu tiên tôi chưa phải gác.

Các anh còn đi hội ý gì đó rồi anh Trịnh nói sáng sớm mai tôi sẽ ra chốt cùng anh.

Đại đội trưởng C6 là anh Đỗ Kim Băng, người Nam Hà.

Bổ sung vào đơn vị rồi phải đi chốt hay ra trận ngay, thực ra là điều rất bình thường đối với tất cả những người lính.

Nhưng có một lý do khiến tôi được ra trận trước tất cả 6 thằng lính Hà Nội khác trong C, sau này tôi mới biết.

Số là nghe tin có lính Hà Nội vào, các thủ trưởng nghĩ ngay bọn tôi là công tử bột, không phải dân lao động.

Thủ trưởng Băng hỏi anh Thiết quản lý xem trong đoàn Hà Nội có thằng nào là đoàn viên không.

Trong 6 thằng chúng tôi có 3 đứa đã học hết lớp 10, nhưng cũng chỉ có tôi với thằng Đức là đoàn viên thanh niên thôi. (Cũng cần nói thêm là ngày đó, tuy đã vào lính, đã ra chiến trường nhưng không phải ai cũng được vào Đoàn.

Tất cả bọn đoàn viên chúng tôi đều đã được kết nạp từ thời học phổ thông, chứ suốt cả 6 tháng huấn luyện cả chi đoàn đại đội huấn luyện của tôi tuy có thành lập và họp hành chiếu lệ dăm lần nhưng cũng không hề kết nạp ai cả).

Vì thế mà tôi và thằng Đức được đưa ngay ra B5 là B đang chốt giữ tuyến trước.

Thêm việc nữa là khi vừa bổ sung vào B thì thằng Đức lại đau bụng, nên tôi trở thành ứng cử viên duy nhất cho đoàn Hà Nội được ra trận để "xem chúng nó đánh đấm thế nào".

Vậy là tôi trở thành thằng lính Hà Nội trong cái đoàn tân binh hơn hai trăm lính ấy ra trận đầu tiên và có cơ hội được nổ súng trước chúng nó.

Đêm ấy nằm cùng hầm, anh Trịnh đem thuốc đầu lọc ra mời hút và trò chuyện cùng tôi một lúc.

Thuốc lá là chiến lợi phẩm trận đánh tuần trước ở Bãi Đá.

Nghe chuyện đánh nhau cứ ngon ơ như định sẵn.

Anh Trịnh bảo ngày mai chúng ta sẽ ra chốt bản Xoan, ngoài đó đã đào sẵn hầm chữ A rồi.

Mỗi người một hầm, vị trí theo sự phân công.

Địch vào thì đánh.

Có gì chưa rõ thì cứ hỏi và nhìn lính cũ mà làm.

Còn bây giờ đi ngủ để mai lấy sức đi sớm.

Nếu muốn tè thì chui ra ngoài hầm mà tương vào rệ cỏ.

Còn đi đồng thì nhớ cầm cái xẻng đào hố mèo xa xa một chút.

Chấm hết.

Vốn quen với mấy tháng hành quân Trường Sơn, nên tôi cũng nhanh chóng ngủ ngon lành, chẳng lạ lẫm cái gì cả.

Sớm tờ mờ đất hôm sau, anh Trịnh thúc tôi dậy.

Chưa quen địa hình nên vẫn anh Trịnh xuống suối lấy cho mỗi người một bi-đông nước và qua bếp lấy cơm. (Lại vẫn là cơm nếp, chuỗi thời gian ăn cơm nếp liên tục còn kéo dài đến hơn hai tháng nữa).

Tôi tranh thủ đánh răng bằng ngón tay, còn rửa mặt thì từ nay chỉ có lúc nào qua suối mới biết đến rửa mặt.

Ăn vội phần cơm sáng , túm nắm cơm còn lại vào tấm khăn dù (vải dù lính cũ có rất nhiều và tôi đã được anh Trịnh cho một miếng to bằng 4 chiếc khăn mùi-xoa.

Gói cơm nếp bằng vải dù tuyệt lắm.

Nó không bị hấp hơi, không dính bết và nhất là giặt rất nhanh khô).

Tôi để ba-lô lại hầm, chỉ mang theo khẩu AK, hai băng đạn lắp sẵn cùng một bọc đạn AK gần 200 viên, được phát thêm một quả lựu đạn mỏ vịt nữa.

Nhóm 4 người chúng tôi ra chốt bản Xoan, gồm anh Lạc A trưởng người Tuyên Quang, anh Hoài - Nam Hà, anh Trịnh - Hà Tây và tôi.

Anh Lạc mang súng cối cá nhân M79, còn tôi và anh Hoài mang AK.

Men theo các sườn dốc và chui qua các hàng cây lúp xúp, chúng tôi đi chừng hơn 300 mét thì lọt vào một cái bản Lào bỏ không.

Lối chúng tôi vào không phải là đường mà chỉ là do chúng tôi đạp rừng mà vào.

Hướng đối diện mới có một con đường xe bò đi vào bản.

Cảbản có chừng hơn chục nóc nhà, toàn nhà sàn khá to và đẹp.

Cây ăn quả trồngnhiều trong bản, nhưng lúc này nổi bật là mấy cây dâu da to và rất sai quả.

Dâncũng mới bỏ chạy nên vẫn còn bóng dáng gia súc.

Các hầm chốt của chúng tôi nằmphía rìa bên này bản, nên nếu có địch vào thì chúng cũng phải vào hết trong bảnthì mới gặp chúng tôi.

Trận địa chính là trong lòng bản.

Theo hướng nhìn vàobản thì tôi được bố trí hầm bên trái, anh Hoài hầm bên phải, còn anh Trịnh B40và anh Lạc M79 ở giữa và hơi lùi lại phía sau.

Tôi chẳng biết kế hoạch tácchiến là gì, chỉ biết nếu địch vào thì theo các anh lính cũ mà nổ súng.

Tôi chỉlàm ngay được mỗi việc mà sau này trở thành thói quen trong suốt cả quãng đờicầm súng là cây AK của tôi luôn có sẵn một viên đạn lên nòng, bất cứ là đang ởtuyến trước hay về hậu cứ tuyến sau.

Trời sáng dần và tôi nhìn rõ hơn cảnh vật.

Cây cối trong bản rất xanh tốt.

Nằm sát mặt đất quan sát cũng chỉ nhìn xa được độ dăm chục mét.

Tất cả im ắng.

Tôi tranh thủ cắp AK lò dò lên phía trước vài chục mét tìm hiểu địa hình cũng không thấy có gì khác lạ.

Tôi nhìn quanh để xem xét rồi quay trở lại hầm, không dám đi xa hơn về phía bên kia bản.

Mò xuống cái hầm của mình, thấy hầm cũng là loại mới đào, vách hầm là ván gỗ chứ không phải thân cây, khá chắc chắn và rộng rãi.

Ngửa cổ nhìn quanh thì mới thấy ngay cạnh cửa hầm là một cây dâu da to, trĩu quả.

Tôi với tay lên bẻ một chùm to rồi ngồi ngay trên miệng hầm bóc ăn.

Nhìn sang các hầm bên thấy các anh Trịnh, Lạc xòe tay vẫy thân thiện.

Các anh ấy cũng bẻ dâu da ngồi ăn cho đỡ sốt ruột.

Phía hầm của anh Hoài xa hơn nên chẳng nhìn thấy gì.

Nơi ấy, ở sát ngay hầm là một căn nhà sàn.

Tầm chín giờ, trời đã sáng rõ lắm rồi.

Tôi vứt đầy vỏ dâu da trên miệng hầm và đã hái thêm chùm dâu da khác.

Bỗng có tiếng lao xao phía xa, tôi tụt người xuống hầm, thò đầu nhìn.

Nhìn mãi một lúc cũng thấy bóng người, địch rồi, tôi thầm nghĩ.

Không nhìn rõ hết người, nhưng từ ngang lưng trở xuống thì thấy khá rõ.

Đến vài chục tên, chúng đã lọt vào hết trong bản và đang sục ra xung quanh một cách chậm rãi.

Chúng không bắn vì chưa phát hiện thấy gì đáng ngờ.

Gần chục thằng đi về hướng tôi, quần áo và mũ đều màu rằn ri loang lổ.

Chúng cứ phải vạch bớt cành cây để đi nên đến gần hầm tôi tới chục mét mà chưa phát hiện ra tôi.

Tôi đã mở chốt an toàn, chĩa AK và chờ anh Hoài hay anh Trịnh nổ súng trước.

Lúc ấy tôi chưa có kinh nghiệm, cứ nghĩ là lính cũ phải nổ súng trước rồi mình mới được bắn.

Một thằng địch vạch lá cây và tiến lại hầm tôi.

Nó tới gần quá khiến tôi phải tụt hẳn xuống hầm để nó khỏi nhìn thấy.

Tôi gần như nín thở và nghe rõ tiếng bước chân của nó.

Lúc này anh Trịnh cũng đã giương B40 và chờ cho mấy tên địch cụm lại, nhưng vẫn chưa có thằng nào lại gần anh hơn.

Khổ thân cho tôi là anh Hoài, người lính cũ mà tôi mong chờ nổ súng làm lệnh ở cánh phải lại là sâu rượu.

Hầm anh ấy dựa ngay vào cái nhà sàn to tướng.

Thế là trong lúc chúng tôi ăn dâu da thì anh ấy leo lên sàn tìm rượu.

Trong nhà sàn có mấy cái hũ ngâm gạo nếp làm rượu sắp đem chưng cất.

Nó gần giống như món rượu nếp, nước cái của nó thì thơm ngọt và rất dễ say.

Đang mải loáy hoáy mò rượu xơi như thế thì anh Hoài chợt nghe tiếng động ngoài vườn.

Nhìn qua khe cửa xuống dưới đã thấy lố nhố mấy thằng địch dưới đất.

Có hai thằng đứng sát cầu thang, hình như chúng muốn leo lên.

Anh Hoài nép vào vách gỗ và bật nhẹ chốt an toàn (nếu biết cách bật thì không hề phát ra tiếng động), nhưng cha mẹ ơi, súng lại chưa lên đạn.

Bây giờ mà kéo quy-lát thì chắc chắn ăn đạn từ dưới đất bắn lên ngay.

Đúng lúc anh đang căng đầu ra như thế thì tiếng AK ở cánh trái nổ giòn và tiếng B40 "ùng...oàng" nổ ngay giữa bản.

Bọn địch dưới sàn nhà dạt ra, quay sang hướng súng nổ.

Anh Hoài thừa thế kéo quy-lat cái "roạt" và đạp cửa sổ nhảy đại xuống đất, quất AK hạ gục ngay hai thằng ở chân cầu thang rồi vọt xuống hầm, chĩa AK bắn tiếp vào bọn phía sau.

Vâng, đúng là trận đánh đó tôi nổ súng đầu tiên.

Loạt AK mở màn của tôi vừa cứu nguy cho tôi, vừa giải nguy cho anh Hoài.

Trước đó, khi tên địch cắp AR15 mò lại cái hầm của tôi thì tôi đã tụt đầu xuống hầm và thò AK lên chờ đợi.

Căng thẳng vì tôi cứ phải chờ hiệu lệnh nổ súng, ngốc thế chứ.

Nhưng sự cẩu thả của tôi khi ăn dâu da vứt bừa vỏ trên cửa hầm đã vô tình cứu sống tôi.

Tên địch bước sát hầm tôi nhìn thấy đống vỏ dâu da còn mới, lại không thấy có người nên nó chủ quan nghĩ không có ai và cứ thế nó chậm rãi bước tiếp.

Rất may là nó không hứng chí ném đại một quả US vào cửa hầm, vì nếu như thế thì bia tưởng niệm liệt sĩ ở phường tôi đã phải khắc thêm một dòng rồi.

Đúng lúc nó nghiêng người nhìn vào cửa hầm của tôi thì tôi nhô lên.

Bốn mắt ngây ra nhìn nhau trong một chớp và tất nhiên tôi là người chủ động.

Tôi kéo mạnh một loạt AK khiến nó bật ngửa người lùi lại, nhưng là để ngã ngửa ra đất vì hứng trọn loạt đạn 7 ly 62 của tôi chứ không phải để chạy.

Tôi nhô hẳn người lên quạt tiếp AK vào đám địch đang chạy ràn rạt phía trước.

Bọn địch chỉ lùi một đoạn rồi nằm rạp quạt AR15 bắn trả.

Tiếng đạn địch nghe rèn rẹt không giòn bằng tiếng AK, chíu chít phía trên đầu.

Cùng lúc đấy tôi nghe tiếng nổ của B40, lần đầu tiên mới biết nó kêu "ùng" rồi mới "oàng" kèm theo chớp lửa và quầng khói đen.

Anh Trịnh đã nổ súng rồi.

Tôi vẫn bắn về phía bọn địch cho đến hết băng AK, chẳng còn nhớ điểm xạ hay kéo cò tùy hứng.

Xen trong lúc ngưng bắn, tôi nghe thấy tiếng "cốc... oành" của anh Lạc bắn M79 và tiếng AK ở cánh phải của anh Hoài.

Lúc đó tâm trạng tôi rất phấn khích.

Thằng địch bị tôi bắn còn được hưởng thêm vài viên AK bắn cho chắc ăn của tôi.

Lúc đó, khi cơn hồi hộp đã qua, tôi lại không thấy sợ gì cả.

Về sau này cũng thế, trước trận đánh khi chưa nổ súng, tôi đều thấy hồi hộp (nhất là những trận phục kích đếm từng bước chân địch để chọn thời điểm nổ súng), nhưng khi tiếng súng đã nổ thì mọi việc trở nên bình thường, chẳng phải nghĩ gì cả.

Bọn địch lùi ra xa rất nhanh.

Chỉ còn M79 của chúng từ xa câu lại.

Chúng bắn khá chụm và chính xác.

May có những tán cây dày chặn lại nên nhiều quả nổ trên cây, chỉ có mảnh văng xuống rào rào.

Cây cối tả tơi nhanh chóng.

Tôi tụt sâu xuống hầm tránh mảnh.

Không lâu sau đó, pháo địch từ đâu ào ào bắn tới.

Bọn địch đã rút ra ngoài bản và gọi pháo bắn.

Tiếng pháo nổ vang chủ yếu trong khu vực bản.

Không có quả nào rơi trúng hầm chúng tôi.

Chúng bắn chừng độ vài chục quả thì dừng, không gian lại đột ngột yên tĩnh.

Ngồi trong hầm, tôi đã tranh thủ thay băng đạn và lắp thêm những viên đạn rời vào băng AK vừa bắn hết.

Một lúc sau, tôi thò đầu lên.

Cảnh tượng trong bản khác hẳn.

Cây cối đổ gãy và không gian mờ mờ khói đạn, tràn ngập mùi hăng hăng ngai ngái.

Có cái nhà sàn đã trúng đạn đổ sập.

Cái cây dâu da chỗ hầm tôi cũng gãy cành, quả rụng vung vãi.

Tôi nhìn sang các hầm khác nhưng chẳng thấy gì vì vướng cành cây đổ.

Chẳng ai gọi tôi mà tôi cũng chẳng dám mò sang hầm các anh.

Một lúc lâu nữa thì có một tổ 3 người từ phía sau lên chi viện cho chốt.

Các anh ấy lần lên phía trước, đếm được tất cả 4 xác địch.

Bọn này đều phải chết 2 lần vì ăn thêm mảnh đạn pháo của chúng.

Phía ta, anh Lạc A trưởng bị trúng mảnh pháo nhỏ vào đầu, phòi ra một tí óc.

Anh Cát (Bắc Thái) ở lại chỉ huy thay, còn hai anh khác khiêng anh Lạc về tuyến sau. (

Sau này anh Lạc vẫn sống, được giải ngũ về nhà nhưng mất trí nhớ.

Các bác sĩ quân y nói vết thương như thế thì về nhà anh ấy cũng chỉ sống thêm được nhiều lắm là hai năm nữa thôi.

Tội nghiệp cho anh quá).

Gần trưa, bọn địch quay trở lại bản.

Tới đầu bên kia bản, chúng đã bắn tơi bời rồi cứ vừa bắn vừa mò vào.

Khi chúng vào giữa bản, anh Cát cho lệnh nổ súng.

Tôi không quan sát được nhiều nhưng cứ nhằm tầm cao cách đất nửa mét mà điểm xạ.

Được ít phút thì bọn địch rút ra.

Chúng lại gọi pháo bắn một thôi nữa.

Sau này thì tôi quen dần với cái kiểu địch nống ra mà gặp ta thì lùi lại gọi bom, pháo.

Chúng lợi thế hơn ta ở món hỏa lực đó.

Sau đợt ấy thì địch bỏ cuộc.

Suốt buổi chiều không có gì xảy ra.

Chờ đếnlúc tối mịt thì tất cả chúng tôi cũng rút về mấy cái hầm trú quân cạnh HuộiChăm-pi hôm trước.

Đêm về nằm trong hầm tôi hỏi chuyện anh Trịnh.

Anh bảo, mày cũng khá đấy.

Đại trưởng Kim Băng cũng khoái, anh bảo lính Hà Nội cũng chơi được đấy nhỉ.

Nhưng tôi thì lại chẳng cảm thấy gì cả, chẳng biết tại sao.

Nhưng tôi ghi sâu trong lòng cái lỗi của anh Hoài về việc ra trận mà quên không lên đạn trước.

Kiểu như thế có ngày chết oan.

Đấy là bài học và một kinh nghiệm phải luôn luôn ghi nhớ.

Tôi lại hỏi anh Trịnh sao lúc mình đánh nhau, đại đội không chi viện thêm cho mấy quả cối 60.

Anh bảo hỏa lực riêng mình cũng đủ rồi.

Súng M79 bắn tại chỗ nhiều khi có tác dụng hơn là cối 60 từ phía sau câu lại.

Hơn nữa đạn cối chỉ để đánh những trận quan trọng thôi vì số lượng có ít.

Chi viện được dăm quả chẳng bõ bèn gì, lại lộ thêm nơi trú quân, địch nó gọi máy bay táng cho mươi quả bom thì quá tội.

Lúc đánh nhau chỉ nên trông cậy ở trang bị bản thân thôi.

Sau này rồi tôi cũng hiểu, cảnh con nhà nghèo đi đánh nhau với con nhà giàu thì đương nhiên chiến tranh còn phải kéo dài 5 năm, 10 năm... là tất nhiên thôi.

Sau này các đơn vị trong E chúng tôi cũng gặp phải nhiều cảnh trớ trêu, kể ra thì như chuyện hài.

Đánh trận mà xin trên được 2 quả cối 82 đòi bắn cấp tập thì thật như gãi ghẻ.

Bắn trúng địch thì không sao, bắn trượt (mà trượt là chính) thì chỉ tổ địch nó cười.

Đấy là chưa kể chi viện mà lại đấm đít bộ binh thì cha con tha hồ chửi nhau.

Thằng chỉ huy phía trước chỉ muốn rút súng quay lại bắn bỏ hỏa lực phía sau trước khi hô quân xông lên đánh địch.

Cánh bộ binh chúng tôi có một nguyên tắc phải thuộc, nhất là khi đi lùng sục hay đánh tao ngộ chiến.

Đó là phải nhằm diệt thằng thông tin của địch trước.

Mất thông tin thì mày cũng cô lập như chúng ông, chẳng còn nhờ thằng bố gửi bom pháo hỗ trợ nữa, đánh tay bo xem thằng nào hơn.

Thứ nữa là diệt thằng chỉ huy của địch.

Mày cậy có sĩ quan học trường lớp, đào tạo tử tế, chê chúng ông là lính quèn qua chiến trận tự kéo nhau lên thì bây giờ mất đầu rồi, cùng lính chơi nhau xem sao.

Đêm hôm ấy tôi cũng phải tham gia gác đêm.

Đây là ca gác đầu tiên trong đơn vị.

Rồi từ đó về sau, gác đêm đã trở thành một nhiệm vụ thường xuyên mỗi đêm của tôi.

Nó dần ăn sâu vào người, đến nỗi sau này khi ra quân phải mất một thời gian dài tôi mới quen được cảnh đêm không phải thức dậy một tiếng.

Cũng phải thôi, bởi vì bây giờ nếu phải đếm xem trong thời gian quân ngũ có bao nhiêu đêm không phải gác thì có lẽ còn dễ hơn là đếm xem có bao nhiêu đêm phải gác.

Khi ấy không có đồng hồ, cũng chẳng quen nhìn sao trời vì có phải lúc nào gác cũng nhìn thấy bầu trời đâu mà học nhau cách này.

Cách tốt nhất truyền nhau là đếm.

Cứ "một trăm linh một" là đủ một giây.

Đếm đủ 3600 cụm từ như thế thì đủ một giờ gác.

Nhưng đấy là ở doanh trại cơ, chứ gác tuyến trước còn phải quan sát và nghe ngóng động tĩnh, sẵn sàng xử lý tình huống thì không thể chỉ nhăm nhăm vào đếm.

Tốt nhất là luyện cho mình cảm nhận thời gian.

Mới nghe thì có vẻ phi lý, nhưng thật sự là như vậy.

Rèn mãi cũng thành bản năng.

Bây giờ giữa đêm, tôi có thể ra ngoài hiên, chỉ ngồi nghĩ vơ vẩn thôi cũng có thể canh được một giờ trôi qua với sai số chỉ chừng 5 phút.

Đêm đó trôi qua thật yên tĩnh.

Không có pháo địch bắn.

Chỉ có tiếng côn trùng thôi, vì chỗ nào mà chả có giun dế.

Mờ sáng hôm sau, chúng tôi lại ra bản Xoan.

Chỉ có ba người là anh Trịnh, anh Hoài và tôi.

Lần này chúng tôi không vào trong mấy cái hầm hôm qua trong bản, mà lùi hẳn ra ngoài đám cây lúp xúp phía ngoài bản đào hầm mới theo kế hoạch của đại trưởng Băng.

Đất mềm nên chỉ độ hơn tiếng là mỗi người đã đào xong cho mình một cái hầm cá nhân be bé có đủ cả nắp hầm chống được cối cá nhân và ngụy trang tử tế.

Ngồi chỗ này chốt thì chẳng có gì nhấm nháp ngoài hút thuốc lá và phải canh chừng máy bay.

Cấp trên dự kiến địch có thể không vào bản mà dùng pháo bắn phá.

Đào thêm hầm dịch hẳn ra ngoài này an toàn hơn.

Quả nhiên chừng độ 9 giờ, khi mặt trời đã lên cao thì nghe vè vè tiếng máy bay.

Hai chiếc máy bay cánh quạt xuất hiện, sau này tôi biết nó là máy bay ném bom T28 và quen thuộc với nó suốt thời gian ở Lào.

Chúng nó đã có chủ định sẵn nên chẳng cần trinh sát trước làm gì.

Bay đến trên đầu chúng tôi là chúng nó bổ nhào cắt bom luôn.

Làm mấy vòng như thế, tất cả các đợt bom đều ném vào trong bản Xoan.

Chỉ cách chúng tôi chừng trăm mét nên tiếng nổ rất to, đất rung và khói bụi mù mịt.

Hết một đợt như thế lại thấy hai chiếc T28 khác vè vè bay đến và lại bổ nhào ném bom.

Ba đợt máy bay như thế, có quả cũng ném gần ra rìa bản, tưởng như nó thả trúng đầu mình.

Chúng tôi chúi xuống hầm tránh mảnh thôi chứ nếu nó thả trúng thì đi tong tất cả.

Sau đợt bom cuối chừng hai chục phút, biết chúng đã kết thúc, chúng tôi mò vào bản.

Cả cái bản sáng hôm trước còn an bình thì nay tan hoang tất cả.

Nhà cửa, cây cối chả còn gì.

Đám gia cầm gia súc có lẽ cũng chạy bạt hết đi từ hôm trước.

Có lẽ người dân cũng chẳng quay trở lại đây nữa, vì làm bản ở nơi mới có lẽ còn thuận lợi hơn.

Các lính cũ bảo địch ném bom như thế này thì chúng nó cũng chẳng trở lại nữa đâu.

Thế là chiều hôm ấy chúng tôi rút lui sớm về chỗ trú quân.

Nửa đêm, theo chân trinh sát tiểu đoàn, hai tiểu đội trong đó có A của tôi luồn rừng vòng lên phía trước bên kia bản Xoan chừng 300 mét.

Chỗ đó có một ngã tư đường xe bò.

Sáu người chúng tôi đào hầm phục kích (hầm không nắp) lùi sâu vào một bên vệ đường.

Tiểu đoàn cho rằng địch ném bom hôm trước xong có thể trở lại bản Xoan kiểm tra nên đưa chúng tôi ra đây phục kích nhằm tiêu diệt địch bất ngờ trước khi chúng chuẩn bị tổ chức vào bản.

Tại khu vực này vẫn chỉ có một cái đại đội địch hôm trước đã vào bản Xoan thôi.

Hôm ấy là một ngày dài.

Chúng tôi ăn sángngay sau lúc đào xong hầm, trời còn tối.

Sau đó là ngồi đếm thời gian trôi qua.Cái vệ đường xe bò này toàn cỏ tranh mọc hai bên, đã tươi tốt lại sau mấy trậnmưa đầu mùa.

Bọn địch đi ngoài đường không dễ nhìn thấy chúng tôi, tuy hầm phụckích chỉ cách vệ đường chừng dăm mét.

Nhưng công tác ngụy trang lại rất cầnthiết.

Hôm đó máy bay trinh sát cánh bằng L19 của địch bay lượn rất nhiều.

Nóđảo qua đảo lại khu vực Bản Xoan nhiều lần.

Tôi che cỏ tranh kín đầu mà vẫn cócảm giác như thằng phi công địch nhìn thấy mình, vì những lúc nó chao cánh, tôithấy cái đầu phi công rõ mồn một.

Lực lượng phòng không của ta trong chiếntrường rất yếu, nếu không muốn nói là không có, nên không quân địch gần như làmchủ bầu trời.

Tiểu đoàn có một khẩu 12 ly 7, nhưng là để chi viện bộ binh đánhđịch mặt đất khi cần chứ không phải để bắn máy bay.

Tuy rằng máy bay nó baythấp thế thì 12 ly 7 bắn quá tốt, nhưng nếu đem ra bắn máy bay thì lại sợ T28nó đến làm cỏ mình.

Tóm lại, chúng tôi cứ bí mật ngồi im là tốt nhất.

Cả ngàyhôm đó chỉ thấy L19 trên bầu trời, còn đưới đất tụi địch không đến.

Trời tắtnắng, chúng tôi lại rút về bên bờ Huội Chăm-pi vì muộn thế này rồi thì cũngchẳng còn thằng địch nào hành quân ra nữa.

Đêm ấy, cả 2 B còn lại của C tôi và một vài đơn vị của tiểu đoàn cũng ra tuyến trước.

Khu vực bản Xoan tơi bời được bàn giao cho C hỏa lực.

Đại đội chúng tôi đi xuôi theo huội Chăm-pi xuống hơn một cây số nữa đến một cái bản có tên là bản Phiệt.

Con Huội (suối-tiếng Lào) Chăm-Pi là con suối chính và lớn nhất trên cao nguyên Bô-lô-ven.

Nó bắt nguồn từ bên A-tô-pơ sát dãy Trường Sơn chảy vòng qua thị trấn Pắc-Soòng trên cao nguyên Bô-lô-ven rồi men theo bờ phía Bắc con đường 23 chảy xuôi về Tây Nam.

Đến ngã Ba Lào-ngam, nó bẻ ngoặt lên phía Bắc theo hướng Keng-Nhao để hòa nước vào một con sông từ Sa-ra-van chảy xuống.

Con sông này chảy xuyên qua lộ 13 phía bắc thị xã Pắc-xế rồi đổ nước vào dòng Mê-Kông hùng vĩ.

Song song với huội Chăm-pi luôn luôn có một con đường lớn là quốc lộ hay tỉnh lộ.

Các bản Lào nằm ven đường thường có mật độ dày hơn so với các vùng khác, có khi cách nhau chỉ hơn cây số.

Vào sâu phía trong cao nguyên thì có khi bản lại cách bản tới mấy giờ đi đường.

Giữa chúng là các nương rẫy, các cánh rừng rộng lớn và nối với nhau bằng các con đường xe bò.

Chiến sự chỉ mới lan rộ lên ở khu vực này từ sau trận Bãi Đá, nên dân bắt đầu rời bản bỏ chạy.

Họ mang theo đủ các vật dụng cần thiết, nhưng phải bỏ lại nhiều nhất hai thứ là gia cầm gia súc thả rông và các hũ rượu nếp chưa chưng cất trên nhà sàn.

Bản Xoan và bản Phiệt cũng vậy, nhưng vì bản Phiệt ở xa địch hơn nên sau khi đào hầm bố trí quân ngoài bản, chúng tôi đã có thể túc tắc mò vào bản một cách thận trọng.

Nếu ở nhà biết câu "nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò" thì bây giờ ở đây phải nói là "nhất lính, nhì ma, thứ ba tới quỷ" mới đúng.

Chỉ mới tới bản một ngày, bố trí xong đội hình, đào xong hầm và tổ chức lùng sục là chúng tôi đã như những người chủ của bản Phiệt rồi.

Nói thêm một chút là các đại đội bộ binh chúng tôi sau khi đến một địa bàn mới, bất kể ở ít hay nhiều ngày, thì song song với việc tổ chức đào hầm, bao giờ cũng phải tổ chức ít nhất 2 tổ đi lùng sục ra các hướng để nắm địa bàn và tình hình.

Trinh sát tiểu đoàn có cách nắm địa bàn theo kiểu của họ (kết hợp nắm địch và thuộc địa hình), thì bộ binh chúng tôi cũng có kiểu lùng sục địa bàn của mình, càng ở nơi mới càng phải tổ chức lùng sục sớm, bán kính thường rộng ra tới cả cây số.

Lần ấy địa bàn phải nắm chắc nhất là bản Phiệt và các con đường dẫn vào nó.

Tất nhiên các nhà sàn, khu vực gà đậu ban đêm được tìm hiểu luôn.

Bộ đội đi đến đâu cũng phải chấp hành chính sách dân vận, một trong nhiều chính sách bắt buộc phải thực hiện (như chính sách tù hàng binh, chính sách thương binh tử sĩ...).

Nhưng đấy là khi ở cùng dân, tiếp xúc với dân cơ, chứ đằng này dân bỏ chạy hết rồi thì cũng nên coi như chỗ bỏ hoang.

Ta không ăn thì địch nó cũng ăn, hoặc nếu không ai ăn thì lũ gia súc gia cầm cũng chạy hết vào rừng, lâu ngày rồi cũng thành thú hoang cả.

Đấy, lính tráng thì chỉ nghĩ đơn giản như thế thôi (mà rồi sau này có nghiệm lại thì đúng là như thế thật).

Thế mà các cấp chỉ huy (mà thực chất chỉ là dân chính trị) lúc nào cũng hô hào rất nghiêm khắc.

Không may cho các chính trị viên là cứ phải đem thân mình ra mà làm gương cho lính.

Nói cho cùng thì cán bộ chính trị nơi chiến trường là thiệt thòi nhất.

Họ chính là sợi dây tư tưởng, sợi dây tinh thần xuyên suốt của Đảng từ trên xuống để tạo nên sức mạnh kỷ luật trong quân đội mà.

Nhớ ngày xưa xem phim hay đọc truyện về chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên-xô, khi Hồng quân bị bắt, bọn Phát-xít chẳng mấy quan tâm đến các sĩ quan chỉ huy mà chúng chỉ nhăm nhăm truy hỏi ai là Chính ủy rồi đem bắn ngay không í ó gì hết.

Chúng sợ truyền kiếp cáí đội ngũ Chính ủy Bôn-sê-vích trong Hồng quân.

Mệnh lệnh là mệnh lệnh và trong đơn vị tôi ai cũng tỏ ra chấp hành nghiêm chính sách dân vận.

Nhưng về thực chất, các lính cũ đã láu cá vượt quá cả ma và quỷ rồi.

Khi đào hầm chữ A để phục vụ chiến đấu thì hầm bao giờ cũng phải có hai cửa đối chéo nhau.

Cái cửa phụ đáng lẽ bé và đơn giản hơn thì lại được làm to và tăng thêm ngách.

Đấy chính là sào huyệt để tạo nên "bài ca ống cóng".

Tất nhiên nếu chiến sự đang diễn ra ác liệt thì không nói làm gì, nhưng lúc này lại đang bình yên và cái bản Phiệt này đang do chúng tôi làm chủ.

Thế là khi đêm đến, các đệ tử của "Thời Thiên" trong Thủy Hử liền ra tay.

Các anh ấy có mẹo bắt gà và giết gà mà chúng không hề ọ ẹ lấy một tiếng.

Đứng cách chục mét cũng chẳng nghe thấy gì.

Thế là ngay từ đêm đầu tiên, từ những cái bếp trong ngách hầm phụ mà khi đun ban đêm cũng không lộ ra ánh sáng ấy, tiểu đội nào cũng có gà ăn.

Chỉ toàn luộc thôi, vì món này ít bốc mùi thơm đi xa.

Từ B trưởng trở xuống thì thông đồng với lính rồi.

Các liên lạc cũng được giao đi truyền lệnh để xuống các B hưởng lộc.

Đại trưởng chúng tôi cũng chả kém ai.

Ông ấy cũng đi kiểm tra các B một cách thầm lặng.

Cuối cùng chỉ còn mỗi CTV đóng chốt tại hầm chỉ huy và tất nhiên không hay biết gì.

Tất cả ăn xong đều chùi mồm sạch sẽ.

Còn những thứ bỏ đi thì cứ đào hố mèo thật sâu mà chôn.

Trong 4 ngày chúng tôi chốt giữ và lùng sục tại khu vực bản Phiệt, đám gia cầm vợi dần.

Nhưng có sổ sách nào bàn giao gì đâu nên cũng chẳng ai phải lo lắng.

Thú thực là chỉ thương cho thủ trưởng chính trị.

Trong khi tất cả đều được bồi dưỡng hàng đêm thì anh ấy vẫn chỉ ngày ba bữa cơm nếp với muối rang.

Thương mà cũng chẳng biết làm thế nào, vì chính sách dân vận nó thế, lộ ra với CTV thì chết cả nút.

Sau này nếu anh ấy có biết cũng chỉ là do cảm nhận thôi chứ chẳng ai kể lại chuyện cũ bao giờ.

Còn tôi, thú thực là khi ấy tôi thấy đời lính sao mà lắm chuyện lạ thế.

Ở nhà sống chế độ tem phiếu, đâu có thể có thịt mà ăn thả phanh.

Vào lính ngày huấn luyện thấy thủ trưởng nếm gần nửa cân thịt luộc đã thấy quá thèm.

Bây giờ đi đánh nhau lại được ngồi ngắm trăng sao mà chén vã một mình tới nửa con gà to, thì không khỏi chạnh lòng nhớ thương cha mẹ và các em ở hậu phương đang còn nhiều khốn khó.

Sau bốn ngày cắm tại bản Phiệt, vì tình hình quá an toàn, hơn nữa địchcũng không đủ quân để bung ra khắp nơi, nên đại đội chúng tôi lại được lệnhquay trở lại khu vực bản Xoan để chuyển qua hướng khác.

Chúng tôi rút đi,để lại bản Phiệt nguyên vẹn và còn nhiềusản vật.

Vậy là kết thúc bốn ngày đóng chốt bồi dưỡng sức quân.

Từ ngày mai sẽtrở lại với cơm nếp muối rang.

Tiếc cũng chẳ làm gì bởi đời lính khi no lúc đóilà thường.

K18 là tiểu đoàn chủ công của E9B.

Trong các trung đoàn của ta thì bao giờ cũng vậy.

Mỗi D mạnh về một mặt nào đó và ở D chủ công thì bao giờ cũng có cán bộ chỉ huy chiến đấu vững hơn.

Vững ở đây không chỉ là lòng dũng cảm, mà còn là ý chí, mưu mẹo, quyết tâm và xử lý tình huống nhanh nhậy.

Trong K18 chúng tôi thì C7 là chủ công (C7 đã từng được phong anh hùng), còn C6 chúng tôi lại mạnh về chốt giữ.

Tất nhiên trong một C lại có B chủ công, nhưng tính cách biệt giữa các B không rõ rệt như các C trong tiểu đoàn.

Chính vì thế mà trong khi C7 vẫn còn nằm lùi xa phía sau thì C6 và C5 cùng một B của C8 hỏa lực phải loay hoay ở phía trước để đánh địch nhỏ lẻ.

Trở lại khu vực bản Xoan, C6 chúng tôi lại làm dự bị cho C5 theo hướng ngược huội Chăm-pi để lần lên gần ngã Ba Lào-ngam (nằm trên đường 23).

Chỗ ngã ba này có một bản gọi là bản Phin.

Để lại một B ở bờ nam Huội Chăm-pi, còn hai B quay trở lại bờ bắc Huội.

Chúng tôi phải tổ chức đào nhiều căn hầm chữ A suốt dọc con đường mòn đi từ tuyến sau lên theo hướng này.

Con đường này là do trinh sát đạp đường mà thành, chứ không có trên bản đồ.

Chiều dài của đoạn cần đào hầm cũng tới gần hai cây số.

Con đường này sẽ là trục đường chính để chúng tôi ra ngã Ba Lào-ngam nên trước sau gì cũng sẽ bị địch phát hiện và ném bom hay bắn pháo.

Không có hầm dự bị để ẩn nấp tránh pháo trên suốt cả một giông đồi dài thì thật nguy hiểm khi phải cùi đạn và gạo qua đây.

Không những thế, chúng tôi còn phải đào hầm xây dựng thêm một khu trú quân tạm ngay gần suối, trong một vườn chuối rừng rộng lớn.

Đào hầm trong rừng già có cảm giác rất an toàn, nhưng đào hầm trong vườn chuối thì thấy nó trống trải lạnh lẽo thế nào ấy.

Có lẽ vì nơi đây ẩm ướt, lắm muỗi và làm lối đi cũng rất bất tiện.

Sau mấy hôm đào hầm, B tôi được làm nhiệm vụ cùi gạo và đạn ra tuyến trước.

Vì đơn vị đã lót sẵn gạo và đạn ở vị trí trung gian, nên chúng tôi chỉ phải vận chuyển trên đoạn đường độ hơn một tiếng kể cả qua suối.

Sau khi vượt huội Chăm-pi thì phải qua một cánh rừng nhỏ ven suối rồi, rồi ra một bãi trống chỉ toàn cây lúp xúp cao ngang đầu người, rộng tới sáu bảy trăm mét để tới khu rừng trú quân của C5.

Ngay chỗ cửa rừng có một cái cây to cỡ gần hai vòng người ôm bị đổ, nằm xòa sát đất và chắn ngang đường.

Các lính đi trước đã phạt bớt cành để tạo một lối đi trèo qua nó.

Cái thân cây vướng cành nên nó không nằm hẳn sát đất mà còn kênh lên cách độ hơn hai chục phân.

Chui qua dưới nó thì không được nên toàn phải trèo qua.

Thân cây to quá nên ai muốn vượt qua nó cũng phải ôm rồi trườn qua, trông cứ như con nhái ôm cây tre ấy.

Đí không còn đỡ, chứ vừa đeo súng vừa cùi gạo hay đạn thì rất khó khăn.

Đi thêm nữa, đến lúc chuẩn bị vượt qua khu vực cây lúp xúp có nhiều bãi đất trống thì phải bẻ mỗi người một cành lá to rồi vừa đi qua đó vừa ngó nghé máy bay.

Nghe thấy tiếng L19 là phải ngồi im, che cành lá lên đầu.

Khi nó vòng xa thì lại nhổm người chạy nhanh một đoạn.

Cứ như thế nên có khi phải mất đến mấy chục phút mới vượt qua được bãi trống.

Hai ngày đầu không sao, đến ngày thứ ba khi vừa giao gạo xong cho C5, quay lại bãi trống thì chúng tôi gặp L19.

Vì vội nên chúng tôi di chuyển hơi nhanh qua đó và bị L19 phát hiện.

Khi thấy nó vừa chao cánh bắn xịt ra một quả pháo khói, anh Trịnh biết đã lộ nên hô chúng tôi vùng dậy vứt cây ù té chạy.

Thế mà chỉ một tẹo sau thôi, hai chiếc T28 từ đâu đã vè vè bay đến, cứ như là nó phục kích sẵn ở đâu đó vậy.

Khi chúng tôi vừa thoát vào đến cửa rừng thì cũng là lúc chiếc T28 đầu tiên chúi xuống thả bom.

Chỉ còn mỗi cách ẩn nhanh vào rừng mới mong thoát.

Cả 4 người chúng tôi cứ cắm đầu chạy, kệ cho bom nổ rầm rầm sau lưng.

Chạy thoát đến suối rồi mới nằm vật ra thở.

Một lúc sau, chợt nhớ ra chúng tôi hỏi nhau lúc chạy về có qua cái cây đổ không nhỉ, vì chúng tôi không ai còn nhớ đã vượt qua cái cây đổ đó như thế nào.

Nhảy hay bay qua không biết nữa.

Có lẽ giữa cái sống và cái chết, con người ta chợt có thêm sức mạnh phi thường thì phải.

Mấy ngày sau đó, đám tân binh chúng tôi được học súng M79 và B40.

Lúc này trong đơn vị chưa có B41.

Người dạy là lính cũ thôi.

Phần lý thuyết như tác dụng sát thương, liều phóng, nguyên lý đạn lõm... chỉ học sơ qua để biết.

Chủ yếu là thao tác bắn súng.

Phải lắp đạn như thế nào, bắn ra sao, địa hình nào thích hợp, tư thế bắn... là phải nghe kỹ mà nhớ.

Tiếp theo là tập suông chứ không được bắn đạn thật.

Rồi lại được học bắn rocket66 (M72) của địch.

Ở chiến trường này, tụi bộ binh địch cũng chỉ có trang bị bản thân gọn nhẹ như lính ta.

Súng bắn thẳng thì có AR15, cạc-bin.

Hỏa lực tại chỗ có M79, trung liên Bar, cối 61 và mỗi thằng thường có thêm khẩu M72 bắn một lần.

Cấp tiểu đoàn của chúng cũng có cối 81.

Cả ta và địch đều không có đại liên.

Như vậy có 3 loại vũ khí của địch mà chúng tôi có thể lấy để dùng lẫn gồm lựu đạn, cối cá nhân M79 và rocket M72.

Còn những vũ khí khác thì phân biệt của địch của ta rõ ràng, không dùng lẫn.

Một hôm tôi được cùng các anh lính cũ đi cải thiện.

Chúng tôi ra trận địa bãi Đá lấy giấy dầu (vải tẩm dầu bọc đạn pháo của địch) về làm nến và sang vườn dứa cạnh đó bẻ dứa về làm thức ăn.

Nơi đây khi trước lúc quân ta chưa đánh đến thì vẫn có bản và những nương rẫy của dân nằm sát ngay căn cứ địch.

Vườn dứa rất to này cũng chỉ nằm cách hàng rào căn cứ độ trăm mét.

Dân họ sống với địch cũng thân thiện.

Tôi bắt đầu biết thế nào là nhiệm vụ đi "cải thiện" trong chiến trường.

Đó là việc đi tìm những thứ ăn được đem về đơn vị làm thức ăn hay bổ sung cho nguồn quân lương còn ít ỏi của lính.

Ở trận địa Bãi Đá, các anh còn dẫn tôi đi xem lại cửa mở khi trước, xem bố trí hầm của địch và ta đã đánh như thế nào để hình dung ra, sau này về còn học chiến thuật.

Ngày 7 tháng 5 năm đó, cả tiểu đoàn được làm thịt một con bò, Chắc khôngphải kỷ niệm ngày chiến thắng phát xít Đức, mà đơn giản vì lâu quá rồi đơn vịchưa được ăn thịt.

Thêm một điều quan trọng nữa là ngày mai chúng tôi lại phảira khu vực bản Phin đánh địch, thay cho C5 về hậu cứ.ong suốt cả quãng đờicầm súng là cây AK của tôi luôn có sẵn một viên đạn lên nòng, bất cứ là đang ởtuyến trước hay về hậu cứ tuyến sau.

Chưa đến nửa đêm, khi suất cơm chiều có thịt bò còn chưa tiêu hết thì chúng tôi được lệnh hành quân.

Lần này chúng tôi ra bản Phin, nằm cách ngã Ba Lào Ngam chừng độ cây số.

Dân cũng chạy hết từ lâu.

Trinh sát tiểu đoàn bám địch cho biết hiện trong bản không có địch.

Ngoài căn cứ chính tại ngã Ba, bọn địch cũng nống ra đóng dã ngoại ven đường 231 nhưng còn cách bản khá xa.

Một giờ sáng, trung đội tôi đã vào bản bố trí vị trí và tổ chức đào hầm.

Hai trung đội còn lại nằm ngoài bản, lui xa đến mấy trăm mét.

Bản Phin khá rộng, nhà sàn nhiều hơn, to hơn nhưng ít cây cối hơn bản Xoan. (Mấy năm qua ở Hà Nội có nhiều đại gia mới phất đua nhau lên vùng dân tộc mua nhà sàn và tháo ra chở về lắp ở Hà Nội hay ở các trang trại đồng bằng cho có vẻ hoang dã.

Tôi cũng đã ngó nghé qua vài nơi, nhưng những căn nhà sàn ấy thua xa các nhà sàn của dân Lào ở các bản to trên cao nguyên Bô-lô-ven, kể cả ở cái bản Phin này).

Phần lớn các căn hầm của chúng tôi đều bố trí sát các căn nhà sàn để còn lợi dụng chúng mà tránh mảnh pháo.

Cũng chỉ đào hầm bằng thôi.

Đào gần nhà sàn còn dễ vì đất mềm chứ nếu đào hẳn dưới gầm nhà sàn thì đất cứng lắm vì đó là đất nện.

Người Lào cũng thả rông gia súc nhưng đặc biệt không có cái kiểu buộc trâu bò dưới gầm sàn nên cũng khá vệ sinh và đỡ muỗi.

Trời sáng, chúng tôi chia nhau ngồi chốt.

Địch không vào bản, nhưng chúng nó cũng bố trí trận địa và đào công sự không cách xa bản bao nhiêu, vì sáng hôm đó chúng tôi nghe tiếng chúng nó chặt gỗ lạch cạch ở cánh rừng ngoài bản.

Buổi chiều, anh Trịnh kéo tôi ra phía đầu bản và leo lên một cái nhà sàn ở phía đó.

Nói thật là cũng hơi liều nếu như địch nó phục kích lại mình sát ngay bản thì coi như tiêu.

Nghé qua một khe cửa sổ, chúng tôi nhìn ra được một bãi trống khá rộng.

Chắc công sự của địch ở đám rừng phía bên kia bãi.

Nhòm ngó được độ hơn chục phút, định mò về thì thấy có ba thằng địch xuất hiện và đi ra ở phía bên kia bãi trống.

Chúng nó không phải định đi lùng sục vì chỉ có 3 thằng thì quá ít.

Ba thằng đó bước rất thong thả ra bãi trống rồi hành động như các diễn viên phường tuồng.

Một thằng vung tay chỉ về một hướng, thế là thằng cầm M79 "cốc" ngay một quả về hướng đó, nổ "oành".

Tiếp theo thằng thứ ba lại trỏ tay về một hướng khác và một quả cối cá nhân lại "cốc...oành" về hướng ấy.

Cứ như chúng nó chơi trò nghịch ngợm gì vậy.

Đến lúc chúng nó "cốc...oành" hướng vào bản thì tôi và anh Trịnh giật mình.

Chuồn thôi chứ không có khi chẳng phải đầu lại trúng tai thì phiền.

Chúng tôi rút về hầm rồi mà vẫn cứ thấy tiếng nổ "cốc...oành" quả Đông quả Tây mãi như thế.

Đúng là cái bọn thừa đạn.

Anh Trịnh bảo có đạn bắn chơi thả sức như thế cho nên chúng nó mới đa phần bắn giỏi hơn ta, vì luyện tập thường xuyên thế mà lại.

Nghĩ cũng phải.

Quân ta không có đạn hỏa lực để bắn tập thật đã đành, ngay cả đạn AK khi về hậu cứ tít mãi đằng sau cũng đâu có được bắn chơi (hay thậm chí bắn chim chóc) để tập.

Chỉ còn cách nâng cao trình độ qua các trận đánh thôi.

Đêm đến, đại đội tăng cường thêm một B nữa vào Bản Phin.

Chúng tôi bố trí lại hầm theo một hình cánh cung quây vào lòng bản.

Hôm sau, vừa mới bảnh mắt, địch đã nã pháo và cối vào bản ầm ầm.

Lại cảnh cây đổ nhà sập.

Tụt người xuống cái hầm bằng được chắn trên nắp bằng hơn nửa mét đất mà cứ nghe tiếng đất dội nảy lên thình thình, mong trời khấn phật đừng có quả pháo nào rơi trúng vào hầm mình.

Dập pháo được nửa tiếng thì bọn địch ngưng bắn và xua bộ binh vào.

Chúng tôi khi đó chưa có ai bị thương vong, đã đón đánh chặn địch ngay từ đầu bản.

Trong cảnh chiến trận ấy, tôi vẫn nhận rõ tiếng súng ta giòn hơn tiếng súng địch.

Chúng tôi đứng trong công sự bắn ra, nhưng địch dựa vào địa hình là các cây hay các cột nhà bắn vào nên chúng cũng chẳng hề lép vế.

Chúng nhiều đạn hơn nên bắn liên tục như vãi đạn.

Phía ta, công bằng mà nói chỉ có AK là được hơn 200 viên đạn, còn B40 mỗi khẩu chỉ có 5, 6 quả đạn, M79 mỗi khẩu 40 viên nên cũng phải bắn dè sẻn.

Trong ngày thì chẳng có ai tiếp tế đạn cho đâu, nên có nhìn thấy địch mới được bắn.

Hai bên đã lộ diện thì khi địch muốn vào chỗ nào, chúng nó tập trung bắn dữ dội chỗ đó.

Ta và địch đều không biết quân số của nhau, chỉ đoán áng chừng theo tiếng súng.

Được chừng hai đợt xông vào bản bắn dữ dội như thế không ăn thua gì nên bọn địch rút ra.

Cả hai bên đều không có tử sĩ.

Đầu giờ chiều, đại trưởng Băng cho một tổ ra đầu bản thăm dò rồi quyết định kéo chúng tôi vượt hẳn ra ngoài bản phục sẵn để đánh địch bất ngờ nếu chúng vào tiếp trong bản.

Chẳng còn thì giờ đào công sự, chúng tôi nằm phục một bên mé đường xe bò.

Cứ nằm tơ hơ trên mặt đất như thế thấy lạnh lưng lắm.

Giá có cái hầm dù bé cũng yên tâm hơn.

Rồi địch lại bắn pháo vào bản.

Cái bài nã pháo rồi dấn bộ binh là cách đánh muôn thuở của địch.

Chúng tôi nằm ngoài bản nghe tiếng pháo nó ù ù xoèn xoẹt bay vượt qua đầu mình rồi nổ rầm trong bản mà cũng thấy hơi lạnh người.

Tiếng đạn pháo lúc nó lao xuống đất mà gần chỗ mình thì thấy tiếng nó nặng lắm, cứ như đè mình xuống.

Hết đợt pháo, chúng tôi ngỏng cổ lên nghe ngóng.

Chẳng phải chờ lâu đã phát hiện thấy tốp địch đi đầu trên đường xe bò, chừng độ dăm tên.

Chúng đi thưa và thận trọng, nhưng chắc không nghĩ chúng tôi mò hẳn ra đây phục sẵn nên cứ thong thả mà lọt vào đội hình quân ta.

Không thể chờ tốp thứ hai vì chúng đi cách quá xa, đại đội ra lệnh nổ súng.

B40 và AK tập trung quất ra đồng loạt rầm rầm nên chẳng thằng nào còn sống mà kịp bắn trả.

Bọn địch ở tốp sau liền nằm ngay trên mặt đường mà bắn trả lại dữ dội nên chúng tôi cũng không thể xung phong ra mà thu súng.

Nằm đấy cũng không ổn vì địa hình trống trải, chúng tôi phải rút ngay về bản, cứ lom khom ven đường đạp qua bãi tranh mà chạy.

Pháo binh địch quả là lợi hại vì chúng tôi vừa về đến mấy cái nhà sàn là đạn pháo đã rót đến rồi.

Chúng bắn rải từ đầu bản rồi chuyển làn sâu dần vào trong, đạn như đuổi theo sát nút chúng tôi vậy.

Lại chúi xuống dưới mấy cái gầm nhà sàn.

Lần này chúng dùng pháo lớn hơn hay sao ấy, nên nhà sàn trúng đạn là sập luôn.

Hai B chúng tôi tản ra hai phía rìa bản.

Mấy cái hầm đào hồi đêm trước không làm chúng tôi yên tâm vì nó mong manh quá nên chẳng ai chui xuống.

Thế là cả bọn cứ chúi vào cái gầm nhà sàn nào to mà còn nguyên vẹn.

Tôi cũng cảm thấy sợ, cứ bám theo anh Trịnh, rồi cả hai lao vào chỗ B trưởng Quân đang nấp.

Anh ấy chửi rầm lên, bảo chúng mày tản ra ngay, muốn chết cả nút à.

Nhưng giữa cái lúc đạn nổ rầm rầm như thế thì chạy đi đâu?

Thôi, thà chết một đống còn hơn sống một người, chửi thì chửi, chúng tôi cũng cứ chúi vào.

Cái cảm giác lúc đó hoang mang ghê sợ lắm, tưởng chết hết cả lũ đến nơi.

Sau này chúng tôi có bị pháo bắn nhiều lần nhưng không hề giống cảm giác hôm ấy, vì đa phần là ở chốt có công sự chắc chắn, chết chỉ còn do số mà thôi.

Hết đợt pháo, đại đội kiểm điểm quân số.Chỉ có một anh lính cũ ở B khác bị mảnh pháo vào bắp chân, còn B tôi không sao.Xem lại vũ khí thấy đạn hỏa lực bắn gần hết.

Chiều tối, tất cả rút ra khỏi bản,về vị trí của 1 B bên ngoài cách xa bản tới năm trăm mét.

Sau một ngày mệt rãrời, thế mà vẫn phải đào hầm hì hục cả đêm.

Không còn cách nào khác.

Căn hầmluôn là chiếc vỏ bọc như áo giáp và ấm áp che chở cho người lính nơi chiếntrường.

Hôm sau, phía bản Phin yên ắng.

Có lẽ những chỗ đã bắn nát rồi thì địch cũng bỏ, coi như đã xác định được khu vực có quân ta.

Ta và địch đều có công tác trinh sát thăm dò nhau.

Phía ta là những tốp trinh sát, còn bên địch là những toán thám báo.

Bọn địch đóng quân thành các căn cứ công khai vì chúng lập tuyến và có máy bay và pháo binh yểm trợ sẵn sàng.

Quân ta chủ yếu ở rừng bí mật, thay đổi vị trí đóng quân thường xuyên.

Ngay cả ở tuyến trước, việc lập chốt tức là tạo trận địa công khai, nhưng cũng chỉ qua một hai trận, lộ là lại chuyển chốt ngay.

Vì thế thám báo địch khó nắm tình hình đối phương hơn trinh sát ta.

Nhưng nếu vị trí trú quân của ta, dù là vị trí tạm mà bị lộ thì ăn đủ bom pháo ngay.

Sáng hôm ấy, chúng tôi tiếp tục củng cố hầm và làm công tác ngụy trang.

Trinh sát tiểu đoàn bám địch báo về, địch tiếp tục đưa thêm quân từ trong Phù Chiêng ra khu Lào Ngam.

Tại Phù Chiêng là căn cứ chính của GM41 của địch.

Vùng Hạ Lào này còn có một trung đoàn cơ động chủ lực của địch nữa là GM42 và một số tiểu đoàn bảo vệ quanh Pắc-xế.

Bọn Thái Lan cũng có một trung đoàn, trong đó tiểu đoàn 621 Thái lập căn cứ có công sự vững chắc ngay tại Lào Ngam, nằm về phía Nam đường 23.

Mấy ngày qua chúng tôi chủ yếu đánh nhau với một tiểu đoàn Lào của cái GM41.

Chúng nó đóng sâu trong Lào Ngam nhưng liên tục nống ra lập trận địa dã ngoại đánh chặn quân ta.

Buổi chiều, B tôi được lệnh lùng sục trinh sát ra đường 231.

Tiểu đội thằng Đức (Cầu Giấy) được cử đi, gồm 4 người, 3AK và 1B40.

Trong đơn vị tôi, tất cả các loại hỏa lực như B40, M79 đều giao cho lính cũ nhiều kinh nghiệm sử dụng, chứ bọn tân binh chúng tôi mới vào thì chỉ có AK thôi.

Thằng Đức được cử đi đầu.

Thằng này trắng trẻo, to con và cao tới 1m67.

Thế là cao lắm rồi vì lính tráng chúng tôi thời đó đa phần chỉ cao từ 1m58 tới 1m62 thôi, cho nên trong hàng quân thì bao giờ cái đầu của nó cũng nhô cao hơn hẳn lên.

Cắp AK đi đầu mà thằng này cứ đứng thẳng người, bước thẳng tưng như đi chơi ở chỗ không người.

Anh Pha A trưởng của nó quát bảo phải khom người cúi thấp xuống mà đi, chậm chậm và thăm dò chứ phưỡn người ra như thế khác nào khiêu khích địch.

Lộ ra nó nện cho một phát chết ngoéo bây giờ.

Quát bảo thế, thậm chí nắm đầu mà dúi xuống, nhưng chỉ được ba bước là nó lại đứng thẳng lưng lên mà đi.

Vài lần như thế, cứ như là trêu ngươi lính cũ vậy.

Cáu tiết quá nhưng không làm gì được, vì nó cứ giơ cái mạng sống của nó ra mà đi như thế chứ có phải nó chạy lùi đâu, mà nó cũng chẳng tỏ ra sợ sệt gì cả.

Cuối cùng anh Pha đành phải đi đầu và tống nó xuống cuối đội hình.

Có lẽ cái xương sống của thằng Đức không cong được chứ không phải nó muốn trêu ngươi ai.

Sau này đánh nhau cũng thế, nó cứ thẳng lưng mà chạy, mà xung phong.

Nửa năm sau khi ngoài Sa-ra-van, trong một trận đánh vận động, nó bị trúng một mảnh đạn cối, xuyên vào phổi và vẫn mắc ở trong đó tới giờ. (Bây giờ nó là thương binh, là doanh nghiệp tư nhân buôn bán thuốc tây ở Quận Cầu Giấy).

Chiều hôm ấy tiểu đội anh Pha không phát hiện thấy địch.

Cái trận địa dã ngoại ngoài bản Phin của bọn địch hôm trước cũng đã bỏ không.

Chúng tôi lại trải qua một ngày không tác chiến.

Hôm sau, tiểu đoàn tập trung C5 và C6 tổ chức lùng sục vũ trang sang hẳn khu Lào Ngam.

Bây giờ đến lượt tôi đi đầu tiểu đội.

Anh Trịnh bám sát ngay sau tôi để chỉ dẫn.

Các A khác cũng bám ngay sau A tôi. ra đến gần đường 231, chúng tôi thận trọng thăm dò tình hình.

Chỗ này rất nhiều cây lúp xúp, xen kẽ nhiều cây nhỏ chỉ độ bắp chân mọc thưa, tầm nhìn không xa lắm.

Đi một đoạn, chúng tôi lại ngồi xuống quan sát qua các khe thân cây rồi mới đi tiếp.

Càng đến gần vùng đường 231, nơi mà trinh sát bám địch đã cảnh báo, chúng tôi càng thận trọng.

Đến nửa buổi sáng hôm ấy thì chúng tôi phát hiện thấy địch.

Chúng nó cũng đào công sự dã ngoại, hầm không nắp và không có hàng rào.

Chúng tôi bò sát vào đến cách độ vài chục mét.

Đại đội ra lệnh giá hai khẩu cối 60, nện vào đó hơn chục trái rồi chúng tôi bắt đầu đánh.

B40 tập trung bắn mạnh, rồi chúng tôi xung phong, vừa chạy vừa bắn AK.

Địa hình thưa nên M79 bắn thẳng rất tốt.

Bị đánh vỗ mặt, bọn địch vừa bắn trả, vừa rút.

Chúng tôi chiếm được mấy cái công sự bên ngoài.

Vì dã ngoại nên địch không đào giao thông hào.

Theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ vừa lợi dụng địa hình địa vật, vừa đánh lấn từ hầm này sang hầm khác của địch.

Nhưng mới chỉ được một đoạn, vượt qua được mấy cái xác địch ở khu công sự ngoài thì chúng tôi bị chặn lại.

Địch đã kịp tổ chức lại và điều quân từ phía sau lên.

Hai khẩu trung liên Bar của địch quạt chéo cánh sẻ vào đội hình chúng tôi.

A trưởng Soán của B4 bị một viên vào mặt văng mất hàm dưới làm một mũi tấn công khựng lại.

Cùng lúc địch dùng M72 bắn lại dữ dội.

Rồi cối 61, cối 81 của địch rót vào khu vực trận địa mù mịt.

Súng đạn bản thân của chúng tôi có hạn, chưa tiến được bao nhiêu thì B40 đã gần hết đạn, chỉ còn trông chờ M79 và AK.

Chúng tôi phải nằm bẹp lại và tản thưa ra tránh đạn cối.

B40 đạn ít mà địch không tập trung thì tác dụng thấp, lại bị địch chú ý tập trung tiêu diệt vì chúng rất sợ B40.

Có lẽ cả đại đội mấy chục tay súng chúng tôi cũng không thể tiêu diệt được cái đại đội này của địch.

Đại đội ra lệnh bắn cối 60 chi viện và gọi cối 82 của tiểu đoàn.

Cả trận địa cứ mù mịt cả lên.

Một khẩu cối 60 của C tôi bắn được mấy trái thì gặp nạn.

Có lẽ do liều ẩm, trái trước chưa ra khỏi nòng thì anh Đối đã thả trái sau.

Hai trái cối đội đít nhau nổ ngay đầu nòng làm anh Đối và một anh nữa hy sinh.

Khẩu cối vỡ toác nòng.

Còn một khẩu cối 60 nữa bắn cầm canh cùng cối 82 của tiểu đoàn chi viện cho được độ hai chục trái.

Chúng tôi không đủ sức đánh tiếp nữa nên rút lui.

Bây giờ mới gay go.

Cả một vùng cây thưa, rừng thấp rộng lớn mà chúng tôi phải băng qua không che nổi đạn pháo của địch rót tới.

Kẻ địch mạnh và dư thừa về bom pháo.

Động một tí là chúng gọi pháo.

Bom pháo luôn là mối đe dọa kinh hoàng đối với chúng tôi sau mỗi trận đánh.

Không rút nhanh, thoát ra được nhanh, kể cả khi ta đã làm chủ trận địa thì khả năng thương vong rất cao.

Trên đường chúng tôi rút chạy về đến khu tạm trú ở Huội Chăm-Pi (chỗ đó có hầm chữ A vững chắc và chưa bị lộ). thêm 4 người nữa hy sinh về đạn pháo, 3 người bị thương.

Thế là chỉ trong một trận đánh không lớn vào buổi sáng đại đội tôi đã hy sinh mất 6, bị thương 4 và chúng tôi cũng chỉ còn đủ sức khiêng vác tất cả về đến huội Chăm-pi.

May là địch chỉ gọi pháo bắn chứ không tổ chức truy kích chúng tôi.

Phía C5 cũng không hơn gì chúng tôi.

Họ bị địch phát hiện và tấn công trước.

Bên đó lại còn không được cối 82 của tiểu đoàn hỗ trợ.

Thực chất tiểu đoàn có lẽ cũng định tổ chức lùng sục vũ trang, gặp đơn vị nhỏ của địch, đánh phủ đầu tiêu hao sinh lực của chúng thôi, không ngờ cả 2 C đều gặp lực lượng lớn của địch.

Không kể bị thương, C5 cũng có 5 tử sĩ.

Cả hai đại đội chúng tôi khiêng thương binh, tử sĩ kéo nhau vượt về bờBắc huội Chăm-pi, đến tập kết tạm tại khu vườn chuối.

Bây giờ cũng đã giữachiều rồi còn gì.

Cả hai đại đội dồn cục lại khu vườn chuối, bây giờ mới giở cơm ra ăn vội.

Cổ khô, chán chả muốn ăn.

Thương binh được tập trung, vừa khiêng vừa dìu về ngay tuyến sau.

Từ đây về đến trạm xá trung đoàn cũng phải bảy tám tiếng.

Tiểu đoàn chỉ có một y sĩ và một y tá nên cũng chỉ sơ cứu được thôi.

Mỗi C có 3 y tá đấy, nhưng cũng chẳng giải quyết được gì hơn.

Tất cả tử sĩ được liệm trong vải dù trắng.

Cũng phải có người khiêng về tuyến sau chứ, vì nghĩa trang của tiểu đoàn cũng phải đi xa tới dăm tiếng.

Không thể để mất vị trí bờ huội Chăm-pi, trước khi trời tối, cả hai C5 và C6 lại phải sang giữ Nam huội Chăm-pi chặn địch.

Tất cả 11 tử sĩ được xếp nằm trong vườn chuối, giao cho tôi ở lại canh ban đêm.

Sáng mai sẽ có lực lượng của C7 ra khiêng về.

(Trong trung đoàn tôi cũng có C25 gọi là C vận tải.

Không biết quân số của họ là bao nhiêu, nhưng nhiệm vụ của họ chủ yếu là cùi gạo đạn và vận chuyển đồ đoàn của sở chỉ huy trung đoàn.

Suốt thời gian chiến đấu ở E9b, tôi chưa bao giờ gặp họ đi cáng thương binh hay tử sĩ từ trận địa về bao giờ.

Vì thế khi xem chuyện về Biên giới Tây Nam, tôi rất ngạc nhiên khi biết ở đó lính vận tải phải mang đạn ra tận trận địa cho bộ binh và nhận luôn nhiệm vụ cáng thương binh tử sĩ về).

Lúc mới nhận nhiệm vụ một mình ở lại bãi chuối ban đêm trông tử sĩ, tôi chưa nhận thức được điều gì và chưa thấy sợ.

Nhưng khi mọi người đi hết rồi, chỉ còn lại một mình với khẩu AK, một nắm cơm nếp và trời cứ tối dần thì tôi bắt đầu thấy sờ sợ.

Cả cái vườn chuối rừng rộng lớn cây mọc đều nhau, trong đêm đen trông lờ mờ như những người đang đứng.

Gió xào xạc, lá chuối phất phơ.

Ở trong rừng chuối lạnh lẽo lắm chứ không ấm cúng như trong rừng già.

Có mấy cái hầm chữ A đấy, nhưng cái nào cũng xâm xấp nước vì ở gần suối, nên không thể chui vào đó được.

Trong đêm tối nhờ nhờ, dãy tử sĩ nằm nổi lên trắng toát, vẫn còn tanh mùi máu.

Tôi cũng không phải là thằng sợ ma lắm vì ở nhà cũng rất hay nghịch ngợm, thường hay rủ bọn trẻ con ra bãi tha ma chơi đánh trận giả.

Chơi chán thì dọa nhau rồi chạy.

Trơ ra thì có khi còn ngủ quên cả ngoài đó vì trời mát, người nhà phải ra gọi về.

Thế mà ở đây, đồng chí đồng đội mình nằm chứ ai, lại có khẩu AK lên đạn sẵn, thế mà vẫn thấy gai gai lành lạnh.

Tôi không sợ địch vì biết chắc ở chỗ này cũng chẳng có ma nào mò tới.

Bọn thám báo nó sục ở mé rừng già cơ, chứ chỗ này ngách cụt, chẳng ra thế trận gì cả thì chúng cũng chẳng màng.

Có lẽ đơn vị phải cử tôi trông vì sợ có con thú nào nó mò vào đây chăng.

Tôi mới vào chiến trường, chuyện trò với các anh lính cũ không được bao nhiêu, nên chẳng biết ở đây có hổ không.

Nói dại chứ hổ nó mò vào thì tôi làm sao mà đánh lại được nó như ông Võ Tòng đánh hổ ở đồi Cảnh Dương trong Thủy hử.

Tôi lại lan man nghĩ đến những con kỳ đà bới mộ ăn xác chết trong chuyện "Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi.

Đêm tối thế này nhìn không rõ mà có độ mấy con to như con cá sấu già sồn sột bò đến thì biết xử lý ra sao.

Cứ nghĩ thế mà màn đêm xuống muộn lắm rồi tôi vẫn chưa lôi được gói cơm ra ăn.

Chừng nửa đêm thì trời mưa.

Nhẩm lại từ hôm tôi vào đại đội đến nay đã hơn hai tuần, đúng là mùa mưa rồi đấy mà tận hôm nay mới gặp mưa.

Mưa khá to và dai dẳng suốt đêm.

Tôi lấy tấm ni-lon ra quấn quanh người, bấm bụng lấy can đảm rồi rà một lượt đi quanh các tử sĩ.

Mưa làm ướt hết tấm vải dù liệm xác, ướt hết cả tử sĩ, nhưng cũng chẳng có gì để che.

Tôi đành quay về tìm một khóm chuối rậm rồi cứ để nguyên ni-lon quấn quanh người mà chui vào đó, ngồi co ro cho đỡ nước mưa và đỡ lạnh.

Rồi cũng phải chén hết nắm cơm.

Giá đây là căn hầm có rải cỏ tranh khô ráo thì tôi cũng đánh liều mà làm một giấc cho đỡ mệt.

Nhưng cái bụi chuối này chỉ che được mưa tạt trực tiếp thôi, chứ không có hơi ấm.

Lúc ấy tôi chưa nghiện thuốc lá, chưa có cái bọc thuốc rê như của lính cũ nên cũng chẳng có gì giúp làm mình ấm hơn.

Không ngủ được và cứ ngồi co ro như thế nhìn ra ngoài chỗ để tử sĩ.

Trong số các anh nằm kia, tôi cũng chỉ mới biết một hai người.

Cũng chưa hiểu rõ tính tình các anh, quê quán nơi nào.

Các anh vào lâu chưa, đánh bao nhiêu trận rồi.

Bây giờ các anh ấy đã sớm trở về lòng đất.

Cuộc đời đã khép lại, món nợ trần gian đã hết.

Đã ai có vợ con gì chưa.

Bao giờ thì gia đình các anh ấy nhận giấy báo tử.

Tôi cứ nghĩ lan man rất dở hơi như thế mãi.

Cái điệp khúc này dễ làm nao núng lòng người, dễ dẫn người ta đến con đường đảo ngũ lắm.

Trong bộ đội, người ta yêu cầu sinh hoạt thường xuyên, dù ở tuyến trước hay tuyến sau, chính là để lính ta hướng vào hoạt động tập thể, giảm bớt cái khoảng thời gian suy nghĩ vẫn vơ dễ làm cho người ta sinh ra tư tưởng.

Thế mà bây giờ tôi ngồi đây cả đêm mà nghĩ lung tung như thế thì thật không biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Tôi thoáng nghĩ đến con đường hành quân trên Trường Sơn.

Đường vào gian nan một thì đường ra chắc phải khó gấp đôi.

Nhưng tôi đã quyết ra đi không quay gót rồi mà.

Nếu không đỏ ngực thì phải xanh cỏ thôi.

Con đường chinh chiến phía trước còn dài và mịt mù lắm.

Đã ai dám hẹn được ngày quay trở lại.

Trong khó khăn, đói rét và cơ cực thì còn quyết tâm là mình phải sống, phải vượt qua chứ đời lính chiến thì đố ai dám quả quyết là mình phải sống.

Chẳng ai đoán trước được số phận con người.

Cứ xác định là rồi đến lúc nào cũng tới lượt mình ngã xuống thì còn thấy nhẹ nhàng và thanh thản hơn.

Điều an ủi có thể làm yên lòng là mình đã thay cho gia đình để góp vào sự hy sinh chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến này mà gia đình nào cũng có nghĩa vụ đóng góp.

Cuối cùng trong cái mưa lạnh ấy, về gần sáng tôi cũng chợp mắt được một lúc trong cái thư thế co ro trong bụi chuối.

Ngủ đấy nhưng cũng tỉnh rất nhanh khi có tiếng động trên đầu dốc.

Trời đã tảng sáng nhưng vẫn nhòa trong cơn mưa.

Một đoàn lính của C7 theo sau một người của C tôi đi tới.

Tất cả nhanh chóng xếp các tử sĩ vào cáng rồi khiêng đi.

Mưa to, đường trơn thế này thì chắc cũng phải đến chiều mới tới nghĩa trang.

Tôi trở về bên kia huội Chăm-pi với đại đội ngay sáng hôm ấy.

Buổi chiều, tôi lăn ra sốt.

Cơn sốt rét rừng đầu tiên.

Thoạt đầu là thấymệt mỏi, đau đầu.

Rồi lạnh, cái lạnh như từ trong người chui ra.

Tôi chúi xuốngcái hầm chữa A xếp đầy cỏ tranh nằm sóng xoài.

Đến khi hết rét thì người và đầunóng bừng bừng, rồi thiếp đi, miên man không biết đến thời gian.

Dọc đường hànhquân trên Trường Sơn, chúng tôi được phát mỗi người một cái lọ nhựa có 50 viênNi-va-quin.

Mỗi tuần làm một viên để phòng chống.

Có mấy thằng bị sốt dọc đườngđã phải dùng theo chế độ 4 viên một ngày.

Bây giờ đến lượt tôi.

Lấy ngay lọthuốc của mình chứ y tá chưa có cho thuốc men gì.

Đến tối anh Trịnh đưa cho nắmcơm nếp, thấy khô và đắng lắm.

Giả dụ có muốn ăn cháo thì ở đây cũng chẳng ainấu cho mà ăn.

Chỉ muốn nằm thôi vì nhỏm dậy là thấy chóng mặt vô cùng.

Tôi cứốm vạ vật như thế mấy hôm, mặc cho đơn vị cứ thay nhau lên chốt.

Nhưng hình nhưcũng chẳng có đánh nhau.

Sau lưng nước huội Chăm-pi dâng cao do nước lũ đổ về,ngăn cách hẳn đơn vị với tuyến sau.

Hôm sau, phía bản Phin yên ắng.

Có lẽ những chỗ đã bắn nát rồi thì địch cũng bỏ, coi như đã xác định được khu vực có quân ta.

Ta và địch đều có công tác trinh sát thăm dò nhau.

Phía ta là những tốp trinh sát, còn bên địch là những toán thám báo.

Bọn địch đóng quân thành các căn cứ công khai vì chúng lập tuyến và có máy bay và pháo binh yểm trợ sẵn sàng.

Quân ta chủ yếu ở rừng bí mật, thay đổi vị trí đóng quân thường xuyên.

Ngay cả ở tuyến trước, việc lập chốt tức là tạo trận địa công khai, nhưng cũng chỉ qua một hai trận, lộ là lại chuyển chốt ngay.

Vì thế thám báo địch khó nắm tình hình đối phương hơn trinh sát ta.

Nhưng nếu vị trí trú quân của ta, dù là vị trí tạm mà bị lộ thì ăn đủ bom pháo ngay.

Sáng hôm ấy, chúng tôi tiếp tục củng cố hầm và làm công tác ngụy trang.

Trinh sát tiểu đoàn bám địch báo về, địch tiếp tục đưa thêm quân từ trong Phù Chiêng ra khu Lào Ngam.

Tại Phù Chiêng là căn cứ chính của GM41 của địch.

Vùng Hạ Lào này còn có một trung đoàn cơ động chủ lực của địch nữa là GM42 và một số tiểu đoàn bảo vệ quanh Pắc-xế.

Bọn Thái Lan cũng có một trung đoàn, trong đó tiểu đoàn 621 Thái lập căn cứ có công sự vững chắc ngay tại Lào Ngam, nằm về phía Nam đường 23.

Mấy ngày qua chúng tôi chủ yếu đánh nhau với một tiểu đoàn Lào của cái GM41.

Chúng nó đóng sâu trong Lào Ngam nhưng liên tục nống ra lập trận địa dã ngoại đánh chặn quân ta.

Buổi chiều, B tôi được lệnh lùng sục trinh sát ra đường 231.

Tiểu đội thằng Đức (Cầu Giấy) được cử đi, gồm 4 người, 3AK và 1B40.

Trong đơn vị tôi, tất cả các loại hỏa lực như B40, M79 đều giao cho lính cũ nhiều kinh nghiệm sử dụng, chứ bọn tân binh chúng tôi mới vào thì chỉ có AK thôi.

Thằng Đức được cử đi đầu.

Thằng này trắng trẻo, to con và cao tới 1m67.

Thế là cao lắm rồi vì lính tráng chúng tôi thời đó đa phần chỉ cao từ 1m58 tới 1m62 thôi, cho nên trong hàng quân thì bao giờ cái đầu của nó cũng nhô cao hơn hẳn lên.

Cắp AK đi đầu mà thằng này cứ đứng thẳng người, bước thẳng tưng như đi chơi ở chỗ không người.

Anh Pha A trưởng của nó quát bảo phải khom người cúi thấp xuống mà đi, chậm chậm và thăm dò chứ phưỡn người ra như thế khác nào khiêu khích địch.

Lộ ra nó nện cho một phát chết ngoéo bây giờ.

Quát bảo thế, thậm chí nắm đầu mà dúi xuống, nhưng chỉ được ba bước là nó lại đứng thẳng lưng lên mà đi.

Vài lần như thế, cứ như là trêu ngươi lính cũ vậy.

Cáu tiết quá nhưng không làm gì được, vì nó cứ giơ cái mạng sống của nó ra mà đi như thế chứ có phải nó chạy lùi đâu, mà nó cũng chẳng tỏ ra sợ sệt gì cả.

Cuối cùng anh Pha đành phải đi đầu và tống nó xuống cuối đội hình.

Có lẽ cái xương sống của thằng Đức không cong được chứ không phải nó muốn trêu ngươi ai.

Sau này đánh nhau cũng thế, nó cứ thẳng lưng mà chạy, mà xung phong.

Nửa năm sau khi ngoài Sa-ra-van, trong một trận đánh vận động, nó bị trúng một mảnh đạn cối, xuyên vào phổi và vẫn mắc ở trong đó tới giờ. (Bây giờ nó là thương binh, là doanh nghiệp tư nhân buôn bán thuốc tây ở Quận Cầu Giấy).

Chiều hôm ấy tiểu đội anh Pha không phát hiện thấy địch.

Cái trận địa dã ngoại ngoài bản Phin của bọn địch hôm trước cũng đã bỏ không.

Chúng tôi lại trải qua một ngày không tác chiến.

Hôm sau, tiểu đoàn tập trung C5 và C6 tổ chức lùng sục vũ trang sang hẳn khu Lào Ngam.

Bây giờ đến lượt tôi đi đầu tiểu đội.

Anh Trịnh bám sát ngay sau tôi để chỉ dẫn.

Các A khác cũng bám ngay sau A tôi. ra đến gần đường 231, chúng tôi thận trọng thăm dò tình hình.

Chỗ này rất nhiều cây lúp xúp, xen kẽ nhiều cây nhỏ chỉ độ bắp chân mọc thưa, tầm nhìn không xa lắm.

Đi một đoạn, chúng tôi lại ngồi xuống quan sát qua các khe thân cây rồi mới đi tiếp.

Càng đến gần vùng đường 231, nơi mà trinh sát bám địch đã cảnh báo, chúng tôi càng thận trọng.

Đến nửa buổi sáng hôm ấy thì chúng tôi phát hiện thấy địch.

Chúng nó cũng đào công sự dã ngoại, hầm không nắp và không có hàng rào.

Chúng tôi bò sát vào đến cách độ vài chục mét.

Đại đội ra lệnh giá hai khẩu cối 60, nện vào đó hơn chục trái rồi chúng tôi bắt đầu đánh.

B40 tập trung bắn mạnh, rồi chúng tôi xung phong, vừa chạy vừa bắn AK.

Địa hình thưa nên M79 bắn thẳng rất tốt.

Bị đánh vỗ mặt, bọn địch vừa bắn trả, vừa rút.

Chúng tôi chiếm được mấy cái công sự bên ngoài.

Vì dã ngoại nên địch không đào giao thông hào.

Theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ vừa lợi dụng địa hình địa vật, vừa đánh lấn từ hầm này sang hầm khác của địch.

Nhưng mới chỉ được một đoạn, vượt qua được mấy cái xác địch ở khu công sự ngoài thì chúng tôi bị chặn lại.

Địch đã kịp tổ chức lại và điều quân từ phía sau lên.

Hai khẩu trung liên Bar của địch quạt chéo cánh sẻ vào đội hình chúng tôi.

A trưởng Soán của B4 bị một viên vào mặt văng mất hàm dưới làm một mũi tấn công khựng lại.

Cùng lúc địch dùng M72 bắn lại dữ dội.

Rồi cối 61, cối 81 của địch rót vào khu vực trận địa mù mịt.

Súng đạn bản thân của chúng tôi có hạn, chưa tiến được bao nhiêu thì B40 đã gần hết đạn, chỉ còn trông chờ M79 và AK.

Chúng tôi phải nằm bẹp lại và tản thưa ra tránh đạn cối.

B40 đạn ít mà địch không tập trung thì tác dụng thấp, lại bị địch chú ý tập trung tiêu diệt vì chúng rất sợ B40.

Có lẽ cả đại đội mấy chục tay súng chúng tôi cũng không thể tiêu diệt được cái đại đội này của địch.

Đại đội ra lệnh bắn cối 60 chi viện và gọi cối 82 của tiểu đoàn.

Cả trận địa cứ mù mịt cả lên.

Một khẩu cối 60 của C tôi bắn được mấy trái thì gặp nạn.

Có lẽ do liều ẩm, trái trước chưa ra khỏi nòng thì anh Đối đã thả trái sau.

Hai trái cối đội đít nhau nổ ngay đầu nòng làm anh Đối và một anh nữa hy sinh.

Khẩu cối vỡ toác nòng.

Còn một khẩu cối 60 nữa bắn cầm canh cùng cối 82 của tiểu đoàn chi viện cho được độ hai chục trái.

Chúng tôi không đủ sức đánh tiếp nữa nên rút lui.

Bây giờ mới gay go.

Cả một vùng cây thưa, rừng thấp rộng lớn mà chúng tôi phải băng qua không che nổi đạn pháo của địch rót tới.

Kẻ địch mạnh và dư thừa về bom pháo.

Động một tí là chúng gọi pháo.

Bom pháo luôn là mối đe dọa kinh hoàng đối với chúng tôi sau mỗi trận đánh.

Không rút nhanh, thoát ra được nhanh, kể cả khi ta đã làm chủ trận địa thì khả năng thương vong rất cao.

Trên đường chúng tôi rút chạy về đến khu tạm trú ở Huội Chăm-Pi (chỗ đó có hầm chữ A vững chắc và chưa bị lộ). thêm 4 người nữa hy sinh về đạn pháo, 3 người bị thương.

Thế là chỉ trong một trận đánh không lớn vào buổi sáng đại đội tôi đã hy sinh mất 6, bị thương 4 và chúng tôi cũng chỉ còn đủ sức khiêng vác tất cả về đến huội Chăm-pi.

May là địch chỉ gọi pháo bắn chứ không tổ chức truy kích chúng tôi.

Phía C5 cũng không hơn gì chúng tôi.

Họ bị địch phát hiện và tấn công trước.

Bên đó lại còn không được cối 82 của tiểu đoàn hỗ trợ.

Thực chất tiểu đoàn có lẽ cũng định tổ chức lùng sục vũ trang, gặp đơn vị nhỏ của địch, đánh phủ đầu tiêu hao sinh lực của chúng thôi, không ngờ cả 2 C đều gặp lực lượng lớn của địch.

Không kể bị thương, C5 cũng có 5 tử sĩ.

Cả hai đại đội chúng tôi khiêng thương binh, tử sĩ kéo nhau vượt về bờBắc huội Chăm-pi, đến tập kết tạm tại khu vườn chuối.

Bây giờ cũng đã giữachiều rồi còn gì.

Sốt rét là một loại bệnh đặc biệt trong các loại bệnh.

Lúc ở nhà, Hà Nội đã có dịch sốt xuất huyết cũng rất đáng sợ.

Vô tình uống thuốc hạ sốt để cơ thể bị hạ áp hay xuất huyết nội là rất dễ đi tong.

Bây giờ vào chiến trường thì biết được sốt rét thế nào.

Người ta bảo sốt rét là thứ bệnh đặc thù của lính Trường Sơn.

Ai chưa từng sốt rét, chưa được công nhận là lính Trường Sơn.

Trừ các anh bị sốt rét ác tính đa phần nằm lại rừng già không nói làm gì, còn ai cũng bị sốt rét và không phải chỉ một lần.

Sốt rét có thể nóng lên đến 42 độ C mà không chết.

Lúc sốt thì các khớp xương rã rời, ăn gì cũng đắng miệng.

Có thuốc uống thì tốt, mà không có thuốc uống thì cứ vật vã độ dăm ba ngày cũng tự nhiên khỏi (có điều khi đó cái lá lách lại bị yếu đi một tí).

Khỏi rồi thì thèm ăn, không có mà ăn thôi chứ có đủ thì khi đó lính dám ăn thi với Trạng ăn lắm.

Tôi cũng không phải ngoại lệ.

Vật vã ba ngày rồi thì tôi cũng có thể vác súng ra ngồi chốt đánh nhau được.

Mùa mưa đã đến thật rồi.

Bây giờ thì không còn có ngày nắng to nữa.

Ngày nào gọi là không mưa thì bầu trời cũng u ám, còn đa phần là mưa.

Mưa ở đây không giống mưa rào, cũng chẳng phải mưa bão như ngoài Bắc.

Chẳng cần có gió thổi giật ầm ầm đổ cây cối, nhưng trời cứ mưa liên miên, lúc to lúc bé, rất dai dẳng.

Lúc này mới thấy tác dụng to lớn của tấm ni-lon, không có nó thì gay.

Mặc dù quần áo lúc nào cũng ẩm, gấu quần và tay áo luôn ướt, nhưng về đêm co ro một lúc thì nó cũng khô khô do hơi ấm của mỉnh nhả ra.

Nếu lúc nào cũng ướt sũng chắc cảm lạnh mà chết, dù rằng khi đó đang là sức trai mười tám đôi mươi.

Các căn hầm chữ A làm trên triền dốc đều được chúng tôi làm mái che cỏ tranh trên nắp nên về đêm vẫn có thể ngủ ngon trong hầm.

Mùa khô ủng hộ quân ta, còn mùa mưa lợi thế thuộc về kẻ địch.

Nói thế vì về căn bản do các đường giao thông của ta toàn ở trong rừng, lại là đường đất, sông suối ngăn cách nên mùa mưa khó vận chuyển, cả vũ khí và lương thực.

Cùi cõng bằng sức lính thì mùa mưa cũng kém hơn.

Thiếu cơ sở vật chất hơn địch, nên nói rằng chúng nó làm chủ cũng đúng thôi.

Nhưng công bằng mà nói, vào mùa mưa địch nó cũng đóng căn cứ là chính, kết hợp lùng sục phát hiện quân ta để gọi bom pháo thôi chứ chúng cũng chẳng sức đâu mà lấn với dũi.

Còn chúng tôi cũng chốt giữ là chính.

Nhưng chẳng lẽ lại không đánh đấm gì, thế nên mùa mưa chúng tôi cũng rải quân ra khá rộng, luồn sâu tập kích các vị trí nhỏ của địch.

Bọn cối 160 và DKB của trung đoàn thì làm trận địa, bắt bộ binh chúng tôi cùi đạn đến rồi thỉnh thoảng bắn ì ùm một hai phát vào tít mãi trong Phù Chiêng cách Pắc-xế hơn 10 cây số để dọa địch là chính.

Thằng Khiêm (cái thằng cùng tiểu đội có cái đài 3 bóng khuếch đại thẳng mà tôi kể khi còn huấn luyện ở Bãi Nai ấy) được vào C16 là đại đội hỏa lực của trung đoàn.

Thơm hơn nữa là nó lại được vào trinh sát pháo.

Cái bọn trinh sát pháo thì chỉ khi đánh lớn chúng nó mới ra trận.

Nằm ở cửa mở cùng bộ binh, lúc mở màn trận đánh thì quan sát điểm nổ để chỉnh độ ba bốn phát cho nó rơi vào trong trận địa, xong là hô cấp tập, thế là hết nhiệm vụ, rút lui luôn.

Mà gọi là pháo cho oai, chứ thực chất chỉ là khẩu cối 160 ly.

Chỉnh cho nó rơi vào chỗ nào trong cái căn cứ to tướng của địch là được, quan trọng nhất là đừng có đấm đít bộ binh.

Cái thời chúng tôi mấy khi có đánh lớn, thế cho nên bọn hỏa lực E tôi chỉ làm nhiệm vụ tập kích và bắn trộm là chính.

Thằng Khiêm lại là trinh sát pháo DKB nên chỗ quan sát của nó còn lâu mới ra đến tuyến trước.

Tôi nghe nói DKB chính là một cái nòng của dàn hỏa tiễn Ca-chiu-sa 16 nòng tháo ra.

Cả E có 2 nòng trang bị cho C16.

Đạn của nó nặng hơn năm chục cân, phải chia đôi đầu và liều phóng cho hai thằng vác một quả.

Bọn DKB thường làm trận địa cách xa bộ binh (vì chẳng đời nào chúng tôi cho chúng nó làm gần cả, để tránh bị phản pháo oan).

Chúng nó thường làm trận địa ở khe núi để ngụy trang tiếng vọng nổ đầu nòng.

Phần thóat khói phụt ra khi bắn phải đào cả một cái hầm to theo kiểu bếp Hoàng Cầm để giấu khói.

Thế mà lần nào cũng chỉ vừa bắn đi một quả là có L19 lượn đến chỉ điểm cho pháo địch bắn tới, hoặc T28 đánh bom.

Ngày nào may lắm, nhìn trước nhìn sau cẩn thận mới bắn được 2 quả.

Có ngày chẳng bắn gì.

Tiếng nổ và bay của DKB to lắm, nên cứ khi nào bọn C16 bắn là chúng tôi biết ngay.

Nhưng phải thừa nhận là bọn DKB giấu trận địa rất khéo.

Suốt thời gian ở trong đó, bắn không phải là ít, bị bom và phản pháo cũng nhiều, thế mà không lần nào trúng vào trận địa chính.

Bọn linh DKB số thọ lâu thật.

Thằng Khiêm là trinh sát pháo đấy, nhưng chưa một lần nào nó phải vào gần Phù Chiêng quan sát.

Vào đấy thì làm gì có điện đài, hữu tuyến thì lại càng không thể có.

Nó kể là phải leo lên cây cao dùng ống nhòm quan sát để hiệu chỉnh nhưng tôi chả tin.

Chả có cái cây nào đủ cao và cái ống nhòm nào có đủ tầm xa để nó nhòm vào Phù Chiêng từ cách xa hơn chục cây số.

Sau cái đợt đánh nhau ở đường 231 rồi tôi bị sốt ít ngày ấy, B tôi được rút về cái giông đồi cao ở phía Bắc cách xa Huội Chăm-pi tới hơn cây số làm nhiệm vụ cùi cõng.

Mưa suốt ngày nên nước suối lúc nào cũng dâng cao như có lũ.

Bọn công binh E kiếm dây rừng bện thành một sợi rất to căng ngang suối sát mặt nước.

Lính tráng khi qua thì bám dây bơi sang, người vuông góc với dây, từ trên cao nhìn xuống trông cứ như cái giẻ vắt trên cây sào.

Còn gạo và đạn thì cho vào bao ni-lon chằng dây hai đầu kéo sang.

Có chục bao vừa gạo và đạn đưa qua suối cũng hết cả buổi.

B nằm chốt bên bờ Nam với B làm vận chuyển bên bờ Bắc, chả biết thằng nào cực hơn thằng nào.

Đấy là chưa kể một B còn phải chuyển gạo đạn từ hậu cứ xa hàng mấy tiếng đồng hồ ra đây nữa.

Suốt thời gian đó chúng tôi chỉ có ăn cơm nếp với muối, vì cũng hết vừng.

Muối cho lẫn vào gạo lúc vo.

Bây giờ tuy là mùa mưa, nhưng cái hướng ra tuyến trước này của chúng tôi là các núi cao, rất xa các bản.

Trong rừng này không có cái giống tre nứa nên cũng không có măng.

Chỉ có khu bãi chuối nơi tôi canh tử sĩ độ trước là có chuối rừng, Tranh thủ lúc chuyển gạo đạn ra tuyến trước, khi về chúng tôi tạt qua chặt lấy gốc của nó đem về ăn cho đỡ xót ruột.

Nhưng cũng không thể ăn mãi được.

Ngày ở nhà ăn bún hay bánh đúc cua mong có tí rau chuối ăn vào cho ngon miệng là vì ăn ít và có canh cua quá ngon nó đỡ cho thôi, chứ bây giờ ngày nào cũng ăn cơm nếp xong rồi lôi một khúc thân chuối ra nhai thì nó cũng vô vị và khó nuốt lắm.

Cùi cõng được vài ngày thì địch bắt đầu dò ra con đường mòn đạp trong rừng từ giông đồi chỗ B tôi đóng quân ra bờ huội Chăm-pi.

Thế là không kể giờ giấc, cứ thích lúc nào là chúng nó lại nện pháo vào dọc con đường đó.

Mỗi ngày độ dăm bảy đợt, mỗi đợt chỉ 15, 20 quả mà gây cho lính vận chuyển tâm lý nặng nề.

Đại đội cho tăng cường đào thêm hầm chữ A dọc con đường đó.

Đào kiểu lấn dũi, dựa vào hầm cũ trú ẩn khi pháo bắn để đào thêm hầm mới.

Những đoạn toàn vách đá không đào được hầm thì đành chịu, trước khi qua đó dừng lại nghe ngóng một hồi phán đoán tình hình rồi khẩn trương ù té qua.

Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, các cụ dạy cấm có sai.

Sau nhiều lần cùi cõng qua đó, vừa đi vừa chạy tránh pháo thì một buổi chiều đầu tháng sáu, năm người chúng tôi vừa đến đúng cái đoạn đường đá không có hầm thì bị pháo dập.

Cả bọn nép mình vào một bên bờ đá, lấy cùi gạo che người.

Bị pháo bắn mà nằm trơ ra trên mặt đất thì chỉ còn mỗi cách cầu mong ông bà ông vải phù hộ thôi.

Bỗng tôi thấy cánh tay trái tê dại, nhìn vào máu chảy toe toét.

Không phải một mà có đến 3 mảnh găm vào tay.

Tôi kêu to "Em bị thương rồi".

Thêm vài quả nữa thì pháo địch ngừng bắn.

Một anh lính cũ đến bên xé băng cá nhân ra băng cho tôi.

Cái cùi gạo tôi ôm bên người cũng bị vỡ bục.

Thế mà bốn anh kia lại không ai hề hấn gì.

Các anh ấy xan gạo của tôi sang cho các anh ấy, dìu tôi đến đoạn có hầm cho chui vào đó rồi đi tiếp.

Tôi phải nằm chờ đến hơn một tiếng, các anh ấy quay lại mới đưa tôi về chỗ trú quân trên đỉnh đốc.

Buổi tối nằm trong hầm với cái tay băng chặt thấy nhức lắm.

Lúc tối anh y tá xem cho tôi bảo là chỉ vào phần mềm thôi, chưa chạm xương.

"Chú mày chưa đủ tiêu chuẩn ra Bắc đâu.

Mai cho về hậu cứ, lên trạm xá Trung đoàn nghỉ ít ngày rồi lại về với anh em.

Nếu cái mảnh nó bé thì cứ để im trong đó, không phải mổ gì hết".

Tôi sợ không dám nói gì, nhưng vẫn nghĩ là về trạm xá nhất định phải xin mổ chứ mảnh nó nằm ngay bắp tay thế này vướng lắm.

Lại nhớ chuyện thằng Phúc "chó" cùng A với tôi ngoài Bắc.

Nhà nó ở phố Bạch Mai gần Trại Găng.

Ngày còn học sinh đi sơ tán về quê Ninh Bình có lần bị máy bay Mỹ thả bom bi.

Nó bị 3 viên vào mông, nhưng vì viên bi nó tròn, mông lại lắm mỡ nên bác sĩ không mổ vì bi nó chạy, không nằm yên một chỗ.

Ông ấy bảo mỡ nó sẽ bọc viên bi lại, không có vấn đề gì hết.

Thế nhưng thằng Phúc kể là nhiều khi ngồi mà nó vẫn có cái cảm giác cộm trong mông.

Ngày đi dã ngoại ở Tân Lạc, một lần ra bờ đập tắm cùng tôi, nó kêu ngứa rồi chổng mông cho tôi xem.

Tôi thấy có một vết đen rất rõ, sờ tay vào cảm nhận được cả viên bi.

Rồi nó nghiến răng gãi và cào thế nào đó mà bật được ra cả một viên bi giống như viên bi xe đạp.

Cái chỗ đó hở ra một lỗ, rỉ nước vàng mà không chảy máu.

Chỉ mấy hôm sau là chỗ đó thành sẹo.

Rồi nó cứ cầu mong cho 2 viên bi còn lại chạy tiếp ra phía ngoài da như thế để cậy, nhưng chuyện đó không xảy ra nữa.

Hôm sau, có 2 A về hậu cứ lấy đạn và tôi được về cùng.

Bây giờ tôi mới được biết hậu cứ của đại đội mình.

Cứ C6 nằm trên hai khoảnh rừng cách nhau một con suối nhỏ.

Lòng suối chỉ rộng hơn mét, rất sâu.

Lối đi qua suối được bắc bằng mấy cây gỗ ghép lại.

Sát hai bên bờ suối toàn chuối rừng.

Chỗ này chỉ cách tiểu đoàn bộ, nơi chúng tôi đã ở mười ngày khi mới được bổ sung về tiểu đoàn dạo nọ chừng sáu bảy trăm mét.

Rừng già, cây to nhưng chỉ đi độ trăm mét là ra đến nương của dân.

Nương của dân thuộc một Bản gần đó có tên là Xăm-xi-núc May.

Chữ "may" trong tiếng Lào là "mới".

Bản Xăm-xi-núc Cầu ("cũ") cách đó chừng hai cây số.

Có lý do gì đó nên dân bản chuyển chỗ để lập bản mới.

Trên cao nguyên Bô-lô-ven có mấy cặp bản có đuôi tên là "cầu" và "may" như thế, nhưng trên bản đồ thì chỉ có bản "cầu" thôi.

Bản cũng chỉ hơn chục nóc nhà.

Tất cả những điều đó là về sau mới biết chứ lúc đó tôi chưa được ra bản.

Về đến hậu cứ lại phải nằm thêm một đêm nữa với cái tay nhức.

Bây giờ mà ai có nhọt hoặc là sứt sẹo chỗ nào đó là được chỉ định kiêng của nếp.

Nhưng lúc đó chỉ toàn ăn gạo nếp nên cũng chẳng ai nói kiêng dè gì, có lẽ vì thế mà mấy cái vết thương bé tẹo của tôi gây nhức chăng.

Nói bé tẹo, vì hôm sau lên D bộ, Y sĩ tiểu đoàn là anh Soạn xem rồi bảo: để đấy tao giải quyết.

Anh ấy cho một người giữ tay tôi, tiêm mấy mũi No-vo-ca-in vào cạnh vết thương rồi dùng panh ngoáy vào gắp ra được mấy mẩu đá bằng cái hạt bưởi.

Hóa ra là tôi bị mảnh đá bắn vào chứ không phải mảnh pháo, nên nó mới chỉ vào phần mềm thôi.

Anh Soạn bảo nếu là mảnh pháo thì nó phải cắm vào đến xương rồi.

Thế là tôi không phải về Trạm xá của E nữa.

Tuy là vết thương mảnh đá, nhưng anh Soạn vẫn giữ tôi lại cho nghỉ cùng D bộ 3 ngày rồi mới trả về C.

Vết thương chỉ bôi thuốc đỏ, để hở nhưng rất nhanh khô và lành.

Về đến C tôi lại được nghỉ thêm 3 ngày, chỉ xuống anh nuôi giúp việc lặt vặt là coi như khỏi hẳn.

Trong tuần đó, cả đại đội tôi cũng lục tục trở về hết khu hậu cứ.

Đánh đấm nhẹ nhàng hơn nên chỉ còn có một C5 ở lại chỗ huội Chăm-Pi khu vực bản Soan.

Nghe nói chúng tôi sẽ mở hướng sang phía Nam đường 23, mạn đông khu Lào Ngam.

Cái vùng này vẫn rất nhiều núi cao, rừng rậm, bản làng thưa thớt.

Tôi vẫn ở tiểu đội anh Trịnh.

Bây giờ anh ấy là A trưởng, nhưng vẫn giữ B40.

Trung đội tôi là B5, trung trưởng là anh Quân, người dân tộc Mường ở Hòa Bình.

Anh này không to con, nhưng rắn chắc, nhanh nhẹn, cặp mắt sáng rất khôn và nói năng mạnh bạo đâu ra đấy, chẳng có vẻ dân tộc tẹo nào.

Trung đội tôi nằm ở cái dẻo rừng cách biệt với đại đội một con suối nhỏ tí ấy.

Bếp ăn của C và của B tôi nằm hai bên suối.

Ở đây là hậu cứ nên chúng tôi đào hầm rất cẩn thận.

Hầm trú ẩn là chữ A vững chắc, cạnh đó là hầm thùng để sinh hoạt và ngủ.

Bên trên chúng tôi làm lán, đơn sơ nhưng vững chắc, mái lợp cỏ tranh mưa to mấy cũng không dột.

Mỗi A một lán.

Trong hầm làm sạp nằm ghép bằng nứa.

Chỉ có mỗi đường đi là trơn vì bùn đất thôi.

Chúng tôi làm công trình phụ hẳn hoi chứ không được dùng hố mèo.

Trung đội tôi nằm ở đây chặn con đường đi từ phía nương dân vào.

Chỉ trừ thám báo luồn lách thôi chứ địch muốn vào tất phải đi qua con đường này.

Cần nói thêm là bọn lính Lào đi rừng rất giỏi.

Lính mình dù trong lýlịch quân nhân khi xuất ngũ về có ghi là "Sở trường hoạt động rừngnúi" đấy, nhưng trình độ luồn rừng thì không bao giờ bằng lính bản địađược.

Tuy tuyến trước có thể cách hậu cứ chúng tôi dăm tiếng đi đường, nhưngchuyện cả một trung đội địch hơn chục thằng có thể luồn rừng xuất hiện tại cáckhu hậu cứ của chúng tôi rồi tổ chức phục kích, đánh ù một trận bất ngờ rồibiến mất nhanh chóng không phải là chuyện hiếm.

Năm ngoái ngay gần tại khu hậucứ của trung đoàn, an toàn đến mức pháo địch không bắn tới, lúc họp đơn vị cóthể cùng nhau hát vang bài "Giải phóng miền Nam", thế mà địch cũng bímật mò tới được.

Chúng phục kích tại một ngã ba vườn cà phê bắn chết E phó Mịchvà cậu liên lạc đang trên đường đến một D gần đó.

Từ đó về sau ngã ba ấy được mangtên "Ngã ba ông Mịch".

Về trung đội được một hôm thì hôm sau cả B tôi phải sang Nam đường 23.

Ở trong lính có lẽ từ cấp đại đội trở lên không có cái kiểu đi hoạt động lẻ và ăn mảnh, vì đội hình của cả C thì hơi đông.

Thế nhưng từ cấp B trở xuống A, hay một tổ khi đi hoạt động lẻ thì tức là đã được tự do.

Cả trung đội hơn chục người bảo nhau cũng dễ, biết giữ bí mật và lúc cần huy động sức người thì cũng có đủ.

Thông thường đi lẻ một B là sẽ có 1 cán bộ C đi theo.

Đại phó Hùng thường đi với B5, nhưng tính ông này cũng bạt mạng lắm, hợp với lính nên cũng coi như anh em một nhà.

Lần này B tôi đi độc lập không có C phó, sang hướng Nam đường nhưng không phải là lập chốt đánh nhau mà chỉ là đi thăm dò địa hình.

Có lẽ cũng đã biết hướng này đang an toàn vì đã từng đi nên anh Quân B trưởng tự tin lắm.

Đi khỏi hậu cứ chừng 3 tiếng, anh ấy bảo tất cả đi chậm lại phía sau, để anh ấy đi lên trước cách xa anh em tới năm chục mét.

Vùng này thường hay có hoẵng, khỉ và anh ấy có ý định săn bắn cải thiện.

Cứ đi như thế rất lâu thì chúng tôi nghe "đoàng" một tiếng, rồi nghe tiếng anh ấy gọi.

Chạy lên đã thấy anh ấy đứng đó, dưới chân là một con khỉ vàng rất to.

Nó bị bắn trúng đầu nên rơi thẳng từ trên cây xuống đất.

Chúng tôi chặt gậy, lấy dây buộc rồi khiêng đi.

Đến một khu rừng khá rậm, có một con suối thì anh Quân cho tất cả dừng lại nghỉ chân.

Anh ấy cắt cử người sục sạo cảnh giới và cho làm thịt con khỉ.

Mấy anh thạo việc xắn một tay giúp anh nuôi. (C tôi có 3 anh nuôi, nếu có một B đi lẻ thì có 1 anh nuôi đi cùng).

Cách làm thì cũng na ná như làm thịt chó, cũng thui vàng.

Con khỉ này thuộc giống nào không biết, nhưng rất to, phải đến hơn chục cân.

Các anh ấy bỏ đầu đi cho nó đỡ ghê, còn lại luộc tất.

Mà cũng chỉ làm được thế thôi chứ không thể làm gì hơn.

Rau ăn kèm có ít kiệu tươi lấy từ nương dân ở hậu cứ.

Đây là lần đầu tiên tôi được ăn thịt thú rừng.

Thịt khỉ ăn lúc đầu thì thấy nó hơi gây gây, nhưng đói nên cứ chén tràn.

Chiều và đêm hôm ấy chúng tôi nghỉ luôn tại đấy.

Hôm sau chúng tôi lần mò sang Nam đường.

Đoạn đường này còn cách xa địch nên vượt qua rất dễ dàng.

Ở đây, quân ta chỉ chốt chặn địch theo khu vực chứ không chốt theo tuyến đường.

Bây giờ mà cứ thẳng đường 23 này đi về phía Tây thì sẽ tới thẳng căn cứ của địch.

B chúng tôi đi lần này không có trinh sát tiểu đoàn, không có thông tin vô tuyến đi cùng.

Anh Quân chỉ nhận nhiệm vụ miệng và cầm bản đồ địa bàn rồi dẫn chúng tôi đi thôi.

Không biết có phải vì anh ấy là người dân tộc, cũng đã thạo đi rừng hay vì anh ấy đã thạo khu vực này mà dẫn chúng tôi đi rất tự tin.

Đi lẻ kiểu này cũng gần như trinh sát.

Chả có đào hầm hố gì cả.

Đến đêm thì bố trí quân, mắc võng ngủ và chia nhau canh gác.

Chủ trương là không tác chiến, nếu không phải là đường cùng.

Sang đến Nam đường thì chúng tôi cẩn thận hơn, không có săn bắn gì nữa.

Sục xạo trong mấy cánh rừng suốt hai ngày đến cách cái khu Lào Ngam một con suối mà không thấy có gì thì chúng tôi quay lại, rồi trở về đơn vị.

Sau này khu Nam đường được giao cho D tôi chốt giữ suốt mấy tháng mùa mưa.

Gần cuối tháng sáu, trung đoàn tôi nhận một đợt tân binh Nam Hà.

Đại đội tôi được nhận mười lính, A tôi được một người.

Lính Hà Nội chúng tôi chỉ vào trước chúng nó có hai tháng nhưng đương nhiên được coi là lính cũ hơn rồi.

Chả gì thì cũng đã đánh vài trận, bắn đì đòm vài băng đạn và chạy bom chạy pháo chí chết chục lần.

Đảm bảo hơn hẳn về cái đoạn nghe tiếng pháo rít biết đạn nó rơi thế nào.

Nhưng nói vậy thôi chứ các anh cũ đã đối xử với chúng tôi ân tình thế nào thì chúng tôi cũng đối xử với chúng nó như thế.

Hướng Lào Ngam phía Bản Soan được bàn giao cho K15.

Toàn bộ D tôi rút về để chuẩn bị sang hướng Nam đường 23.

Mùa mưa chốt chặn là chính.

Mỗi hướng thường chỉ có 1 C đứng chân phía trước, còn các C khác cùi cõng để tiếp tế.

Sau một tháng lại đổi nhau trong cùng tiểu đoàn.

Chúng tôi xác định công việc trong vài tháng tới sẽ chủ yếu làm công tác vận tải.

Xe ô-tô của mặt trận chỉ chở hàng cho chúng tôi vào đến khu hậu cứ trung đoàn, sau đó chúng tôi phải tự cùi cõng về đơn vị.

Hậu cứ đơn vị nào xa nhất thì cũng chỉ cách kho trung đoàn độ năm sáu tiếng.

Nhưng từ đó ra đến phía trước lại vài tiếng đi đường nữa.

Vì thế các D phía sau ngoài việc cùi cõng cho mình còn phải làm vận tải trung chuyển cho D ở tuyến trước.

Một lần hứng lên, trung đoàn cho một cái xe "Giải phóng" chở đạn đến tận vùng hậu cứ D tôi để lính tráng đỡ cùi cõng một ngày đường.

Xe ô-tô cứ dựa vào đường xe bò mà đi qua các bản.

Không may cái bản Xăm-xi-nuc "may" gần hậu cứ D tôi là con đường cụt, đường do dân mở chưa hẳn thành đường xe bò nên đến cách D tôi chừng cây số thì cái ô-tô bị sa xuống suối đất.

Càng rú ga càng lún, bánh xe quay tròn phá rộng cả một bên bờ suối.

Đến lúc bị lầy gần kín bánh thì cái xe chịu thua.

Ba đại đội trong K18 chúng tôi được huy động quân ra kéo xe.

Hơn một trăm con người do D phó Khanh chỉ huy bắt đầu cứu xe từ sau bữa cơm trưa.

Chúng tôi phải bốc chuyển đạn lên xa bờ, sau đó kiếm dây rừng bện lại thành thừng buộc vào xe để kéo.

Không khí chả kém gì quân ta kéo pháo vào Điện Biện năm xưa, có khi còn khí thế hơn vì chúng tôi phải hò dô ta vang cả một vùng rừng.

Có điều là kinh nghiệm kém nên có vẻ như càng kéo cái xe càng bị lầy hơn, đến giữa chiều mà nó vẫn nằm im.

Không biết ai dân vận ở đâu mà sau đó mượn được một con voi của dân bản.

Lúc đầu lính tráng ngồi trên bờ xem người dân chỉ huy con voi kéo xe.

Nhưng thật tội nghiệp cho chú voi vì cái xe bị lầy chắc chắn nặng gấp mấy lần nó.

Nó rướn người kéo cong cả vòi, rống lên ồ ồ như gọi thêm bầy đàn giúp sức mà cái xe chỉ hơi rung rinh.

Tin chắc một mình con voi không thể thay thế hơn trăm thằng lính "sốt rừng" chúng tôi nên cuối cùng D phó Khanh quyết định hợp lực.

Thế là lại phải cho người về hậu cứ lấy xẻng ra bạt lại đường cho đỡ dốc, rồi vừa voi vừa người cùng bâu vào kéo.

Lại phải cử chục thằng vác các khúc gỗ chèn dần vào bánh xe.

Cuối cùng thì ta nhất định thắng, cách mạng bao giờ cũng thành công.

Trời vừa tối không nhìn rõ mặt người thì cái ô tô đã nằm ngon lành trên đường.

Tay lái xe nổ máy cho xe ô-tô cút thẳng về trung đoàn.

Chẳng biết con voi được dắt đi lúc nào và có được bồi dưỡng cái gì cho lại sức không.

Còn chúng tôi thì lại phải chia nhau số đạn bốc ra từ ô-tô để mang đến nhập vào kho trung chuyển, làm nốt nhiệm vụ mà cái xe ô-tô bỏ lại.

Chúng tôi về đến nhà vào lúc gần nửa đêm.

Thằng nào cũng bẩn bê bết bùn đất.

Ăn suất cơm tối xong là về lán lăn ra ngủ, bẩn cũng chưa chết ngay đâu mà phải sợ.

Hôm sau tất cả được nghỉ một buổi sáng.

Nghĩ lại chuyện hôm qua mà rùngmình.

Nếu như bọn thám báo nó mò ra chúng tôi lúc ấy, gọi B52 hoặc T28 đến némbom, chắc D tôi xóa sổ.

Thầm mong cái chuyện vận tải cùi cõng ra tuyến trước,thôi từ nay cứ để đấy cho sức lính chúng tôi.

Chúng tôi như những con kiến thalâu cũng đầy tổ, bày đặt cái chuyện vận tải ô-tô mà không tổ chức tốt, thì"hiện đại" đúng là "hại điện".

Cầu được, ước thấy, từ đó vềsau không còn có chuyện ô-tô chở hàng vào đến vùng hậu cứ chúng tôi nữa.

Ở hậu cứ ít ngày, bên cạnh việc cùi cõng đạn gạo, ngày nào đại đội cũng phải cử người đi "cải thiện".

Thường là một tốp 3 người do 1 lính cũ đã khá thông thạo địa hình vùng này dẫn đi.

Mỗi người chỉ mang theo 1 khẩu AK có 1 băng đạn và 1 quả lựu đạn cho nhẹ.

Để giữ gìn ba-lô, lính tráng chúng tôi ai cũng sắm cho mình một cái "gùi" chuyên dùng cho việc đi cải thiện hay cùi gạo, đạn.

"Gùi" là một cái bao to như kiểu bao tải gạo, làm bằng vải Pông-xô lấy của địch (loại vải này không thấm nước, rất bền, dai).

Lính tự khâu theo ý của mình cho vừa chiều ngang khổ người, nhưng phải đủ đựng được khoảng 35-40 kg gạo.

Quai "gùi" được cắt ra từ quai ba-lô của địch.

Lính mới vào thì mượn của lính cũ, sau đó nhờ lính cũ kiếm cho.

Thứ này ở các căn cứ cũ của địch bị ta chiếm có nhiều.

Chịu khó bới trong hầm, đem về giặt là xong.

Nhiều khi chỉ cần xin lính cũ vì mỗi khi có dịp đi cải thiện gần căn cứ cũ của địch là nhiều anh lấy về làm mái che mưa cho lán.

Thích nhất là đi cải thiện ở mạn đường 23.

Nơi đó có rất nhiều bản cũ của dân, vườn tược cây cối bỏ hoang vì dân đã chạy từ lâu.

Pắc-Soòng là thị trấn thì không nói làm gì, nhưng suốt dọc đường từ đó vào đến Bãi Đá dài 25 cây số thì có không biết bao nhiêu là bản cùng các căn cứ cũ của địch.

Khi đó các căn nhà sàn của dân hầu như đều bị làm thịt.

Dân Lào thì ra gỡ về để dựng nhà ở các bản "may", còn lính trung đoàn thì lấy về làm nhà thùng cho E bộ cho nó hoành tráng.

Nhà sàn ở đây rất to, gỗ tốt nhưng mái lợp thì lại chủ yếu là tôn múi.

Ngoài E bộ ra thì ở các D bộ cũng gỡ về một ít phục vụ nhà hầm chỉ huy.

Chỉ có các C thì không dùng vì cũng chẳng cần đến thế.

Hơn nữa lính đi cải thiện lấy đồ ăn là chính, còn sức đâu mà vác thêm tấm tôn về cho C bộ.

Chỉ có ở tiểu đoàn bộ, bọn trinh sát hay thông tin đi địa hình lúc về tay không kết hợp vác tôn mà thôi.

Bản nào ở đường 23 cũng có vườn.

Bị bỏ hoang thì cây còi đi một chút, nhưng mùa mưa đến thì nó lại được dịp phát triển.

Những thứ lấy về cải thiện chủ yếu là mít, chuối, đu đủ, măng và dứa dùng để nấu lên làm thức ăn.

Còn các loại hoa quả khác như bưởi, chanh, lê, đào, xoài, táo... thì chỉ lấy ăn chơi và mang kết hợp về cho anh em trong A nhấm nháp buổi tối thôi.

Dạo đó chúng tôi ăn gạo nếp, tiêu chuẩn 4 lạng, rồi 3 lạng một ngày nên đói lắm.

Được đi cải thiện ra mạn đường 23 là chén thật lực các loại hoa quả vớ được.

Kể ra đây thì nhiều loại như thế, nhưng vì đại đội nào cũng cử quân đi, mà lính thì thằng nào cũng giỏi sục sạo, ăn mãi đến rừng cũng phải cạn nên dần dần muốn có cái gì đó cũng phải chịu khó tìm kiếm.

Đôi khi phát hiện được vườn hoang nào đó mà ẩn khuất thì phải đánh dấu, giữ kín và xin đi cải thiện liên tục để khai thác.

Vùng cao nguyên này có 3 thứ quả gây ấn tượng mạnh trong tôi.

Thứ nhất là đu đủ.

Có một vườn cây mà các anh C tôi phát hiện được ở tít mãi bên Nam đường ngang với bản 40 (Dọc đường 23 không thể phân biệt rõ từng bản, chúng tôi gọi các cụm nhà dân theo cột cây số).

Cây đu đủ ở đó to và sai quả vô cùng.

Một lần 3 anh trong C tôi đi lấy mà không thể xếp vào cùi cho gọn được, đành chặt gậy làm đòn để gánh.

Vai khoác AK, mỗi anh chỉ đủ sức gánh nổi 6 quả vì nó to quá.

Số đu đủ ấy đại đội sào ăn đủ 3 ngày.

Loại quả thứ hai là chuối.

Cả vùng cao nguyên Bô-lô-ven chỉ có mỗi một giống chuối tây, không hề có chuối tiêu.

Dân họ trồng nhiều như rừng, suốt hai bên đường xe bò hoặc lan từ vùng nương này đến vùng nương khác.

Muốn lấy chuối không phải xin.

Có thể lấy chuối xanh để xào hoặc lấy bắp-bi, thậm chí mới chỉ là bắp-bi của cây chuối có chửa mới nhô ở ngọn cũng được, không hề gì vì nó rất nhiều.

Còn chuối chín cây hay chuối già lấy về dấm ăn dần, xin cứ tự nhiên.

Có điều nên thực hiện một quy ước nhỏ thế này: Thấy cây chuối ra buồng mà quả đã già thì chặt đổ hộ cây chuối đó xuống.

Không muốn lấy quả mà cứ để đó cho quả tự chín cũng được, để cho nó tự thối hoặc lợn rừng hay thú rừng khác vào ăn.

Mục đích chặt đổ cây chuối chỉ đơn giản là để thân cây đó chóng thối, mau lấy chỗ cho chồi cây đẻ mới có chỗ mọc.

Chuối tây nhiều chỗ quả rất to, nhất là ở rìa nương.

Có một lần chúng tôi khiêng một buồng già về hậu cứ, tới khi chuối chín đố nhau ăn mà kẻ đạt danh hiệu vô địch cũng chỉ cố nuốt được 4 quả.

Loại quả thứ ba là dưa chuột.

Đúng là giống dưa chuột chứ không thể nhầm là loại dưa nào khác như dưa bở, dưa gang hay dưa hấu, vì nhìn vỏ và ruột nó biết ngay.

Nhưng tính từ "chuột" gắn với tên dưa không còn đúng, vì những con chuột cống trong các cống ngầm ở thành phố cũng phải gọi kích thước các quả dưa chuột ở đây là cụ.

Dưa chuột gì mà quả nào quả nấy đều dài và to như bắp chân.

Chúng nằm trên nương nần nẫn và lăn lóc như đám lợn con.

Dọc đường 23 còn có nhiều vườn mía và chè.

Ở đây người dân trồng nhiều loại mía tím gióng ngắn, thân to và giòn như mía Tuy Hòa, ăn rất ngọt.

Loại này khi bị bỏ hoang thì thoái hóa nhanh chóng.

Còn một loại thứ hai là mía trắng vàng gióng dài thân nhỏ chỉ bằng nửa cổ tay, trồng thành bãi rộng hàng hec-ta.

Những bãi mía này tuy không chăm sóc mấy nhưng mọc rất khỏe, chuyên dùng cho voi ăn.

Người ta cứ chặt từng vác đem ra cho voi chén.

Chúng tôi rất thích những bãi mía này, chui vào tít trong chén đến chảy máu lưỡi mới chui ra.

Công bằng mà nói, khi đói ăn mía dễ hơn ăn chuối.

Có thể không có cơm mà vẫn tồn tại được trong bãi mía cả tuần, nhưng nếu lạc vào vườn chuối chắc không trụ nổi ba ngày.

Tất cả cái nguồn sản vật của dân dọc đường 23 để lại hấp dẫn như thế, nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng đến được vì đường xa quá.

Những chỗ gần cách ba bốn giờ đi đường thì cạn dần thứ lấy được.

Chỗ xa hơn thì không kịp về trong ngày vì còn phải sục xạo nữa.

Mà cái việc lọ mọ tìm của ăn được mất nhiều thời gian lắm, đâu phải cứ tới nơi là lấy được ngay.

Vì thế nhiều khi chúng tôi phải tìm đến các nương gần đó của dân để xin các thứ họ trồng.

Mùa mưa, thứ sẵn và nhiều nhất là dưa chuột.

Từ hậu cứ chỉ đi độ dưới một tiếng là đến nương có dưa.

Dân Lào trồng dưa không phải chỉ để ăn.

Họ vãi hạt trồng dưa đầy trong nương lúa mục đích để dưa mọc kín không có chỗ cho cỏ mọc.

Đặc biệt lắm mới có một vài nơi người ta vãi hạt cải xanh hay hạt cây bí ngô.

Những thứ đó chỉ cần xin dân một lần rồi tự nhiên lấy mãi.

Cải xanh và bí ngô mà lính càn lần nào là tan hoang lần đó.

Chỉ dưa chuột là gần như vô biên.

Nhưng dưa chuột đem về thái ra xào ăn không hấp dẫn lắm, chẳng qua ăn cho có chất rau.

Mà ngay cả mọi thứ thức ăn khác cũng vậy vì thực ra cơm nếp (nấu cơm chứ không ai hơi đâu mà đồ xôi) đâu có cần ăn cùng thức ăn.

Ngoài dưachuột ra thì củ kiệu cũng có sẵn.

Dân Lào trồng kiệu để ăn, nhưng họ trồngnhiều lắm.

Có khi cả một quả đồi bát ngát trồng toàn kiệu.

Cây kiệu đẻ nhánhnhư hành, nhưng phát triển nhanh hơn.

Búi kiệu lúc mới trồng chỉ to bằng miệngbát, thế mà về sau nó to thành đám đường kính đến gần hai gang tay.

Dân họ bảo,bộ đội Việt nên lấy từng nửa búi một thôi để cho kiệu nó còn mọc tiếp, nhưnglính mình nhiều khi ẩu lắm.

Đáng lẽ lấy dao găm xén ra một nửa thì lại bậy cảbúi lên cho nhanh vì chỉ dăm sáu búi là đầy chặt gùi.

Nhưng phải cám ơn và thừanhận là dân Lào họ hiền và cần cù nhẫn nại lắm.

Nhờ có các bản dân mà cuộc sốngcủa chúng tôi đỡ cực rất nhiều so với các chiến trường khác.

Sau này khi về miềnNam, quen cái kiểu tàn phá như bên Lào, không ít lính trong E tôi bị người dântộc bắn chết hoặc gài lựu đạn gây thương vong khi mò vào các nương của dân địnhkiếm chác.

Nhưng đó là chuyện về sau...

Ma cũ bắt nạt ma mới.

Chuyện đó ở đâu cũng có, chẳng bao giờ thoát được.

Những ngày đi cải thiện cùng lính cũ, vì phải tiếp xúc dân nên hai đợt lính Hà Nội và Nam Hà vừa vào được lính cũ dạy tiếng Lào.

Mục đích học ban đầu chỉ đơn giản là để chào rồi xin các thứ rau cỏ.

Các nhu cầu khác xét sau.

Mấy bố lính cũ mà điển hình là quản lý và y tá người Hà Bắc trong C tôi bắt đầu nghĩ chuyện tai quái.

Họ giả vờ ân cần rồi dạy từ bậy bạ cho bọn tôi.

Ghi chép ra giấy để luyện học hẳn hoi nhé.

Nhưng bọn lính Hà Nội cũng không phải gà mờ.

Học được câu nào với người này, chúng tôi áp dụng ngay với người khác trong C, sau đó là hỏi nhiều người một cách độc lập.

Những câu bậy bạ không được thống nhất, mỗi người giải đáp một cách nên chúng tôi phát hiện ra ngay.

Thằng Thái "Pi tơ" còn láu cá hơn.

Một lần đi cải thiện, nó lủi ra nương làm một giấc ngon lành.

Chiều về tay không, nó trả lời đại đội là theo như các anh dạy nó đã nói như thế, như thế... nhưng dân họ đuổi đi không cho.

Đại đội nghe biết đúng là bậy bạ thật nên chẳng làm gì được nó.

Cuối cùng CTV phó C tôi là người Tày phải họp tuyên bố chấm dứt bậy bạ và cử người dạy có trách nhiệm cho chúng tôi tiếng Lào.

Sau này các đợt tân binh khác vào cũng chỉ có một vài lính cũ nói chuyện bậy bạ được vài câu lẻ tẻ rồi dần dần tịt hẳn.

Cùng cái đợt tân binh Nam Hà bổ sung, một lần toàn C tôi báo động hành quân chiến đấu rồi kéo nhau ra rìa một cái nương của dân.

Tất cả lính tráng cũ mới đều được lệnh trải ni-lon rồi xếp toàn bộ quân tư trang ra đấy.

Có cả một cán bộ D xuống kiểm tra.

Họ ghi chép vào sổ tay cẩn thận, xác định mỗi lính chúng tôi có gì để sau này quản lý việc thực hiện chính sách chiến lợi phẩm cho tiện.

Chỉ ghi quân tư trang cá nhân thôi.

Nói chung là chúng tôi đều không có gì.

Chỉ còn vài người có sổ tay để ghi chép nhật ký hay ghi linh tinh việc cá nhân.

Thế mà họ cũng mở ra xem chúng tôi ghi cái gì.

Nhưng có một trường hợp là thằng Thái "Pi tơ" có một cái nhẫn vàng hai chỉ.

Vì chúng tôi cũng đã qua đôi ba trận đánh rồi nên các thủ trưởng nghi vấn, định tạm thu.

Mấy thằng lính Hà Nội chúng tôi phản đối và xác nhận cho nó, đây là cái nhẫn mẹ nó cho lúc đi chiến trường.

Nhà nó chỉ còn có mẹ và em gái, nhà làm nghề thủ công, chả dư dật gì, thế mà không hiểu sao nó vẫn cầm của mẹ nó mang đi.

Các thủ trưởng cũng chưa tin đâu, nhưng may quá nó lôi ra được một mảnh giấy của C phó Hảo (cán bộ huấn luyện dẫn quân vào chiến trường) có ghi xác nhận cho nó khi đi chiến trường có mang theo một cái nhẫn hai chỉ.

Chả có dấu má gì, nhưng dù sao cũng có sức thuyết phục ít nhiều.

Thế là tài sản đó được ghi nhận.

Về sau mỗi khi có đợt tân binh vào, trước khi chia quân các thủ trưởng đều bắt khai tài sản quý, nhưng chả ma nào có.

Trường hợp của thằng Thái "Pi tơ" cũng chỉ có một và tôi biết chắc rằng cái nhẫn đó chính là nó mang đi từ miền Bắc.

Trong chiến trường chúng tôi không bao giờ được biết đến tiền phụ cấp.

Nhưng hậu cần E và D vẫn được mặt trận phát cho tiền Kip của Lào để mua thực phẩm bổ sung cho lính.

Ngoài gạo muối là thứ bắt buộc phải cấp ra, thứ khác phải lo tại chỗ.

Rau cỏ cải thiện thì tự kiếm loanh quanh.

Còn thịt thì từ cấp tiểu đoàn có tổ chức các nhóm công tác đi về các vùng dân phía sau để mua lợn.

Bọn đi mua lợn này gần như là chuyên nghiệp quanh năm.

Một nhóm 4 hay 5 người đi mấy ngày đường về vùng dân, có khi xuống tận gần đường 13.

Lùng mua được hơn chục con lợn thì dong về như các mục đồng chăn ngựa sống trên thảo nguyên.

Về đến đơn vị nghỉ vài ngày rồi lại đi mua đợt khác.

Chẳng hiểu duyên cớ gì mà hai thằng lính Hà Nội trong C tôi là thằng Sưởng và thằng Thái "Pi tơ" đều được gọi lên tiểu đoàn để xung vào đội quân đi mua lợn do anh Choát chỉ huy.

Chúng nó xa rời cảnh đánh nhau và cùi cõng của đơn vị.

Đi mua lợn thì tác phong lúc nào cũng chỉ túc tắc và lững thững như lợn đi vậy thôi.

Chúng nó luôn gần dân và thuộc loại đi công tác lẻ, tự do nên sinh hoạt rất đầy đủ, không gặp cảnh lúc nào cũng thèm ăn như anh em trong đơn vị.

Cũng có cái hay là đôi khi chúng tôi cũng nhờ vả được tí chút.

Trong đơn vị chúng tôi có quy định cấm lấy quân trang của địch.

Thế nhưng dân Lào ở các vùng tự do rất thích quần áo và mũ của địch, vì nó đẹp và bền.

Vậy là khi đánh trận, chúng tôi lén lấy những thứ đó nếu thấy nó còn mới và đem giấu đi.

Sau đó gửi bọn đi mua lợn đem ra vùng dân đổi hàng.

Cũng chả được bao nhiêu đâu.

Một cái mũ vải dù hoa đổi được một cái bật lửa gần giống như bật lửa Trung Quốc và 5 viên đá lửa.

Một cái quần hoặc áo trông còn mới thì đổi được 3 bao thuốc lá đầu lọc nhãn "Tô A".

Vậy thôi, nhưng vẫn khoái lắm.

Cuối tháng sáu năm 1972, tiểu đoàn chúng tôi nhận lệnh chuyển sang hướng Nam đường 23.

Như vậy là K15 ở hướng đường 231 khu bản Soan, còn K16 vẫn ở tuyến sau.

Các C trực thuộc thì đi phối hợp xen vào các D bộ binh, chủ yếu là C hỏa lực và C công binh.

Mùa mưa này nước huội Chăm pi lúc nào cũng đầy.

Vì sang Nam đường bắt buộc phải qua Huội, địa bàn rộng nên công binh đi dọc suối tìm chỗ có cây to.

Họ hạ cây to đổ ngang suối rồi đẽo bớt cành để làm cầu.

Có hai ba lối đi sang như thế.

Cây gỗ tuy to nhưng vì thân tròn nên đi qua cũng khá trơn và chênh vênh vì chẳng có tay vịn.

Về sau công binh phải dùng dao băm vào thân cây thành khía cho thêm ma sát.

Cả C tôi sang hẳn bên Nam đường và luồn vào khá sâu.

Có lẽ nơi nào gần đường thì mới có nhiều bản dân hoặc nhiều căn cứ địch.

Những chỗ thuộc vùng sâu núi non hiểm trở, rừng già nhiều cây cổ thụ thì chỉ có ý nghĩa làm nơi trú quân cho quân ta là chính.

Mạn Nam đường cũng có những con suối to.

Lần này B4 phải đi sâu hơn qua một con suối, còn hai B chúng tôi nằm bên ngoài hướng ra phía đường 23.

B4 làm chốt trên đồi bên kia, có cả anh nuôi ở chung hàng ngày lo cơm nước.

Mấy ngày đầu có vẻ ngon lành, nhưng sau đó thì mưa tầm tã, nước suối dâng cao như lũ, B4 bị cách li.

Thấy nước suối có vẻ cứ đầy lên không chịu rút, mà đường sang ở đoạn này thì khó hơn cả bên huội Chăm pi phía bản Soan, lại không có công binh hỗ trợ nên đại đội rất lo.

Nếu địch phía bên đó sục vào đánh nhau với B4 thì không biết chi viện thế nào.

Mà hết gạo ăn cũng gay chứ không phải chuyện chơi.

Đến một ngày trời tạnh, thấy bên đó nổ súng đì đùng.

Rồi bẵng đi rất lâu lại có tiếng B40.

Cuối cùng thì tất cả câm tịt, mà lạ là cũng chẳng có bom pháo.

Đại đội đoán B4 đụng thám báo, chắc tiêu diệt gọn cả lũ ấy rồi.

Hai bên vẫn không liên lạc được với nhau, mà trời lại tiếp tục đổ mưa.

Hơn một tuần như thế, không hiểu B4 ăn bằng cái gì, liệu có củ gì mà đào không.

Có người đoán già đoán non là B4 đi sâu tiếp vào rất xa, gặp một cái bản nào đó và nương tựa vào dân.

Chúng tôi liên lạc về tiểu đoàn nhờ chi viện, cuối cùng thì cũng sangđược với B4.

Hóa ra các anh ấy chẳng hề đi đâu cả, vẫn trụ lại trên ngọn đồivới hầm hố đầy đủ, chả ai sứt sẹo gì.

B trưởng Tuyền nhe răng cười bảo, chúngmày liên lạc chậm quá, sao không mò sang sớm.

Hóa ra cái hôm có tiếng súng là ởbên ấy không hiểu sao có một chiếc trực thăng của địch mò tới.

Nó bị trục trặclàm sao mà sa vào cả ngọn cây rồi rơi xuống đất.

Anh nuôi Đức người Nam Hà ởgần đó vác AK mò tới, bắn chết được cả 3 thằng trong máy bay.

B trưởng Tuyềncho quân ra chi viện, mò vào máy bay thấy mấy thùng hàng mở ra toàn đồ hộp.

Anhấy cho lính khuân về sạch rồi cho B40 bắn cháy máy bay, đề phòng trong đó cómáy phát gọi được máy bay khác chi viện thì gay cả lũ.

Hết gạo, không liên lạcđược với đại đội, anh ấy cho lính ăn đồ hộp trừ cơm.

Toàn là hộp cá tròn 2lạng, chế biến giống như cá sốt cà chua.

Bữa đầu ăn rất ngon, thả phanh mỗilính 3 hộp ăn vã.

Sau đó là lên kế hoạch để còn dùng lâu dài.

Không ngờ đồ ăndù ngon đến mấy mà ăn mãi thì cũng chán, nhất là không có cơm nên rất xót ruột.Về sau chả còn ai háo hức, anh Tuyền cho ăn tự do, tùy thích.

Cuối cùng thì đếnđoạn cứ nhìn hộp cá mà ngán, dù là đói.

Lúc chúng tôi sang thì chỉ còn độ hơnhai chục hộp.

Đại đội đem chia đều cho 2 B còn lại ăn tươi một bữa.

Hôm ấy đốivới 2 B chúng tôi thì gần như ngày hội.

Đun cá hộp nóng rồi ăn với cơm nếp chảra cái kiểu gì cả nhưng sao ngon thế.

Mọi thứ sạch như chùi.

B4 không ai độngvào cá, chỉ ăn cơm nếp thôi.

Vậy mà sau vụ đó nhiều anh trong B4 bị dị ứng vớicá hộp, thậm chí là với cá.

Có người chỉ nghe "cá" đã lợm hết cả cổ.Thậm chí đến năm 1975 đánh Đồng Dù lấy được đồ hộp ê chề, nhưng chỉ có thịt hộphấp dẫn, còn cá hộp thì thờ ơ.

Thật là no dồn đói góp.

Thời gian chúng tôi ở Nam đường 23 cũng khá dài.

Các B cứ thay nhau lên chốt.

Không đánh nhau nên cái chốt không bị lộ, vì thế nó cứ tồn tại mãi.

Nhưng như thế hóa ra phí cả một đại đội ở phía trước nằm chơi và hai đại đội phía sau phải cùi cõng tiếp tế.

Tiểu đoàn cho chúng tôi tổ chức luồn sâu, vòng hẳn vào phía sau lưng địch.

Tất nhiên không phải là vòng để bao vây, vì lực lượng địch hơn chúng tôi nhiều lắm.

Nếu lộ, có khi chính chúng nó bao vây làm thịt chúng tôi ấy chứ.

Chúng tôi luồn sâu nhưng phải bí mật.

Sau đó cùng trinh sát tiểu đoàn (C tôi được tăng cường một tổ) bám địch, xem có bọn nào đóng lẻ chừng độ một B thì lên phương án tập kích chúng nó.

Theo thiển nghĩ của tôi thì thực chất là quấy nhiễu.

Nơi tập kích phải cách chỗ chúng tôi ém quân chừng 3 cây số để tạo thế an toàn.

Đầu tiên là trinh sát D đi tìm và bám địch, sau đó cùng cán bộ B, C trinh sát lại và bàn giao vị trí địch.

Phần cuối cùng là đại đội tôi tự tổ chức một nhóm, thường là gồm 2 M79, 3 B40 và 3 AK mò đến đó từ lúc nhập nhoạng tối và chiếm lĩnh vị trí.

Chừng độ 9, 10 giờ đêm thì khai hỏa.

B40 cấp tập vào đó mỗi khẩu hai quả, còn M79 thì mỗi khẩu câu vào chừng 5, 6 trái.

Bọn địch bị bất ngờ còn đang lộn xộn chưa kịp phản ứng thì chúng tôi rút lẹ.

Thời gian mỗi lần như thế có khi chỉ độ hơn một phút.

Nếu chúng có bắn ra thì cũng chỉ là hú họa, thậm chí có lần chẳng bắn trả được phát nào.

Các tay súng AK không bắn vì tác dụng không bao nhiêu, mà mục đích đi cùng chỉ là để bảo vệ.

Tập kích xong chúng tôi cũng phải rút thật nhanh vì sợ pháo.

Trung bình mỗi tuần tập kích độ 2 lần ở các nơi khác nhau.

Kết quả địch có bị thương vong thế nào chủ yếu nhờ cấp trên nghe đài kỹ thuật báo lại.

Tập kích kiểu này không bao giờ chúng tôi được tính thành tích vì không thu được súng.

Cấp trên quy định báo công theo số súng thu được.

Không hiểu sao cái trò này lại làm tôi háo hức.

Tôi xin được đi cùng để bắn thử B40 và M79.

Có một cái vẻ gì đó giống như chơi đánh trận giả ở nhà.

Mùa mưa hiếm có ngày nắng, nhưng không phải là không có.

Thi thoảng vẫn có đêm nằm bìa rừng nhìn thấy bầu trời có sao.

Những ngôi sao lờ mờ không nhiều lắm và có vẻ xa tít tắp chứ không rạng rỡ như đêm mùa khô, khi đó sao sáng và nhiều tới mức tưởng có thể vươn tay được lên bầu trời mà nắm lấy.

Thường người ta hay có cảm giác nhớ nhà nếu như được nhìn thấy một khung cảnh nào đó giống như lúc còn ở nhà.

Giữa núi rừng sâu thẳm này thì khung cảnh duy nhất có thể gợi nhớ nhà chính là bầu trời đêm.

Rất có thể lúc này đây, bản thân mình và cha mẹ, anh chị em ở nhà đang cùng ngắm một ngôi sao.

Cái cảm giác ấy làm cho lòng ấm lên, thấy gần hậu phương hơn.

Trải tấm nilon ra nằm cho đỡ ướt, ngắt một ngọn cỏ nhấm nháp và ngắm trời đêm trong khung cảnh thật bình yên.

Tôi đã bắt đầu biết hút thuốc lá.

Độ trước đi qua gần bản Xăm-xi-nuc "may" thấy có nương thuốc lá của dân trồng rất nhiều, cây cao to và xanh um.

Có rất nhiều cái sự khác lạ ở đây để so sánh với ở nhà.

Ví dụ như ở đây không hề có hành mà chỉ có kiệu.

Còn thuốc hút thì cũng chỉ có thuốc lá (rất nhiều) mà không hề có thuốc lào.

Các anh lính cũ hướng dẫn cho cách ngắt lá thuốc.

Nhằm lá già gần gốc mà vặt, mỗi người làm một ôm to, cứ như của nhà mình chẳng xin xỏ gì vì thực ra cũng không mấy khi gặp dân ngoài nương.

Đem về hậu cứ lấy dao thái nhỏ ra rồi bắc một tấm tôn lên bếp mà sao cho khô.

Khi thuốc đã khô và nguội thì cho vào một cái túi khâu bằng vải dù, cất ba-lô.

Lại có một cái túi con khác để bốc bỏ vào đấy một nắm đem theo bên người để hút.

Tùy từng nơi mà thuốc lá có thể nặng nhẹ khác nhau chút ít.

Nếu muốn thơm và nhẹ thì pha tí nước đường rồi vẩy vào sợi thuốc.

Thuốc lá loại này không có mùi thơm bay xa nên không ngại.

Vì thế ngồi chốt hay luồn sâu đều có thể hút.

Toàn quấn thuốc kiểu sâu kèn thôi.

Một vài lần nằm chơi ngắm trời sao và hút thuốc, có cả cán bộ B, C cùng tán chuyện.

Cách xa địch hàng vài cây số, lại ở bí mật nên cũng hơi tự do.

Chuyện lính thì đủ các thứ trên trời dưới biển.

Chuyện thường của người này nhiều khi là điều lạ và thích thú với người kia.

Đã là lính thì ai cũng biết rằng đối với lính chuyện nhiều nhất và lặp đi lặp lại không chán là chuyện ăn và chuyện tán bậy.

Nhưng nhiều khi những chuyện khác cũng thu hút người nghe không kém.

Trong C tôi lúc đó có khoảng 4 người đã học hết lớp 10 phổ thông nên đôi khi cũng đem những chuyện khoa học ra nói.

Nhìn trời đêm, tôi thường hay kể về vũ trụ và các vì sao.

Những chuyện ở nhà tôi đọc về Ga-li-lê, về Nicolai Copecnich...được đem ra kể.

Nào là quan niệm vũ trụ và trái đất, về những dải Ngân hà, những Hệ Mặt trời, những ngôi sao và hành tinh...

Khi từ những cái bao la như thế trở về thực tại thì thấy trái đất và con người bé nhỏ quá.

Câu chuyện qua đi, đến lúc vào ca gác, ôm khẩu AK trong tay thì lại thấy mình không còn bé nhỏ nữa.

Nhiều lần nói chuyện chơi như thế, tôi đã lọt vào tầm ngắm của Đạitrưởng Kim Băng, một người nông dân ở tỉnh Nam Định khoác áo lính, mới học chưaxong lớp bảy.

Anh ấy thích thú với cái tri thức mà thời tuổi trẻ anh ấy khôngcó điều kiện tiếp cận.

Thêm nữa là cũng có chút cảm tình với tôi qua cái trậnchốt bản Soan (trận đầu tiên trong đời lính của tôi), tôi đã không phụ lòngmong đợi cho cái ý định "thử mấy thằng đoàn viên Hà Nội xem đánh đấm thếnào" của anh ấy.

Thế là giữa tháng bảy, tôi chia tay anh Trịnh để lên C bộlàm liên lạc cho anh Băng.

Ai cũng hiểu liên lạc là phải làm nhiệm vụ truyềnđạt mệnh lệnh liên tục từ BCH đại đội đến các B và các A độc lập trong chiếnđấu, trong hành quân cũng như khi đóng quân tại chỗ.

Cần phải nhớ đường, tậpquan sát các vị trí và luôn bám theo thủ trưởng.

Việc đầu tiên đại trưởng Băngdạy cho tôi là cách xem và sử dụng bản đồ, địa bàn.

Học kiểu truyền tay thôi,nhớ theo quy ước là chính chứ không có giải thích.

Địa bàn thì đơn giản hơn, vìthời học phổ thông chúng tôi cũng đã được dạy để biết cách xem hướng.

Chỉ có chuyện dùng nó kết hợp với bảnđồ để đạp đường thì cần phải có nhiều thời gian, qua thực tế để đúc rút kinhnghiệm.

Đại trưởng Băng cũng dạy tôi cách xem bản đồ.

Những điều cơ bản khôngkhó lắm.

Xem tỉ lệ bản đồ, quy ra cách đo khoảng cách chim bay.

Xem màu sắc,biết địa hình núi đá đất hay cây cối, rừng non, rừng già.

Xem các đường bình độvà độ xít của nó, biết độ dốc các vùng hay biết chỗ không ghi suối mà mùa mưacó thể là suối...

Đặc biệt cách xác định điểm đứng là cơ bản và khó nhất khi dùngbản đồ.

Rồi những thủ thuật và kinh nghiệm đi từ một nơi đến một nơi khác trênbản đồ thì phải xác định thế nào.

Tóm lại không khác gì kiển thức cho một trinhsát.

Tôi rất háo hức nên tiếp thu cũng nhanh, làm đại trưởng Băng rất hài lòng.Tôi còn rất khoái khi anh ấy hỏi tôi lan man sang những kiến thức khác và nhữnglý giải của tôi cũng nghe được, không đến nỗi nào.

Từ khi làm liên lạc cho đại trưởng Băng, tôi ít phải tham gia cùi cõng và gác đêm hơn.

Thay vào đó là đi lại sùng sục suốt ngày theo đại trưởng.

Anh Băng khỏe lắm, đi trong rừng mà cứ phăm phăm như đi giữa bãi trống không người.

Thời gian đầu chỉ riêng cái khoản theo cho kịp anh ấy đã đủ tướt mồ hôi rồi, nói gì đến chuyện ngó ngiêng nhìn đường cho thuộc lối.

Tôi hầu như là chạy chứ không phải đi.

Anh Băng rất chịu khó đi trinh sát địa hình.

Đơn vị chúng tôi, trong 4 cán bộ C thì chỉ có C phó có AK báng gấp, còn lại đều là K54.

Anh Liêu người Thái Nguyên làm liên lạc cùng tôi cũng có AK báng gấp.

Nhưng nói thật thì AK báng gấp tuy gọn, nhưng nặng lắm.

Khẩu AK Tiệp nòng vát của tôi tuy dài nhưng nhẹ hơn nhiều.

Tuy lúc đi đường cứ băng băng, nhưng gần đến khu vực trinh sát thì đại trưởng Băng lại đi rất thận trọng.

Đặc biệt là lúc đó anh ấy không bao giờ cầm bản đồ hay súng ngắn trên tay.

Lúc nào cũng chỉ có mỗi cái địa bàn pháo binh nhỏ gọn.

Khi ấy tôi cũng có địa bàn riêng của anh Trịnh cho (mỗi lần đánh cứ điểm là lính mình tự trang bị dần những món đồ kiểu như thế), nhưng hầu như không dám lấy ra.

Chỉ khi ngồi nghỉ giải lao hay lúc ngồi chờ anh Băng trèo cây quan sát, tôi mới lấy ra xăm xoi xem hướng, học mót nghề trinh sát.

Lính cũ cũng hay có những ngón võ riêng của họ.

Khi đi trinh sát, bao giờ đại trưởng Băng cũng đeo xà-cột xong rồi mới mặc áo ngoài và luôn bỏ áo ngoài quần.

Từ xa mà kẻ địch có dùng ống nhòm nhìn thì cũng không thể thấy cái xà-cột và khẩu súng ngắn của anh ấy.

Quan và lĩnh lẫn lộn.

Lúc đầu tôi cũng ngạc nhiên với cái vẻ ăn mặc luộm thuộm ấy của đại trưởng, khác hẳn lúc ở hậu cứ tắm xong chuẩn bị ăn cơm chiều áo bỏ trong quần, gọn gàng trông rất oách.

Hay là lúc anh ấy đi họp giao ban trên tiểu đoàn về, xà-cột và súng ngắn đeo bên hông đập tanh tách theo nhịp đi (nhất là anh ấy mông lại to nữa) thì trông mê li lắm.

Về sau tôi hỏi anh Trịnh thì được biết dạo trước bên K15 một lần có anh C trưởng đi trinh sát quân phục chỉnh tề, lúc đang leo cây vác ống nhòm quan sát địch thì bị bắn tỉa.

Chắc thằng bắn tỉa của địch nhìn rõ cái xà-cột và bao súng ngắn của anh ấy nên biết anh ấy là sĩ quan.

Đại trưởng Băng sợ lặp lại cảnh ấy nên phòng thân trước.

Một lần khác anh Băng dẫn một trung đội ra gần đường 23 lùng sục.

Đến tối, chúng tôi tạm nghỉ lại cạnh đường, hạ trại nấu cơm ngay dưới ngôi nhà sàn còn sót lại duy nhất của một cái bản bỏ.

Cơm nước xong xuôi thì trời tối, trung đội ấy bố trí người gác và ngủ luôn ở ngay cái nhà sàn ấy.

Tôi cũng định trải ni-lon ra một góc nhà để hai thầy trò ngả lưng, nhưng anh Băng đã xua tay rồi kéo tôi đi.

Chúng tôi vượt hẳn sang bên kia đường, luồn vào một bãi dứa và tìm thấy một cái hầm chữ A của bộ đội ta đào khi trước.

Tôi cầm đèn pin chui vào dọn dẹp một lúc, trải cái ni-lon ra, thế là xong chỗ ngủ đêm.

Hai thầy trò chui vào duỗi chân duỗi tay, quấn thuốc lá hút, rì rầm nhỏ to một lúc rồi đi vào giấc ngủ, chả có gác sách gì cả.

Sáng sớm hôm sau tất cả lại tập trung, cơm nước xong là lên đường làm nhiệm vụ tiếp.

Tôi cứ phân vân là sao đại trưởng Băng lại không cho ngủ ở nhà sàn cho nó thoáng.

Mưa gió không sợ ướt, thám báo cũng không lo vì đã có người gác.

Với lại ở đông người vẫn đỡ lạnh lưng hơn chứ.

Về sau anh Băng cũng giải thích cho tôi là đêm đó không phải sợ thám báo đâu, vì bọn thám báo Lào cũng rát lắm, ít khi dám đi đêm.

Anh ấy phòng xa là địch nó ngẫu nhiên quan sát được rồi đêm câu pháo thì đỡ phải chạy.

Anh ấy bảo là khi đi trinh sát có ít người thì ban đêm cứ chọn tìm nơi nào kín đáo và bất ngờ chui vào ngủ là đảm bảo nhất, không cần gác làm gì.

Anh còn nói thêm chỗ an toàn nhất khi ngủ đêm chính là trong hàng rào địch.

Tuy nhiên phải lo chuồn đi khỏi đó trước khi trời sáng.

Tôi nghe và cố nhập tâm nhưng vẫn thắc mắc mãi một điều không dám nói là đêm hôm ấy nếu đã lo địch bắn pháo ban đêm, sao đại trưởng không cho cả đơn vị rời khỏi nhà sàn mà sang bãi dứa ngủ tất cả có hay hơn không?

Nói thêm về võ riêng của lính cũ.

Trong C tôi, nhiều người bảo anh Quân B trưởng B5 cũ của tôi có giác quan thứ sáu.

Nhiều khi anh ấy phát hiện được địch, nhưng lại không giải thích được cụ thể là thế nào.

Những chuyện cũ thì tôi chỉ nghe nói, nhưng có một lần tôi được chứng kiến.

Đó là lần đơn vị đang ở khu luồn sâu, tôi được anh Băng cho đi cùng B5 về hậu cứ lấy thêm đạn gạo.

Đường về và đi mất trọn hai ngày.

Hôm về hậu cứ thì không có việc gì.

Ở lại hậu cứ một ngày chuẩn bị các thứ xong, ngày thứ ba chúng tôi lên đường quay trở lại đường 23.

Vượt qua đường 23, theo một con đường mòn nhỏ chúng tôi đi hàng một, có dãn cách theo quy định và không nói chuyện, điều này vẫn chỉ là làm theo quy định từ trước thôi.

Anh Quân là người đi đầu chứ không phải lính tráng chúng tôi.

Đang đi khẩn trương, bỗng anh Quân dừng bước và phẩy tay về phía sau.

Chúng tôi ngồi nép luôn xuống hai bên đưởng, tay lăm lăm súng.

Còn anh Quân, anh ấy cứ vươn cổ ra, nghiêng nghé hai bên, nhăn mũi cứ như đánh hơi vậy.

Trong lúc đó, chúng tôi im lặng, hơi căng thẳng nhưng cũng chẳng phát hiện thấy gì.

Một lúc, anh Quân rón rén lùi lại rồi đưa chúng tôi đi quay ngược lại, lùi xa tới hai trăm mét.

Ở trong rừng, khoảng cách ấy là lớn lắm rồi.

Chúng tôi tụm lại hội ý.

Anh ấy bảo phía trước nhất định có địch phục kích.

Chúng tôi có thể đạp đường vòng đi tránh đoạn phía trước thì vẫn có thể về được chỗ đơn vị đang trú quân.

Thế nhưng anh Quân nheo mắt cười hóm hỉnh: "Mẹ cái bọn này chứ.

Mình sẽ tìm chỗ phục lại, choảng cho nó một trận cho chúng nó hết nho nhoe".

Thế là Anh Quân nhắm đường đạp vòng hẳn một vòng to vượt qua cái chỗ nghi có địch ấy.

Chúng tôi theo anh vượt qua một con suối nhỏ, hai bên khá dốc và bố trí phục kích ở bờ bên kia.

Cần nói thêm là khi đi hoạt động luồn sâu, chúng tôi đạp đường mới là chính, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải lợi dụng một vài đoạn đường mòn cũ của dân.

Chỗ phục kích này cũng là một đoạn đường mòn cũ, nhưng không phải con đường chúng tôi vẫn đi.

Chờ đợi chán chê, đến cuối chiều mới phát hiện thấy địch.

Đúng là cáibọn định phục kích chúng tôi.

Chúng nó chờ chán quá, lại đã chiều rồi nên rútquân về căn cứ.

Cái bọn tưởng chủ động bây giờ lại hóa ra một lũ chủ quan.Chúng tôi nhìn rõ 7 thằng lội qua suối và tụm lại khá gọn.

Đúng lúc những thằngđi đầu đang gò lưng leo dốc thì anh Quân phảy tay.

Thằng Lễ (Nam Hà) phọt luônmột trái B40.

Chúng tôi cũng bắn như đổ đạn vào đó.

Xét về lực lượng thì chúngtôi còn nhiều người hơn chúng nó.

Cả bảy thằng địch chết dụi tại chỗ, chả bắnnổi phát nào.

Anh Quân hô chúng tôi lấy súng và lột luôn những thứ có thể lấyđược rồi chuồn gấp.

Vốn là về hậu cứ lấy đạn gạo nên chúng tôi đã cùi nặng, bâygiờ lại nặng thêm, nhưng chả ai dám chần chừ.

Tất cả rút vội theo anh Quân.

Nhậpnhoạng tối thì chúng tôi cũng về tới nơi trú quân của đại đội.

Sau vụ đó, anhQuân càng nổi danh hơn với giác quan thứ sáu.

Còn tôi, thú thật là mãi về sau,tôi cũng không hiểu là anh ấy ngửi thấy cái gì mà đoán chắc có địch phục hômđó.

Dù sao, cũng thật là hạnh phúc khi có những người chỉ huy như anh Quân.

Thời gian ở Nam đường 23 xảy ra thật lắm chuyện.

Vui cũng có mà buồn cũng có.

Mùa mưa đang vào độ đỉnh điểm giữa mùa.

Mưa nhiều hơn, kéo dài và liên tục hơn.

Người lúc nào cũng ẩm ẩm.

Đi rừng lúc mưa khó chịu lắm.

Quàng áo mưa thế nào cũng ướt.

Gấp đôi lại mà quàng phía trên thắt lưng thôi, không dám mở to vì sợ đi rừng cây nó cào vào rách hết nilon rồi sau lại không có cái mà dùng. (Tấm nilon của lính mình là tốt nhất.

Bọn địch nó cũng có nilon là tấm vải dù quét nhựa.

Loại này nhẹ mềm nhưng không chống được mưa to.

Còn loại Pông-xô che mưa rất tốt nhưng nặng chình chịch, chả ai muốn dùng).

Phía dưới ướt đã đành, mà đầu và cổ trước sau rồi cũng ướt.

Lính tráng khi đó thằng nào cũng có một cái ví vỏ nilon để đủ các thứ linh tinh.

Cần giữ khô nhất là cái bật lửa và cái túi con đựng thuốc lá.

Chỗ tạm trú quân có đào hầm trên dốc cao, không bị ngập nước, nhưng hầu như chả ai chịu vào nếu không có pháo bắn.

Ban đêm chúng tôi cứ mắc võng sát đó mà nằm.

Chỉ có về đêm mới là thời gian riêng của mình.

Duỗi thẳng chân tay trên võng cho nó đỡ mỏi, hay khoanh tay trước ngực để tự ủ ấm mình mà ngủ.

Mơ gì tùy thích, nhưng nhiều khi đặt lưng lên võng là ngủ như chết.

Sẽ quên đi tất cả nếu nửa đêm không bị thằng khác gọi dậy gác.

Lính Hà Nội chúng tôi vào đây mấy tháng rồi, nhưng hầu như chỉ có trong cùng C gặp được nhau, còn khác C và nhất là khác K thì chịu.

Chẳng biết những thằng ở các C trên Trung đoàn thế nào.

Một lần theo đại trưởng Băng về tuyến sau, tôi gặp bọn hỏa lực trung đoàn.

Trong E tôi có 2 C hỏa lực.

Một C có DKB và cối 120 ly.

C khác có DKZ và 12ly7.

Lần đó tôi gặp thằng Lân "xế lô" ở cối 120 ly.

Chúng nó đi hướng Lào Ngam đường 231 về đến đó thì nhập chung với đường về của chúng tôi.

Đó là một giông đồi rất cao gần huội Chăm Pi.

Thằng Lân cũng chẳng cao to gì hơn tôi, vào C16 hỏa lực được ưu tiên vác cái núm "qui tỳ" của khẩu cối vì nó nhỏ con nhất tiểu đội cối.

Lúc gặp nhau thấy nó lấm lem bùn đất đầy người, chào hỏi mà như mếu.

Hóa ra nó đang đánh vật với cái núm qui tỳ.

Đó chính là cái cục sắt có kim hỏa nằm ở cuối nòng khẩu cối, chỗ gắn với bàn đế.

Cái cục đó tròn như cái cối đá nhỏ, nặng tới ba chục cân chứ không ít.

Vì nó tròn nên rất khó vác.

Dốc huội Chăm pi rất dốc và cao, đường từ huội lên đỉnh dốc phải tạo ngoắt ngoéo chữ chi cho dễ đi.

Vì trời mưa, dốc cao, đường trơn nên thằng Lân bị trượt chân ngã liên tục.

Mỗi lần như thế, cái cục qui tỳ lại lăn vào bụi rậm.

Thế là lại phải hạ ba lô rồi chui vào vần ra.

Cũng phải lên gân lên cốt mới kéo ra được chứ.

Rồi lại đeo ba lô, lại dé chân chèo để bốc nó lên vai.

Có lần thằng Lân "tối kiến" lấy dây dù buộc vào cái mấu (phần cắm vào đế cối) rồi quấn vào người với hy vọng khi ngã cái núm qui tỳ không lăn xa.

Không ngờ ở chỗ dốc quá, khi ngã cái núm qui tỳ vẫn lăn lông lốc, còn sợi dây thì giằng vào cổ thằng Lân thít lại, suýt nữa thành treo cổ nằm ngang.

Mấy thằng khác trong A cối cũng nặng nhọc không kém vì phải khiêng đế và nòng cối còn cồng kềnh và nặng hơn, nên chẳng giúp được gì cho thằng Lân.

Gặp nó trong cảnh đấy, tôi cũng xáp vào cùng nó hì hục vần cái núm qui tỳ cho đến khi lên được tận đỉnh dốc.

Người tôi cũng bê bết đất, mệt rã rời.

Dạo trước lúc mới chia quân đôi khi thắc mắc là tại sao, tiêu chuẩn nào mà bọn thằng Lân, thằng Khiêm được bổ sung vào hỏa lực (luôn ở phía sau, sướng thế), còn mình lại vào bộ binh ở tuyến trước, gần hơn với cái chết.

Sau vụ gặp và giúp thằng Lân vần cái núm qui tỳ lên dốc huội Chăm pi, tôi dẹp ngay cái suy nghĩ ấy.

Sống chết có số.

Nếu phải chết thì chết ở tuyến đầu sướng hơn, ít nhất là không phải hành quân chiến đấu quá vất vả như thế.

Chia tay thằng Lân, tôi phải gần như chạy mãi mới đuổi kịp đại trưởng Băng.

Anh ấy xạc luôn sau khi tôi nói lý do bị rớt lại.

Anh ấy bảo, "ai có nhiệm vụ người ấy, nhiệm vụ của cậu là bám sát tôi nghe lệnh chứ không phải gặp đồng hương là dừng lại giúp như thế.

Nếu không phải đang về hậu cứ mà đi sang hướng khác, làm sao cậu tìm được tôi".

Tất nhiên là tôi sai rồi.

Sau này tôi còn nhận ra là mình không đủ khả năng để làm một thằng liên lạc nữa cơ, vì sức khỏe của tôi chỉ có hạn.

Hôm đó, dọc đường đi, Anh Băng lúc thì dừng lại lấy dao găm đào một búp măng mai, lúc lại rẽ ngang nương dân đào mấy củ dong riềng già hay vặt ít lá thuốc lá.

Tất cả đều giao cho tôi mang.

Anh ấy đang dạy tôi thêm nhiệm vụ khi đi đường luôn phải để ý tìm và kiếm đồ cải thiện thêm cho BCH.

Tối về khu hậu cứ rừng già mà vắng tanh không có người, anh Băng bày tôi cách nấu các thứ.

Thế là tôi biết thêm nhiệm vụ phải nấu ăn cho chỉ huy khi không đi cùng đơn vị có anh nuôi.

Tôi tiếp thu rất nhanh và dần dà nấu nướng cũng khá thạo.

Chỉ mỗi tội tôi không làm được nhanh và không lanh lợi bằng anh Liêu (cũng là liên lạc) người Bắc Thái vào chiến trường trước tôi hai năm.

Anh ấy rất khỏe, có thể vác thay cả ba lô cho thủ trưởng.

Hai ba lô mà đi băng băng, dọc đường dừng lại đào vội một củ măng mai bên đường mà vẫn theo kịp đội hình hành quân đơn vị.

Ngay cả khi ở hậu cứ có anh nuôi nấu cơm chung, ngoài cơm và thức ăn chia giống như lính, bao giờ anh Liêu cũng nấu thêm một món thức ăn khác bổ sung cho bữa ăn của các thủ trưởng (và của cả liên lạc nữa).

Được dịp đi theo chuyến công tác về hậu cứ hội họp của thủ trưởng, tôi cũng có thêm điều kiện gặp lính Hà Nội ở các đơn vị khác để hỏi thăm tin tức của nhau.

Có một chuyện của thằng Tuấn "đen" làm lính Hà Nội bọn tôi không được vui.

Tôi đã kể về thằng này ít nhiều trong những trang hồi ức trước.

Nó ở cùng B với tôi từ ngày mới vào lính (C36 D50) ở trong dốc Bụt (Hòa Bình), rồi lại cùng nhau chuyển ra ngoài C40 D52 ở khu suối cạn ngoài Bãi Nai.

Thằng này chỉ tội đen thôi, chứ khuôn mặt nó rất đàn ông và đẹp trai, dáng dấp khỏe mạnh.

Đặc biệt nó có giọng hát rất trầm ấm.

Nó không hát nhạc vàng, nhưng lúc sinh hoạt đại đội, nó hát mấy bài thời tiền chiến như bài "Đêm đông"... thì nghe tuyệt vời lắm.

Lẽ ra nó phải vào Văn công thì hợp hơn, nhưng lúc đó người ta cần thêm tay súng chứ không cần thêm giọng ca, nên nó vẫn đi B cùng chúng tôi.

Nó còn hơn những thằng như tôi là đã có người yêu (lại rất xinh nữa chứ).

Người yêu tiễn nó vào bộ đội và tiễn nó cả lúc đi B với những lời thề non hẹn biển.

Người yêu của nó nói "chỉ cho anh đi B 6 tháng thôi" và nó đã đinh ninh lời dặn ấy.

Thời gian phía trước trôi đi thật chậm lúc người ta mong ngóng, nhưng lại trôi quá nhanh khi ta ngoái đầu nhìn lại.

Kể từ lúc chúng tôi rời Đại Mỗ (Hà Đông), hành quân qua Trường Sơn rồi vào đơn vị, hưởng mùa mưa đầu tiên trong chiến trường thì sáu tháng trời đã trôi qua lúc nào không biết.

Những người lính theo đoàn quân hành quân rầm rập vào Nam thì chúng tôi ai cũng biết, nhưng con đường trở ra Bắc sẽ như thế nào thì lại không ai hay.

Có một điều chắc chắn rằng không ai dám mong đó là đường về trong đoàn quân ngày chiến thắng, vì ai biết bao giờ mới kết thúc chiến tranh.

Thằng Tuấn "đen" hiểu lờ mờ con đường về trước mắt chỉ có thể là con đường lẻ loi đối với cá nhân từng người lính mà thôi.

Thế là nó đã tự chọn cho mình con đường đau thương nhất: tự thương.

Nó lấy đủ loại khăn vải quấn quanh cổ tay rồi dùng súng AK tự bắn vào tay mình trong một lần K15 của nó ra tuyến trước.

Các bác sĩ (và cả y sĩ, y tá) trong chiến trường là những chuyên gia bậc thầy về giám định vết thương.

Kết hợp với tình huống chiến đấu và vết đạn, mùi khói súng trên vết thương, họ dễ dàng bắt được thằng Tuấn nói ra sự thật.

Nó được đưa về trạm xá trung đoàn.

Nó cũng được chữa chạy, nhưng không được đối xử tử tế như những thương binh khác, nếu không muốn nói là bị phân biệt.

Người ta khinh rẻ nó ra mặt và luôn bỏ rơi nó.

Những thương binh khác bị vết thương như thế chỉ cần hai tuần là khô vết thương, sau một tháng có thể được giám định sơ bộ để chuyển ra Bắc hay đưa trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Vết thương của thằng Tuấn "đen" tới sáu tháng sau vẫn chưa lành.

Tới tận sau hiệp định Viên chăn (Hiệp định đình chiến tại Lào này ký sau Hiệp định Pari - Việt Nam một tháng và cũng có ý nghĩa giống như Hiệp định Pari vậy), thằng Tuấn vẫn còn ở trên Trạm xá Trung đoàn.

Chúng tôi đi công tác lên đó gặp nó không được tự do mà phải hạn chế trong một phạm vi nhất định.

Những thằng đào ngũ đã quay lại đơn vị cũng không bị đối xử đến mức như nó.

Sáu tháng rồi mà vết thương của nó vẫn không lành, có lúc còn đầy ròi, tưởng như phải cắt bỏ cả cái tay.

Vết tiêm trên bắp tay của nó cũng bị áp-xe, nhiễm trùng.

Nó không được cấp đủ thuốc mà cũng không dám kêu, vì mở mồm ra là bị mắng chửi.

Có lúc muốn ép mủ từ vết thương ra mà không có người giúp, nó phải nhét gấu áo vào mồm cắn chặt rồi ra nắm chặt tay vào một cành cấy, nén đau lên gân vặn cho cơ tay nó ép mủ trào ra.

Một lần thằng Kim "con" cùng C lên gặp nó đúng lúc như thế đã xông vào giúp rồi chửi ầm lên mắng y tá, nhưng đã nhanh chóng bị tống cổ ra khỏi khu quân y.

Sau thằng Kim "con" gặp kể lại chuyện cho tôi, tôi cũng thấy rơm rớm nước mắt vì thương thằng Tuấn.

Dù sao nó cũng là đồng đội, là đồng hương Hà Nội với tôi.

Chúng tôi không nghĩ là người ta lại có thể xử ác như thế với thằngTuấn, tuy nó có lỗi lầm.

Nhưng hèn nhát chưa chắc đã phải là một cái tội.

ThằngTuấn phải tự lau rửa vết thương cho nó bằng nước muối pha.

Khổ thêm một nỗi làmùa mưa năm đó, trung đoàn chúng tôi cũng thiếu muối. (Nhiều khi trong đơn vịchúng tôi không nấu thức ăn có muối, mà muối nhận về được đếm hạt chia theo đầungười để tự bảo quản và sử dụng.

Chuyện này tôi sẽ kể riêng sau).

Lính Hà Nộichúng tôi thương nó tìm cách góp muối gửi cho nó để nó tự rửa vết thương.Chuyện này cũng phải làm giấu chứ không dám công khai.

Có lẽ tình đồng đội cũnggiúp được nó ít nhiều để cuối cùng cái tay của nó cũng trở nên lành lặn.

Mãitới cuối mùa khô năm 1973, Tuấn "đen" mới được ra Bắc, tất nhiênkhông phải với tư cách là một chiến sĩ quân giải phóng.

Lính Hà Nội chúng tôichẳng ai biết mà tiễn nó. (Sau năm 1985 tôi có gặp lại, nhưng nó không muốn nóichuyện nhiều.

Chúng tôi có mời nó đến gặp mặt vào ngày nhập ngũ 4/9 tổ chứchàng năm, nhưng không lần nào nó đến.

Có lẽ nó còn tự mặc cảm thôi, chứ chúngtôi cũng không nghĩ xấu về nó).

Bọn lính Nam Hà vào sau chúng tôi hai tháng đánh nhau rất gấu.

Đoàn Tân binh đó chỉ đông hơn đoàn chúng tôi một chút.

Trong khi đoàn Hà Nội chưa có lính nào hy sinh, thì lính Nam Hà đã bị hy sinh và bị thương khá nhiều.

Không riêng các K15 và K16 ở hướng đường 231, ngay trong K18 chúng tôi khi thay chốt đánh nhau cũng như vậy.

Có trường hợp bị thương rất đau lòng.

C6 chúng tôi đã phải chi viện để đi khiêng thương binh tử sĩ.

Có lần tôi khiêng một thương binh Nam Hà ở C5.

Thằng này mang AK, lúc đánh đường 231 vận động lên cùng đội hình lại chạy ngay sau thằng B40.

Thằng mang B40 khi bắn không quan sát phía sau, cứ thản nhiên làm "rầm" một phát.

Quầng lửa phụt lại trúng luôn vào mặt thằng tân binh.

Thằng này bị bỏng nặng, khiêng về cứu sống được nhưng bị mù hai mắt.

Súng AK của nó chưa bắn viên nào.

Trận đánh đầu tiên cũng là trận cuối cùng trong đời của người thương binh nặng (chắc là hạng cao nhất) mới 18 tuổi đó.

Chúng tôi vừa khiêng vừa thương nó, nhưng cũng trách thầm sao tập tành không đến nơi đến chốn.

Trong C tôi có thằng Lễ (Nam Hà) cũng hăng máu lắm.

Lính mới vào chỉ có AK, thế mà nó chỉ sau một đợt ra tuyến trước đã được giao B40 và cứ khư khư như bảo bối không nhường ai.

Thằng Lễ ít nói, tính tình lạnh lùng.

Ngày còn ở nhà, máy bay Mỹ đến ném bom vào làng trúng ngay ngôi nhà nó.

Mẹ nó cùng hai đứa em gái bị chết.

Nó cùng bố ra đồng cày đất nên thoát chết.

Nó đã phải tự tay chôn mẹ và em.

Vì thế mới hơn 17 tuổi một tý, nó đã nằng nằng đòi đi bộ đội.

Văn hóa thấp, trình độ có hạn, học chính trị được phát biểu thì chỉ độ 3 câu là nó chửi Mỹ.

Có lúc CTV phải ngăn nó mới dừng để người khác còn phát biểu.

Thằng Thái "pi-tơ" có một lần chỉ lỡ phát biểu rằng "Trai thời loạn phải đi đánh nhau chứ thích thú chó gì", thế là nó xông vào đấm đá thằng Thái, nói là không biết căm thù giặc, là đồ hèn.

Thấy nó thái quá như thế nên từ đó về sau chúng tôi tránh không nói đến chuyện chính trị với nó nữa.

Đấy chỉ là ở hậu cứ, còn ra tuyến trước thì nó hăng lắm, lúc nào cũng đòi đánh nhau.

Vừa mới nổ súng đã đòi hô xung phong, khiến có lúc tôi nghĩ, ở cùng thằng này có ngày chết oan.

Nhưng cũng chính vì thế mà có lần nó bắt được tù binh, mặc dù thời gian ở Lào chúng tôi rất ít bắt được tù binh.

Bọn lính Lào chạy nhanh lắm.

Kể cả bị thương nhẹ, nếu trong tình huống rút lui là nó biến mất rất nhanh.

Còn nếu nó bị thương nặng là chúng tôi "bòm" luôn.

Khiêng thương binh của mình vượt suối leo dốc cao đã mệt bỏ mẹ, giờ ôm thêm chúng nó vào thành tích chả thấy đâu, chỉ tổ ốm xác.

Mà khai thác gì cái bọn tù binh này, chúng cũng chỉ là lính trơn.

Mùa mưa nống ra thì phải đánh nhau nhì nhằng chứ kế với hoạch quái gì.

Thế mà lần phục kích ấy, vừa nện xong quả B40, xung lực AK còn đang quạt "tằng tằng..." thì thằng Lễ đã lao ra đường tống cả cái nòng B40 không đạn vào ngực tên địch làm thằng này hoảng quá ngã lăn ra, giơ vội hai tay, chưa cần phải nghe lính ta hô "Ọc ma nhom bò tải" (hàng thì không chết).

Chỉ khổ là sau đó đơn vị lại phải trích ra hai người để giải thằng này về tuyến sau.

Mà lúc giải nó đi cũng khổ.

Phải trói nó hai tay, lại buộc luôn một khúc gỗ to và dài vào người nó cho yên tâm, chứ nếu không lúc qua suối sâu, dù đi đất hay đi giày, nó cũng đi phăm phăm lôi lính mình trượt ngã lên ngã xuống dưới lòng suối.

Chỉ mới vào đơn vị được 3 tháng, đánh vài trận, khi A trưởng hy sinh là thằng Lễ lên làm A trưởng luôn.

Tiểu đội nó có cả thảy 5 người.

Bốn thằng lính trong A nó rất vất vả vì nó quá hăng hái.

Lúc ở hậu cứ, chỉ mới nghe cán bộ đại đội nhắc anh em củng cố lán trại cho tươm tất một chút, thế là ngay trưa hôm đó nó kéo cả A bỏ giờ nghỉ sang tít tận cái rừng bên cạnh chặt nứa.

Nói là bên cạnh thôi nhưng cái rừng đó cách chỗ chúng tôi hai cái dốc, đi không cũng phải bở hơi tai mất 30 phút.

Lại phải mất thêm buổi trưa không nghỉ nữa để thưng lại mấy cái bức liếp quanh hầm thùng.

Nếu là A khác thì lính kêu bằng chết, nhưng lính của A nó thì không dám kêu to vì sợ nó chửi.

Thằng này chửi cũng đơn giản lắm, không văn hoa gì đâu mà chửi bậy rất tục, gọn và cục cằn.

Đôi lúc thấy nó chửi lính A nó, tôi thầm mừng là may mà mình không bị ở cùng nó.

Tôi lại còn cười thầm là thằng này chửi văng ra mấy thứ bậy bạ như thế, nhưng chắc đếch gì nó đã một lần được nhìn thấy cái của mà nó văng ra.

Mà của đáng tội là thằng này cũng không phải là loại khéo tay hay thạo việc nhà, nên cái vách hầm thùng bên A nó tuy được thưng lại mới nhưng chỉ kín chứ không đẹp.

Nói vụng chứ nó không hơn cái nhà cầu của A khác bao nhiêu.

Dạo chúng tôi ở hậu cứ gần bản Xăm-xi-nuc "may", nhiều đêm có máy bay địch đến gọi loa kêu chiêu hồi.

Mới đầu chúng tôi không để ý, chỉ thấy lạ là lúc bắt đầu tổ chức canh gác (khoảng 9 giờ tối) thì nghe trên đầu có tiếng máy bay ì ì rất nặng rồi nghe như có tiếng loa, tiếng được tiếng mất.

Sau chú ý thì thấy vào đêm trời quang có máy bay vận tải của địch bay chậm trên các cánh rừng.

Rừng già rất dày nên nó không thể nhìn thấy chỗ chúng tôi đóng quân, nhưng chắc nó cũng khoanh được vùng tọa độ.

Không biết nó bắc loa trên máy bay kiểu gì mà nghe cũng khá rõ.

Nó nói tiếng Việt, kêu gọi chúng tôi trở về miền Bắc hoặc ra Pắc-xế đầu hàng.

Nó cũng đọc tên của lính mình mà nó bắt được.

Thời gian chúng tôi ở Lào, số lính mình bị bắt làm tù binh rất ít, song cứ có vụ nào là nó lại bay và gọi loa rỉ rả suốt đêm.

Điều đặc biệt là nghi ngờ vùng đóng quân của chúng tôi, nhưng chúng lại không dội bom tọa độ.

Có thể chúng cho rằng cái máy bay ấy bay gọi loa sẽ phủ được trên cả một vùng rộng mà B52 nếu có ném bom cũng không xuể chăng.

Một điều khác nữa là nó chỉ gọi loa chứ không thả truyền đơn chiêu hồi như trên chiến trường B3.

Một lần trời quang có máy bay bay như thế, thằng Lễ nổi khùng vác AK xả hết gần một băng lên trời ở cái bìa rừng nơi A nó đóng quân.

Tất nhiên là không thể bắn tới cái máy bay ấy được, nhưng nó tức quá mà bắn.

Cái máy bay chắc cũng không phát hiện ra nên chẳng đếm xỉa gì đến chuyện đó.

Chỉ có chúng tôi được phen hoảng hồn lo lắng.

Thằng Lễ bị gọi lên BCH đại đội, nhưng vì cái lý căm thù giặc kèm theo cái nhận thức thấp của nó, cộng với việc hậu cứ vẫn chưa bị lộ nên nó chỉ bị khiển trách và rút kinh nghiệm.

Mới tuổi thanh niên nhưng thằng Lễ đã hói đến 1 phần 3 đỉnh đầu.

Mặt mũi nó lúc nào cũng sứt sẹo vì khi đi đường có mấy khi nó chọn đường quang đâu.

Khi lùng sục thì cứ thẳng hướng mà đạp đường, bụi gai thường chứ tre gai hay mây song nó cũng không ngại.

Thế nên vết cào cũ chưa liền da thì đã vết mới đã xuất hiện.

Quần thì hầu như lúc nào cũng ống thấp ống cao, xộc xệch.

Ở hậu cứ thì thế đấy, nhưng lúc hành quân hay chiến đấu thì thằng Lễ chững chạc hơn nhiều.

Nó chẳng ngại khó và nguy hiểm nên chúng tôi rất nể và quý nó.

Vì cái chuyện chết hụt khi ở nhà nên nó bảo số nó không chết được.

Có lẽ thế thật.

Vào chiến trường được hơn một năm thằng Lễ đã được kết nạp Đảng.

Sau này khi về miền Nam, đi đánh chốt được vài trận, nó được rút lên học quân chính trên sư đoàn.

Về sau nó được bổ nhiệm về làm B trưởng bên E64 (theo chính sách đảo quân của B3) và không về đại đội nữa nên chúng tôi cũng mất tin tức về nó luôn.

Ngoài thằng Lễ nổi bật ra, bọn lính Nam Hà khác cũng sàn sàn như bọntôi.

Ngoài chuyện đánh nhau và cùi cõng ra, những kinh nghiệm sống của chúng nócũng không hơn gì chúng tôi.

Có lẽ quê chúng nó là vùng đồng chiêm trũng, nghềphụ không có gì nên vào lính cũng không có gì đặc biệt để thi triển.

May chăngcó món bơi lội và bắt cá, nhưng ở rừng thì những món này ít gặp.

Trong đơn vịtôi rất ấn tượng với các anh lính quê rừng núi và các anh Hà Tây.

Đặc biệt làcó anh đã đi làm chán chê rồi mới vào lính.

Anh Liêu liên lạc với tôi cũng vậy.Đợt ở đường 23 dài ngày, chính anh ấy đã tìm và chỉ cho chúng rôi những cànhGắm trong rừng già.

Khi đói thì ăn quả gắm cũng tốt lắm.

Khai thác nó cũng phảicẩn thận.

Phải cho vào bao cát rồi đem ra suối chà cứ nếu để lông gắm dính vàotay chân thì ngứa bằng chết. (Vào chiến trường tôi mới biết đến từ "baocát".

Thực ra nó là của địch.

Có hai loại bao cát, một loại bằng vải dứa,một loại là sợi tròn như vải.

Tất cả đều là dạng sợi tổng hợp pha nilon.

Kíchcỡ của nó chứ được từ 15 đến 20 kg đất.

Cho đất vào đó rồi buộc túm lại để đemđắp lên làm công sự.

Hầu như trận đánh nào, trừ những trận phục kích, chúng tôicũng phải đem theo bao cát làm công sự cho nhanh).

Hạt gắm đem rang ăn rất bùi.Anh Liêu bảo quê anh ở Bắc Kạn có rất nhiều cây gắm trong rừng, nhưng quả nhỏhơn trong này.

Về sau anh ấy còn giúp chúng tôi đào cả củ mài nữa.

Trong thờigian làm liên lạc cùng anh Liêu, anh ấy còn dạy tôi cách sao chè.

Tranh thủ lúcđi cải thiện hay đi công tác qua các bản bỏ ở đường 23, anh ấy dẫn tôi tạt vàovườn chè để hái.

Ngắt ngọn 3 lá là vừa và ngon nhất, anh ấy hái rất nhanh, chỉđi lướt lướt qua mà hái được rất nhiều.

Khi về hậu cứ anh ấy lấy mảnh tôn rabắc bếp và bỏ chè vào sao.

Chè hái ở vườn không báo giờ rửa, có thể mới nguyênchất.

Đảo một lúc trên bếp lại phải bỏ ra miếng tôn khác để vò cho nó mềm đều.Cứ như thế vài lượt, tay thì đen nhẻm vì nhựa chè, còn sản phẩm là một ít chèmóc câu đàng hoàng.

Không có hương bưởi hương sen, nhưng như thế là quá tuyệt.Ngoài ra anh Liêu còn dạy tôi cách tìm dây lông beo trong rừng.

Loại dây nàysau khi bứt đem xoắn lại cho mềm hoặc tết nhiều sợi lại thì được sợi dây cònbền hơn dây thừng.

Càng ngâm nước càng chắc nên dùng trong mùa mưa thì không gìbằng.

Anh ấy còn dạy tôi cách buộc các nút thắt, thật không khác gì trong sổtay của các hướng đạo sinh thưở trước.

Phải chăng chính những điều như thế đãgiúp tôi trở thành một người chăm làm và tháo vát khi ra quân trở về với cuộcsống đời thường?

Mùa mưa đầu tiên trong chiến trường tôi đã hưởng cái đói.

Mà kể cũng lạ, khi ở nhà tiêu chuẩn gạo cán bộ của bố mẹ tôi chỉ có 13,5 kg một tháng (tôi khi đang là học sinh lớp 10 được hưởng cao nhất là 15 kg một tháng) thế mà sao vẫn đủ ăn, không thấy đói.

Mà tiêu chuẩn đó là quanh năm, niềm mơ ước được đong gạo bông không bao giờ sợ đói so với dân làng ở quê đấy nhé.

Vào trong chiến trường tiêu chuẩn là 21 kg một tháng, nhưng đó là trên giấy thôi, còn thực tế là có đến đâu phát đến đấy, thường là ít hơn.

Bắt đầu từ lúc ăn 5 lạng một ngày là thấy đói, thấy thèm ăn rồi.

Mà ở đất Nam Lào này mùa mưa chỉ có gạo nếp.

Mùa khô thì có gạo đồ của Trung Quốc, thứ gạo không nở và không thể nấu thành cháo.

Thành ra gạo nào thì cũng đói.

Trên chiến trường Lào, lúc gay go nhất là ăn 3 lạng một ngày.

Mỗi bữa một lạng cơm nếp nắm lại chỉ to hơn quả trứng vịt.

Nhưng cơm nếp có ưu điểm là để được lâu hơn.

Đi chốt cả ngày hay thậm chí 2 ngày chỉ cần tiếp tế cơm một lần.

Khi nấu cơm nếp cho tí muối vào là đủ độ đậm, không cần thức ăn.

Cũng vì trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến ăn nên lính tráng đi đến đâu cũng ngó nghé tìm ăn.

Của rừng cũng được mà của dân cũng xong.

Bản bỏ ven đường 23 nhiều đấy, nhưng không phải lúc nào cũng được đi qua, hay cây cối cũng phải có thời gian cho nó mọc chứ.

Thế là cái từ "bài ca ống cóng" ra đời.

Lính mà kém cái phần "ca cóng" là coi như kém hẳn một khả năng để tồn tại.

Đợt cuối tháng 8 năm 1972 các đơn vị phải đi cùi cõng gạo đạn chéo cho nhau nhiều lắm.

Thông thường cùi từ kho trung đoàn về kho dã chiến tiểu đoàn.

Khi các C đi nhận gạo từ kho tiểu đoàn về, chúng tôi không được lĩnh gạo theo cân có đóng bao, mà nhận gạo theo đong soong.

Một gạt bằng của soong 6 tương đương 5 kg gạo.

Tức một nỗi nữa là cái soong dùng để phát gạo cho lính gao giờ cái đít cũng bị lõm vào trong một ít, nên một soong chắc không đủ 5 cân.

Đi lĩnh gạo từ kho tiểu đoàn về C thì chúng tôi rất nghiêm chỉnh.

Chỉ khi cùi gạo trung chuyển chúng tôi mới giở trò.

Thoạt đầu chúng tôi cũng hiền lắm, nhưng hiền cũng không xong.

Lúc nhận gạo ở kho trung đoàn, thường bọn ở kho đong cho chúng tôi bắng cái soong lõm đít.

Khi trả gạo ở kho tiểu đoàn thì bọn ở đây lại nhận bằng cái soong lồi đít.

Thế nên bao giờ chúng tôi cũng bị thiếu gạo.

Tình ngay lý gian, lính tráng bị chửi mắng, nhưng chúng tôi cùi cõng theo cả đội hình, có cán bộ C đi kèm thì làm sao ăn cắp gạo.

Có tụt hết tất cả ra mà khám thì cũng chẳng tìm được gì, cuối cùng là hòa cả làng.

Vậy là 2 thằng thủ kho 2 đầu ăn gian đã dạy cho chúng tôi cũng chẳng cần thật thà làm gì cho mệt.

Thế là dù không bảo nhau, nhưng thỉnh thoảng (chỉ thỉnh thoảng thôi) khi cùi gạo, lúc qua suối, thằng nào không phải mang súng là xoay cái cùi gạo nặng hơn hai chục cân của mình lại, ôm chặt trong lòng rồi vừa lội suối vừa cởi nút bốc ra một nắm gạo cho vào cái bình tông đeo bên mình, rồi buộc lại xong nút gùi thì cũng vừa vặn đi qua bên bờ kia suối.

Làm thế không dễ đâu nhé, nhưng rồi cũng làm được.

Mà ở cái bình tông cũng phải có độ non nửa là nước trong đó, vừa để ngụy trang, vừa không làm cho gạo bị nát mủn.

Buổi chiều về đến nhà gom lại chui vào góc hầm nấu cháo là tối đến mỗi thằng cũng được lưng bát cháo hoa.

Làm ít và kín đáo nên mùa mưa đó chúng tôi chưa bao giờ bị lộ.

Âu cũng là cảnh đói ăn vụng, túng làm liều như các cụ đã dạy.

Đấy là đánh lẻ khi ở hậu cứ.

Ra tuyến trước thường không có gì.

Trong rừng chim thú cũng nhiều, nhưng phải tùy vùng.

Lại phải giữ bí mật nơi trú quân, nên thường chỉ có đi lùng sục lẻ mới có thịt thú rừng ăn.

Đợt cuối tháng 8 năm đó, chúng tôi còn được đi cải thiện thịt ngựa theo chủ trương của tiểu đoàn.

Số là khi ta giải phóng thị trấn Pắc-Soong, địch rút chạy đã đành, cả dân ở trong toàn thị trấn và ven đường 23 cũng chạy tứ tán.

Các loại gia cầm gia súc được tháo cũi sổ lồng chạy hết vào rừng.

Bên Lào thì chỉ cần đi ra khỏi bản độ vài trăm mét thì đã là rừng rồi.

Ngày đầu chính sách dân vận được thực hiện nghiêm lắm, nhưng trò đời cái gì để lâu chẳng hóa bùn.

Đuổi địch mãi thì cũng phải có lúc dừng lại làm hậu cứ trú quân.

Lúc bận quá không sao, nhưng lúc có tí rỗi rãi, tất "nhàn cư vi bất thiện", mà cái bất thiện đầu tiên tất phải hướng đến cái dạ dày.

Lính tráng trong các C tìm dịp lần mò quay lại các bản cũ tìm ăn, dù đường xa có khi tới trên hai chục cây số.

Cái gì ngon xơi thì làm trước, hết nạc là vạc tiếp xương.

Lũ gà vịt vốn là loài thuần hóa, không thể bỏ đi xa, chạy loạn chỉ ít hôm là phải quay về kiếm ăn quanh bản nên được hóa kiếp đầu tiên.

Tiếp theo là đám lợn lười nhác và ngốc nghếch lần lượt chui vào bếp lính.

Giải phóng Pắc-Soong nửa năm thì các bản trở thành bản hoang hết lượt.

Tuy thế có hai loài nhanh chóng thích nghi với đời sống hoang dã của tổ tiên chúng bởi dễ kiếm cái ăn trên những bãi cỏ mênh mông ven các cánh rừng, đó là bò và ngựa.

Chúng sống luôn trong rừng và xa lánh con người, nên đã tồn tại được trước sự tham ăn và thèm khát của những anh lính Bắc Việt.

Nhưng chết nỗi là loài vật cũng nhiều khi có tình có nghĩa.

Chúng chưa hoang dã hoàn toàn nên đôi khi cũng nhớ chủ, nhớ chuồng.

Thỉnh thoảng chúng cũng về kiếm ăn ở các bãi cỏ cạnh bản.

Đầu tiên không ai để ý điều này, nhưng bọn lính trinh sát trên trung đoàn phát hiện ra trước.

Bọn trinh sat E vốn được đi loăng quăng nhiều nơi trên địa bàn rộng và chỉ thật bân bịu khi đánh cỡ Tiểu đoàn trở lên (mà những trận đánh như thế thì cả năm có khi đếm chưa hết 5 đầu ngón tay).

Đầu tiên chúng nó ngỡ là của dân đang chăn thả, vì một số bản phía trong Cao nguyên vẫn có dân, mãi sau mới đoán ra là những con thú đi hoang.

Lúc đầu là trung đoàn cho các C trực thuộc bắn để cải thiện chất tươi.

Về sau dưới các tiểu đoàn cũng tham gia cải thiện.

Các đại đội cử lính, thường là tốp 3 người về vùng quanh thị trấn Pắc-soong tìm kiếm.

Những con bò chậm chạp hơn nên bị săn bắn trước tiên.

Ba thằng lính cũng không khiêng nổi con bò, nên sau khi cắt sẻ mang được bao nhiêu thì mang, còn lại vứt đó về báo tọa độ cho các C khác trong tiểu đoàn đến lấy nốt.

Cũng có khi gặp lính C trực thuộc thì chia sẻ luôn, ngược lại cũng vậy.

Ở vùng này hiếm thú dữ nên khá an toàn.

Bắn được bò thì bao giờ nhóm cải thiện cũng phải chén trước.

Thường chúng tôi đi săn phải mất hai ngày, lại xa địch nên thể nào cũng nổi lửa thưởng thức trước đã.

Sau đó thì tùy tình hình mà trở về.

Hôm nào bắn được bò vào lúc chiều tối thì nghỉ luôn tại chỗ, hôm đó là khỏe nhất.

Mà cả con bò chúng tôi cũng chỉ lọc lấy phần thịt, còn xương, da và đầu, chân vứt lại.

Đấy là lúc đầu thôi.

"Miệng ăn núi lở" nên dần dà về sau mang được đến đâu là mang tất về, anh nuôi khắc lo chế biến.

Rồi bò cũng tuyệt chủng luôn.

Lúc ấy chúng tôi phải quay sang bắn ngựa.

Những con ngựa nhanh lắm, nên gặp bất thình lình thường không bắn được mà phải phục kích.

Mỗi lần đi săn phải dài ngày hơn.

Bây giờ thì các anh người dân tộc phát huy thế mạnh vì khi ở nhà họ cũng đã quen săn bắn.

C nào cũng có lính dân tộc nên thế mạnh ngang nhau.

Đại đội tôi có anh Quân (Mường) cũng thiện nghệ lắm, nhưng anh ấy là B trưởng nên không thể cử đi bắn ngựa.

Thường là C tôi cử anh Sơn (Tày) làm tổ trưởng đi săn, còn lại là lính như bọn tôi.

Mỗi lần đi thì chỉ có khác nhau là dài hay ngắn ngày thôi, chứ thể nào đại đội cũng có thịt ngựa ăn.

Thịt ngựa đem về chỉ làm độc mỗi món luộc chấm muối, ăn cứu đói rất tốt nhưng nói thật là tôi thấy nó không ngon, cũng gây gây như kiểu thịt khỉ. (Chắc là do khi đó chẳng có rau cỏ gia vị gì để chế biến chứ bây giờ người ta bảo thịt ngựa Sóc Sơn đem về Hà Nội bán được chế biến ngon còn đắt hơn cả thịt trâu, thịt bò).

Vào cái giai đoạn mà cả bò và ngựa hoang đã vãn ấy, một lần cả trung đoàn được thông báo C hỏa lực bắn được một con voi rừng rất to bên đường xe bò gần bản Pắc-Kụt, các đơn vị cử người đến mà xẻ thịt.

Chả có chia bôi gì, anh nào đến trước lấy được bao nhiêu cứ lấy.

C tôi cũng vội cử 3 người mang theo gùi và dao sắc đi.

Đến tới nơi đã có nhiều lính của các C khác.

Bọn bắn được voi và tụi đến trước đã cắt hết cả vòi, tai và đế chân rồi, nghe bảo đó là những thứ có thể coi là ngon của con voi.

Các C đến sau hè nhau lột da, cắt thịt đã hết nửa con voi.

Nhìn cái bộ khung xương to dính máu trông phát ghê, chúng tôi phải hè nhau dùng gậy bẩy và lật phía bên kia của con voi để cắt thịt.

Chắc cuối cùng con voi chỉ còn lại xương với da.

Đem về nhà luộc thịt voi lên chấm nước muối ăn, mới hiểu câu nói của các cụ: "trăm voi không được bát nước xáo".

Nhạt thếch.

Hai hôm sau, tưởng không còn nói gì đến chuyện con voi nữa thì trung đoàn thông báo: C hỏa lực bắn nhầm voi của dân.

Chỗ bản Pắc-Kụt tuy cũng là bản bỏ, nhưng vẫn là đất rừng của dân Lào thì đương nhiên họ có quyền chăn thả voi.

Thằng lính hỏa lực người Hà Tây hôm đó mắt to hơn người, cà là tóe mới nhìn đã vội tưởng voi rừng nên tương cho một loạt AK rồi về báo công.

Cũng phúc tổ bảy mươi đời nhà nó là voi nhà đã thuần dưỡng thì mới bắn được như thế chứ nếu voi rừng thì có khi ra bã rồi.

Thịt voi ăn đã chẳng ra gì lại còn bị dân bắt đền.

Trung đoàn phải cử cán bộ đến xin lỗi và đền mất một tạ muối.

Nhưng khi đó chúng tôi cũng thiếu muối nên phải quy ra tiền (kíp Lào) trả cho dân, lính tráng đương nhiên phải nhịn ăn bớt phần đi về vùng dân mua lợn mất hơn tháng.

Trung đoàn có lệnh từ nay cấm bắn voi, nhưng chuyện đó giống như "mất bò mới lo làm chuồng" vì về sau cũng chẳng khi nào chúng tôi gặp voi mà không có dân đi kèm.

Đúng là thời gian ấy chúng tôi thiếu muối.

Không hiểu tại sao việc vận chuyển muối vào chiến trường khó khăn vậy.

Các đơn vị cử người xuống vùng dân mua muối cũng không được là bao.

Đơn vị quản lý muối còn chặt chẽ hơn quản lý súng đạn.

Mỗi lần đi lĩnh muối trên trung đoàn là phải có cán bộ B đi cùng.

Không lĩnh qua tiểu đoàn mà phát thẳng từ kho trung đoàn để tránh khâu ăn bớt.

Cả đại đội lâu lâu mới được lĩnh một lần, mỗi lần chỉ được một cân muối.

Đến bữa anh nuôi cho tẹo muối vào canh hay món xào, nhưng chỉ riêng cái đoạn dính soong nồi cũng đã lãng phí.

Sau vì chúng tôi ăn cơm nếp là chính nên đại đội quyết định đem chia muối theo đầu người, ai muốn ăn thế nào thì ăn.

Chúng tôi cho dúm muối vào cái túi nilon nhỏ xíu, buộc chặt và luôn đem theo người.

Khi nào đến bữa hay thèm thì lôi ra liếm một cái.

Được cái là khí hậu vùng cao nguyên không ẩm như miền Bắc nên những hạt muối giữ được khá khô.

Về sau có đợt được phát muối mỏ, viên muối rắn như đá, rất khó chảy nước.

Tôi dùng rất dè xén món muối mỏ đó và bảo quản cũng khá tốt.

Cho đến tận khi đánh Đồng Dù 29/4/1975, tôi vẫn còn giữ được hai viên muối mỏ to như hạt ngô nếp, sau này bình thường rồi thì mới đánh rơi mất.

Năm 1972 trong C tôi có thằng Tuyến người Thái Bình được bình bầu chiến sĩ thi đua không phải do thành tích chiến đấu mà là do ăn cắp vỏ bao đựng muối cho đại đội.

Chuyện như hề nhưng thực tế lại đúng như vậy và chúng tôi ai cũng ghi công cho nó.

Lần ấy lên kho trung đoàn lĩnh muối, trong lúc mọi người đang xúm xít chia muối thì thẳng Tuyến lỉnh đi đâu mất.

Có lẽ trong tất cả các món nhu yếu phẩm của lính thì chia muối là nhiêu khê nhất.

Không thể tính cân vì muối nó vốn ẩm ướt, dính nước mưa vào thì còn nặng thêm biết bao nhiêu.

Chỉ có cách đong bằng bát đều cho các đơn vị.

Muối khi đó được đóng vào bao tải cói chứ không phải bao nilon nên phần muỗi dính và ngấm vào bao tải rất nhiều.

Lính kho chỉ vét hết muối ra đong, chia rồi thu lại bao đựng cất đi, tất nhiên trong đó còn dính khá nhiều muối.

Thằng Tuyến láu cá đã lần ra cái chỗ bọn coi kho cất vỏ bao và bò vào khuơ trộm một chiếc rồi chui tắt ra rừng cất giấu.

Khi chúng tôi ra về thì trong người nó đã có cái vỏ bao ấy rồi, nhưng chỉ khi về nhà nó báo cáo chúng tôi mới biết.

Anh quản lý đại đội thu nhận báo cáo C và tất cả nhất trí đó là công, cần giữ kín chuyện.

Cào trong đó ra còn được đến gần nửa cân muối hạt.

Cái bao tải được bỏ vào soong 20 đem ninh lên cho muối nó thôi ra hết, cũng dùng ăn được mấy ngày.

Vì thế mà cuối năm thằng Tuyến được bầu chiến sĩ thi đua, nhận cái bằng khen trên trung đoàn, nhưng tất nhiên báo cáo thành tích là chiến đấu chứ không phải vì ăn cắp cho đại đội cái vỏ bao đựng muối.

Vùng phía Nam đường 23 nếu đi sâu là hướng xuống biên giới với Căm pu chia.

Đi dịch sang phía Đông thì qua cao nguyên A-tô-pơ hướng về biên giới Việt Nam.

Trường Sơn bao giờ cũng chứa đựng nhiều điều bí ẩn.

Có rất nhiều vùng còn hẻo lánh, rừng nguyên sinh chưa hề có dấu chân người.

Tôi biết điều đó khi một lần được cùng tiểu đội anh Trịnh của B5 vượt qua Pắc-soong sang cao nguyên A-tô-pơ tìm kho súng.

Bên đó gần với tuyến đường Trường Sơn hơn so với trục đường 23 từ Mường Phìn vào Pắc-xế nên địch không đóng quân tới đó, kể cả khi Pắc-soong còn chưa được giải phóng.

Nhưng nó cũng còn cách khá xa tuyến đường Trường Sơn vì địa hình toàn núi cao và rừng rậm.

Khi đánh Pắc-soong, trên Bộ tư lệnh 559 có lập một số kho ở đó, chủ yếu chứa súng đạn, nhưng không dùng đến, bỏ quên lâu ngày thành ra vô chủ.

Nó ở xa nên trung đoàn chúng tôi cũng không quản lý, mà thật ra cũng không biết hết các kho đó.

Lần ấy chúng tôi sang A-tô-pơ với ý định kiếm súng đạn tự bổ sung cho số bị hỏng và làm mất trong mấy lần vượt suối bị lũ nó cuốn mất.

Sáu thằng đùm theo gạo lên đường.

Phải công nhận bên đó rừng rậm và núi cao thật.

Cây thân gỗ to rất nhiều mà chưa ai khai thác, dù dân Lào làm nhà sàn thì mọi vật liệu đều là từ gỗ (trừ mái tôn).

Chúng tôi được đi công tác lẻ một tuần.

Anh Trịnh dự định khi ở đó sẽ tìm cách đánh cá cải thiện hoặc tìm bắn một con chồn hay con khỉ gì đó, thế mới bõ cái công và thời cơ được đi công tác lẻ chứ.

Thế nhưng bên A-tô-pơ suối còn sâu và chảy siết hơn huội Chăm pi nên chúng tôi bỏ ngay ý định đánh cá.

Anh Trịnh dò bản đồ phân định khu vực chúng tôi sẽ tìm kho.

Nơi này không có đường xe bò của dân, nhưng đôi chỗ có dấu vết đường xe ô-tô đã từng chạy.

Chúng tôi cứ bám theo đó rồi lần ra xung quanh tìm.

Thực ra tọa độ kho cũng đã được chấm từ nhà rồi chứ nếu chỉ tìm vu vơ thế này chẳng khác gì tìm kim đáy bể.

Sang A-tô-pơ đến ngày thứ hai, đang lò dò tìm theo một vệt đường ô-tô thì thằng Tuân (Nam Hà) đi đầu phát hiện một con hoẵng từ đâu nhảy ngay ra đường.

Thật đúng là "con nai vàng ngơ ngác".

Tôi không biết nhiều về thú rừng, nhưng cái bọn hươu, nai hay hoẵng chắc cùng một loài.

Con hoẵng còn chưa hiểu chuyện gì thì thằng Tuân đã nhanh tay nổ súng.

Thằng Tuân cũng là một loại thiện xạ trong C tôi, nhưng chưa có kinh nghiệm nên nó không tương đúng vào chỗ hiểm để con hoẵng phải gục tại chỗ.

Con hoẵng nhảy lên rồi phi vào bụi rậm.

Chúng tôi thoạt đầu nghĩ cũng hỏng ăn, nhưng vì thằng Tuân khăng khăng là nó đã bắn trúng, lại thấy có vết máu nên anh Trịnh quyết định lần theo để tìm.

Chúng tôi rất vất vả lần theo đến hơn trăm mét mới thấy con hoẵng nằm gục bên một gốc cây.

Hóa ra viên đạn trúng vào thân nên nó vẫn còn chạy được.

Cái giống hoẵng nhỏ lắm, con này chỉ hơn hai chục cân mà anh Trịnh bảo thế cũng là khá rồi.

Thế là sáng hôm đó chúng tôi tìm ra suối làm thịt con hoẵng đã.

Thịt nó ngon tuyệt, nướng hay luộc đều ngon không chê vào đâu được.

Bàn cãi một hồi anh Trịnh quyết định chúng tôi sẽ không tìm cách săn bắn nữa, mà tập trung đi tìm súng đạn.

Từng này thịt là đủ ăn thoải mái cho sáu thằng trong mấy ngày tới rồi.

Tới chiều ngày thứ ba thì chúng tôi tìm thấy kho súng đạn.

Qua hai mùa mưa, cái nhà kho đã đổ ụp xuống rồi, chỉ còn cái hầm đất đào sâu đến bụng.

Chúng tôi lôi ra được các thùng gỗ, tuy bẩn đầy đất, nhưng phá ra bên trong thì các bao nilon chứa súng còn nguyên cả mỡ bảo quản trong đó.

Chúng tôi lấy một khẩu trung liên RPD và 5 khẩu AK, toàn súng của TQ.

Thấy đạn rất nhiều chúng tôi nảy ra ý định thử súng.

Anh Trịnh đồng ý, thế là hôm sau chúng tôi kéo nhau ra một bên dốc núi.

Nhìn xuống suối sâu như cả một bờ vực.

Thằng Tuân lắp cả một hộp đạn vào khẩu RPD rồi nằm chĩa xuống vực nghiến răng kéo cò.

Khẩu súng rung lên bần bật.

Nó kéo mấy loạt hết cả băng đạn 100 viên mới thôi.

Mấy chúng tôi cũng chĩa AK phệt mỗi thằng một băng xuống vực.

Có thử thế này mới thấy, có muốn kéo cò một lần cả băng AK cũng không được vì nó giật lắm. (Khác hẳn với khẩu AR15 của Mỹ mà sau này chúng tôi cũng lấy bắn chơi.

Băng đạn 20 viên chỉ níu mạnh cò làm rẹt một cái đã hết.

Đó là chưa kể nếu bấm vào cái nút Turbo của khẩu súng thì nó còn "rẹt" nhanh hơn).

Tiếng nổ vang vọng thung lũng, nhưng ở cái chỗ này thì chỉ có chúng tôi nghe, chúng tôi biết mà thôi.

Ngày hôm đó chúng tôi nghỉ lại, lau những khẩu súng mới cho hết sạch dầu mỡ và tranh thủ tắm giặt.

Đêm đó mắc võng ngủ lại trong rừng mà cứ như ở nhà, chẳng gác sách gì.

Hôm sau chúng tôi lên đường, mang theo 6 khẩu súng và một ít đạn.

Về đến nơi tập kết của đại đội thì vừa hết một tuần.

Một điều bất ngờ khác đang chờ chúng tôi.

Chúng tôi vừa về kịp để ăn món thịt hổ.

Thật là bất ngờ khi chúng tôi luôn nghĩ rằng vùng này không có thú dữ.

Cách đây một hôm, B4 lên chốt.

Vì chiến sự thưa thớt nên việc lên chốt thật nhàn hạ.

Buổi sáng sớm đơn vị cử 5 lính lên chốt, mang theo đủ nước và cơm nắm.

Ngồi bí mật và mọc rễ trên đó chờ địch.

Chiều tắt nắng thì lại kéo nhau về chỗ trú quân.

Chốt chưa phải đánh nhau lần nào, chưa lộ nên ban đêm không cần ở lại chốt.

Sáng sớm hôm đó thằng Nhâm (Hà Tây) đi đầu, còn cách chốt độ hai trăm mét thì nó thấy loáng một cái gì đó vọt ngang trước lối đi.

Trong đầu nó chỉ kịp nghĩ "thám báo", thế là nó quạt ngay một loạt AK trong khi 4 lính đi sau chưa kịp hiểu chuyện gì.

Sau loạt AK đó, cả bọn ngồi sụp xuống, lăm lăm súng.

Chờ lúc lâu mới yểm hộ nhau lò mò chui vào hướng đó.

Chẳng thấy gì cả, nhưng anh Sơn (người Tày) hít hít mũi rồi phán: Hổ.

Cả bọn xanh mắt rồi vội kéo nhau lên chốt.

Ổn định vị trí rồi mà vẫn còn run, nghĩ về địch thì ít mà nghĩ về con hổ chưa nhìn rõ thì nhiều.

Anh Sơn còn bảo là nếu như đã bắn trúng phải con hổ khiến nó bị thương thì thể nào nó cũng phục kích trả thù, nên đến chiều về phải cảnh giác.

Một ngày ngồi chốt dài dằng dặc qua đi vì chỉ lo chiều về tránh hổ.

Chưa tắt nắng thì anh Sơn đã giục mọi người thu xếp về để nếu có gì còn dễ xử lý.

Nghe kể chuyện về hổ trả thù nhiều rồi nên thằng Nhâm dứt khoát không đi đầu và cũng không đi cuối.

Nó bám sau anh Sơn đi đầu, tiếp theo là hai thằng B40 và M79, còn thằng Tiêu (Hà Tĩnh) AK đi cuối.

Đoạn đường đi từ chốt xuống cái chỗ ban sáng gặp hổ vừa đi vừa run, thằng nào cũng lăm lăm súng đã mở chốt an toàn.

Qua chỗ đó rồi thì tốc độ đi nhanh và hấp tấp hơn.

Rồi sự việc xảy ra sau đó rất nhanh.

Anh Sơn phát hiện thấy con hổ ngồi ở mé đường phía trước (may anh ấy là người dân tộc có nhiều kinh nghiệm chứ nếu là người khác thì không biết thế nào) liền quát to một tiếng "hổ" rồi quạt AK luôn.

Cả 3 khẩu AK cùng quạt túi bụi, thằng Trung B40 cũng nện luôn một trái.

Con hổ có lẽ đang trong tư thế thu mình ngồi rình bên lối đi, chưa kịp chồm ra đã bị trúng nhiều viên đạn nên chết ngay tại chỗ.

Mọi người còn thăm dò chán rồi mới dám tiếp cận.

May là con hổ chết vì đạn AK, trái B40 không trúng nó nên còn sử dụng được.

Anh Sơn làm ngay một việc mà theo anh nói đó là quy ước bắt buộc của những người thợ săn.

Anh ấy bật máy lửa đốt hết tất cả những cái râu mép của con hổ, dùng dao chặt hết những cái vuốt hổ gom lại rồi vun củi châm lửa đốt hết.

Anh ấy bảo làm thế để những người xấu không thể dùng những thứ đó mà ám hại người khác. (Anh ấy kể, đơn giản nếu giấu đi một cái râu hổ, đem cắm vào một mụn măng vầu đang mọc tốt thì chỉ 3 hôm sau là cái măng đó tự nhiên bị chết thối rữa ra.

Còn nếu đem cái râu ấy nhúng trộm vào cốc nước của người khác thì cũng gần giống như bỏ thuốc độc vào đó vậy).

Cả bọn còn đang loay hoay với con hổ thì lại nghe sột soạt ở phía hướng về hậu cứ.

Thằng Nhâm sợ són đái, bám ngay vào anh Sơn, còn mấy thằng khác thì lại ngồi thụp xuống lăm lăm súng.

Nhưng thật may vì không phải là có con hổ khác đến trả thù mà là một tốp lính từ phía sau đến tiếp ứng.

Đại đội nghe tiếng súng nổ loạn lên phía chốt, nghĩ anh em gặp địch nên điều một tổ lên bắt liên lạc và chi viện.

Cả hai tốp cùng thở pháo nhẹ nhõm.

Mọi người cùng chặt cây làm đòn khiêng con hổ về.

Con hổ rất to, hai người khiêng lặc lè.

Tối đó anh nuôi đại đội cùng anh Sơn tập trung xả thịt hổ.

Tấm da hổ không dùng được vì bị trúng quá nhiều vết đạn.

Còn thịt lọc ra được khá nhiều.

Nhóm anhTrịnh và chúng tôi đi lấy súng bên A-tô-pơ về kịp chiều hôm sau nên được thưởngthức món thịt hổ sào.

Tức nỗi trong rừng không có gia vị gì, kể cả gừng nên mónthịt hổ ăn cũng thấy gây gây.

Thế nhưng vẫn khoái vì mấy khi mà được ăn thịtchúa sơn lâm.

Trong đơn vị, thằng lính nào không được tham dự ăn thịt hổ lần đóthì về sau cũng không còn dịp vì đại đội tôi không lần nào bắn thêm được hổnữa.

Có lẽ ở chiến trường nào và ở đơn vị nào cũng từng xảy ra chuyện nhìn gà hóa cáo, đôi lúc thần hồn nát thần tính mà chung quy lại cũng chỉ là chuyện kỷ luật chiến trường không thật nghiêm.

Những quy định đề ra đôi khi bị coi nhẹ hay vì mệt mỏi quá mà tặc lưỡi bỏ qua nên chấp hành lỏng lẻo.

Chỉ đến khi xảy ra chuyện, tất cả mới giật mình xem xét lại, nhưng rồi chỉ đơn vị đó rút ra nhiều kinh nghiệm, còn đơn vị khác lại thì lâu lâu không thấy gì, xem nhẹ để rồi lại rơi vào vết xe đổ của đơn vị bạn trong một tình huống khác.

Ký ức chiến trường không hoàn toàn chỉ là những điều chính mình gặp, mà nó còn là chuyện của đồng đội khác trong đơn vị, thậm chí khác tiểu đoàn, nhưng buộc mình phải nghe, phải biết và phải nhớ.

Khi chiến sự vừa mới qua đi ở Pắc-soong, địch rút về chốt ở cây số 40, còn K18 chúng tôi thì chốt ở bản vườn lê 42, phía dưới bản Păc-kụt một chút.

Ở ngoài Bắc thời bao cấp, mọi thứ của ngon vật lạ đều dành cho đâu đâu ấy chứ nên dân thường thì thèm đủ thứ.

Đã có mấy ai có được diễm phúc ngồi trong vườn mà thả phanh ăn quả, nhất là những thứ quả cao cấp như Cam, như Đào, như Lê...

Thế nên các đơn vị lập chốt giữ quanh các bản có vườn cây ăn quả thì lính tráng giống như Tôn Ngộ Không lọt vào vườn Đào của Vương Mẫu.

Cái kiểu ăn của lính khi ở cương vị chủ nhân của trời đất thì không hề giống ai.

Ăn mít mật thì rung cây cho quả chín tụt nõ rơi xuống, chỉ việc bốc ăn, khỏi phải bổ.

Ăn đu đủ thì chọn quả chín bổ đôi rồi dùng thìa xúc ăn chứ không gọt vỏ.

Đào với lê thì chọn quả to ngon mà trẩy, chùi vào vạt áo rồi chén luôn.

Thường lúc đầu thì ăn như Trư Bát Giới ăn nhân sâm, sau rồi thì chén đến cả những quả có sâu, bé tẹo.

Suốt dọc đường 23, thậm chí trong Cao nguyên chỉ có duy nhất một bản 42 có vườn lê bạt ngàn.

Quả lê vỏ xanh, mềm chứ không phải quả Mắc-cọp vỏ nâu cứng ăn hơi có vị chát của vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.

Bọn C5K18 chốt giữ gần đó, sống như vua nên quên mất rằng dân Lào trên Cao nguyên, những người chủ nhân thật sự của những khu vườn cây trái đó cũng có quyền được hưởng thụ.

Dân họ rất dát, nhưng thỉnh thoảng cũng có người liều mạng mò ra các vườn cây.

Hôm ấy bọn lính C5 đang chốt quay ra phía Pắc-kụt.

Hướng đó quay ra dân hơn là quay ra phía địch nên khá an toàn, thế mà không hiểu sao chúng nó lại tương nhầm dân.

Một phần cũng do phía trước chốt cây lá lòe xòe che phủ, mấy người dân đi ra lại lầm lũi không nói chuyện.

Họ cứ vạch cây lá đạp đường mà đi vào chốt.

Lính ta thấy loạt xoạt là bắn, quên mất quy tắc phải quan sát cho rõ.

Lia xong vài loạt AK mà chả thấy đối phương bắn lại.

Nghi nghi hoặc hoặc mãi rồi mới mò ra thì đã thấy hai người phụ nữ nằm gục bên vũng máu.

Chắc cũng có người chạy thoát.

Biết là bắn nhầm dân rồi thì cha con đều sợ, từ thằng lính cho đến cán bộ C, D.

Thế là cái chốt ấy phải bỏ, lính chuồn thật xa, để mặc cho dân ra lấy xác rồi sau này coi như là địch bắn, lính ta không biết.

Chuyện này khi đó là tuyệt mật với dân, còn tất nhiên lính ta xì xào thì rồi ai cũng biết.

Cũng chẳng có ai bị kỷ luật, chắc là chỉ rút kinh nghiệm thôi.

Thật đúng là chiến tranh, lạnh lùng và tàn nhẫn.

Rơi vào ai thì người đó phải chịu.

Đến bây giờ tôi cũng không biết chính xác thằng lính nào đã bóp cò AK hôm đó, nhưng nếu sau này không hy sinh, chắc nó cũng có lúc dằn vặt.

Còn chúng tôi thì rút kinh nghiệm đại trà là khi ngồi chốt phải chịu khó quan sát, mở to mắt ra mà nhìn, đừng có mà mắt to hơn người.

Chuyện qua đi, nhưng rồi đến lượt tôi bị vấp trong một tình huống khác.

Ấy là khi đang luồn sâu ở đường 23, tại khu trú quân phải canh gác đàng hoàng.

Tôi lúc ấy là liên lạc cũng phải tham gia gác.

Ca ấy của tôi chỉ tầm mười giờ đêm.

Trời mưa nhỏ nên tôi chỉ khoác tấm nilon gập đôi và đi lại nhẹ nhàng quanh cái hầm đại đội.

Nếu nằm dưới hầm thì có thể hút thuốc chứ khi gác thì không được.

Phải quan sát và dỏng tai lên mà nghe ngóng.

Đầu ca gác, mấy cán bộ và lính B6 đi trinh sát tối trở về còn ráp mật khẩu với tôi trước khi về hầm.

Tôi cũng hỏi mấy câu chiếu lệ rồi quay ra vị trí gác.

Chuyện xảy ra chỉ sau đó chừng mười phút thôi.

Khi tôi vừa ôm súng vòng ra mé hầm ngoài rìa khu trú quân thì chợt phát hiện ra một bóng đen lờ mờ trên nền ánh sáng bàng bạc của bầu trời đêm mưa.

Chắc bọn thám báo đã bám theo chân mấy bố trinh sát nhà ta mà mò vào đơn vị rồi.

Nghĩ vậy, tôi liền ngồi thụp xuống hô to mật khẩu "Sông!" vừa bật chốt an toàn, nhưng tôi vẫn mong chờ tiếng trả lời "Hương!" quen thuộc.

Bóng đen không trả lời mà bỗng ngồi sụp ngay xuống.

Tôi liền kéo cò súng nhả ngay một loạt vào đó rồi nhảy tạt sang bên cạnh.

Không có tiếng súng đáp trả, nhưng loạt AK "tặc.tặc." chìm trong đêm mưa của tôi đã đánh thức đơn vị.

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, lính B6 đã có mặt sát bên tôi chi viện.

Tôi đoán tên địch đã trúng đạn không kêu được tiếng nào rồi, nhưng vẫn phải mò lên thận trọng vì sợ còn tên thám báo khác.

Tại chỗ có bóng đen không có cái xác nào, chỉ có một tấm nilon dúm dó.

Mọi người tản ra xục xạo, còn anh Ngữ B trưởng B6 soi đèn vào thì hóa ra là tấm nilon của ta.

Mọi người nhanh chóng hiểu ra tình huống: Thằng Bình lính B6 đi trinh sát về vô tình ngoắc tấm nilon lên một cành cây ngoài hầm đã làm cho tôi tưởng lầm cái bóng đen trong đêm nhờ nhờ ấy là người, khi mà trước đó ở chỗ ấy không có gì.

Đúng cái lúc tôi hô mật khẩu thì cái tấm nilon ấy lại ngẫu nhiên tụt rơi xuống đất nên đã phải hứng loạt AK của tôi.

Tất cả cười khoái trá trong cái ngượng nghịu của tôi, may mà đêm tối không ai thấy rõ.

Sáng hôm sau tôi mới bị phê bình.

Không phải cán bộ C mà là anh Liêu liên lạc mắng tôi.

Anh ấy bảo mày đúng là mắt to hơn người (lại cái câu ấy rồi, mà không hiểu sao trong đơn vị khi ấy hễ thằng nào có làm cái gì do hoảng hốt thì đều bị mắng phủ đầu là "mắt to hơn người").

Lẽ ra mày không cần hô mật khẩu vội mà phải quan sát thêm đã, vì mình đang ở thế chủ động cơ mà.

Tôi cũng chỉ biết nhận lỗi chứ chẳng thể phân bua được, tuy trong bụng cũng thấy tức thằng Bình đã vắt tấm nilon đêm đó.

Nhưng nghĩ lại cũng thấy đáng đời cho nó vì tấm nilon của nó đã nát toét rồi.

Từ nay ráng mà chịu ướt chờ kiếm tấm khác nhé.

Chuyện của tôi tuy có xấu hổ chút ít, nhưng chưa chết ai.

Chuyện anh Định B4 (người Nam Hà) sau đó một tuần mới thật là nghiêm trọng.

Hôm ấy B4 tổ chức chốt, trời quang không mưa mà còn hơi hửng nắng.

Thấy trời đẹp, một nhóm cán bộ B, C mò lên phía trước nắm địch, cũng định kiếm cơ hội làm một trận tập kích lấy khí thế.

Bình thường thì khi ở chốt hay luồn sâu mà đi trinh sát thì sẽ theo nguyên tắc đi lối nào, trở về lối đó cho dễ hiệp đồng và bắt liên lạc.

Chiều đó, các anh đi trinh sát vẫn theo lối cũ trở về bình thường, chỉ trừ B phó Đương.

Có lẽ cũng là số phận hay sao ấy.

Tôi đã có lần kể là trong trung đoàn tôi có lệnh cấm lấy quân trang của địch, nhưng nếu có cơ hội thì lính ta vẫn lấy vụng để đem về tuyến sau đổi thuốc.

Lần ấy anh Đương cũng đang giấu trộm một cái mũ thám báo vải dù rằn ri.

Trong rừng trời mưa, đôi khi anh ấy cũng lấy ra đội.

Lần ấy đi trinh sát, anh Đương lại giắt cái mũ trong người rồi vô tình đội lên đầu mà không để ý.

Lúc về chốt, anh ấy lại rẽ ngang một mình xuống suối làm gì đó rồi cứ ngược theo sườn dốc ấy mà đi lên chốt.

Quanh chốt toàn cây cứt lợn cao ngang đầu người.

Anh Định (A trưởng) đang ngồi chốt thấy đám cây phía trước lay động rồi có tiếng người vạch cây loạt xoạt mà đi.

Chắc lúc ấy anh ấy cũng hơi buồn ngủ rồi chợt tỉnh, nên khi thấy trên phía lùm cây có cái mũ thám báo nhấp nhô là bắn luôn.

Không may là anh Định cũng không phải là tay bắn xoàng.

Một loạt AK nổ chói tai kèm cái ngã uỵch và tiếng rống lên ồ ồ không thành tiếng.

Anh Định lại bồi thêm một loạt AK nữa cho chắc ăn.

Cả chốt nghe tiếng súng cũng vội vào tư thế chiến đấu.

Một lúc lâu chẳng thấy thêm động tĩnh gì, mọi người yểm hộ nhau lên kiểm tra thì hỡi ôi, chẳng thấy địch đâu, chỉ thấy anh Đương đã tắt thở trên vũng máu, người lỗ chỗ vết đạn.

Anh Định mặt cắt không còn hột máu, quỳ xuống ôm xác anh Đương mà khóc không thành tiếng.

Chúng tôi ai cũng sợ.

Liền trong chiều ấy, đại đội cử người khiêng anh Đương về hậu cứ chôn cất.

Anh Định cũng bị gọi về cùng để lên tiểu đoàn chịu kỷ luật.

Lúc ấy trong trung đoàn tôi chưa thấy có cái gọi là tòa án binh hay gì đó tương tự.

Xử lý những trường hợp như tự thương của thằng Tuấn "đen" hay bắn nhầm đồng đội của anh Định, chỉ là lệnh kỷ luật dội từ trên D hoặc trên E xuống.

Sau vụ đó anh Định bị khai trừ đảng, cách chức xuống làm lính thường.

Vì bản chất con người là mãi mãi còn hiện tượng chỉ là nhất thời (đúng như quan điểm của đảng), nên sau vụ đó anh Định vẫn tiếp tục chiến đấu và công tác tốt, giống như bản chất của người nông dân cần mẫn trên đồng, dù mùa màng có lúc bội thu hay thất bát.

Quân số của đơn vị vơi dần theo thời gian và các trận đánh nếu không kịp bổ sung quân số, nên vài tháng sau, anh Định vẫn phải nhận trách nhiệm tiểu đội trưởng.

Hơn năm tháng sau, anh ấy và cả tiểu đội đã hy sinh trong một trận giữ chốt bên bờ sông Se-kong, mặt trận Sa-ra-van.

Chỉ có cái nguyện vọng được là liệt sĩ-đảng viên mà anh ấy nhiều lần nói khi còn sống thì không thể thực hiện được vì quỹ thời gian quá ngắn, không thể đủ để anh ấy làm lại từ đầu.

Thế hệ chúng tôi phải công bằng mà nói, sống rất có lý tưởng.

Những điều mà bây giờ có rất nhiều người coi là chuyện không đáng quan tâm thì đối với chúng tôi khi đó lại là điều trăn trở.

Để khỏi quên do đứt mạch câu chuyện, tôi muốn kể thêm về một người anh khác trong C6 của tôi.

B4 cũng có một A trưởng khác là anh Khung người Nam Hà (lại cũng là Nam Hà) là đảng viên.

Sau vụ anh Đương bị bắn nhầm, anh Khung lên thay làm B phó B4.

Lên được một tháng anh ấy bị khai trừ ra khỏi đảng nhưng vẫn được làm B phó.

Lý do, nhà anh ấy ở quê là thành phần trung nông lớp trên (có bát ăn bát để đây), thế mà khi khai lý lịch vào đảng anh ấy chỉ ghi thành phần là trung nông (chỉ đủ ăn no, nếu nhà có nuôi chó nuôi mèo thì phải san bớt chút ít để cho chúng ăn).

Vào đảng rồi, sau này tổ chức mới phát hiện ra nên phải khai trừ anh vì đã "không trung thực".

Nhưng anh ấy chiến đấu giỏi nên vẫn được làm cán bộ B và vẫn có cơ hội phấn đấu tiếp để lại vào đảng.

Anh ấy cũng là nông dân chất phác, sống có lý tưởng nên không nản chí.

Hai năm sau, anh ấy lại được kết nạp đảng và được điều sang C5 làm B trưởng.

Trong trận đánh Đồng Dù 29/4/1975, anh ấy và hầu hết anh em trong trung đội đã hy sinh trên cửa mở, trước ngày toàn thắng của dân tộc chỉ có một ngày.

Nhưng chắc dưới suối vàng, anh ấy cũng ngậm cười vì mình đã là đảng viên, dù chưa kịp trở thành đảng viên chính thức.

Các anh Địnhanh Khung ơi, hãy tha thứ cho em là đã đem chuyện của các anh ra kể.

Dẫu biếtrằng các anh chẳng cần gì, nhưng xin cứ để cho em nói ra một lần, âu cũng làthêm một lần tưởng nhớ tới các anh, để thêm một lần bày tỏ lòng biết ơn các anhđã hy sinh để cho những thằng như em được sống.mấy khi mà được ăn thịtchúa sơn lâm.

Trong đơn vị, thằng lính nào không được tham dự ăn thịt hổ lần đóthì về sau cũng không còn dịp vì đại đội tôi không lần nào bắn thêm được hổnữa.

Có lẽ ở chiến trường nào và ở đơn vị nào cũng từng xảy ra chuyện nhìn gà hóa cáo, đôi lúc thần hồn nát thần tính mà chung quy lại cũng chỉ là chuyện kỷ luật chiến trường không thật nghiêm.

Những quy định đề ra đôi khi bị coi nhẹ hay vì mệt mỏi quá mà tặc lưỡi bỏ qua nên chấp hành lỏng lẻo.

Chỉ đến khi xảy ra chuyện, tất cả mới giật mình xem xét lại, nhưng rồi chỉ đơn vị đó rút ra nhiều kinh nghiệm, còn đơn vị khác lại thì lâu lâu không thấy gì, xem nhẹ để rồi lại rơi vào vết xe đổ của đơn vị bạn trong một tình huống khác.

Ký ức chiến trường không hoàn toàn chỉ là những điều chính mình gặp, mà nó còn là chuyện của đồng đội khác trong đơn vị, thậm chí khác tiểu đoàn, nhưng buộc mình phải nghe, phải biết và phải nhớ.

Khi chiến sự vừa mới qua đi ở Pắc-soong, địch rút về chốt ở cây số 40, còn K18 chúng tôi thì chốt ở bản vườn lê 42, phía dưới bản Păc-kụt một chút.

Ở ngoài Bắc thời bao cấp, mọi thứ của ngon vật lạ đều dành cho đâu đâu ấy chứ nên dân thường thì thèm đủ thứ.

Đã có mấy ai có được diễm phúc ngồi trong vườn mà thả phanh ăn quả, nhất là những thứ quả cao cấp như Cam, như Đào, như Lê...

Thế nên các đơn vị lập chốt giữ quanh các bản có vườn cây ăn quả thì lính tráng giống như Tôn Ngộ Không lọt vào vườn Đào của Vương Mẫu.

Cái kiểu ăn của lính khi ở cương vị chủ nhân của trời đất thì không hề giống ai.

Ăn mít mật thì rung cây cho quả chín tụt nõ rơi xuống, chỉ việc bốc ăn, khỏi phải bổ.

Ăn đu đủ thì chọn quả chín bổ đôi rồi dùng thìa xúc ăn chứ không gọt vỏ.

Đào với lê thì chọn quả to ngon mà trẩy, chùi vào vạt áo rồi chén luôn.

Thường lúc đầu thì ăn như Trư Bát Giới ăn nhân sâm, sau rồi thì chén đến cả những quả có sâu, bé tẹo.

Suốt dọc đường 23, thậm chí trong Cao nguyên chỉ có duy nhất một bản 42 có vườn lê bạt ngàn.

Quả lê vỏ xanh, mềm chứ không phải quả Mắc-cọp vỏ nâu cứng ăn hơi có vị chát của vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.

Bọn C5K18 chốt giữ gần đó, sống như vua nên quên mất rằng dân Lào trên Cao nguyên, những người chủ nhân thật sự của những khu vườn cây trái đó cũng có quyền được hưởng thụ.

Dân họ rất dát, nhưng thỉnh thoảng cũng có người liều mạng mò ra các vườn cây.

Hôm ấy bọn lính C5 đang chốt quay ra phía Pắc-kụt.

Hướng đó quay ra dân hơn là quay ra phía địch nên khá an toàn, thế mà không hiểu sao chúng nó lại tương nhầm dân.

Một phần cũng do phía trước chốt cây lá lòe xòe che phủ, mấy người dân đi ra lại lầm lũi không nói chuyện.

Họ cứ vạch cây lá đạp đường mà đi vào chốt.

Lính ta thấy loạt xoạt là bắn, quên mất quy tắc phải quan sát cho rõ.

Lia xong vài loạt AK mà chả thấy đối phương bắn lại.

Nghi nghi hoặc hoặc mãi rồi mới mò ra thì đã thấy hai người phụ nữ nằm gục bên vũng máu.

Chắc cũng có người chạy thoát.

Biết là bắn nhầm dân rồi thì cha con đều sợ, từ thằng lính cho đến cán bộ C, D.

Thế là cái chốt ấy phải bỏ, lính chuồn thật xa, để mặc cho dân ra lấy xác rồi sau này coi như là địch bắn, lính ta không biết.

Chuyện này khi đó là tuyệt mật với dân, còn tất nhiên lính ta xì xào thì rồi ai cũng biết.

Cũng chẳng có ai bị kỷ luật, chắc là chỉ rút kinh nghiệm thôi.

Thật đúng là chiến tranh, lạnh lùng và tàn nhẫn.

Rơi vào ai thì người đó phải chịu.

Đến bây giờ tôi cũng không biết chính xác thằng lính nào đã bóp cò AK hôm đó, nhưng nếu sau này không hy sinh, chắc nó cũng có lúc dằn vặt.

Còn chúng tôi thì rút kinh nghiệm đại trà là khi ngồi chốt phải chịu khó quan sát, mở to mắt ra mà nhìn, đừng có mà mắt to hơn người.

Chuyện qua đi, nhưng rồi đến lượt tôi bị vấp trong một tình huống khác.

Ấy là khi đang luồn sâu ở đường 23, tại khu trú quân phải canh gác đàng hoàng.

Tôi lúc ấy là liên lạc cũng phải tham gia gác.

Ca ấy của tôi chỉ tầm mười giờ đêm.

Trời mưa nhỏ nên tôi chỉ khoác tấm nilon gập đôi và đi lại nhẹ nhàng quanh cái hầm đại đội.

Nếu nằm dưới hầm thì có thể hút thuốc chứ khi gác thì không được.

Phải quan sát và dỏng tai lên mà nghe ngóng.

Đầu ca gác, mấy cán bộ và lính B6 đi trinh sát tối trở về còn ráp mật khẩu với tôi trước khi về hầm.

Tôi cũng hỏi mấy câu chiếu lệ rồi quay ra vị trí gác.

Chuyện xảy ra chỉ sau đó chừng mười phút thôi.

Khi tôi vừa ôm súng vòng ra mé hầm ngoài rìa khu trú quân thì chợt phát hiện ra một bóng đen lờ mờ trên nền ánh sáng bàng bạc của bầu trời đêm mưa.

Chắc bọn thám báo đã bám theo chân mấy bố trinh sát nhà ta mà mò vào đơn vị rồi.

Nghĩ vậy, tôi liền ngồi thụp xuống hô to mật khẩu "Sông!" vừa bật chốt an toàn, nhưng tôi vẫn mong chờ tiếng trả lời "Hương!" quen thuộc.

Bóng đen không trả lời mà bỗng ngồi sụp ngay xuống.

Tôi liền kéo cò súng nhả ngay một loạt vào đó rồi nhảy tạt sang bên cạnh.

Không có tiếng súng đáp trả, nhưng loạt AK "tặc.tặc." chìm trong đêm mưa của tôi đã đánh thức đơn vị.

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, lính B6 đã có mặt sát bên tôi chi viện.

Tôi đoán tên địch đã trúng đạn không kêu được tiếng nào rồi, nhưng vẫn phải mò lên thận trọng vì sợ còn tên thám báo khác.

Tại chỗ có bóng đen không có cái xác nào, chỉ có một tấm nilon dúm dó.

Mọi người tản ra xục xạo, còn anh Ngữ B trưởng B6 soi đèn vào thì hóa ra là tấm nilon của ta.

Mọi người nhanh chóng hiểu ra tình huống: Thằng Bình lính B6 đi trinh sát về vô tình ngoắc tấm nilon lên một cành cây ngoài hầm đã làm cho tôi tưởng lầm cái bóng đen trong đêm nhờ nhờ ấy là người, khi mà trước đó ở chỗ ấy không có gì.

Đúng cái lúc tôi hô mật khẩu thì cái tấm nilon ấy lại ngẫu nhiên tụt rơi xuống đất nên đã phải hứng loạt AK của tôi.

Tất cả cười khoái trá trong cái ngượng nghịu của tôi, may mà đêm tối không ai thấy rõ.

Sáng hôm sau tôi mới bị phê bình.

Không phải cán bộ C mà là anh Liêu liên lạc mắng tôi.

Anh ấy bảo mày đúng là mắt to hơn người (lại cái câu ấy rồi, mà không hiểu sao trong đơn vị khi ấy hễ thằng nào có làm cái gì do hoảng hốt thì đều bị mắng phủ đầu là "mắt to hơn người").

Lẽ ra mày không cần hô mật khẩu vội mà phải quan sát thêm đã, vì mình đang ở thế chủ động cơ mà.

Tôi cũng chỉ biết nhận lỗi chứ chẳng thể phân bua được, tuy trong bụng cũng thấy tức thằng Bình đã vắt tấm nilon đêm đó.

Nhưng nghĩ lại cũng thấy đáng đời cho nó vì tấm nilon của nó đã nát toét rồi.

Từ nay ráng mà chịu ướt chờ kiếm tấm khác nhé.

Chuyện của tôi tuy có xấu hổ chút ít, nhưng chưa chết ai.

Chuyện anh Định B4 (người Nam Hà) sau đó một tuần mới thật là nghiêm trọng.

Hôm ấy B4 tổ chức chốt, trời quang không mưa mà còn hơi hửng nắng.

Thấy trời đẹp, một nhóm cán bộ B, C mò lên phía trước nắm địch, cũng định kiếm cơ hội làm một trận tập kích lấy khí thế.

Bình thường thì khi ở chốt hay luồn sâu mà đi trinh sát thì sẽ theo nguyên tắc đi lối nào, trở về lối đó cho dễ hiệp đồng và bắt liên lạc.

Chiều đó, các anh đi trinh sát vẫn theo lối cũ trở về bình thường, chỉ trừ B phó Đương.

Có lẽ cũng là số phận hay sao ấy.

Tôi đã có lần kể là trong trung đoàn tôi có lệnh cấm lấy quân trang của địch, nhưng nếu có cơ hội thì lính ta vẫn lấy vụng để đem về tuyến sau đổi thuốc.

Lần ấy anh Đương cũng đang giấu trộm một cái mũ thám báo vải dù rằn ri.

Trong rừng trời mưa, đôi khi anh ấy cũng lấy ra đội.

Lần ấy đi trinh sát, anh Đương lại giắt cái mũ trong người rồi vô tình đội lên đầu mà không để ý.

Lúc về chốt, anh ấy lại rẽ ngang một mình xuống suối làm gì đó rồi cứ ngược theo sườn dốc ấy mà đi lên chốt.

Quanh chốt toàn cây cứt lợn cao ngang đầu người.

Anh Định (A trưởng) đang ngồi chốt thấy đám cây phía trước lay động rồi có tiếng người vạch cây loạt xoạt mà đi.

Chắc lúc ấy anh ấy cũng hơi buồn ngủ rồi chợt tỉnh, nên khi thấy trên phía lùm cây có cái mũ thám báo nhấp nhô là bắn luôn.

Không may là anh Định cũng không phải là tay bắn xoàng.

Một loạt AK nổ chói tai kèm cái ngã uỵch và tiếng rống lên ồ ồ không thành tiếng.

Anh Định lại bồi thêm một loạt AK nữa cho chắc ăn.

Cả chốt nghe tiếng súng cũng vội vào tư thế chiến đấu.

Một lúc lâu chẳng thấy thêm động tĩnh gì, mọi người yểm hộ nhau lên kiểm tra thì hỡi ôi, chẳng thấy địch đâu, chỉ thấy anh Đương đã tắt thở trên vũng máu, người lỗ chỗ vết đạn.

Anh Định mặt cắt không còn hột máu, quỳ xuống ôm xác anh Đương mà khóc không thành tiếng.

Chúng tôi ai cũng sợ.

Liền trong chiều ấy, đại đội cử người khiêng anh Đương về hậu cứ chôn cất.

Anh Định cũng bị gọi về cùng để lên tiểu đoàn chịu kỷ luật.

Lúc ấy trong trung đoàn tôi chưa thấy có cái gọi là tòa án binh hay gì đó tương tự.

Xử lý những trường hợp như tự thương của thằng Tuấn "đen" hay bắn nhầm đồng đội của anh Định, chỉ là lệnh kỷ luật dội từ trên D hoặc trên E xuống.

Sau vụ đó anh Định bị khai trừ đảng, cách chức xuống làm lính thường.

Vì bản chất con người là mãi mãi còn hiện tượng chỉ là nhất thời (đúng như quan điểm của đảng), nên sau vụ đó anh Định vẫn tiếp tục chiến đấu và công tác tốt, giống như bản chất của người nông dân cần mẫn trên đồng, dù mùa màng có lúc bội thu hay thất bát.

Quân số của đơn vị vơi dần theo thời gian và các trận đánh nếu không kịp bổ sung quân số, nên vài tháng sau, anh Định vẫn phải nhận trách nhiệm tiểu đội trưởng.

Hơn năm tháng sau, anh ấy và cả tiểu đội đã hy sinh trong một trận giữ chốt bên bờ sông Se-kong, mặt trận Sa-ra-van.

Chỉ có cái nguyện vọng được là liệt sĩ-đảng viên mà anh ấy nhiều lần nói khi còn sống thì không thể thực hiện được vì quỹ thời gian quá ngắn, không thể đủ để anh ấy làm lại từ đầu.

Thế hệ chúng tôi phải công bằng mà nói, sống rất có lý tưởng.

Những điều mà bây giờ có rất nhiều người coi là chuyện không đáng quan tâm thì đối với chúng tôi khi đó lại là điều trăn trở.

Để khỏi quên do đứt mạch câu chuyện, tôi muốn kể thêm về một người anh khác trong C6 của tôi.

B4 cũng có một A trưởng khác là anh Khung người Nam Hà (lại cũng là Nam Hà) là đảng viên.

Sau vụ anh Đương bị bắn nhầm, anh Khung lên thay làm B phó B4.

Lên được một tháng anh ấy bị khai trừ ra khỏi đảng nhưng vẫn được làm B phó.

Lý do, nhà anh ấy ở quê là thành phần trung nông lớp trên (có bát ăn bát để đây), thế mà khi khai lý lịch vào đảng anh ấy chỉ ghi thành phần là trung nông (chỉ đủ ăn no, nếu nhà có nuôi chó nuôi mèo thì phải san bớt chút ít để cho chúng ăn).

Vào đảng rồi, sau này tổ chức mới phát hiện ra nên phải khai trừ anh vì đã "không trung thực".

Nhưng anh ấy chiến đấu giỏi nên vẫn được làm cán bộ B và vẫn có cơ hội phấn đấu tiếp để lại vào đảng.

Anh ấy cũng là nông dân chất phác, sống có lý tưởng nên không nản chí.

Hai năm sau, anh ấy lại được kết nạp đảng và được điều sang C5 làm B trưởng.

Trong trận đánh Đồng Dù 29/4/1975, anh ấy và hầu hết anh em trong trung đội đã hy sinh trên cửa mở, trước ngày toàn thắng của dân tộc chỉ có một ngày.

Nhưng chắc dưới suối vàng, anh ấy cũng ngậm cười vì mình đã là đảng viên, dù chưa kịp trở thành đảng viên chính thức.

Các anh Địnhanh Khung ơi, hãy tha thứ cho em là đã đem chuyện của các anh ra kể.

Dẫu biếtrằng các anh chẳng cần gì, nhưng xin cứ để cho em nói ra một lần, âu cũng làthêm một lần tưởng nhớ tới các anh, để thêm một lần bày tỏ lòng biết ơn các anhđã hy sinh để cho những thằng như em được sống.

Những thằng lính trong chiến trường đã từng làm liên lạc đại đội thì sau này khi trở về đời thường đều có phần tháo vát, chăm làm và chịu khó, cung cúc phục vụ vợ con.

Cũng phải thôi vì suy cho cùng, vợ cũng là một dạng thủ trưởng mà.

Cái thằng tôi thật không có khiếu làm liên lạc vì cái khoản ca cóng của mình quá kém.

Đi đâu, lúc nào cũng phải nhăm nhăm nhìn trước ngó sau tìm cái ăn để cải thiện thêm cho thủ trưởng (tất nhiên có cả phần mình), cứ như những con chim mẹ trong mùa sinh sản vậy, quá con mọn.

Lại cả cái khoản mang vác hộ phần gạo hay gì đó cho thủ trưởng khi hành quân thì thật là quá sức với một gã thư sinh thành phố như tôi.

Thú thực là tôi chỉ học được cái nết chịu khó và nhẫn nại qua những việc đó thôi chứ không đáp ứng được yêu cầu.

Vì thế nên tôi rất thích ra tuyến trước, rất thích đi trinh sát cùng anh Băng vì lúc đó mình học được kinh nghiệm chứ không phải lo những chuyện khác.

Cũng một phần biết thằng tôi nó là như thế nên anh Băng cũng hay "thả" cho tôi đi làm nhiệm vụ với các B khác, cho tôi được dịp bay nhảy.

Đầu tháng 9 năm 1972, tất cả đại đội được lệnh rút về hậu cứ.

Được một ngày chuẩn bị lán trại trước khi tham gia cùi cõng.

Nghe nói cả tiểu đoàn tham gia cùi đạn, chắc là công tác lót đạn.

Vô tình mà ngày cả đại đội được làm những việc loanh quanh trong hậu cứ lại đúng là ngày 4/9, kỷ niệm một năm ngày nhập ngũ của tôi.

Một tuổi quân với 365 ngày đã trôi qua.

Có từng ấy ngày thôi mà có biết bao nhiêu chuyện xảy ra với tôi.

Kết thúc quãng đời học sinh, bạn bè chia tay, gần hết số con trai trong lớp vào bộ đội, còn đám con gái thì vào đại học hết lượt, trong đó có không ít đứa được ra học nước ngoài.

Sinh viên năm đầu thì chắc là cũng còn non nớt lắm, chẳng khác bao nhiêu so với lứa tuổi học trò.

Bọn con gái năm đầu học tiếng Tây chắc nhiều vất vả, có khi còn khóc nhè vì nhớ mẹ.

Mấy thằng con trai dạng con một, con liệt sĩ hoặc bị cận thị quá không thể nhìn xa trông rộng được là sót lại để vào đại học thì chắc cũng còn tồ lắm.

Cuộc sống chắc vẫn cảnh mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu.

Thế mà mình, cũng chỉ một năm ấy thôi mà đã có vẻ già đi trông thấy, sắp thành lính cũ rồi.

Va chạm sống chết mấy lần và kinh nghiệm chiến trường đã thu thập được một mớ trong đầu.

Bom đạn nó dạy cho con người ta tuy rất khắc nghiệt, nhưng trưởng thành lên nhanh lắm.

Đêm ấy lằm co trong lán nghe tiếng mưa rơi mà tôi cứ nghĩ mãi về một tuổi quân của mình, không ngủ được.

Nghe được cả tiếng bước chân của người lính gác, cả tiếng ngáy nhè nhẹ của thủ trưởng Băng.

Có một cái gì đó làm mình mềm lòng.

Mà sao nhớ về nhà lại không phải nhớ cha mẹ, lại đi nhớ cái lớp 10A với gần năm chục đứa bạn ấy của mình.

Mười bảy thằng bạn học cùng nhập ngũ, mà sao lại chẳng có đứa nào vào cùng cái tiểu đoàn hay đại đội này với mình.

Chúng nó vào đâu, ở chiến trường nào.

Có đứa nào nhớ đến cái ngày hôm nay như mình không.

Cũng có thể có đứa nhớ.

Còn bọn ở nhà thì chắc chẳng đứa nào nhớ đến cái ngày này năm ngoái đi tiễn bọn chúng tôi ở rạp Đống Đa trên đường Thái Thịnh với những chiếc xe ca Ba Đình chở lính xọc xạch, qua ổ gà cứ như muốn vỡ tung ra.

Nhớ và có phần so sánh số phận, có một chút tủi thân.

Rồi nước mắt chảy ra lúc nào không biết, lạnh cả cổ áo.

Lại thấy mình sao yếu đuối quá.

Rùng mình mở to mắt nhìn bóng đêm xung quanh.

Đây là hậu cứ, nhưng là hậu cứ chiến trường.

Đồng đội xung quanh đang ngủ ngon, nhưng ngày mai vào trận có thể lại có người không thể trở về.

Thôi ngủ đi, yếu đuối một chút chấp nhận được, vì dù sao mình cũng thuộc loại thư sinh, nhưng đừng có hèn nhát là được.

Rồi những ý nghĩ mờ dần, chìm vào trong đêm...

Hôm sau anh Băng đi họp trên tiểu đoàn về, nét mặt quan trọng.

Tôi đoán sắp có chiến dịch chăng, tham mưu con mà, nhưng cũng không dám hỏi vì sợ mắng.

Tôi âm thầm chuẩn bị đồ đoàn gọn nhẹ để mai lên đường.

Hướng đi lại vẫn là Nam đường 23.

Điều khác là lần này tại khu tập kết ngoài các cán bộ D, C, trinh sát của K18, lại còn thêm trinh sát trung đoàn và các thủ trưởng, các cán bộ tác chiến trên E nữa, đến mấy chục người.

Tất nhiên bàn cái gì là việc của các thủ trưởng, liên lạc bọn tôi chỉ biết bám theo thủ trưởng của mình.

Có buổi anh Băng đi họp một mình.

Lại có đêm chỉ có anh ấy đi với các C trưởng khác và trinh sát tiểu đoàn.

Sau rốt rồi cũng đến lúc tôi được đi trinh sát cùng anh Băng, khi đó chỉ có các cán bộ C cùng lính trinh sát D, E.

Đây là lúc các C đi thực địa khu vực của đơn vị mình đảm trách.

Chắc chắn phải có đánh to thì mới phải đi trinh sát và lên phương án kỹ càng như thế này.

Tôi đã quen với các kiểu đánh chốt, phục kích và lùng sục.

Bây giờ thêm kiếu đánh địch trong căn cứ có công sự vững chắc.

Mấy cái loại đánh đấm như trên thì công tác trinh sát cũng bình thường, thậm chí là chẳng trinh sát gì.

Đợt này thấy tổ chức trinh sát bài bản và kỹ càng lắm.

Tôi ngó trộm trên bản đồ thì thấy khu vực lần này chính là cái ngã ba Lào Ngam.

Khu vực này là một điểm chốt chặn quan trọng của địch trên đường từ Pắc-soong vào Pắc-xế mà.

Lại nghe phong thanh bọn lính Thái Lan đóng căn cứ vùng này.

Bọn lính Thái ở đây được mệnh danh là lính con nhà giàu, được trang bị đầy đủ, yểm trợ tốt và khả năng tác chiến hơn hẳn lính Fumi.

Lính Thái chỉ tham chiến ở Nam Lào, vùng Thượng và Trung Lào không có.

Cuối mùa mưa năm 1971, trung đoàn tôi mới đụng độ trận đầu với lính Thái trong một trận phục kích của chính C6 chúng tôi.

Cả một đại đội lính Thái hành quân từ Pắc-xế lên qua khu vực bãi Dứa, rồi túc tắc vạch cây mâm xôi và cành xấu hổ bò lan ra đường cái sau mùa mưa mò lên đến bản Vườn lê 42, chủ quan và nghênh ngang đã bị C tôi choảng cho một trận phải bỏ mạng gần bốn chục xác.

Chúng chạy một mạch về Pắc-xế, bỏ lại cả một tuyến đường 23 dài dằng dặc cho bọn lính Lào chốt giữ.

Những thằng nhanh chân và khiếp đảm có lẽ còn vượt qua cả sông Mekong về đất Thái.

Sau này các đơn vị khác trong E cũng có đụng độ với lính Thái, nhưng trong đó K18 là nhiều nhất.

C tôi cũng gặp lại chúng trong một số trận chốt và phục kích mé đường 231.

Các anh lính cũ kể lại chúng nó đánh trận bài bản như trường lớp.

Thằng chỉ huy thổi còi toe toe cho lính xung phong.

Lính Thái không thạo rừng và láu cá nhanh nhẹn như lính Lào.

Mình chặn nó đấy, nhưng nếu là vướng đường nó thì nó trèo cả qua đầu mính mà chạy, khiến trận đầu lính ta tưởng là nó xung phong dũng mãnh quá.

Nói tóm lại, trung đoàn chuẩn bị chu đáo thế này thì đúng là đánh bọn Thái rồi.

Tôi theo anh Băng và trinh sát mò mẫm vào vùng ngã ba Lào Ngam theo một vòng cung từ Tây xuống Nam.

Có một con suối rất to và sâu như bờ vực ôm lấy khu ngã ba.

Sát hai bên bờ suối thì rừng cây rất to, nhưng lên đến bên trên thì rừng cây lại như kiểu rừng tái sinh mọc rất dày.

Không có cây to để leo lên quan sát nên phải theo bản đồ mà mò vào tận nơi.

Căn cứ địch nằm cách suối khoảng 500 mét.

Toàn bộ khu vực quanh căn cứ được phát quang, có tới 5 lớp rào, toàn là rào lưới đơn và rào bùng nhùng.

Trinh sát cắt rào đơn mở lối bò vào.

Vì đây vốn là rừng phát quang, gốc rễ cây còn lổn nhổn nên địch không cài mìn nhảy và mìn vướng.

Chỗ khó nhất là cái rào bùng nhùng, mầm non cây đã mọc lên quấn vào đó nên tự nhiên tạo thành sự liên kết vững chắc.

Địch chỉ làm những con đường nhất định từ đường 23 đi vào căn cứ, chứ những chỗ xung quanh chúng nó cũng không dễ mà mò từ trong ra được.

Độ rộng vùng phát quang cũng chỉ chừng năm chục mét.

Có lẽ ở Nam Lào thì căn cứ này thuộc loại rào kiên cố nhất.

Anh Băng và trinh sát cứ bò vào rồi lại bò ra quanh khu vực hàng rào.

Ở phía ngoài nếu nép vào các tán cây thì vẫn có thể đứng mà nhìn vào căn cứ.

Tối om vì địch cũng không có đèn đóm, hoặc có thắp dưới hầm thì cũng chẳng nhìn thấy gì.

Nghe trinh sát nói đây là căn cứ kiểu trấn giữ nên không có nhà nổi mà chỉ có các loại hầm thôi.

Trong căn cứ địch cũng không phát quang hết toàn bộ mà cũng chỉ phát từng phần vì chỗ này vốn là một vườn cà phê rộng lớn.

Tấn công vào đó chắc phải chú ý việc ném thủ pháo và lựu đạn.

Liền mấy đêm tôi theo anh Băng và trinh sát đi nắm địch như thế.

Mỗi đêm chọc vào một hướng, cắt rào để chui vào rồi khi ra lại uốn trả lại, địch không thể ra kiểm tra nên cũng không sợ lộ.

Quân ta cũng chỉ nằm tại hàng rào quan sát thầm lặng và nghe ngóng chứ không bò vào hẳn căn cứ.

Ban đêm bọn lính Thái không bắn bậy bạ và chúng cũng cho là an toàn nên không bắn pháo sáng.

Chỉ có pháo lớn từ trong Phù Chiêng bắn ra, nhưng chúng bắn mãi tận đâu đâu trong vùng rừng già chứ không bắn đến vùng căn cứ này.

Vì thế mấy đêm đi trinh sát chẳng có gì là căng thẳng.

Lúc chui vào trong hàng rào rồi thì lại còn thấy an toàn hơn khi còn ở ngoài.

Liên lạc như tôi chẳng biết gì nhiều, chỉ có các thủ trưởng chắc phải bàn tính hướng mở cửa và phương án đánh địch nên phải quay ra quay vào tính toán và giục trinh sát dẫn đường.

Đã sang đến tuần thứ hai của tháng chín, độ ngoài mùng mười gì đó thì chúng tôi rút về hậu cứ.

Một điều bất ngờ đang chờ tôi.

Một tối anh Băng bảo tôi, cậu không phải làm liên lạc nữa.

Đại đội cho cậu đi học công binh phục vụ cho chiến đấu sắp tới.

Té ra anh Băng thấy rõ tôi không có khiếu làm liên lạc nên đã âm thầm chuẩn bị vị trí công tác mới cho tôi.

Tôi hơi cụt hứng một chút, nhưng nghĩ lại thấy mình về B chiến đáu cũng phải.

Thủ trưởng sắp xếp cho hợp lý chứ không phải ghét bỏ mình.

Biểu hiện rõ ràng là anh ấy đã cho tôi đi trinh sát cùng anh lần cuối cùng để chuẩn bị một trận đánh lớn quan trọng, rồi mới trả tôi về B.

Hôm sau tôicùng thằng Thành (Hà Tây) B5 vác ba-lô về C công binh cách đấy một ngày đường.Đại đội công binh trú quân trong một cánh rừng ẩm thấp cạnh một con suối đá khárộng, nước rất trong và chảy xiết.

Lán cũng làm nửa chìm; hầm hố cẩn thận,nhưng lâu chẳng ai chui vào nên trong hầm mốc meo, toàn những con gì chân gàiloằng ngoằng như con gọng vó.

Ẩm thấp vì quanh lán toàn chuối rừng và những câyvả quả còn rất xanh.

Cây sung có quả non còn ăn được chứ quả vả nếu chưa chínthì không thể ăn được.

Chỉ có khu công binh xưởng là đặt trên mấy vạt đất cao.Nơi này an toàn nhưng xa dân.

Khi chúng tôi ở hậu cứ bản Xăn-xi-nuc"may" gần các nương dân thì lúc đói quá cũng có thể trang thủ lúc đicùi cõng tạt qua hay là chập tối trước giờ sinh hoạt có thể chạy ù ra vừa làm"em ông quận công'" vừa trang thủ hái được mấy trái dưa chuột để bổsung vào dạ dày.

Ở đây xa xôi nên chỉ đến bữa có gì ăn nấy nên đói, lại là vìđi tập huấn công binh nên bị quản về thời gian rất chặt.

Lính về tập huấn chừngnon hai chục người từ các C bộ binh của các K họp lại.

C công binh nhường chochúng tôi một dãy lán ở sát một con suối làm nơi trú chân trong thời gian tậphuấn.

Tôi đã đi loanh quanh, thấy nơi này chán ngắt, vừa tối vừa bẩn.

Ban đêmtuy có thể đốt lửa trong lán nhưng chẳng kiếm đâu ra củi, thật mang tiếng ởrừng.

Chả lẽ đốt bằng thân chuối rừng hay cành vả tươi.

May mà chúng tôi mangtheo nhiều giấy dầu nên có cái mà thắp sáng ban tối.

Chỗ này chỉ được mỗi consuối đá, tuy không rộng nhưng nước chảy xiết và rất trong.

Một điều hết sức dởhơi là ở chỗ này mọi người không làm nhà cầu.

Tất cả đều cho xuống suối.

Vìsuối chảy rất mạnh nên tôi đoán là chỉ sau độ một ngày, nếu không bị tan ra chocá nó rỉa thì tất cả chất thải chắc cũng trôi ra đến sông Me-kong.

Mà chẳnghiểu bọn lính nhà bếp lấy nước ở chỗ nào để nấu cơm cho đơn vị.

Chẳng lẽ chỉkhoắng qua một cái, khuất mắt trông coi như cầu tõm Nam Hà?

Mà ngay cả chúngtôi cũng thế, vừa xử lý nỗi buồn xong, ngoảnh đi ngoảnh lại đã có thể bình thảnthò chân thò tay xuống lấy nước rửa dáy, thậm chí là tắm giặt hay rửa mặt đượcrồi.

Lúc đó lính là vua trong rừng nên chẳng xá gì chuyện vệ sinh môi trường.May mà không có thằng nào chết vì bẩn.

Nhưng tôi nghĩ các cán bộ C công binhcũng cho xử lý như thế thì thật ẩu và liều.

Ổn định chỗ ăn ở ngay trong chiều tối hôm đó, sáng sau chúng tôi đã bắt đầu tập trung học về công binh.

Đại đội công binh có một cái hội trường rộng làm trên sườn dốc.

Mái lợp bằng thứ lá gì đó như lá mía rừng, nhưng ken dầy nên chống được nước mưa.

Ghế ngồi là các thân gỗ gác trên các cọc bắt chéo.

Phần lý thuyết được giảng bằng giáo cụ trực quan và vẽ trên giấy.

Chúng tôi ai có giấy bút gì thì cứ ghi, còn không thì cố mà nhớ.

Phần thực hành thì ra một bãi đất rộng ở cách đó khá xa.

Chúng tôi được học về thủ pháo trước tiên.

Học cách bấm kíp, gắn nụ xòe, tập gói thủ pháo từ 2 miếng TNT 2 lạng, cách bọc nilon chống ẩm.

Rồi lại học cách buộc thủ pháo ống dài 1,2 mét ép bằng nẹp tre, dùng để phá hàng rào đơn.

Loại bộc phá khối để phá lô-cốt như thời Điện Biên thì không phải học.

Tuy thế vẫn được giới thiệu cách tính toán lượng thuốc TNT để gắn thêm kíp phụ kích nổ đồng thời.

Được giới thiệu cả hợp chất nổ C4 và dây nổ để kích nổ đồng thời mìn cài ở nhiều vị trí xa nhau.

Những của này tôi cũng có biết qua.

Lính Fumi đem rất nhiều mìn Cleimo khi hành quân dã ngoại.

Mỗi cái túi vải đựng 2 quả và một hộp công tắc bấm (công tắc điện-từ).

Hầu như trận nào đánh kha khá một chút là có chiến lợi phẩm loại này.

Thường chúng tôi lấy cái túi vải đựng mìn, gỡ bỏ chỉ máy ở vách ngăn đi để làm cái túi dết công tác rất tiện.

Còn mìn thì tháo bỏ kíp điện rồi dùng dao găm cậy vỏ.

Mỗi quả mìn được 4 lạng thuốc trắng phau, dẻo, cất đâu cũng tiện.

Lúc đói có thể vê một tí bằng hòn bi ve, ăn ngòn ngọt, tạm chống đói.

Còn chủ yếu để đun nước sôi pha chè hay cà phê.

Tặng của này cho y tá đại đội thì thật hết chê.

Còn dây nổ thì theo tôi là một loại vũ khí quá tuyệt vời.

Chỉ cần kích nổ 1 chỗ là nổ cả dây, không phải gài kíp phụ.

Tốc độ truyền nổ của nó là 3000 m/s.

Các lính công binh trong trung đoàn tôi thường quấn quanh gốc cây to rồi cho nổ để hạ cây đổ qua suối làm cầu.

Vết nổ cắt thân cây ngọt lịm, gọn gẽ chứ không phá nát thân cây.

Tiếp theo là học các loại mìn cài.

Chúng tôi học 2 loại mìn ống: POMZ2 của Liên xô và mìn chân voi (mìn nhảy-mìn râu tôm) M1 của Mỹ.

Học cả mìn chống tăng nữa.

Biết cách cài và cách gỡ nó như thế nào; học cả các thủ đoạn cài bẫy phụ chống tháo gỡ.

Các bài giảng và thực hành học rất kỹ.

Ngoài các loại mìn cài thụ động ấy, chúng tôi còn học khá kỹ về dùng mìn cleimo có kíp điện.

Ngoài việc điểm hỏa chủ động còn có thể cài bằng pin điện theo nguyên lý vướng nổ và "căng-chùng" nổ.

Toàn là của giết người ghê răng cả.

Thời gian chúng tôi học các nội dung như trên cũng chỉ chiếm một tuần thôi.

Suốt hai tuần còn lại chúng tôi học về mìn định hướng ĐH và cách đánh hàng rào để mở cửa.

Chúng tôi học cách tiềm nhập có dò gỡ mìn bằng que thuốn, học cách bò kiểu sâu đo có đeo mìn định hướng mà quả nặng nhất là ĐH30 (30kg).

Không hiểu sao lúc đó đói ăn, gầy gò mà lại tập được những động tác dùng đến nhiều cơ tay, cơ bàn chân và bụng như vậy (bây giờ thấy bọn sinh viên ở các trường đại học khi học thể dục tập hít đất có mươi cái mà trầy trật, vặn vẹo cứ như người không có xương, mới biết ngày xưa lính ta giỏi thật).

Chúng tôi được đến tham quan xưởng sản xuất mìn định hướng ĐH của C công binh.

Xưởng làm cách xa nơi ở tại một góc rừng riêng.

Có hẳn một lò rèn ngày nào cũng đỏ lửa.

Trung đoàn chúng tôi tự đốt than, xây bễ.

Mọi loại dao rừng và cuốc xẻng phát cho các đơn vị trong E đều do C công binh này tự rèn.

Thép lấy từ các trận địa cũ về, nhiều lắm (nhưng nói thật là đối với bộ binh ở tuyến trước, cái xẻng pháo binh của Liên-xô là tuyệt nhất.

Nó mỏng, cứng và rất sắc, xắn rễ cây ngọt lịm.

Còn cái loại xẻng-cuốc gập đa dụng của công binh Mỹ thì chỉ lấy đem về hậu cứ chơi hay tặng cho nhà bếp thôi chứ mang ra trận thì nó vừa cồng kềnh, vừa lọc xọc rất khó chịu).

Các lính công binh gò tôn (của này ngoài đường 23 có mà thiếu giống) làm khuôn trông như cái phễu tòe to, tùy loại mà dày 3 đến 5 phân.

Mặt lõm xếp đầy mẩu sắt, mảnh đạn nhỏ đã ngâm nước đái cho rỉ, sau đó đun thuốc TNT đổ vào.

Gò kín, có chừa lỗ ở giữa để nhét kíp nổ là xong.

Mìn DH7, DH10 hay DH30 là tên gọi theo trọng lượng của nó.

Cách xếp mảnh ở mìn DH ngược với hướng cách xếp các viên bi của mìn Cleimo.

Mìn DH do công binh E làm chủ yếu dùng để phá hàng rào, mở cửa nhưng nếu cần cũng có thể dùng khi đi phục kích đánh bộ binh rất tốt.

Các mảnh sắt rỉ do ngâm nước đái chỉ cần sượt da đối phương làm bị thương cũng có nhiều khả năng gây nhiễm trùng uốn ván mà chết.

Dã man quá.

Song nghĩ lại, đạn bi, bom bi hay những mũi tên sắt có đuôi xếp đầy trong đầu đạn pháo của địch thì cũng nguy hiểm như thế chứ kém gì.

Chúng tôi được mượn những quả mìn DH10 (loại này sẽ dùng chủ yếu) ra bãi tập làm giá.

Mỗi giá gá 3 quả theo chiều dọc sát nhau, chân cao cỡ 20 cm.

Học cách dựng giá mìn trước hàng rào.

C công binh còn có cả một thao trường nhỏ dựng sẵn một số loại rào thép gai.

Qua đó chúng tôi học biết cách phá các loại rào bằng mìn DH sao cho có hiệu quả.

Nếu căn cứ địch có nhiều hàng rào thì phải cắt bớt các hàng rào phía ngoài bằng kìm cộng lực (loại có tay gấp của công binh chứ không phải cái loại to kềnh càng như của dân xây dựng bây giờ đâu), sau đó dựng mìn để phá các lớp rào trong cùng.

Kể ra thì rất dài dòng như thế, nhưng tóm lại là trong thời gian 3 tuần đó chúng tôi học rất bài bản và kỹ càng.

Mấy ngày cuối còn thực tập ban đêm, kể cả khi trời mưa cho quen với thực tế.

Sau đợt học ấy nếu trong chúng tôi có thằng nào được bổ sung ở lại C công binh thì cũng có thể coi là lính công binh được rồi.

Thời gian tập huấn ở C công binh khá vất vả nhưng chúng tôi rất hào hứng vì mình thu được rất nhiều kiến thức hay.

Cái mệt của tập tành dù sao vẫn sướng hơn đi cùi cõng đạn, gạo.

Hôm nào học trên hội trường thì quần áo khô sạch sẽ dù bên ngoài mưa rơi.

Lúc giải lao quấn điếu thuốc sâu kèn rít rồi nhả khói ra ngoài trời, nhìn hàng nước mưa trên giọt gianh rơi xuống đất lỗ chỗ rồi nổi bong bóng trôi đi thì cũng cảm thấy ấm cúng và hạnh phúc lắm.

Cuộc sống chiến khu của các bậc cha chú năm xưa chờ ngày toàn thắng chắc cũng giống thế này.

Buổi tối cúng tôi thường thắp giấy dầu đánh bài.

Vì chỉ có mấy người nên không phải sinh hoạt nhiều như ở đơn vị.

Lại không phải gác đêm nữa chứ, quá nhàn.

Vào trong chiến trường tôi mới biết đến kiểu đánh bài "tiến lên" bằng bộ tú-lơ-khơ.

Mà cũng chỉ đánh kiếu đó thôi chứ không ai chơi kiểu "tấn-đỡ" như ở nhà.

Chơi kiểu "tiến lên" rôm rả lắm, từ 3 người trở lên là đã chơi được rồi.

Có đông người ngồi cổ vũ càng vui, không phải dè chừng như đánh cờ tướng.

Bộ bài thì đơn vị nào cũng có, A nào cũng có một bộ.

Đây cũng là một loại chiến lợi phẩm chúng tôi thích thu thập, được lấy dùng tự do mà không phải nộp cấp trên theo chính sách chiến lợi phẩm.

Trong lính mà không có chơi bài kiểu này, chắc cũng đến buồn mà chết.

Ngày cuối cùng đợt học, chúng tôi họp tổng kết vào buổi sáng.

Tham mưu trưởng trung đoàn cũng đến dự.

Ông ấy khen ngợi tinh thần học tập miệt mài và nghiêm túc, đạt kết quả tốt của chúng tôi.

Ông còn vui mừng tuyên bố là sẽ từ chúng tôi mà nhân rộng ra dưới đơn vị, từ nay trong các trận đánh của bộ binh, phần dựng mìn mở cửa sẽ do bộ binh đảm nhiệm toàn bộ.

Trung đoàn động viên luôn chúng tôi bằng một bữa ăn tươi cùng C công binh: mổ thịt một con lợn.

Rau cỏ không có gì, nhưng thịt thì cũng đủ ngập chân răng.

Buổi chiều chúng tôi được nghỉ tắm giặt.

Lại ra cái suối mà 3 tuần qua mình thải chất rắn ra đó để tắm.

Chuyện thường thôi mà.

Hôm sau tất cả chia tay, ai về đơn vị nấy.

Mỗi thằng được phát một nắm cơm nếp ăn trưa vì hầu như các đơn vị đều ở xa.

Bọn K18 chúng tôi về xa nhất, phải bảy tám tiếng đi đường.

Cả tốp đi cùng được hơn nửa đường lại chia tay nhau lần nữa, ai cũng muốn đi lối đi riêng để còn lo cải thiện.

Thằng Thành dẫn tôi vòng ra phía bản Phù-đin.

Tuy có xa hơn, nhưng qua được một số nương dân.

Mỗi thằng chúng tôi hái được một túi vải đầy thuốc lá.

Quá nửa chiều rồi, thằng Thành dẫn tôi vào một nương ngô.

Ngô nếp của dân rất nhiều.

May quá gặp dân, chúng tôi liền hỏi xin.

Một người dân Lào tuổi cỡ cha chú chúng tôi vui vẻ bảo chúng tôi cứ lấy tùy thích, lại còn chỉ cho chúng tôi cái nồi nhôm to tướng để ở dưới lều phía góc nương.

Thế là thằng kiếm củi nhóm bếp, thằng bẻ vội ngô.

Có một lạch nước nhỏ cạnh lều nên chẳng phải đi đâu xa.

Ngô luộc chín còn nóng đã đổ vội ra chén.

Không hiểu sao lúc ấy chúng tôi lại như ma đói, ăn ngon đến thế.

Hết nồi ngô này lại bẻ tiếp ngô chất củi luộc tiếp nồi khác.

Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò tào lao, quên cả thời gian trôi qua trên đầu.

Tắt hết nắng thì người dân Lào quay lại.

Ông ta tròn mắt nhìn đống lõi ngô và hai thằng bọn tôi đang ngồi thở.

Ông ấy bảo có nhiều bộ đội à.

Chúng tôi đưa mắt đếm lược vội đống lõi ngô, phải đến sáu chục chiếc chứ không kém.

Chết cha, hai thằng xin mấy bắp mà ăn như thuồng luồng thế này thì còn gì là nương ngô của dân nữa.

Xấu hổ quá, thằng Thành đứng lên khom người lắp bắp "men lẹo" (dạ đúng) rồi kéo tôi đứng dậy.

Hai thằng vừa "khớp chay" (cảm ơn) vừa lùi dần ra nương rồi chuốn thẳng.

Thoát khỏi người dân Lào là vừa đi vừa chạy, đau quặn cả bụng mà không dám dừng.

Trời tối rất nhanh.

Nghỉ tạm bên suối lấy vội bi-đông nước.

Bây giờ mới tiếc là không kịp lấy nước ngô đổ vào bi-đông lúc trước, khi đó chỉ mải ăn thôi.

Nếu không có chuyện xin ngô luộc ăn thì chúng tôi cũng đã về đến đơn vị rồi và có thể mò xuống anh nuôi xin bữa cơm tối.

Nhưng lúc này chúng tôi cũng không đói, cũng không cần đến bữa ăn tối ở đơn vị nữa.

Thằng Thành nhẩm tính đường về đến đại đội chắc chừng non hai tiếng nữa nhưng đấy là đi ban ngày.

Bây giờ đi đêm mò mẫm chắc mất nhiều thời gian hơn.

Chúng tôi ai cũng có đèn pin (chiến lợi phẩm) nhưng pin thì đã hết từ lâu rồi.

Thằng Thành là lính Hà Tây vào trước tôi đã đánh nhau với lính Thái còn lấy được một chiếc đèn pin cổ ngoéo của Mỹ chính hiệu tuyệt vời lắm.

Cổ đèn có thể vặn thẳng hay gập thước thợ.

Vỏ đèn bằng nhựa (màu xanh ghi) rất kín nên có thể soi chìm được trong nước và đặc biệt cái đèn có một mắt kính mờ có thể dùng để soi xem bản đồ ngay trong hàng rào mà thằng lính gác đứng cách đó hơn chục mét cũng không phát hiện ra vệt sáng.

Đèn xịn nhưng hết pin thì cũng bằng nhau với đồng bào.

Mò mẫm về đơn vị trong đêm vừa vất vả mà lỡ ra không bắt liên lạc được, bị thằng gác nó bắn nhầm thì cũng toi nên thằng Thành bàn với tôi rồi quyết định ngủ đêm lại trong rừng, sáng mai sẽ về đơn vị.

Lính tráng hành quân, tăng võng đầy đủ, ngả đâu đấy là nhà nên chẳng có gì phải lo lắng.

Chúng tôi mắc võng cạnh nhau, ôm súng trong võng mà ngủ.

Chỗ này là vùng hậu cứ cũng ít khi có thám báo nên chúng tôi còn hút thuốc và rì rầm nói chuyện chán rồi mới ngủ.

Sáng hôm sauchúng tôi dậy sớm rồi mò về đơn vị, thế mà cả đơn vị cũng đã đi cùi đạn rồi.Chúng tôi mất bữa sáng, nhưng được nghỉ lại hậu cứ để làm việc vặt.

Thằng Thànhkhông chịu đói, mò sang nương của bảnXăm-xi-nuc "may" đào được một mớ dong (loại dân Bắc dùng làm miến) vềluộc, còn chất lượng hơn cả bữa ăn sáng của đơn vị.

Buổi trưa hôm đó lại gặpmay.

Kể cả hai chúng tôi và anh nuôi, cán bộ... trong hậu cứ còn lại chưa đếnchục người, trong đó có C phó Hùng.

Anh Hùng người Hà Tây, không phải dân tộcnhưng rất máu đi săn.

Anh ấy lấy được một khẩu Cacbin chiến lợi phẩm nhưng đểlại ở hậu cứ C, không nộp lên trên (Trên D bộ K18, các anh tác chiến, quản lýcũng giữ mấy khẩu Cacbin chuyên cho việc đi săn.

Không nộp lên trên, nhưng lúchành quân chuyển hậu cứ thì phải tự mang).

Ngay trong rừng hậu cứ C tôi cũng cónhiều chồn, sóc vì là rừng già có nhiều cây to.

Mọi ngày nếu ở nhà có đông ngườithì không ai cho bắn, nhưng hôm đó anh Hùng là chỉ huy cao nhất nên tự quyết vàrình bắn được một con chồn hơn 3 cân.

Anh Hùng cũng thuộc loại "cacóng" có đẳng cấp trong C tôi.

Thế là bữa trưa anh em hậu cứ có một bữatươi, rôm rả.

Tôi và thằng Thành được một ngày thoải mái sau đợt tập huấn côngbinh, chuẩn bị sẵn sàng cho nhiệm vụ mới đang chờ.

Tôi lại về B5 với anh Trịnh.

Trả đạn ở khu trung chuyển sau chuyến cùi cõng xong, các B lục tục kéo về hậu cứ hưởng bữa cơm chiều.

Rửa chân tay từ suối lên, ngúc ngắc cái đầu húi cua, nhe cái răng vàng to tướng ra cười khi thấy tôi đứng trước lán của tiểu đội, anh Trịnh vỗ vai tôi:

- Mày lại về với tiểu đội hả.

Thôi được rồi, lại như xưa cũng tốt.

Thế này có khi hay, mày ở lính đánh nhau hợp hơn làm "tít tò" (liên lạc - tiếng Lào) cho mấy ông ấy.

Lăng xăng mãi cũng chán.

Vào nhà đi, tối sinh hoạt, giao việc.

Rồi anh ấy lấy trong túi ra hai quả ổi ương trảy được ở đâu đó lúc đi cùi đạn, đưa cho tôi một quả.

Quả ổi ương quá rắn, cắn mãi mới được một miếng bé, nhưng nhai kỹ thấy trong cái chát cũng có tí vị ngọt.

Cơm chiều xong, đại trưởng Băng gọi tôi và thằng Thành lên C bộ.

Chúng tôi báo cáo lại tình hình đợt đi tập huấn về công binh.

Hai thằng bổ sung báo cáo cho nhau và trả lời các câu hỏi của BCH đại đội mất gần một tiếng đồng hồ.

Đại trưởng Băng bảo: "Chúng mày thế là biết quá nhiều rồi đấy, có khi hơn cả bọn anh.

Chuẩn bị tập huấn lại cho trung đội rồi tập chiến thuật nhé.

Sắp đánh to đấy".

Chúng tôi vâng dạ rồi trở về B5.

Buổi tối sinh hoạt A, nhưng nội dung không có gì đặc biệt.

Ngày mai chỉ là đi cùi gạo, nhưng lót sang tận mép đường 23.

Tuy thế cũng có một điểm mới trong lúc tôi đi tập huấn công binh là đơn vị vừa được trang bị thêm một loạt súng chống tăng B41.

Toàn là súng của Trung Quốc.

Hỏa lực này mạnh hơn B40 ở tầm bắn xa (375m theo thước ngắm, trong khi B40 chỉ có 150m) và có cơ chế tự nổ theo thời gian nếu trước đó không gặp mục tiêu.

Khẩu súng cũng có điểm hay là có buồng giảm áp giữa nòng súng và ống che lửa phía đuôi nên xạ thủ khi bắn an toàn hơn, có thể cấp tập được nhiều đạn hơn mà chưa tức ngực.

Trung đội tôi cũng được 2 khẩu và tôi cũng rất muốn có dịp bắn thử.

Dạo nọ ở nam đường 23 mà đã có khẩu này đi tập kích ban đêm thì quá tốt.

Anh Trịnh thấy tôi cứ loay hoay sờ mó mãi khẩu súng B41 và quả đạn thì cười bảo: "Thể nào chả có lúc được bắn.

Mong hòa bình để được buông tay súng mới khó chứ chiến tranh thế này thì dù không muốn cũng có lúc phải dùng đến.

Thôi ngủ đi mai còn cùi cõng".

Hôm sau cả C lên đường từ sớm.

Nhận ngay từ hậu cứ tiểu đoàn, mỗi thằng một bao gạo đồ 25 cân.

Dạo này tuy đang mùa mưa, không hiểu sao xe tải lại vào được hậu cứ trung đoàn một cách ngon lành.

Chúng tôi bắt đầu được ăn cơm gạo đồ thay cho cơm nếp.

Nói thật là vì ăn cơm nếp mãi nên chán (dù vẫn bị đói) nên chúng tôi hào hứng đón nhận món gạo mới này thôi, chứ thật ra cơm gạo đồ nó cứ chuồi chuội thế nào ấy.

Chẳng hạt nào dính hạt nào.

Không thể dùng loại cơm này để dán giấy như cơm gạo tẻ thường của mình.

Ấy thế mà dân Lào lại thích gạo này chứ không thích gạo tẻ của mình.

Tìm hiểu mãi hóa ra họ quen ăn bốc bằng tay nên thứ gạo này hợp với tập tục của họ.

Một bao gạo, thêm súng ống và cơm nước vào là đủ 30 cân đè lên vai rồi.

Sau mấy tuần ở C công binh không rèn luyện cùi cõng, trọng lượng đó đè nặng trên vai tôi hơi quá mức bình thường nên chỉ sau chừng hai tiếng, vượt qua vài dốc suối là tôi đã bị tụt lại cuối đội hình.

Vẫn phải vươn dài cổ ra mà đi chứ chẳng dám kêu ai.

Tới chỗ nghỉ, người ta nghỉ giải lao được mười phút thì tôi chỉ được nghỉ dăm phút thôi là đi ngay vì phải cố bám đội hình.

Sau chặng thứ hai ngồi nghỉ sát một cái nương dân, tôi bỗng thấy một con chó khá to đứng cạnh lùm cây bên đường nhìn tôi thân thiện.

Lông con chó màu vàng, giống như đại đa số những con chó ở làng quê ngoài Bắc.

Thấy nó không gầm gừ mà vẫy đuôi, tôi tặc lưỡi "tục, tục" mấy cái.

Thế là nó tiến lại sà vào chân tôi, vẫy đuôi rối rít cứ như là lâu ngày gặp lại chủ.

Con chó còn để nguyên cho tôi vuốt tay lên đầu.

Lúc tôi xốc bao gạo đứng dậy đi tiếp, nó liền đi theo.

Tôi chỉ ngoái lại nhìn nó một lúc rồi cắm đầu cắm cổ đi theo đơn vị.

Lại qua suối và dừng nghỉ chân giải lao ở chặng thứ ba, tôi bất ngờ thấy con chó xuất hiện và chạy rúc vào chân mình.

Hóa ra nó đã đi theo tôi cả một chặng đường dài, lại dám lội qua cả suối.

Bây giờ thì tôi bạo dạn hơn, ôm nó vào lòng, vuốt tay lên đầu mà cảm thấy như cái mệt của mình vơi đi rất nhiều.

Một thứ tình cảm nào đó chợt xuất hiện trong tôi.

Tôi là chú bé Rê-mi còn nó là con Ca-pi trong "Không gia đình" của Hecto Malo chăng?

Không thể giải thích nổi vì sao mà con chó lại đi theo tôi, cứ như tôi là chủ nó vậy.

Tôi đi thì nó đi theo, tôi ngồi nghỉ thì nó cũng nằm nghỉ bên cạnh chân.

Cứ như thế cho đến khi chúng tôi trả gạo vào buổi trưa.

Suất cơm trưa ít ỏi, nhưng tôi cũng chia cho nó một phần.

Chỉ dám cấu từng viên cơm to như hòn bi ve chậm rãi cho nó ăn và cho mình ăn.

Không thể đủ no cho cả hai nhưng tôi và chắc là cả nó cũng đều hài lòng.

Có khác nào cảnh ông già Vi-ta-lít và anh bạn Rê-mi chia từng mẩu bánh mì nhỏ cho cả chú khỉ Giô-li-cơ lẫn mấy con chó Ca-pi, Đôn-xơ và Giec-bi-nô ở cánh rừng hoang lạnh giá trong cái đêm bị chó sói tấn công.

Tất cả đều đói, nhưng nhẫn nại và cam chịu trước hoàn cảnh.

Tôi vuốt con chó này, thấy nó không đến nỗi gầy như chó hoang, chắc chủ nó cũng cho ăn đủ, vậy thì nó đi theo tôi làm gì.

Buổi chiều quay trở về đơn vị, con chó vẫn chạy theo tôi.

Bây giờ thì lính trong trung đội mới chú ý đến nó.

Ba lô lúc về không còn gạo, chân bước nhẹ tênh nên có lúc tôi bế con chó, có lúc lại bỏ nó vào ba lô khi lội qua mấy cái suối rộng cho nó đỡ mệt.

Cũng chẳng biết con chó của ai mà đem trả.

Lúc đi ngang qua mấy cái nương cũng không gặp người dân nào.

Lính tráng tranh thủ tạt ngang tạt ngửa vặt cái gì đó cho vào mồm hay hái vài lá thuốc lá của dân nhưng con chó của tôi thì chả ăn được thứ gì.

Tôi bảo anh Trịnh là thôi, em cứ đem con chó về hậu cứ để nuôi nhé.

Chẳng hề nghĩ đến sẽ nuôi nó như thế nào, nhưng cứ đem về cái đã.

Do lúc về trời đã sang chiều, lại tạt ngang nương của dân nhiều quá nên trời sập tối mà chúng tôi vẫn chưa về đến hậu cứ.

Tự nhiên lúc đó tôi lại đau bụng mới chết chứ.

Đau quặn cả người, mồ hôi vã ra, chân tay rã rời, mặt nhợt nhạt.

Tôi cứ cố vùng dậy đi một đoạn ngắn lại phải ngồi xuống ôm bụng nhăn nhó.

Không thể chờ nhau mãi được, anh Trịnh quyết định chuyển con chó cho người khác đem về trước, còn anh ở lại dìu tôi đi sau.

Mãi đến hơn 9 giờ tối tôi mới cùng anh Trịnh về đến hậu cứ của trung đội.

Lúc này cơn đau bụng của tôi cũng đã dứt.

Cả trung đội đã ăn cơm tối, chỉ còn phần lại cho hai người.

Tôi giật mình thấy trong một góc xoong sáu có ít thịt, kêu lên hỏi thì B trưởng Quân bảo: "Ăn đi, thịt chó đấy".

Thế là thế nào, mọi người đã thịt mất con chó gắn bó cả một ngày với tôi rồi sao.

Mà sao chẳng ai nói trước gì cả với tôi.

Tôi cáu lắm mà chẳng biết làm thế nào, bắt đền được ai, trách được ai bây giờ.

Đói mà tôi thấy đắng ngắt, không ăn được, có một cái gì đó vừa nghẹn ngào, vừa chua xót.

Cũng chẳng cần phải phân bua hay dỗ dành gì như với con trẻ, anh Quân bảo thẳng tưng như ra lệnh.

Nào là con chó chẳng phải của ai, nào là không thể nuôi được nó, nào là cần để cải thiện cho anh em có sức... vân vân và vân vân.

Tất nhiên anh ấy có lý nhiều hơn để đè bẹp đi cái tình cảm ủy mị của tôi.

Tôi không thể trách mãi các anh ấy, nhưng vẫn mặc cảm như mình có lỗi.

Dù đó chỉ là một con chó, nhưng tôi đã lạm dụng vào lòng tin, vào bản tính trung thành cố hữu của một con chó khi nó bám theo tôi.

Hồi ở bản Phiệt bên huội Chăm pi, khi mới chỉ là lính mới mà tôi đã là thằng trộm gà rồi, bây giờ lại trở thành thằng bắt chó, thật là tồi tệ.

Nếu biết tôi cũng chỉ là hạng trộm gà bắt chó thì chắc con chó đã tránh xa tôi rồi.

Khổ thân cho nó.

Cả trung độitôi đã thịt trộm và xơi hết cả một con chó trong đêm ấy.

Thế nhưng vẫn có haingười không đụng vào một chút nào.

Người thứ nhất là tôi.

Vì không chủ định vớicái chuyện bắt chó ấy nên tôi mặc cảm và không thể ăn nổi miếng nào, dù các anhtrong đơn vị có tán kiểu nào đi nữa.

Người thứ hai là anh Thanh làm anh nuôi,người dân tộc Tày.

Anh ấy bảo dân tộc anh ấy không ăn thịt chó, cũng như ngườiLào vậy.

Chẳng bù cho B trưởng Quân là người dân tộc Mường, nổi danh gan góckhi đánh trận đấy nhưng cũng nổi danh là vua "khợp" trong đại đội,chả có con gì mà anh ấy không dám ăn.

Kể cả món bọ hung vặt cánh giã cùng muốiớt chấm xôi, đặc sản của người Lào, anh ấy cũng chẳng từ.

Việc trung đội làmthịt con chó cũng khá vất vả.

Thoạt đầu anh Thanh không cho mượn xoong nồi.

Mãisau nằn nì quá anh ấy đành cho mượn nhưng bắt đem xuống dọc suối một đoạn xamới cho nấu nướng.

Những thứ bỏ đi như xương xẩu phải đem chôn kỹ.

Sau đó cònphải đem xoong nồi đi xa, lấy đất và lá rừng cọ cho đến khi không còn mùi anhấy mới nhận lại.

Chuyện như thế mà rồi cũng giấu được đại đội, không ai biếtcũng nhờ đặc điểm B5 đóng riêng lẻ trên một góc đồi cách đại đội cả một consuối và đoạn đường dốc lớn.

Ngày hôm sau, mọi việc lại trở lại bình thường.

Bây giờ đã sang đầu tháng 10 năm 1972 rồi.

Chỉ trong hơn chục ngày tiếp theo thôi mà chúng tôi làm đủ mọi thứ việc.

Việc đầu tiên là cả đại đội ra khu bãi Đá, trận địa cũ của địch để tập chiến thuật cho sát thực tế.

Các C khác có lẽ cũng vậy, nhưng mỗi C một khu vực riêng.

Lần đầu tiên chúng tôi được giới thiệu và tập chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc.

Cách đánh này có lẽ là bài bản từ thời Điện Biên, có khác chăng chỉ là hiệp đồng và phối hợp giữa các bộ phận.

Các anh đã qua trường SQ Lục quân chắc thuộc lòng từng bước chiến thuật này.

Trinh sát đi thực địa nắm địch, báo cáo tiểu đoàn rồi lên phương án tác chiến.

Đầy đủ nhất thì đắp sa bàn, còn thường chỉ là bày quân cờ trên mặt đất rộng để dễ hình dung trận địa.

Đánh mỗi căn cứ thường có 3 mũi, mở cửa 3 hướng, lệch nhau chừng 120 độ.

Có khi chỉ có 2 cửa mở, còn một hướng phục đón lõng đánh bọn rút chạy hoặc đánh quân tiếp viện.

Tùy theo đánh căn cứ cỡ đại đội hay tiểu đoàn địch mà ta điều quân trên đó một cấp. (Cái này theo lý thuyết từ thời Điện Biên thì lực lượng bên ngoài phải gấp từ 3 đến 5 lần lực lượng chốt giữ thì mới mong thắng được).

Trên vùng Nam Lào địch thường đóng căn cứ cỡ đại đội trở lên, còn cỡ trung đội thì chỉ là đóng dã ngoại hay lập chốt như quân ta.

Về chiến thuật trên một hướng thì sau khi chọn hướng cửa mở, ban đêm bộ đội sẽ phải tiềm nhập vào đó.

Bộ phận mở cửa cắt bớt các lớp rào ngoài rồi chui vào dựng các giá mìn sao cho khi điểm hỏa thì đủ sức phá thông nốt số hàng rào còn lại.

Các trận đánh của chúng tôi thường bắt đầu vào lúc 5 giờ sáng, khi trời còn nhờ nhờ nhìn chưa rõ mặt người.

Cùng với hiệu lệnh bấm mìn phá hàng rào, các tay súng hỏa lực bắn thẳng tại chỗ (B40, B41, DK, 12ly7) của đại đội và tiểu đoàn (đã chui vào đào hầm trong đêm theo hàng ngang, ngay sát lớp hàng rào ngang bằng với chỗ đặt giá mìn) sẽ bắn cấp tập vào khu lô cốt đầu cầu nhằm đập nát các hỏa điểm và công sự tại đó.

Cùng lúc các loại cối pháo cấp trên sẽ cấp tập vào cùng khu cửa mở đó để chế áp và tiêu diệt các hỏa điểm của địch.

Tùy theo thời gian của từng trận (15 đến 20 phút hoặc hơn), pháo cấp trên sẽ chuyển làn sâu vào trong căn cứ địch.

Lúc này hỏa lực B40, B41 tạm ngừng, còn 12ly7 sẽ bắt đầu phát hỏa, bắn chéo vào cửa mở tạo lưới lửa che phía trước cho bộ binh.

Cối 60 của đại đội cũng bắn sâu vào trong, nhưng độ linh hoạt của nó cao hơn các loại cối pháo của cấp trên.

Lệnh được phát ra và bộ binh (bố trí phía sau theo hình cánh gà) sẽ đồng loạt xung phong vào cửa mở.

Bộ binh chạy đến đâu thì 12ly7 sẽ rê dọc theo sao cho đường đạn phải bay trước bộ binh chừng 15 mét.

Bộ binh chạy qua khu hỏa lực ở cửa mở thì bốc luôn theo hỏa lực B40, B41 của tiểu đội mình nhập vào đội hình.

Lúc bộ binh chạy vào sát đến khu lô cốt đầu cầu thì 12ly7 phải ngẩng nòng bắn sâu vào căn cứ địch, cao hơn trên đầu bộ binh chừng 1,5 mét trở lên, mục đích lúc này chỉ là uy hiếp địch trong căn cứ bằng tiểng nổ.

Khi bộ binh vào đến khu đầu cầu thì tự dùng thủ pháo và AK đánh chiếm các công sự, còn hỏa lực B40, B41 chỉ hỗ trợ khi nhìn rõ mục tiêu.

Trong đánh căn cứ, bộ binh chỉ dùng thủ pháo, không dùng lựu đạn để tránh mảnh văng lung tung.

Đơn vị đầu tiên (thường là cả trung đội) vào cửa mở chủ yếu chỉ cần chiếm cửa mở để tạo đầu cầu làm bàn đạp.

Đây cũng là lúc cối pháo cấp trên dừng chi viện.

Đơn vị thứ hai sẽ lao thẳng vào cửa mở, vượt qua đầu cầu tạo mũi nhọn đánh thọc sâu vào tung thâm, kết hợp với đơn vị phía sau nữa đánh tỏa ra căn cứ.

Sau đó thì cứ thế mà đánh lan ra cho đến khi bắt tay được với đơn vị bạn ở hướng khác thì thực hiện tảo thanh.

Làm chủ trận địa xong lại phải khẩn trương thu vũ khí, chiến lợi phẩm đồng thời làm ngay công tác thương binh tử sĩ để nhanh chóng rút khỏi trận địa vì khi chắc chắn biết đã mất căn cứ, địch thường tập trung pháo và máy bay ném bom đánh thẳng vào trận địa.

Một trận đánh cỡ căn cứ có đại đội địch thường chỉ hơn một tiếng là đã gọn gẽ.

Trong trường hợp cần giữ đất thì lại phải tổ chức chốt ở xa chỗ khác để chặn địch chứ không được chốt trong căn cứ.

Có căn cứ chỉ sau một tuần khi ta bỏ đi, địch đã lại đưa quân lên lập lại căn cứ mới.

Còn nếu chiến sự vào sâu hơn thì sau này cái trận địa bỏ hoang đó cũng được các tốp lẻ quân ta trở lại thu dọn sạch sẽ các thứ có thể dùng được.

Đấy là nói về lý thuyết một trận đánh căn cứ phòng ngự vững chắc của địch, nhưng không phải lúc nào cũng được như vậy.

Hàng rào mở không hết ngay từ đầu thì lại phải dùng bộ binh đánh bộc phá bằng tay mở cho xong.

Hàng rào càng nhiều lớp càng khó, phức tạp nhất là hàng rào cũi lợn (hay hàng rào vướng chân).

Hàng rào bùng nhùng chỉ cần đặt bộc phá đúng kỹ thuật là đánh ngon lành.

Trên cao nguyên có một đặc điểm là nếu căn cứ đó địch không phát quang từ đầu bằng bom mìn mà chỉ dùng dao phát cây rồi đặt hàng rào thì chỉ sau một mùa mưa, lớp chồi non tái sinh mọc lên chui vào khe các vòng thép gai sẽ tạo nên sự gắn kết rất chắc chắn.

Mở thông cửa mở là cả một nhiệm vụ nặng nề, nhiều khi quyết định đến số phận cả một trận đánh.

Rồi chuyệncối pháo cấp trên khi chi viện không bắn trúng ngay cửa mở mà đấm đít luôn bộ binh vài trái.

Chỉ cần vậy thôi làcác thủ trưởng hai tuyến đã chửi nhau loạn xạ trong máy điện thoại rồi, đặc sảnvăng ra thoải mái đủ loại mà nếu như có thật thì cả đơn vị được ăn tươi cảtháng không hết.

Hoặc là 12ly7 khi bắn chế áp cho bộ binh xung phong mà hạ nònghơi thấp là bộ binh xanh mắt mèo, tưởng như đạn nó quạt thẳng vào lưng mìnhrồi, không dám xung phong...

Đấy, cứ theo giả định tình huống do cấp trên tự đặtra, và chúng tôi phải tập theo như thế.

Còn một sự thật nữa là khi tập chỉ bắnđạn mồm nên khác xa nhiều lắm lúc xung trận.

Nếu không có dàn lính cũ làm nòngcột thì các trận đánh chắc không thể thắng như khi lên phương án được.

Cả đại đội hành quân ra một cánh rừng gần bãi Đá làm hậu cứ tạm để trú chân.

Buổi chiều tập trung làm công tác chuẩn bị để tập chiến thuật.

Nhóm mở cửa chúng tôi làm sẵn các giá đỡ mìn và các que thuốn, còn anh em khác chặt gỗ và chuẩn bị bao cát cho cá nhân.

Mỗi người phải chuẩn bị một vác gỗ dài 1,6m to cỡ trên cổ tay một chút.

Kèm theo đó là hơn chục vỏ bao cát.

Chúng tôi tập chiến thuật ngay từ đêm, bắt đầu từ khâu hành quân tiếp cận trận địa.

Những trận đánh căn cứ địch đều diễn ra vào các đêm không có trăng.

Ở đây chúng tôi không có điều kiện kiếm đom đóm hay miếng củi mục có lân tinh cài làm dấu ở người trước để đi.

Tất cả đều phải tập theo cảm nhận.

Chỉ riêng khâu hành quân tiềm nhập cũng đủ thứ rắc rối rồi.

Vì phải vác theo vác gỗ nên không thể đi sát nhau.

Tốc độ lúc nhanh lúc chậm tùy theo thằng trinh sát dẫn đầu đã dò đường đến đâu.

Vì thế có lúc thì dò từng bước, rậm rịch như trâu ăn đêm trong chuồng.

Lúc lại cắm đầu cắm cổ đi vèo vèo.

Ở ngoài chỗ trống còn đỡ chứ trong rừng rậm vướng dây rừng thì thật mệt.

Chúng tôi đã được truyền thụ kinh nghiệm lồng vào 2 đầu vác gỗ mỗi đầu một chiếc vỏ bao cát để tạo thành một khối liền, nhưng nhiều thằng buộc không chắc, một chiếc bao cát tụt rơi lúc nào không biết.

Thế là đang đi phăm phăm húc và bụi dây rừng bị dây nó giắt vào giữa các thanh gỗ làm vướng lại, căng ra như cánh cung rồi bật lại làm ngã bổ chửng.

Có khi các dây rừng nó níu lại mạnh quá, thế là bị giật lùi va vào thằng đi sau, có khi đến hai ba thằng cùng ngã.

Những lúc như thế lại phải hạ bó gỗ xuống để tháo dây rừng hoặc rút dao găm ra chặt.

Xử lý xong thì hàng quân phía trước đã đi đến đâu ấy rồi, thế là cả bọn lại cắm cổ lao theo cho khỏi lạc.

Vì đi trong rừng phải im lặng (dù là buổi tập) không biết phía trước đã đi đến đâu thành ra có lúc thằng đi trước nó đang đứng ngay phía trước cách mình chỉ có một đoạn mà lao luôn vào nó.

Lao vác gỗ của mình vào vác gỗ của nó thì chỉ có 2 thằng ngã là cùng, chẳng may đúng lúc đó mình đang nghiêng vác gỗ để xoay đầu đổi vai, thế là cái mặt mình bị hứng trọn vác gỗ của nó đâm vào mặt.

Đau ê ẩm mà không dám kêu.

Những buổi tập đêm như thế (và sau này cả trong đánh trận nữa) chúng tôi không bao giờ thoát khỏi cái đoạn mặt mày xây sát.

Chỉ có là bị ít hay nhiều mà thôi.

Hành quân đến trận địa thì được cấp trên phân công vị trí.

Cánh làm nhiệm vụ mở hàng rào chúng tôi thì bò vào hàng rào và tập dựng giá mìn.

Lúc ấy mỗi trung đội có chừng 13,14 người.

Cả B5 tập trung học dựng mìn mở cửa dưới sự hướng dẫn của tôi và Thành.

Lúc đầu chúng tôi tập toàn ban ngày để dễ hình dung, sau đó mới tập đêm theo đại đội.

Tập cả B nhưng sau này khi vào trận sẽ sử dụng 5 người thôi.

Những người còn lại phải mang hỗ trợ thêm mìn DH và phải nhận khâu đào hầm chung cho cả bọn trú ẩn khi điểm hỏa mìn.

Chúng tôi chia nhóm và dựng nhiều giá mìn hơn đánh thật để còn tập.

Vẫn phải bài bản cả khâu dò mìn, cắt rào, tuy trên thực tế thì ở cao nguyên Boloven này, địch rất ít khi gài mìn xen lẫn giữa các hàng rào.

Còn cái chuyện mắc ống bơ cho kêu loảng xoảng như thời Pháp thì không hề có.

Địch chỉ đặc biệt thích dùng pháo sáng loại dập bằng tay hoặc bắn bằng M79 và nện cối cá nhân khi nghi ngờ gì thôi.

Các trung đội khác thì phải tập đào hầm trong đêm, đảm bảo bí mật và đúng thời gian.

Hầm đào hình chữ L nằm ngang, quay cái phần chân chữ L lại hướng mình.

Yêu cầu thân chính của hầm là 1,2m rộng 80 phân và sâu tối thiểu cũng 80 phân, đủ để nằm lọt cả người và vũ khí.

Phần thân hầm phải rải các thanh gỗ lên, xúc đất cho vào các bao cát buộc lại rồi xếp lên trên làm nắp.

Cán bộ đại đội đi kiểm tra, chỗ nào phát ra tiếng động nhiều quá thì đến véo tai cho một cái.

Cứ thế mà hì hục làm trong đêm.

Sáng bảnh ra rồi thì các cán bộ đại đội và tiểu đoàn đi kiểm tra để rút kinh nghiệm.

Các giá mìn của chúng tôi được xem xét xem có đúng yêu cầu kỹ thuật không, còn bọn khác thì chủ yếu là kiểm tra kích cỡ hầm.

Chưa đạt yêu cầu thì ăn cơm sáng xong phải làm tiếp.

Cứ như thế trong ba đêm liền rã hết cả người.

Chúng tôi cũng phải đào hầm nhưng chỉ là hố chiến đấu.

Khi nào đánh thật sẽ được ở chung hầm với người khác.

Tiếp theo đólà tập chiến thuật.

Vẫn phải tổ chức vọng gác để canh chừng thằng L19 nhòm ngó.Mới chỉ tập mà bị nó phát hiệt đánh bom rồi thì còn đâu người mà đánh thật nữa.Cũng may chỗ bãi Đá này là trận địa cũ bỏ hoang, trống huếch trống hoác nênđịch nó cũng chủ quan coi thường ít nhòm ngó đến.

Phần chiến thuật thì cứ theocái bài bản như trên tôi đã nói để tập.

Tất nhiên chỉ là hô mồm không có đạnthật, không có quân xanh và tình huống diễn ra chỉ là giả định của cấp trên.Đến cái đoạn tập đánh phối thuộc cùng xe tăng mới thấy thương cho cái điều kiệnnghèo nàn của quân ta.

Không thể tập cùng xe tăng thật nên chúng tôi đành tậpcùng xe tăng giả.

Tình huống giả định là bộ binh bám theo xe tăng tại khu cửamở rồi xông vào cứ điểm.

Bộ binh ở khu cửa mở chờ xe tăng đến thì chỉ hướng chonó xông vào rồi chạy theo.

Như thế chắc chắn sẽ chiếm được đầu cầu nhờ sức mạnhcủa tăng.

Khi tăng lao vào trong căn cứ rồi thì mũi thọc sâu sẽ theo tăng rồiđánh tỏa ra trong căn cứ.

Như vậy về bản chất tăng sẽ thay cho hỏa lực bản thâncủa các mũi thọc sâu khi đánh căn cứ và có thêm yếu tố tâm lý nữa để đè épđịch.

Tham mưu trên E chỉ phổ biến như vậy rồi bắt đầu tập.

Hai thằng lính cầmngang một cây gậy rồi chạy song song với nhau phía trước, mồm kêu "pànhpành..." giả làm xe tăng định hướng cho bộ binh chạy sau.

Chúng tôi còn đượcphổ biến kinh nghiệm thêm là phải chạy theo đúng vệt xích xe tăng vì cây con ởchỗ đó đã bị bẹp nát.

Nếu chạy ở giữa mà gần xe tăng quá, cây non ở đó chỉ bịuốn xuống rồi bật lại mà đập vào d... là bỏ mẹ có ngày.

Chỉ như thế thôi mà cũngtập hăng ra phết.

Hơn một tuần vất vảtrên khu bãi Đá nhưng tất cả đều an toàn.

Ba đại đội bộ binh và C hỏa lực càynát các hướng quanh cái trận địa cũ ấy để tập.

Cuối cùng thì những ngày tậpchiến thuật cũng kết thúc vào độ ngày 10 tháng 10 năm đó.

Hôm sau chúng tôiđược trở về hậu cứ.

Lại một chuyện bất ngờ xảy ra trong tiểu đoàn chúng tôi.

Thằng Hải lính đoàn Hà Nội ở C7 đảo ngũ.

Nếu nó tìm đường chuồn ra đường dây 559 rồi ra Bắc hay nhập vào binh trạm nào đó thì không nói làm gì.

Đằng này nó chuồn vào Lào Ngam, vào Pắc xế theo địch.

Đại đội hành quân về hậu cứ thì trời đã tối.

Đơn vị không thấy nó đâu chỉ đoán là nó bị rớt lại, quay ra hỏi loạn nhau lên rồi cử người đi tìm.

Mất một đêm chẳng có kết quả gì.

Thế là đoán già đoán non, nghi nghi hoặc hoặc.

Đáng lẽ chẳng ai biết sự thật thế nào nếu như hai hôm sau không có cái máy bay vận tải bay đêm vè vè đễn các khu rừng hậu cứ gọi chiêu hồi.

Đúng là giọng thằng Hải, dù tiếng được tiếng mất và nghe nó cứ ù ù.

Thằng này chỉ là lính, chẳng biết gì nhiều nên địch nó khai thác luôn theo khoản kêu gọi chiêu hồi này.

Cái máy bay ấy cứ bay và oăng oẳng trong độ 3 đêm thì hết.

Cũng có thể nó còn bay tiếp nhưng chúng tôi đã ra vùng khác rồi.

Cả tiểu đoàn chuyển ngay hậu cứ đề phòng, nhưng không có hậu cứ của C nào bị bom.

Có lẽ thằng Hải cũng gà mờ về bản đồ, hoặc giả địch nó cũng đoán ta đã đề phòng rồi nên không gọi máy bay đánh bom.

Vào thời điểm đó ở Boloven chỉ có các phi vụ ném bom đơn lẻ bằng máy bay cánh quạt T28 là chủ yếu.

B52 thì rải tít mãi tận dãy Trường Sơn xa xăm, xa hơn cả vùng A-tô-pơ thì còn lâu mới đến chỗ chúng tôi.

Các cấp chỉ huy phán đủ kiểu nào không rõ chứ cánh lính Hà Nội chúng tôi thì cũng lờ mờ biết chuyện thằng Hải từ lâu rồi, chỉ có điều là không biết nó có làm thật hay không và vào lúc nào mà thôi.

Thằng Hải vốn là dân Việt kiều Thái Lan về nước quãng năm 1960, lúc nó chưa đầy chục tuổi.

Nó về Việt Nam theo ông bà và các bác, còn bố mẹ nó vẫn ở lại Thái Lan.

Nó sống ở Hà Nội với ông bà và cũng chẳng hiểu nó phải đi lính theo diện nào.

Về mặt lý tưởng và ràng buộc gia đình thì chắc chắn là nó lỏng lẻo hơn chúng tôi.

Khi nghe nói Boloven (Chăm-pa-xắc) là tỉnh cực nam của Lào, thủ phủ Pắc-xế chỉ cách Thái Lan có một con sông Mê-kông thôi thì nhiều lần nó đã nói là chỉ cần đi quá một tí là được về với bố mẹ.

Với nó thì bọn lính Thái chưa chắc đã là địch.

Cũng cứ tưởng nói chơi vô thưởng vô phạt vậy thôi, thế mà nó đi thật.

Ra ngoài Bãi Đá tập chiến thuật xong, thế là nó cứ dọc đường 23 mà xuôi thẳng vào Lào Ngam, chẳng ai phát hiện nó đi lúc nào.

Chỉ khổ lính Hà Nội là sau vụ đó trung đoàn về từng C hỏi vặn vẹo đủ điều xem trong đơn vị còn thằng nào gốc Việt kiều nữa không.

Còn chúng tôi tất nhiên cũng chỉ xì xào với nhau thôi chứ cũng chẳng đứa nào dại mà nói là đã đoán thằng Hải có thể vù sang Thái.

Vụ đào ngũ của thằng Hải rốt cuộc cũng chẳng gây thiệt hại gì cho đơn vị ngoài danh tiếng và quân số một người lính.

Sau này cũng chẳng còn ai biết tin gì của nó nữa, kể cả đến bây giờ.

Ở hậu cứ đượcđúng một ngày, chúng tôi lại được lệnh ra đường 23, nhưng cách Bãi Đá đến cảchục cây về phía ta.

Đến đây thì nhiệm vụ sắp tới không thể giữ kín được rồi.Chúng tôi sẽ đánh một trận có xe tăng phối hợp.

Nhiệm vụ của cánh bộ binh bâygiờ trước hết là đi làm đường cho xe tăng.

Sao lại phải làm đường thế nhỉ.

Xem phim thấy xe tăng nó chạy vù vù, gặp gìđè nát thứ đó.

Những ngôi nhà gạch một tầng nó húc băng băng, còn cây cỏ thì cógì mà phải cản nó được.

Hóa ra không phải chỉ có vậy.

Xe tăng đi ngoài bìnhnguyên, rừng khôộc hay đồng cỏ thì vô tư, nhưng vào rừng, leo núi và lội suốithì chưa chắc bằng bộ binh.

Để tránh máy bay T28 săn lùng thả bom, bọn xe tăngcần đi vào chỗ đất càng cứng càng tốt cho không thành vệt.

Nó không dám đi vàocác khu rừng cây lúp xúp và rừng tái sinh vì sợ đè nát cây thành vệt sẽ bị lộ.Bọn tăng cứ dọc đường nhựa 23 mà tiến.

Bộ binh mang xẻng ra vén các cây xấu hổ,mâm xôi bò lòa xòa ra mặt đường cho tăng đi qua, xong lại phải kéo cây trả lạiđể ngụy trang.

Chỉ chỗ nào rừng cây to nằm sát đường, ngụy trang tốt mới dámlàm đường rẽ cho xe tăng vào trú ẩn.

Đến đoạn đi trong đường rừng, chỗ nào dốcquá tăng nó cũng không leo được.

Bàn tay lính lại phải bạt dốc cho nó thoaithoải để tăng đi.

Chỗ nào đất hay đá cứng gồ lên lại phải đập vỡ hoặc san phẳng.Một anh lính bên đơn vị tăng đi chỉ đạo làm đường giải thích là nếu tăng nóđang chạy mà bị cái gờ đá nào nó đội vào bụng thì dù xích có quay tròn, tăngcũng bị mắc cạn.

Nghĩ đến cái lúc tăng nó lao vào cửa mở, đầu cầu không đánhcũng chiếm được thì khoái mà cố gắng thôi chứ mấy ngày làm đường tăng cũng mệtnhọc lắm.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng biết là sẽ có 4 chiếc xe tăng phối hợptrong trận đánh sắp tới.

Tụi lính Lào ở Cao nguyên Boloven là quân của 2 trung đoàn GM41 và GM42 thay đổi nhau.

Tôi không biết chính xác có bao nhiêu lính Fumi ở Chămpaxac, nhưng khi chúng mở cuộc tấn công lớn tập trung cả 2 GM thì biết đó là 2 trung đoàn cơ động của địch.

Chắc còn thêm bọn lính địa phương nữa.

Không thấy nói đến cấp sư đoàn của địch.

Còn bọn lính Thái Lan từ bên kia sông Mê Kông sang thì chỉ thấy biên chế tới cấp tiểu đoàn.

Tại ngã ba Lào Ngam hiện có một tiểu đoàn Thái đóng căn cứ mang phiên hiệu 621.

Chúng làm chỗ dựa chính thôi chứ không đi lùng sục mấy.

Phần này vẫn dành cho lính Fumi.

Liên tục trong mùa mưa vừa qua, hướng đường 231 do K15 đảm nhiệm và các đợt luồn sâu sang Nam đường 23 của K18 vẫn chỉ đánh nhau với lính Lào.

Trận đánh cuối mùa mưa này, sư đoàn 968 quyết định tập trung cho E9 một trận đánh lớn, tiêu diệt dứt điểm tiểu đoàn Thái 621 này và nhổ bỏ cái chốt Ba Lào Ngam, chuẩn bị cho mùa khô tiến sâu hơn vào Phù Chiêng, Pắc xế.

Từ đây vào Pắc xế chỉ còn non hai chục cây số thôi.

Lính Thái dù sao vẫn là lính chiến có sức chiến đấu cao hơn lính Fumi, lại ở căn cứ vững chắc nên cấp trên chi viện cả xe tăng phối thuộc giúp trung đoàn chúng tôi.

Cái căn cứ của bọn 621 này, vào giữa mùa mưa vừa qua, khi còn đang làm liên lạc cho đại trưởng Băng, tôi đã từng được theo anh vào trinh sát, từng có cả đêm nằm ngủ phía ngoài hàng rào địch như trước đây tôi đã kể.

Cái căn cứ này nếu có bay trên máy bay nhìn chắc cũng không rõ.

Địch không thả bom phát quang thành bãi mà lập căn cứ dựa ngay trên một khu vườn cà phê rộng lớn.

Chỗ nào đào hầm hào thì chúng chặt bỏ cây, còn lại vẫn để nguyên những cây cà phê có tuổi đời hàng hai chục năm, cao vút và xanh um.

Xung quanh căn cứ, địch phát cây thành một hình vành khăn rộng vài chục mét, dựng 3 lớp hàng rào, trong đó có một hàng rào bùng nhùng đơn nằm xen giữa.

Cây phát quang nhưng để gốc lởm chởm.

Qua mùa mưa nhiều chỗ nảy lộc, nhánh cây non đâm xuyên qua cả hàng rào.

Phía ngoài xa độ 10 mét vẫn là rừng cây tái sinh, mọc lúp xúp.

Vào đến khu trống, bò cũng dở mà đi cũng dở, người cứ như dạng đi ngồi lổm nhổm.

Tầm nhìn không xa.

Ngay cả ban ngày ở bên ngoài nhìn vào căn cứ cũng phải căng mắt nhìn mới phát hiện thấy địch bên trong.

Trinh sát không vào được tận trong căn cứ để vẽ sơ đồ hầm hào, tất cả chỉ là tập hợp góc nhìn các hướng rồi về mô phỏng lại kết hợp với cách bố trí của địch ở các trận địa cũ để lập giả định.

Nhưng cứ mở xong cửa mở đi, khắc đánh khắc biết.

Đánh tới đâu nhìn tới đó mà đánh tiếp.

Ngày 14/10, C5 vượt đường 23 sang phía Nam và lập một cái chốt ở phía đông cách căn cứ 621 chừng một ngàn mét để chặn địch phục vụ cho công tác chuẩn bị lót quân của các đơn vị khác.

Dự kiến sẽ có hai mũi của K18 đánh hướng Bắc và K16 đánh hướng Đông Nam.

K15 sẽ chia lửa đánh vào các đơn vị Fumi ở phía Tây.

Ngày 15/10 máy bay L19 của địch phát hiện vệt xe trên đường 23 tít tận ngoài bãi đá và gọi T28 đến đánh bom.

Một chiếc xe tăng đang cất giấu bị trúng bom, may người không việc gì.

Địch cũng đánh bom thăm dò lung tung nhiều chỗ khác nhưng vì mỗi xe tăng giấu một nơi nên cuối cùng vẫn còn được 3 chiếc để vào trận.

Cũng chiều hôm đó một đại đội Fumi đánh lên chốt của C5.

Trung đội chốt trên đó đã đánh chặn vài đợt, diệt được một số địch.

Sau đó do trận địa chốt nằm gọn trên một quả đồi, khá lộ liễu nên địch gọi luôn T28 đến đánh bom.

Chưa cần dùng đến pháo từ Phù Chiêng mà cả quả đồi đã nát nhừ.

C5 bị tổn thất nhẹ, nhưng trong đó có một lính đoàn Hà Nội chúng tôi là thằng Toàn ở Đông Anh.

Nó là thằng lính Hà Nội đầu tiên trong K18 hy sinh.

Nghe nói sau hai đợt bom, hầm của nó bị bung, nó tưởng địch hết ném bom nên chạy ra ngoài lẩn xuống khe suối để nấp.

Đợt bom thứ ba của địch có một mảnh văng trúng nó.

Ngay tối hôm ấy, B5 chúng tôi được lệnh lên lập chốt mới thay cho C5.

Chỗ chốt mới của chúng tôi sẽ đi qua chốt C5, vượt sang hẳn vùng đồi thuộc Lào Ngam, chung với căn cứ 621 của địch và chỉ cách căn cứ đó chừng 600 mét.

Từ khu tập kết phía Bắc đường 23, anh Quân dẫn chúng tôi sang thẳng qua chốt C5.

Lúc này chúng tôi đã chuẩn bị xong đủ cả mìn DH, giá gỗ và cả gỗ cùng vỏ bao cát làm hầm chiến đấu.

Nhẽ ra đến ngày xuất kích, chúng tôi sẽ vào thẳng hưởng cửa mở để làm nhiệm vụ mở cửa vì khi đã có lệnh chặt gỗ rồi thì ngày N chắc cũng đến sát rồi.

Song có lẽ vì B5 vốn nổi tiếng về chốt giữ trong C6 nên đại đội cử chúng tôi.

Bỏ lại toàn bộ mìn DH và những thứ chuấn bị cho mớ cửa, chúng tôi hành quân sang đường 23 ngay sau khi ăn cơm tối, có mang theo đầy đủ gỗ và bao cát để làm hầm cá nhân.

Hành quân mang vác cồng kềnh nên đi khá chậm, nhất là trong đêm tối.

Trinh sát tiểu đoàn phải dẫn đường.

Chừng 9 giờ tối mới đến được đồi chốt của C5.

Đơn vị bạn tuy không phải bàn giao vị trí chốt cho ai, nhưng đến bấy giờ cũng mới làm xong mọi việc và khiêng tử sĩ ra.

Có 3 cái cáng tất cả.

Tôi thì thào hỏi thăm được biết cái cáng cuối cùng là Toàn, Trong đêm tối cũng chẳng nhìn rõ gì và cáng vẫn khiêng.

Tôi chỉ lần sờ tay vào lưng võng để cảm nhận thân hình đồng đội và hít thở trong mùi máu còn tanh nồng từ thi thể bạn.

Đội ngũ những thằng lính đồng ngũ 4971 của D tôi bắt đầu có đứa ra đi.

Tiếp theo sẽ là ai?

Chưa biết.

Vĩnh biệt bạn Toàn nhé.

Trung đội tiếp tục đi theo trinh sát.

Quả đồi chốt của C5 tan tành với những hố bom sâu và cây đổ ngổn ngang.

Mùi khói đạn khen khét và ngai ngái.

Đường vượt qua chẳng thành lối, cứ theo trinh sát nhắm hướng bước thấp bước cao mà đi.

Thỉnh thoảng có đứa ngã dúi dụi, vác gỗ tuột ra lăn xuống hố bom.

Lại vừa ngồi vừa quỳ lần mò tìm vác gỗ, xốc lên vai và bám theo đồng đội.

Lúc chiều tối có một trận mưa nên đất đồi bị bom đánh tơi lên trộn nước đã trở nên những đám bùn nhoe nhoét, bước chân đi trượt trơn không vững.

Thỉnh thoảng vấp phải những thân cây nhỏ trụi lá nhô lên đâm vào háng, vào bụng dưới làm đau lịm cả người, chỉ biết há to mồm ra mà suýt xoa chịu đau chứ không thể kêu ai được.

Cứ thế mà đi.

Lần mò mãi rồi cũng vượt được qua, thằng nào cũng bê bết bùn đất kể cả hai thằng trinh sát tiểu đoàn dù chỉ có mang AK báng gấp.

Trời đã tối đen lại càng tối đen hơn và trở nên lạnh lẽo hơn khi trời lại đổ mưa xuống sụt sùi.

Bàn chân nếu không có những đôi tất sợi giúp bám chắc vào dép cao su thì có lẽ đôi dép sẽ trượt ra mà tuột lên tận bắp chân.

Cả trung đội đi hết mé đồi thì tụt xuống và lội dọc theo một khe suối nhỏ chỉ rộng chừng hơn mét nhưng sâu quá đầu gối, nước lạnh ngắt.

Vừa đi vừa tranh thủ ngồi thấp xuống dìm người để tẩy bớt đi đám bùn đất trên người.

Đằng nào cũng ướt rồi.

Bây giờ chỉ cần giữ khô vắt cơm đã được bọc nilon và túi thuốc rê cùng chiếc bật lửa để ở túi ngực thôi, còn tất cả phó mặc hết cho trời.

Có thằng còn lùa cả vác gỗ xuống nước rồi kéo đi cho đỡ nặng.

Được chừng ba chục mét thì rẽ leo lên dốc.

Cũng chỉ là đạp đường mà đi nên gặp trúng cái dốc đứng quá.

Thằng Sơn B41 người Nam Hà to xác mà không hiểu sao cứ trầy trật mãi với vác gỗ và khẩu súng cùng cùi đạn, kéo được thứ nọ thì thứ kia lại tụt xuống suối, lại quay lại mò mẫm lôi lên.

Chúng tôi cùng giúp sức nhau đun đẩy, thế mà không hiểu sao vác gỗ của thằng Sơn lại một lần nữa tuột trôi trở lại, đâm vào cả mặt B trưởng Quân.

Hầy à, bố này nóng tính nghiến răng chửi, nhưng chỉ dám chửi nhỏ nên tiếng cứ rít lên nghe càng sợ.

Dân tộc mà sao chửi tiếng kinh giỏi thế, đặc sản văng ra loại nào ra loại đó.

Cả thằng Sơn lẫn chúng tôi không dám phàn nàn câu nào, chỉ cuống quít giúp nhau lôi súng và gỗ vượt dốc.

Phải kết hợp vừa kéo vừa đẩy nhau khá lâu mới rời được khỏi suối.

Trời mưa lạnh thế mà mồ hôi vẫn rịn ra trộn với nước mưa trở nên chua loét.

(

Sau này khi đã đánh trận xong ngồi họp rút kinh nghiệm, thằng Sơn phê bình anh Quân nhưng nói mát cực khéo.

Nó bảo:

- Cảm ơn Trung trưởng.

Xa xôi thế mà đêm đó bu em ở nhà được đ... một bữa sướng.

Anh Quân đần mặt ra nghe.

Nhưng chuyện qua rồi, thằng Sơn nói ra cho hả lòng tí chút thôi chứ chẳng để bụng thêm làm gì).

Lại đi tiếp, vòng và vòng vèo đến giữa đêm thì tất cả đến nơi tập kết.

Thở phào nhẹ nhõm, hạ tất cả những thứ trên vai và ngồi bệt xuống nghỉ.

Theo trinh sát, chỗ này cách hàng rào căn cứ D621 Thái chừng sáu trăm mét.

Nơi đây cũng là rừng tái sinh toàn cây nhỏ chỉ cao chừng 3 mét là cùng xen kẽ nhiều vạt cây lúp xúp.

Cũng chỉ là nhắm hướng thôi chứ trong đêm đen có nhìn thấy gì đâu.

Hai thằng trinh sát quay lại tiểu đoàn, còn trung đội tôi chia thành 3 cụm tổ chức đào hầm chốt.

Tất cả đềumệt, nhưng chúng tôi cũng chỉ ngồi nghỉ ít phút, vặn vẹo chân tay, xoa nắn bảvai cho giãn bớt gân cốt rồi bắt tay vào đào hầm.

Đào được cái hầm cho tử tếcũng phải mất hơn 3 tiếng chứ không ít.

Đất cao nguyên mùa mưa dễ đào, nhưng nócứ bết vào xẻng khi muốn hất ra.

Trời lại tối như hũ nút, làm cái gì cũng phảisờ soạng như thằng mù nên tốc độ đào bị chậm lắm.

Lúc đào xong cái hố to hình chữL, xếp gỗ lên rồi xúc đất cho vào bao cát để chất lên làm nắp cũng là cả mộtgian nan vì đất ướt.

Bẩn quá muốn chùi tay cho khô để chuyển động tác cũng chỉcó cách tự chùi vào quần áo mình.

Thỉnh thoảng mệt quá lại ngồi bệt thừ ngườira một lúc cho lại sức.

Thật khổ cho cái vóc lính thành phố thư sinh của tôi.Lúc gian nan mệt mỏi quá mà lặng đi được một chút lại tủi thân nhớ mẹ.

Ước mongnhỏ bé nhất lúc này chỉ là được chui vào cái hốc rút rơm của cây rơm ngoài sânmà ngủ.

Thêm củ khoai lang luộc còn nóng nữa thì ngoài trời có mưa to mấy cũngchẳng bận lòng.

Ước thì ước thế thôi chứ thật lòng lại không dám mong thế.

Chuivào đống rơm ngủ tránh mưa ở nhà thì ai đi bộ đội thay mình.

Chắc ở nhà khôngai hình dung ra cảnh mình thế này.

Nhưng có cho kể chắc cũng dấu những chuyệnnhư thế này.

Nước mắt mình chảy một mà mẹ biết thì thương mình nước mắt chảymười.

Cứ hì hà hì hục như thế.

Mệt quá ngồi nghỉ.

Nghỉ xong lại phăm phăm đào.

Có lúc thấy không gian yên ắng, hình như chỉ còn mình tôi đào hầm.

Chả biết mọi người đào xong hầm lúc nào, nhưng đến nhờ nhờ sáng thì tôi cũng hoàn thành xong chiếc hầm.

Nói cho cùng loại hầm như thế này chỉ chống được đạn thẳng và cối M79 thôi.

Gặp pháo hay bom thì tất cả nhờ giời.

Mệt quá nên xong cái hầm là tôi quấn tấm nilon quanh người, ôm cả khẩu súng AK trong đó rồi lăn ra ngủ ngay tại nóc hầm, mặc cho mưa vẫn rơi rả rích.

Tôi tỉnh dậy khi anh Trịnh lay vào vai.

Trời đã sáng hẳn nhưng không gian vẫn còn nhờ nhờ trong mưa bay.

Nhìn quanh mới thấy mấy cái hầm của anh em trong tiểu đội đào đêm qua lam nham làm sao.

Nhưng dù sao cũng đã có hầm.

Chúng tôi cắp súng lò dò ra xung quanh, xác định lại hướng địch, sau đó uốn nắn lại đám cây xung quanh ngụy trang để thằng địch có đến thật sát mới có thể phát hiện ra dầu chúng tôi.

Tất nhiên khi đó thì chúng tôi đã phải nổ súng rồi.

Kiếm tra xong mọi thứ, biết được vị trí của mọi người trong toàn trung đội và hiệp đồng chiến đấu xong, chúng tôi mới ai mò về hầm người ấy lấy cơm ra ăn.

Bọc cơm đã nguội ngắt nhưng vì là cơm nếp nên cũng dẻo và dễ ăn.

Tiêu chuẩn ăn dù ra trận thì bây giờ cũng chỉ có 3 lạng một ngày, bọc cơm dự định dùng cho 2 ngày nên cũng phải liệu phân chia cho đủ đến bữa cuối cùng.

Dù nhai chậm và kỹ đến đâu thì mấy thìa cơm nếp rồi cũng trôi hết qua miệng.

Tôi tợp một ngụm nước to để làm tăng thêm cái khối lượng dinh dưỡng trong dạ dày.

Nước thì khỏi lo thiếu, mùa mưa mà.

Cùng lắm hết bi đông thì đến tối cử nhau quay lại suối lấy cũng ổn.

Yên vị xong trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, chân bỏ thõng xuống miệng hầm sẵn sàng tụt xuống khi có động, bây giờ tôi mới thong thả lôi gói thuốc rê ra quấn một điếu sâu kèn.

Lính tráng thằng nào cũng có kinh nghiệm về khoản này rồi nên thuốc, giấy quấn và bật lửa không bao giờ bị uớt.

Rít một hơi dài, thả làn khói vào không gian thấy khoan khoái quá.

Lúc này chắc ở các hầm thằng nào cũng đang hút thuốc.

Trong làn mưa mỏng, khói thuốc quện vào và tan nhanh, không sợ lộ.

Ngày ở nhà không biết thuốc lá là gì, nhưng giờ đây hầu như lúc nào tôi cũng có gói thuốc rê trong người.

Ngồi chốt khi chưa nổ súng mà không có thuốc hút thì buồn lắm, vừa dễ buồn ngủ vừa không biết giết thời gian bằng gì.

Hút xong điếu thuốc, chừng 20 phút sau đã phải quấn điều khác rồi.

Cũng chẳng đếm xem một ngày hút bao nhiêu lần nữa.

Không có địch, không được qua hầm nhau thì chỉ có ngồi nghĩ vơ vẩn.

Nghĩ được nhiều thứ lắm.

Mưa tạnh, bầu trời trong thêm ra.

Tôi chợt nhìn thấy một đàn kiến đang bò ngang vắt qua nóc hầm.

Có lẽ ban đêm tôi đã đào hầm trúng phải một tuyến đường hành quân của đàn kiến và bây giờ chúng nó đang lần mò chắp nối lại mạch giao thông.

Tha hồ mà nghiên cứu xem chúng làm gì nhé, đỡ sốt ruột vì thời gian đang chầm chậm trôi qua.

Những con kiến vống đỏ to tướng nhưng hiền lành.

Chúng nó tìm ăn gì đó chứ suất cơm của tôi không rơi vãi đến một hạt thì chúng cũng chẳng trông mong được gì.

Cái giống kiến này làm tổ thành bộng to trên cây cao.

Trứng của nó ăn rất tốt, còn bản thân những con kiến giã ra thì có thể thay dấm, tuy vị chua hơi gắt.

Gặp kiến là điềm lành, chứ gặp tổ mối rừng thì mệt lắm.

Những con mối rừng thân to như que kim đan len, còn đầu của nó thì như hạt đỗ xanh cứng với hai cái càng như hai lưỡi hái.

Nó mà bâu vào đâu, khuơ càng lên là chỗ đó chảy máu.

Bị mối rừng tấn công thì chả khác nào bị một ai đó dùng lưỡi dao lam trích nhẹ lên khắp da thịt, máu cứ tứa ra nhẹ nhàng đợi khi có mồ hôi hay nhúng nước thì mới bắt đầu ngấm cái đau ngứa và xót.

Trời đã bắt đầu hửng nắng, có lẽ là đến nửa buổi sáng rồi.

Lại nghe cả tiếng chim loét choét rồi bắt đầu xuất hiện đôi vợ chồng chim sâu.

Thanh bình quá.

Tôi cứ ngồi im mà ngắm chúng nhảy nhót chuyền cảnh.

Chưa khi nào có dịp ngắm chim trong không gian tự do gần đến thế.

Nhưng thanh bình cũng chẳng kéo dài được mãi, khi trời đã tạnh và hửng nẳng.

Chắc độ giữa buổi sáng rồi.

Bắt đầu nghe thấy tiếng ì ì của máy bay L19.

Tôi phải bứt lá làm vòng ngụy trang đội lên đầu để tiện nghển cổ nhìn ra khoảng trời xanh từ vạt rừng non thưa trên đầu.

Chiếc máy bay đang trinh sát khu đồi chốt hôm qua của C5.

Thực ra khu đồi mà chúng tôi đang ngồi chốt cũng chỉ cách đó một con suối sâu và một vạt rừng nhỏ, nên tầm quan sát rất rộng và nhìn thấy rất rõ.

Sau nhiều vòng lượn, chiếc L19 quyết định bắn xuống đó một quả pháo khói.

Tiếng L19 còn chưa dứt thì đã thấy từ phía Pắc xế tiếng vè vè vọng to dần rồi hai chiếc T28 xuất hiện.

Chúng lượn một vòng định hướng rồi lao xuống cắt bom.

Từ bên này vạch lá nhìn ra, trung đội chúng tôi như những kẻ đang xem phim.

Quan sát thật rõ từng chiếc máy bay, lúc chúng bổ nhào cắt bom, rồi nhìn rõ quả bom rơi xuống đất.

Liền sau đó, một đám đất tung lên kèm theo tiếng nổ "thịch" một cái và đất dưới chân mình rung lên giống như có cái gì truyền lan sâu trong lòng đất.

Nhìn kỹ lên máy bay lúc nó bổ nhào còn thấy cả cái đầu thằng phi công như quả bưởi tròn trong buồng lái.

Giật mình ngồi im không dám cựa quậy, không biết nó có nhìn thấy mình không nữa.

Bốn lượt nối đuôi nhau lao xuống cắt bom là hết cơ số.

Chúng không phát hiện thêm gì khác nên không bắn kèm đạn thẳng.

Chắc địch cũng phỏng đoán được cái gì đó về sự chuẩn bị của quân ta nên chúng điều thêm một tốp T28 nữa đến ném bom cho ăn chắc.

Lần này chúng ném bom theo hướng ngược lại và chúng tôi lại có dịp quan sát bom rời khỏi máy bay từ ngay trên đầu mình rồi bay sang rơi xuống quả đồi bên cạnh.

Đất ướt nên tiếng bom rơi nghe nằng nặng và tiếng nổ cứ như chìm trong lòng đất, không có những cột khói bốc cao.

Chúng tôi thản nhiên xem đoạn phim thời sự đó mà không phải lo lắng gì vì biết chắc bên đó giờ chỉ là quả đồi trống không.

Sự ồn ào đến nhanh mà sự tĩnh lặng trở lại cũng rất nhanh.

Chỉ có chút mùi khói bom lan nhẹ trong không gian rồi tất cả đâu trở lại đó.

Tôi nhìn quanh, không thấy đôi vợ chồng chim sâu đâu cả.

Chỉ có đàn kiến vẫn còn mải mê hành quân, hình như chúng chẳng quan tâm gì đến chiến cuộc.

Lại quấn thuốc rê hút và nhẩn nha uống từng ngụm nước nhỏ chờ thời gian trôi qua.

Nếu giờ này địch đã không lên chốt thì phải đợi sang chiều.

Không gian yên ắng cho đến bữa cơm trưa, và bữa trưa cũng trôi qua thật nhanh.

Cỏ cây xung quanh khô dần và quần áo chúng tôi cũng đã khô tại những chỗ nhiệt phát ra nhiều nhất.

Lại có cảm giác buồn ngủ và sẽ dễ ngủ quên nếu không có những điếu thuốc rê cầm canh.

Anh Trịnh cũng sợ anh em ngủ nên đã lấy dây rừng bện lại và buộc vào những nhành cây cạnh các hầm để liên kết nhau thành một mạng lưới.

Thỉnh thoảng ai đó lại kéo giây nhắc nhau và người kia lại quay sang nhe răng cười.

Cái cảm giác khi ngồi chốt sốt ruột lắm.

Không đơn giản như người đi câu chờ cá cắn câu hay người đi săn rình thú ban đêm.

Nó nửa như phục kích rất cần yếu tố bất ngờ nhưng lại mòn mỏi khi phải bám trụ lại.

Vừa mong địch lên, lại vừa mong chúng không lên.

Cảm giác nhiều khi thấy bồn chồn thế nào ấy.

Tầm giữa chiều thì nghe tiếng nổ liên hồi phía góc phải nhưng cũng phải cách xa chúng tôi cả trăm mét.

Ai gặp địch hướng đó nhỉ vì chúng tôi cắm chốt là gần địch nhất rồi.

Không lẽ trinh sát bị phục kích chăng.

Nhưng tiếng nổ cứ liên tục và đều đặn, toàn tiếng cối cá nhân mà không có tiếng đạn thẳng.

Chúng tôi căng tai ra nghe và sẵn sàng chờ địch.

Nhưng cũng rất nhanh, B trưởng Quân phán đoán là địch mò ra ngoài căn cứ, nhưng chúng không định đi lùng sục xa mà chỉ bắn M79 thăm dò.

Cái kiểu của thằng lắm đạn rỗi hơi lại lười nhác nó như thế.

Đây cũng chẳng phải lần đầu chúng tôi gặp phải.

Thế thì chẳng có gì đáng quan tâm cả.

Địch bắn lung tung chừng vài chục quả cối rồi thôi.

Không gian lại yên tĩnh và chúng tôi yên tâm nghỉ ngơi vì biết chắc hôm nay địch sẽ không nống ra nữa.

Đêm xuống và lại một đêm yên tĩnh trôi qua.

Trời tạnh nên đêm ngủ rất ngon, thật hạnh phúc biết bao.

Cả trung đội chỉ tổ chức một vọng gác lấy lệ.

Buổi sáng, chúng tôi nhanh chóng cơm nước và sẵn sàng vào vị trí chốt.

Thế là qua được một ngày ngồi chốt nghỉ ngơi, sức lực đã hồi phục.

Duy có cái bẩn thì không khắc phục được.

Không hiểu sao khi đó cả tuần không tắm, không đánh răng rửa mặt mà cũng chẳng thấy tác hại gì.

Quần áo chỉ trong 2 trạng thái: dẻo hoặc cứng.

Khi đất bết vào quần áo rồi gặp mưa thì quần áo dẻo, còn khi nắng to hong khô hết tất cả thì quần áo lại cứng.

Nhưng chính lúc ấy ngồi chốt chịu khó vò khô từng chỗ thì đám đất bột vỡ tung ra khiến quần áo lại mềm.

Không gần suối thì tắm khô, mồ hôi ra chỗ nào thấy bứt rứt thì thò tay vào chỗ đó mà vê ghét vứt ra, kiểu tắm khô như người Mèo.

Còn nếu hành quân qua suối thì phải tranh thủ trầm mình khuơ khoắng gột rửa thật nhanh như đồng bào dân tộc, sạch ra phết.

Vơ vẩn được một lúc đầu buổi sáng thì thấy trinh sát tiểu đoàn đến gọi chúng tôi về đội hình đơn vị.

Chuẩn bị đánh nhau to rồi.

Lúc ra lệnh rút, B trưởng Quân phân vân, định cho chúng tôi rỡ hầm thu bao cát lại để còn dùng cho trận đánh tới vì chắc gấp lắm rồi.

Nhưng lúc ấy trong các bao cát làm hầm toàn đất ướt, rũ ra không hết phải ôm mỗi thằng cả bó bao cát lẫn đất thì chắc nặng lắm.

Nếu qua suối rộng mà rũ đất chắc cũng mất cả tiếng.

Nhưng không rỡ bao cát ra thì lấy gì làm hầm trong trận đánh tới.

Cứ phân vân mãi, sau may anh Bớt cũng là A trưởng trong B nhớ ra là trên khu hậu cần tiếu đoàn ở vị trí tập kết còn một ít bao cát cũ.

Từ vị trí xuất quân về đó chỉ chừng 2 tiếng đi đường.

Cử độ 2 thằng khỏe mạnh về lấy, còn những người khác tập trung chặt gỗ và làm công tác chuẩn bị khác cũng kịp.

Bây giờ mới chỉ giữa buổi sáng mà nếu đêm nay xuất quân thì cũng phải bảy giờ tối mới lên đường.

Thế là anh Quân đồng ý và chúng tôi rút luôn theo trinh sát.

Lúc đi lên chốt vào ban đêm, mang nặng và trời mưa lại đi đường vòng nên lâu.

Bây giờ chúng tôi trở về mọi thứ đã nhẹ, theo trinh sát đạp đường thẳng mới nên chỉ hơn tiếng sau đã về đến chỗ đại đội tập kết.

Đại đội cũng hỗ trợ cho B5 chúng tôi khoản chặt gỗ cá nhân, chỉ còn khoản bao cát là bắt buộc anh Bớt phải cùng một thằng lính nữa về tiểu đoàn lấy.

(Nói thêm rằng anh Bớt là lính 1967 người Nam Hà, nhưng vốn làm anh nuôi trên D bộ.

Trên D bộ có mấy anh làm hậu cần có cái tên rất lạ.

Anh Chớt và anh Choát làm hậu cần và quản lý.

Anh Choát ngày trước đã phụ trách chúng tôi đi khiêng cáng thương binh ở trận bãi Đá khi chúng tôi mới được bổ sung vào K18.

Trong số anh nuôi có hai anh là anh Bớt và anh Xén, người to khỏe nhưng hiền khô như đất.

Ai nói gì, dù là phê bình cũng chỉ nhe răng ra cười.

Đợt vừa rồi chắc đã chán công việc nấu cơm nên xin xuống C tôi làm A trưởng.

Anh ấy tuy là anh nuôi nhưng cũng đã từng đánh nhau hồi Mậu Thân 1968 nên khi nhận làm A trưởng, anh ấy cứ thản nhiên như không, anh em trong cùng A quý lắm).

Tôi và thằngThành trong B là lực lượng chính tổ chức chuẩn bị mìn và thủ pháo cho mở cửa.

Ởđại đội đã chuẩn bị sẵn mìn DH10, các giá gỗ và gói một lô thủ pháo ống.

Chúngtôi chỉ còn việc tra kíp hoàn thiện và kiểm tra mọi thứ khác.

Tầm trước bữa cơmchiều hôm ấy thì mọi thứ đã xong xuôi.

Nói thêm một chút là chuẩn bị trận đánhmới nên B5 chúng tôi "ù xọe" được một xuất cơm chiều trong cái bọccơm mang đi chốt từ hai đêm trước.

Chúng tôi vẫn được ăn cơm chiều mới nấu, lạichuẩn bị tiếp bọc cơm cho 2 ngày tiếp theo.

Sẩm tối thì cả đại đội đã nai nịtgọn gàng, nằm xoài ra nghỉ ngơi theo đội hình hành quân hàng dọc mà đốt điếuthuốc rê chờ lệnh xuất kích. \

Đây là khoảng thời gian hoàn toàn tĩnh lặng.

Cơm nước xong xuôi rồi.

Súng đạn và đồ đoàn cũng đã chuẩn bị xong.

Chỗ này là vị trí tập kết tạm, cũng còn cách địch tới trên 2 cây số nên là vùng an toàn của ta, nhất là vào giờ này.

Trong đội hình xuất kích rải ra trên đường vào những lúc như thế này thì ở trận nào cũng thế, nhất là khi tập trung quân đông.

Chúng tôi cứ vừa nửa nằm nửa ngồi thảnh thơi, vừa nhìn người và cảnh vật.

Cán bộ các cấp rồi trinh sát đi lại ngược xuôi dọc theo đội hình hành quân.

Các thủ trưởng còn đang điều phối lại thứ tự xuất kích của các đơn vị.

Nếu nhìn từ trên cao, chắc chúng tôi cũng như hàng kiến hành quân vậy.

Bỗng nghe tiếng rậm rịch chân rất to rồi thấy lính C8 hỏa lực chen lên vượt qua đội hình chúng tôi.

Cối 82 và thượng liên 12ly7 bao giờ hành quân cũng rình rịch, nặng nề.

Chắc họ phải chiếm lĩnh vị trí trước vì làm hầm hố phức tạp tốn thời gian hơn xung kích.

Hỏa lực của tiểu đoàn thường bám sát các C bộ binh (không như bọn cối 120 ly của trung đoàn thì hầu như khi ra trận chẳng bao giờ thấy mặt vì chúng nó ở tít mãi đâu đâu phía sau ấy).

Có rất nhiều gương mặt quen vì trong những tháng cùi cõng ở hậu cứ, chúng tôi thường xuyên giáp mặt nhau.

Chợt có tiếng chào rộ lên xôn xao hàng quân.

Tôi nghển cổ nhìn.

Không phải thủ trưởng to nào đâu mà là anh Gội, lính Hà Nội nhà ở phố Trần Hưng Đạo.

Anh là lớp lính vào trung đoàn từ năm 1967, đã từng tham gia đánh Huế hồi Mậu Thân.

Đám lính Hà nội đợt chúng tôi trong cùng tiểu đoàn ai cũng biết rõ vì nghe danh anh vang khắp cả trung đoàn chứ không chỉ trong tiểu đoàn.

Chả là anh có tầm vóc phi thường.

Cao một mét tám, nặng gần chín chục ký lô, vạm vỡ nhất trung đoàn.

Loại như tôi trọng lượng bằng nửa anh ấy nên đứng gần thấy anh lừng lững lắm.

Tôi cũng không hiểu sao giữa chiến trường thiếu thốn vậy mà anh ấy vẫn sống bình thường được, vì lính tráng có suất có phần, nhất là suất và phần ấy lại có định lượng rất khiêm tốn.

Sức vóc ấy thì mang vác vô tư nếu ăn đủ no.

Có một truyền thuyết trong toàn trung đoàn về anh Gội.

Dạo mới vào trung đoàn không hiểu sao quân lực lại xếp anh vào bộ binh.

Đứng giữa hàng quân, anh ấy nổi lên như người khổng lồ.

Trèo đèo lội suối thì vô tư, nhưng khoản đào hầm hơi khốn khổ vì kích thước.

Một trận anh ấy bị thương vào đùi ngay giữa hàng rào, tuy là vào phần mềm, nhưng vẫn không đi được.

Phải mất bốn lính chui vào vừa buộc vừa kéo vừa đẩy mất hơn tiếng đồng hồ mới lôi được anh ấy ra ngoài.

Lôi ra ngoài xong thì bốn thằng ấy mất sức chiến đấu không thể tiếp tục làm gì được nữa.

Đoạn đường 6 tiếng đồng hồ về trạm xá trung đoàn phải cử 6 lính khác thay nhau khiêng anh ấy và cả đồ đoàn cùng súng đạn của 7 người.

Không phải sau 6 tiếng mà mất đứt cả ngày trời mới đưa được anh ấy về đến đích.

Sau vụ đó, trong số những thằng khiêng anh ấy có 2 thằng lăn ra ốm phải nằm luôn lại trạm xá, bốn thằng còn lại về nhà mệt mỏi và suy nhược phải sau một tuần mới trở lại công tác được bình thường.

Vụ đó gây tiếng vang toàn trung đoàn và mười thằng lính bộ binh còm cõi trong đại đội tham gia vụ giải cứu anh Gội lần ấy sau này cứ nhắc đến tên anh là tim đập chân run.

Còn anh Gội sau khi lành vết thương được chuyển ngay về C8 hỏa lực.

To xác vậy nhưng anh Gội hiền khô và rất tốt tính.

Anh ấy coi bọn lính Hà Nội đợt chúng tôi là những đứa em mầm non và rất thương nên chúng tôi cũng quý anh ấy lắm.

Cứ gặp là lại xôn xao chào hỏi.

Bảy giờ tối chúng tôi lên đường.

Giữa cánh rừng già trời tối đen nhưng may là không mưa.

Bây giờ cũng là cuối mùa mưa rồi còn gì.

Mũi chúng tôi là K18, nhưng C6 chúng tôi đi trước vì làm nhiệm vụ mở cửa.

C7 sẽ là thê đội 2 đánh tung thâm.

Còn C5 là lực lượng dự bị.

Cả đoàn quân xuất kích theo trinh sát dẫn đường, lúc nhanh như đi ăn cướp, lúc rậm rịch nhích từng bước như trâu ăn đêm trong chuồng.

Tất cả là do trinh sát tiểu đoàn định đoạt hết.

Sướng nhất là có một đoạn đi qua cái bãi đồi rộng toàn có thứ cây gì mọc thấp như cây sim cây mua, nhìn rất rõ nhau, đội hình bám nhau rất sát.

Khó chịu là lúc đi qua những cánh rừng rậm non chẳng ra non, già chẳng ra già, không hiểu vì sao mà lắm bụi với dây leo thế không biết.

Đã thế đường đi lại không thẳng, có lúc phải chui qua cả lùm cây được phát ra như cái hang bằng toàn cành lá.

Hầu như trận nào cũng gặp phải cái cảnh thế này.

Lắm lúc tức trinh sát ghê lắm.

Chúng nó được chuẩn bị, được tìm đường tiềm nhập từ trước mà sao không chọn hay phát đường đi cho tử tế.

Không phải mang nặng và vác gỗ bao giờ nên chẳng biết thương bộ binh.

Chỉ biết đạp đường nhắm hướng cho đúng chỗ là được.

Vì thế lắm lúc trong bụng mình cũng tức lắm.

Lúc ở nhà được dạy dỗ tử tế, không dám nói tục một câu, thế mà vào lính rồi cũng nhiễm nhau tất cả, từ quan đến lính.

Không chỉ nói tục mà còn chửi bậy nữa, văng lung tung ra cả những thứ mà chính mình cũng chưa nhìn thấy bao giờ.

Tất nhiên lũ trinh sát nghe chửi quen rồi thì cũng như miễn dịch vậy, chỉ hơ hơ cuời rồi đâu lại vào đấy.

Trước khi vào đến cái giông đồi cùng trận địa của bọn D621 Thái, chúng tôi phải đi qua một bãi rộng như đầm lầy, bùn sụt đến quá đầu gối.

Có lúc tưởng như bị chôn chân không nhấc lên được.

Dép cao su trơn tuột ra phải tháo rồi lồng vào Xanh-tuya-rông cho khỏi mất.

Lại nguyền rủa bọn trinh sát.

Bộ binh vất vả đã đành, bọn hỏa lực khiêng nặng chắc còn mệt hơn nhiều.

Qua khỏi cái bãi lầy thì đã gần địch hơn nên đi chậm hơn và phải giữ trật tự.

Thế mà thỉch thoảng vẫn có thằng va gỗ vào nhau kêu rất to, thậm chí có thằng không bám được đội hình sợ lạc đành phải lên tiếng gọi nho nhỏ.

Ví như anh Tiêu lính A cối 60 C tôi.

Anh này dân Hà Tĩnh, người chắc và khỏe nhưng lại quá lùn.

Dù có chất lên vai anh ấy 40 cân hay chỉ 20 cân thì tốc độ đi của anh ấy vẫn như nhau, lầm lũi như một chú lừa chậm chạp.

Chúng tôi đã biết tính anh ấy qua những lần đi cùi cõng.

Được cái quá hiền lành, ai cũng bắt nạt được.

Hai mấy tuổi mà khoe đã có vợ rồi, thật thà đến nỗi chỉ là cái đích cho mấy bố tếu táo trong đại đội châm chọc và moi chuyện bậy bạ.

Lúc qua bãi lầy anh ấy bị ướt cả đến quần đùi, nhiều lúc đi mà như bò trườn trên bùn nước.

Lúc qua rồi thì lạc, lại kêu gọi anh em.

Tiếng Hà Tĩnh đã nặng, nghe lúc thường có khi đã không rõ, lúc hoảng lên lại càng khó nghe hơn.

Đang đi phía trước hàng quân, C phó Hùng bực tức quay lại ghé sát tai anh Tiêu chửi nhỏ "Câm cái mồm".

Đáng lẽ nghe không ra thì im đi cho xong, đằng này anh Tiêu lại cứ "chi mô, chi mô".

Anh Hùng tức quá véo tai cho một cái và lại ghé sát mồm chửi "tiên sư mày".

Không nghe rõ, lại hỏi lại "chi mô".

Thế là lại bị thì thào "tiên sư mày", chửi mà phải nói thầm nghe nó buồn cười lắm.

Tôi đi gần đó suýt phì cười, may mà nghiến răng bụm miệng lại được, chứ không cũng chết với anh Hùng.

Tếu nhất là khi anh Tiêu nghe ra được tiếng chửi, không những không bực mình, lại còn nhe răng ra mà cười rồi gật đầu "dạ, dạ" lia lịa, tiếng còn to hơn cả lúc gọi anh em ban nẫy.

Anh Hùng đành dúi cho một cái nữa rồi lật đật chạy lên phía trước hàng quân.

Lần mò mãi thì trước nửa đêm chúng tôi cũng vào được đến vị trí.

Đại đội phân công các B chiếm lĩnh vị trí theo đội hình chữ T lệch.

Đầu chữ T là tuyến phá rào mở cửa và hỏa lực, còn đơn vị rải như cánh gà chéo phía sau.

Hỏa lực phía trên chỉ là B40, B41 thôi.

Bọn 12 ly7 nằm lùi hẳn lại phía sau.

Cối 60 cũng nằm cuối đội hình, còn bọn cối 82 của C8 hỏa lực thì lại lùi xa hơn nữa.

Tiểu đội tôi và thằng Thành nữa là 5 người tiếp nhận vị trí mở cửa.

Trời đêm nhờ nhờ, tầm nhìn hạn chế, nhưng trong khu hàng rào vẫn phải bò thấp.

Anh Trịnh dùng kìm cộng lực cắt lớp rào đơn ngoài cùng thành một lối bò vào.

Bây giờ chỉ là lấy lối vào, còn thủ pháo đặt phá rào làm sau.

Bò qua một đoạn thì đến hàng rào bùng nhùng.

Loại này có ngạnh rất sắc, chỉ rải thô trên mặt đất, cách một quãng địch lại cắm một cọc sắt để định vị.

Loại rào này không dễ cắt như rào đơn.

Chúng tôi lấy các móc thép ghim néo các vòng hàng rào lại để tạo một lối bò qua.

Việc đặt mìn sẽ làm từ trong ra.

Lớp rào trong cùng chỉ cách lớp hào tiền duyên của địch độ hơn chục mét nên phải rất thận trọng.

Được cái thuận lợi là địch không chôn mìn giữa các hàng rào.

Hướng cửa mở do cấp trên đã chọn và định sẵn rồi nên phải mở chính xác.

Tại chân lớp rào trong cùng là rào đơn, chúng tôi đặt vuông góc 2 ống bộc phá 1,2m cách nhau 8 mét để xác định khẩu độ cửa mở.

Dưới chân rào ở khu giữa chúng tôi xếp dọc thêm 4 ống bộc phá nữa.

Lớp rào này khi mìn DH10 nổ sẽ thổi mảnh vào nên không cấn đặt dầy bộc phá.

Phía trước hàng rào bùng nhùng chúng tôi đặt vuông góc 2 giá mìn DH10, mỗi giá 3 quả xếp theo hàng dọc, giá nọ cách giá kia 4 mét phân đều theo khẩu độ 8 mét.

Tại hai đầu cũng xếp 2 ống bộc phá dài để có thể cắt đứt lớp rào này và thổi bay nó đi.

Đã có trường hợp không đặt bộc phá cắt rào, sau khi mìn DH10 nổ không cắt đứt hết rào, cái vòng bùng nhùng văng lên cao như lò xo rồi lại rơi xuống bịt luôn cửa mở, thế là công toi.

Ở hàng rào đơn ngoài cùng cũng đặt bộc phá ống như hàng rào trong cùng nhưng dày hơn vì nó nằm phía sau giá mìn DH10.

Sau khi đặt mìn và bộc phá xong, tôi gắn kết tất cả mìn và bộc phá bằng dây nổ.

Kíp điện gắn vào mìn DH10 làm cuối cùng vì còn phải nối dây ra ngoài đến hộp điểm hỏa.

Tôi là người chịu trách nhiệm kiểm tra cuối cùng cho toàn bộ mìn và thủ pháo rồi bò ra.

Khi mọi thứ đã xong xuôi thì cũng đến mấy giờ sáng rồi.

Bây giờ chỉ còn lạy trời đừng có thằng địch nào ban đêm ngứa tay "cốc" ra ngoài hàng rào một hai quả cối M79 để giải sầu.

Tuyến hỏa lực của đại đội để chế áp cửa mở nằm sát ngay ngoài hàng rào ngoài cùng, cách địch khoảng năm chục mét.

Trung đội cũng đã đào sắp xong các hầm chiến đấu cá nhân rồi.

Nhóm mở cửa được trung đội hỗ trợ đào giúp cho 2 người chung một hầm.

Chúng tôi nhận hầm, đào nốt và chỉnh sửa cho hòan chỉnh.

Công tác chuẩn bị coi như thế là xong.

Bây giờ chỉ còn chờ đợi.

Đội hình phía sau có thể định giờ chợp mắt tí chút chứ trung đội trên cửa mở thì phải thức trắng vì sát ngay địch rồi.

Thật ra mà nói bây giờ đang là ban đêm ánh sáng nhập nhoạng nên địch chưa biết gì thôi, chứ trời sáng ra thì những nắp hầm lô nhô bên ngoài hàng rào sẽ lộ hết.

Chúng tôi ngồi nghỉ trong hầm và chờ đợi.

Không ai được hút thuốc, kể cả đội hình cánh gà phía sau.

Gần sáng đại trưởng Băng bò lên cùng kiểm tra lại tình hình chuẩn bị của trung đội mở cửa.

Ngoài cái công tác bấm từ để điểm hỏa của mìn Cleimo, B trưởng Quân còn dự trữ sẵn một thỏi pin xếp dài ngoằng xin của thông tin tiểu đoàn.

5 giờ sáng.

Trời vẫn còn nhờ nhờ tối trong màn sương đêm mờ trắng.

Gần như đây là giờ chuẩn của các trận đánh căn cứ trong trung đoàn chúng tôi.

Đại trưởng Băng xem đồng hồ rồi phảy tay ra lệnh.

Tôi nghiến răng bóp mạnh công tắc điện.

Một ánh chớp bừng lên trên vùng cửa mở kèm theo tiếng nổ gần như tức thời.

Cảm nhận rõ một áp lực nào đó truyền qua không khí hắt ra từ khu hàng rào.

Chưa kịp nhìn rõ thứ gì thì trên tuyến hỏa lực tiền duyên, chớp B40, B41 của đại đội nổ liên hồi nã vào khu đầu cầu.

Cũng liền lúc đó đã nghe tiếng ù ù xoẹt xoẹt rồi tiếng nổ của pháo cấp trên dồn dập dập vào khu hầm hào của địch sát ngay cửa mở.

Tôi được anh Trịnh truyền cho khẩu B41 đã lắp đạn sắn và giương lên nhả một phát vào hướng địch.

Có lẽ nó bay vào sâu bên trong chứ không tương trúng khu đầu cầu.

Tôi trả lại súng cho anh Trịnh rồi căng mắt nhìn vào hàng rào.

Vẫn chưa thấy rõ vì khói súng nhiều quá, dù màn sương đêm đã bị cái nóng đạn lửa làm tan ra rồi.

Pháo cấp trên bắn vào chừng vài chục quả, còn B40, B41 của các tay súng hỏa lực trong đại đội chỉ được phép bắn mỗi khẩu 3 trái.

Cối 82 của tiểu đoàn cũng chi viện một ít.

Khẩu cối 60 của C tôi chưa phát hỏa. (C tôi chỉ còn lại một khẩu vì một khẩu đã bị hỏng do đạn cối nổ trong nòng từ dạo đầu mùa mưa đánh địch ở đường 231 hướng Lào Ngam rồi).

Địch bị bất ngờ chưa kịp phản kháng vì bọn ở khu đầu cầu chắc đã bị đè bẹp rồi.

Lũ địch ở phía trong chắc đang chấn chỉnh đội hình.

Vào giờ chúng tôi bấm mìn và nổ súng, cấp trên chi viện chúng tôi nhanh như thế nào thì bây giờ cũng kết thúc nhanh như thế sau vài chục phát pháo chi viện, thời gian có lẽ cũng chỉ chừng hai chục phút.

Như các trận đánh căn cứ khác thì pháo cấp trên chuyển làn và chúng tôi khẩn trương xung phong vào đánh chiếm đầu cầu.

Trận này do có xe tăng phối thuộc nên đánh theo kiểu khác.

Pháo cấp trên im là chúng tôi cũng nằm im luôn.

Địch có lẽ còn đang chờ ta xung phong nên cũng không bắn trả gì.

Tôi nhìn lên khu cửa mở.

Khói và sương đã tan hết, để lộ rõ cả một vùng không gian trống hoác không còn hàng rào.

Thế là cửa mở đã thông.

Tôi sung sướng nắm tay anh Trịnh, thở phào nhẹ nhõm.

Bây giờ nhiệmvụ của C6 mà trực tiếp là B5 phải nằm giữ cửa mở không cho địch ra bít lại.Phải chờ cả một ngày trời đằng đẵng để đến tối xe tăng mới xuất kích vào tớinơi thì trận đánh lại tiếp tục.

Thật quá giữ chốt, nhưng không phải chỉ nhõn cómấy thằng lính mà có cả một đội hình cả C, cả D tiếp ứng.

Bọn địch có lẽ cũngngơ ngác không hiểu đối phương định làm gì.

Chúng bắt đầu đưa quân từ bên trongra củng cố lại hầm hào khu đầu cầu.

Ta và địch bây giờ cách nhau một khu đấttrống rộng hơn năm chục mét.

Chúng cũng chẳng thèm ra bít lại hàng rào vì nếu làmthế khác nào tạo ra những chiếc bia di động cho ta bắn tỉa.

Củng cố chán chêrồi, địch bắt đầu trả đũa bằng thế mạnh của chúng, đó là cối pháo.

Pháo lớn củađịch từ phù Chiêng bắn ra cả 2 hướng cửa mở của K18 và K16.

Chúng không dậpchính xác vào khu cửa mở mà bắn rộng ra xa. các cánh quân bên ngoài chắc gaygo.

Chúng tôi nằm sát cửa mở nghe tiếng pháo rú bay xoèn xoẹt qua đầu rồi nổbung phía sau.

Nhưng cũng chỉ yên tâm một lúc thôi, vì bọn địch trong căn cứcũng lên tiếng.

Cối 81 từ trong lòng căn cứ dã vào khu vực đại đội 6.

Chúng tôinằm phía trên thì hứng chịu đạn M79 của bọn nằm sat ngay khu đầu cầu.

Chúng nóthảnh thơi nhả đạn như bắn tập, trong khi cả C tôi nằm chịu trận, không bắn trảđược phát nào.

Nhiệm vụ chính chỉ là đánh bọn ra lấp hàng rào.

Một thằng bắn tập còn một thằng phơi lưng ra chịu trận thì thế nào cũng có lúc thiệt.

Chúng tôi cũng lo lắng lắm, chả hiểu cái chiến thuật này bố nào ở cấp trên nghĩ ra.

Kiểu đánh của quân ta chỉ có khi ở chốt là phải căng thẳng, chịu trận bom pháo để giữ chốt mà không được lui khi chưa có lệnh, còn các trận đánh phục kích, lùng sục hay đánh cứ điểm thì bao giờ cũng phải đánh nhanh rồi rút sớm để tránh thế mạnh bom pháo của địch.

Bây giờ bấm mìn phá rào và nổ súng ùng oàng thì lộ rồi, địch nó thừa biết mình đang muốn thôn tính nó.

Cả đội hình lớn phơi mình ra, địch nó mà gọi thêm máy bay nữa quần thảo cho một ngày thì chắc trung đoàn hết cả quân mà đánh nó.

Trên cửa mở trung đội chúng tôi cứ phải chúi mũi trong hầm tránh cối M79.

Lúc địch ngừng bắn thì thập thò nhô lên quan sát.

Cũng may cái khu vực này vốn là rừng phát quang bằng tay có nhiều chồi non tái sinh mọc cao tới vài chục phân nên thằng địch nằm trong căn cứ cũng không dễ dàng mà quan sát hết được quân ta.

Thời gian nặng nề trôi qua.

Bây giờ thì chúng tôi có thể thoải mái hút thuốc, nhưng tất cả vẫn ai ở nguyên hầm đó.

Cơm nước cũng theo từng cá nhân mà tự giải quyết.

Dù chỉ là lính mới đánh nhau chưa nhiều, nhưng ngồi trong hầm nói chuyện với anh Trịnh, tôi hiểu thành quả sáng nay của B5 chúng tôi chỉ là phá toang được mấy lớp hàng rào, còn khu đầu cầu thì chắc địch đã củng cố lại cả quân số và hầm hào rồi.

Như thế cũng có nghĩa là tối nay đánh tiếp thì phải bắn phá lại khu đầu cầu trong điều kiện ý đồ đã lộ.

Nhưng chúng tôi chẳng lo vì đây là nhiệm vụ của xe tăng mà theo quán triệt từ trước thì chúng tôi tin vào sức mạnh của xe tăng.

Suốt buổi sáng B5 nằm trên cửa mở vẫn an toàn và chưa phải nổ phát súng nào.

Đạn dược vẫn dành đủ cho trận đánh tối nay.

Nhưng đội hình phía sau bị dã cối 81 của địch thì không được may mắn như trên cửa mở.

Tổn thất đầu tiên trong đại đội là anh Ánh của A cối 60 bị hy sinh.

Một quả cối 81 của địch nổ sát hầm và văng mảnh trúng đầu anh ấy.

Trong lính có nhiều điều mê tín như kiểu nấu cơm khê trước lúc đánh trận, giữ vàng trong người sẽ không may..., nhưng bây giờ trường hợp anh Ánh hy sinh lại thêm một kiểu mê tín khác không kém rờn rợn.

Ngay từ trước đây cả tháng nhiều người trong đại đội đã cho rằng sẽ có điềm không may đến với anh Ánh.

Số là hồi đầu mùa mưa trong một trận đánh vận động ở vùng đường 231 C6 có vụ nổ đạn cối trong nòng và anh Đối A trưởng hy sinh cùng một anh nữa.

Đến khi chúng tôi về dừng chân ở khu hậu cứ gần bản Xăm xi núc thì mỗi A ở một nhà làm kiểu hầm thùng, A cối cũng vậy.

Khi chúng tôi rục rịc chuẩn bị cho chiến dịch sắp tới thì bỗng dưng hàng đêm ở trong lán A cối 60 xuất hiện một con đom đóm rất to.

Nó to và có độ sáng khá khác thường.

Nó cứ bay trong lán vào ban đêm, tạo một đốm sáng rất to trong không gian tối om của màn đêm.

Nó cứ bay lên hạ xuống quanh phía trên đầu các lính A cối.

Lúc đầu thì chưa mấy ai để ý, sau thấy lặp lại nhiều thì có một lần anh Thắng là A trưởng cối mới bỗng kêu lên:

"Có khi đây là anh Đối về, chúng mày ạ".

Thế là anh ấy nhổm dậy rồi quỳ vái lia vái lịa về phía con đom đóm.

Con đom đóm bay sang chỗ khác như có phép màu.

Thế là đến lượt người khác.

Cứ con đom đóm bay đến đâu, vái lạy thì nó lại bay đi, cuối cùng nó bay ra ngoài rừng cây, dù trời lúc đó đang mưa.

Hôm sau con đom đóm lại bay vào lán.

Tất cả lại sợ xanh mắt và vái lia lịa vì tất cả đều tin rằng đó là linh hồn anh Đối.

Liền mấy hôm như thế, nhưng trong A cối có anh Ánh đi công tác biệt phái mấy ngày nên không biết.

Hôm anh Ánh trở về, con đom đóm vẫn bay vào lán như mọi khi.

Anh Ánh tròn mắt nhìn mọi người thành kính vái lạy con đóm đóm.

Khi nó bay đến đậu phía đầu anh Ánh, mọi người giục nhưng anh Ánh không tin đó là hồn ma anh Đối nên không lạy.

Anh ấy còn rút que cời than vụt chết con đom đóm.

Ai cũng cho đó là điềm gở nhưng anh Ánh chỉ cười nhạt.

Bây giờ vừa vào trận anh Ánh đã hy sinh (mà cũng chỉ có một mình anh ấy thôi, còn lại cả A cối vẫn an toàn) thì sau này không chỉ riêng A cối mà cả đại đội tôi đều tin rằng câu chuyện về con đom đóm ở khu hậu cứ đúng là linh hồn thật.

Thế là lính tráng đã mê tín thì lại càng mê tín hơn.

Lúc bấy giờ và sau này cũng không ai giải thích được là tại sao cái tiểu đoàn 621 Thái ấy khi đã biết chắc hàng rào căn cứ của mình bị lính Bắc Việt phá thủng 2 cửa to tướng như thế và có thể đang bao vây chờ đánh tiếp mà chúng cũng chỉ phản ứng như tập trận với một ít pháo chi viện từ hậu cứ và dùng hỏa lực nhẹ của bản thân để bắn phân tán ra ngoài.

Phải chăng chúng nghĩ đối phương sẽ bỏ cuộc hoặc giả cũng coi thường đối phương nên cứ chờ xem sao.

Chỉ có một điều chắc chắn mà sau này chúng tôi được biết là địch không hề nghĩ quân ta có xe tăng, dù ít ngày trước máy bay T28 của chúng đã ném bom phá hỏng được một chiếc xe tăng của ta.

Chúng cũng chỉ nghi ngờ chứ không dám chắc quân ta có xe tăng, chính điều này là may mắn cho phân đội xe tăng vì địch không chuẩn bị hỏa lực chống tăng tập trung chờ sẵn tại cửa mở.

Thực lòng về sau đám tham mưu con chúng tôi bàn dại là nếu lúc ấy địch tập trung thật nhiều bom pháo đánh rộng khắp ra xung quanh căn cứ với mật độ dày đặc trong suốt cả ngày thì chắc cả tiểu đoàn chúng tôi bị xóa sổ rồi.

May mà địch chỉ bắn cối ra và gọi ít pháo bắn đến chi viện cứ như chúng diễn tập cho có vậy thôi.

Điều đặc biệt là suốt cả ngày hôm đó không thấy bóng dáng một chiếc T28 nào.

Chiến trường thật đúng là may hơn khôn.

May cho chúng tôi và may cho cả bọn lính tăng.

Khoảng thời gian từ gần trưa cho đến chiều tối là một khoảng thời gian tĩnh lặng.

Bắn mãi chẳng thấy đối phương phản ứng gì, chắc chúng nó cũng chán.

Nhưng chúng không biết chắc quân ta đã rút hay chưa nên cũng không cho quân ra củng cố lại hàng rào hoặc thăm dò.

Chúng cũng chẳng buồn bắn ra bên ngoài nữa, lý do gì không biết nhưng chắc chắn không phải là chúng thiếu đạn.

Bay giờ địch làm gì trong căn cứ, chúng tôi không biết.

Cũng chẳng nghe tiếng chúng nói gì, dù những hầm tiền tiêu của chúng tôi chỉ cách chúng hơn năm chục mét.

Địch cũng không cho quân từ phía sau ngã ba Lào Ngam lên tiếp ứng nên K15 đón lõng cũng không có việc để làm.

Chỉ có xa xa trên đường 23 hướng K18 và K16 chúng tôi là có việc.

Công binh trung đoàn vẫn phải phối hợp để dẫn xe tăng (dù chỉ còn 3 chiếc) tiến dần vào khu căn cứ địch.

Nhưng đó cũng chỉ là suy đoán thôi, chứ trên vùng cửa mở, lính B5 vẫn nằm co ro trong hầm chờ lệnh.

Nhiệm vụ tưởng nặng nề là giữ cửa mở không cho địch ra bít lại trở nên nhẹ nhàng vì địch nó cũng chẳng buồn ngó ngàng tới, chẳng có tốp lính nào mò ra hàng rào.

Trong khu căn cứ vẫn kín đáo và im ắng dưới những tán cây cà phê rậm rì.

Vườn cà phê xanh um đã che dấu mọi sinh hoạt của địch.

Suốt cả ngày trời không mưa nhưng cũng không có nắng to.

Chỉ gần trưa mới thấy hưng hửng một chút.

Trung đội tôi chỉ còn mỗi việc làm đều đặn nhất là quấn thuốc hút, nhẩn nha uống nước và lo bữa cơm trưa.

Cơm là cho hai ngày nhưng anh Quân bảo chúng mày cứ chia ăn khoảng 4 bữa thôi.

Đánh địch xong thể nào cũng có gạo của địch mà ăn.

Vì thế chúng tôi cũng phấn chấn và tự tin lắm.

Tôi nhẩm lại lịch.

Hôm nay là ngày 18/10/1972.

Mọi thứ cứ yên ắng như thế cho đến chiều tối.

Lúc trời nhập nhoạng thì không khí bên ngoài bắt đầu sôi động dần lên.

Liên lạc đại đội bò lên truyền lệnh.

Các thủ trưởng C, D tiến dần lên khu của mở.

Bọn thông tin bò qua bò lại rải thêm dây.

Hai khẩu đội 12 ly7 nằm im suốt cả ngày bây giờ bắt đầu giá cao súng lên ngay sát bên phải cửa mở.

Trung đội tôi hết nhiệm vụ giữ cửa mở, được lệnh kiểm tra súng đạn chuẩn bị đón và theo xe tăng vào chiếm cửa mở.

Các A trưởng được lệnh lấy ra những viên đạn lửa lắp xen vào băng đạn.

Những viên AK loại đạn lửa có thêm một vạch đỏ trên đầu đạn.

Khi bắn ngoài tác dụng như đạn AK thông thường, nó còn tạo một vệt lửa đỏ đánh dấu đường đạn giúp cho người bắn định vị trong đêm.

Lúc này xung lực AK còn nguyên cơ số, kèm đầy đủ thủ pháo.

Hỏa lực B40, B41 mỗi khấu còn 4 trái, đủ để chiếm đầu cầu.

Riêng cối cá nhân bắn ra lúc sáng không được bao nhiêu.

Trong đánh căn cứ, hầu như cối M79 ít tác dụng.

Những thằng lính giữ M79 đều tích trữ cho mình mấy quả cối bi để bắn trực tiếp, nhưng cũng chủ yếu là tự vệ.

Trời tối nhọ mặt người.

Phía sau đã nghe đất rung lên nhè nhẹ càng ngày càng rõ dần, tiếng của xe tăng đi.

Chếch từ phía phải đường vào cửa mở xuất hiện một chiếc T54 to lừng lững như căn nhà rình rịch chạy đến sát hầm tôi.

Nó mà nghiến lên thì mấy cái hầm đất bộ binh bẹp rúm.

Nhưng bây giờ chúng tôi cũng không cần đến hầm nữa rồi.

Mấy chúng tôi súng ống đã gọn gàng, đứng hẳn người lên tiến đến sát xe tăng.

Một người lính tăng mở nắp nhô lên gào to hỏi hướng cửa mở.

Súng 12ly7 của C8 bắt đầu nổ "panh panh" xả vào hướng cửa mở chỉ đường.

Người lính tăng tụt xuống, đóng nắp xe tăng.

Rất nhanh, chiếc xe tăng bắn luôn một phát pháo vào cửa mở, cả khối thép như rùng mình rồi xê đít chỉnh hướng tiến vào cửa mở.

Hỏa lực B40 và B41 của đại đội cũng phối hợp nện vào khu đầu cầu.

Bây giờ thì tiếng nổ máy của xe tăng đã gầm lên rất to.

Không gian rộ lên tiếng đạn bắn của ta và của cả địch xả ra từ trong căn cứ.

Mấy khẩu trung lên Bar của địch cuống quít xả đạn ra cửa mở bắn vào thành chiếc xe tăng chan chát và tóe lửa.

Chúng tôi lùi tránh phía sau xe tăng, lợi dụng nó làm vật che đỡ.

Vào trận rồi thì cứ theo bản năng mà đánh, chẳng còn để ý địch nó có bắn cái gì vào mình không.

Một quả rốc két 66 bắn ra, vệt lửa vụt ngang qua tháp xe tăng vút về phía sau, không biết có trúng thằng bộ binh nào không.

Rồi từ lúc nào đó cối pháo cấp trên cũng nổ ùng oàng vào căn cứ địch.

Chiếc xe tăng của ta vừa lao vào cửa mở vừa bắn xả đạn đại liên.

Chúng tôi giạt ra chờ giây lát cho chiếc tăng thứ hai tiến vào. (Cửa mở K18 có 2 tăng phối hợp, còn cửa mở K16 thì chỉ còn một chiếc xe tăng thôi).

Chúng tôi được lệnh bám luôn theo chiếc tăng thứ hai.

Thế là anh Quân xốc cả trung đội xung phong.

Do có xe tăng dẫn đầu nên bọn 12 ly7 phải bắn đạn dịch ngang và vổng tít trên cao vào căn cứ, chắc chỉ có tác dụng tâm lý.

Lần đầu tiên chúng tôi đánh đêm, thấy vạch đỏ đường đạn bay nhằng nhịt, cảm giác rất khác lạ.

Dưới đủ các loại tầm đạn, chúng tôi vừa cố chạy nhanh theo xe tăng để lợi dụng nó làm vật che đỡ, vừa cố giữ một khoảng cách nào đó.

Tinh thần lính tráng lúc này phấn chấn lắm.

Địch không bắn thêm được một phát đạn chống tăng nào, chỉ toàn đạn thẳng bắn ra nên có trúng xe tăng cũng chẳng có tác dụng gì.

Có lẽ đây là lần đầu tiên địch gặp xe tăng của ta trên chiến trường này nên chúng cũng hoang mang và lúng túng.

Theo chúng tôi biết, địch không có hỏa lực chống tăng như B40, B41 của ta, nhưng lúc hành quân chiến đấu, ngoài khẩu M16, thằng nào cũng đeo lủng lẳng thêm một ống M72.

Vì thế lúc tác chiến chúng nó tập trung dập lại bằng rốc két đó thì cũng ghê lắm.

Thế mà bây giờ nằm căn cứ lại không thấy nó bắn loại đó.

Hay là M72 không diệt được tăng T54?

Hai cái xetăng vừa lọt hẳn vào căn cứ thì lính B5 chúng tôi cũng đã ném một chập thủ pháovào cửa mở sát ngay sau xe tăng rồi cứ thế quạt bừa AK mà xông vào.

Chỉ theohướng là chính thôi chứ chúng tôi không quen đánh đêm nên cũng chẳng nhìn rõ gìnhiều.

Trong ánh chớp lửa đạn chỉ thấy nhập nhà nhập nhoàng, nhưng cứ đánh theocảm tính.

Mấy cái hầm khu đầu cầu bị xe tăng đè bẹp, chúng tôi đánh bám sanghai bên, vừa bắn vừa nhảy đại xuống hầm hào ngang khu đầu cầu, đạp bừa cả vàonhững xác địch trong đó.

Chỉ còn sự chống cự yếu ớt tại đây nên chỉ trong khoảngthời gian ngắn chúng tôi đã chiếm được khu đầu cầu.

Cả trung đội 5 không cóthương vong.

Các B khác trong C, rồi C7 chủ công cũng bám theo rất nhanh đánhthốc vào trong căn cứ.

Bây giờ tạm dừng lại thở mới có điều kiện để quan sát vànghe ngóng.

Chẳng biết hai chiếc xe tăng đã vào đến đâu.

Trong căn cứ liên tụcrộ lên tiếng súng và chớp lửa.

Có lẽ nhờ xe tăng quần đến đâu, quân ta áp theođánh chiếm đến đó nên nghe tiếng AK là chính, thỉnh thoảng nghe xen tiếng B40và B41.

Mà Trung liên Bar của địch cũngđạn 7ly62 nên tiếng nổ của nó nghe rất giống tiếng AK, có khác chăng là nó bắnloạt dài chứ không như AK điểm xạ.

Lúc này thì các loại hỏa lực của cấp trên vàcủa tiểu đoàn như 12 ly7 hay cối 82 đã hết việc rồi.

Toàn bộ khu đầu cầu vàtuyến ngang do C6 đánh chiếm đã xong.

C7 vào sâu bên trong, chắc cũng thuận lợinên không thấy tiểu đoàn điều C5 vào đánh.

Chỉ chừng non nửa tiếng sau thìtiếng súng thưa dần rồi ngừng.

Đôi lúc chỉ còn vài tiếng nổ lẻ tẻ.

Có tin C7 đãbắt được liên lạc với hướng của K16.

Quân ta đã làm chủ trận địa.

Lúc này thôngtin nhận được không có gì nhiều.

Nghe loáng thoáng trong đại đội 6 bị thương 2,bên C7 hy sinh và bị thương vài lính.

Trong đêm tối đen chỉ có lệnh các đơn vịtổ chức trụ lại tại vị trí đã chiếm giữ chờ sáng.

Một bộ phận của tiểu đoànchạy qua chạy lại khu cửa mở í ới gọi nhau làm công tác thương binh tử sĩ.

Tình thế hiện nay cũng lại là một điều đặc biệt đối với chúng tôi.

Mọi khi đánh xong phải nhanh chóng thu chiến lợi phẩm (cũng chỉ thu được ít thôi và cố gắng mỗi thằng thu một khẩu súng của địch, lục lọi nhanh mỗi thằng độ hai ba cái ba-lô của địch) rồi nhanh chóng rút ra ngoài trận địa, có khi xa tới cả cây số mới được lệnh dừng.

Chỉ có một bộ phận rất nhỏ tảo thanh rồi cũng phải mau chóng rút.

Đánh nhanh thì rút cũng phải cực nhanh.

Vậy mà lần này...

Nhưng không chốt lại thì trong đêm tối đen thế này thì biết rút đi đâu.

Bộ phận chính sách tất nhiên phải làm ngay trong đêm rồi.

Các C bộ binh có quay ra cũng không biết về tập kết chỗ nào.

Mà tình hình trận địa còn ngổn ngang, quân ta đánh xong nhưng đã kiểm soát xong hết mọi thứ đâu.

Toàn trận địa im tiếng súng.

Thoạt đầu chúng tôi bám sát vào các hầm to của địch, loại hầm thùng có nắp đất dầy để nhỡ ra địch nó câu pháo vào thì cũng đỡ tổn thất.

Nhưng cũng lạ là mãi vẫn không thấy địch bắn pháo, thế là bắt đầu chủ quan.

Lính tráng ở khu vực nào tranh thủ lục lọi các hầm ở quanh khu vực đó.

Thứ được tận dụng đầu tiên là đèn pin.

Trang bị và cơ sở vật chất của bọn Thái có thể nói là giàu có và phong phú.

Chẳng mấy chốc mà trong căn cứ không còn im ắng nữa mà bắt đầu nhộn nhịp.

Ánh đèn pin soi loang loáng trong các hầm hào, dù cẩn thận thì thỉnh thoảng cũng vẫn có ánh đèn chiếu hắt ra ngoài, soi lên hàng cà phê rậm rạp.

Lính tráng tự động tìm chiến lợi phẩm, chẳng ai ngăn cấm được.

Gặp xác chết thì gạt ra chẳng thấy ghê gì cả, khu hầm nào cũng có lính chui vào lui cui lục lọi, tìm kiếm rồi chia nhau.

Không biết bây giờ là mấy giờ, nhưng cả bọn giờ chợt nhận ra là chưa có lệnh ăn cơm chiều.

Gói cơm nếp vẫn còn, thằng nào thấy đói thì tự ăn.

Nhưng nhiều chỗ kiếm được sữa hộp đem chia nhau húp cũng thấy no, còn khoái hơn chén cơm nếp.

Tiếp theo là thịt hộp và thuốc lá.

Tự kiếm tự thưởng.

Trong trung đoàn tôi có lệnh khi đánh căn cứ nếu thu được đồ hộp nhiều hoặc thuốc lá nguyên tút phải gom lại nộp về trung đoàn để cấp trên chia cho trạm xá và phía sau.

Nhưng lính các C trực thuộc trung đoàn thường được đồng hương bộ binh cho trực tiếp khi gặp nhau chứ những thứ nộp về cũng không nhiều đến mức đủ chia khắp cho lính các C trực thuộc.

Với lại quy định là thế thôi chứ chỉ có cán bộ đại đội là phải chú ý, thỉnh thoảng thu lại một chút nộp lên tiểu đoàn rồi từ đó lại nộp lên trên, còn lính tráng thì không mấy thằng muốn tự giác.

Lo thân mấy thằng cùng cảnh trước đã nên đồ ăn và đồ hút là tự xử lý luôn.

Trung đoàn phải dùng biện pháp là sau những trận đánh cứ điểm, thường chỉ chậm nhất 2 ngày là chúng tôi bị báo động kiểm tra quân tư trang bất thình lình để đơn vị thu bớt các thứ lấy được.

Không hiểu sao đêm ấy trôi qua yên lành trong căn cứ.

Chúng tôi được ăn no, hút thuốc thơm (bên Lào khi đó chủ yếu là thuốc lá đầu lọc nhãn hiệu chữ A, gọi là "Gia tô A đeng" hoặc "Gia tô A khao") nhưng đồ uống lại không có.

Đến mờ sáng mới chính thức có lệnh kiểm tra toàn bộ trận địa, thu vũ khí và chiến lợi phẩm rồi các đơn vị rút ra tập kết về một số địa điểm gần căn cứ, là những cánh rừng già.

Có một điều chúng tôi rất nhớ là trong căn cứ có một kho gạo Thái cực ngon, đóng trong các bao dứa có trọng lượng 45 cân.

Các đơn vị được lấy thoải mái.

Tiểu đoàn còn cử cả một đội cùi gạo về hậu cứ cho trung đoàn.

Mỗi tiểu đội chúng tôi hè nhau khiêng một bao.

Gạo vẫn còn rất nhiều.

Có cả một kho nước mắm nữa, đóng trong các chai độ một phần ba lít.

Thế ra khẩu vị ăn của lính Thái cũng không khác ta bao nhiêu.

Chúng tôi rời căn cứ, ai mang được bao nhiêu thì mang.

Ba chiếc xe tăng bây giờ cũng mới rút lui ra theo đường cũ của K18.

Bây giờ mới biết xe tăng lợi hại thật.

Không lo mang nặng nên ngoài những thứ gì không biết, riêng khoản gạo mỗi chiếc xe tăng lấy tới 3 bao .

Trong cảnh trước trận đánh khẩu phần ăn mỗi người một ngày có 3 lạng thì bây giờ với gạo nhiều như thế, tất cả thành tiên rồi còn gì.

Đại đội chúng tôi rút về một khe suối có rừng già nằm cách căn cứ địch khoảng dăm trăm mét về phía Đông.

Mệt mấy thì mệt nhưng lệnh trong ngày là phải đào xong mỗi tiểu đội một hầm chữ A.

Trong căn cứ bây giờ chỉ còn một trung đội của C7.

Chắc trung đoàn vẫn muốn chốt giữ căn cứ này.

Yên vị rồi, bây giờ mới nghe thêm thông tin về trận đánh.

Cấp trên đánh giá trung đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ, phối hợp tốt cùng xe tăng đánh chiếm nhanh gọn cứ điểm địch, xóa sổ một tiểu đoàn địch, bộ đội ta thương vong ít.

Chẳng thấy nói gì về chuyện chiến thuật đánh trận này là hay hoặc dở, hay là theo bài bản nào.

Trên chiến trường Nam Lào, cũng chỉ có duy nhất một trận đó trung đoàn tôi được đánh cùng tăng, sau đó cũng không có lần thứ hai để mà trải nghiệm, so sánh.

Cũng không phải tất cả mọi sự đều mĩ mãn.

Xe tăng có một chiếc khi rút ra chạy thế nào lại bị tụt xuống vệ con suối đất.

Suối sâu, đất mềm nên nó cứ bị tụt dần xuống do quá nặng.

Không thể kéo lên được.

Thế là công binh phải đánh mìn phá hỏng cho nó yên nghỉ tại đó.

Còn trong căn cứ tuy diệt hết địch nhưng không hiểu sao vào lúc nào và theo lối nào đó, vẫn có một bộ phận địch chạy thoát.

Ngay cả một số tù binh ta bắt được nhưng do trong đêm chưa giải đi ngay, chúng nó cũng tìm cách cứu giúp nhau chuồn hết lúc nào không biết.

Lạ một điều là K15 đón lõng sâu trong hướng ngã ba Lào Ngam không những không gặp địch ra ứng cứu đã đành, mà cũng chẳng chặn được thằng địch nào rút lui qua đó.

Cứ như có ma vậy.

Ngày đầu tiên rút ra khu tập kết, việc làm đầu tiên của chúng tôi là yêu cầu anh nuôi (đi theo B5) nấu gạo Thái cho trung đội ăn thật nhiều.

Mà chẳng cứ gì B5 chúng tôi, chắc B nào cũng vậy, kể cả tiểu đoàn bộ.

Thức ăn chỉ có nước mắm rưới.

Thế mà ngon tuyệt, nhất là sau một thời gian dài ăn cơm nếp mà lại bị đói.

Không còn nhớ mỗi thằng ăn bao nhiêu bát: năm, bảy hay có khi mười bát cũng nên.

No lòi kèn.

Ăn xong còn phải nghỉ mãi mới đi chặt gỗ làm hầm được.

Thế mà đến tối vẫn xong hầm.

Lại nấu cơm tuy không ăn được nhiều như lúc trưa, nhưng vẫn ngon.

Hôm sau nghỉ ngơi tắm giặt và vẫn phải chờ lệnh mới.

Địch nó cũng bỏ hẳn cái cứ điểm bị mất đi hay sao nên chúng cũng không tổ chức chiếm lại, cũng không bom pháo vào đó.

Thật lạ, chẳng hiểu ra làm sao cả.

Nhưng lạ thì lạ, chỉ khoảng cách chưa đến cây số nên các B lại tổ chức từng nhóm quay lại vào khu căn cứ lùng sục tiếp.

Căn cứ rộng lớn, một B của C7 trụ trong đó đã "càn quét" các kiểu cả một ngày trời nhưng vẫn không xuể.

Lính ta mò vào ngoài chuyện lấy thêm gạo còn lục lọi được ối thứ linh tinh.

Giấy trắng và bút bi thì thoải mái, đủ quấn thuốc hút và viết thư cả năm (Thực ra lúc này chúng tôi chưa có mấy ai gửi được thư về nhà).

Tôi lấy được một lô tất chân sợi pha nilon loại hảo hạng và thay luôn cái Xanh-tuya-rông loại thớ ngang.

Cái Xanh-tuya phát từ ngoài Bắc của TQ thớ dọc nên khi đeo nặng nó cứ văn vẹo quăn như vỏ đỗ rất chán.

Thế mới biết đồ của Mỹ tốt thật.

Tôi cũng lấy một ít túi băng cá nhân có vỏ bọc không thấm nước và thay cái vỏ bi-đông vải bạt bằng một vỏ bi-đông bằng vải dù có lớp sợi mềm lót trong giữ ấm nước rất tốt.

Thật ra thích thì lấy thôi chứ lính ta có bao giờ đun nước sôi đâu mà giữ nước ấm.

Chúng tôi còn ở vị trí tập kết thêm 5 ngày nữa.

Bây giờ chỉ ăn với nghỉ.

Đã sốt ruột chuyện trở về căn cứ ở bản Xăm xi núc.

Ngày 24/10/1972, chúng tôi nhận nhiệm vụ đột xuất mới.

Trong tuần vừa qua, trong khi cả trung đoàn chúng tôi còn đang say sưa với chiến thắng Ba Lào Ngam thì địch đã kịp đổ xong 2 trung đoàn GM41 và GM42 từ trong Pắc xế nhảy cóc ra thị xã Saravan là vùng giải phóng của ta từ giữa năm 1970.

Trung đoàn 39 của sư đoàn 968 vốn toàn lính thạo tiếng Lào gom từ các binh trạm Trường Sơn về làm công tác dân vận phía sau các E9B và E19 bị địch đánh cho chạy tan tác.

Họ vốn chỉ gồm các đội công tác lẻ cỡ trung đội, trang bị gọn nhẹ ở lẫn trong dân và hướng dẫn quân sự cho các đơn vị Pathet như kiểu huấn luyện bộ đội địa phương nên không phải là đối thủ của lính Fumi cơ động.

Nhưng tổn thất không bao nhiêu vì họ đã có trình độ luồn rừng ngang với thổ dân rồi nên đã tìm cách thoát thân.

Thế là cả E9B từ Boloven và E19 từ Atopơ được lệnh hành quân gấp ra đánh địch.

Saravan nằm sát liền nhánh Tây Trường Sơn của Đoàn 559 nên tuyến vận tải ở đây bị uy hiếp.

Sư 968 chúng tôi vốn là sư bộ binh nằm trong biên chế của 559 có nhiệm vụ giữ sườn Tây Trường Sơn, vì thế phải quay ra đây đánh địch.

Lệnh phải xuất quân càng nhanh càng tốt.

Cả tiểu đoàn lo chuẩn bị, bỏ lại cái căn cứ Ba Lào Ngam vô chủ để lên đường.

Chúng tôi đã bổ sung xong đạn dược.

Gạo vẫn còn rất nhiều, lệnh trên phải mang mỗi người 7 cân, còn lại ai có sức mang thêm thì mang, không tính vào cơ số.

Chúng tôi cố lèn nhau mỗi người mang mười cân với phương châm ăn thật no thêm mấy ngày đầu nữa, sau này có đói lại cũng hài lòng.

Chiều tốingày 25/10, cả đại đội 6 hành quân về bản Chăn Tua theo hướng Pắc soong cách đóba chục cây số.

Gạo thừa còn bỏ lại ở khu tập kết rất nhiều, chắc sau này nhữngcon sóc và mối rừng cũng ăn hết.

Chúng tôi không tiện đường để ghé về qua khuhậu cứ Xăm-xi-núc và cũng rời xa nơi đã gắn bó chúng tôi suốt những tháng mùamưa cùi cõng gạo đạn từ đó.

Chiến trận đã cuốn chúng tôi đi.

Những khu lán, nhữngcăn hầm không có người ở đó, rồi đây sẽ ẩm ướt, mốc thếch và hoang tàn dần theothời gian.

Con đường người lính đi qua nhiều khi một đi không trở lại.

Nhữngkhu rừng đã sống, những hậu cứ đã ở rồi sẽ mờ dần trong trí nhớ theo thời gianvà lùi xa dần qua năm tháng, chỉ còn đọng lại trong ký ức những người lính, đểrồi một lúc nào đó lại lóe lên vào những khoảnh khắc hoài niệm mà thôi.

Nó nhưmột nỗi buồn, nỗi nhớ day dứt tâm can người lính nếu như còn có lúc phải gặmnhấm lại quá khứ của một thời trai trẻ.

"Hành quân, ta lại hành quân, núi sông nâng bước đôi chân ta lên đường".

Cuộc đời lính tất nhiên phải như vậy, băn khoăn gì nữa.

Chỉ trong non một ngày dừng chân tại bản Chăn Tua, chúng tôi phải chuẩn bị thêm tất cả những thứ có thể chuẩn bị để tiếp tục lên đường.

Thằng Thái "Pitơ" và thằng Sưởng của C tôi trong thời gian mùa mưa được anh Choát trên tiểu đoàn bộ điều lên chuyên đi mua lợn cho tiểu đoàn, nay cũng được trở về đội hình đơn vị để cùng hành quân ra Saravan.

Có còn ở hậu cứ nữa đâu mà đi mua lợn.

Người dân bản Lào thản nhiên nhìn những đoàn quân lũ lượt đi qua.

Dân Lào hầu như thờ ơ với chiến cuộc.

Trừ những chuyện tai bay vạ gió, quân lính cả hai bên không ai động đến họ.

Có thể nói không có nguồn thông tin về đối phương nào khai thác được từ người dân Lào.

Bên nào không cần biết, muốn đánh nhau thì tự đi tìm nhau mà đánh.

Mà tốt nhất là đánh nhau nhưng chỉ bắt sống nhau thôi chứ đừng có người chết.

Người dân Lào rất không vui khi bộ đội ta nói là đánh nhau ở chỗ này, chỗ kia và có nhiều người chết.

Người Lào ít lắm (khi đó dân số Lào là 3 triệu) nên họ sợ chết nhiều thì dân tộc họ bị tuyệt chủng mất.

Đi thêm một ngày nữa, bắt đầu sang địa phận Saravan thì chuyển sang hành quân đêm.

Đi tiếp hai ngày nữa, đại đội tôi đến một vùng gọi là bản Bạc.

Đây là khu vực nằm ở phía Nam thị xã Saravan.

Địa hình bằng phẳng.

Các nương lúa đã gặt của dân nằm xen kẽ những cánh rừng, phổ biến là rừng Khôộc.

Có một số là rừng cây thưa tầm thấp xen lẫn cây cổ thụ và có rất nhiều ụ mối.

Những ụ mối to đường kính hàng ba bốn mét trên đó có cây con mọc.

Cây không dày nên nếu chú ý thì tầm quan sát được khá xa.

Nếu cứ lơ đễnh mà đi thì có khi vòng qua một ụ mối bất chợt mới phát hiện thấy có người ngồi sau đó, rất có thể là một họng súng của địch đang chờ ta.

Dạo ở Boloven theo làm liên lạc cho đại trưởng Băng, tôi được xem bản đồ nhiều, cộng thêm những lần đi trinh sát nên hiểu địa bàn khá rõ.

Bây giờ đến nơi mới không có bản đồ, cũng không được ngồi chầu rìa xem ké nên nhiều thứ mù tịt.

Trinh sát họ bảo thế nào thì biết thế.

Với lại đi theo đội hình đại đội thì cứ bám các thủ trưởng là đủ rồi.

Còn chúng tôi, có khi trinh sát tiểu đoàn họ dẫn đi rồi mấy hôm sau lại dẫn vòng ngược về theo lối khác, có khi đi vòng vèo hình đít thúng mà cũng không tường, nhất là ở địa hình bình nguyên như Saravan này.

Trinh sát tiểu đoàn đã phát hiện và bắt đầu bám địch.

Chúng tôi dừng lại.

Ba ngày sau, ngày 31/10/1972, cả tiểu đoàn đã triển khai thành một hình cánh cung bao lấy khu vực có địch.

Lấy vị trí các bản làm mốc thôi chứ địch không ở trong bản.

Chúng đào hầm trong các cánh rừng gần bản, đóng quân theo từng đại đội.

Chúng tôi cũng vậy.

Lúc này C5 lập chốt ở khu bản Đông-noọng, còn C6 ở khu bản Tông-la-vi, cách nhau độ hơn cây số.

C7 chủ công và C8 hỏa lực đứng chân phía sau.

Lúc này súng đạn của chúng tôi hoàn toàn là lượng bổ sung từ sau trận Ba Lào Ngam, mang từ cao nguyên Boloven ra.

C8 đi đường xa chắc cũng chỉ mang được theo ít đạn.

Sau này trong các trận đánh ở Saravan, hậu cần D và E tiếp tế dần cho chúng tôi mọi thứ, nhưng hầu như sự chi viện hỏa lực của D rất ít.

Hỏa lực trung đoàn lại càng không có, nhất là cối 120.

Bọn DKB thì vô tác dụng rồi.

Suốt chiến dịch Saravan kéo dài 3 tháng rưỡi, không thấy DKB bắn một phát nào.

Cũng đúng thôi vì thời gian này tuy địch có 2 trung đoàn nhưng chúng xé lẻ và cơ động liên tục.

Ta với địch tìm đánh nhau cứ như mèo vờn chuột.

Thời gian đầu ở Saravan, thế trận hai bên gần như hình da báo.

Các đơn vị cỡ đại đội của ta và của địch hành quân và đóng giữ xen kẽ nhau.

Địa hình bằng phẳng nên cứ nhắm hướng đi là thành đường.

Hầu như không bám theo đường xe bò như trên cao nguyên.

Mà đơn vị có trụ lại một chỗ cũng không ở lâu.

Chỉ vài ba ngày, sau đó phải di chuyển.

Công tác bám địch của trinh sát rất khó.

Nhiều khi đánh địch là do bản thân các C phát hiện rồi tổ chức đánh luôn.

Có khi chúng tôi đến một nơi thì địch cũng chỉ vừa bỏ đi từ hôm trước.

Có lúc quay lại nơi mình vừa đóng quân tuần trước thì cũng lại phát hiện địch nó cũng vừa trú tạm ở đó xong.

Nhiều khi không có khái niệm phía trước, vì mình đang chốt đánh thằng trước mặt thì lại có đơn vị địch khác đi vòng ra phía sau mình hạ trại.

Cứ như tiễu phỉ vậy.

Thời gian ở Saravan, lắm lúc có cảm giác lạnh lưng hở sườn.

Khi C5 ở khu bản Đông-noọng mấy ngày không có gì, đến khi chúng tôi vừa qua thế chân thì hôm sau đã có địch.

Ngày 3/11/1972, một đám địch khá đông từ phía bản lùng sục lại phía B4 và B6 của C tôi đang chốt giữ.

Chúng nó đi phăm phăm như ở nhà chúng nó.

Thằng Lễ nghe tiếng động thò ra khỏi ụ mối nhìn thấy địch liền dã luôn một phát B40 tung xác 3 thằng.

Địch nằm rạp xuống và bắn trả.

Súng đã nổ rồi thì cả hai bên cùng say máu.

Các hầm cá nhân ở Saravan đều là hầm không nắp vì không có cây gỗ để làm nên thực chất cũng chỉ là hố chiến đấu.

Lính ta phải lợi dụng ụ mối nhiều.

Thằng địch trơ ra trên mặt đất không công sự, song nó cũng lợi dụng rất tốt địa hình có nhiều ụ mối đế đánh lại chúng tôi.

Đạn bắn thẳng ít có tác dụng so với hỏa lực B40, B41.

Cối cá nhân lợi hại nhưng bắn không khéo toàn nổ trên tán cây.

Di chuyển vị trí liên tục, chốt mà không giống chốt.

Bắn nhau một hồi, bên địch không có thêm thằng chết.

Bên ta có anh Nhị người Hà Tây bị thương vào trán không phải do địch mà là do thằng Số (Nam Hà) nằm ở ụ mối bên cạnh tương B40 sang.

May mà B40 chỉ có vỏ mỏng, mảnh hắt lại chỉ là mảnh nhỏ nên chỉ cào rách trán, không nguy hiểm.

Do máu chảy nhiều nên vẫn phải băng kín và đưa về phía sau, gọi là phẫu tiểu đoàn.

Phẫu nhưng không có mổ xẻ gì, chỉ như là nơi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng.

Mà vớ vấn địch nó hành quân tạt qua thì cũng phải đánh nhau chí tử.

Chỗ vững dạ nhất bây giờ là nằm trong đội hình đơn vị, súng ống đầy đủ, có anh có em.

Hôm sau, địch lại lên, hai bên bắn nhau mà không có ai làm sao, chỉ tốn đạn.

Hôm sau nữa tiểu đoàn chi viện cho ít cối 82 và điều C7 vòng ra phía sau địch thì chỉ mới lẹt đẹt vài loạt súng, bọn địch đã biến mất.

Ngày 8/11, đại đội tổ chức lùng sục với sự hậu thuẫn của C7 lần mò được khắp quanh bản Đông-nọng, vào cả trong bản thì chẳng còn thấy địch đâu nữa.

Trên một cánh rừng rộng chỉ còn dấu vết những hố chiến đấu, đếm qua thì cũng biết chừng địch có một đại đội.

Sát ngay đó còn có một kho gạo nếp ước đến cả tấn.

Bọn địch không mang theo được, nhưng chúng cũng tai quái đổ nước ướt sũng thành món gạo ngâm.

Sau khi kiểm tra (tôi cũng chẳng biết kiểm tra bằng cách nào), tiểu đoàn lệnh cho các đại đội cử người khẩn trương đến lấy về để kịp nấu trước khi gạo hỏng.

Lúc này gạo Thái mang ra từ căn cứ Ba Lào Ngam cũng đã hết nên chúng tôi nhiệt tình lắm.

Anh nuôi đem đồ bằng hết.

Ăn được đến đâu cố mà ăn, không có cũng hỏng.

Thế là lại thêm một ngày ăn thả cửa nữa.

Đợt đi lấy gạo ướt ấy tôi bị một trận lạc đường đầu tiên ở Saravan.

Anh Thành dẫn tôi và một lính nữa trong B5 mang gùi đi lấy gạo cho trung đội và đại đội.

Lúc đi đã là chiều rồi.

Lấy gạo xong thì trời sẩm tối.

Tất cả hăm hở ra về, chắc mẩm đêm nay có bữa xôi no.

Anh Thành cầm đầu, nhưng chúng tôi đi chẳng được bao lâu thì trời tối không nhìn thấy gì nữa.

Đường đi chỉ là vệt đạp mờ trong rừng nên trong đêm đen chẳng thấy gì.

Rừng lại thưa nên đi theo hướng nào chả được.

Chẳng mấy chốc đã mất phương hướng.

Mà cũng có biết hướng Đông Tây Nam Bắc nào đâu mà dò đường, nhất là không còn địa bàn (Cái địa bàn của tôi đã kỷ niệm cho thằng Lộc đồng hương trên C16 của trung đoàn từ lâu rồi).

Thế là cứ đi mãi mà chẳng thấy đường.

Người ta nói đi trong rừng mà không có địa bàn và xác định vật chuẩn thì thế nào rồi cũng đi thành hình vòng tròn.

Quả là thế thật vì chúng tôi đi mãi, có lẽ phải bằng hai lần về đến nhà rồi ấy chứ, thế mà trước mặt vẫn mịt mùng.

Càng ngày càng mệt và thấm đói.

Gạo ướt không lấy nhai được nên đành ôm bụng.

Sau cùng mệt quá và vô vọng nên anh Thành tìm một gốc cây to cho cả bọn ngồi nghỉ.

Chúng tôi quyết định ngồi ngủ qua đêm bên mấy cái gùi gạo ướt.

Chỉ còn bình tông nước uống dần, õng cả dạ dầy để chống đói.

Mờ sáng hôm sau, khi vừa nhìn rõ đường là anh Thành bốc cả bọn dậy.

Lần mò tìm đường thì ối giời ơi, cái lối mòn về đơn vị chỉ nằm cách chỗ chúng tôi ngồi nghỉ đêm qua có dăm mét.

Não hết cả người.

Về đến đơn vị bị mắng luôn.

Từ B trưởng Quân cho đến anh nuôi cũng lên tiếng mắng.

"Chúng mày chết dẫm ở đâu để cả đơn vị cùng chịu đói chờ gạo chúng mày suốt cả đêm".

Nhưng rồi cũng hòa cả làng vì chính chúng tôi cũng bị đói cơ mà.

Hơn nửa tiếng sau có cơm, tất cả lại lao vào ăn như những thằng chết đói.

Gạo ướt để không được lâu nên sau đó anh nuôi đem thổi tất.

Chia cho mỗi thằng một đùm còn ăn được trong hai ngày.

Sau đó thì gạo của hậu cần cũng cấp xuống.

Vẫn chỉ là gạo nếp đem từ trong cao nguyên ra, nhưng được ăn tăng lên tiêu chuẩn 4 lạng một ngày.

Ngày 13/11 C6 chúng tôi hành quân sang vùng khác đến phía Nam bản Na Thon cách đó vài cây số và chếch sang phía Tây thị xã Saravan.

Vẫn đánh nhau đèn cù mà.

Khu vực này rừng thấp và thưa hơn vùng bản Đông nọng.

Có nhiều khe suối cạn vòng vèo có rất nhiều tre gai mọc.

Từ hôm ra Saravan, chúng tôi không làm được hầm chữ A vì không có gỗ.

Khu vực này có tre nên đại đội bắt làm hầm chữ A.

Đất ở đây rất cứng, không đào sâu được nên cuối cùng hầm chữ A cũng chỉ chìm được hơn nửa xuống đất, còn lại lộ thiên.

Ở đây không có bao cát nên đất đắp cũng chả được bao nhiêu.

Đào hầm cho có là chính.

Các cán bộ từ A trở lên được tổ chức đi kiểm tra thực địa một vòng rộng quanh nơi trú quân.

Đây cũng là một thủ thuật khi trú quân trên địa hình bình nguyên xa lạ, vì nó sẽ giúp mình nhận ra địa hình quen thuộc khi đi từ nơi khác về mà không thể đạp đường trúng ngay được vị trí trú quân nhỏ hẹp.

Các trung đội cũng cử các tiểu đội lùng sục ra các hướng thăm dò tình hình.

Ban đêm ở đây phải tố chức mỗi B một vọng gác nghiêm chỉnh.

Địa hình thế này thì khi phát hiện ra nhau, ban đêm ta tổ chức tập kích địch dễ thì địch cũng có thể tập kích lại quân ta ngon lành.

Liền mấy ngày, chúng tôi được cắt cử đi lùng sục địch ra các hướng.

Cũng chỉ làm một vòng tròn đường kính độ hai cây số là quay về đơn vị.

Thế cũng là xa lắm rồi.

Vớ vẩn gặp địch có khi không kịp chạy về.

Không phải đi lùng sục theo từng A mà cứ ghép nhau lại lẫn lộn các A trong B.

Lúc này tôi đã chuyển sang A khác cùng trung đội, không ở với anh Trịnh nữa.

Anh Quán A trưởng mới của tôi cũng dân Hà Tây, hồi ở nhà là giáo viên cấp I, đã có vợ và 1 con.

Anh ấy có cái động tác hút thuốc, dù là thuốc rê cũng ngậm vểnh cao điếu thuốc lên, trông điệu đà lắm.

Trước khi tôi vào đơn vị, anh Quán cũng có thâm niên làm liên lạc cho đại đội được nửa năm.

Anh ấy xuống bộ binh là do tuổi anh ấy ngang bằng các cán bộ đại đội nên khó xưng hô và sai bảo vặt.

Đánh nhau cũng lỳ, nhưng theo tôi không dày dạn bằng anh Trịnh.

Một hôm tôi được đi lùng sục với A thằng Lễ (Nam Hà).

Thằng này xông xáo và hùng hục có tiếng trong đại đội.

Đi với nó cứ hùng hục như trâu húc mả, ngại ghê lắm nhưng bị phân công thế thì phải đi, chối làm sao được.

Đi ra khỏi cái suối có mấy bụi tre gai dầy, thằng Lễ dẫn chúng tôi đâm thẳng ra một cái trảng trống.

Đi trong rừng khôộc cây cối đã thưa thớt, phải nép vào và men theo từng thân cây mà đi, căng mắt quan sát vì cái tán cây nó thưa lắm, không đủ để ngụy trang, nhất là với máy bay.

Ra ngoài bãi trống lại thấy mình càng tơ hơ luôn.

Bãi đất dưới chân ngoài các mô đá nhỏ là các cây cỏ cứng như rễ tre mọc lòa xòa trên lớp cát mỏng.

Lá cỏ mà tròn như các cọng phi lao, không biết trâu bò có ăn được không.

Để những cọng cỏ này đâm vào chân thấy ngưa ngứa.

Đôi khi lớp da chỗ đó còn bị nổ bong ra như những nốt rộp trên cái bánh đa nướng.

Thằng Lễ dẫn chúng tôi đi hướng này cũng có ý của nó.

Đêm trước ở khu vực này có máy bay AC130 đến bắn pháo sáng.

Loại pháo sáng to dài như thân chuối, lúc bật sáng nghe nổ "ục" một cái rồi mới phát sáng chói lòa.

Mỗi ống pháo sáng cháy đến vài phút.

Chúng nó cứ thả gối nhau 3 ống theo một hình tam giác trên một vùng rộng, soi sáng rực mặt đất.

Cái dù treo pháo sáng bay lơ lửng, ống pháo sáng lắc lư nên ánh sáng rọi xuống đất cứ chao đảo, chập chờn.

Khi cháy hết thì cái vỏ ống pháo sáng tụt ra rơi tự do xuống đất, còn cái dù bay quẩn thêm rồi rơi hay mắc vào đâu đó.

Ống pháo sáng nếu ở hậu cứ dùng được vào khối việc, kể cả làm các đồ dùng như chậu, ca, bát ...

Dù pháo sáng loại này khá to nhưng mỏng, dễ bị bai nhưng dùng vào những việc vớ vẩn như bọc gói gì đó thì cũng tốt.

Vải dù tốt nhất phải là dù lụa thả người.

Nó mỏng, bền và trơn như tấm vải lụa vậy, nhưng có pha nilon nên rất dai.

Trong căn cứ Lào Ngam chúng tôi tìm thấy rất nhiều dù lụa.

Không hiểu sao bọn lính Thái hành quân ra đó bằng đường bộ, có nhảy dù gì đâu mà cũng lắm dù thế.

Mỗi mảnh dù tháo ra vuông vức vừa khổ một chiếc võng.

Bây giờ hầu như trong tiểu đoàn ai cũng có một vài mảnh, vo lại mảnh vải dù chỉ gọn trong bàn tay.

Mảnh thì đem khâu thành võng, nằm tốt lắm, còn vài mảnh khác chỉ cần nhét gọn trong túi cóc là vừa, sau này dùng gì thì dùng.

Tuy vậy đại đội không cho vứt võng vải.

"Chúng mày chết thì lấy gì mà quấn".

Đại trưởng Băng mắng lính thế, nghe ghê hết cả người.

Thực tế sau này có phải võng ai quấn người ấy đâu vì rất nhiều lính không còn võng.

Người đi trước thì cứ lấy võng của ai đó mà dùng trước, còn lại xét sau.

Đã thành qui ước thế trong đơn vị rồi mà.

Chả biết thằng Lễ còn say sưa gì mấy cái dù pháo sáng, nhưng nó bảo "ra chỗ địch thả pháo sáng khi đêm xem như thế nào" rồi cứ phăm phăm dẫn anh em theo hướng đó thì phải lao theo mà đi thôi.

Tôi là lính "cũ" hơn nó hai tháng, nhưng là "tốt đen" nên phải tuân lệnh.

Nhưng tôi cũng cảnh báo nó phải thận trọng vì vùng địch nó đã bắn pháo sáng cầm canh ban đêm tức là vùng đó có địch đóng quân.

Bọn trên trời bắn pháo sáng là để cảnh giới canh chừng giúp bọn dưới đất chứ đâu phải bắn bừa cho vui.

Rất may là chúng tôi lần qua mấy cái bãi trống, lấy được 2 cái dù pháo sáng mà không gặp địch.

Thằng Lễ thân mật cho tôi một cái bảo mang về lót hầm nằm rất tốt, nhưng tôi không lấy.

Hành quân di chuyển liên tục, nhẹ chừng nào hay chừng đó, ôm thêm cái dù làm quái gì.

Sang mùa khô rồi tôi cũng không thích nằm võng.

Cứ chọn chỗ đất không gồ ghề, vơ tẹo lá lại, rải tấm nilon lên là nằm co lại mà ngủ ngon lành, giống như hồi nằm ở mấy cái hầm thùng trên các binh trạm Trường Sơn.

Hơn nữa nằm võng trên cao khả năng ăn đạn lạc hay trúng đạn khi bị tập kích cũng cao hơn.

Chủ quan nên tất phải chịu hậu quả.

Lúc đi an toàn nên lúc quay về cả bọn nghênh ngang đi thành hàng trên bãi trống.

Bất ngờ khi về đến gần chỗ trú quân chừng dăm trăm mét thì bị trực thăng nó đuổi.

Chả biết nó từ đâu bay ra nữa.

Đây là lần đầu tiên ở Saravan chúng tôi gặp trực thăng.

Loại máy bay có 2 càng, nhỏ chỉ chở vài người, cửa trống hoác nhưng ác là có một thằng bắn súng máy thò ra qua cái cửa đó.

Theo như ảnh chiến trường miền Nam chúng tôi đã xem thì nó là HU-1A.

Thằng này cơ động nhanh thế không biết, nó xà đến mình gây cảm giác hệt như lũ gà con xa mẹ trên bãi cỏ bị diều hâu bổ nhào.

"Tản ra, nấp vào các gốc cây".

Thằng Lễ quát to rồi cắm đầu chạy bổ về phía trước.

Tản ra thì đúng rồi nhưng nấp cái con khỉ gì vào đâu bây giờ.

Khi còn ở trong Boloven đôi khi chúng tôi đi đêm ra tuyến trước cũng bị AC130 nó bắn đạn 20 ly ngẫu nhiên xuống rừng.

Vệt đạn đỏ lừ, mỗi thằng phải ôm một gốc cây to như cây Săng lẻ rồi nhìn hướng máy bay mà xoay quanh đó tránh đạn.

Bây giờ giữa nơi như đồng không mông quạnh thế này, bám vào mấy các gốc cây khôộc chỉ to như bắp đùi thì nước non gì.

Thế là cả bọn chạy tóe ra các hướng, may hơn khôn.

Đạn đại liên trên máy bay nổ chói tai, bắn xuống cầy tung thành vệt trên mặt đất.

May là cái máy bay bắn trượt thì nó lao lên quá đà, cần phải quay lại nên cũng mất chút thời gian.

Tiếng súng và tiếng máy bay càng kích thích chúng tôi chạy nhanh hơn, thằng nào thằng nấy phi như ngựa nhưng đều nhằm hướng bờ suối cạn lao tới.

Bên bờ suối cạn chỗ này có mấy bụi tre gai rất to và dầy.

Nấp được sau đó rồi thì đạn đại liên cũng chưa chắc lọt qua.

Năm thằng ngồi lăn ra đất, mồm mũi tranh nhau thở.

Sau đó chúng tôi lợi dụng bụi tre xoay tròn quanh đó tránh đạn.

Để an toàn, chúng tôi phân tán chia ra xoay quanh mấy bụi tre.

Chỉ có mỗi chiếc trực thăng thì cóc làm gì được chúng tôi, bắn hết đạn thì chắc nó sẽ phải quay về.

Thằng Lễ còn lấy lại khí thế bằng cách khi cái máy bay không bắn vào cái bụi tre nó trốn thì nó nghiêng người thò AK ra xổ mấy loạt về phía cái máy bay.

Chiếc trực thăng mà trúng đạn thì chắc thằng Lễ lập công to, đoạt danh hiệu dũng sĩ bắn máy bay đầu tiên trong chiến dịch.

Chiếc trực thăng không trúng đạn nhưng chắc cũng cay cú nên nó gọi thêm đồng bọn.

Tiếng cánh quạt phành phạch bổ sung cho tiếng động trên bầu trời khi xuất hiện thêm một chiếc trực thăng nữa, cũng chẳng biết đến từ hướng nào.

Bây giờ lại đến lượt chúng tôi gặp nguy tiếp khi hai chiếc trực thăng bay đối diện nhau quanh chỗ mấy thằng chúng tôi và bắn xối xả đạn xuống.

Chúng nó xả từng loạt dài, cứ như nguồn đạn vô tận vậy.

Phen này chắc toi rồi.

Tôi rời bụi tre phi thẳng xuống lòng suối cạn, bờ cao tới ngực, mặc cho cành tre gai cào vào người.

Thực ra sau này xem lại mới thấy xót xa với những vết gai cào trên ngực, cánh tay và đùi chứ lúc đó không cảm thấy gì hết.

Những thằng khác cũng theo tôi lao xuống suối.

Thằng Lễ luống cuống thế nào đó lại chui sâu vào một bụi tre gai.

Chắc nó mắc trong đó làm mồi ngon rồi, khi hai chiếc trực thăng cùng nhìn rõ nó.

Đạn bắn tung các cành tre gai, nhưng không trúng nó, số thằng Lễ vẫn cao thật.

Bất ngờ tôi nhìn thấy thắng Lễ rướn người rồi "soạt" một tiếng chui thẳng qua bụi tre gai lao xuống suối, hệt như người chui qua tường trong phim thần thoại.

Không thể tưởng tượng nổi.

Lập tức sau đó cả bọn chúng tôi lom khom chạy dọc theo suối, cứ chạy bừa thôi.

May mà chạy được chừng vài chục mét thì gặp được một cái hàm ếch khá và sâu rộng ngay cạnh lòng suối, chắc váo mùa nước đây là chỗ dòng chảy đổi hướng của con suối.

Tất cả chui tọt vào đó nằm im.

Bây giờ chỉ còn có cầu trời khấn phật.

Chắc trời đất còn thương nên hai chiếc trực thăng không kịp nhìn rõ chỗ chúng tôi nấp.

Bất chợt bị mất mục tiêu, chúng nó cứ bay dọc theo suối bắn bừa vào lòng suối và bắn nát các bụi tre gai hai bên bờ.

Chúng tôi cứ nằm im vì bây giờ chẳng có nơi nào tốt hơn nơi này.

Chừng hai chục phút sau, chắc hết đạn hoặc giả không thấy động tĩnh gì, hai chiếc trực thăng bỏ đi.

Đợi cho không gian yên ắng thêm một lúc rất lâu nữa, chúng tôi chui ra khỏi hàm ếch.

Không ai bị thương vì đạn nhưng sau phen kinh hoàng, thằng nào người ngợm cũng xây xước, áo quần tơi tả.

Mệt bã người.

Thằng Lễ bị nặng nhất với vệt gai to cào giữa mặt, vẫn còn rỉ máu.

Chúng tôi phải lần theo suối tìm những cây nhỏ còn sót lá, bứt ra nhai và rịt đỡ cho nó.

Thế mà chỉ một lúc sau nó lại hơ hơ cười.

Gai cào đối với nó thường xuyên hơn so với chúng tôi, cũng may da nó lành.

Cả bọn lên đường lò dò về nơi đơn vị tập kết.

Cả đơn vị đều lo lắng khi thấy trực thăng đến quần cách vị trí trú quân có dăm trăm mét, đạn nổ ầm ầm gần nửa giờ đồng hồ.

Thấy chúng tôi trở về an toàn, ai cũng mừng.

Tuy thế khi báo cáo lại đầy đủ tình hình, thằng Lễ cũng bị xạc cho một trận về tội chủ quan.

Khi nghe tôi kể về đoạn thằng Lễ suýt bắn rơi máy bay trực thăng, anh Thắng hỏa lực cối 60 bảo, "mày trông cái máy bay trực thăng to thế thôi chứ nó còn cách xa lắm, AK bắn tới thế quái nào được".

Có nhẽ thế thật.

Còn anh Bớt A trưởng thì bảo chúng tôi phúc còn to bằng cái đình làng.

Nếu như ở miền Nam bị trực thăng nó quây thì xong rồi.

Nhẹ thì nó bắn rockét nếu như phát hiện mình ở chỗ suối sát bìa rừng, còn quân mình mà đang chấp chới trên đồi cỏ tranh trống trải thì khả năng bị bắt sống là chủ yếu.

Nó sẽ bay sà xuống gọi hàng, không chịu hàng thì cái thằng đứng ở cửa máy bay sẽ thò ra một quả cối 61 thả xuống, có nằm trong hầm cũng như bị thả đáo lỗ, xơi trọn quả cối là cái chắc.

Nghĩ mà hú vía.

Đêm đó, đạiđội tôi phải di chuyển đến nơi mới cách xa hơn cây số hạ trại.

Phần cho nó antoàn, phần phải chuẩn bị cho nhiệm vụ mới ở một cái bản cách đó dăm cây số.

Lúc này tất cả các đại đội trong K18 đều đang phân chia theo khu vực và tác chiến độc lập.

Các tiểu đoàn khác cũng thế thôi.

Thằng địch có 2 trung đoàn nhưng không hiểu mấy cái sở chỉ huy nằm ở đâu.

Cũng phải có một bọn nào co cụm chứ.

Thế nhưng thực tế cho thấy là chúng tôi và địch cứ quần nhau theo từng đơn vị nhỏ chứ không phải chúng đóng thành căn cứ lớn.

Hơn nữa bọn địch ra đây chạy loăng quăng mới làm cho các thủ trưởng trên 559 lo đường dây bị càn phá chứ chúng nằm một chỗ thì chắc cũng chẳng nghĩ nhiều làm gì.

Nhảy cóc ra Saravan, địch thiếu hẳn thế mạnh về pháo.

Tuy có hành quân đường bộ là chủ yếu, chúng nó vẫn không đem theo được pháo lớn, mạnh nhất vẫn chỉ có cối 81 vác vai giống như hỏa lực tiểu đoàn của chúng tôi thôi, mà sức người thì lại có hạn.

Bù lại, địch có máy bay ném bom T28 và trực thăng ra trợ giúp.

Hiện tại quân ta vẫn chưa có súng phòng không nên bầu trời vẫn là của địch.

Sau khi E9B và E19 ra Saravan thì thằng địch mất tiếp tế đường bộ.

Nhiều đêm chúng tổ chức thả dù hàng tiếp tế, nhưng nhận hàng xong thì di chuyển luôn, giống như các đội du kích vùng địch hậu trong thế chiến thứ hai ở Liên xô vậy.

Nhiều khi trinh sát, thậm chí là các đơn vị bộ binh chúng tôi mò đến thì chỉ còn thấy những chiếc dù hàng vải ca-rô xám vứt bừa trên mặt đất mà thôi.

Mỗi cái dù căng ra to như một nóc nhà, khá nặng nên lính ta chẳng màng.

Ngay sau hôm bị trực thăng bắn đuổi, chúng tôi đến nơi mới và B4 ra chốt ở khu rừng của bản Phôn Phai cách đó 2 cây số.

Ổn định xong chỗ ở một ngày, hôm sau B5 chúng tôi kết hợp lùng sục và tiếp tế một số thứ, đem cơm cho B4.

Đường không xa nhưng ngoằn nghoèo, vẫn toàn rừng khôộc và có cả một con suối đất có ít nước tù.

Tôi thấy rất ngán loại rừng này vì rất dễ lẫn phương hướng.

Trên đường đi, chúng tôi chỉ có cách nhìn các ụ mối làm chuẩn, nhưng các ụ mối cũng rất giống nhau.

Tất nhiên nếu có bản đồ và địa bàn thì ngon lành rồi.

Buổi chiều B5 chúng tôi từ chốt trở về nơi tập kết của đại đội.

Trên đường về, anh Quân phát hiện thấy địch.

Độ khoảng hai chục thằng đang hành quân vắt chéo qua.

Chúng đi thấp thoáng phía trước cách chúng tôi chừng hai trăm mét.

Chúng nó không nhìn thấy chúng tôi.

Bây giờ đuổi theo thì không kịp vì chúng đi khá nhanh, mà chắc gì khi đuổi kịp đã có thế bất ngờ để đánh chúng nó trước.

Vì chỗ này nằm sau lưng chốt B4 nên anh Quân quyết định báo cho B4 biết để không bị bất ngờ.

Thế là A trưởng Quán, tôi và anh Thành phải quay lại B4 báo tin, còn mọi người về nhà trước.

Chúng tôi quay lại báo tin, còn chờ B trưởng B4 là anh Chèo hỏi lại căn kẽ, tổ chức lại đội hình chán chê rồi mới cho chúng tôi về.

Lúc này thì trời đã sập tối.

Trời tối ngoài bình nguyên không đen kịt mà cứ trắng nhờ nhờ.

Thú thực lúc này tôi chỉ mong anh Chèo cho ở lại cùng B anh ấy cho tăng thêm người, dù có phải đánh nhau cũng hơn đi đêm về cùng anh Thành.

Tôi đã ngán cái vụ lạc đêm hôm đi lấy gạo ướt chỉ mới cách đây độ hơn tuần cùng anh ấy.

Dân Sơn tây "ba vi co con bo vang" nói líu ríu toàn chữ không dấu, lúc nào cũng tỏ ra thành thạo mà thực chất cũng mít đặc rất nhiều thứ.

A trưởng Quán thì quá hiền, lại chưa từng chứng tỏ khả năng lần nào nên cũng chẳng làm tôi tín nhiệm được bao nhiêu.

Mình non nhất, tay không nên cũng chẳng thể làm gì, đành im lặng đi theo.

Cả bọn rời khỏi chốt B4 hối hả lên đường.

Đoạn đường hai cây số nếu đi thông thì chỉ độ nửa tiếng là chúng tôi về đến chỗ trú quân, có thể chén cơm rồi ai về hầm nấy được rồi.

Tôi chỉ mong có thế nhưng thật là ghét của nào trời trao của đấy.

Về được đến chỗ lúc chiều gặp địch thì anh Quán cho đi chậm lại và cẩn thận quan sát.

Ban đêm nhỡ lao vào chỗ địch đóng quân thì hết đường chạy.

Cứ một đoạn cả bọn lại nằm xuống sát đất rồi ngẩng cổ lên để quan sát.

Nơi trống trải thì đúng là thằng ở thấp quan sát thằng đứng cao rất rõ nhất là nếu nó di chuyển.

Nhưng lúc này chắc địch nó cũng ngồi im nên chúng tôi phải nằm quan sát khá lâu cho chắc chắn an toàn mới đi tiếp.

Đứng lên ngồi xuống, quay phải quay trái độ mươi lần như thế thì mất phương hướng.

Chẳng còn chắc chắn cái gì nữa, nhưng chúng tôi cứ đi theo cái hướng mà anh Thành khăng khăng là đúng.

Chúng tôi gặp một con suối đất.

May quá rồi vì lúc đi cũng có cái suối đất.

Nhưng vì cái suối uốn cong nhiều chỗ nên chúng tôi không thế cứ đi theo nó, với lại biết nó dẫn đến đâu, mình còn phải nhằm hướng của mình chứ.

Thế là lúc bám suối, lúc rời ra đi theo hướng mà mình cho là đúng.

Hai cây số mà chúng tôi đi rã cả người mà vẫn chưa về đến nhà.

Thế rồi tôi phát hiện thấy một cái cây đổ trông quen quen mà cả bọn hình như đã đi qua thì phải.

"Thôi chết, đi vòng tròn rồi các anh ơi".

"Tròn là tròn thế nào, cấy khô đổ thì cây đếch nào mà chả giống cây nào".

Anh Thành quát thế nên tôi đành im.

Phăm phăm đi tiếp mãi, tôi lại nhận ra cái cây quen quen ấy và lại phải kêu lên.

Lần này anh Quán ngờ ngợ nhưng anh Thành vẫn bảo thủ.

Tôi đành tìm quanh kiếm một hòn đất to và một cái cành khô gác lên một đầu cây khô để làm dấu rồi tất cả lại hùng hục đi tiếp.

Đi mãi rồi lại gặp cái cây khô ấy.

Bây giờ thì không thể cãi nhau là nhầm hay không vì cái vết đánh dấu còn sờ sờ ra.

Anh Thành cứng họng đành im.

Thế là chúng tôi đã bốn lần vòng tròn đi qua cùng một chỗ ấy.

Bây giờ thì mệt và nản quá rồi, anh Quán đành cho cả bọn kiếm một cái ụ mối to rồi nép vào đó vừa nghỉ vừa ngủ qua đêm.

Sáng hôm sau nghe có tiếng chân và tiếng lao xao.

Nhìn ra thấy 3 thằng trinh sát tiểu đoàn đi cách đó chừng chục mét.

Cuống cả lên gọi ý ới rồi xin nhập bọn để về cùng.

Cái chỗ chúng tôi nghỉ đêm cũng chỉ cách đơn vị dăm sáu trăm mét thôi chứ nhiều nhặn gì đâu, thế mới cú.

Vậy là từ khi ra Saravan đến nay chưa đầy một tháng mà tôi đã bị lạc hai lần, mỗi lần mất toi một đêm rồi.

Không biết còn mấy lần lạc nữa đây.

Thế là lòng nhủ lòng từ nay đi lẻ phải tránh xa anh Thành và cố gắng tốt nhất là không bị cử đi lẻ nữa.

Ăn vội được suất cơm để từ tối hôm trước và thêm suất cơm sáng nữa, anh Quân cho mấy thằng chúng tôi tranh thủ nghỉ.

Có tin chiều nay cả đại đội sẽ tập kết ra chốt B4 đánh địch dã ngoại.

Trinh sát tiểu đoàn đã bám địch, phát hiện chúng có một đại đội và C6 được lệnh đánh cho chúng một trận.

Thế là sau mấy tiếng nghỉ ngơi, chúng tôi lại chuẩn bị súng đạn cá nhân.

Tất cả sẽ ăn cơm trưa, nhận cơm đùm một ngày rồi lên đường.

Anh nuôi sẽ mang cơm cho B4.

Mọi chuyện chuẩn bị súng đạn cá nhân không có vấn đề gì.

Tôi vẫn giữ AK với cơ số đạn 250 viên.

Ra Saravan không mang thủ pháo mà mỗi lính phải đeo hai quả lựu đạn.

Trận tới sẽ đánh vận động nên tôi buộc chéo hai băng đạn ngược chiều nhau để thao tác cho nhanh.

Lúc này chúng tôi vẫn có thói quen đeo bao đạn (loại 1 băng) ở Xanh-tuya-rông, không có bao-xe.

Lúc ấy tôi chưa biết, nhưng về sau thấy nếu có bao-xe thì sẽ có rất nhiều trường hợp lính ta tránh được thương vong không đáng có.

Anh Quán A trưởng cũng mang AK, còn anh Thành mang M79.

Trong trung đội chỉ có anh Trịnh là A trưởng mà thích cầm B40 thôi.

Lúc trưa xuống bếp lấy cơm cho tiểu đội, tôi thấy nhiều người cãi cọ ầm ĩ về cơm nước.

Hóa ra anh nuôi nấu cơm bị khê.

Đổ ra cả một soong 20 cơm mà bị khê nên không ai muốn nhận.

Lính tráng thì bảo anh nuôi vô trách nhiệm, làm thế này bằng giết anh em, ai còn dám đi đánh nhau.

Anh nuôi thì bảo nó khê là nó khê chứ chúng tao nấu có phải chỉ có một nồi đâu, không ăn thì thôi.

Tất nhiên gạo có hạn, không thể nấu nồi khác, giờ nếu sợ chỉ có cách chia nhau mấy nồi cơm chín, ăn ít đi vậy.

Đấy là CTV nói thế chứ anh nuôi họ cũng không chịu trách nhiệm.

Chuyện này về sau nói về số phận con người còn nặng nề nữa chứ chưa phải đã hết.

Thế nhưng ở đâu thì cũng có những con người quả cảm.

Anh Bớt là đảng viên phải gương mẫu nên bảo "sống chết có số, sợ đếch gì", còn anh Quán là đối tượng Đảng sắp kết nạp nên cũng cần phải gương mẫu.

Thế là hai A trưởng ấy bê cả cục cơm to không thằng nào dám lấy ấy về cho tiểu đội mình.

Tôi cũng phải nhận một cục to bọc vào miếng vải dù.

Riêng phần cơm trưa hôm ấy thì tôi chưa dám ăn.

Anh Trịnh thương tôi cho tôi ăn ké suất cơm trưa không bị khê của anh ấy.

Còn một bọc cơm khê, tôi mang đi nhưng tự nhủ chưa ăn nên cũng chỉ thấy sợ ít thôi.

Hơn hai giờ chiều cả đại đội lên đường, nhằm hướng rừng bản Phôn Phai nơi B4 đang chốt.

Hôm nay là ngày 18/11/1972, đúng một tháng sau ngày trung đoàn đánh căn cứ Ba Lào Ngam.

Đi cả đội hình, đúng đường nên chẳng mấy chốc đã tới nơi.

Các cán bộ đại đội và trung đội trao đổi kế hoạch tác chiến.

Theo trinh sát D thì cả một đại đội địch chỉ nằm cách B4 có hơn ba trăm mét thôi.

Rừng thưa nhưng lắm ụ mối nên có nhìn cũng chẳng thấy gì phía xa.

Chúng tôi sẽ chia thành hai cánh vận động theo hai gọng kìm bao lấy bọn địch.

Chúng nó cũng chỉ có hố chiến đấu tơ hơ trên mặt đất thôi.

Chúng tôi sẽ lợi dụng ụ mối bám sát, dập B40, B41 vào chỗ có địch rồi vận động lợi dụng ụ mối tiếp cận và tiêu diệt dần bọn địch.

Nghe ngon lành thật đấy.

Chừng 4 giờ chiều chúng tôi bắt đầu xuất kích.

B5 và B6 chia làm 2 cánh phía trước còn B4 vận động phía sau.

Đoạn trăm mét đầu tiên không có vấn đề gì.

Chúng tôi vận động kiểu vọt tiến bám nhau lần từ ụ mối này sang ụ mối khác tiến về hướng địch.

Trăm mét thứ hai thận trọng và chậm hơn nhưng cũng rút dần được khoảng cách với địch.

Trăm mét thứ ba áp sát địch thì có vấn đề.

Thằng địch cũng có cảnh giới cẩn thận nên đã phát hiện thấy quân ta và ra tay trước.

Thoạt đầu là mấy quả M72 của địch bắn tới nổ chói tai trên ụ mối.

Liền sau đó là M79 "cốc, oành" liên tục.

Chưa có tiếng đạn AR15.

Tất cả chúng tôi bây giờ chia thành từng tốp bám vào các ụ mối để tránh đạn.

Những cây khôộc nơi đây chỉ to cỡ bắp đùi không đủ để che chắn thân người.

Thằng lính nào lỡ nằm nấp sau gốc cây chỉ một lát sau là phải nhắm ụ mối chạy tới.

Chúng tôi nhìn ra nhưng quả tình cũng không trông rõ địch vì chúng cũng có ụ mối che chắn.

Quân ta đành bắn bừa B40, B41 vào cạnh các ụ mối phía trước rồi lại dùng động tác vọt tiến xông lên, thay đổi vị trí liên tục.

Cối M79 cũng bắn đại lên phía trước.

Vượt thêm được vài ụ mối thì đạn thẳng của địch bắt đầu nổ ran.

Toàn tiếng AR15 "rèn rẹt" và có cả tiếng cacbin "cắc bụp".

Thằng địch không có trung liên bar.

Phía ta xung kích cũng chỉ có AK, không có RPD hay đại liên.

Vũ khí hai bên thế là tương ứng, hòa.

Bây giờ chúng tôi cũng đã phải bắn AK nhưng chỉ lúc vọt tiến vượt ra chỗ trống mới phải vừa vận động vừa bắn để chế áp địch, chứ lúc tọt vào sau ụ mối thì cũng không nhìn rõ địch.

Nghe tiếng súng bắn ra từ đâu thì địch ở nơi đó thôi.

Không hiểu sao lại có tiếng máy bay ù ù trên đầu.

Rồi chẳng phải chờ lâu, từng chiếc T28 từ đâu bay đến và bổ nhào ném bom ngay vào giữa khoảng trống của ta và địch.

Toàn là bom phát quang nên tiếng nổ to, đanh và hơi tạt rất mạnh dù chúng tôi nấp sau ụ mối.

Chỉ có hai chiếc T28 thôi nhưng chúng thả bom từng quả một nên vòng vèo ù ù khá lâu.

Thế là vừa vận động vừa phải ngó lên trời quan sát máy bay dè chừng.

Nhiều thằng còn nằm ngửa chĩa AK lên bắn lại máy bay nhưng chẳng ăn thua gì.

Giá có 12ly7 của C8 giá súng đàng hoàng mà nện máy bay, chắc cũng làm nên chuyện.

Không biết T28 có trang bị đại liên không mà không thấy chúng bắn xuống ngoài việc thả bom.

Thế cũng là một điều may.

Rồi có lệnh đại đội cho đơn vị vận động thật nhanh áp sát địch chừng nào hay chừng ấy.

Đúng là địch thả bom phát quang nên chúng tôi vượt qua khu trống mà không gặp hố bom.

Cỏ nơi đây vốn đã xơ xác nên mặt đất trông vẫn thế, chỉ cảm nhận được mùi khói bom.

Trời tốinhanh lúc nào không biết.

Chúng tôi đã tản ra rất rộng để đánh vào các ụ mối cóđịch.

Có vẻ địch lùi dần.

Đã nhìn thấy một vài xác địch khi vòng qua mấy ụ mối,chắc do ăn B40, B41 thôi chứ AK chắc chưa làm nên trò trống gì.

Cảm giác lạigần giống như đánh đêm ở Ba Lào Ngam, khác chăng là địa hình nơi đây rộng, chảbiết đâu là điểm cuối.

Đánh vận động bắn AK rất tốn đạn, dù chưa chắc đã trúngtên địch nào.

Hai băng AK buộc chéo hết veo, bắn đến viên cuối của băng hẫngmột cái tưởng như hóc súng.

Tôi vội tạtvào sau một ụ mối móc túi đạn rời ra lập cập lắp vào vỏ băng AK.

Mấy thằng kháccũng lần lượt như vậy.

Có đạn rồi lại tiếp tục xung phong và bắn tơi bời.

Đạnbay chớp nhóa nhì nhằng trong màn đêm.

Đêm tối càng xuống sâu, tiếng súng thưa dần.

Bây giờ có tìm cũng chẳng biết địch nơi đâu, chưa kể bị chúng phục lại.

Đại đội ra lệnh rút quân về chỗ chốt của B4.

Từng tốp truyền khẩu lệnh í ới cho nhau rồi bám theo nhau rút về.

Đội hình bây giờ lộn xộn không còn theo từng A, từng B như lúc xuất phát nữa.

Chúng tôi về đến chốt B4 khá nhanh.

Bây giờ thì các trung đội kiểm tra lại quân số và chia nhau trụ lại sau từng ụ mối.

Tơ hơ trên đất thế thôi, chẳng có công sự gì.

Lính B4 trợ lực phía sau còn sức nên đã vượt lên làm công tác thương binh tử sĩ.

Đơn vị đã có tổn thất.

A trưởng Bớt hy sinh, mắt vẫn mở to nét vẻ như còn ngạc nhiên không hiểu sao mình lại hy sinh.

Anh Quân phải soi đèn pin và vuốt mắt cho anh ấy.

Thằng Đức, thằng lính Hà nội cùng B5 mà cái dạo trong cao nguyên lúc nào đi lùng sục cũng đứng thẳng phưỡn người ra ấy, bị một phát đạn vào ngực bên phải thủng cả phổi, hơi ra phì phì, phải băng đến mấy cuộn quanh ngực trắng toát.

Thằng Nhật, người cùng khu Cầu Giấy (Hà Nội) với nó, cõng nó chạy suốt từ trong khu giao chiến về chốt B4.

A trưởng Quán của tôi thì mãi không thấy về.

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh ấy là lúc tối anh ấy băng qua một bãi trống để sang ụ mối khác, liền sau đó một trái bom đã rơi ngay trước mặt tôi, ngăn cách tôi với anh ấy.

Hết khói bom xung phong tiếp (gọi là xung phong nhưng thực chất là tiến dần lên chứ không phải chạy ào ào đâu) thì chẳng thấy anh ấy đâu, loay hoay một lúc thì sa vào tốp của B6 và chạy quấn theo họ.

Anh Thành cũng mất tăm lúc đó nhưng lúc rút lui vẫn thấy lò dò về.

Đại đội kiểm tra lại.

Chẳng ai nhớ là đã nhìn thấy anh Quán gục ngã hay chạy hướng nào vì quả thực trời tối nhìn nhau trong khói đạn cứ nhập nhà nhập nhoạng.

Tạm coi là mất tích.

Đêm đó tất cả nằm chốt lại quanh các ụ mối ở khu vực chốt B4.

Kiểm tra súng đạn thì chỉ có AK còn nhiều đạn (tới cả trăm viên), cối M79 còn hơn chục quả, riêng đạn B thì gần như hết sạch, chỉ còn của B4 thôi.

Đêm đó đơn vị cáng thương binh tử sĩ về khu tập kết và lấy thêm đạn trên tiểu đoàn.

Tôi không biết rõ tiểu đoàn bộ đóng chỗ nào nhưng về lý thì nó phải nằm gần một C nào đó, chếch về phía sau và kiểu gì cũng nằm ở thế có các C bộ binh bao bọc.

Sáng hôm sau, cơm nước xong độ khoảng chín mười giờ sáng thì B5 được lệnh lùng sục trở lại khu chiến sự tối hôm qua kiểm tra tình hình và tìm kiếm xác anh Quán nếu anh ấy hy sinh.

Tôi được phân công đi đầu.

Lúc này trời sáng, có nắng to nên mọi thứ nhìn rõ lắm.

Kể cả cán bộ B thì tất cả chỉ có 6 lính.

Chúng tôi mang 1 M79, 1 B40, còn lại AK.

Anh Quân dự đoán địch rút rồi nhưng dặn tôi vẫn nên thận trọng.

Chuyện ấy thực ra chả cần dặn vì tôi là thằng đi đầu, vốn không có cái tác phong đi "phưỡn" như thằng Đức nên tất phải lom khom và căng mắt ra quan sát.

Khoảng chục cái ụ mối đầu thì vượt qua yên lành.

Nhằm phía trước đi nhưng vẫn phải lò dò hướng sau từng ụ mối để có sự che chắn.

Vào đến sâu trong khu chiến sự hôm qua, khi tôi vừa định men vòng sau một ụ mối để tiến lên phía trước thì nghe "Cốc" rồi "bùm" một phát ngay trên cành cây trên ụ mối phía trên đầu nhưng không trực diện.

Tôi vội lùi nhanh một bước nằm sát vào sau ụ mối tránh đạn.

Bọn địch chưa rút, chúng còn trụ lại và ngồi im trong các hố chiến đấu.

Thằng địch cầm M79 ngồi thẳng hướng tôi tiến chợt thấy tôi chắc giật mình bắn vội nên không nhằm trúng mặt tôi mà lại tương cao vổng lên cành cây trên ụ mối, cối nổ mà mảnh không hắt thẳng vào tôi.

Quá may.

Ngay lập tức đạn AR 15 rộ lên.

Tôi cũng chĩa AK quạt về phía địch, tất nhiên chẳng trúng tên nào.

Đội hình 5 chiến sĩ ta đằng sau cũng vội nép theo hình hàng dọc lấy cái ụ mối duy nhất làm vật che khuất.

Địch vẫn bắn nhưng không xung phong.

Anh Quân nhoài lên nắm chân tôi lắc mạnh ra hiệu rút.

Chúng tôi bò lùi rất nhanh, loằng ngoằng như những con thằn lằn rời xa dần sau ụ mối.

Khi khoảng cách đủ xa thì lom khom lùi rồi cứ thế vừa quan sát địch vừa lùi theo hướng đã đến.

Địch bắn chán một hồi không thấy ta bắn lại nữa thì cũng thôi.

Thây kệ chúng nó, chúng tôi rút một mạch về chốt B4.

Như vậy là địch vẫn còn trụ lại.

Phải tìm cách khác chứ không thể đánh trực diện như chiều tối qua được.

Nghĩ lại vừa rồi cũng may.

Tôi lao vào chỗ thằng cầm M79 chứ nếu lao vào thằng AR15 thì nó đã tương cho tôi một loạt vào giữa mặt rồi, vì AR linh hoạt hơn.

Cũng vì chúng tôi chỉ bắn trả vài loạt rồi rút nhanh, địch chưa kịp phán đoán tình thế nên chúng cũng chỉ ngồi im.

Thằng chỉ huy bên địch mà nắm nhanh được tình hình cho quân tản ra bao lấy chúng tôi thì chắc 6 người chúng tôi không thể rút về được an toàn.

Bây giờ tại khu chốt này chỉ còn B5 và B4.

B6 đã rút về cùng đại đội tại khu tập kết và làm công tác thương binh tử sĩ.

Sau này tôi nghe nói lại khi khiêng anh Bớt về, mọi người ở nhà không mấy tỏ ra ngạc nhiên.

Anh Thiết quản lý đại đội còn coi như đó là một điềm đã được báo trước sau vụ cơm khê.

Anh ấy còn phán đoán anh Quán cũng đã hy sinh chứ không thể bị địch bắt được.

Lúc này B5 chỉ còn 2 A trưởng, quân số ít nên tôi và anh Thành được ghép sang các A khác.

Tôi lại về A anh Trịnh, anh Thành về A thằng Lễ.

Đó cũng là một niềm vui may mắn và có phần cảm thấy hạnh phúc, dù nhỏ nhoi.

Hơn nửa ngày trời nằm phơi nắng trong rừng khôộc.

Vài ụ mối cây cối lưa thưa không đủ tán che nắng.

Những cây khôộc cũng vậy.

Gọi là rừng vì bạt ngàn nơi đây chỉ có loại cây này làm chủ và nó cũng chẳng phải do người trồng chứ thực ra chúng mọc thưa lắm.

Lá khôộc to nhưng ít và khi nắng lên chúng xoăn lại, chẳng còn che được nắng.

Lúc này mũ mãng mất hết cả rồi, chúng tôi phải lấy lá khôộc sâu lại thành cái mũ giống như ngày bé hay lấy lá bàng kết mũ cánh chuồn giả làm quan để che nắng.

Cũng tạm ổn.

Thời gian trôi qua trong tĩnh lặng vì nơi đây cũng chẳng có tiếng chim chóc hay côn trùng.

Chỉ có tiếng gì o o đều đều trong nắng, nhưng hình như phát ra từ chính cái đầu của mình thì phải.

Ta với địch không nhìn thấy nhau, chắc cũng đều cảnh giới nhưng cũng chẳng làm gì nhau.

Tôi vơ vẫn nghĩ đánh nhau kiểu này cũng quấy thật.

Tất cả đều tơ hơ trên đất, một vài hố chiến đấu chẳng bõ bèn gì, nếu như bên nào có nhiều đạn cối mà tổ chức tập kích đối phương ngay giữa ban ngày thì bên kia chắc phải chạy như vịt chứ còn chốt giữ gì được nữa.

Trời tối, anh Quân phổ biến B5 chúng tôi phải quay lại khu vực đánh nhau hôm trước một lần nữa để nắm tình hình.

Nếu địch rút thì kiểm tra lại khu vực đó, nếu địch còn trụ lại thì trinh sát nắm địch luôn rồi xin đại đội tập trung đánh tiếp cho chúng một trận nữa.

Tôi nghe nhưng vẫn nghĩ rằng cái chính là vì chưa biết tin về anh Quán nên phải trở lại nơi đó thôi chứ nắm địch cái gì.

Trinh sát tiểu đoàn đâu mà giao phó cả cho chúng tôi.

Hơn nữa nếu đánh chắc tiểu đoàn phải bổ sung lực lượng chứ hôm trước chúng tôi đã đánh rồi đấy mà có ăn thua gì đâu.

Tôi nói điều đấy với anh Trịnh và anh cũng đồng tình, chắc nhiệm vụ tìm tử sĩ là chính thôi.

Phải muộn muộn thì chúng tôi mới lên đường.

Lần này anh Quân không đi mà giao cho anh Trịnh phụ trách nên tôi càng tin điều phán đoán của mình là đúng.

Tôi cũng yên tâm phần nào với anh Trịnh, chứ nếu thằng Lễ phụ trách nhóm thì chắc hết hơi.

Vẫn 6 lính và tôi vẫn phải đi đầu, chẳng cãi được.

Chẳng biết hôm nay bao nhiêu âm, không có trăng nhưng trời cứ sáng bàng bạc.

Tầm quan sát tới vài chục mét.

Chúng tôi vượt rất nhanh qua khoảng cách ban đầu từ vị trí chốt B4 đến cái ụ mối gần sát chỗ ban sáng gặp địch.

Tới đây chúng tôi giãn thưa hơn, nhưng anh Trịnh vẫn bám sát ngay sau tôi nên tôi thấy rất yên tâm.

Tôi nằm rạp xuống đất khá lâu, lợi dụng cái ánh sáng bàng bạc mà nhìn vào khoảng rừng trống trước mặt.

Không phát hiện được gì, kể cả việc cố căng tai ra nghe và hít ngửi trong gió để tìm một điều gì đó đặc biệt.

Vẫn tĩnh lặng.

Tôi tiến về phía cái ụ mối bị địch bắn M79 hồi sáng, nhưng không tiến thẳng vào đó mà vòng rộng ra bên ngoài để quan sát được cả phía sau ụ mối.

Đoạn cuối cùng là bò, nhè nhẹ như khi bò trong hàng rào đặt mìn định hướng.

Tốc độ bò chậm và thời gian có lúc tưởng như ngừng trôi.

Thằng Lễ chừng sốt ruột nên bò nhanh lên sát trên để giục anh Trịnh.

Thằng này nói tiếng gió rất kém, cổ họng phát ra tiếng khàn khàn rất khó chịu vì cố nói nhỏ mà không phải tiếng gió.

Tôi xoay người lại ra hiệu cho anh Trịnh là phải thận trọng, không thể vội được.

Thế là anh Trịnh phải bò lùi lại xoay cái bàn chân như xoa vào mặt thằng Lễ, nó mới im.

Chúng tôi vẫn tiếp tục bò.

Rồi trước mặt tôi là cả một khoảng trống rộng của cái vùng địch đóng quân lúc sáng.

Nếu có địch phục, chắc hai bên phải nổ súng đánh nhau to rồi.

Tôi đã sờ được vào một cái công sự mà không thấy địch, hố trống trơn.

Rồi một lúc sau chúng tôi đã bám được vào một dãy công sự, toàn hố không.

Anh Trịnh phân công nhóm thằng Lễ nằm bám trụ lại một số công sự sẵn sàng chi viện, còn lại 3 người trong đó có anh và tôi tiếp tục tiến lên.

Bây giờ thì chúng tôi không phải bò mà lom khom chuyển từ công sự này sang công sự khác.

Ở đây chỉ có hố chiến đấu, không có giao thông hào.

Vượt qua khu vực công sự, anh Trịnh còn cho đi rộng ra thêm, đề phòng địch lùi xa một đoạn, dùng khu công sự này làm bẫy.

Sau cùng thì xác định chắc chắn địch đã rút.

Chúng tôi kiểm tra toàn bộ, có chừng hơn bốn chục cái hố và phát hiện có 12 cái hố lấp đất có vẻ như chôn người chết.

Nống ra vùng giải phóng Saravan này của ta, lại phân tán và di chuyển liên tục nên địch cũng không thể mang xác những tên chết đi đâu được mà phải chôn tại chỗ sau mỗi trận đánh.

Chúng tôi kiểm tra kỹ nhưng không thấy gì thêm.

Rất có khả năng địch đã chôn cả xác anh Quán vào một trong những cái hố này nếu anh ấy hy sinh.

Trường hợp bị bắt làm tù binh thì phải đợi nghe đài kỹ thuật của địch sau này mới biết được.

Chúng tôi hội ý nhanh, thấy rằng không thể bới tất cả 12 cái hố này để kiểm tra lại xác trong đêm nên quyết định sẽ quay về báo cáo để cấp trên xử lý tiếp.

Chúng tôi về đến chốt B4 thì cũng phải đến mấy giờ sáng rồi, vì sau đó thời gian được ngủ rất ít.

Đến sáng, anh Quân cho người về đại đội báo cáo xin chỉ thị, còn lại một B rưỡi chưa đến hai chục người vẫn nằm lại chốt.

Chắc cứ nằm tạm ở đây chờ lệnh thôi chứ địch ở khu rừng bản Phôn Phai rút rồi thì chặn cái gì.

Có lẽ phải chờ trinh sát D nắm lại tình hình địch để tiểu đoàn sắp xếp lại vị trí tác chiến của các C.

Sáng hôm ấy trong khi chờ tin của đại đội thì anh Chèo B trưởng B4 lại phát hiện thấy địch, cũng phải đến bốn chục thằng, hành quân xéo qua về phía Bản Na Thon là bản mà đại đội tôi đang ở gần đó.

Anh Chèo cũng là loại máu đánh nhau, hơn nữa hôm kia đánh trận vận động Phôn Phai thì B4 lại ở phía sau làm công tác thương binh tử sĩ, chưa được nổ súng.

Thế là anh ấy kéo tất cả quân hỗn hợp 2 B vận động chặn đường.

Địch đi đường thẳng còn chúng tôi chạy đường vòng, lại phải vòng rộng để vừa giữ bí mật vừa có thể đón đầu nên chạy bở hết cả hơi tai.

Dẫu đoạn đường chạy chỉ chừng cây số, nhưng không đơn giản vì rừng khôộc thưa quá.

Vì thế chưa kịp đón đầu thì địch đã phát hiện ra chúng tôi.

Chúng bắn loạn xạ ngay lập tức bằng đủ các thứ súng có trong tay.

Chúng tôi cũng bắn lại, nhưng chỉ có AK, M79 và B41, còn B40 thì đuối tầm nên chịu.

Cũng không thể vận động mà đuổi theo chúng vì chúng đông hơn.

Tôi cũng thấy lo vì thế này thì lại lâm vào tình thế giống như trận vận động bữa trước, đánh giặc mà cứ như ép phải đánh nhau vậy.

Nhưng sau đó tiếng súng cứ nhỏ và thưa dần.

Hóa ra thằng địch cũng né tránh giao tranh và rẽ sang hướng khác đi dần rồi mất hút.

Chúng tôi nằm lại ngay tại chỗ để thở, vừa mệt vừa chán chẳng muốn làm gì nữa.

Đến trưa thì có liên lạc từ đại đội đến báo tất cả phải rút về điểm tập kết cùng đại đội để chuyển hướng khác.

Thế là chuyện tìm xác anh Quán phải để lại.

Không ngờchiến sự đã kéo chúng tôi đi mãi khỏi khu rừng bản Phôn Phai từ đó và khôngquay trở lại.

Sau này tiểu đoàn đã xác nhận và đưa anh Quán vào danh sách hysinh.

Việc quy tập liệt sĩ ở Saravan sau chiến tranh làm rất lôm côm và khôngchu đáo nhất là như trường hợp của anh Quán.

Rất có thể cho đến bây giờ Atrưởng Quán của chúng tôi vẫn yên nghỉ tại cánh rừng Phôn Phai đó cùng 11 ngườilính Fumi xấu số.

Chiến tranh đã lùi xa, thù hận không còn nữa, cầu cho linhhồn của những người lính đã ngã xuống của cả hai bên trong trận đánh vận độngngày 18 tháng 11 năm 1972 ở cánh rừng bản Phôn Phai ấy được siêu thoát.

Tập kết về khu rừng bản Na Thon được nửa ngày thì chúng tôi nhận lệnh hành quân về hướng Đông.

Cả tiểu đoàn tiến sát về khu vực Nam thị xã Saravan.

Không biết cái thị xã này hình thù và rộng lớn ra sao, hay cũng chỉ nhỏ bé và lèo tèo vài dãy phố như những thị xã ngoài Bắc mà chúng tôi đã đi qua.

Tuy thế tôi cũng nhận ra một vài đoạn đường đất ô-tô có thể chạy.

Nơi đây là bình nguyên nên có thể nói là không tốn công làm đường vì nền của nó đã có sẵn, rất cứng.

Chỉ cần tạo đường sao cho đừng vấp phải khe suối hay húc vào ụ mối là được.

Nhiều đoạn khá hơn cũng chỉ như đường đá dăm, không thấy đường nhựa.

Có điều nơi đây các nhà sàn tập trung đông hơn tuy đều đã xập xệ, cái bị mất một góc, cái bị cháy dở và đa phần không còn mái tôn che.

Trong các bản chúng tôi đã qua có dân ở, nhưng ở khu vực gọi là vùng thị xã này thì bị bỏ hoang, không có dân.

Nơi đây cây khôộc mọc thưa thớt và quanh đó cũng như quanh các khu nhà cỏ dại qua một mùa mưa mọc xanh um cao đến ngang đầu dù đã hết mùa mưa.

Giữa các khu nhà không có lối đi, toàn phải đạp thành đường.

Ngồi dưới nhà sàn này thì không nhìn thấy người ngồi dưới nhà sàn bên cạnh.

Cảm giác lạnh lưng hở sườn không còn nhưng tầm bao quát thì gần như bằng không.

Đại đội chúng tôi tập trung tại một khu vực có nhiều nhà sàn gần một con đường nhỏ.

Chẳng mấy chốc mà chúng tôi đã thu dọn xong chỗ nghỉ, đạp cỏ bẹp xuống thành lối đi lại qua các trung đội.

Các tiểu đội đều ở dưới nhà sàn, có sàn gỗ phía trên nên dù không đào hầm cũng cảm thấy kín đáo.

Lính tráng tổ chức nhận bổ sung đạn còn các cán bộ từ B trở lên đi họp bàn phương án tác chiến.

Chẳng biết tiểu đoàn chở đạn dược đến bằng cách nào nhưng chỗ lấy đạn cũng nằm cạnh đường chỉ cách chúng tôi vài trăm mét.

Có lệnh lau súng và kiểm tra cặn kẽ.

Đúng là cả tuần vừa rồi chúng tôi không lau súng, rất may không ai bị tắc súng lần nào.

Buổi chiều tối tất cả tập trung nghe lệnh.

Lần này chúng tôi tác chiến theo một kiểu mới gọi là đánh theo mệnh lệnh.

Điều này gần giống với đánh vận động, không có trinh sát chuẩn bị và sau đó lên phương án tác chiến trước.

Trung đoàn chỉ xem bản đồ, yêu cầu đến ngày đó tiểu đoàn này phải đứng chân được ở chỗ này.

Tiểu đoàn lại giao cho từng C hành quân đến vị trí được phân công.

Có trinh sát đi trước, gặp địch đâu là đánh đó và phải chiếm vị trí bằng được, bất kể tổn thất ra sao.

Đúng là làm tướng điều quân như đánh cờ.

Nhưng thật tình lúc đó chúng tôi chẳng nghĩ gì nhiều, lệnh trên sao thì nghe vậy.

Với lại cả làng lúc ấy như thế chứ có phải riêng gì C tôi.

Dù trong gian khổ thế nào thì cuộc sống của người lính nhiều khi cũng có hương vị riêng mang bản tính của từng người xen vào, nghịch ngợm hoặc tếu táo nhiều khi đến bất mờ mà mang đậm bản sắc lính.

Chính trị Viên C tôi vốn cũng hiền lành, nhưng khá nguyên tắc.

Chỉ có cùng cấp mới trêu được anh ấy thôi.

Một lần đại đội hành quân chui vào một đám rừng non và trú quân qua đêm.

Hành quân dã ngoại thì đương nhiên là vệ sinh kiểu hố mèo, nhưng lần ấy không có C trưởng, CTV lại cẩn thận phổ biến nguyên tắc ấy cho đại đội, còn dặn thêm là phải đi xa chỗ võng của mình cho khỏi mất vệ sinh.

Gần đến giờ gác, CTV khoan khoái leo lên võng ngủ thì phát hiện ngay cách võng mình chỉ độ 2 mét có một bóng đen lúi cúi, rồi nghe tiếng động phát ra và có mùi khó chịu.

- Thằng nào làm gì đấy, CTV quát.

- Hùng đây - C phó Hùng trả lời - ỉa chứ còn làm gì nữa.

- Ơ kìa, sao ông lại đến đầu võng của tôi mà ỉa hả.

- Thì hồi chiều ông bảo phải đi xa võng của mình còn gì.

Chỗ này cách võng tôi hơn chục mét rồi ấy chứ.

CTV định vặc tiếp nhưng chợt nhận ra C phó Hùng cố tình tai quái, đành làu bàu ngồi dậy quấn võng tìm đến chỗ khác.

Những chuyện kiểu như thế sẽ còn truyền tai trong đơn vị mãi về sau, mỗi khi nhắc đến tên các anh ấy.

Trở lại chuyện trú quân ở thị xã Saravan.

Chiều hôm sau, trước khi xuất kích, anh Quân ra lệnh kiểm tra súng, lên đạn sẵn.

Của đáng tội, từ sau trận bản Soan, lúc nào súng tôi chả lên đạn sẵn, bao giờ băng và súng chả đủ 31 viên.

Nhưng lệnh kiểm tra thì cứ kiểm tra.

Tôi có kiểu kiểm tra riêng, vẫn để nguyên chốt an toàn, chỉ cần kéo mạnh quy lát là nhìn thấy rõ thân viên đạn đồng nếu như nó đã lên nòng.

Không như người khác phải chổng nòng súng lên trời hay chĩa xuống đất, tôi cứ tự nhiên quay súng ra chỗ sáng nhất là được, dù nòng súng quay ngang.

Không ngờ đang quay như thế thì anh Chèo B4 đi tới đứng ngay trước nòng súng.

Chẳng phải cướp cò gì, nhưng anh ấy hoảng quá kêu toáng lên, dìm cái nòng súng của tôi xuống và giáng cho tôi một cái tát.

Tôi tức lắm nhưng chẳng dám phản ứng, phân trần thì anh ấy không nghe, sau anh Trịnh phải xin và mắng vờ tôi mấy câu thì mới yên.

Chuyện này về sau tôi cũng không để bụng được vì anh Chèo đánh địch rất giỏi và chỉ hơn nửa năm sau thôi anh ấy đã là đại đội trưởng của chúng tôi rồi.

Đêm ấy chúng tôi theo trinh sát đi theo hướng đã phân công.

Trinh sát cũng chẳng đi trước chúng tôi được bao nhiêu.

Họ tới đâu chúng tôi bám tới đó.

Có điều đặc biệt là trong cái khu thị xã Saravan này, không biết ngày trước địch phân khu hay bố phòng kiểu gì mà lắm hàng rào thép gai thế.

Thuần một loại rào đơn thôi nhưng chúng căng ngang dọc như bàn cờ.

Cắm đầu cắm cổ đi vấp phải, thế là tắc, lại phải tìm quanh lối khác.

Cứ lò dò theo trinh sát như vậy, chẳng thấy địch đâu mà có lẽ cũng chẳng đi được bao nhiêu đường đất.

Các C khác chắc cũng như C tôi vì chẳng thấy hướng nào có tiếng súng.

Nhưng xa lắm thỉnh thoảng vẫn nghe có tiếng súng và ánh sáng nhập nhoạng chập chờn của pháo sáng hắt lại nhưng ở tít trên cao.

Bây giờ trong cái âm u mịt mùng của cỏ cây và đêm tối mà thi thoảng xen lẫn chút ánh sáng hắt từ xa tít trên trời cao ấy, cộng với chân chùn vì phải đi ít đứng nhiều chờ trinh sát dò đường, vai mỏi như tê đi vì đeo nặng, thỉnh thoảng phải nghiêng người xoay bả vai cho quai ba lô dỡ tỳ nặng từng bên vai một, tôi lại lờ mờ nhớ về những chuyện ở Saravan khi trước mà các anh lính cựu trong C tôi đã kể.

Đầu mùa mưa năm 1970, trung đoàn 9B hành quân từ Quảng Bình vào làm thê đội 2 cho Sư 2 của ông Nguyễn Chơn từ Quảng Ngãi sang đánh Saravan (Nam Lào) để mở rộng vùng giải phóng và đẩy địch ra xa khỏi tuyến đường Tây Trường Sơn của Đoàn 559.

Sư 2 đã có tiếng thiện chiến và dũng mãnh, nghe nói hầu như không có lính Bắc và trong các đơn vị chiến đấu lại có cả nữ nữa, dù họ chỉ làm nhiệm vụ thông tin hay quân y.

Sư 2 vào Saravan đánh đâu thắng đó, trung đoàn 9B chủ yếu làm nhiệm vụ tảo thanh và đánh các đơn vị nhỏ của địch chạy bung ra ngoài rìa.

Chiến sự đến đâu, dân Lào trong thị xã di tản tới đó, họ bỏ tất cả để vào Pắc xế.

Chỉ có dân các bản vùng xung quanh là chạy ít ngày tránh tên bay đạn lạc rồi lại trở về.

Kiểu này làm lính ta liên tưởng đến những thành phần dân cư thành thị và nông thôn bên Việt Nam thời chống Pháp.

Lính E9 đi sau hưởng lợi về hậu cần từ các vùng dân rất nhiều.

Có vẻ như lính sư 2 chấp hành chính sách dân vận tốt hơn.

Tuy nhiên về chính sách thương binh tử sĩ thì họ làm lại hơi kém.

Họ không lập các khu nghĩa trang tạm thời rồi quy tập lại một cách bài bản sau đó như trung đoàn 9B.

Chính vì thế trên con đường 23 vào Saravan rồi từ đó chạy vào cao nguyên Boloven có nhiều nấm đất chôn tử sĩ của sư 2 sát ngay bên đường, có vẻ như hy sinh tại đâu thì chôn ngay quanh đó.

Khi mùa mưa đi qua mới một nữa, dưới những trận mưa rừng như trút nước và dai dẳng, đất trên các nấm mộ đắp vội trôi đi để lộ ra cả hình hài của liệt sĩ.

Có xác những chiến sĩ nữ không được bọc tăng võng, mái tóc dài theo nước xoải dài ra bên lề đường.

Trung đoàn 9B phải làm lại công tác tử sỹ để những người đã hy sinh được nằm yên dưới lòng đất.

Thật thương những người con gái ấy, nhất là khi thông tin kèm theo xác họ chẳng có gì.

Danh mộ những liệt sĩ vô danh lại tăng lên.

Về kinh nghiệm tác chiến thì trong E9B lại truyền tụng một câu chuyện nữa.

Trong Sư 2 khi ấy có một vị tiểu đoàn trưởng mới 22 tuổi (sau này anh ấy đã trở thành sư trưởng sư 2 thay tướng Chơn, hình như là sư trưởng trẻ nhất trong quân đội ta thời chống Mỹ, tên là Hồng Anh thì phải), nhưng trong E9B cũng có một tiểu đoàn trưởng trẻ không kém.

Đó là D trưởng K18 Lê Quang Huân, cựu dũng sĩ Mậu thân 68 ở thành Huế, lên năm quyền lúc 23 tuổi.

Anh là D trưởng nổi tiếng trong trung đoàn (tới thời kỳ 1974 thì anh Huân là E trưởng E19 của sư 968).

Đầu mùa khô 1970, cả tiểu đoàn của anh Hồng Anh và K18 của anh Huân cùng vào Cao nguyên Boloven để chuẩn bị đánh địch ở Păc soong.

Khi đó địch cũng hay rải thảm B52 ở Nam Lào.

Lúc chọn chỗ đóng quân, K18 được chọn trước.

Anh Huân cho K18 đóng ven rìa một cánh rừng già, có suối to chảy qua.

Hầm thùng và hầm chữ A (nhất là D bộ) làm kiên cố, đường đi lối lại giữa các đơn vị thênh thang rợp bóng mát.

Tiểu đoàn của anh Hồng Anh chỉ đóng cách đó chừng dăm trăm mét, nhưng lại chọn chỗ trú quân giữa đồi lau lách bạt ngàn.

Hầm chữ A làm bình thường, đường đi lối lại phải vít các ngọn cây lau để ngụy trang, đi lại phải lom khom.

Chân đồi lau cũng có nước, nhưng chỉ là lạch nhỏ, muốn lấy nước phải tạo hố cho nước chảy vào rồi múc.

Tất nhiên trong rừng lau thì chuyện nấu nướng phải cẩn thận hơn và sinh hoạt tất có phần kém thoải mái.

Khi đó K18 có ý nghĩ là lính sư 2 quen khổ nên tự đày ải nhau nhiều quá mà thôi.

Kết qủa cuối cùng lại phải nhờ kẻ địch phán xét.

Trú quân chưa được một tuần, một chiều thấy 3 chiếc F105 bay sạt nóc rừng qua khu trú quân, tiếng động ầm ầm.

Chừng hơn chục phút sau, chỉ nghe tiếng gió hút của bom rơi rồi cả khu rừng mịt mù trong khói bom.

Ba vệt bom B52 đã làm trụi khu rừng già.

K18 bị tổn thất nhưng không nhiều do đóng quân chủ yếu ra rìa rừng già nên chỉ dính tí vệt B52.

Nếu cả D nằm sâu trong rừng già, chắc đoàn Hà Nội chúng tôi không bao giờ biết đến K18 anh hùng của E9B anh hùng nữa.

Sau đấy ban chỉ huy của cả 2 tiểu đoàn hội ngộ.

Lính K18 ngả mũ chào cảm phục những người lính của sư 2 anh hùng.

Quá thiện chiến và quá dày dạn, kinh nghiệm đầy mình.

Sau đó ít lâu, sư 2 rút hẳn về nước, bàn giao lại toàn bộ địa bàn Saravan và cao nguyên cho E9B và sư 968.

Thị xã Saravan dân không về ở nên giờ đây hoang tàn.

Địch nống ra chắc cũng phải sửa sang lại nhiều mới có chỗ đóng quân.

Đêm hôm đóchúng tôi đi mãi mà không gặp địch, nhưng quãng đường đi được không xa.

Tới sáng,chúng tôi phải dừng lại, còn trinh sát tiểu đoàn tiếp tục lên đường bám địch.

Nằm nghỉ được một ngày, gần tối lên đường đi tiếp vì trinh sát đã phát hiện chỗ có địch.

Hóa ra nơi đây vẫn chưa phải là khu sở chỉ huy của địch.

Chỉ có một đại đội của địch, hình như nằm vòng tiền tiêu canh chừng.

Chúng nó cũng đóng trong một khu nhà bỏ nhưng quang đãng hơn chỗ chúng tôi trú hơn trước nhiều.

Tiểu đoàn cho cả C6 và C7 chủ công cùng đánh, có điều vẫn phải đánh đêm dù không phải là sở trường của chúng tôi.

Lần này có cối 82 của tiểu đoàn chi viện cho mấy chục quả, còn chủ yếu là 2 khẩu cối 60 của 2 C bộ binh.

Địch đóng dã ngoại, không có hàng rào nhưng chúng giá mìn Cleimo xung quanh để tạo lớp vỏ bảo vệ.

Cả 2 đại đội được cấp mìn DH10 để quét mìn Cleimo.

Cũng chả xác định rõ lắm vị trí địch vì không có hàng rào, nhưng cũng không dám bò vào sâu quá, sợ khi vô tình nằm ngay sát trước quả mìn Cleimo mà bị lộ, địch nó bấm mìn nổ thì đi cả lũ.

Chúng tôi chỉ giá ước chừng 4 quả DH10 thẳng hướng sẽ xung phong, lần này bố trí theo hàng nằm ngang.

Do không có nhiều thời gian, chỉ lấy tiếng cối 82 làm hiệu lệnh nên phải làm khẩn trương.

Chừng 7 giờ tối thì nghe tiếng cối 82 bắn vào khu vực địch, chúng tôi bấm mìn.

Hướng C7 cũng nghe mìn định hướng nổ "rầm" rất to rồi cối 60 bắt đầu bắn.

Tiếng "Tốc" đầu nòng nghe khá đanh.

Bọn địch nằm im chịu trận vì chúng nghĩ bị ta tập kích.

Chừng 5 phút sau khi mấy chục quả cối các loại đã bắn hết, đến lượt bộ binh lên.

Chúng tôi dập một loạt đạn B vào khu trước mặt rồi tiến lên.

Chỗ này không như căn cứ có khu đầu cầu mà phải tiến nhanh, chúng tôi đánh như kiểu vận động.

Vừa bắn vừa tiến lên và bám vào các mốc làm vật chướng ngại.

Chỗ này chủ yếu là các cột nhà và gốc cây nhỏ.

Địch nổ súng bắn lại ngay nên cũng dễ xác định những vị trí có địch.

Hỏa lực B40 cứ nhằm các nhà sàn mà bắn, trúng nhà nào nhà ấy cháy liền.

Chỗ này cối cá nhân cũng có nhiều tác dụng vì khá quang, có thể bắn cầu vồng.

Tôi bám sát ngay bên trái anh Trịnh.

Hễ anh Trịnh tương B40 vào đâu là tôi choang ngay một quả US vào cạnh đấy rồi vừa quét AK vừa vọt lên.

Mỗi người chỉ mang 2 quả lựu đạn, anh Trịnh phải đưa cho tôi cả lựu đạn của anh ấy.

Mỗi nhà sàn phải ăn đến mấy quả đạn B.

Không gian nóng hẳn lên với những ngôi nhà cháy, lửa sáng bập bùng.

Nhờ ánh lửa nên quan sát khá tốt.

Quân ta đông hơn nên đánh vòng ngoài khá gọn.

Địch bị cối dập cho một loạt lúc đầu, lại bị quân ta đánh cả hai phía trong điều kiện chúng không có hỏa lực mạnh nên thiệt hại và nhanh chóng co cụm lùi lại.

Ngoài mấy trái M72 lúc đầu, địch chỉ còn cối cá nhân M79 và súng bắn thẳng.

Hướng C tôi có chừng 3 cái nhà sàn bị cháy sập, chừng hơn chục xác địch gục bên những công sự đào ngay dưới gầm nhà sàn.

Lúc tôi vừa nép vào một cột nhà để tráo lại băng đạn vừa hết thì một mảng sàn nhà cháy sập xuống, may anh Trịnh kịp kéo tôi ngã ngửa trở lại.

Trận này địch cụm lại, quân ta đông nên chúng tôi bắn như đổ đạn vào những chỗ có tiếng súng địch.

Cả đại đội có 6 khẩu hỏa lực B mà bắn gần hết đạn vào các khu nhà sàn, chưa kể M79.

Tôi chưa bắn hết băng đạn thứ hai thì C6 đã hội quân được với C7.

Địch chỉ bị tiêu diệt một phần, số còn lại đã chuồn theo hướng khác.

Chúng nó là thổ dân, lại chủ động nên rút lui rất nhanh.

Vì đánh theo mệnh lệnh, mục tiêu chính là chiếm được khu vực đã định trước nên tiểu đoàn đã không bố trí lực lượng đón lõng ở hướng thứ ba.

Chúng tôi tạm thời nằm trụ lại, tảo thanh tại chỗ và xem lại súng đạn.

Tôi vừa lắp thêm đạn AK, vừa nhìn quanh.

Nhà sàn cháy rất nhiều, lửa đỏ bập bùng cả một khu vực rộng lớn.

Nghe tin C7 bị hy sinh 1 còn C6 chúng tôi có 2 người bị thương phải cáng về phía sau.

Thế là mỗi trận đánh lại hao hụt một ít, quân số vơi dần.

Hôm sau trinh sát tiểu đoàn bám địch luôn từ sớm, tìm xem bọn địch hôm qua rút đi đâu.

Nắm được địch chỉ rút đi xa chừng cây số rồi trụ lại, tiểu đoàn cho đánh tiếp.

Lần này C5 và C7 đánh, còn C6 chúng tôi vòng ra ngoài đường đất theo hướng Đông để chặn địch nếu chúng rút tiếp về khu sân bay cũ của thị xã.

Đấy là nghe nói thế chứ tôi đã nhìn thấy sân bay nào đâu.

Chúng tôi chia làm 3 cụm, mỗi cụm một trung đội tạo thành một cánh cung vòng kiềng nằm cách khu vực có địch tới dăm sáu trăm mét, men theo một con đường đất nhưng cách xa ra tới vài chục mét.

Chỗ này lại là rừng khôộc thưa rồi, tầm quan sát rất rộng.

Đấy là áng chừng vậy thôi chứ lúc này trời đêm nên mọi thứ vẫn cứ nhờ nhờ.

Đại đội bắt chúng tôi đất cứng đến đâu cũng phải đào được một cái hố nằm kín người.

Chúng tôi quen đào hầm đêm rồi, chỗ này lại tự do đào không phải giữ bí mật nên cũng khá thuận lợi.

Còn đang đào hầm dở thì đã nghe tiếng súng của C5 và C7 nổ ầm ầm.

Một khoảng trời phía xa nhập nhoàng ánh đỏ nhưng không sáng bằng khi địch thả pháo sáng.

Cũng chỉ chừng hai chục phút thôi là tiếng súng lịm dần rồi im hẳn.

Chắc quân ta làm chủ trận địa ngon ơ rồi vì cái đại đội địch ấy cũng đã bị đánh xơ xác từ đêm trước.

Chúng tôi căng mắt ra chờ những thằng tháo chạy qua đây.

Song chờ mãi cũng chẳng thấy gì, có lẽ địch bị tiêu diệt hết rồi chăng.

Sáng rõ mặt người, đang nhai cục cơm nếp nguội khô thì chúng tôi phát hiện thấy hai tên địch từ xa đi lại.

Chắc đêm qua chúng lẩn trốn ở đâu bây giờ mới mò ra tìm đường chuồn.

Chúng đeo súng AR 15 trên vai chứ không phải cầm trên tay trong tư thế sẵn sàng nổ súng.

Chúng cứ lõng thõng chậm rãi theo con đường đất mà đi, xem ra thì chỉ có B5 chúng tôi gần chúng nhất.

Chúng tôi nằm im và giương súng chờ đợi.

Anh Quân chưa cho lệnh bắn vì nghĩ có thể địch còn có nhiều hơn.

Lúc hai thằng đi ngang tới gần vị trí chúng tôi nhất thì tự nhiên anh Thành lại làm rơi khẩu M79 đánh "cộc" một cái xuống đất.

Một thằng địch nghe thấy chợt đứng lại nghe ngóng nhưng súng vẫn khoác vai, còn thằng kia vẫn lững thững đi như không có chuyện gì xảy ra.

Thằng nhứ nhất tiến đến cách chúng tôi chừng hai chục mét, vẫn nghiêng người nghe ngóng trong khi thằng kia đi xa dần khỏi chỗ chúng tôi.

Sốt ruột, anh Quân cho thằng thứ nhất một điểm xạ.

Anh Quân B trưởng chuyên bắn được thú rừng đấy nhé, thế mà không hiểu sao lần này lại bắn trượt dù chỉ cách có hơn hai chục mét, tên địch hoảng quá vội nằm rạp xuống.

Nhưng hình như nó ù tai hay sao nên vẫn chưa xác định đạn bắn từ đâu tới.

Nó tụt súng khỏi vai, nhưng lại ngồi dậy ngơ ngác nhìn xung quanh.

"Tằng tằng", anh Quân cho nó một điểm xạ nữa.

Vẫn trượt.

Thằng địch lại nằm rạp xuống rồi một lát sau lại ngồi dậy ngơ ngác như thằng mất hồn.

Nó vẫn chưa hiểu súng bắn đến từ đâu.

Lại một điểm xạ nữa và lại trượt.

Thế là ba điểm xạ đi toi.

Lúc này tên địch mới biết hướng súng nổ và nằm im, nhưng cái đầu nó vẫn nhô lên rõ mồn một.

Chúng tôi xem anh Quân bắn như xem bắn tập.

Chúng tôi còn có B40, có M79 và cả mấy cây AK nữa đấy, nhưng chả lẽ chỉ có một tên địch mà lại nã cả một đống đạn vào nó.

Điểm xạ thứ tư của anh Quân mới trúng đầu tên địch.

Lúc này chúng tôi mới nhìn kỹ ra phía đường.

Thằng địch thứ hai vẫn lững thững đi trên đường như không hề có chuyện gì xảy ra, nhưng nó đã cách xa chúng tôi tới cả trăm mét rồi, thế là thoát.

Chúng tôi mò ra chỗ thằng bị chết thu súng, anh Quân cứ vừa nhảy lò cò trên đất vừa kêu "có ma, có ma".

Sau đó chúng tôi quay về chỗ phục kích nhưng chờ suốt từ đó đến tận chiều cũng chẳng có ma nào đi qua nữa.

Gần một ngày chỉ có nắng và gió, khô cả miệng.

Cũng chẳng nghe thấy tiếng súng nổ ở đâu nữa, không gian vắng lặng.

Thế là đã qua đi đúng một tuần từ sau trận vận động Phôn Phai.

Hôm sau cả tiểu đoàn lại hành quân về các vị trí cũ, C6 chúng tôi lại về khu vực bản Na Thon.

Có vẻ như đánh theo mệnh lệnh chẳng giải quyết được gì, địch vẫn bung quân ra đèn cù.

Cả đại đội lại về khu tập kết ở cái chỗ chúng tôi bị trực thăng bắn đuổi ấy, còn B5 chúng tôi đi ra xa hơn một cây số lập chốt, lần này hướng về phía bản Na Thon.

Chỗ này vẫn là rừng khôộc nhưng cây khá dày, kèm theo đó có rất nhiều đụn cát nhỏ và những cây khôộc non chỉ cao chừng một mét mọc trên đó.

Ở đây đất pha cát nên đào công sự rất dễ, mỗi người một cái hố sâu đến thắt lưng.

Đất đắp lên bị nắng đốt khô rất nhanh, hòa lẫn vào những đụn cát nhỏ quanh thân các cây khôộc non nên trông không còn có vẻ gì là có hầm hố.

Chỗ này nếu có nằm im thì địch tới gần sát mới có thể nhìn thấy chúng tôi, mà ngay cả ngồi im cũng rất khó phát hiện.

Buổi sáng trôi qua chậm chạp.

Lúc này chúng tôi đã hết cả thuốc rê mang từ trong cao nguyên ra rồi, đánh địch mấy trận cũng không thu được thuốc lá nên mồm miệng đành vêu ra.

Ngồi chốt vì thế càng sốt ruột.

Cỏ non không có, mầm khôộc thì đắng nên cũng chẳng có cái gì cho vào miệng nhai cho nó đỡ buồn.

Lúc này đã vào hẳn mùa khô rồi, hơn tháng trời không có rau xanh, toàn ăn cơm nếp với muối hạt nóng cả bụng.

Tầm gần giữa chiều thì anh Trịnh lấy một hòn đất ném tôi ra hiệu.

Tôi dỏng tai lên nghe, quả có thấy tiếng loạt xoạt nhẹ.

Chúng tôi ngồi thấp nhưng vướng cây lá nên cũng chưa nhìn thấy gì.

Mãi rồi cũng nghe tiếng bước chân chậm rãi chạm vào những cành khôộc non.

Chỗ này bốn phía như nhau nên địch có thể đến từ bất cứ hướng nào.

Rồi tôi nhìn thấy bóng ba tên địch lăm lăm AR15 lặng lẽ đi tới, gần ngay hướng hầm tôi.

Tôi ngoái lại ra hiệu cho anh Trịnh bắn trước.

Khi đí chốt hay phục kích, bao giờ tôi cũng mong anh Trịnh nổ B40 trước cho nó uy lực và bất ngờ rồi mới quạt AK phụ họa.

Lần này cũng vậy.

Khi mấy cái đầu địch đã hiện rõ cách tôi chừng chục mét, anh Trịnh mới nổ B40.

Tiếng "ùng, oàng" sát nhau và tôi cũng kịp nổ mấy loạt AK.

Phía bên cạnh anh em trong B cũng nổ súng phối hợp.

Có tiếng chân chạy loạt soạt, bọn địch chạy ngược trở lại một đoạn rồi mới bắn trả.

Chúng bắn bừa chứ có nhìn rõ gì đâu, tương cả M79 vọt ra phía sau.

Anh Thành cũng tương mấy quả M79 về hướng địch, cũng chỉ là bắn áng chừng.

Chắc địch chỉ có ít quân đi lùng sục thăm dò nên chúng chỉ bắn trả được một ít rồi rút luôn.

Chúng tôi cũng chẳng truy kích vì ở cái chỗ như thế này có quan sát được gì nhiều đâu, đuổi theo có khi lạc.

Mãi sau tôi và anh Trịnh lên kiểm tra.

Chỉ có một cái xác và ít vết máu, chắc do B40 của anh Trịnh chứ chúng tôi bắn về sau chắc cũng không diệt thêm được tên nào.

Ngồi nốt từlúc ấy đến tối không có thêm chuyện gì.

Nghĩ cũng lạ.

Địch nó mà xác định chỗmình rồi, biết mình vẫn ở đó rồi gọi máy bay thì mấy cái hố lộ thiên chẳng giúpđược gì.

Trong chiến trận luôn luôn xảy ra những điều bất ngờ, may mắn và khôngthể lý giải.

Hôm sau, B5 chúng tôi có lệnh rời chốt từ sáng sớm để về tập trung cùng đại đội.

Tất cả chuẩn bị để đêm nay đánh địch trong bản Na Thon.

Địch có một đại đội vài chục tay súng, cũng tương đương như chúng tôi.

Cả C6 tính ra khi đó cũng chừng non ba chục tay súng.

Một đại đội đánh một đại đội.

Nhưng sao lại toàn đánh đêm thế này.

Lúc đầu chúng tôi nghĩ là cần yếu tố bất ngờ, về sau mới rõ thêm là cấp trên chọn đánh đêm để loại trừ khả năng yểm trợ bằng máy bay của địch.

Địch không có pháo nên coi như không có hỏa lực chi viện.

Đêm chúng tôi đánh bản Na Thon là vào ngày 28/11/1972.

Cái kiểu đánh nhau gần giống như thời Tam Quốc đi cướp trại của nhau, có khác chăng là số lượng quân và vũ khí.

Bản Na Thon chỉ có chừng chục nhà sàn.

Lần này địch không đào hầm bên ngoài mà ở luôn trong bản vì dân cũng đã chạy hết rồi.

Chúng đào hầm ở dưới nhà sàn và sống luôn cả trên nhà sàn.

Trinh sát D bám địch và đại đội lên phương án cho bộ đội mật tập dùng hỏa lực bắn cháy các nhà sàn rồi dùng bộ binh tiếp cận đánh những tên địch nhảy từ trên nhà sàn xuống.

Bốn bề quanh bản trống hoác nên cũng chẳng cần đón lõng hay phục kích làm gì.

Cả C chỉ làm một mũi tiền nhập sát bản dồi dũi luôn vào, chẳng cần chọn giờ hiệp đồng với ai cả vì chỉ có một mình C6.

Chúng tôi cơm nước đàng hoàng, chờ tối mịt mới lên đường.

Hơn hai cây số trong rừng khôộc địa hình bằng phẳng, vượt qua không có vấn đề gì.

Mò sát đến nơi, nép vào mấy cái ụ mối nhìn vào trong thấy cả bản im ắng.

Ở một góc xa có một đống lửa đốt, nhưng có vẻ củi đã gần tàn, chỉ còn cháy lom nhom soi lúc mờ lúc tỏ.

Quan sát lúc lâu vẫn không nhìn thấy thằng gác.

Bọn địch chủ quan thật, chắc chúng mệt quá đã ngủ hết trên các nhà sàn.

Càng tốt.

A cối 60 của anh Thắng giá cối chọn mục tiêu giữa bản, cốt diệt những thằng chạy trên mặt đất.

Áp sát rồi, sáu nòng B40 và B41 của C tôi tập trung chia nhau nhắm vào các nhà sàn gần nhất đồng loạt nhả đạn.

Mấy căn nhà sàn nổ tung, bốc cháy.

B40, B41 lại nạp tiếp đạn và dã loạt thứ hai rồi xung lực bắt đầu xông vào bản, đi đầu là B6, đến B4 rồi cuối cùng là B5 chúng tôi.

Cối 60 cũng câu vào chi viện, tất cả chỉ có chục trái, nhưng như thế là cũng đủ rồi vì việc còn lại là của bộ binh chúng tôi.

Không có chống cự nên chúng tôi lọt vào trong bản rất nhanh.

Nhưng lạ cái là bọn địch chết cháy hết rồi hay sao mà không thấy nhảy thoát ra khỏi nhà sàn hay nổ súng chống lại.

AK không có mục tiêu cụ thể chỉ bắn được vài loạt lẻ tẻ.

Đột nhiên từ phía rìa bản đạn M72 bắn vào tới tấp.

Rồi kèm theo đó là M79 và AR15 bắn vào, mãnh liệt không kém.

Cái này giống như đi cướp trại thời xưa mà bị phản kế.

Chúng tôi đang ở thế chủ động tập kích bỗng thành bị động, rơi vào trận địa phục kích của địch.

Sau này mới biết trinh sát D bám địch nhưng bị lộ, địch nó vờ không biết.

Thằng chỉ huy của địch cũng thuộc loại chiến trận có kinh nghiệm đầy mình đã đoán ra ý đồ của ta.

Chúng giả như chủ quan nhưng thực tế đã bỏ lại cái bản không với đống lửa to đốt từ chập tối nghi binh rồi kéo ra phục sẵn bên ngoài.

Cao tay hơn chúng còn kiên trì chờ cho quân ta bắn vợi bớt đạn rồi mới ra tay.

Thế là chúng tôi đã tập kích vào chỗ không người.

Bây giờ thì những cột nhà sàn lại là nơi ẩn nấp để quân ta tổ chức chống lại địch.

Còn một chút may mắn là B5 mới vào đến rìa bản nên lập tức quay sang hai bên nổ súng chống trả, yểm hộ cho hai B kia rút lui.

Địch cũng không có nhiều M72 (về lý thuyết thì cao nhất cũng chỉ mỗi tên có một quả), bắn hết rồi thì cũng chỉ có súng bắn thẳng choảng nhau, mà đạn B41, B41 của chúng tôi uy lực hơn.

Đại trưởng Băng ra lệnh tập trung hết hỏa lực B bắn mạnh để uy hiếp địch và tổ chức cho bộ đội vừa kéo tử sĩ, vừa dìu thương binh rút ra.

B6 và B4 lùi dần ra, theo thẳng lối đã đến mà rút.

B5 chúng tôi tiếp tục bám các ụ mối bắn lại ghìm chân địch.

Chiến trận tiếp tục diễn ra ngoài rìa bản trong ánh lửa bập bùng của những ngôi nhà sàn đang cháy.

Hai bên bắn nhau nhưng cũng chỉ như dọa nhau là chính.

Ít phút sau B5 chúng tôi cũng rút sau khi bắn thêm mấy trái B40.

Anh Quân cho anh em chúng tôi vừa rút vừa cảnh giới phía sau đề phòng địch truy kích.

Quá nửa đêm thì cả đại đội rút về hết được khu tập kết.

Cảm giác của kẻ bại trận tràn ngập trong lòng.

Không diệt được tên địch nào, nhưng đại đội tôi bị hy sinh 2, bị thương 3, hao mất bằng một nửa trung đội.

Trong số hy sinh có anh Cát, A trưởng của B6 người Bắc Thái.

Anh ấy là một A trưởng còn dày dạn chiến trận hơn cả A trưởng Trịnh của tôi.

Người to khỏe, có nụ cười hiền lành nhưng khá hóm hỉnh.

Anh ấy cũng bảo ban tôi nhiều thứ trong những tháng ngày tôi còn làm liên lạc.

Tôi đã tham gia chôn cất anh ấy và tự tay liệm cho anh ấy bằng chiếc võng vải xanh tôi mang từ Trường Sơn vào.

Chúng tôi lấy một cái lọ nhựa đựng thuốc của TQ để bỏ vào đó một mẩu giấy ghi những thông tin về anh, sau này còn biết mà tìm.

Lúc xúc những xẻng đất khô ở cánh rừng Khôộc trơ trụi và cằn cỗi này để lấp lên nấm mộ anh ấy mà sao tôi thấy lòng chơi vơi quá.

Một cảm giác buồn, mệt mỏi và hụt hẫng.

Thế là mới chỉ ra Sara van được có bốn chục ngày, đại đội tôi đã mất 3 A trưởng.

Các vị trí thiếu hụt này, tạm thời do ít quân số nên đại đội cho ghép các A trong cùng B lại, không cử thêm A trưởng mới.

Đại trưởng Băng của chúng tôi cũng có chút máu mê binh pháp.

Nghĩ rằng vừa qua một trận thắng, địch chủ quan nên ta sẽ bồi lại cho chúng một trận, giống như kiếu ngày xưa địch dùng tiền quân làm hậu quân khi rút lui, vừa đánh thắng một trận đối phương truy kích thì lại đổi hậu quân làm tiền quân nên bị đánh tơi bời nếu đối phương truy kích tiếp lần nữa.

Ngay hôm sau trong lúc đơn vị còn đang giải quyết hậu quả trận đánh trước thì anh Băng đã cho người đi bám tiếp địch và biết chúng vẫn còn ở bản Na Thon.

Đại trưởng Băng quyết định xốc lại quân, bổ sung gấp đạn dược rồi ngay đêm đó quay lại choảng cho chúng một trận.

Thế là hai trận đánh tại cùng một vị trí được tổ chức trong hai đêm liên tiếp, một việc cũng rất hiếm xảy ra.

Lần này hơn hai chục tay súng còn lại của C6 do đại trưởng Băng đích thân cầm đầu mò vào áp sát bản Na Thon.

Anh Băng cũng khoác AK chứ không mang K54, quyết tâm ghê lắm.

Tuy vậy có một điểm anh Băng đoán sai là bọn địch chắc đã hết đạn, nhưng thực ra không phải vậy.

Chẳng biết chúng nó bổ sung đạn bằng cách nào khi mà chúng cũng hoạt động lẻ từng đại đội.

Chúng tôi chỉ áp được vào sát bản, lợi dụng những ụ mối rồi tập trung hỏa lực bắn vào, hy vọng địch tê liệt rồi xung phong.

Không ngờ chúng tôi vừa nổ B40, B41 thì địch cũng bắn rốc két M72 ra ào ào.

Chúng nó không chủ quan mà vẫn canh gác phòng bị tử tế nên không hề bị bất ngờ.

Thế là hai bên lại lập thành chiến tuyến, trong bắn ra ngoài bắn vào.

Chúng tôi không đủ lực lượng áp đảo để đồn ép địch mà tổ chức đánh chiếm.

Đại trưởng Băng không dám cho xung phong vào vì như thế bằng nướng quân và đại đội tôi đứng trước nguy cơ bị xóa sổ.

Địch cũng cố thủ chứ cũng không đủ lực lượng để cho quân vòng ra tập hậu chúng tôi.

Thế là giằng co nhau, ý đồ ban đầu của anh Băng tiêu tan.

Hai bên cùng chẳng có tổn thất gì ngoài đạn dược.

Thú thực là trận này lính tráng chúng tôi cũng chẳng hào hứng lắm vì cái dư âm bại trận của đêm trước vẫn còn đọng lại trong đầu.

Hơn hai chục tay súng của đại đội nếu đánh chốt hay phục kích thì còn có thể mong thắng chứ choảng nhau dàn trận thì quá là mong manh, lạnh lưng hở sườn.

Lúc đấy chỉ có ý thức là người lính phải chấp hành mệnh lệnh dẫn dắt chúng tôi hành động mà thôi.

Thu quân xong về lại vị trí tập kết thì bây giờ đến lượt chúng tôi lo phòng thủ, vì nếu địch nó cũng máu liều như đại trưởng Băng thì xá gì mà nó không tổ chức tập kích lại?

Thế là hỗn hợp một nửa đại đội lại phải tổ chức chốt chặn từ xa hướng về phía bản Na Thon.

Trong cả tuần qua khi K18 chúng tôi đang quay ra mặt Tây Thị xã Saravan thì trong khu Thị xã và vùng đất hướng ra sông Xê Đôn địch hoạt động rất mạnh.

Có những đơn vị lớn của địch đã co cụm.

Máy bay AC130 hoạt động liên tục.

Dù sân bay Saravan chưa sử dụng được nhưng bằng cách nào đó chúng đã thả dù xuống được rất nhiều đạn dược và thiết bị quân sự, vũ khí trong đó đặc biệt là có cả pháo 105ly, súng cối 106,7 ly và cả DKZ để tiếp tế cho bọn dưới đất.

Lúc đó các đơn vị ở gần chỉ phát hiện một điều là máy bay AC130 thả pháo sáng suốt đêm thôi.

Nhờ có vũ khí lớn bổ sung, chúng nống ra hoạt động rất mạnh, vượt sông Xê Đôn tiến rộng về khu vực có tuyến vận tải của 559.

Con sông Xê Đôn bắt nguồn từ phía Nam Tha Teng bên Atôpơ chảy vòng vèo cong queo theo gần một hình vòng thúng lên hướng Đông Bắc, ngoặt lại vòng sang Tây rồi lại cong về hướng Tây Nam ôm trọn lấy tỉnh Saravan.

Cuối cùng nó chảy vòng về đổ nước vào sông Mê Kông ở đoạn phía Bắc thủ phủ Pắc Xế của tỉnh Chăm Pa Xắc.

Con sông này mùa khô nhiều đoạn lội qua dễ dàng.

Chiếm được toàn bộ vùng Đông Bắc Saravan rồi, địch tung tiếp quân tràn qua sông Xê Đôn tiến thẳng về hướng Đông vào sát tuyến đường 559.

Vùng đất này bằng phẳng nên các tuyến đường ô-tô rất nhiều, kho tàng cũng lắm.

Gần hai năm giải phóng nên tuyến đường khá an toàn.

Gần khu vực này có cả một trận địa pháo phòng không 37ly có tới 5 khẩu.

Tuy thế khu vực này chỉ như nơi an dưỡng của lính coi kho và lính phòng không.

Trong chiến tranh mà rơi vào chốn như thế này thì tuy có buồn tẻ đôi chút (vì vẫn có bạn để mà chơi) nhưng cuộc sống thì có thể nói là thiên đường mơ ước của rất nhiều lính, nhất là những ai có ý muốn B quay.

Nhưng chơi nhiều nên tất nhiên chủ quan và khả năng chiến trận kém dần.

Tụi lính củaGM42 nống ra nhanh quá, chỗ này bộ binh yểm trợ thiếu nên khi bị địch uy hiếp,lính phòng không 37ly phải hạ nòng bắn thẳng.

Có lẽ nhờ uy lực của pháo bắnthẳng làm cho địch có phần khiếp đảm nên chúng mới chần chừ để cho bộ binhchúng tôi có hơn một ngày hành quân tới chi viện.

Cấp trên điện gấp và K18 phảiđiều ngay quân ứng cứu, C5 lên đường trước, sau đến C7 rồi C6 chúng tôi.

Trậnnày C6 không tham dự nhưng nghe nói lại C5 đã hành quân thần tốc cả đêm đi nhưchạy để kịp vượt sông và đến giải cứu.

Cũng may là thằng địch chỉ nống rộng ranhằm phá hoại và thăm dò chứ không có mục tiêu cụ thể, nếu không thì đơn vịpháo PK 37 ly đã bị thôn tính rồi.

Mấy ông coi cái khu kho gần đó của 559 thìchỉ lo giữ được thân đã đủ tốt.

Rất may C5 kịp đến đánh thẳng vào phía sau lưngđịch khiến chúng phải tản ra và rút dần về sông Xê Đôn.

Khi cả K18 cùng hộiquân thì lực lượng ta ở đây lại quá mạnh, anh em đường dây 559 sung sướng ramặt, kể cả lính phòng không lẫn mấy ông coi kho đường dây.

Bằng chứng là saukhi tay bắt mặt mừng hoan hỷ và bố trí đóng quân lại, chúng tôi được các línhcoi kho chi viện ngay một lô lương khô 701, chẳng cần lệnh của ai.

Bọn 37ly cũngcho chúng tôi một ít đường, loại miếng vuông đóng trong hộp giấy cứng làm bằngcủ cải của Liên xô, chia ra mỗi người được 2, 3 viên.

Ái chà, của này mà cả nămchỉ được ăn một lần thì không khác gì bánh ngọt để liên hoan.

Chả còn chèthuốc, nhưng nhẩn nha bóc từng thanh lương khô ra gặm thì cũng khoái lắm.

Mỗichúng tôi được phát 3 phong lương khô, phen này thành phú ông cả rồi, nghĩ cũngsướng.

Bây giờ quân ta dàn thành thế trận mới.

E9 đảm nhiệm vùng Bắc và Đông Bắc Saravan còn E19 đảm nhiệm phía Nam.

Riêng E39 là lính dân vận nên không tham chiến.

Lúc này địch vẫn có số quân ở Saravan là 2GM, tương đương 2 trung đoàn.

Ngày 5/12/1972, anh Trịnh nhận lệnh quay về khu vực gần bản Na Thon đón E bộ E39.

Họ bị mắc kẹt giữa vùng giáp gianh Chăm Pa Xắc và Saravan từ hơn tháng qua.

Cứ loanh quanh sau lưng chúng tôi, nhưng vì chiến trận vùng Saravan là kiểu da báo và đèn cù nên chính họ cũng phải nhiều phen chạy giặc khi mà bỗng nhiên có một cái đại đội khỉ gió nào đó của bọn Fumi đột nhiên húc phải.

Để đảm bảo an toàn, mặt trận quyết định chuyểnTrung đoàn bộ của E39 ra hẳn đường dây 559 lánh tạm.

Anh Trịnh, tôi và một lính nữa lên đường.

Chúng tôi qua sông ở chỗ bản Na Bạc, gần về phía đường 23.

Cái bản này không có nhiều nhà dân nhưng rất rộng và sạch sẽ.

Bản nằm ngay gần sát sông và có nhiều khoảng sân đất phẳng phiu.

Dân bản không bỏ đi mà vẫn trụ lại vì nơi này địch chưa đến.

Cấp trên đặt luôn một điểm trung chuyển tại đây để đón các đơn vị phía Nam vượt sông sang bờ Bắc và đi ra đường dây 559.

Lúc này có một đặc điểm là địch không ném bom vào các bản dân nên quân ta tranh thủ lợi dụng.

Lần này đi lẻ nhưng tôi không lo lắm vì đi với anh Trịnh, tuy thế tôi vẫn cẩn thận nhắc anh hướng đường và tìm cách đánh dấu.

Gần quanh bản có rất nhiều nương lúa nhưng đã gặt hết từ lúc nào, nay sang mùa khô chỉ còn trơ những gốc rạ.

Dân Lào họ không đun nấu bằng rạ nên chắc để đến đầu mùa mưa mới đốt.

Nhưng nếu chiến trận xảy ra thì những nương rạ này cũng sẽ cháy hết.

Lúc hành quân sang chi viện bảo vệ tuyến đường 559 mấy hôm trước, chúng tôi cũng đã đi theo lối này nên cũng còn nhớ được kha khá đường.

Bây giờ quay lại vùng bản Na Thon dẫn cả một E bộ E39, mối lo là nếu để bị lạc đường thì thật trơ mặt, mất hết uy tín lính E9.

Vì vậy trên đường quay về Na Thon cứ chỗ nào đánh dấu được như vạc vào vỏ cây hay bẻ gãy một cây non trên đường đi là tôi làm luôn.

Cũng vì sợ húc phải địch nên cứ trước khi vượt qua một trảng trống nào là chúng tôi nằm lại quan sát khá lâu rồi mới đi tiếp và đi thật thưa.

Đoạn nào kín đáo mới đi nhanh.

Cuối cùng cũng về được đến nơi và bắt liên lạc được với E bộ E39 lúc trời tối.

Ngày hôm sau chúng tôi làm công tác chuẩn bị, phổ biến quy định hành quân cho E bộ 39.

Tôi hơi ngạc nhiên là không hiểu biên chế kiểu gì mà cả một trung đoàn bộ chỉ có chưa đầy ba chục người.

Họ đâu phải là lực lượng bị tổn thất từ vùng chiến trận rút ra.

Quần áo và trang bị nói chung là tươm tất hơn chúng tôi rất nhiều.

Phần lớn họ đeo súng ngắn chứ AK chỉ có vài khẩu.

Vì thế chúng tôi xác định dẫn họ đi là phải không chạm địch chứ nếu không thì hỏng to.

Tiểu đoàn khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi cũng yêu cầu phải đi đêm.

Không biết hôm ấy ngày mấy âm, nhưng trời khá sáng, nhất là đi trong rừng khôộc cây thưa.

Tôi và anh Trịnh dẫn đầu, thằng còn lại đi sau cùng khóa đuôi.

Chúng tôi vừa đi vừa tìm lại dấu vết hôm trước để dò đường.

Có vất vả chút ít và đôi lúc hơi căng thẳng.

Cứ mỗi lần tìm ra được một dấu hiệu đánh dấu đường hôm trước là chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.

Đoàn cán bộ E39 nhẫn nại theo sau, lúc đi lúc dừng nhất nhất theo yêu cầu của chúng tôi.

Thật may là chuyến đi an toàn, trời mờ sáng chúng tôi đã đến bản Na Bạc và bàn giao cho tiểu đoàn.

Chuyến đi này chẳng nhớ mặt nhớ tên được ai, nhưng các thủ trưởng E39 chia tay chúng tôi nồng nhiệt lắm, bắt tay, cảm ơn và cả khen ngợi.

Chúng tôi không kịp ăn sáng mà phải về đại đội ngay trong sáng hôm ấy.

Mấy ngày liền sau đó chúng đóng quân lại ở bờ Bắc sông Xê Đôn.

Chỉ cách nhau có một con sông rộng hơn trăm mét thế mà cảnh vật hai bên lại khác hẳn nhau đến kỳ lạ.

Bờ Nam toàn rừng khôộc thưa thớt, nhưng bên bờ Bắc thì lại là rừng già toàn những cây cổ thụ to cành lá nguềnh ngoàng cao vút, đóng quân bên dưới kín như bưng, L19 có ngó nghé cả ngày cũng chẳng thấy được gì.

Sát ra mé bờ sông mới có một vài vạt rừng cây lúp xúp hay bãi trống.

Thấy L19 hoạt động nhiều, mặt trận điều động phối thuộc cho chúng tôi một đại đội pháo cao xạ 23 ly.

Một hôm thấy có cán bộ pháo binh đến yêu cầu chúng tôi theo bảo vệ để đi tìm nơi đặt trận địa.

Sau khi họ chọn được một bãi trống gần sông cách chỗ trú quân của chúng tôi dăm trăm mét để làm trận địa, B5 chúng tôi lại được cử đi đón pháo và dẫn đường.

Chúng tôi đến vị trí hiệp đồng và đón đơn vị pháo.

Pháo cao xạ 23 ly có 2 nòng và cũng là loại pháo cỡ thấp nhất có xe ô-tô kéo.

Đại đội có 3 khẩu, kéo bằng xe Molotova.

Sau khi giấu xe một chỗ xong, họ ở nhờ luôn cạnh C6 chúng tôi để làm bếp hậu cần lo cơm nước.

Bây giờ tôi còn nhớ trong C pháo đó có một lính đã từng đi học ở Liên xô, nói tiếng Nga lem lém và một thằng tên là Thắng nhà ở cạnh chùa Hưng Ký phố Minh Khai.

Bọn lính pháo đều to khỏe hơn lính bộ binh chúng tôi.

Chúng nó sinh hoạt rất vui nhộn, có cả đàn ghi-ta mang theo.

Tuy thế ở chố này không được ca hát, chỉ tán chuyện và đánh bài tiến lên thôi.

Tiêu chuẩn ăn của chúng nó cũng cao hơn chúng tôi, có nhiều đồ hộp và cả rau khô (món rau này mãi gần năm sau chúng tôi mới được phát ăn).

Nhưng lúc này chúng tôi cũng bắt đầu được ăn 6 lạng gạo/ngày rồi nên cũng không thèm thuồng.

Chỉ có món trà là thằng Thắng mời chúng tôi sang uống.

Chè Ba Đình hẳn hoi, tuy toàn cẵng vụn là nhiều.

Sang hơn là chúng nó lại có cả đường củ cải của Liên xô, giống như bọn pháo 37ly bữa trước.

Sang chơi vài lần nhận đồng hương, tôi cho thằng Thắng mấy múi dù lụa trắng lấy ở trận Ba Lào Ngam.

Lại cho cả mấy đứa trong B của nó nữa.

Bọn nó thích lắm và cho lại chúng tôi một gói chè Ba Đình 30 gam và một hộp đường củ cải nửa cân.

Đường củ cải ăn lộp xộp, không ngọt bằng đường mía của ta, nhưng như thế là quá quý rồi.

Mà lính ta thì mồm cũng không kém cá ngão là mấy.

Chỉ 3 lần hội họp là cả B5 chưa đến chục thằng chúng tôi đã giải quyết gọn tất cả những quà tặng của tình hữu nghị đó.

Có một sự thay đổi nhỏ về sắp xếp quân số.

B trưởng Quân của B5 chuyển sang C5, còn anh Pha A trưởng bên B4 chuyển sang chỉ huy B5 chúng tôi.

Anh Pha hiền, ít nói và không xông xáo bằng anh Quân.

Thực ra đối với chúng tôi cũng không quan trọng lắm vì quân số bây giờ ít, các A trong cùng B sinh hoạt xen kẽ và lẫn lộn tùy theo nhiêm vụ cụ thể được giao.

Bọn 23 ly chưa kịp nổ súng trận nào, dù L19 ngày nào cũng vè vè bay qua, thì ngày 13/12 cả đại đội 6 chúng tôi đã lại phải hành quân trở lại bờ Nam sông Xê Đôn để tập trung cùng tiểu đoàn đánh địch.

Lần này thì đúng là đánh vào khu sân bay cũ của Thị xã rồi.

Công tác chuẩn bị ở đây khác với đánh điểm trên Cao nguyên là không nặng về phần hầm hố.

Mà muốn cũng chẳng thể làm vì chúng tôi toàn đánh vận động, cây cũng chẳng có mà lấy gỗ.

Chủ yếu là chuẩn bị súng đạn và bàn hiệp đồng tác chiến.

Trận đầu tiên của C6 chúng tôi là đánh một cái xưởng cưa.

Cũng là gọi thế thôi vì ngày trước mới đúng là xưởng cưa chuyên xẻ gỗ to trên cao nguyên để làm nhà sàn, vì dân Lào ở những vùng bản ven đường hay Thị xã họ làm nhà to lắm, to hơn nhiều so với những nhà sàn của đồng bào Mường ngoài Hòa Bình.

Bây giờ xưởng chỉ còn là những cái nhà nát trên nền đất cộng với cỏ dại um tùm xung quanh.

Cả đại đội đánh một trung đội địch trong đó.

Chúng tôi tiềm nhập vào được sát xưởng cưa.

Chắc bọn địch cũng chỉ định đóng dã ngoại nên không gài mìn Cleimo.

Cũng là một cái may.

Lúc này đang giữa buổi chiều, nhưng tiểu đoàn vẫn cho lệnh đánh ngay.

Có khi thế lại hay vì giờ giấc không theo quy luật.

Trận đánh diễn ra xuôn sẻ.

Hỏa lực B40 và B41 dập vào thì cái trung đội địch gần như tan tác.

Lúc chúng tôi tiếp cận đánh gần thì sức chống cự của chúng chỉ còn lẻ tẻ.

Hầu như chúng không bắn lại được phát hỏa lực nào.

Chỉ có AR15 cuống quít nổ vài loạt rồi cũng tắt ngấm.

Trung đội địch chỉ độ hơn chục thằng, nằm chết gục xen những tấm tôn rách dùng làm vật che tạm cho công sự.

Ngoài vũ khí, ba-lô của chúng hầu như không có gì.

Đánh nhanh thắng nhanh, bên chúng tôi không ai thương vong nên khí thế lại lên ầm ầm.

Thế nhưng trong cái may lại có cái không may tiềm ẩn và tôi không thể nào ngờ dù chỉ một mảy may.

Thoạt đầu là sau khi dọn dẹp trận địa, B4 phát hiện có dấu hiệu địch cách đó không xa về hướng Tây Nam.

Không nắm chắc địch nên trước tiên chúng tôi lập chốt.

Trinh sát cũng không bám được địch ngay vì đang là ban ngày, địch nó ngay phía trước, lộ hết cả rồi thì còn bám gì được.

Chí ít cũng phải chờ đến đêm tối.

Thế nhưng trời chưa tối thì địch nống trước.

B4 phát hiện địch mò vào gần là nổ súng luôn.

Bọn địch cũng chỉ bắn lại lẻ tẻ rồi rút.

B trưởng Chèo quyết định truy kích vì khí thế lúc này đang hăng, định đánh một thể.

Tuy vậy lính ta đuổi chưa được bao nhiêu thì địch mất hút vì dù sao chúng cũng là thổ dân thông thạo địa hình.

Anh Chèo ra lệnh rút nhưng lệnh không đến được tất cả lính tráng.

Hai thằng Nhật và Hoàn (đoàn Hà Nội, nhà ở Cầu Giấy) cứ thế là đuổi theo địch.

Trời tối dần, khi anh Chèo kiểm quân phát hiện ra thì không thấy chúng nó đâu nữa.

Đâu đó vẫn có tiếng súng nổ đì đùng.

Không ai dám ra lệnh đi tìm đi gọi vì phía đó có địch, đâu phải muốn đi thế nào thì đi.

Thế là đại đội tôi mất thêm 2 chiến sĩ (sau này mãi đến khi miền Nam giải phóng, về nhà gặp nhau chúng tôi mới biết tin về số phận chúng nó.

Thằng Nhật bị địch bắn chết, còn thằng Hoàn bị bắt làm tù binh, sau được trả về nhưng tất cả ý nghĩa của quãng đời lính đối với nó chấm dứt.

Nó không một lần hội họp với anh em nhân ngày nhập ngũ và đã ra đi cách đây chừng chục năm vì bạo bệnh).

Thiếu 2 người, nhưng đại đội chúng tôi vẫn thu quân lại chờ lệnh mới.

Cũng chẳng phải chờ lâu vì ngay đêm đó C6 chúng tôi được lệnh làm một mũi phối hợp cùng C5 và C7 đánh vào khu sân bay, nơi đó xác định có tới 2 đại đội địch.

Cũng lại là trinh sát D dẫn đường cho chúng tôi vào lót.

Vận đen đến với chúng tôi từ chiều và vẫn đeo bám chúng tôi đêm hôm đó, đêm 17/12 định mệnh, dù trước đó chẳng hề có cơm sống cơm khê.

Và cái mốc thì vẫn là chu kỳ 1 tháng, bởi vì tính đến hôm đó thì vừa 2 tháng sau trận đánh thắng tiểu đoàn Thái 621 trên cao nguyên, sau 1 tháng của trận đánh vận động Phôn Phai nhiều trắc trở.

Chừng 9, 10giờ đêm chúng tôi đã bước thấp bước cao lọt vào địa phận sân bay.

Cả một vùngtrống rộng cỏ mọc um tùm xung quanh.

Rào thép gai chắc đã được dân đến gỡ hếttừ lâu nên trống trơn.

Có thể chúng tôi bị lộ và địch đã chuẩn bị sẵn.

Hàngloạt pháo cối từ đâu đó không xa bất ngờ ầm ầm đổ xuống đầu chúng tôi, nhữngthẳng lính đầu trần trên một bãi đất trơ trọi.

Thế yếu của kẻ địch nống ra vùnggiải phóng không có pháo chi viện đã chấm dứt.

Đây là một điều hoàn toàn bấtngờ đối với chúng tôi, khi mà địch đã dùng máy bay thả được những dàn pháo lớncho bọn dưới đất lập trận địa.

B5 chúng tôi bị trúng ngay loạt pháo đầu tiên.Những thằng lính sống sót nằm rạp xuống và lăn vội vào những rãnh đất vớ đượccầu may.

Pháo địch dập xuống nhanh rồi chuyển làn cũng nhanh.

Có một điều may(lính thì trong hoàn cảnh nào mà chẳng có cái may!?) là địch cũng không thểnhiều đạn như trong Cao nguyên nên trận pháo kích cũng kết thúc sau đó khônglâu.

Cả đại đội kiểm tra lại quân số.

Đại trưởng Băng bị thương vào bụng nằmngất lịm.

B5 chúng tôi bị thương 2 và hy sinh 4, trong số hy sinh có anh Phavừa mới về chỉ huy trung đội.

Cả trung đội còn sót lại anh Trịnh, thằng Lễ vàtôi.

Cộng số quân của cả đại đội còn lại vừa đủ để làm công tác thương binh tửsĩ.

C6 được lệnh rút.

Sau này chúng tôi biết đêm đó C5 và C7 có đánh nhau nhưngcũng không đủ lực và cũng bị pháo nó nện.

Quân ta không làm chủ được trận địa,phải bỏ giữa chừng.

Thằng Dũng "trắng" lính B41 bên C7 (nhà ở làngKim Liên, Hà Nội) chơi thân với tôi từ ngoài Bắc cũng bị một mảnh pháo cắt đứtmột dẻ xương sườn và cắm vào phổi.

Điểm lại C nào cũng tổn thất, nhưng C6 lànặng nhất.

Cả tiểu đoàn phải rút về sông Xê Đôn nhưng đóng quân lại ở bờ Nam.

Bờ Nam toàn rừng khôộc thưa, lá cành xơ xác và nhiều bãi trống nên bắt buộc chúng tôi phải đóng quân cạnh bản dân.

Đại đội chúng tôi nằm cạnh bản Khăm Trôm, bản này cũng gần sông như bản Na Bạc, nhưng chỗ này bờ sông rất dốc đứng.

Dân bản phải xả đường chéo thoai thoải để xuống sông lấy nước.

Chúng tôi đào hầm sát ngay rìa mội cái nương, lợi dụng ít cây khôộc để vơ lá ngụy trang.

Đêm nằm rải rạ và ni lon ngay trên mặt đất.

Trong mấy đêm ở đây, có một điều lạ là cứ sáng sớm nhìn lên bầu trời trong đang hửng sáng, chúng tôi thấy có nhiều vệt trắng của B52.

Có khi đủ 3 vệt, nhưng cũng có khi chỉ có 2 vệt, dấu hiệu của 1 chiếc trong tốp đã bị bắn rơi ở đâu đó (B52 luôn bay theo tốp 3 chiếc, vì thế mà 3 vệt bom rải thảm của chúng tàn phá một vùng rộng lớn lắm).

Về sau chúng tôi mới biết đây là chiến dịch ném bom miền Bắc nhằm "Đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá" bằng máy bay B52 của không quân Mỹ.

Thông tin lúc đó chẳng nghe biết được tí gì nên cảm xúc của chúng tôi trước hiện tượng đó cũng thật vu vơ.

Bọn lính Hà Nội chúng tôi không hề biết máy bay B52 đang đánh bom rải thảm Hà Nội.

Nhưng như thế có khi lại hay vì có biết mình cũng chẳng làm được gì, mà lo lắng quá có khi ảnh hưởng đến tư tưởng và sức chiến đấu.

Trong chiến trường chúng tôi đã quá quen với cái kiểu học chính trị và tuyên truyền để ổn định tư tưởng lính tráng.

Chủ đề học về xu thế của cách mạng bao giờ cũng là "Ta thắng lớn, địch thua to, miền Bắc được mùa, miền Nam thắng lớn", nghe mãi nên quen và thuộc lòng đến nỗi nhiều khi tôi nghĩ thằng nào có cái khoa ăn nói trước đám đông một tí và chịu khó học thuộc lòng thì đều có thể làm cán bộ chính trị được.

Về sau nữa, tôi còn nghiệm ra rằng cái vận rủi do sự thiếu tập trung dẫn đến nguy hiểm rất hay gặp ở những thằng có vợ hay vừa đi phép vào, thậm chí là nhận được thư gia đình mà cha mẹ kể thật chuyện nhà quá mà sinh ra lấn cấn.

Chính vì thế buổi sáng sớm nằm nhìn vệt khói B52 trên bầu trời dạo đó với chúng tôi cũng chỉ như một sự giải lao ngắm cảnh thường tình.

Trong mấy ngày nằm bản Khăm Trôm, đại đội tôi vẫn phải hàng ngày tổ chức một tổ lùng sục lên phía trước nắm tình hình.

Hướng mà chúng tôi hay đến nhất chính là bản Khăm Tha Lạt cách đó chừng hơn 3 cây số.

Bản ấy khá trù phú, tuy cũng chỉ có chừng chục nóc nhà, nhưng là nhà to.

Chúng tôi cũng chỉ lượn một vòng quanh bản rồi về, không ảnh hưởng gì tới dân.

Tuy thế nhưng người dân họ cũng căng thẳng lắm khi mà chiến sự cứ lan đến chỗ họ.

Rồi cũng chẳng phải chờ lâu.

Một hôm B4 tổ chức một tổ đi lùng sục và lại đến bản ấy.

Chắc mấy lính ta đã có lần vào bản xin dân cái gì đó nên lần này quen mui cứ thế hàng một túc tắc đi vào.

Không ngờ được hôm trước địch đã vào đóng quân trong bản.

Chắc bọn địch cũng ngạc nhiên khi thấy 3 ông bộ đội Việt thản nhiên đi vào bản.

Tổ chốt của địch có lẽ cũng bị bất ngờ nên vội vã nổ súng.

Một lính ngã gục và anh Nhị (cái anh mà bị thằng Số tương cho quả B40 văng mảnh vào trán ở trận Đông Noọng ấy) không xử lý kịp vì đi sát nhau quá nên cũng bị vướng và ngã theo, ngoắc cả chân vào thằng chết, còn một thằng nữa đi sau cùng nhờ có góc ngoặt ở đường nên quay lại ù té chạy thoát rồi chạy một mạch về thẳng vị trí đại đội ở bản Khăm Trôm báo cáo tình hình.

Ở nhà ai cũng tưởng hy sinh cả 2 người rồi và thật tình có địch ở đó thì với số quân còn lại của đại đội cũng không thể đến đó đánh địch hay lấy tử sỹ về ngay được.

Một cái chốt tiền tiêu được lập vội ngay cách đơn vị chừng 300 mét hướng về phía bản Khăm Tha Lạt đề phòng địch nống tiếp ra và không phải ai khác mà chính là 3 lính còn lại của B5 chúng tôi do anh Trịnh phụ trách phải ra ngồi chốt đó.

Chốt mà chẳng kịp đào hầm hố gì cả, chỉ dựa vào mấy gốc cây khôộc trơ trụi lá.

Ngồi được chừng nửa tiếng thì phát hiện thấy một bóng người từ xa.

Ít phút sau nhận ra anh Nhị đang thất thểu chạy lại.

Anh ấy ôm chầm lấy chúng tôi, dáng vẻ còn đang xúc động.

Hóa ra anh Nhị không chết nhưng phải giả chết vì không có cách nào khác.

Địch nó cũng thận trọng nên mãi sau mới có mấy thằng mò ra kiểm tra xác lính ta.

Anh Nhị phải rất khéo léo vừa nằm giả chết nhưng vừa cố gắng rút được cái chân ra khỏi cái chân của xác đồng đội đè lên, hơi xoay người và bật được chốt khẩu AK.

Thừa lúc 3 thằng địch còn đang nghiêng nghé (may mà chúng nó không bồi tạm cho mấy loạt đạn) và nói "Mần tải lẹo" (chúng chết rồi), anh Nhị bật dậy quạt AK vào 3 tên địch rồi co chân quay người chạy thẳng.

Ba thằng địch ngã gục, còn anh Nhị chạy thoát, bất kể bọn địch trong bản bắn bừa ra mấy loạt vuốt đuôi, may mà không bị chuột rút.

Thế là vừa thoát chết, vừa diệt được địch.

Vậy là công tội đủ bù cho nhau.

Công nhận anh Nhị là loại lỳ và quá tỉnh táo, kèm thêm chút may mắn nữa mới thoát nạn được trong vụ ấy, chứ người khác nói chung là cầm chắc cái chết.

Kế cả thằng địch nữa.

Nếu chúng nắm vững tình hình và bình tĩnh thì rất có thể đã có 3 tù binh rồi.

Thật là may hơn khôn, cái số anh Nhị còn cao lắm.

Tối hôm ấy, anh Hùng (C phó lên thay đại trưởng Băng bị thương) định cho chúng tôi đến bản Khăm Tha Lạt tập kích địch, nhưng sau vì không xác định dân đã bỏ chạy hay vẫn còn trong bản nên lại thôi vì không thể bắn chết dân.

Thế là xác tử sỹ vẫn phải bỏ lại.

Anh Hùng báo cáo lên tiểu đoàn nhưng vì còn có kế hoạch khác nên tiểu đoàn chưa bám được địch để tổ chức đánh.

Tối hôm sau chúng tôi vượt sông trở ra bờ Bắc sông Xê Đôn và đóng quân lại một cánh rừng già ngay sát gần sông.

Các đại đội khác trong tiểu đoàn cũng ở gần đó.

Đến sáng chúng tôi có lệnh nhận thêm tân binh.

Đoàn tân binh là lính Nghệ An, chủ yếu là người thuộc 2 huyện Diễn Châu và Quỳnh Lưu.

Quân số đại đội tăng lên thành hơn hai chục người.

Lại còn thêm cả thằng Loòng, lính trên C vận tải được bổ sung về bộ binh chúng tôi nữa.

Trung đội tôi bây giờ là 8 người, anh Dũng trên C hỏa lực của trung đoàn về làm B trưởng, A trưởng vẫn chỉ có anh Trịnh và thằng Lễ.

Tuy đã hơn một tuổi quân, vào chiến trường hơn 8 tháng rồi nhưng có lẽ lính Hà Nội vẫn bị quan niệm là dân tiểu tư sản, nên tôi vẫn chưa leo lên được chức A trưởng để có thể được chỉ huy một lính mới Nghệ An.

Tôi vẫn cắp AK bám theo anh Trịnh như hình với bóng.

Có khi vì thế mà lại hay.

Thực tế lúc này khi giao nhiệm vụ đại đội vẫn phải cử một số người vừa đủ lẫn lộn chứ không nhất thiết phải đi theo A hay B.

Nhận quân tân binh hôm trước thì hôm sau, nhày 25/12/1972 đại đội tôi được lệnh đánh vào bản Khăm Tha Lạt.

Trinh sát tiểu đoàn bám địch biết trong đó chỉ còn địch, dân đã bỏ chạy nên tiểu đoàn giao cho C6 tập kích và đánh chiếm.

Lần này thì chúng tôi gặp may.

Lúc chiều tối mò được vào bản dã cối 60 và nện xong mấy quả B40.

B41 thì thấy trong bản im re.

Chúng tôi lò dò vào vẫn thấy im ắng.

Chẳng bao lâu thì tràn được cả vào bản và tổ chức sục ra xung quanh, mới biết địch nó đã rút từ chiều.

Không biết có phải chúng muốn chuyển hướng hay muốn trả lại cái bản trù phú ấy cho dân.

Nếu chúng muốn trả lại bản cho dân thì ý định ấy công toi rồi vì trận tập kích của chúng tôi đã đủ làm dấu hiệu để dân bản phải chạy càng xa càng tốt.

Làm chủ bản xong, chúng tôi tìm và chôn cất ngay tử sĩ.

Khẩu AK đã bị địch lấy mất.

Dân và địch cùng chạy hết nên chúng tôi là người hưởng lợi, vì ngay trong đêm ấy các anh nuôi đã phải hết sức bận rộn tay dao tay thớt làm thịt mấy chú lợn bị trúng đạn pháo chết ngay trong bản.

Trong một đêm dài dằng dặc khi hơn hai chục thằng lính bộ binh căng người ra đào hầm để chốt vòng ngoài bản thì ở giữa bản, đám quản lý, anh nuôi và lính A cối 60 thỏa sức sục sạo các nhà sàn.

Chỉ chừng chục nhà nhưng toàn nhà to.

Hai thứ chiến lợi phẩm (không biết gọi thế có đúng không, vì những thứ đó là của dân để lại chứ không phải của địch) lính ta thu hồi ngay là gạo nếp và rượu nếp còn đang ủ chưa cất.

Thứ đó có thể coi như rượu nếp, nhưng mấy ông lính Hà Bắc (dân làng Vân hay Đình Bảng đấy nhé) thì lại thưởng thức tinh túy hơn.

Các anh ấy bốc rượu nếp cho vào vải dù và vắt ra được một thứ nước trắng đục gọi là nước cái.

Uống vào vừa ngọt vừa có chất men, êm ru.

Một hơi hết một bát B52 không khó khăn gì, lại còn sướng vì được nhắm với thịt lợn luộc anh nuôi cung cấp.

Sáng sớm hôm sau khi các B chúng tôi cử người vào trong bản để nhận phần cơm chốt thì thấy cả một lũ lính say nằm quay đơ như lợn chờ thịt.

Chỉ còn mỗi đại phó Hùng, C phó Mỵ và anh Liêu liên lạc là tỉnh táo.

May mà anh nuôi còn kịp nấu sẵn mấy nồi cơm nếp.

Chúng tôi lấy cơm, chia nhau mấy tảng thịt lợn luộc gói kèm rồi lại ra chốt.

Cả ngày hôm đó không gặp địch.

Buổi chiều, các B cử người vào gặp C bộ giao ban.

Mấy ông lính say bây giờ mới tỉnh, nhưng còn rất lờ đờ.

Đại đội cũng sợ tiểu đoàn biết chúng tôi đang rơi vào cái chĩnh gạo và đang mất cảnh giác nên hôm sau vội lên kế hoạch cho một nửa đơn vị rút ra ngoài rừng thưa gần đó đóng quân, chỉ để lại một nửa, có cả 1 anh nuôi chốt lại trong bản.

Nằm trong một nửa đại đội này có B5 chúng tôi.

Mấy ngày chốt lại trong bản đó là mấy ngày được nghỉ ngơi dưỡng sức.

Sau một hai ngày chạy tứ tán vì súng nổ, từ ngày thứ ba những con lợn của dân lại quay trở về bản.

Không có người cho ăn, chúng cứ sục vào đủ mọi ngóc ngách trong bản.

C phó Hùng không phải dân chính trị, lại cũng thuộc loại ca cóng tài ba nên tổ chức cho anh em làm thịt dần những con lợn mất chủ.

Ban ngày chúng tôi ra chốt phía rìa bản, ban đêm lại co về giữa bản vì chúng tôi đã đào đủ hai tuyến hầm.

Toàn hầm nằm dưới nhà sàn nên an toàn và ấm cúng.

Cứ sẩm tối là chúng tôi săn lợn.

Một thằng núp sẵn trên đường đi, chuẩn bị sẵn một thanh gỗ to.

Hai ba thằng khác lùa nhẹ mấy con lợn.

Khi lợn đi ngang vừa tầm, thằng núp sẵn vung gậy choảng ngay một nhát vào trên sống mũi con lợn làm nó choáng váng lăn quay ra.

Lập tức các lính xông lại trói ghì con lợn, thế là xong và bàn giao cho anh nuôi.

Chỉ khổ cái ở đây xa nước, mỗi ngày đội tiếp tế chỉ cung cấp cho mỗi lính một bi-đông nên không thế làm lông lợn như truyền thống mà toàn lột da lấy thịt rồi hấp.

Mọi thứ lòng và da phải đào hố chôn sâu, lãng phí nhưng chỉ còn mỗi cách làm như thế.

Nửa đại đội ở ngoài bản cũng được chia phần.

Mỗi hôm chúng tôi chỉ thịt một con, đều đều và kể cũng lạ, lính ăn như thụi, sạch bay và chẳng ngán ngấy gì.

Anh Nhị còn lò dò lên nhà sàn của dân sục lại và vắt ra được kha khá rượu dạng nếp cái.

Có như vậy thì mới đến lượt tôi được thưởng thức.

Phải nói là ngon, sau này không bao giờ tôi còn được uống lại nữa.

Nhưng phải công nhận là rất say vì tôi chỉ uống có khoảng một phần ba bát B52 mà nằm say lử đến tận sáng bảnh hôm sau.

Vào trận đầu tiên thấy đánh địch như đi chơi, lại được ăn uống bồi dưỡng thả phanh nên bọn lính Nghệ An luôn mồm ca ngợi đời lính chiến trường.

Chúng nó bảo thế này sướng hơn ở nhà nhiều lắm, chẳng bao giờ dám mơ.

Cười chúng nó nhưng rồi nghĩ mình cũng thế, ở nhà có bao giờ ăn nhiều thịt như thế này đâu, tem phiếu cả tháng có mấy lạng, không bằng một cục thịt được chia bây giờ.

Anh Nhị khi vào lính đã hai mấy tuổi, vốn là dân lâm trường nên lắm mưu mẹo vặt.

Trong khi chúng tôi chẳng thấy gì thì anh ấy phát hiện trong bản này còn có gà.

Đám gà thả rông của dân khá nhiều, ban ngày chúng nó mò ra các nương lúa cũ mót thóc ăn, ban đêm về đậu trên bờ rào ở rìa bản.

Mấy ngày đầu chúng nó cũng sợ mà chạy đi đâu mất, sau vài hôm hoàn hồn mới quay lại giống như đám lợn kia thôi.

Anh Nhị lên kế hoạch cho chúng tôi cuối ngày sẽ rút vào trong bản muộn hơn để chờ tối hẳn.

Thực ra lúc sẩm tối mắt bọn gà đã quáng có thể bắt ngay được, nhưng nhỡ có địch chốt bên kia nương nhìn thấy mà gọi pháo hay nã cho mấy quả DK thì còn gà với qué được gì nữa.

Thế là khi tầm nhìn chỉ còn xa vài mét, anh Nhị mới kéo chúng tôi đến rặng cây gà đậu để ra tay.

Anh ấy bắt gà nghệ thuật lắm.

Kiễng chân với tay lên luồn bàn tay vào bụng gà nhấc nhẹ từng chú rồi đem ra đưa cho chúng tôi.

Anh ấy để tay thế nào dưới bụng gà, chúng tôi cũng phải để tay như thế.

Bắt độ chục con là rút lui.

Thiếu nước nhưng làm gà đơn giản hơn làm thịt lợn.

Tuy cũng bỏ đầu chân cánh và lòng mề, nhưng chỉ cần ốp bẹ chuối quanh con gà cho vào nồi đun một lúc là đủ để vặt lông.

Tối ấy ăn cơm nếp với thịt gà thoải mái, hôm sau khi ra ngồi chốt ngoài rìa bản, mỗi lính chúng tôi còn được phát nguyên một con gà hấp và một nắm xôi.

Thế là hôm ấy vừa ngồi chốt quan sát ra ngoài nương, tôi vừa nhẩn nha đánh chén con gà cho mãi đến gần trưa mới hết.

Đây là lầnđầu tiên tôi được ăn một mình một con gà.

Ngày mới vào đơn vị ở bản Phiệt trongCao nguyên tuy có được ăn nhiều gà nhưng hoặc là nấu cháo, hoặc là ăn chungthôi.

Thật là mình cũng thấy sướng, trách gì bọn tân binh Nghệ An.

Mà quả thậtlúc như thế này lại thấy nhớ nhà, thương cha mẹ và các em.

Đời lính nhiều khixuống chó, nhưng lắm lúc lên voi mà chẳng thể chia sẻ một phần cho người thân.

"Voi uống nước, nước sông phải cạn".

Mấy chục cái mồm lính trong hơn một tuần ở bản Khăm Thà Lạt đã xơi hết cả đám gia cầm gia súc của một bản dân.

Có băn khoan thì anh Nhị và anh Trịnh an ủi là dân biết bao giờ mới trở về, mà họ cũng phải hiểu là chiến tranh tên bay đạn lạc thì đám gà lợn ấy không chết thì cũng bỏ đi hết.

Mình không chịu khó bồi dưỡng thì thằng địch nó cũng bồi dưỡng hết, đối với dân thì đằng nào cũng thế cả thôi.

Trong mấy ngày chốt chúng tôi gặp địch 2 lần.

Lần thứ nhất là sau khi vào bản 4 ngày.

Chiều hôm đó địch không vào bản mà chỉ hành quân đi chéo qua bản, nhưng lướt qua ngay chỗ phía hầm của thằng Loòng (người Tày) cách chỉ có mươi mét.

Chúng tôi nín lặng chờ thằng Loòng nổ súng trước rồi mới đánh tiếp theo chiến thuật vận động vì địch cũng chỉ có hơn chục thằng.

Mãi không thấy thằng Loòng nổ súng, chúng tôi cũng ngồi im chờ đợi.

Đến khi hàng quân địch đi khuất dần vào rừng khôộc phía bên kia nương, chúng tôi mới mò sang thì thấy thằng Loòng vẫn thản nhiên ôm súng ngồi im trong hầm.

- Mày không nhìn thấy địch à?

- Anh Trịnh hỏi

- Có chứ, chúng nó đi ngay trước mặt em mà - Thằng Loòng trả lời.

- Thế sao mày không bắn?

- Nó có bắn em đâu mà em bắn nó.

Ối giời ơi!

Anh Trịnh ngẩn người ra rồi chợt hiểu.

Đụng phải bố dân tộc thật thà quá đây mà.

Hóa ra cái cách tuyên truyền trong đơn vị của mấy ông CTV đối với lính dân tộc khi đó không phải là giáo dục lý tưởng hay trách nhiệm quân nhân gì cả, mà đơn giản là "mình phải bắn địch, nếu không nó sẽ bắn mình".

Thằng Loòng hiểu quá thật thà và đơn giản, thấy địch chỉ đi qua nên nó không nổ súng.

"Mẹ kiếp, nếu để địch nó nổ súng trước thì mày chết cha nó rồi còn gì", anh Trịnh làu bàu nhưng cũng không biết nói gì hơn, cũng không thể cáu hơn được.

Thế là đêm hôm ấy thằng Loòng được giao trả về đại đội và mấy ngày sau được phiên chế vào A cối để chuyên cùi đạn.

Sức nó cổ cày vai bừa, công việc đấy là thích hợp nhất.

Hết chiến dịch Saravan, nó lại trở về C vận tải trên trung đoàn.

Ấn tượng về nó trong C tôi không nhiều, ngoài câu chuyện như tiếu lâm ấy.

Chúng tôi bố trí lại đội hình chốt vì đoán địch chưa phát hiện ra có lính ta trong bản nên có thể chúng vẫn sẽ hành quân qua tiếp.

Quả nhiên hai ngày sau một đơn vị chừng hai chục tên địch lại rễu rượi đi qua thật, theo đúng vệt đường như bọn trước.

Lúc ấy cũng chừng đã 5 hay 6 giờ chiều.

Thằng Lễ và anh Trịnh thủ B40, còn tôi và 2 thằng tân binh Nghệ An là Điểm và Hồng bắn AK.

Cũng vì địch không vào bản mà chỉ đi chéo qua nên anh Trịnh và thằng Lễ chọn cái gầm nhà sàn gần với đường địch đi nhất, trong đó có mấy cái bao tải để núp, còn 3 chúng tôi nằm ở hai phía.

Dự định khi thời cơ tốt nhất, hai khẩu B40 sẽ cấp tập mỗi khẩu 2 quả, còn AK sẽ quạt mỗi khẩu một băng.

Kế hoạch thế nào thì diễn ra đúng như thế.

Trong ánh chiều tà, bọn địch đang chủ quan đi cách nhau mỗi thằng chỉ vài mét lướt qua thì chúng tôi nổ súng.

B40 vừa chớp phát đầu tiên là tôi quạt luôn AK, bấm loạt dài, quay ngang súng mà lia chứ không phải điểm xạ nữa.

Trận đánh diễn ra rất nhanh, chắc chỉ độ hơn phút.

Chớp lửa bùng lên ngoài nương thì bọn địch thằng ngã, thằng co cẳng chạy.

Chúng không hề bắn lại một phát nào.

Còn anh Trịnh và thằng Lễ chưa kịp bắn phát đạn thứ hai thì đã thấy lửa đỏ bùng lên dưới nhà sàn trùm lên người.

Ngay lúc đó tôi tưởng địch đã kịp bắn trả bằng hỏa lực gì đó, nên vội lăn ra xa hơn, nhưng một lát thì thấy anh Trịnh và thằng Lễ chạy ra, tóc tai cháy xém.

Hóa ra mấy cái bao tải dưới nhà sàn đựng toàn bông nên nó bắt lửa từ đuôi súng B40 và cháy luôn rất nhanh.

Cũng may lượng bông không nhiều và quân ta cũng chạy thoát vội ra kịp.

Điểm lại B40 chỉ bắn mỗi khẩu được một trái, còn AK thì không ai bắn hết cả băng.

Nhìn ra ngoài nương thấy trời đã tối hơn và có mấy cái xác.

Chúng tôi canh chừng cho nhau mò ra lấy được 3 khấu AR15 bên 3 cái xác, ba-lô thì bị nát nên chẳng có gì.

Chắc còn có thêm thằng bị thương nhưng chúng đã chạy mất.

Chúng tôi rút nhanh vào bản chờ đợi, nhưng chờ mãi không thấy gì, chắc địch cũng không có chi viện nên bỏ cuộc.

Trận đánh thế là kết thúc.

Tối hôm ấy chúng tôi rút thẳng vào trong bản và không dám bắt gà nữa.

Sau trận ấy, chúng tôi còn ở lại bản Khăm Tha Lạt thêm ba ngày nữa, tổng cộng là 10 ngày chốt giữ.

Mấy ngày sau thì tình hình yên ổn.

Đich không hành quân qua và chúng cũng chẳng để ý đến cái bản này nữa.

Thằng Điểm (Nghệ An) chuyên mò sang ngồi cùng hầm tôi gạ chuyện.

Thằng này ngoan, bảo gì làm nấy và cũng khá là chịu khó.

Có điều nó cứ hỏi tôi về dân Lào, nào là có hay gặp họ không, con gái có xinh không.

Rồi là mình có được bắt giữ họ không, có được làm gì họ không.

Tôi thấy buồn cười hỏi nó, "Thế mày định làm gì con gái Lào?".

Nó ghé tai tôi nói nhỏ "Nếu bắt được một đứa, anh cho tôi ...ụ nó một cái nhé" làm tôi phì cười.

"Cái thằng, thế mày đi lính không được học 10 lời thế quân nhân và 12 điều kỷ luật à?".

Nó gãi tai cười trừ. (Thế mà rồi cuộc đời nó cũng không được biết đến một người con gái nào.

Sống đến tận ngày chiến thắng, nhưng trong một lần tham gia đóng phim dựng lại cảnh đánh phi trường Hòa Bình ở Buôn Ma Thuột năm 1975, nó lại bị hy sinh do tai nạn nổ đạn B40.

Thương thay).

Một ngày đầu tuần tháng 1/1973, toàn bộ C6 chúng tôi lại rút sang bờ Bắc công Xê Đôn, nhưng lại vòng tít ra phía Tây và ở vào gần đoạn chảy theo chiều Nam-Bắc của con sông.

Khu vực này nhiều rừng già và men sông nhiều cây lúp xúp.

Cả tiểu đoàn K18 cùng rút về đây.

Có lẽ địch cũng do thám được tình hình đóng quân của ta, cộng với việc chiến dịch "12 ngày đêm B52 đánh phá Hà Nội" đã kết thúc nên chúng rảnh tay tập trung B52 đánh vào chiến trường Nam Lào.

Vừa mới thoát khỏi những cánh rừng khôộc thưa thớt và trơ trụi lá để chui vào rừng già, hưởng cái cảm giác ấm cúng và kín đáo của những cánh rừng như trên Cao nguyên chưa được bao nhiêu thì chúng tôi liên tiếp bị ăn B52.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi vào chiến trường, tôi được chứng kiến cảnh tượng B52 đánh vào đơn vị, còn từ trước chỉ nghe lính cũ nói.

Khi bị B52, lính cũ nhận ra ngay.

Dấu hiệu của nó là đột nhiên thấy phản lực F105 bay thấp rà sát cánh rừng, âm thanh của nó gầm rú như muốn đè mình xuống.

Độ mươi phút sau thì cả cánh rừng nghe tiếng hút gió của bom rơi xuống.

Đấy là vệt bom không rơi trúng mình thì mới thấy thế, chứ nó rơi trúng mình thì cái cảm giác ấy chỉ có đem ra mà kể cho Diêm vương.

Bom xong đi qua cái cánh rừng ấy, nhìn khoảng không gian rộng lớn hoang tàn đổ nát còn khét và ngai ngái mùi cây tươi mà thấy rợn hết cả người.

Con người thật bé nhỏ trước sức tàn phá man rợ của bom đạn.

Học kinh nghiệm của lính F2 ngày trước, chúng tôi mau chóng rời rừng già ra đóng quân trong các khu rừng lúp xúp.

Hầu như chiều nào cũng bị bom B52 rải đến mấy lần.

Thực tình lúc ấy khá hoang mang.

C5 bị dính mép một vệt bom, đi tong mất nửa trung đội.

Hầu như xác tử sĩ không còn nguyên vẹn, mà chỉ như những đám thịt nát bầy nhầy.

Có hai thằng hứng nguyên một quả bom, thu lại được một bọc chỉ chừng hơn 5 cân thịt, phải đem vén ra thành 2 bọc cho vào nilon gói lại kèm theo 2 cái lọ nhựa ghi tên, thế là thành 2 phần mộ liệt sĩ.

Những trường hợp như thế này mà sau này có quy tập hay bốc cốt đem về thì coi như vô nghĩa.

Họ đã trở về với đất mẹ và tan nhanh vào lòng đất như thế.

Những chuyện này không bao giờ dám kể lại cho người thân của họ, lại càng không thể giúp cái việc đưa các bạn trở về quê hương sau chiến tranh được nữa.

Lúc ấy chúng tôi được quán triệt phải cấp tốc đào hầm chữ A thật kiên cố.

Thực ra cũng là yếu tố tinh thần thôi chứ trúng bom thì chẳng hầm nào trụ được.

Chặt gỗ rừng và khẩn trương đào hầm cả đêm.

Hầm xong được một ngày, chưa ấm hơi người thì đến lượt C6 chúng tôi dính bom.

Hồng phúc chúng tôi còn lớn nên cũng chỉ có B5 bị rìa vệt bom quệt vào.

Một quả bom nổ dội đất gần hầm tôi và anh Trịnh đã hất nguyên cả một nửa hầm chữ A cả đất và gỗ bay lên trời.

Nửa hầm còn lại may chưa sập mà nằm trơ ra lộ thiên.

Tôi và anh Trịnh cùng bị sức ép bom, nhưng có cái may là hầm đã bị hở tơ hơ, sức ép bom bị giảm nên chỉ nằm lịm đi một lát chứ không bị ngất.

Nhìn vào cái hố bom sâu hoắm bên cạnh mà càng nghĩ càng sợ, nhưng lại càng thấy là may.

Hai anh em cũng không ai bị trúng mảnh bom nào.

Khi cái khói bom trong cả cánh rừng đã loãng đi, chúng toi mới lồm cồm chui ra khỏi hầm và leo khỏi hố bom.

Xem lại ba lô và súng đạn còn nguyên, thật là "phúc trùng lai".

Đi loanh quanh kiểm tra thì cả đơn vị cũng chỉ bị một phen hoảng hồn chứ không ai làm sao.

Đại đội tôi vẫn đóng quân chỗ đó vì địch không thả bom rải thảm hai lần cùng tọa độ.

Máy bay T28 nó đánh bom thì lại khác, vì là đánh trực tiếp mục tiêu.

Tôi và anh Trịnh phải đào một cái hầm khác, nhưng chỉ đào hầm làm mái bằng.

"Sống chết có số", anh Trinh bảo thế, nhưng quả thật chúng tôi cũng chỉ còn rất ít thời gian vì lại sắp phải vượt trở lại sông Xê Đôn để đánh địch rồi.

Bên bờ Tây sông Xê Đôn có một bản gọi là bản Bốc.

Trinh sát D và E bám địch biết được lực lượng chính của GM41 của địch co cụm lại đó.

Riêng GM42 của địch vẫn phân tán hoạt động lẻ.

Lúc này địch cũng bị tổn thất nhiều nên chắc quân số cũng còn ít.

Trung đoàn quyết đánh một trận thật to nên cho 2 tiểu đoàn K15 và K16 ép từ hai phía Tây và Bắc, còn K18 đánh qua sông từ bờ phía Đông.

Tuy thế gần phía Tây bờ sông toàn là địch nên muốn chiếm lấy một vùng làm bàn đạp, tiểu đoàn phải cho các đơn vị nhỏ của các C ban đêm vượt sông sang bờ Tây lập những cái chốt nhỏ theo kiểu cài răng lược với địch.

Từ những điểm chốt đó sẽ đánh rộng ra và chiếm lấy khu vực bờ sông, cuối cùng mới hội quân làm một mũi đánh chính.

Ngay hôm C6 bị dính bom B52 thì đêm đó một A tăng cường (4 lính) của B4 do A trưởng Định chỉ huy vượt sông Xê Đôn sang bờ Tây lập chốt.

Ngày hôm sau đã có một trận đụng độ với địch.

Sau này nghe kể lại, tiểu đội anh Định đào hầm ngay trên dẻo đất rộng chỉ mươi mét cạnh sông sát một cái nương lúa cũ đã gặt.

Bờ sông trơ trụi chỉ lưa thưa vài cây khôộc.

Tất cả đều cố đào làm lấy mỗi người một cái hầm nắp bằng với những cây gỗ mang từ bên kia sông sang.

Hầm anh Định nhô hẳn ra ngoài nương.

Công tác ngụy trang khá tốt, hôm ấy nắng to nên những vụn đất đào lên khô nhanh, hòa lẫn luôn với những đám lá khôộc khô xung quanh.

Buổi chiều địch mới nống ra.

Giữ được thế bất ngờ nên loạt đầu đã diệt được sáu bảy tên địch.

Sau lần tấn công thứ hai, địch phát hiện rõ khu vực các hầm chốt nên dùng DK từ xa bắn lại.

Khoảng cách khá gần, DK uy lực chẳng kém pháo tăng.

Tất cả các hầm của ta đều bị sập.

Chỉ có thằng Dũng bị sức ép vùi trong hầm nhưng sống sót, còn lại hy sinh tất.

Thương hơn là anh Định bị trúng nguyên cả một phát DK bay hết nửa người, chỉ còn sót lại từ thắt lưng trở xuống.

Đêm ấy thằng Dũng vượt sông trở về vác theo cái xác nửa người của anh Định.

Quân ta mất chốt, nhưng địch cũng bỏ không chiếm cái chốt.

Đêm ấy B5 chúng tôi trở lại chốt làm nốt công tác thương binh tử sĩ.

Thế là cạnh cánh rừng đóng quân bị vệt bom B52 của đại đội lại phải vội vã lập một nghĩa trang để làm nơi yên nghỉ cho 3 người lính của B4: A trưởng Định, người đã bị khai trừ Đảng vì bắn nhầm B phó Đương trên cao nguyên, nay mới chỉ vừa kịp được xét trở lại đối tượng Đảng và hai thằng lính chưa đủ một tuổi quân là Sơn (Nam Hà) và Bình (Nghệ An).

Những cái nghĩa trang nhỏ cứ được lập vội vã như thế ở Saravan dọc theo đường chiến đấu của đơn vị, không biết đến bao giờ những người đồng chí đồng đội ấy mới được về sát bên nhau?

Chiến trậncòn đang ở phía trước và những người lính chúng tôi lại phải tiếp tục lênđường.

Vĩnh biệt các đồng đội nằm lại nhé.

Đây chưa phải đất mẹ, nhưng cũng làlòng đất thân thương đón những kiếp người trở về với cát bụi.

Hai hôm sau thì tất cả K18 đã vượt hết được sông Xê Đôn sang bờ phía Tây.

Chỗ cái nương có khu vực chốt của anh Định thuộc một bản có tên là bản Bôc.

Dọc sông Xê Đôn có nhiều bản dân nhưng họ đều phải chạy lánh nạn hết.

Các đơn vị của K18 vượt sông làm bàn đạp và tổ chức tập kích địch liên tục khiến chúng tổn thất và co cụm lại.

Tới ngày 6/1/1973 trinh sát D và E bám địch báo về hầu như toàn bộ các đơn vị của GM41 đã co cụm về khu vực bản Boc này rồi.

Các tiểu đoàn của E9 được giao nhiệm vụ đánh một trận quyết chiến.

Lúc này địch cũng đang có ý định rút khỏi Saravan.

Các đơn vị của GM42 địch đang tổ chức rút về Pắc xế và bị các đơn vị của E19 chặn đánh tơi bời.

Không có trận nào tiêu diệt gọn vì bình nguyên Saravan với những cánh rừng khôộc và nương dân rộng mênh mang có thể chạy khắp ngả nên khi bị đánh thường địch chỉ phản kháng lấy lệ rồi tìm đường rút.

Chạy tứ tán nhưng chúng cũng tụ lại được với nhau rất nhanh và lại rút tiếp.

Đợt vừa rồi trong khi K18 triển khai bên bờ Tây sông Xê Đôn thì ở phía Đông và Nam thị xã, K16 đã lập một thành tích đặc biệt là tập trung đánh tan được trận địa pháo cối của địch, đưa tình thế hỏa lực của địch trở lại như lúc đầu mới ra Saravan.

Trận địa pháo cao xạ 23 ly cũng đã nổ súng, bắn rơi được một chiếc máy bay T28.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe tin T28 của địch bị hạ ở chiến trường này.

Bộ binh dưới đất cũng đánh mạnh khiến địch không thể lập được vùng tiếp nhận hàng thả dù dưới đất nên đạn dược của chúng cũng đã cạn nhiều.

Ngày 7/1 toàn bộ K18 và K15 được lệnh vây ép các đơn vị còn lại của GM41 đang co cụm.

Cấp trên không tổ chức đánh ngay mà cho các đơn vị chúng tôi đào hầm và bao vây xung quanh.

Thỉnh thoảng lại nổ súng, dã vào một ít cối 60 và B40.

Cái khu vực xác định là địch co cụm cũng rất rộng, toàn cây khôộc và chúng tôi cũng không biết chính xác từng vị trí địch.

Nhưng cứ vây ép và tương hỏa lực vào như thế thì thằng địch tất cũng tổn hao và hoang mang.

Trong mấy ngày vây ép, chúng tôi không vất vả, nhưng khó chịu nhất là thiếu nước.

Mỗi người một đùm cơm nếp to tướng gặp nắng xe khô rất nhanh, vừa cứng vừa mất mùi tuy ngửi thì cũng không hẳn là thiu.

Cơm như thế ăn phải có nước mới nuốt được.

Chỉ có đêm mới tổ chức mò ra sông lấy được nước, mỗi người một bi đông.

Ngày nắng to quần áo hầm hập nên một bi đông nước cũng chẳng thấm tháp gì.

Vây đến ngày thứ 5 thì địch phá vây rút chạy.

Chúng tôi xông vào đuổi đánh mà không vấp phải mìn.

Lúc này có lẽ địch cũng không còn mấy vũ khí, có một vài quả mìn Cleimo thì lại không cài tự động mà cài theo kiểu bấm nổ, khi chạy không kịp thu hồi nên chỉ béo cho mấy ông y tá phá ra lấy thuốc làm chất đốt.

Địch bị chết một phần nhưng chạy thoát khá nhiều.

Nhìn cái trận địa rất rộng của chúng toàn hầm hố nhưng trông thảm thương làm sao.

Các vỏ bao đựng đồ ăn, băng đạn, mấy mảnh dù và những cái ba lô rách vất rải rác, nghèo nàn xơ xác.

Chiến lợi phẩm chẳng có gì ngoài mấy khẩu súng bên những cái xác địch.

K15 được lệnh ở lại giải quyết nốt, còn các đơn vị của K18 lập tức thu quân lên đường tổ chức truy kích địch.

Trinh sát tiểu đoàn chia ra đi theo các C bộ binh.

Gặp địch ở đâu là đánh luôn.

Địch chạy thì ta lại đuổi tiếp.

Tuy thế nhưng thằng chạy thì chủ động và nhanh hơn vì chỉ có mục đích là rút, còn quân ta đuổi theo thì vẫn vừa phải nắm địch và vừa phải dừng lại để bổ sung đạn và cả gạo nữa.

Vì thế không bám sát được địch mà cứ đuổi theo sau, vài hôm lại nổ súng một lần.

Có khi lần này đánh một bọn, lần sau tìm thấy địch nổ súng thì là đám khác chứ không phải đám địch cũ.

Ngày 12/1 chúng tôi đánh một trận, diệt được dăm tên.

Ngày 14/1 lại đánh một trận nữa, diệt vài tên.

Sau trận đánh mò được vào một cái bản có tên là Tha Mư Cầu.

Dân chạy hết, nhưng bản nghèo cả có gì.

Dừng được một buổi rồi lại đi ngay nên cũng không đủ thời gian để những con vật nuôi quay trở lại mà bắt.

Ngày 15/1 toàn trung đoàn 9B được lệnh hành quân trở lại Cao nguyên Boloven.

Thế là sít soát 3 tháng trời ra Saravan đánh địch.

Trong thời gian ấy, trong Cao nguyên bỏ trống nên địch đã chuyển quân chiếm lại đường 23.

Vượt qua ba chục cây số từ ngã Ba Lào Ngam, hai tiểu đoàn Thái Lan đã kịp lập căn cứ chiếm giữ thị trấn Păc Soong, hầm hào và hàng rào thép gai đầy đủ.

Thế là lại phải quay vào Cao nguyên.

Chiến dịch Saravan coi như kết thúc.

Thế nhưng trên con đường chúng tôi hành quân về Cao nguyên thì thực chất lại là cuộc ganh đua trên các nẻo đường với các đơn vị còn lại của GM41, chúng cũng rút về Cao nguyên với mục đích hội quân về Păc Soong.

Đường đi có thể khác nhau vì cứ băng rừng mà đi, nhưng lại cùng hướng nên tất có lúc phải đụng độ.

Không có thời gian nắm bám trinh sát tình hình của nhau, tất cả đều vội vã hành quân nên có lúc bất ngờ húc nhau và buộc phải nổ súng.

Những ngày đó chúng tôi hành quân không có lịch nghỉ là ngày hay đêm.

Cứ đi, mệt quá không đi được thì nghỉ.

Hoặc giả gặp chỗ nào có nước anh nuôi dừng chân lại nấu cơm thì lính tráng tranh thủ nghỉ.

Nhưng vì tất cả cùng đi nên nhiều khi anh nuôi đuổi theo không kịp.

Mà có đuổi chịp, chưa chắc còn sức mà nấu cơm.

Thế là lại chia ra từng B tự nấu, thay nhau mà nấu cơm.

Mệt bã người, lúc nào cũng chỉ muốn ngủ.

Một lần hành quân giữa đêm, tôi và anh Tụy cối 60 tụt lại phía sau một đoạn.

Anh Tụy người Nam Hà, nhập ngũ đầu năm 1972 lúc đang là thày giáo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đâu cũng gần ba chục tuổi.

Cũng không thể hiểu nổi tại sao anh ấy lại đi cùng đoàn Nam Hà.

Vào đơn vị, anh ấy thuộc loại lớn tuổi nhất trong đại đội.

Cả đơn vị đều trân trọng anh ấy, vì anh Thiết "quản lý" bảo, "thày giáo của Trường ĐHSP có nghĩa là thày của những người thầy", quý lắm.

Người như anh ấy không thể đưa xuống bộ binh dễ chết được nên đại đội phiên chế vào A cối 60.

Tính cách anh ấy cũng nhỏ nhẹ, hiền lành, đúng là người "hai lần thày".

Thế mà lần này thì tôi rơi vào tình huống mà bây giờ mới dám kể. (Chuyện tế nhị về những người thày đâu phải lúc nào cũng bô bô kể ra được.

Bây giờ anh ấy cũng đã nghỉ hưu rồi mới dám kể chứ).

Tụt lại phía sau hàng quân là tôi có ý riêng của mình.

Trong đêm trăng lờ mờ chẳng ai rõ ai, nhưng vẫn có thể nhìn thấy hàng quân đi nên không sợ lạc.

Với con mắt của kẻ đã có chút ít kinh nghiệm "ca cóng", tôi phát hiện thấy ở vùng này dân họ làm những cái nhà cho gà ở ngay rìa nương chứ không làm trong bản hay thả rông hoàn toàn.

Nhà đơn (không phải nhà sàn) như kiểu cái bếp ở ngoài Bắc của ta, nhưng trong đó làm những giá cao xung quanh tường để gà lên đó làm ổ đẻ hay đậu ban đêm.

Không thể bắt gà, nhưng trong đó nhất định có gà đang ấp trứng.

Tôi tách ra khỏi hàng quân, chạy nhanh vào một cái nhà "gà" và nhắm mắt lại một lát rồi mở ra để quan sát trong bóng tối.

Nhà "gà" nghèo nàn quá, ngoài mấy con gà thức giấc lao xao thì chỉ có một ổ gà đang ấp.

Tôi kiễng chân luồn tay vào ổ dưới bụng con gà mẹ.

Chỉ có độ chục quả trứng, ít quá nên tôi chỉ dám lấy một quả.

Nghe có tiếng động, tôi nép vội vào một góc thì thấy một bóng người lẻn vào, cũng rất nhanh lần đến ổ trứng và thò tay vào.

Lúc người ấy lùi ra thì húc phải tôi.

Hơi giật mình nhưng chúng tôi nhận ra nhau rất nhanh.

Hóa ra là "thày" Tụy.

Trong bóng tối cả hai không nhìn rõ mặt nhau, nhưng chắc đều ngượng nghịu.

Anh Tụy bảo: "Thôi, húp nhanh đi cho nó khỏe rồi còn đi cho kịp".

Được lời, tôi mới bóc hai đầu quả trứng ra húp sống, tỉnh cả người.

Cũng may nó là trứng gà mới chứ nếu sắp "lộn" rồi thì công cốc.

Có lẽ nhờ quả trứng sống bồi dưỡng kịp thời nên tôi khỏe thêm, chỉ một lúc sau đã lọt được vào đội hình hành quân của đơn vị.

Sau này có lúc nằm hầm rỗi rãi, anh Tụy mới nói lại chuyện này.

Anh bảo, "mình ăn trộm chưa hẳn day dứt là của dân, mà cái chính là trộm của con gà mẹ, của một con vật đáng thương và bất lực.

Nhưng thôi, cứ đổ cho chiến tranh cậu ạ.

Đôi khi cũng phải bỏ qua danh dự và liêm sỉ để mà sống.

Sống được trở về là có tất cả". (Ngay sau chiến tranh, cuối năm 1975 anh Tụy đã được giải ngũ.

Có lẽ anh trở lại Giảng đường ĐHSP để đứng trên bục giảng hùng hồn kể về những năm tháng hào hùng của lớp trai thời chiến cho lứa sinh viên mới.

Chắc cũng chẳng có lúc nào để nhớ lại về quả trứng gà ăn trộm trong một hoàn cảnh khá đặc biệt của đêm hành quân Saravan).

Những ngày hành quân trở lại Cao nguyên là một chuỗi ngày mệt mỏi và rã rời.

Có lúc mệt quá cả quan bé lẫn lính cứ nằm lăn lóc rải rác ven đường.

Bị thúc dậy có khi đi loạng quạng một đoạn vài trăm mét lại rúc luôn vào một cái bụi nào đó mà ngủ.

Khổ nhất là cán bộ C, các anh CTV.

Thúc được thằng này đi thì thằng khác lại lủi vào bụi.

Cả hàng quân đi nhệch nhạc như thế, chẳng biết hiệu quả hơn hay tổ chức đi và nghỉ có giờ giấc thì hiệu quả hơn.

Có lần anh Mỵ mới lên làm CTV của C tôi phải đứng ra giữa đường hô to: "Đảng viên, đoàn viên đâu?

Giấy khen, bằng khen đâu?

Đi đi chứ?

Tiến lên đi các đồng chí!" nghe mới sầu thương làm sao.

Kiểu này mà bất ngờ húc phải địch, bị nó đánh cho tan tác là cái chắc.

Vậy mà không phải thế.

Ta mệt thì địch cũng mệt và cùng mất cảnh giác.

Hơn nữa khi vào tình thế chạm địch thì lính ta tỉnh nhanh lắm.

Phía trước chúng tôi khi đó là K15.

Vào đến vùng giáp ranh giữa Saravan và Cao nguyên thì bất ngờ C2 đụng địch.

Đoạn đó có hai con đường xe bò đi sát nhau, hoặc có thể là một con đường thôi nhưng rất rộng và chia thành hai vệt đường cách nhau bởi một hàng lau sậy mọc cao và rộng tới hơn một mét.

Lính C2 đi vệt bên phải và đang ngồi nghỉ giải lao.

Mệt nên chẳng ai nói chuyện gì, chỉ buồn ngủ nên cũng không có ai hút thuốc, đó chính là điều may mắn.

Được ít phút rồi mé bên đường phía trái thấy rậm rịch có người.

Đại trưởng C2 vạch lau chui qua xem đơn vị nào.

Tỉnh cả người khi phát hiện ra là địch và thật trùng hợp, chúng cũng dừng lại nghỉ giải lao.

Vì mệt nên mất cảnh giác chứ nếu không thì dù là trong đêm chúng cũng có thể phát hiện ra quân ta.

Đại trưởng C2 thụt lại, gặp nhanh các cán bộ B trao đổi.

Thế là rất nhanh và bí mật, lính ta được dựng dậy phổ biến tình hình và lên phưong án tác chiến.

Nói thì chậm chứ mọi việc diễn ra lúc đó rất nhanh và khẩn trương.

Lính C2 chui qua hàng lau sậy và xả súng như mưa vào những tên địch đang trong tư thế ngồi ngái ngủ.

Bọn địch chết như ngả rạ và không thể có phản ứng gì dù chỉ là rất nhỏ.

Trận đánh có lẽ chỉ độ 2 phút là cùng.

Kiểm lại trận địa được hơn ba chục xác lính, chắc là một đại đội địch.

C2 tổ chức thu dọn trận địa rất nhanh rồi lên đường hành quân tiếp luôn sau khi đã báo cáo cấp trên.

Rạng sáng thì chúng tôi cũng được thông báo tình hình và quán triệt tinh thần cảnh giác cao độ.

Trinh sát tiểu đoàn phải làm việc nhiều hơn vì có thể còn gặp địch.

Khi chúng tôi hành quân qua khu vực C2 nổ súng hôm trước, nhiều thằng trong C tôi chui qua thăm dò gỡ gạc, nhưng chỉ được một ít lựu đạn tròn.

Các thứ khác C2 đã vét sạch rồi, nhanh thật.

Sang nửa cuốitháng 1/1973, chúng tôi vào đến vị trí tập kết trong Cao nguyên.

Nơi đây là mộtcánh rừng Bằng lăng mọc xen kẽ trên vùng đất đá.

Rộng ra xa là các dải đất hẹptoàn lau lách.

Đào được một cái hầm là cực kỳ khó khăn nhưng vẫn phải đào.

MỗiA đào chiếu lệ hai ba cái hầm nắp bằng dựa vào các phiến đá.

Một con lạch nhỏrộng chừng nửa mét, sâu độ hai chục phân chảy cách khu trú quân dăm chục mét.Chúng tôi được nghỉ vài ngày chuẩn bị hậu cần cho trận chiến đấu mới.

Línhtráng thay nhau tắm giặt ở con lạch nhỏ đó.

Thời gian nghỉ ngơi còn lại toànchơi bài tiến lên.

Vật chất không có gì, kể cả chè và thuốc lá.

Vài thằng láucá tranh thủ mò ra các khu vực xa hơn kiếm thuốc lá của dân, nhưng vùng này xabản nên cũng chẳng có gì.

Chào vao nhìn nhau cả ngày, nhưng được cái có thờigian nghỉ ngơi nên cũng thoải mái.

Thế là lại về Cao nguyên.

Trong mấy ngày lính tráng nghỉ ngơi thì các cán bộ C đi họp túi bụi để tổng kết chiến dịch Saravan và nhận kế hoạch tác chiến mới.

Ở khu vực này chơ vơ toàn cây Bằng Lăng mọc trên vùng đất đá nên cũng thưa thớt chẳng kém gì rừng khôộc Saravan.

Chúng tôi phải làm những cái lán nhỏ như những cái lều chợ, chủ yếu là mái để che bớt nắng.

Sang giữa mùa khô rồi nên không sợ mưa.

Cũng không mắc võng được nên tất cả trải ni-lon nằm đất.

Mà cũng phải loay hoay mới kiếm được chỗ đất bằng ở cái nơi toàn đá lổm nhổm này.

Sau vài ngày nghỉ là lại cùi đạn và gạo.

Lần này chúng tôi tránh xa các bản dân.

Chắc cũng vì nhiệm vụ, nhưng thực tình chúng tôi chưa đóng quân trong bản dân bao giờ.

Chúng tôi tập trung chuyển đạn từ những cái kho làm vội trong các bãi lau đến khu vực thị trấn Pak soong.

Ô tô tải chuyển đạn đến ban đêm thì hầu như hôm sau các đơn vị bộ binh đến chuyển đi hết.

Công tác này gọi là lót đạn.

Chúng tôi lờ mờ đoán là chuẩn bị đánh bọn Thái đang lập căn cứ ở Thị trấn.

Đánh nhau trở thành chuyện thường ngày rồi.

Lúc này chúng tôi vẫn chưa biết thêm tình hình gì trên thế giới cũng như ngoài Bắc.

B52 của Mỹ dạo trước đã đánh Saravan, nay tiếp tục đánh vào cao nguyên, xung quanh Thị trấn.

Không có trinh sát mặt đất, nhưng chúng cứ rà theo bản đồ rồi nhằm khu vực có rừng xanh mà thả bom tọa độ.

Trung đoàn phổ biến cho tất cả các đơn vị không được trú quân trong rừng già.

Khi đi cùi đạn gạo chỉ đi theo đội hình từng B hơn chục người.

Lúc đi lại phải chú ý nghe ngóng.

Hễ có dấu hiệu phản lực F105 bay rà sát trên đầu thì phải mau chóng chạy ra các bãi gianh hay khu rừng trống để nghỉ ở đó, chờ bom xong mới đi tiếp.

Ngày nào cũng có B52 thả bom.

Có chỗ chúng tôi vừa đi thoát, có chỗ hôm sau mới tới lại phải tìm đường vòng.

Có hai lần chúng tôi phải nằm rạp trên bãi cỏ tranh, chứng kiến bom rơi thả vào ngay khu rừng cạnh đó chỉ hơn trăm mét, nghe tiếng đất đá bay rào rào.

Cái cảm giác nghe tiếng bom nó hút xuống rờn rợn, bây giờ hình dung lại vẫn thấy ghê.

Ngày 26/1 chúng tôi được ăn tết Quý Sửu sớm.

Gọi là ăn Tết vì hôm đó cả tiểu đoàn được nghỉ cùi cõng và được ăn xôi kèm thịt lợn.

Chè thuốc vẫn chưa có gì.

Đoạn này là tùy sự tháo vát của lính tráng thôi.

Anh Dũng (người Nghệ An, B trưởng B5 từ lúc ở bản Khăm Thà Lạt) dẫn lính mò đi rất xa tìm bản dân đổi chác xin xỏ gì đó nên tối hôm ấy sau khi cơm nước xong, cả B tập trung hút thuốc rê và uống cà phê.

Cà phê bột cho vào túi dù rồi bỏ vào xoong 6 đun lên, mỗi lính được một bát B52 đầy.

Khu vực này trống trải, xa dân nên nói cười thoải mái.

Từ hôm sau lại đi lót đạn bình thường.

Tối 28/1 chúng tôi tập trung cả C nghe CTV phổ biến Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam vừa mới ký.

Không có đài nên thông tin phải phổ biến từ trên xuống.

Nội dung cụ thể thì cũng không rõ lắm, nhưng mừng là chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt.

Lúc này chưa có phổ biến gì về âm mưu thủ đoạn tiếp theo của địch.

Chúng tôi chỉ biết là đất nước đã hòa bình.

Bây giờ lại thương cho chính mình đang ở trên đất bạn, vẫn còn chiến tranh và vẫn phải đánh nhau, chả biết đến bao giờ mới hết.

Có lẽ phấn khởi vì kết quả của Hiệp định Pari và cũng có thêm điều kiện nên Trung đoàn cho chúng tôi ăn Tết lần nữa.

Ngày 31/1 có tới một nửa quân số đơn vị không phải đi cùi đạn mà tập trung đi nhận nhu yếu phấm và thịt lợn cũng như kiếm thêm cái gì đó để cải thiện.

Nhiều B còn vẽ vời kiếm ít hoa rừng buộc thành tùm treo trong lán cho có không khí Tết.

Thế là được ăn Tết 2 lần.

Ăn thì vẫn chỉ xôi với thịt lợn, không có rau, dù chỉ là vài nắm rau tàu bay.

Một ít nõn chuối sát gốc thái nhỏ bóp muối cũng chỉ tạo được cảm giác man mát một chút.

Hậu cần của đoàn 559 chuyển vào được cho chúng tôi cứ 4 người được một hộp mứt tết 250 gram, mỗi người 6 điếu truốc lá Trường Sơn.

Mỗi trung đội được một gói chè Ba Đình loại 30 gram.

Tuy không thể sánh được với thuốc lá đầu lọc hay cà phê cao nguyên, nhưng như thế là quá tuyệt vì đây là hương vị miền Bắc, lại đúng vào lúc chúng tôi chẳng còn gì.

"Biết sống đến mai mà để củ khoai đến sáng", thế là tối đó cả đại đội liên hoan bằng hết.

Vài miếng mứt tết như mứt bí, mứt gừng hay cà rốt nhấm nháp với nước chè lại gợi lên cảm giác nhớ nhà.

Đây là cái tết đầu tiên trong lính của tôi vì tết trước chúng tôi được về phép ăn tết với gia đình.

Thực ra vật chất thế này cũng tạm ổn vì ở nhà (ngoài Bắc) tiêu chuẩn Tết mua theo tem phiếu cũng chả có bao nhiêu.

Chỉ hơn ở nồi măng, đĩa rau, miếng bánh chưng và nhất là không khí gia đình.

Gia đình tôi có 5 khẩu cũng chỉ có một hộp mứt 500 Gram và một gói kẹo mềm (nhưng rất cứng, gói giấy) độ vài lạng gì đó thôi.

Khi thưởng thức cũng phải chờ buổi tối quây quần cả gia đình mới mở ra nhấm nháp.

Đêm 30 Tết cả đại đội xuất quân, tiến sâu hơn vào Thị trấn Pak soong chừng hai chục cây số làm nơi tập kết mới.

Ngày 01 Tết phổ biến nhiệm vụ và làm công tác chuẩn bị chiến đấu.

Cả trung đoàn 9B tập trung đánh căn cứ của tiểu đoàn Thái 4001 nằm ở phía Tây Bắc thị trấn Pak soong.

E19 tập trung đánh các đơn vị cả Thái và Lào ở phía Nam thị trấn dọc xuống đường 23.

Trận đánh của E9 sẽ là trận chính.

Suốt cả chiều 30 và ngày mồng 1 tết, chúng tôi tập trung làm công tác chuẩn bị y như những lần đánh công kiên trước đó.

Súng đạn chuẩn bị theo cơ số (cối 60: 50 trái, B40 và 41 mỗi khẩu 7 quả.

M79 40 trái, xung lực AK 250 viên).

Tất nhiên vẫn phải chặt gỗ để vác theo làm hầm.

Bao cát không có nhiều nên phải vào các khu hầm cũ của cả ta và địch quanh đó để tìm kiếm, gạn lọc và rọc ra thành tấm để lót.

Lần này C5 sẽ làm nhiệm vụ mở cửa (hướng Tây) nên chúng tôi không phải chuẩn bị mìn DH.

Trên cao nguyên vốn dĩ hàng rào của địch không nhiều nên các đại đội làm thê đội hai không phải chuẩn bị bộc phá ống.

C6 chúng tôi cũng chỉ có hơn nửa đại đội bố trí nằm sau cả C7, nghĩa là đơn vị vào căn cứ sau cùng.

Nghe phổ biến K16 sẽ mở cửa làm một mũi hướng Đông Bắc, còn K15 đón lõng và đánh viện binh ở vùng sát với Thị trấn.

Riêng B5 tăng cường chúng tôi được làm nhiệm vụ độc lập, làm một mũi đón lõng ở hướng Đông Nam, cách căn cứ địch khoảng 800 mét.

Hướng này không có đường từ căn cứ đi ra (căn cứ nằm trên một quả đồi), nhưng lại có một cái bản nằm sát quả đồi bên cạnh và có vệt đường xe bò từ bản đi về Thị trấn.

Cấp trên dự đoán nếu bị đánh mạnh hai hướng (phía K18 và K16), có thể địch phá hàng rào rút chạy ra hướng Đông Nam để về Thị trấn.

Sáng 2 Tết Quý Sửu (ngày 4/2/1972), tất cả chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ.

Có hai việc khác thường mà sau này chúng tôi mới biết rõ.

Thứ nhất là một B trưởng của C5 tên là N.V.

Tải đang chuẩn bị làm hồ sơ để phong anh hùng.

Không biết các đơn vị khác thế nào chứ trong phần truyền thống trung đoàn chúng tôi, ngoài anh hùng Cù Chính Lan diệt xe tăng ở đường số 6 Hòa Bình trong thời chống Pháp, không thấy kể tên các cá nhân được phong anh hùng LLVT thời chống Mỹ, mặc dù trong lính cũ có rất nhiều người là dũng sĩ diệt Mỹ, đánh xe cơ giới, thậm chí có dũng sĩ bắn rơi trực thăng bằng B40. (D trưởng K18 chúng tôi là Lê Quang Huân dạo chiến dịch Mậu Thân đánh Huế nhảy lên cướp xe M113 của địch rồi dùng đại liên bắn tiêu diệt tới trên 100 tên địch mà cũng chưa được phong anh hùng.

Giữa năm 1972 anh ấy được ra Bắc bổ túc rồi sau đó về làm E trưởng E19 của sư đoàn).

Anh N.V.

Tải chính là người lính trong chiến dịch Mậu Thân đã dùng B40 trên một quả đồi bắn cháy một trực thăng địch khi nó sà xuống chân đồi.

Mãi không có anh hùng, lại sợ trận này ác liệt anh ấy hy sinh thì hỏng to nên trung đoàn quyết định cho anh ấy nghỉ lại ở hậu cứ.

C5 thiếu một B trưởng cứng, nhưng cũng đành chấp hành lệnh cấp trên.

Trường hợp thứ hai là đại trưởng Hùng của C tôi.

Anh Hùng người Hà Tây, cao to trắng trẻo đẹp mã và cũng lãng tử lắm, tài "ca cóng" thuộc hàng đẳng cấp, nhưng lại rất mê tín.

Vẫn biết sống chết có số, nhưng từ khi có đoàn tân binh Nghệ An bổ sung ở Saravan tháng 12/1972 vừa rồi vào C5 có một thằng cũng tên là Hùng, nghe lính mới đồn nhà nó có truyền thống xem tướng số giỏi lắm, đại trưởng Hùng hay nhân các lúc đi công tác để mò sang C5.

Chả biết trò chuyện thế nào mà rồi tin và quý nó lắm.

Trước trận này, anh Hùng có sang bên đó chơi.

Nghe nó phán sắp tới anh có điềm gỡ, nhưng có thể tránh được, thế là đại trưởng lăn ra ốm.

Tất nhiên trước sau gì thì trong lính rồi cũng biết là ốm ra sao, nhưng lúc đó chúng tôi chỉ nghe tin là anh ấy ốm nặng.

Thế là trận này đại phó Chèo phải cầm quân (sau khi kết thúc chiến dịch Saravan, anh Chèo đã được lên đại phó).

Mũi đón lõng của trung đội tôi được tiểu đoàn cử anh Điện là trợ lý tác chiến tiểu đoàn xuống tăng cường và chỉ huy.

Vì đường xa nên sau bữa cơm trưa, nhận bọc cơm nếp to tướng cho 3 ngày ăn nhét vào balo là tôi có mặt trong hàng quân ngay.

Nhưng khổ nỗi cái gói cơm nếp nóng trong balo tỳ ngay vào lưng nên rát quá, cứ phải ngọ nguậy như bị bọ chét cắn.

Anh Trịnh phải bẻ một nắm lá tươi to tướng nhét vào đệm chỗ đó giúp tôi, nhưng cũng chỉ đỡ được một chút thôi.

Chưa đi mà mồ hôi đã vã ra ướt cả lưng áo.

Đầu giờ chiều, đơn vị xuất phát.

Đi chung được một tiếng thì B5 chúng tôi tách ra đi hướng riêng, có 2 trinh sát D dẫn đường.

Trong hai trinh sát, có anh Hợp người Hà Tây là một trinh sát cứng mà trung đoàn đang nhăm nhe rút lên.

Chả là hồi ngoài Saravan đẳng hướng như thế, vật chuẩn thì nhìn đâu cũng như nhau, thế mà anh ấy phải nhận dẫn đường cho một đơn vị của sư xuống kiểm tra tình hình và đặt sở chỉ huy theo dõi chiến dịch.

Hơn 12 cây số mà anh ấy chỉ nhìn bản đồ, soi địa bàn một lát là đạp thẳng một lượt dẫn cả đoàn đến đúng khúc suối định đặt bản doanh, chệch chưa đến chục mét.

Chỉ riêng vụ đó đã được thưởng một huân chương chiến công hạng 3.

Lần này có lẽ nhờ có anh Điện vốn ở D bộ xuống tăng cường nên kéo được anh Hợp theo.

Vẫn luồn rừng mà đi.

Lần này quân đông nên cấp trên chọn vị trí tập kết xa căn cứ địch.

Trời tối thì chúng tôi cũng lọt vào khu vực thị trấn Pak Soong.

Để đến được nơi đào hầm, chúng tôi phải vượt qua một cái đầm nước khá rộng.

Tất cả ngồi nghỉ trên bờ chờ trinh sát thăm dò tiếp.

Tất cả chúng tôi hạ gỗ và balo rồi ngồi xoài ra nghỉ.

Ngọ nguậy và xoa bả vai cho đỡ mỏi.

Chỗ này trống trải, nhìn lên trời chỉ thấy sao, không có trăng vì là ngày đầu tháng.

Mọi phía nhìn chỉ nhờ nhờ, nhưng cũng đủ nhận ra nhau cách độ hai ba mét.

Trời khá mát mẻ.

Không ai được hút thuốc.

Trinh sát quay lại, tất cả được phổ biến nhanh là phải bám sát nhau, đầm không sâu nhưng dưới nước và ven bờ có nhiều lá tôn cũ vất dưới đó nên chú ý kẻo dẫm lên phát tiếng động, hoặc vấp vào thì què châm.

Chỉ có ít người nên cứ chầm chậm mà tiến.

Chúng tôi không phải mũi chính, lại càng không phải làm nhiệm vụ mở cửa nên không vội.

Chúng tôi có thể đào hầm tới tận sáng cũng được.

Sau khi vượtđầm nước, đi thêm độ dăm trăm mét thì tới vị trí triến khai.

Trinh sát D quayvề còn chúng tôi bắt đầu đào hầm.

Đây là một cái bản cũ, nhà cửa đã sập, chỉcòn sót lại một cái nhà sàn nhỏ gần như còn nguyên nhưng thiếu mái che.

Vài chỗkhác còn lại ít cột nhà đã hỏng.

Cả Trung đội chia nhau đào thành 5 cái hầm,hai người một cái thành hình cánh cung quay về trận địa địch.

Anh Điện và Btrưởng Dũng nhận ngay cái gầm sàn của ngôi nhà còn sót để đào hầm.

Tôi với anhTrịnh đào phía rìa phải, gần một bụi tre, phía lưng dựa vào một cái vách nhàsàn cũ đã sụt.

Chỗ đó vừa kín được gió, vừa che được khá kín.

Đào thêm một cáingách cho hầm là có thể chui vào đó bật lửa châm thuốc hút được rồi.

Mùa khônhưng đất cao nguyên mềm nên chưa sáng chúng tôi đã đào xong hầm.

Có thể nói làkhá chắc chắn.

Ngồi hai người thì đủ, nhưng nằm thì không thể.

Mỗi người mộtphía ngách hầm nếu có đánh nhau.

Anh Điện, anh Dũng rồi cả chúng tôi cùng đượctrèo lên cái nhà sàn không mái, kê đòn gỗ làm thang rồi nhìn về phía trận địađịch nhưng chẳng thấy được gì.

Ít nhất là chúng tôi được nghỉ cho tới khi trậnđịa nổ súng nên làm xong điếu thuốc là cả tôi và anh Trịnh cùng trải nilon ngaybên miệng hầm mà ngủ.

Chỗ này chẳng phải gác sách gì.

Mờ sáng, chúng tôi cùng dậy trước khi có lệnh nổ súng.

Anh Điện có đồng hồ nên thúc chúng tôi dậy trước 5 giờ.

Chúng tôi được leo lên nhà sàn nấp trong đó để xem trận đánh.

Thật ra xa đến 800 mét nên nơi này rất an toàn, nếu như không bị bom pháo.

Phía trận địa cũng chẳng nhìn thấy gì, tối om.

Đến lúc sáng hơn thì thấy toàn màn sương trắng đục.

5h00 sáng.

Phía trận địa thấy có chớp lửa bùng lên rồi mới nghe tiếng nổ.

Tiếng nổ không to.

Rồi bắt đầu thấy trong căn cứ địch chớp lửa lóe lên loáng nhóang.

Đấy là pháo cấp trên chi viện.

Đạn dược có vẻ nhiều nên thấy bắn khá lâu.

Lúc này nhìn quang cảnh như xem đánh trận giả.

Chắc ngày xưa ở Điện Biên Phủ các cấp chỉ huy nằm trên núi cao xung quanh thung lũng Mường Thanh quan sát bộ đội đánh nhau có lẽ cũng như thế này.

Có khi còn không rõ bằng chúng tôi.

Sương tan dần nhưng thú thật là ngoài những chớp lửa lục bục thì cũng chẳng thấy gì rõ cả.

Chúng tôi chỉ nhìn được đại thể chứ không nhìn rõ cửa mở của C5.

Cửa mở của K16 khuất phía bên kia căn cứ nên càng không nhìn thấy gì.

Lúc pháo cấp trên chuyển làn bắn sâu vào căn cứ để bộ đội xung phong, anh Điện phải nhắc chúng tôi mới biết.

Tiếng hỏa lực B40 nghe cũng bé tẹo, không bằng tiếng pháo đất trẻ con chơi.

Mãi mới nhận ra tiếng 12ly7 lạch tạch, còn xung lực AK thì chẳng nghe thấy tiếng.

Xem xong cảnh mở màn, anh Điện bắt chúng tôi về hầm, chỉ còn một người ở lại quan sát.

Nếu thuận lợi thì trận đánh cũng phải cỡ nửa tiếng nữa mới tạm ổn.

Nếu địch có rút chạy thì cũng phải thêm độ nửa tiếng nữa chúng nó mới có thể đến được đây.

Vậy là một người quan sát, còn lại tất cả lấy cơm ra ăn rồi ngồi hút thuốc chờ đợi.

Mũi chúng tôi không có điện đài đi theo nên chủ yếu trông chờ phán đoán và xử lý tình huống của anh Điện.

Cái nhà sàn sẽ là đài quan sát rất tốt, nhưng vì nó không có mái nên trống hoác, anh Điện phải cho chặt mấy cây tre gần đó rấp lên để ngụy trang.

Tất nhiên là cũng không hợp lý lắm nhưng như thế còn hơn để tơ hơ, L19 nhìn thấy thì chết với nó.

Vẫn phải cử một người rúc trong cái đám cành lá tre đó nhô đầu lên quan sát tình hình.

Một tiếng đồng hồ căng thẳng trôi qua, không có động tĩnh gì.

Một ít thuốc rê còn sót lại từ dịp ăn Tết sớm tuần trước đã hết veo.

Ngồi phục bây giờ giống như ngồi chốt, thấy buồn buồn.

Trời sáng hơn và sương mù tan dần khi có nắng.

Vùng đất cao nguyên thì nơi nào cũng giống nhau.

Mùa khô nếu sáng sớm có sương mù thì rồi sẽ có nắng.

Sương mù sớm càng đặc thì nắng trưa càng to.

Phía trận địa Thái 4001 bây giờ không còn pháo cấp trên dập vào nữa, nhưng trong đó vẫn nghe có tiếng nổ lục bục của hỏa lực hai bên.

Nắng hơn nữa thì bắt đầu nghe tiếng vè vè rồi một máy bay trinh sát L19 xuất hiện.

Hình ảnh của nó trên cao nguyên quá quen thuộc rồi.

Anh Điện ra lệnh tất cả im lặng và tụt nhanh khỏi nhà sàn.

Thằng L19 chỉ đảo có vài vòng là bắn pháo khói ngay.

Nó bắn vào khu vực cửa mở của C5.

Chẳng phải chờ lâu, bầu trời vang động tiếng ì ì của máy bay.

Chỉ ngồi dưới gốc cây ngửa cổ lên cũng nhìn rõ hai chiếc máy bay ném bom T28 từ hướng Phù Chiêng bay tới.

Cửa mở C5 bị đánh bom ngay lập tức.

Ngồi xa nhìn rõ và nghe tiếng bom nổ "ục" và khói to hơn vết đạn pháo nhiều.

Sau này chúng tôi được biết hướng cửa mở K16 địa hình hơi phức tạp nên chưa mở xong hàng rào ngay từ loạt mìn DH đầu tiên.

Vướng cái hàng rào bùng nhùng đánh bộc phá mãi chưa được.

Hướng C5 tuy mở thông hàng rào nhưng địch kịp lập các ụ súng phòng thủ ngay trước cửa mở bắn mãnh liệt vào bộ binh ta.

Bộ binh làm nhiệm vụ chiếm đầu cầu bị tổn thất một trung đội mà chưa chiếm xong đầu cầu, lại bị bật ra.

Địch điều cả DK ra bít cửa mở nên đội hình hỏa lực của D cũng bị tổn thất.

Một khẩu 12ly7 bị trúng một phát DK bay mất cả khẩu đội.

Thế là tạo thành thế trận giằng co.

Đến khi sương tan thì địch cho T28 đến ném bom ngay vào cửa mở.

Tiểu đoàn ra lệnh cho bộ phận phía trên sát hàng rào thì ép luôn lên sát hàng rào hơn nữa, còn bộ đội phía sau thì lùi xa lại để tránh vùng ném bom ở giữa.

Thế trận chuyển sang đánh vây ép.

Thực chất quân ta cũng có nhiều khó khăn hơn so với đánh D621 Thái trong ngã Ba Lào Ngam mấy tháng trước.

Không có xe tăng chi viện.

Hai tiểu đoàn bộ binh mang tiếng là to nhưng số tay súng bộ binh mỗi D cũng không đến trăm người.

Ngay C tôi nếu tính cả cán bộ C và liên lạc mới đủ ba chục, mà mũi chúng tôi đã tách ra mất 10 người rồi.

Tất nhiên không kể 3 lính A cối 60.

Còn bên địch một tiểu đoàn Thái đầy đủ kể cả bọn hỏa lực tại chỗ có thể tham chiến được chắc cũng không dưới 200 tên.

Tại nơi này, địch chỉ kém chúng tôi về pháo vì pháo từ Phù Chiêng của chúng không thể bắn tới.

Tất cả lợi thế dồn vào máy bay nên chúng chi viện ngay.

Chúng tôi ở khu phía Đông Nam quan sát rõ mồn một trận đánh của máy bay, chẳng khác gì ngồi chốt trước trận đánh ngã Ba Lào Ngam hồi tháng 10 năm ngoái.

Lại như xem phim và lại tiếc giá có phóng viên đi cùng quay phim ghi lại được cảnh này thì tha hồ tư liệu.

Không biết địch ở Nam Lào có bao nhiêu máy bay T28, nhưng có lúc trên bầu trời đủ cả 4 chiếc.

Cửa mở hướng K16 cũng bị đánh bom và bộ đội có tổn thất.

Bây giờ thì yếu tố bất ngờ không còn nên đành phải quay ra đánh theo kiểu vây lấn.

Lần đầu tiên ở chiến trường Nam Lào bộ đội ta phải đào thêm cả giao thông hào.

Buổi chiều địch đưa cả phản lực đến đánh bom.

Tôi không thạo về máy bay lắm nên cũng chẳng rõ chúng là loại gì, nhưng bọn phản lực ném bom xem ra ghê hơn T28 nhiều.

Nếu như T28 vè vè thả từng quả và ở bãi trống có thể vừa quan sát vừa chạy được, thì với phản lực nó nhanh và tiếng động gây uy hiếp lắm.

Chúng tôi ở tít xa quan sát cũng thấy sự uy hiếp của nó.

Hình như 12ly7 của ta phía trận địa cũng tổ chức bắn lại.

Chiều tối dần và ngày thứ nhất trôi qua.

Chiến sự diễn ra chủ yếu là các trận nem bom của địch.

Ở trận địa chính anh em rất vất vả còn chúng tôi ở ngoài này vẫn yên ổn.

Đấy chỉ là qua quan sát mà biết thôi.

Buổi tối anh Điện cho anh em ra đầm nước lấy nước bổ sung để chuẩn bị cho ngày mai.

Anh ấy vẫn bình tĩnh mặc dù chúng tôi không liên lạc được về tiểu đoàn.

Anh ấy cũng đoán là chưa dứt điểm được căn cứ.

Tình hình chuyển sang vây ép thế này chắc cấp trên cũng đã dự liệu nên mới cho chúng tôi mang đi 3 ngày cơm đùm chứ?

Đêm hôm ấy chúng tôi phải tổ chức gác đề phòng có tình huống gì khác, nhưng chắc chưa phải đánh phục kích vì kiểu này địch nó còn trụ lại chứ không đơn giản tự chạy khỏi căn cứ.

Thuốc lá đã hết và tất nhiên lính tráng thấy mồm miệng rất nhạt.

Sáng ngày hôm đó, sau khi phán đoán tình hình còn lâu mới đánh xong, chúng tôi bắt đầu ngó nghiêng cái bản bỏ nơi mình đang chốt giữ.

Bản nhỏ, nhà cửa tan nát hết, nhưng vùng đất cao nguyên vốn trù phú nên những cây trồng dù không người chăm sóc cũng có khả năng hồi phục sau nhưng biến cố bom đạn.

Trong bản, ngoài mấy bụi tre xanh mướt ngoài rìa thì còn sót lại chừng dăm cây bưởi.

Cây nào cũng to, quả sai trĩu cành.

Độ này bưởi đã đủ già nên không phải lo hai nhược điểm dễ gặp là non hoặc he.

Anh Điện cho lính trẩy bưởi xuống.

Ở đây xa địch, chứ lặng lẽ nhẹ nhàng mà thao tác thôi.

Bổ bưởi ra thấy may mắn làm sao, toàn bưởi đào ngọt lịm, trời ạ.

Cây nào cũng ngon như cây nào, thế là ai bổ nấy chén chẳng phải chung đụng gì.

Ngồi nhẩn nha chén bưởi thay cho hút thuôc cũng hay phết.

Ngày hôm ấy mỗi lính phải chén hết dăm quả.

Bụng dạ lính ta vốn tốt, quả xanh nước lã không làm sao, nhưng do ăn nhiều bưởi quá nên khi đi vệ sinh mùi bưởi xông lên rõ mồn một.

Anh Điện và anh Dũng phải ra lệnh cho lính tự đào hố chôn kín vỏ bưởi và hố mèo cũng phải đào sâu.

Ngày hôm sau, tình hình chiến sự vẫn như ngày hôm trước, nghĩa là quân ta không đánh vào được, còn trận địa suốt ngày bị đánh bom.

Ngay từ lúc hửng nắng địch đã bắt đầu ném bom rồi.

Cứ hết T28 rồi lại đến phản lực.

Máy bay trinh sát L19 vẫn hoạt động và thỉnh thoảng vẫn phải bắn pháo khói để chỉnh lại mục tiêu.

Hôm nay anh Điện cũng bình tĩnh hơn nên cho chúng tôi lần lượt lên xem trận địa qua cái nóc nhà sàn còn sót ấy.

Lúc nắng to, trong trận địa nhìn rõ hơn những mô đất nhô lên như ụ súng hay hầm lô-cốt.

Nhiều lúc thấy những tên địch chạy từ chỗ này sang chỗ khác.

Từ xa, nhìn chúng bé như những quả táo ta, lũn cũn.

Thấy rõ cả cái dáng lom khom của chúng.

Giá có mấy khẩu súng trường Hung có ống kính bắn tỉa (như trong phim "Bốn chiến sĩ xe tăng và con chó" của Ba Lan) chắc sẽ bắn tốt.

Nghe tôi ước ao, anh Điện bảo, "Cậu chẳng biết cái quái gì cả.

Bắn tỉa được vài thằng, lộ trận địa phục kích địch nó táng cho hai quả bom thì đi đứt hết tất cả à?".

Cứ mò lên xem một lát rồi lại quay xuống hầm tránh nắng.

Lại bổ bưởi ăn cho đỡ sốt ruột.

Cơm thì lính tráng có suất nên cứ tự động mà ăn lúc nào cũng được, tự chia cho đủ 3 ngày.

Tôi đặc biệt thích lên quan sát lúc có máy bay đến đánh bom để so sánh với cái thời trẻ con ở nhà xem máy bay Mỹ đến thả bom và đối chiếu với cái kiến thức sơ đẳng về xem hình trái bom rơi để biết nó bay về đâu.

Cả ngày hôm đó chủ yếu là máy bay địch ném bom thôi.

Không nghe thấy tiếng pháo hay tiếng súng của cả ta và địch.

Hôm nay có thể tiểu đoàn đã bố trí lại đội hình để bộ đội tránh thương vong do bom rồi.

Buổi tối lại đến và tình hình chưa có gì khác.

Chúng tôi vẫn đủ cơm ăn một ngày nữa.

Nhưng anh Điện và anh Dũng hội ý nếu ngày mai trung đoàn chưa đánh xong căn cứ thì đến tối sẽ phải cử người về bắt liên lạc để nắm tình hình và lấy thêm cơm.

Ngày thứ ba.Máy bay L19 lại lên từ sáng sớm.

Rồi T28 lại đến đánh bom.

Hôm nay thấy 12ly7của ta bắn trả rất mãnh liệt.

Trung đoàn chắc không thể thụ động nữa nên cho12ly7 của các tiểu đoàn lập trận địa bắn trả.

Cũng chỉ có 12ly7 là to nhấtthôi.

Cái đơn vị pháo cao xạ 23ly 2 nòng thì đã rút về đường dây 559 từ khichúng tôi kết thúc chiến dịch Saravan rồi.

Bọn T28 vốn làm mưa làm gió trên caonguyên, nay bị đánh trả cũng chờn.

Chưa có chiếc nào bị hạ, nhưng chúng cũngném bom thưa hơn và chúng tôi thấy rõ chúng cắt bom từ rất cao, không còn nhìnrõ cả đầu thằng phi công như trước nữa.

Ta đổi chiến thuật thì địch cũng đổichiến thuật.

Chúng tăng cường ném bom bằng máy bay phản lực.

Lúc nó bổ nhào,súng 12 ly7 vẫn bắn trả mãnh liệt.

Có lẽ bây giờ, lính 12ly7 mới được bắn máybay, tất nhiên là ít kinh nghiệm.

Mãi chẳng thấy hạ được chiếc nào.

Chúng tôivẫn tiếp tục quan sát và xem bắn máy bay không mất tiền.

Một ngày không phải của bộ binh đánh nhau mà chỉ là của máy bay và súng phòng không.

Trong ngày, chúng tôi leo lên nhà sàn xem trận địa rất nhiều lần.

Xen trong các đợt máy bay ném bom vẫn có máy bay trinh sát L19 vè vè.

Rất may là chỗ chúng tôi vẫn ngụy trang tốt, hoặc giả nó không nghi ngờ mấy về hướng này nên chúng tôi vẫn yên ổn.

Theo kế hoạch tác chiến thì vùng Thị trấn Păk Soòng và phía Tây đường 23 dẫn về Păk-xế do E19 đảm nhiệm và chiến sự vẫn phải diễn ra ở những khu vực đó.

Nhưng có lẽ trận địa chỗ chúng tôi là chính nên máy bay mới tập trung nhiều vào đây.

Mặt khác có lẽ là ở xa hay sao nên chúng tôi cũng chẳng nghe thấy gì ở hướng khác.

Quan sát trận địa của bọn Thái trong ngày, chúng tôi thấy chúng xuất hiện và di chuyển trên mặt đất trong căn cứ nhiều hơn.

Cứ một lúc lại thấy một hay vài cái cục đen đen bé tí di chuyển trong đó, trông như trên sa bàn.

Trong ngày, vừa rỗi vừa buồn nên các anh Điện và Dũng cũng chạy qua chạy lại hầm chúng tôi hỏi thăm và trò chuyện.

Một chốc lại leo lên nhà sàn quan sát địch rồi í ới gọi cho chúng tôi lên cùng xem.

Cũng chẳng ai đoán ra địch đang muốn làm gì trong căn cứ.

Gần trưa thì hỏa lực 12ly7 của K18 làm nên chuyện.

Một chiếc phản lực bị trúng đạn, nhưng không rơi tại chỗ.

Nó chỉ bị thương, không bay về được căn cứ và rơi ở đâu đó.

Sau này nghe đài kỹ thuật mới biết tin và C8 được ghi công.

Mọi chuyện tưởng diễn ra êm ả thì đầu giờ chiều có một sự kiện đặc biệt, hiếm thấy trong đời lính.

Trên bầu trời xuất hiện một chiếc máy bay lạ, loại cánh bằng.

Về sau mới biết nó là L21, cũng là một loại máy bay trinh sát.

Chiếc máy bay lượn một vòng rồi bay ngang qua căn cứ địch.

Vẫn ở tư thế bay bằng, có một cái cục gì đó rơi ra từ máy bay làm nó chúi một cái rồi lấy lại thăng bằng.

Chúng tôi chưa kịp ngạc nhiên thì cái cục đen đen đã nở bung ra thành một cái dù và từ từ rơi xuống đất.

Chiếc L21 vòng lại hai lần nữa và mỗi lần lại rướn bụng thả xuống một chiếc dù.

Phía trận địa im ắng và chúng tôi ngắm mãi mấy cái dù rơi xuống trận địa.

Nhìn rõ bọn địch như những quả táo di chuyển trong trận địa ra dỡ dù.

Bây giờ thì chúng tôi hiểu là địch thả dù tiếp tế.

Lúc này mà có cái ống nhòm pháo binh (loại có tiêu cự nhòm được xa 3 cây số rõ cả nốt ruồi trên mặt) thì sẽ biết ngay là địch thả hàng gì.

Chừng nửa tiếng sau thì cảnh trượng trên bầu trời căn cứ địch thật ngoạn mục.

Vẫn có L19 bay trinh sát vòng ngoài, nhưng trên bầu trời căn cứ xuất hiện thêm cả loại vận tải AC130.

Thằng này khi ở ngoài Sara van chúng tôi đã biết, nó bắn pháo sáng dai dẳng suốt cả đêm.

Còn lính pháo và lính lái xe thì truyền miệng nhau khả năng nó bắn pháo 105 diệt xe cơ giới của ta rất chính xác nhờ có kính ngắm hồng ngoại.

Bây giờ đây thì đến lượt chúng tôi chứng kiến khả năng chở hàng và thả dù của máy bay này.

Chả cần nghiêng cánh, cứ lừ lừ bay và ùn ra mỗi lần đến mấy chiếc dù hàng.

Chả mấy chốc mà trên bầu trời có đến cả chục chiếc dù lững lờ rơi, cái cao cái thấp, trông thật đẹp mắt và xúc động.

Chả khác gì cảnh phim tài liệu thực dân Pháp thả dù ở Điện Biên Phủ, có khi còn đẹp hơn vì đây là cảnh thật sờ sờ ngay trước mắt.

Anh Điện và anh Dũng tuổi quân cao hơn tôi nhiều cũng xem rất khoái chí và bảo đây cũng là lần đầu tiên các anh ấy xem thả dù.

Bọn lính Thái con nhà giàu có khác, tiếp tế đến tận chân răng. (Dạo ngoài Saravan, địch cũng thả dù hàng tiếp tế cho bọn GM41 và GM42, nhưng toàn thả vào ban đêm nên chúng tôi không ai được nhìn thấy.

Chỉ có đánh vào chỗ địch mới thấy những cuộn dù xếp lăn lóc trên đất).

Xen kẽ máy bay AC130 thả dù trên tầm cao, chiếc L21 vẫn nhẫn nại thả dù ở tầm thấp hơn, dù mỗi lần chỉ són ra có một chiếc.

Không hiểu vì lý do gì mà 12 ly 7 của ta không bắn dù cho rơi vỡ hàng của địch.

Buổi chiều hôm đó địch thả dù hàng rất nhiều.

Chỉ dù hàng thôi chứ không có dù người.

Cũng không có máy bay ném bom.

Trời bắt đầu có gió và thổi về huớng chúng tôi.

Từ trên nhà sàn, chúng tôi đã thấy rõ có những cái dù rơi ra rìa căn cứ.

Tuy quân ta không bắn nhưng có lẽ máy bay địch cũng đề phòng nên chúng không dám bay thấp mà cứ thả dù từ tít trên cao.

Bọn địch dưới đất có lẽ cũng lo lắng nhưng không làm gì được.

Tầm cuối chiều có đến mấy cái dù hàng rơi vượt ra ngoài căn cứ đến cả trăm mét, ra khỏi hẳn những hàng rào.

Phía này không có đường ra nên địch cũng đành đứng nhìn.

Cuối cùng có cả dù do máy bay L21 thả cũng rơi ra ngoài, hướng về phía chúng tôi.

Loại dù này nhỏ hơn và có màu trắng xen đỏ chứ không xám xịt như dù hàng do máy bay AC 130 thả.

Trong buổi chiều hôm đó, địch thả xuống đến hơn dăm chục chiếc dù, trong đó chúng tôi đếm được có 5 chiếc rơi ra ngoài hàng rào về hướng chúng tôi.

Trong số đó có một chiếc dù khác lạ của máy bay L21 thả.

Lính tráng chúng tôi ngứa ngáy chân tay lắm, muốn mò ra kiểm tra nhưng anh Điện không đồng ý.

Khả năng mò ra đó có thể gặp địch mà cũng có thể gặp cả lính K16 mò sang, bắn nhầm nhau thì hỏng bét.

Buổi tối chúng tôi ăn nốt chỗ cơm cuối cùng mang theo.

Bưởi trên cây còn khá nhiều nhưng ăn bưởi mãi cũng chán.

Chắc không ai ăn bưởi thay cơm được.

Buổi tối anh Điện và anh Dũng cử một nhóm 3 người do anh Trịnh dẫn đầu về hậu cứ lấy cơm.

Tôi cũng đi cùng.

Quãng đường về hậu cứ cũng phải mấy tiếng chứ không ít, lấy được cơm về chắc cũng hết đêm.

Chúng tôi cùi theo hơn chục quả bưởi để về làm quà cho cánh anh nuôi.

Tôi rất sợ lạc vì chúng tôi ra trận địa do trinh sát dẫn, nay trở về phải tự mò mẫm.

Rất may là chúng tôi vượt qua hết đầm nước, về nhập được vào với đường trục đi chung với hướng chính thì gặp trinh sát D dẫn anh nuôi mang cơm tiếp tế cho chúng tôi.

Cả hai bên đều hết sức vui mừng, chào hỏi nhau rối rít.

Chúng tôi trao đổi bưởi và cơm cho nhau.

Cơm ăn được tiếp tế thêm hai ngày.

Có một cái lệnh kèm theo, ngày mai các hướng chính sẽ không vây ép nữa mà tấn công vì địch thả dù tiếp tế nhiều thế thì có thể chúng định ở lỳ tại đó chứ chưa có ý rút chạy.

Vì thế hướng B5 phải thật chú ý chặn đánh địch nếu chúng rút qua đó.

Chúng tôi trở lại chỗ chốt của trung đội khi chưa đến nửa đêm.

Còn khối thời gian để ngủ.

Mờ sáng, trời lạnh vì sương rất nhiều.

Nằm trong hầm rải đệm cỏ tranh và quấn mình trong mảnh dù ấm thì chả ai muốn dậy lúc này.

Thế mà anh Điện lại thúc anh Trịnh và tôi dậy, hỏi:

- Chúng mày có muốn đi lấy dù không?

Muốn quá đi chứ.

Hai chúng tôi tỉnh hẳn người.

Thế là anh Điện, anh Trịnh và tôi mỗi người cắp một AK với hai băng đạn xuất kích.

Cứ nhằm cái hướng có mấy cái dù rơi hồi chiều qua mà tiến lên thôi.

Trời mờ mờ nhưng tất cả cứ phăm phăm mà đi theo anh Điện.

Đi được chừng năm trăm mét thì gặp một con suối nhỏ, nước nông, bờ bên kia có nhiều bụi tre to.

Sang qua suối đi độ chục mét thì toàn cỏ tranh cao lút đầu người.

Chả còn nhìn thấy gì cả.

Theo anh Điện chúng tôi cứ sục lên, ngoắt chỗ này rồi lại ngoéo sang chỗ nọ, tiến tiến lui lui.

Được một lúc thì quần áo ướt hết vì thấm sương trên cỏ tranh.

Chả có một cái gì cao hơn để leo lên mà nhìn tìm hướng cái dù.

Rồi trời cũng dần sáng hơn và nhìn mọi thứ dễ hơn.

Anh Điện sục xạo phía trước rất liều.

Anh bảo cỏ tranh rậm rạp thế này thì không có mìn đâu.

Mà húc phải hàng rào thì lùi cũng kịp, yên tâm.

Mò mầm như thế đến gần tiếng chứ không ít, người đã mệt và tinh thần bắt đầu nản thì anh Điện húc phải một cái dù xám.

Tất cả mừng rú lên sục luôn vào thùng hàng.

Toàn đạn cối, bố khỉ.

Anh Điện thần mặt ra, chúng tôi cũng lo lắng.

Anh Điện bảo, bọn này bị vây mấy ngày, không đói cơm mà chỉ đói đạn hay sao.

Lại sục tiếp.

Cứ từ chỗ đó mà sục rộng ra thôi.

Loanh quanh một lúc thì gặp được cái dù thứ hai.

Hàng hóa là một cái sọt đan theo kiểu dáng như cái gàu tát nước có quai, trong đó có mấy bọc nilon.

Lấy dao găm rạch ra thì ôi mẹ ơi, toàn dưa cải muối.

Quái lạ thật, sao bọn lính Thái mà cũng ăn đồ ăn như dân mình thế nhỉ.

Cả ba người vục tay mỗi người làm một nắm, chén tại chỗ, ngon tuyệt.

Nhưng chẳ lẽ chiến lợi phẩm chỉ là mấy bọc dưa cải muối?

Ngồi thừ một lúc, anh Điện bảo, chúng mày có nhớ cái dù trắng đỏ rơi phía nào không?

Tôi nhớ lại, bảo anh là nó rơi gần phía căn cứ hơn so với mấy cái dù xám.

Thế là tất cả đứng dậy sục tiếp.

Máu đang hăng thì nguy hiểm cũng bất chấp.

Anh Điện bắt tôi cùi một bọc dưa cải muối, còn thì vất lại.

Lúc này tôi bắt đầu thấy hai cánh tay xót ngứa, hóa ra bị cỏ tranh cứa do cứ vạch cỏ tranh ra mà sục lối đi khi trước.

Chắc anh Điện và anh Trịnh cũng vậy, nhưng không thấy ai kêu gì.

Sục độ chừng ba chục mét thì thật may, anh Điện túm được cái dù trắng đỏ.

Chỗ này chắc cũng gần địch hơn nên phải thận trọng hơn, tuy nhìn quanh cũng chẳng thấy gì xa hơn vạt cỏ tranh kín trên đầu trước mắt.

Đúng là trời không phụ công ba người chúng tôi.

Thùng hàng của cái dù này chắc dành cho sĩ quan nên toàn đồ ngon.

Anh Điện mừng rú lên dù chỉ là ư ử trong cổ họng.

Trong cái sọt hàng (vẫn là cái sọt đan bằng một loại sợi mềm gì đó, không phải tre) có ba thùng giấy.

Xé ra, trong có những cái gói bằng nilon trơn.

Lúc này trời sáng hơn nên tôi đã nhìn thấy ngoài vỏ của nó có những dòng chữ Thái hình con giun và có hai con tôm càng đỏ au.

Anh Điện bóc luôn một gói, bẻ ra cho mọi người ăn thử.

Trong gói là một cái bánh kết thành bởi những sợi như sợi mỳ (mỳ sợi chỉ có tôi được ăn ngoài Bắc mới biết chứ anh Điện và anh Trịnh đã được ăn bao giờ đâu).

Sợi bánh giòn, hơi ngọt, hơi mặn.

Anh Điện tuyên bố chắc là bánh trứng, tuy chẳng hiểu sao trong đó lại có một gói nhỏ đựng muối to như ngón tay.

Thôi bánh gì cũng được, của quý rồi.

Mỗi thùng bánh có 60 gói (Mãi sau này khi giải phóng miền Nam, tôi mới biết nó là mỳ ăn liền hai tôm), anh Điện bảo lấy mang về hết.

Sục xuống phía dưới sọt lại có hai thùng giấy nữa nặng chịch.

Mở ra, mỗi thùng có 30 hộp sữa nước giống như hộp sữa Thống nhất ngoài Bắc.

Loại chiến lợi phẩm này đã lấy nhiều rồi nên không ai còn lạ, đây cũng là của quý phải đem về.

Phần hàng ở dưới cùng là một hộp giấy càng làm cho ba anh em sướng đến run người: đó là hai tút thuốc A lào loại đầu lọc đỏ, tuyệt vời luôn.

Thật đúng là nếu không có cái dù trắng đỏ này thì cuộc sục xạo sáng nay thật vô duyên, còn bây giờ thì lại quá tuyệt.

Thế là toàn bộ hàng của cái dù trắng đỏ cộng với một bọc dưa cải muối được chúng tôi chia nhau mang về.

Nhưng là lính thì làm sao mà lại không ăn ngay khi miếng ăn kề miệng cho được.

Củ khoai còn không thể để dành đến sáng được thì làm sao số chiến lợi phẩm tuyệt vời như thế này lại không kích thích sự hăm hở và nóng ruột thưởng thức của chúng tôi.

Thế là anh Điện lôi ra chia ngay cho mỗi người một hộp sữa nước.

Hai mũi dao găm chọc vào tạo hai cái lỗ, thế là hộp của ai nấy tu.

Ngọt lừ, ngọt đến khé cổ, nhưng hút đến đâu thì tỉnh và khỏe người ra đến đấy.

Lúc này anh Điện mới phấy tay: "rút", và chúng tôi nhanh chóng theo đường cũ chuồn vội.

Tôi nhìn cái dù trắng đỏ tiếc rẻ rồi chẳng nói gì với ai, ngồi thụp xuống dùng dao găm cắt nhanh dây dù rồi cuộn luôn cái dù ôm theo.

Chiếc dù loại này nhỏ chứ nếu to như cái dù xám thì chắc tôi cũng không tha đi được.

Rồi cứ thế, tôi vừa theo hút các anh Điện và anh Trịnh mà đuổi, trong khi một tay vẫn ôm cái dù to cộm trước bụng, một tay vẫn còn cầm hộp sửa tu dở, cứ chạy một đoạn lại đưa lên tu, rồi lại chạy.

Khẩu AK khoác trên người ngoặt ngoẹo thế mà cũng không cản được bước chạy của tôi.

Chả mấy chốc mà tôi đã đuổi theo kịp anh Điện và anh Trịnh khi các anh ấy cũng vừa đến bờ con suối nhỏ.

Chạy đến bờ suối, tất cả cùng lội ào xuống.

Lúc này cái cảm giác trong người rất lạ.

Vừa mệt như đứt hơi, lại vừa thấy nóng và khát nước.

Chân vẫn lội trong nước, chả ai bảo ai cùng vục đầu xuống uống nước như những con bò vừa vượt qua sa mạc.

Uống nước vào đến đâu, cơn khát vợi đến đấy nhưng bụng chúng tôi căng ra.

Con suối nhỏ, chỗ này là vũng nước quẩn, uống một hồi xong đứng thẳng người lên nhìn, không hiểu dòng nước chảy hướng nào, cứ như nó đang chảy ngược lại thì phải.

Một lúc sau leo lên bờ thì không còn ai đi nổi nữa, tất cả nằm vật ra đất.

Bây giờ mà có địch, chắc chúng nó bắt sống chúng tôi.

Chung quy tất cả cũng chỉ vì mỗi người đã tu hết cả một hộp sữa, rồi khát quá uống cho no bụng nước nên gần bội thực.

Bụng tức anh ách, to như bụng đàn bà chửa.

Cứ nằm như thế có đến nửa tiếng mới hoàn hồn và ngồi dậy được.

Câu đầu tiên của anh Điện là: "Cái gì thế này", khi nhìn thấy cái dù xổ một đống tướng cạnh người tôi.

Nghe tôi trình bày, anh Điện nhăn mặt:

- Mày đúng là đồ tham mà lại ngu nữa.

Rồi anh giải thích, may lúc sáng sớm địch nó chưa kịp quan sát chứ nếu nó nhìn ra thấy mất cái dù sẽ biết ngay có người ở đó, nó tương cho mấy quả cối thì chết cả lũ chứ còn gì.

Tôi thè lưỡi, rụt cổ: hú vía, nhưng rõ ràng là số vẫn còn may.

Nghỉ thêm lúc nữa, chúng tôi trở về chỗ trung đội.

Nhìn đống chiến lợi phẩm toàn của quý, anh Dũng và mọi người mắt sáng rực.

Lúc này mọi người vừa ăn sáng xong, nhưng vẫn sẵn sàng chén được tiếp.

Anh Điện và anh Dũng hội ý nhanh rồi chia chiến lợi phẩm cho anh em.

Mỗi người được mười gói "bánh trứng", giữ lại một thùng đem về nộp đại đội, còn thì cùng thưởng thức.

Vì không biết đó là mỳ ăn liền có thể nấu lên được nên tất cả đều nhai sống, ai cũng khen ngon và thầm ghen tỵ với đời sống của lính địch.

Tôi nhặt lại tất cả các gói muối trong các gói mỳ đó cất đi, đơn giản vì nghĩ nó là muối, trông lại hay hay, tuy lúc này chúng tôi không phải là thiếu muối.

Sữa đặc cũng chia mỗi người hai hộp.

Anh Dũng cho đục mấy hộp lẻ cho mọi người thưởng thức chung, tu luôn là chính nhưng cũng có có thằng đem pha luôn với nước suối, thế mà cũng chẳng đau bụng gì cả.

Phần sữa còn lại cũng để dành cho đại đội và cho D bộ.

Riêng khoản thuốc lá thì anh em biểu quyết chia hết vì chỉ có 2 tút.

Sáng hôm ấy khu chốt của chúng tôi thơm lừng khói thuốc.

Cái dù trắng đỏ tôi đem về, bây giờ xem lại mới thấy quý.

Nó gồm nhiều tấm vải dù lụa hình chữ nhật ghép lại, dày dặn chứ không mỏng như dù ca-rô xám của loại dù hàng.

Mỗi tấm rộng vừa đủ một cái võng.

Thế là chúng tôi tháo ra chia nhau mỗi người một tấm.

Chỉ việc khâu lại ở hai đầu làm chỗ luồn dây võng là có một chiếc võng ngon lành.

Ba anh em đi sục dù lúc sáng không thể ăn được cơm sáng nữa vì đã quá no.

Thế mà đến trưa lại vẫn ăn được bình thường.

Bọc dưa cải muối đem ra ăn với cơm nếp vẫn thấy ngon, vì nó là chất rau.

Có người tiếc rẻ còn đề nghị cho quay lại chỗ dù rơi lấy nốt mấy bọc dưa cải muối, nhưng anh Điện không đồng ý.

Bây giờ quay lại đấy có khi lại nguy hiểm rồi.

Nếu có tổn thất, chết vì ăn thì phen này anh Điện và anh Dũng chịu đủ án kỷ luật, nhưng quan trọng hơn vẫn là sinh mạng anh em.

Vả lại những thứ chúng tôi đang có cũng quá tuyệt vời rồi, không nên tham quá làm gì.

Buối sáng hôm nay thế là đã sang ngày thứ tư, trời vẫn trong veo.

Leo lên nhà sàn quan sát, thấy phía trận địa có đì đùng nhưng không có vẻ đánh nhau to.

Có thể ở xa nên chúng tôi không cảm nhận hết, nhưng đúng là không phải kiểu đánh mạnh để dứt điểm.

Hôm nay địch cũng không thả dù tiếp tế.

Trong buổi sáng có mấy lần thấy pháo cấp trên bắn ít quả vào trận địa.

Kiểu bắn như để khống chế hoặc tiêu hao sinh lực địch chứ không phải bắn cấp tập yểm trợ cho bộ binh xung phong.

Cũng có thể vì thế mà địch không dám thả dù.

Buổi chiều thấy súng nổ nhiều hơn và bọn địch trong căn cứ di chuyển qua lại nhiều hơn.

Có nhiều thằng còn đeo ba-lô to xù vì cái dáng chạy của những "quả táo" trông lũn cũn lắm.

Nhờ thông tin cấp trên báo hôm trước cộng với kinh nghiệm chiến trận, anh Điện đoán đêm nay địch sẽ rút, dù ta không làm chủ trận địa trong ngày.

Buổi chiều chúng tôi ăn cơm sớm rồi anh Điện xem bản đồ và cho chúng tôi chuyển vị trí.

Chúng tôi luồn ra cái đường xe bò (chỉ còn lại vệt mờ) ở phía cánh phải cách chỗ chúng tôi chốt cũ chừng hai trăm mét.

Mỗi người đào một cái hố chiến đấu xen vào trong đám lau và ngồi chờ phục kích ở đó.

Khoảng nửa đêm, phía xa có nhiều tiếng dậm dịch, chắc bọn địch đang rút ra từ căn cứ.

Chúng tôi im lặng nhưng chờ khá lâu vẫn không thấy địch đến.

Anh Điện quyết định dẫn chúng tôi rời hầm luồn ra phía có tiếng động.

Hóa ra phía này khá quang, có lối đi được nên địch không đi theo đường xe bò cũ mà đạp thẳng luôn theo đó mà đi.

Không biết địch có bao nhiêu tên, nhưng chắc đại bộ phận chúng đã đi qua rồi.

Chúng tôi ngồi nán một lúc thì lại thấy lao xao rồi có những bóng đen.

Anh Điện cho nổ súng luôn.

Chúng tôi cứ bắn ào ào vào hướng đó.

Không có tiếng súng đáp trả.

Đợi một lát, chúng tôi sục lên gặp xác địch, đếm được 7 tên.

Chờ mãi nữa cũng không thấy gì, chắc đây là tốp cuối, may mà chúng tôi kịp nổ súng chứ nếu ngồi chờ tí nữa thì chắc chẳng còn gì mà đánh.

Bọn đã rút qua thì chắc cứ thế mà cắm đầu chạy chứ không quay lại cứu đồng bọn.

Phải khá lâu sau, chúng tôi nghe tiếng súng nổ rộ phía Thị trấn.

Chắc các đơn vị của E19 đã kịp triển khai đánh chặn.

Tiếng súng nổ loạn lên, lúc lại lắng thưa, rồi lại nổ, xa dần.

Anh Điện đoán bọn địch rút chạy bị chặn đánh, thằng chết cứ chết còn thằng sống cứ thế mà chạy tiếp, nhưng chắc thoát được không nhiều.

Mặc dù không bắt được liên lạc với các đơn vị bạn, nhưng trong đêm đó anh Điện và anh Dũng vẫn cho chúng tôi lùng sục theo hướng địch rút chạy, nhưng không đi quá xa.

Kết quả là chúng tôi thu thêm được một số ba-lô nữa của địch.

Súng thì chỉ thu về mỗi người một khẩu lấy thành tích.

Chiến lợi phẩm lấy được có thêm một ít thuốc lá và những vật dụng cá nhân, ai thích gì giữ thứ nấy.

Anh Trịnh lấy được một chiếc đài bán dẫn nhỏ của Nhật.

Mờ sáng thì chúng tôi rút trở lại chỗ chốt ban đầu ở cái bản cũ.

Sáng hôm đó, tôi và anh Trịnh vừa nằm bên miệng hầm hút thuốc, vừa bật đài nghe.

Đã lâu lắm rồi, bây giờ được nghe nhạc hiệu và giọng nói: "Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" sao mà thấy hạnh phúc thế.

Bây giờ không biết ở nhà những người thân trong gia đình đang làm gì.

Có ai bật đài lên để nghe được cùng bản tin như chúng tôi không.

Cảm giác thanh bình quá.

Không hiểu sao lúc đó chúng tôi đã nghĩ là sau đợt chiến đấu này chắc địch phải rút lui rất xa và những trận đánh tiếp theo chắc cũng còn phải rất lâu.

Buổi sáng hôm đó là một ngày đẹp trời.

Trời trong xanh, có nắng và có những đám mây trắng trôi nhè nhẹ trên bầu trời.

Không gian tĩnh lặng vì không còn bóng dáng chiếc máy bay nào.

Cũng không còn nghe tiếng súng.

Chúng tôi chỉ còn việc ngồi chơi và hút thuốc, chờ tin tức đơn vị.

Chừng giữa buổi sáng, trinh sát tiểu đoàn đến và truyền lệnh cho chúng tôi rút.

Chúng tôi chia cho chúng nó một ít chiến lợi phẩm.

Vì chỉ mang cùi không nên chúng nó trảy một lô bưởi đem về.

Chúng tôi còn phải mang theo súng, kèm thêm chiến lợi phẩm nên cũng chỉ mang theo ít bưởi gọi là.

Mấy cây bưởi thế là đã trút hết quả để chuẩn bị đâm chồi cho một mùa sau.

Sau bữa cơm trưa, đến đầu giờ chiều chúng tôi hội quân được với đại đội, lúc này cũng đang nghỉ trong một cánh rừng.

Cũng lạ là bây giờ chẳng thấy ai nhắc gì đến chuyện tránh xa rừng già đề phòng bom B52 nữa.

Chúng tôi tay bắt mặt mừng líu ríu chia nhau chút chiến lợi phẩm của cá nhân.

Trận này C6 chúng tôi không có tổn thất vì là thê đội hai.

Cánh B5 chúng tôi còn nổ súng đánh tí chút chứ cánh của đại đội đi theo mũi chính chẳng bắn phát nào (trừ hỏa lực bổ sung cho tiểu đoàn), cuối trận lại còn không được vào trận địa nên tất nhiên chẳng thu được gì.

Đại đội hội quân xong cùng kéo luôn về bản Phù Đin, cách đó cũng hơn chục cây số.

Chúng tôi trú quân tạm trong một khu vườn cà phê của dân.

Vườn cây lâu năm, thân cây cà phê rất to, có thể mắc võng được.

Buổi tối đơn vị nấu cơm dù nhiều người vẫn còn cơm vắt.

Tối hôm đó là một tối vui vẻ vì trung đội nào cũng có tiết mục cà phê sữa và thuốc lá thơm.

Chuyện trò râm ran cứ như đất trời là của riêng mình.

Mấy gói "bánh trứng" bóc ra toàn ăn sống như một thứ bánh kèm cà phê, ngon tuyệt.

Chẳng ai biết là nó có thể nấu được.

Về sau này cũng thế, chúng tôi đã chén hết tất cả số mỳ gói ấy chỉ bằng cách ăn sống.

Riêng tôi giữ lại được vài chục gói muối gia vị trong đó.

Thêm được một ngày nghỉ ngơi, hôm sau cả đại đội hành quân vòng sang khu rừng ở phía Bắc của bản Phù-đin cách đó hơn cây số.

Tại đây mỗi A phải đào một cái hầm chứ A kiên cố.

Được cái đất mềm và cây rừng có sẵn nên tiểu đội hai người chỉ mất hai ngày là đào xong một cái hầm chữ A to tướng và chắc chắn.

Đề phòng thôi, còn ban đêm chúng tôi vẫn rải nilon ngủ ngay cạnh hầm.

Ổn định rồi, anh Trịnh phải đem nộp tiểu đoàn cái đài bán dẫn thu được bữa trước.

Kể cũng tiếc.

Mấy ngày sau đó, chúng tôi về mấy cái bản có tên Y Beng và Bun Thẹ cách đó tới hơn hai chục cây số để lấy gạo và đạn dược bổ sung.

Khu vực này cũng loanh quanh là khu hậu cứ cũ của trung đoàn khi chúng tôi còn đứng chân ở bản Xăm-xi-núc "may" năm ngoái.

Như vậy sau chiến dịch Saravan, về lại cao nguyên, trung đoàn bộ và phần lớn các C trực thuộc lại trở về khu vực trú quân cũ.

Chỉ có bộ binh và nhất là K18 thì bật ra khỏi khu vực cũ vì chiến sự đã lùi sâu về vùng đất của quân ta rồi.

Bây giờ mới tổ chức sinh hoạt và bình báo công cho trận đánh vừa rồi, nhưng cũng chẳng có gì nhiều.

Chưa kịp làm gì thêm thì ngày 17/2/1973, cả đại đội lại rời rừng già để vào trú trong khu vườn cà phê, lần này sát ngay bản Phù Đin, cách nhà sàn của dân chỉ có dăm chục mét.

Ngày 20/2 lại rục rịch chuẩn bị súng đạn.

Chúng tôi hỏi nhau mình sẽ đánh cứ điểm nào nhỉ, vì ngay cán bộ C cũng không thấy đi trinh sát trước.

Câu trả lời là đánh theo mệnh lệnh, nghĩa là cấp trên chỉ chỗ nào thì đánh vào đó và cố mà chiếm cho bằng được.

Ngày 21, đêm 21 và cả sáng 22/2 tất cả các đơn vị bộ binh của trung đoàn (Chắc các E khác cũng thế) ra quân.

Hỏa lực tiểu đoàn đi sát, yểm trợ tối đa cho bộ binh.

Trinh sát E và D được điều đi cùng, bám địch nhanh phía trước và dẫn ngay bộ binh theo phía sau.

Chúng tôi đánh thành nhiều mũi, vỗ mặt suốt mấy chục cây số dọc đường 23 từ Thị trấn Păk Soòng đến ngã ba Lào Ngam, tức là khu vực hồi tháng 10 năm trước chúng tôi đã chiếm.

Địch không tập trung thành căn cứ mà chỉ có các đơn vị đóng dã ngoại nên bị chúng tôi đánh cho tơi bời.

Thậm chí chiến sự kéo trên một đoạn đường rất dài nên những tên địch tháo chạy cũng không thể rút lui theo đường cái mà phải chạy nháo nhào sang mé Nam đường 23 để rút dọc theo những cánh rừng.

Chúng tôi cũng được lệnh đánh chiếm vị trí chứ không cần truy kích rát.

Trưa ngày 22/2 hầu như tiếng súng đã im.

Trung đoàn để lại K16 chốt giữ ở khu vực gần ngã ba Lào Ngam, K18 về khu vực nằm giữa hai bản Xăm-xi-núc "cầu" và Phù Đin.

Đại đội chúng tôi đóng quân ngay cạnh bản Xăm-xi-núc "cầu", trong một rừng non tái sinh.

Đào hầm hay mắc võng đều tiện vì cây con bằng cổ tay, cổ chân mọc nhiều và rất sát nhau, chỉ có khâu ngụy trang hơi bất tiện.

Khu vực này cách cánh rừng già của bản Xăm-xi-núc "may" năm trước đại đội tôi đóng quân chừng 3 cây số.

Như vậy là K18 đã kết hợp với K16 tạo thành một cánh cung chốt giữ, hướng về phía ngã ba Lào Ngam và đường 231 chắn Păk-xế.

Mấy ngày sau,chúng tôi được tin ngày 21/2/1973, Hiệp định Viên Chăn về đình chiến và lập lạihòa bình ở Lào đã được ký kết. (Hiệp định này với Lào cũng có ý nghĩa như Hiệpđịnh Pari về Việt Nam).

Sáng ngày 22/2 thì Hiệp định có hiệu lực và bên nào ởyên tại chỗ bên ấy.

Cuộc chiến của những người lính tình nguyện Nam Lào thuộc sư đoàn bộ binh duy nhất của bộ đội Trường Sơn đã đi vào hồi kết.

Diễn biến của việc thực hiện Hiệp định Viên Chăn khác một trời một vực so với thực hiện hiệp định Pari ở Việt Nam.

Sau ngày đình chiến, chúng tôi không đánh lấn thêm một tấc đất nào và kẻ địch cũng vậy.

Vùng giáp ranh là cả một dải đất rộng lớn không hề cài răng lược hay theo hình da báo.

Hai bên chẳng nhìn mặt nhau, nói gì đến giao lưu hòa hợp.

Thế nhưng diễn biến quân sự lại thật êm ả.

Các đơn vị lính Thái vượt sông MêKông về nước.

Mỹ không chi viện bom, nhất là B52 nên các cánh rừng Trường Sơn trở nên yên ả.

Bây giờ trên vùng đất Nam Lào chỉ còn các trung đoàn lính Fumi, sư đoàn 968 quân tình nguyện và khoảng 3 đại đội Pathet Lào.

Nếu sườn Tây Trường Sơn không bị uy hiếp và đánh phá thì nhiệm vụ chiến đấu của Sư đoàn chúng tôi cũng kể như kết thúc.

Đất nước Lào rộng bằng nửa Việt Nam khi đó chỉ có dân số 3 triệu.

Không có biển nhưng rừng của họ thực sự là rừng vàng, còn sông MeKông không bao giờ hết cá thì chắc cũng sánh ngang với bạc.

Dãy Trường Sơn hùng vĩ và trùng điệp chung cho cả hai nước Việt Lào, nhưng những cánh rừng gỗ Lim bạt ngàn đi cả ngày không vượt qua với những cây to cỡ hai người ôm, hay những sườn núi cao có nghĩa địa voi tự nhiên thì chỉ ở bên Tây Trường Sơn thuộc đất Lào mới có.

Đất rộng, người thưa còn chưa thể quản lý hết nổi giang sơn của tổ tiên để lại thì khi không có thế lực bên ngoài kích động, dân tộc Lào dễ tìm ra tiếng nói chung để hòa hợp hòa giải dân tộc.

Vốn dĩ ba phái bên Lào gốc gác cũng là của ba anh em hoàng thân Suphanuvong, Suphana Fumi và Fumimunum nên họ cũng dễ nói chuyện với nhau.

Nói là các phe đánh nhau, nhưng thực chất là những trận chiến đấu của bộ đội Việt Nam tình nguyện với lính Fumi có sự chi viện của lính Thái Lan mà thôi.

Lính Pathet không tham gia bất cứ trận đánh nào.

Bởi vậy khi các phái bên Lào đã hòa giải thì những trận chiến đấu trên chiến trường Nam Lào cũng đã chấm dứt từ sau cái ngày 22/2/1972 đó.

Tất cả cácđơn vị của sư đoàn 968 chúng tôi sau ngày đó rồi sẽ rút dần ra khỏi vùng đấtcao nguyên, về đóng quân bám quanh tuyến đường Trường Sơn.

Chúng tôi sống cuộcsống hòa bình như các đơn vị huấn luyện ngoài Bắc.

Thế là kết thúc những chuyệnchiến đấu, chỉ còn lại những chuyện thường ngày của lính mà chắc người lính nàocũng biết.

Thế là ở chiến trường này cũng đình chiến, cũng có hòa bình rồi.

Cứ dần dà mỗi ngày được phổ biến và được học tập một ít, chúng tôi biết được rất nhiều thông tin cần thiết.

Nghe tin ở Việt Nam, ta và địch phân chia gianh giới tại những vùng kề nhau như giới tuyển.

Ta và địch xây dựng chung những ngôi nhà hòa hợp, khu thể thao để hai bên giao lưu vì đều là dân Việt cả.

Những thằng lính đã hoàn thành nhiệm vụ đánh nhau, bây giờ chia phần đất xong rồi, không đánh nhau nữa.

Phần việc còn lại là của lãnh đạo các bên bàn bạc rồi đi đến tổng tuyển cử thông nhất đất nước.

Lần này có nhiều bên quốc tế giám sát, phe XHCN đã mạnh hơn nên chắc địch không phá được như hồi Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954.

Đấy, lúc ban đầu là nghĩ như vậy.

Chúng tôi ở bên này không làm nhà hòa hợp và giao lưu với địch vì là người hai nước khác nhau.

Ai ở đâu cứ đóng ở đấy thôi.

Gianh giới cũng chỉ ước lệ bởi đất Lào rộng lớn, quân của cả hai bên đều ít thì cũng chỉ lập chốt là đủ.

Chúng tôi được biết dần và nhiều hơn về Chiến dịch B52 của Mỹ ném bom Hà Nội hồi tháng 12/1972 và chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" của ta.

Nghe nói ga Hàng cỏ, bệnh viện Bạch Mai và phố Khâm Thiên bị đánh bom tan tành.

Nhưng thằng có gia đình ở các tiểu khu thuộc mấy chỗ đó lo lắng ra mặt, nóng ruột nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.

Trong khoảng thời gian hơn hai tuần trú quân ở bản Xăm-xi-núc "cầu", công việc tương đối nhàn.

Không phải cùi cõng lót đạn hay gạo cho tuyến trước như hồi năm ngoái.

Chỉ đi lấy gạo cho riêng đơn vị mình là đủ.

Có hai việc làm chủ yếu là học về vũ khí, chủ yếu là M79 và B41.

Lúc này trong đơn vị vẫn còn B40, nhưng khi súng hỏng hoặc được bổ sung mới thì toàn là B41 của Trung Quốc.

Loại súng này tuy có nặng hơn nhưng tác dụng của nó mạnh hơn B40 nhiều.

Cối cá nhân M79 thì không nói làm gì, loại này quá ưu việt.

Việc thứ hai của chúng tôi là hàng ngày đi lùng sục quanh vùng đóng quân theo tuyến của phần đất bên ta giữ.

Chúng tôi chỉ đi trong phạm vi 5 cây số, không lấn sang phía địch làm gì.

Một lần nhóm 4 người B5 chúng tôi do anh Trịnh phụ trách lùng sục về khu vực bản Xăm-xi-núc "may".

Vẫn cái bản dân bé nhỏ ấy, cuộc sống thanh bình.

Mùa khô không làm nương và trồng cây gì nên các nương rẫy hoang tàn xơ xác.

Chẳng còn vết tích của những đồi kiệu bạt ngàn xanh tốt, những nương trồng thuốc lá nhiều tới mức cứ có dịp lính tráng đi qua là tạt vào bứt ào ào đem về thái phơi hút như của mình mà mãi không hết.

Giờ thì chỉ có men theo bờ suối, dân bản làm những mảnh vườn nhỏ rồng lưa thưa ít rau cải.

Mình mà có ý định lấy về cải thiện cho cả đại đội một bữa thì chắc phải vặt bằng hết mới đủ.

Đi qua bản, lính và dân chào hỏi vài câu lấy lệ rồi chuồn mất hút, cảm giác buồn buồn.

Một lần khác nhóm chúng tôi lại lùng sục về khu vực Xăm-xi-núc "may", nhưng không vào bản mà rẽ theo con đường nhỏ đi vào hướng khu rừng già nơi mà năm trước C6 trú quân.

Trở lại chốn cũ, cảm giác bồi hồi xúc động qua từng bước chân.

Qua cái nương nhỏ, chúng tôi vào khu vực B5 trước tiên.

Những cái lán cũ mái đã mục nát, xiêu vẹo trông thật hoang tàn.

Các sạp nứa trong hầm thùng ẩm mốc.

Đường đi lối lại cây cỏ mọc đầy, nhiều chỗ chắn hết lối.

Mà đấy là chỉ sau có một phần cuối mùa mưa và chủ yếu là mùa khô thôi đấy.

Cảm giác buồn hơn nữa là nhìn những cái lán đổ nát mà thấy lồng trong đó như hình ảnh của một cuốn phim quay chậm đè lên cảnh sinh hoạt của cả đơn vị ngày nào.

Vậy mà bây giờ nhìn lại chẳng còn mấy ai.

Nhiều người bị thương ra Bắc, nhiều người nằm lại những cánh rừng khôộc lưa thưa bóng nắng ngoài Saravan.

Một trung đội mười mấy người ngày đó mà nay có bổ sung thêm lính Nghệ An thì mỗi B cũng chỉ có 7, 8 người.

Tràn ngập nỗi buồn man mác khó tả.

Chúng tôi đi lướt nhanh một vòng quanh cứ cũ của đại đội rồi nghỉ lại chỗ cái sân đại đội cũ giở cơm ra ăn.

Rừng già đã trở lại dần vẻ âm u của nó với tiếng chim và đám sóc bay cùng những con chồn bé nhảy qua nhảy lại giữa các cành cây, ngơ ngác nhìn chúng tôi lạ lẫm.

Cơm nước và nghỉ ngơi xong, chúng tôi đứng dậy lên đường.

Thật không thể tả rõ lúc đó vui hơn hay buồn nhiều hơn.

Chiến tranh đã chấm dứt rồi, đáng lẽ phải vui, nhưng khi có nhiều thời gian hơn để ngẫm nghĩ về số phận con người thì lại thấy buồn buồn trước những mất mát chia ly.

Tôi biết cái cảm giác như thế này sẽ còn trở lại nhiều lần nữa trong cuộc đời nếu như mình còn sống và còn nhớ về đồng đội thân yêu.

Những ngày sau, chúng tôi còn vài lần trở lại lùng sục ở khu vực bản Xăm-xi-nuc "may", nhưng không bao giờ chúng tôi vào lại khu rừng đóng quân ấy nữa.

Ngày 8/3/1973, đại đội chúng tôi lại hành quân chuyển về bản Phù Đin, lại trở lại chính cái vườn cà phê tốt um nằm sát nhà dân ấy.

Chẳng đào hầm nhưng tôi với anh Trịnh vẫn trải nilon nằm cạnh nhau.

Thời gian chúng tôi ở đây chỉ có 4 ngày nhưng là những ngày nghỉ ngơi và lắm chuyện quấy nhộn.

Bản Phù Đin tuy không nhiều nhà, nhưng là một bản trù phú trên cao nguyên.

Dân bản chủ yếu sống bằng trồng cây cà phê.

Nhà toàn là loại nhà sàn gỗ to, làm sẵn ở đâu đó (các cột và ván gỗ là loại cưa xẻ bằng máy phẳng lỳ hẳn hoi chứ không phải đẽo bằng tay).

Nhà to và rộng rãi.

Ăn mặc của dân bản cũng có vẻ sang.

Cái nhà cạnh chỗ B5 chúng tôi ở có hai vợ chồng và một cô con gái.

Cô gái cũng độ tuổi "sao" (tuổi thiếu nữ 20), khá xinh và dáng người đầy đặn cân đối.

Sống trên đất Lào đã gần một năm, nhìn thấy dân Lào và nói chuyện vặt vãnh với họ cũng không ít, nhưng thời gian này là lần đầu tiên tôi được ở gần và có thể quan sát và ngắm người dân Lào, nhất là con gái thoải mái như thế.

Tôi với anh Trịnh không nằm võng mà đem hai cái tăng căng qua một sợi dây nối giữa hai cây cà phê tạo thành một cái lều trên mặt đất.

Bên trong phủ ít lá khô, trải nilon, thế là có chỗ nằm kín đáo và thoải mái.

Lúc không phải đi công tác hay sinh hoạt, nằm đây nhòm ra thì tha hồ mà ngắm sinh hoạt của nhà dân chỉ cách độ hai chục mét.

Hình ảnh cô gái chủ nhà lên xuống cái cầu thang luôn in dậm trên nền trời xanh.

Mà cho dù cô có đứng trên sàn ngoài nhà thì nhìn cũng thật rõ giữa thanh thiên bạch nhật vì lúc nào trời cũng sáng mà chẳng có gì che khuất.

Cô ấy luôn đi đất (đôi khi mới thấy xỏ đôi dép Thái), mặc một cái váy hoa ngắn ngang bắp chân, nhưng đặc biệt là lúc nào phía trên cũng chỉ có mỗi một chiếc áo nịt con màu đen.

Biết là không phải, nhưng chúng tôi rất thích nằm trong lán (cho kín đáo) mà ngắm nhìn (trộm) thân hình đầy đặn của cô gái, nhìn đôi vai trần và làn da trắng của cô ấy.

Còn cô ấy thì cứ vô tư với những cử chỉ tự nhiên như chỗ không người.

Mới đầu tôi và anh Trịnh cho là đặc ân của hai thằng khi lọt vào cái góc này, nhưng hóa ra không phải.

Bản không đông dân nhưng cũng có đến chục cô gái tuổi "sao", còn cái đám trai gái bé hơn nữa thì cũng khá.

Lúc chúng tôi có việc đi ngang dọc trong bản mới biết đám con gái ở đây đều ăn mặc thế cả.

Thật khác xa ở nhà, vì con gái Bắc (kể cả đám thanh niên xung phong bạo dạn) cũng chẳng có ai mà trên mình có mỗi cái "tùng chiêng" lại dám thản nhiên đi lại trong sinh hoạt cộng đồng.

Trong cái cảnh ấy, chắc cũng có thằng lính ta thầm nuốt nước bọt.

Nhìn vài hôm thấy quen, nhưng tôi với anh Trịnh vẫn khoái vì cô gái nhà gần chỗ chúng tôi trông xinh nhất.

Tiếc là nhìn ngắm thoải mái, nhưng đơn vị không cho giao lưu, thành ra chỉ hỏi được mỗi cái tên, nói vài câu chung chung rồi tịt.

Thời gian chúng tôi ở Lào tuy không phải là nơi đèo heo hút gió, vẫn có dân nhưng vốn chẳng bao giờ đóng quân trong bản nên nhìn dân gần gũi lúc này vẫn cảm thấy tình thương mến thương như làng xóm quê nhà.

Gần bản có một con suối đá chảy qua, khá rộng, nước trong veo.

Phía bên kia suối liền sát với một cánh rừng khá rậm rạp.

Dân bản họ ăn uống và tắm giặt đều lấy nước từ con suối này.

Chúng tôi ở đây thì cũng nhờ con suối như thế.

Có điều chúng tôi nhận xét thấy là khi tắm giặt, dân bản phân chia khu vực rõ ràng.

Đàn ông được tắm phía trên dòng chảy, còn phụ nữ và trẻ con tắm phía dưới, cách xa nhau đến cả trăm mét, khúc suối lại cong nên chẳng bên nào nhìn thấy bên nào.

Bộ đội chúng tôi là đàn ông nên tất nhiên cũng được tắm ở khúc phía trên, nhưng cũng cách ra phía trên một tí vì dân họ không tắm chung cùng lính, nhất là không đi tắm tập trung.

Lòng vả cũng như lòng sung.

Lính tráng xa nhà mà gần dân, thế nào chẳng có điều trắc ẩn.

Không ít thằng mong được nhìn trộm con gái tắm, nhưng bộ đội cách mạng đâu có thể làm ấu.

Cầm tay con nhà người ta công khai thì chẳng sao, nhưng nhòm ngó lung tung thì không được.

Thế là mấy ông tai quái (nơi nào chẳng có các bố ấy) tìm cách mò sang bờ suối bên kia phục kích.

Bên đó là rừng rậm, lại muốn giữ bí mật (cả với "quân ta" và "quân địch") nên phải vờ đi rừng ở đoạn rất xa, đi một khoảng cũng rất xa rồi mới định hướng đạp rừng quay lại.

Đầu têu là mấy anh dân Hà Bắc (cựu nhất trong đơn vị) rồi đến các anh Hà Tây.

Cho đến một lần anh Trịnh cũng ngứa ngáy chân tay rủ tôi cùng đi.

Phải nhân một buổi chiều được cử đi lùng sục chỉ có hai người.

Chúng tôi chỉ mang AK cho gọn, nhưng không đi theo lộ trình đơn vị giao, mà nhanh chóng cắt đường đổi hướng.

Đường dài và gian nan đến nỗi có nhẽ sau hai tiếng đồng hồ chúng tôi mới mò trở lại được bên kia suối.

Lại định vị cho đúng khúc suối trong điều kiện chỉ được bò loặc lổm nhổm bốn chân.

Bí mật được thì không sao, lộ ra thì coi như không còn gì để cãi.

Chúng tôi chọn chỗ phục kích, cũng may là nơi đó toàn cây lúp xúp, bờ suối lại dốc đứng cao hơn lòng suối đến hơn chục mét nên khả năng bí mật được nâng cao.

Chúng tôi còn phải nằm chờ rất lâu cho đến khi nắng chiều đã nhạt thì dân họ mới đi tắm (không như lính ta toàn phải đi tắm vào buổi trưa).

Đang nằm im chờ thời cơ thì chúng tôi phát hiện chếch phía sau có tiếng động sột soạt.

Chúng tôi nằm bẹp xuống, im re, không biết người hay thú dữ đây.

Thú dữ cũng chết vì đâu dễ giải thích chuyện săn bắn ở vị trí này.

Còn nếu là dân thì đúng là họ theo dõi bắt quả tang mình rồi.

Thế thì đằng nào cũng chết.

Cảm giác hồi hộp lúc này chẳng kém lúc phục kích địch thật là bao nhiêu.

Dù sao chúng tôi cũng vẫn phải hơi xoay người chĩa mũi súng vào cái hướng loạt soạt ấy.

Thật vô cùng bất ngờ khi tôi nhận ra một người đội mũ tai bèo đang bò đến, lính ta và không phải ai khác, chính là anh H.

C viên phó của chúng tôi.

Lúc này tôi muốn đái ra quần cho nó nhẹ người đi quá.

Bị bố này bắt được thì coi như hết đường về quê mẹ rồi.

Chắc phía sau còn có thằng liên lạc đi hộ vệ nữa.

Tôi bấm tay anh Trịnh nằm im, không dám thở mạnh.

Anh H. cứ chậm rãi bò dần tiến lên bờ suối, cách chúng tôi chỉ độ gần chục mét mà không phát hiện ra chúng tôi.

Thế mới biết yếu tố bất ngờ quan trọng thật.

Chẳng mấy chốc anh ấy cũng chọn xong chỗ để "quan sát".

Không thấy thằng liên lạc đi cùng, hóa ra anh ấy cũng có mục đích giống hai chúng tôi.

Cái khổ nhất đối với chúng tôi lúc này là vừa không được hút thuốc, vừa phải canh chừng thủ trưởng.

Mãi sau thấy cứ thế này thì không ổn, anh Trịnh quyết định chủ động xuất cờ trước, lấy một hòn đất nhỏ ném về phía anh H.

Anh ấy giật mình ngơ ngác.

Đến khi nhìn thấy chúng tôi, vẻ mặt anh ấy khiến tôi dám chắc anh ấy muốn đái ra quần hơn cả tôi lúc nãy.

Nhưng chỉ thoáng qua thôi, vì toàn là quân ta nên bắt liên lạc với nhau rất nhanh.

Nói cho cùng, trong bụng ai chả có chất giống nhau, nên ba chúng tôi nhanh chóng hợp thành một đội.

Chiều hôm ấy, từ khoảng cách gần bốn chục mét, ba chúng tôi được xem "phim cấm".

Nhưng nói thật là mọi thứ cũng chỉ mờ mờ ảo ảo như trong tranh thủy mạc của họa sĩ Đổng Thìn Sinh mà thôi.

Nhưng thế cũng là lên tiên rồi.

Chỉ khổ là đến lúc "hết phim" phải về thì lại chạy như ma đuổi, đi tắt cắt rừng để về cho kịp giờ cơm chứ đi lùng sục gặp tình huống gì mà lâu thế.

Được cái là các B ở phân tán, không phải ăn cơm và sinh hoạt tập trung nên chuyện này vẫn giữ được bí mật cho đến bây giờ, chỉ có ba chúng tôi biết mà thôi.

Thời gian ở bản Phù Đin quá ngắn nên không đủ để xảy ra sự cố với dân, những thằng tò mò cũng không có cơ hội được nhòm ngó bao nhiêu thì ngày 12/3, cả đại đội tôi nhổ trại hành quân về vùng bản Tà Kịt.

Nghe nói tiểu đoàn phải chuyển sang giữ chốt ở hướng Keng Nhao trên con đường 231.

Con đường này bắt nguồn từ ngã ba Lào Ngam và chạy xiên về hướng Tây Bắc.

Nếu đi theo đường 231 thì từ ngã ba Lào Ngam đến Keng Nhao cũng chỉ chừng hai chục cây số, nhưng ngoài con đường đó ra thì sát theo huội Chăm Pi chỉ toàn là rừng rậm núi cao không có đường.

Vì thế chúng tôi phải quay lên hướng ra phía Saravan rồi vòng lại theo các tuyến đường xe bò của dân thì mới đến được Keng Nhao.

Cái bản Tà Kịt nằm ở chỗ gấp khúc trung chuyển đến đó.

Cũng như các cặp bản ở Lào có tên "cầu" (cũ) và "may" (mới) có nguồn gốc từ một bản, lần này chúng tôi ở cạnh bản Tà Kịt "nọi" (bé).

Bản Tà Kịt cũ (Bản "nhầy"-to) thì đã bị phá rồi.

Chúng tôi đóng quân ven một cái đồi rất to có hình dài như cái bánh mì.

Trên mặt đồi trọc lốc toàn đất đá cứng, không có một bóng cây che.

Chúng tôi phải chia làm hầm cạnh các gốc cây to ở một mé đồi cạnh một con suối.

Cả đại đội nằm rải rác một bên bờ suối theo một chiều dài trăm mét.

Đi xa một đoạn rồi vượt qua suối đi tiếp chừng hai trăm mét là tới bản Tà Kịt "nọi" có gần hai chục nóc nhà dân.

Bản này cây cối rậm rạp và mát mẻ, nhưng hầu như không có cây ăn quả.

Nhà cửa bé và xấu.

Còn về tít xa cuối cái dãy đồi "bánh mì" là vết tích của bản Tà Kịt "nhầy", ở đó không còn nhà sàn nhưng lại có rất nhiều dừa, cây nào cây nấy cao vút có đến hơn chục mét, rất nhiều trái.

Trung đội tôi được bổ sung anh Thanh (dân tộc Tày) ở trên C25 vận tải về làm A trưởng.

Thế là tôi chia tay anh Trịnh sang làm lính cho anh ấy, A chỉ có 2 người.

Tôi và anh Thanh đào một cái hầm hàm ếch dựa vào một gốc cây gạo, gọi là có hầm thôi vì vùng này không có gỗ nhỏ.

Vả lại lúc này không khí lính tráng cũng chủ quan lắm vì đã lâu không nghe tiếng máy bay và bom pháo.

Đến nơi trú quân mới nghe nói đào hầm đã thấy ngại.

Hai anh em che tạm lá và nilon trải ngay cạnh gốc cây gạo làm nơi trú ngụ, cảm giác thấy mình gần giống như anh Thạch Sanh làm nghề đốn củi trong chuyện cổ tích.

Đang mùa khô nên không sợ ướt, ở độc lập chỉ có hai anh em, nhìn xa xa thấy con suối ẩn hiện sau những rặng cây rậm, "sơn thủy hữu tình", cũng thấy khoái.

Thời gian chúng tôi ở bản Tà Kịt "nọi" chỉ có một tuần.

Hầu như chỉ nghỉ ngơi.

Sinh hoạt đại đội có một lần.

Một lần được tập trung ở đỉnh đồi "bánh mỳ" xem phim, một bộ phim tài liệu tuyên truyền và bộ phim "Trần Quốc Toản ra quân", một phim thể loại Chèo của Việt Nam.

Vì không sợ máy bay nên chiếu ngay trên đỉnh đồi, cả tiểu đoàn ngồi theo hàng lối để xem.

Nội dung phim gần như đã biết rồi (ai mà chả biết chuyện "Trần Quốc Toản bóp nát quả cam"), nhưng hơn năm trời mới được xem phim nên lính tráng chúng tôi đón nhận rất vui vẻ.

Thời gian ở đây, hàng ngày chúng tôi lọ mọ kiếm ăn.

Suối bé không có cá, mà có cá đơn vị cũng không cho đánh bằng thuốc nổ.

Đến bữa nấu cơm chỉ phát cơm và muối, còn lại tự túc.

Đại đội cũng có cử lính đi "cải thiện" tức là đi tìm thứ gì ăn được làm thức ăn, nhưng thất bại.

Khu vực này đến chuối cây hay rau tàu bay đều không có.

Tôi cùng anh Thanh lần mò mãi thì gặp một vạt vườn ớt be bé đã bỏ hoang, toàn cây xơ xác chỉ có chút lá.

Tôi ngắt một ít lá ớt về đem nấu canh với cái gói gia vị trong gói mì ngày trước lấy ở Păk Soòng, ăn thấy rất ngon.

Thế là cứ mỗi bữa làm một cái hăng-gô cho một gói gia vị và mươi ngọn lá ớt là đủ canh ăn.

Tôi cũng lấy đưa sang cho anh Trịnh cùng ăn.

Có điều cái vườn bé quá nên chỉ vài bữa là hết sạch.

Sau đó chúng tôi còn mò về bản Tà Kịt "nhầy" để tìm cái ăn.

Ở đây có một ít cây dừa, sai trái nhưng cây rất cao.

Chả thằng nào biết trèo dừa.

Vác súng đem bắn thì chỉ làm thủng dừa chảy phí nước.

Về sau chúng tôi tập trung nhiều thằng lại chặt đổ cả cây rồi lấy dừa chia nhau.

Đem về bóc lấy cùi dừa đun với muối như kiểu món dừa kho thịt ở nhà, ăn với cơm cũng được, tuy hơi chát .

Chặt được độ 5 cây thì BCH đại đội ra kiểm tra rồi cấm, không cho chặt dừa nữa vì tàn phá thế dân họ kêu thì chết.

Lại một chuyện làm liều nữa.

Thời gian này chúng tôi ăn no đủ không thiếu gạo.

Một lần lọ mọ sục xạo thế nào mà tôi phát hiện ra một kho gạo của quân ta, không biết giấu từ lúc nào.

Kho làm nửa chìm, cây lá xung quanh che phủ chứng tỏ lâu không có ai nhòm ngó đến, tất nhiên là không có lính coi kho.

Chỉ chừng độ hơn tấn gạo nhưng toàn là gạo đồ của Trung Quốc bọc trong bao nilon xanh, mỗi bao khoảng năm chục cân.

Tôi báo cho anh Thanh và hai anh em cùng mò ra xem xét.

Xác định tạm thời là vật vô chủ, nhưng không thể báo cả đơn vị lấy về dùng được.

Chúng tôi đang đủ ăn, loại gạo này đun mãi không nhừ nên thực tình cũng không háo hức.

Tuy thế anh Thanh lại bảo, dân Lào họ thích loại gạo này vì nấu xong hạt cơm cứ rời nhau tơi ra nên ăn bốc kiểu Lào thì rất tiện.

Thế là hai anh em quyết định lấy trộm hai bao đem bán cho dân.

Phải đi làm hai chuyến vào ban đêm đúng ca chúng tôi gác thì mới hết.

Cũng may anh Thanh (người Tày) rất thạo tiếng Lào nên giao dịch trước được với dân.

Chúng tôi đổi hai bao gạo được hai cái bật lửa và hai tút thuốc "A Lào", thêm được một ít đường.

Anh Thanh cho tôi một cái bật lửa, còn thuốc lá không dám chia bừa bãi.

Thế là do trú quân phân tán, buổi tối sau cơm nước anh Thanh kéo mấy đứa cùng B tụm lại đun cà phê uống (cà phê trên cao nguyên không thiếu, chỉ mỗi tội phải tự xay, giã và lọc thôi) và lấy thuốc lá thơm ra cùng hút.

Không chia được trong cả C thì cho mấy anh em trong B quây quần thế này cũng đủ chan hòa tình đồng đội rồi.

Chả ai thắc mắc từ đâu mà có, chúng tôi cứ từ từ thưởng thức hàng tối, rồi cũng hết nhanh chóng.

Thời gian này lúc nằm rỗi, anh Thanh kể cho tôi nghe rất nhiều về chuyện sinh hoạt của người dân tộc Tày, về chuyện đi săn bắn.

Anh bảo ở quê anh ai cũng biết làm súng kíp để đi săn.

Tuy thế súng này chỉ bắn được thú nhỏ.

Loại to như gấu, hổ phải tìm mua súng hai nòng dưới xuôi bắn nó mới chết.

Bây giờ ở quê cũng chỉ còn ít thú thôi, không có nhiều như trong này nên săn bắn cũng vất vả.

Anh bảo hồi ở trên C25 anh bắn được nhiều chim thú cho đơn vị lắm.

Bây giờ xuống bộ binh, nếu có điều kiện anh sẽ bắn thú cho mà ăn.

Tôi háo hức lắm vì tuy từ ngày vào đơn vị được ăn cũng khá nhiều thứ, từ chồn, rắn, khỉ, bò, ngựa, thậm chí cả hổ và voi nữa, nhưng cũng chỉ tùy lúc, mà từ ngày ra Saravan đến nay không có.

Bây giờ ở cùng anh, nếu đi hoạt động lẻ chắc chuyện cải thiện sẽ rất ngon lành.

Một lần tôi còn chứng kiến một chuyện mà cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu có phải đó là một thứ bùa mê không?

Lần ấy trung đội chúng tôi đi lấy gạo cho đại đội.

Đường đi phải lội suối rồi đi xuyên qua bản Tà Kịt "nọi".

Lúc về, sau lúc ngồi nghỉ giải lao ở bản, anh Thanh để mọi người về trước, kéo tôi ngồi rốn lại về sau.

Lúc vượt qua bản, chúng tôi thấy có một đàn gà mẹ con.

Anh Thanh lấy ra một nắm gạo, là động tác gì đó rồi vãi ra trước mặt con gà mẹ, miệng kêu "tục...tục..."

Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy con gà mẹ mổ ăn mấy hạt rồi cứ thế chạy theo sau chúng tôi ra phía bờ suối, bỏ mặc cho cả đàn con nháo nhác đuổi theo gọi mẹ.

Tôi đã từng xem gà mẹ đuổi diều hâu hồi còn đi sơ tán ở Vĩnh Phúc, biết rằng gà mẹ khi nuôi con sẽ dữ chẳng kém gì chó nằm ổ.

Thế mà ở đây nó như không còn biết đến đàn con.

Ra đến bờ suổi, tôi còn chưa hết ngạc nhiên thì thấy anh Thanh lội xuống nước rồi bụm tay hất nước "xùy, xùy..."

đuổi con gà mẹ.

Một lúc sau con gà mẹ mới như chợt tỉnh, quay lại đám gà con phía sau như bản năng vốn có rồi dẫn đàn con về bản.

Về đến đại đội trả gạo xong, lúc nằm khểnh hút thuốc, tôi mới bảo anh Thanh là "suýt nữa anh em ta có gà ăn".

Anh Thanh cười bảo "không có đâu, làm chơi thì được chứ bắt con gà đó làm thịt là phải tội đấy, hỏng hết phép".

Phép đó là gì, có phải thứ bùa của người dân tộc dùng để "chài" mà tôi có nghe nói không?

Anh Thanh không trả lời, từ đó về sau trong hoàn cảnh nào gặng hỏi, anh Thanh cũng không quay lại chủ đề này nữa.

Thế đấy.

Sau một tuần nghỉ thảnh thơi ở cạnh bản Tà Kịt "nọi", ngày 20/3 đại đội tôi lại lên đường, nhằm hướng đến bản Noọng Bua ở gần đường 231.

Dọc đường đi chúng tôi có qua một hai cái bản khác của vùng cao nguyên.

Trên cao nguyên, lính có câu:

"Phù sao Phăk Cụt,

Gia đụt Na Sịa,

Mía Noọng Tôm".

Điều đó có nghĩa là bản Phăk Cụt nổi tiếng có gái đẹp (tôi chưa đến đây nên chưa được chiêm ngưỡng), bản Na Sịa nổi tiếng về trồng thuốc lá.

Nếu như vùng bản Xăm-xi-nuc người dân trồng cây kiệu bạt ngàn trên những nương rẫy rộng lớn thế nào thì ở vùng bản Na Sịa, họ trồng thuốc lá nhiều như thế.

Cả một đại đội hành quân qua, lính tạt vào vặt mỗi thằng một ôm lá mà trông như nương thuốc không hề suy chuyển gì.

Đi lẻ mà vào bản dân ngồi chơi tán chuyện là cũng có thể xin được một nắm thuốc rê to tướng đủ hút cả tháng.

Dân Lào được tiếng mến khách và hào phóng.

Đợt hành quân này chúng tôi chỉ đi qua bản Noọng Tôm.

Phía ngoài bản dân trồng mía bạt ngàn, nhưng có luống lối vun đắp tử tế chứ không phải những bãi mía trồng như rừng cho voi ăn vùng cao nguyên.

Hình như tôi đã kể là trong cao nguyên vùng gần Păk Soòng có những bãi mía dân họ trồng cho voi ăn, bãi mía rộng tới cả hec-ta, toàn là loại mía nhỏ gióng dài màu vàng giống như mía chuyên để nấu đường.

Loại mía này ngọt sắc.

Lính tráng đi lẻ rất thích nghỉ chân ở đó, chui hẳn vào trong cho mát, ăn mía đến rát lưỡi mới chịu chui ra.

Mỗi tội không được chặt mía đem về (ai lại đi ăn tranh của voi nhỉ?).

Ở bản Noọng Tôm này lại toàn giống mía tím gióng ngắn, thân to mà người ta hay gọi là mía "Tuy Hòa".

Mía này không ngọt sắc, nhưng rất giòn, dễ gặm.

Tuy chỉ gọi là vườn vì mía trồng ngay bên đường, khắp xung quanh bản nhưng nhiều đến độ nổi tiếng toàn cao nguyên thì cũng có thể hình dung rộng lớn thế nào.

Có điều họ để ăn hay đem bán đi đâu đó chứ cũng không thấy có lò nấu đường.

Thôi thì bộ đội hành quân nắng nóng cứ dừng chân rẽ vào mà giải khát.

Chẳng phải tìm dân để xin vì vốn dĩ lính ta cũng không thích xin, đã quen như của nhà từ lâu rồi.

Vả lại trong dân các bản cao nguyên lúc đó đã truyền tụng nhau câu nói "Bộ đội Việt Nam nó bảo, phong tục Việt Nam chỉ xin một lần là lấy mãi đấy".

Vậy thì thể nào chả có lúc đã có lính hỏi xin, mà chúng tôi ai cũng là lính Việt giống nhau thì khỏi phải hỏi xin lần nữa.

Chuyện này kể lại thì nghe có vẻ đùa, nhưng tình hình lúc đó là thế thật.

Mà lính ta khi có vật chất sẵn có và dồi dào thì cũng công tử lắm.

Từ quan đến lính tự nhiên như ruồi, rẽ vườn mía chui vào chọn cây nào to, gióng đều, thẳng và còn nguyên lớp bụi bám trên các đốt thì mới chặt.

Mía mùa hè ngon phần gốc, thì về mùa đông (có gió heo may) phần ngọn lại ngọt hơn.

"Gió heo đường trèo lên ngọn", câu này truyền nhau, lính nào cũng biết.

Bây giờ là tầm tháng 3 thì cả cây mía đều ngon.

Trung bình mỗi lính "hạ" hai cây để giải khát, lúc lên đường hành quân còn một khúc gặm nốt là tròn khẩu phần.

Quy định không chặt thêm mía mang theo, ngày đó chúng tôi chấp hành nghiêm lắm.

Đêm hôm ấychúng tôi nghỉ lại cạnh bản Noọng Bua.

Nghỉ ngoài rừng sát cạnh bản chứ khôngvào trong dân.

Mùa khô hành quân và dừng chân chỗ nào cũng tiện.

Hôm sau chúng tôi lại hành quân tiếp về hướng đường 231.

Lúc này chợt có cảm giác đội hình hành quân không đông, hình như chỉ có C6 chúng tôi thôi thì phải.

Sau này được biết đúng là thế, cả trung đoàn vẫn nằm im, còn các đại đội khác cùng D và tiểu đoàn bộ hành quân ra vùng bản Sen Vàng giáp gianh Saravan.

Vùng này có nhiều bản quần tụ đông đúc, tha hồ mà giao lưu với dân, tha hồ mà "phòn" (múa") với các cô gái mỗi đêm.

Dân Lào kể cũng lạ, chả phải ngày hội hè gì, hễ cứ có giao lưu là đốt lửa uống rượu và múa.

Điệu "phòn" của Lào khá đơn điệu, chỉ học độ mươi phút là nhún nhẩy và uốn éo chân tay được.

Nhưng thôi, đấy là việc của người khác, còn mấy chục lính C6 chúng tôi vẫn cặm cụi hành quân ra vùng giáp gianh với địch.

Càng đi càng có cảm giác bản làng thưa thớt vì chỗ nào cũng như bỏ hoang, chả có nương rẫy gì.

Rừng cũng không phải rừng già âm u mà khá thưa, nhiều chỗ đi qua cánh rừng có rất nhiều loại cây có dây leo chằng chịt.

Mấy lính người dân tộc cứ cố nghển cổ tìm cây Gắm (một thứ cây cho quả, chà xát kỹ, rang lên ăn khá bùi, chống đói) mà không có.

Tại một chặng, chúng tôi đi qua một dẻo đất kiểu như thung lũng có bùn đất và nước lấp xấp, các loại cây dại ăn được như rau càng cua, tập tàng mọc khá nhiều.

Lính tráng thi nhau hái, đi đến đâu hái trụi đến đấy.

Tới bữa tập trung lại cho anh nuôi là có món canh cải thiện ngon lành.

Loại rau này ăn lành, vùng quê nào cũng có.

Ở ngoài Bắc chỗ bãi tha ma gần nhà tôi có loại rau rền cơm mọc dại, loại này nếu chịu khó hái, nấu ăn còn ngon hơn loại rau rền trồng.

Tại một chỗ khác, chúng tôi thấy có nhiều rau mọc lan trên mặt đất, trông từa tựa rau muống.

Tôi nghĩ đến loại rau muống Mèo mọc vùng Tây Bắc mà trong những truyện ký của cha anh về Điện Biên Phủ có nói tới, định hái một ít thì anh Thanh ngăn lại.

Anh ấy bảo rau này trông đẹp vậy thôi nhưng không ăn được, ngộ độc có ngày.

Các lính dân tộc mà đã nói là phải nghe theo rồi.

Chúng tôi đã gặp vụ hái phải nấm độc hồi mới được bổ sung về tiểu đoàn, bây giờ vẫn còn nhớ rõ.

Chiều tối, chúng tôi đến trú quân tại một cánh rừng rậm, có nhiều cây leo.

Nền đất nơi đây khá ẩm ướt.

Bếp ăn được ưu tiên chọn chỗ cao khô ráo nhất, còn lại chia trú quân, mắc võng mà nằm.

Tất nhiên địa hình thế này không phải đào hầm, vậy là sướng rồi.

Lúc này C6 chúng tôi được tiểu đoàn cho 2 trinh sát và 01 điện đài đi phối thuộc cùng.

Điện đài là máy 2W của Liên -xô (không biết tên là K10 hay PRC10 gì đó, loại đeo vai như balo, màu cứt ngựa, có cái anten cần có 3 râu lá lúa).

Lúc dừng chân, thằng lính thông tin chăng một sợi dây lên cành cây làm anten để thu được xa hơn.

Lúc thanh bình này, nó hay nghe tin tức qua đài Tiếng nói Việt Nam, có khi cho vài anh em nghe ké.

Đêm đó tiểu đoàn lại chỉ tọa độ mới và lệnh cho chúng tôi hành quân tiếp.

Hôm sau, chúng tôi đi thêm chừng hai chục cây số nữa, vượt qua đường 231 sang phía Tây chừng hai cây số, thuộc đất của địch.

Con đường 231 là đường lớn chứ không phải loại đường xe bò, nhưng cũng chỉ là đường đất, cây hai bên đường mọc xòe ra che kín nhiều phần đường.

Chúng tôi dừng chân trong một cách rừng già, bố trí các trung đội theo vòng tròn và tổ chức đào hầm chữ A hẳn hoi.

Cánh rừng này khá rậm nhưng nhiều cây con, ai muốn mắc võng hay nằm đất sát miệng hầm thì tùy.

Hôm ấy là ngày 24/3/1973, Hiệp định Viên Chăn mới trôi qua hơn một tháng.

Tại cánh rừng này, cả đại đội tôi nằm trú quân khoảng 10 ngày, đủ một cơ số gạo 7 kg.

Theo trinh sát dẫn đường và bố trí, hàng ngày có một B lùng sục về hướng Bắc, nơi phán đoán có địch đóng quân.

Vì không phải mục đích đánh căn cứ nên trinh sát không bám địch đến tận nơi đóng quân của chúng.

Họ chỉ báo là có gặp các tốp địch ở phía đó thôi.

Vậy mà chúng tôi cũng được lệnh là nếu lùng sục mà gặp địch thì vẫn phải nổ súng, ở nhà sẽ ra chi viện.

Cái khó là ở vùng này, chỉ chệch cánh rừng chúng tôi trú quân độ hơn trăm mét là cảnh rừng gần giống Saravan.

Toàn cây cối lưa thưa như cây khôộc xen lẫn rất nhiều ụ mối.

Không có đường, phải nhắm hướng nên chỉ đi xa lắm độ hai cây số là phải quay về để khỏi lạc.

Phía đường 231 hướng về ngã Ba Lào Ngam thì cách một ngày cũng có một B đi lùng sục hướng đó, cũng chỉ men đường đi độ hai cây số thì về.

Những lần đi qua hướng này, chúng tôi rất yên tâm vì những dấu vết trên đường luôn chứng tỏ không có người qua lại.

Vậy là địch nó cũng chả mò ra đến đây.

Ngoại trừ các B đi lùng sục, A cối 60, anh nuôi, y tá và B còn lại toàn chơi tiến lên và ngồi tán chuyện gẫu.

Ban đêm tuy có tổ chức gác, nhưng tinh thần trực chiến xem ra lỏng lẻo.

Chúng tôi chỉ nghĩ đơn giản là nếu tình hình gay gắt thì tại sao ở hướng này, cả trung đoàn mà chỉ có mỗi một C với hơn ba chục người ra đứng chân cách xa đại quân tới ba chục cấy số thì làm ăn được gì nếu có địch thực sự.

Vì vậy khi đi lùng sục theo đường 231, chúng tôi cố gắng tìm dấu vết bản cũ hay cái nương bỏ nào đó để tìm rau, nhưng không gặp.

Một vài đêm, chúng tôi tổ chức đi chém cá.

Trong cánh rừng này có con suối đá khá rộng chảy qua, nước sâu đến đầu gối.

Chúng tôi huy động Pin lấy từ đợt đánh Păk Soòng để đi chém cá.

Cá ở đây không nhiều, chỉ to độ ngón tay cái.

Ban đêm cá ngủ, nhưng dùng loại dao tông của Mỹ (dao mỏng, to bản) luồn xuống nước kê ngay gần con cá ngủ trên phiến đá rồi "phập" nhẹ một cái là con cá đứt đầu.

Hai thằng với hai đôi pin là một tối được một gô cá cho cả đơn vị nấu canh chua (lá chua rừng không thiếu).

Được vài đêm thì nguồn pin xem ra có vẻ hao quá, lại thêm một lần gặp phải cá rắn.

Con này là cá chứ không phải rắn nước, nó to và dài giống con lươn nhưng bơi lượn rất nhanh.

Mấy lính người dân tộc bảo loại cá rắn này còn độc hơn rắn hổ mang trên cạn, và chính họ có ý kiến rút lui trước nên chúng tôi cũng chờn.

Thế là chuyện chém cá phải dừng lại.

Một lần, sau khi chúng tôi ở đây một tuần gì đó thì hai lính trinh sát D báo rằng họ đã phát hiện ngoài bãi trống cách chỗ chúng tôi chừng cây số có khoảng một B của địch thường đi lùng sục qua.

Lâu không đánh nhau, không có thành tích nên Ban chỉ huy đại đội cũng ngứa ngáy, liền lập ngay phương án tác chiến.

Hôm sau, một B tăng cường chúng tôi (khoảng chục lính) theo trinh sát mò ra phục kích.

Đường đất có thành hình gì đâu, nên tất cả cứ theo ý trinh sát rồi chia ra ba tốp nằm phơi lưng sau 3 ụ mối hướng về một phía chờ đợi.

Chờ hết buổi sáng không thấy gì.

Chỗ này trơ khấc không hầm hố nên thấy khó chịu lắm, mọi thứ cứ tơ hơ ra, thuốc rê cũng không dám hút, mồm miệng nhạt thếch.

Đang định nếu trưa đứng bóng không có địch thì rút về cơm nước thì địch lù lù xuất hiện.

Một đám chục tên đội hình hàng dọc, không phải tiến qua trước mặt, mà chúng đi ngay từ phía sau lưng chúng tôi, cách độ chỉ dăm bảy mét.

Nếu như cách nhau qua ụ mối thì chúng tôi đã nổ súng vì có vật che khuất, đằng này nó đi qua thì mình đang nằm phơi lưng ra huớng địch nên phải nằm im vì ngọ nguậy một cái là lộ ngay.

Chúng tôi cứ nằm chịu trận như thế chờ cho tốp địch đi qua rồi khuất dần mới dám ngồi dậy thu quân.

Về nhà, nhiều người chúng tôi cho rằng địch nó nhìn thấy mình rồi, nhưng nó không muốn đánh nhau mà thôi.

Có vẻ như nó cũng muốn hòa bình yên ổn.

Tư tưởng lính như thế khiến BCH đại đội cũng phân vân với ý định mò mẫn đánh địch tiếp.

Sau đó điện về tiểu đoàn, cấp trên cũng chủ trương chốt giữ là chính nên chấp thuận cho C6 chúng tôi lên kế hoạch rút.

Hai ngày sau, lại theo lệnh tiểu đoàn, cả đại đội được trinh sát dẫn đường mò sâu đến một cánh rừng cách đó hai cây số, tìm ra một cái kho đạn cối 60 có độ trăm quả chia nhau cùi về.

Qua đó, tôi biết vùng này khi trước đã có tác chiến và quân ta đã từng đóng quân ở đây rồi.

Lấy đạn cối xong, cả đại đội lại rút về phía Đông đường 231, tới đóng quân lại ở chỗ khu rừng có nhiều cây leo mà mươi ngày trước chúng tôi đã dừng chân một đêm.

C6 chúng tôi vẫn phải trụ lại đây chứ không phải được rút về khu bản Sen Vàng cùng tiểu đoàn.

Hàng ngày chúng tôi vẫn phải tổ chức đi lùng sục ra các hướng, đi rất xa nhưng chỉ theo từng nhóm 3 người.

Cái hướng hay phải đi nhất vẫn là trở lại đường 231.

Trong một tuần ở đây, ngày nào A tôi cũng phải đi lùng sục, có tăng cường thêm một lính nữa của A khác.

Một tuần liền anh Thanh trổ tài săn bắn.

Cứ ra khỏi nơi đóng quân khoảng dăm bảy cây số là anh Thanh nhận đi trước cách độ năm chục mét.

Chỉ một lúc sau, nghe "đoàng" một tiếng chúng tôi chạy lên là đã thấy anh Thanh tươi cười với chiến lợi phẩm là một chú gà rừng rồi.

Vùng này đặc biệt nhiều gà rừng.

Đí đông người thì chúng bay hết, nhưng đi ít người và lặng lẽ thì nhất định gặp chúng đang kiếm ăn theo cả đàn.

Anh Thanh chỉ việc chọn một con ngon mắt rồi khai hỏa là xong.

Vì vậy đi lùng sục, trưa nào chúng tôi cũng có gà rừng ăn với xôi và muối đơn vị phát cho từ sáng đem theo.

Đa phần là vặt lông sống rồi kiếm cái gì đó để luộc, có lần hứng lên mà chỗ nghỉ trưa an toàn thì nướng.

Có điều là săn bắn khi đi làm nhiệm vụ lùng sục nên anh Thanh không dám bắn thêm đem về cho đại đội cải thiện, mà chỉ ba anh em ăn và biết với nhau thôi.

Kể ra như thế cũng không hay, nhưng cái tình thế nó vậy nên phải chịu.

Nhất là anh Thanh lại đang là đối tượng kết nạp Đảng.

Một lần chúng tôi còn mò sang đường 231, đến cánh rừng chúng tôi đã ở mười ngày trước thì phát hiện địch nó đã mò vào đó và phá tan hoang các hầm của chúng tôi.

Dấu vết bếp anh nuôi cũng bị cày sới lung tung.

Chắc chúng cũng bực vì quân ta lấn sang chỗ chúng nó sâu quá.

Rất may bọn địch không ma quái chứ nếu chúng cứ gài đại vài trái mìn ở đây thì chúng tôi thiệt hại to rồi.

Trưa hôm đó nhóm chúng tôi vẫn ung dung ra bờ suối làm thịt gà cho bữa ăn trưa, nhưng tự nhủ từ sau sẽ không quay lại chỗ này nữa.

Một lần khác anh Thanh dẫn chúng tôi đi lùng sục nhưng không vượt qua đường 231 mà cứ đi dọc theo đường rất xa về hướng Ba Lào Ngam.

Đi xa đến mức phát ngại và hơi lo vì sợ lọt vào chốt địch.

Thế mà may không hề gì, chúng tôi còn gặp một cái bản cũ.

Nhà cửa không còn nhưng cây cối hoang vu tuy không người chăm sóc vẫn ra quả.

Chúng tôi khẩn trương hái mấy quả mít đem về cho đại đội cải thiện.

Mít còn non nhưng đem về xào thì rất ngon.

Món này năm ngoái trong cao nguyên cũng là thức ăn loại ngon mà chúng tôi hay nhắm tới khi đi cải thiện.

Giữa nửa tuần đầu tháng tư, C6 chúng tôi lại thu quân trở lại bản Noọng Bua và tổ chức làm nhà cạnh đó để trú quân.

Vì là mùa khô nên làm nhà cũng đơn sơ, gọi là có chỗ che nắng.

Mỗi B là một nhà, bên cạnh nhà vẫn đào lấy lệ một cái hầm chữ A.

Như vậy vềtình hình nhìn chung là toàn trung đoàn 9B chúng tôi gần như đã rút hết ra khỏicao nguyên Boloven để chuyển ra vùng Saravan.

Chỉ còn mỗi C6 chúng tôi là cònđang ở trên đất cao nguyên, quân số hơn ba chục người.

Gọi là đứng chân cắmchốt, nhưng với lực lượng như thế thì chỉ là chiếu lệ.

Bầu không khí hòa bìnhtràn ngập khắp đơn vị.

Trung đội tôi không phải là trung đội chủ công của đại đội, mà là trung đội chuyên về chốt giữ.

Bởi thế nên trong khi cả đại đội còn đang nghỉ chân tại bản Noọng Bua, chỉ có cùi gạo ăn và tập tành vớ vẩn mấy loại vũ khí, sau đó là học những bài chính trị đã thuộc lòng, thì ngày 10/4/1972, B5 phải hành quân trở lại đường 231, nhưng nhằm hướng Keng Nhao.

Cả trung đội có 8 người, được tăng cường 1 y tá và 1 anh nuôi, vừa tròn một chục.

Không có cán bộ C nào đi cùng.

Trinh sát tiểu đoàn chỉ dẫn chúng tôi đến vị trí tập kết rồi quay về.

Đoạn đường 231 chỗ Keng Nhao này cong vênh về hướng sông Me Kông hay sao ấy, nên đường đi từ bản Noọng Bua đến đó cũng phải gần ba chục cây số.

B5 chúng tôi sẽ phải đến đó lập một cái chốt, cắm một cái cờ Pathet Lào làm mốc rồi ngồi đó mà canh giữ.

Thời gian này, nhiệm vụ của chúng tôi gọi là "giữ cờ".

Chúng tôi chỉ lo ngồi chốt trông giữ cờ thôi, còn gạo tiếp tế sẽ do các B khác cùi ra.

Tất nhiên nếu có đánh nhau thì khắc có chi viện.

Trọn một ngày trời, trinh sát dẫn B5 chúng tôi đến nơi trú quân mới.

Ở đây không có dấu vết bản, chỉ là một cánh rừng già cây to cao vút, mọc thưa và xen lẫn trong rừng có rất nhiều ụ mối nhỏ, đường kính chỉ chưa đến hai mét.

Có một cái nhà sàn bằng gỗ cây dựng ở đó, không biết trước kia của ai.

Chúng tôi đoán của bọn coi kho mặt trận hay tụi lính E39 làm nhiệm vụ dân vận.

Nhà chỉ còn sàn và mái che, đủ chỗ cho cả chục người nằm, còn vách xung quanh mất hết cả.

Hôm sau chúng tôi triển khai vị trí cắm cờ.

Đi xa qua vài cái nương bỏ không, cách độ 2 cây số thì tới.

Đó cũng là một cái bản bỏ khá rộng nằm cạnh đường 231, chỉ còn dấu vết nền nhà và rất nhiều cây ăn quả, nhiều loại quả lạ như Vú sữa, Sầu riêng nhưng nhiều nhất là xoài.

Chúng tôi chọn một cây to nằm sát đường và tương đối độc lập để trèo lên đó buộc một cái cờ Pathét, sao cho từ xa mà trời quang thì có thể nhìn thấy cờ.

Cắm mốc thì cũng phải cho địch nó nhìn thấy để báo hiệu đây là gianh giới của ta chứ.

Trong bản và một vị trí bên rìa khác, chúng tôi đào ba chiếc hầm làm ba điểm chốt có thể chi viện được cho nhau.

Tại vị trí nào cũng có thể nhìn thấy cờ và bắn M79 tới đó được.

Tuy không nhìn thấy sát gốc cây cắm cờ vì cây lúp xúp mọc um tùm quanh đó che khuất, nhưng nếu bọn địch trèo lên lấy cờ thì chúng tôi sẽ biết mà nổ súng.

Còn nếu chúng tương đạn cối từ xa để hạ cờ thì cũng phải đành chịu.

Chắc lúc đó cấp trên sẽ có biện pháp khác.

Nhưng cứ hình dung tất cả lực lượng chỉ có mươi người, súng ống là loại trang bị cá nhân, mò xa cách đơn vị tới vài chục cây số thì chuyện giữ cờ chỉ là hình thức, chứ đánh nhau thật thì chốt kiểu này chỉ một ngày là bật.

Chắc trên khắp các chiến trường, chỉ có chỗ chúng tôi mới có kiểu chốt giữ như thế này thôi.

Thế là hàng ngày cơm sáng xong, cứ khi trời bảnh mắt thì 6 lính chúng tôi có mặt tại vị trí cắm cờ để ngồi chốt.

Ngoài cơm nắm nấu sẵn mang theo ăn trưa, nước uống chúng tôi cũng phải mang từ nhà cách xa 2 cây số ấy (Tức là ở cái chỗ nhà sàn bỏ hoang trong rừng ấy.

Gần chỗ ấy cũng tìm thấy một cái lạch nhỏ đủ cung cấp nước ăn cho vài chục người, nhưng nếu muốn tắm thì cũng phải có cách mới gạn nước lên mà tắm được).

Đơn giản là vì cái suối mà dân bản ở đây (chỗ giữ cờ) lấy nước lại phải đi vượt qua đường 231 sang phía địch.

Bốn lính ở nhà lo việc cải thiện và nấu cơm chung cho cả bọn.

Nếu không có gì xảy ra thì trước lúc hoàng hôn, nhóm lính chốt chúng tôi phải rời chốt để kịp về nhà trước khi tối hẳn.

Buổi tối chúng tôi đốt lửa sáng để ăn cơm, sau đó ngồi chơi "tiến lên" đến tận 9 giờ.

Nước uống chỉ là nước suông vì không còn chè.

Ban đêm chúng tôi không gác (thật chủ quan), nhưng B trưởng Dũng không cho tất cả cùng ngủ trên nhà sàn mà bắt 4 thằng thay nhau tách ra xa mắc võng ngủ ngoài rừng để làm thế chân vạc phòng khi có địch.

Nói trước luôn là suốt thời gian ở đó, không có tốp địch nào dám tập kích chúng tôi.

Chuyện ngồi chốt thì không có gì đáng nói, chỉ có một vài nét sau để ghi lại kỷ niệm trong thời gian một tháng rưỡi trời ở đây.

Trước hết là chuyện cải thiện.

Biết rằng khu vực này chỉ có mỗi trung đội mình nên anh Dũng triển khai ngay chuyện cải thiện để bồi dưỡng sức quân.

Trong thời gian ngồi chốt, có hôm vừa mới sáng vào đến chốt, chúng tôi đã thấy có những bầu nước để sẵn cạnh hầm chốt.

Đầu tiên thì nghi ngại, dò xét, sau thì biết dân Lào họ về bản cũ, thấy có hầm bộ đội thì thương tình mang nước tiếp tế, kết hợp hái hoa quả ở đó.

Dân họ không có rau nên cũng tôi cũng đành biết vậy, chỉ nhận nước của họ thôi, nhưng cũng chỉ độ dăm lần.

Hoa quả ở đay khá nhiều.

Những cây xoài cao thấp đủ loại, quả chưa chín nhưng già và to.

Mỗi quả xoài úp hai lòng bàn tay không che kín hết.

Đây là lần đầu tiên tôi thấy xoài to như vậy.

Ở ngoài Bắc chỉ toàn thấy muỗm, quả nho nhỏ thôi.

Thế là chúng tôi hái về, nhưng món đó chỉ ăn cho vui (như khoai lang sống) chứ không làm thức ăn được.

Sau thời gian chốt ở đó thì vườn xoài cũng nhẵn quả.

Còn có hai thứ quả nữa cũng nên nhắc đến.

Một là Sầu riêng.

Nghe nói đây là đặc sản Nam bộ (Việt Nam), nhưng vùng này thổ nhưỡng thích hợp nên cũng có nhiều.

Nhờ anh Dũng hướng dẫn nên chúng tôi mới biết giá trị của nó.

Theo tôi, nó cũng là một loại mít, hương vị khá đặc biệt.

Thế mà trong khi mọi người khen ngon thì vẫn có 2 lính không dám ăn, dù lính tráng chúng tôi khi đó ăn rất tạp.

Chúng nó giải thích mùi này tương tự như kiểu mùi mắm tôm, ai ăn được thì cho là rất ngon, ai không ăn được thì ghê cả đời.

Nhưng có một loại quả nữa ở đây, tôi cho là rất lành và rất tuyệt.

Đó là quả vú sữa.

Cầm nắn cũng thích (mà dứt khoát là phải nắn, nắn nhiều thì ăn mới ngon), còn ăn thì no không chán, chẳng bao giờ nóng người hay đau bụng.

Hai thứ quả này dọc đường 23 trên cao nguyên Boloven có trồng nhiều, nhưng lính ở đó đông quá nên chỉ ở đây, chúng tôi mới được thưởng thức tự do và thoải mái như của riêng mình.

Khu rừng chỗ cái nhà sàn chúng tôi trú quân hàng đêm rất kín đáo.

Cây cao, bóng mát và dưới gốc khá quang đãng.

Vì có nhiều ụ mối nên những hôm không đi chốt, tôi mò ra xem mối.

Mối ở đây rất to, đầu con mối phải bằng hạt đỗ đen, cứng và nâu bóng.

Chúng gặm mọi thứ lạ rào rào.

Vô tình mà bị con mối bò lên chân, khuơ hai cái càng như hai lưỡi kéo xoẹt qua một cái là rách da như bị đứt do lưỡi lam rạch, máu tứa ra không gì ngăn được.

Vô phúc chân trần dẫm đúng ổ mối thì chỉ trong một phút, trên da thịt mình đã có dăm bảy vết cắt như vậy rồi, một lát sau máu tứa ra mới thấy buốt.

Đánh rơi cái ba lô xuống sàn thì chỉ qua một đêm nằm trên đất, cái balo đã bị mối ăn không còn đáy.

Sau này tôi còn qua nhiều cánh rừng có ụ mối nữa, nhưng chỉ gặp ở đây giống mối to và dữ như thế.

Điều đặc biệt là tuy mùa khô không có rau, nhưng khu rừng ở đây thì lại bạt ngàn cây "phac van" (rau ngọt - tiếng Lào) mà ở Trường Sơn bộ đội ta hay gọi là cây rau mì chính.

Cây nhỏ, thân cứng mọc nguềnh ngoàng như kiểu cây rau ngót, nhưng cành thưa và lá to hơn nhiều.

Rau ăn chẳng có vị gì rõ rệt, nhưng đem nấu lên thì nước của nó rất ngọt.

Thế là chúng tôi tạm yên tâm về khoản rau.

Ở đây được hai ngày thì anh Thanh phát hiện khu vực có gà rừng cách đó chỉ hơn cây số.

Thế là anh Thanh không phải đi chốt nữa mà chuyên làm nhiệm vụ bắn gà cải thiện.

Thời gian ở đó ngày nào cũng bắn được gà, có hôm được hai con.

Gà rừng nhỏ con nhưng thịt của nó thì rất ngon.

Anh Thanh còn bày ra những trò đặt bẫy nên đôi lúc chúng tôi còn được ăn cả nhím, chồn và rắn.

Chuyện ăn thế là ổn.

Đặc biệt có một lần chúng tôi còn kiếm được cả một con hoẵng (họ nai) chừng ba chục cân.

Chuyện là thế này.

Vốn đã được học công binh và cũng có chút tai quái nên tôi nghĩ ra cái trò bẫy mìn ở chỗ cắm cờ.

Mìn thật thì không có, lựu đạn lúc này cũng không dư thừa nên tôi lấy hai bánh TNT gói lại như quả thủ pháo.

Thay vì có nụ xòe điểm hỏa, tôi vót một que gỗ vừa bằng lòng cái kíp nổ.

Một đầu tôi vót nhọn và cắm vào trong cái kíp, sát gần mắt ngỗng.

Tôi đem chôn quả thủ pháo đó ngay dưới chân cái cây có cắm cờ Pathet.

Nếu tên địch nào mò đến cờ dẫm lên, cái que nhọn chọc vào mắt ngỗng là "bùm".

Hàng ngày chúng tôi vẫn ngồi chốt bình thường, cũng không tin tưởng địch nó mò đến nên tôi cứ kệ thế, không kiểm tra hàng ngày.

Một hôm vào lúc chiều, mấy thằng ở chốt đang ngồi lặng lẽ nhai xoài cho đỡ buồn thì "bùm" một tiếng rất to ở chỗ cắm cờ.

Tất cả lăm lăm súng nhưng chờ mãi chả thấy gì thêm, cũng chẳng nhìn thấy gì rõ ràng.

Có đến hai chục phút trôi qua, chúng tôi mới yểm hộ nhau lò dò mò đến.

Ôi trời, không phải địch mà là một con hoẵng nằm gục tại đó.

Chả biết làm sao nó lò mò qua đó dẫm phải quả "mìn" của tôi.

Một cái chân trước tan đâu mất và ngực nát bươm.

Thế là hôm đó chúng tôi nghỉ sớm và khiêng con hoẵng về nộp anh nuôi.

Tối hôm đó ăn tươi, cả trung đội râm ran nói cười.

Tưởng phen này tiếp tục được bẫy thú, nhưng cuối bữa, anh Dũng có vẻ nghĩ ngợi rồi tuyên bố: "Cái chuyện này chỉ là ăn may, không phải là cách bẫy hay.

Nhỡ dân họ cũng lọ mọ đi vào thì thật chết, bởi vì bao lâu rồi có thấy địch đâu".

Thế là từ đó tôi không nghịch dại cái trò ấy nữa.

Cứ độ mươi ngày, đại đội lại cử một tốp gùi gạo đến tiếp tế cho chúng tôi.

Tốp này ngủ lại cùng một đêm, hôm sau mới về.

Có chúng nó nên mới không mù tịt thông tin, nhưng giai đoạn đầu thông tin chẳng có gì mới, ngoài chuyện phổ biến viết thư cho gia đình để chúng nó mang về gửi lên tiểu đoàn.

Lúc này chúng tôi vẫn chưa có ai nhận được thư nhà.

Hầu như lần nào bọn cùi cõng tiếp tế cũng được chúng tôi đãi canh "phac van" và thịt gà hay thú rừng.

Để đáp lại thịnh tình của chúng tôi, đến mấy lần sau chúng nó cũng kiếm được ít lá thuốc trồng ngoài nương của dân trên đường đi đem đến cho chúng tôi thái phơi để hút.

Nếu không có chuyện này thì còn buồn hơn nữa.

Một lần giữa ban ngày còn có hai thằng du kích Lào (là chúng nó giới thiệu thế chứ chúng tôi cũng có gặp chúng nó bao giờ đâu) mò đến chơi.

Chúng nó giới thiệu là ở đơn vị quái quỷ nào đó mà chẳng ai biết.

Chỉ tin vì chúng cũng có súng AK.

Bọn này cũng bẩn thỉu và hút thuốc rê luôn mồm.

Chúng nó chỉ nói chuyện chơi, không nói gì đến chuyện công việc.

Chúng nó qua lại với chúng tôi độ ba lần, cũng mang thuốc rê cho chúng tôi, đóng trong ống nứa.

Một đoạn ống dài hai mươi phân thì một người hút phải nửa năm.

Sau đó chúng nó không đến, và chúng tôi cũng chẳng bị làm sao, chắc chúng là du kích thật.

Sau này nghĩ lại thấy mình cũng chủ quan, nhưng đồng thời cũng thấy người Lào hiền lành chất phác thật, không ma quái.

Một tháng rưỡi trời gần như không sinh hoạt vì có chuyện gì thì buổi tối ngồi ăn cơm anh Dũng đã nói rồi.

Nhàn cư vi bất thiện.

Ở đâu cũng vậy, nhưng cái phạm vi bất thiện lại bị giới hạn bởi điều kiện cụ thể từng lúc.

Lính ta mà ngồi rỗi thì chỉ có hai chuyện thường nói, nói nhiều, nói mãi mà không chán.

Đó là chuyện ăn và chuyện về chị em.

Chuyện ăn thì không nói làm gì.

Chuyện về chị em cũng là vô thưởng vô phạt, nhưng tôi bị vố nhớ đời.

Tôi đã kể là anh Thanh A trưởng của tôi người dân tộc Mường, đã có vợ trước khi đi lính.

Ông này cũng rất hóm chuyện và không sợ bậy bạ.

Thằng Thái "Pitơ" trong C tôi thường bảo, mấy ông dân tộc mà sống lâu với người Kinh là rất hay dẫm vào cứt người Kinh (nghĩa là họ trở nên tinh quái).

Nhưng trong vụ này tôi lại thấy rằng mấy bố ấy mà sống lâu với người Kinh thì còn quái đản hơn nhiều, sẵn sàng lừa cho chúng tôi dẫm vào cứt họ.

Số là những thằng lính trẻ chưa vợ thì cứ hay tọc mạch, tò mò.

Cái tò mò ly kỳ nhất là về cái của chị em.

"Chúng mày chưa biết hả, để tao tả cho mà biết".

Anh Thanh bắt đầu thế rồi hạ giọng: "Thế chúng mày đã nhìn thấy của trẻ con hai ba tuổi chưa".

Nhiều thằng gật đầu vì có thằng ở quê có cháu gái, hoặc giả chúng nó nhìn trộm ở đâu đó nơi đóng quân.

Chờ một lát để nhìn rõ mấy gương mặt háo hức của lính trẻ rồi nở nụ cười rất hiền lành, anh Thanh chậm rãi: "Đấy nó cứ từa tựa như thế, nhưng về sau khi lớn lên thì nó quay ngang, nên chúng mày về sau lấy vợ phải cẩn thận kẻo nhầm".

Bài lên lớp thế thôi, anh Thanh không tiếp nữa mà để mặc cho chúng tôi thả sức tưởng tượng.

Khổ cho cáithân tôi, nhìn vẻ mặt dân tộc thật thà của anh Thanh (anh ấy lại là A trưởnggần gũi với tôi) nên tin sái cổ.

Chuyện này tôi cứ âm thầm để bụng.

Mãi cho đếnkhi rời khỏi quân ngũ xa nhau rồi, hơn ba chục tuổi đầu mới lấy vợ, tôi đã phảigạ gẫm, năn nỉ, xin xỏ vợ để rồi mới biết là năm xưa, anh Thanh đã cho mình"ăn cứt gà sáp".

Độ hơn một tháng, mấy thằng cùi cõng tiếp tế gạo của đại đội đem đến cho chúng tôi một thông tin hoàn toàn bất ngờ: "Toàn bộ trung đoàn 9B đã trên đường hành quân ra Bắc".

Đêm đó chúng nó kể rất nhiều chuyện.

Anh Dũng và anh Thanh háo hức vô cùng vì cuối năm 1969 trung đoàn chúng tôi cũng đã được ra Quảng Bình an dưỡng 6 tháng.

Chuyện ở Quảng Bình, các anh lính cũ cũng đã từng kể cho chúng tôi nghe lúc này lúc khác mà tưởng không bao giờ hết.

Bây giờ thì hai anh tha hồ thả hồn vào những chuyện quân dân trong thời gian ấy.

Niềm vui của các anh ấy lây lan sang chúng tôi.

Vậy thì chúng tôi ở đây chắc cũng không lâu.

Mà đơn vị hành quân ra trước chúng tôi cả tháng thì chúng tôi chắc là được đi ô-tô mới kịp chứ.

Mà thế cũng đúng vì chúng tôi phải vất vả hơn toàn trung đoàn mà.

Ôi, thế là mình có hy vọng ra Bắc sau năm rưỡi trời ở chiến trường rồi.

Bọn cùi cõng tiếp tế cũng háo hức lắm.

Chúng nó bảo bây giờ cả đại đội cũng rút ra ngoài bản Ka-pơ ngoài Saravan rồi chứ không còn ở trong Noọng Bua nữa và cũng đang rục rịch ra Bắc.

Chỉ còn lại một tốp 4 người nằm lại Noọng Bua để tiếp tế nốt gạo cho chúng tôi thôi.

Tất nhiên là tiếp tế đến bao giờ nữa thì không biết.

Tình hình như thế thì tư tưởng ngồi chốt giữ cờ cũng thả lỏng.

Tất cả đều tin chắc chẳng còn gặp địch nữa.

Chúng tôi sẽ rút ra Bắc và thế là những ngày giao tranh với địch trên đất Nam Lào này sẽ chỉ còn lại là những kỷ niệm.

Ngoài những lúc kiếm ăn hay phải làm việc gì đó, cứ ngồi với nhau là chúng tôi lại nói chuyện đất Bắc.

Khi ngồi chốt có một mình thì cũng lại ngẩn ngơ nghĩ về đất Bắc.

Dù chúng tôi biết có được ra Bắc thì may lắm cũng chỉ ra tới Quảng Bình hay Hà Tĩnh là cùng, nhưng như thế là về đất mẹ rồi.

Không còn Mỹ thì cũng có nghĩa là miền Bắc đã hòa bình, không thể có chuyện ném bom.

Sẽ chỉ có huấn luyện, học tập và làm công tác dân vận, gần gũi với dân.

Biết đâu sẽ có những thằng may mắn được cha mẹ lặn lội vào thăm.

Nói gì thì nói, lúc ấy chúng tôi đều không nghĩ tới chuyện ở chính quê hương mình cũng đang vất vả và thiếu thốn, mấy nhà đã có thể có điều kiện mà tính chuyện đi thăm con.

Chúng tôi ở trong này nhiều lúc cũng rất cực và thiếu thốn, nhưng nhiều khi lại như vua, ở nhà đâu dễ có thể được hưởng, dù chỉ một lần.

Tin tức cứ ngày một nóng lên, sốt hết cả ruột.

Nghe tin đoàn tiền trạm của trung đoàn đã ra tới cây số "không".

Cây số đó là ở đâu, tôi không biết.

Mà mãi sau này cũng vậy, chẳng ai biết chính xác đâu là cây số "0".

Nó được đánh dấu từ sông Bến Hải, hay trạm 5 Quảng Bình, hay tít ngoài Hà Tĩnh chỗ đèo "Pu la Nhích" thuộc nhánh Tây có dốc cua tay áo làm nổi gai lính lái xe Trường Sơn mỗi khi qua, hay là vùng núi Con Cuông, Nghệ An...?

Nói tóm lại là nó cũng mờ mịt như cái địa danh "Cổng trời" trên dãy Trường Sơn.

Có rất nhiều nơi cao chót vót trên Trường Sơn, lính ta tự đặt tên là "Cổng trời" chứ không ai xác định được nó có phải là duy nhất hay số 1, số 2 gì đó không?

Có điều khi đó cái từ "cây số không" nghe ấm áp lắm, chúng tôi tin chắc là nó phải thuộc đất Bắc.

Ngày 15/5 tôi bị một trận sốt rét nặng, rất may vẫn là loại sốt rét thường niên, không phải sốt ác tính.

Sau ba ngày vật vã, dù chân tay còn bủn rủn, tôi vẫn được anh Dũng quyết định cho về Ka-Pơ với đại đội, đi về cùng mấy thằng tiếp tế gạo.

Đường xa mấy chục cấy số nên qua Noọng Bua phải nghỉ lại một đêm, hôm sau đi tiếp.

Tuy còn mệt nhưng tôi càng đi càng thấy khỏe ra vì lúc nào cũng nghĩ tới hình ảnh đất Bắc.

Vậy là nhờ có sốt rét nên tôi được rời khỏi Keng Nhao trước trung đội nửa tháng.

Vùng bản Ka-Pơ nằm ở phía Đông Nam Saravan.

Nơi đây các bản dân nằm sát nhau và khá trù phú, tuy dân số bản nào cũng rất khiêm tốn.

Có cả một con đường ô-tô to chạy xuyên qua một loạt bản.

Nương lúa và vườn cây là chủ yếu.

Rừng già lùi cách rất xa nơi đây, nhưng xen kẽ các nương rẫy vẫn có những khu rừng nhỏ, loại rừng tái sinh hay những đồi cỏ tranh rộng cỡ hàng hec-ta.

Phía sau bản nào cũng có suối, không lớn nhưng nước rất trong.

Những ngày ở đây thật nhàn hạ, vì tất cả đều có tư tưởng ra Bắc, chỉ thỉnh thoảng sinh hoạt chiếu lệ, còn lại là chơi và kiếm ăn.

Lúc này Nam Lào đang là mùa mưa rồi nên cuộc sống người dân rất có sinh khí.

Lúa nương đã lên xanh, cây cỏ tốt tươi và các loại rau xanh khá sẵn.

Dân Lào họ có tục lệ gieo hạt các loại rau xanh như dưa chuột, cải xanh các loại, bí ngô... trên nương để chống cỏ mọc nên họ ăn không hết, lính ta do đó mà tha hồ hưởng nguồn rau xanh ấy.

Các loại cây khác như mía, chuối, đu đủ cũng rất dồi dào.

Một hôm đơn vị được đi lĩnh đường.

Đây là lần đầu tiên từ khi vào chiến trường, tôi được phát đường ăn, mỗi người ba lạng (Thời gian trước đôi lúc có đường để uống cà phê là do lấy của địch hoặc xin đơn vị pháo ngoài Saravan).

Thịt lợn thì vẫn là do tiểu đoàn tổ chức mua của dân, làm thịt rồi chia xuống cho các đơn vị.

Tôi được ở chung với nhóm các anh quản lý đại đội và anh nuôi, y tá.

Toàn là lính cũ nên các anh ấy giỏi lo chuyện kiếm ăn.

Có tí đường thì nghĩ đủ cách để thưởng thức, trước tiên là nấu kẹo.

Ở vùng này không có lạc nên mọi người nghĩ ra cách rang gạo nếp lên rồi nấu kẹo.

Cách nấu cũng đơn giản, chỉ cần trông nom cẩn thận cho khỏi cháy là được.

Kẹo gạo nếp rang tuy không thể sánh bằng kẹo lạc, nhưng lúc đó tôi ăn thấy rất thơm ngon.

Có thanh kẹo nhấm nháp khi uống cà phê và hút thuốc rê thì cái sự khoái khi ấy nó cũng chẳng kém ngồi ở quán Gió công viên Bảy mẫu là bao nhiêu đâu.

Có khi còn thấy sướng hơn nữa là khác.

Bây giờ thì tôi đã biết cách chế biến cà phê từ quả cà phê tươi.

Hạt cà phê có hai nửa, nhưng nó còn một lớp vỏ áo.

Phải phơi khô hoặc rang qua rồi giã để bóc lấy hạt nhân chính bên trong.

Phần rang cà phê là khó nhất.

Loại bỏ những câu chuyện về cà phê cứt chồn và phân biệt các loại cà phê Chè, Mít, Vối, ở đây có gì dùng nấy, nhưng theo các anh lính cũ, cà phê cao nguyên Boloven sánh ngang cà phê Ban Mê thuột của nước mình.

Nhưng muốn ngon trước hết phải chọn các quả chín đều (Cùng tuổi).

Khi có hạt nhân cà phê thì phải chọn các hạt có cỡ đồng đều nhau (Cái này giống như bí quyết làm lạc rang húng lìu) để khi rang nó phải chín và cháy đều.

Cà phê phải rang ba lửa, thực chất là rang cháy đến một độ nào đó.

Lần rang cuối cùng trước khi bắc ra phải rưới một ít mỡ gà vào đó cho nó xèo xèo bốc khói.

Cà phê rang có mỡ gà, khi pha sẽ có một váng béo loang trên mặt chén, rất thơm và hấp dẫn.

Rang xong thì ủ trong áo cho nóng độ một tiếng rồi đem giã.

Chầy cối đều là tự tạo.

Khoản lọc bột cũng mất công, nhưng vì chúng tôi không có cái "rây" bột nên đành chấp nhận bột cà phê không mịn.

Khoản này chỉ có mỗi cách khắc phục bằng kiểu đun cà phê bit-tất.

Bây giờ người ta uống cà phê chỉ là một tách nhỏ, nhưng khi đó chúng tôi uống mỗi lần một người phải một bát B52.

Chuyện ăn uống không có gì đáng ghi nhớ lắm, nhưng chuyện mò ra dân chơi buổi tối lại rất hấp dẫn và phong phú.

Đầu têu vẫn phải là các anh lính cũ khá thạo tiếng Lào, hoặc mấy anh dân tộc mất gốc.

Kiểu gì thì cũng phải tán bằng lời chứ không thể diễn tả bằng tay được.

Các bản dân dù thưa, nhưng bản nào cũng có một vài cô gái độ tuổi thiếu nữ mà người Lào gọi là "sao".

"Sao" có nghĩa là 20, và tên các cô gái dậy thì được gọi bằng từ "sao" phía trước "tên" thay cho "tên họ".

Khu vực này, các cô gái chắc không thể sánh bằng "gái Făkut" gần Păk soòng, nhưng cũng khá "giòn".

Đa số các cô có da bánh mật, đẫy đà và có cô còn đầy đặn hơn nhiều so với cái trọng lượng chưa đến 50 cân của bọn lính chúng tôi.

Nhưng tóm lại là rất ưa nhìn.

Con gái Lào rất bình dị, thân thiện và không đỏng đảnh.

Vài ba thằng lính kéo đến nhà chơi là họ tiếp chuyện bình thản như người quen.

Thân thân một tí thì có thể cầm tay khi chào, nhưng nói chung là chúng tôi thường chắp tay và hơi cúi người xuống một chút khi chào, đúng kiểu người Lào.

Tôi đi theo lính cũ cũng chỉ là để cho mình thêm bạo dạn thôi chứ tiếng tăm chẳng thấm tháp gì.

Vui nhất là màn chào hỏi tên nhau.

Các cô gái thì tên là "sao" nọ, "sao" kia, còn lính thì toàn phá quấy không nói tên thật.

Vùng Nam Lào đàn ông Lào thường có những "tên họ" như Khăm, Bun, Thao... (không thấy giống tên họ các bác ở vùng thượng Lào hoặc trong Trung ương bạn như Cay-xỏn, Xu-pha...).

Thế là khi được các "sao" hỏi tên, người lính tình nguyện Việt Lào thứ nhất khai tên là "Khăm Đớp".

Người thứ hai khai là "Bun Khợp" còn tất nhiên người lính thứ ba sau phút lúng túng cũng tìm cho mình được cái tên "Thao Bụp".

Toàn là âm vần trắc, và liên quan đến cái dạ dày.

Lúc đầu các "sao" tin lắm, tuy có thắc mắc tên bộ đội Việt khó gọi.

Về sau lính tráng đồn nhau rồi tốp lính nào đi nhà nào gặp các "sao" cũng lòe mấy cái tên trên.

Các cô gái Lào nhanh chóng nhận ra sự đùa bỡn đó.

Về sau khi gặp, chưa kịp nói tên thì các cô gái đã nói luôn là "bộ đội Việt đừng có nói tên là Khăm Đớp với Bun Khợp đấy nhớ".

Thế là tất cả cùng cười hỉ hả và về sau thì chúng tôi nói tên thật của mình, các "sao" nhớ tên chúng tôi cũng rất nhanh.

Chúng tôi cũng trêu các cô gái, nhất là cô nào béo núng nính.

Noọng "Đăm khư tu mi, phì khư tu khoai" (em "đen như con gấu, béo như con trâu") làm các cô lúc đầu nguây nguẩy chối, nhưng sau rồi cũng cười vui vẻ.

Các cô không muốn khen là béo, nhưng "người béo cũng có cái đẹp đáng yêu của nó chứ".

Lính mà đã tán thì suối phải ngừng chảy, chim phải ngừng hót nên cuối cùng chia tay nhau lại muốn hẹn "tối mai lại đến chơi".

Gái Lào cũng rất thích bộ đội Việt, về văn hóa giữa hai dân tộc cũng có cái gì đó rất gần gũi nên những cuộc giao lưu của chúng tôi diễn ra đều đặn như một thứ sinh hoạt hàng ngày.

Nếu không có những buổi đi chơi tối như thế này thì thời gian ở đây buồn chẳng kém gì ngồi chốt Keng Nhao.

Tất nhiên là chỉ có cỡ lính từ cán bộ B trở xuống thôi, chứ cán bộ cấp C và D thì dù có thạo tiếng Lào, họ cũng không vào bản.

Tình quân dânthật là thắm thiết, nhưng lúc này chúng tôi sắp được về Đất Mẹ rồi nên chínhsách dân vận chấp hành rất tốt.

Chỉ tán chuyện vui thôi và nhận chút quà làthuốc lá từ tay các cô gái bản.

Đêm về ngoài ca gác chiếu lệ thì ngủ say nhưchết, chẳng thấy mơ mộng gì..

Đầu tháng 6, trung đội tôi rút khỏi Keng Nhao.

Vùng đất ấy giao lại cho bộ đội Pa Thét.

Các phái của Lào tiến hành hòa hợp yên bình nên không còn chiến sự và trung đoàn chúng tôi không phải quay lại Boloven để tác chiến nữa.

Sau khi hội đủ quân, cả tiểu đoàn K18 hành quân vượt qua vùng đất Saravan về phía Đông để ra đường dây 559 cùng trung đoàn.

Cảnh vật ngoài Saravan không còn nắng cháy với những rừng khôộc khô quăn lá và những con suối cạn chằng chịt nữa.

Thay vào đó là khung cảnh tươi mát đầy sức sống của mùa mưa.

Các nương lúa xanh um quanh các bản dân, chúng tôi hành quân qua phải đi tránh ven theo bờ chứ không đạp thẳng qua mà đi như hồi mùa khô nữa.

Đi qua bản nào cũng thấy gà lợn chạy quanh sân, có khá nhiều bò.

Nhiều bản có cả những con trâu mộng sừng cong tuyệt đẹp, không biết người Lào họ có dùng trâu để cày bừa không.

Những cánh rừng khôộc cũng xanh um tùm lá, nhiều chiếc lá to như những cái quạt nan, và cỏ thì mọc xanh um khắp các cánh rừng, trâu bò thả rông tha hồ mà lựa chọn cỏ ăn.

Tuy không phải cao nguyên nhưng mưa nhiều cũng làm các con suối cạn đầy nước trở lại.

Chúng tôi qua sông Sê Đôn phải chọn tìm chỗ mới lội qua được, nhưng nước khá sâu và chảy mạnh nên vẫn phải căng dây để bám và bọc ba-lô trong ni-lon cho khỏi ướt.

Đường ra trận đẹp thế nào không biết, nhưng đường trở về thì trong lòng lúc nào cũng như có tiếng nhạc.

Bước chân càng đi càng thấy dẻo dai, chẳng thấy ai kêu ca mệt mỏi gì.

Lúc này chúng tôi cũng đủ ăn nên chẳng ai nhắc gì đến cái đói ở cuối mỗi chặng hành quân.

Lệnh hành quân chấp hành nghiêm chỉnh, đội ngũ đâu ra đấy chẳng có tụt tạt gì.

Bình nguyên Saravan và những cánh rừng khôộc tuy thưa nhưng rộng bạt ngàn lùi dần lại sau lưng.

Những cánh rừng già và núi non chập trùng trước mắt cứ gần lại dần.

Chúng tôi náo nức hành quân, hào hứng đi cả trong trời mưa, nhiều khi như trút nước.

Lại chuẩn bị đón cảnh mưa rừng, mưa Trường Sơn có lẽ còn mịt mùng và dai dẳng hơn mưa rừng cao nguyên, nhưng điều đó chẳng hề làm nản lòng chúng tôi.

Sau mấy ngày hành quân, chúng tôi đã chạm vào tuyến đường vận tải 559 và dừng lại chia nhau ra tạm trú quân trong những cánh rừng già.

Lần đầu tiên đóng quân trong đội hình cả đại đội mà không có lệnh đào hầm, dù nơi đây lần đầu có chúng tôi đặt chân tới.

Không phải là những bãi khách binh trạm có sẵn hầm hào như năm kia hành quân vào.

Chúng tôi phải tự lo mọi thứ.

Mùa mưa nên phải căng võng nằm, nhưng vẫn phân khu theo đội hình các trung đội.

Chỉ là dừng chân ít ngày nên chúng tôi chỉ làm bếp dã chiến và phát tạm cây cỏ lấy mấy lối đi giữa các trung đội.

Cái kiểu đóng quân này nếu như là của năm 1972 trở về trước thì rất dễ bị đón nhận bom B52, nhưng bây giờ rừng Trường Sơn đúng là rừng của ta, trời của ta rồi.

Các nhánh đường vận tải được mở rộng thêm, tuy vẫn ở phía Tây là chủ yếu.

Mùa mưa xe ô-tô vẫn vận chuyển, nhưng tổ chức theo những chặng đường ngắn, dễ đi.

Chỉ đóng quân được vài ngày mà đã biết nhiều chuyện.

Lúc này chúng tôi ăn uống đều nhờ cấp phát, không còn dựa được thêm vào dân nữa, vì các bản dân đã ở xa lắm rồi.

Cải thiện cũng chẳng có gì nhiều ngoài những thứ rau rừng như lá chua, môn thục và thân chuối rừng ăn rất xót ruột.

Lần mò xa xa hơn thì có rau tầu bay, món này hấp dẫn hơn cả.

Vùng này không thấy có tre bương gì nên không có măng.

Cứ nhờ nhu cầu đi cải thiện mà dù chỉ là ở tạm ít ngày, chúng tôi cũng sục xạo khắp cả.

Chúng tôi phát hiện ra cả một con đường xe ô-tô vận tải của quân ta.

Gần chỗ chúng tôi còn có một đơn vị vận tải ô-tô đóng trong một cánh rừng cây Săng-lẻ.

Có lẽ tuổi thọ của chúng bét cũng phải vài chục năm vì cây cao tới hàng hai chục mét và đa phần có cỡ gốc từ hơn một người ôm trở lên.

Nhiều cây gốc không tròn mà tòe ra thì phải tới ba người ôm.

Tôi đã biết cây Săng-lẻ này có họ với cây Bạch đàn có trồng ngoài Bắc và cây Bạch dương ở tận nước Nga xa xôi.

Các lính cũ người từ vùng Thanh Hóa trở vào nói rằng gỗ cây Bạch đàn được chuyên dùng để đóng thuyền đi biển.

Nó có đặc tính gì đó mà khi gặp nước biển thì nở ra làm các mộng ghép thêm chặt và khít.

Các anh ấy nói ở quê nhà mà có cánh rừng thế này thì thật "bố tướng", còn tôi thì chỉ nhìn thấy nó là gỗ to, chắc để làm nhà hay đóng bàn tủ là tốt thôi.

Lại nhớ khi học phổ thông, được dạy rằng "rừng vàng" có lẽ là như thế này đây, bởi vì cánh rừng Săng lẻ này rộng lắm.

Nhìn hút tầm mắt chưa hết.

Cả cái đơn vị xe ô-tô có dễ đến cả trăm chíếc ấy đỗ vào, mà từ ngoài nhìn vào trông lọt thỏm như ta xếp đồ chơi.

Rừng cây cao rậm tới mức máy bay bay trên đầu chắc nhìn xuống chẳng thấy gì.

Đơn vị này có lẽ là vận tải thuần túy nên chỉ có hai loại xe ô-tô là Giải phóng của Trung Quốc và Zin kính cong của Liên xô.

Rừng Lào, trừ phần trôi ra bình nguyên kéo dài từ tỉnh Khăm Muộn ở phía Nam cánh đồng Chum cho đến tỉnh Saravan mênh mông kéo dài tới hơn hai trăm cây số là địa hình xen lẫn giữa cây khôộc với những ụ mối và các dải đá mồ côi, còn thì áp sát dãy Trường Sơn là những cánh rừng đặc chủng mọc xen lẫn với những loại cây cổ thụ rất đa dạng.

Có cánh rừng cây già mọc cao hơn chục mét nhưng bám quanh nó rất nhiều loại cây dây leo hay cây ký sinh mọc chằng chịt.

Đi qua loại rừng đó mà mang vác nặng hay cồng kềnh là luôn thấy nản lòng.

Những dây leo hay cành cây trồi ra lúc nào cũng muốn ngoắc vào các thứ lỉnh kỉnh của lính mà kéo giật ngược trở lại, cản bước hành quân.

Đặc biệt những rừng rậm như thế lại thường nằm trên bình độ cao, cây mọc rậm nên ánh nắng lọt xuống ít, mặt đất và xung quanh lúc nào cũng ẩm ướt.

Rừng Trường Sơn đa số là các vùng có cây mọc tạp đủ loại, nhưng rất nhiều chỗ lại chỉ có một loại cây mọc gần như là duy nhất.

Các cánh rừng có cây họ tre nứa đa phần mọc bám sát vào những chỗ có sông suối.

Còn vùng thoai thoải hay tương đối bằng phẳng thì lại là những rừng cây có gỗ.

Tôi đã từng ngẩn ngơ khi bất chợt bắt gặp cánh rừng Bằng Lăng đúng mùa hoa nở.

Cây Bằng Lăng không hợp với khai thác gỗ vì thân nó thường còng queo, nhưng những cây lâu năm thì cũng cực to.

Đi mỏi chân mà không vượt qua được một cánh rừng đặc chủng như thế là chuyện thường ở Trường Sơn.

Vùng Tây Trường Sơn có rất nhiều rừng già, rừng rậm toàn cây lấy gỗ.

Ngoài những cánh rừng Săng Lẻ, Bằng Lăng mà tôi đã biết, còn có nhiều cánh rừng gỗ lớn như Lim hoặc họ Lim và rất nhiều loại cây mà tôi chẳng biết được tên.

Nói chung là rừng già và phần lớn các đơn vị vận tải hay tăng pháo được đóng quân trong đó.

Chúng tôi gặp lại đơn vị xe tăng đã cùng đánh trận Ba Lào Ngam hồi tháng 10/1972 với trung đoàn 9.

Tôi không rõ biên chế của đơn vị xe tăng, không biết đây là tiểu đoàn hay đại đội tăng, chỉ biết trong cánh rừng đó có chừng chục chiếc xe tăng.

Họ cũng đóng dã ngoại như chúng tôi, không biết có phải cũng chờ để ra Bắc không.

Lính tráng không tò mò hỏi nhau nhiều chuyện, nhưng tình hình bây giờ cũng không còn phải bí mật nhiều như trước nên họ vẫn cho chúng tôi vào chơi, cùng đánh mấy ván "tiến lên".

Giao lưu chẳng có gì nhiều, nhưng rồi vì trú quân ở đó không phải chỉ vài ba ngày nên có lần chúng tôi đã bày trò kéo co với họ.

Lính tăng đa phần to con hơn bộ binh, nhưng lính C8 hỏa lực của K18 chúng tôi cũng có nhiều người to cao.

Thế là hẹn hò thử sức cho vui.

Giằng đi giật lại, nhưng cuối cùng cả mấy keo, bọn lính tăng đều thắng.

Lúc ngồi chơi uống nước, bọn lính tăng bảo bài tập đầu tiên khi vào binh chủng tăng là tập kéo co.

Sau đó là áp dụng vào để kéo xích xe tăng để lắp xích khi bị đứt trên đường hành quân.

Chúng nó bảo mỗi cặp mắt xích xe tăng nặng tới gần hai tạ.

Hèn gì chúng nó kéo co thắng là phải.

Rỗi hơi, ngày nào lính tráng cũng ngóng chờ lệnh hành quân ra Bắc.

Chúng tôi biết là sẽ phải hành quân bộ, chẳng có xe pháo gì đâu, vì đang là mùa mưa.

Xe ô-tô chỉ có dùng để chở đạn gạo vào, rồi khi quay ra thì chở thương binh nặng.

Mà ngay cả lính binh trạm ngoài nhiệm vụ giao liên chẳng vẫn phải cùi cõng và tải thương bạc mặt ra đấy sao.

Nhưng cả đội hình trung đoàn, rồng rắn cũng phải ngót nghét hai tháng trời mới ra đến Bắc thì sao không cho đi luôn, chờ mãi thế này nó yếu người đi.

Thế là những ngày đầu cứ ngắc ngỏm trông chờ, đi lại chỉ loanh quanh và chờ lệnh từng ngày.

Về sau chờ mãi đâm oải và nhàm nên chúng tôi bắt đầu đi lang thang lùng sục xa hơn.

Có khi là húc phải đơn vị khác cùng trung đoàn, nhưng đi xa hơn, rộng hơn thì cũng có nhiều chuyện đáng nói.

Thậm chí nghe tin có đơn vị quen hay là trạm thương binh thì chúng tôi dám tổ chức đi xa tới cả ngày đường, vì sự quản lý của đơn vị lúc này rất lỏng lẻo.

Đầu tiên là chúng tôi mò ra được khu trú quân của thương binh mặt trận.

Đủ các loại thương binh từ thời đánh nhau ở bản Xoan bên đường 231 đầu tháng 2/1972 cho đến thương binh thời đánh Saravan cuối năm 1972, thậm chí là thương binh đánh Păk soòng đầu năm 1973, tuốt tuồn tuột tất cả đều đang nằm lại ở đây, dù Trạm thương binh này đã thuộc về đường dây 559.

Có những anh chúng tôi tưởng đã ra Bắc kịp về quê lấy vợ rồi, thế mà nay lại gặp ở đây.

Đầu tiên gặp nhau thì tay bắt mặt mừng, nhưng đến khi hỏi rõ chuyện thì ai cũng nản.

Chúng tôi sốt ruột ra Bắc, tưởng đã buồn nản lắm rồi, thế mà bây giờ xem ra, đám thương binh của toàn mặt trận này còn ngao ngán biết bao, nản hơn chúng tôi biết chừng nào.

Nghe kể chuyện chúng tôi sắp được ra Bắc, nhiều thằng còn bảo bây giờ chuồn về đơn vị có khi còn được ra Bắc sớm hơn.

Hỏi sao nằm đây lâu thế, chúng nó nói Binh trạm bảo thương binh ra Bắc phải chờ ô-tô, nhưng không có xe, còn hành quân bộ cả đống thế này thì không đủ người dẫn đường và y tá đi theo phục vụ.

Thế là vết thương đã chữa lành nhưng phải nằm chờ đợi và an dưỡng.

An dưỡng là nhàn cư, chơi mãi cũng chán chứ sung sướng gì đâu.

Thời gian là vô biên còn ăn uống cũng vô định.

Ngoài những tiêu chuẩn ăn hơn hẳn lính trong đơn vị, lính thương binh còn mò sục khắp rừng.

Nghe kể tôi mới biết là dọc theo những cánh rừng Trường Sơn này có rất hiều những kho hàng chiến lược đủ loại: súng đạn, gạo và đủ các loại hàng từ quân trang đến nhu yếu phẩm.

Có nhiều khu kho chiến lược được cất giấu xong là đánh dấu vào bản đồ rồi định kỳ kiểm tra chứ không hề có người canh gác, vì các kho có rất nhiều và bố trí phân tán.

Lại còn có rất nhiều kho lẻ bị bỏ lại, thậm chí lãng quên do mặt trận chuyển hướng, người ta không đủ sức để tổ chức thu hồi gom lại.

Một lúc nào đó chiến sự quay lại thì cấp trên mới chỉ tọa độ cho đơn vị ở đó đến lấy, nếu không thì cũng thành của rừng hoang.

Chính vì thế nên cánh thương binh mò ra được cả kho súng đạn và lương thực cất giấu trong rừng.

Không có người canh thì mạnh ai muốn làm gì thì làm, vô chính phủ.

Thấy rất nhiều thương binh có súng ngắn, hỏi ra thì chẳng phải là cấp chỉ huy được phát mà là do tìm thấy kho rồi tự trang bị để nghịch chơi.

Tôi gặp lại thằng Thắng C5 (nhà ở phố Hàng Trống, bị thương đợt Saravan) bị thương ở mắt, bây giờ nó bắn súng K54 thạo như tôi bắn AK.

Chẳng ai quản lý, chẳng ai bảo được ai, chúng nó cứ tự lấy súng đạn đem vào rừng tập bắn chơi vào những gốc cây to nằm sát chân núi.

Ngày này qua ngày khác, bắn hết bao nhiêu đạn rồi cũng chán.

Chúng nó giữ súng lại chơi dù cái hứng bắn nghịch đã xẹp.

Tôi cũng được nó đưa ra suối nhằm bắn chơi xuống nước, nhưng tôi cũng thấy chán ngay vì bắn K54 khá giật, ngắm nghía rất nặng tay, còn bắn vẩy như các diễn viên trên phim chắc phải tập đến mùng thất.

Tôi gặp lạianh Soán B4 (bị thương trong trận lùng sục Lào Ngam bên ngoài bản Phin hồitháng 5/1972), hơn năm nay rồi mà vẫn còn nằm ở đây.

Anh ấy bị đạn văng mất mộthàm dưới, bây giờ được chữa lành và ghép tạm một cái hàm giả gì đó để ăn.

Nétmặt dăn dúm trông già hẳn đi, nhìn một lúc mới nhận ra.

Anh ấy rất khỏe, nhưngnói năng bị ngọng, phải nghe quen mới hiểu được anh ấy nói gì.

Anh ấy cứ haynói mãi cái câu " Ngư nghế ngoày nguây ngờ nghì nghéo ngoai nghónghêu", nghe mãi mới luận được là "Như thế này bây giờ thì đ... ai nóyêu".

Thật là dở cười dở khóc mà thương anh ấy.

Có một cái gì đó chợt thấylành lạnh nơi sống lưng...

Gặp lại rất nhiều đồng đội thương binh.

Ngày trước quả thật cũng có lúc tôi đã nghĩ rằng những người bị thương là gặp may, bởi mọi sự đã an bài.

Mất một phần cơ thể (thậm chí có nhiều người chỉ bị vết thương chứ chẳng mất phần nào) nhưng cuộc chiến với họ thế là đã kết thúc.

Gạt bỏ cái lý tưởng sách vở đi thì phận làm trai thời loạn coi như cũng đã xong nghĩa vụ với đất nước.

Trở về quê với tấm bằng thương binh vẫn có thể sống, học tập và lo toan một mái ấm gia đình hạnh phúc cho riêng mình được.

Chẳng phải qua bao cuộc chiến tranh, những người thương binh trở về vẫn sống tốt đấy sao.

Nhớ lại ngày nào ở quê, chàng trai nào từ chiến trường trở về là thương binh (tất nhiên là loại vừa vừa thôi chứ không phải thương binh nặng) rất đắt giá.

Có quyền chọn lựa các cô gái làng xinh xắn nhất làm vợ.

Con gái nông thôn cũng rất đơn giản, lấy được tấm chồng thương binh là xong phận gái, không bao giờ còn phải lo chuyện ngày đợi đêm mong, phấp phỏng lo một ngày nào đó mình phải như hòn "vọng phu" góa bụa lúc tuổi còn đang xuân thì.

Bây giờ nhìn các anh em thương binh còn đang vật vờ chưa biết ngày nào được về, thì cái viễn cảnh được cùng cả đơn vị hành quân ra Bắc của chúng tôi lại như có vẻ là thiên đường.

Chúng tôi quên ngay đi cái tâm sự thầm kín ích kỷ ganh tỵ với anh em thương binh là mình tuy chưa bị thương, nhưng rất có thể lúc nào đó sẽ ngã xuống và nằm lại nơi chiến trường, chẳng bao giờ còn được mơ ước điều gì nữa ở quê hương.

Nhưng rồi chính chúng tôi cũng cảm thấy mòn mỏi khi cứ ăn chực nằm chờ mãi trong đội hình của cả trung đoàn ở dải rừng Tây Trường Sơn này để đón nhận những trận mưa rừng đã sang chính vụ của Trường Sơn.

Tuy so với năm trước không phải đánh nhau và lo cùi cõng trong mưa rừng, nhưng cả ngày ngồi bó gối trên võng nghe mưa rơi ràn rạt trên nóc tăng và nước chảy xối xả dưới đất, nhìn ra đâu cũng thấy màn trời trắng đục và mờ mờ tối thì não ruột vô cùng.

Đi lấy cơm cũng ngại mà giải quyết chuyện vệ sinh cũng thật vất vả.

Ngủ mãi cũng mệt mỏi.

Những lúc đó tôi chỉ còn cách nằm nhìn lên mặt tăng và vơ vẩn ôn lại những kỷ niệm đã qua, nhất là đời học sinh.

Rồi còn mơ về những chuyện cổ tích nữa, nhiều lúc đầu óc như kẻ mộng du, tưởng mình đang là chàng hoàng tử ở xứ tít mù nào đó đang tính kế cứu một nàng công chúa.

Mưa mãi rồi cũng có lúc tạnh, đôi khi trời còn hửng nắng.

Chúng tôi lại mò đi khắp nơi, chỉ cần tránh chỗ nào có suối thôi vì gặp nước lũ thì có bơi giỏi mấy cũng không thể coi thường được.

Chúng tôi lại ra khu trạm thương binh.

Thằng Đức (Cầu Giấy) và thằng Dũng "trắng" (làng Kim Liên) đều bị thương ở Saravan cũng còn nằm ở đây.

Cả hai thằng đều cho tôi xem vết thương, gần như giống nhau.

Mỗi thằng đều bị một mảnh đạn cối cắt đứt dẻ xương sườn và chui vào nằm trong phổi.

Bác sĩ không mổ lấy mảnh, bây giờ mảnh đạn vẫn nằm lại trong đó và đã được bọc mỡ.

Chúng nó kéo chúng tôi vào rừng tìm kho lương khô.

Ở đây chỉ có lương khô 701 của lính, không tìm thấy loại 702 cao cấp của sĩ quan cấp tá.

Nhưng lương khô 701 với chúng tôi cũng là quá tuyệt rồi.

Nếu như cánh lính vận tải, pháo binh và xe tăng coi lương khô là thứ nhàm chán khô khan, lúc nào cũng có sẵn thì đám bộ binh chúng tôi lại quý vì có thể đếm được từ ngày vào chiến trường mình đã được phát bao nhiêu phong lương khô rồi.

Chúng tôi lấy cắp của kho nhưng cũng có ý thức chứ không đến mức phá hoại.

Lấy gọn từng thùng 10 kg đem về đại đội chia nhau, nằm võng ăn lúc trời mưa tầm tã thấy cuộc đời lính lại lên tiên.

Lúc trời tạnh đem xuống anh nuôi nấu chè, ăn thấy cũng khá.

Thời gian này lương thực coi như thoải mái, chỉ có điều là các thứ thực phẩm khác như thịt hộp hay mì chính thì không tìm thấy.

Không kể đến chuyện khắc khoải chờ ngày ra Bắc thì thời gian ngắn ở đây cũng có thể coi là ước mơ của lính về vật chất.

Một ngày đầu tháng 7/1973, C6 chúng tôi được lệnh lên đường.

Mệnh lệnh đến nhanh và bất ngờ khiến chúng tôi sung sướng đến ngỡ ngàng.

Không còn đủ thời gian để chia tay với anh em ở trạm thương binh đường dây 559, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng họ cũng sẽ lên đường ra Bắc nhanh thôi.

Chúng tôi được phổ biến là C đi tiền trạm cho trung đoàn, bởi vì chúng tôi không phụ thuộc vào giao lên và kế hoạch dẫn quân của các binh trạm Trường Sơn.

Chỉ có một tổ trinh sát của D đi cùng chúng tôi.

Lúc ấy tôi nghĩ chắc các C sau cũng sẽ lên đường chỉ sau chúng tôi một ngày.

Hành quân đi theo đường rừng vào mùa mưa có phần vất vả.

Sau ba ngày, chắc là chỉ đi được độ vài ba chục cây số, nhưng tôi có cảm tưởng là chúng tôi đã đi được rất nhiều, thì chúng tôi được dừng chân tại một bãi khách của binh trạm Trường Sơn.

Vẫn là cảnh rừng già, nhưng không khí thanh bình vì chuyện nấu nướng củi lửa không thấy phổ biến khắt khe như năm trước đi vào.

Chúng tôi được nghỉ lại một ngày tắm giặt, âu đó cũng là chuyện thường tình.

Nhưng hình như chuyện bất thường đã xảy ra, bởi vì sang ngày thứ hai, rồi thứ ba, chúng tôi vẫn được nghỉ lại, không thấy có lệnh hành quân tiếp.

Rồi đến khi có lệnh thì đó lại là lệnh dừng lại không đi tiếp nữa.

Thế là cái quái gì nhỉ.

Cả quan lẫn lính nhìn nhau thăm dò, suy đoán rồi cùng ngờ ngợ về một điều không hay gì đó đang xảy ra.

Không biết trung đoàn đã lên đường hành quân chưa và mệnh lệnh cho chúng tôi tiếp theo sẽ là gì.

Tất cả đều không có gì rõ ràng và cụ thế, ngoài chuyện: "Dừng lại và chờ".

Lại chờ, ôi ngao ngán quá, cầu mong đừng có chuyện gì không hay xảy ra.

Dừng chân và nghỉ ngơi, thế là lính tráng lại lần mò trong rừng.

Có một chuyện xảy ra ở đây không thể không kể, vì nó còn ám ảnh trong suy nghĩ của tôi nhiều năm sau về một cuộc chiến tranh giải phóng cùng số phận con người.

Gần cái binh trạm mà chúng tôi tạm dừng chân là nơi đóng quân của một đại đội thanh niên xung phong, toàn nữ.

Nói chính xác hơn thì BCH là nam, nhưng đó không phải là điều chúng tôi quan tâm.

Chỉ dừng chân ở trạm khách có vài ngày là những thằng lính quen sục xạo như chúng tôi đã tìm ra nơi đóng quân của họ.

Thật không thể tả hết nỗi vui mừng khi gặp nhau.

Hỏi tìm đồng hương rối rít, vồ vập cứ như là quen nhau từ lâu lắm rồi.

Tôi đã biết các nữ TNXP cực kỳ bạo dạn từ ngày còn đang trên đường hành quân vào chiến trường.

Lúc ấy tôi vừa ngượng vừa sợ nên tránh là chủ yếu, còn bây giờ dù sao tôi cũng đã vào chiến trường tới năm rưỡi trời.

Cũng là đồng đội, lại khác giới, khác đơn vị thì cũng có nhiều chuyện để mà bốc phét.

Đại đội TNXP này có khoảng bốn chục chiến sĩ nữ.

Họ đều còn trẻ măng, nhưng thực tình mà nói, tôi phải gọi họ là chị mới đúng vì khi đó tôi còn thiếu nửa năm trời nữa mới đủ 20 tuổi.

Một điểm đặc biệt là nữ TNXP ở đây đều là người thuộc các tỉnh khu Ba, trong đó Nam Hà và Vĩnh Phú là đông nhất.

Các cô ấy (tạm gọi thế vậy) đều đã vào chiến trường ít nhất cũng 3 năm.

Họ hăng hái lên đường nhập TNXP từ khi còn 17, 18 tuổi thì nay ít nhất cũng đã 20 tuổi, hơn tuổi tôi là cái chắc.

Thế nhưng gian khổ Trường Sơn chỉ làm họ cứng rắn lên chứ không mấy già đi trong con mắt chúng tôi.

Có khi chính chúng tôi còn trông già hơn ấy chứ vì thằng nào cũng vừa gầy vừa đen, chỉ được cái tán chuyện thì không ai bằng.

Giao lưu với TNXP nữ thì vui lắm, vì dù sao chúng tôi cũng đã lâu không gặp con gái Việt.

Chuyện hay còn do cả nội dung, những câu chuyện về quê hương, về những kỷ niệm của mỗi người nữa chứ.

Các đồng đội nữ TNXP rất mến khách, có thứ gì đem ra đãi khách được là mời luôn.

Cứ như là bạn cũ lâu ngày gặp nhau ấy.

Thế mà trái lại mấy bố trong BCH đơn vị TNXP thì lại lầm lỳ, gườm gườm nhìn chúng tôi như kẻ thù.

Chuyện vặt, sợ quái gì.

Chắc là vì cái bản tính tham lam ích kỷ của đàn ông mà ra cái nông nỗi này thôi, chứ chúng tôi, lính Trường Sơn với TNXP thì là người nhà, tình lúc nào chả mặn nồng.

Chắc các bố trong BCH sợ vì "đống rơm" của các bố ấy đang phơi đến độ cực nỏ mà thấy "lửa" như đuốc sống của lính mò đến chăm chăm châm ngòi thì lo ngại là phải thôi.

Không chấp.

Nhưng chuyện đáng nói là đến ngày làm quen thứ hai thì rất nhiều cô không ngần ngại mà nói luôn nguyện vọng là muốn có thai, chả cần phải đồng hương đồng khói chi sất.

Chúng tôi tròn mắt ngạc nhiên.

Đơn giản và dễ dàng như vậy sao?

Làm cái chuyện ấy ít ra cũng phải có tình cảm, phải thề non hẹn biển xây dựng tương lai gì gì nữa ấy chứ.

Thế mà sao nói với nhau điều hệ trọng như thế mà cứ tỉnh như không thì có điều gì không ổn.

Từ chỗ háo hức ngắm nghía các cô, bọn lính chúng tôi đâm e ngại.

Sau gạn hỏi sự tình thì thấy thật đau lòng.

Các cô chả ngần ngại kể cho chúng tôi tất cả mọi chuyện.

Các cô hăng hái xung phong lên đường, tưởng rằng tham gia vào cái nhiệm vụ vinh quang của lực lượng TNXP là "Xẻ dọc Trường Sơn mở đường cứu nước" nếu có cùng quá thì cũng chỉ 3 năm thôi rồi được trở về nhà.

Gian khổ và hy sinh, các cô không ngại và đã làm tốt nhiệm vụ đấy chứ, nhưng cũng đã đến lúc phải mong được về quê để còn lấy chồng và chăm sóc cha mẹ nữa cơ mà.

Thế mà qua 3 năm rồi, thậm chí có cô đã 4 năm mà chưa thấy cấp trên nói gì đến chuyện xuất ngũ cho mình.

Nhiệm vụ vẫn cứ là phía trước, mòn mỏi qua tháng ngày.

Cái lý tưởng dù cao đẹp đến đâu mà không được vun đắp và giải quyết một cách hợp lý thì lòng người cũng có lúc phải nản.

Các cô chỉ là nữ nhi chứ đâu phải cao siêu cốt cán gì cho cam.

Ai cũng muốn về nhà, nhưng đặc điểm của phái nữ trong chiến trường là không có gan đào ngũ như lính tráng chúng tôi.

Thế là các cô vẫn phải sống và làm việc giữa núi rừng trong trạng thái "tư tưởng không thông, đến bình tông đeo cũng nặng".

Mà dù có chây ì, xin chịu kỷ luật đi nữa thì các cô cũng vẫn không được giải quyết về nhà.

Vậy mà trong hoàn cảnh gieo neo ấy lại có một con đường, một lối thoát cho các cô trở về.

Đó là ai có thai (chẳng cần biết từ đâu mà có) thì sẽ "được" đơn vị kỷ luật rồi trả ra Bắc.

Thế là phù hợp với mong muốn của nhiều cô rồi.

Đành chịu vứt bỏ công lao 3 năm chiến trường để kiếm một cái thai làm giấy thông hành ra Bắc, bất chấp khi về đến nhà lý giải về cái thai và gánh chịu búa rìu dư luận rất nặng nề khi đó để nuôi con.

Nhưng ai ký cho các cô cái "giấy thông hành ra Bắc" ấy?

Các bố trong BCH thì không dám rồi.

Thế là đành trông chờ vào cánh lính lái xe hoặc các đơn vị công tác lẻ đi qua.

Đã có một số cô đạt nguyện vọng và lên đường về quê rồi, số còn lại (không phải là tất cả) thì còn phải chờ.

Vì thế mà lũ chúng tôi khi đó tưởng như sa vào chĩnh gạo.

Nhưng sự đời lại không thể đơn giản, vì lính tráng chúng tôi dù sao cũng là con người.

Thật là quặn lòng rơi nước mắt trước tình cảnh của những đồng đội đa phần đáng tuổi chị mình ấy, nhưng không phải chúng tôi đã dễ dàng chiều các chị.

Thực tình mà nói, khi hiểu hoàn cảnh và nghe giãi bày riêng lẻ ước muốn của các cô thì cái phần "người" trong tôi lại sực tỉnh.

Tôi thấy chuyện này trở nên hệ trọng và nghiêm túc.

Ở hậu phương tôi chưa có người yêu, nhưng bây giờ dù có muốn yêu một "chị" mà hẹn hò thì cũng phải vạch kế hoạch đàng hoàng cho tương lai chứ ai lại đi làm cái chuyện "cóc nhái" ấy.

Không yêu mà "ban ơn" cho các cô thì thật không thể.

Sau này nếu còn sống trở về sau chiến tranh, liệu mình có thể không bao giờ nghĩ rằng là trên đời này còn có một giọt máu của mình lưu lạc ở đâu đó mà không tìm kiếm không?

Trong một chiều mùa mưa Trường Sơn, trên một phiến đá ven suối, tôi đã ngồi cầm tay một đồng đội TNXP, nghe những lời thủ thỉ chân tình và tha thiết của cô ấy mà lòng quặn đau, không nói được nhiều nhưng nước mắt thì nhiều vô kể, chỉ có điều nó chảy vào trong.

Giá như có nhiều thời gian hơn..., giá như biết được chiến tranh sẽ kết thúc và mình sẽ trở về... thì biết đâu nơi đây chẳng nảy nở một cuộc tình và tôi sẽ vun đắp cho nó thật đẹp và có tương lai...

Nhưng lúc này tất cả chỉ sầm sì một màu xám xịt của rừng chiều mưa.

Tôi không nghe theo ý cô ấy, nhưng cũng không biết làm cách nào để gúp cô ấy.

Lần đầu tiên trong đời, tôi biết rằng trên đời này có những quy định thật bất công và nghiệt ngã, còn phận người thì quá mong manh.

Rồi chúng tôi cũng phải chia tay nhau trong buồn bã.

Chia tay mà không hẹn hò, không mong chờ tin tức gì về nhau nữa.

Từ hôm sau tôikhông trở lại đơn vị TNXP ấy để giao lưu cùng các cô như mong ước của ngày đầugặp mặt.

Tôi đã rất buồn và nghĩ mãi về câu chuyện đau lòng này, nhưng tôi nghĩmình đã hành động đúng.

Sau ít ngày thấp thỏm chờ đợi ở cái binh trạm Trường Sơn ấy, chúng tôi cũng nhận được lệnh hành quân tiếp, nhưng hướng đi không phải ra phía Bắc, mà là quay lại Saravan.

Cả bọn nhìn nhau ngơ ngác.

Ban chỉ huy chắc cũng thế, nhưng các anh ấy không dám biểu lộ thái độ mà chỉ gọn ghẽ phát lệnh hành quân.

Cả đại đội lại nhổ trại lên đường.

Ít ngày trước hăm hở và càng đi càng thấy dẻo chân bao nhiêu, thì nay lòng âm thầm trĩu nặng và buồn bã bấy nhiêu.

Cơn mưa rừng đổ xuống trên chặng đường hành quân như người bạn cảm thông và chia sẻ cùng nỗi buồn và tâm trạng đầy lo âu thắc mắc của chúng tôi.

Cả trung đoàn đã hành quân đi rồi nên chúng tôi không phải quay lại đúng theo lộ trình khi trước lúc đi ra.

Cứ nhằm hướng cắt đường mà đi thôi.

Cả đại đội lầm lũi nhằm thẳng hướng thị xã Saravan.

Sau khi vượt qua sông Sê Đôn, chúng tôi đi theo đường 23 về hướng Tha Teng.

Tha Teng cũng là một cái thị trấn nhỏ như Ngã Ba Lào Ngam, nằm giữa khoảng cách từ Saravan về Păk Soong.

Vùng này sau chiến sự năm 1970 thì đến nay dân Lào đã trở lại các bản cũ của họ.

Các bản ven đường đều là nhà sàn gỗ xẻ nhưng nhỏ hơn so với trên Cao nguyên.

Một loạt bản mà không có nơi nào đủ hai chục nóc nhà.

K15 đã dừng chân tại ngã ba bản Bèng và đi sâu vào rừng tìm chỗ đóng quân.

Bản này có vẻ đông vui như bản Sen Vàng trong cao nguyên.

Còn lại hai cái bản nữa nằm ven đường thuộc loại khá lớn là Ca Đáp và La Vang chỉ có đúng 12 nóc nhà.

Trong bản toàn người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, tuyệt không có bóng thanh niên.

Từ đây, Trung đoàn bộ và các đơn vị còn lại đi sâu vào rừng phía Tây và chia ra bố trí trên một vùng rộng lớn, dựa lưng vào nhiều dãy núi đất và rừng già.

Phía ngoài đường này, xung quanh các bản dân có rất nhiều nương rẫy nằm thoai thoải và rộng lớn, nhìn ngút tầm mắt.

Dọc con đường chúng tôi đi, bạt ngàn hai bên đường, giữa các bản dân là những vườn chuối tây mọc như rừng.

Ngoài đường đi, đất đỏ lúc nắng thì bụi mù, lúc mưa thì lầy lội nên cứ nghỉ giải lao là lính tạt vào vườn chuối chặt lá rải ngồi cho sạch.

Đi sâu một chút vào vườn thì nơi đâu cũng có chuối chín.

Chuối chín cây cũng có mà chuối già chặt đổ xuống đất rồi lợn rừng sục ăn dang dở thì cũng vô số.

Tôi đã kể là ở Nam Lào trên cao nguyên và nhiều vùng đất khác nữa, người Lào trồng rất nhiều chuối tây.

Trồng nhiều như rừng và có lẽ vì chiến tranh nên họ không thể thu hoạch đem bán đi đâu.

Họ ăn không hết nên cho ai muốn lấy bao nhiêu tùy thích.

Cũng vì phải để vườn chuối tiếp tục phát triển nên họ quy ước với nhau là ai có việc đi vào vườn chuối nếu thấy cây có buồng già hoặc chín thì phải đặt đổ cây đó xuống để gốc mau ải, lấy chỗ cho mầm chuối mới đẻ phát triển.

Còn buồng chuối ấy nếu ai thích thì lấy đem về, không thì cứ bỏ mặc đó cho lợn nhà, lợn rừng vào ăn cũng được.

Thiên nhiên và điều kiện thuận lợi vùng này đã ưu đãi những người dân Lào như vậy đó.

Hành quân tới đây rẽ vào vườn chuối, chúng tôi hăm hở tìm chuối, ăn xong thằng nào cũng xách theo một nải, nhưng đi cả chặng dài chỗ nào cũng ê chề chuối thì lại chán ngay, không buồn lấy nữa.

Qua bản Ca Đáp, chúng tôi rẽ vào nghỉ chân, nhưng Già bản (Phò bản) không cho vào mà bắt nghỉ bên ngoài.

Chỉ cử người vào xin nước thì được.

Hơi lạ vì người Lào vốn mộc mạc và mến khách lắm cơ mà.

Mãi sau cán bộ đại đội hỏi chuyện (rồi chắp ghép thêm thông tin nghe kể sau này nữa) chúng tôi biết dân họ không muốn cho bộ đội Việt nghỉ trong bản cũng phải.

Chuyện là cách đây vài ngày, một đơn vị của K16 khi hành quân qua đây đã rẽ vào bản nghỉ chân.

Dưới sàn nhà ở đây sạch như sân đất ở nông thôn ngoài Bắc vì dân họ không chăn nuôi trâu bò trong bản, nên lính tráng hạ ba-lô ngồi nghỉ dưới sàn.

Đám trẻ con chắc cũng đã quen với cảnh bộ đội Việt như thế này nên sà vào chơi.

Trong lúc những thằng vào trước hạ ba-lô nghỉ ngơi và xoa đầu trẻ nhỏ thì các lính đi sau lục tục kéo tới.

Thằng K. (cũng lính đoàn Hà Nội chúng tôi) nghiêng người, mệt nhọc tụt ba-lô xuống.

Không ngờ cái góc ba-lô của nó móc luôn vào cái "khong" của chốt quả lựu đạn mỏ vịt và cứ thế từ từ kéo tuột cái chốt an toàn theo đà hạ của ba-lô.

Mọi việc diễn ra lúc ấy có lẽ thằng K. khi về thế giới bên kia mới hiểu là chuyện gì.

Quả lựu đạn phát nổ ngay trên xanh-tuya của thằng K. làm nó chết ngay.

Ngoài ra thêm một lính và hai đứa trẻ Lào cũng bị thương.

Một ông già ngồi trên sàn nhà thẳng hướng với chỗ thằng K.

đứng cũng bị mảnh văng lên làm gãy chân.

Thế là tất cả đơn vị tán loạn và è cổ ra mà giải quyết hậu quả.

Sau vụ này, trung đoàn phổ biến rút kinh nghiệm xuống khắp các đại đội và lệnh cấm lính đeo móc lựu đạn mỏ vịt trên dây lưng khi hành quân.

Phải bỏ lựu đạn vào trong túi cóc ba-lô hay bỏ trong túi con trên dây lưng.

Còn lúc đánh nhau thì thoải mái.

Về sau này đánh nhau với tụi lính VNCH, thấy chúng nó cài lựu đạn ở dây đeo chéo trước ngực, thấy có lý.

Tiểu đoàn K18 đóng quân ngay phần cuối nương từ bản La Vang đi vào chừng hai cây số.

Đi sâu thêm nữa độ một cây là một bản có tên Tùm Nho.

Bản này toàn nhà sàn nhỏ làm bằng cột gỗ và tre nứa, không phải gỗ xẻ, cũng chỉ chưa đến chục nóc nhà.

Trông dân ăn mặc nhếch nhác như đồng bào trên các bản cao tít dọc đường Trường Sơn.

Từ vị trí đóng quân của D bộ, các đại đội rẽ ra các nhánh đi sâu hơn vào rừng.

C6 chúng tôi phải đi sâu thêm 4 cây số nữa tính từ bản Tùm Nho.

Đường đi vào là cắt rừng và được cắm chỗ theo tọa độ.

Chiều tối của ngày đầu tiên hành quân tới nơi, chúng tôi tổ chức nấu cơm ăn theo từng trung đội tại vạt rừng đồi mà sau này sẽ làm nhà.

Đêm mưa phải mắc tăng võng để ngủ.

Hôm ấy là ngày 27/7/1973, đúng ngày thương binh tử sĩ.

Điểm lại toàn đại đội tôi còn non bốn chục người.

Mỗi Trung đội có 7 người, riêng B6 chủ công có 8.

Số còn lại thuộc về A cối 60, quản lý, anh nuôi, y tá và BCH đại đội.

Lúc này tuy không có ai nói đến chuyện chiến sự, nhưng kết quả của việc hòa hợp các phái của Lào ra sao thì chúng tôi chưa biết.

Chỉ biết vùng Păk sế vẫn là quân ngụy Lào và Thái Lan chiếm giữ.

Chúng tôi hiểu lờ mờ là lúc này Thượng Lào thuộc quân ta.

Trung Lào có căn cứ của Vàng Pao và tỉnh Chăm Pa xắc ở cực Nam của Lào thuộc phái Phu mi.

Xem ra quân số của địch cũng ít vì dân số Lào lúc này chỉ có 3 triệu người thôi.

Phải hành quân trở lại, chúng tôi đoán hay là phải đánh nhau tiếp và giải phóng xong nốt cái tỉnh Chăm Pa Xắc ấy thì chiến tranh ở Lào mới coi như xong?

Tham mưu con như chúng tôi trong đơn vị rất nhiều.

Nhiều thằng còn lập luận rất văn vẻ khi đưa ra ý kiến để phán, nhưng nói chung thường là sai toét.

Bởi vì có rất nhiều chuyện phải bí mật, không phải cái gì cũng được cấp trên phổ biến hết

Hôm sau đại đội họp giao ban, phát lệnh cho toàn C làm hậu cứ kiên cố để ở lâu dài.

Chúng tôi sẽ không được ra Bắc nữa mà phải đóng quân lại tại chỗ để làm nhiệm vụ, còn chính xác là nhiệm vụ gì thì chưa biết.

Đến cán bộ cấp C cũng chỉ biết là còn phải tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ cách mạng Lào, thế thôi.

Vị trí đóng quân của C6 nằm trong rừng già, ven một con suối đá nước trong và chảy rất mạnh.

Bây giờ đang là mùa mưa.

Trung đội 5 của chúng tôi nằm sâu nhất, áp sát suối.

Bên kia suối là bạt ngàn rừng tre và nứa.

Cả B chúng tôi được làm một nhà nửa nổi và vẫn phải đào một cái hầm chữ A to cho đủ lệ.

Trong rừng này toàn cây gốc rất to nên chúng tôi quyết định dựng nhà toàn bộ bằng tre nứa.

Cột kèo thì đương nhiên là tre rồi.

Phần thưng xung quanh nhà, chúng tôi đan nứa thành phên để che.

Riêng cái đoạn làm mái nhà thì lần đầu tiên tôi được biết đến mái ống.

Không phải mái nứa mà là mái vầu.

Cứ rọc cây vầu làm đôi, róc mắt rồi xếp đan úp ngửa chéo sát nhau cho kín mái nhà rồi neo giữ chặt là xong.

Trông mái nhà rất gọn và đẹp, thẳng tăm tắp.

Đúng là của rừng có khác, tha hồ dùng.

Trong thời gian ở đây chúng tôi còn dùng tre nứa làm nhiều đồ dùng thông thường như rổ rá, ken thùng đựng nước ăn, rồi các loại bàn ghế, giá súng, thậm chí cả đường đi...

Tiện nghi sinh hoạt đầy đủ và tiện lợi rất nhiều.

Sau một tuần làm xong nhà, trung đội tôi tổ chức liên hoan khánh thành.

Bao nhiêu đường còn lại được góp tập trung để nấu kẹo.

Cà phê bột tự làm cũng được đem ra dùng nốt vì loại này để lâu trong điều kiện mùa mưa cũng mau hỏng.

Đặc biệt còn có hai bao thuốc "A Lào" của tôi.

Chả là dạo ở bản Ka pơ, tôi đổi được hai bao thuốc và cất kín trong ba-lô khi biết tin được ra Bắc.

Tôi mơ có ngày nào đó về hậu phương, được ngồi trong một quán nước (như Quán Gió hay Bốn Mùa chẳng hạn), gọi một tách cà phê rồi chậm rãi bóc bao thuốc đầu lọc (của này ngoài Bắc còn chưa có) lấy một điếu ra châm lửa hút rồi nhả khói lên trời, làm thơm ngát cả một góc quán trước nhiều cặp mắt ngưỡng mộ của bọn thanh niên.

Ôi, một ước mơ vừa nhỏ bé, vừa ích kỷ làm sao.

Bây giờ không được ra Bắc nữa nên tôi đem ra cho trung đội cùng liên hoan.

Thế mà cũng vui vẻ được hai tối, lại còn mời thêm được cả mấy anh quản lý, y tá và anh nuôi.

Hơn nửa tháng trời chúng tôi chỉ quanh quẩn từ chỗ trú quân ra đám rừng xung quanh để kiếm vật liệu làm nhà.

Tất nhiên vẫn phải có người ra tiểu đoàn lấy gạo.

Buổi tối chỉ phổ biến kế hoạch làm việc tiếp chứ chưa phải họp hành và sinh hoạt chính trị.

Sau khi làm xong nhà, chúng tôi tiếp tục tham gia làm hội trường, làm đường đi, phát quang lấy một cái sân chung.

Nhà của đại đội và nhóm quản lý anh nuôi, nhà bếp... cũng được làm đồng thời, do các B cử người hỗ trợ.

Khu doanh trại làm xong, đẹp tuyệt vời, chẳng hề kém doanh trại hồi còn huấn luyện ở Bãi Nai, Hòa Bình.

Có khi còn đẹp hơn, vì cảnh rừng thì ở ngoài Hòa Bình không thể sánh bằng.

Lúc này chúng tôi xác định nhiệm vụ huấn luyện là chính.

Nghe nói sẽ được bổ sung thêm quân.

Như vậy chuyện trung đoàn chúng tôi được ra Bắc để an dưỡng và củng cố sẽ thay bằng an dưỡng và củng cố tại chỗ.

Lúc đầu quả thật chúng tôi có buồn, nhưng về sau xét lại, ngoài chuyện không có đồng bào Việt để giao lưu, còn về các khoản khác cả vật chất và tinh thần chắc còn tốt hơn ở Quảng Bình hay Hà Tĩnh.

Đơn giản là vì chúng tôi đang là chủ của những cánh rừng bạt ngàn có nhiều muông thú.

Nhưng không phải là không có niềm vui tinh thần.

Toàn trung đoàn chúng tôi tổ chức bình công (chậm sau chiến sự tới nửa năm trời).

Sau đó cả E có một đoàn được ra ngoài Bắc dự hội nghị chiến sĩ thi đua, kết hợp nghỉ phép (sướng thế!).

Lính Hà Nội chúng tôi cũng có thằng Thắng (K16) được tham gia.

Ngoài ra trong C nào cũng có mấy anh được đi phép, chủ yếu là các anh nhập ngũ từ năm 1965, 1967.

Nói thực là số này còn lại cực ít, chủ yếu là anh nuôi, y tá và cán bộ từ B trở lên.

Lại tíu tít chia tay và hùng hục viết cả một nắm thư gửi về nhà nhờ các anh ấy mang ra.

Đơn vị vắngđi gần chục người mà thấy thưa hẳn.

Sẽ là hơn một tháng trời chờ đợi các anh ấy vào để biết tin nhà, nếu gia đình chưa kịp gửi thư.

Đến lúc này, bọn lính HàNội chúng tôi cũng chưa ai biết tin ngoài Hà Nội qua thư gia đình.

Đóng quân ở một vị trí mới thì nhiệm vụ trước tiên bao giờ cũng là lùng sục, chúng tôi đã quen với nếp này rồi.

Cái dẻo đất chỗ đại đội tôi đóng quân thật ra không phải là rộng lắm.

Đi xa sang hai bên chỗ nào cũng có khe suối và rừng rậm chen kín.

Cây gỗ mọc dày tới mức muốn lùng sục đi qua cũng phải mò mẫm phát các cây con lấy đường. tầm nhìn xa chưa đến chục mét.

Đấy là chưa kể còn có dây leo chằng chịt.

Rừng rậm, lại mùa mưa nên không khí rất ẩm thấp, vắt nhiều vô kể.

Vùng này ngoài vắt nâu như trong các rừng nứa, còn có cả vắt xanh.

Bọn vắt xanh không bò dưới đất mà bám trên lá cây.

Đi đứng thế nào thì đầu và mặt cũng phải quệt vào lá.

Những con vắt xanh màu lẫn vào lá như phục kích sẵn tha hồ thả người rơi vào cổ vào vai chúng tôi.

Bọn này bò rất êm, nhưng cắn thì cực đau.

Nhiều khi rùng hết cả mình, chỉ mong chạy ra được một khoảng trống nào đó cởi phanh cổ áo rồi giúp nhau vừa phủi vừa bứt chúng ra.

Để chống vắt, chúng tôi phát quang khá rộng quanh mỗi lán, hội trường và đường đi giữa các trung đội và bếp ăn.

Con đường xuống suối và một con đường đi ra khỏi đơn vị để lên tiểu đoàn cũng vậy.

Đường dốc trong khu vực đại đội còn được chúng tôi chặt gỗ lát hoặc đan phên tre đi cho khỏi bẩn chân.

Qua khỏi con suối đá phía sau B5 chúng tôi là rừng tre nứa.

Đi xa thêm vài trăm mét thì ra một cánh rừng thưa hơn, cũng sát suối.

Hôm đầu tiên lùng sục đến đây, từ xa chúng tôi đã nghe thấy cây rung rào rào.

Vùng rừng rậm này không có voi, với lại voi đi thì rung đất chứ không rào rào trên cành cây như thế.

Thoạt đầu, tôi đã liên tưởng đến trăn, nhất là những con trăn gió, trăn mốc dài hàng chục mét, nặng vài chục cân mà khi còn ở nhà tôi đã đọc trong truyện.

Trăn chỉ di chuyển kém khi ở ngoài bãi đất trống, còn trong rừng, nó quăng mình qua các cành cây vèo vèo như gió.

Tôi đã từng đọc về chuyện trăn mò đến nuốt người nằm trên võng, hay quấn người rồi vặn cho gãy hết xương.

Con trăn chỉ có mỗi điểm yếu là cái khấu đuôi.

Nếu chặt được vào đó hoặc nghiến răng ngoạm đứt (điều này khó hình dung) cái chót đuôi thì con trăn mới chịu bỏ mồi.

Nghĩ thế là rợn hết cả người, súng bật chốt an toàn sẵn sàng nhả đạn, chúng tôi lò dò mãi mà chả thấy gì.

Hôm ấy có lẽ đi chỉ độ non cây số đã phải chuồn về.

Tối về kể chuyện, A trưởng Thanh bảo, mày có ngửi thấy mùi gì không?

Mùi tanh chẳng hạn.

Nhớ lại, bảo không có chuyện đó, thế là anh ấy cười.

Hôm sau anh Thanh xung phong đi lùng sục lại đúng hướng ấy.

Anh ấy đi đầu, nhẹ nhàng và chú ý nghe ngóng.

Đến một lúc nào đó thấy cây lá rào rào và tiếng kêu chí choét ngay trên đầu.

Giật mình ngẩng lên thì chao ôi, cơ man nào là khỉ.

Đàn khỉ đến vài chục con chuyền cành chạy trốn rào rào.

Ngây người ra chỉ vài phút thì lũ khỉ chuồn mất tăm.

Hóa ra khu vực này là một rừng cây có thứ quả hay hoa lá nào đó mà khỉ thích ăn.

Chúng tôi ngồi nghỉ lại một lát rồi đi tiếp.

Bây giờ thì yên tâm rồi vì bọn khỉ không nguy hiểm.

Chúng không tấn công người.

Chúng tôi đi tiếp, ngó nghé tiếp, cố mong tìm thấy một thứ quả gì người ăn được thì tuyệt, nhưng không có.

Đến anh Thanh là người dân tộc mà cũng chẳng biết cái thứ mà lũ khỉ tìm ăn ở đây là quả gì.

Lính tất nhiên là phàm ăn, nhưng ở tại khu rừng đóng quân này, chúng tôi đã phạm phải một sai lầm, đó là săn bắn khỉ.

Trong cao nguyên, năm ngoái B5 chúng tôi cũng đã bắn khỉ, nhưng đó chỉ là bất chợt.

Ở đây các anh trong C tôi đã quyết định bắn khỉ để cải thiện.

Lúc đầu bọn khỉ dát lắm, chúng tôi chưa đến gần chúng đã rào rào chuyền cành chạy trốn.

Về sau chúng bạo dạn hơn, chạy trốn từ từ và thậm chí còn có con gan lì ngồi lại trên cây kéo cành lá che để nhìn chúng tôi.

Khi hai bên đã dạn dĩ với nhau rồi thì đơn vị tôi mới bắn.

Khỉ ở đây lông màu xám và nhỏ con chứ không to như con khỉ vàng trên cao nguyên.

Cả đơn vị mấy chục người có một con thì chả ăn thua gì, nên mọi bộ phận của con khỉ đều chế biến hết.

Hôm đầu tiên chưa có cảm giác gì, chỉ thấy thịt nó hơi gây gây, ngang ngang.

Mấy hôm sau đơn vị tôi lại bắn khỉ.

Lần này khó hơn vì lũ khỉ đã nghi ngờ những láng giềng mới, nhưng chúng tôi vẫn bắn được.

Khi xuống bếp xem anh nuôi làm thịt, tôi thấy có một cái gì đó ghê ghê, vì khi con khỉ bị cạo lông thì nhiều bộ phận của nó giống người.

Đến lần thứ ba bắn khỉ thì thật là não lòng.

Anh Hành B4 không hiểu chọn mục tiêu thế nào lại bắn trúng một con khỉ mẹ đang nuôi con.

Nó trúng đạn mà còn một tay ôm con, một tay cố bíu mãi vào cái cành cây, rất lâu rồi mới chịu rơi do đuối sức.

Con khỉ con chỉ bé như con mèo rơi theo rồi cứ chót chét kêu cạnh khỉ mẹ mà không thể chạy đi đâu.

Hôm ấy tôi theo anh Hành, phải chứng kiến cảnh ấy, thấy não lòng thế nào ấy.

Nói dại chứ lúc ấy tôi nghĩ là chúng tôi đã bắn người chứ không phải bắn khỉ.

Con khỉ con được đem về cứ bám mãi theo xác mẹ, không trói mà nó cũng chả chạy đi đâu.

Hôm ấy tôi thấy ghê ghê, không dám đụng đến món thịt khỉ.

Cứ nghĩ cảnh khỉ mẹ bị đạn rớt mà vẫn níu con thì tôi cứ thấy không yên lòng thế nào ấy.

Hình như con người tôi không hợp với cảnh bắn giết, dù đó là gì. (Nếu như ai đó nói rằng có hội chứng chiến tranh thì chắc tôi cũng là người mắc phải vì về sau và cho đến bây giờ, tôi vẫn không dám cắt tiết gà).

Con khỉ con bé quá, chúng tôi không nuôi được vì nó chẳng chịu ăn.

Hôm sau tôi phải đem nó ra chỗ bắn khỉ hôm trước.

Chẳng thấy bóng dáng đàn khỉ đâu cả.

Chúng đã coi những thằng lính chúng tôi là kẻ thù nguy hiểm mất rồi.

Tôi đi sâu tiếp vào rừng nhưng cũng không tìm thấy khỉ.

Nghĩ mãi, tôi quyết định cứ đặt con khỉ dưới gốc cây, hy vọng biết đâu lũ khỉ quay lại gặp sẽ cứu con khỉ con vì tính bầy đàn.

Chỉ lo là không phải con mình thì con khỉ khác có nuôi nó không.

Nhưng như thế này may ra con khỉ con còn cơ hội sống, chứ ở với chúng tôi chắc vài hôm nó cũng chết mất.

Tôi đã đem chuyện này nói với anh Mỵ chính trị viên.

Tôi kể mà giọng giống như đang lên án tội ác của chúng tôi.

Anh Mỵ cũng là người dân tộc (may thế), đánh giặc thì hăng, nhưng tính tình thì dáng vẻ như con gái.

Anh ấy cũng đồng cảm với suy nghĩ của tôi.

Thế là từ hôm sau đại đội ra lệnh không được bắn khỉ nữa.

Nếu nâng lên quan điểm thì đám khỉ cũng cùng tổ tiên với loài người chúng ta cơ mà.

Còn thú trong rừng thì thiếu gì mà sợ không có cái ăn.

Bắn con gì có nguồn gốc xa xa với loài người ấy cho nó đỡ ghê.

Nói thêm về chuyện khỉ.

Sau hai hôm tôi có mò ra chỗ đã thả con khỉ.

Không thấy nó, kể cả xác cũng vậy.

Tôi tin và hy vọng con khỉ ấy đã được cứu sống nhờ lòng nhân ái của bầy đàn.

Sau này, khi chúng tôi ở đó khá lâu và không săn bắn khỉ, không có tiếng súng nên dần dà đàn khỉ đã quay lại khu rừng.

Chắc không phải chúng quên tội chúng tôi, mà là vì cánh rừng đó có thứ quả mà chúng ăn được nên chúng phải tìm đến.

Hơn nữa chúng vốn là chủ nhân của khu rừng này trước chúng tôi, thì chúng cũng cần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước cánh lính không mời mà đến là chúng tôi chứ.

Một đôi lần khi ra suối đá tắm lúc trưa nắng, nhiều lần tôi đã thấy thấp thoáng bóng dáng những con khỉ.

Chúng dè dặt hơn trước nhiều.

Tôi cố nhìn nhưng không thấy (hay không thể nhận ra) có con khỉ con dạo trước trong đó không.

Tôi cứ vơ vẩn nghĩ lũ khỉ đã tha thứ cho chúng tôi, nhưng chúng vẫn phải cảnh giác.

Thế cũng phải thôi.

Có lẽ tất cả những người đã từng sống những năm tháng gắn bó với núi rừng Trường Sơn hùng vĩ đều phải công nhận rằng, trừ những khi đạn bom ác liệt, còn thì đó là nguồn tài nguyên sống vô tận và rất phong phú nuôi sống con người.

Dưới một góc độ nào đó thì có khi còn sung túc nữa là khác.

Chúng tôi có cái may mắn hơn rất nhiều đơn vị khác là chiến đấu ở dải đất Tây Nam Trường Sơn nên mức độ ác liệt có phần ít hơn.

Khi dừng tác chiến thì cuộc sống cũng thật dư dả, tất cả đều là của rừng.

Mùa đốt nương phá rẫy đã qua nên những chuyện phục kích ngoài nương chờ bắn những con nai ban đêm mò ra ăn tro tranh lấy muối không còn nữa.

Thời kỳ này chúng tôi vẫn săn bắn được nhiều hoẵng.

Tôi chưa thấy hươu rừng, nhưng giống hoẵng có họ với nai thì ở đây rất nhiều.

Con to chỉ độ cỡ ba bốn chục cân là cùng.

Trung đoàn cho các đơn vị được phép săn bắn để cải thiện.

Chúng tôi đi xa hơn vào rừng và nhiều lần bắn được hoẵng.

Có lần các anh người dân tộc hứng chí đi bắn đêm bằng đèn.

Bắn đêm khá vất vả, có lẽ thích thú chỉ ở cái cảm giác lúc con hoẵng bắt đèn của người săn mà ngơ ngác rồi đứng im chịu đạn mà thôi.

Tôi thích đi cùng các anh ban ngày hơn, vì đỡ hẳn cái khoản rắn rết.

Ban ngày dù sao mình cũng ít nhiều nhìn thấy để mà tránh.

Thời gian này chúng tôi huấn luyện là chính nên chuyện cải thiện cái ăn rất phong phú.

Chính thời gian này được ăn thịt thú rừng rất nhiều.

Cứ tổ chức đi săn là có thịt ăn.

Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó, đấy là những tai nạn khôn lường.

Một lần chúng tôi đi lấy gạo ngoài vùng bản Ca Đáp.

Đường đất không đủ rộng cho hai xe ô-tô tải tránh nhau một cách bình thường.

Xe cũng ít qua lại, kể cả xe bò của dân nên hai bên đường lau lách rất nhiều, mọc tràn cả ra đường.

Thỉnh thoảng lại gặp chỗ có lối mòn đạp rẽ vào rừng.

Vì ít bóng người nên thỉnh thoảng lại có những con hoẳng rẽ bụi chạy băng qua đường.

Lần ấy, khi nhóm lính C tôi đi đến một khúc cong, vừa rẽ ra chỗ đường thẳng thì bất ngờ phía trước cách độ vài chục mét có một con hoẵng nhảy ra đường.

Nếu nó phi thẳng mất hút thì không sao, đằng này nó lại dừng ngay giữa đường nhìn chúng tôi như thể tò mò xem chúng tôi là cái giống gì.

Thế là anh Trịnh quỳ ngay xuống giữa đường, xoay nòng AK cho nó ngay một điểm xạ.

Liền lúc đó cũng có ngay một loạt AK khác nã về phía chúng tôi.

Con hoẵng nhảy ngay vào rừng, mất hút.

Phía trước mặt có tiếng kêu ầm lên rồi thấy mấy thằng lính nhà ta lóp ngóp bò dậy.

Hóa ra phía trước cũng có một tốp lính của C khác đi lấy gạo về, ngược với chúng tôi.

Cả hai tốp đều bất ngờ nhìn thấy con hoẵng, đều phản xạ bản năng muốn bắn con hoẵng.

Kết quả là con hoẳng chỉ hoảng sợ chạy mất, còn chúng tôi hết hồn vì hai loạt đạn chĩa vào nhau.

Phúc tổ bảy mươi đời là không thằng nào dính đạn.

Chúng tôi cùng cáu tiết chửi nhau, cùng nhận ra chẳng thằng nào đúng nên đành chia tay đường ai nấy đi, nhưng vừa đi còn vừa run.

Về đến lán đêm nằm nghĩ lại còn thấy sợ.

Những chuyện như thế cũng chẳng dấu kín được ai.

Không thằng nào bị kỷ luật, nhưng có lệnh từ trên truyền xuống là chỉ được tổ chức săn bắn hẳn hoi chứ không được tùy tiện bắn lung tung.

Bây giờ thì lại xảy ra chuyện khác.

Vốn dĩ cũng chẳng ai phân định đâu là vùng rừng của ai, nên đã xảy ra chuyện có đơn vị nọ cử người đi săn, tưởng cách xa đơn vị lắm rồi, nhưng lại lần mò sang đến khu rừng của đơn vị khác.

Có ai cho chúng tôi biết rõ ràng vị trí đóng quân của từng đơn vị trong trung đoàn đâu, phải bí mật cơ mà.

Một lần chúngtôi đang ngồi thảo luận chính trị trong lán thì nghe thấy phía dưới gần suối cótiếng rung cây rất to.

Chỗ ấy có nhiều cây to cao đến hai chục mét, mây songchằng chịt, um tùm.

Anh Dũng B trưởng cho tạm dừng họp rồi xách súng ra xem.

Tiến động cứ rùng rùng títtrên lùm cây cao, ào ào từng đợt.

Chả hiểu sao mọi người lại đoán là có con gấutrên ngọn cây, tuy chẳng ai nhìn rõ.

Lúc ấy cũng chẳng ai đủ bình tĩnh để suynghĩ xem, trên cây ấy có tổ ong đâu mà gấu nó leo lên.

Cứ nghĩ có con gấu rấtto, bắn được là tuyệt rồi.

Thế là chẳng cần nhìn thật rõ, anh Dũng choảng luônmột điểm xạ AK lên đó.

Tiếng động im bặt, nhưng ở gốc cây có tiếng người gào ầmlên.

Chúng tôi chạy lại thấy hai thằng lính C5 mặt tái mét ngồi thụp ngay gốccây.

Hóa ra bọn C5 đi lấy dây mây đã mò sang khu vực C tôi, nhưng chúng nókhông đi theo đường mòn chính vào mà cắt rừng đi như ở chỗ không người.

May màanh Dũng đoán con gấu trên ngọn cây mà bắn lên đó, chứ đoán con gấu đang ngồidưới gốc cây thì chắc có thằng kết oan.

Không phải mọi chuyện lúc nào cũng ổn.

"Đi đêm lắm có ngày gặp ma", các cụ nói cấm có sai.

Trong tháng 10/1973, liên tiếp xảy ra hai vụ tai nạn chết người do đi săn bắn phải nhau của K15 và K16.

Trung đoàn họp rút kinh nghiệm và phổ biến ngay đến các đơn vị.

Chuyện nào nghe cũng thấy rùng mình.

Chết lúc bom đạn không sao, chết thế này chắc cũng không được liệt sĩ.

Thằng chết số ruồi đã đành, còn thằng bắn nhầm cũng day dứt.

Trung đoàn vẫn không cấm săn mà chỉ nhắc nhở các đơn vị tổ chức săn bắn chu đáo hơn.

Nhưng như thế nào là chu đáo thì chẳng ai chỉ ra được rõ ràng.

Chết người rồi mới nhìn ra chỗ sai.

Tiểu đoàn K18 chúng tôi thì chặt chẽ hơn, tuyên bố đi săn phải tổ chức theo tiểu đoàn chứ các C không được tùy tiện.

Có lịch giao ban về chuyện săn bắn hẳn hoi.

Sau đợt đó, hầu như chúng tôi không còn được ăn thịt hoẵng nữa, nhưng bù lại thì lại được chén rất nhiều lợn rừng.

Tôi không thạo lắm về thú rừng, chỉ nghe lính dân tộc nói là lợn rừng chia ra hai loại là lợn cỏ và lợn độc.

Lợn cỏ đi theo đàn cỡ hơn chục đến vài chục con, có cả lợn đực trong đàn.

Loại này không hung dữ, khi bị săn đuổi thì chạy là chính.

Còn loại thứ hai cực kỳ nguy hiểm là lợn lòi hay còn gọi là lợn độc.

Đây là những con lợn đực sống riêng lẻ không bao giờ đi theo đàn.

Chúng thường to cỡ trên một tạ, khỏe và có răng nanh to nên rất nguy hiểm, không ngần ngại tấn công đối thủ kể cả là người.

Đi lẻ mà bất ngờ gặp nó là một điều tệ hại.

Ngay cả người chủ ý đi săn nó mà kinh nghiệm kém cũng dễ trở thành nạn nhân.

Ở đường dây 559 đã có cả một câu chuyện kể về một vụ săn lợn lòi trừ hại cho dân bản vì con lợn này phá phách kinh lắm.

Nó to cỡ tạ rưỡi, vết chân to như chân trâu.

Chưa nhìn thấy nó, chỉ nghe thấy tiếng hộc hộc cũng đủ sợ rồi.

Binh trạm ở đó vì muốn bảo vệ dân và đường dây nên đã tổ chức đi săn để trừ diệt.

Người lính - thợ săn ấy phải lùng suốt 5 ngày đêm mới tìm ra nó trên một sườn núi đầy tre gai.

Có điều không hiểu tình thế lúc đó vì sao ấy nên anh ta bắn con lợn ở vị thế thấp hơn con lợn.

Trúng đạn vào đầu từ khoảng cách hai chục mét mà nó còn đủ sức lao cả người đâm hàng nanh sắc nhọn vào đối thủ.

Khi đơn vị tìm được thì thấy cả hai xác người và lợn quấn vào nhau ngay dưới chân núi.

Anh Thanh trong C tôi bảo nếu như người thợ săn ấy chủ động chọn được chỗ phía cao hơn con lợn và linh hoạt di chuyển thì mới có thể thoát được, còn trong tình huống như trong chuyện kể thì dù là ai chắc cũng phải chịu số phận như thế.

Thế cho nên mục tiêu chính là săn lợn cỏ.

Loại lợn này thịt nạc nhiều, ngon hơn cả lợn nhà nuôi.

Khởi đầu cho vụ săn lợn cỏ năm đó là tiểu đoàn bộ.

Do tiểu đoàn bộ đóng gần nương lúa của dân hơn cả nên dễ phát hiện ra dấu vết của lợn rừng.

Một lần ngay đầu buổi sáng có truyền đạt của tiểu đoàn đến báo các C lên D bộ nhận thịt. (Thời gian chúng tôi đóng quân tĩnh tại không bao giờ có điện thoại hữu tuyến nối giữa các đại đội với tiểu đoàn.

Mọi liên lạc đều bằng người báo trực tiếp.

Các cán bộ C nhận lệnh hay giao ban cũng phải tự đi bộ.

Chỉ khi có chiến đấu, mà chỉ ở một số trận đánh tập trung mới có rải dây hữu tuyến).

Lên đến nơi chúng tôi mới biết D bộ do bác Chớt (anh nuôi cựu nhưng là thợ săn có nghề) chỉ huy ra phục ngoài nương lúa bắn được hai con lợn to, đến hơn hai tạ thịt.

Mỗi C được đến nửa con, quân số lại ít nên ăn thoải mái, chả khác gì liên hoan ngày thành lập trung đoàn.

Món thịt lợn dễ ăn và hấp dẫn lính tráng chúng tôi ngay từ ngày hôm đó.

Thế là về sau C nào cũng tổ chức săn.

Nương lúa của dân rất nhiều và lợn cỏ cũng rất nhiều.

Bị bắn chỗ này, chúng bỏ sang vùng nương khác.

Tiểu đoàn khoanh vùng nương cho các C để khỏi bắn vào nhau.

Đại đội tôi được phân chia khu vực nương hướng về chân núi phía Đông, cách xa nơi đóng quân chừng một giờ đi đường.

Tôi cũng được các anh lính cũ cho đi săn cùng và tôi thấy săn lợn rừng rất dễ và hứng thú.

Chúng tôi toàn săn vào ban đêm.

Chọn phục kích nơi nào vẫn là do lính cũ, nhất là các anh người dân tộc.

Lính người Kinh dù khôn ngoan cỡ nào thì cũng không thể sánh được với kinh nghiệm của người dân tộc trong những phần việc có liên quan đến núi rừng.

Chúng tôi đi săn lợn theo tốp ba người.

Chọn chỗ xong, cả tốp nằm phủ phục trong nương, hướng súng về một phía.

Thời gian này đã dần về cuối mùa mưa, những đêm mưa như trút nước không còn nhiều, nhưng vẫn còn có mưa.

Chúng tôi phải lấy nilon che trên người cho khỏi ướt vì những cơn mưa nhỏ hay sương đêm.

Nằm ngoài nương cả đêm cũng lạnh lắm.

Khoảng thời gian gần về sáng lợn mới vào nương kiếm ăn.

Lúc này cũng là về cuối vụ, lúa đã gần chín nên mới hấp dẫn lợn rừng về.

Các anh lính cũ bảo dù biết rằng chỉ săn được lợn lúc gần về sáng, nhưng vẫn phải nằm phục từ đêm cho sương làm tan hơi người.

Lợn rừng tuy không phải là giống tinh nhanh lắm, nhưng dù sao chúng cũng có kinh nghiệm bản năng của thú rừng.

Ngay cả chọn hướng phục không tốt, lợn nó lại xuất hiện từ phía sau lưng mình lại thì cũng coi như hỏng ăn.

Gần về sáng, nếu đúng đêm có lợn về (không phải đêm nào đi phục cũng bắn được lợn vì nó không về) thì sẽ nghe tiếng chân và hiếng hộc của chúng.

Những con đầu đàn và to thường đi trước, bọn be bé chạy sau.

Chúng cũng thận trọng lắm, đánh hơi, tiến chậm, mãi mới chọn chỗ ăn.

Nương rộng mênh mông, lợn nó không đi khắp nương nên nếu chọn sai chỗ phục cũng không bắn được lợn.

Khi có mục tiêu, chúng tôi hiệp đồng rất nhanh.

Thường anh Thanh hay một anh cầm đầu ra hiệu, mỗi người chọn duy nhất chỉ một mục tiêu và nổ súng, sao cho càng đồng loạt càng tốt.

Cũng chỉ bắn mỗi người được một điểm xạ hai viên AK thôi.

Sau đó lợn nó chạy tung tóe, trong đêm chẳng nhìn thấy gì nên có đứng lên mà quạt bừa cũng chẳng trúng cái gì, nát lúa của dân thì đền ốm.

Nếu đạn bắn trúng đầu hay vào tim thì con lợn chết ngay, còn thường thì lợn nó còn chạy chán rồi mới chết, vì đa phần những con bị chọn bắn là con to, khỏe.

Chúng tôi phải chờ đến sáng hẳn, xem vệt máu và kiểm tra, tìm kiếm thì mới thu được chiến lợi phẩm.

Những đêm bắn được ba con lợn rất hiếm, còn thì thường chỉ được một hoặc hai con, chẳng hiểu tại sao lại thế.

Chỉ đoán là loạt AK nổ đầu hạ được lợn, còn các loạt AK khác nổ sau nên không trúng mục tiêu, lợn nó nhanh chân chạy mất.

Nếu ít thì chúng tôi chặt đòn khiêng về, còn nếu bắn được nhiều thì phải cử người về báo đại đội cho thêm người khiêng.

Trước lúc về cũng phải vuốt lại những cây lúa đổ cho dân họ đỡ kêu.

Thời gian này chúng tôi được ăn nhiều lợn rừng, còn vì khi bắn được nhiều lợn, chúng tôi không làm thịt khô mà gọi chia cho các C bạn trong cùng tiểu đoàn.

Đến khi họ bắn nhiều thì lại gọi chia cho chúng tôi.

Về gần cuối mùa lúa của dân, chúng tôi còn bắn lợn rừng bằng cối cá nhân M79.

Lúc này những con lợn to trong đàn cỡ tám chục cân trở lên còn rất ít, chỉ còn nhiều con cỡ dăm sáu chục cân, thậm chí có con bắn được chỉ độ ba chục cân.

Chúng tôi dùng đạn cối bi M79.

Loại này khi bắn văng ra hai chục viên bi chì to như viên bi xe đạp, xa tới hai chục mét và sát thương như đạn ria của súng săn.

Nếu nhằm được vào chỗ lợn ăn tập trung thì cũng hạ được hai, thậm chí ba con lợn nho nhỏ cỡ vài chục cân.

Nhưng đa phần lợn không chết ngay mà chạy một đoạn xa mới chết, hơi phải mất công tìm khi trời sáng.

Nhưng kiểu bắn này cũng chỉ được một thời gian ngắn vì đạn cối bi không có nhiều.

Trong mấy tháng trời đóng quân ở cái vùng bản Tùm Nho này, chúng tôi không thiếu thực phẩm.

Gạo cũng phát đủ tiêu chuẩn bảy lạng một ngày nên ăn no, lính tráng khỏe lên trông thấy.

Gần đường dây 559 nên chúng tôi được phát khá đủ các loại như thịt hộp, giò hộp, muối, mì chính và nhiều nhất là mắm tôm khô.

Không có cá hộp, còn rau thì chỉ toàn là rau cải khô, hình như của Trung Quốc thì phải.

Còn có hai món nữa mà chúng tôi cũng hay kiếm được ăn và rất khoái.

Một là những con chuột núi (con dũi).

Khu vực chúng tôi đóng quân nhiều rừng tre bương, lại vào mùa mưa lắm măng nên dũi về đào ăn măng rất nhiều.

Cứ lúc nào tĩnh lặng, bất kể đêm hay ngày mà nghe tiếng kèn kẹt chỗ bụi tre bương là thể nào cũng có một con dũi đang đào gặm củ măng.

Ban ngày thì chúng tôi tổ chức đào, mất công một tý và phải biết cách thì kết quả thể nào cũng tóm được một con dũi, thường to nặng tới hơn một ký.

Chỉ được một con thôi vì dũi không đào hang theo cặp.

Một con cho cả đại đội ăn thì hơi thòm thèm, nhưng chia ngọt xẻ bùi vài miếng trong bữa cơm, đổi món thì cũng thật thú vị.

Đoạn đường từ C tôi lên tiểu đoàn bộ phải qua một đoạn suối khá dài, cứ men theo bờ suối hẹp mà đi.

Điều đặc biệt là khu vực này có rất nhiều cua đá.

Lưng của nó thiên về đen nhiều hơn chứ không vàng đen như cua đồng.

Có lẽ giống cua này cùng loại với cua đá trong bài hát của các chiến sĩ ngoài đảo Cồn Cỏ.

Cua đá cũng nhỏ như cua đồng, tôi thấy chẳng có gì khác nhiều.

Cua bò rào rào bên bờ suối nên chỉ nhanh tay bắt là được chứ không phải móc cua trong hang như cua đồng.

Cứ bỏ tất vào cái túi vải, về nhà tính sau.

Ba người đi làm nhiệm vụ cải thiện mà bắt cua đá thì quá nhàn.

Đường gần nhà, cua bắt dễ, chả mấy chốc đã đầy ba túi, thời gian còn lại tha hồ mà chơi và tán gẫu.

Anh nuôi cũng làm cua giống như ở nhà.

Chúng tôi cũng có đủ chầy cối tự tạo.

Gốc cây khô trong rừng không thiếu, cưa ngang và khoét một buổi là có cái cối đại.

Có lẽ trong rừng cái bí nhất là rau xanh và gia vị thôi.

Nhưng mắm tôm (dù là loại khô) cũng khá hợp vị với canh cua nên hôm nào làm canh riêu cua ăn với thân chuối non thái mỏng (quá sẵn ở Nam Lào) thì lính tráng ăn rào rào như trả bữa.

Ngoài hai thứ ăn khoái khẩu ấy còn có thể kể đến một quà tặng khác của núi rừng, tuy không thật tuyệt lắm.

Đi xa hơn một chút vào phía núi chỗ chúng tôi đóng quân còn có rùa núi.

Mỗi con to như cái mũ sắt của lính, mai nâu đen mốc.

Rùa núi rất chậm chạp, phát hiện ra nó nhờ khu vực và tiếng đi của nó trên lá.

Vào ngày nắng, lá khô, rùa ra sưởi thì mới nghe thấy tiếng chân nó nhè nhẹ trên lá, còn ngày mưa thì chả bao giờ phát hiện ra chúng.

Rùa núi bắt rất dễ chỉ cần tiến lại lật ngửa nó ra là cu cậu chịu chết.

Chẳng bao giờ sợ nó cắn như ba ba, vì rùa chậm hơn ba ba.

Có điều lượng thịt rùa không nhiều như ba ba và không ngon bằng, cái mai và yếm của nó hầu như không ăn được.

Chỉ có chút thịt, cái đầu và bốn cái chân.

Chúng tôi cũng chỉ bắt ăn cho biết chứ loại này làm thịt vất vả và không bõ để ăn.

Tất nhiên ăn mãi một thứ cũng chóng chán nên chúng tôi rất chịu khó cải thiện để có thêm cái ăn.

Mùa mưa năm đó có thể nói là mùa bồi dưỡng sức quân.

Ngoài những thứ của rừng, chịu khó đi xa một chút, chúng tôi xin được của dân cả rau cải xanh, bí ngô và các sản phẩm của chuối như chuối quả (xanh và chín), thân chuối hay bắp bi (hoa chuối).

Dưa chuột cao nguyên ở đây cũng có rất nhiều, tha hồ lấy, nhưng xào ăn chỉ cách bữa thôi chứ cũng chóng chán.

Đặc biệt khu vực này không có kiệu.

Dân bản có trồng hành nhưng rất ít, tại ngay các bầu đất đặt trên nhà sàn, chỗ để chum nước.

Muốn xin cũng chỉ độ hai ba nhánh nên chúng tôi cũng chẳng buồn xin.

Khi nào ngại đi xa thì chúng tôi lấy măng các loại ngay tại rừng nhà.

Măng nứa luộc kỹ chấm mắm tôm (Mắm tôm khô đem tãi ra chưng với ít thịt hộp) hay măng vầu thái lưỡi lợn luộc kỹ thì ăn cũng tốt tuy thật ra nó chẳng có chất bổ gì.

Cuộc sống cứthế trôi qua với tập tành huấn luyện chút ít kiểu nửa du kích, nửa chính quy.Có lẽ thời gian này bộ đội Trường Sơn nói chung và lính E9 chúng tôi nói riênglà nhàn nhã nhất so với đồng đội ở khắp các chiến trường.

Cuộc đời tưởng cứ thếtrôi qua chờ ngày đất nước hết chiến tranh để về nhà với mẹ.

Mùa xuân chiến trường

(Xin tạm ngắt mạch chuyện để nói về mùa xuân chiến trường...)

Những người lính chúng tôi ai cũng từng trải qua vài mùa xuân chiến trường.

Dù là trong lúc đạn bom ác liệt thì thể nào cũng dành ra được ít phút để bồi hồi đón xuân, để nhớ về những cái tết ngày còn ở nhà bên bố mẹ, anh chị em, được hồ hởi đón xuân dù vật chất thật khiêm tốn.

Với chúng tôi, tết chiến trường thì vào thời điểm giao thừa không có khi nào phải ngồi bên chiến hào.

Có bận rộn chăng thì cũng chỉ là ở một cánh rừng nào đó chuẩn bị cho trận đánh sắp tới mà thôi.

May mắn là mấy cái tết chiến trường, tết nào chúng tôi cũng được hưởng hương vị xôi nếp.

Không có bánh chưng nhưng cũng thổi được nồi xôi nóng mà quây quần với nhau.

Lúc bom đạn ác liệt quá không nói làm gì, nhưng lúc không có đạn bom hay không phải chuẩn bị chiến trận thì có thể nói bộ đội Trường Sơn là đàng hoàng nhất.

Chúng tôi không có được cái đầm ấm của bộ đội B2 ăn tết trong lòng dân, nhưng xét về khoản tự mình tổ chức thì thật không đâu bằng lính 559.

Cái tết 1974 chúng tôi đã được hưởng như thế.

Lúc ở nhà cùng bố mẹ, đêm trước giao thừa (thậm chí là chính trong đêm giao thừa) ngồi đun nồi bánh chưng thì cũng do mẹ gói mà có.

Nay vào lính mình tuy vụng về, nhưng bù lại những người lính cũ tháo vát thì rất nhiều.

Chúng tôi vào những khe núi hái dong, bạt ngàn tha hồ chọn lá to lá đẹp.

Giang và nứa chẻ lạt thì chả nơi nào thiếu.

Chúng tôi cũng ngâm gạo, đãi đỗ, mổ lợn gói bánh chưng và làm đủ các món ăn.

Có thể nói là so với ở nhà thì sung túc hơn rất nhiều.

Lính tráng nhiều thằng gói bánh không cần khuôn mà cũng rất chặt và đẹp.

Chúng tôi đào hố làm bếp (chả phải bếp Hoàng Cầm gì sất) rồi chất củi gộc đun bánh chưng trong những cái thùng phuy cắt bỏ một phần ba.

Thùng phuy tìm ngoài trận địa nhiều vô số.

Phải cắt bớt cho giống cái nồi thì khi luộc bánh chứng nó mới đều.

Để nguyên cả thùng sâu xếp bánh mà không đảo thì bánh chưng ở dưới nát, còn bánh chưng ở trên không rền.

Có thể nói bánh chưng nấu ngon nhất phải đun bằng củi gộc chứ không phải bằng than hay dầu.

Cuộc sống tinh thần cũng rôm rả.

Nhiều thằng có hoa tay, chúng tôi làm bích báo thi giữa các trung đội.

Rồi đêm giao thừa liên hoan văn nghệ, tự biên tự diễn tự hoan hô mà ai cũng cháy hết mình.

Không thể không kể đến chuyện trang trí lán trại.

Hoa rừng Trường Sơn, nhất là phía Tây bên đất Lào thì thật phong phú.

Người Lào ăn tết vào 14-16/4 dương lịch theo Bun hót nạm (Tết té nước), khi đó với họ chỉ có hoa Chăm pa.

Còn Tết Nguyên đán của ta thì họ không mấy quan tâm.

Mà rừng Lào lại thừa hưởng đào rừng rất nhiều và đẹp, toàn đào phai.

Chúng tôi mò vào rừng chặt về trang trí khắp quanh lán.

Mai rừng Trường Sơn cũng không thiếu, tuy chỉ là cây rừng chứ không phải mai thế trồng trong chậu.

Nhiều tiểu đội lấy mai vàng về trang trí, trông cũng đẹp mắt.

Nhiều thằng cầu kỳ còn mò vào rừng kiếm những giò phong lan về treo trước lán.

Có thể nói là lán trại giữa rừng mà đẹp đến xao xuyến lòng những thằng lính xa nhà, làm ấm cúng thêm cảnh tết rừng.

Các lính A cối còn bày trò tìm về trận địa cũ kiếm dù hàng (dù ca-rô xám) về căng trước sân tiểu đội, lại càng tăng thêm vẻ đẹp chiến trường (nói thật là tôi có cảm giác như dù căng ở hầm chỉ huy trên cánh đồng Mường Thanh thời Điện Biên Phủ ấy).

Bây giờ tếtvề, nhiều khi ngồi ôn lại chuyện xưa lại mong được hưởng lại cái tết Trường Sơnnăm đó, được hát hò nghiêng ngả cùng đồng đội mà đối với nhiều người, đó là cáitết cuối cùng vì họ đã phải mãi mãi nằm lại chiến trường vào những ngày chiếntrận của mùa mưa năm đó.

Cao nguyên Boloven hùng vĩ, tình sâu nghĩa nặng tưởng chừng sẽ mãi mãi lùi vào dĩ vãng, thì bất ngờ tôi lại được trở lại nơi đó.

Không chỉ một mà là hai lần, toàn đi theo kiểu công tác lẻ.

Cấp trên cũng chỉ tổ chức vớt vát và có phần khá vội vàng vì nghe tin trung đoàn sẽ được bổ sung quân số cho gần đủ với biên chế chính quy và còn phải huấn luyện tân binh cho kịp nữa.

Chả biết sẽ đi đâu, nhưng trong tiềm thức, chúng tôi chưa hề nghĩ đến chiến trường miền Nam.

Đầu tháng 9/1973, bảy chiến sĩ trong đại đội do B trưởng B4 Tuyền chỉ huy nhận lệnh lên đường trở lại Cao nguyên.

Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm lại vị trí ngày trước ở Khoong xedon đơn vị đã bắn được một con gấu và chỗ Nam đường 23 bắn được con hổ.

Thịt thì đã ăn rồi, nhưng ngày đó chúng tôi cũng đã tập trung xương vất vào sau bếp anh nuôi.

Bây giờ chúng tôi phải quay lại đó tìm bới xương hổ, xương gấu đem về nộp cho trạm xá trung đoàn để nấu cao.

Hầu như tất cả các đơn vị trong trung đoàn, nếu có bắn được mấy loại thú trên (kể cả bò tót nữa) khi trước thì đều phải cử người quay về tìm xương.

Sau nhiều ngày mưa nằm dầm dề và công tác vớ vẩn quanh đơn vị, nay chúng tôi được đi công tác lẻ thì thật như chim sổ lồng.

Nhiệm vụ chả có gì là nặng nề cả.

Chỉ là tìm được xương quý hay không mà thôi.

Ra khỏi khu vực tiểu đoàn, đến con đường cái to (đường đất) là đã thấy chân tay ngứa ngáy lắm rồi.

Chúng tôi đi ào ào nhằm hướng Paksoong.

Trời tạnh, nhìn trời xanh bao la thấy mình như người tự do, làm chủ đất trời.

Cả bảy người đều mang AK, như vậy là không có đánh nhau gì sất, chỉ có tự bảo vệ mình với thú dữ thôi.

Chúng tôi xác định ngày đi đêm nghỉ.

Chỉ trú quân ở rừng ven đường chứ không cần vào nhà dân.

Vào đấy thì cũng có xin xỏ được gì đâu, vì mọi thứ của dân đều ở ngoài nương.

Đối với chúng tôi thì kiếm chác ngoài nương tốt hơn, vì chúng tôi quen như nhà của mình rồi.

Chủ yếu cũng chỉ là rau cỏ cải thiện, còn chúng tôi xác định sẽ kiếm thịt từ thú rừng.

Trong nhóm cùng đi có anh Sơn bắn hổ ngày trước là người dân tộc thì yên tâm rồi.

Chúng tôi dự định vào trong Lào Ngam trước, nơi đó tuy có gần địch một chút, nhưng nhiều thứ còn hoang vu.

Vụ bắn hổ mới xảy ra có một năm thì khả năng tìm thấy xương dễ hơn.

Dọc hai bên đường 23, mới chỉ có một số bản dân hồi cư thưa thớt.

Càng vào sâu trong cao nguyên thì mức độ càng thưa thớt hơn.

Người Lào vốn dân số ít, khi đã tản cư vào Pakse làm ăn ổn định rồi thì chẳng mấy ai muốn về vội nơi cũ, vì chiến tranh chắc gì đã hết hẳn.

Cả mấy chục cây số hoang vu chẳng có ta hay địch.

Cây cỏ mọc lan tràn ra đường, chắc từ trên máy bay nhìn xuống chỉ còn thấy một vệt nhỏ tựa như con đường mòn.

Trên cao nguyên Boloven đặc biệt hai bên đường có rất nhiều cây mâm xôi và cây xấu hổ.

Loại cây cành nhánh này mọc lan rất nhanh.

Chúng tôi nhằm giữa đường mà đi, nhưng nhiều chỗ cũng phải đem dao tông ra phát bớt lấy đường.

Lối vào các bản cũ vẫn dễ nhận ra, dù nơi đâu cây cối cũng um tùm.

Chúng tôi nghỉ một đêm ngay tại thị trấn Paksoong.

Chỗ này mà chịu khó lần mò chắc cũng còn khối thứ hay hay, mặc dù dấu vết của dân Lào trở lại khu căn cứ của bọn lính Thái năm trước để bòn mót các thứ dùng được đem về bản khá rõ.

Thế nhưng nhiều khi có thứ cần với lính thì dân họ lại không cần.

Tuy thế, chúng tôi không có nhiều thời gian, anh Tuyền lại lo nhỡ dẫm phải mìn nên không cho chúng tôi sục xạo nhiều.

Lúc này chúng tôi nghỉ dưới một cái nhà sàn bỏ, chỉ ra loanh quanh một tý là đủ các thứ rau mọc hoang.

Cơm canh có thêm thịt hộp, thế là tươm lắm rồi.

Anh Tuyền vốn cẩn thận nên trong chuyến đi này, đêm nào chúng tôi cũng phải cắt cử canh gác.

Mấy chục cây số dọc theo đường 23, chúng tôi được nếm lại nhiều thứ hoa quả mà chúng tôi đã từng lấy cải thiện hồi mùa mưa năm ngoái.

Có điều khi thiếu bàn thay người chăm sóc của con người thì cây gì rồi cũng thoái hóa dần, quả nhỏ hẳn đi.

Anh Sơn vẫn nhớ vùng đất ngày trước chúng tôi được bắn bò và ngựa bỏ hoang của dân bản để cải thiện.

Ngày ấy chúng tôi bắn đã gần hết, con vật đi hoang thì ngày càng tinh khôn hơn nên bây giờ chúng tôi chẳng hy vọng bắn được bò hay ngựa.

Nhưng thú rừng khác thì rừng càng hoang vu thiếu bóng người, chúng càng dễ xuất hiện.

Anh Sơn mò ra một vùng rừng ven suối, tìm dấu vết và bắn được hai con chồn.

Hy vọng bắn được con hoãng cơ vì thịt loại này mới ngon.

Ở khu bản Tùm nho chúng tôi thường xuyên bắn được lợn rừng nên bây giờ cũng muốn đổi món.

Hai con chồn cho bảy người ăn cũng không phải là nhiều lắm.

Anh Tuyền bảo có thịt chồn là tuyệt rồi, chúng mày cứ được voi đòi tiên.

Tất nhiên là như thế, nhưng đi lẻ một mình, nhất là vào Cao nguyên thì chúng tôi tất phải mong nhiều hơn mới bõ.

Anh Sơn ăn mà không nói gì, nhưng trong bụng đã ngầm có ý định.

Anh ấy bảo nên đi vòng một chút rẽ ra phía bản dân có người để hỏi thăm tình hình và kiếm ít rượu uống.

Có lẽ anh Tuyền cũng là lính cũ có cỡ nên kinh nghiệm nhiều, tán thành luôn.

Thế là chiều hôm sau chúng tôi đi qua một bản dân ở khu Fakcut.

Cầu được ước thấy.

Hôm ấy chúng tôi phải dồn tiền ra mấy trăm "kíp" để mua một bi đông rượu của dân, nhưng khoản thịt tưởng còn phải chờ đi săn thì bỗng dưng lại gặp may.

Chiều đó dân bản bắn được một con hoẵng khá to.

Vì chúng tôi dừng lại nghỉ tại bản, nên theo phong tục của họ (một phong tục quá tốt cho khách qua đường mà không phải nơi nào cũng có) cũng được coi như một gia đình và được họ chia cho thịt săn được.

Cũng phải đến ba cân chứ không ít.

Thế là đêm đó vừa được ở nhà sàn ấm cúng, đốt lửa tưng bừng và có rượu thịt để xơi.

Cảm ơn một phong tục mến khách của các bộ tộc Lào, mộc mạc và đáng yêu làm sao.

Chia tay dân bản, sáng sau chúng tôi lại lần mò nhằm đường 23 thẳng tiến.

Anh Sơn đã thăm dò được nhiều tin tức và hạ quyết tâm đợt này phải bắn được một con hoẵng.

Của rừng đãi mình mà không biết tận dụng cơ hội thì thật xoàng.

Gì chứ cái quyết tâm này thì chúng tôi giơ cả hai chân hai tay lên mà biểu quyết.

Nhưng tất nhiên là phải có thời gian.

Tới một cánh rừng ở Nam đường 23 gần đối diện với khu bãi đá, một căn cứ đóng cỡ đại đội của địch, đã bị tiểu đoàn tôi nhổ gọn từ tháng 2 năm trước thì chúng tôi chia làm hai tốp.

Anh Sơn dù là người bắn hổ khi xưa, nhưng vẫn phải ở lại khu rừng đó cùng hai lính để tìm bắn hoẵng.

Còn lại bốn người do anh Tuyền chỉ huy thì lần tìm về khu trú quân cũ tìm xương hổ.

Đám xương ngày đó vất ở sau bếp anh nuôi nên cũng dễ tìm hơn vì hầu như tất cả chúng tôi đã từng ở đó.

Tôi đi theo nhóm anh Tuyền vì dù sao ngày trước đã làm liên lạc cho đại trưởng Băng, cũng được đi lại và khá quen vùng này.

Đợt đi đó chúng tôi không gặp địch.

Có lẽ bọn địch lấy ngã ba Lào Ngam làm mốc, cùng lắm chúng cũng chỉ đóng quân ở cái khu căn cứ của tiểu đoàn Thái 621 ngày nọ thôi, thế thì chúng tôi còn cách xa lắm.

Trong rừng mà cách nhau đến cây số có thể coi là đã xa lắm rồi.

Nhất là cả năm trời qua bộ đội Bắc Việt rút ra mãi tít ngoài dãy Trường Sơn đóng quân; địch nó cũng bỏ trống cả mấy chục cây số từ ngã ba Lào Ngam tới Păksoong không thèm ngó nghé đến thì bây giờ chắc chúng cũng chỉ đóng trong căn cứ, hàng ngày tập luyện vớ vẩn thôi chứ không vào rừng lùng sục.

Vì thế mà chúng tôi yên tâm lắm.

Những chỗ ngày xưa địch thả bom bay bắn pháo, bây giờ dấu vết gần như mất hết bởi cây cối đã xanh tươi trở lại.

Có biết chắc và chính xác chỗ khi trước địch thả bom thì may ra mới tìm thấy chút ít cây cối gãy cành.

Không khó khăn gì để chúng tôi tìm ra nơi trú quân ngày trước, dù mọi thứ của cái bếp cũ đã gần như mục nát.

Vất vả chỉ là phần tìm bãi đất đã đổ xương hổ.

Chúng tôi chia nhau đào bới đất tìm, vừa bới đất vừa vục tay bóp đất tìm xương.

Cũng may là những con thú đơn vị bắn được như gấu hay hổ ngày đó, anh nuôi chỉ lọc thịt rồi nấu ăn chứ không chặt xương đem hầm rồi chia cho các tiểu đội gặm nên đám xương cũng chỉ vất tập trung ở đâu đó thôi.

Mất gần nửa ngày trời rồi chúng tôi cũng tìm ra, nhưng phải đào và bọc rất nhiều đất đem xuống suối đãi, vì ngày trước vất bừa xuống hố đất chứ ai ngờ có ngày phải quay lại tìm mà tập trung vất thật gọn.

Một năm trời trong đất ẩm không bị mục nát, xương hổ vẫn còn khá cứng.

Chúng tôi rửa sạch sẽ mà cũng được một bọc khá to.

Anh Tuyền bảo mình rửa đất mang cho nhẹ thôi, chứ khi về nhà, bọn ở trạm xá cũng còn phải cạo rửa lại chán mới đem nấu cao được.

Thế là một nửa công việc đã hoàn thành, ai cũng hỉ hả.

Chúng tôi lần về đến khu bãi đá gặp nhóm anh Sơn thì lại có ngay tin vui.

Anh ấy đã bắn được một con hoẵng rất to.

Có điều là con hoẵng ấy đang có mang.

Kể ra cũng hơi tội nghiệp.

Nhưng xét về quy luật sinh tồn, chiến thắng thuộc về kẻ mạnh thì tất phải vậy thôi.

Nhóm anh Sơn đã làm thịt hôm trước và rán mấy cái bào thai chén trước, bổ bằng xơi cả con hoẵng rồi còn gì.

Phần thịt còn lại rất nhiều.

Tất nhiên thường bắn được thú rừng ở đây thì phải lột bỏ mất tấm da chứ không làm tất cả như ở nhà được.

Đặc biệt tôi thấy anh Sơn chặt khúc đuôi (ngắn cũn) của con hoẵng ra rồi chia đôi đem nấu cháo một nửa cho cả tốp bảy người chén.

Tôi thấy thế là hơi ít, nhưng anh Sơn bảo giống nai hoẵng, ở con cái (nhất là con có mang) thì cái đuôi của nó bổ thượng hạng.

Đem nấu nồi cháo từng này người ăn, chưa chắc đã tiêu hóa hết chất.

Nếu tham mà hai ba thằng đem hầm rồi chén cả một cái đuôi nai (hoẵng) cái thì dù có sắp chết đói như năm 1945 thì rồi người cũng béo nứt ra; da dẻ nứt toắc chảy máu rồi nhiễm trùng mà chết.

Nghe mà thấy hãi.

Hóa ra trong rừng còn có nhiều điều bí ẩn thật.

Không có các anh lính dân tộc chỉ bảo mà cứ phàm ăn như hảo hán Lương Sơn thì thật là có ngày chết vì ăn, quá xấu hổ.

Nửa cái đuôi còn lại anh Sơn bảo vài bữa nữa nấu ăn nốt cho nó an toàn.

Ngày hôm đó chúng tôi nướng thịt hoẵng ăn thoải mái một bữa.

Tôi không uống được mấy rượu nên chỉ ăn, còn các anh khác kêu chưa khoái lắm vì hơi ít rượu.

Nhưng thôi, còn đang phải làm tiếp nhiệm vụ cơ mà.

Với lại như thế này so với bọn ở nhà là sướng hơn nhiều lắm rồi.

Ngày hôm đó do cơm no rượu say nên chúng tôi nghỉ lại cánh rừng đó.

Số thịt hoẵng còn lại đem sào mặn để giữ.

Một phần khá lớn đem hơ lửa sấy khô để giữ cho lâu hơn.

Của này sau này đem về hậu cứ làm quà hay nướng chén lúc nhàn cư thì không gì bằng.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi lên đường, nhằm hướng Khoong Xedon thẳng tiến.

Chúng tôi đã xa đơn vị gần một tuần rồi.

Chắc cũng phải từng ấy ngày nữa mới xong nhiệm vụ.

Khoong Xedon là vùng đất nằm giáp Tây Nam Saravan, dính một chút vào những dãy núi đá thấp của cao nguyên Boloven, nhưng toàn rừng già và rậm.

Phần phía Tây của nó giáp vùng dân cư ven đường 13 bên dòng Mekong rộng lớn.

Sang bên kia sông Mekong là vùng đất của Thái lan rồi.

Từ đây đi xuống Păkse, thủ phủ của tỉnh Chămpaxac cũng không bao xa.

Có điều, nó không có thế chiến lược như cao nguyên Boloven nên từ sau năm 1970 khi ta giải phóng thì vùng đất này gần như là vùng trắng.

Chỉ con dân cư lưa thưa, không có lính của bên nào chiếm đóng.

Khi chúng tôi còn ở trong cao nguyên Boloven, mường Khoong xedon cũng là cái đích đến của những tốp lính hậu cần của các đơn vị đi mua lợn.

Lợn ở đó nhiều và rẻ, còn hơn cả ngoài Saravan.

Đường đếnKhoong xedon phải đi xuyên qua nhiều vùng đất trù phú của cao nguyên Boloven.Trong số nhiều bản dân thì bản Sen Vàng là một cái bản lớn nhất mà tôi gặp.Trong bản có đến hơn ba chục nóc nhà.

Toàn nhà sàn to, cột gỗ nguyên cây.

Gỗthưng quanh nhà cũng là tấm gỗ lớn được xẻ ra.

Nơi đây không có tí dấu vết gìcủa chiến tranh.

Hầu hết các nhà sàn được lợp gỗ hoặc ngói.

Đường đi lối lạiquang đãng, sạch sẽ và bằng phẳng.

Có rất nhiều khoảng đất rộng như cái sânchơi.

Điều đặc biệt là ở bản này có một cái chùa rất to và đẹp.

Chúng tôi quyếtđịnh dừng chân nghỉ lại đây một ngày để tắm giặt và dưỡng sức.

Trong rừng thìnơi đâu mà chả có suối trong nước mát để tắm, nhưng con suối chảy qua cạnh bảnnày cũng thật đẹp và sạch sẽ bởi cả một khúc dài lòng suối toàn đá sỏi.

Chúngtôi tán thành ngay quyết định của B trưởng Tuyền.

Tôi còn háo hức hơn nữa vìcũng muốn thăm ngôi chùa.

Ngôi chùa bản Sen Vàng làm toàn bằng gỗ to đẹp và có dáng dấp quen quen như đã từng nhìn thấy.

Nhưng to và đẹp hơn tất cả các ngôi chùa làng mà tôi đã gặp.

Quả thực là ngày ở nhà tôi hầu như không coi trọng chuyện đi chùa, ngôi chùa làng tôi thì bé không đủ chứa dân cả xóm cùng vào một lúc.

Quanh chùa không có rào cổng gì cả, Từ đường hay vườn xung quanh có thể luồn qua những hàng cây đi tắt vào.

Ngoài phần sân to trước chùa, còn lại xung quanh chỗ nào cũng có những sân đất nện.

Quanh chùa chỗ nào cũng có cây hoa Đại (hoa Chăm pa).

Loại hoa này ở Việt nam cũng thường thấy trồng ở sân chùa.

Có điều ở đây trồng rất nhiều, cây rất to.

Cảnh chùa đẹp như khu nghỉ dưỡng.

Hôm đó trời không mưa, tôi thấy chỗ sân cạnh chùa có một đám sư trẻ con gần hai chục đứa đủ mọi lứa tuổi.

Đứa bé chỉ sáu bảy tuổi, còn thằng lớn nhất chừng mười lăm, đều là con trai.

Chúng chỉ giống nhau ở cái đầu trọc.

Chùa có một sư thày trụ trì tuổi khá cao, có một số người nữa làm ở chùa.

Tôi thấy lạ vì sao toàn thấy sư trẻ con, mà lắm thế.

Lân la hỏi chuyện thì được biết phong tục của Lào, đàn ông mà không muốn đi tu cả đời như sư thì ai cũng phải qua 3 năm làm sư ở chùa.

Cái này giống như một chế độ nghĩa vụ, kiểu như nghĩa vụ quân sự của ta.

Có điều tùy sự sắp xếp của từng gia đình, đi tu 3 năm vào tuổi nào cũng được.

Đa phần dân Lào họ chọn cho con mình đi từ lúc trẻ con, để khi lớn còn lao động.

Nội dung đi tu "nghĩa vụ" cũng thật nhân văn.

Đó là thời gian nhà chùa giáo dục cho người ta nhân cách con người.

Từ chữ viết đến văn hóa...

Phong tục hay thế nên người Lào nhân ái cũng phải.

Tôi chơi cả một buổi sáng với đám sư trẻ con, chúng nó cũng biết nhiều trò chơi như trẻ con bên ta.

Các anh lính cũ chỉ nghé qua chùa một lúc rồi mò vào nhà dân tán gái và xin thuốc lá (thuốc rê).

Vùng này khi trước bộ đội ta qua cũng nhiều nên dân rất dễ quen.

Chúng tôi xin được khá nhiều thuốc lá.

Buổi trưa chúng tôi ra suối tắm, một mình làm chủ đất trời vì dân Lào không ra tắm buổi trưa.

Tối hôm đó chúng tôi nghỉ nhờ ngay tại chùa, sư thày cũng rất dễ tính.

Chúng tôi còn được mấy cô gái bản đem cà phê đến cho uống.

Thú thực là cũng hơn nửa năm rồi mới có cà phê.

Sân chùa cũng như sân HTX bên mình, ngồi chơi nói chuyện tự nhiên như chỗ sinh hoạt cộng đồng, chả kiêng cấm điều gì.

Mãi khuya chúng tôi mới đi ngủ.

Đêm hôm đó là một đêm thảnh thơi, ngủ ngon vì không phải gác, nhưng cái cảm giác sướng nhất là như ở làng quê mình.

Các anh lính cũ cũng chỉ tán gái vơ vít cho vui chứ không làm chuyện gì đáng trách.

Hôm sau chúng tôi cơm nước đàng hoàng rồi mới lên đường.

Dọc đường đi còn qua vài cái bản nhỏ nữa, nhưng chúng tôi chỉ dừng chân nghỉ giải lao chút ít rồi đi luôn.

Anh Tuyền xác định từ đây lại tiếp tục ngủ rừng.

Hai ngày sau thì chúng tôi đến vùng Khoong Xedon.

Nơi này hoàn toàn xa lạ với tôi, vì ngày tôi được bổ sung vào đơn vị thì nơi đây đã giải phóng rồi và trung đoàn đã chuyển hướng về Paksoong.

Vụ bắn gấu xảy ra từ năm 1971.

Trong số 7 người chúng tôi chỉ có anh Tuyền và anh Sơn biết vùng này.

Con gấu chính là do tiểu đội anh Tuyền bắn được.

Vùng này dốc núi không cao, nhưng rừng rậm toàn cây to.

Gỗ rừng đủ loại, có nhiều cây gỗ quý.

Đấy là nghe các anh ấy giảng giải chứ tôi không biết nghề mộc nên chỉ biết lõm bõm được vài loại gỗ chính mà thôi.

Đi trong rừng ở đây có cảm giác rất lạ.

Phải chăng vì ít phải leo trèo, địa hình rất rộng mà lại khá bằng phẳng nên tôi có cảm giác như mình đang ở cánh rừng của một câu chuyện cổ tích nào đó vậy.

Tôi có cảm giác như trong cánh rừng này có nhiều hạt dẻ và nấm, có nhiều bầy ong làm tổ nên mới có gấu sống ở đó.

Quả đúng là vậy.

Ngày ở hậu cứ Xăm xi Núc, trong chỗ đơn vị tôi trú quân cũng có hai cây hạt dẻ cổ thụ, thu hút bọn chồn sóc đến rất nhiều. (Một lần tôi đã kể là anh Hùng C phó bắn được một con chồn ngay giữa nơi trú quân, nhân lúc cả đơn vị đi gùi gạo vắng).

Ở đây có rất nhiều dẻ, quả có phần to hơn.

Nhẩn nha mà nhặt quanh gốc thì cũng được vô khối.

Tuy thế ở đây không có nấm như trong chuyện cổ tích, nhất là nấm hương.

Còn nấm dai trên các cây gỗ mục và nấm mối thì chẳng nói làm gì, vùng rừng nào mà ít nhiều chẳng có.

Chỗ hậu cứ Tùm Nho, nấm mối gây ấn tượng hơn nhiều.

Rừng ẩm ướt, lắm cây lá mục nên chỉ dọc con đường chúng tôi lên tiểu đoàn cũng có nhiều nấm mối.

Nấm mối là loại nấm lành, rất ngon.

Có điều là vòng đời của chúng rất ngắn.

Buổi sáng nhìn thấy mũ cây nấm nhô lên độ vài phân trên mặt đất là đã phải theo dõi canh chừng rồi.

Chỉ độ đến gần trưa là cây nấm đã mọc cao hàng hơn gang tay, có cây thân của nó to cỡ ngón chân cái.

Còn mũ nấm thì xòe to như cái đĩa sắt tây.

Lúc chóp mũ nấm có màu nâu nhạt, khô mịn là lúc phải thu hoạch ngay.

Độ ba cây nấm như thế thì cả trung đội bảy người có một bữa chén ngon lành, đã miệng.

Nếu không phát hiện ra thì sang buổi chiều, muỗi, dĩn và những con bọ gì đó tìm đến ăn.

Đã nhiều lần chúng tôi lúc đi qua buổi sáng chỉ thấy cái mũ nấm bé tẹo, không chú ý đến, nhưng chiều về thì ôi thôi, cả một cấy nấm mối to đùng, mỡ màng đã bị sâu bọ chén và cây nấm đã bắt đầu thối rữa ra rồi.

Chính các anh lính dân tộc cũng bảo đặc biệt ở đây có nấm mối to như thế, chứ ở rừng nhà các anh ấy cũng thường chỉ có nấm mối mà mũ to cỡ lòng bàn tay thôi.

Vùng rừng Khoong Xedon không có nhiều nấm mối to, nhưng ong mật thì chắc chắn có.

Có điều anh Sơn bảo là bây giờ còn đang mùa mưa, cây rừng ít hoa thì tổ ong không có nhiều mật.

Muốn đi "ăn" ong (tức là đi rừng lấy mật ong) thì phải độ tháng năm tháng sáu cơ.

Lúc ấy hoa nhiều, ong mới làm nhiều mật đặc và chất lượng.

Anh Sơn bảo trong rừng có nhiều loài ong làm mật.

Bé như con ong ruồi làm tổ trong các ụ đất mối cũng có, nhưng mật của nó cả một tổ vắt ra chỉ được độ một bát là cùng.

Tuyệt vời nhất của rừng là ong Khoái, làm tổ trên các chạc cây to cao cách mặt đất cỡ năm bảy mét.

Giống ong này thân to như cái đầu đũa.

Tuy nó chỉ làm tổ có một "kèo", nhưng to như cái nong, mật ong vắt ra sánh vàng, thu được cỡ trên chục lít mật là thường.

Nghe kể thôi mà thèm.

Anh Sơn bảo cứ yên chí, nếu còn ở rừng thì thể nào cũng có lúc anh ấy dẫn đi "ăn" ong cho mà biết.

Tôi tiếc, nhưng cũng mong có ngày đó để mở mang cho biết chứ đúng là dân thành phố, nghe kể chuyện gì về rừng cũng mắt tròn mắt dẹt.

Có bản đồ trong tay mà anh Tuyền còn phải loay hoay đến cả ngày trời mới "lạ nhỉ", "ô kìa" rồi "đây này" để phán đoán chỗ đơn vị đóng quân ngày trước.

Dấu vết hầu như chẳng còn gì ngoài mấy cái hầm đã sập, đất lấp gần đầy.

Chúng tôi chẳng biết gì, cứ lọ mọ theo sau anh ấy.

Phán thế nào thì nghe vậy, chẳng biết đằng nào đúng sai mà lần.

Ngay cả dấu vết mấy cái hầm thì cũng có thể đoán là ngày xưa quân ta ở đây thật, nhưng có đúng là cái chỗ ở của C6 và bắn được con gấu không thì chỉ có há mồm chờ nghe anh Tuyền khẳng định.

Hy vọng anh tuyền nhớ được là chính.

Lại mất một đêm mắc võng trú quân, khơi bếp nấu cơm ăn.

Buổi tối chẳng có đèn đóm gì mà bàn bạc, với lại giữa rừng âm u thế này mà không kín đáo thì có khi cũng nguy hiểm.

Chúng tôi cứ việc ngủ ngon, chỉ có anh Tuyền là trằn trọc để suy tính và phán đoán tiếp vì trách nhiệm bây giờ đặt lên vai anh ấy là chính.

Sáng hôm sau, anh Tuyền bảo, "chỉ có chỗ này thôi chúng mày ạ.

Vì cả C chỉ ở tập trung chứ có đi đâu nữa đâu".

Chúng tôi ăn cơm, không nói gì nhiều để cho anh ấy đỡ rối.

Cơm nước xong rồi, anh Tuyền lại phải lấy giấy bút ra vẽ lại từ trong trí nhớ cái sơ đồ đại đội đóng quân ngày đó.

"C bộ chỗ này, các B những chỗ này, bọn cối 60 đằng kia, còn phía suối là bếp anh nuôi..."

Theo tôi cái may nhất là bếp anh nuôi bao gờ cũng bố trí ở gần suối, dù cho đó là suối to rộng hàng chục mét hay chỉ là cái lạch nước rộng hơn chục phân.

Khi tìm được chỗ đóng quân của đại đội rồi, thì cứ men theo suối mà xác định chỗ bếp anh nuôi.

Chỉ phiền một nỗi là nhiều khi anh nuôi C tôi chỉ làm bếp Hoàng Cầm "một nửa", nghĩa là bỏ đi phần hầm om và thông khói, nên dấu vết còn lại của nó sau hai năm thật mờ nhạt.

Nói thì vậy, nhưng tốt hơn là phải làm.

Thế là theo trí nhớ và phán đoán của anh Tuyền, chúng tôi hùng hục đào chỗ anh ấy chỉ.

Đào rộng đến hai mét, xới sâu một mét.

Không thấy lại đào rộng tiếp.

Chỗ này không thấy, anh Tuyền lại nhăn trán nhớ, đoán rồi lại chỉ chỗ khác.

Cứ thế cả ngày hôm ấy chúng tôi đào có tới bốn chỗ khác nhau.

Tới chỗ cuối cùng, anh Sơn bóp đất và phán là "có cái gì đó giống xương chúng mày ạ".

Thế là mừng rú và lại hăm hở đào, bọc cả mấy bọc đất lại và đem ra suối đãi.

Chẳng ai có kinh nghiệm về món "xương cốt học", thành ra cứ đào và đãi thấy xương là mừng rồi.

Tôi cũng "ù ù, cạc cạc" về cái khoản xương này nên cứ cắm đầu làm.

Nói dại chứ nếu ngày trước ở đây ngoài chuyện thịt con gấu mà đơn vị còn làm thịt cả lợn nữa (Lợn mua của dân do hậu cần D cung cấp), thì trong cái đám xương nháo nhào này cũng không thể phân biệt được đâu là xương lợn, đâu là xương gấu.

Thôi cứ coi như xương gấu đi cho nó vui vẻ, mọi chuyện khác, hậu xét.

Tôi không nói ra nhưng thầm nghĩ trong bụng, nếu không tìm ra chính xác xương gấu thì cái tội này cũng chẳng thể khép vào mục nào được.

Nước sông, công lính, nhiều lúc cũng phải đổ đi chứ có phải lúc nào cũng dùng được đâu.

Chắc các anh khác cũng nghĩ thầm như thế, nên tối đó chúng tôi lại vui vẻ nấu cháo nốt nửa cái đuôi hoẵng liên hoan.

Buổi tối quấn thuốc rê hút mù trời.

Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành, chúng tôi lên đường trở về hậu cứ.

Những ngày thảnh thơi và tự do sắp chấm hết, chuẩn bị chui vào khuôn phép.

Lúc đi thì thấy dài chứ lúc về mau lắm.

Cứ theo các đường xe bò liên bản của dân mà đi.

Lúc về chúng tôi toàn nghỉ đêm trong bản dân, vừa đỡ phải canh gác, vừa xin cái ăn.

Lúc này gạo chúng tôi mang theo đã cạn.

Được cái dân Lào mến khách và có phong tục lạ nhưng lại hay.

Buổi sáng dậy họ thường nấu xôi và cho vào những cái "tuyp" nhỏ (đan bằng tre, kích thước na ná như cái cặp lồng của ta).

Mỗi người một "tuýp" ăn trong cả ngày.

Thế nhưng không bao giờ họ ăn hết sạch, mà thường để lại dưới đáy "tuýp" một nắm nhỏ to cỡ quả trứng vịt.

Đó là do phong tục, với quan niệm rằng làm như thế để của ăn "không bao giờ hết" đối với họ.

Chỗ xôi ấy họ dùng tiếp vào nồi xôi sáng sau, nhưng nếu có khách thì họ lại có thể đem cho hết mà không có vấn đề gì.

Vậy là chúng tôi vào cuối chiều rẽ lại dừng chân ở bản, thì chỉ xin vài nhà là đủ ăn cho cả bọn.

Thức ăn thì chúng tôi tự lo, chấm muối hoặc ăn thịt của mình mang theo.

Dân Lào họ cũng có món chấm, nhưng lính ta không quen.

Món "Phà đẹt" nổi tiếng (na ná như món "bò hóc" của Campuchia) thực chất là một loại thịt ươn thối vì ướp rất ít muối, ngửi nó có mùi khăn khẳn thì dù đói cũng khó mà nuốt được.

Còn món chấm đơn giản khác là bắt bất cứ con côn trùng gì (Dân Lào rất thích bọ hung và bọ xít).

đem vặt cánh rồi giã sống với muối và ớt thành một thứ hỗn hợp ươn ướt rồi vê xôi chấm ăn, thì chúng tôi cũng thấy nó tanh ngòm, ghê ghê.

Những buổi trưa, chúng tôi dừng chân nấu gần nương của dân.

Vừa dễ kiếm rau, vừa dễ tự nhiên thưởng thức.

Nói chung, lấy các thứ rau quả của dân Lào mà chỉ tỉa, đừng vặt trụi kiểu "hủy diệt" thì cũng chẳng có ai kêu.

Chúng tôi về đến nhà, nộp mấy túi xương lên tiểu đoàn để chuyển lên trạm xá trung đoàn.

Nhiệm vụ coi như xong.

Về sau, trạmxá trung đoàn có nấu cao thật.

Không có ai kêu ca xuống dưới về các loại xươngthú mà các đơn vị mang về nộp.

Rồi y tá mỗi đại đội cũng được phát một lạngcao.

Cục cao to gần như bao thuốc lá, màu nâu nhạt, hơi dẻo như cái đế dép bằngkếp.

Nhưng các anh dân tộc xem rồi bảo đây là cao toàn tính, chắc nấu ra từnguyên thân những con khỉ.

Có thể do xương thú ít quá không đủ nấu nhiều, nêntrung đoàn phải nấu thêm cao toàn tính để đủ phát tới các đại đội.

Cục cao đóvề sau cũng chẳng biết các anh y tá đem ngâm rượu rồi cho những ai uống khinào.

(Chuyện bên lề:

Xin chào bác Trong C6. tôi theo dõi mấy bài gần đây và nhận thấy bác hiểu biết rất nhiều về nếp sống, sinh hoạt, phong tục tập quan đất nước bạn Laos, nhất là những chi tiết sinh hoạt công tác của bộ đội mình. tôi xin bổ xung hai ý sau, mong các bác tham khảo:

- Về hiện tượng đã gặp trong một ngôi chùa và thắc mắc của bác là tại sao toàn thấy sư trẻ con.

Theo tôi đó là một tập tục của các dân tộc vùng cao, cũng giống như tập tục của người Khơ me Kampuchea.

Đó là tập tục (tu báo hiếu).

Theo truyền thuyết, nguồn gốc việc tu báo hiếu của người Khmer xuất phát từ câu chuyện về hai mẹ con người Khmer.

Vì chồng mất sớm nên người mẹ trong câu chuyện này phải thay cha làm nghề săn bắt để nuôi con.

Là một đứa trẻ thông minh, có lòng nhân từ nên từ nhỏ khi thấy mẹ sát sinh hại vật tội lỗi, Socpenh Kokma - đứa con trai - đã trốn mẹ lên chùa gần nhà để xin được đi tu nhằm phần nào hóa giải tội lỗi giúp mẹ.

Khi người mẹ chết, linh hồn của bà đã không bị quỷ dữ hành hạ dù bà đã sát sinh rất nhiều khi còn sống.

Bà có được sự may mắn đó chính là nhờ đức độ tu hành của con mình đã giúp bà hóa giải những tội lỗi.

Từ đó câu chuyện cảm động, người con trai Khmer đến tuổi trưởng thành đều đến chùa tu một thời gian để tạo phước báu cho cha mẹ như một cách báo hiếu công sinh thành dưỡng dục. theo đó những người con trai, để cộng đồng công nhận trưởng thành thì phải qua thời gian xuất giá, xuống tóc tu hành tại một ngôi chùa trong khu vực.

Trước đây thời gian tu báo hiếu có thể tới mười năm nhưng nay do nhiều yếu tố tác động xã hội như hoàn cảnh mỗi gia đình, khả năng kinh tế và tác động những vấn đề cộng đồng xã hội mà thời gian tu có du di phù hợp, thậm chí từ lúc làm lễ nhập tu đến lúc hoàn tục chỉ có hai mươi bốn giờ đồng hồ.

- Vấn đề thứ hai là các loại xương thú mà các bác nhặtđãi trong đất chắc không còn giữ được các chất vì nó đã bị phân hủy do môitrường, còn cái loại cao mà cấp trên phát về cho quân y mỗi đại đội, có lẽ làcao trăn, cao khỉ hoặc một hay nhiều loại thú nhỏ và với kĩ thuật nấu (tồntính) với thời gian khoảng ba ngày, loạinày tôi đã thực hành trên sáu tấn trăn tươi và khoảng vài trăm con cháu họ tôngià rụng hết răng ở biển hồ Kampuchea.

Nói chung tác dụng dược lý cũng rất tốttùy loại ứng vào lục phủ ngũ tạng (can, tâm, tỳ, phế, thận) của cơ thể con người, nhưng chủ yếu bồi bổ,nâng cao thể tạng, mạnh gân cốt, hoặc tăng sinh lực.

Riêng kĩ thuật nấu cao CỐT thì nhiêu khê và tốnnhiều thời gian(7 ngày), thậm chí đến giờ phút chót có thể hỏng hoàn toàn.

- Mà người Lào quả là nhân ái các bác ạ.

Trước đã vậy và giờ cũng thế thôi.

Chính sách của họ luôn ôn hòa, không có giọng điệu hung hăng bao giờ.

Xin kể thêm 2 chuyện này để biết sống với họ dễ chịu ra sao.

1.

Tụi thằng Khiêm (hỏa lực) một lần đi công tác lẻ có nghỉ mấy ngày ở bản dân.

Hai ngày đầu, cứ mỗi chiều, chủ nhà đi nương về lại vác cho chúng nó một cây mía tím to tướng.

Mỗi thằng được hai tấm cũng đủ rửa răng.

Ngày thứ ba, chúng nó lần mò ra nương dân phát hiện ở một góc nương có bụi mía tím độ dăm cây.

Chúng nó hạ xuống chén sạch.

Thế mà chiều về chúng nó còn hỏi khi không thấy chủ nhà mang mía về như hai hôm trước.

Chủ nhà bảo: "Lúc chiều thấy bộ đội Việt ở ngoài nương đã ăn hết sạch cả mía rồi mà.

Lúc ấy thấy bộ đội có súng nên sợ không dám ra nói".

Tụi thằng Khiêm im lặng, chắc lúc đó chỉ mong chui xuống đất.

Tối đó ba thằng khăn gói xin phép chủ nhà đi thẳng, chuồn sang bản khác.

2.

Lúc ở Bản Bun Thẹ với dân, thấy họ có vườn cam.

Vì không phải bản bỏ nên hai chúng tôi không thể tự nhiên hái.

Anh Hành cùng đi giả vờ hỏi: "Đây là quả gì, có ăn được không", rồi là "Ở VN không có loại quả này".

Dân Lào thật thà nói tên quả rồi còn hướng dẫn cách ăn thử.

Sau cùng là hái cho dăm quả cam to mang về cho mở mang thêm kiến thức, biết thêm một thứ quả của Lào mà VN không có (!?).

Thật đúng là Việt "gian".

Dân Lào họ thế đấy các bác ạ, chứ như vớ phải người dân tộc ở Tây nguyên hay vùng Trị Thiên thì "ăn" đủ.

Mà đúng là sau này chúng tôi gặp được bài học nhớ đời thật)

Trong thời gian nhóm chúng tôi đi công tác tìm xương hổ, anh Trịnh cũng phải chỉ huy một tốp 5 lính đi công tác lẻ.

Các anh ấy đi có một tuần, đi sau mà về sớm hơn chúng tôi.

Nhiệm vụ kể ra cho biết thôi chứ cũng chẳng biết gọi là gì.

Số là một số thủ trưởng trung đoàn tôi được đi phép ra Bắc.

Có thủ trưởng còn kết hợp về quê để cưới vợ.

Chiến trường chẳng có quà gì, nhưng chả lẽ về thăm quê mà tay không.

Thế là tiện có tiêu chuẩn đi xe riêng loại Com-măng-ca, mùa khô lại đang đến rồi, đường dễ đi, không phải tự thân mang vác nên các thủ trưởng nhớ ra món dù hàng.

Của này thì lính D tôi gặp vô khối ngoài Saravan trong chiến dịch năm trước.

Trận Paksoong hồi Tết 1973 cũng có nhiều.

Thế là các tiểu đoàn cử lính đi tìm về.

Anh Trịnh chọn đi hướng Saravan vì còn nhớ có những bãi đất địch đóng quân dã ngoại khi trước, lúc chúng rút đi chúng tôi qua đã gặp hàng đống dù hàng (dù caro xám) đã bó gập gọn vứt lăn lóc.

Lúc đó đang đánh nhau, ai cũng có đủ dù dùng cho nhu cầu cá nhân rồi nên chẳng lấy thêm làm gì cho nặng.

Bây giờ lại là lúc cần, thế là lên đường.

Mò mẫm, loay hoay tìm theo khoanh vùng trên bản đồ từ nhà, nhóm anh Trịnh rồi cũng tìm thấy bãi đất có dù khi trước.

Vải dù là loại pha nilon nên vứt đó cả năm chỉ bụi bẩn thôi chứ không hỏng.

Hơi sức đâu mà giặt dù và chờ phơi khô, thế là các anh ấy chọn những cái vừa ý, bó chặt lại và mang về.

Dù hàng mỏng mảnh thế nhưng khi xòe ra che kín cả cái sân rộng nên cũng nặng.

Mỗi người "thồ" hai cái mà toát hết mồ hôi.

Cuối cùng, cũng hoàn thành một nhiệm vụ "nước sông, công lính".

Không phải cuộc sống của chúng tôi khi đó cứ bình lặng mãi, mà đã xuất hiện mầm mống của sóng gió.

Người lính sống chết quên mình nơi chiến trận cho nhiệm vụ, song mặt sau của nó không thể không quan tâm.

Cuối tháng 9, các nhóm lính ra dự Đại hội thi đua của Đoàn 559 và được kết hợp về phép đã lục tục trở lại đơn vị.

Chuyện hậu phương là điểm sôi nổi nhất trong những buổi sinh hoạt tập thể của đại đội ở hội trường.

Những người được may mắn về phép thì quá vui rồi.

Có anh đã tranh thủ tìm hiểu và lấy được vợ chỉ trong vòng non tháng phép.

Đồng hương cũng vui lây vì có nhiều tin tức từ quê nhà.

Tôi nghe đài cũng có biết trong đợt máy bay B52 của Mỹ đánh vào Hà Nội tháng 12/1972 đã thả bom trúng phố Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai.

Nhà tôi nằm kẹp giữa hai khu vực đó nên cũng thấy lo lắm, nhất là mãi mà chưa nhận được thư nhà, dù đã viết về cả dăm lá.

Gặp anh Ca, y tá đại đội, quê Hà Bắc đi phép đợt này vào, tôi bám lấy hỏi thăm.

Anh ấy không thạo Hà Nội lắm nên nghe tôi tả khu vực nhà tôi mà mãi anh ấy vẫn không hiểu ra.

Sau cùng tôi hỏi anh:"Thế cảnh quan tính từ ga Hàng cỏ đi ra, ngồi trên tàu hỏa anh thấy hai bên thế nào".

Anh ấy bảo: "Ối giời ơi, từ ga Hàng cỏ đi ra nhìn thông thống đến công viên Thống Nhất.

Hai bên đường toàn ruộng và bãi đất trống.

Chả còn nhận ra cái bệnh viện Bạch Mai nó nằm chỗ nào".

Thế là gay rồi.

Tôi thừ người ra, không dám hỏi thêm nữa, lòng nặng trĩu.

Tôi buồn cả tuần, lầm lì chả muốn nói chuyện với ai.

Trong lòng lúc nào cũng thấy nóng và trống vắng.

Nửa tháng sau, may quá, tôi nhận được thư nhà.

Bố tôi kể tỉ mỉ những chỗ bị bom B52 ở Hà Nội.

Rất may khu nhà tôi ở không làm sao cả.

Gia đình tôi tại thời điểm đó cũng sơ tán lên Vĩnh Phúc, nên hoàn toàn bình an.

Tôi nhẹ cả người.

Không chỉ tôi mà lính tráng trong C hầu như ai cũng có thư nhà.

Nhiều người vui vẻ và phấn khởi như tôi, nhưng có nhiều thằng buồn.

Có mấy thằng quê Hà Tây và Nam Hà, gia đình thông báo là chúng nó đi Nam chỉ có mấy tháng đầu là gia đình nhận được tiền trợ cấp.

Chả là khi đó loại lính binh nhì như chúng tôi đi B thì ở nhà mỗi tháng gia đình nhận được 10 đồng tiền trợ cấp đi B.

So với lương kỹ sư 63 đồng một tháng thì chẳng đáng là bao.

Chỉ có sĩ quan thì được trợ cấp nguyên lương, đủ để vợ con ở nhà sinh sống.

Gia đình tôi và gia đình lính Hà Nội nói chung là nhận đủ, có lẽ là gần Trung ương và khi đó còn ít cái tệ nạn địa phương cường quyền, nên người ta chấp hành nghiêm chỉnh.

Ở mấy vùng nông thôn và rơi vào trường hợp tôi kể, chính quyền địa phương không biết nghe từ đâu mà loan tin là chúng nó đào ngũ, đầu hàng địch rồi, thế là cắt trợ cấp.

Tiền rợ cấp đã không được nhận mà còn mang tiếng với làng nước.

Gia đình chúng nó viết thư vào kể, bức xúc lắm.

Họ kể cả chuyện có đem mấy cái thư của con gửi về trình lên xã để chứng tỏ con họ vẫn đang chiến đấu ở miền Nam, nhưng địa phương không chấp nhận với bằng chứng là mấy cái thư đó.

Mấy thằng lính đó bực bội, đứng ngồi không yên, chẳng muốn tập tành, sinh hoạt gì.

Có thằng còn có nguyện vọng là về được ngay được nhà, đem theo khẩu AK lên xã xả mấy băng vào bọn ở Ủy ban cho nó hả giận.

Không riêng ở C tôi, các C khác cũng lác đác có chuyện đó.

Thế là các lính ấy tìm cách gặp nhau rồi đồng loạt đề nghị lên tiểu đoàn, trung đoàn.

Xác định chuyện này có thật và ảnh hưởng lớn đến tâm tư tình cảm và sức chiến đấu của bộ đội, về sau Ban chính trị Trung đoàn phải cử cán bộ đem theo giấy tờ đầy đủ về tận từng địa phương đó minh oan và đòi lại chính sách cho anh em thì tình hình mới dần yên được.

Đấy là chuyện quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương đã để xảy ra điều đáng tiếc.

Trong nội bộ trung đoàn cũng có chuyện.

Ở một C của K16, không hiểu từ đâu và từ lúc nào nảy ra mâu thuẫn giữa một thằng lính và chính trị viên đại đội ấy.

Cán bộ chính trị chứ không phải quân sự, thế mới phiền.

Thằng lính quyết tâm trả thù bằng máu.

Nó kiếm một quả lựu đạn M67, đến đêm bò vào lán BCH đại đội cài vào chân giường.

Giường làm bằng phên tre cả dãy dài.

Lớ ngớ thế nào ban đêm một thằng liên lạc mò dậy đi giải, vấp phải dây cài.

Nó bị vướng chân, nhảy vấp và lao ra ngoài cửa, kéo giật quả lưu đạn văng ra đó.

May là quả lưu đạn loại 2 ngấn nên văng ra ngoài cửa mới nổ.

Thằng liên lạc bị thương vào chân, còn BCH đại đội chỉ giật mình phát hoảng chứ không ai làm sao.

Cả đại đội báo động và nhanh chóng tìm ra thủ phạm.

Thằng lính cài lựu đạn bị vệ binh trung đoàn xuống bắt giải đi, còn chính trị viên C đó về sau phải điều lên Ban Thanh niên trung đoàn.

Đấy cũng là một bài học kinh nghiệm cho các cán bộ chỉ huy.

Thế cho nên nói rằng trong chiến trường, tình cảm quan và lính phải như anh em gắn bó sống chết có nhau là hoàn toàn đúng và có cơ sở.

Gần cuối tháng 9/1973, chúng tôi nhận một đợt tân binh Hà tĩnh.

May là năm ngoái chúng tôi đã nhận một đợt tân binh Nghệ an ngoài Saravan nên cũng đã làm quen nhiều với thổ ngữ khu Bốn.

Tuy thế nhưng nhiều khi chúng nó nói chuyện riêng với nhau, nói nhanh mình cũng không hiểu, đành lờ đi coi như không biết.

Lính Hà Tĩnh có đủ dân vùng biển lẫn dân vùng núi.

Bọn vùng núi có vẻ cứng cáp hơn.

Đơn giản hơn vì chúng nó quen núi rừng, bây giờ lại vào rừng thì cũng chẳng phải ngơ ngác gì.

Bọn ngoài vùng biển thì dè dặt hơn.

Mấy ngày đầu về đại đội, chúng nó được phân về các trung đội để học chính trị chung, kết hợp chờ biên chế vì lính cũ chúng tôi cũng cần phải biên chế lại.

Thế là mình cũng thành lính cũ rồi đấy, hơi oách trong con mắt chúng nó.

Chúng nó kể nhiều chuyện ở quê rất hay, nhưng điều đáng để tôi phải nghĩ là nhiều thằng nói "đi bộ đội sướng hơn ở nhà".

Chỉ xét về hai khía cạnh là ăn và mặc thôi.

Bộ đội được mặc đầy đủ và ăn no.

Ở nhà đói lắm, nhiều đứa kể cảnh nhà mà tôi không muốn tin, vì nó phảng phất hình ảnh gia đình chị Dậu trong tiểu thuyết "Tắt đèn".

Không ngờ người dân khu Bốn trong chiến tranh có nhiều vùng khổ thế.

Đầu tháng 10/1973, tôi lại đi công tác lẻ một chuyến nữa vào Cao nguyên Boloven.

Gọi là đi lẻ nhưng thực ra cả đoàn rất đông, tới hơn hai chục người gom từ các đại đội lên, lập thành một đoàn do chính trị viên tiểu đoàn V.B.

Thịnh chỉ huy.

Chúng tôi vào Cao nguyên làm chính sách, thực chất là đi bốc mộ để quy tập liệt sĩ từ những trận đánh hay chiến dịch nhỏ khi trước, tập trung lại một nghĩa trang lớn rồi bàn giao sơ đồ cho Ban chính sách sư đoàn.

Trung đoàn phải làm việc này trước khi chuyển địa bàn.

Chuyển địa bàn đi đâu thì cũng chưa rõ.

Theo sơ đồ chôn cất liệt sĩ của các đại đội mà tiểu đoàn nắm được, chúng tôi lần lượt đến từng khu vực có mộ liệt sĩ.

Nhiệm vụ là bốc mộ, gói vào thành từng túi nilon, sau đó gùi ra một khu vực định sẵn ngoài Saravan rồi chôn lại, trong từng bọc cốt có hộp nhựa đựng giấy ghi rõ thông tin về từng liệt sĩ.

Nói gọn thì như vậy, nhưng cụ thể cũng nhiều chuyện lắm.

Các mộ chôn lâu hoặc chỉ quấn một lượt võng thôi thì việc bốc cốt bình thường.

Mỗi mộ liệt sĩ được cấp 2 lít rượu để rửa xương.

Có liệt sĩ khi chôn còn nguyên dày dép, xanh-tuya-rong, thậm chí cả bao xe có băng đạn.

Chắc là lúc đó đang đánh nhau ác liệt nên chôn vội vàng.

Các lính nhà ta rửa cốt rất tiết kiệm, để có rượu dôi ra uống.

Về sau tiêu chuẩn rút xuống mỗi mộ LS chỉ có một lít, thế mà các anh vẫn có rượu uống mới tài.

Số mộ mà thịt tan hết chỉ còn cốt rất ít.

Đa phần là mộ chôn mới khoảng trên một năm, hay những mộ chôn nơi đất khô, bó chặt trong tấm tăng thì còn dính thịt rất nhiều.

Nhiều mộ phải dùng dao để rọc và cạo tách thịt để lấy xương.

Lúc đầu cũng thấy hơi chờn, sau rồi thấy người khác bạo, tôi mới bạo theo được bằng cách rửa tay bằng rượu rồi tợp bừa một ngụm.

Có rượu, hình như người ta bạo dạn hơn.

Thảo nào mà các anh ấy cứ bớt rượu làm chính sách ra để uống.

Khoản rượu này chúng tôi phải mua từ trong bản dân, gần với vùng mình làm nhiệm vụ.

Vòng đi đảo lại nhiều lần chúng tôi mới quy tập hết được các liệt sĩ về một nơi chung.

Khu vực này dùng cho cả trung đoàn nên chúng tôi cũng gặp nhiều đồng đội làm nhiệm vụ tương tự ớ các tiểu đoàn khác.

Chừng ba tuần thì mọi việc xong xuôi.

Mấy ngày cuối cùng của đợt công tác thì lại xảy ra một chuyện khá buồn.

Hôm đó chúng tôi nghỉ đêm lại tại bản Xăm-xi-nuc "may".

Bản có ít dân, là chỗ quen thuộc của chúng tôi từ hai năm trước.

Đông người nên chúng tôi phải chia ra xin ngủ ở nhiều nhà dân.

Hình như đây là quyết định sai lầm của trưởng đoàn khi không để chúng tôi mắc võng ngủ ngoài rừng.

Một đêm mệt mỏi và không canh gác trôi qua.

Sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm, nấu cơm sáng ăn và chia tay dân bản.

Bỗng nhiên có một người dân bản đến báo cho anh Thịnh biết là họ bị mất một chiếc đài bán dẫn 3 băng hiệu National.

Tối qua họ vẫn bật đài nghe, nhưng sáng nay dậy không thấy đâu cả.

Anh Thịnh liền tập trung cả đoàn kéo ra rìa bản họp, làm công tác tư tưởng và động viên người lấy trộm trả lại cho dân.

Tất cả ngồi im, không ai nhận.

Chúng tôi quyết định cùng kiểm tra quân tư trang của tất cả.

Sau mấy chục phút không có kết quả, anh Thịnh đến nói gì đó với người dân, rồi chúng tôi lên đường.

Tôi nghĩ là anh Thịnh đã lấy tiền công tác phí để đền cho dân.

Chúng tôi lên đường, anh Thịnh đi giữa đoàn quân, không nói năng gì.

Không khí trầm lắng nặng nề, không có chút khí sắc gì như mọi ngày.

Sau chừng hai tiếng đồng hồ, đã đi được khá xa, tới một bãi đất trống, anh Thịnh cho dừng lại nghỉ rồi phát lệnh kiểm tra quân trang.

Chúng tôi chấp hành nhưng có người tỏ ra khó chịu.

Thế mà không ngờ, trong ba lô của anh T.

ở C tôi lại tòi ra một cái đài đúng hiệu National quấn trong một mảnh dù.

Hóa ra đêm qua anh T. mò vào nhà dân lấy cái đài rồi đem đi một đoạn đường rất xa, giấu vào bụi.

Hôm nay trong lúc hành quân, qua chỗ dấu anh ấy bí mật lấy cái đài cho vào balo.

Anh Thịnh chắc đã dự tính từ trước chuyện này nên phải đi rất xa, chắc chắn người lấy trộm đã thu hồi lại chiếc đài, mới cho dừng chân.

Khỏi phải nói chúng tôi bực mình và anh T. ngượng nghịu thế nào.

Anh Thịnh cho tất cả dừng lại nghỉ luôn tại cánh rừng cạnh đó, mắc tăng võng đàng hoàng và chuẩn bị cơm chiều.

Một nhóm ba người gồm anh Thịnh, tôi và anh T. quay lại bản Xăm-xi-nuc "may".

Chúng tôi trả đài cho dân, anh T. xin lỗi họ rồi anh Thịnh giải thích thêm nhiều điều nữa để người dân thông cảm.

Chúng tôi trở lại chỗ mọi người dừng chân.

Thế là hôm đó cả đoàn được nghỉ ngơi dài, còn ba chúng tôi đã phải đi bộ tới sáu tiếng đồng hồ, đủ mệt.

Sau chuyến công tác đó, tiểu đoàn chỉ thị cho C tôi họp kiểm điểm rút kinh nghiệm.

Anh T, bị khai trừ Đoàn.

Cuối năm đó, anh ấy được xuất ngũ ra Bắc vì nhập ngũ cũng đã được sáu năm rồi.

May mà không bị tước quân tịch.

Câu chuyện này về sau trong C tôi ít nhắc lại vì mọi người cũng muốn quên đi.

Chỉ có một lần, mãi sau chiến tranh, anh Thịnh lúc đó đã lên chính trị viên tiểu đoàn, có nhắc lại trong một lần học tập chính trị để minh họa cho một chân lý: "Con người ta nhiều khi chiến đấu quên thân mình, bom đạn không quật ngã được, nhưng lại bị ngã bởi cám dỗ vật chất tầm thường".

Nam Lào đã bước vào cuối tháng 9.

Mùa mưa ở Lào đến sớm hơn mùa mưa ở miền Nam VN một tháng thì cũng kết thúc sơm hơn một tháng, vì thế bây giờ đã là cuối mùa mưa.

Những ngày không mưa và có nắng nhiều hơn.

Đường đi lối lại trong đơn vị đã bớt ẩm ướt.

Tuy thế, vì áp lưng vào dãy Trường Sơn (nhiều khi không thể phân biệt rõ ranh giới giữa dãy Trường Sơn và những cánh rừng Lào, cũng như dãy Trường Sơn và những cánh rừng đại ngàn của Tây Nguyên đất đỏ vậy), nên vẫn còn những trận mưa cuối mùa.

Mưa cuối mùa tuy không dai dẳng, nhưng có khi tầm tã không kém.

Chúng tôi làm được nhiều việc hơn, từ tập tành đến sinh hoạt văn hóa văn nghệ, chứ không phải chỉ ngồi co ro trong lán học và thảo luận hết bài chính trị này đến bài chính trị khác.

Mục làm bích báo thi gữa các trung đội là rôm rả nhất.

Có bọn tân binh mới vào, không khí huấn luyện còn đang hừng hực, lại thêm cảnh vật và điều kiện chiến trường có nhiều cái lạ nên ở B nào cũng hào hứng cảnh làm bích báo và tập văn nghệ, chủ yếu là hát hò.

Bọn lính cũ thì giở vài mẹo vặt làm mấy bài thơ con cóc ôn lại những câu chuyện chiến đấu đã qua để góp vui cùng đám lính mới vào.

Xin ghi lại một vài bài bích báo đó mà tôi có dịp chép và giữ lại.

Vở chèo đánh trận

Năm xưa miệng hát tay đàn,

Lời thơ tiếng hát ngân vang quê nhà.

Rộn ràng náo nức lời ca

Giục lòng tuổi trẻ xông ra trận tiền.

Tháng ngày chiến đấu liên miên,

Diệt địch nối liền mảnh đất quê ta.

Xuân này Quý Sửu bảy ba,

Tiếng hát quê nhà như vọng bên tai.

Trong đêm đánh địch mồng hai

Vây đánh Pak Sòng, một dải phù cao.

Suốt trận nổ súng hiểm nghèo,

Quản chi, ngỡ cảnh vở chèo năm nao.

Sân khấu: Trận địa, chiến hào.

Phông màn: là cả trăng, sao, đất, trời.

Lo thiếu ánh điện sáng ngời

"Chủ nhiệm pháo sáng" được mời tới ngay.

Khẩn trương làm việc luôn tay,

Từng chùm pháo sáng bắc bay lưng trời.

Hai hàng "hai mươi ly" rơi

Xung quanh trận địa làm nơi kết đèn

"Sập hầm!" cất tiếng đánh xen.

"Diễn viên" ta bèn chớp lấy thời cơ

Chuẩn bị diễn xuất bất ngờ,

Đã sắp tới giờ, còn chút nữa thôi.

Diễn viên thao tác xong rồi,

"Cối, pháo" đổ hồi giục diễn viên ra.

Mở đầu tiết mục đơn ca:

Mìn ta bấm nổ phá ba hàng rào.

Vi vu tiếng sáo vút cao

"Tám lăm" độc tấu ào ào không trung.

"Hăm hai" chẳng kém anh hùng,

U, u như tiếng dương cầm từ xa.

Vù vù, xoèn xoẹt lao qua.

DKB cất tiếng ca góp phần.

"Hai mươi" xoạc vững đôi chân

Ho từng cục lửa xả thân điểm chầu.

Diễn viên xung kích bỗng đâu.

Ào ào xuất trận, đi đầu 40

41 cũng cất tiếng cười.

"Ục, oàng" cấp tập, rền trời tiếng ngân

"Phốc!

Oành!" trống cối cá nhân

"Tằng, tằng" giòn giã góp phần: AK.

Hầm tung, địch hóa ra ma.

Diễn viên thừa thế đột qua hàng rào.

Thọc sâu, phát triển đánh vào.

Địch hàng, địch chết ngã nhào từng xâu.

Vở chèo diễn hết đêm thâu

Phông, màn sân khấu rực màu hồng tươi.

Diễn viên "son phấn" đầy người

Sặc mùi khói đạn, tươi cười thu quân.

"Cực nhanh" cùng cối cá nhân,

Máy, bia, dù , thuốc nhanh chân thu về.

Diễn xong kịch, sướng hả hê

Vui mừng chẳng kể chân tay mệt nhoài.

Công sức tập, không phí hoài.

Diễn thành công vở "Diệt loài xâm lăng".

(trận đánh Pak soong 2 tết 1973),

Nhớ tháng 5

Những ngày cuối của mùa khô đã tới,

Rừng mùa khô, trưa inh ỏi tiếng ve

Nẵng chói chang oi bức cảnh trưa hè

Lại gợi lên trong lòng tôi ngày trước.

Nhớ ngày nào còn trên ghế nhà trường,

Đời học sinh với bao điều mơ ước.

Lòng hăng say học tập tiếp từng chương,

Lắng nghe tiếng thày đều đều trên lớp.

Vui những lúc bài làm thông thuộc hết,

Buồn khi bài không hiểu, chẳng làm ra.

Rồi cuối năm hồi hộp chờ kết quả,

Năm học này mình lên lớp hay không...

Năm học qua đi với bao điều mơ mộng,

Là lúc tháng năm, trưa inh ỏi tiếng ve,

Hoa Phượng đỏ báo hiệu đã tới hè,

Cùng bạn bè chia tay mỗi người đi một ngả.

*

Đời quân nhân đến với tôi mau quá,

Sách bút ngày nào, giờ đã súng cầm tay

Trong chiến trường chiến đấu suốt đêm ngày

Ta với địch giành nhau từng tấc đất.

Cuộc chiến đấu chỉ một còn một mất,

Đã cuốn tôi đi khắp đất Nam Lào.

Mười bốn tháng trời, ôi nhớ làm sao:

Từng bản làng, từng khu rừng, con suối

Nhớ những lúc hành quân đêm trời tối,

Hay lúc xung phong đột phá hàng rào,

Hoặc đêm chốt ngồi ngắm cảnh trăng sao,

Đời lính chiến vui buồn trong khói thuốc.

Phải trải sống những ngày xa đất nước,

Vẫn ngoan cường trong thử thách gian nguy.

Sống và chết, người lính chẳng nghĩ suy,

Vào chiến trận nghĩ làm gì cho nhọc.

Đường người chiến binh đi không tiếng khóc

Hướng ra đi là giải phóng quê nhà

Quét sạch quân thù ra khỏi quê ta,

Với sức mạnh không gì ngăn ta được.

*

Giờ thanh bình đã về trên đất nước,

Mùa hè về với cảnh vật xôn xao

Làm cho lòng tôi bỗng thấy nao nao

Nhớ tháng năm vào hè, nay và trước.

(Keng Nhao 5/1973)

Sau chuyến công tác lẻ thứ hai của tôi ít hôm, Trung đoàn chúng tôi được xả hơi, đón lãnh đạo sư đoàn về thăm và có cả văn công (còn gọi là đội tuyên văn) của sư đoàn về biểu diễn.

Một khu vực nương của bản La Vang được trung đoàn mượn và sửa soạn thành một bãi đất rất lớn phục vụ cho tập trung đông người.

Cuộc đón tiếp phó chính ủy sư đoàn 968 Hồ Sĩ L. mộc mạc và đơn giản hơn rất nhiều so với lần tiểu đoàn huấn luyện chúng tôi đón đại tướng tổng tư lệnh về thăm ở Bãi Nai hồi tháng 12/1971.

Không cần phải bí mật hay hành quân nghi binh.

Chúng tôi được phổ biến cuộc thăm từ trước cả mấy ngày.

Ba D bộ binh được tổ chức riêng thành 3 lần, các C trực thuộc thì chia ra ghép vào cùng dự với các tiểu đoàn.

Toàn tiểu đoàn K18, thêm mấy D hỏa lực, trinh sát được đón tiếp trước.

Chúng tôi đến bãi đất, hàng ngũ chỉnh tề theo từng C.

Súng ống vẫn đầy đủ, bất ly thân.

Khẩu AK của tôi vẫn lên nòng sẵn 1 viên như mọi khi.

Không có quy định khắt khe đặc biệt gì.

Phó Chính ủy cùng đoàn tùy tùng và văn công đi trên mấy cái xe Commangca và Motolova đến từ hôm trước, nghỉ chân tại D bộ.

Lúc này cấp trên cũng đi bộ ra bãi đất như chúng tôi.

Cuộc viếng thăm không có gì đặc biệt lắm, ngoài hai điều đáng kể.

Một là về phó chính ủy sư đoàn.

Ông ấy người khu Bốn, dáng nhỏ con nhưng khỏe khoắn.

Ông ấy nói chuyện nhiều, khen ngợi thành tích và động viên chúng tôi.

Ông ấy còn đọc thơ tự sáng tác, rồi hỏi chúng tôi "thơ có hay không?".

Vài tiếng "có" lác đác.

"Hay thế thì phải vỗ tay chứ?"

- Nghe ông ấy bảo thể chúng tôi mới chợt nhớ ra là mình đã quên mất phép xã giao.

Thế là vỗ tay rào rào.

Cao hứng lên, ông ấy lại lôi truyền thống trung đoàn chúng tôi ra nói chuyện và kể về gương của anh hùng Cù Chính Lan diệt xe tăng Pháp ở đường số 6 trong chiến dịch Hòa Bình năm xưa.

Chuyện này chúng tôi nghe mãi rồi, có đợt tân binh mới vào nào mà lại không cùng ôn lại nên chúng tôi còn biết rõ là anh hùng Cù Chính Lan năm xưa biên chế thuộc C2 D1 (tức K15 bây giờ) của trung đoàn 9B.

Phó chính ủy khoe là người cùng quê và năm xưa cũng nhập ngũ cùng anh Cù Chính Lan.

Ông bảo "Tiếc là anh ấy hy sinh chứ không bây giờ thì cũng bằng như tôi". (!)

Thằng Khiêm hỏa lực trung đoàn, không hiểu nghĩ thế nào đột nhiên ngứa ngáy buột miệng:

- "Hơn chứ làm gì đến ạ".

Không ngờ nó ngồi ngay gần hàng đầu, nói hơi to nên phó chính ủy nghe thấy.

Ông ấy gọi luôn nó lên trước hàng quân rồi hỏi nó, sao dám phát biểu lung tung vậy.

Thằng Khiêm trấn tĩnh một lúc rồi thưa là không có ý gì.

Nó nói:

- Thưa thủ trưởng, em chỉ nghĩ là ngày ấy anh Cù Chính Lan đã là anh hùng có tiếng tăm rồi, còn thủ trưởng thì chả ai biết đến, nên nếu còn sống thì bây giờ anh Cù Chính Lan phải chức to hơn thủ trưởng chứ sao chỉ bằng ạ.

Cả đám lính chúng tôi cười vang to tán thưởng, quả có lý thật.

Cũng vì lính tráng cả đống cùng cười nên thằng Khiêm mới không bị mắng gì thêm.

Nó về hàng quân nhưng biết ý lủi dần ra sau rồi cuối cùng chuồn sang chỗ C tôi.

Mấy thằng cùng đoàn Hà Nội chúng tôi lừa lúc mọi người không chú ý cùng chuồn sang nương khác.

Bây giờ chúng tôi mới thỏa sức cười vang và tán chuyện tiếu lâm.

Buổi chiều là chương trình văn công.

Dân Lào ở bản La Vang cũng đến xem.

Văn công sư đoàn chỉ hát và tấu nói, không có múa.

Mấy cô văn công gày, nhỏ bé, da xanh rớt vì sốt rét nên giọng hát cũng không được khỏe.

Chúng tôi chỉ háo hức vì đã lâu không nhìn thấy con gái Việt nên nhòm ngó thôi chứ thực là vừa nghe hát mà vừa thương.

Nghe nói các cô văn công này cũng không phải trường lớp ra mà chủ yếu được chọn từ TNXP, các binh trạm hay các đơn vị thông tin lên.

Mấy người dân Lào xem văn công cho vui thôi chứ họ không hiểu tiếng Việt.

Họ cũng bàn tán, bảo con gái Việt không bằng con gái Lào.

Trai Lào lấy vợ Lào phải "biền tu khoai" (đổi trâu, một hình thức dẫn cưới), nếu lấy gái Việt thế này thì chỉ "biền tu cay" (đổi gà) thôi.

Nghe mà thấy thương cho các đồng đội nữ văn công của chúng tôi, phận nữ nhi mà cũng phải vào chiến trường, hy sinh cả tuổi thanh xuân cho đất nước, để nhan sắc chóng nhạt phai.

Chương trình của văn công sư đoàn khá đơn điệu.

Nửa cuối chương trình có phần sôi nổi hơn nhờ hình thức giao lưu.

Lính trong tiểu đoàn chúng tôi cùng lên tham gia trình diễn văn nghệ.

Không có tập tành gì nên đơn ca là chính.

Thế mà nhiều thằng hát hay, văn công cũng phải thừa nhận.

Đám lính Hà Nội mấy thằng còn lên độc tấu ghi ta, độc tấu sáo.

Về sau trong một vài lần ở tĩnh tại, chúng nó cũng được rút lên để thành lập đội văn nghệ Trung đoàn, tham gia hội diễn...

Chừng hơn tuần sau, trung đoàn chúng tôi lại nhận thêm một đoàn tân binh Hà Tây.

Quân số đơn vị tăng lên trông thấy.

Các A, B phải biên chế đủ, không ghép như trước nữa nên tôi được giao làm A trưởng một A.

Tiểu đội tôi lúc này có 8 người.

Chúng tôi phải nhanh chóng mở rộng thêm lán trại.

Tiếp theo là gấp rút học tập về các loại vũ khí địch được dùng trong đơn vị như cối cá nhân M79, Rốc két 66 (M72).

Sau đó là học công binh, tôi tự nhiên lại thành giáo viên về môn này trong C.

Sau đó chúng tôi còn tập trung thao diễn quy mô cả tiểu đoàn nữa.

Chúng tôi phát cả những cánh rừng rất rộng để làm bãi tập chiến thuật.

Chỉ sau chừng mươi ngày tập linh tinh pha trộn các món, chưa ra đâu vào đâu cả thì chúng tôi lại nhận lệnh ra đường 23 làm đường.

Đường chỉ là đường đất cũ thôi, nhưng có một số đoạn phải san lấp hố bom có từ trước, mở rộng thêm đường, nhất là có một số đoạn đi qua các bãi đá.

Chúng tôi lên xưởng cơ khí của C công binh nhận về đủ các loại dao, cuốc xẻng.

Lúc không đánh nhau, ngoài việc huấn luyện gì đó của họ thì C công binh quay ra rèn các loại dụng cụ cho các tiểu đoàn bộ binh.

Bễ lửa và lò rèn thổi lửa suốt ngày.

Sắt thép do bộ binh tìm từ các trận địa về, đủ loại.

Cuốc xẻng công binh trung đoàn tôi rèn rất tốt, nhưng nặng.

Bộ binh chúng tôi chỉ thích xẻng Liên-xô đem từ ngoài Bắc vào.

Nó to bản, mỏng, nhẹ nhưng rất cứng.

Đào đất cao nguyên thì chỉ một tiếng đồng hồ là xong cái hầm cá nhân.

Xẻng Liên-xô khi đào hầm mà gặp rễ cây thì xắn rất ngọt, "sụt" một cái là đủ đứt cái rễ cây to bằng ngón chân cái.

Nhưng nói về dao tông thì dao của công binh trung đoàn chúng tôi rèn từ nhíp xe ô-tô là vô địch.

Dao tông ngoài Bắc, dao quắm dân tộc hay dao tông của Mỹ cũng không sánh bằng.

Dao tông Mỹ tuy cứng, nhẹ nhưng khi chặt hay bị lạng.

Phát cây vớ vẩn có khi lia cả vào chân.

Còn chặt cây to thì chật vật lắm.

C công binh cử người ra đường xác định mốc giới, chỉ định những vị trí vướng đá phải dùng bộc phá, rồi giao cho bộ binh chúng tôi.

Phần nổ mìn phá đá thì những thằng đã được học công binh trên trung đoàn chịu trách nhiệm.

Cả tiểu đoàn rải ra gần hai chục cây số đường.

Kiểu sửa đường như thế này chỉ thích hợp cho xe chạy mùa khô.

Mùa mưa chắc lại hỏng hết.

Thời gian làm đường được ăn uống đầy đủ.

Thực phẩm chủ yếu là thịt hộp và giò hộp.

Rau hái ở các nương gần đó, nhưng nhiều nhất vẫn là chuối, từ cây, hoa đến thân đều được sử dụng.

Làm đường được chừng gần ba tuần thì xong, tất cả lại rút về hậu cứ.

Đơn vị quay ra huấn luyện tân binh.

Lần này tập trung vào xạ kích và các loại vũ khí mà tân binh ngoài Bắc chưa được dùng.

Chúng tôi chỉ tập bài một và hai, còn bài ba ban đêm thì bỏ, vì thực tế chúng tôi cũng có đánh đêm kiểu vây ép bao giờ đâu.

Bọn tân binh Hà Tĩnh và Hà Tây đều mới qua huấn luyện chỉ vài tháng nên coi thường chuyện xạ kích.

Chúng nó không tin rằng trong đánh nhau, chúng tôi có khi quỳ bắn đấy mà bắn dăm điểm xạ AK vẫn không trúng mục tiêu dù chỉ ở khoảng cách hai, ba chục mét.

Gần nửa đầu tháng 11, chúng tôi đi bắn đạn thật.

Mùa khô đã đến rồi, những con đường đất đỏ vùng cao nguyên lại bụi mù mịt (Nơi này thuộc Saravan, nhưng liền sát cao nguyên nên cùng chung thổ nhưỡng đất đỏ badan).

Kết quả bắn đạn thật đạt toàn khá giỏi, điều đó cũng dễ hiểu.

Chúng tôi còn được bắn đạn thật các loại B40, B41 và M79, M72.

Thực ra không phải bắn kiểm tra mà là lính cũ được chỉ định bắn trình diễn cho tân binh xem để làm quen.

Phần ném lựu đạn cũng vậy.

Lựu đạn US của Mỹ sử dụng đơn giản nên không phải thử.

Chúng tôi chỉ trình diễn ném mươi quả lựu đạn chày do tân binh mang vào cho có khí thế thôi.

Thú thực đến lúc ấy ném quả lựu đạn chày cũng còn chưa thật thành thục, thầm nghĩ nếu quân đội ta mà cứ trang bị toàn loại này thì cũng chán thật.

Ngày 16/11/1973, đại đội chúng tôi được chuyển hậu cứ.

C tôi vốn ở sâu trong rừng nhất.

Trong đó rừng rậm, không có dẻo đất rộng mà bằng phẳng để phát thao trường lớn.

Lợi thế chỉ có mỗi món măng đủ loại, mà lúc này lại sang mùa khô mất rồi.

Chúng tôi hành quân ra hẳn đến vùng bản La Vang, vượt qua bên kia đường 23 tới hơn cây số mới hạ trại.

Chỗ ấy là một cánh rừng già, bằng phẳng và có một con suối rộng hiền hòa chảy qua.

Từ đường cái vào rừng toàn là lau lách, cao ngút đầu.

Được cái là phát đường đi qua bãi lau lách cũng dễ, phát xong thì đường đi lối lại quang quẻ ngay.

Chúng tôi chia vị trí và tổ chức làm nhà.

Bây giờ quân số đông rồi nên mỗi A phải làm một nhà, kiểu nhà nổi chứ không làm hầm thùng.

Đặc biệt là không phải đào hầm chữ A, nhàn nhưng có cái dở là bọn tân binh không được thực hành đào để biết lợi hại của hầm chữ A như thế nào.

Chúng tôi dựng nhà gỗ và lợp tranh.

Gỗ rừng không thiếu, đi xa độ hai cây số cũng có tre, bương.

Chỉ có cỏ tranh dùng lợp nhà là phải đi xa độ bốn cây số mới có.

Lính tráng kể cả tân binh nhiều thằng cũng từng làm nhà kiểu này nên mọi việc rất chạy.

Sau mười ngày thì tất cả đã làm xong nhà.

Đường đi lối lại trong đại đội cũng được phát quang, sạch sẽ.

Vì là rừng già nên toàn bộ doanh trại của đơn vị vẫn được ngụy trang bởi những tán cây rừng.

Nhà cửa sạch sẽ, thơm phức.

Ở rừng đốivới lính đồng bằng thì không bị tật nọ cũng chịu tật kia.

Trong hậu cứ bản TùmNho thì đường đi nhỏ và dốc, dù phát quang thế nào cũng không tránh được vắt.Vắt nâu, vắt xanh luôn là chủ của rừng rậm mùa mưa, nhất là loại rừng tre, nứa.Chẳng ai ở rừng mà thoát khỏi vắt cắn.

Tuy thế, không nguy hiểm dù cho có mấtchút máu.

Ra ngoài hậu cứ mới (chúng tôi gọi là hậu cứ La vang) vào mùa khô,hết nạn vắt thì lại gặp nạn bọ, ve của rừng lau lách.

Lúc đầu chúng tôi khôngchú ý.

Ra bãi tập hay nghỉ ngơi, cứ tiện thể lăn vào đám lau sậy khô mà nằm,lại còn nhẩn nha bóc nõn lau ra nhai cho đỡ buồn mồm.

Nhưng lại bị con ve (kiểunhư bọ chó) chui vào người lúc nào không hay.

Đặc biệt, chúng không cắn ngaygây đau ngứa như bọ mèo mà nhẹ nhàng lần vào nơi vừa kín vừa ẩm trên cơ thế.Đến lúc thấy ngứa, vạch ra thì con ve đã cắn chặt, chui cả cái đầu vào thịtmình rồi.

Chịu khó nhờ nhau, lấy cái kim châm vào mình con ve rồi dùng bật lửahơ cho nó thấy nóng mà nhả ra thì cái nốt sần ấy chỉ ngứa một tháng là lành.Nhưng lúc đầu chúng tôi chưa biết, chưa có kinh nghiệm nên có thằng hấp tấpthấy ngứa quá là cấu giằng con ve vứt ra.

Kết quả là chỉ có cái mình con ve togần bằng hạt đỗ xanh đứt rời ra, còn cái đầu của nó vẫn chìm sâu trong da thịtmình.

Dùng kim gai nhể thế nào cũng không ra được hết.

Cái nốt ấy như một cáinốt chai nổi, cứng, sần sùi và lúc nào cũng ngứa.

Phải một năm sau thì da thịtta mới lại thật là của ta.

Trong đại đội tôi hầu như ai cũng bị cái nạn này.Bây giờ nhớ lại vẫn thấy ghê.

Đúng là rừng luôn có những điều lạ và bất ngờ.

Hai lần gặp hổ

Trong kháng chiến chống Mỹ, bom đạn của Mỹ nhiều như thế, nhưng cũng chỉ có thể tập trung đánh theo trọng điểm, dù là dày đặc, tập trung vào các cung đường vận chuyển huyết mạch của ta.

Rừng Trường Sơn rộng lớn quá nên sau bao năm chiến tranh vẫn có những cánh rừng bạt ngàn còn như nguyên sinh, không hề có dấu chân người.

Những cánh rừng Lào nằm ở phía Tây Trường Sơn cũng vậy.

Dân số Lào quá ít, đất nước lại rộng bao la nên làm sao mà người dân có thể đi khắp nơi được.

Người Lào không có tập tục du canh du cư nên nương rẫy của họ gần như là cố định, thiên nhiên ưu đãi nên nhiều vùng đất rất phì nhiêu.

Có thể nói rừng tái sinh ở Lào rất ít, chỉ như muối bỏ bể so với những cánh rừng già.

Có khi bộ đội chúng tôi lại sục sạo nhiều hơn cả người dân Lào trên chính vùng đất của họ ấy chứ.

Chúng tôi đã gặp những cánh rừng hoang vu có khi chỉ cách bản của người dân Lào chỉ dăm cây số.

Khi chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Tùm Nho thì cái bản dân chưa đến hai chục nóc nhà ấy nằm cách hậu cứ đại đội tôi chỉ một giờ đi đường.

Thế mà chỗ chúng tôi đóng quân đã là rừng già rậm rạp.

Chúng tôi chính là những người đầu tiên phát rừng thành đường đi vào đó và cũng là người hạ những cây gỗ rừng đầu tiên trong đó để làm nhà.

Không có dấu vết gì của người dân trước đó.

Xung quanh hậu cứ chúng tôi, bên này suối đá là rừng già đầy rẫy cây cổ thụ, còn bên kia suối là rừng tre, bương.

Đi xa hơn vào đó thì lại là rừng già.

Con đường từ hậu cứ đại đội chúng tôi lên tiểu đoàn bộ phải đi ngang qua nương dân của bản Tùm Nho.

Chỗ ấy, nương dân nằm sát rừng già.

Dọc theo con đường chúng tôi đi có nhiều đoạn dốc, qua nhiều suối nhỏ.

Một lần tôi cùng anh Thiết quản lý lên Tiểu đoàn bộ nhận thực phẩm cho đại đội.

Chả có gì nhiều, chỉ là một cái hũ mắm tôm khô, mình tôi cùi là đủ.

Lúc đi hai người nhưng lúc về, anh Thiết lại bảo tôi về trước, anh ấy còn nán lại hậu cần tiểu đoàn tán chuyện gạ xin cấp thêm ít thịt hộp.

Chả nghĩ gì nhiều, tôi cùi hàng và khoác súng ra về.

Đoạn đường từ đại đội tôi lên tiểu đoàn, tôi đã đi mãi rồi, thời gian này lại đang đình chiến, mấy tháng trời yên ổn nên tôi cũng không lo chuyện gặp địch.

Vả lại thằng lính cứ hễ có súng trong tay thì yên tâm tăng lên gấp đôi rồi.

Chỉ phải cái trời mưa to quá, đi một mình hay buồn và phải cẩn thận lúc qua suối.

Qua khỏi nương bản Tùm Nho chừng một cây số, tôi dừng lại nghỉ và ngồi lên một cái rễ cây nổi trên một đầu dốc, che áo mưa quấn một điếu thuốc sâu kèn châm lửa hút.

Trời mưa lành lạnh thế này có điếu thuốc thấy ấm lòng lắm.

Vừa thả khói vào trong làn mưa dày trước mặt, tôi vừa lơ đãng nhìn xuống phía cuối dốc.

Bỗng thoáng một bóng đen gì đó nhoáng qua đường phía cuối dốc.

Thám báo!

Tôi vội nhè ngay mẩu thuốc hút dở, xoay người nép vào gốc cây và bật nhanh chốt an toàn khẩu AK.

Tôi căng mắt nhìn xuống phía dốc, dỏng tai nghe ngóng chờ bóng tên thám báo thứ hai.

Địch nó cũng phải đi theo tốp ba tên, chí ít cũng hai tên chứ không chỉ có một.

Bắn luôn hay theo dõi đã?

Chờ một lúc lâu nữa vẫn không thấy thêm động tĩnh gì, tôi đâm phân vân.

Đi tiếp về đại đội hay quay lại tiểu đoàn báo cáo xin người lùng sục tìm địch.

Ôi giá có anh Thiết đi cùng lúc này thì hay biết bao nhiêu.

Mọi khi anh em trong đại đội nếu có đi công tác lẻ vẫn đi cùng nhau, hôm nay dở hơi thế nào mà anh Thiết lại bỏ tôi một mình thế này.

Chờ khá lâu vẫn không thấy thêm động tĩnh gì, tôi lại tự dằn vặt mình.

Làm quái gì có thám báo ở đây nhỉ.

Chỗ này cách khu vực địch xa lắm, lại có cái thế quân sự gì đâu mà địch nó mò vào đây.

Bây giờ quay lại tiểu đoàn bộ báo tin, quân ta ra lùng sục không có gì lại gán cho tôi "mắt to hơn người" thì quá tội.

Thôi, cứ lên đường tiếp tục về đại đội cho xong.

Thế là tay lăm lăm AK, thận trọng từng bước tôi mò xuống dốc.

Tới cái chỗ thoáng thấy bóng đen lúc trước, tôi cẩn trọng hơn và cố quan sát tìm dấu vết.

Tôi phát hiện thấy hình như có dấu chân mờ của một con thú nào đó trên nền đất ướt cạnh đường.

Tôi thoáng nghĩ nhanh tới hổ.

Bỏ mẹ, rừng già mà đi trong mưa thế này chỉ có hổ thôi chứ còn con gì khác nữa.

Phần bụng dưới của tôi như cứng lại.

Tôi bước vượt nhanh qua đó, quay súng lại đi lùi một đoạn rồi xoay người đi như ma đuối về hướng đại đội.

Trong một khoảng thời gian rất ngắn lúc đó, cảm giác như có ai đuổi theo.

Tôi về đến đại đội, thời gian đi tốn ít hơn thì phải.

Tôi trả hũ mắm tôm cho nhà bếp và kể lại chuyện gặp hổ với anh nuôi Châu.

Anh ấy cười độ lượng, an ủi tôi, nhưng tôi nghĩ anh ấy không tin là có hổ.

Anh ấy bảo, mày cứ ngồi đây cho ấm, chờ lát nữa thằng Thiết về khắc biết ngay thôi.

Anh Thiết về đến đại đội sau đó không lâu.

Nghe tôi kể lại chuyện, anh ấy cười vang, bảo tôi giàu trí tưởng tượng.

Anh ấy bảo, thế qua đó mày có ngửi thấy mùi gì không.

Làm sao mà tôi ngửi thấy mùi gì được vì trời đang mưa, hơn nữa con hổ chỉ đi vèo qua thì làm sao có mùi đọng lại được.

Tóm lại là không ai tin khiến tôi cũng phân vân.

Mấy hôm sau tôi lại có chuyến đi cải thiện lên hướng tiểu đoàn.

Qua cái chỗ hôm nọ, tôi tìm kỹ lại dấu chân mà tôi cho là hổ, nhưng chẳng thấy dấu tích gì, có lẽ mưa đã xóa sạch rồi.

Chuyện con hổ thế là cho qua, không ai nhắc lại nữa, kể cả tôi.

Tuy thế nhưng tôi vẫn để bụng chuyện này.

Nửa tháng sau, tôi được tháp tùng đại trưởng Chèo lên tiểu đoàn họp.

Thằng liên lạc đại đội bị cái nhọt đau chân nên anh Chèo lấy tôi đi cùng, chả gì cũng có thời gian tôi từng làm liên lạc.

Hôm ấy trời quang mây tạnh.

Gần trưa hai thầy trò lên đường trở về đại đội.

Qua cái dốc cạnh cái chỗ hôm trước tôi nghĩ gặp hổ, tự nhiên đại trưởng lại đi vượt lên trước tôi.

Gần đến đỉnh dốc, tôi bỗng thấy đại trưởng dừng phắt lại khiến tôi suýt va vào anh ấy.

Trên đầu dốc, hiện lên giữa khoảng trời trong là một con hổ khá to.

Nó đi ngang qua đường và thấy chúng tôi nên nó đứng lại, quay đầu nhìn chúng tôi.

Lúc này nó đứng ngang nên cũng chỉ là quan sát đối phương chứ không phải tư thế đối đầu săn mồi.

Hai anh em tôi đứng im gần như không cử động.

Anh Chèo đặt tay lên bao khẩu K54, nhưng chưa dám bật nắp rút ra.

Khẩu AK của tôi cũng đang chúc mũi xuống đất, tay đặt vào lẫy nhưng tôi cũng chưa dám bật chốt an toàn.

Hai bên gần như bất động.

Thời gian trôi qua hết sức nặng nề.

Tôi không xác định được bao lâu, nhưng có lẽ cũng khá lâu, con hổ đột nhiên quay đầu lững thững đi vào rừng.

Có vẻ như nó cũng coi thường, không thèm đếm xỉa đến chúng tôi.

Phải đến mấy phút sau, thày trò chúng tôi mới bừng tỉnh.

Hai anh em lau vội mồ hôi trán rồi khẩn trương rút lui.

Lúc đầu còn thỉnh thoảng ngoái đầu lại nhìn, về sau thì cắm cổ mà đi cho nhanh.

Về đến sân đại đội mới dám thở phào.

Bây giờ thì chuyện có con hổ ở vùng này là có thật.

Ai cũng cho là chúng tôi gặp may hôm đó.

Mấy anh lính dân tộc thì bảo cách xử trí hôm đó của đại trưởng Chèo là rất chính xác.

Giải thích thêm, các anh ấy bảo, bình thường hổ nó không tấn công người.

Nếu mình hoảng mà nổ súng trước là nó tấn công ngay.

Điều thứ hai là những con thú rừng có một bản năng nào đó là luôn tránh xa người.

Chúng không hiểu rõ người là cái giống gì nên thường tránh xa.

Con hổ này có lẽ chưa ăn thịt người bao giờ nên nó lảng.

Thôi thế cũng may chứ gặp con hổ đã từng ăn thịt người, nó quen mui thì chưa chắc chúng tôi thoát.

Về sau trong đơn vị tôi không ai gặp lại con hổ ấy nữa, có lẽ nó cũng chỉ quá giang qua vùng này thôi,

Hành động đứng im của hai thày trò tôi khi gặp hổ hôm đó, được coi là hành động "mình không cắn nó thì nó cũng không cắn mình", một chân lý có tính quy luật hết sức đơn giản của rừng già.

Tôi nghiệm ra chân lý ấy luôn luôn đúng.

Về sau này khi về đời thường, tôi yêu em thằng bạn lính mấy năm rồi xin cưới.

Ông thày lấy số xem rồi bảo là không hợp, vì xung tuổi, vợ sẽ cắn chồng.

Tôi đem chuyện gặp hổ năm xưa kể lại, cũng bảo "mình không cắn nó, làm sao nó cắn mình" khiến thày cũng phải giơ hai tay lên trời chào thua.

Mà đúng thế thật.

Bao năm trời sống với nhau, vợ tôi chỉ đôi lần "cắn yêu" chồng chứ cũng chưa cắn thật lần nào./.

Trời Hà Nội đang có những trận mưa nhỏ đầu mùa.

Lại một mùa hè, một mùa giông bão sắp đến.

Bây giờ làm việc ngồi trong phòng là chính.

Có phải đi đâu cũng chỉ đi ào một lúc, áo mưa đầy đủ không mấy ngại.

Sinh hoạt mưa gió cũng bình thường, kể cả lúc có bão cũng không phải phòng bị nhiều.

Nhưng quả thật cứ ngồi trong nhà nhìn ra mái hiên lúc trời mưa to, sấm chớp đùng đùng, nhẩn nha uống chén trà nóng thì lòng lại nhớ về Trường Sơn khi xưa với những cơn mưa rừng dai dẳng, không khí ẩm mốc.

Một đợt gió lạnh tràn qua khiến người nổi gai ốc, tê tê.

Rừng không thiếu nước.

Mùa mưa lại càng tràn trề nước.

Mưa rừng làm nước suối đổ về bất chợt, có khi lúc đi yên ổn, mà lúc về thì không thể qua suối, phải căng võng nằm lại giữa rừng.

Chỗ hậu cứ bản Tùm Nho của chúng tôi, sau lưng B5 là một suối đá rất to, ngăn cách rừng già với rừng tre bương xanh rậm bạt ngàn.

Đêm nằm nghe nước lũ đổ về réo sôi rầm rĩ.

Được cái suối đá rất sạch.

Nước chảy mạnh quá nên thời gian ở đó chúng tôi không được ăn cá lần nào.

Muốn tìm một cái hủm to lặng nước nào đó để mà đánh cá cải thiện cũng không có, thực phẩm cải thiện chỉ là thịt thú rừng.

Cảnh suối đá thú nhất là không phải vào ngày lũ.

Trời có nắng lại càng tuyệt.

Những mùa đông miền Bắc ứng với mùa khô trong đó, Trường Sơn không có những cơn lạnh cắt da cắt thịt.

Về đêm cũng có lạnh, nhưng quần áo lính mặc kín vào, chui xuống hầm có rải ít cỏ tranh hay lá khô nằm thì cũng chịu được.

Nếu là hầm thùng thì kiếm củi, đốt đống lửa giữa nhà như người dân tộc là xong.

Mùa khô, chúng tôi chỉ ra suối tắm vào những lúc trưa nắng.

Không hiểu sao lúc đó, sức chịu đựng của con người mạnh mẽ đến vậy.

Thường thì một tuần mới tắm giặt một lần.

Quần áo lúc nào cũng đóng bộ, nên người ta bảo vào lính "quần áo mặc suốt ngày" cũng đúng.

Sao lúc đó chẳng ai thấy hôi, thấy bẩn như bây giờ, mặc cái sơ-mi có hai ngày vợ đã kêu "áo có mùi chua, cổ bị là cháy".

Tất nhiên lúc đó có muốn cũng không thể tắm giặt nhiều được, thời gian đâu và cũng phải để cho quần áo giặt xong nó khô đã chứ.

Chỉ có cái đợt đi làm đường, cuốc đất đá thì bẩn nhanh hơn.

Ra suối đá tắm rất thích vì ở đó có rất nhiều tảng đá to, bằng phẳng.

Mối thằng chiếm cứ một tảng, quần áo giặt chủ yếu là dấp đậm nước rồi lấy cành cây đập cho nó bở đất ra chứ làm gì có xà phòng.

Tôi có một miếng xà phòng Liên-xô 72% màu đen, hôi nhưng giặt quần áo thì rất bền, vì nó lâu tan.

Miếng xà phòng đem từ ngoài Bắc vào mà qua bao mùa mưa nắng, giặt bao nhiêu lần mà nó chả mòn bao nhiêu.

Chỉ bé như cái lưỡi mèo mà đem quệt vài lần vào cổ áo là đủ giặt.

Nhưng lính tráng vùng nông thôn hay dân tộc cũng khéo lắm.

Chúng nó tìm được loại cây lá gì đó có quả mềm như quả mâm xôi trong rừng, vò ra có bọt như xà phòng, giặt quần áo rất hiệu nghiệm.

Hậu cứ bản Tùm Nho, trong cả một vùng rộng lớn không có dân.

Chỉ có lính với nhau nên chúng tôi toàn tắm tiên.

Cả một lũ lồng ngồng, giặt quần áo xong, đứng trên những tảng đá vừa kỳ cọ, vừa hong nắng và nghêu ngao hát.

Một điều đặc biệt trong chiến trường là không có một thằng lính nào trong chúng tôi bị mấy cái bệnh như ghẻ lở, hắc lào hay nấm ngoài da.

Dù là mặc quần áo ướt, âm ẩm như thế nhưng cũng chẳng làm sao.

Có lẽ khi ở ngoài Bắc thằng nào chịu đựng kém đã bị ghẻ lở hắc lào, chữa xong người được đề kháng miễn bệnh rồi cũng nên.

Còn nếu bị gai cào hay gì đó mà sứt chân tay thì chỉ bôi ít thuốc tím là khỏi.

Ngày đó trong quân đội có thuốc tím tốt thế mà nay không thấy ai dùng hay nói đến.

Tắm tiên kiểu ấy, một lần đang chổng mông sưởi nắng, tôi thấy trên cái mông tròn trịa, trắng hồng của thằng Phú có hai ba nốt đen đen, nhìn kỹ ra không phải nốt ruồi, cũng không phải cái bớt.

Hỏi thì nó bảo ngày còn ở nhà đi học có một lần xóm nhà nó bị máy bay Mỹ thả bom bi.

Nó ngồi trong cái hầm chữ A nổi, chổng mông ra ngoài thế nào mà bị trúng mấy viên bi.

Vì bị vào phần mềm nên chỉ chảy ít máu chứ không làm sao.

Lên trạm xá, người ta bảo không mổ được vị bi nó "chạy", cứ để thế cũng không sao.

Rồi nó đi bộ đội, mấy cái vết thương đó không được xét giảm thương tật.

Nó khỏe như vâm.

Nó kể hình như mấy cái viên bi bọc mỡ ấy cũng có chạy trong mông nó thì phải.

Thỉnh thoảng nó lại nổi lên gần da, ngưa ngứa.

Quả có thế thật vì sau đó mấy hôm có một viên nổi lên sát da ở mông nó đen sậm.

Sờ vào thấy rõ viên bi cứng.

Nó nhờ chúng tôi lấy gai nhể cho nó.

Cậy mãi rồi viên bi cũng bật ra, chỗ đó chảy nước vàng.

Rồi cũng chỉ sau vài lần bôi thuốc tím là khỏi hẳn chỗ đó.

*

Những ngày mưa rừng buồn nhất với tôi không phải ở hậu cứ Tùm Nho, mà là ở dãy núi Tây Bắc huội Chăm Pi, chỗ đi ra trận địa bản Xoan ở đường 231 trên Cao nguyên.

Khi đó là mùa mưa đầu tiên với tôi.

Trung đội chúng tôi nằm bên này huội, làm nhiệm vụ tiếp tế gạo, đạn cho đại đội.

Chẳng may gặp lúc mưa lũ không thể nào qua suối.

Trinh sát tiểu đoàn một lần hành quân qua huội Chăm Pi để ra phía trước, cậy đi lẻ và bản lĩnh cao, bơi giỏi nên đã liều lĩnh vượt suối.

Ba thằng bám dây bơi qua, vật lộn mãi chẳng những không qua được suối, phải quay lại mà còn đánh mất một khấu AK báng gấp dưới lòng suối.

Tất nhiên là phải chịu kỷ luật rồi.

Anh em trong trung đội bộ binh chúng tôi ai cũng biết bơi, nhưng là bơi sông hồ chứ không ai đủ tài bơi qua suối lũ.

Vì thế cấp trên chẳng ai dám bắt chúng tôi bơi qua suối mà còn lại phải đèo theo cả một cùi gạo, hay ít đạn cối.

Thế là có gần hai tuần khi đó, cả trung đội chỉ nằm chơi dài ở khu tập kết tạm trên đỉnh đồi.

Tất nhiên vẫn phải đào hầm chữ A, đào hầm thùng để nấu ăn nghiêm chỉnh.

Chỉ có cơm nếp ăn với muối thôi, bữa nào cũng như bữa nào, rất nóng trong ruột.

Cả ngày chỉ có mỗi một việc là xuống bếp lấy cơm (nấu sáng, ăn cho cả ngày) rồi chui vào hầm ngồi co ro nhìn mưa rơi trắng trời, tối đất.

Cảnh vật trong rừng già lúc nào cũng tối sầm sầm.

Nước mưa cứ chảy tràn nhưng chúng tôi ở trên đỉnh đồi nên hầm không bị ngập.

Chỉ đào rãnh và che tăng kín các rãnh là hầm đủ khô.

Một việc nữa tuy vất vả nhưng cũng cần phải làm là mỗi ngày một lần đi xuống phía dưới dốc đào một cái hố mèo.

Cứ thế thôi, ngồi và nhìn mưa mà thấy buồn não cả ruột.

Thời gian dư dả nhưng chẳng biết làm gì.

Tôi nghĩ vẩn vơ đủ thứ chuyện cổ tích để giết thời gian.

Thấy cảnh mình ướt át lại nghĩ không hiểu những con thú rừng thì nó tránh vào đâu và kiếm ăn như thế nào trong cảnh mưa rừng đến người còn bó tay như thế này.

Một lần trời ngớt mưa và hửng nắng độ hai hôm, A trưởng Nghị liều dẫn thêm hai thằng lọ mọ đi kiếm thêm cái ăn.

Rừng già mưa thối đất thối cát thì đừng mong có nấm hay mộc nhĩ.

Của đó gặp mưa nhiều cũng thối nhũn nát hết.

Rừng cây gỗ nên không có măng.

Nhưng đi thì cứ đi, nhỡ lọ mọ kiếm được cái gì ăn được thì sao.

Thế là cả tốp cứ men ngược theo bờ huội Chăm Pi mà đi sang quả đồi khác.

Đang vạch cây rồi rẽ đám lá rừng lúp xúp mà đi tới thì bất chợt cả nhóm lao ra một bãi rừng trống to bằng hai chiếc chiếu.

Tất cả đứng sững lại như trời trồng.

Ba thằng thám báo đang ngồi quanh đống lửa nhỏ nướng một cái gì đó.

Súng kê bên đùi, chúng ngây ra nhìn chúng tôi, lúc đó cũng ngây ra không kém với ba nòng AK khoác trên vai đang chúc xuống đất.

Không bên nào chủ động giương được súng.

Căng mắt nhìn nhau thủ thế như vậy độ hơn một phút thì chúng tôi từ từ lùi dần, rất chậm rãi và thận trọng.

Tư thế cầm súng trước thế nào thì nay vẫn giữ thế.

Nếu chúng tôi nâng súng bật chốt an toàn, chắc tụi địch cũng lăn ra mà vơ lấy súng quạt lại.

Cứ như vậy, hai bên đều chọn con đường tránh nhau là hơn.

Lùi được một đoạn đủ khất sau hàng cây lúp xúp, chúng tôi cùng quay ngược đầu co chân chạy.

Được một đoạn xa, cả ba mới dừng lại nép sau mấy gốc cây to và mới giương được súng lên.

Một lát, anh Nghị phán đoán lại tình hình rồi dẫn chúng tôi trở lại cái bãi trống ban nãy theo một hướng khác.

Lúc này thì súng ống sẵn sàng rồi.

Dò dẫm được tới nơi thì bãi trống chẳng còn ai ngoài đống lửa đang tắt.

Bọn thám báo chắc cũng bật dậy chuồn ngay sau đó cho chắc ăn.

Bên đống lửa, chẳng tìm thấy cái gì khả dĩ ăn được.

Có lẽ địch đã kịp mang đi hoặc có khi chúng nó cũng chả có gì mà nướng cũng nên.

Chúng tôi cũng ngay lập tức rút lui.

Về đến chỗ trú quân, chúng tôi kể lại chuyện.

B trưởng Quân đoán bọn này là thám báo, chắc cũng vì lũ mà kẹt không qua được suối như chúng tôi.

May là cả hai bên đều bất ngờ và đều chọn giải pháp tránh cho nó lành, chứ nếu cứ nổ súng, chưa chắc bên nào đã thắng.

Lại vì rừng già đang trong mùa mưa, nên cũng chẳng thể nghĩ đến chuyện tìm lại được bọn thám báo ấy ở đâu.

B trưởng Quân cho kết thúc chuyện ở đây, chẳng trách cứ ai điều gì.

Mấy chục nămrồi, giờ đây nếu mấy người thám báo đó mà còn sống, chắc họ cũng nghĩ như chúngtôi khi nhớ lại chuyện này: Ở đời, may hơn khôn.�

Tháng 11/1973...

Sau khi làm hậu cứ mới xong, chúng tôi tập tành chiến thuật là chính.

Phát thao trường đàng hoàng.

Có cái may là không phải tập đêm.

Riêng khâu gác thì nghiêm chỉnh.

Mỗi B một vọng gác, cứ 3 đêm thì đến tiểu đội mình.

Ngoài ra vẫn phải đi cùi lương thực, thực phẩm và cải thiện.

Dần dà, chẳng mấy chốc mà tháng cuối cùng của năm đã tới.

Thế là đã bước hẳn sang mùa khô rồi.

Mùa khô là mùa vận chuyển và chiến đấu, nhưng kham khổ về thực phẩm, nhất là rau xanh.

Bây giờ chiến sự đã ngưng thì lợi thế đánh nhau không còn, chỉ còn khoản rau xanh là vẫn lo như trước.

Lúc này chúng tôi không thiếu gạo, muối.

Ngoài ra vẫn có thịt hộp và đặc biệt nhiều là mắm tôm khô, đựng trong những cái hũ sành.

Rau cải khô cũng chỉ có một thời gian ngắn thì hết, không được cấp nữa.

Chúng tôi đi cải thiện, nhưng nương dân cũng chẳng còn gì.

Ngay cả rau tàu bay vốn là đặc sản của Trường Sơn mà cũng hiếm.

Mùa này rau tàu bay già, ngọn cây trổ bông hoa nở trắng, sợi bay tứ tung nhưng không còn lá.

Bòn mót được mươi lá chỉ đủ cho hai thằng đi cải thiện "ca cóng" bữa trưa chứ không đủ cho cả C.

Chủ lực bây giờ chỉ là các sản vật của cây chuối tây, từ quả, hoa đến thân.

Chuối cây nhiều lắm.

Chỉ có món hoa chuối dễ ăn nhất, chúng tôi không chờ cây trổ xong buồng mà cứ nhằm cây có bắp-bi thò lên đầu cây chuối, chưa kịp ra nải là đốn luôn.

Hoa chuối kiểu này (chúng tôi gọi là hoa chuối "chửa") chất lượng lắm, nhưng lấy mỗi hoa là phá hoại cả một cây.

May mà chuối tây của Lào bạt ngàn nên không bị dân kêu.

Dù vậy tuy được xếp loại vào rau, nhưng ăn mãi cũng chán.

Nếu như trong Cao nguyên Boloven mùa mưa có những nương kiệu bạt ngàn ăn mãi không hết, thì mùa khô ở vùng La Vang này có một thứ đặc sản rất dễ chịu là củ đậu.

Có rất nhiều bãi đất nhỏ rộng hàng vài trăm mét vuông cạnh đường, gần bản được dân trồng củ đậu um tùm.

Cây củ đậu là loại dây leo, cho củ ăn ở phần rễ nằm trong đất.

Trên thân cây cũng lủng lẳng khá nhiều quả đậu trông đẹp mắt.

Thế nhưng quả đậu để già chỉ dùng làm giống thôi, chứ người mà ăn phải thì độc chẳng khác gì ăn lá ngón của người dân tộc.

Rất may là chuyện này lính tráng rất nhiều thằng biết, truyền miệng nhau rất nhanh nên trong tiểu đoàn tôi không có ai bị ngộ độc.

Lần theo dây củ đậu mà đào thì mỗi dây cho một củ đậu.

Có điều lạ là củ đậu ở những bãi trồng tập trung thế này thường không to.

Muốn đào củ to phải ra ngoài nương rộng mà tìm vì dân họ cũng trồng ở đó rất nhiều, tuy không thành bãi tập trung.

Men theo rìa nương tìm những dây củ đậu săn chắc, già gần khô và nhỏ xíu, mặt đất có vết nứt mà đào thì chắc chắn thu được củ đậu rất to.

Có củ to như cái bát ô-tô, phàm ăn như lính mà một thằng cũng chỉ xơi một củ như thế là no ách bụng, phải nằm chơi nửa giờ đồng hồ mới làm việc khác được.

Chỉ đi cải thiện độ vài lần là học xong kinh nghiệm về tìm đào củ đậu.

Điều này về sau khi ở Tây Nguyên chúng tôi cũng áp dụng để đào củ mài ăn cứu đói.

Dây củ nhỏ, già và hơi khô thì thể nào củ mài ở gốc đó cũng rất to.

Có những củ to như bắp tay, dài hàng mét rưỡi, đủ ăn cho cả trung đội.

Củ đậu tuy nhiều, nhưng chỉ ăn chơi là thích hợp nhất vì nó mát, ăn chóng no nhưng cũng chóng đói như ăn cháo loãng vậy.

Chúng tôi lấy củ đậu về, anh nuôi chỉ làm được mỗi món sào hoặc cho lính ăn chơi.

Vì thế về sau, các nhóm đi cải thiện rất hạn chế lấy củ đậu.

Cũng chính vì vậy mà chúng tôi thiếu rau, vẫn hoàn là thiếu rau.

Toàn tiểu đoàn quyết định tổ chức tăng gia, trồng rau xanh ngắn ngày.

Đại đội chúng tôi phát mấy dẻo đất dọc ven suối.

Ở đó toàn cây bùng nhùng như cây "cứt chó" nên dễ phát, đốt được ngay, lắm tro.

Đất khá tơi và màu mỡ, phù hợp để tăng gia.

Đại đội chia đất tăng gia cho các A.

Vừa phát đất xong thì đã có lệnh lên tiểu đoàn nhận hạt giống rau.

Mùa này chỉ hợp trồng món cải xanh và cải trắng, vì nó dễ trồng, chóng thu hoạch.

Lúc này tôi được biết là hạt giống rau được nhận từ hậu cần 559.

Hóa ra ngành hậu cần của ta chu đáo thật, chiến tranh lâu dài nên đã lo cả hạt giống rau đưa từ ngoài Bắc vào để cấp phát cho những đơn vị dừng chân tĩnh tại, có điều kiện tăng gia.

Khoản kỹ thuật trồng thì không phải lo vì quân ta chủ yếu là nông dân mặc áo lính.

Phần chất bón cho rau thì lính ta tự túc được, A nào tự lo cho A đấy.

Chỉ hai tuần sau là vườn rau của các tiểu đội đã lên xanh mướt, ra khu tăng gia nhìn thật thích mắt.

Những vườn cải trắng có vẻ hợp thổ nhưỡng hơn nên phát triển nhanh, bẹ cây rất to.

Từ đó, chiều nào chúng tôi cũng có một giờ nghỉ sớm để tăng gia.

Thế là chỉ sau vài tuần, chúng tôi hầu như đã tự túc được rau xanh.

Các B cung cấp rau theo lượt vòng tròn cho bếp ăn của đại đội.

Lúc này chúng tôi vẫn lấy cơm về ăn theo A chứ không ăn tập trung cả C vì chúng tôi không làm hội trường.

Phần đi cải thiện ngoài nương dân bây giờ chỉ còn lác đác mỗi khi đơn vị muốn đổi món.

Thừa thắng xông lên, chúng tôi còn ra bản dân đổi lấy gà con về nuôi.

Dân bản vùng này cũng không giàu lắm nên phải đổi, bất cứ thứ gì của lính họ cũng lấy, nhưng đắt hàng nhất vẫn là kim chỉ, quần áo và đá lửa.

A nào cũng nuôi, ít nhất là 3 con.

Gà thả rông trong khu doanh trại, lúc chiều gà của A nào về chuồng A ấy, không nhầm lẫn.

Cảnh tượng đầm ấm chẳng khác gì làng quê, chỉ thiếu tiếng phụ nữ và trẻ con.

Tiểu đội anh nuôi còn hứng chí nuôi cả một con chó.

Người Lào không ăn thịt chó nên đổi cũng dễ.

Có điều chính họ cũng ít nuôi chó, nên kiếm được một con chó bé đem về nuôi cũng khá kỳ công vì phải tìm ở một bản xa.

Thời gian ở đây chúng tôi cũng chỉ mới đổi được gà chứ chưa đổi được chó để làm thịt lần nào.

Dịp 22/12, chúng tôi được nghỉ và tổ chức liên hoan.

Bây giờ người đông, trung đội nào cũng cử người xuống giúp anh nuôi.

Anh nuôi C tôi lần này tổ chức thêm hai món tuy kỳ công nhưng rất hấp dẫn.

Đó là tráng bánh cuốn và làm bánh rán.

Gạo nếp có sẵn, giã nhỏ, rây kỹ trộn cùng bột gạo tẻ là có bột làm bánh.

Chúng tôi kiếm được một ít đỗ xanh nấu làm nhân.

Món bánh rán này tôi ăn thấy ngon chẳng kém gì bánh rán ở quê, có khi còn ngon hơn ấy chứ.

Riêng món bánh cuốn thì phải nói là kỳ công.

Chày cối giã bột thì như tôi đã kể, trong rừng tận dụng các gốc cây khô, cưa và khoét làm cối.

Vải làm khuôn thì đã có vải dù đủ loại.

Khó nhất là khoản ngâm ủ bột như thế nào đó cho nó giống bột xay nước, và khi tráng phải đủ mỏng, thế mà lính ta làm cũng thạo như làng nghề.

Những người đã từng ăn thì không nói làm gì, nhưng có những thằng từ bé chưa được ăn bao giờ thì luôn mồm tấm tắc khen ngon.

Còn phải nói.

Thử tưởng tượng tráng đủ một bữa bánh cuốn ăn no cho gần trăm con người không phải là chuyện đùa.

Tối hôm đó chúng tôi còn được đốt lửa trại, quây quần cả đại đội hò hát văn nghệ.

Không khí náo nhiệt, thật vui vẻ.

Nếu cán bộ đại đội không phát lệnh đi nghỉ thì chắc chúng tôi còn hát suốt đêm.

*

Thời gian này, tự nhiên tôi được làm một việc không có biên chế trong quân đội ta.

Số là anh Mỵ, chính trị viên C tôi là người dân tộc, văn hóa chưa hết cấp hai.

Vì là cán bộ chính trị nên trong phần việc của anh ấy có mục nói chuyện thời sự hàng tuần.

Tin tức phổ biến qua giao ban tiểu đoàn thì chậm, nên nội dung chủ yếu thu được qua nghe đài (Lúc này đại đội tôi được phát một chiếc đài bán dẫn của Nhật 3 băng rất nhỏ gọn, chất lượng tốt chứ không phải loại Orionton của Hung to đùng, nặng chịch, có thêm chức năng làm Ampli, phát cho các đại đội huấn luyện ngoài Bắc).

Ngoài mục Văn nghệ tối thứ bảy cả đại đội tập trung lên sân đại đội nghe, còn lại anh Mỵ phải nghe tin tức rồi tổng hợp tình hình đem phổ biến thời sự cho lính nghe để sinh hoạt chính trị có khí thế.

Lúc này trong C tôi có vài lính đã học hết lớp 10 phổ thông, trong đó có tôi.

Có lẽ do tôi trẻ nhất, dễ sai bảo nên anh Mỵ gạ tôi giúp anh nghe đài rồi soạn lại tin tức để anh ấy nói chuyện lại trong đại đội.

Việc này đối với tôi cũng đơn giản, vì ngày còn ở nhà, mỗi tối thứ 7 tôi cũng hay nghe chuyện cảnh giác.

Nhà nào ở Hà Nội ngày đó cũng có cái loa truyền thanh (loa kim, mắc theo hệ thống loa truyền thanh của thành phố) để nghe tin tức.

Chỉ có nhà giàu hoặc nhà có người đi nước ngoài mới có Radio (như kiểu Latvia hay Hồng Đăng, Thượng Hải) hoặc là đài bán dẫn XHCN thôi, mà phải qua đăng ký hải quan mới được dùng.

Cái loa kim ở nhà tôi chỉ có một mức volumme, tiếng không được to lắm, mẹ tôi lại muốn sưu tầm các "chuyện cảnh giác" làm tài liệu.

Thế là cứ 7 giờ 30 tối thứ bảy, tôi lại bắc cái ghế cao ngồi ghé sát tai vào cái loa, lăm lăm giấy bút nghe và ghi lại vài chi tiết chính như tên người, địa danh...

Sau đó tôi dựa theo trí nhớ viết lại câu chuyện cảnh giác hôm đó vào một quyển vở, để lúc rỗi mẹ tôi xem.

Cứ như thế nhiều tháng, rồi một hai năm, các cuốn vở ghi lại "chuyện cảnh giác tối thứ bảy" trong nhà tôi nhiều lên, các chuyện chép lại càng về sau càng sát nội dung với lời kể trên đài.

Bây giờ tôi có dịp để giúp anh Mỵ, thấy không khó lắm mà cũng hay hay.

Lên nghe đài cùng anh Mỵ để được thưởng thức thêm chè và thuốc tiêu chuẩn của BCH đại đội, nhiều thằng trong C muốn mà không được ấy chứ.

Giấy bút lúc ấy quá sẵn.

Tất nhiên phần nội dung tôi soạn ra, cuối cùng phải được anh Mỵ duyệt và sửa.

Được cái anh Mỵ cũng tài, chỉ xem phần tôi ghi lại từ đài để lấy cái sườn rồi nói thôi, chứ không phải cầm giấy đọc nguyên văn.

Về sau anh Mỵ đưa tôi vào BCH chi đoàn và nhiều lúc còn cho tôi nói về một chuyên đề nào đó với anh em trong đại đội nữa.

Có thể nhờ đó mà sau này khi ra quân, tôi nói chuyện trên diễn đàn trước đám đông vài trăm người mà cảm giác vẫn tự nhiên như mấy thằng lính tán chuyện hàn huyên với nhau vậy thôi.

Sau đợt liên hoan 22 tháng 12 năm 1973, chúng tôi được biết chính xác là chỉ một thời gian nữa thôi, E9B sẽ chuyển về chiến trường miền Nam.

Về đâu thì chắc cán bộ trên D, E đã biết vì trung đoàn chúng tôi đã có những tốp tiền trạm lên đường.

Lại nghe nói chỉ có trung đoàn chúng tôi thôi, còn bọn E19 và E39 vẫn ở lại giúp Bạn xây dựng cách mạng Lào.

Trong E tôi, tất cả các anh nhập ngũ từ 1967 về trước mà không phải là cán bộ B trưởng trở lên đều được giải quyết ra quân.

Nếu chế độ NVQS là 5 năm thì các anh ấy đều đã quá hạn rồi.

Trong C tôi cũng có kha khá người, kể cả từ quản lý, y tá, anh nuôi đến B phó.

Thế là lại lục tục liên hoan, chia tay.

Quà cáp chả có gì, nhưng hầu như những cái gọi là vật dụng lấy được của địch qua các trận đánh, nếu các anh ấy thích gì là chúng tôi tập trung lại tặng cho các anh ấy hết.

Cuộc sống bắt đầu từ sau tết dương lịch khá sôi động.

Chúng tôi lại nhận thêm một đợt tân binh Vĩnh Phú nữa.

Đa phần là lính già.

C tôi có cả hai anh tuổi đã 34, đang làm cán bộ của cơ quan huyện mà cũng phải nhập ngũ.

Các anh ấy đều được sắp xếp về bộ phận anh nuôi.

Các anh ấy có vẻ mãn nguyện, vì anh nuôi C tôi hầu như không phải ra tuyến trước, khả năng hy sinh thấp hơn.

Các anh đều có vợ con cả rồi, tính cách cũng không nhốn nháo như chúng tôi nên cái gì an phận được là tốt.

Lúc này quân số C tôi khá mạnh.

Tổng số cũng khoảng trăm người.

Trừ ba đợt tân binh mới vào, tất cả chúng tôi kể từ đợt tân binh Nghệ An vào từ hồi ở Saravan 1972 đều được phát bổ sung quân trang.

Mỗi người đủ hai bộ quần áo Tô châu, có cả áo cộc tay và quần đùi "chính ủy", giày, tất, khăn mặt và mũ cối.

Thế là quần áo cũ được đem ra bản dân đổi gà và rượu.

Cả đơn vị bây giờ quần áo súng sính cứ như lúc đang bắt đầu hành quân vào Nam.

Chỉ khó chịu mỗi cái là quân trang phát xuống theo kiểu phát bừa, thằng nào được bộ cỡ nhỏ (vì lính ta toàn nhỏ con) thì mặc vừa, còn thằng nào vớ phải bộ to cũng đành chịu, đành phải nhờ nhau cắt sửa, khâu bóp các kiểu để thu nhỏ lại.

Chúng tôi được bổ sung đầy đủ vũ khí.

Đại đội có thêm nhiều khẩu B41, ưu việt hơn B40, tuy nó cồng kềnh hơn.

Đặc biệt còn được phát thêm cả trung liên RPD.

Loại này nằm bắn để chụp ảnh hay quay phim thì trông rất oai, chứ trang bị cá nhân thì chẳng ai muốn nhận.

Nó nặng và rất cách rách khoản lắp đạn phải nối 4 dây cho đủ băng 100 viên rồi đút vào băng sắt tròn.

Lúc bắn lại phải thu hồi dây giữ đạn để có cái dùng về sau, mới nghe đã đủ phát sợ.

Nhưng đấy là bọn lính cũ sợ thôi, chứ mấy khẩu RPD ấy nhét vào tay mấy thằng lính mới to con thì ba cối băng cơ số với một khấu súng nặng chịch và dài ngoằng ấy chưa đủ thời gian kiểm chứng để làm chúng nó sợ.

(Vậy mà, hỡiôi, về sau trong một đợt chốt dài ngày trên cao điểm 631 ở Pleiku, tôi lại phảitình nguyện ôm cây súng hỏa lực này trong mấy trận đánh liền và suýt bỏ mạng vìnó thì có phải là trời bắt tội "ghét của nào trời trao của ấy"không?)

Những ngày đầu năm mới 1974 đã đến.

Chúng tôi được nghỉ để tổ chức ăn tết Tây đàng hoàng.

Bây giờ hậu cần tiểu đoàn ngoài chuyện phát thực phẩm đồ hộp hàng ngày thì thỉnh thoảng cũng tổ chức mua lợn trong dân Lào để cấp cho các đại đội ăn thực phẩm tươi như đợt tết Tây này.

Rau xanh của chúng tôi tăng gia được nhiều nên tổ chức liên hoan cũng gần giống như ngoài Bắc.

Lính mới vẫn có cảm giác như đang ở đơn vị huấn luyện.

Sau đó, hàng ngày chúng tôi vẫn tập tành túc tắc và chuẩn bị tinh thần về miền Nam yêu dấu.

Chiến đấu ở rừng núi, hay về đồng bằng bám dân ba cùng nhỉ?

Chúng tôi mặc sức tha hồ mà tưởng tượng vì cỡ lính tráng lèm nhèm chưa được biết đích xác là đến địa bàn nào.

Tiểu đoàn kiếm đâu ra được một lô Tạp chí Văn nghệ quân đội phát xuống cho các đại đội.

Truyện ngắn trong tạp chí kể nhiều về chuyện chiến đấu ở các vùng giáp gianh, thậm chí cả ở vùng đồng bằng sông Cửu long với nhiều mối tình thơ mộng của lính ta với nữ du kích miền Nam khiến lắm thằng mơ mộng.

Nhiều "quân sư quạt mo" còn phỏng đoán là chúng tôi sẽ vào B2, sát ngay Sài Gòn để tham gia một cuộc giống như "Tổng tiến công 1968" nữa.

Đang yên ả như thế, một buổi trưa chúng tôi đang ngủ thì nghe tiếng súng nổ "đoàng" rồi tiếp theo hai điểm xạ AK nữa phía suối có vườn rau.

"Có địch".

Phản xạ ngay lập tức là thế, mặc dù lúc thường mà kể chuyện ở đây có thám báo Lào thì thật quá tiếu lâm.

A tôi ở gần nhất nên được trung đội thúc ngay báo động chiến đấu và cho vận động nhanh ra hướng suối.

Chúng tôi vượt qua cả vườn rau mà chưa thấy động tĩnh thêm gì.

Tiểu đội tản ra ẩn nấp chờ trung đội tiếp ứng để vận động lên thăm dò tiếp tình hình.

Phía trước, những hàng cây lúp xúp lay động vì có tiếng người vạch cây đi thẳng tới.

Đang sẵn sàng chờ nổ súng thì lại nghe phía đó có giọng làu bàu bằng tiếng Việt: "Ngủ đ. gì mà chẳng có thằng nào ra tiếp ứng".

Tôi nhận ra giọng thằng Tuấn, quản lý mới của đại đội.

Thằng này trước cũng là A trưởng trong cùng B5 với tôi, lính Nam Hà.

Tôi vội gọi to tên nó, vừa lúc cái mặt to phẹt của nó hiện rõ sau đám cây.

Thế ra là quân ta cả.

Chúng tôi cùng đứng dậy, cười vang hỏi chuyện nhau, trong lúc quân tiếp viện phía sau cũng lục đục mò tới.

Đã có ngay việc để làm.

Chả là vốn cũng có máu ca cóng, buổi trưa quản lý Tuấn xách súng AK lọ mọ vượt qua phía vườn rau, định sục sạo xem hướng đó có cái gì cải thiện được không.

Mạn này đi sâu cũng là rừng, nhưng là rừng thưa và chủ yếu là tái sinh.

Cây cỏ may lắm chỉ có cây lá chua.

Nhưng điều kích thích thằng Tuấn là dạo trước lúc còn nhiều lính cũ dân tộc, có anh cũng đã làm bẫy, loại bẫy đơn giản bằng cần thòng lọng và đã bắt được một con nhím rất to, đủ cái thiện cho cả tiểu đội.

Tôi được nếm đôi miếng, thấy rất ngon.

Vì thế nên thằng Tuấn mới bỏ giấc ngủ trưa mà lọ mọ một mình ra đây.

Điều không ngờ là nó được chứng kiến một con chó sói phục bắt một con lợn rừng.

Nếu thế thì đây là lần đầu tiên chúng tôi biết vùng này có chó sói.

Tôi cứ nghĩ chó sói sống và kiếm mồi ở những đồng cỏ hoang vu hay rừng sâu núi cao tuyết dày cơ, chứ những cánh rừng tái sinh hiền hòa cách bản dân có vài cây số thì làm gì có chó sói.

Thấy con sói đang đè đầu cưỡi cổ con lợn rừng ở một gốc cây chỉ cách hai chục mét, quản lý Tuấn xoay AK trên vai bật nhanh chốt an toàn và nã luôn một phát tắc cú về phía con sói.

Viên đạn trượt, con sói giật mình bỏ mồi chạy mất, còn lại con lợn bị thương đang loay hoay trên đất.

Sợ mất nốt cả con lợn nên Tuấn ta bồi luôn 2 loạt AK.

Lần này thì trúng đích và hạ gục con lợn tại chỗ.

Đấy là quản lý Tuấn kể lại thế.

Chúng tôi lần mò mấy trăm mét đến chỗ Tuấn chỉ, thấy xác một con lợn rừng rất to, lông đen dày.

Chắc chắn là lợn rừng chứ không thể là lợn của dân chạy lạc đến đây. (các lính dân tộc sành lắm, chỉ nhìn kiểu mọc lông là cũng biết lợn rừng hay lợn nhà, dù là lợn nhà thả rông).

Chúng tôi chặt đòn buộc dây khiêng về.

Con lợn có lẽ phải gần tạ.

Hai thằng khiêng thì quá nặng, bước đi chuệch choạc nên cuối cùng phải bốn thằng khiêng.

Được con lợn to, nhưng bây giờ quân số đại đội đông hơn rồi nên C tôi giữ lại cho anh em liên hoan, không chia cho các C khác như dạo trước.

Chiều đó, anh em được bữa chén thoải mái, no nê mà vẫn còn dư thịt cho hôm sau.

Cánh lính mới Hà Tĩnh, Hà Tây, Vĩnh Phú hoan hỉ lắm vì đây là lần đầu tiên chúng nó được thưởng thức sản phẩm ca cóng của rừng.

Chuyện cũ chuyện mới lại râm ran cả tối.

Cuộc đời lính chiến trường lại được dịp lên hương.

Tuy được ăn tươi và phải cảm ơn quản lý Tuấn, nhưng không phải tất cả chúng tôi đều khen nó.

Không phải vì khoản thịt lợn mà là vì câu chuyện nó kể.

Lính tráng chúng tôi có đến gần một nửa nghi thằng Tuấn bốc phét chứ làm gì có chó sói ở vùng này.

Đám còn lại đông hơn, trong đó có tôi thì lại tin lời quản lý Tuấn vì xem xét con lợn bị thương, thấy dấu vết là hai con mắt bị móc nát.

Tôi đã đọc chuyện ở đâu đó thấy nói những con sói tấn công con vật khác nặng gấp nó vài lần thường dùng thủ đoạn nấp kín trên cao rồi bất ngờ phi ra đái dòng nước cay xè vào mắt đối phương.

Trong khi con mồi cay mắt chưa kịp phản ứng thì con sói chồm lên đánh đòn hiểm là móc hai mắt của đối phương.

Cuộc chiến đấu tiếp theo giữa một kẻ tấn công hung hăng và một nạn nhân mù thì tất nhiên là phần thắng nghiêng về con sói.

Cũng nhờ con lợn rừng bị mù nên thằng Tuấn mới dễ hạ thủ chứ không chắc con lợn cũng kịp phi thoát vào rừng rồi.

Câu chuyện bắn lợn rừng đúng là chưa dừng lại ở đó.

Những ngày sau đi tăng gia, dù chỉ ra vườn ở khúc suối gần ngay hậu cứ, chúng tôi đều nhớ mang theo súng và không đi một mình.

Nghe kể huyền thoại về chó sói, nhiều thằng lo nhỡ có chó sói thật mà nó không rình con thú khác, lại rình người thì sao?

Tuy lo xa như thế, nhưng chuyện tiếu lâm do lính sáng tác và thêu dệt về việc thằng Tuấn gặp chó sói trong rừng thì ngày một phát triển, có lúc thành chủ đề chính những lúc giải lao.

Thằng Tuấn ức lắm với biệt danh "cô bé quàng khăn đỏ có đôi mắt to hơn người(!)" do anh Hùng "cối" dân Thái Bình đặt cho.

Tôi cũng tán chuyện, nhưng cứ nghĩ rồi nó sẽ trôi vào dĩ vãng thôi, như bao chuyện lính khác ấy mà.

Không ngờ quản lý Tuấn để bụng và quyết tâm phục hận.

Chúng tôi không mấy để ý, nhưng có người biết là thằng Tuấn vẫn bỏ giờ nghỉ trưa vác AK vào rừng làm gì đó.

Chẳng cần đợi lâu, chỉ chừng độ chục ngày sau, cũng vào một buổi trưa nắng đẹp, chúng tôi lại được nghe tiếng súng.

"Đoàng",..."

đoàng",..."

đoàng,...đoàng".

Toàn tiếng nổ AK phát một, vẫn ở phía cánh rừng qua suối hướng vườn rau.

Ngưng lại hồi lâu đến vài phút mới lại nghe ba loạt AK điểm xạ lên trời liên tiếp.

Lần này chúng tôi không giật mình, không báo động, nhưng cũng nhanh chóng bật dậy xách AK chạy ra tiếp ứng.

Hùng hục chạy đến nơi, xa hơn chỗ quản lý Tuấn bắn lợn bữa trước thì thấy anh ta đang một tay xách AK, một tay chống nạng đứng dạng chân cười ngạo nghễ ngay giữa đám cây lúp xúp trên bãi đất trống.

Đập vào mắt chúng tôi là xác hai con thú gần đó.

Một con chó sói lông màu xám nhạt nằm gục mõm ngay gần một con lợn rừng to gấp ba bốn lần nó.

Thằng Tuấn quả là thiện xạ, bắn toàn trúng chỗ hiểm mới hạ gục được ngay hai con thú tại chỗ như thế này.

Chúng tôi vừa thán phục quản lý Tuấn, vừa khoái chí trước hai chiến lợi phẩm nằm trên đất.

Những thằng bữa trước nghi ngờ Tuấn, giờ bỗng thẹn thùng, mắt tròn mắt dẹt.

Rồi chúng tôi hò nhau khiêng sói và lợn về.

Những thằng đầu têu chuyện tiếu lâm bị quản lý Tuấn phân công khiêng con sói cho nó bõ ghét.

Nhưng tự nhiên lại hóa ra nhàn vì hai thằng khiêng con sói thì nhẹ tênh, còn chúng tôi khiêng con lợn thì vẫn lặc lè như trước.

Không hiểu sao ở vùng này có lắm lợn rừng to thế, hay con sói chỉ rình bắt lợn to thôi, còn con bé thì nó bỏ qua?

Chiến lợi phẩm lần này phải liên hoan hai ngày mới hết.

Thịt lợn không nói làm gì, nhưng thịt chó sói phải nói là ngon.

Tôi không dám so sánh nó ngon hơn hay kém thịt chó nhà, nhưng cái món thịt chó sói om dừ với riềng và mắm tôm thì không đứa nào trong đại đội dám chê (Chúng tôi vốn vẫn còn nhiều mắm tôm khô được cấp từ trước, nay đem ra quấy nước nóng thì cũng thu được một loại mắm tôm lỏng, tuy không thể sánh với mắm tôm truyền thống, nhưng cũng đủ dậy mùi) .

Chỉ cần một đứa chê là có dăm thằng khác xung phong ăn hộ ngay.

Cuộc hàn huyên và tiếu lâm bây giờ lại quay mũi dùi sang anh Hùng "cối".

Cái mác "đã tốt nghiệp lớp 10" và đọc nhiều sách của anh bây giờ bị gán thành "nhà bác học giả cầy".

Anh Hùng đã phải lên tiếng xin lỗi quản lý Tuấn.

Sau đó mọi chuyện lại bình thường vì chúng tôi, lính ấy mà.

Sau hai vụ ăn thịt cải thiện ấy, trong C tôi còn có nhiều thằng còn đề nghị đại đội cho lập kế hoạch săn bắn tiếp, vì vùng rừng này chắc còn nhiều lợn rừng và chó sói.

Thế nhưng may mắn đó không đến nữa vì tình hình đơn vị đã có nhiều thay đổi, nhanh đến chóng mặt khiến chúng tôi không còn kịp làm thêm gì nữa.

Năm nay tết Nguyên đán đến sớm, chỉ vào độ cuối tháng 1 này thôi, nên chúng tôi xác định mình sẽ được ăn tết tại khu hậu cứ này.

Mọi chuyện gì khác nếu có đến chắc phải sau tết.

Vì thế trong các A đã rủ nhau tập tành văn nghệ.

Chi đoàn thanh niên đã lên kế hoạch tổ chức vui chơi "hái hoa dân chủ".

Bếp ăn đại đội dự định sẽ tổ chức gói bánh chưng vì cả C đã được cấp một con lợn.

Ngoài gạo nếp vốn là sở trường của đất Lào, chẳng bao giờ thiếu, đơn vị cũng được cấp đỗ xanh, lạc và đường.

Từ ngày 25 tết, không khí trong đơn vị đã nhộn nhịp lắm rồi.

Cứ thỉnh thoảng lại có lệnh cử người lên tiểu đoàn, thậm chí lên thẳng kho Trung đoàn để lấy hàng.

Nhu yếu phẩm Tết năm nay khá hơn Tết năm trước nhiều.

Đủ mỗi đầu người một bao thuốc lá Trường Sơn hoặc Tam đảo.

Có cả chè Ba Đình.

Mỗi tiểu đội được hai hộp mứt loại nhỏ 250 gram.

Kể ra cả tiểu đội có mười người mà hai hộp mứt như thế thì chẳng bõ bèn gì, nhưng dù sao cũng là quà miền Bắc, tinh thần là chính.

Có hương vị tết là được rồi.

Mà thực ra ở nhà thì tiêu chuẩn tem phiếu cũng đâu có hơn gì.

Các trung đội đều dự định nấu kẹo lạc.

Gì chứ cái món nấu kẹo lạc đổ ra vung rồi cắt miếng thì thằng lính nào cũng nấu được.

Ngoài những món vật chất trên, chúng tôi còn tổ chức trang trí lán trại cho tăng khí thế đón xuân.

Đại đội tổ chức đi lấy lá dong để chuẩn bị gói bánh chưng.

Ở rừng thì lá dong có mà thiếu giống.

Những khe núi ẩm ướt hay có suối đất thì hai bên thể nào cũng tìm được lá dong.

Chúng tôi lấy về, toàn lá bánh tẻ xanh mướt, to tướng.

Gói bánh chưng nửa cân chứ gói loại to hơn cũng không phải ghép lá.

Đun bánh chưng bằng củi gộc là rền và ngon nhất nên lính tráng cũng vào rừng xa lấy củi.

Người ta bảo "cây ngay không sợ chết đứng" nhưng thực tế trong rừng có những cây to chết đứng rất nhiều, thân còn chắc nịch, có lẽ do cây già mà chết.

Tha hồ mà củi gộc.

Mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng.

Phần trang trí lán thì cũng đủ loại và muôn màu muôn vẻ.

Đất Lào có đủ các loại hoa có thể trang trí Tết, từ Đào phai, Mai vàng cho đến những cành mận rừng có hoa trắng nhỏ li ti cũng rất bắt mắt.

Cầu kỳ thì đi xa hơn đến những cánh rừng già kiếm hoa Phong Lan.

Thật ra chỗ nào có hoa, chúng tôi cũng đã ngắm nghía từ trước và đánh dấu sẵn trong đầu rồi, giờ chỉ còn đi lấy về thôi.

Ngày 27 Tết,mọi thứ đã chuẩn bị xong.

Không khí Tết tràn ngập đơn vị.

Tập tành hay học hànhchính trị cũng chỉ mang tính chiếu lệ.

Từ bọn lính mới chờ đón cái tết chiếntrường đầu tiên đến đám lính cũ, ai cũng náo nức chờ xuân.

Tết Nguyên đán của Việt Nam không trùng với Tết của Lào.

Tết của họ vào giữa tháng Tư dương lịch, ứng với thời gian cuối của mùa khô.

Tôi vào chiến trường đã qua hai cái Tết Lào.

Tết đầu tiên đang chốt giữ ngoài bản Phin, bản Soan ở phía đường 231, lúc đó chưa biết gì về Lào.

Cái Tết thứ hai B5 chúng tôi phải đi chốt Keng Nhao, ở đó chỉ có cái bản bỏ đầy hoa quả mà không có dân.

Đại đội đóng quân ở gần bản Noọng Bua phía sau nên có được hưởng một chút Tết Lào của dân.

Bọn lính B khác cùi gạo ra chốt Keng Nhao có kể lại cho chúng tôi nghe về cái Tết năm mới, còn gọi là Tết té nước (Bun pi may - Bun hat nạm) của dân Lào.

Họ vui Tết hết sức đơn giản.

Ăn uống không có món riêng đặc sắc như kiểu bánh chưng của Việt Nam mà chỉ là các món ăn tươi so với hàng ngày.

Hình như họ cũng không chú trọng lắm về ăn.

Nhưng tinh thần thì thật thoải mái.

Dù bản chỉ có ít dân, họ cũng ra suối lấy nước về rồi té lên người nhau tràn lan, bất kể dân hay bộ đội đi qua, cười vang thoải mái.

Cũng chả cần phải chúc phúc điều gì, chỉ té dội nước lên nhau là đủ, càng ướt càng tốt.

Đến tối thì lại tụ tập phòn (múa) cùng nhau, ai cũng ướt sườn sượt.

Bây giờ chúng tôi chuẩn bị đón Tết, vì không có chủ trương giao lưu với dân nên việc ai nấy lo.

Ra bản gặp dân cũng chỉ nhăm nhăm kiếm con gà hay bidong rượu.

Mà dân ở thưa, cũng nghèo nên chả có mấy mà đổi chác.

Lúc hì hục bận chuẩn bị Tết thì thôi, nhưng lúc xong việc ngồi nhàn lại thấy có gì đó bâng khuâng.

Khung cảnh thanh bình, gần dân nhưng lính vẫn chỉ là lính ăn Tết với nhau.

Chưa biết lúc nào, nhưng chúng tôi sắp chia tay đất Lào rồi.

Về nước, về đất mẹ tuy có chút háo hức tò mò về chiến trường mới, nhưng rời xa mảnh đất đã nhiều ngày gắn bó và che chở cho mình thì không thể không thấy man mác buồn.

Có một chút gì đó bồi hồi như trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, khi đó quân ta được về Thủ đô, về nơi đô hội ồn ã, cuộc sống tốt hơn nhưng lại thấy nao nao nhớ rừng Việt Bắc với những bữa cháo bẹ canh măng, với những sắc áo chàm đã bao năm đùm bọc che chở cho mình.

Dù trong đơn vị chẳng ai có mối tình nào với gái Lào như trong tiểu thuyết thường thêu dệt, nhưng thằng lính nào mà chả từng gặp dân xin rau củ, xin những nắm xôi trong tuýp cuối buổi chiều; từng tập tọe tán vài ba câu nào đó với phu sao Lào lúc đi công tác lẻ qua bản của họ..., thế cho nên có chút bâng khuâng tình quân dân cũng là điều tự nhiên dễ hiểu.

Cái tình cảm ấy khi không nói ra thì thôi, nhưng nói hơi nhiều và say sưa một chút thì lại bị mang tiến ủy mỵ, tiểu tư sản.

Bọn lính Hà Nội chúng tôi, nhất là những thằng đã học hết lớp mười mà nói năng văn thơ một chút, thường bị gán cho mác tiểu tư sản (trong khi gia đình mình ở nhà cũng như mọi gia đình khác, tem phiếu bao cấp chứ có cái gì hơn đâu mà tư với sản).

Nói ra thì bảo sai lập trường, nhưng khi đó những thằng thuộc thành phần bần nông, hay "bần bần" cố nông được tin tưởng hơn.

Đấy là nói lúc về hậu cứ, được cấp trên để ý cất nhắc, chứ lúc còn đang ở tuyến trước thì bình đẳng như nhau, ai cũng phải lao lên và ai cũng có quyền được hy sinh, bom đạn chẳng chê hay nhường thằng nào.

Lại nói chuyện thằng Lễ (Nam Hà), cái thằng mà chỉ thích vác B40 phụt cho nó sướng, xung phong thì bụi tre gai cũng lao qua, mặc cho xây sướt hết cả mặt.

Nó là thằng lên A trưởng nhanh nhất, mùa mưa năm 1973 được vào đối tượng đảng.

Văn hóa thì tà tà thôi, nhưng thằng này thì gan kỳ và kiên định lập trường lắm.

Thằng Thái Pi-tơ giễu nó ra mặt, thường bảo là Đảng mà có quần chúng toàn loại như thế này thì cách mạng phải thành công lâu rồi chứ không còn vất vả đến hôm nay.

Thằng Thái thuộc loại bất cần, nó bảo chỉ mong giữ được cái gáo để về nhà, còn mọi chuyện khinh tạt hết.

Một lần thằng Lễ đi học lớp cảm tình đối tượng gì đó về đảng trên trung đoàn, lúc về vênh vang lắm.

Nó cứ làm như sau mấy ngày đi học ấy thì kiến thức của nó phải bằng cả chục năm người ta đi học không bằng ấy.

Thấy nó vênh vang, tôi tò mò hỏi nó đi học, thế người ta dạy cái gì?

Nó có vẻ kẻ cả bảo tôi, mày biết gì mà hỏi, chúng tao học về lịch sử, về đường lối của đảng, về thời cơ và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam.

Ra là thế, cũng to chuyện đấy nhỉ.

Về sau tỉ tê thêm, nó khoe với tôi về chủ nghĩa cộng sản, về đảng ta thành lập mãi từ năm 1930, rồi là cách mạng tháng Tám thành công, rồi đường lối cách mạng hiện nay...

Lúc đầu tôi cũng thấy hơi ù tai, sao thằng này học lắm thứ thế.

Mãi sau nói chuyện nhiều thì ra có rất nhiều điều chúng tôi đã được học trong môn lịch sử từ năm lớp 10 rồi.

Thế là tôi phản công lại, vì những điều nó học chỉ có mấy ngày, nhớ lõm bõm nên truy gắt một tý là lẫn lộn ngay, không còn phân biệt được Các Mác hay Lê-nin ông nào nhiều râu hơn.

Thế là tôi liền kề cho nó nghe vanh vách từ chuyện Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng CS Pháp, cách mạng tháng Mười, các thời kỳ cách mạng của đảng ta, ứng phó của Bác Hồ với Pháp và Tàu Tưởng từ sau cách mạng tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, rồi đến hai lần kéo pháo vào đánh Điện Biên Phủ...tóm lại là đủ thứ trong môn lịch sử mà tôi học.

Còn cái đoạn ba trào lưu cách mạng cho đến chuyện "Ta thắng lớn địch thua to, miền Bắc được mùa, miền Nam thắng lớn" mà năm nào chúng tôi cũng học chính trị thì tôi nói ào ào như thuộc sách.

Bấy giờ thằng Lễ mới chịu xẹp xuống và nhìn tôi với con mắt khác.

Khổ nỗi là những cuộc tranh luận hợp pháp ấy lúc to lúc nhỏ, nên đã đến tai đại đội.

Chính trị Viên Mỵ thì khoái lắm vì thấy bọn học sinh lớp 10 tuy chẳng phải Đảng, Đoàn gì nhưng được học thế thì cũng coi như đã thấm nhuần chính trị, kiến thức gần bằng với cán bộ chính trị rồi, sau này tuyên truyền gì cũng dễ.

Chỉ có Đại trưởng văn hóa lớp 5 là không thích bọn học cao hơn, nên lúc nào cũng muốn chụp mũ tiểu tư sản cho chúng tôi.

Ông ấy còn khó chịu hơn khi tôi cãi rằng cách mạng Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nhưng những lãnh tụ của Đảng đều là người có học mới lãnh đạo được, các Vị ấy chẳng có ai là bần cố nông mù chữ đâu ạ.

Mùa mưa năm 1973 chúng tôi học chính trị khá nhiều vì những ngày mưa to không thể tập tành.

Ngoài thời gian học tập trung trên hội trường đại đội, chúng tôi về thảo luận ở B.

Lúc đầu trung đội chỉ có tám chín người, về sau có bổ sung thêm tân binh thì đông hơn, được hơn chục người.

Các lán trung đội ở xa nhau lại vì trời mưa nên rất nhiều buổi chỉ có anh em trong B với nhau, không có cán bộ đại đội đi kiểm tra.

Trung đội tôi thường rút ngắn phần thảo luận để nhường chỗ cho đọc sách.

Sánh báo lúc đó anh em tân binh mang vào được một ít, còn lại do tiểu đoàn cấp xuống, chủ yếu là Tạp chí Văn nghệ quân đội.

B trưởng của tôi cũng quen thân nhiều trên tiểu đoàn nên mượn thêm được cả tiểu thuyết.

Tôi thích đọc sách và có giọng đọc khá truyền cảm nên thường được giao đọc cho cả B nghe.

Có như vậy chúng tôi mới biết đến những chuyện ngắn như "Mảnh trăng giữa rừng" của Nguyễn Minh Châu.

Một loạt các tiểu thuyết chiến tranh ra đời dạo đó, chúng tôi cũng được đọc như "Chiến sĩ" của Nguyễn Khải, "Đất trắng" của Nguyễn Trọng Oánh, "Mẫn và tôi" của Phan Tứ, hay "Thung lũng Cô tan"...

Có một lần tôi đọc cuốn "Mẫn và tôi" đến đoạn gần cuối, khi cô Mẫn chia tay Tư Thiêm rồi lại chợt quay vội vào hầm và nói với Tư Thiêm trong hơi thở hổn hển: "Anh Thiêm!

Hôn em đi.

Chúng mình hôn nhau để từ biệt đi anh", có đến hai thằng trong trung đội nghe mùi mẫn quá xoay người ngã nhào từ trên sạp xuống đất.

Từ đó tôi được trung đội mệnh danh là "giọng đọc Kim cúc" của trung đội.

Có một lầnchúng tôi mượn được cuốn "Đội cận vệ thanh niên" của nhà văn Liên -xô A.

Pha-đê-ép, tập 2.

Chỉ có mỗi một tập trong bộ tiểu thuyết 3 tập, nhưngđói sách nên chúng tôi vẫn đọc.

Chỉ được mượn có một đêm trong lúc khách nghỉtại đơn vị, nên suốt đêm hôm đó chúng tôi đốt lửa đọc cho nhau nghe.

Cũng vìchỉ có một tập, nên tôi phải kể thêm phần nội dung của hai tập kia, vì lúc ởnhà tôi đã có đọc.

Lại còn phải giải thích thêm cụm từ cận vệ.

Đây là một danhhiệu vẻ vang (đội cận vệ, sĩ quan cận vệ...) được tặng cho những cá nhân hay đơnvị có thành tích đặc biệt mà chỉ ở Liên-xô mới có.

Đọc xong trang cuối cùng thìcũng vừa lúc bình minh.

Thế mà cả trung đội chăm chú nghe, chẳng ai ngủ gật.Chỉ mỗi tội hơi tốn nước "chè sâm rừng", món sâm rừng do chúng tôi tựkiếm và sao lên chế biến.

Sản phẩm là rễ của sâm rừng, dáng từa tựa như nhữngsợi giá đỗ.

Đời thằng lính là "Đời thằng Mục, ăn cơm cục, uống nước đục..."

Không biết cái điệp khúc ấy ai sáng tác ra và có từ bao giờ, nhưng lính tráng chúng tôi khi đó đều được truyền khẩu và ai cũng thuộc.

Cứ lúc nào mệt nhọc quá hay bất mãn chuyện gì đó là lại làu bàu trong miệng.

Mình nói, mình nghe mà sao khi nói ra được thì nó cũng tự an ủi mình được phần nào, cũng giống như cái câu "nước sông công lính" hoặc "cuốc xẻng từ dưới phát lên, đường sữa từ trên phát xuống" vậy.

Đại đội dự định ngày 29 tết sẽ thịt lợn gói bánh chưng và nấu trong đêm để ngày 30 tết phát cho lính.

Các tiểu đội cũng sẽ nhổ rau, thịt gà kết hợp vào ngày 30 tết để buổi tối có bữa liên hoan, rồi lửa trại văn nghệ.

Ngày mồng 1 tết sẽ liên hoan bữa nữa và giao lưu chơi bời qua các trung đội.

Sau ngày đó thì sẵn sàng chờ nhiệm vụ mới, không cần bàn đến nữa.

Lính tráng chẳng ai nói trước được tương lai, số phận của mình.

Sáng ngày 29 Tết, các tiểu đội cử người xuống giúp anh nuôi, làm thịt lợn, ngâm gạo, đãi đỗ và rửa lá dong chuẩn bị gói bánh chưng.

Những thằng còn lại thì dọn dẹp lán trại và lau súng.

Đùng một cái, 9 giờ sáng thì có thằng liên lạc tiểu đoàn hớt hải chạy xuống truyền lệnh: Toàn đại đội báo động hành quân di chuyển, ra vị trí tập kết của tiểu đoàn cách đó 10 cây số để lên xe hành quân về miền Nam.

Phải có mặt lúc 2 giờ chiều.

Cả trung đoàn sẽ cùng hành quân với sự hỗ trợ của cả trăm xe ô tô của vận tải đoàn 559.

Từ BCH đại đội đến anh nuôi, tất cả đều nghệt ra, ngơ ngác nhìn nhau.

Thế là hết cả Tết.

Tất cả thừ người ra.

Khó tin, nhưng quân lệnh vẫn là quân lệnh.

Một lệnh mới được đại đội phát ra.

Giải tán ngay tốp gói bánh chưng, dù gạo đã ngâm, lợn đã làm thịt và lá dong đã vớt.

Cả một đống thịt lợn lập tức được rang muối chia về các tiểu đội tự quản lý.

Gạo đỗ đã ngâm rồi không thể cho vào bao, dù nhiều cũng đem đồ xôi hết để ăn trưa và chia ra làm khẩu phần ăn đường cho ngày sau.

Ngoài chuyện quân tư trang và súng đạn, các tiểu đội khẩn trương cho thu hoạch tất cả mọi thứ để chuẩn bị lên đường.

Chúng tôi có hai tiếng đồng hồ để chuẩn bị.

11 giờ trưa phải ăn cơm để 11giờ 30 xuất phát, kịp hành quân 10 cây số, đảm bảo đúng 2 giờ chiều có mặt tại vị trí tập kết của tiểu đoàn.

Tất cả vắt chân lên cổ.

Tiểu đội tôi, trừ thằng đang giúp anh nuôi, còn lại tất cả chuẩn bị đồ đoàn rồi chia nhau ra vườn nhổ hết rau đem về tự luộc làm một bữa chén đẫy, còn lại buộc đem theo hành quân.

Ba con gà nhép cũng làm thịt luôn.

May mà chưa ai kịp ra bản dân đổi rượu.

Vì mọi thứ từ xôi đến rau, thịt rất nhiều không thể nào mang hết, vả lại cũng không để được lâu, nên các tiểu đội đều ra sức chén.

Ăn thật lực, mọi thứ rất nhiều nhưng phải ăn khẩn trương, không khí trầm lắng.

11 giờ 30, chúng tôi chất mọi thứ lên vai ra sân đại đội.

Các A khác cũng vậy.

Chúng tôi nhìn lán trại, nhìn những cành hoa và những thứ mình bỏ sức trang trí đón Tết mà tiếc nuối.

Có tiểu đội bức xúc còn đập bỏ lung tung trước khi đi.

Chỉ còn thiếu nước chúng tôi đốt bỏ hậu cứ như những kẻ lục lâm.

Đến giờ, chúng tôi lầm lũi lên đường.

Sau hai giờ rưỡi hành quân, chúng tôi đến vị trí tập kết của tiểu đoàn.

Chỉ có D bộ là ở gần vị trí này nhất, còn lại các C khác tuy gần hơn C tôi, nhưng cũng phải hành quân dăm bảy cây số.

Tất cả cũng đang lục tục vào vị trí.

Tiểu đoàn tổ chức cho các C kiểm tra quân số, vũ khí... rồi quán triệt nhiệm vụ.

Sau đó là nghỉ tại chỗ chờ xe ô-tô.

Chúng tôi phần bữa trưa ăn no, phần hành quân cũng thấm mệt, lại đang mùa khô nên cứ kềnh ngay cạnh ba lô, nằm nguyên trong đội hình mà tranh thủ ngủ.

5 giờ chiều.

Mãi chả thấy xe ô-tô đâu cả.

Không biết hiệp đồng kiểu gì và phải chờ đến bao giờ.

Thật là "ăn cơm gà gáy, xuất quân nửa ngày".

Bây giờ thì chúng tôi đã nghỉ đủ lại sức và đang trong tâm trạng sốt ruột.

Rồi cũng chẳng phải chờ lâu.

Tiểu đoàn lệnh tập hợp lại, hàng ngũ nghiêm chỉnh.

Tiểu đoàn trưởng Đoàn "vịt" nét mặt tươi cười tuyên bố đây là một cuộc báo động giả để kiểm tra tinh thần sẵn sàng lên đường chiến đấu của tiểu đoàn.

Thủ trưởng khen ngợi tinh thần toàn thể cán bộ chiến sĩ, đảm bảo đủ 100% quân số, không có tụt tạt hay thoái thác nhiệm vụ...Anh em chúng tôi miễn cưỡng vỗ tay, còn mồm cười như...mếu nghe biểu dương.

Cuối cùng là các đại đội giải tán cho anh em ai về nhà đấy nghỉ ngơi, chờ lệnh mới.

Chúng tôi hành quân gấp trở lại hậu cứ La Vang.

Bây giờ là cuối tháng nên cuộc hành quân này của chúng tôi chẳng khác gì cuộc hành quân đêm.

Khỏi phải nói đại đội chúng tôi, từ quan đến lính chán nản và bực bội đến mức nào.

Chúng tôi vừa đi vừa ca thán.

Đến ngay cả CTV Mỵ hiền lành như thế mà bên cạnh chuyện động viên anh em khẩn trương trở lại hậu cứ, cũng phải tuôn ra một lô "đặc sản".

Chúng tôi về đến hậu cứ cũng muộn, tất cả lấy cơm nắm và thịt nguội ra ăn bữa tối, cắt cử gác xong rồi lăn ra ngủ.

Chán chả buồn nói chuyện gì nữa.

Sáng hôm sau, đúng 30 tết.

Chúng tôi dậy sớm.

Đáng lẽ ra giờ này là đang tưng bừng vớt bánh chưng, tổ chức nấu nướng và trang trí đón bữa tất niên.

Thế mà ngủ dậy thì đập vào mắt là cảnh doanh trại tan hoang.

Lại một bữa xôi nguội thịt nguội nữa đang chờ chúng tôi, ăn làm sao cho hết cái thứ ấy để chuyển sang cơm nóng.

Lệnh từ tiểu đoàn xuống, các đơn vị khẩn trương thu xếp lại và tổ chức cho bộ đội đón xuân sao cho thật đàng hoàng và vui vẻ.

Cơ sở vật chất tan tành rồi, còn đâu mà đàng hoàng và vui vẻ.

Thật là

"Bắt phong trần, phải phòng trần,

Cho ăn no mới được phần ăn no..."

Bực và chán cũng chả giải quyết được gì.

Thôi thì cố mà thu gom lại tổ chức ăn Tết, mình tự an ủi mình vậy.

Đại đội khẩn trương cho ngâm lại gạo nếp và đỗ, dùng nước nóng cho nhanh.

Tiểu đoàn phải mổ lợn tiếp và chia gửi xuống cho các đại đội để có thịt tươi gói bánh chưng.

Cũng chỉ có thế thôi và khoản này được ghi nợ để trừ vào thực phẩm cấp thời gian sau này.

Đại đội vận động các tiểu đội còn bao nhiêu rau xanh đem góp chung cho cả đơn vị.

Số rau ấy (có héo một chút) cũng không có nhiều.

Chúng tôi ra vườn rau bòn mót nốt số lá rau bỏ lại hôm qua vì thừa thãi, vặt hết cả những cây rau mới bé bằng ngón tay.

Anh nuôi xin cử người ra gấp ngoài vườn chuối của dân kiếm bắp-bi "bao tử" về làm thêm món nộm hoa chuối.

Các tiểu đội vẫn nấu kẹo lạc.

Vậy là cuối cùng, buổi chiều hôm 30 tết, chúng tôi vẫn có bữa ăn tất niên, có rau, có thịt và một chút rượu, hò hét chúc nhau om sòm.

Tối đêm 30 chi đoàn vẫn tổ chức văn nghệ "cây nhà lá vườn", có chè, có kẹo, thuốc lá.

Mấy cái thùng phuy nấu bánh chưng đêm đó vẫn đỏ lửa.

Ngày mồng một Tết cả đại đội vui chơi tự do.

Không thấy có thủ trưởng cấp trên xuống chúc tết.

Chúng tôi tự chúc tết nhau vậy.

Trong ngày mồng một, chúng tôi vẫn tự lo hai bữa ăn tươm tất.

Tất cả món thịt rang được huy động ra để ăn hết.

Sau tết có ăn muối vừng cũng được.

Có A còn ra bản đổi được gà, nhưng số đó không nhiều.

Chợt có thằng phát hiện ra một điều bất hợp lý.

Tại sao mọi khi có thịt thú rừng ăn mà dịp tết này lại chẳng ai nghĩ đến chuyện đi săn nhỉ.

Phán đoán lung tung, cuối cùng đổ cho chuyện sẵn sàng chiến đấu nên bị cấm trại.

Chiều hôm đó, ai đó nêu sáng kiến, thế là chúng tôi tổ chức làm bánh rán.

Cũng phải khẩn trương vì khoản giã bột tốn rất nhiều công sức.

Nhờ có món bánh này mà không khí vui thêm được một ít.

Chiều ngày mồng một tết, tiểu đoàn tổ chức họp giao ban.

Thế là tối hôm đó chúng tôi biết đơn vị chuẩn bị lên đường về chiến trường miền Nam.

Có lẽ đêm nay là đêm cuối cùng chúng tôi ngủ trên đất bạn Lào, trong cái doanh trại mới làm được chưa đầy 3 tháng, vẫn còn thơm mùi gỗ và tranh tre vì chưa có trận mưa nào.

Đêm đó đại đội vẫn cho chúng tôi nghỉ và chơi.

Mồng hai tết.

Đại đội giao ban, sau đó tập trung toàn đơn vị.

Đại trưởng Chèo trực tiếp phổ biến nhiệm vụ.

Chúng tôi sẽ chuyển địa bàn, về chiến trường B3 Tây nguyên.

Chúng tôi sẽ chiến đấu trong đội hình sư đoàn 320A, thế chân cho một trung đoàn của sư đoàn đó được điều đi nơi khác.

Từ nay chúng tôi không còn thuộc sư đoàn 968 nữa.

Chúng tôi có thời gian chuẩn bị rất dài, đến 4 giờ chiều mới phải hành quân đến nơi tập kết và sẽ di chuyển bằng ô-tô trong đêm.

Vì chúng tôi vừa qua cuộc báo động di chuyển hai ngày trước đó, nên mọi thứ đã sẵn sàng rồi, khâu chuẩn bị không có gì, thừa rất nhiều thời gian.

Chỗ nào cũng túm năm, tụm ba bàn tán.

Vậy là chỉ có E9 chúng tôi đi chiến đấu, còn tụi 19 và 39 vẫn ở lại đất Lào.

Xét về đời lính thì số chúng nó sướng thật.

Đất Lào có hòa bình mà.

Nhưng lúc đó chúng tôi cũng chỉ so sánh tí chút chứ không ganh tỵ, vì chính chúng tôi, trong đó đa phần là lính mới cũng rất đang háo hức chiến đấu.

Lính mới thì tò mò và mơ mộng với chiến công sắp tới, còn lính cũ thì hình như mắc cái bệnh nghề nghiệp mất rồi, lâu không đánh nhau lại thấy ngứa ngáy, dù biết có thể có hy sinh và thương vong.

Nhiều thằng muốn tìm đồng hương bên các E 19 và 39 để chia tay, nhưng chẳng ai biết cụ thể chúng nó đóng quân ở đâu, cách mình bao xa.

Cũng chẳng ai nghĩ đến chuyện tụt tạt ở lại đất Lào.

Thế là đơn vị lên đường đủ quân số một trăm phần trăm.

Còn thời gian dài, chúng tôi chỉ vơ vẩn quanh doanh trại.

Vài tốp mò ra suối ngồi chơi trên những tảng đá, ngắm nhìn vườn rau chỉ còn trơ những luống đất.

Bốn giờ chiều, chúng tôi hành quân.

Nếu như hai ngày trước khi báo động ra đi, có A còn đập phá tí chút, thì lần này chúng tôi lại xếp mọi thứ rất gọn ghẽ, cứ như là mình sẽ trở lại ấy.

Những cành hoa đào, mai, mận vẫn tươi hoa, rực rỡ.

Lính mới quyến luyến ít thôi, nhưng lính cũ thì nhiều tâm trạng.

Chia tay nước bạn không kèn không trống vì chúng tôi không được tiếp xúc dân.

Nhưng dù sao cũng có ít nhiều kỷ niệm rải rác trong các bản dân, nhất là trên Cao nguyên.

Những tên bản Xăm-xi-núc, Phù Đin, Sen Vàng, Na-xịa, La Vang... vẫn còn âm vang trong lòng chúng tôi.

Dù không có mối tình nào, nhưng hình ảnh người con gái Lào trắng trẻo, mặc váy mà trên ngực chỉ có mỗi cái "tùng chiêng", không áo, dáng đi uyển chuyển trên nhà sàn ở bản Phù Đin mới hơn mười tháng trước chợt lại hiện lên trong tôi, len lỏi trong những ý nghĩ mơ màng, chập chờn theo bước chân đều đều trên đường hành quân.

Chúng tôi đi xa dần khỏi hậu cứ La Vang.

Trong hàng quân bỗng thấy lao xao.

Tôi vượt lên bám kịp nhóm anh nuôi.

Ồ, trong đội hình của họ có một con chó nhỏ chỉ bằng bắp chân chạy lăng xăng.

Nếu không có cái dây ở cổ bị anh nuôi Mậu nắm giữ, chắc nó phải vượt lên đầu hàng quân.

Có lẽ con chó còn bé quá, không thể làm thịt được nên nó được sống sót và hội anh nuôi quyết đánh liều đem nó theo hàng quân.

Cũng vui, vì đó là sinh vật sống duy nhất, dấu ấn của chiến trường Lào đi theo chúng tôi.

Đêm đó, chúng tôi lên xe để hành quân.

Những chiếc xe Zin kính cong Liên-xô của Đoàn 559 với những người lính lái xe trẻ măng đón và đưa chúng tôi về chiến trường miền Nam.

Thế là cuộc hành quân trong đời lính trẻ của tôi mới đi hết chặng thứ nhất: Nam Lào.

Phía trước còn rất dài và rất xa.

Những tháng ngày chiến đấu trên chiến trường B3 trong đội hình của sư đoàn 320A và đi cùng nhau cho đến tận cùng chiến thắng.

Rồi những tháng ngày tiểu trừ Fulro trên Cao nguyên miền Trung.

Những người lính xuất phát cùng nhau trong đêm mồng 2 Tết năm 1974 ấy từ Căn cứ La Vang (Saravan) về chiến trường miền Nam đông đúc là thế, mà sau chiến thắng 30/4 chẳng còn lại bao nhiêu.

Tôi trở về đời thường, có gặp lại đồng đội từ thuở khoác áo "Quân tình nguyện Nam Lào" ấy thì đa phần là các anh lính cũ, hơn tuổi mình.

Năm tháng trôi qua, khi gánh nặng "cơm áo gạo tiền" đã lắng xuống thì mới có điều kiện lần mò tìm nhau để thăm hỏi và ôn lại những ngày cùng khoác áo lính.

Trong một ngày cuối đông, tôi đã tìm đến nhà thủ trưởng đại đội cũ và các anh lính đàn anh ở Hà Bắc.

Cuộc hội ngộ tổ chức đơn sơ nhưng đầm ấm.

Lúc ôn chuyện cũ, lần mò theo thời gian từ trận đánh này qua trận đánh khác, đại đội trưởng đã cho tôi xem cuốn nhật ký (nặng tính thời sự của một cán bộ chỉ huy) năm xưa của anh.

Tôi bồi hồi khi đọc một dòng nói về trận Đồng Dù:

"...

2 giờ chiều, xốc lại đơn vị đột phá qua cửa mở đánh vào khu huấn luyện của địch..."

Tôi cứ cầm cuốn nhật ký và nhìn mãi vào dòng chữ ấy.

Ký ức tràn về.

Trong đầu như còn vang tiếng súng nổ, lửa khói mịt mù và những người lính C6 chúng tôi đang ào ạt xông qua bãi mìn, qua đám hàng rào vướng chân mà lao vào cửa mở ở cái căn cứ Đồng Dù ngày 29/4/1975 ấy.

Vậy là một lần nữa, có bằng chứng ghi lại để nói rằng trí nhớ của tôi vẫn đúng, dù đã hơn 34 năm rồi, khi tôi kể lại trận Đồng Dù dưới góc độ người lính mà mình tham gia (tôi đã viết ở đầu topic này-phần một).

Tôi kể lại cho những đồng đội lớn tuổi của tôi nghe chuyện tôi đã viết hồi ức, về chuyện nhiều người thắc mắc về tính chính xác của thời gian trong trận đánh, về chuyện bây giờ sử sách họ tổng kết thế nào.

Tôi kể cả chuyện anh Thịnh D viên phó tiểu đoàn tôi kể lại chuyện đáng Đồng Dù của tiểu đoàn cũng y như trong sách.

Bây giờ chúng tôi đều đã già, nhưng có lẽ do cùng ngồi trên một chuyến tàu "thời gian" nên khi gặp lại nhau, chúng tôi có cảm nhận về nhau vẫn thế, vẫn như những ngày nào, vẫn người trên kẻ dưới, vẫn phân định chỉ huy và lính tráng.

Trong mắt lính cũ, loại như tôi vẫn chỉ là "mầm non".

Đại đội trưởng của tôi ngồi yên không nói gì.

Có lẽ anh cũng không biết phải chia sẻ với tôi thế nào.

Các anh lính khác lao xao mỗi người một ý.

Sau cùng, anh Thắng "cối" bảo tôi:

"Những cái chuyện đó bây giờ không còn quan trọng nữa rồi.

Chú mày viết sao cũng vẫn được, nhưng anh nghĩ có lẽ nói thật quá nhiều khi cũng không hay.

Trong lúc những thằng khác tô vẽ cho trang sử của đơn vị nó oai hùng thì mình lại viết thật, bình thường hóa chiến công và truyền thống của đơn vị mình.

Nếu như trận Đồng Dù ấy, chú mày viết là "đơn vị ta đánh vào dứt điểm từ 10 giờ sáng rồi chờ đón hội quân cùng các mũi khác của sư đoàn trong cắn cứ" thì cũng có chết ai đâu, lại được tiếng cho trung đoàn mình".

Tôi ngồi đần thộn ra một lúc lâu.

Muốn cự nự anh đôi lời mà không nói ra được, đành phải nở nụ cười méo mó.

Nghĩ lại có lẽ ý nghĩ của anh mới là đúng.

Có thể tôi sẽviết tiếp, cũng có thể không viết được nữa.

Nhưng vì những điều mình viết ra đãquá nhiều, kể chuyện đơn vị đã quá nhiều, tôi muốn gửi lời xin lỗi đến các thủtrưởng cũ, đến đồng đội cũ trong Trung đoàn 9B và đồng đội C6 thân yêu năm xưacủa tôi, nếu như những điều tôi viết ra đã làm đồng đội phật lòng và ảnh hưởngđến thanh danh, truyền thống của đơn vị như đã ghi theo sử sách.

---------

Chuyện của lính:

Bạn lính

Anh Nghi hơn tôi một tuổi, cả về tuổi quân và tuổi đời.

Khi tôi vào đơn vị, anh mới vừa được phong Binh nhất, nhưng vẫn là chiến sĩ.

Hiền lành, dễ gần và luôn nhiệt tình giúp đồng đội là điều nhận thấy ở anh chỉ sau ít ngày cùng sinh hoạt.

Tôi thích mon men gần anh, vì anh giữ súng cối cá nhân M79 trong tiểu đội.

Loại súng này lạ hoắc vì ngoài Bắc khi huấn luyện tôi chưa thấy bao giờ.

Anh giải thích, đây là súng phóng lựu của Mỹ, bắn một viên đạn đi gần giống như ta ném một quả lựu đạn, nhưng bay xa và chính xác hơn.

Ôi, thật là lợi hại.

Nhìn những viên đạn to như củ khoai, đầu vàng chóe, tôi thích lắm.

Lân la cạnh anh, rồi có lúc đánh trận, nhất là khi giữ chốt, anh cũng cho tôi bắn thử vài viên.

Anh coi tôi như đứa em nhỏ của mình nên cũng chiều.

Tôi mê lắm, đến nỗi về sau có thời gian tôi cũng xung phong được mang M79 trong tiểu đội.

Ra trận với cơ số 40 viên đạn, thấy mình như mạnh mẽ và tự tin hơn.

Có điều còn lâu tôi mới được như anh Nghi, vì anh bắn giỏi lắm.

Quân ta ít có điều kiện bắn tập bằng đạn thật, nhưng như một cái khiếu hay sao ấy mà chỉ qua các trận đánh với tâm lý khẩn trương, anh vẫn luyện cho mình một khả năng thiện xạ.

Ngồi chốt với anh cũng sướng, mà đánh vận động thì sự chi viện của anh đắc lực lắm.

Nhanh thoăn thoắt và thoắt ẩn thoắt hiện.

Có lẽ vì thể mà anh chẳng bị trúng đạn phản hỏa lực của địch bao giờ.

Một trận đánh chốt cùng anh bên huội Chăm pi đã đưa anh ra khỏi biên chế tiểu đội tôi.

Một quả pháo của địch nện trúng miệng căn hầm chữ A nhỏ bé của hai chúng tôi.

Tuy cùng ngồi khuất trong ngách hầm không ai trúng mảnh, nhưng anh ngồi trong sát vách nên chịu sức dội và bị sức ép nặng hơn.

Tôi chỉ phải lên quân y tiểu đoàn nằm ba hôm, nhưng anh phải đi trạm phẫu Trung đoàn nằm mất một tuần.

Khi về đơn vị, tai nghễnh ngãng, nghe cái gì cũng ù ù cạc cạc, nên anh được chuyển xuống làm anh nuôi.

Anh buồn nhưng phải chấp nhận, vì lính chiến mà nghễnh ngãng thì độ nhanh nhạy kém hẳn, chiến trận sẽ thành gánh nặng.

Anh Nghi hay được đi phối thuộc lẻ cùng trung đội tôi, nên những lúc hành quân hay ở cứ, tôi vẫn gần anh.

Thời kỳ thiếu đói, đôi lúc anh vẫn để dành từ đâu đó cho tôi một mẩu cháy to bằng ngón chân, hay một mẩu sắn nhỏ như con chuột nhắt.

Chỉ thế thôi, nhưng thật ấm lòng.

Chiến tranh kết thúc.

Cuối năm 1975, anh Nghi được ra quân.

*

Bây giờ ngồibuồn lại thấy nhớ anh.

Tháng Bảy mưa Ngâu

Tháng Bảy là tháng nhớ về đồng đội đã hy sinh, dù rằng phần đông đồng đội cùng đơn vị tôi không hy sinh vào tháng bảy.

Chẳng những về thời gian, mà không gian cũng rộng lớn vô cùng.

Chỉ có một ngàn mấy trăm ngày chiến trận thôi, nhưng cùng đơn vị, tôi đã đi qua nhiều chiến trường, nhiều chiến dịch với những vùng đất rộng lớn trải dài hai bên bờ Đông Tây dãy Trường Sơn.

Hầu như chiến dịch nào cũng có hy sinh, trận đánh nào cũng có tổn thất.

Đồng đội tôi ngã xuống và nằm rải rác trên nhiều vùng đất.

Một phần lớn đồng đội tôi hy sinh vẫn nằm lại Nam Lào, chưa được quy tập.

Các đội quy tập liệt sĩ của Thanh Hóa, Nghệ An báo cáo danh sách quy tập nhiều, nhưng chủ yếu là các liệt sĩ hy sinh ở vùng Trung Lào, vùng Cánh đồng Chum.

Chiến trường Nam Lào quá rộng lớn, tác chiến lại chỉ có mỗi sư đoàn 968 nên nghĩa trang nằm rải rác và không nghe nói sau chiến tranh quy tập về đâu.

Một thực tế là vùng đất Atopo còn chồng chéo với tuyến đường vận tải Trường Sơn 559 (với rất nhiều con đường ngang dọc, nhiều binh trạm) nên hiện nay cũng còn nhiều liệt sĩ chưa được quy tập về, dù Nghĩa trang Trường Sơn đã có tới cả vạn ngôi mộ.

Chúng tôi đến thăm những gia đình của liệt sĩ đồng đội mình, biết phần đông vẫn chưa đưa về được nghĩa trang liệt sĩ địa phương, đành an ủi với tâm niệm rằng nơi đâu thì cũng là Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.

Còn có đôi ba trường hợp đưa được về thì câu chuyện lại thật ly kỳ.

Như liệt sĩ Nguyến Khả Nhật (lính cùng đoàn Hà Nội nhập ngũ cùng tôi, vào cùng đại đội) thì gia đình và đồng đội tìm được lại may mắn do gặp được người lính phía bên kia đã bắn anh và tự tay chôn cất anh.

Run rủi thế nào, người lính đó lại định cư ngay tại nơi đó sau chiến tranh, cách mộ anh chỉ vài trăm mét, nên đã giúp được rất nhiều.

Nguyễn Khả Nhật nay đã về yên nghỉ trong nghĩa trang Tây Tựu của Thành phố.

Không tìm đến được tận nơi mộ của đồng đội đơn vị mình, chúng tôi đến nghĩa trang thành phố thắp nén hương chung.

Thế cũng an ủi ít nhiều, vì ở dưới kia, các anh các chị vẫn là đồng đội, vẫn liên lạc được với nhau dễ hơn chúng tôi.

Không biết đúng thật không, nhưng cứ nghĩ thế cho nó an lòng.

Tháng bảy này chưa có mưa ngâu, vì là tháng bảy Tây; nhưng nước mắt của người thân và đồng đội đến nghĩa trang thắp hương cho liệt sĩ thì cũng đủ hợp lại thành mưa ngâu, có điều nó chảy vào trong.

Đồng đội ơi.

Đã mấy chục năm rồi các anh nằm xuống.

Tuổi các anh mãi mãi đôi mươi, còn chúng tôi nay tóc cũng đã bạc gần hết rồi.

Thế mà sao khi về thắp hương cho các anh, chúng tôi lại thấy mình cũng như trẻ lại, chúng mình lại cùng nhau tếu táo như ngày nào.

Dẫu một nămchỉ có một ngày 27 của tháng bảy, nhưng chúng tôi không bao giờ quên các anhđâu, những đồng đội liệt sĩ ơi.

Đến với Điện Biên

Một ngày cuối tháng 4 sau ngày giải phóng Điện Biên 59 năm, tôi mới có dịp đến được với mảnh đất Mường Thanh-Điện Biên Phủ, mảnh đất mà năm xưa đã xảy ra những trận đánh ác liệt và then chốt cuối cùng của bộ đội ta với quân Pháp trước khi miền Bắc được giải phóng.

Mảnh đất Điện Biên cách xa Hà Nội gần 500 cây số, nhưng lại rất thân thiết với gia đình bên ngoại tôi.

Nơi ấy, ngày 28/3/1954 đã diễn ra một trận đánh không cân sức trên cánh đồng Mường Thanh giữa đại đội 78, thuộc tiểu đoàn phòng không 387, đại đoàn 308 với một tiểu đoàn bộ binh lính Âu-Phi.

Cậu ruột tôi, đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ và tất cả đồng đội đang trực chiến trên trận địa hôm ấy đã lần lượt ngã xuống sau nhiều giờ chiến đấu.

Chỉ có duy nhất một người lính bị thương nặng về sau được cứu sống.

Chuyện về trận chiến đấu ấy của đại đội cậu Quỳ tôi đã từng được kể lại và in trong tập truyện "Hàng rào cuối cùng" xuất bản từ năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên.

Ông bà ngoại tôi có 9 người con trưởng thành.

Cậu Nguyễn Viết Quỳ là em kề sát người chị cả là mẹ tôi.

Phải mất tới 40 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tới năm 1994, bằng nhiều nỗ lực bền bỉ, đại gia đình chúng tôi mới tìm được phần mộ liệt sĩ.

Cậu tôi yên nghỉ trong Nghĩa trang Đồi Độc lập, nghĩa trang lớn nhất trong 3 nghĩa trang liệt sĩ ở Điện Biên với 2432 ngôi mộ, trong đó chỉ có 56 ngôi mộ có danh tính.

Suốt từ năm 1994, năm nào đại gia đình bên mẹ tôi cũng tổ chức đoàn lên Điện Biên, đến Nghĩa trang Đồi Độc lập để thắp hương cho cậu tôi và các đồng đội của cậu.

Mẹ, chị và vợ tôi đã lên Điện Biên.

Riêng tôi vì lý do công tác và sức khỏe nên mãi đến năm nay mới cùng Hòa-em ruột tôi- theo các Dì và em họ lên Điện Biên thăm cậu Quỳ.

Mặc dù đã học và đã đọc nhiều về chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng lần đầu tiên được tới tận nơi, tôi vẫn choáng ngợp trước cảnh mênh mông của thung lũng Điện Biên với diện tích vài chục cây số vuông.

Trong ba nghĩa trang liệt sĩ đánh Điện Biên Phủ thì Nghĩa trang Đồi Độc lập là lớn nhất, kể cả về diện tích và số mộ liệt sĩ.

Cây xanh vừa tầm trong nghĩa trang rất nhiều, khiến đứng trong nghĩa trang không có cái cảm giác bỏng rát giữa trưa hè như trong nhiều nghĩa trang lớn miền Trung mà tôi đã từng đến thắp hương cho những đồng đội thuộc thế hệ đánh Mỹ chúng tôi.

Mộ cậu Quỳ tôi nằm ngay đầu dãy thứ ba ngay bên phải cổng vào nghĩa trang.

Tôi nhận ra ngay trên bia mộ tấm ảnh chân dung in trên đá, chụp cậu tôi lúc về phép cuối năm 1953, có lẽ do bố tôi chụp, vì ngày còn thanh niên, hai người đã là bạn thân, học cùng ở một trường cấp Ba hiếm hoi trên miền Bắc lúc bấy giờ.

Tấm ảnh này trên bàn thờ nhà tôi cũng có, vì mẹ tôi tuy là phận gái, nhưng lòng nhớ thương người em tài hoa đã hy sinh cho Tổ Quốc quá lớn nên mẹ tôi đã thờ cả bố tôi và em ruột, mặc dù mẹ tôi vẫn còn hai người em trai nữa.

Tôi thắp hương cho cậu tôi và quỳ xuống bên mộ cậu.

Lần đầu tiên thắp hương trực tiếp cho cậu, mặc dù cố kìm nhưng tôi không thể ngăn được hai dòng nước mắt.

Tôi đã khóc.

Tôi khóc vì lòng tiếc thương của một người cháu đối với một người cậu ruột mà tôi chưa biết mặt vì khi cậu tôi hy sinh, tôi mới có bốn tháng tuổi.

Cậu tôi là một thanh niên tài hoa, năm 1945 học dở tú tài thì bỏ học theo các mạng.

Năm 1946, khi mới 17 tuổi, cậu tôi đã là học viên khóa I của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.

Nước mắt chồng nước mắt.

Tôi còn khóc với nỗi lòng của một người lính đối với một người lính, của một người đồng đội thế hệ sau với thế hệ của cậu tôi.

Tôi là người lính thế hệ chống Mỹ.

Dầu không cầm súng dài tới chín năm như cậu tôi, nhưng trong chiến tranh tôi cũng là một người lính bộ binh, trực tiếp chiến đầu tới vài chục trận trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Tôi nhớ ngày tôi nhập ngũ trong cái năm cả nước tổng động viên ấy, bà ngoại tôi xót thương cháu đã khóc rất nhiều.

Bà dặn tôi một câu khá đặc biệt: " Nếu chỉ huy có bảo xung phong lên lấp lỗ châu mai thì đừng có lên, cháu nhé".

Tôi không biết tại sao bà lại biết rằng lấp lỗ châu mai tức là sẽ hy sinh.

Tôi chỉ biết là bà thương tôi và chắc có nghĩ rằng tôi cũng có thể sẽ hy sinh, không trở về như cậu Quỳ tôi.

Nếu như vậy thì bà ngoại và mẹ tôi sẽ trở thành hai người đàn bà có chung số phận, vì tôi cũng có một chị gái.

Bà tôi và chắc rất nhiều người không biết rằng, người lính khi ra trận sẽ hành động như thế nào.

Bản năng người lính và tình thương đồng đội sẽ làm người lính quên đi bản thân mình trước hiểm nguy.

Rất có thể khi gặp tình huống trong chiến đấu như anh hùng Phan Đình Giót, tôi cũng sẽ quên lời bà dặn mà hành động giống như anh.

Nhưng có thể trong ước vọng của bà ngoại, còn có cả sự phù hộ của cậu tôi dành cho đứa cháu ruột là tôi khi ra trận, nên tôi đã không gặp phải tình huống gian nguy cần có người lấp lỗ châu mai.

Tôi đã trở về sau chiến tranh với mẹ, với bà.

Và hôm nay, tôi có mặt ở đây để thắp hương cho cậu tôi.

Để cảm ơn cả số phận đã trả lại tôi về với mẹ tôi sau chiến tranh nữa.

Tôi cứ chắp tay khấn cậu và nghĩ miên man như thế, mặc cho nước mắt rơi.

Cùng các Dì và các em, tôi còn đi khắp nghĩa trang để thắp hương cho các liệt sĩ Điện Biên.

Thật đau lòng là nơi đây cũng có nhiều phần mộ khuyết danh quá, chẳng khác phần lớn các nghĩa trang chống Mỹ là bao.

Chỉ có một câu chung dành cho các liệt sĩ ghi nơi đài tưởng niệm của các nghĩa trang: " Vinh quang đời đời thuộc về các anh hùng liệt sĩ".

Trong bốn ngày ở Điện Biên, đại gia đình chúng tôi còn đi thắp hương cho các liệt sĩ ở những nghĩa trang khác nữa, nhưng ngày nào cũng đến thắp hương cho phần mộ của cậu tôi và các đồng đội tại nghĩa trang Đồi Độc lập.

Tôi cũng đi thăm di tích hầm Đờ-Cát, thăm đồi A1...

Mỗi nơi, tôi đứng thật lâu, nhìn địa hình, đem chút kinh nghiệm lính trận của mình, đối chiếu với những điều đã ghi trong sách về chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa để hình dung ra những trận đánh dai dẳng và ác liệt của thế hệ cha chú mình với tụi lính thực dân Pháp.

Thật mãn nguyện và hài lòng vì mình đã có một chuyến đi thăm chiến trường xưa đầy ý nghĩa.

Cùng đại giađình trở về Hà Nội, tôi tạm biệt cậu Quỳ và mang theo lời dặn của các Dì.

Sẽlên thăm cậu nhiều hơn và khi sức khỏe các Dì các Cậu của tôi đã yếu thì đám anh em con cháu chúngtôi sẽ tiếp quản đón nhận tình thương và tiếp tục tổ chức những chuyến đi ĐiệnBiên, lên thăm cậu Quỳ.

Chúng cháu không bao giờ quên ơn hy sinh của cậu và cácanh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho độc lập tự do của Tổ quốc./.

Kể chuyện Tây Nguyên

Chuyện kể ở đây không phải là tư liệu nghiên cứu về đồng bào Tây Nguyên.

Chỉ là những hồi ức, những kỷ niệm kể lại cho các bạn.

Các bạn sinh viên Đại học Văn hóa làm luận văn về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt nam chớ có lấy đây làm tài liệu chính thống, người viết không chịu trách nhiệm về điểm luận văn của các bạn đâu nhé.

Đồng bào dân tộc nói chung là khổ và có mặt bằng văn hóa thấp và hạn chế hơn so với người Kinh.

Trong thời kháng chiến thì điều này càng rõ.

Bộ đội chúng tôi đã khổ và thiếu thốn, người dân tộc Tây Nguyên ven dãy Trường Sơn còn khổ hơn.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh bộ đội Trường Sơn một thuở đã phải than là đồng bào ven Trường Sơn nghèo xơ xác quá.

Trẻ con thì trai hay gái đều ở truồng quanh năm.

Khi lớn thì đàn ông ai cũng chỉ có mỗi một cái khố.

Đi qua vùng dân tộc, tôi chưa bao giờ trông thấy một cái khố nào phơi trên dây hay sào tre quanh nhà.

Có lẽ chẳng có ai có được tới hai chiếc khố.

Phụ nữ cũng chẳng hơn nhiều lắm.

Có thể là một thời thanh bình xa xưa nào đó, phụ nữ Tây Nguyên cũng dùng vải thật để may váy áo, nhưng những năm tháng chúng tôi ở Trường Sơn, chỉ toàn thấy họ mặc váy áo được khâu lại từ một thứ vải bao cát.

Trong chiến tranh, quân Mỹ Ngụy lập các căn cứ thường dùng một loại túi vải thưa, sợi to như sợi đan áo, đổ đất vào đó rồi cột lại, chất lên nhau làm công sự, chúng tôi gọi là bao cát.

Loại sợi này có pha ni-lon, rất lâu mới mục nát.

Làm bao đựng đất làm công sự thì tốt, nhưng phải dùng nó để khâu váy áo thì chắc chỉ có đồng bào Tây Nguyên.

Mặc nó chắc rất nóng, và nói thật là nó rất thưa, độ che kín không đủ trăm phần trăm.

Những chiếc váy họ mặc không phủ kín đến đầu gối.

Còn áo thì hơi ngắn, đứng thẳng người không sao, nhưng hơi nghiêng người là hở cả lưng cả bụng.

Phụ nữ Tây Nguyên không mặc đồ lót.

Trộm nghĩ, các ca sĩ ngày nay cố gắng mang trang phục hở đông hở tây khi biểu diễn để "khoe hàng", bất quá cũng chỉ như học lại cái trang phục bất đắc dĩ thời chiến tranh đầy thiếu thốn của phụ nữ Tây Nguyên mà thôi.

Nhưng đố dám bắt chước bỏ cả "nội y" đấy, dù thứ đó của các nàng bây giờ nhiều khi chỉ bằng hai cái lá mít bánh tẻ chập lại.

Người Tây Nguyên có nước da ngăm đen, không hẳn đen nhánh như người châu Phi, cũng không phải da màu như người Nam Mỹ.

Chưa ai đo được da họ dày đến đâu, nhưng chúng tôi cũng chưa bao giờ nghe đến khái niệm đồng bào bị muỗi đốt.

Ngay cả ở những vùng muỗi bay dày như vỏ trấu, đập cánh vù vù như tiếng sáo diều sông Bến Hải, thì đồng bào Tây Nguyên cũng không biết dùng màn.

Tây Nguyên liền dãy Trường Sơn, bộ đội nhà ta không ai thoát khỏi sốt rét, nhưng muỗi A-no-phen lại phải tránh xa đồng bào.

Những con muỗi rừng to như hạt thóc chiêm, vòi dài cả chục ly mà châm lính phát nào là chúng tôi nhảy dựng người lên phát đó, cũng chào thua lớp da người dân tộc.

Ông Dac-Uyn sống lại chỉ cần nghiên cứu đoạn này cũng đủ hoàn thành thuyết Tiến hóa, khỏi cần phải mò ra một đảo hoang nào đó mãi ngoài Thái Bình Dương xa xôi để nghiên cứu lũ bướm đổi màu.

Tư lệnh Trường Sơn đã từng nói, đồng bào dân tộc tắm suốt ngày.

Thực ra thì không hẳn như thế, chính xác là cứ khi nào lội qua sông suối là họ tranh thủ tắm.

Một ngày lội suối bao lần là họ tắm bấy nhiêu lần, bất kể mùa khô hay mùa mưa.

Được cái mùa khô tuy ban đêm lạnh, nhưng ban ngày thường có nắng ấm.

Khi qua suối, người dân tộc thường chọn chỗ nước sâu.

Đàn ông lội qua suối đến giữa dòng thì ngồi thụp xuống rồi cởi khố và đưa tay khua loạn xạ, lục xục một hồi rồi mặc luôn lại chiếc khố vừa giặt đang còn ướt sũng.

Khi lội lên bờ, nhô người đến đâu thì thì họ kỳ cọ đến đấy.

Chỉ cần dăm phút lội suối, khi lên đến bờ thì đã tắm xong.

Phụ nữ cũng gần như thế.

Họ không tụt hết rồi lao xuống suối tắm như mấy cô thanh niên xung phong "giả" trong mấy bộ phim của mấy ông đạo diễn thích câu khách bằng cảnh tươi mát đâu.

Họ cũng lội chìm xuống suối, ngồi ngập đến tận cổ rồi có làm gì thì làm.

Có khuơ khoáng loạn xạ thì cũng vẫn kín đáo.

Thông thường phụ nữ lội dịch ở đoạn phía dưới theo chiều bước chảy, hoặc nếu cùng khúc suối thì họ thường lội sau.

Cái đó hình như đã thành một nếp, một tập tục rồi, rất có văn hóa.

Chưa bao giờ chúng tôi thấy nam nữ đùa nhau khi tắm suối.

Tất nhiên những điều tôi kể chỉ là sự nhìn theo kiểu trinh sát của lính tráng chúng tôi, chứ làm sao mà ngang nhiên nhòm ngó được.

Bộ đội cơ mà.

Bây giờ, saubao năm chiến tranh, không biết cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên có nhiều thayđổi không, nhưng những điều thuộc về tập tục, chắc không có gì khác.

--------

Chiến trường B3

...

Thế là cái đêm mồng 2 Tết Giáp Dần 1974 ấy, trung đoàn 9B chúng tôi chính thức chia tay chiến trường Nam Lào để chuyển địa bàn về miền Nam chiến đấu.

Chúng tôi đi trong thầm lặng, không được chính thức chia tay cả dân Lào lẫn các bạn bè ở các trung đoàn khác trong cùng sư đoàn 968.

Đối với chúng tôi thì việc về miền Nam là hiển nhiên, dù chưa biết chính xác về đâu, nhưng với dân và các đơn vị bạn thì giữ bí mật vẫn là điều cần thiết.

Cảm giác không hẳng vui, không hẳn buồn.

Có một chút bùi ngùi của lính cũ và niềm háo hức ra trận của mấy đợt tân binh chưa qua chiến trận.

Có một nhà thơ đã viết:

"...

Khi ta ở, đất chỉ là đất ở,

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn..."

Điều ấy hoàn toàn đúng và nó đánh vào đúng tâm trạng của những người lính đang phải từng bước hành quân rời xa vùng đất đã gắn bó với mình biết bao chuyện vui buồn, bao gian nan thử thách trong suốt cả một thời gian dài.

Trung đoàn 9B chỉ tham chiến trên vùng đất Nam Lào, trên cao nguyên Bô Lô Ven có chưa đầy 4 năm trời, nhưng khoảng thời gian ấy trong chiến tranh là dài lắm, bởi có vô vàn đổi thay với cả đơn vị và với từng người lính.

Đơn vị ghi dày thêm chiến công vào trang sử truyền thống, còn trong từng đơn vị thì có nhiều người đã ngã xuống, nhiều người bị thương trở về hậu phương, và những người lính còn trụ lại thì đã thành lính cũ dày dạn.

Có người đầy ắp chiến công và đã trưởng thành lên nắm giữ những cương vị chỉ huy quan trọng, điều mà lúc vào chiến trường không hề nghĩ tới.

Và còn có không ít những người lính quên lời thề số 1, bỏ ngũ tìm về hậu phương tìm cái sống nhưng đa phần là buồn hơn vui.

Tôi còn nghĩ, mảnh đất nơi ta đã sống "... bỗng hóa tâm hồn" bởi nó chứa đựng những kỷ niệm riêng của từng người lính trong thời gian sống ở đó.

Ở đó có tình người và người lính nào có chút lãng mạn hoặc có một mối tình nảy nở thì cái "hóa tâm hồn" ấy lại càng sâu đậm và da diết hơn.

Với riêng tôi cũng vậy.

Những chuyện buồn vui chiến trường ở đây, tôi đã kể ra qua những trang viết trên đây rồi.

Bây giờ lại xao xuyến qua từng bước chân trong hàng quân.

Nhưng có lẽ tất cả những điều đó chỉ âm thầm diễn ra trong tâm tưởng của từng người, còn hàng quân khi đó vẫn đều bước theo mệnh lệnh của các cán bộ đại đội và trung đội.

Chúng tôi hành quân có lẽ chừng độ ba bốn tiếng đồng hồ.

Đủ để thâm mệt trong đêm hành quân.

Đơn vị dừng lại, được lệnh nghỉ chờ đến sáng.

Mùa khô, lại mệt mỏi nên chúng tôi rải nilon hoặc vun chút lá rừng, ngả lưng ngủ ngay tại chỗ dừng chân.

Đội hình của cả một trung đoàn có lẽ lớn lắm và có lẽ cũng quá an toàn nên chẳng có gác sách gì.

Chúng tôi hoàn toàn yên tâm với cánh rừng Trường Sơn chỉ có quân ta này.

Sau Hiệp định Pari tháng 1 năm 1973 thì cả tuyến đường Trường sơn 559 thực sự trở thành tuyến vận tải hậu cần và là hậu phương của lính ta.

Không còn bóng dáng những chiếc máy bay trinh sát OV-10 hai thân trắng toát bay tít trên nền trời cao vè vè suốt ngày rình rập.

Không còn những đợt bom B52 rung chuyển núi rừng không đoán được trước, và ngay cả những tốp phản lực ném bom theo chỉ điểm trực tiếp của OV-10 cũng không còn.

Rừng cây hồi sinh trở lại nhanh chóng qua mùa mưa 1973.

Khung cảnh đêm càng yên tĩnh hơn.

Lính tráng dễ ngủ, qua đợt hành quân mệt càng thêm dễ ngủ.

Trong đêm, có lẽ chỉ thỉnh thoảng còn ánh đèn pin của các cán bộ chỉ huy quan tâm kiểm tra tình hình lính tráng.

Đêm nay, chúng tôi đã đi vào dãy Trường Sơn, nhưng vẫn còn thuộc đất Lào.

Trời sáng, chúng tôi lục đục dậy thu dọn.

Cơm nếp và thức ăn từ hôm trước vẫn còn, anh nuôi chưa phải nấu cơm.

Sau khi xuống suối lấy đủ nước vào bi đông, chúng tôi lên đường.

Chỉ đi chừng khoảng một giờ thôi, nhưng càng đi càng lên cao.

Chỗ chúng tôi dừng chân là một cánh rừng rất rộng.

Mặt đất chỉ có một ít đất nằm xen các khối đá lớn.

Rừng thưa, toàn một loại cây lá nhỏ giống như cây Muồng hay cây Cơm nguội mọc nhiều ở đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội.

Nơi này không cần làm đường, nhưng cũng không thể đào hầm vì toàn đá lớn.

Một dãy xe ô-tô đã đỗ sẵn ở đó, có tới mấy chục chiếc, toàn là xe tải.

Hầu hết là loại xe Zin kính cong, chỉ có rất ít là loại xe Giải phóng trùm bạt kín mít.

Chúng tôi hành quân xe theo đội hình tiểu đoàn.

Xe Giải phóng chở đồ hậu cần của tiểu đoàn, còn lính tráng được xếp lên thùng xe Zin, cứ 24 người một xe.

Quân số của đơn vị chúng tôi lúc này khá sung túc.

Mỗi trung đội có tới 31, 32 người.

Toàn đại đội kể từ chỉ huy tới anh nuôi cũng đến hơn trăm.

Chúng tôi lên thùng xe xếp ba lô xuống dưới rồi ngồi lên trên, thành 4 hàng dọc.

Súng của ai dựa vai người đó.

Tất cả các xe ô tô đều đánh số.

Bọn lính lái xe trẻ măng, có khi còn trẻ hơn tôi.

Mỗi xe một lính lái.

Về sau hỏi chuyện thì biết, hầu hết chúng nó đều mới vào Trường Sơn từ sau Hiệp định Pari.

Thời gian học lái xe chỉ có 3 tháng.

Ngày trước khi máy bay Mỹ còn đánh phá tuyến đường Trường Sơn, hầu như chưa có mấy loại xe Zin kính cong này, mà toàn xe Gát với xe Giải phóng.

Lính lái xe đều phải mặc áo giáp và đội mũ sắt.

Bây giờ tôi thấy bọn lái xe toàn đầu trần và chỉ mặc trên người mỗi chiếc áo lót vải cộc tay.

Cũng phải tốn khá nhiều thời gian để sắp xếp lên xe.

Lại còn phải dìn dìn chạy một lúc lâu mới chuyển thành đội hình hàng dọc và theo thứ tự.

Vì đây không phải là tuyến đường nên những cây số đầu đi rất xóc.

Mới đầu chúng tôi ngồi có vẻ chật, nhưng dằn theo xe một lúc, ép sát vào nhau nên thậm chí duỗi được cả chân.

Lúc đầu đi có vẻ hàng lối vậy thôi, nhưng về sau do xe đã đánh số, không sợ bị lạc nên có những khoảng rừng rộng, có nhiều xe chẳng theo hàng lối mà cứ thế vòng vượt lên nhau, lính tráng lắc lư như những bao tải.

Chạy được khoảng hai giờ, chắc cũng chưa được bao nhiêu thì chúng tôi dồn đội hình, giải lao chừng nửa giờ.

Lúc lên xe, không hiểu sao anh nuôi C tôi để tuột dây buộc con chó.

Thế là con chó con (Mà tôi đã kể từ lúc xuất quân ở Bản La vang, Ca đáp) có lẽ không quen tiếng xe ô tô nên nhảy phốc xuống đất và chạy thẳng vào rừng.

Một anh nuôi nhảy xuống đuổi theo.

Rừng thưa, đường gập gềnh toàn đá, nhưng con chó chạy rất nhanh.

Đuổi đến hơn trăm mét mà không bắt được, đơn vị lại giục vì các xe khác đã xuất phát, anh nuôi đành phải quay lại.

Thế là mất con chó.

Chúng tôi ở xe đi sau nhìn rõ mọi chuyện, thấy con chó khi không còn người đuổi thì lại đứng lại nhìn.

Chúng tôi đi xa dần còn thấy nó đứng trên mỏm đá nhìn theo.

Chắc nó cũng chưa hiểu là nó đã bị bỏ lại giữa rừng.

Xe đi khuất, tự nhiên tôi lại thấy có cảm giác như vừa mất một cái gì.

Con chó ấy liệu có sống được giữa rừng già mênh mông không một bóng người ấy?.

Nếu không bị thú lớn ăn thịt thì chắc nó cũng chết đói chứ không thẻ trở thành chó hoang được, vì nó còn quá bé.

Hôm ấy chúng tôi dừng chân nghỉ sớm.

Vẫn là những cánh rừng già của dãy Trường Sơn.

Bây giờ mà có cho xuống xe đi bộ quay lại thì cũng chẳng thể nhận ra đường chúng tôi vừa đi.

Chúng tôi nghỉ riêng, còn lính lái xe thì cũng nghỉ ngay gần đó theo đội hình xe.

Vì hôm trước được nghỉ ngay từ chiều, nên mới quá nửa đêm chúng tôi được lệnh lên xe hành quân.

Trên xe sẽ lại ngủ tiếp nên chúng tôi cũng chẳng phàn nàn gì.

Chúng tôi chỉ được lệnh đeo sẵn khẩu trang chuẩn bị từ trước và đội mũ tai bèo cho khỏi sương đêm.

Tại sao gần như thời bình, nơi này lại rất xa chiến trường mà chúng tôi vẫn phải đi đêm?

Sau này chúng tôi đoán già đoán non là đơn vị không muốn cho chúng tôi biết rõ đường rừng từ Nam Lào chúng tôi đi sang đây nhập vào đường vân tải Trường Sơn từ chỗ nào.

Chúng tôi tỉnh dậy trên xe khi trời bảnh sáng, cả đoàn xe đang dừng lại trên đường.

Chúng tôi mở mắt nhìn nhau, phì cười vì thằng nào cũng bụi trắng đầy người.

Khẩu trang, nơi có hơi nước thở qua miệng đầy đất.

Một thằng phủi là bụi bay mù mịt tứ tung khắp xe.

Có một vài lính, chủ yếu là cán bộ chỉ huy nhảy xuống đất nhưng chựng người lại ngay.

Trên mặt đường là một lớp đất bột mịn dày đến hai, ba chục phân.

Mỗi bước đi là lộp phộp bụi đến quá nửa ống chân.

Thế là lại phải leo lên xe, kéo thêo bao nhiêu bụi.

Sao lại dừng chân nghỉ giải lao ở cái chỗ giở hơi thế này, ai cũng kêu ca.

Rồi có lệnh ăn sáng ngay trên xe.

Cơm nắm có từ tối hôm trước rồi.

Chúng tôi lên đường.

Bây giờ mới biết đằng nào thì cũng phải nghỉ giải lao trên đường thôi, vì con đường vận tải này là độc đạo, nằm cheo leo trên những núi cao.

Đi đến mấy chục cây số nữa mà con đường vẫn ngập bụi thế.

Các xe ô tô giãn cách nhau khá xa, vậy mà trên con đường vẫn mù mịt bụi, như đốt khói.

Tôi để ý thấy con đường này có được do xẻ núi đất mà thành, mặt đường chẳng có lát một thứ gì hết.

Thế cho nên xe ô tô chạy qua cứ cày đất lên tạo cho lớp bụi ngày càng dày.

Chắc rằng đến mùa mưa thì không thể đi trên con đường này vì mấy chục phân bụi kia đã hóa hết thành bùn.

Tôi đoán rằng con đường này chắc là mới mở, chưa trải qua đạn bom.

Có lẽ thế thật, vì khi đi quang qua một sườn núi bị bạt nào đó, chúng tôi đọc được dòng chữ "Tuổi trẻ kiên cường, mở đường thắng lợi" được khoét chìm vào vách núi đất bên đường.

Mỗi chữ cái có lẽ phải cao độ trên 2 mét và sâu vào đất tới nửa mét, vì đi ở một khúc cong bên quả núi bên cạnh nhìn nó rất rõ.

Thật khâm phục sức, ý chí và nghị lực của những con người thuộc đơn vị Thanh niên Xung phong trên tuyến đường này.

Cũng chẳng phải chờ lâu, chỉ hơn chục cây số tiếp theo, chúng tôi đã gặp được một đơn vị TNXP và cũng được dừng xe.

Có đến bốn chục nữ thanh niên xung phong, chẳng thấy bóng đàn ông nào.

Họ tất nhiên còn trẻ, trạc tuối như chúng tôi.

Chỗ này lớp bụi đường đã bớt nhiều nên thấy dễ chịu hơn.

Thế là hỏi thăm nhau, tìm đồng hương tíu tít.

Rồi lúc chia tay, các cô TNXP đồng loạt hỏi xin chúng tôi cùng một thứ: đó là nước.

Các cô kể: "Đơn vị chúng em đóng quân quản lý cung đường này, nhưng rất thiếu nước.

Có con suối rất to nhưng nằm cách đây tới 30 cây số.

Mồi tuần một lần có xe binh trạm chở chúng em đến suối tắm giặt và lấy nước dùng cho một tuần, nên rất phải dè sẻn.

Các anh cho chúng em nước đi, cố chịu khát vài tiếng là các anh lại đến sông, suối rồi".

Nhìn con đương lộp phộp toàn bụi, mỗi bước chân đi là bụi lùa qua khe hở vào người thế này thì bao nhiêu nước cho đủ.

Chỉ riêng chuyện này thôi đã thấy thương cái sự gian nan vất vả cho phận nữ nhi nơi đèo heo hút gió này rồi.

Lán của các cô cũng chỉ nằm ngay gần đường đây thôi.

Thế là tất cả chúng tôi, bình tông dù còn đầy vơi bao nhiêu nước, nhưng cũng rẽ vào lán trút nước ra cho các cô.

Các cô TNXP đựng nước bằng những cái vỏ bao gạo đồ của Trung Quốc, chôn nửa chìm xuống đất và neo cọc để giữ.

Đám lính lái xe cũng đem nước cho TNXP.

Họ có những chiếc bi đông to đựng tới 5 lít nước, thật đáng nể.

Có lẽ những việc làm như thế này cũng không phải lạ đối với lính lái xe Trường Sơn.

Chúng tôi lạilên đường.

Cuối chiều thì tới nơi dừng chân.

Xe ô tô đỗ lại bên đường để chúngtôi xuống xe và hành quân thêm độ non cây số thì dừng lại.

Đó là một cánh rừnggià có rất nhiều cây Săng lẻ to hàng hai người ôm, nằm sát ngay bên một consông to to.

Chúng tôi được nghỉ lại đây 3 ngày.

Mắc võng hay nằm đất thì tùy, nhưng không phải đào hầm.

Đây cũng chỉ là một cánh rừng do tiền trạm của trung đoàn chọn chứ không phải bãi khách của đường dây 559.

Lâu không hành quân, được đi ô tô cũng sướng, nhưng qua 2 ngày đi xe cũng khá mệt mỏi.

Chiều hôm đó và buổi tối, chúng tôi nghỉ là chính.

Hôm sau là cả một lô việc.

Thoạt đầu là báo động chiến đấu và kiểm nghiệm quân tư trang.

Cái chuyện muôn thuở này tuy đã quen, nhưng quả tình không khoái.

Từ lần kiểm tra trước ở bản La Vang trước khi hành quân đến lần kiểm tra này chỉ chưa đến chục ngày.

Chắc cấp trên vẫn tưởng chúng tôi còn giấu diếm điều gì.

Lính ta thường nói khi đánh nhau mà lấy vàng bạc gì đó thì rất hay đen đủi, dễ bị bom rơi đạn lạc, nên thực tình trận nào chiếm được cứ điểm địch, chúng tôi cũng chỉ nhăm nhăm lấy thứ ăn được chứ không để ý lục lọi thứ khác làm gì.

Lấy những của đó về trước sau gì cũng phải đem nộp cấp trên, vừa mệt người mà còn để lại dấu vết nghi ngờ thì lấy làm gì.

Tôi còn không thích hơn nữa là trong đoàn kiểm tra không phải chỉ có riêng cán bộ đại đội, mà còn có cả mấy ông trợ lý trên tiểu đoàn.

Các ông ấy xăm soi rồi thản nhiên giở cả nhật ký của lính tráng ra xem.

Đã có trường hợp nội dung trong đó bị ghi nhận lại rồi đem ra đánh giá lúc này, lúc nọ.

Chính vì thế mà quyển nhật ký ghi chi tiết của tôi sau khi vào chiến trường chỉ sáu tháng sau đã phải bỏ.

Nhật ký của tôi giờ chỉ còn cuốn sổ nhỏ, mỗi ngày chỉ ghi đôi ba dòng sự kiện là chính.

Sau kiểm tra quân tư trang, chúng tôi về dọn dẹp chỗ trú quân.

Vì dừng lại mấy ngày nên vẫn phải phát quang chỗ ở từng tiểu đội và căng dây đi đêm cho khỏi lạc.

Buổi chiều chúng tôi được nghỉ ngơi tắm giặt.

Con sông cạnh chỗ trú quân là một con sông to.

Bây giờ là mùa khô mà ở chỗ ngang tiểu đội tôi hạ trại, chiều rộng con sông có dòng nước chảy cũng tới cả trăm mét.

Tôi không rõ sông này tên gì.

Nơi này vẫn thuộc đất Lào.

Con đường đầy bụi chúng tôi đi hôm qua vẫn là thuộc nhánh Tây Trường Sơn.

Xuống tắm giặt mới biết con đường đất bụi xe chạy hôm qua bẩn thật.

Quần áo đỏ ngầu.

Nhiều người còn phải giặt cả ba lô vì bụi nhiều quá.

Có một cái hủm sát bờ, nước chảy quẩn trong đó rộng chừng hai chục mét, không sâu lắm và có nhiều bờ đá đẹp nên đa phần lính tráng tắm giặt quanh đó.

Quần áo đem phơi ngay các bụi cây và tảng đá bên bờ.

Rất may là nơi đây cách xa con đường xe, lại có rừng già chắn nên bụi không bay tới đây, không khí rất trong lành.

Giặt quần áo xong, một số lính rủ nhau ra khúc sông rộng bơi cho thích.

Tôi cũng theo tốp khoảng gần chục anh bơi ra sông.

Vùng vẫy một hồi, chúng tôi rủ nhau bơi vượt sông.

Có lẽ lâu ngày không bơi lội, nên ra đến giữa sông, dòng nước chảy mạnh hơn, tôi thấy hơi ngợp.

Còn khoảng hai chục mét nữa tới bờ thì tôi thấy mệt.

Đáng lẽ cứ bơi tiếp sang, nằm nghỉ ngơi, khi nào lại sức thì bơi về, tôi lại quyết định sai lầm, sợ sang đó thì không bơi về được.

Thế là tôi bơi quay lại, trong khi các anh khác vẫn bơi tiếp sang bờ bên kia.

Khi về ngang sông thì tôi thấy mệt hơn, nhất là lại phải chống lại dòng nước chảy mạnh.

Tôi kêu to cầu cứu, nhưng bụng nghĩ chắc phen này mình nằm lại đáy sông rồi.

Các anh trong đơn vị ở cả hai phía bờ đều cách xa tôi, khó mà bơi ra cứu được.

Vừa bơi vừa trôi được thêm một đoạn thì tôi nghe anh Nhạn y tá kêu to.

- Thả lỏng người đi, cứ để trôi theo dòng nước mà vào bờ dần.

Tôi làm theo.

Trôi được mấy chục mét nữa chả thấy ai, tôi lại hoảng.

Tự nhiên lại nghĩ là thôi chết luôn cho xong.

Nhưng muốn chết đuối phải uống no nước.

Tôi chìm đầu xuống há mồm uống một ngụm to.

Nhưng có lẽ do bản năng của người biết bơi nên tôi không nuốt nổi.

Muốn chìm người xuống nhưng chân tay cứ khuơ nên vẫn không chìm.

Một lúc sau nữa thì tôi bình tĩnh hơn, thôi kệ, cứ trôi, bao giờ kiệt sức chắc phải tự uống nước mà chết.

Trôi được vài trăm mét gì đấy thì tới khu vực trú quân của bọn K15.

Cũng có nhiều thằng đang tắm ở đó.

Chỗ này dòng sông mở rộng ra và cạn hơn.

Một thằng chắc phát hiện ra tôi bị trôi từ xa, vớ được một cành cây dài liền lội ra mé nước chìa sẵn.

Đoạn này dòng sông uốn cong về phía đó, tôi trôi lại được gần bờ hơn.

Thế là tôi cố sức vùng vẫy bơi vào và tóm được túm lá đầu cành.

Tôi được mấy đứa kéo và dìu vào bờ.

Nằm được một lúc thì anh em trong đại đội cũng men theo bờ chạy tới.

Mọi người thở phào nhẹ nhõm, cảm ơn lính K15 rối rít rồi đưa tôi về.

Thế là thần chết vẫn bỏ quên tên tôi.

Về tới đơn vị, an toàn rồi anh em trong đơn vị mới chế riễu tôi rồi châm chọc đủ chuyện.

Tôi chỉ ngồi im cười.

Hoàn hồn ngồi nhớ lại chuyện xảy ra mới biết số mình vẫn còn may.

Chết ở đâu không chết, lại chết đuối trên sông này do mình đi tắm và lại tự ý bơi thì thật quả là dở hơi.

Sau cú bơi mệt lử, may mắn tối đó chúng tôi được bồi dưỡng.

Lúc chiều mấy thằng lính Hà Tĩnh trong trung đội tôi mò mẫm ra cánh rừng ven sông.

Vốn nhiều kinh nghiệm đi rừng, chúng nó phát hiện ra dây củ mỡ.

Nếu ở trong rừng sâu chắc đào ốm không ăn thua, nhưng may là dây củ mỡ này lại nằm trên một bờ đất ven sông.

Thế là cả lũ hè nhau đào cả bờ đất đó đẩy xuống sông rồi chui xuống vỡ đất ra tìm củ.

Vớ bở vì củ mỡ này rất to, tới khoảng năm cân.

Anh Dũng B trưởng quyết định tập trung đường để nấu chè.

Thế là buổi tối sinh hoạt B hôm đó, cả trung đội có món chè khoai xì xụp cải thiện.

Cái "bài caống cóng này" là niềm vui của lính.

Tết vừa rồi chúng tôi được phát mỗi ngườiba lạng đường, hầu như vẫn còn nguyên.

Bát chè ngon khiến chúng tôi viễn tưởngvề một cuộc sống tốt đẹp và nhiều lúc rất đầy đủ như bên Lào của vùng đất sắpđến.

Chắc chúng tôi sẽ được sự chăm sóc của những bà má miền Nam hay những O dukích dễ thương.

Không ai nghĩ rằng một chiến trường mới vô cùng khắc nghiệtđang chờ chúng tôi và những hạt đường cát là thứ xa xỉ đừng bao giờ nên mơ tới.*

Ngày hôm sau, cả tiểu đoàn tập trung học chính trị.

Nơi tập trung chỉ là một bãi đất rộng khá bằng phẳng và có nhiều cây to, tựa như một bãi xe.

Cả mấy trăm con người chui vào đây.

Tiểu đoàn có một cái đài Orionton của Hunggari có thêm chức năng phóng thanh nên nghe khá rõ.

Nội dung không dài.

Chủ yếu là một bài ca chính trị về nhiệm vụ đầy vinh quang mà trung đoàn sắp đón nhận.

Sau đó, chúng tôi được nghe những thông tin cần thiết:

Trên mặt trận B3 Tây nguyên hiện nay có sư đoàn 320A đóng quân.

Sư 320A vốn có 3 trung đoàn: 48, 52 và 64.

Do yêu cầu nhiệm vụ, trung đoàn 52 đã được điều đi chiến trường khác.

Sư 320A khuyết một trung đoàn nên Bộ điều trung đoàn 9B thế chân vào đó.

Trung đoàn 9B sẽ tác chiến ở phía Tây Thị xã Pleiku, từ đường 19 kéo lên phía Bắc.

Trong sư 320A, E48 có truyền thống đánh công kiên, là E chủ công của Sư.

E64 có truyền thống đánh vận động và phục kích.

Còn E9 chúng tôi tuy là E chủ công của sư 968, nhưng khi nhập vào đội hình 320A sẽ làm nhiệm vụ chốt giữ và đánh lấn là chính.

Đấy là những thông tin chính và hết sức cần thiết với lính tráng chúng tôi.

Thực tình, tôi chưa hình dung ra cái Thị xã Pleiku với đường 19 là như thế nào.

Qua sách báo và kiến thức cũ, tôi chỉ biết Pleiku là thủ phủ của tỉnh Gialai (và người dân tộc chủ yếu ở đó thì gọi là dân tộc GiaRai), nằm trên trục đường 14 giữa hai tỉnh là Kontum và Daklak.

Tôi cũng biết đi qua Pleiku có con đường 19 chạy từ Bình Định lên và chạy thẳng ra biên giới, xuyên qua sân bay Đức Cơ.

Trên đường 19, đoạn phía Đông có đèo An Khê.

Nơi đây năm 1954, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, bộ đội khu 5 đã phục kích đánh tan Binh đoàn 100 của Pháp.

Phía Bắc Kontum có Thị trấn Đắc Tô-Tân Cảnh, có căn cứ Phượng Hoàng mà năm 1972 ta đã giải phóng.

Còn sân bay Đức Cơ thì sau Hiệp định Pari đã được dùng làm nơi trao trả tù binh.

Khu vực này đã thuộc vùng giải phóng.

Vậy là về miền Nam, chúng tôi vẫn tác chiến trên vùng rừng núi giống như hồi bên Lào.

Lại sống cùng những người dân tộc Tây Nguyên.

Không có những bà má miền Nam đôn hậu và cũng đừng mơ đến những cô du kích chít khăn rằn chèo xuồng trên kênh rạch nữa.

Nhưng có lẽ thế cũng hay, vì sống giữa núi rừng, tự do và tự túc đã trở thành vốn sống đối với chúng tôi.

Sau khi cuộc họp tiểu đoàn giải tán, chúng tôi về và tập trung theo từng đại đội.

Lại một bài xác định trách nhiệm và quyết tâm với nhiệm vụ nữa của chính trị viên.

Sau đó đại đội trưởng đọc quyết định phong quân hàm.

Các cán bộ cấp đại đội đều được phong thiếu úy, nhưng trung đoàn đã công bố riêng từ hôm trước.

Hôm nay chỉ có lính và hạ sĩ quan.

Tất cả các B trưởng được phong thượng sĩ.

Các A trưởng (trong đó có tôi) được phong trung sĩ.

Vậy là một đám mấy thằng như tôi không phải qua nấc hạ sĩ ngày nào.

Còn lại lính tráng dù cũ mới tất tần tật đều được phong binh nhất (nếu chưa được phong từ hồi Tết 1973).

Đọc quyết định phong thế thôi chứ cũng chẳng có quân hàm quân hiệu gì.

Mọi thứ kể cả tiêu chuẩn của quan lẫn lính, trước thế nào nay vẫn vậy.

Điểm lại 6 thằng lính Hà Nội bọn tôi được bổ sung vào C6: Hai thằng mất tích ở Saravan, một thằng bị thương cũng ở đó rồi ra Bắc, nay còn lại 3.

Chỉ có tôi làm A trưởng.

Thằng Thái "pi tơ" (cái thằng có tài hát nhại theo văn công hồi ở Tân Lạc, Hòa Bình ấy) nay ở cùng B với tôi, về đến chỗ ở bên sông thì mò sang bắt tay tôi, chúc mừng "trung sữa".

Cái giọng nó kéo dài, cười cợt.

Rồi nó bảo tôi:

- Nếu sau này còn sống mà về thì học tiếp hay đi công nhân mà sống, chứ ăn đời ở kiếp với quân đội làm quái gì.

Tôi gật đầu:

- Thì tao cũng muốn thế.

Nhưng bây giờ không làm A trưởng cũng không được.

Mà A trưởng đã là cái gì đâu.

Đầu binh, cuối cán ấy mà.

Vất bỏ mẹ chứ sướng gì.

Buổi trưa, tôi nằm võng, nhìn ra dòng sông rộng mênh mang mà chiều qua tôi còn đang chơi vơi ngoài đó, nghĩ đủ thứ chuyện.

Trừ cán bộ đại đội và trung đội là lớp đàn anh lính cũ, còn trong mươi thằng A trưởng thì quá nửa là sàn lứa như tôi.

Lính tráng trong đơn vị phải tới hai phần ba là lính thuộc mấy đợt tân binh bổ sung sau lúc đình chiến ở Lào.

Chiến trường mới lạ nước lạ cái, mình không còn trông chờ vào các anh lính cũ như trước được nữa, mà bây giờ lại là chỗ dựa cho lính mới nhìn vào.

Thế là tự nhiên phải lên gân, tỏ ra cứng rắn.

Lục trí nhớ ôn lại những trận chiến đấu đã tham gia ở Lào mà thấy cứ nao nao trong lòng.

Tôi lại thấy nhớ nhà.

Thư viết về nhà nhiều mà cái tới cái không.

Còn thư nhà thì suốt gần năm trời ngừng chiến, tôi cũng chỉ nhận được có ba lá.

Hôm trước Tết, tôi có viết thư về nhà, nhưng lúc ấy cũng chỉ báo được tin là sắp chuyển về miền Nam.

Bây giờ về miền Nam thật rồi, hòm thư lại thay đổi thì chắc chẳng còn mong nhận được thư nhà nữa.

Buổi chiều, chúng tôi nhận thêm thực phẩm.

Xe ô tô chở đến giao hàng tại vị trí của từng tiểu đoàn.

Lúc đầu chúng tôi tưởng đây là hàng của đường dây 559, về sau mới biết cũng là của trung đoàn chia xuống cho lính.

Khi rời Nam Lào, sư đoàn ưu ái cho E9 khá nhiều thứ.

Ngoài súng đạn đầy đủ thì gạo và thực phẩm cũng khá dồi dào.

Lúc đầu trung đoàn chở tập trung, bây giờ lại đem chia tiếp cho lính.

Chả gì cũng đã bốn ngày hành quân rồi còn gì.

Nói chung ăn uống trên đường đi mấy ngày qua khá sung túc.

Được nghỉ thêm non một ngày nữa chuẩn bị mọi thứ.

Chiều tối chúng tôi hành quân ra đường lớn lên xe ô tô hành quân tiếp.

Lần này toàn đi trong đêm.

Đường không xóc, nhưng tốc độ đi khá chậm.

Chẳng hình dung được là đi bao xa, nhưng mờ sáng thì chúng tôi dừng lại.

Vậy là ngày nghỉ, đêm đi.

Hôm đó, chúng tôi mắc võng nghỉ cả ngày trong rừng.

Nghe cấp trên xì xào, chỗ này cách biên giới Việt-Lào chừng 10 cây số, ngang với tỉnh Kontum bên kia Việt Nam.

Vẫn là ngày nghỉ, đêm đi.

Đêm hôm ấy chúng tôi vượt biên giới vào Việt Nam và đi thêm một đêm nữa.

Cái đêm vượt biên giới vào đất Kontum thật gian nan.

Toàn đường đất xen đá tảng, gập ghềnh.

Phần lớn con đường quanh co và đi xuống dốc là chính.

Đêm tối mịt mùng, xe ô tô chạy đèn gầm chỉ soi được một quầng sáng nhỏ.

Nhiều đoạn nhìn thấy một bên là vách núi, còn bên kia đen sì, không biết vực sâu đến đâu.

Nhưng có lẽ không nhìn thấy lại hay, đỡ sợ.

Cánh lính lái xe tuy trẻ măng nhưng thật can trường.

Ô tô cứ bò bò chầm chậm vậy, nhiều lúc nghiêng ngả quá khiến chúng tôi tưởng như sắp rơi tuột, lăn qua hai bên thành xe, thậm chí là lăn qua nóc cabin mà rơi xuống đất phía trước xe khi nó xuống dốc.

Hai tay cứ lên gân liên tục bíu vào thành xe, cong người uốn éo; vậy mà đêm ấy mấy chục xe vượt tuyến đường mà không có xe nào gặp nạn.

Hai giờ sánghôm sau, sau một chặng đường khá bằng phẳng, chúng tôi đến một vùng đất phẳngrộng mênh mông.

Tất cả xuống xe, đây đã là chặng cuối cùng rồi.

Có tiếng thìthào: "Sân bay Đức Cơ đấy".

Tôi đã xem nhiều truyện trên tạp chí Văn nghệ Quân đội dạo ở Lào, nên có biết chút ít về cái sân bay Đức Cơ này.

Nhiều trận đánh đã xảy ra quanh đây từ thời còn quân Mỹ.

Tôi cũng không hình dung nổi cái sân bay dã chiến này ngày xưa ra sao mà giờ lại hoang tàn như thế này.

Trong đêm tối trăng mờ, mọi thứ nhìn không rõ lắm.

Chỉ có cán bộ được soi đèn pin một cách hạn chế, còn lính tráng thì không được dùng.

Mà thật ra có cho dùng thì đèn của chúng tôi cũng hết pin từ lâu rồi (vì nguồn pin của lính có được đều là chiến lợi phẩm tự túc).

Chỉ có cán bộ cấp C trở lên được cấp pin theo hàng nhu yếu phẩm thôi.

Sân bay chỉ hiện rõ nhất là một vệt đường mờ to mà đoàn xe ô tô của chúng tôi đang đỗ.

Tôi sờ tay xuống đất, một thứ gì cứng chả hiểu đất nện hay đường nhựa.

Hai bên còn nhiều khoảng rộng nữa, nhưng mọc xen đó toàn một thứ cây lúp xúp.

Chắc sân bay bỏ hoang đã lâu, mấy mùa mưa đi qua nên cây cỏ hoang mọc lan tràn như thế.

Bây giờ có lẽ chỉ còn dùng cho trực thăng đỗ được mà thôi.

Chúng tôi lục đục xuống xe, thu dọn ba lô đồ đoàn rồi tập trung thành hàng lối gần đó.

Sau khi kiểm tra đủ mọi thứ lần cuối, chúng tôi được lệnh hành quân.

Đoàn ô tô vận tải 559 chỉ đưa chúng tôi đến đây là chặng cuối rồi chia tay, trở về tuyến đường Trường Sơn.

Anh Điện, C phó đơn vị tôi đi tiền trạm từ gần hai tháng trước ra đón chúng tôi.

Bây giờ tôi mới biết là anh ấy đi tiền trạm miền Nam, chứ khi trước cũng chỉ tưởng anh chuyển đơn vị khác.

Anh Điện đi quanh, ghé sát mặt từng thằng lính, thăm hỏi.

Anh cũng hơi ngỡ ngàng một chút khi biết tin có thêm một số anh lính cũ trong C đủ thâm niên đã ở lại Lào để ra quân.

Khi mọi thứ đã ổn, anh Điện dẫn chúng tôi hành quân về hướng Nam, vòng vèo qua một ngọn đồi và một sườn núi khá cao, tới một khu rừng rậm cách nơi đổ quân chừng 3 cây số thì dừng lại.

Trời vẫn chưa sáng.

Chúng tôi được lệnh tản ra tìm chỗ mắc võng nghỉ nốt đêm.

Tại vị trí dừng chân này, chúng tôi lại được nghỉ bốn hôm.

Thoạt đầu là cùi gạo bổ sung.

Thực chất là quay lại vị trí sân bay Đức Cơ để lấy nốt gạo và thực phẩm mà trung đoàn chia cho các tiểu đoàn, vì từ đây không còn ô tô nữa.

Tất cả là cuốc bộ.

Vị trí C tôi trú quân là một cánh rừng già bên một con suối đá.

Cảnh vật hết sức thơ mộng.

Tôi chưa bao giờ sang Liên Xô, nhưng nhìn cánh rừng này tôi lại thấy nó có nét gì đó giống như bức tranh Mùa thu nước Nga mà tôi đã được chị tôi cho xem khi còn ở nhà.

Rừng già, cây to nhưng mọc thưa, toàn một thứ cây lá nhỏ bằng ba ngón tay.

Lá vàng rụng đầy đất, còn trên cây chỉ lưa thưa chút lá, khiến nắng chiếu xuống làm vàng rực cả cánh rừng.

Lá rụng ra tới sát bờ suối.

Con suối khá rộng, bề ngang chừng gần hai chục mét (mùa khô đấy nhé).

Dòng nước chảy khá mạnh, xen quanh những bờ đá to nhô ngang ra đến giữa lòng suối.

Phía sát bờ suối có một ít cây con mọc lúp xúp.

Bướm bay đầy lèn đá, chao qua chao lại từng đàn.

Không hề có dấu vết bom đạn.

Tôi nghĩ nơi này chắc chưa từng xảy ra chiến sự.

Chiến tranh kéo dài và ác liệt vậy, nhưng núi rừng lại quá rộng nên không phải nơi nào cũng hứng chịu đạn bom.

Đó chính là điều lý thú trong cuộc sống của lính tráng rừng núi chúng tôi.

Gặp những nơi này nhiều khi có cảm giác ở đây chưa từng có dấu chân người, nhất là khi phát hiện những loài cây lạ chỉ có ở những khu rừng nguyên sinh.

Những lúc như thế thấy thật bình yên và cảm giác thêm mến yêu cuộc sống.

Trong lòng như có những khúc nhạc êm dịu trữ tình vang lên.

Buổi sáng nơi đây trời hơi lạnh, nhưng đến trưa nắng to ra suối tắm rất ấm (dù nước vẫn mát lạnh).

Chúng tôi lại được dịp tắm giặt cho sạch bụi đường Trường Sơn.

Anh nuôi đào bếp ngay sát suối lấy nước nấu cơm.

Nước đầu nguồn, lại là suối đá nên trong veo.

Dịch xuống dưới một đoạn có nhiều bờ đá to như cánh phản.

Chỗ này chắc xa địch, an toàn nên đại đội cho lính tráng tha hồ tắm giặt, hò reo.

Đi ngược theo suối lên một đoạn khá xa, lại có một vạt đất ẩm mọc rất nhiều lá lốt.

Trưa đó, anh nuôi hái lá lốt quấn giò hộp rán cho chúng tôi ăn.

Món chả kiểu này từ ngày vào chiến trường đến nay mới được ăn. (Mà ngay cả hồi còn ở nhà, được ăn lúc nào tôi cũng chẳng nhớ, vì làm gì có nhiều thịt mà bày vẽ).

Lạ miệng, lại tiêu chuẩn gạo đầy đủ, bữa ăn thật ngon.

Chỉ có vài thằng kêu món này ăn như có mùi dầu hỏa.

Hôm sau lại có lệnh phải đào hầm.

Chỗ này đóng quân tạm mấy ngày mà vẫn phải đào hầm.

Đại đội giải thích đề phòng bom pháo, nhưng lại chỉ bắt chúng tôi đào hầm bằng.

Lính tráng chúng tôi nghĩ, nếu bon pháo thì mấy cái hầm này tan ngay, ăn thua gì.

Chắc đây chỉ là bắt đào hầm khi trú quân cho thành thói quen, vì đã lâu lắm chúng tôi không đào hầm.

Vì thế nên mấy cái hầm đào chỉ để cho có đào.

Chúng tôi nghỉ và lấy tú-lơ-khơ đánh bài tiến lên là chính.

Một thói quen khác khi đến nơi trú quân mới mà chúng tôi phải làm là đi lùng sục xung quanh, lần này cũng bỏ.

Thế là chúng tôi cứ nghỉ, chơi và thưởng thức cảnh đẹp suối, rừng nơi đó, trong khi các cán bộ đại đội vẫn lên tiểu đoàn họp.

Ngày nghỉ thứ ba, chúng tôi có buổi sinh hoạt đại đội.

Nhiệm vụ phổ biến vẫn chỉ là chung chung, nhưng C phó Điện phổ biến cụ thể một số điểm khác cần chú ý ở chiến trường B3 này.

Ở đây bom pháo nhiều hơn nên khi đến khu làm hậu cứ phải đảm bảo công tác bí mật và đào hầm cẩn thận.

Phải lùng sục và canh gác nhiều hơn vì địch thường tung nhiều tốp thám báo vào sâu trong vùng đóng quân của ta.

Thứ nữa là ở đây địch thường gài nhiều lựu đạn và mìn ở quanh căn cứ của chúng cũng như trên lối đi nên phải chú ý khi hành quân hoặc khi đánh địch.

Điều thứ ba này đáng chú ý hơn vì nó khác hẳn vơi chiến trường Nam Lào.

Bên đó bọn địch lười cài mìn và ít thủ đoạn hơn.

Còn cài lựu đạn thì quả thật tôi chưa phải gỡ lần nào.

Chúng tôi nghỉ thêm một ngày nữa.

Đến đêm thì thu dọn để hành quân.

Đó là một chặng đường khá vất vả so với những ngày hành quân trước.

Chúng tôi phải đem theo cơm nắm cho một ngày trời.

Nước lấy đủ một bi đông, dùng cho hai chặng đường hành quân.

Chặng thứ nhất phải đi trong đêm, vượt qua hai dãy núi rất cao, nghỉ rất nhiều lần.

Nếu không có dặn dò từ trước, chắc chúng tôi đã uống hết bi đông nước trong đêm, dù trời mát.

Mờ sáng mới xuống đến chân dãy núi để nghỉ ngơi và ăn sáng.

Thằng nào chót uống hết nhiều nước ráng chịu vì chỗ này không có sông suối gì.

Mặt trời mọc và nhô dần lên cao, chúng tôi biết mình đang đi về phía Đông.

Nghỉ ngơi chỉ hơn một tiếng đồng hồ lại hành quân tiếp.

Đường đi khá bằng phẳng, qua nhiều cánh rừng đủ loại.

Rừng già có mà rừng cây tái sinh, cây lúp xúp có, và thậm chí cả đồi cỏ tranh cũng có.

Không khác rừng Lào bao nhiêu.

Tới gần trưa thì chúng tôi đến nơi sẽ làm hậu cứ trú quân.

Một cánh rừng già xanh um trên một dốc đồi, cũng không có dấu đạn bom.

Nghe nói đây là rừng Chư Nghé.

Hôm nay làngày 5 tháng 2 năm 1974.

Vậy là từ đêm bắt đầu rời bản La Vang, Ca Đáp bên Làođể lên đường thì cuộc hành quân chuyển chiến trường của chúng tôi kéo dài hết13 ngày.

Tiểu đoàn K18 đóng quân phía Đông căn cứ Chư Nghé.

Đại đội tôi đóng quân trong một khu rừng già khá rộng.

Từ một con đường đất đỏ (sau này tôi biết là đường 10) đi qua một bãi cỏ tranh rộng mọc thưa xen lẫn nhiều cây lúp xúp và rất nhiều ụ mối độ năm trăm mét thì tới bìa rừng.

Vào sâu năm chục mét có một con suối đất nhỏ chảy ngang, chỉ rộng độ hơn mét, nước trong, sâu đến đầu gối.

Qua suối là bắt đầu lên dốc thoai thoải.

Đại đội tôi bắt đầu đóng quân từ đây trở lên.

Khu vực sát suối bố trí bếp anh nuôi.

Suối đất nên phải đào giếng bên cạnh để lấy nước ngấm qua.

C bộ đóng ở lưng chừng dốc, các B khác chia ra hai cánh, còn B tôi nằm phía trên đỉnh dốc, cánh suối tới trăm rưởi mét.

Trừ những lính canh gác, số còn lại chúng tôi được nghỉ hết ngày hôm đó.

Hôm sau bắt đầu phân chia khu vực đóng quân cho các B và tổ chức đào hầm, lùng sục rồi làm nhà.

Mỗi A làm một hầm thùng rộng sâu 1 mét, trên đó làm nhà lợp mái tranh.

Trong lòng hầm làm sạp như doanh trại, đủ chỗ cho cả A nằm, chỗ để ba lô, giá súng và một khoảng rộng ở giữa để có thể đốt lửa.

Hai phía đầu nhà đào hai cái hầm chữ A to, có ngách phụ để vừa có thể tránh bom pháo, vừa có thể tác chiến.

Phía trước nhà mỗi A đều phải phát bãi làm sân.

Đường đi đến các A và các B cũng phải phát thành lối.

Nói tóm lại là cũng không khác mấy so với làm hậu cứ bên bản La Vang ở Lào.

Chỉ khác mỗi đoạn bây giờ lại phải đào hầm chữ A và vị trí các nhà đều phải nằm kín dưới các tán cây rậm.

Vùng rừng này may là đất đen (không phải đất đỏ) nên dễ đào.

Rừng già, cây mọc rậm và dày nên gỗ làm hầm và làm nhà rất sẵn, kiếm ngay tại chỗ, to nhỏ gì cũng có.

Chỉ cần chú ý chặt cây thưa ra mỗi nơi một ít để tránh bị héo lá quang cả một góc rừng, gây chú ý cho máy bay trinh sát của địch.

Riêng cỏ tranh lợp mái, chúng tôi phải thông qua các đợt lùng sục và tìm bãi cỏ tranh để cắt.

Hầu như phải đi xa tới hàng cây số mới có bãi cỏ tranh rộng, còn bòn mót ở những vạt nhỏ gần khu rừng này thì chỉ cắt được từng gánh.

Gần sát vị trí đóng quân của B tôi có một con đường mòn, nhưng chắc rất ít khi có người qua.

Chúng tôi đi lùng sục, thấy một nhánh đường đi sâu và rừng rồi nhạt dần.

Ở đó có rất nhiều vết hố đào củ mài của dân.

Nhánh kia đi khoảng nửa cây số, thấy nương rẫy của người dân tộc.

Nương nhỏ hơn rất nhiều so với nương rẫy bên Lào.

Sau hai ngày lùng sục, chúng tôi xác định được khu rừng mà đại đội tôi làm hậu cứ rộng khoảng non một cây số vuông, áp sát một khúc cong của đường 10.

Một lần lùng sục rộng, chúng tôi vượt qua rẫy của đồng bào thì gặp một bản nhỏ, chỉ chục nóc nhà.

Rìa bản có mấy cây mít, chứng tỏ bản này đã trụ lại ở đây khá lâu, nhưng không có tên trên bản đồ (

Sau này chúng tôi biết, vùng Gia Lai này có rất nhiều bản dân kiểu như thế.

Bản nhỏ, dân ít và chắc cũng chỉ định cư được hơn chục năm.

Các bản lớn hơn, trù phú và có tên trên bản đồ thì thường chỉ còn lại nền nhà và cây cối).

Nhà sàn rất bé, dựng bằng gỗ và tre, mái lợp tranh.

Cả bản ở lộ thiên để khỏi bị ném bom nhầm.

Ngoài mấy cây mít ra thì không còn thứ cây gì khác.

Không có cây gạo truyền thống ở đầu bản.

Trong bản chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ con.

Có một vài người đàn ông có vẻ đứng tuổi nhưng trông cằn cỗi.

Họ ăn mặc rất lôi thôi.

Đàn ông đóng khố còn đàn bà mặc thứ váy bằng một loại vải gì đó trông như vỏ bao cát.

Đa phần để ngực trần.

Trông họ đen đúa và mốc thếch, cả trẻ con cũng vậy.

Họ im lặng nhìn chúng tôi đi qua bản, không tỏ thái độ gì dù chúng tôi có chào.

Về sau chuyện này quen thì cũng chẳng cần phải chào hỏi gì cả, việc ai nấy làm.

Tôi có cảm tưởng trong những cái nhà sàn vách nứa bé tí kia, chẳng thể có một thứ gì đáng giá cho chúng tôi, nếu như dân có bỏ bản chạy giặc.

Vượt qua bản, đi cong vòng theo hướng bên trái bám theo cánh rừng chúng tôi trú quân, có một con đường mòn khá rộng.

Ở đây không thấy đường xe bò nối các bản như bên Lào.

Đến một ngọn đồi có nhiều cây lúp xúp, chúng tôi bắt gặp dấu vết một trận địa chốt của bộ đội ta.

Có nhiều hầm chữ A chia thành 3 cụm cách nhau vài chục mét.

Về sau chúng tôi biết đây là một điểm "kiềng" của một đơn vị thuộc sư 320A lập ra khi chuẩn bị đánh căn cứ Chư Nghé.

Đây cũng là một điểm khác biệt với bên Lào.

Bên Lào, trận địa chốt của chúng tôi có bao nhiêu người thì đào bấy nhiêu hầm, thường chỉ là ba đến năm hầm bố trí hình cánh cung.

Không có kiểu làm "kiềng" bao giờ.

Ở đây phải lập "kiềng" đến cả chục cái hầm, chứng tỏ mức độ đánh nhau có ác liệt hơn.

Đi tiếp vài trăm mét, chúng tôi gặp đường 10 và căn cứ Chư Nghé bỏ hoang.

Rồi chúng tôi vòng theo đường 10 về hậu cứ chứ không phải quay lại theo lối cũ nữa.

Sau này có thời gian, chúng tôi hiểu thêm về căn cứ Chư Nghé này.

Chư Nghé còn có tên là Lệ Minh.

Căn cứ này do một tiểu đoàn lính Biệt động quân biên phòng (VNCH) trấn giữ.

Nó là căn cứ tiền đồn của địch, cách thị xã Pleiku độ chừng hơn hai chục cây số về phía Tây Nam, và nằm ở phía Bắc đường 19.

Từ phía thị xã Pleiku, không biết điểm xuất phát bắt đầu từ đâu, nhưng có hai con đường đất đỏ to gọi là đường 5A và đường 5B chạy từ Đông sang Tây.

Đường 5A nằm phía Bắc, còn đường 5B nằm phía Nam.

Hai con đường này kết thúc ở đường 10, cũng là một con đường ô tô chạy, nền đất.

Căn cứ Chư Nghé chiếm giữ ba quả đồi rộng, dốc thoai thoải nằm bên đường 10.

Còn con đường 10 chạy ngoằn ngoèo đi qua những đâu, tôi không rõ.

Chỉ biết rằng nếu đi theo hướng Bắc sẽ ra vùng giải phóng của ta.

Căn cứ Chư Nghé rất rộng, hàng rào các loại tới 5 lớp.

Trong căn cứ còn có cả một trận địa pháo 105ly với 3 khẩu. (Về sau nghe nói có một nữ bộ đội của ta tên là Thanh, người Thanh Hóa bị thám báo bắt cóc khi ra tắm suối.

Sau cô phải chấp nhận chiêu hồi, làm kế toán pháo binh cho trận địa này.

Cô đã tử nạn khi căn cứ thất thủ).

Hầm trong căn cứ khá kiên cố, có cả rào B40 bao quanh.

Hệ thống giao thông hào chạy khắp căn cứ.

Tháng 9 năm 1973, trung đoàn 48 của Sư 320A đã đánh chiếm toàn bộ căn cứ này, tiêu diệt cả một tiểu đoàn Biệt động quân.

Quân ta kéo pháo 105 vào sát chân hàng rào, bắn thẳng nên mới trị được các hầm kiên cố có lưới B40 bảo vệ của địch.

Tù binh bắt được rất nhiều, trong đó có con gái của Tỉnh trưởng Gia Lai, là người yêu của tay thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn BĐQ trấn giữ căn cứ Chư Nghé này. (Câu chuyện về cô gái này có liên quan khá nhiều đến những người lính C6 chúng tôi, hồi sau sẽ kể).

Thời điểm tháng 2 năm 1974 khi chúng tôi về đây, địch đã bị đẩy lùi xa về phía Pleiku tới hơn chục cây số.

Căn cứ Chư Nghé hoang tàn, không còn mùi khói súng.

Phía ngoài, nơi quân ta đào hầm chuẩn bị nổ súng, cỏ đã mọc đầy.

Trong trận địa chỉ còn những căn hầm nát trên các bãi đất đỏ loang lổ hố pháo và những cây cọc sắt.

Pháo 105 ly, vũ khí và những thứ lấy được, lính ta đã lấy hết.

Bao cát cũng bị rỡ lấy đi rất nhiều.

Chỉ còn lại nhiều nhất là đạn cối cá nhân, băng đạn AR15 hoen rỉ và những mảnh quần áo rách.

Bây giờ quân ta tạo thành một lối đi mới, một đường mòn từ đường 10 xuyên qua căn cứ đi về phía Tây tới bờ sông Pa.

Rải rác trong căn cứ có những bộ xương người.

Từ khi E48 đánh căn cứ này tới nay mới có chưa đầy 5 tháng, mà những xác lính xấu số đã phân hủy gần hết.

Trên mé hầm chỗ khu vực trận địa pháo có một bộ xương mà tôi đoán là của phụ nữ vì ở chỗ vùng kín của bộ xương có tới 5 quả cối cá nhân nằm ở đó.

Chắc lính ta nhét vào khi chủ nhân của nó vừa tử nạn sau trận chiến.

Lúc đầu có việc đi qua căn cứ, chúng tôi hay nghỉ chân ở bãi đất to chỗ sở chỉ huy trong căn cứ để còn có cớ mò mẫm xem xét.

Về sau thì chán và có một cảm giác buồn chán thế nào đó.

Chiến tranh, số phận những con người.

Với những người nằm xuống thì mọi thứ là kết thúc, chẳng còn gì vương vấn.

Còn với chúng tôi, cái gì sẽ chờ đợi?

Những trận đánh và những người lính lại tiếp tục ngã xuống?

Bao giờ thì đến lượt mình?

Chiến tranh còn bao lâu?

Liệu còn trở về, hay tất cả mọi kỷ niệm đều phải gán thêm trạng từ "lần cuối cùng": trận đánh cuối cùng, lá thư cuối cùng, lần gặp nhau cuối cùng...?

Tôi còn qua căn cứ này nhiều lần mà không hiểu sao lần nào cũng thấy nao nao, không gạt ra được cái ý nghĩ buồn buồn ấy.

Đại đội chúng tôi tập trung cả chục ngày để làm hậu cứ.

C bộ và nhóm quản lý, anh nuôi được các B cử người hỗ trợ làm nhà và đào hầm.

Nhà cửa kiểu nửa chìm vì có hầm thùng nhưng khá khang trang và hầm hố rất chắc chắn.

Vẫn đang mùa khô nên mọi thứ đều sạch sẽ, khô ráo.

Giống như những ngày còn chiến sự trên cao nguyên Boloven, ở đây chúng tôi không làm hội trường để ăn chung nữa mà chia cơm về theo tiểu đội.

Cả đại đội vẫn nấu một bếp, nhưng anh nuôi thì đã phân công chuyên trách khi đi lẻ với các B.

Quân đội đúng là một trường học lớn.

Mỗi người một nghề, vào lính bảo nhau làm được tất cả; những chuyện như dựng cột, đục đẽo vì kèo, làm rui mè, hay đánh tranh lợp mái chúng tôi đều tự làm được hết.

Dạo bên Lào, tiểu đoàn lập lò rèn và đã rèn đủ cho tất cả các trung đội trong tiểu đoàn, đơn vị nào cũng có đủ từ dao rựa, liềm, cưa đến các loại đục...

Vì thế chúng tôi dựng nhà về cơ bản cũng không khác ở thôn quê là mấy.

Cái khác là toàn nhà hầm 3 gian, không có chái.

Xen kẽ những ngày này, chúng tôi tiếp tục cùi gạo và đạn cối để chuẩn bị cho tác chiến.

Trung đoàn bộ và các kho vẫn nằm cách xa chúng tôi cả ngày đi đường.

Một loạt các chuyện mới lạ đến với chúng tôi.

Tất nhiên hầu hết mọi chuyện đều là rỉ tai từ cán bộ các cấp mà ra.

Các thủ trưởng trung đoàn E9 được lên họp trên sư đoàn.

Sư đoàn bộ vẫn ở cách xa các đơn vị và cách rất xa địch, giống như bên Lào.

Mà có lẽ nơi nào cũng thế thôi.

Thế cho nên nói chuyện cánh lính trên sư bộ không biết đến mùi thuốc súng là tất nhiên.

Thủ trưởng trung đoàn 9 chỉ lên họp ở sư bộ 320A thôi mà đã nhận thấy sự đói khổ của chiến trường B3 rồi.

Thế là sau khi về trung đoàn, các thủ trưởng E9 quyết định đem món quà duy nhất và độc đáo mà trung đoàn có là quân phục mới, đem tặng cho sư đoàn.

Lúc trước Tết ở bên Lào, chúng tôi đã được sư 968 cấp bổ sung quân tư trang.

Sư 968 vốn là sư bộ binh duy nhất của đường dây 559; E9 lại là trung đoàn duy nhất đi bổ sung cho chiến trường miền Nam nên có phần được ưu đãi.

Sau khi cấp đủ cho lính mà còn dư tới 2000 bộ quần áo.

Các thủ trưởng E9 quyết định không trả lại sư 968 mà đem theo về miền Nam, và bây giờ đem tặng sư 320A vì thấy lính tráng ở đây quần áo quá rách.

Tất nhiên số quần áo này không đủ cấp hết cho các đơn vị của sư 320A, nhưng cũng là một món quà quý.

Ngoài thứ đó ra, chúng tôi chẳng có gì khác lạ.

Còn những thứ như gạo, muối hay súng đạn trong những tháng ngày sắp tới lại phải trông chờ hậu cần của sư 320A cấp.

Chỉ sau khi chúng tôi nhập vào sư 320A được hơn một tuần, cơ số gạo mang theo đi đường đã hết.

Chúng tôi được phổ biến là sẽ hưởng chế độ ăn như của B3.

Gạo rút từ 7 lạng xuống còn 5 lạng một ngày cho mỗi lính.

Đã thấy đói rồi.

Một tháng sau thì lại rút tiếp chỉ còn 4 lạng.

Không những thế, cấp trên thông báo chỉ cấp cho chúng tôi lương thực có 8 tháng trong một năm.

Số còn lại các tiểu đoàn phải tự túc.

Thế là không chỉ đói ngay mà còn nhìn thấy trước cái đói dài dài.

Cán bộ chiến sĩ đều buồn.

Thế là thời huy hoàng đã qua và cái đói sắp tới còn gay go hơn năm 1972 nhiều.

Đã đói, tất nhiên lại hay bàn chuyên ăn.

Chúng tôi ngỡ ngàng nhất là chuyện đơn vị chiến đấu mà còn phải tăng gia tự túc.

Nhưng B3 là thế.

Những câu chuyện về B3 được cán bộ cấp C, D và ngay cả những cán bộ được sư 320A bổ sung cho các đại đội chúng tôi sau đó, truyền miệng đến từng thằng lính chúng tôi.

Tây nguyên B3 là một chiến trường có vị trí lưng lửng ở miền Nam, không như các chiến trường khác.

Chiến trường B4, B5 gần hậu phương miền Bắc, lại không có đất mà tăng gia nên được miền Bắc cung cấp đủ theo chế độ "cơm Bắc, giặc Nam".

Chiến trường B2 tuy xa hậu phương nhưng gần dân và được cung cấp từ đồng bằng Căm-pu-chia nên cũng no đủ.

Con đường vận tải của 559 tuy vào đến được B2, nhưng lại chỉ chạy được ở nhánh Tây Trường Sơn trên đất Lào và Căm-pu-chia.

Đông Trường Sơn bị căn cứ Đăcpet ngoài Kontum án ngữ nên ta không mở được tuyến vận tải Đông Trường Sơn.

Hôm chúng tôi về miền Nam cũng chỉ là theo một con đường nhánh chọc từ tuyến Tây Trường Sơn sang Kontum mà thôi.

Lại thêm một tin nữa là các thủ trưởng B3 coi vùng đất này như Quốc gia riêng, quyết tâm với cấp trên là có thể tự cung tự cấp được, trừ súng đạn, nên lính tráng cũng phải theo.

Thực tế, lính B3 đã có nhiều thời gian đói dài, nhất là năm 1972.

Nhiều lúc những quả chuối xanh luộc cũng được coi là lương thực cấp cho lính.

Sau đợt vây ép Kontum mùa mưa năm 1972 không thành, cả sư 320A phải rút qua biên giới, sang lánh nhờ ở tỉnh Rat-ta-ra-ki-ri bên đất Căm-pu-chia.

Đấy là một tỉnh nghèo ở vùng Đông Bắc Căm-pu-chia, nên lính tráng cũng chẳng kiếm được gì, ngoài bài ca ăn sắn.

Nhưng đấy là sắn của bạn cho ta.

Khi quay về đất B3 là lại đói.

Để cứu đói, một biện pháp được mặt trận B3 đưa ra là: Tất cả các đơn vị, hễ dừng chân ở đâu quá 10 ngày là phải tổ chức phát rẫy trồng sắn.

Dù chỉ phát được mảnh đất ven rừng, cạnh bản cũ, nhỏ cỡ trên trăm mét vuông là trồng sắn được rồi.

Trồng sắn chưa chắc đơn vị mình được ăn, nhưng đơn vị nào cũng trồng như thế thì khi chuyển quân qua lại, đơn vị nào cũng có thể gặp rẫy sắn để ăn.

Lúc đầu hom sắn phải kiếm bên đất Căm-pu-chia gánh về.

Sau này có cây rồi thì cứ thế nhân ra.

Trung đoàn 9 chúng tôi về B3 cũng phải làm như thế.

Chỉ sau khi đứng chân chưa được một tháng đã phải phát rẫy trồng sắn rồi.

Chúng tôi đã làm được khá nhiều cái rẫy như thế.

Có cái rộng cả héc-ta, nhưng nhiều cái chỉ hai ba trăm mét vuông.

Chúng tôi cũng gặp nhiều rẫy sắn nhỏ lẻ như thế, của các đơn vị khác trồng từ rất lâu, đã đến kỳ thu hoạch.

Gặp được rất ngẫu nhiên, bất ngờ vì chẳng có cái bản đồ chỉ dẫn nào cả.

Chỉ tội những cái rẫy như thế, hoặc là ở mãi vùng Đức Cơ, hai là lại áp sát gần vùng thị xã Pleiku (chẳng hiểu sao lại có rẫy tập trung chủ yếu ở đó), nên mấy tháng đầu chúng tôi cũng không kiếm được sắn, phải chịu cảnh lúc nào cũng đói, thèm ăn.

Thời gian làm hậu cứ, có lần tiểu đội tôi đi cắt cỏ tranh gặp một đôi vợ chồng người dân tộc đang làm rẫy.

Rẫy của họ cũng bé teo, xơ xác chẳng có thứ cây gì ra hồn.

Ven rẫy chỉ có độ chừng hơn hai chục gốc gắn.

May mắn gần đó có một bãi cỏ tranh khá rộng.

Chúng tôi hỏi thăm dân qua loa rồi tranh thủ cắt hết tất cả đám cỏ tranh đó để giữ phần vì nơi ấy khá gần hậu cứ chúng tôi.

Được độ vài chục gánh.

Chúng tôi gánh về một ít, hôm sau lại ra gánh tiếp theo khoán mỗi lính đủ một gánh một ngày là được, nên có thời gian để chơi và nghỉ ngơi.

Đêm hôm ấy, không hiểu có thằng lính ở A nào trong C tôi đói quá đã mò ra cái rẫy của cặp vợ chồng nọ.

Thằng này thấy mấy gốc sắn đìu hiu thì cũng không dám nhổ cả gốc, chỉ dám dùng dao găm bới men theo rễ lấy một củ thôi, rồi lấp đất lại.

Vậy mà vợ chồng người dân tộc ấy vẫn biết.

Họ cảnh cáo bằng cách châm lửa đốt hết mấy chục gánh tranh mà chúng tôi để dành, chưa kịp gánh về.

Hôm ấy ra nhìn đám tro còn nguyên hình những gánh tranh trên bãi đất mà não hết cả lòng.

Lúc đầu chưa biết nguyên nhân tại sao mới tìm dân gặng hỏi.

Sau biết chuyện họ phát hiện thấy vết lính ta đào trộm sắn nên cảnh cáo, chúng tôi đành im lặng lủi thủi ra về, đi tìm bãi cỏ tranh khác.

Tây Nguyên B3 là thế.

Lính đói nhưng dân ở đây cũng nghèo, không có nương rẫy màu mỡ và trù phú như Cao nguyên Boloven bên Lào, có đủ thứ để cho lính tráng chúng tôi đến mùa là "chỉ xin một lần rồi lấy mãi - theo phong tục Việt nam(?!)".

Mà quả thật, nhìn cuộc sống người dân nơi đây thấy rằng nếu mình có lấy trộm của họ dù chỉ một chút gì đó thôi thì cũng thật là bất công, tàn nhẫn.

Ở vùng này không có du kích hay bộ đội địa phương.

Dân họ sống trung lập.

Nhưng bản lĩnh của họ cũng không thể xem thường.

Không thấy người dân đi rẫy mang theo súng hay nỏ bao giờ.

Vậy mà họ cũng có nhiều biện pháp mạnh tay để răn đe lính ta làm bậy.

Khi chúng tôi đã đóng quân ở đây lâu rồi, thấy ở nhiều rẫy sắn, người dân còn treo những quả lựu đạn lên những cây sắn to cảnh báo.

Có chỗ, họ còn gài cả lựu đạn theo phương pháp đơn giản và thủ công tại những lối mòn nhỏ đi vào rẫy của họ.

Còn trong bản, tuy chỉ có vài cây mít lưa thưa quả, họ cũng cài lựu đạn cả ở trên cây và dưới gốc.

Chuyện gỡ những quả lựu đạn ấy ra đối với chúng tôi thật đơn giản, nhưng chúng tôi không hành động như thế.

Đơn vị cũng phải quán triệt nhiều lần để lính ta không vi phạm.

Lời thề thứ hai của những người lính cụ Hồ vì thế mà cũng được thực hiện thêm phần nghiêm túc.

Nhưng ngườidân tộc cũng có những cái hay, cái lạ của họ.

Tuy nghèo, nhưng họ cũng có tấmlòng thơm thảo, thương người.

Có lần chỉ hái đâu đó được một ít rau tạp nham đủloại, họ mang đến cho chúng tôi.

Không nỡ nhận, chúng tôi tìm cách từ chối.

Thếlà họ cứ thẳng đường đất, vượt qua vùng chốt của ta, đi về phía địch.

Địch cũngcó điểm chốt, họ không bắn vào dân hiên ngang đi trên đường bao giờ.

Thế là dângặp địch và cho mấy nắm rau đó.

Lính chốt thì bên nào mà chả thiếu thốn.

Cònngười dân thì giải thích chuyện đó hết sức đơn giản: "Bộ đội bên này khôngnhận, thì ta cho bộ đội bên kia thôi.

Chúng nó cũng đói mà (!?)"

Cái thời làm nhà hòa hợp và hòa giải dân tộc, gặp gỡ giao lưu giữa lính tráng hai bên trên những vùng giáp gianh nhờ Hiệp định Pari đã qua lâu rồi.

Trên Cao nguyên B3 không có nhiều vụ lấn chiếm "tràn nhập lãnh thổ" của lính VNCH như vùng dưới đồng bằng.

Chẳng bên nào mạnh vượt trội hơn cả, nên cứ đóng chốt cầm canh.

Phá "nhà hòa hợp" thì thôi, lính ta lại lùi lại làm những cái chốt sâu, bám sát rừng.

Căn cứ Chư Nghé không phải do địch chiếm sau hiệp định Pari 1973.

Nó đã có từ lâu rồi, sau Hiệp định thì địch giữ lại làm căn cứ tiền đồn.

Tháng 9/1973, ta đánh giải phóng căn cứ đó là để phục vụ cho yêu cầu chiến lược, tạo hành lang vận chuyển ven Trường Sơn cho B3.

Sau đợt đó, ta và địch lại lập chốt và đánh giằng co.

Chỉ toàn những trận đánh nhỏ lẻ cấp C trở xuống.

Nhưng trước đó, khi có dịp, quân ta cũng muốn ùng oàng.

Lính cũ B3 kể, sau khi các "nhà hòa hợp" giải tán, một lần vào độ tháng 5 gì đó, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lên Cao nguyên và đi trực thăng đến úy lạo một đơn vị Biệt động quân đóng ngoài sân bay Cù Hanh.

Tin trinh sát ta nắm được liền báo cho Sư đoàn.

Các Cụ nhà ta lâu lâu không có chiến sự cũng thấy ngứa ngáy.

Thế là đơn vị pháo 105ly của sư được lệnh giã cho đơn vị BĐQ đó vài trái, nhân thể hạ sát được Tổng thống đối phương thì tốt.

Lính pháo nhà ta đem bản đồ ra căn, thấy từ chỗ đặt pháo của ta đến cái bãi đất đã căn tọa độ có địch tập trung đó, khoảng cách đúng 18 cây số.

Chưa thể bắn được vì pháo 105ly của ta bắn hết liều, hết tầm cũng chỉ được 17 cây 8.

Thiếu mất hai trăm mét.

Thế là chỉ huy ra lệnh cho lính hò nhau kéo một khẩu pháo vượt suối sang quả đồi bên kia, cách đó đúng 200 mét để đủ tầm phát hỏa.

Khổ nỗi lúc đó đã vào mùa mưa, đường sang quả đồi bên cạnh dù chỉ vượt qua có con suối nhỏ, nhưng dốc và trơn nên không thể dùng xe kéo.

Lính pháo đành hò dô ta kéo bằng tay.

Nhưng lại có một khó khăn khác là mọi lần khi đánh trận, những con voi thép ở xa thì có xe kéo, còn vào gần trận địa thì dùng sức bộ binh.

Cả C mấy chục lính xúm vào mà kéo thì trước sau gì cũng phải tới đích.

Bây giờ chỉ có nhõn lính pháo, mấy tháng trời ăn nghỉ thiếu tập tành nên sức có hạn, khi kéo được pháo lên đỉnh đồi bên kia thì sư đoàn báo Tổng thống Thiệu đã lên trực thăng rời đi từ mấy chục phút trước rồi.

Thế là cha con nhà pháo lại kéo pháo về.

Chỉ được mỗi bữa luyện tập vàng mắt, bở hơi tai.

Khi chúng tôi về B3 thì hầu như là tiếp nhận lại các vị trí cũ của sư 320A đã có từ cả năm trước.

Khu vực này cách xa tầm pháo 105ly của địch, nên tạm yên tâm.

Chỉ còn lo máy bay mà thôi.

Đấy là vùng hậu cứ.

Nhưng cứ xuất phát ra vùng chốt là nằm trong tầm pháo địch.

Ở bên Lào, chỉ khi yểm trợ hành quân hoặc phát hiện vị trí quân ta, chi viện cho căn cứ lúc bị tấn công, hay phản pháo sau khi ta gãi chơi mấy quả DKB, địch mới bắn pháo.

Nói chung chúng bắn pháo có chủ đích.

Ở B3 lúc này, không biết địch mạnh đến đâu, nhưng chúng bắn pháo nhiều và tùy hứng.

Chỗ có chiến sự đã đành, chỗ chẳng có gì nhiều khi cũng bị nã pháo, dù chỉ là vài trái.

Khó chịu nhất khi ra tuyến trước là có khi đang ngủ lúc ban đêm ở một chỗ mình cho là bí mật, chả liên quan đến địa hình địa thế quân sự gì cả, bỗng dưng lại nghe tiếng đề-pa, rồi "rầm" một trái nổ vào ngay gần nơi mình trú quân.

Cha con lính ta nhỏm dậy căng tai đề phòng thì lại nghe nổ tiếp một trái nữa ở mãi tít đâu đó.

Cái kiểu bắn vu vơ không định trước này gây tâm lý rất khó chịu.

Mãi về sau mới biết cái kiểu bắn pháo này gọi là pháo "đĩ", do mấy thằng lính pháo của địch rỗi hơi ngủ với gái rồi cho chúng nó chỉnh tầm lung tung và giật cò súng.

Lính cũ B3 kể bây giờ ít đi nhiều rồi, chứ ngày trước thì đêm nào cũng có.

Mà không chỉ một trái, có khi tới mấy trái cấp tập rồi mới chỉnh lại tầm.

Đã có trường hợp lính trinh sát và cả các bố hậu cần quân ta nằm phía sau bị chết oan kiểu "tên bay đạn lạc" này.

Nằm ở khoảng giữa các con đường 5A và 5B là các con đường mòn mà trung đoàn chúng tôi thường hành quân ra phía trước.

Cách hậu cứ của C tôi chừng hai giờ đi đường là một khu đồi rất lớn trải theo chiều Bắc Nam có cao độ đỉnh là 525 mét.

Gần nơi này có một bản gọi là Lệ Kim.

Không hiểu sao ở vùng này chúng tôi vẫn thấy gọi các làng của người dân tộc là bản, chứ không gọi là buôn như sau này hay gặp ở tỉnh Buôn Ma Thuột.

Một điều lạ khác là nhiều bản ở vùng quanh Pleiku này thường có tên bắt đầu bằng Lệ (như Lệ Minh, Lệ Thanh, Lệ Kim, Lệ Ngọc...).

Về sau thì biết vùng này những năm dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, phu nhân của cố vấn Ngô ĐìnhNhu là Lệ Xuân đã lên đây thâm nhập vùng người dân tộc, tặng quà, làm các công tác xã hội và lấy họ Lệ của mình đặt tên mới cho chữ đầu của hàng loạt bản ở đây.

Mang đặc tính cao nguyên, ở đây có đủ loại rừng cây xen kẽ nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là cây lúp xúp và rừng tái sinh.

Ở rừng tái sinh không thể làm nhà, nhưng làm nơi trú quân tạm hoặc lập chốt, đào hầm thì có gỗ làm hầm rất vừa tầm.

Bản Lệ Kim mang tiếng là bản nhưng cũng chỉ còn là nền đất.

Trên diện tích khá rộng toàn cây cỏ mọc hoang, chả có thứ gì tận dụng được.

Tôi không hình dung được những cái nhà sàn ngày trước ở đây to bé như thế nào vì mọi thứ hoặc đã cháy trụi, hoặc đã được lính ta tận dụng từ trước hết rồi.

Đặc biệt là ở gần bản Lệ Kim còn có một khu rừng cao su rất lớn, chiếm cả một khu đồi.

Ngoài nó ra thì xung quanh vùng Tay Pleiku này không còn khu rừng cao su nào khác nữa.

Khu rừng cao su này chắc đã khai thác được nhiều năm vì cây rất già và to, nhưng có vẻ như đã từ lâu không còn khai thác được nữa, chưa hẳn do chiến tranh, mà có thể do rừng đã quá già cỗi.

Nhiều chỗ chỉ còn toàn gốc cây cháy hoặc chết khô.

Xung quanh đồi rừng cao su là một lạch nước tụ thủy khá to, mọc toàn cây môn thục.

Nước đen bẩn không dùng được, khi cần phải tiếp tế từ rất xa.

Đỉnh đồi khá bằng phẳng và chạy dài theo chiều ngang.

Cả đại đội tôi nhận lệnh đào hầm chốt ở ven đỉnh phía sườn bên này của đồi cao su.

Sau đó chúng tôi đào một loạt giao thông hào và râu tôm phía sườn bên kia đồi, dựa vào các gốc cây cao su già để tiện quan sát.

Mé bên kia về phía địch trơ trụi hơn, tầm quan sát rất xa.

Địch đóng chốt ở quả đồi bên cạnh, nhưng xa tới mức nếu chúng tôi bị lộ thì chúng chỉ có thể bắn ĐK hoặc câu pháo mà thôi.

Những đêm ở đây, chúng tôi được hưởng sự tấn công của một lũ muỗi có thân mình to như những cái kim đan len.

Quần vải Tô Châu (Trung Quốc) dày là thế mà chúng vẫn cắm vòi xuyên qua được.

Loại muỗi này châm phát nào là chúng tôi nhảy dựng người lên phát đó.

Đau đến mức nó chưa kịp hút máu thì mình đã phát hiện ra rồi.

Thành ra tuy không hẳn là đã bị đốt, nhưng đau và khó chịu đến mức không thể ngủ được.

Cả đêm chỉ lo đập muỗi, nên không phải chỉ một thằng gác thức, mà là cả điểm chốt đều thức.

Sáng ra thằng nào thằng nấy bơ phờ vì mất ngủ.

Về sau chúng tôi phải liều nghĩ ra cách căng màn trên mặt đất, cứ 3 thằng một cái màn quay ngang, đêm nằm chui phần nửa trên người vào đó, còn từ thắt lưng trở xuống thì quấn nilon chống muỗi.

Cách này tuy có bí và hạn chế ngọ nguậy, nhưng tỏ ra có hiệu quả.

Rất may là ban ngày nắng lên lũ muỗi bay đi đâu hết, chứ nếu chúng tấn công cả ban ngày thì chúng tôi chắc chết.

Một cái may nữa là khu rừng này khi chưa bị lộ chính xác vị trí chốt của ta thì địch chỉ bắn pháo vu vơ mỗi ngày ít quả, còn ban đêm chúng cũng nghỉ.

Suốt thời gian cả tuần chúng tôi ở đây, địch không lẫn dũi lần nào.

Mà thật ra địa hình ở đây tơ hơ thế này thì nếu có càn như ngày trước, chúng cũng phải có xe tăng mới tấn công được.

Cái sườn đồi thoai thoải trước mặt chốt của chúng tôi quang quẻ tới mức quan sát được từ rất xa nên bên nào tấn công trước thì bên ấy sẽ tổn hại nặng nề trước.

Có lẽ chínhsự quang đãng của rừng cao su mà chúng tôi lập chốt đã tạo nên thế bất ngờ vàđóng vai trò quan trọng trong việc ngụy trang.

Suốt cả tuần chúng tôi ở đâykhông bị pháo địch bắn, cũng không bị địch tấn công.

Ngày nào cũng có pháonhưng nó ùng oàng vào phía sau lưng chúng tôi hoặc tít mãi ở đâu đó.

Đặc biệtmáy bay trinh sát L19 thì ngày nào cũng vè vè trên đầu, nhất là lúc trời nắngto.

Buổi trưa và chiều tối thì nó nghỉ không bay.

Một lần thằng L19 phát hiệnnghi vấn ở một cánh rừng cách đó không xa.

Chúng tôi thấy rõ nó nhào xuống bắnpháo khói.

Nhanh hơn ở Nam Lào chỉ có máy bay T28 vè vè đến ném bom, ở đây làmáy bay phản lực nên nó đến nhanh hơn.

Những chiếc máy bay phản lực cánh bằngsáng lóa từ tít trên cao nhào xuống cắt bom.

Tiếng của nó nghe rin rít ghê rợnhơn T28.

Loại này không giống những chiếc Thần sấm F105 hay Con ma F4 mà tôi đãnhìn thấy ngoài Bắc.

Đầu cánh của nó không nhọn.

Về sau thì chúng tôi biếtchúng là máy bay F5E, cũng là một loại phản lực hiện đại mới trang bị cho bênđịch.

Chúng cũng đến theo tốp hai chiếc một, ném nhiều loạt bom xuống cánh rừngphía xa đó.

Chúng tôi lại được dịp xem phim trực tiếp.

Về sau biết trận bom đócũng chẳng trúng vào đơn vị nào của ta.

....

Hồi ký của bác Trọng đã được tập hợp trong cuốn sách Hồi ức lính
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Kỳ 9: Hồi ký bác tranphu341 - Biên giới Tây Nam


HÀNH QUÂN RA BIÊN GIỚI

Sáng ngày 17/9/1977 sau cuộc họp chi bộ tiểu đoàn bộ, như vậy là tôi được điều động về làm tiểu đội trưởng tiểu đội 7 đại đội 2 ( Bài trước tôi viết nhầm là tiểu đội 10).

Đại đội mà trong chiến dịch HCM được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Tôi nhanh chóng nhận quân tư trang, súng đạn, tăng võng, lương khô.

Mỗi người được phổ biến chỉ mang theo 2 bộ quần áo và tư trang cần thiết còn lại gửi ở Hậu cứ (Vì đi có 15 ngày).

Tôi được cấp 1 khẩu AK với Bao xe 3 băng đạn, 2 quả lựu đạn US của Mỹ, dao găm Liên Xô, bình đựng nước và thắt lưng to bản vv....-những thứ với mình đã quá quen thuộc...

Đúng 21h đoàn xe ZIN của đoàn 33 đến mỗi đại đội dồn lên 3 xe.

Ban chỉ huy đại đội và hậu cần lên 1 xe, 2 xe còn lại là 3 trung đội và 2 tiểu đội Hỏa lực.

Quân số biên chế lúc này khoảng hơn 80 người (hồi đi vào Nam quân số đủ là 115 người).

Có điều trùng lặp là tháng 1/1975 khi đang đóng quân tại Vĩnh Linh – Quảng Trị được lệnh hành quân vào chiến trường (Miền đông Nam Bộ cũng đoàn 33 này hơn 500 xe chở cả sư đoàn hơn 1000 km theo đường Trường Sơn, qua Lào, Campuchia, qua ngã ba Đông Dương xuống chiến trường Tây Ninh.

Hôm nay lại cũng những chiếc xe này chở sư đoàn ra Tây Ninh.

Mỗi người lính ngồi trên xe mang theo mỗi suy nghĩ.

Tất cả là lính 1971 đến 1975.

Lính 75 mới bổ sung vào nên có vẻ mặt bồn chồn riêng.

Còn chúng tôi thì trầm lặng ngắm nhìn xuống đường phố, điện đèn vẫn sáng trưng, phố xá tấp lập đi lại.

Đoàn xe chạy theo đường xa lộ Đại Hàn rồi bắt vào đường 1A hướng lên Tây Ninh ,nhà cửa thưa dần, qua Trảng Bàng khoảng 10km cả đoàn xe dừng lại nghỉ để xốc lại đội hình.

Anh em ùa xuống giải lao, đường vắng không người , hai bên là cánh đồng lúa đã chín, không hàng quán, gió thổi hun hút, tôi ngả người nằm xuống nền đường nhựa ngửa mặt nhìn trời mà rít thuốc chưa biết thực hư nhiệm vụ mới ra sao

Khoảng 24h đoàn xe lại tiếp tục lên đường nhưng không bật đèn pha để giữ bí mật, trên xe mọi người tĩnh lặng, tâm trạng thật nặng nề.

Xe chạy tời Gò Dầu gặp những đoàn người, đoàn xe trâu của dân K di tản chạy sang Việt Nam với nét mặt hoảng loạn họ đi nép vào bên đường .Sau được thông báo dân K sang được mấy ngàn người.

Ta tổ chức cho định cư ở Bến Sắn-Tây Ninh rất may cũng chính những người dân này là quần chúng lập lên mặt trân giải phóng Campuchia do ông Henxonrin làm chủ tịch.

Đoànxe tiếp tục đi qua cầu Gò Dầu Hạ, Gò Dầu Thượng rồi về các vị trí tác chiến củatừng đơn vị.

Đại đội tôi được đưa lên thẳng cửa khẩu Mộc Bài.

Lệnh xuống xetrung đội tôi men theo đường 1 lên chốt ngay tại khu vực đồn Biên phòng.

BọnPốt đã ngăn không cho dân di tản sang nữa.

Các nhà ven đường đóng cửa im lìm,không có đèn, không tiếng gà, tiếng chó.

Vì đã sơ tán vào bên trong khi tìnhhình căng thẳng.

Vì vậy nơi đây lặng im một cách đáng sợ.

Cửa khẩu nơi Biêngiới im ắng 1 cách đáng sợ.

Xa xa bên kia cửa khẩu lờ mờ là cột tháp bằng nhữngthanh thép cao khoảng 20 mét biểu tượng của văn hóa đất nước Angco.

Xa nữa lànhững cây thốt nốt trong bóng đêm cao to thô cứng gần giống như những cây cọ.Anh em biên phòng thấy chúng tôi lên vô cùng mừng rỡ hướng dẫn luôn về tìnhhình địch và địa hình, bố phòng..Trongtôi bỗng trào lên cảm giác mới lạ.

Biên giới là đây ư ?

Tại sao có cuộc chiếntranh này ?

Thoáng qua rồi cũng bắt đầu cùng trung đội tiểu đội củng cố hầmhào.

Lúc này đã là 2h sáng ngày 28/4 phiên gác đầu tiên nơi biên giới.

Những ngày đầu tiên:

Tôi choàng tỉnh dậy thấy ánh sáng chói lòa.

Định thần 1 tý mới nhớ lại được mình đang ở đâu và những gì đang xẩy ra.

Mình ngủ say quá sau ca gác tới 4h, đổi gác mình vào hè nhà trải nilon để nguyên giầy cởi bao xe đạn để cùng bên khẩu AK ,vì quá mêt chìm luôn vào giấc ngủ .Tôi tranh thủ làm vệ sinh cá nhân.

Lác đác thấy bóng 1 vài người dân trở về.

Chỗ tôi ngủ là nhà má Bẩy gia đình má đã chạy về An Thạnh.

Má cùng mấy người con về thu dọn đồ đạc và thu hái rau cỏ ở vườn.

Tôi tranh thủ hỏi thăm chuyên trò làm công tác dân vận rồi quan sát địa hình.

Nhà má ngay sát rìa làng chỗ tôi ngồi gác là sát mép ruộng lúa đã chín .Từ đây nhìn thẳng ra khoảng 800m là dải đất có rất nhiều cây thốt nốt cao thấp là đất Campuchia.

Tôi nghĩ luôn bên đó cao hơn bên mình, về thế quân sự thì bọn lính Pốt có lợi thế về địa hình hơn.

Tình hình chiến sự mấy hôm này chưa thật căng, chưa có tiếng súng, qua đài quan sát thấy bọn Pốt đang tích cực đào hầm hào công sự, mật độ lính Pốt đi lại nhiều, 2 bên đang tăng cường trinh sát nhau.

Ta đã bắt được mấy nhóm trinh sát của Pốt, có 1 thằng là trung đội trưởng, chúng khai thuộc trung đoàn 182 Sư đoàn 3 Quân khu Đông Bắc.

Chúng còn nói Pốt đang đưa F290 thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược từ Niêc Lương xuống hợp với F3 chuẩn bị tiến công vào Bến cầu Tây ninh.

Trướctình hình đó nhiệm vụ chốt giữ của ta được tăng cường cao hơn, tăng cường nhiềuchốt và vọng gác đêm.

Ban ngày thì củng cố hầm hào công sự, đêm thì phiên gáckéo dài hơn mỗi người gác tới 6 tiếng cứ từ 18h tới 24h hoặc từ 24h đến sánggác nhiều thức nhiều lính ta thật mỏi mêt.

Đằng sau khoảng 1km thì cuộc sốngvẫn bình thường sôi động, còn ở đây thì thật căng thẳng.

Trong đơn vị đã cónhững đồng chí tụt tạt về Saigon.

Một buổi sáng đang ngủ có tiếng gọi, mở mắtra đã thấy đồng chí CTV đại đội Nguyên văn Chính và đồng chí chủ nhiêm chínhtrị E Phạm văn Hiệp đứng đợi tôi.

Đồng chí Hiệp thăm hỏi, động viên tôi nói nàolà tổ chức có sai sót nên tôi có những thiệt thòi vv...Và động viên tôi pháthuy tinh thần chiến đấu, ý trí của người Đảng viên trong tình hình nhiệm vụ mớivv...

Tôi cười uể oải vì thông làm sao được nhất là trong lúc thèm ngủ sau 1đêm gác dài.

" Búa tạ đập ruồi"

Nắm được ý đồ của bọn Pốt chuẩn bị dồn quân để tấn công sang Huyện Bến Cầu,làm bàn đap tấn công đánh chiếm Tây Ninh.

Ý định thật ngông cuồng.

Sau chiến thắng của chúng giành lại chính quyền từ tay bọn LonLon Xi Ric, chúng tưởng là sẽ là người " Bất Khả Chiến Bại" .

Thực ra đã từ mấy năm trước chúng đã tỏ thái độ không tốt với mình rồi.

Khi những đoàn xe chở vũ khí Đạn dược từ Bắc vào Nam, qua địa phận đất K do Pốt quản lý chũng vẫn ra chặn xe và lấy cả vũ khí thậm chí cả xe.

Mình phải nhường nhịn vì nghĩ là đàn em và cũng là đánh Mỹ

Trước khi tình hình căng thẳng và ý đồ lấn đất của chúng đã lộ.

Chúng còn xin mình cả đoàn xe vũ khí súng đạn với lý do là để đánh Thái Lan.

Mình đang thừa súng đạn sau chiến tranh nên cũng cho chúng, bàn giao cả đoàn xe chở đầy vũ khí cũng tại cửa khẩu Mộc Bài này.

Nhưng rồi chỉ ít ngày sau chúng lại sử dụng chính vũ khí đó để cướp bóc và xâm lấn ta ( điều này trong chính lịch sử không ai nhắc tới ).Đúng là tội ác ko thể tha thứ.

(Bài trước tôi viết nhầm họp chi bộ D bộ là ngày 17/9 xin sửa lại là ngày27/9/1977)

Trong khi hướng đường 1 còn im ắng.

Thì bọn Pốt cho quân sang chiếm khu vực Cây Me xã Long Khánh F dùng D3 (D3 là đ/v AHLLVT thời CMCN) được tăng cường C14 súng cối 82mm cùng E266 do E phó Lê Tiến Hạt (quê ở Minh Quang Kiến Xương Thái Bình nay đã nghỉ hưu ở Hà Nội với cấp hàm đại tá) chỉ huy sau 3h chiến đấu đã tấn công đánh đuổi E182, F3 QK Đông Bắc của Pốt chạy về bên kia biên giới.

Chiến thắng đầu tiên này là ý nghĩa vô cùng quan trọng mở đầu trang sử hào hùng của E273 và F trên chiến trường BGTN.

Về phía địch, sau khi tháo chạy ở Cây Me Long Khánh, chúng tập trung quân c/b tấn công ta hướng dọc đường 1 và Đông đường, rừng Thốt Nốt giáp sang Long An.

Địa hình nơi đây đất K lồi sang ta như 1 cái "mỏ vẹt" nên 1 số phần tử phản động quốc tế nói bậy là ta đánh chiếm vùng "mỏ vẹt" của K.

Chúng đã dùng các loại súng cối 60mm, 82mm bắn sang đất ta để khiêu khích và thăm dò.

Lúc này ta đã nắm rất chắc địa hình và ý đồ bọn K nên toàn F được lệnh chủ động tiêu diệt Pốt tại đây.

Trinh sát của các cấp tăng cường nắm địch, pháo binh đã chấm xong các toạ độ và chuẩn bị phần tử bắn các M.

Bộ còn tăng cường 1 trạm Trinh sát điện tử có máy ngắm ban đêm.

Chỉ huy các cấp được họp nhận n/v chiến đấu, được phổ biến tình hình Pốt và bố phòng của Pốt dọc đường 1 và pavét1, pavét2 sâu vào là Chi Phu, Chuôi Vồ, Rừng Sở v.v...

Theo phổ biếnthì địch bố phòng rất kiên cố có nhiều hàng rào và chiến hào, ụ chiến đấu nhấtlà các ụ súng trên các cửa sổ nhà sàn nhà cao tầng, đất địch lại cao hơn đất tanên tấn công có nhiều khó khăn. từng A, B, C, D họp bàn liên tục nhận n/v và hạquyết tâm chiến đấu.

Trong đơn vị cũng đã có những tư tưởng ngại ác liệt nênđ/c Hoàng Sỹ Lối d trưởng d2 bị điều về tăng gia phía sau.

Kế hoạch tác chiến như sau.

Đúng giờ G các loại pháo của E55 (E4 F341) gồm 6 khẩu pháo 105 ly ,4 khẩu 85ly nòng dài.4 khẩu130ly của Lữ 24 QĐ, 2 khẩu pháo 175 ly (vua chiến trường của Mỹ) trên xe bắn tự hành của lính Hải quân.

Các trận địa pháo đều đặt ở An Thạch cách Mộc Bài khoảng 5km.

Các loại súng cối 120mm của E đặt ở khu vực trung đoàn bộ đi Tốc xé.

Cối 82ly cấp tiểu đoàn đồng loạt nổ súng bắn phá hoại các mục tiêu thời lượng là 60phút, bắn cấp tốc rồi bắn chế áp vào phía trong.

Trong lúc pháo bắn thì xe tăng T54 và T39 gồm 6 cái tiền nhập sát vào cửa khẩu cùng bộ binh xung phong dọc đường 1 .

Đánh thẳng vào Bavét1, bavét2.

Sau xe tăng là 5 xe chở súng 12ly7 bắn tiêu diệt bộ binh.

Đội hình tấn công cùng xe tăng dọc đường 1 là d1, d9.Pháo 37ly 2 nòng nhanh chóng chiếm trận địa bắn tiêu diệt địch hỗ trợ cho bộ binh.D2 E1 còn ở nông trường Dầu Giây chưa lên kịp.nên L L dự bi là d7,d8 E266.(E270 đang làm n/v ở Hà Tiên Kiên Giang.)

Hướng làng Tiên Thuận, Tốc xé d3 cùng 10 xe bọc thép M113 đánh tạt sườn từ hướng Tây Bắc sang Bavét1.

Giờ G được ấn định là 4h00' ngày 23/10/1977.

Sau khi được nghe phổ biến n/v,các đơn vị nhận thêm súng đạn đảm bảo 3 cơ số và chuẩn bị các loại bộc phá ống đánh hàng rào, bộc phá gói đánh lô cốt.

Trang bị vũ khí thật nặng nề.

Không khíchuẩn bị chiến đấu vô cùng sôi động và cũng thật căng thẳng.

Ở Mộc Bàì và đồnbiên phòng cửa khẩu đông nghịt bộ đội vì ngoài LL chốt giữ của d1 lại còn sởchỉ huy và đài quan sát của các cấp ,các binh chủng, pháo binh, xe tăng v.v ...dây hữu tuyến của các đơn vị từ phía sau tới đồn biên phòng cạnh đường từng búitrông thật khiếp.

Các cấp chỉ huy xuống từng B, từng C động viên tinh thầnchiến đấu của lính rồi kết luận 1 câu là: "Chúng ta dậy cho bọn Pốt một bàihọc".

Hội phụ nữ của xã và huyện Bến Cầu cũng đến uỷ nạo anh em.

Dân gốc ở Mộcbài cũng đến rất đông, tất cả đã về phía sau nhưng với lý do về thăm nhà nêntìm gặp bộ đội chốt giữ cho quà, kẹo, thuốc lá v.v...

Má Bẩy cùng hai người conđến B của tôi mang cả gà và 1 chai rượu nữa cho anh em tôi liên hoan, nhìn línhăn má hân hoan nhưng lại chảy nước mắt nói: "các con đánh Miên, chú ý là chúnghay bắn sẻ lắm (tức là bắn tỉa)".

Tôi cảm ơn má và thoáng nghĩ đến Mẹ mình ởquê, Mẹ cũng độ tuổi má Bẩy, tính Mẹ nhanh nhẹn tháo vát, suốt đời sống vìchồng vì con.

Tôi có 9 anh chị em, chắc các bạn biết thời đó gian khổ thiếuthốn thế nào, để nuôi dậy được cả 9 người con trưởng thành biết bao gian truânvất vả

Ngày 22/10/1977 tất cả mọi chuẩn bị cho trận đánh được hoàn tất.

Tối d1 vẫn canh gác bình thường.Đến 22h bí mất dồn đội hình theo hướng và nhiệm vụ tấn công.

C2 của tôi dịch hẳn lên qua đồn Biên Phòng của ta, bí mật chiếm lĩnh cửa khẩu và đồn biên phòng K.( Chúng đã bỏ vị trí này từ mấy ngày trước).Tiếp đến là C3,C1 bám trục đường để đợi xe tăng phối thuộc.

C4 của d1 đã được xé lẻ tăng cường cho các C gồm 12,7 ly và ĐKZ82.

Còn 4 khẩu cối 82 thì làm làm địa ở đầu Mộc Bài( từ bến cầu đi vào).

Lúc này về khuya đã dịu nóng nhưng cũng không có gió, trời đầy sao.

Vừa căng mắt theo dõi động tĩnh phía trước vừa ngửa mặt nhìn trời đêm, các vì sao, chòm sao, thật quen thuộc, cũng giống như quê mình nhưng ở đây đã là đất Campuchia.Nghĩ ngợi miên màn, thèm thuốc quá giá bây giờ được bắn 1 điếu thì sướng biết bao.

Nghĩ vậy nhưng không ai dám hút sợ lộ, mọi động tác di chuyển hay trao đổi với nhau đều thật khẽ, thật nhẹ.

Là lính già đơn vị đã được huấn luyện kỹ càng bài bản các kỹ thuật cá nhân cũng như các kinh nghiệm chiến đấu, bản lĩnh của người lính chiến BB khác hẳn với các chủng lính khác(

Sau này làm kinh tế các công nhân trẻ làm gì cũng lớ ngớ không có tác phong kỷ luật gì cả tôi vẫn thường nói "" gía như cho 'chúng mày" đi khóa huấn luyện lính BB thì tốt".

Trước giờ G, im ắng, im một cách lạ thường.

Thỉnh thoảng có con chim cú liệng bay kêu "'cú cú " thật rợn người.

Tôi thoáng nghĩ tới mẹ, tới gia đình anh chị em.Mọi người giờ này chắc đã ngủ say, còn tôi- chúng con của mẹ đang căng mắt lại chuẩn bị bước vào trận đánh mới, trận chiến mới mà rất nhiều người không biết.Nghĩ tới Saigon,nơi mình đã đươc sống,công tác,xd chính quyền,lúc được đi biệt phái xuông P7 Q11 làm nhiêm vụ cải tạo công thương.Minh có quen và được cô gái cạnh nhà chung cư Lý thường Kiệt yêu quý.Cô bé còn trẻ mới 16 tuổi có làn da thật trắng,tóc để dài như con gái ngoài Bắc tên Thanh,khi đơn vị lên biên giới đươc về SG 2 ngày mình có đến găp và nói lời chia tay giống như hồi năm 72 mình cũng đã chia tay với người yêu tước khi nhập ngũ ,với suy nghĩ là lính ra trận ko biết bao giờ trở về.

Hình như thế hệ mình rất nhiều người hành động như vậy.

Thanh giờ này ngủ chưa ? nhớ em quá.Sao mình thật khắc kỷ và phũ phàng như vậy...Dằn vặt 1 lúc rồi trở lại thực tế .Chia tay là đúng ,lính trân mà ...đang miên man suy nghĩ thì cán bộ đai đội bò tới hỏi tình hình địch.Lúc này đã hơn 3h sáng, giờ G tới gần.

Tạch - Tạch - Tạch

Ba phát pháo hiệu đỏ bay vút lên trời.

Tiếp đến là tiếng đề pa của 2 khẩu 105ly ùng – ùng - rồi oàng – oàng xé tan sự yên tĩnh của đêm đã gần sáng.

Như ngưng lại một chút để chỉnh toạ độ M điểm bắn rồi đồng loạt các loại pháo cùng đề pa.

Tiếng đề pa của pháo 85 nòng dài đanh gọn, tiếng đề pa pháo 130 ly trầm hơn, còn lưu pháo 105 ly thì ròn đều xen kẽ là tiếng đề pa của pháo 175 trầm như tiếng sấm xạ nhưng âm thanh nan toả khủng khiếp.

Các loại DKZ 75, cối 120 ly cối 82 ly thi nhau tong – tong.

Những chớp lửa ở phía dưới trước rất gần vì từ đây vào Bavét2 khoảng hơn 1000m,có quả trúng ngay mặt đường chớp nổ sáng lòa.Mùi thuốc nổ đã khét lẹt.

Các loại pháo thi nhau cấp tập.

Thời chống Mỹ ,đánh nhiều nhưng cũng chưa bao giờ pháo ta bắn nhiều như lúc này.

Đã không phân biệt được các loại tiếng nổ nữa, giống như mình ngồi trong nhà tôn mà có mưa rào, lúc đầu hat nặng,mưa thưa còn nghe rõ từng hạt mưa rơi đến lúc mưa dầy thì chỉ nghe tiếng vang và tiếng sấm chớp loang loáng.

Đúng là mình đang thừa đạn, chưa biết làm gì nghe nói trong tổng kho Long Bình còn rất nhiều hầm chứa đạn chưa khai thác hết.

Pháo bắn khoảng 60' , điểm nổ đã xa dần vào sâu, đã thấy tiếng xích sắt của xe tăng nghiến xuống đường, quay lại xe tăng đã lù lù phía sau.

Lệnh xung phong, tôi nhổm dậy điểm xạ 2 loạt về phía cái tháp sắt biểu tượng của Ăng Co.

Thấy tóe lửa thoáng nghĩ mấy năm rồi hôm nay mới lại bắn ak nghe ra tay súng và kỹ thuật điểm xạ còn chắc lắm , các loại súng bộ binh đã đều rộ lên.

Tiếng ùng oàng của B40 – B41 và tiếng nổ chát chúa củaDKZ, tiếng tùng – tùng của 12L7 trên xe và của C4 phối thuốc, ùng oàng, khóibụi mù mịt thoáng thấy như chiếc tăng đầu khựng lại nhưng rồi lại thấy nó gầmlên hành tiến tiếp 2 khẩu 37-L loại 2 nòng cũng bắt đầu nhả những điểm xạ 5viên một trước nòng súng mới khiêp làm sao.

Đạn đỏ và các loại đạn vạch đườngchằng chịt trên đầu.

Tất cả các loại súng đã được sử dụng như thị uy,như để lấythêm sức mạnh dũng mãnh xông lên.

Tiếng xung phong vang dội, mọi người lom khomchạy gằn bám sau xe tăng và bám 2 bên đường .

Khổ nhât là mấy bác được phâncông đánh hàng rào là vất vả nhất vì phẩi ôm thỏi thuốc nổ to như ống luồng dai2 mét hoăc khối thuốc vuông to bằng 5 cai bánh chưng có cài cán dài nửa mét đểchống áp vào lô cốt cho dễ đặt bộc phá, kềnh càng nên chạy rất vướng.

Đúng làbản hợp xướng và bức tranh của chiến trận thật hoành tráng chỉ thiếu tiêng gươmkhua,tiếng voi gầm ngựa hí.

Nhưng tiếng thét tiếng súng thời này đanh mạnh hơntiếng ngựa, tiếng voi biết bao lần .

Vừa tiến vừa bắn mặc dù chẳng thấy thằng Pốt nào, cũng chưa phát hiện ra hàng rào hoặc ụ súng lô cốt nào mà cấp trên đã phổ biến.

Quay sang bên phải hướng làng Tiên Thuận, Tóc Xé cũng đã thấy chớp lòa của các loại súng và tiếng xung phong vang tận đây.

Anh em d3 đa phần là dân miền Đông ( Quảng Ninh đất Mỏ).

Họ khỏe mạnh,trong huấn luyện thì cán bộ các cấp thật khó chịu vì tính nghịch ngợm phá phách, chấp hành kỷ luật không nghiêm.Họ ăn cũng thật khỏe, mời họ ăn cơm hay nhậu thì phải lưu ý vì không cẩn thận "vỡ nợ" với họ.

Hồi ở Đông Trường Sơn đường 15A họ được mệnh danh là " cơn lốc đường 15" vì hồi đó đi vào rừng lấy gỗ làm doanh trại, đón ô tô mà không cho đi thì họ cứ chạy nhẩy lên thùng xe cởi áo trùm kính.

Xe phải dừng lại.

Lái xe ức mà không giám làm gì vì nhìn ai cũng to con, bên sườn mỗi người đeo 1 dao găm cán trắng trông thật khiếp( dao Liên Xô hoặc dao tự chế đúc nắm bằng duyara máy bay)

Trong chiến đấu thì lại khác.

Họ mạnh mẽ, mau lẹ và dũng cảm tuyệt vời nên từ thời CMCN trung đoàn và F hay sử dụng d3 là đơn vị chủ công.

Vì những thành tích đặc biệt nên được quốc hội và nhà nước phong tặng danh hiệu tiểu đoàn anh hùng LLVT thời CMCN.

Nhìn sang hướng Đông đường nơi d9 tấn công vào khu rừng thốt nốt, cũngchớp lòa và tiếng xung trận không kém.

Thỉnh thoảng lại thấy tiếng nổ,chớp lòatrên cao chắc đạn DKZ hoặc B40-B41- bắn trúng thân cây thốt nốt ( cũng chỉ mấyngày sau cũng quả đạn DK 82 của Pốt nổ ở trên thân cây,khu vực Bavet2 này mảnhđạn nổ cao mảnh găm hết xuống đất đãcướp đi sinh mạng một đồng đội cùng a tôi.

Bị thương 2 người.Tôi may mắn khôngbị gì)

Tiếp tục hành tiến 300m,500m, rồi 800m tới rìa làng Ba Vét 2 trời sáng hẳn, đã nhìn rõ những căn nhà sàn, nhà xây bên ngoài.

Mọi người thận trọng hơn.

Xe tăng đã xuống cả ruộng lúa 2 bên đường dàn hàng ngang và nhằm bắn những M mà cho là có địch.

Hỏa lực của tăng thật khiếp.

Khẩu 100ly trên xe bắn thẳng.

Mục tiêu gần nên vừa nghe thấy tiếng nổ đầu nòng đã thấy bụi đất phía trước tung lên.

Có căn nhà bùng cháy những mảnh tre gỗ rơi lả tả.

Sau mấy loạt pháo bắn của tăng cả đoàn xe chồm lên lao đi nhanh hơn.

Lính bộ binh chạy theo đứt hơi mà vẫn bám không kịp.

Không thấy hàng rào, ụ súng nào nên đã thấy rải rác bộc phá ống, bộc phá gói vất ở đường rồi thấy cả dàn định hướng và cầu gỗ vượt mương nữa chứ.

Lính ta vất cho nhẹ để chạy theo tăng đánh chiếm vào làng.

Nhưng quái lạ không thấy loạt đạn hay phát súng nào bắn trả của Pốt.

Đội hình xung kích chiếm xong Ba Vét 2 rồi lại tiếp tục xông thẳng sang Ba Vét 1.

Thiết giáp và lính d3 từ Tốc xé Tiên Thuận xong sang cũng đã chiếm Ba Vét 1.

May mà phát hiện ra nhau sớm nên không có trường hợp nào " ta thắng ta".Tiếng súng bộ binh đã ngớt.

Lệnh tiến công ra hướng Chi Phu,Chuồi Vồ và dọc đường 1 gần rừng Sở rồi dừng lại.

Pháo binh phía sau vẫn bắn phá các M trên xa.

Ta chiếm được hết các M.

BaVét 1, Ba Vét 2, rừng thốt nốt, ba hướng đánh đã hội tụ.

Lính ta hoan hỉ tay bắt mặt mừng.

Không ngờ trận đánh lại đơn giản thế.

Không một ai hi sinh, duy nhất có 2 người bị thương do nằm trước xe tăng.

Khi pháo của tăng bắn với áp xuất rất lớn đẩy quả đạn đi còn tạo thành luồng khí mạnh thổi đất đã phía trước nữa.

2 đ/c này bị thương là do đá văng vào.

Mọi người nhận định ngay là thấy ta chuẩn bị rầm rộ tấn công lớn Pốt đãbỏ chạy để tránh đòn.

Hôm sau tại Hội nghị rút kinh nghiệm trận đánh tại F.

ÔngVũ Cao ( sau là Trung tướng cục trưởng cục tác chiến BQP ) nay đã nghỉ hưu sốngở Hà Nội.

Kết luận là chúng ta đã lấy "Búa đập ruồi".

Búa nặng khi vung lên mạnh quá gây động nên khi đập xuống ruồiđã bay đi hết!Và cũng phê phản trinh sát các cấp từ trinh sát d.e.F.qđ.cho đếncả trinh sát của bộ nữa.Đều sai 1 cách nghiêm trọng.Chuyện thật như đùa.Cònphía Pot thầy nói là thương vong vì pháo rất nhiều trong đó có cả thằng F phóF3 nữa.

Sau khi các M tấn công đã hoàn thành với chiến thắng tuyệt đối.

Tới 14h ngày 24/11 lệnh cho đơn vị rút quân và thu dọn chiến trường ( thu dọn những thứ mà lính ta vất lúc sáng như Bộc phá ống, Bộc phá gói, mìn định hướng, cầu vượt Mương vv....... và cả những quả đạn cối và DKz nữa).

Anh em vận tải được mùa chiến lợi của chính mình....

Riêng C3, D1 được tăng cường cùng 1 trung đội 1 của C1 và 1 khẩu ĐK 82, 1 khẩu 12,7 ly của C4 hỏa lực Được ở lại chốt giữ Bavet1.

Đại đội 2 chốt ở Pa Vét 2 ,Sở Chỉ hay d1 và c1 về tập kết ở Mộc Bài.

TTG và các đơn vị về vị trí đóng quân cũ.

Sau những ngày chốt giữ và chuẩn bị tấn công địch mệt mỏi, căng thẳng.

Giờ đây sau trận đánh thắng 1 cách " không giờ" nên phía ta từ chỉ huy cấp cao cho đến lính thì đều có tư tưởng xả hơi, nghỉ ngơi, coi thường địch.

Khi được giao nhiệm vụ ở lại chốt giữ lính ta cũng không chú trọng củng cố hầm hào mà tò mò khám phá những căn nhà bỏ hoang và lo việc cải thiện, F đoàn có kế hoạch triệu tập hội nghị quân chính vào sáng ngày 25 để rút kinh nghiệm trận đánh.

Thật nguy hiểm.

Những ngày đầu tiên này các cấp chỉ huy cho đến lính đều không hiểu được bản chất vấn đề cuộc chiến của Pốt và chiến thuật cũng như những ý đồ thâm độc của Pốt.

Độ lỳ lợm, chịu gian khổ, của lính Pốt trong cuộc chiến du kích song hành cùng với mình những năm tháng đánh Mỹ.VIÊT-LÀO-KHƠME anh em.Lính ta ko thể ngờ rằng chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa trận chiến khốc liệt sẽ diễn ra chính nơi đây.

Đại đội 3 cùng các đ/v phối thuộc chốt lại Phum BaVet1.

BCH Đại đội lúc ấy C trưởng là anh Nguyễn Tiến Trụ lính 1971 trung uý quê Hải Hưng (anh đã hy sinh ngày 8/4/1978 tại Hà Tiên Kiên Giang khi giữ chức phó tiểu đoàn 1).

CVT là anh Quách Thanh Tiễn Trung uý lính 1968 dân tộc Mường ở Cẩm Long Cẩm Thuỷ Thanh Hoá.

CTV phó là anh Nguyễn Tiến Đạo ở Uông Bí Quảng Ninh.

Anh Từ C phó quân sự cũng quê Hưng Yên.

Đội hình được bố trí như sau: Căn cứ vào địa hình của phum diện tích khoảng 1Km2 hình thoi có trục đường 1 ở giữa.

Trung đội1 và 1 B của C1 tăng cường chốt hướng Đông Nam đường và khẩu ĐK82 ở sát trục đường 1 hướng Chi Phu.

Trung đội 2 và 3 chốt hướng Tây Bắc và khẩu 12 ly 7 cũng bố trí gần sát đường 1.Có tiểu đội bb trợ chiến.

Tiểu đội 11 Hoả lực cũng xé nhỏ, tăng cường đại liên và B41 cho các trung đội.

Hướng phòng thủ chính là hướng Chi Phụ, rừng Sở và Tây Tây Bắc.

BCH C cùng thông tin, nuôi quân quản lý và 2 khẩu cối 61ly đặt ở giữa Phum, sẵn sàng bắn mục tiêu phía trước.

Chiều tối, sau khi ăn cơm xong, từng trung đội, tiểu đội đã ổn định vị trí chốt giữ của mình.

Nhưng hầm hào ụ súng vẫn còn hời hợt, chỉ lợi dụng ụ đất hay hố chiến đấu của Pốt v.v...

Sửa sang qua loa, tuy rằng có phân công canh gác kỹ càng.

Mọi người đi ngủ, người ngủ võng, người lợi dụng hiên nhà, gầm sàn nhà để nghỉ, trời vào đêm im lặng.

Với một diện tích như Bavét1 mà có 1 C tăng cường hơn trăm tay súng thì rất mỏng, ban đêm cái phum này như càng rộng hơn.

BCH đại đội rất trăn trở.

Hướng từ trục đường 1 về Bavét 2 được coi nhẹ.

Vì có C2 chốt lại là hướng VN.

Như vậy là lực lượng mỏng và thưa nên ý thức của mọi người cũng đã có sự đề phòng vì cũng là đêm đầu tiên chốt trên đất K.

Càng khuya trời càng yên tĩnh lính ta trừ người được trực gác còn lại đều chìm vào giấc ngủ sau những ngày mệt nhọc.

Một số anh em nhất là khẩu 12,7 được tăng cường anh em vừa canh gác vừa hút thuốc rất tự nhiên.

Trăng sáng mờ đât trời tĩnh lặng.

Ùng – oàng rồi pằng - pằng - pằng rồi liên tiếp ùng – oàng, tiếng hô: "Trô – Trô – Trô" vang ầm phá tan sự yên tĩnh.

Tất cả choàng dậy,vồ lấy súng đạn.

Đã thấy tiếng AK pằng pằng pằng, đại liên và cả tiếng B40 của hướng B2 gần khu vực 12,7 bắn trả.

C Bộ nhốn nháo một lúc rồi rất nhanh C trưởng Trụ cử C phó Từ và liên lạc C Nguyễn Văn Nên (lính 77 quê Thuỵ Ninh, Thái Thuỵ, Thái Bình, trận ngày 6/12/1977 được tặng HCCC hạng 3.

Ngày 3.5.1978 đêm ngày đổi tiền toàn quốc) cả 2 cậu cháu ruột đều hy sinh vì đạn B41 cách nhau 1 2 ngày ở đầu Mộc Bài).

Xuống hướng B2 nắm tình hình, tiếng súng hai bên vẫn nổ song thưa dần.

Khẩu đội 12,7ly bị trúng quả B40 đầu tiên của Pốt hư hỏng nặng không sử dụng được nữa.

Đồng chí chiến sỹ gác ca đó hy sinh và 2 bị thương.

Pốt tử vong 2 tên ngay gần khẩu 12,7 do tiểu đội 5, B2 đồng chí Ngô Duy Phơn ( quê ở An Đồng Hải Hậu Thái Bình làm B trưởng) đã chi viện kip thời.

Đã bắn chéo cánh sẻ tiêu diệt tốp này.

Đánh bật chúng ra. (Đồng chí Phơn hy sinh lúc gần trưa ở đợt tập kích tiếp)

Anh Từnhanh chóng cho chuyển thương binh liệt sỹ về BCH sơ cứu và củng cố lại trậnđịa.

Địch sau lần tập kích đó lại thấy im lặng.

Nhưng các hướng báo về là đềuthấy Pốt hô "Trô - Trô".

Nhận định tình hình là chúng không nắm được lực lượngvà cách bố phòng của ta nên hò hét thăm dò ta.

Nhóm tập kích vào 12,7 ly có thểlà trinh sát Pốt.

Im lặng xong tất cả mọi người đều bừng tỉnh.

Khẩn trương củngcố hầm hào, đắp ụ súng, ra vị trí chiến đấu, căng mắt ra, dỏng tai lên quan sátvà nghe ngóng địch.

Ai cũng thấy trận chiến ác liệt đã thực sự bắt đầu.

2h50 sáng trung đội 3,B Trưởng là đ/c Tiến( Quế Thái Nguyên ) phát hiện khoảng 2 trung đội địch men theo 2 bên đường số 1 tiến sát chốt tiền tiêu của ta.

Chờ địch vào gần, thật gần anh em đồng loạt nổ súng, tiêu diệt ngay mấy tên đi đầu, chúng không kịp bắn trả kêu chí chóe gì đó rồi chạy lùi phía sau địch bắn liên tiếp B40-B41 vào M79 vào trận địa chốt của trung đội 3 và cả trung đội 1 làm cho 3 đồng chí bị thương trong đó có cả đồng chí Tiến B trưởng(nay là T/B 1/4 )

BCH đại đội hội ý báo cáo tình hình về tiểu đoàn.

Ta đều phán đoán đợt tập kích của địch trong đêm đều là trinh sát nắm tình hình để chúng sẻ phản kích chiếm lại BaVet1 vào ban ngày.

Tiểu đoàn 1, đ/c Nguyễn Minh Tân ( quê Thanh Trì- Hà Nội ) và đồng chí CVT Nguyễn Kim Mận ( quê Đôn Thư, Tịnh xá, Bình Lục, Nam Hà) là cấp trưởng, đều là những người đã có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu CMCN.

Báo cáo lên E và F tình hình và động viên anh em C3 bám chốt, chiến đấu D sẽ chi viện khi cần thiết. ( Thực ra trong đêm chi viện bằng hỏa lực thì được, chứ, chi viện bộ binh thì rất khó.

Thường là trong huấn luyện đều nói về chốt giữ đêm là địch vào đơn vị nào thì đơn vị đó chiến đấu giữ bí mật lực lượng ,không để bộc lộ vị trí và cách bố phòng vv....Tiểu đoàn khen ngợi và động viên c3 tích cực.củng cố hầm hào và làm nhiều ụ chiến đấu.)

Những bài học về kỹ chiến thuật, phòng ngự chốt giữ của lính ta rất bài bản.

Nhất là C3 hồi CTCM chốt giữ ở đường 13- Chơn Thành Bình Long tiểu đoàn Trưởng Tân ( lúc đó là d phó ) tăng cường trực tiếp đã chốt giữ kiên cường đánh lui nhiều đợt công kích của lữ đoàn xe tăng địch bắn cháy 3 xe.

Mặc dù C trưởng Hồng( quê Hưng Yên ) cùng gần 10 đồng chí hy sinh nhưng vẫn giữ vững địa trận.

Rạng sáng ngày 24 địch tập trung 2 tiểu đoàn đồng loạt tấn công vào 3 hướng chốt của C3.Với hỏa lực rất mạnh bằng B40-B41, M79, đạn thẳng thì toàn AK dồn dập bắn phá .

Anh em các hướng chốt cũng bắn trả quyết liệt.

2 khẩu cối 61 cũng đã Tong- Tong chi viện.

Những phần tử và cự ly bắn đươc chuẩn bị từ trước chứ không thể hiệu chính trực tiếp được vị khó quan sát.

Riêng khẩu DKZ82 thì không được lệnh nổ súng vì mục tiêu đề phòng là xe TTG của Pốt.

Anh em dùng AK chiến đấu như lính ở trung đội BB.

Trận đấu súng qua lại khoảng 20' thì bọn Pốt lại rút ra và kêu pháo 105 ly ở Chi Phu bắn vào đội hình ta anh em đếm được gần 18 quả.

Ta có thương vong nhưng trận địa vẫn được giữ vững.

Gần 7h sáng chúng lại lã pháo 105 ly và bắn cối 82,61 vào trận địa.

Rồi tiếng thùng thùng của 2 Khẩu 12,7 ly bắn xiên vào.

Anh em đoán địch đang lợi dụng ruộng lúa bò vào tấn công Chốt .B trưởng Ngô Duy Phơn tranh thủ chạy qua các Chốt nhắc nhở động viên anh em.

Phát hiện địch vào gần Phơn tung người nems liền 2 quả lựu đạn vào tốp đi đầu.

Toàn trung đội chủ động bắn găm về phía trước.Khẩu đại liên của a11 tăng cường cũng bắn chéo cánh sẻ sang gìm đầu bọn Pốt .Khí thế chủ đôngj tấn công Rất dũng mãnh và bẻ gẫy đợt mật tập vào hướng trung đội 3 chốt giữ.

Lúc này cối 82 ly pháo 122 ly của E4 đã bắn phá chung quanh BaVét1 hỗ trợ cho C3 giữ Chốt

Bọn Pốt thật lỳ chúng kiên trì lấn dũi, cố lợi dụng ruộng lúa bò vào gần chốt là đồng loạt đứng lên hô, trô trô rồi bắn phá vào các chốt của ta.

Rồi lại nhanh chóng bò, chạy ra ngoài.

Tới gần trưa B3 còn có 10 tay súng.

Btrưởng Phơn vẫn vận động tới các Chốt nhắc nhở anh em quyết tâm giữ chốt kiên cường đánh địch.

Bọn Pốt lại tiếp tục tập kích lấn dũi vào hướng B3 L2 đại đội xuốngthông báo có 2 trung đội của C2 cùng lực lượng vận tải đang đến tăng cường đúnglúc đó bọn Pốt lại tập trung đánh dũi với số lượng đông hơn.A B trưởng Phơn vừachạy đến các chốt thông báo vừa bắn địch.

Đang bắn thì Phơn khựng người ngãxuống bởi loạt AK của Pốt.Btrưởng Phơnđã anh dũng hy sinh.Mới cách đây mấy ngày,găp Phơn anh kể là mới về phép cườihiền lành'' chắc chắn lần này có tý rồi".Khi viết tới đây nước mắt tôi lã chãrơi xuống bàn phím.kính đã nhoè.Vô cùng thương nhớ đồng đội dã cùng ở với nhaumấy năm hồi đầu quân ngũ.

Từ đêm,khi những đợt tâp kích vào bavet1.Nơi c3,d1 đang chốt giữ đã đều được báo lên e,F.Nhưng 1 số cán bộ tác chiến và cơ quan e,F đều chủ quan cho là b/t.Vì ta vừa đánh cho chúng 1 trận"tan nát sỹ diện.làm Pot đã cao chạy xa bay".Nên trong tư tương 1 số sỹ quan cho là cấp dưới b/c tình hình địch quá mức.

F vẫn tổ chức họp quân chính theo kế hoạch lúc 8h sáng,để rút k/n trận đánh ngày 23 như đã nói ở trên.F cũng lần trần trong việc dùng pháo bắn hỗ trợ để d1 tự giải quyết.Khi d1 và e tổ chức cho vận tải và xe cứu thương lên bavet1 lấy thương,số lượng thương và liệt sỹ đã nhiều.Nhất là quá trưa,1 chuyến vào lấy thương thì bị Pót phục kích bắn cháy xe .Rất may đ/c Hồng lái xe cùng 1 y sỹ,1 vận tải nhẩy ra được khỏi xe.đ/c Hồng bị thương vào cánh tay.3 đ/c chạy ngược về bavet2.Địch bắn đuổi nhưng ko ai việc gì.Địch đã điều khoảng 1 trung đội đánh bọc chia cắt 2 phum.Hòng cô lập bavet1.B/c về tới F.Hội nghị quân chính phải dừng,sau khi đ/c Vũ Cao F trưởng kết luân là:"Ta đã dùng búa tạ đập ruồi,có thể 1 số ruồi đã bâu lại."

Và thúc giục d1,và e1 nhanh chóng về chỉ huy chiến đấu.

Trở lạitình hình đang diễn ra ở bavet1.Lúc gần trưa.c2 đã điều được 2 trung đội lêntăng cường cho c3.Vân tải đã chuyển thêm đạn,cơm nắm,nước uống cho ae.Thươngbinh,liệt sỹ đã chuyển gần hết về sau.Được tiếp thêm sức mạnh,lính c3 hồ hởihẳn lên.vừa ăn cơm vừa thay nhau canh gác và sửa sang lại hầm hào.Chống trả gầnchục lần tập kích của địch suốt từ đêm nên ae rất mệt.Thương và vong cũngnhiều.BCH đại đội chia nhau xuống các trung đội động viên ,ủy nạo ae.

Và thôngbáo nhận định của trên là địch sẽ còn tâp kích tiếp để tiêu hao lực lượng củata.Có thể đợi tối sẽ tổng tấn công chiếm lại bavet1.Tình hình tiếp diễn sẽ cònrất căng thẳng và ác liệt.

Anh em phải nâng cao ý trí chiến đấu và cảnh giáchơn nữa chủ động đánh phủ đầu địch,khi có điều kiện thì xung phong truy kíchđịch.

Đúng như nhận định của trên.

Bọn Pốt vẫn tăng cường lấn dũi, đánh " bọc" từ hướng Đông Đông Bắc ( hướng của B1,C1) tăng cường.

Nhưng chúng không giữ được bí mật vì anh em đã cảnh giác khi chúng bắn cháy xe cứu thương.Đã chỉnh lại đội hình phòng ngự và hướng chiến đấu.

Xác đinh chung quanh đều có địch. .

Bọn Pốt lại Trô- Trô đứng lên phóng B40-B41 bắn mấy loạt AK rồi lại chạy.

Phải đánh đuổi bọn này.

Đại đội hội ý rồi điều trung đội đ/c Nguyễn Duy Chinh ( quê Phương Công, Tiền Hải, Thái Bình ) đang chốt hướng Bắc Tây Bắc men theo rìa làng đánh vận động lên đường 1 tạt sườn. kết hợp cùng trung đội chốt C1 đuổi lực lương bọc hậu của địch bọn Pốt bắn trả vài loạt rồi tháo chạy.

Hành lang về Ba Vét 2 lại được thông.

Song khi vận động xung phong vượt lên mặt đường B trưởng, Nguyễn Duy Chinh trúng đạn hy sinh.

Các hướng chôt địch vẫn dùng thủ đoạn tấn công lẫn dũi .Nhưng ko giám bò vào gần nữa.

Như vậy tới 15h ta đã đánh bật 19 lần tập kích tấn công của E182-F3 QK Đông Bắc của Pot, vào các hướng.

Giữ vững trận địa.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt hàng trăm tên thu được 1 số súng .

Về phía ta hy sinh 8 đ/c ,có 2 B Trưởng,(đ/c Phơn và đ/c Chinh).

2 a trưởng, bị thương hơn 20 người trong đó có đ/cTiến B trưởng.Bị hỏng 1 khẩu 12,7ly.Cháy 1 xe cứu thương.

Đến 15h trận địa đã tạm yên tiếng súng.

Song qua đài quan sát và đài kỹ thuật ta phát hiện địch đang tập trung rất đông ở 3 hướng ( khoảng 2 tiểu đoàn ).

Bọn này chuẩn bị đợi tối sẽ tổng công kích BaVét1.

Nắm được ý đồ Pốt.

Tiểu đoàn xin pháo bắn chi viện và điều nốt số quân của C2, C1 cùng C4 hỏa lực.

Hướng Tốc Xe dùng 2 đại đội của d3 là C9,C10 cùng anh em chốt C3 chuẩn bị vận động công kích Pốt.

Sau khi tiền nhập vào vị trí, pháo binh E,F bắn hỗ trợ .Các đơn vị lại xung phong vận động phản kích địch.

Bọn địch chạy toán loạn, các đơn vị đã đánh rộng ra khỏi Pa Vét1 và trục đường 1 từ 500-800 thì được lệnh dừng lại.

Nhưng thấy ta dừng thì bọn Pốt cũng dừng chạy.

Chúng như giữ khoảng cách đeo bám ta.BCH đại đội 3 cùng trung đội tôi xuất kích hướng Nam, Đông Nam đường bèn xin pháo bắn đuổi đich.

Mấy loạt pháo ầm ầmgần sát quân ta.

Anh Trụ c trưởng yêu cầu tăng tầm bắn.Đạn pháo 105 của F lạinổ càng gần lính mình hơn mảnh đạn pháo bay rào rào.

Suy nghĩ rất nhanh tôichạy đến nói với anh Trụ là: " anh Chỉnh tăng tầm là vào hướng mình rồi, anhphải nói là bắn sang trái 100m tầm bắn không thay đổi".

Tôi giải thích nhanh vìhướng pháo và hướng anh em mình tấn công vuông nhau nên mình nói tăng tầm làvào mình mà phải chính sang trái mới vào được khu vực của Pốt.

Mấy loạt pháosau đã trúng mục tiêu cần bắn.

Ta được lệnh khẩn trương rời khỏi trận địa, thudọn chiến trường, nhặt súng của Pốt và..Nhanh chóng rút về chốt ở biên giới...

Sau khi rút về biên giới.Đội hình được bố trí như sau:d1 đươc e tăng cường thêm 2 khẩu dk của c15.2 Khẩu 12,7 ly cua c16.c1 hướng đông Bắc đướng 1.C2 chốt hướng tây bắc đường cùng các hỏa lực tăng cường.C3 lùi về sau tạm nghỉ ngơi làm công tác tổ chức rút k/n trận đánh bổ xung quân số và lam n/v dự bị.

-D2,mới được điều từ Dầu Giây LK lên vào chốt thay cho d3 ở Tốc Xé Tiên Thuận.

-D3 được rút về làm lực lượng cơ động của F

-D 9, e266 vẫn chốt ở vị trí cũ đối diện rừng thốt nốt.gần giáp c1, d1.

Mấy ngay tiếp theo tình hình nơi đây tương đối yên tĩnh.Nhưng chúng đã đôn quân lên giáp biên giới rất đông.Đêm ngày 28-30/10 đại đội 1 và 2 đều bắt được 2 nhóm trinh sát của Pot.chúng ko mang vũ khí.tay xách mầy con cá,đi chân đất giả làm dân thường mò sang trinh sát khu vực của ta.Lần đầu tiên được ngắm nhìn lính Pot.Thằng nào thằng đấy to vâm.da đen,mắt trắng dã trông thật tởm.Hỏi gì chúng cũng nhe răng ra cười.Da đen mà sao răng của chúng lại trắng và đều thế.

Tôi chợt nhớ tới biển quảng cáo kem đánh răng "hinot" ngày xưa (năm 75).có hình người da đen nhe răng cười.Nhưng da bon Pot này ko phải đen hẳn mà trông xỉn xỉn gáu bẩn đến ghê sợ.Chợt so sánh với sức vóc nó thế kia chắc nếu "tay bo"thi mình ko ổn.(Vì thời đó tôi chỉ có 48 kg)

Sau khi khai thác được biết chúng vẫn ko từ bỏ ý đồ đánh chiếm Bến Cầu .Thật ngông cuồng.QĐ giao nhiệm vụ cho F chủ động đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pot.Tất cả các đ/v lại khẩn trương làm n/v c/b tác chiến.Lần này ý thức của mọi người đã khác hẳn.Tư tưởng của anh em đã được ổn định vì đã được học tập và thông báo về tình hình n/v thật cụ thể ko còn mơ hồ coi thương địch nữa.và cũng đã được xác định là 15 ngày như dự định là ko thực hiện được do âm mưu sảo quyêt của pot và bè lũ phản động bành trương xúi giuc,giật dây v v...Tư tươngg của lính đã thông,đã xác định được mục tiêu của kẻ thù nên tác phong bản lĩnh của mọi người như được bưng lên và tỏa sáng.

Tôi được ctv Mận gọi lên giao nhiêm vụ làm B trưởng của c3 nhưng tôi ko nhận vì lý do sức khỏe tôi thuộc loại b2 loại được trở về địa phương.Nhưng trong tình hình hiện tại tôi vẫn tham gia c/đ khi nào có đợt thì ra quân.D điều tôi về làm a tr, a10,c3 là a cối 60 ly thay cho đ/c khoát lính 71 về học Cđ mỹ thuật Sài gòn.Thế là tôi lại trở về tiểu đội 10 la nơi tôi là a pho từ ngày đầu thành lâp đ/v.Có điều là nay tôi lên được chức a tr.Nghĩ thật là ...vui.

A 10 vẫ kothay đối so với trước trừ 2 đ/c đươc ra quân.đ/c Nguyễn duy Đôi (quê Thyy ThanhTT TB) và đ/c Lê văn Chính (quê An Đồng HH TB) CÙNG TỔ 3 người với tôi cũ thìcả 2 đ/c đã hy sinh khi chốt ở đường 13 thời kccM.a Phó tên Dự lính 75 quêThanh Hóa và mấy anh em nữa.Mọi người tổ chúc liên hoan cho tôi thật lớn có đủcác món gà,lợn,trâu vv..và rượu thì thật vô tư.Tôi gầy ngẳng có 48 kg nhưng cáikhoản rượu thi có thể đọ với dân "anh hai" được.

BCH đai đội cùngxuống chung vui.Anh Tiễn cvt người Mường Thanh Hóa thật là mừng khi tôi trở vềđại đội.Anh Tiễn năm 74 cũng là người giới thiệu và đảm bảo lý lịch cho tôi vaoĐảng.Nên anh em rất hiểu và quý mến nhau,mãi hơn 8h bữa tiệc liên hoan mới kếtthúc .đó cũng là bữa tiệc để lại dấu ấn ko thể quên trong đời binh nghiệp củamình.

Ngày 4/11 địch cho quân tiến công vào Bến Cầu từ nhiều hướng.E 153 của Pốt khiêu khích vào các trận địa chốt của d1 ở hướng Mộc Bài.Chúng dùng khoảng 1c luồn vào phía Đông Bắc rừng Thốt Nốt chia cách giữa d1 và d9.

Khoảng 11h sư đoàn 3 của địch tăng cường lực lượng vào khu vực rừng Thốt Nốt ngày càng đông.Trước trận địa của d1 và d9 đã có khoảng 5d của Pốt ( Theo b/c và tài liệu lưu trữ của E 273 ).Chúng bắt đầu lại điệp khúc lấn dũi.Theo chỉ đạo d9 để lại 1 lực lượng nhỏ nhử địch còn đại bộ phận tiểu đoàn lùi dần về chuẩn bị xuất kích.Đại đội 3 đã nâng đội hình lên đồn biên phòng.

Tôi bố trí 2 khẩu cối 60 ngay trong sân đồn .Bên ngoài là lớp lớp ae bb đang trong tư thế chốt và đợi lệnh vận động phản kích.Vị trí đồn biên phòng cao hơn phía địch nhiều nhìn những đoàn lính Pốt tiến về phía rừng Thốt Nốt như những mảng đen di động trên cánh đồng lúa chín vàng thật rõ.Tôi quan sát đo cự li.Từ đây ra chỗ chúng khoảng 1200m,hô ae chuẩn bị phần tử bắn.Với tôi thì thước tầm,cự li,liều bắn dù xa tiểu đội cối mấy năm tôi vẫn nhớ vẫn thuộc vanh vách (hồi ở QK 4 tôi đã được cử đi thi bắn đạn thật cối 60 và đạt được thành tích cao).

Ngay cạnh trận địa cối là đài quan sát của F.Tôi thấy tham mưu phó F trung tá Thuật đang theo dõi diễn biến của địch tôi báo cáo xin được bắn cối 60.Suy nghĩ 1 tý rồi ông hỏi: có bắn trúng địch không?

Chỉ dợi có thế.Tôi nói TT yên tâm( sau này tôi mới biết là thủ trưởng Thuật đắn đo vì quyết định tấn công bằng pháo binh và TTG nên sợ bắn cối 60 sẽ làm lộ ý định lớn).

Tong_Tong,sau khẩu lệnh bắn 2 quả đạn như 2 bắp chuối nhỏ bay vút lên trời giữa nắng hè trời khô trong veo rồi lúc lắc rơi xuống ,tôi và mọi người thật hồi hộp thấy 2 cột khói nhỏ bùng lên rồi oàng oàng gần sát đội hình địch mọi người đều hô gần chúng rồi.Tôi quyết định tăng thước tầm ứng với 100m và hô 2 phát bắn tiếp.Lai Tong_Tong trong lòng tôi thật tự tin vì chắc chắn trúng M.Quan sát thấy bóng địch mất hút(chúng nằm tránh đạn) rồi 2 cụm khói bốc lên ở chỗ chúng tôi báo TT Thuật đạn đã trúng M đề nghị bắn cấp tập.

TT Thuật đồng ý thế là ae thi nhau thả đạn sau 3,4 quả tôi lại hô chỉnh lại thước ngắm cho chuẩn xác.

Cólẽ chưa bao giờ trong đời quân ngũ.Đúng ra đời pháo thủ cối 60 được bắn như thếnày.Trận địa đặt trên cao,quan sát và chỉnh mục tiêu trực tiếp bằng mắt thường,xem rõ đạn đi và rơi vào M bắn .

2 khẩu cối thi nhau nhả đạn.Đội hình Pốt rốiloạn cứ đứng lên chạy rồi lại mất hút dưới ruộng lúa.Tự nhiên tôi lại có suynghĩ kì lạ,liệu có thằng nào chết không.Cái bản năng lương thiện của con ngườitrong tôi trỗi dậy.Thầm mong rằng những quả đạn này làm cho chúng nó sợ, chạy,hay bị thương.Đừng thằng nào chết.

Khoảng 13h

Đang tản mạn với suy nghĩ chợt đến đó thì thấy ùng- ùng tiếng đề pa của pháo 105 rồi các loại pháo thi nhau cấp tập các mục tiêu.

Pháo bắn 15 phút xe tăng đã tiền nhập lên cửa khẩu.

Trên xe là 6,7 anh em lính d3 đội hình xe tăng 9 cái lại bắt đầu xung phong.

Hướng đường 1 đánh sang BaVét 1.

Hướng Tóc Xé Tiên Thuận d2 cùng 10 xe bọc thép cũng băng qua ruộng lúa đánh tạt vào BaVét 1 .d9,d1 cũng được lệnh tiến công.d9 đánh địch ở khu rừng thốt nốt còn d1 đánh phát triển tiêu diệt địch ở khu vực giữa rừng thốt nốt và BaVét 2.

Xe tăng sau khi đánh chiếm địch ở BaVét 2 thì tràn xuống cánh đồng đánh tạt sườn địch phía sau rừng thốt nốt về hướng Chi Phu.

Rút kinh nghiệm trận đánh ngày 23 chúng ta chưa hiểu Pốt nên đánh thận trọng, dò dẫm tiến quân chậm làm Pốt bỏ chạy hết.

Lần này được giao nhiệm vụ đánh vận động thật nhanh mạnh, táo báo, nên TTG lao đi như bay, vừa chạy vừa bắn rất nhanh.

Trừ 1 số anh em ngồi trên xe .Số Bộ binh của d3 và d2 chạy theo TTG không kịp.

Anh em vừa bắn vừa tiêu diệt những tên không kịp chạy.Nhât là khẩu đội cối của tôi.Cứ dưng bắn mấy quả lại phải nhanh chóng thu súng chay theo ae giữ cự ly đều ko để bị xa quá a cối của tôi được 1 ngày băn thoải mái.đên lúc thu quân còn có 4 quả dự phòng.

Đội hình địch bị chia cắt.

Rối loạn chúng chạy như đàn vịt.

Thỉnh thoảng lại thấy có thằng trúng đạn pháo tung lên cùng những khóm lúa.

Mọi người được lệnh truy tìm địch lẩn trốn trong đồng lúa và thu nhặt súng của chúng vất lại.

Đến 15 h20p trận đánhkết thúc theo b/c ta trên trận này diệt được hơn 200 Pốt làm tan rã 5d thuộc sưđoàn 3 QK Đông Bắc của Pốt.

Thu hàng trăm khẩu súng và bắt sống 8 tên.

Trậnđánh mau lẹ và thắng lợi hơn cả dự định.

Về phía ta một vài anh em bịthương.Không một ai hy sinh.

Tiểu độ tôi được sư đoàn gửi điện khen ngợi.

Cácđơn vị lại nhanh chóng rời khỏi trận địa rút quân về Biên giới.

Ta đã thật sựdạy cho Pot bài học nhớ đời đảm bảo những thằng sống sót cũng " Hồn bay pháchlạc "

Sau khi rút về biên giới.

Đội hình được bố trí như sau: D1 được E tăng cường thêm 2 khẩu DKZ của C15.

2 Khẩu 12,7 ly của C16.

C1 hướng đông Bắc đướng 1.

C2 chốt hướng tây bắc đường cùng các hỏa lực tăng cường.

C3 lùi về sau tạm nghỉ ngơi làm công tác tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh bổ sung quân số và làm nhiệm vụ dự bị.

-D2,mới được điều từ Dầu Giây LK lên vào chốt thay cho d3 ở Tốc Xé Tiên Thuận.

-D3 được rút về làm lực lượng cơ động của F

-D 9, E266 vẫn chốt ở vị trí cũ đối diện rừng thốt nốt gần giáp C1, D1.

Mấy ngày tiếp theo tình hình nơi đây tương đối yên tĩnh.

Nhưng chúng đã đôn quân lên giáp biên giới rất đông.

Đêm ngày 28-30/10 đại đội 1 và 2 đều bắt được 2 nhóm trinh sát của Pốt.

Chúng không mang vũ khí, tay xách mầy con cá, đi chân đất giả làm dân thường mò sang trinh sát khu vực của ta.

Lần đầu tiên được ngắm nhìn lính Pốt.Thằng nào thằng đấy to vâm, da đen, mắt trắng dã trông thật tởm.

Hỏi gì chúng cũng nhe răng ra cười.

Da đen mà sao răng của chúng lại trắng và đều thế.

Tôi chợt nhớ tới biển quảng cáo kem đánh răng "hynot" ngày xưa (năm 75), có hình người da đen nhe răng cười.

Nhưng da bon Pốt này không phải đen hẳn mà trông xỉn xỉn cáu bẩn đến ghê sợ.

Chợt so sánh với sức vóc nó thế kia chắc nếu "tay bo" thì mình không ổn. (Vì thời đó tôi chỉ có 48 kg)

Sau khi khai thác được biết chúng vẫn không từ bỏ ý đồ đánh chiếm Bến Cầu .Thật ngông cuồng.

QĐ giao nhiệm vụ cho F chủ động đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pốt.

Tất cả các đơn vị lại khẩn trương làm nhiệm vụ chuẩn bị tác chiến.

Lần này ý thức của mọi người đã khác hẳn.

Tư tưởng của anh em đã được ổn định vì đã được học tập và thông báo về tình hình nhiệm vụ thật cụ thể không còn mơ hồ coi thường địch nữa, và cũng đã được xác định là 15 ngày như dự định là không thực hiện được do âm mưu xảo quyệt của Pốt và bè lũ phản động bành trướng xúi giục,giật dây v v...Tư tưởng của lính đã thông, đã xác định được mục tiêu của kẻ thù nên tác phong bản lĩnh của mọi người như được bừng lên và tỏa sáng.

Tôi được CTV Mận gọi lên giao nhiệm vụ làm B trưởng của C3 nhưng tôi không nhận vì lý do sức khỏe tôi thuộc loại B2 loại được trở về địa phương.

Nhưng trong tình hình hiện tại tôi vẫn tham gia chiến đấu khi nào có đợt thì ra quân.

D điều tôi về làm A trưởng, A10, C3 là A cối 60 ly thay cho đồng chí Khoát lính 71 về học Cao đẳng mỹ thuật Sài gòn.

Thế là tôi lại trở về tiểu đội 10 là nơi tôi là A phó từ ngày đầu thành lập đơn vị.

Có điều là nay tôi lên được chức A trưởng.

Nghĩ thật là ...vui.

A 10 vẫkhông thay đổi so với trước trừ 2 đồng chí được ra quân.

Đồng chí Nguyễn duyĐôi (quê Thyy Thanh TT TB) và đồng chí Lê văn Chính (quê An Đồng HH TB) Cùng tổ 3 người với tôi cũ thì cả 2đồng chí đã hy sinh khi chốt ở đường 13 thời KCCM.

A Phó tên Dự lính 75 quêThanh Hóa và mấy anh em nữa.

Mọi người tổ chúc liên hoan cho tôi thật lớn có đủcác món gà, lợn, trâu vv..và rượu thì thật vô tư.

Tôi gầy nhẳng có 48 kg nhưngcái khoản rượu thì có thể đọ với dân "anh hai" được.

BCH đại đội cùngxuống chung vui.

Anh Tiễn CTV người Mường Thanh Hóa thật là mừng khi tôi trở vềđại đội.

Anh Tiễn năm 74 cũng là người giới thiệu và đảm bảo lý lịch cho tôivào Đảng.

Nên anh em rất hiểu và quý mến nhau, mãi hơn 8h bữa tiệc liên hoanmới kết thúc.

Đó cũng là bữa tiệc để lại dấu ấn không thể quên trong đời binhnghiệp của mình.

Một trận đánh đáng nhớ cuối tháng 10/77

Sau khi c3 được rút về phía sau đóng quân ở cuối Mộc Bài để củng cố tinh thần, nghỉ ngơi.

Bổ sung quân số, tổ chức hoàn thiện lại trang thiết bị vv.......

Cũng dịp đó tôi được điều từ c2 sang làm a trưởng a10 , cối 60 ly và có bữa liên hoan " đã đời " như đã nói.

Nghỉ ngơi được 4 ngày thì d và e lại giao nhiệm vụ cho c3 làm nhiệm vụ đặc biệt là: theo trinh sát theo dõi ở khu vực BaVét 2 có khoảng 2 chốt râu tôm của Pốt.

Cứ chiều tối chúng ra, sáng lại thấy nó vào BaVét 2.

Số lượng cả 2 nhóm từ 6 đến 7 tên .

C3 của tôi được lệnh bí mật luồn vào để bắt sống số Pốt này.

Không được bắn chết mà phải bắt sống bằng được phục vụ khai thác .

Toàn c lại chuẩn bị tư trang súng đạn đợi tối sẽ có trinh sát của e và d dẫn đường theo phương vị tọa độ.

18h ngày 28/10/77 sau khi cơm nước xong, mỗi người cũng vẫn thêm một phần cơm nắm do anh nuôi chuẩn bị, các trung đội tiểu đội kiểm tra trang bị vũ khí thật kỹ càng.

Mọi người phải đeo và mang hết trang bị vũ khí ,đứng chạy tại chỗ xem có phát ra tiếng động lớn không.Bi đông nước cũng phải đầy,để đi ko có tiêng óc ách phát ra từ bi đông nước.

Nếu có tiến động phải chỉnh lại .Không để xẻng va chạm với các thứ khác vv..........

18h30p toàn đội hình ra đầu Mộc Bài đợi trinh sát dẫn đường.

Ai lấy để nguyên trang bị trên người tìm chỗ tiện lợi ngả người hay tựa người vào gốc cây bờ đất. vv.........

Tiểu đội tôi qua kiểm lại xẩy ra sự cố, thiếu 2 lính 72 ( Hồng và Tùng ) đều quê Thái Bình.

Tôi biết ngay chuyện gì đã xẩy ra.

Không tổ chức đi tìm mà báo ngay với anh Tiễn, anh Trụ là anh em bỏ về phía sau rồi.

Anh Tiễn hỏi sao Phú biết.

Tôi nói ngay là hôm qua 2 anh có tâm sự với tôi rồi, và cũng đã nói trước là ý định về Sài Gòn không theo đơn vị nữa.

Mất 2 xạ thủ kỳ cựu rất tiếc nhưng thôi kệ anh em, động viên ở lại cũng không được vì mỗi người một suy nghĩ, một tư tưởng.

Tôi xin thêm 2 người thay thế để gánh đạn cối còn xạ kích thì có đồng chí khác thay được.

Đợi, vẫn đợi trinh sát đến.

Mọi người lại truyện trò, lại mỗi người mỗi tâm trạng khác nhau.

Tôi hơi giật mình vì anh Đoàn Văn Tấn cùng tuối tôi ( quê Mê Linh, Duy Tiên- Hà Nam Ninh) cứ say sưa kể cho tôi nghe chuyện gia đình, chuyện cô người yêu tên Thu cùng xóm mà gia đình muốn cưới cho làm vợ trong lần đi phép vừa rồi.

Tấn kể tỷ mỉ nào là Thu có tóc dài, răng trắng, hiền ngoan rất thục nữ vv...là giáo viên cấp 1 mới ra trường dậy học ngay tai xã.Tấn kể đi chơi tối với nhau ở đầu làng mấy lần mà xin hôn một cái mà rất khoát Thu không đồng ý nói là : " để dành đến ngày cưới".

Vì lính 72 đều ở độ tuổi chuẩn bị giải ngũ nên thời gian về cưới là cuối năm 77 ( dịp tháng 8_9 âm lịch )

Tấn say sưa kể, mắt nhìn xa xăm rồi hỏi như vậy là Thu có yêu tôikhông??

Tôi nói : đẹp trai như ông thì ai mà không yêu.

Phải nói là Tấn cũngthật sự đẹp trai, người cao to điềm đạm chứ không loẳng ngoẳng cò hương nhưtôi.

Tấn rất quý mến và trong sinh hoạt rất tôn trọng tôi.

Thật sự Tấn cũng nóivề việc 2 anh em vừa về Sài Gòn có rủ cả Tấn nữa .Nhưng Tấn không theo mà muốnthời gian nữa được về, vì danh dự gia đình và bản thân .Vừa lúc đó lại có anhThọ lính từ năm 58 là quân khí viên cùng quê với Tấn đến gặp và nói lời độngviên chia tay vv...Ở đ/v tôi lính quê Hà Nam Ninh rất hiếm nên thêm việc gặp gỡnày nữa làm tôi thật áy láy.Theo linh tính thường biểu hiện bất thường trướctrận đánh thì hay xẩy ra nhiều phức tạp cho ngay chính người nói chuyện nhưvậy.

21h trinh sát của d có anh Trịnh Doãn Ngọ lính 74 ( quê ở Hương Sơn Hà Tĩnh,năm 79 hy sinh bên đất K khi giữ chức c tr c3 ) và trinh sát e đến 2 người.Các anh mang bao se, mấy quả lựu đạn, AK Báng gấp dao găm Nga,ống nhòm đeo trươc ngực,cạnh chỗ con dao găm còn có hộp da đựng địa bàn.Quần đã cài cả cúc dưới ống nấm lem.

Trông ai cũng thật lanh lợi.

Các anh hình như đã vào trinh sát mở đường rồi với quay về đón đội hình.

Toàn đội hình lên đường thật im lặng.

Hướng đi từ Mộc Bài cắt chéo về hướng Tây Bắc giáp giữa làng Tiên Thuận và BaVét 2 nhưng đi gần sát làng Tiên Thuận hơn.

Đi.

Cứ đi, trời đầy sao, trăng sáng mờ, lúc đi, lúc nghỉ, lúc đi theo bờ mương, lúc lại cắt ngang cánh đồng lúa.Đi 1 lúc thì gặp 2 trinh sát nữa đang đợi chúng tôi tới và cùng dẫn đường đi tiếp.

Đi ngang qua ruộng lúa cứ vướng, lúa quấn vào chân thật khó đi.Bước cao lên hẳn thì không được mà cứ dùng chân rẽ lúa ra đi thì vướng vào các khóm lúa.

Rất là khó chịu.

Chợt nghĩ ở quê mình lúa cấy thẳng hàng , còn ở đây chúng nó chẳng có hàng lối nào cả, nhưng sao lúa của chúng tốt thế , bông nào bông ấy trĩu hạt , làm chân của lính ta mỏi nhừ.

Thỉnh thoảng có con chim cút hay rẽ giun gì đó ,thấy động kêu chóe chóe, bay vọt vào trời đêm.

Cứ đi, cứ nghỉ, rồi lại đi, lại nghỉ có lúc ngả người ngay tại cánh đồng .Được nằm lên cái đệm lúa mà ngắm trời sao mênh mông.

Thật là lãng mạn.

Được cái là mùa này là mùa khô, ở đây đất cao nên anh em không phải lội nước.

Khuya , rất khuya.

Phía sau xa xa ,thỉnh thoảng vẫn có ánh đèn le lói hay vẳng tiếng chó sủa rồi chìm vào yên tĩnh.Phía trước không xa lắm là BaVét 2 xa hơn nữa là BaVét 1.

Bóng những cây thốt nốt ở rìa làng cao to đen thẫm trên nền trời tối mờ nhưng cũng thật rõ.

Từ Mộc Bài sang BaVét 2 cự ly có hơn 1000m mà sao anh em phải đi lâu thế, đi vòng vèo xuống gần cả BaVét 1 rồi mới lại vòng lên.

Thỉnh thoảng lại thấy mấy anh em trinh sát chụm đầu, trải bản đồ dùng la bàn gióng phương vị.

Rồi lại đi tiếp.

Phải nói là trinh sát thật giỏi,và quá vất vả.

Họ mò mẫm trong đêm, lúc để đội hình ngồi đợi, họ bò lên hoặc tiền nhập 1 quãng xem có chốt địch không ,rồi lại quay lại dẫn mọi người đi tiếp.

Khuya, đã quá khuya.

Mọi người đã thấm mệt, cứ tạm dừng là lại thấy ngửa cổ dốc Bi đông uống nước.

Rồi lại phải làm động tác dồn nước vào nhau cho đầy bi đông.

Không để cho nước trong Bi đông vơi phát ra tiếng động óc óc.

Trời qua đêm, sương xuống nhiều.

Gió trời, sương lạnh thật khoan khoái .Mùi lúa chín thơm phức, nhưng suốt mấy tiếng giữa cánh đồng lúa nên cũng chẳng ai thấy được hương lúa nữa.

Ai nấy người ướt đẫm mồ hôi.Đã lâu lắm rồi ko bị hàng quân và thức đêm thế này.

Đi, cứ tiếp tục đi, rồi lại đi ,đi lại nghỉ.

Bẻ đi bẻ lại lấy phương vịmấy lần nữa, Trời đã tảng sáng thì đội hình cũng đã áp được vào rìa làng ,cáchmấy chốt râu tôm khoảng 50m.

Ở đó lại có mấy gò đất như mấy ngôi mộ.

Trinh sátdừng lại ở đó mời cán bộ đại đội, các BTrưởng và tôi a trực thuộc, lên chỉphương hướng và các đ/c trinh sát dừng lại ở đó.

Anh Trụ nhanh chóng chỉ hướngcho từng B.

Khẩu đội cối của tôi gióng súng tại vị trí đó .Mọi người tuyệt đốiim lặng.Các b bộ binh tiếp tục tiền nhập về hướng của mình theo đội hình gọngkìm , tiện cho viêc xung phong bắt địch.Tôi nhắc ae gióng súng thao tác thậtnhẹ.Rồi nói mọi người tranh thủ ăn cơm nắm chứ ai cũng đói rồi.

Trời đã tang tảng sáng .Vừa nhai được mấy miếng cơm nắm ,thì thấy đ/c Nam liên lạc c trườn xuống ( Phạm Văn Nam quê ở Nghệ An ít ngày sau bị thương, hiện giờ đang làm việc tại Sài Gòn ) nói: anh Phú chuẩn bị xung phong nhé.

Tôi cất vội nắm cơm cắn dở vào túi , nhắc anh em chuẩn bị xung phong chứ không bắn cối.

Xungphong ...

đầu tiên nghe rõ tiếng hô ồm ồm của anh Trụ C trưởng .Cùng lúc làtiếng hô xung phong đanh gọn của anh Tiễn cvt.

Thấy mọi người đồng loạt đứngdậy lao lên, rồi tiếng hô của anh em các trung đội.Mọi người vừa hô vừa chạytiến vào chốt địch rìa làng .Thoáng nhìn thấy 4 - 5 thằng Pốt đứng lên ngónghiêng, thằng thì 2 tay còn đang khoác cái chăn mỏng.

Chúng đang rất bất ngờ ,đứng chôn chân , mồm há hốc. không thằng nào kịp cầm súng.

Anh em đồng loạt hô" lớt đay lơn" ( giơ tay lên) bọn chúng giơ tay hết lên trời.

Thằng khoác chăn, trông rõ nó buông tay cầm , chăn rơi xuống .Anh em không bắn mà lao lên đểbắt sống.

Còn cách chúng khoảng 15m nữa .Đã nhìn rõ sự sợ hãi của chúng , rồiđột nhiên chúng như bừng tỉnh lại và hiểu chuyện gì đang xẩy ra.

Tất cả quayđầu ù té chạy.

Anh em vẫn không bắn mà đuổi theo , quyết bắt sống .Nhưng bọnnày chạy chân đất quá nhanh , chạy bán sống bán chết .

Anh em mình qua 1 đêmluồn sâu, không ngủ đã rất mệt , nên đuổi không kịp chúng.

Hướng bên B1 cũngxẩy ra tình trạng tương tự như vậy.

Chúng chạy băng qua đường 1, rồi băng xuốngđồng lúa xa dần giữa ta và Pốt.

Lúc đó anh em mới nổ súng.

Không biết có thằngnào chết không còn lại chúng chạy biến mất...Hướng đó phía đông Nam đường ,mình lại không có B nào chặn ở đó.

Bao nhiêu vất vả thật là công toi .

Thu đượctât cả súng của chúng vất lại.có 1 khẩu b40 mấy quả đạn , còn lại toàn súng ak.Thật bực mình.Rồi việc tiếp diễn xẩy ra còn tồi tệ nữa , nhất là với a củatôi.

Sau khi đuổi theo mấy thằng Pốt ra cánh đồng , cách trục đường 1 vài trăm mét .

Cũng không bắt được thằng nào.

Mọi người trở lại BaVét.

BCH C báo cáo về d xin chỉ thị .

Chỉ huy d lệnh không được rút về Biên giới mà phải chốt lại BaVét 2 đợi lệnh.

Anh Trụ lại phân các B chốt giữ các hướng chạy quanh rìa phum.

BaVét 2 là một Phum nhỏ không lớn như BaVét 1 cũng có nhà xây, nhà sàn nhưng lưa thưa hơn nhiều.

Phía Đông Nam đường B1+ B2 , phía Tây Bắc đường là B3 đầu Phum .

A11 hỏa lực cũng được tăng cường cho các B .

BCH c cùng thông tin và số ae trinh sát ở dưới gầm 1 nhà sàn giữa phum.

Riêng a 10 của tôi thì bố trí ở rìa làng , hướng Tây Bắc , tiếp giáp B3 nhưng ở chỗ góc tù hình thoi( Phum có hình thoi ).

Tôi không đồng ý với cách bố trí của anh Trụ.

Tôi nói: " Sao anh lại bố trí cối 60 ở rìa làng?

Tôi thấy không hợp lý ?

Anh phải bố trí trận địa cối ở giữa phum chứ , cối mới phát huy được hỏa lực chi viện cho các hướng .

Bố trí ở đây như là tiểu đội bộ binh tôi thấy không được.

Vì chúng tôi chí có 2 khẩu ak và mấy quả lựu đan.

Anh Trụ nghĩ ngợi một tý rồi vẫn nói: " anh cứ ở đấy đi".

Tôi phản đối mạnh hơn nhưng anh Trụ vẫn không đồng ý.( anh Trụ lính 5/71 quê ở Lộc Hồng, Mỹ Văn, Hải Hưng hy sinh ngày 8/4/78 tại Hà Tiên- Kiên Giang khi giữ chức vụ d phó d1 ).

Anh Trụ c trưởng kém tôi một tuổi , nhưng đi bộ đội hơn tôi một năm.

Tướng mạo cao to, râu quai nón trông rất dữ dằn, thuộc người ăn to nói lớn.

Nhưng thực chất lại rất hiền lành.

Anh em ở với nhau đã lâu.

Mọi lần góp ý gì anh cũng hay nghe theo .

Nhưng lần này nói thế nào anh Trụ cũng không đồng ý.

A 10 là A hỏa lực cối 60ly , loại pháo nhỏ nhất trong các loại pháo.

Nhưng khi sử dụng , ngoài số anh em gánh đạn còn số 1, số 2 đều phải là những người có văn hóa khá hơn, có ý thức nhưng cũng phải biết tính toán phần tử như các loại pháo lớn khác.

Nhiều anh em thông minh , nhưng cũng rất bướng nên thấy tôi nói với c trưởng và c trưởng vẫn không đồng ý thì mọi người rất phản ứng.

Thấy thái độ của anh em như vậy, c trưởng thì cứ quyết như thế.

Tôi đành khuyên anh em phải chấp hành mệnh lệnh .

Về vị trí chốt mặc dù trong lòng cũng chẳng thoải mái chút nào .

Trong bụng còn nghĩ sao ông này hôm nay " Hâm" thế?

Về vị trí rìa làng.

Tôi chọn hướng cảnh giới cao vẫn là hướng Tây và bố trí 2 khẩu cối hình chữ I cách nhau 15m.

Tôi là a trưởng trực tiếp chỉ huy khẩu đội 1 gồm có đ/c Biểu ( quê Nghệ An , lính 74 tuổi ngang tôi trước là công nhân nông trường gì đó ở quê) là xạ thủ số 1.

đ/c Tấn như đã nói chuyện , là xạ thủ số 2 và đ/c Hoa xạ thủ số 3 tiếp đạn.

Khẩu đội 1 được bố trí sát rìa cánh đồng .

Tận dụng cộng sự chốt của bọn Pốt , anh em chỉ sửa qua là đã có hầm đặt cối và các ụ chiến đấu cá nhân .

Ngay sát trận địa là một khóm thốt nốt 3 cây cách vị trí súng 3m,hơi lùi về sau.

Khẩu đội 2 đ/c Dự a phó ( lính 75 Thanh Hóa hy sinh ngày mồng 2 tết âmlich năm 79 ở Công Pông Sư Pư khi thaytôi làm atr a 10) trực tiếp làm khẩu độitrưởng kiêm pháo thủ số 1, đ/c Hoài (quê Hương Sơn Hà Tĩnh sau khi ta vào PomPenh ngay buổi chiếu ngày 7/1/79 lấy một cái xe máy chạy lung tung rồi mấttích luôn.Ae nói là Hoài chạy vào chỗ còn Pot nên bị bắn chết )lính 74 làm pháothủ số 2 .Hoài là thuộc thành phần nghịch ngợm.Hay tự do thiếu ý thức kỷluật.Hoài rất hay hát những bài ca của nhạc sỹ Trịnh công Sơn như "thành phốbuồn,nhớ ko em vv..."

Nhưng khi tôi về làm a tr thì Hoài rất vui hay cùng tôi đihái rau cải thiện ,rất hay kiếm được chất "cay ..cay"rủ tôi nhâm nhi.Ngoài racòn đ/c Tiến lính 77 (quê Thụy Ninh ,TT , TB .

Hy sinh ngày 3/5/78 cùngngười cậu ruột) và còn 1 đ/c gánh đạn cốinữa tôi quên mất tên.Ae khẩu đội này cứ nằm nghỉ ko chịu đào hầm pháo và hốchiến đấu .Tôi nhắc mấy lần mà ae cũng ko nghe.

Nhắc nhở anh em xong , tôi cùng đồng chí Dự đi quan sát địa hình chung quanh.

Đây là rìa làng giáp cánh đồng lúa.Từ đây vào chỗ BCH đại đội xa khoảng 100m muốn vào BCH thì phải vòng qua 1 cái ao khoảng 2-3 sào hình chữ nhật , có bờ dốc đứng .Nhìn nước đục có tăm cá .

Anh em đoán có rất nhiều cá và đang có ý định tìm cách để bắt .

Chung quanh vị trí của A đất gò hơi cao những cây trinh nữ( cây xấu hổ) rất nhiều , chúng không cao lắm mà bò lan ở mặt đất.

Muốn đi thì phải dẫm đạp nên chúng.

Hai anh em đi một vòng quanh chỗ chốt , đến cả chỗ B3 do anh Dũng ( quê Móng Cái- Quảng Ninh ) mới được đề bạt làm B trưởng.

Tôi có trao đổi với anh Dũng là A trụ bố trí như vậy và nếu có Pốt vào hướng tôi thì anh đánh tạt sườn hộ.

Thực sự là đội hình bố trí quanh Phum hình quả trám này , hỗ trợ nhau tương đối thuận .

Hợp đồng xong anh em tôi về vị trí tiểu đội.

Đã gần 10h sáng, đ/c Từ C phó và Nam liên lạc c xuống kiểm tra tình hình bố phòng của A và nói là : trên báo có khả năng Pốt đang triển khai tập kích vào đơn vị , nhắc anh em đề phòng.

Tôi nói là anh yên tâm , và đề nghị tăng cường mấy trinh sát xuống chốt cùng A10.

A Từ nói sẽ về báo cáo lại BCH C , rồi cùng liên lạc vòng sang B3.

Tôi thông báo với anh em tình hình địch và trách khẩu đội 2 sao không đào hầm.

Đồng chí Hoài vẫn vừa nằm vừa nghêu ngao cái bài ca muôn thủa: "thành phố buồn.nhớ ko em ..." thấy tôi giục nhỏm dậy nói ở: đây gần mình nó không giám tập kích đâu , anh đừng lo.

Rất bực tức , đang đứng ở khẩu đội 1, tôi đi lại chỗ Hoài và nói: " Chúng mày lười thì đưa tao đào cho" và cùng đồng chí Dự đào hầm để súng.

Đào được hơn chục nhát xẻng thì đ/c Tấn gọi : "Anh Phú ở về ăn cơm đi, kệ m...chúng nó" nhìn lên thấy Tấn ngồi dựa vào gốc cây thốt nốt gần cộng sự đang nhai cơm.

Tôi nói: " để giúp chúng nó 1 tý , Tấn ăn trước đi" Đào thêm mấy nhát nữa , thì nghe Pốt hô Trô- Trô.

Rồi tiếng súng AK nổ ran.

Tiếng đạn DKZ xoẹt ...

ầm.

Ngẩng lên tôi thấy mấy chục thằng Pốt đang tiến vào hướng chúng tôi .Chúng vừa chạy khom vừa bắn.

Rồi 1 thằng nép dưới ruộng lúa đứng vụt lên, vai vác khẩu DKZ82 tôi thấy phụt lửa và xoẹt.

Chớp lửa lóe lên rồi ... oành.

Ngay chỗ khẩu đội 1, khói thuốc súng trùm lên khét lẹt.

Thoáng nghĩ nguy hiểm rồi.

Tôi và Dự vồ lấy súng bắn luôn mất loạt AK về phía Pốt.

Tiếng anh Biển kêu rất to " Ôi tôi bị thương rồi...

Phú ơi".

Bắn thêm mấy loạt .

Thấy bọn Pốt đã gần.

Tôi hô lựu đạn.

Tôi và Dự mỗi người đều lấy lựu đạn , rút chốt và cùng ném về phía địch , oàng ...oàng...Rồi lại 2 quả nữa.Lựu đạn chắc không tới được chỗ chúng , nhưng tất cả chúng nằm hết xuống.Rồi tiếng súng của B3 anh Dũng quạt chéo sang , đánh bật bọn Pốt ra ngoài bẻ gẫy đợt tập kích của Pốt.

Trong lúc B3 vẫn đang nổ sung đánh đuổi địch.

Bọn chúng thằng thì chạy ra , thằng lại mất hút vào ruộng lúa.

Tiếng anh Biểu vẫn gào lên rất to.

Tôi nói với Dự là 2 anh em bò lên.

Dự nói : anh cảnh giới để em lên.

Tôi nói : anh em mình cùng lên.

Phải nói là Dự là lính 75 chưa vào trận thì đã giải phóng miền Nam rồi.

Chưa tham gia trận chiến nào , như vậy là Dự rất dũng cảm , bĩnh tĩnh.Tôi ngoái lại thì Hoài và anh em khác đã chạy lùi về sau.

Tôi và Dự bò lên theo kiểu bò 1 tay , còn tay phải vẫn cầm súng.Thẳng lên chỗ khẩu đội 1 .

Thấy đ/c Hoa đang nép vào bờ đất mặt tái mét, máu đã loang cả vai, một tay cầm quả lựu đạn , nhưng giữ sang chỗ vai bị thương.

Tôi nói Hoa lùi về.

Tiếp đến là thấy Tấn vẫn trong tư thế dựa người vào cây thốt nốt .

Đầu đã nghẹo xuống bất động, đã hy sinh .Tay vẫn còn cầm miếng cơm .

Vết thương chính đỉnh đầu rất to máu đẫm từ đầu xuống.Còn Biểu thì 2 tay giữ đầu gối chân phải , khu vực đầu gối máu ướt đẫm , quần rách nham nhở.

Mồm thì vẫn: " ối giời ơi, Phú ơi".

Tôi nói Dự kéo anh Biểu về để anh cảnh giới.Rồi lùi dần về đến bờ ao .

Như thấy Dự đang lựa chọn đường đi.

Tôi cũng thầm tính đi vòng bờ thì xa , và quyết định ngay nói : lội qua ao cho nhanh.

Quay lại sau không thấy bóng thằng Pốt nào nữa , hai anh em kéo Biểu xuống ao.

Nghĩ là ao nông , ai ngờ nước sâu ngụp tới cổ.

Biểu vẫn kêu rên ,tôi nói im ngay đi Pốt nó nghe thấy đấy.

Lúc đó cũng không nghĩ đến việc vết thương của Biểu sẽ bị nhiễm trùng.

Hai anh em dìu Biểusang bờ bên kia.

Tôi nhoai mấy cái mới lên được bờ.

Cầm tay kéo còn Dự ở dướiao đẩy Biểu lên.

Cả 3 lên được bờ.

Tôi ngồi xuống nói Dự để anh Biểu quay lưngáp vào lưng tôi , định cõng chạy .

Đểsúng đấy cho Dự, 2 tay tôi cầm chặt 2 tay Biểu vùng đứng dậy nhưng sao cố mãi,cố mãi mà không đứng lên được, người cứ ì ra bủn rủn hết sức.

Dự nói anh để emvà đưa lại 2 khẩu súng cho tôi , vụt đứng dậy cõng Biểu chạy về phía BCH đạiđội.

Tôi chạy theo vừa chạy vừa thỉnh thoảng quay lại quan sát địch.

Gần tớiBCH đã thấy 8-9 anh em tiểu đội B2 đang dò dẫm ra phía chúng tôi.

Vào tới gầmnhà sàn BCH đại đội , tôi thấy mắt mờ như có khói , đầu óc quay cuồng tôi nói :có chất độc , rồi gục xuống không biết gì nữa.

Mình ngất đi do mệt quá , kiệt sức nên ngất đi.Sau khi đươc y tá đại đội tiêm hồi sức cấp cứu tôi tỉnh lại , ngơ ngác ko biết những gì vừa xẩy ra.Rồi tiếng người nói,tiếng súng rộ lên.Sau đó được biết d cử c1 lên trợ chiến ,đánh đuổi Pot và hỗ trợ c3 thu dọn chiến trường.Đưa thương binh liệt sỹ về biên giới.Tôi cũng được vận tải d cáng về.

Khi đã b/t trở lại.ae kể cho tôi tiếp diễn sau khi tôi ngất đi trong khoảng 20p,bọn Pót tập kích mấy lần nữa nhưng đều bị các chốt đánh bật ra.Tổng kết lại,ta hy sinh 1 (đ/c Tấn a10) bị thương 5 đ/c trong đó a 10 có đ/c Biểu và đ/c Hoa.

Những lần gặp Hoa ở cuộc họp ccb F .

Tôi có hỏi thăm về Biểu.Khi về nước được chuyển lên phẫu của e .Rồi chuyển điều trị ở viện 175 Sài Gòn.Ko phải cưa chân tháo khớp , mà cái chân phải đó bị vỡ bánh chè.khi khỏi cứng khớp ko co ra duỗi vào được.Về quê được 10 năm thì ốm mất ở quê.

Cách đây 2 năm tôi có tìm được nhà anh Tiễn cvt hồi đó.Anh đang sống tại gia đình xã Cẩm Long,Cẩm Thủy , Thanh Hóa.Gần suối cá Thần THANH HÓA.Hiện tại anh cũng đang là đại đội trưởng chỉ huy 100 lính ....DÊ cụ...hi hi .

Ngồi nhâm ly chén rượu Mường,và thịt lính DÊ .ae ôn lại chuyện cũ và trận đánh đáng nhớ này .Buồn vui lẫn lộn.

Bước ngoặt mới :

Trung tuần tháng 11 năm 1977 chiến sự trên địa bàn do E273 đảm nhiệm vẫn diễn ra.

Ngày 17/11 bọn Pốt tung 13d chủ động đánh lấn đất Biên Giới ta từ Nam Phước Trường đến Phước Tân, Năm Căn , Hòa Hội thuộc huyện Châu Thành .

Xã Tân Lập, Tân Phú , Trảng Riệc huyện Tân Biên.

Chúng vẫn nuôi ý định ngông cuồng vượt sông Vàm Cỏ để đánh chiếm thị xã Tây Ninh

Qua học tập tình hình , được biết nhiệm vụ của toàn Quân đoàn 4 là phải đánh đuổi và tiêu diệt bọn Pốt .

Đẩy chúng về bên kia Biên Giới .

Sư đoàn 341 thiếu được tăng cường trung đoàn 14 của F7 làm nhiệm vụ tiến công địch ở khu vực 2 và 3

- Khu vực 2 là hướng tiến công chủ yếu đánh vào E21 , F290 và d7 quân khu 203 của Pốt trên trục đường 241

- Khu vực 3 là hướng tiến công quan trọng , đánh vào E 182,F3 và khoảng 5 tiểu đoàn địa phương QK 203 của Pốt .

Tối ngày 2/12 E trưởng 273 Trần Măng ( quê ở Đông Anh Hà Nội) trực tiếp về Quân đoàn nhận n/v.

E273 ( Thiếu d2) cùng E266 được tăng cường 4 khẩu pháo 85 ly đảm nhiệm tiến công hướng chủ yếu là M1,M2 ( mật danh của KoKiSaom và Sang Kum miên Chay) E273 đánh từ Tây Bắc xuống.

E266 Vu Hồi phía Nam, Đông Nam.

Cách đánh của E273, E266 là bí mật, luồn sâu, vận động hình thành thế bao vây.

Dùng hỏa lực chi viện cho bộ binh xung phong diệt địch.(Khi luồn sâu,địa hình phức tạp.Nên có pháo binh sư đoàn bắn cầm canh để chỉ hướng hành quân luồn sâu vào đất địch).

Hướng quan trọng tiến công theo trục đường số 1 , gồm có E14 của F7 + D2 của E341.

Phải đánh cơ động nên được tăng cường 30 xe ôtô cùng tăng thiết giáp, tăng cường 2d pháo mặt đất 1d pháo cao xa 37 ly hai nòng.

Tiến công, hành tiến bằng sức mạnh hợp đồng binh chủng. d2 của E273 cùng 2 đại đội thiết giáp M113 từ Tốc Xé , Tiên Thuận đánh qua PaVét 1 xuyên rừng Sở , đánh vào sườn nam Chi Phu ở thị trấn Pờray,Kôki

Các đơn vị được học tập, quán triệt nhiệm vụ chiến đấu , mục tiêu tiến công nghiên cứu tỷ mỷ trên sa bàn, bàn đồ và khẩn trương làm các công tác chuẩn bị cho chiến dịch.

Một không khí chiến đấu lại bừng lên, Các hội nghị quân chính các cấp, hội nghi đoàn thanh niên ,chi bộ đảng từng đại đội ,từng bộ phận.Tổ chức học tập.quán triệt tình hình và n/v chiến đấu mới ,cách đánh mới.ko thể để cho bọn Pot chủ động chọc phá chiếm đất của ta.Phát động quyết tâm đánh giặc.Truyền thống của quân đội NDVNAH .

Các trợ lý tác chiến , trợ lý chính trị E,F tăng cường xuống từng c bb để phổ biến tình hình .Phát động thi đua vv...Và tăng cường trực tiếp đi luồn sâu tác chiến cùng các đ/v .

Ngày giờ tiến công đã được ấn định là N+2 tức ngày 6/12/77.

Đây mới chính thực là trận chiến , mà sức mạnh của hỏa lực , kết hợp với tinh thần dũng cảm .

Chiến thuật tác chiến tài tình của quân đội nhân dân Việt Nam .

Được gởi gắm vào những người lính của quân đoàn 4 .

Và trực tiếp là sư 341 và trung đoàn 14 sư đoàn 7

Từ cán bộ chiến sỹ lại rất khẩn trương củng cố ý chí ,trang bị vũ khí trước nhiệm vụ nặng nề này .

+( Trong bài viết có sử dụng 1 số tư liệu về địch của trung đoàn 273)

Sau khi đã bàn giao địa bàn cho các đơn vị của bộ đội Tây Ninh chốt giữ.

Ngày 4/12 các đơn vị chuyển quân đến vị trí tập kết.

E trưởng Trần Măng đi cùng hướng chủ yếu với d1, d3, E Phó Nguyễn Rấng và tham mưu trưởng e Trần Quy Nhơn đi với hướng quan trọng cùng d2 . ( Tham mưu trưởng Trần Quy Nhơn lính 60 quê ở thôn La Uyên , Minh Quang , Vũ Thư- Thái Bình hy sinh ngày 4/2/2978 tại An Giang)

Các đơn vị được cơ động bằng xe ô tô từ khu vực Bến Cầu, Gò dầu đi vòng vèo nghi binh.

Về Thị xã Tây Ninh rồi tập kết ở khu rừng Phước Trường Phước Chỉ.Giữa khu vực đường 13 và đường 1 .

Tôi nhớ hôm đó là chiều chủ nhật .

A10 được ngồi cùng xe ô tô với BCH đại đội , xe Hồng Hà 3 cầu vừa đi vừa bò theo đường xe trâu kéo .

Đường rừng rất xóc chậm chạp leo qua từng đống đất , những gốc cây.

Đúng là phải rẽ rừng ra mà đi .

Vết đường xe trâu kéo thì nhỏ, xe tải Hồng Hà 3 cầu thì to.

Anh em cứ tý tý phải cúi rạp xuống để tránh cành cây , hoặc đứng lên bẻ uốn các cành cây không bị đâm ,gạt vào người.

Được cái trời nắng.

Nhưng nơi đây rừng thấp ẩm , thỉnh thoảng xe phải lấy đà mãi mới vượt qua được những đám lầy.

Anh Tiễn cvtr có cái đài 3 băng Nationa bây giờ mới đáng quý.

Đài tiếng nói Việt Nam đang tường thuật trực tiếp trận bóng đá giữa 2 đội CA Hà Nội , thi đấu tranh giải với đội Tổng cục Đương Sắt .

2 đội bóng thời đó được xếp vào loại nhất nhì của bóng đá VN .Tiếng hò reo của khán giả, kèm cả tiếng trống gõ, tiếng kèn của các cổ động viên sao hào hứng đến vậy.

Nơi đó đang yên bình, hàng vạn người, triệu người đang theo dõi trực tiếp hoặc gián tiếp trận đấu.

Và ngay chúng tôi cũng đang theo dõi trận đấu.

Nhưng không phải trên sân Hàng Đẫy.

Không phải bên anh em , bạn bè , vợ con .Có trà , có rượu .

Mà chúng tôi theo dõi trận đấu bên đồng đội, bên súng, bên đạn và trên xe xóc giữa rừng , đường ra chiến trường.

Có ai biết nhiệm vụ vinh quang , nặng nề của chúng tôi .

Ở đó , trận bóng thắng lợi là tính theo tỷ số bàn thăng,thua thủng lưới .

Nó đổi bằng kỹ chiến thuật và mồ hôi .

Còn chúng tôi thắng lợi là tính bằng nhiệm vụ có hoàn thành ?

Và phải đổi bằng vất vả gian lao, bằng xương bằng thịt, bằng máu của tuổi trẻ, bằng danh dự dân tộc.

Bất giác tôi nghĩ : chúng tôi đang vào trận đấu thếnày , mà sao không có bình luận viên tường thuật cho mọi người cùng nghe, cùngbiết .

Nhất là gia đình và tất cả những người thân yêu của mình .

Ngày mai sẽlà trận đấu pháo, đấu súng, đấu sức vóc trí tuệ .

Với những tiếng nổ ầm vang ,long trời lở đất .

Mà sao vẫn im lặng thế này .

Vẫn còn rất nhiều người khôngbiết đến trận đấu đăt biệt này.

Chiều tối ngày 4/12 toàn bộ đội hình ( thiếu) của E273 đã tập kết ở khu rừng Phước Trường, Phước Chỉ.

Trạm Phẫu và Sở Chỉ huy hậu cứ đặt tại đây.

Các đơn vị làm công tác chuẩn bị lần cuối .

Nhưng với phương châm là thật bí mật.

Anh nuôi cũng lại phải tổ chức đào bếp Hoàng Cầm nấu ăn để không bị khói.

Anh em ở yên tại vị trí không đi lại.

Không cho trinh sát của Pốt biết đội hình 2 trung đoàn đã tập kết ở vùng này.

Ngày 5/12 vẫn trong trạng thái như vậy , thỉnh thoảng pháo binh của F bắn mấy quả vào sâu nghi binh địch .

Để ngày mai bắn pháo dẫn đường không bị lộ.

17h chiều các đơn vị đã tổ chức cho chiến sỹ ăn cơm xong và ngoài lương khô , mỗi người còn thêm một phần cơm nắm muối mè , nước uống cũng đã đầy bi đông.

Đại đội nào ở nguyên vị trí ấy đợi lệnh .

19h ngày 5/12 trong rừng trời tối đen như mực.

Lệnh lên đừờng luồn sâu sang đất địch.

Được thông báo từ đây sang M toàn đầm lầy, cỏ lác và có nhiều chốt của địch.

Trinh sát phải dẫn đường luồn lách tránh né .

Các chốt của chúng , không được cho địch phát hiện.

Gặp địch cũng phải nằm im không nổ súng, và phải tìm đường tránh.

Ra đến rìa rừng là đồng lầy ngay.

Đến bây giờ tôi vẫn còn cảm giác rợn người.

Khi bước đầu tiên lội đầm hôm đó .

Bước ngập giày rồi cứ từ từ sâu dần , tới gối rồi có chỗ tới bẹn.

Đi trong nước, dầm trong nước không phải một tiếng, 2 tiếng .

Mà suốt từ 19h tối cho đến sáng .

Mùi cỏ rác sình lầy hôi hám ùa lên.

Chắc nơi này là cánh đồng , là đầm lầy nguyên sinh mà các người lính F341 đặt chân khám phá đầu tiên.

Tôi chợt nghĩ như vậy.

Mọi người được truyền lệnh : bước dưới nước không được để phát ra tiếng động nước.

Tiếng bước chân cộng hưởng của cả đoàn quân hàng ngàn người sẽ là rất lớn.

Đi , cứ đi , cứ dò dẫm rồi lại nghỉ lại đi .

Nhưng ở đây là đứng nghỉ chứ làm sao mà ngồi được, giữa đầm nước này .

Mệt và rét vì ngâm nước lâu.

Nhưng không một ai kêu ca.

Mà kêu ca với ai được giữa không gian tĩnh lặng thế này.

Mà mọi người cùng đi cùng chịu đựng.

Từ ông Trung đoàn trưởng, tới ông bác sỹ, anh nuôi, lính chiến, binh nhất, binh nhì.

Mỗi người mang vũ khí đạn dược khoảng hơn 20kg.

Mỗi người đeo 1 cái bồng tư trang nhỏ sau lưng bằng cái vỏ bao cát của lính VNCH thời trước.

Khổ nhất là các anh em Hỏa Lực súng 12 ly,7 cối 82 và ĐK75.

Họ phải khênh khí tài rất nặng, mà không được phép để xuống nước.

Lúc đi lúc dừng, số vũ khí tài đều ở trên vai người khênh.

Tôi chợt nghĩ tuổi này 18-20 , ở nhà bố mẹ còn phải lo cho từng ly từng tý.

Có khi sáng còn phải gọi mãi mới dậy.

Còn ở đây lại thế này.

Mọi người hay nói câu cửa miệng là : đi lính là vất vả, hy sinh thật ngắn gọn.

Nhưng có ai biết được trước trận đánh, trước hy sinh người ta phải khổ ải thế này........

Đi.

Đoàn quân rồng rắn đi bìbõm trong nước.

Bỗng thấy một tốp mấy người đang đứng .

Nổi nhất là E trưởngMăng , người cao lớn tay cầm nâng dây hữu tuyến để anh em chui qua. (dây hữutuyến của Pốt) và nói : " các em cố gắng nhé".

Sao bình thường họp hành, thìnói đồng chí nọ, đ/c kia .

Còn bây giờ các cấp Thủ trưởng lại chỉ gọi lính làem nhỉ ?

Đang phân tâm bởi suy nghĩ đó, rồi nghe Pằng- Pằng – Pằng .

Mấy loạtAK bắn về phía chúng tôi.

Đạn chiu chíu, viên thi găm xuống nước, viên thì vọtlên trời.

Loạt đạn của Pốt bắn khá bất ngờ.

Mọi người theo phản xạ ngồi thụp hoặc khom người xuống.

Nhưng nước, làm sao mà ngồi được.

Cũng chẳng có chỗ nào nấp, mà tránh đạn.

Đành đứng yên chịu trận.

Một đ/c trinh sát bị thương vào vai , may vết thương không nặng lắm .

Anh em băng bó xong lại dìu đi tiếp.

Bọn Pốt ở chốt chắc chắn bắn bú họa thôi.

Sau 1 vài loạt AK , rồi đêm tối lại im lìm bao phủ.

Đầm lầy rất rộng mà sao không có 1 tiêng kêu của ếch nhái ?

Như vùng đất chết.

Ở quê mình, cứ có nước là có cá,có ếch nhái, đêm tối thế này là chúng kêu rên rĩ.

Đội hình lặng lẽ hơn, mọi người dò dẫm như đi trong nín thở.

Đi , vẫn đi .

Cả trung đoàn vẫn tiến vòng vèo , luồn vào sâu đất địch.

Thỉnh thoảng lại có tiếng pháo 85ly của ta bắn vào các mục tiêu của Pốt.

Nhưng mục tiêu bắn pháo, là để dẫn đường cho đơn vị tiền nhập, vì đầm lầy quá rộng, khó có thể đi theo phương vị.

Hướng pháo nổ là những M cần đến.

Lần trước, cũng luồn sâu nhưng chỉ có 1 c3.

Còn hôm nay, trận này luồn sâu vào đất địch có cả trung đoàn hàng ngàn người nên tư tưởng anh em cũng đỡ nghĩ ngợi hơn.

Mặc dù hôm nay luồn sâu khổ hơn lần trước rất nhiều .

3h sáng ngày 6/12 gần đến mục tiêu, lại gặp E trưởng cùng 2 đồng chí D trưởng D1-D3 đứng động viên anh em (Đ/c Nguyễn Minh Tân D trưởng D1 quê Thanh Trì Hà Nội .

Đ/c Nguyễn Song Thao D trưởng D3 quê ở Long Sơn Anh Sơn Nghệ An hy sinh ngày 18/7/78.

Được truy tặng danh hiệu AHLLVT ) hướng dẫn các đơn vị chia làm 3 hướng đánh.

Các đơn vị hỏa lực cũng đã được phân đi với các mũi .

Sở chỉ huy E ở ngay vị trí đó, cùng các trinh sát, vận tải thông tin.

D1 và D2 tiền nhập tiếp.

Khoảng 1km nữa thì có bờ mương , là địa điểm tập kết cuối cùng .

Bờ mương không cao lắm mà đất còn ướt nhoét.

Chắc bọn này mới đào.

Theo quan sát, từ đây vào Phum theo hướng đánh của C3 còn khoảng 300-400m nữa.

Như vậy khi tiến công là phải vận động hơi xa.

Nhưng trinh sát báo : Không thể tiến thêm được nữa vì bên kia mương vẫn là đầm lầy , có cây tràm xâm xấp nước.

Ta lợi dụng bờ mương nước nghỉ, đợi lệnh tấn công.

Pháo dẫn đường vẫn bắn cầm canh có vẻ rất thưa thớt, lạc lõng.

Trời đã tang tảng sáng, mọi người tranh thủ nghỉ ngơi và đào công sự.

Tôi nói anh em đào trận địa cối.

Lần này 2 khẩu đội răm rắp theo lệnh, mặc dù rất mệt .

Đất ở đây nhão cũng dễ đào, nhưng tôi nghĩ bắn cối sẽ rất khó vì bùn lún, nên tôi nhắc anh em lấy phần tử bắn + thêm tầm bắn 200 m nữa để trừ lún bùn..

Bộ đội bám dầy đặc dọc bờ mương.

Bên cạnh tôi là anh em D3 , gióng súng 12,7 nghe lách cách tiếng kim loại va chạm.

Dù ai cũng đã thành thục thao tác và quá khẽ khàng.

Tôi nhắc nhở mọi người lấy cơm nắm ăn.

Trời ơi! cơm nắm, nắm cơm chắc đã bị ngâm nước lâu , lại đeo ở bên người quăng quật nên đã vữa hết.

Ngậm ngùi nhưng đói và mệt .

Và vì sự sống nên vốc cơm ăn với muối vừng . ( May gói muối tôi lại cẩn thận để túi áo ngực , nên không bị ướt mấy ).Cũng vẫn thấy ngon.

5h25 .

Đằng đông trời đã ửng hồng ...

Ùng – ùng - ùng , các loại pháocủa F đồng loạt bắn.

Rồi bắn cấp tập dồn dập vào các mục tiêu.

Dọc tuyến biên giớitừ đường 13 đến đường 1.

Cuộc tấn công cấp quân đoàn toàn tuyến từ đường 13 đếnđường 1 bắt đầu.

5h45 lệnh xung phong .

Các loại súng DK, B40 , B41 và 12,7ly đồng loạt phát hỏa .

Bắn vào hướng tấn công , bộ đội ào qua mương nước.

Nước ngập đến cổ , nhưng mương nước không rộng lắm anh em vọt qua ngay.

Khẩu 12,7 ly của C16 tăng cường cạnh tôi , vẫn nhả đạn thùng- thùng- thùng – thùng yểm bộ cho bộ binh xông lên .

Vẫn tiếng thét xung phong to nhất là của anh Tiễn cvtr .

đã có nhiều tiêng súng bắn trả của bọn Pot .

Tôi hô anh em bắn cối vào làng.

Bắn thử quả thứ nhất .

Tong , bẹt....

Bùn đất của nơi để cối văng tứ tung.

Không kịp theo dõi đạn rơi.

Nhưng thấy đất bùn nhão quá , sợ đạn rơi vào đội hình ta .

Nên tôi không cho bắn nữa.

Ra lệnh thu cối tiến theo bb .

Vừa dứt lời , thì một con chim , không phải ,mà là một quả đạn lao đến rất nhanh.

Trong tích tắc cúi người xuống theo phản xạ .

Bọp- một tiếng thật gọn.

Qủa B40 cắm ngập vào đám bùn đất của anh em đào đắp lên , đuôi cánh rung rung.

Ngay sát tôi và khẩu đội cối .

đạn không nổ.

Hú hồn vía.

Lúc đó không thể giải thích được tại sao ?

Tôi giục anh em thu cối , vọt nhanh đề phòng B40 nổ chậm.

Tụt xuống mương nước, lội mấy bước là lại leo được sang bên kia.

Bọn nàyđào mương sao lại đắp đất có 1 bên.

Thoáng nghĩ vậy rồi chạy tiến tiếp.

Đúngnhư trinh sát nói : đầm lầy xấp xấp nước có những bụi cây tràm nhỏ , nhưng chạychậm được.

Tiến tiếp khoảng 4-50m thấy anh Tiễn mặt đỏ gay .

Đang cắn dây hữu tuyến của Pốt .

Cắn nhằng nhằng mãimà không đứt.

Tôi nói anh để tôi .Tôi rút dao gắm cắt , nhưng cắt không được.Nền đất bùn nên không có chỗ kê để chặt.

Rất nhanh tôi lấy sợi hữu tuyến ( saochúng nó chỉ có 1 sợi chứ không hai sợi như mình ) để ngang qua miệng khẩu ẠK.Một tay tôi giữ gần miệng nòng , để cho giây ở giữa ngang lòng súng , tay phảibóp cò Pằng- Pằng đạn cắm xuống bùn tóe lên.

Sợi dây trằn qua không đứt.

Tôilại nghĩ và lấy dao cạo lớp vỏ nhựa , rồi cắm chỗ đó xuống bùn cho nó chạm mát.Đến bây giờ , ngồi nghĩ lại , vẫn thấy những hành động đó thật buồn cười và cóphần "ngớ ngẩn" nữa.

Tiếp tục chạy tiến vào Phum.

Các loại súng bộ binh vẫn nổ ròn.

Thỉnh thoảng lại có tiếng ầm- đoàng của B40-B41 hoặc ĐKZ vẫn những tiếng hét xung phong của anh Tiễn CTV trưởng.

Sao ông này hét khỏe thế ?

BB đã chiếm được các trận địa, rìa làng, tiến vào Phum.

Gặp , và cắt ngang đường bộ 241.

Đuổi Pốt chạy ra cánh đồng.

Rải rác là xác những thằng Pốt trúng đạn ở tư thế đối kháng, hay nằm xấp do bị trúng đạn khi chạy.

Anh em sau ào lên gặp những thằng này, còn cẩn thận bồi thêm mấy phát nữa.

Khẩu đội tôi đã lên đến đường 241, đất cứng quan sát M quá rõ, bắt đầu phát huy tác dụng.

Anh em nhanh chóng lấy phần tử, bắn đuổi địch.

Đạn trúng đích, cứ thấy bọn Pốt biến mất trong ruộng lúa, khói đạn cối nổ bùng lên, rồi lại thấy chúng dậy chạy, nhưng có vẻ thưa hơn .

Cho chúng mày nhớ đời !

Tôi cho anh em bắn thêm mấy quả nữa rồi thôi.

Để tiết kiệm đạn.

Vì biết rằng trận chiến hôm nay mới chỉ bắt đầu .

Toàn đại đội tạm dừng xốc lại đội hình .

Đại đội 3 như vậy sau 30 phút tiến công đã chiếm gọn khu vực hậu cần E21 của địch, diệt hơn 30 tên.

Số vũ khí thu được rất nhiều.

Phía ta bị thương 3 đ/c hy sinh, 1 là đ/c Tạ mạnh Hiền A trưởng.

Trong lúc truy kích địch qua đường 241 ra cánh đồng, bị trúng 1 viên đạn thẳng của Pốt đúng giữa trán.( Đ/c Hiền quê ở Thống Nhất , Hưng Hà , TB .

1 trong 6 đ/c cùng được về phép, cùng lấy vợ, chưa có con và trong 6 đ/c này hy sinh 5 đ/c).

Cùng lúc được thông báo, đại đội 1 và 2 đã làm chủ trận địa cối của Pốt diệt 25 tên, thu được 2 khẩu cối 122m và nhiều súng.

Đồng chí Ngô Khắc Quyền lính 1975 quê Thanh Hóa , đã bắn liền hơn 10 quả B40 diệt được các mục tiêu. ( đồng chí Ngô Khắc Quyền , quê ở Thọ Thành, Thường Xuân, Thanh Hóa hy sinh ngày 18/7/78 được quốc hội truy tặng danh hiệu AHLLVT h/s cùng ngày với tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sông Thao , Liệt sỹ AHLLVT hy sinh cùng ngày 18/7/78 tại hướng đường 13, Bến Sỏi đi sang ).

Chỉ huy D3 tiến công sang SăngKum- Miên Chay .

Gặp khó khăn vì địch chốt trong rừng thưa.

Nên phòng thủ quyết liệt.

Tấn công trực diện gặp khó, D trưởng Thao và CTV Phó Đặng Văn Lưa hội ý, rồi sử dụng C9 và mũi chọc sâu là B2 do đ/c B trưởng Nguyễn Cảnh Hồi vòng phái đánh tạt sườn.

Đội hình địch rối loạn, bị chia cắt.

Các đại đội 10,11 ào lên tiêu diệt và chiếm các M .Bọn Pốt vỡ trận tháo chạy về hướng Tây như 1 đàn vịt.

D3 thừa thắng xông lên truy kích ra mãi ngoài xa cánh đồng.

Mục tiêu tấn công của D 3 đã hoàn thành .

Trung đoàn thông báo : lúc này hướng đường 1 , D2 của E273 cùng đội hình Mạnh của E14, F7 phát triển thuận lợi.

D2 đã tiến đánh qua PaVét 1 về hướng Chi Phu .

E14 tiến đánh thẳng về phía cầu Parasot .

E266 cũng đã hoàn thành các M , bên trái của E273 .

Cũng đã tạm dừng truy kích, để xốc lại đội hình .

Đây là những thắnglợi đầu tiên trong ngày.

Nhưng trận chiến tiếp diễn sẽ rất gay go phức tạp.

Vìlực lượng của ta và của Pốt đã lẫn lộn nhau.

Bọn chúng rút chạy nhưng lại gặpcác lực lượng của ta.

Vì vậy ta và Pốt ở giữa các vòng vây của nhau.

Bắt đầudiễn ra các trận đánh nhỏ cấp trung đội, đại đội.

Hỏa lực như pháo cối khôngthể hỗ trợ được.

Bọn Pốt bị đánh đuổi rất cay cú.

Chúng đã bắt đầu quay lạiphản kích.

Bọn ở phía trong cố sống cố chết để mở vòng vây chạy.

Nên chung quanh từng đơn vị đều có địch.

Và ngaychúng ta cũng bị lẫn lộn giữa đơn vị nọ,với đơn vị kia.

Có khi cứ tưởng Pốt là đơn vị bạn .

Đơn vị bạn lại tưởng làPốt.

Những điều này làm cho trận chiến căng thẳng, phức tạp lên nhiều .

Phía tahy sinh và thương vong cũng không nhỏ .

Khoảng 8h30 địch bắt đầu phản kích từ hướng Tây Nam , Tây Bắc, vào các đơn vị.

Hướng Đông Bắc đã có nhiều tốp địch chạy từ phía biên giới ta về.

Chúng đi thành nhiều đoàn ,mỗi đoàn khoảng trung đội , đại đội .

Đi theo nhiều đường.

Mới đầu anh em tưởng là đơn vị bạn tiến về .

Vì cũng được thông báo có các đơn vị cùng tham chiến.

Hướng Tây Bắc chúng tiến vào rất hiên ngang , nên anh em lại càng tưởng quân ta .

Một số anh em ra bắt liên lạc , theo quy định thì có 3 cách bắt liên lạc.

- 1 là giơ mũ hoặc khăn tay lên trời quay 3 vòng, bên kia cũng giơ tay lên trời quay 2 vòng + lại = 5 là đúng mật lệnh .

- 2 là hô to – 75 - đối phương phải trả lời là : Hồ Chí Minh thì cũng đúng mật khẩu.

- 3 là bắn ba phát AK lên trời, đầu kia bắn 2 phát cũng là đúng.

Anh em ra bắt liên lạc cách thứ nhất quay mũ 3 vòng, bên kia chúng cũng giơ tay quay mũ .

Sử dụng cách thứ 2 , hô to là 75 chúng cũng hô lại xa nghe không rõ.

Anh em bán tín bán nghi , vì trông xa vài trăm mét thì trang phục quần áo rất giống của mình.

Quần áo của mình mầu xanh , bị ngâm nước nhìn xa nó cũng trở thành mầu đen.

Tôi dùng ống nhòm quan sát kỹ , cũng không thể nhận được ta hay địch.

Chúng vẫn dàn hàng ngang tiến vào, khoảng cách đã không còn xa, anh em bắn súng hiệu , thế là chúng ào vào .

Vừa bắn vừa hô ầm ĩ trô , trô .

Xông thẳng vào vị trí của ta .

Bây giờ thì đã rõ, bọn này thật dũng cảm , nhưng ngông cuồng.

Các loại súng của ta bắn trả rất mãnh liệt .

Nhưng 2 đồng chí khi chạy ra bắt liên lạc thì 2 đ/c không chạy vào với đồng đội được nữa.

Tôi nhanh chóng cho 2 khẩu đội cối nấp sau 1 bức tường , bắn yểm hộ cho đơn vị, đạn rơi rất gần cự ly khoảng hơn một trăm mét , và rất có tác dụng .

Làm cho đội hình Pốt chùn bước.

Nhưng chúng dùng thủ đoạn , cứ nằm xuống lấp nắp đạn B40- B41, ĐK82 bò tiến rồi lại đứng thoắt dậy bắn rồi lại nằm nấp trong ruộng lúa, dù không nhìn thấy Pốt.Nhưng anh Trụ vẫn cho 2 khẩu đại liên bắn găm xuống ruộng lúa .

Chúng bò lùi ra xa, như vậy đợt phản kích thứ nhất bị bẻ gãy, anh em tiến ra ruộng lúa tìm 2 đồng đội.

Cánh đồng rộng tìm rất khó gặp rất nhiều xác Pốt, gần 30' sau mới thấy được 2 đồng đội mình.1 đ/c hy sinh.1 đ/c bị thương nặng .

Sau đợt phản kích của Pốt, thấy vị trí đặt cối chưathuận lợi , tôi cho anh em lùi vào trong làng.

Gặp anh em phía sau của d3 ,cũng đang chạy đến.

Ngay phía sau anh em cũng là Pốt .

Bọn này chạy ở biên giớivề , rất nguy hiểm vì phía này lực lượng bb không có mà đa số anh em phục vụ .Anh em vừa chiến đấu , vừa lui về gần đường 241.

Gặp tôi, tôi nói phía trên có Pốtđang đánh nhau.

Không đi được nói anh em nhanh chóng chốt lại .

Tôi còn cối chiviện .

Và giục anh em gióng cối bắn hỗ trợ.

Lúc đó các hướng đều có những tiếngsúng bắn qua lại rất rát , như vậy chung quanh ta đều có Pốt .

Tôi nói ae đitìm nhặt súng ak để trang bị thêm .

Cuộc chiến này mới chỉ bắt đầu .

(Bon Pot phải công nhận là chúng cũng rất ranh ma .

Chúng nhận ra ta dễ hơn .

Vì các đánh của ta cũng đã là các đánh hiên đại .Chúng đang còn lối đánh du kích .Chúng cũng đã được tôi luyện trong cuộc chiến với bon Lon lon Xi Ríc rồi.Bài bản chiến đấu ,kỹ năng chiến đấu lại là trò của mình .

Vũ khí bb thì giống nhau .Thậm chí nó còn sử dụng b40-41 nhiều hơn mình .Cái loại súng chống tăng mà bây h toàn dùng chiến bộ binh nên rất nguy hiểm .

Trong trận chiến với Pót , ta được trang bị thêm loại súng của mỹ là M72 , là súng chống tăng như b40 vỏ nhựa ,dùng bắn 1 lần .Loai súng nữa là m79 thì lính ta thích dùng hơn vì nó vô cùng lợi hai , gọi là súng cối cá nhân .

Nó tiêu diệt và sát thương được bb có vật che khuất rất chuẩn xác.

Năm 75 khi tấn công căn cứ Chơn Thành Bình Long .

Anh em d2 e 273 khi mở cửa mở 20 lớp hàng rào.Bị lộ .

Anh em toàn lấp sau những ụ mối to như đống rạ để tránh đạn thẳng.Trong tầm 2-300m .Thế là toàn bị ăn đạn của m79 .

Thương và hy sinh 2 đại đội gần 200 người .

Trong trận này , loại súng này , cũng rất giúp ích cho mình tiêu diệt bọn Pot , cố thủ ngoài đồng lúa .vì chúng ko có công sự,lợi dụng bờ mương ,bờ ruộng nhưng ko có che chắn bên trên.

Nên anh em mình ngoài súng ak , còn phải mang thêm súng m79 nữa .

Cónhiều đ/c còn mang tới 3 khẩu súng các loại .)

Trận chiến gần như là hỗn loạn.

Các đơn vị của ta đều phải tự lực chống trả địch .

Lực lượng của ta lúc này không có điều kiện chi viện cho nhau.

Chỉ huy E và F cũng không thể nắm chắc được khu vực nào có địch .

Khu vực nào không .

Vì bọn Pốt rút chạy di chuyển lung tung.

Gặp ta chặn đường chúng chiến đấu mở vòng vậy .

Nếu thấy ta cứng quá chúng lại chạy , di chuyển đi hướng khác .

Chúng nó như cá đã vào trong lưới tìm đường thoát.

Nhưng ở đây chúng còn vòng ngoài , hướng Tây Bắc , Tây Nam hỗ trợ .

Lúc 11h , được tin đồng chí Lương Trác Thành cvtr , C10 hy sinh .

Đ/c Thành trước ở c2 ,d1 .

Là 1 người rất cẩn trọng , có uy tín .

Hồi tôi còn ở dbộ d1,hay thường xuyên xuống làm việc về tình hình chính trị đại đội .

Đ/c Thành thường rất cẩn thận , tỷ mỷ trong báo cáo .Rất tôn trọng các trợ lý của d .

Lại có năng khiếu văn nghệ . các cuộc hội họp quân chính d , thường hay lên hát các bài dân ca quan họ như : mười yêu , mười nhớ , mời trầu vv...Quê đ/c Thành ở Vạn Sơn , Đồ Sơn , Hải Phòng .

Hôm trước khi được điều lên tuyên huấn e .

Gặp nhau anh kể : về phép mọi người giới thiệu 3 đám mà cô nào cũng chê mình "Dừ quá" .

Đến chơi toàn gọi mình là chú mới ác chứ , mong được 1 người gọi mình là "anh"mà ko đươc .

Về phép được 25 ngày thì ở nhà 20 ngày , buồn quá trả phép sớm 5 ngày .

Ko ngờ trong trận chiến này lại sớm hy sinh . ( sau trả phép , có lệnh đi c/đ ở biên giới lại được điều về làm cvtr C10 , D3 ).

Trận đấu liên tục đến quá trưa , thì tương đối im tiếng súng .

Vì chúng chọc lung tung cũng không thoát .

Nên cố thủ giữa cánh đồng , có ý lẩn trốn đợi tối sẽ tính đường chuồn.Phía ngoài chúng tấn công ta ồ ạt mấy lần đều bị ta đánh lui , bị tiêu hao sinh lưc lớn ko giám hung hăng như trước nữa .

Nên các đơn vị của ta , cũng đã bắt đầu tổ chức truy quét , trong cánh đồng lúa rộng lớn .

Đã có những trận chiến nhỏ , nhưng lại rất khốc liệt , vì bọn Pốt ngoan cố không chịu hàng, lợi dụng những bờ mương, Bờ ruộng cố thủ đến cùng và bị tiêu diệt hết .

Phản kích mấy lần không được , lực lượng bị vậy cũng còn nhiều.

Chúng gọi pháo và các loại cối 82, 60ly bắn vào khu vực kiểm soát của ta .

Làm anh em thương vong 1 số. trong số hy sinh có đồng chí Phạm Văn Long .

Long trước làm công vụ cho chính uỷ e Vũ Trường Long.

Sau chuyển về thông tin hữu tuyến d1 .

Quê Đông Hoà, Đông Hưng, Thái Bình .

Gia đình Long đi theo đạo thiên chúa, trông Long trắng đẹp như 1 thư sinh .

Rất gần gũi với Phú.

Cùng sinh năm 1954 ngang tuổi em gái Phú nên hay trêu nhận là em rể.

Thế mà lại ra đi , mất mát hy sinh toàn những người gần gũi thân thiết , ngậm ngùi đau thương càng nhiều ..gấp bội .

Cũng diễn biến trong buổi sáng ngày 6/12 đó , khi nhận được lệnh đưa dẫn các thương binh nhẹ về phía sau của D3, đ/c tân binh Trần Thanh Thuỵ trên đường đưa thương binh về , gặp khoảng một trung đội địch .

Rất bất ngờ , nhưng cũng rất dũng cảm, một mình Thụỵ cùng mấy đ/c thương binh , chống chọi với trung đội của Pốt.

Tiêu diệt được 5 tên, bọn còn lại bỏ chạy nhưng Thuỵ cũng bị thương .

Cả nhóm thương binh không về căn cứ ngay được, có một đ/c chạy mất phương hướng rồi về được tới cứ ở rừng Phước chỉ .

Hốt hoảng kể rằng Thuỵ và một số anh em thương binh có thể bị Pốt bắt.

Đến 5h chiềutình hình đã tạm yên, d3 được lệnh trở về Phước chỉ , còn đại bộ phận chốt lại, d3 rồng rắn trở về.

Ở cứ phát hiện thấy d3 lại tưởng là Pốt, suy luận là Thuỵdẫn đường cho Pốt tấn công hậu cứ .

Thế là ae hậu cứ chạy tán loạn .( Ở cứ toànanh nuôi, hậu cần, quân y và mấy ae trợ lý) chỉ có mấy đ/c trinh sát có bảnlĩnh , ở lại bán địch.

Sau khi biết là d3 trở về .Mọi người mới vỡ lẽ , bừnglại vui vẻ .

Nhưng ai nấy đều ngượng ngùng .Và việc này,nó đã trở thành 1 đềtài vui mãi sau này .

Buổi chiều , toàn mặt trận đã lặng im tiếng súng .

Bọn Pốt cũng không thấy pháo , cối gì nữa .

Lính ta được lệnh : Các đơn vị chốt ngay vị trí đang dừng chân .

Làm nhiệm vụ để phòng địch mật tập , phản kích, củng cố trang thiết bị .

Nhất là hậu cần tại chỗ để bồi bổ sức khỏe .

Thu gom vũ khí của Pốt , trang bị thêm cho mình .

Tập trung thương binh , tử sỹ đợi lệnh .

Lính ta được dịp xả hơi.

Tận dụng lương thực , thực phẩm của Pốt để lại .

Gạo, gà vịt sao nhiều thế.

Những cái đầm nhỏ , mà những con cá lóc, cá rô, cá trê thật lớn.

Chỉ không có tý cay, cay.

Hết nấu cơm, lại nấu cháo với những thứ đó , thật lý tưởng .

Mọi người ăn no nê , nghỉ ngơi đợi lệnh.

Ai cũng nghĩ chiều tối sẽ có "nước mã hồi ", được trở về Biên giới .

Gần 5h chiều .

D3 được lệnh về Biên giới .

Khênh cáng thương binh , liệt sỹ về nước .

Còn d1 , và các đơn vị của E266 chốt chặn lại .

Được phép chuẩn bị lương thực tại chỗ 4 ngày .

Thật là vô lý .

Mọi người mừng hụt .

Nhưng cũng phải chấp hành mệnh lệnh.

Và ai cũng nghĩ đến cái đêm đầu tiên chốt ở BaVets1.

Rất khốc liệt .

Chiều tối dần .

Đội hình tiểu đoàn bám thành hình tam giác ở khu vực đường 241.

Chỗ này có một ngã ba ( tôi quên tên đường ).

Đang buồn lo với bao suy nghĩ thì thấy có khoảng 2 trung đội của anh em E266 , đang lần mò đến và dong 1 thằng Pot bị thương nhẹ .

Hỏi ra mới biết ae say sưa truy đuổi địch nên lạc mất đ/v .

Ngoài đ/c chỉ huy , còn toàn lính trẻ .

Vui quá chúng tôi bèn rủ anh em ở lại chốt luôn với C3.

Thêm quân thêm lính giữa đất K này thật ấm lòng .

Anh em đồng ý ở lại .

được dịp , những thực phẩm định để giành ngày mai , bỏ ra khao anh em 266 hết .

Đơn vị nọ đơn vị kia kể về trận luồn sâu và đánh Pốt trong ngày thật sôi nổi .

Trời tối hẳn .

Phân công gác xong , mọi người cũng để nguyên trang bị , nằm ngủ dưới đất .

Khoảng 22h thấy đất có vẻ rung chuyển . dỏng tai lên có tiếng ì ầm ầm rất nặng .

Đúng tiếng xe tăng rồi , tiếng động này là cả đoàn chứ không phải 1 vài cái.

Mọi người chồm cả dậy vồ lấy súng đạn .

Nhưng tiếng ì ầm còn xa lắm.

Ai cũng nghĩ và tự hỏi bọn này lại dùng xe TTG đánh đêm với mình à ?

Cùng lúc đó , liên lạc đại đội chạy xuống báo giọng hoảng hốt : lệnh của d tất cả súng chống tăng B40 - B41- DKZ75-82 của các đơn vị tập trung lên gần đường 241.

Tực tiếp do tiểu đoàn chỉ huy .

Ta đang phát hiện có đoàn xe tăng rất nhiều , tiến từ hướng Tây Bắc về theo đường 241 .

Có cả xe chở lính nữa .

Tình hình gay go phức tạp đây.

Mọi người chẳng ai nói với nhau câu gì ,lầm lũi kiểm lại vũ khí súng đạn , chuẩn bị cho trận chiến khốc liệt sắp xẩy ra

Đại đội 3 , tiểu đoàn 1 trong thời cuộc chiến tranh CM.

Khi đang chốt chặn tại đường 13 tỉnh Bình Long .

Vị trí này là nằm ở giữa cái tam giác Chơn Thành- Bến Cát- Bầu Bàng .

Đây là 3 căn cứ trong vùng loang da báo của ta và địch .

Ba cứ điểm rất mạnh .

Chúng chi viện cho nhau bằng pháo binh và thậm chí cả bằng lực lượng bb – TTG .

Nhiều lần chúng ta tấn công các cứ điểm này mà không thành công .

D1 và trực tiếp là C3 có nhiệm vụ chốt giữ cứng ở trục đường 1 này .

Không cho chúng chi viện , hỗ trợ nhau để E kết hợp với F7 đánh Chơn Thành.

Trong thời gian chốt chặn , địch tấn công nhổ chốt nhiều lần không được .

Lúc đánh Chơn Thành địch vỡ trận , mở vòng vây chạy về Bến Cát .

Theo hợp đồng D1 và C3 được tăng cường xe tăng đánh truy kích địch .

8h sáng ngày 27/3/75 có tiếng xe tăng ở phía sau chốt .

Đại trưởng Hồng .

Lệnh cho liên lạc đại đội Nguyễn ra bắt liên lạc .

Nguyễn thấy cả đoàn xe mấy chục cái đi ở trong rừng , phía sau đội hình chốt .Xe tăng cũng ngụy trang cành lá .

Nguyễn nghĩ là xe của ta , ra vẫy chỉ đường .

Đoàn xe cũng làm theo sự hướng dẫn .

Rồi chúng dàn hàng hang tấn công C3 .

Đồng chí Nguyễn bị một viên đạn 12,8ly của tăng bắn qua mồm , gẫy vỡ mấy cái răng .

Xuyên qua má mà làm không chết .

Hỏa lực của cả đoàn tăng là rất mạnh .

Anh em c3 bắn b40 , b41 rất dũng cảm .Nhưng hầu như chỉ bắn được quả thứ nhất là đã lại bị pháo và 12,8 ly của xe khác phản đòn .Trận chiến vô cùng ác liệt .

C3 vẫn kiên cường giữ được chốt .Thế nhưng trong trận này đại trưởng Hồng cùng hơn chục anh em nữa đã hy sinh .

Đến mãi sau này,trận chiến khốc liệt đó vẫn là niềm tự hào , nhưng đầy bi tráng của c3 , d1 trong lịch sử chiến đấu của Sư đoàn .

Sau đó mới biết , đây là lữ đoàn tăng 22 trâu điên chạy từ Chơn Thành vềBến Cát , thì gặp chốt của C3 .

Và đã xảy ra tình huống trên .

Thật đau lòngcho sự hợp đồng không chặt chẽ , không rõ ràng .

Tiếng ầm ầm của đoàn xe mỗi lúc một rõ hơn .

Chẳng ai giục , nhưng mọi người đều tự giác củng cố hầm hào , cho sâu hơn .

Còn kiếm thêm những mảnh gỗ làm nắp hầm .

Mấy anh em lính trẻ 266 ở cùng chỗ tôi (lính 77) nói giọng trong trẻo thật ngây thơ: Anh ơi , nếu xe tăng vào đây , em sẽ nhẩy lên , tương lựu đạn vào trong xe như anh hùng Cù Chính Lan ấy. .

Nghe giọng nói , nhìn động tác biểu cảm của anh em thật se lòng .

Tôi nói: " em đã học cách nhảy lên xe tăng , xe học thép chưa ?

Anh em trả lời là chưa .

Mới chỉ học có lăn lê , bò toài và bắn súng AK , đội ngũ..vvv..Không thể nói gì hơn .

Tôi nói đánh xe tăng , không dễ như các em tưởng và không như trong phim đâu .

Các anh tập mãi mới chạy nhẩy được lên xe đấy .

Mọi người phải hết sức cẩn thận .

Rồi tôi chủ động lên gặp BCH đại đội .

Thấy ở vị trí chỉ huy mọi người cũng gấp rút chuẩn bị hầm hào, ụ súng.

Anh Trụ và Anh Tiễn cùng hỏi tôi tình hình dưới đó thế nào ?

Tôi cũng báo cáo qua về tình hình anh em , ý trí và thực lực của đơn vị mình .

Và hỏi anh Trụ : súng chống tăng điều đi hết rồi mình lấy gì phòng vệ .

Anh Trụ và anh Tiễn hơi ngẩn người ra .

Tôi nói luôn .

Bây giờ anh cho liên lạc đi các B xem số súng M72 còn bao nhiêu quả .

Và nên hội ý chỉ huy để bàn cách đánh , nếu tăng thọc vào được đây . ( anh Trụ cùng nhập ngũ, cùng quê Hải Hưng với c trưởng Hồng lính 71.

Ngày 12/4/78 anh Trụ cũng huy sinh khi đánh giải vây Hà Tiên Kiên Giang giữ chức d phó d1).

Liên lạc C đi báo các B trưởng lên hội ý .

BCH phổ biến tình hình và dựkiến các tình huống xẩy ra .

Sau đó anh Tiễn phát biểu , động viên tinh thầnmọi người .

Và cũng là lên dây cót cho trận chiến sắp tới .

Hội ý đại hội xong, mọi người ra về nhưng nét mặt ai cũng đăm chiêu căng thẳng .

Không nói ra nhưng ai cũng nhận thấy.

Cuộc chiến với đoàn tăng kia không đơn giản chút nào .

Tôi về tới vị trí của A10, hội ý sơ bộ với anh em , cả đ/c B trưởng của E266 biết về tình hình địch và diễn biến hiện trạng .

Tiếng xe tăng mỗi lúc 1 to .

Ầm ào như sóng biển .

Và hình như nó còn bật đèn nữa .

Hướng Tây Bắc , quầng sáng hơn hẳn chỗ khác .

Chợt nghĩ bọn này đang có âm mưu lớn đây .

Cũng tất yếu thôi , chúng nó đang chủ động chọc chiếm đất ta .

Bây giờ ta lại đánh, đẩy chúng sang sâu đất nó .

Làm gì mà chúng không cay cú .

Như vậy có khả năng chúng không đánh trong đêm mà đang dàn trận để sớm mai tấn công ta .

Tự nhiên như thức tỉnh, tôi hỏi anh em : còn gì ăn không ?

Câu hỏi cũng làm phá tan không khí nặng nề .

Hoài và Dự đều nói : còn anh Phú ạ .

Tôi nói anh em còn gì mang hết ra đánh chém cho khoẻ quân , rồi muốn chiến gì thì chiến .

2h sáng ngày 7/12, chờ đợi mãi , trừ người gác còn mọi người cũng tìm chỗ ngả lưng.

Tôi vẫn cùng đ/c BT - của E266 nói chuyện .

Đêm tối trời đầy sao, nhưng không có trăng , mọi vật chìm trong mờ ảo , sương xuống gío mát lại vừa đánh chén xong cảm thấy thật nhẹ người .

Chợt nhìnthấy đ/c Namvà anh Tiễn CVT xuống , tôi giật mình nghĩ chưa biết thế nào .

Thì giọng đ/c Nam hồ hởi:"anh Phú ơi, đoàn xe tăng là của mình .

Ôi thật bất ngờ .

Gánh nặng như đượctrút bỏ và anh Tiễn kể là d vừa bắt liên lạc được với đoàn xe tăng .

Đây làđoàn T TG cùng bộ binh , tấn công từ hướng đường 13 Bến Sỏi sang tới giao lộ241 thì rẽ về đây .

Mũi tấn công hoả lực mạnh như d2 và E14 F7.

Nhiệm vụ của họ(F339 – hay F309 xin lỗi quên phiên hiệu – QK7!) là bắt liên lạc và thay vị trícho E273 để ngày mai E273 và E266 hành quân đánh địch về hướng đường 1.

Thật là1 sự hợp đồng không rõ , giữa QK và QĐ gây bao phiền toái lo âu .

Mọi ngườibiết tin này , thì ai nấy khí thế lại tưng bừng hơn trước .

Cười nói rôm rả .Đúng là cái thằng Pốt , mày không là cái đinh rỉ gì cả !

Sáng ngày 7/12/77 sau khi bàn giao các vị trí đang chốt giữ cho QK7, toàn đội hình E273, E266 .

Cơ động theo trục đường 241 về Tà Yên , để chuẩn bị tấn công vào khu vực Parasot cùng với D2 và E14 , F7.

Đường hành quân , lấy trục 241 làm chuẩn và đi thành 3 mũi , vừa đi vừa truy quét những nhóm địch nhỏ lẻ lẩn trốn trong các phum chưa chạy trốn hết .

Trong ngày hành quân truy quét này.

Mũi của D1 là tiến dọc đường 241, mùa khô trời nóng như rang , nhưng nhiệm vụ phải tiến nhanh về địa điểm mới .

Vùng này sao rất hiếm nước , khát khô cổ , đã tới trưa vừa đói vừa khát .

Anh em phải tự túc lương thực mang theo , đến một phum ven đường , có một cái giếng .

Giếng không sâu lắm , nước trong và ngọt .

Ai lấy tha hồ mà tu cho đỡ cơn khát , tới lượt tôi cũng vục mặt vào cái xô nước đó mà uống như chưa bao giờ được uống, rồi bất ngờ nằm lăn ra tắt thở .

Không biết đã có ai bị thế này chưa , còn tôi hồi đó đúng là như vậy.

Anh em phải làm động tác hô hấp một lúc, mới tỉnh lại đi tiếp, cái đó gọi là nghẹn nước.

Đúng như các cụ nói " Chết vì ăn, vì uống" thật nhớ đời .

Chiều tối toàn đội hình mới tới được địa bàn Tà Yên , làm công tác chuẩn bị ngày mai tấn công Parasot .

Ở khu vực Parasot , sau khi lực lượng D2 và E14, F7 tấn công từ Mộc Bài sang .

Thì làm nhiệm vụ chốt giữ tại khu vực ngã ba TruonTraPec .

Bọn địch co cụm và phòng ngự từ KôngPông Ro tới Parasot .

Nhiệm vụ được giao là D2 và E14 đánh vu hồi phía Tây Nam Parasot , hướng Tây Bắc E273 v à E266 , đánh thắng từ Tà Yên qua .

Nếu thuận lợi thì vượt cầu Parasot tới bờ sông Ba Sa .

Ngày 8/12 chỉ huy F thấy tấn công buổi sáng không đảm bảo, vì các đơn vị anh em đã rất mệt.

Nên quyết định điều nghiên, nắm thêm tình hình địch và làm công tác chuẩn bị cho tốt hơn, đổi giờ tấn công giờ G là 16h15'.

Đúng giờ Dtoàn bộ lực lượng E 273 –E266 hướng vu hồi có D2 và E 14 F7 đồng loạt tấn công.Bọn Pốt chống cự yếu ớt rồi rút chạy.

Trên đã thắng lợi chỉều tối toàn bộ độihình F vượt qua cầu Parasot, tiến quân sát đến bờ sông Ba Sa.

Toàn đội hìnhchốt chặn và truy diệt bọn Pốt ở khu vực này về tới biên giới Long An .

Lừa Pót thu 2 pháo 105ly.

Đã bảy ngày , ta làm chủ từ biên giới tới khu vực sông Ba Sa .

Truy quýet và tiêu diệt được rất nhiều địch .

Một số dần tiếp tục chạy lánh nạn ở bên ta .

Như vậy với M đưa chiến trường sang đất của bọn gây chiến đã thành công .

Làm cho bọn Pot và quan thầy của chúng vô cùng cay cú .

Nhưng nếu cứ dừng chân thế này thì chúng ta cũng không thể tiêu diệt thêm được địch .

Mà lại còn bị mang tiếng là "lấn chiếm".

Một số đài báo và dư luận quốc tế được dịp "tố" vấn đề này .

Quân Pốt cũng đã bắt đầu gượng dậy , đến ngày 12/12 chúng đã cho lực lượng phản công vào phía tây của Parasốt .

Để tạo điều kiện diệt sinh lực địch .

Phải dụ chúng về sát biên giới của ta .

Mà như vậy , ta mới phát huy được mọi hình thức chiến thuật bày binh bố trận v.v ...

Sáng ngày 15/12 Sư đoàn ra lệnh cho các đơn vị tổ chức "lui quân".

Khi chúng phản kích .

Làm sao có vẻ vừa đánh vừa rút , bí mật , nhưng lại rầm rộ .

E266 và E14- F7 về phía biên giới Mộc Bài .

Còn E273 rút ngang về hướng ngã ba Cột Cờ giáp Mộc Hoá tỉnh Long An .

Bọn Pốt dùng 5 tiểu đoàn tấn công ta vào khu vực Bắc đường 1, cầu PaRaSot .

Có cả pháo binh yểm trợ .

Thấy ta tấn công yếu ớt và dần rút lui , bọn chúng vượt cầu PaRaSot bám đuổi quân ta về sát biên giới . và đã lại dùng pháo 105ly bắn sang đất ta .

Sư đoàn 341 sử dụng D3 và C3 , D1 của E273 được tăng cường hoả lực 12L7, ĐK275, bí mật luồn sâu từ hướng Mộc Hoá , áp sát chốt chặn tại cầu parasot .

Tiểu đoàn 2 , có nhiệm vụ tiến công hướng chính diện từ Mộc Bài sang cùng tăng thiết giáp .

Tiểu đoàn 1 thiếu đại đội 3 , nâng đội hình nên sau d3 làm nhiệm vụ hỗ trợ d3 và " be bờ" hướng Đông Nam cầu Parasốt .

Đúng 1hoo ngày 16/12 , d3 và c3 d1 E273 đươc lệnh xuất phát luồn sâutheo phương án .

Mặc dù trong mấy ngày tác chiến liên tục, truy quét, truy đuổiđịch, Cán bộ và từng chiến sĩ vô cùng mệt nhọc , nhưng mọi người khi được giaovà hiểu nhiệm vụ , thì không một ai kêu ca .

Nhanh chóng lên đường .

Lại mộtđêm luồn sâu sang đất địch bắt đầu ..

Mệt, có thể nói là vô cùng mệt .

Trong suốt từ đêm ngày 5/12 tới giờ .

Hơn chục ngày tác chiến , quần đảo , trời nắng như rang .

Nhìn cánh đồng lúa chín rũ , ban ngày thì như có những thán khí bốc lên ngùn ngụt .

Từ tối đến đêm thì hơi nóng từ đất , từ lúa bốc ra .

Cánh đồng thì rộng ôi sao nó rộng thế !

Không thể ví là : " Thẳng cánh cò bay" như vùng quê mình được nữa , mà nó là một mầu vàng trải dài bất tận....Thỉnh thoảng lại có vạt lúa cháy .

Khói bay mù mịt đến là ngạt thở .

Một vài con chim chao lượn trong khói để bắt những côn trùng bay lên , và thoảng trong khói , mùi nẻ cốm .

Như ngày xưa ta ở nhà nấu cơm bằng rơm rạ , mà có sót những hạt thóc nổ thành nẻ thơm .

Lấy que cời lửa ra nhặt cho mồm nhai thật ngon . thật nhớ và nó đã trở thành kỷ niệm của tuổi thơ ở quê hương .

Còn ở đây cả vạt lúa , cả đồng lúa cháy nên hương cốm lẻ thơm ngào ngạt .

Nó còn quyện trong khói , trong lửa trong khung cảnh của sa trường .

Đi qua những vạt lúa đó thật nghẹt thở , thật khó chịu và chua sót đến nghẹn lòng ..

Cánh đồng thì rộng thế mà bờ ruộng thì rất ít .

Anh em từng đơn vị phải đi xẻ ngang , xẻ dọc để tìm và truy quét những tốp địch lẩn trốn trong những cụm cây , những căn nhà lẻ loi nên rất mệt .Tối đêm lại nằm ngủ ngay tại cánh đồng .

Cỏ , lúa là giường , là chiếu , trời sao là màn .

Muỗi rãn nhiều vô kể .

Tối ngủ anh em để nguyên quần áo , giầy dép .

Súng để cạnh , đạn đã lên nòng , nhưng để ở chế độ khóa an toàn .

Mỗi người nằm về mỗi hướng thay nhau trực gác suốt đêm .

Khăn mặt ban ngày trời nắng thì đội đầu , tối ngủ thì đắp mặt .

Ăn uống sinh hoạt thì toàn đồ khô , đồ nguội .

Nước uống đâu được đun sôi nấu kỹ .

Vũng nước nào gặp ,vục mặt xuống là uống nấy uống để .

Sức trai hồi đó ai cũng gầy nhom , đâu được béo tốt như bây giờ .

Làm sao mà không mệt .

Nhiều lúc đang đi giữa trời nắng , gặp những cái giếng hoặc vũng nước tôi và nhiều ae gục đầu xuống gội .

Nghĩ rằng nóng gặp lạnh cho nó cảm , ốm nghỉ mấy ngày chứ không thể chịu nôi rồi .

Thế nhưng nó cũng chẳng ốm , chẳng ai ốm .

Nhiệm vụ truy quét địch càng nặng nề hơn .

Có nhiều trường hợp truy quyét gặp những tốp địch ẩn trốn trong những lùm cây , những căn nhà đơn lẻ giữa cánh đồng .

Chúng chủ động bắn rồi chạy . chính những loạt đạn bắn chủ động đó lại làm ae mình dính đạn hơn .

Thế là lại phải tổ chức tấn công truy diệt .

Và vất vả nhất lúc đó là phải khênh cáng thương binh , liêt sỹ , đi theo đội hình rất là gian nan .

Bắt đầu lính ta mới có câu ca dao như các đồng chí đã nói: " Đời thằng mục , ăn cơm cục , uống nước đục , đi thì miên phục , không đi thì cấp trên giục , về nhà thì nhục...".

Cái vận ục nó cứ kéo dài mãi theo cách phát triển của từng người từng đơn vị .

Đêm nay lại đượclệnh luồn sâu .

Không phải lội nước, nhưng trong trạng thái của bộ đội mình sứcvóc gần như cạn kiệt .

Được phổ biến là cố gắng tránh địch .

Vì chúng đã trànsang vùng này 5 tiểu đoàn , và 1 số quân địa phương , Pot còn kéo cả pháo 105ly, đặt ở vùng Rừng Sở , để tấn công truy kích ta .

Nên trên đường luồn sâu vào Mlà cầu Parasot sẽ rất nhiều phức tạp .

Nhưng bằng mọi giá D3 +C3 d1 phải chốtđược ở cầu Parasot lúc 4h30 sáng .

Nếu ko đạt được mốc thời gian đó , ở vị tríđó .

Thì trận chiến ngày mai chẳng còn giá trị gì nhiều .

Mọi người lên đường .

Hướng hành quân từ khu vực Cột Cờ , Mộc Hóa , Long An về hướng cầu PaRaSốt .

Đi theo đường đất rồi cắt theo các ruộng lúa , để tránh gặp địch .

Đây là lần luồn sâu thứ 3 , nên anh em đã tương đối quen thuộc .

Cũng đã hiểu được những khó khăn , vất vả .

Mỗi đại đội cách nhau 15 phút xuất phát , để tạo nghi binh như là những đơn vị nhỏ lẻ .

Đại đội 3 đi phối thuộc nhưng đi gần sau cùng .

Cả đội hình hành tiến làm 3 đường chứ không theo đội hình hàng dọc .

Tuyệt đối ko được sử dụng máy vô tuyến .

Hữu tuyến thì ko thể có rồi .

Ngày hôm qua , để thực hiện viêc nghi binh bằng cách cho các máy vô tuyến ra lệnh rút quân nửa kín nửa hở , phát sóng nhiều lần , để lừa đài kỹ thuật của Pot .

Vì vậy d3 + c3 phải thực hiện nhiệm vụ luồn sâu theo kế hoạch độc lập .Cũng ko có pháo binh dẫn đường như trận trước .

Đi , vẫn lại lúc đi , lúc nghỉ vì phải tránh địch và phải đợi trinh sát bám trước rồi quay về dẫn đội hình đi .

Khi nghỉ , hạn chế nghỉ trên đường , phải xuống cách đường 20-30 m đề phòng gặp những toán lính Pốt hành quân đêm .

Có mấy tình huống xảy ra với C3 và C9 .

Khi hành quân được hơn 1 giờ có lệnh tạm dừng nghỉ .

Anh em quá mệt , ngồi ngay trên đường và mọi người gục xuống ngủ vùi .

Đúng lúc đó có khoảng 1 trung đội lính Miên đi qua .

Thấy anh em ngủ chúng lại tưởng là lính Pốt lay gọi .

Anh em mình choàng tỉnh nhưng ú ớ nói không ra tiếng , nhưng cũng nhận ra ngay là Pốt , ko kịp xử lý cứ kệ chúng đi qua .

Thật hú vía.

Tiếp đến một lần nữa anh em nghỉ cách bờ ruộng khoảng 20m , thì cũng gặp khoảng một đại đội Pốt đi qua .

Ai nấy nín thở chuẩn bị chiến đấu .

Nhưng chúng vội hành quân về hướng ta , nên không phát hiện được C3 đang nấp ở ruộng lúa .

Riêng đội hình đi cuối của C9 thì bị lộ .

2 bên bắn nhau 1 lúc cứ thếnày thì không đến được mục tiêu .

C9 xử lý tình huống là : cử 2 trung đôi ở lạiđánh chặn Pốt .

Lợi dụng đêm tối vừachiến đấu vừa rút theo ý định

Trời đã tảng sáng , mục tiêu còn xa , việc hành quân gấp gáp hơn .

Mọi người đã rất mệt .

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Song Thao cùng trợ lý tác chiến cứ dừng , rồi lại lùi xuống đội hình , rồi lại đi lên trước đội hình đi đầu , đôn đốc động viên , hối thúc anh em .

Giục anh em vận động cho kịp thời gian .

Nhưng anh em chỉ vận động được ít bước , rồi lại hành tiến không thể vận động được nữa .

Mệt và đói .

Có lệnh tranh thủ vừa đi vừa cảnh giới và phải vừa ăn cơm " cơm nắm".

Ai nấy móc cơm ra gặm .

Miếng cơm là lại mút miếng thịt kho mặn vừa đi vừa nhai để tăng sức quân .

Không biết ngày xưa , khi ông Nguyễn Huệ thần tốc từ Tam Điệp ra đánh Ngọc Hồi , Đống Đa có hành quân kiểu này không ?

Chứ anh em mình không thể nào nhanh hơn được nữa .

Lính của vua Quang Trung xưa , binh khí chỉ có cung tên , với kiếm , giáo mác rất nhẹ .

Còn lính mình bây giờ phải mang trang bị súng ống , đạn dược rất nặng .

3 cơ số đạn , có nhiều anh em mang tời 3-4 khẩu súng các loại .

Anh Ngọc BT ngoài súng AK , B40 , M79 còn kèm cả khẩu côn nữa .

Nên chắc chắn là trang bị nặng hơn lính của vua Quang Trung rất nhiều .

Đúng 4h20 sáng .

Đội hình C10-C11 đã bám được vào khuvực phía Namcầu PaRaSốt đợi C12 .

Mấy phút sau hỏa lực c12 cũng đã tới .

Bọn Pốt ở đây vẫnchưa biết gì .

Chúng cứ tưởng quân ta cũng là những đơn vị của nó .

Chúng đứnglố nhố rất đông ở gần cầu và cạnh lan can giữa cầu .

Anh em 12,7ly thao tác rấtnhanh .

2 đại đội bộ binh dàn thế tiến công .

Bọn Pốt ở cầu còn giơ tay vẫy ,vẫy như chào hay như ám hiệu bắt liên lạc .

Lệnh phát hỏa .

Đầu tiên là 2 khẩu12,7 ly điểm xạ xé tan sự yên tĩnh của buổi sớm .

Nhằm bắn thẳng vào số línhPốt đang tụm ở đầu cầu và giữa cầu .

Rồi hỏa lực b40-b41 ùng oàng , các loạisúng thi nhau nhả đạn .

Bọn Pốt hoảng loạn , vài thằng rơi từ giữa cầu xuốngsông .

Cối 82, cối 60 ly cũng bắn cấp tập vào khu vực quanh đầu cầu .

C10 vàC11 dũng mãnh xung phong , đánh chiếm mục tiêu đầu cầu rồi vượt sang bên kia đường .

Bọn Pot hình như bây giờ mới hiểuchuyện gì đã xẩy ra .

Vỡ lẽ và vỡ trận .

Mạnh thằng nào thằng ấy chạy , vọt quacầu và vọt về hướng Tây Bắc Cầu .

Ko thằng nào kịp bắn trả .

Sau 20 phút chiếnđấu đội hình D3 và C3 đã chiếm gọn khu vực đầu cầu .

D trưởng Thao nhanhchóng tổ chức chốt chặn thành vành đai ởđầu cầu .

C3 và C9 ở hướng Tây Nam.

C10 +C11 hướng Tây Bắc .

Hướng bắn chính là trục đường 1 về hướng Việt Nam và 1 khẩu12,7 quay về hướng bên kia cầu .

Vẫn nhả đạn bắn đuổi chúng chạy xa đầu cầu bênkia .

Các loại bộ đàm đươc phép hoạt động .

D trưởng Nguyễn Song Thao gọi bộđàm trực tiếp cho Sư đoàn trưởng Vũ Cao , b/c nhiệm vụ của d 3 luồn sâu vào Mđã hoàn thành .

Nhận được điện b/c của d trưởng Thao F trưởng Vũ Cao vỗ vai tham mưu phó Thuật một cái thật mạnh và nói " thắng rồi " cả sở chỉ huy bừng lên .

Như chỉ đợi có thế .

Vì khi giao nhiệm vụ cho d3 + c3 luồn sâu vào chốt đón lõng ở cầu PaRaSốt , là nhiệm vụ hết sức nặng nề vì d3 không được phép liên lạc .

Phải độc lập tác chiến , độc lập xử lý các tình huống " Khi xẩy ra ".

Nếu d3 thành công thì ý định chiến thuật mới thành công .

Và ngược lại .

Nên sự trông ngóng nặng nề của chỉ huy F là không thể tránh được . ( theo lời kể sau này của các chỉ huy).

Lệnh tấn công được phát ra .

Pháo binh khai hỏa bắn về khu vực rừng Sở nơi đặt pháo của Pốt và bên kia cầu PaRaSốt .

Lệnh cho d2 cùng TTG xung phong dọc theo hướng đường 1.

Hành tiến nhanh .Các loại pháo thi nhau bắn vào các M .

Dưới sự chỉ huy của d trưởng Võ Văn Nhung và dv trưởng Đào Viết Tuyển ( d trưởng Nhung sau cũng hy sinh ở trận đánh khác) cùng TTG dũng mãnh xung phong tiến đánh dọc đường 1 và 2 bên hành lang đường .

Lúc này đội hình d3 đã tổ chức xong trận địa chốt .

Anh em củng cố ngay hầm hào công sự .

Bọn Pốt chạy mất hồn , chưa dám phản kích anh em tranh thủ ăn nốt phần cơm , để lấy sức chiến đấu .

Hồi hộp hướng về phía đường 1 từ hướng Việt Nam sang .

Chưa bị phản kích bằng bộ binh nhưng pháo 105 ly và các loại cối của địch từ trong SVayRiêng bắt đầu bắn vào đội hình d3 . mật độ rất dầy đặc , nhiều anh em đã bị trúng đạn của chúng .

Lúc đầu anh em còn bị cả pháo 105 của ta nện vào đội hình nữa chứ .

Sau ít quả , được báo về pháo 105 và 122 ly của ta mới chỉnh sang các M bên kia cầu .

Nhưng ác cái là không với được tới vị trí đặt pháo trong SVayRiêng của Pốt .

Nên chúng càng tự do bắn , để trả thù , bắn trong cay cú vì bị ta bất ngờ luồn sâu đánh chiến bờ Đông Bắc Cầu.

Khoảng 6h45 phúttiếng động cơ ôtô từ hường VN chạy trên đường 1 về hướng cầu mỗi lúc một to .

Rồirõ dần , 2 xe Hồng Hà kéo pháo trên mỗi xe lố nhố mấy chục thằng Pot .

Đườngxấu lại kéo pháo nên chúng cố cũng không thể chạy nhanh được .

Anh em hồi hộp ,cái hồi hộp như người đi mai phục săn mồi , và khi thấy con mồi đã xuất hiệntheo đúng ý định .

500m rồi 400m rồi 300m bọn trên xe ngó nghiêng chĩa súng AKsang 2 bên đường .

Nhưng chúng vẫn chạy về phía cầu như không biết gì .

Lệnhphát hỏa .

Các loại súng đồng loạt nhả đạn .

Tiếng B40-B41 ùng oàng , tiếngthùng , thùng ,thùng ,thùng điểm xạ của 12,7ly hai bên bắn chéo cánh xẻ tậptrung vào chiếc đi đầu .

Chiết xe khựng lại rồi một viên đạn vạch đường 12,7lyđã trúng thùng xăng .

Lửa bùng òa lên .

Bọn Pốt nhẩy hết xuống xe , vất xe cắmđầu cắm cổ chạy .

Chiếc xe sau cũng phanh đứng lại , rồi lính cũng nhẩy xuốngchạy hết .

Anh em xuất kích tiêu diệt gần như gọn bọn Pốt trên hai xe này .

Tathu được 2 khẩu pháo 105 ly .

Chiếc đi đầu xe bị cháy , đạn trên xe phát nổ ầmầm .

Chiếc xe và pháo đi sau thu nguyên vẹn .

Chiến công thật rực rỡ .

D trưởngThao báo về sở chỉ huy F thắng lợi vừa đạt được .

Sư đoàn trưởng biểu dươngkhen ngợi và lệnh cho d3 bảo vệ 2 khẩu pháo vừa chiếm được .

Chốt giữ , chuẩnbị chiến đấu với lính bộ binh của Pốt rút chạy về đó .

Đề phòng bọn bên kia cầuphản kích sang .

Anh em rất vui song cũng thấy ngay những trận chiến ác liệtsắp diễn ra .

Ngay chính tại nơi đây

Nói thêm về chiến thắng thu 2 pháo 105 của Pốt :

Thưa các bạn cùng anh em đang theo dõi trên quân sử.

Được biết là vào thời gian này , mới chỉ là giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh BGTN .

Nên kinh nghiệm đánh Pốt của các đơn vị , các cấp chỉ huy chưa có nhiều .

Thường thì ta phòng ngự , chốt và khi tấn công thì đánh vỗ mặt .

Chốt chặn thì ta không thể có hầm hào bon ke công sự chìm nổi như của Mỹ , Ngụy được .

Có những căn cứ có tới 25 hàng rào dây thép gai như Chơn Thành -Bình Long .

Chúng còn chôn cả xe tăng xuống đất nữa thò mỗi tháp pháo và súng 12,8 ly lên .

Đánh vỗ mặt thì chúng bỏ chạy tránh đòn .

Ta dừng thì chúng bu bám tập kích lại ngay .

Nên mọi việc chốt giữ như trong điều kiện của ta .

Nếu bị nó lẫn dũi nhiều cũng rất khó giữ .

Chưa nói đến việc mùa mưa , đất bùn nhão nhoét .

Gây cho ta căng thẳng và thương vong cũng nhiều .

Bạn ViệtPo " Lút" có hỏi là khi chốt nên thưa đội hình ra , hoặc có những râu tôm tiền tiêu .

Những cách này cũng đã áp dụng nhưng hiệu quả không cao .

Vì râu tôm chỉ là phát hiện địch .

Chứ 1 chốt râu tôm 3 người mà khi đã lộ chúng cứ táng B40-B41-DKZ82 vào thì hầu như thế nào cũng dính .

Chốt mỏng hay dày là phụ thuộc vào quân số và địa hình , địa bàn được giao được đảm nhiệm .

Thực tế là những ngày giữa và cuối năm 78 cả quân đoàn 4 chỉ chốt giữ được chiều dài đường biên hơn 20km mà cũng đã vất vả như khu vực Chóp của BY, liền với Seng Ke của đ/v Phú .

Có lúc mình đã phải mang cả đan pháo đinh ra bắn rồi .( qua tập huấn được thông báo ).

Mình không thể có người để giăng hàng ngang ra được .

Thường 2 người lính bộ binh có một người phục vụ phia sau( anh nuôi, y tá, quản lý, liên lạc, các đơn vị phục vụ khác như vận tải, quân y vv........)

Bọn Pốt đánh theo kiểu " nở hoa trong lòng chúng ta" cũng rất giỏi .

Chúng luồn lách qua các chốt rồi đánh vào trung tâm chỉ huy hay trận địa pháo vv...ở đây anh em thường hay chủ quan và dù sao cũng không thiện chiến bằng lính súng dài .

Thực sự ta thấy giống như vỏ trứng thì cứng , còn bên trong thì là nước .

Ông chỉ huy thì ko tài bắn súng được .

Nhiều đơn vị đã bị trả giá về chuyện này .

Vì vậy việc tiêu diệt được Pốt thì không thể đánh vỗ mặt hay chốt giữ như vậy được .

F341 theo như được biết là F đầu tiên áp dụng lối đánh luồn sâu vụ hồi đón lõng này ở chiến trường BGTN .

Sau đó là bài học kinh nghiệm trong QĐ- và các đơn vị khác.

Đây mới là trận luồn sâu thứ 2 ( trừ c3 của TP thì có trận luồn sâu độc lập vào BaVét nữa ) .

Việc bắt sống được 2 khẩu pháo 105 ly của Pốt là rất đáng khen .

Vì trong lúc các đơn vị khác đang còn lúng túng , đối sách với Pốt mà F341 lại thu được xe pháo của Pốt và dạy chúng bài học về chiến thuật , mưu lược dùng binh của QĐ ta .

Thực ra trong chiến tranh CM hay chống Pháp ta cũng đã thường xuyên áp dụng cách đánh này .

Nó vô cùng lợi hại gây hoang mang cho đối phương .

Lập nên chiến thắng lẫy lừng như Phai Khét , Nà Ngần ( thời chống Pháp) , Núi Thành thời chống Mỹ vv...

Chaông ta thời ông Lý Thường Kiệt cũng đã bí mật luồn theo đường sông vào tận Ung châu , Vân Nam TQ để " tiên diệt đầu binh" thật tài tình , lập nên chiến công hiển hách , sửsách còn ghi

Sau khi vận động truy kích địch và tiêu diệt gần hết số Pốt ở trên 2 xe kéo pháo .

Đội hình của các đơn vị lại trở về vị trí chốt để chuẩn bị cho đánh địch từ hướng V N về và có thể bọn bên kia cầu tập kích theo dọc bờ sông .

Pháo và cối 81 của Pốt bắt đầu bắn vào khu vực này ngày càng nhiều .

Đội hình c3 và c9 lẫn lộn .

Vừa bố trí xong vị trí 2 khẩu đội cối .

Nghe tiếng rít của đạn pháo .

Tôi cùng anh em vội nằm tránh , đạn nổ ầm .

Qúa gần.

Mảnh đạn + đất đá bay rào rào .

Nhưng rất may không ai việc gì.

Tôi hô mọi người lợi dùng hầm hào cũ ẩn lấp tránh đạn pháo .

Gần tôi có một hầm chiến đấu của Pốt .

Chạy mấy bước xuống được hầm , vị trí thật thuận lợi cho phòng thủ hướng Việt Nam sang .

Lại những tiếng rít của pháo cối.

Nhìn lên thấy anh em d3 chạy đến , cứ nằm rồi lại đứng lên chạy tìm hầm ẩn lấp .

Nhìn thấy một đồng chí trên người đầy súng đạn , đeo AK, tay phải xách khẩu B40 , tay trái cầm khẩu M 79 .

Dây đạn M79 vắt chéo qua vai sáng loáng .

Tôi vời lại vị trí , sau mới biết là anh Ngọc BTr b1 của c9 ( sau này là d trưởng d2 ) hiện đang sống ở Cẩm Phả- Quảng Ninh .

Ngọc khoe với tôi là vừa diệt được mấy thằng Pot bằn b40 .

Khi chúng chạy xa thì chỉnh M79 bắn đuổi thật khoái .

Dáng người thấp đậm to vâm như con gấu .

Ngọc cười ngoác cái mồm rộng khoe hàm răng trắng khỏe đều tăm tắp .

Tính khí thật thoải mái dễ gần .

Nói chuyện đánh nhau mà cứ như đùa .

Tôi nghĩ đồng đội này " Bản lĩnh đây" đi chiến , đi gác , hay luồn sâu có những đồng đội như thế này thì thật vững lòng .

Vài ba câu xã giao xong kêu đói và hỏi : " anh còn gì ăn không"? .Tôi là người gầy , ăn ít nhưng lại hay lo xa .

Ngoài cơ số quy định mang theo , bao giờ cũng phải phòng thủ một phong lương khô trong bồng .

Không mấy khi được phép sử dụng .

Lần này thì được dịp bỏ ra thiết đãi đồng đội cùng phối thuộc .

Nhìn Ngọc vừa nhồm nhoàm nhai lương khô , vừa ngửa cổ tu nước ùng ục trông đến mà thèm .

Loáng cái đã hết cả phong .

Ăn xong ,Ngọc lại móc thêm khẩu côn ra khoe tay đứ dứ làm đông tác bắn trông rất chuyên nghiệp .

Những năm sau này gặp lại nhau ae vẫn ôn lại cái kỷ niệm ban đầu đó .

Bọn Pốt bắn ngày càng dầy đặc hơn .

Đại đội 12 được lệnh bắn cối 81 phản vào trận địa cối của Pốt bên kia cầu .

Tong -tong -tong .

Mới cấp tập có hơn chục quả mà mấy khẩu 81 của Pốt đã im bặt .

Như vậy bon này chúa sơn phản pháo .

Đúng là đồ rát chết .

Nhưng pháo 105 ly của chúng vẫn ầm oàng đều đều .

Không cấp tập như trước nữa .

Nhưng cũng làm ae thật khó chịu và gây thêm thương vong cho ta .

Đang thắc mắc làtại sao pháo của mình ko bắn .

Thì anh Trụ cùng đ/c Nam liên lạc đến , nói qua về nhiệmvụ và nói rằng anh Thao đã điện về yêucầu pháo binh ta khóa mỗm mấy khẩu pháo của Pốt rồi .

Nhưng phải đợi D2 tiếnthêm lên .

Xe pháo kéo lên qua rừng Sở mới bắn được .

Anh em cứ phải ở hầm chịutrận .

Khoảng 30 phút nữa thì mới thấy tiếng ùng ùng đề ba của pháo 122 ly .Nghe tiếng đạn vo vo bay qua đầu rồi âm ầm nơi xa .

Chắc cũng cách đây hàngchục cây số .

Nhưng rồi pháo của Pốt cũng đã im bặt .

Như vậy là hết đời chúngmày .

Với vị trí này , đội hình này , thì đố thằng nào chạy qua được .

Chúngmày muốn chết thì vào đây!!

Mấy khẩu pháo của Pốt đã " tịt ngòi" .

D2 đã tiến tới giần PaRaSat .

Bọn Pốt đã biết là ta có lực lượng đón lõng ở cầu rồi .

Nên chúng không tháo chạy theo đường một nữa , mà tản ra chạy theo hướng Tây Bắc và Đông Nam .

Hướng Tây Bắc thì mình không có LL be bờ còn hướng d1 thì đã thấy súng nổ dồn dập , chắc bọn này chạy gặp "bờ" của ta .

Tiếng súng nổ chỉ 10-15p rồi im .

Cả trận tuyến đã im tiếng súng .

Bọn này chưa hết bàng hoàng , chưa hiểu hết ý đồ chiến thuật của ta .

Nên cũng không thằng nào dám tập kích vào khu vực này mà đang tìm cách tháo thân .

Trung đoàn 4 ( E 55 )cho anh em lên nhận và tiếp thu 2 khẩu pháo + một xe Hồng Hà .

Chiếc xe cháy không dùng được .

Anh em pháo binh ta phấn khởi thu nhận pháo chiến lợi phẩm .

Định quay pháo dùng luôn đạn của nó táng Pot .

Nhưng đồng chí d trưởng pháo không đồng ý , và tổ chức kéo xe pháo về .

Trong niềm hân hoan chiến thắng .

Còn lính d3 + c3 ở lại cảm thấy " tưu nghỉu " như vừa để mất cái gì .

Mọi người về vị trí .

Hậu cần lo cơm nước cho anh em thật chu đáo .

Ngoài cơm nóng thịt kho , lại còn có cả thịt hộp của sư đoàn gửi lên : "thưởng lính" nữa chứ .

Đến chiều tối ,cũng không có đợt tập kích nào của Pốt .

Nhưng từ 8h tối bắt đầu Pot tổ chứccâu B40- B41 từ bờ bên kia sang .

Mấy lần dùng khoảng trung đội bb đánh vàohướng C10-C11 như thăm dò LL của ta .

C3 + C9 không bị trận tập kích nào .

Sánghôm sau d3- c3 truy quét địch ở khu vực ngã 3 đường 93 - 94 đến chiều tối lạiđược lệnh rút về Mộc Hóa- Long An .

D2về khu vực Mộc Bài .

Vì đựợc thông báo trên trường quốc tế đang phải đối việcmình đánh qua đất K .

Khi các đơn vị của F đã về chốt giữ ở Biên giới .

Bọn Pốt lại tiếp tục xua quân chọc phá ta ở khu vực Mộc Hóa , Long An .

Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 lại liên tục xuất kích đánh địch ở khu vực này .

Đuổi chúng đến sát bờ sông Ba Sa .

Từ ngã ba đường 93 - 94 về hướng Nam .

Nhưng cứ xuất kích là bọn này lại chạy .

Khi mình dừng rút về biên giới thì chúng lại bu bám ngay rất khó chịu .

Trung đoàn lên phương án vượt sông Ba Sa để đón lõng đánh Pốt .

Đại đội 6 , tiểu đoàn 2 cùng trinh sát vừa đánh vừa luồn vào khu vực Công Pong Rồ , ý định làm bến vượt sông ở đây .

Để luồn sâu hẳn qua sông Ba Sa .

Đại đội 6 gặp địch .

Một trận chiến nảy lửa đã diễn ra ở đây giữa đại đội 6 + một a trinh sát với cả tiểu đoàn địch .

Trận chiến kéo dài từ sáng .

Bọn này như đã thấy được lực lượng luồn sâu chỉ có một đại đội , nên chúng tổ chức vây kín 3 mặt .

Còn 1 hướng thì là đầm lầy .

C6 chống trả hàng chục lần tập kích của Pốt ở các hướng .

Nhiệm vụ trinh sát nghiên cứu bến vượt không thực hiện được nhưng C6 cũng không thể rút về được .

Đại đội trưởng Pham Anh Xướng đã chỉ huy anh em lợi dụng các gò đất , những cây thốt nốt giữa đồng kiên cường chiến đấu .

Nhưng C6 ở tình thế bất lợi về địa hình , nên đến 2h chiều đã hy sinh gần chục ae .

Số bị thương cũng gần 2 chục .

Đ/c Xướng cũng bị thương . ( Đ/c Xướng quê ở Nam Hà.Trong cuộc CTCM cũng đã là thương binh ) Trong số hy sinh có một đ/c cũng tên là Phú , cùng quê TB trước cũng làm ở Tuyên Huấn trung đoàn , khi đi chiến đấu cũng được tăng cường xuống đơn vị . ( được tin " Phú chính trị" ở Thái Bình hy sinh mọi người mãi sau này vẫn lầm tưởng là mình )

Trước tình hình đó , trung đoàn điều d1 tấn công giải vây .

Đánh đuổi bọn Pot , đưa được hết liệt sỹ về nước .

Đây cũng là một trận mà quân ta thiệt hại nhiều .

Trận chiến ở hướng này ngày càng ác liệt .

Pot cay cú tăng cường thêm sư đoàn 703 thuộc lực lượng tổng dự bị từ Công Bong Xom tới khu vực SVayRieng .

Chúng liên tục tiến công ta từ phía Bắc đường 1 đến Nam đường 1 đến Mộc Hóa- Long An .

Các khu vực của F đảm nhiệm ngày nào cũng phải chiến với Pốt .

Nếu cứ như vậy thì rất khó khăn trong việc giữ chốt Biên giới .

Nên các tiểu đoàn phải vận dụng chiến thuật vừa chốt giữ vừa tấn công .

Với chiến thuật này ta đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực của Pốt .

Các đơn vị địa phương của Tây Ninh , Long An cũng đã được tăng cường kết hợp với F341 tấn công địch .

Bảo vệ biên giới .

Trong nhữnglần tấn công địch ở đây do hợp đồng không tốt , nên có trận cũng đã xảy ra việc" quân ta chiến quân mình".

Mặc dù đang ở thế tiến công địch .

Nhưng để giải quyết vấn đề biên giới bằng hòa bình nhằm : " tăng cường tính đoàn kết , quan hệ hợp tác giữa VN và CPC".

Theo nguyên tắc công bằng hợp lý ".

Quân ta quyết định lùi về đúng Biên giới và củng cố thế trận phòng thủ , sẵn sàng đánh địch nếu chúng tiếp tục lấn chiếm .

Trái ngược với thiện chí của ta .

Ngay ngày 1/1/78 Pốt cho 1 E tăng cường phản kích ta trên hướng E273 .

Buộc ta lại phải tấn công tiêu diệt địch .

D3 của E273 lại luồn sâu sang sát bờ sông Ba Sa .

Làm nhiệm vụ vu hồi đón lõng .

Tiểu đoàn 1 và 2 chia làm 2 hướng tấn công địch .

Riêng C3 được tăng cường 1 khẩu 12,7 ly 1 ĐK 82 và 1 trung đội của C1 , tiến công từ Biên giới vị trí chốt của d3 sang .

Theo hợp đồng thông báo là có các đơn vị nhỏ của QK 9 , đánh từ hướng ngã ba Cột Cờ - Long An sang .

5h sáng ngày 3/1/78 toàn tuyến bắt đầu nổ súng .

Đại đội 3 dưới sự yểm hộ của khẩu 12,7 do đ/c Tuyết khẩu đội trưởng chỉ huy , bắn vào các mục tiêu chốt giữ của Pốt .

Ở đây chúng có khoảng một đại đội .

Chúng chống trả rất ngoan cố .

Anh em xung phong mấy lần mà không chiếm được chốt .

Vì mục tiêu gần , nên 2 khẩu cối không phát huy được tác dụng .

Tôi nói với anh Trụ , anh Tiễn là để tôi lùi lại khoảng 100m mới bắn , chứ ở vị trí này không bắn được .

Hai anh đồng ý hợp đồng khi nào cối bắn cấp tập , thì các anh cũng dập các loại hỏa lực vào để đánh chiếm các chốt của Pốt .

Tôi khom người chạy về lệnh cho 2 khẩu đội lùi khoảng 100m .

Chỉnh cự ly tầm hướng xong bắt đầu bắn " tong..tong.." hai quả đạn bay vút lên trời rồi rơi xuống nổ phía sau Phun .

Tôi hô giảm tầm 100m .

Hai phát bắn tiếp , lại " tong...tong".

Nhìn đạn bay trong không trung thật hồi hộp .

Rồi oàng- oàng đạn trúng M cần bắn .

Hô anh em chỉnh lại tầm rồi cấp tấp thả đạn .

Tiếng Tong- tong thật đều rồi dồn dập.......DKZ82, B40,B41 cũng dồn dập bắn vào các mục tiêu .

Khẩu 12,7 ly điểm xạ thật đều găm vào các bờ bụi chốt của Pốt .

Sau đó bắn lên cao cho bb xung phong .

Trước sức tấn công 3 hướng của C3 bọn Pốt bật chốt bỏ chạy , nhưng bọn này cũng bị tiêu diệt gần hết .

C3 phát triển lên qua đường đất .

Ở đây có một trục đường đất từ VN qua .

Đến 9h các đơn vị đã làm chủ các M .

Tham mưu phó Thuật trực tiếp chỉ huy trận đánh .

Xông xáo trên xe La Da trắng chạy từ khu vực d2 đến tận vị trí của C3 để kiểm tra tình hình .

Mọi người đang nghĩ là " ông này" rất liều .

Thì ùng , oàng một quả B41 bay xoẹt qua đầu xe .

Rồi cứ thế các loại súng bb thi nhau bắn về khu vực C3 đang chiếm giữ .

Xe của tham mưu phó chạy ngược trở lại hướng d2 .

Anh em c3 bắt đầu phản ứng , bắn trả .

Nhưng có vẻ bọn này quyết chiếm vị trí c3 nên bắn rất áp đảo .

Tiếng ùng oàng B40-B41 liên tục .

Tiếng AK ròn đều xen lẫn là tiếng nổ đanh gọn của M79 vào đội hình c3 .

Tôi hô anh em chuẩn bị bắn , nhưng rất lưỡng lự vì thấy kiểu tấn công này rất nghi .

Rút kinh nghiệm như đại đội 6 mấy ngày trước .

Mới đầu cũng cứ nghĩ Pốt là quân ta nên bị mất thế chủ động gây thiệt hại .

Nhưng kiểu tấn công này có vẻ không phải là Pốt .

BCH đại đội lúc đó gần ngay 2 khẩu đội cối .

Anh Tiễn chạy sang mặt đỏ gay quát :" sao anh không bắn đi".

Tôi nói :" có vẻ như là quân mình ".

Anh Tiễn nói : " Pốt chứ quân mình cái gì , anh bắn ngay ."

Tôi lại giải thích : "anh cứ bình tĩnh , anh em sẵn sàng rồi , để tôi kiểm tra thêm " .

Đạn thẳng bắn rất rát , cắm phầm phập vào mấy cây quanh khẩu đội .

Tôi lợi dụng một gốc cây to , lấy ống nhòm quan sát .

Lúc này đối phương đã tiến gần , trong khoảng hơn 100m tôi phát hiện cách ăn mặc và khẳng định là bộ đội mình .

Anh Tiễn giật lấy ông nhòm quan sát và cũng công nhận là bộ đội ta .

Lệnh cho liên lạc báo các trung đội là ngừng bắn , làm hiệu bắt liên lạc .

Tiếng súng của mình đã ngớt hẳn .

Đối phương càng hăng , càng bắn và tấn công mạnh hơn .

Trung đội 1 của Anh Ngọc phảicử mấy người cùng giơ khăn vẫy , mãi mới bắt được liên lạc .

Khi thật sự nhận ra nhau , niềm vui vỡ òa .Thật bực mình giờ này mới tấn công .

Các anh phải chiến từ sớm rồi .

Hóa ra là2 đại đội CA biên phòng và bộ đội địa phương của Long An tấn công từ hướng CộtCờ sang .

Mò mẫm suốt từ sáng bây giờ mới tới đây .

Thấy xe của tham mưu phóThuật lại tưởng xe cấp to Pốt .

Quyết tấn công tiêu diệt .

Bên mình có 3 đ/c bịthương còn " đối phương"cũng bị thương mấy người .

Rất may là ko ai hy sinh .Lúc đó tôi mới nói : "các ông phải cảm ơn tôi nhé , chứ mấy chục quả cối này màđược " phát huy " thì ối ông bỏ mạng rồi .

Một trận tấn công giải cứu ngoài dự kiến :

Ngày 31/12/1977 sau gần một tháng dong duổi liên tục tấn công truy diệt Pốt ở bên đất K .

Các đ/v được lui quân về biên giới củng cố phòng thủ .

Thật thoải mái khi nằm trên đất Mẹ .

Cũng nằm võng , nằm đất hoặc nằm ngoài đồng lúa , nhưng sao đất mẹ vẫn thấy gần gũi ấm áp thế .

Ae vẫn phải thay nhau gác .

Nhưng hầu như mọi người có 1 đêm ngủ thật yên lành .

Đại đội 3 và d1 vẫn làm n/v chốt giữ ở khu vực Mộc Bài .

8h vừa ăn sáng xong chuẩn bị lên đại đội giao ban , thì đ/c liên lạc chạy gấp xuống giọng thất thanh .

Anh Phú đại đội báo chuẩn bị kết hợp cùng xe bọc thép tấn công ngay .

" Mày đùa tao đấy à "?Tôi nói sao vô lý thế , vừa về sao lại phải đi tác chiến gấp vậy .

Đ/c liên lạc nói anh cứ tập trung ae rồi lên đại đội nghe phổ biến n/v .

Tôi gọi anh Dự a phó nói về tình hình và bán tin bán nghi cái lệnh vừa rồi .

Hôm qua được thông báo ta rút quân về nước là : "vì giữ sự ôn hoà , thiện chí hoà bình " mà sao lại có lệnh tấn công ngay ?

Tới BCH đại đội .

Anh Tiễn , anh Trụ anh Đạo cv phó,cùng mấy đ/c btr , đang chụm đầu chỉ , chỉ ở bán đồ .

Tôi hỏi ngay : " Có việc gì đấy các anh ?

Anh Trụ nói : "ông Phú ngồi xuống đây đợi nốt đ/c Kỳ A10 lên nữa rồi phổ biến 1 thể ".

Quan sát nét mặt mọi người cũng thấy căng thẳng , có vẻ không bình thường .

Tôi nói :" thì anh nói luôn xem có việc gì ?

Anh Tiễn nói cách đây 30' có 1 xe Hồng Hà chở quân nhu của F đoàn .

Trên xe có khoảng chục đ/c , ở dưới cứ mới lên .

Cứ tưởng ta còn ở bên kia nên chạy sang .

Anh em chốt ở cửa khẩu bất ngờ quá ngăn ko kịp .

Vừa có mấy anh em chạy được về đây rồi .

F đoàn và E chỉ thị cho C3 cùng 6 xe bọc thép M113 tấn công sang giải nguy cho số ae này và kéo xe về .

Trời ơi, lại còn thế nữa , thảo nào lúc nãy có nghe thấy tiến súng .

Thế có ai việc gì không ?

Tôi hỏi nhưng biết ngay là sự việc nghiêm trọng rồi .

Tôi nói tiếp giọng hơi gắt :" Thế sao các anh không tổ chức ngay đi mà còn ngồi bàn gì nhiều " .

Bắt đầu tôi thấy lo , rất lo cho các anh em đó .

Anh Tiễn nói thêm .

Xe bị nó bắn ở chỗ rừng Sở , đã có 2 đ/c chạy được về , số còn lại không biết thế nào nữa .

Vừa lúc đó xe M113 của lữ 22 cũng ầm ầm lao đến .

Các trung đội nhanh chóng lên xe , tấn công thẳng đường 1 sang .

Xe chạy theo đội hình bậc thang vừa chạy vừa bắn .

Súng 12L7 trên các đều bắn điểm xạ , thị uy .

Thỉnh thoảng lại táng một quả ĐKZ cũng đã nhiều lần ngồi trên xe cùng tiền nhập , hoặc cùng tác chiến với TTG nhưng có lẽ chẳng lần nào như lần này , xe chạy nhanh hết tốc độ , xóc ơi là xóc .

Qua Ba Vét 1, chạy tiếp tới gần rừng Sở xa xa đã thấy lố nhố bóng áo đen .

Thấy loé lửa phía trước tôi hô nguy hiểm .

Nhưng cũng chẳng ai nghe thấy thì , ùng oàng đạn DKZ vọt xoẹt trên đầu .

Kệ .

Đoàn xe dũng mãnh lao lên .

Đ/c giữ b41 lựa thế phụt 1 quả hú hoạ về phỉa Pot .

Thêm 200m nữa rồi dừng , cho bb xuống rồi tiếp tục dàn hàng ngang tấn công .

Các trung đội nhanh chóng nhảy xuống chạy theo xe , vừa chạy vừa bắn .Các loại súng đều nhả đạn về phía Pot .

Khói , bui mù mịt khét lẹt .

Tiền hô xung phong vang dền .

Các đ/c xạ thủ 12L7 trên xe thật dũng cảm , cứ đều đều thùng-thùng - thùng điển xạ 3 viên 1 .

Mọi người chạy tiến theo xe bọc thép .

Tôi hô anh em gióng cối ngay mặt đường bắn uy hiếp .

Hô ngay :" thước tầm 300m .

4 quả cấp tập " .

Thật hài lòng với ae , đúng là những người lính thiện chiến .

Tong - tong - tong - tong ...ko đợi nhìn đạn nổ .

Tôi hô - thu cối vận động theo bộ binh .

Vừa chạy vừa pằng păng , pằng pằng lên trời mấy loạt AK , rồi lại tiếp tục chạy .

Có lẽ trong chiến đấu chưa có trận nào tính chất như trận này .

Anh em tấn công thật dũng mãnh .

Hầu như ai cũng biết rằng chỉ có tấn công thật mạnh , thật áp đảo mới làm cho bọn Pốt hoảng sợ .

Để cứu ae mình .Tiếng hô xung phong của mọi người hoà lẫn tiếng súng các loại , tạo lên 1 bản hùng ca thật hoàng tráng .

Bất chợt tôi nghĩ giá như có máy quay phim , có ai quay được trận chiến hào hùng này thì thậy là giá trị biết bao .

Thật tiếc quá !

Vận động được một đoạn tôi lại hô cối bắn tiếp .

Bọn Pốt cũng điên cuồng bắn trả .

1 vài đ/c đã trúng đạn bị thương rớt lại , tôi nói anh em đi cùng cối , đừng ở lại sau .

Rút kinh nghiệm các trận trước , nhiều anh em rớt lại thì lại gặp Pốt vòng đến .

Đã thấy chiếc xe Hồng Hà cắm đầu xuống bên Bắc đường .

Đội hình C3 cùng thiết giáp tấn thêm lên khoảng 500m nữa rồi dừng lại đứng ở thế vòng cung .

Chĩa súng hình dẻ quạt bắn điểm về các hướng uy hiếp Pot .

Trên mặt đường xác mấy thằng Pot nằm vắt ngang vắt dọc trong các tư thế khác nhau .

Máu loang thành vũng .

Tôi hô anh em tiếp tục bắn cối truy đuổi địch .

Rồi cùng anh Tiễn và mấyngười nữa kiểm tra xe .

Thi hài mấy anh em bị rất nhiều vết đạn .

Gạo , rautrên xe tung toé , Ae tìm thấy thêm 2 hysinh nữa trúng đạn trong tư thế chạy về hướng Tổ quốc .

Xe Hồng Hà hỏng , chúngtôi nhặt mấy khẩu súng trên xe , rồi nhanh chóng đưa các liệt sỹ lên xe bọcthép , rồi đốt xe Hồng Hà .

Bắn thêm mấy loạt nữa về phía Pốt rồi nhanh chóngquay trở về , vừa đi kiểm tra xem có anh em nào thất lạc .

Đi hơn 1 cây số thìgặp được 1 đ/c bị thương mặt trắng bệch vẫy xe .

Anh Tiễn hỏi còn ai nữa không?

Đ/c này nói là em cũng không biết nữa .

Tôi bàn với anh Tiễn là tranh thủ ítphút tìm kiếm , may ra còn sót ai .

Nhưng rồi cũng không gặp thêm đ/c nào nữa .Mọi người trở về , với chiến thắng và cùng với tâm trạng buồn - Thật buồn !!!

LẬT CÁNH :

Trung tuần tháng 1/78 , trong khi đồng bào ta ở hậu phương đang chuẩn bị đón tết cổ truyền Kỷ Mùi .

Thì tình hình Biên giới Tây Nam càng trở lên nghiêm trọng .

Đi ngược lại với thiện chí của ta , bọn phản động bọn Pốt , IêngXaRi tiếp tục cho quân đánh sâu vào lãnh thổ VN , ở Tây Ninh , Long An , An Giang , Đồng Tháp và Kiên Giang .

Để giáng trả hành động xâm lược trắng trợn của kẻ thù .

Các binh đoàn chủ lực cơ động được lệnh tiến công tiêu diệt địch .

Theo đó sư đoàn 341 được điều tăng cường cho quân khu 9 .

Ngày 17/1/78 toàn đội hình F ( trừ E270 đang chốt giữ ở Hà Tiên ), lên đường hành quân bằng xe cơ giới .

Địa bàn Tây Ninh bàn giao lại cho sư đoàn 9 đảm nhiệm .

Vượt gần 300km tới Châu Đốc - An Giang .

Tiểu đoàn 1 chốt giữ ở khu vực núi Sam , ( núi Bà An Giang) .

Tiểu đoàn 2 và 3 khẩn trương về chốt giữ ở Phú Cường , Bẩy Núi An Giang .

Ngày 19/1 sư đoàn giao nhiệm vụ cho d2-d3 kết hợp cùng sư đoàn 330 quân khu 9 phải giải phóng Phú Cường .

Nơi đây đã bị bọn Pốt lấn chiếm mấy ngày trước .

BCH Trung đoàn bàn với F 330 là " để d2+ d3 luồn sâu phía sau đội hình địch , rồi đánh chiếm điểm cao 192 .

Làm bàn đạp đánh xuống , tạo điều kiện cho F330 đánh chính diện " .

Trận đánh tưởng như khó khăn , nhưng nhờ d3 + d2 luồn sâu gây bất ngờ , đánh hất trở lại nên bọn Pốt nhanh chóng vỡ trận .

Lực lượng tấn công của F330 cũng rất mạnh mẽ .

Trận này chúng ta nhanh chóng giành thắng lợi , tiêu diệt được rất nhiều địch , thu nhiều vũ khí .

Giành lại địa bàn mà chúng đã lấn chiếm .

Vừa kết thúc trận đánh giải phóng Phú Cường .

Ngày 20/1 sư đoàn lại được lệnh đánh địch giải phóng 2 xã Khánh An, Khánh Bình thuộc huyện Châu Phú- An Giang .

Ở đây địa hình vô cùng phức tạp hiểm trở .

Lực lượng Pot rất đông .

QK 9 cùng F 341 + F 330 + Hải Quân + Không quân bàn bạc trận đánh hợp đồng quân binh chủng quy mô lớn để tiêu diệt Pot , giải phóng địa bàn quan trọng bị lấn chiếm này .

( dựa theo một số tư liệu của trung đoàn 273)c

Sau khi đánh xong trận ngày 3/1/78 toàn đội hình trung đoàn lại rút về chốt phòng thủ Biên giới .

Anh em vẫn phài nằm bờ nằm bụi .

Màn trời chiếu đất .

Quân số c/đ của các đơn vị đã vơi đi nhiều .

Trung đoàn đã phải đôn các đ/c ở cứ , tăng gia vv...

động viên thu gom các Đ/c thương binh nhẹ , trở lại đơn vị nhưng quân số cũng chẳng tăng được bao nhiêu .

Địa bàn chốt giữ thì rộng , nên đêm đêm mỗi người phải trực gác nhiều hơn .

Có trung đội thì cứ gác theo phương thức quay vòng , mỗi người 2 h nhưng cũng có tiểu đội áp dụng 2 người 1 vòng gác 6h rồi đổi ca .

Bọn Pot chưa giám đánh lớn , nhưng vẫn dùng những phân đội nhỏ lẻ tập kích chớp nhoáng rồi bỏ chạy .

Nên việc canh gác đên phải hết sức cảnh giác .

Gần 1 tháng tác chiến liên tục bên đất K , làm mọi người rất mệt .

Ai nấy gầy sọp hốc hác hẳn đi .

Chính những ngày tháng vất vả , gối đất nằm sương này , làm cho tôi kiệt sức , nhiễm lạnh viêm phổi cấp .

Đầu tiên là ho , ngấy sốt , rồi ho rất nhiều rũ rượi từng cơn .

Khổ nhất là lúc gác đêm , trời lạnh lại càng ho nhiều .

Ho long cả óc , lúc lên cơn ho , tay thì bịt miệng để tiếng ho không phát ra to , tay thì ép ngực đỡ phổi....Y tá mới đầu nói anh có khả năng viêm phế quản .

Rồi cho mấy viên Tenasilin uống cũng chẳng có tác dụng .

Rồi ho quá khạc ra cả máu nữa .

Lúc này đ/c y tá báo với đại đội là phải cho tôi đi viện điều trị .

Ngày 16/1 tôi bàn giao công việc tiểu đội cho Dự a phó .

Mọi người chia tay thật quyến luyến .

Cứ như tôi được ra quân giải ngũ ko bằng .

Hoài nói : anh mà đi lâu là em cũng về Sài Gòn đấy .

Tôi nói : anh em cố gắng , chắc tôi đi viện mấy ngày thôi .

Anh Trụ và anh Tiễn cũng xuống tận tiểu đội để chia tay .

Anh Tiễn nói : thôi anh ốm thì cứ đi điều trị , công việc ở đây có đ/c Dự và anh em tôi , nhưng anh phải chữa nhanh nhanh lên đấy .

Anh Trụ thì tếu táo là : ông cứ về Sài Gòn , em út nó chăm cho mấy ngày là khỏi chứ chẳng phải đi viện đâu .

Trà !

Một thằng lính A trưởng ốm đi viện mà làm có vẻ quan trọng thế !

Chẳng thiếu người mà .

Tôi nghĩ thế nhưng lại nói : Các anh ở lại chốt giữ cho kỹ , chắc tôi đi khoảng chục ngày an dưỡng rồi về thôi .

Thực ra tôi cũng hiểu tình cảm của anh em , nhất và với BCH đại đội .

Tuy rằng cấp bậc , chức vụ khác biệt , nhưng mọi người vẫn rất tôn trọng tôi .

Vì cũng hiểu lẽ ra tôi không bị thiệt thòi do nhầm lẫn , thì bây giờ cũng là cấp phó đại đội , chứ không phải là a trưởng như bây giờ .

Nên trong sinh hoạt , tác chiến , hoặc những lúc khó khăn , các anh thường tham khảo ý kiến của tôi .

Còn trong tiểu đội , thì ngoài tuổi tôi hơn hẳn mọi người , mà trong sinh hoạt ae coi tôi là người anh thực sự .

Tạm chia tay đại đội 3 , tôi lên đội điều trị của trung đoàn .

Bệnh xá Ecũng ngay ở làng Tiên Thuận , cách vị trí chốt của C3 khoảng 4-5 km.

Tôi tới đại đội 24 quân y trung đoàn lúc 9h sáng .

Vừa đưa giấy giới thiệu của quân y tiểu đoàn thì gặp ngay anh Thu y sỹ .

Anh Thu trước là y sỹ của d1 cùng d bộ với tôi . (Anh Thu quê ở Ninh Giang- Hải Dương ).

Đón tiếp rất vồn vã .

Pha trà và gọi mấy anh em nữa cùng ngồi uống trà .

Có anh Quyết y sỹ d2 mới lên( quê An Hải- Hải Phòng ) bác sỹ Nhật đại đội trưởng 24 .

Mọi người hỏi thăm tình hình dưới đơn vị rồi xem qua bệnh của tôi , bác sỹ Nhật nói : Cậu bị viêm phổi cấp thôi , có thể dãn phế quản nữa nên ho nhiều , vỡ các mao mạch nhỏ .

Ko có gì đáng kể , cứ điều trị ở E ít ngày rồi tính .

Anh Thu thông báo , vừa có đ/c Lập c9d3 cũng nhập viện điều trị , bị thương nhẹ ở kheo chân .

Cùng quê Thái Bình hai ông ở với nhau cho tiện .

Anh Quyết gọi luôn anh Lập lên uống nước .

Từ hôm đó tôi có thêm bạn đồng đội , lại đồng hương mới .

Thân thiết nhau từ đó cho đến ngày ra quân .

Khi ra quân thì anh Lập là chức Trưởng tiểu ban quân lực E , còn tôi cũng trung úy trưởng tiểu ban dân địch vân E .

Những năm sau này làm kinh tế , đến tận bây giờ .

Hoàng Quốc Lập quê Đông Huy- Đông Hưng- Thái Bình.

Xung phong đi bộ đội khi mới 17 tuổi , nên kém tôi 3 tuổi- một người có ý chí mạnh mẽ trong sinh hoạt cũng như công việc .

Mới nhìn tính cách thì hơi khó gần .

Nhưng lấp sau cái cứng cáp đó là người sống rất trách nhiệm , ý trí và giàu tình cảm .

Là trung đội trưởng của c9 d3 .

Từ lúc KCCM nhưng cũng do những nhầm lẫn về đề bạt của chuyên môn , cũng giống như tôi .

Quân hàm sỹ quan không về .

Nên cũng rất bị thiệt thòi .

Cùng vì một lẽ đó , nên hai anh em nhanh chóng tâm đầu , ý hợp trong mọi việc .

Hiện nay Anh Lập cũng là giám đốc một công ty , TNHH xây dựng thương binh , nhiều ngành nghề chức năng , rất có uy tín tại thành phố Thái Bình .

Buổi trưa mấy anh em đi ăn cơm xong lại về nghỉ .

Đang vất vả ở chốt , giờ đây được về phía sau nghỉ ngơi thật là thoải mái .

Ko phải lo canh gác và đich địch , ta ta nữa .

Giấc ngủ thật sâu , thật ngon .

Từ khi ra biên giới 27/9 đến giờ hơn 3 tháng .

Hôm nay tới được một giấc ngủ ngon nhất , an lành nhất .

Đại đội 24 , hay gọi là bệnh xá trung đoàn có hơn 20 người .

Có 2 bác sỹ , 5 y sỹ .

Số còn lại là y tá và phục vụ .

Ngoài ra lúc nào cũng được tăng cường một trung đội vận tải của c25 .

Làm công tác phục vụ như đào hầm hào , v/c thương binh hay các nhiệm vụ khác .

Thường thì ở đây chỉ sơ cấp cứu những trường hợp cấp thiết , sau đó lại chuyển lên phẫu cấp trên hay bệnh xá sư đoàn .

Một số anh em bị thương nhẹ thì cũng chữa trị tại đây .

Thành phần " ốm đau" thì cũng có vài người .

Vị trí đóng quân cũng ngay tại khu vực tác chiến của trung đoàn .

Cũng trong phạm vi pháo của Pốt có thể tới và Pốt cũng có thể mò vào tập kích .( Tháng 1/79 đại đội 24 khi ở bên K thuộc tỉnh Côngpongsubư ban đêm cũng bị Pốt vào tập kích hy sinh va bị thương mấy đồng chí ).

Nhưng với suynghĩ của chúng tôi , thì đây cũng là phía sau .

Cuộc sống và sinh hoạt yên bình, quán bia , quán nước mía , cà phê hay giải khát , cả quán nhậu nữa đềucó .

Loa đài xập xình .

Những cô thôn nữtrong bộ đồ ba ba đủ mầu sắc đong đưa mời chào thật hấp dẫn .

Nếu không có tiếng súng , thì cuộc sống nơinày là hòa bình , là thời bình đầy đủ với tất cả các hương vị của cuộc đời .Bỗng nhiên tôi.trạnh nhớ đến anh em đang chốt giữ ngoài biên .

Cuộc sống , hàngngày phải gối đất nằm sương , thiếu thốn đủ thứ .

Nếu dóng theo đường chim baythì từ đây ra ngoài chốt chưa đầy 2 km mà cuộc sống khác xa nhau .

Đúng là :"thiên đường và địa ngục ".....

Vừa tỉnh dậy , đã thấy đồng chí y tá báo là : các anh làm vệ sinh xong xuống ăn sáng ngay , rồi chuẩn bị tư trang hành quân .

Hai anh em nhìn nhau ngạc nhiên , cùng hỏi y tá : đi đâu thế bạn mà bất ngờ thế ?

Đ/C y tá trả lời là ; nghe phổ biến là đi xa đến tận vùng Châu Đốc , An Giang gì đó .

Đơn vị đã chuẩn bị cả rồi đợi xe đến là lên đường .

Thôi kệ , đi đâu thì đi cứ làm mọi thủ tục sáng cái đã .

Có ôtô hành quân là oai rồi .

Hai anh em nhanh chóng làm vệ sinh , rồi ra lán ăn cơm .

Gặp anh Thu , anh nói : nhớ lấy nước đầy Bi đông nhé đi xa đấy mày ạ .

Có cả cơm nắm nữa .

Thương bệnh binh cũng phải cơm nắm , thịt kho .

Ở đây khẩu phần ăn cao hơn dưới đơn vị .

Chúng tôi nhận phần ăn trưa rồi về thu xếp hành trang .

Thực sự thì hành trang cũng gọn .

Đi chiến thì có cái bồng , một bộ quần áo , cái áo mưa , khăn mặt là đủ rồi .

Còn bây giờ về cứ lấy lại balô .Cái bồng được gấp cho vào trong ba lô , chỉ không có súng đạn chứ cũng không có gì nhiều .

Chỉ thêm cái võng , cái màn tuyn màu xanh từ thời KCCM đến bây giờ vẫn dùng .

Bàn chải đánh răng vv......

Lên đường , lại lên đường .

Được phổ biến là đi xa khoảng 300km xuống miền Tây – Châu Đốc- An Giang .

Bao lần hành quân khi thì bằng xe , khi đi bộ , còn lần này thì cũng đi bằng xe nhưng đi theo đại đội quân y , chỉ có tư trang , không có súng đạn .

Hai anh em nhìn nhau như hẫng hụt , như thiếu thiếu cái gì .

Xe chạy quay lại về hướng Sài Gòn , rồi cắt sang đường 4 về hướng Miền Tây .

Bây giờ , đi đâu bằng ô tô xe không có điều hòa máy lạnh là không chịu được .

Còn ngày ấy chúng tôi cứ được đi otô là sướng lắm rồi .

Ngồi trên thùng xe được ngắm trời ngắm đất , ngắm cuộc sống tất bật và thanh bình của mọi nguời , nắng mấy , mưa mấy cũng ko là cái gì .

Đoàn xe lính đi qua , mọi người đều như đứng lại nép vào bên đường .

Nhìn theo đoàn người , đoàn xe ở chiến trận về .

Không biết họ , những người đứng đứng kia , ngồi kia họ đang nghĩ gì ?

Tin tức của cuộc chiến Biên giới , cũng đã lan tỏa .

Nhưng cũng không phải ai cũng biết .

Cuộc sống của người dân nhất là ở Sài Gòn , Biên Hòa , đã bắt đầu khó khăn , thật khó khăn .

Cái niềm vui của đất nước thống nhất , hết chiến tranh đã nguội .

Mọi người bắt đầu phải lo đến cuộc sống thực tế , cơm gạo hàng ngày .

Dân Sài Gòn trước đây đa phần sống dựa vào viện trợ của Mỹ .

Nhiều gia đình đã bán dần những tài sản mua sắm được , nhiều người từ chỗ rất tôn trọng bộ đội , nay họ đã quay sang không ưa gì bộ đội .

Họ bàng quang với những gì xẩy ra ở Biên giới .

Nếu ở ngoài miền Bắc mà đoàn quân đi qua các thành phố , thị xã thế này thi vui lắm .

Mọi người đón chào , hoặc vẫy tay , hoặc chúc tụng bông đùa thật vui thật ấn tương .

Còn ở đây họ đứng nhìn kia , chỉ là do tò mò chứ cũng không có thiện cảm gì với đoàn xe lính trận lôi thôi , bụi đất , súng đạn đầy người này..

Xe chạy liên tục qua trưa đã tới vùng Cần Thơ , đúng là " Cần Thơ gạo trắng nước trong".

Những vùng này tôi chưa hề tới , xe xuống phà .

Chiếc phà ( bắc) rất to , mỗi chuyến chở tới hơn 20 xe cùng với hang trăm người .

Hai bên đầu phà , bà con buôn bán tấp lập , hoa trái thật nhiều , thật ngon , bầy biện thật đẹp , thật hấp dẫn nữa chứ .

Đủ các loại quả , nào là sầu riêng , nào mít , nào ổi , nào dứa ( thơm ), nào cóc , nào mận .

Nhiều nhất là những quả mận , ( quả doi) rẻ và ngon vô cùng .

Mua có 20 đồng mà được mấy kg .

Trong lúc khát nước , được ăn quả này thì không còn gì bằng .

Rồi chim , chim đã làm rồi , quay vàng óng mỡ , không phải ít mà hàng thúng , nhiều thúng .

Thật kỳ lạ .

Miền Tây mầu mỡ , cây trái thật nhiều .

Đi qua ven đường , nhìn những thiếu nữ , vận đồ bà ba hoa , đang cầm gầu múc nước .

Té lên các gốc cây , đang lao động mà sao trông nhàn nhã , đẹp đẽ mượt mà đến vậy .

Tự nhiên trong tôi trào lên cảm giác muốn có gia đình .

Có ruộng có vườn có người phụ nữ của mình .

Thèm quá , khát khao quá .

Cứ dong duổi chiến trận thế này , bao giờ mới có được những thứ cao sang đó .

Xe chạy , cứ chạy tiếp .

Rồi lại đi qua một cái phà nữa .( có lẽ phà Vàm Cống).

Đến chiều tối thì tới thị xã Châu Đốc- An Giang .

Như vậy quãng đường hành quân khoảng 300km .

Mọi người xuống đi bộ , cách chỗ đỗ xe khoảng 2km .

Đi men theo bờ sông .

Trung đoàn bộ và đại đội 24 đóng quân ở nhà dân , cạnh dòng sông Tiền Giang thật lớn , nước trong vắt .

Có những cái thuyền lồng , nuôi cá thật lớn đang neo đậu hay lững lờ trôi .

Đây là ấp Châu Long 1 , xã Châu Phú B , Huyện Châu Thành thị xã Châu Đốc .

Là vùng ngoại o của thị xã .

Nhà cửa hầu hết làm dọc theo bờ sông .

Tôi , anh Lập , cùng 2 đồng chí nữa lính 77-78 được phân công ở nhà anh Thành .

Anh Thành trước làm ở công ty bảo hiểm , chị thì dạy học có 2 cháu nhỏ Trinh và em trai Hoài .

Ở đây , và cả vùng này , hầu như đi theo đạo Hòa Hảo hết .

Họ có tục lệ cúng lễ rất đơn giản , chỉ bằng cốc nước và vái lạy 4 phương trời đất .

Không hương nhang , hoa quả như đạo phật .

Sáng sớm anh chị đã dậy vái lạy ngày nào cũng thế .

Sau những nghi thức chào hỏi dân vận .

Rất nhanh chóng anh em tôi gây được thiện cảm với anh chị Thành .

Đặc biệt là chị Lan vợ anh Thành rất quý tôi .

Hay chuyện trò kể về cuộc sống xưa và nay .

Chị tâm sự : cũng có người em trai trạc tuổi tôi , trước là trung úy chế độ cũ nhưng bị bệnh mất trước giải phóng mấy năm .

Nhữngtình cảm của anh chị Thành với tôi từ đó gắn bó tới tận bây giờ .

Chị nhận tôilà em " ngang hông ".

Vẫnthường điện hỏi thăm nhau .

Tình cảm của anh chị Thành và người dân nơi đâythật đáng quý .

Thật đáng trân trọng .

Tôi có 3 lần trở lại thăm anh chị .

Đăcbiệt năm 2005 khi cả nước kỷ niêm 30 năm ngày giải phóng .

Tôi , vợ tôi cùng 1số gia đình ccb trung đoàn về thăm lại chiến trường xưa .

Vào thăm thì thậtbuồn là vừa giỗ đầu của chị .

Mọi người nói trước khi mất chị vẫn nhắc tới tôi.

Lo cho tôi sao hồi này ko thấy tin . ( dịp đó tôi đi nước ngoài nên ko điênthoại được ) 1

Sau một ngày dừng chân ở Châu Đốc , tiểu đoàn 2 +3 của E273 đã kết hợp với F330 - QK9 đánh tan bọn Pốt giải phóng Phú Cường .

Sư đoàn 341 được lệnh tiếp tục đánh địch giải phóng 2 xã Khánh An , Khánh Bình thuộc huyện Châu Phú , An Giang .

Nơi đây địa hình rất phức tạp , là cù lao được bao bọc bởi sông Hậu , sông Châu Đốc nên toàn sình lầy , kênh rạch chằng chịt .

Rất thuận tiện cho phòng ngự và ngược lại tấn công thì lại rất khó .

Bọn Pốt đã xua quân bất ngờ chiếm giữ nơi này gần 2 năm .

QK9 nhiều lần tấn công mà chưa giải phóng được .

Bọn Pốt chiếm giữ 2 xã này , ngoài các đơn vị địa phương của chúng , còn chủ yếu là Sư đoàn 2 .

Sư đoàn được tôn là "anh cả đỏ" của quân đội Pốt .

Chúng chiếm giữ đã lâu , nên xd phòng thủ hệ thống theo tuyến án ngữ liên hoàn , ngay từ ngã ba sông Châu Đốc .

Có những chỗ lợi thế chúng chốt giữ , hầm hào kiên cố , kèm thêm cả các bãi mìn .

Hòng chống sự tiến công của ta .

Với ý đồ lấn chiếm lâu dài .

Ngoài ra chúng được sự chi viện của pháo binh bên trong đất liền cũng rất mạnh .

BCH sư đoàn chấp nhận phương án tác chiến của ban tác chiến F , do đ/c Lê Hải Anh thiếu tá trưởng ban cùng anh em soạn thảo .

Là : vẫn dùng theo lối đánh sở trường : luồn sâu vào bên sườn phía sau hướng phòng ngự chính của chúng , tạo thế bao vây chia cắt tiêu diệt địch .

Trung đoàn 273 , Trung đoàn 266 được phân công trên hướng chủ yếu .

Dùng d1 + d2 + d3 + d8 là lực lượng luồn sâu từ Tây ấp KôKi , đi ngược lên hướng Bắc .

Đi sâu vào phía sau địch ở phía Tây Sông Châu Đốc .

Kết hợp với tiêu diệt địch từ đồn biên phòng Bắc Đai , đến đồn bp Vạt Lài và khu vực Tây của 2 xã Khánh An - Khánh Bình .

Đêm ngày 3/2/78 ( tức29 tháng chạp Mậu ngọ ) khi mà cả nước đang chuẩn bị đón tết Mậu Ngọ , thì cácchiến sỹ Trung đoàn 1 - 3 của sư đoàn 341 , Trung đoàn 2 của F330 , Trung đoàn2 của tỉnh đội An Giang , cùng các lực lượng Hải quân , TTG di chuyển đến cácvị trí tập kết .

Trung đoàn 273 + 266 ém quân , đợi Lữ đoàn công binh QK bí mậtbắc cầu phao vượt sông .

Khoảng 1h đêm ngày 4/2 cầu phao bắc xong .

Các Tiểuđoàn được lệnh luồn sâu theo kế hoạch .

Phải đi vòng xa , nhưng đến 5h sáng cácđơn vị đã vào chiếm lĩnh các M được phân công .

Trời cuối năm trời se lạnh .Sương xuống dầy , tầm quan sát ko được xa .

Nên bọn Pot ko phát hiện được ta .Càng bất ngờ hơn khi chúng nghĩ : chuẩnbị mai là ngày tết cổ truyền Việt Nam , nên ta không động binh .

Bọn địch ở đậymới bị ta luồn sâu đánh tập hậu 1 trậnPhú Cường , nên còn rất " ngây thơ "chưa bị ngấm đòn .

Hơn nữa với địa hình chốt giữ rất hiểm hóc và lại đã chiếmgiữ rất lâu rồi .

Nên bọn này rất chủ quan .

Chúng không biết rằng , lưỡi gươmcủa thần công lý , lưỡi gươm của sứcmạnh , của ý chí QĐVNAH , của dân tộc Việt Nam anh hùng , đã cận kệ bên cổchúng .

Đang đợi giờ hành quyết .

Đúng 6h15' ngày 4/2 , sương tan dần .

Các mục tiêu đã hiện rõ ùng - ùng - ùng , những tiếng nổ đầu nòng của pháo binh ta bắn vào các M .

Oành - oành – oành , tiếng nổ inh tai gần đội hình ém quân .

Rồi như ngưng lại để quan sát chỉnh tầm , rồi các loại pháo , cối thi nhau nhả đạn .

Dàn nhạc , bản hợp xướng của pháo , cối các loại , của lòng căm thù , sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa , đồng loạt dập vào các vị trí chốt giữ của Pốt .

Pháo 130 ly bắn tầm xa , chế áp các trận địa pháo bên trong của chúng .

Không thể phân biệt nổi tiến nổ của từng loại pháo .

Âm thanh rền vang như sấm .

Rồi máy bay của ta xuất hiện , ném bom vào các mục tiêu , trận địa pháo , khu vực chỉ huy của Pốt .

Rồi máy bay trực thăng quần đảo bắn Pốt két và 20L liên tục vào các chốt địch , ở hướng F330 đảm nhiệm .

Hoả lực thật mạnh .

Đúng là trong chiến tranh chống Mỹ và giai đoạn đầu của cuộc chiến với Pốt này , chưa lần nào quân đội ta xuất quân đủ các quân binh chủng như đợt này .

Dưới sông Châu Đốc , 4 tầu " Há mồm " của Hải quân đang tiến về vị trí đổ bộ .

Trận địa địch chìm trong khói lửa .

Các đ/c chỉ huy của d3 như Nguễn Song Thao d tr , Tô quang Phụng Ctr , Nguyễn văn Ngọc Btr , Hoàng Quốc Lập Btr và nhiều đ/c nữa , thật sự mưu trí , thật dũng cảm .

Khi xung phong đều lao lên trước thật dũng mãnh .

Khi ngớt đợt tập kích hoả lực bằng máy bay và pháo binh .

Cán bộ chiến sỹ d3 tràn lên đánh chiếm địch ở khu vực đồn Bắc Đai .

Địch lợi dụng hầm hào kiên cố , phòng thủ quyết liệt .

Nhưng chỉ sau 35 phút chiến đấu , d3 đã đánh chiếm và tiêu diệt hết bọn địch ở đây .

Làm bàn đạp mở thông ngã ba sông Châu Đốc .

Tạo chỗ đứng đầu cầu , bến đổ bộ cho các tầu há mồm , nhả 12 xe bọc thép M113 và các tiểu đoàn bộ binh F-9 , E266 tiến công khu vực Chây Thom .

Cùng lúc d3 đánh chiếm đồn địch ở đồn biên phòng Bắc Đai , d2 dũng mãnh tấn công tiêu diệt địch ở đồn bp Vạn Lài .

Tiều đoàn 1 phát triển tiến công phía Tây đồn Bắc Đai .

Địch co cụm chống trả .

Pháo binh của Pốt cũng đã gượng dậy bắn hỗ trợ cho bọn sống sót .

Chúng bắn theo toạ độ tính sẵn , mật độ thật dầy đặc , làm cho bộ đội ta thương vong nhiều , nhất là ở khu vực cầu phao vượt sông .

Đạn pháo nổ dưới sông làm cá chết nổi trắng mặt nước .

Trong những loạt pháo bắn trả đó , một loạt pháo làm hy sinh đ/c Trần Quy Nhơn , tham mưu phó trung đoàn và đ/c Thắng trợ lý tác chiến của trung đoàn 273 cùng một số a e khác .

Pháo binh ta tiếp tục bắn chế áp vào sâu .

Nhưng chắc bọn này có " Mắt pháo " đài quan sát , nên chúng bắn vào quân ta cũng rất trúng đích .

Ta tập trung phản pháo , mà chưa bịt miệng được toàn bộ pháo của chúng .

Máy bay trực thăng HU cũng vẫn liên tục quần đảo hỗ trợ bb tiêu diệt Pốt .

Đến khoảng 9h30 , hầu như các mục tiêu của F341 tấn công đã hoàn thành .

Thì ở hướng quan trọng của trung đoàn 2 - F330 , Trung đoàn 2 tỉnh An Giang gặp khó khăn .

Vẫn chưa mở được cửa mở , tấn công địch ở cù lao Khánh An- Khánh Bình .

Nếu cứ để kéo dài thì toàn cục sẽ bất lợi cho ta .BCH liên quân quyết định điều lực lượngcủa F341 gồm D2 – E273 và 1 d của E266 chi viện cùng F330 tiến công địch ở đây

Lúc này , cầu phao tạm của F330 cũng đã bắc xong .

Các chiến sỹ d2 ào ào vượt sông .

Trung đoàn 266 cũng được cơ động bằng " tầu há mồm " của Hải quân đổ bộ vào tiến công cù lao Khánh An- Khánh Bình khu vực ngã ba ấp Ba Đình .

Khu này là sở chỉ huy và kho hậu cần , quân y của trung đoàn 11 của Pốt .

D2 đánh tràn lên , cùng với anh em F330 đánh tràn xuống Bắc làng Xanh .

Đánh thẳng vào sau đội hình địch , đang cố thủ của chúng ở An Thạch .

Bọn Pốt không còn đường lùi chống trả thật quyết liệt .

Nhưng chúng đã vỡ trận .

Một số tổ chức vượt sông tháo chạy bằng thuyền .

Nhưng bị pháo cối và trực thăng tiêu diệt .

Tiểu đoàn 1 , sau khi đánh chiếm xong phía Tây đồn Bắc đai .

Được lệnh vượt sình lầy khu bưng Bình Thiên tiến công vào phía Nam làng Xanh .

Chiến sự nhỏ lẻ tiếp diễn đến 17h chiều ngày 4/2/78 .

Quân ta làm chủ hoàn toàn cù lao Khánh An.- Khánh Bình .

Sau 2 năm , khu vực 2 xã này đã được giải phóng .

Sạch bóng quân xâm lược tàn ác .

Đúng chiều ngày 30 tết nguyên đán Mậu Ngọ .

Các đ/v được lệnh tạm chốt giữ tại các vị trí , địa bàn vừa giải phóng .

Chiến thắng này , mang ý nghĩa thật lớn .

Đã khẳng định truyền thống và sức mạnh ,ý chí mưu lược .

Sự hợp đồng quân binh chủng của quân đội ta .

Sự kết hợp hòa quyện chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương thật tuyệt vời , thật hoàn hảo .

Đó là sức mạnh của toàn dân trong chiến tranh vệ quốc .

Đảng bộ , chính quyền , nhân dân Châu Đốc , An Giang đã giành nhiều tình cảm cho cán bộ , chiến sỹ Sư đoàn 341 .

Nhất là khu vực Châu Đốc , các xã Khánh An- Khánh Bình vô cùng biết ơn các đơn vị đã chiến đấu , đánh đuổi tiêu diệt bọn Pốt độc ác .

Trong các bài giảng của các trường sỹ quan , sơ cấp , cao cấp hay tập huấn vv..của các trường đạo tao Sỹ quan , Hạ Sỹ quan , đều lấy trận đánh Phú Cường , Khánh An- Khánh Bình , làm bài học giảng dạy cho các bộ môn quân sự quốc phòng .

Qua trận chiến này , uy danh của sư đoàn 341 ngày càng được tôn vinh , càng được sự yêu mến của nhân dân các tỉnh dọc miền Biên giới Tây Nam .

Thật đáng tự hào !

- Vừa nhận n/v tạm thời chốt giữ đón xuân ăn tết tại địa bàn vừa giải phóng .

Thì BCH Sư đoàn lại được thông báo , quân Pot đang tập trung rất đông , chuẩn bị đánh chiếm Thị trấn Hồng Ngự , Tỉnh Đồng Tháp .

Toàn đội hình Sư đoàn lại chuẩn bị cơ động về Đồng Tháp .

- Bài viết dựa theo lời kể của Trung tướng Lê Hải Anh , nguyên thiếu tátrưởng ban tác chiến F341 , Đ/c Hoàng Quốc Lập , nguyên trung đội trưởng c9 ,d3 , E 273 .

Hồ sơ lưu trữ của trung đoàn 273 , và lời kể của một số anh em ccbF341 , đã trực tiếp tham gia trận chiến này .

Trong khi toàn E đang làm công tác chuẩn bị chiến đấu giải phóng 2 xã Khánh An ,Khánh Bình.

Thì cái nhóm " ốm yếu " của tôi được chuyển về điều trị ở viện 7 Biên Hòa .

Trung đoàn bộ và đại đội quân y 24 nhích gần lên khu vực tác chiến.

Tôi,anh Lập , và Mến ( lính 77 ) ,chiều tối cũng chào anh chị chủ nhà , khoác ba lô ra " chốt " ở phòng đợi bến xe thị xã Châu Đốc , để sáng hôm sau đón xe về Sài Gòn .

Thị xã biên giới thời chiến ko thật sôi động .

Phố phường vắng vẻ .

Cũng có hàng quán nhưng ko đông đúc .

Thỉnh thoảng bon Pot bắn vu vơ sang mấy loạt pháo .

Khu vực núi Sam , bên này là đền " Vía Bà " .Nhưng bên kia bọn Pot vẫn còn chiếm giữ .

Nếu tính theo đường " chim bay " thì cũng ko xa .

Hôm trước ae tôi có lên thăm đền thấy vắng tanh .

Anh em d bộ , d1 đang chốt giữ ở đó .

Các đại đội bb bên kia núi hàng ngày vẫn chiến đấu chặn địch lấn dũi chiếm đất .

Ba ae trải áo mưa ra nền nhà đợi nằm nghỉ .Trong lòng mọi người rất vui ,háo hức vì được về phía sau .

Về Sài Gòn với bao dự định riêng tư của mỗi người .

Nhưng phải nằm đợi đến sáng mai cảm thấy lâu quá .

đợi chờ trong mong ngóng thật buồn và thấy thời gian đi thật chậm .

Chậm hơn cả 1 mình ngồi gác ở cánh đồng nơi chiến tuyến .

Vừa nằm 1 tý các loại muỗi to , muỗi bé , muỗi mẹ ,muỗi con đã tấn công ko chịu nổi .

Anh em tìm cách mắc màn , cảm giác như buồn thiếu cái gì .

Riêng tôi thì ho , ko hút thuốc lá , còn 2 bạn kia thì hết điếu nọ đến điếu kia .

Tự nhiêntôi hỏi anh Lập : có đi uống cape ko ?

Anh Lập nói : tiền đâu mà uống cape ?Đúng là lính chiến , gian khổ là thế ngoài hành trang đơn giản còn toàn là súng, là Đạn .

Còn bây giờ đi viện , súng , đạn cũng ko còn .

Chỉ có cái balo bẹp ,vì có cái gì nhiều đâu .

Tiền thanh toán đi viện , có đáng là bao . trợ cấp của" Trung sỹ nhất " có mấy đồng .

Chợt nghĩ mình đi lính chiến liên tụcthế này , nếu là lính Mỹ , hay lính Ngụy thì chắc nhiều tiền lắm .

Vì nghe đâu, thời chế độ cũ 1 người đi lính , nuôi được cả gia đình .

Còn chúng mình ,lính của chế độ XHCN VN , của Cụ Hồ thì " vô tư thật ".

Tôi nói vớiLập .

Cứ đi với tôi , ra phố chơi cờ , uống caphe .

A Lập nói :thắng mới đượcuống , còn thua thì lấy gì ra mà chiêu đãi họ .

Tôi nói với Lập lúc ở Sài Gòntôi hay chơi cờ với người Hoa ở Chợ Lớn nhiều rồi cứ yên tâm

Hai a e đi dọc từ bến xe vào phố khoảng trăm mét , gặp ngay 1 nhóm khoảng 4-5 người đang chụm đầu chơi cờ tướng .

Thấy a e tôi đến mọi người ngẩng lên như có ý nhường chỗ ngồi .

Tôi xin phép ngồi xem , bà con thấy 2 chú bộ đội có vẻ say cờ thì rất thích .

Hết ván cờ dở tôi xin phép cầm quân chơi 1 ván .

Mọi người rối rít nhường chỗ cho kỳ thủ mới .

Hồi năm 75 , khi đi viện 175 lúc rỗi , các thương bệnh binh không có gì vui hơn , giết thời gian hơn là chơi cờ tướng , và chơi các loại bài .

Tôi có học được vài nước đi , cách xuất quân và thế đánh pháo gọng sỹ , rồi chuyển thế pháo chồng .

Công phá đối phương rất lợi hại .

Ai thiếu kinh nghiệm là rất dễ thiệt quân , mất xe và thất bại nhanh chóng .

Kết thúc 3 trận đấu , với 3 người khác nhau tôi đều thắng với thế cờ này .

Mọi người rất phục chú bộ đội mà " cao cờ " kêu cà phê , thuốc lá , bánh kẹo , mời chúng tôi thật trịnh trọng .

Riêng anh Lập thì từ đó cứ phục tôi " sát đất ".

.

Đến bâygiờ , tôi với Lập vẫn thường hay nhắc về buổi tối Châu Đốc ," Đánh cờ uốngcà phê đó "

Sáng hôm sau 3 anh em lên xe về Sài Gòn .

Rồi tiếp tục bắt xe về viện 7 Biên Hòa .

Điều trị được gần chục ngày thì tôi và anh Lập cùng ra viện .

Chia tay nhau ở Sài Gòn , mỗi người đi mỗi ngả dự định sau 2 ngày sẽ trở lại đơn vị .

Tôi tranh thủ đi gặp một số người quen ở TP .

Rồi vào sân bay Tân Sơn Nhất , chơi với người em trai ( lính 74 ) thuộc đại đội trinh sát điện tử , của Bộ tư lệnh phòng không , không quân đóng quân trong sân bay .

Hai anh em gặp nhau thật vui mừng .

Trong đơn vị của Lộc ( tên em trai) nhiều anh em quê ở Thái Bình , cùng nhập ngũ đợt tháng 12/74 .

Nghĩ ra đủ cách để chiêu đãi tôi rất thịnh soạn .

Mọi người rất thích nghe tôi kể chuyện chiến đấu Biên giới Tây Nam .

Lộc em tôi và các bạn kể là bố mẹ và mọi người đểu rất lo cho tôi , vì mấy tháng đi Biên giới , tôi không có tin tức gì .

Hàng ngày cứ thấy máy bay chở thương binh từ Tây Ninh về , Lộc cùng mấy bạn thường ra xem và vào cả viện 175 để hỏi thăm về tôi .

Lúc này đã gần tết .

Lộc nói , có chú Tiến , nhà ngay trước cửa nhà tôi , vào công tác trong này chuẩn bị về Thái Bình .

Hiện đang ở khách sạn Tao Đàn ( nhà khách chính phủ) .

Tôi đi mua mấy tấm thiệp , viết thư và đến đó ý định nhờ gửi về nhà .

Đang ngồi ở phòng đợi bên dưới , thì thấy một người phụ nữ còn trẻ đi ra .

Chú ý nhìn tôi , rồi mừng dỡ gọi tên tôi .

Trong giây lát tôi nhận ra là người bạn gái tên Nhung , bạn cùng học với nhau thời lớp 4 - 5 ở Thái Bình .

Thật vui và bất ngờ .

Qua chuyện trò , tôi được biết Nhung đang làm kế toán tại nhà khách này .

Nhung hỏi tôi hiện giờ làm gì , ở đâu?....

Tôi kể sơ sơ cho Nhung biết về đời bộ đội của tôi , và hiện đơn vị vẫn đang chiến đấu ở Biên Giới Tây Nam , vùng Châu Đốc , An Giang .

Tôi ốm đi viện .

Bây giờ ra viện được nghỉ mấy ngày .

Nhung hỏi : " Sao Phú không về quê ?"

Tôi nói : về thế nào được , hôm nay đã là ngày 27 tết rồi .

Tàu xe thời đó rất khó , đi làm sao được !

Nhung nói tiếp : Phú cứ về đi .

Tôi sẽ mua vé máy bay cho Phú về .

Thật bất ngờ , khi có lời đề nghị giúp đỡ cao sang đó .

Thời đó mà đi máy bay thì thật là khó , vì thường chỉ giành riêng cho cán bộ đi công tác .

Giá vé lại thật cao so với lính , nên với chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ tới phương tiện cao cấp này .

Nhung thuyết phục tôi , và nói : ở đây tôi mua vé thì đơn giản .

Vì nhà khách chính phủ nên gọi ra là lấy được vé ngay .

Tôi ngần ngừ vì cũng quá bất ngờ , trong giấy ra viện của tôi có ghi là : " ra viện được nghỉ công tác 10 ngày " .

Đắn đo một chút rồi tôi đồng ý và nhờ Nhung lấy hộ vé .

Tôi về sân bay bàn với Lộc , và quyên tiền của anh em cho vay .

Chiều tôi trở lại khách sạn gặp Nhung .

Nhung đã lấy được luôn vé khứ hồi cho tôi , bay ngày 29 tết và vé vào ngày 8 âm lịch .

Cảm ơn Nhung , cảm ơnngười bạn học thiếu thời .

Tôi trở lại sân bay , chỗ đơn vị Lộc , trong lòngthật thổn thức mừng vui .

Hai anh em đi mua một số quà , chủ yếu là đồ chơi trẻem , khăn von , bít tất nilon....để mang ra Bắc làm quà .

Tôi không gặp được Lập như đã hẹn .

Và cũng lỡ hẹn với Thanh , người bạn gái .

Hôm trước đến chơi ,tôi có hẹn là : sẽ cùng Thanh đi chơi chợ hoa Nguyễn Huệ ngày tết .

Do việc được ra Bắc , về quê quá bất ngờ nên ko kịp báo lại .

Việc lỡ hẹn với anh Lập cũng không có gì quan trọng lắm .

Còn riêng với Thanh , việc lỡ hẹn này , là nỗi ân hận của tôi cho đến tận bây giờ .

Vì cho đến bây giờ và chắc là mãi mãi tôi không có cơ hội để sửa chữa , thực hiện lời hứa đó nữa ...

Chiều hôm sau tôi và Lộc ra nơi làm thủ tục để bay ra Bắc .

Trời ngày tết mà ở Sài Gòn , nhất là trong khu vực sân bay nắng nóng như đổ lửa .

Tôi nhanh chóng làm những thủ tục an ninh , rồi vào phòng đợi khoảng 30 phút thì lên máy bay .

Hồi đó , hàng không của mình chủ yếu là dùng máy bay 2 hay 4 cánh quạt ( động cơ ) của Nga .

Trong máy bay không có hệ thống điều hòa như bây giờ .

Trong lúc chờ đợi cất cánh ai nấy mồ hôi đổ ra như tắm .

Trông rất khổ sở .

Riêng tôi thì phần vì quen với cái nóng , cái khổ , phần vì đang phấn khích vì chuyện đi phép thăm nhà bất ngờ này .

Mà lại được đi bằng phương tiện máy bay hiện đại .

Nên cũng thấy bình thường .

Miên man nghĩ đến hồi tháng 3/76 khi đang làm quân quản tại Sài Gòn , thì mẹ tôi vào thăm .

Đúng lúc tôi chuẩn bị được đi phép .

Thế là tôi " bỏ" đường bộ ôtô của binh trạm .

Hai mẹ con mua vé tầu " thống nhất " về theo đường biển .

Sau 2 ngày lênh đênh trên biển , thì cập bến Hải Phòng .

Lần này được đi " về phép " bằng máy bay nữa .

Như vậy là tôi vào Nam ra Bắc bằng đủ các loại phương tiện .

Đi bộ , đi ôtô , đi tàu biển và lần này là máy bay .

Một thằng lính chiến bộ binh mà như vậy cũng " oai ", cũng thật là tự hào .

Thế rồi cũng đến giờ cất cánh .

Khoảng 4h30 chiều thì máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm .

Mọi người lên xe ôtô của hàng không về Hà Nội .

Đi từ Sài Gòn ra Bắc khoảng hơn 2h bay .

Mà đi từ Gia Lâm về bờ hồ Hà Nội mất gần 3h , vì tắc đường ở cầu Long Biên .

Ngày tết bà con đi lại quá đông .

Với tôi đó là lần chứng kiến cảnh " tắc đường" đầu tiên trong đời .

Vừa xuống xe ở trạm vé hàng không " bờ hồ" Hoàn Kiếm , thì đã thấy bố tôi đứng đợi .

Ông được ông Tiến hàng xóm về trước báo giờ bay của tôi , nên lên Hà Nội đón tôi .

Hai bố con mừng mừng , tủi tủi trào nước mắt .

Không ngờ cuộc đời lại có những thay đổi nhanh như vậy .

Hà Nội chuẩn bị tết đông đúc nhưng vẫn thấy nghèo nàn , không ầm ĩ , ồn ã như Sài Gòn .

Trời âm u se lạnh .

Những lá vàng rơi bay lả tả trong buổi chiều Đông .

Dân chúng còn toàn đi bằng xe đạp , nhìn những người phụ nữ gò rạp người đạp xe trông thật vất vả .

Ở Sài Gòn họ đi xe đạp kiểu dáng khác , trông thanh thản hơn nhiều .

Thi thoảng mới có cái xe máy hoặc xe ôtô con cũ kỹ chạy qua lại .

Hai bố con nhanh chóng đi xích lô ra bến xe Kim Liên , mua vé ôtô về Thái Bình chuyến cuối .

Gần 10h tối mới về đến nhà .

Mọi người , mẹ tôi , anh em họ hàng ùa ra chào đón tôi .

Đón người con từ chiến trường trở về .

Thật vui , thật cảm động , cười cười nói nói rất vui .

Nhưng ai mắt cũng " đỏ hoe ".

Nhưng giọt nước mắt của niềm vui gặp mặt .

Những hình ảnh đó, đến bây giờ , mấy chục năm rồi mà như mới hôm qua .

Mãi mãi tôi không thể nàoquên !

Sau khi ăn cơm xong , lên giường đi ngủ .

Tôi vẫn bàng hoàng , không tin là mình đang được sống , được ăn , được nằm , tại gia đình mình .

Tất cả những tình cảm của mọi người , nhớ nhung , dồn nén đã lâu nay được bung ra thể hiện .

Nên có thể nói : tôi được chăm sóc thật đặc biệt .

Nhà tôi , bố mẹ sinh được 10 anh em tôi .

Nhưng một người anh trên tôi nghe kể lại : khi còn ở trong vùng tự do Thanh Hóa năm 1951 " bố tôi là bộ đội , công nhân quốc phòng của quân khu 3 .

Chuyên sản xuất và chế tạo vũ khí cho quân đội , nên mẹ và gia đình tôi những năm chống Pháp thường " chạy loạn" , định cư theo nơi công binh xưởng của ông .

Cho nên mấy anh chị em đều sinh ra mỗi người một tỉnh .

Chị cả sinh ở Hải Phòng, chị hai sinh ở Nam Định , anh thứ 3 sinh " ra mất ngay" ở Thanh Hóa .

Tôi và cô em gái kế , cũng được sinh ra ở vùng Kim Tân - Thanh Hóa .

Tiếp đến , từ em trai Lộc trở xuống sau giải phóng , gia đình về định cư tại Thái Bình , nên đều được sinh ra ở Thái Bình .

Tổng anh chị em còn sống và trưởng thành là 9 người , 5 trai và 4 gái .

Tôi là anh trai lớn , nên mọi niềm tin yêu , hy vọng của bố mẹ đặt vào tôi rất nhiều .

Hồi nhỏ và khi lớn lên từ học hành , cho đến sau này đi làm đều là một người con ngoan , người anh gương mẫu trong gia đình .

Đến thời điểm năm 1978 , thì mới có tôi và em trai Lộc vào bộ đội .

Chú Lộc khi đi bộ đội 12/74 thì được vào đơn vị Rada điện tử .

Nên là lính " Cậu " không phải đi bộ ngày nào .

Có biết khẩu súng thì biết ở thời kỳ đầu luyện quân .

Còn tôi đi bộ đội vào luôn đơn vị bộ binh ak súng dài .

Trung đoàn 8 quân khu 3 .

Rồi sang sư đoàn 308B , rồi khi sư đoàn 341 thành lập thì cả trung đoàn 36B của tôi được chuyển qua .

Đời lính bộ binh các bạn đều biết là thật vất vả .

Có lẽ cực khổ nhất trong các sắc lính của mình .

Hành quân thì chỉ cơ động bằng đôi chân là chính , làm gì từ xây nhà , đào hầm , tập luyện cho đến lấy gạo , lấy củi...đều bằng sức vóc của lính .

Mà lúc đó anh em mình có mấy ai to lớn đâu .

Lúc đó tôi nặng được có hơn 40kg thuộc diện B2 lẽ ra không đủ sức khỏe đi bộ đội .

Nhưng vì gia đình đông người , lại chưa có ai tham gia bộ đội hay phục vụ chiến trường nên vẫn được " ưu tiên " nhập ngũ .

Thế hệ chúng mình , hầu như đi bộ đội gần hết và hy sinh cũng " không ít".

Dù rằng , bây giờ các cấp chính quyền , các đoàn thể và anh em chúng mình có nói , có viết , thật nhiều , thật hay và có thể hiện thế nào đi nữa thì cũng không thể nói hết , viết hết , không thể tả nổi tâm trạng buồn đau , lo lắng của người cha , người mẹ , người vợ , người thân .

Nhất là người mẹ lo và thương cho con mình , người con yêu dứt ruột sinh ra , mong ngóng lớn khôn từng giờ từng ngày .

Trong khó khăn thiếu cơm , thiếu sữa để lớn lên , để trưởng thành .

Rồi người con lại phải đi lính ra sa trường , cực khổ ở tuyến đầu , trước mũi tên hòn đạn lúc nào cũng có thể cướp đi mạng sống của con trai mình .

Cũng chính vì những điều đó cho nên mẹ tôi , đã dành tình cảm cho tôi thật nhiều , chăm sóc từng ly từng tý một .

Buổi tối đầu đi ngủ Bà còn nằm cạnh tôi , ôm ấp vuốt ve hít hà như hồi tôi còn bé .

Được nằm trong chăn ấm giường êm , ánh sáng điện chói lòa , trong vòng tay mẹ .

Bất chợt tôi lại nhớ tới đ/v .

Đến Lập .

Giờ này chắc Lập cùng ae đang phải chiến đấu , đang phải đối mặt với kẻ thù .

Gian khổ và ác liệt .

Tự nhiên tôi thấy mình như có lỗi với ae , với đồng đội .

Và rồi lại muốn thời gian trôi thật nhanh , thật chóng để tiếp tục trở lại đơn vị .

Trong sung sướng mà nước mắt tôi chẩy dài xuống gối , rồi ngủ thiếp đi thật ngon lành .

Ùng - ùng - ùng – ùng - rẹt - rẹt – rẹt .

Rồi đoàng - đoàng – đoàng liên thanh thật dài .

Những tiếng thùng - thùng - thùng - Thùng đều đặn rồi dồn dập các loại pháo , pháo lớn , pháo nhỏ , pháo tép như tiếng AR15 .

Xen lẫn là những tiếng nổ của các loại pháo đùng , pháo cối như những tiếng của B40 , B41 , ĐKZ .

Loại pháo 8 , pháo 10 bình đà thì thùng - thùng- thùng như tiếng súng 12,7 ly điểm xạ dài .

Một trận chiến thật khốc liệt , khói thuốc pháo khét lẹt sáng loé , chớp bừng sáng trong đêm .

Những tiếng nổ như một trận đánh lớn Hiệp đồng các quân binh chủng .

Chỉ không có tiếng hô xung trận của anh Tiễn , anh Trụ của anh em trong lúc xung phong .

Mà là tiếng hô reo vui của mọi người òa lên : " Giao thừa rồi".

Mọi người trong gia đình hơn 10 người ôm lấy nhau , chúc tụng trong niềm hân hoan của ngày tết , năm mới đã tới .

Với tôi cảnh tượng này thật là lạ lẫm .

Vì trước còn bé thì đất nước có chiến tranh , ngày tết không có pháo hoặc rất hạn chế .

Lớn lên đi bộ đội từ năm 1972 đến nay đã là 6 năm tôi mới được đón xuân ăn tết ở nhà .

Năm nay mới được chứng kiến cách đón giao thừa , mừng năm mới của dân mình trong thời bình .

Nên tôi cũng chưa thể hòa nhập cái không khí đón giao thừa này .

Nhìn khói , lửa chớp lòa và tiếng nổ của các loại pháo , bản hợp xướng của đủ các loại tiếng nổ .

Bất giác tôi nói với Mẹ : " Mẹ ơi !

Đánh nhau , súng 2 bến bắn nhau , tiếng nổ đúng như thế này Mẹ ạ ".

Mẹ tôi ôm tôi rồi nói : vậy biết đường nào mà tránh đạn hả con .

Tôi nói là : Trong chiến đấu " nó " bắn mình , mình bắn " nó " .

2 bên đều muốn giết nhau .

Không mấy khi tránh được , sống được do may mắn là nhiều thôi mẹ ạ .

Con của mẹ cũng chết hụt nhiều lần rồi .

Mẹ tôi không nói gì chỉ lau nước mắt , ngửa mặt lên nhìn trời đêm như cầu khấn điều gì , rồi ôm tôi chặt hơn.........

Thế rồi mấy ngày tết ở gia đình cũng trôi đi thật nhanh .

Lẽ ra ngày mồng 7 tết tôi lên Hà Nội để mồng 8 tết bay nhưng vì kiêng ngày 7 nên tôi đi chiều ngày mồng 6 tết .

Chia tay bố mẹ , anh em và mọi người thân tại bến xe Thái Bình để lên Hà Nội .

Trong lần chia tay tiễn chân này , còn có một người con gái hàng xóm tên Hương .

Mà tôi mới có dịp quen trong mấy ngày tết .

Chiều tối tôi tới Hà Nội , tìm vào nơi ở của Việt bạn học hồi nhỏ .

Việt đi bộ đội trước tôi , bị thương năm 74 rồi về đi học tiếp văn hóa .

Hiện đang học năm cuối đại học Nội Thương nên ở ký túc xá của bộ Nội Thương phố Hai Bà Trưng , Hà Nội .

Chơi 1 ngày ngủ lại 2 đêm .

3h sáng ngày mồng 8 tết tôi dậy , một mình đi bộ .

Theo hướng dẫn là đi thẳng rồi rẽ trái là ra bờ hồ , sẽ tới trạm vé trung chuyển khách hàng không .

Trời đông thật rét !

Đường Hà Nội thật vắng .

Không một bóng người .

Gió Bấc thổi hun hút .

Lá vàng của các loại cây rơi , bay đầy đường .

Những cây bàng , cây phượng trụi lá trông khô cứng khẳng khưu .

Đứng run rẩy vật vã trong gió rét .

Đã 6 năm rồi tôi ko được sống trong cảnh mùa Đông thế này .

Rét quá .

Mồm thở khò khè ra " cả khói " Tôi vừa đi vừa chạy cho ấm .

Thầm nghĩ : Hà Nội ơi !

Mọi người đang say sưa ngủ trong chăn ấm nệm êm .

Trong hạnh phúc lứa đôi , gia đình chồng vợ .

Có biết Tôi , một người lính đang một mình giữa phố vắng giá rét để đi vào Nam , ra Biên giới .

Chiến đấu gian khổ hy sinh , để cho các người yên giấc ngủ ngon ko ?

Thật bất công và phũ phàng .

Cuộc đời và đời lính sao vô lý đến vậy ?

Triền miên với những suy nghĩ mông lung , lại cũng không rành đường phố Hà Nội nên tôi đi qua trạm Hàng không mà không biết .

Quá nửa bờ hồ mới gặp được một bác xích lô đi làm sớm .

Nhìn dáng người gầy gò .

Đạp cái xích lô cũ ríc .

Chợt nghĩ ông này chắc cũng nghèo khổ lắm đây .

Hòa bình rồi mà sao dân mình còn khổ thế ?

Tôi hỏi thăm đường mới biết là mình bị đi quá xa .

Theo hướng dẫn , thì quay lại và đi vòng tiếp cũng bằng nhau .

Đã gần đến giờ , tôi vội chạy nốt nửa hồ còn lại .

Như vậy là kỷ niệm của Hà Nội được khắc ghi thành tích là : Tôi đã một mình chạy hơn một vòng Hồ Hoàn Kiếm trong buổi sáng mùa Đông .

Không biết là mấy km nữa .

Thật nhớ đời .

Tới nơi vừa kịp lên xe để sang sân bay Gia Lâm .

Đến khi làm xong thủtục , lên máy bay .

Tôi mới biết là mình vẫn đang mặc cái áo khoát " Măng tô "của bạn .

Không biết gởi ai và làm thế nào trả Việt .

Tôi phải cầm vào Sài Gòntìm cách gửi ra sau .

Nhưng rất áy láy thương bạn , trời giá lạnh thế này ,quần áo lúc đó đâu có nhiều như bây giờ

Cũng có thể cái mong , cái nhớ của đơn vị của tôi .

Nên cảm thấy máy bay , bay cũng thật chậm .

Rồi lại ghé xuống đưa đón khách ở Đà Nẵng nữa .

Thấy nói , ở nước ngoài giờ tàu , giờ xe , nhất là giờ máy bay cất cánh , hạ cánh là nghiêm chỉnh và chính xác lắm .

Còn ở ta thì máy bay cũng chưa phải là phương tiện phổ thông , nên còn nhiều bất cập .

Đến gần trưa máy bay mới tới được sân bay Tân Sơn Nhất Sài Gòn .

Bước ra cầu thang .

Nắng chói lòa , những cái áo khoác hay những bộ com lê của mọi người đang mặc không hợp nữa .

Ai lấy mồ hôi nhễ nhại trong phòng làm thủ tục an ninh .

Không có hành lý , tôi nhanh chóng ra trước về ngay chỗ đơn vị chú Lộc .

Chia quà Bắc , thuốc lá , trà , mấy gói kẹọ Hải Châu cho anh em .

Kể cho anh em về chuyến đi , về chuyện Tết Miền Bắc thật vui vẻ .

Cơm trưa xong 2h chiều .

Tôi chào mọi người đón xe về căn cứ Long Bình ở Biên Hòa .

Rất may là gặp ngay chú em kết nghĩa , Hồ Gia Hiền .

Lính 74 quê Hương Sơn , Hà Tĩnh .

Thay tôi làm trợ lý chính trị d1. ( Hồ Gia Hiền bây giờ là Đại tá chính uỷ 1 Lữ đoàn tại Bình Dương .

Mới ra thăm tôi tháng trước ) .

Tôi nhanh chóng hỏi thăm ngay tình hình đơn vị .

Hiền nói : Dịp anh đi viện , Trung đoàn đánh trận lớn lắm ở Khánh An- Khánh Bình .

Đánh hợp đồng đủ các Quân , Binh , chủng .

Hải - Lục – Không quân – Tăng thiết giáp .

Cùng các Sư đoàn bb , công binh của QK9 .

Trong trận này ta thắng lớn , nhưng thương vong cũng nhiều .

Nhân dân ở đây cảm động và sót thương ae mình lắm .

Ông Trần Quy Nhơn Tham mưu phó và đ/c Thắng Trợ lý tác chiến cũng hy sinh .

Hiền kể tên những ai hy sinh , ai bị thương nặng , nhẹ v v ...

Rất nhiều ae quen thuộc .

Chợt nghĩ đến Lập , tôi hỏi có ai tên Lập của d3 ko ?

Hiền nói là ko rõ và kể tiếp : Đau nhất là sáng mùng 1 Tết đại đội 14 bắn 1 quả cối 120 ly đón xuân " mừng năm mới ".

Không may đạn dò rỉ , nổ ngay tại nòng , làm cụt nòng pháo , hy sinh và bị thương gần hết khẩu đội .

Hiện giờ toàn trung đoàn đã di chuyển chiến đấu ở địa bàn Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp .

Tôi lặngngười đi , không nghe thêm được gì nữa .

Vừa mới hôm qua , hôm kia , ở nhà cònvui không khí ngày tết .

Vào đến đơn vị thì lại toàn chuyện chiến đấu , hy sinhthế này .

Đầu năm mà đã sui sẻo thế , báo hiệu những điều ko tốt lành lắm đây .Trầm ngâm một lúc rồi bừng tỉnh lại , tôi hỏi : Thế bao giờ thì Hiền về đơn vị?

Hiền nói : Chiều nay em về Sài Gòn vào viện 175 thăm anh em , cấp bổ xung mộtsố giấy tờ của thương binh .

Rồi mai xuống Đồng Tháp luôn .

Anh mới đi viện vềthì cứ nghỉ ở cứ mấy ngày đi đã , rồi xuống sau .

Tôi trả lời ngay : anh đicùng Hiền về Sài Gòn thăm anh em và mai cho anh đi cùng về đ/v .

Ko hiểu saoanh cảm thấy sốt ruột , nhớ đ/v lắm .

Sau khi bàn giao các địa bàn mới giải phóng cho sư đoàn 330 QK9 đảm nhiệm .

Toàn bộ Sư đoàn hành quân gấp về Hồng Ngự , Đồng Tháp .

Vì Trinh sát phát hiện Pốt tập trung 2 Trung đoàn , đã đánh chiếm khu vực đồn biên phòng Mỹ Cân , Hồng Ngự .

Chúng ý đồ làm bàn đạp để đánh , "chọc" vào thị trấn Hồng Ngự , Đồng Tháp .

Các đ/v rời khỏi trận địa , trong niềm vui hân hoan của bà con nhân dân Châu Đốc , An Giang .

Nhất là 2 xã mới được giải phóng .

Chiến đấu dọc biên giới Tây Nam đã gần nửa năm .

Nhưng chưa khi nào Trung đoàn gặp được sự chào đón vồn vã , nhiệt tình nồng hậu như ở đây .

Tất cả các đoàn thể từ tỉnh , thị xã , dân chúng đều ùa ra 2 bên đường , vẫy chào và cũng là tiễn chân bộ đội Sư đoàn 341 Anh hùng .

Nào bánh tét , bánh ú , bánh lá gói các loại , kẹo , thuốc lá , xôi gà v.v ...

Thật nhiều , thật nhiều , được giao cho các đ/v , tung lên xe , nhét vào ba lô v.v ...

Anh em mấy ngày qua , phải chiến đấu liên tục , mệt và đói .

Ngày hôm qua có đại đội , có bộ phận còn phải ăn trái cây vú sữa thay cơm .

Vì anh nuôi không tiếp tế được .

Anh em vừa đi vừa ăn nhồm nhoàm , ngấu nghiến những sản vật của bà con , nặng tình quân dân cá nước .

Các bà , các má thì ôm chặt anh em khóc , nước mắt lã chã , xót thương trong cảm mến .

Các thiếu nữ duyên dáng , tươi đẹp cũng không giấu được những tình cảm của mình .

Nắm chặt tay lính , mắt long lanh cười vui hân hoan , có vài cô gái bạo dạn , nắm tay ae rồi bất nhờ ôm chặt , hôn vào má ae thật to rồi kêu lên thật to : " Em thương anh " Rồi chạy lấp vào đám đông !

Làm mấy chiến binh được hôn , ngượng ngùng đỏ hết cả mặt .

Trong tiếng cười vui của mọi người .

Các em nhỏ thì khỏi phải nói nữa , cứ tung tăng chạy theo các anh bộ đội , chạy theo đoàn quân reo hò ầm ĩ .

Ai đã từng được sống , được chứng kiến trong giờ phút vui sướng tột cùng lịch sử này , mới thấy hết được ý nghĩa của chiến thắng .

Ý nghĩa của tình cảm quân dân .

Và thấy được những đói rét , gian khổ hy sinh phần nào được đền bù .

Được tôn vinh , vô cùng tự hào .

Nhất là trong không khí của ngày xuân , ngày Tết tràn ngập nắng Phương Nam , có hoa mai vàng hoà quyện trong nắng , trong tình người , tình quân dân .

Cờ hoa rực rỡ .

Không thể có giấy bút nào tả hết , kể hết được cái đẹp , cái tình và niềm vui cao quý đó ...

Nhiệm vụ của Sư đoàn phải cơ động gấp về Hồng Ngự .

Phương tiện hành quân bằng cả đường bộ và đường sông .

Các cấp chỉ huy đã huy động tàu thuyền , để chở bộ đội trên sông Hậu .

Các loại ôtô khách của dân cũng đươc trưng dụng , chở bộ đội hành quân theo đường bộ số 4 .

Rồi rẽ vào các đường liên huyện , liên xã ra dọc vùng biên của huyện Hồng Ngự , Đồng Tháp .

Tới nơi toàn Trung đoàn gấp rút tổ chức phòng ngự , và điều nghiên chuẩn bị tấn công địch ở khu vực đồn biên phòng Mỹ Cân , cùng các nơi địch lấn chiếm .

Bộ đội tràn về .

Lực lượng thật hùng hậu , lúc này ae đã được trang bị mũ sắt của pháo binh .

Để tránh và giảm thiểu các vết thương ở đầu .

Như lính ta nói là : bảo vệ " cái gáo " .

Nhìn những người lính trẻ , khoẻ trong sắc lính trận , súng đạn đầy mình .

Lại có mũ sắt đội đầu thật lạ lẫm , thật uy nghi , mạnh mẽ .

Dân chúng ở những khu vực này , rất có truyền thống cách mạng .

Trong thời kỳ KCCM như xã Thường Thới Tiền , Thường Thới Hậu v.v ...

đều là các xã được Đảng và Nhà Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT trong KCCM .

Được bộ đội về , đánh địch , trấn thủ cứu giúp nhân dân , nhất là trong những ngày Tết thế này .

Không còn gì quý bằng .

Nên các đơn vị lại được bà con nơi đây , thể hiện tình cảm và vật chất .

Chăm lo cho ae , cho từng người trong đ/v , như chính những người con yêu của Mẹ , những người ruột thịt của gia đình .

Đã đi , đã ở với dân từ Bắc vào Nam .

Nhưng không ở đâu có được , những tình cảm của dân , của các Ba các Má , các chị các em như ở đây .

Ôi !

Thật tuyệt vời những con người , những tình cảm của người dân miền Nam .

Vùng sông nước Đồng Bằng sông Cửu Long này !

Và đây cũng là những câu chuyện , những đề tài vui của lính ta sau này .

Với tôi nơi đây là nơi để lại những dấu ấn , những tình cảm ko thể nàoquên .

Giữ mãi và theo suốt đời quân ngũ đến tận bây giờ .

Sáng hôm sau , tôi và Hiền ra bến xe Miền Tây về Châu Đốc .

Tôi hỏi Hiền sao không đi thẳng Đồng Tháp , mà lại về Châu Đốc .

Hiền giải thích : " Từ Châu Đốc đi qua phà rồi đi xe lôi chưa đầy 20km đến Tân Châu .

Qua phà Tân Châu bên kia đã là xã Thường Thới Tiền , của huyện Hồng Ngự , Tiểu đoàn mình đang đóng quân ở đó .

Nếu đi về Đồng Tháp rồi lại về Hồng Ngự thì xa hơn .

Tôi nói như thế càng hay , vì cho anh về thăm nhà anh chị Thành hôm trước anh ở đó .

Lần trước về miền Tây theo xe quân đội , của Bệnh xá .

Còn lần này 2 anh em được đi xe khách , nên thong thả nhàn nhã hơn .

Được ngắm nhìn cảnh vật nhà cửa , vườn cây hoa trái của Miền Tây .

Qua những cánh đồng lúa chín thẳng cánh có bay .

Hoặc những đầm sen phả hương thơm mát nhẹ .

Trong lòng thật thư thái vì đã gặp được Hiền .

Thăm một số anh em thương binh trong viện .

Hiểu được tình hình chiến đấu , và những thay đổi của đơn vị .

Như C3 anh Tiễn CVT đã lên làm d phó chính trị .

Thay anh Tiễn là anh Nông quê Thanh Hóa , ở bên d2 điều sang .

Anh Trụ vẫn còn nhưng cấp phó thì là anh Tiến , B trưởng mới lên v.v...

Trên xe bà con nói chuyện râm ran .

Nào là chuyện lúa má , cây trái , chuyện gia đình , xã hội , những bức xúc trong cuộc sống .

Trước thì thế này , bấy giờ chính quyền mới lại thế kia v.v...Khen chê đủ điều .

Rồi câu chuyện trên xe cũng đã chuyển sang về tình hình chiến sự Biên giới .

Người này , người kia tranh nhau nói , tranh nhau kể về sự tàn ác dã man của bọn lính Pốt .

Như chuyện chúng bất ngờ sang tàn sát cả xã Ba Trúc , giết hàng ngàn người .

Chặt đầu xếp từng hàng .

Máu chảy ngập làng .

Dã man hơn nữa chúng còn lấy cây tầm vông ,( cây tre) chọc vào cửa mình lên đến tận cổ đàn bà , con gái .

Không hiểu sao bọn này lại tàn ác đến thế ?

Rồi chuyện chúng chiếm vùng Phú Cường , Khánh An , Khánh Bình đã lâu .

Mấy ngày tết được bộ đội , đơn vì gì ấy ở Tây Ninh xuống toàn lính Bắc .

Bộ đội trẻ lắm , giỏi lắm và khổ lắm .

Những ngày tết mà vẫn đánh nhau , diệt hết bọn giặc ở đây giải phóng cho các xã , các chú bộ đội hiền khô à !

Bị hy sinh cũng nhiều rất là thương xót ...

Hai anh em cứ ngồi im nghe chuyện .

Rồi một bà má quay lại , thấy chúng tôi như bất ngờ bà má hỏi 2 chú về đâu ?

Có phải về đơn vị bộ đội Miền Bắc đấy không ?

Hiền nói thưa má , đấy là đơn vị con , con về Sài Gòn chuyển giấy tờ cho một số anh em bị thương .

Hôm nay mới quay lại .

Chúng con là bộ đội thuộc Sư đoàn Sông Lam 341 , Quân đoàn 4 .

Mọi người ồ lên .

Cả xe hướng về phía chúng tôi cảm kích .

Bà má vừa hỏi thăm thì đi hẳn xuống ôm lấy Hiền mà khóc , nói rằng : Má thương các con , quý các con và biết ơn các con lắm .

Rồi mọi người lấy đủ thứ quà bánh , trái cây bắt chúng tôi ăn .

Nhìn ngắm chúng tôi như là những người hùng , người thân , người con vừa ở chiến trận trở về .

Thật bất ngờ và cảm độngtrước những tình cảm đó .

Rồi tôi tự thấy mình như có lỗi , vì những tình cảmnày , lẽ ra phải giành cho những anh em đã tham gia chiến đấu ở đây .

Còn tôiốm đau đi viện , về nhà , đâu có xứng đáng được nhận phần thưởng tình cảm caoquý đó .

Hai anh em vào tới nhà anh chị Thành lúc 2h chiều .

Chị Lan vợ anh Thành và 2 cháu Trịnh – Hoài chạy ra đón mừng vui ríu rít .

Tính ra tôi mới xa đây khoảng 20 ngày mà mọi người cứ như là đã lâu lắm .

Chị Lan kể đủ thứ chuyện về những ngày tôi đi vắng .

Chị nói là đi đâu chị cũng khoe về người em "ngang hông" Miền Bắc .

Và lại còn có ý tìm vợ cho tôi nữa chứ .

Tôi nhớ lại , lúc ở đây tâm sự chị em , tôi có nói là tôi cũng đã muốn lấy vợ , và khen con gái ở đây rất ngoan , rất đẹp .

Tối ăn cơm xong chị Lan cứ bắt tôi và Hiền đi " xem mặt " 1 người em của bạn chị , làm thợ may nhà gần đây .

Chị nói , chị đã ngỏ lời với họ rồi chỉ đợi em quay lại thôi .

Chết không cho chuyện đùa .

Thật khó xử .

Anh chị thật quý tôi và cũng thật là thật thà cả tin .

Không biết là chuyện nói đùa của lính .

Cứ tưởng tôi nói muốn lấy vợ là thật .

Thế rồi tôi và Hiền cùng chị đến thăm gia đình chị bạn .

Gia đình làm may cũng ngay trước dòng sông Hậu .

Cách nhà chị Lan khoảng 5 - 600m .

Trông gia đình thật nền nếp , gọn gàng , sạch sẽ rất có cảm tình .

Người em gái chị bạn khoảng 20 tuổi , xinh sắn , đầy đặn trông cũng " ưa nhìn ".

Trong bộ bà ba hoa mầu xanh ngọc thật hấp dẫn .

Ra chào chúng tôi bẽn lẽn và lễ phép .

Mấy chị em nói chuyện , hỏi thăm về quê hương tôi và gia đình tôi v.v....

Tôi kể chuyện gia đình cho mọi người nghe và nói : Em là con trưởng trong gia đình , nên phải về lấy vợ ở quê .

Và nhất là bây giờ , đời lính không biết đi đến bao giờ về .

Cho nên không giám nói gì đến yêu đương hay vợ con v.v ...

Và nói : chúng em đi chiến trận gặp được các chị quý mến chúng em thế này , là cảm động và quý hoá lắm .

Em xin phép được làm quen với chị .

Khi nào có điều kiện thì sẽ trở lại thăm chị , thăm em .

Vì mai chúng em phải sang Hồng Ngự rồi .

Đ/v em đang chiến đấu bên đó .

Chị Lan và chị bạn nhìn anh em tôi thở dài , xót xa và có ý gì đó cảm thông tiếc nuối .

Còn người em gái , sau khi ra chào mời nước chúng tôi đã vào trong nhà nghe chuyện .

Nhưng thỉnh thoảng lại bắt gặp ánh mắt long lanh nhìn chúng tôi .

Tối ngủ ở nhà anh chị Lan .

Cả nhà chuyện trò tới khuya , mọi người đã ngủ .

Còn tôi thao thức không ngủ được .

Nghĩ ngợi đủ chuyện .

Tôi nghĩ mình là thằng con trai " thật hèn " thật nhát .

Chưa gì đã sợ .

Sao không liều như những người khác , cứ hẹn hò , hò hẹn đi có hơn không ?

Rồi muốn đến đâu thì đến .(

Sau này tôi mới biết trong đ/v có đồng chí đại đội phó đại đội 3 của tôi .

Và lẻ tẻ trong trung đoàn đào ngũ và lấy vợ ở đấy ) .

Sáng hôm sau , anh Thành lấy xe Honđa chở tôi và Hiền lên thăm miếu Bà .

Rồi chở luôn 2 anh em ra bến phà Châu Đốc để sang Hồng Ngự .

Chia tay anh Thành , chia tay bà con Châu Đốc , trong lòng tôi nặng trĩu những buồn vui bâng khuâng khó tả .

Sang bên kia phà , 2 anh em đi xe lôi .

Ở vùng này nhân dân có loại phương tiện là " xe lôi " rất hữu dụng .

Một cái xe thường là xe Honđa 67 .

Kéo theo sau 1 cái rơmóc 2 bánh .

Có cái thùng nhỏ , mà có khi chở được tới 10 người .

Trông rất vui , rất tiện .

Được cái là ở đây là đồng bằng , không phải dốc đèo nên có "chớn" là chạy băng băng . ( Nghe đâu bây giờ đã cấm loại xe này vì sợ ko an toàn giao thông ) .

Hơntiếng sau , chúng tôi đã tới thị trấn Tân Châu .

Một thị trấn hẻo lánh của vùngsông nước , mà sầm uất giống như 1 góc nhỏ ở Sài Gòn .

Cũng nhà gạch , nhà xây2 - 3 tầng .

Hàng quán đông vui đủ các loại hàng hóa .

Các dàn ăng-ten tivi tuatủa trên các nóc nhà .

Uống xong 2 cốc nước mía , tôi mua mấy gói trà , thuốclá , kẹo để làm quà .

Rồi 2 anh em đi bộ ra bến phà .

Đi ở trong thị trấn Tân Châu , không thể nhìn thấy được bến phà và sông nước nơi đây .

Nên 2 anh em vừa qua khỏi dẫy nhà sát mép sông thì thật bất ngờ .

Bến sông thật lớn , thật rộng , mênh mông như biển .

Đây là ngã ba sông , nên khoảng cách từ đây sang bờ bên kia thật xa .

Chưa bao giờ được nhìn thấy cảnh sông nước thế này .

Tôi ước tính từ đây sang bờ bên kia chắc phải hơn 1 km .

Vì mắt thường nhìn không rõ người bên bờ bên kia .

Xa xa phía bên phải , là một cù lao rộng lớn ( hình như là xã Long khánh , quê hương Bác Tôn Đức Thắng ).

Trời không có gió , nhưng sóng vẫn vỗ bờ đều đặn như ngoài biển .

Sông nước Cửu Long thật hùng vĩ .

Hùng vĩ đến choáng ngợp .

Con phà , con thuyền , con người trước sông nước nơi đây thật bé .

Tôi nghĩ ngay đến việc nguy hiểm , khi phải đi tàu bè nơi đây .

Vì bộ đội có mấy ai giỏi bơi .

Hồi tập bơi vũ trang , tôi bơi được khoảng trăm mét , đã kiệt sức rồi .

Tôi cảm thấy rợn rợn người , khi nghĩ có gì không hay xẩy ra . ( Đúng như nỗi lo khoảng gần 1 tháng sau , trên đường đi giải vây Hà Tiên - Kiên Giang tôi đã ôm một can mỡ lợn , định nhẩy xuống giữa sông lúc 3h đêm .

Khi 2 tầu đụng nhau , 1 tầu bị vỡ chìm ngay ) .

Phà cập bến .

Hai anh em xuống phà , gần 30 phút sau mới tới bờ bên kia .

Lên phà , Hiền nói anh em mình đi bộ khoảng hơn km nữa thôi .

Tiểu đoàn mình , 1 số chốt , còn lại đang ở cùng với dân , dọc theo bờ sông này .

Dân ở đây chủ yếu là nhà sàn , như ở bên K .

Bây giờ là mùa nước cạn , còn khi mùa lũ về , thì nước dâng lên tận sàn nhà .

Nên nhà sàn là nơi ở phù hợp nhất ở vùng này .

Dân cư ở đây thưa thớt , hai anh em đi trên con lộ nhỏ .

Hiền nói " Bên phải thì là sông rồi , còn bên trái sau mấy ngôi nhà kia là cánh đồng thẳng cánh cò bay , tới tận Biên giới .

Đồn biên phòng Mỹ Cân cách đây khoảng 3km .

Bọn Pốt đang còn chiếm , Sư đoàn , Trung đoàn đã có kế hoạch đánh địch giải phóng Mỹ Cân rồi ".

Đã thấy và gặp anh em bộ đội của d1 .

Tôi nói : Hiền dẫn anh về luôn đại đội chứ không rẽ vào d bộ nữa .

Về đến vị trí của đại đội .

Tôi gặp và báo cáo ban chỉ huy là tôi đi viện về .

Rồi bỏ trả thuốc , kẹo mời mọi người .

Anh Trụ c.trưởng, anh Tiến c.phó rất vui , bắt tay tôi ,cười nói ầm ĩ , hỏi thăm về tình hình Sài Gòn v.v...và giới thiệu đây là anh Nông CVTr.

Thay anh Tiễn , và giới thiệu về tôi với anh Nông .

Anh Nông cũng ko hỏi tôi về tình hình đi viện , ra viện và sức khỏe thế nào mà nói ngay : " Anh em tôi đã bàn là " ông" đi viện về thì sẽ điều lên làm quản lý đại đội .

Lo cơm áo , gạo tiền , cho đại đội .

Thay ông Bình đi học , ông uống nước về thăm tiểu đội rồi mai lên đây nhận bàn giao luôn ".

Như vậy tôi lại có nhiệm vụ mới , là quản lý đại đội .

Tôi chưa làm việc này bao giờ , nhưng nghĩ cũng không có gì khó , nhất là so với lính chiến đấu gian khổ .

Thì làm quản lý tiền bạc , quản lý anh nuôi , nấu ăn lo viêc hậu cần cho ae , còn nhàn nhã hơn nhiều .

Tôi về tiểu đội 10 .

Gặp gỡ anh em , trong niềm vui ồn ã của mọi người .

Có trà , có thuốc , có bánh kẹo .

Buổi chiều ae lại còn tổ chức giết hẳn 2 con gà liên hoan cho tôi nữa .

Gia đình chủ nhà thì cho anh em rượu , và nấu xôi cùng 2 kg thit lợn đãi mọi người .

Sau 20 ngày đi xa , trở lại đơn vị mà biết bao thay đổi .

Anh em tranhnhau kể về những trận đánh mà tôi đi vắng .

Ở núi Sam , đặc biệt là Khánh An ,Khánh Bình .

Rồi những ai bị thương , ai hy sinh , ai đảo ngũ v.v.....Rồi anhem lại tập trung kể về tình cảm , lòng tốt của bà con nơi đây đối với bộ đội .Nào là thấy gạo của bộ đội không ngon , các má lấy gạo ngon đổi cho .

Còn gạobộ đội thì cho heo cho cá ăn .

Nào là các má không có bộ đội đến ở thì thắc mắc, nhiều má còn làm cả bánh cuốn , bánh xèo , bánh ít gói , xôi chè v.v... bánhtét thì khỏi phải nói , các má gánh đến cả gánh , chiêu đãi bộ đội .

Nhưng rồiđược chiều chuộng quá , bộ đội cũng nghĩ ra đủ trò láu lỉnh để tán ăn như : anhem mắc võng dưới nhà sàn tối ngủ , cứ nói chuyện với nhau là thèm ăn cái nọ ,cái kia như bò xào , bò nướng , thịt chóv.v... nói to cho các ba má trên nhà nghe thấy .

Thế là hôm sau ba má chiêu đãiluôn các thứ lính ta thèm .

Cả những thứ như là thịt chó nữa .

đến mức các đơnvị phải họp , cấm anh em lợi dụng , vòi vĩnh sách nhiễu dân .

Sáng hôm sau , tôi lên BCH đại đội .

Chính thức đại đội giao cho tôi làm quản lý , thay anh Bình đi học .

Việc bàn giao cũng chẳng có gì nhiều .

Có 2 quyển sổ ghi chép theo sổ kế toán của tiểu đoàn phát gồm : 1 quyển sổ theo dõi chi tiêu tiền mặt , 1 quyển ghi chép cập nhật kế toán , và mấy chục đồng , tiền đi chợ mua thực phẩm .

Chủ yếu là rau hoặc thức ăn mặn , còn gạo , mỡ mì chính v.v... và các nhu yếu phẩm khác , thì có quân khu tiểu đoàn cấp xuống theo tiêu chuẩn chế độ v.v..

Anh Bình giao nốt cho tôi 2 gói bột ngọt .

Hướng dẫn qua cách ghi chép sổ sách , nào là " có " nào là " nợ " phải cân đối .

Đôi khi một có bằng nhiều " nợ " , và một " nợ "bằng nhiều " có " cũng có vẻ " rối rắm" .

Nhưng với tôi thì cũng không có vấn đề gì .

Xong việc sổ sách bàn giao , tôi nói với anh Nông , anh Trụ và anh Tiến c.phó là : các anh cứ yên tâm mọi việc tiếp phẩm , cơm nước tôi sẽ lo , sẽ tổ chức thật chu đáo .

Rồi tôi cùng anh Tiến c.phó về tiểu đội anh nuôi gặp anh em .

Tiểu đội nuôi quân ở nhà má Mỹ , cạnh ngay dòng sông Tiền .

Mọi sinh hoạt tắm giặt hay nước nấu ăn lấy ngay tại bến sông .

Má Mỹ có căn nhà sàn tương đối lớn , so với các nhà chung quanh .

Ba má có 10 người con .

6 trai 4 gái .

Người con trai đầu kém tôi 1 tuổi , tên Hiếu .

Có 1 anh thứ 4 đang còn là bộ đội địa phương của tỉnh .

Có 2 con út một là con trai thứ 9 .

Út Hết là tên con gái thứ 10 mới khoảng 2 tuổi .

Trong gia đình mọi việc hình như là do Má sắp đặt hết .

Ba rất hiền và yếu không hay tham gia vào việc gì .

Tôi đến chào Ba , Má , rồi tổ chức họp anh em , củng cố nội vụ , giao nhiệm vụ cho từng người .

Sắp đặt đâu ra đấy .

Phát động anh em sáng hôm sau làm vệ sinh hết tổng thể từ đường đi , đến vườn tược chung quanh nhà .

Và yêu cầu anh em phải gánh nước về , đổ đầy các chum cho thật trong mới nấu cơm v.v..Còn rau ở đây rất nhiều , tôi cho ae đi hái lượm và chế biến như nộm hoa chuối , nộm đu đủ vv..Tập trung tiền vào thức ăn mặn .

Qua mấy ngày theo dõi cách sinh hoạt của tiểu đội anh nuôi , và tính cách chuyện trò dân vận của tôi .

Đã gây được tình cảm với gia đình .

Mọi người rất quý tôi .

Anh Hai thì cứ tối tối , là chèo kéo bằng được tôi uống rượu cùng .

Mà dân ở đây thì ngày nào cũng uống rượu .

Khi thì mực khô , cá lóc khô .

Khi thì chim nướng chim quay .

Ở vùng này chim nhiều vô kể .

Bà con đi bẫy chim cũng rất đơn giản .

Họ có loại thuốc gì đó trộn với gạo , mang ra rắc ở các bờ lúa .

Cả đàn chim hàng ngàn con xuống ăn bị say , nằm ngay ở đấy cứ việc ra nhặt về .

Có lần thấy anh Hiếu mang về cả thúng .

Anh Hai Hiếu cứ nói dân miền Tây lúa gạo nhiều lắm .

Rồi chỉ ra đống lúa ở sân nói : kia là 10 tấn lúa mà ở chợ giá rẻ lắm không biết làm gì chỉ nhậu chơi thôi...

Tôi thoáng nghĩ ở đây thóc lúa nhiều như vậy , mà sao không cho mang về TP .

Trên đó hồi này lương thực , thực phẩm hiếm lắm , đắt lắm .

Má đông con , nhưng cũng như ở vùng này là có truyền thống CM , truyền thống đánh Mỹ .

Chứ không phải là truyền thống học .

Nên có lần Má nói : tao chỉ ước ao các con Má sau này được như con .

Tôi nói với Má : con cũng chỉ là lính chiến đấu thôi , chứ có phải là quan , là cán bộ gì đâu mà Má mong các em giống con ?

Lính như chúng con khổ lắm Má ơi !

Má cười và nói : Má thấy con có lẽ phải học cao lắm , mới làm được những việc này .

Mà Má muốn nhận con là con " ngang hông" ( con nuôi ) sau này có đi đâu , thì ráng quay trở lại thăm Má .

Tôi nói : con vẫn coi Má là Má của chúng con mà .

Chúng con nay đây mai đó , nhưng con hứa khi nào bé Út Hết lấy chồng .

Con sẽ về dự cưới và thăm Ba Má.( thế rồi như các bạn đã biết 22 năm sau , được tin Út Hết lấy chồng .

Dù đang rất bận mải , và khó khăn .

Tôi trở lại đó để thực hiện lời hứa vui năm nào.)...

Mấy ngày sau , giao ban đại đội .

BCH nhất là đ/c Nông ,các B.trưởng đềubiểu dương tiểu đội nuôi quân , đã có nhiều cố gắng .

Cơm dẻo , canh ngọt vàđời sống của đơn vị được nâng lên rõ rệt .

Ý đồ điên rồ và tuyên bố láo xược của bọn chỉ huy của Pốt ở QK Tây Nam là : " Cho dân Hồng Ngự Đồng Tháp ăn tết , đón xuân bằng bánh tét chấm máu ".

Đã không thực hiện được , vì chúng đã biết lực lượng chủ lực đã về Đồng Tháp kết hợp với QK9 đánh tan bọn Pôt ở Phú Cường , Khánh An , Khánh Bình .

Nơi mà chúng hý hửng cho là Việt Nam không thể đánh chiếm lại được .

Cũng vì LL QK9 cũng đã nhiều lần tiến công , mà chưa giải phóng được vùng này .

Nay , mới có chưa đầy 2 ngày với LL quân sự hùng hậu của Hải - Lục - Không quân + TTG chúng ta đã đánh cho chúng tan nát .

Nên khi thấy đội quân " mũ sắt " , cơ động gấp từ An Giang về Hồng Ngự , Đồng Tháp .

Bọn địch ở đây gồm 2 Trung đoàn , đã đã không dám thực hiện ý đồ tấn công Hồng Ngự nữa .

Mà vẫn giữ một số chốt tại khu vực đến Biên phòng Mỹ Cân và dọc tuyến Biên giới giáp gianh .

LL của ta khi cơ động về Đồng Tháp , thì chỉ dùng d2 dâng lên chốt đối mặt với Pốt .

Còn đại bộ phận " nghỉ ngơi " chốt giữ phía sau .

Chứ chưa chủ động tiến công chúng ngay .

Mà tổ chức cho anh em học tập , rút kinh nghiệm các trận đánh , chỉnh huấn chỉnh quân , tăng cường sức khỏe v.v...

điều nghiên tình hình địch bổ xung quân số , bổ xung trang thiết bị , quân trang quân dụng , vũ khí đạn dược thật đầy đủ .

Bọn Pốt ở đây , thấy quân chủ lực " mũ sắt" hùng hậu tràn về .

Thì bỏ ý đồ tấn công , lui về phòng ngự , đợi ta tấn công .

Đợi mãi và chúng vẫn chưa thấy chúng ta tấn công , thì nóng lòng sốt ruột , bắt đầu dùng lực lượng tập kích ta ở khu vực tiểu đoàn 2 chốt giữ .

Và dùng lực lượng nhỏ trong đêm luồn vào sát thị trấn Hồng Ngự , tập kích rồi tháo chạy .

Như là muốn thăm dò lực lượng , và thái độ của ta .Trong những ngày này tiểu đoàn 2 vừa chốt giữ , vừa đánh địch loại khỏi vòng chiến đấu hơn 70 tên .

Với chiến thuật : " mèo vờn chuột " , đã làm cho bọn Pốt ở đây mệt mỏi .

Lúc thì co về phòng ngự , lúc thì tập trung quân tấn công ta ở diện lẻ .

Mãi mà chưa thấy quân ta tổ chức đánh .

Chúng lại bắt đầu dồn 2 tiểu đoàn quân ra biên giới , chuẩn bị chọc phá ta .

Bất ngờ đêm ngày 28/2 trung đoàn 266 và 273 xuất kích , luồn sâu vào đất địch rồi đánh ngược trở lại khu vực Bầu Gốc , Mỹ Cân , Tân Dân tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn này .

Lực lượng d2 , cũngxuất kích khỏi chốt .

Đánh thẳng vào khu vực đồn Mỹ Cân .

Nhưng địa hình ởđây phức tạp .

Chúng cố thủ trong những lũytre quanh đồn .

Ta từ ngoài đánh vào , nên gặp rất nhiều khó khăn .

Qua buổitrưa d2 vẫn không giải quyết dứt điểm được bọn địch ở đây .

BCH điều d1 quaylại đánh hỗ trợ cho d2 .

Bọn Pốt trong công sự , trong các khóm tre , chống cựrất quyết liệt làm ae d1 nhất là C3 hy sinh hơn chục ae .

Nhân dân ở vùng này vô cùng căm ghét , vô cùng căm hận bọn Pốt .

Nên khi thấy anh em mình đi chiến đấu .

Một số người cứ nằng nặc đòi theo , giúp đỡ bộ đội như mang đạn , tải thương v.v...

Khi tôi , cùng anh em tiếp tế cơm cho anh em đi qua các thửa ruộng .

Rải rác các xác lính Pốt .

Nhưng kỳ lạ là : gặp thằng nào cũng thấy bị rạch bụng , trông rất là ghê .

Không lẽ bọn này lại chết " yên hùng " như bọn : " Nhật hoàng ?

" Nhìn kĩ vẫn có những vết đạn hiểm giết chết bọn Pốt .

Vậy tại sao chúng lại bị rạch bụng , phơi thây ra đây.?

Hỏi kỹ anh em bộ binh mới biết được là : " số dân công tự nguyện " đi giúp tải đạn , cáng thương , bà con , anh em rất căm hận bọn này .

Từ chỗ căm thù quá , nên gặp thằng nào chết , là cũng mổ bụng , xem gan , xem mật chúng to bằng nào ?

Mà lại độc ác , man rợ đến vậy ?

Trở lại tiếp chuyện chiến đấu của d1 .

Khi được BCH trung đoàn điều quay về hỗ trợ cho d2 , đánh địch ở trong đồn Mỹ Cân .

Đội hình d3 kết hợp với d2 , chia làm 3 hướng đánh .

Đang phát triển thuận lợi , vượt qua cả một số khóm tre .

Phía sau của đại đội 3 và khi d.bộ d1 , tràn lên thì bất ngờ những loạt súng của bọn Pốt điên cuồng quạt vào đội hình .

Qúa bất ngờ trước tình huống đó .

Lại ở giữa đồng trống , chưa kịp phản ứng được ngay .

Những loạt đạn độc ác vẫn điên cuồng găm vào đội hình ta .

Làm cho một vài anh em c3 , trong đó có một số anh em thông tin tiểu đoàn trúng đạn .( Mấy đ/c thông tin này là cùng trung đội với đ/c Hồng , hiện là thương binh , đang sống ở Thiệu Hoá - Thanh Hoá .

Có con trai cũng là thành viên quân sử mình).

Đại đội 3 Đang tấn công địch .

Dừng phát triển .

Quan sát một lúc , phát hiện số địch không nhiều .

Đ/C Trụ lệnh cho B1 vòng phải , B2 vòng trái , dùng khẩu 12ly 7 bắn chế áp .

Đánh thẳng vào khu vực cố thủ bí mật nhưng đã bị lộ của Pốt .

Chỉ sau 15phút tấn công .

Mấy hoả điểm này bị tiêu diệt .

Nhìn những thằng Pốt chết gục bên súng , hơi khó hiểu .

Kiểm tra kỹ lại , hoá ra thằng nào cũng bị xích chân vào một cái cọc , hay gốc cây .

Để " cảm tử bắt buộc" .

Nên chúng có những hành động điên cuồng , liều chết như vậy .

Thật là lũ dã man .

Chúng dã man ngay cả với chính những "đồng đội" của chúng .

Như vậy sau 1 ngày tổ chức tấn công .

Sư đoàn đã lại tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn của Pot .

Giải phóng được khu vực đồn Mỹ Cân .

Tiểu đoàn 2 chốt giữ lại khu vưc này .

Bị thua đau nhưng bọn Pốt rất cay cú .

Thấy còn mình d2 chốt lại đó , mấy ngày sau chúng đã lại tổ chức tập kích vây hãm d2 .

Ngày 10/3 Trung đoàn lại tổ chức cho d1- d3 tấn công tiêu diệt địch ở vòng ngoài hỗ trợ cho d2 giữ chốt .

Có một việc mà cho đến hôm nay , khi nói chuyện về việc đồng chí San hy sinh .

Anh em chúng tôi thấy có việc hơi khó hiểu là thế này .

Tối ngày 9/3 hôm đi luồn đánh Pốt .

Đ/c San tập trung đại đội , hô rất là to , cho đại đội xếp hàng ngang hàng dọc , ( đ/c San được giữ chức đại đội phó sau trận 28/2 ) .

Phổ biến nhiệm vụ đánh địch , đúng bài bản như là hồi huấn luyện , hay diễn tập đánh địch .

Anh em tôi thấy vậy nói với nhau : ông này gở kiểu gì thế này ?

Chưa bao giờ đi đánh trận , mà tập hợp lính kiểu này .

Khéo lại có vấn đề phức tạp ngày mai đây ?

Và rồi sự việc chiến đấu ngày hôm sau , diễn ra với đại đội 3 cũng thật bất ngờ .

Đại đội 3 hy sinh và bị thương nhiều .

Và đây cũng là lần tập hợp quân cuối cùng trong đời .

Của một đồng chí chỉ huy đại đội , chưa được nhận quân hàm sỹ quan .

Đ/c Nguyễn văn San nhập ngũ 5/72 .

Quê ở xã An Đồng , Hưng Hà , Thái Bình .

Ở đại đội 3 với TP từ ngay đầu nhập ngũ .

Đội hình của sư đoàn 341 gồm có 4 trung đoàn và 8 tiểu đoàn trực thuộc :

- Trung đoàn 273 thường gọi là E1 . bộ binh

- Trung đoàn 270 thường gọi là E2 . bộ binh

- Trung đoàn 266 thường gọi là E3 . bộ binh

- Trung đoàn 255 thường gọi là E4 . pháo binh

Khi tình hình Biên giới Tây Nam có nhiều phức tạp .

Lúc Sư đoàn 341 nhận nhiệm vụ đi làm kinh tế mới ở Sông Ray .

Bọn Pốt xua quân sang lấn chiếm Hà Tiên - Kiên Giang .

Bộ đã điều Trung đoàn bộ binh 270( E2) xuống đánh địch và trấn thủ .

Bảo về thị xã Hà Tiên từ tháng 7/ 1977 .

Thị xã Hà Tiên là mảnh đất tận cùng của Tây Nam Việt Nam .

Ở đây cảnh trí tuyệt đẹp .

Ba mặt là biển và sông .

Còn đất liền thì lại nối sang đất K , qua cửa khẩu Xà Xía .

Từ thị xã Kiên Giang đi về Hà Tiên chỉ có một trục lộ duy nhất .

Một bên là biển , một bên là đầm lầy , rừng tràm mênh mông sang tận đất K .

Núi , đồi hòa quyện với biển trời bao la , tạo lên một vẻ đẹp như thơ , như mộng .

Sang thị xã Hà Tiên , phải qua một con phà ,( hoặc cầu phao) .

Dòng sông nhỏ , nối thông từ đất liền ra biển .

Nên về địa lý Hà Tiên rất " độc lập" đẹp như mơ , như thơ , như nhạc .

Xuống đây tôi được nghe một bài ca , của nhạc sỹ (?) chế độ trước .

Ngợi ca cảnh đẹp Hà Tiên , mà không hiểu sao , bây giờ mọi người ít hát , ít nhắc tới ( mong BSchung hay các bạn cho mình nghe lại bài hát này ?).

Trong đó có các câu như : " Hà Tiên mến yêu đẹp như xứ thơ xa cách tôi còn nhớ.... xanh xanh mầu ánh mắt , em gái chiều năm xưa."...) có thể có nhiều bài hát ca ngợi mảnh đất này .

Nhưng theo tôi thì đây là bài ca hay nhất .

Trong cuộc sống hiện tại , những lúc vui vui , tôi thường cao hứng thổi sáo mồm hay hát cho mình nghe vài câu ca đó .

Mà thấy lòng thư thái , như được đứng trước biển Hà Tiên .

Với bãi tắm Mũi Nai tuyệt đẹp .

Có những cây dừa lâu đời cao vút .

Nhìn xa ra các đảo nhỏ ngoài khơi , hay kỳ thú khi leo lên thăm hang Thạch Động , núi Bài Thơ v.v...

Cảnh đẹp mê hồn .

Nhưng về mặt quân sự thì thật bất lợi cho ta .

Vì nơi đây như là một hòn đảo độc lập . ( bây giờ đã có cầu cứng đi qua) .

Bên K sang thì lại rất thuận tiện vì thị xã liền với đất K .

Chính vì thế nên khoảng tháng 7/77 bọn Pot lẻn sang , tàn sát toàn bộ ấp Việt Nam .

Với thủ đoạn tàn ác , dã man cũng giống như là chúng đã gây ra với dân mình .

Ở Xa Mát , Thiện Ngôn , Tây Ninh , Ba Chúc- An Giang .

Trung đoàn 270 được cơ động gấp xuống để tiêu diệt địch và trấn ải ở đây .

Nhưng khi chốt giữ lâu .

Trong tổ chức phòng ngự chiến đấu có những chủ quan .

Nên ngày 14/3/78 bọn Pốt đã đưa 2 Trung đoàn sang mật tập tấn công ta chiếm thị xã .

BCH Trung đoàn phải " cố thủ " trong hang Thạch Động .

Anh em 270 rất dũng cảm chiến đấu .

Nhưng do địch đông , do yếu tố chủ quan bị bất ngờ , nên cầm cự rất khó khăn , nguy kịch .

Trước tình hìnhđó QK9 và các cấp chỉ huy lệnh cho Sư đoàn 341 .

Bằng mọi giá phải cơ độngnhanh xuống giải vây cho Hà Tiên .

Lệnh hành quân thật đột ngột .

Tất cả các đơn vị đều bất ngờ khi có lệnh bàn giao chốt gấp .

Trong 2h phải làm xong tất cả thủ tục chuyển quân .

Các trận địa chốt , theo hợp đồng , bàn giao chốt cho Sư đoàn 330 .

QK9 đảm nhiệm .

Ngay tối ngày 15/3 tiểu đoàn 3 , E1 xuống tàu đi trước .

D1- D2 chốt , đợi F330 đến thay địa bàn .

Nhưng đợi mãi đến 21h , rồi 22h đêm F330 cũng chưa có lực lượng vào thay .

Đồn biên phòng Mỹ Cân và một số trận địa chốt đươc bí mật bàn giao cho bộ đội biên phòng , và tỉnh đội Đồng Tháp .

Toàn bộ 2 trung đoàn bb của sư đoàn khẩn trương cơ động .

Trên nét mặt của các đ/c chỉ huy đại đội , Tiểu đoàn và đ/c Nguyễn Dấng , Trung đoàn phó , xuống đốc chiến tiểu đoàn 1 và 2 cơ động .

Nét mặt đăm chiêu căng thẳng .

Những mệnh lệnh đanh gọn hổi hả thúc giục , nhắc nhở ae .

Khẩn trương , khẩn trương .

Anh em chiến sỹ thì không hiểu hết được những gì diễn biến , đang xẩy ra ở chiến trường .

Chỉ nhận được thông báo rút khỏi chốt , nếu không có đơn vị bạn ra thay cũng bỏ .

Bí mật rời khỏi trận địa .

Tất cả các tầu của nhân dân được huy động chở bộ đội , hành quân theo đường sông .

D3 được tầu Hải quân " há mồm "cơ động trước .

Việc Sư đoàn bộ đội chủ lực , bất ngờ di chuyển .

Làm cho nhân dân ở đây cũng bất ngờ .

Bất ngờ không phải là lo sợ Pốt tràn sang , mà bất ngờ khi phải chia tay bộ đội , với tình cảm mấy chục ngày , tình quân dân gắn kết .

Những mất mát , hy sinh của anh em , sự dũng cảm , ý chí chiến đấu và chiến thắng ở đây , đã được nhân dân ghi nhận và cảm phục yêu mến .

Những gia đình mà có anh em ở trong nhà , chiến đấu bị hy sinh .

Bà con cảm thấy đau xót , như chính còn em của họ hy sinh mất mát .

Nhiều má còn bắt các con , các cháu , mang tang và lập bàn thờ " cúng " anh em rất cảm động .

Các Ba , các Má , các chị , các em , khóc dòng nước mắt .

Bà con kéo ra hết bến tầu dọc nơi đóng quân , chia tay bộ đội và tặng , cho anh em những lương thực , thực phẩm thật nhiều .

Chia tay bịn rịn nghẹn ngào không nói lên được lời .

Tôi xuống tầu lúc 11h đêm .

Đây là chuyến tầu cuối cùng , chở vét một số anh em hậu cần của tiểu đoàn .

Đêm , tối đen như mực .

Sóng vỗ ào ào , trời lộng gió , tầu chòng trành .

Tôi ôm má , ôm các em , chia tay bước xuống tầu .

Không nói thêm được lời nào .

Nhưng trong lòng thầm nghĩ : Cảm ơn các má !

Cảm ơn các anh em và bà con nơi đây , trong những ngày tháng qua , đã chăm sóc , đã giúp đỡ động viên chúng con rất nhiều .

Những tình cảm này , chúng con khắc ghi mãi mãi .

Chúng con là lính chiến phải đi đánh giặc .

Phía xa , nhân dân , đang chờ , chiến trường chờ , đang mong chúng con .

Chúng con phải lên đường .

Nếu có dịp chúng có sẽ quay lại , thăm Má , thăm Ba và bà con nơi đây ....

Tầu tăng ga nổ máy, Trung đoàn phó Nguyễn Dấng lệnh xuất phát .

Tầu chồm lên rồi lao đi trong mànđêm , giữa sông nước mênh mông như biển .

Không một bóng đèn , không một ánh sáng .

Vì phải giữ bí mật việcchuyển quân .

Lúc này đúng 11h30 đêm ngày 15/3/1978

Con tầu gầm lên rồi rẽ nước lao đi trong trời đêm sông nước mịt mùng .

Trời lộng gió , nên sóng lớn .

Tầu của dân đã cũ , lại không lớn .

Nó là loại tầu chở khách , dọc sông như là một cái " xe buýt " sông .

Vì thường là chạy theo lộ trình từ Tân Châu đến Hồng Ngự , ghé vào bất cứ chỗ nào khi có khách lên xuống .

Nên mỗi cơn sóng trào tới đập vào tầu , là lại nghe tiếng răng rắc chuyển mình của các vật liệu trên con tầu già .

Sóng lớn làm anh em nôn nao thật khó chịu .

Nhưng rồi một lúc sau mọi người đã quen , yên vị , không ai nói gì nữa .

Kệ , lính cũng đã quen nếp đi đâu , đến đâu , làm gì , đã có chỉ huy xếp đặt .

Có tò mò , thắc mắc thì chỉ là lúc đầu nhận lệnh , hỏi lại cho rõ thêm mà thôi .

Mọi người như đã chìm vào giấc ngủ .

Tôi vốn tính sợ sông nước .

Nên không yên tâm nghĩ ngợi đủ kiểu , đủ thứ và đủ đường xử lý tình huống .

Nếu có gì không may xẩy ra trên sông .

Mà sao , những tầu này lại không có phao cứu sinh ?

Chắc là dân nơi đây giỏi bơi lội nên họ không coi trọng phao ?

Khi xuống phà , tôi và anh em có xách xuống can mỡ lợn , loại 20 lít .

Nhưng mỡ chỉ còn già nửa can .

Nghĩ : nếu nguy , có gì thì ôm cái can này chắc không sợ chìm .

Tiếng động cơ đều đều ổn định .

Tổ lái vẫn làm việc , đưa lái con tầu đi vào đúng các luồng lạch .

Tầu dập dình lên xuống theo con sóng đều .

Trời đêm , nhìn ra chỉ thấy đen kịt .

Không thấy được bến bờ nào cả .

Triền miên suy nghĩ rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ khi nào ?

Rầm..rắc rắc..rắc .

Con tầu khựng lại .

Mọi người theo quán tính lao hết về phía trước , đè , đạp , chồng lên nhau .

Tất cả choàng tỉnh dậy nhốn nháo .

Loáng thoáng nghe có tiếng kêu lẫn trong gió lớn .

Tiếng ông thuyền trưởng già hô :" Đụng tầu rồi ".

Rất nhanh theo phản xạ , tôi cúi xuống tháo dây giầy .

Quan sát trong đêm mờ một con tầu gỗ phía trên đang từ từ chìm xuống .

Một vài cánh tay chới với .

Tầu tôi chao đảo rất lớn .

Nước đã té vào khoang .

Anh em càng hoảng loạn .

Đứng hết cả lên , có 2 người đu bám được vào thành tầu .

Anh em kéo lên nhưng những động tác này , càng làm cho tầu chòng chành hơn , nguy cơ bị chìm càng cao .

Cởi xong dây giầy , tôi cầm lấy can mỡ thế thủ .

Theo kinh nghiệm thì tầu thuyền đắm thì 1 là : nhẩy ra trước tiên bơi ra xa .

2 là nhẩy khỏi tầu thuyền sau cùng .

Suy nghĩ nhanh thoáng qua .

Tôi chọn phương án 2 .

Tiếng đồng chí Nguyễn Dấng Trung đoàn phó gào lên thật to .

Tất cả ngồi xuống , ngồi im .

Mọi người rắp rắp nghe theo hiệu lệnh đó .

Con tầu từ từ ổn định không còn chòng chành chao đảo nữa .

Hú hồn .

Nhìn ra loáng thoáng tên mặt nước như có vài cái ba lô trôi nổi .

Con tầu vẫn tiến như không có gì xẩy ra .

Cho đến sau này và đến tận bây giờ .

Tôi vẫn thắc mắc về cái sự kiện tầu húc nhau hôm đó .

Làm 1 tầu bị chìm là của bộ đội QK9 , cũng đang trên đường cơ động tác chiến .

Qua lời kể của 2 anh em được kéo lên tầu tôi .

Nhưng không hiểu sao tầu tôi không dừng lại để tìm ?

Cứu anh em ở tầu kia ?

Và như vậy bên đó liệu có ai chết đuối không ?

Chết bao nhiêu người ?

Ko 1 ai sau này nhắc về vụ đó nữa , thật khó hiểu ?

( nếu bạn nào biết sụ kiện này , thì cho TP hiểu thêmthông tin nhé ) .

Đến bây giờ , tôi cũng không nhớ là con tầu chở tôi hôm đó cập bến tầu nào , lúc 5h sáng .

Mọi người lục lục lên bờ .

Đi bộ khoảng 1km thì tới đường bộ .

Đã có xe ôtô đón .

Tất cả lại lên xe cơ động tiếp .

Đường xấu và rất xóc .

Cơm nắm đã chuẩn bị từ hôm trước , mọi người lấy ra vừa ăn vừa ngắm nhìn cảnh trí địa bàn mới .

Đói và mệt nên nắm cơm như quá nhỏ , so với bụng lính chiến .

Gần trưa thì gần tới thị xã Kiên Giang .

Nhân dân đứng đông kín 2 bên đường vẫy chào đoàn quân " mũ sắt ".

Đoàn xe dừng lại .

Lệnh được tạm nghỉ lại 2 tiếng .Tôi đôn đốc anh em nhanh chóng triển khai cơm nóng cho bộ đội .

Các đơn vị xuống xe làm công tác vệ sinh .

Rồi tiện chỗ nào ngả lưng chỗ ấy đợi cơm .

2 tiếng sau lại tiếp tục lên đường .

Tiểu đoàn 3 trung đoàn 273 trong những ngày chiến đấu ở Hồng Ngự - Đồng Tháp có tin vui lớn là : Được quốc hội phong tặng danh hiệu AHLLVT vì có nhiều thành tích chiến đấu .

Trong chiến dịch HCM năm 1975.

Sư đoàn , Trung đoàn tổ chức cho Tiểu đoàn 3 đón nhận phần thưởng cao quý đó .

Ngay tại huyện Hồng Ngự .Vinh dự tự hào to lớn này , thật xứng đáng với cán bộ chiến sỹ của Tiểu đoàn .

Nhưng có điều , quyết định phong tặng AH đến chậm quá , nên rất nhiều anh em nhất là lớp lính 71 - 72 - 74 có nhiều cống hiến cho thành tích , thì lại giải ngũ về địa phương .

Hay bị thương , hy sinh trong những tháng ngày qua , ko còn tại đ/v .

Được nhận phần thưởng cao quý .

Anh em d3 rất hồ hởi , khí thế chiến đấu cao hẳn lên .

Lúc này trong đơn vị lớp anh em 71 - 72 đa số trưởng thành làm cán bộ Trung đội , Đại đội .

Các lớp lính 75 – 76 - 77 đã được học tập , kế thừa truyền thống chiến đấu của các bậc đàn anh , dầy dạn kinh nghiệm .

Trong chiến tranh BGTN Tiểu đoàn 3 luôn là Tiểu đoàn được sử dụng để làm mũi tiến công mạnh nhất , dũng mãnh nhất của Trung đoàn , Sư đoàn .

Được đi tăng cường chiến đấu cùng với tiểu đoàn 3 mấy lần , tôi thực sự cảm thấy yên tâm , nể phục bản lĩnh chiến đấu của ae Tiểu đoàn 3 .

Tiểu đoàn 3 đến Hà Tiên sớm nhất khoảng 3h sáng .

Lúc này quân Pốt vẫn còn ở thị xã nhưng ở phía gần Biên giới chúng .

Đài kỹ thuật của Quân khu và Sư đoàn bắt được bức điện của Pốt .

Với nội dung : " đang còn một Tiểu đoàn của Pot nằm kẹt ở đất VN khu vực rừng thưa gần ấp Việt Nam".

Qua phân tích tình hình BCH Sư đoàn điều ngay Tiểu đoàn 3 , kết hợp với đơn vị của QK9 , bám và truy kích bọn này .

Mặc dù mới hành quân cơ động đường dài đến còn rất mệt .

Nhưng Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Song Thao hăng hái nhận nhiệm vụ .

Với quyết tâm tiêu diệt bọn Pốt , bắt chúng phải đền nợ máu .

Theo tọa độ trong bức điện .

Anh em d3 và đơn vị bạn chia làm 2 mũi , mò mẫm trong rừng thưa ngập nước , để truy kích Pốt .

Nhưng mò mẫm đến sáng , quần đi quần lại cũng không thấy bóng tên Pốt nào .

Không có dấu hiệu nào là chúng đã ở đây .

Thằng này láo - dám lừa cả thầy dạy của chúng .

Anh em d3 hậm hực quayvề vị trí được phân công .

Nhưng trong lòng vẫn ấm ức vì bị bọn Pốt chơi khăm .

Qua cầu phao là vào thị xã Hà Tiên .

Nhà cửa , đường phố giống như là một góc của Thành phố lớn , hay các đô thị của miền Bắc ngày xưa , thời chiến tranh phá hoại của máy bay Mỹ .

Hàng quán , biển hiệu , các trang trí , hình thức nói lên sự sầm uất của 1 đô thị du lịch .

Song hầu như không có người ngoài bộ đội .

Dân chưa giám về .

Các dãy phố , cửa hiệu khóa im lìm .

Nhưng cũng có nhiều nhà không khóa cửa (?), có bộ đội ta ở trong đó .

Tiểu đoàn 1 chốt ở dọc bờ biển , ra tận bãi tắm Mũi Nai .

Đại đội 3 , đúng ra là bộ phận hậu cần .

Ở ngay 1 căn nhà mà chủ hộ có lẽ vừa ở , vừa kinh doanh cà phê giải khát , gần ngay chỗ cây dừa 3 ngon .

Cây dừa này , cũng là điểm thăm quan của du khách đến Hà Tiên .

Vì cây dừa từ đất lên khoảng 5 - 7m thì chia ra làm 3 ngọn .

Cả ba ngọn đều có buồng có trái , trông rất kỳ thú và lạ lẫm .

Tổ chức mua thực phẩm ở đây thì không khó khăn .

Vì chỉ cần qua bên kia cầu phao là có thể mua tôm , mua cá tươi , của dân đánh bắt trực tiếp bán rất rẻ .

Những loại cá ngát trông như loại cá bống , cá bớp , thì rẻ vô cùng .

Rau xanh thì có xe của quân thu thu gom từ thị xã về , cung cấp cho từng đại đội .

Khó khăn nhất ở đây là nước ngọt , ngoài những bể chứa , chum vại chứa nước của dân trong thị xã .

Thì cả thị xã chỉ có 1 cái hồ lớn là có nước ngọt .

Bộ đội về nhiều , nhu cầu sử dụng nước cao .

Vì vậy nước ngọt thuộc loại hiếm .

Trung đoàn phải dùng xe téec bơm nước từ hồ , chở đến cấp cho các đơn vị .

Như vậy , khi thấy bóng của bộ đội chủ lực .

"Đội quân mũ sắt " tràn về , là bọn Pốt đã "cao chạy xa bay".

Trung đoàn 270 cũng đã thu gom lại quân số , củng cố lại tổ chức phòng ngự .

Chốt chặn với ý thức và tinh thần cao hơn .

QK 9 và Sư đoàn bàn và chọn các phương án tấn công địch .

Theo phương án thì Sư đoàn 341 được sự hỗ trợ của pháo binh + TTG + không quân , sẽ tấn công vào sâu đất K .

Tiêu diệt bọn Pot ở đây , chốt giữ lại .

Tỉnh Kiên Giang huy động dân công đào đắp đê gianh giới , biên giới và trồng tre dọc đê .

Khi có phương án trên , khí thế đánh địch tiêu diệt Pốt trong từng đạiđội , tiểu đoàn lên rất cao .

Nhất là d3 vẫn còn cay cú vì bị "Pốt chơikhăm".

Tỉnh đội và địa phương Tỉnh đôn đốc nhân dân góp tre , góp người ,để phục vụ chiến đấu và đắp đê biên giới dọc tuyến .

Như đã nói , địa bàn HàTiên không lớn .

Từ Kiên Giang về Hà Tiên là đường "độc đạo" .

Bên Kcó những đỉnh núi cao .

Nên việc di chuyển pháo hỏa lực ở khu vực này số lượnglớn .

Nhất là việc tuyên truyền vận động nhân dân ở diện rộng , đã làm cho ý đồtác chiến trên không còn giữ được bí mật nữa .

Việc này đã làm cho các phươngán chiến đấu của Sư đoàn , Quân khu 9 có nhiều bất lợi

Qua trinh sát nắm tình hình địch , và các thông tin của ban 2 .Thì lực lượng chính của Pot đã lùi sâu vào bên trong ngoài " tầm với " của ta .Tại biên giới , chúng chỉ để lại 1 lực lượng nhỏ chốt giữ các vị trí quan trong .

Ý đồ của ta là : đánh tiêu diệt địch , chứ ko phải là đánh đuổi chúng .

Nên chúng ta chưa thể xuống tay khi thấy " ruồi " đã bay gần hết .

Địa hình bên K thật hiểm trở .

Từ bên mình sang là đồng bằng ko rộng lắm khoản 1 km thì bắt đầu có những quả núi lớn .

Ko kết liền thành dẫy , mà cách xa nhau rất vừa tầm hỗ trợ cho nhau về hỏa lực .

Như núi Lục Sơn , Cúp Pô , Thị Vạng , núi Địa Tạng vv...dọc mép sông ( có cầu phao ) giáp ranh giữa ta và địch là phá Đông Hồ , Sông nơi đây rộng , và đầm lầy rất lớn .

Ko thể tiền nhập vu hồi từ hướng này .

Mà chỉ co thể luồn sâu sát mép sông bên đất Hà Tiên .

Có rừng tràm nối dài sang đất K . về mùa này khô , nước cạn nên rừng tràm phía giáp vào đất K có thể luồn được .

Rừng đang mùa khô có thể rất dễ cháy .

Nhưng ae trinh sát báo , đây lại là bãi mìn của cả ta và Pót gài .

Nên việc luồn sâu vào đây cũng rất nguy hiểm .Khi hết rừng tràm , thì lại có trảng trống khoảng hơn 1 km và tiếp đến là chân núi đất xen lẫn đá .

Lực lượng Pot chốt giữ ở đây lâu .

Nên hầm hào của chúng rất kiên cố .

Có hệ thống phòng thủ 1 ,phòng thủ 2 liên hoàn .

Nếu đánh từ hướng này lên mà địch phát hiện sớm thì cũng rất bất lợi .

Còn hướng bên trái đường lộ 80 ra tận ấp ViệtNam , thì có thể chỉ dùng được lực lượng nhỏ , luồn sâu nhưng cũng thật khó vì địa bàn nơi đây sát biển .

Địch phòng ngự rất chặt chẽ ...

BCH liên quân chọn phương án : Đầu tiên vẫn là các loại pháo binh bắn phá hoại các chốt , khống chế trận địa pháo của địch .

Máy bay A37 + Trực thăng sẽ ném bom và bắn rotket tiêu diệt các mục tiêu như trận địa pháo , hoặc các ụ phòng thủ chiến đấu của Pot .

Hỗ trợ cho bb .

Trung đoàn 266 , tấn công vỗ mặt theo trục đường 80 sang .

Và đánh chiếm các cứ điểm núi Lục Sơn , Cúp Pô

Trung đoàn 273 , luồn sâu theo rừng tràm .

Vu hồi đánh chiếm địch ỏ 2 ngọn núi Thị Vạng và núi Địa Tạng .

Mục tiêu tổng thể của trận đánh là phải chiếm được 4 quả núi trên rồi chốt chặn tại đó .

Chiếm được 4 ngọn núi này , thì chúng ta khống chế được địa bàn rộng lớn của k .

Địa bàn tỉnh TàKeo của Pot .

Lực lượng dân công phía sau , sẽ tổ chức đào đắp đê biên giới vv...

Nhưng đợi mãi mà chúng vẫn ko đưa lực lượng ra như trước .

Mà vẫn chỉ có 1 số ít lính Pot chốt các mục tiêu trên .

Như là cố ý nhử , cô ý trêu tức quân ta .

Việc điều nghiên tình hình , địa bàn đã tương đối kỹ .

Nhưng giờ G vẫn chưa được chọn .

Các cấp chỉ huy đã nóng lòng , sốt ruột .

Anh em cán bộ chiến sỹ cấp dưới thì lại ko ngờ mình được nghỉ ngơi lâu thế .

Nghỉ ngơi + với ăn uống + khí hậu tươi mát trong lành của biển cả , làm cho sức khỏe ae tăng hẳn lên .

BCH Sư đoàn bèn tìm cách đánh lừa địch .

Lệnh di chuyển về Tây Ninh được phát ra .

Trung đoàn 2 vẫn chốt ở các vị trí cũ .

Mỗi Tiểu đoàn để lại 1 lực lượng nhỏ , còn tất cả từ các cấp chỉ huy , sở chỉ huy E , F cùng các loại xe , pháo , hỏa lực lên đường hành quân .

Cuộc hành quân chuyển hướng của đội quân " mũ sắt "cùng với tất cả xe pháo + TTG vào lúc 7h tối .

Các loại xe oto ko tắt hết đèn , mà sử dụng đèn gầm hạn chế ánh sáng .

Coi như là 1 cuộc hành quân di chuyển lật cánh thật sự .

Nhưng cả đoàn quân ko phải về Tây Ninh .

Mà chỉ hành quân cách Hà Tiên khoảng 70 km .

Về dấu quân tại khu vực núi Đất , huyện Hòn Đất , Kiên Giang .

Đất rừng , đồi núi , nơi đây là điểm dấu quân tuyệt vời .

Địa danh nơi này , được nổi tiếng từ những năm KCCM .

Giai đoạn đầu củachính quyền Ngô Đình Diệm .

Khi có tác phẩm nổi tiếng Hòn Đất của nhà văn (?) .Tác phẩm văn học nói về cuộc chiến nơi này , giữa những người du kích cách mạng.

Mà đại diện là chị Xứ , người phụ nữ xinh đẹp cùng bà con nhân dân , lựclượng du kích .

Phía " bên kia " là bọn Ngụy quân , Ngụy quyền tay sai Mỹ .

Nổilên là sự tàn ác của tên Trung úy Xăm , gốc dân tộc Khơ Me .

Đã bắt được chị Xứ , tra tấn chị rấtdã man , rồi chặt đầu , uống máu chị Xứ...

Và rồi chính nó đã bị bà Cả Sợi , Mẹ của nó , bà vô cùng căm gận sự tàn áccủa Xăm con trai bà .

Bà đã báo du kích đến tiêu diệt .

Chính đứa con trai màthời nhỏ bà vô cùng yêu quý .

Tôi nhận được bức thư của Hương – "Cô hàng xóm" mà tôi gặp , quen dịp Tết ở quê .

Thật bất ngờ .

Có lẽ từ ngày đi bộ đội , ngoài thư từ , giao lưu với bố mẹ , anh em , họ hàng .

Thì đây là lần đầu tiên , tôi nhận được một bức thư của người con gái không phải trong tình cảm gia đình .

Nội dung bức thư , ngoài việc hỏi thăm tình hình hoạt động , công tác của tôi .

Hương còn có ý trách , là sao từ hôm đi vào Sài Gòn đến bây giờ mà không có thư về .

Làm cho gia đình , mọi người phải lo , phải trông đợi .

Rồi là nói về chiến tranh đã hết .

Đất nước đã hòa bình , khuyên tôi nên chuyển ngành về quê làm việc và lấy vợ v.v...

Rồi từ hôm anh đi , ở nhà xóm phố mình họ cưới nhau nhiều .

Mỗi lần đi dự cưới lại nghĩ và nhớ tới tôi .

Mong tôi cũng sẽ được hạnh phúc ở quê v.v...

Ôi !

đúng là cuộc chiến tranh khốc liệt thế này , mà ở nhà , ở quê , nhất là lớp trẻ vẫn không biết gì ?

Lúc chuyện trò ở nhà , tôi cũng đã nói cho mọi người nghe , kể cả " cô hàng xóm" nghe về cuộc chiến tranh BGTN đang diễn ra khốc liệt .

Mà tôi , chính tôi cùng các đồng đội tôi trong cuộc .

Hàng ngày đều phải trực tiếp ở chiến trận .

Hôm nay , mọi người đang vui , đang sống nhưng có thể một tý nữa , một chốc, một lát nữa , là lại có tin đồng đội này bị thương , đồng đội kia hy sinh v.v...

Cuộc chiến ngày càng phức tạp .

Giờ đây nói về việc ra quân , phục viên hay giải ngũ của tôi thật xa vời .

Chứ đừng nghĩ đến yêu đương , hay vợ con .

Đã 2 lần tôi chia tay người yêu để ra trận .

Vậy thì lần này cô hàng xóm này , có vẻ có ý tứ " xa xăm" đây .

Nhưng tốt nhất là không nên " dính" vào yêu đương , đàn bà con gái mà thêm vướng bận .

Thoáng nghĩ như vậy và tôi viết thư hồi âm cho Hương .

Nhớ lại hồi làm quân quản ở Sài Gòn .

Tôi có đọc một quyển truyện gì đó , cũng có nói về tình cảm của người lính chiến , trăn trở chuyện yêu đương rất hay , có vẻ" văn học , lãng mạn ".

Tôi viết theo giọng văn ấy...

Hương !

Anh nhận được thư Hương nơi biển trời lộng gió .

Mảnh đất tận cùng của Tổ quốc với vẻ đẹp mê hồn , làm cho anh , các anh những người lính thực thụ chỉ quen súng đạn , cũng phải ngẩn ngơ .

Nhưng những tiếng súng của quân thù , tiếng thét kêu gào của nhân dân nơi đây , vẫn vang vọng trong anh .

Kêu gọi sự trả thù .

Làm cho những cảnh đẹp như thơ , như nhạc này không còn ý nghĩa nữa .

Vì tiếng súng , vì tiếng thét gào kêu cứu đó .

Hương !

Cảm ơn em đã góp ý , gợi ý cho anh trở về để xây dựng cuộc sống , lứa đôi , gia đình .

Nhưng em ơi !

Hiện tại anh vẫn đang là người trong cuộc .

Hàng đêm , vẫn thường thao thức hay mơ .

Mơ thấy súng đạn về cười ngạo nghễ .

Nên hôm nay anh ra đi , để cho ngày mai , không còn những thằng con trai , phải bỏ mình vì chiến tranh .

Không còn những mẹ già , tóc đã điểm sương , đêm đêm khóc con , trong nỗi đau nhung nhớ .

Không còn những người vợ trẻ , đầu quấn khăn tang , chiều , chiều , dắt dìu đứa con thơ .

Vào nghĩa trang có lá vàng rơi rụng .

Để cho ngày mai , không còn những thiếu nữ , phải buồn đau trong thương nhớ , sáng , sáng , mở ra những trang giấy đẫm nước mắt học trò ...

Hương !

Cảm ơn em .

Anh cảm ơn em nhiều , vì đã viết thư thăm anh .

Đây là lần đầu trong đời anh được nhận và được viết thư cho người bạn gái .

Hiện tại cuộc sống của anh , của đồng đội anh là như vậy .

Đây sẽ là lá thư đầu và là cuối anh gửi tới em .

Với tất cả những chân thành của người lính trận .

Anh chúc em sớm có được niềm vui trong tiệc cưới của mình .

Nhớ em và cảm ơn em thật nhiều !

Lúc ở Hà Tiên , sức khỏe anh em chiến sỹ tăng lên rất nhiều .

Khi xuống giấu quân ở Hòn Đất , không hiểu là vì anh em ít được hoạt động , mà chỉ nghỉ ngơi đợi lệnh là chính , làm lính ta uể oải .

Hoặc sự ẩm thấp của rừng núi , ruồi , muỗi , rồi thổ nhưỡng lạ v.v... mà anh em bị sốt , bị ốm rất nhiều .

Gần như là một bệnh dịch sốt trong đơn vị .

Đây không phải là sốt rét virut .

Mà như kiểu sốt phát ban .

Hiếm gặp .

Đầu tiên có một vài anh em bị sốt , rồi dần lan ra thành diện rộng .

Thậm chí có đại đội , 2/3 số anh em bị sốt , làm sức khỏe , sức chiến đấu của toàn bộ đội kém hẳn đi .

Ban chỉ huy Sư đoàn , Trung đoàn , cùng các y bác sỹ , y tá đại đội lo cuống cuồng lên .

Kết hợp cùng với y tế tỉnh Kiên Giang , QK9 , lo dập dịch sốt trong Sư đoàn .

Đúng là dịch sốt bùng lên thật hiểm ác chẳng " hợp lý tý nào".

BCH Sư đoàn và QK9 đã chọn được giờ G , ngày nổ súng tấn công Pot là ngày 8/4 .

Vì theo Ban 2 , cả các nguồn thông tin của anh em trinh sát báo là : Pốt đã nâng đội hình lên và rất tích cực củng cố hầm hào công sự .

Mà thêm một thông tin nữa là còn có sự có mặt của cố vấn quân sự người Trung Quốc nữa .

Các cấp chỉ huy thật hồi hộp .

Khi tổ chức lui quân lật cánh , nhưng thực chất là dùng kế " điệu hổ ly sơn" như các bạn đã nói .

Đến bây giờ , "hổ" đã ra khỏi hang .

Nhưng nó là con "hổ thành tinh "nên cũng không phải nó ra một cách vô tình .

Mà như có ý đồ chiến lược , chiến thuật và có sự cảnh giác đề phòng cao độ .

Về phía ta thì ý chí đánh địch đang còn hăng .

Nhưng cũng không thể để giờ G lâu hơn được nữa .

Vì để lâu quá , thì ý chí tấn công của bộ đội có thể sẽ trùng xuống , làm giảm ý chí , và sức mạnh tiến công quân thù .

Theo cách nghĩ của những người chỉ huy dùng binh là như vậy .

Ác nhất là sức khỏe anh em bị giảm xuống , do bệnh dịch sốt .

Tiểu đoàn 3 vẫn là Tiểu đoàn xung kích mạnh nhất , dũng mãnh nhất trong tấn công .

Nhưng anh em cũng bị ốm nhiều theo B/C số quân đang bị sốt , ốm yếu tới 1/3 quân số .

Ngay người chỉ huy mưu trí dũng cảm là Tiểu đoàn trường Nguyễn Sông Thao cũng đang còn bị sốt .

Đi lại rất yếu nhưng vẫn hứa sẽ chỉ huy Tiều đoàn luồn sâu đánh địch .

Về Tiểu đoàn 1 , Đại đội 3 của tôi , có thay đổi chỉ huy .

Đ/c Nguyễn Tiến Trụ Đại đội trưởng , được điều lên làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 .

Vẫn giọng nói ồm ồm to khỏe , sôi nổi hôm chia tay lên làm chỉ huy phó Tiểu đoàn .

Anh bắt tay người kế nhiệm là đ/c Nguyễn Văn Phô được điều từ Đại đội 1 sang .

Bắt tay hết lượt anh em trong ban chỉ huy , và từng người trong đại đội để lên cương vị mới , trọng trách mới .

Anh em lưu luyến chia tay người Đại đội trưởng đã từng sống chiến đấu trong suốt thời gian dài .

Với bao kỷ niện buồn vui .

Nhưng rồi không ai biết được rằng : cuộc chia tay cho đ/c Trụ này .

Trong niềm vui thăng chức , cũng là lần chia tay cuối cùng .

Cái bắt tay cuối cùng , trong đời người chỉ huy , trong đời người lính chiến .

Đ/c Nguyễn TiếnTrụ hy sinh ngay lúc sáng ngày 8/4/78 .

Khi trận chiến đang vào lúc cam go nhất.

Nhiệm vụ và mục tiêu trận đánh chưa hoàn thành .

Từ đêm ngày 5 và 6/8 các đơn vị được bí mật về vị trí cũ tại Hà Tiên .

Nhưng vẫn trong tư thế giấu quân .

Bộ đội đều phải ở trong nhà , trong lán hay các lùm cây .

Không đi lại nhiều , tránh sự quan sát dòm ngó của Pốt .

Các loại pháo binh của Quân khu , Sư đoàn cũng bí mật vào các vị trí trong đêm .

Được ngụy trang kín đáo .

Các phần tử bắn đều được chấm tọa độ , phương vị hiệu chỉnh chính xác sẵn sàng đợi giờ nổ súng .

Vì quãng đường luồn sâu , tiền nhập không xa .

Nên 22h đêm ngày 7/4 Trung đoàn 1 tổ chức cho bộ đội luồn sâu theo rừng tràm , dọc sát mép sông .

Đi theo đường mà công binh và trinh sát đã tháo gỡ mìn .

Trung đoàn 3 cũng bắt đầu dịch đội hình tiến công làm 3 mũi .

Lấy trục đường 80 làm tâm .

Một mũi cũng luồn sâu sát gần biển theo hướng ấp Việt Nam sang .

Các loại xe tăng , xe bọc thép cũng làm công tác tiền nhập xung phong cùng trung đoàn 266 .

Đợi khi pháo bắn thì cơ động ra cửa mở .

Giờ G đang tới dần .

Theo thông báo , dự kiến giờ G lùi lại 30 phút tức là 5h 30 , thì pháo binh sẽ bắn phá hoại vào các mục tiêu .

Đến 5h45 thì chuyển làn vào trong cho bộ binh xung phong .

Trước khi xung phong thì có pháo bắn đạn khói để che mắt bọn Pốt , cho bộ binh tiến công được bí mật hơn .( việc có pháo khói sau này chúng tôi mới biết , chứ trong hợp đồng tác chiến không có phổ biến ).

Giờ tiền nhập và luồn sâu của các đơn vị đã đến .

Lúc này là 22h đêm .

Trời tối hơn so với thường ngày .

Mũi của trung đoàn 273 đã dịch lên , ém sát vào khu vực rừng tràm .

Theo dẫn đường của trinh sát .

Trong rừng thưa cảm giác càng tối hơn .

Qua vòm lá , trời vẫn nhiều sao , những vì sao nhấp nháy như đang theo dõi , như chỉ hướng cho ae bộ đội hành quân .

Gió biển hiền hòa , mang theo hơi nước làm anh em khoan khoái , dễ chịu hơn .

Trinh sát dẫn anh em tiến sát theo mép nước rừng chàm .

Bắt đầu quặt sang trái vào đất K .

Tiểu đoàn 3 vẫn là đội hình đi đầu .

Sau lực lượng trinh sát .

Đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn súng 12ly7 và DKZ đã được phân đi tăng cường theo đơn vị , cùng luồn sâu với đội hình đại đội BB .

Còn lại BCH đại đội và 2 khẩu cối 82 .

Hành quân sau Tiểu đoàn bộ .

Vừa qua ranh giới khoảng hơn 100m .

Oành... !

Một tiếng nổ thật lớn , vang vọng trong trời đêm .

Chớp sáng chói lòa rồi phụt tắt .

Mọi người nằm rạp xuống .

Có tiếng kêu : " Bị mìn rồi ".

Vài tiếng kêu của anh em bị thương .

Bụp ! bụp ! bụp !

Có 3 phát pháo hiệu đỏ bay lên hướng núi Thị Vạng .

Một lúc sau đã thấy vận tải của d3 .

Cáng số thương binh và tử sỹ về phía sau .

6 cáng + với 2 ae được dìu .

Như vậy vừa sang đất K số anh em khênh cối của d3 không bám sát được nhau .

Đi lạc ra ngoài , hay do mìn còn sót lại ?

Mà làm cả khẩu đội cối 82 và mấy anh em ở gần bị thương .

Không biết là loại mình gì , mà sát thương khủng khiếp thế .

Thật không may mắn chút nào .

Linh cảm thấy trận chiến sẽ gay go ác liệt .

Qua sự việc càng cảm giác gay go ác liệt tăng lên .

Giải quyết xong được số thương binh tử sỹ .

Đội hình lại tiếp tục luồnsâu , hành tiến .

Mò mẫm trong đêm .

Nhưng trong mỗi người , mỗi bước đi , phảidè dặt hơn .

Anh em căng mắt ra mà nhìn , mà bước theo dấu chân người đi trước.

Nên tốc độ di chuyển không được nhanh và bạo dạn như trước nữa .

Khoảng 3h sáng các mũi , các hướng đã vào được vị trí tập kết .

Sở chỉ huy của của Sư đoàn và quân khu 9 bí mật di chuyển lên khu vực hang Thạch Động .

Tình hình chiến sự vẫn yên tĩnh .

Phía bên các mục tiêu vị trí của Pốt , ngoài 3 phát pháo hiệu đỏ bay lên lúc anh em d2 bị mìn .

Thì cũng không thấy có động tĩnh gì khác thường .

Anh em bộ binh tranh thủ đào hầm cá nhân .

Hoặc lợi dụng các ụ mối gò đất ẩn lấp .

Thời gian trôi thật chậm .

Cuộc đời ai cũng có những lúc chờ đợi .

Và chờ đợi thì bao giờ cũng thấy thời gian trôi đi thật lâu .

Sự chờ đợi trước giờ nổ súng , còn có thêm cảm giác nặng nề , thoáng chút lo âu vẩn vơ .

Trong những lúc thế này , người lính thường hay nghĩ đến gia đình , đến mẹ , đến bố trước tiên , rồi lần lượt nghĩ đến những người thân yêu , bạn bè .

Rồi những bước đường đời của mình đã qua .

Những ngày gian nan , những trận chiến hiểm nguy .

Mà mình đã may mắn vượt qua .

Và chiến thắng .

Thước phim quay chậm của cuộc đời hôm nay , ngày mai ?

Trong trận này liệu mình có được may mắn nữa không vv???

Mọi người lấy cơm nắm ra ăn .

Trời đã rạng sáng .

Những đàn chim đi ăn sớm đã bay khỏi nơi trú đêm .

Đi tìm mồi gọi nhau kêu quạat - quạat trong không trung phá tan sự tĩnh lặng buổi sớm ...

Sáng dần .

Gần biển thì trời có cảm giác nhanh sáng hơn .

Hay tại vì chúng ta thức từ đêm , nên nhận biết rõ được sự chuyển đổi từ đêm , sang ngày theo quy luật xoay vần của tạo hóa trời đất .

Thấy được ngày đêm giao nhau rõ nhất .

Trời đã sáng , nhìn trời , nhìn cảnh vật đã dần hiện ra .

Mà sao vẫn chưa thấy pháo bắn .

Nhưng đồng hồ vẫn chưa chịu chạy đến giờ G .

Các trận tấn công khác giờ G là 5h sáng .

Hoặc sớm hơn Còn trận này không hiểu sao giờ G lại chậm 30 phút .

.

Rồi cũng đến giờ chờ đợi .

Ùng – ùng - ùng ba phát nổ "đề ba" của pháo 105ly , nghe tiếng đạn bay vo vo qua đầu .

Rồi oàng- oàng- oàng , tiếng nổ của đạn tới mục tiêu .

Tiếp đến là cả mấy trận địa pháo cối đều phát hỏa , tiếng nổ ầm vang , rền rĩ như sấm trời mưa mùa hạ .

Không còn phân biệt được đâu là loại súng gì , loại pháo gì nữa .

Hướng mục tiêu các sườn núi , thấy bay lên các bụi đất đá các đụm khói to nhỏ khác nhau .

Rồi cũng không phân biệt được gì nữa , vì khói, vì bụi .

Các trận địa pháo ở gần nhau nên cảm giác chưa bao giờ thấy pháo binh bắn nhiều như thế .

Không gian , trời đất vỡ òa .

Các đ/c chỉ huy Đại đội , xuống từng Trung đội nhắc anh em chuẩn bị xung phong .

Vì pháo đã bắn được khoảng 30p .

Mọi người xốc lại tư trang , súng đạn chuẩn bị tấn công .

Nhưng kìa khói , khói trùm lên phía mục tiêu tấn công .

Không phải là khói do đạn nổ bình thường .

Mà khói cứ bùng lên , lan tỏa rồi dày đặc .

Rồi không còn nhìn thấy gì phía xa nữa mà chỉ có khói là khói tạo thành bức tường khói dầy đặc .

Mọi người đang chuẩn bị xung phong , ngạc nhiên chững lại .

Nghe rõ tiếng anh Phô đại đội trưởng mới gào lên : lợi dụng khói xung phong .

Mọi người bật lên khỏi vị trí lao lên .Các loại súng 12,7ly , đại liên đã thùng - thùng điểm xạ đều bắn vọt qua đầu bb uy hiếm địch và tạo khí thế tiến công .

Khẩu ĐKZ của hỏa lực cũng đã nhả đạn viên đạn đỏ lừ xoẹt bay và mất hút vào bức tường khói .

Anh em bb vừa vận động vừa bắn .

Những tiếng hô xung phong vang trời , lẫn trong tiếng nổ , ánh chớp lòe của các loại súng b40 , b41 , ak .

Bản giao hưởng chiến trận quen thuộc lại vang lên hùng tráng...

Pháo binh đã chuyển làn vào phía sâu .

đội hình phát triển thuận lợi khoảng 200m .Cũng chưa thấy bọn Pót phản ứng ...

Khói, khói theo chiều gió đã ập tới đội hình hành tiến .

Mọi người dừng lại vì kocòn nhìn thấy gì nữa .

Lớp khói thật dày , phải sau 10 phút thì khói với dần tràn qua .

Anh em phía trên chưa kịp định thần , nhìn phương hướng mục tiêu , thì ầm - ầm - ầm .

Các loại súng của Pốt phát hỏa , bắn vào đội hình bộ đội .

Các ổ 12,7 , đại tiên , bắn găm rào rào vào đội hình xung phong .

Lác đác ae trúng đạn ngã xuống .

ĐKZ và B40 – b41 chúng cũng bắn tới tấp , nổ dồn dập .

Rồi cả pháo, từ xa cối 82 , cối 60 của chúng cũng đã bắn cấp tập vào đội hình .

Trận chiến thật nguy kịch .

Những vị trí bãi bằng trống trải này , rừng chàm này , là những mục tiêu không thay đổi .

Nên có thể nói là : nếu chốt ở đây lâu , thì nhắm mắt chúng cũng có thể bắn trúng vào khu vực cần bắn .

Và lúc này , khu vực này , đâu đâu cũng có bộ đội mình .

Khói bụi mù mịt , bao trùm đội hình tấn công .

Sau các tiếng nổ là ầm , là mảnh đạn , cùng đất đá , cát bụi bay rào rào .

Đúng là mưa của các loại đạn .

Pháo của ta bắn phá hoại nhiều như thế , mà sao hỏa lực chúng vẫn còn rất mạnh , rất nhiều .

Như là lực lượng còn nguyên .

Quan sát kỹ mới thấy phía trên cao , không có hỏa lực bắn ra .

Mà như vậy bọn này tránh đòn pháo , là bỏ công sự phòng ngự tuyến 2 và tuyến 3 .

Xuống hẳn phía dưới với những công sự sẵn có đợi bb ta đến .

Nên pháo binh của ta bắn phá hoại nhiều , trúng các mục tiêu , công sự nhưng ko có Pot ở đó .

Bọn chúng như là đã có kịch bản sẵn .

Giờ đây chúng đang thực hiện theo kịch bản đó , 1 cách thuần thục và hiệu quả .

Gây cho ta những khó khăn và tổn thất lớn .

Thông tin trận đánh , khó khăn hướng các Tiểu đoàn của Trung đoàn 273 , được báo về BCH liên quân .

Nhưng ngay ở đài chỉ huy , trên hang Thạch Động cũng đã phát hiện ra điều này .

Nhìn ae ta đang hứng chịu "mưa đạn" của Pot mà ai nấy lòng như lửa đốt .

Mà không phải chỉ có hướng Trung đoàn 273 .

Hướng Trung đoàn 266 cũng gặp khó khăn .

Đội hình bb + TTG phải khựng lại khi 2 xe đã bị trúng đạn , trong khi đó , các loại đạn chống tăng vẫn xoẹt , xoẹt rồi nổ ầm ầm chung quanh các xe .

Làm cho hỏa lực của xe cũng ko phát huy được sức mạnh .

Chỉ huy lệnh cho bộ đội nằm tránh đạn , tranh thủ đào hầm ẩn lấp .

Pháo binh lại chính tầm , bắn vào vào các mục tiêu đã bị lộ của Pót .

Phản pháo vào các trận địa pháo phía trong sâu .

Đạn pháo của ta đã nổ rầm , rầm dưới chân núi .

Súng của Pót im bặt .

Bọn này chắc chuí hết vào hầm tránh đạn pháo .

Máy bay L19 của ta bay vè vè trinh sát trên đầu .

Lác đác thấy pháo cao xạ của Pốt bắn đuổi máy bay , Những tiếng nổ lục bục , tạo thành những đốm mây trắng nhỏ trên trời .

Hướng Trung đoàn 273 được điều động 8 xe TTG .

Kết hợp tấn công cùng bb .

Pháo binh cấp tập khoảng 20 phút vào trong sâu đất Pốt .

Cũng không thấy pháo Pot bắn nữa .

Nhưng cối 82 của Pốt , và dkz bắn cầu vồng từ bên kia núi vẫn cấp tập đều nổ rầm rầm vào đội hình bb ta .

Bọn này hiểm độc .

Chúng đặt trận địa cối và dkz sau núi , quả là lợi hại .

Chúng tạo được góc chết .

Nên pháo của mình gần như không có tác dụng .

Trận địa cối 120ly của Trung đoàn , cũng bắn phản vào phía sau núi , tìm diệt trận địa cối của Pốt .

Nhưng hiệu quả cũng ko cao .

Theo hợp đồng , là có máy bay tham chiến hỗ trợ bb .

Mà cho đến giờ này ko hiểu sao chỉ thấy máy bay trinh sát .

Còn chưa thấy máy bay chiến đấu vào trận . ( Cho đến bây giờ, ae ccb , cũng vẫn thắc mắc .

Việc máy bay ko tham chiến này .

Mà cũng vẫn ko được nghe lời giải thích thấu đáo từ cấp trên ).

.

Lúc này đã gần 8h sáng .

TTG cũng đã cơ động đến khu vực tấn công của Tiểu đoàn .

Đ/c Trụ , Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 cùng với một liên lạc cùng đ/c trợ lý tác chiến Tiểu đoàn , rời vị trí của Tiểu đoàn lên đốc chiến cùng đại đội 3 .

Trong lúc địch đã dừng bắn , tránh đạn pháo .

Các lực lượng cứu thương , đã nhanh chóng chuyển anh em thương binh , tử sỹ về phía sau .

Nhưng mới chưa đến 8h mà số thương vong quá nhiều .

Vận tải ưu tiên đưa số anh em bị thương ra trước .

Số ae bị thương nhẹ thì được băng bó .

Số ae còn đi được thì tự lui về hay 1 đ/c vận tải dìu 2 - 3 đ/c về phẫu .

Lệnh xung phong .

Tiếng thét xung trận lại vang trời .

Các loại hỏa lực của TTG cùng hỏa lực của bb đồng loạt phụt đạn vào các mục tiêu .

Anh em bb ào ào xông lên thật dũng mãnh .

Mũi đại đội 3 , là mũi đột kích của của Tiểu đoàn 1 .

Đ/c Trụ lại vẫn như là người đại đội trưởng đương nhiệm , hò hét , đôn đốc ae tiến công .

Đội hình tiến công được khoảng hơn trăm m .

Thì bon Pot lại phản ứng điên cuồng .

Đang lao lên , đ/c Trụ khựng lại rồi ngã về phía trước .

Khẩu k54 tuột khỏi tay .

1 viên đạn thẳng của Pot đã xuyên từ phía ngực trái ra sau lưng .

Đ/c yta chạy lại , vội băng vết thương .

Nhưng viên đạn thù trúng chỗ hiểm .

Tiểu đoàn phó Trụ , người chỉ huy dũng cảm , đã anh dũng hy sinh .

Tiểu đoàn 3 cũng báo về sở chỉ huy đ/c Tô quang Phụng Tiểu đoàn phó bịthương nặng .

Bọn Pót vẫn điên cuồng chống trả , xả đạn vào đội hình tiến côngcủa ta .

1 xe tăng , 1 xe M113 trúng đạn .

Đội hình tiến công của ta lại khựnglại .

Trước tình hình đó , Sư đoàn điều 2 khẩu pháo 85 ly .

Bắn thẳng vào các mục tiêu phòng thủ của Pốt .

Bộ binh lại tiếp tục xung phong , quyết chiếm được tuyến phòng thủ chân núi của Pốt .

Tiểu đoàn 3 , Tiểu đoàn 1 , đã chiếm được những hố chiến đấu ngoài .

Tuyến phòng thủ 1 .

Xác địch rải rác khắp nơi .

Khẩu 12,7 chổng chơ cong queo .

3 thằng Pot chết vắt vẻo 3 tư thế khác nhau .

Nhưng anh em ta thương vong cũng nhiều .

Bọn Pốt rút hết lên tuyến phòng thủ số 2 .

Theo các đường thông hào , và điên cuồng chống trả .

Lực lượng ta không thể phát triển lên được nữa .

Lúc này đã gần trưa .

Hướng tiểu đoàn 2 , luồn theo mép nước đánh lên , vẫn gặp khó khăn .

Không thực hiện được kế hoạch tác chiến .

Bọn Pốt đã dùng cả đạn cháy , hay vì lý do gì cả cánh rừng tràm hướng tiểu đoàn 2 bị cháy .

Lửa khói bùng lên dữ dội , tạt về hướng Tiểu đoàn 2 .

Anh em vừa lo tránh đạn .

Lại phải di chuyển dập lửa vô cùng khó khăn .

Tiểu đoàn 2 nhanh chóng phải dời khỏi khu vực cháy lùi về phía sau .

Gần trưa , tiếng súng bộ binh của cả 2 bên đã tạm yên .

Lúc này chỉ còntiếng pháo và cối của ta và Pốt bắn phản nhau .

Hỗ trợ cho bộ binh giữ ở trậnđịa ở những nơi đã chiếm được .

Đến tối các đ/v được lệnh tìm kiếm hết cácthương binh , liệt sỹ .

Rồi tổ chức rời khỏi trận địa về lại Biên giới .

Kếtthúc một ngày chiến đấu vô cùng khốc liệt .

Thiệt hại , thương vong nhiều , màchưa thực hiện được mục tiêu đề ra .

Từ khi tham gia bảo vệ Biên giới Tây Nam .

Sư đoàn 341 luôn là Sư đoàn chủ lực , cơ động của QĐ4 .

Có trình độ tác chiến , trình độ chỉ huy và ý chí chiến đấu , sức mạnh chiến đấu rất cao .

Những nơi khó khăn nhất , của cuộc chiến đều được điều động đến .

Để cùng bộ đội địa phương QK7-QK9 hay cùng các đơn vị trong QĐ , chiến đấu .

Tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch .

Đỉnh cao trong các trận chiến đấu và chiến thắng là thu được 2 khẩu pháo của Pốt , dập tắt ý chí ngông cuồng của bè lũ Pôn Pốt IêngXa Ri là sẽ tiến công chiếm Bến Cầu và thị xã Tây Ninh .

Đánh chiếm Hồng Ngự Đồng Tháp .

Đặc biệt nữa là đã cùng Sư 330 QK9 , kết hợp với TTG + Không quân + Hải quân đánh địch , lập chiến công và chiến thắng lẫy lừng .

Giải phóng Phú Cường , 2 xã Khánh An + Khánh Bình tỉnh An Giang .

Uy thế của Sư đoàn ngày càng cao , càng được sự ủng hộ và ngưỡng mộ của nhân dân , của chính quyền các tỉnh Biên giới Tây Nam .

Trong trận chiến giải phóng Hà Tiên .

Ở đây , đánh địch với địa hình vô cùng hiểm trở , bất lợi cho ta .

Song với ý chí với quyết tâm cao .

Chúng ta đã đánh cho bọn Pốt phải khiếp sợ .

Đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch .

Tuy rằng mục tiêu của kế hoạch đề ra , chưa hoàn thành .

Song những gì chúng ta đã chiến đấu .

Đã thể hiện nói lên được ý chí , chiến đấu hào hùng của quân đội ta làm cho bọn giặc cỏ Pônpốt gian ác , phải từ bỏ những ý đồ đen tối ngông cuồng của chúng .

Về phía ta , từ khi tham gia chiến trường BGTN phải tham chiến nhiều , liên tục , triền miên .

Cơ động rât nhiêù .

Vô cùng khó khăn gian khổ .

Nhưng hầu như , các trận chiến của Sư đoàn tham gia , đều chiến thắng vượt mức kế hoạch vượt mức chỉ tiêu đề ra .

Riêng trận chiến tại đây , Sư đoàn chưa đạt được M đề ra .

Anh em cán bộ , chiến sỹ thương vong tổn thất nhiều .

Nên từ người chỉ huy cao nhất là Sư đoàn trưởng Vũ Cao .

Đến các chỉ huy Trung đoàn , Tiểu đoàn , Đại đội , cùng các anh em cán bộ chiến sỹ nói chung là không vui .

Coi đây là một trận chiến , món nợ đang còn giang dở .

Mọi người thầm hứa : sẽ phải giáng cho bọn Pốt ở đây những đòn đau hơn nữa .

Chiều tối ngày 8/4 .Tất cả các đ/c trợ lý , và cán bộ phục vụ phía sau .

Đều phải tham gia , giải quyết chiến trường .Tìm kiếm , quy tụ các anh em hy sinh , bị thương trong chiến đấu còn thất lạc .

Việc tìm kiếm cũng gặp rất nhiều khó khăn .

Vì trời tối , vì bãi mìn còn nhiều .

Nhất là hướng Tiểu đoàn 2 , còn bị lửa cháy .

Nên một số anh em bị thương không chạy lửa kịp .

Rừng cháy , tất cả như là một màu đen .

Trong đêm đen , lại càng khó khăn trong việc tìm kiếm .

Nhưng với trách nhiệm cao , lòng yêu thương đồng đội vô bờ bến , rất nhiều anh em đã được tìm thấy , được đưa về yên nghỉ trong vòng tay yêu quý , nơi đất mẹ , Tổ quốc kính yêu .

Tất cả các đơn vị , lại bắt tayngay vào củng cố tổ chức , củng cố ý chí anh em .

Họp hành , rút kinh nghiệmtrận đánh .

Cơ quan Tham mưu , Tác chiến Sư đoàn , Trung đoàn lại tiếp tục lậpphương án mới , tấn công tiêu diệt địch ở đây .

Mọi việc cho trận đánh mới , được chuẩn bị hết sức khẩn trương và bí mật .

Từng Đại đội , từng chiến sỹ , đã được học tập , quán triệt ý nghĩa và thời cơ của trận đánh này .

Chúng ta tổ chức đánh sớm ngày nào , càng tốt .

Vì tận dụng được yếu tố bất ngờ .

Pọn Pốt tưởng ta sau trận chiến khốc liệt sẽ phải củng cố , nghỉ ngơi dài vì đã mệt sức .

Chính vì lý do lớn đó nên BCH Sư đoàn , đôn đốc các đơn vị .

Quán triệt , động viên anh em cán bộ , chiến sỹ phát huy truyền thống của đơn vị , truyền thống của QĐVNAH và cao hơn nữa , là truyền thống đánh giặc .

Chống ngoại xâm của cha ông ta , dân tộc ta .

Vì độc lập , vì tự do của đất nước , nhất là ngày nay , chúng ta là bộ đội cụ Hồ .

Thì truyền thống đó ngày càng được phát huy hơn , tỏa sáng hơn .

Lúc này , chúng ta đã hiểu : cuộc chiến này , không phải là mâu thuẫn nhỏ , về tranh chấp Biên giới đơn thuần nữa .

Sâu xa là sự phản động XHCN , của tập đoàn phản động Pôn Pốt Iêngxari .

Sau nó là chủ nghĩa bành chướng .

Nên chúng ta giờ đây , phải xác định rõ kẻ thù của đất nước , của dân tộc trong giai đoạn mới .

Mà bọn Pốt chỉ là tên lính xung kích v.v....

Qua học tập chính trị , tinh thần cán bộ , chiến sỹ lại được nâng cao , những mất mát hy sinh của đ/c , đồng đội , là việc phải có trong chiến tranh .

Sự đổ máu này , hy sinh này sẽ được khắc ghi trong sử vàng : cứu nước , giữ nước của dân tộc .

.

Qua học tập , những nặng nề sau trận đánh ngày 8/4 như được giải tỏa .

Cán bộ , chiến sỹ , lại gấp rút chuẩn bị tác chiến bổ xung trang thiết bị đạn dược v.v.....Riêng về quân số thì sử dụng lục lượng hiện có .

Động viên 1 số ae phía sau phục vụ chiến đấu về các đ/v trực tiếp chiến đấu .

Một số ae trận trước bị ốm ,nay nếu khỏi thì cũng đượng động viên tham chiến .

Nên quân số so với trận trước cũng ko chênh lệch quá nhiều .

Mục tiêu trận đánh này , không rộng như trước .

Mà chủ yếu là tập trung đánh , tiêu diệt địch ở 2 điểm cao Lục Sơn ( núi đất ), và CúpPô .

Còn mục tiêu Thị Vạng , và Địa Tạng thì chủ yếu dùng pháo binh chế áp .

Về cách đánh vẫn theo phương án mật tập , tới vị trí thuận lợi và đợi giờ G .

Độ hình tấn công của các đ/v cùng TTG quyết tâm phải tiêu diệt , chiếm được tuyến phòng thủ 1 của Pot .

Nếu có cơ hội thì tiến công làm chủ các điểm cao .

Giờ G được ấn định là 4h45 ngày 12/4/78 tức là sau trận đánh được 4 ngày.

Đây thật sự là một quyết tâm cao , một đòn đánh táo bạo , bất ngờ của tagiành cho Pốt .

Mọi chuẩn bị được b/c đãnhanh chóng hoàn tất .

Giờ G đang tới dần !

Đúng 4h45' ngày 12/4 tất cả các trận địa pháo của Sư đoàn , của QK9 lại dồn dập trút đạn xuống các trận địa của Pot .

Đã rút kinh nghiệm trận đánh trước .

Nên lần này pháo binh , chỉnh điểm bắn " trần" từ dưới chân núi của các cao điểm lên trên .

Trong lúc pháo chuyển làn , thì bộ binh cùng TTG dũng mãnh lao lên , tiến công địch .

Mỗi Trung đoàn , sử dụng 2 Tiểu đoàn làm 2 mũi đột kích .

Còn một Tiểu đoàn , làm lực lượng dự bị .

Trung đoàn 273 sử dụng Tiểu đoàn 1-3 là 2 mũi tiến công .

Tiểu đoàn 2 làm Tiểu đoàn dự bị .

Trước sự tiến công dũng mãnh của bộ đội .

Mũi của tiểu đoàn 3 , đến 6h30 đã chiếm được tuyến phòng thủ số 1 của Pốt .

Đại đội 3 tiểu đoàn 1 dưới sự chỉ huy của đ/c Nguyễn Văn Phô , là mũi nhọn dũng mạnh tiến công .

Cũng đã nhanh chóng chiếm được tuyến phòng thủ ngoài .

Mọi người nhanh chóng củng cố hầm hào , chốt lại luôn vị trí .

Làm bàn đạp cho các Đại đội đánh phát triển mở rộng .

Rút kinh nghiệm trận trước .

Trận này , TTG chỉ tấn công theo bộ binh 1 đoạn .

Rồi dừng lại , dùng hỏa lực chỉnh bắn các mục tiêu , các ổ đề kháng của Pốt .

Hỗ trợ cho bộ binh rất hiệu quả .

Như vậy , TTG cũng tránh né được vũ khí chống tăng b40 , b41của Pốt .

Với cách đánh này , TTG phát huy được hỏa lực mạnh của mình .

Đến 8h sáng , các mục tiêu của kế hoạch được hoàn thành .

Xác địch chết nằm ngổn ngang , dọc các bờ công sự chiến đấu , trên các thông hào lên tuyến phòng thủ trên cao .

Bàng hoàng trước sự tấn công của ta .

Bọn Pốt từ tuyến một rút lên tuyến phòng thủ 2 , bắt đầu chống trả quyết liệt .

Các loại pháo của chúng ờ phía sau , bắt đầu đã " mở mồm" , chi viện hỗ trợ cho bọn chốt phía trước .

Chúng cũng sử dụng các điểm đặt pháo khác nhau , nhưng cũng bắn tập trung vào các mục tiêu , và trận địa ta vừa chiếm được .

Nhưng điểm nổ vượt tầm vào khu vực bãi trống cũng nhiều .

Nghe đạn nổ đầu nòng ở các phía , thấy thằng này cũng giỏi phân tán hỏa khí .

Theo cách dùng binh rất bài bản là :" hỏa khí phân tán - hỏa lực tập trung".

Anh em lợi dụng được hầm hào của pọn Pốt .

Nhưng điều phải đào đắp , chỉnh sửa để quay lại hướng xạ kích .

Một số anh em bị thương , hay hy sinh khi xung phong .

Được nhanh chóng chuyển về phía sau .

Một số anh em mới bị thương do pháo cối , thì được tạm thời băng bó sơ cứu tại chỗ .

Chưa đưa về sau ngay được , vì bọn Pốt đang "mưa đạn" khắp các nơi .

Chúng đang nghĩ là có bộ đội mình ở khu vực bãi trống và rừng tràm như lần trước .

Làm cản trở đường chuyển thương của anh em về phẫu .

9h30 lệnh tiến công đánh chiếm tuyến phòng thủ 2 của Pốt .

Từ những vị trí của tuyến phòng thủ 1 .

Các chiến sỹ lại bật lên khỏi công sự tiến công .

Tiến hô xung phong vang trời .

Nhưng địa hình hiểm trở , độ dốc cao , không phù hợp với tiến công ồ ạt .

Bọn Pốt ở trên cao , chúng có địa thế , vị trí phòng thủ vô cùng thuận lợi , điên cuồng chống trả .

Xả đạn vào đội hình tiến công của ta .

Bọn pháo cối phía sau , cũng đã hiệu chỉnh tầm bắn .

Nên chúng đã chặn được đợt tiến công của các đơn vị .

Các mũi tiến công khựng lại .

Anh em lợi dụng thông hào và hầm hố ẩn lấp tránh đạn rồi rút về tuyến phòng thủ 1 của Pốt .

Pháo binh của Sư đoàn , tìm bắn "phản pháo" vào các trận địa pháo cối của Pốt , ở phía sau .

Trong lúc các trận địa pháo của chúng bị khống chế .

Các đơn vị nhanh chóng đưa anh em thương binh tử sỹ về sau .

Và tổ chức rút dần lực lượng về chốt tại biên giới .

Đúng 15 h pháo binh , cả pháo cao xạ 37ly 2 nòng , đồng loạt bắn phá vào các tuyến phòng thủ 2 - 3 của Pốt .

Gìm đầu chúng xuống , để cho các mũi tiến công ta nhanh chóng rời khỏi trận địa .

Kết thúc trận tiến công chớp nhoáng , gây cho Pốt nhiều tổn thất và bất ngờ .

Bất ngờ khi bị tiến công .

Bất ngờ khi bộ đội ta rời khỏi trận địa .

Trận đánh này , trận thắng này của ta làm cho bọn Pot vô cùng cay cú .

Chúng dùng pháo , cối và cả DKZ bắn "cầu vồng " sang Hà Tiên liên tục .

Chúng ta cũng dùng phảo , cối đáp trả rất áp đảo , làm cho bọn Pot càng cay cú hơn .

Mấy ngày tiếp theo , ngoài lực lượng chốt .

Đại quân của Sư đoàn rútsang bên kia sông .

Sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới .

Trong mấy ngày tiếp theo , chiến sự 2 bên vẫn ở thế đấu pháo cối qua lại .

Trong một lần " đấu cối " 82 ly với K .

Khẩu đội cối của Tiểu đoàn 3 bị trường hợp không phóng được đạn .

Anh em làm các động tác xử lý đạn ko phóng .

Vẫn ko có hiệu quả .

Trung đội trưởng , chuẩn úy Bùi Minh Giảng , sốt ruột , ghé mắt vào nòng súng nhìn quả đạn .

Đúng lúc đó thì oàng ...quả đạn phóng lên .

Khuôn mặt đ/c Giảng không còn nguyên vẹn .

Trái đạn đã mang theo máu và thịt da anh bay lên trời cao rồi nổ nơi trận địa quân thù .

Đ/c Giảng đã hy sinh trong tiếc thương .

Anh ngã xuống trong vòng tay của đồng đội .

.

Lúc này , tuyến Biên giới Tây Nam , khu vực Tây Ninh lại vô cùng ác liệt .

Bọn Pốt đã đưa nhiều Sư đoàn dự bị , ra áp sát Biên giới Tây Ninh .

Khu vực đường 1 huyện Bến Cầu , đến đường 24 từ bến Sỏi sang .

Các Sư đoàn 7 - 9 cùng các đơn vị của tỉnh đội Tây Ninh chống đỡ rất khó khăn .

Chúng vẫn với suy nghĩ ngông cuồng là sẽ chiếm 2 huyện Bến Cầu , Châu Thành .

Làm bàn đạp tấn công thị xã Tây Ninh .

Sư đoàn được lệnh lật cánh , quay lại Biên giới Tây Nam hướng Tây Ninh .

Trung đoàn 266 ở lại bảo vệ Hà Tiên , thay cho trung đoàn 270 .

Đúng ngày 17/4 Trung đoàn 273 - 270 cùng các Tiểu đoàn trực thuộc lên xe cơ động về Tây Ninh .

Hà Tiên mảnh đất , địa danh đẹp tuyệt vời .

Núi non , sông nước , biển xanh , hòa quyện cùng đất trời bao la tạo lên vẻ đẹp mê hồn đắm say lòng người .

Ngồi trên xe , qua những vùng đất , những nghĩa trang liệt sỹ .

Những nấm mồ đất mới cỏ xanh chưa nhú .

Trong tôi như vang lên câu hát : " Hà Tiên mến yêu đẹp như xứ thơ - xa cách tôi còn nhớ ...

" Vâng chúng tôi nhớ , rất nhớ vẻ đẹp mê hồn của Hà Tiên .

Nhớ hang Thạch Động , nhớ bãi biển Mũi Nai .

Nhớ lăng Mạc Cửu .

Nhớ những trận đánh hào hùng và bi tráng .

Nhớ , rất nhớ tội ác của bọn diệt chủng Pôn Pốt Ieengxaarri , đã tàn sát dân lành ở ấp Việt Nam .

Và nhớ , nhớ các anh em , đồng đội tôi nằm đây .

260 nấm mồ cỏ non chưa nhú .

Các anh sinh ra và lớn lên ở khắp miền đất nước .

Đã về đây diệt quân thù .

Đã anh dũng hy sinh tuổi trẻ để bảo vệ non sông đất nước .

Nơi cực Tây của tổ quốc .

Các anh nằm đây , trong vòng tay của đất Mẹ kính yêu .

Có trời cao trong xanh .

Có sóng biển , ngày đêm vỗ về ôm ấp như lời ru của Mẹ .

Ru những đứa con hiếu thảo , anh hùng liệt sỹ của Tổ quốc vào giấc ngủ ngàn thu .

Các anh yên nghỉ .

Xin gởi tới các anh bông hoa tươi thắm .

Nén hương trầm , để tưởng nhớ và chia xa các anh .

Chúng tôi lại đi , lại đi tiếp chặng đường binh nghiệp đang còn dang dở .

Đi đến nhưng nơi còn bóng quân thù .

Năm 2005 .

Sau 27 năm , tôi mới có dịp cùng vợ và cùng một số gia đình anh em đồng đội .

Quay lại thăm Hà Tiên .

Đến những vùng đất xưa .

Đất đã hồi sinh ,những thế hệ mới đã trưởng thành .

Nhịp sống sôi động , cửa khẩu Xà Xía đông đúc người qua lại bán buôn .

Đứng ngắm nhìn cảnh vật đất trời tôi như vẫn thấy vang dền tiếng súng trận , tiếng hô xung phong và trận chiến hào hùng nơi đây .

Biển vẫn xanh , cảnh vẫn đẹp .

Sóng vẫn xô bờ .

Những ngôi mộ các anh đã được xây đắp , khang trang sạch sẽ .

Tôi đọc tên từng người trên bia mộ , mà thấy lần lượt các anh hiện về .

Vẫn trẻ trung hùng tráng như ngày nào .

Các anh sống mãi , trẻ mãi với thời gian , với non sông đất nước .

Còn chúng tôi đã già , tóc đã đều bạc hoa dâm .

Màu của gió sương , phong trần .

Dù cuộc sống có phong ba , có chìm nổi thế nào .

Chúng tôi vẫn sống như ngày xưa , cùng các anh đã từng sống .

Để góp phần dựng xây nước non vững bền ..

Tôi , Tranphu341 .Người lính chiến cùng Sư đoàn với các anh .

Viết những dòng này , lời này ,trong trang mạng " máu và hoa " này .

Như thay mặt các anh em đồng đội đangsống .

Gửi tới các anh vòng hòa tươi , nén hương trầm , lời tri ân .

Để tưởng nhớ các anh , vớilòng nhớ nhung và biết ơn vô bờ bến .��

Toàn bộ đội hình Sư đoàn ( thiếu E266 ) trở lại địa bàn quen thuộc Tây Ninh .

Sau hơn 4 tháng dong duổi , đánh địch dọc biên giới .

Xuống tận Hà Tiên - Kiên Giang .

Trở lại Tây Ninh , khi mà tình hình ở đây đang vô cùng phức tạp .

Các Sư đoàn 9 - 7 cùng các lực lượng bộ đội địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn .

Bọn Pốt đã tung vào hướng này , các Sư đoàn dự bị " thiện chiến".

Chúng vẫn hy vọng , ngông cuồng sử dụng chiến thuật bu bám , lấn dũi .

Chọc phá tấn công đối phương .

Gây cho tình hình Biên giới và cho ta những căng thẳng .

Với ý định lớn là sẽ chiếm 2 huyện Bến Cầu và Châu Thành - Tây Ninh làm bàn đạp vượt sông Vàm Cỏ , tấn công chiếm thị xã Tây Ninh .

Lúc này , tình hình và dư luận Quốc tế vẫn đang bất lợi cho ta .

Chúng được bọn quan thầy bành trướng đứng sau , làm hậu thuẫn và kích động .

Chúng vừa ăn cướp , vừa la làng , vu khống ta lấn chiếm chúng .

Một số nước , kể cả có nước trong phe " XHCN cũ " cũng đã tin lời " la làng" của Pốt .

Góp ý với ta không nên bắt nạt " nước bé" như vậy .

Một số quan sát viên Quộc tế được " gióng dựng" cũng đã tới các vùng miền Biên giới .

Để kiểm chứng .

Vì vậy , chúng ta cũng không thực hiện được ý định " đưa chiến trang sang đất K" nữa .

Được đà , nhất là lại thấy dọc tuyến Biên giới , các lực lượng vũ trang của ta đã rút hết về đúng mốc Biên giới chốt chặn .

Chúng lại càng tin là sức mạnh của chúng là vô địch .

Chúng tăng cường áp sát Biên giới chọc phá , tập kích ta liên tục .

Chúng ta ở vị thế thụ động .

Tuyến Biên giới thì dài , nên đúng là cũng gặp rất nhiều khó khăn .

Thậm chí chúng dùng những phân đội nhỏ .

Đêm đêm , luồn lách giữa đội hình của 2 trung đội chốt .

Rồi bò vào phục kích , bắn loạn xạ .

Gây thương vương vong cho ta .

Rồi lại nhanh chóng lủi về bên K .

Làm cho việc chốt giữ của bộ đội ta rất căng thẳng .

Ở khu vực huyện Bến Cầu , chúng còn tràn sang chiếm cả khu vực Cây Me xã Long Khánh .

Xã Phước Chỉ vv...

Sư đoàn 341 lại trở về chốt giữ ở trục đường 1 và phía Nam , Tây Nam của tỉnh Tây Ninh .

Giáp với tỉnh Long An .

Tiểu đoàn 1 , chốt ở vị trí của khẩu Mộc Bài .

Đại đội 3 của tôi chốt tại Ấp Mồ Côi ngay tại ngã 4 đi ra cửa khẩu , về huyện Bến Cầu và đối diện khu rừng thốt nốt hướng trái Mộc Bài .

Từ vị trí BCH đại đội tới băng qua cánh đồng khoảng 800m , tới bìa rừng thốt nốt là đất K .

Khu vực này chúng bố trí lực lượng rất đông .

Hầm hào kiên cố , cũng là vị trí thuận lợi , của chúng để xuất phát các nhóm trinh sát , hoặc các phân đội nhỏ sang chọc phá ta .

Thời gian này , việc chốt giữ biên giới của ta , chủ yếu là cảnh giới .Quan sát , chủ động phát hiện và tiêu diệt địch .

Chứ chưa sử dụng mìn trongphòng thủ .

Vì cánh đồng lúa này là của dân mình vẫn đang trồng cấy .

Nên bọnPot lẻn sang đây , ko gặp trở ngại hay vật cản nhiều .

Nên chúng lại càng xâmnhập , tập kích ta với mật độ dầy hơn .

Trong những ngày này , các đơn vị của ta chốt giữ rất căng thẳng , mệt mỏi .

Quân số của đơn vị , qua các trận chiến hao hụt rất nhiều .

Thậm chí mỗi trung đội chỉ còn hơn chục tay súng .

Mà vẫn phải đảm nhiệm chốt , giữ địa bàn rộng .

Nên ban đêm phát hiện ra Pốt bò vào tập kích là rất khó .

Đêm ngày 2/5/78 hướng các đại đội của Tiểu đoàn 1 cũng bị Pốt mò vào tập kích .

Đầu tiên , chúng cho một nhóm cách xa khoảng 200m .

Bắn vu vơ vào khu vực chốt đại đội 3 .

Anh em bắn trả .

BCH Đại đội lệnh cho cối bắn đuổi Pốt .

Đ/c Nên liên lạc Đại đội xuống báo cho tiểu đội cối 60 bắn .

Những Mục tiêu , phần tử bắn , đã được chuẩn bị trước .

Nên thao tác bắn rất nhanh .

Đ/c Nên báo xong , không về đại đội ngay , mà ở luôn lại với đ/c Tiến .

Để xem và xin bắn mấy quả cối . ( đ/c Nên và Tiến là 2 cậu cháu ruột , cùng nhập ngũ 7/77 quê ở Thụy Ninh - Thái Thụy - Thái Bình .)

Đ/c Nên vừa thả quả đạn vào nòng .

Toong !

Đạn vừa bay lên .

Chớp lửa đầu nòng súng sáng lòa .

Thì ùng oang – ùng oàng – ùng oàng .

3 phát đạn B40 - B41 của Pốt dập vào ngay vị trí khẩu đội .

Hai cậu cháu cùng hy sinh .

Một đ/c nữa bị thương nặng .

Như vậy là bọn Pốt đã mò sát vào gần khẩu đội cối .

Đợi ta phát hỏa , rõ hẳn M là chúng bắn .

Anh em Trung đội một gần đó nổ súng bắn trả .

Bọn này sau khi bắn xong là cũng " ù té quyền " ngay .

Cùng đêm đó , khoảng 2h sáng .

Cũng có 1 tốp , chúng mò tận vào phục ở con đường lộ , từ ấp Mồ Côi lên Huyện Bến Cầu .

Thấy xe ôtô của ta , chúng phóng mấy quả B40 - B41 , bắn mấy loạt ak .

Trúng luôn xe , làm lái xe và một đồng chí Công an đi áp tải bị hy sinh .

2 đ/c khác bị thương .

Xe này là xe chở tiền mới , của ngân hàng từ Tây Ninh xuống huyện Bến Cầu .

Để đến sáng tổ chức đổi tiền . ( Toàn quốc đổi tiền ngày 3/5/78 ).

Rất may là xe không cháy , chỉ bị hỏng , tiền còn nguyên vẹn .

Đại đội 2 cơ động ra đánh đuổi Pốt .

Cứu chữa anh em bị thương .

Bảo vệ xe , đến sáng mới biết là xe chở tiền .

Việc canh gác đêm , lúc này thật là khó khăn .

Vì bọn này lẩn lũi nhưtrạch .

Ta khó có thể kiểm soát được .

Các bộ phận anh nuôi , y tá , quản lý ,đêm đêm đều phải căng mắt ra canh gác , như một Trung đội chiến đấu thực thụ .Ban ngày thì vẫn phải lo tổ chức 3 bữa cơm canh , nước uống cho bộ đội .

Nên bộphận anh nuôi quản lý rất mệt nhọc .

Tiểu đoàn 1 vẫn chốt giữ ở cửa khẩu Mộc Bài .

2 bên đường 1 .

Đại đội 3 ở ấp Mồ Côi đối diện rừng Thốt Nốt .

Việc để cho Pốt mò sát vào trận địa cối 60 bắn vào khẩu đội làm hy sinh 2 đ/c .

Và phục bắn xe oto chở tiền , là một bài học vô cùng đắt giá .

Tiểu đoàn , Đại đội tổ chức họp , giao ban và các Trung đội , Tiểu đội họp hành kiểm điểm liên tục .

Các đơn vị phải canh gác nhiều vị trí hơn , thời gian canh gác cũng dài hơn .

Cứ 2 người 1 đêm .

Ca 1 từ 6h tối đến 12h đêm .

Ca 2 từ 12h đêm tới sáng .

Các bộ phận phục vụ cũng vậy .

Gác đêm lại đúng như thời gian đầu .

Ca gác 6 tiếng thật dài .

Ngồi thu lu một mình giữa trời đêm , muỗi đốt .

Khổ nhất là muỗi , đuổi mạnh thì không được , sợ lộ .

Lấy khăn mặt khua nhè nhè mãi rồi cũng mỏi tay .

Mà nó cũng chẳng bay đi .

Nó như vào hùa với bọn Pot , bu bám gan lỳ để hút máu người gác .

Anh em ngồi gác , thì phải căng tai , căng mắt ra , nghe , nhìn .

Cúi sát xuống đất , mà nhìn ngược lên .

Để phát hiện ra bóng người trên nền trời mờ mờ .

Hoặc các tiếng động lạ .

Và phải chống chọi ngay chính cơn buồn ngủ của mình .

Muốn căng mắt ra , mà nhiều lúc mắt cứ nhắm lại , gật đầu xuống rồi lại choàng thức dậy .

Gác đêm thường căn cứ thời gian là vị trí di chuyển của thiên nhiên , vị trí của các chòm sao v.v...

Nhưng nhìn mãi , mà cũng không thấy nó di chuyển .

Cứ như là trái đất này ngừng quay vậy .

Rồi nghĩ đủ thứ , nhớ đủ thứ , thèm đủ thứ , từ gia đình , quê hướng , bố mẹ , anh em , người yêu .

Cho đến con gà , con chó .

Cứ như là những thước phim toàn cảnh , của đời mình hiện ra quay chậm vậy .

Nghĩ mãi , tưởng nhớ mãi rồi lại bắt đầu than thân trách phận , đời mình sao hẩm hiu đen bạc .

Rồi tự hỏi sao lại là mình , là chính mình mà không phải là những ai khác .

Biết bao vạn người , triệu người đang sung sướng .

Đang ngủ ngon say , mà mình thì lầm lũi khổ mãi thế này .

Thật bất công , vô lý v.v......

Công việc quản lý ở đại đội của tôi , cũng không có gì đáng nói .

Vì đêm cũng phải canh gác như anh em .

Còn ngày thì vẫn phải lo " cơm dẻo canh ngọt " cho bộ đội .

Về khẩu phần ăn của bộ đội , thì từ khi tôi làm quản lý BCH Đại đội cũng yên lòng .

Đ/c Nông CVT cũng thường hay động viên , về cố gắng của bộ phận của hậu cần .

Đ/c Phô Đại trưởng thì là bạn học cơ khí với tôi từ những năm 68 .

Rồi ra trường về làm việc ở các Công ty khác nhau .

Nhưng rồi lại cũng đi bộ đội 1 đợt .

Cùng 1 Tiểu đoàn , khác Đại đội .

Nhưng cũng cùng là Tiểu đội phó tiểu đội cối 60 .

Tôi c3 đ/c Phô C1.

đ/c Phô hơn tôi 2 tuổi .

Tính tình chất phát , tuổi Dần cầm tinh con Hổ , nên trong sinh hoạt , chỉ huy chiến đấu , rất mạnh mẽ , dũng cảm và dũng mãnh .

Cấp trên chọn thay đ/c Trụ làm Đại trưởng đại đội 3 thật hợp lý .

Bạn bè xưa cũ , nay đ/c Phô làm chỉ huy Đại đội , tôi làm quản lý .Nhưng trong sinh hoạt cũng không vì thế mà nể nang nhau .

Hay làm cho nhau khóxử về vấn đề gì .

Đ/c Phô thường xuống , hoặc mời tôi lên BCH chuyện trò , ônlại những kỉ niệm ngày xưa , hay kỷ niệm quê hương v.v ...

Trong thời gian làm quản lý Đại đội , cùng chẳng có gì đáng nói .

Vì nói gì đi nữa , thì quản lý Đại đội , hay anh nuôi có những vất vả riêng .

Nhưng so với lính chiến thực thụ , thì cũng vẫn không vất vả bằng .

Tôi vẫn đôn đốc tiểu đội nuôi quân , làm tốt công việc phục vụ đơn vị .

Song , có một lần chính cái công việc tưởng chừng rất đơn giản này .

Đã gây nên một việc mất đoàn kết , giữa tôi và anh Thịnh ở Trung đội 1 .

Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mãi , cái lần va chạm gây mất đoàn kết đó .

Chuyện là như thế này :

Anh Thịnh là Tiểu đội phó , của Tiểu đội 2 , Trung đội 1.

Là lớp lính tháng 10/74 quê ở Nghệ Tĩnh .

Anh Thịnh đã có vợ , có con .

Ngang tuổi với tôi .

Trước khi đi bộ đội , là công nhân một nông trường ở Nghệ Tĩnh .

Anh Thịnh người thấp hơn tôi , nhưng to đậm hơn .

Thường hay để cái chòm râu dưới cằm , trông như chòm râu của con dê cụ , nhưng ngắn hơn nhiều , trông ngộ ngộ rất quậy .

Bình thường , anh em chuyện trò với nhau rất vui , rất tôn trọng nhau .

Vì trong Đại đội , ngoài anh Nông , anh Phô là cán bộ Đại đội ra , thì chỉ còn tôi và anh Thịnh là cao tuổi nhất .

Sau ngày đổi tiền được 2 ngày .

Lúc đó khoảng 8h sáng .

Ai cũng mệt nhọc , vì sau một đêm dài phải canh gác căng thẳng .

Tôi bê cái hòm đạn B40 , đựng giấy tờ sổ sách ra , làm sổ trả phụ cấp cho anh em .

Làm xong thủ tục thanh toán cho Trung đội 1 .

Đang chuẩn bị thanh toán cho Trung đội 2 , thì anh Thịnh tay xách khẩu AK báng gỗ .

Hộp tiếp đạn có 2 băng buột tráo đầu đuôi , cùng mấy anh em nữa chạy lên chỗ tôi .

Cách tôi khoảng hơn chục mét đã chửi mắng tôi tới tấp : Nào là mày là thằng đểu , mày trừ tiền của tao , mày ăn tiền của tao v.v...

Qúa bất ngờ .

Mọi người đang đứng đợi để thanh toán cũng không hiểu có chuyện gì .

Tôi rất bực , nhưng kiềm chế nói : Có gì đấy anh Thịnh ?

Sao anh lại chửi tôi ?

Tôi làm gì anh ?

Trừ tiền của anh ?

Lấy tiền của anh là thế nào ?

Anh bình tĩnh nói xem , chứ không được chửi tôi như vậy .

Nhất là lại động đến gia đình tôi .

Anh Thịnh nói : tại sao mày trừ của tao 8đ .

Tôi nhớ lại ngay việc trừ tiền và nói : 8đ này là trên Tiểu đoàn báo và bắn nợ về .

Có phải hôm ở Hà Tiên , Tiểu đoàn giết lợn , anh với 2 đồng hương ốm ở nhà , nhượng lòng lợn của Tiểu đoàn ăn đúng không ?

Anh Thịnh nói đúng rồi tao có ăn .

Nhưng 3 thằng ăn sao mày lại trừ có một mình tao ?

Tôi nói : anh là người đứng tên mua lòng lợn đúng không ?

Anh Thịnh nói đúng .Tôi nói : vậy thì quân nhu Tiểu đoàn chỉ biết trừ vào tiền của anh , chứ làm sao trừ được 2 người kia mà 2 người kia là ai ?

Anh Thịnh nói nó ở c4 nhưng bỏ về rồi .

Tôi nói vậy bạn đồng hương với anh .

Anh đứng tên mua , anh phải chịu chứ còn kêu nỗi gì ?

Mà anh còn chửi tôi ?

Anh Thịnh vẫn không hiểu , mà vẫn còn tiếp tục : Mày trừ của tao là tao cứ chửi đấy , mày làm gì được ?

Tôi nói : tôi không chấp với anh nữa .

Nhưng anh không được phép chửi tôi .

Càng không được đụng đến gia đình tôi .

Ở đây , chỉ có 2 anh em là cao tuổi .

Anh làm thế , mọi người cười cho .

Anh Thịnh đuối lý , nhưng vẫn làm già .

Tao cứ chửi đấy mày giám trừ tiền tao à ?

Lúc này tôi rất bực tức , cũng không kiềm chế được nữa nói : ông vừa chửi ai đấy .

Anh Thịnh nói : tao chửi mày đấy , tao sợ gì mày .

Và đưa súng cho một anh bên cạnh , rồi xấn xổ áp sát gần tôi .

Tôi lùi lại 2 bước và nói : ông đứng lại , ông mà chỉ tay nữa là tôi không để yên đâu .

Anh Thịnh chắc thấy xung quanh toàn đồng hương , nên lại càng làm già .

Mồm nói : tao cho mày một quả , cho biết mặt và vung tay tấn công về phía tôi .

Bực tức đến uất ức .

Tôi bèn né người tránh , đưa tay trái lên đỡ .

Bước chân phải lên sau Thịnh kéo ngược lại .

Dùng tay phải đẩy mạnh vào ngực Thịnh .

Đúng là một miếng đánh hoàn hảo , mà mấy năm huấn luyện tập mãi .

Không ngờ hôm nay , lại áp dụng với đồng đội mình .

Có điều là tôi đẩy ngã Thịnh , chứ không đánh ngã .

Nhưng Thịnh cũng bị lộn ngã uỵch xuống .

Nếu là thù , là đối kháng thực sự thì đòn đánh này làm đối phương gẫy tay , vỡ quai hàm rồi .

Bất ngờ trước đòn phản của tôi .

Anh Thịnh lồm cồm dậy .

Lại định lao vào tôi .

Lúc này tôi xuống tấn , gằn giọng nói : Đứng im .

Mày mà lao vào lần này tao cho miếng " quật bò" , 7 ngày nữa mày vỡ bao tử chết .

Riêng miếng " quật bò" này , là tôi nghe kể .

Nhưng không hiểu sao lại ứng xử , bốc khoát võ mồn ngay được như vậy .

Chứ tôi có được học miếng đánh này bao giờ đâu .

Nhưng không ngờ , câu dọa của tôi có tác dụng .

Anh Thịnh không nói , không rằng , bỏ đi luôn .

Chuyện là như vậy , nhưng nó cũng là kỷ niệm , không đẹp , không vui ,buồn buồn , thời làm quản lý trong quân ngũ của tôi ở miền BGTN này .

Sau khi điều nghiên kỹ tình hình .

Sư đoàn thay đổi lại cách bố phòng , phòng ngự .

Ta lại quyết định đưa chiến tranh sang đất địch .

Khu vực Cây Me , Xã Long Khánh và tới giáp xã Phước Chỉ .

Lực lượng địch lấn chiếm ta , là Tiểu đoàn 121 thuộc Trung đoàn 182 của Pốt .

Đây cũng là một Tiểu đoàn lỳ lợm của Pốt .

Sư đoàn tổ chức cho Trung đoàn 273 và 270 bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn này .

Và tiến công tiêu diệt địch ở khu vực rừng Thốt nốt .Trước khu vực Tiểu đoàn 1 .

Qua 4 giờ chiến đấu các đơn vị đã làm chủ được các mục tiêu .

Trận này ta thắng lớn , tiêu diệt được hơn 200 tên thu được rất nhiều vũ khí và bắt sống được 14 tên .

Toàn đội hình dâng lên qua BaVét 1 - 2 lập tuyến phòng ngự ở khu vực rừng Sở .

Tiều đoàn 1 chốt ngay tại trục đường 1 sang phía trái rừng Sở .

Như vậy , chỉ trong một ngày tiến công . toàn bộ Sư đoàn đã tiến công và chốt sâu vào đất K từ 5 - 7 km .

Các đ/v được lệnh củng cố hầm hào , chốt giữ đánh địch lâu dài tại đây .

Lúc này , mùa mưa đã đến .

Những cơn mưa đầu mùa ào ào trút nước .

Nắng mãi , được mưa đất trời hồi sinh mát mẻ trở lại .

Anh em tranh thủ tận dụng các nhà bỏ hoang , làm các điểm chốt giữ .

Rất khẩn trương củng cố hầm chiến đấu , hầm ngủ , nghỉ v.v... tạo nên một thế phòng thủ liên hoàn vững chắc .

Mưa .

Mưa mỗi lúc mỗi nhiều .

Có ngày mưa triền miên .

Cũng không ai nghĩ được rằng , mưa , mưa đến nước nhiều , cũng đồng nghĩa với việc khó khăn , phức tạp cho việc chốt giữ .

Vì ở đâu cũng có nước , những cánh đồng khi cạn ngày nào .

Giờ đây đã trắng băng toàn nước .

Việc di chuyển , chốt giữ rất phức tạp .

Vì hầm nào cũng có nước , đất khô là vậy , khi được ngấm nước , tơi ra thành bùn nhão nhoé .

Những chỗ còn lại cao ráo , anh em ta trú , chốt , thì lại cũng là mục tiêu đã lộ , là điểm bắn , điểm tâp kích của Pốt .

Chúng thường xuyên tập kích bằng hỏa lực , vào các đơn vị đóng quân của ta .

Có 2 lần chúng dùng bb tập kích .

Nhưng cả 2 lần đều bị anh em đánh trả , tiêu diệt nhiều tên .

Nên bọn này không giám mò vào tập kích nữa .

Mà chỉ từ xa cầu vồng B41 - DKZ hay cối vào đơn vị .

Trong khi tuyến vành đai chốt giữ của Sư đoàn 341 hướng đường 1 rất chắc chắn .

Thì hướng đường 13 từ bến Sỏi sang .

Sư đoàn 9 đang gặp khó khăn trong chốt giữ .

Bọn Pốt lấn dũi liên tục .

Nhiều điểm chốt phía nam ngã tư Nhà Thương , anh em không giữ được .

Bọn Pốt lấn dũi thành công và tận dụng các điểm chốt chiếm được , tăng cường sức ép vào hướng Sư đoàn 9 .

Trước tình hình đó Sư đoàn341 được lệnh cơ động về hướng đường 13 thay chốt .

Đúng là lật cánh , đổi vị trí chốt cho Sưđoàn 9 .

Ngày 22/5 Trung đoàn 273 bàn giao lại chốt ở khu vực rừng Sở cho F9 .

Phương thức bàn giao chốt là bàn giao điạ bàn từng Đại .

Rồi chuyển quân về tiếp nhận những vị trí của Sư đoàn 9 .

Tại địa bàn mới , các đơn vị nhanh chóng củng cố hầm hào .

Phản kích địch , chiếm lại những vị trí có lợi cho phòng ngự .

Phá thế bu bám của Pốt .

Địa hình ở vùng này có những phức tạp , bất lợi cho ta .

Vì tất cả các vận chuyển tiếp tế súng đạn hậu cần v.v..

đều phải qua phà bến Sỏi sông Vàm Cỏ .

Sông không rộng lắm , nhưng vẫn không có cầu .

Vượt qua sông khoảng 2km , là khu vực Búa Lớn .

Dân cư ở đây thưa thớt .

Phía bên phải đương là khu vực rừng Hòa Hội , rừng cây bám sát trục đường 24 ( ? ) của ta .

Nối sang bên K là trục đường 13 của Pot .

Khu rừng Hòa Hội rộng lớn , lấn cả sang đất K .

Các đơn vị chốt giữ ở phía Nam ngã tư Nhà Thương .

Giáp gần Chóp Sư đoàn 7 chốt giữ tới rừng Hòa Hội .

Việc tiếp tế , chủ yếu bằng con đường độc đạo .

Là đường 13 .

Lúc này đã nhão nhoét , anh em công binh phải chặt hàng ngàn , hàng vạn cây gỗ tròn bằng bắp chân , bắp đùi .

Để rải ngang , lót đường cho xe ôtô đi qua .

Các hậu cứ của Trung đoàn , Tiểu đoàn , các Đại đội đều dựng lều trại ở Búa Lớn .

Hàng ngày anh em tiếp phẩm phải về khu vực này , hoặc bên kia bến phà , khu vực chợ Long Xuyên mua thực phẩm cho bộ đội .

Việc đi lại về phía sau hay sang chốt .

Thường là đi nhờ các loại xe ô tô , chở vũ khí súng đạn sang .

Mỗi lần đi xe là một lần nhớ đời .

Vì xe chạy nhích từng tý một , để vượt qua chỗ " batile" trơn trượt , hay những ổ voi , ổ gà đầy nước , đầy bùn .

Mọi người đều phải đứng , bám vào thành xe , nhún nhẩy theo từng nhịp xóc của xe .

Chứ không ai ngồi được trừ lái xe .

Nhìn anh em lái xe cũng thật vất vả .

Xóc nhiều , làm anh em ngồi không vững .

Nghiêng sang phải , nghiêng sang trái , hoặc xóc nhẩy lên đầu đập cẩ lên trần cabin .

Hai tay vẫn phải cầm chắc vô lăng , để điều khiển con " ngựa bất kham ".

Đúng ra là : " con đường bất kham này".

Khi Tiểu đoàn , Đại đội đã tổ chức chốt giữ vững trãi .

Bọn Pốt không bu bám nhiều như trước nữa .

Tôi vẫn làm quản lý của Đại đội .

Vẫn tổ chức cơm nước cho anh em trong đơn vị chu toàn .

Chốt giữ ở đây khoàng 10 ngày .

Mộtbuổi sáng , vừa tổ chức mang cơm cho các chốt xong .

Thì đ/c liên lạc xuống báolên hội ý gấp .

Tôi lên gặp BCH đại đội .

Anh Nông , anh Phô đã pha trà ngồiđợi tôi .

Sau tuần nước , anh Nông nói : bây giờ ông lên gặp BCH Tiểu đoàn đểnhận nhiệm vụ .

Hơi bất ngờ , vì có việc gì mà đột xuất vậy ?

Chẳng nhẽ tôiđược ra quân ?

Trong Quân đội , nhất là các đơn vị chiến đấu .

Thì việc gì cũngbí mật , việc ra quân , hay đi học , thuyên chuyển đơn vị , hay được về phépcũng thế .

Tôi đoán là Tiểu đoàn sẽ cử tôi đi học gì đó , hoặc được ra quân vìviệc ra quân giải ngũ của tôi , BCH Tiểu đoàn gần như đã cam kết với tôi , lànếu có đợt ra quân sớm nhất là sẽ giải quyết cho tôi .

Tôi lên BCH Tiểu đoàn .

Anh Chính dvtrưởng vui vẻ bắt tay tôi nói .

Mời ông ngồi đây , đợi ông Thảo C1 lên nữa , rồi ta trao đổi cụ thể .

Tôi hỏi thăm dò : Anh Thảo nào ?

Anh Chỉnh nói Thảo cũng ở cối 60 như ông đấy .

Anh Thảo ở Đại đội 1 , hơn tôi mấy tuổi , gốc người Huế .

Gia đình có bà nội và bố đẻ đều tham gia cách mạng chức vụ rất lớn .

Bố đẻ anh Thảo hy sinh khi đất nước gần ngày giải phóng .

Anh Thảo vẫn thường chơi bóng bàn với tôi .

Là học sinh miền Nam , con em cán bộ ra học ở Quảng Ninh ,( hiện nay đã nghỉ hưu sống tại Huế ) .

Vừa lúc đó thì anh Thảo cũng tới .

Anh Chính rót nước mời 2 anh em rồi nói luôn .

Tình hình chính trị hiện tại có nhiều vấn đề thay đổi .

Cuộc chiến tranh này còn kéo dài , chứ không đơn thuần là mẫu thuấn cục bộ Biên giới nữa .

Mà nó đã manh nha xuất hiện chủ nghĩa bành trướng bá quyền .

Mà bọn Pốt này chỉ là con tốt .

Là tay sai của nó thôi .

Lấy cớ đòi đất , để chọc phá nước ta , chúng vẫn rêu dao là các tỉnh miền Nam là đất K v.v..

Anh Chính nói một thôi một hồi rồi kết luận .

Chính vì vậy nên hôm nay mời các ông lên đây để nhận nhiệm vụ .

Tiểu đoàn nói sơ bộ vậy thôi , anh em mình cùng lứa ( ý nói cùng ngày nhập ngũ) nên các ông còn hiểu hơn tôi .

Các ông lẽ ra bây giờ , cũng phải đảm nhiệm trọng trách như tôi .

Nhưng do sự nhầm lẫn , không may nên hiện tại các anh vẫn như vậy .

Nhưng giai đoạn này , các anh đều biết là số lượng Đảng viên của các Chi bộ , Đảng bộ , đã cạn kiệt .

Lớp anh em 77 - 78 thì chưa có KN chiến đấu nhiều vv...Tôi chỉ gợi ý như vậy , còn bây giờ 2 ông uống nước xong , rồi mời các ông lên BCT Trung đoàn , làm việc với phó Chính ủy Tiến .

Từ đây về Trung đoàn cũng xa , địa hình mới , mỗi ông mang thêm một khẩu AK , cho yên tâm .

Rồi gọi liên lạc mang ra 2 khẩu AK , mỗi người thêm 2 hộp tiếp đạn đã đầy đạn .

Anh Thảo nói tôi có cái này rồi , và lôi ra khẩu K54 mới con nói : hôm trước tôi thu được chiến lợi phẩm nhưng không nộp .

Anh Chính nói : ông cũng cứ mang theo AK cho chắc .

Hai anh em chào DVTr Chính rồi về Trung đoàn bộ .

Từ chốt Đại đội về Tiểu đoàn rồi từ Tiểu đoàn về Trung đoàn .

Khoảng 5km , phải đi qua những cánh đồng nước .

Thấy nói nhiều nơi anh em Sư đoàn 9 còn cài mìn .

Đi khoảng 2km ở đây thật vắng vẻ .

Mới thấy là chốt của mình hiện giờ cũng chỉ cứng " ở vỏ ngoài".

Còn nếu Pốt ủi qua được vào trong thì cũng rất bất lợi .

Các đơn vị hiện tại chỉ còn 1/3 số quân ngày đầu đi Biên giới .

Đơn vị đã được bổ xung mấy đợt quân mà cũng không thấm vào đâu .

Các đ/v kỹ thuật cao như phòng không , tên lửa , cũng đã phải tỉa quân điều động cho các đơn vị Bộ binh .

Anh Thảo nói : dừng lại tập bắn súng K54 đã Phú à .

Và khoanh 1 điểm ở cây thốt nốt rồi lùi lại khoảng 20m cứ thế là tập bắn .

Anh Thảo là người rất thích súng đạn , ở đâu cũng hay đi đánh cá hoặc săn bắn cải thiện cho Tiểu đội .

Hồi ở huấn luyện , Tôi hay sang chơi với anh Phô ( Đại trưởng đại đội của tôi bây giờ ).

Lần nào cũng được chiêu đãi , bằng các loại thực phẩm , tăng gia được do chính anh Thảo đạo diễn .

Khi thịt mèo , khi thì ếch nhái vv...

BCT Trung đoàn , nơi làm việc dưới gầm của 1 căn nhà sàn có hầm bán âm .

Đ/c phó chính ủy Nguyễn kim Tiến đang làm việc với các trợ lý , thấy ae tôi đến dừng lại việc hội ý .

Mời chúng tôi vào và nói luôn .

Ông Phú , ông Thảo ngồi xuống đây .

Sau một hồi vòng vo hỏi chuyện về tình hình đ/v .

Chúng tôi b/c sơ qua về tình hình dưới đại đội .

Đ/c Tiến nghe xong nói ngay , (như là hỏi chúng tôi chỉ là cho có chuyện ).

Tình hình đất nước đang rất gay go , sau chiến tranh lẽ ra chúng ta được về với gia đình vợ con vv...Nhưng rồi ....(.Một lô các nhưng rồi ) .

Đảng bây giờ yêu cầu các đ/c phải phục vụ quân đội lâu dài .

Không thể có chuyện Đảng viên bây giờ ra quân hay chuyển ngành được .

Trong những ngày qua , tôi biết các ông có những thiệt thòi .Có thể là sai sót của tổ chức .

Nhưng các ông , các đ/c đã rất xứng đáng là người Đảng viên ưu tú của Đảng vv...

Phó chính ủy nói thao thao 1 lúc rồi kết luận : 2 ông về 2 Đại đội .

ÔngPhú về làm phó chính trị C1 , ông Thảo c3 .

Các ông vui vẻ mà làm .

Đừng có lýdo lý trấu gì nữa .

Ông Tiến cũng chẳng hỏi chúng tôi có đồng ý ko nữa .

Mà gọiđ/c trợ lý cán bộ ra đưa luôn quyết định giao cho chúng tôi .

Cũng ko bất ngờ .Nhưng cũng rất miễn cưỡng , 2 ae phải nhận qđ và về lại Tiểu đoàn .

Sau cái bắttay hờ hững rất riêng , của phó chính ủy Trung đoàn mà ae thường gọi là " chịTiến ".

Hai anh em trở lại Tiểu đoàn , đưa 2 quyết định cho đ/c Chính .

Đ/c Chỉnh CVtrưởng sôi nổi nói : Các ông cứ giữ lấy .

Đấy là qđ chức vụ còn QĐ quân hàm mấy ngày nữa mới về .

Các anh về đại đội , tổ chức liên hoan chia tay .

Rồi có gì phải bàn giao .

Ngày mai về Tiểu đoàn họp , rồi trở về đơn vị mới luôn .

Tôi rất vui và xin chúc mừng hai anh .

Thoáng trong đầu tôi nghĩ : ông vui là đúng rồi , vì vận động chúng tôi phát triển mãi không được .

Bây giờ trước sức ép nhiều mặt , chúng tôi miễn cưỡng phải nhận chức vụ này .

Bước đường " tiến thoái , lưỡng lang " chứ vui thú gì đâu mà chúc mừng ?

Tôi về Đại đội , mọi người đã biết việc tôi không làm quản lý nữa , mà sang làm cvf c.trị C1 .

Anh Phô , anh Nông pha nước mời tôi và lại cũng vui vẻ chúc mừng , rồi nói luôn về công việc .

Bàn giao ngay sổ sách tài chính cho anh Thanh đảm nhiệm .

Mời tôi tối lên ăn cơm liên hoan cùng BCH đại đội .

Ngày hôm sau , tôi cùng BCH Đại đội về Tiểu đoàn họp .

Nghe phổ biến tình hình tác chiến .

Tình hình địch , ta ,và đặc biệt có nói đến tình hình CPC hiện tại .

Chế độ Pốt Pốt IeengXaRi là con bài của Bắc Kinh .

Là chế độ diệt chủng của chủ nghĩa bá quyền .

Nhưng rất vui là tại đất nước này , đã có nhiều lực lượng nổi dậy , phản chiến đảo ngũ chạy sang ta , yêu cầu chúng ta giúp đỡ họ .

Với tinh thần " giúp bạn là tự giúp mình" .

Theo yêu cầu phối hợp , sự thỏa thuận của bạn , trên chiến trường BGTN này chúng ta được lệnh : " Mở rộng địa bàn , mở rộng hành lang , tạo điều kiện liên kết các lực lượng nổi dậy ở nhiều nơi .

Việc nâng đỡ các lực lượng này , liên kết để họ nhanh chóng lớn mạnh là vô cùng cấp bách .

Giúp các lực lượng CM chân chính phát triển".

Qua học tập , nắm tình hình , mọi người ai cũng thấy thoải mái , nhẹ nhõm .

Vì chúng ta đã có hướng , có lối thoát khỏi sự lúng túng về cuộc chiến tranh này .

Vì từ đây , chúng ta có mục tiêu chiến đấu , bảo vệ đất nước và còn có xứ mạng quan trọng là giúp đỡ CM chân chính CPC mới được phôi thai .

Còn trong trứng nước .

Và ta thoát được thế bất lợi cho chúng ta , về dư luận quốc tế đỡ bị mang tiếng là chúng ta là " lấn chiếm" k nữa .

Vì vậy , nhiệm vụ của toàn Sư đoàn là phải phát triển địa bàn .

Mục tiêu là tấn công , tiêu diệt địch .

Với diện sâu khoảng 25 - 30 km .

Kết thúc hội nghị , đ/c Chính giới thiệu và điều tôi về c1 , đ/c Thảo về c3 như trong quyết định .

Như vậy từ ngày thành lập đến nay , trừ Đại đội 4 hỏa lực .

Tôi đã được điều động về khắp các đơn vị trong Tiểu đoàn .

Sau hội nghị .

Tôi về luôn đại đội 1 .

Tiểu đoàn 1 , Trung đoàn 1 , Sưđoàn 1 ( Sư đoàn 341 cũng thường gọi là Sư đoàn 1 ) Như vậy 1 đ/v có 4 số 1 Tứquý đây .

Không biết may rủi thế nào đậy .

Với cương vị mới , một cương vị màlẽ ra năm 74 tôi đã ở vị trí này , cương vị này .

Thoáng nghĩ đi như vậy rồilại nghĩ lại .

Đời binh nghiệp chưa biết thế nào là may , là rủi cả ...có lẽ phảiđợi hết chiến tranh mới biết được may rủi thế nào ?

Không có thời gian nghĩngẫm nhiều nữa .

Mọi người lại chuẩn bị cho một trận tấn công luồn sâu mới .Với biết bao sự bận rộn trước trận đánh , mà những người lính người cán bộ phảinắm bắt , phải chuẩn bị .

Ban chỉ huy đại đội 1 như vậy cả tôi nữa là đủ 4 người .

Đại đội trưởng , là anh Nguyễn Minh Đạc Trung úy quê Đông Triều – Quảng Ninh cũng lính 5/72 với tôi .( nay đại tá nghỉ hưu ở quê) Đại đội phó , là anh Phạm Văn Trọng , Thiếu úy , lớp lính 71 quê ở Hà Bắc .

Anh em hay gọi là " Trọng điếc" vì anh là thương binh , bị nặng tai lúc nghe rõ lúc không .(từ năm 80 đến nay tôi không gặp lại được nữa).

CV trưởng là anh Nguyễn Tiến Công Trung úy , hơn tôi một tuổi , là lớp lính 71 .

Ở đại đội thông tin sau lên ban tổ chức chính trị E .

Cũng mới chuyển về được 2 tháng .( Anh Công hy sinh trận 18/7 tại khu vực SenKe không lấy được thi hài .

Trận đánh ác liệt này TP xin kể sau).

Và tôi CVphó , liên lạc đại đội có 2 đồng chí .

đ/c Hiệp lính 78 quê Vĩnh Phúc,.

đ/c Mai lính 77 quê Thanh Hóa .

Ytá đại đội có 2 đ/c .

Lúc này , đơn vị đã được bổ xung .

Quân số của đại đội là 65 anh em .

Việc nắm tư tưởng , động viên tinh thần chiến đấu , giáo dục ý thức , kỷ luật v.v.. những việc này với tôi cũng không có gì mới lạ .

Tôi nhanh chóng hòa nhịp vào công việc của đơn vị .

Thường xuyên xuống các chốt của các Trung đội , chuyện trò , nắm tình hình và để gần gũi tình cảm ae tạo điều kiện thuận lợi cho chỉ huy .

BCH đại đội 1 với tôi , anh em cũng đã biết nhau từ trước nên cũng không có gì phải tìm hiểu nhiều .

Bộ 4 chỉ huy như vậy là rất vui , rất hợp đều là "trai tân" cả .

Nên sự vấn vương quê nhà cũng giống nhau .

Hay kể những chuyện về cuộc sống ,yêu đương , hay tìm hiểu về phái nữ vv...

Về đại đội 1 được mấy ngày , đơn vị chuẩn bị đi chiến đấu .

Theo phương án toàn Trung đoàn luồn sâu vào đất K , Lần luồn sâu này ko phải chỉ có các đ/v chiến đấu mà gần như là tất cả Trung đoàn .

Các cơ quan tham mưu , chính trị , Hậu cần , quân y đều phải đi luồn sâu cùng Trung đoàn .

Quãng đường luồn sâu là khoảng 20km .

Phải qua nhiều làng xóm ,các vị trí chốt giữ của Pot .

Địa hình bằng phắng , ruộng nước là chính , nên việc luồn lách là rất phức tạp .

Rồi chốt giữ , đánh tiêu diệt địch trong phạm vi này .

Xây dựng tuyến phong ngự mới .

Mở rộng địa bàn như đã nói ở trên .

Theo thông báo của trinh sát .

Khu vực tác chiến luồn sâu có rất đông lực lượng của Pot .

Có cả đơn vị thiết giáp của Pot nữa .

Các đ/v phải chuẩn bị chiến đấu thật kỹ càng .

Vì càng vào sâu đất địch , thì khó khăn phức tạp cho ta càng lớn .

Tiểu đoàn 3 đi đầu đội hình , sẵn sàng tiêu diệt TTG của Pot .

Mọi chuẩn bị đã hoàn tất .

Giờ xuất phát cho trận đánh là 7h tối ngày 14/6/78 .

Phấn đấu tới M và giờ G là 5h sáng ngày 15/6/78 .

Khoảng 2h chiều ngày 14/5 .

Thật bất ngờ , khi đ/c liên lạc Tiểu đoàn ,dẫn Má Mỹ đến .

Cảm động , thật cảm động khi Má Mỹ ở Thường Thới Tiền , HồngNgự , Đồng Tháp .

Cùng 2 Má nữa , lặn lội gần 500km về Sài Gòn .

Rồi lên Tây Ninh , rồi thuyết phục thế nào ,mà các đơn vị ở cửa khẩu đồng ý cho các má sang tận chốt bên đất K .

Thăm cácanh em , khi trước đã ở nhà các má .

Gặp má thật mừng , má ôm tôi khóc , nói lànhớ các con đến độ không chịu được .

Nên rủ nhau đi tìm đơn vị của tôi .

Má vừakhóc vừa kể là : lên xã xin cái giấy đi đường mà " chúng nó" không cho . ( ýnói là cán bộ xã )Không cho các má vẫn cứ đi .

Thật tuyệt vời cho má Mỹ và các bà Má miền Nam .

Những ngày tháng , mà chúng tôi chiến đấu bảo vệ Biên giới , bảo vệ nhân dân ở Hồng Ngự .

Sư đoàn và trực tiếp là chúng tôi .

Những người lính chiến xa nhà .

Được sự chăm sóc rất tận tình , của bà con và nhân dân nơi đây .

Coi chúng tôi như những người thân yêu ruột thịt của mình .

Sự dũng cảm chiến đấu , hy sinh của những người lính , người con " xứ Bắc" .

Đã để lại cho nhân dân , những tình cảm sâu đậm , thiêng liêng hơn cả tình quân dân cả nước .

Tôi cũng không thể ngờ được rằng ; mình lại được nhận những tình cảm của Má của bà con Đồng Tháp , giành cho mình lại lớn lao sâu đậm như vậy .

Má mang quà cho chúng tôi đủ thứ .

Nào là thuốc rê , đôi gà .

Cả một đùi thịt chó nữa .

Các Má kể mua ở Chợ Lớn Sài Gòn xách đi .

Các Má biết lính Bắc , ưa món thịt chó .

Chỉ có điều là không có xị đế .

Má nói là : tao có mang cho chúng bay mấy xị đế rồi .

Thằng Hai nó nấu , mà ở cửa khẩu chúng nó giữ lại ráo chọi .

Nói là ko được mang rượu cho bộ đội ở chốt .

Tôi cười nói : chúng con không được uống rượu đâu , Má đừng buồn .

Thực lòng , gà , thuốc rê thì quá quý rồi .

Còn món thịt chó thì ai cũng sợ .

Vì lý do tối nay chuẩn bị đi luồn sâu , chiến đấu .

Mà trước khi đi chiến đấu , chén thịt chó là hay " đen lắm".

Khi ở Hồng Ngự , cũng ở Đại đội 3 .

Biết lính ta thích ăn thịt chó , một Má đi mua hẳn một con chó về cho lính ta ăn .

Trong số cùng ăn có cả đ/c San đại đội phó nữa .

Ngay đêm đó , anh em cũng phải đi tác chiến , đánh địch ở khu vực đồn Mỹ Cân .

Thì Trung đội này , bị hy sinh , bị thương 6 anh em .

Đ/c San cũng hy sinh .

Nên anh em rất sợ sài thịt chó trước khi ra trận .

Việc xử lý cái đùi chó này , là cả một vấn đề .

Làm sao để Má không biết cái suy nghĩ kiêng " đen " ấy .

Mà ngay anh em cũng không phải nghĩ ngợi , áy náy gì trước khi ra trận .

Tôi bèn nói đ/c Đấu , anh nuôi trưởng .

Cứ mang chế biếN , đun nấu bình thường cho Má biết .

Giết gà cho mọi người ăn .

Khi ăn cơm cùng Má thì chỉ có món gà rang .

Còn thịt chó để mâm ngoài , rồi bí mật đổ đi .

Như vậy là vẹn cả đôi đường .

Hai má con truyện trò mãi .

Má kể đủ thứ chuyện ở quê từ khi đơn vị chúng tôi đi .

Khi biết là đơn vị xuống chiến đấu ở Hà Tiên , bị hy sinh nhiều . má cứ khóc nức nở .

Nắm chặt tay tôi như là người Mẹ , nắm chặt tay đứa con ruột của mình . không muốn rời xa .

Thật buồn , khi má vừa đến , thì đơn vị lại phải đi tác chiến .

2 Má con gặp nhau có mấy tiếng .

Tôi dẫn má lên chỗ cứ của Tiểu đoàn .

Chia tay các Má và quay về Đại đội , làm công tác đôn đốc cho trận luồn sâu chiến đấu đêm nay .

Các má ở lại , còn đơn vị đến giờ xuất quân .

Tiếp tục luồn sâu , pháttriển đánh địch .

Thế rồi 17 năm sau tôi mới gặp lại má .

Mới được nghe Má kể chuyện khi chúng tôi đi .Các má ở lại , ngủ hầm với đơn vị 2 ngày .

Để theo dõi trận đánh và xem tôi ,chúng tôi , sống chết thế nào .

Rồi mớitrở lại quê nhà .

Đúng 7h tối , Trung đoàn xuất phát .

Trinh sát của Trung đoàn đi trước .

Trực tiếp chủ nhiệm trinh sát Sư đoàn đ/c Tô Ngọc Roan cùng đi với lực lượng này .

Tiếp đến vẫn là Tiểu đoàn 3 .

Đại đội 9 dẫn đầu .

Rồi đến Tiểu đoàn 1 .

Tiếp đến các đơn vị trực thuộc , các cơ quan Tham mưu , Chính trị , Hậu cần .

BCH Trung đoàn rồi đến Tiểu đoạn 2 đi cuối khóa đuôi .

Chưa bao giờ đội hình luồn sâu , phát triển vào đất địch đông đủ đội hình như lần này .

Những lần trước , thì chỉ toàn lính chiến .

Còn các đơn vị phục vụ như quân y , hay các cơ quan của Trung đoàn ở phía sau .

Khi thế trận đã ổn định , thì các lực lượng sau mới phát triển sang .

Còn lần này thì khác .

Anh em luồn sâu đánh địch với khí thế mới .

Vì qua học tập , ai cũng nghĩ là lần này luồn sâu đánh địch , là gặp ngay các lực lượng nổi dậy của bạn .

Nên trong mỗi người lính , có thêm cái cảm giác tưng bừng hơn , sôi nổi và lạc quan hơn .( giống như BinhYen nói lính ta cũng rất hay cả tin vào sự lên dây cót , tuyên truyền của cấp trên .)

Đường hành quân lại điệp khúc lúc đi , lúc dừng .

Dò dẫm theo anh em trinh sát .

Lúc qua các Phum lưa thưa vài ba nóc nhà sàn hoang vắng , lúc đi thì theo bờ ruộng .

Nhưng chủ yếu là lội nước lõm bõm là chính .

Được cái nước ở đây không sâu , ko bẩn , ko có mùi khó chịu .

Không như lội sình lầy lần luồn sâu hồi 6/12/77 ở Phước Chỉ .

Tốc độ di chuyển của cả một đội hình lớn , không thể nhanh .

Mà lại phải đi vòng vèo , tránh lé các chốt của Pot , bẻ góc phương vị để hướng tới các mục tiêu .

Thỉnh thoảng ỏ các rìa Phum , gặp các chốt lẻ của Pốt .

Chúng thấy động bắn vài loạt đạn vu vơ .

Đạn đỏ bay vụt lên trời xé tan sự tĩnh lặng của đêm đen .

Có nhiều viên xoẹt ngang tầm người .

Rồi lại im lặng 1 cách đáng sợ .

Nhưng những loạt đạn đó , cũng làm cho đội hình hành quân không ổn định .

Mọi người dạt sang phải , dạt sang trái , hay ẩn nấp vào các bờ bụi .

Hoặc theo phản xạ nằm nhanh xuống .

Nhưng chạm nước thì lại bật lên .

Lom khom chịu trận .

Quãng đường tiền nhập cũng đã được dài .

Mọi người cũng đã thấm mệt .

Cái háo hức đi bắt gặp lực lượng nổi dậy ko con nữa .

Vì mọi người cũng đã vỡ ra sự vô lý .

Là ko thế có lực lượng nổi dậy nào ở ngay giữa đội hình của Pot thế này được .

Mà hiện tại cũng vãn chỉ là trận luồn sâu đánh địch ,mở rộng địa bàn tác chiến thôi .

Khoảng 2h sáng .

Bất ngờ pằng - pằng - pằng .

Pằng - pằng - pằng .

Các loại súng của Pốt nổ dồn dập .

Rồi ùng - oàng tiếng nổ của b41 Nhóm trinh sát đi đầu bị lộ bọn Pot canh gác đã bắn trúng đội hình đi đầu .

Một đồng chí hy sinh .

2 đ/c bị thương .

Đ/c Roan chủ nhiệm trinh sát Trung đoàn cũng bị thương nặng .

Anh em nhanh chóng khênh ra đúng hơn là vác 2 đ/c lùi lại sau .

Ta vẫn ko được lệnh nổ súng .

Đội hình hành quân xáo trộn hỗn loạn .

Các loại súng của Pốt vẫn nhả đạn .

Bắt đầu nhiều tiếng ùng - oàng của B40 - B41 bắn vào đội hình của hành quân tiền nhập của Trung đoàn .

Có những tiếng bước chân chạy trong đêm .

Có lẽ là lính Pốt đã phát hiện ra cuộc hành quân lực lượng lớn của ta .

Nên tháo chạy .

Những đơn vị chốt của Pốt , mình đã đi qua , bây giờ cũng bắt đầu chạy ngược trở lại .

Gặp quân ta chúng bắn loạn xạ , để mở đường chạy là chính .

Quân ta vẫn nằm im hoặc ẩn nấp chịu trận .

Khoảng 30 phút sau không gian lại trở lại yên tĩnh .

Khi hành quân , Đại đội 1 của tôi bố trí chỉ huy Đại đội như sau .

Đ/cTrọng cùng đi đầu với Trung đội 1 .

2đ/c cấp trưởng cùng đi với Trung đội 2 .

Tiếp đến là tôi cùng 1 đ/c Mai liênlạc đi cùng Tiểu độ cối 60 .

Lúc bọn Pot bắn vào đội hình thì như vậy , độihình hành quân của các đ/v ko giữ được như lúc đầu nữa .

Mà các đ/v đã chồngchéo lẫn lộn nhau .

Tôi cùng đ/c liên lạc và mấy ae nữa nấp ở 1 bờ đất tránhđạn .

Tiếng súng của Pot đã im .

Lúc này trời đêm vẫn tối mờ , nghiêng mặt nhìnlên .

Xa xa , mờ mờ , vài chuc m có bóng người tiến lại phía tôi .

Tôi thì thàonói ae có người .

Bóng người tiến lại gần , cứ bước vài bước thì lại ngồi xụpxuống quan sát .

Đúng là ko biết chúng tôi đang nằm đây .

Đ/c liên lạc nói Potrồi Chính trị viên ơi .

Để em bắn .

Tôi nói ; Cứ bình tĩnh ko được bắn .

Tôithì thào nếu là Pot thì thằng này đi lạc , có 1 mình ta bắt sống .

Nói vậynhưng tay tôi vẫn mở nẫy khóa súng và gióng vào bóng người di chuyển đến .

Vẫnchưa xác định được ta hay Pot .

Tôi nói đ/c liên lạc tháo xẻng ra , đơi nó đếnthật gần nếu là Pot , sẵn sàng lao ra lấy xẻng đập , bắt sống chứ rất khóat kođược bắn .

Bóng đen tiến lại gần hơn .

Vẫn động tác bước nhẹ mấy bước , rồi lại dừng .

Rồi thấp người xuống , quan sát .

Rồi lại bước tiếp .

Bước chân lội nước thật nhẹ , không phát ra một tiếng động nào .

Quan sát kỹ , thấy bóng đen không đội mũ . ( không có súng khom người như đeo vật gì sau lưng ).

Quái lạ , bộ đội mình thì phải có mũ . ( mũ sắt) Hoặc phải có súng chứ , sao lại đi tay không ?

Mà ở hướng địch thế này .

Tôi thì thào : anh em cứ bình tĩnh , bình tĩnh .

Nói vậy , nhưng tôi cũng đã thấy hồi hộp .

Nếu bắn thì đơn giản quá , còn bắt sống , thì quả là cũng không phải dễ .

Đã có " bài học " dịp trước rồi .

Nhưng tên này , đi lẻ có vẻ tóm được .

Tôi thì thào : đợi thật gần .Tôi sẽ lao lên ôm chặt và đẩy ngã .

Anh em lấy xẻng đập hỗ trợ .

Tôi thoáng qua phương án , thấy cũng hợp lý và đưa súng cho đ/c Mai bên cạnh chuẩn bị tư thế lao lên .

Bóng đen vẫn đang tiến lại gần phía tôi .

Vẫn không hay biết là chúng tôi đang nấp ở đây .

Còn khoảng 10 m rồi 5 m , Thật hồi hộp , thật căng thẳng .

Tôi như đếm từng bước đi của bóng đen .

Quan sát kỹ , tôi nói bộ đội mình rồi .Tôi cầm lại súng quát gằn giọng vùa để cho đối phương nghe .

Ai ?

Bóng người như khựu xuống , tiếng lắp bắp run rẩy .

Tôôi .

Tôôi đây .

Tôi là ai ?

Tôi gằn giọng hỏi tiếp : " Nhật đây" Bác sỹ Nhật đây .

Tôi bật lên bước tới .

Trời bác sỹ Nhật .

Đúng bác sỹ Nhật .

Nhìn rõ cái đầu hói bóng , không có mũ , không có súng ống gì cả .

Đeo 1 cái ba lô bẹp lép sau lưng .

Tôi hỏi : sao bác sỹ đi có một mình ?

Mà mũ bác sỹ đâu ?

Bác sỹ Nhật nói : nó bắn ác quá , đội hình hỗn loạn .

Mạnh ai nấy tìm chỗ ẩn .

Tôi núp ở bờ bụi đằng kia .

Mãi không thấy ai , nên dò dẫm đi tìm anh em .

Bác sỹ Nhật đã bình tĩnh hơn .

Tôi nói : đây là đội hình Đại đội 1 rồi .

Thôi bác sỹ cứ đi với chúng em .

Tôi tháo lấy cái mũ tôi đang đội , đưa cho bác sỹ nói : bác sỹ đội tạm .

Không có mũ nguy hiểm lắm .

Bác sỹ Nhật nói : vậy cậu lấy gì đội .

Tôi nói em không quan trọng lắm .

Sao lúc đó tôi lại pha được câu đùa là :" Tóc em dày lắm" ý nói là bác sỹ hói không có tóc .

Và đội mũ lên đầu bác sỹ Nhật .

Tất cả lại tiếp tục luồn sâu .

Trong đội hình của tôi , bây giờ có thêm cả 1 bác sỹ nữa .

Bác sỹ Nhật năm 1981 được điều lên làm chủ nhiệm quân y Sư đoàn , quêbác sỹ Nhật ở Hải Hưng .

Có điều từ khi ra quân đến giờ , có nhiều lần gặp mặtcựu chiến binh Sư đoàn 341 các tỉnh .

Tôi tham dự cũng nhiều .

Hỏi thăm mãi ,mà không anh em nào biết rõ , bác sỹ Nhật bây giờ ở đâu?

Và cuộc sống thế nào ?

Bắt sống xe bọc thép M113 :

Đội hình hành quân tiếp tục tiến .

Vừa đi , các đ/c cán bộ của từng Đại đội , Tiểu đoàn lại bắt đầu tìm , điều chỉnh , xốc lại đội hình của đơn vị mình .

Gần 4h sáng .

Có tiếng động cơ của TTG .

Tiểu đoàn 3 được lệnh tăng tốc hành quân , vòng tránh hướng có tiếng động cơ của TTG .

Với ý định vòng , bọc bọn TTG .

Các đơn vị không còn có ý thức bí mật nữa , mà vận động nhanh .

Tiếng động cơ của TTG ngày càng rõ .

Chúng di chuyển về phía Bắc ngã ba Săng Ke .

Tiểu đoàn 3 đã vu hồi kịp .

Nhưng cũng đã bị lộ .

Gần chục xe bọc thép M113 tiến về hướng đại đội 9 .

Chúng đã phát hiện có bộ đội ta phục ở đó .

Chúng bắn mấy loạt đạn , rồi bắt ngờ quặt sang trái tăng tốc chạy .

Súng đại liên và 12,8 ly trên các xe , xối đạn về phía anh em đại đội 9 .

Một vài anh em đã phụt B40 - B41 nhưng không trúng mục tiêu .

Một số anh em trúng đạn .

Đại đội 9 vận động nhanh theo xe .

Trận chiến giữa đồng nước , trong đêm mờ sáng , sớm hơn dự kiến .

Đội hình xe bọc thép cũng đã rối loạn .

Mạnh thằng nào thằng ấy chạy .

Chúng quay ngược súng bắn về phía ta .

Nhưng chỉ là bắn uy hiếp để rút chạy đạn đỏ tuôn xối xả nhưng vọt hết lên trời đêm .

Trung đội phó Nguyễn Thanh Bình , phát hiện 1 xe bọc thép chỉ thấy dừng bắn , chứ không di chuyển .

À thằng này liều !

Thoáng nghĩ như vậy .

Nhưng đ/c Bình thấy tiếng máy của xe gầm rất lớn .

Súng 12,8ly trên xe vẫn thùng - thùng - thùng về phía ta .

Nhưng chính họng súng đang đỏ rực , phun đạn lửa kia , lại là báo hiệu sự cố của xe .

Trung đội phó Bình dẫn một tiểu đội vòng chếch sang phải , tránh luồng đạn xối xả của khẩu 12,8ly .

Ùng - oàng .

Tiếng nổ long trời , òa sáng của khẩu ĐKZ trên xe bắn về đội hình Đại đội .

Hướng bên phải Trung đội phó Bình cùng mấy ae vẫn tiền nhập gần xe .

Thằng này như vậy là bị sa lầy xuống mương nước , không lên được .

Phải bắt sống .

Bình ra hiệu anh em không được bắn B40 .

Anh nhằm thằng 12,8ly lia mấy loạt AK .

Bóng thằng Pốt vật ra khẩu 12,8ly im bặt .

Thằng bắn Đk cũng đã nhẩy vào trong xe .

2 - 3 cái đầu thò lên xe bắn ak tới tấp , điên cuồng về phía anh em .

Bọn này cùng đường rồi .

Cả Trung đội tấn công , bắn áp đảo về phía mục tiêu .

Bọn Pốt thụt hết đầu xuống , ở trong xe tung lựu đạn ra .

Lựu đạn nổ rầm rầm quanh xe .

Mảnh bay vèo vèo .

Cái bọn ngoan cố này.

Tiền nhập gần tơi nơi Trung đội phó Nguyễn Thanh Bình rút lựu đạn tung về phía xe .

Lựu đạn vượt nổ bên kia xe .

Bình tung quả thứ 2 trúng xe , lựu đạn rơi được vào trong xe .

Ầm ... lửa chớp lòa , khói trùm lên .

Tiếng súng cũng im bặt .

Tiếng động cơ của xe cũng tắt ngấm .

Anh em nhào cả tới , xác một thằng Pốt to vật vã nằm gục xuống khẩu 12,8 ly .

Khói của thuốc súng vẫn còn vẩn trong xe như những ám khí của thần chết .

Anh em bật lửa soi trong xe , một cảnh tượng hãi hùng .

Gần chục xác Pốt vắt vẻo chết trong mọi tư thế .

Máu bắn đỏ lòm trong xe .

Tin Tiểuđoàn 3 . tiêu diệt và bắt sống được một xe bọc thép nhanh chóng được truyền đi.

Làm khí thế cuộc cuộc chiến sôi động hơn .

Các đơn vị nhanh chóng phát triểntheo kế hoạch .

Nhưng như vậy là giờ G đã sớm hơn dự kiến , kế hoạch bí mậtluồn sâu đợi giờ G nổ súng đã ko thực hiện được .

Các đơn vị chuyển phương án ,chủ động tấn công , đánh vỗ mặt .

Chiếm các vị trí được phân công .

Tiếng súng tấncông vang dội , như đánh thức bình minh .

Không gian trời đất vỡ òa , bởi củatiếng hô xung trận và tiếng nổ của các loại đạn súng .

Lúc này đã là 4h30 sáng, ngày 15/6/78 .

Phía đằng đông trời đã hửng sáng .

Đại đội 1 đang tiến công về phiá XVây Chéc .

Thì được lệnh quay lại về Chốt chặn , bảo vệ xe bọc thép M113 .

Sẵn sàng đánh những lực lượng lẻ của Pốt còn sót lại .

Vòng trở lại khoảng 2 km , tới vị trí xe bọc thép .

Chiếc xe kẹt giữa một mương nước , kích đầu , kích đuôi .

Gần đó , những vết xích xe khác , vượt qua mương nhưng chúng đều đi chéo .

Còn thằng này chắc vội , hoảng quá , nên vượt mương theo chiều vuông góc .

Mương nước trở thành hào , vừa chiều dài xe .

Nên xe không thể lùi , mà cũng không thể tiến được .

Cái kém , cái số không may của nó , đã trở thành cái may của anh em mình .

Nó là cái dấu chấm hết cho số phận chiếc xe .

Cùng những tên lính đi cùng xe .

Chiến công thu được xe bọc thép này , mang một ý nghĩa rất lớn .

Vì TTG của Pốt không nhiều .

Chúng cũng đã xuất kích , chiến với ta vài trận .

Nhưng đa số là ở tầm xa , rồ máy uy hiếp , hay bắn hỗ trợ cho bb .

Dọc tuyến biên giới , chúng ta chưa tiêu diệt , hay bắt sống được chiếc xe nào .

Nơi đây , giữa đồng trống mênh mông nước .

Gần xe có một vài khóm tre gai .

Anh Đạc ctr , nhanh chóng bố trí các Trung đội phòng ngự theo thế chân kiềng .

Sẵn sàng đánh địch ở các hướng .

Vì ở đây sâu đất K .

Đội hình lớn của Trung đoàn đã phát triển vượt lên khu vực SăngKe và XvayChec .

Còn lại Đại đội 1 ở đây , cũng có thể chỉ chốt " ngồi chơi xơi nước" giữa đồng .

Nhưng cũng đã có nhiều bài học , của Đại đội 6 , Đại đội 3 rồi .

Những lực lượng lớn của Pốt , bây giờ mới chạy đến .

Sẽ diễn ra những trận chiến ác liệt của bọn cùng đường tháo chạy .

Nên không ai dám chủ quan , trong việc chuẩn bị hầm hào , ụ súng chiến đấu .

Trời đã sáng hẳn .

Hầm hào , ụ súng chiến đấu cũng đã xong .

BCH Đại độiở vị trí mấy khóm tre .

Tiếng súng của các đơn vị vẫn thấy nổ dồn dập phía xa .Sau khi điểm tâm sáng .

Anh em BCH Đại đội đến chỗ xe bọc thép xem xét kỹ cànghơn .

Xác thằng bắn 12,8 ly còn đó .

Anh Trọng đạp xuống dưới mương .

Trên xe ,khẩu DKZ thật lớn .

Mới bắn được một quả .

Loại DK 106,7 này mình chưa gặp baogiờ .

Thảo nào , tiếng nổ đầu lòng mạnh và ầm vang thế .

Ngó vào trong xe ,đúng là ngổn ngang toàn xác Pốt .

Không đếm được , vì thằng nó đè lên thằng kia, ở nhiều tư thế khác nhau .

Chắc là cả bộ binh đi kèm nên mới nhiều thế .

Mùimáu xộc lên , tanh ngòm , lợm giọng .

Anh Trọng và anh Đạc đi về phía các Trungđội .

Còn tôi và anh Công vẫn trên nóc xe .Anh Công tỷ mỷ nghiên cứu khẩu DKZ ,quay về các hướng rồi nói : lắp bắn thử một quả Phú à .

Tôi nói : mình không quen súng nguy hiểm lắm.

Vì nghĩ ngay đến dịp trước có một đồng chí bắn DKZ75 .

Bắn nhiều , có quảkhông nổ , bèn tháo lắp , chỉnh lý lại .

Cạo lớp thuốc khói ở khu vực Kim Hỏaxong , tiện tay bóp cò ngay .

Ầm .

Quả đạn phụt đi , nhưng lỗ trích khí đằngsau , cũng thổi bay cả cái đùi của đồng chí này .

Mọi người cấp cứu ngaynhưng.đồng chí xạ thủ này cũng ko sống được

Anh Công cũng đã mò mẫm tháo vỏ đạn trong súng ra .

Rồi mở một ống đựng quả đạn khác .

Nhìn quả đạn mới vàng ươm .

Đẹp , nhưng rùng mình bởi uy lực của đạn .

Mới thấy nền công nghiệp chế tạo vũ khí quân sự của Mỹ hiện đại thế nào ?

Tôi cũng ngại cho việc nghịch ngợm súng của anh Công nên tránh hẳn ra .

Theo dõi từng thao tác .

Tôi nói : bộ đội mình cách đây khoảng 2 km đấy .

Anh để chếch súng lên hãy bắn để đạn bay thật xa .

Anh Công làm theo , ghé người vào bóp cò .

Ầm...

Quả đạn phụt bay nên lửa đỏ phục ra đằng sau đúng là 1 quả tên lửa .

Khói lửa của liều phóng òa ra chung quanh .

Thật kinh khủng của loại đại bác không giật này .

Ngớt khói , nhìn anh Công ngơ ngơ .

Tiếng nổ lớn làm anh Công không nghe được gì nữa .

Khoảng 30 phút sau mới gần trở lại bình thường .

Gần trưa , có một nhóm Pốt khoảng hơn chục tên .

Chúng chạy băng qua đồng nước ngang qua Trung đội 1 .

Anh em chủ động bắn trước .

Bọn này cũng bắn vài loạt AK về phía chốt , rồi lại chạy mất tăm .

Không được phép truy đuổi .

Vì bọn này cũng giống như cá đã ở trong lưới quây .

Mấy khi thoát được .

Giữa trời nắng chang chang , chỗ BCH còn lợi dụng được bụi tre gai đỡ nắng .

Còn toàn Đại đội , được phơi giữa trời nắng vô cùng vất vả .

Đến 3h chiều , lệnh của Sư đoàn là : Đại đội 1 bàn giao , hỗ trợ cho lữ đoàn 22 kéo xe bọc thép của Pot về phía sau .

Khoảng 4h chiều , 1 tổ 3 xe bọc thép của lữ 22 đến tiếp thu xe .

Mọi người phấn khởi , vì chuẩn bị thoát được chỗ nắng nôi này .

Anh em lữ 22 xem xét và yêu cầu Đại đội 1 đào bờ mương làm đường cho xe lên .

Và lấy hết xác Pốt trong xe ra .

Anh Trọng , điều động Trung đội 2 gần đó đào đất phía trước và phía sau xe .

Anh em lữ 22 chui vào mở cửa phía sau của xe ra .

Thật kinh khủng , gần chục thằng chết trong xe đủ mọi tư thế .

Chúng đã đen , khói thuốc khói đạn càng làm cho chúng đen hơn .

Ai cũng lợm giọng , vì máu của bằng đấy thằng , chảy ngập sàn xe đã đông đặc .

Được phơi nắng cả ngày , bốc mùi tanh lợm không ai chịu được .

Đại đội trưởng , Đại đội phó và Trung đội trưởng cũng lỉnh đi hết , không ai giám vào xe để nhìn ngó nữa .

Chứ đừng nói đến lôi được chúng ra .

Thằng nào thằng ấy to vật vã , quấn xoắn vào nhau , có thằng còn lòi cả xương tay xương chân ra .

Chúng móc , bám vào các vật dụng trong xe .

Trong một không gian bé nhỏ của xe , thì việc này quả thực khó khăn cho việc ai vào lôi đám xác này ra .

Các đ/c cán bộ quânsự thì nói : việc này của mấy ông chính trị .

Dừa nhau mãi ko ai chịu vào xe .Cuối cùng đ/c Công cvtr nói để tôi vậy .

Tôi nói là ae lấy sợi dây dù võng buộcthòng lọng .

Để anh Công vào tròng vào cổ từng thằng rồi để ae bên ngoài kéo ra.

Anh Công vào xe cũng làm theo như thế , nhưng ae kéo mãi mà thằng Pot cũng kochịu ra .

Vì chúng đã cứng lại xoắn vào nhau như đã nói .

Anh Công phải lấyxẻng , cậy những chỗ vướng vứu mới lôi ra được 1 thằng .

Thế rồi quá lợm giọngvì mùi hôi tanh .

Anh Công chạy ra ngoài , gục mặt xuống nôn thốc , nôn tháo .Mặt tái mét và nói : tôi ko vào được nữa .

Cũng không thể nói ai vào xe được nữa .

Tôi bèn nói ; để Phú vào xe .

Tôi lấy khăn mặt buộc ngang mồm mũi , còn chừa 2 mắt .

Chui vào xe , một tay cầm xẻng , một tay cầm sợi dây võng .

Cảnh tượng trong xe thật hỗn loạn , hãi hùng .

Nào là đầu , nào là tay chân , mình mẩy của những thây Pốt .

Không ai hiểu , ai tả được , lúc cái búa của thần chết giáng xuống , thì tâm trạng chúng sợ hãi , hay phản ứng bản năng như thế nào ?

Ôm chặt lấy nhau , hay vớ víu vào cái gì đó .

Rồi có thằng chết ngay , thằng ngấp ngoái , đón cái chết đến chậm trong nỗi kinh hoàng tột độ mà các cụ ngày xưa gọi là sợ " mất hồn " .

Thật tình , thì chúng nó cũng là con người , là đồng loại của mình .

Cũng có bố , có mẹ , hoặc vợ con , có anh chị em , bạn bè và bà con họ hàng v.v...

Không biết là chúng mày bao nhiêu tuổi ?

Được giáo dục , được học hành thế nào ?

Mà chúng mày tàn bạo , thất nhân , thất đức thế vậy ?

Chúng mày tàn bạo ngay cả với bà con , dân tộc mày , một đứa nhỏ , nhiều đứa nhỏ , bị chúng mày lấy búa đập vào đầu .

Chỉ vì họ là những người thành phố

Dịp còn ở Mộc Bài .

Cứ mỗi lần mình phản pháo chúng .

Là hôm sau lại thấy có 1 – 2 đống lửa thật to nghi ngút khói .

Tôi mới hỏi kỹ bà con thì được biết , đó là những đống lửa thiêu xác bọn chết .

" Bên đó "phong tục là người chết đem thiêu chứ ko mai táng ( địa táng ) như ta .

Nhưng bọn này thiêu người rất thủ công .

Chỉ xếp người vào đống củi , rồi đốt ngoài trời .

Thậm chí muốn để thiêu nhanh .

Chúng còn xả người nhỏ ra , cắt từng khúc , hay cắt rời tay chân ra , cho vào đống lửa .

Trước sự chứng kiến của vợ , chồng , con cái , hay bố mẹ làng xóm vv...Chính vì thế nên bọn này bị thói quen từ nhỏ việc xả người , chém chặt người ko ghê tay .

Chuyện này ko biết đúng , sai , thực hư thế nào ?

Có thể các bạn ko tin .

Những tôi cũng đã hỏi nhiều người , thì cũng được nói như vậy .

Thoáng nhanh các suy nghĩ đó .

Tôi ngậm chặt mồm , nhìn lướt qua toàn xe .

Vẫn chưa xác định được còn mấy thằng .

Có một thằng đầu quay ra phía tôi , ngửa mặt , nhe răng " cười".

Tôi túm tóc định nâng đầu lên , để đưa dây thòng lọng vào cổ .

Vừa nhấc đầu nên thì , rùng mình vì cả mảng mảng tóc tay tôi nắm tuột hết , kéo theo cả da , trơ sọ .

Rùng mình nhưng cố nén , để không bị quá căng thẳng .

Tôi lấy xẻng bộ binh , lách xuống dưới gáy tên Pốt , nâng đầu hắn lên rồi tròng dây vào cổ .

Hô anh em bên ngoài kéo .

Sợi dây căng , nhưng thằng này bị kẹt , bởi những thằng khác , thân thể chúng đã bị cứng .

Nên càng vướng vào nhau .

Không còn cách gì khác , là phải vần , phải cậy những cái xác khác ra , cho anh em kéo Pốt .

Được một thằng , rồi 2 thằng , 3 thằng .

Đến thằng ngồi ghế lái trên cùng , cũng thật khó khăn .

Nó chết trong tư thế vẫn điều khiển xe .

Cố vượt hào batile nước nên tay chân cảu hắn , níu chặt vào các cần điều khiển xe .

Bậy mãi , kéo mãi , mới lôi được thằng đang ngồi này ra .

Bọn này to thật .

Chắc mỗi thằng phải nặng tới 70kg chứ không ít .

Làm cho cái sức vóc nhỏ bé của tôi phải gồng mãi , cố mãi , mới vần được chúng theo ý mình để anh em lôi ra .

Như vậy là 6 thằng .

Anh Công vào lôi được 1 thằng là 7 .

Một thằng bắn 12,8ly chết bên ngoài là 8 .

8 cái xác được kéo ra , nằm kề nhau thành một đống hỗn độn , trông thật ghê sợ .

Từ ngày đi Biên giới , tôi chưa gặp trường hợp nào , thấy hàng chục cái xác Pốt một chỗ thế này .

Tôi ra ngoài vứt cái khăn mặt rồi nhổ bọt ngồi thở .

Cho đến hôm nay , khi viết lại , cái cảm giác đó vẫn ấn tượng như là mớixẩy ra .

Vì hình ảnh này , nó là nỗi ám thị , ám ảnh , ghê sợ còn theo suốtcuộc đời tôi .

Tôi ngả người , nằm xuống bờ mương thoai thoải dốc .

Nhìn trời , qua mấy tán lá tre thưa đung đưa trước gió , trong buổi chiều hoàng hôn dần tím .

Như không để ý đến ai , khômg muốn và cố muốn xua đi , những hình ảnh hãi hùng , tởm lợm mà mình phải bê , phải vần , phải giáp mặt chúng .

Một vài con cò bay ngang trời .

Xa xa , là làng mạc , là những bóng thốt nốt .

Đặc trưng của đất trời Campuchia .

Ầm ... tiếng nổ của chiếc xe bọc thép gầm vang .

Khói xanh , xả ra dầy đặc bao trùm xe .

Anh em lữ 22 đã vào sửa chữa , đấu nối thế nào , mà xe nổ máy được ngay .

Trong tiếng hò reo của anh em bb .

Một sợi dây cáp được nối vào xe bọc thép lữ 22 .

Cả 2 cái cùng nổ máy , cùng bò lên khỏi chỗ lầy .

Trong niềm vui của tất cả mọi người .

Anh em dừng lại , xuống bắt tay khắp lượt mọi người .

Rồi lên đường về phía sau .

Chiếc xe bọc thép M113 - 060 ngoan ngoãn bò đi cùng tổ xe của lữ 22 .

Giống như những con quái vật đã bị phép thần thông của Tề Thiên Đại Thánh thu phục .

Trong những tập phim Tây Du Ký .

Mà hồi nhỏ hay xem .

Bóng đoàn xe xa dần , xa dần .

Đây là chiếc xe bọc thép , đầu tiên trên mặt trận BGTN này .

Ta tiêu diệt và thu được của Pốt .( một thời gian nó được là vật chứng trong bảo tàng Quân đội tại TP.

HCM về chiến thắng của quân và dân ta .

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ BGTN của Tổ quốc).

Chúng tôi được lện hành quân về hướng Tây Bắc ngã ba SăngKe .

Nơi đội hình Trung đoàn vừa chiến đấu .

Và bây giờ , vòng đai bảo vệ biên giới của Trung đoàn , Sư đoàn 341 , lập phòng tuyến tại đây .

Phía Đông Bắc Chóp giáp Sư đoàn 7 .

Kéo vòng cung xuống phía Bắc rừng Hòa Hội của ta .

Tại địa danh này , chúng tôi chốt giữ và chiến đấu liên tục nhiều tháng .

Tổ chức nhiều trận luồn sâu phạm vị nhỏ .

Tiêu diệt đánh địch bu bám , lấn dũi , phòng tuyến của ta .

Nhiều trận đánh ác liệt , đã diễn ra tại khu vực này .

Có trận ta luồn sang phía Pot lại gặp Pot luồn sang tập kích ta .

Những trận đánh bằng xẻng , bằng lưỡi lê và dao găm đã xẩy ra .

Chiến thắng , chiến công cũng nhiều .

Song thương vong tổn thất cũng rất lớn .

Đại đội 1 của tôi , có trận sau chiến đấu còn lại có 3 người .

Tôi + quản lý + anh nuôi .

Anh Nguyễn Tiến Công cùng rất nhiều anh em hy sinh mà không lấy được thi hài .

Trong những trận 14/7 và 18/7/78 .

Tôi sẽ xinphép kể lần lượt từng trận đánh .

Để cùng các bạn , ôn lại những năm tháng camgo và hào hùng đó .

(Tản mạn về cây thốt nốt :

Bạn Quyenkh hỏi : TP nhìn những bức hình cây thốt nốt , cánh đồng chó ngáp , cánh đồng chết , hay cây thốt nốt mùa mưa của sưđoan5 - Bìnhyen có cảm tưởng thế nào ?

TP thấy ảnh đẹp .

Đẹp thật sự .

Rất có " hồn " nghệ thuật .

Song trong cái " hồn " đó .

Với anh em , lính tình nguyện chúng mình .

Ai mà không có những ấn tượng mạnh , về loài cây quý hiếm này .

Những ngày đầu tiên ,khi còn ở khẩu đội cối 60ly của đại đội 3 d1 .

Tiểu đội TP bị Pót tập kích .

Một quả đạn dkz , bắn đúng vào thân cây thốt nốt .

Cách mặt đất khoảng 3-4 m .

Đạn nổ găm mảnh xuống làm tiểu đội mình hy sinh 1 , thương 2 .

TP cũng ở khẩu đội ấy , nhưng lúc đó đang nhắc nhở ae đào hầm cách đó mấy m .

Nên may mắn ko bị sao .

Và hình ảnh ,nỗi ám ảnh về cây thốt nốt đã có từ ngày đó tháng 11/77 .

Theo TP , cùng một số anh em thời kỳ ở bên đó .

Thì cây thốt nốt quý thật .

So với cây dừa , cọ , thì thốt nốt phục vụ con người nhiều hơn .

Gần như từ thân cây , lá cây , hoa cây , trái xanh , trái chín .

Đều phục vụ cho dân sinh .

Này nhé :

- Thân cây: nếu già , họ bổ ra lớp gỗ thân bên ngoài dầy khoảng 5cm .

Thì cứng , chắc gần như gỗ lim .

Không bị mối mọt , có thể sử dụng làm nhà , làm giường , bàn ghế v.v...

- Thân cây phía dưới , đào cả một phần gốc .

Họ bổ đôi dài khoảng 4m , đẽo khoét bên trong thành một cái thuyền xuồng độc mộc .

- Tầu lá khô làm củi đun .

Lá thốt nốt cùng để lợp nhà , lá bánh tẻ , dùng để đan giỏ , đan túi xách , hay thảm chiếu nằm trải giường v.v....

- Hoa cây thốt nốt .

Có điều là từ khi nẩy mầm , tới khi cho ra hoa trái , phải 15-20 năm .

Thời gian rất dài .

Người dân nếu lấy nước , thì họ chọn những nhánh hoa cái .

Dùng 2 cái kẹp tre , day đi , day lại nhiều lần .

Trong mấy ngày . ( giống như các cụ nhà ta dạy : phụ nữ muốn có nhiều sữa cho con bú , thì phải để người đàn ông( người chồng ) , vần vò nhiều , đôi cái nhũ hoa thì mới có nhiều sữa cho trẻ . .

Khoản này thì chắc mấy bác ccb của ta rất giành phải ko BH ?

Sau khoảng 3 ngày , vần vò bằng kẹp tre .( Chứ không phải bằng tay như cái kia) .

Thì họ lấy con dạo , vạt đi một chút ở đầu nhánh hoa . ( vòi hoa )và buộc , treo vào đấy một cái ống bương hoặc ống tôn kẽm .

Đương nhiên là phải đeo ống vào tầu lá cây mới giữ được ống .

Qua 1 đêm , từ tối đến sáng mỗi ống được khoảng vài lít nước .

Mỗi cây đã trưởng thành , có thể treo tới 20 ống như vậy .

Mang về đun , cô lại thành đường , thủ tục nấu đường thốt nốt , như là nấu đường mía .

Họ hay đổ ra các bát ( chén ) ăn cơm .

Đường thốt nốt ăn rất ngọt , ngọt thanh mát , như đường phèn , đường phổi , ở vùng Quãng Ngãi .

Có điều đặc biệt là : đường này giống như đường bánh của mình .

Để ngoài không khí , hay bị chảy nước .

Mà phải lấy cái lá cây thốt nốt gói lại .

Gói rất sơ sài , hở hang , nhưng đường lại không bao giờ chảy nước .

Cho nên , lúc quân TNVN sang đó .

Bọn phản đông chúng có tuyên truyền , tẩy chay mình nói là : đường thốt nốt , thì phải gói bằng lá thốt nốt .

Ý nói là việc của dân CPC thì chỉ để dân CPC tự giải quyết .

Nước cây thôt nốt nếu uống ngay thì rất ngọt .

Nhưng dân cpc thì lại dùng 1 số ống làm nước thốt nốt chua .

Thì họ phải bỏ vào trong ống 1 loại vỏ cây ( CÂY ME ?) Thì sáng hôm sau , nước trong ống chuyển thành mầu trắng đục .

Có ga .

Uống giống như nứơc rượu nếp cái của mình .

Uống nhiều cũng bị say .

Có nhiều bạn đựng nước trong bình tông nhuôm của Trung Quốc .

Để tứ sáng đến trưa thì cái bình tong bị tròn như quả bóng .

Vì nước có ga rất mạnh .

)

Đội hình Đại đội 1 , về đến khu vực chốt của mình thì vừa tối .

Tiểu đoàn trưởng cùng tác chiến , và mấy trinh sát .

Cùng các đ/c thông tin hữu tuyến dải dây , xuống tận Đại đội .

Hướng dẫn và giới thiệu địa hình .

Giao nhiệm vụ , chốt giữ cho đơn vị .

Đại đội 1 đảm nhiệm phía tay trái của Tiểu đoàn .

C3 thì ở giữa nhưng cao lên .

Bên phải Đại đội 3 , là Đại đội 2 .

Lùi vào trong là Đại đội 4 .

Hai khẩu 12,7ly đã được bổ sung tăng cường cho c2 và c3 .

Chỉ còn lại 2 khẩu ĐK82 + 2 khẩu cối 82 .

Tiếp đến là Tiểu đoàn bộ , sau Tiểu đoàn bộ , là Tiểu đội trinh sát , Trung đội thông tin + vận tải .

Tiểu đoàn bố trí thể như kiểu cái cung và Đại đội 3 là đầu mũi tên .

Đại đội 1 + 2 là 2 đầu của cánh cung .

Hướng bên phải Tiểu đoàn một , là Tiểu đoàn 3 .

Bên trái Tiểu đoàn 1 , là Tiểu đoàn 2 .

Giáp gần với Chóp của Sư đoàn 7 .

Rải rác các Đại đội trực thuộc , như 18 thông tin , 15 Dkz , 14 cối 120 ly , 16 súng 12,7 ly được cử đi phối thuộc .

Số còn lại bố trí cảnh giới bảo vệ Trung đoàn .

Được bố trí vào các khe kẽ của địa bàn , giáp giữa các Tiểu đoàn .

Trung đoàn bộ , đóng ngay tại khu vực ngã ba Săng Ke .

Cùng các cơ quan Trung đoàn và Đại đội vận tải , Đại đội 24 quân y .

Đại đội trinh sát 20 , có nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp cho Trung đoàn bộ .

Giáp với đội hình của Trung đoàn 1 , là Trung đoàn 2 (270) , Trung đoàn 3 ( 266) gần giáp về Biên giới khu vực rừng Hòa Hội sang .

Như vậy về diện thì mỗi Trung đoàn có chiều rộng khoản 10 km .

Toàn Sư đoàn rộng khoảng trên 30 km .

Nói , tả như vậy thì cỏ vẻ rất kín .

Nhưng thực tế thi vẫn còn có những khoảng trống giữa các đơn vị vối nhau .

Ban ngày thì trong tầm mắt cảnh giới thì ko có vấn đề gì .

Còn ban đêm thì địa bàn như rộng ra , vì tầm quan sát bị đêm đen hạn chế .

Nên Pót cũng vẫn có thể luồn lánh vào được .

Sau khi nắm rõ tình hình địa bàn .Anh Đạc Ctr bố trí các vị trí chốt cho Đại đội cũng vẫn thế chân kiềng , hay cánh cung đã lắp tên như của Tiểu đoàn .

Các Trung đội sẵn sàng chi viện được cho nhau , lúc cần thiết .

Còn đêm , nếu Pốt tập kích vào Trung đội nào , thì Trung đội đó tự giải quyết .

Cối 60 sẽ chi viện cho các hướng chốt .

Trừ trường hợp Pót tấn công lớn , sẽ có sự chi viện bằng pháo cối của Tiểu đoàn , Trung đoàn .

Việc xuất kích đêm là rất hãn hữu .

Ban chỉ huy Đại đội 1 ở dưới một gầm nhà sàn .

Chung quanh có ruộng , vườn và những khóm tre gai dọc các bờ .

Rất tiện cho việc phòng thủ .

Nhưng lại cũng là những M tiêu , mà ta hay Pốt với con mắt quân sự , nếu tấn công hay tập kích .

Thì đầu tiên cũng phải táng vào đấy một vài quả đạn .

Chúng tôi nhanh chóng đào hầm hố , công sự chiến đấu dưới gầm sàn .

Và ngoài các bụi tre .

Mỗi Trung đội điều lên 2 đ/c làm hầm cho BCH đại đội .

Hầm của liên lạc , hầm thông tin .

Đến 8h tối mọi việc tạm ổn .

Xác định chốt giữ lâu dài , nên hầm hố sẽ phải chắc chắn .

Nhưng bây giờ đã tối và quá mệt .

Sau một ngày một đêm vất vả .

Anh nuôi cũng đã mang được cơm đến .

Bữa cơm đầu tiên ở vị trí mới thật ngon .

Đêm thứnhất ở khu vực chốt trôi qua thật yên bình .

Khoảng 6h sáng , sau khi làm công tác vệ sinh cá nhân .

Tôi cùng anh Trọng và đ/c liên lạc , đi quan sát khu vực đóng quân của BCH và toàn Đại đội .

Đất trời buổi sớm mùa mưa CPC thật mát mẻ , thanh bình .

Không gian tĩnh lặng .

Thoảng nghe một vài tiếng gù gọi bạn tình của con chim gáy .

Những thửa ruộng đã ngập nướ c.

Những đàn cá rô thật nhiều , bơi lội đùa dỡn thấy bóng chúng tôi , chúng lao đi chạy trốn làm mặt nước lao xao .

Tôi chợt nhớ đến ngày bé , sau những trận mưa rào .

Đường phố ngập nước .

Cũng có những đàn cá rô chạy bơi như thế này .

Tôi cùng các bạn chạy đuổi bắt cá dưới mưa thật vui .

Anh Trọng nói : nhiều cá quá Phú à .

Nói mấy đứa cải thiện làm bữa rô rán hoặc nấu măng hay đấy .

Anh Trọng chỉ vào những khóm tre , có những cây măng mới nhú .

Tủm tỉm cười như đang nghĩ đến nồi canh măng cá rô thật hấp dẫn .

Vòng hết một lượt , kiểm tra hầm hào chốt của từng Trung đội và Tiểu đội hỏa lực .

Bộ phận anh nuôi , anh em chúng tôi quay về BCH Đại đội ăn sáng .

Đợi các đ/c cán bộ các Trung đội và trưởng các bộ phận lên BCH giao ban .

Điểm tâm xong , Đ/c liên lạc đã pha một ấm trà , loại trà Blao , ướp hoa lài thơm phức .

Anh em tôi vừa nhâm nhi trà , vừa hội ý với nhau trước , về tình hình nhiệm vụ và những mạnh yếu của trận chiến ngày qua .

Rồi ý định của Trung đoàn , Sư đoàn , về nhiệm vụ chốt giữ lâu dài giúp bạn .

Sẵn sàng đánh địch bu bám v.v...

Toàn Đại đội lại tập trung củng cố hầm hào cá nhân ụ chiến đấu .

BCH Đại đội cùng các Btrưởng đi một vòng để tìm hiểu địa hình , rồi lên phương án chống , đánh địch tập kích rất bài bản .

Qua trưa , rồi chiều , mọi việc đã ổn .

Bây giờ tôi mới nhớ tới má Mỹ , cùng mấy Má Đồng Tháp không biết đã về VN chưa ?

Hay còn ở cứ phía sau ?

Vừa mới hôm qua , hôm kia , chia tay Má mà mình cảm thấy như lâu rồi .

Tôi rủ anh Trọng xách súng và cầm dao đi lấy măng .

Anh Trọng oke liền , chọn những cây măng ngoài rìa dễ bẻ .

Anh em tôi đã bẻ được hơn chục cây .

Rồi về BCH pha trà nói chuyện tếu .

Cả mặt trận , từ tối qua đến giờ , vẫn không có tiếng súng nào .

Cũng không thấy bóng dáng thằng Pốt nào .

Không biết bọn này sợ chạy đi đâu ?

Chắc chưa kịp " hoàn hồn" .

Vì trận đánh của ta hôm qua .

Hay chúng đang có âm mưu gì ?

Kinh nghiệm ở chiến trường cho thấy , sự im lặng bất thường , hay là dấu hiệu của giông tố , bão lửa sắp xẩy ra .

Nhưng kệ nó , lính thì cứ nhàn nhã lúc nào biết lúc ấy , quý lúc ấy .Một ngày lại trôi qua .

Màn đêm đã bao phủ .

Anh Trọng phân công gác , Trực chỉhuy ở BCH Đại đội xong .

Chẳng còn việc gì khác ngoài nằm nghỉ chuyện trò vớianh Công .

Trời bắt đầu mưa .

Mưa ào ào , mưa thật to .

Ko biết là ae canh gácthế nào .

Phải cảnh giác .

Bọn Pot haylợi dụng mưa bất ngờ tập kích lắm đây .

Trời đã ngớt mưa .

Ùng - ầm - ùng - ầm – ùng - ầm .

Tằng - tằng - tằng -tằng , chíu-chíu-chíu .

Pốt tập kích vào Đại đội .

Không phải chỉ vào đại đội 1 , mà hướng c2 , c3 cũng rộ lên tiếng súng của Pốt .

Chúng tôi choàng bật dậy .

Đạn thẳng chíu chíu trên đầu .

Găm vào nhà , nhưng tầm cao .

Thỉnh thoảng có quả B40-B41 , nổ rầm gần vị trí ban chỉ huy .

Tiếng hô trô trô của bọn Pốt .

Tằng - tằng - tằng..rồi ầm - ầm súng của anh em đã bắn trả .

Mới đầu còn thưa .

Nhưng sau cũng đã rồn rập .

Anh em phân tích tình hình .

Chỉ thấy có 2 hướng của 2 Trung đội bị địch tập kích .

Hai bên vẫn bắn qua lại .

Tiếng các loại hỏa lực của anh em mình nghe rất chắc .

Như vậy bọn này tập kích từ xa .

Chúng lợi dụng mưa bò vào .

Nhưng ngày đầu chắc chúng chưa rõ các vị trí chốt của ta .

Nên không dám mò vào thật gần .

Mà từ ngoài xa bắn vào .

Tôi bàn với các anh là : cho bắn mấy quả cối .

Để cho anh em thử súng ở vị trí mới .

Cũng cho bọn Pốt biết mình cũng đủ loại hỏa lực .

Tôi nói : để tôi cùng Hiệp LL xuống tiểu đội 10 .

Tuy rằng vị trí của Tiểu đội cối không xa BCH .

Nhưng xuống Tiểu đội bây giờ cũng đúng là rất nguy hiểm .

Vì đêm tối , ngay anh em cũng có thể bắn nhầm .

Nhưng cũng vì con nhà" cối" nòi , nên tôi và liên lạc Hiệp vẫn xuống Tiểu đội cối .

Tôi cầm súng và đèn Pin , đã được bọc vải xanh để giảm ánh sáng .

Xuống cách chỗ cối 15m .

Tôi dơ đèn pin quay , quay ba vòng .( mật hiệu quy định từ trước ).

Nghe tiếng đ/c Ka Tiểu đội phó hỏi ai ?

Tôi đáp Phú đây rồi quay đèn Pin về phía mặt mình , cho anh em biết rồi tiến tiếp về phía khẩu đội .

Tiếng súng của bọn Pốt cũng đã thưa .

Đoán là bọn này thử phản ứng của ta .

Nhưng cũng có thể chúng rút ra xa tạm nghỉ .

Tôi cùng đ/c Minh A.trưởng thống nhất bắn ở cự ly 200-300m về hướng tiền tiêu của Trung đội 1 .

Tong - tong 2 tiếng nổ đầu nòng đạn bay vút vào trời đêm tôi đếm 1-2-1 , 1-2-2 - 1-2-3 - đến 1-2-9 thì ầm - ầm đạn cối nổ lửa chớp lòe .

Có vẻ đúng mục tiêu cần bắn .

Tôi nói mỗi khẩu làm 2 quả nữa .

Tong – tong – tong - tong .

Cũng khoảng 9 giây sau thì ầm - ầm - ầm - ầm .

Như vậy là cối bắn tốt .

Tiếng súng của Pốt đã im hẳn . súng bộ binh của ta cũng ngừng .

Trận tập kích thứ nhất của Pốt , vào đại đội đã chấm dứt .

Không gian trở lại tĩnh lặng như ko có gì vừa xẩy ra .

Tôiở lại với anh em một lúc .

Dặn kỹ lại nếu Pót tập kích nữa thì ae chủ động bắnchế áp .

Nhưng phải cầm chừng vì đạn ko có nhiều .

Ở lại với anh em 1 lúc nữatôi trở lạị BCH Đại đội .

Về đến hầm của BCH Đại đội , anh Đạc thay cho lời hỏi bằng lời khen :" cối bắn tốt đấy " .

Thấy bọn này im thin thít luôn .

Anh Công đang nói điện thoại với Tiểu đoàn .( Thời đó chưa có ĐT di động ) mà là điện thoại dây hữu tuyến).

Thấy anh Công cứ dạ vâng , dạ vâng đều .

Sau khi ngừng cuộc nói chuyện , tôi nói ngay .

Các sếp dặn dò gì kỹ thế anh ?

Các đ/v khác có ai sao không ?

Anh Công nói : Tiểu đoàn động viện tinh thần chốt giữ của anh em .

Nắm tình hình , nhắc ta nâng cao cảnh giác hơn nữa .

Vì qua Ban 2 và trinh sát báo , là bọn Pot đang vô cùng cay cú .

Vì chúng ta đã lấn sâu vào đất nó .

Tiêu diệt được cả xe bọc thép của nó nữa .

Nên bằng mọi cách chúng sẽ trả thù trận vừa qua .

Mà hôm nay mới chỉ là trận mở màn thăm dò thôi .

Tôi nói: "Các cụ không nói thì anh em mình ai mà chả biết như vậy".

Tôi nói tiếp : như vậy là hướng B2 Pốt chưa tập kích .

Như vậy cũng không bình thường đâu .

Anh Đạc CTr nói đúng đấy có khi ông Trọng xuống với anh em một tý đi vậy cho yên tâm .

Những lúc này , mình xuống được với anh em là quý lắm .

Anh Trọng nhếch mép cười vui rồi nói " tuân lệnh Sếp " rồi hất hàm nói đ/c liên lạc , đi mày .

Hai anh em xuống hướng B2 , cánh trái của đại đội .

Anh Trọng cùng LL đi xuống Trung đội 2 khoảng 15 phút .

Thì ầm - ầm - ầm , ùng – ùng – ùng .

Bằng - bằng - bằng .

Các loại súng dồn dập nổ về phía chốt B2 .

Những tiếng trô - trô thật lớn .

Mọi người bật dậy lo lắng .

Anh Đạc nói : hai thầy trò chắc xuống tới nơi rồi .

Nói vậy nhưng ai cũng bồn chồn , sốt ruột .

Mong cho anh Trọng và LL không gặp Pốt dọc đường .

Tiếng súng bắn trả của B2 cũng thật đều .

Nghe cả B40 và Khẩu đại liên cũng đã phát hỏa .

Anh em chúng tôi yên tâm hơn .

Vì sợ nhất là chúng bò vào thật gần .

Mà anh em không phát hiện được .

Khi hỏa lực mình phát hỏa rõ mục tiêu , là chúng dập B40 - B41 vào luôn .

Nhưng súng nổ thế này thì yên tâm rồi .

Chuông điện thoại reo liên tục .

Anh Đạc vào nghe và trả lời Tiểu đoàn về tình hình địch tập kích .

Cũng nói là trước đó đã cử đồng chí Trọng c.phó cùng một LL .

Xuống đôn đốc anh em rồi chắc không có gì phức tạp .

Các loại súng của ta và Pot vẫn dồn rập .

Quái , sao cối không bắn hỗtrợ .

Anh Công hỏi tôi .

Tôi nói thực sự chưa biết là chúng ở xa hay thật gầnmình .

Nên anh em chưa dám bắn thôi .

Sợ bắn xa thì vượt tầm , mà bắn gần thìsợ vào B2 .

Vừa giải thích xong , thì cũng nghe thấy tiếng nổ đầu nòng của cối.

Tôi nói có bắn thì cũng chỉ là hú họa thôi , phải để mai hỏi kỹ anh em dướiTrung đội .

Về điểm nổ của đạn ở cự ly vừa rồi thế nào .

Thì lần sau cối chiviện mới tốt được .

Trận địa đã im tiếng súng .

Khoảng 30 phút sau , anh Trọng cùng LL dìu 2 đ/c thương binh của B2 về chỗ BCH Đại đội .

Một đồng chí A Trưởng bị thương vào vai do đạn thẳng .

Một đồng chí chiến sỹ bị mảnh vào tay nhưng không nặng lắm .

2 đ/c yta nhanh chóng kiểm tra và thay lại băng cho anh em .

Tiêm cho mỗi đ/c một ống trợ lực rồi nói với anh Công , là phải đưa ngay về phẫu của Trung đoàn .

Vết thương ở vai vẫn ra máu nhiều .

Anh Đạc báo về Tiểu đoàn và xin vận tải xuống chuyển thương binh .

30 phút sau thì 2 đ/c Trinh sát cùng 4 đ/c vận tải đã mang cáng xuốg .Đ/c A.trưởng phải khênh , còn đ/c bị thương nhẹ tự đi được .

Giải quyết xong thương binh , đã 2h sáng anh em tôi phân công được chỉ huy , trực gác .

Rồi tranh thủ đi nghỉ .

Gần sáng bọn Pốt lại tập kích , vào các vị trí chốt của Đại đội lần nữa .

Nhưng chúng tập trung đánh vào hướng Đại đội 3 nhiều hơn .20 phút sau toàn trận địa đại chìm trong tĩnh lặng .

Tôi tỉnh dậy đã 6h30' .

Căng thẳng cả đêm , nên giấc ngủ sâu quá .

Đ/C Công và Đạc đã ăn sáng .

Cả 2 về Tiểu đoàn họp quân chính .

Còn tôi cùng anh Trọng , 2 cấp phó ở nhà .

Tôi nhanh chóng làm vệ sinh .

Cùng anh em ăn sáng rồi rủ anh Trọng đi thăm các chốt .

Anh Trọng nói : để tôi đi anh ở nhà trực chỉ huy .

Đi cả ai nghe điện .

Tôi ở nhà , nhưng thực sự chỉ muốn đi thăm chốt .

Muốn ra ngoài chốt của các Trung đội xem tình hình thế nào .

Nhất là hỏi về việc cối chi viện ra sao v.v... thôi đành đợi anh Trọng về vậy .

Gần trưa anh Công và anh Đạc cũng về .

Anh em tôi nhanh chóng họp BCH .

Anh Đạc mời các B.Trưởng và 2 đ/c Tiểu đội 10 và 11 lên hội ý phổ biến tình hình .

Như vậy .

Không ngoài dự kiến của ta .

Bọn Pốt đã rất cay cú .

Chúng đã điều 2 Tiểu đoàn đến trước khu vực chốt của Tiểu đoàn 1 .

Vì vậy chúng sẽ tăng cường tập kích ta về ban đêm .

Anh em ban ngày cũng không được đi lại nhiều , và đi quá xa vị trí .

Đề phòng bọn này bắn tỉa .

Trên sẽ theo dõi diễn biến cụ thể , sẽ được thông báo sau .

Những yêu cầu đầu tiên , hầm hào phải được chu đáo .

Làm thêm nhiều vị trí , hố chiến đấu dự phòng .

Các Trung đội phải có chốt râu tôm .

Cách chốt chính từ 15 - 20m , để chủ động phát hiện địch sớm .

Tối , khoảng 8h .

Bọn Pốt đã ùng - ùng vào các chốt .

Cũng hô Trô- Trô ầm ĩ .

Phán đoán số lượng địch không nhiều .

Nhưng hướng C3 , thì chúng tập trung bắn hỏa lực vào nhiều hơn .

Cứ cách 2h thì chúng lại tập kích 1 lần .

Liên tiếp 2 ngày sau cũng vẫn tình trang như vậy .

Cứ đến 8h tối là bọn Pot đã mò vào tậpkích các chốt của ta .

Mật độ tập kích đã dầy hơn .

Đại đội 3 đã thương vong 1số nhưng các trận địa ,vị trí chốt vẫn vững chắc .

Qua trinh sát đã nắm chắctình hình của bọn Pót .

Chúng đã đưa 2 Tiểu đoàn vượt sông áp sát vào phía Nam ngã ba Săngke . ( Cách khu vực chốt của Trung đoàn 3 km có1 con sông nhỏ .

Đúng ra là con mương đào ) .

Trung đoàn lên phương án tácchiến tấn công tiêu diệt bọn này .

Theo trinh sát báo cáo : trước mặt Tiểu đoàn 1 , hiện có 2 Tiểu đoàn 121 và 122 của Pốt .

Hàng ngày chúng tổ chức tập kích , lấn dũi các vị trí chốt giữ của ta .

Chúng tập trung tập kích cao độ ở chốt của Đại đội 3 .

Tần số tập kích ngày càng dầy hơn , mạnh hơn .

Các chốt của C1 + C2 chúng có tập kích .

Nhưng có vẻ chỉ là ghìm chân ta thôi .

Hiểu rõ ý đồ của Pot .

Trung đoàn trưởng Trần Măng , Chính ủy Trung đoàn Diệp Xuân Ánh thống nhất phương án của tác chiến là :

- Tiểu đoàn 1 : Để Đại đội 3 , vẫn chốt giữ tại vị trí .

Đại đội 1 + 2 luồn sâu khoảng 3 km đón lõng tại phía trái khu vực XvayChek .

- Tiểu đoàn 3 : Đại đội 10 + 11 cũng bí mật luồn sâu khoảng 3km về hướng cánh phải XvayChek .

.

2 lực lượng này , tạo thành gọng kìm .

Đón lõng đường rút và đánh từ phía sau của Pốt ngược trở lại .

- Tiểu đoàn 2 , gồm 2 Đại đội cùng Đại đội 9 của Tiểu đoàn 3 cùng 6 xe bọc thép của lữ 22 .

Tấn công vỗ mặt 2 tiểu đoàn Pốt .

Các đại đội 12,7ly , DKZ 75 cũng được điều động tăng cường cho lực lượng tấn công .

Trận này chỉ dùng cối 82 ly chi viện .

Không dùng pháo binh của Sư đoàn .

-

Sáng ngày 19/6 .

Đ/c Đạc và Công , về Tiểu đoàn rồi lên Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu .

Ý nghĩa của trận đánh này rất lớn .

Vì qua mấy ngày , chúng chủ động tập kích này mà không thấy ta xuất kích .

Bọn Pốt đã chủ quan , chưa cho rằng chúng ta ko giám tổ chức tấn công chúng .

Nên ta quyết tâm đập cho bọn này 1 đòn thật đau .

Đến 10h , anh Đạc và anh Công đã về tới Đại đội .

Cử LL mời ngay các BT , A.Trưởng hỏa lực về họp .

Phổ biến nhiệm vụ luồn sâu đêm nay , để tấn công địch vào sáng ngày mai 20/6 .

Sau khi nhận nhiệm vụ .

Các Trung đội trở về làm công tác chuẩn bị .

BCH Đại đội phân công mỗi người một việc .

Tôi và đồng chí Công , chia nhau xuống từng Trung đội họp , nắm tư tưởng , làm công tác động viên anh em chiến đấu .

Hội ý với Đoàn thanh niên để ý theo dõi , tạo nguồn phát triển Đảng viên cho Cho Chi bộ .

Phát động ý chí chiến đấu , tinh thần dũng cảm của người Đảng viên , Đoàn viên .

Trực tiếp phổ biến tình hình địch , nhiệm vụ chiến đấu của từng Trung đội .

Đ/C Trọng , lo tổ chức hậu cần .

Chuẩn bị cơm nắm , kiểm tra lại vũ khí , Trang thiết bị .

Súng đạn cho đủ theo yêu cầu trận này là 2 cơ số .

Mọi người tích cực đôn đốc , kiểm tra , việc chuẩn bị chiến đấu đến 4h chiều .

Mọi việc tương đối hoàn tất .

Tôi nói mọi người , nên nghỉ ngơi một lúc để lấy sức cho trận chiến đêm nay , ngày mai .

Tôi và anh Công nằm xuống sàn ván , nhìn lên nóc sàn .

Mỗi người một suy nghĩ .

Muốn ngủ , nghỉ một lúc , mà sao không ngủ được .

Trời vẫn mưa .

Những giọt cuối , của trận mưa rào lúc trưa .

Bỗng anh Công bật dậy nói : thôi ngủ làm gì .

Còn Trà không Hiệp ?

Làm ấm trà và ván cờ cho hết thời gian ông Phú .

Trinh sát xuống bây giờ .

Tôi thoáng nghĩ , cái ông này không nghỉ , hoặc không lo việc gì khác .

Đầu óc đâu mà chơi cờ bây giờ .

Nhìn đôi mắt to sáng của anh Công , giọng nói ấm áp truyền cảm .

Rất có sức lôi cuốn , tôi cũng bật dậy nói : ừ , chơi thì chơi .

Nhưng chơi cờ với anh chán bỏ xừ .

Tôi chấp cả 3 ông một phe , nhưng chỉ chơi đúng 2 ván thôi nhé .

.

BCH Đại đội 1 , là một ê kíp thật gắn bó , thật hoàn hảo .

Mọi người rất có trách nhiệm với công việc .

Rất tôn trọng nhau .

Tôi cũng đã từng thấy nhiều Đại đội , cấp trưởng , cấp phó hoặc cán bộ Quân sự - Chính trị .

Cứ thường hay mâu thuẫn nhau .

Còn chúng tôi thì cũng mới cùng tác chiến , nhưng như là đã gắn bó lâu lắm rồi .

Như một gia đình , anh em thật ấm cúng .

Tôi với anh Đạt bằng tuổi nhau .

Kém anh Trọng và anh Công một tuổi .

Nhưng không hiểu sao , có việc gì .

Mọi người vẫn cứ hay hỏi tôi , hoặc tham khảo ý kiến tôi trước .

Trong các công việc của đơn vị , hay cả những chuyện riêng tư , yêu đương , thư từ cách xử sự v.v....

Hay có những lúc đàm đạo tìm hiểu về khác giới .

Tôi cũng hay góp chuyện , có trích dẫn sách vở đàng hoàng .

Làm như là tôi giỏi về các khoản này lắm .

Cũng có thể hồi ở SàiGòn , tôi hay đọc các sách bói toán , tướng số , chỉ tay , dáng đi , nốt ruồi .Của chiêm tinh gia Huỳnh Liên .

Nhiều lúc rảnh rỗi , hay đùa , bói cho anh em .Không biết đúng sai thế nào , mà mọi người rất nể .

Chưa xong ván cờ thứ 2 , thì đ/c LL đi lấy cơm về .

Tôi nói thôi mình hòa .

Mọi người đi ăn cơm tối , rồi chuẩn bị các tư trang cần thiết .

Việc đi luồn sâu , đánh địch cũng đã quen thuộc . không còn cái phân vân , lo âu như những lần đầu .

Đương nhiên ai cũng biết , mỗi trận luồn sâu , mỗi trận đánh , thì đều có những diễn biến khác nhau .

Trong cùng một trận đánh , có đơn vị thì vô cùng vất vả , ác liệt .

Nhưng có mũi , có hướng thì nhàn nhã .

Vừa nổ súng là địch đã chạy rồi .

Anh em trong BCH và các Trung đội trưởng Tiểu đội 11 hỏa lực đại liên , anh nuôi , quản lý còn là lớp lính 72 - 74 .

Nên bản lĩnh , kinh nghiệm trận mạc dày dạn .

Các chiến sỹ lớp 75 - 76 cũng đã vững vàng .

Lớp 77 cũng đã được tham chiến nhiều .

Anh em 78 thì mới được bổ sung , đa phần là anh em TP Hải Phòng - TP Hà Nội .

Lính mới có phần ngang bướng , nhưng qua thử thách của trận luồn sâu thì cũng rất có bản lĩnh trách nhiệm .

Giờ xuất phát luồn sâu được lùi lại .

Vì theo quy luật cứ khoảng sau 8h tối , là bọn Pot đã tập kích các chốt của ta .

Trung đoàn yêu cầu các đ/v ở tại vị trí .

Nếu khoảng 8 h mà Pót tập kích thì các đại đội vẫn cứ nổ súng đánh trả như bình thường .

Đến 9h tối Đại độ 1 + 2 bí mật bỏ chốt , luồn sâu theo kế hoạch .

Gần 7h cả 2 đ/c cấp phó Tiểu đoàn .

Đ/C Nguyễn Đăng Ngân và Trịnh Doãn Ngọ , trinh sát Tiểu đoàn tập kết về Đại đội 1 .

Mọi người vào hầm của BCH Đại đội , uống trà bàn bạc công việc .

Hồi hộp đợi giờ tập kích của Pot .

Rất đúng giờ .

Pót lại ùng oàng tắc bọp vào các chốt của Tiểu đoàn .

Hướng Đại đội 3 súng nổ vẫn gắt hơn .

Theo bài bản các Trung đội vẫn nổ súng đánh trả Pot .

Cối 60 cũng làm mấy quả .

Khoảng 15 phút thì toàn tuyến lại chìm trong im lặng .

Anh em chuẩn bị hành quân .

Khoảng 9h15' đ/c tham mưu , cùng trinh sát Tiểu đoàn dẫn đại đội 2 đến khu vực chốt của Đại đội 1 .

Lệnh xuất quân .

Theo kế hoạch , từ vị trí chốt của Đại đội 1 .

Đến mục tiêu khoảng 3km .

Nhưng trinh sát dẫn đi vòng cũng khoảng 10km .

Cái điệp khúc luồn sâu , lần mò trong đêm lại được tái diễn .

Đầu mùa mưa , nên cũng có ruộng có nước , có ruộng cao còn khô .

Anh em trận này luồn sâu diễn ra rất thuận lợi .

Hướng chốt của Tiểu đoàn bọn Pot vẫn vào tập kích .

Đại đội 3 bắn trả thật mạnh , hơn mức bình thường .

Cũng có thể bây giờ chúng tôi đã ở vị trí đối diện súng bắn của mình , nên nghe tiếng nổ mạnh hơn , uy lực hơn chăng .

Anh Công ghé tai tôi nói nhỏ : Bố thằng Pot chắc nó ko thể biết được là mình đã bỏ chốt .

Nên cứ bắn loạn lên như vậy .

Khoảng hơn 12h , toàn đội hình đã vào vị trí tập kết .

Mà không gặp một chốt nào của Pốt .

Anh Đạc thông báo về Tiểu đoàn là Đại đội đã vào vị trí .

Rồi triển khai vị trí cụ thể cho từng Trung đội .

Trước mặt chúng tôi là một Phum rộng theo B/C thì đây là khu vực chỉ huy 2 Tiểu đoàn của Pốt .

Có một con đường đất chạy giữa làng .

Đại đội 2 sẽ tấn công theo hướng đó .

Còn Đại đội 1 vòng xa khoảng hơn 1km đánh tạt sườn vào .

Theo hợp đồng hướng Đông là Tiểu đoàn 3 thiếu đánh ngược lại .

Tiểu đoàn 2 cùng Đại đội 9 và thiết giáp sẽ tấn công vỗ mặt lên .

Mùa mưa , chỗ nào cũng ẩm ướt .

Anh em BCH Đại đội lợi dụng một bờ đất .

Cách vị trí các Trung đội khoảng 3o - 40m .

Trời đêm thật mát , thoáng cảm giác lạnh , những vì sao mờ mờ nhấp nháy , như đang theo dõi , đùa vui với những chiến sỹ đang củng cố hố chiến đấu .

Một vài tiếng gà gáy sang canh vọng ra .

Rồi im bặt , bới những tiếng súng tập kích của Pot .

Vào các vị trí chốt Tiểu đoàn .

Mọi người tranh thủ ăn cơm , chờ đợi giờ nổ súng .

Gần 5h sáng tiếng gà gáy dồn dập thật nhiều .

Trời đất như vỡ ra , rạng sáng .

Anh Trọng cùng 1 đ/c LL lên vị trí tập kết của Trung đội 1 , nhắc ae chuẩn bị tới giờ tấn công .

Và cùng với ae tấn công .

Tôi xuống cùng Trung đội 2 .

Trước giờ nổ súng không gian im ắng lạ thường.

Bọn Pot đi tập kích về , chắc cũng năn ra ngủ .

Chúng ko thể biết rằng , bãotố , lửa khỏi và lòng căm hận , đang chuẩn bị ập xuống đầu .

Trung đội trưởng Trần Vinh là lớp lính 10/74 .

Quê ở Hà Tĩnh .

Dáng người thấp , to đậm .

Vinh có đôi lông mày lưỡi mác , đen xì dữ tợn .

Trong chiến đấu , luôn tỏ ra là người có bản lĩnh xông xáo .

Dũng cảm , rất được lòng anh em trong Trung đội .

Và uy tín với cán bộ cấp trên .

Thấy tôi xuống , Vinh gần như bất ngờ và vui .

Ghé tai tôi thì thào nói : " Chuẩn bị xung phong rồi , sao anh không ở chỗ BCH Đại đội mà xuống đây làm gì ?

" Tôi nói : anh Trọng đi cùng B1 , tôi xuống đây xung phong cùng các ông .

Trên BCH có anh Đạc , anh Công rồi .

Vinh lại nói tiếp : " từ xưa đên giờ , cấp phó chính trị Đại đội , thường ở phía sau .

Chứ có ai xuống , cùng chiến đấu với cấp Trung đội như anh đâu ?

" Tôi nói : " Mới đi chiến với anh em trận này là 2 .

Có đi thì mới hiểu thêm kinh nghiệm chỉ huy .

Vả lại tôi cũng là lính AK , súng dài từ trước mà".

Tôi nói tiếp: " Sắp đến giờ rồi đấy , ông đi xốc lại anh em đi .

( Cho đến bây giờ tôi vẫn ray dứt , lẫn ân hận .

Trong quãng thời gian làm cvpho của mình là : Việc Vinh và 1 đ/c nữa hy sinh trong lúc đi tăng cường cho chốt C3 .

TP sẽ kể chuyện này sau ) .

Tôi và Vinh cùng đến các vị trí Tiểu đội .

Thấy tôi đi cùng với Trung đội trưởng , anh em rất hồ hởi .

Vừa đến vị trí Tiểu đội 6 .

Thì từ hướng chốt của Tiểu đoàn , lóe lên tiếng chớp đầu nòng .

Tôi lại đếm 1-2-1 , 1-2-2 đến 1-2-9 đến 1-1-1 thì nghe tiếng nổ đầu nòng .

Kèm theo là tiếng chớp nổ trong khu vực giữa Phum .

Tôi nói với anh em : Từ đây về chỗ cối Tiểu đoàn hơn 4km .

Vinh nói sao anh biết ?

Tôi nói mình con nhà " cối" mà lúc nào mình giải thích .

Chớp đầu nòng nhằng nhằng , rồi tiếng nổ đầu nòng của cối 120 nghe rền như tiếng sấm .

Các loại cối nổ dồn dập trong Phum .

Tiếng DKZ ở trận địa của Trung đoàn cũng ầm vang .

Nhìn những quả đạn vạch lửa theo hình vòng cung , trong trời mờ sáng trông thật đẹp mắt .

Những con chim cút hay rẽ giun , nghe tiếng nổ , sợ hãi bay vọt lên trời kêu thất thanh chóe chóe .

Các loại cối DKZ thi nhau cấp tập .

Cối 60 của Đại đội cũng Tong – Tong - vào Phum .

Tôi nói với Vinh : cối bắn chế áp khoảng 15 phút thôi .

Khi nghe tiếng súng tấn công của Tiểu đoàn 2 thì mình cũng xung phong .

Vây các hướng thế này , bọn Pot chạy đằng trời cũng không thoát .

Vừa lúc đó , tiếng súng 12,7ly ở hướng tấn công chính đã rộ lên .

Thùng– Thùng – Thùng - Thùng .

Nhiều viên đỏ lừ bay vọt qua Phum lên trời .

TiếngDKZ , tiếng B40 - B41 cũng ùng - ùng oàng - oàng dồn dập .

Tiếng AK nghe từ xatạch - tạch - tạch .

Vẫn chưa có tiếng bắn trả của bọn Pốt .

Hướng C2 cũng đãrộ lên tiếng súng tấn công .

Không gian như vỡ òa .

Khói lửa , súng trận đã ầmvang các hướng .

Tiếng anh Đạc , Anh Công hô xung phong - Xung phong thật dũngmãnh .

Tôi cũng nói xung phong ... rồi cùng ae lao lên phía trước .

Hai khẩu đại liên của tiểu đội 11 vẫn Thình - thình - thình , Thình - thình - thình .

Những điểm xa dài vào Phum .

Sau đó chếch nòng lên cao bắn thị uy .

Lấy khí thế xung phong cho bb .

Ùng oàng - ùng oàng .

B40 - B41 đã bắt đầu phóng tối tấp .

Khói thuốc súng đã trùm lên đội hình tấn công .

Tôi vận động song song cùng Vinh và cũng pằng - pằng làm mấy loạt AK .

Liếc sang hai bên , thấy các mũi xuất kích rất đều .

Anh em chạy gằn qua ruộng , nước bắn tung tóe .

Bên trái lùi lại phía sau là anh Công , anh Đạt cũng đang hành tiến .

Thỉnh thoảng anh Đạc lại dừng lại" cóc " quả M79 vào Phum .

Máy bộ đàm đã được mở liên lạc từ lúc nổ súng .

Hai đ/c thông tin , đeo máy bộ đàm , có cần ăng ten cao vút như cái cần câu .

Ngả nghiêng đung đưa theo nhịp chạy .

Anh em đang cố vận động theo BCH .

Vừa chạy , vừa cầm tổ hợp dí sát mồm , vừa đọc những chữ số đúc , bắt liên lạc với trung tâm .

Hướng d3 súng bb cũng đã nổ dồn dập .

Hướng Đại đội 2 súng nổ rất dữ dội .

Đã nghe tiếng súng bắn trả của bọn Pốt .

Một vài tiếng xoẹt - xoẹt , viu-viu sắc ngọt vượt qua đầu tôi và Vinh .

Nghe tiếng đạn nhọn xoẹt qua , thoáng rùng mình lạnh gáy .

Tôi nói : như vậy rìa làng cũng có chốt của Pốt .

Ông nói anh em Phụt mấy quả B41 vào mấy cái bụi cây và cái nhà sàn kia .

Vinh chậm lại , nói đ/c B41 đi tăng cường .

Rất nhanh , đ/c xạ thủ Tiểu đội 11 quỳ xuống bắn ngay .

Ùng , Qủa B41 như quả tên lửa xe gió lao đi lửa phụt ra đằng sau , lao vào mục tiêu nổ ầm .

Lửa khói trùm lên .

Rồi lại thao tác rất nhanh , bắn vào tiếp 2 mục tiêu khác .

Đã tới rìa Phum .

Anh em không vận động được nữa , mà bắt đầu tiền nhập chậm hơn .

Loáng thoáng , thấy bóng bọn áo đen chạy rất nhanh .

Thằng có súng , thằng ko có súng .

Anh em nhằm bắn và tiếp tục hành tiến .

Hướng Đại đội 2 , đánh theo trục đường đất , phát triển có vẻ rất thuận lợi .

Tôi nói Vinh anh em tiếp tục tiến .

Tôi đợi và nhập vào chỗ BCH Đại đội .

Phía sau anh em tiểu đội 11 , đang khênh 2 khẩu đại liên theo đơn vị .

Hai khẩu đội cối còn ngoài cánh đồng cũng đang vận động theo .

Tôi nói anh Đạc bắt liên lạc với C2 , chứ bên đó đang vận động tới rồi , không cẩn thận lại " táng " vào nhau .

Anh Đạc bảo thông tin báo về Tiểu đoàn là C1 đang tiến vào Phum rồi .

Nói là Phum nhưng địa bàn ở khu vực này rất rộng .

Gần như là một thị Trấn , thị Tứ .

Chắc đây là cấp Xã hay cấp Huyện của Pốt , Nên nhà sàn có vẻ rất khang trang , đẹp đẽ còn in lại dấu tích của một thời huy hoàng , hưng vượng đã qua .

Tiếp tục tiến lên vài trăm m nữa , tới trục đường , thì gặp Đại đội 2 vượt qua .

Xác mấy thằng Pốt nằm vắt trên đường .

Mọi tiếp tục truy kích về hướng trái .

Anh em phát hiện có vết máu từ đường hướng vào bụi cây .

Đoán ngay là có thằng bị thương lết vào đó .

Tôi nói anh em chú ý tìm kiếm , rất nhanh đã phát hiện một thằng Pốt lấp trong bụi cây .

Một đ/c Đại đội 2 hô " Lớt day lơn" Một cánh tay rồi 2 cánh tay giơ lên .

Anh em lao vào xem xét.

Thằng này bị đạn bắn xuyên qua gần khu vực cổ chân , nên không thể chạy được .

Hai đ/c Đại đội 2 lôi tên Pốt từ trong bụi ra .

Lấy thắt lưng của nó , trói quặt tay ra phía sau .

Tên Pốt to con , mặt tái mét trắng bệch , chưa hoàn hồn .

Tôi nói : " căm phơ lương "chỉ vào súng ý hỏi là súng đâu .

Hắn lắc lăc đầu .

Tìm quanh cũng không thấy .

Vừa lúc đó một đ/c chiến sỹ c2 trông còn rất trẻ , bị thương vào cánh tay , đã được băng nhưng vẫn đeo khẩu RPD băng tròn đến chạy tới .

Tôi nói : mấy anh em ở đây trông coi thằng Pot .

Tôi hỏi Nhẫn ( sau này mới biết tên đ/c bị thương này là Trần Trung Nhẫn lính 7/77 quê Thái Bình ).

Vết thương có nặng không .

Nhẫn nói em bị nhẹ thôi .

Tôi nói : Anh em cứ ở đây phải cảnh giới nhé .

Nhẫn nói em còn bắn được mà .

Sau đó tôi cùng các anh em khác , tiếp tục truy kích về hướng Đông .

Tiếng súng ở đó vẫ đang rộ đều .

Sau này khai thác , mới biết thằng tù binh này là Tiểu đoàn phó Tiểuđoàn 121 .

Việc thành tích bắt được tù binh và việc chiến sỹ Nhẫn , cùng nhómanh em quản lý dẫn tên tù binh về .

Đã trở thành một đề tài sôi nổi và nhiềutranh cãi .

Khi đ/c chiến sỹ Trần Trung Nhẫn này được " lăng xê" thành tích .

Để lại nhóm anh em và tên Pốt tại đó .

Tôi cùng mọi người tiếp tục hành tiến truy kích theo đội hình .

Hướng Tiểu đoàn 2 đã ngớt tiếng súng .

Hướng Tiểu đoàn 3 , tiếng súng vẫn nổ dồn dập .

Vẫn có những loạt đạn thẳng , của bọn Pốt về hướng tấn công của chúng tôi .

Bọn Pốt vừa chạy vừa quay súng lại bắt hú họa .

Nhưng cũng đã có một vài anh em trúng đạn .

Các đ/c y tá đang khom người băng bó vết thương cho ae .

Đại đội 2 , Đại đội 1 , đã lẫn vào nhau .

Cùng tấn công về phía Đông .

Hướng bọn Pốt rút chạy .

Gặp Tiểu đoàn 3 , nên chiến sự hướng đó vẫn còn tiếp tục diễn ra .

Giữa một bên đón lõng bủa lưới vây .

Một bên cùng đường tháo chạy , đang bị ép phía sau .

Hướng phải thì có cả TTG rồi .

Nên bọn Pốt ko chạy về hướng đó .

Chúng vừa chống trả Tiểu đoàn 3 , vừa tháo chạy sang hướng trái Đông Bắc .

Chúng vừa chạy vừa điên cuồng chống trả , bằng những loạt đạn AK bắn thẳng .

Để cản bước tiến của đối phương .

Đúng là chúng ta đã vây cả 4 mặt .

Nhưng khi Đại đội 1 đã tấn công vào Phum .

Đã giáp quân với Đại đội 2 , thì như vậy , tạo kẽ hở là giữa Đại đội 1 và Tiểu đoàn 3 ở hướng Đông Bắc .

Vì Tiểu đoàn 3 cũng đã tấn công vào Phum .

Thật sự thì cũng không thể nào vây bọc thật kín được .

Vì địa hình rất rộng .

Phát hiện Pốt vọt ra cánh đồng , anh em truy đuổi ra tới ngoài rìa Phum khoảng 200 – 300 m .

Bọn Pốt chạy như vịt ở đồng nước .

Về khoảng chạy , miếng võ " ù té quyền" này thì lính Pot rất giỏi .

Phải nói là vô cùng giỏi .

Giỏi hơn anh em mình .

Anh em mình nào là bi đông nước . túi lương khô , túi đạn dự phòng .

Mấy quả lựu đạn . con dao găm . cái xẻng , cái cuốc .

Một cái thắt lưng nặng hàng chục kg .

Lại còn mũ cối sắt , đi giầy dép v v ...

Trang bị nặng nề hơn Pót nhiều .

Lại phải thức cả đêm luồn sâu .

Sức đã cạn .

Nên không thể đuổi theo theo kịp chúng .

Anh em các đơn vị ngừng truy kích .

Mà chỉ giá súng 12,7 ly , đại liên , cối 60 ly bắn đuổi là phát huy hỏa lực hữu dụng nhất .

Nhìn những thằng Pốt đang chạy bỗng giơ tay lên trời đổ ập xuống , do trúng đạn .

Hay cả toán đang chạy , đột nhiên đồng loạt nằm xuống .

Rồi oàng- oàng đạn cối nổ tung nước , nơi Pốt nằm .

Một vài thằng đứng lên chạy tiếp .

Trông thật là vui , thật sướng mắt .

Đúng là như trong phim .

Ước gì có phóng viên chiến trường , quay được cảnh ae mình truy kích Pot .

Tiêu diệt bọn Pot thế này thì quý giá biết bao .

Tôi nói với anh Công , trận này mà thằng nào còn sống , thì cũng phải sợ tới già .

Các loại súng , cối bắn đuổi một lúc nữa .

Bóng những cái áo đen đã mất hút vào Phum xa .

Lúc này mới chưa tới 8h sáng .

Một trận thắng lợi ngoài cả dự tính .

Anh em các đ/v đi thu nhặt được mất chục khẩu súng các loại .

Đếm được hơn trăm xác Pót .

Bắt được 1 thằng tù binh là Tiểu đoàn phó , Tiểu đoàn 121 của Pot .

Về phía ta thương vong rất ít .

Các đ/v chốt lại khu vực vừa tác chiến .Đến quá trưa thì rút về vành đai chốt giữ của mình .

Như vậy là : Sau khi lật cánh từ đường 1 về hướng đường 13 .

Hoán đổi vị trí cho Sư đoàn 9 .

Những ngày sau , ae được thông báo là : Sư đoàn 9 lại đang gặp rất nhiều khó khăn ở khu vực trên Rừng Sở , tới cầu Prasot .

Có trận anh em " rút" khỏi trận địa không có tổ chức .

Bỏ lại cả 2 xe tăng của lữ 22 , vì ruộng lầy , bb rút trước nên lính tăng cũng chỉ còn cách " dời xe ".

Xe oto zep của Sư trưởng Tạ quang Tỷ cũng phải vất lại v.v....

Trong khi đó Sư đoàn 341 , thì lại lập được những trận thắng lớn mang tính lịch sử .

Như mở rộng được địa bàn , có chiều sâu trung bình 15km sang đất K .

Trận ngày 15/6/78 . tiêu diệt và thu được một xe bọc thép M113 .

Trận này 20/6/78 thì thắng lớn diệt hơn trăm tên , thu mấy chục súng các lọai , bắt sống được cả một Tiểu đoàn phó của Pốt .

Anh em lại thương vong rất ít .

Khoảng giữa năm 78 .

Thì thông tin về cuộc chiến tranh BGTN đã được phổ biến , thông báo và tuyên truyền sâu rộng trong cả nước .

Chứ không bị che đậy thông tin như trước nữa .

Cái điều " ấm ức" , của những người lính , phải tham chiến từ đầu được giải tỏa .

Cũng từ tình hình như vậy .

Nên Tổng cục chính trị , và các cơ quan báo chí truyền thông .

Đã cử rất nhiều phóng viên báo xuống các các đơn vị .

Sư đoàn 341 , ngoài những phóng viên , cộng tác viên báo của Sư đoàn , Quân đoàn .

Cũng còn có các đồng chí phóng viên và đội công tác của Tổng cục chính trị .

Xuống đi theo dõi viết bài , ca ngợi tinh thần chiến đấu và thành tích chiến đấu của các tập thể , cá nhân trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ BGTN .

Để làm gương điển hình trong việc động viên thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự .

Bảo vệ biên giới .

Sư đoàn 341 , là đơn vị có chiều dầy thành tích trong chiến đấu .

Như có những trận đánh đạt hiệu quả cao .

Bắt được nhiều tù binh , thu được nhiều vũ khí , đánh thắng các trận lớn dọc vùng Biên giới như Phú Cường , Khánh An , Khánh Bình , Hồng Ngự , Đồng Tháp , Hà Tiên - Kiên Giang v.v......

Trong trận ngày 20/6 này , lại đạt hiệu quả và thành tích chiến đấu rấtcao .

Mục tiêu của các nhà báo , của đoàn công tác .

Muốn xây dựng một điển hình , về cá nhân trong thời kỳ bảo vệ Biên giới Tây Nam .

Giống như hồi đánh Pháp , có các điển hình các anh hùng như Bế Văn Đàn , Phan Đình giót .

Gương dũng cảm hy sinh tự tẩm săng vào người đốt kho săng định là "em bé đuốt sống " Thời hoạt động bí mật thì có tấm gương anh Kim Đồng .

Thời kỳ đánh Mỹ thì có tấm gương chiến đấu , dũng cảm của Lê Mã Lương .

Với câu nói bất hủ là : cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù v.v........và vv ...

Đại đội 2 Sông Lam , trong những năm huấn luyện và bảo vệ khu vực vĩ tuyến 17 .

Cũng đã là 1 điển hình về ý thức kỷ luật .

Có nhiều thành tích trong huấn luyện , tác phong nề nếp chính quy hiện đại vv ...

Được là tấm gương cho toàn quân học tập những năm 73-74 .

Trong chiến đấu giải phóng miền Nam .

Đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh .

Đại đội 2 Sông Lam cũng có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc .

Được Đảng , Quốc Hội Nhà nước phong tặng là AHLLVT .

Trong chiến tranh BGTN Đại đội 2 cũng là đại đội có nhiều thành tích chiến đấu .

Có nhiều cá nhân rất dũng cảm trong chiến đấu .

Đang được đ/v đề nghị phong danh hiệu cao quý AHLLVT như Nguyễn song Thao , Ngô khắc Quyền .( cả 2 đ/c này đều bị hy sinh trận ngày 18/7/78 .

Đều được truy tặng danh hiệu AHLLVT ).

Thật ngẫu nhiên , Đ/c TrầnTrung Nhẫn lại cũng là chiến sỹ của Đại đội 2 Sông Lam .

Lại là lính thế hệ7/77 .

Rất hợp với tiêu trí của 1 điển hình .

Trong việc xây dựng 1 điển hìnhcho 1 lớp chiến sỹ sau 75 ( sau đánh Mỹ ) .

Cái tên Trần Trung Nhẫn cũng có cáigì gần gũi và đặc biệt .

Trận vừa qua , đ/v thắng lớn .

Nhẫn lại bị thương ,cùng ae dẫn giải tù binh về .

Rất tự nhiên , Nhẫn đã được lọt vào mục tiêu tìmkiếm , xây dựng điển hình của các nhà báo và đoàn công tác .n im ắng lạ thường.

Bọn Pot đi tập kích về , chắc cũng năn ra ngủ .

Chúng ko thể biết rằng , bãotố , lửa khỏi và lòng căm hận , đang chuẩn bị ập xuống đầu .

Về chuyện chiến sỹ Trần Trung Nhẫn TP cũng đã viết tiếp bài .

Kể về sự thật việc " lăng xê" c/sỹ Nhẫn một cách quá mức .

Làm cho CB chiến sỹ trong đơn vị có nhiều bức xúc .

Có lúc như dathao nói đúng là có tác dụng " ngược".

Nhưng lúc đó chỉ có cấp C - D - E , biết thôi .

Bức xúc nhất là cấp Đại đội .

Nhưng qua nhiều lần , các cấp chỉ huy lãnh đạo xuống .

Đả thông tư tưởng nói về cái ý nghĩa to lớn , cái lợi to lớn , thì chúng ta phải nén cái bức xúc xuống .

Mà vui vẻ mỗi người góp cho Nhẫn một ít thành tích .

Vì mục tiêu chính trị là : Xây dựng 1 điển hình trong chiến tranh BVBG .

Nhằm động viên tinh thần chiến đấu , của cán bộ chiến sỹ trong và ngoài quân đội .

Vì vậy anh em ta hiểu vấn đề tế nhị này .

TP thôi không post tiếp bài đã viết về sự việc Trần Trung Nhẫn nữa .

Sau trận thắng ngày 20/6/78 .

Tình hình toàn tuyến chốt của Trung đoàn 273 , được bình yên mấy ngày .

Toàn hướng chốt của Trung đoàn im tiếng súng .

Tối đêm cũng không có tiếng ùng oàng .

Cắt bụp , tiến súng tập kích của Pốt .

Anh em được dịp " xả hơi" .

Ngày thì tích cực cải thiện , chủ yếu là săn bắt cá , mà các loại cá nhỏ ở đây thì nhiều vô kể .

Hết cá kho , cá nấu , cá rán , cá nướng , cá sấy .

Thì cũng chẳng còn biết làm gì hơn .

Các khóm tre cũng đã được khai thác cạn kiệt những cây măng phục vụ cho bữa ăn của lính .

Mưa .

Chính thức mùa mưa 78 đến .

Có ngày mưa ào ào , mưa rầm rề , mưa suốt cả ngày , cả đêm .

Đúng là mưa nhiều , vô tình đã trở thành kể đồng lõa của Pốt .

Gây cho các đơn vị chốt giữ , bao nhiêu phiền toái khổ cực .

Trước hết là hầm hào , công sự , ngập nước .

Nên ngồi gác , không thể ngâm người mãi trong nước được .

Như vậy mình đã là mục tiêu lộ trên cao .

Mà về đêm , nếu quan sát tốt nhất là phải càng ở vị trí thấp , càng tốt .

Ngoài tiếng động phát hiện bằng tai .

Còn nhìn được bóng người mờ mờ trong nền trời đêm .

Tiếp đến là quần áo , anh em lúc nào cũng ẩm ướt .

Vì thông thường , mỗi người cũng chỉ có 2 bộ .

Mà trong điều kiện mưa triền miên , thì quần áo anh em , làm sao khô được .

Nên nhiều anh em , lại phải mặc độc cái quần đùi ( quần xà lỏn).

Mưa ẩm ướt , làm quần áo nhanh bị mục rách .

Thế là thêm cái khổ của người lính chốt là thiếu quần áo mặc .

Tiếp đến do ẩm ướt ngâm nước lâu những bệnh dịch nước ăn chân , ăn tay , lang ben , hắc lào , cả ghẻ ngứa v.v.... bắt đầu đồng lõa với Pốt làm khổ lính mình .

Anh Nuôi , lo chuyện hậu cần cũng thật vất vả .

Vì củi đun không có .

Phải tận dụng những tre , gỗ , sàn nhà hỏng của dân làm củi đun .

Rồi cái nguồn củi này cũng hiếm cũng cạn kiệt dần theo thời gian .

Việc tiếp phẩm từ VN sang , 15km hàng ngày của từng đơn vị cũng gian nan không kém .

Con đường đi từ Bến Sỏi , Búa Lớn sang .

Giờ đây đã nhão nhoét .

Công binh phải vào rừng Hòa Hội , chặt hàng vạn cây gỗ to bằng bắp chân , bắp đùi , mang ra lót ngang đường cho xe đi .

Nếu có việc gì , mà về VN .

Được đi nhờ những xe Hồng Hà kéo pháo , vận chuyển .

Thì là một lần đi là 1 lần nhớ đời .

Vì mọi người đều phải đứng trong thùng xe , bám chặt vào thành xe .

Nhún lên , nhún xuống xe theo từng nhịp xóc ổ voi , ổ gà , vượt qua những cây gỗ tròn trơn truội .

Duy nhất là chỉ còn đ/c lái xe là phải ngồi ghế lái .

Người cứ nhẩy lên nhẩy xuống , nghiêng bên nọ ,ngả bên kia .

Đầu đập liên tục vào nóc cabin .

Trông thật tội nghiệp .

Lúc này , hậu cần đã có thêm sáng kiến .

Là mang bánh mỳ sang chốt .

Nhưvậy lúc đó đơn vị TP vẫn ngày 3 bữa cơm .

Nhưng 2 bữa cơm , một bữa bánh mỳ .Sáng kiến này , cũng giải quyết được phần nào vất vả .

Trong việc đun nấu củaanh Nuôi .

Chăm sóc bữa ăn cho bộ đội trên chốt . biết rằng , bãotố , lửa khỏi và lòng căm hận , đang chuẩn bị ập xuống đầu .

Yên bình được mấy ngày .

Bắt đầu từ ngày 25/6 , bọn Pốt lại tập trung tập kích vào dọc tuyến chốt của Trung đoàn và Tiểu đoàn 1.

Lần này chúng tập kích với mật độ dầy hơn , điên cuồng hơn .

Cứ khoảng 8h tối , là đã bắt đầu đợt tập kích chúng .

Chủ yếu là dùng các loại B40 - B41 và DKZ bắn tập trung vào các điểm chốt của các đơn vị .

Có đêm chúng tập kích tới hơn chục lần .

Làm cho các đơn vị chốt sinh hoạt rất căng thẳng .

Đại đội 3 , vẫn là mục tiêu chính của Pốt .

Vì đây là điểm đầu , trong thế phòng ngự của Tiểu đoàn .

Ngoài các trận tập kích đêm .

Ban ngày chúng cũng dùng cả pháo cối , 12,7 ly bắn găm vào đội hình chốt .

Những khó khăn về trời mưa , nước lụt ngập , đúng là đã đồng lõa với Pốt .

Hành hạ bộ đội mình .

Anh em phải chống đỡ chúng rất vất vả .

Vì chúng cơ động ngoài ruộng rộng .

Mục tiêu di chuyển .

Còn chúng ta là chốt cố định , lại bị thụ động .

Pháo , cối , hỏa lực của mình cũng đã chi viện tối đa .

Mà bọn này như ngày càng say máu .

Chúng điên cuồng thể hiện rõ ý đồ lẫn dũi , nhổ chốt của Đại đội 3.

Đại đội 3 thương vong tăng dần .

Quân số bắt đầu thiếu hụt .

Tiểu đoàn và Đại đội vẫn kiên cường giữ chốt .

Các Đại đội 1 - 2 được tăng cường chốt cho Đại đội 3 để giữ vững địa bàn .

Khoảng đầu tháng 7/78 .

Tiểu đoàn yêu cầu Đại đội 1 , điều 1 Trung đội thiếu sang tăng cường khu vực chốt tiền tiêu của Đại đội 3 .

Lúc đó khoảng 5h chiều .

Anh Công , Anh Đạc căn cứ vào tình hình chốt của Đại đội .

Điều động Trung đội 1 , đ/c Trần Vinh để lại một Tiểu đội chốt .

Còn trực tiếp đ/c Vinh BT chỉ huy 2 Tiểu đội .

Được tăng cường thêm một B41 .

Sang vị trí chốt của Đại đội 3 .

Sau khi được nghe phổ biến nhiệm vụ .

Đ/c Trần Vinh nói : tôi mệt không thể đi sang chốt ở Đại đội 3 được .

Anh Công , Anh Đạc thuyết phục mãi mà Trần Vinh cũng không nhận nhiệm vụ , rồi bỏ vê vị trí Trung đội .

Việc xử lý thật khó khăn .

Ai cũng biết , sang đó thay chốt là vô cùng vất vả và nguy hiểm .

Nhưng không thể điều Trung đội khác thay thế .

Trong lúc anh Đạc , báo cáo lên Tiểu đoàn .

Về tình hình khó khăn trong việc điều động .

Tôi xuống Trung đội 1 .

Chuyện trò và làm công tác tư tưởng với Vinh và anh em Trung đội 1 .

Không phải chỉ có Vinh , mà còn một đồng chí Tiểu đội trưởng nữa , cũng không chịu đi tăng cường cho Đại đội 3 .

Thuyết phục một lúc , tôi kết luận .

Nếu Vinh và Thắng(?) không đi , thì hai anh em lui hẳn về cứ phía sau .

Đừng ở đây nữa .

Làm khó cho Đại đội và ảnh hưởng tư tưởng anh em khác .

Suy nghĩ một lúc , rồi Vinh nói : "thôi em nghe anh .

Chứ người khác thuyết phục , thì em cũng dứt khoát không chấp hành .

Nhưng anh phải tăng cường đạn và bánh mì cho anh em đi chốt" .

Tôi nói : "Đạn thì yên tâm là thoải mái cho anh em bắn .

Còn bánh mì thì anh sẽ điều trên Đại đội xuống .

Vinh cho anh em làm công tác chuẩn bị đi" .

Tôi trở về BCH Đại đội , trao đổi lại với BCH về tình hình Trung đội 1 .

Nói đ/c Vinh và Thắng(?) đã chấp hành lệnh rồi .

2 đ/c trinh sát Tiểu đoàn đang đợi ở BCH .

Tôi nói liên lạc lấy toàn bộ số bánh mì ( 5 cái ) của BCH xuống cho anh em .

Trời đã nhập nhoạng tối .

Tôi bắt tay từng anh em .

Nhất là Vinh bắt taytôi thật chặt .

Tôi nhìn sâu vào mắt Vinh , đôi mắt to đen kiên nghị .

Với đôilông mày lưỡi mác , thật ấn tượng .

Trong lòng tôi trào lên cảm giác xót xa thật khó diễn tả .

Chiều biên giới nơichiến tuyến , mưa vẫn rả rích rơi .

Ngày mưa trời nhanh tối . vị TP vẫn ngày 3 bữa cơm .

Nhưng 2 bữa cơm , một bữa bánh mỳ .Sáng kiến này , cũng giải quyết được phần nào vất vả .

Trong việc đun nấu củaanh Nuôi .

Chăm sóc bữa ăn cho bộ đội trên chốt . biết rằng , bãotố , lửa khỏi và lòng căm hận , đang chuẩn bị ập xuống đầu .

Tôi về đến hầm chỉ huy Đại đội .

Anh Đạc , Anh Công hỏi về tình hình anh em đi tăng cường chốt C3 .

Tôi kể cho các anh em về anh em Trung đội 1 , về Trần Vinh , về Thắng rồi nói : anh em mình tốt thật , tuyệt vời thật .

Nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy áy náy thế nào ấy !

Đ/c Hiệp liên lạc , mang mấy phong lương khô dự phòng ra cho mọi người cùng ăn .

Vừa ăn vừa nói chuyện thêm về các công việc của Đại đội .

Nhất là khu vực chốt giữ của Trung đội 1 , còn có một Tiểu đội .

Tôi nói với anh Đạc : anh xem điều ở Trung đội nào , một Tiểu đội tăng cường vào chốt Trung đội 1 .

Mình cứ cẩn thận thì hơn .

Truyện trò trao đổi tiếp mấy câu , tôi thấy uể oải vào hầm nằm nghỉ .

Trong lòng vẫn thấy bồn chồn áy náy , thật khó tả .

Đôi mắt Vinh to tròn , đôi lông mày lưỡi mác , rất kiên nghị và câu nói : "Em nghe anh , chứ người khác thuyết phục , thì dứt khoát em không chấp hành " cứ hiển hiện trước mặt , cứ văng vẳng bên tai .

Trong chiến đấu , gian khổ , ác liệt hy sinh là lẽ thường tình .

Hàng ngày , hàng giờ , trong Tiểu đoàn , trong Trung đoàn .

Đều có tin đ/c này hy sinh , đ/c kia hy sinh .

Có anh em quen biết , hay đồng hương , đồng khói , đồng niên , đồng lứa .

Nhưng có nhiều anh em , mình chưa từng gặp mặt .

Hoặc vừa bổ sung về đơn vị , được một vài ngày .

Thậm chí một vài giờ , chưa kịp làm quen , chưa kịp nhớ tên nhau .

Đã lại bị trúng đạn , hy sinh .

Hôm trước , nói chuyện với đ/c Lập trên quân lực . ( Sau trận Hà Tiên , đ/c Lập được điều về Tiểu ban quân lực Trung Đoàn ).

Anh Lập nói nhỏ : từ khi đi Biên giới , trung bình một ngày , Trung đoàn có 3 đ/c hy sinh .

Số bị thương thường là gấp gần 3 lần .

Trời !

đấy mới là trung bình của một Trung đoàn .

Còn toàn Sư đoàn , toàn Quân đoàn , toàn tuyến Biên giới thì không biết con số thật thế nào ?

Nỗi đau của các đ/c chỉ huy , khi thấy chiến sỹ hy sinh , thương vong nhiều thì vô cùng thương xót .

Lúc nào cũng phải vắt óc ra , tìm cách giảm thiểu số thương vong trong đơn vị .

Luôn phải làm tốt chính sách thương binh , liệt sỹ , với các đồng chí đã anh dũng hy sinh , vì dân , vì nước , vì Tổ quốc Mẹ hiền kính yêu .

Nhưng các chỉ huy , ngay cả các chiến sỹ cũng đã quen , đã chai sạn , khi chứng kiến sự hy sinh quá lớn .

Có những khi ngẩn người một lúc , khi nghe tin " thằng bạn", thằng " đồng hương" vừa hy sinh .

Bần thần một lúc , rồi lại bừng tỉnh khi nhận nhiệm vụ .

Công việc thực tại của trận địa đơn vị , của chiến trường .

Như nhắc nhở , như động viên mình không được ủy mỵ .

Không được yếu đuối .

Lại tiếp tục chắc tay súng , cộng thêm cái nghĩ : " Người có số" .

Để rồi lại cười đùa , lại lạc quan với cuộc sống để hoàn thành nhiệm vụ .

Những suy nghĩ so đo , tính toán , hèn nhát chợt đến , nó cũng lại nhanh chóng ra đi .

Đầu hàng trước sự lựa chọn của người lính .

Sự lựa chọn vinh dự , trách nhiệm Tổ quốc được đặt lên hàng đầu .

Miên man với các suy nghĩ , tôi giật mình vì tiếng nói quen thuộc của đ/c Mai liên lạc : " CT Viên ơi !

Còn rượu đây".

Trong những ngày chốt , anh em trong BCH thường hay bí mật , gửi tiếp phẩm mua cho rượu .

Không phải lúc nào cũng uống , mà thi thoảng mới dùng .

Riêng tôi thì bị cái thói quen , cứ tối đi ngủ là " làm một hớp".

Hình như rượu , nó làm cho người ta tỉnh táo hơn , mạnh mẽ hơn , hay giúp người ta quên đi những lăn tăn , so đo tính toán .

Với tôi khi làm hớp rượu tối , thì đi ngủ vào giấc dễ hơn .Tôi cầm bình tông rượu từ tay Mai , làm một hớp thật to .

Rồi lại một hớp nữa .

Đ/c liên lạc nói : sao hôm nay CT Viên uống nhiều thế ?

Rồi cầm lấy bình tông rượu cất đi .

Cùng lúc đó thì súng nổ .

Bốn phương , tám hướng súng của Pốt nổ rầm rầm , dồn dập ùng òang , pằng pằng , cắc bụp , vào khu vực chốt của Đại đội và cả tuyến Tiểu đoàn .

Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn dầu .

Vơ nhanh khẩu súng ra vị trí chiến đấu .

Hướng C3 súng vẫnnổ nhiều nhất .

Đã có tiếng súng bắn trả của quân mình .

Cối 82 , cối 60 phíasau cũng đã hỗ chiến rất nhanh .

Ở vị trí Đại đội 1 , nhưng đầu óc tôi vẫn nghĩvề Đại đội 3 , Trung đội 1 của Trần Vinh đang được tăng cường ở đó .

Trung đội trưởng Trần Vinh , Tiểu đội trưởng Thắng , cùng 1 đ/c nữa đã hy sinh lúc 2h sáng .

4 đ/c khác bị thương .

Linh cảm , áy náy của tôi linh nghiệm .

Tôi bàng hoàng như đất dưới chân xụp xuống , khi nghe hung tin này .

Lúc 8h sáng , Trung đội Trần Vinh được thay chốt , trở về đội hình Đại đội .

Anh em kể lại : khi ra tới chốt tiền tiêu .

Khu vực này có vết tích vài cái nhà sàn .

Đại đội 3 dựa vào những vị trí này để tổ chức chốt giữ .

Các hầm chiến đấu , hào chiến đấu , ở ngoài mép vườn , tiếp giáp với cánh đồng đã ngập nước .

Hầm hào đã rất nhiều bùn nước .

Đất đào lên , đúng ra là múc lên làm bệ chiến đấu cũng nhão nhoét .

Trần Vinh lệnh cho anh em củng cố lại các hầm , hào chiến đấu .

Anh em lấy mũ sắt , múc hết nước ở dưới hố chiến đấu và vét bùn lên .

Nhưng việc làm này không có hiệu quả lâu , vì nước lại thấm , lại rỉ ra .

Nên không làm sao cho công sự khô được .

Anh em phải đứng trong bùn nước đến lưng bắp chân .

Nên việc vận động di chuyển trong hào là rất khó khăn .

Khoảng 30' sau , thì Pốt tập kích trận đầu tiên vào chốt .

Chúng bò gần vào các chốt , cách khoảng 100m .

Đồng loạt bắn các lọai B40-B41 vào chốt .

DKZ 82 từ xa , chúng cứ nhằm bắn bừa vào các vị trí chốt của ta .

Chủ yếu là hỏa lực , còn đạn thẳng là rất ít .

Anh em đáp trả bằng những loạt đạn ak và cả B40 - B41 nữa .

Các loại cối của ta đã chi viện kịp thời .

Bẻ gẫy trận tập kích thứ nhất của Pốt .

Ngớt tiến súng .

Trần Vinh đi vòng các vị trí , đôn đốc động viên , nhắc nhở anh em vẫn phải tích cực múc nước , củng cố trận địa .

Phải thật cảnh giác đề phòng Pốt mò sát vào chốt tập kích .

Tiếp đến trận tập kích thứ 2 - thứ 3 - thứ 4 cũng kịch bản tương tự .

Một đ/c bị thương vào vai .

Anh em băng bó và dìu về phía sau .

Sau trận tập kết thứ 4 .

Trận địa lại chìm trong yên tĩnh .

Toàn chốt , mọi người đều thức , không một ai nói đến chuyện ngủ .

Anh em thay nhau canh giác , cảnh giới .

Căng mắt ra nhìn , tìm nghe những tiếng động lạ trong đêm .

Khoảng 2h sáng , các loại hỏa lực của Pốt lại thi nhau bắn vào các chốt của Trung đội .

Tiếng hô trô - trô ầm ĩ .

Hòng áp đảo tinh thần chiến sỹ ta .

Anh em chủ động đánh trả .

Hướng chính diện , Trung đội Trần Vinh cùng Tiểu đội trưởng Thắng nhổm hẳn người lên , để bắn vào những nơi phát ra tiếng Trô – Trô .

Phát hiện thấy một nhóm Pốt vẫn tiến vào chốt .

Vinh và Thắng cùng tung ra mấy loạt lựu đạn .

Ầm - ầm - ầm .

Nhỏm dậy quan sát , không còn thấy bóng mấy thằng Pốt nữa .

Thì rầm.... một quả đạn DK hay B41 của Pốt phóng tới .

Lửa khói trùm lên , đúng vị trí của Thắng và Vinh .

Đ/c B41 gần đó cũng bị thương .

Trận chiến toàn chốt vẫn tiếp diễn .

Các anh em khác vẫn kiên cường chiến đấu đánh trả Pot .

Không còn tiếng Trô- Trô của Pốt nữa .

Trận địa lại chìm trong tĩnh lặng .

Tại BCH Đại đội 3 .

Đ/c Phô và CVT Nông thấy hướng chốt Trung đội 1 tăng cường súng nổ nhiều .

Biết là hướng này gặp khó khăn .

Ngớt tiếng súng , trực tiếp Đại trưởng Phô dẫn một Tiểu đội xuống tăng cường chốt B1 .

Tổ chức đưa Vinh , Thắng cùng mấy anh em bị thương về phía sau .

Từ lúc đó cho đến sáng . anh em lại mấy lần chống trả các đợt tập kích lẫn dũi của Pốt .

Thêm 1 đ/c nữa hy sinh .

Nhưng trận địa chốt tiền tiêu của Đại đội 3 và cũng là của Tiểu đoàn vẫn được giữ vững .

Đến 8h , Đại đội 2 tăng cường một Trung đội đến thay chốt cho B1 .

Anh em trở về vị trí của Đại đội .

Trong đội hình chiến thắng trở về , thiếu vắng 7 đ/c .

Người đi đầu đội hình không phải là Vinh .

Trần Vinh , Thắng và một đ/c nữa đã hy sinh , 4 đ/c bị thương .

Tôi và ae BCH bắt tay , ôm anh em thật chặt .

Nhìn ae quần áo lấm lem , mặt hốc hác thâm quầng .

Thật xót thương cùng bao cảm mến .

Tôi không nói được lời nào .

Mắt nhòe , lệ rơi , nỗi xót thương , buồn đau vô tận .

Vinh ơi !

Thắng ơi !

Các em ơi !

Phải chăng anh có lỗi với các em ? ? ?

Tôi ngửa mặt nhìn về hướng mặt trời .

Hôm nay trời không mưa , mặt trờiđã cao qua ngọn thốt nốt .

Một vài cánh chim bay vút qua .

Tôi vẫn thấytrong trung thiên , vũ trụ .

Đôi mắt to, đôi lông mày lưỡi mác kiên nghị và câunói : " em nghe anh ..." .

Cứ hiển hiện , cứ văng vẳng quanh đây .

Đã33 năm rồi mà như mới hôm qua .

Mãi mãi hình ảnh đó , câu nói đó đã và sẽ luôntheo tôi đến tận cuối đời

Trong những ngày tiếp theo , chiến sự vẫn diễn ra như vậy .

Chúng vẫn tổ chức tập kích bằng hỏa lực vào cả tuyến .

Nhưng cường độ , mật độ tập trung vào Đại đội 3 vẫn cao nhất .

Đại đội 3 , Tiểu đoàn 1 , phải chống đỡ rất vất vả .

Tiểu đoàn đã xin Trung đoàn chi viện hàng trăm bao cát . ( Bao xác rắn của Mỹ cũ ) , tổ chức cho vận tải Tiểu đoàn , đóng đầy đất khô ở phía sau .

Tháo dỡ các nhà sàn , hỏng và tận dụng tre , đan phên .

Tận dụng những ván nhà sàn , không người ở .

Mang làm hầm có nắp .

Chắn đỡ để hầm hào công sự ko bị xụt nở .

Be đắp , các ụ chiến đấu .

Chống được sát thương do đạn cối , đạn nổ ĐKZ và cả B40 – B41 nữa .

Toàn tiểu đoàn tập trung củng cố hệ thống hầm hào , phòng thủ cho Đại đội 3 .

Nên khu vực chốt ở Đại đội 3 , số thương vong do các loại hỏa lực và cối 82 , 60 giảm hẳn đi .

Đời sống của anh em chốt được cải thiện hơn .

Mặc dù mỗi ngày , mỗi đêm , vẫn phải chịu hơn chục trận tập kích của Pốt .

Những ngày tiếp , bọn Pốt lại tập trung rất đông quân ở khu vực ngã ba Sàm Rông .

Khu vực ngã 4 PRay Âng Ke .

Chúng tấn công mạnh vào khu vực chốt của Trung đoàn 266 , giáp với Trung đoàn 273 .

Chúng đã bị Trung đoàn 266 tổ chức cùng tăng thiết giáp , xuất kích .

Đánh tan các lực lượng của Pốt bu bám trước chốt Trung đoàn 266 .

Bọn Pốt lại chuyển lực lượng về trước khu vực Bắc Chóp .

Tiếp giáp tuyến phòng ngự của Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 .

Theo trinh sát báo cáo .

Thì trước mặt Sư đoàn 341 , tiếp giáp Sư đoàn 7 có 3 Sư đoàn của Pốt .

Nhưng mỗi Sư Đoàn chúng chỉ sử dụng từng Trung đoàn , thay nhau liên tục tấn công , tập kích vào các tuyến chốt .

Các loại pháo cối của ta và trực tiếp là anh em bb ở các chốt .

Đã tiêu diệt và tiêu hao rất nhiều sinh lực Pot .

Nhưng bọn này như càng cay cú điên cuồng hơn .

Chúng có ý định tấn công toàn tuyến .

Chia cắt giữa Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 .

Hòng chiếm lại khu vực ngã ba Săng Ke .

Sư đoàn và Trung đoàn lên phương án chủ động tấn công tiêu diệt bọn này .

Trong những ngày ở chốt .

Thi thoảng tôi vẫn phải có việc về cứ để làm công tác chính sách cho ae .

Khu vực cứ của Trung đoàn và các đơn vị , từng Đại đội làm các lán tạm .

Tập trung ở khu vực Búa Lớn .

Địa danh này , nằm ngay cạnh trục đường 13 ( ? ) sang CPC .

Ở khoảng giữa phà Bến Sỏi tới biên giới , ngay sát rừng Hòa Hội .

Chính vì thế mà nơi này bộ đội ta rất đông .

Đồng nghĩa với hàng loạt quán , cà phê , giải khát , quán nhậu .

Của dân địa phương ở đây và dân bên thị xã .

Sang mở quán rất đông .

Phục vụ cho bộ đội .

Khu vực này nhanh chóng , trở thành 1 địa danh sầm uất , đông đúc .

Anh em trước khi sang đất K thường dừng lại đây mua tạp hóa , trà , rượu , thuốc , mang sang làm quà cho ae bên chốt .

Hoặc là vào quán nhậu , chia tay đơn vị , hay gặp gỡ đồng hương đồng khói vv...

Với tôi tại nơinày , cũng tại 1 quán giải khát có 1 kỷ niệm đáng nhớ .

Trong 1 lần về cứ khiđợi xe sang chốt .

Tôi xin kể lại cùng các bạn .

Mỗi lần về phía sau , được nghỉ một đêm thật là vui và thoải mái .

Tuy rằng ae vẫn ở lán trại tạm . mái lán căng bằng tấm vải bạt .

Anh em cũng kiếm được gỗ , hoặc tre làm giát giường kê sát đất .

Nhưng cái chính là được sống trong những giây phút yên bình .

Tối ngủ , không phải vừa ngủ , vừa ngóng tiếng bùng bình - cắc bọp của Pốt tập kích .

Lúc nào thần kinh cũng phải căng ra .

Chúng tập kích nhiều thì cũng lo lắng , sốt ruột .

Lo cho bộ đội mình thương vong .

Hoặc lơ là trong canh gác .

Những lúc mà không thấy chúng bùng bình - tắc bọp theo quy luật , thì lại cũng bồn chồn , vì sợ Pốt có âm mưu gì mới .

Tóm lại ở chốt không bao giờ được giấc ngủ ngon .

Còn về cứ , nới đây cũng chưa phải là thật sự an toàn .

Vì địa bàn này , vẫn trong tầm pháo của Pốt .

Thứ 2 nữa là bọn " đặc công , trinh sát " của Pốt .

Cũng rất hay luồn lách , vào sâu trong ta .

Chủ động tập kích vào cứ , mà ở cứ thì việc canh gác rất đơn giản , anh em rất chủ quan .

Mọi công việc đã xong , anh Thú , anh Khi , 2 anh em coi cứ Đại đội đều quê Thái Bình .

Lính lớp 72 , đều bị thương chưa đủ xếp hạng thương tật .

Nên được ở phía sau .

Ngoài ra còn có 2 đ/c nữa bị thương mới đi viện về .

Chiều tối hôm đó , anh em mua đồ ăn về , chiêu đãi tôi .

Nói là chiêu đãi cho nó oai , chứ thực ra , anh em cũng chỉ mua được nửa kg thịt bò về xào nấu .

Rồi thêm chai rượu nữa .

Ăn xong , chuyện trò một lúc rồi rủ nhau ra một quán giải khát ngay gần đó uống nước .

Tên biển hiệu của quán là : Thu Cúc .

Nhưng anh em lại gọi là quán 3 cô .

Mỗi anh em làm một cốc chè đỗ , tôi uống một cốc nước chanh .

Hồi đó giá mỗi cốc nước chanh hay chè đỗ là 6 hào .

Gọi là quán 3 cô , nhưng tôi lại chỉ thấy có 2 người con gái ( xin lỗi quên tên) phục vụ .

Nhìn nhanh , thì 2 cô cũng không có gì ấn tượng .

Anh em chắc cũng hay ra uống nước , nên chào hỏi nhau có vẻ thân thuộc .

Anh em giới thiệu tôi với mọi người .

Ngồi nhâm nhi một lúc , uống hết cốc nước và hút mấy điếu thuốc lá .

Anh em tôi trở về lán , chuyện trò một lúc rồi đi ngủ .

Tôi nói anh em , sáng mai ăn cơm sớm .

Làm sao khoảng 8h là tôi cùng 2 đ/c mới đi viện về , ra đón xe đi nhờ sang chốt .

Sáng hôm sau , khi cơm nước xong .

Tôi cùng mấy anh em ra quán uống nước và cũng là để đợi xe .

Mỗi người lại gọi một cốc nước .

Buổi sáng nên tôi gọi ăn cốc chè đỗ .

Lúc này quán đã có đủ " 3 cô" .

Thoảng qua cô thứ 3 , trông trẻ hơn 2 cô kia , chỉ khoảng 19-20 .

Nước da trắng hồng , đôi mắt to đẹp , nhưng rất lanh lợi .

Cũng trang điểm nhưng ko quá cầu kỳ .

Trông dáng rất thành phố .

Nhỏ tuổi hơn 2 cô kia nhưng qua giao tiếp có vẻ " già dặn " hơn so với tuổi và so với 2 cô kia .

Tôi đoán , cô này có vẻ là chủ và là linh hồn của quán Thu Cúc này .

Qua trao đổi biết tên cô là Cúc .

Quán Thu Cúc mang tên của cô .

3 cô cùng là chị em họ hàng với nhau .

Nhưng vì Cúc nhà bên thị xã Tây Ninh , nên cứ chiều đã phải về bên đó và sáng thì sang .

Nên tối qua tôi không gặp .

Tôi cầm cốc chè lên định uống .

Vừa nâng lên , thì ...ooạt .

Tất cả chè đá trong cốc đổ tràn xuống bàn , bắn cả vào quần áo tôi .

Tôi vẫn ngồi yên , tay vẫn cầm cái cốc thủy tinh (loại cốc lớn ăn chè , hoặc uống nước chanh) nhưng toàn bộ phần đáy bị rơi ra .

Bao nhiêu chè đã tụt , lênh láng ra hết bàn , mọi người giật mình đều hướng về phía tôi .

Nhìn cái cốc còn độ khoảng 2/3 không đáy , không còn gì bên trong tôi cười nói : Không phải tại tôi nhé .

Tôi đang cầm nguyên cốc đấy .

Tất cả 3 cô chủ cùng mọi người khách đều nhìn , rất bất ngờ vì cái việc hiếm gặp , hy hữu đó .

Cô Cúc rấtnhanh nhẹn , chạy lại lau bàn và nói : Em xin lỗi , em sẽ trực tiếp làm đền anhcốc khác .

Phải nói là về nước giải khát , thì các tỉnh phía Nam chế biến ngon hơn và đa dạng hơn các tỉnh phía Bắc .

Nhất là trong những ngày tháng cam go ác liệt đó .

Đói khát , thiếu thốn , nên khi về phía sau , được uống cốc nước mía , cốc chè , cà phê hay nước chanh , thì cảm thấy lý thú vô cùng .

Cái cảm giác mát lạnh và ngọt nó thấm vào mồm , vào lưỡi , nhanh chóng lan toả khắp cơ thể làm cho ta sảng khoái ngay , khoẻ khoắn ngay .

Chứ ko có cái cảm giác khó chịu như ở miền Bắc hoặc ở những nơi họ chỉ đập đá ra .

Khi ăn chè vẫn bị lổn nhổn đá .

Có những lúc khát nước ở bên Chốt , hoặc hành quân đánh địch giữa trưa nắng như thiêu như đốt , tôi hay nói với anh em là : khi nào về phía sau .

Về Sài Gòn , tớ sẽ mua cả 1 xô ( một thùng ) nước mía , gục đầu vào vừa uống vừa gội đầu cho nó đã .

Ở vùng Tây Ninh , các quán giải khát rất nhiều .

Đá lạnh , không đập đá như ở Miền Bắc hay ở nơi khác .

Mà họ có một cái máy bào đá .

Đúc bằng gang , sơn vàng hay sơn đỏ .

Họ cho một tảng nước đá vuông to vào , rồi vặn mấy vòng cho cái ty ở giữa giữ tảng đá không bị rơi ra .

Rồi một tay giữ , cái núm tỳ đá .

Một tay quay .

Tảng đã quay tròn , bên dưới bàn đỡ có một lưỡi dao thò lên như lưỡi bào gỗ .Như vậy là đá được bào ra rất nhỏ , bốc chỗ đá bào đó giống như là bốc nắm tuyết .

Cho vào và đắp đầy cả lên cốc nước chanh , hay cốc chè , trông thật hấp dẫn .

Người ăn chỉ lấy cái cù dìa ( cái muỗng dài) chọc chọc cho đá xuống hết cốc .

Đá nhanh chóng tan ra , hoà quyện cùng nước chanh hay chè đỗ , làm cốc nước , cốc chè nhanh chóng mát lạnh .

Nghĩ lại mà thấy thật thèm , thật tuyệt .

Sau lúc sự cố cái cốc của tôi xảy ra .

Cô Cúc nhanh chóng làm cho tôi cốc chè khác .

Cô lấy tảng đá cũng cho lên cái máy bào đá , 1 tay giữ một tay quay cho tảng đá quay tròn thật nhanh .

Tảng đá xoay tít , rất thành thục và điệu nghệ .

Tôi quan sát mọi động tác của Cúc .

Thầm khen sự khéo léo rất chuyên nghiệp của người con gái trẻ , có phần xinh đẹp này .

Vèo.... tảng đá đang xoay tít trên máy , bỗng văng ra lao thẳng về chỗ tôi ngồi nổ oành ... vỡ vụn và bắn ra tung toé .

Theo phản xạ tôi co chân , nhẩy ra khỏi ghế .

Lùi về sau , thì cái ghế gỗ tôi ngồi , đổ kềnh .

Kỳ lạ là nó không đổ nằm ,.

Mà lại lộn hẳn , dơ 4 chân gỗ lên trời trước mặt tôi .

Tất cả mọi người trong quán đều ồ lên nhìn về phía tôi .

Tôi giật mình , người nóng ran giống như có cảm giác đang ở chiến trận .

Mà có quả đạn cắm bên cạnh ko nổ .

Đúng là hiện tượng lạ .

Thoáng nhìn thấy cô Cúc mặt đỏ lựng .

Đứng ngây ra không nói được lời nào .

Vừa lúc đó có 1 xe Hồng Hà đến dừng trước quán .

Để cho ae bộ đội đi nhờsang chốt .

Xe chở đạn pháo .Trên xe cũng đã có 1 số ae .

Đ/c lái xe tắt máynhấy xuống vào quán mua mấy thứ .

Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng về sự cố liêntiếp vừa rồi .

Mọi người quanh đấy nhanh chóng lên xe .

Tự nhiên như phản xạ .Tôi nói anh em : ở lại mai hãy sang .

Chiếc xe Hồng Hà 3 cầu nổ máy , nặng nề đi về hướng Biên giới .

Khoảng hơn chục anh em đứng lố nhố trên thùng , một tay vịn thành xe , một tay dơ vẫy vẫy tạm biệt .

Có anh còn lãng mạn , điệu nghệ ép tay vào mồm , rồi thả ra .

Gửi cái hôn vào gió cho anh em ở lại .

Hay là cho mấy cô gái bán quán không biết nữa .

Thoáng nghĩ , anh em mình thật vô tư .

Ra Biên giới , sang đất K , là sang chốt .

Không ở chốt tiền tiêu phía trước , thì cũng ở phía sau .

Đều trong tầm súng , tầm đạn , tầm pháo của Pốt .

Người lính ở chốt tiền tiêu đương nhiên là vất vả hơn .

Nhưng nhìn chung đã sang chốt , sang đất K , là phải sống trong khó khăn , thiếu thốn , gian khổ .

Là cận kề giữa sự sống , cái chết .

Mà anh em vẫn vô tư , hồn nhiên , lãng mạn thật lạ kỳ .

Nhìn chiếc xe chở đạn , chở lính mất hút về phía xa .

Tôi trở vào trong quán ngồi , mọi người có vẻ bình thường trở lại .

Không ai nói gì về những việc vừa xảy ra nữa .

Tôi cũng đã có một cốc chè đỗ , vừa ăn chè , đầu óc cứ nghĩ về chiếc xe .

Không biết mình ở lại đúng hay sai .

Anh em được ở lại thì rất mừng .

Vì ai cũng thấy , được ở phía sau ngày nào là đỡ vất vả ngày ấy .

Được nghỉ ngơi thảnh thơi , không phải lo đến súng , đến đạn .

Suốt ngày ta ta , địch địch .

Nhưng tôi đã hẹn hôm nay sang chốt .

Nên việc ở lại làm tôi rất áy náy .

Ba chị em Cúc chụm đầu vào nhau , thì thầm nói chuyện gì đó .

Thỉnh thoảng lại thấy Cúc nhìn về phía tôi .

Tôi cũng không có tâm trí nào để hỏi thăm trò chuyện , hay là " tán" chuyện nữa .

Ăn xong cốc chè , tôi chủ động thanh toán tiền .

Tôi chào mọi người về lán trước .

Nằm ở cái giường tạm , giát giường là các cây gỗ nhỏ ghép lại , khấp khểnh .

Nhưng cũng cảm thấy thật êm ái thư giãn .

Nhìn lên trần lán , tôi vẫn cứ thấy nặng lòng trong việc quyết định ở lại .

Vẩn vơ nghĩ về những việc xẩy ra sáng nay .

Không biết liệu có gì không tốt đến với tôi , mà như là có điềm báo vậy .

Lúc sau , mấy anh em cũng về lán .

Mọi người rủ tôi chơi cờ .

Tôi đồng ý ngay .

Chơi cờ , nhưng đầu óc không tập trung .

Tôi thua liền 2 ván .

Đang bầy ván thứ 3 , thì nghe tiếng ầm.........

âm vang như tiếng sấm xa hướng biên giới .

Tiến nổ ko lớn nên cũng không ai để ý nhiều .

Vì ở vùng này , thì suốt ngày nghe súng nổ , pháo ta bắn Pốt hoặc ngược lại .

Có điều nếu là pháo của Pốt bắn , thì nghe tiếng đạn bay , tiếng vo vo là đạn qua đầu .

Còn nghe có tiếng rít xoẹt là đạn rơi gần mình .

Nên tiếng nổ vừa rồi cũng là việc thường tình .

Khoảng 30 phút sau , toàn khu vực nhốn nháo cả lên .

Tôi nói anh em ra xem có gì mà nhộn nhạo thế .

Moi người ra khỏi lán .

Tiếng ồn áo càng lớn , loáng thoáng những bóng người chạy đổ ra đường .

Tôi cùng anh em cũng chạy ra , anh Thú còn xách luôn khẩu AK nữa .

Trời !

Đã thấy gần chục cái cáng võng đang chạy ngang qua về phía trạm phẫu .

Có những cái võng máu đã thấm ra ngoài loang lổ .

Ai cũng chạy theo vạch võng ra xem người bị nạn .

Tôi hỏi đ/c khênh cáng : anh em bị sao vậy ?

Đ/c khênh cáng vừa thở hổn hển vừa nói : xe bị mìn cách biên giới khoảng 5km .

Ôi đúng cái xe sáng nay rồi .

Từ sáng đến giờ mới có một xe sang .

Thật may , thật hú vía .

Nếu sáng nay tôi không quyết định ở lại , liệu tôi và 2 đ/c nữa có ai phải nằm trong cái võng kia?

Không biết thế nào rồi!

Mấy cái võng cáng đã đi xa , tôi bần thần rồi thế nào lại bước vào trong quán ( cũng vì quán gần ngay lán cứ của Đại đội ) .

Tôi bừng tỉnh lại ,khi mấy chị em Cúc và một số anh em cứ xúm lại chúc mừng cái " may" của tôi ,của anh em tôi .

Vừa tránh được một tai hoạ có thể đến với mình .

Cô Cúc mangcho tôi một cốc nước chanh nói : em chiêu đãi cốc này , anh hên nhé .

Đôi mắtCúc lúng liếng , nhìn tôi như gửi gắm , như muốn nói điều gì ?

Tôi hỏi một vài anh em cùng đi trên xe , nhưng may mắn không việc gì .

Thì được anh em kể như sau .

Xe chạy sang như bình thường .

Đường xấu quá , những cây gỗ xếp ngang đường đã bị gãy , bị dập nát , xếp lên nhau mấy lớp .

Nên xe ôtô qua được là rất khó khăn .

Xe chở đạn nặng cứ gầm lên lấy đà , chồm lên , để vượt qua những chỗ lầy lội .

Đúng là chỉ có xe 3 cầu thì mới có thể vượt qua được .

Nghe nói loại xe này là của Trung Quốc , ngày xưa chế tạo giúp ta , để chuyên chở vũ khí đạn dược dọc Trường Sơn .

Đèo dốc nhiều , nên chỉ có loại xe này mới vượt qua những ngầm sâu , những dốc cao .

Để kéo các khẩu pháo nặng mấy tấn .

Vận chuyển hàng vạn , hàng triệu tấn vũ khí , lương thực , trang thiết bị vào chiến trường .

Nó cũng đã góp một phần không nhỏ , làm lên chiến thắng của chúng ta .

Trong thời kỳ chống Mỹ , cứu nước , giải phóng Miền Nam .

Đi được khoảng 4 - 5 km , thì có một xe đi ngược bị chết máy .

Mấy anh em tập trung sửa chữa .

Chiếc xe phải đi ra mé ngoài mép đường , để vượt qua chỗ xe hỏng .

Vừa qua xe hỏng khoảng chục m .

Lái xe đang lấy lại hướng vào tim đường .

Thì ầm ...

Tiếng nổ long trời của mìn chống tăng đã hất tung cả xe lên . ( quả mìn chắc sót lại từ lâu ) .

Anh em trên xe cũng bị hất bay lên và rơi xuống cùng với những quả đạn .

Sức nổ mạnh , làm anh em phía góc bánh sau bị sức ép nặng bất tỉnh và một số bị gẫy chân , gẫy gay hay chấn thương v.v..........

May mà đạn pháo trên xe không phát nổ .

Ngẫm lại , cái linh tính người ta hay gọi là giác quan thứ 6 này thật kỳ lạ .

Không biết sự việc này , nó là vô tình , ngẫu nhiên , hay nó có sự liên kết xâu chuỗi nào đó .

Mà mình chưa biết , chưa khai thác được .

Không biết hình hài thật của nó là thế nào ?

Nhớ lại trong một lần , cũng luồn sâu tấn công Pốt .

Ở hướng đường 24 , lúc đó địch và ta rất hỗn loạn .

Ta và địch không phân định rõ ranh giới .

Vì mình luồn sâu vào đất địch .

Khi nổ súng , thì như vậy là phía trước là địch rất đông . phía sau thì lính Pốt chạy về , mở đường máu tìm đường thoát .

Nên như vậy chung quanh 4 hướng đều có địch .

Hướng trước mặt địch phản công mạnh .

Tôi cho anh em cối lùi về sau , để phát huy tốt tác dụng của cối .

Thì lại gặp Pốt đang tấn công đến .

Bên phải , bên trái đều có địch .

Không thể biết dừng ở đâu cho hợp lý .

Chợt thấy một bãi phân người còn mới tinh .

Ngay gần đấy , không biết là của anh em mình hay Pốt thải ra nữa .

Tôi nói ngay với anh em gía súng ngay tại đây .

Anh em nghe theo ngay tức khắc .

Từ vị trí này , 2 khẩu cối 60 bắn chi viện được cho cả mấy hướng rất hiệu quả .

Tại vị trí đó được giữ vững cho đến chiều .

Anh em mới phải thu cối , khi có lệnh di chuyển theo đội hình .

Những năm tháng qua và bây giờ nghĩ lại .

Vẫn thấy thật là buồn cười với cái quyết định hôm đó .

Qua trưa , rồi đầu giờ chiều .

Tôi ra quán ngồi uống nước một lần nữa .

Lúc này quán vắng , tôi mới chính thức truyện trò với mấy chị em cô Cúc .

Cả 3 chị em cùng tập trung trò chuyện rất vui , hỏi thăm đủ các chuyện .

Tôi được biết nhà Cúc ở phía ngoài thị xã , nếu từ đây về thì nhà sát ngay con lộ vào thị xã Tây Ninh .

Nhà Cúc thuộc diện gia đình có kinh tế khá .

Ba Cúc , mới lập một xưởng xay sát , chà gạo gì đó .

Hiện Cúc đang ở với Ba cùng người Dì .

Còn mẹ đã mất lâu rồi , Cúc là con út trong gia đình , trong cuộc sống sinh hoạt phải tự lo liệu sớm .

Nên Cúc rất có bản lĩnh mạnh mẽ , tự tin trong sinh hoạt .

Cuối buổi nói chuyện , Cúc có mời tôi nếu có dịp thì ghé thăm nhà .

Tôi ậm ừ nhận lời , vì cũng chẳng biết đến khi nào mới có thể đến được .

Ngày mai lại sang chốt .

Biết bao giờ trở về VN , làm gì có thời gian mà nói tới chuyện đó .

Tôi bắt tay chào mọingười về lán .

Cảm nhận như là Cúc cố tình để tay lâu trong tay tôi , như cóbiểu cảm gì đó .

Mắt nhìn tôi cảm mến , như là 2 người đã quen nhau lâu rồi .Tôi thoáng bối rối , nhận ra tình cảm ấy của Cúc .

Tôi buông tay Cúc ra , rồinói to chào mấy chị em .

Tôi bước nhanh về lán , như là chạy trốn điều gì sắpđến .

Sáng hôm sau tôi cùng 2 ae trongĐại đội đón xe sang chốt sớm .

Anh em tôi đón xe từ sớm sang chốt .

Qua khu vực chỗ xe bị mìn hôm qua , mới thấy sợ .

Chiếc xe còn đó , nằm rìa ngoài đường .

Sức nổ mạnh của quả mìn chống tăng , làm bay đi cả một góc xe .

Thật hú hồn , hú vía , nếu như hôm qua mình cũng có mặt trên chiếc xe này .

Xuống xe ở đường 13 .

Anh em tôi đi bộ mấy km nữa mới tới vị trí chốt của Đại đội .

Mấy khấu 12,7 của Pot vẫn đang thùng - thùng - thùng bắn về hướng chúng tôi .

Đạn cuối tầm rơi cắm phập phập chung quanh hay xuống nước bắn tung tóe .

Đạn cuối tầm nhưng cũng vẫn nguy hiểm .

Chúng vẫn có thể gây thương vong chết người nếu vào chỗ hiểm .

Tôi nói ae chạy vận động ngang , tránh hướng bắn của Pot .

Tới chốt , anh em trong BCH Đại đội vô cùng mừng .

Vì ở đây , cũng đã nghe kể về xe bị mìn hôm qua .

Nên anh em rất lo , liệu tôi có đi chuyến xe đó không ?

Trà thuốc , kẹo được bày ra .

Chuyện trò trao đổi về tình hình đơn vị , tình hình địch .

Qua trao đổi , anh Đạc , anh Công kể trong 2 ngày vừa rồi , chiến sự vẫn tiếp diễn như cũ .

Nhưng qua trinh sát báo , bọn Pốt đã tập trung rất đông quân ở phía trước , đối diện với đội hình của Trung đoàn .

Chúng rất cay cú cho trận 20/6 vừa qua .

Cho đến bây giờ mà chúng chưa đẩy hay chiếm được chốt nào của ta .

Chúng vẫn âm mưu đẩy lùi ta về biên giới , chiếm lại vùng này .

Có tin của Cục 2 là chúng đang hối thúc 3 Sư đoàn phía trước .

Tăng cường hơn , chủ động hơn , trong việc tập kích ta cả ban ngày , tích cực lấn dũi ban đêm .

Hòng tiêu hao sinh lực ta , rồi tấn công chiếm chốt đẩy lùi ta về biên giới .

Xong cuộc trao đổi , tôi nói đ/c liên lạc đi một vòng thăm vị trí các Trung đội và 2 Tiểu đội hỏa lực .

Cho ae ít trà , thuốc lá mua ở Búa Lớn .

Anh em rất vui .

Nhìn chung , hầm hào của các Trung đội , đã củng cố tốt hơn .

Nhưng đa phần là vẫn không có nắp tránh đạn rơi .

Tôi về bàn với BCH mời các Trung đội lên hội ý .

Yêu cầu anh em phải tận dụng các vật liệu sẵn có trong khu vực .

Cố gắng làm được nhiều hầm bán âm , bán dương nhưng phải có nắp đất .

Để tránh đỡ các loại đạn rơi , đạn cối nhỏ và các loại B40 , B41 của Pốt .

Ban ngày ở chốt thời gian như thật dài , nhưng tối ập xuống rất nhanh .

Cơm chiều xong truyện trò với anh em một lúc .

Không biết làm gì , tôi đi nằm sớm .

Nghĩ lại sự việc xẩy ra hôm qua bên cứ .

Cái cảm giác mềm ấm của bàn tay Cúc , đôi mắt đẹp , lanh lợi rất ấn tương .

Nhưng sao thấy có nét buồn trong đó cứ hiển hiện lên .

Cái điềm báo thật kỳ lạ .

Phải chăng giữa Cúc và tôi có nhân duyên gì chăng ?

Qua sự việc xẩy ra đó , qua mấy câu chuyện xã giao .

Dường như Cúc và tôi cũng có những đồng cảm .

Ôi !

Nhưng đời lính , chiến đấu gian khổ thế này , ai là người giám nghĩ đến chuyện yêu đương , hay vợ con cơ chứ .

Nhưng đôi mắt đẹp và buồn ấy , hơi ấm của bàn tay con gái mềm mại ấy , cứ làm cho tôi vẩn vơ suy nghĩ .

Đang miên man nghĩ ngợi , thì ùng - ùng , oàng - oàng .

Đợt tấn công thứ nhất của Pot vào chốt bắt đầu .

Tiếng súng tiếng cối của ta cũng đã đáp trả .

Nhưng hôm nay bọn Pốt đánh vào dọc tuyến chốt các Đại đội , lâu hơn thường lệ.

Đạn các loại nổ rồn rập trong khu vực chốt của Đại đội .

Khoảng 30 phút sau mới im tiếng súng .

Rất may toàn Đại đội không ai bị thương .

Liên tục đến sáng cứ cách 30 - 40 phút là Pốt lại tập kích hỏa lực 1 lần .

Anh Công nói : quái lạ hôm nay chúng tập kích ta quá nhiều .

Bọn này có âm mưu gì mới đây .

Cho tới gần sáng , đợt kích cuối , một quả đạn DK làm cho 3 đ/c trong Trung đội 2 bị thương .

Anh Đạc báo về Tiểu đoàn , 30 phút sau thì vận tải Tiểu đoàn lên .

Chuyển anh em về phía sau .

Khoảng 7 giờ , Tiểu đoàn báo2 đ/c cấp trưởng lên Tiểu đoàn , để về Trung đoàn họp quân chính triển khainhiệm vụ chiến đấu .

To be continue...

Chuyện bên lề:

- Đợt chúng tôi đi xe từ đơn vị huấn luyện, rồi lên tàu vào Nam.

Có 1 anh bạn tên là Bùi Văn Dựng ở B tôi, hễ xe, tàu đi qua chỗ nào có Nghĩa trang liệt sỹ là nó lại kêu to :" Những chỗ này là dành cho anh em mình đấy!".

Hay " Chõ bọn mình đây này chúng mày ơi!".

Bọn tôi đều chửi nó nhao nhao: " Vứt cha cái mồm thối của mày đi!

Sao lại huyên thuyên nói gở thế?

Có dành cho mày thì có".

Rồi từ ngày vào đơn vị cho đến khi được quyết định phục viên, nó chuyên vác cái đế cối 82 ly.

Ai cũng nghĩ chắc thằng này thể nào không hy sinh thì cũng bị thương.

Ấy thế mà cũng trải qua nhiều trận tham chiến, đi phục, đi càn nó vẫn bình yên vô sự.

Chỉ có vài lần bị sốt rét thôi, chứ chưa bị thương, đá mìn lần nào.

Những tưởng là nó sẽ trở về nhà lành lặn như bao anh em khác.

Sau gần 5 năm ở K, mọi người cũng đã quên những câu nói gở của nó ngày hành quân trên tàu vào nam rồi.

Thế mà ngày về phục viên, khi về đến trạm nghỉ ở hồ Barai thì nó lên cơn sốt vào ngày thứ 3.

Sau khi uống thuốc, nó cũng đỡ được phần nào.

Rồi 2 hôm sau chúng tôi lên xe về Biển Hồ, lên tàu thủy đi về Công Pông Chnăng.

Khi đến trạm Công Pông Chnăng, khoảng 11 giờ đêm, Dựng bị sốt tăng lên và tâm thần bắt đầu hoảng loạn, đập chân, đập tay kêu cha gọi mẹ ầm ĩ.

Anh em chúng tôi liền chạy đi kêu quân y ở trạm.

Có 2 tay quân y ( một trẻ, một đã đứng tuổi) chạy xuống.

Sau khi được tiêm 2 mũi thì Dựng bắt đầu nằm im và ngủ say sưa.

Anh em chúng tôi thở phào và cùng bảo nhau đi ngủ để sáng mai tiếp tục lên tàu về Nông Pênh.

Sáng hôm sau chúng tôi tỉnh dậy từ 5 giờ sáng, tinh thần hồ hởi vì quê hương đã ngày một gần thêm.

Mấy anh em cùng xã với Dựng liền quay sang đánh thức Dựng dậy : Mày đã đỡ chưa Dựng ơi?

Dậy mau còn đi về Việt Nam chứ!

Cái chăn vẫn không nhúc nhích.

Mấy ae lại lay gọi tiếp: Dựng ơi!

Dậy nhanh lên, sao ngủ khiếp thế?

Nhưng cái chăn và người nằm trong vẫn cứng đơ.

Linh tính như mách bảo có sự chẳng lành.

Anh bạn cùng xã vội lật tung tấm chăn ra.

Ôi thôi!

Dựng nằm co quắp, cứng đơ, người lạnh ngắt và đã tắt thở từ lúc nào rồi Anh bạn ngủ gần nó ngẹn ngào nói : " Khoảng 2 giờ sáng tao còn nghe nó rên khẽ hai lần rồi ngủ tiếp cơ mà".

Chúng tôi vội đi báo cho đoàn trưởng gọi 2 gã quân y tối qua xuống.

Hai vị này chạy xuống xem qua loa dồi lẩn mất tăm.

Chúng tôi đoán chắc tối qua 2 tay này đã tiêm thuốc ngủ cho Dựng vì tối qua nó cứ lăn lộn và gào thét dữ quá.

Thế mà sau khi tiêm thuốc được 1 lúc thôi nó lại quay ra ngủ rất say như thế.

Mấy anh em tìm xung quanh đó xem có tìm được ống thuốc tiêm hôm qua không nhưng tuyệt nhiên không thấy gì.

Nhưng người chết thì đã chết rồi, mà giờ hành quân của chúng tôi đã đến.

Vì thế không còn thời gian để truy tìm nguyên nhân về cái chết của Dựng nữa.

Đoàn trưởng liền cử 3 anh em cùng xã đưa Dựng về Nông Pênh bằng xe ô tô của binh trạm để đưa về nước.

Đến 7 giờ 30 sáng hôm đó, chúng tôi lại lên tàu đi về Nông Pênh.

Bước đi mà lòng nặng trĩu vì tiếc thương cho người bạn xấu số.

Bao nhiêu năm chinh chiến không hề sứt mẻ gì.

Thế mà chỉ còn vài hôm nữa là về đến nhà lại lăn đùng ra chết giữa đường về.

Quá là đáng tiếc.

Đến lúc đó, anh em chúng tôi mới chợt nhớ lại những câu nói ngày trước của ở trên tàu vào nam.

Đúng là điềm báo thật!!!

- Đơn vị BY có một lần trước giờ xuất kích lên thay chốt cho đơn vị bạn, anh em dưới B dặn dò rất kỹ chuyện "duy tâm" trước giờ xuất kích, tất nhiên lính tân binh lần đầu lên chốt là được dặn dò kỹ từ trước.

Ấy thế mà có 1 thằng nó quên béng mất chuyện đó, khi tập trung trên C bộ để hành quân lên chốt thì nó lăng xăng chạy khắp đội hình chào người này bắt tay người kia, anh em khác thì lảng xa nó sợ nhỡ nó ra bắt tay mình thì chết dở, mọi người sợ nó như sợ ma, cuối cùng chịu không nổi C trưởng thẳng tay tát cho nó 1 phát vào mặt rồi lệnh cho ở nhà không cho nó lên chốt nữa.

Các anh ấy giữ cho nó, sợ đưa nó lên chốt thì toi sớm nên suốt 1,5 tháng nằm chốt của đơn vị cấm nó tuyệt đối không bén mảng lên chốt, nó ở tuyến sau lo tát cá cải thiện cho đơn vị phục vụ anh nuôi chuyện cơm nước cho lính chốt.

Lần thay chốt sau nó ở B2 nằm ở 3 hầm cánh phải với 9 anh em, địch tấn công sau 5 phút chiến đấu 8 anh em B2 hy sinh cả chỉ chạy thoát duy nhất B trưởng.

Vẫn biết chuyệnmê tín thì không, nhưng duy tâm một chút cho nó lành chứ đứng trên thùng xe màvẫy chào tạm biệt thì dễ "vĩnh biệt" lắm.

- Đúng thật là người lính ở chiến trường khó mà có một giấc ngủ thật ngon,thật yên bình...!

Bản thân tôi khi còn ở K,ngay cả về cứ ở tuyến sau là nơi an toàn mà cũng chỉ có những giấc ngủ ngon ,ngủ sâu chớ không bao giờ cảm giác có được một giấc ngủ thật bình yên.Ngủ nhưng luôn luôn cảnh giác,súng ống kề bên.Ngủ nhưng luôn trong trạng thái sẳn sàng cho báo động làm nhiệm vụ đột xuất...

Những lúc chốt đường,chốt cầu thì khi ngủ còn phải cảnh giác cao hơn nửa vì luôn lo lắng bị địch tập kích bất ngờ vào tuyến chốt.Vì chung quanh chổ nào cũng có thể có địch,chúng luôn rình rập bộ đội ta đợi sơ hở là đánh vào.

Lần đầu tiên sau mấy năm ở K, tôi vô cùng sung sướng có được giấc ngủ thật ngon,thật bình yên là khi tôi được về nhà ,ngủ tại nhà của cha mẹ mình và không có cái giá súng ngay đầu vỏng.

Nhưng khổ nổi khoảng 4 giờ sáng sớm hôm đó thì bị một sự cố bất ngờ làm mất giấc ngủ bình yên của tôi.Đang ngon giấc thì nghe một tràng đại liên rền bên tai,theo bản năng ở chiến trường tôi lăn ngang...rớt xuống ...nền gạch bông nghe cái bịch...ê người.ỦA!!!...lạ quá!sao nền đất gì mà cứng ngắt...!Mở mắt ra là nhà mình.

Hóa ra là nhà tôi gần một cái ngã ba,có một bến xe xích lô máy.Hồi năm 81 chạy bằng xăng pha dầu lửa,sáng sớm mấy ông chạy xích lô thường mồi xăng đạp máy nổ ,rồ ga cho nóng máy để khi có khách thì đạp dể nổ.Tiếng máy nổ nghe giống như tiếng súng đại liên.

Cả nhà cười khi nghe tôi giải thích vì sao đang ngủ màlăn xuống đất.

- Có lẽ tất cả anh em đã từng là lính chiến cũng đều trải qua những tâm trạng như của bác Dathao.

Và khi đã về nhà rồi, chắc anh nào cũng sẽ có một vài lần làm cả nhà được trận cười bể bụng.

Ở trong xóm tôi có mấy anh bộ đội thời đánh Mỹ khi về nhà có hôm có anh đang ngủ bỗng bật dậy hô: Xung phong...xung phong!

Làm cả nhả phải hốt hoảng bật dậy theo giữa lúc đang say giấc. ...Còn tôi thì thỉnh thoảng nằm mơ vẫn còn được thấy lại cảnh được cùng anh em ngày xưa hành quân.

Có hôm còn được đánh một trận kịch liệt, khi tỉnh giấc thì trán toát mồ hôi, hơi thở gấp gáp như vừa xung trận thật vậy.

Có một hôm khoảng 2 giờ sáng, đang ngủ tôi bỗng đập tay xuống sàn nhà đánh: Rầm!

Tôi bừng tỉnh.

À.. hóa ra là mơ!

Bố tôi nghe thấy bật dậy châm đèn, đi từ gian trong ra hỏi: Giang, làm sao thế con?

Tôi vừa cười vừa trả lời: Không có gì đâu ạ!

Con vừa nằm mơ được ném lựu đạn đó mà. hìhì..Bố tôi cũng phì cười theo.

Còn mẹ tôi thì ca cẩm lo lắng : Chắc vía nó còn ở bên Căm-Pu-Chia đấy.

Có khi phải mời thầy cúng đến gọi vía cho nó thôi.

Cứ mấy hôm lại thấy nó mơ thế này tôi lo lắm!

Vì ở quê tôi là vùng dân tộc nên vẫn còn có quan niệm là con người ta ai cũng có vía, người ở đâu vía phải theo đó.

Nếu người nào người một nơi, vía một nẻo thì sẽ bị ốm và không gặp may Nhưng bố tôi lại là người luôn không tin vào thuyết đó nên liền gạt phắt đi: Ôi dào !

Bà cứ tin vào những chuyện vớ vẩn.

Con nó lành lặn, khỏe mạnh về đến nhà là mừng quá rồi.

Thời buổi người ta bay lên vũ trụ rồi mà còn nghĩ linh tinh.

Thôi, đi ngủ tiếp!Hàhà...

Đến khi đã cưới vợ rồi có con, tôi thỉnh thoảng vẫn nằm mơ thấy mình được ở bên Pà Ong, Núi Cóc...

Nhiều hôm còn mơ thấy mình bị thương nữa chứ, tỉnh dậy tim cứ đập loạn xạ.

Sáng hôm sau kể lại cho vợ nghe, vợ tôi lại cười trêu: Có lẽ mẹ nói đúng đấy, chắc hồn vía anh còn ở bên CPC, nên lúc nào cũng mơ thấy bên ấy.

Chắc vía anh đã gặp được vía của một cô Cămpuchia nào rồi cũng nên.

Híhí

Vía ơi, ởđâu?

Có đúng thế không�

- Chuyện này thì y như chuyện bên C5 D7 đơn vị BY của B cối 82ly.

Lính mới về bổ sung cho C5 bắn cối 82ly vừa là giảng dậy vừa là thực tế bắn lên chốt địch luôn.

Ông Ngát C trưởng C5 giảng viên cứng cựa về bắn cối và kiểm tra đường đạn, lính tân binh và B trưởng B cối đứng quanh khẩu đội.

Đang dở dang thì thằng liên lạc C5 chạy ra báo cáo sếp có điện của tiểu đoàn gọi xuống nên bàn giao lại cho B trưởng cối 82ly dạy lính tiếp, còn mình về nghe điện.

Mới về đến hầm Đại đội cầm ống nghe lên nói được mấy câu thì nghe ngay khẩu đội cối một tiếng nổ, tiếp theo là tiếng hò hét kêu la, vội quẳng ống tổ hợp đó chạy ra thì ...

Ôi thôi khẩu đội cối với đám tân binh đang học bắn cối chẳng còn thằng nào đứng nổi bằng chân của mình nữa.

Tìm hiểu ra thì rõ nguyên nhân, thằng tân binh sau khi lấy đường ngắm rồi thả đạn vào nòng cối, nó nghe tiếng ro ro từ nòng cối 82ly phát ra và ghé mắt vào nhìn, quả đạn lao lên nổ ngay đầu nòng và thằng kia thì phần đầu chẳng còn gì, từ B trưởng cối 82ly đến nhóm tân binh dính đòn cả.

Ông Ngát nhìn đám "học viên" của mình ngao ngán chửi rủa ầm ỹ, xong làm gì còn thằng nào nghe gì được nữa.

Xét cho thậtcùng thì đơn vị bác tranphu341 vẫn còn may mắn hơn chuyện C5 của đơn vị BY.Kinh nghiệm xương máu, biết rồi, nói mãi thế mà vẫn nhiều đơn vị dính đòn kiểunày.

- Thời KCCM đ/v bọn tôi cũng gặp tình huống này ,đầu tháng 4/75 chiến dịch đã được mang tên Bác tất cả được lệnh chuyển quânthần tốc trên đường hành quân gặp địch đâu là đánh gặp bót đâu là nhổ không cầnđiều nghiên trước , thay vì trứơc kia khi một trận đánh lớn thậm chí trinh sátvề phải làm sa bàn đánh tập (quân xanh quân đỏ) nhuần nhuyễn trước khi ra quânthì bây giờ , tôi nhớ đánh bót Cái đôi (Tây ninh) khi tiền nhập thì có chuyệnkhông bình thường ngòai hàng rào dây thép gai , ống bơ treo lủng lẳng đêm tĩnhlặng đụng vào nó kêu như ...kẻng làng thêm vào nữa là hàng rào...tre gai đực kìmcộng lực không xử lý được như cắt dây thép lác đác còn có những bu ngan vịtthấy có động kêu quàng quạc,ớn chính vì lẽ này nên ta bị bất ngờ luống cuống bòtan tác nhìn nhau vấp phải mìn sáng pháo phọt lên sáng cả vùng nhìn lính đen xìlổm ngổm , Sau khi gài mìn chúng đã chỉnh cối pháo đại liên rất cẩn thận vàođấy rồi khi có động chỉ cần nhắm mắt bóp cò và thả cối là quân ta ăn đủ trong bót tiếp tục bắn pháo sáng ra đèn hỏachâu thắp sáng trên trời lúc này nằm im hay lết như con dán cũng chết nhưngkhông còn cách nào ngòai rút cho nhanh ai dính ráng chịu , trận này đ/v thiệthại nhiều nhớ mãi .

- Một điều băn khoăn bấy lâu nay chưa dám thổ lộ cùng ai nhưng bây giờ cũng mạnh dạn .

Chúng ta những người lính trở về khi đất nước đã thu về một mối , nẻo biên cương hai đầu Tổ quốc đã yên bình và đang phát triển mạnh sánh cùng với các nước trong khu vực và thế giới .

Trong lĩnh vực tình cảm thì người lính nói chung và TB chúng tôi nói riêng dường như đã vấp phải một sự khó khăn vô hình, buổi đầu nếu ta không vững tâm bứt phá để khẳng định mình , khi lên đường nhập ngũ với tuổi đời mười tám đôi mươi lứa tuổi đang học trong mái trường XHCN chắng nghề ngỗng gì chứ đừng nói là thành danh , với truyền thống cao đẹp của anh lính Cụ Hồ chúng ta sẽ và đã vượt qua, nhiều anh bộ đội khi giã từ vũ khí ngòai mặt trận tiếp tục cầm cây bút trong giảng đường đại học khó khăn lắm mới hòa đồng cùng các bạn cùng lớp bởi lẽ những kiến thức ít nhiều bị lãng quên trong nhiều năm cầm súng , tôi cũng vậy để theo học tiếp cũng phải vò đầu trong lớp ôn thi (lớp 10) bên 869 , khó khăn mới nảy sinh vì bị thương tay phải nên viết tay trái và tôi viết tay trái cũng ...nhìn được thậm chi gần hôm thi tốt nghiệp thày hiệu trưởng mới biết nên ưu tiên thi bằng vấn đáp tâm lý trong phòng thi thật nặng nề ...im lặng ...tóat mồ hôi song cũng vượt qua và đương nhiên đượccông điểm .

Còn những TB nặng hơn thì sao , mất cả 2 mắt , hoặc 2 tay , hai chân có trường hợp mất cả 1 vế di chuyển cực kì khó khăn cực lắm không hiểu họ nghĩ gì ?tôi đã được chứng kiến ở trạm phẫu tiền phương nhiều TB như trên họ chả muốn sống làm gì nếu có quả da láng , đau, đau lắm.

Cái tay tôi đã được nhiều bệnh viện QĐ (103 – 108 – 109)chỉnh hình nên mới được như bây giờ nhưng cũng chỉ để làm dáng là chính khi yêu (vợ bây giờ)4 năm trời vẫn không dám đến nhà vì sợ phải ...ăn cơm bằng thìa đũa 1 tay nhưng chính vì có tình yêu không biên giới chúng tôi đã vượt qua và vượt qua tất cả .

Nhớ khi xưa trước lúc đi B ít ngày trong tay tờ giấy nghỉ phép có dòng chữ (lý do đi chiến đấu)với bộ quân phục bác màu huấn luyện thao trường rong ruổi bằng cái xe đạp Phượng hòang cũ nát đèo nàng khắp phố phường , nàng cũng tự hào lắm chỉ thích đi đến nơi đông người và muốn vào rạp Tháng 8 xem phim ...mấy năm sau về không dám vào nhà mà mon men hỏi thăm hàng xóm thì được biết nàng đã lên xe hoa .

Chắc nàng nghĩ "trai thời chiến"hay chọn được người hơn tôi một người chỉ biết nghề ...bắn súng .

Như vậy các bác chớ cho tôi là cực đoan , tội nghiệp .

- Trận càn trong núi Kimry khoảng tháng 7.1979, đội hình D7 của E209 càn từ hướng đông về hướng nam núi bất ngờ đâm vào đội hình của 1D lính Pốt mới từ Thái Lan về nước, chúng đang còn chân ướt chân ráo chờ bắt tay với bọn tàn quân còn trong nội địa.

Một trận đánh bất ngờ cho cả 2 bên, may địch không phát hiện ra đội hình càn quét của C2 chúng tôi ngoài trảng trống lúc đó, nếu không xin bảo đảm rằng C2 chúng tôi không còn nổi 1 người.

Địch thì đông vô kể hầm hố, võng lán chi chít ngay bìa trảng và bất ngờ bị ta tấn công ngay sát lưng nên chỉ còn nước tháo chạy, nhiều thằng địch không kịp cầm theo súng cứ chân tay không mà chạy, cả 1 D địch chạy đen trảng bị C1 chặn đầu, C3 giữ sườn trái C2 thốc thẳng và bên phải là trảng trống khiến chúng hết đường chạy.

Thu về hàng đống súng mới coong K54 K59 nguyên bao da vàng chóe còn treo trên cành cây, mái lán, võng dù đen lính C2 độc quyền, ngay anh nuôi cũng thu được vũ khí địch.

Trận đó chúng tôi gọi là trận: Mèo mù vớ được cá rán, xác địch nằm đó đến nửa năm sau vẫn còn dậy mùi bát ngát.

Riêng C2 chúngtôi chỉ duy nhất chiến dịch càn quét 4 tháng đó thu được trên 500 súng các loạicủa địch trong Amleang và Kimry.

Lính đàn em không phục thù hay rửa hận cho đànanh thì là cái gì đấy hả ông chấm với chả hỏi ?

- BY mặc dù là lớp lính sau, vào tới chiến trường tháng 9.1978 nhưng ít nhiều cũng biết chút chuyện cũ do các đàn anh kể lại, giờ đây nghe bác tranphu341 nói lúc đó F341 đã đi đánh phối thuộc cho QK9 ở Hà Tiên thì mới rõ đội hình QD4 ở hướng Tây Ninh ngày đó là QD thiếu, chứ khi đó ai cũng nghĩ là F341 nằm ở vị trí hướng thẳng thị xã Tây Ninh sang theo hướng Tây, thảo nào tự nhiên "lòi" ra ông F2 của QK5 phối thuộc cùng F7 đục cửa mở hướng đường 10 Đonxo đầu chiến dịch GP.

BY nghe lớp đàn anh kể lại: Khoảng đầu 1978 hướng QL1 Tây Ninh sang ta từng đánh đến tận bến phà Neck Luong rồi rút quân về rồi chốt lại trên đất K cách biên giới VN khoảng trên dưới 20km, chiến thuật đẩy chiến tranh sang đất địch, cũng đúng đánh nhau nếu có đổ vỡ cái gì thì đổ vỡ nhà địch chứ nhà ta không thiệt hại, nên khi BY đi qua BG thấy dân mình vẫn cày cấy bình thường ngay sát đường biên.

F9 chốt giữ trên cầu Prasot về bên trái đường QL1 và F7 chốt bên phải với 3E BB cách thị xã Svayrieng 7km.

Lúc thời điểm BY có mặt tại Tây Ninh thì phải thừa nhận rằng địch mạnh hơn ta ở đó, trận 26.9.1978 ta tổ chức đánh trên toàn tuyến biên giới mà hướng của E209 không tiến được 1 bước bởi sức đề kháng mạnh của địch, cũng nghe nói địch có 3F mạnh nhất lúc đó đối đầu với QD4 ở hướng này, như vậy là 2F của ta đánh với 3F của địch thì đúng là khá chênh lệch quân số, ngay hỏa lực của địch cũng mạnh hơn của ta, chúng dập pháo lên chốt đơn vị BY tối ngày, ta bắn 2 quả thì chúng bắn lại cả chục quả đạn, đạn nhọn chúng bắn cầm canh vô tội vạ, thích lúc nào là bắn lúc bấy giờ, trinh sát địch thì hàng đêm bò vào chốt cứ thấy lính ta sơ hở là tập kích luôn.

Lâu lâu chúng dùng 1 lực lượng mạnh hơn ta gấp nhiều lần bất ngờ tấn công 1C hoặc 1D của ta, chia quân đánh phá giữ chân khiến cho ta khó chi viện được cho nhau, luôn gây ức chế, căng thẳng tinh thần cho lính ta.

Thời điểm đó nhiều C BB trong đội hình E209 quân số chỉ còn lại hơn chục người giữ chốt, nhiều đơn vị sau trận đánh chỉ còn lại vài ba người.

Nói chung là tình hình rất căng.

Lúc đó Tư LệnhQD4 là Thiếu tướng Hoàng Cầm , F trưởng F7 là Đại tá Lê Nam Phong và F trưởngF9 là Đại tá Tạ Quang Tỷ.

- trong chiến tranh nhiều tình huống bất ngờ cóthể xảy ra .Mặt trận Đông Nam bộ lúc ấy bọn tôi cùng vậy , qua những loạt pháokích dữ dội vào đội hình ngớt đợt bỗng thấy...một cái như bìa làng xuấthiện sau mới biết lính VNCH nã bompháo vào đội hình dìm đầu chúng tôi nhân lúc đạn nổ lính tráng chui xuống hầmtránh thừa cơ tăng tiếp cận quanh thànhxe chúng xếp bao cát xung quanh và cắm cây ngụy trang Biết vậy , khoảng 3h sángtôi được lệnh cầm B41 và 2 tay súng AK vào tập kích , khi cách cái "bìarừng" ấy khoảng hơn trăm mét lờ mờ thấy dăm cái màn mắc trên mặt đất chưađịnh thần được thì nghe tiếng cựa quậy ngáp ngắn ngáp dài biết là đụng địchchẳng nghĩ thêm được gì cả 3 chạy re kèn , trong đêm thanh vắng tĩnh lặng ngherõ xa xa có tiếng loạch xoạch mở hòm đạn đại liên ...và tiếng lính hò hét chửibới báo nhau ngán quá không dám chạy khom nữa phải lết bò dăm trăm mét mệt đứthơi nhưng miễn sao được sống là tốt lắm rồi , các bác ạ ! như vậy lính bên kiacũng cảnh giác họ cho tổ tiền tiêu trấn giữ bảo vệ tăng như vậy là rất cẩn thậnhôm ấy trận tập kích không thành công nhưng mình cũng an toàn .Nhớ mãi .

- Tranphu trong đời quân ngũ có 3 lần vì bình tĩnh cẩn thận mà ko bắn phải quân ta .

Chuyện vừa kể là lần thứ 2 .

Còn lần 1 là hồi CTCM .

Khi đ/v chốt giữ ở đường 13 tỉnh Bình Long .Lúc đó là buổi chiều .

Bọn thám báo thường hay đột nhập vào đơn vị , cứ của tiểu đoàn để nắm tình hình hoăc đợi đêm làm mấy quả .

Đơn vị đã mấy lần bị như vậy.

Lúc đó là buổi chiều , trong rừng trời tối nhanh hơn .

Đang ở bên hầm của tiểu đoàn thì nghe tiếng hô ầm ĩ của đ/c Bằng ( quê Bằng ở Sơn Bằng Hương Sơn Hà Tĩnh ) liên lạc d là : anh Phú ơi thám báo , thám báo , thám báo vào cứ .

Tôi vồ khẩu ak vọt lên nghe ngóng và hỏi là chúng đang ở đâu ?

Đ/C liên lạc nói là thấy 2 đứa vừa chạy trốn vào hầm chữ a của c4 rồi .

Tôi hô mọi người bình tĩnh rồi cùng Bằng tiền nhập sát vào cửa hầm của c4 .

Trời nhá nhem tối , ghé mắt nhìn vào hầm , tay lăm lăm súng chuấn bị bóp cò .

Rõ ràng là có người thật .

Tôi hô có người .

Đ/c Bằng nói :anh để em tung lựu đạn vào .Tôi không đồng ý nói là để bắt sống .

Rồi hô bọn trong hầm ra hàng ngay .Trong hầm vẫn im lặng , ko có tiềng trả lời .

Tôi kiên trì kêu gọi và gióng súng vào .

1 cái đầu cứ thò lên rồi thấy tôi gióng súng lại thụt xuống .

Bằng thấy tôi gọi hàng mãi mà ko có hiệu quả định rút chốt lựu đạn tôi vẫn ko cho ném xuống .

Hô mãi rồi có liên lạc c4 đến nói là anh Phú ơi hình như là Thằng Chinh anh muôi ở chốt về chứ ko phải thám báo .

Lúc đó tôi mới gọi có phải Chinh ko thì ra ngay .

Có tiếng tôi , tôi Chinh đây run rẩy .

Đúng là ae mình rồi .

Chinh bò ra rồi cứ thế quỳ lạy tôi .

Ý cảm ơn tôi .

Chinh là người đi đạo Thiên chúa nhập ngũ 10/74 quê ở kỳ Anh Hà Tĩnh .

Lúc ở chốt về ko kiểu thế nào mà chính Chinh lại kêu có thám báo và chạy vào hầm .

Mấy ae khác lại cứ lầm tưởng theo nên đã xẩy ra tình huống như vậy .

Chinh rất nhút nhát sợ chiến đấu .

Chính vì thế ngày 14/4/75 lúc ở ngã ba Cây Cầy chuẩn bị bước vào chiến dịch HCM thì tự thương bằng 1 trái lựu đạn .

Chinh nằm trên võng quấn chăn vào quả lựu đạn để dưới chân rồi rút chốt .

Không ngờ sức công phá của quả đạn quá mạnh làm Chinh tử vong .

Thật tội nghiệp .

- Thực ra thì những đơn vị nhận nhiệm vụ đánh luồn sâu theo chiến thuật "nở hoa trong lòng địch" thì chuyện đêm luồn sâu gặp địch chặn đánh cũng là chuyện hết sức bình thường thôi các bác ạ .

Với lính hoặc đơn vị đánh luồn sâu thì được học và phổ biến kinh nghiệm rất chặt chẽ đến từng cán bộ , chiến sỹ , thường thì trong D E F hay chọn ra những đơn vị mạnh nhất của mình để làm công tác này và trong lúc tác chiến đó thì tất cả đơn vị phải tuyệt đối chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên .

Nhiệm vụ của đơn vị đó không phải là diệt vài thằng địch hay chiếm giữ 1 vị trí nào đó rất ngẫu nhiên trên đường hành quân mà nhiệm vụ chủ yếu của họ là tiến đến vị trí nào đó đã được định sẵn theo ý đồ của cấp trên mang tính chiến lược , rồi từ đó đánh mạnh từ trong lòng địch đánh ra kết hợp với các đơn vị khác từ ngoài đánh vào gây cho địch rối loạn đội hình mà tự tan giã hoặc bị tiêu diệt .

Thường những vị trí đó là những điểm ta nghi ngờ cơ quan đầu não hay BCH đơn vị nào đó của địch đóng quân nên ý đồ đánh thẳng vào cơ quan chỉ huy của địch khiến chúng tan giã cũng coi như đơn vị đó của địch đã bị "xóa sổ" .

Vì mức độ quan trọng của đơn vị đánh luồn sâu đó nên kỷ luật tác chiến cũng rất nghiêm , với phương châm không giao tranh với địch trong lúc hành quân đến mục tiêu , kể cả bị địch chặn đánh cũng bỏ lại tử sỹ mà cắt đường khác đi làm sao đến được mục tiêu theo giờ đã quy định , khi bí mật vào gần mục tiêu rồi thì bao vây ém sát và bất ngờ nổ súng khiến địch trở tay không kịp .

Với cách đánh này thì địch ít khi trụ vững sau 3 phút bất ngờ tấn công , nhưng cũng không phải là trận nào luồn sâu cũng thu được thắng lợi như ý muốn , nếu như ta để lộ ý đồ mà địch nắm được thì sẽ "khốn nạn" với chúng ngay , lính Pốt cũng ghê ghớm lắm chứ không phải loại vừa đâu .

Vì vậy trên đường hành quân nếu như có gặp địch và chúng có hỏi : Boòng tâu na ? cũng là chuyện hết sức bình thường , ta thì không nổ súng trước rồi và địch thì khi biết là quân ta chúng cũng "lờ phéng" đi luôn rồi tìm đường mà lủi gấp chẳng dám đánh trước .

Ta đi với quân số đông thường là cấp D có khi cả E luồn sâu trong đêm nên trinh sát bao giờ cũng nắm địa hình trước nên rất ít khi gặp địch mà tương quan lực lượng tương đương nhau , thường là những nhóm nhỏ hay đơn vị lẻ tẻ nên vía bố chúng nó cũng không dám đọ súng .

Đúng như bác tranphu341 nói : Trước sức tấn công mạnh của ta thì địch thường tháo lui có chiến thuật , rất ít khi chúng đối đầu trực diện trước những trận đánh lớn , nếu biết khó giữ là chúng tìm cách lùi bảo toàn lực lượng rồi sau đó bu bám đánh kiểu du kích giằng dai cắc bụp tiêu hao quân số gây ức chế cho đối phương .

Thậm chí trước chiến dịch lớn hay những đơn vị luồn sâu vào lòng địch chúng còn mở cửa "mời" ta vào rồi quây tròn lại dùng lực lượng mạnh hơn gấp vài lần tấn công trở lại làm cho ta ra không được vào cũng không xong .

BY có tham gia1 trận và quân ta lọt đúng cái thế "giời đánh" của địch khiến cả Dphải rút về mà co cụm lại với nhau , nếu không thì bảo đảm trận đó chúng nó chocả D sạch như lau .

- .Các bạn đã nói đúng là :trong chiến thắng ngoài ý chí,mưu lược,còn có sự may mắn nữa.Cũng như trong thể thao,bóng đá cũng vậy.Hay bây giờ cuộc sống kinh tế cũng thế.May mắn cũng là những yếu tố ko kém quan trọng để làm lên chiến thắng và sự thành đạt.Trong trận này d3+c3 cũng có những yếu tố may mắn góp vào.làm lên sự thành công.

Nhưng nếu thử hỏi ko có mưu lược lừa địch,tổ chức lừa bài bản hẳn hoi của F+ với ý trí và lòng dũng cảm của ae thì liệu có chiến công này ko?

Nhưng thưa các bạn trong cuộc chiến trường kỳ ko phải lúc nào cũng gặp may mắn.ko phải lúc nào có ý chí ,có lòng quyết tâm là có thắng lợi.D trưởng Nguyễn Song Thao là người vô cùng dũng cảm trong rất nhiều trận chiến ác liệt đã được kiểm chứng sự dũng cảm đó.Anh được phong AHLLVT.Nhưng cũng thưa các đ/c D trưởng Thao cũng bị hy sinh trong 1 trận luồn sâu ngày 18/7/78 lúc 2h đêm khi gặp Pot ở SengKe cạnh Chop đường 13 sang.Anh Trụ c trưởng c3 d1 , khi giữ chức d phó d1 cũng bị hy sinh khi luôn sâu đánh ở Hà Tiên Kiên Giang.

Có 1 điều là có sự may mắn nhưng ko phải ai cũng được phép ngồi đó màtrông chờ sự may mắn.Ngày 6/12/77 nếu quả b40 mà nổ thì mình cũng ko thể ngồiđây mà cùng các bạn ôn lại cuộc chiến này đươc.Và nhiều may mắn khác nữa.

- Cái cảm giác lội ruộng nước bùn đất xục lên đến ngang thắt lưng đục ngầu , trên vai vác thương binh khoác thêm khẩu AK của đồng đội tay cầm khẩu súng của mình , ngực đeo bao xe đạn bước xiêu bước vẹo bám bờ mương , bờ thửa mà rút về tuyến sau , địch thì đổ từng tràng đạn cắm phầm phập trên bờ mương đất quanh mình , vậy mà cả mình lẫn thương binh chẳng dính viên nào , nếu dính chắc cũng nằm luôn ở đó cả 2 thằng vì còn sức nữa đâu , mồm miệng thi nhau thở chân cẳng thì bải hoải bài hoài và thằng bạn thương binh trên vai mình thì cứ ỳ ra càng ngày càng nặng .

Cái ký ức đó nhớ mãi , nhớ mãi đến nhiều năm nhớ đến tận bây giờ vẫn còn nhớ , mỗi bước đi như đeo đá dưới cổ chân và con đường đưa thương binh rút chạy ra khỏi trận địa dài cả gần km , lúc mệt quá sức rồi thì bắt buộc phải nghỉ để lấy sức mà chạy tiếp , nhè nhẹ đỡ thương binh nằm xuống vì sợ nó đau , mỗi lúc thấy nét mặt nó nhăn nhó là tự nhiên thấy lòng mình sót lại 1 chút rồi tự trách mình sao không cố gắng thêm chút nữa để đồng đội bớt đau đớn .

Con đường "Tử thần" đó từng đưa tiễn gần 50 tử sỹ và thương binh của C2 đơn vị BY chỉ sau 1 trận đánh , may mắn sao BY không nằm trong số họ và có thể nói đó là trận đánh đầu đời của BY khi đối mặt với lính Pốt .

Ai đó từng tác chiến cuối mùa mưa đầu mùa khô trên tuyến BGTN khu vực Svay Rieng thì ít nhiều có được 1 lần lội ruộng nước vác thương binh tử sỹ trên vai .

Ác liệt và gian khổ ngoài sức tưởng tượng của BY mặc dù đã được cọ sát súng đạn một thời gian ngắn .

Kiệt sức và ngất đi như bác tranphu341 thì BY chưa từng nhưng gần ngất vì kiệt sức thì đã từng vài lần và lúc đó BY cũng chỉ nặng có 47kg cao 1,67m , gày nhẳng gày nhằng mặt vẫn phủ lớp lông tơ búng ra sữa .

Dù chúng ta lànhững người chiến thắng ở cuộc chiến tranh đó nhưng tất cả chúng ta vẫn luônthầm ước "Giá như không có chiến tranh" .

- Lính mà giữ vàng thì cũng đen thật.

Lúc vào PnumPenh C25 của E mình anh em vào được chỗ có nhiều vàng.

Vàng lá " Hàng đống thì không lấy vì trên mỗi lá mỏng hình chữ nhật 4 chỉ có in những những dòng chữ Sài Gòn Kim Thành, Hồng Kông, lính ta lại tưởng là " Vé máy bay" vì đa số chưa ai thấy bao giờ.

Nên một số anh em chỉ lấy dây chuyền và nhẫn...vv...

Nhưng chỉ ít ngày sau khoảng ngày 25/1 đang chốt cách Ponumpenh hơn 20km chỗ gần nhà máy đường C25 bị Pốt vào tập kích anh em phải vất hết mà chạy sang đơn vị khác may chỉ hy sinh có 1 đồng chí Bài- y tá, thật hú vía.

Cũng trong dịp ấy ở C1 D1 đơn vị đánh nhau phía trước còn mấy ông Quản trị trưởng trông ba lô ở sau .Đang ăn cơm 1 quả pháo Pốt Bắn tới đúng chỗ, bị thương mấy người .Anh Khoa nặng Thược quê ở An Hải- Hải Phòng hy sinh.Khi anh Nguyễn Văn Chính D phó CT xuống kiểm tư trang thì trong túi mìn Colaymo có khoảng 3kg" vé máy bay".

Anh chính vừa cầm từng tập vé đó liệng xuống hồ nước vừa nói: " Chết vì cái này đây "

Ông Điệp già cũng là quản tri trưởng quê ở Đông triều QuảngNinh nghe kể ít ngày sau quay lại mò ko biết được bao nhiêu đến khi E bàn giao về nước để lại 1 số anh em gọi là d4 e1 xây dựng huyện MuôngRưXây BATTAMBANG.ông Điêp cũng trong danh sách ở lại.Thế rồi trong lúc hỗn quân hỗn quan ko biết ông này đi đâu,vợ con ở quê cũng ko biết.Mới năm ngoái anh em mới tìm được.

Ông về tậu đất lấy vợ 2,đã được 6 đứa con và làm tới chức trưởng thôn ở vùng KTM Tỉnh Sông Bé nhưng có điều là anh em phải gặp ông bằng giấy phép hương khói vì ông đã bệnh chết mấy năm rồi.

- Về hương vị thịt bò

Lúc đó mình là trưởng tiểu Ban dân dịch trận E.

Mình quản lý 2 phiên dịch nam, 2 phiên dịch nữ, và đội công tác K gồm 3 nam, 9 nữ (đôi công tác đều là lính và TNXP của Pốt cũ chạy sang mình ) để đi tuyên truyền vận động xây dựng chính quyền, khai thác tù Hàng Binh vv....cùng ăn cùng ngủ cùng luồn sâu với lính mình.

Lúc ở Đường 5 rất hiếm thức ăn( vì trên E bộ nghiêm hơn ) lúc mình xuống đơn vị xin được mấy kg thịt bò do anh em ở d1 " tăng gia" mang về thái cho muối vào kho mặn.Mình nghĩ phải để giành ăn 3 ngày vì vẫn còn luồn sâu truy quét.

Chị em trong đội công tác phụng phịu đòi ăn hết mình cương quyết không đồng ý và bê nồi thịt bò cất đi.

Đêm đang ngủ mình nghe tiếng động lạ lạch cạch, lạch cạch, cầm súng nhỏmdậy nằm xuống đất quan sát nghĩ là Pốt bò vào tập kích, thấy gần chục cái đầungười đang quây tròn cứ cúi xuống lại ngẩng lên thật khó hiểu, không phải địch.Mình bò tới thì hóa ra các chị em đang bốc thịt bò ăn vã.Một tay bốc thịt 1 taycầm bình tông nước cứ miếng thịt miếng nước như ngườ nhấm rượu.chắc vì thịt mặnquá.

Một người phát hiện ra mình cười he hé nói: " Boòng Phú, Boòng Phú".

Hiểuhết mọi chuyện nồi thịt bò đã gần hết.

Cô PenKia đội trưởng ngập ngượng tiếngViệt nói: " Campuchia không để giành đâu" đến là thua bọn này.

- Các đàn anh thời đầu ra trận mà tâm trạng nặng nề quá .

Lính già từng giải phóng SG sau này lại sang K chiến tiếp là cực kỳ "rách việc" .

Những ngày làm công tác quân quản tại SG cho đến khi rút ra đi xây dựng kinh tế thì gần như ông nào cũng có người để nhớ để thương , má nuôi , chị em nuôi , bố nuôi và cả người yêu "nuôi" nhiều vô kể , chỉ có anh nuôi và ông nuôi thì chưa thấy đàn anh nào tâm sự có cả , chắc ông nuôi thì ông già rồi không nuôi nổi lính còn anh nuôi thì sợ gặp phải mấy ông lính VNCH cũ nên không ai dám nhận hoặc kết nghĩa .

Nhiều ông lính già đó có "căn cứ" địa Cách mạng ở SG hoặc Tây Ninh là cứ nhoắc 1 phát là kiếm cớ tìm lý do về với căn cứ cũ rồi , về vài hôm rồi lại qua chốt , ở chưa ấm chỗ lại về , thôi thì chán vạn lý do để về và em chưa thấy anh nào lấy lý do đứt tay chảy máu để đi viện về tuyến sau thôi .

Lớp đàn anh từ thời KCCM lúc đó ra trận tâm trạng nặng nề cũng đúng bác tranphu341 ạ , tuổi đời cũng đã bắt đầu cứng và có những khát vọng rất Người riêng , mệt mỏi nhiều rồi khi đã từng đi qua 1 cuộc chiến , 2 chữ Bình Yên là điều các anh ai cũng thèm khát giữa dòng đời .

Bỗng nhiên lại phải lao vào 1 cuộc chiến nữa với bom cày đạn xới và sinh mạng mình nhỏ bé như con sâu con kiến với ngàn vạn câu hỏi : Liệu mình có đi qua nổi cuộc chiến tranh này không ?

Nhãn tiền trước mắt thằng A thằng B đã nằm xuống ở cuộc chiến tranh này , các bác có cái để so sánh để giả thiết và ví dụ ...vv

Lớp đàn em bọn em sau này vô tư hơn các bác , sợ chết thì ai cũng sợ cả nhưng tâm trạng người lính bớt nặng nề hơn rất nhiều , tuổi đời còn trẻ chẳng biết gì ngoài ăn và học chẳng vấn vương tình đời , chưa từng thử sức mình nơi trận mạc chưa thấy hết được sự khủng khiếp của chiến tranh , chỉ thấy sợ và sợ vậy thôi .

Trước trận đánh cũng tâm trạng và suy tư đầy lo lắng , nhưng khi đã nổ súng thì cảm giác đó mất đi chỉ còn lại sự mất còn trong gang tấc .

Đánh nhau mãirồi thành quen dây thần kinh "sợ" của lính nó cũng bị liệt mất rồi ,cảm giác tâm trạng suy tư trước trận đánh cũng mất dần vì độ chai lỳ của trậnmạc , lính cũng dễ tính hơn và dễ chấp nhận thực tế hơn , sống đấy , vui vẻ đấy, cười đùa đấy nhưng tý nữa thành người thiên cổ cũng là điều chẳng lạ lẫm gìvì chuyện đó vẫn diễn ra hàng ngày trước mắt lính ��

- Hồi làm quân quản chúng mình đóng quân ở đồn Cây Mai đường Lục Tỉnh Q11 Nay là đường Hồng Bàng.Đúng tên gọi là trường quân báo Cây Mai.Có từ thờI Pháp ,Nhật rồi Mỹ sau này cũng vẫn huấn luyện biệt kích đặc biệt ở đó.Nó có hệ thống hầm ngầm rất lớn.làm thành khu đồi cao nhất khu vưc Chợ Lớn.Lúc chúng mình vào tiếp quản vũ khí súng đạn còn ngổn ngang vì nơi này dân chúng rất sợ.Cửa hầm lớn mà ko biết thông tới đâu nữa bèn lấp kín đi chứ ko ai giám khám phá.

Ở đây có 1 cái miếu và 1 cây mai rất to.đặc biệt là hoa nó màu trắng 4 cánh rật thơm.gần giống như hoa bưởi.Nghe nói cả SaiGon chỉ có 1 Cây này nên trước kia ngày tết toàn phải lấy cành biếu Tổng thống .Cách đây 3 năm vào lại SaiGon dẫn cả vợ vào thăm lại thì chung quanh đã được chia hết cho lính rồi còn mỗi khu hầm cao có Cây mai trắng.nhưng anh em ở đây nói là từ năm 77 đến giờ ko ra hoa nữa.Mình vái lạy cây rồi xin mấy cái lá đem về làm kỷ niệm 1 thời đã sống ở đây.

Chuyện mình muốn kể là thời đó mới giải phóng nên các em sinh viên hay cùng đi công tác với chúng mình,tác phong ,tính cách gái Miền Nam rất bạo và tự nhiên họ đến chơi thấy mình đang ăn cơm mời cơm xã giao như ngoài Bắc là họ cũng ngồi ăn liền à.Bộ đội lại đang được mọi người ngưỡng mộ nên chị em đến chơi rất đông.Trong khi với lãnh đạo thì cấm quan hệ nam nữ kể cả yêu thương thật lòng Ai họ cũng coi nào là địch nào là ko cẩn thận thì chết bởi viên đạn bọc đường v v..

Có 1 lần,anh Biều quân lực ở cùng phòng mình có mấy ngưởi bạn trong đội công tác đếnchơi.mình với anh Biều xuống tiếp.mình ý tứ đã ko mời ho lên phòng mà tiếp ngayở phòng khách cạnh phòng bảo vệ ngoài cổng lại còn gọi thêm 2 em lính vệ binhvào nữa cùng nói chuyện.Lúc mọi người đến thì khoảng 5 rưỡi chiều ,trời cònsáng.ngồi chơi 1 lúc thì bên phòng bảo vệ bật đèn còn phòng mình thì ko vi ngồitrong quen mắt thấy vẫn sáng b/t.Khoảng hơn 6 giờ tối ông ctv Đặng Văn Lợi điqua thấy phòng thì sáng, phòng có con gái thi tối mặc dù cửa mở và 6-7 ngườiđang ngồi nói chuyện.Ông Lợi chạy vào bắt bật đèn và quát mắng ầm ỹ thế nọ ,thếkia.Rồi họp chi bộ kiểm điểm mình vì có biểu hiện thiếu lành mạnh.Anh Biều kophải là đảng viên nên ko bị kiểm điểm.Thật là oan ức.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Kỳ 9: Hồi ký bác Tranphu341 (phần 2)


Hội nghị quân chính của Trung đoàn .

Trực tiếp Sư đoàn phó Mười Thứ , ( ông mới đi học tại Liên Xô về , làm Sư đoàn phó 341), nói chuyện , phổ biến tình hình Quốc tế .

Tình hình ta và các nước láng giềng .

Giữa ta và Trung Quốc .

Hiện có những mâu thuẫn , bất hòa về quan điểm .

Nhất là từ năm 1972 khi mà Trung Quốc đã bắt tay quan hệ ngoại giao với Mỹ .

Cái luận điểm lúc nào cũng coi Mỹ là " con hổ giấy , tên Sen đầu quốc tế " v.v...

Đã không còn nữa .

Đỉnh cao nhất cho sự thay đổi quan điểm , là chuyến đi thăm Trung Quốc .

Của Tổng thống Mỹ NixSon .

Những thỏa thuận gì giữa họ có trời mà biết

Nhưng tình hình , quan hệ giữa ta và Trung Quốc ngày càng xấu đi .

Nhất là sau khi chúng ta giành được thắng lợi năm 75 .

Thống nhất đất nước , thì chúng hậm hực ra mặt .

Chúng tăng cường các thế lực bành trướng , ủng hộ và viện trợ cho Bọn Pốt – IengXaRi .

Kích động thù hận lâu đời , giữa ta và CamPuChia .

Nên đã gây ra cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam này .

Chúng ta đánh Pốt , để bảo vệ chủ quyền đất nước .

Bảo vệ nhân dân .

Cũng đánh cầm chừng để hy vọng Pốt thức tỉnh .

Trái ngược với thiện trí hòa bình , đoàn kết của ta .

Chúng càng điên cuồng , dùng tổng lực tấn công dọc tuyến Biên giới giữa ta và chúng .

Chúng tổ chức luồn sang chiếm đất , giết hại dân lành , vô cùng dã man tàn bạo .

Gây hoang mang , chia rẽ , đào sâu hận thù lâu đời của 2 dân tộc .

Chúng ta đã phải dùng chiến lược : đưa chiến tranh sang đất K .

Làm chúng lại vô cùng cay cú , say máu hơn điên cuồng hơn .

Trong nước , chúng đã giết chết và thủ tiêu hàng triệu người dân vô tội , từ người già đến trẻ em .

Chúng đang thực hiện xây dựng , một chế độ xã hội chủ nghĩa hão huyền , hoang tưởng .

Theo chế độ công xã , tập thể như của Trung Quốc .

Mà lại còn cực đoan hơn cả Trung Quốc .

Một xã hội không chợ , không tiền , không trường học , không trí thức .

Ai không nghe là chúng đập chết bằng búa , bằng cuốc , bằng xẻng v.v...

Lực lượng chống đối Pot đã nổi dậy 1 vài nơi .

Một số chạy sang ta , yêu cầu ta giúp đỡ họ .

Nhưng Lực lược này còn non trẻ , mới phôi thai .

Nên chúng ta từng giúp " bạn " , nhưng đến bây giờ " bạn " đã phản bội ta .

Chúng ta lại phải giúp " bạn " .

Người " bạn " chân chính còn trong trứng nước .

Nên vì thế n/v của chúng ta đang còn rất nặng nề .

Hiện tại , hướng QĐ4 , trực tiếp là hướng Sư đoàn 341 đảm nhiệm .

Các đ/v đã làm tốt n/v chốt chặn ,đánh địch , giữ vững trận địa .

Tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch .

Đặc biệt như trận luồn sâu đánh địch của Trung đoàn ngày 15/6 và 20/6 .

Nhưng giờ đây chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn .

Đây là khó khăn chung của Quân đoàn , và quân đội ta , đất nước ta .

Từ quân số , đến lương thực , súng đạn vv ...

Bọn Pốt đang tập trung tới 3 đầu Sư đoàn trước đội hình chốt của Sư đoàn 341 .

Chúng điên cuồng , tăng cường tập kích vào các chốt , có ngày tới hơn 20 lần .

Làm anh em bộ đội mình thương vong , hao hụt quân số nhiều .

Hiện nay , theo Trinh sát và Cục 2 phát hiện , chúng đang chuẩn bị tấn công .

Trên quy mô lớn , vào hướng chốt của Sư đoàn .

Vì vậy nếu chúng ta chỉ chốt giữ , phòng thủ thì rất khó khăn .

Chúng ta phải tổ chức xuất kích , chủ động tiến công địch như trận 20/6 .

Để phá tan chiến thuật bu bám , lấn dũi của chúng , phá tan âm mưu tấn công ta .

Trung đoàn 273 , trong mấy ngày tới .

Phải tổ chức xuất kích , đánh địch.

Với kịch bản giống như trận ngày 20/6 .

Hôm nay họp hội nghị , là ngày 10/7 .Các đơn vị về làm công tác chuẩn bị tốt .

Để đêm 12 , sáng ngày 13/7 ta xuấtkích tiến công địch .

Sau khi họp quân chính ở Trung Đoàn về .

Anh Công , anh Đạt lại về họp bàn phương án tác chiến của Tiểu đoàn 1 .

Trận này , Trung đoàn yêu cầu Tiểu đoàn1 , chỉ cử Đại đội 1 tăng cường luồn sâu với Tiểu đoàn 3 .

Đại đội 2 và một số anh em Đại đội 4 và các đồng chí Vận tải , Trinh sát (trừ 2 đồng chí Trinh sát dẫn đường cho Đại đội 1 luồn sâu) lên thay vị trí chốt của Đại đội 1 .

Hướng Đông XVayChek , có 2 Đại đội của Trung đoàn 266 vòng ép hướng đó .

-Tiểu đoàn 3 và Đại đội 1 vòng ép hướng bên trái (Bắc chóp) .

Tách 1 Đại đội cùng Đại đội 1 chia thành 2 mũi đánh vòng vào Phum như lần trước .

- Tiểu đoàn 2 vẫn cùng xe bọc thép đánh ép lên .

Mọi việc chuẩn bị phải hoàn tất vào trưa ngày 12/7 .

Đúng 22h phải tổ chức luồn sâu và giờ G ấn định là 5h30 sáng ngày 13/7/78 .

Tóm lại , trận này ta tổ chức kịch bản vẫn giống như trận ngày 20/6 .

Chỉ có điều là sử dụng lực lượng có khác trước .

Là có sự phối hợp tác chiến tấn công của 2 Đại đội của Trung đoàn 266 , thay cho 2 Đại đội của Tiểu đoàn 3 đảm nhiệm hướng cánh phái .

Anh em cán bộ được phổ biến , là lực lượng của Pốt tập trung đông hơn lần trước .

Lần này tác chiến cùng một địa hình nên bọn Pốt đã đề cao cảnh giác hơn .

Phải nhắc anh em các đơn vị , không được chủ quan coi thường địch .

Có phương án đề phòng Pốt phản kích ngay , bu bám ngay .

Gây khó khăn cho ta khi đã làm chủ trận địa , quay trở về vị trí chốt .

Anh Công và Anh Đạc tổ chức họp các bộ , để phổ biến tình hình , nhiệm vụ của Đại đội .

Hiện tại hơn 20 ngày giữ chốt và tăng cường cho chốt Đại đội 3 .

Quân số của Đại đội cả bổ sung mới nữa được gần 40 tay súng .

Lần này đi luồn sâu phối thuộc được tăng cường một khẩu 12,7ly của Đại đội 4 , cùng thông tin trinh sát .

Lực lượng của Đại đội 1 được gần 60 người .

Mọi công tác chuẩn bị cho trận chiến cũng đã xong .

Anh em Đại đội 2 và các lực lượng đến thay chốt cũng đã nhận vị trí từ chiều .

Để làm quen địa hình .

Anh em Đại đội 1 được nghỉ ngơi đợi đến giờ xuất phát .

Sau khi làm công tác chuẩn bị xong .

Mấy anh em tôi trong BCH Đại đội ngồi nói chuyện .

Mọi người đều không vui , vì phải đi chiến đấu tăng cường .

Nếu cả Tiểu đoàn cùng đi tác chiến thì không nói làm gì .

Còn thường đi tăng cường chiến đấu , đôi khi nó gần giống như là " con nuôi" và " con đẻ" vậy .

Sự quan tâm của chỉ huy đơn vị phối thược thường coi nhẹ , các đơn vị " con nuôi " hơn .

Thậm chí , có đ/v khi rút quân quên luôn cả không báo cho đ/v phối thuộc .

Nên tâm lý các đ/c chỉ huy , bao giờ cũng có tư tưởng ngại đi chiến đấu theo kiểu tăng cường .

Nghĩ là vậy , nhưng nhiệm vụ đã được giao .

Thì ai cũng phải chấp hành , tuy rằng trong lòng không vui không thoải mái .

Cũng không được để lộ cái suy nghĩ ấy , cho anh em cán bộ chiến sỹ cấp dưới biết .

Ảnh hưởng đến tư tưởng , đến sức chiến đấu của đơn vị .

Trời chiều lất phất mưa .

Những cánh đồng trước mặt đã là một màu trắng mênh mông nước .

Xa xa , thỉnh thoảng mới thấy một vài bờ cỏ , xa nữa có một bờ mương thẳng tắp .

Nhiệm vụ của Đại đội 1 và Tiểu đoàn 3 , đêm nay phải vượt qua đồng nước mênh mông đó .

Vượt qua bờ mương cao kia , luồn sâu vào đất địch .

Tránh né các chốt của địch , ém tại đó để đến sáng mai giờ G xung phong tấn công tiêu diệt địch .

Đến 4h chiều , các trung đội đã tổ chức cho bộ đội ăn cơm , nhận thêm một phần cơm nắm không độn bo bo .

Rồi nghỉ ngơi , đợi lên đường.

Hoàng hôn đã tắt , bóng tối ập xuống nhanh .

Cũng giống như những ngày qua .

Nhưng hôm nay anh em Đại đội 1 không phải vào vị trí gác , mà mọi người đang âm thầm làm công việc chuẩn bị , cho trận chiến đêm nay .

Sẽ lại có một đêm ngâm trong nước .

Có một đêm thức trắng , có một ngày chiến đấu vô cùng vất vả .

Ai cũng nghĩ vậy , cũng thấy trước được những cảnh đó sắp diễn ra .

Mọi người chính là người trong cuộc .

Đợi chờ giờ xuất phát bao giờ cũng cảm thấy thật dài .

Nhưng cũng không ai có thể vô tư mà ngủ được .

Anh em rì rầm chuyện trò , những chuyện của lính thì bao giờ cũng là đề tài bất tận .

Khoảng 7h tối lại bản hợp xướng bằng các loại súng của Pot vào đội hình Đại đội .

Các đ/c thay chốt cũng bắn trả .

Trong chiến đầu nhất là ở chốt cứ đông quân là cảm thấy được "ấm lưng" hơn .

Gía như quân số của Đại đội dược đông như thế này .

8h tối - 9h tối , rồi 9h 30 , Pót tập kích vào chốt 2 lần nữa .

Không cóai thương vong .

Trinh sát Tiếu đoàn báo Tiểu đoàn 3 đang đến .

Anh Đạc nói LLxuống báo các đơn vị ra vị trí chuẩn bị xuất phát .

Anh em chúng tôi cũng ra vịtrí tập trung .

Tôi cùng 1 đ/c liên lạc xuống đi cùng với Tiếu đội cối 60 .Toàn đội hình lặng lẽ lên đường .

Ra khỏi rìa Phum là anh em bắt đầu phải lội nước .

Bước chân đầu tiên lội xuống nước , xuống sình mới ngại làm sao .

Bên K không có mùa đông , nhưng trời mùa mưa thường mát hơn mùa hè nhiều .

Buổi tối nhiệt độ lại như giảm hơn cả cái mát .

Gió trời lồng lộng , mưa lớt phớt .

Cũng không có ai khoác áo mưa .

Đi trận khoác áo mưa thì thật là không hợp lý .

Nên nước mưa , nước ruộng , làm cho anh em thấy lạnh ghê gớm .

Nhưng đấy là cảm giác đầu , khi bước chân xuống nước .

Còn khi đã bì bõm được 1 lúc rồi , đầu óc luôn phải tỉnh táo , phải căng tai , căng mắt ra .

Mà đi trong đêm , thì không ai còn thấy lạnh nữa .

Cái rét , cái lạnh không thắng nổi sức nóng trong cơ thể của những người lính chiến .

Bì bõm , bì bõm .

Vẫn 2 đ/c trinh sát Tiểu đoàn lần trước dẫn đường , đi theo đường tiền nhập cũ .

Đi được một quãng , tôi cảm thấy cứ ngứa ở dưới ống chân .

Không biết có gì vướng vào , bèn thò tay xuống gãi .

Thấy có gì nhơn nhớt , bám vào da thịt tôi .

Cầm vứt ra , nhưng nó có vẻ cứ trơn trơn , dính nhằng nhằng .

Thôi chết , đỉa rồi .

Cái thứ mà tôi sợ nhất , đang bám vào tôi hút máu tôi .

Tôi rùng mình , nghĩ lại ngày xưa về quê , mà ra ruộng chơi .

Những ruộng nước trong veo , có những loại hoa trắng nhỏ , lá như lá sen nhỏ , cũng xòe lan ở mặt nước .

Tội lội xuống đưa tay với , định hái những bông hoa ấy .

Thì eo ơi , những con đỉa núc nhúc bơi đến .

Lội nhanh lên bờ mà đã có mấy con bám đeo vào chân .

Dứt mãi mới ra .

Theo kinh nghiệm , mọi người nói : nên nhổ ít nước bọt vào tay , cầm kéo đỉa ra dễ hơn .

Tôi cũng làm theo như vậy và kéo được con đỉa ra vất đi .

Rồi đưa tay sờ vuốt kiểm tra cả 2 chân .

Trời !

Nhiều đỉa quá , tới hàng chục con đã bâu bám hút máu tôi .

Loại đỉa này nó có cái chất gì đó mà khi hút máu , cái chỗ vết thương đó rất khó cầm máu .

Ở quê , thường mọi người hay cấu tý lá nón dán vào để ngăn máu chảy .

Còn ở đây hàng chục vết cắn thế này lấy gì mà dịt , mà ngăn máu chẩy .

Sao hồi này ở đây nhiều đỉa thế không biết .

Chắc do nước ngập lâu nên lũ này sản sinh nhanh chóng .

Vậy chắc tất cả anh em đều bị .

Nhưng làm sao bây giờ .

Không ngờ loại nhuyễn thể này , lại trở thành kẻ thù của mình .

Trực tiếp hút máu mình , hút máu anh em đồng đội mình .

Thật độc ác .

Nó độc ác có thể nói như thằng Pốt .

Thật căm thù .

Tôi nói đồng chí liên lạc nói anh em là đỉa rất nhiều .

Anh em cũng đã phát hiện điều này và cũng đang rất là bức xúc khó xử với lũ hút máu này .

Đi , lại lúc đi lúc dừng .

Đợi trinh sát chọn đường , cắt phương vị , tránh né các chốt râu tôm của Pốt .

Trời mưa , nên bọn Pốt có lẽ cũng chủ quan trong việc canh gác hướng này .

Còn hướng chốt của Tiểu đoàn vẫn thấy tiếng súng tập kích của Pót cùng tiếng súng bắn trả của ae chốt .

Đúng là lính nào thì cũng khổ như nhau , bọn Pốt cũng đâu có sung sướng gì .

Có khi chúng còn khổ , chịu khổ hơn cả lính mình nữa chứ .

Vậy nổi khổ này ?

Đau thương này ?

Là do ai gây lên ?

Thoáng nghĩ như vậy , rồi tôi lại tìm ngay ra câu trả lời : Là do bọn phản động bá quyền , bọn hiếu chiến khát máu , tập đoàn Pôn Pốt- IengXaRi phát động .

Sự giật dây kích động , là tập đoàn bành trướng Bắc Kinh .

Cũng cứ tưởng , năm 75 , CM CamPuChia thành công .

CM Việt Nam thành công , thì những người lính , người dân ở 2 nước , được sống trong hòa bình .

Có ai ngờ , sự ngông cuồng , sự ngu ngốc , sự hiếu chiến của chúng nó đã làm 2 đất nước , 2 dân tộc chưa kịp hàn gắn vết thương sau cuộc chiến dài .

Lại lao vào đánh nhau , gây nên những thù hận mới , vết thương mới .

Thật căm thù .

Tao căm thù chúng mày , khi ghét chúng mày , hơn cả những con đỉa đang hút máu chúng tao đây .

Vòng vèo mãi , gần 3hsáng .

Đội hình cũng đã đến vị trí tập kết 1 .

Trinh sát quay lại đón Đại đội 9của Tiểu đoàn 3 lên đánh cùng hướng với Đại đội 1 .

Hai Đại đội tiếp tục luồn sâu hơn 1km nữa tới vị trí tập kết2 .

Từ vị trí này đợi đến 5h30 tấn công vào Phum như lần trước .

Trung đoàn 273 , trong mấy ngày tới .

Phải tổ chức xuất kích , đánh địch.

Với kịch bản giống như trận ngày 20/6 .

Hôm nay họp hội nghị , là ngày 10/7 .Các đơn vị về làm công tác chuẩn bị tốt .

Để đêm 12 , sáng ngày 13/7 ta xuấtkích tiến công địch .

Vào đến vị trí tập kết , anh Đạc nhanh chóng bố trí đội hình tấn công của Đại đội .

Rồi cùng liên lạc và Trinh sát sang Đại đội 11 , bàn việc phối hợp tác chiến với Đại đội trưởng Ngọc .

Anh em chuẩn bị hố chiến đấu rồi lại bắt đầu bài ca cơm nắm bột canh .

Mệt và đói , nên nắm cơm như là thật nhỏ .

Vèo một cái đã hết .

Nhưng cái nắm cơm này cũng làm cho anh em tăng được bao nhiêu " kg " sức khỏe .

Anh Đạc cùng 2 trinh sát đã về .

Anh Ngọ và anh Ngân trinh sát sang chỗ tôi thì thầm nói chuyện .

Mấy năm trước , khi làm trợ lý Tiểu đoàn bộ .

Tôi thường hay sang Tiểu đội trinh sát chơi cờ .

Nguyễn Đăng Ngân lính 5/72 quê TB .

Còn Nguyễn Trịnh Ngọ là lính 12/74 quê ở Hương Sơn - Hà Tĩnh .

Tôi với 2 anh em có rất nhiều kỷ niệm .

Với Ngân thì năm 76 , Cùng trong tổ 4 người , do tôi phụ trách .

Biệt phái xuống phường 7 , Q11 làm công tác kê khai , cải tạo tiểu thủ công nghiệp .

Thời gian ở đó khoảng 6 tháng .

Chính thời gian này tôi gặp Thanh .

Cô bé cạnh nhà của đội công tác , năm đó mới có 16 tuổi .

Đôi mắt to tròn đen láy , da trắng , tóc dài .

Ở Sài Gòn người như vậy , để tóc như vậy là hiếm .

Không hiểu sao , qua một vài lần gặp .

Thanh đã nhanh chóng quý mến tôi .

Rồi cả cái xóm chung cư Lý Thường Kiệt lô C ấy đều trêu , đều ghép chúng tôi với nhau .

Nguyễn Trinh Ngọ là dân Hà Tĩnh , mới học xong lớp 12 rồi nhập ngũ ngay .

Ngọ đẹp trai , nhanh nhẹn , rất có bản lĩnh trong chiến đấu .

Sống tình cảm , rất hay tẩm quất cho tôi .

Ngọ có một bài tẩm quất gia truyền rất tuyệt vời .

Hôm nào thấy người mệt mỏi , tôi hay nhờ Ngọ đánh cho một bài .

Ngọ đấm đấm , bóp bóp , vỗ nổ đôm đốp , rất điệu nghệ .

Rồi điểm một số huyệt đạo , xong lấy tay beo các thớ thịt .

Kỳ lạ , tay Ngọ bẹo vao chỗ nào cũng kêu rắc rắc , rất thích và sảng khoái .

Tôi đã nói Ngọ dạy cho bài tẩm quất này .

Ngọ đã hứa là truyền nghề , nhưng đến bây giờ 2 năm rồi mà vẫn chưa thực hiện được .

Hồi đầu giải phóng , làm quân quản ở phường Bình Thới Q11 tôi là đội trưởng .

Trong đội có cả Ngọ , ngày đầu giải phóng những công việc quân quản rất bận rộn .

Nào là kê khai dân số , lứa tuổi , trình độ , nghề nghiệp .

Tìm và thanh lọc ra những phần tử phản động , phần tử trong chế độ cũ , có nợ máu lẩn trốn trong dân .

Không chịu khai báo để đi học tập cải tạo vv....

Trong thời gian ấy , Ngọ có yêu cô Thủy trong đội công tác cùng Phường .

Đơn vị biết ngăn cấm , nhưng Ngọ vẫn yêu đến bây giờ .

Tôi mới hỏi chuyện , Ngọ nói 2 đứa vẫn yêu nhau .

Đang đợi dịp được về nghỉ làm đám cưới .

Tôi thầm cảm động , cảm phục tình yêu của Ngọ và Thủy .

Chợt nghĩ đến mình .

Tại sao tôi lại nói lời chia tay , ngay khi biết có lệnh đi chiến đấu ở Biên giới .

Giờ này Thanh đang làm gì ?

Chắc còn đang ngủ , liệu trong giấc ngủ , có bao giờ Thanh mơ thấy tôi không ?

Có quyển sách nào đó tôi đã đọc có câu : " khi em ngủ , thần thoại về đậu trên mắt em .

Cuộc đời màu xanh , tình yêu màu hồng "...Còn chúng tôi , Ngọ , Ngân , cùng bao anh em ở đây ai cũng đã từng có tình yêu , có vợ , có con .

Có những dự định cho cuộc đời , đôi lứa .

Nhưng giờ đây , suốt ngày ùng - ùng , òang - oàng , sinh lầy nước đọng , đỉa bâu thế này , liệu có bao giờ có nổi những giấc mơ thần tiên ấy .

Giật mình vì tiếng vỗ cánh của đàn chim kiếm ăn sớm .

Tôi cũng giật mình , vì sao hôm nay , mình miên man ủy mị thế .

Tôi nói Ngọc và Ngân 1 câu hơi thừa : khi xung phong 2 ông bám cùng BCH Đại đội nhé .

Rồi tôi xuống Trung đội 1 .

Trung đội trưởng Vinh đã hy sinh .

Đ/C Minh đi viện về lên thay vị trí của Vinh .

Tôi trao đổi với Minh mấy câu , thì đã thấy tiếng đề pa của cối bắn vào Phum .

Tiếng nổ đầu nòng và tiếng nổ của Đạn cũng đã hòa gần là 1 .

Đầu tiên thưa dần , rồi rền vang cấp tấp .

Tôi về chỗ cối 60 , xem ae bắn .

2 Đại đội là 4 khẩu cối 60 cũng Tong - Tong - Tong – Tong vào Phum .

Không gian vỡ òa , mùi khói thuốc phóng đã khét lẹt .

Các loại cối pháo bắn 15 phút thì có 3 phát pháo hiệu đỏ vụt lên .

Chuấn bị xung phong .

Đầu tiên là 2 khẩu 12,7 ly , 4 khẩu đại liên của 2 Đại đội , thùng - thùng – thùng điểm xạ bắn găm vào Phum .

Các loại B40 , B41 ùng - oàng cấp tập vào rìa làng .

Tiếng anh Công , anh Đạt hô xung phong , toàn Đại đội lao lên , vừa hô xung phong vừa bắn .

Đại đội 11 của anh Ngọc , tiếng hô vang thật to .

Tất cả lao lên như vũ bão .

Tôi cùng Ngân , Ngọ cũng làm mấy loạt AK , rồi lao tiến cùng anh em .

Đã có tiếng súng của Pốt bắn trả .

Cả tiếng ùng oàng của B40 , B41 nữa .

Anh em nhanh chóng phản vào các mục tiêu vừa bắn của Pốt .

Tôi cùng đ/c liên lạc đã lên được bờ đất cao .

Đang tiến , chợt thấy lóe lửa ngay phía trước , oàng , đất tung lên cùng tiếng nổ thật đanh .

Tôi và Hiệp đều đổ ập người xuống .

Đ/c An y tá chạy đến , xem và kiểm tra vết thương rồi băng cho tôi .

Tôi thấy choáng một lúc rồi tỉnh táo ngay .

Như vậy là tôi bị hơi ép và mảnh găm nhẹ ở trán .

Chân có một vài vết thương nhỏ .

Mọi người đã tấn công vào Phum .

Hiệp cũng bị thương nhẹ .

Tôi cùng Hiệp và đ/c ytá bám đuổi theo đội hình .

Thật hú hồn .

Nếu tôi tiến nhanh mấy bước , thì ko biết thế nào ?

Tiếng súng vẫn nổ dồn ở mọi hướng .

Lần này bọn Pốt có vẻ chống cự dai hơn lần trước .

Nhưng chúng cũng chỉ chống cự được 1 lúc .

Không chịu được sức công phá như vũ bão của ta .

Tất cả bật chốt chạy .

Anh em truy kích .

Hướng Tiểu đoàn 3 cũng đã ào tới .

Đ/c Thao Tiểu đoàn trưởng gặp ae tôi nói : Mấy anh em cụm lại đây , rồi để vận tải nhanh chóng đưa các thương binh liệt về sau trước .

Tiểu đoàn 3 cũng đã có 2 đ/c hy sinh .

5 - 6 đồng chí bị thương .

Đ/c Lưa chính trị viên Tiểu đoàn 3 , nhanh chóng tổ chức cho vận tải khênh cáng anh em hy sinh và bị thương nặng về phía chốt .

Anh Công cũng nói tôi và Hiệp cùng về luôn .

Chúng tôi quay về chốt theo đường thẳng .

Phía sau , tiếng súng truy đuổi Pốt vẫn nổ dồn .

Tôi cùng nhóm vận tải khênh cáng thương binh nặng , cùng 2 đ/c Tử sỹ về phẫu Trung đoàn .

Đằng sau tôi , các loại súng vẫn nổ .

Về tới phẫu , các YBác sỹ , anh Thu , anh Quyết , Anh Chính , Bác sỹ Nhật nhanh chóng xem vết thương cho mọi người .

Có đồng chí bị thương nát gối , phải cắt bỏ ngay .

Tôi thấy Bác sỹ Nhật nói nhỏ với các đồng nghiệp như vậy .

Anh Chính xem vết thương cho tôi .

Tôi nói chắc em bị mảnh nhỏ thôi .

Anh Chính nói : rất may là nếu mảnh sâu một tí nữa thì cũng ảnh hưởng cả 2 mắt .

Còn sang phải , sang trái một tý thì cũng vào mắt .

Vết thương ở mắt cá chân thì không có vấn đề gì quan trọng .

Rồi mọi người làm các thủ tục kỹ thuật lấy miếng mảnh nhỏ găm ở giữa 2 đầu lông mày của tôi ra .

Chỗ mắt cá chân cũng vậy , bây giờ tôi mới thấy đau khó đi .

Từ đó đến chiều , vẫn thấy anh em thương binh được chuyển về .

Có cả 1 đ/c chiến sỹ Đại đội 1 .

Nhưng chưa kịp hỏi gì thì đ/c này vết thương nặng chuyển lên tuyến trên ngay .

Ở đây 2 ngày , tôi cứ thắc mắc về chi tiết của trận đánh còn lại .

Mà không được ai giải thích kỹ .

Chỉ biết là Pót tổ chức phản kích rất mạnh , tới chiều tối anh em mình mới rút về chốt .

Ngày thứ 3 tôi nói với mọi người cho về cứ .

Chỗ anh em , vì cứ và phẫu cũng gần nhau .

Vết thương nhỏ nên cũng chỉ dán gạc và băng dính .

Thật vui khi về cứ với với anh em .

Gặp lại nhóm Ba cô , lại được đón nhận từ tay Cúc một ly nước chanh mát lạnh .

Ôi ly nước mới tuyệt vời làm sao .

Không hiểu là do ly nước chanh ngọt , mát lạnh , làm cho tôi tỉnh táo ngay .

Hay là do nụ cười , ánh mắt nhìn của mấy chị em , đặc biệt là của Cúc .

Với cách nhìn , cách nói ân cần , tình cảm , pha chút bịn rịn .

Mà tôi tỉnh khỏe hẳn lên .

Mấy vết thương nhỏ này cũng làm cho tôi tăng " chân kính" bản lĩnh lên .

Vì thường khi gặp tôi , mọi người hay nói tôi là dáng dấp thư sinh , chứ không phải dáng dấp của lính trận .

Ngày hôm sau .

Anh Công về cứ để làm chính sách và cũng là để thăm tôi , thăm Hiệp .

Nhưng Hiệp thì chuyển về phía sau .

Hai anh em gặp nhau thật mừng .

Tôi hỏi ngay tình hình trận chiến tiếp của hôm đó .

Nhìn ánh mắt và giọng nói buồn buồn của anh Công .

Tôi xuống giọng nói tình hình sao anh ?

Tôi chăm chú nhìn anh Công , 2 hàng nước mắt của người đồng đội , người anh , người lính trận chẩy xuống , tôi cầm tay anh Công nói : có gì anh kể xem nào ?

Anh Công nói : sau lúc Phú trở về .

Anh em truy kích , bọn Pốt dùng pháo cối bắn vào đội hình mình dữ quá .

Một số anh em bị thương và hy sinh .

Chúng bắt đầu vòng bọc phản kích lại ta .

Chúng dùng cả xe bọc thép đứng ngoài xa bắn vào hỗ trợ cho bb phản kích .

Anh em phải chống cự tới chiều .

Chúng bám rất dai , như là cố ý cầm chân mình đến tối .

Tiểu đoàn 3 và mình phải xuất kích mấy lần .

Đến gần chiều tối lại xuất kích .

Rồi rút nhanh , để lại một Trung đội của mình và d3 một Trung đội chốt cản đường .

Chúng lại bâu đến .

Trong trận chiến cản đường đó .

Khi anh em rút về , thì 7 đ/c không về được .

Đại đội mình 4 đ/c bên d3 có 3 đ/c .

Trời ơi !

Vậy là có 7 anh em hy sinh chưa lấy được thi hài .

Không ngờ trận đánh lại diễn biến phức tạp như vậy .

Không biết nói gì hơn , mắt , mũi cay sè .

Tôi nói cả anh Thú , anh Khi , 4 anh em ra quán gọi xị rượu và đĩa bò xào , nhâm nhi cho phần nào xoa dịu nỗi đau đang ở đỉnh cao này .

Ly đầu tiên , cả 4 anh em dơ lên cụng , rồi cùng đổ xuống đất , như là hành động biểu cảm sự thương nhớ các ae liệt sỹ .

Cầu khấn cho các anh em được yên lòng siêu thoát .

Hết một xị , rồi lại một xị nữa .

Nỗi đau vẫn không thể nguôi ngoai .

Anh Công nói : lúc nữa có xe tôi sang chốt làm công tác chuẩn bị .

Trung đoàn đã có kế hoạch tấn công tiếp .

Bọn Pốt đang tập trung ở đó rất đông .

Hôm qua đã lại tập kích mình rất mạnh .

Mình phải đánh lên , để phá vỡ âm mưu tấn công của chúng .

Cũng là tìm anh em , đưa anh em về .

Khoảng 2h chiều , có xe sang chốt .

Anh em chia tay .

Anh Công đứng dậyôm tôi nói : Phú cứ yên tâm ở đây , mấy ngày cho khỏe .

Tôi cũng ôm anh thậtchặt , không thể nói được gì hơn .

Nhìn chiếc tăng ga , nặng nề đi hút về Biên giới .

Tôi cùng hai anh trở về lán nằm nghỉ .

Đúng là nghỉ mà không ngơi .

Hình ảnh trận vừa rồi , đến lúc tôi bị thương quay về .

Đoạn tiếp theo qua lời kể tóm tắt của anh Công ghép lại thành một trận chiến , thật hào hùng và bi tráng .

Với cấp trên đó là chiến thắng .

Chiến thắng nào cũng phải có mồ hôi , xương máu , vất vả và hy sinh .

Với cấp chỉ huy cao , các vị Tá , các vị Tướng lĩnh , có thể họ chỉ nghĩ đến thắng hay bại trong 1 trận đánh .

Cái bại nhỏ , đôi khi nằm trong cái thắng lớn .

Nên việc mười , hay hơn mười người hy sinh , cũng không có gì quan trọng lắm .

Miễn là trận đó thắng trong ý đồ chiến thuật , ý đồ chiến lược .

Song , với chúng tôi , những sỹ quan chỉ huy cấp thấp .

Thường ngày sống , chiến đấu cùng anh em , cùng chia ngọt , sẻ bùi .

Cùng vui chơi với nhau , từng ván cờ , ván bài , từng chia cho nhau từng điếu thuốc , nắm cơm , ổ bánh mỳ v.v...Thì sự mất mát hy sinh của một người , cũng đã là nỗi đau lắm .

Nhìn những vết thương của anh em tóe máu , mình như đấy cũng là nỗi đau , cũng là vết thương của da thịt mình .

Đại đội tôi , trong trận vừa rồi , như vậy là hy sinh 2 , mất tích 4 . ( Thường hy sinh , mà không lấy được xác thì hay gọi là mất tích).

Mất đi 6 người , bị thương mấy người nữa .

Hy sinh như vậy là nhiều , cái giá phải trả , phải đổi là quá đắt .

Nhưng trong trận chiến , toàn súng với đạn , các loại vũ khí hiện đại cả .

B40 - B41- ĐKZ các nhà chế tạo vũ khi sản xuất ra dùng để chống tăng .

Chống xe bọc thép , hay dùng để phá hủy các loại boong ke , lô cốt .

Thì giờ đây , trong cuộc chiến này .

Lại toàn dùng để tiêu diệt lính bộ binh .

Việc tránh được sát thương , hy sinh , chỉ là may rủi .

Miên man với các suy nghĩ , tiếng pháo của Trung đoàn 55 vẫn nổ .

Tiếng đề pa ùng - ùng – ùng - ùng của 4 khẩu bắn một lúc .

Rồi tiếng nổ ầm ầm nơi xa , như vậy là phía trước Pốt vẫn rất đông quân .

Nên pháo binh mới phải bắn chi viện nhiều như vậy .

Không biết trận chiến sắp tới , mà anh Công vừa nói .

Sư đoàn , Trung đoàn , sử dụng quân chiến đấu thế nào .

Trước một lực lượng Pốt , đông hơn ta gấp nhiều lần .

Địa hình lại rất bất lợi cho ta .

Trong lúc các đ/v thiếu quân trầm trọng .

Các đơn vị của mình chỉ đôn quân từ anh Nuôi , tăng gia , hậu cứ , những anh em bị thương nhẹ .

Cũng đã được động viên quay lại cầm súng .

Đại đội 1 , đ/c Đẩu Tiểu đội trưởng Anh nuôi , đ/c Viên anh nuôi lính 74 .

Cũng đã xung phong về các Trung đội chiến đấu .

Cộng thêm mấy đ/c ở vận tải Tiểu đoàn bổ xung nữa .

Quân số Đại đội 1 như vậy là được 35 đ/c .

Đúng là 1 Đại đội bây giờ , quân số không bằng được một Trung đội .

Thời đầu đi chiến đấu , hay thời huấn luyện .

Với quân số ấy , phải đảm nhiệm vị trí chốt rộng .

Phải đảm nhiệm mũi xung phong tấn công .

Thì làm gì không gặp khó khăn , làm sao tạo được sức mạnh ?

Gần chiều , tôi rủ anh Thú ra quán ngồi uống nước .

Nói chuyện cùng cáccô gái .

Cúc không có ở đó , còn 2 chị em .

Chúng tôi ăn chè đậu .

Trong câuchuyện , 2 cô có ý nói cho tôi biết là : Cúc rất có cảm mến tôi , có phầnngưỡng mộ tôi .

Có ý trách sao tôi có vẻ thờ ơ , lạnh nhạt , lãnh đạm với tìnhcảm của Cúc .

Thực ra những điều này , tình cảm của Cúc đối với tôi , khôngphải là tôi không biết .

Tôi nói : các anh đời lính , nay ùng , mai oàng .

Sốngchết biết thế nào được , mà nói chuyện yêu đương .

Mặc dù anh cũng rất quý mếnCúc .

Chiến tranh cho các anh gặp các em , nhưng có lẽ cũng tại chiến tranh ,nên nó lại cũng không thật phù hợp cho việc gặp gỡ yêu đương ấy .

Nhưng anh hứa, khi nào có điều kiện .

Thì anh sẽ đến chơi thăm nhà Cúc .

Ngày hôm sau , 17/7 Trung đoàn lại tổ chức họp quân chính .

Trung đoàn trưởng Trần Măng , Chính ủy Diệp Xuân Ánh vẫn duy trì hội nghị .

Vẫn sự có mặt điều hành trực tiếp của Sư đoàn phó Mười thứ .

Các cấp trưởng chính trị , quân sự từ cấp Đại đội , Tiểu đoàn đều tham dự .

Đại đội 1 đ/c Nguyễn Văn Đạc đại trưởng bị sốt rét đi viện , nên anh Phạm Văn Trọng Đại đội phó đi họp cùng với anh Công .

Sư đoàn phó tóm tắt về diễn biến chiến lệ , trận chiến tấn công Pốt ngày 13/7 .

Đánh giá chung là chúng ta đã chiến thắng , đã đập tan được âm mưu bu bám tấn công chiếm chốt của Pốt .

Nhưng chúng cũng đã có rút kinh nghiệm , trận ngày 20/6 .

Cộng số đầu đơn vị của Pốt ở khu vực này tới 3 Sư đoàn , rất đông quân .

Nên sau khi bị bật chốt , chúng đã bu bám , phản kích ta ngay .

Nhưng như vậy chúng ta , Tiểu đoàn 3 + Đại đội 1 tăng cường .

Cùng các đ/v , đã tấn công mạnh mẽ , đã tổ chức lui quân hợp lý .

Đương nhiên chúng ta có những thương vong .

2 Trung đội đã ở lại cản địch chiến đấu rất dũng cảm , tiêu diệt được nhiều địch .

Hoàn thành nhiệm vụ .

Trong số này còn có đ/c đang nằm lại ở đó .

Sư đoàn , Trung đoàn biểu dương ý chí chiến đấu của các đ/c , các đ/v tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trận vừa qua .

Nhưng chúng ta cũng đang còn một việc rất quan trọng là : 7 đ/c đang nằm lại đó , chúng ta phải tổ chức đánh tiếp để phá vỡ , đập tan âm mưu của Pốt .

Tìm anh em , đưa anh em về .

Đ/c Trung đoàn trưởng Trần Măng , giới thiệu đồng chí Nguyễn Sông Thao , Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 .

Được điều lên làm Tham mưu phó Trung đoàn .

Nhưng đ/c Sông Thao xin ở lại , trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 3 đánh trận này .

Rồi sau đó sẽ nhận nhiệm vụ ở cương vị mới .

Đảng ủy và BCH Trung đoàn , chấp nhận đề nghị của đ/c Thao .

Tham mưu trưởng Chu Đức Hùng ,( trước làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của TP ) .

Lên phổ biến kế hoạch tác chiến của Trung đoàn .

Trận này , Trung đoàn sẽ tổ chức sử dụng các lực lượng tác chiến như sau :

- Lực lượng luồn sâu vu hồi hướng Tây bắc vẫn là Tiểu đoàn 3 + đại đội 1 + Tiểu đoàn 2 thiếu 1 Đại đội , cùng các lực lượng 12,7 ly của Đại đội 16 , ĐKZ của Đại đội 15 .

- Đại đội 1 được tăng cường 1 khẩu 12,7 ly , 1 khẩu ĐK 82 của Đại đội 4 .

- Đại đội 1 đi đầu luồn sâu qua bờ mương , thì chốt lại ở khu vực đó đề phòng Pốt vòng bọc hướng này .

Tiểu đoàn 3 luồn sâu tiếp khoảng 1 km nữa , sẽ đánh từ Hướng Bắc vào Phum . khi đánh qua những vị trí chốt chặn lần trước cử bộ phận tìm đưa số anh em tử sỹ lần trước về .

- Tiểu đoàn 2 thiếu , cùng luồn sâu hướng này .

Nhưng dừng lại , dàn đội hình tấn công theo hướng Tây Bắc .

Cách Tiểu đoàn 3 khoảng 500 m .

Tiểu đoàn 2 cũng được tăng cường 2 khẩu 12,7 ly của Đại đội 16 .

2 Khẩu Đk82 của Đại đội 15 .

- Hướng Đông Nam , Sư đoàn vẫn sử dụng 2 Đại đội của Trung đoàn 266 đánh ép vào .

- Hướng vỗ mặt , sử dụng 6 xe bọc thép cùng Đại đội 2 đánh lên .

Quan trọng nhất vẫn là việc luồn sâu và tấn công của Tiều đoàn 3 + Đại đội 1 + Tiểu đoàn 2 .

Sau khi chiếm xong các mục tiêu , tổ chức đưa các anh em Thương binh , Tử sỹ cũ và mới về ngay .

Nhanh chóng rời khỏi trận địa , càng sớm càng tốt.

Các loại pháo , cối của Sư đoàn , của Trung đoàn .

Bắn hỗ trợ thật mạnh , khi phát hiện Pốt tổ chức lực lượng phản kích .

- Sở chỉ huy tiền phương của Trung đoàn sẽ dâng lên gần khu vực Tiểu đoàn 1 .

Công binh phải nhanh chóng tổ chức hầm chỉ huy cho Trung đoàn .

- Tiểu đoàn 1 , Đại đội 3 và các bộ phận ở lại , phải tổ chức chốt giữ thật chắc .

- Các đại đội Trinh sát , Vận tải và số còn lại của Đại đội 15 ĐK , Đại đội 16 -12,7 , Đại đội 14 cối , cũng cử thêm lực lượng lên thay chốt cho Đại đội 1 .

Dâng đội hình lên theo Trung đoàn .

- Thời gian 7h 30 tối nay , ngày 17/7 sở chỉ huy tiền phương Trung đoàn , về vị trí mới .

Các đơn vị trực thuộc cũng bí mật nâng lên thay chốt cho Đại đội 1 .

Chốt theo vị trí phân công .

Đúng 10h đêm , các đơn vị bắt đầu tiền nhập .

Giờ G vẫn sẽ là 5h 30 ngày 18/7 .

Sau khi nghe xong phương án , kế hoạch tác chiến của Tham mưu trưởng .

Các đ/c cán bộ đều nhất trí .

Nhưng hầu như mọi người đều phân vân , về kế hoạch tác chiến .

Cùng một địa bàn , mà ta đã tổ chức luồn sâu đánh địch 2 lần .

Nếu lần này nữa thì cả 3 trận , bài bản tác chiến giống nhau .

Liệu Pốt đã quen và có biện pháp chống đối ta ?

Đồng chí Nguyễn Văn Ngọc , Đại đội trưởng đại đội 11 .

Là Đại đội đi đầu của Tiểu đoàn , phát biểu phản biện gay gắt nhất .

Đ/C Sư đoàn phó Mười thứ hỏi : vậy đ/c Ngọc và các đồng chí có cách đánh gì khác không ?

Tất cả hội nghị , đều không thể đưa ra được phương án tác chiến khác hơn .

Rồi tất cả chấp nhận phương án tác chiến quen thuộc , nhưng vô cùng nguy hiểm này .

- Đồng chí Trần Măng nói : Bây giờthời gian là vàng ngọc .

Các đ/c nhanh chóng về triển khai nhiệm vụ chiến đấuđêm nay và ngày mai cho đ/v mình .

Hội nghị kết thúc , mọi người ra về , vớitrọng trách lớn , với tâm trạng thật nặng nề .

Với những tâm trạng nặng nề như vậy , nhưng nhiệm vụ vẫn là nhiệm vụ .

Danh dự , trách nhiệm của những người lính , những sỹ quan , những người chỉ huy cấp thấp .

Trực tiếp phải chiến đấu chiến đấu như những người lính xông pha trước mũi tên , hòn đạn của kẻ thù .

Họ đã từng trải qua cuộc chiến dài , trong trận chiến Biên giới Tây Nam này , cũng đã được gần một năm .

Cả năm trời tham chiến hàng trăm trận lớn nhỏ .

Chiến thắng nhiều , song không phải không có những trận , không đạt được mục tiêu đề ra .

Như trận Hà Tiên - Kiên Giang .

Nhưng có lẽ , chưa có lần nào , trước khi vào trận , mọi người lại có tâm trạng nặng nề như trận này .

Nhưng ở đây , lúc này đang là đỉnh cao sự đấu trí , đấu dũng , giữa ta và Pốt .

Mọi người đều phải nghĩ đến 2 chữ " quyết tử " .

Như cha ông ta đã " quyết tử " trong lịch sử chống ngoại xâm .

Các thế hệ đàn anh đã " quyết tử ", để làm nên những kỳ tích , trong cuộc chiến chống Pháp , chống Mỹ .

Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước .

Bao nhiêu lớp người đã " quyết tử " .

Đã anh dũng hy sinh để làm nên chiến thắng đó .

Trong trận này , cán bộ chỉ huy các cấp , cũng phải làm cho tất cả những người lính thấy được vinh dự , trách nhiệm và trọng trách lớn lao này .

Tất cả các đơn vị nhanh chóng làm mọi công tác chuẩn bị .

Đại đội 1 , như vậy là Đại đội trưởng Nguyễn Văn Đạc đã về tuyến sau vì sốt rét tái phát .

Chỉ huy trận này là đ/c Công cv trưởng và đ/c Phạm Văn Trọng Đại đội phó .

Tôi thì vẫn còn ở cứ Búa Lớn .

Chiều qua nhanh , rồi bóng tối ập xuống như bao ngày .

Trời mát nhưng không mưa .

Đúng 7h tối , ban chỉ huy Trung đoàn di chuyển lên vị trí mới , gần Tiểu đoàn 1 .

Công binh đã khẩn trương làm xong hầm chỉ huy .

Dưới gầm 1 một nhà sàn cũ của dân .

7h30 , các đ/c chỉ huy Trung đoàn đã tới vị trí .

Các lực lượng vệ binh , công binh , trinh sát , cùng các đ/v trực thuộc khác cũng đã dâng lên .

Thông tin nhanh chóng triển khai mạng hữu tuyến xuống các đơn vị .

Công việc đang khẩn trương trôi chẩy theo kế hoạch .

Ùng – ùng - ùng .

Vừa nghe tiến nổ đầu nòng thì oàng - oàng - oàng .

Đất trời như vỡ òa , bởi các loại tiếng nổ của pháo và ĐKZ 75 của Pốt .

Chúng bắn vào khu vực hầm chỉ huy mới của Trung đoàn .

Không phải một vài loạt , mà chúng bắn liên tiếp hàng trăm quả .

Không gian như được hun nóng bởi khói đạn của Pốt .

Một quả ĐK rít... xoẹt... rồi nổ ầm đúng hầm chỉ huy Trung đoàn , góc các đ/c thông tin đang thao tác . khỏi lửa trùm lên hầm chỉ huy .

Đ/C Thái trưởng mạng thông tin hy sinh , 2 đ/c khác bị thương .

Lác đác , các đơn vị báo lên là có anh em bị thương , hy sinh do trận tập kích hỏa lực của Pốt .

Ác liệt đây .Chính ủy Ánh thoáng nghĩ , không hiểu bọn này có âm mưu gì ?

Mà tập kích hỏalực nhiều như vậy ?

Hay là vị trí sở chỉ huy đã bị lộ ?

Nghĩ vậy thôi chứ nhiệmvụ đã triển khai , không được trì hoãn .

Đ/c Ánh quay máy liên lạc với các Tiểuđoàn , nắm tình hình chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị .

Các đơn vị báo lên ,công tác chuẩn bị tốt .

Anh em rất quyết tâm , riêng Đại đội 11 có sự cố .

Tổngsố lính nhập ngũ 72 còn trong Đại đội là 8 đ/c .

Trong đó có cả đ/c Ngọc đanggiữ chức vụ Đại đội trưởng , 1 đ/c lính 72 làm liên lạc .

Còn lại 6 đ/c lính 72ở các Trung đội bằng nhiều lý do khác nhau ae về cứ , không tham chiến trận này.

Đây cũng là 1 bất ngờ .

Nhưng nhìn chung các đ/v đều triển khai tốt việcchuẩn bị chiến đấu tấn công Pot đêm nay .

Bọn Pốt tập kích thêm mấy lần bằng hỏa lực nữa vào các khu vực chốt giữ phòng thủ của ta .

9h rồi 10h , cũng không thấy Pốt tập kích bằng bộ binh như mọi ngày .

Lệnh lên đường .

Đại đội 1 vẫn do 2 trinh sát của Tiểu đoàn + 2 trinh sát của Tiểu đoàn 3 dẫn đầu .

Xuất phát sau 30 phút thì đến Tiểu đoàn 3 .

Rồi Tiểu đoàn 2 , nhóm trinh sát dẫn đường cứ mò mẫm trong đêm chếch về hướng Tây .

Cứ đi được trăm mét thì lại chốt lại 2 người , còn 2 người quay về dẫn đội hình lên .

Mọi việc cũng như mọi lần , anh em hành quân luồn sâu thuận lợi .

Tuy nhiên là đều phải lội ruộng , cánh đồng ngập nước có chỗ sâu tới đầu gối .

Khi lấy góc phương vị , bẻ tay phải để vượt qua con đê , thì đụng chốt của Pốt .

Trinh sát dẫn đội hình vượt hẳn lên , xa cũng vẫn gặp các chốt của Pot .

Không thể vượt qua được .

Lại vòng quay trở lại tìm đường mới .

Cũng vẫn không thể qua được .

Mật độ Pốt chốt giữ quá đông .

Anh em lợi dụng một số bờ đất để ngồi đợi trinh sát tìm đường .

Hoặc đứng chôn chân giữa ruộng nước .

Dùng dằng , quay đi quay lại .

Thành ra đội hình hành quân tiền nhập , đã gần như song song đối mặt , với con đê của mương dẫn nước .

Một tình huống khó khăn , chưa bao giờ gặp trong hành quân tiền nhập luồn sâu .

Khoảng 1h sáng có bóng người , có những bước chân lội nước , đi ngược với hướng hành quân của ta .

Anh em trinh sát lùi lại báo truyền cho đội hình .

Pốt cũng hành quân , có thể chúng cũng có âm mưu tổ chức tập kích ta với quy mô lớn .

Lệnh được truyền đi .

Tất cả tuyệt đối giữ bí mật không được nổ súng .

Nếu Pốt đụng hướng nào thì hướng đó đánh .

Nhưng vẫn không được nổ súng .

Mà mọi người chuẩn bị dao găm , cuốc xẻng , lưỡi lê sẵn sàng cho trận " giáp lá cà "tiêu diệt ngay bọn đi đầu .

Thật là hồi hộp , cho tình huống luồn sâu đánh địch của ta .

Lúc này đã hơn 1h sáng .

Pốt cũng đi làm 3 hướng .

Hướng thứ nhất chúng đụng Đại đội 1 .

Hướng 2 chúng đụng Đại đội 11 và hướng d2 đụng Đại đội 5 .

Một trận chiến nhỏ xẩy ra bằng dao găm và xẻng .

Ta tiêu diệt được gần chục tên , bằng các loại trang bị , vũ khí thô sơ đó .

Số còn lại kêu duôn duôn rồi chạy ngược trở lại .

20' sau , bọn Pót trên bờ mương bắt đầu bắn xối xả vào đội hình của các đ/v .

Đã có nhiều ae trúng đạn .

Như vậy là việc luồn sâu đã bị lộ .

Không thể vượt qua bờ mương ém quân như kế hoạch .

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sông Thao hội ý với Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Phạm Anh Xướng , cùng các đ/v phối thuộc .

Thay đổi cách đánh , sẽ tấn công vỗ mặt , chiếm bờ mương ngay .

Vì ta đang ở thế bất lợi giữa đồng nước .

Các đ/v chuẩn bị tấn công nếu cấp trên đồng ý .

Lúc này là 2h30 Tiều đoàn trưởng Thao điện về xin ý kiến Trung đoàn , cho các đơn vị đánh chiếm bờ mương ngay .

Sư đoàn phó Mười Thứ đồng ý cho thay đổi cách đánh .

Song không đồng ý tấn công ngay .

Yêu cầu các đơn vị chuẩn bị dàn trận , đúng 5h30 đồng loạt xung phong đánh chiếm bờ mương .

Đ/c Thao vẫn yêu cầu xin được tấn công ngay .

Sư đoàn phó vẫn ko đồng ý .

Tình thế thật bất lợi cho quân ta .

Nhưng trong chiến đấu , mệnh lênh cấp trên vẫn phải chấp hành .

Các đ/v được lệnh tiền nhập gần bờ mương hơn .

Lợi dụng các bờ đất , gò đất làm công sự , triển khai đội hình chiến đấu .

Song việc triển khai ở địa hình này thật khó khăn .

Hiếm lắm mới có bờ đất xâm xấp nước .

Còn toàn ruộng nước , sâu nhất là tới gối , nhung nhúc đỉa .

Anh em phải ngâm mình trong nước đợi giờ nổ súng .

Đại đội 11 không thể giá súng 12,7 tầm thấp được .

Mà phải giá súng tầm cao như bắn máy bay .

2 khẩu cối 60 thì giá súng ngay chỗ ban chỉ huy Đại đội , chỗ này có gò đất xấp nước .

Bọn Pót đã ngừng bắn .

Nhưng chúng ta đang ở tình huống khó , đang ở địa hình rất bất lợi cho việc tấn công .

Vì bờ ruộng chiều dọc rất ít lại nhỏ .

Tất cả ko thể lao lên bằng những bờ như vậy .

Sẽ bị đạn Pót " xuyên táo " vài người ngay .

Nên hầu như , tất cả phải xung phong ở đồng nước .

Rất khó khăn cho việc vận động tấn công .

Trời đã tảng sáng , mọi người kiên trì chờ đội giờ nổ súng , trong cáirét vì bị ngâm lâu trong nước .

Lại phải rất khó chịu vì cái lũ đỉa đói cứnhung nhúc bu bám hút máu ae .

Cứ cấu vất được con này thì những con khác buđến .

Ai cũng cảm thấy thời gian như ngừng trôi .

Cố lẽ ko ở đâu , không mấy aibị chịu đựng cái khổ như thế này .

Tất cả mọi người chỉ biết cắn răng mà chịutrận , chờ giờ nổ súng .

Đằng đông trời như vỡ ra , rạng sáng .

Tiếng kêu của đàn vạc đi ăn đêm vội bay về tổ , gọi nhau vạc , vạc não nùng .

Cái giờ G mong đợi đã đến .

Pháo , côí của Sư đoàn , Trung đoàn , bắn cấp tập vào Phum , phía trước đội hình .

Không gian vỡ òa , bởi các tiếng đề pa , tiếng đạn bay rít qua đầu , nổ ầm ầm rền vang như sấm xa .

Các đ/c cán bộ Đại đội , Trung đội , xông xáo đi nhắc anh em chuẩn bị tấn công .

Tiếng súng , tiếng đạn nổ , giờ G đến .

Làm cho cái rét , cái lạnh tan biến đi đâu mất .

Tất cả chuẩn bị lại vũ khí xung trận .

Mục tiêu 1 là đánh chiếm bờ đê , làm bàn đạp tấn công vào Phum .

Pháo chuyển làn , các loại súng đại liên , súng 12,7 , cối 60 , của các Đại đội .

Cối 82 của Tiểu đoàn Tong - Tong dồn dập , xung phong .

Đ/c Thao Tiểu đoàn trưởng , nổ mấy phát K59 , rồi hô xung phong - xung phong .

B40 - B41 - ĐKZ82 phát hỏa ùng - ùng , lao vào bờ mương nổ tung đất .

Có nhiểu quả vượt tầm vào bên trong .

Các loại súng đại liên 12,7 ly đã nâng tầm bắn làm nền , lấy khí thế cho bộ binh xung phong .

Cả tuyến , đội hình các đơn vị từ đầu là C1 , tiếp Tiểu đoàn 3 , rồi Tiểu đoàn 2 .

Như vậy chiều rộng tấn công khoảng ngàn mét .

Mũi nhọn là Đại đội 1 + Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 + Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 .

Toàn đội hình lao lên .

Các loại súng AK nổ ran .

Anh em vận động nước bắn tung tóe .

Rất ít anh em tận dụng được bờ mương dọc .

20M , 30 M rồi 50M .

Bọn Pốt như bừng tỉnh , hay nó có ý đợi anh em vào gần .

Các loại súng dọc bờ mương đồng loạt phát hỏa .

Xối đạn vào cản đội hình tấn công .

Trời chưa sáng hẳn nhìn rõ những họng súng đang khạc đạn lóe lửa đầu nòng .

B40 - B41- DKZ của chúng cũng ùng , oàng trùm khói lên bờ mương .

Đạn nổ oàng , oàng vào đội hình .

Ngay loạt đạn đầu tiên của Pot , đã rất nhiều anh em trúng đạn đổ xuống .

Mọi người vẫn vận động , nhưng như vậy là anh em đang lao thẳng vào hướng các họng súng của Pốt .

Đội hình khựng lại .

Tiểu đoàn trưởng Sông Thao , cùng Tiểu đoàn phó Phan sỹ Thống vẫn đứng quan sát .

Trời !

Chúng chốt giữ dầy quá , hỏa lực nhiều và mạnh quá .

Không phải chỉ có một vài ổ 12,7 hay đại liên .

Mà rất nhiều ổ súng vẫn hung hãn nhả đạn .

Chúng rê sang phải , sang trái theo hình dẻ quạt .

Đạn thẳng cắm phầm phập vào quanh đội hình , tung nước chung quanh mọi người .

Nhiều anh em nữa trúng đạn .

Anh Thao hội ývới Tiểu đoàn phó Thống , tình huống này phức tạp đây ?

Vẫn phải tập trung dậphỏa lực rồi xung phong đánh chiếm thôi .

Đại đội 1 và 11 đã gần bờ mương nhất .Ông ở đây , tôi lên chỗ anh Ngọc .

Rồi cùng mấy đồng chí trinh sát , truyền đạt tiến được mấy bước , thì đạn củaPốt cắm phầm phập vào chỗ mọi người .

Đ/C Thao cùng mấy anh em khác đổ xậpxuống .

Khẩu K59 của Tiểu đoàn trưởng tuột khỏi tay .

Anh Thao trúng đạn rồi ,mấy đ/c trinh sát kéo lùi Tiểu đoàn Trưởng về chỗ đ/c Thống .

Tiểu đoàn trưởngThao máu loang đầy ngực trên bộ quần áo ướt sũng nước .

Đ/C Thống báo về Trungđoàn : đ/c Thao bị thương nặng .

Đ/C Trung đoàn trưởng Măng lệnh chuyển ngayđ/c Thao , cùng các anh em bị thương về phía sau . tiếp tục dùng hỏa lực chế áprồi tổ chức tấn công tiếp .

Sư đoàn phó Thứ gào lên xen vào tổ hợp : Bằng mọigiá phải chiếm lấy bờ mương .

Mũi tấn công của Đại đội 1 , sau khi tiền nhập cách bờ mương khoảng 100m , thì ae dừng lại , cũng củng cố hầm hào đợi giờ nổ súng .

Khi có hiệu lệnh xung phong , anh em ào lên tấn công .

Nhưng cũng giống như hướng Đại đội 11 .

Nhiều anh em ngã xuống ngay loạt đạn đầu của Pốt .

Trong số này có cả đ/c Cv trưởng Nguyễn Tiến Công .

Mũi tiến công khựng lại , phía sau khẩu 12,7 và 2 khẩu đại liên vẫn bắn đối súng với bọn Pốt .

Khẩu 12,7 của Đại đội 4 tăng cường cũng phải giá súng cao .

Bắn chế áp được một lúc thì bị dập bởi quả ĐK .

Hai khẩu đại liên vẫn nhả đạn , hỗ trợ cho bộ binh .

Lúc này anh em bộ binh không tiến được nữa .

Anh em bb nằm tại chỗ , hay bò lùi tìm chỗ ẩn nấp .

Bắn được mấy loạt nữa , thì một khẩu đại liên cũng bị dập .

3 đ/c khẩu đội đều bị thương và hy sinh .

Còn lại một khẩu đại liên của Tiểu đội trưởng Phạm Thanh Hải , vẫn phát huy .

Bắn xăm vào bờ mương và các ổ súng của Pốt .( đ/c Hải là lớp lính 75 quê Thái Bình , thuộc lực lượng tên lửa mới được điều về đơn vị hồi tháng 3/78).

Một viên đạn của Pốt bắn bay đầu ruồi khẩu đại liên .

Kệ , Đ/c Hải vẫn bắn .

Như vậy là một khẩu đại liên của Hải , đang đối với mấy khẩu 12,7 và đại liên của Pót trên bờ đê .

Hải cũng đã dập được 2 mục tiêu , thì một viên đạn xuyên cánh tay trái .

Cùng lúc , một quả M79 của Pốt trúng mũ sắt làm anh choáng vật ra .

Đại đội phó phạm Văn Trọng trườn vào thay Hải .

Tiếp tục đối súng với Pốt , được vài loạt thì súng hóc .

Anh Trọng cùng một đ/c nữa đang loay hoay xử lý .

Thì một viên đạn thẳng cũng làm Đại đội phó Trọng bị thương gục xuống .

Cối 60 của Đại đội , cũng chỉ phát huy được lúc bắn chuẩn bị xung phong .

Còn bây giờ trời đã sáng , mục tiêu đã lộ .

Tiểu đội lúc này đã 2 đ/c hy sinh .

Mấy đ/c bị thương .

Như vậy là mũi tiến công của Đại đội 1 bị Pốt bẻ gẫy .

Một số anh em bò lùi lại , nhưng cũng nhiều anh em trong số đó lại dính tiếp đạn thẳng của Pốt .

Pháo , cối , Đkz75 của Trung đoàn , Sư đoàn ùng - ùng bắn phá vào bờ đê và các khu vực sau .

Đài quan sát pháo binh báo , phía sau bờ đê , sâu vào trong .

Lực lượng Pốt rất đông .

Chúng điều cả xe bọc thép lên , nấp ở bờ mương bắn cản quân ta .

Các loại cối pháo của ta chi viện tối đa .

Trúng các đội hình Pốt , anh em trên đài quan sát rất rõ những xác Pốt tung lên .

Song để bắn trúng được từng ổ đề kháng ở bờ đê , thì quả là khó .

Nhưng pháo cối của ta cũng đã làm cho chúng chúi xuống hầm .

Lệnh xung phong .

Đ/C Thống Tiểu đoàn phó chỉ huy phát lệnh xung phong .

Anh em Tiểu đoàn 3 , Tiểu đoàn 2 lại bật lên xung phong .

Nhưng kịch bản lại cũng giống như lần xung phong thứ nhất .

Anh em khựng cả lại , tìm nơi ẩn nấp .

Nhưng cũng thật là khó .

Không biết nấp biết tránh vào đâu .

Nhiều chỗ anh em chụm vào nhau , hoặc di chuyển đều là những mục tiêu để Pốt bắn vào .

Khẩu 12,7 của Đại đội 16 , tăng cường cho Đại đội 11 .

Vẫn thùng - thùng – thùng nhả đạn vào các ổ đề kháng Pốt .

Một đ/c xạ thủ chính trúng đạn ngã ngay xuống chân súng .

Tiếp đến đ/c xạ thủ vừa thay cũng bị trúng đạn .

Đại đội trưởng Lầu của Đại đội 16 , đi tăng cường lao lại thay .

Đứng giữa 2 chiến sỹ của mình vừa hy sinh .

Anh khom người kéo các điểm xạ , bắn về phía Pốt .

Thật là dũng cảm và quyết tử .

Bắn được 1 lúc rồi anh cũng trúng đạn .

Hai tay vẫn ghì chặt khẩu 12,7 .

Đại đội trưởng Pham văn Lầu , hy sinh thật anh dũng .

Đây là lần thứ 2 , anh em chứng kiến hành động , chiến đấu và dũng cảm hy sinh .

Của các lớp chỉ huy Đại đội trưởng hỏa lực Đại đội 16 súng 12,7 .

Hồi tháng 3/75 , khi Trung đoàn tấn công căn cứ Chơn Thành , tỉnh BìnhLong .

Súng 12,7 ly của Đại đội 16 cũng đấu súng với 12,8 trên xe tăng của quânđội VNCH .

Khi tấn công vào cửa mở , địch chôn xe tăng xuống , thò tháp pháo vàkhẩu 12,8 lên .

Điên cuồng khạc đạn vào đội hình xung phong đánh cửa mở củaTiểu đoàn 2 .

Anh em bắn rụng 2 thằng , ta cũng 2 anh em bị trúng đạn .

Đại độitrưởng Đại đội 16 hồi đó là đ/c Cao Xuân Khá quê Quảng Bình .

Lúc đó cũng nhẩyvào thay và nói : Để anh đấu 12,7 với lũ 12,8 này .

Thùng- Thùng- Thùng , sauđiểm xạ tên đang bắn 12,8 trên xe tăng trúng đạn vật ra .

Lại tiếp thằng nữa ,vẫn Thùng – Thùng – Thùng .

Tiếp thằngnữa trúng đạn .

Lúc đó khẩu pháo trên xe của chúng đã chính tầm .

Qủa đạn pháobắn thẳng cực mạnh của tăng , làm tung khẩu 12,7 .

Đ/c Khá đại đội trưởng đã anh dũng hy sinh .

Đồng chí Nguyễn Song Thao hy sinh .

Sau lúc bị thương , anh em trinh sát bò , kéo đ/c Thao lùi về .

Vết thương nặng , nhưng không thể nào có thể chuyển nhanh về sau được .

Anh em phải kéo lùi từng tý , từng tý một .

Qủa là rất khó , phải có anh em nâng cao đầu , còn toàn thân và vết thương phải bị chìm trong nước .

3 - 4 đ/c tập trung di chuyển Tiểu đoàn trưởng .

Sự tập trung di chuyển này , lại là mục tiêu lộ , để Pốt nhằm bắn .

Đạn thù xối xả vào chỗ anh em .

Đ/c Thao trúng thêm mấy viên đạn nữa .

Trong nhóm đó , 1 đ/c Trinh sát hy sinh , 2 đ/c nữa bị thương .

Đại đội 11 cũng đã hết sức chiến đấu .

CV trưởng Duyên , bò , trườn đi tới chỗ các chiến sỹ .

Vừa di chuyển được mấy mét , thì những loạt đạn thẳng của Pốt găm trúng cỗ hiểm .

Làm anh gục ngay xuống hy sinh .

Đại đội trưởng Nguyễn Văn Ngọc rất bức xúc với tình hình trận đánh .

Thấy CV trưởng Duyên trúng đạn .

Anh cùng đ/c liên lạc bò ra kéo CV trưởng .

Lại tiếp những loạt đạn của Pốt phầm phập chung quanh .

Một viên trúng đ/c liên lạc cũng hy sinh .

Đ/c Ngọc bị một viên xiết vào gáy dưới vành tai .

Khu vực 2 khẩu cối 60 , đạn cối đã được bắn hết .

Vì trong trận này không mang nhiều .

Nhưng quanh chỗ đó , 4 đ/c xạ thủ cối hy sinh , mấy anh em khác bị thương nấp sau bờ đất .

Duy nhất Đại đội 11 lúc này còn đ/c Thoảng CV phó , anh hô đ/c Hùng lính 78 người Hà Nội là pháo thủ gánh đạn , kéo khẩu cối , cùng một đ/c Thông tin 2w của Tiểu đoàn bò lùi .

Được hơn chục mét , máy thông tin ngâm trong nước , không còn tác dụng nữa .

Nhưng Pốt cũng xối đạn vào đó .

Làm Đ/c Thông tin Tiểu đoàn cũng trúng đạn nằm bất động .

Chiếc máy thông tin 2w vẫn đeo ở lưng chồi trên mặt nước .

Đ/c Hùng một tay vừa bò ,1 tay keó khẩu cối 60 .

Khẩu cối cứ cắm xuống bùn nước không thể kéo được , được khoảng chục mét , Hùng kiệt sức , đành bỏ khẩu cối 60 lại đó .

Hướng Tiểu đoàn 2 , cũng tình trạng như vậy .

Không kém sự ác liệt .

Đ/c Mai Đại đội trưởng Đại đội 5 , bị thương ngay từ lúc đầu , đ/c Dũng thông tin của Tiểu đoàn , bị thương vỡ gót chân .

Đ/c Tiểu đoàn trưởng Phạm Anh Xướng cùng mấy ae trong BCH vẫn bò , trườn đến chỗ các đơn vị .

Động viên khích lệ Đại đội 5 và Tiểu đoàn xung phong lần 2 .

Đ/C Tiêm Tiểu đoàn phó , đ/c Hai dvphó Tiểu đoàn cũng xuống các đơn vị .

Song lần thứ 2 xung phong cũng giống như Tiểu đoàn 3 , đều bị Pốt chặn đứng .

Liên tiếp đ/c Hai chính trị viên phó Tiểu đoàn trúng đạn hy sinh .

Đ/c Tiêm Tiểu đoàn phó trúng đạn hy sinh .

Đ/c Xướng Tiểu đoàn trưởng bị đạn thẳng xuyên qua vai bị thương .

Đ/c Thành chính trị viên trưởng Đại đội 5 , bị viên đạn nhọn cầy từ trán lên tới đỉnh đầu .

Rải rác khắp nơi anh em mình hy sinh và bị thương nằm khắp đồng nước .

Các đ/c bị thương cố bò , di động , thì lại cũng là mục tiêu xạ kích của Pốt .

Các ổ hỏa lực của Pốt dọc bờ đê , vẫn điên cuồng nhả đạn như mưa vào đội hình các đơn vị .

Lệnh của Trung đoàn cho các đơn vị lùi về sau 300 mét để củng cố lựclương .

Pháo binh cấp tập về phía Pốt .

Nhưng đạn nổ vào phía sau bờ đê làchính , cũng nhiều trái làm tung các ổ hỏa lực của Pót ở bờ đê .

Nhưng cũngkhông thể dập được hết các ổ hỏa lực của Pot .

Cộng thêm sự tăng viện của Potcũng rất kịp thời Nên chúng vẫn chiếm được ưu thế của hỏa lực bắn thẳng .

Cácmáy thông tin bị ngâm nước không sử dụng được .

Việc truyền tin bây giờ là rấtkhó , việc anh em lùi ra cũng không phải là dễ .

Chỉ cần lùi được 300m là vàođược khu vực an toàn có vật che khuất , che đỡ .

Nhưng quãng ruộng ngập nước300m đó , lúc này là cả một quãng dài vô tận , với rất nhiều anh em .

Vì cứ aidi chuyển là bị đạn tập trung vào .

Rất nhiều anh em hy sinh , bị thương dọcquãng đồng nước ấy .

Có nhiều anh em bị thương nằm đó , nhưng lúc này cũng khócó thể tiếp cận anh em được .

Như vậy số anh em này lại bị kẻ thù thứ 2 hành hạ.

Đó là lũ đỉa đói .

Hàng trăm con đỉa bâu vào , hút cạn máu của anh em mình .

Hướng Trung đoàn 266 , theo hợp đồng , có 2 Đại đội cùng 6 xe bọc thép lội nước M113 đánh ép vào .

Trong ý đồ chiến thuật , mũi tấn công này chỉ là đánh ép , be bờ , đánh vỗ mặt dọa là chính .

Chứ không phải là nhiệm vụ thọc sâu .

Lực lượng này đánh ép vào , cũng gặp hỏa lực của chúng rất mạnh .

Các loại B40 - B41 - DKZ phóng đạn , vây lấy xe bọc thép của ta , làm 2 xe trúng đạn .

Nên lực lượng bộ binh , cũng chỉ tiến thêm gần giáp Phum rồi bắn hỏa lực vào , đe dọa bọn Pốt hướng này .

Khoảng 7h30 .

Sư đoàn sử dụng thêm một mũi đánh từ gồn 5 xe bọc thép , cùng 2 Trung đội của Đại đội 2 .

Đánh chéo lên hướng Bắc - Tây Bắc .

Nhưng cũng gặp phải sự kháng cự mạnh của Pốt .

Một xe bọc thép bị đứt xích .

Mấy đồng chí hy sinh .

Trong đó có đ/c Trung đội trưởng Ngô Khắc Quyền .

Là lớp lính 3/75 quê Thanh Hóa . là đ/c vô cùng gan dạ , dũng cảm , có rất nhiều thành tích .

Đang được đ/v đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT .

Khoảng 8h .

Hướng Tiểu đoàn 3 , Tiểu đoàn 2 , chỉ còn tiếng súng của Pốt .

Chúng nhằm bắn anh em ta trên đồng nước .

Nhưng đơn vị ở phía sau đó 300m không thiệt hại nhiều .

Một số ít bị thương , hoặc không bị thương , lùi về được phía sau , hầu như cũng kiệt sức .

Nhưng ở khu vực này , các LL vận tải cứu thương , nhanh chóng chuyển anh em về phẫu .

Theo đài quan sát báo , Pốt dồn quân lên rất đông .

Một tình huống đặt ra : chúng có thể tấn công dấn lên không ?

Sư đoàn phó Mười Thứ chỉ im lặng .

Hình như ông đã thấy được cái đề nghị : xin tấn công ngay lúc đêm , của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sông Thao là đúng .

Song giờ đây , chưa thể nói gì được nhiều .

Bằng mọi giá , phải ngăn chặn âm mưu tấn công , phản công của Pốt .

Trước hết là phải tổ chức chốt giữ .

Tất cả các anh em , không phân biệt đơn vị .

Phải vào các vị trí chốt , phòng thủ .

Động viên các anh em bị thương nhẹ cũng ở lại , chiến đấu chặn Pốt .

Các đ/c trợ lý của Trung đoàn , tăng cường ngay xuống các đơn vị .

Chỉ huy và đôn đốc việc phòng thủ cùng các đơn vị .

-Các loại pháo , cối , xin bắn tối đa để tiêu diệt sinh lực địch .

-Điều 2 khẩu pháo 105 lên cao gần Tiểu đoàn 1 .

Dùng loại đạn phòng thủ của pháo .

Loại đạn mà trong lịch sử pháo binh của ta chưa sử dụng lần nào .

Đó là loại đạn pháo đinh của Mỹ .

Song việc sử dụng loại đạn này thật là khó .

Ta chưa có kinh nghiệm . ( lúc đó theo TP biết không thật chính xác) là điều 1 vài Sỹ quan pháo của quân lực VNCH , đang học tập cải tạo lên gấp .

Để sử dụng bắn loại đạn này ( ? ) Vì loại đạn đinh này , không thể bắn xa được .

Cự ly xa nhất là khoảng trên 1000m .

Nhưng đạn rơi cách mặt đất 100m thì phát nổ .

Gây sát thương mật độ dầy đặc mấy trăm m2 .

Việc đưa pháo lên gần Tiểu đoàn 1 là rất khó .

Vì sức nặng của pháo , đường đất nhỏ , ngập nước , lầy lún .

Phải dùng xe bọc thép kéo , cộng thêm cả sức người nữa đun đẩy nữa .

Hai khẩu pháo mới vào được vị trí xạ kích .

Đến gần trưa , thì bắn được quả đầu tiên .

Qua máy bộ đàm kỹ thuật , bọn Pốt kêu ầm ĩ .

Vì bị sát thương nhiều .

Khẩu thứ 2 bắn tiếp , thì đạn nổ ngay vào đội hình Đại đội 4 , Tiểu đoàn 1 .

Làm 10 đ/c bị thương .

Đ/c Tú Đại đội phó , bị 9 cái đinh cắm vào người .

Từ đó đến chiều , pháo đạn đinh , kết hợp với các loại đạn pháo cối khác.

Đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch .

Đập tan ý đồ phản công của Pót .Trận địa chốt của Trung đoàn được giữ vững .

Chiều tối , Trung đoàn tiếp tục cửlực lượng tìm kiếm anh em .

Thêm được một số Tử sỹ và thương binh nữa được tìmthấy .

Qua các vết thương , thì thấy anh em bị mất máu do đỉa rất nhiều .

Sốanh em của Đại đội 1 , đại đội 11 , Đại đội 5 .

Vào sâu trong bờ mương , khôngthể vào đưa anh em ra được .

Trong đó có đ/c Nguyễn Tiến Công , Chính trị viên trưởngĐại đội 1 cùng nhiều anh em Đại đội 1 của tôi ..

Sáng hôm sau 19/7 tôi sang chốt sớm .

Quang cảnh khu vực Săngke này buổi sớm yên ả làm sao .

Vẫn cánh đồng ngập nước , trời không mưa , quang đãng mát mẻ , mặt trời đã lên cao .

Nhưng ánh nắng buổi sớm êm dịu .

Gió nhè nhẹ thổi , những cây thốt nốt nhìn qua cũng không có gì khác .

Những tán lá vẫn lung lay đùa với gió .

Những đàn cá vẫn chạy rẽ nước , khi thấy bóng người đi .

Những đàn cò trắng với cái chân nhỏ xíu , cao kều .

Nhẹ nhàng từng bước , tìm mồi ở những chỗ nước nông .

Không có tiếng súng .

Thoảng trong không trung tiếng con chim cu đang gáy gù gọi bạn .

Cảnh vật thật thanh bình .

Không ai có thể nghĩ được là vừa mới hôm qua .

Một trận đấu súng , đấu pháo , đấu trí quyết tử ở khu vực này ?

Vừa mới hôm qua , bao nhiêu đồng đội của tôi , đã hy sinh , đã đổ máu .

Vĩnh viễn nằm lại đây , chấm dứt cuộc đời , chấm dứt sự nghiệp , chấm dứt đời binh nghiệp , khi tuổi đời còn quá trẻ ...

Tôi qua Trung đoàn bộ , rồi vào Ban chính trị Trung đoàn .

Các thủ trưởng , các trợ lý phòng , ban hồ hởi khi gặp tôi .

Thoáng qua trên nét mặt mọi người , lộ rõ vẻ mệt mỏi căng thẳng .

Mọi người đang tập trung , giải quyết những hậu trận chiến hôm qua .

Có quá nhiều việc phải làm .

Đ/c Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn nói : ông về Tiểu đoàn ngay đi , nơi đấy đang cần ông .

Ngày hôm qua , Đại đội 1 , Tiểu đoàn 2 - 3 cùng các ae trực thuộc .

Đã rất dũng cảm , chiến đấu .

Chúng ta đã thắng lợi , mặc dù hy sinh nhiều , thương vong nhiều .

Đại đội ông còn lại mấy người .

Ông Công chính trị viên trưởng , cùng nhiều anh em đang nằm lại đó .

Nhưng trước mắt , cứ phải để anh em ở đấy đã .

Ông phải làm tốt công tác tư tưởng với anh em còn lại .

Quân lực , Cán bộ , sẽ có kế hoạch bổ sung quân cho Đại đội ông .

Ông về ngay đi .

Chủ nhiệm và mấy đ/c trợ lý đều lau vội dòng nước mắt , đang chảy dài .

Mất mát , hy sinh của Trung đoàn trận hôm qua quả là quá lớn .

Rất nhiều cán bộ Tiểu đoàn , cán bộ Đại đội , cán bộ Trung đội , cán bộ Tiểu đội .

Cùng nhiều chiến sỹ hy sinh .

Không phải chỉ có đ/c Công và anh em Đại đội 1 nằm lại đó .

Đại đội 11 , Đại đội 5 và một số anh em phối thuộc , vẫn nằm lại đó .

Như vậy là cả hai Tiểu đoàn và Đại đội 1 , đều bị mất sức chiến đấu .

Đ/c Nguyễn Sông Thao , đ/c Ngô Khắc Quyền , những người cán bộ , người con ưu tú của Trung đoàn , Sư đoàn .

Đang được đề nghị Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu AHLLVT .

Thì đều bị hy sinh trận hôm qua .

Tất cả cán bộ , chiến sỹ trong Trung đoàn đều đau xót , đều bàng hoàng bởi sự mất mát to lớn đến với Trung đoàn .

Song , chúng ta đã chiến thắng .

Chúng ta đã đập tan âm mưu phản công , tấn công của bọn Pốt , vào khu vực Trung đoàn chốt giữ .

Chúng ta đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch .

Hiện tại toàn tuyến chốt của Trung đoàn , Sư đoàn đang được giữ chắc .

Cả đêm qua chúng lo đốt xác , không tập kích ta lần nào .

Tôi về tới vị trí của Tiểu đoàn .

Vị tríchốt của Đại đội 1 , đã được các đ/v trực thuộc thay .

Anh Chính , anh Vinh ,cán bộ Tiểu đoàn gặp tôi động viên , chia sẻ với những mất mát của Đại đội . (Đ/c Ngô Quảng Vinh mấy năm trước , bị tai nạn máy bay trực thăng rơi tại Lào .Lúc đó anh là Thượng tá tại bộ Tổng tham mưu ) .

Anh Chính nói : Đại đội 1 hiệncòn đ/c Thư quản lý , đ/c Tùng anh nuôi , ông sang nữa là 3 người .

Tiểu đoàn ,Trung đoàn , sẽ tổ chức điều động quân số sau .

Chỗ của Đại đội 1 , ae trêntrực thuộc thay .

Nhưng trước mắt , nhóm của các ông ở luôn tại vị trí Tiểu đoàn bộ .

Tôi cùng anh Chính xuống chỗ anh em Đại đội 1 .

Vừa bước vào hầm lán , anh Thư quản lý , Tùng anh nuôi , đứng lên ôm chầm lấy tôi òa khóc .

Anh Thư nói trong nước mắt : anh em bị hết cả rồi anh Phú ơi .

Tùng anh nuôi mếu máo nói : anh Đẩu , anh Viêm cũng không lấy được , ới các anh ơi !

Các anh vừa đi đánh trận đầu ( ý nói , hai đ/c Đẩu Tiểu đội trưởng anh nuôi , Viêm cũng là chiến sỹ nuôi quân , mới được điều lên đơn vị chiến đấu).

Mà đã chết ngay , lại không lấy được xác nữa chứ .

Ối anh Công ơi !

Chính trị viên ơi !

Sao các anh không về ?

Tôi nghẹn ngào không nói được gì .

Chỉ biểu cảm bằng cách vỗ vỗ vào vai , vào lưng 2 anh em .

Kệ cho anh em khóc , nước mắt tôi cũng nhạt nhòa .

Biết nói gì bây giờ ?

Mọi câu nói đều có thể là thừa , hoặc vô nghĩa .

Trong nỗi niềm đau thương , xót xa tột cùng này .

Mấy năm qua , những ngày tháng qua , đồng đội cùng ăn , cùng chiến đấu .

Từ cuộc KCCM đến làm quân quản .

Gần năm trời rong ruổi chiến đấu dọc miền biên giới .

Gian khổ nhiều , hy sinh nhiều .

Nhưng chưa lần nào Đại đội bị thương vong nặng nề , bị đau như lần này .

Cả ba người còn lại , đều không trực tiếp chiến đấu trận hôm qua .

Thoáng nghĩ , nếu như tôi không bị thương trận trước .

Không nằm viện , hôm qua cùng tham chiến với ae , thì không biết giờ này tôi ở đâu ?

Thân xác tôi thế nào ?

Đúng là trong chiến tranh , sống , chết và tồn tại cũng thực là may rủi .

Không ai có thể lường hết được .

Đợi cơn cảm xúc dịu xuống , anh Chính phó chính trị tiểu đoàn nói : Anh em bĩnh tĩnh lại đi .

Tôi và toàn thể anh em Tiểu đoàn chia sẻ với anh em , chia sẻ với Đại đội 1 .

Anh em nghỉ ngơi đi , anh Phú , đầu giờ chiều lên làm việc với Quân lực Tiểu đoàn .

Nắm lại số anh em bị thương , số anh em nằm lại đó chưa lấy về được .

Tôi nói với anh Chính : Anh về đi , cứ để anh em tôi nói chuyện .

Anh chính nắm tay mọi người rồi đi về hướng BCH .

Tôi kéo anh em ngồi xuống , rồi hỏi về tình hình trước khi đi chiến đấu .

Đúng là hỏi cho có lệ , chứ tôi cũng chẳng nghe rõ , chẳng nhập tâm được gì .

Lần lượt những khuôn mặt quen thuộc của anh Công và anh em , cứ hiển hiện ra trước mặt và xung quanh tôi .

Câu nói của anh Công mới cách đây 2 - 3 hôm khi về cứ cùng chúng tôi nhâm nhi chén rượu : "Trung đoàn đang có kế hoạch đánh lên , tìm đưa anh em về " câu nói đó cứ văng vẳng đâu đây .

Đôi mắt to sáng , thông minh , đầy nghị lực .

Bây giờ anh cùng nhiều anh em nằm lại đó .

Tình hình thế này , liệu bao giờ mới đưa được anh , các anh em về với quê hương , về với đất mẹ .

Thùng – Thùng – Thùng , Chíu – chíu - chíu tiếng súng của Pốt cắt ngangsuy nghĩ của tôi .

Làm bừng tỉnh những tình cảm đang da diết , có phần ủy mịcủa 3 anh em .

Chúng tôi trở lại với hiện trạng thực tế .

Tôi nói với anh em ,chiến tranh khốc liệt thế đấy .

Sự việc đau thương này , muốn hay không cũng đãxẩy ra rồi .

Trung đoàn , Sư đoàn , sẽ có kế hoạch đưa anh em về .

Anh em mìnhcứ tạm nghỉ ngơi .

Đợi cấp trên bổ xung , đợi số anh em bị thương nhẹ đi việnvề .

Cuộc chiến Biên giới này có vẻ còn dài lắm .

Mấy ngày tiếp theo , dọc tuyến chốt của Trung đoàn , Sư đoàn tương đối yên bình .

Nếu không có những loạt 12L7 , hay đại liên , thi thoảng có 1 vài quả ĐK của chúng bắn vu vơ vào khu vực Trung đoàn .

Thì có thể nói nơi đây thật sự thanh bình .

Pốt không tập kích hàng đêm như trước nữa .

Chúng vẫn chốt dọc bờ mương , nhưng cũng không đông quân như trước .

Mà thỉnh thoảng chỉ vu vơ loạt đạn như vậy .

Cấp trên nói , bọn Pốt thấy hướng này " khó nhằn " .

Nên đã chuyển hướng tấn công sang hướng Sư đoàn 7 , Sư đoàn 9 rồi .

Trung đoàn tổ chức hội nghị quân chính .

Để rút kinh nghiệm trận đánh ngày 18/7 .

Phổ biến tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo .

Đồng chí Sư đoàn phó Mười Thứ và chỉ huy Trung đoàn , chỉ huy Sư đoàn .

Đều đánh giá cao về ý trí chiến đấu và thắng lợi của Trung đoàn .

Chúng ta đã thắng , đã phá vỡ , đã đập tan được âm mưu bu bám , tấn công đẩy ta về biên giới .

Của 3 Sư đoàn tinh nhuệ của Pốt .

Tiêu diệt , tiêu hao được rất nhiều sinh lực địch .

Cán bộ , chiến sỹ , anh em d2 – d3 – c1- d1 cùng các đ/v phối thuộc .

Đã rất dũng cảm chiến đấu , chúng ta hy sinh nhiều , thương vong nhiều .

Những người con ưu tú như : đ/c Nguyễn Sông Thao , Ngô Khắc Quyền và nhiều đ/c nữa đã anh dũng hy sinh .

Còn nhiều đ/c đang nằm lại đó , đấy đang còn là "món nợ" lớn của chúng ta với anh em .

Hiện tại nhiệm vụ của chúng ta , vẫn phải chốt giữ thật vững khu vực này .

Nhanh chóng ổn định tư tưởng .

Củng cố bổ sung trang thiết bị , quân số ... v.v Sẵn sàng nhận những nhiệm vụ tiếp theo .

Đ/c Mười Thứ , Sư đoàn phó , cũng nói về việc đề nghị của đ/c Thao .

Đề nghị cho tổ chức đánh chiếm bờ đập trong đêm .

Đây là 1 vấn đề đặt ra để tham khảo , nhưng không thể có giải đáp .

Vì sự việc đã qua rồi , không thể có thử nghiệm lại .

Nhưng ai có thể khẳng định là : khi đánh lên trong đêm liệu có thắng lợi ?

Khi bất lợi của chúng ta cũng đang có , là từ đồng nước vận động khó , quan sát khó v v ...

Trong khi hoả lực bắn thẳng của Pốt đang rất mạnh .

Trong khi hoả lực của ta rất khó chi viện chính xác trong đêm ...

Nói chung , đ/c Mười Thứ và BCH Trung đoàn đã có quyết định đúng .

Khi không chấp nhận việc tấn công bờ đập trong đêm .

Có nhiều tiếng xì xào , của anh em trong hội nghị .

Nhưng cũng không có ai , có phát biểu nào .

Để phân tích , để bảo vệ việc tiến công địch trong đêm là đúng .

Thực ra trong hội nghị này , các đồng chí chỉ huy trực tiếp tham gia trận đánh , hầu hết đã bị hy sinh .

Bị thương đi viện , số cán bộ đang dự họp rất đau thương , rất bàng hoàng xót xa , rất bức xúc .

Nhưng mọi người cũng xuôi theo , những phân tích của Trung đoàn và trực tiếp là của Sư đoàn phó Mười Thứ .

Hội nghị kết thúc , mọi người lại trở về đ/v .

Bận mải với trăm côngngàn việc của người chỉ huy .

Không ai phản đối kết luận của Sư đoàn phó .Nhưng trong Trung đoàn , cán bộ , chiến sỹ gường như nhìn Sư đoàn phó , nghĩ vềSư đoàn phó , không được gần gũi , không được tình cảm chan hoà , nồng ấm , nhưcác đ/c chỉ huy khác .

Anh em các đ/v đã không gọi ông bằng cái tên Mười Thứnữa .

Mà khi có vấn đề gì nhắc đến ông , thì gọi ông với 2 tên khác là :"ÔngMười Thí , Ông Mười Thua ".

Theo TP và 1 số ae nữa , cái tên : " Ông Mười Thí "thì có thể đúng .

Vì ông chỉ huy thí quân nhiều .

Nhưng cái tên :" Ông MườiThua " thì có thể oan cho Ông .

Sau này , nhất là khi đ/v đã tiến vào PhnômPênh.

Làm nhiệm vụ Quốc tế tại đất bạn .

Từ tính cách trong sinh hoạt của ông .

Anhem trong Sư đoàn , còn đặt thêm cho ông1 cái tên nữa là :" ông Trăm Thứ " .

Mâý ngày tiếp theo , tình hình chiến sự ở khu vực Tiểu đoàn 1 , Trung đoàn , Sư đoàn cũng vẫn bình thường .

Khu vực cách đồng nước , nơi anh Công và nhiều anh em khác đang nằm .

Trở thành cánh đồng chết .

Bọn Pot vẫn đang chốt dọc bờ đê .

Hàng ngày , chúng vẫn kéo những tràng 12L7, Đại liên , phóng mấy quả ĐKZ về phía ta .

Như là có chủ ý thông báo , sự hiện diện của nó còn đó .

Về phía ta , cũng chưa có điều kiện đánh lại trận tiếp theo .

Trung đoàn đang tập trung củng cố quân số , trang thiết bị .

Đại đội 1 của tôi , quân số được tăng dần lên .

Do Tiểu đoàn , Trung đoàn , điều từ các đ/v trực thuộc về , từ hậu cứ ở Biên Hòa sang .

Anh Đạc và 1 vài ae đi viện đã trở về .

Trung đoàn , điều anh Nguyễn Văn Tiến ở Đại đội 18 thông tin .

Về làm Chính trị viên Trưởng Đại đội 1 .

Đ/c Trần Đức Quang , Đại đội 3 về làm Đại đội phó .

Anh Tiến thì tôi chưa gặp bao giờ .

Còn anh Quang thì trước ở Tiểu đội trinh sát của Tiểu đoàn 1 .

Cùng Tiểu đoàn bộ , nên anh em ở cùng nhau , biết nhau từ lâu .

Như vậy là BCH Đại đội 1 lại được kiện toàn đầy đủ .

Cả 4 người đều là lính 72 .

Anh Đạc quê ở Đông Triều Quảng Ninh .

Còn 3 chúng tôi đều quê Thái Bình .

Cán bộ Trung đội và Tiểu đội cũng được điều về .

Đại đội 1 vẫn được "nghỉ ngơi" , chốt cùng khu vực Tiểu đòan bộ .

Anh em trong BCH , trong Đại đội nhanh chóng làm quen nhau .

Lo tổ chức học tập , hậu cần và ổn định tư tưởng .

Mấy ngày sau thì lại lên vị trí chốt , dịch sang trái vị trí chốt cũ .

Gần khu vực chốt của ae Sư đoàn 7 hơn .

Tôi được trở về tập huấn chính trị ở phía sau .

Thời gian 4 ngày , địa điểm tập huấn là ở khu vực ấp Cao Xá .

Đúng ra gọi là xứ đạo Cao Xá , thuộc huyện Châu Thành .

Cách thị xã Tây Ninh khoảng chục Km (?).

Xứ Đạo Cao Xá , là gốc của địa phận Cao Xá , Tỉnh Hải Hưng .

Bà con di cư hồi chế độ ông Diệm 1954 .

Giáo dân ở miền Bắc di cư vào Nam , thường định cư ở những vùng đất mới , như kiểu đi vùng kinh tế mới của ta sau này .

Xứ Cao Xá cũng ngay cạnh trục đường bộ .

Bà con ở đây đã mấy chục năm rồi , nên làng xóm nơi đây khang trang , sạch đẹp .

Diện tích đất ở mỗi gia đình được chia bằng nhau .

Cũng ở theo từng lô , từng dẫy theo hàng lối .

Dân Bắc di cư vào , nghe nói thời đó rất được ưu đãi về mọi mặt .

Với tính cần cù , chịu khó , của bản chất người nông dân miền Bắc .

Nên nhà cửa nơi đây , vùng quê nhưng rất sầm uất , đông vui .

Cây trái rất nhiều .

Cũng có hàng quán , chợ , mấy bàn bi-a ...v.v.

Nhưng có điều là tình hình chính trị , thì dân ở đây vẫn chưa có cảm tình nhiều với bộ đội , với "Cộng sản" .

Trong các gia đình vẫn thấy còn bộ ấm trà bằng inox .

Của Tổng thống chế độ cũ tặng những năm trước .

Trước khi về địa điểm tập huấn , tôi vào nghỉ ở cứ Búa Lớn .

Cũng raquán 3 Cô uống nước , gặp mấy chị em Cúc .

Tôi thật bất ngờ trước tình cảm vồnvã của mấy chị em .

Đặc biệt là tình cảm của Cúc giành cho tôi .

Cúc thật hồhởi .

Có phần thái quá như không thể dấu được niềm vui .

Nắm chặt 2 tay tôi ,đôi mắt long lanh vui cười , hai má ửng hồng .

Làm tôi bối rối " hơingượng " trước biểu cảm đó của Cúc .

Nhất là trong lúc lại có mặt cả anhThú anh Khi , cùng 2 cô chị em Cúc nữa .Tôi nói với Cúc , sẽ về Cao Xá học 4 ngày .

Như vậy , có điều kiện đến chơithăm nhà Cúc .

Cúc mừng vui ra mặt .

Còn hỏi thêm : anh Phú đã đến thăm Tòathánh Tây Ninh chưa ?

Tôi nói là chưa .Cúc nói : ở đó đẹp và vui lắm .

Em sẽ đưa anh đến đó chơi .

Tôi nhận lời ,nhưng nói thêm : để anh xem việc học thế nào đã .

Tôi về Cao Xá thứ 5, ngày thứ 6 chính thức vào học.

Đúng là, mỗi điều kiện cuộc sống đều có cái khổ riêng.

Đang ở chốt, ở chiến trường, gian khổ ác liệt thì không đâu bằng.

Lội ruộng, luồn sâu hiểm nguy, đứng ngâm cả hàng giờ, nhiều giờ trong nước đói mệt, đỉa bâu, muỗi cắn.

Bao nhiêu là cái vất vả, tưởng như trên đời này, không còn nỗi khổ nào, hơn nỗi khổ của thằng lính bộ binh nơi chiến trận.

Ấy vậy mà, được về đây học tập, không đói khát, không đạn bom, không sình lầy nước đọng.

Mà mới chỉ có mấy tiếng đồng hồ ngồi học, mà cảm thấy dài vô tận.

Cũng thấy khổ sở vô cùng.

Ai cũng uể oải, kêu ca, không ai có thể ngồi nghiêm chỉnh được, cứ phải nghiêng bên nọ, ngả bên kia.

Thay đổi tư thế ngồi liên tục.

Mà học chính trị, thì bài giảng bao giờ cũng khô khan, cứng nhắc.

Những quan điểm chính trị của Đảng, của Cách mạng Việt Nam.

Tình hình nhiệm vụ mới của Quân đội, của đất nước.

Tình hình bất ổn trong khu vực, cùng âm mưu bành trướng bá quyền.

Sự phản bội, phản động của Tập đoàn phản động Pôn Pót - Iêngxari v.v... lúc nào cũng thấy căng thẳng gay cấn.

Lớp học thì được mượn một căn nhà gần giống như hội trường của xã, ấp.

Anh em ăn thì ở bếp của trường tổ chức.

Còn nghỉ thì ở nhờ 2 - 3 anh em trong một nhà dân.

Bộ đội trước kia đi đâu thì cũng dựa vào dân.

Nhất là thời kỳ huấn luyện ngoài Bắc.

Hay hành quân vào di chuyển, đều dựa vào dân.

Đã lâu rồi mới được ở cùng dân, nên mới lại có cảm giác vui vui, như là hồi đầu mới nhập ngũ.

Thật bất ngờ.

Chiều thứ 6, Cúc tìm vào chỗ tôi.

Cúc mang cho tôi một giỏ trái cây thật lớn.

Cúc nói: Trên đường về nhà ghé vào thăm tôi.

Ngồi tại nhà chủ chuyện trò một lúc, rồi Cúc xin phép về vì đã muộn.

Thời đó xe cộ đi lại còn hiếm chứ không nhiều như bây giờ.

Tôi hẹn Cúc là sáng chủ nhật sẽ đến thăm nhà Cúc, rồi cùng đi Tòa Thánh Tây Ninh Chơi.

Vì tôi đã biết ngày chủ nhật được nghỉ.

Chia tay Cúc, tự nhiên tôi cảm thấy thật xốn xang khó tả, khó nói thành lời.

Tôi mong ngóng đến chủ nhật để được đi chơi, để được gặp Cúc.

Tôi có một đồng đội, đồng hương là lính thông tin Tiểu đoàn 2.

Tên là Phạm Mạnh Hùng.

Hùng người gầy, thấp nhỏ nhưng thông minh, lanh lợi.

Về nghiệp vụ thông tin, thì có thứ hạng của Tiểu đoàn.

Vì có trí nhớ tốt, các bảng số chữ đúc ký tự mật mã thông tin, Hùng học và nhớ rất nhanh.

Hùng có khiếu kể chuyện.

Là lính 72, nhưng mãi đến giữa năm 77 mới được đi phép về thăm nhà.

Trong lúc đợi tầu ở ga Hố Nai, Biên Hòa.

Hùng kể về những chuyện yêu đương khác phái.

Những thầm kín trong tình yêu lứa đôi.

Hay những điều gọi là thầm kín của chị em, như quan hệ tình dục.

Đêm tân hôn tại sao hôn thê lại không có những giọt máu trinh nữ vv...Bây giờ những điều này, thì trong các sách báo, phim ảnh hay trên mạng, các trang web.

Thì muốn tìm hiểu cái gì cũng có.

Còn ngày ấy thì những thông tin, những kỹ thuật, những chuyện yêu đương, chuyện khác giới như vậy thì hiếm lắm.

Lính trẻ bu lại, cứ há hốc mồm ra nghe.

Mặc dù Hùng còn kém tôi 2 tuổi, cũng chưa có vợ.

Nhưng cũng do có trí nhớ, lại ham đọc các loại sách đó, hồi làm Quân quản ở Sài Gòn.

Nên bây giờ mới có dịp thể hiện.

Trong lúc nghỉ phép ở quê, thì đơn vị đi chiến đấu ở Biên giới.

Nên Hùng ở nhà tới gần 8 tháng mới trở vào đơn vị.

Quân lực đơn vị hỏi : Sao đ/c đi phép được nghỉ 30 ngày.

Mà sao đ/c ở nhà lâu thế?

Hùng nói: Tôi đi bộ đội đã 5 năm, chưa được đi phép lần nào.

Nếu cứ tính một năm được nghỉ phép một tháng.

Cộng với ốm đau nữa, nên mới vào chậm như vậy.

Đơn vị cũng không có kỷ luật gì, vì lúc đó cũng đang rất cần người.

Anh em trở vào đ/v cũng đã là tốt lắm rồi.

Quân lực điều Hùng về đơn vị thu dung.

Hiện bộ phận này, đang tăng gia ở Tóc Xé, huyện Tiên Thuận, Tây Ninh.

Tiện có người về bên đó, tôi viết thư nói Hùng đến chỗ tôi chơi.

Để rồi Chủ nhật cùng đi chơi Tòa Thánh.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ, trong bức thư gửi Hùng có câu: Ông sang đây đi, tôi đang tập huấn 4 ngày ởXứ đạo Cao Xá.

Nơi có những thiếu nữ duyên dáng, có đôi mắt đen hạt nhãn gốcĐạo Hưng Yên.

Với những cái cổ trắng ngần cao 3 ngấn, thật đẹp, đẹp đến mêhồn".

Hùng xin phép thế nào mà chiều thứ 7 cũng sang được chỗ tôi.

Hùng nói:tại cái thư của ông tả về con gái ở đây đấy.

Ông Châu đại đội trưởng không chođi.

Tôi bèn đọc cho ông ấy nghe cái đoạn ông kể các cô gái, có đôi mắt đen hạtnhãn, có cổ cao 3 ngấn, đẹp mê hồn.

Ôngấy thích quá, cho tôi đi luôn, mà còn định là đi cùng tôi nữa chứ.

8h sáng ngày Chủ nhật, tôi và Hùng đón xe Lam đi về thị xã Tây Ninh.

Tìm đến nhà Cúc.

Nhà Cúc cách trung tâm thị xã khoảng 1km.

Ở ngay khúc quẹo vào thị xã, cách mặt đường khoảng 30 – 40 mét có mấy khóm tre trúc cạnh đường .

Đứng ngoài đường cũng nhìn thấy ngôi nhà xây một lầu, bên ngoài ốp những vỉ gạch men màu hồng .

Nhìn qua cũng đoán được chủ nhân của ngôi nhà thuộc tầng lớp khá giả.

Cúc mừng rỡ ra đón anh em tôi.

Ở nhà chỉ có người dì ( cô) và một người em họ trông coi đàn bò hơn chục con.

Ba của Cúc bận đi làm ăn xa, đang chuẩn bị hùn hạp với bạn, mở nhà máy chà gạo gì đó.

Má Cúc thì mất từ lâu.

Cúc là con út trong gia đình có 4 chị em.

Tôi giới thiệu Hùng với Cúc để anh em làm quen nhau.

Tôi nói: Cúc có người bạn nào nữa thì mời đi chơi cùng cho vui.

Cúc nói: anh em tôi ngồi uống nước, rồi đi tìm mời một người bạn gái đến.

Sau màn chào hỏi, bốn anh em ra đường đón xe đi về Tòa Thánh.

Tôi vui và Cúc cũng thật vui.

Hùng lại là người giỏi hỏi chuyện, nói chuyện.

Nên mọi người cười nói rất vui vẻ.

Hôm nay Cúc mặc cái quần Gin, cái áo thun đỏ, bó sát người trông thật hấp dẫn.

Trên xe có mấy người cùng đi.

Thấy anh em tôi cười đùa vui vẻ, mọi người cũng vui lây.

Bà con hỏi thăm chúng tôi ở đơn vị nào?

Tình hình Biên giới ra sao?

Hỏi thăm chúng tôi đi đâu?

Rồi 1 bà Má nói: Các con đánh nhau sao, mà thấy bộ đội mình bị thương, hy sinh quá trời.

Đang thật vui vẻ.

Mấy câu hỏi của bà con, làm tôi chùng xuống.

Sau đó cứvẩn vơ suy nghĩ, không còn cảm giác hào hứng, vô tư, vui đùa như lúc đầu nữa.Ngồi bên Cúc đường xấu, xe xóc.

Tiếng động cơ của cái xe lam 3 bánh, cũ kỹ nổphành phạch, Cúc nép vào người tôi, do đường xóc và cũng có thể là cố ý.

Tôicầm nắm bàn tay Cúc, bóp nhè nhẹ.

Cúi nhìn bàn tay.

Ôi bàn tay con gái trắnghồng, mềm mại, ấm áp thon thả mới đẹp làm sao!

Bỗng chốc trong tôi lâng lângcảm giác xốn xang khó tả, khó nói thành lời.

Tôi nhìn Cúc, Cúc cũng quay sangnhìn tôi, mắt long lanh thẹn thùng .

Bắt gặp ánh mắt tôi, Cúc mỉm cười bẽn lẽn.

Cái lúm đồng tiền tròn nhỏ bên má, trông thật đẹp, thật duyên.

Sao đó mà tôilại buông 1 tiếng thở dài như cố kìm nén điều gì?

Cái cảm giác đó, mãi sau này còn đọng lại trong tôi.

Xe dừng cách cổng tòa thánh khoảng 100m.

Từ xa đã choáng ngợp bởi cái cổng lớn, có dòng chữ lớn:" Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ".

Đúng là ở nơi đây, đã lâu rồi, tôi được nghe mọi người hay nhắc tới Tòa Thánh Tây Ninh.

Tôi cứ nghĩ tầm cỡ cũng giống như Tòa Thánh Tin Lành trước cửa nhà tôi.

Hồi nhỏ, tôi thường vào đó chơi.

Những sáng Chủ nhật, có 1 người Cha đạo mặc bộ đồ thờ màu đen, đeo tròng kính trắng, nhẹ nhàng giảng đạo.

Thấy bọn trẻ chúng tôi vào, Ông thường cho chúng tôi mỗi đứa 2 cái kẹo.

Kẹo rất ngon như là loại kẹo bây giờ.

Chứ không giống như những cái kẹo chanh, kẹo bột của chúng ta những năm chiến tranh.

Nhưng chúng tôi thường không giám ăn.

Vì có mấy người lớn dọa là trong kẹo có thuốc.

Ăn vào là bị theo đạo.

Mấy đứa chúng tôi đứng trước cổng, tôi đọc từng dòng viết trên cổng.

Tòa thánh xây dựng từ những 1930(?), mà mãi tới năm 1962 (?) mới xây xong cái cổng.

Như vậy là công trình kéo dài hơn 30 năm.

Khuôn viên Tòa Thánh thật rộng, chắc có đến hàng chục ha.

To rộng như Thảo cầm viên Sài Gòn.

Chúng tôi vào khu đền thờ chính.

Ngôi đền chính của Tòa thánh cao, to, uy nghi.

Kiến trúc gần giống như các nhà thờ của đạo Thiên chúa.

Bên trong mọi người đang hành lễ.

Những Tu sỹ trong bộ áo dài màu trắng đục đi lại làm những bài lễ cầu khấn gì đó, mà tôi không rõ lời.

Chính giữa điện trên cùng là 1 quả cầu lớn, tượng trưng cho Trái đất, trong vũ trụ bao la.

Có vẽ hình 1 con mắt rất lớn, có những tia hào quang tỏa ra xung quanh.

Các giáo dân đang quỳ lễ rất nghiêm trang.

Miệng lầm rầm đọc theo những câu kinh, hưởng ứng theo động tác nghi lễ của chủ lễ.

Không khí trang nghiêm có phần "lạnh".

Lối kiến trúc của nhà thờ và Tòa thánh gần giống nhau.

Vòm trần cao rộng mênh mông, các giáo dân ngước nhìn lên cao.

Làm cho mọi người cái cảm giác rộng lớn, xa xăm của vũ trụ bao la.

Mà con người thì thật nhỏ bé.

Kiến trúc đền chùa bên Phật giáo thì lại khác hẳn.

Mái chùa thấp, bước vào chùa, thường là phải bước rất cao mới qua được ngưỡng cửa.

Đầu phải cúi, chứ nếu không thì có cảm giác đầu sẽ đụng vào mái chùa.

Tạo cho mọi người cảm giác cẩn trong, lễ phép.

Nhiêm trang, mà gần gũi.

Trong chùa thường bầy xếp các tượng Phật rất chật trội.

Màu sắc sơn son, thiếp vàng, quyện với hương khói làm cho mọi người cảm giác nồng ấm.

Chứ không dùng gam màu lạnh như Nhà thờ hoặc Tòa thánh (đó là cảm nhận của riêng của tôi).

Tam Kỳ Phổ Độ, hiểu đơn giản tức là vũ trụ bao la có các đấng Thần linh tối cao trị vì như Phật, là kỳ thứ nhất.

Chúa Giesu, Đức Chúa trời là Kỳ thứ hai.

Còn Đạo Cao Đài đây, là thờ Thiên Nhãn tức là "Mắt Trời" gọi là Kỳ thứ ba.

Thủ đô của Đạo Cao Đài là ở đây.

Tòa Thánh Tây Ninh này, giống như đạo Hòa Hảo thì Thánh địa ở Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Nhưng đạo Hòa Hảo, tôi không thấy có nhà thờ lớn.

Mà chỉ thấy dân chúng theo rất đông, nhưng hành lễ cầu khấn tại gia đình.

Tôi kéo tay Cúc ra ngoài, như trốn chạy nghi lễ thiêng liêng có phần "lạnh" đó.

Trong lúc anh em tôi đang vui, với niềm vui của tuổi trẻ.

Khuôn viên rộng, cây cối nhiều, nhưng du khách cũng không đông lắm.

1 số thợ ảnh lăng xăng mời kéo chụp ảnh.

Chúng tôi cùng chụp chung, rồi chụp riêng mấy bức hình.

Hồi đó ở đây, những thợ ảnh chuyên nghiệp này, có 1 cách chụp ảnh rất lôi kéo được khách.

Là cùng 1 phim, người ta bịt đi nửa ống kính.

Chụp làm 2 lần, ở hai vị trí khác nhau.

Làm cho tấm hình được lồng ghép cảnh trí 2 nơi như là cái bóng, các cảnh trí, hay cả Tòa điện thờ chính rất hấp dẫn đều trong 1 tấm hình.

Tôi cầm tay Cúc, chậm chậm đi khắp mọi nơi.

Hùng và cô bạn Cúc, như là cố ý tách chúng tôi ra.

Để cho 2 đứa được chuyện trò tự nhiên hơn thì phải.

Tôi rất vui, vui thật là vui.

Cúc cũng vậy, đôi mắt Cúc long lanh ngời hạnh phúc.

Nhưng với tôi, thỉnh thoảng lại thấy như là mình nhỏ bé quá, bất lực quá thế nào ấy.

Mỗi khi chợt nghĩ đến nhiệm vụ, và cuộc sống hiện tại của tôi, của người lính chiến, nay đây mai đó đang còn rất nặng nề.

Đã trưa, chúng tôi ra 1 quán nhỏ ăn cơm.

Gọi mỗi người 1 đĩa cơm, Cúc vàbạn ăn cơm gà.

Còn tôi và Hùng ăn cơm sườn.

Mỗi anh em làm 1 chai bia.

Chị emCúc thì uống nước ngọt, mọi người cụng ly, chúc tụng nhau thật vui.

Có lẽ cơmdĩa sườn heo, không đâu ngon bằng ở đây.

Miếng sườn thái to, được nướng vàngcháy xém cạnh thơm phức, vài lát dưa leo, vài miếng cà chua, 1-2 cọng hành, mấylá xà lách, chút nước tương.

Nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi được ăn đĩa cơm sườnngon đến như vậy.

Cái buổi trưa ấy, bữa cơm ấy, buổi đi chơi ấy, cho đến hômnay.

Nó vẫn đang hằn sâu, đang hiện diện thường trực trong tôi như mới hôm qua.Chẳng bao giờ phai nhạt.

Thời gian trôi qua thật nhanh!

Khi hồi tưởng để viết lại đây!

Tất cả ký ức lần lượt hiện ra như một cuốn phim quay chậm.

Trong cuộc đời binh nghiệp, tôi đã hân hạnh được đón nhận tình cảm chân thành của những cô em gái hậu phương trao tặng, mãi mãi không thể nào quên.

Nhưng đời lính gian truân, vất vả, không nơi chốn dừng chân.

Tôi đành gác lại tình riêng, để lo tròn nhiệm vụ.

Mặc dù vẫn luôn mơ về "ngôi nhà có người vợ hiền và những đứa trẻ".

Thế là, chuyện tình của tôi với Cúc đã dừng lại sau một lần tôi ngủ lại nhà cô ấy một đêm.

Các bạn đừng vội nghĩ, chúng tôi đã làm gì vượt qua giới hạn.

Dưới vầng trăng khuyết, chúng tôi ngồi trước hiên nhà, thì thầm kể nhau nghe những chuyện vui buồn trong cuộc đời.

Và trao nhau những nụ hôn nồng ấm, ít nhiều còn bỡ ngỡ, thẹn thùng.

Tôi không thể nào tiến xa hơn nữa, vì tôi chưa có gì để cho Cúc trong tương lai, dù thật gần ...

Bẵng đi hơn hai mươi năm, khi quay về chốn cũ, cảnh vật đã thay đổi, người xưa không còn nữa.

Ngày hôm nay, tôi kể lại câu chuyện này, như thắp một nén hương tưởng nhớ đến Cúc.

Vì cô ấy đã về bên kia thế giới trong một lần bạo bệnh, sau khi đã có một gia đình hạnh phúc và một cô con gái.

Tôi vẫn hoài nuối tiếc, là chưa thể tìm đến mộ cô ấy và mang cho cô ấy những hoa cúc vàng thật tươi đẹp như tên và hình dáng của Cúc.

Tình yêu em ... xưa chẳng có bến bờ

Giờ như khói loang giữa chiều hoang lạnh

Lời thì thầm, anh nói:

"Ngủ thật ngon ...!"

(Mượn ý thơ KMK)

Dự xong lớp tập huấn tại Cao Xá .

Tôi trở về đ/v cứ Búa Lớn, rồi hôm sau sang chốt.

Có mấy ngày đi vắng, mà cảm tưởng như là tôi đã xa Đại đội lâu lắm.

Đại đội đã được điều động anh em từ khắp các đ/v về.

Anh Đạc Đại đội trưởng, anh Tiến Chính trị viên trưởng, anh Quang Đại đội phó.

Toàn những cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và nhiều kinh nghiệm chỉ huy trong chiến đấu.

Cán bộ Trung đội, Tiểu đội cũng đã được điều động về đủ.

Quân số của Đại đội đã được gần 50 tay súng.

Tiểu đoàn còn tăng cường cả đ/c Dũng tác chiến xuống Đại đội.

Cùng BCH tổ chức học tập, các nghiệp vụ , kỹ thuật, chiến thuật.

Lấy thực tế chiến trường, trận địa chốt là thao trường thực binh cho anh em.

Nhất là số ae tân binh 78, số ae 77 mới được điều từ phía sau lên.

Về chính trị thì có các cán bộ trợ lý của BCT Trung đoàn, Cán bộ Tiểu đoàn, xuống từng Trung đội, tổ chức học tập.

Nâng cao bản lĩnh, ý chí chiến đấu, tình hình Quốc tế, tình hình Cách mạng VN trong giai đoạn mới.

N/vụ chiến đấu và truyền thống của Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Sư đoàn vv.

Tích cực củng cố hầm hào, ụ chiến đấu và hầm có nắp đất.

Để phòng chống Pốt tập kích được tốt hơn.

Dư âm của trận đánh ngày 18/7 vẫn còn nặng nề.

Nhất là trong tâm trí của các bộ các cấp.

Mối thù với Pốt, món nợ với anh em còn đó.

Anh Công và nhiều ae đang còn nằm đó.

Song hiện tại Trung đoàn, Tiểu đoàn chưa có phương án tấn công.

Mà theo chỉ đạo toàn Trung đoàn.

Trong hiện tại, phải tổ chức phòng ngự tốt, chủ động đánh địch tập kích.

Nâng cao trình độ của cán bộ, chiến sỹ về mọi mặt.

Bọn Pốt những ngày này, cũng không có dấu hiệu tấn công lớn, vào tuyến phòng ngự của ta.

Mà chỉ từ xa bắn hỏa lực.

Từ trên bờ mương bắn 12L 7, Đại liên vào chốt của các đ/v.

Ở chốt được 2 ngày, tôi lại được điều về tập huấn ở Quân đoàn 45 ngày.

Tôi về cứ của Đại đội Búa Lớn lấy quân tư trang.

Rồi ra quán gặp và chia tay với 3 chị em Cúc.

Mọi người rất vui, vì tôi được về phía sau học tập.

Nhưng với Cúc, khi biết tôi về Sài Gòn, Thủ Đức học tập thì rất buồn.

Cúc bịn rịn gần như là cố nén để không khóc thành lời.

Nhưng tôi cũng cố kìm nén tình cảm của mình.

Cầm 2 bàn tay Cúc, trào dâng bao nỗi xúc cảm.

Nghẹn ngào không nói được lên lời.

Bối rối một lúc , rồi chợt bừng tỉnh.

Như có lời nói nào đó, nhắc: đây cũng dịp để chia tay, chia xa tình cảm với Cúc.

Chấm dứt sự trăn trở, giữa tình yêu mới đến, và nhiệm vụ nặng nề còn dài.

Tôi bỗng nói thật to như đánh thức, như khỏa lấp những ủy mị tình cảm của tôi, của Cúc, của mọi người.

Tôi nói: anh đi, cầu chúc em cùng mọi người vui khỏe và gặp nhiều may mắn.

Chúc em thật sự hạnh phúc, còn anh sẽ nhớ em, nhớ mãi.

Nhưng anh không thể mang lại hạnh phúc cho em.

Tôi choàng tay, ôm Cúc rồi hôn vào má Cúc, cái ôm, cái hôn thật nhanh.

Rồi tôi cũng như người trốn chạy, chạy thật nhanh về hướng xe ôtô cùng đồng đội đang chờ.

Trên xe đã đông đủ, dường như còn đợi mỗi mình tôi.

Anh em kéo tôi lên xe.

Mọi người nói đủ rồi.

Tôi chưa kịp yên vị, xe đã nổ máy lên đường.

Xe chạy chậm chậm qua Búa Lớn.

Qua quán của 3 chị em, tôi thấy Cúc cùng 2 chị em ra đứng trước quán vẫy tay.

Thoáng nhìn Cúc nét mặt không được rạng ngời như mọi ngày.

Mà buồn buồn, gượng cười, 1 tay vịn vào cô bạn, 1 tay giơ cao biểu cảm sự tiễn biệt chia xa ....

Xe tăng tốc, bụi đỏ cuộn lên, khoả lấp các nhà cửa, hàng quán và mọi người phía sau.

Tới Bến Sỏi, rồi qua thị xã Tây Ninh.

Những cánh rừng cao su bạt ngàn.

Rồi bắt vào đường 1, huyện Gò Dầu hướng về Sài Gòn.

Mọi người đã hết ồn ã náo nức.

Hình như mỗi người đang có nỗi tâm sự riêng, suy nghĩ riêng.

Tròn 1 năm ra trận.

Cái đêm đầu tiên ra biên giới, đoàn xe dừng ở đây, nghỉ tại đây, để xốc lại đội hình.

Thế mà đã tròn 1 năm.

Một năm mà sao thấy quá dài với người lính chiến.

Bước chân người lính Sư đoàn, đã dong duổi khắp mọi nơi.

Tây Ninh, Long An, Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp, Hà Tiên, Kiên Giang.

Chiến đấu liên tục, không 1 ngày nghỉ ngơi.

Sư đoàn đã chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ.

Chiến thắng nhiều, những chiến công, đã làm rạng danh thêm truyền thống vẻ vang của Sư đoàn.

Làm cho quân thù, làm cho bọn Pốt phải khiếp sợ, đã gây được tình cảm và niềm tin yêu của nhân dân dọc miền biên ải.

Gây được uy tín, với các đ/v bạn.

Sư đoàn, từng đ/v, từng cá nhân 1 năm qua đã trưởng thành rất nhiều, trưởng thành vượt bậc.

Thật xứng đáng với truyền thống của Sư đoàn Anh hùng.

Truyền thống của của quân đội Việt Nam anh hùng.

Song cũng 1 năm qua.

Chiến đấu nhiều, đồng nghĩa với việc anh em cán bộ chiến sỹ trong Sư đoàn cũng hy sinh nhiều, thương vong nhiều.

Rất nhiều anh em đã hy sinh, mãi mãi yên nghỉ dọc miền biên cương Tổ Quốc.

Trong các nghĩa trang Liệt sỹ, hoặc bên đất K.

Do ác liệt của trận chiến, mà chưa thể tìm, chưa thể đưa được anh em về với đất mẹ kính yêu.

Trên xe hơn 20 anh em, đa số là lớp lính 72-74 đều trong hoàn cảnh, tình thế phát triển cán bộ giống như tôi.

Phát triển làm cán bộ Đại đội.

Quân sự hay Chính trị đều là do sự thúc ép của cuộc chiến.

Như vậy là chúng tôi phải theo đuổi đời binh nghiệp lâu dài.

Tâm tư của mọi người đều muốn được trở về quê nhà.

Được sống cuộc đời bình dị như bao người.

Được yêu, được làm chồng, làm cha, cuộc sống lứa đôi hạnh phúc.

Có hoa, có cảnh, có thơ, có nhạc.

Đúng như lời nhạc sĩ Minh Trần đã sáng tác trong bài Hát mãi khúc quân hành có giai điệu rất hay: "Dù rằng đời ta thích hoa hồng, kẻ thù buộc ta ôm cây súng ..."

Trong chiến đấu, lớp lính chúng tôi là những hạt giống đỏ.

Rất nhiều kinh nghiệm trận mạc, bản lĩnh chiến đấu rất cao.

Nhưng hầu như chưa ai được học qua các trường lớp bài bản, trong các trường đào tạo Sỹ quan quân đội.

Đây là dịp được trở về trường để tập huấn.

Để bổ túc những kiến thức còn thiếu của người chỉ huy cần có.

Xe vẫn chạy, hàng quán bên đường vẫn đông đúc, qua trạm kiểm soát Suối Sâu, Trảng Bàng.

Nghe nói ở đây có trạm kiểm tra liên ngành rất nghiêm.

Để ngăn những anh em trở về phía sau, không có giấy tờ.

Hoặc hàng hoá của dân mang về Sài Gòn.

Mục tiêu của trạm là rất đúng.

Nhưng số cán bộ của trạm, nhất là cán bộ dân sự đã hành động kiểm tra, kiểm soát thái quá, quan liêu, cửa quyền quá, gây nhiều bức xúc cho dân, cho những người qua lại.

Đã có nhiều vụ xô sát, mất đoàn kết xẩy ra ở đây, giữa dân với trạm và cả giữa các đồng chí bộ đội với các lực lượng.

Gây lên những bất bình, những phản cảm không tốt trong dư luận.

Xe tiếp tục lên đường, Trảng Bàng, Biên Hoà rồi giẽ vào xa lộ Đại Hàn,gần trưa thì tới căn cứ 301, Sóng Thần - Thủ Đức.

Căn cứ 301, là căn cứ của Sưđoàn 3, quân lực VNCH.

Đây là một căn cứ rất rộng lớn.

Nay BTL Quân đoàn 4,đóng bản doanh tại đây.

Các lớp tập huấn Quân sự, Chính trị, các lớp từ Trungđội, Đại đội, Tiểu đoàn một tháng, tháng rưỡi, ba tháng, sáu tháng đều tổ chứctại đây.

Trên xe đã đông đủ, dường như còn đợi mỗi mình tôi.

Anh em kéo tôi lên xe.

Mọi người nói đủ rồi.

Tôi chưa kịp yên vị, xe đã nổ máy lên đường.

Xe chạy chậm chậm qua Búa Lớn.

Qua quán của 3 chị em, tôi thấy Cúc cùng 2 chị em ra đứng trước quán vẫy tay.

Thoáng nhìn Cúc nét mặt không được rạng ngời như mọi ngày.

Mà buồn buồn, gượng cười, 1 tay vịn vào cô bạn, 1 tay giơ cao biểu cảm sự tiễn biệt chia xa ....

Xe tăng tốc, bụi đỏ cuộn lên, khoả lấp các nhà cửa, hàng quán và mọi người phía sau.

Tới Bến Sỏi, rồi qua thị xã Tây Ninh.

Những cánh rừng cao su bạt ngàn.

Rồi bắt vào đường 1, huyện Gò Dầu hướng về Sài Gòn.

Mọi người đã hết ồn ã náo nức.

Hình như mỗi người đang có nỗi tâm sự riêng, suy nghĩ riêng.

Tròn 1 năm ra trận.

Cái đêm đầu tiên ra biên giới, đoàn xe dừng ở đây, nghỉ tại đây, để xốc lại đội hình.

Thế mà đã tròn 1 năm.

Một năm mà sao thấy quá dài với người lính chiến.

Bước chân người lính Sư đoàn, đã dong duổi khắp mọi nơi.

Tây Ninh, Long An, Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp, Hà Tiên, Kiên Giang.

Chiến đấu liên tục, không 1 ngày nghỉ ngơi.

Sư đoàn đã chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ.

Chiến thắng nhiều, những chiến công, đã làm rạng danh thêm truyền thống vẻ vang của Sư đoàn.

Làm cho quân thù, làm cho bọn Pốt phải khiếp sợ, đã gây được tình cảm và niềm tin yêu của nhân dân dọc miền biên ải.

Gây được uy tín, với các đ/v bạn.

Sư đoàn, từng đ/v, từng cá nhân 1 năm qua đã trưởng thành rất nhiều, trưởng thành vượt bậc.

Thật xứng đáng với truyền thống của Sư đoàn Anh hùng.

Truyền thống của của quân đội Việt Nam anh hùng.

Song cũng 1 năm qua.

Chiến đấu nhiều, đồng nghĩa với việc anh em cán bộ chiến sỹ trong Sư đoàn cũng hy sinh nhiều, thương vong nhiều.

Rất nhiều anh em đã hy sinh, mãi mãi yên nghỉ dọc miền biên cương Tổ Quốc.

Trong các nghĩa trang Liệt sỹ, hoặc bên đất K.

Do ác liệt của trận chiến, mà chưa thể tìm, chưa thể đưa được anh em về với đất mẹ kính yêu.

Trên xe hơn 20 anh em, đa số là lớp lính 72-74 đều trong hoàn cảnh, tình thế phát triển cán bộ giống như tôi.

Phát triển làm cán bộ Đại đội.

Quân sự hay Chính trị đều là do sự thúc ép của cuộc chiến.

Như vậy là chúng tôi phải theo đuổi đời binh nghiệp lâu dài.

Tâm tư của mọi người đều muốn được trở về quê nhà.

Được sống cuộc đời bình dị như bao người.

Được yêu, được làm chồng, làm cha, cuộc sống lứa đôi hạnh phúc.

Có hoa, có cảnh, có thơ, có nhạc.

Đúng như lời nhạc sĩ Minh Trần đã sáng tác trong bài Hát mãi khúc quân hành có giai điệu rất hay: "Dù rằng đời ta thích hoa hồng, kẻ thù buộc ta ôm cây súng ..."

Trong chiến đấu, lớp lính chúng tôi là những hạt giống đỏ.

Rất nhiều kinh nghiệm trận mạc, bản lĩnh chiến đấu rất cao.

Nhưng hầu như chưa ai được học qua các trường lớp bài bản, trong các trường đào tạo Sỹ quan quân đội.

Đây là dịp được trở về trường để tập huấn.

Để bổ túc những kiến thức còn thiếu của người chỉ huy cần có.

Xe vẫn chạy, hàng quán bên đường vẫn đông đúc, qua trạm kiểm soát Suối Sâu, Trảng Bàng.

Nghe nói ở đây có trạm kiểm tra liên ngành rất nghiêm.

Để ngăn những anh em trở về phía sau, không có giấy tờ.

Hoặc hàng hoá của dân mang về Sài Gòn.

Mục tiêu của trạm là rất đúng.

Nhưng số cán bộ của trạm, nhất là cán bộ dân sự đã hành động kiểm tra, kiểm soát thái quá, quan liêu, cửa quyền quá, gây nhiều bức xúc cho dân, cho những người qua lại.

Đã có nhiều vụ xô sát, mất đoàn kết xẩy ra ở đây, giữa dân với trạm và cả giữa các đồng chí bộ đội với các lực lượng.

Gây lên những bất bình, những phản cảm không tốt trong dư luận.

Xe tiếp tục lên đường, Trảng Bàng, Biên Hoà rồi giẽ vào xa lộ Đại Hàn,gần trưa thì tới căn cứ 301, Sóng Thần - Thủ Đức.

Căn cứ 301, là căn cứ của Sưđoàn 3, quân lực VNCH.

Đây là một căn cứ rất rộng lớn.

Nay BTL Quân đoàn 4,đóng bản doanh tại đây.

Các lớp tập huấn Quân sự, Chính trị, các lớp từ Trungđội, Đại đội, Tiểu đoàn một tháng, tháng rưỡi, ba tháng, sáu tháng đều tổ chứctại đây.

Vào tới căn cứ 301 cũng khoảng 11h trưa.

Mọi người nhanh chóng nhận phòng ở.

Rồi xuống nhà bếp ăn cơm.

Bữa cơm đầu tiên của trường Quân Chính có thịt kho, đậu phụ, rau muống luộc và cơm thì được độn bằng hạt "bo bo".

Những năm tháng này, không phải chỉ có bộ đội, phải ăn độn hạt này.

Mà cả ngoài dân sự, những người ăn gạo phiếu cấp hàng tháng.

Hay cán bộ công nhân viên chức Nhà Nước, cũng phải độn tới 30%.

Loại hạt có tính lương thực này, nghe nói là của Ấn Độ.

Bên đó họ để cho ngựa, cừu, hay các loại gia súc ăn hạt ăn.

Ta xin về, hoặc mua về, chắc vì nó rất rẻ so với gạo.

Hay là một loại viện trợ vay dài hạn gì đó.

Cũng nói là để chăn nuôi gia súc.

Nhưng thực tế , là chúng ta phải sử dụng cho người.

Nên mọi người ăn loại hạt này không hợp.

Mặc dù anh nuôi đã hầm, nấu và người ăn nhai cũng đã kỹ.

Nhưng làm sao mà hạt vẫn không tiêu, khi ta đi cầu nó vẫn như còn nguyên hạt.

Giống như con chồn ăn trái cà phê.

Nó tiêu hóa phần cùi, phần vỏ của trái caphê chín.

Còn lại thải ra những hạt caphê.

Mọi người đi lượm những đống phân đó.

Nhặt, đãi lấy những hạt cà phê về rang xay chế biến, gọi là "Cà phê chồn" thơm, ngon, thật tuyệt.

Giá như những hạt bo bo, khi được thải ra qua người.

Mà làm được cái gì đó như caphe chồn thì hay biết mấy.

Được nghỉ ngơi tại trường 1 ngày.

Anh em bắt đầu vào chương trình học tập ngay.

Lớp tôi toàn những Sỹ quan chính trị, cấp phó Đại đội, gần 60 người.

Đủ các đ/v trong Quân đoàn.

Đang ở đơn vị chiến đấu, tuy là vất vả, khổ cực.

Nhưng nếp sống, nếp sinh hoạt tương đối tự do.

Giờ giấc thì thích nghi với hoàn cảnh của chiến trường.

Còn về đây học tập, Nhà trường quy định giờ giấc thật nghiêm.

Từ 5h sáng dậy tập thể dục.

Vệ sinh cá nhân, rồi lên lớp học 4 tiết và về nghỉ.

Giữa các tiết học có giải lao 10' như học sinh phổ thông.

11h15 có kẻng thì đi ăn cơm.

Đi ăn cơm cũng phải xếp hàng, đi từ khu vực nhà ở tới bếp.

Rồi xếp hàng ngang 6 người để vào nhà ăn.

Khi ăn không được nói chuyện, ăn đũa hai đầu ...v.v.

Xuất ăn của trường thì quá khiêm tốn, eo hẹp, chắc chỉ để cho đảm bảo được sự sống.

Vì hiện tại lại đang là chiến tranh.

Mà chiến tranh thì có cái để mà so sánh cuộc sống giữa phía sau và anh em chiến sỹ phía trước.

Đại loại, nếu có ai kêu ca thắc mắc gì, thì cũng được giải đáp ngay bằng một câu "anh em ngoài biên giới còn khổ hơn mình rất nhiều".

Mọi người vộivội ăn xong rồi về nghỉ trưa 1h30 chiều lại lên lớp học.

Hoặc thảo luận ở tổ ởnhóm tới 4h30 thì nghỉ.

5h chiều lại xếp hàng đi ăn cơm.

Xong về nghỉ ngơi đọcbáo, nghe đài.

7h thì lại sinh hoạt học tập tới 9h tối.

Đúng 10h tối, mọi ngườiđều phải tắt đèn đi ngủ.

Không ngủ được, thì cũng nằm đó mà ngẫm nghĩ sự đời.Được cái đây là phía sau, là hậu phương, là trong trường.

Nên mọi người khôngphải canh gác đêm.

Mà chỉ có vệ binh của nhà trường canh gác.

Canh gác vì anninh và cũng là để canh gác học viên.

Không để học viên lẻn ra ngoài la cà,rượu bia nhậu nhẹt .

Hay những việc linh tinh khác.

Đúng là đời học viên QuânChính như là một cái máy.

Vô cùng gò bó, căng thẳng.

Nên ai nhắc đến trườngQuân Chính, thì mọi người hay gọi theo cái tên khác là:" Trường Quân Chán".Hoăc :" Trường Quân Chối".

Trong thời gian học tập tại Thủ Đức.

Ngày Chủ nhật, các học viên cũng được nghỉ.

Đến ngày nghỉ mọi người háo hức đi chơi.

Hầu như đều về thành phố, nơi mọi người có rất nhiều kỷ niệm.

Rất nhiều người thân, nhiều nỗi nhớ trong thời gian 2 năm làm quân quản.

Sáng Chủ nhật đầu tiên.

Tôi bắt xe Lam, đi vào khu vực sân bay TSN, thăm Lộc người em trai của tôi.

Là bộ đội Ra đa Trinh sát điện tử, đang đóng quân tại đó.

Anh em gặp nhau rất vui.

Lộc cùng ae đồng hương trong đ/v vô cùng mừng, khi tôi đến thăm.

Vì trong những ngày qua, anh em không có tin tức gì của nhau.

Lộc cùng anh em bạn cùng đ/v rất lo cho tôi.

Hàng ngày cứ thấy máy bay trực thăng, chở các thương binh nặng về.

Lộc cùng bạn ra xem.

Rồi vào tận quân y viện 75 để tìm tôi, hỏi thăm về đ/v tôi.

Chiến sự dọc tuyến biên giới Tây Nam, ngày càng khốc liệt.

Số lượng thương binh nặng, được chuyển về viện 175 ngày càng nhiều.

Một số thương binh, sau khi đã cấp cứu, tạm ổn định, đã phải chuyển ra điều trị tại các bệnh viện khác.

Kể cả phải chuyển ra các bệnh viện quân đội ở các tỉnh Bắc.

Không hỏi thăm được tôi, chỉ được các anh em thương binh nói rằng: Sư đoàn 341 tham gia chiến đấu nhiều nơi .

Tham chiến những trận rất ác liệt, nên ae thương vong, hy sinh cũng nhiều lắm.

Lộc càng lo cho tôi, nhất là thông tin về cuộc chíên Biên giới Tây Nam, lúc này hầu như cả nước đã biết.

Biết về cuộc chiến tranh đang xẩy ra, tưởng chừng đơn giản.

Nhưng ngày càng khốc liệt, lại rất "hao người" này.

Những tin tức của ae bị hy sinh thường được báo về người thân rất nhanh.

Không như thời đánh Mỹ, có nhiều trường hợp ae hy sinh mấy năm rồi mà gia đình, cùng người thân không biết.

Bố mẹ, anh chị em tôi ở quê rất lo.

Gửi thư vào cho Lộc, hối thúc Lộc tìm và hỏi thăm tin tức của tôi.

Ở chơi với Lộc một lúc, tôi hẹn buổi trưa sẽ về ăn cơm.

Rồi mượn xe đạp của anh em trong đ/v Lộc, vào thành phố.

Đường phố Sài Gòn vẫn đông đúc người đi.

Những nam thanh, nữ tú, quần áo đủ các màu sắc lung linh sặc sỡ.

Vẫn thướt tha khêu gợi.

Những dòng người, xe đạp, xe máy, otô các loại cứ vội vã như đạng chạy, đôn đáo với cuộc sống mưu sinh, thường nhật bận rộn.

Cứ nhìn thành phố, và mọi người thế này, thì chẳng có biểu hiện gì của đất nước đang có chiến tranh, đang có những nguy cơ xẩy ra những diễn biến phức tạp trong đời sống xã hội.

Những con đường, dãy phố cùng nhà cửa, với tôi vẫn quen thuộc làm sao, thật gần gũi, như tôi chưa từng rời xa bao giờ.

Không thật định hình về hướng đi, điểm đến.

Mà sao tay lái cứ băng băng thẳng hướng ngã tư Bẩy Hiền theo đường Lý Thường Kiệt, qua trường đua Phú Thọ, rồi tới khu vực chung cư Lý Thường Kiệt phường 7 quận 11.

Tới đây tôi mới sực tỉnh ra.

Dừng lại định tâm suy nghĩ, nhà Thanh ởkia.

Chung cư Lý Thường Kiệt lô A, tầng 3 phòng 308 nơi tôi đã ở đây cùng độicông tác 6 tháng.

Tiếp đến cách 3 căn hộ là tới nhà chị Danh, tổ trưởng, rồinhà Thanh ở bên cạnh.

Đây mới là người con gái đã gieo vào lòng tôi bao nhớnhung, gieo vào hồn tôi bao kỷ niệm đẹp của thời trai trẻ sau giải phóng, làmQuân quản tại thành phố này.

Khoảng tháng 4/1976 khi đ/v tôi làm Quân quản tại Quận 11.

Tiểu đoàn tôi đóng quân tại đồn Cây Mai, đường Lục Tỉnh.

Quận và đ/v cử tôi làm đội trưởng 1 đội công tác 4 người.

Gồm anh Thành, anh Thi, anh Ngân và tôi.

Biệt phái về phường 7.

Cùng các đội công tác dân sự, làm công tác kê khai, nắm tình hình Tiểu thủ công nghiệp.

Với tên gọi của đợt công tác có mật danh là X4.

Đợt công tác này nằm trong chính sách cải tạo Tiểu thủ công nghiệp của Thành phố và toàn Miền Nam.

4 anh em chúng tôi về phường 7, được phường sắp xếp ở tại căn hộ 308 lô A của chung cư Lý Thường Kiệt.

Khu chung cư này, nghe kể là của Hàn Quốc xây dựng ủng hộ chế độ VNCH, giành cho dân nghèo.

Bị mất nhà cửa, sau sự cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Khu chung cư gần chục lô, nằm giữa các trục đường.

Đường Trần Quốc Toản, nay là đường 3/2.

Đường Nguyễn Văn Thoại, nay là đường Lý Thường Kiệt, giáp với Quận 10.

Và 2 bên đường Vĩnh Viễn, chạy xuống tới đường Lê Đại Hành có UBND phường 7, khu vực chợ Thiết.

Sau khi về ở đây được mấy ngày.

Qua nắm tình hình chị Danh tổ trưởng.

Chị Danh là một người phụ nữ gầy, nhanh mồm miệng, có chồng làm công nhân hãng nước ngọt Chương Dương, được 2 cậu con trai khoẻ mạnh, tuấn tú.

Đứa lớn khoảng hơn chục tuổi, mập trắng.

Trái ngược với ngoại hình của chị Danh.

Người mẹ gầy yếu, lại có bệnh đau bao tử.

Đang phải bươn chải cuộc sống vất vả, sau ngày giải phóng.

Mưu sinh bằng nghề buôn bán quần áo chợ trời.

Chuyện trò với chị Danh 1 - 2 lần.

Chị Danh đã rất nhanh chóng quý tôi.

Chị nói: ở tổ có cô Thanh tổ phó, năm nay mới 16 tuổi xinh đẹp.

Rất nhiệt tình với phong trào của tổ, đang tham gia với đoàn văn công của Quận.

Thường đi biểu diễn khắp nơi, để tôi giới thiệu cho chú làm quen.

Tối hôm sau, chị Danh hẹn tôi sang nhà.

Rồi gọi Thanh sang, nói lý do là có mấy chú bộ đội về công tác, hỏi thăm tình hình của tổ dân phố.

Chị Danh nói trước với tôi; Thanh còn trẻ, đang còn đi học.

Rất nhiệt tình với công tác của tổ, là thành viên tích cực trong đội văn công của Quận.

Từ sau giải phóng đã có nhiều chú bộ đội, công an, về làm công tác quân quản, kê khai nhân khẩu v.v.. nhiều chú cũng đã có lời nhắn nhe để ý.

Có lẽ vì Thanh còn quá trẻ, nhưng phần quan trọng là có vẻ không ưa các chú bộ đội, không ưa các chú công an cho lắm.

Thanh nói: "Trông họ cứ quê quê thế nào ấy!".

Thanh vào nhà, hơi bất ngờ vì có tôi ở đó.

Qua một vài câu xã giao, giới thiệu của chị Danh.

Thực ra tổ công tác của tôi đã về ở đây được mấy ngày rồi, Thanh cũng đã biết.

Hàng ngày đi học, đi chợ hoặc đi đâu đó.

Cũng phải qua căn hộ 308, thì mới tới căn hộ của nhà Thanh.

Nhưng thực tình tôi cũng chưa gặp Thanh.

Vì ban ngày chúng tôi phải bận bịu với công việc ở phường, tối về muộn.

Đứng hóng gió một chút, rồi đi nghỉ.

Nên với tôi hôm nay gặp Thanh cũng thật bất ngờ.

Bất ngờ vì Thanh còn quá trẻ, mà đã đảm trách công việc tổ phó tổ dân phố.

Bất ngờ nữa là giữa Sài Gòn, gặp một người con gái có da trắng, để tóc rất dài như phụ nữ ngoài Bắc.

Thanh có đôi mắt đen láy, làn môi đỏ hồng tự nhiên.

Nhìn Thanh, thật lạ, tôi cảm thấy gần gũi làm sao, như đã quen biết từ lâu.

Hơi bất ngờ khi Thanh gọi tôi bằng "chú".

Tôi liền nói: "Thanh bằng tuổi em gái anh ở quê, nên Thanh đừng kêu anh là chú, ngại lắm".

Thanh nhìn tôi, như là để kiểm tra xem tôi có nói xạo hay không rồi nói: "ủa vậy hả chú, à quên nếu thế thì cháu gọi Chú Phú là anh được rồi".

Sau này tôi mới biết, tôi bằng tuổi anh hai của Thanh.

Chị Danh pha xong mấy lynước chanh mang ra, nói trêu thêm vào: "Chú thấy không, gặp chú là cô ấylúng túng, lúc thì gọi chú, lúc thì gọi anh vui không?"

Mọi người cườivui.

Thanh thẹn thùng, 2 má đỏ hồng rồihỏi chị Danh: "Chị có hỏi gì nữa không để Thanh còn về học bài".

Vàchủ động nói khi nào rảnh rỗi, mời tôi sang nhà chơi.

Rồi Thanh vội vội đi gầnnhư chạy về bên nhà.

Mấy ngày sau tôi sang nhà Thanh chơi.

Gia đình Thanh cũng đông người.

Quê gốc ở Hải Phòng, di cư vào Nam năm 1954.

Hiện ông bố đang làm thợ may.

Mẹ bán hàng rau quả ở chợ.

Thanh có người anh trai cả cũng bằng tuổi tôi.

Là lính của QLVNCH được sang học lái máy bay ở Mỹ.

Nhưng khi khóa học gần kết thúc, tình hình Miền Nam gần đến giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh.

Anh trai Thanh, đã cùng mấy người bạn cùng khóa đào ngũ.

Không trở về Việt Nam, mà trốn sang định cư sinh sống ở Canada.

Tiếp đến là 1 anh trai nữa, kém tôi 2 tuổi.

Anh là người có tri thức cao, rộng.

Đang làm kế toán của 1 hãng nào đó.

Một chị gái, cùng một người em trai út.

Người anh thứ 2, thường hay nói chuyện với tôi.

Hai anh em rất nhanh hợp gu, khi nói về các tác phẩm văn học, hay âm nhạc.

Về văn học, thì đều nói về các tác phẩm văn học nước ngoài như: Bá Tước Mongtơgờrixito, Cánh buồm đỏ thắm, 3 người lính Ngự Lâm.

Trà hoa lữ, Hội chợ phù dung.

Hoàng hậu Mác gô của văn học Pháp.

Hay Người tình tuyệt vời văn học Mỹ.

Điệp viên 007, truyện viễn tưởng thì có tác phẩm 20.000 dặm dưới đáy biển.

Về âm nhạc, thì hay nói đến giai điệu của những bản nhạc như: Vũ khúc Tây Ban Nha, Panoma, Xifpole, Trở về Xô ri an tô ...v.v

Hai anh em chúng tôi, cũng hay đàm đạo về một số lĩnh vực cuộc sống khác.

Thực ra những hiểu biết này cũng đơn giản.

Là vì tôi từ bé đã sống ở Thị xã, trước khi đi bộ đội đã làm việc ở xưởng đóng tàu Hải Phòng.

Tôi lại cũng ham đọc sách nhất là văn học nước ngoài.

Học chơi đàn Ghita.

Nên đó chỉ là những hiểu biết thông thường, của thanh niên Thành phố, Thị xã lúc đó.

Nhưng cũng chính qua các cuộc nói chuyện và đàm đạo đấy.

Với những hiểu biết đó, mà anh trai Thanh, ba má Thanh rồi cả nhà Thanh.

Cùng các hộ dân cư ở đó, rất quý tôi.

Coi tôi là người có "trình độ" khác với các chú bộ đội khác.

Chỉ biết có súng, có đạn và những bài nói rất giống nhau về Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản hay Tư bản là bóc lột ...v.v.

Anh em bộ đội mình, thì đa phần là sống ở nông thôn, rừng núi.

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh triền miên, nghèo nàn và lạc hậu.

Bà con và thanh niên, sinh viên học sinh Sài Gòn, thì hay hỏi nhiều thứ linh tinh.

Để kiểm tra trình độ của bộ đội.

Để so sánh giữa 2 miền Bắc - Nam.

Cũng rất buồn cười là, ở miền Bắc hồi đó làm gì đã có tivi, tủ lạnh.

Nghe đâu chỉ mỗi Bộ và trên Trung ương, mới có 1 cái ti vi gọi là: "vô tuyến truyền hình".

Cho nên khi bà con hỏi bộ đội ngoài Bắc có tivi không?

Một số anh em không biết tivi là gì, mà lại cứ nghĩ là miền Bắc cái gì cũng có.

Bao giờ cũng phải nhiều và hơn hẳn miền Nam.

Vì thế một số anh em đã trả lời đại đi là: "Có chứ, tivi nhiều lắm, chạy đầy đường".

Đây cũng là một câu chuyện khôi hài, mà có thật, trong những ngày đầu giải phóng.

Nó tựa tựa như mấy câu thơ, của nhà thơ Trần Việt Phương như: "Ngày xưa tôi cứ tưởng, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ mường tượng rằng, trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ..."

Tôi nhanh chóng đượclòng mọi người, và như vậy Thanh cũng có những biểu cảm quý mến tôi.

Những buổichiều đi công tác về, hoặc sau buổi ăn cơm chiều, tôi sang bên đó chơi.

Tôi vàThanh thường hay đứng trước ban công.

Nhìn qua các nóc nhà thấp, những hàngcây.

Ngắm đường phố chuẩn bị lên đèn, nhộn nhịp, tấp nấp người qua lại.

Thanhnói là vẫn đi tập vũ Bale "múa", ở trung tâm văn hóa.

Rồi làm cho tôi xem nhữngđộng tác cuộn tròn các ngón tay, rất điêu luyện.

Đến giờ tôi vẫn còn nhớ đôibàn tay thon dài, trắng ngần đó.

Tôi đứng bần thần dưới gốc cây Dầu to rất cao bên đường Lý Thường Kiệt.

Miên man nghĩ ngợi, dưới gốc cây này năm 76, tôi đã đứng đợi Thanh, trong một buổi tối đẹp trời, gió lộng.

Với những hồi hộp đợi chờ của người trai trẻ, trong lần hò hẹn đầu đời.

Lo sợ Thanh có đến như đã hẹn không?

Năn nỉ mãi, khó khăn lắm mới được Thanh đồng ý, nhận lời hẹn hò.

Nhưng với điều kiện ( nói qua chị Danh), là tôi phải mặc bộ đồ dân sự, như thanh niên Sài Gòn.

Để hòa nhập bình thường như thanh niên thành phố.

Chứ mặc đồ xanh của lính mọi người hay để ý rất ngại.

Tôi cũng không nhớ là đã may, hay mượn được ai bộ đồ dân sự đó nữa.

Cái quần vải pho đen hơi loe ống, cái áo sơ mi màu xanh lơ có chít eo nữa.

Cùng cái xe đạp mi ni nhìn bề ngoài chắc tôi cũng như bao thanh niên thành phố thời ấy.

Cái dáng người cao, gầy của tôi mặc đồ trông cũng rất hợp.

Chắc không ai có thể nghĩ tôi là lính áo xanh.

Nhưng với tôi thì thật lạ lẫm trong bộ đồ này, cứ ngường ngượng làm sao.

Tôi bồn chồn, tay cứ bấu vào, bóc vỏ thân cây dầu.

Đường phố lúc hơn 7h hình như đông người qua lại hơn.

Các loại đèn báo, biển hiệu, của hàng quán, xanh, đỏ, vàng, tím, nhấp nháy đẹp mắt và sôi động.

Chỗ tôi chọn điểm hẹn, gần lui về đường Nguyễn Chí Thanh tương đối vắng hàng quán.

Nên không sáng lắm.

Chờ đợi hẹn hò thật căng thẳng, mắt không thôi nhìn về hướng chung cư, mãi mà sao chẳng thấy...

Thế rồi Thanh cũng đến, nhưng không phải một mình, mà đang khoác tay một cô bạn gái, chầm chậm đến chỗ tôi.

Tôi hơi thất vọng vì khó xử và vội nghĩ: "Có lẽ Thanh từ chối buổi hẹn đi chơi này".

Thanh và bạn đều cùng khẽ chào tôi.

Tôi cười, gật đầu.

Thanh giới thiệu, đây là bạn thân, cùng đi ra đây với Thanh cho đỡ ngại.

Sau đó Thanh mới kể với tôi là: "Khi nhận lời đi chơi cùng anh, sợ ba mẹ không đồng ý.

Nên Thanh phải nhờ bạn đến xin phép và nói dối Ba, Mẹ là đi chơi với bạn ấy.

Với lại ... thật sự Thanh cảm thấy lo lắng và hồi hộp lắm, vì đây là lần đầu tiên đi chơi với bạn khác phái ..."

Tôi thở phào nhẹ nhõmnhư trút được gánh nặng, khi bạn của Thanh xin phép về và chúc hai người đichơi vui vẻ.

Đợi cô bạn Thanh đi khuất, tôi dắt xe xuống đường.

Thanh ngồi sau xe, tôi chậm chậm đạp xuôi theo đường Lý Thường Kiệt, rồi quẹo trái theo đường Trần Hoàng Quân( nay là đường Nguyễn Chí Thanh).

Hòa theo dòng người về hướng Sài Gòn.

Trong lòng tôi trào lên bao cảm giác lâng lâng khó tả.

Đường Sài Gòn đã rất đông, dòng người xe đạp, xe máy, đi như nước chẩy.

Thời đó xe máy không nhiều như bây giờ.

Mọi người đi xe đạp là chính.

Những đôi trai gái cùng ngồi trên xe, người con gái ngồi sau ôm cứng chàng trai phía trước.

Ở ngoài Bắc mọi người ngồi sau xe đạp không như ở đây.

Chỉ có em nhỏ mới ngồi sau để 2 chân sang 2 bên.

Người lớn thì ngồi sau để 2 chân về 1 phía.

Thường là khi xe đạp di chuyển mới chạy chạy nhẩy lên xe.

Chỗ ngồi sau cũng thường không có cả chỗ để chân.

Xe đạp ngoài Bắc thì không có loại xe mini, cỡ vành nhỏ như ở đây.

Nhiều người phụ nữ thấp, phải nhẩy nhẩy mấy lần mới lên được xe.

Cách nhẩy, cách ngồi trên xe rất vất vả.

Còn ở đây mọi người thường ngồi lên xe trước khi xe chạy.

Nên người ngồi sau cũng nhàn nhã, chắc chắn hơn nhiều so với cách ngồi sau xe ở ngoài Bắc.

Thanh ngồi cách xa tôi, hai tay Thanh vịn vào sau xe như cố ý giữ khoảng cách, để không động chạm vào tôi.

Với khoảng cách như vậy, nhưng trong gió thoảng, tôi vẫn cảm nhận được mùi thơm của da thịt con gái, khiến bao cảm xúc dâng tràn trong lồng ngực.

Tôi chưa biết bắt chuyện như thế nào, mà vẫn im lặng đạp xe, nhìn đường phố, nghĩ ngợi mông lung và hít hà cái hương thơm trong gió ấy.

Thanh lại là người chủ động nói trước.

"Anh Phú ơi, lần sau khi mời Thanh, anh đừng có nói là mời đi chơi nha, nghe nó kỳ lắm".

Tôi nói: "Vậy anh nói thế nào khi mời em?".

"Ở đây, khi nói hai từ "đi chơi" thì người ta thường nghĩ đến những chuyện chơi bời, trác táng không đàng hoàng.

Anh phải nói là mời Thanh đi dạo phố, đi vòng vòng hay đi ăn kem v.v...".

"Ở ngoài Bắc, nói đi chơi là bình thường, chứ không có nghĩa xấu gì trong đó cả.

Nhưng anh sẽ rút kinh nghiệm không nói đi chơi nữa"

Tôi chở Thanh vào hướng Sài Gòn, hòa cùng dòng người.

Qua các đường phố, qua khu chợ Bến Thành, vòng dọc bến Bạch Đằng.

Sài Gòn về đêm thật đẹp.

Đúng là: " Hòn ngọc Viễn Đông".

Chỗ nào cũng lộng lẫy ánh đèn mầu, nê-ông sáng rực.

Các nam thanh nữ tú, tài tử giai nhân với những bộ đồ tuơi tắn, trang điểm thật đẹp.

Trong ánh điện lung linh, như làm cho vẻ đẹp của mọi người càng thêm ngời sáng.

Buổi tối Sài Gòn thật mát mẻ.

Tất cả cái nóng bức, oi nồng của ban ngày đã được gió biển, gió sông xua tan, một làn không khí mát rượi dịu nhẹ.

Thêm nữa, có những sợi tóc của Thanh bị gió đùa nghịch làm tung bay quyện vào lưng gây cho tôi cảm giác là lạ thật dễ chịu.

Hàng quán san sát, người ra kẻ vào tấp nập, tiếng í ới gọi nhau cùng những tiếng chạm ly côm cốp, rôm rả ồn ào, tạo nên một khung cảnh đặc biệt về đêm của thành phố Sài Gòn ...

Thấp thoáng trong bóng tối, nơi gốc cây, có những cô gái trang điểm sặc sỡ, đang ngó nghiêng bồn chồn đợi khách.

Hết một vòng Sài Gòn, tôi chở Thanh ngược về qua đường Phạm Ngũ Lão.

Đường này có rạp chiếu phim tên "Quốc Tế".

Tôi mời Thanh vào xem phim.

Thanh ngập ngừng một lúc rồi gật đầu nhè nhẹ đồng ý và ngước lên nhìn tôi nói nhỏ: "Vô xem phim, anh Phú phải giữ cho em đó!

Không thôi em sợ lắm!"

Tôi ngây thơ đến độ không hiểu được ý sâu của Thanh rồi nói: "Có anh em còn sợ gì?

Sợ mất gì à?

Có gì thì đưa anh giữ cho?".

Thanh cúi đầu mỉm cười, đoán chừng tôi không hiểu ý ...

Trong ánh đèn mầu rực rỡ trước rạp.

Nhìn Thanh, biết rằng Thanh đang rất thẹn, rất ngại, như suy nghĩ điều gì.

Nhưng chính sự e thẹn đó, lại làm dậy lên cái vẻ đẹp con gái, vẻ đẹp của thiếu nữ, của thiên thần.

Đẹp, đẹp mê hồn.

Trống ngực tôi đập thình thịch, bừng lên những cảm xúc ngọt ngào, ngất ngây hạnh phúc.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên những hình ảnh đó.

Hương thơm của da, của tóc con gái, làn môi, nụ hôn đầu đời ngọt ngào vụng dại.

Với người con gái Sài Gòn xinh đẹp.

Trong buổi tối thiên đường ấy.

Tiếng kèn hơi của chiếc xe tải lớn chạy ngang qua, cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi.

Đưa tôi trở lại thực tế.

Có nên gặp Thanh không?

Con tim cứ thôi thúc mong muốn được gặp.

Còn lý trí thì lại nói rằng: "Đừng gặp!"

Vì mình đã chia tay với Thanh rồi, khi đơn vị được lệnh đi chiến đấu ở biên giới.

Dịp tết, mình hẹn Thanh đi chợ hoa, nhưng bất ngờ có chuyến về thăm nhà ngoài Bắc.

Nên không thực hiện được.

Vậy những ngày qua, Thanh nghĩ gì về tôi?

Chắc Thanh trách tôi, giận tôi nhiều lắm!

Hay Thanh chờ đợi tôi?

Không!

Thanh giận tôi thì có, còn chờ đợi thì chắc là không?

Vì những lời chia tay tôi đã nói ra rồi và tôi bặt tin từ đó đến giờ!

Thời gian trôi qua đã làm cho Thanh đẹp thêm lên.

Giờ đây,Thanh đang ở tuổi 18, đỉnh cao của sắc đẹp con gái.

Sẽ có biết bao chàng trai theo đuổi.

Họ sống ở thành phố, bao nhiêu thuận lợi, bao hứa hẹn mang lại cho Thanh cuộc sống lứa đôi và gia đình hạnh phúc.

Còn tôi, tôi vẫn chỉ là người lính chiến với ak súng dài nơi sa trường.

Suốt ngày phải đối diện với gian lao, khổ cực, biền biệt xa xăm.

Sự sống và cái chết mỏng tanh như tờ giấy, nhỏ bé như sợi tơ hồng.

Vậy làm sao tôi có thể mang lại hạnh phúc cho Thanh?

Hay chỉ mang lại những chuỗi ngày chờ đợi gian khổ, héo mòn trong nhung nhớ...?

Tôi dắt xe xuống đường, lên xe chậm chậm xuôi theo dòng người.

Mới lúc trước từ đơn vị Lộc ra, tôi đạp xe chạy băng băng.

Sao giờ đây cũng chiếc xe này, mà sao nó ì ạch, nặng nề, như là đang có ai níu giữ phía sau.

Mồ hôi tôi vã ra.

Tôi uể oải rẽ vào hàng nước mía giải khát bên đường.

Gọi một ly uống, nín một hơi hết ly nước mía.

Tôi gọi tiếp ly thứ hai.

Bắt đầu mới nhâm nhi từng miếng nhỏ.

Mới tận hưởng được cái ngọt của nước mía, cái mát của đá lạnh, cái vị thơm của dứa, của tắc, của dâu tây ép cùng.

Ly nước mía thứ nhất làm cho tôi giải nhiệt.

Ly thứ hai này, làm cho tôi lấy lại tỉnh táo, bình tĩnh và bản lĩnh thường nhật.

Nước mía Sài Gòn thậtngon.

Có lẽ không ở đâu uống nước mía ngon, bổ, rẻ, như là uống ở Sài Gòn.

Thứnước giải khát này, mà trong những ngày chiến đấu nơi biên ải.

Giữa nắng trưathiêu đốt, giữa cánh đồng mênh mông, khét lẹt mùi thuốc súng, đặc khói của cỏ cháy,lúa cháy.

Giữa những lúc thèm khát được uống nước, khát khô, khát bỏng.

Tôithường mơ: "Khi nào về Sài Gòn sẽ mua cả một xô, một chậu lớn mước mía.

Đểrồi gục đầu xuống, vừa gội đầu, vừa uống nước mía cho thỏa thích.

Bù lại chonhững lúc khát thèm nước nơi chiến trường".

Nhâm nhi hết ly nước mía thứ 2, đã thấy đỡ căng thẳng.

Tôi trả tiền nước, cũng không lấy lại tiền thối.

Rồi quyết định đến thăm một vài gia đình quen biết, gần khu vực đồn Cây Mai.

Hồi đơn vị đóng quân ở đấy tôi thường đến chơi.

Gia đình tôi tới chơi, mọi người rất vui khi gặp lại tôi.

Mời tôi uống cà phê, rồi hỏi thăm về anh em trong đơn vị.

Tôi kể về từng người mà bà con hỏi thăm.

Ai hy sinh, ai bị thương, ai được trở về quê hay đi học.

Mọi người tỏ ra rất thương xót cho anh em.

Rồi bà con kể về cuộc sống hiện tại, từ khi chúng tôi không làm Quân Quản nữa.

Thôi thì đủ thứ chuyện: nào là chính quyền mới, nhất là một số cán bộ 30/4 rất sách nhiễu bà con.( Cán bộ 30/4 là lớp cán bộ tham gia từ ngày giải phóng).

Cuộc sống bây giờ vô cùng khó khăn thiếu thốn, thiếu gạo, thiếu củi, thiếu dầu, thiếu thuốc, thiếu xăng.

Thiếu thốn tất cả các thứ đồ dùng sinh hoạt, nhu yếu phẩm thiết yếu của cuộc sống.

Rồi má chỉ vào một chậu đựng gạo.

Bên cạnh là một cái chén đã có một ít thóc, một ít hạt sạn.

Má nói: " Đấy con xem, gạo rất khó mua.

Mà gạo như vầy, lẫn cả sạn cát, cả thóc vào, người ăn sao nổi?

Hư răng, hư bao tử hết thôi.

Thứ này ngày xưa thì chỉ để nấu cám cho heo ăn.

Bây giờ tôi mới quan sát kỹ lại căn nhà và nhìn quanh phòng.

Hình như phòng rộng hơn trước nhiều.

Cái tủ lạnh để ở góc kia mà không thấy đâu.

Tôi hỏi: "Uả tủ lạnh Má hư mang sửa hay sao mà không thấy?".

Má cười trên nét mặt lộ những nỗi buồn, má nói: "Bán hết rồi con ơi!

Không phải một nhà Má mà rất nhiều nhà phải bán, từ tủ lạnh, ti vi, quần áo, tủ bàn ghế, đến xe honda, máy may.

Những gì ngày xưa sắm được, thì bây giờ lại bán đi ráo trọi rồi.

Bán để lấy tiền mua gạo.

Tôi lại hỏi một câu rất ngớ ngẩn: "Uả ai mua mà nhiều thế hả má?"

Má nói: "thiếu gì người mua, nhất là số cán bộ ở ngoài Bắc vào, mua để có tiện nghi trong gia đình, và họ mua để chuyển ra Bắc nhiều lắm.

Ô tô, tàu biển, chuyến nào cũng chở đầy hết.

Những thứ như xe đạp cũ, thời trước còn tốt hay những đồng hồ oDo hư đã lâu.

Hay những loại xe môbilet cũ rích cũng được sửa lại, bán được tiền không đó".

Tôi lặng người đi, rồi nỗi buồn ập đến.

Đúng là hiện tại, cuộc sống của dân ở Miền Nam.

Nhất là cuộc sống của bà con ngay tại Thành phố.

Đang vô cùng khó khăn thiếu thốn đủ đường.

Chính quyền các cấp, đang áp dụng một số chính sách quản lý như vào Tổ hợp, vào HTX, vào Công ty hợp doanh v.v... rồi ngăn sông cấm chợ, không cho hoặc rất hạn chế mang lương thực, thực phẩm vào Thành phố.

Chính quyền lại áp dụng chính sách mua lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm bằng tem phiếu như ngoài Bắc.

Tưởng chừng rất khoa học, nhưng lại không phù hợp với thực tế.

Không phù hợp với một vùng miền mới giải phóng, có tiếng là giàu có về gạo và lương thực, thực phẩm này.

Nên tình hình xã hội có nhiều bất ổn, nhất là sau giải phóng đã được mấy năm.

Sự kiện "tắm máu" không xẩy ra.

Một số phần tử phản động đã trỗi dậy, nhen nhóm các tổ chức.

Hòng phá hoại, hay ý đồ lật đổ chính quyền.

Một số bà con người Hoa thì bị xúi giục, bị xuyên tạc về tình cảm gắn bó hữu nghị của 2 dân tộc.

Nên đã có một vài cuộc biểu tình, chống phá hoặc truyền đơn phản đối chính quyền ở khu vực Chợ Lớn v.v..

Quan hệ giữa ta và Trung Quốc, có nhiều diễn biến phức tạp.

Đã có nhiều gia đình, bồng bế nhau, bỏ nhà cửa, bí mật xuống tàu vượt biên sang định cư ở nước khác.

Ôi!

Thật phức tạp.

Khi được nghỉ về chơi ở Thành phố.

Tôi tưởng sẽ vui, việc quyết định gặp Thanh hay không, đã làm cho tôi khó xử.

Giờ đây, được biết thêm về tình hình cuộc sống thực tế của bà con Sài Gòn.

Làm cho tôi lại càng ngán ngẩm hơn.

Tôi nói với má: "Đúng là đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn.

Không ai nghĩ rằng cuộc chiến tranh Biên giới với Campuchia lại xẩy ra.

Đã có rất nhiều bộ đội, đã qua cuộc chiến tranh giải phóng nay lại phải hy sinh nơi Biên giới để bảo vệ Tổ quốc.

Trong lúc này, nhà nước lại phải đang trả một số nợ, vay của các nước, trong thời kỳ chiến tranh.

Mỹ thì lại cấm vận mình, không cho mình mở mang bang giao với các Quốc gia khác.

Càng làm cho chúng ta khó khăn hơn!".

Chuyện trò với Mámột lúc, rồi tôi trở về chỗ đ/v Lộc trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Đường phố SàiGòn vẫn thế.

Nhưng trong lòng tôi, thì thật nặng nề với bao nỗi niềm khó tả.

Tôi về chỗ Lộc với tâm trạng không vui.

Nhưng rồi khi anh em bê mâm cơm ra có đủ rượu, bia, rau thơm, ớt cay và hành thái.

Các bạn bè đồng ngũ với Lộc vô tư, ồn ào sôi nổi.

Làm cho tôi quên đi những tâm sự nặng nề.

Tôi nhanh chóng hòa nhập vào tiệc rượu cùng anh em.

Chú Lộc tuyên bố: "Hôm nay anh Phú về, chiêu đãi anh món thịt thỏ nấu sốt vang".

Do chính tay Thắng bạn Lộc biểu diễn.

Đúng là bộ đội.

Các sắc lính khác sao mà vui, sao mà sướng thế.

Họ là đơn vị rada điện tử, nên từ ngày nhập ngũ đến tham gia các chiến dịch.

Hiện tại đang đóng quân tại sân bay.

Nhưng chưa một ngày nào hành quân phải đi bộ.

Tiêu chuẩn nhu yếu phẩm cao hơn chúng tôi nhiều.

Chẳng bù cho thằng lính bộ binh súng dài chúng tôi.

Hành quân cơ động, hay tập luyện đều bằng sức người, bằng đôi chân, mang vác bằng 2 vai là chính.

Thiếu đói, khổ cực trăm đường.

Tôi nhìn anh em nhậu thật sôi nổi.

Mọi người tranh nhau chúc rượu tôi.

Tiệc rượu thật vui, nhưng sau cứ một lần cụng ly, là tôi lại nhớ tới anh em, nhớ tới đơn vị.

Nhớ tới từng khuôn mặt những anh em cùng tôi đã chiến đấu, cùng tôi chịu bao đói khổ, rồi hy sinh, rồi bị thương nơi chiến trận.

Uống rượu mà tôi không sao lấy được cảm giác vui, mà lại thấy tủi tủi, cay cay.

Nước mắt tôi ứa ra chảy dài xuống má.

Ở chơi chỗ Lộc đến 3h chiều, tôi chia tay anh em .

Lộc lấy xe đạp chở tôi ra khu vực Lăng Cha Cả đón xe.

Tôi trở về trường Quân chính sau một ngày đi chơi, với bao buồn vui lẫn lộn.

Cũng chính từ buổi đi chơi này.

Tôi được biết thêm hoàn cảnh khó khăn, cuộc sống thực tại của người dân Sài Gòn.

Những ngày Chủ nhật sau, anh em chúng tôi thường ngại không ra ngoài trường, hoặc về chơi ở Thành phố.

Tôi đến chỗ Lộc 1-2 lần nữa, còn lại những ngày nghỉ tiếp.

Anh em học viên chúng tôi thường góp tiền, cử người ra ngoài mua gà, mua vịt, mua rượu về tự nấu nướng.

Tổ chức nhậu với nhau, rồi chơi cờ, chơi bài cho hết ngày.

Học ở trường mãi,nhàn rỗi quá lại thấy chán.

Anh em học viên, ai cũng thấy nhớ nhà, nhớ anh em.Muốn khóa học mau chóng kết thúc để có thể được nghỉ phép về thăm gia đình.

Haytrở về đơn vị.

Kết thúc khóa học, nhà trường tổ chức một buổi nói chuyện, về tình hình thời sự trong nước và Quốc tế.

Qua buổi nói chuyện, mới thấy được chúng ta đang gặp vô vàn khó khăn.

Về quan hệ Quốc tế thì đang có nhiều bất lợi cho ta.

Mỹ vẫn tăng cường cấm vận.

Trong phe XHCN, đã có dấu hiệu tan vỡ, hay thay đổi chính sách.

Một số nước anh em thân thiện, hoặc các nước trung lập.

Trong chiến tranh chống Mỹ, thì họ rất ủng hộ ta.

Giờ đây họ lại lên tiếng phản đối ta.

Cho rằng chúng ta là nước lớn mạnh, bắt nạt, ăn hiếp nước bé v.v...

Tập đoàn phản động Bắc Kinh, thì đã ra mặt gây khó khăn cho ta.

Gần như công khai, ủng hộ chế độ diệt chủng Khơ Me Đỏ.

Chúng đang có nhiều chuyên gia, Cố vấn giúp cho Khơ Me Đỏ xây dựng sân bay Quân sự, Quốc phòng, tăng cường cung cấp rất nhiều vũ khí vv...Chiến sự dọc tuyến Biên giới Tây Nam, vẫn đang hết sức khốc liệt.

Bọn Pốt đã lại xua quân lấn chiếm một số vùng dọc tuyến Biên giới Tây Nam của ta.

Như An Giang, Bẩy Núi, chúng chuẩn bị lực lượng để ý đồ tổng tiến công mùa khô 78-79.

Với tham vọng ngông cuồng là Tết 78-79 sẽ chiếm huyện Châu Thành, Gò Dầu, và thị xã Tây Ninh.

Làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía Nam và Sài Gòn.

Hướng Tây Ninh, nhất là hướng rừng Hòa Hội.

Là địa hình có lợi cho chúng, vì khu rừng rộng lớn phía Tây sông Vàm Cỏ.

Chúng đã điều động các Sư đoàn mạnh về hướng này, với ý đồ đánh chiếm rừng Hòa Hội làm bàn đạp cho âm mưu lớn.

Lực lượng cách mạng chân chính của Bạn mới phôi thai, còn trong trứng nước.

Nói chung, đất nước chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn.

Tình hình chiến sự, của cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam vẫn còn vô cùng phức tạp.

Ta cũng đã có kế hoạch đối phó với Bọn Pốt.

Mùa khô tới, nhưng cụ thể thế nào còn trong bí mật.

Chính vì những khó khăn trên, nên các đồng chí đừng có nói đến chuyện đi phép về thăm gia đình.

Mà Biên giới đang mong đợi chúng ta.

Đơn vị đang mong chờ chúng ta.

Các đồng chí phải về đơn vị gấp.

Chiều nay trường sẽ tổ chức liên hoan chia tay với lớp học.

Sáng mai có xe của Quân đoàn đưa các đ/c trở về đơn vị.

Anh em chúng tôitiu ngỉu, thoáng buồn vì không được đi phép.

Thế là tôi cũng không đến chỗ Lộcchơi, chia tay với Lộc được nữa.

Hôm sau, sau khi ăn sáng 7h đã có xe đến.

Anh em tôi lại lên xe.

Hướng Biên giới thẳngtiến.

Sau gần 50 ngày, chúng tôi lại trở về đơn vị.

Con phà Bến Sỏi lại đưachúng tôi qua sông.

Rừng Hòa Hội, Búa Lớn những cây thốt nốt lại hiện ra quenthuộc.

Xe dừng lại khu vực cứ của Trung Đoàn.

Đ/c chủ nhiệm Chính trị gặp gỡchúng tôi.

Lại một bài giáo huấn về tình hình thời sự, tình hình Trung đoàncùng các đơn vị, từ ngày chúng tôi đi tập huấn.

Đ/c hoan nghênh chúng tôi đã đi học, trở về 100% quân số.Trước mắt đ/c nào, ở đơn vị nào, thì cứ về đơn vị đó.

Nếu có thay đổi nhiệm vụ,thì Trung đoàn sẽ có quyết định điều động sau.

Các đ/c về cứ của đơn vị mìnhnghỉ ngơi.

Nắm tình hình, rồi ngày mai tất cả trở vể chốt của Đại đội mình.

Tôi về cứ.

Ngang qua quán của Cúc, tôi ghé vào chơi. chỉ có 2 chị em của Cúc.

Họ vui, hồ hởi khi gặp tôi.

Hỏi thăm tôi đủ thứ từ ngày tôi đi học.

Hỏi về tình hình Sài Gòn.

Tôi chưa kịp trả lời thì họ đã hỏi sang câu khác.

Không thấy Cúc, tôi hỏi: "Cúc đâu hả em?".

Đang vui bỗng thấy hai chị em chùng hẳn xuống, một cô nói: "Cúc hôm nay không sang.

Từ hôm anh Phú về Sài Gòn Cúc buồn lắm.

Làm sao anh để cho chị Cúc buồn thế?"

"Anh có làm gì đâu?"

Cô em nói tiếp: "Hồi này chị Cúc ít sang đây lắm.

Cũng có mấy người bộ đội hay đến chơi.

Ngỏ lời yêu đương với Cúc, nhưng chị Cúc chưa nhận lời ai.

Chị vẫn nói: "Không ai được như anh Phú cả.

Nhưng mà anh ấy cao xa, lý tưởng quá."

Tôi cũng lặng người đi khi nghĩ đến Cúc.

Mình có lỗi gì không?

Cúc không hiểu thôi.

Mình đâu phải là người cao xa hay lý tưởng.

Mà chỉ là người lính có ý thức, có kỷ luật chấp hành nghiêm túc các quy định, nhiệm vụ của quân đội.

Thôi!

Cũng may, khi tôi không gặp lại Cúc.

Cũng không có ý định sang nhà Cúc.

Ngày mai tôi lại sang chốt, như vậy có khi lại nhẹ lòng hơn.

Tôi uống nốt cốc nước chanh, chào 2 chị em của Cúc.

Rồi trở về khu vực lán của Đại đội.

Khu vực lán vẫn vậy.

Anh Thú, anh Khi vẫn coi cứ.

Các anh kể: Đại đội đã được bổ sung lính 77 quê ở Thái Bình, lớp lính 78 thì quê ở Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa rất nhiều.

Lính mới nhiều, lính già ( lớp 72-74) bây giờ còn có mấy người coi cứ, làm Quản trị trưởng.

Hay lính chuyên nghiệp chuyên môn khác.

Anh Đạc vẫn Đại đội trưởng, anh Tiến Chính trị viên trưởng, anh Quang Trinh sát làm Đại đội phó vẫn ê kíp trước ngày tôi đi.

Tôi nằm xuống, vẫn cái giát giường gồ gề làm bằng các cây gỗi nhỏ, khấp khểnh, cộm cộm dưới lưng.

Không được phẳng như những tấm giường phản ở trường.

Mái lán vẫn là những tấm nilông.

Anh em bẻ thân cành cây gác lên cho đỡ nóng.

Một vài tia nắng chiều rọi chiếu qua những lỗ thủng.

Góc trong lán có những cái ba lô bẹp lép.

Chiều biên giới trong bài ca nào hay thế.

Còn chiều biên giới của tôi là đây là thế này.

Nhạc sỹ họ lãng mạn thật.

Cũng khung cảnh này, mà sao họ sáng tác, tạo nên lời ca, nốt nhạc tuyệt vời.

Gieo vào lòng người cảm giác bồi hồi, xao xuyến, sống động...

Lại tiếp tục, nhữngngày dài nơi chiến tuyến.

Mùa khô gần tới.

Ngày mai tôi sang chốt.

Không biếtcuộc chiến này, cuộc sống này kéo dài đến bao giờ??

Không biết cấp trên có ý định xử lý cuộcchiến này như thế nào?

Miên man với những suy nghĩ tôi ngủ thiếp đi.

Rồi choàngtỉnh khi ae gọi dậy ăn cơm tối.

Sáng hôm sau tôi ra quán mua chè, thuốc lá, mấy gói kẹo.

Thêm một bi đông đầy rượu.

Tôi đón xe sang chốt sớm.

Đường sang chốt vẫn ổ voi, ổ gà, vẫn những cây gỗ lát ngang đường.

Nhiều cây đã gẫy vỡ vụn vất hàng đống bên đường.

Thỉnh thoảng gặp các tổ chốt bảo vệ đường.

Cùng anh em Công binh đi dò mìn sớm.

Với khuôn mặt thiếu ngủ hốc hác.

2 bên đường vẫn còn ngập nước.

Mưa đã giảm, nhưng ở cánh đồng, các mương hồ đã đầy ắp, nên nước chưa tiêu đi đâu được.

Buổi sớm Biên giới thật yên ả.

Mặt trời đã lên cao, chiếu những tia nắng, xuyên qua vòm lá của những cây thốt nốt.

Đúng là nếu không có chiến tranh, thì nơi đây cuộc sống thật thanh bình.

Gạo nhiều, cá lắm, dân cư thưa thớt.

Thi thoảng mới thấy còn sót lại cái khung sàn nhà.

Những khóm tre, cây xoài, cây me.

Dấu ấn của nền đất xưa có người sinh sống, một niền quê trù phú.

Bộ đội mình thường lợi dụng những nền đất ấy, làm chốt vì thổ đất thường cao hơn hẳn những bờ đường, bờ ruộng.

Mấy anh em tôi xuống xe khu vực Trung đoàn bộ .

Rồi đi thêm 2 km nữa thì đến Tiểu đoàn bộ.

Chuyện trò với BCH Tiểu đoàn một lúc, rồi anh Vinh Tiểu đoàn trưởng, cử 1 đ/c Truyền đạt, một đ/c Trinh sát dẫn tôi về vị trí chốt của Đại đội.

Cách Tiểu đoàn bộ khoảng hơn 1km.

Không hiểu bọn Pốt thấy chúng tôi hay chúng bắn hú họa, những loạt đạn cuối tầm cắm phầm phập vào phía trước, tung nước.

Đ/c trinh sát nói: Đạn cuối tầm anh ạ không sợ đâu.

Tôi nói cuối tầm mà vào đầu thì cũng " vỡ gáo" đấy, đừng chủ quan.

Vừa đi anh em vừa kể từ sau trận " khốc chiến" 18/7 hướng này ta và nó đều án binh bất động.

Chúng cũng chỉ bắn cầm canh, hú họa vậy thôi.

Ta cũng chưa tấn công trận nào.

Chúng đang tập trung đánh vào hướng ngã tư Nhà Thương, chùa Bạch Bột chốt của Trung đoàn 270 và Trung đoàn 266.

Ngày nào cũng thấy chúng tập kích nhiều lần.

Nghe chừng hướng đó đang căng căng lắm.

Về tới vị trí Đại đội, ae vừa hội ý xong, đủ cả các Trung đội trưởng và các Tiểu đội trưởng hỏa lực.

Tôi bỏ trà thuốc, kẹo mời anh em.

Chuyện trò qua lại rất vui vẻ.

Anh Tiến nói: Từ ngày ông đi mọi việc ổn cả, lính mới nhiều.

Nên ở chốt vẫn phải huấn luyện anh em thêm xạ kích, kỹ chiến thuật bộ binh.

Anh em còn yếu lắm.

Không được huấn luyện kỹ như mình đâu ngày xưa đâu.

Bộ đội mình lại được học thêm một môn nữa, đó là kỹ thuật gài mìn.

Ông đi lại cẩn thận không nhiều mìn lắm đấy.

Rồi anh Đạc nói: Học xong sao anh Phú không làm chuyến về Bắc thăm nhà?

Tôi nói học xong họ đưa lên đây ngay.

Không cho đi phép, nói là mùa khô tới, sẽ có nhiều biến động.

Nên không một ai được đi phép.

Tôi nói thêm là tìnhhình dân tình ở Sài Gòn này phức tạp lắm.

Anh em chúng tôi rất ngại ra khỏitrường.

Chủ nhật toàn mua đồ về nhậu.

Cũng muốn đi phép mà không được.

Mặt kháccũng rất nhớ đơn vị nên không ai tụt tạt cả.

Mấy ngày tiếp, tình hình khu vực của Đại đội 1, vẫn yên tĩnh.

Tôi đã làm quen, đã hòa nhập lại cuộc sống của đơn vị ở chốt.

Đã cuối mùa mưa, mưa không nhiều.

Nhưng cánh đồng quanh khu vực chốt vẫn ngập nước.

Vị trí chốt của Đại đội 1 là bên trái của Tiểu đoàn.

Cách khu vực Chóp khoảng gần 2 km, hướng đó có Sư đoàn 7 chốt giữ.

Giữa Đại đội tôi và đơn vị gần nhất của Sư đoàn 7 là trận địa pháo 37 ly (của Sư đoàn 7?

Hay của Quân đoàn?) cùng chốt giữ.

3 cụm chốt như là hình chữ V, mà đ/v pháo 37 ly là đáy của V.

Địa hình như vậy, bố trí như thế cũng thật là lợi hại.

Nếu bọn Pốt bí mật luồn sâu trong đêm, thì chúng cũng sẽ áp sát được chung quanh Đại đội 1.

Từ phía Sư đoàn 7 cũng không phải là dễ chi viện, nhất là trong đêm tối.

Còn nếu chúng tấn công vào ban ngày, hay đã bị lộ, thì chúng dễ bị tiêu diệt bởi chúng bị vào vùng lõm, giữa chữ V ấy.

Hướng này tình hình vẫn im ắng, nhưng ở hướng chùa Bạch Bột.

Trung đoàn 266 – 270 của Sư đoàn 341 chốt giữ.

Thì chiến sự lại vô cùng ác liệt.

Chúng đã tổ chức luôn sâu, mật tập, tấn công Trung đoàn 270 – 266.

Đã làm cho Trung đoàn 270 bị tổn thất đáng kể.

Đồng chí Vân Trung đoàn trưởng 270, bị áp lực nặng quá, choáng, gục không tiếp tục chỉ huy Trung đoàn.

Sư đoàn điều gấp đ/c Lê Hải Anh đang làm trưởng ban Tác chiến Sư đoàn, xuống thay đ/c Vân.

Đ/c Anh tổ chức bộ đội chiến đấu và được tăng cường thêm Tiểu đoàn 28 là Tiểu đoàn huấn luyện Hạ sỹ quan của Sư đoàn, chiến đấu phản công.

Đã lấy lại được 1 số vị trí bị mất và giữ vững trận địa chốt.

Hơn chục ngày sau, Trung đoàn 266 - 270 được lực lượng Sư đoàn 2, QK5 vào thay thế, 2 Trung đoàn lùi về sau củng cố lực lượng.

Như vậy Sư đoàn 341 trong giai đoạn này chỉ còn lại Trung đoàn 273, vẫn kiên cường chốt giữ ở khu vực đường 13 quanh ngã ba Săng Ke.

Nhận định của trên, bọn Pốt sẽ dùng thủ đoạn luồn sâu, mật tập các chốt thuộc địa bàn của Trung đoàn.

Nhất là khu vực Đại đội 1, Tiểu đoàn 1.

Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Đại đội thường xuyên đôn đốc anh em tích cực canh gác.

Tích cực củng cố hầm hào, làm nhiều ụ chiến đấu.

Ban đêm phải trực chiến và canh gác 50% quân số.

Tổ chức thêm nhiều bãi mìn.

Tăng cường đạn cối thật nhiều, lấy sẵn các vật chuẩn, mục tiêu bắn, sẵn sàng hỗ trợ tốt nhất cho các hướng trong đêm.

2 khẩu đội cối đã được tăng cường với cơ số "khủng" là 300 quả/1 khẩu.

Với số đạn này, phát huy tốt, thì nó là loại vũ khí lợi hại nhất để tiêu diệt, đập tan âm mưu của bọn Pốt tấn công trong đêm.

Đại đội tổ chức nhiều trận diễn tập, đánh địch trong đêm để ae chiến sỹ mới làm quen với các tình huống chiến đấu.

Ngày 1/10, là ngày Quốc khánh của quan thầy bọn Pốt.

Rất có thể chúng sẽ có những trận đánh lớn.

Để thể hiện sự trung thành và chào mừng Quốc khánh của quan trên.

Toàn tuyến chốt của chúng ta vẫn im lặng.

Nhưng khí thế đánh địch, chống địch tập kích đã thật nóng lên.

Anh em lính mới nhiều, nhưng cũng đã được học tập hướng dẫn rất bài bản.

Rất chi tiết và được tiếp thu kinh nghiệm chiến đấu của các lớp đàn anh.

Nên ae cũng đã nâng cao được bản lĩnh của lính chiến.

Qua nắm bắt tình hình, kinh nghiệm của các đ/v.

Để phá tan và bẻ gẫy chiến thuật luồn sâu, mật tập của Pot.

Điều quan trọng nhất, là phải phát hiện địch sớm.

Chủ động đánh địch. không để bị bất ngờ, sẵn sàng chiến đấu, tiêu diệt địch ngay.

Dưới sự chi viện tối đa của cối 60 Đại đội và cối 82 của Tiểu đoàn.

Chúng ta sẽ chiến thắng.

Chúng ta đang như những người thợ săn đầy kinh nghiệm và bản lĩnh.

Đã giăng lưới trời, đón chờ tiêu diệt bọn thú dữ hung hãn mất hết nhân tính này.

Cũng có thể do linh tính cảm nhận.

Cũng có thể là do kinh nghiệm mà từ Trung đoàn, Tiểu đoàn cho đến chúng tôi đều xác định là Pôt sẽ tập kích lớn vào khu vực này trong mấy ngày tới.

Nên thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc ae tăng cường cảnh giác cao độ.

Đã sát đến ngày 1/10, trong Đại đội lúc nào cũng "nóng", căng như sợi dây đàn.

Tuy rằng được học tập, nhưng rất nhiều a e chưa tham gia chiến đấu trận nào.

Những ngày qua, Đại đội đã tổ chức diễn tập, với nhiều tình huống diễn biến.

Chống bọn Pốt mật tập, ae mới được bắn đạn thật, sử dụng lựu đạn thật.

Để làm quen mọi thao tác, kỹ thuật và tiếng nổ.

Từ chỗ rất lo lắng, ae lính mới đã hồ hởi mong được chiến đấu ngay.

Theo phân công, nếu xảy ra tác chiến kể cả ban đêm.

Đ/c Quang Đại đội phó, cùng 1 liên lạc, xuống tăng cường chiến đấu với Trung đội tiền tiêu là Trung đội 1.

Trung đội này được tăng cường 1 khẩu 12L 7 của Đại đội 4.

Một khẩu đại liên của Tiểu đội hỏa lực.

Tôi sẽ xuống Tiểu đội cối 60 với ae.

Hai đ/c cấp trưởng cùng 1 liên lạc, 2 y tá, 2 thông tin, trực chỉ huy, chiến đấu tại BCH đại đội.

Chiều ngày cuối tháng, hoàng hôn buông xuống.

Rồi những tia nắng cuối cùng trong ngày cũng tắt.

Trời mát, gió thổi nhe nhẹ.

Những con ếch nhái, côn trùng, bắt đầu cất bản hợp xướng rền rĩ quen thuộc.

Tất cả anh em đã ăn xong bữa chiều.

Mọi người đều như linh cảm trận chiến lớn sẽ xảy ra đêm nay.

Vẫn 50% quân số trực chiến.

Tôi, đ/c Quang Đại đội phó cùng 1 đ/c liên lạc đi vòng khắp khu vực chốt.

Rất yên tâm, vì anh em các Trung đội, anh em lính mới rất vui.

Không ai tỏ ra quá bồn chồn lo lắng.

Có ae còn hỏi: "Liệu đêm nay bọn Pôt có mò vào không c.tr.viên ơi?

Chúng em đợi mãi nóng ruột lắm rồi".

Tôi nói vui: Bọn này ma mãnh lắm đấy, nó cứ phát hiện mình chủ quan, lơ là canh gác là nó tới liền...

Anh em tôi vòng về vị trí 2 khẩu cối 60.

Kiểm tra lại các vật chuẩn, nhắc ae lau chùi lại súng.

Hướng dẫn, kiểm tra lại ae thao tác lấy đạn không nổ ra khỏi súng.

Xử lý tình huống thuốc đạn đầy lấp kim hỏa.

Tôi hài lòng về những thao tác của ae.

Rồi vừa cười vừa nói thêm: Phải nhớ tháo bịt đầu đạn nhé.

Kẻo đạn ko nổ Pôt nó cười cho đấy.

Mọi người đều cười, xạ thủ Ca số 2, người gầy nhẳng như tôi trước đây.

Cười hết cỡ, nhe cái răng khểnh nói: quên làm sao được hả c.tr.viên?

Thật vui!

Bóng tối ập xuống, chúng tôi về hầm chỉ huy pha trà, rồi nhận định tình hình.

Mai là ngày 1/10, liệu bọn Pốt có mật tập đêm nay ?

Vừa lúc đó chuông điện thoại reo.

Anh Đạc cầm máy nói chuyện với Tiểu đoàn trưởng.

Nhận định của trên đêm nay có nhiều khả năng bọn Pốt sẽ tập kích lớn vào khu vực Tiểu đoàn.

Đại đội 1 là mục tiêu quan trọng.

Tiểu đoàn yêu cầu toàn Tiểu đoàn, 2/3 quân số trực gác đêm sẵn sàng đánh phủ đầu bọn Pốt.

Theo kinh nghiệm của các đ/v bị Pốt tập kích, mất chốt là: Chúng bí mật áp sát các vị trí chốt, thậm chí chỉ cách hố chiến đấu của mình 5-10 m.

Rồi bất ngờ dùng B40_B41 bắn dồn dập, tiêu diệt các ụ súng của ta hô: "Trô - trô "ầm ỹ.

Xung phong áp đảo, làm anh em ta mất tinh thần, phần thì thương vong, phần thì bị bất ngờ mất tinh thần.

Nên chúng dễ dàng chiếm được chốt.

Trong đêm, sự chi viện bằng cối là chính.

Còn theo hợp đồng, thì địch vào hướng nào, thì hướng đó chiến đấu.

Nên rất khó chi viện cho nhau.

Kinh nghiệm này, bài học xương máu này, đã có ở Trung đoàn 2.

Không phải một lần mà là 2 lần thật đau xót.

Còn ở đây, trong thế trận đã được giăng sẵn, ae không chủ quan mất cảnhgiác.

Đang sẵn sàng nghênh chiến.

Thì vấn đề sẽ khác.

Chúng ta sẽ cho bọn Pốtkhát máu đòn trừng phạt thật đính đáng.

8h tối, cũng vẫn như mọi ngày.

Mấy anh em tôi đã uống hết ấm trà thứ 2.

Soát xét lại công việc phòng thủ chiến đấu.

Không còn thấy phân vân điều gì.

Anh Đạc cùng liên lạc, xuống các Trung đội nhắc tăng cường gác 2/3 quân số theo lệnh của Tiểu đoàn cũng đã về.

Thấy anh Tiến ngồi bần thần tôi trêu: "Em Lý hồi này thế nào mà không thấy thư từ gì à?

Sao có vẻ nghĩ ngợi thất tình thế?".

Như đang muốn giãi bày tâm sự yêu đương, Tiến nói: "À, ông nhận xét hộ tôi xem Lý là người thế nào?".

Cô Lý là bạn cùng học với Tiến hồi cấp 3 cùng quê.

Học hết lớp 12 Tiến nhập ngũ, còn Lý thì đỗ đại học kinh tế gì đó.

Nghe nói bây giờ về làm ở phòng kế hoạch huyện.

Tiến đưa cho tôi tấm ảnh đen trắng cỡ 4x6, hình một cô gái mặc áo trắng.

Có lẽ là ảnh hồ sơ để đi đại học nên bức hình Lý mím môi, hơi cứng.

Tóc bện 2 dẻ một để ra trước ngực, một vắt sau lưng.

Kiểu tóc phổ thông của các cô gái miền Bắc lúc đó.

Đôi mắt Lý mở to kiên nghị, trán cao hơi nhô.

Thực ra nhìn ảnh thì cũng đoán đây không phải là người con gái đẹp.

Song có tính tình mạnh mẽ thông minh.

Nhìn ngắm bức hình qua ánh đèn nhỏ, một lúc tôi phán: "Cô bé này rất thông minh, ham học, nhưng rất bướng bỉnh.

Chắc trong lớp hay nghịch, thậm chí hay lý sự, hay trêu ông lắm phải không?".

Tiến nói ngay: "Sao ông biết?".

Tôi liền giải thích: "Phụ nữ trán cao, rộng, thể hiện sự thông minh.

Nhưng trán hơi nhô ra phía trước thường là bướng bỉnh.

Nhưng Lý là người sống rất vui và tình cảm thể hiện qua ánh mắt, cửa sổ của tâm hồn".

Tôi nói thêm: "Với ông sẽ rất hợp.

Vì ông là người sống có bản lĩnh, có ý chí, cũng rất thông minh, hiểu biết và biết nhường nhịn..."

Chuyện trò tán gẫu một lúc nữa, rồi tôi đi nằm trước.

Nằm, nhưng không sao ngủ được.

Cứ miên man nghĩ ngợi.

Đất trời về đêm thật yên tĩnh, rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào không biết.

Ầm - ầm...

2 tiếng nổ lớn xé tan sự tĩnh lặng trong đêm.

Tôi vùng dậy chộp lấy khẩu ak.

Nghe ngóng 1 chút, Anh Đạc nói: "Mìn nổ hướng Trung đội 1.

Có tiếng kêu la của bọn bị thương".

Tôi nói: "Pốt mò vào đấy!"

Cùng lúc, tiếng 12ly7 điểm xạ Thùng – Thùng – Thùng, Thùng – Thùng - Thùng, vừa dứt 2 loạt điểm xạ.

Ùng – oàng, ùng – oàng, ùng – oàng, dồn dập hướng Trung đội 1.

Anh Đạt nói: "Nó tập kích lớn rồi đấy.

Chết cha, sao không thấy 12ly7 bắn nữa".

Nhưng các loại súng AK của anh em Trung đội 1 đã rộ lên, cả tiếng của khẩu đại liên nữa.

Xen kẽ là những tiếng mìn nổ.

Lúc này không phải chỉ có hướng của Trung đội 1.

Mà các hướng đều có tiếng mìn nổ cùng với tiếng AK của anh em mình.

Anh Đạc nói: "Ông Quang xuống ngay Trung đội 1.

Ông Phú xuống ngay chỗ cối đi.

Sao chưa thấy cối bắn?"

Không gian vỡ òa.

Chớp nổ của súng, của đạn, của mìn, chớp lửa đỏ rực nhằng nhằng.

Cùng những tiếng kêu la của Pốt, thi thoảng mới có tiếng B40 của Pốt bắn vào chốt của mình.

Cùng với tiếng ak của chúng, nhưng rời rạc, lạc lõng không gắt.

Đạn vun vút qua đầu chúng tôi.

Tôi cùng một đ/c ytáchạy xuống vị trí cối.

Vừa chạy gần đến vừa nói to cho ae biết: Phú đây!

Phúđây!

Anh em đang thao tác.

Tôi nói: bắn ngay, cấp tập mỗi vật chuẩn 5 quả.

Tong- tong- tong - tong..Ae thả đạn liên tục, không đợi đạn nổ.

Liên tiếp thả đạn,bắn vào các mục tiêu đã định sẵn.

Rồi những tiếng nổ của đạn cối dền vang.

Lẫntrong tiếng nổ, là tiếng la hét của bọn Pốt bị thương ngày càng nhiều.

Trậnchiến đã thực sự ác liệt, lúc này là gần 3h sáng ngày 1/10.

Ngày Quốc khánh củaquan thầy bọn Pót.

Các loại súng của ta vẫn nổ dồn dập.

Tôi cho 2 khẩu cối cấp tập, bắn về các hướng.

Hướng Trung đội 1 cách khoảng 250m có 3 ngôi mộ xây.

ở đây anh em đã gài mìn và cũng là vật chuẩn số 1 hướng Tây của cối .

Nếu chúng tập kích, chắc chắn ở vị trí này chúng sẽ tập trung nhiều, hoặc BCH của Pốt sẽ ở đó.

Tôi nói anh em " trần" khu vực này thật kỹ.

Chớp lửa điểm nổ sáng lòa liên tục.

Đã mấy chục phút chiến đấu.

Tiếng súng bộ binh đã ngớt, chỉ còn 2 khẩu Đại liên vẫn điểm xạ khạc đạn đều.

Đạn cối còn nhiều, nhưng tôi nhắc ae chuyển sang bắn chế độ chậm.

Bắn rải rác mặt sàng các vị trí.

Lúc sau, anh Đạc cùng một liên lạc xuống.

Thông báo các hướng chiến đấu rất tốt.

Cối bắn rất tốt.

Riêng khẩu 12,7 ly.

Ngay lúc đầu đã bị chúng dập vào 3 quả B40.

Chúng ta hy sinh 1, bị thương 2 đ/c, khẩu 12,7 bị hỏng.

Tiểu đoàn và trực tiếp Trung đoàn, điện khen ngợi tinh thần cảnh giác.

Ý chí chiến đấu rất cao của Đại đội 1.

Tiểu đoàn vẫn đang cho bắn cối 82 hỗ trợ Đại đội.

Hiện tại, ta chưa hiểu hết lực lượng Pốt như thế nào?

Chúng ta vẫn phải kiên cường chiến đấu giữ chốt.

Đề phòng chúng sẽ tấn công ồ ạt.

Đợi sáng, có cơ hội sẽ truy kích bọn này.

Hiện tại, ông cho cối 60 vẫn bắn "trần mắt sàng" từ sát chốt của mình ra ngoài khoảng 500-600m.

Bên ngoài xa nữa cối 82 và 120 ly đảm nhiệm.

Bắn tiêu diệt, tiêu hao lực lượng của Pốt.

Hướng Sư đoàn 7 và trận điạ pháo 37 cũng đã được hợp đồng.

Đợi sáng rõ mục tiêu sẽ bắn hỗ trợ.

Tôi dặn thêm anh em tiếp tục bắn cối như kế hoạch.

Nếu thấy chúng có hiện tượng tấn công.

Thì chuyển bắn chế độ cấp tập ngay.

Chi viện kịp thời cho các hướng.

Rồi tôi cùng đồng chí y tá và anh Đạc đi cùng vòng hết các vị trí chốt.

Anh em rất vui khi chúng tôi xuống chốt.

Ai nấy tranh nhau kể về trận chiến vừa rồi.

Vừa qua một trận chiến, mà anh em lính mới như đã vững vàng " lớn" hẳn lên.

Tôi hỏi anh em đã quen tiếng nổ chưa?

Vừa rồi, như vậy là mình chủ động phát hiện và đánh địch trước, nên không bị bất ngờ.

Không bị mất tinh thần.

Rất có thể từ giờ tới sáng, chúng sẽ tấn công chính thức.

Ta chưa rõ lực lượng địch thế nào?

Càng phải tăng cường quan sát phát hiện chúng là " táng" ngay.

Hai khẩu cối vẫn Tong-Tong phóng đạn.

Anh Đạc nói: Tôi cho 2 khẩu đạiliên bắn găm xuống nước ở cự ly gần nhất, rồi hất ngược ra ngoài cho chắc ăn.Mình phải cầm cự đến sáng mới cụ thể hết được.

Hai anh em tôi vòng về BCH.

Haiđồng chí bị thương đã được sơ cứu và tiêm thuốc giảm đau.

Đ/c xạ thủ số 1 hysinh, cũng đã được gói bọc chu đáo.

Nhìn ae bị thương, bị hy sinh thật xótlòng.

Mọi người chùng hẳn xuống.

Anh Quang cũng đã trở về, chúng tôi vào hầmbàn kế hoạch tác chiến tiếp theo.

Anh em tôi chụm đầu hội ý, nhận định tình hình.

Cuộc hội ý liên tục bị ngắt quãng, bởi điện thoại của Tiểu đoàn và trực tiếp của Trung đoàn xuống.

Anh Đạc, anh Tiến phải báo cáo liên tục.

Đúng là ở chốt tình hình đã đang căng, đang nóng.

Nhưng có vẻ ở Tiểu đoàn, Trung đoàn các Vị chỉ huy có lẽ còn nóng hơn.

Vì cho đến hiện tại, toàn tuyến chốt của Tiểu đoàn 1.

Mới có Đại đội tôi là phát hiện Pốt mò vào.

Đã đánh phủ đầu chúng, cho đến giờ này cối vẫn bắn rải rác các khu vực dự đoán là có Pốt.

Nhưng cũng như trên, chúng ta không biết kế hoạch tấn công của chúng thế nào?

Mấy hôm nay cấp trên đã phát hiện chúng tập trung quân phía trước Trung đoàn rất đông.

Pháo binh của ta cũng đã bắn.

Bộ còn điều động cả mấy lần máy bayA37 ném bom hỗ trợ để tiêu diệt, tiêu hao hỗ trợ cho bb.

Phá âm mưu tập trung quân của Pốt.

Vậy đêm nay âm mưu của chúng sẽ tập kích vào các chốt nào?

Câu hỏi lớn này đang làm đau đầu các cấp chỉ huy, người cầm quân.

Muốn giải mã trước khi trời sáng.

Anh em chúng tôi nhận định: Đại đội 1 là mục tiêu tập kích của Pốt.

Nhưng chúng đã bị lộ ý đồ mật tập.

Chúng ta đã chủ động chiến đấu.

Với các loại cối 60, cối 82 của Tiểu đoàn cùng với mìn, đạn thẳng.

Những tiến kêu la của chúng các phía.

Chắc chắn là chúng bị tiêu hao nhiều.

Thông thường, bọn này hay mật tập, tấn công khoảng 3h đêm.

Chứ không hay bắt đầu tấn công từ 5h sáng như ta.

Vì bọn này thường lợi dụng lúc tối trời để tấn công.

Nhận định thứ 2 là: Cũng có thể lần này chúng tổ chức tấn công quy mô lớn thì vấn đề sẽ khác, cần phải đề phòng.

Trước mắt, toàn Đại đội phải ở vị trí chiến đấu 100%.

Đại liên và cối 60, vẫn phải bắn chế áp, bắn rải rác để tiêu hao sinh lực địch.

Lúc này đã là 4 giờ sáng.

BCH phải chia nhau xuống các Trung đội giao nhiệm vụ, động viên anh em đánh địch giữ chốt.

Củng cố hầm hào, trang thiết bị vũ khí, cho anh em ăn sáng( lương khô) để tăng sức khỏe.

Sẵn sàng chiến đấu, bẻ gãy đợt tấn công lớn của Pốt.

Sẵn sàng truy kích địch, đánh địch ngoài công sự khoảng 400 - 500m.

Thu nhặt vũ khí, nhưng chú ý đề phòng mìn của ta gài chưa nổ hết.

Và bọn Pót chưa chết hẳn.

Anh em tôi chia nhau xuống các hướng, truyền đạt tinh thần như đã bàn.

Đại liên vẫn khùng - khùng khạc đạn.

Hai khẩu cối vẫn Tong - Tong đều.

Những chớp lửa của đạn nổ vẫn bùng lên các phía.

Anh em cối thấy tôi xuống nói: bắn nhiều ù hết cả tai rồi.

Tôi ghé tai anh em nói nhỏ: Vẫn phải bắn tiếp.

Hết bao nhiêu đạn rồi?

Anh em nói hết 50% đạn rồi.

Như vậy là mỗi khẩu bắn khoảng 150 quả.

Hai khẩu là 300 quả.

Cộng với số cối 82 của Tiểu đoàn.

Thì như vậy, nếu chúng tập trung tấn công thì cũng bị sát thương tiêu hao rất nhiều.

Hơn 4h, trời đã tảng tảng sáng.

Đằng đông nơi mặt trời sẽ mọc, nhiều đám mây đen như hình người, hình thú khổng lồ đang thay hình đổi dạng.

Hướng đó đã sáng dần lên.

Trời sắp sáng, chúng ta đang mong điều đó.

Một trận chiến thật căng thẳng sẽ xẩy ra?

Những tên áo đen ác quỷ lao vào chốt?

Hay những gì xẩy ra từ đêm?

Cũng sẽ được phơi bầy trước bình minh.

Thật hồi hộp cho những ngươi lính chiến, đang phải phán đoán, đang phải chờ đợi mong cho trời mau sáng.

Nhưng dù thế nào, âmmưu của chúng mật tập, tấn công đã bị lộ.

100 % anh em đã ở vị trí chiến đấu.Đạn đã lên nòng, súng pháo ta đang nhả đạn.

Trời sắp sáng, mặt trời sắp mọc hyvọng những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với ánh bình minh.

Mờ sáng, rồi sáng rõ.

Cũng không có tiếng Trô- Trô của Pốt và những bóng áo đen ác quỷ lao vào chốt.

Ở những vị trí tiền tiêu và cả các Trung đội.

Mọi người không tin được ở mắt mình.

Những mảng đen nằm la liệt quanh chốt.

Gần nhất là hướng đối diện với khẩu 12,7 là 30-40 m còn lại rải rác, từ 50-200m thì rất nhiều.

Như vậy, là bọn này đã bao bọc được chung quanh chốt của Đại đội 1.

Chắc chúng âm mưu áp sát rồi tấn công Đại đội 1.

Nghĩ mà rùng mình.

Nếu như anh em ta không phát hiện được sớm, mà để chúng áp sát vào rồi đồng loạt xung phong.

Thì không biết có chuyện gì xẩy ra?

Anh em tôi thở phào, lệnh cho các Trung đội thực hiện theo kế hoạch.

Xa xa khoảng 700-800m vẫn còn những bóng lính Pốt.

Vừa lúc đó thì Thùng- Thùng- Thùng- Thùng đạn nổ rải rác phía Pốt .

Trận địa pháo 37 ly cũng đã phát hiện ra Pốt, Hạ tầm bắn thẳng, hướng chốt sư 7 cũng đã thấy rộ lên tiếng súng.

Bọn này ngoài vây Đại đội 1.

Chúng còn luồn sâu vào vùng lõm, khu vực trận địa pháo 37 và khe lõm với sư 7.

Tiểu đoàn xác định: Đây là trận chúng sử dụng cấp Trung đoàn.

Riêng khu vực chốt Đại đội 1 chúng dùng khoảng 1-2 Tiểu đoàn bao vây tấn công.

Tiểu đoàn phó và tham mưu trưởng cùng một vài trinh sát cộng cứu thương cũng đã tới Đại đội 1.

Anh em đều nhìn, đều đếm được rất nhiều Pốt chết quanh chốt.

Các Trung đội được lệnh truy kích.

Hai khẩu cối 60 đã được hiệu chỉnh tầm bắn, truy đuổi xa.

Chưa bao giờ anh em tôi chứng kiến quân Pốt chết nhiều như trận này.

Xác nổi phập phềnh trên ruộng nước làm mồi cho lũ đỉa đói.

Nhiều thằng nằm vắt ngang qua những bờ đất nhỏ trong các tư thế thật khó tả.

Riêng khu vực 3 cái gò mộ xây.

Có 5-6 cái xác Pốt.

Ghê sợ nhất là hình ảnh thằng đeo máy thông tin, bị 1 quả cối cắm từ đỉnh đầu xuyên xuống cằm, đạn không nổ.

Đây đúng là khu vực chỉ huy cấp C - D của chúng. thật đáng đời bọn mày.

Anh em đi thu nhặt súng, lẻ tẻ có tiếng AK của lính mình ban tặng cho những thằng bị thương.

Để nó nhanh đi về với cái chủ nghĩa hoang tưởng man rợ được nhẹ nhàng.

Súng pháo 37 ly vẫn bắn đuổi, bên Sư 7 cũng đã thấy anh em xuất kích truy đuổi Pót.

Thỉnh thoảng cũng có 1 vài quả đạn DKZ và pháo của chúng bắn đến, nhưng thật lạc lõng.

Đến 8h sáng Đại đội 1 đã thu được hơn 100 khẩu súng các loại.

Anh em kiểm đếm được gần 100 xác chung quanh chốt của Đại đội.

Một trận thắng ngoài sức tưởng tượng của mọi người.

Tin chiến thắng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 nhanh chóng được loan đi khắp các đơn vị.

Chúng tôi liên tục nhận được điện khen ngợi biểu dương của các cấp.

Trung đoàn cũng đã tổ chức một đoàn cán bộ của 3 cơ quan.

Xuống tận Đại đội 1, Để tiếp thêm đạn, quà của Trung đoàn.

Để xác định cụ thể tình hình trận chiến.

Chuyển đưa anh em thương binh và liệt sỹ về.

Cùng với đống súng đạn các loại mà anh em thu được.

Nhìn trang phục của bọn Pót rất mới, vũ khí cũng vậy, cũng toàn là mới.

Dầu mỡ bảo quản chưa được lau sạch.

Trung đoàn xác định: Đây là lực lượng chủ lực của chúng.

Sư đoàn 280 mới được điều ở nơi khác đến.

Trận này cũng là trận đầu tiên của chúng.

Tấn công chúng ta ý định là sẽ làm gọn Đại đội 1, cùng khu vực trận địa pháo 37.

Nhưng do bị lộ và bị tiêu diệt ở hướng Đại đội 1.

Nên ý đồ tấn công mật tập bị bẻ gẫy.

Mục tiêu lập thành tích chào mừng ngày quốc khánh 1/10, của quan thầy đã được phơi bầy trước ánh bình minh với những cái xác, trong bộ đồ đen nổi phập phềnh như thế đó.

Mặt trời đã lên cao, ngày mới đã đến.

Những tia nắng hồng buổi sớm,xuyên qua những tán lá.

Anh em tôi tổ chức cho bộ đội củng cố lại hầm hào,trang bị vũ khí và thay nhau nghỉ ngơi.

Trên nét mặt mọi người, tuy rất mệt quamột đêm mất ngủ, chiến đấu căng thẳng.

Nhưng vẫn ngời lên niềm hân hoan củangười chiến thắng.

Không dừng lại ở chiến thắng, dễ sinh tư tưởng chủ quan.

Ngay chiều ngày 1/10, anh em tôi đã làm công việc củng cố hầm hào.

Củng cố trang thiết bị, tổ chức kéo các xác Pốt ở gần ra xa.

Tổ chức lại trận địa mìn.

Lau chùi, bảo dưỡng vù khí, súng đạn.

Tối vẫn ở chế độ trực chiến 50/50, đề phòng chúng vào tập kích báo thù.

Trong lúc anh em đang say xưa chiến thắng, lơ là cảnh giác.

Bài học này nhiều đơn vị đã vấp phải.

Mấy ngày tiếp theo, tình hình vẫn yên tĩnh.

Những cái xác pốt đã trương phềnh, thối rữa.

Thỉnh thoảng gió lại đưa về chốt cái mùi sú uế của thây người chết, không mùi nào ghê bằng.

Anh em chỉ xử lý được những cái xác hướng đường về Tiểu đoàn.

Số còn lại, chẳng sức đâu mà xử lý..

Pọn Pốt cũng không có hành động nào, gọi là làm công tác tử sỹ, thu dọn chiến trường.

Thỉnh thoảng chúng vẫn phóng DKZ hay M72 vào chốt.

Nhưng bắn kiểu hú họa, lạc lõng, vô định.

BCH tổ chức cho các Trung đội, Tiểu đội, họp.

Biểu dương thành tích và bầu chọn khen thưởng chiến đấu của đơn vị.

Nhất là anhh em nhập ngũ 77-78 thành phố Cảng, Thủ đô Hà Nội, trai thành phố bướng bỉnh hay lý sự, khó bảo trong sinh hoạt.

Lười gác đêm, nhưng trong chiến đấu trận đầu, lại cực kỳ bản lĩnh dũng cảm, thật đáng ngợi khen.

Có nhiều đ/c được ae đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công.

Đề nghị cấp trên công nhận là chiến sỹ thi đua, chiến sỹ quyết thắng.

Đại đội liên tục được đón khách tới thăm.

Các thủ trưởng, các đ/c trợ lý Quân sự, Chính trị, Hậu cần mang quà, mang đạn.

Mang sách báo xuống cho anh em.

Họp cùng ae.

Xem xét rút kinh nghiệm trận đánh.

Làm bài học chiến công trong phòng thủ, chốt chặn.

Cán bộ, chiến sỹ Đại đội, lúc nào cũng thấy niềm vui.

Trên khuôn mặt mọi người, ánh lên niềm tự hào của người chiến thắng.

Riêng tôi và anh Đạc, có lần ra ngoài mép nước.

Hướng về trận đánh 18/7, lầm rầm khấn vái, tưởng nhớ tới anh Công, người cán bộ Chính trị kiên trung dũng cảm.

Cùng các ae Liệt sỹ, như thầm nói với hương hồn các anh em đã hy sinh là: Chúng tôi, những người lính Đại đội mang 4 số 1 ( Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, sư đoàn 1 ) đã lập chiến công xuất sắc.

Bắt quân thù trả nợ máu, rửa hận cho anh em.

Cầu mong hương hồn anh em được siêu thoát.

Mấy ngày sau khi mà 2 Trung đoàn 266 - 270 cơ động về hướng đường 1.

Phối thuộc với Sư đoàn 9, đánh phản kích chiếm lại Rừng Sở, Chi Phu.

Trận tiến công dũng mãnh ngày 10/10 của 2 Trung đoàn Sư doàn341, cùng Sư đoàn 9 đã làm cho bọn Pốt hướng này, phải từ bỏ ý định chiếm huyện Bến Cầu , Gò Dầu.

BCH Sư đoàn 9, và anh em chiến sỹ Sư đoàn 9, đã nhiệt liệt khen ngợi tinh thần chiến đấu, dũng mãnh tiến công Pốt của 2 Trung đoàn 270 – 266.

Mấy ngày sau, khoảng giữa tháng 10.

Trung đoàn 273 được Sư đoàn 2 QK5 thay chốt.

Anh em tôi được về dừng chân khu vực Búa Lớn, lập tuyến phòng thủ số 2.

Tại đây anh em được nghỉ ngơi, làm công tác củng cố học tập Chính trị.

Các cấp Đại đội, Tiểu đoàn.

Nhất là Trung đoàn, đã tổ chức hội nghị mừng công.

Tổng kết nhiệm vụ đánh địch một năm qua.

Hội nghị tổ chức ngay tại Búa Lớn, có cờ hoa lộng lẫy.

Có các Thủ trưởng cấp trên, cán bộ tỉnh Tây Ninh xuống dự.

Đại đội còn được xem các tiết mục biểu diễn, của các nghệ sỹ Đoàn ca múa nhạc Bông Sen.

Đặc biệt là giọng ca vàng danh tiếng.

Đó là nghệ sỹ nhân dân Quốc Hương - người mà thời ở Miền Bắc, không một ai là không biết tên.

Chỉ được nghe hát, qua đài tiếng nói Việt Nam.

Thế mà tại đây, tại vùng Biên giới này, chúng tôi được trực tiếp được gặp ông, được nghe ông hát.

Gần 70 tuổi và giọng ca của ông vẫn vang vang, trong sáng, mạnh mẽ cuốn hút, thúc giục.

Như chính chúng ta đang cùng Tiểu đoàn 307 vung gươm xốc tới tiêu diệt kẻ thù.

Ôi!

Thật hào hùng.

Những ngày này, ở tuyến 2.

Nhưng cũng là được nghỉ ngơi.

Với chúng tôi, những người lính đã gần 400 ngày chiến đấu liên tục, thì thật giá trị vô cùng.

Bộ đội ở Búa Lớn đông, nhưng những hàng quán thì không có như trước nữa.

Lều, quán lá hoang tàng, vì dân không được sang qua bờ Tây sông Vàm Cỏ nữa.

Nên tôi cũng không có cơ hội gặp lại mấy chị em Cúc.

Nhìn cái quán lá, tôi bồi hồi nhớ lại những gì đã xẩy ra nơi đây.

Đầu tiên là cái ly vỡ, rồi những ly nước chanh, ly chè mát lạnh.

Ánh mắt nụ cười của 3 chị em đã giành cho tôi.

Nụ hôn và lời nói chia tay vội vàng.

Khi lên đường về Sài Gòn tập huấn.

Một mối tình chợt đến, rồi cũng vụt qua.

Đẹp!

Thật đẹp, lung linh, rạng ngời, tỏa sáng như ánh sao băng trong đêm.

Tiếng ai đó cất lên: "Chiều biên giới em ơi", nghe thật da diết, thậtthiết tha, trìu mến, gần gũi lạ kỳ.

Hoàng hôn dần tắt.

Gió trời nhẹ thổi.

ChiềuBiên giới thật buồn, thật đẹp làm sao..

Mùa khô đến.

Lúc này khoảng giữa tháng 11/78 chiến sự dọc Biên giới Tây Nam, vẫn diễn ra vô cùng ác liệt.

Bọn Pốt đã đưa tới 19/23 Sư đoàn trải dọc Biên giới Tây Nam.

Chúng đã tổ chức tấn công quy mô lớn.

Với ý định cài răng lược làm bàn đạp cho mùa khô, để tấn công Tây Ninh.

Lúc này chúng đã chiếm được 28 điểm dọc Biên giới của ta.

Có nơi như ở Kiên Lương - Kiên Giang chúng chiếm vào sâu tới 27km.

Ý định sẽ đánh chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, các tỉnh An Giang, Đồng Tháp cũng đã có nhiều điểm bị chúng chiếm giữ sâu vào đất ta từ 10 - 15km.

Hướng Tây Ninh, khu vực Bến Sỏi, tới bến Cây Sao.

Chúng đã chiếm được toàn bộ khu vực rừng Hòa Hội, thuộc vùng bờ Tây sông Vàm Cỏ.

Ở đây, chúng tập trung 3 Sư đoàn mạnh nhất là Sư đoàn 703-340-221.

Với ý đồ vượt sông Vam Cỏ.

Đánh chiếm huyện Châu Thành, thị xã Tây Ninh tới núi Bà Đen.

Chúng đã tổ chức nhiều toán biệt kích, trinh sát vượt sông vào Tây Ninh.

Trong rừng Hòa Hội, chũng đã tập kết được rất nhiều kho vũ khí, súng đạn lương thực, các LL "thanh niên xung phong" coi kho.

Chúng lấy nơi này, làm địa điểm tập kết vượt sông.

Thật khôi hài và cũng là bài học về sự mất cảnh giác của bộ đội mình.

Là chúng đã cử trinh sát vào tận đơn vị tăng của Lữ 22.

Đang chốt ở Bến Sỏi, chúng chất rơm đốt 2 xe tăng của ta.

Pháo binh của chúng đã vươn tầm, bắn rải rác vào huyện Châu Thành, thị xã Tây Ninh để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Về phía ta, đơn vị bạn chốt giữ khu vực chùa Bạch Bột, cũng đã bị chúng đầy lùi.

Như vậy trung đoàn 273 - Sư đoàn 341 trở thành tuyến phòng thủ 1, dọc từ Bến Sỏi lên tới Búa Lớn.

Những ngày cuối giữa tháng 12/78, tình hình còn nóng hơn.

Khi rừng Hòa Hội sát đường 13, đã bị chúng bắn chặn bằng đạn 12,7 khi thấy ô tô chạy từ Bến Sỏi lên.

Trung đoàn sử dụng Đại đội 11, Tiểu đoàn 3.

Do Đ/C Nguyễn Quang Vinh là Đại đội trưởng, Đ/C Thoảng Cviên trưởng( anh em hay gọi Đại đội trưởng là Vinh rồng, vì Vinh có tài nói chuyện và kể chuyện sôi nổi như rồng bay, rồng cuốn, hết sức sống động).

Tám giờ sáng, anh em cắt rừng vào sâu rừng Hòa Hội.

Thật bất ngờ, là chúng đã chuẩn bị kho tàng, lập căn cứ quy mô như lớn.

Anh em báo về sở chỉ huy tình hình trên xin đánh.

Nhưng Trung đoàn không đồng ý, yêu cầu Đại đội 10 trinh sát rộng hơn.

Đại đội 11 cắt chéo sang hướng khác, cũng gặp rất nhiều Pốt.

Bọn chúng đã phát hiện lực lượng ta, anh em vừa chiến đấu vừa rút.

Nhưng Đại đội trưởng Vinh bị trúng đạn hy sinh.

Như vậy, ý đồ chiếm giữ rừng Hòa Hội làm bàn đạp tấn công thị xã Tây Ninh mùa khô là đã rõ.

Về phía bạn, ngày 2/12/78 Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra đời.

Với lá quốc kỳ là 5 ngọn tháp.

Mặt trận đã nhanh chóng quy tụ đoàn kết dân tộc.

Tập hợp các lực lượng vũ trang, cùng toàn dân.

Đứng lên cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Ông HênxomRin đứng đầu.

Cùng sự giúp đỡ và ủng hộ của Quân đội và nhân dân Việt Nam.

Đại đội 1 - Tiểu đoàn 1, chốt ngay tại khu vực bên phải Búa Lớn, sát rừng Hòa Hội.

Cạnh trục đường 13 từ Bến Sỏi sang.

Ven đường, nhưng có rừng cây thấp lúp súp.

Anh em làm công sự chốt, tổ chức phạt cây trong khoảng 100 - 200m để tăng cường quan sát.

Chống sự thuận lợi trong tiền nhập của Pốt.

BCH Đại đội, tận dụng 1 cái nhà chòi của dân ngay sát đường.

Vượt lên trên theo trục đường 13, là các chốt của Tiểu đoàn 3.

Tiểu đoàn 2 và các cơ quan Trung đoàn ở bên trái đường.

Như vậy là Tiểu đoàn 3 lần này lại là điểm chốt tiền tiêu cao hơn.

Dọc con lộ 13, tới ngã ba Săng Ke, tới Chóp là các đơn vị của Sư đoàn 2, tiếp đến các chốt của Sư đoàn 7.

Nhìn bản đồ hiện trạng, thì chỉ còn có Sư đoàn 7 là vẫn đang giữ được khu vực Chóp.

Còn từ Chóp xuống đến Sỏi, các đơn vị, đang phải lùi về sát trục đường 13.

Nhất là từ khu vực Chùa Bạch Bột, đến cả khu vực rừng Hòa Hội của ta, đang bị Pốt lấn chiếm.

Pháo binh của chúng, đã bắn sâu vào khu vực thị xã.

Phà Bến Sỏi, là một trọng điểm của pháo binh của chúng chấm tọa độ.

Những chuyến phà qua lại, ae đều được nhìn những cột nước dựng đứng, do đạn pháo của chúng bắn tới.

Bị sức ép của đạn pháo, cá chết nổi trắng sông.

Khu vực Bến Sỏi và rừng Hòa Hội, những ngày cuối tháng 12/78 thật sự đang nóng như chảo lửa lớn.

Chảo lửa của chiến tranh tàn khốc đang bùng lên từng giờ.

Anh em cán bộ, chiếnsỹ các đơn vị trong Tiểu đoàn, rất ái ngại, rất sốt ruột.

Khi thấy mình đang bịPốt ép, áp lực rất mạnh từ 3 Sư đoàn tinh nhuệ của Pốt.

Tình hình ở khu vực Bến Sỏi Búa Lớn rừng Hòa Hội thật nóng.

Các đơn vị chốt chặn thì sốt ruột, trong khi đó 2 Trung đoàn 266 - 270 vẫn đang tăng cường cho Sư đoàn 9, hướng đường 1.

Anh em Trung đoàn 273 cảm thấy có gì như bất ổn.

Ngày 19/12 ngay tại vị trí chốt của Đại đội 1 khu vực Búa Lớn.

Anh em tôi gặp đoàn cán bộ của Trung đoàn và Sư đoàn, vượt phà sang thị sát thực địa.

Tôi hỏi đồng chí Chu Đức Hùng là Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng Trung đoàn( đ/c Hùng trước là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của tôi) là: Tại sao lại để Pốt ép mình thế này, mà lực lượng của ta đâu không đánh.

Nó đang vào trong rừng rất đông.

Như vậy chúng chiếm được mấy xã rồi còn gì?

Đ/C Trung đoàn phó Chu Đức Hùng nói : " Các cậu cứ chốt giữ cho chắc cái đã, nó vào bao nhiêu là chết bấy nhiêu thôi"!

Tôi thầm nghĩ: " cái ông này lạc quan tếu, tình hình như thế này mà vẫn đùa được".

Pháo 105 ly và ĐKZ của chúng vun vút qua đầu chúng tôi.

Không hiểu cấp trên xử lý thế nào?

Ngày 22/12 ngày Tết truyền thống của Quân đội gần tới, các đơn vị được cấp tiêu chuẩn ăn tết kỷ niệm ngày thành lập Quân đội sớm.

Ngày 20/12/78, Đại đội tôi cử đ/c, Hùng quản lý, đ/c Khoa Năng Thược Quản Trị trưởng.

Tổ chức cho tiếp phẩm vượt sông qua phà Bến Sỏi.

Về bên kia mua thực phẩm tươi sống, cấp phát cho các Trung đội.

Tối 20/12 BCH Đại đội tôi đủ 4 người.

Cùng đ/c Khoa Năng Thược, là Quản trị trưởng, đ/c Hùng quản lý, 2 y tá, 2 đ/c liên lạc cũng có một bữa cơm thịnh soạn.

Gọi là ăn Tết truyền thống Quân đội.

Đặc biệt có thịt gà luộc, thịt trâu xào với rau muống, cùng 1 một vài món nữa.

Đủ cả rau thơm, gia vị, hành tỏi, với một bi đông rượu.

Trong tiếng vo vo của đạn pháo 105 của Pốt, tiếng rít của ĐKZ qua đầu.

Tối mờ mờ, anh em tôi vẫn cụng bát rượu, để chúc mừng ngày lễ.

Bữa tiệc dã chiến thật vui, thật ngon.

Ai nấy ăn hào hứng, kệ cho những gì đang xẩy ra.

Lính mà, ăn cái đã. nhưng bữa tiệc cũng thật vội, trong sự hối hả của chiến trường.

Có một kỉ niệm nhớ đời, trong bữa cơm đó.

Hồi đó tôi không ăn được ớt cay.

Trời tối nhập nhoạng, vừa tớp được hớp rượu, gắp ăn miếng trâu xào rau muống ngon tuyệt.

Tới miếng gắp thứ 3, tôi vừa nhai thì kêu ối 1 cái.

Tôi như bị điện giật, đứng bật lên, ôm lấy đầu chạy ra ngoài.

Lè vội miếng rau thịt ra.

Tôi đã nhai phải cả 1 quả ớt thóc, loại ớt bé mà thật cay.

Làm tôi bị tê xốc lên tận đỉnh đầu.

Tê hết cả phía bên hàm trái, tê nhức đến mức không thể ăn tiếp được nữa.

Anh Tiến, anh Đạc nhìn nhau cười.

Hóa ra không phải tôi gắp nhầm quả ớt, mà là do anh Tiến tinh nghịch gắp bỏ vào bát tôi.

Trời tối, tôi vội ăn không thể nhìn thấy được.

Ngay từ 8h tối, ngày 20/12 các loại súng của Pốt đã rộ lên phía chốt tiền tiêu của Đại đội 10 tiểu đoàn 3.

Anh em kiên cường chống trả, xong bọn Pốt cũng quyết tâm chiếm khu vực Đại đội 10 bằng được.

11 lần chúng tấn công vào Đại đội 10 bằng rất nhiều hỏa lực mạnh.

Điên cuồng như bọn thiêu thân.

Chúng coi đây là trận đánh chiếm cửa Mở vào khu vực Búa Lớn.

Mở đầu cho chiến dịch mùa khô của chúng.

Anh em kỹ thuật phát hiện tới 22 đầu máy thông tin ở khu vực này của Pốt.

Cối 82 của Tiểu đoàn 3- Tiểu đoàn 2 cũng bắn hỗ trợ cho Đại đội 10.

Đến gần sáng Trung đoàn cho Đại đội 10 bỏ chốt lùi về giáp trục đường 13.

Bọn Pốt hý hửng " thừa thắng xốc tới" chúng chiếm chốt của Đại đội 10.

Tiếp tục lấn dũi chốt của Đại đội 9.

Sau một vài đợt tập kích của Pốt vào đại đội 9, ae chống trả rất quyết liệt.

Nhưng rồi cũng được lệnh bỏ chốt, về lập tuyến phòng thủ sát đường 13 phía Bắc Búa Lớn.

Như vậy là toàn bộTrung đoàn 273 đã lùi về lập phòng tuyến chốt chặn dọc đường 13 từ Bến Sỏi TớiBúa Lớn. ( Đúng ra là đường Tỉnh lộ 781 của ta nối sang đường 242 của K.

Gặptiếp đường 13 của K.

Nên ae tôi cứ thường gọi chung là đường 13).

Bọn Pót ănmừng chiến thắng đầu tiên của mùa khô 78-79.

Chúng càng dồn lực lượng vào khuvực này càng đông.

Trước diễn biết của tình hình chiến sự như vậy.

Anh em chúngtôi càng thật sự bồn chồn, lo lắng.

Song vẫn không có sự giải đáp của cấp trên.

Về phía ta, trước tình hình chiến sự mùa khô.

Sự hung hăng của Pốt.

BTL Quân đoàn 4, cũng đã chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị, mục tiêu, kế hoạch tác chiến, chiến dịch hoạt động mở màn mùa khô 78-79.

Nhiệm vụ được giao các đơn vị, sẽ tiến hành 2 bước.

Bước 1 là : Tiêu diệt các Trung đoàn, của các Sư đoàn " sừng sỏ nhất" của Pót.

Là các Sư đoàn 703-340-221 trọng tâm là tiêu diệt Sư đoàn 703.

Sư đoàn này hiện đang là lực lượng mạnh và rất hung hãn của Pốt.

Đang đối mặt với chúng ta ở khu vực Chùa Bạch Bột, phía Bắc Chóp, đường 13 và rừng Cấm Hòa Hội.

Bước 2: Đánh xuống cầu Đôn So, nếu thuận lợi sẽ phát triển lên Công Pông Trạch.

Để hỗ trợ cho lực lượng nổi dậy của bạn.

Hướng chủ yếu là khu vực Năm Căn – Rừng cấm Hòa Hội.

Hướng thứ yếu, là khu vực Sàm Rông , Bạch Bột , Tây - Bắc Chóp.

Sư đoàn 341, được giao nhiệm vụ, tổ chức cuộc phản đột kích của Pốt, trên hướng chủ yếu.

Tiêu diệt một bộ phận sinh lực của các Sư đoàn 703-340-221 của Pốt.

Phá tan âm mưu của địch ở phía Bắc đường 13.

Đánh sâu vào hậu phương của Pốt, chiếm địa bàn thuận lợi.

Mở màn chiến dịch phản công và tấn công của quân ta, trên mặt trận Biên giới Tây Nam.

Để tăng cường sức mạnh cho Sư đoàn 341.

Bộ và QĐ4, tăng cường cho Sư đoàn 341 thêm 2 Trung đoàn.

Gồm Trung đoàn 14, Sư đoàn 7.

Trung đoàn 201 của BCH Tỉnh đội Tây Ninh.

Một Tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp của Lữ đoàn 22.

Một Đại đội pháo 155 của Lữ đoàn 24.

Một Tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 25.

Cùng kết hợp với lực lượng dân quân, du kích các xã của huyện Châu Thành, dẫn đường.

Theo nhiệm vụ trên, khoảng 15-19/12.

Sư đoàn đã dần điều động 2 Trung đoàn 270 - 266 từ hướng đường 1.

Cơ động về tập kết ở các địa bàn thuộc huyện Châu Thành, phía Bắc sông Vàm Cỏ .

Phương án tác chiến cụ thể của Sư đoàn là: Dùng 2 Trung đoàn 270-266 vượt cửa mở bằng cầu phao.

Do Tiểu đoàn công binh đảm nhiệm, trên bến Cây Sao.

Luồn sâu khoảng 15km lên phía Bắc, Tây - Bắc, Năm Căn và rừng cấm Hòa Hội.

Tạo gọng kìm lớn, nhiều lớp vây chặt khu vực rừng Hòa Hội .

Chia cắt các lực lượng của Pốt.

Chốt chặn đánh địch phản kích.

Cứu nguy, giải vây cho lực lượng Pốt bị vây trong khu vực Năm Căn - Hòa Hội.

Chúng sẽ mở đường máu tháo chạy.

Trung đoàn 273 chốt chặn cứng khu vực từ Bến Sỏi lên.

Làm lực lượng tấn công vào rừng Hòa Hội từ hướng Nam, Tây - Nam.

Trung đoàn 14, cùng Trung đoàn 201, cùng lực lượng xe tăng, thiết giáp.

Đánh địch từ hướng Bắc, Tây - Bắc.

Các đơn vị xe tăng, pháo binh, công binh, cũng được giao các nhiệm vụ phối thuộc thật cụ thể.

Lúc này, các kế hoạch đánh địch muà khô 78 – 79, chỉ được phổ biến đến cấp Trung đoàn.

Nên việc rút lui từng đơn vị.

Nhất là những trận đánh trong những ngày 20/12 chỉ là nằm trong kế hoạch, nghi binh, nhử địch vào sâu hơn.

Còn kế hoạch của " mẻ lưới lớn", thì chỉ có cấp trên biết.

Còn chúng tôi, cấp Tiểu đoàn, Đại đội, không được biết kế hoạch lớn đó.

Anh em chúng tôi, chỉ thấy chiến sự ngày càng khốc liệt.

Mình đang bị Pốt ép mạnh, các Tiểu đoàn bb, vẫn phải chiến đấu rất khốc liệt và hy sinh, thương vong cũng không ít.

Nhất là Đại đội 10, Đại đội 9, Tiểu đoàn 3 đang phải làm " mồi" nhử địch.

Anh em xin pháo bắn chi viện cũng không được, càng làm cho trận chiến gay go, khốc liệt hơn.

Về phía địch, chúng cũng vẫn chưa biết được ý đồ lớn của ta.

Việc " đẩy" được chúng ta tới sát trục đường 13.

Chiếm tới 5 xã thuộc bờ Tây sông Vàm Cỏ.

Làm cho chúng thấy rằng chúng đang thế mạnh, đang ở thế thượng phong.

Nhất là trận mở màn mùa khô của chúng vào ngày 20/12/78.

Chúng nhận định là đã thu được thắng lợi lớn.

Đã tiêu diệt được 2 Đại đội của ta, đẩy tiếp ta lùi thêm 1 bước nữa.

Chúng đã điều nốt 2 Trung đoàn 32-33 của Sư đoàn 703 đến khu vực này.

Tiểu đoàn 1 và Đạiđội tôi, như vậy là đang ở vị trí chốtgiữ rất quan trọng.

Đã có nhiều kinh nghiệm chốt giữ.

Nên anh em tích cực củngcố hầm hào.

Tăng cường đề cao cảnh giác, đề phòng sự tấn công ồ ạt của chúng.Cho đến ngày 21 - 22/12 vẫn chưa được phổ biến nhiệm vụ cụ thể.

Nên ae vẫnkhông biết được ý đồ lớn của cấp trên.

Bọn Pốt đã thật gần, chúng đã gióng súng12,7ly ra tận mép rừng.

Cách chúng tôi khoảng mấy trăm mét, bắn khống chế, uyhiếp đường 13 và các chốt của ta.

Đại đội xin chỉ thị, bắn cối 60 để xua đuổi,tiêu diệt bọn 12,7.

Chiến sự nơi đây đang diễn ra vô cùng căng thẳng, thật sựnóng bỏng.

Độ nóng theo thời gian tăng lên từng giờ.

Sức nóng của chiến sự càng tăng, trong ngày 21 và 22/12.

Khi mà Pốt bắt đầu khiêu chiến trực tiếp các chốt của Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 1 sát đường 13.

Chúng đặt DKZ và 12,7 ly bắn xăm vào các chốt.

Pháo binh của chúng, đã bắn dọn đường, uy hiếp khu vực Búa Lớn, Bến Sỏi, vào sâu trong huyện Châu Thành, Thị xã Tây Ninh ngày càng nhiều.

Anh em chúng tôi thấy lo lắng, thật căng thẳng và rất bức xúc.

Đại đội, Tiểu đoàn dùng cối 60, cối 82, bắn vào trong rừng.

Nơi có các lực lượng của Pốt đang chiếm giữ.

Tiểu đoàn cũng cho 12,7 ly, đại liên bắn vào rừng.

Nhưng Trung đoàn chỉ thị bắn tiết kiệm đạn.

Không được phép sử dụng đạn nhiều, chỉ bắn răn đe là chính.

Khu vực Búa Lớn đang hầm hập, nóng bỏng, vì các loại tiếng nổ của các loại súng ta và Pốt.

Chốt ở đây, chúng ta đang có lợi thế là bám vào trục đường 13.

Địa hình nơi này, lại cao hơn hẳn khu vực rừng Hòa Hội.

Chiến thắng của trận 1/10 vẫn còn hưng phấn, trong tinh thần cán bộ, chiến sỹ Đại đội 1 và Tiểu đoàn.

Tiểu đoàn mấy lần xin được tấn công vào rừng Hòa Hội.

Nhưng vẫn chưa được cấp trên đồng ý.

Trung đoàn chỉ nhắc lại nhiệm vụ: Tiểu đoàn 1 , Tiểu đoàn 3 phải chốt thật cứng không có đường lùi.

Không được phép để Pốt vượt qua đường 13.

Vì thế, những lúc ngưng tiếng súng, tiếng pháo, là anh em lại tiếp tục củng cố hầm hào, đào công sự, đào thêm hố bắn.

Cho đến tối ngày 22/12 tình hình mới được cải thiện.

Khi mà các đơn vị tăng, thiết giáp cơ động, dịch đội hình lên qua Búa Lớn.

Các đơn vị của Trung đoàn 273, mới được thông báo sẵn sàng tấn công địch.

Anh em tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng cũng vẫn chưa được biết ý định, kế hoạch tổng thể của chiến dịch.

Trong khi tình hình bên bờ Tây sông Vàm Cỏ thì nóng như vậy.

Còn lúc này ở bên bờ Đông sông Vàm Cỏ, thuộc khu rừng xã Phước Vinh, huyện Châu Thành.

Từ khu vực ngã ba " Lựu đạn" đến bến Cây Sao thì lại khác.

2 Trung đoàn 266-270, các ae Công binh, đang vội vã, khẩn trương cao độ.

Đang tập trung chuẩn bị cho đêm luồn sâu đánh địch.

Khu rừng Phước Vinh đầy người, cùng xe pháo và các loại vật liệu thùng phi, Pôngtoong, thanh ván, dây cáp làm cầu phao.

Nhiều đơn vị phối hợp, phối thuộc, nên dây thông tin chằng chịt như mắc cửi.

Vì tất cả chỉ được dùng TT hữu tuyến.

Dọc ra tới bờ sông, các chiến sỹ Tiểu đoàn công binh, đang bí mật rà gỡ mìn.

Dọn bãi, đưa pháo 105 ly và pháo 85, pháo 155 vào chiếm lĩnh trận địa.

Đêm 22/12, trời hôm đó thật tối.

Tiểu đoàn 9, bí mật vượt sông bao vây Phum Tà Miên.

Chốt chặn, bảo vệ cho Tiểu đoàn công binh ghép cầu phao.

Gần 1h sáng ngày 23/12 cầu phao đã bắc xong.

1h15 ngày 23/12, Tiểu đoàn 9 bất ngờ đánh chiếm Phum Tà Miên.

Mở thông đầu cửa mở làm hành lang cho 2 Trung đoàn hành tiến luồn sâu.

Dẫn đầu đội hình, là các đ/c Trinh sát.

Được sự dẫn đường của anh em du kích.

Trực tiếp người ở địa phương, nên rất thuộc địa hình khu vực này.

Toàn đội hình của 2 Trung đoàn gấp rút hành quân.

Vượt rừng thưa, lội ruộng và các kênh rạnh chằng chịt, của hệ thống kênh Rạch Nàng Dinh.

Tiến sâu vào đất địch, tạo thế bao vây nhiều lớp khu rừng cấm Năm Căn - Hòa Hội.

Chia cắt lực lượng phía trước và phía sau của Pốt.

Đến lúc này, đài kỹ thuật ban Hai của ta, nhận được điện của chúng cho biết: Chúng vẫn chưa biết được kế hoạch đánh lớn của ta.

Chúng vẫn đang nghĩ: là lực lượng đánh Phum Tà Miên chỉ là lực lượng nhỏ của ta.

Phía Tây- Tây Bắc rừng Hòa Hội, Trung đoàn 14 của Sư 7.

Trung đoàn 201,cũng đã được lệnh sẵng sàng xuất kích.

Sự phối hợp chuẩn bị của trận đánh lớnđã rất thuận lợi, giờ G đang tới gần.

Sấm chớp, giông bão của ý chí, của mưulược nghệ thuật quân sự.

Của sức mạnh tổng hợp Quân đội ta, chuẩn bị nổi lên.Với sức mạnh vô song của Thần Thánh.

Trút hờn căm, trút bão lửa xuống đầu bọnPốt man rợ.

Đằng Đông đang ửng hồng, trời đã rạng sáng.

Giờ G đến rất gần.

Trời tảng sáng, nhưng ở những khu vực rừng thì vẫn còn tối.

5h20 phút, các lực lượng luồn sâu báo cáo: đã vào được các vị trí cần đến.

Các đơn vị đang điều chỉnh lực lượng cho phù hợp nhiệm vụ.

Vì theo như kế hoạch, Trung đoàn 270-260 đều phải chia lực lượng tấn công vào 2 hướng.

Hướng 1 là đánh vào sâu đất địch.

Chốt giữ ở những vị trí thuận lợi quan trong.

Củng cố hầm hào đánh bọn trong "nội địa" phản kích.

Hướng 2 là đánh ngược trở lại phía Việt Nam.

Nơi có các đơn vị của Pốt đang đứng chân.

6h sáng, các hướng đánh đã vào đúng vị trí.

Giờ G đến!

Lệnh pháo bắn.

Ùng - ùng – ùng ...Các loại pháo 155 ly, 105 ly, pháo 85, pháo 22 nòng dài.

Từ các trận địa pháo ở khu rừng Phước Vinh.

Khu vực bờ Đông sông Vàm Cỏ, phía Bến Sỏi.

Cùng lúc gầm vang, tiếng nổ đầu nòng của pháo rền, đanh, vang như sấm.

Đạn bay vo vo qua đầu chúng tôi vào sâu trong đất K.

Vào trong khu vực rừng Năm Căn - Hòa Hội.

Pháo binh cấp tập bắn chế áp 35phút.

Đúng 6h35 phút lệnh cho các đơn vị bb xung phong.

Tiến công địch các hướng.

Khắp các khu vực rộng lớn Năm Căn - Hòa Hội, vỡ òa trong tiếng pháo, của tiếng nổ các loại súng.

Tiếng hô xung phong của anh em bb Trung đoàn 266-270.

.

Mũi tiến công của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 266 tấn công thẳng vào sở chỉ huy Trung đoàn 31, thuộc Sư đoàn 703, ở khu vực Năm Căn.

Sau gần 1 giờ chiến đấu, anh em tiêu diệt được rất nhiều Pốt.

Bắt sống được 22 tên, thu gần 100 súng các loại.

Tiểu đoàn 8, tiến công vào Phum Xa La.

Đánh trúng cơ sở Hậu cần của Sư đoàn 703.

Bọn Pốt không kịp đốt kho hàng.

Nhưng tại trạm quân y, chúng đã kịp xuống tay.

Đập chết các thương binh của chúng, trước khi tháo chạy.

Hành động của bọn này thật ghê sợ.

Trung đoàn 270, đã tiến công bằng nhiều hướng.

Làm chủ ngã 3 đường 24 và khu vực Đông - Bắc ngã 3 này.

Tiểu đoàn 4, kết hợp với xe thiết giáp từ khu vực đường 13 đánh tạt sang.

Lực lượng Pốt ở đây, sau một lúc chống trả, đã vất bỏ nhiều trang bị vũ khí chạy tháo thân vào rừng.

Để lại rất nhiều xác chết.

Cùng lúc Trung đoàn 14, cũng tiến công địch và làm chủ khu vực Ba Tra 1.

Trung đoàn 201 đã nâng đội hình khu vực Phú Lợi.

Lúc 13h cùng ngày, Sư đoàn 2 kết hợp tấn công đã đánh lên, chiếm khu vực Nam - Sàm Rông.

Như vậy là thế trận vòng cung vây gọn phía sau, các Trung đoàn trong khu vực Năm Căn - Hòa Hội.

Nơi chúng đang tập kết, ý định tiến công khu vực đường 13 - Búa Lớn - Bến Sỏi.

Ta đã chia cắt được hoàn toàn các Trung đoàn tiên phong của Pốt.

Với chỉ huy Sư đoàn của chúng.

Ta cũng đã chiếm được cơ sở hậu cần, chiến dịch của Pót ở Bắc đường 24.

Đến chiều, lúc 15h ngày 23/12 bộ chỉ huy của Pốt điện cho các đơn vị của chúng: Ngừng tiến công vào đường 13, để quay về, tập trung lực lượng đối phó với ta.

Nhưng như thế thì đã quá muộn màng.

Còn đâu " đường về quê mẹ" nữa.

Mà các nẻo đường chính, đã có các lực lượng của ta chốt giữ.

Lúc này, ở bộ chỉ huy chiến dịch.

Các Tướng lãnh và các chỉ huy Sư đoàn, cùng các cơ quan tham mưu, tác chiến.

Mới thật sự thở phào nhẹ nhõm.

Rồi nhận định tình hình địch như sau:

Một là: Chúng tập trung lực lượng mạnh phản kích từ ngoài.

Phá thế vây hãm của ta ở khu vực ngã 3 đường 24.

Kết hợp với lực lượng trong rừng, ở Năm Căn- Hòa Hội đánh phá, mở vòng vây rút quân bảo toàn lực lượng.

Hai là: Dùng các mũi nghi binh, phản kích bên ngoài.

Tạo điều kiện cho các LL bên trong, phân tán luồn lách trốn khỏi vòng vây.

Ba là: Lực lượng bên trong cụm lại cầm cự.

Chờ lực lượng bên ngoài chi viện.

Hợp lực giữ vững địa bàn Năm Căn Hòa Hội, chờ thời cơ tiếp theo.

Song, qua phân tích, bản chất và cách dùng binh của Pốt.

Chúng thường "tránh né, tránh mạnh, đánh yếu, bảo toàn lực lượng" nên khả năng chúng sẽ chọn phương án 2.

Nên bộ tư lệnh Sư đoàn, lệnh cho các Trung đoàn nhanh chóng tiến công địch trong vòng vây.

Kiên quyết ngăn chặn sự chi viện của chúng từ bên ngoài.

Ngày 23/12 khicác mũi đã tiến công, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 1, Đại đội tôi vẫn làm nhiệm vụchốt giữ cứng khu vực đảm nhiệm.

Các loại cối 60, cối 82, được lệnh bắn uy hiếpvào trong rừng.

Lúc này, mọi người mới được biết toàn bộ kế hoạch của chiếndịch đầu mùa khô này.

Đúng theo phán đoán của trên.

Đêm 23/12 bọn chỉ huy Pốt cho Trung đoàn 21, Trung đoàn 13.

Từ trong rừng Năm Căn - Hòa Hội.

Đánh phá các khu vực trong vòng vây.

Ý đồ cầm cự, bảo toàn trang bị, giữ căn cứ.

Chờ chi viện bên ngoài giải thoát.

Riêng Sư đoàn 703, chúng cho phép Trung đoàn 31, phân tán đội hình.

Luồn lách qua các chốt của ta về phía sau.

Về quy tụ ở Công Pông Trạch.

Chính vì thế, ngay đêm đầu tiên, bọn lính Sư đoàn 703 đã tìm đường "chuồn".

Suốt đêm, các hướng của vòng vây quân ta, đều gặp địch.

Tiểu đoàn nào cũng " đơm" được nhiều Pốt, thu được vũ khí, hoặc bắt được tù binh.

Chúng đã bắt đầu như cá trong lưới vây, tìm đường thoát.

Ngày 24/12 Sư đoàn tiếp tục cho các đơn vị tiến công khu vực Đây Xoài.

Khu vực Tây Nam, Năm Căn.

Trung đoàn 273 bắt đầu được lệnh rời chốt.

Xuất kích, tấn công tứ hướng Bến Sỏi - Búa Lớn - Đường 13.

Sau một đợt pháo, cối vào rừng.

Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 bắt đầu đánh tràn vào rừng Hòa Hội.

Tiếng hô như bị kiềm chế từ lâu.

Nên được lệnh xuất kích, lại từ trên cao lao xuống, tiếng hô, tiếng súng của tất cả mọi người vang gầm trời.

Đại liên đùng - đùng - đùng, 12,7 thùng - thùng thùng bắn uy hiếp vào rừng, rồi bắn lên cao lấy khí thế cho bb xung phong.

Ai cũng làm mấy loạt súng vào bìa rừng lấy khí thế tiến công.

Tiểu đoàn 2, kết hợp cùng xe bọc thép tấn công tử hướng Tây rừng Hòa Hội.

Trước sức tiến công như vũ bão của Trung đoàn 273.

Bọn Pốt sau một hồi chống trả, rồi cũng bỏ 12,7, đại liên và Đkz.

Cùng một số xác chết chạy sâu vào rừng.

Các Tiểu đoàn của Trung đoàn 273 dàn hàng ngang tiến quân.

Cũng ngày 24/12 ở Ngã 3 đường 24.

Bọn Pốt kết hợp với xe thiết giáp, tổ chức phản kích vào các chốt của Tiểu đoàn 5.

Nhưng sau vài lần tấn công, không lấy được chốt.

Lại bị thiệt hại nhiều, Tiểu đoàn 5 bắn cháy 2 xe bọc thép.

Khiến chúng dừng lại, không dám tiến công nữa.

Mà chỉ ở đằng xa bắn pháo, bắn ĐKZ vào các chốt.

Sau khi tổng hợp tình hình, Thiếu Tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4.

Chỉ thị cho Sư đoàn trưởng Vũ Cao là: "Thời cơ tiêu diệt địch là đây.

Phải vây chặt, phải tích cực truy quét hơn nữa.

Không được để địch phá vòng vây chạy thoát".

Theo lệnh của Quân đoàn.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao, đã điều chỉnh lại thế bao vây.

Trung đoàn 266 vừa đánh địch, vừa dịch chuyển đến bờ sông Vàm Cỏ.

Trung đoàn 270 vừa chốt đánh địch phản kích, vừa tạo thế bao vây hướng Tây - Tây Bắc.

Trung đoàn 273 phát triển từ hướng Tây - Tây Nam Bến Sỏi, Búa Lớn vào sâu trong rừng.

Các Trung đoàn 14, Trung đoàn 201 các Tiểu đoàn Thông tin, Trinh sát, Công binh, rải quân, chốt chặn dọc sông Vàm Cỏ, đề phòng chúng liều lĩnh vượt sông.

Nhìn trên bản đồ, các vòng vây thì kín.

Nhưng khu vực này, là khu rừng rộng lớn hàng trăm km2.

Nên việc truy lùng và vây hãm cũng còn nhiều kẽ hở.

Mà bọn Pốt vẫn luồn lách, tránh né được.

Sau khi đã vất hết các trang thiết bị, kho tàng, súng đạn nặng.

Chính vì thế mà các đ/v truy quét tìm diệt bọn Pốt rất vất vả, mệt nhọc.

Một số nhóm Pốt bị vây chặt quá, thì điên cuồng chống trả, chứ không chịu hàng, trong đó có cả lực lượng thanh niên xung phong của chúng.

Có những trận chiến rất khốc liệt, đã xảy ra giữa ta và bọn Pốt tử thủ.

Hướng Tiểu đoàn 1 và Đại đội tôi.

Ngày 25/12 gặp một toán Pốt mấy chục tên.

Chúng co cụm chiến đấu, rất điên cuồng.

Khi thấy đã không còn đường thoát, thằng thì lao chạy lung tung.

Một số thì rút lựu đạn tự sát, trong số tự sát, có cả các nhóm là nữ.

Cũng là lính Pốt, hay thanh niên xung phong.

Chết trong tư thế ôm nhau chung một quả lựu đạn.

Nhìn những người phụ nữ, những tên lính cuồng tín, mặc váy, tóc cắt ngắn kiểu phụ nữ Trung Quốc còn trẻ.

Máu me đầy người, trông thật xót xa, thật tội nghiệp.

Có Đại đội, truy quét gặp cả toán trai gái.

Chúng chạy cuống cuồng.

Không có đường thoát, liền cầm tay nhau cùng nhẩy xuống sông.

Như vậy sông Vàm Cỏ Đông, không phải chỉ nhấn chìm tầu giặc Pháp.

Mà giờ đây, lại nhấn chìm bao giặc Pốt man rợ.

Đêm 25/12, Đạiđội tôi chốt trong rừng.

Lúc này chỗ nào cũng có địch.

Nhưng anh em thường xácđịnh, hướng đất K vẫn là hướng chốt chính.

Vì vậy một số anh em hậu cần ở phíasau.

Đêm quá mệt, anh em mắc võng ngủ.

Bọn Pốt mò tìm đường ra, mò đúng vào bộphận anh nuôi của Đại đội.

Một đ/c anh nuôi thấy động, hé mắt nhìn thấy chúngvén màn của đ/c khác.

Thật hồi hộp, nhưng cũng không dám kêu.

Bọn Pốt cũng đãphát hiện ra là bộ đội ta.

Nhưng cũng không dám làm gì, lẳng lặng bỏ đi tìmđường thoát.

Qua cơn hoảng, đ/c anh nuôi vùng dậy hô Pốt - Pốt tất cả vùng dậybắn loạn xạ một lúc.

Rồi từ đó không ai dám ngủ.

Không ai giám xác định đâu làphía sau, đâu là phía trước nữa.

Ngày 25/12, các Trung đoàn 266-273-14 vừa vây quét các khu vực Xóm Mới, Đây Xoài, Ba Tra 1, Ba Tra 2.

Các đơn vị chia ô tọa độ truy quét.

Chiến thuật này rất hiệu quả, đã truy tìm được nhiều toán Pốt lẩn khuất.

Chúng nhanh chóng bị tiêu diệt, hoặc bị bắt làm tù binh.

Địch đã cùng đường, không còn nghĩ đến đánh trả trong vòng vây như lúc đầu nữa.

Chiều ngày 25/12, Sư đoàn 221 điện xin cấp trên của chúng, cho phá hủy, chôn giấu vũ khí, súng đạn nặng để rút.

Được tin trên qua đài kỹ thuật, BTL Sư đoàn 341, lệnh cho các đơn vị, khép chặt đội hình.

Bao vây chặt ngay trong đêm, để tiến công vào các mục tiêu cuối cùng.

Đêm tối, trong rừng lại càng tối.

Măc dù mấy ngày liên tục quần đảo, truy quét tìm diệt Pốt đã rất mệt.

Các đơn vị vẫn phải tỏa rộng ra các hướng, để phục kích đón lõng địch.

Cơ quan chính trị, và chiến sỹ địch vận, sử dụng du kích địa phương biết tiếng K, kêu gọi địch ra hàng.

Sáng ngày 26/12 trên hướng Trung đoàn 201.

Bọn địch bắt liên lạc với ta, đề nghị ngừng bắn.

Để chúng cử đại diện ra gặp.

Sau khi gặp gỡ, hiểu được chính sách khoan hồng của ta.

Trước tình cảnh không còn đường thoát.

Hàng trăm tên lính đã lục tục ra hàng.

Chúng ta được lệnh, đối xử tốt với số hàng binh này.

Cũng trong ngày 26/12, Trung đoàn 266 và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 273.

Vượt qua rạch Nàng Dinh.

Đánh chiếm khu vực Bến Chùa, Tà Hét.

Các Trung đoàn 14, Trung đoàn 201, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273 vẫn truy lùng, truy diệt địch trong rừng.

Ngày 27/12, Trung đoàn 266, được lệnh tiến công vào cao điểm 17.

Đây là vị trí cuối cùng của địch, đang lấn chiếm trái phép đất ta, ở khu vực Năm Căn- Hòa Hội.

Sau hơn 1h chiến đấu quyết liệt.

Quân ta đã tiêu diệt được rất nhiều Pốt và làm chủ điểm cao này.

Trong những ngày này, các đơn vị của ta và địch, cứ như chơi trò trốn tìm trong rừng.

Thấy bóng bộ đội ta, là các tốp Pốt chạy chỗ nọ sang chỗ kia.

Có tốp liều mạng vượt bơi qua sông Vàm Cỏ sang đất ta.

Hoặc chạy vòng vèo mãi, rồi lại tới ngay khu vực Cầu Phao công binh ở bến Cây Sao.

Rồi kết cục đều bị các lực lượng bộ đội, du kích Phước Vinh, Huyện Châu Thành bắt giữ.

Trong số này, chúng ta bắt được cả tên Sư đoàn phó, Sư đoàn 340 của Pốt.

Cùng một số tùy tùng, đang trốn trong rừng, cạch nương sắn của dân.

Tối, đêm ngày 26-27-28, hướng đất K bọn Pốt bắn pháo hiệu và đạn vạch đường suốt đêm.

Để định hướng cho bọn trốn chạy, quy tụ về Công Pông Trạch.

Đến hết ngày 28/12 khi không còn hy vọng cứu thoát bọn trong vòng vây.

Cùng những đợt tấn công các chốt của ta, ở khu vực đường 24.

Đều không mang lại kết quả, mà lại còn bị tổn thất nặng nề.

Bọn Pốt được lệnh rút về lập phòng tuyến phòng thủ đường 10.

Thế là ý định mùa khô 78-79, đánh chiếm thị xã Tây Ninh của Pốt tan thành mây khói.

Tết dương lịch năm 1979 bọn Pốt, không có được múa Lăm Thon, "ăn mừng chiến thắng" chiếm thị xã Tây Ninh theo kế hoạch.

Mà nhân dân Tây Ninh, được chứng kiến những toán tù binh, hàng binh áo đen.

Mặt mày xám ngoét, bẩn thỉu, đầu quấn khăn rằn loang lổ.

Ủ rũ, lê bước nặng nề vào các trạm giam cho chúng.

Trong số này, có cả tên Sư đoàn phó, Sư đoàn 340.

Đã bị bắt ở trong khu rừng Phước Vinh, cạnh nương sắn.

Như vậy kếhoạch, chiến dịch mùa khô 78-79 của chúng.

Cùng bọn quan thầy bành trướng, vớimục tiêu chính, đầu tiên là: Đánh chiếm thị xã Tây Ninh, núi Bà Đen.

Bị ta bẻgẫy và đập cho tan tành.

Cũng là chấm hết, cái ý đồ xâm lược của chúng dọc miềnBiên giới Tây Nam tổ quốc ta.

Cũng thêm những chi tiết vui nữa là: Trong nhữngngày tiếp theo, khi quân ta đã giúp LL Cách mạng của bạn.

Tấn công giải phóngNông Pênh rồi.

Mà ở khu vực rừng Năm Căn, Hòa Hội.

Khu vực rừng Phứơc Vịnh bênbờ Đông sông Vàm Cỏ.

Vẫn còn lẻ tẻ những tên Pốt bị bắt, hoặc ra hàng.

Khi aeta nói là đã giải phóng Nông Pênh ngày 7/1/79 rồi mà chúng vẫn không tin.

Vinh dự và tự hào thật là vẻ vang.

Bao lớp người đã trưởng thành.

Nhưng "chiến tranh đâu phải trò đùa".

Đã có biết bao xương máu của những người cán bộ, chiến sĩ đã đổ xuống.

Đã hy sinh cuộc đời, cho Tổ quốc Mẹ hiền kính yêu.

Khi tuổi đời còn rất trẻ.

Biết bao người đã phải mang theo thương tật suốt đời.

TP cũng không được phép thống kê số liệu hy sinh, bị thương ở đây.

Chỉ biết rằng con số không nhỏ như chúng ta đã biết.

TP kể lại suốt chặng đường 457 ngày đêm chiến đấu của Sư đoàn 341.

Cũng đã phần nào nói lên sự gian khổ, sự khốc liệt và sự hy sinh đó.

Mà ngay trong thế hệ của chúng ta, cũng còn nhiều người chưa thấy hết được ý nghĩa to lớn của sự hy sinh lớn lao đó !

TP thật sự đã cảm thấy nhẹ lòng.

Như là làm được việc gì đó, thật ý nghĩa với ae, với đồng đội.

Nhất là với các đ/c đã hy sinh vì:

" ĐỘC LẬP TỰ DO CỦA TỔ QUỐC"

Giờ đây nắng đã bừng lên!

Cuộc sống đã thanh bình.

Đất nước đã trọn niềmvui.

Các em nhỏ dọc miền biên cương lại được xúng xính trong bộ đồng phục mới,tung tăng, cắp sách đến trường, với nụ cười thơ trẻ thắm trên môi.

Dọc miềnBGTN của Tổ Quốc không còn bóng dáng của lũ quỷ áo đen tàn ác.

Chiến thắng nàygóp phần làm cho các linh hồn của đồng bào ta dọc miền biên giới bị chúng tànsát dã man, được nhẹ nhàng siêu thoát.

Cuộc chiến tranh BGTN đã coi như kếtthúc sau trận chiến đấu và thắng lợi ở NĂM CĂN, HÒA HỘI Thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đólà bước ngoặc, là dấu chấm hết và chúng ta đã giành chiến thắng lẫy lừng.

Chiếnthắng này, được ví gần như là dấu ấn của trận "Điên Biên Phủ".

Kếtthúc cuộc chiến tranh BGTN.

Nhưng cũng vì những vấn đề tế nhị, nên chúng takhông được tuyên truyền về chiến công, chiến thắng này nhiều.

Tôi còn nhớ, đúng ngày này của 33 năm trước.

Ngày 28/12 khi chiến dịch mùa khô 78-79.

Mà trận đánh mở màn tiêu diệt quân Pốt, lấn chiếm khu vực 5 xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Với ý đồ ngông cuồng, vượt sông Vàm Cỏ Đông.

Đánh chiếm thị xã Tây Ninh, Núi Bà Đen.

Đã hoàn toàn thắng lợi.

Thắng lợi hơn cả sự mong đợi của các cấp chỉ huy.

Cùng anh em cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341.

Cùng các Trung đoàn 201, Trung đoàn 14.

Các Tiểu đoàn Công binh, Pháo binh, Xe tăng, Thiết giáp.

Cùng các đơn vị phối thuộc khác.

Cùng LL dân quân du kích, bộ đội địa phương huyện Châu Thành.

Trận đánh cũng kết thúc đúng vào ngày 28/12 .

Ngày 28/12/78.

Đất trời Năm Căn - Hòa Hội, chan hòa ánh nắng.

Bầu trời nơi biên cương như đẹp hơn, xanh hơn, cao hơn, lộng gió hơn.

Miền biên cương thanh bình, sau những ngày giông tố, bão lửa hờn căm.

Của tiếng súng, tiếng pháo, tiếng hô xung phong.

Sức mạnh của nghệ thuật quân sự, ý chí, truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc.

Như sức mạnh vô song của Thánh, của Thần công lý, giáng lên đầu thù.

Dòng sông Vàm Cỏ Đông lại trong xanh, hiền hòa, uốn chảy.

Nhưng đã có lúc nước sông nơi đây nổi giận.

Nước đã: "Dựng thành đồng".

Đã dìm bao xác thù.

Những nhành lan rừng tỏa hương.

Những bông mai vàng rực rỡ, sớm nở, khoe sắc.

Đón chào chiến thắng trong niềm hân hoan, vui mừng tột độ của quân và dân Tây Ninh.

Cùng các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 4.

Cùng vinh dự lớn lao, khúc khải hoàn ca, dành tặng cho các chiến sĩ Sư đoàn 341 Anh Hùng.

Chỉ 5 ngày đêm liên tục chiến đấu.

Sư đoàn 341, Đoàn bb Sông Lam, được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ và BTL Quân đoàn 4.

Cùng sự phối hợp nhịp nhàng, của các đơn vị bạn.

Đã đập tan 3 Sư đoàn (703-340-221) của Pốt.

Chúng định dùng các đơn vị này, đánh vào hướng thị xã Tây Ninh.

Tiêu diệt và làm tan rã 3 Trung đoàn.

Trung đoàn 31 của Sư đoàn 703.

Trung đoàn 23 của Sư đoàn 340.

Trung đoàn 13 của Sư đoàn 221.

Tiêu diệt hơn 1000 tên.

Bắt sống hàng 100 tên, cùng một số hàng binh.

Thu được gần 1000 khẩu súng các loại.

Thu được 5 ô tô, 14 máy thông tin vô tuyến.

Bắn cháy gần chục chiếc tăng và thiết giáp.

Phá hủy nhiều kho hàng cùng vũ khí, phương tiện chiến tranh của Pốt. ( theo thống kê chiến tích của Sư đoàn 341).

Trận đánh Năm Căn, rừng Hòa Hội tuy ngắn.

Nằm trong chiến dịch mùa khô 78-79.

Nhưng ý nghĩa thắng lợi là vô cùng lớn lao.

Nó không dừng lại ở ý nghĩa tiêu diệt địch và thu hồi vũ khí của Pốt, bắt sống được nhiều tù hàng binh.

Giành lại các vùng đất rộng lớn bên bờ Tây sông Vàm Cỏ Đông.

Đã bị bọn Pốt lấn chiếm.

Cũng không phải chỉ ở ý nghĩa, là chúng ta đã bẻ gẫy một mũi nhọn.

Trong kế hoạch mùa khô của địch.

Mà còn có một ý nghĩa sâu xa, to lớn hơn nhiều.

Đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ủy viên BCT, Bộ trưởng bộ Quốc phòng, đã nhận định thắng lợi này.

Trong báo cáo của Chính phủ, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 6 là:

" Chúng ta, đã đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của bọn xâm lược Pôn Pốt – IengXaRi.

Quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi oanh liệt.

Lập lại hòa bình trên Biên giới Tây Nam Tổ Quốc.

Dập tắt lò lửa chiến tranh, rất nguy hiểm ở phía Tây Nam nước ta"..

Đại đội 1, trong những ngày này, anh em tôi thật vui.

Hòa trong cái niềm vui thắng trận của Sư đoàn.

Đơn vị được lệnh, dừng chân, chốt giữ tại khu rừng, giáp Biên giới phía Tây của Năm Căn - Hòa Hội.

Khu vực này đã thật thanh bình, im tiếng súng.

Tới ngày 31/12 thì đơn vị được lệnh: Chuẩn bị tiến công sâu vào đất địch, theo tiếng cứu gọi của "Bạn".

Của nhân dân Cămpuchia, của dân tộc Khơme.

Mọi người lại bắt tay vào chuẩn bị cho trận chiến mới.

Riêng tôi thì được lệnh điều động lên BCT Trung đoàn nhận nhiệm vụ mới.

Chiều ngày 31/12/78 khi hoàng hôn gần tắt.

Tôi bịn rịn, bắt tay và ôm hôn từng anh em trong BCH.

Từng anh em cán bộ, chiến sĩ trong Đại đội.

Những lớp người đã cùng tôi sống và chiến đấu 457 ngày, dọc miền biên giới Tây Nam.

Cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đói, khát, lội sình, lội ruộng thâu đêm.

Để làm nên chiến thắng.

Có biết bao lớp cán bộ, chiến sĩ, đã đổ máu hy sinh.

Mang theo trên mình thương tật suốt đời.

Họ đã cùng tôi, tô thắm thêm truyền thống của Đại đội, của Tiểu đoàn.

Cao hơn nữa là truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm.

Đánh giặc, giữ nước của Quân đội Việt Nam anh hùng, dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tôi khoác bồng, vaiđeo súng về BCT Trung đoàn, trong sự bất ngờ, bịn rịn, nuối tiếc của anh em vàBCH Đại đội.

Tôi bước đi khi tia nắng cuối ngày gần tắt.

Một cảm giác buồn đếnkhó tả.

Câu hát: "Chiều biên giới em ơi" bỗng đâu chợt đến.

Thật xao xuyến,thật dịu ngọt thiết tha, nhớ nhung và cũng thật.... buồn.ám xác định đâu làphía sau, đâu là phía trước nữa.

--------

TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG PHNOMPENH:

Tôi về tới BCT Trung Đoàn thì trời đã tối.

Đ/c Đặng Văn Lưa, Chủ nhiệm chính trị Trung Đoàn, cùng đ/c Trần Đình Tuấn, Trưởng tiểu ban Cán bộ, rất vồn vã, bắt tay, hỏi tôi, khi tôi chưa kịp chào.

Ông Phú C1 hở?

Sao lên trễ thế?

Tôi chưa kịp trả lời, thì đ/c Lưa lại nói luôn: Tình hình gấp lắm.

Nhiệm vụ của Trung đoàn phải tấn công sâu vào đất địch.

Nên nhiều công việc phát sinh, nhất là vấn đề quan hệ với dân.

Với lực lượng CM của bạn.

BCT điều ông, cùng ông Văn CTV Đại đội 4, đã lên từ hôm qua.

Để thành lập Tiểu ban Dân địch vận Trung đoàn, tách khỏi Tiểu ban tuyên huấn.

Trước mắt, có ông Văn và ông cùng mấy đ/c phiên dịch.

Sơ bộ các công việc và nhiệm vụ cụ thể giao ban sẽ nói sau.

Từ bây giờ ông là Trợ lý dân địch vận của Ban chính trị Trung đoàn.

Nhiệm vụ mới, nhiều lạ lẫm, nhưng rồi sẽ quen dần.

Bây giờ ông có ý kiến gì không?

Nếu không, thì ông Tuấn dẫn ông Phú về giới thiệu với ae.

Tranh thủ ăn tối, làm quen với mọi người trong Ban chính trị.

Tôi phải đi nhận nhiệm vụ ở Trung đoàn.

Có hầm lán tạm, ở đây cũng phải canh gác cho tốt nhé.

Đ/c Chủ nhiệm nguyên là lính trinh sát.

Gốc người Hà Bắc, là cán bộ Chính trị nhưng tác phong vô cùng nhanh nhẹn như cán bộ Quân sự.

Không dài dòng hoa mỹ trong giao tiếp, nhưng trao đổi nhiệm vụ, rất đầy đủ và tỷ mỷ.

Cái tính cách và tác phong đó, tôi đã thật sự ngưỡng mộ và quý trọng anh ngay từ lần gặp đầu tiên, trong trận đánh luồn sâu cuối năm trước.

Anh đã chỉ huy, động viên ae chiến đấu giữa vòng vây của Pốt.

Tôi không nói gì nhiều, chỉ hứa sẽ làm tốt nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ mới, có nhiều bỡ ngỡ.

Mong được sự giúp đỡ.

Rồi tôi cùng đ/c Tuấn về khu vực hầm lán của Ban chuyện trò làm quen với anh em.

Anh em trong BCT chào đón tôi rất sôi nổi.

Tôi chợt nghĩ đúng là cơ quan Chính trị có khác.

Ai cũng nói năng, chào hỏi đâu ra đấy.

Anh Văn thấy tôi thì vô cùng mừng, vì 2 anh em ở cùng Tiểu đoàn, cùng tuổi, cùng nhập ngũ, lại cùng quê Thái Bình.

Anh Văn mang hàm Trung úy Chính trị viên trưởng Đại đội 4.

Là người rất có tâm hồn, có khiếu về thơ ca.

Tôi còn nhớ những năm huấn luyện ở Vĩnh Linh- Quảng Trị.

Anh có làm bài thơ nói về người lính, tả cho người yêu về phong cảnh nơi ấy có đoạn là:

Em ơi!

Em có biết?

Tim hồng anh đang say

Những chiều hè mây bay

Dải Trường Sơn hùng vĩ....

Những lúc ở chốt, chiến sự không căng thẳng.

Tôi thường đến Đại đội anh, nhâm nhi chén trà, chén rượu.

Đàm đạo thơ văn, nhân tình thế thái.

Hay nói chuyện tình yêu, tìm hiếu về khác giới vv....

Giờ đây hai anh em lại được cùng về ở một Tiểu ban.

Anh Văn được phân công là Trưởng tiểu ban Dân dịch vận.

Như vậy, Tiểu ban gồm có anh Văn, tôi và 3 đ.c mới đi học lớp phiên dịch tiếng K cấp tốc về.

Với tôi, đâycũng là một bước ngoặt của đời quân ngũ.

Nó gần giống như là bước ngoặt của đầunăm 1975.

Khi Sư đoàn nhận lệnh đi chiến đấu tại miền Đông Nam Bộ.

Tôi cũngđược điều động từ Tiểu đội cối 60 của Đại đội 3, lên làm Trợ lý chính trị Tiểu đoàn, như tôi đã kể ở phần1.

Chính sự điều động này, cũng là may mắn cho tôi trong đời lính chiến.

Cònlần này thì chưa biết thế nào đây?

Cho đến cuối năm 1978.

Bè lũ PonPốt-IêngXaRy, theo sự chỉ đạo của quan thầy Bành Trướng, điên cuồng điều động 19 Sư đoàn quân chủ lực ra dọc Biên giới Việt Nam.

Trong canh bạc khát máu tấn công sang ta.

Trong đó có 3 Sư đoàn tinh nhuệ nhất, đánh vào Bến Sỏi, khu vực rừng Năm Căn- Hòa Hội.

Cùng thời gian, ngày 23/12/78.

Khi chúng ta mở cuộc tiến công tiêu diệt 3 Sư đoàn Pốt ở Năm Căn – Hòa Hội.

Thì Ủy Ban Trung Ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước CamPuChia cũng nhận định: " Sinh lực của Pốt nhất định sẽ bị quân và dân Việt Nam tiêu diệt.

Đây là thời cơ tốt nhất để LL vũ trang CM CamPuChia, cùng với nhân dân và binh sỹ khởi nghĩa ở toàn Quốc.

Đánh vào đầu não của bè lũ PônPốt – IêngXaRi.

Đập tan chế độ độc tài, phát xít, diệt chủng khát máu của chúng."

Đúng như nhận định của Mặt trận Bạn, cùng các chỉ huy của ta.

Ba Sư đoàn tinh nhuệ của Pốt, lấn chiếm Năm Căn-Hòa Hội, Bến Sỏi- Tây Ninh.

Đã bị quân và dân Việt Nam đánh cho tan tác.

Ba Trung đoàn sừng sỏ nhất bị tiêu diệt gọn.

Đòn sấm sét này, kéo theo sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của quân Pốt trên toàn tuyến BGTN.

Ở hướng đường số 7.

Năm Sư đoàn quân Pốt là Sư đoàn 280-174-310-450-215 cũng đã bỏ chạy toán loạn vào rừng Đông Bắc.

Bọn chỉ huy Quân khu chạy về thị xã Công Pông Chàm.

Cùng lúc toàn bộ tuyến phòng thủ then chốt của địch ở Quốc lộ số 2 bị đập vỡ.

Các Sư đoàn 2-250-210 bỏ chạy vào rừng vùng Đông Nam.

Bọn chỉ huy mặt trận Đông Nam chạy về phòng thủ ở thị xã Tà Keo.

Tại mặt trận SvayRiêng.

Sự đổ vỡ của địch xuất hiện từ ngày 28/12/78.

Khi đám tàn quân sống sót của 3 Sư đoàn 703-340-210 chạy về phía sau, vẫn còn kinh hồn bạt vía.

Các đài kỹ thuật của ta, liên tiếp bắt được tín hiệu của bọn Pốt với nội dung: " Tình hình rất khó khăn, đại bộ phận lực lượng bị tan rã, thất tán vào rừng.

Không thể nào tập hợp và chỉ huy để chống đỡ Việt Nam.

Đề nghị được tăng viện, cùng pháo binh, xe tăng v.v...

Rồi cả những câu trả lời của chỉ huy cấp trên chúng: " Hiện tại đâu cũng khó khăn, rất khó khăn.

Không có quân để tăng viện, tự xử lý, giải quyết."

Trước tình hình chiến sự toàn tuyến, đang diễn ra hết sức thuận lợi cho ta.

Bọn Pốt đang bị choáng váng.

Giống như võ sĩ quyền anh, khi tung hết sức lực, hết đòn đánh về phía đối phương.

Đối phương không hề hấn gì, mà lại tung ra cú đấm thẳng, vỗ mặt vô cùng mạnh mẽ và hiểm ác.

Làm cho võ sỹ bị hoa mắt, chóang váng.

Đang cố gượng để tránh bị nốc ao, tránh bị đo ván.

Ngay đêm 31/12/78.

Toàn bộ đội hình của Sưđoàn, hành quân tiến công sâu vào đất địch.

Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 266, đượcchọn là đơn bị đánh của mở.

Để toàn Sư đoàn vượt sông SVayRiêng tiến công sâuvào đất K theo kế hoạch.

Đúng 22 giờ, lệnh lên đường, sau khi đ/c Chủ nhiệm vộivã phổ biến tình hình.

Tôi cùng ae trong BCT hành quân theo Trung đoàn Bộ, luồnsâu, tiến về hướng bờ sông SVayRiêng.

Nơi đó, Tiểu đoàn 7 cũng đang tiền nhập.Làm công tác chuẩn bị cho trận chiến sáng ngày mai.

Cả đội hình Trung đoàn hành quân luồn sâu.

Khoảng 3h sáng cũng đến được vị trí tập kết.

Theo kế hoạch phổ biến, giờ G sẽ là 4h30 sáng ngày 1/1/79.

Cả Sư đoàn tập trung tấn công 1 hướng.

Vẫn theo kịch bản, khi các loại cối, DKZ, bắn phá hoại khoảng 30 phút, thì Tiểu đoàn 7 sẽ đánh vượt lên.

Mở cửa chốt giữ, làm hành lang đầu cầu, để đơn vị vượt sông đánh sang bên kia.

Được phổ biến là Sư đoàn 7 sẽ đánh dọc đường 1.

Sư đoàn 9 cũng đánh ở hướng cánh trải đường 1.

Sư đoàn 2 là lực lượng dự bị.

Lúc này chúng tôi mới chỉ biết có kế hoạch đánh sâu vào đất địch.

Mở rộng vùng giải phóng cho bạn, chưa có lệnh tiến công vào PhNom Penh.

Đúng 4h30 phút.

Bùng-Bùng-Bùng 3 phát pháo hiệu đỏ bay vụt lên trời.

Tức thì tong-Tong-tong-tong, tiếng nổ trầm đanh cuả các loại cối, cùng tiếng nổ xé trời của hỏa lực dkz bắt đầu bắn cấp tập vào khu vực tuyến phòng thủ của Pốt.

Đất trời rung lên, chớp lòe nhằng nhằng.

Mùi khỏi thuốc súng khét lẹt.

Chúng tôi ở phía sau cách khu vực tác chiến khoảng 1km.

Anh em tôi lợi dụng các bờ đất để đề phòng đạn của Pót bắn tới.

Ở khu vực này bộ đội dầy đặc.

Các Tiểu đoàn 1-2 3- cùng các đ/v trực thuộc đang ở tư thế sẵn sàng tấn công theo hợp đồng.

Đúng 5h, các loại ĐKZ- B40-B41, súng 12,7 cùng các tiếng nổ của đạn nhọn khác đã dền vang.

Anh em bộ đội Tiểu đoàn 7 đã bắt đầu xung phong.

Nhìn những vệt đạn lửa, vọt lên trời, đan chéo nhau.

Từ nơi đây quan sát rất đẹp mắt.

Đã quá quen chiến đấu trận mạc.

Trong trận này với quân số đông, lại tập trung đánh 1 hướng thế này, bất giác tôi cảm thấy như là một trận đánh nhau đùa.

Một trận diễn tập, mà thời huấn luyện chúng tôi đã nhiều lần tham dự.

Đã thấy pháo binh của chúng bắn trả vào khu vực tác chiến và vào cả đội hình phía sau.

Đạn đỏ của chúng cũng tuôn xối xả về phía quân mình.

Những tiếng rít của đạn bay xé gió, rồi nổ oành ....oành cùng đất đá, các mảnh đạn bay rào rào.

Nơi đây không ai có hầm, thật nguy hiểm.

Mọi người vội tìm những chỗ có thể ẩn nấp tránh đạn.

Chiến sự như càng ngày càng ác liệt.

Tiểu đoàn 7 sau mấy lần tiến công, không chiếm được cửa mở.

Bọn Pốt lợi dụng bờ đê cao, chống trả rất quyết liệt.

Bọn chúng là các Sư đoàn chạy từ hướng bến Sỏi về.

Lập phòng tuyến phòng thủ tại đây, để ngăn quân ta.

Tiểu đoàn 8 được lệnh lên trợ chiến Tiểu đoàn 7.

Nhưng giờ đây trời đã sáng, đã hết yếu tố bí mật.

Nên Tiểu đoàn 8 cũng gặp khó khăn.

Chúng đã biết ý định hướng đột phá của ta, nên các loại pháo cối từ phía sau của chúng đều bắn tập trung, ngăn chặn.

Bộ đội mình thương vong nhiều vì pháo, cối của chúng.

Rất nhiều cán thương của ae được chuyển về qua chỗ chúng tôi.

Tôi ngồi cạnh anh Văn.

Hai anh em lấy cơm nắm ăn, vừa bàn về trận chiến.

Không ngờ các đơn vị lại gặp khó khăn.

Không thực hiện được đúng ý định.

Tiếng súng hướng Tiểu đoàn 7 vẫn rộ lên, nhưng không ào ạt như trước mà có vẻ rời rạc.

Tôi đứng lên đi tiểu tiện cách đấy mấy mét.

Nhẹ bầu, tôi quay lại chỗ anh Văn nhưng không ngồi phía bên trái như cũ.

Mà lại ngồi phía bên phải.

Anh Văn xích lại chỗ ngồi cũ của tôi.

Vừa yên vị, thì nghe tiếng anh Văn kêu ối....ối!

2 tay ôm lấy đùi.

Tôi cúi xuống nhìn thì thấy quần chỗ đùi anh Văn có lỗ thủng.

Vén quần xem thì có vết thủng, máu đang ứa ra.

Viên đạn nhọn, chắc loại 12ly7 từ trên trời cao rơi xuống.

Đã xuyên qua quần, ngập sâu vào trong đùi anh Văn.

Máu đang tràn ra, anh Văn kêu đau nằm ngửa ra sau.

Tôi vội lấy băng, băng vết thương cho anh.

Cùng lúc kêu mọi người là anh Văn bị thương.

Y tá đến dìu, rồi cáng anh Văn về phía sau.

Thật may, nếu tôi không đứng dậy đổi cho cho anh Văn.

Thì chắc viên đạn đó đã cắm vào tôi, hoặc dịch tý nữa mà vào đầu thì không biết thế nào mà nói.

Anh Văn về tuyến sau, như vậy Tiểu ban còn có tôi cùng 3 đ/c phiên dịch.

Khoảng 7h.

Đượcthông báo là bọn Pốt chốt quá cứng.

Chúng ta không mở được cửa mở.

Trung đoànsẽ di chuyển dịch sang cánh phải, mở hướng tấn công khác.

Cả đội hình chúng tôilại tiếp tục hành quân.

Nhưng trong suy nghĩ lúc này của mọi người không thanhthản như trước nữa.

Mà mọi người bắt đầu thấy cái gì đó rất khốc liệt có thể sẽxẩy ra.

Đúng là chiến tranh, súng đạn, đâu phải đơn giản.

Đâu phải là trò đùa.

Ngày 1/1/1979, trong khi các tuyến phòng thủ của Pốt, đang bị quân ta và LL bạn, kết hợp công kích mạnh mẽ.

Bọn Pốt điên cuồng chống trả.

Chúng làm cho ta gặp nhiều khó khăn.

Sự chống trả của con thú khi đã cùng đường cũng rất mạnh.

Gây cho anh em mình 1 số thương vong.

Tạm thời, cản trở bước tiến như vũ bão của ta.

Cùng ngày ở Phnom pênh.

Bộ máy chiến tranh phản động Pôn pốt-Ieengssari, tổ chức họp khẩn cấp.

Để bàn phương án tránh đòn tấn công của ta.

Chúng đã quyết định: " Rút chạy chiến lược vào rừng, để bảo toàn lực lượng còn lại".

Ngay đêm 2/1/1979 tại chiến trường miền Đông lúc 0h15' bọn Pốt ra lệnh: " Rút bỏ đường 10, Đôn so, đường 1, Svay riêng.

Co về phòng thủ ở khu vực núi Sa Cách và phà Niếc Lương".

Đứng trước nguy thất bại hoàn toàn, PonPốt-Iêngsari đang tìm cách co cụm, bảo tồn lược lượng, để hòng kháng chiến lâu dài.

Nhưng xét tổng thể bọn chúng đang lúng túng và tuyệt vọng.

Chúng đã vỡ trận, đã phá sản về chiến lược.

Chúng đang bị dồn vào sát bờ vực thẳm.

Lúc này, thời cơ của CM Campuchia đã chín muồi.

Để quân và dân CPC làm nhiệm vụ lịch sử, tiến thẳng vào hang ổ cuối cùng của địch ở PhnômPênh.

Tiêu diệt tận gốc bọn diệt chủng, giải phóng toàn bộ đất nước.

Giành chính quyền về tay nhân.

Trước tình hình đó.

Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước CPC.

Long trọng phát đi lời hiệu triệu kêu gọi: "Đã đến lúc rồi, lực lượng cách mạng và nhân dân CPC toàn Quốc, hãy nỗ lực vượt khó khăn vùng lên, đánh đổ bọn Ponpốt-Iengsari.

Kiên quyết giải phóng đất nước, thoát khỏi bàn tay đẫm máu của chúng và bọn Bành Trướng nước ngoài.

Quân đội CM hãy nêu cao tinh thần chiến đấu, để tiêu diệt nhiều địch.

Bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch".

Cùng với lời kêu gọi toàn Quốc và toàn dân CPC đứng lên đánh đổ bè lũ Ponpốt-Iengsari.

Ủy ban Trung ương MTĐK dân tộc cứu nước CPC cũng: "Thiết tha kêu gọi nhân dân và chính phủ các nước, các tổ chức dân chủ thế giới.

Giúp nhân dân CPC, đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ.

Kêu gọi các nước ủng hộ và giúp đỡ mọi mặt, cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân CPC".

Với nghĩa tình thủy chung, truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời của 2 dân tộc.

Đáp ứng lời kêu gọi tha thiết của Ủy ban Trung ương ĐKDT cứu nước CPC.

Diệt trừ họa diệt chủng đối với nhân dân CPC.

Cũng là để tiêu diệt tận gốc, mầm tai họa chiến tranh phía Tây Nam của Tổ Quốc.

Đảng và Chính phủ ta đã quyết tâm kề vai sát cánh, giúp đỡ cách mạng chân chính CPC cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Đảng, Chính phủ và chỉ thị của Tổng cục Chính trị.

Các đơn vị tình nguyện Việt Nam, trong đó có Sư Đoàn 341.

Vừa tổ chức đánh địch.

Vừa tổ chức tuyên truyền, học tập cho bộ đội, về ý nghĩa và nhiệm vụ giúp bạn.

Toàn Sư đoàn dấy lên một không khí sôi nổi mới.

Ai cũng hào hứng, vì giờ đây đi chiến đấu, không chỉ bảo vệ BG Tây Nam.

Mà còn là:"làm nhiệm vụ Quốc Tế".

Cùng ngày, Bộ chỉ huy liên quân CPC-VN khẩn trương được thành lập.

Tại mặt trận Svayrieng, đồng chí Khang-sa-rin Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDCM CPC.

Kiêm Tư lệnh binh đoàn 1.

Cùng đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh binh đoàn Cửu Long.

Trực tiếp song hành chỉ huy cánh quân liên quân đường số 1.

CHIỀU NGÀY 2/1/1979, LỆNH TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ PHNOMPPÊNH ĐƯỢCPHÁT RA CHO TOÀN QUÂN.

Toàn đội hình Trung đoàn 273-270 hành quân dịch sang bên phải khoảng 5 km.

Tìm đường đột phá tuyến phòng thủ đường 10, Đôn So.

Sáng ngày 2/1/79, Trung đoàn 270 tổ chức tấn công đột phá.

Trung đoàn 273, mở rộng địa bàn phía Chóp lên.

Trung đoàn 266 vẫn chốt và tấn công địch ở khu vực cừa mở.

Hướng cửa mở của Trung đoàn 270, sau mấy giờ chiến đấu.

Trung đoàn đã chiếm được bờ đê.

Đánh vỡ một khúc phòng thủ của Pốt.

Trung đoàn làm tiếp tục chốt và tấn công đánh tạt sang trái hướng Tiểu đoàn 7.

Như vậy là tuyến phòng thủ của Pốt ở khu vực này đã bị vỡ.

Toàn đội hình Sư đoàn bắt đầu phát triển thuận lợi.

Khoảng 15h ngày 2/1/79 Sư đoàn 341 nhận được điện của Tư lệnh Quân đoàn với nội dung: " Địch đã rút bỏ tuyến trước.

Chúng đang co về lập tuyến phòng thủ mới ở núi Sa Cách- PRâyVeng-NiếcLương.

Hiện tại các cánh quân ta dọc tuyến Biên giới đang tổ chức truy kích.

- Phiá đông Bắc quân ta đã tới đồn điền cao su Chúp

- Hướng Đông Nam ta đã đánh qua Lục Sơn, Cúp Pô, đang tiến công uy hiếp thị xã Cam Pót.

- Hướng QĐ4 :

- Sư đoàn 9, đánh chiếm thị xã Savayrieng đang phát triển theo hướng Nam, bên trái trục đường 1.

- Sư đoàn 7 đi giữa.

Tiến công theo trục đường số 1.

- Sư đoàn 2 lực lượng dự bị tiến sau Sư đoàn 7 tiến công đến phà Niếc Lương rồi dừng lại ở đó.

- Sư đoàn 341, bỏ qua các mục tiêu nhỏ.

Điều Trung đoàn 273, Cơ động về ngã ba đường 24 ở Công Pông Trạch.

Nhận xe ô tô của Binh đoàn chở quân.

Được tăng cường: Một Đại đội xe tăng, thiết giáp.

Một Đại đội pháo 85ly.

Một đại đội pháo 105ly.

Một Đại đội pháo cao xạ 37ly.

Hai đại đội công binh.

Trung đoàn nhận nhiệm vụ hành tiến, đánh chiếm núi Sa Cách.

Sư đoàn 341, đảm bảo cánh Bắc của Binh đoàn trên hướng đường số 1 vào Thủ Đô PhnômPênh".

Cuối bức điện, Tư lệnh Binh đoàn nhấn mạnh;" Sư đoàn 341 phải táo bạo, phải thần tốc, phải mãnh liệt".

Nhận lệnh xong.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao, cùng chính ủy Nguyễn Quế đều xúc động nói: " Thời cơ đến rồi".

Sở chỉ huy Sư đoàn sôi động hẳn lên.

Sư đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn trưởng Trần Măng qua máy điện thoại.

Rồi thúc giục 3 cơ quan Sư đoàn xuống các đơn vị, phổ biến nhiệm vụ cụ thể.

Mọi người lại thấy có gì đó, gần giống như mùa xuân năm 1975.

Sư đoàn đang có n/v là Sư đoàn dự bị chiến lược của Bộ.

Đang có n/v bảo vệ phía Bắc vĩ tuyến 17.

Khi Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng.

Giao nhiệm vụ cho Sư đoàn đi chiến đấu ở Miền Nam với nội dung:" Đi sâu, đi lâu, đi xa đi đến ngày toàn thắng.

Phải hành quân thần tốc vào miền Đông Nam Bộ hợp với Quân đoàn 4.

Tham gia chiến dịch tổng tiến công giải phóng miền Nam".

Sau khi Sư đoàn đã cùng các đơn vị bạn tham gia tiến công giải phóng thị xã Dầu Tiếng, Chi khu Chơn Thành, thị xã Xuân Lộc-Long Khánh.

Sư đoàn được chọn là Sư đoàn đánh trận mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tiến công giải phóng Chi khu Trảng Bom-Biên hòa.

Hôm nay, với nhiệmvụ Quốc Tế vẻ vang.

Toàn thể Cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 341, Đoàn bb Sông Lam,lại bước vào trận quyết chiến, chiến lược.

Cùng với LL vũ trang CMCPC, tiến công vào Thủ đô Phnompênh.

Sào huyệt đầunão của bọn phản động Pon Pốt-Iêng xari, bọn Khơ Me Đỏ khát máu, tay sai củabọn Bành Trướng phía Bắc nước ta.

Ý nghĩa của trận chiến thật lớn, vinh dự vàtự hào thật cao.

Nhưng trách nhiệm cũng thật nặng nề.

Trung đoàn trưởng Trần Măng sau khi nhận nhiệm vụ qua điện từ Sư đoàn trưởng.

Ông bần thần trong giây lát.

Nhiệm vụ tấn công vào PhnomPenh thật bất ngờ.

Bất ngờ hơn nữa là Trung đoàn lại được chọn là Trung đoàn tiến công, hành tiến bằng cơ giới.

Vừa đi, vừa mở đường, vừa đánh để đi.

Trong đời ông, đã từng chỉ huy biết bao trận.

Nhưng chỉ huy hành tiến kiểu này, thì ông và hầu như tất cả các chỉ huy chưa từng qua.

Các khóa huấn luyện bài bản của Quân đội, mà ông đã học qua.

Đều chưa có nghiệp vụ này.

Hành quân di chuyển bằng cơ giới thì tốt quá, sướng quá, đơn giản quá.

Còn hành quân bằng cơ giới đánh địch thế này, thì biết bao khó khăn.

Mục tiêu là núi Sa Cách, phà Niếc Lương.

Nhưng đường từ đây đến đó rất xa.

Mà không thể tiến theo đường bộ sẵn có.

Phải mở đường ở cánh đồng mà đi, hoặc đi theo đường mòn nhỏ.

Nhưng sẽ có bao kênh rạch, bao hào, bao mìn, bao súng chống tăng, đạn nhọn, đang giăng sẵn cản bước mình.

Những cỗ xe tăng bọc thép, xe kéo pháo nặng nề vài chục tấn, cầu yếu, lầy lún, làm sao vượt qua?

Mà yêu cầu của cấp trên là phải:" thần tốc, táo bạo, mạnh mẽ."

Thoáng qua các suy nghĩ về các núi công việc, nhưng khó khăn ập đến.

Ông bừng tỉnh rồi bàn với Chính úy Diệp Xuân Ánh về nhiệm vụ.

Chính ủy Ánh nói ngay: Nhanh, phải nhanh, thời cơ đến!

Chúng ta không được phép chần chừ.

Rồi 2 ông cho mời các đồng chí cấp phó cùng chỉ huy các cơ quan, cùng các đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn, trực thuộc họp bàn khẩn trương triển khai nhiệm vụ.

Sau khi mọi người đã hiểu rõ nhiệm vụ.

Trước hết toàn Trung đoàn di chuyển đến gần thị trấn Công Pông Trạch.

Để tiếp nhận xe, pháo, cùng các đơn vị phối thuộc.

Cùng thời gian Trung đoàn 273 hành quân về Công Pông Trạch.

Thì trung đoàn 270 tổ chức tiêu diệt một Tiểu đoàn Pốt ở phía Nam thị trấn Công Pông Trạch.

Chuyển sang truy kích, hành tiến bảo vệ cánh phải của Sư đoàn.

Trung đoàn 266, chiếm lĩnh khu vực Đôn So.

Nâng tốc độ hành tiến, bảo vệ sườn trái Sư đoàn .Trung đoàn 273 khi về vị trí tập kết.

Ngay trong đêm mồng 2.

Ngày 3/1 nhanh chóng được bổ sung các loại vũ khí trang thiết bị, lương thực, thuốc men.

Tiếp nhận các đơn vị đến tăng cường.

Lúc này nếu là lính thì tương đối nhàn.

Nhưng là cán bộ từ cấp A trưởng trở lên, chức vụ càng cao, thì càng nhiều công việc phải lo toan.

Các đồng chí Tham mưu, Tác chiến thì nghin cứu ngay bản đồ, địa hình.

Chọn đường hành tiến, sao cho phù hợp.

Đặt ra các tình huống ứng xử.

Cơ quan Hậu cần thì không thở được vì phải lo nắm quân trang.

Vũ khí đạn dược, lương thực, thuốc thang cấp cứu quân y, xăng dầu.

Đảm bảo hậu cần phục vụ chiến đấu cho chiến dịch v.v..

Cơ quan chính trị, thì phải nhanh chóng xuống các đơn vị, động viên tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ.

Phải nói lên được tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của chiến dịch.

Phải làm cho mọi Cán bộ, chiến sỹ thấy được nhiệm vụ là vô cùng nặng nề.

Nhưng lại vô cùng vinh dự , vẻ vang.

Phải phát huy truyền thống của Quân đội, trực tiếp là truyền thống của Sư đoàn, Trung đoàn.

Nhất là với ý nghĩa làm nhiệm vụ Quốc tế giúp bạn.

Lại phải chấp hành nghiêm, rất nghiêm kỷ luật chiến trường, kỷ luật dân dịch vận.

Với khẩu hiệu và quyết tâm của Quân ủy Trung ương và Tổng cục chính trị là: " Sẵn sàng hy sinh vì chính trị" Cứu giúp bạn nhưng không được lấy từ cái kim sợi chỉ của bạn.

Kể cả lương thực, thực phẩm v.v... tất cả tài sản trên đất bạn thu được của bọn Pôn Pốt là của bạn.

Những tập tài liệu hướng dẫn về quan hệ dân vận, kỷ luật chiến trường, quan hệ Quốc tế, và những câu hướng dẫn giao tiếp bằng tiếng Việt, tiếng Khơ Me.

Đã được Cục chính trị in ấn chuẩn bị, được phát cho từng đơn vị.

Cùng cả những trái cối đựng truyền đơn kêu gọi bọn lính Pót đầu hàng.

Giải thích cho lính Pốt, cho nhân dân về tội ác của bọn khác máu Pon Pốt-Iêng xa ri đang diệt chủng dân tộc Khơ Me.

Nhiệm vụ của quân đội Việt Nam làm n/v Quốc Tế giúp CM chân chính, cứu nhân dân CPC khỏi họa diệt chủng vv...

Mọi chuẩn bị chochiến dịch mới, nhiệm vụ mới thật sôi động.

Toàn Trung đoàn, toàn Sư đoàn mọingười đều vui, đều hồ hởi, bừng bừng khí thế và quyết tâm chiến đấu, giúp bạn thậtcao.

Cảm giác của những ngày tháng hào hùng.

Của trận tổng tiến công giải phóngmiền Nam, như trở lại trong lòng mọi người.

Khí thế chuẩn bị bước vào nhiệm vụ mới thật khẩn trương.

Trực tiếp Sư đoàn phó Mười Thứ cùng các Sỹ quan cơ quan, các phòng của Sư đoàn, cử nhiều trợ lý xuống tham gia, đôn đốc và hành tiến cùng Trung đoàn.

Ban Chính trị cũng có nhiều trợ lý xuống giúp đỡ Trung đoàn.

Trong đó có đ/c Thắng ban Tuyên huấn ( vanthang341ht ).

Đặc biệt có một nhà thơ và một nhà báo lớn của Quân đội, xuống cùng tham gia hành tiến chiến đấu.

Khi thấy anh Trung tuyên huấn nói: Có cả nhà thơ Bùi Minh Quốc với bút danh thường dùng là Dương Hương Ly.

Tôi thật bất ngờ.

Nhà thơ lớn của Quân đội.

Đã có nhiều giai thoại kể về cuộc đời, sự nghiệp của ông, nhà thơ lại là người lính.

Người chiến sỹ tại mặt trận Quảng Đà những năm ác liệt nhất, gian khổ nhất thời chiến tranh chống Mỹ.

Ông đã có rất nhiều bài thơ hay được các nhạc sỹ phổ nhạc mà hầu như người lính nào, người dân nào cũng biết như bài : Cuộc đời vẫn đẹp sao/ đất quê ta mênh mông v.v...

Thơ của ông thật hay, được chắt lọc từ tinh hoa, từ máu, từ nước mắt, từ xương thịt sự hy sinh của đồng đội, sự hy sinh từ chính người vợ nhà thơ, nhà văn., người đồng đội của ông.

Nhà báo Dương Thị Xuân Qúy.

Ôi!

Một nhà thơ lớn mà tôi, cùng tất cả những người lính đều ngưỡng mộ.

Nhưng sao giờ đây ông và nhà báo lớn, vẫn lại ra trận như một người lính xung kích?

Thật vô cùng nguy hiểm.

Chẳng cảm thấy hợp lý tý nào?

Tôi hỏi đ/c Trung trưởng Tiểu ban tuyên huấn, là nhà thơ Bùi Minh Quốc đâu.

Trong thâm tâm tôi nghĩ nhà thơ lớn phải có dáng người cao to, thanh tú thật đẹp thật ngưỡng mộ về ngoài hình.

Khi Trung chỉ tôi người đang ngồi sửa soạn ba lô gần đó, tôi thật bất ngờ.

Sáng nay tôi đã gặp anh.

Tôi cứ nghĩ đấy là cán bộ, trợ lý gì đó ở trên Sư đoàn xuống.

Cái mũi to, lại đo đỏ.

Cái dáng gù gù, trầm trầm ít nói.

Trông anh như một lão nông mặc áo lính thì đúng hơn.

Không thật ưa nhìn, không đúng như trong suy nghĩ của tôi.

Tôi ra chào hỏi, bắt tay anh xã giao, rồi tiếp tục đi lo những công việc đang rất bận bề của mình.

Anh Văn bị thương, giờ đây còn mình tôi phải gánh vác bao công việc mới mẻ.

Bỡ ngỡ của nhiệm vụ này, chiến dịch này.

Ngoài 3 chiến sỹ phiên dịch mới học tiếng K cấp tốc, nói, đọc được bập bẹ mấy chữ, mấy tiếng K.

Sư đoàn điều cho Trung đoàn 1 tổ 3 người CămPuChia và được phổ biến là : Đây là 3 người trong tổ công tác.

Họ đã từng là lính của Pôn Pốt, đã đảo ngũ chạy sang mình.

Trong đó có một ytá.

Tôi phải trực tiếp quản lý mấy bạn này.

Sư đoàn cấp xuống rất nhiều truyền đơn, tài liệu học tập.

Cùng một cái loa phóng thanh dân dịch vận thật to.

Như vậy là tôi sẽ có rất nhiều việc phải làm, phải quản lý, phải giáo dục, phải " để mắt" đến 3 bạn người K.

Vì trong suy nghĩ của tôi, thì họ cũng đã là lính " pốt".

Mà lại không nói được tiếng Việt, nên mình nhìn họ, họ nhìn mình, chưa thật có thiện cảm.

Cứ khó đăm đăm, rồi cũng vẫn phải phát súng, phát trang thiết bị cho họ.

Bữa cơm đầu tiên tại bãi tập kết, tôi lịch sự cứ mời mấy bạn ăn cơm khi họ đã ăn xong, đã đứng lên.

Sa Chơn được phân công làm nhóm trưởng nói: " knhum chia ét hơi", tôi cũng chẳng biết họ nói gì.

Cứ ra hiệu mời ăn tiếp.

Cùng lúc đó, thì nhà thơ Bùi Minh Quốc đứng sau tôi nói: Họ nói là họ đã ăn no bụng rồi.

Hóa ra nhà thơ còn biết được cả tiếng K, hơn hẳn trợ lý dân dịch vận là tôi.

Thêm một bất ngờ nữa để tôi khâm phục nhà thơ.

Mọi việc đếnchiều tối ngày 3/1 thì cũng hòm hòm, hoàn tất.

Tại vị trí tập kết, các đơn vịđang chuẩn bị nốt các công việc của mình trong đêm, đợi lệnh tiến công.

Giờtiến quân sẽ là sáng mai, 5 giờ ngày 4/1/79.

Tôi cùng anh em đào tạm mấy hầmrồi trải áo mưa, ngửa mặt nhìn trời đêm.

Trời đã về khuya.

Nhìn bầu trời đêmcao thẳm với muôn vàn vì sao nhấp nháy.

Trong đầu tôi bừa bộn bao suy nghĩ.Phía xa, những tiếng nổ của đạn pháo, làm bùng sáng rồi lại tắt lịm.

Có nhữngviên đạn đỏ vụt lên trời đêm.

Đúng 5h ngày 4/1/79.

Trời tảng sáng, đằng đông, hướng VN mây đã ửng hồng.

Bình minh đang lên.

Báo hiệu một ngày mới.

Lệnh tiến công.

Các loại xe, cả đoàn xe không phải chỉ có hai chục, ba chục xe.

Mà là hơn 100 xe, pháo các loại.

Thật chính xác là 105 xe cùng nổ máy.

Tiếng rú ga, tiếng vù ga của xe gầm vang trong buổi sớm.

Phá tan sự tĩnh lặng nơi chiến trường.

Gầm to nhất là các loại xe reo, xe thiết giáp M113, xe tăng T54, tăng T39 .

Tiếng dồ ga vang lừng như mãnh thú, như khủng long thời cổ đại, dền như hàng ngàn, ngàn vạn tiếng sấm dậy.

Khói đen, khói xanh phả ra dầy đặc, thơm khét.

Thật vô cùng hoành tráng, thật vô cùng hào khí.

Lệnh tiến công!

Đi đầu không phải là xe tăng, Không phải là xe bọc thép, mà là 5 xe " reo".

Loại xe quân sự lớn của Mỹ, có vỏ thùng bằng sắt rất dầy.

Lại được xếp một lượt các bao gạo xuống sàn, đề phòng cán phải mìn chống tăng.

Theo kinh nghiệm, giảm sức công phá của mìn rất tốt.

Tránh thương vong rất cao.

Chung quanh 2 bên thành xe, cũng được xếp các bao gạo làm tường hào và làm bệ bắn.

Chính giữa của xe, là khẩu 12ly7, đã được chốt chặt chân.

Xạ thủ nắm chắc súng sẵn sàng nhả đạn.

Cùng khoảng 20 tay súng B40-B41-AK của Đại đội 9, Tiểu đoàn 3 trông thật thiện chiến, thật hùng dũng.

Tiếp đến là 2 xe chở anh em công binh, với đầy đủ trang bị của ngành.

Cũng trang bị như lính chiến bộ binh.

Tiếp nữa là 6 xe bọc thép M113 mỗi xe cũng có khoảng hơn 10 lính bộ binh.

Tiếp tục là 4 xe tăng, có 2 xe T54, 2 xe T39 cũng chở đầy lính.

Rồi tiếp đến là các loại xe khác, chở Tiểu đoàn 2, các đơn vị trực thuộc.

Rồi các loại xe kéo pháo phòng không 37 ly, lựu pháo105 ly, sơn pháo 85 ly.

Xen kẽ các xe tăng, xe pháo, vẫn có các xe của lính bb.

Tiểu đoàn 1 ngồi cùng các xe khóa đuôi đội hình.

Đoàn xe dài hơn 2 km rùng rùng chuyển bánh.

Thật sôi động, thật mãnh liệt.

Các chiến sỹ đầy đủ trang bị, tay cầm chắc súng.

Sẵn sàng vừa tiến vừa có thể nhả đạn vào các ổ đề kháng, các mục tiêu của Pốt.

Hoặc có phương án bb nhảy xuống chiến đấu, tiêu diệt tức thì các ổ đề kháng, cản đường chốt lại của Pốt.

Xe của Ban chính trị Trung đoàn đi trước mấy xe kéo pháo.

Ngay sau xe của chỉ huy Trung đoàn.

Thật bất ngờ tôi lại được ngồi ngay cạnh nhà thơ Bùi Minh Quốc.

Rất vui, nhưng chưa thể chuyện trò gì.

Lúc này, mọi người đều có những suy nghĩ riêng.

Đều căng mắt nhìn về các hướng.

Để phát hiện những nghi vấn trên đường sẵn sàng ứng phó.

Quan sát những địa hình mới lạ của đất nước Ăngco.

Chắc nhà thơ, nhà báo đang nhập tâm, để đưa những hình ảnh này vào những tứ thơ, ý thơ, những bài viết của mình.

Về trận tiến công, mũi tiến công làm nhiệm vụ Quốc Tế đầu tiên trong lịch sử Dựng nước- Giữ nước của dân tộc.

Đoàn xe vẫn hành tiến với tốc độ chậm, hướng đột kích hành tiến theo hướng Bắc-Tây-Bắc của trục đường số 1.

Mục tiêu, đích đến là núi SaCách bến phà NiếcLương.

Đường xá thật tệ, 4 năm dưới thời cai trị của bọn đao phủ Pôn Pốt.

Chúng chỉ lo củng cố Công xã, giết hại dân lành làm cho mọi người phải sợ, phải nghe, phải răm rắp tuân lệnh chúng nó.

Nếu không lập tức sẽ bị búa đập vào đầu, dù là người lớn, dù là người già hay là các em thơ bé dại.

Chỉ 1 búa rìu mà thằng lính Pốt nào cũng có.

Cũng mang bên người.

Trông nó còn ghê sợ hơn là khẩu súng.

Còn hệ thống các đường giao thông, không hề được tu sửa.

Mà còn bị đào phá nghiêm trọng.

Nhất là từ sau khi chúng gây chiến với Việt Nam.

Ngay cả các hệ thống đường đã được trải nhựa từ chế độ trước, giờ đây cũng chỉ là ổ gà, ổ voi.

Cứ khoảng mười mét là chúng lại đào một con hào so le, hòng làm chậm sự đột kích bằng cơ giới của đối phương.

Không có đường cơđộng, đoàn xe của Trung đoàn cứ cắt băng cánh đồng mà đi.

Được cái đất ruộngcủa CPC mùa khô thì cũng rất nhanh cứng, bờ ruộng lại cũng không nhiều.

Nhưngcũng có những chỗ bị lầy nhỏ, xe nọ lại kéo xe kia, rồi đoàn xe cứ tiến.

Tuyrằng tốc độ hành tiến rất chậm.

Càng đi thì càng lầy lún càng xuất hiện nhiều.Anh em công binh, anh em bộ đội rất vất vả để chống lún, chống lầy xe.

Mọingười tận dụng tất cả cây gẫy, nhà hoang bên đường để lót cho xe qua.

Việc hànhtiến vô cùng khó khăn, phức tạp.

Các đồng chí chỉ huy đầu ong ong, nóng như lửađốt.

Trong lúc điện của chỉ huy Sư đoàn, của Quân đoàn thúc giục liên tục hỏiđang ở tọa độ nào?

Rồi nhắc:" Phải tiến nhanh, phải thần tốc.

Không đượcđể lỡ thời cơ, lỡ hợp đồng với các đơn vị bạn".

Đã hết sức cố gắng.

Nhưng rồi trong ngày 4/1, mũi tiến công của Trung đoàn cũng chỉ hành tiến được khoảng 10km.

Thật quá chậm, việc này đã làm đau đầu các cấp chỉ huy.

Còn anh em cán bộ chiến sỹ thì cũng sốt ruột không kém.

Phần nào bị giảm đi hưng phấn, giảm đi hào khí tiến công.

Sáng ngày 5/1, đoàn xe vừa ra khỏi cánh đồng, sát một hồ nước nhỏ.

Thì gặp ngay một con đường đất.

Mọi người phấn khởi.

Đoàn xe tăng tốc, bụi đất cuốn mù mịt.

Tiến nhanh được khoảng 20km.

Đoàn xe lại gặp một bãi lầy.

Thì ra đây là con đường cụt.

Mấy xe reo chở bộ binh đã đi qua.

Mấy xe bọc thép M113 cũng vượt qua.

Tới xe tăng T54 đang chạy theo vết xích của các xe trước, bỗng mặt đất giãn ra, nứt toát.

Chiếc tăng T54 từ từ lún xuống.

Chiếc thứ 2 đang đà bám theo, thấy lún lùi lại.

Nhưng chưa kịp lùi, lại cũng bị lún theo.

Bộ đội trên các xe nhẩy ào xuống, tản ra xung quanh.

Tìm các vật liệu chống lầy, dùng xe khác kéo lùi.

Nhưng xử lý mãi, mà cũng không có tác dụng.

Hai chiếc xe tăng T54, càng ngày càng bị lún nhiều hơn.

Chiếc đầu tiên bị lún nghiêng đến tháp pháo.

Mọi người mệt rã rời, ngán ngẩm.

Công binh dùng nhiều biện pháp đấu, kéo nhưng 2 chiếc tăng cứ ì ra.

Toàn đội hình dừng tại chỗ.

Trực tiếp Sư đoàn phó Mười Thứ, đến chỉ huy việc chống lầy.

Ông hò hét, chỉ bảo cách nọ cách kia, mãi mà cũng chẳng được.

Quá lo lắng cùng mệt nhọc, Ông ngồi bên bờ đất, một tay chống cằm.

Nhìn 2 chiếc tăng lún nghiêng 2 hướng.

Hai khẩu pháo 100 ly ghếch chổng về 2 hướng khác nhau, thật bất lực.

Cho đến bây giờ, tôi nhớ như in cái hình ảnh 2 chiếc tăng sa lầy, lún hôm đó.

Hình ảnh ông Sư đoàn phó, ngồi chống tay bên cằm, hơi nghẹo đầu sang bên.

Thật ấn tượng.

Gía như hồi đó có máy ảnh, mà chụp được bức hình này làm tư liệu của chiến tranh, thì cũng thật đáng quý.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao, phàn nàn trong máy.

Khi gọi điện trao đổi trực tiếp với Trung đoàn trưởng Trần Măng.

Tốc độ hành quân thế này, thì còn gọi gì là thần tốc?

Chưa nói đến một loạt vấn đề đẻ ra, từ hậu quả sự chậm trễ này.

Như thời cơ, kế hoạch hợp đồng với các đơn vị bạn.

Phương án tác chiến, ý định của chỉ huy , ý đồ chiến dịch vv....

Nhưng ai cũng biết, khó khăn do địa hình là một thực tế rất khách quan.

Bởi vì đã có ai đi trinh sát, khảo sát được địa hình?

Theo lệnh cấp trên, Trung đoàn cứ phải: " Táo bạo, thần tốc, mãnh liệt" mà đi.

Gặp địch là đánh, gặp khó khăn thì bằng ý trí, bằng trí tuệ, sáng tạo sức lực của mọi người.

Để mà khắc phục để mà vượt qua.

Trong lúc mũi tiến công bằng cơ giới của Sư đoàn 341, đang gặp nhiều khó khăn.

Do địa hình phức tạp cản trở.

Thì ở hướng Đông Nam, các đơn vị bạn phát triển thuận lợi.

Sư đoàn 270 của Pốt án ngữ dọc Biên giới, đối diện với tỉnh An Giang.

Đã bỏ chạy về phía Nam- Tà Keo.

Sau khi bị lực lượng ta và bạn tiêu diệt 1 Trung đoàn Pốt ở Khánh An- Khánh Bình, Tỉnh An Giang.

Sư đoàn 230 của Pốt ở Bắc Hà Tiên- Kiên Giang cũng đã rút chạy khỏi Trà Phô, Trà Tiên và Bắc tỉnh Căm Pốt.

Sáng ngày 5/1, tuyến phòng thủ của Pốt ở Bắc đường số 2.

Phía Nam Tà Keo, đã bị ta đập vỡ.

Làm cho tuyến phòng thủ của chúng ở Quân khu Đông Nam bị vỡ theo.

Sự tan vỡ của địch ở các hướng.

Đã mở ra bàn đạp hết sức quan trọng, cho ta và LL bạn ở phía Nam PhnomPênh.

Còn ở hướng Đông Bắc.

Tại mặt trận Công Pong Chàm, 5 Sư đoàn của Pốt cũng đã bị đánh tan tác.

Tên chỉ huy mặt trận này, đã điện về báo cáo với Trung ương của hắn là : "Tình hình đặc biệt khó khăn.

Xin co lực lượng về phía tây Sông Mê Công.

Lập tuyến phòng thủ"mới để ngăn chặn sức tiến công như vũ bão của VIỆT NAM.

Sự phát triển mau lẹ ở các hướng, đã làm cho cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 341 thật sự nóng ruột.

Thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn, Phó Tư lệnh Quân đoàn.

Trực tiếp đi cùng, chỉ huy Sư đoàn càng nóng ruột thêm.

Ông cùng các đ/c tham mưu, tác chiến, chỉ huy Sư đoàn, trải tấm bản đồ trên mặt ruộng.

Nói với Sư đoàn trưởng Vũ Cao bằng giọng kiên quyết:

"Phải bằng mọi cách khắc phục, để phát triển theo phương án.

Các ông cho nghiên cứu hướng trái 5km".

Trưởng ban tác chiến Lê Văn Hợi cùng các Sĩ quan nhẩy lên 2 chiếc xe Jeep lao đi xem thực địa.

Khoảng 30 phút sau, trở về nói trong hơi thở gấp.

Báo cáo tình hình với Sư đoàn trưởng.

Sư đoàn trưởng cùng mọi người xem lại bản đồ.

Rồi vẽ chỉnh lại mũi tên, hướng hành tiến của Trung đoàn 273.

Xong ông báo cáo với Tư lệnh phó Quân đoàn :" Tôi đã cho Trung đoàn 273 để lại một Tiểu đoàn bảo vệ và khắc phục xe bị lầy.

Còn lại đội hình vòng sang trái 5km.

Qua Phum RôBanPreng, ở đó có đường cho cơ giới.

Phó tư lệnh quân đoàn nói:" Đúng ! cho Trung đoàn 273 theo phương án đó, các Trung đoàn khác cũng phải tiến nhanh hơn nữa.

Chậm trễ lúc này là có tội đấy"!

Sau khi nhận được điện của Sư đoàn, về phương án hành quân và để Tiểu đoàn 1 ở lại bảo vệ và xử lý hai xe tăng lầy lún.

Đoàn xe cơ giới Trung đoàn 273 nối đuôi nhau rẽ trái, vượt qua cánh đồng.

Qua Phum RôBanPreng gặp đường đất gồ ghề, rồi gặp được con đường đất tương đối rộng.

Khi bám được đường tốt.

Đoàn xe tăng tốc độ.

Bụi đất lại cuộn lên mù mịt.

Biết việc tiến quân bị chậm, nên ai cũng hành động rất khẩn trưởng hơn.

Mờ xa đã thấy hiện ra ngọn núi Sa Cách.

Mục tiêu số 1 của điểm đến.

Đoàn xe lao tới càng nhanh.

Mọi người chuẩn bị lại vũ khí, súng đạn cho trận chiến sắp đến.

Chiều mờ tối, ngày 6/1 Trung đoàn đã tới chân núi SaCách.

Ùng- ùng- ùng, chíu- chíu-chíu.

Các ổ phòng thủ ở chân núi chủ động bắn vào đội hình Trung đoàn.

Nhưng chúng sợ nên bắn đạn B40-B41 nổ trước xe hàng trăm mét.

Phía chân núi khói B40-B41 của chúng vừa bắn chưa tan.

Cũng là nói lên vị trí chốt của chúng.

Đoàn xe khựng lại, bộ binh nhanh chóng nhảy xuống, tản ra dàn đội hình chiến đấu.

5 khẩu 12L7 cùng thùng-thùng-thùng, khạc đạn bắn găm về phía chân núi.

Anh em nhanh chóng gióng ĐKZ bắn tới tấp.

Xoẹt-ùng, xoẹt- ùng Tiến nổ thật đanh khu vực chân núi.

Các xe thiết giáp cũng dàn hàng ngang bắn 12L7 và ĐKZ.

Rồi tăng T39 cũng ùng- ùng trái phá về khu vực khỏi xanh của Pốt.

Các loại súng, sau 15 phút dồn dập bắn áp đảo.

Tiểu đoàn 3 xung phong lên.

Khí thế tiến công thật mạnh mẽ.

Giống như người đi săn thú, sau mấy ngày vất vả, giờ đây mới thấy bóng dáng của con mồi.

Nên ai nấy đều háo hức chiến đấu, háo hức lập công.

Anh em đã chiếm được trận địa phòng ngự của Pốt.

Một vài cái xác vắt trên bờ công sự.

Máu loang đầy mình, bên các loại súng.

Hầm hào dầy đặc.

Số đông chắc đã chạy biến.

Như vậy chúng phòng thủ cũng không lớn.

Chỉ có 1 lực lượng nhỏ ở lại chốt cản đường.

Anh em phát triển rộng ra nhưng cũng chỉ thấy hầm hào, tuyến phòng thủ mới đào, không có lực lượng nào chốt giữ.

Trung đoàn trưởng Trần Măng báo cáo với Sư đoàn:" Trung đoàn 273 đã đánh chiếm xong núi Sa Cách.

Sư đoàn trưởng lệnh cho Trung đoàn cắt trái vòng ra đường số 1.

Tiến theo đường 1 đến bến bến phà Niếc Lương.

Các Trung đoàn hành tiến bộ, cũng được lệnh vòng tiến ra đường số 1.

Theo hợp đồng đội hình Trung đoàn 273, tiến sau đội hình Sư đoàn 7.

Từ chân núi Sa Cách rẽ ra đường 1 là con đường đất.

Sau cuộc chiến ngắn, tinh thần của mọi người như bốc hẳn lên.

Dọc đường đi đã thấy những đồ đạc, quần áo, của dân, của lính vất bừa bãi.

Bọn này mới chạy qua đây.

Mọi người bỗng thấy lại tái hiện những hình ảnh, của cuộc tổng tiến công năm 75.

Khi đại quân ta đã đánh chiếm xong khu vực Trảng Bom, Hố Nai, Biên hòa.

Vũ khí súng đạn, quân trang quân dụng cũng ngổn ngang, bừa bãi thế này.

Chiếc xe Jeep chởTham mưu phó Phạm Anh Xướng, cùng đ/c Trợ lý tác chiến Nguyễn văn Phô, Nguyễnvăn Ngọc cùng mấy ae Trinh sát do lái xe Nguyễn Đình Thắng lao vọt lên trên dẫnđường.

Tiếp sau là đoàn xe.

Trời tối vừa chạy được khoảng cây số thì....Ầm....Tiếng nổ long trời, chớp sáng lòe rồi phụt tắt.

Tiếng người kêu thấtthanh:" Trúng mìn rồi".

Đoàn xe khựng lại bộ đội ào xuống tản ra phòng thủ.

Sau mấy phút, không thấy có gì khác thường.

Lực lượng phía sau lên hỗ trợ xe trúng mìn.

Chiếc xe reo bị lật nghiêng, gạo vỡ tung ra trắng xóa.

Bánh sau bên phải xe tung ra, nhưng rất may là chỉ có 2 đ/c bị thương nhẹ, do gạo đè còn không ai bị sao.

Đúng là tác dụng của các lớp bao gạo dưới sàn và bên thành xe.

Làm cản sức công phá của mìn chống tăng rất tốt.

Đã tránh được thương vong cho anh em.

Lực lượng Công binh được bb yểm trợ, nhanh chóng lên dò mìn.

Nhưng suốt một quãng dài, cũng không thấy quả mìn nào nữa.

Đoàn xe lại tiếp tục tiến.

Số anh em trên xe bị mìn, được xếp đi cùng các xe khác.

Chiếc xe jeép của Tham mưu phó, vẫn dũng mãnh đi đầu.

Nghĩ lại cũng thật may.

Không biết quả mìn bọn Pốt mới gài, hay sót lại từ lâu?

Nếu chiếc xe jeép tiên phong đè lên, gây nổ.

Thì với sức công phá của trái mìn kia, thì có lẽ cả xe, cùng số người ngồi trên đó được " Bay lên trời cao".

Hú vía!

Song nhiệm vụ, là nhiệm vụ.

Xe jeép của Tham mưu phó vẫn phải làm nhiệm vụ tiên phong, thật mạo hiểm và vô cùng dũng cảm.

Mờ sáng ngày 7/1, đoàn xe của Trung đoàn 273 đã bám ra được đường 1.

Trời sáng hẳn.

Lúc này, mới thấy được sự ngổn ngang của nơi chiến tuyến.

Quần áo, đồ đạc, hòm xiểng, những chiếc xe trâu kéo, chổng càng lên trời, hoặc nằm gục dưới ruộng bên đường.

Tất cả quang cảnh, cho thấy: Mới có một cuộc rút chạy của cả dân cả lính qua đây.

Đoàn quân rẽ phải hướng mục tiêu 2- Phà Niếc Lương.

Được thông báo Sư đoàn 7 đã đánh qua.

Hiện đang ở phía trước.

Đã thấy đoàn người lôi thôi, lếch thếch, cả người lớn lẫn trẻ em, đàn bà, con gái.

Cả những đứa chắc là lính Pốt, đã vất súng đạn, trà trộn trong đám người đi ngược hướng Trung đoàn.

Với khuôn mặt bẩn thỉu, nhếch nhác lôi thôi, sợ hãi cùng ánh mắt lấm lét, nhìn đoàn quân đang hùng dũng tiến qua.

Lúc này, là công việc của Dân địch vận.

Tôi nói với mấy đ/c phiên dịch là: Nói anh em trong đội công tác bạn dùng loa, nói một số nội dung về bộ đội VN chỉ đánh bọn Pôn Pốt.

Cứu nguy cho dân, bà con yên tâm quay về quê cũ.

Cả những ai là lính Pốt phải về báo với dân, báo với chính quyền địa phương ( mặc dù làm gì đã có chính quyền nào ).

Rất nhanh, Sa Chơn hiểu ý bật loa phát thanh:" ÂY LAU NÍ TA TÂU,PRO CHIA CHUON CPC NƯNG TỨC ĐÂY CPC BAN RÙM ĐÓ TENG SƠ RÔNG....."( Từ bây giờ trở đi, đất nước CPC đã được giải phóng.....).

Tiếng loa thật vang.

Thoáng thấy những ánh mắt của đoàn người, có vẻ đỡ căng thẳng hơn.

Ánh lên niềm vui cùng nụ cười.

Nhiều người chắp tay vái lạy về hướng đoàn quân.

Rồi mọi người như vỡ lẽ ra điều gì đã đến, niềm vui đã đến, tất cả mọi người nhẩy lên rồi vỗ tay rồi hô to: 'Trây dô.

Trây dô "( hoan hô, hoan hô) ầm ĩ.

Đằng Đông hướng Việt NAM, Mặt trời đã lên cao.

Chiếu những tia nắng đầu tiên trong ngày.

Không phải như mọi ngày.

Mà hôm nay, một ngày mới, một kỷ nguyên mới đã đến.

Niềm vui đầu tiên của những người dân được tự do, được hưởng, niềm vui, nụ cười, hạnh phúc đầu tiên của hòa bình.

Bình minh lên, báo hiệu sự hồi sinh của đất nước, của dân tộc Khơ Me anh em.

Được chứng kiến niềm vui òa ập đến.

Sao nước mắt của chúng tôi, những người lính tình nguyện Việt NAM trào ra chẩy dài trên má.

Anh em dải thêm một số truyền đơn của MTDT, CM cứu nước CPC, mọi người tranh nhau vồ, đọc.

Đoàn xe lại tăng ga lao về phía trước, nơi đó, còn bóng quân thù.

Đã nhiều năm rồi, tôi vẫ tự hỏi?

Phải chăng đây là tiếng loa, phát thanh đầu tiên, sớm nhất.

Báo tin chiến thắng, báo tin đất nước CPC đã được giải phóng.

Đất nước và dân tộc Khơ Me đã được hồi sinh?

Mặc dù quân đội, các LL CM bạn, cùng các đ/v quân tình nguyện Việt Nam chưa tiến tới Phnom Pênh.

Đúng 8h sáng, ngày7/1/1979.

Mũi tiến công của Trung đoàn 273 đã tới bến phà Niếc Lương.

Mục tiêu2 của Trung đoàn đã hoàn thành.

Cho đến giờ phút này, có thể khẳng định: Toànbộ vùng đất phía Đông, Sông Mê Công của đất nước Campuchia đã được hoàn toàngiải phóng.

Bến phà Niếc Lương sáng ngày 7/1/79 tấp lập, nhộn nhịp khác thường.

Hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải, xe khí tài kỹ thuật xếp hàng dài.

Hàng vạn chiến sỹ bộ binh của bạn và của Quân tình nguyện Việt Nam.

Gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 9, Sư đoàn 2, cùng các lực lượng phối thuộc khác của Quân khu 7.

Đang tập kết tại khu vực này đợi vượt sông.

Lực lượng Hải quân của ta, Đoàn 962 đã tiến đánh từ hướng Việt Nam, dọc sông Mê Công tới đây.

Đúng theo hợp đồng.

Kịp thời chở Trung đoàn 14, của Sư đoàn 7, vượt sông đánh chiếm đầu bến phía Nam từ ngày mùng 6 (?).

Anh em chốt giữ tại bên đó.

Đợi đại quân đến.

Việc Sư đoàn 7, cùng Hải quân, đánh chiếm được bờ Tây sông Mê Công tại bến phà Niếc Lương.

Là một thắng lợi lớn của thế trận chiến dịch.

Tuyến phòng ngự phía Tây sông Mê Công bị vỡ.

Có nghĩa là cánh cửa phía Đông của Thủ đô PhNomPênh đã được mở.

Đoạn đường số 1, từ phà Niếc Lương tới Thủ đô PhNomPênh là đường độc đạo.

Ngoài trục đường 1 là cao.

Còn 2 bên đường là sình lầy, kênh rạch.

Không tiện cho việc phòng thủ.

Với thế lực của chúng ta, với sức mạnh đột kích hùng hậu của tăng, thiết giáp.

Cùng với các Sư đoàn bb tinh nhuệ.

Thì không thể có phòng tuyến nào ngăn được.

Tiến đánh giải phóng PhNomPênh, giờ đây có thể tính từng giờ.

Phải hành động thật khẩn trương.

Không để cho địch được hoàn hồn.

Không để cho chúng kịp lập hệ thống phòng thủ nào.

Phải thần tốc, phải táo bạo, phải mãnh liệt.

Phó tư lệnh Quân đoàn Bùi Cát Vũ ra lệnh toàn bộ Sư đoàn 7 và Trung đoàn 273, của Sư đoàn 341.

Nhanh chóng tổ chức vượt sông.

Lúc này là 8h sáng.

Ngày 7/1/79, cuộc đổ bộ vượt sông lớn nhất, mạnh nhất. hoành tráng nhất của Quân tình nguyện Việt Nam cùng LL CM bạn bắt đầu.

Đơn vị Hải quân, Đoàn 962 với các tầu há mồm.

Lúc này cũng đã kèm được 2 chiếc phà lớn ( bắc ) tới tham gia chở quân vượt sông.

Nhìn chiếc Phà to lớn cồng kềnh, trên nóc phà được trang bị mấy dàn Cachuisa và một số anh em Hải quân với trang phục lính biển truyền thống.

Đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu thật oai hùng.

Nghe nói các anh cơ động về đây cũng đã nhiều lần phóng đạn.

Tiêu diệt các chốt phòng thủ 2 bên sông.

Dòng sông Mê Công thật rộng lớn.

Tôi bỗng thấy mình quá nhỏ bé, trước sự rộng lớn và hùng vĩ của con sông.

Năm trước, trong lần cơ động đi giải vây thị xã Hà Tiên.

Toàn đội hình hành quân đêm bằng những chiếc tầu nhỏ của dân.

Dòng Tiền Giang, nhánh của con sông Mê Công này, nhưng sông cũng thật to, thật rộng.

Sóng lừng như sóng biển.

Tôi đã hú hồn vì lúc 2 tầu bị đụng nhau.

Hôm nay, vượt sông nhưng bên đất K.

Sông chưa chia nhánh nên rộng lớn hơn sông Tiền, sông Hậu ở Việt Nam nhiều.

Làm cho tôi cùng nhiều anh em choáng ngợp.

Thoáng chút lo ngại, trước sự to lớn, hùng vĩ của sông.

Nhưng những suy nghĩ chỉ thoáng qua.

Nhiệm vụ trước mắt còn nặng nề, song mỗi người lại trào lên niềm vui, cùng sự hào hứng khó tả.

Khi nghĩ đến cái đích của Phnom Pênh giống như đích đến của Sài Gòn năm 1975.

Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do thống nhất đất nước.

Giờ đây cái điểm đến là thủ đô PhNomPênh, đầu não của tập đoàn phản động Pôn pốt IêngXaRi đang ở đó.

Phải nhanh, phải nhanh tiến công vào sào huyệt của chúng.

Tiêu diệt bọn đầu xỏ dã man độc ác, cứu giúp CM và nhận dân CămPuChia.

Nhiệm vụ rất nặng nề, song ý nghĩa cũng thật lớn lao.

Vinh dự và trách nhiệm này, đang đặt lên vai lực lượng CM đang còn non trẻ của Bạn.

Cùng các chiến sỹ Quân tình nguyện Việt Nam.

Hàng vạn chiếnsỹ, cùng các loại trang bị, vũ khí, khí tài đã vượt sông.

Giờ đây xe tăng, xethiết giáp được mở đường đi trước.

Tiếp đến là các đoàn xe chở bộ binh, xe pháocác loại nối đuôi nhau.

Dòng xe đi cuồn cuộn như thác chảy, như lũ trào.

Tất cả nhằm hướng PhNômPênh lao tới.uống tản ra phòng thủ.

Khoảng 9h ngày 7/1.

Lực lượng trinh sát không quân trên máy bay, trinh sát L19 báo tin : " Có hàng trăm xe kéo pháo, xe vận tải chở lính, có cả xe tăng, xe thiết giáp của địch chạy về hướng PhnomPênh.

BTL liên quân nhận định: Trước sự tấn công như vũ bão của ta.

Bọn Pốt không thể kháng cự tại tuyến phòng thủ bờ Tây sông Mê Kông.

Nên chúng đã tính bài chuồn, để bảo toàn lực lượng.

Chúng mới chạy, như vậy là chúng cũng không kịp chôn mìn, đào hào, hay phá cầu, cản bước tiến công của ta.

BTL liên quân ra lệnh cho các lực lượng đã vượt sông.

Nhanh chóng xốc lại đội hình, thần tốc tiến công truy kích ngay.

Sau khi các đơn vị cơ bản của Sư đoàn 7 đã qua sông.

Trung đoàn 273 của Sư đoàn 341, cũng vượt sông rất nhanh.

Trung đoàn trưởng Trần Măng đang cho điều chỉnh sắp xếp lại đội hình hành tiến.

Thì được lệnh của Sư đoàn phó Mười Thứ giao nhiệm vụ như sau:

-Trung đoàn 273 tiến bám sát Sư đoàn 7.

Vào Thủ đô Phnom Pênh.

- Mục tiêu 1 là đánh chiếm khu Đại sứ quán Trung Quốc

- Mục tiêu 2 là đánh chiếm sân vận động Quốc gia ÔlimPic.

Sau đó phát triển sang trái bắt liên lạc .....với Sư đoàn 7.

Đội hình Sư đoàn 7 không biết đã đi hết chưa?

Lúc này chỉ có đường 1, đường độc đạo tiến vào Thủ đô PhnomPênh.

Nên đội hình các đơn vị bị chồng chéo lẫn lộn.

Sau khi đã điều chỉnh xong đội hình.

Trung đoàn trưởng Trần Măng ra lệnh : " Tất cả lên xe tiến công".

.

Những chiếc xe tăngT34, xe tăngT39, cùng những xe bọc thép M113, gầm vang, chồm lên.

Lao về phía trước mở đường thật dũng mãnh, khói bụi mù mịt.

Trong trời nắng chói lòa.

Tiếng xích sắt nghiến ken két xuống mặt đường. những ngày qua toàn hành quân ở xình lầy, đường đất, tốc độ chậm.

Giờ đây là mặt đường nhựa, tuy rằng rất xấu.

Nhưng cũng đã là quá lý tưởng cho việc hành tiến.

Đoàn xe như mãnh hổ bị kìm chân lâu ngày.

Giờ đây được lệnh tiến công nhanh.

Anh em lái thoải mái đạp hết ga.

Xe lao đi hết tốc độ, làm anh em bộ binh ngồi trên xe cũng rất vất vả, vì phải bám nứu chắc vào xe để không bị rơi xuống.

Trong khi một tay bám vào xe, một tay vẫn phải trong tư thế cầm súng sẵn sàng chiến đấu rât vất vả.

Những lá cờ nhỏ, trên các xe gió thổi bay phần phần.

Mọi người bừng bừng khí thế tiến công.

Hai bên đường vào PhnomPênh, rải rác có những trận địa pháo 130, 122, 85 ly còn đó, những hòm đạn còn xếp đó.

Nhưng không có bóng dáng tên Pốt nào.

Thi thoảng một vài cái xác nằm vắt bên đường.

Có khẩu pháo đã móc vào sau xe xích, xe còn nổ máy, mà không có người lái.

Cũng thấy những xe Hồng Hà chở đạn, hoặc xe Bắc Kinh loại xe chỉ huy.

Đầu cắm chúi xuống ruộng, cần ăng teng dài vút, đung đưa thật ngộ nghĩnh.

Các loại súng bộ binh, cùng các trang thiết bị chiến tranh, vất ngổn ngang.

Cho thấy cuộc rút chạy rất lộn xộn mới đây của quân Khơ Me đỏ.

Trên đường lại bắt gặp từng đoàn người dân CPC.

Già trẻ, trai gái, gầy gò, rách rưới, đi ngược hướng tiến của đại quân.

Họ chắp tay vái lạy đoàn quân.

Với nụ cười còn gượng gạo hé nở trên môi.

Đường vào PhNômPênh không có:" Rực ánh cờ sao".

Như lúc đại quân năm 75 tiến vào Sài Gòn.

Ngoài những lá cờ 5 ngọn tháp của Quân đội CM CPC và Quốc kỳ cờ đỏ sao vàng, của các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam.

Song có những bàn tay vẫy, nụ cười mới hé, cùng ánh mắt trìu mến của đoàn người mới được từ cõi chết trở về, bắt đầu được hồi sinh.

Sa Chơn lại phát loa báo tin đất nước giải phóng, kêu gọi nhân dân nhanh chóng trở về xây dựng quê hương.

Cùng những tờ truyền đơn của CM được tung, phát cho bà con.

Đoàn quân vẫn tiến.

Khoảng 11h, Trung đoàn 273 đã cận kề PhnomPênh.

Thì bất ngờ gặp một chốt gác chặn ngang đường.

Ngăn không cho Trung đoàn hành tiến tiếp.

Đoàn quân dừng lại, các đồng chí Tác chiến Trung đoàn lên hỏi tình hình.

Thì được biết đây là chốt giữ của Sư đoàn 7 mới lập nên.

Với lý do là: Các lực lượng Sư đoàn 7 đang gặp địch, đang chiến đấu bên trong thành phố.

Để tránh bị lẫn quân ta và quân mình.

Đề nghị Trung đoàn 273 tạm dừng tại đây.

Sau khi Sư đoàn 7 giải quyết xong một số ổ đề kháng, thì Sư đoàn 341 sẽ lại tiếp tục tiến quân.

Nghe các đ/c Sư đoàn 7 nói tình hình như vậy cũng có lý.

Vì theo lệnh của Quân đoàn là: Trung đoàn 273 phải tiến sau đội hình Sư đoàn 7.

Cùng với thái độ cương quyết của các lực lượng chốt giữ.

Đoàn quân của Trung đoàn 273, Sư đoàn 341 phải dừng lại.

Anh em bộ đội xuốngxe, tản ra 2 bên đường, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Đợi lệnh của chỉ huy.Phía trước tiếng súng thưa vẫn đang vọng lại.

Nắng chan hòa.

Đường vào Phnom Pênh đã rộng mở.

Phía trước đã không còn tiếng súng.

Nhưng lực lượng chốt chặn ở trạm gác Sư đoàn 7 vẫn không cho đoàn quân của Sư đoàn 341 vượt qua.

Các đồng chí chỉ huy thì vô cùng sốt ruột.

Điện của Sư đoàn vẫn thúc là: Trung đoàn 273 phải tiến nhanh.

Đánh chiếm ngay các mục tiêu như đã được giao.

Trung đoàn trưởng TrầnMăng và Chính ủy Diệp Xuân Ánh có lẽ là người nóng ruột nhất.

Ông điện về báo cáo lại tình hình với Sư đoàn.

Mới đầu Sư đoàn cũng chấp nhận, tạm dừng, xốc lại lực lượng.

Đợi đơn vị bạn giải quyết xong các mục tiêu chốt chặn của Pót.

Nhưng sự chờ đợi đã quá lâu.

30' rồi 60' rồi hơn cả 60'.

Đã quá giới hạn chờ đợi cùng sự kiềm chế.

Trung đoàn trưởng Trần Măng trực tiếp lên kiểm tra tình hình trạm gác, chốt cản đường.

Ông rất giận dữ, hình như ông đã thấy điều gì không hợp lý.

Không đúng của trạm gác cản đường của Sư đoàn 7.

Phải chăng đây là tiểu xảo gì đó trong việc thành tích.

Nỗi khát khao được cắm cờ chiến thắng đầu tiên.

Mà các đ/v của Quân đoàn 4 đã không có.

Khi mà Sư đoàn 304, mới là Sư đoàn cắm lá cờ chiến thắng đầu tiên ở Dinh Độc Lập ngày 30/4/75.

Báo hiệu Sài Gòn được giải phóng.

Báo hiệu chế độ VNCH đã xụp đổ?

Ông điện báo xin ý kiến xử lý của Sư đoàn.

Chỉ huy Sư đoàn 341 ra lệnh tiến công ngay.

Không được chậm trễ.

Không chấp hành lệnh ngăn cản của trạm gác.

Lệnh lên xe tiến công!

Những chiếc xe không khác gì những con tuấn mã, đang phi nước đại, đang hăng.

Bỗng bị ghìm cương dừng lại.

Sức nén của sự chờ đợi đã quá căng.

Đoàn xe chồm lên, bất tuân lệnh của trạm gác.

Thẳng tiến vào Phnom-Pênh.

Lúc này đã gần 13h ngày 7/1/1979.

Chiếc tăng T54 dẫn đầu mũi tiến công của Trung đoàn 273, Sư đoàn 341 vượt qua cầu MôMiVông vào Phnom-Pênh.

Thủ đô Phnom pênh đây ư?

Thủ phủ của bọn đầu não Pon Pót- Yêng xa Ri đây ư?

Không có 1 phát súng bắn trả.

Không có bóng một tên lính Pốt nào.

Những quân trang, quân dụng của bọn Pốt vất ngổn ngang đầy đường.

Những cung diện nguy nga tráng lệ.

Những Chùa Vàng, Chùa Bạc đâu rồi.

Những căn nhà, những dẫy phố.

Với những kiến trúc đặc trưng của đất nước Chùa Tháp, nói nên đã có một thời hưng thịnh, nhiều năm hưng thịnh sầm uất, đông vui bên bờ TôngLêSáp.

Giờ đây vắng tanh vắng ngắt.

Với những tòa nhà rêu phong, im lìm, như 1 thành phố chết.

Thủ đô giờ đây không một bóng người dân.

Những cư dân của thành phố đã bị bọn Pốt lùa hết lên rừng, đi xây dựng cái gọi là vùng kinh tế mới.

Xây dựng các công xã kiểu Trung Quốc.

Ăn chung, ở chung, làm chung, lấy nhau do các Ăng ka chỉ định.

Không chợ, không tiền, không trường học, không bệnh viện.

Không cả Chùa chiềng.

Trong tôi cùng những chiến sỹ tình nguyện Việt Nam, từ trong trái tim, như muốn kêu lên thật to:" Hỡi những cư dân Thủ đô Phnom Pênh, chúng tôi đã tới đây.

Đã đánh đổ bè lũ khát máu độc ác Pon Pốt- Iêng xa Ri cứu giúp dân tộc KH'me.

Các bạn ở đâu cả rồi?

Ai còn?

Ai đã chết dưới đao búa của bọn Pót khát máu, mất hết tính người này?".

Không một tiếng vọng trả lời, chỉ có gió, gió lay động các cành cây, như những linh hồn oan khuất trở về.

Cùng dòng Tonlesap ngầu đỏ, cuồn cuộc chảy như tiếng kêu than giận dữ , tố cáo tội ác bọn đao phủ, bọn dã thú đội lốt người Pon Pốt- Iêng xa ri khát máu....

Các đơn vị của Sư đoàn 7 đã chiếm giữ khu vực Hoàng Cung và 1 số nơi khác.

Đoàn quân của Trung đoàn 273 đã đến khu vực sân vận động Ô-lim-píc rồi phát triển theo đại lộ MôMiVông.

Tiến đến khu vực Đài Độc Lập, Đại Sứ quán Trung Quốc.

Khu vực Bộ Tổng tham mưu của Pốt.

Nơi hợp điểm của các cách quân ta và bạn đánh vào Phnom-Pênh.

Đúng 11g30' ngày 7/1/79.

Thủ đô Phnom-Pênh đã hoàn toàn giải phóng.

Lá cờ 5 ngọn tháp của mặt trận dân tộc giải phóng cứu nước CPC, cùng lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh của quân tình nguyện Việt Nam.

Phần phật tung bay trên đỉnh cột cờ của Hoàng Cung.

Báo hiệu chiến thắng.

Báo hiệu CM chân chính của nhân dân CPC đã thành công.

Báo hiệu chế độ diệt chủng Pôn-Pốt-Iêng-xari tàn bạo nhất trong lịch sử đất nước CPC đã bị lật đổ.

Báo hiệu âm mưu thâm độc của quan thầy Bành Trương phương Bắc đã bị phá sản.

Báo hiệu dân tộc Kh'me đã được cứu sống.

Báo hiệu đất nước CPC đã được hồi sinh.

CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ PHNOM PÊNH ĐÃ ĐẠI THẮNG LỢI.

MỘT NGÀY MỚI, MỘT KỶ NGUYÊN MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC CAMPHUCHIA, CỦA DÂN TỘC KH'ME ĐÃ ĐƯỢC HỒI SINH.

BẮT ĐẦU TỪ HÔM NAY.

NGÀY 7/1/1979 NÀY.

Đoàn quân của Trung đoàn 273.

Sau khi đã đến chiếm giữ những mục tiêu quan trọng.

Như sân vận động Olympic, Đại sứ quán Trung Quốc, Đài Độc lập.

Ở mỗi nơi, đều treo những lá cờ của MTDT cứu nước CPC 5 ngọn tháp.

Cùng lá cờ Quốc kỳ Việt Nam cờ đỏ sao vàng 5 cánh vào những nơi trang trọng nhất.

Rồi cả đoàn quân như diễu hành từ phố này sang phố khác.

Đúng ra là cứ đi lòng vòng.

Trên các đường phố chết.

Nhưng ngổn ngang, những quân trang, quân dụng của Pốt.

Có lúc đi qua cả nhà máy sản xuất thuốc lá.

Chắc lính Pốt vào lấy, hay lục phá, mà rất nhiều bao thuốc lá hiệu ARA, hiệu COTAP đầu lọc và loại không đầu lọc.

Vất đầy cạnh đường.

Lính ta nhấy xuống tận thu số chiến lợi phẩm giá trị nhất này.

Chiều tối thì vòng về gần khu vực vòng xoay đầu cầu của Mô Mi Vông.

Trung đoàn bộ dừng chân tại vị trí dẫy nhà 3 tầng.

Từ chiều, đã có nhiều đơn vị tiến vào TP, nhưng giờ đây khi gần tối.

Mỗi đơn vị được giao dừng chân ở mỗi nơi, thi thoảng mới có tiếng súng lẻ loi vọng lại.

Chiều muộn, gió từ sông thổi đến mát lạnh, ai nấy đều vô cùng mệt.

Thành phố vẫn im lặng, lúc này, mọi người như thấy Thành phố lớn rộng hơn.

Trong khi thấy mình như bé nhỏ lại.

Anh em Ban 5 của Trung đoàn, đã kịp nấu ăn cho Trung đoàn bộ.

Lúc này khoảng 18h30' tối, đang ăn cơm.

Bỗng mấy loạt súng rộ lên bắn về phía Trung đoàn bộ.

Tất cả vồ lấy súng, lắng nghe diễn biến tiếp.

Nhưng cũng chỉ có mấy loạt AK đấy.

Có lẽ anh em nào gặp gà, gặp lợn gì đây?

Nhưng khoảng 10' sau 1 đồng chí chạy lại chỗ Đại đội Trinh sát.

Mặt "cắt không còn giọt máu" hổn hển nói: Pốt phục bắn xe.

Thủ trưởng Khánh trúng đạn rồi.

Mọi người vây lấy, hỏi kỹ thì được biết Thủ trưởng Phan Khánh, Trung tá trưởng phòng hậu cần Sư đoàn, cùng đ/c Yến Đại úy Trợ lý tuyên huấn Sư đoàn. và 1 đ/c chiến sỹ nữa, đi xe Jeep vượt qua.

Tưởng Trung đoàn 273 ở đó, đang chạy thì thấy mấy bóng áo đen.

Chúng bắn mấy loạt vào xe.

Thủ trưởng Khánh, Trưởng ban Yến đều trúng đạn.

Quá bất ngờ.

Đ/c lái xe quay xe lại, nhưng vòng gấp, xe bị lật, đ/c lái xe lộn mấy vòng rồi chạy về.

Vị trí đó cách đây khoảng hơn 1km.

Một tình huống thật bất ngờ, Trung đoàn lệnh cho Đại đội Trinh sát, cùng 2 Đại đội của Tiểu đoàn 1, đánh lên.

Trời đã nhập nhoạng tối, anh em vận động lên.

Gặp xe đang nằm nghiêng giữa đường.

Có 3 người nằm gục, vắt vẻo các hướng.

Máu loang thành vũng nơi xe đổ, 1 bộ phận ở lại vị trí xe.

Còn tất cả phát triển lên tiếp.

Nhưng thật kỳ lạ, không thấy bóng thằng Pốt nào?

Không có bóng một người dân nào?

Không có phát đạn nào, loạt đạn nào bắn nữa.

Một sự cố đáng tiếc, và thật sự bất ngờ.

Cả 3 đ/c đã hy sinh.

Suốt dọc đường chiến dịch cho tới vào đây.

Không có 1 đ/c nào hy sinh.

Mà bây giờ, ngay buổi tối ngày 7/1, lại có sự vụ đáng tiếc này.

Mọi người cảm thấy điều gì hơi rờn rợn.

Ai nấy, đều kiểm tra lại súng đạn, bóng tối ập xuống.

Tối đầu tiên - khởi đầu của đêm đầu tiên tại Thủ đô Phnom-Pênh đã giải phóng.

Khoảng 7h tối.

Tôi thấy cần giải quyết cái sự "buồn".

Ngôi nhà bỏ hoang từ lâu, tôi rủ anh Phạm Ngọc Dũng, Trợ lý Quân lực Trung đoàn, ra đằng sau nhà.

Nơi có bãi đất trống cùng các khóm chuối.

Tối mò, đèn đóm không có, 2 anh em khoét cái "hố mèo" tụt quần, giải quyết việc riêng.

Súng để bên, căng mắt ra, xăm soi vào bóng tối.

Trời tối nhìn cái gì giờ đây cũng thấy giống hình người, cũng thấy nguy hiểm.

Đang "ngon trớn".

Bỗng tôi phát hiện những quả đạn đỏ lừ, từ xa đang bay hình vòng cung rất nhanh về phía chúng tôi.

Tôi hô to: Anh Dũng đạn pháo.

Rồi tay kéo quần tay xách súng chạy vội vào trong nhà.

Vừa vào được nhà thì đoành-đoành-đoành.....Những trái đạn 37 ly nổ dây chuyền tóe lửa, mảnh đạn bay rào rào ngay gần chỗ chúng tôi.

Rồi thêm nhiều loạt nữa.

Thật hú hồn.

Thế rồi 2 anh em cũng quên luôn cái việc giải quyết tiếp "chuyện riêng" kia nữa.

Mọi người phân công nhau canh gác.

Rất mệt nhưng có ai là giám ngủ say.

Anh em đều mong cho trời nhanh sáng.

Về phía bọn phản động Pôn-pốt-Iengxari.

Sau này chúng ta thu được một số tài liệu của chúng.

Thì mới biết được ngày 2/1/1979 khi tiếng súng tổng tiến công và nổi dậy.

Của lực lượng vũ trang cách mạng, đang uy hiếp mạnh các tuyến phòng thủ của địch.

Ở phía đông Phnom-pênh.

TW Đảng Pon-pot họp khẩn cấp, đánh giá tình hình quân sự và đã đưa ra quyết định: Rút vào rừng, tiến hành cuộc chiến tranh du kích trường kỳ, chống lại Việ Nam và sẽ chiến thắng Việt Nam sau khoảng 100 năm nữa.

Chúng tính rằng: Cứ 1 lính Khơ me đỏ sẽ tiêu diệt được 20 lính Việt Nam.

Theo tỷ lệ ấy thì sau khoảng 100 năm nữa nước Việt Nam sẽ bị Khơ me đỏ thôn tính.

Để thực hiện nghị quyết trên.

Trưa ngày 6/1/1979 Pon-pot cho dẫn Xi-ha-nuc đang bị giam lỏng từ khu vực Hòang Cung đến làm việc.

Rồi cùng Pon-pốt bay sang Trung Quốc.

Để cùng bè lũ Bành Trướng, bàn tính âm mưu.

Chúng định mượn tiếng nói của Ông cựu Quốc vương Xi-Ha-Nuc tại diễn đàn Liên hợp quốc họp ngày 8/1/1979.

Cùng với những âm mưu, thủ đoạn về ngoại giao.

Trưa hôm ấy tại Phnom-Pênh, Bộ Tổng chỉ huy Khơ me đỏ ra lệnh: tiêu hủy hết tài liệu, hòng phi tang toàn bộ chứng tích tội ác của chế độ diệt chủng".

Chúng vội vàng rút chạy bằng ôtô, tàu hỏa, theo đường 5-6 sang hướng Thái Lan.

Trong cuộc rút chạy hôm đó có cả Iêng-xari, Khiêuxămpon và toàn bộ bọn cầm đầu của chủ thể "CPC dân chủ".

Trong số rút chạy còn có cả Đại sứ quán Trung Quốc, do Tôn Hạo cầm đầu.

Trước khi tháo chạy sang đất Thái Lan.

Bọn trùm Khơ me đỏ và Thầy dùi Bành Trướng, đã thảo ra 1 kế hoạch, rất tỷ mỷ, cụ thể.

Cho bọn lính áo đen của chúng.

Xử dụng chiến thuật, nhanh chóng tản ra để bảo toàn lực lượng.

Nhưng cũng phải khẩn trương co lại, chống phá CM chân chính CPC, cùng Quân tình nguyện Việt Nam khi có điều kiện.

Vì thế ngày 9/1/79.

Tại diễn đàn Liên hợp quốc.

Bọn chúng cũng đã làm rùm beng về vấn đề CPC.

Chúng lớn tiếng vu cáo Việt Nam, bôi nhọ, đả kích Mặt trận đoàn kết Dân tộc của nước CPC.

Do ông Hên-xom-rin đứng đầu.

Đồng thời vẫn làm mọi cách, duy trì cái ghế đại diện của CPC dân chủ tại Liên hợp quốc.

Song cái mốc lịch sử ngày 7/1/1979.

Mà Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước CPC.

Được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam.

Lật đổ chế độ độc tài, khát máu, diệt chủng của Tập đoàn phản động Pon-pốt-Iengxari.

Giải phóng thủ đô Phnom-pênh.

Là thắng lợi, mang ý nghĩa vô cùng to lớn.

Của đất nước CPC, của dân tộc Khơ-me khỏi họa diệt chủng.

Nhưng thắng lợi đó chưa phải là triệt để.

Vì bọn cầm đầu và lực lượng Quân đội Pốt, chưa bị tiêu diệt hết.

Chúng đã chạy vào rừng, bọn đầu sỏ đã được dàn xếp, chạy sang cư trú ở đất Thái Lan.

Trước tình hình trên.

Bộ chỉ huy liên quân CPC-Việt Nam.

Quyết định chỉ đạo: Các lực lượng vũ trang của ta và bạn trên chiến trường CPC.

Phải tiếp tục triển khai ngay, nhiệm vụ chiến đấu.

Kiên quyết truy quét bọn tàn binh địch.

Không cho chúng tập hợp tổ chức lại, củng cố xây dựng căn cứ.

Để tiến hành chống phá CM.

Đồng thời tấn công vào rừng, truy diệt Pốt.

Những khu vực đông dân, đang tập trung, bị chúng lùa vào đó.

Để cứu giúp dân, giải phóng dân.

Các đơn vị phíasau, phải nâng cao cảnh giác.

Ra sức tuyên truyền, vận động nhân dân.

Phát hiệnnhững phần tử Pon-pốt khát máu, trà trộn trong dân, xây dựng chính quyền mớicủa nhân dân, các lực lượng vũ trangdân quân tự vệ.

Cùng cảc tổ chức quần chúng khác.

Thế rồi cái "đêm dài" đầu tiên tại thủ đô Phnom pênh cũng qua.

Trời đã sáng.

Mọi người đều cảm thấy khoan khoái, bừng tỉnh, khi mà cái sự nặng nề của bóng đêm được trút bỏ.

Anh em Ban 5 rất nhanh, phục vụ cho cơ quan Trung đoàn bữa sáng.

Bình minh chiếu dọi.

Gió nhè nhẹ thổi.

Một ngày mới thực sự bắt đầu.

Ban Chính trị tổ chức giao ban, thông báo về tình hình và n/vụ của Trung đoàn.

Theo đó n/vụ của Trung đoàn 273 vẫn dừng chân tại vị trí.

Các Tiểu đoàn được điều chỉnh lại đội hình.

Phải có n/v lùng sục kiểm tra, tìm những tên Pốt còn lẩn trốn.

Yêu cầu phải làm tốt công tác dân vận.

Phải bảo vệ tài sản của dân, của bạn.

Không được lấy hay thu những tài sản đang có tại thành phố khi chưa có lệnh.

Một n/vụ quan trọng nữa là bảo vệ cho đoàn cán bộ cấp cao.

Của bộ Tổng tham mưu, cùng cơ quan Tác chiến, sẽ đến bằng máy bay trực thăng.

Để thị sát tình hình Thủ đô Phnom-pênh.

Khoảng 9h sáng ngày 8/1/1979, chiếc máy bay trực thăng chở đoàn cán bộ cao cấp bay lượn vòng thành phố.

Tiểu đoàn 3 được lệnh bảo vệ khu vực bãi đáp.

Trên trời có 1 số tiếng nổ bụp bụp, rồi có những chùm khói của đạn pháo phòng không.

Bọn Pốt bắn máy bay, nhưng rất may là không trúng.

Máy bay lượn thấp rồi đỗ xuống ngay tại giữa cầu Mônyvông.

Tướng Đạo, cùng đoàn cán bộ rời máy bay vào làm việc với BCH Trung đoàn 273.

Rồi được Tiểu đoàn 3 bảo vệ, ông cùng đoàn cán bộ, với chỉ huy Trung đoàn đi thăm kiểm tra 1 số nơi.

Khoảng 10h, sau khi phân công đ/c Diến, cùng 3 đ/c bạn trong đội công tác.

Đi nắm tình hình dân bên kia cầu.

Tôi rủ anh Dũng quân lực, đi thăm thành phố.

Hai anh em, mỗi người có 1 khẩu súng K54 và thường đeo 1 túi mìn Cơlaymo.

Để đựng sổ sách hoặc các thứ linh tinh cho tiện.

Không an tâm lắm với 2 cái "đùi gà".

Tôi mang theo 1 khẩu AK với 2 hộp tiếp đạn.

Hai anh em bắt đầu đi vào trong trung tâm.

Quái lạ, bộ đội thì nhiều mà sao phố vẫn vắng vậy.

Đi qua các dẫy phố, các cửa hàng lớn nhỏ, buôn bán đủ thứ.

Chắc từ chế độ Lon Lon.

Nhiều gian hàng đã bị lục lọi.

Các cửa hàng vải vóc rất nhiều và đẹp, giống như các dẫy phố buôn bán ở Sài Gòn.

Có căn nhà đang bị cháy, Hai anh em đi nhanh ra khỏi nơi cháy.

Khu vực này đã thấy có từng tốp bộ đội, của các đ/v cũng vào các nhà hàng, cửa hiệu lục lọi tìm kiếm linh tinh, vải vóc, hàng hóa, giấy tờ, đồ văn phòng phẩm.

Cùng các đồ dùng quý rất nhiều.

Tới 1 cửa hàng bán vải, rất nhiều loại vải quý xếp trên kệ.

Hai anh em lấy 1 xúc vải, lấy dao găm cắt mép rồi xé.

Vải bền quá, không xé được.

Đành lấy dao cắt xé nham nhở.

Cắt xé cho mỗi người người khoảng hơn 2 mét vải khổ đúp, màu đen trên riềm toàn chữ Ăng lê-Tuyxi của Anh Quốc.

Lại đi tiếp vào 1 cửa hàng bán các loại máy văn phòng.

Anh Dũng nói: Toàn máy tính điện tử Phú ạ.

Thời đó tôi cũng như nhiều người, có biết máy tính điện tử là gì đâu.

Nên rất ngại, tôi nói: Đừng nghịch anh ạ.

Anh Dũng nguyên là giáo viên Trung văn dậy cấp 3.

Tại Quảng Yên, Quảng Ninh.

Anh cũng nhập ngũ năm 72 như tôi.

Nên về Khoa học kỹ thuật rõ hơn tôi.

Anh cầm 1 cái máy to bằng quyển vở, bấm bấm, bấm bấm.

Nhưng do tôi không hiểu, nên tôi sợ, gàn anh bỏ xuống.

Anh tần ngần, nhẹ nhàng bỏ cái máy tính xuống bàn, nhưng có vẻ vẫn tiếc.

Sau này tôi mới biết những cái máy tính đó rất có giá trị.

Nếu mang về Việt Nam, bán tại Sài Gòn thì có giá được khoảng 1 cây vàng.

Tới 1 cửa hàng tạp hóa, thấy có nhiều cái kéo cắt tóc có răng lược.

Tôi lấy 1 cái và 1 cái lược nhựa mầu đồi mồi.

Có nhãn hiệu France.

Nghĩ là làm 1 bộ để cắt tóc, cái kéo sau này thì mất, còn cái lược nhựa hiện tại tôi vẫn còn giữ.

Đã mấy chục năm rồi mà nó vẫn dẻo, chải đầu vẫn thích.

Đi tiếp1 lúc nữa, tới 1 cửa hàng.

Vừa kéo cái ngăn kéo ra, tôi thấy có một miếng kimloại mầu vàng.

Có 4 dòng chữ: Băng Cốc, Hồng Kông, Sài Gòn, Makao.

Tôi nóingay: Anh Dũng ơi có vàng.

Anh Dũng nói "đâu".

Tôi cầm đưa anh xem,anh Dũng nói vàng giả, chứ làm gì có vàng thật.

Tôi khẳng định ngay, đây là 1 câyvàng đấy, 4 chỉ.

Ở Sài Gòn em đã biết rồi.

Hai anh em ngần ngừ.

Anh Dũng thìthần người ra.

Rồi tôi quyết định lấy, tôi nói: lấy làm kỷ niệm anh ạ, mỗi anhem nửa, rồi lấy cái kéo có răng lược cắt đôi miếng vàng.

Anh Dũng vui hẳn lên.

Nói: Đúng là vàng thì quý lắm!

Vậy là anh cóquà cho chị rồi.

Hai anh em tiếp tục đi, vừa đi vừa ngắm thành phố, vừa nhìn các cửa hàng, chuyện trò vui hẳn lên.

Có thể là do sự phấn khích của các chiến lợi phẩm.

Mảnh kim loại màu vàng, mỏng hấp dẫn kia.

Hay bắt đầu vào con phố lớn, to hơn có các cửa hàng cửa hiệu rất đẹp.

Hai anh em vào 1 cửa hàng bán xe máy.

Có 1 dãy dài toàn xe Mobilette màu xanh, màu vàng mới tinh.

Tôi nói: lấy 1 xe để đi anh ạ!

Anh em mình tìm đường đến Hoàng Cung.

Tôi bèn dẫn ra 1 chiếc xe.

Xe không có xăng, tôi tìm thấy 1 can xăng, đổ đầy bình, Chống chân xe, nhẩy lên đạp.

Xe mới của Pháp quốc đã khác, vừa đạp một - hai vòng.

Máy đã nổ giòn và khói xanh thơm lừng.

Tôi hất chân chống rồi nói: Lên xe anh, anh Dũng lên ngồi đằng sau.

Tôi tăng ga, xe chạy ngon lành.

Chạy một lúc tới một con đường chỗ ngã ba.

Có mấy đồng chí bộ đội đơn vị nào đang gác.

Tôi hỏi thăm đường ra Hoàng Cung, anh em chỉ đường, cách đấy gần cây số.

Tôi chạy một mạch dọc bờ sông TonleSáp, tới nơi.

Trời!

Hoàng cung đây ư!

Cung điện Xihanúc, mà trong các sách báo thường ca ngợi đấy ư?

Tòa nhà cao to lộng lẫy, với lối kiến trúc rất Campuchia.

Trước mặt là con đường lớn, chạy dọc sông.

Khu vực Hoàng Cung nằm cạnh con lộ lớn đó.

Thảo nào, trong sách báo cứ tả: Hoàng Cung Xi ha núc nguy nga, đồ sộ, soi bóng xuống dòng Tônlesáp hùng vĩ.

Tôi háo hức, chống xe vất cạnh đường.

Hai anh em leo lên các bậc, vào khu vực như là hội trường lớn.

Ở đây đã có các đ/c (chắc của Sư đoàn 7) bộ đội canh gác.

Không cho chúng tôi vào, tôi nói: Tôi vào thăm Hoàng Cung một lúc thôi.

Anh em nói: Vậy các anh chỉ được vào nhà lớn này thôi.

Không được vào sâu bên trong, Vì bên trong, rất ngóc ngách.

Chúng tôi đang nghi còn có bọn Pốt lẩn trốn, rất nguy hiểm.

Tôi nói thế cũng được.

Hai anh em vào phòng khách, bỗng thấy mát lạnh.

Hoa mắt vì đồ đạc, tranh ảnh và đặc trưng là màu vàng, màu đỏ của chốn cung đình Á Đông.

Bên ngoài tòa nhà thì có lối kiến trúc rất CPC.

Nhưng trong nhà, thì toàn bàn ghế sa-lông, tuyệt sang trọng theo cách bài trí Châu Âu.

Có biết bao nhiêu tủ, bầy các vật trang trí đẹp vô giá.

Nào là những đôi ngà voi dài tới hơn 2m.

Được chạm khắc hàng ngàn con voi lớn nhỏ.

Rất nhiều ngà voi khác, cái nào cũng được chạm trổ tinh xảo.

Hay những cái sừng to.

Sau này mới biết đó là sừng têgiác.

Trong các tủ bày toàn là vàng bạc, ngọc xanh, ngọc đỏ theo hình các đồ vật.

Chắc là những kỷ niệm của các đoàn khách đến thăm.

Hay đi thăm, của ông Hoàng.

Hay có thể nơi đây là nơi lưu giữ kỷ vật, báu vật, từ bao đời Vua.

Rồi tranh ảnh các loại thật nhiều, cái gì cũng đẹp, cũng sang trọng.

Đến mức chúng tôi chỉ ngắm nhìn, nuốt nước bọt mà trầm trồ thán phục.

Chứ không giám chạm tay vào.

Trên bức tường vải nhung đỏ, tôi thấy treo nhiều loại kiếm.

Từ kiếm ngắn( đoản kiếm) như dao găm, dài khoảng 30cm.

Đến cái dài nhất (trường kiếm) treo trên cùng, dài hơn 1m.

Có tay nắm bằng ngà voi trắng, Khắc các chữ Nhật màu vàng, có chùm tua rua đỏ.

Bao kiếm cũng được chạm trổ cẩn vàng rất tinh sảo.

Ngắm mãi, thích quá, tôi nói với anh Dũng: Em lấy thanh kiếm dài nhất làm kỷ niệm.

Sau này tôi mới thấy mình thật ngốc, khi lấy thanh kiếm dài này.

Giá như lấy thanh kiếm ngắn thì có thể giữ được.

Tôi đứng lên ghế, tháo thanh kiếm xuống.

Bao kiếm thật đẹp, chạm trổ thật cầu kỳ.

Rút thanh kiếm ra, bản nó chỉ nhỏ hơn 2 ngón tay.

Không dầy, rất dài, trên cùng cách đầu kiếm khoảng 1 gang hơi cong.

Màu thép sáng xanh, sắc lẹm rợn rợn.

Hai anh em trầm trồ khen ngợi cây kiếm mãi.

Ngắm nghía mãi, hết những đồ vật, rồi ngồi xuống bộ salông to đồ sộ, sang trọng, vàng đỏ 1 lúc.

Tôi thấy có vẻ đi chơi đã lâu, đã sốt ruột.

Rồi tôi nói: về thôi anh à.

Hai anh em vô cùng vui vì buổi đi chơi.

Ra chỗ chiếc xe, không biết aiđã lấy đi rồi.

Chúng tôi đi bộ dọc phố.

Tôi rút thanh kiếm ra, múa múa như làhiệp sỹ đấu kiếm.

Gặp những cành cây nhỏ ven đường.

Tôi lia thử, cành cây to bằng nửa cổ tay, mà rụng xuống thậtêm, vết chém thật ngọt.

Tôi rất thích, rất vui vì lấy được thanh kiếm quý báunày.

Hai anh em đi dọc sông.

Gần đến vòng xuyến cầu Mônivông, nơi Trung đoàn bộ đóng quân.

Bất ngờ, 1 chiếc xe Jeep chạy đến, đỗ khự trước mặt.

Trên xe có mấy đ/c bộ đội, đeo băng đỏ kiểm soát quân sự, đeo bao se, súng đạn đầy mình.

Cùng với 2 người, Không đeo quân hàm, trông có vẻ nhiều tuổi.

Gọi chúng tôi lại, hỏi đường đi đến Hoàng Cung.

Tôi chỉ đường rồi nói: Các sếp cứ đi đi, anh em tôi vừa ở đó ra.

Tôi thấy 1 ông ở trên xe, cứ nhìn thanh kiếm tôi cầm.

Tôi định giấu đi nhưng kiếm dài quá, giấu đi đâu được.

Tôi bỏ đi, thì ông ta hỏi: Này: đ/c lấy thanh kiếm này ở đâu?

Tôi thật thà nói: Tôi vừa lấy trong Hoàng Cung đấy.

Ông ta nghiêm mặt nói: Hai đ/c đã vi phạm kỷ luật nhé, ai cho các anh lấy thứ này.

Tôi nói: ở đó có nhiều lắm tôi lấy chơi thôi mà.

Ông ta lại nói: lấy chơi cũng không được.

Hai đ/c mang ngay lại đấy.

Đúng là đánh đố nhau, thoáng nghĩ vậy, tôi nói: Vậy các anh đi lại đấy, trả luôn giúp tôi.

Rồi tôi đưa luôn cho 1 đ/c đeo băng đỏ.

Trong đầu nghĩ nhanh "mất rồi".

Chiếc xe vụt đi.

Tôi cứ thắc mắc và tiếc mãi thanh kiếm.

Rồi tự hỏi: liệu họ có trả lại thanh kiếm đó không?

Rồi cứ nghĩ mình ngốc, giá mà lấy cái thanh đoản kiếm kia làm dao găm thì có khi giữ được.

Về đến chỗ đóng quân.

Đúng lúc Ban chính trị tổ chức họp cả Ban, để phổ biến nhiệm vụ.

Nhìn nét mặt của mọi người, thấy ai cũng vui vẻ, hồ hởi, to nhỏ thì thầm.

Chắc mọi người cũng vừa đi "xem xét" thành phố như chúng tôi.

Trực tiếp đồng chí Chính ủy Trung đoàn Diệp Xuân Ánh và đ/c Nguyễn Kim Tiến - Phó chính ủy đến dự.

Đ/c Nguyễn Kim Tiến nói từng công việc một của cơ quan, của Tiểu ban phải làm.

Tôi còn nhớ đ/c Tiến nói: "Chúng ta đã đánh đổ bọn phản động Ponpôt-Iêngxari.

Hòa bình đã lập lại, bây giờ là lúc chúng ta phải xây dựng chính quyền cho bạn".

Chiến tranh như vậy đã kết thúc, vì vậy Cán bộ (Tiểu ban cán bộ) phải khoanh ngay, phanh ngay các trường hợp phát triển Cán bộ.

Tiến tới phải lo việc giải ngũ, nên dừng không phát triển Cán bộ nữa.

Không đề nghị phát triển Sỹ quan nữa.

Tôi nghĩ kiểu này lại giống như năm 75 đây.

Mình và rất nhiều người đã bị thiệt thòi khi chiến tranh kết thúc.

Bị nhầm lẫn chức vụ, mình không được phong hàm Sỹ quan.

Rồi cứ đeo mãi cái hàm Trung sỹ để đợi giải ngũ.

Mà sỹ quan và HSQ chiến sỹ tiêu chuẩn khác hẳn nhau.

Đường, sữa, nhu yếu phẩm cái gì Sỹ quan cũng được ưu tiên.

Cả từ cái mũ cối, đôi dép, cái thắt lưng hay bộ quần áo.

Sỹ quan có đợt được được phát, mà hạ Sỹ quan chiến sỹ thì không.

Đi chiến đấu, lính thì không có chế độ gì ở hậu phương.

Nhưng nếu là Sỹ quan, thì bố mẹ, vợ con ở quê được nhận lương của mình đầy đủ.

Tự nhiên tôi thấy nỗi buồn ập đến.

Thấy có gì bất công, bất mãn trong việc đối xử giữa cán bộ Sỹ quan và lính.

Đành rằng Sỹ quan là 1 nghề, hạ sỹ quan chỉ là đi nghĩa vụ.

Nhưng nghĩa vụ thì 1 năm 2 năm thôi, chứ thực tế đã có nhiều, rất nhiều người chỉ là lính mà đã có tới 5 năm, 10 năm trong quân đội rồi.

Họ thật là thiệt thòi.

Rồi đ/c Tiến nói sang việc xây dựng chính quyền.

Bảo vệ thành phố, như làm quân quản ngày xưa.

Tất cả những điều đ/c Tiến nói, đều từa tựa như là tình hình xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, giống như là sau ngày giải phóng 30/4/1975 ở Việt Nam.

Tiếp đến, đ/c Chính ủy Trung đoàn Diệp Xuân Ánh phát biểu.

Chính ủy Ánh là người lúc nào cũng nghiêm nghị.

Cũng đúng chuẩn, mẫu mực tromg từng câu nói.

Đúng là cấp trên khéo chọn ông, đúng với nhiệm vụ Chính ủy mà ông đang đảm trách.

Phòng họp khói mù, thơm lừng mùi thuốc lá cao cấp, toàn thứ sang trọng.

Ông chỉ mọi người nhìn khói thuốc lá rồi nói: Tôi đố các đ/c khói thuốc thơm này là loại thuốc là gì?

Mà sao có vẻ khang khác, sao khói thơm mà hình như ai cũng hút.

Mọi người nhao nhao lên trả lời trong niềm phấn kích sẵn có: b/c Chính ủy thuốc lá Contap, và ARA, Toàn là thuốc thơm hút ngon lắm Chính ủy ạ.

Chính ủy Ánh hỏi tiếp: Vậy hả?

Anh em lấy ở đâu mà nhiều thế?

Anh em trả lời là trong TP có 1 nhà máy sản xuất thuốc lá.

Anh em ban 5 đã lấy được 1 số.

Chính ủy nghiêm nét mặt nói: Chết rồi!

Ai cho phép các đồng chí lấy!

Ai cho phép các đồng chí hút?

Ban chính trị mà hút thuốc lá, mà lấy chiến lợi phẩm của bạn thế này thì sai rồi, vi phạm kỷ luật to rồi.

Các đ/c đã được học tập các quy định, các hướng dẫn về công tác dân địch vận, kỷ luật chiến trường.

Các tài sản ở TP này là của bạn.

Từ cái kim, từ sợi chỉ hay như điếu thuốc lá đều là của bạn.

Chúng ta đều không được phép sử dụng.

Các đ/c phải làm gương ngay cho anh em chiến sỹ dưới đ/v.

Chúng ta chỉ được phép tận thu súng, tận thu đạn hay các phương tiện phục vụ cho chiến đấu vv....

Còn tất cả tài sản, cơ sở vật chất chúng ta giao lại cho bạn hết.

Phòng họp lúc đầu sôi nổi, hồ hởi, vui là thế.

Giờ đây tất cả im phăng phắc, tắt lịm như bếp lửa đang cháy, bị dội vô thùng nước lạnh.

Chính ủy Ánh nói tiếp một hồi, nào là: Hiện tại tôi biết các đơn vị.

Anh em đang có hiện tượng vi phạm kỷ luật rất nhiều.

Nhất là trong việc thu nhặt hàng hóa, nhu yếu phẩm v.v...

Ngay ban 5 của Trung đoàn, tôi cũng được nghe nói đã tận thu rất nhiều vải vóc, thuốc men, đường, sữa, bột ngọt v.v..Ai?

Ai cho phép các đ/c lấy các thứ đó.

Phải trả lại ngay, các đồng chí lấy ở đâu, thì phải mang trả lại ngay cho bạn ở đó.

Ông càng nói càng hăng.

Vốn tính người chặt chẽ trong phát ngôn, trong việc này, ông lại quá bức xúc.

Hai hàm răng ông xít lại, nước da vốn có của dân miền biển Thái bình, được tô mầu lại bằng những trận sốt rét rừng.

Giờ đây trông lại càng tái.

Hai bên khóe miệng đã có trắng trắng của nước bọt, trông càng uy.

Các trợ lý mặt cũng tái theo, ngồi im không ai nói gì được nữa.

Sợ xanh mặt, vội dập đi các điếu thuốc đang hút.

Mọi người cũng đã thấy những cái sai của mình.

Của anh em, của các đơn vị.

Trong cái vấn đề: " chiến lợi phẩm".

Không ai nhúc nhích, mọi người im lặng nghe ông nói.

Sau lời phát biểu giáo huấn của Chính ủy.

Đ/c Chủ nhiệm chính trị Đặng Lưa phát biểu, nội dung xin nhận khuyết điểm.

Rồi hứa BCT sẽ phải làm gương, phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc các đơn vị.

Trong việc nâng cao cảnh giác, và chấp hành nghiêm các quy định.

Nhất là quy định về dân vận.

Rồi ông nói: Hướng giải quyết các nhu yếu phẩm anh em đã tận thu.

Là cứ tạm giữ vào một kho.

Khi có điều kiện sẽ trao trả lại cho bạn.

Ý kiến đó không được Chính ủy đồng ý.

Vì cho rằng để ở kho, giao cho anh em, cũng sẽ rất phức tạp.

Anh em vẫn sử dụng làm của riêng.

Về thuốc, thì Quân y xem có loại nào sử dụng được, để chữa bệnh cho thương binh, bệnh binh, thì Quân y giữ lại.

Còn lại phải trả lại hết về chỗ cũ.

Các đ/c trợ lý dân vận phải duy trì, kiểm soát việc này cho tốt.

Thật là phức tạp.

Lúc đó tôi xin phát biểu và đưa ra một ý kiến.

Để tháo gỡ là: Hiện tại trong Thủ đô dân không có ( vì ta và bạn chưa cho dân vào).

Nhưng bên kia cầu Monivong có nhiều dân tập trung.

Ban 5 thu lại hết số hàng hóa đó, rồi cùng cán bộ dân vận Bạn chính trị, cùng tổ công tác của Bạn.

Sang bên kia cầu, phân phát cho dân.

Việc làm này được 2 cái tốt.

Một là dân đang nghèo không có cái ăn, không có cái dùng.

Nên ta phát không cho họ, để tạo nên cảm tình của Quân đội cách mạng, Quân đội Việt Nam.

Vừa được ý nghĩa chính trị.

Thứ 2 là chúng ta vừa không bị cấp trên phê bình kỷ luật là lấy hàng hóa.

Vì ta sẽ có lý do là: Lấy để phát cho dân nghèo CPC.

Hay sáng kiến thật hay.

Mọi người đều hưởng ứng với đề nghị trên.

Chính ủy Ánh và Phó chính ủy Tiến đều đồng tình với phương án đó.

Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, bắt đầu xì xào, cất lời trở lại.

Nhưng cũng không ai giám hút thuốc nữa.

Phòng họp đã trong hẳn lại.

Không còn sợi khói nào nữa.

Trở về nơi ở, tôi gặp lại anh Dũng.

Anh Dũng cũng vừa họp với Ban Tham mưu xong.

Gặp tôi anh Dũng nói: Việc chiến lợi phẩm thấy gay quá Phú à.

Liệu mình cầm cái kia có sao không?

Tôi nói: Có một tí, anh cứ cất giấu cẩn thận, ai biết được?

Có phải cái gì lớn quá đâu mà anh lo.

Riêng mấy mét vải, anh lấy dây dù buộc vào 2 đầu.

Ai có hỏi, thì mình nói là lấy làm võng nằm không ngại đâu.

Anh Dũng cười ha ha nói: Sáng kiến hay đấy!

Anh Dũng nói với tôi: Anh cũng vừa đi họp Ban về.

Trong thành phố, có rất nhiều ôtô mới, Trung đoàn sẽ lấy mấy cái để phục vụ.

Anh đang điều anh em biết lái xe ở dưới đ/v lên.

Tôi nói luôn: Hùng bạn em ở Đại đội 25 cũng lái được xe.

Anh điều Hùng lên giúp em, chứ nó gầy gò mà ở Đại đội vận tải khênh vác nặng lắm không chịu được.

Anh Dũng nói: Được rồi anh sẽ viết quyết định ngay.

Tôi nói tiếp: Vậy thì hay quá, để em xuống nói với Hùng cho nó vui.

Tôi cùng 1 đ/c bạn trong tổ công tác xuống Đại đội 25.

Đại đội 25 là Đại đội vận tải của Trung đoàn.

Thường phải làm những công việc mang vác, phục vụ rất nặng nhọc.

Chứ không phải là vận tải cơ giới.

Đa số anh em là lính 72-74 thường là số tụt tạt, mới được điều động ở cứ lên để phục vụ chiến đấu.

Trong chiến đấu thường ở phía sau, đào hầm, vác đạn, hay khênh cáng thương binh, liệt sĩ.

Gặp tôi xuống, Hùng và anh em rất vui.

Mang đủ các thứ ra chiêu đãi.

Đại đội toàn lính già, cho nên những cái khôn, cái tham, cái quỷ quái của lính cũng nhiều.

Anh em khoe với tôi là lấy được, thu được rất nhiều thứ.

Nhìn mặt ai cũng ngời ngời, ánh lên niềm vui.

Anh Khi, anh Bỉnh cùng mấy anh em khoe vào được mấy nơi vàng bạc, nữ trang nhiều lắm.

Cả vé máy bay nữa.

Tôi nói đưa cho tôi xem.

Tôi giải thích đây là vàng lá, mỗi miếng là 1 cây vàng 4 chỉ.

Các dòng chữ này ý nói là loại vàng tín nhiệm được lưu hành tại Thủ đô của các nước.

Anh Khi đưa cho tôi xem 1 hộp đựng các loại nữ trang.

Rồi nói: Anh có lấy thứ gì thì lấy.

Nhìn hộp vàng nữ trang đủ các loại khoảng 2 kg nhưng sao tôi lại thấy rất dửng dưng.

Nhưng rồi cũng lấy mấy thứ trang sức nhỏ.

Rồi dặn anh em phải cất giấu cho kỹ, chứ tình hình kỷ luật nghiêm lắm.

Tôi nói thêm: Anh em nên lấy cái gì cải thiện cho vào bụng luôn thì tốt.

Chứ cầm vàng cũng hay xui xẻo lắm.

Tôi báo với Hùng về việc điều động lên làm lái xe.

Hùng vui nhưng lại tỏ ra rất lo nói: Tôi đã biết lái đâu.

Tôi hỏi thêm: Thế ở đây có anh em nào biết lái xe không?

Hùng nói có Xướng lính 78 quê Hải Phòng, Trước ở nhà đã đi phụ xe khách, lái được xe.

Tôi nói vậy để tôi về nói anh Dũng điều cả lên.

Ông cứ nói là đã biết lái xe rồi nhé.

Khi tôi về, anh em chochúng tôi 1 ba lô toàn rượu và nhu yếu phẩm.

Tôi ngần ngừ nhưng rồi nghĩ ngaylà kỷ luật cấm mình, chứ không cấm cán bộ chiến sỹ của Bạn.

Thế là YVơn khoácluôn cái balo hàng quý hiếm đó về.

Tôi trở về tìm gặp anh Dũng, nói anh điều cả Xướng ở dưới Đại đội 25 lên.

Vì Hùng lái xe chưa tốt lắm.

Xướng nó đã đi phụ xe khách ở Hải Phòng lái tốt hơn Hùng.

Anh điều cả 2 lên, cho đứa lái chính đứa lái phụ càng tốt.

Anh Dũng đồng ý với tôi.

Nói để tối, anh viết lệnh cho Tham mưu phó ký.

Sáng mai điều anh em lên.

Trời đã về chiều.

Trung đoàn bộ được lệnh di chuyển sang bên kia cầu Mônivông.

Rẽ tay trái theo con đường đất cạnh sông.

Nơi đấy lưa thưa có những ngôi nhà sàn.

Trong những khu vườn thật rộng toàn hồng xiêm, quả xanh, quả chín rất nhiều.

Ban chính trị cũng ở một căn nhà sàn trong những khu vườn ấy.

Bạn 5 đã nấu cơm cho anh em toàn cá tươi.

Anh em kể cá dưới sông nhiều lắm anh ạ.

Những con cá kìm to bằng nửa cổ tay bơi từng đàn trên mặt nước.

Có cái đầu, hàm răng dài như mồm cá sấu.

Trông chúng bơi, tìm mồi, y như là các chiến hạm bơi vậy.

Rất nhiều loại cá khác.

Nhiều đông đặc đến kỳ lạ.

Anh em chỉ cần cầm dao, mang mảnh gỗ ra làm thớt.

Lấy tay khua xuống nước, là cá đã bâu lại tìm mồi rồi.

Chỉ cần lấy dao lia một cái dưới nước, là rất nhiều chú bị chém.

Cứ thế là cho tay xuống vớt lên, mổ bụng vất xuống nước.

Cá lại bâu lại đông hơn, tranh nhau ăn ruột cá.

Ta lại lia dao xuống, và cứ vậy chỉ cần 1 lúc là đã đầy nồi cá to.

Đúng như là bắt cá trong chậu nhà mình vậy.

Anh em cứ thắc mắc: Sao cá ở sông nhiều thế?

Như là dân, hay lính ở đây không bắt cá, không ăn cá bao giờ.

Cơm nước xong.

Mọi người đang giăng võng ngủ.

Thì anh em Tiểu đoàn 1, dong đến một thằng tù binh, anh em bắt được trong lúc đi lùng sục.

Tên tù binh bị trói 2 tay ra đằng sau.

Không mặc áo, cởi trần, mặc mỗi cái quần xà lỏn.

Nhìn thằng tù binh tôi thấy lạ.

Vì nó không giống những tên lính Pốt đã thường gặp.

Da không trắng hẳn, nhưng không phải là nước da mai mái, sỉn đen của người CPC.

Khoảng 30 tuổi, béo tốt, có lẽ tên này lai Việt hoặc lai TQ.

Tôi Thoáng nghĩ vậy, tên tù binh rất sợ hãi.

Cũng không giống như những tù binh khác, tôi đã hỏi, đã gặp.

Là khi hỏi gì, dù nó có hiểu, hay không hiểu.

Thì chúng thường hay cười "nhe răng" ra, mắt trắng, răng trắng da đen sỉn, tóc xoăn, rất đặc trưng của người Kh'me.

Còn sao tên này hình thức khác hẳn và lại quá sợ như vậy?

Chẳng nhẽ đây là Chuyên gia hay Cố vấn TQ?

Tôi hỏi 1 số câu anh em dịch cho hắn nghe.

Hắn cứ khai linh tinh rồi cứ lấm lét nhìn.

Một lúc sau, tôi trở về chỗ nằm, nói anh em cứ thẩm vấn tiếp.

Khoảng 15', bỗng thấy có tiếng hô đứng lại, đứng lại cả bằng tiến Việt, và tiếng K.

Rồi 2 loạt AK vang lên.

Tôi choàng dậy xách súng chạy lại.

Đ/c Riến cùng Sa Chơn đang cầm súng thở gấp kể: Anh em đang hỏi cung, thì hắn vùng lên chạy.

Sa Chơn đã bắn, hắn bị trúng đạn chết rồi.

Thật là phức tạp, làm sao mà nó lại sợ chạy như vậy chứ?

Tôi báo với đ/c Lưa chủ nhiệm, về sự việc trên.

Đ/c Lưa báo cáo với chỉ huy Trung đoàn rồi về nói chúng tôi: Các ông xử lý đi.

Mấy ông Tuyên huấn, giúp Dân vận một tay.

Mới đầu mọi người bàn định thả xuống sông.

Nhưng đ/c Chủ nhiệm không đồng ý, nói nên chôn, chứ đừng làm thế.

Mọi người thấy việc phức tạp, phải chôn cất tên tù binh, bèn lỉnh đi làm việc khác.

Anh Hinh bên Tuyên huấn được phân công sang cùng tôi làm việc này.

Hai anh em hội ý với nhau, rồi anh em tôi ra quyết định: Là đào hố, chôn dưới gốc cây hồng xiêm, ngay nơi nó trúng đạn.

Rồi tôi đôn đốc mấy đ/c Bạn nữa ra đào hố.

Đất ở đây rất cứng, đào khó, gần một tiếng sau mới xong.

Anh em định cứ thế hất luôn xuống.

Tôi không nghe, nói với anh Hinh: "Nó cũng chết rồi, trong điều kiện này, mình cũng nên làm phúc, đặc ân cho nó đi".

Rồi tôi về lấy cái tăng ra, cởi trói vần nó vào tấm nilông.

Khi sờ vào người nó để vần vào nilong, cái cảm giác thật rùng mình.

Vì da thịt tên Pốt này sao lạnh giá thế.

Nhưng 2 anh em cũng gói ghém cẩn thận, xé băng cứu thương buộc cho nó cẩn thận.

Vừa làm vừa nghĩ: Mày là ai?

Sao mày dại thế?

Mày lại chạy để bị bắn chết.

Thôi tao làm thế này là làm phúc cho mày lắm rồi.

Gần10h tối, công việc mới xong.

Sau khi rửa tay chân, lên võng nằm.

Cứ thao thức,cứ dằn vặt mãi không ngủ được.

Cái khuôn mặt, cái hình dáng, và cái cảm giáclạnh đến ghê người của thằng Pốt cứ hiện ra.

Rồi tôi cứ thắc mắc mãi, cho đếnngày hôm nay.

Phải chăng tên tù binh này là Cố vấn, hay Chuyên gia TQ nên nómới sợ hãi, mới chạy như thế chứ?

Thế rồi một đêm dài, đầy trăn trở và mộng mị cũng đã qua.

Buổi sáng ngày 9/1, sau khi ăn sáng xong.

BCT tập trung để chia tay nhà thơ Bùi Minh Quốc.

Cùng nhà báo đã đi cùng Trung đoàn từ ngày đầu chiến dịch.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc bùi ngùi, nói lời cảm ơn chia tay mọi người để trở về Quân đoàn.

Anh đọc cho mọi người nghe bài thơ anh mới viết, trên đường tiến công cùng Trung đoàn.

Rồi anh đọc thêm 2 bài thơ khác nữa.

Tôi không còn nhớ hết những vần thơ, lời thơ ấy của anh.

Chỉ ấn tượng, rất ấn tượng ở cái dáng vẻ " lão nông" của ông.

Cùng những vần thơ như có tiếng súng tiến công, như có thiến bom thù.

Như có tiếng khóc thét hãi hùng cuả trẻ thơ, như có lửa cháy.

Như có máu chảy, có cả tình yêu lứa đôi hòa quyện.

Tôi hỏi nhà thơ: Sao anh đi chiến trường mãi rồi, mà bây giờ vẫn phải đi tiếp?

Anh trả lời: Ở Tòa soạn, ở Hội văn nghệ, họ nói bọn mình đã quen ở chiến trường rồi.

Đã có nhiều kinh nghiệm trận mạc.

Nên ra chiến trường viết thực tế hợp lý hơn!

Anh nói đứa em gái mình Bích Ngọc, hiện đang là phát thanh viên ở đài Sài Gòn giải phóng.

Thấy mình tiếp tục ra Biên giới, cứ gàn mình mãi nói là : Làm thơ thì cứ gì phải ra trận?

Có nhiều nhà thơ ở tại nhà, không biết trận mạc là gì.

Mà làm nhưng bài thơ cũng trở thành bất hủ.

Cũng được đưa vào trong sách giáo khoa của học đường cho học sinh học.

Cớ sao anh vẫn phải đi?

Nhà báo (..) thì nói: Anh Quốc thì có thơ đọc cho các bạn nghe.

Còn tôi nhà báo, thì sẽ có bài trong báo Quân đội, hay Tạp chí văn nghệ Quân đội để các bạn thưởng thức sau.

Tôi còn nhớ, sau lúc đó.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà báo bỏ ba lô, xếp hết quân tư trang ra.

Cầm cái ba lô dốc ngược nói: Các anh làm chứng nhé!

Trong balo chúng tôi không có một cái gì, gọi là chiến lợi phẩm đâu nhé.

Tôi nghĩ 2 ông này cẩn thận kỹ càng quá.

Có lẽ bởi sáng hôm 7/1 lúc ở bến phà Niếc Lương.

Anh đã cầm xem một cái trống gỗ, trên mặt có bọc da trăn.

Loại trống dân tộc, mà người dân CPC trong cái điệu nhẩy Lâm thôn là loại nhịp phách chính để dẫn dắt người nhẩy.

Người ta chỉ vỗ vỗ vào mặt trống, tạo ra tiếng bập bùng, bập bập bùng.

Nghe nói, dân CPC mà cứ nghe tiếng vỗ bập bùng của loại trống này.

Là tất cả các công việc vất lại hết.

Gìa trẻ trai gái lại người đung đưa, nhún nhẩy theo nhịp trống.

Thả hồn theo điệu múa Lâm Thon rất truyền thống này.

Hôm đó, anh đang cầm xem cái trống.

Vỗ, vỗ thử, thì gặp ngay Trung đoàn trưởng Trần Măng.

Lúc đó Trung đoàn trưởng đang điên đầu, sốt ruột, lo lắng cho Trung đoàn vượt sông.

Nên đã quát to như là mắng nhà thơ.

Về việc lấy, hoặc xem cái trống đó.

Nhà thơ không nói gì.

Lặng im mang cái trống ra, nhẹ nhàng đặt vào cái đống hỗn độn những quân tư trang, hòm xiểng, xe bò kéo bên đường ấy.

Tám giờ sáng, anh Dũng Quân lực sang tìm tôi nói: Anh đã điều 2 đứa lên rồi đấy.

Phú có sang nói chuyện với chúng nó không.

Tôi đi cùng anh Dũng sang gặp Hùng và Xướng có cả Trung đoàn phó và Tham mưu phó ở đó.

Đang giao nhiệm vụ cho anh em đi lấy ôtô.

Tôi nói trong thành phố ngay anh em nói: Bên kia cầu có khu để rất nhiều ôtô mới.

Hùng với Xướng nói luôn: Anh đi cùng giúp tôi với.

Tôi về gọi thêm Sa Chơn trong đội công tác rồi đi vào trong TP đến chỗ bãi để xe.

Đúng là khu này có mấy dẫy xe mới nguyên.

Toàn xe giải phóng và xe Hồng Hà của Trung Quốc.

Sau khi kiểm tra xe, Xướng nói: Xe không có điện anh Phú ạ.

Hùng thì đúng là không biết gì về xe.

Rất vui vì được điều lên, nhưng lại cứ lớ ngớ không hiểu gì về kỹ thuật xe.

Xướng nói tiếp: Em chỉ biết lái chứ có biết gì về sửa chữa đâu.

Thật may là ngày xưa tôi đi học cơ khí.

Đã có 6 tháng chuyên đi phụ sửa chữa ôtô, nên cũng có một số hiểu biết.

Tôi bất đắc dĩ trở thành người sửa xe.

Mò mẫn 1 tý tôi nói ngay là xe mới, chưa có ắc quy điện.

Rồi nói Xứng và Hùng sang tìm ở các xe khác, hay trong kho có ắc quy thì lấy về lắp.

Hai anh em vào trong nhà kho thì thấy ngay cả đống ắc quy xếp trong đó.

Hùng và Xướng khênh ra.

Tôi lại lọ mọ nghin cứu cách lắp đặt ắc quy, rồi đấu nối điện cho xe.

Thế rồi cũng đấu điện được đúng.

Xướng bật chìa khóa, đề máy.

Èng- èng rồi khực- khực.

Rồi Xướng đề lần thứ 2 thì máy nổ.

Mọi người òa vui.

Xướng chỉnh lại cái ghế ngồi cho hợp lý rồi tăng ga vào số vọt lên rất thành thạo hơi có phần mạnh bạo.

Xướng chạy thử mộtvòng rồi nhiều vòng nữa.

Như vậy là việc lấy và điều khiển chiếc xe mới đã hoàntất.

Tôi nói bây giờ 2 ông xem lấy thêm 1 bình ắc quy nữa đề phòng và lấy cácthùng dụng cụ sửa chữa.

Ông Xướng phải dạy ngay cho ông Hùng lái xe.

Vì ở đây khorộng tập lái được.

Rồi tôi quay sang nói với Hùng.

Bằng mọi giá sáng nay ôngphải biết lái, biết điều khiển xe đấy nhé.

Chúng tôi trở về nơi đóng quân.

Sau khi ăn cơm xong, thì cùng Ban 5 và mấy anh em trong đội công tác, ra khu vực đầu cầu ( hình như nơi đây trước kia là chợ).

Tổ chức phân phát số hàng hóa mà Ban 5 đã tận thu trong thành phố cho dân.

Khỏi phải nói là nhân dân vui sướng như thế nào.

Khi nhận được đủ thứ nào là vải vóc, quần áo, mì chính, đường, sữa cùng các loại nhu yếu phẩm khác.

Mọi người hô to, liên tục "trây dô con Top VN, trây do con Top CPC".

Đến khoảng 3h chiều, thì số hàng hóa trên 2 xe ô tô cũng đã được phân phát hết.

Thì cũng là lúc nhận được lệnh di chuyển vào sâu bên trong.

Anh em Trung đoàn bộ tiếp tục hành quân dọc phía Đông Bắc sông TongLeSáp.

Rồi Trung đoàn bộ dừng chân, ngay đối diện với Hoàng cung XiaNuc.

Nơi đây là trận địa pháo phòng không 100 ly còn mới tinh.

Tổng số có 8 khẩu, chắc chúng mới đưa về làm trận địa.

Để bảo vệ PhnomPênh, nhưng có vẻ là chưa được thử súng lần nào.

Các nòng pháo đang được bịt đầu vươn lên trời đều quay về hướng Đông Bắc.

Xe xích kéo pháo, những thùng đạn pháo vàng ươm còn tinh nguyên.

Xếp xung quanh.

Các Tiểu đoàn bộ binh rải ra lùng xục.

Ngoài con đường sát sông này là cao, còn hầu như là bãi cây lúp xúp nhà cửa rất ít.

Ban 5 nấu cơm cho anh em, bữa cơm hôm nay có món tôm hùm và tôm càng xanh rất to.

Nghe nói là Sư đoàn thu được trong các kho đông lạnh tại sân bay.

Số hàng hóa thực phẩm này, đang đợi xuất sang Trung Quốc.

Sư đoàn cho phép Phòng Hậu cần tận thu và chia cho các đơn vị.

Đúng là đời lính chưa bao giờ được nhìn, được ăn những con tôm to đến thế.

Chỉ có điều là không có rau.

Đúng ra không được phép hái rau, hái cà chua.

Kể cả mấy vườn hành rất tốt ngay đây, cũng không ai được phép đụng đến.

Tôi còn nhớ, Tiểu bạn Cán bộ tổ chức, nấu canh bằng những thứ rau hái được quanh đó.

Đang nấu thì Chính ủy Diệp Xuân Ánh đi qua hỏi: Các đồng chí nấu gì đấy?

Đ/c Tuấn trưởng Tiểu bạn trả lời là: Báo cáo Chính ủy anh em cấu ít rau dại nấu cải thiện.

Đ/c Chính ủy nói một câu vô cùng thâm thúy: "Rau dại nhưng mà người khôn".

Các đ/c không đọc nội quy à?

Mấy anh em đang nấu canh, đứng ngây ra như trồng, rồi dập bếp, đổ nồi canh đi.

Rồi từ đó cái câu " Rau dại nhưng người khôn" nó trở thành câu cửa miệng vui của lính trong Trung doàn.

Khi có vấn đề gì cần nói về vấn đề dân vận.

Sáng hôm sau, ngày 10/1.

Anh em Tiểu đoàn 3, dong đến 1 " tù binh" mặc quần áo lính Pốt.

Nhưng lại là người Việt nói tiếng Việt.

Anh em nói: " tù binh" khai là lực lượng Đặc Biệt của mình, nhẩy dù xuống đêm 5/1.

Cách Hoàng Cung 2 km về phía Bắc.

Sau khi tôi cùng anh em thẩm vấn, thì thấy tù binh khai đúng như vậy.

Đây là lực lượng Đặc Biệt của ta.

Lực lượng này có 36 người, được huấn luyện ở Thủ Đức.

Có 14 người CPC, còn lại là bộ đội VN.

Sau khi được máy bay trực thăng thả xuống phía Bắc Hoàng Cung khoảng 2km.

Thì lấy thuyền, giả là lính Pốt.

Với nhiệm vụ xuôi xuống, tấn công vào Hoàng cung.

Để giữ ông XiaNuc đang bị giam lỏng trong đó.

Nhưng khi gần đến Hoàng Cung thì bị lộ.

Bọn Pốt bảo vệ ở khu vực này rất đông.

Anh em chiến đấu, hy sinh gần hết.

Còn đ/c này bơi được sang bờ Bắc, trốn lủi suốt từ đêm ngày 5 đến sáng ngày 10/1 thì anh em Tiểu đoàn 3 phát hiện được.

Người "tù binh" này nói với tôi là báo gấp lên trên một câu mật khẩu.

Tôi báo lại với Trung đoàn và báo gấp lên Sư đoàn .

Sau khoảng chưa đến 30 phút, đã thấy có 1 ca nô rẽ nước từ bên Hoàng Cung sang đón.

Hai Đ/c sang đón rất cảm ơn anh em Trung đoàn 273.

Nói là:"Cấp trên và chúng tôi đang rất sốt ruột, mong tin của lực lượng Đặc Biệt này".

Rồi cùng đ/c lực lượng Đặc Biệt xuống ca nô về bên kia sông.

Như vậy, không phải chỉ có Quânđoàn 4 tiến vào Phnompenh đầu tiên.

Mà trước đấy, còn có những lực lượng ĐặcBiệt nữa.

Sau này chúng tôi có thêm thông tin, là 36 chiến sỹ biệt động đó đãchiến đấu, hy sinh còn sống sót có 1 người.

Rất may là "tù binh" đã được anh emTiểu đoàn 3 đã bắt giữ được.

Mà tôi là người trực tiếp thẩm vấn chuyện trò vớingười" TÙ BINH ĐẶC BIỆT" này.

Trong những ngày này, Cuộc Cách mạng chân chính của nhân dân CPC.

Dưới sự giúp đỡ chí tâm, chí tình của nhân dân Việt Nam.

Trực tiếp là Quân đội Việt Nam, đã tiêu diệt, đã lật đổ chế độ diệt chủng của bọn đao phủ Pôn Pốt-IêngXaRi.

Đất nước CPC đã được giải phóng.

Thủ đô PhnômPênh được giải phóng.

Nhân dân CPC đã được tự do, Dân Tộc Kh'me đã được hồi sinh.

Toàn dân CPC, già trẻ, gái trai, đang vui với hạnh phúc lớn.

Sự hồi sinh của cuộc sống, mà cứ nghĩ như trong mơ.

Thậm trí, nhiều người còn không dám, chưa dám tin là mình thật sự thoát khỏi ngục tù đen tối.

Đầy đau thương chết chóc.

Trong những tháng ngày qua, dưới sự cai trị của bon đao phủ Pon Pốt, Bọn Ăng Ka, các Công xã mà chúng gọi là xây dựng đất nước tiến thẳng lên "Cộng Sản chủ nghĩa".

Thực chất toàn đất nước, đâu đâu cũng chỉ thấy dưới mặt đất là lũ áo đen ghê sợ, trên tay đứa nào cũng có ngoài súng ra còn có một cái búa lưỡi rừu sắc lẹm.

Chúng sẵn sàng đập vào đầu mọi người và cả hàng đoàn người dân vô tội.

Những người dân thành phố, những bác sỹ, những trí thức, những nhà khoa học.

Hay tất cả trẻ em là con em họ.

Chỉ vì chúng gọi là dân loại 3, dân Thành phố cần phải tiêu diệt, cần phải cải tạo hay loại bỏ.

Giống như bọn Đức quốc xã, tiêu diệt người Do Thái trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

Chúng xây dựng chế độ xã hội không có tiền, không có chợ.

Không có trường học, không có bệnh viện, Đất nước CPC là đất nước của đạo Phật rất truyền thống mà giờ đây chúng phá hết cả đền chùa, tiêu diệt tàn sát cả những người tu hành coi họ là những phần tử ăn bám cần loại bỏ.

Đấy là dưới mặt đất.

Còn trên trời, từng bầy quạ đen xì.

Cất những tiếng kêu quạ quạ đến ghê rợn.

Những tiếng kêu của sự no đủ mừng vui những bữa tiệc, thây ma người chết chỗ nào, nơi nào cũng có.

Những cây thốt nốt, những rừng cây thốt nốt rất đặc trưng của đất CPC cũng không còn sức sống.

Cũng tàn lụi xác xơ.

Những tầu lá ngả nghiêng, đu đưa vật vã trong trong gió bão.

Như những bàn tay bấu vứu vào không trung, cùng tiếng thét gào kêu cứu.

Mặt trời đã lên cao.

Những tia nắng đầu tiên của ngày mới làm ấm lòng người.

Bừng lên sức sống mới.

Nhưng những tia nắng mới chưa thật đủ sức nóng, để xua đi tất cả những mây mù, những bóng ma, những tên đao phủ, những thần chết, những lũ quỷ khát máu.

Chúng cũng đã rất nhanh chân, chạy trốn vào rừng, sát Biên giới Thái Lan.

Rồi từ đó, chúng lại được bọn quan thầy hà hơi tiếp sức.

Bắt đầu củng cố lại lực lượng, củng cố lại dũng khí.

Quay lại chống phá Cách mạng.

Thế là chỉ sau mấy ngày được bình yên, những người dân vô tội lại bị cướp bóc hãm hại.

Nhân dân những làng xa trục đường giao thông, những cụm dân cư bị chúng lùa vào trú ngụ trong rừng sâu.

Xa các đô thị, xa thành phố, bắt đầu bị chúng giết hàng loạt.

Thậm chí chúng đã tổ chức cả cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn, Sư đoàn.

Có cả xe tăng, cả pháo binh yểm trợ.

Điên cuồng tấn công vào các LL cách mạng.

Gây cho ta một số tổn thất.

Thậm chí một số vùng đã được giải phóng, đã bị chúng chiếm lại gây nên những hoang mang cho dân.

Gây khó khăn cho các cấp chính quyền vẫn còn rất non trẻ của bạn.

Vì vậy cuộc chiến đấu của quân và dân CPC và các đơn vị tình nguyện Việt Nam.

Tiếp tục còn phải chiến đấu, còn phải đổ máu, còn phải hy sinh.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Trước tình hình trên, Bộ chỉ huy liên quân CPC-Việt Nam.

Quyết định: Các lực lượng vũ trang trên chiến trường CPC, phải triển khai ngay nhiệm vụ chiến đấu.

Kiên quyết truy quét, tiêu diệt tàn binh còn đang rất mạnh của địch.

Không cho chúng kịp tổ chức củng cố, xây dựng căn cứ quân sự.

Tiến hành chống phá CM.

Chúng ta vừa phải tiến công truy quét tàn quân địch.

Phải tiến công vào sâu trong rừng để cứu dân, giải phóng dân.

Phải đưa hàng vạn, hàng chục vạn người dân vô tội đang bị chúng kìm giữ.

Trở về quê hương, thoát khỏi sự quản lý giam cầm dưới nanh vuốt, lưỡi búa tử thần của bọn Ăng Ka bọn Khơ Me đỏ khát máu.

Những đơn vị hoạt động ở phía sau, phải nâng cao cảnh giác.

Xây dựng tinh thần chiến đấu thật cao, cảnh giác trước những âm mưu và thủ đoạn mới của địch.

Ra sức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân.

Hiểu rõ bản chất, tội ác của Tập đoàn phản động Pôn pốt-IêngXaRi.

Tố cáo các phần tử địch chà trộn trong dân, trong chính quyền.

Xây dựng chính quyền nhân dân các cấp, và lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh.

Quân đội nhân dân VN.

Các LL tình nguyện Việt Nam phải phát huy cao hơn nữa.

Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần Quốc tế vô sản.

Giúp đỡ CM bạn, giữ vững thành quả thắng lợi.

Mà Đảng nhân dân CM-CPC.

Nhà nước Cộng hòa nhân dân CPC cùng nhân dân cả nước.

Đã giành được, bằng chiến thắng vang dội ngày 7/1/1979.

Chấp hành mệnh lệnh trên.

Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4.

Giao nhiệm vụ cho Sưđoàn 341, bảo vệ thủ đô Phnom-Pênh ở hướng Tây Nam.

Truy quét tàn binh địchtrên địa bàn tỉnh Công Pông Xpư.

Bảo vệ, giải tỏa, thông đường số 4 từPhnom-pênh đi cảng Công Pong Xom.

Thế là Cán bộ chiến sỹ Sư đoàn 341 cùng toànquân Tình nguyện VN bắt đầu bước vào giai đoạn mới của cuộc chiến.

Với vô vànnhững khó khăn, gian khổ, đổ máu cùng sự hy sinh.

Cuộc chiến dài, cực kỳ khốc liệtbắt đầu từ những ngày này..

Tỉnh lỵ CôngPôngXpư nằm trên trục đường số 4.

Cách thủ đô PhnômPênh 48km về phía Tây Nam.

Từ thị xã này kéo dài về phía Bắc-Tây Bắc là rừng núi, nối liền với tỉnh Cô Công.

Hướng Bắc-Đông Bắc cũng là rừng đại ngàn tiếp.

Giáp với tỉnh Pua Xát- CôngPôngChiNăng- BátTamBăng và kéo dài tới tận Biên giới Thái Lan.

Rừng núi đại ngàn liên tiếp.

Đã tạo thành một vành đai chiến lược quan trọng.

Một ưu thế cho cuộc:" chiến du kích" trong rừng của Pốt.

Những năm trước, bọn Pốt đã dựa vào những rừng núi hiểm trở này.

Để thực hiện chiến tranh du kích với chính quyền Lon Lon.

Chúng đã tổng tiến công, giành thắng lợi cũng dịp tháng 3 năm 1975.

Trước chúng ta khoảng 2 tháng.

Hiện nay, trong tình hình mới.

Để tiến hành chiến lược chiến tranh lâu dài với Việt Nam.

Bọn Pốt, cùng quan thầy Bành trướng vẫn chọn tỉnh này, khu vực rừng núi này.

Làm những khu Tổng kho hậu cần, vũ khí chiến lược của chúng.

Toàn bộ vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh của bọn Bành trướng Trung Quốc.

Chuyển sang cảng Công Pong Xom theo đường số 4.

Đều dồn về đây, rồi từ đây chúng chuyển và phân phát đi cho khắp nơi.

Chúng cũng đang xây dựng một tuyến đường sắt hiện đại.

Đường bộ số 4 hiện đại.

Thẳng từ cảng về Công Pông XPư.

Khi chúng ta vào chiếm lĩnh thị xã.

Vẫn còn hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh, chúng không thể chuyển cất giấu hết vào rừng.

Có rất nhiều khu kho lớn rộng hơn cả khu tổng kho Long Bình-Biên Hòa.

Nhiều khu đã bị lực lượng Không quân của ta oanh kích, cháy nổ nhiều ngày liên tiếp.

Sau cú choáng váng của đòn đánh tổng tiến công của Bạn.

Cùng các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam ngày 7/1.

Chỉ sau ít ngày, bọn Pốt đã nhanh chóng tụ tập lại.

Phần lớn lực lượng của Quân khu Tây Nam.

Cùng toàn quân của các Sư đoàn 703,221.340 và Đoàn 152 Lính thủy đánh bộ của Pốt.

Hội tụ về hướng Bắc-Tây Bắc và Tây Nam thị xã Công Pông Xpư.

Ở Bắc đường số 33, là tàn quân của các Sư đoàn 230,310,270 cùng Văn phòng 870 ( Văn phòng Trung ương Đảng của Pốt ).

Bộ Tổng tham mưu của Pốt đóng ở khu vực Am Leng phía bắc thị xã Công pông Xpư khoảng 60km.

Trước tình hình đó.

Theo điều động của Quân đoàn.

Ngày 14/1/79 Sư đoàn 341 đưa Trung đoàn 266 lên thay vị trí của Trung đoàn 10, Sư đoàn 339 tại thị xã Công Pông Xư pư.

Trung đoàn 270 đứng chân trên tỉnh lộ 33.

Cách thị xã 15km về phía Bắc- Tây Bắc.

Trung đoàn 273 đứng chân trên Tỉnh lộ 26.

Cách thị xã khoảng 10km về phía Đông- Đông Nam.

Sư đoàn bộ, Trung đoàn pháo 55, cùng các đơn vị trực thuộc đóng quân ngay tại thị xã Công Pông Xpư, và khu vực Nhà máy đường.

Sau khi ổn định vị trí đóng quân các đơn vị bắt tay ngay vào nhiệm vụ truy quét địch và vận động nhân dân.

Xây dựng chính quyền trên Tỉnh lỵ công pông xpư

Theo đài kỹ thuật của ta.

Trên địa bàn đảm nhiệm của Sư đoàn 341 ngày 18/1 địch đã tập trung về các lực lượng sau:

Sư đoàn 703 ở khu vực núi LôVia phía Bắc đường số 4 đối diện trực tiếp với Trung đoàn 270 của ta.

Sư đoàn 221 và 152 ở khu vực núi Voi, Nam đường số 4 đối diện trực tiếp với trung đoàn 273.

Sư đoàn 340 ở khu vực Nam- Tây Nam thị xã.

Đối diện trực tiếp với Trung đòan 266.

Cáclực lượng Quân sự địa phương của chúng, cũng lợi dụng địa hình phức tạp củarừng núi.

Tăng cường hoạt động, khi thì phân tán, khi thì tập trung.

Xen kẽgiữa các đơn vị của ta và lực lượng Quân đội bạn.

Đánh phá đường giao thông,chặn đánh bộ đội ta hành quân.

Hoặc tối tối, tiến công vào các Phum Xã mớithành lập giết dân, giết cán bộ chính quyền mới.

Chúng tổ chức bao vây, bu bámchia rẽ đơn vị của ta.

Tổ chức rất nhiều đội bắn tỉa.

Gây rất nhiều khó khăncho chúng ta.

Với lực lượng đang còn rất mạnh.

Được dồn từ các địa bàn về đây, nên mật độ lính, mật độ các đầu Sư đoàn, Trung đoàn, Tiểu đoàn.

Cùng các lực lượng vũ trang khác.

Cùng với chính quyền các công xã, các Ăng Ca ở khu vực Công Pông Xpư là rất đông.

Ở nước ngoài, trên trường Quốc tế, thì thủ lĩnh Pốt. lúc nào cũng đi kèm với ông cựu Hoàng Xianun.

Cùng với dàn hợp xướng kèn trống, dàn dựng rất công phu của Bành trướng Bắc Kinh.

Đang bị đau.

Chúng vô cùng tức tối, chúng lồng lộn như điên.

Trước thất bại, trước đòn đánh ngày 7/1.

Của lực lượng cách mạng chân chính CPC.

Cùng sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam khiến chúng choáng váng và coi như bị "Nôcao".

Chúng như những đoàn hát rong, chúng thất thểu, đi rêu rao khắp nơi.

Lớn tiếng la um xùm là: Việt Nam sau khi thắng Mỹ, đã tự cho mình là mạnh nhất khu vực.

Mạnh nhất thế giới, nên bắt đầu đi xâm chiếm, đi thôn tính các nước nhỏ láng giềng bên cạnh.....

Thực ra, nếu quan sát viên của các nước trong Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.

Mà không tới CPC.

Không chứng kiến một xã hội, một dân tộc, một đất nước, đang bị diệt chủng.

Thì ai cũng thấy, việc lớn tiếng kêu la của chúng là có lý.

Song chúng kêu càng to, kêu càng lớn thì các nước, kể cả HĐBALHQ đều muốn đến CPC cùng Việt Nam.

Để nghiên cứu đánh giá và khảo sát thực tế.

Rồi như các bạn đã biết.

Sau những chuyến đi khảo sát của các đoàn Quốc tế tới Biên giới VN-CPC và đất nước CPC.

Thấy được sự gây chiến, lấn đất biên giới, giết hại dân Việt ở biên giới rất dã man.

Được xem thực tế thảm cảnh của đất nước CPC.

Những cánh đồng chết, những nhà tù, những bãi xương người.

Với những đầu, sọ của những em nhỏ.

Với những vết đập vỡ sọ dẫn đến cái chết.

Cùng với hàng vạn nhân chứng sống, từ em nhỏ đến các cụ già, các nhà Sư tu hành.

Các tầng lớp nhân dân kể tội ác diệt chủng, có một không hai trên thế giới.

Thì mọi người mới vỡ lẽ ra.

Mới thật sự giật mình, mới thấy được sự diệt chủng loài người, của tập đoàn Khơ Me đỏ.

Điều này cũng đã làm cho thầy trò lũ diệt chủng "mất mặt".

Mất uy tín trên trường Quốc tế.

Dư luận đã hiểu ra và dần ủng hộ Việt Nam.

Đánh giá sự giúp đỡ của Quân tình nguyện VN là việc làm đúng.

Việc làm kịp thời, vì công lý.

Để cứu nguy cho một dân tộc bị họa diệt chủng.

Nhưng rất nhiều thế lực phản động khác.

Bọn Bành trướng, vẫn tìm mọi cách không công nhận thực tế đó.

Vẫn bôi xấu VN.

Vẫn nói cứng nhắc là: 'Dù sao đó cũng vẫn là việc nội bộ của một nước.

Là chúng ta vẫn là vi phạm vào các công ước Quốc tế" v.v...và chúng lấy cớ đó xù các khoản viện trợ.

Bồi thường chiến tranh mấy tỷ USD mà chúng ta đã thỏa thuận với Mỹ.

Cùng một số nước khác.

Đã cam kết cùng hỗ trợ, bồi thường cuộc chiến tranh theo công ước quốc tế mà Mỹ cùng các đồng minh can dự.

Đúng là trong những ngày này.

Chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn trên chính trường quốc tế.

Nền kinh tế trong nước chưa kịp vực dậy sau cuộc chiến tranh dài.

Lại phải bước vào cuộc chiến mới, hao người tốn của.

Các nước tập trung đòi nợ.

Những món nợ ngày xưa ủng hộ, viện trợ ta giúp ta đánh Mỹ.

Cùng với một số chính sách cải tạo kinh tế cuả chúng ta, không thật phù hợp với tình hình mới.

Cứ rập khuôn theo cách quản lý như ở Miền Bắc.

Áp đặt chế độ quan liêu bao cấp ở miền Bắc vào miền Nam.

Làm cho nền kinh tế của cả đất nước càng bị suy sụp.

Đời sống của nhân dân cả nước, nhất là các khu vực các tỉnh miền Nam, thấp hơn bao giờ hết.

Làm giảm sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân.

Như vậy, những người lính ở chiến tuyến, chịu ảnh hưởng ngay, ảnh hưởng rõ nhất về sự thiếu hụt trang thiết bị, cơ sở vật chất, hậu cần, đời sống của người lính.

Trong bối cảnh đó, " Văn phòng 870" của Trung ương Đảng Pốt.

Đã chỉ thịcho quân Pốt phản công; "Chiếm lại những địa bàn quan trọng, tiến tới giành lạitoàn bộ đất nước."

Thế là cuộc đọ súng cùng với đọ trí dũng vô cùng gay cấn bắtđầu.

Theo kịch bản đó.

Đúng 5h sáng ngày 21/1 bọn Pốt mở đợt tổng phản công trên toàn tuyến phòng ngự của Sư đoàn 341.

Ở hướng Bắc đường 26, chúng dùng 3 Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 221 cùng với xe tăng, thiết giáp yểm trợ.

Đã liều lĩnh, điên cuồng tiến công, bao vây uy hiếp Tiểu đoàn 2.

Của Trung đoàn 273 đang bảo vệ Đông Nam thị xã Congpongxpu.

Việc chúng dùng lực lượng lớn cấp Trung đoàn, có cả xe tăng, thiết giáp cùng pháo binh chi viện.

Chủ động tiến công ta, cũng làm cho ta bất ngờ.

Nhất là anh em Tiểu đoàn 2.

Chúng tổ chức bao vây chặt Tiểu đoàn 2.

Cắt đứt liên lạc bằng hữu tuyến với Trung đoàn bộ.

Liên tục tiến công vây hãm.

Làm cho tình hình chiến sự ở khu vực Tiểu đoàn 2 rất căng thẳng.

Thậm chí chúng tập kích, thay nhau tiến công.

Quần đảo làm cho anh em không nấu được cơm.

Phải bỏ bữa nhịn đói, hoặc phải sử dụng lương khô, lương thực dự trữ.

Chỉ huy Trung đoàn 273 vô cùng lo lắng.

Rất sốt ruột, trước tình hình diễn biến của chiến sự.

Các đơn vị khác cũng bị chúng vây và tấn công.

Nên chưa có cách nào chi viện cho nhau, nhất là chi viện Tiểu đoàn 2.

Anh em hy sinh, bị thương nhiều.

Nhưng phải để ngay tại vị trí của từng Đại đội, Tiểu đoàn.

Mà chưa có cách nào chuyển về phẫu của Trung đoàn được.

Quân số bị thương mỗi giờ một tăng.

Nhưng trước sự bao vây chặt của Pốt.

Cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 2, đã rất dũng cảm chiến đấu, bám giữ chốt.

Trừ những chốt độc lập, râu tôm bị rơi vào tay Pốt.

Còn lại Tiểu đoàn 2 đã giữ vững được trận địa.

Đánh lui nhiều đợt tấn công của Pốt.

Cường tập, tấn công ào ạt mà không nhổ được chốt.

Bọn Pốt thay đổi chiến thuật là: Bao vây o ép.

Rồi từ xa bắn pháo, cùng các hỏa lực khác vào đội hình ta.

Hiểm độc nhất là chúng dùng nhiều súng bắn tỉa.

Gây cho ta không ít thương vong.

Sáng ngày 23/1.

Trung đoàn điều Tiểu đoàn 3, cơ động từ hướng đường 33 lên chi viện cho Tiểu đoàn 2.

Tiểu đoàn 3 vừa cơ động ra khỏi vị trí tập kết.

Thì đã bị 2 Tiểu đoàn của Pốt chặn đánh.

Như vây là chúng đã điều nghiên kỹ các vị trí đóng quân của ta.

Chúng đã lên kế hoạch từ trước tương đối là cụ thể.

Nên rất nhanh chúng bu bám, ngăn chặn.

Không cho Tiểu đoàn 3, cơ động ứng cứu Tiểu đoàn 2.

Thế là trận chiến đấu ngoài công sự giữa Tiểu đoàn 3 cùng 2 Tiểu đoàn của Pốt diễn ra vô cùng gay cấn và ác liệt.

Anh em Tiểu đoàn 3 xung phong nhiều lần.

Nhưng chúng cứ như là dây co, tiến lùi giữ khoảng cách bám các đơn vị.

Ta dừng thì chúng lại chủ động tiến công.

Dẫn dắt quân ta vào thế đánh của chúng.

Đến khu vực nhiều tre gai có lợi cho chúng thì chúng chốt cứng.

Trong khi anh em mình thì đang ở thế bất lợi.

Phơi ra trảng trống.

Lúc 8h sáng cùng ngày.

Tôi cùng đ/c Diến và 3 anh em trong đội công tác.

Xuống 1 phum gần đó để tổ chức xây dựng chính quyền.

Tuyên truyền giải thích, vận động nhân dân về tội ác của bọn Pót diệt chủng.

Phát động nhân dân cùng các lực lực lượng võ trang.

Cùng sự giúp đỡ của Quân tình nguyện VN.

Quyết tâm tiêu diệt bọn Pôn Pốt.

Khoảng gần trăm người dự mít tinh thật vui.

Mọi người bầu ra được 1 Phum trưởng, 2 Phum phó cùng các tổ chức khác.

Khí thế của dân thật sôi động.

Tội ác của Khơ me đỏ của lính Pốt thì ai cũng đã biết.

Anh em tôi giải thích sâu về việc có mặt của Quân tình nghuyện Việt Nam cứu giúp CM và nhân dân CPC.

Đến 10h bà con mời chúng tôi ăn cơm.

Trong lúc tiếng súng của Tiểu đoàn 3 và Pốt vẫn vọng đến căng thẳng.

Chúng tôi cho bà con giải tán rồi đi về hướng Tiểu đoàn 3.

Sở chỉ huy của Tiểu đoàn 3 cách đó khoảng gần 1 cây số.

Trời nắng như đổ lửa BCH Tiểu đoàn đang chỉ huy chiến đấu.

Trong một dòng mương cạn nước, chung quanh khu vực là toàn bụi tre gai.

Đồng chí Phan sỹ Thống Tiểu đoàn trưởng.

Năm 75 là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 1 với tôi 2 anh em rất thân nhau.

Mặt Tiểu đoàn trưởng đỏ gay, mồ hôi đầm đìa trông rất mệt mỏi.

Đang gào lên trong máy bộ đàm chỉ huy các Đại đội tiến công.

Chung quanh là các đ/c Chính trị viên cùng các Trợ lý.

Các đ/c thông tin, trinh sát vây quanh.

Nhìn nét mặt ai cũng thấy căng thẳng.

Bộ đội đã rất cố gắng nhưng không thể phát triển lên được.

Tiếng súng, tiếng đạn của Pót vẫn bắn trả điên cuồng.

Tiếng đạn nhọn chiu chíu về sở chỉ huy.

Các bụi tre gai cùng lá cây khô cháy nổ nốt đốp.

Khói khét lẹt giữa trưa nắng.

Điểm thêm tiếng nổ của B40- B41, cối, pháo.

Làm cho tình hình cùng bức tranh chiến trận càng thêm khốc liệt.

Mọi người thoáng bừng vui khi tôi và anh em trong đội công tác đến.

Sau mấy câu chào hỏi cùng mọi người.

Tiểu đoàn trưởng Thống nhìn tôi thay cho câu chào.

Rồi tiếp tục cầm tổ hợp báo trực tiếp với Trung đoàn; Báo cáo tình hình diễn biến của Tiểu đoàn 3 gặp khó khăn.

Có dấu hiệu xấu, xin chỉ thị của Trung đoàn.

Nhìn dáng mệt mỏi của Tiểu đoàn trưởng Thống.

Tôi nói mọi người pha nước đường cho Tiểu đoàn trưởng.

Rất may, khi vào trong phum, lúc về.

Bà con trong phum cho ít đường thốt nốt cục cùng gói me chua khô.

Anh em cho đường cùng bóp me vào quậy, chế biến ngay được thứ nước giải khác lý tưởng.

Cho Tiểu đoàn trưởng cùng mọi người uống.

Nước đường cùng vị chua của những quả me lúc này thật là giá trị.

Làm giảm nhiệt, giảm sự căng thẳng mệt mỏi của Tiểu đoàn trưởng cùng anh em.

Nhưng trước tình hình chiến trận.

Tiểu đoàn trưởng Thống vẫn có phần nản, bất lực vì tình huống đang diễn ra ngày càng khó khăn phức tạp.

Quân số thương vong được báo về ngày càng nhiều.

Lúc đó, tôi nói với Tiểu đoàn trưởng Thống cùng BCH là: Các anh thậtbình tĩnh, đợi xem ý Trung đoàn xử lý thế nào?

Tôi bàn với đ/c Chính trị viênTiểu đoàn cho anh em trong đội công tác phát loa kêu gọi bọn Pốt.

Làm công tácbinh vận.

Sau khi trao đổi với BCH Tiểu đoàn3.

Mọi người đồng ý về kế hoạch địch vận của tôi.

Tôi nói đồng chí Diến cùng tổ công tác mang loa ra cách vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 3 khoảng 50m.

Tìm 1 vị trí thích hợp có vật che đỡ.

Gác loa lên 1 chạc cây, rồi đọc lời kêu gọi.

Của mặt trận đoàn kết các dân tộc CPC, lên án tội ác của Khơ Me Đỏ.

Kêu gọi những người lính Pốt trở về quê hương.

Tiếng loa vang vang trong trời nắng.

Trong sự ngột ngạt cùa khói lửa chiến trận.

Thật kỳ lạ, tiếng súng của phía Pốt im hẳn.

Sau một lúc, chúng lại bắt đầu bắn.

Nhưng tiếng súng có vẻ không gay gắt như trước.

Một vài quả đạn ĐK hay B41 phóng nổ về hướng trước chúng tôi.

Anh em trong đội công tác vẫn kiên nhẫn đọc những tờ truyền đơn, kêu gọi lính Pót trở về.

Cùng cương lĩnh của CM chính nghĩa CPC.

Trong lúc đó, Trung đoàn đã xử lý tình hình chiến trận là: Điều Đại đội trinh sát 20 cùng một Trung đội ĐK của Đại đội 15 một Trung đội 12,7 ly của Đại đội 16.

Tiến công, đánh tạt sườn bọn Pốt giải thể bế tắc cho Tiểu đoàn 3.

Được sự hỗ trợ Tiểu đoàn 3 cũng xung phong, thoát khỏi thế bế tắc và địa hình bất lợi.

Rồi lại co về tạo thế phòng ngự chốt giữ.

Như vậy mục tiêu của Trung đoàn điều Tiểu đoàn 3 đi giải vây cho Tiểu đoàn 2 không thành.

Vậy là tiểu đoàn 2 đã 3 ngày bị Pốt vây hãm, cô lập với các đơn vị.

Nên tình hình vô cùng khó khăn.

Nhiều vị trí chốt giữ của ta phải co lại.

Đạn đã phải rất tiết kiệm dè sẻ.

Trong lúc bọn Pốt vẫn hết tốp này tốp khác, thay nhau đột phá, lẫn dũi.

Chúng dùng cả B40-b41 bắn cầu vồng như mưa vào các vị trí chốt của ta.

Sang ngày 24/1 ngày thứ 4 của cuộc vây hãm của pốt.

Tiểu đoàn trưởng Trần Đức Nghĩa bàn với Tiểu đoàn phó Nguyễn xuân Trường.

Đề nghị với Trung đoàn cho pháo cao xạ 37 ly cơ động lên gần khu vực tác chiến.

Bắn chi viện hỗ trợ Tiểu đoàn 2 phá vòng vây.

Phương án được Trung đoàn cùng Sư đoàn chấp nhận.

Trung đoàn điều thêm Đại đội 20, cùng lực lượng hỏa lực tăng cường đánh hỗ trợ.

Sau những loạt đạn 37 bắn rải như mưa vào khu vực cánh trái vòng vây của Pốt.

Tiếp giáp giữa Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 2.

Tiểu đoàn phó Nguyễn Xuân Trường Quê Thái Bình, cùng Đại đội 6 chủ động rời khỏi công sự tấn công.

Hướng này đang có khoảng chục xe Thiết giáp của Pốt.

Nên pháo 37 của ta dùng cả đạn nổ sát thương cùng đạn xuyên.

Một xe bọc thép bị trúng đạn xuyên.

Số còn lại lùi lại.

Đ/c xạ thủ B41 Đặng Nguyên Hồ vọt lên bắn cháy liên tiếp 2 xe nữa.

Bọn thiết giáp quay đầu tháo lui.

Đại đội 6 thừa thắng xốc tới.

Cùng lúc Tiểu đoàn 3, Đại đội Trinh sát 20 cũng xung phong tấn công.

Thế là trước ủng hộ mạnh mẽ của pháo 37 ly cùng sự Tiến đánh 3 hướng của Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 2, Đại đội 20.

Vòng vây của pốt đã bị vỡ.

Hành lang Tiểu đoàn 3 đến Tiểu đoàn 2 tới Trung đoàn bộ lúc 9h30' Đã được thông sau hơn 3 ngày bị cô lập.

Lực lượng vận tải, quân y nhanh chóng tiếp vận đạn cùng cơm nắm, lương thực cho chăm sóc thương binh Tiểu đoàn 2.

Tổ chức khênh chuyển thương binh về phía sau.

Song trận chiến vẫn còn tiếp diễn đến 14h mới im hẳn tiếng súng.

Chính thức lúc này, Tiểu đoàn 2 mới thực sự được giải vây, phá tan được vòng vây của Pót.

Cùng âm mưu phản công chiến lược của chúng.

Xung quanh các chốt của Tiểu đoàn 2, hàng trăm xác Pốt rải rác khắp nơi.

Cuộc phản công quy mô lớn đầu tiên của Trung đoàn Pốt.

Hòng đánh mở bàn đạp, phản công chiến lược.

Tái chiến thị xã Công Pông Spư đã bị bẻ gẫy.

Về cơ bản, trận địa chốt của Tiểu đoàn 2 vẫn trụ vững vàng.

Song anh em bị thương và hy sinh cũng rất nhiều.

Trong chiến thắng này, phải chăng có sự góp phần của tiếng loa địch vận.

Của tổ công tác dân dịch vận ngày hôm trước.

Tối hôm đó tại khu vực đóng quân của Trung đoàn bộ.

Anh Khương, Y sỹ Trung đoàn bộ nói với tôi là được lệnh đi áp tải xe chở một số Thương binh cùng Liệt sỹ về VN.

Anh Khương quê ở Thái Bình.

Nhưng lấy vợ ở Sài Gòn, khu vực trường đua Phú Thọ nơi đơn vị đóng quân làm Quân quản.

Vợ vừa sinh con trai.

Tôi sang chỗ anh Khương có cả Hùng lính lái xe mới đã ở đó.

Thường ngày ba anh em hay chuyện trò với nhau.

Anh Khương đang hý hoáy chuẩn bị đồ đạc để sáng mai về nước.

Nhìn, nghe anh tính tính, toán toán.

Để làm sao mang một số chiến lợi phẩm nho nhỏ về nước .

Nghe đâu dịp này ở cửa khẩu, bộ đội Biên phòng.

Cùng kiểm soát liên ngành, kiểm tra rất kỹ những bộ đội về nước.

Thậm chí, có nhiều trường hợp, còn bắt bộ đội phải cởi cả quần áo ra để khám người, khám xe.

Xem có giấu cái gì quý hiếm bên trong.

Nhìn anh Khương gói gói, giấu diếm thật buồn cười và cũng thông minh.

Khi anh mài hộp sữa, đổ sữa đi.

Rồi cho các thứ linh tinh vào bên trong.

Rồi buộc cả mấy hộp sữa Ông Thọ đó vào với nhau coi như là mang sữa về.

Anh Khương hỏi tôi là có gì gửi về không?

Tôi đắn đo 1 chút rồi nói vớianh Khương; Tôi có mấy thứ này, anh mang về đổi chè thuốc và làm quà cho cháu.Rồi tôi cũng phải móc mãi trong chỗ ' kín" ra cái mảnh vàng nhỏ.

Cùng mấy đồtrang sức khác mà anh em Đại đội 25 cho.

Trong đầu nghĩ: Chiến tranh lại khốcliệt, cho đi cho nhẹ người.

Đúng là "cho nhẹ đũng quần" Đỡ phải nghĩngợi sui sẻo.

Trong những ngày này, không phải chỉ có hướng của Trung đoàn 273 là căng thẳng.

Mà ở hướng Bắc-Tây-Bắc và Tây- Nam thị xã CôngPôngSpư.

Nơi các Trung đoàn bộ binh 270-266 chấn giữ, cũng không kém phần căng thẳng.

Suốt cả tuần, chưa đêm nào anh em được nghỉ trọn giấc.

Vì những trận tập kích, bu bám nhỏ lẻ của Pốt.

Kết hợp với những trận mưa hỏa lực từ xa vào các vị trí chốt của ta.

Mục tiêu chiến thuật của Pốt là: Tăng cường Trinh sát.

Vờn dứ, làm cho anh em ta mệt mỏi, căng thẳng.

Những tốp lính Pốt cỡ Trung đội, cứ thay nhau vào " rỉa".

Chúng bí mật mò vào chốt, quăng lựu đạn, bắn lấp tập.

Khi ta đánh trả thì chúng lại chạy, nếu chỗ nào thấy chốt của ta " mỏng" thì chúng hò hét, bắn phá mạnh mẽ.

Như vậy là chúng đã biết rõ các vị trí chốt phòng thủ của mình.

Nhưng từ đêm ngày 23/1 thì các quy luật trên thay đổi.

Cả đêm, không thấy tiếng súng tập kích nhỏ lẻ nữa.

Chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn nhận định.

Dấu hiệu bất thường này, có thể chuẩn bị cho trận tiến công quy mô lớn của chúng.

Phòng Tham mưu Sư đoàn, tổng hợp tình hình.

Thường xuyên theo dõi diễn biến của Pốt.

Liên tục thông báo cho các đơn vị, nhắc phải đề cao cảnh giác.

Đề phòng và chủ động đánh địch tập kích lớn.

Mọi người như thấy "Mùi" của trận chiến ác liệt, khốc liệt đang bốc lên .

Khu vực chốt giữ của các đơn vị đang thực sự nóng bỏng.

Được thông báo về tình hình Pốt tổ chức vây hãm Tiểu đoàn 2 mấy ngày.

Nên các Trung đoàn 270-266 đôn đốc các Tiểu đoàn, Đại đội tăng cường củng cố, phát triển nhiều hầm hào, ụ chiến đấu.

Súng đạn đều được lau chùi bảo quản sạch sẽ.

Dự trữ lương thực khô cùng nước uống đầy đủ.

Mọi việc chuẩn bị cho trận chiến thật kỹ lưỡng, đối phó với đòn tấn công và bao vây dài ngày của Pốt.

Trung đoàn pháo, tăng cường lấy các phần tử bắn theo yêu cầu của các Tiểu đoàn.

Trung đoàn bộ và các đ/c xạ thủ pháo cũng được " tăng cường" trang bị thêm súng bộ binh, AK và lựu đạn.

Đúng là giờ đây trên đất K, có thể nói: Không có chỗ nào được coi là an toàn.

Không có chỗ nào, được coi là phía sau, phía trước.

Như trận chiến Biên giới trước đây nữa.

Tất cả khu vực chốt nới đóng quân của Sư đoàn, tình hình chiến sự căng thẳng và nóng lên như chảo lửa.

Nóng lên từng giờ.

Những dấu hiệu bọn Pốt dùng cả xe tăng, thiết giáp, tấn công hướng Trung đoàn 270-266 rõ dần.

Khoảng 2h sáng ngày 25/1.

Các đơn vị phía trước đều báo về sở chỉ huy Sư đoàn là: Hiện tượng Pốt chuẩn bị tập kích các tuyến chốt.

Không 1 ai ngủ được, ai nấy đều ở vị trí chiến đấu sẵn sàng đánh trả Pốt.

Đạn đã lên nòng, những quả lựu đạn cũng được lau chùi cẩn thận, chuẩn bị nghênh chiến.

Đúng 5h00 sáng.

Bọn Pốt bắt đầu đồng loạt đánh vào chính diện các chốt của cả 2 Trung đoàn 270-266.

Ở hướng Trung đoàn 2, chúng dùng tới 8 xe thiết giáp M113, yểm hộ cho 3 Tiểu đoàn.

Tấn công vào các chốt của tiểu đoàn 8-9.

Tiếng súng bộ binh rộ lên từng đợt dài.

Chúng đỗ 2 chiếc thiết giáp ở xa, dùng đại liên và 12L7 liên tục thùng- thùng- thùng xỉa vào các chốt.

Cùng DKZ trên xe bắn ầm- ầm- ầm làm các cây cối gẫy rơi cùng đất đá tung lên.

Trận chiến thật sự khốc liệt.

Nhưng 2 chiếc xe này cũng chỉ là nghi binh thu hút sự chú ý.

Còn 6 chiếc khác, lợi dụng các bụi cây che khuất.

Tiếp cận vào trận địa chốt của đại đội 9.

Khi anh em phát hiện ra, thì xe bọc thép của chúng đã tới rất gần.

Cách chốt đầu tiên khoảng 100 mét.

Sau các xe là lố nhố bọn bộ binh, lính áo đen đông như bầy kiến.

Chúng đồng loạt bắn 12L7, cùng các hỏa lực vào chốt Đại đội 9.

Xe thiết giáp rú ga ầm ầm, tiến vào rồi lại lùi ra liên tục khạc đạn, cùng với tiếng" trô- trô- trô" như tiếng hò hết của lũ quỷ sát nhân, hòng uy hiếp tinh thần bộ đội ta.

Trận chiến ác liệt đã diễn ra.

Trước sự tiến công điên cuồng của bọn Pốt, các chiến sỹ Đại đội 9 anh dũng chiến đấu.

Giáng trả các đợt xung phong của Pốt bằng B40-B41 và bằng cả lựu đạn.

Cùng sự phát huy hỏa lực cối 60ly cả súng M79 của Mỹ.

Nhưng do lực lượng của địch quá đông.

Chúng lại tổ chức tiến công nhiều đợt.

Đến 10h thì các hỏa lực B40-B41 của ta cũng hết đạn.

Sức chống đỡ của anh em giảm xuống.

Quân số Đại đội 9 hy sinh và thương vong tới 2/3.

Nguy cơ đại đội 9 có thể bị mất chốt.

BCH Tiểu đoàn nóng như lửa đốt.

Nhưngchưa thể có lực lượng nào cơ động tiếp ứng cho Đại đội 9.

Vì toàn tuyến củaTrung đoàn chỗ nào cũng đang bị chúc tập kích.

Pháo, cối của Trung đoàn cùng Sưđoàn bắn cũng nhiều nhưng thường là đã quá tầm.

Bọn chúng rất ranh ma, chúngđều áp sát vào tuyến chốt của các đ/v.

Nên việc chi viện của hỏa lực lúc nàyhiệu quả không cao.

Diễn biến của trận chiến khu vực này đang rất bất lợi chota.

Trước nguy cơ bị mất chốt của Đại đội 9.

Mất chốt tức là cả tuyến chốt phòng thủ, thế chân kiềng của Tiểu đoàn 6 đã bị mất đi một chân.

Sẽ ảnh hưởng đến thế phòng thủ của toàn Tiểu đoàn.

Cao hơn nữa, mất chốt của cả một Đại đội, thì biết bao hệ lụy xẩy ra.

Đánh chiếm lại ngay là rất khó.

Còn bao anh em Thương binh, Liệt sỹ nằm đó.

Nhất là ta mất chốt tức là ta đã thua.

Sự hy sinh nhiều hay ít, chỉ là một tiêu chí.

Mà trong quân sự, người ta chỉ hỏi là, nói là: THẮNG hay THUA.

Mất chốt tức là bọn Pốt đã thắng.

Mà việc chúng thắng trong trận đầu của chiến lược tổng phản công sau khi đã " dụ ta vào rọ".

Theo suy nghĩ của chúng.

Như vậy thì càng không thể được.

Danh dự của người lính Quân tình nguyện Việt Nam.

Trách nhiệm của người chỉ huy trưởng của Tiểu đoàn, rất tự hào.

Song cũng vô cùng nặng nề.

Lúc này, đòi hỏi người chỉ huy phải thật bình tĩnh.

Tuy rằng mọi vấn đề nhiệm vụ của Tiểu đoàn đều có Tập thể BCH.

Cùng sự lãnh đạo của Đảng ủy.

Để cùng bàn bạc, tìm giải pháp tháo gỡ.

Nhưng cũng cần phải có những hành động mạnh mẽ, táo bạo.

Cùng sự quyết đoán của cá nhân người chỉ huy.

Nhất là trong lúc " NƯỚC SÔI LỬA BỎNG" thế này.

Thì vai trò, thì trách nhiệm cùng bản lĩnh của người chỉ huy càng phải thể hiện rõ nét cùng sự tỏa sáng đúng lúc.

Sau khi hội ý với Ban chỉ huy Tiểu đoàn.

Tiểu đoàn trưởng Văn Đình Tùng, quyết định: Giao vị trí chỉ huy cho phó Tiều đoàn Nguyễn Văn Hùng.

Rồi cùng 1 liên lạc Tiểu đoàn, 2 ytá Tiểu đoàn, một Tiểu đội Trinh sát gồm 9 tay súng, 2 Tiểu đội Vận tải 12 đ/c.

Trang bị vũ khí như một Trung đội bộ binh.

Mang thêm đạn chi viện.

Mà trực tiếp Tiểu đoàn trưởng như là một Trung đội trưởng chỉ huy lực lượng trợ chiến.

Các loại cối của Trung đoàn, cối 82 của Tiều đoàn.

Cùng cả sự chi viện cối 60 của 2 Đại đội bộ binh trong Tiểu đoàn.

Bắn chi viện cho Đại đội 9.

Trung đội tiếp viện hỗn hợp, do Tiểu đoàn trưởng Tùng dẫn đầu.

Khẩn trưởng vận động xuống Đại đội 9.

Cảnh vật ở khu vực chốt của Đại đội 9 thật hoang tàng.

Cây cối gẫy ngả nghiêng, tơ tua.

Đất cát cầy xới, ám đen xì bới khói thuốc đạn.

Mùi thuốc súng khét lẹt.

Hỏa lực của Pốt vẫn từ xa câu vào khu vực chốt.

Đạn cối của các đơn vị, đang ghìm bọn "kiến đen" xuống.

Rất nhiều anh em hy sinh, cùng bị thương.

Máu loang khắp mọi người. những anh em bị thương nhẹ, ngừơi quấn băng, nhưng vẫn tay súng, hoặc nắm trong tay quả lựu đạn tử thủ.

Thật là thương tâm và căm giận.

Anh em nhìn thấy lực lượng tăng viện, lại trực tiếp là Tiểu đoàn trưởng Văn Đình Tùng thì vô cùng phấn khởi.

Anh em Vận tải và Trinh sát được phân công tỏa ra các hướng.

Cùng chốt giữ với anh em Đại đội 9.

Được chi viện, được tăng cường đạn cùng lương khô, nước uống, làm tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ đại đội 9 bừng lên.

Tiểu đoàn trưởng chỉ định đ/c Trung đội phó lên chỉ huy Đại đội.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn trưởng.

Mọi người xốc lại đội hình chốt.

Các hầm, hố bắn được nhanh chóng củng cố.

Cái đói, cái mệt, cái khát như tan biến hết.

Giờ đây chỉ còn lại ý trí, quyết tâm, lòng dũng cảm.

Cùng sự căm thù, danh dự và trách nhiệm của người chiến sỹ Quân tình nguyện VN.

Làm nhiệm vụ Quốc tế được đẩy lên thật cao.

Cùng lúc, lực lượng vận tải tiếp sau, cũng đã chuyển thêm được đạn hỏa lực đến.

Rồi chuyển vợi số Thương binh nặng về phẫu tiền phương Tiểu đoàn.

Tiếng đạn cối chi viện vừa ngớt.

Thì tiếng hò hét trô- trô xung phong của lũ quỷ áo đen lại ầm lên ở các hướng.

Xe thiết giáp cùng các loại hỏa lực gầm gào điên cuồng, nhả đạn vào chốt.

Tiểu đoàn trưởng Tùng thoáng nghĩ: Bọn này định quyết chiếm chốt đây.

Tiếng trô- trô có vẻ hào hứng của bọn Pốt đã rất gần.

Cùng lúc các loại súng AK với những điểm xạ 2 viên một păng- pằng, păng- pằng của lính già kỳ cựu.

Cùng tiếng ùng- oàng, ùng- oàng liên tục của B40-B41.

Như bức tường thép, như bức tường lửa, đã làm nhiều thằng gục ngã, khựng lại nằm rí xuống đất.

Tiếng trô- trô tắt lịm.

Một chiếc xe thiết giáp bị cháy, một chiếc bị đứt xích quay tròn tại chỗ.

Nhưng những chiếc khác vẫn lấn dũi, lùi ra, tiến vào.

Xỉa 12,7 ly và DKZ vào chốt.

Bọn này thật lì lợm, phải diệt cho được mấy cái " con bọ" này.

Mới đánh bật được hết " bọn áo đen" man rợ kia.

Tiểu đoàn trưởng Tùng nghĩ vậy rồi lấy khẩu B41 của một chiến sỹ bên cạnh.

Đổi khẩu AK của mình cho xạ thủ B41 và vời đi theo mình.

Lợi dụng địa hình, anh cùng chiến sỹ B41 vòng chếch sang phải, tiếp cận gần xe địch.

Dưới làn đạn vẫn như mưa của chúng về phía trận địa chốt.

Tới 1 vị trí có lợi, cách chiếc xe bọc thép chỉ còn khoảng 50 mét.

Tên lính bắn 12,7 ly trông như một con quỷ đen, vẫn đang điên cuồngnghiến răng, ngồi kéo những điểm xạ về phía bên trái, cùng 2 thằng khác trên xeđang thao tác bắn DKZ.

Chúng không ngờ, sườn chéo bên phải để lộ rất lớn.

Đangnằm gọn trong vòng ngắm của khẩu B41 của Tiểu đoàn trưởng Tùng.

Ùng- oàng....

Từ vị trí bắn, tới mục tiêu quá gần.

Nên tiếng nổ đầu nòng, cùng tiếng nổ của đạn vào mục tiêu gần như cùng lúc.

Một vầng lửa chùm kín chiếc xe.

Anh nhanh chóng lắp đạn, để chắc ăn bồi thêm một phát nữa.

Vào chỗ quầng lửa đấy.

Chiếc thiết giáp rùng mình, bùng cháy, đứng im không nhúc nhích.

Mấy thằng trên xe cũng đã bị sức ép của đạn B41 hất bay xuống đất.

Cùng lúc phía trái, Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Quảng, cũng đã bắn cháy một chiếc.

Bọn bộ binh cũng đã nhận ra vị trí bắn của Tiều đoàn trưởng Tùng.

Nhưng rất kinh nghiệm, anh năn sang phải mấy vòng.

Rồi vận động ngang khoảng hơn chục mét, tránh đạn của bọn Pốt đang tập chung vào chỗ khỏi chưa tan.

Anh tiếp tục lắp đạn vào khẩu B41, rồi ở tư thế quỳ, bắn chiếc thiết giáp xa hơn.

Ùng- oàng.....

Quả đạn phụt lửa, lao trúng mục tiêu .Chiếc thiết giáp bùng cháy.

Nhưng mục vị trí bắn của anh cũng đã bị lộ.

Các loại súng của Pốt đã tập chung về phía anh.

Nơi này là trảng trống , không có vật che đỡ.

Nhiều viên đạn thù đã găm vào người anh.

Anh trúng đạn vào chỗ hiểm, gục ngay xuống, trong tay vẫn nắm chặt khẩu B41.

Không kịp nói với anh em được lời nào.

Tiểu đoàn Trưởng Văn Đinh Tùng đã anh dũng hy sinh.

Tấm gương về ý chí, cùng hành động chiến đấu vô cùng dũng cảm của anh.

Đã tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sỹ Đại đội 9.

Mọi người bật lên khỏi công sự.

Cùng tiếng hô xung phong vang trời.

Những quả đạn B40-B41 cùng những loạt đạn AK điểm xạ 2 viên một quật ngã thêm nhiều tên.

Hai chiếc thiết giáp nữa bị trúng đạn.

Chiếc còn lại quay đầu chạy biến vào rừng cây lúp xúp.

Những tên lính áo đen cũng mất hồn.

Bỏ mặc những tên bị thương đang la hét chạy thục mạng vào rừng.

Đợt tập kích với quy mô lớn, ý đồ lớn của bọn Pốt ngày 25/1, đã bị Đại đội 9 cùng lực lượng chi viện của Tiểu đoàn trưởng Văn Đình Tùng bẻ gãy.

Chúng thua chạy tan tác, với 7 xe bọc thép bị bắn cháy.

Đến khoảng 10h.

Lũ chỉ huy của chúng vô cùng cay cú.

Chúng vơ vét lực lượng khoảng 1 Tiểu đoàn cùng 4 xe bọc thép yểm trợ.

Chia làm 3 hướng, tiếp tục tập kích vào Đại đội 9.

Anh em Đại đội 9 đã không kịp nghỉ ngơi, tích cực, củng cố hầm hào.

Thi thể Liệt sỹ Tiểu đoàn trưởng, cùng một số anh em chưa kịp đưa về phía sau.

Thì tiếng Trô- Trô cùng những trận mưa đạn của bọn Pốt vào khu vực chốt.

Trận chiến ác liệt lại tiếp diễn, các chiến sỹ ta kiên cường đánh trả, bẻ gẫy và đốn gục rất nhiều tên.

Những chiếc xe bọc thép chỉ ở ngoài xa xỉa đạn vào khu vực chốt.

Chứ không giám vào gần như trước.

Cùng lúc đó, Đại đội 10.

Sau khi đánh tan bọn Pốt bu bám ở phía trước.

Đã được lệnh đánh vòng lên phía sau những xe thiết giáp và lực lượng Pốt đang tấn công chốt của Đại đội 9.

Trung đội trưởng Quách Gia Chiên, đã phát hiện ra mục tiêu thiết giáp.

Anh chọn được mô đất cao.

Anh bình tĩnh nằm xuống, nhằm sườn trái chiếc thiết giáp bóp cò.

Ùng- òang.....

Chiếc xe bùng cháy dữ dội.

Ba chiếc khác bị bất ngờ, quay đầu xe bỏ chạy.

Quách Gia Chiên bắn quả thứ 2 nhưng không trúng.

Một chiến sỹ từ phía sau vừa vận động lên nói: " Trung đội trưởng để em".

Đó là Tiểu đội trưởng hỏa lực.

Anh nhanh chóng lắp đạn, rồi quỳ bắn.

Ùng- oàng, quả đạn b41 lao đi, đúng sau chiếc xe đang chạy.

Lửa bùng lên, nhưng xe vẫn như đống lửa chạy khuất vào rừng.

Bị đánh tạt sườn, bọn bộ binh thấy xe thiết giáp bỏ chạy thì mất hết hồn vía.

Cũng chạy thục mạng, bỏ lại rất nhiều xác chết trước trận địa Đại đội 9.

Trận chiến tạm ngưng tiến súng.

Nhưng khói lửa của rừng cây cháy, của những chiếc xe bọc thép vẫn đang cuộn lên trong nắng.

Cùng tiếng nổ lốp bốp của đạn trong xe, như nói lên trận chiến thật khốc liệt vừa diễn ra.

Mà người chiến thắng là các chiến sỹ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 9 Anh hùng.

Những người đang sống, đang chắc tay súng, những người thương binh đang cầm chặt quả lựu đạn "tử thủ".

Cùng sự hy sinh anh dũng của Tiểu đoàn Trưởng Văn Đình Tùng, cùng sự anh dũng và hy sinh của nhiều chiến sỹ trong Đại đội.

Các anh đã góp phần tô thêm truyền thống Hào hùng của Sư đoàn, của QUân đội.

Cao hơn nữa là của các chiến sỹ Quân tình nguyện Việt Nam Anh Hùng.

Ở khu vực chốt của Tiểu đoàn 5, cũng không kém phần ác liệt như chiến sự ở Tiểu đoàn 9.

Từ 10h sáng cùng ngày, chúng đã dùng 3 Tiểu đoàn lính bb, cùng 6 xe bọc thép M113, tăng cường.

Đã liên tục tập kích vào Đại đội 5 và Đại đội 7.

Đến 10h sáng, thì quân số mỗi Đại đội chỉ còn lại 1/4 tay súng, cầm cự với bọn Pốt.

Cán bộ Đại đội 7, đã 3 lần phải chỉ định người thay.

Lực lượng dự bị của Tiểu đoàn đã tung ra hết.

Những cán bộ chiến sỹ Trinh sát, Vận tải, Anh nuôi của Tiểu đoàn.

Cũng đã được tăng cường xuống, chi viện cho các Đại đội chiến đấu.

Tình hình vô cùng phức tạp.

Sự bu bám của bọn Pốt vẫn như chưa có dấu hiệu dừng.

Các loại hỏa lực của chúng vẫn từ xa câu vào các khu vực chốt, đạn nổ ùng oàng, điểm nổ như đan mắt sàng.

Nguy cơ mất chốt cũng thật cao.

Đến 15hoo, Trung đoàn tập trung tối đa hỏa lực chi viện.

Dùng 2 Đại đội của Tiểu đoàn 4, cùng 4 xe thiết giáp.

Bí mật vòng sau đội hình Pốt bu bám Tiểu đoàn 5.

Bắn cháy 3 xe bọc thép ở khu vực "đồi không tên" giải nguy cho Tiểu đoàn 5.

Cùng lúc, Đại đội 6, cùng các lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 5.

Xuất kích ngắn, để đánh ép bọn Pốt.

Trước đòn đánh tập hậu hiểm ác và lực lượng xuất kích của chốt.

Bọn Pốt hoảng loạn vỡ trận, nhưng chiến trận vẫn kéo dài đến khoảng 18h.

Thì khu vực này mới tạm im tiếng súng.

Say máu và điên cuồng, trước thất bại của ngày đầu phản công.

Với những thiệt hại rất nặng.

Nhưng dưới sự thúc ép của bọn đầu xỏ, bọn chỉ huy các Sư đoàn, lại hối thúc các đơn vị cấp dưới.

Tăng cường tập kích các chốt của ta.

Ban ngày và cả ban đêm.

Có những ngày, chúng lại dùng cả xe bọc thép, xe tăng, cùng pháo binh.

Tổ chức cấp Trung đoàn, tấn công chốt ta.

Mặt khác chúng ráo riết phong tỏa, đánh phá đường giao thông.

Ngăn chặn việc vận chuyển tiếp tế của ta.

Càng gây thêm rất nhiều khó khăn cho ta.

Giai đoạn này, là giai đoạn cực kỳ khó khăn của Cán bộ chiến sỹ Sư đoàn 341 và nói chung.

Cùng cả toàn quân tình nguyện.

Ở các chốt phía trước, các đơn vị trực tiếp chiến đấu, tỷ lệ thương vong cùa ta ngày càng cao.

Sinh hoạt vật chất của bộ đội khó khăn ngày càng tăng dần.

Thời tiết của đất K vẫn đang trong mùa khô, cái nắng, cái nóng này, như cùng lúc hùa vào với bọn Pốt.

Làm căng thẳng cuộc sống, làm khổ anh em bộ đội.

Có nơi, địch và ta khống chế, tranh nhau từng vũng nước.

Quanh hồ nước, quanh các vũng nước nhỏ, đã có cả xác của Pốt và máu của bộ đội mình hòa trong đó.

Tết Nguyên Đán, Tết cổ truyền của dân tộc Việt đang tới gần.

Mà trong lúc này, tình hình chiến sự ngày càng trở lên căng thẳng.

Các thủ trưởng Sư đoàn, Trung đoàn, ai nấy gầy rộc hẳn đi.

Mắt trũng sâu thâm quầng.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao và Chính ủy Nguyễn Quế, có lẽ là người lo lắng lớn nhất.

Trước tình hình nhiệm vụ Chính trị, của Sư đoàn.

Trên đất bạn, chiến đấu vì nhiệm vụ Quốc tế giúp bạn, giá trị vinh dự thật lớn lao.

Song trách nhiệm cũng thật nặng nề .

Chúng ta không phải chỉ như giúp bạn về kinh tế, về súng đạn.

Mà là còn xương máu của các chiến sỹ Quân tình nguyện Việt Nam.

Những người con Dân Việt.

Sư đoàn trưởng, đi đi, lại lại trong căn hầm chỉ huy, ở khu vực nhà máy Đường.

Cách thủ đô Phnompenh khoảng 20km về phía Tây.

Ông vỗ đầu suy nghĩ rồi thốt lên:" Phải tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, để cải thiện tình hình".

Ông suy nghĩ và nghin cứu rất lâu tấm bản đồ tác chiến trên bàn.

Những bình độ khác nhau phía Tây thị xã Công Pông Xpư, thật là một địa thế lý tưởng.

Cho một cuộc chiến tranh du kích.

Rừng núi đại ngàn, bằng phẳng tương đối.

Xen kẽ có các điểm cao không quá 100met.

Rồi cao dần, hiểm trở dần về biên giới Thái Lan.

Giống như dẫy Trường Sơn của ta, mà ngày xưa chúng ta cũng tận dụng núirừng đại ngàn này.

Làm các cơ sở, làm các căn cứ xuất phát, tiến công vào cáchang ổ của Mỹ Ngụy dưới đồng bằng.

Trong đầu ông lóe lên một phương hướng chiếnđấu mới.

Cùng sự hiểu thật đúng về tình hình chiến sự hiện tại.

Trước sức mạnh,trước quân số và các loại vũ khí mà pốt đang xử dụng.

Với cả xe tăng, thiếtgiáp, cùng pháo binh.

Cùng số lượng các đầu máy chỉ huy tác chiến của chúng.Không thể dùng cụm từ : "Truy quét" trong giai đoạn này.

Rồi ông bước nhanhsang hầm của Chính ủy Nguyễn Quế.

Chính ủy Nguyễn Quế đang cùng trưởng phòng Chính trị, bàn bạc về tình hình đơn vị.

Việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, đối với cán bộ chiến sỹ trong tình hình mới, có những phức tạp.

Mặc dù những ngày này, cái tư tưởng nghỉ ngơi, xả hơi đã được đánh thức.

Vì những trận tập kích điên cuồng của Pốt.

Đúng là không phải chỉ có chiến sỹ.

Mà ngay cả nhiều đồng chí cán bộ Tiểu đoàn, Trung đoàn.

Các Sỹ quan trợ lý phòng ban, cũng có tư tưởng này.

Đó là đòi hỏi đúng, là nguyện vọng chính đáng, của mọi người. chúng ta không ai thích mà cũng không ai muốn cuộc chiến tranh kéo dài.

Ai cũng muốn có cuộc sống gia đình, lứa đôi hạnh phúc, trong sự bình yên.

Song, giờ đây đúng như trong bài ca của nhạc sỹ nào đó có câu:" Kẻ thù buộc ta ôm cây súng".

Hay!

Câu hát thật hay, thật đúng.

Dân tộc ta đã bao lần phải tuốt gươm, phải ôm cây súng vì lũ giặc ngoại xâm.

Chính ủy Quế như tìm ra những vấn để để giải quyết, để động viên.

Để giáo dục, để quán triệt tình hình nhiệm vụ cho bộ đội.

Trong tình hình hiện tại.

Cho thật hợp với tình hình cụ thể của chiến trường, của đất nước.

Trước tình hình mới, diễn biến mới của chiến trường.

Việc giáo dục chiến sỹ, động viên chiến sỹ, phải sát với thực tế.

Không thể đơn giản được.

Trong lúc này, không thể coi nhẹ và coi thường bọn Pốt.

Vì khi ta tấn công với quy mô lớn, thì chúng rút chạy để bảo toàn lực lượng.

Nằm trong kế hoạch của chúng là: " dụ ta vào rọ" để tiêu diệt từng bộ phận của ta.

Tiến hành cuộc chiến tranh du kích lâu dài.

Dưới sự hỗ trợ về súng đạn, và mưu lược của bọn Bành Trướng Bắc Kinh.

Đã ngày càng rõ, càng lộ bản chất bá quyền nước lớn của chúng.

Theo thông báo, ở trong nước.

Chúng đã kích động gây ra những lộn xộn, những cuộc biểu tình.

Hay đã có những manh động, vu cho ta là bài xích, khủng bố người Hoa.

Chia rẽ tình đoàn kết của 2 dân tộc đã có từ lâu đời.

Gây mất trật tự xã hội, rối loạn cuộc sống.

Hòng làm cho chúng ta, cùng lúc phải đối phó nhiều bề, nhiều hướng, thù trong, giặc ngoài.

Một số dân ở Miền Nam, Miền Bắc.

Nhiều người đã bỏ nhà, bỏ cửa.

Vượt biên trái phép, với hy vọng tìm đến vùng đất Thánh.

Hiện đang sống rất khổ cực trong các trại tỵ nạn.

Hoặc có nhiều người bị làm mồi cho cá.

Hoặc bị bọn cướp biển cướp bóc, hãm hiếp, chết rất thương tâm.

Các quán nhậu ngoài vỉa hè ở Thành phố còn có câu: "Một là con cứu Má/ Hai là cá ăn con" Nói về sự nguy hiểm của những người vượt biên trái phép.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao nói với Chính ủy Nguyễn Quế: Anh Quế, nhiệm vụ của Sư đoàn lúc này là đánh địch, bảo vệ mục tiêu, hỗ trợ cho bạn xây dựng chính quyền là đúng.

Nhưng trong lúc này, chúng ta dùng chữ " Truy quét" thì chưa hợp lý.

Ta nói là truy quét thì thấy nó nhẹ quá.

Mà thực tế tình hình chiến sự.

Tình hình của địch đang còn rất mạnh.

Nên nó ít nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng, cùng ý chí chiến đấu của bộ đội.

Chính ủy Quế, đồng tình ngay với ý kiến nhận định của Sư đoàn trưởng.

Đúng là dùng cụm từ " Truy quét" là chưa hợp lý, chưa sát với diễn biết của chiến trường.

Bọn Pốt đang tập trung cao độ các lực lượng phản kích ta trên toàn tuyến.

Ta phải phản công lại, do đó dùng cụm từ" Tiến công truy quét" thì đúng tính chất hơn, sát với thực tế hơn.

Sư đoàn trưởng cùng Chính ủy, Hai ông đều nhất chí phương hướng hành động mới là: Phải chuyển thế tiến công.

Tiến công truy quét một cách liên tục, chủ động.

Không dùng hình thức be bờ hiện tại nữa.

Truy quét thông thường như trước nữa.

Phải vòng rộng, phải vây chặt, kết hợp với xe tăng, pháo binh.

Đánh những trận lớn vào những mục tiêu đầu lão chủ yếu của chúng.

Nhằm tiêu hao, tiêu diệt lớn.

Đánh bại bằng được ý chí của các lực lượng quân sự của Pốt.

Muốn vậy, chúng ta phải bao vây chặt, truy quét kỹ.

Đánh ngay khi chúngvừa dừng chân, vừa nhen nhóm căn cứ.

Làm cho chúng liên tục bị động đối phó.Làm cho tinh thần của chúng sa sút rồi nhanh chóng tan rã.

Cũng là cứu dân đangbị bọn Pốt lùa vào rừng.

Cùng lúc phải xây dựng chính quyền giúp bạn.

Xây dựngcác lược lượng vũ trang của Bạn trưởng thành.

Ổn định đời sống cho nhân dân.

Trong những ngày này, ở khu vực Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 273.

Cũng bị bọn Pốt vây lấn.

Anh em Tiểu đoàn 1, kiên cường chiến đấu.

Chống trả, tiêu diệt được rất nhiều Pốt.

Nhưng xem ra cái lũ "kiến đen" vẫn say máu.

Dưới sự thúc ép, bơm thổi của các cấp chỉ huy của chúng.

Song, những trận mưa hỏa lực của chúng từ xa vào chốt.

Suốt ngày đêm, cũng làm anh em trong Tiểu đoàn thương vong nhiều.

Tiểu đội 10, Đại đội 3 của tôi cũ cũng bị trúng một quả đạn ĐKZ bắn từ xa.

Làm đồng chị Dự Tiểu đội trưởng cối, người thay tôi từ năm 78.

Cùng 2 đ/c nữa hy sinh.

Trong Tiểu đội còn có chuyện: Ngay sáng ngày 8/1 lúc ở PhNompenh.

Đ/c Hoài lính 74 cùng trong Tiểu đội 10, lấy 1 xe máy phóng đi chơi lung tung.

Đ/c Hoài là người cũng có tính nghịch ngợm, nên lấy được xe máy phóng đi, rồi mất hút không trở lại.

Mấy ngày sau anh em mới tìm thấy cách khu vực đóng quân khoảng 2 km.

Trên thi thể có nhiều vết đạn, cạnh đó vẫn còn chiếc xe máy.

Tiếp nữa là tôi được tin đ/c Roan, quê ở Tiền Hải Thái Bình.

Vệ binh trên Trung đoàn rất quý mến, thường hay sang chơi với tôi.

Mới được điều xuống làm Tiểu đội trưởng cũng bị hy sinh.

Đại đội 1 của tôi cũ, đ/c Khoa Năng Thược là Quản trị trưởng Đại đội.

Quê ở An Lão Hải Phòng, trước khi nhập ngũ là giáo viên cấp 3.

Bộ môn thể dục, cũng bị trúng đạn pháo hy sinh .

Đúng là trong dịp này, tỷ lệ thương và hy sinh rất cao.

Trong những ngày này, số dân bị bọn Pốt lùa vào rừng.

Rất nhiều nguời đã chạy vượt được ra, khỏi sự kìm kẹp của Pốt.

Nên công việc tuyên truyền của Tiểu ban Dân dịch vận là rất bận mải.

Thường xuyên phải tổ chức những buổi tuyên truyền.

Hướng dẫn cho nhân dân trở về quê cũ.

Trong số những người trở về có một cô gái, nói được tiếng Việt.

Tên là Trần Thị Nhị, cả gia đình Nhị, cùng họ hàng sinh sống ở Thủ đô Phnompenh nhiều đời.

Sau ngày 17/4/75, bị Pốt lùa hết ra khỏi thành phố.

Lên rừng xây dựng vùng đất gọi là:" kinh tế mới" để cải tạo, giác ngộ cách mạng theo chủ nghĩa cộng sản.

Như bọn ĂngKa tuyên truyền.

Mỗi người mỗi nơi không biết ai còn ai mất.

Chúng tôi mời Nhị ở lại làm phiên dịch cho Bộ đội.

Cô Nhị đồng ý.

Từ đó trong Tiểu ban dân vận ngoài tôi, đ/c Riến cùng 2 đ/c nữa bập bẹ nói tiếng K.

Đội Bạn thì có 3 người giờ đây thêm được một người nữ nữa là 4.

Nhị nói tốt cả tiếng Việt, tiếng K.

Phiên dịch tốt, nhưng chữ Việt thì cũng không thật thành thạo. bằng chữ K.

Rất may, trong lúc căng thẳng bì bận rộn công việc. thì đ/c Văn, Trưởng tiểu ban bị thương ngày 1/1.

Sau khi được trích mổ, lấy viên đạn trong đùi ra.

Vết thương đã nhanh lành, hôm nay trở về tiếp tục làm Trưởng ban tiểu ban Dân dịch vận.

Sau khi đ/c Văn về mấy ngày.

Trung đoàn bộ được lệnh chuẩn bị di chuyển.

Để gần các Tiểu đoàn hơn.

Trung đoàn cứ 1 đoàn đi điều nghiên, khảo sát, tiền trạm.

Gồm chủ nhiệm trinh sát, các phòng ban hơn 20 người đi đến vị trí mới.

Ban chính trị cử Dân vận là tôi, cùng một đ/c Bạn trong đội công tác cùng đi.

Có một việc nhỏ, mà dẫn đến va chạm giữa tôi và đ/c Văn.

Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.

Tiểu ban Dân dịch vận có cái loa tuyên truyền thật to.

Được chạy bằng 8 củ pin đại.

Thường để kêu gọi, tuyên truyền nhân dân.

Mà hôm trước chúng tôi có dịp dùng kêu gọi làm công tác địch vận ở khu vực Tiểu đoàn 3.

Cái loa to, rất cồng kềnh.

Nhưng không hiểu sao đ/c Văn cứ yêu cầu chúng tôi cầm đi theo.

Tôi phản đối nói là: Đoàn đi trinh sát tiền trạm là đi bộ.

Khu vực này vẫn còn Pốt.

Có thể bị chúng phục.

Đoàn đi không đông, rất có thể phải chiến đấu.

Nên mang theo loa rất vướng nếu như có tác chiến xẩy ra.

Anh để mai, khi Trung đoàn hành quân, có ô tô.

Thì mang đi cho tiện.

Bình thường, mọi ngày khi có vấn đề gì.

Thì thường tôi góp ý là đ/c Văn nghệ theo ngay.

Mà sao hôm nay tôi nói mãi, đ/c Văn cũng không đồng ý.

Cứ rất khoát bắt anh em tôi phải mang loa đi cùng.

Chính vì vậy, nên tôi với anh Văn nói nặng lời với nhau.

Nhưng rồi chúng tôi vẫn mang loa đi theo.

Mang đi nhưng trong lòng vẫn cứ ấm ức nghĩ: Hôm nay ông này "ấm đầu" thế nào ấy?

Đội hình đi tiền trạm khoảng hơn 30 người.

Trực tiếp đ/c Chiến chủ nhiệm Trinh sát Trung đoàn chỉ huy bộ phận tiền trạm.

Gồm 1 tiểu đội trinh sát, 1 tiểu đội công binh, tiểu đội vận tải cùng các Sỹ quan tham mưu, tác chiến hậu cần.

Cùng 2 đ/c thông tin 2 w.

Ban Chính trị thì có tôi và Sa Chơn trong đội công tác.

Trong đội công tác có 3 người, thì Sa Chơn là nhanh nhẹn tháo vát nhất.

Nên đi đâu cũng hay được điều động đi cùng.

Tôi và Sa Chơn đi sau đội hình.

Ngoài cái loa là cồng kềnh, còn trang bị vũ khí của chúng tôi cũng như người lính bộ binh.

Chuyện không có gì đáng kể.

Nếu như đội hình không bị Pốt phục kích.

Xuất phát lúc 13h, mọi người đi theo một con lộ đất, 2 bên có những bụi tre gai.

Thỉnh thoảng cũng có những nhà dân.

Nhiệm vụ của chúng tôi là đi tiền trạm.

Chuẩn bị nơi dừng chân của Trung đoàn bộ cho gần các Tiểu đoàn hơn.

Tọa độ đến là 1 Khum nhỏ, cách vị trí cũ khoảng 8 km.

Những ngày này, các Tiểu đoàn bb chốt ở những vị trí rất xa nhau.

Chính vì thế nên các lực lượng nhỏ của Pốt, vẫn lẫn khuất xen kẽ giữa các đơn vị của ta.

Đội hình đi cách vị trí cũ khoảng 4km.

Lúc này khoảng 15h.

Trời nắng gắt, vừa đi vừa quan sát cảnh giới.

Nên không thể đi nhanh.

Mọi người đều phải trong tư thế chiến đấu.

Có nhiều chỗ, phải dừng lại.

Để cho nhóm trinh sát đi trước, rồi đội hình mới tiến theo.

Đến một chỗ, bên trái đường thì toàn tre gai.

Bên phải thì lại là sình ruộng.

Nhưng dịp này khô không có nước.

Nhìn xa xa cách khoảng 200mét.

Có mấy bóng áo đen chạy ngang qua đường.

Có Pốt phía trước.

Mọi người dạt sang bên đường.

Ai nấy trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Nhưng đợi khoảng 15' rồi 20' cũng không thấy động tĩnh gì.

Đồng chí Chiến trưởng đoàn cho Tiểu đội trinh sát đi tiếp.

Đội hình chính bám sau khoảng cách 50m.

Đã có nhiều dấu hiệu của Pốt.

Những vết chân không dầy dép còn mới, in rất nhiều dưới đất.

Cùng lúc anh em phát hiện được mấy quả mìn chôn vội.

Nhóm công binh, triển khai vô hiệu hóa được 2 quả mìn vướng.

Thì cùng lúc, các loại súng của Pốt từ hướng trái, phía trước.

Đồng loạt tiến công đội hình tiền trạm.

Tiếng ùng oàng của B4O-B41.

Đạn AK chíu chíu về phía chúng tôi.

Cùng những tiếng Trô-trô ầm ỹ.

Tôi nghĩ nhanh bị phục rồi.

Trong đầu tôi, như đã có linh tính từ trước khi đi.

Lúc nào cũng nghĩ đến việc xui xẻo, không hay xẩy ra của lần đi này.

Khi anh Văn, cứ bắt tôi mang cái loa theo.

Dẫn tới 2 anh em vặc nhau.

Nhóm trinh sát dạt sang bên phải đường và lùi lại cùng đội hình.

Đ/c Chiến truyền lệnh: Bị phục, nhưng chưa thấy Pốt là chưa được bắn.

Vì chưa biết lực lượng cuả Pốt lớn hay nhỏ.

Rồi còn phải tiết kiệm đạn.

Đề phòng phải tác chiến lâu.

Cùng lúc đ/c Chiến thông tin báo về Trung đoàn là bị Pốt phục kích đề nghị sẵn sàng chi viện.

Súng của Pốt vẫn nổ đều, về đội hình công tác.

Đã thấy loáng thoáng những bóng đen nhố nhố di chuyển trong lẫn trong các bụi tre.

Thoáng nghĩ, bọn này vòng bọc mình đây.

Nghe tiếng súng nổ anh em đoán, chắc chúng có khoảng đại đội thôi.

Không thể có lực lượng lớn trong khu vực này được.

Nhưng chiến thuật của chúng dù không đông cũng vẫn tổ chức vòng bọc tập hậu.

Anh Chiến ra hiệu bắn những thằng di chuyển vòng bọc.

Súng M79 của Mỹ thật có tác dụng.

Từ bên đường anh em "cóc" liên tục vào khu vực bụi tre gai khi thấy có Pốt.

Tôi nói với Sa Chơn chuẩn bị chiến đấu.

Lúc này tôi với Chơn ở phía sau đội hình, lại là hướng đánh trực tiếp với bọn vòng bọc.

Vừa lúc đó, thì tiếng súng của bọn vòng bọc tập hậu cũng bắt đầu xối đạn về phía tôi và Chơn.

Chúng hò hét trô-trô .

Các hướng phí trước súng cũng rộ lên.

Nhưng chưa có thằng nào vượt lên mặt đường.

Chúng vân lợi dụng những vật che khuất là những bụi tre gai.

Cứ thoáng thấy chúng là chúng tôi điểm xạ pằng- pằng.

Được cái chỗ này địa hình có lợi cho chúng tôi vì ở bên đường có mép đầm thấp nên anh em tôi nằm ôm taluy đường trong tư thế chiến đấu, bắn rất thuận lợi.

Bên chúng có vật che khuất nhưng lại cao bằng mét đường.

Nên chúng tôi quan sát chúng rất rõ.

Thỉnh thoảng có quả B40 ùng –oàng nhưng đều vọt ra xa sau chúng tôi.

Cũng rất may là chúng tôi phát hiện ra bọn này sớm.

Nên cả đội hình không lọt hẳn vào ổ phục kích của chúng.

Tôi ra hiệu cho Chơn ý nói phải bắn ngay những thằng sang đường.

Để chúng sang đường là bất lợi cho mình.

Cùng lúc có 3-4 thằng định vượt qua.

Trong tầm AK của tôi và Chơn.

Tôi điểm xạ liên tục.

1 thằng trúng đạn ngã ra sau.

2 thằng khác cầm tay thằng trúng đạn kéo ngược trở lại.

Chúng tôi bắn đuổi tiếp vào sau bụi tre khuất chúng nó.

Them 1 thằng nữa đổ vật xuống.

Đạn thẳng của chúng cũng chíu chíu sát sạt chỗ tôi.

Tôi và Sa Chơn liên tục điểm xạ.

Chơn không biết điểm xạ 2 viên một.

Mà thường là mỗi lần bóp có là 3- 4 viên hay tắc "cú viên" một.

Trận chiến không quá căng thẳng.

Song đoàn tiền trạm cũng không phát triển được lên.

Phía mình đã có mấy anh em bị thương.

Trận chiến đã kéo dài gần 1 giờ.

Mà bọn này vẫn bám có vẻ như là chúng muốn kìm chúng tôi tới tối.

Bây giờ tôi mới nghĩ đến cái loa dân- địch vận.

Tôi nói với anh Chiến để cho SaChơn phát loa kêu gọi "địch vận" bọn này.

Anh Chiến nói: Anh em mình cứ chiến đấu.

Trung đoàn đang điều Tiểu đoàn3 đánh quay lại và Đại đội Trinh sát đang cơ động lên bằng ô tô.

Hai hướng éplại giải vây cho mình.

Tôi kể cho anh Chiến nghe, hôm ở Tiểu đoàn 3 cũng đãphát loa kêu gọi, cũng có kết quả rất tốt.

Mình thử kết hợp xem sao.

Thế rồi anh Chiến, cũng đồng ý cho chúng tôi làm công tác địch vận.

Tôi ra hiệu cho Sa Chơn phát loa.

Tôi chưa nói được nhiều tiếng K.

Nhưng những động tác vừa là mồm, vừa là tay, cũng làm cho Sa Chơn hiểu ý ngay.

Tôi nói thêm, đúng ra là tôi hiệu với nội dung là: Bộ đội Việt Nam đang từ 2 hướng đánh tới.

Buộc chúng phải ra hàng hoặc rút nhanh.

Rất thông minh, Sa Chơn hiểu ý ngay.

Tôi cùng Chơn phủi qua bụi đất quanh cái loa.

Lùi lui lại phía sau, gác loa lên mép đường.

Tiếng súng của bọn Pốt vẫn tóp- tóp, chíu- chíu về phía chúng tôi.

Sa Chơn chỉnh loa rồi thử giọng nói một hồi.

Khi tiếng loa vang lên thì tiếng súng của Pốt im bặt.

Đã quen thuộc nên Chơn nói một hơi, với nội dung tôi vừa gợi ý.

Cùng những bài tuyên truyền đã quen thuộc.

Chơn nói thêm, trước Chơn cũng là lính Pốt thuộc Sư đoàn 3, QK Đông Bắc.

Nhưng thấy tội ác của bọn Ăng Ca, bọn Khơ Me Đỏ đối với nhân dân.

Nên rất nhiều người đã chạy sang Việt Nam.

Được Việt Nam giúp đỡ.

Trong số đó có cả Lục Thum Hên Xom Rin là Sư đoàn phó.

Hiện nay làm Chủ Tịch cách mạng cứu nước CPC. (Khi về được dịch lại, tôi mới biết cụ thể nội dung là như vậy).

Tiếng súng của bọn Pốt im hẳn.

Lúc sau từ trong những bụi tre.

Có mấy loạt đạn AK bắn lên trời.

Từ lúc đó, bọn Pốt phục kích rút hết.

Không còn bóng áo đen nào nữa.

Cũng là lúc từ 2 hướng đường.

Đại đội trinh sát của Trung đoàn đã ào tới.

Phía trước Đại đội 9 cũng đã tới.

Ba lực lượng đã bắt liên lạc với nhau.

Theo lệnh Trung đoàn, chúng tôi cùng Đại đội 9 tiếp tục hành quân về tọa độ mới.

Đại đội trinh sát quay về đón Trung đoàn bộ lên vị trí mới.

Ban Chính trị và Tiểu ban Dân vận cũng tới.

Tôi kể lại việc đoàn đi bị phục, và Sa Chơn đã dùng loa kêu gọi, rất có hiệu quả.

Được dịp anh Văn nói: " Ông thấy chưa?

Tôi nói ông cầm loa đi thì ông cứ ngại, nói này nói nọ".

Tôi thì nói:" Nhưng đi tiền trạm, mang loa đi là cồng kềnh à?

Sao ông không để theo ô tô.

Mà trước khi đi, cãi nhau như thế xui xẻo bỏ mẹ?

Nếu không có loa, không cãi nhau, chắc gì đã bị Pốt phục?

May mà chúng tôi không " dính".

Mọi người lại cùng cười xòa.

Trong những ngày Trung đoàn bộ còn đứng chân ở khu vực sát thị xã Công Pông Xpư.

Tiểu đoàn 1 ở ngay sát Trung đoàn bộ.

Lúc đó, Trung đoàn được tăng cường một Đại đội của bạn.

Chúng tôi gọi lực lượng của bạn, là lực lượng Z.

Hay là Đại đội Z.

Đại đội Z, có 2 đ/c cố vấn của mình.

Cùng đi chốt và chiến đấu với Tiểu đoàn 1.

Đại đội này cũng tổ chức như bộ đội mình.

Quân số khoảng 60 tay súng.

Lúc này chưa phải tác chiến nhiều.

Nhưng nhiệm vụ của chúng ta là phải nuôi dưỡng, đào tạo bạn.

Tránh tác chiến cho bạn.

Anh Phạm Anh Xướng, là Tham mưu phó Trung đoàn.

Tăng cường đi cùng với Tiểu đoàn 1.

Ngoài nhiệm vụ tăng cường chỉ huy Tiểu đoàn 1.

Anh còn có nhiệm vụ là kèm cặp huấn luyện cho Đại đội Z .

Anh Xướng có dáng người thấp, lại đen, tóc hơi xoăn.

Trông rất giống lính Z.

Anh là người chỉ huy chiến đấu vô cùng dũng cảm.

Đã nhiều lần bị thương hồi chiến tranh GPMN, cùng cả thời chiến tranh BGTN nữa.

Tôi biết anh từ lúc còn làm chức vụ Trung đội trưởng.

Lúc còn làm Đại đội trưởng đại đội 6 của Tiểu đoàn 2.

Đại đội anh có lần đi truy quét, lọt vào giữa vòng vây của 1 tiểu đoàn Pốt.

Ngay giữa cánh đồng.

Lợi dụng nhưng khóm cây thốt nốt.

Anh cùng BCH đại đội, đánh lui rất nhiều lần tấn công của bọn Pốt.

Trong trận này anh cũng bị thương.

Bên ta hy sinh và bị thương hơn 20 người.

Nhưng Đại đội 6 tiêu diệt được rất nhiều Pốt.

Giữ vững trận địa, đến lúc được chi viện.

Trận ngày 18/7/78, anh là Tiểu đoàn Trưởng tiểu đoàn 2.

Mặc dù trận đó Tiểu đoàn 2-3 cùng Đại đội 1 của tôi bị thương vong nhiều.

Nhiệm vụ luồn sâu đánh địch không thực hiện được.

Tiểu đoàn Trưởng tiểu đoàn 3 Nguyễn Song Thao hy sinh.

Nhưng anh vẫn là người chỉ huy gan dạ, có bản lĩnh tuyệt vời.

Trong những ngày tiến công giải phóng Phnom Pênh.

Anh vẫn cùng các Sỹ quan tác chiến ngồi xe ffep dẫn đầu đội hình hành tiến, tiến công địch.

Rất dũng cảm bất chấp những nguy hiểm do bị Pốt phục kích, bị mìn vv....Chính vì có ngoại hình giống bộ đội Z mà anh có hành động " Ẩu" Vi phạm kỷ luật dân vận.

Kỷ luật chiến trường, của Quân tình nguyện Việt Nam. (Chuyện này đã được Anh vanthang341ht kể kỹ trong Topic " Nhật ký vănthang341ht".

Nên TP không kể chi tiết của sự việc nữa).

Khoảng gần 1 tháng sau khi anh Xướng vi phạm kỷ luật.

Tòa án Quân sự QĐ4 tổ chức xử án ngay tại khu vực nhà máy đường.

Của Tỉnh Công Pông xpư.

Rồi không ngờ anh Xướng lại bị hình thức kỷ luật cao nhất của Quân Đội.

Bị tử hình ngay tại chiến trường.

Tất cả cán bộ chiến sỹ trong Trung đoàn.

Những ai đã từng biết anh thì đề cảm thấy thương xót.

Có ý bất mãn trước hình thức kỷ luật quá nặng, với một Sỹ quan Quân đội.

Có nhiều thành tích trong chiến đấu.

Nhiều thành tích trong xây dựng đơn vị.

Nhưng tòa đã tuyên, bản án đã được thực thi ngay sau đó.

Đây là vụ xử đầu tiên, vụ vi pham đầu tiên của Quân tình nguyện ViệtNam.

Cho thấy kỷ luật của chúng ta, Kỷ luật của Quân Đội Việt Nam nghiêm thếnào.

Với vụ vi phạm kỷ luật này, cũng đã làm giảm thành tích của Cán bộ, chiếnsỹ Trung đoàn 273 đã dầy công vun đắp.

Nhưng nó cũng làm cho mọi người thấycàng phải làm tốt hơn, thực hiện tốt hơn, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, kỷ luậtDân vận trên đất bạn.

Ngày 7/2 Trung đoàn 266-273 cũng đã bắt đầu tổ chức tấn công đánh địch ngoài công sự.

Tiêu diệt lực lượng địch bu bám trước chốt.

Riêng Trung đoàn 273 tổ chức tiến công sâu vào căn cứ Núi Voi.

Đánh vào sở chỉ huy Sư đoàn 221 của Pốt.

Tiêu diệt được hàng trăm tên, giải phóng được hàng ngàn dân.

Số dân này bị chúng bắt đi xây dựng căn cứ.

Thu được hơn ngàn tấn lúa, rất nhiều trâu, bò phân phát cho dân.

Trong những ngày đầu tháng 2/79.

Những trận đánh trong thế chủ động tiến công địch.

Ở khu vực Tỉnh lỵ CôngPông XPư của Sư đoàn đã đạt hiệu quả rất cao.

Tiêu diệt nhiều địch làm tan rã và đập tan mưu đồ tấn công, tái chiếm thị xã CôngPôngXpư của các lực lượng Pốt.

Buộc chúng lại tiếp tục lùi, co cụm vào rừng sâu.

Chúng ta đã giải phóng được hàng vạn dân.

Khỏi ánh kìm kẹp của bọn Ăng Ca khát máu.

Thời gian này, dân được giải phóng nhiều.

Rất nhiều Phum, Xã được thành lập.

Công việc của Tiểu ban Dân dịch vận ngày càng bận mải.

Chúng tôi phải cơ động liên tục.

Tổ chức tuyên truyền hết Phum này đến Phum khác.

Hoặc số dân vừa vượt ra khỏi căn cứ Pót.

Họ chưa kịp hồi hương.

Tổ công tác bạn đã quen với nếp làm việc và tính cách của từng người, nên trong sinh hoạt đã có phần gắn kết cởi mở hơn.

Nhất là từ khi có thêm cô Nhị phiên dịch thì việc giao tiếp tương đối thuận lợi.

Nhất là trong một lần Trung đoàn bộ của tôi bị Pốt ban đêm mò vào tập kích.

Họ đã cùng chúng tôi chiến đấu đánh trả như những người đồng đội thực sự.

Qua trận chiến đêm đó họ coi như đã được thử thách sự trung thành.

Sau trận chiến, họ như vui hẳn lên lúc nào cũng hồ hởi kể lại chiến tích đêm đó như là một chiến công.

Trong thời gian này, chúng tôi lại gặp một người phụ nữ gốc Việt tên là The cũng khoảng 30 tuổi.

Nhà ở tỉnh Kan Đan, cách cầu MôNiVông mấy km.

Chồng, con cô The đã bị chết dưới chế độ Pôn Pốt.

Tôi đề nghị cô ở lại đi theo đơn vị để giúp đỡ về phiên dịch.

Cô The nhận lời ngay.

Như vậy là đã có 2 phiên dịch nữ trong Tiểu ban nên trong làm việc giao tiếp với dân cũng đã thuận lợi rất nhiều.

Anh chị em trong Tiểu ban nhanh chóng làm quen nhau.

Mọi người cũng rất nhanh chóng hòa hợp với nếp sống hầm hào, dã ngoại của cuộc sống lính chiến.

Mặc dù luôn luôn phải cơ động vất vả, nhưng ai, ai trong đội công tác cũng rất vui.

Những lúc rảnh rỗi, cô Nhị và Cô The thường kể về những thời kỳ đen tối mà họ đã trải qua.

Giờ đây được họ được chung sống cùng bộ đội.

Được thường xuyên nói tiếng mẹ đẻ, nên mọi người rất thích thú cùng sự ngưỡng mộ bộ đội mình.

Trong những ngày này, ở chiến trường CPC.

Các đơn vị trong toàn quân của ta, cũng bắt đầu chủ động tiến công vào các căn cứ.

Thu được nhiều thắng lợi.

Đang dồn chúng vào chân tường để tiêu diệt.

Thì ở phía Bắc, bọn Bành Trướng bá quyền rất cay cú.

Chúng lồng lộn, tìm cách cứu nguy cho lũ tốt đen.

Chúng không thể làm kịp cái việc đưa quân trực tiếp vào giúp cứu Pốt.

Nhất là sau hội nghị Quốc Tế rêu dao nói xấu, vu cáo Việt Nam không có kết quả.

Với âm mưu cực kỳ thâm độc hiểm ác.

Khi biết chúng ta đang dồn phần chính lực lượng Quân sự vào CPC.

Chúng bèn tổ chức gây hấn, làm cho tình hình dọc tuyến Biên giới Việt-Trung nóng bỏng như chảo lửa.

Đỉnh cao nhất là ngày 17/2 chúng xua 60 vạn quân tràn sang tiến công 6 tỉnh Biên gới phía Bắc nước ta.

Bản chất và dã tâm thâm độc, cùng sự tàn bạo của chúng đã bị lộ diện trên trường Quốc Tế.

Chúng đã tàn sát biết bao người dân vô tội.

Cuộc chiến tranh ở Biên giới phía Bắc bùng nổ, trong sự ngỡ ngàng của hàng triệu người Việt Nguời Hoa chân chính.

Cùng sự vỡ lẽ, sự phản đối của dư luận Quốc tế.

Nhưng trong thế bí chúng vẫn bất chấp dư luận.

Vẫn điên cuồng dùng xe tăng, pháo binh cùng 60 vạn quân tiến công sâu vào đất Việt.

Chúng đã bị các lực lượng bộ đội địa phương cùng dân quân du kích các tỉnh biên giới tiêu diệt rất nhiều.

Nhưng với kiểu chiến tranh "biển người".

Chúng vẫn liều chết tiến vào sâu lãng thổ nước ta.

Đất nước ta, Tổ Quố ta dân tộc Việt Nam ta đang đứng trước thực tế vô cùng khó khăn.

Chiến tranh xẩy ra ở 2 đầu biên giới.

Trong lúc nền kinh tế của chúng ta đang ở trong tình trạng thấp kém cuộc sống dân sinh tối thiểu thiếu thốn trăm bề.

Trước tình hình đó, bọn tốt đen Pôn Pốt bừng lên hý hửng.

Để phối hợp với quan thầy của chúng ở phía bắc.

Bọn Pốt chỉ thị cho các Sư đoàn chủ lực của chúng kết hợp với QK Tây Nam.

Tiếp tục tổ chức đánh chiếm thị xã CôngPôngXpư.

Từ các căn cứ trong rừng, chúng tràn xuống khống chế đường số 4.

Mục tiêu của chúng là bao vây rồi chiếm lại thủ đô Phnompenh.

Các mặt trận tại các tỉnh khác, chúng cũng tăng cường hoạt động.

Uy hiếp các thị xã, thị trấn.

Khống chế các tuyến đường giao thông quan trọng.

Được hà hơi, tiếp sức.

Chúng lại tiếp tục gây cho ta những khó khăn.

Bộ đội ta, hơn chục ngày liên tục chiến đấu, liên tục cơ động, quần đảo tìm diệt Pốt.

Cũng đã bắt đầu thấm mệt.

Quân số hy sinh và bị thương tăng ngày một cao.

Việc đảm bảo hậu cần, đạn dược, vũ khí thuốc men cho bộ đội, đã bắt đầu khó khăn.

Những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua.

Ngày 15/2/79 trong khu vực tác chiến của Sư đoàn xuất hiện hơn 100 đầu máy thông tin vô tuyến của Pốt.

Sư đoàn trưởng Vũ Cao, sau khi hội ý với các cơ quan đã nhận định: Như vậy trong những ngày qua bị thua đau, chúng lại bắt đầu có âm mưu mới.

Chúng sẽ dồn hết lực lượng để tấn công ta hòng chiếm lại những mục tiêu đã bị mất.

Với số lượng đầu máy thong tin thế này, như vậy là số đầu đại đội, Tiểu đoàn của Pốt là rất lớn.

Chúng đang dồn tổng thể lực lượng để thực hiện âm mưu tái chiếm Công PôngXPư phối hợp cùng bọn giặc phương Bắc đây.

Vì vậy mặc dù trong lúc chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn.

Chúng tavẫn phải động viên cán bộ chiến sỹ cố gắng, cố gắng hơn nữa.

Phát huy nhữngthắng lợi đã đạt được.

Chúng ta phải kiên quyết chiến đấu tiêu diệt bọn Pốtnhiều hơn nữa.

Trước mắt nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là phải bảo vệ bằng dượcThị Xã Công PôngXPư cùng các địa bàn mà Sư đoàn đảm trách.

Như vâỵ là hướng tỉnh Công Pông Xpư.

Đối diện với Sư đoàn 341.

Bọn Pốt đã tập trung tới 5 đầu Sư đoàn.

Âm mưu đánh chiếm bằng được tỉnh lỵ này.

Để gây tiếng vang trên trường Quốc tế.

Củng cố lòng tin cho đám tàn quân, cùng củng cố niềm tin của quan thầy Bành trướng phía Bắc nước ta.

Tình hình thật là căng thẳng.

Nếu Sư đoàn chỉ be bờ, phòng thủ ngay quanh thị xã.

Thì khó có thể giữ vững được địa bàn.

Đây là cuộc chiến, đấu trí, đầu mưu, đấu sức, cực kỳ quan trọng.

Nếu ta không giữ được Tỉnh lỵ CôngPôngXpư, không bảo vệ được chính quyền non trẻ của bạn.

Thì sẽ biết bao hệ lụy không tốt, không hay sẽ xẩy ra.

Mất tỉnh lỵ CôngPôngXpư tức là Thủ Đô PhônmPênh sẽ trực tiếp bị uy hiếp.

Vì thế bằng mọi giá chúng ta phải chủ động tiến công sâu vào căn cứ của chúng.

Làm cho chúng lúng túng chống đỡ, đập tan âm mưu tái chiếm thị xã.

Sư đoàn trưởng, cùng các cơ quan tham mưu nhanh chóng lên phương án tác chiến.

Theo kế hoạch.

Đêm 15/2 được pháo binh bắn đạn dẫn đường.

Trung đoàn 273, bí mật rời bỏ chốt.

Từ Bắc đường 26, hành quân, luồn sâu vào phía sau hậu phương địch.

Dự định đến 4h sáng ngày 16/2 phải bắt liên lạc với mũi luồn sâu của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 270.

Để cùng phối hợp bao vây, đột kích.

Toàn bộ lực lượng địch đang tập trung có nhiệm vụ chuẩn bị đánh chiếm Thị xã CôngPôngXpư đã nằm giữa 2 gọng kìm của 2 Trung đoàn 273-270 mà chúng vẫn không hay biết.

Lực lượng pháo binh, cùng xe bọc thép.

Cùng các đơn vị phối thuộc với Trung đoàn 266.

Đang trực tiếp bảo vệ thị xã cũng được lệnh chuẩn bị xuất kích.

Trung đoàn 266 phải đánh bật bọn Pốt đang tiếp giáp gần thị xã.

Cùng lúc 2 Trung đoàn được lệnh siết chặt vòng vây, cho mẻ lưới lớn.

Với yêu cầu tác chiến là: Bí mật luồn sâu, đột kích mạnh, đánh nhanh và tiêu diệt gọn từng cụm địch.

Bọn Pốt vẫn không hay biết về kế hoạch lớn của ta.

Chúng bắt đầu dùng hỏa lực, cùng bộ binh tấn công vào thị xã.

Tấn công vào các chốt của Trung đoàn 266 bảo vệ thị xã.

Sau khi các mũi tiến công của Pốt nổ súng đánh chiếm thị xã được khoảng 30'.

Như vậy, lực lượng của Pốt đã bộc lộ hết.

Chúng đang tập trung vào các mũi đột kích đánh chiếm thị xã.

Lúc này, lực lượng bao vây của Trung đoàn 270-273.

Được lệnh tổ chức công kích từ phía sau của chúng.

Trong tiếng pháo, tiếng hô dậy trời của các đơn vị tập kích sau đội hình Pốt.

Hướng Trung đoàn 266, cùng 6 xe bọc thép từ đường 4 cũng được lệnh phản công.

Đột kích thẳng vào cụm quân chủ yếu của địch.

Bọn Pốt hoàn toàn bị bất ngờ, trước sự hiệp đồng bao vây phản công giăng sẵn cấp Sư đoàn của ta.

Đội hình Pốt rối loạn nhanh chóng.

Chúng không còn biết hướng nào để chống đỡ, chống cự.

Mạnh thằng nào thằng ấy chạy.

Nhưng chạy đâu cũng gặp lực lượng ta.

Chúng vô cùng sợ hãi, rất nhiều thằng vất súng, trốn lủi vào các rừng cây hoặc ven đầm, hồ nước rồi nhanh chóng ra hàng hoặc bị tiêu diệt.

Các đơn vị của ta tranh thủ cả ngày, cả đêm quần đảo truy quét các cụm tàn quân của Pốt.

Những trận chiến nhỏ trong thế trận lớn.

Ngay tại trong rừng, khu căn cứ của Pốt diễn ra cũng hết sức căng thẳng.

Song trận chiến, phần thắng lớn đã thuộc về chúng ta.

Sau 2 ngày, cuộc phản kích của 5 đầu Sư đoàn Pốt.

Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân khu Tây Nam.

Cùng văn phòng 870 ( Trung ương Đảng Pốt).

Đã bị tan thành mây khói, cùng với việc chúng ta bắt được rất nhiều tù binh.

Đưa được rất nhiều dân ra khỏi các căn cứ trong rừng sâu của Pốt.

Như vậy cùng việc gây hấn, gây chiến ở Biên giới phía Bắc để gỡ đòn hàhơi tiếp sức cho bọn giặc cỏ Pôn Pốt- Iengxari đều không có tác dụng, chúng đãkhông đỡ được đòn.

Không gây được tiến vang.

Mà cả thầy và tớ cũng bị quân vàdân ta cùng các lực lượng quân đội CPC đánh cho đại bại trong những ngày cuốitháng 2/79 này.

Bọn Pốt, sau trận thất bại thảm hại ở Công Pông Xpư.

Mấy ngày tiếp theo, trong khu vực, hoạt động của địch giảm xuống rõ rệt.

Những trận phản kích, tập kích cấp Sư đoàn, có cả xe tăng thiết giáp yểm trợ đã không còn nữa.

Nhưng do bản chất cực kỳ ngoan cố của bọn đầu xỏ.

Chúng đâu đã dễ từ bỏ ý đồ đánh chiếm, quấy phá chống nước Cộng hòa nhân dân CPC trẻ tuổi.

Chúng không đủ sức đánh lớn.

Nhưng chúng lại tăng cường tổ chức các trận đánh nhỏ cấp Đại đội, Trung đội vào các hậu cứ của ta.

Vào các chốt mà ở đó lực lượng ta mỏng, hoặc anh em phía sau sơ hở.

Chúng vẫn tổ chức ngăn chặn giao thông, đốt phá kho tàng, nhà cửa.

Ở những phum hẻo lánh, chúng vào cướp cả thóc gạo, trâu bò, của cải của dân .

Thậm tệ hơn nữa, chúng tiếp tục gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở 1 số Phum, Sóc.

Với lý do là dân ở đó theo chính quyền mới, theo bộ đội Việt Nam.

Hòng gây hoang mang trong dân.

Chia rẽ dân với bộ đội Việt Nam.

Chúng áp dụng chiến thuật của quan thầy đã răn dạy:' Kẻ thù tiến chúng ta lui, kẻ thù dừng lại chúng ta quấy nhiễu.

Kẻ thù mệt mỏi chúng ta đánh, kẻ thù rút lui chúng ta truy kích".

Sự hoạt động của địch diễn ra, không có gì làm chúng ta bất ngờ, lúng túng.

Vì chúng ta, đã biết trước, đoán trước được kịch bản âm mưu này.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn, tăng cường hướng dẫn, học tập cho cán bộ chiến sỹ.

Hiểu rõ bản chất cùng âm mưu thâm độc, ngoan cố của Pốt.

Cùng những đặc điểm hiện tại của cuộc chiến tranh.

Vinh dự, trách nhiệm của người lính tình nguyện Quốc tế.

Đây là chiến trường không có ranh giới.

Không có phân tuyến địch ta.

Ta và địch xen kẽ nhau.

Có khu vực hôm nay là của ta quản lý, mai là của địch.

Vì vừa bị chúng tràn vào chiếm lại.

Hoặc cao hơn nữa, là có thể chúng ta đang nói chuyện với địch và ta không biết.

Vì chúng giả hàng, chà trộn vào dân, chui vào chính quyền v.v....

Để tiêu diệt được địch, bảo vệ được dân, xây dựng được chính quyền trong sạch vững mạnh.

Cũng là để bảo vệ được mình, phá quy luật hoạt động của địch.

Chúng ta phải làm tốt cuộc chiến tranh nhân dân, phát động, động viên nhân dân CPC làm chủ cuộc sống mới.

Xây dựng các lực lượng du kích ở Phum, Sóc.

Đủ mạnh để tự tuần tra, tự đánh địch.

Chống đối được các lực lượng nhỏ của Pốt.

Vận động dân tố cáo, hoặc báo cho chúng ta rất các phần tử Pốt.

Đang trà trộn trong chính quyền, trong dân làm lực lượng "hai mặt", chống phá chính quyền, chống phá CM.

Lực lượng vũ trang của ta, nhất là các tổ chức dân địch vận, phải tập trung làm tốt.

Làm bằng được nhưng việc này, cùng lúc với nhiệm vụ tăng cường lùng sục.

Truy quét tiêu diệt các cụm, các nhóm quân của Pốt, đang tụ tập, nhỏ lẻ, tan rã.

Hoặc kêu gọi họ ra hang, từ hỏ hàng ngũ Pốt về với dân.

Như vậy, là Sư đoàn đang có 2 nhiệm vụ vô cùng quan trọng là: Chiến đấu và xây dựng chính quyền bạn, ổn định đời sống nhân dân.

Hai nhiệm vụ này gắn bó khăng khít và hỗ trợ nhau chặt chẽ.

Chính vì vậy, mà tiểu ban dân dịch vận Trung đoàn vô cùng bận mải.

Chúng tôi trong ngày phải chia nhau thành 2-3 nhóm để đi xuống các Phum, Sóc nắm tình hình.

Tuyên truyền, vận động nhân dân.

Giúp bạn xây dựng các lực lượng dân quân du kích Phum, Sóc.

Cùng các Hội Thanh niên, Phụ nữ và động viên gây dựng cơ sở.

Để họ tố cáo những phần tử Pốt đang trà trộn trong chính quyền, trong dân.

Chúng tôi xuống các Phum xa phải xin thêm lực lượng đi bảo vệ.

Đã có mấy lần khi đang kêugọi tuyên truyền thì bị các nhóm Pốt tập kích.

Chúng từ xa, bắn B40-B41 vào khuvực tập trung.

Hoặc đón đường bắn mấy loạt rồi lủi vào rừng.

Nên công tác dânđịch vận, lúc này đã phức tạp lại không kém phần nguy hiểm.

Những trận tập kích lớn của Pốt ở tỉnh Công Pông Xpư không còn nữa.

Cái ý định điên rồ của chúng là tái chiếm thị xã, làm bàn đạp tiến công thủ đô PhnomPênh tan thành tro bụi.

Nhưng chúng vẫn tăng cường các trận tập kích nhỏ quấy rối ta.

Về phía ta, từ sau ngày 7/1 đến cuối tháng 2/79.

Các đơn vị phải tác chiến liên tục, anh em bị thương, hy sinh nhiều.

Quân số sức khỏe giảm sút nghiêm trọng.

Trong các đơn vị, đã có hiện tượng tư tưởng ngại chiến đấu lâu dài, ngại gian khổ, ngại ác liệt hy sinh.

Nhất là ngại luồn sâu, bao vây vu hồi.

Hay ngại xuất kích ra khỏi chốt.

Nhất là ngại đánh nhỏ, đánh trong đêm v.v....

Đây là một thực tế của tình hình tư tưởng bộ đội ta trong giai đoạn này.

Sau 7/1 nhất là sau ngày 17/2 bọn Bành trướng phương Bắc xua quân xâm phạm tiến công 6 tỉnh Biên giới phía Bắc.

Đất nước ta đang ở giai đoạn cực kỳ khó khăn.

Quân đội và nhân dân ta phải gồng mình, chiến đấu chống giặc ngoại xâm và làm nhiệm vụ Quốc tế.

Đúng là 2 cuộc chiến tranh ở 2 đầu đất nước.

Trước tình hình đó các cơ quan chính trị đã tăng cường giáo dục.

Động viên cán bộ, chiến sỹ hiểu rõ được âm mưu và bản chất bọn Bành trướng phương Bắc.

Mà bè lũ Pôn Pốt-Iêng xa Ri chỉ là tay sai, là tốt đen của chúng.

Tuy là cuộc chiến ở 2 đầu Biên giới nhưng thực chất, chỉ là nằm trong một âm mưu bá chủ Thế giới của bọn Bành trướng.

Cùng lúc, các đơn vị được bổ sung quân số, từ phía sau và tân binh mới nhập ngũ.

Nên đã phần nào bù đắp được sự thiếu hụt quân số của các đơn vị bộ binh.

Để chống chiến thuật tập kích bu bám của chúng.

Chúng ta chỉ có thể chủ động truy quét.

Chủ động lùng sục vào sâu trong rừng, vào các căn cứ của chúng.

Xẻ lẻ chúng ra để tiêu diệt.

Bộ chỉ huy Sư đoàn ra lệnh mở chiến dịch mới.

Chiến dịch truy quét diệt Pốt.

Bước vào chiến dịch mới này, tư tưởng chỉ đạo là thường xuyên nắm chắc địch.

Giữ bí mật, luồn sâu, vây rộng.

Kiên trì lùng sục truy quét, chống tư tưởng mệt mỏi, lơ là, chủ quan, đơn giản coi thường địch.

Ngày 20/2 mở màn cho chiến dịch.

Các Tiểu đoàn bộ binh, chủ động tiến công các cụm địch bu bám trước chốt của mình.

Có những trận chiến diễn ra cũng hết sức căng thẳng ác liệt.

Ở hướng Trung đoàn 270 khi Tiểu đoàn 5 tổ chức tiến công chính diện, thì gặp sự chống cự rất mạnh của Pốt.

Chúng cũng đã đề phòng cả hướng sau, nên trận chiến diễn ra không thuận lợi.

Bọn Pốt dựa vào những hầm hào công sự ngoan cố chống cự.

Các đơn vị xung phong nhiều đợt mà vẫn không phá vỡ được tuyến phòng ngự của chúng.

Các Đại đội chuyển sang chiến thuật lấn ép, tập trung tiêu diệt từng chốt từng hầm phòng thủ của Pốt.

Đại đội 7 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Đặng Văn Sinh bộ đội ta đột phá liên tục.

Gần trưa thì mới chiếm được một số hào, đánh vỡ tuyến phòng thủ ngoài của Pốt.

Anh em đã phải dùng cả lựu đạn, để tiêu diệt bọn Pốt cố thủ trong hầm.

Bọn Pốt thấy mất một số chốt, thì tập trung hỏa lực dồn về phía Đại đội 7.

Đại đội trưởng Đặng Văn Sinh trúng đạn bị thương nặng.

Nhưng anh vẫn không chịu để anh em đưa về phía sau.

Tới 3h chiều thì Tiểu đoàn 5 mới hoàn toàn làm chủ trận địa.

Ở hướng Tiểu đoàn 7, khi trong đêm đi luồn sâu.

Trung đội 1 của Đại đội 2, đi lạc vào chốt địch.

Ngay trong đêm, một trận cận chiến đã diễn ra bất ngờ.

Sau đó bọn địch chốt bỏ chạy Trung đội 1 cũng bị thương mấy đồng chí.

Trong mấy ngày tiếp theo.

Bọn Pốt bị tiến công truy quét liên tục.

Quân Pốt bị tiêu hao lớn. chúng tan rã hang loạt.

Chúng bị dồn chạy vào rừng sâu xa các trục đường giao thông và xa các Phum, Sóc.

Chúng tiếp tục củng cố lập các căn cứ trong rừng.

Cùng lúc trong các chính quyền CM số địch trà trộn trong dan, trong chính quyền cũng bị tố giác.

Rất nhiều tên đã phải tự thú, phải ra hàng.

Những tên ngoan cố đã bị trừng trị đích đáng.

Ủy ban nhân dân các cấp lần lượt hình thành, ra mắt trước đông đảo quầnchúng nhân dân.

Chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng và lực lượng tự vệđược dân bầu ra hoạt động rất hiệu quả.

Nhân dân đã kéo nhau trở về quê cũ,dựng lại nhà cửa, rào làng kháng chiến, bắt tay vào sản xuất.

Cá biệt đã cónhững lớp học cho trẻ em.

Đời sống, và xã hội ở khu vực tỉnh Công Pông XPư dầnđi vào ổn định.

Sau sự kiện nhà nước CHNDCPC ra đời.

Cùng với việc UBND các Tỉnh, Thành phố, trực thuộc Trung ương cũng lần lượt ra mắt nhân dân.

UBND Tỉnh Công Pông Xpư, được vinh dự là Tỉnh đầu tiên ở CPC được thành lập.

Chính quyền các cấp, dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Việt Nam.

Đã bắt tay vào quản lý và xây dựng đất nước.

Cuộc sống mới của nhân dân đã thực sự hồi sinh.

Những người dân từ những căn cứ trong rừng.

Chạy thoát về, đều được sự giúp đỡ cứu trợ, cứu đói.

Mọi người đã nhanh chóng hòa nhập cùng cộng đồng.

Tối tối, trong các Phum, Sóc.

Tiếng trống Lăm vông, bập bùng, hòa quyện với điệu múa, lời ca từ già đến trẻ.

Trong niềm vui tột đỉnh cùng men say Rượu thốt nốt.

Trong bụi đất mù trời, họ vẫn say sưa nhẩy múa, hát ca.

Những lời ca rất quyến rũ trữ tình như: "Đam sooai chăn ty, nery ôn ơi!" ( Tam dịch: Em gái ơi!

Trái đào lộn hột đã lớn rồi....).

Những đôi mắt của trai gái lúng liếng đưa tình.

Họ quấn quýt hòa quyện vào nhau.

Rồi những đám cưới, được tổ chức theo nghi lễ truyền thống ngày nào cũng có.

Họ sống gấp gáp, bù lại những năm tháng khổ đau dưới thời Pôn Pốt, có các Ăng ca thống trị.

Có nhiều lần chúng tôi cùng được mời múa ca như vậy.

Nhưng chúng tôi không thể chịu nổi vì sự ngột ngạt của bụi, của những mùi người không quen thuộc.

Nhiều khi cố nhẩy cho xong bản nhạc rồi chạy vội ra ngoài hít thở, khạc bụi.

Nhưng trong những đám vui nhẩy múa đó, có rất nhiều những phụ nữ ngậm ngùi, đứng nhìn cuộc vui.

Họ đã mất chồng.

Chồng của họ đã bị chết, bị giết dưới thời Ăng ca cai trị bằng những nhát búa đập vào đầu.

Giờ đây trong hòa bình trong niềm vui của cuộc hồi sinh.

Bản năng sinh lý trỗi dậy.

Họ đang rất thèm khát, đang khát khao có được ngườii đàn ông, người chồng, hay người bạn tình của họ.

Nhiều, rất nhiều ánh mắt lúng liếng, cùng nụ cười chào mời với bộ đội Việt Nam và các anh em trong đội công tác.

Nhưng với chúng tôi biết là thế.

Nhưng đây là điều " Cấm kỵ" số một đối với bộ đội Việt Nam.

Tình hình CPC nói chung, nhất là khu vực tỉnh Công Pông Xpư.

Đã có nhiều thay đổi, nhiều phát triển tiến bộ.

Bọn địch bị truy quét khắp nơi, bị quân ta đánh cho tơi tả.

Rất nhiều toán lính đã tan rã, trốn căn cứ ra hàng.

Với những bộ mặt, thân hình tiều tụy đói khát.

Ở hướng này bọn Pốt, đã phải ra lệnh cho các đơn vị của chúng.

Rút vào trong rừng sâu, núi hiểm.

Để xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài.

Trước tình hình đó.

Bộ tư lệnh Quân đoàn, cương quyết không để cho bọn tàn quân có thời gian xây dựng căn cứ.

Cuối tháng 2/79 Quân đoàn quyết định mở chiến dịch, tiến công truy quét vào căn cứ chiến lược cuối cùng của Pốt tại Tỉnh lỵ Công Pông XPư.

Căn cứ Ăm Leng.

Theo kế hoạch, Sư đoàn 341 lập kế hoạch tiến công vào căn cứ Ăm Leng.

Ăm leng là khu vực rừng núi hiểm trở nằm ở phía Tây Tỉnh Công Pông Xpư tiếp giáp với Tây- Nam Tỉnh Công Pông Chi Năng.

Đây là một vùng rừng núi chạy dài suốt phía Tây CPC tới Biên giới Thái Lan.

Sau khi bọn Pốt rút khỏi Phnompenh, cùng các căn cứ quan trọng khác.

Bọn Pốt đã chọn khu vực này, để xây dựng căn cứ của Văn phòng 870 ( cơ quan Trung ương Đảng của Pốt).

Chiến dịch tiến công đánh chiếm Ăng leng được chia làm 2 giai đoạn.

Lực lượng tiến công gồm các lực lượng của Quân đoàn 4.

Cùng các Sư đoàn phối thuộc.

Cùng 4 Tiểu đoàn của Quân đội cách mạng CPC.

- Giai đoạn đầu: lực lượng của bạn cùng các lực lượng của Quân đoàn.

Tổ chức tiến công, tiêu diệt địch ở vòng ngoài.

Khai thông tuyến vận tải chiến lược đường số 4 đi cảng Công Pông Thom.

- Giai đoạn 2: Quân đoàn 4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 tiến công đánh chiếm Ăm leng.

Sư đoàn 341, được tăng cường Trung đoàn 14 Sư đoàn 7.

Trung đoàn Ba gia Sư đoàn 2.

Cùng 10 xe tăng, thiết giáp.

Tiến công vào cụm địch ở phía Đông Nam- Ăm Leng.

Tiêu diệt một bộ phận quan trọng của địch ở vòng ngoài.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị của Quân đoàn cùng lực lượng tăng cường.

Tiến công vào căn cứ Ăm leng.

Ngày 6/3/79.

Các Trung đoàn của Sư đoàn 341.

Khẩn trương triển khai nhiệm vụ, theo phương án.

Đánh hơi thấy ta chuẩn bị đánh lớn.

Bọn Pốt nhanh chóng tẩu tán, di chuyển.

Do đó, các lực lượng của Sư đoàn 341.

Cùng Trung đoàn 14 truy quét rất vất vả.

Cứ phải đuổi, phải theo đường rút chạy của bọn chúng.

Hướng Trung đoàn 273, sau khi có lệnh vào chiến dịch tiến công Ăm leng.

Từ trục đường 4, toàn Trung đoàn hành quân theo các con đường đất nhỏ, men các sườn núi hiểm trở.

Đuổi theo tiếng ì ầm của xe tăng, xe bọc thép của Pốt.

Tiểu đoàn 2 dừng lại chốt bảo vệ hành lang, cách trục đường 4 từ 5 đến 10km.

Các Tiểu đoàn 1-3 cùng các đơn vị trực thuộc, Trung đoàn bộ, vẫn tiến sâu vào rừng.

Pháo binh địch, chắc có bọn Trinh sát báo.

Nên vẫn bắn vào đội hình hành tiến của Trung đoàn để cản đường.

Nhiều quả đã trúng đội hình tiến công.

Đã có nhiều anh em bị thương và hy sinh do đạn pháo.

Cuộc truy đuổi vào căn cứ Ăm leng đã sang ngày thứ 3.

Mà chúng ta mới gặp phải các lực lượng nhỏ cản đường của chúng.

Chúng nhanh chóng bị tiêu diệt hoặc bỏ chạy.

Càng đi, càng đuổi, chúng ta đã thấy rất nhiều kho tàng cùng căn cứ của Pốt.

Dấu hiệu rất đông lực lượng Pốt.

Trung đoàn 273 vẫn được lệnh truy đuổi sâu thêm.

Đến chiều ngày thứ tư.Khi đến 1 phum vắng ở gần "yên ngựa" giữa 2 dãy núi.

Thì bất ngờ quân Pốt nổsúng rất mạnh.

Có cả xe tăng, xe bọc thép, cùng pháo binh của chúng tiến côngquân ta.

Trung đoàn trưởng Trần Măng nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu.Cùng lúc điện báo về cho Sư đoàn là: Đã gặp lực lượng địch phản kích, bọn Pốtcó cả xe tăng cùng pháo binh yểm trợ.

Số lượng địch rất đông.

Ùng- oàng, ùng- oàng.

Rồi ầm- ầm, oàng-oàng.

Cùng với những tiếng thùng- thùng- thùng, vưu- vưu- vưu.

Tiếng rít xoẹt, rồi nổ ầm của DKZ.

Các loại hỏa lực mạnh của Pốt, trên sườn đồi chỗ khu vực yên ngựa đằng trước, bắn rất mạnh vào đội hình Trung đoàn, cả khu vực Trung đoàn bộ.

Các loại mảnh đạn, mảnh pháo phầm phập.

Cùng khói lứa mù mịt trùm lên đội hình hành tiến.

Các loại hỏa lực của các đơn vị của ta cũng triển khai bắn trả.

Chúng tôi ở ngay vị trí của 2 khẩu cối 120 ly.

Anh em pháo thủ Đại đội 14, thao tác bắn rất nhanh.

Tiếng hô gióng pháo, tiếng hô cự ly thước tầm, hướng xạ kích đanh vang.

Bắn ở cự ly gần nên 2 khẩu cối gần như dựng đứng.

Ùng- ùng, mấy giây sau ầm- ầm khói trùm trên sườn đồi.

Khói ở đầu nòng cũng trùm lên khu vực trận địa không có hầm hào che chắn.

Những khẩu dkz cũng đã rít lên bay về hướng yên ngựa.

Về thế trận thì chúng ta đang ở thế bất lợi.

Vì chúng ta đang ở dưới thấp, bọn Pốt đang ở trên cao, có ý đợi, phục kích ta.

Nhưng thế trận lớn, thì chung ta đang là người chủ động săn đuổi.

Lũ pốt là đàn thú đang cùng đường.

Có thể chúng đã hết đường chạy, có thể chúng chạy đến nơi hiểm yếu này, rồi lập phóng tuyến phản công ta.

Lúc này đã khoảng 4h chiều.

Cái nắng nóng cả ngày, cộng với khói bụi dầy đặc, làm không gian như bùng cháy.

Các loại hỏa lực của Pốt vẫn bắn như điên loạn.

Các loại hỏa lực của ta cũng bắn trả rất mãnh liệt.

Pháo binh Sư đoàn đã lấy xong tọa độ.

Những quả đạn chi viện đầu tiên vo vo bay qua đầu mọi người.

Rồi nổ ầm- ầm trên sườn núi.

Nơi có phòng tuyến Pốt.

Đạn pháo đã trúng khu vực mục tiêu, chi viện kịp thời cho Trung đoàn.

Vo-vo-vo... những tiếng đề pa từ phía trục đường 4 và đạn bay qua đầu nhiều hơn.

Pháo binh đã bắn cấp tập.

Các loại hỏa lực của Trung đoàn trong mấy ngày trên vai, trên xe của lực lượng vận tải.

Dường như rất nặng vì chưa có cơ hội sử dụng.

Giờ đây, anh em hỏa lực được dịp bắn cho nhẹ bớt.

Nên hầu như không ai nghĩ đến chuyện tiết kiệm đạn.

Đúng là một trận đấu pháo, đấu hỏa lực thật hoành tráng, thật ác liệt.

Nguy hiểm nhất là đạn pháo bắn thẳng từ trên xe tăng của chúng.

Bụi đất tung lên, những cây thốt nốt, những loại cây to bị trúng đạn pháo tăng đổ rầm rầm.

Tiến rít xoẹt rồi nổ ầm của đạn pháo 105 của Pốt bắn tới mảnh đạn cắm phập phậm vào mọi nơi hoặc vào những vật cứng nghe chát chúa.

Cũng đã có anh em bị trúng đạn.

Các đồng chí yta chạy đi chạy lại trong tiếng súng, tiếng pháo để cấp cứu băng bó cho anh em bị thương.

Đạn thẳng của Pốt vẫn tiếp tục chiu chiu về phía Trung đoàn bộ.

Những đám lửa khói bùng lên tại khu vực Pốt trên sườn đồi ngày càng nhiều hơn.

Rồi gần như trùm hẳn lên sườn đồi là khói, cùng lửa cháy khét lẹt.

Tiếng súng hỏa lực cũng như đạn thẳng của Pốt thưa dần.

Hai Tiểu đoàn bộ binh được lệnh xung phong đánh chiếm mục tiêu.

Tiếng hô xung phong vang trời trong khung cảnh nóng bỏng ác liệt của sa trường.

Quân Pốt chống đỡ thêm một lúc rồi vỡ trận chạy sang bên kia yên ngựa.

Hoặc chạy lẫn vào dân.

Nhưng các loại pháo của chúng vẫn bắn vào đội hình của của Trung đoàn.

Trước tiên là các xe trâu kéo của dân chạy ào ra ngày một đông.

Già trẻ, trai gái kêu khóc thảm thiết trong hoảng loạn.

Xe trâu lồng lên chạy băng băng.

Khi có những quả đạn của Pốt bắn đến nổ ầm- ầm.

Người dân đã không thể điều khiển được các xe của họ.

Trâu hoảng sợ, người hoảng sợ.

Đạn nổ đầu nòng, đạn pháo của Pốt về phía Trung đoàn bộ cùng lúc đoàn người chạy ra ngày một đông.

Nhiều xe trâu kéo nhưng không phải là cỗ xe có bánh, mà người dân chỉ làm 2 cây gỗ buột hình chữ V kéo lê ở dưới đất bên trên để 1 số dụng cụ gạo thóc hoặc những hòm, xiểng.

Nhưng thanh gỗ kéo cầy dưới đất càng làm bụi bay lên càng nhiều.

Có nhiều xe chạy nhanh quá, đổ kềnh ra đường.

Cặp trâu kéo với đôi mắt đỏ sọc hung hăng phá ách.

Chưa lúc nào cảnh tượng hỗn loạn như lúc này, lại ở ngay vị trí của Trung đoàn bộ.

Anh em vệ binh dùng súng bắn, để ra hiệu cho đoàn người chạy vòng qua sở chỉ huy.

Nhóm dân dịch vận của tôi lợi dụng lấp ngay cạnh 1 ngôi Chùa nhỏ.

CôNhị, cô The sợ xanh mặt.

Cứ níu, cứ bám chặt vào tôi.

Tôi nói anh em chuẩn bịnói loa hướng dẫn dân chạy ra.

Thì Sa Chơn trong bộ mặt hốt hoảng căng thẳnggọi tôi nói thất thanh:" Boòng Phú, boòng Phú, phơ leng mia, phơ leng mia".

Rồichỉ vào trong Chùa.

Nơi có rất nhiều thùng đạn xếp thành hàng.

Tôi chưa hiểugì, hỏi lại Sa Chơn.

Sa Chơn vẫn nói:" phơ leng mia, pơ leng mia".

Mới đầu tôinghĩ có Pốt trong đó.

Tôi liền nép vào một gốc cây chĩa súng vào đó.

Lúc đó côNhị nói với tôi: Không phải lính Pốt đâu.

Sa Chơn nói:" kho vàng đấy".

Tôi cùng SaChơn, cô Nhị đi vào chùa.

Tay tôi vẫn để vòng cò súng và mắt đảo nhanh quan sát.

Đúng là chỉ có mấy chục thùng đạn đại liên xếp thành mấy hàng.

Có hòm đã mở nắp.

Tôi nhìn kỹ, trời!

Đúng là vàng, toàn vàng miếng lá vàng chóe, mỗi thùng có đến cả mấy chục kg.

Tôi mở thêm nắp các thùng khác cũng vậy, hoặc là vàng trang sức.

Bọn Pốt thu của dân mang về đây lập căn cứ.

Nhưng khi bộ đội mình đánh vào, thì chúng chưa kịp tẩu tán.

Hoặc tẩu tán chưa hết.

Đang tần ngần suy nghĩ.

Thì xoẹt- oành.

Đạn rơi gần.

Theo phản xạ tôi kéo tay cô Nhị rồi hét to: "nằm xuống".

Quả đạn pháo 105 ly của Pốt nổ ngay trước cửa Chùa.

Mảnh đạn bay cả vào trong Chùa.

Khói bụi trùm lên.

Tôi như bừng tỉnh, nói ngay.

Kệ nó đã đi ra ngoài ngay .

SaChơn cùng Nhị theo tôi ra ngoài, pháo binh của Pốt vẫn bắn dồn dập vào khu vực.

Lúc đó anh Văn chạy lại nói: Anh cho phát loa hướng dẫn dân đi.

Có cả lính Pốt nữa, các Tiểu đoàn báo lính Pốt vất súng tràn ra, lẫn vào dân nhiều lắm.

Sa Chơn phát loa nói, và chỉ hướng cho dân ra khỏi rừng.

Lẫn trong đám người chạy, có rất nhiều đàn ông cởi trần.

Tôi nói với anh Văn lính Pốt anh à.

Anh em tôi hội ý cách xử lý, Cô Nhị dịch cho Sa Chơn nghe.

Rồi nói lên loa, với nội dung ai là lính thì cởi áo ra.

Đứng tập trung lại không được chạy theo dân.

Rồi chúng tôi báo với Ban xin thêm một Tiểu đội vệ binh.

Cùng chúng tôi thanh lọc số tình nghi lính Pốt, trong đoàn người đang hốt hoảng chạy.

Cách Chùa hơn 200m có một bãi trống.

Chúng tôi hướng dẫn đoàn người qua đó.

Rồi giữ lại những người đàn ông nghi là lính Pốt.

Hoặc những tên lính Pốt đã cởi trần không có súng.

Có nhiều tên với bộ mặt vô cùng hoảng sợ tự giác đứng lại.

Đoàn người ra mỗi lúc một đông, cùng với số lính Pốt được lọc ra cũng ngày càng nhiều.

Đến xẩm tối thì ước được mấy trăm thằng.

Cũng là tình huống thật nguy hiểm, vì co cụm chúng tại đây.

Rất nhiều thằng to béo.

Trong khi lực lượng của chúng tôi chưa đến chục người.

Số lính Pốt kia mà ào lên tay bo, chúng tôi không chỗng đỡ nổi.

Bụi đất vẫn mù mịt, mọi người đã thấm mệt, thấm khát kể cả đám lính Pốt cũng vậy.

Trong khi chiều đã tối dần, không biết giải quyết số tù bình này như thế nào?

Anh em tôi bàn với anh Lưa, chủ nhiệm chính trị.

Là số tù binh đông thế này mình không thể cáng đáng nổi.

Cả đêm ở đây cũng rất nguy hiểm.

Chúng tôi xin ý kiến là: Thanh lọc những thằng thấp bé, nhẹ cân cho ra theo dân.

Chỉ giữ lại những tên nghi là cán bộ, là sỹ quan của Pốt thôi.

Cùng lúc chúng tôi vẫn phát hoa hưỡng dẫn dân ra ngoài hướng trục đường 4.

Đạn pháo của Pốt vẫn ầm ầm vào khu vực.

Dân vẫn hoảng loạn, sự hỗn độn vẫn tiếp diễn.

Đằng trước tôi, có một phụ nữ đang chạy, đánh rơi từ người ra cái khăn càma đựng vật gì bên trong như là nắm cơm.

Tròn to như quả bưởi Người phụ nữ theo đà chạy mấy bước, rồi quay lại định nhặt cái bọc khăn ấy.

Rồi lại đứng lại, mắt sợ sệt cứ nhìn chúng tôi.

Tôi nói với YVơn trong đội công tác: lại lấy, kiểm tra xem có gì trong đó.

YVơn xách súng lại nhặt bọc khăn lên, thì thấy bọc nặng trĩu.

Cùng lúc người phụ nữa quỳ xuống van lạy.

Tôi nghĩ là họ dấu vũ khí trong đó.

Bèn lại xem thì YVơn nói: anh Phú ơi toàn là vàng.

Tôi cầm xem, cái bọc nặng trĩu tay, cũng khoảng mấy kg.

Người phụ nữ không quỳ lạy nữa, mà đứng dậy chạy theo đoàn người.

Tôixem thấy đúng toàn là vàng, liền nói với YVơn là gọi trả lại họ.

Y vơn gọingười phụ nữ đứng lại.

Mang đưa trả họ bọc vàng đó.

Người phụ nữ như không tinlà được trả lại bọc vàng.

Đứng tần ngần một lúc, rồi lại quỳ xuống vái lia lịavề phía chúng tôi.

Mồn thì cứ tuôn hàng tràng tiếng dài, như là nói cảm ơn, cảmơn.

Tôi ra hiệu đi đi.

Họ vùng đứng lên rồi vụt chạy, hòa lẫn theo đoàn người,khuất trong khói bụi mù mịt.

Trời tối dần, tiếng súng bộ binh không còn nữa.

Song, pháo, cối của Pốt vẫn bắn vào trong khu vực của Trung đoàn.

Tiếng của động cơ xe tăng Pốt vẫn ì ầm.

Cối 120 ly, 82ly của, DKZ của các đại đội hỏa lực Trung đoàn vẫn bình, bình, ùng oàng sang bên kia yên ngựa.

Pháo 105 của Sư đoàn từ ngoài đường 4, cũng vẫn vo vo qua đầu chúng tôi.

Nhưng tiếng đạn bay thưa dần.

Trung đòan bộ, di chuyển lui ra ngoài khu vực dừng chân.

Chúng tôi nhanh chóng thanh lọc số tù binh.

Bọn này vẫn trong trạng thái sợ sệt.

Nhưng có vẻ đã qua cơn hoảng loạn.

Khi được hô đứng vào hàng lối, thì lũ lính Pốt lôi thôi, bẩn thỉu đó lại sắp xếp theo hàng lối rất nhanh, rất chuyên nghiệp.

Hàng ngang, hàng dọc thẳng tăm tắp mới lạ chứ.

Tôi nói anh em vệ binh đứng ngoài xa khoảng 30m, chĩa súng bảo vệ.

Còn tôi và Sa Chơn, đi vào giữa các hàng, chọn lựa theo cảm quan.

Lựa những tên nhỏ bé ra một phía.

Số lựa chọn ra được hơn 200 tên.

Số còn lại 125 tên.

Bọn Pốt vẫn rất sợ sệt, có lẽ chúng chưa hiểu số phận, hay chưa hiểu cách xử lý của chúng tôi thế nào.

Sơ bộ việc lựa chọn đã xong.

Tôi nói anh em phát loa, giải thích chính sách khoan hồng của CM- CPC, Sự giúp đỡ làm nhiệm vụ Quốc Tế cứu dân CPC của Việt Nam.

Cùng tội ác tầy trời của bè lũ phản động Pôn Pốt IêngXaRi, cùng với bọn Ăng Ca Khơ Me Đỏ khát máu.

Tôi nói anh em nói rõ là: Đã theo lính Pốt, mặc dù rất nhiều anh em bị bắt ép.

Nhưng đã cầm súng chống lại CM- CPC chân chính chống lại dân, giết dân thì đều là có tội.

Nhưng hiện nay bọn Pốt đã bị CM- CPC Cùng sự giúp đỡ của bộ đội Việt Nam đang đánh cho đại bại.

Với chính sách khoan hồng của Cách mạng, thay mặt CM- CPC và bộ đội VN.

Chúng tôi phóng thích cho anh em trở về địa phương.

Mọi người đi theo đoàn dân từ trong rừng ra.

Không được chạy vào rừng, không được cướp bóc của dân.

Hãy về quê cũ, trình diện với chính quyền.

Tất cả số tù binh Pốt vỗ tay rầm trời, rồi Trây dô, trây dô Com Tóp Việt Nam ầm ỹ....

Tiếp tục anh em giải thích cho số hơn 100 còn lại.

Tất cả sẽ ở lại cùng đội công tác CPC và bộ đội Việt Nam.

Chúng tôi nói để họ yên tâm.

Là họ không sợ bị trả thù, không bị bắn giết, nếu bị bắn giết thì chúng tôi đã làm rồi.

Mọi người không nên chạy, không nên sợ.

Ngày mai, chúng tôi sẽ đưa mọi người về nơi học tập.

Ai hối cải tốt sẽ được khoan hồng, tiếp tục về với quê hương.

Ai chạy trốn sẽ bị trừng trị.

Tôi nói qua phiên dịch là mọi người nghe rõ không và có đồng ý không?

Số tù binh hô rất to là đồng ý, rồi lại cũng vỗ tay rầm lên.

Trời đã tối, số tù binh được phóng thích nhanh chóng chạy theo đoàn dân khuất trong đường mòn đầy bụi cùng cây cối.

Cũng đã không còn người dân nào nữa.

Anh em chúng tôi đã thật mệt, rã rời chân tay, cùng với đói và khát.

Nhưng giờ đây với số tù binh hơn trăm thằng này giữa rừng hoang, đêm xuống.

Chúng tôi vẫn trong tình trạng vô cùng căng thẳng.

Tôi cho lũ tù binhngồi xuống.

Nhắc anh em phải trong tư thế sẵn sàng nổ súng.

Rồi cùng anh Văn đigặp anh Lưa và Trung đoàn, lên kế hoạch quản lý, xử lý lũ tù binh này.

Chúng tôi báo cáo với chỉ huy Trung đoàn về số tù binh đã phóng thích và số tù binh hiện đang quản lý.

Chúng tôi nói một số khó khăn, rất nguy hiểm, rất phức tạp trong việc quản lý số tù binh trong đêm.

Hiện tại Tiểu ban Dân địch vận có 4 đ/c cộng 3 người trong đội công tác, 2 phiên dịch nữ.

Trung đoàn tăng cường cho 3 đ/c vệ binh.

Số tù binh hiện còn là 125 tên, qua cảm quan, phân loại thì đây là số tù binh là cán bộ, sỹ quan của Pốt.

Nên cần phải đưa về nơi học tập.

Chính ủy Trung đoàn Diệp Xuân Ánh và phó chính ủy Nguyễn Kim Tiến nhắc mọi người phải canh gác tốt.

Phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, là vì đêm xuống.

Thấy lực lượng của ta mỏng, chúng đã qua cơn hoảng loạn khiếp sợ.

Có thể chúng sẽ ào lên cướp súng.

Hoặc có lực lượng bên ngoài vào hỗ trợ, giải vây cho bọn này.

Vì thế, cách tốt nhất là chúng ta phải thể hiện chính sách khoan hồng.

Tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, để họ yên tâm sẽ được đối xử tử tế.

Được đưa về nơi học tập, rồi sẽ được trở về quê nhà với bố mẹ, vợ con.

Phải cung cấp nước, lương thực cho họ v.v...

Nhiệm vụ của chúng ta, là phải giữ số tù binh này thật an toàn qua đêm.

Trung đoàn đã báo về Sư đoàn.

Ngày mai chúng ta sẽ bàn giao cho đơn vị khác.

Tình hình nhiệm vụ của chúng ta có những thay đổi.

Chúng ta không tiến sâu vào căn cứ của Pốt nữa.

Mà truy quét dọc theo ven đường số 4.

Rồi rẽ ra đường 4.

Thông đường 4.

Bắt liên lạc với QĐ 3.

Tình hình chiến sự phía Bắc đang diễn biến rất phức tạp.

Bọn Bành trướng Trung quốc đã tiến sâu vào nước ta có chỗ sâu nhất là 80km.

Chưa bao giờ, tình hình an ninh, chính trị của đất nước cam go phức tạp như lúc này.

Hiện tại đất nước chúng ta đang phải chống đỡ với 2 cuộc chiến tranh ở 2 đầu biên giới.

Nhưng thực chất cũng chỉ là một kẻ thù.

Chúng ta, đất nước chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn.

Nên nhiệm vụ của chúng ta đã rất nặng nề.

Nay lại càng nặng nề hơn.

Chúng tôi trở về vị trí quản lý số tù binh.

Trước hết cho 2 anh em dẫn 2 tên tù binh, đi ra suối gần đó lấy nước cho chúng, cùng cho cả cho chúng tôi.

Trực tiếp tôi cùng 1 đ/c vệ binh, về ban 5 lấy lương khô cho mỗi tên 2 thanh.

Sau khi đã tập kết đủ nước, cùng lương khô.

Tôi tiếp tục cho anh em phát loa tuyên truyền và trong đó có ý thể hiện quan tâm tới họ.

Mọi người sẽ được 1 phần lương khô, cùng nước uống.

Nhưng không ai được đi lại lộn xộn.

Ngồi tại vị trí, sẽ có người phát tận tay lương khô.

Còn nước, sẽ cho vào các bi đông, rồi uống xoay vòng.

Bọn này cũng đã rất đói.

Nên khi nói có lương khô thì reo lên rồi lại im thin thít.

Chúng tôi nhanh chóng phân phát lương khô cùng nước uống cho chúng.

Những tiếng okun, okun rộ lên, khi từng đứa nhận được phần của mình.

Rồi thằng nào thằng ấy bóc lương khô ngai ngấu nghiến.

Tiếp tục sau ăn, sau uống.

Chúng tôi lại phải quy định tiếp về việc vệ sinh( toalét).

Nếu ai có nhu cầu, thì giải quyết ngay tại chỗ.

Không một ai dời khỏi vị trí.

Ai ăn xong, uống xong thì nằm xuống.

Không được trao đổi, nói chuyện.

Nếu ai ra ngoài vị trí, thì sẽ bị bắn ngay.

Để dọa tiếp bọn chúng tôi nói thêm là chung quanh đây, bộ đội Việt Nam rất đông.

Tiếp tục tôi nhắc anh em trong đội công tác hỏi lại, là mọi người đã hiểu rõ quy định chưa.

Và có đồng ý như vậy không.

Tất cả số tù binh lại ồ lên chà chà( đồng ý, đồng ý).

Tôi đi nhắc số anh em ở các vị trí chốt gác xung quanh bọn tù.

Cứ 2 người một tổ, không ai được ngủ.

Phải hết sức đề cao cảnh giác, sẵn sàng nổ súng tiêu diệt, trấn áp, đối với lũ tù binh di chuyển, hoăc bỏ trốn.

Cùng cả đề phòng bọn bên ngoài mò vào tập kích, giải vây cho bọn này.

Tôi nhắc anh em cũng phải tranh thủ ăn uống cho có sức khỏe.

Vì sau mấy ngày luồn rừng, rất vất vả nên mọi người cũng đã rất mệt mỏi.

Đúng là từ chiều đến giờ, tôi mới để ý đến 2 chị em The và Nhị.

Tôi đón bi đông nước, cùng thanh lương khô từ tay cô The.

Cô The vẫn nói trong sự sợ hãi.

Sợ lắm anh Phú ơi.

Cô Nhị thì không nói gì, nhưng cứ nhìn tôi chăm chăm.

Trong mờ tối, thoáng nhận ra một điều gì đó khác thường ở Nhị.

Nhưng suynghĩ chỉ thoáng qua, chỉ chợt đến.

Tôi hỏi để trấn an 2 chị em: Hai cô sợ lắmà?

Không có vấn đề gì đâu.

Hai chị em đã ăn gì chưa.

Thấy 2 người, cũng có 2khẩu súng.

Tôi hỏi đùa: Hai chị em đã biết bắn súng chưa?

Trời tối hẳn, đám tù binh đã ăn, đã uống xong, nằm im thin thít.

Thật kỳ lạ, chỉ mấy giờ trước.

Trong trang phục lính Pốt đen xì, cùng với súng đạn.

Chúng lì lợm, ngoan cố, chúng như bầy quỷ dữ, điên cuồng bắn, điên cuồng xả đạn về chúng tôi.

Thế mà bây giờ, thằng nào thằng ấy ngoan ngoãn, nằm im bất động.

Không hiểu bọn chúng đang nghĩ gì?

Chúng hiểu gì về cuộc chiến tranh này?

Sự có mặt của bộ đội Việt nam thế nào?

Không hiểu chúng được ăn, được uống, được nuôi dưỡng thế nào?

Mà thằng nào thằng ấy to béo lung núc.

Có những thằng nặng tới 70-75 kg chứ không ít.

Chân tay to chắc, vạm vỡ đen xì.

Trong khi đó, bộ đội mình thì rất gầy, rất nhỏ.

Từ ngày nhập ngũ tới giờ, lúc mập nhất tôi và nhiều anh em trong đơn vị, chỉ nặng khoảng 48 - 50 kg thôi.

Lúc tôi và Sa Chơn đi vào giữa những hàng lính Pốt cởi trần.

Nhiều thằng, mình mẩy xăm trổ hình thù quái dị.

Hầu như trước ngực thằng nào cũng có đeo những gói bùa, màu vàng, mầu đỏ.

Hay đeo những móng vuốt, hoặc răng lợn, răng hổ gì đó.

Với những bộ mặt đen đúa, mắt trắng dã, môi đen xì, tóc quăn, hôi hám.

Trong lúc chúng sợ sệt, hoảng hốt.

Lại càng thấy chúng thật khó hiểu, khó gần.

Bất giác tôi nghĩ: mình đang đi vào giữa bầy quỷ dữ sa tăng.

Chứ không phải đi giữa những hàng người đồng loại.

Có lúc tôi đã thoáng chút ngần ngừ, thoáng chút do dự.

Nhưng cũng chỉ thoáng qua.

Cái bản lĩnh của người lính trong tôi đã kinh qua bao trận mạc, bao khổ cực và hiểm nguy được phát huy.

Càng nguy hiểm, càng hiểm nguy, thì tôi lại càng rất nhanh nhẹn linh hoạt.

Không phải là sự dũng cảm tạo lên.

Mà đơn giảm là chép miệng với suy nghĩ: ''Coi như mình đã hy sinh''.

Cái suy nghĩ đó ập đến, làm cho cái sợ, cái lo bay đi, tiêu tan đi hết.

Chỉ còn lại cái bản lĩnh kiên cường.

Cùng sự xử lý mọi vấn đề thật nhanh nhẹn, thật mau lẹ.

Nhóm tôi gác cùng với anh Văn, Cô Nhị, Cô The.

Hai cô gái đã bình tình lại.

Giọng nói không còn sợ sệt nữa, anh Văn thì vô cùng mệt mỏi.

Trong xử lý tình huống này, thì anh Văn không thuộc típ người xông xáo.

Vì anh Văn vóc dáng người còn nhỏ bé hơn tôi.

Là người của thơ ca.

Anh làm cán bộ Chính trị ở Đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn đã lâu.

Nên cũng ít phải va chạm trực tiếp chiến đấu như tôi.

Thỉnh thoảng vẫn có tiếng đạn pháo xoẹt nổ vu vơ.

Không gian đã thực sự im ắng.

Sương khuya làm cho bầu không khí đỡ ngột ngạt hơn.

Những loại côn trùng đã cùng cất lên bản hợp xướng quen thuộc mùa khô của rừng.

Chúng tôi cũng không nói chuyện.

Chỉ thì thầm trao đổi công việc, còn tai, còn mắt thì thật căng ra.

Để phát hiện những bóng người, hay tiếng động lạ xung quanh.

Tôi nói Cô Nhị, Cô The là để là anh em tôi gác, còn hai cô trải ni lông nằm ngay đây.

Tranh thủ nằm chợp mắt cho có sức.

Vì ngày mai công việc còn rất phức tạp, rất nặng nề.

Cô The thì nghe ngay, còn cô Nhị thì rất khoát nói :"Em ngồi cùng các anh chứ không ngủ đâu".

Tôi không đồng ý và khuyên mãi cô Nhị mới nằm xuống ngủ bên cô The.

Mỗi người trùm lên người một cái khăn Cà Ma chống muỗi.

Tự nhiên cái cảm giác thương, rất thương 2 cô gái ập đến.

Bất giác tôi thấy họ như là em gái mình.

Họ lại cùng chung, cùng chịu đựng gian khổ với mình.

Mình phải có trách nhiệm bảo vệ, quan tâm chăm sóc họ.

Chắc mấy năm qua, dưới thời Pôn Pốt, họ cùng đã bị đày đọa khổ cực lắm.

Nên vất vả thế này, nguy hiểm thế này, mà họ cũng đã vượt qua.

Có vẻ nhanh hòa nhập, nhanh quen thuộc chúng tôi.

Nhanh quen nếp sống sinh hoạt của lính chiến.

Càng đêm, trời càng tĩnh mịch, không có trăng nhưng rất nhiều sao.

Những vì sao như đang nhấp nháy cùng thức với chúng tôi.

Thi thoảng có tiếng trở mình của thằng Pốt.

Hoặc có thằng ngồi nhỏm dậy một tý, rồi lại khẽ khàng nằm ngay xuống.

Chúng tôi ở trong lùm cây.

Họ ở ngoài trảng nên dù tối mờ nhưng dưới ánh sáng của các vì sao.

Chúng tôi vẫn quan sát họ rõ hơn.

Lúc này tôi với để ý tiếng vo vo nho nhỏ, nhưng rất đanh của bầy muỗi.

Tiếng muỗi kêu mỗi lúc một nhiều.

Chúng từ đâu bắt đầu bao vây, tấn công chúng tôi.

Tôi xua xua bầy muỗi, rồi lại xua cả lũ muỗi chỗ 2 cô gái đang nằm.

Hai cô gái rất mệt nên cũng rất nhanh chìm vào giấc ngủ.

Đúng là chúng tôi phải thức canh cho lũ tù binh ngủ.

Số tôi, đời lính của tôi, hình như hay phải gắn với những thằng tù binh hay sao ấy.

Hồi chiến tranh chống Mỹ.

Khoảng giữa tháng 3/75 Trung đoàn tôi chiếnđấu ở khu vực Tỉnh Bình Long.

Tiểu đoàn 1 của tôi, chốt giữ khu vực đường 13.Trung đoàn có nhiệm vụ tiến công giải phóng chi khu Chơn Thành.

Tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ chốt chặn ,chia cắt, đón lõng.

Không cho chúng chạy về căn cứ Lai Khê, căn cứ Bến Cát.Chốt cắt đường, không cho bọn ở hai cứ điểm này đến ứng cứu cho chi khu ChơnThành.

Trong những ngày này, rất nhiều trận chiến đấu vô cùng ác liệt đã diễn ra.

Đại đội 3 liên tục bị thiết đoàn xe tăng cùng những toán biệt kích của Quân lực VNCH lấn ủi.

Có ngày chúng đã dùng tới hơn 30 xe tăng, xe thiết giáp M113 tấn công vào chốt Đại đội 3.

Để dọn đường cho bọn Chơn Thành tháo chạy.

Anh em Đại đội 3 và Tiểu đoàn 1, đã anh dũng chiến đấu.

Bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép của chúng.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chặn theo yêu cầu chiến thuật.

Bọn lính từ Chơn Thành vỡ trận chạy ra nhiều.

Tiểu đoàn bắt được 9 tên, trong đó 1 tên Trung úy Đại đội trưởng, một tên thiếu úy tên là Chính đại đội phó.

Lúc đó tôi là trợ lý chính trị của Tiểu đoàn.

Sau khi đã tổ chức cho tên thiếu úy Chính đi phát loa kêu gọi đầu hàng.

Buổi tối Tiểu đoàn giao cho tôi nhiệm vụ áp giải và giao số tù binh này cho Trung đoàn.

Vị trí Trung đoàn bộ cách chúng tôi khoảng 5 km đường rừng.

Tôi được tăng cường thêm đồng chí Minh truyền đạt Tiểu đoàn là lớp lính 10/74 chưa đủ 18 tuổi.

Quê Minh ở Nghi Lộc- Nghệ An cùng tham gia dẫn giải. ( Đ/C Minh bị hy sinh tháng 1/78 tại trận Khánh An- Khánh Bình, Tỉnh An Giang).

Lúc này khoảng 7h tối nhưng trong rừng tối đen.

Chúng tôi buộc tay tên nọ nối với tên kia thành một xâu.

Riêng tên Trung úy đại đội trưởng bị thương gẫy chân không đi được.

Chúng tôi băng bó nẹp cho hắn rồi để cho 2 tên khác khênh.

Trời tối trong rừng già càng tối đen, giơ bàn tay không nhìn thấy gì.

Tôi phải lấy những thanh củi mục phát lân tinh, cài cắm trong áo sau gáy chúng, thò cao lên khoảng 20cm để nhận biết.

Minh cầm súng AK đi trước, tiếp đến là toán tù binh, tôi cầm AK cùng một súng K54 đi sau cùng.

Cả đoàn cứ lần mò trong rừng.

Mắt tôi cứ phải nhìn chăm chăm vào những thanh gỗ lân tinh.

Như những con đom đóm lớn chập chờn, nhấp nhô theo mỗi bước chân.

Bọn tù binh cũng đã được giáo dục, giải thích chính sách khoan hồng của ta.

Nhưng chúng tôi vẫn phải thật đề cao cảnh giác.

Đề phòng chúng chạy, hoặc dở trò cướp súng.

Nên tay tôi lúc nào cũng để trong vòng cò sẵn sàng nhả đạn.

Lần mò mãi rồi cũng đến vị trí trung đoàn bộ thì cũng đã khoảng nửa đêm.

Tới nơi thì mới biết Trung đoàn bộ đã di chuyển vị trí khác từ chiều.

Có một tổ mấy anh em Trinh sát còn lại nói thế.

Thật gay go, không biết Trung đoàn ở đâu?

Và xử lý số tù binh này thế nào trong đêm tối giữa rừng thế này.

Số tù binh thấy chúng tôi không có vẻ gì là thù hằn, đánh đập, bắn giết.

Nên cũng đã có phần cởi mở hơn.

Chúng tôi cho họ uống nước, rồi cho họ biết là hiện tại phải ở lại đây.

Vì điểm tiếp nhận tù hàng binh đã chuyển đi nơi khác, sáng mai sẽ đi tiếp.

Trong lúc ngồi tạm nghỉ, có mấy tên đã tháo đồng hồ đeo tay, hoặc lấy ra những túi mật đen đen, nói là mật gấu cho chúng tôi.

Chúng tôi không nhận và nói anh em cất đi.

Khuyên họ yên tâm ở đây, không được chạy, không làm liều, để mai sẽ được giao về nơi học tập.

Pháo của các cứ điểm Lai Khê, Bến Cát lúc chiều bắn rất nhiều vào khu vực này.

Rất nhiều cành cây gẫy ngả nghiêng, mùi thuốc đạn khét lẹt.

Ở đây là vị trí của chỉ huy Trung đoàn, nên có rất nhiều hầm hố có nắp.

Tôi bèn nghĩ ra một cách: Chọn một cái hầm to có nắp, dồn hết cả 9 đứa xuống đó.

Còn tôi với Minh mỗi người canh một đầu cửa hầm.

Vậy là yên tâm, không sợ chúng chạy.

Nhưng như vậy thì chúng được ở dưới hầm, còn anh em tôi lại phải ngồi trên mặt đất canh gác.

Trong khi pháo của chúng, từ mấy cứ điểm trên vẫn nhát gừng bắn tới.

Thỉnh thoảng cũng có những quả xoẹt nố rất gần.

Làm bụi đất và mảnh đạn bay rào rào đến chỗ anh em chúng tôi.

Tiếng cành cây gẫy đổ răng rắc.

Cứ như thế hai anh em tôi phải thức canh gác cho chúng yên giấc trong hầm, cho đến sáng.

Nghĩ ngợi miên man một lúc, rồi tôi lại quay trở lại ngay với thực tại.

Trước kia chỉ có 9 thằng.

Còn giờ đây là hơn một trăm thằng.

Mà cũng chẳng có hầm hố nào để cho chúng xuống cả.

Chúng tôi cứ phải ngồi im, phải căng mắt, căng tai ra mà nghe ngóng để phát hiện những điều bất thường sẵn sàng nổ súng.

Mệt!

Thật mệt, cái mệt của cả những chuỗi ngày dài chiến đấu.

Cả chuỗi ngày dài hành quân, luồn rừng truy quyét.

Cao điểm là suốt cả chiều đến giờ căng thẳng vất vả.

Giờ đây, khi ngồi yên một chỗ, thì tất cả cơ bắp, tất cả sức lực như bị tiêu tan đi hết.

Cải ngủ cũng đã bắt đầu ập tới.

Cố căng mắt ra mà hai mí cứ xụp xuống.

Tôi phải lấy nước vã liên tục vào mặt, vào mắt, cũng chỉ bớt thèm ngủ đi một chút.

Tôi phải dùng đến kế sách cắn vào môi thật đau, bật cả máu ra.

Vị máu nóng lạ lạ nơi đầu lưỡi, mới làm tôi cắt dứt được cơn khát ngủ.

Bên cạnh tôi anh Văn cũng trong tình trạng như vậy.

Tiếng thở của 2 cô gái đang ở giấc ngủ sâu.

Có tiếng vỗ cánh của nhữngcon chim lớn bay ngang trời.

Tôi thay đổi lại tư thế ngồi.

Trong lòng cũng thậtlo cho các nhóm gác, không biết thế nào.

Nhưng trong tình huống đêm thế này.Không thể đi kiểm tra gác được rất nguy hiểm.

Đành lòng cứ phải trở, phải đổitư thế ngồi gác liên tục.

Cùng luôn mồm cầu mong cho trời nhanh sáng.

Thế rồi đêm dài cũng qua đi.

Trời đã tang tảng sáng, những đàn vạc đi ăn đêm, vội vã bay về tổ gọi nhau " vạc, vạc" não nùng.

Trời đã sáng hơn.

Những tiếng gà rừng gáy sáng vọng lại, chim chóc hót vang đón ngày mới.

Đã sáng mờ, hai cô gái cũng đã thức dậy.

Cô Nhị hỏi tôi ngây thơ: Anh Phú không ngủ được à?

Nhị hỏi như là đã quên hết sự kiện đang diễn ra từ ngày hôm qua và hiện tại.

Tôi không trả lời mà hỏi: Hai chị em ngủ được không?

Cũng không cần nghe câu trả lời.

Tôi đưa cho cô The cái xẻng và nói hai chị em đi lùi vào trong rừng, cách mấy mét làm công tác vệ sinh.

Tôi nói với anh Văn ở lại, còn tôi đi vòng quanh các chốt gác của anh em.

Có chốt 2 người thức, nhưng có chốt cũng có người thức, người ngủ.

Thấy tôi đến anh em vui hẳn lên, tỉnh hẳn lên.

Đám tù binh hầu như đã thức từ lâu, nhưng vẫn nằm im.

Khi thấy tôi đi lại và hỏi thăm các tổ khác, thì chúng cũng bắt đầu cựa mình, rào rào, nhưng chưa có thằng nào dám ngồi dậy.

Tôi về chỗ anh Văn hội ý.

Tôi nói Trời chưa sáng rõ.

Bây giờ mình cho chúng ngồi dậy vệ sinh tại chỗ.

Rồi di chuyển ra chỗ khác.

Cho đỡ ô nhiễm.

Đúng là thật phức tạp nhưng không thể làm thể nào được.

Tốt nhất nên cho chúng giải quyết các sự" buồn" lúc Trời chưa sáng hẳn.

Tôi nói cô The cùng tôi tới chỗ Sa Chơn.

Sa Chơn hiểu ý và nói với số tù binh như vậy.

Nghe chưa hết câu, nhưng chắc số tù binh đã hiểu ý, ồ lên rồi ngồi cả dậy.

Thằng nọ nhìn thằng kia lơ láo rồi cũng cúi mặt, tập trung vào "chuyên môn".

Chỉ một lúc sau mùi khai, mùi thối xú uế đã lừng nên thật kinh khủng.

Đúng là tôi và mọi người, chắc chưa ai gặp cảnh thế này bao giờ.

Chúng tôi phải đứng nhìn, phải canh cho cả hơn trăm thằng tù, ngồi xếp hàng làm cái việc đào thải tự nhiên của con người.

Bỗng chốc tôi nghĩ đến kỷ lục Ghinet hình như chưa đề cập đến vấn đề này.

Có vẻ bọn họ đã xong xuôi.

Chúng tôi cho họ di chuyển cách đó khoảng mấy chục mét.

Cho phép chúng ngồi gần nhau, nhưng có hàng lối và không được nói chuyện.

Rồi chúng tôi cho Sa Chơn tiếp tục đọc những nội dung trong các tờ truyền đơn.

Trong cuốn lời kêu gọi của Mặt trận cứu nước chính nghĩa CPC cho chúng nghe.

Tôi nói thêm với Sa Chơn qua cô Nhị là kể cho chúng nghe, về cuộc sống hòa binh tự do ở những vùng đã giải phóng.

Cùng nhưng tội ác của bè lũ Pôn Pốt - Ieeng xa Ri gây cho đất nước và nhân dân CPC.

Từ ngày 7/1 rất nhiều nơi đã có chính quyền mới.

Không còn chế độ Pôn Pốt.

Không còn bóng những Ăng Ca, cai quản theo kiểu công xã cho chúng nghe.

Bọn chúng há hốc mồm ra nghe và tỏ sự vui mừng ra mặt.

Tôi cùng YVơn lên Ban 5 xin thêm lương khô ăn sáng cho chúng.

Anh em Quân nhu ban 5 lèo nhèo, vì phải chi cái khoản lương khô cho tù binh một cách vô lý.

Có anh em nói " Các ông giữ chúng làm gì cho tốn công, tốn cơm gạo, cái bọn tàn ác ấy, bắn bỏ mẹ chúng nó hết đi, ông Dân địch vận ạ".

Tôi cười nói ai chẳng muốn thế.

Thậm chí hôm qua, tôi định phóng thích, thả hết.

Nhưng như thế cũng không được.

Những thằng này, cần phải quản lý, phải học tập.

Để nó cải tạo hiểu ra chính nghĩa và phi nghĩa.

Yên tâm là sáng nay chúng tôi bàn giao cho đơn vị khác rồi.

Tôi mang lương khô về, rồi lại cử 2 thằng đi cùng YVơn đi lấy nước.

Tôi giục anh Văn lên ban hỏi sớm về cách giải quyết số tù binh này.

Vừa lúc đó đồng chí công vụ Ban đã xuống mời chúng tôi lên hội ý.

Anh Văn nói tôi đi hội ý, còn anh Văn ở lại vì rất mệt.

Theo lệnh của Sư đoàn, kế hoạch của Trung đoàn phải di chuyển.

Số tù binh sẽ bàn giao lại cho Tiểu đoàn 1 tạm thời chốt lại đây.

Để rồi giao cho bên Sư đoàn 7 đến tiếp nhận.

Nhiệm vụ của chúng tôi tiếp tục di chuyển, truy quét địch dọc theo ven đường 4.

Tới tọa độ X.. thì sẽ quay ra trục đường 4.

Tiến theo đường 4 về phía đèo Tượng Lăng.

Để bắt liên lạc với Quân đoàn 3 từ hướng cảng Công Pông Thom lên.

Như vậy nhiệm vụ của Trung đoàn là giải tỏa, thông đường số 4.

Tôi trở về vị trí đám tù binh, trao đổi lại kế hoạch và nhiệm vụ mới với anh Văn.

Mọi người tổ chức phát lương khô cùng nước uống cho đám tù binh.

Lúc sau thì Tiểu đoàn 1 đã cơ động đến vị trí.

Chúng tôi nhanh chóng bàn giao lại số tù binh, rồi cơ động theo đội hình Trung đoàn bộ.

Như vậy, trong đợt tiến công vòng ngoài của căn cứ Am Leng này.

Trung đoàn 273 đã chiến đấu, thu, phá hủy được rất nhiều súng đạn, nhiều kho tàng, cũng như thóc gạo tại căn cứ của Pốt.

Đã đưa được mấy ngàn dân ra vùng giải phóng.

Bắt và phóng thích gần ngàn tên lính Pốt.

Riêng về cái "Phơ leng mia" Thì không phải chỉ có anh em chúng tôi biết, mà còn rất nhiều người biết.

Nhưng chỉ là những câu chuyện ngoài lề anh em nói với nhau.

Không ai nhắc tới trong các báo cáo sau này.

Là vì trong lúc hỗn loạn như vậy.

Mạng sống đang" ngàn cân treo sợi tóc".

Ai nghĩ tới "Vàng" làm gì?

Sau khi bàn giao lại số tù binh cho Tiểu đoàn 1 và Đại đội Z.

Chúng tôi thở phào, như chút bỏ được gánh nặng.

Mọi người cũng không ngờ là giải quyết lũ tù binh nhanh như vậy.

Sau khi Sa Chơn đã nói với tù binh, là việc chúng tôi bàn giao mọi người cho đơn vị khác.

Số tù binh lao sao, nhìn chúng tôi biểu cảm lưu luyến như có ý cảm ơn, thoảng vẻ lo sợ.

Mọi người lại tiếp tục hành quân.

Vừa đi, vừa tranh thủ nhai lương khô.

Pháo của Pốt lại tiếp tục bắn vu vơ về phía đội hình Trung đoàn.

Mọi người thắc mắc, ta đã phát hiện ra căn cứ của Pốt.

Sao Trung đoàn không tiến công truy quét sâu hơn nữa. .

Chắc chắn phía trong lực lượng của chúng vẫn còn động.

Nó còn cả pháo binh, còn cả xe tăng, thiết giáp cơ mà.

Trung đoàn phó Chu Đức Hùng giải thích: Quân đoàn dùng Sư đoàn 7, Sư đoàn 9.

Cùng các đơn vị tăng cường tiến công Ăm Leng rồi.

Nhiệm vụ của mình là phải thông đường số 4.

Bắt liên lạc với Sư đoàn 304 của Quân đoàn 3 ở khu vực đèo Tượng Lăng.

Đội hình của Trung đoàn hành quân truy quét dọc phía Tây, song song với đường 4.

Khoảng 5-10km.

Tiểu đoàn 2 lại trở thành đơn vị tiên phong và đảm nhiệm cánh phải.

Tiểu đoàn 3 đảm nhiệm hành lang cánh trái.

Rồi đến các đơn vị phối thuộc cùng Trung đoàn bộ.

Đại đội 20 Trinh sát, Quân y, Vận tải, Thông tin, các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần.

Tiểu đoàn 1 coi như là lực lượng khoá đuôi.

Trên đường hành tiến, hầu như không gặp lực lượng nào lớn của Pốt.

Thỉnh thoảng gặp 1 vài tốp lính Pốt nhỏ lẻ.

Chúng nổ vài loạt súng rồi bỏ chạy.

Nhưng nơi đây là rừng, là đồi núi lên hành tiến truy quét cũng không thể nhanh.

Cô The, Cô Nhị và mấy bạn trai trong nhóm công tác, đã như quên hẳn chuyện căng thẳng, chuyện tù binh hôm qua.

Thi thoảng 2 cô gái đã cất tiếng cười vui.

Khi bất chợt thấy cành hoa phong lan đẹp trên cây.

Hoặc ồ lên, tháo nhanh cái bồng sau lưng vất trên bờ.

Rồi nhẩy xuống suối nước đẵm mình tắm.

Tắm theo kiểu Cămpuchia, ngâm cả người, cả quần áo.

Lúc lên bờ, quần áo ướt sũng, dính đét vào người nổi hằn những đường cong của cơ thể phụ nữ.

Nhưng không thay đồ, cứ để nguyên như vậy, quấn thêm cái khăn cà ma cũng ướt sũng vào người.

Cách tắm như vậy, cùng sự có mặt của 2 cô gái.

Cũng làm cho cánh lính đi cùng tò mò trộm nhìn.

Nhưng ngược lại hai cô gái như là đã quá quen với việc tắm kiểu này.

Nên không có ý gì là ngượng ngùng cả.

Nhìn hai cô gái vui đùa, tôi thoáng nghĩ phụ nữ CPC cũng vui nghịch đến vô tư.

Cô Nhị chạy lại, đưa cho tôi mấy quả hồng dây.

Nói quả này ăn được, anh ăn cho đỡ mệt.

Tôi cầm lấy 1 quả bửa đôi ăn và nói em mang cho mọi người.

Nhị nhìn nhanh tôi một cái.

Rồi mới mang hồng cho anh em.

Rồi lại trở lại đi ngay cùng gần tôi.

Tôi ý tứ đi như tách hẳn Nhị ra.

Nhưng cô Nhị như không hiểu ý, vẫn giữ khoảng cách gần tôi.

Rồi hỏi chuyện linh tinh về Việt Nam, về gia đình tôi.

Rồi Nhị nói: Mấy anh em CPC nói sao mình không tổ chức lấy hết số vàng trong Chùa đó?

Tôi giải thích bằng một câu hỏi: Nhị không thấy khi mình vào xem vàng, quả đạn pháo của Pốt nổ ngay cửa chùa à.

May cho mình chứ lệch mấy mét nữa là anh em mình dính hết rồi.

Đang đánh nhau, đạn nổ ầm ầm, Tù binh, dân hỗn loạn như vậy.

Căng thẳng triền miên đến tối, rồi hết cả đêm.

Thật ra lúc hỗn loạn đó, tù binh ra nhiều tôi rất lo.

Mình với chúng lẫn lộn nhau.

Chúng đã vất hết súng, nhưng số luợng chúng quá đông.

Đằng trước đằng sau mình đều có chúng nó.

Chúng nó mà liều mạng, đồng lòng lao vào mình, thì may ra mình chỉ bắn được mấy thằng là cùng.

Tôi nói thêm: Bộ đội Việt Nam, đi chiến đấu.

Không ai giám lấy vàng, giữ vàng trong người hay bị đen, bị sui lắm.

Cô Nhị tần ngần ngây ra như đang cố hiểu, như đang muốn nói điều gì đó rồi lại thôi.

Cô lại nhìn nhanh tôi rồi nói: Em xuống chỗ chị The đây.

Đường rừng, truy quét trong rừng, nên đội hình tiến quân rất chậm.

Đếntrưa, rồi tối, cũng chỉ phát triển được hơn chục km.

Chiều tối chúng tôi dừngnghỉ.

Trung đoàn bộ dừng chân ngay cạnh dòng suối nhỏ.

Tôi cùng anh Văn nhanhchóng chỉ nơi nghỉ cho mọi người.

Nhắc mọi nguời nhanh chóng đào hầm hố chiếnđấu.

Đề phòng bọn Pốt tập kích đêm.

Khoảng 6h30 tối, ban 5 cũng đã nấu xongcơm, chia cho các bộ phận.

Cơm nước xong, tôi được báo: Đêm nay lên trực banChính trị tại hầm chỉ huy Trung đoàn.

Mọi người tranh thủ ăn cơm tối.Tôi nói với cô The, cô Nhị cùng anh em.

Tôi phải đi trực trên Trung đoàn.

Hai cô gái chưa biết gì tưởng tôi chuyển đi nơi khác.

Hai cô mở to mắt ngạc nhiên, hỏi tôi dồn dập là: Tại sao tối rồi mà anh phải đi.

Đi vội thế?

Anh chuyển đi đâu?

Cô Nhị thì ửu sìu như là tôi sắp phải chia xa với mọi người.

Nhị định nói gì rồi lại thôi, chỉ nhìn tôi đăm đăm khác thường.

Tôi giải thích là phải lên trực gác trên ban chỉ huy đêm nay, ngày mai lại về.

Anh chị em nghỉ, ngủ, canh gác cho cẩn thận.

Tôi lên tới hầm chỉ huy Trung đoàn.

Anh em Đại đội công binh đã rất nhanh đào xong hầm chỉ huy, bán âm bán dương.

Đang hoàn thiện nốt.

Hầm sâu khoảng 1m.

Mỗi chiều khoảng 3m không có nắp.

Chỉ có dàn cây bằng các cây gỗ nhỏ, gác lá cây kín lên nóc.

Bên dưới có căng (Nilon) tấm tăng đề phòng mưa.

Đi trong hầm, giơ tay thì chạm tới.

Hầm chỉ huy thông với 2 đầu hầm có nắp, có thể nằm được.

Là hầm của Trung đoàn trưởng và một hầm của Chính ủy.

Ngay chính giữa hầm là chiếc bàn và ghế, Ken bằng những cây gỗ nhỏ chặt trong rừng.

Chung quanh hầm được che kín hết cũng bằng cành lá cây và các tấm nilon.

Một đầu hầm, treo tấm bản đồ khu vực đang đứng chân của Trung đoàn.

Có đánh dấu, cờ vị trí của từng Tiểu đoàn, từng Đại đội.

Trên mặt bàn có bộ ấm trà mới pha đang bốc hơi.

Cùng mấy tổ hợp hữu tuyến.

Tôi lên tới nơi, thì đã thấy Trung đoàn phó Chu Đức Hùng.

Đang ngồi trao đổi gì đó với Trưởng tiểu ban Tác chiến Hoàng Duy Hiển.

Chung quanh có 3-4 đồng chí trực thông tin.

Trung đoàn phó Chu Đức Hùng trước là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của tôi, trong thời kỳ KCCM.

Thấy tôi ông hỏi ngay: Ông Phú hôm nay trực bên Chính trị hả?

Tôi trả lời đ/c Văn mệt nên tôi trực thay.

Trung đoàn phó có vóc người nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn.

Quê ở An Ninh- Tiền Hải- Thái Bình.

Ông lại là con của Liệt sỹ lão thành cách mạng hồi KCCP.

Trưởng Tiểu ban tác chiến Hoàng Duy Hiển trước cũng là Trung đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1 với tôi.

Quê ở Quảng Ninh cũng là lớp lính 72 như tôi.

Anh em tôi đều đã biết nhau từ trước.

Trung đoàn phó Hùng nói: Tình hình căng lắm ông Phú nhé.

Các ông trực là phải hết sức cảnh giác.

Thường xuyên liên lạc với các Tiểu đoàn để nắm tình hình.

Sau đây, ông Hiển đi kiểm tra xem vệ binh canh gác thế nào, hầm hố thế nào, bọn này là có cũng hay " nở hoa" lắm đấy, lơ là, là chết cả lũ.

Có sự vụ gì phức tạp, thì các ông phải báo gọi chúng tôi ngay.

Nói xong Trung đoàn phó nhấp nốt chén trà rồi cũng về hầm của mình.

Từ ngày được điều lên Ban chính trị.

Đây là lần thứ 2 tôi được đi trực ban Chính trị Trung đoàn.

Mỗi ngày, nhất là mỗi đêm, các trợ lý trong ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần.

Phải cử một đồng chí trợ lý của mình thường là Trưởng Tiểu ban đi trực.

Nếu trưởng Tiểu ban đi vắng, hay mệt, ốm như anh Văn hôm nay, thì phải có đồng chí khác đi trực thay.

Các trợ lý trực phải thay Trung đoàn, nắm tình hình diễn biến trong đêm, của ta, của địch.

Trong khu vực toàn Trung đoàn đảm nhiệm.

Nhận điện từ trên xuống, hoặc từ dưới lên.

Thường xuyên liên lạc với các đầu Tiểu đoàn, các Đại đội trực thuộc bằng hữu tuyến.

Hoặc xa quá không có hữu tuyến thì bằng vô tuyến.

Sẵn sàng giải quyết các sự vụ trong đêm xảy ra, trong phạm vi có thể.

Nếu có sự vụ gì lớn, tình hình phức tạp thì nắm chắc tình hình.

Rồi báo ngay cho các thủ trưởng Trung đoàn xử lý.

Trong đêm, căn cứ vào các vị trí dừng chân của các Tiểu đoàn, các Đại đội trực thuộc trên bản đồ.

Nếu nghe thấy tiếng động, tiếng nổ bất thường ở hướng nào.

Là phải chủ động quay máy hỏi nắm tình hình ngay.

Đã trực ở sở chỉ huy, thì hầu như không ai được ngủ.

Các trợ lý làm các việc chuyên môn của mình.

Thường xong việc thì cụm đầu thì thầm nói chuyện gia đình, xã hội v.v..

Được cái ở sở chỉ huy bao giờ cũng được ưu tiên có trà của ban 5 cung cấp.

Anh em tôi phải pha trà thật đặc để chống buồn ngủ.

Trong thâm tâm, luôn mong đừng có gì xảy ra bất thường trong đêm, trong ca trực của mình.

Trong khu rừng đại ngàn này, ngoài những âm thanh quen thuộc của rừng.

Trời tối đen.

Ánh sáng mờ của ngọn đèn bão trong hầm chỉ huy, đã được che bớt ánh sáng.

Ở bên ngoài không thể nào nhìn thấy được.

Nhưng bọn Pốt cũng giống như chúng ta ngày xưa thời chống Mỹ.

Thường hay lần mò theo các dây điện hữu tuyến, hoặc tiếng động của máy điện thoại.

Tiếng đọc của mật mã của các thông tin, hay cần angten v.v....Để tìm ra sở chỉ huy của đối phương.

Mà bao giờ cũng vậy.

Khi đã dùng chiến thuật mật tập, "nở hoa trong lòng địch".

Thì sở chỉ huy, hầm chỉ huy, tới giờ nổ súng.

Bao giờ cũng được "ưu tiên' trước bằng những trái B40-B41, hoặc lựu đạn thủ pháo.

Trong cuộc chiến tranh CM.

Quân Mỹ và QLVNCH, sợ nhất là chiến thuật này của quân ta.

Nên đóng quân ở đâu, bọn chúng, cũng phải có hàng rào dây thép gai, loại bùng nhùng.

Căng một lớp hay vài ba lớp, chống, ngăn cản đối phương rất lợi hại.

Còn chúng ta, trong cuộc chiến tranh này.

Thì không có điều kiện nhưvậy.

Chỉ ngăn cản đối phương, ngăn cản bọn Pốt.

Bằng chính tai, chính mắt củabộ đội mình.

Nhưng trong cuộc chiến này, nhất là từ sau ngày 7/1.

Cũng đã nhiềuđơn vị của ta, đã bị bọn Pốt áp dụng thành công chiến thuật này.

Do anh em mìnhchủ quan, coi thường địch, lơ là mất cảnh giác dẫn đến tổn thất, thiệt hại vôcùng lớn.

Chúng tôi bước vào nhiệm vụ của ca trực.

Tình hình chung trong khu vực không có động tĩnh gì khác thường.

Khoảng 12h đêm, có mấy loạt súng nổ hướng Tiểu đoàn 1.

Anh em tôi quay máy hỏi nắm tình hình.

Nhưng cũng không có vấn đề gì nghiêm trọng.

Đ/c Phô Tiểu đoàn phó ( đ/c phô đã được điều làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1) nói giọng vui đùa: Ở Đại đội 2, anh em thấy động, thấy thú hay giật mình, bắn mấy loạt thôi.

Chứ bọn Pốt hôm nay đi đâu hết cả rồi hay sao ấy.

Không gian lại trở lại yên tĩnh.

Tôi cùng anh Hiển và đồng chí Quân nhu thì thầm nói chuyện.

Ba anh em đều là lớp lính 72 nên thường có rất nhiều chuyện để nói.

Nhất là trong tình hình chiến sự phía Bắc đang phức tạp.

Quê của đ/c Hiển lại ở Quảng Ninh.

Vùng Móng cái, Trà Cổ diễn biến chiến sự ác liệt lắm.

Khoảng 2h sáng.

Đ/c thông tin nhận được 2 bức điện của Sư đoàn.

Đưa cho đ/c cơ yếu dịch.

Dịch xong đ/c cơ yếu đưa cho đ/c Hiển một bức đưa cho tôi một bức.

Chúng tôi ký sổ nhận điện, rồi cùng nhau đọc, xem nội dung 2 bức điện.

- Bức điện thứ nhất có nội dung là: Trung đoàn 273 không đi theo phương án cũ nữa.

Mà truy quét cắt ra ngay trục đường 4.

Tập kết bố trí đội hình dừng chân tại trục đường 4.

Cùng khu vực của Trung đoàn pháo 55.

Xong dùng Tiểu đoàn 1, tiến hành truy quét dọc trục đường tới khu vực đèo Tượng Lăng.

Bắt liên lạc với Quân đoàn 3, đang đánh từ hướng cảng Công Pông Thom lên.

- Bức điện thứ 2 rất dài, có nội dung là: Sư đoàn điều động 22 đ/c Sỹ quan, cán bộ sau đây......Về Sư đoàn nhận nhiệm vụ mới.

Trung đoàn 1 tổ chức nhân sự thay thế gấp số Cán bộ điều đi.

Đọc xong 2 bức điện.

Ba anh em tôi nhìn nhau.

Không biết là tình hình chung thế nào?

Nhưng đều nghĩ ngay đến chiến sự đang diễn ra ở biên giới phía Bắc.

Chúng tôi đều đoán ngay đây là một khung cán bộ Trung đoàn điều ra Bắc.

Vì trong 22 đ/c có cả Phó chính ủy Nguyễn Kim Tiến.

Trung đoàn phó Chu Đức Hùng.

Phó chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, cả đ/c Hiển Trưởng tiểu ban tác chiến.

Đ/c Văn ở Tiểu ban tôi.

Đ/C Ngô Quảng Vinh Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1.

Cấp trưởng, cấp phó từ Đại đội phó trở lên. ( Đ/c Ngô Quảng Vinh sau lên tới hàm Đại tá cục tác chiến.

Năm 20.....Bị tai nạn rơi máy bay trực thăng và hy sinh tại tại Lào cùng một số Tướng lĩnh khác).

Anh em tôi báo cáo lại tình hình với chỉ huy Trung đoàn.

Các thủ trưởng Quân sự và Chính ủy Trung đoàn bật dậy rất nhanh.

Đ/c trợ lý hậu cần pha ấm trà mới.

Mọi người đọc xong 2 bức điện.

Chính ủy Ánh nói: Như vậy là Sư đoàn điều anh Tiến, anh Hùng cùng anh em ra tăng cường phía Bắc rồi.

Với số anh em này, thì sẽ là cán bộ chủ chốt một khung Trung đoàn mới đây.

Ai cũng muốn được điều đi.

Một cuộc họp cấp tốc diễn ra, Thủ trưởng cơ quan các Ban Tham mưu, Chính trị, Hậu cần được triệu tập.

Cùng cả đồng chí Trần Đình Tuấn, trưởng Tiểu ban cán bộ Trung đoàn cũng được triệu tập.

Trung đoàn trưởng Trần Măng cùng trưởng Tiểu ban Tác chiến Hoàng Duy Hiển, Tham mưu phó Trần Đức Nghĩa lên phương án hành quân.

Truy quét theo đường mòn cắt ra trục đường 4.

Chính ủy Diệp Xuân Ánh thông báo với mọi người lệnh điều động của Sư đoàn.

Sau khi đã nhận xét về diễn biết phức tạp của chiến sự đang diễn ra ở Cămphuchia.

Trong khu vực Sư đoàn, Trung đoàn đảm nhiệm.

Rồi tình hình chiến sự ở phía Bắc.

Ông nói một hồi dài về việc cám bộ được điều động.

Dù được điều đi hay ở lại, mọi cán bộ, mọi Đảng viên, mọi sỹ quan.

Phải làm tốt công tác tư tưởng.

Xác định rõ nhiệm vụ ở đâu cũng đánh giặc.

Âm mưu cực kỳ thâm độc của bè lũ Bành Trướng.

Chúng nói: "Dậy cho ta một bài học" là nói láo.

Đó là giai điệu của bọn Bành trướng bá quyền phản động.

Chúng làm mọi cách nói xấu, vu cáo chúng ta trên nghị trường Quốc Tế không được.

Hành động ngang ngược đưa quân tiến công chúng ta, lấn đất, bắn giết dân lành.

Gây ra cuộc chiến tranh đẫm máu này là sự tàn ác.

Là sự bành trướng cực kỳ phản động điên rồ.

Chúng đã chà đạp, đã phá vỡ đi tình cảm, tình đoàn kết gắn bó lâu đời của hai dân tộc Việt- Trung đã được xây đắp lâu đời.

Sự thực là chúng dùng lực lượng quân sự khổng lồ, cùng lúc tiến công xâm chiếm 6 Tỉnh Biên giới của ta.

Đó là hành động quân sự để cứu vãn cho bè lũ Pôn Pốt- Yêng Xa Ri đang cùng đường.

Tình hình đất nước trong lúc này thật cam go.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải phát huy cao hơn nữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Sẵn sang chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc.

Chính chúng ta là người sẽ dậy cho bè lũ phản động Bành trướng phương Bắc thêm một bài học.

Như cha ông ta ngày xưa.

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, cũng đã từng nhiều lần chiến đấu và chiến thắng lũ giặc ngoại xâm phương Bắc....

Kết thúc bài diễn thuyết chấn chỉnh tư tưởng của mọi người.

Rồi Ông cùng với Trưởng tiểu ban Cán bộ, vào hầm bàn điều động nhân sự, thay vào các vị trí đã được điều đi.

Tình hình Trung đoàn bắt đầu nóng lên.

Tất cả chúng tôi đều bất ngờ, không phải vì tình hình chiến sự ở đây.

Mà vì những xáo trộn tổ chức của Trung đoàn.

Cao hơn nữa là nóng lòng về tình hình chiến sự Biên giới phía Bắc đã ngày càng rất căng thẳng phức tạp.

Trung đoàn trưởng Trần Măng lệnh cho toàn Trung đoàn tổ chức cho bộ độiăn sáng sớm.

Đúng 6h sáng hành quân truy quét bẻ góc ra trục đường 4.

Tôi trởvề tiểu ban Dân dịch vận khi trời sáng hẳn.

Gặp anh Văn, tôi nói ngay là Sưđoàn điều động rất nhiều Cán bộ đi.

Anh cũng có trong danh sách đó.

Anh Văn bấtngờ nói: thế à?

Rồi hỏi là những ai được điều động?

Tôi đọc tên từng người rồinói: Chắc chắn các ông được ra Bắc rồi.

Anh Văn bần thần người ra một lúc rồi nói: Mình là lính đi đâu cũng được.

Nhưng nếu ra Bắc, cứ phải về thăm Mẹ cái đã, rồi đi đâu thì đi, đánh gì thì đánh.

Toàn đội hình Trung đoàn hành quân ra trục đường 4.

Đến gần trưa thì Trung đoàn bộ cũng ra tới trục đường.

Hàng chục ngày truy quyét trong rừng sâu rậm rạp.

Hôm nay ra được trục đường 4, thấy trời đất quang đãng rộng mở.

Gió thổi từ hướng biển lên lộng lộng tương đối mát mẻ, thật là sảng khoái.

Đường 4, là trục đường từ Phnom Pênh đi xuống cảng Công Pông Thom.

Rồi xuống cảng biển lớn XiANucVin.

Tuyến đường này có từ thời xưa.

Nhưng Trung Quốc, mới nâng cấp, làm thành 1 con đường to rộng hiện đại.

Có lớp nhựa aphan thật dầy, phẳng lỳ thật đẹp.

Bên cạnh là đường xe lửa, cũng rất hiện đại, khổ tay lớn, chạy song song.

Con đường này không biết Trung Quốc đã chở qua đây bao nhiêu tấn hàng, vũ khí quân sự, quân trang, quân dụng cho Pốt.

Chúng tập kết về tổng kho ở Công Pong Xpư, mà chúng ta đã phá hủy.

Hoặc còn rất nhiều loại vũ khí, khí tài, còn mới nguyên mà chúng chưa kịp xử dụng.

Đường tầu xe lửa, thì có vẻ chúng chưa kịp dùng, vì chưa thật hoàn thiện.

Cũng rất may, rất đúng khi chúng ta cùng bạn đã kịp thời tấn công tiêu diệt bọn Pốt.

Chứ kéo dài 1-2 năm nữa, chính quyền Khơ Me đỏ mới xụp đổ.

Thì đất nước Chùa Tháp này có thể đã là đất của bọn Bành Trướng rồi.

Càng nghĩ càng thấy đường lối, cùng sách lược quân sự của chúng ta thật tài tình.

Trong việc xử lý tình huống giải quyết bọn Khơ Me Đỏ phản động.

Tuy là lúc đầu có bất ngờ, có chủ quan lúng túng.

Cùng sự coi thường, không lường hết được âm mưu thủ đoạn thâm độc của bọn chúng.

Nhưng rất nhanh, chúng ta đã đối phó thật kịp thời, xử lý thật bài bản.

Làm cho cả thầy, cả tớ của bè lù Bành Trướng thật sự bất ngờ, không kịp trở tay.

Vị trí dừng chân của Trung đoàn bộ, ngay cạnh trục đường 4.

Ở vị trí này, lại còn có Tiểu đoàn pháo binh Trung đoàn 55.

Trong những ngày qua, anh em pháo binh, đã bắn chi viện cho chúng tôi rất nhiều, rất hiệu quả.

Anh em chúng tôi rất vui, rất háo hức khi được ra nơi quan đãng này.

Lại được gặp chuyện trò với lính pháo.

Những câu chuyện hỏi thăm nhau, đồng hương, đồng khói, sôi nổi, ríu rít của lính, tưởng chừng như không bao giờ hết.

Sau những phút giây ồn ào, mọi người bây giờ mới để ý đến ruồi, ruồi nhiều vô kể, như là ở đâu chúng vừa ập đến.

Chỗ nào cũng đen xì, tiếng bay, tiếng cánh của chúng phát ra kêu o o của cả hàng triệu con tạo thành cái âm thanh sóng tần thấp thật nhức nhối, thật khó chịu.

Trên trời, dưới đất chỗ nào cũng dầy đặc là ruồi.

Mỗi người cầm một cành lá cây, hay cái khăn mặt, xua đuổi, đập đập mãi, mà cũng không có tác dụng.

Cứ há mồm là đã có vài con bay vào họng.

Ho, khạc, để tống chúng ra khỏi mồm cũng thật khổ.

Các đ/c cán bộ, trợ lý không làm việc nổi.

Mọi người phải mắc màn, ngồi vào trong màn để làm việc.

Hoặc ăn cơn cũng phải trong màn.

Tại vị trí này, tự nhiên đã trở thành cái ga để tập kết của Trung đoàn.

Tiểu đoàn 1, từ đây phát triển về phía đèo Tượng Lăng, phía xuống cảng Công Pông Thom.

Tiểu đoàn 2 phía trái vẫn bám vào rừng.

Tiểu đoàn 3 bên phải đường các đơn vị trực thuộc chung quanh khu vực Trung đoàn bộ.

Các cán bộ, có danh sách điều về Sư đoàn.

Nhanh chóng được triệu tập về Ban chính trị.

Ra tới đây, thì Trung đoàn trưởng Trần Măng, cũng được điều động về Quân đoàn nhận nhiệm vụ mới.

Thay Trung đoàn trưởng Măng, Là Trung đoàn phó, quyền Trung đoàn Trưởng Đặng Hợi.

Nguyên là trưởng ban tác chiến Sư đoàn.

Đồng chí Lê Anh Bút cũng từ đơn vị khác được điều động về, làm Trung đoàn phó thay Trung đoàn phó Chu Đức Hùng.

Trong đoàn cán bộ, được xe ô tô của Sư đoàn về đón.

Có cả chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Đặng Lưa cùng về Sư đoàn.

Để tham dự xử án vụ vi phạm chính sách Dân vận Quốc Tế.

Là Tham mưu phó Trung đoàn P.A.X.

Ở nơi này là đất đồi.

Chung quanh có những quả núi không cao lắm.

Đất ở đây thật cứng pha lẫn sỏi đá, không thể đào hầm được.

Mọi người chỉ tận dụng những chỗ thấp, hoặc cạnh dưới các cây me to.

Trải nilon nằm.

Tận dụng bóng râm của cây và một phần thân cây làm vật che đỡ.

BCH Trung đoàn thì cạnh 1 hồ nước đã gần cạn.

Canh đó có 2-3 ngôi nhà sàn đã dột nát.

Khoảng 4h chiều, từ trên khu đồi cao cách đây khoảng hơn km có nhiều loạt súng đại liên, bắn găm, xỉa vào khu vực đóng quân.

Quái lạ bọn này vác súng tận lên đồi cao vậy.

Tôi nép vào gốc cây me quan sát.

Đúng là mấy họng súng đang lóe lửa, bắn găm vào đồi hình đóng quân.

Đạn cắm phầm phập, rải rác chung quanh thật nguy hiểm.

Từ đây đến đó phải khoảng hơn ngàn mét.

Nhưng điểm bắn soi gương, trực xạ vào chỗ chúng tôi.

Chỉ có DKZ75, hay pháo binh là có thể trị được nó.

Tôi vừa chợt nghĩ vậy, thì đã thấy tiếng hô đanh, vang lên.

Hướng pháo, thước tầm, liều bắn thao tác của anh em pháo.

Anh em pháo thao tác rất nhanh.

Khênh càng rồi xoay chuyển hướng pháo.

Rồi tiếng hô của các xạ thủ báo cáo số 1 xong, số 2 xong....xong....xong.... cũng vang lên.

Tiếng hô bắn.....Rất to của hai khẩu đội trưởng.

Hai khẩu 105 đều bắn.

Tôi chạy lại xem anh em pháo binh thao tác bắn pháo.

Binh- Binh sau thao tác giật cò của 2 xạ thủ pháo.

Hai quả đạn vụt bay trong không trung.

Khói bụi mù lên nơi đặt pháo.

Tôi nhìn 2 trái đạn bay nhỏ nhỏ dần, nhỏ dần.

Hai đụm khói bùng lên gần mục tiêu.

Tôi đếm, một hai một, một hai hai, một hai ba.

Rồi vừa đếm đến một, thì 2 tiếng nổ ầm- ầm vọng lại.

Tôi nói luôn.

Điểm nổ cách đây khoảng 1200 m.

Mấy anh em pháo quay lại nhìn tôi nhưng không nói gì.

Tiếp tục thực hiện thao tác theo khẩu lệnh.

Chưa trúng mục tiêu nhưng bọn Pốt cũng im ngay.

Hai khẩu pháo lại tiếp tục chính tầm rồi bắn cấp tập.

Là lính bộ binh, nên chưa bao giờ được xem tác nghiệp bắn pháo.

Tôi cùng mọi người xúm hết cả lại xem anh em lính pháo tác nghiệp bắn.

Mặc dù khói bụi làm chúng tôi ho sặc sụa.

Tôi nghĩ, đúng là lính pháo đánh nhau như đùa.

Nhưng cũng khổ vì khói bụi, với bê vác nặng.

Chắc anh em cũng đã quen với bụi, với khói, nên chẳng thấy ai ho như chúng tôi.

Nhìn lính pháo, ai cũng "vâm con".

So với lính bộ binh thì họ to khỏe hơn nhiều.

Ở trên đồi cao, chắc chỉ có vài tốp lính Pốt nhỏ lẻ.

Nên chẳng ai lo chuyện bị phản pháo.

Anh em pháo bắn thêm mấy loạt nữa rồi thôi.

Như vậy, ở vùng này vẫn còn những toán Pốt nhỏ lẻ.

Cần phải tăng cường cảnh giác.

Sáng hôm sau Tiểu đoàn 1 tiến công chiếm đèo Tượng Lăng.

Đây là một dãy núi vắt ngang qua đường 4, cũng rất hiểm trở.

Núi đá cùng với cây cối rậm rạp.

Khu vực này vẫn còn bọn Pốt kiểm soát cắt đường.

Theo hợp đồng thì Tiểu đoàn 1 tiến công chiếm đèo từ hướng PhnomPênh lên.

Bên kia đèo là Sư đoàn 304 tiến công từ hướng cảng CôngPôngThom lên.

Hai đơn vị của 2 Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, sẽ "bắt tay" nhau ở khu vực này.

Như vậy sẽ là thông được được đường số 4, từ Phnompenh xuống cảng CôngPôngThom và cảng Xianuxvin.

6giờ sáng, Tiểu đoàn 1 nổ súng tiến công, phát triển thuận lợi.

Lực lượng chốt giữ của Pốt ở đây không đông lắm.

Chúng bắn trả một lúc rồi bỏ chạy.

Anh em mình đến 9h đã vượt được sang bên kia đèo.

Xa xa có những xe Hồng Hà chở lính đổ quân xuống trông rất chính quy.

Anh em Tiểu đoàn 1, cứ nghĩ đó là Sư đoàn 304 đánh lên.

Đ/c Nguyên văn Phô Tiểu đoàn trưởng( đ/c Phô đã được đề bạt thay đ/c Ngô Quảng Vinh điều ra Bắc) nói: "Hợp đồng đánh sớm, mà mấy ông bạn Quân đoàn 3 bây giờ mới đổ quân thế kia thì Pốt nó chạy hết rồi".

Anh em tìm cách bắt liên lạc, nhưng lực lượng kia như không hiểu ý, không có ký ám hiệu đáp trả bắt liên lạc lại.

Tiếp tục thêm 5-6 xe Hồng Hà nữa đổ quân xuống.

Rồi nhanh chóng dàn binh tiến công về phía đèo.

Các loại pháo DKZ, B41 ùng oàng, bắn về phía đèo.

Nơi Tiểu đoàn 1 đã chiếm giữ.

Anh em tìm nơi ẩn lấp và tăng cường làm ký hiệu bắt liên lạc.

Nhưng bênkia càng như không để ý.

Tiểu đoàn 1 rút lên chiếm lĩnh điểm cao nhưng vẫnkhông giám phát hỏa.

Điện về Trung đoàn báo cáo tình hình.

Trung đoàn vẫn nóiđó là Sư đoàn 304 đánh từ phía cảng lên.

Và vẫn chỉ thị cho Tiểu đoàn 1 tăngcường bắt liên lạc với đơn vị bạn.

Lực lượng kia vẫn tấn công.

Chúng tấn công cũng rất bài bản.

Các loại hỏa lực từ xa vẫn bắn vào khu vực đèo mà Tiểu đoàn 1 đang giữ.

Gần, đã rất gần, pháo cối của chúng ngừng bắn.

Thì cùng lúc những tiếng Trô-Trô-Trô, cũng gầm lên.

Như những tiếng kêu của lũ quỷ man rợ.

Bạn!

Bạn cái con khỉ gì?

Bọn Pốt thế kia mà cứ nói là bạn, cứ phải bắt liên lạc có chết người ta không.

Tiểu đoàn Trưởng Phô cũng không phải ra lệnh chiến đấu, thì các loại súng của ta ta cũng đã phát hỏa.

Anh em các Đại đội cũng đã thấy rõ, đây là lực lượng chủ lực, chính quy, rất chính quy của Pốt.

Vì chúng cũng mặc quần áo xanh như ta.

Chứ không mặc quần áo đen như ta thường gặp.

Cách tổ chức chiến đấu cũng thật bài bản.

Tiểu đoàn 1 đang ở thế trên đèo nên việc phòng thủ chiến đấu thuận lợi.

Các loại súng bắn găm xuống đội hình của Pốt.

Gìm đầu bọn chúng xuống, bẻ gẫy luôn đợt tấn công đầu tiên của chúng.

Bọn chúng không tiến nữa mà gọi pháo cối từ sau chi viện, bắn lên vào đội hình của Tiểu đoàn 1.

Ở đây trên cao, nhưng lại là núi đá, nên anh em chỉ tận dụng các bờ đá, mỏm đá ẩn náu.

Các loại đạn cối pháo của chúng bắn vào đội hình nổ chát chúa, đá rắn, làm cho uy lực của đạn nổ mạnh hơn, ác hiểm hơn.

Nhiều anh em đã dính mảnh bị thương và hy sinh.

Nhưng trong tình thế đó, thì cùng chỉ nằm im ẩn nấp, chịu trận.

Cùng sự chú ý cảnh giới, chứ cũng không biết làm thế nào khác.

Trung đoàn đã nhận được báo cáo là lực lượng tiến công là Pốt.

Chứ không phải là Sư đoàn 304.

Trung đoàn Trưởng Hợi người mới được về thay Trung đoàn trưởng Trần Măng.

Vốn là chỉ huy pháo binh nên Ông xin pháo của Sư đoàn chi viện rất nhanh.

Nhanh chóng bắn chi viện cho Tiểu đoàn 1.

Bọn Pốt chuyển sang chiến thuật lấn dũi.

Chúng lợi dụng địa hình địa vật che khuất, tiền nhập tiến công thêm mấy đợt nữa nhưng cũng không thể đẩy lùi được Tiểu đoàn 1.

Chúng bèn thu quân, rút về vị trí ban đầu.

Trung đoàn tổ chức cho lực lượng vận tải lên Tiểu đoàn 1, chuyển thương binh, tử sỹ về phẫu của Trung đoàn.

Đến chiều, tiếng súng đã im.

Tiểu đoàn 1 được lệnh củng cố hầm, hào chiến đấu, chốt tại khu vực đèo.

Sáng ngày hôm sau, Trung đòan triệu tập các cán bộ Tiểu đoàn và Đại đội trực thuộc, về Trung bộ họp.

Triển khai nhiệm vụ mới.

Tiểu đoàn 1 vẫn đang chốt giữ ở khu vực đèo Tượng Lăng.

Bọn Pốt đã lùi ra ngoài tầm súng của Tiểu đoàn 1.

Từ Tiểu đoàn 1 về tới Trung đoàn bộ khoảng 4 km, thẳng theo trục đường 4.

Hai bên đường có rất nhiều rừng cây lúp xúp.

Đoàn cán bộ khoảng 15 người, do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phô dẫn đầu.

Đi được khoảng 2 km, thì bất ngờ bị bọn Pốt phục kích.

Chúng bắn b40, b41, M79 cùng các loại đạn như mưa về phía đoàn cán bộ.

Anh em nhanh chóng nép vào bên đường tránh đạn.

Như vậy là tấn công chính diện không được.

Bọn này đã tổ chức lực lượng vòng bọc qua đèo từ bao giờ.

Chúng đã tổ chức phục kích đoàn cán bộ Tiểu đoàn 1.

Các loại hỏa lực của chúng từ 2 bên đường tập trung bắn vào đội hình cán bộ.

Anh em cán bộ Tiểu đoàn 1 bị kẹt giữa đường tầu và đường lộ.

Cũng rất nhanh chóng tổ chức đánh trả.

Đồng chí Phô chỉ huy mọi người, vừa đánh vừa lợi dụng địa hình địa vật di chuyển về hướng Trung đoàn.

Gọi điện báo xin lực lượng chị viện của Trung đoàn.

Cùng lúc, Trung đoàn bộ, điều Đại đội trinh sát 20.

Một Đại đội của Tiểu đoàn 2.

Một đại đội của Tiểu đoàn 3.

Bên phải đường đến ứng cứu cho đoàn cán bộ.

Đến 8h30 thì bọn Pốt rút chạy hết.

Nhưng đoàn cán bộ có một đ/c hy sinh, 2 đ/c bị thương.

Nhận được tin đ/c Vũ Ngọc Tiến, Chính trị viên phó Tiểu đoàn hy sinh.

Tôi thật bất ngờ, thật bàng hoàng.

Đ/c Tiến, trước là Chính trị viên trưởng của Đại đội 1 cùng với tôi.

Anh mới được điều động lên làm Chính trị viên phó Tiểu đoàn 1.

Một người đầy bản lĩnh rất gan dạ trong chiến đấu.

Thế mà đời binh nghiệp và cuộc đời dừng lại đây.

Tôi vội đến thăm, khi anh em đưa thi hài Tiến về tới Trung đoàn.

Anh Tiến bị một quả đạn M79 của Pốt, rơi nổ trúng lưng.

Tôi ngậm ngùi không nói lên lời.

Tôi nhìn chiến võng cáng loang máu đỏ.

Hai hàng nước mắt chảy dài xuống má.

Tiến ơi !

Sao Anh sớm từ bỏ anh em?

Tôi nhớ lại cái kỷ niệm hôm cùng ăn bữa cơm ngày 20/12/78.

Hôm đó Đại đội ăn Tết Quân đội sớm, để chuẩn bị cho trận tiến công rừng Hòa Hội- Tây Ninh.

Tiến tinh nghịch gắp bỏ quả ớt "thóc" trong bát cơm của tôi.

Trời tối tôi không nhìn thấy, nhai phải quả ớt, đã hét lên, cay, tê hết cả một nửa đầu.

Trong khi Tiến vẫn cười nói:" để cho ông nhớ mà tập ăn ớt".

Vâng!

Tôi vẫn nhớ, có lẽ suốt đời tôi không thể nào quên được bữa cơm đó.

Không thể quên được cái vị cay xé đầu của quả ớt đó.

Bữa ăn đó và tiếng cười, cùng câu nói rất vô tư đó của Anh.

Mấy ngày trước, tôi rất mừng vì biết tin Tiến được điều lên làm cán bộ Tiểu đoàn.

Thế mà hôm nay mới được mấy ngày mà đã sớm ra đi thế hả Tiến?

Tôi lục trong túi áo Tiến.

Bắt gặp ngay tấm ảnh nhỏ, của người con gái tên Lý.

Bạn học, lại là người yêu của Tiến cùng quê.

Người con gái mà đã có lần Tiến đưa cho tôi xem ảnh.

Tôi đã có nhận xét về Lý- "thông minh- bướng bỉnh- nghịch ngợm".

Tôi đứng thần người trong hồi tưởng.

Anh em tiếp tục chuyển thi hài Tiếnvề Đại đội quân y, làm thủ tục khâm liệm để đưa về nước.

Tôi giữ lại tấm ảnhcủa Lý, trong thâm tâm hứa thế nào cũng về quê Tiến để gặp Lý.

Để đưa trả lạicho Lý tấm hình.

Để kể lại tình yêu của Tiến giành cho Lý.

Để kể lại cuộc chiếnđấu của Tiến, của chúng tôi.

Tôi sẽ lựa lời an ủi Lý...

Cuộc họp quân chính của Trung đoàn bị chậm.

Do có sự vụ Pốt tập kích đoàn cán bộ Tiểu đoàn 1.

Trên đường về Trung đoàn bộ họp, gây thương vong cho đoàn cán bộ.

Mười giờ hội nghị bắt đầu.

Chính ủy Diệp Xuân Ánh mở đầu bằng bài phát biểu về tình hình nhiệm vụ.

Những diễn biến của chiến sự tại CPC.

Những diễn biến ngày càng phức tạp tại BGPB.

Dẫn đến tình hình tổ chức các đ/v có những thay đổi.

Do phải điều chuyển 22 đ/c cán bộ ra phía Bắc.

Trung đoàn trưởng Trần Măng cũng đã được Quân đoàn điều đi.

Đ/c Trần Măng, chỉ huy Trung đoàn từ ngày Trung đoàn tham gia chiến đấu tại biên giới Tây Nam.

Đến nay đã được gần 2 năm.

Đ/c Trần Măng là người chỉ huy rất có kinh nghiệm, rất có bản lĩnh.

Sự ra đi, thuyên chuyển công tác của Trung đoàn trưởng Trần Măng, cùng 22 đ/c cán bộ ưu tú là một điều thật đáng tiếc.

Nhưng trong giai đoạn này, chúng ta phải chia sẻ các đ/c Cán bộ, có năng lực chỉ huy tốt.

Giàu kinh nghiệm chiến đấu ra phía Bắc, để chi viện sức người, sức của.

Cùng cả trí lực, trí tài nữa....Để giáng trả cho bọn Bành Trướng phương Bắc thêm một bài học.

Tiếp theo Chính ủy Ánh giới thiệu đồng chí Đặng Hợi Thiếu tá, Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn, được điều về làm Trung đoàn trưởng thay đ/c Trần Măng.

Đ/c Lê Anh Bút - Thiếu tá làm Trung đoàn phó thay vị trí của Trung đoàn phó Chu Đức Hùng.

Tiếp theo là danh sách các đ/c .....

được đề bạt thay thế các vị trí đã được chuyển đi.

Ban chính trị thì có tôi thay đ/c Văn làm Trưởng Tiểu ban dân dịch vận.

Đ/c Trần Quang Trung thay đồng chí Sơn làm Trưởng tiểu ban Tuyên huấn.

Tiếp theo là Trung đoàn trưởng Đặng Hợi phát biểu ra mắt hội nghị.

Trung đoàn trưởng giới thiệu ngay về mình.

Với giọng nói gốc quê Nghệ An lại là "con nhà pháo".

Đã nhiều năm chỉ huy pháo binh nên giọng nói sang sảng, hàm râu quai nón.

Trông ông thật uy nghi.

Qua lời giới thiệu, ông nói ngay về sự cố hợp đồng giữa Tiểu đoàn 1 với Sư đoàn 304 - Quân đoàn 3 ngày hôm qua.

Ông nói: Đúng ra theo hợp đồng là Tiểu đoàn 1 của chúng ta đánh xuống.

Sư đoàn 304 đánh lên.

Bắt tay nhau tại đèo Tượng Lăng.

Nhưng do tình hình chiến trường phía Bắc có những diễn biến phức tạp, căng thẳng.

Nên Bộ đã điều gấp Sư đoàn 304 về sân bay PuChenTông.

Cơ động bằng máy bay ra Bắc để chốt giữ khu vực cửa ải Chi Lăng ở Lạng Sơn.

Do phải đi gấp, do phải bí mật.

Nên dẫn tới chúng tôi và chúng ta, cũng không được biết, làm cho anh em Tiểu đoàn 1 có nhiều bức xúc.

Làm Tiểu đoàn 1, không chủ động đánh.

Gây nên thương vong không đáng có.

Việc này khi họp Quân chính Sư đoàn tôi sẽ đề cập.

Nhưng các đ/c Tiểu đoàn 1 cũng phải về động viên và giải thích cho anh em hiểu.

Tiếp theo ông nói về tình hình chiến sự chung của toàn CPC.

Riêng tình hình tỉnh CôngPongXPư, thì bọn Pốt xác định lập căn cứ lâu dài.

Làm bàn đạp chống phá, tiến công, tái chiếm PnomPênh.

Chúng đã không thực hiện được, chúng lại bị Quân đoàn 4 cùng các Sư đoàn 330 đánh cho tan tác.

Nhất là căn cứ chiến lược Amleng.

Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, đã chọc sâu đánh tan căn cứ này.

Ta đã thu được nhiều vũ khí, nhiều phương tiện chiến tranh.

Bắt được nhiều tù binh giải phóng được hàng vạn dân.

Cao nhất là chúng ta đã bảo vệ và xây dựng được chính quyền Tỉnh, Huyện, Phun, Sóc ngày càng vững mạnh.

Đập tan được ý đồ âm mưu phản công của chúng.

Hiện tại khu vực Tỉnh CongpongXpư, lực lượng của Pốt còn nhưng không đáng kể.

Chúng đã đổi hướng, tràn xuống đánh chiếm Tỉnh Côngpongchinăng, PuaSat, BátTamBăng.

Chúng đã cát đứt đường số 5.

Mở rộng địa bàn xuống tận biển hồ.

Thị xã Côngpongchinăng, PuaSat đã bị chúng tái chiếm.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của TàMốc.

Các lực lượng của đ/v bạn ở đó đang chống đỡ rất khó khăn.

Trung đoàn ta tạm thời chốt cứng ở đây đợi lệnh.

Các đơn vị phải nhắc bộđội củng cố hầm hào sẵn sang chủ động đánh địch tập kích ban đêm.

Ngày N+2chúng ta sẽ bàn giao địa bàn cho đ/v bạn.

Lật cánh về Biển Hồ, về đường 5

Hôm qua, xe của hậu cần Trung đoàn từ Việt Nam sang.

Đã cung cấp được 1 số thực phẩm quý hiếm cho các đơn vị.

Trong đó có lợn, có rau cải, bắp cải Đà Lạt.

Rau muống, cà rốt, trái xu xu v..v..

Hội nghị Quân chính Trung đoàn được ăn bữa cơm do Ban 5 phục vụ.

Thức ăn có đủ các loại sơn hào hải vị đó, chỉ không có rượu.

Đã lâu lắm rồi, từ sau ngày giải phóng 7/1.

Từ khoảng giữa tháng 1 đến giờ, các đ/v triền miên trận mạc.

để đối phó với đợt tổng tiến công phản kích của Pốt.

Rồi lại lao vào chiến dịch truy quét.

Cả Trung đoàn có ngày nào được nghỉ ngơi.

Được cùng hội họp, cùng ăn bữa cơm ngon như hôm nay.

Có lợn tươi vừa giết, có lòng dồi lợn và thịt kho, thịt luộc.

Ai cũng hả hê, coi như đây là bữa liên hoan nhiều ý nghĩa.

Liên hoan cho Tân Trung đoàn trưởng, Tân Trung đoàn phó mới.

Liên hoan chia tay cho Trung đoàn trưởng Trần Măng, Trung đoàn phó Chu Đức Hùng.

Cùng 22 đ/c cán bộ đã được điều về Sư đoàn tập trung để ra Bắc.

Ý nghĩa là như vậy.

Chứ số cán bộ trên đã được điều đi gấp từ ngày hôm trước.

Có ai còn ở đây đâu.

Có ai kịp chia tay, chia chân gì đâu.

Bữa cơm này, còn có một ý nghĩa nữa là toàn Trung đoàn chuẩn bị chia tay với Tỉnh CôngPongXPư.

Chia tay với đường 4 máu lửa, oai hùng này.

Lật cánh sang địa bàn chiến trường mới là Biển Hồ, là đường 5.

Nói đến CPC, là ai cũng phải nghĩ đến ngay Biển Hồ.

Đều nghĩ ngay đến cá nhiều, tôm lắm.

Chỉ cần thò tay xuống là bắt được cá.

Đây cũng là "vựa lúa" lớn.

Tha hồ mà ăn, tha hồ là thích.

Mọi người cứ nghĩ, địa bàn nơi đó lại không có núi non nhiều như ở Tỉnh này.

Từ những lý do đó, nên mọi người như là được kích động.

Được thăng hoa háo hức, khi nghĩ đến việc lật cánh sang đường 5.

Vì ở đây đã chán, đã ngấy đến tận cổ rồi.

Nhưng bữa cơm này, còn một ý nghĩa nữa, mà không ai biết, chưa ai biết.

Đó là khi hội nghị Quân chính Trung đoàn đang họp.

Thì tại khu vực nhà Máy Đường gần thị xã Congpongxpu.

Cũng đang diễn ra vụ xử án lưu động.

Vụ án P.A.X vi phạm chính sách dân vận Quốc Tế.

Bản án được thực thi ngay sau đó, với tội danh cao nhất là: Tử hình.

Như vậy là mọi người cũng đã phải chia xa với người đồng đội.

Người Sỹ quan chỉ huy gan dạ dũng cảm, có rất nhiều thành tích trong chiến đấu, trong xây dựng.

Anh đang mang chức danh Phó Tham mưu Trung đoàn.

Trong chiến dịch tiến công giải phóng Phnom Pênh, anh là người chỉ huy ngồi trên xe Jiip cùng anh Phô, Anh Ngọc hai trợ lý tác chiến dũng mãnh đi đầu, dẫn đội hình tiến công.

Ngày hôm sau, thì tin đồng chí P.A.X bị xử bắn.

Đã như quả bom lớn.

Sức công phá của nó rất ghê gớm.

Đã làm bàng hoàng tất cả mọi Cán bộ, mọi Chiến sỹ trong Trung đoàn.

Rất nhiều người không tin.

Ngay cả tôi cũng không tin là có chuyện đó xảy ra.

Vì từ trước tới nay, trong những chuyện vi phạm kỷ luật của bộ đội mình với dân.

Nhất là bên Lào, hoặc các vùng dân tộc ít người.

Khi người dân cứ khăng khăng đòi "mạng đổi mạng".

Thì các cấp chỉ huy, hay diễn ra bài trò xử án như thật.

Rồi đánh tráo người, hay cho đ/c đó uống thuốc ngủ, giả vờ chết.

Rồi bí mật chuyển đi nơi khác.

Đ/c P.A.X lại là người có ngoại hình rất giống người Kh'me.

Lúc vi phạm chính sách, thì ở khu vực đó, chưa có chính quyền.

Chỉ có nhỏ lẻ vài gia đình, họ mới từ trong rừng ra.

Thì vụ việc đó, cứ lơ đi, hoặc xử ở mức độ nào cũng được.

Vì vụ việc cũng không có gì ghê gớm lắm.

Nếu ở VN thì cùng lắm là một vài tháng, hay một vài năm tù án treo là cùng.

Ở đó, lúc ấy, làm gì có ai kiện tụng, thắc mắc gì đâu cơ chứ.

Nhưng sự thực lại rất phũ phàng như vậy.

Mọi người nhất là chúng tôi đã từng sống, từng biết anh P.A.X từ lúc mới nhập ngũ.

Lúc đó anh mới chỉ là Trung đội phó của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1.

Thì chúng tôi thấy hẫng hụt vô cùng.

Thấy cấp trên áp dụng hình xử như vậy là quá đáng.

Là không có tình với Cán bộ Chiến sỹ Quân tình nguyện VN.

Nhất là với người có công, có thành tích nhiều như anh P.A.X.

Chỉ một phút giây bức xúc, bồng bột theo bản năng.

Không kiềm chế được, mà anh đã trở thành người có lỗi.

Lỗi ở đây, ở chiến trường đất bạn, được nâng lên thành tội danh lớn.

Bao công lao, bao thành tích, bao cống hiến của anh, của chị.

Người vợ của anh đang là cán bộ ở xã cũng không giúp ích được gì .

Tất cả đã bị đổ xuống sông, xuống biển vì đây là vụ xử án điển hình.

Tội danh đã được cấp trên định đoạt.

Xử để làm gương cho tất cả mọi người.

Xử để cộng đồng người dân CPC, cũng có thể cho cả thế giới biết.

Là VN rất nghiêm, rất đúng, rất trong sáng trong việc giúp đỡ, cứu giúp CPC.

Không đúng như kẻ thù đã và đang xuyên tạc.

Đang bôi xấu, đang vu cáo VN là xâm lược CPC.

Vì thế cho nên trong các bài học tập về chính sách dân địch vận mà người chiến sỹ nào, đơn vị nào cũng phải biết câu khẩu hiệu:" Sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng làm tất cả vì ý nghĩa chính trị là giúp bạn".

Tôi và mọi người thấy bất mãn, bất công.

Thấy tủi hổ bực tức thế nàođấy.

Mọi công việc chỉ huy như trùng, như trầm hẳn lại.

Gặp nhau, đâu đâu, từCán bộ tới Chiến sỹ cũng chỉ có bàn về việc này.

Mấy cô phiên dịch, cùng mấyngười CPC trong đội công tác.

Đều lắc đầu lè lưỡi, khiếp sợ cho kỷ luật"thép" của Quân tình nguyện, của bộ đội Việt Nam.

Trước tình hình tư tưởng của Cán bộ, Chiến sỹ toàn Trung đoàn như vậy.

Chính ủy Trung đoàn cùng Ban chính trị, chỉ thị cho các đơn vị nhanh chóng ổn định tư tưởng.

Tất cả phải xác định: "Chúng ta đang làm tất cả vì mục đích Chính trị.Không để cho kẻ thù lợi dụng tuyên truyền nói xấu quân tình nguyện Việt Nam".

Ngày hôm sau, rồi ngày hôm sau nữa là ngày N+2 toàn Trung đoàn được lệnh hành quân về Phnompenh làm nhiệm vụ lật cánh.

Chiều tối, các đ/v đã tập kết về bờ sông Tong lê Sáp.

Ở khu vực nhà máy gỗ, cách Hoàng Cung khoảng 3-4km .

Mấy chục ngày lặn lội đánh địch.

Truy quét trong rừng, nay lại được trở về Thành phố ,ai cũng vui, cũng thật háo hức.

Mặc dù địa điểm dừng chân cũng chỉ là ngoại ô Thủ đô.

Ở đây nhà cửa rất ít, cũng vẫn màn trời chiếu đất là chính.

Nhưng mọi người được ngắm nhìn Thành phố.

Ngắm nhìn cung điện nguy nga và sông nước hùng vĩ.

Chiều tối, gió mang hơi nước từ sông phả lên mát rượi.

Có rất nhiều tấm gỗ ván ép trong nhà máy.

Anh em chúng tôi tận dụng bê ra làm giường, nằm ngửa mặt nhìn trời, nhìn trăng, ngắm sao, cùng vũ trụ bao la.

Thỉnh thoảng lại có những vệt sao băng, vụt sáng vạch đường ngang dọc bầu trời đêm.

Rồi lại rất nhanh vụt tắt.

Thấy cuộc đời lính gian khổ cũng nhiều, hiểm nguy cũng lắm.

Nhưng như lúc này cũng không kém phần mơ mộng.

Tự nhiên tôi nhớ đến một câu trong quyển sách nào đó lại rất được lưu truyền:" Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt.

Còn hơn buồn heo hắt suốt trăm năm".

Hay mỗi ngôi sao là mệnh của một con người, một kiếp người.

Ngôi sao đổi ngôi kia tức là ngôi sao đã tắt.

Tức là con người đó, người nào đó đã chết.

Không biết hằng hà sao số ngôi sao đang lấp lánh kia, ngôi sao nào là ngôi sao mang mệnh của mình.

Miên man với cái suy nghĩ đó rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau một số anh em ở các đ/v, trở về Thành phố chơi, hoặc tìm kiếm cải thiện.

Cá biệt, có anh em tìm về nơi có cất giấu gì đó lúc trước.

Vì nghe phong thanh, đợt này Trung đoàn đi tác chiến ở địa bàn mới rất xa.

Cô Nhị, cùng đồng chí Riến lên báo cáo xin phép tôi, rủ cả tôi vào TP.

Cô Nhị nói là về căn nhà của người Bác.

Biết chỗ nhà Bác cất giấu tài sản qúy.

Tôi xin phép Ban Chính trị cho ba anh em vào thành phố.

Được về thành phố, mọi người rất vui.

Cô Nhị liên tục nói cười, kể chuyện như đang sống lại những ký ức thời xa xưa.

Vòng vèo một lúc, rồi đến 1 căn nhà đã bỏ hoang từ lâu.

Giữa một dãy phố cũng hoang tàn không có người ở.

Nhưng những căn nhà, những đồ đạc, đã nói lên tại đây đã có thời kỳ hưng thịnh.

Chúng tôi vào căn nhà của bà Bác nhị.

Ngôi nhà xây 3 tầng.

Góc nhà tầng trệt, có một cái tủ to.

Cô Nhị nói: Dịp trước bà Bác đào, chôn giấu tài sản ở đây.

Ba anh em hì hục vần cái tủ ra.

Gõ gõ nền gạch thấy có tiếng bộp bộp.

Mọi người khấp khởi hồi hộp mừng.

Đ/c Riến dùng dao găm cậy viên gạch lên.

Đúng là có 1 cái hốc nhỏ rất sâu.

Nhưng khùa mãi, chỉ còn có giấy, và một số vải vụn bên trong.

Chẳng có thứ tài sản quý hiếm nào khác.

Mấy anh em tưng hửng, cô Nhị thì mặt ỉu hẳn đi.

Tần ngần nói: chắc nhà bà Bác ai đã về được, lấy hết đi rồi.

Chúng tôi cầm dao găm, đi gõ gõ một số nơi.

Hi vọng tìm ra, phát hiện ra căn hốc, căn hầm bí mật nào giấu của.

Rồi sang cả những nhà bên cạnh, gõ tìm mãi mỏi tay, mỏi mắt.

Nhưng cũng chẳng phát hiện ra có cái hầm, cái hốc nào nữa.

Ba anh em bèn lấy mấy cái bát ăn cơm Giang Tây thật mỏng, thật đẹp.

Cùng mấy cái ly thủy tinh pha lê của Pháp trở về Trung đoàn.

Nhà bên cạnh có cái máy khâu, cô Nhị xin cho được lấy mang đi và nói máy khâu rất đắt, rất có giá trị.

Tôi nói nhưng bây giờ mình còn hành quân đi chiến đấu, máy nặng mang sao được.

Cô Nhị nói em chỉ lấy đầu máy thôi.

Ngần ngừ một lúc rồi tôi cũng đồng ý cho tháo lấy cái đầu máy.

Vì cũng nghĩ cứ để đây thì người khác cũng lấy mất.

Tôi cũng nghĩ ngay đến ở ngoài Bắc, cái máy khâu cũng thật có giá trị.

Nó là mơ ước của tất cả mọi người.

Đến chiều, chúng tôi được phổ biến: Ngày mai, toàn Trung đoàn sẽ hành quân tới tỉnh CôngPôngChiNăng.

Nhưng không phải đi theo đường bộ số 5.

Vì đường 5 đang bị Pốt chia cắt, chúng chốt, chiếm nhiều chỗ.

Ít ngày trước, cách Thủ đô Phnompenh hơn chục km.

Mà chúng đã tổ chức phục kích, bắn cháy cả đoàn xe tăng, xe thiết giáp của ta.

Gây cho đơn vị này tổn thất rất lớn.

Ngay thị xã Công Pông Chi Năng, Thị xã Pua Xát cũng đang bị Pốt uy hiếp.

Tóm lại đường số 5 chúng ta chưa lưu thông được.

Vì vậy, sáng mai.

Toàn trung đoàn sẽ hành quân bằng đường thủy.

Sẽ có Lữ đoàn Hải quân, chở chúng ta theo dọc sông Tông Le Sáp.

Sư đoàn cũng tăng cường phối thuộc chiến đấu có cả xe tăng và thiết giáp.

Trên đường hành tiến, 2 bên bờ vẫn còn lực lượng của Pốt hoạt động.

Cũng chính vì lực lượng Pốt ở khu vực này đang còn rất mạnh.

Chúng còn cả pháo binh cùng xe tăng, xe bọc thép.

Sauk hi QĐ 3 Được điều ra Bắc, bọn Pốt càng hung hăng.

Chúng liên tục tổ chức tiến công ta.

Làm cho đơn vị bạn phải chống đỡ rất khó khăn.

Vì vậy các đơn vị phải sẵn sàng tổ chức chiến đấu.

Nhưng không phải đổbộ tiến công, mà chỉ dùng hỏa lực B40, B41, DKZ cùng súng 12,7, hay đại liên,kết hợp với hỏa lực của các đ/c Hải quân, rập, tiêu diệt mục tiêu.

Vì nhiệm vụcủa chúng ta phải hành quân và địa điểm đổ bộ, tập kết là Thị xã Công Pông ChiNăng.

Cách Thủ đô Phnom Pênh gần 100 km theo đường sông.

Toàn Trung đoàn chuẩn bị cho nhiệm vụ hành quân.

Ai cũng háo hức, thấy lạ lẫm khi được biết là lần này hành quân cơ động bằng tầu Hải Quân.

Quãng đường hành quân hàng trăm km.

Thật tha hồ, thật thoải mái ngắm nhìn vẻ đẹp, vẻ hung vĩ của dòng Mê Công.

Như vậy là không phải đi bộ. mà lính bộ binh, cứ không phải hành quân bộ là thích rồi, là sướng rồi.

Nhất là lại được cơ động hành quân trong đội hình của cả Trung đoàn.

Thì chẳng có gì phải lo, chẳng có gì phải ngại.

Đến chiều đ/c Lưa, Chủ nhiệm chính trị từ Sư đoàn về.

Cùng về với đ/c Lưa có 1 đội công tác bạn 9 người toàn là nữ.

Đội công tác nữ được giao về cho Ban chính trị và trực tiếp Tiểu ban dân dịch vận quản lý.

Sự xuất hiện của gần 10 cô gái trong đội công tác, làm cho khí thế trong Ban chính trị, trong khu vực Trung đoàn bộ sôi nổi hẳn lên.

Các cô gái không nói được tiếng Việt.

Nghe nói các cô cũng đều là trong đội TNXP của Pôn Pốt.

Nhưng đảo ngũ, chạy sang Việt Nam.

Đã được học tập và đào tạo.

Đội trưởng là cô PenKia.

Pen Kia là 1 cô gái Kh'Me xinh đẹp.

Không hiểu xa xưa có nguồn gốc lai tạo thế nào?

Mà Pen Kia có nước da rất trắng, đôi mắt nâu đặc trưng rất Kh'Me.

Tóc cũng không xoăn như người CPC.

Trong đội, người nhiều tuổi nhất là cô Xà Ron năm nay đã 22 tuổi, Trước đã có chồng.

Người trẻ nhất, mà cũng lại nhỏ bé nhất là XaPhin 18 tuổi.

Mấy anh em trong đội công tác thì rất vui.

Họ nhanh chóng làm quen nhau.

Trò chuyện ríu ra ríu rít.

Bằng ngôn ngữ dân tộc của họ.

Biểu cảm bằng tính cách dân tộc của họ.

Riêng tôi thì lại rất băn khoăn lo lắng.

Vì thấy ngay cái công việc bận rộn, vất vả.

Khi phải trực tiếp quản lý thêm đội công tác nữ này.

Nhất là trong điều kiện Trung đoàn phải cơ động chiến đấu.

Thoáng nghĩ sẽ có nhiều phức tạp, có hàng "núi" công việc đây.

Nhưng nhìn sự vui vẻ, vô tư của các cô gái, tự nhiên tôi cảm thấy đỡ lo.

Cảm thấy họ gần gũi như là những người em gái của mình.

Tự thấy trách nhiệm của mình, của mọi người là phải nâng đỡ.

Phải giáo dục và đào tạo họ.

Vì CM- CPC đang cần, đang rất cần những người này.

Họ là mầm, là nguồn cán bộ của CM chân chính CPC.

Là chủ nhân thực sự của đất nước Ăng Co, đất nước Chùa Tháp này.

Đ/C Đặng Văn Lưa trực tiếp họp cùng với Tiểu ban dân dịch vận.

Để giao nhiệm vụ cho mọi người.

Như vậy giờ đây Tiểu ban dân dịch vận rất đông.

Có cô Nhị cô The là 2 phiên dịch.

3 chiến sỹ của ta gồm đ/c Riến, đ/c Thanh, Lân.

3 người nam trong đội công tác bạn.

Giờ thêm 9 cô gái trong đội công tác nữa.

Tôi và đ/c Tẩy chuẩn úy vừa được điều về nữa cả thẩy là 19 người.

Tiểu ban dân địch vận như vậy là rất đông.

Mọi người nhanh chóng làm quen nhau.

Được cái các cô gái trước đây cũng đã sống trong tập thể TNXP của Pốt.

Lại được đào tạo học tập bên mình.

Nên mọi người có vẻ cũng rất quen với cuộc sống dã chiến.

Mấy bạn trong đội công tác nam thì lăng xăng giúp các cô gái chỗ ngủ.

Bữa cơm đầu tiên của Tiểu ban thật vui vẻ.

Thỉnh thoảng lại có các đồng chí trợ lý, các Phòng, Ban xuống chơi.

Hỏi thăm chuyện trò gặp mặt các cô gái.

Hoặc là cho các cô gái phong lương khô, hoặc quà cáp linh tinh.

Tự nhiên sự có mặt của đội công tác làm cho Tiểu ban dân dịch vận, trở thành là tâm điểm sự quan tâm của Trung đoàn bộ.

Cũng không biết từ đâu?

Có lẽ là từ mấy ông hậu cần lái xe ở chỗ Hùng.

Đặt cho tôi cái tên là Xianuc Phú.

Từ đó, nếu có ai đến chỗ Dân dịch vận, là họ đều nói ngay là đến chỗ Xianuc Phú đấy hả?

Hoặc vừa mới đến chỗ Xianuc Phú về đấy hả?

Riêng cô Nhị, cô The lại không thích sự có mặt của các cô gái trong độicông tác.

Hình như đó là sự đố kị của nữ giới.

Hay sự đố kị của tính cách dântộc trong nếp ăn, nếp ở.

Vì cô The, cô Nhị nói: Con gái CPC rất lười, ưa làmđỏm, làm dáng, nhưng lại không sạch sẽ, không chịu khó như phụ nữ Việt.

Ngayhôm đầu tiên tôi đã phải giải thích mãi cho cô The, Cô Nhị về vấn đề quan tâm,đối xử, nâng đỡ giáo dục cho đội công tác.

Các cô nghe ra vấn đề nhưng tronglòng có vẻ vẫn không thoải mái.

Trong khi mọi người đang hả hê, đang háo hức chuẩn bị để ngày mai xuống tàu và lên đường hành quân.

Có lẽ chẳng chiến sĩ nào tỏ ra lo ngại cho việc hành quân bằng đường thủy.

Ngược lại với sự háo hức vô tư của các chiến sỹ.

Thì các chỉ huy Trung đoàn, cùng các cơ quan Tham mưu, Tác chiến.

Các chỉ huy cấp Tiểu đoàn, Đại đội lại vô cùng lo lắng cho nhiệm vụ chuyển quân này.

Bởi lẽ là Trung đoàn hành tiến cơ động bằng đôi chân, bằng xe cơ giới đã nhiều.

Nhưng hành quân bằng đường sông thì chưa từng có.

Rằng chúng ta hành quân đội hình lớn.

Nhưng lại là mục tiêu cũng lớn.

Tốc độ di chuyển chậm.

Có sự cố tình huống tác chiến xảy ra, thì chỉ có sử dụng hỏa lực tiêu diệt địch.

Còn lực lượng bộ binh, các chiến sỹ dù kiên cường, dũng cảm, dù bản lĩnh hay mưu lược đến mấy.

Súng đạn vũ khí đầy mình, cũng chỉ ngồi yên trong lòng tầu chịu trận.

Chứ không thể làm thế nào khác.

Bọn Pốt lại là ở thế chủ động trên bộ.

Chúng có thể tổ chức ngụy trang tốt.

Có hầm hào, bí mật phục kích, chủ động dùng DKz, M72, b41 phóng vài quả rồi chạy.

Mục tiêu tầu là rất to, rất lớn, rất dễ trúng đạn.

Gây cháy tầu, chìm tầu.

Giống như ngày xưa, chúng ta phục đánh các tầu thuyền, giang thuyền của quân VNCH cơ đông trên sông.

Cũng đã rất thành công gây thiệt hại rất lớn cho Quân lực VNCH.

Qua đêm, thì kế hoạch hành quân và chiến đấu cũng đã được thảo xong.

Theo kế hoạch, thì toàn bộ Tiểu đoàn 3, cùng một số đơn vị hỏa lực tăng cường.

Đi bằng 3 tầu hải quân tiên phong.

Tiếp đến là 3 tầu của Tiểu đoàn 2.

Mỗi tầu còn được tăng cường chở theo 1 xe tăng T39.

Tiếp đến là 3 tầu chở khu vực Trung đoàn bộ cùng các khối trực thuộc.

Các tàu cũng được chở theo các xe bọc thép M113.

Đội hình khóa đuôi là 3 tàu chở đội hình Tiểu đoàn 1, cùng các đơn vị trực thuộc.

Cũng có các xe bọc thép đi cùng.

Đội ình hành tiến theo hình chữ V ngược.

Từng tốp 3 tàu thì một tàu đi giữa tiến trước.

2 tàu đi bên nhưng không cùng hàng nhau.

Để có thể một tàu có thể quan sát, không bị che khuất nhau.

Có thể bắn được cả 2 bên bờ.

Tất cả các loại súng DKZ75, DKZ 82 và 12L7.Được giá gần như cố định trên nóc tàu, boong tầu.

Hoặc những vị trí bắn thuận lợi.

Không bị ảnh hưởng khi lửa phụt hậu.

Các chiến sĩ giữ B41, cũng vào các vị trí bắn thích hợp nhất.

Tất cả ống nhòm, hoặc kính ngắm quang học.

Được sử dụng hết, để tăng cường phát hiện mục tiêu từ xa.

Tất cả mọi người không thuộc lực lượng trên, thì không được lên boong tầu.

Lính ta tiu nghỉu, vì cứ nghĩ là sẽ được lên boong tàu, mà nhìn ngắm sông nước.

Không ngờ lại bị "nhốt" trong lớp vỏ thép dầy rất nóng bức cơ chứ.

Ngoài hỏa lực của Trung đoàn trên.

Về phía tàu Hải quân cũng có các lọai vũ khí hỏa lực của họ trang bị trên tầu như súng 12L8, hoặc 14ly5 hai nòng.

DKZ75 hoặc 106,7 của QLVNCH cũ.

Có tàu lại mới được trang bị thêm dàn hỏa tiễn Kachiusa 12 nòng trên nóc.

Đúng 5h sáng.

Các đợn vị đã tổchức cho anh em ăn cơm.

6hoo, các tầu Hải quân, loại tàu ''há mồm'' của (quânlực VNCH cũ) đã đến theo vị trí tập kết.

Các đơn vị nhanh chóng tổ chức cho bộđội xuống tàu.

Các sỹ quan, trợ lý tác chiến của Trung đoàn, Sư đoàn tăngcường, xăng xái xuống các đơn vị.

Đôn đốc việc tổ chức xuống tàu hành quân.Nhìn ngắm thực tế, chỉ từng vị trí giá súng, từng vị trí chiến đấu của từngloại súng.

Toàn đội hình Trung đoàn đã xuống tầu.

Các loại súng hỏa lực đều đã ở vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Đúng 7h30p, lệnh lên đường.

Cùng lúc, các tầu tăng ga, chồm lên lao về phía trước.

Cú tăng tốc mạnh, cộng với những rập rình của sóng nước, khiến mọi người ngả nghiêng.

Trong lúc Trung đoàn 273 đang cưỡi sóng, rẽ nước, ngược sông Tonglesáp.

Thì cuộc chiến dọc đường 5, đang diễn ra hết sức căng thẳng.

Dưới sự chỉ huy rất ma mãnh của tên đồ tể Tà Mốc.

Chúng dùng các lực lượng đang có.

Các Sư đoàn của Pốt đang còn đủ cả xe tăng, pháo binh.

Các sắc lính tổng hợp, thuộc các đơn vị đã chiến với ta.

Trong những ngày tháng qua dọc biên giới Việt- Căm.

Các đơn vị này, lực lượng này.

Đã gây biết bao tội ác cho nhân dân ta, dọc các miền Biên giới.

Từ Tây Ninh, xuống tận Hà Tiên- Kiên Giang.

Chúng đã bị quân và dân ta đánh cho thất điên bát đảo.

Nhưng giờ đây chúng đang dồn cục về đây.

Nên lực lượng chúng, mật độ của chúng, cũng còn khá đông, khá mạnh.

Sự cay cú thua trận.

Cùng những thúc ép của các cơ quan 870 Trung ương Đảng của Pốt.

Hòa cùng tiếng Phèng- phèng, tiếng tò tí te của bè lũ Bành trướng phương Bắc.

Đã kết thành những bóng ma, thành cái liên minh ma quỷ.

Lại đang được hà hơi tiếp sức, chúng điên cuồng phản công, điên cuồng chống phá những thành quả của Đảng CM chân chính.

Chính quyền chân chính còn rất non trẻ của nhân dân Campuchia.

Chúng liên tục tổ chức tiến công.

Liên tục vây hãm các Tỉnh lỵ Công Pông chi năng, Pura Sát, Bát Tam Băng.

Chúng lợi dụng những đoạn đường qua rừng, hay các địa hình hiểm trở.

Chúng phá cầu, gài mìn, phục kích, chiếm từng đoạn, chia cắt trục đường 5.

Trục đường rất quan trọng phía Tây Biển Hồ.

Chúng cũng đã đạt được 1 số kết quả như: Phục kích các đoàn xe chở gạo, chở lương thực, trang thiết bị cứu đói cho dân, cho các Tỉnh từ Phnompenh lên.

Chúng đã tái chiếm được một phần thị xã Công Pong Chi Năng, PurSát.

Nhất là từ sau khi chúng ta phaỉ điều chuyển một số Cán bộ.

Một số đơn vị ra chiến trường phía Bắc.

Có nơi do chủ quan, nên có đơn vị đã bị thiệt hại đáng kể.

Trước tình hình đó Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4, đã điều chỉnh lại lực lượng.

Sau khi hướng Công Pông Xư Pư đã tạm ổn, căn cứ Ăm Leng đã bị Sư đoàn 7 - 9, cùng các lực lượng tiêu diệt và tan rã.

Quân đoàn đã điều Sư đoàn 341.

Cụ thể là Trung đoàn 273 cơ động từ hướng đường số 4 lật cánh, cơ động, hành quân bằng đường thủy từ Phnom Pênh lên Tỉnh lỵ Công Pông chi năng.

Tạo thành một gọng kìm lớn thứ nhất từ thị xã Công Pông Chi Năng.

Hai Trung đoàn 266 – 270, dịch chuyển từ hướng Công Pông Xư Pư, tạt về đường 5.

Tạo thành gọng kìm thứ 2 hỗ trợ cho Sư đoàn 330.

Hai gọng kìm lớn sẽ nghiền nát các lực lượng của Pốt ở khu vực này.

Chính vì thế cuộc hành quân di chuyển của Trung đoàn 273 là rất quantrọng.

Là ý trí chiến thuật, trong thế chiến dịch.

Tiêu diệt, phá tan kế hoạchrút lui chiến lược.

Rồi phản công chiến lược của bọn Pốt, cùng quan thầy Bànhtrướng phương Bắc.�

Đoàn tầu chở Trung đoàn 273 vẫn hùng dũng rẽ sóng, ngược dòng Mê Công.

Sông rộng, sóng cũng rất to, tầu lại chạy tốc độ lớn nên ngồi trong lòng tầu rập rình rất khó chịu.

Mới đầu, mọi người còn hăng hái nói chuyện, cười đùa.

Nhưng sau hơn 1 tiếng ngược sông, thì bắt đầu mệt.

Đã có nhiều người bị say nôn ói.

Bộ đội, nhất là anh chị em trong đội công tác, đã không còn vui đùa như trước nữa.

Mà ai nấy tìm chỗ dựa vào ba lô, dựa vào thành tầu, hoặc dựa vào nhau nghiêng ngả mọi tư thế.

Ở dưới tầu mãi cũng chán.

Tôi tìm đường lên boong tầu.

Ôi!

Sông nước thật hùng vĩ.

Trời nắng chang chang.

Gió lồng lộng thổi.

Giờ đây đang là mùa nước cạn.

Hai bên bờ đã trơ ra rất nhiều bãi bờ. lưa thưa cây cối.

Nước đã cạn , lòng sông đã bị thu hẹp nhiều.

Nhưng sông cũng còn rất rộng.

Những đàn vịt trời, chim trời các loại bay từng đàn hàng ngà con, đen kịt từng mảng như những đám mây.

Chúng sợ tiếng động cơ lớn của đoàn tầu, đã làm khuấy động cuộc sống của chúng.

Chúng nháo nhác bay lên, bay lượn vòng, lượn đi lượn lại kêu ầm ỹ.

Rồi lại nhanh chóng xà biến xuống phía bãi bờ xa.

Nhìn những chiến sỹ Hải quân mặc đồ trắng, kẻ xanh, mũ catpi của sắc lính Hải quân Việt nam thật đẹp.

Các anh thật khỏe và cũng thật vui, cùng sự hiếu khách.

Đồng chí lái tầu khoảng độ 24 tuổi, luôn tay vần, bẻ lái sang phải sang trái liên tục.

Nhưng cũng đối đáp chuyện trò rất nhiệt tình với tôi.

Hóa ra họ cũng toàn là lính nhập ngũ 72-74.

Có 2 người quê Thái Bình.

Qua chuyện trò, anh em kể.

Năm 75, trong lúc chúng tôi đang chiến đấu với quân VNCH trong chiến dịch HCM trên đất liền, ở những ngày cuối cùng.

Thì anh em Hải quân cùng lực lượng Lính thủy đánh bộ.

Đã vượt sóng biển, vượt trùng khơi xa.

Tiến công tiêu diệt quân VNCH đang chiếm giữ các đảo.

Trận chiến đổ bộ chiếm đảo, cũng không kém phần gian khổ ác liệt.

Cũng đã rất nhiều cán bộ chiến sỹ hy sinh trong lúc đánh chiếm đảo.

Trong chiến dịch tiến công giải phóng Phnompenh.

Lực lượng Hải quân, cũng đã góp phần rất quan trọng.

Khi ngược sông Mê Công từ An Giang, Châu Đốc.

Vừa đi vừa chiến đấu với quân Pốt 2 bên bờ.

Ngay từ ngày 5/1 đã có lực lượng tiên phong tới được bến phà Niec Lương.

Để đưa lực lượng bộ binh của Sư đoàn 7 vượt sông.

Đánh chiếm đầu cầu phía Tây bến phà.

Đặc biệt là đã kèm đưa được 2 chiếc phà lớn, loại phà dân sự chở được mấy chục chiến ô tô mà ta thường thấy ở bến phà Cần Thơ, Vàm Cống miền Tây.

Sáng ngày 7/1, những chiếc phà lớn này, cũng đã đến được Niếc Lương.

Sự hợp đồng Thủy bộ rất hoàn hảo.

Kịp thời chở các lực lượng vượt sông để tiến công vào PhnomPênh.

Trong đó Trung đoàn 273 của tôi.

Cũng đã được các đồng chí Hải quân đưa qua sông vào lúc 8h sáng ngày 7/1/79 đó.

Trong chiến dịch tiến công đánh Pốt giải phóng Campuchia.

Trận đổ bộ đánh chiếm cảng Xianuvin ngày 6/1/79.

Lực lượng Hải quân, cùng lực lượng Lính thủy đánh bộ của chúng ta.

Đã gặp nhiều khó khăn, vì lực lượng phòng thủ của Pốt quá cứng.

Cộng với thủy triều không thuận lợi.

Nên trận chiến đổ bộ tại khu vực này diễn ra hết sức cam go ác liệt.

Chúng ta bị hy sinh nhiều.

Trong số hy sinh có cả một đồng chí Đại tá Hải quân chỉ huy lực lượng đổ bộ.

Như vậy là trong chiến tranh.

Là người lính chiến, thì đúng là ở binhchủng nào, sắc lính nào cũng có những vất vả ác liệt.

Cùng sự gian khổ sự hy sinh.Chúng tôi nhanh chóng thân nhau khi nhận ra đồng hương, nhà ở quê cũng khôngcách xa nhau là mấy.

Tôi được anh em chiêu đãi đủ thứ trà thuốc.

Rồi lại còncho thêm mang xuống cho đội công tác.

Trong số đó, tôi đặc biệt thích nhất làcái chiếu cói của Hải quân gấp được làm 3 rất là gọn, rất tiện lợi cho hànhquân.

Đoàn tầu rẽ nước ngược sông vun vút lao về phía trước bỏ lại đằng sau 2 bên sông những rừng cây xanh tốt cùng những bãi bờ nổi.

Cùng những đàn chim, đàn vịt nước, vịt trời nháo nhác bay, kêu ầm ỹ.

Trời rất nắng, nên trong lòng tầu rất nóng.

Ai nấy mồ hôi rã rượi nghiêng ngả đủ kiểu.

Lúc này đã khoảng 11h trưa.

Suốt quãng đường chưa phát hiện có sự hoạt động của Pốt.

Không hiểu vì không có lực lượng Pốt ở đây.

Hay vì chúng thấy đoàn tầu hành quân hùng dũng quá mà không dám khiêu chiến?

Số anh em trực chiến trên boong đã đỡ căng thẳng hơn và có lẽ cũng đã lơ là hơn trong việc sẵn sàng chiến đấu.

Nhưng cũng chỉ sau lúc ấy, thì tiếng súng ở bờ trái của Pốt rộ lên cùng những loạt đạn bắn thẳng.

Có những tiếng ùng- oàng của B41, ĐKZ hay M72.

Chúng rất kinh nghiệm là không bắn vào tầu thứ nhất mà tập trung bắn vào tầu thứ 2, thứ 3.

Trong đoàn tầu chở Tiểu đoàn 3 đi tiên phong.

Có nhiều quả đạn nổ dưới nước những cột nước bắn lên tung tóe, nhiều quả vụt qua boong tầu.

Có quả chúng ngay vào mũi tầu, nhưng là cầu tầu phía trên cao nên không bị hư hại nhiều.

Cùng lúc các loại hỏa lực trên tầu đã ùng - oàng dồn dập về nơi Pốt phục kích, khói thuốc súng đang còn dầy đặc.

Đã là nơi báo hiệu vị trí tập kết của chúng.

Súng 12ly7, 14ly5 thùng- thùng- thùng, xăm xỏa vào các lùm cây.

Dàn hỏa tiễn trên tầu thứ 5 đã được phóng.

Từng quả đạn KaChiuSa - Chiu Chiu phụt lửa, vun vút phóng về phía bọn Pốt.

Lửa khói, bùn đất cùng nước chùm lên khu vực bọn Pốt láo xược.

Tiếng súng của bọn Pốt đã im bặt.

Nhưng hỏa lực của bên ta thì chưa dừng.

12LY7 và 14ly7 hai nòng của Hải quân vẫn thùng-thùng- thùng, xỉa những điểm xạ 3 viên một vào dọc bờ, trận chiến diễn ra trong khoảng 10p.

Có lẽ đây chỉ là một lực lượng nhỏ của Pốt phục kích đoàn tầu.

Tuy rằng chúng chủ động tấn công, nhưng với sự đáp trả của các loại hỏa lực trên tầu, thì cũng khó có thằng nào sống sót.

Đoàn tầu vẫn tiếp tục hành tiến.

Không có trận tập kích nào nữa của Pốt.

Khoảng 4h chiều thì toàn đội hình Trung đoàn đã cập bến cảng Thị xã Công Pông Chi Năng.

Trung đoàn nhanh chóng lên bờ chiếm lĩnh các vị trí quanh thị xã.

Nhân dân trong thị xã thấy bộ đội đến đông thì mừng vui khôn tả.

Rất nhiều người tay xách những con cá lóc lớn, hay những sâu cá nhỏ, đứng 2 bên đường nơi bến tầu, luôn mồm vẫy tay, cười nói:" oi tờ rây con tóp VN ".

Chỉ tiếc rằng thời đó không có máy quay, không có mấy chụp hình nhiều như bây giờ để ghi lại những thước phim vô giá này.

Anh em bộ đội Sư đoàn 330 có lẽ là những người vui nhất, Các đ/c cán bộ tác chiến với khuôn mặt gầy gò, hốc hác xuống tận cầu cầu bắt tay từng người.

Ai cũng hồ hởi chuyện trò, kể về tình hình chiến sự, tình hình Pốt liên lục tập kích vào thị xã hòng chiếm thị xã.

Anh em sư đoàn 330 cũng đã phải chiến đấu liên tục từ ngày 15/1 đến nay rất vất vả.

Hy sinh thương vong nhiều, đạn dược, lương thực quân tư trang đang gặp rất nhiều khó khăn.

Giờ đây được tăng viện cả một Trung đoàn chủ lực thế này, ai mà khôngmừng, ai mà không vui.

Có lẽ đời lính những lúc khó khăn mà gặp được đồng đội,có đồng đội đến chi viện là sướng nhất là vui nhất trên đời.

Ngay lúc lên bờ, các Tiểu đoàn đã được các Sỹ quan của Sư đoàn 330 hướng dẫn tạm dừng chân ở các điểm phía Tây thị xã.

Đồng chí Đặng Hợi Trung đoàn trưởng.

Cùng Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Lê Anh Bút, cùng cơ quan Tham mưu, được xe, cùng các Sỹ quan Tác chiến Sư đoàn 330 đón về sở chỉ huy của Sư đoàn.

Tại đây, Trung đoàn đã được trực tiếp Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330 giới thiệu về tình hình địa bàn.

Tình hình địch, tình hình chính quyền.

Tình hình nhân dân thì không có gì khác so với Công Pông Xư Pư.

Nhưng về tình hình địch thì có nhiều phức tạp.

Lực lượng Pốt ở khu vực này rất đông.

Dưới sự chỉ huy ma quái của tên đồ tể Tà Mox.

Với lực lượng của ta đang rất mỏng, thì chúng đang gây cho ta rất nhiều khó khăn.

Có thể nói là chúng đang chủ động "làm mưa, làm gió".

Anh em 330 phải co cụm chống đỡ những trận tập kích, phục kích liên miên của Pốt.

Đường giao thông bị chúng chia cắt chiếm giữ nhiều.

Đã có khó khăn, thiếu đạn, thiếu gạo cho bộ đội.

Dân ra nhiều.

Nhưng do bọn Pốt khống chế, nên thiếu đói, về lương thực đã có dấu hiệu trầm trọng.

Bênh tật đã lây nan nhiều.

Có nhiều người đã mắc cả bệnh "thán đen".

Loại bệnh này theo các đ/c Quân y nói là bệnh dịch rất nguy hiểm, lây nan nhanh, gây chết người xa xưa đã có dịch bệnh làm chết cả vùng dân cư rộng lớn.

Ở Việt Nam và nhiều nước bệnh này đã không còn nữa thế mà ở đây đang tồn tại rất nguy hiểm.

Về địa hình, đáng lưu ý là cách thị xã 15km có một sân bay quân sự của Trung Quốc xây dựng chưa hoàn chỉnh.

Các chuyên gia, hay công nhân kỹ thuật của Trung Quốc đã bỏ chạy từ dịp 7/1.

Nhưng ở nơi này đang bị Pốt chiếm giữ.

Nó đã trở thành một cứ điểm quan trọng, nguy hiểm.

Là một căn cứ rất gần thị xã.

Từ đây chúng làm bàn đạp, liên tục tổ chức tấn công thị xã.

Rừng ở đây cũng nhiều, những dẫy núi nhỏ lẻ, tạo thành những điểm cao lợi hại.

Cũng rất lợi cho việc chốt chặn, phòng thủ của Pốt.

Xa nữa là trùng điệp núi rừng, Có đường sắt từ Phnom Pênh lên Bát Tam Bang.

Nhưng ở khu vực này thì đường sắt đi qua chủ yếu là rừng.

Cách đường số 5 hàng chục km.

Tiếp đến dẫy núi Auran rất hiểm trở nối liền các tỉnh PuRSat - Bát Tam Băng sang tận biên giới Thái Lan.

Trong khu vực đó, đang có căn cứ lớn của Pốt là Lếch, Tà Sanh, Săm Lốp.

Có thể coi đây đang là "Thủ đô" của Pốt .

Hiện tại lực lượng Pốt còn rất đông, còn có cả xe tăng, thiết giáp, pháo binh.

Chúng đã tổ chức cấp Trung đoàn tấn công Sư 330.

Như vậy là bọn này đang rất hung hăng.

Chúng đang ở thế chủ động tập kích, lấn dũi.

Chúng chưa bị đòn đau ở khu vực này, nên còn khá vênh vang.

Tà Mox tên đồ tể khát máu khét tiếng tàn ác, nhưng cũng là tên có mưu lược trong cuộc chiến du kích rất ma mãnh.

Đang ngày càng thể hiện rõ bản chất của nó.

Theo anh em kể: Đã có nhiều lần, chính Tà Mốc cùng bọn tùy tùng.

Giả làm dân thường, xâm nhập vào trong thị xã dò xét, trinh sát việc bố phòng, phòng thủ của ta.

Nhân dân biết mà không ai dám nói.

Chỉ đến khi chúng đã đi xa trong rừng, họ mới bí mật báo lại cho biết.

Trước tình hình đó.

Bộ chỉ huy liên quân giữa Sư đoàn 330 và Trung đoàn 273, họp bàn lên kế hoạch tác chiến.

Với quyết tâm: Phải giáng cho bọn này một trận thật đau để dằn mặt Tà Mox cùng đồng bọn.

Mục tiêu đầu tiên là dùng 2 các Tiểu đoàn luồn sâu khóa chặt các vị trí, qua cả khu vực sân bay quân sự Công Pông Chi Năng.

Rồi dùng một Tiểu đoàn đánh vỗ mặt, tiêu diệt bọn Pốt đang lập các căn cứ nhỏ trong đó.

Tiếp đến vòng đánh Pốt, giải tỏa thông đường 5 từ Thủ Đô Phnôm Pênh lên.

Để đưa được các đoàn xe chở gạo, chở đạn, thuốc men, cùng các trang thiết bị khác phục vụ cho bộ đội, và cứu đói, chữa bệnh cho dân.

Theo kế hoạch đã đề ra.

Các tiểu đoàn 1- 2 được lệnh chuẩn bị luồn sâu.

Tiểu đoàn 3 cùng với tăng thiết giáp, được pháo binh của Sư đoàn 330 hỗ trợ khi cần thiết.

Sẽ tấn công vỗ mặt theo trục đường 53 vào khu vực sân bay quân sự.

Ngày tiến công sẽ là N+1.

Nhưng Bộ chỉ huy liên quân cũng nhắc nhở các đơn vị phải củng cố hầm hào chốt.

Đề phòng ngay trong đêm chúng đã tổ chức tập kích ta.

Nói đến CPC, là ai cũng nghĩ đến 2 địa danh cũng giống như là 2 kỳ quan kỳ thú.

Kỳ quan thứ nhất thiên tạo là Biển hồ.

Biển hồ được tạo lên bởi con sông Mê Công, được bắt nguồn từ Trung Quốc.

Qua một số Quốc gia, rồi đến CPC.

Do cấu tạo của địa hình miền đất.

Nên quãng này, nó phình ra thật rộng tạo thành Biển hồ.

Nếu là mùa mưa thì Biển hồ rộng tới 16.000 km2.

Còn mùa nước cạn, từ tháng 11 đến tháng 5.

Thì Biển hồ có diện tích khoảng 10.000 km2 và sâu trung bình chỉ khoảng 1m nước.

Vì vậy biển hồ rất giầu tôm cá, có rất nhiều loại cá lớn hàng trăm kg.

Nghe nói trước đây còn có loại cá đuối biển hồ nặng tới vài trăm kg.

Những con cá nóc, cá tra nặng vài chục kg rất nhiều.

Chung quanh hồ là rừng cây tự nhiên không lớn.

Nhưng cây chịu được cả lúc ngập nước hoặc lúc khô cạn nước.

Là nơi sinh sống lý tưởng cho các loài khỉ, rắn, trăn, chim trời, vịt trời quý hiếm, nhưng ở đây lại rất nhiều.

Rất nhiều loại trai, ốc thật to.

Dân CPC thường không ăn trai ốc.

Mà họ thường bắt, đập ra, lấy thịt bên trong làm mồi câu.

Nhưng với lính ta thì những thứ này lại là món ăn vô cùng "khoái khẩu".

Xưa kia, có rất nhiều cư dân sống trên Biển hồ chủ yếu là làm nghề đánh bắt cá.

Chung quanh Biển hồ là 5 thành phố lớn, của 5 Tỉnh.

Là Tỉnh Kampongthom, Tỉnh Siemreap.

Tỉnh Báttambang, Tỉnh Puasat, Tỉnh Kampongchhnang.

Tại tỉnh Xiêmreap, xưa là kinh thành của đất nước Angco rộng lớn có diện tích hang ngàn km2.

Là một đế chế hùng mạnh.

Tại đây rất nhiều đền đài.

Nhưng nổi tiếng và to lớn nhất đó là Đền AngCo Thum, Đền Angcovat, đã từ lâu được đánh giá là một trong 7 kỳ quan nhân tạo của thế giới.

Cách kiến trúc và quy mô xây dựng, đến bây giờ vấn còn làm cho các nhà khoa học trên thế giới phải đau đầu chưa hiểu nổi.

Làm thế nào mà cách đây hàng ngàn năm.

Bằng sức người cùng các công cụ thô sơ.

Mà họ lại xây dựng được những Đền đài với hàng triệu khối đá, nặng vài chục tấn như vậy.

Thành quách, những khối đá được đẽo gọt công phu những hình tượng thần.

Những miêu tả về cuộc sống của những người dân Khơme cổ.

Cùng những trận giao tranh lãnh thổ, những trường đấu voi vv..

Đền đài những tảng đá được hòa quyện cùng những cây trò, cây dầu mấy trăm tuổi cùng cả một khu rừng rộng lớn.

Giờ đây nó là điểm du lịch, thăm quan lý tưởng của Quốc tế.

Cũng đồng nghĩa với nơi đây đã đóng góp cho nền kinh tế của CPC lượng ngân sách không nhỏ.

Có thể nói Biển hồ, chung quanh Biển hồ là địa bàn, là vùng đất giầu có.

Là vựa lúa, vựa cá, là "lá phổi" lớn cực kỳ quan trọng của đất nước CPC kỳ bí.

Chính vì vậy, nên bọn Pôn Pốt đã chỉ thị cho Tà Mốc cùng các Sư đoàn: Bằng mọi cách, phải tái chiếm lại các Tỉnh phía Tây Biển Hồ.

Chúng cũng đã gây cho ta rất nhiều khó khăn.

Chúng cũng đã gần làm được cái kế hoạch, cái ý định mà chúng đang ấp ủ.

Trung đoàn 273 của Sư đoàn 341, chỉ trong 1 ngày, đã kịp thời cơ động đến thị xã CongPong Chi Năng.

Đã tăng thêm sức mạnh cho Sư đoàn 330.

Giờ đây 2 đơn vị đang lên kế hoạch, chủ động tiến công tiêu diệt cha con TàMốc.

Hy vọng tái chiếm thị xã Congpongchinang, Pua Sat.

Để gây tiếng vang có nguy cơ bị tan thành mây khói.

Kế hoạch tác chiến đã được hoạch định.

Nhưng có 1 vấn đề nữa là ở vùng này, bọn Pốt rất hay dùng thủ đoạn, trèo trốn trên các cây thốt nốt cao.

Theo dõi trinh sát ta, cũng từ trên cao, chúng bắn tỉa.

Gây thương vong và uy hiếp tinh thần của bộ đội ta.

Tôi nhớ lại lời bà má Bẩy ở Mộc bài có dặn chúng tôi năm 77 là: " Bọn Pốt ưa bắn sẻ lắm, các con phải chú ý". (Tức là hay bắn tỉa lắm).

Cũng chính vì vậy, để đối phó với chúng.

Phương án tác chiến được bổ xung thêm.

Trung đoàn chọn các đồng chí giỏi về xạ kích.

Các đồng chí Sư đoàn 330 cũng tăng cường cho Trung đoàn 273 một số anh em xạ thủ bắn tỉa.

Đội quân này, có nhiệm vụ là: Khi nổ súng tiến công và trong quá trình tiến công.

Sẽ nhằm bắn vào giữa các tán lá rậm rạp của các cây thốt nốt cao, thấp cách xa vài trăm mét.

Để chủ động khử bọn Pốt trốn trên đó.

Buổi chiều hôm đó, sau khi đã ăn cơm tối.

Các đơn vị cho bộ đội nghỉngơi, nhưng luôn đề phòng bọn Pốt tập kích.

Dự kiến 22h đội hình tiền nhập luồnsâu sẽ xuất phát.

Tôi nhận kế hạch từ Ban chính trị xong, về tập trung anh chịem phổ biến nhiệm vụ, làm công tác chuẩn bị hành quân luồn sâu theo Trung đoàn.

Tôi trở về vị trí nghỉ sau khi đã họp xong với Tiểu ban.

Như vậy là Tiểu ban của tôi giờ đây là đông quân nhất Ban chính trị Trung đoàn.

Trong BCT Trung đoàn, gồm có 5 Tiểu ban.

Tổ chức, Cán bộ, Bảo vệ, Tuyên huấn.

Dân địch vận.

Mỗi Tiểu ban thường có 2 đến 4 trợ lý là Sỹ quan.

Hoặc cả trợ lý, cả sỹ quan tới 5- 6 ngưởi là nhiều.

Còn Tiểu ban tôi giờ đây đã gần 20 người.

Quân số rất đông, tính chất lại rất phức tạp.

Bạn có, ta có, tạm tuyển dụng như cô The, cô Nhị.

Nam, nữ đủ cả.

Chính vì thế nên về nội vụ tổ chức nói chung.

Nhất là trong điều kiện cơ động chiến đấu sẽ rất vất vả.

Tuy rằng, mọi người không phải trực tiếp đi truy quét, trực tiếp đánh Pốt như bộ đội ở dưới đơn vị.

Thường ở cùng với Trung đoàn bộ, nhưng trong giai đoạn này, mọi người sẽ vẫn phải di chuyển, phải hành quân, luồn sâu.

Tại vùng này, rừng núi là chính.

Thời tiết vẫn đang mùa khô.

Mọi việc sinh hoạt, đông nữ giới, trong lúc thiếu thốn đủ đường.

Ngay nước uống cũng còn hạn chế, chứ chưa nói đến tắm giặt.

Đàn ông con trai 2-3 ngày không tắm, thì có lẽ cũng là bình thường của lính.

Nhưng còn số phụ nữ kia thì thế nào?

Liệu họ có chịu đựng nổi không.

Nghĩ ngợi miên man rồi tôi cũng thiếp đi trong nỗi lo và sự mệt nhọc.

Trời tối hẳn.

Mọi người đều đoán đêm nay, thế nào Tà Mốc cũng cho quân chủ động tập kích.

Vì thường là đơn vị mới chuyển đến, mọi việc còn bỡ ngỡ.

Địa hình, địa vật còn lạ lẫm.

Cũng vì đã hiểu, đã quen với các thủ đoạn của Pốt nên anh em các đơn vị luôn được nhắc đề cao cảnh giác.

Đề phòng sự " chào đón" của Pốt ở mặt trận mới này.

Trái lại với sự tính toán của mọi người, 8h- 9h rồi đến 10h tối.

Toàn khu vực cũng không có tiếng súng.

Tất cả các tuyến, chìm trong tĩnh lặng.

Đến 12h đêm , hai Tiểu đoàn tổ chức cho bộ đội xuất phát tiền nhập.

Hai hướng tạo thành 2 gọng kìm, vòng sang bên kia sân bay Congpongchhnang.

Từng giờ, từng giờ trôi qua trong sự hồi hộp.

Các tính hiệu báo về sở chỉ huy việc luồn sâu thuận lợi.

Tới 4h sáng thì Tiểu đoàn 1-2 đã vào tới vị trí.

Tại sở chỉ huy liên quân, ai cũng nóng lòng đợi nhanh đến giờ G.

Những ngày vừa qua, bọn Pốt thường chủ động tập kích các chốt của Sư đoàn 330.

Các chiến sỹ của Sư đoàn 330 chiến đấu rất dũng cảm.

Nhưng trước sự tấn công, sự áp đảo của Pốt.

Anh em Sư đoàn 330 bị thương, hy sinh nhiều.

Sự chi viện đạn, gạo, thuốc men ytế cùng quân trang quân dụng phục vụ cho chiến đấu ngày càng gặp khó khăn.

Nên các đ/v co cụm dần về bảo vệ quanh Thị xã.

Như vậy là bọn Pót đã giành lại thế chủ động, Sư đoàn 330 lui về chốt giữ đã vào thế thụ động.

Nhưng hôm nay chúng, ta lại chủ động tiến công.

Với quy mô của cả mộtTrung đoàn mạnh.

Với quyết tâm dằn mặt Tà Mốc ngay từ trận đầu.

Mục tiêu chiếmlại những vùng đất, những địa bàn quan trọng.

Nên trận chiến này có ý nghĩa rấtlớn.

Trong kế hoạch giải thông đường 5, dồn ép Pốt về Biên giới.

Đúng 5h sáng.

Các loại cối pháo dồn dập bắn phá khu vực quanh sân bay, các điểm cao gần sân bay.

Mục tiêu không cụ thể, nên việc bắn phá không tập trung vào trong điểm.

Mà chỉ ý định uy hiếp và lấy khí thế tiến công.

5h 20p, Tiểu đoàn 3 từ ngoài Thị xã, cùng 2 xe tăng, 4 xe bọc thép M113.

Đánh ép theo trục đường từ hướng thị xã vào sân bay.

Đã từ lâu, hôm nay mới có trận tiến công cấp Trung đoàn.

Nên súng nổ ầm ầm, các chiến binh tiến công hào khí thật dũng mãnh.

Các xạ thủ bắn tiả, nhằm bắn găm lần lượt vào các khóm lá thốt nốt trên cao.

Đã có 2 tên rớt từ trên cây xuống, người nát bét, thật đáng đời lũ khốn.

Có lực lượng Pốt chống trả, nhưng chúng chỉ có từng tốp nhỏ.

Chúng nổ súng kháng cự một tý, rồi nhanh chóng tìm đường trốn chạy.

Tiểu đoàn 1-2 cũng báo về là gặp các tốp lính chạy vụt ra khỏi vòng vây.

Anh em bắn chặn tiêu diệt được 1 số.

Lực lượng bắn tỉa cũng hạ được vài tên.

Đến 9h sáng, thì Tiểu đoàn 3, đã chiếm được toàn bộ khu vực sân bay.

Tiếp tục phát triển lên phía trước.

Trung đoàn bộ đến 10h sáng nâng lên khu vực sân bay.

Tiểu đoàn 1-2 được lệnh truy quét quanh khu vực và phát triển đến đường sắt.

Nhiệm vụ của dân dịch vận lúc này, là phát loa kêu gọi những người dân lẩn trốn trong rừng ra ngoài.

Đến đầu giờ chiều, dân chúng từ trong rừng lại ùa ra từng đoàn, từng đoàn lôi thôi lếch thếch.

Với những vẻ mặt, ánh mắt lấm nét sợ sệt.

Trong số đó lọc ra gần 50 lính Pốt.

Chúng tôi tập trung họ lại, giải thích chính sách của Mặt trận cứu nước CPC.

Rồi chỉ đường cho họ ra thị xã.

Số lính Pốt và số dân trây dô ầm ĩ, Chà, chà, ocun, ocun ầm ỹ, rồi mất hút về hướng thị xã.

Anh chị em trong đội công tác rất bạo dạn và vui.

Trái ngược với lo lắng của tôi.

Khi được phân công một nhóm cả nam và nữ xuống Tiểu đoàn 3.

Thì mọi người đều hồ hởi xung phong.

Tôi cử cô Nhị cùng anh Riến đi cùng.

Đến chiều tối mọi người trở về ai cũng rất vui.

Anh em dưới Tiểu đoàn cho đội công tác rất nhiều thực phẩm tươi.

Mọi người hì hục đem đun nấu cải thiện, trong niềm phấn kích của trận đầu tham chiến.

Khu vực sân bay rộng mênh mông.

Đây là sân bay quân sự của Trung Quốc xây dựng.

Đường băng thẳng tắp đã hoàn chỉnh.

Nhưng nhiều hạng mục, còn dở dang.

Nghe nói; Các chuyên gia, các công nhân Trung quốc xây dựng.

Nhưng thực chất toàn là lính Trung quốc đảm nhiệm.

Trên đường băng, các loại xe beng, xe kéo, máy đào, máy xúc, máy ủi, xếp thành hàng, nhiều hàng.

Nhưng trước khi rút chạy chúng đã kip đốt hết.

Những chiếc xe giờ đây còn trơ lại các khung sắt.

Các vật liệu sắt thép, xi măng, gỗ cốt pha v.v...vất ngổn ngang.

Cho thấy cuộc tháo chạy rất vội vàng hỗn loạn của chúng.

Nhìn địa hình cùng quy mô sân bay.

Quy mô của được sắt, đường bộ số 4 đang dở dang.

Mới thấy rõ âm mưu lâu dài của bè lũ Bành Trướng vào CPC.

Qua đó mới thấy việc chúng ta theo tiếng gọi của lực lượng CM CPC chân chính đánh Pốt, cứu dân, cứu đất nước Khme thật kịp thời.

Thật là tài tình cùng sự sáng suốt.

Nếu như chỉ chậm 1-2 năm nữa, thì không hiểu tình thế sẽ khó khăn thế nào?

Chắc chắn việc đánh Pốt giải phóng cho Bạn sẽ không thể thuận lợi như bây giờ.

BCH và Trung đoàn bộ tạm thời dừng chân ngay tại sân bay.

Phía chung quanh là 3 Tiểu đoàn bộ binh.

Các Tiểu đoàn đang truy quét mở rộng vòng kiểm soát.

Thỉnh thoảng lại rộ lên các loạt súng.

Nhưng hầu như các hướng báo về là không gặp lực lượng lớn của Pốt.

Như vậy là lực lượng Pốt ở đã đã ma mãnh tránh đối đầu với ta.

Chúng đã kịp thoát khỏi khu vực lưới vây này.

Các Tiểu đoàn được lệnh dừng chân, chốt chặn từ khu vực đường tầu dảixuống khu vực sân bay.

Một ngày tác chiến thuận lợi, nhưng chưa tiêu diệt đượcnhiều Pốt.

Nên việc nâng cao cảnh giác, đề phòng chúng trở lại tập kết ban đêmđược đặt lên hàng đầu.

Khoảng 8h tối.

Ùng- oàng, ùng- oàng rồi thùng- thùng chiu chiu...

Tất cả các chốt của 2 Tiểu đoàn 1-2, đều bị Pốt tập kích.

Những tiếng nổ đầu nòng, rồi tiếng nổ của đạn, lửa khói chớp nhằng nhằng liên hồi.

Bọn Pốt tập kích với quy mô lớn.

Từ ngoài, các loại súng B40, B41, DKZ.

Liên tiếp bắn vào đội hình các Đại đội.

Những tiếng hô: Trô- trô của chúng ầm ĩ.

Nhưng chúng cũng chỉ đứng ngoài hò hét bắn phá như vậy thôi.

Chứ cũng không giám xung phong vào chốt.

Đúng là bọn ranh ma.

Chúng thấy mình tổ chức tấn công lớn, thì đại bộ phận rút chạy tránh đòn.

Chúng chỉ để lại 1 lực lượng nhỏ cản đường.

Tối đến mới quay lại tập kích ta.

Nhưng "vỏ quýt dày, có móng tay nhọn".

Những vị trí mà chúng tập kích, bắn phá rất nhiều đạn vào đó.

Chỉ là những trận địa nghi binh của các đơn vị.

Anh em trong ngày liên tục quần đảo truy quét.

Tối đến lập vị trí chốt bình thường.

Nhưng tối hẳn, mọi người được lệnh, chỉ để lại một bộ phận nhỏ.

Cố tình gây tiếng động, như là đang làm trận địa chốt ở đây.

Còn đại bộ phận lui về phía sau khoảng 200 mét.

Bí mật làm công sự chốt chính thức tại đó.

Bộ phận nghi binh cũng bí mật lùi về đội hình.

Khi Pốt tập kích vào trận địa giả, thì rất khoát không nổ súng.

Chỉ dùng cối Trung đoàn, cối 82 của Tiểu đoàn chi viện.

Bắn vào lũ tập kích đang ngoài công sự, đang lộ mục tiêu.

Mọi người chỉ được lệnh nổ súng, khi phát hiện chúng đã vượt qua trận địa giả vào thật gần trận địa chính.

Bọn Pốt vẫn trô- trô ầm ĩ và xả đạn vào khu vực chốt giả của ta.

Đợt tập kích kéo dài khoảng 30p.

Chúng bắn chán, cũng không có tiếng súng bb nào đáp trả.

Chắc mỏi tay cò, mỏi mồm hô trô, trô chúng mới rút.

Khoảng 2h sáng, chúng lại tái diễn lại kịch bản như cũ.

Nhưng khi chúng vừa nổ súng.

Vừa trô, trô ầm ỹ.

Thì bất ngờ, 2 bên sườn các họng súng của ta đã đồng loạt phát hỏa.

B40, B41 ùng....

Oàng.

Đại liên, ak cùng các loại súng khác dồn dập xỉa chéo cánh sẻ ngang sườn chúng.

Ngay những loạt đạn đầu, anh em đã tiêu diệt được rất nhiều tên.

Bọn Pốt bị phản tập kích.

Giờ đây, tiếng trô, trô, được thay bằng những tiếng kêu duôn, duôn, dọt lươn, dọt lươn. ( Việt nam, Việt nam, chạy nhanh, chạy nhanh).

Cùng tiếng kêu la của bọng trúng đạn bị thương.

Bọn Pốt bị phản tập kích, bất ngờ chạy thục mạng.

Anh em mình bắn đuổi một lúc.

Rồi 2 Đại đội lại nhanh chóng rút về vị trí lúc đầu.

Đúng là trong chiến đấu, ngoài ý chí, ngoài quyết tâm.

Lại còn có mưu lược, mẹo dùng binh.

Đoán biết thế nào bọn Pốt cũng tập kích lần nữa.

Trung đoàn lệnh cho 2 Tiểu đoàn, mỗi Tiểu đoàn dùng một Đại đội tăng cường, bí mật tiền nhập lên khoảng 400m.

Làm nhiệm vụ đón lõng bọn tập kích.

Tất cả sự việc diễn ra theo đúng kịch bản.

Với mẹo dùng binh trên.

Đã làm bọn Pốt thất bại và vô cùng sợ hãi.

Sáng hôm sau, khi xem lại chiến trường anh em đếm được mấy chục xác Pốt chết đủ mọi tư thế.

Chết rồi mà trên khuôn mặt vẫn còn hằn lên nỗi sợ hãi.

Anh em thu được 2 khẩu DKZ82, cùng một số loại súng khác.

Trận luồn sâu tập kích và tái phản tập kích, như vậy là thắng lớn.

Về phía ta, không một ai thương vong.

Nhưng có lẽ vui nhất là các đồng chí chỉ huy, các chiến sỹ Sư đoàn 330.

Họ hả hê vì chiến thắng, hả hê về thất bại của Pốt.

Vì bao ngày qua, họ toàn bị chúng bao vây o ép, chủ động tập kích.

Nên chiến thắng này, là chiến thắng chung của 2 đơn vị.

Từ chiến công này chuyển sang bước ngoặt mới.

Tại mặt trận này.

Chúng ta lại là những người chủ động tiến công truy đuổi.

Mà bọn Pốt bắt đầu ở thế bị động, bị vây đuổi, bị dồn ép.

Trong mấy ngày tiếp theo.

Trung đoàn luôn tổ chức cho các Tiểu đoàn vây giáp từng địa bàn.

Tiểu đoàn nọ đến Tiểu đoàn kia không quá xa.

Để sẵn sàng cơ động hỗ trợ nhau.

Trong lúc Trung đoàn 273 vẫn đang vây lùng Pốt.

Thì Trung đoàn 266-270và toàn Sư đoàn cũng đã bắt đầu chuyển hướng từ đường 4, từ Tỉnh Công pong XPưvề hướng đường 5.

Giải tỏa đường 5 từ Phnom Pênh lên Công pong Ch năng.

Phá thếbị bế tắc.

Những đoàn xe chở lương thực, thực phẩm, cùng trang thiết bị thuốcmen.

Từ Phnom pênh lên Tỉnh Công Pông Xpư đã được an toàn.

Tình hình Tỉnh Côngpong chhnang đã thực sự được cải thiện. bị hành quân luồn sâu theo Trung đoàn.

Bị truy quét liên tục, bọn Pốt 1 phần chạy sâu trong rừng.

Nhưng vẫn còn lực lượng lớn lẩn khuất trong những cánh rừng dọc đường 5.

Khu vực từ Rừng Xanh tới huyện Karaco Tỉnh Pua Sát.

Đoạn đường này dài hàng trăm km.

Với nhiều rừng che phủ 2 bên đường.

Nhiều cầu nhỏ đã bị chúng đánh xập.

Các xe ô tô phải lội qua ngầm.

Những chỗ này là địa hình lý tưởng của Pốt tổ chức mai phục tập kích các đoàn xe của ta.

Đã có rất nhiều xe bị bắn cháy ở khu vực này.

Nhất là khu vực Rừng Xanh cách thị xã CôngPôngChhNang khoảng 20-30 km.

Lực lượng của Pốt tại đây vẫn còn khá mạnh.

Hậu thuẫn xa là có các lực lượng trong căn cứ Lếch, trong dãy núi U Ran.

Ga RôMia vv..

Chúng vẫn còn xe tăng, xe thiết giáp và pháo binh của yểm trợ.

Lực lượng của Sư đoàn 330, cùng các đơn vị khác của ta không đủ mạnh để tiêu diệt bọn này.

Vì vậy Quân đoàn 4, được chuyển dịch từ hướng Công Pông Xư Pư sang.

Đầu tiên là Trung đoàn 273, tiếp đến là 2 Trung đoàn 266-270.

Hai Trung đoàn này di chuyển đến, đều bị bọn chúng chặn đường tập kích, bu bám quấy rối liên tục.

Sự chỉ huy của Tà Mốc thật ma mãnh.

Lúc này vai trò của Tà Mốc đang thật nổi trội.

Vì Tà Mốc trực tiếp chỉ huy các Sư đoàn tại đây.

Cũng phải công nhận là Tà Mốc giỏi chiến tranh du kích, cùng các mẹo vặt dùng binh.

Đội quân của Pốt, cùng đại bản doanh của Tà Mốc di chuyển khắp mọi nơi, mọi lúc.

Tà Mox khi thì cơ động bằng đi bộ, đi ngựa.

Lúc thì bằng voi, lúc thì bằng xe bọc thép hay ô tô vv..

Chúng ta đã thấy được sự lợi hại, ranh ma và sự nguy hiểm của Tà Mốc.

Cũng từ lúc này, lệnh truy đuổi bắt sống.

Hoặc tiêu diệt Tà Mốc, được phát ra cho toàn quân ở mặt trận này.

Cùng với việc tổ chức tiêu diệt các cánh quân Pốt.

Tại đây trước mắt Sư đoàn 341 phải giải tỏa đường số 5.

Thông từ CôngPôngChhNăng đến thị xã Pua Sát.

Mở rộng hành lang vận chuyển tiếp tế cho tỉnh Pua Sát và Tỉnh BátTamBăng.

Ngày 26/3, theo kế hoạch.

Trung đoàn 270 được lệnh giải thông đường 5 về hướng Pua Sát.

Các lực lượng của Trung đoàn 270, lấy trục đường 5 làm tâm.

Các đơn vị hành quân cuốn chiếu 2 bên hành lang đường, khoảng từ 500-1000 mét.

Trọng tâm là trục chính và bên trái đường.

Trục đường chính có 6 xe bọc thép đi cùng.

Đúng 6h sáng Trung đoàn 270 xuất quân.

Nhưng lực lượng cánh trái đường, và trục đường 5, vừa tiến quân được khoảng vài km.

Thì đã bị các đơn vị của Pốt bu bám chặn đánh.

Các đơn vị cùng lúc báo về là gặp địch.

Anh em chủ động tác chiến.

Những trận giao tranh thật khốc liệt đã diễn ra tại khu vực ngầm Ăng Cam.

Rất khó khăn nhưng đến chiều tối, thì Trung đoàn 270 cũng đã đánh bật được Pốt.

Tổ chức chốt giữ tại bên kia ngầm.

Để lại 1 lực lượng chốt giữ trọng điểm lợi hại này.

Sáng hôm sau Trung đoàn 270 lại tiếp tục tiến quân.

Tiến cách xa ngầm khoảng 3 km, thì nhận được tin bọn Pốt tổ chức tập kích lực lượng chốt ngầm rất dữ dội.

Anh em khó giữ được chốt.

Trung đoàn Trưởng Lê Hải Anh lệnh cho 2 Đại đội, cùng 2 xe bọc thép quay lại đánh giải vây cho lực lượng chốt ngầm.

Bọn Pốtnhư đã biết trước việc điều quân của ta.

Chúng dùng lực lượng ém sẵn, chủ độngtấn công bộ phận quay lại của Trung đoàn 270.

Bắn cháy cả 2 xe bọc thép của ta.Một số anh em hy sinh.

Lực lượng cứu viện bị chặn đứng.

Trước diễn biến phức tạp của tình hình.

Như vậy là bọn Pốt ở khu vực này còn khá đông, khá mạnh.

Thủ đoạn quân sự của chúng cũng rất bài bản chuyên nghiệp, vô cùng sảo quyệt.

Vừa rồi chúng ta đã bị vào thế do Pốt sắp đặt.

Chúng đã gây cho ta những thiệt hại đáng kể.

Vì vậy, Trung đoàn không thể "rẽ" Pốt ra mà tiến được.

Làm như thế, chúng thấy lực lượng lớn của ta, thì chúng tản ra tránh đòn.

Khi lực lượng ta ít, lợi dụng vào địa hình hiểm trở phức tạp.

Ta đang ở ngoài ngoài công sự, chúng tổ chức tập kích.

Như vậy là chúng có lực lượng trinh sát, bám, nắm tình hình theo dõi ta.

Trung đoàn trưởng Lê Hải Anh, cùng các đồng chỉ huy nhận định tình hình.

Rồi đưa ra kết luận: Không thể áp dụng hình thức di chuyển, mở rộng địa bàn đơn giản như cũ.

Mà phải tổ chức vây giáp có chiều sâu.

Phải chủ động tiến công tiêu diệt địch.

Lấy lại thế chủ động quận sự.

Phương án chiến đấu được thống nhất nhanh chóng.

Trung đoàn lùi lại khoảng 2km và tổ chức truy quét bài bản như sau.

Xử dụng Tiểu đoàn 6 vòng bọc cánh trái, Tiểu đoàn 4 vòng bọc cách phải.

Tiểu đoàn 5 cùng 4 xe bọc thép còn lại, cùng Đại đội 37 ly, yểm trợ.

Sau khi 2 Tiểu đoàn luồn sâu đã vào vị trí.

Tiểu đoàn 5 cùng xe bọc thép, được pháo 37 bắn hỗ trợ.

Tiến công hẳn vào cụm quân địch trong rừng xanh.

Sau khoảng 1h, các Tiểu đoàn báo về đã vào vị trí tập kết.

Các khẩu đội 37 ly 2 nòng đã chuẩn bị phát hỏa.

Trung đoàn trưởng lệnh tiến công.

Hai khẩu pháo 37 ly với những điểm xạ 5 viên một Thùng- thùng- thùng-thùng-thùng bắn như rải lựu đạn vào rừng.

Đạn của pháo 37 nổ vào các vị trí của Pốt là nỗi khiếp sợ của bọn ác quỷ.

Ở đây làm gì có hầm tránh.

Chúng chỉ lợi dụng lấp vào các gốc cây, các ụ mối.

Đạn 37ly lại rất nhậy nổ.

Đạn chạm vào cây, vào cành cây nhỏ là gây nổ ngay.

Từ trên cao các mảnh đạn găm xuống như mưa.

Gây sát thương rất lớn.

Cùng lúc 4 xe bọc thép, cùng đội hình Tiểu đoàn 5 xung phong như vũ bão.

Bọn Pốt mạnh thằng nào thằng ấy chạy thục mạng.

Như vậy, trước sức tiến công mạnh của Trung đoàn 270.

Sự chi viện tối đa của pháo 37 ly.

Cùng sự tiến công dũng mãnh của Tiểu đoàn 5.

Bọn địch vỡ trận, chạy sâu trong rừng.

Bỏ lại vài chục xác.

Số chạy vào rừng lại tiếp tục bị 2 Tiểu đoàn 4 - 6 truy kích tiếp.

Anh em thu được 2 khẩu đại liên, 1 khẩu ĐKZ cùng các loại súng khác.

Đến chiều thì trận chiến mới kết thúc.

Như vậy, thực tế ta mới tiêu diệt được 1 số và đuổi lũ Pốt đi xa.

Nhưng mục tiêu, nhiệm vụ của Trung đoàn là phải bằng mọi cách ngày 23/3, phải cơ động tới huyện Kraco.

Lệnh thu quân và tăng tốc độ hành quân.

Trên dọc đường hành quân, đội hình 270 vẫn còn bị các tốp lính nhỏ, liều mạng bắn chặn rồi bỏ chạy.

Bọn " nhãi ranh" này đa số bị tiêu diệt.

Song chúng cũng gây thêm cho Trung đoàn sự chậm trễ.

Vì vậy, đến chiều ngày 26/3 toàn đội hình Trung đoàn 270 mới tới được huyện Kraco.

Vừa dừng chân chưa kịp triển khai công sự tác chiến và bố trí đội hình.

Thì bọn Pốt đã dùng pháo 105 ly từ sau khu vực đồi 228 bắn cấp tập vào đội hình ta.

Suốt đêm ngày 26 và mấy ngày sau đó.

Bọn Pốt dùng lực lượng cấp Tiểu đoàn, Đại đội, liên tiếp tập kích vào các khu vực đóng quân của Trung đoàn.

Các loại pháo 105ly, 85 ly, 122 ly và cả Đ74.

Từ sau điểm cao 228-240 trong dãy núi Uran, liên tiếp nã đạn vào thị trấn Kracô.

Không thể để cho bọn Pốt làm mưa làm gió như thế được.

Sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 270, cùng sự phối hợp của Sư đoàn 330.

Tổ chức tiến nắm tình hình địch.

Tổ chức tiến công ngay vào sâu vùng điểm cao 228 và dãy Uran.

Ngày 29/3.

Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 6, bất ngờ tiến công cụm địch bảo vệ ga Romia.

Trận tập kích bất ngờ này, Tiểu đoàn 6 đã tiêu diệt được gần 100 tên.

Cùng ngày, ở hướng Tiểu đoàn 5 đã tiến công đánh tan cụm địch ở chân cao điểm 228.

Tiêu diệt hơn 60 tên.

Đặc biệt đã thu được 2 khẩu pháo 105 ly.

Hai khẩu pháo này, mấy ngày trước đã điên cuồng nã đạn vào huyện Kraco, vào cả các đơn vị của ta.

Gây bao tội ác cùng nỗi khiếp sợ trong nhân dân.

Giờđây, nhìn những đống vỏ đạn vất ngổn ngang.

Những trái đạn vang ươm chưa kịpbắn.

Cùng những xác tên Pốt không kịp chạy, chết trong mọi tư thế.

Máu loang khắpmọi nơi.

Chúng đã bị đền tội thật đích đáng.

Sáng 30/3, Tiểu đoàn 4 tổ chức truy quét dọc phía Nam đường số 5.

Tiêu diệt trên 50 tên.

Các Đại đội trực thuộc cũng tổ chức truy lùng những tốp lính Pốt không kịp chạy, còn tản mát trong rừng,"làm sạch" địa bàn.

Cũng đã tiêu diệt được hơn chục tên.

Đặc biệt là thu được rất nhiều súng của Pốt vất trong rừng.

Như vậy, ở khu vực ga Roma, cao điểm 228.

Bọn Pốt đã bị đánh tan.

Chúng vất cả súng đạn chạy sâu vào bên trong dãy Uran.

Cùng thời gian, Trung đoàn 273 vẫn tiếp tục truy quét Pốt nhưng địch chuyển dần về hướng cuối Tỉnh, giáp với Huyện Kraco, Tỉnh Pua sát.

Trung đoàn 266 và Trung đoàn pháo 55 cũng đã cơ động về khu vực Huyện Karaco.

Đến ngày 9/4 toàn Sư đoàn đã dừng chân tại cuối tỉnh Congpongchinang, Huyện Karaco, Tỉnh Puasat.

Khu vực huyện Karaco được hoàn toàn giải phóng.

Hàng vạn người dân ở đây đã được đón cái tết cổ truyền Chom Chơ Nom Thơ Mây đầu tiên.

Một cái Tết lịch sử, tràn đầy hạnh phúc.

Trong tình nghĩa Quốc tế cao cả, giữa bộ đội Việt Nam với nhân dân CPC.

Những người dân may mắn sống sót dưới tay bọn đao phủ diệt chúng Pôn Pốt, Iêng xa Ri, nay đã được thực sự đổi đời.

Các chiến sỹ Quân tình nguyện Viêt Nam cử một số nhón đi chúc Tết và vui Tết cùng với nhân dân.

Trong niềm vui to lớn và tục lệ té nước cầu may đầu năm cổ truyền.

Đã làm cho các chiến sỹ ướt sũng hết quần áo.

Ai cũng mệt, cũng vui rạng ngời hạnh phúc.

Được chứng kiến cái niềm vui tột cùng của nhân dân.

Mọi người cùng ngất ngây hạnh phúc.

Các chiến sỹ bộ đội ta, luôn được nhân dân mời uống nước rượu thốt nốt do bà con mời.

Do chính những bàn tay gầy gò của các cô gái Khme trao.

Cùng với những ánh mắt còn rất bỡ ngỡ, thẹn thùng biết ơn, ngưỡng mộ giành cho anh em.

Niềm vui tột đỉnh ngay tại các phum xóm trên trục đường 5.

Sát cạnh Biển Hồ mênh mang lộng gió.

Hòa quyện cùng nắng, cùng mùi tanh nồng của cá.

đặc trưng của vùng biển này.

Mầm sống thực sự đã được hồi sinh.

Sau mấy ngày bảo vệ nhân dân huyện Karaco vui Tết.

Sư đoàn lại chuẩn bị hành quân lên thị xã Puasat.

Khi khu vực huyện Karaco tương đối yên bình.

Thì cách huyện hơn chục cây số tới Thị Xã Puasat, lực lượng Pốt vẫn còn khá đông.

Chúng vẫn tràn ra đường 5. vẫn lăm le tổ chức tập kích và ý định đánh chiếm thị xã Puasat.

Trong những ngày Tết cổ truyền, lẽ ra nhân dân phải được sống trong niềm vui hạnh phúc, của đất nước đã được giải phóng, đã được hồi sinh.

Thì bọn Pốt lại càng cay cú, chúng tăng cường quấy phá.

Không ngày nào là không có súng nổ, không có cảnh tập kích cướp bóc, do bọn Pốt tổ chức.

Với quyết tâm của kẻ thất trận, nỗi thua cay hằn học.

Chúng muốn tiêu diệt chính quyền CM còn rất non trẻ của Tỉnh Puasat.

Hai Trung đoàn của Sư đoàn 330 đang bảo vệ quanh Thị xã.

Nhưng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn về quân số hao hụt.

Thiếu gạo thiếu đạn, thiếu thuốc men và các trang thiết bị.

Vì khu vực này ở xa, nên việc vận chuyển chính là đường sắt và đường 5.

Đường sông Biển Hồ.

Nhưng đường sắt, đường bộ số 5, đều đang bị Pốt chia cắt.

Những chuyến hàng lên đây, kể cả việc vận chuyển đưa thương binh liệt sỹ về phía sau cũng không thực hiện được.

Từ trung tâm thị xã ra Biển Hồ cũng xa.

Nên nói chung, địa bàn này đang gặp rất nhiều khó khăn.

Trungđoàn 266 và Trung đoàn 270, được lệnh vừa đánh Pốt vừa cơ động lên thị xãPuasat.

Như vậy là 2 Trung đoàn lại phải "rẽ" Pốt ra mà đi.

Tới ngày 22/4 Trungđoàn 266 đã tới và thay chốt cho Trung đoàn 1.

Trung đoàn 270 thay chân chotrung đoàn 3.

Của Sư đoàn 330.

Lực lượng lớn của ta đã cơ động tới được thị xãPuaSat trong niềm vui hân hoan của nhân dân.

Trong niềm vui của chính quyền bạnvà của anh em Sư đoàn 330.

Như vậy, các Trung đoàn của Sư đoàn 341, vừa đánh địch, vừa mở rộng địa bàn giải phóng.

Cùng với lực lượng của Bạn, truy diệt Pôn Pốt, bảo vệ nhân dân.

Bảo vệ chính quyền chân chính, còn rất non trẻ của CM-CPC.

Việc lật cánh, chuyển Sư đoàn 341 từ đường 4 Tỉnh Công Pông Xư Pư về hướng đường 5.

Ngoài các mục tiêu trên.

Còn là nằm trong kế hoạch lớn của Bộ tư lệnh Quân đoàn 4.

Đó là tập kết lực lượng chuẩn bị tiến công căn cứ Lếch.

Đây là căn cứ lớn, vô cùng quan trọng, của bọn phản động Pôn Pốt- Iêng Xa Ri.

Đang ẩn náu tại khu vực này.

Lếch là một Thị trấn nhỏ, thuộc miền núi Tỉnh Puasat.

Nằm trên trục đường 56 cách Thị xã PuaSat 35km về phía Tây Nam.

Lếch là trung tâm của cả vùng.

Là điểm giữa của Phnompenh đến biên giới Thái Lan.

Từ Lếch theo dãy Caravanh đi về CôngPôngChiNăng và đi lên Bat Tam Bang, Xiêm Diệp.

Theo dãy Đậu Khấu là xuôi về CôngPông Xpư, Kokông...Xung quanh Lếch là rừng núi bạt ngàn xen lẫn núi cao.

Cũng có những con sông, con suối nhỏ, nước đục quanh năm.

Nhưng ở khu vực này, cây trái tốt tươi bốn mùa.

Đường vào Lếch hẻo lánh và khá hiểm trở.

Nơi đây xa các trung tâm văn hóa và Thành phố lớn của CPC.

Chính vị trí này, địa hình, địa bàn này, đã trở thành địa thế rất đắc địa và rất lợi hại.

Cho phòng thủ, cho tiến công và cất giấu kho tàng rất tốt.

Tập đoàn phản động Pôn Pốt- Iêngxari đã chọn Lếch thành căn cứ đầu não.

Để tổ chức phản công, tổ chức kháng chiến lâu dài của chính quyền Pốt và Đảng Khơ Me đỏ khát máu mất tính người.

Trước ngày 7/1/1979 thị trấn Lếch vốn hẻo lánh âm u từ xưa.

Bỗng trở lên ồn ào náo động khác thường.

Những chuyến xe lửa từ hướng Phnompenh, từ Công Pông Chi Năng.

Liên tiếp đổ những đống hàng quân sự xuống PuaSat, khu vực ga RoMia.

Sau đó, những đoàn xe ô tô vận tải, ngày đêm trở vào thị trấn Lếch.

Những chuyến trực thăng từ sân bay Công Pông Chi Năng, sân bay Bat Tam Băng, sân bay Puasat cũng liên tiếp đáp tới Lếch.

Rồi lại có những đoàn voi trở hàng hóa, bí mật từ Lếch vào rừng sâu.

Cùng chuyến hàng với voi là hàng ngàn người dân CPC, bị chúng cưỡng bức.

Số dân này trước đa phần là sinh sống tại các làng quê giáp biên giới VN.

Họ bị lùa về đây trước ngày 7/1/1979.

Để xây dựng khu kho hậu cần chiến lược, quan trọng bậc nhất của Trung ương CPC dân chủ của Pốt.

Sau khi làm xong, xây dựng xong khu kho chiến lược này.

Toàn bộ số dân này đều bị bọn Pốt giết sạch.

Họ được chôn chung cùng những hố sâu trong rừng.

Bọn Pốt thủ tiêu họ để "giữ bí mật", khu kho tàng trong mật khu quan trọng này.

Cũng chính vì thế Lếch còn thêm một tên nữa đó là:" Khu lò sát sinh khổng lồ".

Tội ác của bọn Khme đỏ, còn dã man hơn cả tội ác của bọn phát xít Hít Le, Đức Quốc xã.

Lực lượng địch, ngoài số có ở đây từ trước.

Giờ đây lại được tăng cường, bọn tàn quân chạy thoát từ Ăngleng về.

Chúng tổ chức thành các đơn vị mới.

Theo thông tin mà Cục 2 nắm được.

Trong khu vực Lếch, gồm rất nhiều lực lượng và được bố trí như sau:

- Sư đoàn 210 và một Trung đoàn của Sư đoàn 502 trực tiếp bảo vệ Thị trấn Lếch.

- Sư đoàn 104 ở khu vực Tây-Bắc Puasat.

Án ngữ từ ga Romia đến ga Muong rư Say trên tuyến đường sắt Công Pông Chi Năng đi Bát Tam Băng.

- Xung quanh Lếch còn có 5 Tiểu đoàn của Sư đoàn 264.

Một Tiểu đoàn 135 quân địa phương của Lếch.

Chúng có 4 khẩu pháo 105 ly.

Bốn khẩu pháo 37 ly.

Sáu xe tăng PT-85.

Támxe thiết giáp M113.

Rộng hơn nữa, còn có các Sư đoàn 232-260-460 ( mỗi Sư đoàncòn khoảng 1000 tên).

Những lực lượng này đang thường xuyên khống chế trụcđường 5, từ Rừng Xanh đến Kraco lên tới Puasat.

Vào sâu trong dãy núi Caravanhtrùng trùng, điệp điệp, chạy dài sang biên giới Thái lan.

Lực lượng Quân sự của Pốt cũng có thành lập một Sư đoàn không quân, phiên hiệu là 502.

Không rõ là Sư đoàn này chỉ có máy bay.

Hay là giống như là Sư đoàn Dù số một của QLVNCH.

Nhưng có lẽ chúng gọi vậy cho nó "oai" thôi chứ.

Qua tìm hiểu thì Sư đoàn 502 cũng chỉ là Sư đoàn bb thông thường.

Nhưng hình như chúng dùng Sư đoàn này làm lực lượng dự bị chiến lược.

Nên Sư đoàn 502, cho đến bây giờ đang còn nguyên vẹn, chưa tham gia tác chiến với ta ở bên biên giới Tây- Nam.

Giai đoạn này, chúng sử dụng 1 Trung đoàn của Sư đoàn 502 bảo vệ Lếch.

Số còn lại chúng cũng đã được rải rộng từ Congpongchinang đến Pon Lây.

Riêng Trung đoàn 52 được tăng cường 2 khẩu pháo 105 ly, hai khẩu pháo 85, hai khẩu pháo 37 ly, hai khẩu cối 120 ly, năm xe tăng cùng xe thiết giáp.

Chúng tổ chức án ngữ trên đường 56 đi vào Lếch.

Trong những ngày này, các lực lượng của Pốt vẫn tăng cường đánh phá các chốt của ta.

Thậm chí chúng còn tổ chức tới cấp Trung đoàn.

Tiến công các đơn vị và Thị xã Pua Sát.

Chúng tổ chức chà trộn vào dân, trinh sát thị xã.

Trinh sát các vị trí đóng quân của ta.

Thậm chí chúng đã tổ chức lực lượng luồn sâu, đánh vào cơ quan Trung đoàn bộ của ta và bạn.

Gây cho ta thiệt hại đáng kể.

Chúng vẫn huyênh hoang tuyên bố là: Sẽ đánh chiếm thị xã Puasat.

Như vậy lực lượng của Pốt ở khu vực này đang còn khá đông, khá mạnh.

Cùng sự ngoan cố xảo quyệt, sự lỳ lợm, cay cú đến điên khùng của Pốt.

Về phía ta, do phải chốt giữ ở diện rộng.

Lại phải điều chuyển một số đơn vị ra tham chiến ở BGPB.

Các đơn vị cơ động tác chiến liên tục.

Nên quân số hao hụt nhiều.

Đạn và lương thực, hai thứ cần thiết nhất của người lính cũng đang thiếu.

Vì trục đường 5 từ CôngPôngChiNăng lên Pua Sát, rất nhiều chỗ bị Pốt chiếm.

Chặn đường tiếp tế của ta.

Trung đoàn 273 được lệnh truy quét, chốt giữ dọc đường 5.

Để đảm bảo vận chuyển tiếp tế lên Puasat.

Nhưng vì địa bàn quá dài, Lại toàn rừng núi phức tạp.

Bọn Pốt lại cứ như là "cao su".

Lúc co, lúc dãn nên việc bảo vệ, việc thông đường không xuể.

Những đoàn xe gạo, xe đạn hơn 100 chiếc.

Đầy ắp hàng hoá cứ đi là bị phục.

Đã có mấy xe bị cháy, đoàn xe lại phải quay lại nằm đợi ở thị xã.

Trong khi hai Trung đoàn 270-266, Sư đoàn 330.

Chính quyền và nhân dân Tỉnh Pua Sát đang rất trông ngóng sự tiếp viện.

Đồng chí Phạm Văn Ước, Phó chủ nhiệm Hậu cần của Trung đoàn.

Trực tiếp chỉ huy đoàn xe tiếp viện.

Đã vô cùng nóng ruột vì chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Các đơn vị ta và bạn ở Puasat đang rất trông chờ vào chuyến hàng này .

Lần thứ 4 đoàn xe lại xuất phát.

Đ/c Ước ngồi chỉ huy ngay trên xe đầu tiên chất đầy gạo.

Cùng hơn chục chiến sỹ vận tải.

Trong số đi áp tải đoàn xe còn có cả một số anh chị em Thanh niên xung phong của ta.

Theo báo cáo, 2 bên đường đã được Tiểu đoàn 1 truy quét rất kỹ.

Đoàn xe đi được hơn chục cây số.

Hai xe Hồng Hà vừa lội qua chỗ ngầm nhỏ.

Thì xe thứ 3, thứ 4 bị các loại súng của Pốt tập trung bắn vào.

B40-B41 ùng- oàng liên tục.

Nhưng viên đạn như những bắp chuối nhỏ liên tục bắn vào xe.

Đạn lửa bùng lên cùng khói, cùng bụi.

Có nhiều quả đạn đã trúng xe.

Đạn nổ, hai xe bốc cháy.

Đạn trên xe cũng nổ theo.

Một số anh em hy sinh.

Lực lượng đi theo xe có mấy tay súng.

Nhưng bị phục kích bất ngờ nên không thể đối phó kịp.

Các xe phía sau lại phải quay về thị xã.

Nghe tiếng nổ của bọn phục kích.

Trực tiếp đ/c Phô Tiểu đoàn Trưởng, dẫn 2 Đại đội vận động xuống vị trí bị phục.

Bảo vệ được 2 xe đi đầu và đánh đuổi bọn Pốt tập kích.

Như vậy là bọn Pốt tuy đang bị truy quét gắt gao.

Nên chúng chỉ dùng lực lượng nhỏ ẩn trốn trong rừng.

Khi xe của ta đến, chúng liều mạng ra tập kích.

Cản đường tiến đoàn xe.

Vừa rồi chúng đã gây cho ta thiệt hại lớn.

Cháy 2 xe Hồng Hà cùng đạn, gạo.

Một số anh em hy sinh.

Bịthiệt hại đã đành.

Nhưng cái chính là ta chưa thực hiện được nhiệm vụ tiếp tếcho Pua Sát.

Càng chậm việc tiếp tế thì sẽ càng nguy hiểm.

Cho các lực lượng ởđây.

Nhất là hai Trung đoàn đang cần đạn cần gạo cho kế hoạch lớn của QĐ là:Tiến công Lếch.

Tôi được tin từ Việt Nam sang.

Mẹ tôi từ ngoài Bắc vào thăm.

Hiện đang cùng với Lộc em trai, là bộ đội trong sân bay Tân Sơn Nhất, từ Sài Gòn về hậu cứ Long Bình-Biên Hòa đã mấy ngày.

Trung đoàn đồng ý cho tôi về Việt nam thăm Mẹ.

Cho phép 7 ngày vừa đi vừa về .

Thật không thể có niềm vui nào hơn.

Nhưng không thể nói: Về Việt Nam là về được ngay.

Vì đơn vị lúc này đang truy quét Pốt trong rừng.

Ở khu vực Tỉnh CôngPôngChhNang.

Phải đợi mấy ngày nữa mới về được khu vực Thị xã.

Từ đây theo xe tiếp tế của Trung đoàn về Phnom Pênh, rồi về Việt Nam tương đối an toàn.

Trong những ngày này.

Các Tiểu đoàn trong Trung đoàn, luôn phải cơ động truy quét địch.

Ngày nào cũng phải luồn lách, từ tọa độ nọ, sang tọa độ kia.

Mọi Cán bộ, mọi Chiến sỹ ai nấy đều gầy rộc.

Lúc nào cũng thèm ăn, thèm ngủ.

Nhìn dáng bơ phờ của mọi người.

Mới thấy được hết ý chí của bộ đội mình tuyệt vời như thế nào.

Thiếu ăn, thiếu mặc, đói khát mệt nhọc vì phải quần đảo liên tục.

Đạn gạo đều phải tiết kiệm.

Đã bao ngày đêm, không ai nhớ đến cái màn, cái võng là gì nữa.

Giờ đây những thứ cao sang đó, không phù hợp với lính truy quét Pốt.

Truy quét tìm diệt Tà Mốc.

Đội công tác của tôi cũng nằm trong đội hình truy quét.

Tuy rằng không khổ bằng anh em dưới đơn vị.

Nhưng đương nhiên, cũng đều phải nếm trải cái khổ, cái đói, cái thiếu, cái mệt như vậy.

Tôi thường xuyên phải họp để thông báo tình hình, động viên đội công tác.

Nhìn những cô gái, những người phụ nữ như em gái mình.

Sống cảnh thiếu thốn vất vả của đời lính thật đáng thương.

Trái ngược với nỗi quá lo lắng của chúng tôi và của Ban chính trị.

Mọi người trong đội công tác, không ai kêu ca, không ai phàn nàn.

Vẫn rất hăng hái và nhiệt tình.

Khi được giao việc phân công đi tăng cường cho các Tiểu đoàn để kêu gọi tù hàng binh.

Kêu gọi hướng dẫn cho dân đi ra ngoài.

Mọi người vẫn phấn khởi khi được giao nhiệm vụ.

Đội công tác cũng luôn nhận được sự quan tâm của các đơn vị.

Đôi khi trong truy quét, anh em dưới đơn vị gặp được các đồ đạc, quần áo, hay thực phẩm đều gửi cho anh chị em.

Có một lần mà tôi còn nhớ mãi, nó phản ảnh về cái khổ, cái thiếu cái đói và cả về tính cách của người dân CPC.

Ấy là, mấy ngày trước truy quét mãi trong rừng vô cùng vất vả.

Trong rừng khô không có thực phẩm gì cả.

Ngoài canh rau rừng hái cải thiện.

Hoặc đôi khi bắt được cá nhỏ trong các lạch nước.

Hôm đó, Tiểu đoàn 1 gặp được 1 đàn trâu và như vậy hầu như toàn Tiểu đoàn có thịt trâu ăn.

Anh Phô gửi cho tổ công tác chúng tôi 2kg thịt trâu từ lúc chiều.

Nhưng mọi người cứ mang đi theo vì chưa có lệnh nghỉ.

Mọi người ai nấy đều háo hức nghĩ đến bữa thịt trâu kho ngon lành bữa tối.

Đến nơi nghỉ, cũng vẫn trong rừng.

Đội chúng tôi cũng ngay cạnh con suối nhỏ.

Tôi nói mọi người thái thịt kho, nhắc cô The, cô Nhị là phải kho thật mặn.

Để giành ăn vài ngày, chứ cứ luồn rừng thế này mấy ngày tới cũng không thể có thực phẩm.

Đến bữa, tôichỉ cho ăn 1/4 số thịt và dự định sẽ ăn làm 4 bữa.

Mọi người nghe theo.

Nhưngnhìn mặt chị em trong đội công tác bạn, thì ai cũng buồn thiu.

Bữa cơm trongrừng dã chiến cũng trôi đi nhanh.

Khoảng 8h tối khi đi ngủ tôi vẫn nhắc lại anhem phải để ý đậy kỹ nồi thịt sợ có gì không ổn.

Tôi nằm xuống võng.

Chiếc võng được mắc thật thấp, sát xuống nền đất rừng.

Mùa này vẫn còn là mùa khô, nên trong rừng vẫn thật nóng.

Nhìn qua kẽ lá, thấy những vì sao lấp lánh.

Thỉnh thoảng có những con chuột, con sóc, chạy kiếm mồi, làm lá khô kêu xào xạc.

Những tiếng tắc kè, những con côn trùng vang trong rừng đêm.

Thi thoảng có những tiếng súng xa vọng lại lẻ loi, rồi tất cả lại chìm vào hư vô tĩnh mịch.

Tôi miên man nghĩ ngợi về việc chuẩn bị được về Việt Nam.

Được gặp Mẹ gặp em.

Được trở về Thành phố tức là về hậu cứ, về phía sau thật mừng, thật vui.

Không biết hồi này Mẹ tôi như thế nào rồi?

Tôi còn nhớ năm 76, Mẹ tôi cũng vào Sài Gòn.

Lúc đó Tiểu đoàn tôi đang đang làm Quân quản, đóng quân tại Đồn Cây Mai, đường Lục Tỉnh, Quận 11.

Những đứa con đi xa ai mà không nhớ người thân, nhất là nhớ Mẹ.

Hình bóng của Mẹ trong những đứa con, trong đầu người lính chẳng bao giờ phai nhạt.

Thế mà hôm đó khi Mẹ tôi đến.

Mẹ đứng ở bên kia đường, cũng với mấy chú em bộ đội cùng xóm, lính Phòng Không trong sân bay.

Mới xa mẹ có bốn năm.

Mà tôi đã không nhận được ra Mẹ ngay.

Cũng có lẽ bởi trang phục quần áo của Mẹ.

Aó nâu, quần đen cộc.

Răng lại cũng nhuộm đen, tóc búi.

Nét đặc trưng của những người Mẹ Miền Bắc xưa.

Nhìn Mẹ thật lạ lẫm.

Gần một năm làm Quân quản tại Sài Gòn.

Tôi đã quen mắt với cách ăn mặc, trang phục của những người phụ nữ Sài Gòn.

Quần áo hoa đồng bộ.

Tóc cắt ngắn, không có ai nhuộm răng đen.

Chính điều này, đã làm cho tôi ân hận mãi cho đến tận bây giờ.

Dong duổi theo chiến dịch hết chỗ nọ đến chỗ kia.

Trừ mấy ngày đầu tiên ở Phnôm Pênh là đỡ căng thẳng.

Chứ còn lúc nào cũng bận rộn, vất vả, địch địch, ta ta.

Nhất là từ lúc bọn Pốt chính thức tổ chức tổng phản công, trên toàn tuyến.

Thì hầu như ta và địch quần nhau suốt ngày đêm.

Chúng ta đã tiêu diệt và phá vỡ, đập tan âm mưu "rút lui chiến lược, phản công chiến lược" của Pốt.

Song thực tế tình hình cũng còn rất phức tạp.

Nhất là khi mà bọn Bành trướng phía Bắc xâm lấn ta ở sáu tỉnh biên giới.

Cho đến bây giờ, đất nước lại phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh.

Nằm trong âm mưu lớn của bọn Bành trướng phản động Quốc tế....

Cứ tình hình này, thì không biết bao giờ, mình và bộ đội mình mới được trở về gia đình, mới được hồi hương.

Thấm thoát đã gần chục năm cầm súng.

Chiến đấu liên tục hàng trăm trận.

Biết bao bạn bè, bao đồng đội đã hy sinh.

Hoặc mang trên mình thương tật của chiến tranh.

Như vậy đến bây giờ mình còn như thế này, được như thế này.

Với mình cũng đã thật là may mắn lắm rồi.

Chắc cũng chính vì nhớ con, lo cho con, mà Mẹ mình lại vào Nam.

Nghĩ lại, đúng là từ ngày đi chiến dịch.

Hình như mình cũng chưa viết thư về thăm nhà.

Hôm trước có gặp mấy đồng hương mới ở Việt Nam sang kể ở quê, lứa bộ đội nhập ngũ sau 75- 76- 77- 78.

Bị hy sinh trong cuộc chiến tranh này rất nhiều.

Các cấp chính quyền cũng nhanh chóng báo tử và tổ chức" truy điệu" ngay.

Chứ không như thời chống Mỹ.

Có Liệt sỹ hy sinh hàng chục năm, mà các cấp chính quyền cũng vẫn giấu, không thông báo cho gia đình thân nhân biết.

Vì sợ làm giảm khí thế tòng quân của thanh niên.

Nhưng bây giờ tính chất của cuộc chiến và mọi thông tin qua lại không như ngày xưa.

Nên đồng chí, đồng đội nào hy sinh hay bị thương.

Chỉ 1-2 ngày sau là gia đình đã biết được tin.

Nên các cấp chính quyền có giấu cũng không thể được.

Miên man với bao suy nghĩ, tôi thiếp đi lúc nào không biết.

Bỗng tôi phát hiện tiếng động như là bước đi.

Như là tiếng thì thào nói nhỏ, theo phản xạ, tôi định thần nhanh chóng.

Tay với khẩu súng và dóng tai, căng mắt quan sát.

Đúng là có tiếng thì thào.

Nhìn kỹ, thấy mấy bóng người đang tụm đầu quây tròn.

Tay đưa lên đưa xuống.

Thật kỳ lạ.

Tôi cầm súng lụt xuống đất và tiền nhập tới gần.

Trong đêm tối, những bóng người, tôi đã nhận ra là toàn đội công tác nữ.

Cứ bốc, rồi lại cho lên mồm.

Tay kia lại cầm bi đông nước tu, rồi hà hà như là tốp người đang uống rượu.

Bây giờ tôi mới cảm nhận là có hương vị, mùi thịt trâu kho.

Tôi nghĩ ngay đến nồi thịt trâu kho mặn.

Lúc chiều chị em cứ đòi mang ra ăn hết.

Nhưng tôi cương quyết không đồng ý.

Tôi hắng giọng lên tiếng.

Mọi người giật mình quay lại.

Tiếng SaRon và mấy cô gái ghìm giọng cười hi hí, nói: Boòng Phú ..

Ngọp hơi..

Bòong Phú.

Tôinói tiếng CPC là: Sao lại ăn thế này?

Cô Pen Kia đội trưởng nói lớ lớ tiếngViệt.

Xin lỗi Bòong Phú.

CPC không biết để dành đâu.

Thích cái gì, thèm cái gì.Có là ăn bằng hết.

Ngày hôm sau, tôi chia tay với mọi người.

Tôi cùng một số anh em trong Trung đoàn quay ra Công Pông Chi Năng để về VN.

Đa số anh em được về VN tập huấn lớp Cán bộ Trung đội, Đại đội.

Mấy đồng chí bên Hậu cần thì thường về VN để mua thực phẩm sang cho bộ đội.

Mọi người trong Tiểu ban rất vui khi tôi được về VN.

Có lẽ bịn rịn nhất là cô Nhị.

Từ mấy ngày nay, khi biết tin tôi về VN.

Thì cô Nhị tỏ ra không vui, lúc nào cũng hay ngồi trầm tư, nhìn xa xăm như nghĩ ngợi điều gì.

Có lúc Nhị nói với tôi:" anh Phú về VN là thăm Mẹ thật, hay là về VN lấy vợ."

Tôi nói là Mẹ anh vào, anh được về gặp Mẹ.

Chứ còn đánh nhau thế này, ai là người nghĩ đến chuyện vợ con gì đâu.

Từ sau lúc đấy, mới thấy cô Nhị đỡ buồn hơn.

Nhưng tôi lại cảm nhận cô Nhị chăm sóc tôi nhiều hơn trong sinh hoạt.

Hay tìm những lý do để gặp nói chuyện với tôi.

Tôi cũng đã cảm nhận được tình cảm của Nhị dành cho tôi.

Nó không phải chỉ là tình cảm của đồng chí, đồng đội, trong tổ công tác thông thường.

Mà có gì đó còn hơn thế.

Đó là sự cảm phục, cảm mến và tình yêu của cô gái CPC gốc Việt dành cho tôi.

Điều này lại làm cho tôi bối rối và khó xử trước tình cảm đó.

Thực sự tôi chỉ có tình cảm chung, dành cho các cô trong đội công tác, trong đó có Nhị.

Qúy mến các cô, như là anh trai quý em gái của mình.

Chúng tôi những người lính VN, Quân tình nguyện.

Không được có tình cảm riêng tư.

Không được yêu, hay không được có những quan hệ tình dục giới tính.

Quy định của đơn vị nói chung và cái tính khắc kỷ của tôi nói riêng.

Trong vấn đề này, càng phải nghiêm túc.

Mình đâu được phép" làm ẩu".

Mặc dù tôi biết tính cách, biết tập tục của phụ nữa K.

Khi họ quý, khi họ yêu thì họ sẵn sàng làm tất cả, cho tất cả.

Đúng bản năng, đúng tính cách hoang dã của tình yêu.

Chứ họ không" giữ gìn", không e thẹn kín đáo như phụ nữ Việt mình.

Tôi thầm nghĩ, chuyến về VN lần này, cũng may.

Có thể làm cho Nhị không quyến luyến, không yêu tôi nữa.

Đỡ cho tôi phần khó xử trong công tác.

Lúc tôi đang chuẩn bị ba lô về nước.

Nhị đến, hỏi tôi chuẩn bị việc về nước.

Rồi đưa cho tôi mấy chỉ vàng.

Nói là: Anh mang về nước mà dùng.

Tôi hơi bất ngờ nói: " Vàng ở đâu mà nhiều thế này".

Nhị trả lời:'" của em giữ từ lâu rồi". tôi nói anh không nhận đâu em cất đi để dành.

Anh về có tiền rồi.

Vả lại nghe nói về nước bây giờ, họ kiểm tra kỹ lắm.

Không mang về được đâu.

Họ thu mất thì phí.

Nhị vẫn khăng khăng nói tôi cầm về.

Đắn đo một lúc tôi nói: Vậy anh cầm một chỉ thôi, về anh sẽ mua quà sang cho em và anh em.

Nhị đồng ý nhưng bắt tôi phải cầm cái nhẫn 2 chỉ vàng.

Khi trao chotôi, Nhị nhìn tôi rơm rớm nước mắt.

Rồi bất ngờ nắm chặt tay tôi rất nhanh, nóilí nhí:" gì đó" rồi chạy vụt đi thật nhanh.

Cả đoàn chúng tôi khoảng hơn 10 người.

Tối hôm đó mọi người ngủ tại hậu cứ Trung đoàn tại Thị xã Công Pông Chi Năng.

Chúng tôi được báo sáng hôm sau sẽ có 2 xe của Trung đoàn, nhập cùng đoàn xe của Sư đoàn về VN.

Trong thị xã đang có rất nhiều xe ôTô đầy ắp hàng, phủ bạt kín.

Đang đợi thông đường lên Pua Sát.

Sáng hôm sau, đúng 7h đoàn xe xuất phát.

Được thông báo là từ Công Pông Chi Năng tới Phnompenh tương đối an toàn.

Nhưng không phải là không còn lực lượng nhỏ của Pốt ra phục đường.

Vì vậy, mọi người vẫn phải trang bị súng đạn.

Lúc nào cũng phải sẵn sàng chiến đấu như là lính chiến.

Cũng có nhiều xe trên đường về VN bị phục cháy.

Đã có nhiều anh em hy sinh.

Tóm lại trên đường trở về Phnompenh vẫn còn phức tạp.

Các xe thường phải tập trung đi thành đoàn, để có thể sẵn sàng hỗ trợ cho nhau.

Lần trước, hành quân từ phnompenh đến CôngPôngChoNăng bằng tầu Hải quân đường thủy.

Đa phần thời gian là ở trong hầm tàu.

Không quan sát được trên đường bộ.

Hôm nay về VN theo đường bộ số 5.

Tôi thoải mái được nhìn ngắm đất nước CPC qua 2 bên đường.

Đường xấu, nhiều cầu nhỏ bị xập nên xe chạy không được nhanh.

Đập vào mắt đầu tiên là những rừng cây 2 bên đường.

Thi thoảng có những căn nhà, hay dãy nhà trông hoang tàn.

Nhưng đã có người ở, trông rất tạm bợ.

Lũ lượt các đoàn người cùng đi xuôi theo chiều xe chúng tôi.

Nhìn chúng tôi cười, các em nhỏ ngồi trên xe bò, hoặc trong cái thúng.

Được bố mẹ gánh, trong khói bụi mù dầy đặc.

Vẫn thấy những bàn tay nhỏ gầy đét, giơ lên vẫy, vẫy.

Những đoàn người đen đúa, lôi thôi, rách rưới, bẩn thỉu này.

Là những người dân ở các Tỉnh Kan Dan, SvayRiêng hay những vùng giáp biên giới Việt.

Họ bị bọn Pốt lùa lên rừng miền Tây.

Từ sau ngày Khơ Me Đỏ giải phóng đất nước, từ tay chính quyền LonLon năm 75.

Cả Huyện, cả Xã, cả Tỉnh bị lùa đi.

Chết đói, chết khát, chết vì đập vỡ đầu cũng nhiều.

Giờ đây những tốp người này sống sót, hồi hương.

Họ vẫn còn bàng hoàng, khiếp sợ.

Chưa dám tin, là đã thật sự được sống, thật sự hồi sinh.

Khi trên trời, những đàn quạ đen vẫn bay lượn như những âm binh địa phủ, như những thần chết.

Chúng kêu gọi ầm ĩ, báo nhau tìm mồi là những xác ngừời thối rữa.

Những cây thốt nốt, loại cây rất đặc trưng, rất quen thuộc với người dân CPC.

Có sức sống mãnh liệt của giống nòi, của tạo hóa.

Rất phù hợp với khí hậu, với thổ nhưỡng của CPC.

Loại cây mọc gần như hoang dã, chẳng bao giờ cần sự tưới tắm, chăm sóc của con người.

Mà giờ đây, trông xác xơ, khô cằn.

Thân, lá te tua, sứt sẹo bởi mảnh pháo, mảnh đạn.

Như không còn sức sống.

Gần đến PhnomPenh, chúng tôi thấy khoảng hơn chục chiếc xe tăng, xe thiết giáp M113 cháy, nằm ngả nghiêng trên đường, dưới ruộng.

Không biết đoàn Tăng thiết giáp này, của ai?

Ta hay là Pốt.

Trời nắng chang chang, buổi trưa thì xe cũng dừng nghỉ tại ngoại ô Phnompenh.

Cư dân ở đây đã thật tấp nập hàng quán, chợ búa đông đúc.

Cũng có nhiều phụ nữ ra mời chào chúng tôi vào ăn cơm.

Dưới chế độ Khơ me Đỏ, bọn Pon Pốt tổ chức một xã hội Công Sản chủ nghĩa theo kiểu không có chợ, không có tiền, không có trường học, không có chùa, không có trí thức hay bệnh viện.

Nên giờ đây, sau giải phóng đồng tiền cũ không ai xử dụng.

Chính quyền mới chưa kịp phát hành được tiền để lưu thông.

Chưacó tiền, nên việc mua bán đổi chác.

Kể cả từ ăn bát phở, bát cơm, mua nước thốtnốt, cũng được quy ra vàng, thanh toán bằng vàng.

Vì vậy có rất nhiều người làmcái nghề cân đong vàng.

Để thanh toán ngay cạnh các hàng cơm, hàng phở.

Cơm nước xong, đoàn xe lại tiếp tục lên đường vào PhnomPenh.

Bắt đầu vào Thủ đô.

Đã thấy rất đông bộ đội ta và bộ đội bạn.

Các chốt kiểm soát quân sự của cả 2 bên, chỉ đường cho người dân và các xe qua Thành phố.

Giai đoạn này, Chính quyền bạn chưa cho dân hồi cư vào ở trong Thành phố.

Nên các cư dân Thủ đô cũ, sống sót trở về.

Thường làm những lán tạm ở ngoại ô buôn bán sinh sống.

Đa phần họ toàn là nữ giới.

Các bà góa ở cùng nhau.

Họ đều nói là chồng họ đã bị chết.

Vì vậy những dẫy phố chúng tôi đi qua, phố xá, nhà cửa vừa còn tan hoang.

Nhìn những đường phố, rất nhiều ngôi nhà, tòa nhà hay những Đền Chùa.

Đều toát lên lối kiến trúc rất "dân tộc".

Dấu ấn của một thời hưng thịnh, của đất nước, của dân tộc Khme đã có một thời hoàng kim, một cố đô tráng lệ bên dòng TongLe Sáp hùng vĩ.

Xe chạy qua cầu MôniVông.

Trong chúng tôi, ai cũng phấn chấn hẳn lên.

Từ lúc này, không ai phải quan tâm đến sự phục kích của Pốt.

Mọi người không phải tay lăm lăm cò súng, mắt săm soi 2 bên đường nữa.

Những giây phút của ngày 7/1, khi đại quân tiến công vào Thủ đô tái hiện.

Bến phà Niếc Lương đây rồi, cái bến phà mà ngày 7/1, đông cứng bộ đội súng đạn đầy mình.

Đông cứng các loại xe tăng, xe thiết giáp, xe ô tô chở bộ đội, chở khí tài.

Xe kéo pháo đợi vượt sông.

Thật hoành tráng, thật dũng mãnh.

Nhưng nhớ lại cái giờ phút vượt sông đó không phải là không có băn khoăn.

Không phải là không có nỗi lo từ mỗi con người.

Từ chiến sỹ, từ các cấp chỉ chỉ huy các đơn vị.

Các đồng chí chỉ huy vô cùng lo cho đơn vị mình, vượt sông nhanh nhất, an toàn nhất.

Để lao vào hang ổ của quân thù.

Để tiêu diệt bọn diệt chủng khát máu Pôn Pốt – Ieeng xa Ri.

Thêm cả nỗi lo nữa chợt đến, là nếu có vấn đề gì, thì bơi làm sao để về với đất Mẹ.

Lịch sử đã đặt vào vai chúng tôi gánh nặng của 2 cuộc chiến.

Rồi lại cũng cho chúng tôi cái vinh dự được là người lính tiến công vào 2 Thủ đô.

Hai cơ quan đầu não, sào huyệt của kẻ thù.

Gian khổ lắm thay và cũng tự hào lắm thay.

Cái khí thế tiến công sáng ngày 7/1/79 tại khu vực bến phà này.

Cũng tựa như cái khí thế tiến công của đại quân ta lúc sáng ngày 30/4/75 tại các đầu ô Sài Gòn.

Khí thế tiến công lúc đó, có thể nói là những nốt nhạc của bản hùng ca chiến trận hoành tráng nhất.

Mạnh mẽ nhất, mà bất cử nhà đạo diễn điện ảnh nào tài ba đến mấy, cũng không thể nào tái hiện.

Sông Mê Công nơi đây thật rộng.

Nhưng lần vượt sông này trong tâm trạng trái ngược với ngày 7/1.

Chúng tôi vượt sông về với Tổ quốc, về với đất Mẹ.

Mẹ tôi em tôi bao người thân của chúng tôi đang đợi chờ.

Chờ chúng tôi những đứa con chiến thắng trở về.

Hai đầu đất nước đang có chiến tranh, nhưng chúng tôi về với Thành phố, là về với sự thanh bình cuộc sống đô thị.

Lúc nào cũng đông đúc, rộn dã tiếng cười và lấp lánh những ne-ong đèn màu.

Vui thật là vui.

Xa xa, bên trái đường.

Dãy núi Sa Cách, mục tiêu số 1, mà chúng tôi tiến đánh.

Giờ đây, nhìn từ Đường 1, đến dãy núi mờ mờ xa.

Núi Sa Cách có cảm giác không to lớn như hôm nào.

Khu vực này, sáng hôm đó còn ngổn ngang quần áo, ngổn ngang trang bị, súng đạn.

Của dân, của lính Pốt trong cuộc hoảng loạn vỡ trận tháo chạy.

Những đồ đạc, những xe bò, những quân trang quân dụng hồi đó đã không còn nữa.

Xe chúng tôi tiếp tục chạy.

Tới Svay Riêng, rồi cầu Padasốt, Chi Phu, Rừng Sở.

Rồi đến Ba vét 1, Ba vét 2.

Những trận chiến đấu ác liệt và cuộc chiến bao ngày vất vả nơi đây lại hiện lên.

Nơi kia là vị trí ém quân sau đêm luồn sâu, phục kích đón lõng.

Bắt sống 2 xe cùng pháo 105 của Pốt.

Chỗ kia là căn hầm tôi cùng anh Ngọc ẩn lấp, khi bị cả pháo ta pháo địch nện vào.

Chi phu, Rừng Sở, Bao ngày chốt giữ.

Nơi tôi cùng Đại đội 3 ngồi trên xe bọc thép tiến công giải cứu số anh em phía sau nhầm đường chạy vượt sang.

Rồi các trận chiến ở vùng Ba Vét.

Cây thốt nốt ven đường thân bị vỡ toác vẫn còn đó.

Là trận Đại đội tôi luồn sâu với nhiệm vụ bắt sống mấy tên Pốt về khai thác.

Cái hốc to trên cây là phát đạn DKZ của Pốt bắn khi chúng phản kích.

Qủa đạn đó, đã làm cho đồng chí Tấn hy sinh, đ/c Biểu, Hoa bị thương.

Biết bao kỷ niệm, biết bao trận đánh mà tôi cùng đơn vị chiến đấu ở đây.

Biết bao đồng đội của tôi đã ngã xuống, để có được ngày hôm nay.

Cho cuộc sống thanh bình, cho đất nước Chùa Tháp được hồi sinh.

Miên man nghĩ ngợi.

Tiếng đ/c lái xe nói to vọng lên.

Đã tới cửa khẩu, mọi người xuống xe để qua trạm kiểm soát.

Chúng tôi nhẩy xuống xe.

Phải một lúc với đi lại được bình thường vì phải ngồi lâu trong tư thế gò bó.

Trời đã về chiều.

Hoàng hôn nơi biên giới thật đẹp.

Chúng tôi qua trạm badie.

Tiếng mấy đ/c Bộ đội Biên Phòng cùng kiểm soát Quân sự tay đeo băng đỏ lăm lăm súng.

Mắt láo liêng xét nét mọi người, gây cho tôi và anh em khó chịu.

Tôi nói to.

Còn phải kiểm tra cái gì nữa.

Chúng tôi lính chiến được về VN công tác sao lại phải khám xét kiểm tra?

Một đ/c chắc là đội trưởng kiểm soát nói: Chúng tôi được lệnh khám xét và kiểm tra hết tất cả bộ đội về nước và sang CPC.

Bực thật!

Bực quá!

Cái tức, cái bực ập đến.

Ức đến ứa nước mắt.

Tôi nói: Này đ/c: Khi chúng tôi đánh nhau bao ngày tháng ở đây.

Đánh qua đánh lại thì sao không có ai đến mà kiểm tra, mà khám xét?

Bây giờ lại bầy ra cái trò khám mới lại xét.

Lúc Pốt tràn sang đây.

Đ/c có biết ai là người lên đây, ngay tại vị trí này để giải vây, để cứu nhân dân, cứu Bộ đội biên phòng.

Chốt giữ thay cho các đ/c không?

Tôi!

Chính tôi, cùng Đại đội tôi đã làm cái việc đó.

Sao bây giờ lại nói chuyện khám với xét.

Mất danh dự của lính chiến.

Tôi phừng phừng nói to một thôi một hồi.

Không kìm được.

Tôi chỉ muốn là một việc gì đó cho thỏa cơn bực.

Thấytôi nói to, nói nhiều.

Hai, ba chiến sỹ nữa đeo băng đỏ cầm súng chạy ra, mặthầm hầm.

Một người có lẽ là chỉ huy to hơn hỏi tôi: Các đ/c ở đơn vị nào?

Tôinói: Đoàn xe chúng tôi là lính Sư đoàn 341.

Có việc về hậu cứ Việt Nam rồi lạisang.

Sao lại cứ đòi khám chúng tôi?

Đ/c cán bộ đó thay đổi lại nét mặt nói.Thế các anh là lính 341 à.

Tôi nói: Ông có cần xem giấy không?

Người Cán bộ đónói nhỏ gì đó với người bên cạnh.

Rồi quay sang nói với tổ công tác: Các đ/c đểcho đoàn 341 đi.

Cái bực tức trong tôi bị gạt đi rất nhanh.

Khi những ngôi nhà, những làng xóm quen thuộc và những người dân Việt đã hiện ra trước mắt.

Trời tối, nhưng khu vực cửa khẩu Mộc Bài này, tôi vẫn nhớ như in.

Ngôi nhà má Bẩy bên phải rìa cánh đồng, nơi tôi phải chốt, gác sáu tiếng một đêm trong những ngày đầu tiên ra Biên giới.

Nhưng giờ đây tất cả chỉ còn nền đất.

Chính quyền đã không cho dân ở khu vực này nữa.

Khu vực này, được xử dụng làm những lán trại, phục vụ cho việc tiếp tế.

Hay phục vụ cho Quốc phòng.

Gặp dân nhiều, nhưng trời tối nên tôi cũng không nhận được ai quen.

Xe tiếp tục chạy qua An Thạnh, qua cầu Gò Dầu.

Nơi có ngã ba đi thẳng là về Thành phố, còn rẽ trái là về Tây Ninh, ra bến Sỏi sang Búa Lớn.

Tôi bồi hồi nghĩ tới Cúc.

Không biết cuộc sống của Cúc hồi này thế nào?

Đã lấy chồng chưa?

Cúc trong những ngày qua nghĩ về tôi thế nào?

Có trách tôi nhiều không?

Xe không chạy về hướng đó, nên cũng không ai có thể giải đáp cho tôi thắc mắc.

Tôi tặc lưỡi bất lực.

Thôi!

Mong cầu cho Cúc có cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Xe chạy tiếp, dân cư, phố xá hiện ra trong ánh đèn pha và đèn của đường phố.

Đèn sáng trong từng gia đình.

Trong từng hàng quán đông đúc.

Không có chiến tranh, đúng ra ở đây đã hết chiến tranh.

Cuộc sống thường nhật của người dân đang tiếp diễn ồn ào sôi động.

Hạnh phúc lứa đôi.

Chúng tôi, chỉ có chúng tôi là vẫn chưa được thụ hưởng cuộc sống thanh bình này.

Hàng ngày, hàng giờ chúng tôi vẫn phải sống trong căng thẳng.

Trong đói khát, trong hy sinh, súng đạn đầy mình, trong sình lầy nước đọng.

Cùng sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong vùng đất có những người dân đen đúa, nhếch nhác.

Trong rừng núi hẻo lánh, có những tên quỷ dữ khát máu người cùng những họng súng rình rập chúng tôi.

Nhiệm vụ của chúng tôi phải tiễu trừ, phải tiêu diệt tận gốc lũ quỷ khát máu đó.

Xe chạy, càng gần Biên Hòa dân cư càng đông đúc hơn.

Nhìn cuộc sống thường nhật của họ mà thèm.

Những thanh niên đi trên chiếc xe mini nhỏ, đằng sau có những cô gái áo quần thật đẹp, quàng tay ôm cứng ngừơi trai.

Hoặc họ cùng đạp xe, chuyện trò trông thật ngộ nghĩnh.

Trong tôi, như bắt đầu dâng lên khát thèm có cuộc sống như họ.

Hình như những cuộc sống kia, biểu cảm kia, với chúng tôi là những thứ cao xa không thể với tới được.

Những thứ đó không giành cho tôi, những người lính trận.

Xe chạy về xa lộ, rồi rẽ vào Long Bình.

Tổng kho Long Bình rộng mênh mông.

Chúng tôi vào theo cổng số 9.

Doanh trại, hậu cứ của tôi ở đó.

Mẹ tôi, em tôi đang ở đó.

Chỉ mấy ngàn mét nữa thôi, là tôi được gặp Mẹ, gặp em.

Thật tuyệt vời cảm xúc trào dâng.

Không biết Mẹ tôi dịp này thế nào.

Mẹ mới ngoài 50 tuổi nhưng ở độ tuổi đó.

Những người mẹ miền Bắc trông già lắm.

Sinh đẻ nhiều, phải lăn lộn, vất vả mưu sinh.

Để nuôi dưỡng đàn con trong thời khốn khó của chiến tranh.

Cùng với cơ chế cứng nhắc đến vô lý của thời bao cấp.

Ai cũng khổ, người Mẹ nào cũng tần tảo, xác xơ gầy tong teo như cái cò, cái vạc.

Không phải chỉ ban ngày, mà ban đêm cũng vẫn phải làm việc, tìm kế mưu sinh.

Bố mẹ tôi sinh được 10 người con.

Tôi có 2 chị gái đầu, rồi đến người anh sinh ra mất ngay.

Rồi đến tôi, rồi đến em gái tôi, mỗi người sinh ra mỗi Tỉnh.

Theo dọc đường di chuyển của xưởng Quân giới sản xuất, chế tạo súng đạn của Ba tôi.

Thời chiến tranh chống Pháp.

Tiếp đến là bốn người em trai, một người em gái sinh ở cùng một Tỉnh khi hết chiến tranh năm 1954.

Gia đình tôi về định cư tại Thái Bình.

Trong chín người con đang sống, có lẽ vì là con trai đầu nên tôi thường được bố mẹ quan tâm nhiều nhất.

Đồng nghĩa với việc tôi là đứa con được đặt nhiều hy vọng nhất.

Những năm tháng qua.

Chiến tranh kéo dài, cái thế hệ của chúng tôi vẫn phải tiếp nối cha ông cầm súng.

Rất nhiều bạn bè tôi tòng quân khi mới 17 tuổi.

Ra chiến trận, rồi rất nhanh có tin đã hy sinh ở chiến trường nào đó.

Tôi đã may mắn qua được thời chiến tranh chống Mỹ đã làm cho gia đình rất mừng.

Giờ đây cùng trang lứa trong khu phố, hình như chỉ còn tôi là tiếp tục cuộc chiến ở BGTN.

Vì vậy, nên tôi vẫn đang là nỗi lo lớn cho gia đình.

Xedừng, tôi hỏi ngay anh em coi cứ là Mẹ tôi đang ở đâu.

Đ/c Khoái coi cứ nói: Mẹanh, em anh, đợi mãi không thấy anh về.

Nên đã về Sài Gòn từ ngày hôm kia rồi.Tôi bất ngờ khi nghe tin đó.

Nỗi hụt hẫng ập đến cùng với nỗi buồn.

Đã 9h tốikhông thể về Sài Gòn được.

Đành theo anh em vào chỗ nghỉ, sáng mai về Sài Gònvậy.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm ra đón xe về Sài Gòn.

Đường lộ người đón xe thật đông.

Tôi đón được cái xe Datsu cũ kỹ, nghẹt cứng người ngồi.

Những ngày này, việc đi lại rất khó khăn, vì nguyên liệu xăng dầu rất khó mua.

Đâu đâu cũng là các tổ hợp, hay HTX vận tải đảm trách.

Các loại xe đã từ xưa cũ, hỏng hóc nhiều, không có phụ tùng nhập khẩu thay thế.

Nên các tổ hợp, các hợp tác xã cứ phải tháo lắp phụ tùng từ xe nọ sang xe kia.

Số lượng đầu xe cứ giảm dần đi.

Đồng nghĩa với việc rất nhiều xe đã bị xếp xó, han rỉ vì đã bị tháo dần từng bộ phận.

Xăng dầu hiếm.

Thậm chí nhiều xe còn được cải tiến chạy máy cả bằng than củi.

Kết hợp với xăng dầu thế nào đó.

Mỗi xe có một bình chứa than to tướng đằng sau.

Thỉnh thoảng lại có những viên than đỏ rực rơi lả tả xuống đường.

Chính vì thế việc đi lại là vấn đề đang rất khốn khó của Thành Phố, của xã hội.

Trên xe rất đông.

Người đứng, người ngồi chen trúc.

Lại còn 2-3 người bu đeo đứng đằng sau.

Người lên người xuống nhiều.

Nên xe chạy một quãng rồi lại dừng đón khách, cho khách lên xuống liên tục.

Ai cũng kêu khổ trách móc chế độ , so sánh xưa nay ầm ỹ.

Hình như thấy tôi là bộ đội, nên mọi người cố ý kêu ca phàn nàn nhiều hơn, về cái khổ cực mà mọi người đang phải gánh chịu.

Tôi nghe ào ào, lơ đãng không để ý gì đến những lời kêu ca đó.

Chỉ mong nhanh về Sài Gòn.

Mãi rồi cũng tới nơi.

Quãng đường từ Long Bình về Sài Gòn có hơn ba chục Km mà phải mất mấy tiếng đồng hồ.

Bây giờ đã là 9h,30'.

Xe dừng tại khu bến xe Văn Thánh.

Tôi xuống xe, vào quán mua nhanh ít trái cây làm quà.

Rồi vời ngay một chiếc xe ôm nói chạy vô sân bay.

Đường phố, người xe tấp nập cũng không có gì khác xưa.

Tôi cũng không để ý đến đường phố nữa.

Trong lòng chỉ muốn chạy nhanh vào sân bay nơi Mẹ tôi đang ở đó.

Tới cổng Phi Long của sân bay, tôi vào trực ban xin vào đơn vị của Lộc.

Sau một vài thủ tục hỏi tên tuổi, đ/c trực ban điện thoại vào trong, rồi khoảng hơn chục phút sau đã thấy chú Lộc em tôi đi xe đạp ra tận cổng đón.

Khỏi nói được, tả được niềm vui khi anh em tôi gặp nhau như thế nào?

Lộc nói: Mẹ cứ khóc, lo cho anh liệu có về được không?

Tôi nói qua: anh được tin mấy ngày rồi, nhưng không thể về ngay được.

Mẹ có khỏe không?

Cũng không nghe thấy tiếng trả lời.

Lộc đã rẽ vào trạm khách của đơn vị.

Từ xa đã thấy Mẹ tôi đứng ở cửa phòng khách đợi tôi.

Nhìn thấy tôi thay vì vui mừng, thì mẹ lại òa lên khóc.

Tôi bỏ giỏ đồ xuống, ôm lấy Mẹ cũng không nói được gì nữa.

Hai mẹ con cứ thế nước mắt giàn dụa.

Không thể có niềm vui, niềm hạnh phúc và quý giá nào bằng.

Mẹ tôi ôm tôi, như là không thể tin được có giây phút hạnh phúc này.

Thoáng thấy các anh em đơn vị Lộc cũng giơ tay lau nước mắt.

Mọi người cùng chung niềm vui và cảm động trước tình cảm của Mẹ con tôi.

Lúc sau bình tĩnh trở lại, chú Lộc dìu mẹ tôi vào phòng khách.

Mẹ tôi trách sao mãi hôm nay tôi mới về.

Tôi cười, giải thích với Mẹ cũng là nói chuyện với mọi người về tình hình CPC.

Tình hình chiến sự và nhiệm vụ của đơn vị còn rất vất vả, rất nặng nề.

Tình hình CPC không giống như ở VN.

Sau ngày chiến thắng 30/4, thì coi như là ngày hòa bình lập lại.

Còn ở CPC thì khác.

Những trận chiến hết sức ác liệt tiếp diễn sau ngày 7/1 đó.

Hầu như chúng con, đơn vị chúng con không được nghỉ ngày nào.

Quần đảo chiến đấu liên tục.

Rất nhiều đồng đội con hy sinh sau ngày 7/1 vì bị bọn chúng phản kích và vì những trận chiến đấu ác liệt diễn ra liên tục đó.

Tôi nói tiếp.

Khi biết tin Mẹ vào đơn vị, con vẫn đang chiến đấu trong rừng.

Toàn Sư đoàn đang chuẩn bị lại đánh lớn vào căn cứ Lếch, giáp biên giới Thái Lan.

Tóm lại là chúng con cũng chưa được nghỉ ngơi.

Quân tình nguyện mình vẫn còn đổ máu, vẫn còn gian khổ, vẫn sẽ còn hy sinh nhiều.

Tôi kể một mạch chuyện bên đó cho Mẹ, em và mọi người cùng nghe.

Vì vậy Mẹ vào, đ/v cho con về gặp Mẹ thế này là sự ưu ái lắm rồi.

Các đồng chí chỉ huy ở đơn vị chú Lộc thì nói: Không ngờ tình hình CPC lại vẫn còn phức tạp như vậy.

Chúng tôi lại cứ ngỡ là chiến sự bên đó đã nhẹ lắm rồi.

Đơn vị chú Lộc là bộ đội thuộc Quân chủng Phòng không không quân.

Là Đại đội Trinh sát điện tử.

Nghe nói Quân đội ta chỉ có một Đại đội khí tài Trinh sát điện tử đặc biệt này do Liên Xô giúp.

Chính vì thuộc hang lính "Cậu" nên các chế độ của cán bộ chiến sỹ ở đây rất được quan tâm đặc biệt.

Chú Lộc nhập ngũ tháng 12/74 khi vừa thi tốt nghiệp lớp 10.

Cả lớp cả trường được động viên nhập ngũ.

Nên trong Đại đội của chú Lộc cũng đa phần là anh em ở Thái Bình.

Đ/c Đại đội Trưởng tên là Cảm cũng người Thái Bình.

Có lẽ cũng thêm những chi tiết đồng hương đó.

Hay vì để chiêu đãi người lính chiến bộ binh, mà Mẹ con tôi được chăm sóc rất đặc biệt.

Tôi được thưởng thức toàn những món ăn của hương vị quê hương, cùng Mẹ cùng em, cùng đồng đội của đ/v chú Lộc thật vui, thật đầm ấm.

Tôi liên tục kể chuyện chiến đấu, chuyện bên CPC cho Mẹ tôi và mọi người nghe.

Tối Mẹ tôi kể chuyện gia đình và quê nhà.

Mẹ có nói là sau dịp tôi đi cô Trinh hàng xóm vẫn sang nhà chơi.

Thường hay hỏi tin tôi.

Mẹ tôi trách sao tôi không viết thư về cho Trinh.

Tôi nói: Con có viết một lần khi trở lại đơn vị.

Nhưng sau ngày ấy chiến đấu ác liệt quá ở tận dưới Hà Tiên.

Đơn vị con bị thương và hy sinh cả ngàn người.

Hiện tại, con chẳng còn tâm trí nào mà nói những chuyện yêu đương hayhứa hẹn đợi chờ.

Cứ như thế này thì chưa biết đến bao giờ, con được ra khỏiQuân đội.

Mẹ tôi khóc nói: Mẹ không ngờ đời con lại khổ và vất vả quá thế!

Tôi ở lại chơi với Mẹ và em tôi được 2 tối.

Sáng ngày thứ 3 sau khi ăn sáng xong, tôi chia tay với Mẹ với em về Long Bình để trở lại đơn vị.

Mẹ tôi muốn đi cùng tôi lên Long Bình.

Nhưng tôi nói: Con lên có xe là sang bên kia ngay.

Mẹ không phải đi cùng con nữa cho vất vả.

Mẹ ở lại chơi với Lộc ít ngày nữa rồi Mẹ ra Bắc.

Mẹ con mình mấy ngày được bên nhau thế này là quý lắm rồi.

Mẹ tôi không nói gì.

Mẹ tháo chiếc nhẫn vàng một chỉ đưa cho tôi nói: Con cầm lấy mà phòng lúc cần đến.

Con lớn rồi, lẽ ra tuổi con là đã có vợ rồi.

Ở đó có gì bức xúc quá thì phải cố mà chịu đựng.

Chứ đừng làm điều gì dại dột, bị kỷ luật thì khổ.

Tôi hiểu ý của Mẹ.

Vì tối qua, tôi có nói chuyện về tình hình CPC, về kỷ luật Quân đội, kỷ luật dân vận Quốc Tế rất nghiêm .

Tôi kể cả chuyện xẩy ra ở đơn vị tôi và các đơn vị bạn vi phạm kỷ luật bị xử ra sao.

Chuyện anh Xướng bị kỷ luật như thế nào.

Nên Mẹ tôi mới có ý dặn dò như vậy. tôi nói mẹ cứ yên tâm, con trai của mẹ không bao giờ làm điều gì xấu cả.

Tôi xin Mẹ cái nhẫn rồi chia tay Mẹ, chia tay tất cả mọi người.

Chú Lộc lại lấy xe đạp đưa tôi ra cổng.

Không hiểu sao, nhớ Mẹ thương Mẹ nhưng tôi lại muốn đi thật nhanh.

Không giám, hay không muốn nhìn Mẹ tôi buồn, Mẹ tôi khóc.

Tới cổng sân bay, tôi dặn dò Lộc mấy câu chăm sóc động viện Mẹ.

Rồi tôi vời xe ôm ra bến Văn Thánh rồi về Long Bình.

Nơi mọi người đang đợi tôi .

Vì theo kế hoạch, sáng hôm sau đoàn xe lại sang CPC, trở lại đơn vị.

Tới Long Bình cũng đã trưa.

Sáng mai xe mới sang bên kia.

Còn cả một buổi chiều.

Tôi mượn xe đạp của anh em ở cứ, ra khu vực Tam Hiệp bán 2 chỉ vàng của Nhị.

Để lấy tiền mua sắm quà cho mọi người.

Vào hiệu thuốc Tây mua một ít thuốc kháng sinh, một số thuốc bổ, theo lời dặn của Nhị.

Còn thời gian tôi rẽ xuống nhà máy giấy Tân Mai sát Thành Phố Biên Hòa.

Vào thăm gia đình anh chị Thân- Thắng.

Chị gái của bạn tôi mới chuyển từ ngoài Bắc vào.

Hồi nhỏ, trong nhóm bạn học, tôi chơi thân với mấy người.

Trong nhóm bạn có Thái nhà cùng khu phố.

Hai anh em rất thân tình.

Thường đến nhà nhau chơi.

Những năm 1965-1966, chiến tranh phá hoại ở miền Bắc đang thời kỳ khốc liệt.

Chúng tôi mỗi người đi sơ tán mỗi nơi theo gia đình.

Chiến trường miền Nam những năm sau Tết Mậu Thân vô cùng căng thẳng.

Lứa tuổi chúng tôi thường 17 tuổi đã được động viên vào bộ đội.

Chúng tôi lần lượt nhập ngũ.

Thái cuối năm 1968 đã nhập ngũ khi mới bước sang tuổi 17.

Cùng năm đó tôi đi học lớp Trung cấp cơ khí do Ty giao thông tuyển.

Bọn bạn cùng khối phố, cùng trang lứa, lần lượt nhập ngũ và cũng đã có tin thằng này, thằng khác khác hy sinh.

Năm 69 tôi nhập ngũ, nhưng do quá bé nhỏ.

Nên sau một tháng ăn cơm " vỗ béo" mà cũng chẳng béo lên được.

Tôi lại được về học tập tiếp tại trường.

Sang năm 1970 về làm việc tại Xưởng đóng tầu tại Thái bình.

Trong số công nhân của nhà máy lúc đó, có lẽ tôi là người ít tuổi nhất, trẻ nhất, cao gầy nhỏ bé nhất xí nghiệp.

Tới tháng 5/72 thì tôi cũng được lệnh nhập ngũ.

Điều trùng lập là tháng 5 tôi nhập ngũ, thì cũng là lúc được tin Thái bạn tôi hy sinh ở chiến trường Quảng Trị.

Dịp về phép năm 76 tôi mới biết tin chị Thân, là chị gái Thái theo chồng vào làm việc tại nhà máy giấy Tân Mai, Biên Hòa.

Biết là thế nhưng tôi cũng mới đến chơi được một lần năm 78.

Khi đơn vị chiến đấu ở Tây Ninh tôi được trở về phía sau tập huấn.

Anh chị Thắng Thân rất quý tôi coi tôi như là em trai của mình.

Anh Thắng là các bộ của Bộ Công nghiệp nhẹ, được điều động đi B từ năm 72.

Hiện nay anh đang đảm trách Quản đốc một phân xưởng trong nhà máy.

Hai anh chị đã có 2 cháu nhỏ.

Mọi người rất vui khi tôi đến chơi.

Thời đó nền kinh tế của đất nước, cuộc sống của mọi người dân đều khó khăn.

Nhưng cuộc sống của cán bộ công nhân nhà máy Giấy thì lại rất khá vì thời đó giấy hiếm.

Nên nhà máy hay tổ chức giao lưu kế hoạch 3.

Đổi giấy cho các địa phương lấy lương thực, thực phẩm nên đời sống của cán bộ công nhân nhà máy tương đối ổn định.

Nhìn cuộc sống của gia đình anh chị Thắng - Thân.

Nghĩ lại cuộc sống hiện tại của mình thật là điều mơ ước cho đời lính.

Anh chị rất quân tâm, thường tổ chức anh em cùng nhà máy đến chung vui mỗi khi tôi đến chơi.

Tôi rất cảm động trước tình cảm của anh chị giành cho tôi.

Tôi được chăm sóc như một người em trai thực sự.

Tới gần chiều, tôi chào anh chị trở về Long Bình, sau khi đã mua thêm đủ các thứ cần mua sang làm quà cho anh em ở đơn vị.

Ở khu vực Tam Hiệp này, dân cư thật đông đúc, chợ búa, xe cộ, người đi lại buôn bán tấp nập.

Cũng tại vị trí này, sáng ngày 30/4/75, Trung đoàn tôi chia làm hai hướng.

Tiểu đoàn Một của tôi hành tiến theo đường này, tiến công sân bay Biên Hòa.

Tiểu đoàn Hai, Tiểu đoàn Ba theo xe tăng tiến công vào Sài gòn.

Khu vực này bộ đội mình cũng nhiều đơn vị đóng quân.

Nhịp điệu cuộc sống ở đây thật sôi động.

Như là không ai biết đến 2 cuộc chiến đang xẩy ra ở 2 đâu đất nước.

Tôi rất vui vì đến thăm gia đình anh chị Thân - Thắng.

Song không hiểusao giờ đây nỗi buồn ập đến.

Không biết bao giờ mình mới có được cuộc sống nhưgia đình anh chị?

Như cuộc sống bình dị của những người dân kia.

Thật nặnglòng, tôi uể oải đạp xe vào Tổng kho, về hậu cứ của Trung đoàn.

Ngày mai tôilại cùng đồng đội sang CPC, trở lại đơn vị, tiếp tục cuộc sống, chiến đấu củangười lính Quân tình nguyện.

Hôm sau, bẩy giờ sáng, sau khi ăn cơm xong.

Đồng chí Giã trưởng đoàn, tập hợp toàn bộ chúng tôi và số anh em từ hậu cứ được chuyển sang đơn vị.

Họp phổ biến tình hình nhiệm vụ của chuyến đi.

Trong chuyến sang lần này, chỉ có mấy đồng chí là cán bộ Hậu cần.

Còn đa số là anh em bị thương nhẹ đi viện về.

Sức khỏe đã bình phục, đã được nghỉ ngơi ở hậu cứ.

Nay tiền phương cần người, số đồng chí này tiếp tục được huy động về đơn vị chiến đấu.

Đồng chí Giã nói về tình hình bên K.

Trung đoàn hiện đã cơ động về khu vực Kraco, Tỉnh PuaSát.

Vì vậy quãng đường đi sẽ dài hơn, phải dừng ngủ đến tại Phnompênh.

Đường đi từ Tỉnh Công Pong ChNăng tới Phua Sát là rất nguy hiểm.

Mọi người lại được phân phát súng, đạn.

Tất cả phải làm nhiệm vụ bảo dưỡng kiểm tra vũ khí.

Khẩu súng tôi mang về mới mấy ngày mà đã " đỏ lên".

Vì thiếu dầu mỡ lau chùi.

Chúng tôi nhanh chóng tháo lắp, lau chùi bảo quản vũ khí.

Xong phần việc tháo lắp bảo quản.

Tôi cầm hộp tiếp đạn, thường là 2 hộp tiếp đạn buộc tráo đầu đuôi.

Như vậy cơ số đạn là được 60 viên.

Đẩy hết đạn ra cẩn thận lau lại đạn và lò so của tiếp đạn.

Hai hộp đạn còn đầy.

Tiếng nẫy khóa của hộp tiếp đạn lắp vào súng nghe tách, đanh gọn.

Nó gần như dấu chấm cho chuyến đi, như tiếng nhắc nhở mọi người trở lại với vị trí.

Trở lại với nhiệm vụ của người lính chiến.

Ba mươi phút sau, anh em tôi lại lên đường.

Long Bình- Tam Hiệp- Biên Hòa, phố xá những dòng người xuôi ngược, lùi dần, xa dần khi xe chúng tôi qua.

Mới đầu trên xe mọi người còn nói cười ầm ĩ.

Được một lúc thì cũng hết chuyện.

Mỗi người suy tư theo những dòng kỷ niệm, theo suy nghĩ của riêng từng người.

Quá trưa xe lại làm thủ tục qua cửa khẩu.

Thủ tục qua trạm sang CPC thì quá đơn giản.

Các anh em ở trạm kiểm soát thái độ khác hẳn với lúc đoàn xe về.

Tươi cười, chúc may mắn, lại còn giơ tay vẫy vẫy biểu cảm thật mặn mà, thật lưu luyến.

Xe tiếp tục chạy qua Ba vét 2- Ba Vét 1.

Rồi qua những địa danh mà chúng tôi đã từng chiến đấu, từng đi qua.

Xe qua phà Niếc Lương tới Phnompenh thì trời cũng đã chiều tối.

Chúng tôi dừng nghỉ ở khu vực cầu Xập để để sáng mai lên đường.

Bảy giờ sáng hôm sau, đoàn xe lại khởi hành.

Hôm nay mọi người không ai suy tư như hôm qua nữa.

Ai cũng hiểu quãng đường hôm nay là phức tạp và nguy hiểm thế nào.

Trên xe đều là những lính chiến đã kinh qua trận mạc.

Mỗi người tự giác ngồi vào những vị trí có lợi nhất khi Pốt phục kích.

Sẵn sáng nổ súng được ngay.

Trên đường đi hôm nay tôi mới để ý kỹ, ngoài khu vực U Đông nơi đoàn tăng bị cháy.

Thi thoảng, lại thấy những xe nhà binh Hồng Hà, Giải phóng hay xe Reo, xe Đốt, cháy trơ khung ở ven đường.

Cho thấy chỗ nào cũng có sự tập kích của Pốt.

Nó như là vật chứng nhắc nớ việc cảnh giác.

Được thông báo là những khu vực này lực lượng Pốt không lớn - nhưng vẫn có những tốp nhỏ lẻ, lẩn quất, có cơ hội là chúng bắn xe cướp hàng hóa.

Mọi người cần phải đề cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu.

Buổi trưa đoàn xe dừng nghỉ ăn cơm tại Công Pong Ch Năng.

Để lên Tới Karco, Tỉnh Pua Sát.

Hiện tại Trung đoàn đóng quân tại đó.

Trong Thị xã những đoàn xe chở gạo, chở trang thiết bị, súng đạn không còn nữa.

Nó đã được chở đến Pua Sát.

Kịp thời cung cấp đạn gạo cho Sư đoàn và các đơn vị bạn tấn công vào Lếch.

Nghe nói bọn Pốt vô cùng cay cú, khi chúng không thể ngăn chặn đoàn xe tiếp tế được lâu hơn.

Nên mấy hôn nay chúng điên cuồng chặn đánh các đoàn xe nhỏ lẻ.

Trên quãng đường này.

Tại điểm tập kết để hành quân của các đơn vị có hơn chục xe.

Sư đoàn điều một đồng chí Trợ lý tác chiến, chỉ huy việc hành quân.

Cùng một số anh em công binh, Trinh sát tăng cường.

Mọi người được hội ý, phổ biến xử lý những tình huống trên đường khi có sự cố.

Các xe không được cách quá xa nhau.

Tình huống có Pót tập kích không phải lực lượng lớn, thì vẫn hành tiến, vừa chiến đấu vừa tiến.

Trường hợp có xe hỏng, thì cả đoàn phải dừng lại tổ chức chiến đấu.

Cầm cự, liên lạc ngay về Trung tâm.

Để điều lực lượng cứu viện, của các đơn vị chốt trên đường.

Quan trọng nhất là không được xé lẻ đội hình, Mạnh xe nào xe ấy chạy.

Hội ý xong, ai nấy đã lại thấy mùi của súng đạn, mùi của chiến tranhđã cận kề đâu đây.

Những nhớ nhung vềhậu cứ, về Việt Nam, về những người thân tan biến.

Mỗi người lẳng lặng lấy thêmmấy quả lựu đạn gài vào thắt lưng.

Hay nhặt thêm hộp tiếp đạn, mà anh em Quânkhí ở trạm dừng chân mang ra, nhét túi quần.

Rồi về xe chuẩn bị lên đường.

Đoàn xe hơn chục chiếc khởi hành.

Tốc độ hành quân đều.

Trên xe cả lực lượng đi yểm trợ có khoảng 4-5 người mỗi xe.

Đa số anh em tôi là có AK súng dài.

Còn nếu cận chiến, thì mỗi người có mấy trái lựu đạn.

Nhưng có lẽ ai cũng cầu mong là đừng có sử dụng đến.

Trong suốt thời chiến tranh Biên giới.

Với tôi, duy nhất là phải sử dụng tới loại vũ khi này một lần.

Dịp đầu của cuộc chiến Biên giới.

Khi nhiệm vụ Đại đội 3 luồn sâu bắt sống Pốt.

Trong một tình huống gay cấn.

Tôi và Dự phải bò lên cứu đồng đội.

Bọn Pốt xông lên khoảng cách rất gần.

Tôi hô Dự dùng lựu đạn.

Mỗi người ném về phía Pốt 2 trái, khi chúng tập kích trực tiếp vào khẩu đội tôi.

Đoàn xe vẫn chạy với tốc độ đều.

Đường không tốt và xe Hồng Hà 3 cầu, chở nặng, cồng kềnh nên không thể đi nhanh.

Đã tới khu vực Rừng Xanh.

Khu vực này anh em lái xe hay gọi là tọa độ lửa.

Hay tọa độ máu, tọa độ chết.

Xác xe ô tô, xe bọc thép cháy nhiều hơn.

Cứ cách khoảng chục km lại có một Trung đội chốt giữ đường.

Nhưng lực lượng chốt như vậy là vẫn mỏng.

Vẫn có các khoảng trống để Pốt chặn đường .

Biết là như vậy nhưng chúng ta cũng không thể làm khác được.

Vì quân ta đâu có nhiều.

Mỗi đầu Đại đội trong Quân đoàn giờ đây còn khoảng 30-40 tay súng.

Vì thế các đơn vị trực thuộc Sư đoàn, Trung đoàn.

Giai đoạn này, cũng không khác lính bộ binh dưới Tiểu đoàn là bao.

Họ đều phải tổ chức chốt giữ thông đường.

Xe vẫn chạy, mọi người căng mắt quan sát 2 bên rừng.

Ai cũng cảm thấy "hơi lạnh" đều phải thu mình ở tư thế nhỏ gọn nhất, thấp nhất.

Chỉ cao hơn thành xe một tý, đủ vừa tầm mắt quan sát.

Tay luôn sẵn trong vòng cò.

Những nòng súng AK chĩa hướng ra ngoài, sẵn sàng nhả đạn.

Cuối khu vực Rừng Xanh, vừa qua được chốt đường mấy Km.

Gần tới chốt tiếp theo.

Lửa khói bùng lên phía bên trái đường.

Rồi ùng-ùng tiếng nổ đầu nòng.

Oàng- oàng tiếng nổ của đạn B.

Chúng nhằm vào chiếc đi đầu.

Đạn không trúng xe, bụi đất lửa khói tung lên bờ ta luy đường.

Tằng- tằng- tằng-tằng, tiếng đạn nhọn vun vút về phía đoàn xe.

Đạn nhon găm vào thùng bệ xe nghe chát chúa.

Các họng súng trên xe của chúng tôi cũng đáp trả rất nhanh vào khu vực rừng cây đang đầy khói, đoàn xe vẫn chạy.

Tôi đang ngồi xe thứ 2.

Liên tiếp điểm xạ hai viên một vào lùm bụi ven rừng, thấp thoáng có mấy bóng áo đen.

Bỗng cảm giác như xe bị đổi hướng, mà đúng thế thật.

Bây giờ nghe rõ tiếng xì của hơi của lốp.

Bánh trước bên lái xe bị trúng đạn.

Chiếc xe chạy thêm được hơn chục mét nữa rồi rê vào mép đường bên trái.

Cả đoàn xe dừng lại.

Mọi người nhẩy ùa xuống.

Lợi dụng xe làm vật che chắn nhả đạn về phía Pốt.

Pằng- Pằng, Pằng- pằng.

Những loạt AK điểm xạ 2 viên một, của những người "lính già" bắn xăm về phía Pốt.

Chiếc xe đi đầu cũng đã phát hiện ra xe sau bị thủng lốp, lùi lại rất nhanh.

Hỏa lực B của anh em đi hộ tống, cũng ùng- oàng mấy quả vào bọn Phục kích.

Khoảng 15phút sau không còn tiếng súng của Pốt.

Anh em tôi vừa cảnh giới, vừa hỗ trợ cho đ/c lái phụ xe thay lốp.

Có lẽ chưa bao giờ lính lái thao tác việc thay lốp, nhanh chóng chínhxác như vậy.

Chỉ khoảng 10phút đã xong.

Tất cả các xe vẫn nổ máy.

Mọi người hôxung phong, cùng xả đạn vào rừng.

Nhưng lại nhanh chóng nhẩy lên xe tiếp tục xảđạn.

Đoàn xe tiếp tục hành tiến trong tiếng súng đánh đuổi Pốt.

Nhanh chóngvượt qua cung đường nguy hiểm.

Đến chiều muộn thì đoàn xe cũng tới được khu vực Trung đoàn bộ.

Lúc này Trung đoàn bộ 273 đã cơ động tới huyện Karacô cách trung tâm huyện khoảng 10km.

Sư đoàn bộ 341 và Trung đoàn 55 pháo binh đang đứng ở khu vực trung tâm Huyện.

Mỗi chuyến xe từ hậu phương VN sang, đều là niềm vui của tất cả mọi người.

Nhất là khu vực Ban Hậu Cần và Trung đoàn bộ.

Vì xe từ Việt Nam qua, tức là có lương thực, thực phẩm, súng đạn và có những món quà quê hương như trà, thuốc.

Còn có cả "xị đế" chính hiệu.

Đặc biệt hơn là có thư từ hậu phương quê nhà, sợi dây gắn kết tình cảm của lính là những lá thư này.

Lính đã có vợ thì được biết tình cảm của bố mẹ, vợ con.

Nhất là những bác "lính già" mới cưới dịp về phép, mới bén hơi vợ được mấy ngày.

Thì háo hức xem "lính bắn bia" đã trúng hay chưa?

Kết quả ra sao?

Hồi hộp như người lính trẻ lần đầu được nằm bắn đạn thật, đợi báo kết quả điểm bắn.

Những lớp lính 77-78-79, thì mong ngóng thư của người yêu, của người bạn gái quê hương, người hàng xóm, cùng chung học đường.

Mà khi chia tay lên đường ra trận, cũng chỉ giám giành cho nhau, tìm nhau ở đôi mắt.

Bẽn lẽn nắm nhanh bàn tay nhau.

Hoặc vội vàng trao cho nhau nụ hôn vụng dại đầu đời v.v..

Trong niềm vui chung Ban Chính Trị.

Nhất là Tiểu ban Dân dịch vận, thì những biểu cảm của niềm vui còn hơn như thế.

Khi tôi về gần lán của Tiểu ban, thì đã nghe tiếng SaChơn, YVơn kêu thật to: Bòong Phú - Bòong Phú mau vinh ( anh Phú trở lại rồi).

Rồi tiếng reo của các chị em trong đội ào lên Bòong phú - Bòong Phú mọi người ùa ra đón tôi.

SaChơn ôm chặt ngang người tôi.

Nhấc bổng lên, vác lên vai cả ba lô, cùng túi xách quà cáp.

Tôi chới với trên không.

YVơn đỡ lấy túi quà cùng khẩu súng AK.

Tôi bị vác chạy vào tới trước lán , mới được hạ xuống.

Thật bất ngờ trước cách thể hiện tình cảm của SaChơn, của mọi người.

Đang loay hoay tháo ba lô ra, vừa đặt ba lô xuống đất.

Thì bất ngờ SaChơn lại lao vào ôm bế tôi.

Rồi cả ba bạn nam, cùng 7-8 cô gái trong đội công tác, xúm vào khênh tôi tung lên, rơi xuống mấy lần như tung một đứa trẻ nhỏ.

Đúng là chưa bào giờ mình được như vậy.

Tôi thật ngại ngùng, trước tình cảm đó của đội công tác bạn.

Tôi mới đi có mấy ngày mà họ làm như là đã cách xa lâu lắm rồi.

Hết màn "tung hứng", định thần định vị lại.

Tôi hỏi anh em những ngày tôi đi vắng có gì thay đổi không?

Tôi vừa hỏi, vừa đảo mắt.

Vì chưa thấy cô The cô Nhị đâu.

BenKia đội trưởng nói bậm bẹ tiếng Việt, pha lẫn tiếng K: Anh Bòng-Phú về VN, ở đây có người nhớ, nhớ, buồn lắm.

Khóc chờrơn, chờrơn ( khóc nhiều nhiều).

Vừa lúc đó thì tôi cũng đã thấy 2 cô The và Nhị đang đứng ở lán hầm gần đó.

Tôi vời mọi người lại.

Cô The thì chào hỏi, còn Nhị thì mắt cứ mở to nhìn tôi đăm đăm, không hỏi được lời nào.

Tôi mở ba lô và túi, lấy quà chia cho mọi người.

Ngồi trò chuyện một lúc.

Rồi tôi về lán của anh Riến, lấy cầm gói chè và mấy gói thuốc lên báo cáo ban Chính trị Trung đoàn.

Đồng chí Đặng Văn Lưa, Chủ nhiệm Chính Trị Trung đoàn pha trà mời tôi uống nước.

Hỏi thăm sơ qua như lấy lệ, về tình hình ở Việt Nam, sức khỏe của Mẹ tôi.

Biểu dương việc tôi đã đi phép đúng hẹn.

Rồi đồng chí Chủ nhiệm nói cho tôi biết, tình hình diễn biến của Trung đoàn, Sư đoàn trong mấy ngày qua.

Thắng lợi nhất là ta đã giải tỏa thông đường 5.

Chuyển được mấy trăm xe gạo, đạn, thuốc, cùng quân trang quân dụng lên tiếp khu vực Pua Sát.

Kịp thời bổ xung đạn gạo cho bộ đội.

Một phần cứu đói, cứu chữa cho dân.

Mà dân ở đây trong rừng ngày một ra đông.

Đồng chí Chủ nhiệm nói tiếp: Trước mắt Trung đoàn 273 làm nhiệm vụ bảo vệ đường, truy quyét địch ở phía Nam Huyện Kracô.

Trung đoàn 270- 266 làm n/v bảo vệ quanh Thị xã Pua Sát cùng Sư đoàn 330.

Toàn Quân đoàn, Sư đoàn và các đơn vị chuẩn bị tiến công cứ điểm Lếch.

Khu vực này của Trung đoàn không thật căng thẳng.

Các Tiểu đoàn vẫn đang lung xục truy quét Pốt.

Truy tìm TàMox, đảm bảo Thông đường.

Nhưng chung quanh thị xã Pua Sát, thì lực lượng Pốt vẫn còn rất mạnh.

Chúng vẫn ngày đêm bao vây, uy hiếp và ý đồ tấn công Pua Sát.

Nhiệm vụ của đội Dân dịch vận, vẫn phải tăng cường đi tuyên truyền trong dân.

Những cụm dân mới từ trong rừng ra.

Đặc biệt khu vực Biển Hồ.

Theo bạn cho biết, là có một Xóc ( xã ) sinh sống ngay trên Biển Hồ.

Họ làm nghề đánh cá.

Đội công tác phải xuống đó, thành lập chính quyền mới.

Phát động quần chúng, kiểm tra tình hình ở đó.

Khi đi thì nhớ phải xin thêm lực lượng bảo vệ.

Vì từ trung tâm Huyện Karco xuống đó xa khoảng 4 - 5 km.

Mình chưa hiểu chắc tình hình ở đó thế nào.

Tôi trở về hầm lán.

Vị trí này ngay cạnh đường 5.

Không có nhà cửa.

Cả khu vực có 1-2 cái nhà sàn, thì cơ quan Trung đoàn tận dụng làm hầm ở đó.

Ban Chính Trị ở ngay khu gò, có nhiều cây Thốt Nốt cao thấp.

Có những cây có nhiều chùm quả to nhỏ như những trái dừa.

Mùi quả chín rụng quanh đó thơm như mùi mít.

Tôi nhớ cô The kể là ở CPC có đặc sản bánh bò, làm bằng bột quả Thốt Nốt.

Như vậy chắc bánh bò ở đây ngon và thơm lắm.

Không hiểu có giống bánh bò hồi bé tôi hay được ăn không?

Sực nhớ ra số thuốc, quà mua cho cô Nhị.

Tôi mang hết số thuốc quà đó sang hầm lán của cô Nhị cô The.

Cô The thì cứ hỏi rối rít chuyến của tôi về VN thế nào?

Mẹ tôi, em tôi có khỏe không v.v..

Đi qua Thủ đô Phnom Pênh có đông vui không?

Cô Nhị thì chào tôi nho nhỏ, biểu cảm bằng ánh mắt long lanh nhìn tôi.

Tôi trả lời cô The và đưa túi quà cho Nhị nói: Anh có mua cho mỗi chị em bộ gương lược đấy, còn thuốc anh mua theo em dặn.

Ngồi chơi với mọi người 1 lúc, rồi tôi đứng lên về lán.

Bắt tay cô The, cô The nói anh Phú về VN Nhị nhớ và hay khóc lắm, em phải dỗ mãi đấy nhé.

Tôi nói vậy à?

Rồi bắt tay cô Nhị, hơi giật mình vì bàn tay Nhị thật nóng, mắt nhìn tôi thật đắm đuối làm tôi thoáng bối rối.

Tôi buông tay Nhị ra và nói:Thôi 2 chị em đi nghỉ đi mai mình lên Huyện Karaco ra Biển Hồ.

Rồi bước nhanhvề chỗ nghỉ.

Nghĩ đến tình cảm của Nhị giành cho tôi.

Tôi cảm thấy thật bấtngờ, khó xử, có vẻ sẽ phiền phức.

Không biết rồi sẽ thế nào đây.

Căn cứ Lếch được đánh giá là cứ điểm vô cùng quan trọng.

Là căn cứ lớn cuối cùng của Trung ương Đảng Khơ Me Đỏ.

Là Tổng hành dich của Tập đoàn phản động Pôn Pốt- Ieng Xê Ri tại đất Căm Pu Chia.

Căn cứ Lếch có chiều sâu, chiều rộng rất lớn.

Rừng núi hiểm trở, đã được xây dựng từ lâu.

Kho tàng dự trữ chiến lược của chúng rất nhiều.

Chúng coi đây là căn cứ địa kháng chiến lâu dài của chúng.

Số lượng đầu Sư đoàn bảo vệ còn nhiều.

Còn có cả lực lượng lính Dù, Sư đoàn 502 dự bị chiến lược, như đã nói ở trên.

Cùng nhiều sắc lính từ các nơi dồn về đây.

Mật độ quân Pốt rất đông.

Chính vì vậy, để chiến dịch tấn công Lếch dành được thắng lợi triệt để.

Bộ chỉ huy liên quân Việt Nam- CPC đã quyết định sử dụng một lực lượng cần thiết lớn.

Để làm nhiệm vụ tiến công vào các mục tiêu chủ yếu của chiến dịch.

Đồng thời sử dụng một lực lượng khác hoạt động phối hợp trên 2 hướng gồm:

- Một lực lượng từ Pai Lin, Tà Xanh, Săm Lốp tiến công vào Lếch.

- Một lực lượng khác tiến công từ biên giới CămPuchia- Thái Lan thuộc tỉnh Kô Công ngược lên hướng Bắc.

Chiến dịch đánh chiếm Lếch được chia thành 2 bước:

- Bước 1: Tập trung lực lượng giải tỏa đường số 5 từ Công Pông Chi Năng đến thị xã Pua Sát.

Mở rộng hành lang vận chuyển tiếp tế cho tỉnh Pua Sát và Tỉnh Bát Tam Boong.

Nhằm đảm bảo hậu cần cho chiến dịch đánh chiếm Lếch.

- Bước 2: Đánh chiếm Lếch, tiêu diệt cơ quan đầu não của địch, bắt tù binh, thu vũ khí, quân trang quân dụng.

Nhất là khai thác để phát hiện các kho tàng, hầm ngầm sâu trong rừng, hoặc chôn trong lòng đất.

- Giải phóng dân, đưa ra khỏi khu vực đó hàng chục vạn dân đang bị chúng kìm kẹp.

Hướng dẫn dân ra vùng giải phóng, Tạo điều kiện thuận lợi cho họ, giúp đỡ để họ trở về quê quán, ổn định cuộc sống mới.

- Sau khi thực hiện thắng lợi việc đánh chiếm Lếch. phải nhanh chóng tạo thế đứng chân tại khu vực này trong mùa mưa đã tới gần.

Xây dựng, củng cố vững chắc địa bàn chiến lược quan trọng này.

- Nhiệm vụ đánh chiếm Lếch được giao chủ công cho sư đoàn 341.

Được tăng cường Trung đoàn 250 + Một Tiểu đoàn xe tăng thiết giáp.

Là lực lượng chủ yếu, tiến công từ hướng Bắc- Tây- Bắc theo trục đường 56.

Từ Pua Sát vào Lếch.

- Sư đoàn 9 ( Thiếu), Sư đoàn 7 ( Thiếu).

Từ hướng Ăm Leng, vượt dãy núi Ca Ra Vanh.

Đánh vào Lếch từ hướng Nam- Tây Nam.

- Khi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341.

Đồng chí Võ Văn Dần, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 nhấn mạnh:"Sư đoàn 341, đã là lực lượng chủ yếu của Quân đoàn trong trận Phước Vinh- Bến Sỏi- Rừng Hòa Hội, Tỉnh Tây Ninh.

Trận đánh đã kết thúc thắng lợi rực rỡ.

Nó không chỉ đã kết thúc cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam của nước ta.

Nó còn là trận đánh kế tiếp, mở đầu cho quân và dân CPC tiến hành tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Pnompenh cùng toàn bộ đất nước CPC.

Lập lên chiến thắng lịch sử ngày 7/1/79.

Bây giờ, Sư đoàn 341 lại được giao nhiệm vụ là chủ lực, chủ yếu trên hướng chủ yếu.

Đánh vào mục tiêu quan trọng, của căn cứ chiến lược cuối cùng của Tập đoàn phản động Pôn Pốt- Ieeng xa Ri.

Nhằm đánh bại hoàn toàn lực lượng chủ lực của địch.

Đó là một vinh dự lớn, nhưng cũng rất nặng nề.

Vì vậy Sư đoàn 341 cần chuẩn bị thật chu đáo.

Quán triệt tư tưởng thật sâu sắc, ý nghĩa và nhiệm vụ cho bộ đội.

Nâng cao ý trí, hiệu suất chiến đấu.

Góp phần cho chiến dịch giành thắng lợi lớn.

Theo kế hoạch đó, cuối tháng 3.

Bộ phận Trinh sát, trực tiếp do Sư đoànTrưởng Hồ Đình Qúy chỉ huy.

Đã đi bằng máy bay lên thẳng, tới Thị trấn HuyệnKaRaCô.

Để điều nghiên và chuẩn bị chiến trường cho nhiệm vụ lớn.

Nằm dưới nền đất, ngửa mặt nhìn trời, ngắm sao.

Tôi ôn lại mấy ngày vừa qua.

Không biết Mẹ tôi đã về Bắc chưa?

Nghĩ thấy thương Mẹ quá.

Mẹ tôi thật vất vả.

Có lẽ không phải chỉ có Mẹ tôi, mà trong những năm qua, người Mẹ nào có con, có các con đang là bộ đội cũng đều vất vả.

Đều phải khóc thầm đêm đêm vì nhớ con, thương con như vậy.

Trên cao, có những vì sao nhấp nháy.

Những cành lá thốt nốt lay động, có những cánh dơi, chao liệng bắt mồi.

Dơi ở đây nhiều mà sao to thế?

Sải cánh của chúng có lẽ tới 2 gang.

Chúng vụt qua, vụt lại thật nhanh như những thoi dệt trong trời đêm mà không hề có tiếng động nào của cánh.

Nghĩ ngợi miên man rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ.

Mệt nên tôi ngủ thật sâu, ngủ như không biết đến trời đất, đến những gì xung quanh nữa.

Đâu đó có tiếng gà gáy vọng lại báo sáng.

Tôi giật mình thức giấc, trời chưa sáng hẳn.

Tôi dậy theo thói quen quan sát chung quanh.

Tôi cảm thấy khỏe khoắn và tỉnh táo lạ thường.

Buổi sớm trời se lạnh, có cả những làn sương trắng mỏng quyện quanh những khóm thốt nốt xa.

Cái lạnh giống như quê mình buổi sớm mùa thu.

Tất cả còn đang tĩnh lặng.

Tôi ngủ say quá, thoáng giật mình nghĩ không biết đêm qua, mọi người gác xách thế nào?

Sáng mờ, mọi người nhanh chóng làm vệ sinh cá nhân.

Đã thấy thoảng trong gió mùi xú uế thải ra.

Việc vệ sinh và đào thải là việc thường tình.

Cũng được quán triệt rất kỹ, là mọi người đều phải sử dụng kỹ thuật " hố mèo" để giữ vệ sinh chung.

Nhưng với lượng người đông tại một khu vực.

Nên cũng khó tránh được những mùi xú uế quen thuộc đó.

Chúng tôi nhanh chóng ăn sáng.

Tôi tập hợp toàn Tiểu ban, phổ biến nhiệm vụ đi nắm tình hình và tuyên truyền tại Biển Hồ.

Nói xuống biển hồ thì ai cũng ồ nên háo hức.

Vì nói đến CPC, là phải nói đến Biển Hồ.

Nếu chưa được đến Biển Hồ, chưa được xuống Xiêm Riệp, thăm đền Ăng Co Thum, Ăng Co Vát.

Thì chưa thể nói được đã hiểu, đã biết về đất nước CPC.

Dịp tháng trước, hành quân từ Phnompenh dọc theo sông TongLêSáp, rồi lên Cpongchinang.

Nơi ấy mới là cửa sông rộng, hạ lưu Biển Hồ.

Còn ở đây từ Kraco đi ra, gần như là gần giữa của Biển Hồ.

Nên ai cũng thích thú.

Mặc dù quãng đường được phổ biến từ đây tới đó cũng khoảng 15km.

Nhắc mọi người về làm công tác chuẩn bị xong.

Tôi sang Ban tham mưu xin thêm 1 tổ 3 đ/c vệ binh cùng đi với đội công tác.

Chúng tôi đi dọc đường 5 vào huyện.

Ở đây bộ đội Trung đoàn pháo cùng các Tiểu đòan trực thuộc rất đông.

Anh em ùa ra trêu đội công tác rất vui.

Cô Nhị có lẽ là người vui nhất.

Cứ vừa đi vừa chuyện trò ríu rít, rồi có lúc lại tung tăng nhẩy chân sáo như là trẻ nhỏ.

Chạy hái những bông hoa dại ven đường.

Tới Huyện KaRaCo, chúng tôi rẽ phải ra Biển Hồ.

Đường số 5 chạy dọc theo phía Tây Biển Hồ.

Chỗ xa chỗ gần.

Nhưng nơi đây là gần Biển Hồ nhất.

Từ đây ra tới mép nước chỉ khoảng 4 đến 5 km.

Tùy theo mùa nước.

Con đường đất chạy thẳng ra tới biển.

Hai bên đường thi thoảng có căn nhà sàn nhỏ, rừng cây rậm rạp không cao.

Thoải dần ra mép nước, gần tới đã thấy mùi hôi thối, tanh nồng của cá.

Gió lồng lộng rồi Biển Hồ mênh mông hiện ra phía trước.

Đúng là biển.

Không nhìn được bờ bên kia.

Có khoảng mấy chục con thuyền đánh cá, đang neo đậu cạnh nhau.

Trên các thuyền nào cũng treo cờ 5 ngọn tháp.

Tới mép nước có mấy người du kích khoác súng từ dưới thuyền bước lên.

Tôi nói nhanh với mọi người, chắc là du kích xã.

Nhưng vẫn ra hiệu nhóm vệ binh đi chậm lại cảnh giới.

Tôi và mọi người đến gặp 2 du kích.

Tôi giới thiệu đoàn công tác và hỏi thăm tình hình Biển Hồ và chính quyền ở đây.

Cô The vừa dịch xong, hai người du kích ồ lên vui vẻ, dẫn chúng tôi xuống qua mấy thuyền.

Rồi đến cái thuyền to nhất, nó giống như cái bè, cũng có ngọn cờ to và cao nhất.

Trong nhà mấy người đứng dậy Còn tôi cùng Cô Nhị, Cô The làm việc chuyện trò ngay tại thuyền nhà của chính quyền xã.

Bàcon cả các em nhỏ, từ các thuyền tề tịu về thuyền trung tậm.

Thuyền này, đúnglà cái bè thật rộng.

Mấy chục người ngồi họp nghe chúng tôi đọc về cương lĩnhđường lối CM.

Cùng tội ác của tập đoàn phản động Pôn Pốt- Ieeng Xa Ri.

Nhắc nhởbà con không được tiếp tay cho bọn Pốt.

Nếu thấy hiện tượng có bọn Pốt phải báongay cho bộ đội v.v...

Sau màn chào hỏi, giới thiệu.

Được biết đây là một xã chuyên làm nghề đánh cá trên biển.

Hiện tại mới quy tụ được gần 50 hộ.

Đang có mặt neo đậu tại đây khoảng hơn 30 hộ.

Số còn lại đang đánh cá, neo đậu gần đây.

Tôi nói về nhiệm vụ của đội công tác và nói để anh em đi thăm tất cả bà con.

Sau đó mời tất cả bà con về nói chuyện về chính sách của MTDT giải phóng CPC.

Tình hình của bọn phản động Ponpốt- Iengxari.

Tôi nói nhanh với anh em: Cứ 2 người một nhóm đi tới từng thuyền để chuyện trò dân vận.

Nhưng phải nắm bắt xem có đối tượng nghi vấn, vũ khí cất dấu v.v

Cuộc họp vừa xong, cũng đã khoảng hơn 12 giờ.

Mọi người chuẩn bị về.

Thì mấy người cán bộ xã không nghe, cứ giữ mọi người ở lại.

Đang lưỡng lự thì đã thấy một số cô gái, người bê, người đội cơm, cá nướng, rồi cả gà kho đến cùng những ấm nước thốt nốt.

Rổi cứ bắt đội công tác cùng ăn liên hoan.

Tôi có ý e ngại từ chối.

Nhưng họ vồn vã quá, nhiệt tình quá.

Cộng với anh em cũng đã đói mệt.

Với lại thấy cũng không có dấu hiệu gì nguy hiểm.

Nên đồng ý cho mọi người cùng ăn.

Tôi phân công mấy anh em vừa ăn, nhưng vẫn phải cảnh giới không được chủ quan.

Mọi người vừa ăn vừa uống, chuyện trò cũng rất rôm rả.

Uống được một, hai bát nước thốt nốt.

Đã thấy mấy người đem nhạc cụ ra.

Trống nổi lên bập bùng, nhạc nổi lên réo rắc mời gọi cuốn hút.

Những cô gái, cùng nhiều người dân đã đứng lên nhún nhẩy theo tiếng đàn, tiếng trống.

Cười đùa rúc rích thật vui .

Sóng lớn thuyền bè dập dềnh chao nghiêng làm mọi người như say.

Những người dân trông đen đúa nhếch nhác, bỗng chốc như bị nhập hồn, nhập đồng vào những điệu nhạc tình tứ Dân tộc."

Đạm Soai Chăn Ty..." rồi nhiều bản trữ tình khác nữa.

Thật khó hiểu, khó tả, khó có thể cắt nghĩa nổi.

Tập quán và tính cách của một dân tộc.

Nhìn, nghe những điệu múa và bản nhạc họ mới chuyển, tôi giật mình vì tính văn minh của họ.

Không còn những làn điệu Dân tộc Lăm Vông truyền thống nữa.

Mà họ cũng đã chuyển sang những điệu Van, điệu Rum Ba, điệu Tăng Gô và cả Solau hiện đại cổ điển Quốc Tế.

Giai điệu vẫn vậy.

Chát chát xình, chat chat bùm.

Nhưng động tác của người đã được " hợp lý hóa" Dân tộc.

Họ nhẩy nhạc hiện đại nhưng lại rất dân tộc.

Nếu những bản nhạc này là từng cặp nam- nữ phải cầm tay nhau, ôm nhau.

Hoặc ôm cứng nhau như solou.

Nhưng ở đây họ lại vẫn không động chạm vào nhau.

Như điệu Rum Ba, thì nam nữ cùng tiến 3 bước lùi 3 bước giáp mặt vào nhau rồi lại lùi ba bước.

Tăng Gô thì 4 bước, bạn nhẩy đều tiến lùi đúng nhạc chứ không được phép chạm vào nhau thật hấp dẫn, thật cuốn hút.

Tôi thoáng nghĩ về nhẩy múa, dân đây có lẽ văn minh hơn người Việt mình chăng?

Người Việt mình ngoài 1 số Dân tộc cũng có phong cách nhẩy, múa mừng vui riêng.

Còn người Kinh thì có lẽ không có được tập tục vui ca múa nhảy nhót phổ thông thế này.

Trừ những biểu diễn văn nghệ hay hội làng v.v.....Đang miên man suy nghĩ, thì hai cô gái mặc xà rông hoa đỏ chạy vào, lôi tay tôi bằng được.

Bắt tôi cùng anh em hòa nhập vào vòng múa.

Tôi ngượng ngập miễn cưỡng cùng bước, cùng múa với mọi người, không thật tự nhiên.

Ngang qua chỗ anh Riến tôi ghé tai nói nhanh: Nhắc anh em cảnh giới và nói mấy anh em thay nhau ăn cơm.

Cóđến hơn 2giờ chiều, tiệc vui mới tàn.

Đoàn công tác chia tay với Xã, với mọingười ra về.

Lúc này trên tay anh chị em ngoài súng còn có thêm cả những con cátươi và cá khô do bà con biếu tặng.

Mọi người nói cười thật vui vẻ.

Có lẽ đâylà lần đầu tiên trong đời.

Tôi được múa được dự tiệc vui với dân CPC ngay trênBiển Hồ.

Đây cũng là kỷ niệm rất ấn tượng, sống mãi trong cuộc đời người línhtình nguyện Quốc Tế của tôi.

Toàn đội công tác về đến huyện Kracô.

Lúc này khoảng độ 3 giờ chiều.

Có mấy đồng chí bộ đội trông cũng đã cứng tuổi, trong đó có 1 đồng chí gầy gò mang balô vẫy chúng tôi.

Mọi người hỏi chúng tôi là có phải đội công tác của Trung đoàn 273 không?

Chúng tôi trả lời là đúng rồi.

Thì một đồng chí nói: Đây là anh Đặng Văn Tố, được điều về làm Trung đoàn Trưởng thay anh Hợi.

Sẽ cùng đi với chúng tôi về Trung đoàn.

Tôi và mọi người chào hỏi Thủ trưởng Trung đoàn mới.

Trung đoàn Trưởng Tố trông gầy gò.

Ngoại hình không thật hấp dẫn hoành tráng như Trung đoàn trưởng Măng đã chuyển đi.

Hay như Trung đoàn trưởng Hợi đương nhiệm.

Không có dáng thư sinh như Trung đoàn Trưởng Bút.

Dáng ông khắc khổ có vẻ khó gần.

Nhưng Thủ trưởng Tố có cặp mắt rất sắc, đôi mắt nhanh nhẹn và thật sáng, cùng với những câu nói, câu hỏi rất vui nhưng có vẻ hơi kiêu, coi thường mọi chuyện.

Tôi thoáng nghĩ: Ông này có vể rất có bản lĩnh đây.

Trung đoàn trưởng vừa đi vừa hỏi han chúng tôi đủ thứ về Trung đoàn.

Vừa đi được một quãng, thì có xe Hồng Hà xuôi xuống.

Chúng tôi vẫy xe đi nhờ về Trung đoàn.

Tôi dẫn Trung đoàn Trưởng mới về khu vực chỉ huy Trung đoàn rồi xin phép về lán.

Những ngày sau, đội hình của Sư đoàn dịch chuyển.

Sở chỉ huy Trung đoàn 273 dịch lên dừng chân tại ngay trung tâm Huyện Karaco.

Chúng tôi liên tục phải đi tuyên truyền các Phum Xã quanh đó.

Các Tiểu đoàn vẫn truy quyét Pốt ở xung quanh và bảo vệ thong đường 5.

Đi lại nhiều, mấy ngày sau tôi bị cảm sốt.

Người nóng bừng bừng mà rất lạnh.

Ban Dân dịch vận ở đây được ở trên mấy nhà sàn to tại Huyện.

Tôi nằm đó người nóng hầm hập đội công tác sang thăm.

YVơn y tá nói: Tôi bị cảm nắng, mọi người nhao nhao nói: Cạo gió cho Bòng Phú là khỏi ngay.

Tôi sợ nhất cạo gió, bởi rất đau.

Vì người tôi gầy trơ ra toàn xương.

Nếu cởi quần áo dài ra rất ngượng.

Tôi không đồng ý cho mọi người cạo gió.

Thấy vậy, đội công tác cả nam nữ ồ vào giữ chân giữ tay, lột hết quần áo ngoài tôi ra.

Benkia đội trưởng thì nói: Bòng Phú đừng mắc cỡ, để chữa khỏi bệnh mà.

Đến nước này thì tôi đành chịu.

Cũng không thể giẫy dụa nổi, đành phải nằm im, phơi bộ khung xương cho chị em cạo gió.

Cứ nghĩ đến hai cái chân tôi nhỏ như hai cái que tăm, trong cái quần đùi của lính dài gần gối, cùng với bộ xương sườn trơ ra trước các cô gái, làm tôi thật ngượng.

Có lẽ đây cũng là kỷ niệm đáng nhớ tại Huyện Karakô.

Tôi được 7 cô gái cạo gió chữa cảm.

Lúc này các đơn vị vẫn đang truy quét, điều nghiên Lếch.

Bảo vệ thị xã PuaSát.

Hướng thị xã, nghe nói xung quanh lực lượng Pốt vẫn còn đông.

Tại huyện Karacô thì tương đối ổn nhưng rộng ra thì Pốt vẫn còn hoạt động nhỏ lẻ nhiều.

Thời kỳ này được ở đây thực phẩm tươi sống, cá ở Biển Hồ đưa lên nhiều.

Thi thoảng đã có những trận mưa lớn. trời đất đỡ nóng hơn, anh em trong đội công tác bạn đã thật sự hòa nhập với bộ đội.

Họ rất vui khi được cùng chung sống công tác với bộ đội Việt.

Có một việc nhỏ, làm cho tôi được "tăng chân kính" trước mắt đội công tác đó là: Một hôm đội công tác được người dân cho khoảng 1kg bóng cá khô.

Nghe nói bóng cá rất quý.

Mấy người trong đội công tác mình cùng bạn bỏ ra nướng ăn.

Lúc tôi về thấy mọi người mồm miệng đen xì, mồm nhai trệu trạo, vừa nhai vừa uống cùng nước thốt nốt.

Tôi hỏi mọi người ăn gì?

Mọi người kể lại việc dân cho bóng cá, nói quý lắm mà ăn không được.

Luộc cũng không ăn được mà nướng cũng vậy, nhai trệu trạo chẳng có mùi vị gì.

Nhìn mọi người đang nhai, đang ăn thật ngộ nghĩnh.

Tôi nói làm như mọi người không ăn được đâu.

Mọi người nhao nhao nói là làm, chế biến thế nào thì ăn được?

Tôi nói để Bòng Phú dạy cách chế biến.

Tôi nghĩ lại, ngày xưa ở quê.

Khi Mẹ tôi mua thịt lợn về, có bì thì thường lọc bì ra đem luột, rồi phơi xâu vào một xâu, treo ở cạnh bếp.

Khi đã được nhiều.

Khi cần nấu ăn thì mang xuống phải rang.

Mà phải cho cát vào rang như rang ngô.

Bóng lợn sẽ phồng lên chín xốp vàng như bánh đa nướng.

Trước khi xào nấu, phải ngâm tẩy bằng gừng, cùng cả rượu trắng nữa, thì bì lợn mới không bị gây hôi.

Chắc bóng cá cũng phải làm như vậy.

Tôi bèn nói mọi người làm như chỉ dẫn.

Rồi tôi lại xui mọi người lên ban 5 xin thịt hộp về cho vào xào nấu.

Qủa như rằng được món bóng cá thực thụ ăn vô cùng ngon.

Đây là việc nhỏ,nhưng anh em bạn cùng cả anh em mình phục tôi "sát đất" và nói sao cái gì tôicũng biết.

Đánh hơi thấy các lực lượng của Quân đoàn 4 cùng các đơn vị phối thuộc chuẩn bị tiến công Lếch.

Bọn Pốt cay cú, bèn huy động lực lượng lớn, hòng chủ động tiến công phá kế hoạch của ta.

Ngày 26/4 chúng dùng 3 Sư đoàn.

Mỗi Sư đoàn của Pốt lúc này cũng còn khoảng 1000 tên.

Có xe tăng, Thiết giáp, pháo binh.

Tổ chức đánh chiếm thị xã Puasat từ 4 hướng..

Bộ chỉ huy nhận định: Địch đánh chiếm Puasat là thời cơ cho ta tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch.

Chúng dùng lực lượng càng lớn, càng nhiều, thì càng có lợi cho ta.

Vì cứ điểm Lếch lực lượng Pốt sẽ giảm đi.

Trong khi giờ G tiến công Lếch là ngày N+3.

Các đơn vị đang làm nhiệm vụ chuẩn bị xuất quân.

Thì phải đối phó với lực lượng tiến công của Pốt.

Nên cũng gặp nhiều khó khăn.

Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ an toàn cho Thị xã.

Nơi tập trung các cơ quan của Tỉnh ủy, UBND Tỉnh.

Là nơi trung tâm văn hóa xã hội.

Là đầu mối giao thông của Tỉnh Puasat.

Trong lúc này, cơ số đạn của các đơn vị chỉ được hơn 1 cơ số.

Chưa có được kho đạn gạo dự trữ.

Vẫn đang phải tiếp tục trông chờ vào đoàn xe gạo đạn tiếp tế của Trung đoàn 273 từ Karaco lên.

Hướng Trung đoàn 270, ngày "N" của địch, trùng với ngày " N" của Trung đoàn đánh chiếm phía trước, làm bàn đạp.

Hai giờ sáng ngày 27/4, mũi luồn sâu của ta và của địch gặp nhau.

Trung đoàn Trưởng Lê Hải Anh báo cáo tình hình với Sư đoàn.

Sư đoàn Trưởng Hồ Đình Qúy, sau khi trao đổi với cơ quan Tác chiến.

Lệnh cho Trung đoàn 270 dừng nhiệm vụ tiến công đánh địch làm bàn đạp.

Chuyển ngay chiến thuật chốt chặn phản kích.

Tiêu diệt ngay cánh quân này của Pốt.

Sau đó dùng một lực lượng chuyển sang ứng cứu hỗ trợ cho Trung đoàn 266, để nhằm phân tán lực lượng địch ở hướng Trung đoàn 266 đang bị áp lực của Pốt tương đối mạnh.

Nhận lệnh xong, đồng chí Lê hải Anh chỉ thị cho Tiểu đoàn 5, để lại 2 Đại đội chốt chặn, cầm chân mũi luồn sâu của Pốt ngay trên cánh đồng trống.

Dùng toàn bộ Tiểu đoàn 4, vòng rộng hướng trái.

Tiểu đoàn 6 vòng hướng phải.

Hai Đại đội của Tiểu đoàn 5, cùng các đơn vị trực thuộc ở hướng chính diện chuẩn bị tiến công.

Các Tiểu đoàn nhanh chóng di chuyển, vào được vị trí tiền nhập, thì trời cũng đã vừa sáng.

Đúng 5h30p, Trung đoàn Trưởng Lê Hải Anh ra lệnh công kích.

Lực lượng địch ở đây khoảng 400 tên.

Lúc 2h sáng chúng đã đụng lực lượng của ta.

Biết không giữ được yếu tố bí mật nữa, nên bọn Pốt cũng không đợi đến giờ G mà chúng cũng đã phát lệnh nổ súng vào bộ đội ta ngay trong đêm.

Đại đội 5 và Đại đội 7 của Tiểu đoàn 5 vừa đánh trả, vừa cầm chân địch, vừa lùi về khu vực đường tầu.

Khi chiếm được vị trí lợi hại là đường tầu.

Thì cũng là lúc các hướng đánh của ta được lệnh tiến công.

Hai Đại đội bắt đầu phản công.

Bọn địch rơi vào thế bất lợi ở ngoài cánh đồng.

Chúng vừa chống đỡ vừa lùi dần về phía đường 56.

Đến 7h sáng, thì chúng lùi đúng vào vị trí đón lõng của Tiểu đoàn 4 và 6.

Các đơn vị đồng loạt nổ súng, nhanh chóng xung phong tiêu diệt địch .

Sau hơn một giờ chiến đấu, Trung đoàn 18 Sư đoàn 104 của Pốt đã bị xóa sổ. số sống sót thì chạy tản vào rừng phía căn cứ Lếch.

Súng, đạn của chúng vất ngổn ngang.

Anh em ta đang thiếu đạn, lại được Pốt bổ xung thêm thật quý.

Như vậy, hướng đánh Thị xã Puasat từ phía Tây đã bị bẻ gẫy.

Thừa thắng xốc tới.

Tiểu đoàn 5 đượclệnh di chuyển, quay sang hướng Bắc chi viện cho Tiểu đoàn CPC của bạn đangchiến đấu, đang gặp khó khăn.

Còn lại các đơn vị vào chiếm lĩnh địa bàn làm bànđạp theo phương án.\

Ở hướng Trung đoàn 266.

Bọn Pốt tập trung lực lượng lớn đánh vào các chốt của Tiểu đoàn 9 và Đại đội 18 thông tin.

Đại đội phó Trần Mạnh Tăng, cùng một Tiểu đội xuất kích ra lập chốt râu tôm để đánh địch từ xa.

Bọn Pốt bỏ chạy, nhưng khi thấy lực lượng của ta mỏng.

Bọn Pốt lại hò hét xung phong.

Đại đội phó Tăng cùng các chiến sỹ vẫn kiên cường đánh địch.

Trực tiếp Đại đội phó Tăng cùng 2 chiến sỹ tiền nhập lên gần khẩu đại liên của Pốt đang điên cuồng nhả đạn về phía ta.

Đại đội phó Tăng dùng lựu đạn ném liên tiếp về cụm hỏa lực của Pốt, dập tắt được khẩu đại liên này.

Nhưng bọn Pốt cũng đã phát hiện ra tổ xuất kích.

Chúng tập trung các loại súng về đó.

Đ/c Trần Mạnh Tăng đã trúng đạn hy sinh.

Trận chiến nơi đây ngày càng khốc liệt.

Khẩu đại liên được tăng cường của ta lại bị ngưng vì 2 xạ thủ trúng đạn.

Trung đội phó Trần Xuân Đoài lao đến thay thế.

Anh nhoài cao hẳn người lên khỏi thành công sự, nhằm vào phía Pốt kéo cò liên tục.

Trước sức mạnh của ổ đề kháng này bọn pốt lại bị đánh bật ra xa.

Chúng rút ra xa, sau đó gọi pháo bắn vào trận địa chốt, cùng những trận mưa của B40- B41 cùng ĐKZ.

Chúng lại điên cuồng xông lên hòng chiếm chốt của Đại đội 18 thông tin.

Cuộc chiến ngày càng ác liệt.

Bộ đội ta đã anh dũng chiến đấu.

Nhưng lúc này lựu đạn đã hết.

Đạn AK cũng đã cạn.

Các loại súng B40-B41 cũng không còn quả đạn nào.

Số anh em thương vong tăng dần.

Bọn Pốt ào lên chiếm được 1 phần chốt của Đại đội 18.

Toàn bộ chốt của đại đội bị uy hiếp nghiêm trọng, các chốt vòng ngoài bị co cụm dần, trước sức tiến công điên cuồng của Pốt.

Ở hướng Tiểu đoàn 9.

Trận chiến đấu giữ chốt cũng vô cùng gay go ác liệt.

Anh em mình kiên cường chiến đấu giữ chốt suốt đêm.

Bộ đội ta bị thương ngày càng nhiều.

Đạn cũng không còn nhiều, nhưng cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 9 kiên cường bẻ gẫy các trận tiến công của Pốt.

Nhưng đến 10h sáng thì một số chốt của Tiểu đoàn 9 cũng đã bị Pốt chiếm.

Hướng Tiểu đoàn 8.

Bọn Pốt dùng 3 Tiểu đoàn tiến công.

Chúng phối hợp cả xe tăng, từ ngoài xa nã đạn vào các vị trí chốt.

Những trận chiến vô cùng khốc liệt đã diễn ra, song Tiểu đoàn 8 vẫn đang giữ được các vị trí quan trọng.

Hướng Tiểu đoàn 7 cũng bị khoảng 1 Trung đoàn Pốt tiến công.

Tiểu đoàn 7 cũng kiên cường chống trả giữ được trận địa, tiêu diệt được rất nhiều Pốt, bẻ gẫy được các đợt xung phong của Pốt.

Trận chiến của Trung đoàn 266 dai dẳng đã sang ngày thứ hai.

Nhưng một điều rất nguy hiểm là các loại đạn chiến đấu, đạn hỏa lực đã cạn.

Nếu tình hình không cải thiện thì thực là một nguy cơ lớn.

Trong lúc đó, đoàn xe trở đạn và gạo do Trung đoàn 273 hộ tống đang bị chặn ở khu vực Chà Cáp.

Đã 2 ngày chiến đấu liên tục, bộ đội đã rất mệt.

Quân số hao hụt nhiều.

Trung đoàn 270 phải san sẻ đạn cho Trung đoàn 266, dùng 1 Tiểu đoàn mở đường tiếp tế cho trung đoàn 266.

Tình hình thật xấu bất lợi cho ta.

Cùng thời gian đó, Trung đoàn pháo 55 đang phải đi trinh sát phát triển trận địa để phục vụ tiến công Lếch.

Đồng chí Nguyễn Quang Hiển Tiểu đoàn Trưởng, phân công đồng chí Hồng Trợ lý Tác chiến cùng một nhóm Trinh sát pháo đi làm nhiệm vụ trên.

Nhưng đồng chí Nguyễn văn Cẩn Tiểu đoàn phó nói: Để tôi trực tiếp cùng anh em đi làm trận địa.

Sau mấy phút chuẩn bị.

Tiểu đoàn phó mang thêm khẩu AK báng gấp dẫn đầu đội hình Trinh sát.

Đoàn Trinh sát đi được khoảng 30 Phút thì hướng đó tiếng súng rộ lên.

Có cả tiếng nổ của đạn b40 nữa.

Rất có thể nhóm Trinh sát gặp địch.

Tiểu đoàn Trưởng Hiển cử luôn một số anh em đi tiếp ứng.

Trận chiến diễn ra không lâu, nhưng Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Cẩn bị hy sinh, 2 đồng chí khác bị thương ngay từ những loạt đạn đầu tiên của Pốt.

Nhóm Trinh sát đã đi đúng vào vị trí của Pốt phục kích.

Thật đáng tiếc.

Như vậy là thị xã Pua Sát lúc này đang bị Pốt bao vậy.

Một số Phum quanhthị xã bị Pốt đốt, chúng cướp phá bắt đi một số trâu bò cùng thanh niên trongPhum.

Dân và chính quyền trong thị xã đã tỏ ra hoang mang sợ hãi.

Nhưng họ cũngkhông biết chay đi đâu, cứ co cụm từng nhóm rồi đào hầm hố ẩn nấp.

Tình hình chiến sự khu vực Thị xã có chiều hướng xấu.

Trong lúc đó giờ "G" đánh chiếm cứ điểm Lếch còn 30 giờ đồng hồ nữa.

Giờ "G" không thay đổi, trong khi Trung đoàn 266, là lực lượng được giao nhiệm vụ đánh mũi chủ yếu vào Lếch, lại đang gặp khó khăn.

Trước tình hình đó Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 341 họp khẩn cấp đề ra biện phát khắc phục như sau:

-Động viên tất cả lực lượng phục vụ ở phía sau, tăng cường chi viện cho Trung đoàn 266.

Kiên quyết đánh bật bọn Pốt ra khỏi Thị xã, những vùng lân cận giành lại các chốt đã mất.

-Nhiệm vụ này phải hoàn thành trong đêm ngày 27/4, để Trung đoàn 266 có thời gian chuẩn bị bàn đạp bước vào chiếm địch.

- Bằng mọi cách đưa được đoàn xe chở gạo đạn lên thị xã Pua Sát càng sớm càng tốt.

- Có phương án bổ sung nhiệm vụ cho các Trung đoàn theo tình huống mới.

Sau cuộc họp các đồng chí Sỹ quan, Trợ lý của Sư đoàn, Trung đoàn .

Lao xuống ngay các Đại đội, Tiểu đoàn của Trung đoàn 266.

Động viện và cùng chiến đấu với các đơn vị, các chiến sỹ phục vụ ở phía sau cũng được bổ sung ngay cho phía trước.

Được sự tiếp sức của lực lượng này, khí thế tinh thần của anh em 266 phấn chấn hẳn lên.

Ngay trong ngày 27/4, các Tiểu đoàn tổ chức cho bộ đội bí mật tiến công các chốt đang bị Pốt chiếm giữ.

Những trận chiến giành lại chốt diễn ra trong đêm cũng không kém phần ác liệt.

Trung đoàn 266 đã giành lại được toàn bộ số chốt bị mất.

Ở hướng Tiểu đoàn 8, khẩu đội ĐKZ của Khẩu đội Trưởng Nguyễn Hữu Thọ, lợi dụng địa hình, địa vật.

Bí mật vòng ra khỏi trận địa, bất ngờ nổ súng bắn cháy 2 xe tăng PT85 của Pốt.

Xe tăng cháy, địch bắt đầu rối loạn.

Lợi dụng thời cơ địch rối loạn.

Tiểu đoàn 8 xuất kích khỏi chốt, đồng loạt tiến công địch.

Bọn Pốt bất ngờ trước sức tiến công dũng mãnh của Tiểu đoàn 8, đã rút chạy vào rừng.

Hướng Tiểu đoàn 7, sau 6 lần xung phong tấn công mà không chiếm được chốt.

Trước ý chí kiên cường của Cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 7.

Bọn Pốt cũng phải tháo chạy vào rừng vất lại rất nhiều xác chết.

Thừa thắng, anh em Tiểu đoàn 7 xuất kích ngắn truy kích, thu dọn súng đạn của chúng trang bị thêm cho mình.

Như vậy đến đêm ngày 27/4, toàn bộ lực lượng Pốt tiến công hòng chiếm Thị xã Pua Sát đã bị đánh thiệt hại nặng, hàng trăm tên bị đền tội.

Hai chiếc xe tăng bị bắn cháy.

Chúng phải chạy tản vào rừng.

Âm mưu chiếm Thị xã đã bị thất bại nặng nề.

Bọn Pốt đã bị giáng một đòn chí tử, trong âm mưu đánh chiếm thị xã Pua Sát hòng phá kế hoạch tiến công Lếch của ta.

Sáng ngày 28/4/79 Sư đoàn điều động 4 xe bọc thép, 2 xe tăng T54 cùng 4 xe pháo 37 ly.

Cùng Tiểu đoàn công binh, từ thị xã Pua Sát cơ động về Chà Cáp đón đoàn xe chở gạo đạn.

Trực tiếp do Sư đoàn phó Lê Văn Cúc chỉ huy cùng Trung đoàn 273 đánh đuổi Pốt bu bám dọc đường 5.

Bảo vệ đoàn xe chở gạo đạn, đến 12h trưa, đã đưa được đoàn xe chở gạo đạn lên thị xã Pua Sát an toàn.

Kịp thời tiếp tế trang bị cho các đơn vị.

Không có thời giờ nghỉ ngơi.

Mọi người lại bắt tay vào nhiệm vụ chuẩn bịtiến công Lếch.

Như vậy kế hoạch đánh chiếm Lếch vẫn không có gì thay đổi.Trung đoàn 273 cũng đã cơ động đội hình lên gần Thị xã Pua sát theo.

Giờ "G"tiến công căn cứ Lếch đã cận kề.

Không hiểu có phải do bàn tay, hay cái vía của bẩy cô gái cao gió cho tôi.

Hay là do bát cháo hành có nhiều rau tía tô của Cô The, Cô Nhị nấu ép tôi phải ăn thật nóng.

Hay do sức sống của trai trẻ mà tôi bình phục rất nhanh.

Sau 2 ngày tôi đã lại khỏe, lại tiếp tục cùng với anh em đi làm công tác.

Trong lúc ốm đau, cô Nhị càng thể hiện chăm sốc tôi nhiều hơn.

Rất thích, song lại cũng rất ngại.

Trong lúc ốm được chăm sóc ai mà không thích.

Song ở đây, với nhiệm vụ của lính chiến Tình nguyện Quốc Tế thì không được phép có những tình cảm yêu thương khác giới như vậy.

Trong khi tình cảm cô Nhị ngày càng thể hiện quan tâm, thể hiện quý mến tôi một cách " lộ liễu" .

Nếu cứ đà này thì sẽ không có lợi, không có tốt cho tôi.

Vì rất dễ bị anh em và cấp trên hiểu sai.

Tôi nghĩ ngợi phải nói thế nào, hay có cách gì đó cho Nhị hiểu nhưng chưa có điều kiện.

Trung đoàn tiếp tục hành quân lên Pua Sát.

Theo kế hoạch, Trung đoàn 273 là lực lượng bọc lót sau Trung đoàn 266.

Có nhiệm vụ truy quét đánh địch ở hướng Đông Nam Lếch.

Trước mắt, tổ chức áp tải đoàn xe chở gạo, đạn tiếp tế cho Pua Sát.

Bọn Pốt bu bám đường 5, phục kích, chặn xe dai như đỉa đói.

Dọc đường 5 toàn là rừng và các Phum xóc hoang vắng.

Chúng chia ra rất nhiều tốp nhỏ để chặn đường.

Thậm chí chúng trốn, ẩn ngay trong các bờ bụi ven đường như đội quân cảm tử, để phục sẵn, đợi xe đến là làm mấy quả B40-B41 rồi bỏ chạy.

Hoặc khi lộ thì chúng chống cự đến cùng trước khi đền tội.

Cái kiểu đánh du kích của chúng đã áp dụng rất thành công thời chế độ Lon- Lon.

Giờ đây chúng dùng những thủ đoạn đó, cách đánh đó để áp dụng với chúng ta.

Đúng là chúng cũng gây cho chúng ta nhiều khó khăn vất vả.

Các lực lượng truy quét cứ phải" chà đi sát lại", lùng sục cả các bụi ven rừng, đốt cả những bụi cây gai rậm, phòng Pốt trốn trong đó.

Để đảm bảo thật an toàn cho xe.

Nhưng chính vì như vậy, nên việc chuyển quân lương cũng bị chậm trễ.

Cho đến khi gặp được đoàn xe của Sư đoàn phó Cúc chỉ huy về đón, hộ tống thì đoàn xe mới cơ động nhanh được về Pua Sát.

Chiến dịch tiến công Lếch bắt đầu.

Ngày 28/4/79 lúc 18h Phó Tư Lệnh Binh đoàn Cửu Long Bùi Cát Vũ, giao nhiệm vu cho Sư đoàn 341 qua máy thông tin vô tuyến như sau:

Sư đoàn 341 dùng Trung đoàn 266, với sự chi viện tối đa của xe tăng, xe thiết giáp, pháo binh.

Kết hợp với vây, luồn phía sau, hai bên sườn.

Dùng lực lượng mạnh đột kích vào tuyến phòng ngự của địch ở trước mặt.

Rồi đánh nhanh, thọc nhanh vào Lếch theo trục đường 56.

Trung đoàn 270 luồn sâu vào đánh Lếch từ hướng Tây- Tây Nam

Trung đoàn 273 theo trục đường sắt đánh vào Lếch từ hướng Đông- Đông Nam.

Trước mắt trung đoàn 273 cùng Trung đoàn 250, tổ chức đánh các lực lượng của Pốt đang bu bám quanh Thị xã Pua Sát.

Bảo đảm cho Trung đoàn 266-270 rảnh tay để đánh vào Lếch.

Mặc dù những ngày qua, các đơn vị phải liên tục cơ động, liên tục quần đảo chiến đấu.

Đói, mệt, thức đêm, căng thẳng triền miên.

Chưa có một ngày nghỉ ngơi.

Nhưng khi mọi người được phổ biến Lếch là căn cứ lớn cuối cùng của Tập đoàn phản động Pon Pốt- Ieeng xa Ri.

Đây là trận đánh vô cùng quan trọng và nhiều ý nghĩa.

Có thể đánh thắng trận này, lập lại hòa bình cùng cuộc sống ấm no cho Đất Trời Chùa Tháp.

Cũng là báo hiệu kết thúc của một chế độ độc tài khát máu.

Từ ngày Sư đoàn thành lập rất hay được gắn với những sự kiện, những mốc lịch sử của Đất nước của Dân tộc.

Như mốc lịch sử Hiệp định Pa Ri kết thúc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc.

Kết thúc sự can thiệp của đế quốc Mỹ tại miền Nam.

Khi Sư đoàn từ Vĩ tuyến 17 cơ động vào Nam chiến đấu cũng tham chiến những trận đánh lớn cuối cùng như Dầu Tiếng, Chơn Thành, Xuân Lộc, Trảng Bom mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng.

Rồi Biên Hòa, Sài Gòn.

Kết thúc cuộc chiến tranh dài 20 năm.

Mang lại hòa bình và thống nhất cho Đất nước, cho Dân Tộc.

Rồi tiếp đến là chiến trường BGTN và kết thức là trận thắng Rừng Hòa Hội Tây Ninh, kết thúc cuộc chiến tranh BGTN do bọn phản động Pon Pốt gây ra.

Rồi tiến đến là cuộc tiến công giải phóng Phnom Pênh tiêu diệt tận hang ổ của bọn chúng.

Đã lâu, giờ đây Sư đoàn mới lại được tập trung đánh chiếm 1 cứ điểm.Phải chăng đây là trận đánh, cũng là một cái mốc quan trọng để kết thúc cuộcchiến này.

Nên cán bộ chiến sỹ ai cũng đều rất hồ hởi.

Mọi người bắt tay vàochuẩn bị những cần thiết cho trận chiến mới rất nhiều ý nghĩa này.

Nhận lệnh xong, Sư đoàn Trưởng Hồ Đình Qúy hội ý nhanh với Chính uỷ Quế cùng cơ quan Tham Mưu, Tác chiến, thống nhất phương án.

Rồi giao lại nhiệm vụ cho các Trung đoàn.

Sở chỉ huy Sư đoàn đóng tại Thị xã Pua Sát nhộn nhịp hẳn lên.

Các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần.

Tất cả từ các trợ lý, cho đến chiến sỹ kỹ thuật, phục vụ.

Ai cũng răm rắp khẩn trương bắt tay vào chiến dịch lớn.

Đây là chiến dịch lớn, toàn Sư đoàn tăng cường, tập trung đánh vào một cứ điểm. phải chăng đây là trận đánh cuối cùng?

Cứ điểm cuối cùng của Pốt.

Mọi người đều thấy được giá trị, thấy được ý nghĩa lớn lao của từng trận đánh.

Lịch sử đã giao cho họ những trọng trách, chiến đấu trong những trận then chốt cực kỳ quan trọng.

Song cũng chính vì tính chất quan trọng của trận đánh mà tính chất ác liệt càng cao.

Sự hy sinh đổ máu cho chiến thắng là điều đương nhiên phải có.

Ai cũng xác định được.

Nhưng sao trước mỗi trận đánh lớn, ai cũng cảm thấy bồi hồi với bao cảm xúc.

Biết bao đồng đội đã ngã xuống đã hy sinh để hôm nay, mới đến được trận chiến này.

Rồi cũng ngay trận chiến cuối cùng này, trong khúc nhạc khải hoàn ca của ngày chiến thắng, ai còn?

Ai mất? v.v...

Song nhiệm vụ của người chiến sỹ đã quen với chiến chinh, quen với trận mạc, thì những suy nghĩ đó chỉ thoáng qua.

Cao hơn hết là danh dự trách nhiệm và nhiệm vụ phải hoàn thành.

Tất cả mọi người không ai được phép so đo tính toán, phải quyết tâm giành thắng lợi.

Mọi người khẩn trương bắt tay vào nhiệm vụ của chiến dịch.

Tại sở chỉ huy Sư đoàn ai nấy đều rất bận rộn.

Lúc này trong Thị xã đã tương đối yên tĩnh.

Sư đoàn Trưởng vẫn đang trao đổi với Chính ủy, cùng cơ quan Tham mưu về những giả thiết tình huống, cùng những diễn biến có thể xẩy ra.

Mọi người hồi hộp theo dõi đường đi của 4 Trung đoàn bộ binh ( thêm Trung đoàn 250 tăng cường).

Các sỹ quan đồ bản, nối dài thêm đường tiến, vị trí của sở chỉ huy 4 Trung đoàn.

Vị trí càng dài, càng xa Thị xã bao nhiêu, thì quãng đường đến trung tâm Lếch càng được rút ngắn bấy nhiêu.

Đêm, lúc này đã là một giờ sáng ngày "N" ( 29/4/79).

Các trung đoàn đã báo về sở chỉ huy, Tiểu đoàn 1-3- 5-6 đã bắt đầu tách đội hình luồn sâu độc lập theo hướng tấn công.

Trời sáng dần.

Tiếng súng bỗng rộ lên ở hướng Tây đường 56.

Hướng của Tiểu đoàn 9.

Sư đoàn trưởng trực tiếp cầm máy gọi điện cho Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn 266 Lê Tiến Hạt hỏi nắm tình hình.

Trung đoàn trưởng Hạt báo cáo.

Hiện Tiểu đoàn 9 vẫn còn tại vị trí bàn đạp.

Sư đoàn trưởng không giữ được bình tĩnh vì theo kế hoạch hợp đồng, Tiểu đoàn 9 phải rời bàn đạp bước vào tiền nhập lúc 3 h sáng.

Thế này là chậm rồi!

Giọng ông gằn xuống bực tức.

Sao bây giờ "nó" còn ởđó?

"Nó" phải rời bàn đạp lúc 3 giờ sáng cơ mà?

Cho xuất kích ngay, Ông quátvào trong máy.

Ông thả máy bộ đàm, giọng vẫn bực bội: Chậm mất rồi!

Thực ra Tiểu đoàn 9 đã mấy lần xuất kích.

Nhưng không thể bí mật vượt qua được bọn Pốt đang bu bám trước mặt.

Thậm chí lúc gần sáng ta và Pốt đã chạm nhau nổ súng.

Tiểu đoàn 9 đành phải dậm chân tại chỗ.

Song từ Tiểu đoàn trưởng cho đến mọi Cán bộ, Chiến sỹ, ai cũng như ngồi trên đống lửa.

Trực tiếp Trinh sát cùng đồng chí trợ lý Tác chiến "xâm, xọc", tìm các ngả đường, đều không có kẽ hở để thoát lên được.

Tiểu đoàn 9 đã báo cáo về cho Trung đoàn - Trung đoàn trưởng Lê Tiến Hạt cũng sốt ruột không kém.

Một Tiểu đoàn là một hướng bị chậm trễ, rất có thể sẽ hệ lụy, dẫn tới nhiệm vụ lớn, mẻ lưới lớn bị thủng.

Song chưa thể có cách nào khắc phục.

Năm giờ sáng, trước thúc ép của Sư đoàn, Trung đoàn.

Tiểu đoàn 9 mới xuất kích khỏi vị trí.

Với quyết tâm tiến quân gặp địch là đánh, mở đường mà đi.

Nhưng khi trời sáng rõ, thì đội hình Tiểu đoàn 9 gần như phơi hết ra cách đồng trống.

Ùng- oàng, ùng- oàng - cùng với các tiếng nổ của B40-B41-ĐKZ.

Là các loại đạn đại liên, AK, xối xả vào đội hình Tiểu đoàn.

Ngay từ những loạt đạn đầu tiên.

Đã có rất nhiều chiến sỹ trúng đạn, hy sinh và bị thương.

Tin Tiểu đoàn 9 bị chặn đánh được báo về ngay cho Sư đoàn.

Cân nhắc tình huống, như vậy, diễn biến và kết quả của việc điều binh không đạt như ý định.

Song không thể chần chừ, vì trận đánh còn liên quan đến toàn chiến dịch.

Sư đoàn Trưởng Hồ Đình Quý phải ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 cùng với xe tăng, thiết giáp.

Xuất kích sớm hơn dự kiến, để hỗ trợ cho Tiểu đoàn 9.

Tiểu đoàn 7 xốc tới vũ bão.

Cùng với sức mạnh của các xe tăng, xe bọc thép M113.

Các loại hỏa lực của ta dồn dập nhả đạn về phía Pốt.

Cứ sau tiếng ùng- oàng của đại bác trên xe tăng hoặc DKZ trên xe bọc thép, là những xác đich, những ụ phòng thủ của Pốt tung lên.

Các chiến sỹ bộ binh cũng ào ào xung phong.

Sau một hồi chống chọi.

Bọn địch phía trước Tiểu đoàn 9 không chịu nổi sức ép công phá mạnh của Tiểu đoàn 7.

Chúng vỡ trận tháo chạy.

Được sự tiếp ứng của Tiểu đoàn 7.

Tiểu đoàn 9 xốc lại đội hình, củng cố lực lượng và bắt đầu tiến công theo phương án.

Cùng lúc Tiểu đoàn 8 đã đánh chiếm được khu vực đường sắt, đang phát triển xuống phía Nam.

Thừa thắng, Tiểu đoàn 7 cùng xe tăng, thiết giáp nâng tốc độ tiến công.

Nhưng đến khu vực Phum Rô Lếp thì phải tạm dừng vì bọn Pốt rút chạy, nhưng đã kịp phá chiếc cầu gỗ trên đường 56.

Xe Tăng, thiết giáp không thể vượt qua được.

Như vậy mũi xung kích tiên phong theo trục đường 56 đã bị khựng lại.

Việc chậm trễ này, đã là thời cơ cho các cơ quan đầu não của Pốt có thời gian tháo chạy.

Đến 10h30' ngày 29/4/1979 điện của Quân đoàn thông báo: "Địch ở Lếch đã tháo chạy".

Các đơn vị tổ chức truy kích.

Nhậnđược lệnh, Sư đoàn trưởng ra lệnh ngay cho Tiểu đoàn 7-8 của Trung đoàn 266,chuyển từ tiến công sang tiến công truykích.

Tiểu đoàn 9 ở lại bảo vệ tăng, thiết giáp.

Cùng với công binh khắc phụccầu.

Nếu xong thì tiếp tục tổ chức xuất kích truy đuổi quân địch theo đội hình.

Cùng lúc hướng đánh của Trung đoàn 270, bọn Pốt cũng phá đường và chốt chặn chống quân ta.

Khi Trung đoàn khắc phục xong đường và tiêu diệt được bọn chốt chặn.

Thì bọn Pốt trong căn cứ Lếch cũng đã tháo chạy được một số lớn.

Ở hướng Trung đoàn 273, cũng xẩy ra tình huống tương tự.

Mặc dù mới cơ động từ Karaco lên, chưa kịp làm quen, chưa kịp điều nghiên địa bàn.

Nhưng để bắt nhịp cùng các đơn vị.

Ngay từ lúc 3 giờ sáng ngày 29/4, cũng đã tổ chức luồn sâu.

Hai Tiểu đoàn 1 + 3 luồn sâu về phía Tây- Tây Nam Lếch.

Tiểu đoàn 2 cùng khối trực thuộc tiến công hướng chính diện.

Đến sáng thì lực lượng của Trung đoàn cũng bị phơi ra ở giữa đồng trồng.

Bọn Pốt chốt chặn cũng điên cuồng nhả đạn vào đội hỉnh tiến công của Trung đoàn.

Trận chiến khốc liệt cũng đã diễn ra.

Việc tiến quân cũng gặp nhiều khó khăn vì phải chiến đấu giải quyết cụn địch chốt chăn.

Nên việc di chuyển vào sâu Lếch bị chậm Trung đoàn phải liên tiếp tổ chức tiến công tiêu diệt diệt từng cụm địch.

Tới 16h ngày 29/4 tới 16h ngày 29/4 toàn đội hình của Trung đoàn cùng với các đơn vị bạn tiến vào giải phóng Lếch.

Như vậy ở hướng đánh của Sư đoàn 341, tốc độ tiến quân chậm do gặp phải sự kháng cự của các lực lượng chốt chặn cản đường bảo vệ căn cứ.

Chỉ có hướng Sư đoàn 9 - 7 tiến công vào Lếch là không gặp phải " vật cản" nên 2 đơn vị này đã vào được Lếch sớm.

Nhưng cũng không kịp thời, bọn Pốt đã tháo chạy đại bộ phận lúc 10h30 sáng 29/4.

Sáng ngày 30/4 các đơn vị tổ chức truy đuổi Pốt về hướng Tây.

Trung đoàn 270 đã bắt liên lạc được với Sư đoàn 31 Thuộc QĐ 3.

Sau một hồi quân ta nổ súng vào quân mình.

Các lực lượng đã hội quân tại Lếch rồi cùng tỏa ra truy kích.

Cũng trong ngày này, đã giải phóng được hàng vạn dân trong khu vực.

Được nhân dân và một số tù hàng binh chỉ đường.

Chúng ta đã phát hiện và thu được rất nhiều kho tàng vũ khí, quân trang, quân dụng.

Lực lượng hậu cần dự trữ chiến lược, chiến tranh lâu dài của Pốt.

Được chôn dấu trong lòng đất, trong rừng sâu.

Niềm vui chiến thắng ập đến.

Hàng vạn dân được giải phóng lũ lượt kéo nhau ra ngoài căn cứ Lếch để trở về với quê hương làng quán cũ.

Nhìn đoàn người gầy gò, ốm yếu, bẩn thỉu, như không còn sức sống đang hồi hương.

Họ còn sợ sệt lấm lét chưa tin được hạnh phúc và tự do đã đến.

Họ nhìn chúng tôi cảm ơn!

Cảm ơn rồi vụt đi rất nhanh.

Nhóm dân dịch vận chia làm 3 tổ, liên tục phát loa, kêu gọi phát truyền đơn và chỉ đường cho đoàn người trở ra.

Ai nấy đều mệt nhoài, vì đã mấy ngày dòng hành quân, liên tục chiến đấu, từ hôm 28 đến nay.

Hầu như không ai được nghỉ, được ngủ, vì phải bắt nhịp chiến dịch.

Nhìn đoàn người qua, chúng tôi thật vui, thật cảm động.

Không biết lúc này, trong lòng những người dân kia nghĩ gì?

Họ chưa dám vui, chưa dám tin là cuộc sống mới mà họ được hưởng từ giờ phút này.

Họ, tất cả mọi người, Cả dân tộc Khơ Me đã được hồi sinh từ ngày 7 tháng 1 năm 79.

Mãi hôm nay, đã đến lượt họ có được vinh hạnh đấy niềm vui đấy.

Những giọt nước mắt chẩy dài, lăn từ hốc mắt trũng sâu, trên khuôn mặt hốc hác gầy, vì thiếu ăn, thiếu ngủ cùng sự mệt nhọc của những người LÍNH TÌNH NGUYỆN.

Nhưng đây lại là những giọt nước mắt của ngày vui, của niềm vui bất tận.

Chúng tôi vẫn khóc, những người lính Quân tình nguyện Việt Nam không tiếc công sức, không tiếc máu xương vì bạn, vì Dân tộc vì Đất nước Bạn đang khóc vì hạnh phúc của dân bạn đã được giải phóng.

Khóc vì bọn đao phủ thần chết đã bị thua, bị đền tội.

Chiến dịch tiến công Lếch thắng lợi.

Các lực lượng chủ lực của Pốt cùng với Trung ương Đảng Khơ Me Đỏ, với tham vọng xây dựng Lếch làm căn cứ kháng chiến lâu dài đã bị tan vỡ.

Bọn Pốt đã thất bại cay đắng.

Chiến thắng này tiếp tục mở đầu cho sự tan rã từng mảng lớn.

Dẫn đến những thất bại liên tiếp của địch là.

Đây là tiếng trống, tiếng chuông, tiếng kèn, báo hiệu những ngày mới, kỷ nguyên mới của đất CămPuChia trên đã hồi sinh.

Song!

Đậycũng chưa phải là dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh này.

Bọn Chóp Bu, Bộ TổngTham mưu của Pốt.

Bọn chỉ huy ác gian.

Vẫn kịp chạy thoát.

Chúng vẫn được quanthấy Bành Trưởng phương Bắc hà hơi, tiếp sức.

Vì vậy cuộc chiến này còn kéodài.

Căn cứ Lếch bị tiêu diệt, lực lượng chủ lực của Pốt mất một chỗ đứng, một căn cứ quan trọng.

Song với âm mưu thâm độc của bọn Bành Trướng phương Bắc.

Chúng đã thỏa hiệp được với Thái Lan cho bọn Pốt trú ngụ dọc biên giới.

Bọn Pốt tổ chức thành lập các căn cứ tại vùng biên giới Thái Lan- Cămphuchia.

Thậm chí cơ quan Trung ương của chúng ở hẳn sang bên đất Thái Lan.

Bọn Bành Trướng lại tiếp tế vũ khí, súng đạn và đặc biệt là rất nhiều mìn, các loại mìn.

Chúng rải khắp nơi.

Hòng ngăn sự đột nhập tiễu trừ của quân ta.

Chúng cung cấp lương thực, hà hơi tiếp sức, để duy trì cái thây ma sắp chết, sống gượng để tiếp tục" chiến tranh du kích trường kỳ".

Chống phá Cách mạng.

Chúng rút vào rừng, trong những khu rừng sâu hẻo lánh.

Lập các căn cứ nhỏ, lực lượng nhỏ.

Phát động lính, phát động số dân mà chúng đang khống chế được tăng gia sản xuất.

Cùng bắt lính, bắt cả những em bé, những phụ nữ tham gia quân đội.

Chúng tổ chức như những toán phỉ hung hãn, sẵn sàng bắn giết tất cả mọi người, mọi thứ.

Dân theo chúng không còn là bao nhiêu.

Nhưng ai có ý không theo chúng, bị chúng nghi ngờ, là chúng tự do, tự ý bắn giết.

Lại một cuộc thanh trừng dân thật dã man.

Tội ác của bọn Pốt ngày càng trồng chất cao hơn núi.

Các đơn vị, Trung đoàn được lệnh truy quét tàn quân Pốt đang ẩn láu tản mát khắp nơi trong rừng.

Lực lượng lớn của chúng không còn, song các đơn vị của ta, thường xuyên phải chạm súng với những tốp lính Pốt đang cùng đường, đang đói khát.

Thậm chí tại những vùng sâu, anh em ta đã gặp những cảnh chúng chết khát, thậm chí chúng ăn thịt lẫn cả nhau để duy trì sự sống.

Có nhiều khi gặp những thằng đang sắp chết vì đói đang tìm đường ra.

Kiểm tra trong các túi các ba lô của chúng, có cả những phần thịt đồng loại, đồng đội chúng mang theo để làm thức ăn.

Để duy trì sự sống thật khủng khiếp.

Đấy là lúc đã sang tới khoảng tháng sáu, tháng bẩy năm 79.

Còn lúc này, căn cứ Lếch mới bị đánh vỡ, mới đầu tháng 5.

Bọn tàn quân Pốt còn tương đối khỏe mạnh.

Chúng bị tan rã từng tốp, có súng hoặc không dám mang theo súng, tìm đường ra hàng.

Trong số đó, có cả những phụ nữ trẻ, là TNXP của Pốt.

Cũng có nhiều đứa bế cả những đứa trẻ 1- 2 tuổi quay ra.

Đặc biệt là bọn này trong người đứa nào cũng có vàng, có đứa có rất nhiều vàng.

Chúng khai là lấy được trong các kho trong rừng.

Số người này khi gặp được anh em bộ đội mình, thì đều được đối xử tử tế và được giải thích, được cấp cho lương thực.

Rồi cụm họ từng tốp chỉ đường ra ngoài để về quê.

Một hôm anh em dưới đơn vị dẫn giải một thằng Pốt lên.

Nói là : Thằng này trong ba lô có rất nhiều vàng, kim cương.

Sau khi kiểm tra chúng tôi thấy đúng như vậy ( lần trước tôi viết nhầm là trong căn cứ AmLeng).

Tên Pốt này cũngkhai là lấy được ở kho trong rừng.

Vàng bạc bọn Pốt thu của dân ở Phnompenh dồn gom về.

Anh em đội công tác nói với tôi là bòng phú ơi: Bích lòo.

Tức là:" anh phú ơi kim cương tốt lắm".

Thôi nhìn số nhẫn vàng Tây hoặc là nhẫn kim loại trắng, gắn đá quý rất phân vân không biết thật giả, cũng không biết nên xử lý thế nào?

Tôi bèn dẫn tên Pốt cùng ba lô đá quý lên báo với Ban chỉ huy Trung đoàn.

Các thủ trưởng sau khi xem xong nói đồ dởm chứ làm gì có kim cương đâu mà nhiều thế?

Thôi!

Thả cho nó đi.

Chúng tôi dẫn tên Pốt ra ngoài rừng.

Sa Chơn thì cứ khẳng định là bích tốt lắm.

Ý nói là kim cương thật, rất tốt, rất quý.

Tôi phân vân mãi.

Nửa muốn thu cho anh em đội công tác, nhưng rồi lại không muốn thu vì chính sách.

Thấy tôi có ý không thu, Sa Chơn bèn xin tôi cho lấy một ít.

Tôi đồng ý nhưng không hiểu sao tôi lại nói là lấy mấy cái thôi.

Rồi phóng thích tên Pốt cùng số vàng bạc đá quý đó.

Nhưng những ngày sau này và cho đến bây giờ tôi mới thấy cái chưa đúngtrong cách xử lý lúc đó của mình.

Nhất là sau những ngày đó, Anh em đội côngtác mang một cái nhẫn ra đổi cho bà con ở PuaSát cứ một hạt đá 3ly2 thì được 2chỉ vàng.

Trong khi một cái nhẫn gắn tới 3- 5 hạt như vậy.

Gía như lúc đó vẫncho tên Pốt kia đi, nhưng thu lại toàn bộ hoặc một nửa số kim loại quý đó chođội công tác thì tốt biết bao.

Sau khi các lực lượng của QĐ4 - QĐ3 đã đánh tan các căn cứ Tà Xanh - Săm Lốp, đã hội quân ở khu vực căn cứ Lếch.

Các căn cứ lớn của Pốt bị tiêu diệt.

Nhưng bọn đầu xỏ của tập đoàn Khơ Me Đỏ vẫn kịp chạy vượt sang biên giới phía Tây và cả bên đất Thái Lan.

Các lực lượng quân sự của chúng, chạy tán loạn trong các khu rừng trùng trùng điệp điệp, của dãy CaRaVanh và các khu rừng từ Thái Lan tới Pua Sát - Bát Tam Băng.

Các đơn vị Quân đội của ta được chia theo vùng tọa độ chà đi soát lại.

Để tiêu diệt các lực lượng phân tán đó của Pốt.

Đặc biệt là trong thời gian này, các Quân đoàn 4-3 vẫn chỉ thị cho từng đơn vị tìm săn lùng, tiêu diệt, hoặc bắt sống Tà Mốc.

Không hiểu đây là một đòn chính trị của các nhà lãnh đạo Quân sự, Chính trị thế nào?

Là đòn đánh vào Tà Mốc hay là "mẹo" để tăng ý chí của lính chiến?

Mà cả địa bàn hàng ngàn Km2 đều bị truy quét, bới tung để săn lùng Tà Mốc.

Từ khi có mệnh lệnh quyết tâm săn lùng Tà Mốc, cũng phải nói là tinh thần bộ đội trong các đơn vị khí thế hẳn lên.

Nhất là sau khi các đơn vị được phổ biến về chiến thắng của Quân đoàn 3.

Đã đánh tan căn cứ Tà Xanh - Săm Lốp.

Thu được hàng chục tấn vàng, cả dấu, cả hộ chiếu của các thành viên Đảng Khơ Me Đỏ.

Cùng rất nhiều phương tiện chiến tranh với các tài liệu của Pốt v.v..

Bọn Pốt tuy bị tan vỡ, nhưng ở vùng rừng núi Pua Sát, các tàn quân của các Sư đoàn 201-502-104-232-260-460 cùng nhiều quân địa phương khác còn khá đông.

Các lực lượng này do bộ chỉ huy quân khu Tây Nam chỉ huy.

Đứng đầu là tên đao phủ Tà Mốc - Bí thư thứ 2 của Đảng Khơ Me Đỏ.

Những năm này, chúng ta và ngay dư luận thế giới chỉ hay nhắc tới lãnh tụ Đảng Pôn Pốt - IeengXxari chứ ít biết đến Tà Mốc.

Nhưng thực ra Tà Mốc là một trong những tên trung thành nhất theo chủ ngĩa Mao-ít tại CPC.

Trong những năm chiến tranh, các nước Đông Dương còn đang đoàn kết chống Mỹ.

Tà Mốc là đại diện cho Đảng Khơ Me Đỏ chịu trách nhiệm tiếp nhận hàng viện trợ của nhân dân Việt Nam gửi tặng nhân dân CPC.

Khi nhận hàng thì Tà Mốc vẫn rất hoan hỷ "cảm ơn các đồng chí bạn Việt Nam đã vượt bom đạn mang hàng đến cho CM- CPC".

Nhưng sau này chúng ta mới biết, các chiến sỹ làm nhiệm vụ giao hàng, vận chuyển hàng hóa, sau khi giao xong.

Khi quay về thì Tà Mốc bố trí cho quân Khơ Me Đỏ đón đường, phục kích giết hại.

Ngày 10/5/1975, với cương vị chính ủy Quân khu Tây- Nam.

Trực tiếp Tà Mốc chỉ huy hai Sư đoàn Khơ Me Đỏ đánh vào biên giới của ta và các hòn đảo độc lập phía Tây Nam của ta chúng cướp phá, giết hại biết bao dân lành.

Đặc biệt chúng đã dùng một Tiểu đoàn Khơ Me Đỏ bí mật đổ bộ lên đảo ThổChu giết hại cả làng dân chài hơn 500 người bằng các thủ đoạn man rợ nhất.Những tư liệu này sau này tại lớp học về tình hình CPC ở Phnom Pênh tôi mớiđược biết về tội ác tày Trời mà tên đồ tể Tà Mốc với nhân dân Việt Nam.

Sau những vụ trực tiếp chỉ huy lính tàn sát đẫm máu nhân ta dọc biên giới Tây Nam.

Tà Mốc được điều về làm Tổng Tham mưu Trưởng quân đội Khơ Me Đỏ.

Càng lên chức vụ cao, Tà Mốc lại càng có nhiều điều kiện thực hiện những dã tâm tàn ác hơn, thâm độc hơn.

Tà Mốc cùng cố vấn Trung Quốc trực tiếp xây dựng Sư đoàn số 1 của Pốt điển hình theo luận thuyết: "Muốn làm cách mạng triệt để, phải cắt bỏ tình cảm gia đình, quan hệ gia đình".

Chúng xây dựng, huấn luyện Sư đoàn này làm điển hình.

Lính chỉ được mặc quần đùi (xà lỏn), mình trần, ăn bờ ở bụi, không doanh trại, rèn luyện cuộc sống theo kiểu hoang dã.

Đánh giết người không bằng súng mà bằng dụng cụ thô sơ.

Trực tiếp Tà Mốc dẫn Sư đoàn này đi đàn áp và giết người tại các Tỉnh giáp biên giới Việt Nam như: Svay Riêng, Công pông Chàm, Kan Đan.

Là đối tượng cần phải tẩy não, cần phải thanh trừng.

Chúng lùa hết dân ở đây đi về hướng Tây CPC.

Vì theo quan điểm của chúng, dân ở đây bao năm sống gần người Việt Nam.

Có ảnh hưởng tốt tới Việt Nam.

Nên phải đảo vùng định cư, ai không đi, ai không nghe, là chúng dùng búa, dùng rìu đập chết. có biết bao gia đình, biết bao làng xã ở các Tỉnh trên và ngay tại Thủ đô Phnôm Pênh bị tàn sát như vậy.

Có rất nhiều cánh đồng chết.

Tức là cánh đồng nơi có những cuộc tàn sát người.

Những hộp sọ bị vỡ, cùng những bộ xương, từ trẻ em đến người lớn, cho thấy có lễ cả đoàn người bị hành hạ, bị hành quyết tại đây.

Các đơn vị của quân tình nguyện Việt Nam, lại tiếp tục cuộc chiến săn lùng Tà Mốc và các lực lượng tàn quân của chúng.

Một trong những địa điểm phải săn lùng bọn tàn quân đang ẩn náu với số lượng lớn là thung lũng Aray.

Thung lũng Aray nằm trong dãy núi Ca Ra Vanh trùng trùng, điệp điệp.

Cách thị trấn Lếch khoảng 60 km về phía Tây Nam.

Thung lũng là 1 vùng rộng nằm sâu và giữa các điểm cao 500 - 1000m.

Ở đây được bao bọc bởi khu rừng già nhiều tầng, có những con suối chia cắt.

Trong khi rút chạy khỏi Lếch, bọn Pốt cũng đã kịp lùa được 1 số dân và thanh niên vào đây làm căn cứ.

Chúng bắt lính Pốt và số dân này tăng gia sản xuất.

Đất đai ở đây rất màu mỡ nên các loại cây được gieo trồng mọc rất nhanh tốt.

Từ đây chúng lập những đường dây về biên giới Thái Lan nhận vũ khí súng đạn, mìn ....v.v.

Với ý định dựng nơi đây là một căn cứ kháng chiến lâu dài.

Cũng từ đây chúng tung các lực lượng đi cướp bóc, bắn giết các Phum Xóc chung quanh.

Bộ chỉ huy Sư đoàn giao nhiệm vụ cho hai Trung đoàn 266-270 điều nghiên để tiến công phá căn cứ Aray này.

Trong thời gian này, Trung đoàn 273 vẫn làm nhiệm vụ truy quyét ở khu vực ga Rô Mia đi vào.

Trung đoàn lấy Ga Rô Mia làm hậu cứ hậu cần trung chuyển.

Còn các Tiểu đoàn, Trung đoàn bộ phát triển lùng sục truy quyét tại các mục tiêu xa.

Vì vậy việc vận chuyển cung cấp lương thực, thực phẩm, vận chuyển từ hậu cứ Trung đoàn cho các đơn vị truy quét.

Vận chuyển Thương binh, Tử sỹ từ các đơn vị về gặp rất nhiều khó khăn.

Vì thường là chỉ dùng một xe ôtô chuyên chở, cùng mấy chiến sỹ bảo vệ.

Đường vận chuyển toàn đi trong rừng, rất hay bị các tốp lính tàn quân của Pốt chặn đường tập kích.

Trong một lần chở gạo đạn cho Tiểu đoàn 1.

Anh Hùng lái xe, bạn tôi cũng đã bị bọn Pốt phục kích như vậy.

Chúng phóng mấy quả b40 rồi bắn AK.

Rất may là b40 không trúng xe.

Nhưng đạn thẳng đã làm hai chiến sỹ bị thương.

Xe ôtô bị thủng lốp.

Hùng cùng mấy anh em áp tải, vừa chiến đấu bảo vệ xe, bảo vệ thương binh.

Nhưng bọn Pốt ào lên đông, anh em phải vừa đánh vừa rút về hướng Trung đoàn.

Trong lúc đó Tiểu đoàn 1 cũng đã đoán được xe tiếp tế bị phục.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn văn Phô cho Đại đội 2 đi chi viện.

Tới nơi thì bọn Pốt đã cướp đi được một số gạo cùng đạn.

Cũng từ lần đó tự nhiên tôi cứ lo cho Hùng.

Nhất là khi biết Hùng vẫn phải lái xe đi tiếp tế lẻ như vậy.

Cứ tưởng đưa Hùng lên được lái xe là xa được mũi tên hòn đạn.

Nhưng thựctế trong chiến trường bây giờ, thì lái xe cấp Trung đoàn cũng nguy hiểm chẳngkém gì là lính dưới các đơn vị chiến đấu.

Trong những ngày này, toàn Trung đoàn đang mải mê truy quét địch và truy tìm Tà mốc.

Tôi được báo đi tập huấn về tình hình dân địch vận tại Quân đoàn ở Thủ đô Phnompenh khoảng 7 ngày.

Những ngày qua, anh em trong đội công tác thật sự đoàn kết quý mến nhau như anh em ruột thịt.

Với cô Nhị thì ngày càng tỏ ra quý mến, quan tâm đến tôi nhiều hơn.

Điều này làm cho tôi rất lo, vì sợ đơn vị hiểu lầm.

Được dịp về Phnompenh học tập.

Tôi bèn nghĩ ra một kế.

Bèn gọi anh Hùng đến để bàn nội dung là: Khi tôi đi được khoảng 5 ngày, tức là ngày gần về, thì anh Hùng sang chơi và thông báo với Cô Nhị cùng mọi người là tôi đã lấy vợ ở Phnompenh.

Nếu cô Nhị hỏi lấy ai thì anh cứ nói là lấy vợ là cháu ông Hên Xom Rin ở đoàn văn công CPC.

Mục đích là làm cho cô Nhị thấy tôi đã lấy vợ, thì không còn tơ tưởng gì với tôi nữa.

Không làm khó cho tôi nữa.

Nhưng cái mẹo này không ngờ lại phản tác dụng, lại nguy hiểm, tý nữa thì báo hại cho tôi.

Tôi sẽ kể với các bạn ở dưới đây.

Sau khi chào mọi người.

Tôi theo xe của Trung đoàn về PuaSat rồi cùng xe của Sư đoàn về Phnompenh.

Được phổ biến là mọi người khi đi vẫn phải trang bị như đi chiến đấu vì dọc đường 5 về thủ đô vẫn có nhiều chỗ bị Pốt tập kích.

Như vậy tôi lại được rong ruổi theo đường 5 từ PuaSát đến Phnompenh.

Rất may cho đoàn xe của chúng tôi trên đường về đến Phnompenh an toàn.

Không bị dính trận tập kích nào của Pốt.

Xe chở chúng tôi vào khu vực chỉ huy Quân đoàn đóng ở rìa ngoại ô Thủ đô gọi là làng XiaNúc.

Ở đây nhà cửa bỏ hoang rất nhiều.

Mọi người dân chưa được về ở.

Nghe kể khu vực này ngày xưa chỉ dành cho họ hàng dòng tộc của vua.

Tức là dòng dõi quý tộc nên các tiện nghi còn lại, cho thấy rất sang trọng của chủ nhân một thời kỳ đỉnh cao của hưng thịnh.

Còn bây giờ sau mấy năm không có người ở, thì mọi thứ mốc meo, dột nát xuống cấp.

Các ngôi nhà thường bị đào xới ngay tại nền nhà, hoặc ngoài sân vườn.

Chắc chủ nhân cũ về, hoặc ai đó đào bới tìm của cải chôn dấu.

Đang sống cảnh rừng núi, đói khát, căng thẳng, mệt nhọc ta ta địch địch.

Được về đây, sống trong cảnh thanh bình đầy đủ điện đèn sang trưng.

Không phải lo, phải nghĩ ngợi gì về súng đạn hay lo Pốt tập kích.

Vui nhàn nhã, Tôi không khỏi có những chạnh lòng so sánh nghĩ tới anh em ở Trung đoàn đang phải gối đất nằm sương nơi rừng núi.

Ngoài giờ học tập thì mọi người chơi cờ, chơi bài.

Có cả bàn bóng bàn các Sỹ quan nhiều tuổi thường chơi.

Tôi xem đánh bóng và cũng xin chơi.

Thấy tôi chơi bóng được, giữ bóng tốt cho các Thủ trưởng, mọi người rất thích.

Hỏi thăm ở đơn vị nào và ở đâu về.

Tôi kể là ở đang ở Trung đoàn 273- Sư đoàn 341.

Tôi kể thêm về các đơn vị đang phải truy quét ngày đêm rất vất vả.

Vẫn còn những trận giao tranh ác liệt.

Anh em mình bị thương và hy sinh vẫn đang còn nhiều vv..

Không hiểu sao mấy vị Sỹ quan cao cấp tròn mắt rất ngạc nhiên.

Một người nói: Tôi tưởng là sau khi đánh tan các cứ điểm Tà Xanh- Săm Lốp- Lếch thu được cả dấu ấn cùng vàng bạc tài liệu thì tình hình đã ổn lắm rồi.

Chứ bộ đội mình vẫn phải đánh nhau à?

Tôi rất bất ngờ trước câu hỏi đấy và thấy thật buồn.

Đúng là quan, là lính, cũng ở CPC nhưng họ ở phía sau.

Thật an toàn, xa mặt trận.

Có lẽ ở đây kể từ sau 7/1/79 đã gần như không còn tiếng súng.

Họ đã được sống, được hưởng thanh bình từ những ngày đó.

Thật quan liêu.

Thật thiếu hiểu biết. chắc họ là những Sỹ quan cao cấpnhưng ở những vị trí chuyên môn kỹ thuật ít hiểu biết về chiến trường, ít hiểubiết đến độ bàn quang.

Họ không thấu hiểu hết tình hình.

Không hiểu về cuộcchiến vẫn còn gian khổ cam go, khốc liệt của những đang diễn ra hàng ngày tại các vùng rừng núi giáp biên giớ Thái, mà anhem đồng đội chúng tôi đang phải đối mặt.

Thật vô lý!

Được nghỉ ngày Chủ nhật, tôi rủ thêm một anh bạn cùng học, mượn xe đạp đi chơi khắp mọi nơi ở Thành phố.

Có lẽ chưa bao giờ đời Lính tình nguyện được thảnh thơi như lúc này.

Chúng tôi đi thăm lại khu vực cầu Monivong, nơi mà trưa ngày 7/1 tôi cùng đoàn xe cơ giới hàng trăm chiếc, dũng mãnh băng qua để vào Thành phố.

Khu đầu cầu, mấy căn nhà 3 tầng nơi tôi ngủ tối đầu tiên và bị pháo 37 ly bắn.

Tất cả vẫn như cũ.

Chúng tôi đi thăm Hoàng cung, thăm Chùa vàng, nền dát bằng bạc.

Những nơi này đã có quân của ông Hên quản lý.

Nhưng chúng tôi nói khó, năn nỉ một tí rồi cũng được vào thăm.

Đặc biệt là đến thăm núi Bà Pênh- Tiếng CPC là Phnompenh.

Thủ đô CPC bây giờ là lấy tên của trái núi này.

Có một tương truyền gì đó về từ những thế kỷ trước, về trái núi Bà Pênh nhỏ bé này, mà một vị vua của CPC đã quyết định lập Kinh đô ở đây khi cái bè gỗ thả trôi tự nhiên theo dòng Tông Le Sáp cứ tấp vào đây không đi nữa.

Rồi Một kinh đô tráng lệ bên dòng sông Lê Sáp hùng vỹ, rất nhanh chóng hưng thịnh qua nhiều năm tháng với bao đời Vua.

Nhưng đến tháng 4/75 Phnom Pênh bị tàn lụi, đổ nát, đau thương điêu tàn rất nhanh.

Khi chế độ Pôn Pốt- Iêng Xa Ri trị vì theo chế độ Cộng sản phản động của Đảng Khme Đỏ không giống ai trên đời.

Chúng tôi vào một cái chợ ở khu vực ngoại ô.

San sát những gian hàng bằng lán tạm nhỏ bé vừa làm chỗ ở bên trong, vừa làm chỗ bán hàng bên ngoài.

Hàng hóa bán cũng đã rất phong phú thích mắt.

Rất nhiều những phụ nữ góa chồng tuổi từ 25-40 làm chủ nhà, chủ cửa hàng.

Nhác thấy chúng tôi vào quán, có những bóng đàn ông trẻ mình trần, quấn khăn cà ma ngang người đi vào trong.

Họ như là cố tình tránh gặp chúng tôi.

La cà một vài quán có thiếu phụ cứ mời bằng được tôi vào nhà.

Tôi cũng tò mò theo một phụ nữ vào trong ngồi nói chuyện.

Người phụ nữ chủ nhà cũng là một góa phụ.

Khoảng ba mươi tuổi da trắng, trông cũng khá xinh.

Là người lai Hoa-Việt.

Từ cái áo đang mặc rộng cổ hấp dẫn, áo ngắn để hở cả phần bụng, cái váy hoa xàrông quấn trể nải rất hờ hững, khoe vòng mông căng tròn rất khiêu gợi, như mời chào khác giới.

Có lẽ chỉ cần động khẽ vào đó là cái váy có thể tuột ra.

Mắt người quả phụ trẻ nhìn tôi thật đắm đuối như cầu xin.

Những cái đó đã làm cho bản năng tính dục trong tôi trỗi dậy.

Đa số họ nói được tiếng Việt.

Vì những phụ nữ này ở đây đã lai tạp Hoa- Việt- Căm lẫn lộn.

Người phụ nữ nói mời tôi ở đây chơi.

Nếu có thể thì sống cùng với họ ở đây.

Trời ơi!

Một lời mời chào chân thật.

Tôi hiểu họ đang thiếu, đang rất cần, đang rất thèm khát đàn ông.

Dò hỏi một lúc, tôi được biết cũng đã có một số lính mình tụt tạt về đấy sống chung với họ.

Những người lúc nẫy tránh chúng tôi cũng là những đối tượng trên.

Bất giác tôi cũng có suy nghĩ cảm thông với họ.

Suy nghĩ chợt đến, giữa cái sống sung sướng hiện tại và cái khổ của lính chiến.

Họ đã chọn sống ở đây làm giống đực, sống dựa vào những người phụ nữ CPC chết chồng này.

Trong lúc anh em đồng đội của họ đang ngày đêm gối đất nằm sương.

Nơi rừng rú, sình lầy nước đọng, đói khát.

Để truy diệt tận cùng lũ quỷ áo đen.

Để mong cầu cuộc sống hạnh phúc, thật sự bền vững cho dân tộc Khơ Me và đất nước CPC.

Tại sao họ lại như vậy?

Thật là ích kỷ và hèn nhát..

Đang trầm tư với chuỗi suy nghĩ ấy.

Người phụ nữ góa còn trẻ, mạnh bạo hơn nữa kéo tay tôi, chỉ vào sau cái màn gió( ri đô), vốn là tấm vải xà rông làm váy của họ.

Tôi hiểu họ đang thèm khát điều gì.

Tôi cũng đang thèm khát như vậy.

Người tôi đã nóng lên rạo rực.

Tôi như sắp sụp xuống, tưởng chừng như lý trí tôi, không thể cưỡng lại được cái bản năng xác thịt thông thường của tạo hóa con người trong tôi.

Chỉ cần theo người phụ nữ này 3 bước, hoặc 4 bước là vào khuất trong tấm màn kia là thoải mái, là mỹ mãn khát thèm dục vọng.

Tôi thấy được hơi thở tôi cũng đã không bình thường, người nóng ran.

Trong khi người đàn bà vần cứ chèo kéo, phả hơi thở cũng nóng rực, hầm hập vào tôi.

Tôi uể oải đứng dậy.

Giữa tôi và người đàn bà như đã không còn khoảng cách.

Đã rất gần, càng thấy được hơi thở của sự nóng bỏng.

Lý ra tôi đã bước theo người đàn bà đó.

Không hiểu sức mạnh ở đâu ập đến ngăn cản tôi.

Tôi trấn tĩnh lại, rấtnhanh như chạy trốn, như khẳng định rõ ràng không!

Dứt khoát không!

Tôi giậttay ra khỏi hai bàn tay nóng bỏng cùng ánh mắt đắm đuối của người phụ nữ đangdậy tình, chạy vụt ra ngoài.

Tôi đã thắng được sự cám dỗ của người đàn bà đó,cũng như phần "người" trong tôi vẫn tỉnh táo, mạnh mẽ không đểphần"con" lấn át, khuất phục.

Sau khi chạy ra khỏi căn phòng, chạy trốn lửa yêu của người đàn bà góa đó.

Một lúc sau tim tôi mới hết " rộn ràng".

Tôi đứng ngây giữa đám đông nhốn nháo ầm ĩ nơi chợ bán mua.

Đảo mắt một lúc tìm được đồng đội cùng đi đang mua sắm gì gần đó.

Tôi nói dối: Thôi mệt rồi về thôi không muốn đi đâu nữa.

Học tiếp 1-2 ngày nữa, những buổi chiều nhàn rỗi, tôi cũng ngại không ra khỏi nơi ở.

Mà cùng chơi cờ, chơi bài, hoặc chơi bóng với mọi người.

Ngày hôm sau có xe của Quân đoàn chở gạo cho Sư đoàn chúng tôi theo xe về Pua Sát rồi trở về Trung đoàn.

Lúc này Trung đoàn bộ 273 vẫn đóng quân ở bên trong ga Rô Mia.

Nhiệm vụ truy quét chưa có gì thay đổi.

Anh chị em trong đội công tác vẫn rất vui khi tôi trở về.

Tôi để ý thấy ánh mắt cô The nhìn tôi không thật bình thường.

Tôi hỏi Ben Kia đội trưởng là mọi người khỏe không?

Mấy hôm Bòng Phú đi vắng, mọi người có hay phải đi tăng cường xuống các đơn vị không?

Ben Kia nói: Mọi người vẫn khỏe anh bòng Phú ạ.

Chị Nhị biết Bòng Phú lấy vợ, khóc ốm rồi.

Tôi hơi chột dạ, không nhìn thấy Nhị đâu.

Trước lúc về, tôi cảm thấy vui vui về cái kịch bản đã bàn với Hùng nói dối tôi lấy vợ.

Bây giờ cái niềm vui ấy phụt tắt khi Ben Kia nói thế.

Tôi nói thế à!

Chị Nhị ở đâu rồi?

Không kịp nghe câu trả lời, tôi vội bước sang chỗ anh Riến hỏi sơ qua tình hình, rồi lên báo cáo với Ban chính trị về việc tôi đi tập huấn đã về.

Sau khi chuyện trò với đ/c Lưa và đ/c Cường Phó Chủ chủ nhiệm một lúc, tôi về khu vực Tiểu ban, trong lòng cảm thấy hơi bối rối.

Không biết Hùng đã nói như thế nào.

Bây giờ chưa gặp được Hùng.

Tôi về chỗ nhóm đ/c Riến, rồi nói gọi cô The lên hỏi tình hình.

Cô The với vẻ mặt trầm tư không vui nói với tôi là: Ba ngày trước, anh Hùng lái xe sang chơi gặp tôi và Nhị.

Anh Hùng khoe là có tin Bòng Phú đi họp tại Phnompenh lấy vợ luôn trên đó rồi.

Tôi ( cô The) hỏi là Bòng Phú lấy ai thì anh Hùng nói lấy một em gái là cháu của ông Hên xem rin trong đội xà là bạ ( Văn Công) ở Phnompenh có thể Bòng Phú không về đây nữa.

Được tin đó Nhị buồn chán, hai ngày nay toàn nằm, không ăn cơm, ốm nặng rồi.

Nhị lại nói là buồn không muốn sống nữa.

Thật là khổ cho tôi.

Hùng đã làm đúng kịch bản của tôi.

Tôi nghĩ nông cạn là làm như vậy thì Nhị sẽ quên tôi, hoặc không còn yêu hay quý mến tôi nữa.

Ai biết được phụ nữ lại như vậy.

Nhỡ có điều gì không hay xẩy ra thì thật là tai hại.

Tôi thầnngười ra ngẫm nghĩ một lúc, rồi thấy rằng mình không thể nói dối như thế được.Tôi nói với cô The là anh Hùng nói đùa, chứ đâu có chuyện đó.

Rồi tôi nói côThe cùng sang chỗ cô Nhị với tôi.

Tôi theo cô The sang chỗ Nhị.

Từ xa đã thấy Nhị nằm nghiêng trên cái võng mắc thấp sát đất.

Hai tay để phía trước mặt, mọi người đi tương đối mạnh.

Tôi cố tình dẫm đạp lên một cành cây, cố tình đánh động, nhưng Nhị vẫn không phản ứng gì, vẫn như người ngủ say.

Nhưng trông dáng người, nét mặt thật mệt mỏi, như người đang ốm nặng.

Cô The nói: Nhị đang ngủ để em gọi.

Cô The vừa lay cái võng vừa nói: Nhị ơi!

Dậy đi anh Phú về rồi này.

Nhị hé mắt như phản xạ rồi lại nhắm lại nằm im tư thế cũ.

Thấy vậy tôi đã thật sự lo.

Nhỡ Nhị nghĩ quá ốm nặng hoặc dại dột thì gay to.

Cô The lay gọi mấy lần nữa nhưng Nhị vẫn không dậy.

Cô The nói: Anh Phú gọi đi chứ em gọi không được.

Tôi vào lay võng và hỏi: Nhị ốm à, anh Phú về rồi.

Dậy đi xem ốm đau thế nào?

Em đã uống thuốc gì chưa?

Cũng như lần trước Nhị hé mắt rồi lại nhắm ngay, rồi lấy tay uể oải hất tay tôi ra khỏi võng.

Tôi nói thêm: Nhị dậy ăn gì đi chứ nằm mãi thế này không tốt đâu.

Em ốm thế nào?

Dậy nói anh Phú nghe nào.

Nhị vẫn không cựa mình cứ nằm im như thế.

Thấy có vẻ không thuyết phục được Nhị dậy.

Tôi nói Nhị mệt chắc chưa dậy được.

The nấu cháo cho Cô Nhị ăn.

Tôi đứng dậy rồi ra hiệu cho Cô The cùng ra ngoài.

Tôi nói chắc Nhị nghĩ tôi lấy vợ ở Phnompenh nên sinh ốm không ăn.

Bây giờ có thể đói lả.

Cô nấu cháo loãng ép cô ấy ăn.

Tôi sẽ sang nói với anh Hùng sang nói xin lỗi mọi người.

Về việc hôm trước là nói đùa chuyện Bòng Phú lấy vợ, chứ không phải vậy.

Tôi sang ban Săng xe, rất may là Hùng đang ở nhà.

Gặp tôi Hùng hớn hở khoe ngay về cái kịch bản dóng dựng việc tôi lấy vợ.

Hùng không biết là Nhị ốm.

Tôi nói: Ông nói dối giỏi quá, nên Nhị tin, nhưng buồn ốm mấy ngày nay rồi, không ăn gì rất nguy hiểm.

Bây giờ ông phải sang ngay với tôi.

Đến nói là ông nói dối truyện tôi lấy vợ, đùa cho vui.

Sau đó tôi phải mắng ông mấy câu về việc nói dối đấy nhé, để cho Nhị bình thường lại.

Hùng tiu nghỉu vì đang khoe việc đóng kịch nói dối.

Nay sự việc lại không như dự định.

Hùng nói: Bỏ mẹ!

Nó yêu ông quá đấy.

Rồi đứng dậy đi ngay cùng tôi sang chỗ Nhị.

Nhị vẫn nằm bất động như cũ .Hùng lay gọi Nhị ơi!

Anh Hùng đây.

Dậy anh xem ốm đau thế nào?

Tôi nói nối tiếp.

Hôm kia ông kể chuyện gì bậy bạ về tôi?

Để cho Nhị nghĩ ngợi ốm đau thế này.

Hùng nói với tôi nhưng cốt để cho Nhị nghe.

Tôi nói dối ông đi họp rồi lấy cháu ông Hên Xem Rin làm vợ.

Tôi trêu đùa nói cho vui chứ ai rè làm Nhị nghĩ quá đâm ra ốm.

Rồi Hùng quay sang Nhị nói: Hôm trước anh nói dối là anh Phú đã lấy vợ đấy.

Anh xin lỗi, đã làm cho em nghĩ ngợi.

Thôi dậy đi ăn cái gì đi.

Chứ nằm mãi sinh ra ốm thật nó xấu người đi đấy.

Nghe nói thế Nhị khẽ cựa mình vẫn không nói gì.

Tôi nói thôi anh Hùng vềđi, tội của ông to lắm đấy.

Cô The lấy cháo cho Nhị ăn đi.

Tôi đi họp đây.

Rồitôi nháy Hùng cùng tôi đi ra về.

Coi như việc "chữa bệnh" đã xong.

Hai ngày sau, Nhị đã bình thường trở lại.

Gặp tôi Nhị xấu hổ gượng cười.

Tôi và mọi người cũng cố tránh, không đề cập đến việc "ốm yếu" của Nhị nữa.

Nhiệm vụ của Trung đoàn phải truy quét sâu vào trong.

Mọi việc lại phải khẩn trương bận rộn cho nhiệm vụ lớn.

Riêng tôi, những lúc thư rỗi, thì vẫn đang nghĩ cách, phải làm thế nào?

Nói thế nào?

Cho Nhị hiểu tôi, hiểu về nhiệm vụ, hiểu về trách nhiệm của những người chiến sỹ Quân tình nguyện VN.

Cùng những khắt khe, khắc nghiệt của kỷ luật Quân đội VN.

Đang làm nhiệm vụ Quốc Tế giúp bạn, giải phóng cho dân, diệt trừ tận gốc quân Pôn Pốt, Tập đoàn phản động Khơ Me Đỏ tàn ác.

Những tình cảm trai gái yêu thương nhau là thông thường.

Nhưng với Quân Tình nguyện VN, lại là điều kỷ luật cấm kỵ.

Triền miên với những suy nghĩ và dự định đó, nhưng giờ đây chưa hợp lúc nói ra.

Nhiệm vụ của Trung đoàn còn rất nặng nề.

Phải hành quân di chuyển sâu trong các vùng rừng hẻo lánh, để tìm diệt lính Pốt.

Phá các căn cứ của Pốt.

Cứu dân, giải phóng dân, đưa dân ra khỏi tầm kiểm soát của Pốt.

Theo nhiệm vụ đó, từ khu vực ga Rô Mia, Trung đoàn phát triển truy quét sâu vào trong rừng.

Các đơn vị ngày nào cũng di chuyển, ngày đi đêm nghỉ, tìm kiếm, lùng sục Pốt suốt cả tháng năm, rồi sang cả tháng sáu.

Trời mưa tầm tã.

Mọi người từ cán bộ chiến sỹ đều mệt phờ.

Thi thoảng có những trận đánh nhỏ khi gặp lính Pốt.

Hoặc thấy những khu căn cứ nhỏ của Pốt, chúng đã trồng ngô, trồng sắn, trồng khoai.

Khi gặp các đơn vị của ta, thì chúng bắn vài loạt rồi chạy.

Đã đến lúc chúng đói vì thiếu ăn, thiếu mặc.

Nhiều tên ra hàng người gầy dơ xương, chỉ còn hai con mắt thao láo và hàm răng trắng là không thay đổi.

Trông thật thảm khiếp, kinh khủng như loài ác quỷ.

Trong những ngày truy quét này, chúng ta đang ở thế thượng phong mạnh mẽ.

Bọn Pốt cũng chưa có nhiều mìn, nên bộ đội ta ít thương vong.

Nhưng trong một lần truy quét của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1.

Khoảng mười giờ sáng ngày 13/6.

Lúc hội quân với Đại đội 3, tại một đồi ngô xanh mướt.

Hai Đại đội gặp nhau thật vui.

Đồng chí Trần Đức Quang, trước là Đại đội phó Đại đội 1 của tôi, mới được điều lên làm Đại đội trưởng thay đồng chí Nguyễn Văn Đạc.

Đồng chí Đạc được điều làm Trưởng tiểu ban Quân lực Trung đoàn.

Anh em hai Đại đội gặp nhau rất vui, chuyện trò tưng bừng.

Ngồi ngay giữa đồi ngô rộng, hút thuốc, nói chuyện.

Đại đội trưởng Quang, trước là lính Trinh sát Tiểu đoàn một.

Ở cùng Tiểu đoàn bộ với tôi.

Cùng quê nên hai anh em rất quý nhau.

Là người rất vui tính, gan dạ, dũng cảm.

Quang có ngoại hình cao đẹp, mũi thẳng lại có khiếu đóng kịch.

Có lần trong một vở kịch của Tiểu đoàn, Quang đã đóng vai là Cố Vấn Mỹ rất đạt.

Gặp anh em Đại đội 3 đang hút thuốc lào, Quang cũng ngồi xuống xin " Bắn" một điếu.

Vừa cho thuốc vào lõ điếu.

Một tay cầm điếu, một tay cầm đóm châm lửa từ người khác.

Đang trong tư thế ngồi đưa đóm lửa vào lõ thuốc.

Thì từ từ ngã nghiêng sang một bên.

Như người say thuốc.

Mọi người xúm lại thì thấy máu túa ra bên dưới thái dương bên trái.

Một viên đạn lạc từ đâu bay tới, hay viên đạn bắn tỉa của Pốt?

Đạn xuyên ngọt từ thái dương phải của Đại đội trưởng Quang.

Anh chết khi chưa kịp châm lửa vào lõ điếu.

Anh chết khi chưa kịp hút điếu thuốc lào của đồng đội vừa cho.

Anh hy sinh mà không nói được lời nào.

Thật vô cùng bất ngờ cho mọi người.

Khi biết tin Quang hy sinh tôi thật bất ngờ đau xót.

Như vậy là Ban chỉhuy Đại đội 1 của tôi.

Trong bữa cơm liên hoan ngày 20/12/78 tại Búa Lớn- HòaHội.

Mâm cơm 6 người.

Tới nay mới 6 tháng, mà đã ba người hy sinh cho nhiệm vụQuốc Tế giúp "Bạn".

Anh Thược, anh Tiến, và bây giờ tới Quang.

Tôi lặng ngườigiữa nơi rừng sâu biên giới nước người.

Khóc thương người đồng đội, người bạnthân thiết, người đồng hương đẹp trai, tài hoa dũng cảm mà đoản mệnh.

Cùng thời gian này, hai Trung đoàn 270-266 truy quét tàn quân Pốt trong sâu hơn.

Một trong những địa danh đáng ghi nhớ là truy quét phá căn cứ Pốt trong thung lũng Aray.

Thung lũng Aray nằm trong dãy núi Caravanh trùng điệp.

Cách Thị trấn Lếch khoảng 60km.

Hai Trung đoàn 270-266 được lệnh tiến công phá căn cứ này.

Lúc này đã là mùa mưa, nên khu vực rừng , suốt ngày mây đen phủ kín trời.

Nước từ các triền núi cao, trong rừng sâu chảy ào ào.

Tràn đầy các sông suối, làm cản trở việc hành quân của các đơn vị.

Mưa suốt ngày, các chiến sỹ 2 Trung đoàn vẫn ngày đêm hành quân, đi trong mưa nguồn tầm tã.

Quần áo mọi người đều ướt sũng.

Trinh sát cứ phải đi trước dò đường, chọn đường hành quân và địa điểm vượt sông.

Mãi cũng chọn được đoạn hẹp để vượt đầu nguồn sông PuaSát.

Rồi nhằm hướng thung lũng Aray băng tới.

Hành quân tiễu địch trong mưa nhiều ngày, với trang thiết bị vũ khí nặng là vô cùng vất vả.

Việc lập cầu trung chuyển là vô cùng khó khăn phức tạp vì đường xá không thuận tiện.

Vì vậy tất cả gạo, thực phẩm, trang bị, súng đạn, vũ khí hỏa lực đều trên vai các chiến sỹ.

Theo phương án Trung đoàn 266 phải tổ chức hành quân gần 70km về hướng Đông Nam.

Sau đó vòng lại bao vây đón lõng ở phía Nam thung lũng Aray.

Ở hướng này là hướng từ Công Pông Xpư ngược lại.

Nên bọn Pốt chọn đây là hướng phòng thủ chính.

Hai Tiểu đoàn 4 - 6 của Trung đoàn 270, hành quân 60km.

Bí mật áp sát thung lũng Aray về phía Tây nam.

Tiểu đoàn 5 phải vượt lên chiếm lĩnh điểm cao sau lưng thung lũng.

Đây là mũi chủ công, từ đây đánh tràn xuống thung lũng.

Chiếm được điểm cao này là một lợi thế, vì địa hình hiểm trở, dốc cao.

Nên bọn địch chủ quan, ít đề phòng.

Đường hành quân của Tiểu đoàn 5 cũng khoảng 50km.

Nhưng là đường rừng rậm rạp, xen lẫn núi cao rất khó đi.

ở đây toàn đá tai mèo, hoặc gan gà sắc nhọn.

Những khu rừng đại ngàn như chưa từng có dấu chân người đi.

Đến chân núi, Tiểu đoàn 5 còn phải vượt cao điểm 1770m vô cùng khó khăn vất vả.

Tiểu đoàn 5 vào đến chân điểm cao.

Cho anh em bí mật nghỉ một ngày để lấy sức vượt núi.

Lúc này là ngày 7/6.

Ngày 8/6 Tiểu đoàn 5 vượt núi vào vị trí tiền nhập.

Trời mưa bộ đội hành quân rất vất vả, nhưng lại là yếu tố bí mật tốt.

Bọn Pốt thì chủ quan, cho là bộ đội ta khó lòng vượt núi cao lại xa thế này.

Nhất là trong mùa mưa, nước lớn.

Nên đại quân ta đã bao vây các phía, mà chúng vẫn không hay biết gì.

5giờ sáng ngày 9/6.

Cũng như thường lệ, sau các hồi mõ báo thức.

Bọn Pốt trong thung lũng lục đục dậy ra suối vác đá thay cho tập thể dục, để về xây dựng công sự.

Không thằng nào mang theo súng.

Đại đội trinh sát của Trung đoàn tăng cường Tiểu đoàn 5.

Bí mất áp sát doanh trại gần bìa rừng.

Rồi đốt một căn nhà lá làm hiệu lệnh.

Tất cả các hướng nổ súng tiến công.

Bộ đội Tiểu đoàn 5 ào xuống chiếm giữ khu vực trung tâm.

Tiêu diệt khu chỉ huy và bọn Pốt trong căn cứ.

Thật bất ngờ trước đòn tấn công của ta, bọn Pốt hoảng sợ chạy như vịt không mấy thằng kịp phản ứng.

Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 cũng đã nổ súng tiến công Pốt rất mạnh mẽ.

Thung lũng rộng.

Ở đây chúng đã đang xây dựng và phát triển căn cứ hòng tổ chức kháng chiến lâu dài.

Sau 2 h chiến đấu truy diệt.

Hai Trung đoàn đã tiêu diệt và bắt sống gần một ngàn tên Pốt và thanh niên xung phong của Pốt.

Hàng ngàn người dân đã được giải thoát khỏi căn cứ A Ray trong rừng sâu, núi hiểm này.

Phát huy thắng lợi lớn của trận phá căn cứ A Ray.

Hai Trung đoàn liên tiếp tiễu trừ các căn cứ của Pót vùng biên giới CPC- Thái Lan như các căn cứ Phum Say, Cầm Nôm, Lích Pi ở khu vực chân dãy núi U Ran đến Phum Xráp Mốt cuối đường 56 sát biên giới phía Tây.

Trung đoàn 273 của tôi đầu tháng 7/79 được điều lên khu vực Huyện Muông Rư Say Tỉnh Bát Tam Băng thay vị trí Sư đoàn 339.

Theo nhiệm vụ, trong khi hai Trung đoàn 270-266 truy quét dịch chuyển sâu trong khu vực Tà Xanh, Săm Lốp.

Thì Trung đoàn 273 truy quét lật cánh lên, đảm nhiệm khu vực Huyện Muông Rư Say, Tỉnh Bát Tam Bang.

Huyện Muông Ru Say là Huyện đầu của Tỉnh Bát Tam Bang giáp với Tỉnh Pua Sát.

Địa hình ở đây vô cùng quan trọng.

Trung tâm Huyện nằm ngay trên trục đường số 5, song song bên cạnh là trục đường sắt từ Phnom Pênh lên.

Và cũng từ đây đường sắt và đường bộ số 5 lại tách rời nhau, rồi lại gặp nhau tại Trung tâm thành phố Bat Tam Bang.

Phía Đông Bắc có nhiều làng mạc.

Rừng thấp, kéo dài đến sát Biển Hồ.

Phía Tây Nam là đồng ruộng, sâu vào là các đồn điền cam.

Đồi núi cao dần lên tới tận Tà Xanh, Săm Lốp giáp biên giới Thái Lan.

Huyện Muông có khoảng 22 xã.

Xã xa nhất cách trung tâm huyện khoảng trên 20km.

Từ huyện lên Thành Phố Bát Tam Băng khoảng trên 50km.

Nói chung về địa lý thì đây là một vùng chiến lược quan trọng.

Khi Trung đoàn 273 lên đây, chính quyền Huyện và các Xã, Phum đã có.

Nhưng chưa phải là chính quyền chắc và chưa thuộc diện trong sạch.

Theo báo cáo của các cán bộ dân vận Sư đoàn 330, thì ở Huyện và các xã nhất là các xã ở vùng sâu trong rừng.

Chính quyền nhiều xã có hiện tượng 2 mặt.

Cần phải thanh lọc, cần phải củng cố lại.

Về địch thì chúng vẫn còn lực lượng đông, tuy rằng không lớn.

Nhưng chúng vẫn tổ chức tập kích các chốt các vị trí của ta về ban đêm nhất, phục kích chăn xe trên đường 5.

Chúng tập trung trong rừng ở hướng Tây Nam Huyện.

Sau khi nhận bàn giao, nắm địa hình và tình hình.

Trung đoàn trưởng Đặng Văn Tố bàn với chính uỷ Diệp Xuân Ánh tổ chức bố trí lực lượng như sau: Tiểu đoàn 1 án ngữ ngay trục đường 5 tiếp giáp với tỉnh Pua Sát.

Tiểu đoàn 2 án ngữ trên khu vực đường tầu hướng Tây Bắc cách trung tâm Huyện khoảng 5 km.

Tiểu đoàn 3 vào sâu phía Tây Nam cách trung tâm Huyện 15km.

Các Đại đội trực thuộc được bố trí xung quanh khu vực Huyện.

Trung đoàn bộ đi qua đường sắt vào khoảng 1km.

Đấy là sau khi đã ổn định tình hình.

Khi đơn vị đến địa bàn Huyện Muông.

Ngay đêm đầu tiên bọn Pốt đã mở màn "chào hỏi" anh em mới đến bằng các trận tập kích vào các vị trí dừng chân của Trung đoàn.

Thậm trí chúng còn dùng một mũi luồn đánh vào trung tâm Huyện Trước khi đánh vào Huyện, chúng còn bắn vào khu vực Huyện mấy chục quả cối 60 ly.

Như vậy ở đây tình hình còn đang rất phức tạp.

Lực lượng Pốt còn khá đông.

Trung đoàn trưởng bàn với Chính uỷ Ánh phải tổ chức truy quét ngay.

Nhất là địa bàn hướng Tây Nam.

Vì Sư đoàn 339 lực lượng mỏng, chủ yếu chốt giữ không có điều kiện truy quyét sâu trong rừng.

Đã từ lâu, không bị truy đuổi.

Nên bọn Pốt có phần giành thế chủ độngtập kích, coi thường ta.

Chúng tổ chức trinh sát, nắm chắc, hiểu rõ vị tríchốt, quy luật hoạt động của ta.

Phải cho bọn tàn quân Pốt ở đây một bài họcđầu tiên nhằm "làm sạch" địa bàn.

Sau khi nắm tình hình địa bàn toàn Huyện.

Trung đoàn 273 xin thêm một số Trinh sát của Sư đoàn 339 phối hợp, tăng cường dẫn đường.

Để việc tổ chức luồn sâu truy quét không bị lộ, các đơn vị vẫn tổ chức chốt giữ, canh gác và hoạt động bình thường.

Đúng 9h (lúc này Tiểu đoàn 3 chưa vào sâu trong xã Pờ Rô Chít).

Toàn đội hình Tiểu đoàn 1 cắt đường luồn sâu vào khoảng 15km giáp ranh giữa 2 Tỉnh Pua Sát- Bát Tam Bang.

Tiểu đoàn 2 cũng luồn sâu vòng phía tay phải vào khoảng 20km.

Hai Tiểu đoàn dải quân tạo thành lưới vây bọc.

Đến 2h sáng, Thì Tiểu đoàn 3 cùng các đơn vị trực thuộc chia làm 2 hướng, tiến vào sâu theo hướng Tây Nam Huyện.

Đến gần sáng thì hướng Tiểu đoàn 3 bị lộ, vì gặp một số tốp địch cũng lần mò trong đêm.

Bọn Pốt này nhanh chóng bị tiêu diệt.

Nhưng có những tên cũng kịp chạy thoát vào sâu bên trong cứ.

Các lực lượng Pốt trong khu vực đã biết là bị truy quét.

Nhưng chúng chống cự không mạnh rồi bỏ chạy.

Nhưng như thế là đã muộn.

Chúng chạy đâu cho thoát, vì chúng đã bị ở trong vòng lưới của Tiểu đoàn 2 và 1 đón đợi.

Trong khi Tiểu đoàn 3 cùng các đơn vị trực thuộc đang tiến công bằng hai hướng.

Trận chiến xảy ra không ác liệt, những nhóm Pốt phòng ngự nhanh chóng bị tiêu diệt.

Đến gần trưa, các đơn vị đã báo về diệt được hàng trăm tên.

Thu được rất nhiều súng đạn.

Phá được hơn chục căn cứ nhỏ của Pốt.

Phát huy thắng lợi Trung đoàn liên tục cho các Tiểu đoàn truy lùng Pốt trong 7 ngày liền.

Trong lần truy quét này Đại đội 4 của Tiểu đoàn 1 bị một tên Pốt bị thương chốn trong bụi.

Tên này rất lì lợm vì đây là rừng thấp bụi cây rất nhiều.

Tên Pốt với khẩu súng AK thỉnh thoảng lại tỉa một anh em mình.

Đơn vị lùng tìm đến khi phát hiện được bụi cây tên Pốt trốn.

Trước khi tiêu diệt được nó, thì về phía Đại đội 4 có 3 anh em bị hy sinh và một đồng chí nữa bị thương.

Đây là một bài học thật đau lòng cho lực lượng truy quét.

Sau 7 ngày truy quét tàn quân Pốt, kết hợp với việc kêu gọi.

Đã có gần 100 tên Pốt ra hàng.

Chiến sự trong khu vực tạm yên.

Trung đoàn trở ra chốt giữ tại các khu vực như đã nói.

Các Tiểu đoàn vừa tổ chức chốt giữ, vừa vẫn phải tổ chức truy quét nhỏ ở khu vực đóng quân.

Kết hợp với phải giúp đỡ xây dựng lực lượng du kích xã và thanh lọc các phần tử nghi vấn trong chính quyền.

Xây dựng chính quyền xã phum vững chắc, ổn định.

Tiểu ban dân dịch vận lại lao vào chiến dịch tuyên truyền xây dựng chính quyền.

Xây dựng các đoàn thể của bạn rất bận rộn.

Tiểu ban phải chia nhỏ để đi xuống các Tiểu đoàn, tuyên truyền tại các Xã, Phum.

Tôi chủ yếu tập trung xây dựng chính quyền tại Huyện.

Thi thoảng mới đi cùng anh em xuống các cơ sở.

Sau một thời gian khu vực huyện Muông tình hình an ninh chính, trị, trậttự xã hội đã tương đối ổn định.

Chợ búa đã hoạt động đông đúc người bán, ngườimua.

Đường tầu đã được lưu thông, từ Phnom penh lên tận vùng biên giới.

Mỗichuyến tầu đã có hàng trăm dân CPC theo lên để buôn bán hàng hóa từ Thái Lanvề.

Các trường học dần được hình thành.

Cuộc sống mới đã thật sự được hồi sinh.

Từ khi Trung đoàn 273 về đảm nhiệm xây dựng chính quyền, giữ gìn an ninh trật tự, truy diệt tàn quân Pốt trong các khu rừng sâu thuộc địa bàn Huyện.

Nhịp sống của dân nơi đây nhanh chóng được đổi thay phát triển.

Lúc này, lực lượng Pốt nơi đây không còn đông.

Chúng lẩn lủi trong rừng sâu, móc nối với một số phần tử đã ra hàng, đang sống trong dân hoặc đêm đêm, lẩn vào các Phum làng hẻo lảnh.

Chúng dọa nạt, bắt dân phải cung cấp lương thực, thực phẩm cho chúng.

Bộ đội ta cùng các lực lượng Quân đội, Du kích bạn cũng thường xuyên lùng sục, nhưng chưa thể "làm sạch" được bọn này.

Sau những hiệp định ký kết với Việt Nam.

Chúng ta đã cử các đoàn Chuyên gia xuống các Tỉnh, Huyện, xây dựng chính quyền.

Tỉnh Bát Tam Băng do đoàn Chuyên gia Tỉnh Thái Bình, đảm nhiệm.

Huyện Muông Rư Xây có 3 đồng chí Chuyên gia.

Một đồng chí Nguyên là Huyện ủy của một Huyện, phụ trách về xây dựng chính quyền.

Một đồng chí nguyên là Phó Huyện Công an, chịu trách nhiệm về an ninh chính trị, một đ/c giúp đỡ bạn về kinh tế.

Theo chỉ thị của trên.

Trung đoàn 273 cũng thành lập một Tiểu đoàn, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 4.

Chuyên giúp bạn xây dựng lực lượng bộ đội và dân quân du kích trong toàn huyện.

Như vậy là Ban Dân dịch vận của tôi lúc này rất bận rộn.

Vì phải làm trung gian hoạt động của các đầu mối quan hệ.

Trực tiếp với chính quyền Huyện, chính quyền xã của bạn.

Quan hệ chỉ đạo Dân địch vận với ban chỉ huy Tiểu đoàn 4.

Quan hệ trao đổi nắm tình hình qua lại với các đồng chí Chuyên gia.

Giúp đỡ các đồng chí Chuyên gia hoạt động.

Nhiều các đầu mối làm việc, nên việc đi lại hoạt động nhiều rất mệt mỏi và căng thẳng.

Tôi là người có dáng gầy, nhỏ, nhưng lại rất khỏe.

Từ khi nhập ngũ đến giờ, chỉ bị cảm cúm qua loa, cuối năm 77 bị nhiễm lạnh đi viện ít ngày.

Còn lại vẫn theo kịp, vẫn đảm bảo được sức khỏe tốt trong huấn luyện, hành quân đường dài, hay trong chiến đấu cực kỳ gian khổ.

Năm 1973 khi Trung đoàn làm nhiệm vụ mở đường ở Đông Trường Sơn.

Vùng rừng núi miền Tây Tỉnh Quảng Bình.

Ở đây toàn là rừng lim già.

Đúng là "rừng thiêng nước độc".

Địa danh là Rào Trù, Rào Đá lác đác có người Dân Tộc Vân Kiều sinh sống.

Trung đoàn tôi vào làm nhiệm vụ được 7 ngày, là bắt đầu bị dịch sốt rét hoành hành.

Cứ người nọ khênh người kia đi viện điều trị.

Có đồng chí khênh đồng đội tới viện thì cũng phải nhập viện luôn vì lên cơn sốt rét.

Sau 3 tháng mở đường, lao động cực kỳ gian khổ vất vả.

Cả Trung đoàn khoảng hai ngàn người.

Hầu như ai cũng bị sốt rét.

Đếm trên đầu ngón tay khoảng 10 người không dính cái bệnh " bạn" của lính, trong đó có tôi.

Tôi cũng không hiểu làm sao, với thể trạng gầy gò, mảnh mai thư sinh.

Tôi lại kháng được cái loại vi trùng sốt rét kẻ thù của lính đó.

Sự kiện này nó cũng là một niềm tự hào là một minh chứng về sức khỏe của tôi.

Thế mà khi về đừng chân tại Huyện Muông Rư Say này được hơn một tháng.Tôi lại bị cái bọn vi trùng sốt rét quật ngã phải đi nằm viện Trung Đoàn điềutrị mới bực chứ.

Buổi trưa, sau khi làm việc, tôi cùng nhóm công tác đi từ ngoài Huyện về Trung đoàn bộ.

Quãng đường không xa, nhưng không hiểu làm sao trong người khó chịu, bước đi uể oải, nặng nề.

Người ngấy nóng.

Tôi nói với đội công tác: Hình như Bòng Phú bị cảm hay sao, thấy khó chịu lắm.

Rồi tôi cũng bước tiếp về nơi nghỉ của Tiểu ban.

Tôi nằm ngay xuống chiếc giường, được ghép bằng các tấm gỗ nhỏ khấp khểnh.

Thấy người lạnh rét.

Tôi lấy chăn dù đắp, một lúc sau vã hết mồ hôi.

Tôi lại thấy nóng bừng, phải tung chăn ra.

Anh em nói tôi ăn cơm.

Tôi nói anh em cứ ăn đi, tôi cảm thấy không muốn ăn.

Nằm một lúc người tôi lạnh, run lên bần bật.

Anh em lấy 2-3 cái võng, cùng chiếc chăn dù đắp lên người mà vẫn thấy rét, hai hàm răng va vào nhau lập cập.

Anh Diến đi gọi ytá của Trung đoàn bộ xuống.

Tôi vẫn đang trong tình trạng như vậy.

Sau khi cặp nhiệt độ xem, anh Cận ysỹ nói: Anh đang bị sốt tới 40 độ rồi.

Anh đã bị sốt rét bao giờ chưa?

Tôi lắc đầu ý nói chưa.

Đồng chí y sỹ nói anh em ăn xong đưa ngay anh Phú lên bệnh xá Trung đoàn.

Có lẽ anh bị sốt rét.

Anh Phú chưa bị sốt rét bao giờ mà đã sốt cao thế này là nguy hiểm, để tôi về nói đồng chí ytá đi cùng.

Anh Diến, anh Tẩy ( anh Tẩy là Thiếu úy mới được điều về ).

Làm cáng võng khênh tôi.

Tôi cảm thấy ngại nói anh em từ từ đã, đợi hết đợt sốt rồi tôi đi được, chứ không phải khênh.

Mọi người trong Tiểu ban, trong đội công tác đến rất đông.

Pen Kia thì nói Bòng Phú ốm đi viện, mai chúng em lên thăm. cô The, cô Nhị thì không nói gì nhưng vẻ mặt rất lo giục anh Riến chuẩn bị ba lô cho tôi.

Ytá đến, mọi người nhất là Sa Chơn và YVơn cứ ép tôi lên võng khênh tôi lên bệnh xá Trung đoàn Từ chỗ Ban chính trị lên bệnh xá 24( đại đội 24) khoảng hơn 1km gần khu vực Đại đội vận tải 25.

Ở đây là một Phum có mấy cái nhà sàn.

Lúc này đã đang là mùa mưa, vùng này thấp những ao hồ và cánh đồng chung quanh đã ngập nước.

Rau muống tía ngoi nước lên tua tủa.

Đại đội Quân y cũng không có thay đổi nhiều như hồi năm 78.

Vẫn bác sỹ Nhật, y sỹ Thu, y sỹ Quyết, y sỹ Chính và mấy người tôi đã quen.

Có một vài đ/c ytá mới được điều về.

Sau khi xem xét chuẩn đoán tôi bị sốt rét.

Anh Thu ysỹ nói.

Phú bị sốt rét rồi, yên tâm điều trị ở đây 15-20 ngày mới khỏi.

Mọi người cho tôi uống thuốc rồi tiêm mấy mũi.

Anh Thu bố trí tôi nằm ở một nhà sàn cùng 4-5 bệnh nhân khác.

Buổi chiều nằm nơi bệnh viện sao dài thế.

Người bắt đầu thấy đau như rần.

Tôi cố gắng ăn một ít cháo của đồng chí ytá bệnh xá mang lên.

Mồm thật đắng.

Tôi thấy sức khỏe tiêu đi đâu hết mệt mỏi thực sự.

Chiều tối, anh Thu xuống ngồi chơi với tôi một lúc.

Đã lâu hai anh em không gặp nhau, anh Thu hỏi đủ thứ chuyện.

Tôi uể oải nghe và gật là chính.

Anh Thu thấy tôi mệt thì đứng dậy về trước khi về dặn lại mọi người phải chú ý đến súng đạn.

Ở đây phía sau nhưng cũng không an toàn đâu.

Bây giờ tôi với để ý thấy mấy khẩu AK dựng ở vách liếp.

Một đồng chí bệnh binh nói: Anh yên tâm chúng em cũng đã khỏe khỏe rồi.

Anh Thu dặn mấy người quan tâm tới tôi vì tôi mới đến.

Anh Thu về tôi mới thấy ở đây vắng vể quá.

Chợt nghĩ đến hồi tháng 2 đầunăm, lúc còn ở Tỉnh Công Pông XPư, Đại đội quân y cũng bị Pốt mò vào tập kíchban đêm.

Đồng chí Bài Ytá hy sinh, mấy anh em bị thương.

May mà Đại đội 20Trinh sát đến giải nguy kịp thời .

Anh Thu ra về.

Tôi mới để ý kỹ, cả nhà có 6 bệnh nhân gần như đều là bị sốt rét.

Toàn là tuổi đàn em sau tôi.

Người tôi rất khó chịu nhưng gắng nói với mọi người là cũng phải hết sức cẩn thận.

Nếu ai khỏe thì phải có ý thức cảnh giác.

Tôi nói vui với an hem: Bọn Pốt không tránh bệnh binh chúng mình đâu.

Anh em nói: Anh cứ nghỉ đi bọn em cũng đỡ nhiều rồi.

Tôi nằm xuống chỗ nghỉ của tôi.

Đầu nặng như chì, đã đỡ sốt cao, nhưng vẫn không bình thường.

Nằm một tí tôi đã chìm mê ngay vào giấc ngủ.

Không biết đã ngủ được bao lâu.

Nhưng đêm có vẻ khuya lắm.

Tôi bắt đầu lên cơn sốt.

Người nóng ran hơi thở hầm hập.

Mọi người đang ngủ say, tất cả im phăng phắc.

Tôi lần mò bi đông lấy nước uống.

Nhưng uống mấy lần rồi mà cũng không giải được cái khát.

Người như bốc lửa, môi khô có cảm giác như đang sắp bùng cháy.

Chắc tôi đang bị sốt cao.

Tôi định gọi anh em nhưng lại thôi.

Cố chịu đựng.

Chợt nhớ lúc từ trên nhà khám xuống đây, tôi thấy dưới một cột nhà sàn ngay chỗ cầu thang, có đống quả me già, cùng một bát đường mật thốt nốt đựng trong cái bát nhuôm to.

Không biết đã có từ bao giờ.

Nghĩ đến me và đường, tôi bắt đầu thèm ngọt, thèm chua.

Cái thèm thật khó tả, thèm như điên như dại.

Cứ nghĩ là phải có bằng được.

Người tôi vẫn nóng như sắp cháy, chỉ muốn có ngay được một quả me và bát đường đó.

Tôi dậy định xuống lấy, nhưng không thể đứng dậy được.

Chân rủn hết ra, sức khỏe đã tan biến đi đâu hết.

Mặc dù đầu sốt nhưng lại nghĩ rất tỉnh táo.

Tôi vặn nút bi đông nước lại, gắng gượng ngồi dậy.

Lấy cái cốc pha lê to, mà tôi vẫn để túi cóc cạnh ba lô.

Cầm hai thứ đó, tôi lần ra cửa.

Tránh vướng chân mấy anh em đang giấc ngủ vùi.

Tới cửa nhà sàn, đêm tối mờ, từ đây xuống đất cũng 5-7 bậc cầu thang gỗ nhỏ.

Tôi vẫn không thể đứng lên được để xuống.

Đành phải tụt xuống từng bậc, từng bậc.

Ngoài trời, sương gió lạnh, làm cho tôi có vẻ dễ chịu hơn.

Nhưng trong tôi lúc này chỉ có nghĩ đến đống me và bát đường thốt nốt nơi góc cột.

Lần mãi rồi cũng xuống được tới nơi.

Không hiểu sao mà lúc ấy, trong đêm tối.

Tôi lại làm được cái việc bốc mấy quả me, cho vào bát đường bóp nhào với nhau.

Đường mật thốt nốt dính kẹo rất khó tan.

Tồi đổ nước vào đó, gạn ra cốc.

Trong đêm tối, ngay tại đó, tôi tu một hơi hết cốc nước chua ngọt ấy.

Tôi thấy người khỏe ngay lại, khoan khoái.

Tôi lại bò lên chỗ nằm, nhưng khoảng 15 phút sau, người tôi lại bốc hỏa.

Lại nóng khát cháy môi như lần trước.

Lại thèm me, thèm đường.

Tôi lại phải lần bò xuống như lần trước, lại bóp đường, bóp me nhào với nhau.

Dội nước ở bi đông vào bàn tay, vừa để rửa tay nhưng cho chảy vào bát đường.

Tôi làm một hơi, đã thèm.

Sau đó tôi nghĩ là phải mang bát đường này lên.

Tôi mò nhặt thêm mấy quả me cho vào bát rồi lại bò lên chỗ nằm.

Công việc lần mò me, đường trong đêm, 2 lần mà vẫn không ai biết.

Lúc này tôi mới cảm thấy trống trải, thấy bất hạnh.

Sao đời mình lại khổquá thế này.

Cơn khát lại đến nhưng lần này tôi có kinh nghiệm, tôi không uốngnhiều, mà chỉ làm một ngụm ngậm trong mồm một lúc rồi mới nuốt.

Cứ như thếkhoảng chục lần.

Rồi tôi chìm mê vào giấc ngủ cho đến sáng.

Hôm sau tôi cũng không cắt sốt.

Sốt không cao nữa nhưng cứ li bì triền miên 5 ngày liền.

Các bác sỹ, y sỹ đã sốt ruột.

Vì tôi bị sốt kéo dài, định chuyển tôi lên tuyến trên.

Mấy ngày ở viện, anh chị em trong đội công tác, cứ buổi trưa là tranh thủ sang thăm tôi.

Mua cho tôi nhiều thứ, mà tôi có ăn uống được gì đâu.

Hùng lái xe cũng đến thăm tôi thường xuyên.

Tôi cứ nằm ly bì, thậm chí không ngồi dậy được đã 3-4 ngày chỉ tiếp nước.

Tôi không ăn được cơm cháo.

Chỉ ăn được mỗi xoài của Hùng và mọi người mang đến.

Lần nào cô Nhị cô The đến thăm cô Nhị cũng khóc chắc "sót" – lo, thương tôi.

Tôi cũng không nói chuyện được với ai, mà chỉ nghe nói, rồi biểu cảm gật đầu, thậm chí mê mệt không muốn nói chuyện.

Sang ngày thứ 7, tôi mới cắt sốt.

Khi đã cắt sốt, thì sức khỏe hồi phục rất nhanh.

Tôi đã bắt đầu ăn được cháo và thèm cơm.

Anh Thu cho tôi mượn cái đài bán dẫn để nghe ca nhạc.

Hôm nay đã thứ 7 hay chủ nhật gì đó.

Khoảng 9h có chương trình ca nhạc trẻ, nhạc điệu của bài hát vui tươi, nhí nhảnh: "Sáng nay Tươi Hồng, mời em đến chơi.

Với đôi môi hồng, nàng sẽ hát ca, a á a a Gặp nhau trong nắng tươi hồng"..

Ôi!

Nghe sao mà hay, mà thích, mà thèm cuộc sống của họ đến thế.

Cuộc sống thanh bình và tình yêu nam nữ thật đơn giản mà sao đời mình chẳng có được.

Mình đã 27-28 rồi.

Nhớ lại, ngày xưa lúc mình 16 tuổi.

Mới đi sơ tán về, Cũng đã có những người bạn gái cùng lứa tuổi đến chơi.

Chị Cả của mình nói đùa vui: Em tôi, kiểu này khéo lấy vợ sớm đây.

Mình trả lời: Phải 24 tuổi em mới lấy vợ.

Lúc đó mình nghĩ từ nay đến lúc 24 tuổi là tám năm nữa.

Tám năm là xa lắm, lâu lắm.

Thế mà bây giờ, mình đã qua tuổi 24 ấy.

Đã 28 tuổi rồi.

Kiểu này, cứ liên miên chiến tranh.

Ở chiến trường xa tít mù khơi thế này thì không biết đến bao giờ mới có được vợ, được con.

Sốt rét, khi đã cắt sốt thì bình phục rất nhanh.

Tôi cũng vậy.

Tôi đã thèm cơm, gọi là ăn trả bữa.

Thuốc bổ chắc đã ngấm.

Tiêu chuẩn bệnh xá cũng cao.

Thịt cá không thiếu.

Tôi thèm rau vô cùng, được cái rau muống chung quanh đây và có lẽ cả CPC đều mọc như cỏ, rau sống cùng với cỏ.

Mùa khô thì nó cũng tàn lụi trong đất.

Dịp này nước ngập, ngọn rau vươn lên khỏi mặt nước như chông.

Chỉ cần ra hái một lúc, hái chìm dưới nước là được hàng rổ, ngọn rau thật dài.

Rau muống tía rất ít lá.

Mấy anh em mượn nồi luộc ăn cả rổ.

Nước rau muống mầu hồng, xin thêm mấy viên vitamin C, cho vào.

Thêm chút bột ngọt, có cảm giác ngon hơn, ngọt hơn cả nước phở.

Tôi thoáng nghĩ: Phải chăng vùng này, nhiều cá chết, thực vật chết và biết đầu cánh đồng kia rất nhiều người chết.

Nên rau ở đây tốt và ăn ngọt đến thế.

Thoáng chút liên tưởng, tôi rùng mình, không dám miên man nữa.

Mấy ngày liền, tôi cũng rủ anh em đi hái rau về cải thiện.

Chủ yếu là luộc.

Thi thoảng thì xin thêm hộp thịt cho vào xào.

Tôi đã khỏe lại rất nhanh nhưng vẫn chưa được xuất viện. vì mới điều trị có hơn 10 ngày.

Anh Thu khám cho tôi và nói Phú phải ở đây tối thiểu là 15 đến 20 ngày mới xuất viện được.

Riêng Bác Sỹ Nhật thì thường xuyên mời tôi lên uống trà nói chuyện.

Bác Sỹ vẫn nhắc lại chuyện cái đêm luồn sâu bị lạc mà tôi đã bình tĩnh để không bắn nhầm, rồi lại đưa cho Bác Sỹ đội cái mũ sắt của tôi.

Bác Sỹ Nhật thể hiện tình cảm quý mến tôi.

Nói tôi cứ ở đây nghỉ ngơi,hoặc có thích lên tuyến trên không thì Bác Sỹ cho chuyển đi.

Tôi cảm ơn Bác Sỹvà nói: Bác Sỹ cho em ở đây mấy ngày nữa, khỏe hẳn rồi em về đơn vị.

Dưới đódịp này nhiều việc lắm.

Tôi đã khỏe.

Nhị vẫn đến thăm tôi đều và cũng rất vui vì thây tôi khỏe lên nhanh.

Tôi nghĩ đã đến lúc phải nói hết với Nhị về tình cảm, suy nghĩ của tôi và kỷ luật của Quân tình nguyện VN để cho Nhị hiểu.

Một buổi trưa, cô Nhị và Cô The đến thăm.

Tôi thấy chọn thời điểm nói chuyện ở đây tốt hơn.

Nên xin lỗi cô The, cho tôi nói chuyện riêng với Nhị.

Tôi nói Nhị đi ra gốc cây me già gần đó ngồi nói chuyện.

Ôi!

Thật khó nói.

Trong lúc Nhị thì thật là vui, còn tôi không biết mở đầu như thế nào.

Trầm tư một lúc, rồi tôi cũng cất lời.

Đầu tiên là tôi cảm ơn Nhị cùng anh chị em, đã thường xuyên chăm sóc tôi rất ốm đau.

Tôi nói tiếp: Riêng với Nhị, anh thật lòng cảm ơn em.

Em đã có tình cảm quý mến anh ( không hiểu sao tôi lại chuyển ý ngay được )

Anh cũng rất quý mến em cùng mọi người.

Nhưng anh rất buồn, rất bực và bất lực, khi mà anh không thể làm được điều gì khác.

Ngoài sự trân trọng tình cảm của em, cũng như là trân trọng tình cảm của mọi người trong đội công tác.

Em thấy đấy, Quân đội VN rất nghiêm khắc trong các quy định quan hệ với dân.

Các anh bị cấm đoán rất nhiều thứ.

Nhất là các anh là Cán bộ, là Sỹ quan, là Đảng viên, thì lại còn có các quy định khắt khe hơn nữa.

Anh không thể được phép yêu hay lấy người CPC làm vợ, vì nhiều lý do chính trị.

Em thấy cái vụ anh Phạm Anh Xướng đấy.

Nếu ở VN, thì có gì nặng nề đâu, hoặc là người CPC với nhau cũng vậy.

Còn anh Xướng đã bị xử bắn đấy.

Em thấy kỷ luật của Quân đội VN có nghiêm khắc không?

Anh biết em quý mến và yêu thương anh.

Anh không được phép đối lại, không được phép chấp nhận tình yêu, tình cảm đó.

Nếu đơn vị mà biết được anh em mình nẩy nở tình cảm với nhau thì anh sẽ bị kỷ luật.

Mà kỷ luật nặng.

Anh sẽ phải bị điều xuống các đơn vị xa, trong rừng Tà Xanh, Săm Lốp ngay.

Chính vì thế, mà anh xin lỗi em.

Hôm trước, chính anh là người đã nói anh Hùng sang kể với em là anh đã lấy vợ ở PnomPênh là vì thế.

Anh sai.

Anh đã làm cho em buồn lòng, làm em ốm.

Nhưng hôm nay, anh phải nói chuyện với em, nói hết với em, để em hiểu thêm về anh, hiểu thêm về Quân tình nguyện VN.

Để em đừng hy vọng gì vào anh.

Nhị bất ngờ khi tôi đặt vấn đề này.

Nhị nhìn tôi đăm đăm.

Rồi Nhị khóc, đầu tiên là hai hàng nước mắt ứa ra lăn dài xuống hai gò má.

Rồi Nhị gục mặt xuống hai gối, khóc hu hu thành tiếng trong sự kìm nén.

Tôi ngồi yên để Nhị khóc.

Lúc sau tôi nói nhẹ: Nín đi em, đừng khóc nữa.

Anh vẫn quý mến em, vẫn trân trọng em như những ngày qua mà.

Chỉ có điều anh phải nói ra để em không hy vọng về anh.

Anh thấy tình hình công việc ở đây đã tương đối ổn.

Em và chị The đã muốn về quê chưa?

Nhị vẫn khóc, người rung lên.

Tôi cũng không biết an ủi Nhị Thế nào được nữa.

Tôi ngửa mặt nhìn Trời.

Trời trưa nắng to.

Dưới gốc me già lưa thưa lá, có những quả chín khô còn sót lại dính đeo trên cây lúc lắc qua lại tạo lên tiếng kêu như tiếng nhạc buồn.

Khi gió thổi, một vài cái lá me rơi lả tả, bay đậu nhẹ như trang trí lên tóc, lên vai Nhị.

Những bóng nắng xiên qua các kẽ lá, nhẩy nhót đung đưa, dung đưa.

Phải chăng tất cả đang chế diễu tôi.

Chế diễu sự hèn nhát của người trai đang nguy biện, đang chạy trốn tình cảm, tình yêu của tạo hóa.

Của người con gái, của người phụ nữ đang muốn dâng tặng cho mình.

Tôi định quàng tay ôm vai dỗ Nhị.

Nhưng như phản xạ tự vệ, tôi ngừng tay lại.

Rồi đảo mắt nhìn chung quang như là xem có ai đang theo dõi.

Tôi thấy tôi thật bất lực, thật hèn.

Tôi cũng phải cố gắng, rất cố gắng để ngăn không cho nước mắt chẩy ra.

Định tâm lại, tôi nói tiếp: Anh được biết Sư đoàn tăng cường cho Trungđoàn thêm phiên dịch đã được đào tạo.

Nếu em thấy cần phải về quê, hay vềPhnomPênh sống.

Hoặc em về chỗ em trai ở bên Châu Đốc, An Giang, Việt Nam.

Thìanh sẽ tạo điều kiện giúp em.

Tôi biết Nhị đau khổ.

Nhị tưởng tôi gọi ra nói chuyện riêng vui.

Nào ngờ đâu lại là vậy.

Lúc sau, Nhị ngẩng đầu lên, lấy hai tay lau nước mắt trông thật tội.

Hai mắt Nhị đỏ hoe, Nhị nói: Anh Phú cho em về quê.

Tôi đưa cả hai tay nắm tay Nhị, tôi nói: Anh cảm ơn em!

Em đừng trách gì anh.

Anh rất quý mến em.

Anh biết nói ra như thế thật sự thực phũ phàng với em.

Chuyện này sẽ làm em buồn, em khổ.

Nhưng anh bắt buộc phải nói.

Em thật thông cảm cho anh.

Thoáng thấy cô The tôi vời lại.

Cô The nói sao lại khóc thế.

Tôi nói qua cho cô The hiểu rồi nói: Hai chị em nếu muốn về quê, tôi sẽ báo cáo Trung đoàn.

Nếu Trung đoàn đồng ý, thì khi nào có xe về VN tôi sẽ nói cho hai chị em đi cùng.

Cô The tần ngần một tý rồi nói: Vậy cũng được.

Nếu có điều kiện thì anh cho hai chị em về Phnompenh đi thôi.

Em cũng nhớ nhà lắm rồi.

Quay sang Nhị, cô The nói: Thôi Nhị đừng khóc nữa, anh Phú nói đúng đấy.

Các anh ấy còn phải chiến đấu, các anh ấy không được yêu, không được lấy phụ nữ CPC đâu.

Đừng làm anh ấy khó xử nữa.

Anh Phú cũng khổ lắm đấy.

Quay sang tôi cô The nói: Anh Phú yên tâm đi, để em sẽ nói thêm cho Nhị hiểu.

Chúng em cũng muốn về quê thật đấy.

Tôi nói hai chị em đi về đi.

Chắc chỉ hai ngày nữa là tôi xuất viện.

Nhìn hai chị em dìu nhau liêu siêu đi về trên bờ ruộng, hai bên ngập nước, lòng tôi nặng trĩu trống trải.

Tôi cũng bước về chỗ nằm.

Lên cầu thang, tôi đổ ập người xuống chiếu.

Cái chiếu gấp được 3 khúc mà người lính Hải quân kỷ niệm hôm đi tầu.

Mấy người bạn cùng phòng hỏi anh Phú có chuyện gì không vui à?

Tôi cũng không buồn trả lời.

Qủa thật là tôi thương, rất thương Nhị.

Thương như người anh trai đối với người em gái, pha thêm chút cảm tình, cảm mến.

Đây lại là người con gái bên nước Bạn gốc Việt.

Cái xứ sở này ghê sơ thật.

Có lẽ tôi phải khuyên Nhị về sống ở VN cho an lành.

Nghĩ được vậy, tôi thấy lòng dịu lại.

Nằm đó đến hơn hai giờ chiều.

Nghĩ ngợi mông lung không sao ngủ được.

Tôi thấy nhớ Ban, nhớ Tiểu ban quá.

Tôi lên Ban chỉ huy Bệnh xá, gặp anh Thu và Bác Sỹ Nhật.

Xin được xuất viện ngày mai.

Bác sỹ Nhật nói : Sao cậu không ở đây nghỉ ngơi vài ngày nữa đã?

Tôi nói: Em cảm ơn Bác Sỹ, em cảm ơn các anh.

Em khỏe rồi, anh cho em xuất viện thôi.

Em thấy nhớ dưới đơn vị lắm rồi.

Bác sỹNhật nói: Vậy hôm nay tớ mời cơm cậu nhé.

Chiều tối lên đây ăn cơm với tớ chovui.

Đã uống được ruợu chưa?

Bác Sỹ nhật cười hiền lành nói tiếp: Vậy mai Thulàm thủ tục xuất viện cho Phú.

Nhớ cấp thêm thuốc về uống nhé.

Chứ không bị táiphát là khó chữa anh em mình lại được gặp nhau đấy.

Tám giờ sáng hôm sau, tôi làm thủ tục thanh toán xuất viện.

Xong việc giấy tờ, tôi đi chào tất cả anh em Thương Bệnh binh, đi chào và cảm ơn các Bác Sỹ trong Đại đội Quân y.

Đã chữa bệnh, đã chăm sóc tôi trong những ngày qua.

Rồi tôi đeo ba lô về Ban Chính trị Trung đoàn.

Nhìn thấy tôi từ xa, anh chị em chạy ùa ra đón.

Đeo ba lô, xách đồ cho tôi, cười vui rối rít.

Tôi hỏi anh em: Hôm nay không phải đi công tác à?

Pen Kia nói: Chỉ có mấy người Đồng chí đi thôi, còn ở nhà cả.

Chuyện trò thăm hỏi anh em một lúc.

Rồi tôi lên báo cáo Ban chính trị.

Lúc này anh Cường Phó Chủ nhiệm đã chuyển vùng.

Anh Nguyễn Ngọc Liễn Chính trị viên Tiểu đoàn một, mới lên thay.

Anh Lưa vẫn Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn.

Anh Lưa pha trà mời tôi uống nước.

Rồi trao đổi qua tình hình Trung đoàn và công tác Dân dịch vận.

Nói chung, tình hình trong khu vực Trung đoàn đảm nhiệm không có gì khác mấy.

Mấy xã trong vùng sâu, anh em đã cùng với bạn thay đổi, bầu lại chính quyền.

Vẫn còn tình hình địch móc nói với dân.

Dân một là do bị áp địch cưỡng bức, có người thì tham lam đưa hàng thuốc men, lương thực cho Pốt đổi lấy vàng.

Ta đã bắt được vài vụ.

Nói chung tình hình Dân dịch vận đã tạm ổn, nhưng còn rất bận rộn.

Các Tiểu đoàn và cả các Đại đội trực thuộc, thì vẫn thường xuyên tổ chức truy quét.

Đã có một số trường hợp anh em bị mìn.

Lực lượng lớn của Pốt ở đây không còn.

Chúng chủ yếu lập căn cứ trong vùng sâu giáp biên giới Thái Lan.

Trong đó đang còn rất căng vì mùa mưa, việc vận chuyển gạo, vận chuyển đạn và cứu chữa thương bện binh rất khó.

Anh em trong đó sốt rét nhiều lắm.

Mà không có điều kiện đưa ra.

Ta ở đây bây giờ tương đối thuận lợi.

Còn Trung đoàn 270-266 thì vào sâu mãi trong Tà Xanh- Săm Lốp.

Sư đoàn thì đóng ở khu vực cua chữ V.

Ông Phú về rất kịp thời.

Ông nhanh chóng nắm chắc lại tình hình toàn Huyện.

Khoảng 5 ngày nữa ông phải trực tiếp lên Tỉnh báo cáo tình hình của Huyện, với Chuyên gia Tỉnh và Bí thư, Chủ tịch Tỉnh Bát Tam Băng.

Chủ nhiệm Lưa nói một mạch, khi hết công việc anh nói nhỏ với tôi.

Cố gắng nắm tốt tình hình để đi báo cáo.

Cuối tháng này, có đợt cho các Sỹ quan đi phép đợt đầu đấy, ông có thích đi không?

Anh Lưa nháy mắt cười hóm hỉnh.

Tôi nói: Ôi!

Thế còn gì bằng nữa.

Anh cho em đi nhé.

Rồi tôi báo cáo với hai anh về tình hình cô The, cô Nhị.

Anh Lưa ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: Thôi, cho hai cô ấy về cũng được, ở đây cũng đã tương đối ổn định rồi.

Sư đoàn mới tăng cường cho mình anh Bé làm phiên dịch.

Dân ở đây cũng nhiều người nói được tiếng Việt, nên cũng không phức tạp lắm.

Cho họ về còn chồng con gia đình nữa chứ.

Nhưng thôi, cứ biết thế để tôi báo cáo với Trung đoàn.

Tôi ngồi nói chuyện với hai anh một lúc nữa.

Anh Liễn Phó chủ nhiệm rất vồn vã với tôi.

Trước kia, khi anh về làm Phó Chính trị Tiểu đoàn 1.

Tôi với anh không có thiện cảm với nhau lắm.

Anh định điều tôi xuống Đại đội, nhưng tôi không đi.

Anh rất bực nhưng cũng không sao được.

Vì tôi nói lí do: Chỉ còn mấy tháng nữa là tôi ra quân.

Các anh đừng để tôi xuống nữa.

Khi xẩy ra chiến tranh biên giới.

Anh Liễn lấy lí do là điều Đảng viênxuống tăng cường cho Chi bộ cơ sở.

Nhưng bây giờ thì mọi vấn đề cũng đã khác.Hai anh em nói chuyện với nhau cũng không gượng nữa.

Mà tôi thấy anh như làmuốn kết thân nữa là khác, cùng đồng hương Thái Bình mà.

Tiêủ ban dân dịch vận lúc này được tăng cường thêm ba người.

Gồm anh Tẩy, anh Việt cán bộ Trung đội bị thương đi viện về.

Anh Bé phiên dịch là người gốc Sóc Trăng, người Việt lai Khơ Me.

Vì vậy trong Ban chính trị, Tiểu ban Dân dịch vận vẫn là rất đông.

Tôi nhanh chóng cùng anh em nắm lại tình hình chính quyền Huyện, các đoàn thể, cùng Lực lượng vũ trang và tình hình của 24 xã trong Huyện.

Những Xã trong sâu như là Bờ ro tui, Thóc Bà Đây, Bồ Ro Thít v.v ...

Tôi cũng phải xuống tận nơi.

Mới ốm dậy, phải đi nhiều, nên tôi rất mệt.

Nhưng được cái có động cơ lên Tỉnh báo cáo.

Rồi cái hy vọng được về phép đã làm tôi phấn chấn.

Riêng cô Nhị, cô The thì vẫn đi công tác cùng nhưng lúc nào cũng buồn buồn, không còn cái vui tươi hồn nhiên như trước.

Có thể hai chị em đang nghĩ nhiều đến chuyện được về quê.

Hoặc chuyện sắp phải chia xa chúng tôi.

Nhị rất khi hỏi chuyện tôi và lại còn có ý tránh xa tôi.

Tôi cũng lo Nhị ốm như lần trước.

Nhưng chuyện đó không xẩy ra.

Như vậy vấn đề đó đã được giải tỏa.

Nhưng không hiểu sao tôi cứ thấy thương thương Nhị thế nào ấy.

Tôi nói với cô The phải quan tâm tới Nhị nhiều để Nhị đỡ bị hẫng hụt.

Đúng 5 ngày sau, tôi cùng Sa Chơn mượn xe máy của Chủ tịch Huyện ông Sua Sóc Côn lên Tỉnh báo cáo tình hình.

Từ Huyện Muông Rư Xay lên Thành phố Bát Tam Băng xa khoảng 60 km.

Bẩy giờ sáng, hai anh em tôi đi xe máy.

Chiếc xe đã cũ, thuộc diện cà tàng.

Chạy chậm, đường xóc rất xấu.

Cộng với trang bị cồng kềnh.

Vẫn phải mỗi người 1 khẩu AK, cùng bao se, lựu đạn, bi đông nước.

Có nhiều quãng đường vắng không có người, hai bên đường toàn bờ bụi rậm rạp.

Đường rất vắng, Thỉnh thoảng lại có tốp du kích khoác súng ở ven đường.

Nhưng cũng không thể phân biệt được ngay họ là du kích hay là lính Pốt, nên cũng thấy "lạnh".

Gần 10 giờ trưa, chúng tôi tới Thành phố.

Đầu tiên là tôi hỏi thăm vào Đoàn Chuyên gia Việt Nam.

Tôi gặp được Bác Trưởng đoàn là ông Phùng Tất Ứng.

Ông nguyên là Bí Thư Thị Xã Thái Bình.

Tỉnh ủy viên, nhà ở Thị xã ngay gần nhà tôi.

Nên mới mấy câu chào hỏi giới thiệu, bác cháu chuyện trò rất vui.

Tôi được biết thêm về tình hình ở quê nhà.

Về bố mẹ và gia đình tôi.

Tôi nói qua về tình hình toàn Huyện Muông.

Ông Ứng nói cho tôi biết tình hình toàn Tỉnh Bắt Tam Băng và toàn CPC.

Nói chung còn nhiều vấn đề rất phức tạp.

Ông kể ngay một số cán bộ của bạn, ăn ở bên mình vài chục năm.

Vợ con ở cả bên Việt Nam, được VN nuôi dưỡng, đùm bọc.

Nhưng khi về đây làm cán bộ đầu Tỉnh, đầu Bộ cũng đã có nhiều người có ý muốn không thân VN nữa.

Mà có ý dựa vào các nước Tư bản hay Trung lập, có tiền của nhiều.

Một số có ý trông chờ vào việc ông XIANUC sẽ về nước, sẽ thành lập Đảng mới gọi là Đảng SơRay Ca v.v..

Ông nói tiếp, về phía ta cũng có những chủ quan bất ngờ.

Nhưng cũng vẫn còn may.

Trong những năm kháng chiến, ba nước Đông Dương Đoàn Kết đánh Mỹ.

Chúng ta đào tạo cho Bạn (Khơ Me Đỏ) rất nhiều Cán bộ, rồi lần lượt đưa họ về với Cách mạng CamPuChia.

Sau một vài năm, lại thấy có một số người chạy sang lại Việt Nam.

Nói là những người đi học ở VN về.

Thân VN thường hay bị bí mật thủ tiêu, mất tích, chúng ta lúc đó đã không tin họ.

Mà còn có ý cho họ là tư tưởng ngại khó khăn gian khổ.

Thế nhưng cũng vẫn tiếp đón, cho họ ở lại vùng Tỉnh Hòa Bình.

Hầu như tất cả họ đều lấy vợ lập nghiệp tại đây.

Rồisự kiện phản động của bọn Phản động Khơ me Đỏ cùng Bành Trướng Bắc Kinh đượcPhơi bầy.

Chính quyền Cách mạng chân chính CPC được thành lập.

Rất may cho Bạnlà còn số Cán bộ trên.

Số Cán bộ này được đưa về nước, đều làm cán bộ Đảng vàchính quyền đầu Tỉnh, đầu Bộ.

Ông Bí Thư, kiêm chủ Tịch Tỉnh Bắc Tam Băng cũnglà trong số lực lượng đấy.

Ông nói tiếp: Bây giờ các cậu sang bên đó báo cáotình hình với Bí Thư Tỉnh Bạn rồi trưa về đây ăn cơm với Bác.

Tôi cùng Sa Chơn sang khu làm việc của Tỉnh ủy, Ủy ban Tỉnh.

Ông Bí thư bạn cũng khoảng 50 tuổi.

Phòng làm việc cũng là dinh thự của chính quyền các thời Xianuc, Lon Lon và cả thời Pôn Pốt nữa.

Qua mấy năm, dưới thời Pôn Pốt.

Mọi tiện nghi đã bị xuống cấp.

Những bàn ghế sô fa sang trọng, bọc da hoặc nỉ đỏ, khung vàng đã sờn rách.

Những chiếc tủ bầy trang trí rất đẹp.

Nhưng không còn những hiện vật bên trong.

Những tiện nghi sang trọng đó, cũng nói lên đã có một thời hoàng kim nơi đây, và những ngày tháng lụi tàn cận kề.

Sau một số câu chào hỏi bằng tiếng KhơMe.

Ông Bí Thư cũng chào tôi bằng tiếng Khơme.

Tôi cố gắng sử dụng vốn tiếng Khơ Me của mình để báo cáo tình hình.

Tôi hơi cảm thấy không vui, vì ông Bí thư Bạn không sôi nổi, vồn vã và không gần gũi, có phần " Lạnh".

Tôi báo cáo được một đoạn.

Bất ngờ ông Bí thư nói: Đồng chí nói tiếng KhơMe như vậy là khá đấy.

Nhưng thôi!

Đồng chí nói tiếng Việt đi cho nó nhanh.

Khuôn mặt ông có vẻ nhẹ nhõm hơn, tôi báo cáo xong mọi tình hình.

Ông cũng cảm ơn.

Rồi hỏi tôi là ăn nghỉ ở đâu.

Tôi cảm ơn ông và nói: Ông Ứng, Trưởng đoàn Chuyên gia đã mời tôi ăn cơm.

Chiều nay xong việc chúng tôi về Huyện.

Có vẻ ông cũng không cần quan tâm nhiều nữa về tình hình của Huyện.

Tôi có cảm giác gì đó không mấy thân thiện.

Phải chăng do cuộc nói chuyện với ông Trưởng đoàn Chuyện gia, nên trong tôi vốn đã không có thiện cảm.

Cuộc báo cáo, nói chuyện có phần nhạt nhẽo.

Tôi chào ông, rồi sang bên nhà Chuyên gia, cùng ăn cơm với Trưởng đoàn Chuyên gia Việt Nam.

Bữa cơm đơn giản nhưng thật vui.

Ông Ứng tỏ ra rất quý tôi, tôi có hé ý là có thể cuối tháng được đi phép.

Ông có dặn nếu về sang nhà ông.

Lúc chia tay, ông gói cho tôi gói bột ngọt, mấy mét vải cùng kẹo, thuốc lá nói tôi mang về làm quà cho anh em.

Tôi nghỉ ngơi một lúc rồi hỏi thăm ở Thành phố có điểm du lịch hay phong cảnh nào để tham quan.

Ông nói: Ở đây trước có trại nuôi cá sấu rất lớn, là điểm du lịch nổi tiếng.

Nhưng thời Pốt nó bị tàn phá rồi.

Tốt nhất nếu không ở lại tối, thì các cậu đi vòng quanh Thành phố một lúc rồi về ngay kẻo tối.

Lúc chia tay với ông thật cảm động.

Ông nói cũng không ngờ gặp được tôi - Một người con cùng Khu phố, cùng tổ, đã sống chiến đấu từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh BGTN này.

Ông dặn thêm, nếu được về phép.

Cậu phải sang nhà tớ.

Tớ có ba người con, hai trai một gái.

Cô con gái út đang học cao đẳng Sư phạm đấy!

Vòng vòng thành phố một lúc, rồi hai anh em tôi lên đường về Huyện.

Khoảng 5 giờ chiều cũng về tới Huyện.

Tôi chia cho anh em bánh kẹo thuốc của ông Ứng cho.

Rồi lên báo cáo tình hình với Ban Chính trị Trung đoàn.

Vừa thấy tôi, Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm ngạc nhiên hỏi: Sao ông lên Tỉnh báo cáo thế nào mà về ngay à?

Tình hình thế nào?

Tôi tưởng ông phải nghỉ lại trên đó mai mới về chứ?

Tôi báo cáo lại toàn bộ tình hình của chuyến đi, nghe xong đ/c Lưa nói: Thế tốt rồi có 2 việc ông phải làm.

Một là: Ông hướng dẫn, bàn giao lại toàn bộ tình hình cho ông Tẩy, ông Việt.

Ông Việt thay ông phụ trách Tiểu ban, ông có danh sách đi phép đợt này.

Các ông đi phép khoảng 20 ngày, không kể đi về.

Nhưng mỗi ông phải kết hợp thẩm tra lý lịch của hai Đảng viên cho bên Tổ chức.

Việc thứ hai là Trung đoàn cũng đã đồng ý cho hai cô The, cô Nhị về quê.

Ông làm một số giấy tờ xác nhận thời gian công tác của họ tại Trung đoàn mình.

Cấp cho họ cả giấy chứng nhận được khen thưởng cấp Trung đoàn nữa.

Rồi ông phải làm việc với bên Tài Vụ, Hậu Cần, cho mỗi người tiền và mấy tạ gạo.

Nếu thuận lợi thì khi các ông đi phép thì cho họ đi cùng về Phnom Pênh.

Tôi vui mừng nói: Ôi!

Được thế thì tốt quá rồi.

Tôi nói thêm là cô Nhịcó người em ở Tỉnh An Giang.

Ý định muốn về sống tại Việt nam với em trai.

Chủnhiệm Lưa nói: Vậy thì Ông phải làm thêm giấy giớ thiệu cho họ về An Giang sinhsống cũng được.

Ôi! thật là vui.

Từ Ban chính trị về chỗ Tiểu ban, tôi đi như là không có trọng lượng.

Từ chiến trường xa về phép ai mà không vui.

Công việc rất nhiều.

Trong đầu tôi sắp xếp lướt qua những việc cần phải làm ngay.

Khi về tới Tiểu ban, không thể giấu được niềm vui.

Tôi bèn gọi luôn Tẩy và Việt lên hội ý.

Rồi nói luôn việc tôi được đi phép, và việc giải quyết cho hai cô Nhị, Cô The về quê.

Tôi nói tiếp: Tôi có nhiều việc phải làm.

Nhất là phải chuẩn bị giấy tờ cho cô Nhị cô The.

Từ mai công việc Dân dịch vận, hai ông đảm nhiệm thay tôi.

Ông Việt được ủy quyền thay tôi làm Trưởng Tiểu ban.

Tiếp đến tôi cho mời hai cô The, Nhị lên trao đổi việc Trung đoàn đã đồng ý cho hai cô về quê.

Tất cả mọi thủ tục giấy tờ, từ mai tôi sẽ chuẩn bị.

Nếu hợp việc, thì hai cô sẽ về cùng đoàn đi phép đến Phnom Pênh.

Tôi cũng được đi phép đợt này.

Chưa nói hết câu.

Không phải cô Nhị, mà là cô The ôm chầm lấy tôi mừng vui.

Ôi anh Phú ơi!

Được đi cùng các anh về Phnom Pênh thì vui nhất đời rồi.

Thế bao giờ thì đi hả anh?

Tôi nói cũng nhanh thôi.

Khoảng ba hoặc bốn ngày nữa là cùng.

Mai tôi sẽ làm giấy tờ, lĩnh tiền cho các cô.

Trung đoàn cho hai cô 3 tạ gạo, mai sẽ lấy.

Hàng hóa ở đây nhiều, các cô có thể đổi ra các thứ mang về.

Mọi người mừng vui, Nhị cũng vậy, khuôn mặt Nhị vụt sáng lên rồi lại vụt tắt.

Sau khi hội ý xong, cô Nhị nói là muốn nói chuyện riêng với tôi.

Tôi thoáng giật mình, còn vấn đề gì nữa đây?

Cô The ra về.

Còn lại tôi và Nhị.

Tôi nói thăm dò: Được về em có vui không?

Em về sống ở Phnom Pênh hay về chỗ em trai ở An Giang.

Nhị nói luôn.

Em vui nhưng cũng không vui.

Vì sắp phải xa anh, xa anh em.

Em rất quý anh, thương anh rất nhiều.

Nhưng biết vậy mà không sao được.

Em biết kỷ luật của các anh.

Anh cứ cho em về sống với em trai ở An Giang.

Cụ thể là: Nhà máy xay xát Giải Phóng II, Huyện Châu Thành, Thị xã Châu Đốc, Tỉnh An Giang.

Nhị nói tiếp: Em biết ơn anh và các anh trong những ngày qua.

Nhưng em cũng đã nghĩ kỹ rồi.

Các anh, sự nghiệp của các anh lớn lắm.

Chúng em không theo được, dù em có sống ở VN hay PhnomPênh cũng sẽ không bao giờ quên anh.

Không bao giờ quên những ngày tháng này.

Tôi cũng cảm động không biết nói thế nào, chỉ khuyên Nhị rằng: Em nên về VN sống đi.

Anh thấy đất nước này khó hiểu lắm.

Thậm chí thấy ghê sợ nữa là khác.

Năm 70 thời chế độ Lon Lon, họ cũng đã giết biết bao nhiêu là người Việt, chặt đầu thả trôi sông về Việt Nam.

Thời Pôn Pốt này cũng vậy.

Anh sẽ làm giấy cho em về VN chỗ em trai em sống cho có chị có em.

Thôi muộn rồi em về nghỉ đi.

Anh cũng không bao giờ quên em và mọi người.

Nhị nhìn tôi ngập ngừng rồi nói: Còn việc này nữa.

Trong những ngày vừa rồi, nhất là số hàng thuốc anh mua cho em lần trước, và một số đồ em lấy ở Phnom Pênh.

Em đổi cho dân được gần bốn cây vàng.

Em chia cho anh hai cây để mua quà về gia đình.

Em có gần hai cây.

Lại còn cái máy khâu, lại còn tiền và gạo Trung đoàn cho nữa.

Tôi thật bất ngờ hỏi: Sao có ít thuốc mà em đổi được nhiều vàng thế?

Nhị nói dân ở rừng ra nhiều mọi người đều đổi như vậy.

Có khi chỉ mấy lon gạo, hay cái áo mưa, một ít thuốc đều đổi được một chỉ vàng.

Tôi nói; Số vàng đấy là của em.

Em cũng đưa cho anh hai chỉ vàng lần trước để mua mà.

Của em hết, em giữ lấy về mà làm vốn.

Anh không lấy đâu.

Nhị cương quyết không nghe.

Cứ nói rất khoát anh phải lấy.

Tôi nói anhcũng không thể mang vàng về VN được.

Về biên giớ họ kiểm tra kỹ lắm, họ thu hếtrất phí.

Nghĩ một tý tôi nói.

Vậy em có thể mua cho anh mấy mảnh vải và bộtngọt về làm quà là được rồi.

Nhị nói: Được rồi để em tính.

Ba ngày, một quãng thời gian thật ngắn so với cuộc đời người lính.

Nhưng sự chờ đợi của cái mốc ba ngày nữa là được lên đường đi phép về quê sao mà nó dài vô cùng tận.

Không phải chỉ có tôi là mới có tâm trạng như vậy.

Mà những người trong diện được đi phép, khi gặp nhau đều nói đến tâm trạng chờ đợi giống nhau.

Vì sống trong môi trường Quân đội, nhất là trong hoàn cảnh, trong điều kiện ở chiến trường thì không ai có thể nói trước được điều gì.

Năm 1977, khi những người lính đã gần đủ nghĩa vụ 5 năm.

Một số được ra quân trước 1-2 tháng thì chỉ được hưởng chế độ "xuất ngũ".

Một số thường là những người lính có ý thức tốt, được giữ lại cho đủ tròn 5 năm tuổi quân để được hưởng chế độ "phục viên".

Tất cả các giấy tờ, các quyết định đã viết, đã ký xong đang giữ ở Quân lực.

Ai ai cũng phấp phỏm đời ngày ra quân với niềm vui là mình được "phục viên" Vì phục viên nó giá trị hơn "xuất ngũ" một tý.

Đùng một cái chiến tranh biên giới xẩy ra.

Tất cả quyết định, tất cả giấy tờ chính sách chế độ đều bị hủy hết.

Mọi người lên đường ra trận.

Có những người bị thương trở về, có những người 1 năm 2 năm rồi 5 mười năm sau, mới được trở về gia đình.

Tất nhiên là có biết bao người vĩnh viễn không bao giờ nhận được quyết định phục viên hay xuất ngũ nữa.

Thay vì giấy đó là tấm bằng " Tổ quốc ghi công" đỏ chói.

Thật đau lòng!

Ở dưới Đại đội thì việc bàn giao đi phép đơn giản hơn.

Thậm chí sau mấy phút là anh em có thể lên đường được ngay còn tôi ở đây thì có bao việc phải bàn giao, bao việc phải chuẩn bị .

Cô The, Cô Nhị không phải là bộ đội trong đơn vị.

Nếu là bộ đội thì các Tiểu ban tài vụ Hậu cần, lo giấy tờ thủ tục rất nhanh, rất chuyên nghiệp.

Cô Nhị, cô The là người được tuyển dụng tạm thời nên tôi phải nghĩ, phải viết ra loại giấy tờ theo mẫu mã mới sao cho đúng, sao cho hợp tình hợp lý.

Nhất là việc lo thủ tục cho cô Nhị về sống tại Việt Nam.

Rồi tôi lại phải quan hệ với các Ban để lĩnh gạo, lĩnh tiền.

Đúng ra cũng phải năn nỉ để xin thêm tiêu chuẩn cho hai cô.

Cũng thật tình cờ, ngay sau khi báo tin cho hai cô là Trung đoàn đồng ý cho hai cô về quê.

Thì ngày hôm sau cô Nhị gặp được bà bác họ tại khu vực chợ Muông Rư Xây, khi bà bác mới ở vùng Xiêm Diệp hay Bát Tam Băng về tới đó.

Để tiếp tục cuộc hành trình về Phnompenh.

Tôi nói Cô Nhị mời bà bác về chỗ đội công tác ở tạm.

Tôi cũng báo cáo Ban chính trị về việc đó và cũng xin cho bác cháu về cùng nhau.

Từ khi cô Nhị gặp lại người bác thì rất vui không còn cái dáng vẻ trầm trầm buồn như trước nữa.

Rồi cũng đến cái ngày mọi người lên được đi phép.

Sáng hôm đó khu vực Trung đoàn bộ thật vui.

Anh em đi phép ở dưới đơn vị đã về tập kết trên Trung đoàn bộ từ tối hôm trước.

Nên từ chiều tối các Tiểu ban trong 3 cơ quan đều nhộn nhịp, cho việc liên hoan chia tay về phép.

Đồng hương, đồng khói.

Nhiều anh em gửi những gói quà nhỏ về cho gia đình.

Đây là đợt đi phép đầu tiên của những người lính tình nguyện, nên những người được đi thì niềm vui khôn tả đã đành.

Những anh em chưa được đi phép lần này, thì cũng háo hức với hy vọng sẽ đến với mình.

Tiểu ban dân dịch vận cũng tổ chức liên hoan rất to cho tôi.

Không phải chỉ cho tôi đi phép mà còn liên hoan chia tay cho cả cô The, cô Nhị về quê.

Tiệc rất vui có cả các Trợ lý các Tiểu ban, cùng Chánh Phó chủ nhiệm xuống dự.

Các cô gái rất vui nhưng lúc thì cười đùa vô tư chúc tụng.

Lúc thì lại ôm nhau sụt sùi khóc.

Trong tôi những cảm giác, những suy nghĩ, những niềm vui òa ngập đến thật lâng lâng như người đang say.

Tối muộn tiệc vui mới tàn.

Nhưng ai có thể ngủ được cơ chứ.

Cả tiểu ban thức cả, cả khu vực Trung đoàn bộ cũng vậy.

Không ngủđược, tôi tiếp tục lần mò gói gói, buộc buộc ba lô túi xách.

Những thứ linhtinh làm quà, hàng Thái Lan mua ở chợ Muông lúc chiều và số quà Nhị mua mang sang cho tôi.

Trong lòng tràodâng niềm vui khôn tả.

Đúng 7h sáng.

Tất cả số anh em được đi phép, tập trung nghe Chính Ủy kiêm Trung đoàn trưởng Đặng Văn Tố giao nhiệm vụ cho chuyến đi phép. ( Lúc này tổ chức biên chế chế độ một Thủ Trưởng.

Nên Chính Uỷ Diệp Xuân Ánh được điều lên Phòng Chính Trị Sư đoàn.

Trung đoàn Trưởng Đặng văn Tố kiêm luôn chức Chính Uỷ).

Trung đoàn Trưởng nói ngắn gọn đại ý như sau: Các đồng chí được nghỉ phép đợt đầu, là một vinh dự nhưng cũng phải nói thêm, đi phép thăm gia đình là việc làm để động viên chúng ta và động viên hậu phương.

Phải coi đây cũng là nhiệm vụ quan trọng.

Được thăm lại quê hương, gặp bố mẹ, anh em họ hàng.

Đồng chí nào có vợ có con thì được gặp vợ gặp con.

Đồng chí nào chưa có vợ thì có thể lấy vợ hoặc có người yêu v.v...

Đó là quy luật, là mong muốn của tất cả chúng ta.

Nhưng ở đây tôi nhấn mạnh hơn, nói thêm đi phép cũng là nhiệm vụ.

Vì thế các đồng chí phải chấp hành kỷ luật cho tốt.

Nhất là kỷ luật về thời gian.

Đợt này là đợt đầu nên các đồng chí đều được lựa chọn.

Các đồng chí được nghỉ tại nhà đúng 20 ngày.

Không ai được có bất kỳ lý do gì để có thể kéo dài thời gian nghỉ ở nhà.

Chỉ khi nào các đồng chí trở vào đơn vị đầy đủ, thì các đồng chí khác mới được đi phép.

Vì vậy đây là nhiệm vụ, mà là còn trách nhiệm là tình cảm đối với các đồng đội khác.

Trung đoàn Trưởng nói tiếp: Đường xa- Dọc đường vẫn còn nhiều chỗ bọn Pốt phục kích.

Vì vậy đi phép, nhưng các đồng chí phải mang súng đạn đầy đủ sẵn sàng chiến đấu dọc đường.

Khi về đến Long Bình thì để lại vũ khí tại đó.

Khi nào sang sẽ lại lĩnh lại.

Tôi thay mặt thủ trưởng trung đoàn chúc các đồng chí có nhiều niềm vui trong nhiệm vụ đi phép này.

Xin gởi lời thăm sức khỏe tới thân nhân gia đình các đồng chí.

Kết thúc bài phát biểu của Thủ Trưởng Trung đoàn, một đồng chí thay mặt đoàn đi phép, phát biểu hứa hẹn rồi mọi người ùa ra lên xe.

Hai xe Hồng Hà của Trung đoàn sẽ đưa mọi người về phép và cung ứng thực phẩm sang cho bộ đội.

Tôi lên xe thứ hai, trên đó đã có cô The và hai Bác cháu cô Nhị ngồi trên đó.

Xe nổ máy, đúng 8h xe khởi hành trong sự lưu luyến của anh em ở lại.

Lúc này cũng đã cuối mùa mưa.

Trời nắng chang chang, đường xấu, bụi bay mù mịt.

Nhưng cũng chẳng có ai để ý đến điều đó.

Đã qua khu vực đông dân cư, vào các vùng rừng thưa hẻo lánh.

Mọi người hầu như không ai bảo ai, đều lựa lại thế ngồi, vị trí ngồi có thể quan sát và sẵn sang chiến đấu tốt nhất.

Ai cũng thầm cầu mong đừng có điều gì xẩy ra.

Xe chạy qua Pua Sát, rồi dừng ăn cơm tại Tỉnh lỵ Công Pông Ch Năng.

Dân cư ở đây đã đông đúc.

Chúng tôi tranh thủ ăn cơm rồi lại khẩn trương lên đường.

Khoảng bốn giờ chiều thì đoàn xe cũng về tới Phnom Pênh.

An h em lái xe định nghỉ lại đêm ở đây.

Nhưng tất cả mọi người đang háo hức về quê nên động viên anh em lái xe về ngay Việt Nam.

Đến lúc phải chia tay với Cô The và Bác cháu cô Nhị.

Suốt dọc đường, trên xe tôi cũng không nói gì với Nhị.

Thật khó nói, những gì cần nói thì tôi cũng đã nói cả rồi.

Rất may là có bà Bác Nhị nên đã tránh được cho tôi những khó xử.

Nghỉ ngơi một lúc mọi người chuẩn bị lên đường.

Đây mới là lúc tôi và mọi người chia tay với Cô Nhị Cô The.

Đồ đạc, tư trang của mọi người đã được đưa xuống xếp gọn ven đường.

Cũng không thể nói được gì hơn là dặn Nhị ở đây một hai ngày rồi nên về Việt Nam ngay.

Tôi nắm hai bạn tay Nhị nói lời cuối tạm biệt rồi chạy trèo lên xe.

Nhị òa khóc.

Trong lúc tôi chạy trèo lên xe thì Nhị cũng rất nhanh chạy lại cỗ đồ đạc lấy một gói nhỏ.

Xe lăn bánh, Nhị chạy theo rồi vất lên thùng xe cho tôi gói nhỏ đó.

Xe tăng tốc, bụi mù che mờ dáng Nhị vẫn đứng ở đó.

Tôi thật sự xúc động cho giây phúc chia xa này.

Cũng không thể nào khác tôi cùng anh em biếu cảm bằng cánh tay vẫy vẫytạm biệt Nhị.

Tạm biệt những người phụ nữ CPC đã cùng chung sống, cùng đồng camcộng khổ.

Đã giúp chúng tôi rất nhiều, để cho chúng tôi thực hiện tốt nhiệm vụQuốc Tế vẻ vang trên đất Chùa Tháp này.

Tôi cứ cầm cái gói nhỏ mà Nhị tung lên xe, cũng không nghĩ đến việc mở ra xem có gì trong đó.

Trong lòng bừa bộn bao suy nghĩ.

Xe vẫn chạy, đến gần phà Niếc Lương, anh Chiến, anh Vinh ngồi cùng xe nói trêu: Ông Phú thẫn thờ mãi thế!

Mở gói ra xem em Nhị tặng ông cái gì nào?

Lúc này tôi mới nghĩ đến cái gói nhỏ đang cầm chặt trong tay.

Không nói gì, tôi lặng lẽ mở ra xem.

Ồ một cái đồng hồ, loại bốn đinh, vát góc, mặt lửa, sáng choang, mới tinh mà tôi từng thích.

Có lần tôi với Nhị, cùng đội công tác ra chợ Muông chơi.

Rồi vào một cửa hàng xem đồng hồ.

Tôi đã nói là rất thích cái đồng hồ này.

Và Nhị đã tặng tôi cái đồng hồ tôi từng ao ước để làm kỷ niệm.

Thật quý và cảm động biết bao.

Tôi đeo vào tay nhưng dây rộng quá nên lại cho vào cái túi đó cất đi vậy.

Xe qua phà Niếc Lương.

Khu vực này đã đông đúc tấp lập người qua lại, bán mua.

Khung cảnh đã thật sự thanh bình.

Trong đầu chúng tôi vẫn hiện ra cảnh vượt sông hoành tráng sáng ngày 7/1, với bao hào khí của Đại quân lớn, cùng với hàng đoàn xe pháo trang thiết bị, vũ khí hiện đại.

Còn bây giờ cũng là vượt sông, nhưng là để trở về Tổ quốc về với quê hương.

Nên trong lòng ai cũng vui phơi phới chẳng chút âu lo như buổi sáng đầu năm ấy.

Chúng tôi lên phà.

Trời chiều đã muộn.

Mọi người ăn cơm tối ngay tại khu vực bến Phà, rồi lại lên đường đi tiếp.

Trời đã tối hẳn.

Xe đang chạy qua những địa danh mà chúng tôi đã từng chiến đấu, đã nhiều ngày chiến đấu.

Nhưng trời tối, Chúng tôi chỉ tưởng tượng những địa hình, những trận đánh xưa.

Tới cửa khẩu Mộc Bài, rất kinh nghiệm đ/c Trưởng đoàn mang giấy giới thiệu xuống trạm báo cáo đoàn xe của Sư đoàn 341 chở anh em về đi phép.

Đ/c trạm trưởng cửa khẩu tươi cười vui vẻ, ra nói anh em gác trạm nhanh chóng mở ba ri e cho chúng tôii qua.

Không phải kiểm tra khám xét như lần trước.

Còn chúc chúng tôi về nhanh chóng lấy được vợ cho biết mùi đời.

Xe chạy trong đêm qua An Thạnh, qua Gò Dầu, qua Trảng Bàng.

Đèn điện phố xá sáng trưng.

Đất Trời Tổ Quốc thanh bình ấm êm gần gũi lạ kỳ.

Trời đêm gió lộng thật mát, thật sảng khoái.

Chúng tôi cảm thấy như đã là về đến quê nhà mình.

Xe về tới tổng kho Long Bình cũng khoảng 3h sáng.

Chúng tôi nhanh chóng chuyển đồ đạc vào cứ.

Một số lăn quay ra ngủ.

Một số thì tắm giặt thay quần áo.

Sáng hôm sau đ/c phụ trách hậu cứ gặp chúng tôi thông báo là hai ngày nữa mới có tầu.

Mọi người ăn cơm sáng, rôi bàn giao lại súng đạn cho các đồng chí hậu cứ.

Rồi mỗi người có việc riêng của mình.

Người thì về Sài Gòn gặp lại người thân, người toả ra thành phố Biên Hoà khu vực Tam Hiệp mua bán đổi chác quà cáp v.v..

Tôi rủ Lập ra Biên Hoà, rồi vào nhà anh chị Thân - Thắng chơi.

Rất may, hôm nay Chủ nhật.

Mọi người đều có nhà, bà Mẹ chị Thân ở Bắc vào chơi khoảng hơn một tháng.

Anh em tôi đến thật bất ngờ.

Anh Thắng đi mua thêm đồ về rồi gọi thêm mấy người bạn cùng nhà máy đến nhậu.

Trong số đó có cả Thuận, em út của chị Thân cũng mới từ bộ đội chuyển ngành ra làm công nhân của nhà máy.

Bữa cơm thật vui, được sống trong tình cảm chăm sóc gia đình anh chị Thân Thắng như là anh chị ruột mình.

Gặp lại tôi bà Mẹ chị Thân rất mừng nhưng khóc nức nở.

Bà nhớ Thái, con trai bà, là bạn học chơi thân với tôi từ nhỏ.

Thái đã đi bộ đội rất sớm, từ năm 68 khi mới mười sáu tuổi, bạn bè chơi với nhau, cùng tuổi nhưng Thái thuộc loại to cao chứ không gầy bé như tôi.

Thái đã hy sinh năm 72 tại thành cổ Quảng Trị.

Một điều trùng lặp là khi Thái hy sinh tháng 5/72, thì cũng là lúc tôi vào bộ đội.

Bữa tiệc gia đình thật lớn, rượu, bia đồ ăn thật nhiều, toàn các thứ ngon thật khoái khẩu.

Men bia, men rượu làm cho ai cũng hồng hào tươi rói.

Mọi người cười nói rôm rả, phải tới hai giờ chiều, bữa tiệc nhậu mới xong.

Chị Thân gói gửi tôi ít quà mang về cho gia đình và bức thư nói là giữ Mẹ ở trong này một thời gian nữa.

Chia tay mọi người, anh em tôi trở về Long Bình với bao phấn khích dư âm của bữa tiệc vui.

Tám giờ tối hôm sau, mọi người được xe ôtô của Sư đoàn chở từ Tổng kho Long Bình ra ga Hố Nai.

Nơi tập kết lên tầu.

Đây là binh trạm số một cho tuyến Bắc- Nam của Quân đội sau giải phóng miền Nam.

Từ sau giải phóng năm 75, khi đường sắt Việt Nam đã khôi phục.

Thì khu vực ga Hố Nai đã trở thànhtrạm khách quân đội.

Tất cả các lực lượng quân đội ra Bắc vào Nam đều tập kết ở đây.

Tại khu vực này, trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có những trận chiến thật sự khốc liệt với bọn tàn quân Sư đoàn 18 của QLVNCH chạy từ Xuân Lộc- Long Khánh về lập phòng tuyến " tử thủ", án ngữ tại đây.

Giờ đây, dân chúng đã về sinh sống đông đúc.

Đa phần là lính, công chức, những người phụ nữ cũng đã từng trong đội quân " Phượng Hoàng" của chế độ cũ, đã được đi học tập cải tạo.

Giờ đây họ tràn ngập ra khu vực này, bán mua với những người ra Bắc vào Nam.

Họ mua những hàng hóa, vật tư, của cuộc chiến còn sót lại trong tổng kho Long Bình mang ra.

Một số anh em ở " Cứ " đã khai thác, tìm nhặt mọi thứ trong tổng kho, thì thụt bán, mua với dân như: tôn lạnh lợp nhà, dây thép gai, sắt thép vụn, gỗ ván ép, máy móc cũ hỏng, dây điện hay bất cứ một thứ gì trong tổng kho.

Thậm chí dân bên ngoài còn gợi ý mua cả những tấm nền bê tông được chặt từng ô, về để lát chuồng lợn.

Hoặc cả những nòng súng đại bác 175 ly đã từng được mệnh danh là " Vua chiến trường".

Tóm lại là gi gỉ rì ri bất cứ cái gì trong tổng kho mang ra cũng có thể bán được.

Chính vì vậy khu vực này đã thật đông đúc.

Mỗi lần chúng tôi từ trong tổng kho ra, là hàng chục người cứ vây quanh, bám nhằng nhằng, hỏi những câu rất bất lịch sự như" Chú đội có gì bán không?

Chú đội bán gì tôi mua giá cao cho"...

Ở khu vực này, có một chứng tích chiến tranh nữa là mảng vỡ, thủng rất lớn trên tháp nhà thờ Hố Nai.

Mà chúng tôi đều được chứng kiến giây phút cuộc chiến đó.

Hôm đó là sáng sớm ngày 30/4/75.

Khi đại quân ta đã tràn ngập khu vực này.

Đang xốc lại lực lượng để tiến công Biên Hòa – Sài Gòn.

Có khoảng hơn chục tên lính VNCH lập ụ chiến đấu trên tháp nhà thờ đó.

Chúng điên cuồng dùng đại liên và các loại súng khác, bắn găm xuống đội hình của Đại quân.

Trung đoàn 273 đang ở đó.

Đ/c Cao xuân Chức Thiếu úy trợ lý tác chiến của Tiểu đoàn 2 quê Hà Nội, đ/c Thạch Quốc Cường chiến sỹ Đại đội 5 của Tiểu đoàn và nhiều anh em khác, trúng đạn hy sinh từ những loạt đạn đó.

Lệnh tiêu diệt mục tiêu.

Nhưng mọi người có ý e ngại vì đó là nhà thờ Thiên Chúa Giáo.

Nhưng bọn cuồng ác đã cố tình núp sau bóng Chúa, núp sau giảng đường tôn nghiêm để điên cuồng chống phá, điên cuồng cản bước tiến của đại quân giải phóng.

Nên nhiều anh em còn e ngại.

Được thể, bọn chúng càng điên cuồng xả đạn.

Lại thêm một số anh em trúng đạn.

Đến lúc này thì không thể đừng được nữa.

Lệnh tiêu diệt mục tiêu.

Bọn chúng ở trên tháp cao, nên dùng B41 và DKZ bắn không được vì góc tà quá hẹp không an toàn cho người bắn.

Cùng lúc đoàn tăng T54 đến và 2 quả đạn 100 ly từ xe tăng T54 đã làm bung mảng tường to tướng trên tháp nhà thờ đó.

Lũ khốn kiếp "tử thủ" đã bị đền tôi.

Cho đến bây giờ, đã sau mấy năm sau hòa bình, mà chứng tích chiến tranh đó vẫn còn nguyên.

Chúng tôi lên tầu.

Khoảng 9h30 tối thì tầu chuyển bánh.

Không ai có thể tả được cảnh vui, niềm vui của những người lính được đi phép.

Với tôi từ ngày đi bộ đội, đây là lần đi phép thứ hai ( không tính lần về tranh thủ dịp Tết năm 78).

Lần thứ nhất tôi được đi phép là vào khoảng tháng 3/76 tức là sau cuộc chiến giải miền Nam là 10 tháng.

Lần này là lần thứ 2, cũng sau giải phóng Phnompenh khoảng 10 tháng, một sự trùng lặp ngày tháng như có sự sắp đặt.

Chính vì vậy, đây là lần được điphép từ chiến trường làm nhiệm vụ Quốc Tế tại CPC.

Nên ngoài sự vui mừng, nócòn pha lẫn chút niềm tự hào.

Cảm giác trong người lúc nào cũng như là đangvang lên khúc khải hoàn ca của người chiến thắng.

Tàu chạy, phải 30 phút sau thì trong toa mới đỡ lộn xộn.

Tầu đã tăng tốc độ, tiếng xình xình, xình xình của bách tầu với những khớp nối đã thật dầy.

Đoàn tầu xé gió băng băng trong trời đêm.

Tuy vậy nhưng thời đó, tầu Bắc - Nam chưa nhanh như bây giờ.

Thường là từ Sài Gòn ra Hà Nội phải chạy, phải nghỉ, phải đi trong khoảng hai ngày ba đêm.

Hay ngược lại là ba đêm hai ngày.

Thời kỳ đó, đi được tàu Bắc - Nam đã là thuộc diện lý tưởng, nhanh nhất, an toàn nhất rồi.

Máy bay hồi đó cũng có, nhưng thường chỉ giành cho Cán bộ đi công tác.

Còn dân và bộ đội được đi tầu là cao cấp.

Thời đó còn một loại phương tiện nữa chuyên chở người ra vào Bắc- Nam.

Ngoài ô tô- tầu hỏa, máy bay, còn có một con tầu biển mang tên tầu Thống Nhất.

Cứ mấy ngày một chuyến, chạy từ cảng Bạch Đằng- Sài Gòn ra cảng Hải Phòng.

Năm 1976, lúc tôi chuẩn bị về phép thì Mẹ tôi vào Sài Gòn.

Thế rồi tôi không đi theo đường xe Binh trạm nữa.

Mà hai mẹ con tôi đi tôi đi tầu biển từ ra Hải Phòng.

Gía vé tầu biển lúc đó thật đắt.

Nhưng bù lại Mẹ con tôi có một chuyến đi thật ý nghĩa.

Đây là chuyến đi Bắc- Nam bằng đường sắt đầu tiên đối với tôi và hầu như tất cả mọi người.

Nến đã có biết bao hứng thú.

Tàu đi qua các ga, dọc các vùng miền của đất nước.

Có những cánh rừng, có những làng quê, ven những bãi biển, những hầm núi quanh co đẹp mê hồn.

Được gặp, được biết những người dân có chất giọng những vùng miền khác nhau.

Những đặc sản trái cây, thực phẩm đặc trưng của từng vùng quê.

Mà trong các sách vở lưu truyền ca ngợi.

Tàu chạy, khi thì qua ga toàn bán những trái cây như trứng gà, hồng xiêm, nơi thì bán toàn cau tươi.

Những buồng cau to, quả đẹp, lính ta mua treo đầy lên tầu, mang về làm quà.

Có người thì mua tới hai ba buồng về để làm cau hỏi vợ, cưới vợ.

Nơi thì bán nhiều cá mực khô, nem chua, kẹo mè xửng Huế.

Có ga gọi là ga "Gà", họ bán gà nguyên con đã luộc vàng ươm trông thật hấp dẫn.

Gà thật nhiều mà rẻ vô cùng.

Lính ta cứ một người một con, hoặc hai người một xếp đầy cái bàn nhỏ giữa hai hàng ghế.

Cùng với mấy chai rượu là ai nấy xé gà, nhồm nhoàm nhai, mời chào nhau ầm ĩ.

Tầu qua khu vực Vĩ tuyến 17, khu vực Vinh Linh.

Nơi chúng tôi đã từng có mấy năm luyện quân, chiến đấu bảo vệ nơi tuyến đầu Miền Bắc.

Từ đây trở ra khung cảnh khác hẳn.

Nếp sống khác hẳn từ Vĩ tuyến 17 trở vào.

Cái nghèo, cái khó của Miền Bắc với những căn nhà lá như những cái chòi nhỏ của dân.

Ruộng nương sắn khoai cằn cỗi, cây trái còi cọc.

Nhìn người bán mua gầy còm, quần áo vẫn còn vá chằng vá đụp mà thấy nao lòng.

Hàng hóa vẫn chỉ là lèo tèo, dóng mía, củ khoai, bắp ngô.

Những người bán hàng hầu như toàn là người già, em nhỏ trông thật tội nghiệp.

Thế rồi sau hai ngày ba đêm, đoàn chúng tôi cũng về được tới ga Nam Định và có xe ô tô của Binh trạm của Tỉnh đón về Thái Bình.

Con phà tại bến Tân Đệ đã đưa chúng tôi qua song Hồng.

Đây là đất Thái Bình.

Từ đây về nhà tôi còn 14km.

Chúng tôi, những người con của đất lúa, đãđang chiến đấu, đang làm nhiệm vụ Quân tình nguyện tại nước bạn CPC.

Được vềthăm quê hương, thăm gia đình.

Được sống trong vòng tay ấm áp của quê hương,của từng gia đình, từng người thân yêu, với niềm vui vô tận.

Thật không có gì tả được hết niềm vui to lớn ngày hội ngộ của người lính từ chiến trường trở về.

Của những người Cha, người Mẹ, anh em bà con hàng xóm được đón người con, người thân từ cuộc chiến Biên giới chống bè lũ Pôn Pốt IêngXaRi vẫn đang diễn ra ngày càng khốc liệt .

Trong khu phố, có rất nhiều thanh niên đi bộ đội những đợt 76-77-78 đã rất nhanh có tin dữ người này bị thương, người kia hy sinh hoặc mất tích tại đất CPC loan truyền về địa phương.

Với tôi một người người con của khu phố đã tham gia qua hai cuộc chiến, được trở về thăm gia đình với hình hài nguyên vẹn.

Thì niềm vui chung đó còn được tăng lên gấp bội.

Cô em gái út, kém tôi 10 tuổi đang học cấp 3 khi đi học về cùng với tốp bạn, thấy tôi ngoài cửa, đã reo ầm lên: A!

Anh Phú.

A!

Anh Phú!

Rồi ôm chặt tôi, nhẩy lên lưng tôi.

Bắt tôi cõng từ ngoài sân vào nhà.

Thật tình cảm và cũng thật vui nhộn.

Bà con phố xóm đến mừng, chúc tụng rồi hỏi thăm tình hình chiến sự ở CPC.

Rồi hỏi có biết người nọ, người kia thế này, thế khác.

Rồi chính họ lại kể cho tôi nghe tình hình chiến sự, những trận chiến đấu ở bên đó y như là họ chính họ là người trong cuộc.

Rồi kể thêm có con ông nọ, con bà kia đánh nhau, hy sinh bị thương, mất tích.

Rồi to nhỏ thằng nọ, thằng kia lấy được nhiều vàng v.v.

Có người hỏi tôi một cách thô thiển là: " Có kiếm được tý nào không?"

Mà sao người gầy ốm thế?.

Rồi khi đã kết thúc câu chuyện không đầu, không đuôi đó, họ tò mò giục tôi lấy vợ đi thôi, vì đã nhiều tuổi rồi.

Họ giới thiệu cô nọ, cô kia làm như là chuyện lấy vợ đơn giản dễ như là thò tay vào túi quần lấy cái kẹo không bằng.

Tôi vẫn phải ậm ừ cho qua trước nhiệt tình của mọi người.

Ngày một, ngày hai khách đến cũng thưa dần.

Chiều tối ngày thứ hai, tôi mới sang nhà ông Ứng chơi, báo tin kể chuyện là Bác Cháu đã gặp nhau mãi tận Tỉnh Bát Tam Băng của CPC gần biên giới Thái Lan.

Vợ và các con ông Ứng rất vui, khi biết tin người thân của mình.

Nhưng mọi người cũng vẫn lo về an ninh chính trị bên đó vẫn đang rất nguy hiểm có tin người này, người khác trong đoàn bị thương, bị Pôn Pốt bắt cóc mất tích.

Họ kể có những người được điều đi làm chuyên gia, đã sợ không giám đi.

Họ ngụy biện bằng lý do này lý do khác.

Tôi ngồi chơi một lúc thì cô con gái út của ông đi học về.

Mọi người giới thiệu làm quen.

Chúng tôi nhìn nhau chào hỏi.

Chuyện trò chung một lúc, có vẻ như cả hai bên không để lại ấn tượng gì.

Tôi ngồi chơi lúc nữa rồi chào mọi người ra về.

Sáng ngày thứ ba, tôi mang quà và thư đến cho gia đình Thái.

Nhà Thái trong ngõ, cũng cùng khu phố với nhà tôi.

Vẫn căn nhà ba gian, lợp lá gồi ( Lá cọ ) như xưa, cái giếng nước, cây doi ( cây mận) già như cũ.

Cổng không đóng, tôi vào nhà.

Trong nhà chỉ có một cô gái nhỏ ngồi chăm chú khâu nón.

Tôi hắng giọng, cô gái hơi giật mình ngẩng lên.

Tôi nói: Anh là Phú bạn của anh Thái.

Mới ở trong Nam ra.

Anh chị Thân- Thắng có gửi thư và quà về.

Anh gặp cả Bà và Thuận trong đó.

Hình như là mọi người nói Bà ở lại chơi thêm một thời gian nữa.

Nhìn ảnh của Thái trên bàn thờ, cùng tấm hình cùng tấm bằng:" Tổ quốc ghi công" tôi nghẹn long, xin thắp hương cho bạn.

Đợi cô gái đọc xong bức thư.

Cô gái như vui vẻ hơn trước.

Tôi hỏi thăm từng người trong gia đinh.

Cô gái giới thiệu tên là Ngọc con gái út của gia đình.

Nhà hiện có một chị gái cũng mới đi bộ đội về.

Ông bố thì bán hàng ăn ngoài cửa hàng.

Tôi ngẫm nghĩ một lúc không thể nhận ra người em gái của bạn.

Bèn hỏi vậy có phải em ngày xưa còn bé mọi người hay gọi là "thỏ ngọc" hay bị anh Thái trêu khóc nhè đúng không.

Cô gái ngượng cười không trả lời, mà hỏi tôi được về phép lâu không?

Rồi bao giờ lại vào trong đó.

Không hiểu tại sao tự nhiên thấy người em gái của bạn gần gũi một cách lạ kỳ.

Chuyện trò một lúc được biết Ngọc kém tôi 7 tuổi.

Mới học xong lớp 10.

Nhưng không đủ điểm vào Đại học.

Đang đợi thi năm tiếp.

Là em của Liệt sỹ nên khu phố nói có tiểu chuẩn đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài Liên xô hay Đức, Tiệp gì đó, nhưng em muốn thi lại Đại học năm nữa.

Tôi nói; Em nghĩ như thế là đúng đấy.

Nên thi lại một năm nữa đã rồii tính.

Người em gái bạn có nước da trắng trông thật hiền lành, một nữ sinh xinh sắn.

Tự nhiên tôi thấy gần gũi, thấy như là có trách nhiệm thay bạn đối với em gái của bạn.

Ngồi chơi một lúc nữa tôi chào ra về để sang bên cạnh thăm, thắp hươngcho người bạn khác cũng hy sinh trong những năm chống Mỹ.

Tôi hẹn sẽ đến vàobuổi khác.

Cô gái chia tay chào tôi bẽn lẽn.

Không hiểu sao hình ảnh của cô bé ngày xưa hay khóc và cô gái, một nữsinh có nước da trắng hiền dịu bây giờ cứ hiện lên trong tôi thật gần gũi nhưlà hai người đã có cảm tình gì đó với nhau từ lâu rồi.

Những ngày tiếp theo, tôi thường sang chơi chuyện trò với cô gái khâu nón.

Ngọc là tuýt người nhút nhát kiệm lời.

Hầu như chỉ toàn tôi chủ động hỏi chuyện, kể chuyện là chính.

Tôi hay kể về những ngày xưa còn bé, tôi thường hay đến nhà chơi thế nào.

Rồi kể lại, đúng ra là ôn lại những năm tháng sau này, lớp tuổi chúng tôi lớn lên trong tiếng kẻng, tiếng còi báo động.

Tiếng máy bay Mỹ gầm thét, tiếng bom tiếng đạn rầm trời.

Các gia đình phải sơ tán về các miền quê.

Chúng tôi cũng phải theo gia đình về sinh sống tại các vùng quê.

Thật đói khổ.

Suốt ngày phải đội trên đầu chiến mũ bện bằng rơm để chống mảnh đạn, chống bom bi sát thương.

Thái Bình hồi đó tại xã Thụy Dân, Huyện Thái Thuy, Đã bị máy bay Mỹ ném bom trúng lớp học.

Cả cô giáo, cả mấy chục em học sinh đều bị chết.

Rồi có những gia đình đang ngủ bị bom Mỹ rơi trúng nhà.

Cả gia đình bị xóa sổ.

Thời đó mọi người còn nói đùa về sự chết chóc hy sinh là bị: " Mỹ cắt hộ khẩu hộ tịch".

Rồi chúng tôi đi học lớn lên ở những vùng sơ tán đó.

Đến những năm 1968 lác đác có những đứa bạn đã nhập ngũ đi bộ đội, ra chiến trường.

Cả nước đâu đâu cũng hực hực khí thế tòng quân ra trận đánh Mỹ.

Rất nhiều người chưa đủ tuổi cũng viết đơn xin được nhập ngũ.

Thậm chí nhiều người đã viết đơn bằng máu, ký tên bằng máu của chính mình.

Thể hiện lòng căm thù giặc Mỹ và thể hiện sự hăng hái ra trận đánh Mỹ, giải phóng Miền Nam.

Thái anh của Ngọc với vóc người cao to hơn các bạn cùng trang lứa, cũng viết đơn tình nguyện đi bộ đội.

Khi đó Thái cũng mới có 16 tuổi.

Trong thế hệ của chúng tôi, Thái là người tòng quân, nhập ngũ sớm nhất.

Hầu như Ngọc không bao giờ chủ động hỏi chuyện, mà chỉ khi tôi hỏi gì thì Ngọc mới trả lời.

Thi thoảng lắm mới chủ động hỏi tôi một vấn đề gì đó.

Sau vài lần đến chơi tình cảm hai đứa tôi đã thấy thật gần gũi.

Trong tôi thì vẫn song hành hai luồng tình cảm, vừa là yêu và vẫn vừa là thấy mình là anh của Ngọc.

Gia đình Ngọc và mọi người thì rất quý trọng tôi.

Riêng mấy cô bạn thân cùng học với Ngọc thì có ý chê tôi là "già".

Cùng học với Ngọc nhưng Ngọc hơn các bạn 2 tuổi.

Ngọc đã 20 tuổi còn các cô bạn học mới có 18 tuổi.

Họ có ý đó cũng là điều đương nhiên.

Song trong tình cảm đang nẩy nở giữa tôi và Ngọc, tôi cảm thấy thật tự tin vào mình.

Khi tình cảm giữa tôi và Ngọc có vẻ tương đối rõ nét.

Mẹ tôi có hỏi tôi về quan hệ đó.

Tôi nói với Mẹ là: Con đến với Ngọc, yêu Ngọc cũng thật tự nhiên.

Mẹ tôi có ý lo là với một cô gái xinh xắn như vậy, còn quá trẻ, rồi lại đi Đại học.

Rồi lại đi thoát ly, liệu có giữ được tình cảm tình yêu với tôi để đến với hôn nhân.

Trong khi tôi sẽ lại ra trận.

Sẽ lại tiếp đời binh nghiệp, với súng, với đạn, với sình lầy nước đọng ở miền Cam Pót xa xôi?

Ý mẹ tôi là muốn tôi có thể yêu ai, cưới ngay ai, đang là giáo viên, là công chức.

Hay đang là người có công việc ổn định.

Tôi thật cảm động.

Tôi hiểu lòng Mẹ tôi.

Tôi nói với Mẹ: Chắc con không yêu ai.

Con gặp Ngọc, đã quý mến Ngọc, yêu Ngọc.

Ngọc là con nhà có truyền thống gia giáo.

Ngọc rất ngoan và hiền lành.

Nếu sau này thành vợ thành chồng, con đi xa, con tin Ngọc sẽ là con dâu tốt, người vợ tốt.

Con sợ nhất là những chuyện nàng dâu, mẹ chồng bất hòa như nhiều gia đình khác.

Tôi nói thêm: Mẹ ủng hộ con.

Nếu Ngọc đi Đại học, Ngọc không yêu con nữa thì sau này con về, Mẹ nói con lấy bất cứ ai làm vợ thì con sẽ lấy ngay.

Mẹ tôi không nói gì thêm.

Bà chỉ nhìn tôi với những tình cảm bao dung thượng cao của người mẹ, với người con ngoan, niềm tự hào của Mẹ, của gia đình.

Mấy ngày tiếp theo, tôi phải tranh thủ đi thẩm tra lý lịch Đảng viên ở hai Huyện Thái Thụy và Đông Hưng.

Hai huyện, hai hướng đường khác nhau.

Thời đó chỉ đi xe đạp.

Nên mỗi trường hợp làm xong mất tròn một ngày.

Rồi tôi lại xuống thăm gia đình anh Liễn.

Chuyển quà và thư của Phó chủ nhiệm Liễn mãi Xã Thụy Việt, Thái Thụy.

Quê của phó chủ nhiệm là một làng quê gần biển. cuộc sống của dân chúng nơi đây thật nghèo.

Vợ của Phó chủ nhiệm Liễn mới sinh con.

Chị kể cảnh phải xa chồng phải sinh đẻ một mình khổ cực như thế nào.

Ngày xưa thời chống Mỹ thì các gia đình có chồng đi bộ đội nhất là đang ở chiến trường, thì vợ con ở nhà được chính quyền và dân quan tâm nhiều hơn.

Còn sau giải phóng Miền Nam đến giờ, thì sự quan tâm rất hạn chế.

Hoàn cảnh neo người, nên chị vừa sinh được con 4 ngày đã phải đi lội bùn, lội ruộng cấy lúa.

Đây là một điều rất kiêng kỵ với gái đẻ, phải làm sớm, phải lội ruộng sớm rất hay bị những bệnh " Hậu sản" sau này.

Nghe chị kể mà tôi trào nước mắt, thật tội nghiệp thật xót xa cho những người vợ lính thời nay.

Chị nói thêm: Dù anh có làm tới chức gì, cao to thế nào đi nữa chị cũng không thích.

Chị chỉ muốn anh ấy về với chị, về với con.

Tôi lặng người cũng không thể nói được gì hơn.

Cũng có thể chúng tôi chỉquen với cái khổ, cái đói khát, cái gian lao vất vả nơi chiến trường.

Cho mìnhlà khổ nhất, thiệt thòi nhất.

Còn họ những người vợ, những người phụ nữ vợ củalính này, cái thiệt thòi, cái khổ mà họ đang chịu đựng.

Cũng không phải là bé,cũng không phải là bình thường.

Thật xót xa và thật đáng ngợi ca khâm phục.

Thái Bình là một Tỉnh thuộc Đồng Bằng Châu thổ sông Hồng.

Những năm trước từng được mang thêm cái danh là: "Vựa lúa của miền Bắc".

Có lẽ cả miền Bắc duy nhất chỉ có Thái Bình là Tỉnh thật sự là đồng bằng.

Vì cả Tỉnh không có đến một cái gò nào cao quá mấy mét.

Chứ chưa nói đến có đồi có núi.

Từ xa xưa, ai cũng biết nơi đây cạnh dòng sông Hồng.

Thuộc khu vực xã Tiến Đức, Huyện Hưng Hà, là nơi phát tích của Vương Triều Trần.

Là một Vương triều với nhiều đời Vua, đã duy trì đế chế được gần 200 năm.

Với lịch sử và chiến công hiển hách đánh giặc ngoại xâm.

Đã sản sinh ra nhiều anh tài, Tướng tài như Trần thủ Độ, Trần thị Dung, Trần Quốc Toản, Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo.

Gần hơn thì có nhà bác học Lê quý Đôn.

Tỉnh Thái Bình là Tỉnh thuần nông, đông dân.

Với tổng diện tích nhỏ nhất so với các Tỉnh nhưng những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Thái bình luôn là tỉnh dẫn đầu về số quân, số lương thực cung cấp cho quân đội, cho Tiền tuyến với khẩu hiệu: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người".

Thái Bình có vị trí địa lý kẹp giữa Sông Hồng và Sông Luộc, phía Đông giáp biển.

Những năm trước, khi chưa có cầu qua sông Hồng, sông Luộc.

Thì Tỉnh Thái Bình giống như một ốc đảo, bởi sông và biển bao quanh.

Mấy trăm năm trước, nơi đây toàn là đất bãi bồi, cây sậy, cây cỏ hoang dại.

Dần dần dân ở các Tỉnh, các nơi di cư đến trú ngụ, lập ấp.

Trong số các cư dân đến có rất nhiều thế hệ, nhiều dòng họ đã từng là quan trong các Vương Triều, bị truy đuổi, truy sát do thất sủng của nghiệp quan.

Hay do các vương triều bị thay thế, thì bị tàn sát xua đuổi, họ chạy về đây để tránh bị họa:"Chu di tam tộc, cửu tộc".

Rất nhiều dòng họ khi về đây phải thay tên đổi họ.

Như họ Vũ ở vùng Đông Hưng xưa kia là họ Mạc có nhà khoa học toán học Vũ Đình Cự.

Họ Đặng xưa kia là họ Trần và nhiều họ khác nữa.

Như khu vực làng Nguyễn thực chất là từ vùng Nam Kinh Thanh Hóa chạy ra.

Vì có nhiều dòng họ từ các nơi dồn về.

Nên Thài bình cũng có nhiều nghề đặc sắc, độc đáo nổi tiếng như: Múa rối nước, làm pháo hoa, cây bông.

Làm bánh cáy ở làng Nguyễn, dệt vải ở làng Mẹo, chế tác vàng bạc ở Đồng Sâm, Kính khoá ở Lịch Động, Chiếu cói ở làng Hới vv..

Về du lịch thì cũng có một vài nơi như vùng biển Đồng Châu, Diêm Điền.

Nhưng bãi biển ở đây là vùng đất bồi do phù sa của 2 con sông Hồng, sông Luộc bồi đắp.

Cứ khoảng chục năm lại phát triển thêm làng thêm xã lấn ra biển.

Vì vậy nên biển Thái Bình có nhiều phù sa.

Chứ không có được bãi tắm đẹp như các bãi biển của các Tỉnh Miền Trung.

Cả Tỉnh có một vài ngôi Đền lớn, như Đền Tiên La, Đền Đồng Bằng thờ các vị Tướng, và thờ Vua Cha Bát Hải.

Riêng khu vực xã Tiến Đức, nơi phát tích của Vương Triều Trần do những năm tháng lụi tàn khi thay đổi Vương Triều.

Rồi những năm chiến tranh sau này, những Đền đài, Lăng Mộ của các vị Vua đã bị đổ nát, tàn phai chỉ còn lại dấu tích mờ nhạt không mấy ai để ý.

Đặc biệtlà ven sông Hồng, có một ngôi Chùa lớn có thể nói là về quy mô, thì ngôi Chùalớn nhất khu vực đồng bằng Sông Hồng, hoặc lớn nhất miền Bắc đó là Chùa Keo.Với kiến trúc toàn bằng gỗ.

Ngôi chùa đã có lịch sử từ sau thời nhà Lý.

Tươngtruyền, Chùa Keo được tách từ chùa Cổ Lễ thuộc đất Nam Định.

Lễ hội chùa Keorất lớn.

Hội chính được tổ chức vào ngày 15/9 âm lịch hàng năm.

Những ngày cuốicủa đợt phép của tôi vào đúng ngày lễ hội Chùa.

Vào những ngày lễ hội, khi mà tiết trời đã cuối thu.

Việc đồng áng, mùa màng thu hoạch cũng đã xong.

Nên bà con, già trẻ, gái trai, trong ngoài Tỉnh đều nô nức về đây đi hội Chùa, cầu cúng xin phúc, xin lộc.

Nam nữ, gái trai, thì đi vui chơi cầu duyên, lấy may.

Đã nhiều năm, do chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Tránh tập trung đông người, nhà Chùa không mở hội.

Năm nay, nhà Chùa chính thức mở hội, nên lượng người đi lễ hội rất đông.

Số anh em tôi về phép cũng rủ nhau đi hội.

Đội hình gồm anh Lập, vợ chồng anh Vinh, vợ chồng anh Chiến và đương nhiên là có tôi.

Tôi xin phép gia đình hai bên, cho tôi đi chơi hội với Ngọc, cùng các cô bạn gái của Ngọc.

Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được đi hội chùa Keo.

Lần thứ nhất là hồi nhỏ, lúc khoảng 12-13 tuổi.

Tôi đi cùng với các bạn học, có cả Thái anh của Ngọc cùng đi.

Từ Thái Bình, đến hội Chùa khoảng gần 20km.

Chúng tôi phải đi bộ từ sớm, Thời đó dân trí, kinh tế chung của cả xã hội còn thấp, còn nghèo.

Nên mọi người đi hội thường chuẩn bị cơm nắm, cơm đùm.

Chúng tôi lần đầu đi hội thật háo hức, thật vui nhộn của lũ trẻ con.

Còn lần này được đi hội, trong tâm trạng cũng thật háo hức.

Với niềm vui của thanh niên, của người lớn.

Thời đó xe máy chưa có nhiều.

Mọi người đều đi bằng xe đạp.

Vợ chồng anh Chiến, anh Vinh, anh Lập cũng vậy.

Tôi thì cũng đạp xe và đương nhiên có cô gái khâu nón, em của bạn, người yêu ngồi sau.

Các bạn Ngọc cũng đi rất đông.

Họ vô tư, họ nhí nhảnh, xinh đẹp trắng trong nữ sinh thật vui.

Họ cười đùa trêu chọc tôi và Ngọc.

Chúng tôi có ý ghép cho Lập tìm, chấm, chọn ai trong số đó.

Càng gần Chùa, đường đi càng hẹp, dòng người từ các hướng dồn về càng đông.

Đội hình đoàn chúng tôi hầu như không giữ kèm nhau được như trước nữa, mà tản mát hòa quyện lẫn vào dòng người.

Đúng là đông như hội, vui như hội.

Ai cũng mặc những bộ quần áo đẹp nhất đến với hội Chùa.

Năm nay Tỉnh đồng ý cho Chùa mở lễ hội lớn.

Nên có tổ chức nhiều trò vui truyền thống như rước kiệu, thi bơi thuyền, vật, đi cầu kiều, đuổi vịt, bắt vịt, bắt lợn dưới nước.

Tổ tôm, cờ tướng cùng nhiều trò chơi dân gian khác.

Chính vì thế nên lễ hội năm nay càng đông người đến dự.

Khi chúng tôi đến hội khoảng mười giờ sáng, thì đường đã thật đông, chặt cứng như nêm trên bờ đê cách cả km.

Mọi người gửi xe rồi vào chen vào thắp hương các cửa điện, các nơi phải cúng lễ.

Những bức tượng thật lớn, sơn son thiếp vàng thật uy nghi, Tượng trăm tay, trăm mắt của Phật Bà Quan Âm ẩn hiện trong hương khói.

Càng tôn thêm vẻ huyền bí tín ngưỡng Thần Thánh.

Người vào thắp hương cúng lễ chen chúc đông chặt như nêm cối.

Tôi lúc nào cũng như là vệ sỹ đi kèm cô em gái của bạn.

Nhìn Ngọc mồ hôi lấm tấm, mặt má đỏ hồng càng tôn thêm vẻ xinh sắn.

Tăng thêm vẻ đẹp con gái.

Thật hấp dẫn.

Trong tôi trào dâng lên cảm giác yêu mạnh mẽ.

Tôi linh cảm: Đây!

Đây đúng là người phụ nữ, người vợ, người bạn đời của mình.

Buổi trưa, mọi người quây quần, rải rác từng đám trước sân Chùa, trên vệ đê, trên đê ăn cơm nắm, ăn bún bánh, ăn xôi gà, thụ hưởng lộc Phật, lộc Thánh.

Cùng thưởng thức những hoa trái, sản phẩm khác của quê hương cũng thật vui.

Rất nhiều người sau khi cũng lễ xong tại đây, thì lục tục đi thuyền qua sông Hồng đi tiếp lễ hội bên Chùa Cổ Lễ thuộc đất Nam Định.

Chúng tôi không đi lễ hội bên đó.

Mà ngồi chơi vãng cảnh Chùa đến chiềuthì rủ nhau trở về.

Kết thúc một ngày vui thật trọn vẹn, thật nhiều ý nghĩa.Đây là ngày vui, là dấu ấn thật sâu sắc trong chuyến đi phép này của cuộc đờitôi.

Sau lần đi chơi hội với bao kỷ niệm thật đáng nhớ.

Tình cảm giữa tôi và Ngọc ngày càng rõ nét hơn.

Nhất là ông bạn làm thợ ảnh đã ghép những tấm ảnh của chúng tôi lại với nhau.

Tôi hỏi sao ông lại ghép như vậy.

Thì ông bạn nói.

Chuẩn bị cưới đi thôi, chứ còn đợi gì nữa.

Lúc đó tự nhiên tôi lại giật mình, nghĩ đến chuyện cuới vợ.

Với mình sao cảm thấy nó xa vời thế.

Tôi nói: Cứ biết vậy đã.

Chứ sắp hết phép rồi, tôi lại phải sang tận CămPuChia.

Lại phải chiến đấu bùng bình súng đạn.

Biết đến bao giờ mới lại được về.

Thôi thì cứ yêu, biết là yêu cái đã.

Chứ đời lính chúng tôi làm sao mà chủ động được.

Đã lại sắp đến ngày trả phép.

Ngọc đã bạo dạn hơn.

Tối đã cùng đi chơi với tôi đến thăm gia đình các bạn bè hay nhà này nhà khác.

Hoặc có lần còn rủ nhau ra bờ đê Trà Lý ngồi tâm sự.

Được ngồi bên người con gái trẻ đẹp, bên người yêu trong gió mát trăng thanh thật là bộn chộn lý thú, không thể có gì hấp dẫn mê say bằng.

Có lẽ cũng không thể có lời nào tả hết được nỗi lòng sung sướng rạo rực đang trào dâng của mình.

Cầm tay Ngọc, tôi nắm nhẹ nhẹ, hít thở thật sâu mùi thơm của hương tóc, của da thịt con gái.

Đúng ra là của phái nữ, của Trời, của Đất tạo hóa.

Với tôi, người lính chiến bao năm chỉ biết đạn bom với đói khát, với nước đọng xình lầy, với những hy sinh đầy máu và nước mắt.

Cùng những hờn căm, những trai sạn của người lính chiến.

Tôi thật hạnh phúc, thật bất ngờ như không thể tin được mình cũng có được những niềm vui, những tình cảm quý hiếm thiêng liêng này.

Tôi ngửa mặt nhìn Trời đêm.

Cũng những vì sao kia.

Tôi chợt nghĩ đến những đêm gác dài, căng thẳng mong Trời chóng sáng, hoặc những lần luồn sâu trong đất thù nơi chiến trận.

Đã nhiều, thật nhiều lần tôi ngửa mặt nhìn Trời đêm.

Thuộc lòng các vị trí của các vì sao, chòm sao, cùng những suy nghĩ Trời đêm ở đây thật giống quê mình.

Bất giác tôi trào nước mắt, nghĩ đến những năm tháng gian khổ đã qua.

Nghĩ đến giây phút đang rạo rực hạnh phúc này.

Thế mà ở phương Trời xa còn biết bao đồng đội của tôi đang ở chiến trường, cũng đang ngắm sao đêm như tôi, nhưng trong bóng đen của rừng núi, của đói khổ và của những cơn sốt rét rừng hành hạ.

Bần thần với chuỗi suy nghĩ liên tưởng của mình.

Tôi hơi giật mình, bất ngờ khi Ngọc hỏi tôi:" Anh nghĩ gì mà im lặng thế?"

Ngọc không biết là tôi đang khóc.

Những giọt nước mắt của hạnh phúc.

Những giọt nước mắt của sự thương nhớ xót sa cho đồng đội đang khổ cực nơi chiến trận chảy dài trên má.

Tôi quay sang Ngọc thật tự nhiên dang hai tay ôm Ngọc thật chặt, đặt lên má, lên môi Ngọc nụ hôn, rồi nhiều nụ hôn thật say đắm.

Ngọc bất ngờ trước tình cảm của tôi, miễn cưỡng chấp nhận biểu cảm có phần mạnh mẽ thái quá đấy.

Chấn tĩnh lại tôi nói: Anh yêu em, Trời Đất, Thượng đế đã sắp đặt cho chúng mình gặp nhau và yêu nhau.

Chúng mình sẽ cưới nhau, sẽ thành chồng thành vợ em nhé.

Anh hứa sẽ là người chồng tốt của em.

Nhưng anh sắp phải chia tay em để trả phép vào đơn vị.

Cũng chưa biết đến khi nào thì được về.

Nếu yêu anh, đồng ý lấy anh thì em phải chờ đợi.

Mà có lẽ em chưa thể biết được sự chờ đợi trong nhung nhớ khổ đau như thế nào.

Việc này tất cả là tùy em.

Tôi kéo Ngọc gần lại, Ngọc nép chặt vào tôi thỏ thẻ nói trong hơi thở: Em yêu anh và sẽ đợi chờ anh.

Ôi!

Có lẽ không còn gì hạnh phúc bằng.

Chúng tôi lại trao cho nhau những nụ hôn thật dài.

Rồi Ngọc nói: Muộn rồi, về thôi anh.

Tôi cũng cảm thấy là đã muộn, chớm đông, sương xuống, hơi nước từ dưới sông phả lên làm chúng tôi cảm thấy lạnh.

Chung quanh đã thật vắng vẻ.

Tôi đưa Ngọc về nhà.

Kết thúc một lần đi chơi tối đầu tiên thật hạnh phúc.

Vì ngày trả phép đã đến.

Hai hôm sau các anh em ở dưới Huyện lại lục tục lên nhà Tranphu tập trung rồi ra binh trạm giao liên cách nhà Tranphu khoảng 3 km.

Trạm khách, đúng ra là binh trạm giao liên thời bình thật vui.

Tốp nọ tốp kia tụm năm tụm bẩy, chuyện trò ầm ỹ, có cả những người già, là Ông là Bà, là Cha, là Mẹ.

Cùng những đứa trẻ nhỏ.

Rất nhiều những thanh niên nam nữ ra tiễn chân bạn.

Vui cười rối rít.

Xen lẫn tiếng cười là cả tiếng sụt sịt cùng đôi mắt đỏ hoe của những người vợ hoặc của các cô gái trẻ.

Trong đó có Ngọc.

Các cô bạn gái Ngọc đi cùng với Ngọc ra tiễn chân tôi, đúng ra là ra tiễn chân chúng tôi.

Trong giờ phút này thì cũng chẳng thể nói thêm được gì.

Những gì quan trọng, cần nói cần thể hiện với nhau cũng đã nói hết.

Đợi không lâu thì xe đến.

Tất cả mọi người nhanh chóng xếp đồ đạc rồi lên xe, những phút giây nhốn nháo nhưng thật vui.

Cùng với những cái bắt tay, là những lời chúc, lời chào may mắn.

Đã đến lúc phải lên xe.

Trên xe mọi người đã giục bằng câu đùa.

Hôn nhanh cái rồi lên xe đi ông Phú ơi!

Không thể lán lại lâu hơn được nữa.

Tôi choàng tay ôm nhanh Ngọc, hôn nhanh lên mái tóc Ngọc một cái rồi nói: Anh đi nhé!

Buông Ngọc ra, nhìn Ngọc, nước mắt đã chẩy dài xuống hai gò má.

Tôi bắt tay tạm biệt các cô bạn gái Ngọc cùng những người thân của gia đình tôi.

Xe bóp còi chuyển bánh, tôi chạy, nhẩy lên xe, đứng ở cửa xe vẫy chào tạm biệt mọi người.

Đến khi không thể nhìn thấy ai nữa mới ngồi xuống ghế của mình.

Xe đưa chúng tôi tới phà rồi tới nhà ga Nam Định.

Đợi không bao lâu thì tầu đến.

Đoàn quân trả phép chuyển sang tầu, sau hai đêm ba ngày thì lại tới Ga Hố Nai, Biên Hòa lúc 6 giờ sáng.

Chúng tôi xuống tầu rồi lại trở vào Căn cứ tại Tổng Kho Long Bình.

Kết thúc chuyến đi với 100% trả phép đúng hạn.

Tắm rửa, nghỉ ngơi, đến gần trưa thì tôi mang quà cùng thư của Ngọc đến cho gia đình chị Thân Thắng.

Trong bữa cơm trưa, thay lời khó nói, tôi đưa những bức ảnh chụp trong lần đi chơi hội Chùa cho anh chị Thân Thắng xem.

Chị Thân tủm tỉm cười nói: Như vậy là hai đứa cảm nhau hả.

Em sẽ làm em rể của chị hả.

Vui đấy, hay đấy.

Tôi nói: Chắc số phận thế nào đấy, chúng em gặp nhau rồi cảm thấy quý mến nhau ngay.

Nhưng có cái khó là Ngọc còn đi học, em lại sang "bên kia" không biết là sẽ thế nào.

Mọi người trầm hẳn đi.

Anh Thắng phá tan cái không khí nặng nề bất chợt đó nâng ly rượu nói: Chú không phải lo nghĩ chuyện đó.

Rồi chúc sức khoẻ mọi người, chúc về chuyến đi phép của tôi.

Chúc tôi và anh sẽ là đồng hao trong tương lai.

Anh nói vui: Như vậy anh em mình là anh em cọc chèo, anh chèo mũi, còn em chèo lái. ( Ý nói anh là rể trưởng còn tôi là rể út) Bữa cơn trong không khí tình cảm gia đình thật vui.

Xưa mọi người quý mến tôi vì tôi là bạn than của Thái.

Còn bây giờ lại thêm một sự quý trong nữa coi tôi đã như là một người con, một thành viên trong gia đình thực thụ.

Qua trưa mọi người đi làm.

Tôi ở chơi với Mẹ một lúc nữa rồi trở về LongBình.

Ngay ngày hôm sau đã có xe của Sư đoàn chở chúng tôi sang lại CămpuChia.Như vậy kết thúc chuyến đi phép xa đơn vị đúng 35 ngày.

Trong những ngày chúng tôi đi phép xa đơn vị.

Tình hình tại các khu vực Huyện Muôn Rư Xây và toàn cục của CPC không có những biến động lớn.

Về quân sự, chúng ta truy đuổi, vậy ép bọn Pốt tới biên giới Thái Lan.

Bọn chúng phải trú ngụ ở những vùng núi rừng hiển trở.

Những cơ quạn đầu não của Trung ương đảng Pốt còn được Thái Lan cho trú ngụ hẳn bên đất Thái.

Về tình hình Chính trị xã hội, chính quyền các các từ Trung ương đến địa phương đã và đang được hoàn thiện.

Các tổ chức quần chúng cũng đã được củng cố.

Lực lượng Quân đội, cùng các lực lượng dân quân du kích của các Xã, các Phum đều đã được hình thành và hoạt động có hiệu quả.

Đời sống của nhân dân nhất là vùng đồng bằng đã thật sự được ổn định.

Song về tình hình Quốc Tế, thì dưới sự vận động của Trung Quốc cũng vẫn còn có một vài nước, một số tổ chức từ thiện, chưa thật tin tưởng ở chế độ mới.

Bằng chứng là Thái Lan vẫn cho bọn Pốt trú ngụ ở giáp gianh biên giới và nhiều nơi chúng còn lập căn cứ sâu hẳn trong nội đia.

Điều này đã làm khó cho các lực lượng truy quyét của ta.

Từ những căn cứ này, chúng tổ chức móc nối về đất liền.

Cùng tiếp nhận hàng hóa từ các tổ chức giúp đỡ nhân đạo giúp cho nhân dân Campuchia.

Nhưng chúng không chuyển trực tiếp, mà lạị trung chuyển tới cảng Thái Lan.

Nên rất nhiều hàng hóa đã rơi vào tay bọn Pốt.

Tình hình chính trị ngay tại trong nước CPC, Trong chính quyền của ông HênxomRin có một số phần tử cũng đã mạnh nha có những hành động và thái độ thiếu hiện chí.

Nhất là từ sau khi ông Hoàng Xianux về nước.

Ông vẫn bị lực lượng Pốt và thế lực "Bành Trướng" khống chế.

Nên ông cũng không dám nói hết sự thật.

Chưa hết lòng ủng hộ chính quyền của ông Hên Xom Rin và Đảng do ông Ben Xô Van làm Bí Thư.

Mà ông thành lập một Đảng mới.

Trong những lần phát biểu tại các diễn đàn, ông không bao giờ dám ca ngợi, cùng sự biết ơn Việt Nam đã cứu giúp dân tộc Khơ Me khỏi họa diệt chủng.

Mà những lời, những bài phát biểu của ông như đã bị nói theo sự sắp đặt của các thế lực khác.

Tình hình an ninh chính trị trong khu vực Huyện Muông Rư Xây do Trung đoàn 273 đảm nhiệm tương đối tốt.

Dân tình đã thực sự được hồi sinh.

Riêng khu vực hai Trung đoàn 270-266 trong Tà Xanh- Săm Lốp thì vẫn còn phức tạp.

Trong rừng sâu núi thẳm, khí hậu, thổ nhưỡng rất độc.

Nên anh em 2 Trung đoàn gặp rất nhiều khó khăn, trong sinh hoạt ăn ở.

Sốt rét hoành hành, đường xá cơ động phức tạp.

Lực lượng Pốt trong khu vực này hoạt động còn mạnh.

Chúng bắt đầu dùng mìn để cài bẫy, phục kích ta.

Tỷ lệ anh em Cán bộ, chiến sỹ bị hy sinh vì mìn và vì sốt rét tăng cao.

Sau một hai ngày nghỉ thăm các anh em sau chuyến đi phép.

Tôi lại bắt tay ngay vào công việc rất bận rộn của Dân dịch vận.

Trong việc xây dựng chính quyền ổn định đời sống nhân dân.

Khoảng cuối tháng 1 năm 1980, được nhân dân báo có một lực lượng Pốt khoảng hơn 200 tên đang di chuyển từ hướng Tỉnh Công Pông Chi Năng lên men theo Biển Hồ.

Dọc theo Biển Hồ là khu rừng rậm lúp xúp.

Hầu như không có đường.

Vì có nhiều nơi còn có bùn lầy.

Chẳng lẽ bọn Pốt đã đưa lực lượng hàng trăm tên từ Thái Lan lọt được về.

Trung đoàn chỉ đạo cho ban chỉ huy Tiểu đoàn 1 cùng Tiểu Ban dân dịch vận nhanh chóng đi xuống khu vực được dân báo để nắm tình hình.

Đúng là có một lực lượng như vậy có trang bị vũ khí, súng đạn.

Nhưng không phải chúng từ biên giới Thái Lan về.

Mà chúng lại là lực lượng phản động trong khu vực tỉnh Công Pông ChNăng đến.

Đang tìm đường vượt biên sang Thái Lan.

Tiểu đoàn 1 để lại một bộ phận chốt cứ được tăng cường thêm 2 Trung đội Trinh sát của Trung đoàn.

Kết hợp với Đại đội Z ( Bộ đội CPC) đi lùng sục tiêu diệt bọn này.

Sau hai ngày luồn rừng, đã phát hiện được dấu vết đường đi của lực lượng trên.

Nhân dân ở những nơi chúng vừa đi qua bị chúng khống chế, bắt dân phải cung phụng cơm gạo cho chúng.

Chúng tuyên truyền chúng là cán bộ và quân đội thuộc Tỉnh Công Pông ChNang ly khai chế độ mới.

Chạy sang Thái Lan để bắt liên lạc với lực lượng của XIANUC làm CM.

Nhân dân cho biết thêm là chúng rất đói, rất rệu rã.

Chúng có khoảng 150 tên.

Trừ một số cầm đầu còn đa số là cũng bị lừa phỉnh, hoặc bị bắt ép đi theo.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn văn Phô, D.V.Phó Nguyễn Đình Giang, Cán bộ Dân địch vận Trung đoàn nhanh chóng bàn với các đ/c Chuyên Gia và các lực lượng của bạn.

Sau khi bàn bạc đi đến thống nhất là sẽ làm công tác binh vận, kêu gọi, tuyên truyền để chúng đầu hàng, thu phục chúng, quay về với dân chứ không dùng vũ trang tiêu diệt.

Các lực lượng vẫn kiên trì bám sát chúng.

Khi đã thật gần, anh em dùng loa kêu gọi đầu hàng.

Với ám hiệu, nếu đồng ý hàng thì bắn 3 phát súng.

Sau 30 phút kiên trì phát động kêu gọi.

Nhưng phía lực lượng phản động ly khai vẫn im lìm.

Anh em ta một mặt vẫn tiếp tục kiên nhẫn tuyên truyền kêu gọi.

Trong khi các lực lượng của ta triển khai vòng vây các hướng, chuẩn bị tấn công.

Thêm 10 phút nữa cũng vẫn im lìm.

Ban chỉ huy liên quân thật hồi hộp.

Mọi người nhìn nhau.

Phía trước vẫn im lặng.

Tiểu đoàn Trưởng Phô sốt ruột nói loa phát thanh cho phép 10 phút nữa.

Nếu không hàng tất cả sẽ bị tiêu diệt vì không thể có đường nào thoát.

Tiếng loa vừa dứt.

Không đợi đến 10 phút mà mới chỉ 3 phút, đã nghe thấy 3 phát súng AK trừ trong rừng bắn lên Trời.

Mọi người ôm nhau mừng vui.

Chúng tôi tổ hướng dẫn cho lực lượng của bạn hướng dẫn tiếp nhận thu vũ khí và dẫn giải số tù hàng binh về Huyện.

Như vậy do kiên trì làm công tác dân địch vận, các lực lượng của ta kếthợp với Bạn đã kêu hàng, bắt sống được 120 tên phản động thuộc TỉnhCôngPôngChNang đang tìm đường chay sang Thái Lan.

Thu được gần 100 khẩu súngcác loại trong đó có cả súng cối 60 ly.

Không tốn một viên đạn nào.

Đây là mộtchiến công, một thắng lợi to lớn của các lực lượng vũ trang liên quân tại HuyệnMuông Rư Xay những ngày đầu năm 1980.

Từ chiến công gọi hàng và bắt sống 120 tên phản động, thu nhiều vũ khí.

Huyện Muông Rư Xây được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3.

Được thông báo Ông BenXôVan Tổng Bí thư Trung ương Đảng CPC về thăm.

Việc được tặng thưởng Huân chương chiến công cho Huyện rất là vinh dự nhưng không có gì đáng nói nhiều.

Mà việc chuẩn bị cho Ông Tổng Bí thư BenXôVan về thăm Huyện mới là điều làm cho Huyện, cho Trung đoàn, cho các Cán bộ Dân địch vận.

Cùng các đồng chí Chuyên gia thật sự lo lắng về việc bảo vệ sự an toàn của Tổng Bí thư Bạn và cuộc mít tinh lớn của toàn Huyện.

Đón nhận Huân chương chiến công trực tiếp Tổng Bí thư trao tặng.

Trong khi lẻ tẻ các khu rừng trong Huyện vẫn còn có các lực lượng Pốt lẩn quất hoạt động chống phá.

Sau khi được các đồng chí chuyên gia An Ninh của Tỉnh cùng các Cán bộ Sư đoàn, Trung đoàn, chính quyền, cùng chuyên Huyện tổ chức cuộc họp liên tịch, thông báo về thời gian, lịch trình về thăm Huyện của Tổng Bí thư.

Cuộc họp vô cùng quan trọng.

Nhưng tóm lại tất cả công việc từ an ninh, khánh tiết, đến hậu cần, vật chất đều "đổ lên đầu" Trung đoàn 273, và như thế Ban chính Trị và Tiểu ban Dân địch vận thật là nhiều công việc có thể nói là ' Ngập đầu, ngập cổ".

Trước hết Trung đoàn tổ chức cho các Tiểu đoàn, các Đại đội trực thuộc tỏa đi truy quét, quần đảo liên tục, làm sạch địa bàn trong khu vực đảm nhiệm.

Tiểu ban Dân dịch vận cùng với Tiểu đoàn 4, với các đồng chí Chuyên gia rà soát lại các hàng ngũ Cán bộ chính quyền Huyện, Xã, Phum.

Đúng là một chiến dịch làm sạch địa bàn thật là công phu để phục vụ cho ngày đại lễ quan trọng.

Thật mất nhiều thời gian và trí tuệ.

Làm cho chúng tôi lúc nào cũng mệt phờ.

Trong đội công tác của bạn, do sự quản lý khắt khe, nên đã có tư tưởng ngại công tác.

Họ không hăng say như trước.

Họ thấy họ bị gò bó quá, khổ quá so với các Cán bộ Huyện, hay bộ đội Huyện.

Bộ đội Huyện, Cán bộ Huyện được sống tự do, đi chơi thoải mái, lại có tiền lương, có chế độ rõ ràng.

Vào chỗ Đại đội Z ( bộ đội CPC) đóng quân, thì nó như tập thể gia đình chứ không như trại lính.

Hầu như người nào cũng có vợ, có gái kè kè.

Trong phòng ở tập thể doanh trại, Cứ cái giường nọ kê sát giường kia, quây dido kín thành buồng riêng của từng cặp.

Nhưng việc này rất ảnh hưởng đến tâm lý của đội công tác, cả nam và nữ.

Họ nói người CPC là ưa sống tự do, thích tự do không có ý trí như người Việt, như bộ đội Việt Nam.

Chính vì thể nên dịp này quản lý họ rất phức tạp.

Tôi phải thường xuyên tổ chức họp để nhắc nhở.

Thường xuyên động viên viên anh chị em trong đội công tác làm việc.

Rồi trong đội công tác có cô Xà Ron yêu một người địa phương báo cáo xin được lấy chồng.

Tôi báo cáo tình hình với BCT và Trung đoàn.

BCT chỉ đạo cho cô XaRon "ra quân", giúp đỡ tổ chức cho cô lấy chồng.

Vậy là chúng tôi lại thêm một việc nữa là lên gặp anh Lập, anh Đạc Quân Lực, anh Ước, anh Đởn bên Hậu cần, lo xin các chế độ cho XàRon.

Liên hệ với địa phương, tổ chức đám cưới đúng theo nghi thức Dân tộc của người CPC.

Lần đầu tiên chúng tôi được dự một đám cưới người CPC.

Họ có những thủtục rất cầu kỳ mang đậm nét đặc trưng Dân tộc Kho'me nhưng cũng thật vui.

Thế rồi ngày ông Benxovan về thăm cũng đã đến.

Từ xa xưa, dưới thời XiaNuc, Huyện Muông Rư Xay cũng là một thị Trấn sầm uất, dân cư đông đúc, chỉ sau Thành Phố BattamBăng.

Thị Trấn nằm ngay trên trục đường quốc lộ số 5 nối với Xiêm Diệp lên cửa khấu PoiPét và xuôi về Thủ Đô Phnom Pênh.

Có con sông nhỏ thông ra Biển Hồ.

Nên rất thuận lợi cho việc buôn bán giao thương hàng hóa trên bến dưới thuyền.

Ngoài việc đây là trung tâm Huyện, có chợ, có trường học rất đông người.

Còn thêm các lực lượng an ninh của bạn, của ta tăng cường, dải quân dọc đường 5 từ Tỉnh Bát Tam Băng về tới Huyện.

Các lực lượng bảo vệ, chốt giữ đường, rất nhiều tốp công binh liên tục rà mìn trên đường và trong khu vực sân vận động, nơi có khán đài lớn để tổ chức mít tinh ngày lễ.

Nên khu vực Huyện Muông Rư Xây đông đặc các lực lượng.

Đúng 9h sáng, đoàn xe của Tổng Bí Thư đã về tới địa bàn của Xã đầu tiên của Huyện, cách trung tâm Huyện 15km.

Lực lượng an ninh, bảo vệ của Huyện bạn hết nhiệm vụ.

Bàn giao đoàn xe cho An ninh, Bảo vệ, Quân đội Huyện dẫn đường và đảm bảo an ninh.

Đúng 9h30 thì đoàn xe của Tổng Bí Thư vào khán đài sân vận động, trong tiếng kèn, tiếng vỗ tay tung hô rầm Trời của mấy ngàn người dân cùng các lực lượng tham gia mít tinh.

Sau các nghi thức chào đón, chào cờ, ông Chủ Tịch Huyện SuaXocKon lên đọc diễn văn, phát biểu chào mừng.

Rồi giới thiệu Tổng Bí Thư BenxoVan lên nói chuyện và trao tặng Huân chương chiến công cho Huyện.

Ông Tổng Bí Thư bước lên khán đài.

Kỳ lạ là theo sau ông lại có một người vừa gù, vừa thọt, người nhỏ thó.

Ngoài khuôn mặt tương đối bình thường, còn toàn bộ thân hình như là một dị nhân.

Ông Bí Thư bước lên khán đài trong tiếng vỗ tay tung hô của vài ngàn người cờ Hoa lộng lẫy.

Tiếng vỗ tay tiếng tung hô vừa ngớt, thì người hề dị dạng,( sau này chúng tôi mới biết đó là người Hề cung đình.

Lúc nào cũng được ở và được đi cùng với Vua).

Không hiểu sao mà qua thời Pôn Pốt cai trị ông Hề vẫn còn sống sót.

Người Hề đứng lên đúng ra là chỉ rướn ngoài lên hua chân, hua tay, làm mấy động tác như chào, nói một vài câu như là bắt chước ông Tổng bí Thư.

Bộ đội mình thì hầu như không hiểu gì cả.

Nhưng kỳ lạ là dân chúng thì ồ lên cười, rồi vỗ tay, rồi tung hô dầm trời có thể nói còn hô to, vỗ tay to hơn cả lúc đón chào ông Tổng bí Thư.

Ông Ben Xô Van phát biểu một hồi, nhìn ông Tổng bí Thư, sao tôi không mấy có thiện cảm.

Trông ông khắc khổ, chưa có vẻ uy nghi, uy nghiêm, đường bệ, đạo mạo của hàng ngũ Lãnh tụ.

Bài phát biểu của ông dài khoảng 30p.

Sau đó là nghi thức trao tặng Huân chương chiến công cho Huyện.

Ngay sau lúc trao tặng huân chương là lại đến lượt người Hề lên làm trò, hát, cười nói gẩy đàn.

Dân chúng lại được phen cười ngả nghiêng, cười đến" vỡ cả bụng" vì những câu nói câu hài của người Hề cung đình.

Anh em bộ đội không hiểu sâu được tiếng Khơ me, nên không hiểu họ nói gì, pha trò gì mà mọi người cười vui đến vậy.

Riêngtrong tôi thì cứ phân vân một điều là: Không hiểu sao, trong bài phát biểu củaông Tổng bí Thư dài tới 30p, mà không thấy có từ nào nói đến VN.

Vô cùng áynáy.

Tôi hỏi thêm người phiên dịch và mấy người nữa.

Mọi người đều ngớ người ravì câu hỏi của tôi và cũng nói: Ừ nhỉ!

Sao cả bài phát biểu của ông mà khôngthấy đề cập đến Việt Nam.

Không nói đến công lao của Bộ đội Quân Tình nguyệnViệt Nam đã cứu giúp Dân Tộc Khome, Đất nước Ăng Co thoát khỏi họa diệt chủng?

Ngày vui của nhân dân Huyện Muông Rư Xây còn kéo dài tới tận đêm khuya.

Họ vui chơi, họ nhẩy múa say sưa.

Họ không nghĩ gì đến việc bảo vệ và canh gác.

Chỉ khổ cho bộ đội mình vẫn phải căng mắt ra giữa đàn muỗi đói đêm ngoài cánh đồng, bờ ruộng.

Tiếng muỗi vo vo hòa quyện với tiếng trống, tiếng đàn, điệu hát từ trong Phum vọng đến tại các điểm chốt gác.

Đúng là chúng ta phải gác cho dân bạn nhảy múa hát ca và cho trai gái, cho đàn ông đàn bà bốc lửa men say lửa tình với nhau.

Thật là cao thượng và cũng thật là một sự thiệt thòi vô lý.

Có lẽ trên thế giới này, không có nước nào, quân đội nào làm được điều đó?

Ông BenxoVan cùng đoàn tùy tùng của ông gấp gáp lên đường nhanh ngay sau bữa tiệc.

Hình như là ông sẽ về nghỉ tại Công Pông Chi Năng.

Những ngày tiếp theo tôi và anh em vẫn không hết những thắc mắc về Ông Tổng Bí Thư của bạn.

Rồi cũng khoảng mấy tháng sau.

Thì anh em tôi được biết tin Ông và một vài vị Bộ Trưởng, một vài vị "Kốp" nữa trong Trung ương của bạn có vấn đề và chức Tổng Bí Thư của bạn được thay thế.

Đúng là một lũ" Chưa nóng nước đã đòi đỏ gọng"

Những ngày tiếp theo nữa, trong khu vực Huyện Muông Rư Xây do Trung Đoàn 273 đảm nhiệm, tình hình ổn định rõ dệt.

Riêng trong đội công tác do Tranphu đảm nhiệm thì không mấy ổn định.

Nhất là sau lễ cưới của cô Sa Ron, Cô vẫn thường hay trở lại đội công tác chơi.

Nhà của cô cũng là điểm đến của đội công tác.

Các chị em trong đội công tác thường hay to nhỏ và cười hi hí với nhau.

Hoặc chuyện trò gì đó mà khi thấy tôi đến thì họ lại im lặng không nói tiếp nữa.

Có những ánh mắt liếc nhìn tôi như giấu diếm điều gì chưa giám nói ra.

Một vài lần như vậy.

Tôi tổ chức họp mọi người và hỏi xem có vấn đề gì?

Sau một lúc ngồi im lặng không ai phát biểu.

Tôi cố khiêu gợi, động viên mọi người có vấn đề gì thì cứ nói, đừng ngại.

Một lúc sau Sa Chơn xin nói là: "Anh boong Phú ơi!

Mọi người rất yêu quý anh, yêu quý bộ đội Việt Nam.

Nhưng bây giờ mọi người muốn đi về quê.

Vì rất nhớ nhà, và đều muốn lấy chồng, lấy vợ.

Nhưng do sợ bòong Phú, sợ bộ đội Việt Nam mà chưa giám nói.

Nhưng mọi người đều muốn về quê cả rồi".

Tôi cũng đã biết trước vấn đề này.

Tôi cũng đã báo với Ban Chính Trị về tâm tư nguyện vọng của anh em đội công tác nên không có gì bất ngờ.

Ban cũng đã báo cáo lên Sư đoàn và trên cũng xét thấy không cần duy trì đội công tác bạn nữa.

Nên tôi nói với anh em là nguyện vọng của họ của mọi người là chính đáng, tôi sẽ báo lên trên quyết định.

Có thể cấp trên sẽ đồng ý cho anh em trở về như mong muốn.

Nhưng khi chưa được về, thì mọi người vẫn phải hăng say công tác.

Chứ đừng như những ngày vừ qua.

Tôi vừa dứt lời, thì mọi người ồ lên reo vui lao vào ôm chầm lấy tôi " o cun boong Phu- o cun boong Phú" liên tục.

Hôm sau tôi báo các tình hình lên Ban Chính Trị.

Trung đoàn cũng xét thấy hiện giờ tình hình Dân địch vận trong Huyện đã tốt lên nhiều.

Chính quyền các cấp ngày càng được củng cố, ngày càng được kiện toàn.

Nên Trung đoàn cũng đã báo cáo về Sư đoàn và Sư đoàn cũng đồng ý giải quyết cho đội công tác được giải tán về địa phương ngay trong tháng.

Trong những ngày tiếp theo tôi lại phải đôn đáo lo làm chế độ, giấy tờ cho mọi người trong đội công tác.

Những bữa liên hoan chia tay cũng thật vui và thật cảm động.

Hôm sau toàn bộ anh chị em trong đội công tác được xe của Trung đoàn chở về PhNôm Pênh.

Rồi chia tay với mọi người để họ tự về quê hương.

Quê hương của tất cả các anh chị em đội công tác đều ở các Tỉnh giáp Việt Nam nên cũng rất tiện lợi cho họ.

Đã rất nhiều lần tôi tự hỏi: Không biết là số hơn chục anh em trong đội công tác đó, sau này có ai tham gia và trưởng thành trong chính quyền của bạn không?

Không biết cuộc sống hiện nay của các bạn đó ra sao?

Một điều rất đáng trách là tôi không còn có địa chỉ cụ thể của ai để hỏi thăm.

Dịp 30/4/2012 trong lần đi thăm CPC rất tiếc là không gặp được cô Sa Ron là người lấy chồng ngay tại khu vực Huyện Muông Rư xây.

Dân ở đó nói vợ chồng ông bà Sa Ron mới chuyển đi đâu mấy tháng rồi.

Thật đáng tiếc!

Song trong sâu thẳm tôi vẫn nghĩ mọi người trong đội công tác đã từngchung sống chiến đấu, cùng đồng cam cộng khổ với tôi, với bộ đội Việt Nam.

Họđã từng là lính, là thanh niên xung phong của chế độ Pôn Pốt.

Họ đã thấy đượcbản chất tàn bạo, dã man khát máu mất hết nhân tính của chế độ Khome Đỏ.

Họ đãtừ bỏ Pốt, Họ chạy sang Việt Nam.

Họ đãlàm được nhiều việc có ích cho dân, cho Cách mạng CPC.

Tôi luôn tin là Họ, concháu Họ sẽ mãi mãi là người bạn tốt của nhân dân Việt Nam.

Sau khi đã giải tán đội công tác Bạn.

Ban chính Trị thật vắng vẻ.

Tôi cũng đã nhàn nhã hơn trong công việc.

Vì không phải họp hành, không phải quản lý đội bạn nữa.

Nhưng chính vì sự nhàn rỗi như vậy mà tôi cũng thấy buồn.

Có những lúc cứ nghĩ họ như đang còn ở đây.

Tôi đi sang khu vực lán của đội công tác.

Lán trại hoang tàn, tôi giật mình bật cười một mình.

Rồi tôi lại điểm mặt từng người, từng người và điểm lại những ngày tháng họ cùng tôi, cùng Trung đoàn chiến đấu và làm nhiệm vụ tuyên truyền dân, xây dựng chính quyền trong những ngày qua.

Không biết giờ đây họ đang sống tại quê hương thế nào.

Qua thời kỳ diệt chủng, gia đình họ có bị ly tán, chết chóc nhiều không?

Tôi cũng thật có lỗi khi mà không dặn họ sau khi về nhà thì viết thư cho tôi biết.

Nhưng lúc này CPC đâu đã có hệ thống bưu chính mà thư với từ..

Trong khi tình hình ở Huyện Muông Rư Xây đã rất ổn định.

Thì trong khu vực giáp biên giới Thái Lan, Tà xanh - Săm Lốp do Trung đoàn 266 và 270 Đảm nhiệm thì tình hình lại vẫn còn rất phức tạp căng thẳng.

Do thổ nhưỡng, do khí hậu khắc nghiệt, bệnh sốt rét hoành hành làm bộ đội ta bị mất sức chiến đấu nhiều.

Mùa mưa thì lại càng khổ.

Việc tiếp tế lương thực, vận chuyển thương bệnh binh về phía sau vô cùng khó khăn.

Rừng núi hiểm trở, nên việc truy quét tàn quân Pốt và các lực lượng quân đội khác càng diễn biến phức tạp, Trong khi Bọn Pốt đã phần nào gượng được vì được các thế lực Bành Trướng và Thái Lan giúp đỡ.

Chúng vẫn được cung cấp súng đạn, lương thực, nhất là mìn thì nhiều vô kể.

Đây cũng là loại vũ khí làm bộ đội ta bị thương vong rất cao.

Hơn nữa là làm cho tinh thần của mọi người cũng bị chùng xuống, e ngại trong lúc đi truy lùng các căn cứ của chúng trong rừng sâu.

Bọn Pốt lại sử dụng kỹ thuật, nghi binh trong đánh du kích bằng mìn cũng quá giỏi.

Khoảng cuối tháng 6/1980, Trung đoàn 266 được báo cách Tiểu đoàn 4 khoảng 20 km.

Bọn Pốt mới thành lập một căn cứ khoảng vài chục tên.

Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 phải tổ chức đi điều nghiên, truy quét tiêu diệt và phá căn cứ của Pốt.

Giai đoạn này, quân số của các đơn vị và Tiểu đoàn 4 rất mỏng.

Gần như là anh em bị sốt, bị ốm yếu gần hết.

Chấp hành nhiệm vụ, Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn văn Dần động viên được 40 tay súng, toàn là Đảng viên và Sỹ Quan, có nhiều người vẫn trong tình trạng sốt rét như trường hợp của Trung đội Trưởng Vũ Văn Dĩnh là lớp lính tháng 7 năm 77 quê Thái bình.

Đại đội Trưởng Đại đội 3 Nguyễn văn Sinh.

Đội hình lên đường lúc chập tối.

Tới một con suối cách Phun được báo là có căn cứ của Pốt.

Mọi người dừng lại tổ chức nấu cơm ăn và để lại 10 đ/c tại đây.

Đến 5h sáng thì bắt đầu hành quân tiền nhập vào Phum.

Khoảng 8 h thì đội hình vào tới Phum.

Phát hiện đúng là có dấu vết căn cứ của Pốt.

Nhưng chúng phát hiện ra bộ đội mình nên đã chạy dạt ra khu rừng xung quanh lẩn trốn.

Tiểu đoàn Trưởng Dần cho bộ đội phát tiển tiếp mấy Km nữa nhưng cũng không gặp phải sự kháng cự của chúng.

Anh cho bộ đội quay về vị trí bờ suối.

Khi đi qua Phum cũng không gặp được tên Pốt nào.

Đội hình truy quét sinh ra chủ quan, hành quân theo đội hình hàng dọc.

Khi còn cách bờ suối khoảng gần một km thì ùng oàng, ùng oàng rồi ầm- ầm- ầm..

Pốt phục kích.

Chúng bắn hai qủa B40 vào đội hình, cũng lúc hàng chục quả mìn định hướng phát nổ thổi vào đội hình truy quét của Tiểu đoàn 4.

Tiếng B40, tiếng mìn nổ cùng tiếng la hét của anh em mình bị thương vang về tận bờ suối.

Ngoài tiếng B40, tiếng nổ của mìn.

Không có một tiếng súng nào khác.

Trung đội Trưởng Dĩnh linh tính thấy sự không lành, liền điện báo ngay về cho Trung Đoàn và tổ chức toàn bộ anh em đến ứng cứu.

Đi được khoảng mấy trăm mét thì gặp được Tiểu đoàn Trưởng Dần, một tay đang dìu một thương binh.

Một tay đang nắm chặt khẩu K59.

Hai người đầy máu me và nét mặt thật hoảng loạn.

Gặp anh em, Tiểu đoàn Trưởng khóc òa lên thành tiếng rồi nghẹn lời nói:" Anh em bị cả rồi!

Anh em bị cả rồi!"

Dứt lời anh cũng gục xuống lịm đi.

Nhận được điện, Trung đoàn Trưởng Lê Hải Anh điều gấp đại đội Trinh sát cùng với các lực lượng đi tiếp ứng.

Khi mọi người tới được nơi bị phục kích thì thật đau lòng không còn một ai sống sót.

Nhiều anh em thân hình te tua vì bị rất nhiều mảnh của mìn định hướng.

Tất cả đã bị hy sinh do mìn và Đạn B40 của Pốt.

Bọn Pốt thật ma mãnh.

Khi chúng phát hiện được lực lượng của ta truy quét, thì chúng nhanh chân chay trốn và bí mật theo dõi ta.

Chúng theo dõi, tổ chức đón lõng, mai phục lại ta gần khu vực tập kết ở bờ suối.

Trong lúc bộ đội mình rất mệt mỏi, sinh ra chủ quan mất cảnh giác nhất.

Như vậy đội hình đi truy quét 40 người.

Khi trở về còn 12 đồng chí,trong đó có 2 thương binh.

Hai mươi tám người là Sỹ quan là Đảng viên đã hysinh.

Một tổn thất to lớn.

Thật vô cùng đau sót.

Đây là một bài học thật lớntrả giá cho sự chủ quan coi thường địch của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Sưđoàn 341 trong những ngày tháng làm nhiệm vụ Quốc Tế trên đất Ăng Co năm1980.

Những ngày tiếp theo, các đơn vị vẫn tổ chức đi truy quét Pốt cùng các Đảng phái phản động khác.

Lùng sục, tìm diệt triệt phá các căn cứ của chúng trong những khu rừng sâu.

Ta cứ phá được căn cứ này, thì bọn Pốt lại thành lập các căn cứ khác.

Ta truy lùng mạnh thì chúng lại chạy sang ẩn náu bên đất Thái.

Từ những căn cứ đó, chúng tổ chức đưa những toán nhỏ về cướp phá gây rối chống phá ta.

Gây hoang mang trong dân.

Móc nối, khống chế một số người trong chính quyền.

Chia rẽ nội bộ chính quyền.

Nhất là những chính quyền Xã, Phum trong vùng sâu.

Một số Đảng phái khác được thành lập như Khơ me Trắng, Khơ me Tự Do vv..

Nhưng thực chất cũng chỉ là các thế lực phản động câu kết thay đổi tên gọi để lừa bịp, chống phá nhân dân.

Chống phá CM chân chính của nhân dân CPC.

Phải tiêu diệt các căn cứ này, phải tiêu diệt những tên đầu sỏ, nơi phát nguồn các tội ác của chúng.

Khoảng cuối tháng 4/80.

Sư đoàn 341 được giao nhiệm vụ tiêu diệt địch tên điểm cao 348.

Đây là một trong những hang ổ quan trọng của lực lượng Khơme Tự Do, do tên Xon Xen cầm đầu.

Khu vực điểm cao 348 là một khu vực rừng già liên tiếp giáp biên giới Thái Lan – CPC.

Khu vực điểm cao 348 gồm 3 mỏm chính.

Mỏm phía Tây cao 420 mét nằm chính giữa biên giới CPC – Thái Lan.

Mỏm phía Nam cao 500 mét, cách mỏm Tây khoảng 2 km.

Cách điểm cao 348 khoảng hơn 1km về phía Nam.

Ba mỏm nối với nhau bới các "yên ngựa" trung bình cao khoảng 200 mét.

Nếu không có người dẫn đường thì khó ai có thể tự leo lên được các điểm cao này.

Bởi vì rừng già, cây cối gai góc dậm dạp.

Địa hình hiểm trở và lại còn hệ thống các bãi mìn dầy đặc bảo vệ của chúng.

Các lô cốt làm bằng gỗ, cùng các giao thông hào ụ chiến đấu rất kiên cố.

Nhiệm vụ tiến công cụm cao điểm này thật khó khăn.

Để bảo đảm chắc thắng tiêu diệt gọn, không cho chúng chạy sang đất Thái Lan.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Sư đoàn quyết định tổ chức nhiều mũi Trinh sát đi điều nghiên cụ thể, để lên sa bàn để tìm ra cách đánh.

Trung đoàn 270 được chọn là lực lượng chính tiến công căn cứ.

Được tăng cường Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 273 cùng hai Đại đội Trinh Sát, Đại đội Công binh của Sư đoàn.

Sau gần nửa tháng trinh sát điều nghiên nắm tình hình.

Trinh sát Sư đoàn cùng Trinh sát Trung đoàn 270 đã xác định: Điểm cao 348 là một căn cứ đầu não của lực lượng Xri Ka là Đảng Khơ Me tự do của Xon Xen cầm đầu.

Chúng bắt tay với bọn Pôn Pốt xây dựng điểm cao 348 thành một sào huyệt chống phá cách mạng hòng tổ chức kháng chiến lâu dài.

Các phương án tiến công cụm cao điểm 348 được thống nhất và phổ biến đến tận Cán Bộ chiến sỹ các đơn vị.

Theo kế hoạch.

Tiểu đoàn 3 trực tiếp do Phó Trung đoàn Trưởng Nguyễn Quang Nuôi chỉ huy.

Cùng với khung Tiểu đoàn gồm Tiểu đoàn Trưởng Hoàng Quốc Viên, Tiểu đoàn phó Đỗ văn Bình.

Chính trị viên Trưởng Quách Thanh Tiễn, Phó chính trị là đ/c Trần văn Mong chỉ huy.

Như vậy là Tiểu đoàn 3 đang là Tiểu đoàn mạnh với đủ quân số chiến sỹ và chỉ huy.

Ngoài hỏa lực biên chế.

Tiểu đoàn 3 được tăng cường các hỏa lực mạnh gồm2 khẩu DKZ 75 của Đại đội 15.

Hai khẩu 12Ly7 của Đại đội 16, Hai khẩu cối 120lycủa Đại đội 14, Một trung đội công binh, Một Trung đội Trinh Sát.

Toàn bộ độihình được cơ động bằng ô tô từ Huyện Muông Rư xây lên tới Tà Sanh.

Rồi từ đóhành quân bộ hơn 20 km tới vị trí xuất phát.

Giờ G dự kiến là 5h sáng ngày20/4/1980.

Có thể nói chủ trương tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm 348, là một chiến dịch nhỏ trong kế hoạch truy quét, tiêu diệt Pốt cùng các Đảng phái và thế lực phản động khác đang trỗi dây.

Từ sự dàn xếp của quan thày phương Bắc.

Chúng câu kết với nhau chống phá Cách mạng CPC.

Đây là một trận chiến sẽ có nhiều khó khăn phức tạp.

Bởi tính chất rất phức tạp, sự ngoan cố nham hiểm của chúng cùng địa hình tự nhiên có lợi cho chúng.

Phó Tham mưu Trưởng Sư đoàn Lê Hải Anh được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy trận tiến công này.

Sau khi nhận nhiệm vụ.

Ông khẩn trương cho Trinh sát điều nghiên, Công binh sau hơn mười ngày dò gỡ mìn.

Chuẩn bị đường vào khu vực tác chiến.

Các lực lượng Pháo binh, Bộ binh, Quân y, Vận tải bắt đầu chiếm lĩnh các vị trí tập kết.

Sau khi các công việc đã được chuẩn bị hoàn tất.

Sư đoàn đồng ý cho Trung đoàn 270 cùng các lực lượng tăng cường tiến công địch vào ngày 20 Tháng 4 Năm 1980.

Đường tiền nhập vào các mục tiêu thật khó khăn.

Vì cây cối gai góc thật dậm.

Bọn Pốt lại đốn những cây to đổ ngược xuống dốc nên nhiều chỗ an hem phải vòng vèo né tránh cây rất phức tạp.

Tới 9h sáng Tiểu đoàn 5 mới gỡ xong mìn.

Bộ đội tiền nhập phát triển sâu thêm, thì mũi đi đầu của Đại đội 5 phát hiện hơn chục tên địch đang củng cố hầm hào.

Chúng vẫn không hay biết có sự có mặt của bộ đội ta.

Anh em bèn lùi lại đặt mìn định hướng thổi về phía bọn địch.

Ầm! ..

Đất Trời rung chuyển cùng lúc các bộ đội ta xung phong tiêu diệt nốt những tên còn sống sót.

Rồi phát triển sâu vào căn cứ của chúng.

Ở các hướng khác, độ đội được lệnh xuất kích.

Nhưng vì đường dốc, rừng rậm, nên các loại cối 60ly, súng 12ly7, Đại liên không phát huy được tác dụng.

Cùng với mìn dày đặc đã cản trở tốc độ tiến công của hai Tiểu đoàn 4 và 6.

Lúc này mọi yếu tố bất ngờ đã không còn nữa.

Bọn địch từ trong các công sự trên cao tập trung hỏa lực đánh bật mũi tiến công của Tiểu đoàn 5.

Tiểu đoàn 5 không phát triển được.

Nhận thấy Tiểu đoàn 5 đang ở thế bất lợi.

Phó Tham mưu Trưởng Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 tăng tốc độ tiến công.

Tiểu đoàn 6 phát triển tương đối thuận lợi.

Được đến lưng chừng dốc thì bị những ổ đề kháng 12ly7 của chúng xả đạn như mưa vào đội hình.

Rất nhiều anh em trúng đạn bị thương và hy sinh.

Trong số hy sinh có Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn văn Hợi.

Trận chiến đã thực sự gay cấn.

Trước nguy cơ không thực hiện được ý định.

Tiểu đoàn Phó Lê Tư lệnh cho súng 12ly7, và DKZ khống chế ổ đề kháng của địch.

Đồng thời anh lợi dụng gốc cây quan sát và phát hiện ra là các ổ đề kháng của chúng đang bắn ra từ hai bên sườn cứ không phải là từ trực diện trên cao xuống.

Anh báo cáo tình hình về sở chỉ huy.

Tham mưu phó Sư doàn điều hai Trung đoàn Phó Nguyễn quang Nuôi Trung đoàn 273.

Dương Cao Trung đoàn phó Trung đoàn 270 cùng Trinh sát trực tiếp lên kiểm tra lại hướng tiến công của Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6.

Qua điều nghiên, đã thấy hai Tiểu đoàn đã không đánh trúng vào mục tiêu.

Do địa hình quá phức tạp nên bị sai mất hướng đánh.

Các anh lệnh cho hai Tiểu đoàn chính lại hướng tiến công.

Đồng thời yêu cầu cho pháo binh chỉnh lại hướng bắn chế áp mục tiêu, hỗ trợ cho bộ binh phát triến.

Hướng Tiểu đoàn 5 được tăng cường thêm một Đại đội.

Dưới sự hỗ trợ tối đa của pháo binh.

Anh em lợi dụng các thân cây to.

Luồn lách tiến dần lên cao.

Gần một ngày tiến công, bộ đội ta đã rất mệt nhọc.

Đã có nhiều anh em bị thương hy sinh.

Nhưng với ý chí và bản lĩnh kiên cường.

Cùng với sự hỗ trợ của hỏa lực.

Cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 5 liên tục tiến công phát triển.

Đến 16h, một nửa điểm cao về phía Tây đã bị Tiểu đoàn 5 đánh chiếm.

Trời trong rừng nhanh tối.

Tham mưu phó Sư đoàn cho bộ đội tạm dừng tiếncông.

Củng cố hầm hào chốt giữ ngay tại vị trí.

Đề phòng bọn địch tổ chức tiếncông trong đêm, và pháo binh của chúng từ bên đất Thái Lan bắn sang.

Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341 là Tiểu đoàn trong cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam được Đảng và Nhà Nước phong tặng danh hiệu AHLLVT.

Tiểu đoàn 3 những năm đó đa phần là lớp lính 72 nhập ngũ từ Vùng mỏ Quảng Ninh.

Họ rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn tháo vát.

Trước khi đi chiến đấu, Tiểu đoàn được bổ xung thêm số quân nhập ngũ tháng 10 - 12 năm 1974 của Tỉnh Nghệ Tĩnh.

Theo nhận xét của các lãnh đạo chỉ huy, thì những người lính vùng Đông Bắc là những người lính nghịch ngợm, khó bảo.

Thường hay xẩy ra những vụ vi pham kỷ luật như đánh nhau, xô xát với các đơn vị bạn.

Hay vi phạm vào những kỷ luật dân vận.

Hồi đơn vị đóng quân bảo vệ Vĩ tuyến 17 tại Vinh Linh Quảng Trị.

Mọi người gọi họ là đội quân "dao găm trắng".

Vì mọi người thường lấy mảnh đuya ra của máy bay, hay của cánh bom, đúc làm nắm dao găm.

Ai cũng có một con dao găm tự làm đeo bên hông trông rất ngầu.

Lính của các đơn vị khác đều có ý kiềng lính Tiểu đoàn 3, vì họ khỏe, vì tính nghịch ngợm.

Nên trong các trận đấu bóng giao hữu, hay tranh giải.

Họ thường là những người chiến thắng.

Song!

Khi mùa xuân năm 1975, Sư đoàn được điều động vào chiến trường.

Bổ xung cho Quân Đoàn 4, chiến đấu tại Miền Đông Nam bộ.

Tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Thì Tiểu đoàn 3, luôn là Tiểu đoàn đảm nhiệm những mũi đột kích tiến công mạnh mẽ nhất, khó khăn nhất.

Họ đã lập được nhiều chiến công và đã được phong tặng phần thưởng cao quý nhất.

Đó là danh hiệu AHLLVT.

Cuộc chiến BGTN xẩy ra.

Số anh em lính 72-74-75 còn nhiều.

Đó cũng là điều rất may, là chúng ta còn những cán bộ chiến sỹ nòng cốt có nhiều kinh nghiệm, dầy dạn trận mạc đó.

Nên những năm tháng chiến chinh dọc từ Tây Ninh, Long An, Châu Đốc Đồng Tháp, Hà Tiên, Kiên Giang.

Tiểu đoàn 3 luôn hoàn thành nhiệm vụ.

Vẫn là Tiểu đoàn có sức chiến đấu cao nhất, tham chiến nhiều nhất.

Những cán bộ chiến sỹ được điều động về sau này, cùng với những Cán bộ trưởng thành từ những người lính đó là những người có tinh thần trách nhiệm cao.

Dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, trận nào cũng đầu tầu gương mẫu với trách nhiệm cao của người chỉ huy, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trong cuộc chiến tranh BGTN.

Có lẽ duy nhất chúng ta bắt sống được hai khẩu pháo 105ly và 1 xe bọc thép của bọn Pốt thì công đầu vẫn là Tiểu đoàn 3.

Có rất nhiều gương chiến đấu dũng cảm như Tiểu đoàn trưởng Anh hùng Liệt sỹ Nguyễn Song Thao, Tiểu đoàn trưởng Phan Sỹ Thống, Cán bộ chính trị như Đặng văn Lưa, Trần văn Mong.

Đại đội Trưởng Nguyễn văn Ngọc, Trần Anh Vinh, Đại đội trưởng Liệt sỹ Trần văn Vinh, Hoàng Quốc Lập và rất nhiều tấm gương khác.

Trong chiến dịch này, việc Sư đoàn chọn Tiểu đoàn 3 tăng cường cho Trung đoàn 270 cũng là vấn đề cân nhắc về sức mạnh tiến công.

Tiểu đoàn 3 được giao nhiệm vụ tiến công cao điểm 500.

Vì tính chất của trận đánh nên Tiểu đoàn 3 làm công tác vây lấn tiền nhập áp sát mục tiêu.

Sáng 21 Tháng 4 mới được lệnh nổ súng tiến công.

Tức là nổ súng sau Trung đoàn 270 một ngày.

Đợi Trời sáng rõ, các loại hỏa lực của Tiểu đoàn 3 cùng pháo Sư đoàn, hỏa lực cối 120ly, cối 82ly, ĐKZ các loại bắn cấp tập phá hoại vào các mục tiêu trên cao điểm 500.

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Quốc Viên dẫn đầu đội hình Đại đội 11 dũng mãnh công kích.

Các Đại đội khác cũng tiến công vào các mục tiêu đã định.

Bọn địch điên cuồng chống trả nhưng sau một giờ chiến đấu.

Tiểu đoàn 3 đã chiếm giữ được điểm cao 500.

Hàng trăm tên địch bị tiêu diệt.

Trung đoàn phó Nguyễn Quang Nuôi trực tiếp đi với Tiểu đoàn 3 báo cáo về Sở chỉ huy về kết quả trận đánh.

Tham mưu phó Sư đoàn giao thêm nhiệm vụ cho Tiểu đoàn đánh tạt sang điểm cao 348 hỗ trợ cho Trung đoàn 270 đang gặp khó khăn.

Từ điểm cao 500 đánh tràn xuống đồi yên ngựa của điểm cao 348 tương đối thuận lợi.

Các loại DKZ, Súng Cối, súng 12ly7 bắn phá hoại và yểm trợ.

Đại đội 9 của Tiểu đoàn 3 đánh tràn xuống đồi yên ngựa.

Tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch.

Bon địch chống cự yếu ớt rồi co cụm về điểm cao 348.

Tiểu đoàn 3 để lại một bộ phận chốt giữ điểm cao 500 còn đại bộ phận truy ép địch trên điểm cao 348.

Bọn địch lợi dụng hầm hào công sự trên điểm cao chống cự điên cuồng.

Chúng cũng gây cho Tiểu đoàn 3 những khó khăn.

Một số anh em bị thương và hy sinh.

Nếu cứ giữ như vậy thì địch có thể hồi sức hoặc lợi dụng đêm tối chạy sang đất Thái.

Nên Chỉ huy Sư đoàn động viên và lệnh cho Tiểu đoàn 3 cương quyết tấn công.

Sau ít thời gian nghỉ hồi sức, xốc lại lực lượng.

Tiểu đoàn 3 mở đợt tiến công khi Trời đã gần tối.

Trước sức mạnh tiến công đến 18 giờ Tiểu đoàn 3 cũng đã làm chủ được trận địa.

Xác địch ngổng ngang vắt véo la liệt trên các bờ công sự.

Trận chiến kết thúc sau hai ngày chiến đấu căng thẳng và ác liệt.

Các cao điểm, cứ điểm 348-500-420 đều bị ta chiếm giữ.

Căn cứ phản động SRây Ka được kỳ công xây dựng nhiều năm.

Với ý địnhkhác chiến lâu dài đã bị Trung đoàn 270 và Tiểu đoàn 3 đánh chiếm tan tành.

Rấtnhiều tên phải đền tội.

Rất nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh bị ta phá huyvà thu giữ.

Một số tên lợi dụng Trời tối chạy lủi về căn cứ bên Thái Lan.

Cuộc chiến kết thúc thắng lợi.

Các mục tiêu của kế hoạch đã hoàn thành.

Ngày hôm sau, Chính Trị viên Phó Tiểu đoàn Trần văn Mong, dẫn anh em vận tải lên chuyển thương binh về.

Do không quen địa hình, nên bị vấp mìn.

Mấy quả mìn, trong đó có những quả chúng gài bằng đạn pháo 105 ly cùng phát nổ.

Làm đoàn vận tải hy sinh và bị thương hơn 10 người.

Chính trị viên Mong cũng bị nhiều vết thương rất nặng.

Thật là một thiệt hại đáng tiếc.

Trận tiến công cao điểm 348 là trận chiến lớn cuối cùng cấp Trung đoàn tăng cường.

Trong thời gian Sư đoàn 341 làm nhiệm vụ Quốc Tế tại Căm Pu Chia.

Sau trận này, Toàn Sư đoàn được lệnh phối hợp với bộ đội Biên phòng Ta và Bạn xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc trên tuyến biên giới Căm Pu Chia - Thái Lan.

Từ những điểm tựa kiên cố này, các chiến sỹ Sư đoàn 341 cùng bộ đội Biên phòng tiếp tục thường xuyên băng rừng theo các tọa độ, để săn lùng triệt phá các căn cứ của Pốt và căn cứ của các thế lực phản động khác.

Biên giới Căm Pu Chia được bảo vệ vững chắc.

Với sự nỗ lực cao của của nhân dân và Quân đội Bạn.

Với sự giúp đỡ tận tình của bộ đội Việt Nam mà trực tiếp của Cán Bộ chiến sỹ Sư đoàn 341.

Với tinh thần Quốc Tế vô sản cao cả của Bộ đội tình nguyện Việt Nam.

Các lực lượng vũ trang Cách mạng Căm Pu Chia ngày càng được củng cố và phát triển.

Biên giới của đất bạn Căm Pu Chia được bảo vệ vững chắc.

Sau những chiến dịch truy quyét bọn Khơme Đỏ phản động trên vùng biên giới Căm Pu Chia – Thái Lan của Quân đội Ta và Bạn.

Tình hình hình các mặt của Căm Pu Chia ngày càng ổn định.

Lực lượng vũ trang nhân dân Cách mạng CPC phát triển nhanh chóng và trưởng thành vượt bậc.

Từng bước đảm nhiệm được nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ đất nước.

Xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc giữ gìn an ninh và bảo vệ Tổ Quốc.

Chống lại mọi âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Cách mạng Căm Pu Chia, Đất nước Căm Pu Chia đang tiến bước vững chắc.

Chính quyền các cấp của Căm Pu Chia ngày càng được kiện toàn củng cố.

Đời sống của nhân dân ngày càng ổn định, phát triển, đầy ấm no hạnh phúc.

Trước tình hình phát triển tốt đẹp đó.

Theo sự thỏa thuận giữa Trung ương Đảng, Chính phủ Căm Pu Chia và Trung ương Đảng, Chính phủ ta.

Một bộ phận của quân tình nguyện Việt Nam được rút về nước.

Cùng trong thời gian đó vùng biên giới phía Bắc nhất là vùng địa bàn Quân Khu 4 miền Trung vẫn đang còn những diễn biến phức tạp.

Bộ quốc phòng rút Sư đoàn 341 về nước, sát nhập lại Quân Khu 4.

Làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Miền Trung.

Sẵn sàng cơ động giúp bạn Lào.

Khoảng cuối tháng 11 Năm 1980 các đơn vị của Sư đoàn 341 nhanh chóng làm các thủ tục bàn giao lại địa bàn cho Sư đoàn 339.

Tôi cùng các Trợ lý các ban thức thâu đêm để viết tổng kết báo cáo, về tình hình Huyện Muông Rư xây cho chỉ huy Trung đoàn.

Củng cố kiện toàn lại Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn chuyên làm nhiệm vụ xây dựng chính quyền, bàn giao cho Sư đoàn 339.

Trong khu vực Trung đoàn chưa bao giờ đông vui như những ngày này.

Vì ngoài Trung đoàn bộ của tôi, giờ đây còn có Trung đoàn bộ Trung đoàn (?) Sư đoàn 339.

Các anh lắp ghép đúng vào vị trí chỗ ở Chỉ huy Trung đoàn, của các Ban, Tiểu Ban chúng tôi.

Vì vậy nơi đây thật đông vui.

Ngoài những thủ tục bàn giao địa hình, bàn giao một số phương tiện vũ khí.

Chúng tôi lại còn bàn giao cả những sản phẩm chăn nuôi, cây trồng.

Rồi có cả những trận đấu giao hữu bóng bàn, bóng đá giữa hai đơn vị thật là vui.

Sau mấy ngày làm công tác bàn giao.

Chúng tôi tạm biệt nhân dân Tỉnh Bát Tam Băng, Tam biệt nhân dân CămPu Chia.

Cán bộ chiến sỹ đoàn Bộ binh Sông Lam lên đường về nước.

Khi mà bầu Trời phía Tây vẫn còn lác đác những đụn mây đen của cuối mùa mưa.

Chúng tôi gấp gáp lên đường trở về Tổ Quốc với nhiệm vụ mới.

Chia tay đất nước Căm Pu Chia thật vội vã.

Chúng tôi đã có mặt nhanh chóng cùng đoàn quân tình nguyện đến cứu giúp bạn.

Giờ đây cũng rất nhanh chóng chia tay.

Ngày chia tay không có cờ hoa rực rỡ.

Nhưng có rất nhiều những dòng nước mắt, sự lưu luyến biết ơn của hàng vạn, hàng hàng triệu người dân Căm Pu Chia.

Bức thư Ngày 10 tháng 11 Năm 1980 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân Dân cách mạng CPC gửi tới trước lúc Sư đoàn lên đường về nước, đã nói lên đầy đủ tình nghĩa thủy chung.

Sự gắn bó sắt son của Đảng và nhân dân Đất nước Chùa Tháp đối với Sư đoàn 341.

Trong những ngày cùng sát cánh chiến đấu, trên chiến trường Căm Pu Chia có đoạn như sau:

" Tổ quốc Căm Pu Chia sẽ mãi mãi ghi vào sổ vàng lịch sử đấu tranh Cách mạng của mình, những chiến công và hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung.

Của Sư đoàn 341 nói riêng.

Trong những năm tháng chiến đấu trên đất nước Căm Pu Chia.

Các đồng chí đã để lại những kỷ niệm vô cùng cao đẹp.

Những hình ảnh trong sáng của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân và Quân đội hai nước Căm Pu Chia và Việt Nam.

Tên tuổi Sư đoàn đã ăn sâu vào trái tim và lòng người dân Chùa Tháp.

Năm tháng đã qua đi, nhưng lịch sử của Dân tộc Căm Pu Chia và nhân dân Căm Pu Chia, đời đời ghi nhớ mãi tên tuối cùng những chiến công của Sư đoàn 341 Anh hùng".

Mùa khô đã tới.

Đất Trời Căm Pu Chia bừng sáng.

Cỏ cây đã đâm chồi nẩy lộc mướt xanh.

Trên khuôn mặt và cặp mắt những người con gái, những phụ nữ đã hồng sắc xuân, lúng liếng đôi mắt gợi tình yêu thương.

Đâu đó tiếng chim gáy gù gọi bạn.

Đoàn thuyền tung lưới trên Biển Hồ cùng dòng Tông Lê Sáp.

Kéo lên những mẻ lưới đầy tôm cá.

Thi thoảng mọi người gặp những đoàn chuyên gia nước ngoài Họ đến để nghin cứu những kỳ quan, văn hóa của Dân Tộc Khơ me.

Cùng nghin cứu những chứng tích tội ác của bọn diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xa Ri tay sai Bành Trướng bá quyền.

Các em nhỏ trong bộ đồng phục mới cắp sách tới trường.

Tối tối, đêm đêm, đâu đâu cũng vang vọng tiếng trống bập bùng, tiếng kèn mời gọi múa ca.

Những đám cưới đầy tính cổ truyền Khơ Me vui khắp Phum Xóc.

Những đứa trẻ của thế hệ mới sau 79 đã cất tiếng khóc chào đời, trong vòng tay hạnh phúc của tình yêu đôi lứa.

Những cây thốt nốt đã xanh tươi trở lại.

Hàng ngày âm thầm chắt lọc tinh túy trong lòng đất những hương thơm, vị ngọt cho đời.

Đất nước Căm Pu Chia đã thực sự hồi sinh.

Cảm xúc dâng trào, những người chiến sỹ Sư đoàn Sông Lam kính chào Đất nước Ăng Co, Chùa Tháp, chào những người Dân KhơMe.

Từ Huyện Muông Rư Xây, Bát Tam Băng, đoàn tàu Quân sự kéo còi lao vun vút đưa chúng tôi về Thủ Đô Phnom Pênh.

Rồi đoàn xe ô tô đưa chúng tôi về Việt Nam trong khúc nhạc khải hoàn của niềm vui chiến thắng.

Trời cao trong xanh.

Niềm vui tột cùng.

Mà sao nước mắt chúng tôi cứ chảy dài, chảy mãi?

Từ Tổng kho Long Bình, Chuyến tầu Thống Nhất tiếp tục đưa chúng tôi vềMiền Trung.

Nơi đó đang rất cần sự có mặt của chúng tôi.

Những người lính Sưđoàn 341.

Đoàn bộ binh Sông Lam Anh hùng.

".

Đúng ngày 30 Tháng 12 Năm 1980, thì Trung đoàn 273 của Tranphu341 về vị trí đóng quân mới thuộc miền Tây, Tỉnh Nghệ An.

Nơi đây giáp Biên Giới Việt - Lào.

Sau một hai ngày nghỉ ngơi xốc lại đội hình.

Các chỉ huy, cùng anh em Trinh sát lại tổ chức nhiều đoàn đi điều nghiên vùng biên giới Phía Tây Miền Trung.

Những ngày này cuộc sống của nhân dân vùng biên và nhân dân phía Bắc Thật sự khó khăn.

Có thể nói những năm tháng này đời sống chúng ta đang ở cung bậc thấp nhất.

Vì thế các tệ nạn xã hội đang phát triển phức tạp.

Làm cho đời sống của Dân ngày càng xuống thấp hơn.

Phía Bắc, tuy quân Bành trướng đã rút đại quân về nước.

Nhưng chúng vẫn chiếm giữ nhiều phần đất quan trọng của ta.

Những trận đấu pháo, đấu súng vẫn hàng ngày diễn ra trên dọc tuyến biên giới Việt – Trung.

Các lực lượng vũ trang cùng với nhân dân các tỉnh vẫn đang anh dũng chiến đấu bảo vệ và giành lại những phần đất bị lấn chiếm.

Máu của nhân dân, máu của của những người lính đang chiến đấu bảo vệ biên cương vẫn không ngừng chảy.

Tranphu341 rất trân trọng cảm ơn tất cả các thành viên VMH, các bạn đọc.

Cùng sự trân trọng cảm ơn và biết ơn Ban Quản Trị Trang mạng Dựng Nước - GiữNước.

Các Quản Trị Chủ đề:" Một Thời Máu và Hoa".

Tranphu341 coi đây là một sânchơi trí tuệ yêu nước.

Là những hồi ký của các Cựu Chiến Binh nhưng lại là khơinguồn, khơi dậy truyền thống hào hùng, khơi dậy lòng yêu nước, yêu Tổ Quốc.

Đâylà một tài sản vô giá, vô cùng lớn trong việc dăn dạy truyền thống đánh giặcngoại xâm bảo vệ đất nước của Cha Ông ta.

Của bao thế hệ kế tiếp, cho con cháuchúng ta được biết.

Nhất là trong giai đoạn này.

Chúng ta không chỉ xây dựngĐất nước ngày càng to đẹp, ngày càng giầu mạnh.

Ngày càng sánh vai cùng cáccường quốc năm Châu như lời Bác Hồ đã nói.

Việc bảo vệ Đất Nước đang ngày càngđược ưu tiên, được đặt lên hàng đầu.

Chuyện bên lề:

- Em trích một đoạn tình hình thương binh về tuyến sau để các anh tham gia topic hình dung:

không gian các phòng trệt khu B. thương binh nằm laliệt, những cơ thể thiếu hụt méo mó.

Có anh tay chân treo tòn teng trên giá đỡ,có anh với nhiều vết thương, băng trắng cùng mình chỉ còn thấy đôi mắt, có vếtthương phần mềm ở đùi to hơn bàn tay để hở nhìn xuyên bên này qua bên kia, gimmóc sắt vào củ xương chày treo cao và liên tục nhỏ giọt dung dịch Gentian24/24h.

Đặc biệt toàn trại luôn có mùi khó tả của sự phân hủy protid mà suốtđời tôi nhớ mãi mặc dù các chị y tá y công rất tích cực vệ sinh lau dọn.

Ngayđến bây giờ mấy chục năm trôi qua mà thỉnh thoảng trong chiêm bao tôi vẫnthoáng nhận đầy đủ dư cảm ấy.

Thường mỗi chiều, xe cứu thương của quân y việnnhận thương binh từ chiến trường Kampuchea về từ sân bay Tân Sơn Nhất qua đườngkhông quân vận.

Tới bệnh viện, phải để các anh nằm ngoài hành lang hoặc ngayngoài sân để phân loại thương tật vì thương binh về mỗi ngày số lượng nhiều nênphòng ốc điều trị cũng hết.

Đau đớn kêu than, shok ngất liên tục, có những vếtthương dòi chui ra nhung nhúc mập trắng tròn quay.

Hai thương binh là hai chúcháu ruột từ hai phía mặt trận Đông Tây về viện cứ đòi nằm gần nhau, tuy cả haikhông còn tay chân nào mà cứ hát (cuộc đời vẫn đẹp sao).

Có những anh bị nhiễmtrùng hoại thư sinh hơi, tại vết thương phồng rộp những bóng nước da mép vếtthương xám ngoét, dịch rỉ ra màu nâu thẫm và hôi thối mùi cóc chết.

Những vếtthương đứt động mạch lớn phải đặt garo lâu quá, mà chế độ chăm sóc nới lỏnggaro không thực hiện được do nhiều nguyên nhân, nên phần chi dưới cũng hoại tử,phải cắt đoạn cấp cứu chứ không sẽ nhiễm trùng huyết đe dọa tính mạng TB.

Mỗichiều sau thời gian tiếp nhận thương binh, phân loại và xử lý thương tích, cácchị y công lại cùng nhau khiêng từng rổ lớn phủ bên trên là những tấm xăng vảitrắng đựng tứ chi và các cơ phận khác bị loại của thương binh, qua ngay khoảngđất trống cạnh khu C khoa ngoại chôn cất mà không để lại dấu tích trên mặt đất(nay khu đất đó trở thành nhà ở của cán bộ nhân viên viện 115)...

- Cũng khoảng thời gian cuối tháng 11 đầu tháng 12.1978 thì hướng F7 đơn vị BY chốt giữ địch mạnh lắm bác tranphu341 ơi.

D7 E209 đơn vị của BY chốt giữ nằm đúng vị trí góc vuông của toàn F7, 1 bên là đội hình E209 và 1 bên tiếp giáp với E141 của F7.

Hàng đêm địch tấn công các chốt trong F7 ở thế áp đảo ta rất mạnh, đạn lửa bắn như pháo hoa đỏ rực trời đất.

Khi đó C của BY mới được thay chốt về nghỉ dưỡng sức và trong tư thế sẵn sàng cơ động chi viện cho đơn vị bạn, nên được làm khán giả đứng xem những trận đánh chống trả địch trong đêm, vô tư để nhận xét thì địch mạnh hơn ta ở đó.

Sang đầu tháng 12.1978 thì các đơn vị chung quanh lại thấy đỡ hơn, chúng quay sang nện D7 của BY, riêng hướng chốt C3 khó nuốt hơn vì đồng nước trắng trước mặt nên địch nhè vào chốt C1 tấn công, sau hơn 2 ngày chiến đấu thì C1 thiệt hại nhiều nên thay C2 của BY vào giữ chốt, C2 cũng chỉ đứng nổi 3 ngày thì hết quân số chiến đấu, địch rất mạnh với pháo binh và TTG tấn công ào ạt vào chốt, liên tiếp nhiều đợt trong 3 ngày ấy không nghỉ.

Cả D E nháo nhào lên cả, tuyến phòng thủ thứ 2 sau chốt khoảng hơn 1km được thiết lập phòng khi ta bật chốt sẽ lui về đó đồng thời chi viện và các cấp thúc chiến nhiệt tình.

Chẳng biết bọnPốt dùng cái trò ma gì mà sáng sớm tinh mơ, phía chốt địch sau lưng là bờ sôngSvay Rieng mà chúng kéo cả chục chiếc TTG áp sát trận địa ta mà không biết,đúng giờ chúng đồng loạt nổ máy xe và lao ầm ầm vào chốt C2, thôi thì pháo tựhành TTG cùng pháo binh, cối các loại với hỏa lực BB và đạn nhọn bắn tan nátchốt C2, ta chống đỡ ngoan cường nhưng quả thật là cũng hốt hoảng bởi TTG củađịch, nhất là khi đạn chống TTG hết, khẩu DKZ75ly đi phối thuộc bắn"khoán" hết đạn rồi khiêng súng chạy bỏ lại 1 lỗ hổng lớn ở chốtkhiến lính BB càng thấy "ghê", chắc phen này Pốt nó dùng xích TTGnghiến lính ta thằng thịt xay mất rồi, nếu có muốn chạy cũng chẳng biết chạy điđâu.

Cũng may địch cũng không dám liều đến thế.

Nói thật với bác tranphu341 làBY em đánh nhau sợ nhất trận này, lúc được thay chốt ra mà không tin là mìnhcòn sống nữa.

Hú vía.

- Có lẽ đối với bác hieuc3d26f7 thì đó là đêm luồn sâu thứ bao nhiêu rồi chắc bác không còn nhớ số lần nữa, nhưng đối với BY thì đó là đêm luồn sâu đầu đời của thằng lính mới với 2 trận đánh đi qua.

Từ trận đánh trước mất hết quân tư trang và đôi dép cao su cũng chẳng còn, trước chiến dịch được phát thêm cái quần dài để vào giải phóng Phnom Penh cho nó ra dáng anh lính QTN VN nếu không thì chỉ có quần đùi mà mặc, thêm đôi giày cao cổ bằng vải của lính VNCH cũ màu xanh nên khá vất vả trong suốt chiến dịch, cũng may cả chiến dịch có hơn 1 tuần chứ kéo dài độ 1 tháng thì chắc đôi chân BY nát bét mất.

Đêm 3.1.1979 ấy đội hình C2 của BY đi đầu trong toàn E209, cách khoảng 50 đến 100m là trinh sát E F, vì phải bám C trưởng suốt dọc đường lên đến QL1 nên đêm hôm đó rất vất vả, kỷ niệm đầu đời hành quân suốt đêm mang vác nặng sao mà đêm hôm đó nó dài quá vậy?

E trưởng Trần Cường lúc vượt lên đội hình lúc tụt lại và sau lưng ông ấy luôn là một nhóm người bám theo, ông ấy là người xông xáo trận mạc tay cầm cái gậy chống dừng lại nhắc nhở anh em hành quân gấp trong bí mật, lúc nói thì thào lúc ra hiệu chỉ chỏ và cả lúc rít lên mắng mỏ thằng lính nào đó chưa chấp hành nghiêm kỷ luật hành quân.

Vài lần không biết chứ lúc gần sáng thì chỉ cần thấy sau lưng mình tiếng bước chân rộn rã hơn là biết ông Trần Cường cùng bộ phận khác đang bám lên sát đít mình rồi, chẳng cần ngoái cổ nhìn lại cũng biết.

Ai ngờ đâu trong số người bám cùng đội hình E trưởng lại có bác hieuc3d26f7 cùng hành quân với BY lúc đó.

Lúc địch bắn vào đội hình hành quân E209 thì ta đang đi trên con đê cao, trước đó đã thấy địch nổ máy xe, đội hình đi đầu không biết là xe gì chỉ nghe tiếng máy nổ song ta cứ đi vượt lên trước mặc kệ thằng Pốt, đi khoảng 300m nữa thì địch bắt đầu bắn phía trước mặt, BY đi cùng nhóm đi đầu trong C sau nhóm trinh sát, đường đạn bắn căng xen lẫn đạn lửa cứ xiên qua khe chân lính đi đầu đội hình mà lướt, nhóm trinh sát chạy dạt sang 2 bên nhìn rõ cả người trong ánh lửa đạn, kể cũng rất lạ là nhóm đi đầu và cả C2 của BY chẳng ai dính đạn của địch bắn ở cự ly gần mặc dù đội hình đặc người như vậy, song nhóm anh em C khác đi sau thì lại dính đạn địch lúc đó.

Cũng lúc ấy phía sau tiếng súng lục đục chẳng biết của ta hay địch nữa, nguyên tắc luồn sâu là không đánh lại kẻ địch trong suốt dọc đường, ta gần như im lặng, địch chắc cũng ngán đội hình của ta nên cũng lặng lẽ rút êm, ta thì trinh sát thông đường xong là đi luôn và chỉ vài trăm mét nữa là rẽ phải đi xuống ruộng chứ không đi theo bờ đê nữa.

Đại liên địchbắn vào đội hình, chó sủa râm ran, gà gáy cầm canh và cả tiếng bò rống trongđêm, người dân trên nhà sàn thắp đèn hỏi vọng xuống, mặc kệ đội hình vẫn lặnglẽ đi, tiếng bước chân ngày càng rộn rã gấp gáp hơn tiến về phía trước.

Cảtrung đoàn đã cắt đứt QL1 của địch vào ngày hôm sau, hướng F7 đã đẩy lui đánhtan giã lực lượng Pốt từ trận luồn sâu hiểm hóc này.

- Sư đoàn 337 của em trong chiến tranh BGPB có tham gia 2 trận lớn đó là trận cầu Khánh khê và trận Bình độ 400.Cả hai trận mỗi trận ước tính thiệt hại khoảng 700 cán bộ chiến sỹ.

Trận khánh khê sư 337 với nhiệm vụ chặn đứng bước tiến của sư đoàn 161 quân TQ hòng mở gọng kìm đánh xuống thị xã Lạng sơn.

E12F3(Sư đoàn Sao vàng) sau nhiều ngày quần nhau với quân TQ đông hơn rất nhiều về số lượng(khoảng 3 sư đoàn) đã bị thiệt hại nhiều phải rút lui chiến thuật về hướng Bắc Thái kết hợp với E 197(Tự vệ Bắc Thái) lập phòng tuyến chặn quân TQ tại Khánh khê.

Khi F337 của em được lệnh hành quân thần tốc từ Thừa thiên ra bắc (thực chất lúc này mới có bộ khung và K13,K14,K15 sau này là E4).Khi mũi tiền quân là E4 đánh lên Khánh khê tình trạng E12F3 gần như mất sức chiến đấu, anh em hi sinh nhiều , đạn dược cạn kiệt, nhiều điểm cao anh em phải đánh giáp la cà với quân TQ.

Khi nghe tiếng xung phong của E4 cùng tiếng trọng pháo rền vang của E108 bắn chi viện(E của em sau này) thì anh em E12F3 đã gào đến khản giọng :"Quân ta lên rồi".

Trong trận này gần 700 cán bộ ,chiến sỹ F337 đã vĩnh viễn nằm lại nơi con sông Kỳ cùng hiền hòa chảy ôm gọn lấy thị xã Lạng sơn-Cửa ngõ của Tổ quốc.

Trận lớn thứ 2 mà sư 337 tham gia là trận bình độ 400, cũng gần 700 cán bộ chiến sỹ E 52 và cả 1B đặc công 198 của Bộ đã vĩnh viễn ra đi.Bình độ 400 thuộc xã Thanh lòa, Cao lôc Lạng sơn , là dãy bình độ gồm núi đất xen kẽ các mỏm núi đá do TQ chiếm giữ của ta sau năm 1979.

Chỉ là 1 người lính của sư đoàn 337, em luôn thổn thức mỗi khi nhắc tới trận bình độ 400.

Em không giám phán xét các cấp chỉ huy F và Quân đoàn lúc đó, nhưng rõ dàng đây là 1 trận hao quân tổn tướng.

Một trận do điều nghiêm kém, hiệp đồng binh chủng kém, không nắm được phía TQ xây địa đạo ngầm ở dưới, không nắm được đường vận tải phía TQ lên 400 đã có đường chiến lược, còn từ phía ta vách núi cùng đường xá mở vội vàng, xe tiếp đạn, tải thương nhiều chỗ không vào được.

Bình độ 400 gồm 4 mỏm chính A1-A2-A3-A4 sau khi đặc công đánh lướt các mỏm, pháo binh quân đoàn, pháo của bộ tư lệnh pháo binh cùng pháo của D11E108F337 đồng loạt bắn vào các mỏm.

Gần 1h pháo chuyển nàn , BB tấn công chiếm ngay được các mỏm.

Nhưng không ngờ....Mọi sự tồi tệ ngay sau khi chiếm được các cao điểm.

Pháo binh không chi viện được cho bb khi bị sư đoàn Quảng Tây của TQ phản công và tồi tệ hơn chính là pháo quân ta lại giã vào đầu quân mình........

Bình độ 400 sau này cả ta và TQ không bên nào giữ được, nó là túi pháo cho 2 bên thi nhau bắn vào.

Em xin copy lại bài thơ mà năm nào em cũng đọc , rất nhiều anh em trong trang nhà đã biết về bài thơ .Nhưng em tin còn nhiều người chưa biết những người lính E 52 năm xưa đã "Tưới máu người quyết giữ đất biên cương".

Đêm tháng Năm vào bình độ Bốn trăm

Đoàn xe trôi êm êm ,tầm đại bác

Thuốc súng tanh lá rừng kêu xào xạc

Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu

Lắc lư xe quan tài vượt về sau

Máu đổ xuống đường cuốn vào cát bụi

Lái xe quan tài vượt lên lầm lũi

Tốp thương binh bê bết máu mặt mày

Đám cướp kia Thánh , Phật dạy ăn chay

Chẳng kiêng gì ngày rằm mùng một

Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt

Tưới máu người quyết giữ đất biên cương

Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân

Ông bảo rằng :Sống ,chết , thời , vận , số

Cả trung đoàn ào ào như thác lũ

Bình độ Bốn trăm bình địa trận người

Những chàng trai sống chết trận này ơi !

Mưa đổ xuống ông trời tuôn nước mắt

Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất

Người trở về ăn , sống , ở ra sao ?

Người lính trên chiến trường nhiều khi ngã xuống không hẳn là :"Thời, vận, số" mà đôi khi kà sự bất cẩn, bệnh thành tích và là cả cái đầu mít của chỉ huy.

- Xem các bác kể chuyện em lại nghĩ đến một kỷ niệm.

Đó là vào thời gian cuối tháng 2/1979 ( lâu quá em không nhớ chính xác, nhưng hình như là ngày 20 hay 21/2/1979 gì đó).

D7- E429 bọnk em nhận bàn giao của QĐ3 tiếp quản bảo vệ các địa điểm trọng yếu của thành phố Siêm Riệp.

Đại đội em được giao bảo vệ khu biệt thự Xi - Ha - Núc, cầu Xi - Ha - Núc, khu khách sạn quốc tế, nghe nói cũng gọi là khách sạn XIHANUC luôn Khách sạn này ngày đó có 3 tầng chính và 1 tầng trệt dùng làm bếp và kho chứa các vật dụng cho khách sạn.

BCH đại đội 4 bọn em ở khu dành cho nhân viên khách sạn ngày trước.

Ở bên phải khách sạn trên đường từ cầu XiHaNuc đi đền ăngco.

Đến ngày thứ 2 sau ngày nhận bàn giao, BCH tiểu đoàn 7 ( có anh Nguyễn Văn Kiến - D trưởng, anh Nguyễn Văn Kiền - D phó) xuống gọi C trưởng bọn em là anh Khoa và 1 liên lạc đại đội nữa, vào kiểm tra niêm phong kách sạn.

Tôi được các anh BCH D và C gọi đi theo để truyền lệnh khi cần thiết( vì khi đó em đang làm văn thư kiêm quân khí đại đội).

Em mừng quýnh, vì thấy khách rất cũng nguy nga, tráng lệ, đầy sức hấp dẫn ( ở thời điểm ấy) nhưng cả đại đội chỉ dám nhìn từ bên ngoài, chứ chưa ai dám vào bên trong để xem.

Em vội vàng khoác khẩu AK báng gấp chạy lon ton theo 3 thủ trưởng.

Anh Kiến và anh Khoa đều đeo súng ngắn, còn anh Kiền thì cũng khoác 1 khẩu AK báng gập và mỗi anh cầm theo một chiếc búa đinh và vài đoạn thanh gỗ nhỏ.

Em cứ tò mò không hiểu các thủ trưởng đem theo những thứ đó làm gì nhỉ?

Nhưng em chỉ biết đi theo và hào hứng với niềm vui là được vào một khách sạn lớn, mà từ bé đến giờ mới được nhìn thấy.

Vào đến khu hội trường, thấy những chiếc ghế bành to bọc nhung, ngồi lút đầu.

Em cứ tung mình nhảy từ ghế này sang ghế khác nhún nhảy.

Thấy thế anh Kiền nói : ơ cái thằng này, có phải gọi mày vào đây để chơi đâu mà mày cứ phởn chí nhún nhảy thế?

Đi lên tầng nhanh lên!

Rồi 4 anh em đi lên kiểm tra các phòng từ tầng 3 trở xuống.

Em thấy các anh BCH d và anh Khoa đến bên các cửa sổ kiểm tra các chốt khoá, cánh cửa.

Chỗ nào cảm thấy không bảo đảm thì các anh ấy lại lấy thanh gỗ và đinh ra đóng ghim chốt lại.

Trong lúc ấy, em tò mò đi đến các phòng khác nhìn ngó.

Nhưng chỉ để xem thôi chứ không hề có ý nghĩ tìm kiếm cái gì cả (dại thế chứ ).

Nhưng 2 tầng trên chỉ toàn là gường nệm thôi.

Đến tầng 1 thấy có các vật dùng giành cho ăn uống.

Em liền trốn các thủ trởng lẻn đến các phòng để tìm 1 chiếc bát (chén ) sứ ăn cơm.

Vì em đã thấy ngán chiếc bát B52, vì mỗi lần ăn cơm nó rất nóng.

Đi qua mấy phòng chỉ thấy toàn là đĩa, bát tô, đũa sứ và dĩa inok ( chúng em hay gọi là móc xếp).

Đến khi em vừa nhìn thấy 1 chiếc bát sứ Trung Quốc ở trên bàn.

Dang mừng quýnh thì nghe tiếng anh Khoa C trưởng gọi giật giọng: Giang!

Thằng Giang đâu rồi?

Em chụp vội lấy chiếc bát sứ, giấu vào bụng áo rồi chạy ào đến bên các thủ trưởng : Dạ, em đây ạ!

Anh Khoa gắt : Bảo mày đi theo để có gì còn bảo, sao mày lại trốn đi đâu ?

Em lúng túng lý nhí: Dạ em đi xem mấy phòng bên cạnh ạ.

Lúc đó anh Kiên nhìn em rồi nghiêm mặt hỏi: Mày giấu gì trong bụng kia?

Em lúng túng móc chiếc bát ra ấp úng đáp : Dạ chiếc bát ăn cơm của em sắp bị thủng, thấy chiếc bát này đẹp nên em định lấy về để ăn cơm ạ.

Lúc đó mặt anh Khoa c trưởng tỏ vẻ tức giận lắm.

Một phần vì thằng liên lạc đi theo không bám sát thủ trưởng, phần nữa chắc là sợ các thủ trưởng tiểu đoàn trách cứ.

Nhưng anh Kiến và anh Kiền chắc nhìn thấy khuôn mặt của em đang thộn ra rất tội nghiệp hay sao đó, nên anh Kiền hạ giọng nói: Thế ngoài chiếc bát còn có cái gì nữa không?

Em cười bẽn lẽn : Dạ không!

Anh Kiền liền cười xoà nói : Thôi được, cho nó cái bát.

Nhưng cấm mày không được lấy thêm thứ gì khác và không được phổ biến ra ngoài cho anh em khác biết, nghe chưa!

Em mừng quýnh, đút vội chiếc bát vào lưng áo, khoác lại súng và lại lon ton chạy theo các thủ trưởng để làm nhiệm vụ.

Em nói lại chuyện này, nếu anh Kiền có đọc được, chắc không trách em nói linh tinh chứ Nhưng 2 hôm sau đó, có thằng Nịnh ở B1, là B được giao nhiệm vụ gác tại khách sạn.

Một hôm vào ca gác nó đã chui vào xé một mảnh vải rèm che cửa sổ để cất vào ba lô.

Định sau này mang khâu làm quần lót.

Bị anh B trưởng đi kiểm tra gác bắt được.

Thế là hôm sau đại đội phải họp kiểm điểm nó lên bờ, xuống ruộng.

May mà nó chỉ bị nhắc nhở, khiển trách.

Nếu ngày ấy mà trót nhặt được cục vàng to bằng cái mũ cối như lời đồn của thiên hạ mà bác BY nói, thì bọn em chết chắc

Nhưngem cũng phải nói là những tin đồn thất thiệt đó cũng có thể do từ miệng củalính ta mà ra cả thôi.

Anh ở đơn vị này đồn lính ở đơn vị nọ đánh vào khu vựcấy kiếm chác được vàng, đồng hồ hàng thùng, hàng mũ !?

Nghe mà phát khiếp.

Cứlàm như chốn chiến trường là nơi chôn lắm của nhiều tiền không bằng.

-Đời lính của TP và của binhyen, của hieuc3, của tất cả anh em mà đang được sống tại thủ đô Phnom Pênh lúc đó thì đã qua thời kỳ bùng bình, máu lửa, đạn bom.

Đang là thời kỳ huy hoàng nhất của đời lính, huy hoàng nhất của đời người.

Anh em đang được sống trên nhung lụa.

Có đầy của ngon vật lạ, có vàng bạc châu báu, giống như trong các chuyện phim của thần thoại Ai Cập xưa vậy.

Chỉ có thiếu mấy cô gái, có cái bụng to đẹp như những diễn viên múa bụng bây giờ biểu diễn thể hiện thôi.

Hoặc bên vai người chiến thắng có các vũ nữ quàng vai ôm ấp....

Đúng là ngày 30/4/75 thì cũng rất vui, niềm vui to lớn nhất, của dân tộc, của đất nước mà mọi người ngỡ như trong mơ vây.

Nhưng về vật chất thì anh em không có như ở bên này, không giống kiểu bên này.

Măc dù sau đó kỷ luật dân vận đã được xiết lại ngay.

Nhưng những điều như bạn dathao nói là "bất thành văn"thì vẫn có ngoại lệ.

Những ngày vui đó được chấm dứt, khi anh em phải ra khỏi thành phố, và quân Pốt thấy quân VN hưởng thụ sướng quá thì bắt đầu bùng bình tấn công trở lại.

Thế là những cốc rượu cuối cùng, điếu thuốc cuối cùng cũng hết, Thay vào đó là những trận chiến máu lửa chưa từng có lại tiếp diễn.

Để rồi những ngày vui đó là nỗi nhớ, là nuối tiếc và nhiềm vui hồi tưởng của chúng ta hôm nay.

Có một Trung đoàn của QĐ3.

Khi được điều động gấp ra trấn ải Chi Lăng ở biên giới phía Bắc.

Trung đoàn này được cơ động bằng máy bay tại sân bay Puchentong.

Trời nắng.

Toàn đội hình Trung đoàn, mỗi Tiểu đoàn, mỗi Đại đội đứng một chỗ riêng biệt.

Người cách người khoảng 3 mét.

Được Thủ Trưởng Trung đoàn phổ biến, quán triệt là: Chúng ta cơ động ra phía Bắc bằng máy bay.

Ở cửa máy bay có lắp một hệ thống phát hiện kim loại.

Hệ thống này sẽ gạt bỏ tất cả kim loại ở trong người chúng ta kể cả là thắt lưng, vũ khí, dao găm, máy lửa bằng kim loại, hay cái cúc áo bằng kim loại nó cũng phát hiện ra vv..

Vì vậy các đ/c ngay bây giờ hãy tháo bỏ tất cả những gì bằng kim loại trong người ra.

Nếu ai không bỏ hết mà bị máy báo gạt xuống sẽ bị kỷ luật rất nặng.

Các đồng chí phải nhanh trong 15' phải hoàn thành gấp.

Lính ta đang đánh nhau, thấy nói được ra Bắc bằng máy bay thì thích quá, sướng quá.

Chứ chưa biết cái khốc liệt của BGPB.

Ai cũng sợ bị máy phát hiện ra kim loại vừa bị kỷ luật, vừa không được ra Bắc.

Nên người nọ lườm người kia, có gì bằng kim loại, có gì giấu giếm trong đũng quần cũng nhìn ngang nhìn dọc rồi vất bỏ ra hết.

Sau 20' Thủ trưởng hô tất cả tiến 20 mét.

Rồi có 5 đ/c vệ binh mỗi người cầm 1 cái xô, đi dọc hàng quân lúc nẫy..

Thế rồi vệ binh cứ như là đi nhặt ốc ở ruộng.

Koong..koong..koong chẳng mấy chốc được gần lưng xô.

Nhưng hỡi các bạn trẻ!

Nếu như có người nào đó nói là các bạn hãy xungphong đi lính, để tấn công vào một thủ đô nào đó và sẽ được hưởng vinh hoa phúquý như là, hơn là các đàn anh vào thủ đô Phnom Pênh năm xưa thì:" xin chớcó dại".

Để đến được đó, vào được đó để có mấy ngày sung sướng tột cùngnhư thế.

Nhiều máu chảy, nhiều đầu rơi lắm lắm đấy!

- chuyện lính ta tiếp xúc với dân K sau ngày GP và bắt tù binh, hàng binh địch của đơn vị mình.

Thời đầu năm 1979 sau GP, dân K sợ bộ đội VN lắm, sợ run lên cầm cập mỗi khi tiếp xúc mặc dù lính ta chẳng làm gì họ cả, tất nhiên là bất đồng ngôn ngữ cũng là nguyên nhân chính khiến dân càng sợ.

Sau GP khoảng nửa tháng tức khoảng 21 22.1.1979 trở đi thì dân K bắt đầu lũ lượt trở về sau chạy loạn, họ bị Pốt lùa chạy theo hay chạy mang tính bày đàn thì không rõ nhưng chắc họ chẳng thích chạy theo Pốt đâu vì trông ai cũng tiều tụy xác sơ, điều rõ nhất là họ nghèo gần như không có gì mang theo người ngoài bộ quần áo đen huyền thoại cùng túi nải khoác vai.

Phần lớn số người chạy quay lại lúc ấy là người già, phụ nữ và trẻ em, họ lôi thôi lếch thếch đi trên đường quay trở lại, từng đoàn, từng nhóm và cả 1 2 người đi riêng lẻ, khi gặp bộ đội VN chặn hỏi thì họ dúm dó sợ xệt ra mặt, BY đọc được điều này từ cả nét mặt những đứa trẻ con đang còn bế trên tay, hỏi thì cứ hỏi vậy thôi chứ cả 2 bên chẳng ai hiểu ai vì lính ta lúc đó chưa có sách học tiếng K ngoài mấy câu truyền khẩu vớ vẩn hoặc Lấc đay lơn là hết, ông nào bạo mồm thì học thêm câu: Ôn sa lanh boòng tê?

Từng đó thôi là hết vốn ngoại ngữ, nói nữa là chuyển sang "khó khăn" gãi đầu gãi tai liền, biết tiếng K thì chỉ có mấy ông dân vận có được học tiếng K vài tháng rõ ràng trường lớp cụ thể, song số này không nhiều đâu mỗi D cũng chỉ 1 2 người được học.

Người dân K lúc đó bị QTN VN chặn hỏi thì họ rất sợ, nhưng sau đó thì họ hiểu dần là lính ta không là điều gì ác đối với họ, họ bắt đầu nói, ra hiệu bằng tay hay bằng hành động cố diễn giải cho lính ta hiểu hơn về họ hay những gì họ từng trải qua thời gia gần đây.

Điều rõ nhất là họ đang đói, rất đói, những gì họ thấy trên suốt dọc đường đi qua từ hướng QL4 lúc ấy trở về họ không dám lấy không dám ăn, vì không dám ăn nên mới đói chứ đồ ăn lúc đó thiếu gì dọc đường, có lẽ thời gian cai trị của Khmer đỏ đã để lại cho họ quá nhiều đau thương nếu chỉ vì đói mà họ xâm phạm, vì vậy họ thà chịu nhịn đói còn hơn bị Pốt cắt cổ.

Nhưng rồi đám người đi trước đi qua thì đám người đi sau càng yên tâm hơn là QTN VN sẽ không làm gì họ cả, họ bắt đầu xin ăn lính ta, lúc đầu thì họ lý do xin cho con ăn hoặc xin ăn cho có sữa cho con bú và rồi họ thẳng thắn chỉ vào bụng mình xin ăn rồi hóp cái bụng lại ra điều nó đang xẹp lép thế này này.

Lính ta thì đồ ăn thừa mứa nên thấy dân đói thì cho họ ăn, cho hết những gì không dùng, lúc ấy BY bảo vệ sân bay nên giải quyết chuyện này rất nhiều, nhóm anh em đơn vị BY ở đó cứ nói đùa: Cho thế này thì có mà của núi.

Đúng thế thật phải là của núi thì mới có đủ mà cho dân K lúc đó, vài phụ nữ K bạo dạn xán đến gần QTN VN xin vào kho lấy vải về may quần áo, lính ta thì tiếc gì mà không galang tý chút mặc dù chị em K ấy xấu bỏ đời ra ấy.

Lính Pốt khi bịbắt làm tù binh lúc đầu cũng rất sợ QTN VN, anh em hay bắt nó cởi 2 tay áo rarồi buộc chặt lại phía sau, sau đó trói tay lại bằng dây dù giải đi, lúc đóihay khát chúng cũng xin ăn hay uống.

Nhưng sau này thì ta bắt thằng tù binh màthấy mặt nó cứ nhơn nhơn ra không còn nét sợ, có thằng mới bắt được 1 2h đã mòra xin ăn khi lính ta ăn cơm nắm, cho nó ăn xong nó còn chê mặn chê nhạt, quẹtmỏ rồi quay sang xin nước uống, uống nước xong rồi nó đòi đi đại tiện.

Bắt sốngthằng tù binh địch cực kỳ rách việc nhất là đơn vị đánh luồn sâu, mang nó theothì không được mà đưa nó về tuyến sau thì rách việc rồi, vì vậy thằng nào mặtmũi hiền lành cư xử phải phép thì còn có thiện cảm chứ thằng nào ngơng ngơngngáo ngáo thì chỉ muốn đá cho nó một phát vào mặt.

Sau này hàng binh địchnhiều, loại lính Pốt hàng binh được lính ta cư xử tốt hơn, không trói, cho ănuống đàng hoàng, đến bữa cấp cho gạo nấu ăn với nhau, đi với nhau nhiều ngàyquen dần thì giao đạn hoặc súng nhưng lấy đi kim hỏa, dần dần giao luôn súngcho nó cùng chiến đấu, nhưng để mắt đến nó tý chút, sau nữa thì cảm giác nó làthằng hàng binh địch mất dần, nhiều anh em cho nó quần áo cũ, úp lên đầu cái mũcối, bắt nó thường xuyên đội mũ cối không thì nhỡ anh em "banh ngọp"ráng chịu.

- Chuyện bắt thám báo TQ sau giai đoạn 79 hướng Lạng sơn có thể nói xảy ra như cơm bữa, chứng tỏ sau năm 79 TQ liên tục tung thám báo vào sâu đất ta thăn dò.

Năm 84 đv em được điều động lên Đồng đăng quại nhau với TQ.

Tuy là đơn vị pháo binh cấp F nhưng C của em được điều đi phối thuộc với D1 BB để kìm tỏa 1 D lính biên phòng TQ đóng tại cao điểm 583 (Một cao điểm án ngữ đường 4B từ Đồng đăng đi Na sầm).

Do địa thế chiến lược của cao điểm 583 nên sau năm 1979 phía TQ cố tình chiếm giữ trái phép của ta.

Từ cao điểm này TQ đã dùng cối 100mm khống chế làm giám đoạn giao thông trên đường 4B trong thời gian dài năm 1984.

Dưới chân cao điểm 583 và 474 có nhiều đường mòn( cơ bản đã được phong tỏa bằng mìn) nối TQ với VN.

Trong khoảng thời gian từ 1981 tới 1984 chắc E4 thuộc F337 là bắt được nhiều thám báo nhất, vì liên tục nghe tin đơn vị này hoặc đơn vị kia bắt được thám báo TQ.

Là đv pháo binh nhưng đóng sát đường 4B trái có C3, phải có C1 BB đầy những thành tích bắt thám báo nên chúng em cũng mài sắc quyết tâm .

Trong 1 phiên gác đêm em cùng với 2 thằng ở 2 B khác gác cùng phiên đã bắt sống 1 thằng.

Em cũng chẳng hiểu nó có phải thám báo không nhưng nó lì nợm và có nội công phi thường.

Bọn em trói gô nó vào cột, nó cũng chẳng van xin hay thanh minh(hình như nó chỉ nói được mấy câu tiếng kinh).

Còn chịu đòn thì nó quá kinh, không thể hiểu nổi???....C của em rất nhiều thằng tập võ, đủ trường phái, võ Tày-Nùng có 2 thằng, Thiếu Lâm có mấy thằng vậy mà nó không xi nhê gì mới lạ.

Đến sáng nó bị giải lên E,không hiểu sau này nó là ta , hay thám báo nhưng tài chịu đòn thì đáng phục quá .

Cũng trong năm 84, trong 1 trận phản pháo với TQ, Ccủa em đang quại nhau hăng thì trong C có thằng thất thanh:"Sao 2 đứa kiađốt đống rơm sau trận địa thế kia?".

Chẳng đợi Cph, người trực tiếp chỉhuy trận địa ra lệnh, em giật vội khẩu AK báng gấp khoát tay 2 thằng ,cả ba laoxuống dưới đường 4B cắt qua suối sang phía 2 đứa đốt lửa.

Chắc chúng phát hiệnthấy bọn em vận động tới nên bỏ chạy thục mạng vào rừng.

Bọn em cũng chỉ đuổiđến đầu rừng rồi làm mấy loạt lên trời đuổi chim thôi , chẳng hiểu 2 đứa này làdân(ngu) hay thám báo nữa???

- Ngày ấy!(đầu những năm 70) Tôi thường chứng kiếncảnh may bay Mỹ ngoài hạm đội bảy bay vào đất liền oanh kích, ban đêm bầu trờiHà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn hắt lên một màu sáng bạc của ánh hỏachâu, của bom đạn từ ta và địch với những tiếng rền rung trời đất.

Đặc biệt vụmột tốp may bay trực thăng HH53 từ sân bay quân đội hoàng Gia Udon - Thailandqua tập kích trại giam Đền Và - Sơn Tây để cướp tù binh phi công Mỹ nhảy dù khitàu bay trúng hỏa lực do phòng không, không quân của ta bắn cháy, bị các chịdân quân bắt sống gom về.

Nhưng phi vụ không thành, tốp tập kích đổ bộ xuốngmột trại giam không người.

Một trực thăng bị vướng dây phơi quần áo, mất thăngbằng khi bay lên nhằm dịch chuyển vị trí thì cánh quạt chém gãy ngọn cây caocũng đồng thời gãy cánh quạt rồi rơi tại chỗ.

Một trực thăng hạ cánh nhầm xuốngtrường trung học, cách mục tiêu đã định bốn trăm mét, một máy bay yểm trợ vànghi binh F105 bị tên lửa SAM tiêu diệt.

Do tình báo của ta phát hiện sự bất ổnnên đã kịp sơ tán phi công Mỹ an toàn trước khi vụ tập kích xảy ra.

Sau hiệpđịnh Pari được ký kết ta mới chuyển tù binh phi công trở lại nhà tù Hỏa Lò.

Saunày tôi được đọc một ấn phẩm là tài liệu tham khảo của lực lượng công an nhândân với các chi tiết một thời vào loại bí mật của Lầu Năm Góc do Belzamin F.Summer sĩ quan cao cấp, chuyên viên nghiên cứu lịch sử quân sự Hoa Kỳ, chủ bútbáo "The Arned Forces Journal" mô tả quá trình trong sáu tháng chuẩn bị cơ sở vậtchất, đào tạo một lực lượng tập kích đặc biệt Mỹ.

Hoạch định các phương án phốihợp ba thứ quân tại các căn cứ trên đất Laos, Thailand, hạm đội 7 với sở chỉhuy tập kích đặt tại căn cứ quân sự bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng do tướng Maynorphụ trách.

Tổng hành dinh chỉ huy đặt tại lầu năm góc do Ledeur bộ trưởng quốcphòng và tướng bốn sao Westmoreland, tổng tham mưu trưởng lục quân cùng bộ chỉhuy tác chiến theo dõi điều phối từng phút cuộc tập kích với lực lượng hùnghậu, riêng máy bay các loại trên một trăm chiếc.

Qua đó ta thấy qui mô toàndiện, tính chuẩn xác cao cùng sự tốn kém khôn lường của đối phương với mục đíchgiải thoát trên 60 phi công bị giam giữ tại Sơn Tây bằng mọi giá nhằm xoa dịulàn sóng phẫn lộ của nhân dân Hoa kỳ nói chung và thân nhân những phi công nóiriêng nhưng cuối cùng phải đắng cay chấp nhận sự thất bại và âm thầm đưa sựkiện vào giáo khoa chiến tranh với kết luận: do nhiễu loạn thông tin và sự chủquan ỷ lại của lâu năm góc vì quá tin tưởng vào CIA và DIA.

Chứ không giám nhìnnhận sự thật về trình độ của tình báo chiến lược Bắc Việt, không phải loạixoàng...
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Kỳ 10: Hồi ký bác Phong Quảng


Giải phóng Quảng Trị _19/3, tiếp sau đó một tuần là đến giải phóng Huế_ 25/3.

Là anh lính Trị Thiên, mỗi năm cứ đến ngày này là ký ức lại tràn đầy trong tôi.

Tôi xin chia sẻ với các bạn trong QSVN về những ngày ấy, những trận đánh cuối cùng trong đời binh nghiệp của tôi...Tất nhiên tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì tôi thấy và cảm nhận của một người lính khi đó.

Không biết phải bắt đầu từ đâu khi kể về một sự kiện, một chiến dịch và một trận đánh.

Với tầm hạn chế của anh lính cấp phân đội có lẽ tôi nên bắt đầu bằng những phần việc của người lính và học tập lối viết của bác baleo là lật dở từng ngày một cho đến khi lá cờ xanh đỏ phất phới trên Phú Văn Lâu.

CUỘC CHUẨN BỊ BA MƯƠI NGÀY_ CUỘC CHUẨN BỊ BA MƯƠI NĂM.

Đây là cái tít của chương III trong ký sự " Bắc Hải Vân xuân 1975" của nhà văn Xuân Thiều.

Nhà văn Xuân Thiều viết với tư cách cán bộ trợ lý tác chiến quân khu Trị Thiên.

Ông viết ở tầm bao quát rộng và theo tôi là rất xác thực, điều này tôi cảm nhận được từ những gì ông mô tả các trận đánh của e4 chúng tôi ở Phong Điền, Quảng Điền.

Chương này ông nói về không khí chuận bị chiến trường của toàn mặt trận Trị Thiên, còn tôi chỉ viết những gì xảy ra quanh tôi bởi ngay những chuyện trong cùng trung đoàn nhiều khi tôi cũng không biết.

Lùi lại nửa cuối năm 1974, e4 chúng tôi bắt đầu chuỗi những trận đánh ở tả ngạn Ô Lâu.

Trung đoàn 2 sư 324 tập tành mấy tháng nay ở tuyến 2 nghĩ là để cùng vào trận với chúng tôi lại đột ngột biến mất, để lại một khoảng trống sau lưng chúng tôi.

Tâm lý sợ lạnh lưng, hở sườn ông lính nào chả có, cả dải phòng tuyến hơn 20km chỉ còn có e4 , k10 (tỉnh đội) và lính địa phương huyện.

Phía tây bắc là bọn Trâu Điên ( lữ 258) phía đông nam là tụi 147, chúng tôi phải rút bỏ một số vị trí ( gài mìn để lại ) dồn về thượng Ô Lâu đánh các điểm cao 61, Không tên và bình độ 50.

Những trận đánh này có nhiều câu chuyện đáng nhớ lắm như có gói thuốc Điện Biên qua tay địch lại về tay ta vẫn còn 18 điếu, vì sao vậy?

Những người biết nó vì sao đều đã chết trận ( ở cả hai phía ) đêm ấy.

Việc sử lý tù binh bị thương ra sao.v.v .

Nhưng xin để dịp khác vì tôi đang muốn nói những cái liên quan tới 1975.

Bác Xuân Thiều nói cuộc chuẩn bị ba mười ngày, rồi ba mười năm thì cũng kệ bác ấy.

Tôi xin bắt đầu sự chuẩn bị của chúng tôi từ sau những trận đánh mùa mưa 1974 ấy.

Tôi được đề bạt " A bậc phó" lần thứ hai, các bạn chớ nghĩ tôi bị kỷ luật nghe.

Cái lần đầu tiên ấy là do có mấy bà văn công QK về tiểu đoàn , lính tráng mừng rơn.

Tôi vừa ở chốt về nghe tin cũng mừng khấp khởi, từ ngày vào chiến trường đã bao giờ được xem văn công đâu.

Đùng một cái, hôm sau có lệnh quay lại chốt thay cho một cậu vừa lên thay mình, thật vô lý!.

Bức xúc quá tôi lên gặp chỉ huy thắc mắc, đại đội hỏi trung đội, trung đội trả lời tôi là A phó..

Lần phong "miệng" đó kết quả là tôi lại phải lên chốt và mất một dịp được xem văn công.

Mấy bà văn công diễn xong đi, tôi lại là anh xạ thủ số 1_ 12ly "vác" và vẫn binh nhất.

Lần phong này khác hẳn, có quyết định Hạ sĩ đàng hoàng và lệnh đi học pháo ở Quân Khu.

Các bạn ạ thế là sau 2 năm 2 tháng (8/1972_10/1974) tôi mới được lên một cấp đấy.

Cùng đi học với tôi có hạ sĩ A bậc trưởng Lang Khùn ( một đồng đội người dân tộc Thái_Nghệ An, nhập ngũ 1971, đã tốt nghiệp lớp 10 PT).

Chúng tôi lên gặp chính trị viên Sen trước khi rời đơn vị.

Anh Sen dăn dò :" Các cậu đều có văn hóa, gắng học nắm vững kỹ thuật , về còn hướng dẫn anh em nữa."

Chết thật! học pháo xong lại về biên chế của tiểu đoàn bộ binh nghe lạ quá.

Mới nghe "Pháo" là tôi đã mừng hú, chào cánh bộ binh thôi, từ nay "em" đi trận bằng xe xích, xe hơi rồi.

Nghe CCV nói tôi chả hiểu là thế nào nữa(?), lên đến trung đoàn, trưởng ban pháo bảo :" Các cậu cứ lo học đi, đừng thắc mắc."

Phụ mấy lính vệ binh trung đoàn rong tám thằng thủy quân lục chiến bị bắt ở điểm cao 61 ra quân khu, đến Đông Hà thì chia tay .

Chúng tôi đi nhận tân binh , nhận lớp sau đó học hơn một tháng thì xong.

Cái loại pháo chúng tôi học là " canong 57" , các bạn nào đã xem những bộ phim thời "chiến tranh vệ quốc vĩ đại" của Liên Xô cũ thế nào cũng thấy nó.

Hình như cái anh CCCP này moi từ bảo tàng ra thì phải, lính tráng đùa nhau bảo còn mấy trăm viên đạn bắn rồi quang pháo đi.

Chẳng biết có mặt trận nào được trang bị như thế không còn Trị Thiên thì có e4, e271, d3 Quảng Trị, du kích Do Linh mỗi đơn vị 4 khẩu.

Huấn luyện chúng tôi là đại úy Vạn người của phòng Pháo QK.

(Còn tiếp)

Có một câu chuyện vui ngoài lề lấp chỗ trống để linhmoi đọc cho đã ( cũng là chuyện thật 100%)

Ra đến Thanh Hà ,Gio Linh thì mới biết mình học pháo mặt đất 57 ly nòng dài.

Tôi buồn quá, các bạn có biết ở mỗi đại đội bộ binh lúc bấy giờ bao giờ cũng có 2 khẩu cối 60 ly, Pháo mới nòng so với lính bộ bình còn thua thì pháo phót gì, đúng là pháo "tét".

Tôi nhìn khẩu pháo , người "bạn" cùng những trận đánh sắp tới của tôi mà chẳng biết nói sao.

Nòng bé tẹo,chỉ được cái dài ( 4m),hai bánh xe như hai bánh xe bò.

Tôi nhớ ra là đã từng gặp nó trong các bộ phim xô viết thời chiến tranh vệ quốc.

Quả đúng, nó là hung thần của các xe tăng Đức ngày đó.

Càng buồn hơn khi mấy hôm sau, tôi nhận các tân binh về tiểu đội thì bên nhà bên cũng có một trung đội nữ du kích cùng tham gia lớp học với chúng tôi.

Cứ nghĩ mấy thằng cùng nhập ngũ nó sang quân đoàn 2 mà thèm, vẫn tự an ủi , thôi mình cỡ lính quân khu, lính tỉnh cũng oách chán.

Lo nhất học xong lại xuống lính huyện, lính xã thì chán chết.

Tạm cất cái chuyện này đi đã, tôi vào ngay cái chuyện "săn bắn" ngay đây không anh em lại cho thằng này lan man.

Cái trung đội nữ du kích Do Linh cùng khóa chúng tôi,hàng ngày cùng ngồi một " giảng đường" nên không khí học cũng say sưa hơn .Chiều chiều sau giờ cơm, lính nhà ta cùng vài o bên nớ cũng thơ thẩn chuyện mây gió...Tiểu đội tôi có thằng Huấn tiểu đội phó, hắn nhập ngũ cùng tháng, quê Hải Dương.Tôi quí hắn vì trông hắn thư sinh, da trắng, tóc quăn, đẹp trai và có duyên lắm.

Hắn cũng quí tôi vì cũng cao ráo, mác trai Hà Nội lại thoáng.

Phải cái nó rất

"máu" gái, suốt ngày sang chuyện trò với du kích.

Mỗi lần hội ý tiểu đội tôi cứ phải sang gọi, lâu dần tôi mắc chứng nghiện sang "gọi" nó.Thế có chết không, ông trưởng, ông phó đồng tình..

Khi khóa học kết thúc thì hắn thân thiết lắm với một o tên B, còn tôi thân với o T.

Ngày chia tay , lính hai bên lưu luyến lắm.

Sau bữa liên hoan bế giảng, hai bên tràn sang nhau ghi lưu bút, tặng này tặng nọ.v.v Với ai không biết nhưng tôi với T dù đã khá thân nhau nhưng vẫn có khoảng cách.

Đến hôm nay khi chia tay , chúng tôi hình như cùng thấy mối tiếc lắm lắm.

Ngày mai chúng tôi xa nhau có thể là mãi mãi.

Tôi hẹn T , mai sẽ đến nhà thăm gia đình cô ấy ,T đồng ý...

Về gường đêm ấy Huấn thủ thỉ :" tao hẹn B tối mai gặp nhau ở cầu xi măng " Hắn còn bảo :"về nhà làm gì mất thời gian thưa mạ, thưa cha lắm, mai hẹn ra cầu cùng tao không hơn à.".

Sáng hôm khi các o du kích trở về địa phương, tôi qua hẹn lại với T và thông báo cả chuyện Huấn và B, chúng tôi có thể cùng đến cầu xi măng .

Chiều tối hôm sau, tôi và Huấn mò ra cầu xi măng.

Hai thằng ngồi trên thành cầu hồi hộp chờ đợi.Trời tối hẳn, sắp tới giờ "G" , chúng tôi càng nóng ruột, cứ đốt thuốc liên tục.

Mắt hai đứa nhìn xa thẳm theo con đường dẫn ra biển.

Xa xa thoáng thắp ánh đèn, ngày một rõ.

Tim tôi rộn lên, tôi tự nhủ lần này trước lúc chia tay phải mạnh dạn lên ...Ánh đèn chập trờn trong gió, sáng dần.

Chúng tôi bắt đầu nghe tiếng chân bước, hơi lạ vì tiếng bước chân nằng nặng .Không chịu nổi chúng tôi rời chỗ ngồi tiến về phía ánh đèn.

Khi nhận ra được điều gì ... thì bà mẹ đã kêu lên :" May quá! ..Các chú giải phóng ơi!..

Giúp mạ con tui với!.."

Trước mắt tôi là một bà mẹ và một cậu bé chừng 14 tuổi.Trên vai hai người là một cáng võng.

Cả hai người run run kiệt sức.

Chúng tôi điếng người nhưng theo phản xạ hai thằng ghé vai đỡ cho họ.Tôi hỏi :" Bây giờ đi đâu hả mạ"

Nhà hộ sanh huyện.

Bà mẹ đáp

Cách bao xa?

Huấn hỏi

Chừng sáu,bảy cây số.

Cậu bé trả lời

Chết chúng tôi rồi, sáu bảy cây , chúng tôi có bay cũng không kịp quay về được.

B và T đến sẽ không thấy chúng tôi rồi.

Thằng Huấn đi sau tôi nói như than :" mạ ơi! khổ thế..."

Bà mẹ cứ nghĩ nói về mình lại bảo :" Khổ chi nữa, chừ gặp được giải phóng là sướng hung rồi."

Tiếng rên của phụ sản trên võng làm chúng tôi quên hết mệt nhọc, cứ lao về phía trước theo ánh đèn của bà mẹ.Trong đầu thì nghĩ đến B và T.

Nhà hộ sinh huyện tối om, nhưng vẫn có người trực .Bên ánh đèn dầu chúng tôi cùng gia đình làm thủ tục cho phụ sản.

Xong xuôi hai đứa ra cái giếng trước cửa, gột rửa bùn bắn vào quần áo.

Chúng tôi buồn bã nghĩ đến chuyện hẹn hò .Giờ này còn ai trên cầu nữa, hai đứa cứ ngồi bên thành giếng chẳng biết làm gì.

Trong căn phòng sáng mờ mờ bỗng nghe tiếng oa oa.

Cửa phòng bật mở, o y tá cầm xô nước chạy ra giếng , nói với chúng tôi :" Con trai,các eng ơi!" .Gương mặt rạng ngời lấm tấm mồ hôi, cô xách xô nước chạy vào, bóng cô bay bay, nước trong xô sóng sánh văng trên đường chạy.

Chúng tôi đứng dậy ra về, chào chú bé, công dân mới của Quảng Trị đau thương.

Nghĩ đến hai o du kích ,chẳng biết nói sao nữa, không kịp rồi!

Ngày mai chúng tôi phải lên đường vào trận, để lại Quảng Trị biết bao vui buồn lưu luyến.

Học xong, quân ở đâu lại về đấy, Triệu, Tuẫn và Huấn( ba ông này đều là người Hải Hưng, cùng tuổi quân, từ 9/1975 đến nay tôi vẫn chưa gặp) ở lại nhận pháo, tôi và Lang Khùn dẫn anh em tân binh về Trung đoàn trước.

Đến Đông Hà, sẵn tính "thoáng" tôi cho anh em ở chơi một ngày , để ai còn tiền miền Bắc thì tiêu cho hết vì bắt đầu hôm sau là rừng xanh núi đỏ, có tiền cũng chẳng để làm gì.

Tôi tranh thủ đến đại đôi trinh sát tỉnh đội Quảng Trị thăm anh bạn thân, cùng nhập ngũ hiện đang làm quản lý đại đội.

Ở đây tôi được ăn một bữa ngon đến giờ vẫn chưa quên, tôi nói đùa với ông bạn mình :" Đi B thế này tao đi cả đời, mà nghe như bên Trung Quốc ai làm quản lý đủ 3 năm là người ta bắn, ông làm 2 năm thôi rồi ra mà đi đánh nhau, nhỡ chết còn được làm Liệt Sĩ" .

Nói vậy thôi, bữa ăn đó chỉ thêm có hộp thịt và ít bột trứng nhưng với lính thì như tiệc rồi.Bạn tôi giờ vẫn khỏe, chuyên sản xuất, buôn bán đệm mút ở phố Hà Trung phát đạt lắm.

Chia tay bạn, tôi về điểm quân số vẫn đủ, may không có ông nào "tút" cả, đa số anh em thuần và nóng lòng được vào mặt trận.

Tiếp đến là mưa rừng lũ suối ba ngày liền chúng tôi mới đến đoạn đường 15N gặp sông Ô Lâu, còn nửa ngày đường đi xuôi theo con sông là đến đơn vị.

Nhìn dòng sông chảy cuồn cuộn, máu lười và hay "sáng kiến" của tôi lại nổi lên, tôi nghĩ : Kết mấy cái bè chuối, để ba lô lên thả trôi chắc chỉ 2 tiếng là đến đơn vị đỡ phải hành quân bộ.

Gọi hai ông tân binh tên Quán, Thảo dân Quảng Nham_Quảng Xương chuyên đi biển , tôi hỏi qua chuyện sông nước và nói ý định của mình.

Anh em biết chuyện ai cũng sướng ( lính mới hành quân ba ngày rồi, ngán đi bộ rồi) chỉ mình Lang Khùn bảo không nên vì có phải ai cũng biết bơi đâu, nể Lang Khùn tôi bỏ ý định đi bè mạo hiểm ấy.

Về Trung đoàn mới biết được bổ xung cho c15 hỏa lực bắn thẳng .

Thế là từ nay tôi phải xa C7, xa K15 nơi tôi đã gắn bó hai năm trời, ở đấy ngoài tình đồng đội tôi còn có rất nhiều tình cảm bạn bè và đông hương Hà Nội.

Đơn vị mới (C15) có nhúm người mà lắm súng thật, nào DKB, DKZ_75, H12, lính đa số là người các tỉnh Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên, C trưởng là anh Tầm người dân tôc.

Chỉ mới nhìn người C trưởng tôi đã cảm tình ngay, đôi mắt to và sáng, mồm lúc nào cũng bặm lại nhưng rất hay cười, cười to nữa, tôi nghĩ anh ấy là người quyết đoán.

Bây giờ có thêm 4 canong 57 cùng gần ba chục lính mới Thanh Hóa và các tỉnh đồng bằng bắc bộ nên khá đông vui, riêng Hà Nội chỉ có mỗi mình tôi.

Hậu cứ của đơn vị ở ngay suối nước nóng ( bây giờ là khu du lịch _nước khoáng Thanh Tân, khá nổi tiếng ở Thừa Thiên).

Tôi cùng anh em mới về được tổ chức huấn luyện các loại súng đã có của đơn vị, thời gian còn lại dốc sức làm đường kéo pháo.

ĐƯA PHÁO VỀ

Không Khí chuẩn bị cho chiến dịch sôi động và nóng dần.

Trong lúc chờ pháo về chúng tôi được lệnh làm đường để cho xe cơ động khi vào trận đánh.

Mùa khô vạt đồi thấp sườn đông bắc dãy 330 đất cứng, lính "công binh" rởm chúng tôi chỉ cần làm cho có nét đường để xe biết mà chạy.

Gặp mấy khe cạn thì quang vào ít đá, sỏi sắp xếp cho đỡ lồi lõm là được.

Pháo về thì ngày nổ súng cũng gần lắm rồi, dù chẳng ai biết chính xác khi nào.

Lệnh trên là xe ô tô chỉ được chạy bên triền khuất của dãy 330, đoạn đường mới chúng tôi đã làm chỉ được chạy khi đã nổ súng, đơn vị phải tổ chức kéo pháo bằng tay về điểm qui định.

Ôi chao!

Mất công làm đường mà không cho xe vào, nghĩ kéo tay 2 khẩu pháo 6,7 km trên con đường ấy thì chắc bại người.

Chưa hết, còn đống đạn trên xe nữa chứ.

Thương lính, Anh Tầm C trưởng nói với lũ a trưởng chúng tôi.

Tao lánh mặt, chúng mày khéo động viên lái xe chạy vào thêm tí nào hay tí ấy nhé.

Nghĩ ông này (C trưởng) cũng vào loại liều mạng, kỷ luật bí mật trước chiến dịch rất nghiêm.

Đến chân điểm cao 146, thì thấy 2 chiếc xe ba cầu, đằng sau là hai khẩu pháo, thùng xe đầy những hòm đạn màu xanh lá cây.

Gặp anh Huấn ( có 2 Huấn) trung đội phó , chúng tôi nói ý kiến của anh Tầm cho anh Huẩn hiểu .

Anh Huấn quay ra nói chuyện thế nào mà hai lái xe đồng ý.

Có thể do lợi thế đồng hương Hà Tĩnh với nhau mới thuận lợi thế.

Trời tối mịt, mỗi xe hai lính ngồi hai tai xe (chỗ đèn xe), một người đi trước giữa đường chừng 5,6m làm tiêu.

Lái xe đi chậm chậm, có gì thì hai người ngồi tai xe kêu lên cho lái xe biết.

Mò mẫm , rì rì vậy cũng vượt được gần 4 cây số đường tự tạo.

Nhưng khi bắt được vào con đường chiến lược cũ thì gặp sự cố ở suối Ồ Ồ.

Xe bị patile , máy cứ ầm ì mãi không qua được.

Chúng tôi xúm vào chèn đá, chèn cây, đẩy v.v..Tụi địch trên truyến giáp ranh nghe tiếng máy liền cho mấy loạt cối, đất đá bay rào rào nhưng không ai việc gì.

Cũng may chỉ có một loạt, chắc chúng bắn hú họa cầm canh thôi.

Rồi chúng tôi cũng vượt qua được nhưng lúc này cánh lái xe bắt đầu cáu gắt , vì bò mãi, lúc nào cũng sắp đến, sắp đến...

Đến nơi, anh Tầm ra thấy anh em về an toàn mừng rỡ.

Anh bảo Quang liên lạc kiêm trinh sát pháo chạy ngay về cứ mang 2 cặp gà ra biếu lái xe.Tôi cầm 1 cặp đến gặp lái xe :" Cảm ơn anh đã giúp đơn vị, chúng tôi biếu anh cặp gà mang về đơn vị bồi dưỡng.

Lính giáp ranh chẳng có gì ngoài mấy con gà."

Anh lái xe im lặng một lúc rồi quạu lên :" Gà qué chi, các ông toàn làm liều, làm bậy " anh lái xe đóng cửa cái rầm định nổ máy.

Tôi vội nhẩy lên , vứt cặp gà vào thùng xe, kiên trì nhỏ nhẹ nói với anh :" anh để tụi tôi áp tải, dẫn đường cho xe ra chân 146".

Anh lái xe nói nhát gừng :"Lên đi!" rồi nổ máy.

Chúng tôi lại hành trình ngược nhưng lúc này nhẹ nhàng biết bao.

Rồi anh lái xe cũng dịu lại, bắt đầu hỏi thăm và trò chuyện vui vẻ với chúng tôi.

Hôm nay, mỗi khi nhớ lại chuyện này nghĩ cũng ngộ, hóa ra chúng tôi đã biết" hối lộ" từ ngày ấy.

Lính ta vẫn có câu :" lính tiểu đoàn bằng quan đại đội" quả cũng đúng thật.

Ở bộ binh chúng tôi chẳng nuôi nổi một con gà, toàn sống trong hầm và nhà âm thì tăng gia làm sao được.

Lên C15 , ở hậu cứ thấy tiểu đội nào cũng có chuồng gà, ở nhà nổi sướng hơn hẳn.

Có vậy chúng tôi mới có gà lót tay lái xe chứ.

Sau khi nhận pháo về( mới có 2 khẩu), C trưởng gọi lũ A trưởng chúng tôi lên phổ biến công việc ( giao nhiệm vụ).

Tôi và Lang Khùn sẽ tham gia đánh Phổ Lại, Tuẫn làm trận địa tại ấp Sơn Quả gần Lại Bằng sát bờ Bắc sông Bồ, tuyến tiếp xúc của K13(d3/e4).

Triệu làm trận địa ở Ngầm Ồ Ồ thuộc tuyến tiếp xúc của K15 (d1/e4).

Lúc này K15 lực lượng chủ yếu đang chuẩn bị xuống đồng bằng, K2( d2/e4) là chủ công đánh Phổ Lại như vậy cả trung đoàn dồn về tuyến tiếp xúc đông nam gần như nằm gọn trong xã Phong Sơn.

Các khu vực Phong Mỹ, Hòa Mỹ, Tân Mỹ và bên tả ngạn Ô Lâu bỏ trống ( tôi đoán vậy vì có đi được đến đâu mà biết)

Việc làm trận địa của tôi và Khùn là khó khăn nhất vì địa hình chân cứ điểm Phổ Lại ( điểm cao 57 và 54) khá trống trải, lại gần mục tiêu có 600m.

Chúng tôi phải làm hoàn toàn vào ban đêm , ban ngày ngụy trang lại rồi về ngủ.

Chuyện đào hầm, làm trận địa là thường xuyên với lính và cũng chẳng có gì đáng nói, tôi muốn nói qua một chút về những đồng đội của tôi ngày ấy, rất nhiều người từ 1975 đến nay chưa hề gặp lại.

Việc tôi và Lang Khùn, hai thằng gốc K15 được đánh trận mở màn thực sự là chúng tôi tự hào vì được trên tin tưởng vào truyền thống của tiểu đoàn chúng tôi.

Tất nhiên cũng phải có đánh giá của anh Phú trưởng ban pháo trung đoàn, người theo dõi chúng tôi trong quá trình học tập ở quân khu.

Nhưng tôi khoái hơn cả là lại chiến đấu cùng Lang Khùn.

Các bạn ai đã từng đánh trận chắc sẽ hiểu tâm lý của anh lính khi có người chỉ huy, người đồng đội từng trải, quyết đoán họ sẽ tự tin hơn rất nhiều.Tôi ở với Khùn gần hai năm trời tôi biết, hắn lỳ đến bình thản trước ác liệt, khó khăn.

Con người thấp đậm như lực điền ấy lại rất nhanh nhẹn thông minh và nhiều tài lẻ.

Khùn đi săn rất giỏi, cứ thấy hắn phơi quần áo ra sương là chúng tôi biết thế nào cũng được bữa thịt rừng.

Lần bắn được một con báo, hắn còn làm một con báo nhồi bông ( thực ra là nhồi rẻ rách) hong trong bếp đại đội, sau này chẳng biết con báo ấy về tay ai nữa.

Nên dù hôm nay, chúng tôi cùng là A trưởng nhưng tôi bao giờ cũng coi cậu ấy là cấp trên của mình.

Tôi và nhiều đồng đội không thể quên được mỗi khi sốt rét được hắn ưu tiên cho bát canh chua...Từ ngày tôi xa đơn vị ( 9/1975 ) cũng là từ đó tôi chưa gặp lại Lang Khùn.

Nghe có anh em nói gặp hắn ở Tân Kỳ ,Nghệ An chắc Sài Gòn ra tôi sẽ đi tìm hắn xem sao.

Ngoài Khùn ra, Tuẫn và Triệu cũng là hai người lính từng trải, hai ông này đều từng tham gia đánh trận Cửa Việt 1973.

Còn một người rất đặc biệt là trung đội trưởng của chúng tôi anh Lý Công Chất người Hoa ở Cao Bằng.

Tôi sẽ nói về anh trong những ngày tiếp theo song với anh lại để cho tôi nhiều suy nghĩ nhất khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra.

Dù không biết tin về anh nhưng tôi biết dù ở đâu, làm gì trong con người anh ấy thật đau khổ, dằn vặt...khi cuộc chiến nổ ra.

Từ đây cho đến ngày N+3, ngày nổ súng, công việc chuẩn bị cho trận đánh của chúng tôi thật nhiều mà khi nhắc đến ai cũng biết và chẳng có gì là đặc biệt.

Vậy chờ đến ngày N đó, nếu anh em đồng ý tôi có thể xen vào những chuyện về lính e4 chúng tôi được không ?

LÍNH ĐOÀN PHONG QUẢNG (tên ghép của hai huyện Phong Điền, Quảng Điền bắc Huế)

Trung đoàn 4 chúng tôi thành lập đầu năm 1973, ban đầu Trung đoàn có K15 mặt trận đường 9 và K13 ( không biết xuất xứ từ đâu _ 1973 tham gia đánh Cửa Việt ) từ Quảng Trị vào và K10 tỉnh đội Thừa Thiên.

Các đơn vị trực thuộc cũng từ Quảng Trị vào, tôi không biết xuất xứ nhưng đều là các đơn vị tham gia chiến đấu ở các khu vục nóng bỏng như Thành cổ, Tích Tường, Như Lệ, Động Ông Do, điểm cao 367...Khoảng tháng 3 năm 1974 K2 từ Quảng Trị vào thay K10 trong đội hình e4.

Lúc ấy thấy lính K2 vào Phong Điền lên chốt còn mang theo cả phích nước.

Chúng tôi nghĩ : lính cậu thế này không biết đánh đấm ra làm sao(?).

Sau khi hiệp định, lính ở tuyến tiếp xúc với địch ở Quảng Trị có được nhàn nhã và sướng hơn chúng tôi trong Phong Điền Thừa Thiên.

Giao thông thuận tiện , gần dân, gần phố huyện nên mọi thứ đều khấm khá hơn .

Ở Quảng Trị ta mạnh nên thằng địch không giám ho hoe gì, còn Phong Điền vẫn còn nhiều vùng tiếng súng chưa dứt.

Trong lúc quân hai K còn lẫn lộn xen kẽ nhau, lính cùng trung đoàn mà trông khác hẳn nhau.

Chúng tôi xanh gầy, nhếch nhác lắm , lính K2 phơn phơn như lính triều đình.

Lính K2 còn nuôi chó, Chó chạy cả lên trận địa chúng tôi , gặp lính đang thiếu đạm, thế là chó hết đường về.

Bữa đó khẩu đội 12ly 7 ở điểm cao 330 chúng tôi được mấy ngày no say.

Lính ta đói khát nên đôi khi cũng bậy bạ chút xíu rồi quên ngay.

Ai ngờ chúng tôi lại gặp họ

Tháng 7/1974 khi K15 chúng tôi đánh 61 thì K2 đánh dãy đồi Không tên ở khu vực hữu ngạn sông Ô Lâu.

Tiến công thắng lợi, hai khẩu 12ly7 ở điểm cao 506 và Động Chuối được lệnh rút về tăng cường cho các điểm cao vừa chiếm được.

Trên đường về qua dãy đồi Không tên nhờ nấu cơm trưa ở khẩu đội cối 82 của K2, bên bờ sông Ô Lâu.

Được anh em K2 chia sẻ cho ít mắn ruốc, rau rừng thật cảm động.

Lúc này lính K2 đã "Phong Điền" hóa rồi , cũng thiếu thốn như chúng tôi.

Đói thì bàn ăn, các bố mơ đủ chuyện về ăn, có một ông nói:" giá bây giờ mà còn con Míc nhỉ, em xung phong đi kiếm giềng ngay." , một người khác thì gạt đi ý là chó nuôi quen rồi không được giết...Nhiều ý kiến qua lại còn bọn tôi thì im lặng có ông nghệt ra.

Té ra con chó bị chúng tôi trộm ngày ấy là của khẩu đội cối 82_K2 này.

Ở đời cái gì không biết thì thôi nhưng khi đã biết thì làm người ta phải nghĩ.

Cũng như khi đã gặp trực tiếp những đồng đội K2 , chúng tôi lại áy náy vì những chuyện đã qua.

Hôm nay kể với anh em QSVN cũng là một lời tạ lỗi với các chiến hữu k2 của chúng tôi.

Tôi được quan sát trận đánh dãy đồi Không tên từ điểm cao 506, trận tập kích nhanh gọn như chỉ thấy trong phim ảnh.

Nhìn những chớp lửa lóe liên tục trong vòng 15 phút từ ba ngọn đồi trong đêm ấy, tôi cứ nghĩ là đặc công ở đâu về chứ đâu đã biết là lính K2.

Bên cạnh là điểm cao 61, súng nổ liền ba ngày mới dứt , lính C4 K15 chúng tôi cuối cùng cũng diệt được cái cao điểm oan nghiệt này.

Cũng từ trận đánh ấy chúng tôi mới biết K2 là ai.

Gốc gác từ trung đoàn 246 của quân khu Việt Bắc vào chiến đấu trong Quảng Trị đã lâu.

Nếu bạn nào vào thăm Thành cổ, sẽ thấy ở nhà truyền thống có những dòng chữ đồng ghi danh các đơn vị chiến đấu ở Quảng Trị , các bạn sẽ thấy K2,K15 ở dòng các tiểu đoàn độc lập.

Như vậy ngay buổi đầu thành lập đoàn Phong Quảng đã có ít nhất 2 tiểu đoàn Anh hùng , từng tham gia chiến đấu ở Quảng Trị trong những ngày hè đỏ lửa.

Tôi nói ít nhất vì K13 tôi chưa biết về họ nhiều.

Ít ngày sau khẩu đội 12ly7 của tôi cùng C5bb/K15 nhận bàn giao chốt giữ dãy đồi Không tên từ K2.

Khi lên tôi được nghe một câu chuyện về việc sử lý tù binh của lính K2.

Sau trận đánh bao giờ cũng phải giải quyết các công việc chính sách và củng cố trận địa, hầm hào để đánh địch phản kích.

Sáng ra mới phát hiện còn sót hai thằng thủy quân lục chiến bị thương không tự vận động được.

Người ít , còn phải chiến đấu tiếp, ông trung đội trưởng không biết giải quyết ra sao, bèn lệnh cho lính ta khênh hai cu cậu xuống để tạm ở cái nhà âm cũ dưới chân điểm cao rồi sau tính tiếp.

Đến trưa anh nuôi mang cơm lên báo cáo :" hai thằng nó đói, nó kêu rên quá , các anh để lại ít cơm tí quay về em quang cho nó ".

Tiếp đến hôm sau vẫn thế, nghe anh nuôi nói ông trung đội trưởng càng sốt ruột .

Một ông lính nhà mình nói :" Để em xuống cho mỗi thằng một phát, lấp đất lên là xong."

Ông trung đội trưởng bảo :" Chú mà làm được thì xuống làm đi ."

Ông lính nhà ta đi xăm xăm xuống thật, mọi người chờ mãi chẳng thấy tiếng súng nổ.

Một lúc sau ông lính mình đi lên bẽn lẽn gặp trung đội trưởng :" Báo cáo anh, em chịu !.."

Trung đội trưởng hỏi trong anh em có ai muốn xuống sử lý nữa không(?).

Tất cả im thít, trung đội trưởng nói :" thế thì anh em chuẩn bị cáng đi ...

đưa chúng nó về phẫu "

Vì việc trên, chốt mất đứt 4 người để cáng 2 tù binh bị thương, trong lúc người đang thiếu vô cùng.

Nghĩ mấy hôm trước bạn baoto chắc cũng định đưa cái đề tài " đối thoại với các thân phận...".

Bạn ấy cũng định nhìn từ lăng kính :" chính là thằng lính bên này, giết thằng lính bên kia."

Để đánh giá chiến tranh hay đánh giá về người lính cả hai phía là đều không trúng.

Nếu như cái anh lính mà không " em chịu!

" thì chắc sau này anh ấy và cả người trung đội trưởng kia có thể cũng bị cái gọi là "hội chứng chiến tranh" như lính Mỹ.

Cá nhân tôi thì cho rằng những người lính trong cuộc chiến vừa qua ( ở cả hai phía), vào trận đánh họ chĩa súng vào nhau và nổ súng quyết liệt trước tiên là để giàng sự sống cho mình.

Khi cởi áo lính ra họ lại trở về như những người bình thường trong xã hội.

Có chăng là họ rất ghét chiến tranh và biết yêu quí hơn giá trị của cuộc sống hôm nay.

Sau khi ban giao Không tên, K2 lại tập trung đánh bình độ 50 nằm bên sườn trái điểm cao 61.Trận đánh này, cụm hỏa lực chúng tôi ở Không tên cũng tham gia yểm trợ , khống chế tụi địch ở đồi DK ( cao điểm 70).

Trận đánh diễn ra nhanh gọn , địch phản kích không mạnh mẽ như thường lệ, điều này làm phần nào anh em chúng tôi chủ quan.

Khoảng ba, bốn ngày sau địch tổ chức tấn công lại chúng tôi, mục tiêu chính là điểm cao 61, vị trí quan trọng nhất bên hữu ngạn sông Ô Lâu.

Đêm ấy đạn pháo phủ kín mấy điểm cao của chúng tôi, chúng bắn với cường độ cao làm căn hầm chúng tôi rung chuyển.

Điểm mặt không thấy Trực đâu, tôi chạy một vòng trong chiến hào, tìm các ngóc ngách cũng không thấy đâu.

Nghe tiếng nổ chuyển về phía sau, tôi cầm 5 quả lựu đạn ra quan sát yên ngựa giữa hai mỏm của dãy không tên, Trung ( Nghệ An ) cầm khẩu AK còn lại ra quan sát hướng 61.

Lúc này pháo sáng rực trời, Khẩu đại liên địch trên đồi DK bắn vào chúng tôi như vãi đạn.

Thò đầu lên quan sát lại vội thụt ngay vì những tiếng chíu chíu, rắc rắc và bụi.

Địch bắn rát quá, quan sát không được kỹ, tôi tính quăng đại một quả lựu đạn xuống sườn đồi cho chắc ăn đỡ phải thò đầu lên nguy hiểm quá.

Nhưng nghĩ nhỡ địch chưa lên lại sợ anh em cười.

Đang tính toán thì nghe ba hồi còi toe, toe, toe bên điểm cao 61, trên đỉnh đồi xuất hiện cùng lúc hàng chục quầng lửa nhỏ của lựu đạn, rồi tiếng hô xung phong.

Tôi lao về phía khẩu 12 ly 7, gọi Trung lại cùng quan sát, quên hết cả những tiếng chiu chiu răng rắc.

Trong cái mịt mùng ấy tôi không thể biết đâu là địch, đâu là ta.

Rồi những tiếng la hét òa ra, chúng tôi nhìn nhau, mất rồi!

Tôi và Trung xịu lại lo lắng, Anh Cấp, Hồng...và các đồng đội c5 không biết giờ số phận ra sao?

Trực tay cầm AK ở đâu chạy về nhẩy bổ xuống hào cùng chúng tôi quan sát ( Trực đang ca gác, bỏ vị trí sang bên cối 82 tán dóc, pháo bắn dữ quá không về được), thế mà tôi cứ nghĩ nó bị sao rồi.

Pháo sáng lúc này đã giảm, thấy địch bắt đầu chạy lên, chạy xuống.

Chúng tôi quyết định nổ súng, Trực quan sát hỗ trợ tôi xác định mục tiêu, Trung lắp đạn còn tôi điển xạ dài vào đám địch đang chạy, mỗi lần súng nổ chúng lại lao người nằm rạp xuống, ngưng bắn lại vùng chạy.

Sang băng thứ 2, mới được vài loạt, thì súng không nổ, chẳng biết trời xui đất khiến thế nào tôi lại khóa chốt an toàn ( sai thao tác), vừa nhấc tay ra thì súng lại nổ, hóc.

Chúng tôi trải cái tăng dưới lòng hào , tranh thủ ánh sáng của pháo sáng hì hục chữa súng.

Xoẹt..u ù, tai tôi ù đặc, chúng tôi lao vào hầm, ụp u ù căn hầm chúng tôi lộc xộc rung chuyển, đất cát, khói bụi nồng nặc...Cửa hầm phía sau bị sập, bên ngoài cây cối ngụy trang xơ xác nghiêng ngả chỉ chân pháo vẫn đứng ngay ngắn như chẳng hề gì.

Giá tì vai để ở cửa phía sau gãy đôi, thiệt hại chỉ có thế.

Sửa xong súng thì trời bắt đầu sáng, tôi đi theo giao thông hào về hầm bên triền đồi phía sau ( so với hướng địch) thì gặp anh Hồng tiểu đoàn phó từ dưới bờ sông đi lên.

Anh phổ biến quyết tâm của trung đoàn lấy lại 61, giao nhiệm vụ cho chúng tôi xong, anh lại đi sang bình độ 50 bàn phối hợp chiến đấu với K2.

Đỉnh 61 bắt đầu xuất hiện những cụm khói của pháo ta, tôi quay súng sang đồi DK làm vài điểm xạ dài cho bõ tức, hôm qua nó làm tụi tôi xém chết, nhờ trời súng hỏng mà thoát.

Rồi quay sang sườn trái 61 điểm xạ khống chế con đường lên xuống của địch.

Thằng DK lại bắn đại liên sang chúng tôi, lần này chúng đọ làm sao được với 12 ly7.

Tôi lại quay sang áp đảo chúng, nhất địch không cho khẩu DK 90 chúng nó kịp làm gì.

Thọ bạn đồng hương thân thiết với tôi, lính c5bb đang chốt mỏm bên cũng chạy sang xin bắn ké, tôi nhường cho Thọ bắn, rồi những anh em khác tôi cũng cho thay nhau bắn.

Pháo chuyển làn đã thấy xuất hiện những đám nổ nhỏ, Xung kích ta lên nhanh quá.

Tôi thấy địch chạy rất nhiều xuống đồi, rê nòng theo bắn được vài loạt thì Thọ giật lại bảo :" Đừng bắn nữa, nhỡ bộ binh truy kích ".

Thật có lý, tôi cho chuyển sang khống chế tiếp thằng đồi DK.

Thế là sau hơn hai tiếng đồng hồ, chúng tôi chiếm lại được điểm cao 61, chưa biết tổn thất 2 bên ra sao nhưng bắt sống 8 tù binh.

Hôm sau Thọ c5bb mò sang 61 thăm anh em cùng đại đội bên đó về có kể lại, hầu hết số anh em giữ chốt của ta hy sinh, anh Võ c phó c5 bị tụi nó chặt mất đầu ( vì anh ấy cao to, râu quai nón trong oai về như vị tướng ).

Thọ còn kể :

_Không hiểu sao khám xác thằng địch trước khi chôn lại thấy bao thuốc Điện Biên còn 18 điếu, nó lấy ở đâu ra nhỉ ?

Chúng tôi suy đoán chắc chiều qua anh Võ mang sang chưa kịp phát cho mọi người, đau quá! các đồng đội còn chưa kịp hút một điếu thuốc thơm.

Rồi chúng tôi chuyền tay nhau xem một lá thư lính ta lấy được của một thủy quân lục chiến chết trận.

Tôi đọc xong mà thấy buồn ghê gớm, đến hôm nay tôi vẫn nhớ nội dung bức thư đó.

Lá thư đẫm nước mắt của người chi gái ở Nha Trang gửi cho em trai mình.

Chị ân hận như người mang tội vì không thay cha mẹ lo được cho em thoát khỏi quân dịch.

Nhà nghèo quá lại mồ côi cha mẹ.

Chị đâu biết em trai mình giờ đây đã vĩnh viễn nằm lại ở một khúc hào nào đó trên điểm cao 61, quả là chiến tranh đâu chỉ là chuyện của những người lính với nhau...

Còn chuyện này nữa, sau trận đánh một lần về đại đội, chính trị viên Sen nói với tôi :" Sao mi là số 1 mà lại toàn để cho thằng Thọ c5 nó bắn ".

Tôi trả lời :" Bắn bộ binh thì ai bắn chả được, lúc ấy tai em ù lắm, bắn nhiều hơi buốt.

Nhưng sao anh biết em cho thằng Thọ bắn???".

Chính trị viên chợt nhận ra điều gì đó, xua tay và cười ý cho qua.

Tôi nghĩ, sau trận đánh lúc ăn trưa có người trong tiểu đội trách tôi là không cho anh ta bắn mà cho Thọ bắn nhiều hơn người khác, chắc ông tiểu đội trưởng nghe được.

Thế đấy!

Công việc duy nhất của tiểu đội trưởng chúng tôi trong một trận đánh là thế đấy.

Chán quá!!!

NHỮNG NGÀY CHUẨN BỊ CUỐI CÙNG

Khối lượng công việc khổng lồ từ trinh sát nắm địch, lót ổ dưới đồng bằng, làm trận địa, làm đường các loại và bảo đảm hậu cần v.v..

đã được những người lính e4 làm cật lực ngày đêm hàng tháng nay.

Đặc biệt là những ngày cuối cùng, gần như cả trung đoàn thức trắng.

Mặt trận đồng bằng : Tiểu đoàn 1( đơn vị cũ của tôi ) đêm 7/3 các c bộ binh bắt đầu tiếp cận các vị trí ém quân.

Anh em c7 là đại đội trợ chiến, trước đấy đã cùng anh em bộ binh và lực lượng địa phương bí mật chuyển một lượng lớn đạn dược cần thiết cho cuộc chiến đấu sắp tới.

Một đêm xuống, một ngày dấu mình trong hầm bí mật, một đêm lên, cứ thế những thùng đạn được chuyển xuống đồng bằng , được cất dấu kín đáo dưới các luống khoai lang, những trảng cát.

Cùng tham gia mặt trận đồng bằng Phong_ Quảng còn có K10, như vậy xuống đồng bằng hướng bắc Huế ta có 2 tiểu đoàn chủ lực.

Ở giáp ranh, cùng tiểu đoàn 2 đánh Phổ Lại còn có một số khẩu đội DKZ82 của d1 và các đơn vị hỏa lực của trung đoàn, của quân khu.Tôi được nghe phổ biến tổng cộng có tới 53 khẩu pháo các loại , trong đó có rất nhiều pháo bắn thẳng.

d3 tiếp tục giữ địa bàn Phong Sơn và làm dự bị cho tiểu đoàn 2 (đoạn này là tham mưu con đấy nhé, vì còn đơn vị nào khác nữa đâu)

2 tiểu đoàn dưới đồng bằng, 2 tiểu đoàn ở giáp ranh, quân số chúng tôi không có gì thay đổi khi vào chiến đấu ngoài việc QK tăng cường các đơn vị pháo lớn.

Đêm cuối cùng chúng tôi mới được phép kéo pháo vào trận địa.

Giúp chúng tôi kéo pháo có một số anh chị em cơ quan địa phương Phong điền.

Còn cách trận địa chừng non một cây số thì địa phương ra về, chỉ còn lính c15, mọi người bảo đấy là nguyên tắc bí mật ( chắc họ sợ địa phương có thể bị cài lính kín của địch).

Chúng tôi lần lượt đưa từng khẩu một vào trận địa, đạn đã chuyển vào từ mấy đêm trước, tất cả đã đầy đủ chỉ duy nhất kính ngắm là chưa có.

Nguyên do là khi nhận 2 khẩu đầu, lính ta không nhận đồng bộ, cứ nghĩ đơn giản nhận 2 khẩu sau sẽ lấy kính ngắm về một thể.

Ai cũng lo lắng sốt ruột , trông chờ từng phút xe kéo 2 khẩu pháo kia vào.

Nhưng chúng tôi cũng đã chuẩn bị phương án đánh không kính ngắm.

C trưởng Tầm lấy đưa tôi một tờ giấy 5 hào 2, cái bút chì, anh bảo tôi vẽ phác cứ điểm Phổ Lại.

Anh chỉ cho tôi từng mục tiêu để tôi đánh dấu lại ghi thứ tự, đánh số thống nhất từng mục tiêu với nhau.

Tôi đếm từ dưới lên tổng cộng 13 mục tiêu kể cả khu A.

Tôi được trang bị thêm một máy điện thoại quay tay đấu nối tiếp với khẩu của Lang Khùn.

Anh cũng hướng dẫn cách phát hiện dây bị dứt ở xa hay gần và phổ biến cách nối dây cho anh em.

Thông tin họ đảm nhiệm trục chính, còn lại chúng tôi phải tự bảo đảm thông suốt đến chỗ mình.

Sau đó kiểm tra lại việc ngụy trang, nằm chờ giờ nổ súng.

TRƯỚC GIỜ G

Trước giờ nổ súng, người lính nào không hồi hộp căng thẳng.

Mấy ông lính mới còn là háo hức nữa, chỉ ít phút nữa thôi họ sẽ thành những chiến binh thực thụ, một dấu ấn trong đời lính.

Trong họ có người trầm tư, cũng có người vui vẻ luôn miệng hỏi : anh ơi ! ....là thế nào? v.v..

Nhưng tất cả họ đều hướng tới giờ nổ súng và đầy tin tưởng vào thắng lợi.

Với tôi, dù đã qua vài trận đánh trước đó, không hẳn là hồi hộp bởi ít nhiều tôi cũng đọc được diễn biến cơ bản của trận đánh, cũng hình dung được những tình huống có thể sẽ diễn ra, kể cả những mất mát, tổn thất.

Song, dù sao đây cũng là một trận đánh lớn đối với tôi, không phải là một trận đánh đơn lẻ mà nó nằm trong chuỗi những hoạt động chung của cả Trị Thiên.

Thứ nữa, lần này tôi là anh lính pháo binh cũng vất vả nhưng phải thú thật chưa thể sánh được với bộ binh.

Ém quân cả ngày trời dưới cái nắng miền Trung gay gắt, cách địch có 600m chúng tôi phải hạn chế hoạt động kể cả đi lại, nhưng vẫn còn có những bóng mát mà nấp còn bộ binh ở phía trước chúng tôi gần địch hơn, mọi hoạt động khó khăn gấp bội.

Tôi nghĩ đến ngay việc hút điếu thuốc lào với họ cũng không đơn giản..Tôi vẫn thường xuyên theo dõi các động tĩnh của địch phía trước, dù đã để ý quan sát nhưng không phát hiện thấy bộ binh mình ở chỗ nào, quả là họ giấu quân rất tài.

Tôi cũng không tưởng tưởng nổi những đồng đội d1(K15) của tôi dưới đồng bằng họ sẽ làm thế nào để dấu mình trên những trảng cát nóng bỏng, hiếm lắm mới có vài bụi cây nhỏ.

Thế mà họ vẫn giữ được bí mật đến tận lúc nổ súng.

Theo tôi thì từ đêm 7/3 thực sự đã bước vào trận đánh.

Hàng ngàn chiến sĩ lặng lẽ trong đêm bí mật tiếp cận các vị trí xuất phát, ém sát ngay đồn địch chót lọt đã là một chiến thắng quan trọng, đặc biệt là ở dưới đồng bằng.

"

Sau này , khi đã hồ hởi tay bắt mặt mừng gặp lại nhau ở Huế giải phóng, chúng ta mới thấy hết giá trị của những bước chân khởi đầu trước giờ nổ súng hôm ấy.Bây giờ không làm sao diễn tả được hết những bước chân khởi đầu của các đơn vị......

....Các chiến sĩ trung đoàn 4 đã phải bí mật giấu quân cả ngày dưới chân đồi cách vài trăm mét ngay trước cứ điểm Phổ Lại để gần chiều, nổ súng."

Trích trong_Bắc Hải Vân xuân 1975.

Quả là bác nhà văn Xuân Thiều đánh giá thời đoạn đó thật xác đáng.

Lại nói về hồi hộp, thực sự là tôi không hồi hộp như thủa ban đầu mà có chút gì đó nóng lòng trước vị trí chiến đấu mới của mình và cũng muốn xem cái uy lực, hiệu quả của loại vũ khí "mới" này ra sao(?).

Lo lắng một chút vì mãi đến chiều mà vẫn chưa có kính ngắm.

Trong lúc chờ đợi, tôi hướng dẫn anh em cách ngắm qua nòng : là điều chỉnh cho mục tiêu nằm chính giữa nòng pháo, sau đó nhích tầm lên tùy theo cự ly của mục tiêu.

Trường hợp cụ thể ở đây các mục tiêu có cự ly gần như nhau nhưng nhích tầm lên bao nhiêu thì chưa xác định được.

Để chắc ăn (không đấm vào lưng bộ binh), tôi cho đưa mục tiêu về mép tiếp tuyến dưới của nòng pháo và khi có hiệu lệnh nổ súng phải làm sao bắn đầu tiên, dù biết điều này là bất lợi cho mình.

Bắn sớm tôi sẽ không sợ lẫn điểm nổ với các loại pháo khác , có như vậy tôi mới xác định được tầm bắn chính xác cho các mục tiêu.

Nắng đã dịu dần và mặt trời đã chếch về hướng Tây, đoán chừng chẳng bao lâu nữa là đến giờ nổ súng, tôi cho anh em ngắm vào mục tiêu số 1, NẠP ĐẠN.

Ngày mở đầu chiến dịch của trung đoàn Phong Quảng, xin bắt đầu từ ký sự của nhà văn Xuân Thiều.

_Ở Phong Sơn (tây - bắc An Lỗ) hồi 16 giờ 30 chiều 8 tháng 3, trung đoàn 4 nổ súng đánh chiếm Phổ Lại ( điểm cao 54 và 57 do tiểu đoàn 130 bảo an thuộc quyền chỉ huy của lũ 147 thủy quân lục chiến, chiếm giữ).

Đây là hướng phối hợp quan trọng,địch đã chú ý tăng cường phòng thủ, nên ta sử dụng một cường độ pháo đáng kể làm địch càng bối rối,nghi hoặc về hướng tiến công chủ yếu của ta.

Pháo trong trận này ngoài 37 ly, 12,7 ly hạ nòng bắn trực tiếp những điểm xạ dài còn có các loại cối 82 ly,DK82,pháo 85,cối 120 ly,pháo 152 ly.Bởi thế sau 30 phút bắn phá hoại,40% công sự của địch đã bị phá hủy.

Lượng lượng xung kích được dùng đánh Phổ Lại là tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 4 bộ binh ( còn một tiểu đoàn khác đột nhập xuống đồng bằng đánh các vị trí Trung Kiều, Sơn Tùng hỗ trợ các đội vũ trang công tác diệt các ôn,phát động quần chúng).

Trận Phổ Lại diễn ra vô cùng gay gắt,ác liệt.Thoạt đầu từ ngày 6 tháng 3 ta đã bí mật đưa pháo lên các điểm cao có lợi để dễ dàng bắn áp chế địch, và nhất là trong đêm 7 tháng 3 ta đã ém được hàng tiểu đoàn bộ binh vào sát địch vài trăm mét, bí mật và bất ngờ.

_ 16 giờ 30 ngày 8 tháng 3, các cỡ pháo ta bắt đầu bắn phá hoại vào Phổ Lại, Cùng lúc ấy một lực lượng bộ binh tiến công một số điểm lẻ ở Cổ Bi, Thanh Tân,diệt 3 tiểu đội địch gây cho địch hoang mang.

_ 16 giờ 50 , Pháo địch từ Đồng Lâm, Từ Hạ,Yên Bầu, Hiệp Khánh bắt đầu phản ứng, bắn về tuyến Ồ Ồ, Thanh Tân.

_ 17 giờ , pháo ta thôi bắn.Xung kích bắt đầu xung phong trên ba hướng, có hỏa lực đi kèm: trung liên, B40,B41 chi viện.

_ 17 giờ 15 , sau khi dùng thủ pháo, tiểu liên tiêu diệt từng ụ súng,từng công sự của địch,hai hướng quân ta gặp nhau, hoàn toàn làm chủ một khu vức gọi là khu A và một số mục tiêu khác, chỉ còn mục tiêu số 13.

_ 17 giờ 30 ,tiếp tục công kích mục tiêu số 13, nhưng quân địch_ số sống sót đã dồn về đây, chống cự quyết liệt, nên ta đành dừng lại.

Từ đây cho đến suốt đêm 8 rạng 9 tháng 3 ta tổ chức 4 lần tiến công đều không dứt điểm được.

Cũng trong đêm ấy tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 4 hoạt động ở đồng bằng đã tập kích tiêu diệt 2 vị trí Trung Kiều và Sơn Tùng, sau đó tổ chức chốt lại cho quần chúng nổi dậy.

Loạt cao xạ 37ly xé tan bầu không khí tĩnh lặng, sự tĩnh lặng bị dồn nén như được mở bung ra.

Hiệu lệnh nổ súng đã phát, tôi hô nhỏ vừa đủ mọi người trong khẩu đội nghe:

bắn!

Păng ằng !

Khâu canon chồm lên, lá ngụy trang rơi lả tả, đầu nòng pháo dựng lên một cột khói trắng mờ.

Cả tiểu đội căng mắt mà không thấy điểm nổ đâu.

Có ai đó nói " đạn tìm chim rồi, anh ơi !".

Quái lạ, không lẽ..Chợt nhớ ra tốc độ đầu nòng là 720m/s, gấp đôi tốc độ đầu nòng của AK, tôi bảo Trọng ( số 1) ngắm vào chính giữa một mục tiêu ở lưng chừng điểm cao, không chỉnh tầm nữa, bắn thử phát nữa xem sao.

_Báo cáo nòng tịt !

Trọng hô lên

Tôi quay sang nói:" Cái thằng này, tịt là tịt thế nào???."

Gạt Trọng ra tôi nhìn vào nòng pháo, đúng là "tịt" thật, khói quện đặc kín trong nòng không làm sao nhìn được.

Tôi hô anh em lấy thông nòng đẩy khói ra và tôi bắt đầu điều chỉnh tầm hướng vào mục tiêu mới ( toàn bộ thao tác phải có hỗ trợ của đồng đội, chỉ khi chỉnh tinh thì một mình tự làm, chỉ sử dụng được tay trái).

Quả đạn thứ hai phóng đi, trúng ngay mục tiêu, lần này không những thấy điểm nổ mà nhìn rõ cả luồng lửa đỏ viên đạn bay để lại.

Lúc này hơn 50 khẩu pháo và cối của ta bắt đầu rộ lên, lửa trùm lên cứ điểm Phổ Lại.

Đất đá, các vật dụng trên cứ điểm bay tung lên trời cùng lửa khói.

Tôi chưa bao giờ được chứng kiến một trận bão lửa dữ dội như thế.

Còn khẩu chúng tôi, Bắt đầu từ phát đạn thứ 2 chúng tôi ngắm đâu chúng đấy, cứ mỗi mục tiêu 5 viên, đạn lao như hút vào mục tiêu và những chớp lửa sáng lên.

Cứ thế, chúng tôi di chuyển mục tiêu theo thứ tự định trước.

Bắn được hơn ba chục quả thì một bên càng pháo bị bật lên,bực quá!

đành phải dừng bắn để làm lại thiết bị pháo ( một bài học nữa cho công tác chuẩn bị).

Mọi người lao vào người xẻng, người cuốc chỉ một thoáng là xong, đúng là vào hoàn cảnh ấy ai cũng sốt ruột, tự cảm thấy có lỗi muốn sửa, nên mới nhanh được như vậy.

Lúc này địch bắt đầu bắn vào trận địa chúng tôi, đạn nổ xung quanh trận địa, những tiếng nổ chát chúa dội vào tai .

Tôi đứng sát vào tấm lá chắn, giúp Trọng thao tác mỗi khi thay đổi mục tiêu, anh em ngồi áp vào vách trận địa để tránh mảnh pháo, ôm quả đạn sẵn sàng nạp.

Chúng tôi vẫn tiếp tục bắn mặc cho địch phản pháo tới tấp.

Đúng lúc ấy Toàn đưa tôi điện thoại, anh Tầm hô : " bỏ qua các mục tiêu, cấp tập vào khu A".

Cho anh em bắn vào khu A, tôi cầm điện thoại, mắt quan sát các mũi bộ binh của d2 đang lao lên trong lửa đạn, tiếng thủ pháo ùng oàng xen lẫn tiếng pháo, tiếng nổ AK của bộ binh không nhiều, địch kháng cự yếu ớt.

Anh Tầm lại hét lên trong điện thoại :" Ngưng bắn!

Ngưng bắn".

Ôi chao !

Nhanh lẹ vậy.

Ngưng bắn, chúng tôi dọn đống cát tút vàng chóe xếp vào một hố nhỏ rồi phủ lá cây lên.

Tranh thủ củng cố lại thiết bị pháo kỹ hơn để chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo.

Một người lính trinh sát trung đoàn chạy sang, nhờ chi viện người cáng thương binh.

Tôi cử 2 người sang giúp họ, khi hỏi bị thương ở đâu, người lính trinh sát trách nhẹ tôi :" Các ông bắn sớm quá, nó bu vào phản pháo, làm chúng tôi bị mất người."

Lúc bấy giờ tôi mới biết đài quan sát của trung đoàn cũng đặt ở quanh đây và có lẽ người thương binh đầu tiên là lính trinh sát của trung đoàn.

Tôi nghe thấy tiếng chân chạy rầm rập, chắc của lính vận tải mang đạn và cây lên củng cố trận địa.

Rồi những thương binh nhẹ tự đi xuống, sau nữa là những cáng thương nhưng lần này không nhiều.

Vậy là trận đánh mở màn cơ bản thuận lợi.

Với chúng tôi trận đánh coi như kết thúc, một trận đánh không kính ngắm của pháo binh Việt Nam trong năm 1975.

Tôi nghe pháo binh ta thời chống Pháp đã có nhiều trận đánh như thế, lúc đó là do ta nghèo, thiếu thốn đủ thứ.

Còn với chúng tôi khi ấy, để phải đánh như vậy lại do sai sót của chính chúng tôi.

Một bài học nhớ đời không chỉ trong chiến tranh..Tối anh Tầm điện xuống động viên, anh bảo trên đánh giá đại đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.Tôi nghĩ : Họ có biết chúng tôi đánh trận này thiếu kính ngắm không nhỉ ?

Mà chả thấy bác Xuần Thiều nhắc đến tí nào ..he he tủi thân quá.

Ngày 9/3.

Từ những dòng ký sự của nhà văn Xuân Thiều

Ngày 9 tháng 3 hồi 7 giờ 15.

Pháo địch ở các nơi tập trung bắn vào Phổ Lại trong hai giờ liền.

Ta chuẩn bị cho C17 và C5 đánh bọn phản kích.

_9 giờ 15, lực lượng phản kích của địch gồm 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến và 2 chi đoàn xe bọc thép tiến vào giải tỏa cứ điểm Phổ Lại.

Ta đã khéo phục kích bắn cháy 1 xe tăng, tiêu diệt trung đội địch đi đầu, buộc địch chùn lại.

9 giờ 30, địch điều 1 đại đội cũng thuộc tiều đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến nữa đến.

Lực lượng địch bây giờ có 3 đại đội bộ binh cùng với 19 xe thiết giáp và xe tăng.Từ đó đến hết ngày 9/3 địch huy đông 14 lần chiếc A37 ném bom, kết hợp pháo chi viện , tổ chức hang chục đợt phản kích, đều bị ta đầy lùi.Trong lúc đó , hồi 15 giờ 45 ta lại chiếm thêm khu B, mở rộng bàn đạp bẻ gãy hoàn toàn một hướng phản kích của địch.

Hồi 23 giờ đêm 9/3 một lực lượng của ta lại tập kích diệt một tiểu đội địch ở Bắc sông Tứ Chánh , ngoại vi cứ điểm Phổ Lại.

Bắt đầu một ngày chống phản kích, lúc này mục tiêu chính diện gần của chúng tôi không còn nữa, chỉ còn lại những mục tiêu ở xa và nhiều khi phải bắn gián tiếp.

Pháo địch bắn phá dữ dội lên Phổ Lại sau chuyển làn vào các trận địa pháo của ta.

Mấy ông 85, 152 nhà mình cũng đấu lại ầm ầm, chúng tôi ngồi trong hầm chịu trận và chờ lệnh.

Địch bắn dày tập trung xung quanh trận địa làm đường dây dứt liên tục, chúng tôi thay nhau đi nối không kịp và có cảm giác như mình là lính thông tin vậy.Cứ sau mỗi loạt pháo là tôi lại kiểm tra máy, quay thấy nhẹ là biết dứt gần đâu đây, nặng nặng chút là xa.

Phải nói thật khi ấy đi nối đường dây lại là nguy hiểm nhất vì đạn phản pháo của địch chủ yếu rớt xung quanh trận địa, địa hình trống trải chẳng có lấy một cái rãnh nào mà núp.

Tất nhiên tôi chỉ cho anh em đi khi pháo ngừng, nhưng khi đi nó mới bắn thì đành chịu.

Chuyện cũng đã lâu, đến nay tôi không nhớ căn nguyên vì sao??

Lại mất liên lạc, tôi cử Hoa ( một tân binh Thanh Hóa) đi kiểm tra và nối lại, cậu ấy đi lâu quá không thấy về làm tôi đã lo lo.

Chuông điên thoại reo, tôi mừng quá vì chắc Hoa đã hoàn thành nhiệm vụ.

Cầm máy thấy giọng Lang Khùn :" Hoa vừa bị pháo nó dập cho, giờ cu cậu sợ quá không giám đi về nữa".

Tôi nói với Khùn để tôi xuống đón cậu ấy, Khùn không phải lên.

Sang khẩu của Khùn thấy quần áo Hoa lấm toàn bùn đất, mặt tái mét, tôi nói vui :" Không chết là giỏi rồi, đúng là cậu được trời cứu !"

Hoa vẫn ngồi lặng, chưa hết run.

Tôi ngồi chơi bên khẩu đội Khùn thêm một lát rồi hai anh em ra về.

Tôi nhìn cái rãnh toàn bùn và những hố pháo xung quanh, phải thừa nhận cậu ta rất may mắn.

Như thế ai mà không sợ nhất là lính mới lần đầu ra trận.

Tôi nói :" Trước anh còn run hơn mày khi chỉ mới nghe tiếng pháo, dần rồi nó quen đi"

Quả là sau cái lần đó, Hoa nghe tiếng pháo bình thản hơn anh em khác.

Hết chiến dịch tôi đi công tác về thấy Hoa buồn xỉu hỏi ra mới biết Hoa bị trên gạt danh sách được bằng khen.

Tôi chạy lên đại đội chất vấn và khảng định Hoa hoàn thành tốt nhiệm vụ, thậm chí còn hơn nhiều người khác.

Cuối cùng Hoa cũng được khen thưởng xứng đáng với mình.

Năm ngoái có việc đi qua Quảng Xương,Thanh Hóa gặp lại một số anh em cũ mới hay Hoa đã hy sinh ở Lạng Sơn khi cùng trung đoàn 4 chiến đấu ở biên giới phía Bắc.

Cả ngày đánh phản kích, đến tầm chiều các trận đánh mới dịu đi thì có chuông điện thoại.

Đầu dây bên kia là trưởng ban pháo : ra lệnh bắn cầm canh vào mục tiêu x ( tôi chẳng nhớ mục tiêu này).

Bước ra khỏi lán thấy trên đầu có chiếc OV_10 đang lượn , nhưng tôi vẫn cho anh em chuẩn bị bắn.

Vừa lúc anh Lý Công Chất (b trưởng) đến thăm, thấy anh em đang thao tác bắn, anh hô dừng lại.

Nhìn tôi anh nói :" Máy bay trinh sát địch trên đầu thế kia cậu định bắn cái gì??".

Sau khi nghe tôi báo cáo anh nói :" Bắn cầm canh thì lúc nào bắn chả được, không theo qui luật mà, thôi lát nữa hãy bắn."

Chừng 5 phút sau có chuông điện thoại, chính trị viên nói:" Lệnh bắn mà sao không bắn hả???."

Tôi trình bày lại tình hình, chính trị viên nói:" anh chống lệnh hả?"

Tôi đưa ngay máy cho anh Chất và đi ra khỏi hầm, đến đứng bên cạnh khẩu pháo.

Hai ông to tiếng một hồi, anh Chất đi ra mặt đỏ gay, nói với tôi bắn thì bắn.

Chúng tôi ngắm vào cọc chuẩn, làm các thao tác bắn gián tiếp vào mục tiêu nào đó ở rất xa.

Tiếng pháo vừa dứt, thằng OV_10 đã vè vè lượn tới, Xoẹt! một vệt khói trắng lao ra từ máy bay, rơi ngay trước trận địa.

Lập tức đã thấy tiếng ầm ầm của thằng A37, nó lao thẳng xuống trận địa chúng tôi.

Tôi hô anh em chạy vào hầm.

Xoẹt !

Xoẹt ! u u u.

Căn hầm như lồng lên .

Anh Chất nhẩy ra khỏi hầm hô to :" Chạy theo tôi".

Chúng tôi vọt ra khỏi hầm chạy bán sống bán chết .

Khi chạy, tôi nghe nhiều tiếng nổ đầu nòng "thùng thùng" xung quanh dưới mặt đất, trên trời ran dài những tiếng lục bục, tôi biết cao xạ mình lên tiếng.

Chiếc A37 không dám xà xuống nữa, cắt loạt bom vu vơ rồi bỏ chạy.

Chúng tôi chạy trở lại, trận địa còn nguyên vẹn, bom địch bị hất ra xa .

Cảm ơn lính cao xạ...

Thực sự nếu không có anh Chất ở đấy thì tôi cũng chưa đủ từng trải để hô anh em chạy.

Trường hợp không có anh em 37ly rất có thể loạt bom thứ 2 sẽ trúng trận địa, sử lý như anh Chất thật thông minh, tránh được tổn thất về người một cách không cần thiết.

Sau này khi ngồi với nhau bình xét thành tích chiến đấu trong ban chỉ huy đại đội cũng đã tranh cái nhau về vụ việc này, cuối cùng đa số đều cho rằng tôi và anh Chất không sai.

Từ những dòng ký sự của nhà văn Xuân Thiều

Ngày 10/3

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 .

5 giờ sáng địch điều thêm tiểu đoàn 60 thuộc liênđoàn biệt động 15 đang huấn luyện ở Phú Bài ra tăng viện, đứng chân ở Kiểm Lâm.Cùng với lực lượng tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 7 thuộc lữ 147 thủy quân lục chiến đãđứng chân ở Định Kỳ, Đông Lâm, chúng chuẩn bị phản kích và ngăn chặn hành langcủa ta từ giáp ranh về đồng bằng.

Từ 10 giờ đến 17 giờ, địch tổ chức 17 đợt phản kích từ hướng đông và tây bắclên để tái chiếm khu A ( Phổ Lại).

Quân ta vẫn dũng cảm đầy lùi hết đợt này đếnđợt khác, nhưng do mật độ phòng ngự khá dày đặc, thương vong của ta không phảiít.

Tình hình trở nên khá căng thẳng, bộ chỉ huy cánh Bắc ra lệnh cho trungđoàn 4 chỉ để lại lực lượng nhỏ để cảnh giới, và hỏa lực khống chế Phổ Lại, còntất cả rút về vị trí củng cố.

Ngày 11/3

Ngày 11 tháng 3 .

Suốt ngày ta vẫn đánh phản kích, tuy không mạnh mẽ nhưtrước.Đến 4 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975, ta gài mìn lại và rút hẳn.

TrậnPhổ Lại đến đây coi như kết thúc.

Ta đã tiêu diệt trên 500 tên địch, đắc biệtcó hai đại đội hầu như bị diệt gọn (Đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 130 bảo an và đạiđội 4 thuộc tiểu đoàn 4 lữ 147 thủy quân lục chiến)

Suốt 2 ngày 10 và 11/3 chúng tôithỉnh thoảng vẫn bắn chi viện cho bộ binh đánh phản kích nhưng hầu hết là bắngián tiếp.

Vị trí đặt pháo không phù hợp cho đánh phản kích, các mục tiêu bịthu hẹp, tầm bắn xa hơn và hướng bắn bắt đầu ra ngoài xạ giới cho phép ( 54độ).

Mỗi lần bắn phải xoay cả khẩu pháo và làm lại thiết bị càng từ đầu, rấtkhó khăn.

Do trước đó bắn nhiều, mỗi lần pháo chồm lên,chỗ bánh pháo lại lún một tí, lâu dần hai bánh pháo nằm lọt trong hố.

Để xoaypháo, chúng tôi phải nhờ số anh em địa phương gần đó hỗ trợ.

Giúp đỡchúng tôi xong họ nói :" Bắn thì bắn cho ra trò đi, thỉnh thoảng phát một thếnày nó phản pháo làm chúng tôi suốt ngày chạy xuống hầm, ngủ không yên."

Mới hai ngày mà cứ điểm Phổ Lại như biến dạng,mặt đồi đỏ ối, tiếng súng vẫn vang rền.

Thương binh ngày về càng nhiều, rõ rànglúc này chúng tôi đang rất khó khăn.

Nghe một số thương binh nhẹ qua trận địanghỉ uống nước kể lại, công sự , hầm hào trên đó bị pháo phá hỏng khôngkịp củng cố, trong điều kiện đó làm sao tránh được thương vong nhiều.

Tiểu đoàn 2 hao hụt nhiều về quân số, tiểuđoàn 1 chiến đấu dưới đồng bằng tình thế khó khăn không kém.

Tiểu đoàn 3 hôm mởmàn có đánh vài trận tập kích nhỏ ở Cổ Bi, Tứ Chánh quân số đủ ( mỗi đại độikhi ấy chỉ khoảng 50 tay súng) nhưng phải căng ra giữ tuyến bắc sông Bồ và tâyPhong An.

Sau này tìm hiểu thì được biết , trênhướng chúng tôi còn có trung đoàn 46 mới từ ngoài Bắc vào, thế chân trungđoàn 9 ở Ba Lòng ( đến chỗ chúng tôi mất 2 ngày đường đi bộ).

Việc quân khu sửdụng lực lượng này phải được phép của Bộ.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 11/3, anhTầm gọi điện, lệnh cho tôi bắn cấp tập vào khu A.

Buồn quá, hình ảnh trậnđánh 61 năm ngoái lại hiện ra, lại một lần nữa tôi phải nã đạn vào nơi cách đâyvài phút vẫn còn đồng đội của mình.

Hàng chục quả đạn lao vun vút với tốc độbắn nhanh hơn cho đến khi có lệnh ngưng.

D2 chiếm lại được khu A nhưng nghechừng rất oải rồi.

Đến tối, chúng tôi có lệnh rút, bắt đầu kéo pháo ra.

Chúng tôi dồn người kéo khẩu của Khùn ra trước, khẩu của tôi ra sau, đến gần sáng mới về đơn vị .

Tôi ngủ một mạch tới gần trưa mới tỉnh, ra suối nước nóng tắm ngâm mình cho đã.

Lúc bấy giờ tôi đâu biết được tác dụng của nước khoáng Thanh Tân nó thế nào, chỉ biết gặp nước ấm ghét bở rã từng tảng.

Mang bộ đồ lính lên đỉnh đồi ngâm vào các vũng nước từ trong đất đùn ra, nóng rấy tay, tính "sát trùng" sau mấy ngày trận mạc.

Nhìn về đồng bằng, thấy 4 chiếc trực thăng vũ trang đang quần đảo, bắn rốc két liên hồi nghe mà sốt ruột.

Biết anh em K15 cũ của mình giờ này đang chịu trận, lo lắng.

Sau này mỗi năm, đến ngày 27/7 đi thăm các gia đình liệt sĩ của đơn vị tôi tại Hà Nội, thấy hầu hết liệt sĩ hy sinh ở đồng bằng năm đó đều ghi ngày 12/04/1975.

LÀ NGƯỜI LÍNH KHI ẤY

Bác Xuân Thiều ở phòng tác chiến quân khu, bác nắm rõ tình hình ta địch hơn, đơn vị nào đã đánh, đơn vị nào còn đang chuẩn bị chiến trường, đơn vị nào còn ém quân, án binh bất động mà những dòng bác viết cũng không dấu nổi nỗi buồn xót xa khi ta phải rút khỏi đồng bằng.

Từ ngày 13/3 đến ngày 17/3 tôi cùng anh em trong tiểu đội" tạm nghỉ chiến đấu" làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vận chuyển đạn cho khẩu của Triệu, Tuẫn và 2 khâu DK_Z75 chiến đấu ở Cổ Bi và đồi Sỏi.

Ban ngày đi làm trận địa mới ở ngầm Ồ Ồ ( phía sau khẩu của Triệu) và "hầm đại tá" chân điểm cao 146 Hòa Mỹ, nơi con đường 71 chạy xuống đồng bằng.

Việc làm trận địa ở hai vị trí này là chuẩn bị dự phòng cho các trận đánh phòng ngự.

Những ngày này tôi có điều kiện đi lại từ Cổ Bi đến Hòa Mỹ, nghe và gặp được khá nhiều người, biết được ít nhiều tình tình đơn vị, tình hình đồng bằng.

Ở đồng bằng, K15 xé lẻ cùng lực lượng địa phương chiến đấu trên địa bàn rộng, chỉ có vũ khí nhẹ không có hỏa lực.

Địa hình lạ, trống trải, cát nhiều hơn đất nên hầm hố rất tạm bợ không chịu nổi hỏa lực địch.

Ngược lại địch sử dụng nhiều xe tăng và trực thăng cộng với số lượng bộ binh lớn, áp đảo.

Trong điều kiện chiến đấu như thế đội hình tiểu đoàn nhiều nơi bị chia cắt, nhiều phân đội phải chiến đấu độc lập sau đó tự tìm đường lên hậu cứ.

Nhiều người lạc và một số bị bắt làm tù binh.

Số anh em bị bắt chủ yếu là ở Q21.

Nhiều anh em xuống đồng bằng không nắm rõ được địa danh của địa phương, họ chỉ biết mật danh này.

Ở đấy ta có một trạm phẫu thuật do huyện Quảng Điền quản lý.

Hầu hết anh em thương binh trong mấy ngày chiến đều đưa về đây.

Ngày 12/3 rất nhiều anh em hy sinh tại đây khi địch chiếm được Q21.

Cho đến bây giờ tôi cũng chưa rõ Q21 ngày đó là nơi nào ở Quảng Điền.

Khi quân ta rút về hậu cứ, bộ phận do tiểu đoàn Trưởng Tắc cũng phải mất 3 ngày mới tìm được khu vực vượt quốc lộ 1.

Một số anh em kể rằng : địch bít kín đường 1, những chỗ hành lang cũ đều bị chúng chốt chặn, giao liên hầu hết là nữ địa phương dẫn đi lên, lại đi xuống cả đêm không tìm được chỗ vượt an toàn, phải nằm lại chờ đêm sau.

Lính ta sốt ruột mắng , có thương binh còn dọa bắn...tình thế căng thẳng quá mà, sau này nhiều anh em cảm phục sức chịu dựng của những nữ giao liên địa phương đó.

Tôi có hai người đồng đội Hà Nội trở về hậu cứ một cách đơn độc.

Đó là Oánh "trọc" cùng học sinh Chu Văn An với tôi, mãi ngày 16/3 mới lên được đồi Sỏi.

Vừa thấy chúng tôi đã vội hỏi :" còn lương khô không?

Đưa tao một miếng ".

Khi cầm phong lương khô trên tay thì bật khóc, rồi mếu máo nói :" Mẹ chúng nó chứ...đem con bỏ chợ".

Chúng tôi cũng ứa nước mắt...Chẳng ai trách Oánh cả, bởi cậu ấy đâu biết những chỉ huy cao nhất của mình cũng không trở về.

Trường hợp thứ hai, nghe anh em kể lại là anh Chính, mãi ngày 19/3 khi đơn vị đang chuẩn bị vào đợt 2 chiến dịch mới về được.

Suốt một tuần len lỏi một mình vượt qua các chốt của địch, cứ nhằm hướng núi mà lên.

Khi nhìn thấy anh em mình ở giáp ranh thì cũng là lúc anh kiệt sức ngất đi.

Anh được anh em địa phương đưa về nấu cháo cho ăn, thấy bảo lúc đó nhìn mồm anh ấy xanh lè vì mấy ngày liền chỉ ăn lá cây..

Là người lính khi ấy, chỉ rõ được tình hình đơn vị ai chẳng buồn và bi quan về so sánh lực lượng.

Một lần khác, khi đang làm trận địa ở chân 146, gặp pháo địch bắn, tôi chạy vào một cái hầm chữ A của một đơn vị phía sau của trung đoàn ( hình như là Vệ Binh).

Vừa nhảy vào hầm thì giật mình thấy 2 thằng áo răn ri đang ngồi run run.

Biết là tù binh tôi hỏi :" tụi mày bị bắt ở đâu?", một đứa trả lời:" dạ, tụi em bị bắt ở Tứ Chánh".

Thấy họ vẫn run tôi đùa :" Run chi vậy, tụi bay ở đây là sống rồi còn gì nữa(?).

Tao đây này, mai lại vào trận chưa biết sống chết ra sao đây ".

Vẫn cái thằng hay nói đó trả lời:" Dạ đúng!

Tụi em chắc sống rồi nhưng được về gặp ba má chắc còn lâu lắm".

Tôi tò mò hỏi thử, vì cũng muốn xem đối phương họ nhận định như thế nào :" Dạ chắc cỡ 10 năm anh ạ ".

Hết đợt pháo, tôi ra khỏi hầm nghĩ thầm: mấy thằng này dự đoán cũng gần giống mình..

Cũng chính hôm ấy, trong lúc nghỉ ăn tối ở một cái lán của trung đội vệ binh, ở đây anh em vệ binh có cái đài, tôi nghe tiếng chị phát thanh viên tố cáo chính quyền Sài Gòn ném bom vào khu dân cư của thị xã.

Mới biết Buôn Ma Thuột đã được giải phóng.

Trở lại mặt trận bắc Huế chúng tôi thời điểm nổ súng cho đến lúc rút từ đồng bằng lên, lực lượng có e4 chúng tôi, K10 tỉnh đội, C3 Phong Điền và lực lượng địa phương hai huyện Phong điền_Quảng Điền.

Phía địch có Lữ 147 TQLC, lữ đoàn thiết xa 20, lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp, một bộ phận của liên đoàn bảo an 914, tiểu đoàn bảo an 130 cùng một số đại đội bảo an, các chi phân khu quân sự cùng cảnh sát dã chiến. ngoài ra còn lực lượng dân vệ..

So sánh lực lượng tại chỗ, địch đông hơn chưa kể còn có pháo binh và không quân vượt trội.

Dù vậy, e4 và K10 cùng với lực lượng địa phương hai huyện Phong_ Quảng đã làm cho phòng tuyến của địch rung chuyển, khiến địch lúng túng.

TQLC không vào được Đà Nẵng để thay sư đoàn Dù, sư Dù không thể về SG hoặc lên Buôn Ma Thuột được.

Khi chiến sự xảy ra địch lại phải điều thêm tiểu đoàn 60 biệt động quân từ Phú Bài ra Bắc Huế .Nó như một trận đánh tạo thế, tạo thời cơ cho những đòn đánh tiếp theo, dù chúng tôi đã phải căng ra quá sức và chấp nhận những tổn thất không nhỏ.

Chiến tranh là thế và sẽ phải có những đơn vị như thế.

TẦM NHÌN XA HƠN

Sau này tôi mới biết ngay sau lưng chúng tôi có cả trung đoàn 46 mới từ Bắc vào quân số đủ ( một tiểu đội những 10 người) làm dự bị cho e4 và chờ thời cơ .

Chẳng dám mạn bàn về việc dùng binh của các tướng lĩnh nhà mình nhưng ví thử e46 tham chiến chắc tình thế sẽ ngon lành, chưa cần phải có tác động của Buôn Mê Thuột.

Khi đọc sách của thượng tướng Nguyễn Hữu An thì mới thấy QĐ 2 vẫn còn những đơn vị tăng và pháo tầm xa ở tận Khe Sanh.

Như vậy đợt 1 ở Quảng Trị tham chiến có 5 tiểu đoàn, ở Bắc Huế có e4, K10, ở Tây Huế có e6,e271 đánh những trận nhỏ phối hợp, lực lượng còn mạnh, ở Nam Huế e1,e2 của f324 đánh ở Mỏ Tàu.

Sư 325 còn đang chuẩn bị, e3 f324 đang từ Thượng Đức ra, các e6,e271,e46 quân số đầy đủ còn chưa vào trận.Còn mạnh lắm!

Thực tế sau khi có Buôn Mê Thuật, e4 dù sứt mẻ nhiều cũng chỉ mất hai ngày ( cũng khá vất vả) là phá vỡ phòng tuyến Bắc Bình rồi lao về cửa Thuận An.

Lúc này trên cho sử dụng e46 nhưng chẳng kịp dùng vì mọi sự đã thuận lời nhiều rồi.

Sau này e46 đi vào tiếp trong đội hình quân đoàn 2, chẳng biết trên đường vào họ đánh những trận nào(?) nhưng trong chiến dịch Hồ Chí Minh tên của họ lại xuất hiên trong trận đánh cảng Cát Lái ở cửa ngõ phía đông Sài Gòn.

TẢN MẠN CHUYỆN VỀ E46

Làm dự bị cho e4 trong đợt 2 nhưng e46 không phải động binh.

Khi chúng tôi được lệnh bỏ pháo lại, nhận DKZ_82 cùng bộ binh đuổi địch xuống Thuận An ,thì e46 di chuyển từ tuyến sau lên.

Đến Phong Sơn mấy lính trẻ e46 đã có cuộc " tập trận" làm cháy một khẩu pháo 57 của chúng tôi và mấy km đường dây điện thoại của thông tin.

Chuyện là thế này :

e46 có khá nhiều lính mới vừa nhập ngũ sau tết 1975, khi được lệnh tiến xuống đồng bằng, đang trong khí thế Buôn Mê Thuột thắng lớn, Huế vừa giải phóng.

Khi qua Phong Sơn thấy còn ngổn ngang chiến trận của hai hôm trước , máu hăng lên họ đốt lửa tạo ra nhiều đám cháy, cỏ tranh cháy lan ra thành đám cháy lớn.Trong cảnh khói lửa, họ tưởng tượng và tái hiện lại trận đánh tại thực địa.

Họ xung phong chạy qua những đám cháy và để thêm hoàng tráng các bố mày bắn luôn đạn thât .Cứ từng loạt AK bắn lên trời nổ ran cả vùng , như đánh trận thật.

Đơn vị tôi xuống đến Triều Sơn Đông, Hương Trà ngoại ô Huế được lệnh dừng lại.

Địch ở Thuận An hàng hết cả rồi, Tôi lại được điều về Phong Sơn có nhiệm vụ gom pháo ở các trận địa về tập kết ở Ồ Ồ chờ xe kéo xuống biển ( trước khi nhận DKZ-82 theo bộ binh xuống đồng bằng, đơn vị đã để lại mỗi khẩu 1 người trông).Trên đường lên, từ xa đã thấy khói lửa, lại có tiếng súng cứ ngỡ tàn binh địch.

Đến Cổ Bi thì thấy Thảo ( lính tiểu đội tôi để lại canh pháo) chạy lại, mặt tái mét.

Thảo kêu:" em đi kiếm rau, về thấy lửa cháy vào trận địa".

Tôi bảo :" chính xác không, cậu đã thấy tận mắt chưa, mà sao không thấy đạn nổ?"

Thảo không trả lời đươc là tôi hiểu, hai anh em chạy về trận địa thì một bên lốp pháo đã cháy, may chưa đến chỗ hầm đạn.

Cứu xong pháo và đạn, đang ngồi thở và nghe Thảo trình bày, ăn uống chẳng có gì, định ra mấy chốt cũ của ta xem có quả bí non nào không, cậu ấy còn định sang cả chốt địch kiếm bột ngọt và gạo xấy...

Lại tiếng AK, Thảo than :" Tụi e46 mới vào đấy anh ạ, máu lắm ".

Tôi lấy khẩu AK ra khỏi lán, điểm xạ cứ hai viên một đến hết băng đạn.

Một lúc sau gần một tiểu đội mò vào nghỉ uống nước và hỏi chuyện đánh nhau.

Chuyện trò một lúc thì biết họ hầu hết ở Thanh Hóa, Ninh Bình, đến giờ này chẳng ông nào còn đạn, tôi lấy một hòm( 700 viên) cho họ chia nhau và khuyên đừng bắn lung tung nữa, tôi còn đùa :" các ông trận đầu lập công rồi còn gì, hủy một khẩu pháo 57 của e4 ".

Các cu cậu cười bẽn lẽn rồi chia tay.

TB: Hôm qua tôi có đọc lướt hồi ký của viên trung úy TQLC thuộc c4,d4 lữ 147, lữ đoàn trực tiếp dụng độ với chúng tôi.

Tôi biết có vài bạn đã đọc hồi ký này và tôi cũng sẽ lấy ra dẫn chứng của tôi để các bạn tự nhận xét về những điều anh ta nói.

Không biết các bác quản trị có ủng hộ không???

LÍNH THỦY QUÂN LỤC CHIẾN

Về những người lính TQLC, đúng họ là một trong những đơn vị hàng đầu của QLVNCH.

Bởi rất nhiều lý do về trang bị ,về bảo đảm tiếp tế và các chế độ khác

....Và điều này cũng làm tôi thắc mắc là từ ngày Sư đoàn tôi ra Quảng Trị, chúng tôi vẫn có những chuyến bay riêng để tiếp tế, tải thương, tải xác... tại sao bây giờ chúng tôi lại phải tải xác qua hệ thống chuyển vận của căn cứ này?

Là lực lượng dự bị chiến lược, đương nhiên họ phải tham gia vào những trận đánh nóng bỏng nhất.

Thường những trận đánh như thế bao giờ cũng được sự chi viện tối đa của không quân, hải quân Mỹ.

Tham gia nhiều trận đánh cũng sẽ có nhiều trận bị đối phương tẩn cho nên cũng là những đơn vị từng trải trong QLVNCH.

Từ trước tôi vẫn biết, với những người lính Sài Gòn họ có phần kính nể lính Dù, TQLC và bản thân lính TQLC cũng có sự kiêu hãnh với săc lính của mình ( hơi quá so với khả năng thực của mình), nhưng cái cách kiêu hãnh như kiểu Cao Xuân Huy còn quá cả những anh hùng màn bạc Holyut.

Các bạn nào đã xem hồi ký này chắc cũng đồng ý với tôi rằng anh ta như một dạng người hùng thất thế, từ cái nhìn đó anh ta chê bai, coi thường tất cả, không chỉ đối phương (kẻ thắng trận) mà cả đồng đội, những người cùng chiến tuyến với mình.

Làm như chỉ có anh ta và nhóm bợm nhậu của anh ta mới là những người dũng cảm nhất, từng trải lì lợm và thành thạo chiến đấu nhất.

Năm 1974 khi chúng tôi chiến đấu ở Ô Lâu, đối diện với chúng tôi cũng là lính TQLC , nếu tôi nhớ không nhầm là tiểu đoàn 2 Trâu Điên.

Trận đánh đó ( đã viết ở phần trên).

Lần đó chúng tôi có 2 mũi xung kích, 1 mũi của k15, 1 mũi của k2 tổng cộng chừng 15 người.

Khi anh em xông lên chiếm đỉnh đồi, ngoài số bị diệt còn bắt được 8 từ binh, số còn lại rất đông chạy như vịt xuống đồi.

Chẳng thấy bóng dáng anh hùng đâu cả.

...Những người lính của tiểu đoàn 2 này không hổ danh với chính cái tên mà Việt Cộng đã đặt cho họ, tiểu đoàn Trâu Ðiên.

Ối dào!

Lính mình hơi đâu mà đặt tên cho họ, mà nếu buộc phải đặt , thì gọi là " vịt đàn", chứ Kình Ngư, Hắc Long, Mãnh Hổ gì ..

Còn những cái tên nghe dữ dằn thế cũng là cái cách tụi chiến tranh chính trị bơm tinh thần cho họ thôi.

Điều này thì tôi không thấy ngạc nhiên vì đã từng được xem nhiều tấm ảnh thu được : Đầu mũ nồi xanh, áo rằn ri phanh ra, quần rằn ri nhiều túi, giày trận bó cao, hậu cảnh là những căn nhà đổ ở Quảng Trị hay lồng sau đó là một điểm cao chiến trận mờ khói súng.

Xin lỗi!

Thực sự tôi không có ý coi thường những người thợ, nông dân ,sinh viên và trí thức từng khoác áo lính trong chế độ Sài Gòn cũ.

Tôi biết ở đâu, ở đợn vị nào cũng có những người chân chất và thực sự gan góc.

Tôi tôn trọng họ, chứ tuyệt nhiên không bao giờ tôn trong cái anh hùng bợm nhậu, và sự lưu manh đường phố theo dạng người hùng kiểu Cao Xuân Huy.

TQLC cũng là một đơn vị có tổ chức tốt, bởi thế chiến đấu với họ cũng không hề dễ dàng.

Cũng bởi thế tôi chưa tin những gì Cao Xuân Huy nói, dù anh ta nói có đôi chút sự thật nhưng chỉ là cái cớ để lồng hình ảnh cá nhân mình với vẻ dạng ngang tàn, chịu chơi xả láng, bất cần đời nhưng đầy nghĩa khí.

Kiểu mẫu của iêng hùng VNCH.

...Tôi chỉ là một người lính, lính của một binh chủng chuyên môn đánh trận và chỉ nhận những người tình nguyện

Riêng điều này, tôi thấy nó mâu thuẫn với những gì tôi gặp trước đó là chuyện lá thư của chị gái người lính chết trận ở 61 và những lúc tiếp xúc với 8 tù binh bị bắt, tôi chưa tin tất cả họ là lính tình nguyện.

VỀ TRẬN ĐỒI 51:

Trả phép chậm, anh ta lý luận thật khiêm tốn

....Thiếu một thằng sĩ quan tại một đại đội lúc nào cũng có sẵn hai, ba thằng sĩ quan dự bị thì đâu có nhằm nhò gì, mợ đi lấy chồng thì chợ vẫn vui mà.

Khi nghe về diễn biến trận đánh đã xẩy ra 10 ngày trước anh ta phán :

.....Tôi cũng được biết đáng lẽ đại đội 4 tôi lên nằm đồi 51 theo đúng vòng luân phiên nhưng vì thiếu đại đội phó -là tôi- nên đại đội 3 đã lên thay.

Như vậy, chuyến đi phép của tôi đã cứu tôi và cứu nửa đại đội của tôi, nhưng chuyến đi phép của tôi đã làm chết oan Sáng và nửa đại đội của Sáng.

Ðồi 51 đã được đại đội 2 lấy lại sau đó một ngày, giải thoát được một tiểu đội còn bám lại và lấy lại toàn bộ vũ khí bị mất, chỉ thiếu có bộ phận máy nhắm của một khẩu súng cộng đồng, đồng thời tịch thu được khá nhiều vũ khí...

.....Khi địch tràn ngập vị trí phòng thủ ở đỉnh đồi, Sáng đã xin pháo binh bắn thẳng vào đầu mình, không khóa, không mã, không ngụy, không ám danh đàm thoại gì hết trên hệ thống truyền tin, tiếng Sáng ngắn gọn sau một tiếng chửi thề: "Ðụ mẹ, nó đông quá, chụp lên đầu tao!"

Pháo đã chụp lên đỉnh đồi và hai chiếc máy bay cũng nhắm thẳng đỉnh đồi mà dội.

Rõ ràng vai trò của thiếu úy đại đội phó Huy là rất quạn trọng trong cái c4 TQLC này, mới có thể thay đổi các quyết định trong chiến đấu của cấp chỉ huy.

Cái tôi, cái bóng dáng của một "người hùng màn bạc' đã rõ.

Cái ngày 8/3 ấy, như tôi đã kể phần trên, không hề có môt chiếc máy bay nào hết, chúng tôi nổ súng vào tầm chiều cũng đã tính đến việc loại trừ khả năng hoạt động của không quân địch và tranh thủ đêm tối để làm hầm hào, giải quyết các vấn đề sau trận đánh.

Lấy đâu ra máy bay mà dội vào thiếu úy Sáng.

Theo Cao Xuân Huy, đồi 51 đã được c2 lấy lại sau một ngày ( tức 9/3), lại sai bét nhè luôn, chính ngày (9/3) cả tiểu đoàn 4 ( trong đó có c4 )mới bắt đầu tham gia phản kích cùng với 19 chiến xa nhằm tái chiếm 51.

Cũng hôm ấy mới có A37 xuất hiện, trong đó có 4 trái nó ném vào khẩu đội tôi (như đã kể).

Sang ngày 11/3 hầu hết lực lượng chúng tôi đã rút, chỉ để lại một nhóm nhỏ trên 51 cảnh giới nhằm giảm thương vong.

Buổi chiều, khi địch lên, tổ cảnh giới lùi xuống sườn tây nam và tôi đã bắn cấp tập ( như đã kể, nhưng lúc ấy tôi chưa biết rõ tình huống đó, nên nghĩ là mất chốt) .rồi ta lại lên, đến đêm mới rút hằn và gài lại mìn, thế thì lấy đâu ra vũ khí mà thu.

"Ðụ mẹ, nó đông quá, chụp lên đầu tao!"

Lấy đâu quân mà đông vậy, hai đại đội chúng tôi khi ấy chưa nổi một trăm người, chưa chác bằng một đại đội của họ.

Cũng thông cảm cho anh ta vì khí đó còn đang ở Sài Gòn, 100% sự thật này chỉ là tưởng tượng .

Bởi thế những phần sau đó tôi có quyền nghi ngờ những điều anh ta nói.

XEM :" THÁNG BA GÃY SÚNG"

Đọc tiếp các phần sau, Cao Xuân Huy nói về nội bộ của các sắc lính SG ở bắc sông Bồ khi đó ( 19/3 đến 26/3 ).

Bắt đầu từ ngày 12/3 đến ngày 23/3 khu vực bắc sông Bồ không có trận đánh nào bằng bộ binh , chỉ có pháo binh hai bên bắn phá nhau và có thể có đụng độ lẻ của bộ đội địa phương Phong Điền với lính địa phương.

Chiều ngày 23/3 thì d3/e4 chúng tôi đánh Lại Bằng vượt sông Bồ, bên địch là d5/lũ TQLC ( có thêm 1 trung đội của c4/d4 theo lời Cao Xuân Huy ) , sau liên đoàn 14 biệt động quân vào thế chân ở Lại Bằng để d5 TQLC rút về Thuận An .

Cái đơn vị của do Cao Xuân Huy chỉ huy không hề nổ súng từ ngày đó mà về đến Thuận An đã chẳng còn đạn thì thật lạ.

Theo mô tả của Cao Xuân Huy thì họ là thiện chiến, là " ủi giỏi".

Tôi chưa biết các bạn trẻ đọc Cao Xuân Huy thấy cái đơn vị ấy nó thiện chiến ở chỗ nào ?

Có khái niệm thế nào là một đơn vị thiện chiến.

Tôi nói qua về những người lính của mình một chút :

Hồi chống Pháp, có bài thơ của ai đó tôi không nhớ :" ...Ăn cháo ba ngày/ chạy mười chín cây...", bộ đội ta đuổi Tây ở Tây Bắc.

Rồi những trận đánh "bôn tập" phải hành quân xa mấy chục cây số, đến nơi là vào trận liền, tất nhiên là phải có đầy đủ vũ khí theo trang bị hồi đó.

Suốt mấy ngày, nhiệm vụ của tôi chỉ là phục vụ chiến đấu cho các khẩu đội bạn, nên phải đi lại, mang vác và đào hầm hào, làm trận địa nhiều.

Người mệt nhoài, nhiều đêm cũng chẳng về đơn vị, bạ đâu ngủ đấy, mà ngủ say như chết, pháo bắn vào khu vực mà không biết, sáng ra anh em bảo :" ông này lỳ thế, pháo bắn ầm ầm mà không chịu vào hầm".

Khổ có biết gì đâu !

Vất vả từ trước chiến dịch có mấy khi được ngủ trọn đêm.

Ngồi bây giờ ngẫm lại thấy bao nhiêu sự kiện ,công việc, những địa danh đến và đi thế mà dồn nén lại chỉ có mười mấy ngày.

Đúng là "một ngày bằng hai mươi năm" nhưng để mà kể ra những cái việc mà nơi nào, đơn vị nào cũng phải làm, mà ai cũng biết chẳng đáng .

Ngày 19/3 đại đội báo cho tôi xuống thay cho Tuẫn đang ở Cổ Bị, Trọng ốm nên tôi kéo Huấn (A phó) đi cùng.

Đến nơi thấy Khùn cũng ở đấy , hai ông đang đăm chiêu vì hai ngày nay vẫn chưa giải quyết được cái lô cốt mẹ ở bình độ 28.

Thấy tôi và Huấn đến, Khùn nói :" Không hiểu thế nào, bắn mãi mà cứ nổ xung quanh, không làm sao trúng được."

Chúng tôi cùng quan sát, nó như cái bao thuốc lá thế kia mà, nhưng tính áng bằng ống nhòm khoảng gần 3000m, quả là hơi xa.

Tuẫn nói "bắn hơn hai chục phát rồi đấy, mấy ông đại đội kêu rát cả tai ."

Tôi biết Tuẫn là thằng bắn DKZ giỏi có tiếng của K13 mà bắn không được, chắc pháo súng phải có vấn đề.

Tôi nghi ngờ nói vậy thì Huấn nói :" thôi bỏ mẹ rồi, khẩu này hôm kéo vào bị đổ , khả năng dơ bộ phận nào đó."

Hèn gì mà cả Tuẫn, Khùn bắn đều không trúng.

Chúng tôi cùng xem xét khẩu pháo, kiểm tra đi kiểm tra lại chẳng phát hiện điều gì ( nó có việc gì cũng chả biết đường nào mà chỉnh sửa, toàn bộ binh mới lên ).

Khi Tuẫn và Khùn về rồi, tôi nghĩ mình cũng rứa thôi, không biết súng có gì không nhưng cự li xa quá cũng khó mà chính xác được.

Chẳng vội gì mà bắn ngay, chờ nắng lên hãy hay.

Tôi cho anh em làm lại thiết bị pháo thật cẩn thận, cân bằng pháo xong xuôi rồi chui vào lán hút thuốc tán dóc với anh em.

Tôi chọn lúc trời quang, trong nhất tôi bắt đầu cho bắn.

Lệch phải, chỉnh, lệch trái ,chỉnh, lệch trái tiếp.

Bắn đến 5,6 viên rồi mà đạn chỉ nổ xung quanh.

Tôi nhắc Huấn khử độ dơ cẩn thận, cứ thế đến quả thứ 8 hay 9 gì đó thì sập góc trái lô cốt.

Chúng tôi để nguyên thế bắn tiếp, lại lệch trái tiếp.

Trên cho bắn 10 viên đã hết, nhưng trông cái lô cốt vẫn lù lù trước mặt tôi cay mũi bảo anh em cứ bắn tiếp.

Ý định thên 1,2 quả nữa xem sao.

Vẫn nổ xung quanh, cứ xuýt trúng.

Như đánh bạc ấy càng thua càng cay, tôi lại bắn tiếp đến khi đếm lại số đạn đã bắn mất 19 quả.

Vẫn chẳng ăn thua gì đành ngừng hẳn.

Tôi báo cáo về đại đội, anh Tầm bảo thôi không bắn nữa, giọng anh cũng hơi buồn, không biết anh phải báo cáo với trên thế nào?.

Kể như cả lũ chúng tôi thất bại.

Ngày 21/3 Quang trinh sát xuống dẫn tôi đi nhận trận địa mới, hướng quay hẳn về hướng đông.

Địa thế rất thuận lợi, mằn giữa hai bụi tre vừa kín đáo vừa an toàn , lại mát nữa.

Mục tiêu lần này là bên kia sông Bồ, toàn bắn gián tiếp và phải chuẩn bị cả bắn ban đêm.

Thấy bộ binh đi lại nhiều, tôi biết lại chuẩn bị đánh lớn nữa rồi.

Lần này là d3 (K13) là chủ công, từ đầu chiến dịch d3 làm dự bị, chỉ đánh vài trận tập kích nhỏ cỡ trung đôi.

Lần này đánh vượt sông, chắc sẽ nhiều khó khăn không biết họ sẽ đánh ra sao(?)

Ngày bé, tôi có đọc vài hồi ký của các tướng soái Xô Viết viết về thời chiến tranh giữ nước vĩ đại.

Trong đó, họ mô tả những trận đánh vượt sông Dơniep, Danuyp thật hoành tráng ..Rồi sau trận đánh những người đầu tiên qua được bờ sông đều được phong Anh Hùng.

Có nghĩa những trận đánh vượt sông bao giờ cũng rất khó khăn và ác liệt.

Lần này trung đoàn đánh vượt sông qui mô tuy nhỏ những độ tập trung, ác liệt chắc không kém.

Khẩu đội của tôi tham gia yểm trợ cho d3 đánh trận vượt sông, lẽ ra phải có nhiều cái đáng nói về trận này.

Thật tiếc là dù vị trí trận địa chúng tôi không xa bến vượt bao nhiêu nhưng không nhìn được bờ sông.

Địa hình ở đây có nhiều tre, cây cối như những xóm làng, tầm quan sát rất hạn chế, không thể tận mắt nhìn các mũi xung kích họ chiến đấu như thế nào.

Các mục tiêu của chúng là gián tiếp, phần lớn nằm sâu trong bờ bên kia sông.

Lệnh bắn là bắn, kết quả ra sao chúng tôi cũng không rõ.

Tôi đành mượn mấy lời bác Xuân Thiều, bác ấy không ở đấy nhưng lại ở phòng tác chiến, tình hình hàng ngày còn nắm rõ hơn chúng tôi khi ấy :

Trung đoàn 4 trong đợt 1 của chiến dịch đã giành thắng lợi lớn ở Phổ Lại và đồng bằng Phong Điền ( cả Quảng Điền nữa).

Sau đó trung đoàn đã tranh thủ củng cố đơn vị, lần này ra quân với khí thế dũng mãnh và quyết tâm cao.

.......Cuộc chiến đấu vượt sông ( bồ) Lại Bằng xảy ra hồi 15 giờ ngày 23 tháng 3, bắt đầu bằng trận mưa pháo vào Long Khê, Lại Bằng, núi Bản trong khi đó cối và 12 ly 7 bắn xối xả vào bến sông chỗ ta sắp vượt qua.

Lúc pháo chuyển làn là lúc các đơn vị đánh chiếm đầu cầu bắt đầu vượt sông thì pháo của địch lập tức ngăn chặn ta ở bến vượt, bắn vào Cồn Nổi, vào làng Huyền.

Giữa một cuộc đấu pháo khiến ta có cảm giác đạn va vào nhau giữa không trung, chiến sĩ đoàn 4 ( K13) vẫn bình tĩnh bơi qua dòng sông Bồ mặc cho mảnh pháo rơi lủm bủm đó đây trên mặt nước, mắc cho đạn bắn thẳng của những tên lính liều lĩnh ... bắn xối xả.

16 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975, đơn vị đầu tiên gồm 34 chiến sĩ đã vượt qua sông Bồ, nhanh chóng chiếm bàn đạp chi viện cho các đơn vị tiếp tục vượt sông phía sau.

Phòng tuyến của tiểu đoàn 5 lữ 147 thủy quân lục chiến bắt đầu bị chọc thủng.

Những thương binh nhẹ đầu tiên về qua trận địa chúng tôi, họ ngồi cả lại hút thuốc và nói chuyện bên kia sông.

Lần đầu tôi mới tiếp xúc với lính K13 bời từ ngày về trung đoàn họ luôn chốt ở Cổ Bi, vùng giáp ranh gần với đồng bằng nhất nên cũng khó khăn nhất.

Nhất là mua mưa khi nước sông Bồ có lũ ,cả vùng Cổ Bi, Tứ Chánh trắng băng, lính K13 phải trụ lại trên những cành cây, địch ra sức dụ dỗ, kích động , kêu gọi chiêu hồi.

Chúng vè vè ca nô dọa dẫm nhưng lính K13 cũng lỳ lợm chĩa súng thẳng vào cano địch sẵn sàng nhả đạn.

Thằng địch ơn quá phải tháo lui.

K13 từ ngày về chưa đánh trận lớn nào, hôm nay mới thể hiện...

Tôi để ý trong số thương binh, có một anh chàng cao, gày và đen.

Quần áo xộc xệch, bàn tay phải băng trắng, tay trái vẫn quắp một quả mít .

Mặc mọi người nói chuyện làng Huyền, chuyện địch ta chẳng quan tâm, anh sùng sục mượn dao nhờ chúng tôi bổ mít.

Bổ ra xanh quá, ăn hơn khoai lang một chút, anh ta cười toet bảo :" Cái làng Huyền ấy nhiều mít và thanh trà lắm, tiếc là hơi xanh, thôi để cho mấy bác Nghệ bác ấy làm nhút" Giọng oang oang biết ngay tay này lại "điếc" rồi ( do sức ép).

Lúc sau anh ta như chợt nhớ ra việc gì quan trọng lắm, móc tay vào túi ngực lấy ra một tấm ảnh khỏa thân :" có cái này hay lắm, các ông xem này."

Cả lũ xúm vào, thích thú bình phẩm đủ chuyện...

Họ đi rồi, tôi thấy vui vui khi nghĩ về họ, về sự hồn nhiên trong người lính.

Cu Huấn người K13 cũ bảo :" lần này lão Kỳ dẫn lính vượt sông thì chẳng thằng nào biết sợ."

Thảo nào họ chiếm đầu cầu nhanh thế.

TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG

Đêm ấy lực lượng chiến đấu của trung đoàn 4 lần lượt vượt sông bám được vào đất Hương Trà.

Để bảo toàn lực lượng thủy quân lục chiến, Nguyễn Thành Trí tung liên đoàn 14 biệt động quân vừa chạy ở tuyến Mỹ Chánh vào, có chi đoàn xe tăng M113 gồm 18 chiếc yểm trợ, ra phản kích ngăn chặn ta.

Trong lúc đó, Bộ tư lệnh nhẹ thủy quân lục chiến cùng lữ đoàn 147 chuồn về cửa Thuận An.

......Khoảng 4 giờ sáng ngày 24 tháng Ba, đại đội tôi nhận nhiệm vụ làm gạch nối ở làng Ðồng Lâm để yểm trợ cho đại đội 1 và đại đội 2 rút ra từ phía núi.

.....Nhưng rồi khoảng 2 giờ trưa, đại đội Biệt Ðộng Quân lại biến mất.

Họ không báo cho chúng tôi biết và họ cũng không đi qua cầu An Lỗ.

Tôi không đoán nổi là họ đi lối nào và lúc nào.

Tôi báo cáo về tiểu đoàn.

Chỉ còn đại đội tôi nằm ở bờ bắc cầu An Lỗ.

.....8 giờ tối, khi tôi đang cố gắng liên lạc với trung đội 2, Ðại đội trưởng gọi tôi lên họp.

"Ông cho con cái trang bị nhẹ tối đa, bằng mọi giá phải về đến Thuận An trước 6 giờ sáng mai.

Ai tới trễ sẽ bị bỏ lại vì chỉ có một chuyến tàu đón mình về Ðà Nẵng thôi."

Vài dòng trên (xanh) của Cao Xuân Huy thời điểm này tôi thấy khớp với những gì bác Xuân thiều đã nói.

Suốt ngày 24 tháng 3 kịch chiến xẩy ra ở Lại Bằng.Tám lần địch tập trung lược lượng phản kích, có lần chúng đã chiếm được bến vượt, nhưng cuối cùng đã bị đẩy lùi.

Quả là ngày 24/3 rất căng thẳng, khẩu đội của tôi bắn liên tục, nhìm nòng pháo mầu bàng bạc, nóng dãy.

Địch cũng phản pháo quyết liệt không kém, bụi tre mới hôm qua còn xanh um mà giờ xơ xác.

Bên kia sông dội lên đủ loại âm thanh.Tôi vô tình nghe được cuộc đàm thoại giữa Trung đoàn trưởng Nguyễn Hạng và anh Quân ( là cán bộ tiểu đoàn) vì đường dây thông tin qua chỗ tôi mới xuống đến sở chỉ huy tiểu đoàn.

- Anh Quân, anh đang ở đâu!

Lính anh ở đâu!.

Vị trí của anh là ở bên kia sông, anh rõ chưa!

Giọng của trung đoàn trưởng rất gay gắt, như quát và kiên quyết

- Báo cáo anh, băng xong vết thương tôi sẽ sang ngay, anh em đang rời chỉ huy sở sang sông.

Thật căng thẳng !

Quảng 15 giờ chúng co cụm lại ở bình độ 12.

Và đây là chút hơi tàn cuối cùng trước khi chúng rút chạy và tan rã hoàn toàn.

17 giờ 30 chúng giật sập cầu An Lỗ, chiếc cầu cửa ngỗ vào thành phố Huế.

Chập choạng tối pháo địch bắn sang trận địa chúng tôi như mưa, chưa bao giờ thấy bắn dai, nhiều như thế vào trận địa chúng tôi.

Huấn cũng lính 72 với tôi cũng phải thốt lên :" Chết mất thôi !".

Tôi biết cái hầm này rất sơ sài, chỉ có 3 tấc đất đắp trên nhưng lại an toàn vì nó được chắn bởi một bụi tre lớn.

Nhưng nó bắn nhiều thế này cũng làm thần kinh chúng tôi mệt mỏi và lo lắng nghi ngờ, không lẽ nó phản công vào ban đêm, nhưng không thấy pháo sáng, lạ!

Chưa bao giờ thấy như thế.

Pháo ngưng bắn, không giam tĩnh lặng hẳn, chúng tôi lại lần tìm nối những chỗ đứt của đường dây điện thoại, nối xong cũng không liên lạc được chắc đứt nhiều và ở nơi xa, kệ !chờ lát nữa thông tin sẽ nối lại.

Chấp hành lệnh của quân khu, lập tức trung đoàn 4 tổ chức truy kích địch.

Mặc dù tối trời, đường xá còn bỡ ngỡ, lại qua một ngày chiến đấu căng thẳng, chiến sĩ ta quên hết mọi sự vất vả mệt nhọc, cảm thấy đây là giờ phút đẹp nhất, tự hào nhất của cuộc đời chiến sĩ: Giờ phút của người chiến thắng trên đường khép chặt vòng vây tiêu diệt quân địch đã và đang hoàn toàn tan rã.

...14 giờ ngày 25 d1/e4 đã có mặt ở Động Ấp ( bắc cửa Thuân).

Như vậy tiểu đoàn 3 Quảng Trị từ hướng bắc đánh vào, tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 từ phía tây đánh xuống,cả 2 tiểu đoàn đã hội quân ở đây, cùng nhau chốt chặt phía bắc của Thuận An không cho địch tẩu thoát theo đường biển kể từ chiều 25 tháng 3 năm 1975.

Đại đội cho người xuống yêu cầu để lại 1 người trông pháo còn tất cả về ngay.

Chúng tôi dồn ghép đội hình nhận 2 khẩu DKZ_82 và cùng đại đội hành quân ngay trong đêm.

Vượt sông Bồ, đơn vị đi sâu xuống đồng bằng, băng qua những xóm làng vắng lặng, thi thoảng có tiếng chó sủa, le lói ánh đèn dầu hắt ra từ những mái nhà tôn ven đường.

Xa xa trên rừng vẫn nghe tiếng đầu nòng của đại bác 130 , quầng sáng phía trước là Huế.

Lại luồn sâu hay vu hồi chăng (?) mà sao đi mãi, ám ảnh đồng bằng trong tôi vẫn còn đó, cũng lo lo.

Nhưng sao lạ thế, nó vừa bắn, đạn văng như trấu mà sao bây giờ im lặng thế.

Tôi có biết đâu trận pháo dữ dội ban tối là những loạt pháo cuối cùng của địch ở bắc Huế.

Tình thế khác rồi, chưa biết tình huống phía trước, sắp tới là gì nhưng tôi cảm nhận thắng lợi đang đến gần, trời càng sáng càng nhận rõ.

Đơn vị ngoặt trái qua khu dân cư ngoại ô ( Bao Vinh), nhà cửa nhiều hơn và hầu như vắng chủ, đi tiếp, xuôi theo dòng sông xanh biếc, không lẽ là sông Hương ..

đây sao?

Chúng tôi đã không có vinh hạnh vào Huế, mục tiêu chiếm lĩnh là cửa biển Thuận An nơi địch dồn về rất đông.

Nhưng không có trận đánh nào xảy ra, dừng chân ở thôn Triều Sơn Đông, người dân dứng trên bậc cửa, hiên nhà nhìn bộ đội mừng vui, lạ lẫm và lo sợ nữa.

Bất giác tôi nhớ Trực, người bạn cùng khẩu đội 12,7ly ở K15 , nhớ đến câu thơ Trực viết trong cuốn sổ nhỏ sau đêm gác ở đồi Không tên :

Thôi thế nhé Huế ơi gắng đợi

Một ngày mai anh sẽ về bên em

Nước sông hương một dòng trong mát

Soi bóng hình Hà Nội yêu thương . . .

Mùa mưa 1974

hồi 5g 30 1/11/1974 _Phạm Thiện Trực

Mộc mạc, đơn giản nhưng là ước mơ của người lính e4 ngày ấy đã trở thành hiện thực.

Ngỡ ngàng

ĐIỂM CAO 61 VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN

Đỉnh 61 bắt đầu xuất hiện những cụm khói của pháo ta, tôi quay súng sang đồi DK làm vài điểm xạ dài cho bõ tức, hôm qua nó làm tụi tôi xém chết, nhờ trời súng hỏng mà thoát.

Rồi quay sang sườn trái 61 điểm xạ khống chế con đường lên xuống của địch.

Thằng DK lại bắn đại liên sang chúng tôi, lần này chúng đọ làm sao được với 12 ly7.

Tôi lại quay sang áp đảo chúng, nhất địch không cho khẩu DK 90 chúng nó kịp làm gì.

Thọ bạn đồng hương thân thiết với tôi, lính c5bb đang chốt mỏm bên cũng chạy sang xin bắn ké, tôi nhường cho Thọ bắn, rồi những anh em khác tôi cũng cho thay nhau bắn.

Pháo chuyển làn đã thấy xuất hiện những đám nổ nhỏ, Xung kích ta lên nhanh quá.

Tôi thấy địch chạy rất nhiều xuống đồi, rê nòng theo bắn được vài loạt thì Thọ giật lại bảo :" Đừng bắn nữa, nhỡ bộ binh truy kích ".

Thật có lý, tôi cho chuyển sang khống chế tiếp thằng đồi DK.

Tôi đã viết về trận đánh 61 từ cái nhìn của anh lính 12,7 ly, Một trận đánh như vậy mà chỉ có vài dòng thật tiếc.

May mắn hôm rồi tôi lại gặp người đồng đội cũ c5 bb Bình, anh là người còn lại duy nhất trong mũi chính diện từ bờ sông lên.

Thường khi chúng tôi gặp nhau vẫn ôn lại những buồn vui, mất mát , chả mấy khi nói "mày làm gì khi ấy" như lần này khác.

Mọi chuyện hỏi han,căn vặn đều do tôi chủ động để hôm này có câu được chuyện kể lại cho các bạn.

1_Chuyện của người lính bộ binh c5 (c3/d1/e4)

Không có chuyện 7,8 người lên đâu, mũi của tôi có 3 thằng thôi.Tôi, thằng Đống Vĩnh Phú và thằng Yêu Lạng Sơn.

Thằng Yêu không biết chốt ở đâu điều về, nó bảo ông Thước B phó và ôngThiệu A trưởng trên đường về đều bị thương cả rồi.Đại đôi nói thằng Đống chỉ huy, khi nào nghe tiếng H12 bắn thì xông lên, mà lầm này có cả bom bay nữa không sợ đâu...Bom bay nghe thật lạ nhưng đem lại cho tôi một cảm giác yên tâm vì quanh mình còn rất nhiều đồng đội đang cùng tham gia trận đánh.

Phía bên trái khẩu 12,7 ly của c7 vẫn bắn liên tục suốt sáng, rồi cối 82 cóc cóc nã lên đỉnh 61.

Bên sườn trái DK82, đại liên dội lại liên hồi, tôi thấy bên bình độ 50 khá đông quân ta.

Bắt đầu H12 nó rú, tiếng rú khủng khiếp thật khó tả, khầu H12 đặt chính diện bên kia sông.

Từng xem H12 bắn nhiều lần nhưng chưa từng nghe nó réo qua đầu mình như thế này bao giờ.

Chúng tôi bắt đầu lao lên, đến lưng chừng đồi, nhận ra xác thằng Bài Vĩnh Phú tay còn băng trắng nhưng bụng ruột lòi ra.

Thằng Đống như điên lên, khâu M79 trong tay nó nổ liên hồi.

Gần như không có sức kháng cự từ phía địch, tôi nhìn sang sườn phải ( bình độ 50) lính K2 dàn hang ngang, đứng thẳng người vừa đi vừa bắn.

B40, B41 bốn năm khẩu thay nhau phụt không lúc nào dán đoạn.

Tôi rất ấn tượng với kiểu đánh này của lính K2, không thèm ụ này, hố kia mà tiến thẳng, dung hỏa lực bắn nhanh, liên hồi, áp đảo.

Khi lên đỉnh gặp nhau tôi càng nể và phục họ về cách dung B40,B41.

Trước đây nói đến sử dụng B40, B41 thì cả mặt trận Quảng Trị đều nể K15, vậy mà hôm nay lính K15 được một phen tròn mắt, biết thế nào là sử dụng B40,B41 .

Lính K2 tự chế cái rọ đựng đạn B40 đã lắp sẵn liều phóng, họ đeo vào lưng, mỗi người có thể deo 6_8 quả khi vào trận.

Bắn xong thò tay ra sau rút đạn ( như cung thủ lấy mũi tên) rất nhanh.

Nên mũi xung kích của họ chỉ hơn chục người nhưng cách đánh này hỏa lực bắn ra tưởng họ đông gấp đôi, gấp ba.

Tiếng nổ của những trái lựu đạn vừa dứt, tôi và Yêu lao lên, đến đỉnh đồi đã thấy lính K2 có mặt, tụi địch còn sống trong giao thông hào không dám kháng cự, vứt súng hàng cả loạt.

Số tù binh cả chục đứa bị đồn vào một góc sau đó được 2 lính K2 giải xuống tuyến sau.

Lúc này pháo địch bắt đầu bắn vào điểm cao, lợi dụng pháo bắn một tên lén bỏ chạy.

Nghe anh em hô hoán bắn theo thằng đich, tôi nhìn xuống, thấy nó đang cắm đầu cắm cổ chạy xuống khe giữa 61 và Không Tên, nhảy đến khẩu đại liên của địch nằm ngay đoạn hào trước mặt, tôi bắn đuổi theo, bụi tung mù quanh chân nó nhưng không trúng, thằng này gặp may.

Mà lạ là sao tụi nó lại đặt đại liên ở đây nhỉ (?), nhìn sang bên Không Tên, thấy rõ khẩu 12,7 ly của c7, rõ từng người, tôi hiểu.

Cũng may là ta chiếm lại được 61 chứ ở vị trí cao hơn thế này mấy ông 12,7 ly nhà mình sẽ khổ với nó.

Trận đánh nhanh gọn không ngờ, ta không ai bị thương, bắt 10 tù binh, trên đường 1 tẩu thoát.

Chúng tôi tìm chỉ được xác: anh Võ, Lóng (Đông Anh),Thứ ( Vĩnh Phú) và Bài ở lưng chừng đồi khi lên, không thấy anh Cấp, Hồng và một số người khác đâu.

Sau này được biết số này bị thương bò về được đến bờ sông thì gặp quân ta.

Sau khi K2 rút, trên tăng cường cho 61 ba người nữa để giữ mỏm 3 và đỉnh 61 ( điểm cao 61 kéo dài về phía đông khoảng 60m có một mỏm thấp hơn, lính ta gọi là mỏm 3), mỗi nơi ba người.

Lúc này chúng tôi chỉ ngồi chịu trận của pháo, đại liên và ĐK địch và xem cánh c7 đáp lại bằng cối 82, ĐK 82 và 12,7 lên hai điểm cao 58 và 70.

Không bên nào xung trận cả.Pháo bắn nhiều thật nhưng cái khổ nhất lại là mùi xác chết ở 61, bây giờ mỗi khi nghĩ lại tôi vẫn rùng mình.

Người ít, ngớt pháo là lo củng cố trận địa nên xác địch chết chúng tôi chôn rất sơ sài, chôn ngay trong chiến hào, chỉ lấp được 20,30 cm đất.Nắng, mưa làm tăng thêm mùi hôi thối và ròi từ những đụm đất có người chết bò khắp đường hào, nó bò cả vào chỗ ngủ, mỗi lần dậy lại thấy mình đè chết cả chục con... vậy mà vẫn phải sống không khác gì địa ngục

Dù địch không lên nhưng pháo bắn nhiều hòng ép ta rút khỏi 61.

Yêu, Đống cũng lần lượt hy sinh sau các loạt pháo địch.

Ngược lại ta cũng ép 2 điểm cao 58 và 70 bằng ĐK, cối 82 ,bên Không Tên khẩu 12,7 ly của c7 liên tục nhả đạn, kiềm chế không cho thằng địch nào thò lên khỏi mặt đât.

Đêm đến thỉnh thoảnh lại thấy vài loạt bắn sang địch làm chúng mất ăn mất ngủ.

Vài ngày sau, trinh sát báo địch rút khỏi 2 điểm cao 70 và 58.

Tôi được điều lên phía trước, điểm cao 70 ( đồi ĐK), thoát khỏi 61 cảm giác nhẹ cả người.

Những ngày ấy thật kinh khủng, 61 chỉ là một điểm cao nhỏ, với những trận đánh nhỏ nhưng nó mang đủ tính tàn khốc của chiến tranh.

Giành đi giành lại, chuyện bao thuốc, chuyện Đại đội phó Võ chết không toàn thây ( Bị địch chặt đầu), cái chết của Bài, của Đống, của Yêu cứ ám ảnh mãi.Trước đó c4 đánh chiếm 61, cũng mất ba ngày, thương vong không ít, khi làm chủ điểm cao chỉ còn có một người lành lặn.

Có lẽ vì thế mà lính đoàn 4 mỗi lần gặp nhau đều nhắc về 61, dù trước và sau nó, trung đoàn đã có biết bao trận đánh lớn nhỏ khác.

Nguyễn Phú Bình_ chiến sĩ c5/K15 ( c3/d1/e4)

SAUHIỆP ĐỊNH PARI

Tháng 3/1973 đơn vị chúng tôi bàn giao các vị trí chốt ở chân điểm cao 367 cho bộ đội Quảng Trị, hành quân vào Phong Điền nhập vào trung đoàn Phong Quảng.

Thực ra Phong Điền với Hải Lăng là hai huyện giáp nhau, đường chim bay từ nơi đóng quân cũ đến nơi đóng quân mới chỉ vài chục km mà chúng tôi phải đi hơn 4 ngày mới vào tới nơi.

Mất 2 ngày đi xuôi về phía Nam theo đường 15N, đến Tam Dần gặp đường 71 chúng tôi bắt đầu luồn rừng, theo các đường mòn xuống vùng giáp ranh.

Địa hình Phong Điền có hai vùng riêng biệt.

Phần rừng núi phía Tây Nam xanh ngắt những cánh rừng đang hồi sinh lúp xúp, vượt lên mảng màu xanh ấy là hàng ngàn những cây to màu trắng ngà chết khô bởi thuốc diệt cỏ những năm 1966.

Ở đây có nhiều điểm cao quan trọng như Động Chuối, 506, Kakê, 150, 146, 330, Củng Cáp, Cây Tất và 674.

Từ các điểm cao này, mắt thường có thể nhìn rõ cả vùng đồng bằng Phong Điền Quảng Điền ra đến tân biển, dùng ống nhòm có thể quan sát mọi hoạt động trên quốc lộ số 1.

Một số điển cao ngày trước là căn cứ pháo binh của địch như Củng Cáp, 146, Đông Chuối.

Khi chúng tôi đến trên các căn cứ vẫn còn vứt vương vãi các thùng liều và đầu đạn pháo các loại, hầm tôn vòm đắp bao cát và các ván nằm còn nguyên vẹn.

Từ Củng Cáp có một con đường nhựa do Mỹ làm chạy thẳng xuống ngã ba Lành Ngạnh rồi ra đường 1.

Mé đông bắc là vùng đồi thấp xen xình lầy, cây cối lúp xúp trơ trọi vài bụi tre nhỏ, lau lách và những cây duối mọc ven các bờ suối.Trước kia ở đây có dân và nông trường Hòa Mỹ của Ngô Đình Cẩn.

Năm 1966 Mỹ lập vùng trắng ngăn chặn hoạt động của ta nên dân bị di dồn đến các vùng quanh Huế.

Để lại cả vùng đất bán sơn địa hoang tàn, cây cối ít hơn mìn.

Anh em c2 và c4 chốt ở khu vực này cứ vài hôm lại có người dính mìn, bị thương và hy sinh nhiều hơn là đụng địch.

Giai đoạn đầu hiệp định chúng tôi thường quan sát , chọn những địa thế có lợi xây dựng trận địa, cứ dịch dần lên phía trước cho đến khi đụng địch.

Mỗi lần như vậy, hai bên cùng muốn dành lợi thế về mình nên thỉnh thoảng có nổ súng.

Nó na ná như chuyện cắm cờ trước hiệp định.

Dần dần chúng tôi chiếm giữ một vùng rộng lớn dưới đồng bằng và tạo một tuyến giáp ranh.

C5 ban đầu được giao giữ các điểm cao, nay được lệnh xuống hết đồng bằng mà quân không đủ căng ra giữ các vị trí cần thiết.

Những ngày đầu vào Phong Điền dù hiệp định đã được ký nhưng tiếng súng còn nhiều nơi chưa dứt.

Địch cũng lợi dụng ta ít người và điều kiện tiếp tế khó khăn tranh thủ lấn những điểm chốt quan trọng.

Các con đường 15N, 71 mới vào đến Tam Dần cà còn phải tu sửa nâng cấp.

Chúng tôi phải cắt cử những người còn khỏe trong đơn vị đi lấy gạo và các nhu yếu phẩm khác.

Những người yếu hơn hoặc sốt nhẹ đều lên chốt, tiêu chuẩn gạo, muối đều phải giảm.

Mọi thứ đều thiếu thốn nhưng thiếu thuốc lào là căng thẳng nhất.

Hồi đó lính tráng chủ yếu là dùng thuốc lào, thuốc lá chỉ hút vui những dịp lễ tết chứ dùng thường xuyên thì không hậu cần nào bảo đảm nổi.

Chuyện về thuốc lào cũng rất lắm, tôi xin kể vài câu chuyện nhỏ.

CHUYỆN THUỐC LÀO

Tôi nhớ một lần khẩu đội tôi hành quân qua 146, cả khẩu đội đang ngồi nghỉ và chia nhau những điếu thuốc lào cuối cùng.

Mỗi người vê trong tay dúm thuốc và chuyền tay nhau cái điếu cày.

Nghĩa là thằng hút cuối cùng, vừa định đưa đóm vào đốt thì từ dưới dốc có một lính bộ binh chạy ngược lên hô :" Đồng hương ơi, cho tôi ké một tý".

Mắt anh ta sáng rực chắc bị nhịn đã lâu.

Nghĩa thấy vậy chỉ đưa lửa rít cho thuốc chỉ cháy một bên rồi đưa cho người lính lạ.

Cả khẩu đội nhìn người lính lạ rít thuốc mà phát thèm dù vừa hút xong.

Thật tiếc là chúng tôi không còn.

Chuyện chia sẻ điếu thuốc đã nhiều người nói đến và đó cũng là chuyện thường của người lính trong chiến tranh.

Nhưng cũng không phải tất cả là như thế, có chỗ có nơi vẫn còn những điều không hay.

Đó là lần khẩu đội tôi làm trận địa trên đỉnh điểm cao 330 , có nhiệm vụ bảo vệ tiểu đoàn bộ và cơ quan huyện Quảng Điền đóng ở khe suối dưới sườn Tây Nam của dãy 330.

Chúng tôi ở chung với cơ quan tiểu đoàn bộ, ngày lên đào hầm, đi chặt cây làm trận địa, trưa và tối xuống ăn ngủ cạnh bếp tiểu đoàn bộ.Lúc bấy giờ chúng tôi đang ở vào tình trạng đói ăn và thiếu muối, đặc biệt là thuốc lào.

Cả khẩu đội không ai còn thuốc, đã có ông phải cạo tinh tre, tẩm nước điếu hút đại cho đỡ nghiền, thèm lắm.

Nghe tiếng điếu cày rít lên ở lán tay Minh quản lý bếp tiểu đoàn, không chịu nổi, chúng tôi lân la sang xin.

Tay Minh mở hộp thuốc ( bằng hộp xi đánh giầy ), chìa cho chúng tôi xem và nói :" Các bạn thông cảm nhế, anh chỉ còn có ngần này , cho các bạn thì mai anh không còn gì để hút" .

Nghe giọng tay Minh nói chúng tôi tức điên .

Nghĩa "lùn" nói :" Còn hơn nửa hộp thuốc lào mà không cho anh em được một điếu, phải trị thằng cha này một trận!

Đãi ơi!

Mai mày rình hắn Minh đi vắng mày lục ba lô hắn có bao nhiêu thuốc lào lấy mẹ nó hết đi ".

Đãi là anh nuôi, tính tình ỏn ẻn như con gái, bọn tôi gọi là "chị" Đãi, quê Hà Bắc.

Nhà nghèo lắm không được đi học, khi ở với chúng tôi Đãi viết thư đều phải nhờ anh Huệ đồng hương viết hộ.

Nghe Nghĩa nói, chị Đãi chẳng nói gì, nhưng ngày hôm sau thấy Đãi gọi tôi ra dúi vào tay hai gói thuốc lào độc lập.

Khà khà , tôi khoái quá, mang vào lán chia cho anh em , tiếng rít thuốc lào lại ro ro .

Tay Minh ngồi lán bên nhìn sang biết bọn tôi lấy mà không làm gì được.

Hôm sau lán bên không nghe thấy tiếng rít của thuốc lào của tay Minh, biết lão hết thuốc mà không còn mặt mũi nào sang xin chúng tôi.

Song, nghĩ lại thương, thằng Nghĩa lại cầm ¼ gói sang mượn điếu hút rồi vờ để quên để lão có mà hút.

Lính tráng đôi khi cũng phải nhắc như vậy đấy.

Nghe chuyện biên giới Tây Nam và biến giới phía Bắc, tôi có cảm giác cái chuyện thuốc lào thời các bác nó đã phai phai, ít thấy các bác nhắc đến.

Toàn thấy kể chuyện thuốc rê, Mai , Đà Lạt .

Bác Võ Văn Hà có nhắc đến nhưng cũng rất "ngô nghê" về thuốc lào , mà là bác nhớ ông nhà báo thì mới nhắc đến thôi.

Chuyện cái nõ điếu, đúng là rất quan trọng, nó quyết định phần lớn cái độ say sưa, đê mê khi hút.

Hút cái điếu mà không nghe được tiếng rít rắt réo thì còn gì là hút, phí thuốc.

Ngày huấn luyện chúng tôi đóng quân ở xứ Mường Hòa Bình, ở đây đàn bà, đàn ông họ đều hút nhưng cái ông điếu nó to phải lấy hai tay bịt bớt lại mới đủ hơi.

Không dùng đóm mà gắp cục than dí vào nõ, bập bập, truyền tay người này sang người khác , im lìm nhả khói.

Thỉnh thoảng chúng tôi cũng hút nhưng chỉ những lúc có mấy Ủn ( em) đang ngồi hút, lấy cớ hút chung để tán chuyện thôi chứ hút loại điếu to ấy chán chết.

Nhưng cũng chẳng phải về Ngọc Hà hay Đội Cấn mua làm gì, lính ta tự làm lấy được, rất đơn giản, ai cũng làm được nhưng ông nào khéo tay thì nõ sẽ kêu hơn, chúng tôi vẫn kháo nhau làm nõ bằng gỗ cây chè là ngon nhất.

Kiểu hút của đồng bằng Bắc bộ là : đóm tre ngâm cháy đượm, pập pập nhẹ cho thuốc cháy đỏ, cháy hết, xì bã ra rồi kéo thật sâu, phải nghe được tiếng rít rắt réo của điếu mới đã.

Buổi sớm thì các bác nên chọn ngồi cạnh cái cột để mà còn ôm không là té bổ chửng đấy.

Những lúc hết thuốc phải hút chung nhau thì những người hút đầu rít nhưng không cho lửa cháy hết thuốc còn để cho người sau.

Người sau cùng mới được xì bã và rít.

Câu " trâu chậm uống nước đục" không đúng trong trường hợp này.

" GẶP" VOI Ở 150

Làm xong trận địa ở 330 chưa kịp lên chốt thì tôi bị điều động sang khẩu đội chốt ở điểm cao 150 cùng với anh em C5bb.

Về đây tôi gặp lại anh Nhân, người cùng tiểu đội huấn luyện với tôi từ năm 72.

Ngày ở huấn luyện, tôi lên đơn vị chậm vài ngày do phải cắt Amidan.

Vẫn nhớ khi được phân về tiểu đội 3, vừa bước lên nhà sàn của một gia đình đồng bào Mường ở xóm Mu, xã Ngọc Mỹ, Tân Lạc, nơi tiểu đội tôi ở, người đầu tiên tôi gặp là anh.

Anh nhìn tôi và buông một câu vẻ xót xa :" Non tơ thế kia mà . . .", anh không nói nữa nhưng tôi hiểu anh định nói gì.

Cả tiểu đội trong suốt quá trình huấn luyện chỉ có tôi và anh không dám trốn về.

Anh có lòng tự trọng của người lớn tuổi còn tôi trong suy nghĩ cố không để một điều tiếng gì làm cha mẹ tôi phải phiền lòng, dù hai chúng tôi đều rất nhớ nhà, nhớ Hà Nội.

Hai anh em ngày một thân nhau.

Những lần đi lấy củi, lấy nứa anh đều giúp đỡ tôi rất nhiều, từ cách chặt cây nứa đến cách cột làm sao cho chặt.

Những ngày phép ít ỏi tôi vẫn đến thăm anh ở 3b Đồng Nhân nơi anh ở với người chú bị mù.

Anh luôn coi tôi như đưa em của mình, Anh cứ nửa đùa nửa thật bảo gả cô em họ cho tôi...

Ở 150, chúng tôi và lính c5bb cùng nhau làm lán trại, hầm hào.

Dưới chân điểm cao, ở khu vực tranh chấp bên kia sông Rào Cáo có những vạt tre lớn.

Chúng tôi bàn nhau xuống đó lấy tre về làm mấy thứ đồ " gia dụng" trong sinh hoạt hàng ngày của lính .

Tôi và Đường "con" lọ mọ rò đường, tự cắt rừng đi xuống, chưa thạo địa hình và qui luật nên vẫn phải mang mỗi thằng một AK.

Đi được một đoạn thì tôi phát hiện ra có dấu chân Voi, nó cũng đi từ trên đỉnh đồi xuống, theo một khe nước.

Vết chân để lại những hố sâu đường kính chừng 30cm, bọt nước vẫn sủi lên từ những dấu chân nó.

Những chỗ voi đi qua đường rất thoáng, cây cối ngả rạp về hai bên nên chúng tôi đi theo rất tiện, không bị vướng víu dây leo, lau lách gì và cũng không sợ bị cài lựu đạn.

Nhưng cũng rất lo, ngộ nhỡ gặp voi không biết khẩu AK này có thể bắn chết nó không ?.

Hai thằng vừa đi vừa thảo luận cách bắn và thống nhất ngắm vào tai.

Chuyện bắn voi ấy là nghe người ta kể thế, chứ đã ai biết gì nhiều về voi, ngày bé tôi cũng chỉ được thấy voi ở thảo câm viên.

Xuống tới bờ sông ( chúng tôi quen miệng goi là sông nhưng nó chỉ là một con suối rộng ).

Ngừng lại quan sát phát hiện thấy một bãi phân của nó ngay giữa suối, nước chảy qua còn chưa tan hết.

Hai thằng thay nhau cảnh giới, ngồi chờ một lúc mới lần lượt lội sang bờ bên kia.

Chúng tôi vừa chặt tre vừa cảnh giới cả địch lẫn voi , có lẽ lúc ấy tôi ngại voi hơn là địch.

Lần đầu tiên tôi đi rất gần một con voi hoang giã , " tránh voi chẳng xấu mặt nào" tôi thực hiện đúng câu thành ngữ này, nếu đụng nó buộc phải nổ súng, địch phát hiện ra chúng tôi thì còn nguy nữa.

Tôi đã thấy vết chân nó và bãi phân to tướng của nó giữa suối nhưng tự coi lần đó mình đã gặp voi các bác ạ.

Hai thằng chặt vội lấy 3 cây tre bó lại, kèm thêm mấy củ măng rồi rút lẹ.

Lần đầu còn lạ lẫm, lớ ngớ địa bàn nên không tham được.

Quả đúng là những ngày ở Phong Điền, tôi đã găp khỉ đàn, vượn, nai, hoãng và lợn rừng .

Lính tiểu đoàn tôi bắn được khá nhiều thú rừng, tôi đã được thưởng thức đủ loại thịt rừng ở đây, nhưng bản thân mình thì chưa hạ được con nào.

Một lần thấy đàn khỉ đang kiếm ăn ở mấy bụi giang, nhưng không làm sao tiếp cận được, cứ cách vài chục mét là nó hú nhau chạy mất.

Mấy năm gần đây về thăm lại chiến trường xưa, thấy cây cối xanh tươi lên rất nhiều và ở đây đã là rừng bảo tồn thiên nhiên, báo chí nói đây có hổ, báo và nhiều thú rừng khác...

Với tôi, thời đó còn có cả voi.

Củng cố xong lán trai, trận địa thì tôi thì tôi lăn ra sốt, đây cũng là lần đầu tiên tôi bị sốt rét.

Tôi và một số anh em bị sốt nặng được chuyển xuống kiềng ( chỗ nấu cơm,dự trữ đạn, gạo cho một chốt), ở đây mát mẻ hơn vì có bóng cây còn ăn uống thì như nhau.

Gần chục ông có một hộp thịt 2,5 lạng chia hai ngày, thêm nước, muối nấu với mấy cọng môn thục già hắc mà nhiều khi ăn rất ngứa cổ họng.

Rừng nhiều, cá lắm nhưng lúc đó sức chúng tôi bị kiệt quệ không đi xa cải thiện được.

Anh Nhân lúc này khỏe là thế, mình anh lo tất tật các việc cơm nước cho anh em trên chốt và chăm sóc anh em sốt dưới kiềng, cũng chẳng con thời gian sức lực đâu để kiếm thêm chút rau rừng cho anh em được.

Riêng tôi anh vẫn cố đi tìm lá về ( tôi không biết là lá gì nữa) đun nước và đích thân anh tắm cho tôi.

Anh Nhân đã dồn hết sức lực chăm sóc tôi và rất nhiều đồng đội vượt qua bệnh tật.

Mấy ngày sau vừa dứt cơn sốt, chúng tôi lại được lệnh chuyển về điểm cao 300 .

Tạm biệt anh Nhân và anh em c5bb, nhưng đâu ngờ đó là những ngày cuối cùng được sống bên anh Nhân, người anh, người đồng đội quí mến của tôi.

ĐIỂM CAO 300

Điểm cao 300 nằm kề điểm cao 674, nơi địch có một lực lượng thám báo chốt giữ.

Điểm cao nằm sâu trong vùng giải phóng bị ta phong tỏa, biết không sớm thì muộn cũng sẽ bị tiêu diệt nên chúng đang tìm cách rút.

Khẩu đội tôi lên 300 để phục, đánh chặn trực thăng địch nếu chúng bốc quân bằng đường không.

Vị trí nằm sâu trong vùng của ta nên chúng tôi rất chủ quan, trận địa không ngụy trang, tôi tin địch trên 674 nhìn bằng mắt thường cũng thấy trận địa chúng tôi.

Có lẽ vì thế mà địch không dám cho máy bay vào nữa , chúng phải thực hiện cắt rừng rút bằng đường bộ.

Chúng tôi có 8 người tổ chức thành hai cụm ,trên đỉnh đồi với khẩu 12,7 ly và dưới khe suối đặt bếp nấu ăn cách nhau chừng 20 phút đường đi.

Tối đến tôi cùng hai lính mới ( Đường "con" và Bốn người Hà Bắc ) ngủ lại đỉnh đồi canh súng.

Còn lại cán bộ b và a trưởng đều xuống khe suối ở dưới kiềng ngủ.

Tôi bực lắm, nơi quan trọng nhất là trận địa, đã ít người lại không ông cán bộ nào ở, để lại ba ông lính mới... nhưng vì tự trọng tôi cố gắng không hề nói một lời.

Toàn lính trẻ như nhau chúng tôi cũng phân công nhau gác nhưng thú thực cũng chỉ được vòng đầu là mắt cứ díp lại, rồi chui vào hầm ngủ hết.

Tôi để khẩu AK chĩa ra của hầm rồi ngủ tít.

Nửa đêm có tiếng gọi của B phó và A trưởng, giọng thì thào :" Có địch mò xuống , phải canh trừng đấy.."

Họ còn dặn dò những gì gì nữa tôi cũng chẳng rõ nhưng cứ gật.

Thấy chúng tôi bỏ gác họ không nói gì chắc sợ tôi nổi khùng.

Họ đi rồi, tôi ngồi quan sát kỹ một lúc nữa lại kéo súng vào ngủ.

Lúc này thằng Bốn không ngủ được nữa , cứ mỗi lần gió thổi làm tấm tăng nilon che súng kêu loạt soạt nó lại thộp ngực dựng tôi dạy.

Lần đầu tôi còn ngồi dạy lắng nghe ,những lần sau tôi cứ nhắm mắt bảo :" không có gì đâu, cứ ngủ đi ".

Tôi biết thằng Bốn chẳng ngủ được, coi như nó đang gác nên yên tâm làm một giấc đến sáng.

Sáng ra , tôi vừa gấp tăng che súng vừa nghĩ :" Chắc mấy lão chỉ huy hôm qua thần hồn nát thần tính giống thằng Bốn thôi, có quái gì đâu mà cứ lục sục suốt đêm ".

Thăng Đường chui ra khỏi hầm vươn vai rồi ra khỏi trận địa giải quyết việc cá nhân.

Bỗng nghe thằng Đường gọi, tôi chạy ra, theo tay nó chỉ phát hiện thấy lấp ló trong đám cỏ tranh là đoạn dây cước căng ngang, lần theo sợi cước gặp ngay một quả US gài trên chạc ba cây mua.

Thật hú vía !

Đúng là đêm qua chúng nó mò vào đây thật.

May là chúng thám báo, chủ yếu là dấu mình không đánh nên bọn tôi thoát chết.

Chắc chúng chuồn bằng đường bộ rồi và có ý tặng lại bọn tôi quả US.

Buổi trưa thì máy bay địch xuất hiện.

Một L19 bay sát mặt đường nhựa và 4 chiếc HU quần đảo, bắn khá dữ dội vào các chốt bộ binh của ta.

Súng nổ ran ở khu vực giáp ranh, khẩu 12ly7 ở KaKê cũng nổ rầm rầm.

Chúng tôi đã vào vị trí chiến đấu, là lính mới tôi có nhiệm vụ lắp đạn vào băng, chưa có việc nên ngồi thành trận địa quan sát.

Chúng nó còn xa so với tầm bắn, chỉ đúng 1 lần thằng L19 lượn vào gần nhưng nó bay nhanh quá, thấp quá không bắn tà âm được.

Giá lúc này chúng tôi còn ở 150 thì bắn chúng ngon lành.

Nhìn A trưởng trực tiếp làm số 1, thấy anh ta run run, mét mặt căng thẳng quá, thực sự làm tôi rất thất vọng.

Cánh lính trẻ chúng tôi còn non nớt, bước vào chiến đấu chúng tôi thường nhìn lính cũ làm gương.

Ai chẳng mong người chỉ huy, dẫn dắt mình là người lính can đảm, từng trải.

Đến chiều liên lạc đại đội lên báo rút về chân 146 dưới đồng bằng, chúng tôi sướng rơn, ở đồng bằng mọi thứ sẽ khá hơn.

Trên đường về nghe Chương "con" kể mới biết vụ máy bay hồi trưa là nó yểm trợ cho tụi thám báo rút.

Chúng nó cắt rừng về đến 150 bất ngờ đụng quân ta, súng nổ Giáp hy sinh, địch rút qua sông Rào Cáo đến đường nhựa chúng chạy qua tuyến giáp ranh.

Lính c4 mải bắn máy bay không để ý để chúng thoát.

Công cốc, săn mãi không được lại để mất người, ra những chiếc mấy bay xuất hiện chỉ để đánh lạc hường chúng tôi.

Về 146, tôi gặp anh em Hà Nội mới biết anh Nhân hy sinh chỉ sau khi tôi đi mấy ngày.

Mọi người khỏe lại thì anh bắt đầu sốt, nhưng anh vẫn cố đi lấy một chuyến gạo, về đến chốt thì kiệt sức.

Anh em chạy về đại đội gọi y tá, thấy anh y tá lác đầu bảo không kịp mất .

Hải kể cho tôi là lúc dìu anh ra cáng, anh bán chặt vai Hải, mắt nhìn lên trời trừng trừng như muốn gửi gắm điều gì đó.

Cáng đi được một quãng thì anh không thở nữa, lúc đó anh vừa sang tuổi 27.

Tháng trước Lại Đức Thía vấp mìn hy sinh, hôm nay đến anh , tiểu đội hồi huấn luyện với nhau về K15 chỉ có ba anh em, thì hai người đã ra đi.

Mấy hôm sau tôi ngược lên ngầm suối Cát, tìm đến nghĩa trang của tiểu đoàn thăm anh Nhân và các đồng đội khác, nhìn hơn chục ngôi mộ mới đỏ tươi màu đất nghĩ mà buồn.

Mới vào Phong Điền chưa đầy tháng , chưa đánh trận nào mà bao người đã ngã xuống.

Nhân, Thía, Ngãi,Tre, Giáp, Thoa, Ấu...Những tấm bia làm băng vỏ thùng lương khô nghiêng ngửa, chẳng có lấy một nén nhang.

GIÁP RANH

Sau vài tháng vào Phong Điền tình hình cũng ổn định dần, trừ khu vực Cổ Bi do K10 chốt giữ là phức tạp vần xảy ra động độ.

Các khu vực khác tương đối yên tĩnh và có vẻ có không khí hòa hợp dân tộc.

Lính tráng hai bên chiến tuyến bắt đầu có những cuộc tiếp xúc, tuyên truyền lẫn nhau.

Bên đối phương cầm đầu là những sĩ quan tâm lý chiến, còn ta là những chính trị viên cùng một vài anh em gốc học sinh, sinh viên hoặc giáo viên.

Tuy nhiên, vẫn có những cuộc tiếp xúc ngoài kịch bản là lính từ hai chiến hào tự phát nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng cũng có trao đổi "hàng hóa".

Đối phương ném sang bao Rubi quân tiếp vụ và nhận lại bao Điện Biên v.v.

Trung đoàn cho làm một cái nhà hòa hợp bằng tranh tám mái, để thỉnh thoảng hai bên gặp gỡ theo tinh thần hiệp định.

Trung đoàn còn tổ chức một vài trận đánh bóng truyền chung có lính hai bên tham gia ở khu vực Thanh Tân , Ồ Ồ.

Chuyện đánh bóng chuyền tôi đã một lần đọc, đăng trên báo QĐND không rõ tác giả là ai nhưng chắc chắn là lính e4 chúng tôi.

Cũng giai đoạn tiếp xúc này, tiểu đoàn tôi có hai vụ chiêu hồi rất đáng tiếc.

Vụ thứ nhất là mấy con bò vừa mang từ hậu cứ cũ ở Vĩnh Linh.

Trước 1972 tiểu đoàn tôi có hậu cứ tại nông trường Quyết Thắng bên bờ bắc Bến Hải, cứ vào đánh đường 9 vài trận lại rút ra củng cố, đúng là "cơm Bắc giặc Nam".

Ở đây đơn vị tăng gia sản xuất, nuôi đủ thứ, trong đó có cả bò.

Khi về Đoàn 4, tiểu đoàn tính đưa bò vào cộng với bò trên cho đơn vị đón Anh hùng định lập trại tăng gia mới.

Chưa kịp làm chuồng và liên hoan, thì mấy cha hậu cần chăn dắt thế nào để bò đi vào bãi mìn chạy sang phía địch.

Nghĩ mà cay, lính tráng đang đói dài, cái ăn đến miệng rồi còn để mất , cống không cho địch cả chục con bò .

Trông thấy địch đứng phưỡn bụng ra chắc vừa xơi thịt bò no say, lính ta tức lên lại tương vài loạt thế là lại đánh nhau.

Vụ thứ hai mới thật sự nghiêm trọng, một trong những đồng hương cùng nhập ngũ với tôi ( thằng T) chạy sang địch.

Tội nặng nữa là trước khi đi đã giết người đồng đội tên Mẫn ( Nam Hà) cùng gác đêm ấy.

Nhìn hiện trường vung vãi, bãi cỏ dập nát và con dao găm bị rơi lại, chúng tôi biết địch có đưa người sang hỗ trợ và Mẫn đã chống cự quyết liệt, bị thương nặng nghe nói đưa về bệnh viện trung ương Huế thì chết.

Sau vụ này, chúng tôi cũng mệt vì nghe tiếng loa của địch và thằng chiêu hồi lải nhải , lính mình nghe loa bực quá đáp lại bằng mấy quả B, thế là lại choảng nhau ì ùng.

Vài hôm căng thẳng, rồi lại thôi, lại ý ới trêu nhau, đổi thuốc này nọ.

Đúng là cái thời nửa đánh nửa không .

BÂY GIỜ CÓ MƠ CŨNG KHÔNG THẤY ĐƯỢC.

Đời lính đâu phải lúc nào cũng gian nan chiến trận, bên cạnh những năm tháng khó khăn ấy tôi tin ở mỗi người lính cũng có những phút giây thơ mộng trước cảnh sắc thiên nhiên trên mỗi miền đất ta qua.

Đành rằng tại cái thời điểm ấy ta chưa cảm nhận hết được vì bên nó còn là cái sống, cái chết, còn là đói cơm thiếu muối.

Cũng chính để tồn tại, vượt qua khó khăn thiếu thốn mà người lính đôi khi có được những hành trình đầy thú vị.

Đó là những chuyến phiêu linh trong những cách rừng Phong Điền một phần nhỏ của đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ để kiếm xâu măng giang, nắm môn thực, những con cá suối thêm vào khẩu phần nghèo nàn trong bữa ăn của lính chiến trường.

Thực tình khi ấy, mỗi lần xách súng vào rừng, xuống khe cải thiện chẳng bao giờ trong tôi có một chút khái niệm về cái đẹp của cảnh vật xung quanh, đang thiếu đói mấy ai mơ mộng.

Nhưng sau mỗi chuyến đi về, rất tự nhiên trong người thảnh thơi thoải mái hơn và càng vui khi về có nhiều rau và cá.

Năm 2002 khi tôi cùng con gái về thăm lại chiến trường cũ, ở vùng đồng bằng giáp ranh thì không ấn tượng gì lắm nhưng ngược lên một đoạn con đường 71 cũ thì khác.

Con gái tôi phải thốt lên :" Chiến trường của Bố ngày xưa đẹp quá !

".

Quả vậy, rừng núi Phong Điền phong phú lắm, phần trước tôi đã kể từng gặp nhiều động vật quí hiếm và có lẽ đến lúc ấy tôi mới chợt nhận ra cái đẹp của nó sau mấy chục năm trời khi tuổi đã xế chiều.

Tôi trêu lại con gái mình rằng :" Hồi ấy mày mà đến được đây xem có thấy đẹp không ...

".

Từ chân điểm cao 146 tôi nhìn lên điểm cao 506 một màu xanh hơn và không còn những thân cây khô trắng của 30 năm trước.

Ngày trước, từ 146 nơi C bộ đóng quân lên đỉnh 506 chúng tôi phải đi mất một ngày đường.

Để lên đó chúng tôi vượt qua đồi Súng Cối, men theo một khe suối rồi lên theo sườn tây nam điểm cao.

Rời khe suối phải đi thêm gần 2 tiếng mới lên tới đỉnh.

Hàng ngày, một trong ba chúng tôi phải thay nhau xuống khe suối này tắm, xong rồi cõng một gùi nước 36 lít = 6 mũ sắt Mỹ lên đến đỉnh là nắng đã chiếu thẳng đỉnh đầu.

Đỉnh 506 khô cằn chỉ có lau lách và cỏ tranh, chúng tôi trồng gì cũng không sống nổi vì nắng và gió quá mạnh nhưng các triền núi quanh nó cây cối rậm rì ngày nào cũng nghe tiếng kêu lũ vượn và muôn loài thú khác.

Lật sang bên sườn tây bắc 506, tụt xuống chân điểm cao là khe Mễ, một nhánh chính cung cấp nước cho dòng sông Ô Lâu.

Khe Mễ ( bây giờ người ta gọi là khe Me) là một con suối lớn, hai bên bờ có nhiều vách núi dựng đứng và cũng có những vạt đất rộng mấp mé mép nước cây cối quanh năm xanh tốt.

Lòng suối có chỗ trải rộng hiền hòa, có chỗ gập ghềnh thác trắng, có nhiều hang hờm nên cũng rất đa dạng các loại cá.

Tôi đã nhiều lần lang thang cả ngày ngược lên thượng nguồn khe Mễ để kiếm cá.

Mỗi lần như thế chúng thường chuẩn bị khoảng chục quả thủ pháo tự tạo, cơm nắm và chừng nửa ký muối dùng để ướp cá .

Sau 3 tiếng luồn rừng từ trên đỉnh xuống đến khe, chúng tôi tranh thủ giặt quần áo và phơi trên một cái giá phơi cực kỳ đặc biệt, đó là một cặp sừng hươu rất to và đẹp, nó to hơn nhiều những cặp sừng tôi gặp ở một số nhà đại gia thường trưng trong các phòng khách (nhưng khi đó với chúng tôi chẳng có ý nghĩa gì ngoài việc làm chức năng cái dây phơi).Bỏ lại những đồ chưa dùng đến, hai thằng xách theo khẩu AK, mình trần ngược dòng nước vừa đi vừa tắm và chọn tìm những vũng đánh mìn.

Những tiếng nổ trầm nặng của thủ pháo dội lên vang qua các vách núi rồi cũng chìm nhanh vào tĩnh lặng giữa không gian rộng lớn của núi rừng.

Hai thằng lính trơ trọi lúc trong ghềng thác, lúc giữa hồ lặng nước trong xanh in bóng mây trời.

Cười sướng, cuống quýt khi cá nổi trắng suối và buồn thiu khi chỉ thấy tăm nước sủi sau những tiếng nổ.

Nhưng thường chúng tôi chỉ đánh vài ba quả đầy gùi cá là về vì có đánh nhiều cũng chả có cách nào sử lý được.

Quay về điểm xuất phát nơi phơi quần áo, làm cá, ướp muối gói ghém đâu đấy và bắt đầu bữa cơm nắm với những chú cá nướng chấm với muối ớt bên dòng suối trong mát giữa trưa hè rát bỏng...

Tôi đã nhiều lần muốn tìm về để một lần được rong ruổi , được "về trẻ" với những cánh rừng, dòng suối năm nao mà bất lực.

Rất nhiều lý do để điều đó không bao giờ trở lại, có chăng chỉ gợi cho ta nhớ về một thời đã qua.

Hè năm ngoái tôi đã tổ chức một Tour cho hai ông lính cậu từ nước ngoài về biết thế nào là Trường Sơn.Trước khi đi tôi ra ga sắm cho mỗi chú một bộ đồ trận cho lính ra lính.

Sau chuyến đi, hai ông cháu thế hệ 8x đã khoái lắm rồi, chúng bảo chưa bao giờ có được chuyến đi như thế.

Còn với tôi, chưa thể nào ưng ý, muốn được như ngày ấy BÂY GIỜ CÓ MƠ CŨNG KHÔNG THẤY ĐƯỢC

CHUYỆN LIÊN LẠC VÀ ANH NUÔI

Đại đội huấn luyện chúng tôi đi B khác với thường lệ, chúng tôi được lệnh lên xe bịt bạt kín, chạy suốt một đêm, đến sáng thì vào đến Yên Mô Ninh Bình, nơi sư đoàn bộ sư đoàn 312B đóng quân.

Sư đoàn đặc biệt này được thành lập đâu như tháng 7/1972 và giải thể tháng 1/1973.

Đến bây giờ rất nhiều người không biết về sự hình thành của nó và nhiệm vụ của nó khi ấy.

Biên chế của sư đoàn chỉ có 3 tiểu đoàn mỗi tiểu đoàn trên 500 quân và các đơn vị trực thuộc nhưng được trang bị mạnh.

Trừ tiểu đoàn 38 là đơn vị chiến đấu của quân khu tả ngạn, còn lại các đơn vị khác đều là những học viên các trường sĩ quan, họ đều đã trai qua chiến đấu.

Ví như dụ như có đại đội hóa học không biết làm gì, nhưng có 1 trung đội súng phun lửa.

Đại đội 24 quân y thì có vài ông bác sĩ nguyên là giáo sư của trường đại học quân y, lính toàn sinh viên quân y năm thứ 3, thứ 4.

Với quân số như vậy f312B so với các sư đoàn của ta sau nhiều ngày chiến đấu ở Quảng Trị thì đúng f312B là một đơn vị rất mạnh.

Bởi thế mỗi bước đi của sư đoàn đều có chỉ huy trực tiếp của bộ tổng tham mưu cũng như sự săn lùng của đối phương, từ Hà Tĩnh trở vào B52 đánh vút đuôi đội hình đơn vị liên tục.

Đặc biệt thế nên số tân binh bọn tôi bổ xung về đã có sẵn chức danh là anh nuôi và liên lạc.

Một tuần làm Liên lạc đại đội

Tôi cùng thằng Phong Khuâm Thiên về đại đội 36, tiểu đoàn 130, trung đoàn 165, sư 312B làm liên lạc đại đội.

Tôi đi với thượng úy Đại đội trưởng Lập, thằng Phong đi với thượng úy Nhẫn chính trị viên.

Nhận quân trang mới nhiều thứ quá , mũ cối,mũ tai bèo ,Hăng gô, túi cứu thương,dao găm, tăng,võng,xẻng bộ binh..Một khẩu AK Tiệp mới tinh cùng 300 viên đạn, hai quả lựu đạn.

Tôi chưa bao giờ thấy mình giầu thế.

Cả đơn vị đang chuẩn bị diễn tập, chưa hình dung ra điều gì, thì hôm sau được lệnh đi trinh sát cùng đại đội trưởng .Chúng tôi hành quân đến hơn hai chục cây số , đến nông trường Hà Trung.

Các cán bộ và lính trinh sát phân tích địa hình, xác định điểm tập kết từng đơn vị ,vv..Tôi đi theo nghe câu được, câu chăng như người thừa .

Đợt trinh sát suốt một ngày một đêm, sáng ra mới về đến đơn vị , mệt nhoài.

Cứ nghĩ mình được được nghỉ vài hôm mới bắt đầu "đánh", ai ngờ ngay chiều hôm ấy , cả đơn vị xuất kích .

Tôi nghe lính cũ bàn nhau về chiến thuật là đánh bôn tập, hành quân vào tuyến tiếp xúc là đánh luôn.

Lại hành quân suốt trong đêm.

Lại còn tình huống "địch" nống ra, phải đi vòng thêm mấy cây số nữa.

Đến vị trí tập kết , đã thấy "pháo " nổ ầm ầm trên các điểm cao.

Sở chỉ huy rộ lên các tình huống , máy vô tuyến 2W, điện thoại làm việc liên tục.

Tập trận mà cứ như đánh nhau thật.

Từ đài qua sát tôi thấy địa hình nông trường Hà Trung nó giống với địa hình ở Điện Biên Phủ, có chăng là nhỏ hơn chút xúi.

Cuối cùng đến lượt tôi , C trưởng chỉ cho tôi ngọn đồi phía xa xa :" Cậu báo cho trung đội 1 nhanh chóng chiếm lĩnh điểm cao X, là điểm cáo phía trước mặt đó..", theo tay chỉ cũng lại một ngọn đồi xa xa nữa.

Tôi chạy băng băng về hướng ngọn đồi đầu tiên, lên đến nơi chả thấy ma nào ( không biết có phải là ngọn đồi đó không ).

Khi ấy , tôi chẳng xác định được đồi nào với đồi nào cả.

Tôi chạy quay lại về chỗ cũ, không thấy mọi người đâu, sở chỉ huy đã rời đi , thế là lạc.

Nhìn lên dãy đồi xa thấy lính mình lố nhố trên đỉnh đồi nhưng không biết có phải lính C mình không, dưới lòng chảo có mấy cái nhà ngói, tò mò đi xuống.

Nhà trống rỗng nhưng sạch sẽ, có giếng nước trong mát.

Tôi tranh thủ nghỉ và rửa mặt, làm gọn nửa phong lương khô.

Tiếp tục đi lên hướng đồi lúc đầu có "pháo" nổ, hy vọng tìm được họ, tôi gặp Thanh, Đạt đều lính mới như tôi.

Hỏi ra thì chúng nó cũng như mình, đang lạc đơn vị.

Mãi đến gần trưa tôi mới tìm về được đại đội.

Thấy ban chỉ huy đang hội ý chọn chỗ nghỉ cho anh em, tôi góp ý :" Ở dưới lòng chảo có nhà và giếng mát lắm, các thủ trưởng cho bộ đội nghỉ đấy thì tuyệt."

C phó Đạo nhìn tôi cười và nói :" Chỉ được cái tham mưu con ".

Không ngờ chừng nửa tiếng sau, một tốp F4 nó đến thật, chỉ trong 10 phút , mấy ngồi nhà tan biến , thay vào đó là những hố bom xám ngoét.

Tôi vô cùng kinh hoàng nhưng bái phục các anh chỉ huy của mình.

Sau đợt diễn tập, đám lính trẻ chúng tôi chuyển xuống làm anh nuôi hết , các liên lạc mới lại phải lấy lính cũ.

Mới tập trận thôi mà tôi cùng cán bộ C và trinh sát thức trắng 3 đêm hành quân liên tục người mệt rã ra, chưa biết vào trận thật có làm nổi không, may mà các xếp cũng sáng suốt chuyển đám lính mới chúng tôi xuống làm anh nuôi.

Làm anh nuôi tôi được trang bị thêm 2 nồi 20 cùng 1 con dao tông nữa và bắt đầu lên đường đi B.

Lễ xuất quân, cả đại đội tập trung hàng ngũ chỉnh tề nghe CTV đọc thư của Phó tổng Tham Mưu Trưởng Vương Thừa Vũ.

Đến hôm nay tôi cũng chưa rõ gọi nó là gì nhưng nội dung tôi nghe như mệnh lệnh chiến đấu.

Tôi vẫn nhớ mang máng một câu :"...

Cho dù phía trước là vực sâu hay núi cao..."

Nghe khí thế lắm, nó như những hình ảnh tôi thấy trong phim tài liệu về chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 khi cấp trên trao cờ cho các đơn vị thọc sâu của quân đoàn 2 và quân đoàn 4 trước khi tiến vào Sài Gòn.

Chỉ khác thời điếm đó chúng ta đang rất khó khăn trên các chiến trường.

Chúng tôi hành quân bộ chừng hơn tiếng đồng hồ thì ra tới đường số 1, một đoàn xe dài nối nhau đã chờ trên đường.

Trung đội tôi ngồi gọn trên một chiếc Zin 3 cầu, hơn ba chục con người được chen chúc, ba lô làm ghế súng để trước mặt, người dựa vào nhau.

Đoàn xe chạy chậm trong đêm, trong ánh đèn gầm sáng mờ phía trước.

Xa xa, tiếng máy báy ì ầm , pháo sáng chập chờn , lúc sáng rực lúc ảo mù như ánh trăng.

Xe chạy được khoảng 2 tiếng thì dừng lại chờ vượt sông bằng cầu phao.

Cả đoàn xe nằm rải dọc bên đường chờ lệnh .

Xe chúng tôi nhích dần, nhích dần về đầu cầu, những chiếc xe ngược chiều xộc xệch, trống rỗng.

Tiếng hò hét, tiếng xe cộ gầm rú, ánh đèn pin loang loáng, không khí thật căng thẳng.

Tôi ngồi im trên xe, quan sát các hoạt động của đầu cầu trọng điểm, thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời chập trờn pháo sáng...Xe chúng tôi từ từ bò xuống cầu phao theo sự điều khiển của một cô gái.

Cô đội chiếc mũ sắt giống như lính cao xạ, mình choàng chiếc dù hoa, tay cầm cờ đuôi nheo, vẫy vẫy cho xe bám vào mép cầu đập dình .Dáng cô đĩnh đạc, dứt khoát.

Xe lướt ngang qua cô gái, mấy ông lính từng trải buông vài lời chòng ghẹo.

Còn tôi, người lính trẻ, lần đầu vượt trọng điểm, nỗi sợ phần nào được trấn tĩnh khi nhìn cô gái đĩnh đạc, gan góc đó.

Cảm phục !

Không nói nên lời.

Sau này, mỗi lần đi đâu qua Thanh Hóa, đến Đò Lèn tôi thường dừng lại, nghỉ hút điếu thuốc và uống cốc nước dừa.

Ngắm nhìn tượng đài ghi công những Anh Hùng giao thông ngay đầu cầu, tượng đài bằng đá thật uy nghi , hoành tráng ...Riêng tôi, hình bóng người con gái, đầu đội mũ sắt, tay giơ cao lá cờ nhỏ chỉ đường cho xe qua, chiếc khăn dù bay bay, chập chờn giữa trời đêm năm ấy thì chẳng tượng đài nào sánh nổi...

Đoàn xe tiếp tục lao về phía Nam, trong đêm tối đi qua những đâu , tôi cũng chẳng biết được.

Chỉ khi cả đơn vị xuống xe để vượt sông bằng đò, tôi mới biết là mình đã đến sông Mã.

Cầu Hàm Rồng một trong điểm ác liệt nổi tiếng bị bị bom Mỹ đánh gẫy từ những ngày đầu chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc.

Chúng tôi phải xuôi theo dòng sông Mã đến một bến đò cách không xa cây cầu cũ.

Không khí qua đò nhộn nhịp, đông vui ,không căng thẳng như ở các trọng điểm.

Đưa chúng tôi qua sông đủ loại đò, to có, nhỏ có.

Lái đò cũng đủ mọi lứa tuổi, có cả những em thiêu niên nhưng đa phần là các cụ và phụ nữ.

Hò ơ ...ơ hò ..

Đâu đó những giọng hò cất lên từ những cô gái xứ Thanh tinh nghịch .

Lính ta đáp trả cũng láu lỉnh, làm cả bến đò rộn vui, như nơi đây chẳng hề có bom đạn.Tôi rất thích điệu hò đối đáp này của người dân xứ Thanh, giai điệu đơn giản và lời nếu ai nhanh trí có thể tự bịa ra được.

Tiếng hỏi thăm, trêu đùa nhau tíu tít, đò nào có những cô gái trẻ thì đầy ắp tiếng cười.

Sang đến bờ Nam trời đã gần sáng.

Chúng tôi đi xuyên qua thị xã Thanh Hóa lên Triệu Sơn, nơi bắt đầu con đường 15.

Thị xã ngổn ngang, tĩnh lặng gần như không có dân, nhà cửa đổ nát nhiều quá .

Nhà ga thị xã bị bom Mỹ đánh nát, đường ray bật lên cong queo, những toa xe , đầu máy lật nghiêng.

Tôi có cảm giác như một thành phố chết, không một bóng người, hoang vắng đến lạnh người.

Chúng tôi lầm lũi bước qua cảnh đổ nát ngược lên phía Tây thị xã.

Đơn vị nghỉ tại một làng nhỏ ria thị xã, lính cũ bảo đây là "rừng thông "địa danh là thế nhưng tôi chẳng thấy cây thông nào.

Đơn vị tỏa vào trong làng trú trong các nhà dân.

Nhận nhà xong, tôi được phân công lo bữa ăn trưa cho anh em còn thằng Thìn đen sẽ nấu bữa chiều.

Ngày đầu làm anh nuôi thực thụ cũng chưa có gì vất vả, chủ nhà sai con cháu hướng dẫn, giúp tôi rất nhiều, trung đội cũng cử người xuống phụ thêm nên rất nhanh tôi đã chuẩn bị xong bữa trưa , chia chác đâu đấy là mắc võng ngủ.

Dù sao cũng phải ngủ sau các đồng đội vì mình là anh nuôi.

Các bác bảo sướng cái nỗi gì.

Hai ngày tiếp theo chúng tôi vẫn được đi bằng ôtô đến Nam Đàn, bắt đầu chặng đường đi bộ theo đường giao liên của 559.

Hành quân mùa mưa thật vất vả, làm anh nuôi càng cất vả hơn.

Cứ sau mỗi ngày hành quân lính tráng mắc võng nằm nghỉ, thì tôi lại là lúc bắt đầu công việc của mình.

Cũng có vài người được cử xuống giúp anh nuôi, làm một số việc như lấy củi, đào bếp Hoàng Cầm .

Việc cắt đặt , phân công ấy, những người lính bình thường cũng còn có lúc nghỉ ngơi, còn anh nuôi ngay mô cũng rứa, lại lo ba bữa cơm cho đơn vị..

Thường cứ sau bữa cơm chiều, tôi phải tiếp tục nấu một nồi cơm to nữa, để nắm thành mấy chục nắm cơm cho bữa trưa trên đường hành quân ngày hôm sau.

Sáng ra, chia cơm xong, ăn vội ăn vàng ,thu dọn nồi niêu xong thì đơn vị đã hành quân ra đến đầu làng.

Úp vội 2 cái nồi vào ba lô rồi vác súng là đuổi theo đơn vị.

Củi lửa trong mùa hành quân mưa cũng là một vấn đề.

Qua những binh trạm được đóng trong nhà dân thì không phải lo, binh trạm phát cho đơn vị những phiếu củi, lính ta chỉ việc dùng củi do dân kiếm sẵn từ trước và đưa phiếu củi cho dân.

Binh trạm sẽ thanh toán với họ.

Bếp sẵn, củi khô, khéo dân vận có các Mạ, các O xúm vào giúp vừa nhàn vừa vui.

Nhớ lần đóng quân ở Tuyên Hóa Quảng Bình cả chục ngày liền, sáng nào tôi cũng phải dạy sớm nấu cơm.

Cô con gái bác chủ nhà hay dạy sớm cũng lo chuyện bếp nước cho gia đình.

Hai đứa cùng ngồi bên bếp, lứa đấy, rơm đấy, cơm sôi sùng sục vui đáo để nhưng mà chuyện này kể khó lắm, các bác thông cảm bởi nó không phải việc của anh nuôi, lạc đề mất...

Ở những trạm giữa rừng mới cực, bếp Hoàng Cầm cũ lúc nào cũng có nhưng vẫn phải sửa sang chút ít mới dùng được.

Binh trạm trong rừng, quân ra quân vào hàng ngày bãi khách nhãn lì, kiếm bổ xung cái cọc phụ còn khó huống chi củi, phải đi khá xa mới có củi.

Nhiều khi phải dẽo săng lẻ, khoang tàu để nấu cơm khi mưa, loại cây này dễ cháy nhưng ban đầu cũng cần mồi cho có nhiệt, củi xe xe mới cháy được.

Vậy nên đi đường gặp bất cứ mảnh cao su nào lính vứt là tôi lượm, thủ túi cóc, dùng để nhóm bếp dần.

Nói vậy thôi, tôi cũng được anh em giúp rất nhiều, họ hướng dẫn tôi rất nhiều.

Thường anh em hay mắc sẵn tăng võng cho tôi xong việc là chui vô ngủ.

Những ngày ấy tôi cũng phải cố gắng ghê gớm để theo được lớp lính đàn anh.

Nhiều đêm hành quân mệt rũ nhưng chân vẫn đi, trong cái hàng quân ấy, tôi như bị cuốn theo nhịp di của họ, nhiều lúc đi như mộng du và không cảm giác.

Một lần trên đất Hà Tĩnh, cũng hành quân trong đêm mưa, cũng trong trạng thái vừa đi vừa ngủ.

Khi đi qua một bờ mương, tôi trượt chân ngã.

Như một cái máy, tôi đứng dậy đi tiếp không hề có cảm giác gì sau cú ngã.Tôi bám theo đoàn quân, mải miết đi, người mệt rũ .

Áng chừng cũng sắp đến nơi, vô tình sờ vào bụng , thấy thắt lưng to* bung ra lúc nào không hay.

Nắn quanh người, bi đông,lựu đạn các thứ đều còn , riêng dao găm không thấy.

Tôi buột miệng kêu :" Tôi mất dao găm rồi!

".

Đúng lúc ấy, tiểu đoàn phó Phong đi ngang, Ông đi đến chỗ tôi, hỏi giọng

nghiêm khắc:" Đồng chí mất dao găm phải không?

Làm sao lại để mất ?"

_Tôi..tôi không biết mất lúc nào?

Chắc rơi trên đường...Tôi lắp bắp.

Vị Tiểu Đoàn phó gọi ngay B trưởng của tôi đến, ra lệnh :" Cho đồng chí ấy quay lại, tìm bằng được!!!

".

Trung đội trưởng của tôi đứng thẳng người, hô :"Rõ!".

Khi vị tiểu Đoàn phó đi khỏi, B trưởng quay sang nói với tôi :" Cậu chịu khó quay lại tìm nhé" giọng anh nhỏ nhẹ .

Cả trung đội nhìn tôi thương lắm, cả một đêm hành quân, sắp đến chỗ nghỉ lại phải quay lại.

Biết rơi chỗ nào mà tìm . . lại lính mới nữa..

Có người nói : " dại thế ! sao lại kêu lên để ông ấy biết".

Anh Diệu , người từng bắt sống thiếu tá Đức (trưởng ban tác chiến lữ dù 3) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào, thì thào :" Hành quân cả đêm mệt rồi, cứ về nghỉ , con dao là cái Đ.. gì, vào đó tao kiếm lại cho "

"Không được, cậu phải quay lại, Đãi đi với cậu ấy".Trung đội trưởng nói dứt khoát.Tôi không còn cách nào khác, phải quay lại nhưng thầm cảm ơn B trưởng, đã không để tôi đi một mình giữa đêm mưa khuya khoắt.

Chả là sư đoàn tôi hành quân vào mùa mưa, có đơn vị khi vượt sông, vượt suối bị trôi mất súng.

Riêng trung đoàn tôi( toàn học viên SQLQ) lính đều đã từng đi vài chiến dịch sau hơn một năm học và rèn tại trường càng thêm từng trải.

Lính tráng luôn tự hào là "anh cả đỏ" của sư đoàn nên việc có một người lính làm mất vũ khí là điều các cấp chỉ huy không thể chấp nhận.

Tôi và anh Đãi ( trung đội phó) lặng lẽ quay lại.

Đi bên người lính dày dạn , từng trải tôi rất yên tâm nhưng lòng áy náy quá .

Tại mình làm anh ấy vất vả thêm ,lẽ ra giờ này anh sắp được nghỉ ngơi.

Hai anh em đi được chừng nửa tiếng , thấy bên đường có căn nhà nhỏ, tôi chỉ vào nói với anh :" anh nghỉ tạm ở đây, để mình em đi cũng được ".

Trời tối om, Anh và tôi mò mẫm đặt ba lô nơi hiên nhà , bên trong chủ nhà chắc đang say giấc , anh bảo :" đi thêm ít nữa không thấy thì quay lại, đừng cố, anh đợi ở đây "

Khoác khẩu AK tôi đi tiếp, ngược lại đường hành quân.Trời vẫn mưa, tiếng ếch nhái, côn trùng lúc rộ lên, lúc tắt lịm trong đêm tối âm u.Gió rít lạnh, tôi lầm lũi ,âm thầm bước đi.Con đường sẫm mờ , loang loáng những vũng nước đọng trên nó, tôi cứ lướt ào qua , không cần biết nông sâu.

Lúc này thì tôi không thể gà gật được nữa , mắt chăm chú quan sát mặt đường,tai lắng nghe từng động tĩnh nhỏ.

Mải miết, cũng chẳng nhớ đi được bao xa nữa.

Khi đến bờ mương, con dao găm vẫn nằm đó.

Tôi ngồi xụp xuống, rưng rưng nắm chặt , sung sướng hơn được quà ngày bé.

Mưa vẫn rơi không ngớt, sống mũi cay cay, tôi biết mình đã khóc, nước mưa tạt vào tràn chảy khắp mặt, làm tôi không còn nhận thấy vị mặn của nước mắt mình.

Đúng là tôi đã khóc, vì những vất vả gian nan của đời lính và cũng vì tôi thấy mình đã dần vượt lên nó , từng trải hơn mỗi ngày.

Đường quay về như sáng hơn ra trước mắt, tôi bước đi nhe nhõm.

Con dao thô kệch, xấu xí mà hôm nay làm tôi cực thế.

Tôi bỗng lại nhớ mấy thằng bạn mình.Ngày bé chúng tôi mê dao găm lắm, tôi có một con tự tạo do một đàn anh tặng.Thằng bạn thân còn có một con đẹp hơn, nó rất đa năng,có thể làm cưa,làm kìm và mở được đồ hộp...Hình như nó nẫng của ông già thì phải.

Ông già nó là tướng trận mạc, chiến dịch nào cũng đi.

Con dao của ông đẹp thế mà mất, chẳng biết ông tìm lại được không?

Nghe đâu có lần ông lên tận trường, lục soát ba lô thằng con nghịch nghợm của mình, để tìm con dao .

Con dao đối với người lính, quan trọng thế sao?

Còn khi ấy, chúng tôi mê dao cũng chỉ để mỗi lần đi chơi dắt theo , làm le với đám bạn bè và hù dọa lũ con trai ngoài phố .Giờ mỗi thằng mỗi nơi, nghe đâu giờ nó là lính đảo, lính biển gì đó.

Chắc cũng bị "hành" cho no bụng nước, rèn đến mặn cả người chứ kém gì.

Để làm người lính thực thụ, thật không dễ...

Anh Đãi đón tôi vào hiên nhà ngồi nghỉ, bóc phong lương khô, anh đưa tôi .

Dựa lưng vào ba lô, tôi nhâm nhi thanh lương khô, mắt thiu thiu ngủ. . .Khi mở mắt, mưa đã ngớt, trời đã rạng , thanh lương khô vẫn nằm trên tay.

Nhìn thấy xung quanh toàn quan tài, rùng mình, đêm qua trời tối quá chúng tôi không nhận ra được những khối lù lù ấy là gì.

Giờ mới biết, thấy hơi ghê ghê những mọi chuyện đã qua.Tôi ăn tiếp thanh lương khô , rồi lại lên đường.

Gần trưa, chúng tôi mới tìm thấy đơn vị, đến đầu làng, Đại đội trưởng Lập đang đứng ngắm dòng sông .

Thấy anh em tôi về muộn ,Ông hơi ngạc nhiên , khi biết chuyện , Ông cười vỗ vai tôi và nói:" con dao là đôi tay người lính đấy, vào trong kia không thể thiếu nó được".Tôi thoáng vui trở lại, Ông lại tiếp tục ngắm con sông dục ngầu bởi mưa nguồn, tôi tò mò hỏi sông gì, ông bảo " sông Ngàn Sâu đó".

Nhớ mãi!

TÂM LINH LỒNG NỖI NHỚ

Sáng thứ 7, đang ngồi viết bài về 27/7 cho uttroi thì có điện thoại của anh em đồng đội cũ (Trị Thiên) kêu đi thăm các gia đình liệt sĩ.Thường thì chúng tôi vẫn phân công theo khu vực, nhưng có hai gia đình mãi gần đấy chúng tôi mới tìm được ( giống trường hợp của Đặng Đình Kỳ và Nguyễn Đức Thảo).

Khi đến nhà liệt sĩ Nguyễn Văn Minh c5, ngồi nghe bà mẹ kể những điều bà thấy trong mộng làm tôi cực kỳ ấn tượng.

Bà kể một đêm mùa đông,trời tối đen, gió rét lạnh, năm ấy là 1974 , tự nhiên bà nghe tiếng gõ cửa , choàng dạy bà nghĩ :" Hình như Minh nó về ".Ra mở cửa lại chẳng thấy ai.

Suốt đêm hai , ba lần như thế, bà đều ra mà chẳng thấy ai.

Vào giường ngủ thiếp đi bà mơ thấy con trai về, trông thấy con gày xanh, bà hỏi :" Con bị thương à "

Vâng, con bị vào mạng sườn, nhưng mẹ yên tâm, đơn vị không bắt con làm việc nặng đâu _Minh trả lời và đưa tay xoa vai bà rồi đi mất.

Bà tỉnh dạy thì gối ướt đầm.

Hôm sau bà lên khu đội hỏi về con mình.

Họ bảo bà nghĩ lung tung và đuổi bà về.

Chẳng có lý gì để ở lại, bà đành phải về, linh cảm cho bà biết có điều chẳng lành nhưng bà không đủ can đảm để biết thêm nữa.

Về nhà chồng bà trách :" bà chỉ được cái mau nước mắt, hơi tí là xụt xùi".

Thằng Minh con bà đi B đã hai năm rồi, trước lúc đi B nó còn gửi cho bà 42 đồng , nó bảo " 20 đồng mẹ cho con lúc lên đơn vị, còn 22 đồng là hơn hai tháng phụ cấp con chẳng tiêu gì.

Con gửi về cho mẹ và em, trong này không dùng đến".

Bà nghĩ mà chảy nước mắt, nhà nghèo quá, Minh nó thương bà.

Bà bảo :" Thế mà ngày đi bộ đội nó còn chanh nhau với em con dao con díp...

Mấy hôm sau bà đến cơ quan, thấy mọi người cư xử là lạ ,bà chả hiểu thế nào cả?

Nghe mấy đứa cùng phòng rì rầm bàn tán chuyện đi B, chuyện hy sinh khi bà đi qua thì họ lại im thít.

Không chịu được bà lôi con Thanh ra một góc, bắt nó phải nói có chuyện gì?

Con bé sợ quá buộc phải nói thật :" Cô ơi, hôm nọ có anh bộ đội về nói, Minh nhà mình hy sinh rồi . ."

Chưa hết câu nó khóc nức nở, vừa khóc nó vừa nói :" Cô đừng khóc, bác giám đốc mà biết thì cháu bị đuổi việc mất ..."

Bà cũng chỉ nghe được có thế . .

Ra viện bà được cơ quan cho nghỉ mấy ngày.

Ông cũng xin nghỉ ,suốt ngày bên bà.

Bà bảo :" sao mấy đứa bạn thằng Minh không về nhà mà lại đến cơ quan báo nhỉ?".

Ông kéo bà vào lòng , bà thấy người ông rung lên ...Ông bảo :" Đừng trách chúng nó, tội nghiệp ,chúng nó ở trong đó đói khổ , vào sống ra chết , nay ra được đến đây đừng bắt chúng nó phải làm cái việc này nữa ".

Nước mắt bà lại chảy , bà nghĩ thương chúng nó quá, những đồng đội của Minh, cả mấy đứa con gái cơ quan bà như con Thanh, con Hà ...

Bà lại sinh con, với con bé, anh nó là tấm hình chú bộ đôi lồng trong khung kính cùng tấm bằng "Tổ quốc ghi công" trên tường.

Bà kể :

_ Tưởng là Minh nó không biết, thế mà nó vẫn biết.

Hôm gọi hồn nó cứ đòi gặp em.

Nó chỉ em nó nấp sau cánh cửa kia kìa.

Nó còn nói nó về mấy lần cả nhà không biết , lúc là con chim cứ lao vào cái bằng tổ quốc nghi công, lúc là con thằn lằn mắt sáng rực nơi bể nước...Rồi bạn gái con về mà mẹ chẳng cho vào...

Năm ngoái tìm được mộ nó ở nghĩa trang Hương Điền, cả nhà định đưa nó về, nó bảo :" Con không về đâu, ở trong này vui lắm, con có nhiều bạn.

Con có vợ rồi, cô ấy là Xuân Hoa , du kích hy sinh trước con gần một năm.

27/7 mẹ làm cơm thì gọi cả Hoa về nữa nhé ..."

Vì thế bà không mang Minh về nữa, chỉ sửa sang lại phần mộ cho nó...

Chúng tôi ngồi lặng nghe bà kể, khi ra về mới hỏi nhau ngày đó đứa nào biết o Hoa không?

Các bạn tôi bảo ngày đó có o Hoa ở Quảng Điền nhưng không dám chắc ...Đơn vị tôi ở Hòa Mỹ chung với du kích và cơ quan huyện Quảng Điền .Tôi thì biết mấy o Tiệm,Đào,Phương,Điệp làm bên địch vận ,hồi đó chúng tôi gọi là " Thiên nga Việt Cộng" .Ngày 12/3/1975 Tiệm, Đào và Phương hy sinh dưới đồng bằng (Q21) cùng với rất nhiều đông đội K15 của chúng tôi.

Nếu có Xuân Hoa ở Quảng Điền thật thì quả là Minh thiêng quá.

Minh hy sinh ngày 26/12/1974 khi đi cải thiện cho anh em bị vấp mìn, thằng Lợi đi cùng Minh hôm đó hôm nay chỉ ngồi khóc, nó bảo :" Minh tự dành lấy cái chết thay cho nó..."

Chuyện ghi lại khi thăm nhà các liệt sĩ của Trung Đoàn Phong Quảng

26/7/2008

Tháng 8 / 2008 tôi lại vào Huế, lên nghĩa trang Hương Điền thắp hương cho Minh và các đồng đội.

Mộ Minh không nằm cùng anh em Trung Đoàn mà nằm tận rìa nghĩa trang.

Tôi để ý tìm khắp xem có liệt sĩ nào là Xuân Hoa không, nhưng không thấy.

Không biết cô ấy có trong số những ngôi mộ vô danh kia không?.

Về Huế tôi ghi lại và nhờ một người bạn ở Huế hỏi thăm anh em Quảng Điền cũ xem có ai là Xuân Hoa thì báo cho tôi.

Đến hôm nay vẫn chưa có tin gì.

Năm nay, 27/7 này tôi không về đựợc Trị Thiên , ghi lại mấy dòng thay cho nén nhang gởi các đồng đội tôi đã không về.

NHỮNG MẨU CHUYỆN NHỎ TRONG CHIẾN TRƯỜNG.

Chúng tôi chiếm lại 61 thật nhanh gọn, bộ binh đánh rất giỏi và bắt sống 8 tù binh ( toàn bọn thủy quân lục chiến).

Suốt quá trình diễn ra trận đánh, tiểu đội trưởng của chúng tôi không hề có mặt tại trận địa .

Anh ta chỉ ngồi trong cái hầm mé sau đồi cùng anh y tá.

Vậy mà mấy hôm sau về đại đội tôi lại gặp chuyện.

Sau khi tái chiếm 61, tiểu đội trưởng có về đại đội, chẳng biết báo cáo những gì...Đến lượt tôi khi về đại đội lấy thực phẩm, chia kịp vào lán đã thấy anh Sen chính trị viên hỏi :" Cậu là số 1 mà sao lại để cho Thọ C5 nó bắn " .

Tôi trả lời:" Em bắn mãi tức cả tai, anh em ai thích em cho bắn, có phải bắn máy bay đâu mà cứ phải số 1.

À mà anh nghe ai nói thế?".

Chính trị viên Sen chợt nhận ra điều gì đó, anh bảo :" thôi, thôi, chẳng vấn đề gì".

Thế đấy, tôi hiểu anh Sen đã nhận thấy vai trò của tiểu đội trưởng trong trận đánh này, nếu khi ấy có mặt tiểu đội trưởng ở trận địa thì tôi đâu có làm được điều đó.

Đã thế im mẹ nó đi, đằng này lại còn phản ánh, ta đây !, lòi cái đuôi hèn nhát.

Thực tình, tôi chưa thấy người lính nào tự mình nhận là dũng cảm, bởi đã là con người ai cũng muốn sống.

Chiến tranh liên miên suốt mấy thế hệ, những người lính ngày ấy ra đi đều xác địch có thể không trở về.

Trong những ngày tháng gian khổ ấy, giữa cái sống và chết chúng tôi mỗi người lính phải hàng ngày, từng giây,từng phút đấu tranh vượt qua nó để trụ lại.

Trong chúng tôi không phải ai cũng vượt qua đươc, có người tự thương, có người đảo ngũ nhưng tôi không coi họ là những kẻ hèn nhát, dù họ có lỗi.

Bởi trong họ , trước đó có những người đã chiến đấu rất anh dũng.

Thường thì trong ác liệt, gian khó bằng bản năng tự nhiên , người lính biết tự bảo vệ mình và chia sẻ với đồng đội.

Lúc ấy họ chấp nhập , hành động để dành lại cuộc sống bằng cái chết anh dũng.

Đó là những người lính chân chính.

Còn hèn nhát, là những kẻ sợ hãi đến mức không dám phản ứng dù đó là hành động để dành lấy sự sống.

Họ quá thừa trong những trận đánh, trong cuộc sống .

Chúng tôi coi thường và ít để ý đến họ, đã lờ đi cho họ thế mà họ đã đáp lại như vậy đấy.

Thực phẩm ở đại đội hết, đại đội điều tôi đi tận Tam Dần lấy.

Tam Dần là ngã tư đường 15N và đường 71.

Nơi đây có thể gọi là thủ đô của bộ đội Phong Quảng chúng tôi.

Ở đây có các đơn vị hậu bị và các trận địa pháo tầm xa 130.

Có nhiều kho tàng và quân y viện (96).

Có cả một làng nhỏ, rất nhiều trẻ con là con em các cán bộ địa phương ba huyện Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền.

Ở đây cũng tổ chức lớp học, có các cô giáo quản lý các cháu.

Tôi nghỉ một tối ở đây , sống trong khung cảnh đầm ấm như ngày nào được đóng trong nhà dân hồi huấn luyện.

Nghe, nhìn lũ trẻ nô đùa làm tôi lại nhớ đất Bắc xa xôi.

Hôm sau trời mưa to, tôi không về ngay mà tranh thủ vào viện thăm số anh em bị thương ở 61.

Gặp được anh Cấp, thằng Hồng C5, đang ngồi nói chuyện với nhau thì một cô y tá hỏi :" Có anh nào về Phong Điền hôm nay không?" .

Khi biết có tôi về Phong Điền, cô y tá mừng lắm :" cho em gửi một o đi cùng ".

Ngay sau đó đã thấy một cô gái vào lán ,chào hỏi và chờ tôi để cùng lên đường.

Cô gái cùng đi với tôi về Phong Điền thật đẹp, dáng người cao ráo, tôi cứ nghĩ cô là văn công.

Cô mặc bộ bà ba giống như hầu hết các o du kích địa phương ở đây.

Trông cô, không ai nghĩ là vừa từ ngoài Bắc vào vì từ cách buộc gùi, choàng áo mưa rất thành thạo.

Chúng tôi đi xuôi con đường 71 , trời mưa tầm tã.

Mùa mưa ở Trị Thiên thì khỏi nói, mưa thối đất, thối cát.

Hai chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện cho quên đường dài.

Khi biết tôi ở Hà Nội cô gái reo lên :" Em cũng vừa từ Hà Nội vào này !

".

_ Ủa, sao cô nói tiếng Huế ? .

Tôi tò mò hỏi

_ Em ra Hà Nội học mấy năm rồi, nay lại trở lại Phong Điền.

Xa quê lâu rồi nên không hiểu tình hình địch ta dưới đó, không dám đi một mình.

Hèn chi mà tôi thấy cô gái thành thạo thế.

Nhìn cô đi trong mưa ,những lọn tóc bết vào má trông rất hồn nhiên.

Chiến trường đâu chỉ bom với đạn mà còn bao cái gian khó mà người lính phải chịu đựng.

Thôi thì chúng tôi kiếp nam nhi thời loạn đã đành chứ mấy cô gái ở trong này thì cái khó, cái khổ đúng là gấp bội.

Khi biết cô có bạn học ở Chu Văn An, có vợ chồng chị gái sống ở đường Hoàng Hoa Thám và hiện chú cô đang là bí thư huyện Phong Điền.

Tôi hỏi:

_Sao o không ở lại ngoài đó học tiếp đi, vào đây làm chi cho khổ?

Mà tôi thấy ở đây các o khổ lắm.

Cô bảo rằng:" Các anh quê tận miền Bắc còn vào đây được , em quê hương ở đây mà không vào coi răng được".

Đường từ Tam Dần xuống đồng bằng Phong Điền thường chúng tôi đi gần một ngày đường , tuy là đường cho ô tô nhưng mùa mưa nên chẳng thấy một chiếc xe nào, trên đường có nhiều ngầm , có đoạn đường chạy trong lòng suối nên dù choàng áo mưa nhưng người chúng tôi ướt sũng.

Những lúc lội suối chúng tôi phải nắm chặt tay nhau để khỏi bị trược ngã hoặc trôi.

Có một khúc đường gặp một cây to đổ xuống ngáng ngang.

Muốn vượt qua phải đỡ nhau mới trèo qua cây được, mỗi lần như thế da thịt chạm nhau mặt hai đứa đỏ rựng...

Lúc bấy giờ tôi thấy cô đẹp lắm, và cứ lúc lúc tôi trộm ngắm nhìn cô rồi nghĩ vu vơ : chiến trường ác liệt, gian khổ thế vẫn có những người đẹp cùng chung chiến hào, phần nào như được an ủi. không đến nỗi như câu ca trong bài nhạc vang chúng tôi thường rên rỉ :

Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca_Chọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà

.....

Đưng hót như chim trên vũng là sâu, xin thật lòng cho tiếng nói đâu môi.

......

Chúng tôi cùng ăn cơm trong mưa, những lát cơm nắm được cắt từ tay cô gái xếp đều trên chiếc lá rong bứt ven đường.

Nước mưa vẫn hắt vào lấm thấm trên mặt lá, tấm vải mưa nhỏ của thằng lính không che nổi hết trời, ăn trong mưa, trong gió.

Trong hoàn cảnh ấy chẳng thể khác được, cơm lạnh lẫn nước mưa nhưng tôi thấy ấm áp vô cùng.

Tôi có cảm giác như mình đang có tất cả giữa chiến trường ác liệt này người em, người chị và người mẹ.

Rồi lại đi tiếp, lại những câu chuyện vu vơ không dứt , cứ thế chúng tôi cũng vượt qua hết quãng đường dài ấy.

Đến chân 146 thì chú cô, bí thư huyện đã đứng đó đón cô.

Hình như trong Tam Dần đã điện cho ông biết .

Ông và cô gái chào tạm biệt tôi, hai chú cháu, hai người đồng chí đi tiếp về hướng Ô Ồ.

Còn tôi tiếp tục đi về hướng đông, điểm cao 61.

Rồi tôi đi học , về là vào chiến dịch, cho đến hôm này chưa hề gặp lại cô gái ấy.

KHI NGƯỜI LÍNH VỀ

Tháng 8/1977 tao mới được ra quân, sướng !

Cứ nghĩ, về nhà gặp mẹ, gặp cha và các em nghỉ vài hôm rồi xin đi làm một công việc nào đó , ổn ổn rồi lấy cô vợ , một cuộc sống bình yên như từng mơ ước.

Nhưng sự đời thật không đơn giản mày ạ, Ngày đi lính tao vừa tốt nghiệp lớp 9, chưa có nghề nghiệp gì, về nhà cớ ngỡ phường khóm chào đón mình như ngày ra đi.

Nào ngờ, hàng ngày cầm cái quyết định ra quân và giấy giới thiệu của Phường đi khắp nơi xin việc.

Hầu hết là nhận được cái lắc đầu, một vài nơi thương hại thì đồng ý thì bố trí cho làm chân bảo vệ, chán nản tao quay về trả Phường cái giấy giới thiệu.

Mấy ông phường tỏ ý quan tâm ý giới thiệu tao vào làm phụ vặt, chạy loong toong cho mấy hợp tác xã gia công gì gì đó.

Chả lẽ đánh nhau mãi để rồi về làm mấy cái việc này sao, nghĩ mà ức, chẳng thấy tương lai đâu cả ?

Cũng tại mình không nghề, ít chữ...

Nằm nhà hai hôm suy tính có lẽ phải học tiếp để có cái bằng lớp 10 rồi thi trung cấp hay học lấy một cái nghề nào đó, lúc bấy giờ nhiều người đi học công nhân kỹ thuật ở Liên Xô cũ , tao cũng chỉ ước mơ có vậy.

Tao quyết định trở lại đi học, tao nói với mọi người trong nhà việc đi học, tất cả đều chăm chú lắng nghe nhưng không ai có ý kiến gì...Mọi người thương tao không chỉ tao là thằng lính chiến về thiệt thòi về chuyện học hành ( Trong thời gian tao ở lính ba em tao cũng đã lần lượt vào đại học, chú út vừa thi xong đủ điểm học nước ngoài) mà còn tỏ ý ai ngại vì tao đã không hiểu gì hết về xã hội bây giờ và không tin tao học được sau những năm tháng chiến tranh nhưng không ai dám nói ra.

Cậu em sát tao đang học đại học giao thông nhẹ nhàng hỏi :" Anh xem liệu sức mình còn học được không ?

Và anh định học ở đâu bây giờ ?

"

- Ơ cái thằng này hỏi kỳ thế !

Chiến tranh tao đi lính từ trường Hai Bà Trưng thì bây giờ hòa bình tao về lại thì trường phải nhận chứ làm sao.

Không học thì tao làm gì bây giờ đây ?.

Mấy ngày nay đi xin việc đứt lưỡi có ai nhận đâu.

Không ai trả lời cho tao, nhưng tao biết cả nhà thương tao vô cùng, mà không biết làm sao.

Hôm sau tao lẳng lặng cầm tờ quyết định ra quân đến ngôi trường mà cách đây 5 năm tao đã phải rời xa nó để vào Nam chiến đấu.

Hai Bà Trưng, ngôi trường xưa vẫn thế mà giờ sao thấy xa lạ , lạnh lùng.

Học trò cũ đâu còn, các thầy cô thì không thể nhận ra tao trong bộ quần áo lính nhàu nát, khuôn mặt khắc khổ già trước tuổi của mình.

Vào văn phòng tao đưa giấy cho thầy hiệu trưởng và trình bày :" Em là học sinh cũ của trường, đi bộ đội năm 1972 nay được ra quân và xin được học tiếp lớp 10.'

Thầy hiệu trưởng nhìn tao lạ lẫm, phân vân lắm, sau cùng ông cũng nói thẳng là không thể được vì em quá lớn tuổi rồi.

Tao thất vọng trở về nhà, vừa đặt lưng xuống nằm thì thằng Hồng xồng xộc chạy vào, nó la lớn :" Thuấn về rồi đấy à, sao đến bây giờ mới về ?" .

Chúng tao ôm nhau rồi ngồi trò chuyện.

Nó bảo nó bây giờ đang làm phụ xe cho công ty vận tải lương thực, kinh tế cũng khá ( cái thời mà ông tài xế được trọng vọng hơn cả tiến sĩ, giáo sư) , sang năm nó sẽ được đi học lái xe, lúc ấy sẽ khá hơn nhiều.

Nghe tao nói ý định đi học của mình, nó tròn mắt

- Mày điên à, bây giờ còn đi học ai nuôi mày.

Để tao xin cho mày vào chỗ tao, làm phụ xe như tao, chỉ hai năm là được đi học lái xe.

Khi đã là tài xế, mày thấy đấy thiên hạ có ai dám ngồi uống bia hơi cả chục vại như họ nào, đi xa thì cơm bưng nước rót...

- Tao điên đấy kệ tao !

Lúc bấy giờ tao chỉ muốn tống cổ nó ra ngoài.

Thằng Hồng vẫn nài nỉ thuyết phục tao :" Mày từ bỏ chuyện học hành đi, đừng viển vông hão huyền nữa." nó còn một thôi một hồi nào là bố mẹ tao nuôi ba đứa em ăn học cũng kiệt sức rồi và cũng như mọi người nó nhất định không tin tao học được, nhưng nó còn dám nói ra.v.v.

Rồi nó rủ tao đi ăn, uống cốc bia cho thanh thản đầu óc.

Hai thằng chở nhau lên tận Lý Quốc Sư vào nhà hàng đặc sản, chà chà từ bé đến giờ tao mới bước chân vào đây lần đầu và cũng lần đầu tiên tao được thưởng thức món chim ngói quay cùng vài ba món nữa rất ngon.

Hồng ra quân trước tao có một năm mà giờ khá thế, tiền có vẻ rủng rỉnh lắm.

Hai thằng vừa ăn vừa ôn lại chuyện đơn vị, chuyện Phong Điền, Hương Trà xưa, lúc ra về nó dúi vào tay tao mấy chục đồng, nhưng tao nhất quyết không nhận.

Hôm sau tự nó làm cho tao cái đơn, đến bảo tao ký vào còn các việc khác để nó lo, nó còn mang đến một bao gạo khoảng 5kg và nói :" Tao làm nghề vận tải lương thực, hàng ngày chỉ quét gạo vãi trên thùng xe cũng đủ ăn, hơi sạn một tí chịu khó nhặt , gạo bây giờ quí lắm."

Tao biết, giờ với gia đình tao cái gì không quí, nhưng tao dứt khoát không nhận và nói với nó :" Đi nhậu với mày thì được, nhưng tiền và gạo dứt khoát tao không lấy, mày mang về đi ."

Hông biết tính tao đành cầm về nhưng vẫn để lại lá đơn xin việc lại cho tao.

- Mày nghĩ kỹ đi, nếu định đi làm thì ký vào đơn , bảo đảm với mày tao xin được việc cho mày.

Mấy ngày liền nằm nhà tao tìm lục đống sách cũ của các em để lại, nghiền ngẫm mớ kiến thức mà tai ù đặc, mới thấy kiến thức của mình rơi vãi quá nhiều.

Giờ đi học lại đúng cũng không phải chuyện đùa.

Cầm tờ đơn thằng Hồng viết sẵn tao lung bung suy nghĩ chưa biết tính sao thì nó lại đến.

Nó chạy qua gian bếp chào mẹ tao rồi nhảy vào nhà , nhìn tao bên đống sách thăm dò.

Cái thằng nó vẫn thế, vẫn nhiệt tình bồng bột nhưng chu đáo với anh em, mấy hôm nay cứ đi làm về là chạy đến nhà tao, tao cũng biết nó lo và thương tao.

Ngày trong Nam, khi tao xuống đồng bằng cánh Nam lên muộn chưa tin tức gì, anh em bảo nó khóc làm như tao chết rồi ý.

Tiên sư cái thằng bây giờ vẫn thế !

Nhìn đống sách cũ trên giường nó bảo :" Thôi đừng điên nữa Thuấn ơi !

Đi làm đi cho xong"

Nghe nó nói tao lại muốn khùng nhưng kìm lại vì sâu xa nó cũng thương mình, tao bảo nó :" Mày để tao điên nốt năm nay, năm sau nhờ mày lúc ấy tao sẽ gọi, còn bây giờ mày về đi !"

Hông lẳng lặng ra về, tao xuống bếp thấy túm "gạo sàn xe" để ở góc, biết là của nó lén đưa cho mẹ tôi.

Ôi Hồng ơi !

Hôm sau tao lại cầm giấy mò lên tận sở giáo dục, bác bảo vệ chỉ cho phòng giám đốc là tao đi thẳng vào gõ cửa.

Cánh cửa mở ra, bác giám đốc nhìn thấy tao nở nụ cười tươi như đã quen lâu rồi ý.

Vừa kéo tao vào bác vừa nói :

- Chào đồng chí !

Lại có kế hoạch quân sự gì với sở hả ?

Chúng tôi đã triển khai cho các trường tập các nội dung quân sự theo chương trình...._ Ôí giời ơi !

Ông ấy cứ tưởng tao là lính bộ tư lệnh thủ đô sang làm việc với sở.

Khi hiểu ra, ông gật gù ngẫm nghĩ :" Người ta không nhận cũng có lý của họ đấy !

Nhưng thôi, tôi sẽ giải quyết trường hợp của cậu, quan trọng là cậu có học được hay không thôi."

Ông viết cho tao mấy chữ xuống trường, rồi chúc tao cố gắng học và thành công.

Ông hiệu trưởng cầm mảnh giấy của giám đốc sở, phân vân một lát rồi hỏi :

- Cậu định muốn vào lớp nào?

- Tùy thầy thôi ạ, thầy xếp vào đâu thì em học lớp đó.

- Khó là tớ xếp cậu vào đâu đều không ổn vì các giáo viên chủ nhiệm lại cho là tớ thế này thế nọ, làm khó họ, thật tình họ không muốn lớp của họ có học sinh quá lứa như cậu, họ khó sử mà, cậu hiểu điều đó không?

Cậu cứ đề xuất thì dễ hơn cho tớ, khách quan mà !.

- Thế thầy cho em vào lớp F_ Tao cũng tính vào lớp F do cô H làm chủ nhiệm, cô dạy môn tiếng Nga, cái môn tao sợ nhất, vào lớp này hy vọng trông cậy vào sự " chiếu cố" của cô.

Chứ thực tao cũng chả có một tí liên hệ nào với cô ấy.

Thầy hiệu trưởng ghi vào giấy rồi chỉ cho tao xuống lớp.

Tao cầm giấy không xuống lớp mà xin phép ông hai ngày sau lên lớp, để tao còn chuẩn bị sách vở.

Ông đồng ý !

Cả nhà mừng cho tao, cái thằng điên !

Mỗi người lo cho tao một chút, người cây bút, người tập vở.v.v..Thằng Hông mua cho tao một đôi dép nhựa gia công mầu nâu đỏ, nó bảo :" Chịu chơi nhất Hà Nội đấy !

Tao sắm cho mày để tán các cháu cùng lớp cho dễ ."

Bố sư nó, có vẻ nó chưa hết "cay cú" cái chuyện tao đi học.

Đêm trước hôm lên lớp tao nằm thao thức, cứ mường tượng ra cái cảnh đến lớp chẳng giống ai mà ngại, chẳng biết thầy cô và lũ trẻ kém mình 6,7 tuổi họ nghĩ gì khi thấy trong lớp xuất hiện một thằng lính luống tuổi ....Mừng, lo, buồn lẫn lộn mày ạ !

Buổi đầu đến lớp buồn cười lắm !

Tao lẳng lặng vào ngồi vào cái bàn cuối cùng của lớp 10 F.

Cả lớp học sinh đang túm năm , tụm ba đùa nghịch, tán chuyện, thấy tao vào, không ai nói ai tự đi về chỗ của mình ngồi im thít.

Cả lớp lặng như chùa, một vài cô cậu liếc trộm về phía tao ngồi rồi rì rầm bàn tán.

Sau này, khi đã quen biết, chúng nó mới bảo :" Lúc ấy tưởng anh là giáo viên ở trên xuống dự giờ ".

Tưởng gì nữa !

Giống quá đi còn gì.

Hôm ấy tao mặc khá bảnh, áo sơ mi trong quần, dép nhựa nâu gia công của thằng Hồng, cái cặp sách kiểu gấp thường thấy ở các viên chức quèn hay mang ông già cho, trông khác gì anh giáo trẻ.

Chúng nó sợ và tưởng là phải.

Giờ học đâu tiên là giờ lý, một cô giáo chạc 40 bước vào, sau khi chào cả lớp cô hỏi ngay :" Em nào là Thuấn ?" , tao đứng lên.

Sau đó cô giới thiệu tao với toàn lớp, cuối cùng cô kết luận :" Anh Thuấn đi bộ đội về bỏ học đã lâu, nay học lại sẽ rất khó khăn, mong các em sẽ chia sẻ giúp anhThuấn trong học tập để đuổi kịp các bạn trong lớp.

Riêng Thuấn, em cũng xác định cần thời gian bao nhiêu để kịp các bạn trong lớp?"

Thưa cô !

Cho em hai tháng ạ và rất mong các bạn giúp đỡ thêm tôi trong học tập _ Tao trả lời chân thành , mạch lạc.

Cả lớp nhìn tao lạ lắm, những tiếng cười rúc rích và cũng không ít ánh mắt chia sẻ mến phục nhìn tao như một người anh, chủ yếu là lũ con gái.

Tao như được giải tỏa, như không còn cách trở , xa lạ nữa giữa cái lớp 10 F ngày ấy.

Tao bắt đầu lao vào học , chăm chỉ miệt mài nhưng lạ là tối thuộc lầu hết bài rồi thế mà sáng ra quên tiệt.

Cái đầu thằng lính bao năm nay vẫn quen với nhịp gấp gáp từ cuộc chiến, mọi điều đến rồi đi , giữa sống và chết, trong bại và thắng, gian khó, mất mát hàng ngày đi qua với mỗi thằng lính, bấy giờ cũng phải biết cách quên để tiếp tục tồn tại.

Có chăng đọng lại trong ta tình đồng đội....

Thuấn vẫn ngồi trước mặt tôi nhưng cái dáng vẻ của ông Vụ trưởng không còn nữa.

Anh lính K10 E4 ngày nào lại hiển hiện khi chúng tôi nhắc về quá khứ.

Dần dần rồi tao cũng quen và cũng theo được lớp trẻ.

Suốt 2 tháng trời cái bà dạy lý không hề nhắc nhở gì đến tao.

Đúng thời hạn bà ấy bắt đầu gọi tao lên kiểm tra bài đầu giờ, lần đầu bị kiểm tra tao cũng trả lời tàm tạm.

Tưởng hôm sau được yên, đâu ngờ bà ấy lại gọi kiểm tra tao tiếp, cứ thế suốt 6 buổi liền cứ đền giờ lý là tao đều bị kiểm tra và cả 6 lần tao đều đạt yêu cầu.

Từ đấy về sau tao mới được trở lại bình thường như các học sinh khác.

Với các môn khác tao cũng đều được các giáo viên chú ý và mỗi người có một cách giúp tao những với cô dậy Lý thì ấn tượng nhất.

Sau này tao nghe lũ học sinh chúng nó kể là mỗi lần thấy trò lười, bà ấy đều mắng :" Được học mà không chịu học, sang lớp F mà xem ...." .

Một năm đèn sách trôi nhanh, thi đại học tao vượt điểm chuẩn trường cao nhất 2 điểm, chưa phải dùng chế độ bộ đội cũ.

Nhưng chờ mãi không thấy gọi trong khi các trường chúng nó có giấy cả.

Sốt ruột tao lên bộ Đại học hỏi, mới hay tao nằm trong danh sách dự bị đi học nước ngoài.

Năm 1978 tình hình hai đầu đất nước căng thẳng, ở Tây Nam đã đánh nhau rồi, nhiều học sinh lại phải ngưng học, trong đó có cả những đứa có điểm đi nước ngoài, họ giữ tao để thay những vị trí khuyết do phải ra trận.

Nghĩ mà buồn quá, lại một lứa đàn em phải ngưng học để ra trận...Đất nước ơi!

Mẹ tao dứt khoát không muốn tao đi xa nữa dù đó là Liên Xô, là nơi người ta bảo sung sướng .

Bà không muốn xa tao một lần nữa, chiều mẹ, tao lên bộ đại học rút hồ sơ về học K18 Đại học giao thông .

Thế mới ngấm , mới hiểu nỗi lòng mẹ, chạnh lòng nghĩ tới những bà mẹ hôm nay tiễn con ra trận...

CHUYỆN LÍNH GIÁP RANH

Tôi lại được đại đội gọi lên, phụ trách thằng Ngọc ( hy sinh 8/3/1975) và thằng Vị liên lạc ( nay là đại tá chính ủy lữ pháo binh QK1) đi lấy hom sắn về cho đơn vị tăng gia.

Đại độiảtưởng bảo :" muốn đi đâu thì đi, cứ có hom sắn mang về là được ."

Đúng là các bố khoán trắng nhưng cũng thoáng, chúng tôi được tự chọn hướng đi cho mình.

Đi theo đường 15N , con đường chạy dọc tuyến giáp ranh không hy vọng gì, vì giáp ranh chỗ nào chả như nhau chi chít hố bom, hố pháo lấy đâu dân mà có hom sắn.

Ba thằng bàn nhau đi ngược đường 71 về miền Tây, lên xin đồng bào dân tộc, gần 3 ngày ròng rã thì đến đường 14B ( cây số 0 đường 71) .

Đường 14B lúc này là con đường huyết mạch chính của đông Trường Sơn, mặt đường to rộng hơn hẳn đường 71 và đường 15N, chạy từ đường 9 qua Quảng Nam vào tận Tây Nguyên .

Cây số 0 cũng là điển cuối con đường chạy từ bên Lào sang qua dốc Mèo.

Ở đây có một đơn vị thanh niên xung phong nên xe ra, xe vào cũng hay tấp lại nghỉ đêm.

Đông vui, tấp nập đủ các đơn vị, các sắc lính " ngụ cư" quện quanh mấy cô gái xứ Thanh, không khí như thủ đô của lính ấy.

Mấy thằng lính giáp ranh lên trông nhếch nhác, nghèo nàm như nhà quê ra tỉnh, tụ nhau dưới gầm cây cầu gỗ, che cái tăng lên làm nơi trú ngụ.

Vào đơn vị thanh niên xung phong mượn thêm cái nồi và chuẩn bị bữa chiều.

Một đoàn xe 3,4 cái vừa từ phía Nam chạy ra cũng dừng lại nghỉ gần cây cầu.

Lính xế có khác, trên xe có đủ mọi thứ cần thiết cho bữa ăn, xe dừng, tất tật quăng từ trên thùng xe xuống từ rau, thịt hộp đến củi , chỉ một loáng bếp đã đỏ hồng mấy thằng bộ binh nhìn theo thèm dỏ rãi ngưỡng mộ, mơ ước.

Cơm chưa kịp chín mấy o Thanh Hóa đã ra đòi nồi, cò cưa tán tỉnh chờ cơm chín hẳn rồi kiếm lá chuối rừng đổ cơm ra trả lại họ nghĩ hoàn cảnh quá.

Phải nói cánh bộ binh chúng tôi chẳng nước non gì để các O phải để ý.

Cả năm mới thấy mò lên một lần, lính tuyến trước khố rách áo ôm, trong khi cánh xế vài hôm lại " xe anh qua" , trong Nam ra thì có khăn dù, ngoài Bắc vào thì có gương lược, giấy bút làm quà tặng, em nào chả thích.

Trông lính xế lúc ấy bảnh lắm, vì từ ngày ký hiệp định, con đường 14 chẳng hề còn tiếng bom, hết trọng điểm chạy nhàn hơn nhiều.

Chúng tôi đang ăn cơm thì một chiếc Zin157 đến tấp lại bên cầu, chiếc xe sạch bóng chắc vừa rửa xong, lính xế ta bước xuống, đầu chải láng mượt, mặc chiếc áo dệt kim trắng tinh, miệng vừa huýt sáo bài :

Chiếc cầu là nơi hẹn hò của đôi ta

Đêm trăng sáng bên cầu em giặt áo

Đêm trăng sang bên câu anh thổi sáo

...

Anh quay kính xe lên, như thể sắp đi xa khỏi xe.

Tôi đoán chừng bố mày lại vào thăm các em đây, trông dáng bộ vui vẻ lắm.

Tôi tranh thủ lao đến bắt chuyện và hỏi xin được một be xăng để dùng cho bật lửa.

Anh lính xế vui vể mở nắp thùng xăng cho tôi lấy rồi khóa nắp xăng cẩn thân, trước khi đi nháy mắt với tôi.

Tôi trở về gầm cầu chui vào võng nằm nghĩ đến chặng đường ngày mai.

Hôm sau chúng tôi vượt qua dốc Mèo, con đường đã lâu không sử dụng nhiều đoạn lở chỉ còn là đường mòn.

Đi trên đoạn đường lở nhìn xuống vực mà chết khiếp.

Nghĩ sơ xảy trượt chân trôi theo đất lở mấy trăm mét dốc đứng thế này chắc không bò lên nổi.

Đến một bản giáp biên giới Lào, gặp một lính công binh, chúng tôi bắt chuyện, biết người lính này thông thạo địa bàn và tiếng dân tộc nên theo về chỗ anh ta nghỉ.

Người lính công binh nói quê Vụ Bản , Nam Định có nghề làm men lá nấu rượu, anh được đơn vị cho đi lấy lá về làm men, nấu rượu cho đơn vị thỉnh thoảng liên hoan còn có tí cay.

Anh bảo cứ theo anh, anh chỉ cho cách lấy hom sắn.

Một lúc sau thì thấy hai bố con người Pa Kô đến, họ nói chuyện với anh lính công binh bằng tiếng dân tộc, họ nói với nhau như cãi nhau.

Anh lính công binh dẫn hai bố con đến chỗ tôi, anh giới thiệu và đề nghị họ giúp cho chúng tôi ít hom sắn.

Hai bố con người Pako từ chối :" Đồng bào còn ít hom sắn lắm, không cho bộ đội được, bộ đội đi bản khác xin thôi ".

Nói xong, rồi hai bố con hầm hầm ra về.

Tôi thất vọng quay nhìn anh lính công binh hỏi :" Các bản khác có xa đây không ?

Anh chỉ cho tôi để mai tôi biết đường tìm.

"

Nó còn nhiều sắn lắm nhưng bố con nó tức tôi đấy.

Bố con nó đòi chia số lá lấy được nhưng tôi không chịu vì chúng nó đang học nghề tôi, để trả công bố con nó phải để số lá lại.

Khi tôi đủ số lá cần thiét thì bố con nó mới được lấy, lúc ấy tôi mới truyền nghề cho.

Các ông đừng lo, thế nào bố con nó cũng phải cho hom sắn. _ Anh lính công binh nói quả quyết.

Hóa ra lúc nãy họ cãi nhau thật.

Tôi đề nghị :" Mai chúng tôi cứ đi thử mấy bản khác xem sao, nếu không được nhờ ông thuyết phục bố con ông ấy họ ."

Tôi quyết định bỏ một ngày lùng sục mấy bản giáp biên , sáng ra lên đỉnh đồi xác định vị trí tạm trú xong là lên đường.

Đi hết hơi mới thấy một bản có ba nóc nhà nửa sàn nửa đất treo leo sườn núi.

Thấy bộ đội vào lũ trẻ nhếch nhác ở chuồng chạy lảng ra không có cách nào mà hỏi được.

Máy con chó đói gầm gừ cảnh giác.

Chẳng biết hỏi ai tôi đành liều xộc vào cái nhà to nhất, peeng ! u..u.. cái cồng to treo gần bếp, rung rung nhẹ cùng tiếng âm trầm vang giữa núi rừng.

Bà cụ ngồi bên cái cồng già như chưa có ai già hơn, tóc trắng xõa phủ ngang người, ngực trần , cặp vú nhăn nhúm dài thõng đen mốc, cánh tay gày guộc khẳng khưu.

Cụ ngồi gần như bất động, cặp mắt lòa nhìn vào không trung vô định.

Tôi chào bà cụ , chẳng thấy cụ phản ứng gì đành quay ra nhìn hai đồng đội rồi nhìn quanh bản, thất vọng quá.

Chẳng ai tiếp chúng tôi, hơn nữa họ cũng không biết tiếng Kinh, chúng tôi đành quay về, bây giờ chỉ còn nước trông cậy anh lính công binh và hai bố con lão Pakô kia thôi.

Tối ấy cái chuyện ăn chia của anh lính công binh và hai bố con lão Pakô vẫn chưa ngã ngũ nên chuyện hom sắn của chúng tôi hãy còn chờ đấy.

Tôi nói với anh lính công binh là chúng tôi hết cách rồi, đề nghị anh nhượng bộ họ một tí cho chúng tôi nhờ.

Tay công binh cũng chả vừa, cứ nhất định không chịu.

Anh ta còn bảo :" thăng cha này quái lắm , hơn cả Do Thái , hắn giàu nhất vùng này đấy."

Sáng ra, tôi chào anh lính công binh nói là về nhưng thực sự chưa biết đi đâu vì hom sắn chưa có về sao được.

Anh lính công binh tần ngần rồi nói nhỏ :" Quanh đây có mấy nương sắn đều của nhà bố con lão cả, ông qua thấy cứ lấy đại đi, có gì tôi bảo lãnh cho.."

Được !

để tôi xem thế nào._ Chia tay anh lính công binh, chúng tôi quay trở lại con đường cũ, qua một hai vạt sắn tôi nhìn vào thấy có nhiều gốc đã bật lên, cây nghiêng ngả trơ rễ (đã thu hoạch).

Bỏ qua, chúng tôi vẫn đi cho đến khi nghỉ giải lao ngồi ngẫm nghĩ : Đường về lấy đâu ra hom sắn, chẳng lẽ về không !

Tôi quyết định quay lại, cử thằng Ngọc cảnh giới, tôi và thằng Vị lao vào chặt lấy chặt để bó thành 3 bó dài chừng 1m, chằng cẩn thận lấy quai gùi buộc lại đeo lên vài.

Cả lũ đi nhanh như chạy, đến khi cảm thấy an toàn thằng Vị còn bày trò :" Đáng lẽ phải viết giấy biên nhận chứ nhỉ ?".

Tôi thầm nghĩ đã có anh lính công binh lo vụ này .

Về gần đến Tam Dần chúng tôi vào nghỉ nhờ một đơn vị của d16 phòng không f324.

Lại gặp một bác đồng hương Hà Nội nhà phố Hàng Bột làm quản lý đại đội.

Quả mấy cha Hà Nội cũng láu cá, tôi gặp mấy ông vào đều làm quản lý cả.

Đồng hương gặp nhau giữa chiến trường thì còn gì bằng, chúng tôi không phải làm gì nữa chỉ việc nghỉ ngơi và chờ cơm.

Sau bữa cơm tràn chề hạnh phúc ấy, trên đường về chúng tôi đều chung một ý là : thấy anh em bỏ những lá rau già đi mà buốt ruột, thằng nào cũng thấy tiếc.

Đúng là sau hiệp định Pari lính giáp ranh vẫn còn cực lắm.

Đời lính khi thực hiện nhiệm vụ của mình gặp không ít trở ngại, khó khăn.

Là người lính thì phải tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ, có lúc phải " vượt rào" vi phạm chút ít nguyên tắc, kỷ luật quân đội.

Chuyện viết giấy bướm cấp cả trăm bình điện thời kỳ rút quân ở K, chuyện trộm hom sắn của đồng bào miền Tây Thừa Thiên là thế, nay thêm một chuyện nữa, các bác xem và gộp ngần ấy tội lại xem đã đủ gỡ " sao " Phong Quảng này được chưa.

Một lần với biên giới phía Bắc

Đầu những năm 80 thế kỷ trước, khi hai đầu đấtnước là chiến tranh , Việt Nam còn đang bị cấm vận cộng với một số sai lầmtrong cải tạo và xây dưng kinh tế, khiến đời sống của dân ta vô cùng khókhăn.

Cái thời ở hậu phương là "Đêm ấy là đêmnào" , còn lính biên cương thì " Canh toàn quốc, nước chấm đại dương".

Tôi còn nhớ , một sĩ quan cấp úy như tôi, ở cơquan TCHC , mà đến kỳ quân trang cũng chỉ giữ đủ 2 bộ cần thiết để đi làmcòn lại may ô, áo hè, áo đông cho ra chợ trời hết, bán đi nhặt nhạnh ít tiền vềmua sữa nuôi con.

Chưa có khi nào chị em lại " hạ giá " đến thế :

Một yêu anh có may ô

Hai yêu anh có cá khô ăn dần

....

Tiện thể tôi kể cho anh quân sử biết về côngtác bảo đảm hậu cần thời kỳ đó vì hầu hết các bác là lính chiến, có thế nàodùng thế, no đói thì biết thế chứ ai quan tâm vì sao.

Để bảo đảm cái ăn cho bộ đội tuyến trước, TCHCđã tổ chức các trạm quân lương trên từng tuyến như trạm 2 ở Vôi chuyên lo chohướng Lạng Sơn, trạm 4 Phú Thọ lo cho tuyến Lào Cai, Hà Giang, trạm 6 lo thugom hàng ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng .

Ở phía Nam có trạm 9 ở Sài Gòn và vàitrạm ở khu 7, khu 9 v.v.

Các trạm có nhiệm vụ thu gom lương thực, thựcphẩm tại địa phương do nông dân đóng góp theo nghĩa vụ và tiếp nhận lươngthực, thực phẩm từ các tỉnh ở hậu phương lên rồi đẩy hàng lên biên giới.

Thườngthì hàng đưa lên chủ yếu là thịt lợn rim, ruốc mặn, cá khô, lương khô..v.v.

Không biết các bác đã được xơi mấy thứ đồ dongành quân lương ta làm chưa, chứ tôi thì ruốc mặn được xơi từ ngày đánh Mỹ ,cá khô thì thỉnh thoảng cũng được phân phối nội bộ một ít còn thịt rimthì chưa biết nó thế nào vì chỉ để dành cho tuyến trước.

Nhưng trên cũng yêu cầu phải đưa thựcphẩm tươi lên được tuyến trước, một trong số thực phẩn tươi trong đó cólợn sống.

Khả năng vận tải của cục quân lương không đáp ứng được và quân độichưa có xe chuyên dùng chở lợn nên vẫn phải dùng zin130 chở hiệu suất rất thấpmà hao hụt nhiều.

Nhóm kỹ thuật chúng tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu cảibiên loại xe này từ những chiếc xe ca Hồng Hà đã thanh lý ( xe cơ sở làloại xe Giải Phóng của TQ).

Tôi được giao chạy thửnghiệm và viết báo cáo đánh giá kết quả .

Nói chung kết quả tạm tạm các bác ạ,sau trên cũng cho cả nhón cái giấy khen.

Tôi xin kể các bác nghe kỷ niệm mộtchuyến đi biến giới năm đó.

Nhóm chạy thử nghiệm " Xechở lợn" của tôi còn thêm 2 người nữa là Thọ và X đều là lái xe và thợ sửa chữakịch bậc.

Rong ruổi trên tầng cây số bằng cái xe hình thù chẳng giống ai, đầuxe ca, đít xe tải, mầu nâu đỏ do chỉ có một nước sơn chống gỉ, trông nó xù xìtối om.Vi vu trên đường nay trạm quân lương này mai trạm quân lương khác cũngvui.

Nhất là cái thời ngăn sông cấm chợ, làm anh lái xe còn oai hơn cả ông tiếnsĩ.

Ngược thì chở lợn lên biên giới, xuôi thì ( sau khi đ ã rưửa sạch xe) chở người tất tật cả cán bộ công tác lẫn con buôn.

Tất nhiên làcũng thu tiền nhưng hữu nghị theo giá ngồi sàn, sau mỗi chuyến đi về thế nàocũng có được bữa nhậu, khá hơn còn mua được hộp sữa ngoài KH mang về chocon.

Cung đường đi Cao Bằng phảiqua một loạt đường đèo dốc như đèo Giàng, đèo Gió, đeo Tài Hồ Xìn, tôi đề xuấtchở lợn từ Nam Định lên giao trực tiếp cho sư đoàn 346 cũng để xem khảnăng vượt đèo dốc của xe đến đâu.

Dự kiến chuyến đi có thể có trục trặc kỹthuật, chúng tôi phải chuẩn bị khá kỹ từ đồ ăn, dụng cụ bếp nước chongười và cám trên đường cho lợn.

Đêm đầu lên trạm 3 TháiNguyên, nghe anh em lái xe trạm 3 nói :" xe này chở 3,6 tấn lợn qua đèo Giócăng đấy" .

Tôi đâm lo và đề nghị cho xuống bớt 1 tấn nhưng anh Truyền trạmtrưởng không đồng ý, đành liều.

Sáng hôm sau đi sớm, trưađến thị xã Bắc Cạn thì một con lợn lừ đừ có triệu chứng chán sống, chúng tôitranh thủ hóa kiếp cho nó, cả con lợn được sát muối treo trên xe, còn nội tạnglấy mấy bộ phận chính nấu chín làm thực phẩm vừa đủ đi đường, còn lại biếu chủnhà nơi chúng tôi nghỉ trưa.

Vượt qua đèo Giàng, đến chândèo Gió trời còn chưa tắt nắng, chúng tôi dừng chạy tranh thủ kiểm traphanh, điện nước và làm thêm can xăng treo dự phòng bơm xăng hoạt động kém.

Rồicon bò già ì ạch mãi cũng đến đỉnh dèo Gió, nhiều khi tưởng tụt hơi maynhờ có tài già lão luyện chúng tôi vượt qua được.

Đến Ngân Sơn thì khuya lắm rồi, cả thịtrấn tối mù trong sương nhưng lạ là vẫn nghe văng vẳng tiếng hát đối đáp nhưhát lượn năm nào tôi gặp ở Lạng Sơn.

Chúng tôi dừng xe trước căn nhà có tiếnghát , tò mò muốn xem họ làm gì phía trong.

Hóa ra chợ phiên Ngân Sơn vừa tankhi chiều, trai gái hát hò chưa có kết quả, đám con trai theo mấy cô gái về nhàtrọ hát tiếp.

Hai cô gái ở trong buồng trong hát ra, đám trai tráng năm sáu anhtụ cả xuống bếp nhờ một ông già mù đọc mớm lời cho để đối đáp với hai cô.

Cả bachúng tôi cùng ngồi trong bếp nghe hát, song không hiểu gì vì không ai biếttiếng dân tộc.

Nhưng cũng tò mò xem kết quả nó ra sao và cũng nóng ruột khimuốn được nhìn thấy những cô gái bên trong căn buồng ấy.

Họ hát cho đến sáng vàhình như đám con trai dù được ông già mớm lời vẫn không chiếm được trái tim mấycô nàng, khi nhìn rõ mặt người thì chẳng còn anh chàng nào.

Chúng tôi rềnh ràngchờ bớt sương mới chạy nên cũng được chiêm ngưỡng mấy em Ngân Sơn, họ nóichuyện với chúng tôi bằng tiếng kinh rất sõi.

Sau mới biết là mấy em học trungcấp sư phạm trên tỉnh, rủ nhau đi chợ, hèn gì mấy trai làng có sư phụ phảithua.

Tiếc là chúng tôi không có thời giam để tìm hiểu thêm về họ, về chợphiên, về nhưng đêm thức trắng đối đáp đầy cuốn hút.

Xe chúng tôi leo dèo Tài Hồ Xìn thì gặp línhta đi chơi thị xã ngày chủ nhật bám vào xe chúng tôi như ong.

Biết làm saođược!

Ì ạch lên đến đỉnh tôi cho xe dừng lại, xuống thuyết phục đám lính trẻrằng : xe đổ dốc, tốc độ lớn rất nguy hiểm.

Nhưng không ông nào chịu xuống cho.Nhìn anh em thấy cũng thương nhưng không thể chạy được, cuối cùng tôi phải đềnghị :

- Anh em có muốn ăn thịt lợnkhông ?

Tôi vừa dứt lời, mắt lính ta sáng lên nhưngchưa hiểu cái ông trung úy này sẽ làm gì.

- Anh em cử cho hai ngườibiết làm thịt lợn, ngồi lên xe, xuống chân đèo tôi cho mổ lợn, biếu anh em bộlòng, có nồi, muối và cả rượu nữa ta làm bữa tươi.

Còn tất cả bây giờ phải chịukhó đi bộ.

Xe xuống chân đèo, chọn chỗ có con suối tôicho dừng xe và tìm con lợn yếu nhất ra làm thịt.

Phải nói hai ông lính trẻ thạotay nghề chỉ một loáng đã sử lý xong bộ lòng, đem ra luộc rồi ngồi chờ đại quânxuống đánh chén.

Một bữa liên hoan thịnh xoạn , tất cả thức ănbầy trên những tàu lá chuối, rượu uống bằng bát và ăn bốc.

Chúng tôi ngồi vuicùng họ một lát rồi chia tay.

Đám lính trẻ tươi rói đáp lại : Cảm ơn thủ trưởng!

Được làm anh thủ trưởng bất đắc dĩ ngẫm cũng vui vui nhất là khi nhìn thấy anh em trong bữa ăn hôm đó.

Buổi trưa xe đến sư bộ, tiếp chúng tôi là chủ nhiệm hậu cần f .

Leo lên được chỗ ban hậu cần giữa cái nóng oi ả đã mệt hết hơi, nhìn trên bàn thấy 2 chai rượu trắng nút lá chuối và đĩa lạc rang khô khốc tôi phát hoảng.

Làm xong thủ tục bàn giao, tôi ngồi cùng anh em hậu cần f uống mấy chén rượu cay nồng giữa trưa nắng biên cương mới thấm cái khó khăn một thời đã trải của người lính biên cương phía Bắc.

CHỢT NHẬN RA

Ngồi trong thư viện QĐ lật tìm từng trang của cuốn "lịch sử quân khu 4", tôi đang muốn tìm hiểu thêm về hoạt động của đoàn Phong Quảng và f 337 trong chiến tranh biên giới phía Bắc.

Đọc những trang sách tôi hiểu thêm nhiều điều về mảnh đất, con người khu 4 trong suốt những năm tháng chiến tranh..

Quả đúng mảnh đất Bắc Trung bộ này là cái nôi đã sinh ra rất nhiều đơn vị chiến đấu nổi tiếng của quân đội ta trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ như f324, f325, f304, f341, f968.v.v.

Trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, chỉ trong mấy ngày đầu của cuộc chiến, QK4 kịp điều động các đơn vị của mình ra mặt trận cùng các quân khu biên cương chiến đấu rất hiệu quả.

F31 của bác Tài Liên Sơn ở Tây Nam, rồi nhập vào QĐ3

F316B của bác Thắng Còng ở Tây Bắc

F337 của bác lính mới ở Lạng Sơn

Tôi đặc biệt tự hào là trong số những cán bộ chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công được lưu tên tuổi trong cuốn sách này có một đồng đội của tôi ở K15 ( d1, e4, f337 ) và hiện cũng là một thành viên QSVN_bác Bến Hải.

Hơi tiếc vì hiện nay ông bạn tôi vẫn phải ngày đêm bươn trải kiếm sống chưa thể tham gia vào QSVN thường xuyên được.

Xem hình của các vị tư lệnh và phó tư lệnh có trong cuốn sách chợt nhận ra thiếu tướng Cao Xuân Khuông, chính là anh Khuông trung đoàn phó trung đoàn Phong Quảng của chúng tôi thời kỳ 1973_1975.

Tôi nhớ lại lần đầu gặp anh ở điểm cao 330 năm 1973, cuộc gặp ấy thật không dễ chịu gì ...

Tôi không thể nhớ chính xác là ngày tháng nào trong cái năm 1973 ấy, chỉ biết là sau những ngày gian nan vất vả khi chúng tôi mới về đứng chân trên đất Phong Điền.

Khi trong mỗi người lính trẻ chúng tôi đã trải qua và thực sự hiểu ra thực tế chiến trường không như những gì mình đã nghĩ trước đây.

Chuyện đói cơm thiếu muối, vắt sức đêm ngày làm trận địa hầm hào, vừa xong trận địa lại di chuyển sang nơi khác, rong ruổi hết 150 rồi đến 300..., chúng tôi cứ chạy quanh săn phục trực thăng địch mà chưa đánh được trận nào.

Mới chỉ mìn và muỗi rừng thôi đã làm quân số chúng tôi hao hụt, thay nhau khiêng cáng đồng đội đi viện gần 3 ngày đường mới ra đến nơi.

Tất cả những gian khó ấy chúng tôi cũng vượt qua và thêm từng trải, song qua nó chúng tôi cũng nhận thấy đôi điều làm đám lính trẻ thất vọng về hình ảnh một số (ít) cấp chỉ huy của mình.

Trong các bài viết trước tôi đã bỏ qua nó vì cho rằng nó chỉ là chuyện nhỏ và chỉ là số ít so với hàng ngàn điều tốt đẹp vốn có của người lính.

Nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy cần phải nêu ra để các bạn trẻ hiểu và tránh được những phản ứng tiêu cực không đáng có như chúng tôi ngày đó .

Trong những lúc khó khăn ấy cả tiểu đội không còn muối phải ăn nhạt mấy hôm liền, mắt ai cũng vàng ra mệt mỏi thế mà trong bữa ăn lúc lúc lại thấy A trưởng mở bi đông làm một ngụm nhỏ như uống rượu.

Anh em thấy lạ tìm hiều mới vỡ lẽ đấy là bi đông nước muối.

Thất vọng biết bao về người đồng đội, người anh .

Khi tiểu đội tác chiến độc lập ở điểm cao 300, ban ngày tất cả phải lên để sẵn sàng chiến đấu nhưng về đêm cán bộ A,B kéo nhau xuống kiềng ngủ cả, để lại ba thằng lính trẻ trên trận địa.

Rồi khi máy bay xuất hiện dù con xa ngoài tầm bắn đã thấy sắc mặt A trưởng tái mét, thở gấp thế thì vào chiến đấu không biết sẽ chỉ huy anh em ra sao ra sao.

Ngồi lắp đạn bên vách trận địa mấy lính trẻ thấy buồn , may lúc đó còn có B phó cùng đi, ít ra con có người cho lính tráng trông cậy.

Thật không may cho lính khẩu đội này, nhìn khẩu đội bạn thấy A trưởng toàn những người mạnh mẽ, gương mẫu và vui tính, luôn biết dìu dắt lớp trẻ.

Nhiều khi thấy vì anh em mà mấy ông ấy to tiếng cả với trung đội, đại đội trong khi A trưởng của tôi thì ngược lại mà còn làm nhiều điều nực cười hơn.

Cả đại đội thỉnh thoảng mới có làm một tờ báo tường, chưa bao giờ tôi thấy tiểu đội ( ba người ) cũng làm riêng một tờ báo tường như tiểu đội tôi.

Lúc ấy tôi cũng chẳng để ý là ai qui định hay là một cách chơi trội của ông A trưởng.

Ông ấy khoán mỗi thằng làm 2 bài thơ hoặc viết một bài gì đó.

Chúng tôi bảo : ' Ối giời ! có ba ông ở tít tịt trên đồi cao, suốt ngày quần tà lỏn, nước uống tính từng giọt mà lại còn bích báo ai mà đọc."

Chúng tôi phản ứng là không biết làm thơ và quên chữ rồi nhất định không chịu làm.

Hai thằng cứ ngồi đánh cờ với nhau.

Bất lực trước phản ứng phớt đời của chiến sĩ, khẩu đội trưởng lay hoay tìm kiếm bìa, giấy và một lọ thuốc đỏ quyết làm một mình.

Cuối cùng tờ báo tường của khẩu đội tôi cũng ra đời.

Cái tít lớn được viết bằng thuốc đỏ " tiền phong" chữ t không viết hoa và nó loàng ngoàng hơn cả chữ Ả Rập.

Bên dưới tít là dòng chữ :" tiếng nói của khẩu đội 3" còn nội dung thì được nhặt từ mấy bài thơ trong quyển văn nghệ quân đội, tôi cũng không nhớ số bao nhiêu, năm nào nữa nhưng đã cũ nát mà chúng tôi ai cũng đọc di , đọc lại ít nhất vài lần.

Hôm ấy, không nhớ vì lý do gì, khẩu đội trưởng vắng mặt.

Tôi và Trạch đánh cờ chán lăn ra ngủ trong nhà âm.

Giật mình, tỉnh dạy thấy trước cửa nhà âm là hai người lính, một già, một trẻ.

Người lính già dong dỏng cao bên hông đeo khẩu K59, rất tự nhiên ông đi vào ngồi xuống cái ghế cố định chúng tôi làm bằng hai cây lầu ô.

Người lính trẻ chạc như chúng tôi, chắc là công vụ vẫn đứng của nhà tay ve vẩy chiếc mũ tai bèo .

Mắt nhăm mắt mở chúng tôi ngồi dạy :" Chào thủ trưởng !"

Chào vậy nhưng chẳng biết ông ấy là ông nào.

Ông ngắm nhìn căn nhà âm khá lộn xộn của chúng tôi rồi hỏi :

- Sao chỉ có hai đồng chí mà lại ngủ hết cả thế này?

- Báo cáo thủ trưởng có ba nhưng anh khẩu đội trưởng đi đâu chúng tôi không biết._Chúng tôi cứ thủng thẳng trả lời

- Thế đồng chí làm gì ?

Là số mấy_ Ông chỉ vào tôi và hỏi

- Chả là số nào cả, tôi chỉ biết trông súng thôi_Đang chán đời, bất mãn tôi cứ nói bừa cũng chẳng cần biết ông là gì trong trung đoàn

- Thế còn đồng chí ? _ Ông quay sang hỏi Trạch với thái độ bắt đầu gay gắt hơn.

- Tôi cũng thế, trông súng ạ._ Trạch cũng trả lời cho qua

- Chết !

Chết !

Máy bay đến thì các anh làm gì được đây.

Hai đồng chí tên gì? _ Ghi xong rồi ông bỏ đi , cậu công vụ chạy theo ông xuống dốc về hướng tiểu đoàn bộ.

- Rách việc rồi ! _ Trạch lo lắng nói với tôi

- Kệ muốn sao thì sao, thôi nấu cơm đi, trưa đến nơi rồi._ Tôi bật nắp thùng đại liên lấy gạo mang xuống bếp.

Buổi chiều anh Định C trưởng lên trận địa chúng tôi, chưa nhìn thấy mặt đã thấy tiếng ông ấy chửi :" Mẹ chúng mày, lính với tráng bố láo, bố toét .".

Khi thấy chúng tôi anh trợn mắt lên :" Chúng mày biết ai đấy không ?

Gặp trung đoàn phó mà trả lời thế à !

Ông Khuông đấy ."

Anh chửi chúng tôi một thôi một hồi rồi vớ cái điếu cày , vừa bật lửa vừa nói :" Thằng PQ ngày mai chuyển xuống khẩu thằng Hòe ở Phước Tích".

Ông A trưởng im lặng không nói gì nhưng vẻ mặt vênh vênh khoái chí lắm.

C trưởng nhả hết khói htuốc lào, nhìn vào tờ bích báo lật phật đung đưa trên cột nhà âm, mắt trợn ngược lên :" Thằng nào bày trò bôi bác thế này ?

Vứt mẹ nó đi !"...

Tôi đang sướng âm ỉ vì sắp được xuống khẩu anh Hòe ở đồng bằng Phước Tích nhưng chẳng dám lộ, nhân lúc C trưởng đòi vứt báo tường mới được thể cười toét, còn kích thêm :" Anh B làm đấy ạ !

Suốt ngày bắt bọn em làm cái đó làm sao mà luyện tập được."

Sau ngày ấy tôi mới biết trung đoàn phó của tôi là Cao Xuân Khuông , năm 1975 khi tình thế dưới đồng bằng gặp khó khăn, không bắt được liên lạc với hậu cứ, nghe nói anh gom được 8 người lính gồm trinh sát và vệ binh của trung đoàn xuống tìm gom anh em đưa lên hậu cứ.

Một kỷ niệm nhỏ không hay lắm với người trung đoàn phó mà tôi luôn kính phục chỉ có vậy.

Còn tại sao ngày ấy chúng tôi lại trả lời anh giọng bất cần đời như vậy, các bạn có thể tự luận ra được.

CÁNG NHAU ĐI VIỆN

Cáng thương binh, bệnh binh đi viện là chuyện thường ngày ở Huyện, là lính ông nào ít nhất cũng vài ba lần phải làm.

Cái chuyện tôi muốn kể ra đây là những cái oái oăm xảy ra khi phải làm cái công việc khiêng cáng ấy.

Vì cái chuyện này mà đại đội tôi có ba ông bị kỷ luật, ba ông này đều là diện gương mẫu luôn dẫn đầu đại đội .

Đó là A trưởng Vị Văn Thẩm một trong những A trưởng có nhiều thành tích trong chiến đấu, Thằng Lương (đen) Phú Thọ vừa được chiến sĩ thi đua cấp đại đội về thành tích cắt tranh.

Cái giai đoạn xây dựng lán trại một ngày nó cắt được tận 34 gánh tranh.

Bác nào đã từng cắt tranh về lợp nhà sẽ đều không tin nổi, dù đồi tranh có ngay gần nhà phải không ạ.

Nhưng mà đúng đấy vì : Bó tranh của chúng tôi nhỏ hơn, tranh không rũ bỏ rác ( thường người ta chỉ lấy phần lõi ), nên 4 bó tranh của chúng tôi chưa chắc bàng một bó tranh bình thường.

Nhưng rõ ràng chuyện cắt tranh ở đơn vị tôi thằng Lương là số 1.

Người thứ ba là thằng Ngọc hiền lành chăm chỉ ( tôi đã nhắc trong chuyện lấy hom sắn).

Số là ba vị này được giao nhiệm vụ cáng VHA bị sốt rét ác tính đi viện.

Không biết đi thế nào đến nơi thì VHA đã chết.

Bệnh viên khám nghiệm tử thi thấy trên người bệnh binh có những vết xước, tím bầm.

Họ báo về đơn vị, yêu cầu kỷ luật ba ông này.

Tất nhiên là đại đội kỷ luật họ, ba ông này cũng chấp nhận kỷ luật, họ chỉ buồn chẳng hề thanh minh, thanh nga gì vì trước cái chết của đồng đội dù làm tốt họ như thấy mình có lỗi.

Nhưng cả đại đội đều hiểu là thằng cáng cũng sốt và yếu nhưng nhẹ hơn thằng nằm cáng chút ít mà thôi.

Trên con đường nòm dốc đứng, trơn tuột ấy đi một mình còn ngã lên ngã xuống huống chi là đi cáng.

Những đoạn đường gấp khúc như đỉnh tam giác, ngay đỉnh lại có cái cây ông trước đi đúng đường thì ông sau phải văng ra khỏi đường là cái chắc, là tụt dốc, là loạng choạng, là quệt đồng đội vào cây...là sước, là chày làm sao tránh khỏi.

Sau lần ấy cả đại đội trùng lại, y tá cũng choáng, thành ra có ông sốt chưa đáng đi viện cũng cứ chuyển đi cho lành.

Thằng Bằng " giời" ở Đông Anh sốt, chưa đến nỗi gì, y tá cuống lên cho đi viện luôn.

Lần này đến lượt tôi phụ trách tổ cáng Bằng " giời" đi viện.

Nói qua cái ông Bằng " giời" này một chút.

Chúng tôi thêm cái chữ " giời" cho nó vì nó hơi lập dị, hơi ngơ ngơ một chút.

Đi B, ở rừng mà kén ăn kinh khủng, không ăn con bốn chân nên thịt hộp , ruốc B cũng kiêng nốt.

Ngoài trang bị của lính lúc nào nó cũng có cây súng cao su đeo trước ngực.

Rảnh cái là đi bắn chim, kể cả trên đường hành quân, mấy lần lang thang suýt lạc đơn vị nên anh em chúng gọi là Bằng "giời".

Thức ăn phụ thuộc vào việc bắn chim, chẳng bao giờ ngó đến thực phẩm được phát.

Ông ấy ốm, không tự kiếm mồi được nữa thì ăn muối.

Nói cách nào cũng nhất quyết không ăn.

Khi cáng ông này đi viện chúng tôi cũng phải mang theo khẩu súng cao su đi, trước là cố gắng bắn được con chim nào trên đường thì cho ông ấy bồi dưỡng, sau là bàn giao cho Y tá ở bệnh viện để họ biết mà giữ lại cho nó, khi khỏe để ông ấy còn tự cải thiện.

Trên đường đi, mỗi lần nghỉ ông ấy lại cầm cây súng chun của mình, lò dò nghiêng ngó tìm chim, chúng tôi biết là bệnh tình cũng chưa đến nỗi gì.

Tôi bảo Bằng "giời" : " Chỗ nào đường tốt bọn tao cáng, chỗ nào dốc quá mày xuống bọn tao dìu cho dỡ nguy hiểm và cũng đỡ cho bọn tao tí chút nhé !".

Nó ừ thế nhưng đến chỗ dốc hỏi xuống đi được không, nó lại kêu mệt, làm anh em tôi đến vất vả.

Đang men theo con đường hẹp dốc nghiêng đứng thì bố mày lại kêu buồn ị, đòi xuống bằng được.

Chúng tôi dừng lại chờ nó, thấy cứ lay hoay không tài nào ngồi được.

Ngồi dọc theo đường thì độ nhiêng quá lớn, chân thấp chân cao không những ngã lộn cổ mà sản phẩm đầu ra có khi lại tương vào chân mình.

Ngồi ngang đường nhìn lên hướng dốc thì không thể được vì sẽ ngã ngửa, quay ngược lại thì mông chạm đất.

Cuối cùng phải ngồi quay nhìn lên dốc và nhờ sự trợ giúp của anh em chúng tôi.

Tôi phải một tay bán vào một gốc cây, một tay nắm tay ông ấy để không bị ngã ngửa.

Cứ thế thay nhau nhìn mặt ông nhăn nhó giải quyết cái vấn đề phức tạp ấy.

Gần đến viện có đoạn đường phải lội dọc theo một con suối, đá to đá nhỏ nổi tròn mặt suối, lúc này thì trơn trượt thực sự.

Một đầu cáng mà trượt ngã thì thằng trên võng chỉ có nước văng ra không đập người vào đá thì cũng ướt hết người.

Tôi lại gạ nó xuống để chúng tôi dìu, nó vẫn không.

Tức mình tôi đảo người vờ bị trượt làm cáng võng đung đưa nghiêng ngả.

Lúc bấy giờ Bằng " giời" mới chịu xuống để anh em dìu.

Gớm bố mày bá vai anh em nhảy tanh tách từ hòn này sang hòn kia, chỗ nào không có đá ông ấy đu trên vai chung tôi, chân co gồng lên cho khỏi ướt, suốt cả cây số đường suối chẳng thấy rên la gì hết.

Đến viện trông ông ấy còn khỏe hơn thằng cáng, làm y tá tý nhầm.

Chúng tôi về đến đơn vị được vài hôm đã lại thấy ông ấy quay về, mặt mũi tươi rói.

Khẩu súng cao su vẫn lủng lẳng trước ngực, tay còn sách một xâu chim bắn được trên đường.

Đúng là nó bị đi viện oan, làm chúng tôi mệt gần chết.

PS : Bây giờ ông này đang sống ở Hải Bối Đông Anh, bên kia cầu Thăng Long, bị mắc bệnh tự kỷ ám thị lúc nào cũng sợ bị người ta ám sát, nên hàng năm gặp gỡ các CCB của trung đoàn chẳng bao giờ đi.

Nghĩ cũng thương.

ĐỒNG CẢM VÀ CHIA SẺ

Sắp 20/11 rồi, ngày "hiến cam" mình không có cam quýt và hoa tặng các giáo, thì có câu chuyện nói về họ cũng là thay cho món quà.

Trước là để nịnh các bạn làm nghề gõ đầu trẻ, sau nữa là cũng để không quên những người lính một thời gian nan trận mạc, năm tháng tuổi trẻ suốt mùa biên cương.

***

Gấp lá thư bỏ vào túi ngực, N bâng khuâng nhìn dãy núi đá lở loét vì pháo địch, thị trấn biên giới Đồng Đăng còn chìm trong sương sớm.

Tiếng hát của cô sinh viên trong đội văn nghệ xung kích Đại học sư phạm 1 như vẫn vang vang lẩn khuất đâu đó thấm sâu vào trong các vách núi, hang đá đọng lưu lại.

Cả tuần nay, mỗi lần rời lán chỉ huy đại đội để đi đâu đó là N lại giở ra đọc lá thư T gửi cho anh sau khi đội văn nghệ rời chốt C2.

Lá thư chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ như đã nói hộ tất cả, gửi gắm một tình yêu với anh, một người lính trận.

Em đi lòng thấy bồi hồi

Em sang C1 nhớ đồi C2

C2 em nhớ nhất ai?

Nhớ đại đội trưởng lòng ai thấy buồn ?

Ngày 1/8/1981_TT

Kiểm tra một lượt các vị trí tiền tiêu của đơn vị xong, quay về thì cậu liên lạc đưa N lá thư Hà Nội mới.

N hồi hộp để lá thư lên bàn chưa dám bóc vội...dù lòng anh rất muốn.

N cũng định viết thơ đáp lại tình cảm của cô ấy mà cứ lần lữa, lần lữa mãi.

Không phải vì quá bận mà không cầm bút được, anh nghĩ có thể đấy chỉ là rung động nhất thời của cô ấy trước những người lính biên cương hôm ấy, mai mốt về dưới phố, trong ánh đèn và nhịp sống thực dụng của đô thị cô ấy nghĩ lại thì thư đi thư về chỉ thêm buồn lòng người lính.

Hai bảy tuổi đời, mười năm lính, N đã trải qua một mối tình tan vỡ trong cuộc chiến tranh trước, khi anh đang là người lính trẻ.

Tình yêu cũng nảy nở trong chiến tranh và cũng vì nó mà tan vỡ.

Ngày ấy cả nước là tiền tuyến mà không giữ nổi thì bây giờ sự khác biệt ghê gớm giữa tiền tuyến và hậu phương.

Khoảng cách địa lý không xa, mọi trái ngược về cuộc sống hàng ngày dội đến làm người ta dễ so sánh và mấy ai muốn lựa chọn gian khó về mình.

Là lính, lại gốc nông dân xứ Nghệ nữa nên N dù rất cảm động trước những lời cô gái nhắn gửi , nhưng anh vẫn chưa dám viết thư trả lời cô gái ấy.

N quyết định cầm bút, anh viết cho T một lá thư dài và bắt đầu từ đấy một mối tình "qua những lá thư" nảy nở, nó ngày một sâu nặng đằm thắm theo năm tháng.

Rồi vài tháng cô gái lại một lần lên biên giới thăm anh, thăm cái C2 của anh dần dần với cô đã như là gia đình.

***

Chuyện tình giữa anh lính và cô giáo đã có thời người ta hay nói đến và luôn được cho là hình mẫu lý tưởng cũng bởi rất nhiều lý do.

Người thì bảo họ có nhiều điểm tương đồng về môi trường sống, hành động chỉ có từ chuẩn mực trở lên.

Lính chẳng tiếc mình cho quê hương, Người cầm phấn nguyện cháy hết mình cho sắp nhỏ.

Người thì bảo vì cả hai đều rất nghèo, thế mới có câu : "Bộ đội _ Cô giáo, Rau_ Cháo nuôi nhau".

Cứ cho là "nồi nào vung ấy" đi, nhưng chuyện tình về họ, anh lính và cô giáo đều rất đẹp.

Bài hát "Hành khúc ngày và đêm" ấy, các bác nghe lại nó đi, rõ ràng nó rất lãng mạn và bay bổng.

Song, đấy là trong văn học, trong thi ca còn chuyện tôi kể chắc không được đẹp và lãng mạn nhưng thật cảm động về sự chia sẻ trong cuộc tình Rau _ Cháo của họ.

Sự đồng cảm hay ngợi ca một điều gì đó, con người ta dễ dàng ban tặng, có thể là không tiếc lời nữa kia ( thật cảm động phải không các bác) bời người ta không mất gì, nhưng để cùng chia sẻ, chịu đựng và hy sinh mới là cái không dễ có ở đời.

Sóng gió trong mối tình của họ cũng bắt đầu từ đây.

Cô sinh viên trong một gia đình nền nếp trí thức Hà Nội, Cha mẹ cô gái là người đáng trọng trong xã hội, hiểu biết và luôn có tư tưởng mới là tôn trọng con cái.

Với họ, quan niệm "môn đăng hậu đối" cũng đã là xưa, là cổ hủ.

Ấy vậy mà khi nghe tin con gái cưng của mình yêu anh lính biên giới gốc xứ Nghệ ông bà cũng thất thần, lo lắng.

Đó cũng là lo lắng suy nghĩ rất thực tế trong cuộc sống hiện tại.

Là những người có học, từng trải bố mẹ cô gái biết cuộc sống sau hôn nhân không như khi yêu bởi thế họ ngăn cản mối tình "điên" của con gái mình cũng là chuyện thường tình.

Yêu ai thì yêu chứ yêu cái anh lính tít mù biên cương thì tương lai ở đâu?.

Lối xóm không nói ra nhưng cũng bóng gió xa xôi, bạn bè mỗi khi trò chuyện thì nửa đùa nửa thật: "Tưởng kỹ sư, tiến sĩ gì gì, chứ yêu cái anh bộ đội chín năm thì...".

Chẳng mấy ai vun vào

Lòng cô gái buồn ngẫm xót xa hơn cho người lính, nhưng cô càng yêu, càng thương người yêu mình.

Cô thực sự thấm hiểu cái gì người ta nói và cái gì người ta làm.

Không ngăn nổi quyết tâm của cô gái, gia đình đành chấp nhận.

N hiểu được chuyện gì đến với cô, anh càng cảm phục và thương T hơn nhưng không biết phải làm gì đây để bù đắp cho T ngoài tình yêu mãnh liệt của mình.

Mặc cảm tự ti là giết chết tình yêu, là tự đánh mất mình...Anh thầm nghĩ quyết bảo vệ nó như những gì anh đã dâng hiến cho đất nước này mười năm qua.

Vậy mà người lính từng bắn cháy 2 xe tăng địch trong những ngày đầu của chiến dịch Quảng Trị 1972.

Từng chỉ huy đại đội đánh trận Khánh Khê nổi tiếng ở biên giới phía bắc.

Chiến công lẫy lừng được đi báo cáo điển hình toàn quốc, được sử sách lưu tên mà hôm nay sao run thế, đứng hàng giờ trước một số nhà, một con phố nhỏ ở Hà Nội.

Cuối cùng anh cũng vượt qua được cái rào cản vô hình đó, cái mạc cảm người lính trận để tới nhà người yêu.

Món quà lần chạm ngõ đầu tiên của anh lính là 10kg gạo, mộc mạc chân quê và cũng chỉ có thế, thật không ngờ lại làm cha mẹ cô gái rung động...

Từ đấy ông bà không ý kiến gì nữa.

Ra trường, cô giáo trẻ tình nguyện lên biên giơi để được gần người yêu, ông bà cũng không ngăn cản dù rất thương con.

Từ Lộc Bình cứ mỗi thứ bảy cô giáo trẻ lại đạp xe lên Đồng Đăng mấy chục cây số đường núi thăm người yêu.

Theo thời gian một đám cưới mà hoa cô dâu là cành đào cành mận, tiếng pháo địch bên kia biên giới bắn sang thay cho pháo cưới.

Mối tình đẹp, lãng mạn bước vào giai đoạn mới của sự dấn thân, chịu đựng và sẻ chia.

( Bài viết có mượn mấy dòng tán dóc của các thành viên về "chuyện tình giữa anh lính và cô giáo")

Sau ngày cưới, N lên làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 (K15).

Cuộc sống chẳng khác trước ngày cưới là bao.

Hàng tuần T vẫn đạp xe lên thăm chồng, anh em tiểu đoàn bộ dành riêng cho họ một gian nhà vách nứa mà vật dụng toàn đồ lính từ nồi niêu đến chén bát.

Sáng ra T thường đi chợ mua thêm ít thức ăn làm cơm để bồi dưỡng cho N và đồng đội của anh, bữa thì có anh em trong D bộ, bữa thì anh em C2 cũ lên thăm.

Sớm thứ hai T lại đạp xe về trường trong giá rét núi rừng để kịp giờ lên lớp.

Mỗi lần hai vợ chồng xum họp, gọi là bữa ăn tươi cũng chỉ thêm ít tóp mỡ sốt cà chua và rau sống mà anh em đồng đội và đôi vợ chồng trẻ cũng tràn trề hạnh phúc.

Thương vợ lắm, song N chưa biết phải thu xếp ra sao để vợ đỡ vất vả, pháo địch hàng ngày vẫn bắn sang, việc đi lại hết sức nguy hiểm.

N tính hết ba năm vợ anh phải về Hà Nội, trước mắt mỗi năm, hai vợ chồng cũng gần nhau được hai kỳ phép là tạm ổn, rồi tính tiếp.

Ở Hà Nội có gì còn có bố mẹ, bà con hàng xóm, điều kiện sinh hoạt khá đầy đủ anh cảm thấy an tâm hơn.

Còn N, nếu được đi học hy vọng cũng sẽ có những thay đổi thuận tiện hơn trong cuộc sống gia đình.

Ấy vậy mà mọi toan tính đều không thành.

Năm đó toàn vùng biên cương mất mùa, dân đói lắm, là người lính từng gắn bó và được dân che chở trong chiến đấu địch hậu thời đánh Mỹ, nhìn đồng bào dân tộc không có cơm ăn, N đã có quyết định động trời.

Anh vượt rào, tự quyết định cấp 2 tấn gạo trong kho dự trữ chiến đấu của tiểu đoàn cứu đói cho đồng bào dân tộc hai xã ven thị trấn.

Bà con có được cơm ăn thì N bị kỷ luật, cánh cáo toàn sư đoàn, cái án kỷ luật lần đầu tiên trong đời đã tước mất cơ hội đi học của N.

Giấc mộng đổi đời cũng tiêu tan, chưa biết bao giờ thực hiện được.

Nghe tin chồng bị kỷ luật, cô giáo lại tất tả đạp xe về Đồng Đăng an ủi chồng, giúp anh giữ vững tinh thần để tiếp tục công tác.

Cô giáo xin nghỉ phép, ở lại cùng đơn vị của chồng tham gia phong trào tăng gia của đơn vị, không quản ngại bụng mang dạ chửa.

Hình ảnh vợ chồng tiểu đoàn phó trên nương làm rẫy đã động viên khích lệ anh em trong đơn vị tham gia tích cực và thực chất hơn.

Con sơn ca lại cất tiếng hát mỗi mỗi ngày trân trận địa, vẫn tiếng hát xưa nhưng nay thêm đàm thắm, chia sẻ của người trong cuộc.

Lính cả tiểu đoàn ai cũng biết và mến yêu chi T.

Đồng bào vượt qua được nạn đói, vụ tiếp theo được mùa đã mang thóc trả lại và cám ơn bộ đội D1 đã chia sẻ với dân.

Vậy là trận địa lòng dân biên giới được đơn vị giữ vững, nhờ sự chịu đựng chia sẻ của anh em toàn tiểu đoàn, nhờ cái án kỷ luật của N và một chuyện nữa , chính những ngày gian khó đó, một sinh linh bé nhỏ, đứa " con đầu " của họ đã mất khi cô giáo bị ngã trong lúc chạy tránh pháo địch.

Anh em đồng đội ai biết đều vô cùng xót xa và thương vợ chồng N..

Vẫn chưa hết, số phận hẩm hưu chưa buông tha N.

Khi làm tham mưu phó trung đoàn, N lại được đi học học viện lục quân Đà Lạt.

Nhưng cả lần thứ ba này nữa anh cũng không thực hiện được mơ ước của mình.

Về Hà Nội thì vợ ốm nằm viện, N ở lại ít hôm chăm sóc vợ nên lên nhập học muộn, trường trả về đơn vị.

Cục cán bộ yêu cầu kỷ luật vì đã không chấp hành đúng thời gian nhập học.

Trung đoàn hiểu hoàn cảnh của N nhưng không thể không kỷ luật N được vì anh thuộc diện nguồn đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự kế cận do những chiến công trước đó.

Để tránh kỷ luật N, trung đoàn quyết định cho anh về hưu non và N chấp nhận.

T nằm trên giường bệnh hay tin anh bị kỷ luật và xin về hưu thì nước mắt ứa trào .

Vươn tay ôm lấy bờ vai của người lính khắc khổ đen đủi, cô thổn thức :" Anh vẫn mãi là của em !".

Sự đời trớ trêu thay, cái vận đen đủi của N làm người ta phải ngẫm.

Đành rằng N cũng có sai phạm, hai tội trên có đáng để quân đội mất đi một cán bộ suốt mười mấy năm lăn lộn nơi chiến trường, một người lính dũng cảm luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu trên các cương vị được giao.

Tôi vẫn nhớ ngày bắt đầu chiến tranh biên giới, đất nước cực kỳ nguy ngập.

Chỉ sau hai ngày khi tiếng súng ở biên giới phía Bắc vang lên, sư đoàn 337 từ một đơn vị làm kính tế đã chấp hành lệnh trên lên đường ra trận.

Sự gấp gắp đến mức trong khi những người lính còn đang hành quân bộ ra ga Si thì các cán bộ tác chiến cấp tiểu đoàn đã đi bằng máy bay ra Lạng Sơn để kịp chuẩn bị chiến trường.

Trong đơn vị không ít người tranh thủ tụt tạt về thăm và báo cho gia đình.Nhiều người khi lên đã không kịp tham gia trận đánh và tất nhiên không ai bị kỷ luật cả, bởi lúc ấy tiền tuyến cần người, những người lính có mặt tuyến đầu đã là quí như vàng rồi.

Nhà N ngay cùng huyện Diễn Châu, cách ga Si không xa mà anh đâu có dám chạy về báo cho gia đình.

Đấy không phải là ý thức của người lính khi tổ quốc lâm nguy đó sao ?

Chuyện N nhập học muộn về hình thức cũng như những người lính tụt tạt thì lại bị kỷ luật, Tại sao thế

Chỉ khi đất nước một lần nữa lâm nguy thì người ta mới nhớ tới Nguyễn Hữu An, Nguyến Chuông và những người lính trận.

KỶ NIỆM VUI : LÍNH SINH VIÊN

( Chuyện cấm lưu hành trong nghành giáo dục )

Khoác áo lính hai mấy năm trời, trải qua khá nhiều đơn vị, ngẫm lại ở mỗi nơi đều có vui buồn kỷ niệm.

Lính chiến trường, lính sinh viên, lính cơ quan rồi lính vật vờ, chây bửa đón " Ga hưu ",ở đâu chả có chuyện.

Với tôi, đời lính không dài nhưng có đến 6 năm đi học.

Là lính sinh viên thì Trỗi nhà ta hầu hết đã từng, ngoài học hành rèn luyện ra, cái chuyện trèo tường ra phố, cắm quán thiếu nợ rồi ra đong đưa với mấy em gái thị xã thì Trỗi ta bao giờ cũng vào loại ưu tú.

Những loại chuyện này tôi không dám kể vì ngay trong Blog này có toàn những cao thủ, lớ sớ ba hoa chích chòe thì ăn đủ.

Tôi chỉ kể chuyện các bố ít biết đến mà cái thời của tôi mới bắt đầu có lần đầu.

Năm 1980 bọn học viên năm thứ tư ĐHKTQS được cùng các thầy vào Nghệ Tĩnh coi thi đại học.

Khà khà, đang là thằng học viên được làm anh giám thị, đúng là cái độ oách nó lên mấy bậc các bác ạ.

Phen này ối kẻ nể sợ.

Giám thị nhìn em giám thị cười

Em nhìn giám thị nước mắt rơi.

Năm ấy sân ga Hàng Cỏ tràn ngập bộ đội quân hàm sơ mít và sinh viên đại hoc KTQD.

Một đoàn tàu riêng chở các giám thị hai trường vào coi thi Nghệ Tĩnh.

Đến Vinh các giám thị trẻ được tạm nghỉ chờ ở trung tâm văn hóa thành phố.

Không rõ lý do gì mà thấy các em, các cháu tập đàn, tập hát ngay ngoài sảnh.

Đàn Bầu, tam thập lục, ghi ta, ác coóc ... từng tốp xen lẫn đám lính kiểng chúng tôi.

Toàn những nghệ sĩ tương lai cả, ai cũng có thanh có sắc, yểu điệu đàn hát đến là vui tai vui mắt.

Không khí như hội, đàn hát vô tư ngay trước mặt tôi và bài hát chúng tôi nghe nhiều nhất hôm ấy là " Tàu anh qua núi" của Phan Lạc Hoa, bài ca của đất nước thống nhất và dựng xây.

Nhớ tám năm trước, tôi đi qua đất Nghệ Tĩnh này vào mùa mưa ảm đạm, trong bom pháo rập rình của chiến tran.

Đoàn quân lặng lẽ bước đi, nối dài mãi trong đêm lần lượt vượt sông Lam, sông La rồi Ngàn Sâu, Ngàn Phố hậu phương dần xa và mặt trận dần ở phía trước.

Tôi nhớ những khi hành quân ban ngày, cái đài bên hông chính trị viên luôn vang lên bài ca ra trận : Việt Nam trên đường chúng ta đi

Học viên lớp xe quân sự và một số giáo viên K2 cùng về hội đồng thi tại xã Đức Thủy, Đức Thọ trong một chiếc xe ca Ba Đình.

Nhóm học viên chúng tôi được bố trí chỗ ở trong nhà bác công an xã và hai nhà bên cạnh.

Vừa ổn định xong chỗ ở đã thấy hai cô cậu học sinh từ các địa phương khác đến liên hệ với công an xã để được bố trí nhà trọ.

Lúc sau thấy bác công an xã dẫn cô gái tên Hoa sang nhà tôi và nói chủ nhà bố trí chỗ ở, cậu con trai tên Tùng thì ở luôn nhà bác công an xã.

Sau này khi quen nhau rồi các em nó mới thổ lộ :" Tụi em biết các anh giám thị ở đây nên nài nỉ bác cho ở cùng để làm thân... dù sao quen biết vẫn hơn."

Chúng nó láu mà thật thế đấy.

Chúng tôi có giá quá !

Tôi và thằng Thảo ngủ ở cái phản kê cạnh cái bàn tiếp khách to của chủ nhà.

Anh cu Thảo bị ghẻ, tối nào cũng phải nhờ tôi bôi thuốc cho.

Đêm ấy đã muộn rồi mà em Hoa vẫn ngồi bên bàn vật lộn với con chữ. buồn ngủ quá, mà còn nhiệm vụ bôi thuốc ghẻ cho chú em Thảo nữa chứ, tôi nhắc khéo :" Hoa ơi !

Em nghỉ đi, mai tỉnh táo thi cho tốt, bây giờ cố, thức khuya quá nó mụ người ra chứ ích gì."

Em cố tí nữa cho xong phần này thôi, các anh cứ ngủ đi ! _ Em nó trả lời vậy.

Tôi nghĩ : không biết cái tí của em nó đến bao giờ đây, "Có mà ngủ nong" ấy, mùa hè, gió Lào nóng bỏ mẹ, lại đèn sáng tơ hơ thế kia bố thằng nào ngủ được.

Đúng là cái tí của em dài thật, hai thằng không chịu được đành dùng chiến thuật quần tà lỏn nhưng đắp cái vỏ chăn quay lưng lại phía ánh đèn.

Có thế chú em Thảo mới làm việc với lọ thuốc Đép được, chú phải tự bôi thuốc lấy, tôi chỉ hỗ trợ phần che khuất, không biết hiệu quả điều trị được bao nhiêu phần trăm, nhưng vất vả quá lắm và cái mùi khen khét của thuốc Đép nó xộc vào mũi đến khổ .

Hôm sau nghe sơ kết buổi thi đầu, thấy phòng thi ông Thảo lập những hai biên bản và thu gần hai chồng sách giáo khoa.

Cha cha, cái thằng nó tức cái con Hoa sao ấy mà làm dữ vậy.

Phòng của tôi không có giáo viên trông cùng, chỉ có 2 thằng học viên là tôi và thằng Giá nên hiền khô.

Chúng tôi cũng thu cả mớ sách giáo khoa nhưng không lập biên bản nổi.

Cứ mỗi lần thu được một quyển thấy các em gái nó cười với giám thị là lại thôi.

Có em tôi thu đến 4 quyển vẫn chưa dám bảo đảm là hết sách trong người, cứ như nhà ảo thuật ấy nhưng cuối cùng cũng tha tất cả trai lẫn gái.

Cũng chỉ vì nụ cười Hà Tĩnh mà tôi và Giá bị nhắc nhở, biết vậy nhưng cũng khó sửa lắm, của đáng tội con gái Đức Thọ xinh thế mà...

Tụi học sinh cũng kháo nhau là có hai giám thị trẻ dễ tính nhất, gặp nhau ngoài đường, chúng nó kéo bằng được tôi vào nhà chơi, thăm hỏi, trò chuyện xong ra về còn nhét bao Trà Khúc vào tay nữa.

Ôi chao !

Lại còn đút lót giám thị nữa.

Thật ra cũng là tình cảm thôi, buổi sau tôi đâu có trông phòng mấy em nữa.

Đến lượt ông mãnh Tùng, không biết nghe đâu mà biết là mai tôi trông phòng của nó.

Nó nì nèo :" Anh ơi !

Mai giúp em với, anh xếp thế nào cho em ngồi gần thằng Tiếp.

Nó học giỏi lắm, ngồi gần nó em chỉ ngó cái đáp số để kiểm tra lại bài mình thôi, không làm bạy đâu."

Ậm ừ thế chứ biết xếp thế nào mà ngồi cạnh nhau được.

Cẩm bản danh sách học sinh tôi đánh số lên bàn, cứ ba đứa một bàn theo số báo danh.

Thế nào bàn cuối cùng còn mỗi thằng Tùng một mình một bàn, tôi chợt nghĩ ra cách giúp nó.

Sau khi đọc đầu bài tôi cứ để cho lớp làm bài chừng 10 phút, rồi lừ lừ đi xuống bàn thằng Tiếp, tôi nghiêm giọng :" Cậu ngồi dịch sang đây."

Thằng cu Tiếp nhìn trái rồi nhìn phải, lơ láo chẳng hiểu gì nhưng vẫn nghe lệnh của tôi.

Tôi lại gắt lên :" không phải thế , cậu đứng dậy, đi ra đây !" .

Cu Tiếp xanh mặt, hốt hoảng đi ra.

Tôi lôi xuống bàn thằng Tùng dí ngồi vào bên cạnh...

Tôi nhớ giám thị hành lang là anh Tiến giáo viên đạn có hỏi về chuyện ngồi lộn số, tôi phịa : " Mấy đứa trên đó cứ bàn tán, em lôi cậu này xuống đây, tách chúng nó ra.."

Trưa ấy thằng Tùng hoan hỉ chạy sang nhà tôi cảm ơn đã giúp, chỉ thế thôi chứ không Trà Khúc Trà khét gì như mấy cô gái hay cười.

Lại nghĩ, biết thế này lần sau ông chỉ giúp con gái...

Dưng mà chẳng bao giờ có lần sau các bác ạ.

Hì Hì !

Chuyện bố láo bố toét của tôi ngày đó các giáo và bác NTN không nên đọc.

Mà có đọc thì cũng lượng thứ cho, bộ đội mà.

Bắt mấy thằng lính mê gái coi thi là hỏng, hỏng đến tận giờ chữa chưa xong .

DÒNG Ô LÂU

Bao nhiêu con đường, bao nhiêu dòng sông đã đi qua trong mỗi đời người.

Tuổi thơ tôi là dòng Ly Giang xa xôi, khi tuổi đôi mươi là dòng Ô Lâu của miền Trung xứ Huế.

Dòng sông nhỏ, thất thường con nước, có cái tên nghe ngồ ngộ nhưng nghe lâu thấy thương, người lính như tôi dòng sông nhỏ này đầy kỷ niệm.

Bên dòng sông Ô Lâu

Đó là những trận đánh của đơn vị từ mùa hè năm 1974, dòng sông nhỏ dựng lên những cột nước trắng xoá, hai bên bờ khói lửa trùm kín bến vượt.

Ngoái nhìn về phía bờ sông vẫn thấy thấp thoáng những đồng đội tôi chạy, họ lao tới bờ sông, vượt qua những cột nước trắng của pháo địch, lên chi viện cho chúng tôi dứt điểm đồi 61.

Những ai ngã xuống trên đường chạy hay dưới lòng sông kia tôi không thể biết tên họ, chỉ biết đó là những người lính đoàn Phong Quảng , máu các đồng đội tôi đã hoà vào dòng nước này, làm sao quên...

Trận đánh đó đúng vào ngày 18/09/1974, ngày tôi vừa tròn tuổi hai mươi, ngày đó tôi đâu nhớ sinh nhật của mình mà tình cờ sau này khi đọc ghi chép của người tiểu đoàn phó, tôi mới hay.

Ghi chép của Trần Đình Hồng, tiểu đoàn phó K15, E4

....

9/1974 phong thượng uý.

Ngày 18/09/74 chỉ huy đơn vị đánh chiếm cao điểm 61 chỉ trong 10 phút bằng phương pháp vận động tấn công giành thắng lợi diệt 120 tên địch.

Ngày 25/10 đi nhận bàn giao khu vực hoạt động của đơn vị, trời mưa to, phải bơi qua sông Ô Lâu bị nước cuốn trôi đi đã đượcđồng chí Mai Hồng Tình quê ở Nga Sơn, Thanh Hoá vớt lên.

Ôi ! tôi rất cảm ơn anh đã cứu tôi, đã dạy cho chúng ta hết lòng vì đồng đội, tình cảm đó không sao quên được..

Mới lại thấy Ô Lâu đâu chỉ riêng mình có kỷ niệm và đâu chỉ là những trận đánh ngày nào.

Dòng sông và những cánh rừng bên sông từng gắn bó với người lính chiến trường .

Là lũ nguồn dữ dội trong mưa, là cạn khô nổi trắng cát sỏi trong nắng, thất thường lắm nhưng sông ơi !

Là thương nhớ khôn nguôi...

Đã nhiều lần tôi về lại Ô Lâu, đã thăm lại các điểm cao nơi xảy ra trận đánh, nhưng để ngược dòng sông vào sâu những cánh rừng thượng nguồn thì chưa thực hiện được vì rất nhiều lý do.

Lần này, có ông bạn ĐN hợp máu lãng du, thích khám phá chẳng ngán gian nan vất vả, tôi mới quyết thực hiện ý định này.

Xa rừng hơn 30 năm rồi sức trẻ đâu còn nữa, chúng tôi phải nhờ cậy người dân bản địa.

Thật may mắn là nhờ những người bạn Huế có chuyến về chiến khu Hoà Mỹ chúng tôi đã tìm được một hướng dẫn viên như ý và đặt " căn cứ" xuất phát cho chuyến " phượt " rừng tại chính nhà người dẫn đường cho chúng tôi.

Người đàn ông dẫn đường cho chúng tôi trạc 60 tuổi, từng là lính của chế độ Sài Gòn cũ, ông cùng gia đình sống ở chân đồi 61 đã hơn 30 năm nay.

Hôm nay cùng chúng tôi lội sông băng rừng, trên đường ông ấy không chỉ giải thích cho chúng tôi những câu hỏi về rừng, về dòng sông hôm nay mà còn là ký ức thời lính trận, khi hai chúng tôi ở hai chiến tuyến.

Cũng là một dịp tôi hiều thêm về người lính đối phương xưa, họ hầu hết là những người nông dân chất phác hiền hậu, càng thấm thêm nỗi đau đất nước

Hơn 30 năm vứt bỏ áo lính, trở về với rừng, nước Ô Lâu, ông và gia đình lấy nghề rừng để sống.

Nay tuổi cao không đi rừng nữa, ông bảo chân đã yếu rồi, vậy mà đi với chúng tôi ông cứ băng băng.

Khi hỏi, thì ông bảo người dân vào rừng để kiếm sống, là song mây, lá nón mỗi khi về trên lưng phải cõng 40, 50 kg, chứ vào rừng chơi nhởi như chúng tôi thì sức còn dư.

Hai vợ chồng sinh được những bốn con, năm thằng ( hai thằng đã mất, tôi không tiện hỏi ), ngần ấy miệng ăn mà chỉ trông vào mấy sào đất vườn với trồng rừng được chia sao đủ để sống, phải gắn với rừng chứ, không làm sao trụ nổi.

Vậy là nghề rừng đôi khi lại là nguồn sống chính của gia đình ông.

Tôi không thể hình dùng được những năm trước đó hai vợ chồng ông nuôi nổi từng ấy đứa con chỉ bằng nghề đi rừng.

Ông kể ngày đó cực lắm, loay hoay với đất trồng gì cũng hỏng, nhưng rồi cũng qua được, giờ lũ con đã lớn đều đi làm xa cả, có đứa làm ăn tận Sài Gòn.

Ở lại nhà còn vợ chồng cậu con trai út, ngày ngày cạo mũ cao su khi vãn việc lại ngược sông kiếm cá về bán, thêm ít tiền bồi dưỡng cho cô vợ trẻ đang mang bầu.

Chuyện về cuộc sống hôm nay của người dẫn đường, của người dân vùng thượng Ô Lâu thật dài, dân nơi đây còn nghèo, không thấy bóng cây lúa, đã thử trồng lạc rồi trồng đậu nhưng chưa thấy khả quan gì, nguồn sống trông cả vào rừng và những đồi cây keo tai tượng.

Rồi lũ lụt, dòng sông xanh trở màu đỏ đục, nước sông cuồn cuộn hung dữ phá đi bao công sức con người tạo dựng.

Nhìn rác mắc trên ngọn cây sau cơn bão số 9 mới biết lũ nguồn dữ dội hơn xưa nhiều lắm.

Nhớ mùa nước tháng 12 năm 1974, khi tôi dẫn anh em tân binh về trung đoàn, hành quân suốt 3 ngày trong mưa về đến thượng Ôlâu .

Cơn lười và máu hay "sáng kiến" khiến tôi nảy ý định kết bè thả trôi sông để về đơn vị ở giáp ranh.

Thật may là đã có người bạn gàn vì thấy quá mạo hiểm, chỉ một sơ xuất nhỏ có thể chúng tôi sẽ bị trôi vào vùng địch và không bao giờ có chuyện hôm này mà trở lại.

Gặp con thuyền nhỏ ngược dòng sông, không biết họ ngược lên để làm gì (?).

Người dẫn đường giải thích là họ đi săn cá Trình bằng cách đánh điện.

Cá Trình đánh được về đem bán cho nhà hàng, khách sạn dưới Huế.

Không chỉ có cá Trình, khi về còn có cá tràu và các loại cá suối khác.

Lại nhớ lính ngày đó cũng thường đi kiếm cá.

Chúng tôi không có thuyền mà mình trần lội ngược dòng nước, trên vai là cái gùi đựng mấy quả thủ pháo, con dao đeo bên sườn, tay xách khẩu AK lặn lội khắp bãi cạn, hờm nước, vách đá kiếm ăn.

Ùng oàng thủ pháo rồi lặn ngụp gom cá nổi vì sức ép, mỗi lần về trên vai một gùi cá nặng, đủ các loại cá suối, thịt thơm xương mền.

Lính ta còn biết cách đánh cá khác bằng cách đập rễ cây Chay lên đá, xả nước cho nhựa chảy xuống suối, vài phút sau cá nổi trắng suối nhưng sau mỗi lần đánh ấy thì đừng bao giờ mơ có cá nữa, cách đánh hủy diệt này ít ai dùng vì bị mọi người lên án.

Cuối mỗi chuyến đi đánh cá, chúng tôi thường dừng lại ở những vạt sỏi trên sông (như chỗ anh bạn ĐN đang tắm trong hình) làm cá, sát muối bảo quản rồi tắm chào sông, xong là lên đường trở về chốt ở giáp ranh.

Ngày ấy trên bãi đá này có một cặp sừng hươu rất to và đẹp, chúng tôi thường làm giá phơi quần áo sau khi giặt, quả là sành điệu và sài sang hơn cả các đại gia hôm nay.

Ngoài cá sông, rừng thượng Ô Lâu cũng là nguồn cung cấp rau xanh cho lính nhưng cũng phải mất nhiều thời gian công sức mới có được.

Suốt cả chặng đường qua hết vạt rừng này đến vạt rừng khác trên đường đi tôi ít thấy mấy thứ rau rừng ăn được.

Cũng vì chúng tôi chỉ đi bám theo đường mòn, nơi thường xuyên có người qua lại thì không mấy khi còn thứ rau ăn được.

Kinh nghiệm trước kia chúng tôi thường lần dọc theo các khe suối nhỏ, ở đấy mọi thứ đều phong phú hơn, môn thục, rau rớn, tai voi, mua chua chỉ mọc ở những khe suối hay vách đá ẩm ướt.

Lạ là hôm trước được ăn salát cải xoong trộn dầu dấm ở nhà hàng, thấy rau mền và thơm khác với cải xoong Bắc.

Nghe những người bạn Huế giới thiệu rau này mọc ở các vách núi đá trên rừng chứ không trồng ở ruộng nước như ngoài Bắc vậy mà trước kia mình chẳng gặp.

Mới biết rừng rộng và bao la lắm, vài ba tháng nằm rừng làm sao thấy hết được.

Phía trước xa kia, không biết là " mấy con dao quăng " là đường 15N, một nhánh phía đông của hệ thống đường Trường Sơn, huyền thoại xưa .

Hai thằng tôi tính đi tính lại, đành phải dừng bước trước đại ngàn Trường Sơn vì sự chuẩn bị chưa đầy đủ và chiều còn cuộc hẹn với người bạn Hương Trà nữa.

Chờ ĐN tắm chào rừng xong, chúng tôi rút về "căn cứ " đúng 2 giờ chiều.

Bữa cơm trưa muộn nhưng thật hấp dẫn, cá tràu suối nấu canh măng chua , gà đồi luộc, cải xanh trong vườn xào lòng , chỉ tiếc là vẫn lại ba người.

Không biết vì quá muộn hay ý tứ vốn có của người Huế mà vợ con người dẫn đường không cùng ăn được với chúng tôi.

Chia tay gia đình người dẫn đường, cơ sở mới của chúng tôi, hai thằng về Hương Trà gặp Quảng, người đồng đội cũ .

Xong những việc cần bàn với Quảng, lại chuyện xưa nhắc lại, chuyện Hà Nội , chuyện Trỗi, Huế nghịch ngợm choảng nhau rồi lại cùng bên nhau giữa chiến trường ác liệt.

Ký ức tràn về, bên ly bia trào bọt, ngất ngư chuyện trò quên thời gian, quên trời sáng tối.

Một ngày về rừng thật vui vẻ mỹ mãn, trọn vẹn với ký ức.

Không biết anh bạn ĐN nghĩ sao về chuyến " phượt " rừng này, còn tôi cho rằng chẳng có tua du lịch nào sánh được với chuyến đi này.

Cảm ơn những người bạn Huế đã đồng cảm, sẻ chia tạo điều kiện cho tôi những ngày ở Huế và giúp đưa tôi về với Huế xưa.

ÊULẮM !

Chiếc xe ca Ba Đình cũ kỹ lầm lũi bò trên mặtđê, để lại phía sau nó một vệt dài bụi đỏ, nắng chiều trải dài đổ xuống mặtsông sáng lóa, những tia nắng xuyên ngang ô cửa vào trong xe làm tăng thêm cảmgiác chật chội của chuyến xe thời chiến.

Trên xe, lính chiếm phân nửa, đủ mọisắc lính của đất Sơn Tây thủ đô bộ đội.

Được ngày cuối tuần xả trại về Hà Nội,ông lính nào trông cũng tươi rói.

Chuyện lính râm ran át cả tiếng xe chạy, báctài như đã quá quen cảnh này, thỉnh thoảng tán vào đôi câu đùa rỡn với đám línhtrẻ làm không khí trên xe rộn lên, vui vẻ.

Xe đang bon trên đường, bỗng nghe tiếng kenkét do phải phanh gấp dội vào.

Chiếc xe chựng lại, mọi người trên xe bị xô dồncả về phía trước, bác tài gầm lên đầy bực tức, văng một tiếng chửi thề.Nhìn qua kính lái phía trước, một cô gái trẻ giữa đường, tay vẫn còn giơ caochiếc cặp học sinh đứng chặn đầu xe .

Bên lề đường là cả hơn chục cô cậu họcsinh, họ ào đến cửa khi xe vừa dừng lại.

Lưỡng lự vài giây bác tài kêu ngườiphụ xe mở cửa, tốp học sinh ùa chen lên xe.Tôi né người sang bên cho từng ngườivào một, xe chật cứng người, cô gái đứng chặn xe là người lên sau cùng, hếtchỗ, đành đứng ngay bậc lên xuống cạnh tôi và người phụ xe.

Cả xe im lặng, đám lính chúng tôi ngỡ ngàng,người nhún vai, kẻ lắc đầu, không hiểu họ nghĩ gì trước sự việc vừa xảy ra (?).Mọi người, nhất là mấy ông lính, mắt đổ dồn nhìn cô gái, khiến tôi đứngcạnh cũng thấy người nóng ran.

Cô gái thoáng chút căng thẳng, bối rối đưaánh mắt nhìn ra xa ngoài cửa xe ...

Liếc nhìn trộm cô gái, ôi ! xinh đấy chứ !

Tôithầm nhận xét.

Thân hình nhỏ nhắn trong chiếc áo chiết eo mầu cỏ úa, hai dảiđuôi sam dài được buộc lại bằng mấy sợi len tím, trên ngực áo là chiếc huy hiệuđoàn mới tinh, khuôn mặt thanh tú ửng hồng.

Nhìn bóng dáng ấy thật chẳng ai cóthể tin điều cô ta vừa làm cho đám bạn.

Cái máu hay chòng ghẹo người khác trong tôilại trỗi dậy nhất là khi nhận thấy điều gì đó là lạ trong cô gái.

Chưa biếtphải nói cái gì, không chỉ để khám phá cái nam tính trong cô gái lạ mà còn đểxua đi những ánh mắt ngô nghê của mấy ông lính nhà mình trên xe nữa...suốttừ lúc dừng xe tới giờ vẫn chưa chịu rời mắt nhìn cô ta làm tôi cảm thấy khóchịu lây.

Việc bắt chuyện tán tỉnh một cô gái vớimấy ông lính Hà Nội có mã thư sinh như tôi thật chẳng khó gì, ở nơi đóng quântrong các xóm làng tôi chỉ đong đưa chút xíu là xong.

Nhưng lúc này, tôi nghĩmãi mà chưa biết bắt đầu bằng cách nào.

Chả biết sao mà cuối cùng phát ra mộtcâu bâng quơ, rõ sến, không giống ai :

_"Trái tim dũng cảm" này, giá mà ở trongnhững người lính chúng tôi thì hay quá

Vay mượn ở đâu ra không biết mà nhạtnhẽo, ngớ ngẩn thế, rõ chán!

Tôi tự trách mình, cô ta thì vẫn im lặng, quê quá,lúc bấy giờ tôi chỉ muốn nhẩy ra khỏi xe

Lúc sau, cô gái liếc nhìn tôi, mắt sắcnhư dao cau làm tôi càng khó xử.

Biết làm sao được, ráng mà chịu, chờthời cơ sửa lỗi sau vậy.

Rồi nàng cũng đáp lại:

_Xin lỗi và mong anh cùng mọi ngườithông cảm cho, hôm nay thứ bảy ai cũng muốn được về nhà .

Vì việc này có thểlàm các anh muộn vài phút, điều đó khiến anh khó chịu lắm sao ?.

Nghe cái giọng trịnh trọng quá, tôi thầmbiết : lại có ý diễu mình đây nhưng đáp lại là may lắm rồi.

Tôi trấn tĩnh lạivà đổi sang giọng chân chất mộc mạc hơn:

_Cô hiểu sai ý tôi rồi, tôi đâu có nói vềchuyện sớm muộn mà nói về việc cô vừa làm ấy.

Có phải kia là các bạn cùng lớpcô đấy không?

Chúng tôi là lính nhìn cảnh vừa diễn ra thấy nó gai gai thế nàoấy...

_Đúng là các bạn cùng lớp em.

Anh thông cảmnhé, cũng tại anh nói "mát mẻ "quá nên em phải vậy.

Thôi !

Giảng hòa nhé.

Nói xong cô quay sang nhìn thẳng vào mắt tôi.Đôi mắt nâu thật dịu dàng, và thật mạnh bạo !

Tôi chưa bao giờ gặp đôimắt và cái nhìn như thế.

Tôi không thể ngờ mình đổi chiến thuật lại hiệuquả đến thế, phải nói là ngỡ ngàng mới đúng.

Mà lạ thật, cũng là trong một conngười ấy mà sao lúc sắc lẹm, lúc dịu dàng...Khoảng cách xa lạ như không còn nữa.

Từ đây trở đi câu chuyện thật dễ chịu nhẹnhàng, được đà tôi bắt đầu ba hoa đủ thứ chuyện về lính, cố kể nhiềuchuyện vui khiến cô nhiều lúc phải bật cười.

Đôi khi vẫn phải lườm mấyông lính nhà mình để họ "giữ ý" giùm, tôi rất sợ mấy ông vui miệng tán theo vôý làm lộ nhân thân ... thì hỏng bét.

Cô ta thỉnh thoảng cũng hỏi han, gópchuyện và đáp lại tôi rất giản dị, có phần kiệm lời nhưng thông minh, dịu dàngvà đầy nữ tính .

Nắng chiều đã tắt, làng xóm đồng ruộng trênđường xe qua sẫm lại, xanh ngắt, khói lam chiều phía xa, mờ mờ tỏa từ sau nhữngrặng tre.

Trời mùa đông nhanh tối, nhìn về phía Hà Nội một vầng hồng nhẹ mờ mờcủa những ánh đèn thành phố hắt lên bầu trời tối mịt.

Xe chạy gần đến Hà Nộikhông khí bộn rộn căng thẳng của chiến tranh càng hiện rõ.

Các loại xe quân sự,xe chở đạn tên lửa, xe kéo pháo cao xạ không biết từ đâu xuất hiện ngày mộtnhiều, lầm lũi đen ngòm. ..Hà Nội đang chuẩn bị cho những trận đánh mới, chiếntranh mỗi ngày mỗi ác liệt

Tôi chợt trở lại với thực tại của mình,có một đêm nay và ngày mai để chào Hà Nội.

Lần này về là để đi xa lắm, khôngbiết bao giờ trở lại.

Tôi thoáng buồn, im lặng, cái buồn bất chợt trong tôi làmcô gái ngỡ ngàng, cô cũng đứng lặng như thể biết được ý nghĩ trong tôi.

Tôi sẽxa Hà Nội và sẽ nhớ lắm con phổ nhỏ cổ kính của tôi, những người thân, bạn bècùng lứa .

Có điều gì trong tôi trỗi dậy, nao nao một nỗi buồn, vương vấnmơ hồ... trong cả chuyến xe ngày hôm nay sao tôi thấy có điều gì khác lạ.

Tôi ngả người tựa vào thanh vịn của xecố dãn xa khoảng cách để nhìn em cho rõ , em cũng nhìn tôi , khi mắt chúng tôigặp nhau thật cảm thông dịu dàng.

Xe đến Kim Mã, tôi quyết định không về nhàngay mà đi theo em dù em đã chào từ biệt.

Không hiểu sao nhìn em lúc này trongtôi có điều gì xao xuyến, tôi không muốn rời xa.

Em nhè nhàng nói :" Em tự về được mà, anh nênvề nhà sớm kẻo người nhà mong.

Ngày mai em sẽ đến nhà thăm anh.

"

Tôi bảo :" em biết nhà anh ở đâu mà đến, đưa em về biết nhà em, mai anh sẽ đến thăm em."

_Trên xe anh nói nhà anh rồi đấy thôi, anhquên rồi sao, Hùng ơi !

Nghe đến đây tôi tóa hỏa, mới nhớ ra trên xetôi đã ba hoa, phịa cả tên và địa chỉ.

Khổ thế !

Cái thằng lính đi đâu tán đấychẳng mấy khi dùng tên thật của mình.

Ban đầu cũng nghĩ tào lao tí cho vui..tôi lấy đại tên của tay A trưởng và kể nhà tôi ở khu phố của cán bộ cao cấp .Tôi vội cải chính lại tên và địa chỉ thật của mình

Em bật tiếng cười trong trẻo khi nhận ra mọichuyện :" lại thế nữa! thế mà em luôn nghĩ anh là người nghiêm túc đấy ."

Lần trước anh phịa đấy, lần này là thật, em nhớ nhé và bây giờ anh là người khác_Tôi nói chân thành.

Vâng em tin , chào anh, mai ta gặp nhau, chúc anh vui vẻ !_ Nói xong, em vội bước.

Nhưng tôi vẫn bám theo, còn em không đuổi khithấy tôi vẫn đi bên cạnh.

Đi đâu tôi chẳng cần biết , chúng tôi cứ đi, im lặngtrong ánh đèn mờ của phố phường Hà Nội.Thật lạ , hai đứa chẳng nói câugì, chỉ đi bên nhau như những người thân thiết từ bao giờ.

.........

Hà Nội về tối mơ màng tĩnh lặng, bước chân haiđứa ngập ngừng

(Trích tản văn của Văn Công Hùng )

Đến đầu Thợ Nhuộm thì cócòi báo động, chúng tôi ngồi lại bên vỉa hè cạnh một cái hẩm tròn nhỏ nhưngchẳng ai chịu xuống.

Có tiếng bom xa xa phía ngoại ô, trong nội thành vẫn yêntĩnh.

Đến lúc này em mới bảo tôi :" lát nữa báo yên anh về đi, cũng sắp tới nhàem rồi.

Tôi xin địa chỉ, nhưng em nhất định không cho và như để an ủitôi, em bảo mai thế nào em cũng đến thăm tôi.

Chúng tôi đến đầu BT thì em đứng lại chìa tayra nói :" Ta chia tay ở đây thôi, hẹn ngày mai gặp lại."

Tôi nắm chặt tay emkhông muốn rời, em nhẹ nhàng rút tay ra, rồi vụt chạy .

Tôi đứng trân ra nhìn,hai cái đuôi sam lắc lắc xa dần rồi mất hút trong đêm tối.

Bừng tỉnh lại tôichạy đuổi theo, chết thật ! mình còn chưa kịp biết tên cô ấy..Muộn mất rồi!

Tôithẫn thờ nhìn những ô cửa sổ trong dưới ánh đèn vàng hy vọng thấy một bóng hình.

.............

Em ở đâu trong miên man những bóng ngườixa lạ, những quầng sáng vàng vọt, và cả tiếng lá xao xác trên đường.

Có nhữnglúc cứ thấy thắt ruột lại trước những dự cảm mơ hồ, mong manh như gió, nhữngcơn gió lang thang.

( Trích tản văn của Văn Công Hùng )

Đêm ấy tôi về nhà rất muộn, con bé út ramở cửa cho tôi, mẹ không có nhà, bà đang ở trong bệnh viện chăm sóc cho Chatôi.

Sáng tỉnh dạy đã thấy mẹ chuẩn bị một cặp lồngcháo, bà giục tôi ăn sáng để mang cháo vào cho cha.

Tôi muốn vào thăm cha nhưnglại lo em đến không gặp, không dám nói với mẹ tôi đành đi mà lòng thấp thỏm.

Gần trưa mẹ vào thay , mẹ bảo có cô gái gì tên...h đến thăm con, trước khi về nó nói nhà ở ... phố BT.

Mẹ còn dặn với theo khitôi đi ra :" Con về ăn trưa đi, nếu đi chơi đâu thì về sớm để chiều cònlên đơn vị cho kịp giờ."

Tôi phóng thẳng đến phố BT, tìm số nhà theo mẹnói, đến nơi mới biết số nhà ấy là của một khu tập thể.

Trước cổng có hai côgái đang đứng buôn chuyện, tôi hỏi hai cô gái :"Hai cô cho hỏi, nhà ..h ởđâu ?"

Hai cô nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi họ nhìn nhau và trả lời làkhu nhà này không có ai tên thế.

Biết làm sao đây (?) tôi cố gặng hỏi lại vớichút hy vọng nhưng đáp lại là ánh mắt diễu cợt và những nụ cười thiếuthiện cảm.

Tình huống này tôi chỉ còn cách chào họ rồi chuồn.

Về nhà bữa cơm mẹchuẩn bị ngon thế mà tôi ăn chả được..

Chiều ấy tôi ra đi, chia tay Hà Nội mang tronglòng một chút mơ màng mong manh về người con gái ấy.

Những tưởng thời gian trôiđi tôi cũng sẽ nguôi ngoai, đâu ngờ cảm xúc trong tôi về chuyến xe ấy vẫn theo tôi suốt đến tận bây giờ và trong nỗi nhớ Hà Nội luôn có hìnhbóng em.

Đi B tôi vào mặt trận Tây Nguyên, ở bộ phậnquân khí của sư 10.

Từ sau hiệp định Pari lính Tây Nguyên nhận được thư nhàthường xuyên, nhất là lính trên sư bộ chúng tôi.

Thư mẹ tôi lần nào bà cũngnhắc đến cô gái ấy, bà kể em là sinh viên học đâu tận Thái Nguyên ấy nhưng cứmỗi chủ nhật được về Hà Nội lại đến thăm nhà mình.

Bà cứ gặng hỏi tôi và em làthế nào ? sao từ trước chẳng thấy tôi nói gì...Tôi biết cụ thích cô ấy lắm rồi,vì thỉnh thoảng có mấy đứa cùng lớp phổ thông xưa đến chơi cụ chỉ nhắc qua, cònchuyện về cô ấy bao giờ cũng mất cả trang thư.

Chẳng riêng gì các cụ, con bé útnhà tôi mới i tờ , nó thư cho tôi chữ ngả chữ nghiêng nhưng tên chị ...g thì nóviết nắm nót và đẹp nhất, tôi tin nó cũng yêu mến cái chị ..g này lắm.

Côấy như cô Tấm vậy, mỗi lần cô đến cả nhà tôi lại rộn vui , làm vơi đi phần nàonỗi nhớ đứa con xa .

Còn tôi!

Biết phải nói gì hơn nữa, tôi thầmcảm ơn số phận đã đưa tôi đi trong chuyến xe ấy.

Là thằng lính chiến trường chảbiết sống chết ra sao nên tôi đâu dám nghĩ đến chuyện yêu.

Đấy là nghĩ thếnhưng khi thấy luôn có một cô gái, lại xinh nữa quan tâm đến mình hẳn lòng tôiấm lại rất nhiều.

Có lúc tôi muốn viết thư cho cô ấy những lại không giám,chiến tranh liên niêm , biết bao giờ mới dứt nên lại thôi.

Chiến tranh qua rồi, tôi may mắn còn lành lặntrở về, nhất định tôi phải tìm cô ấy....

*********

CÂU CHUYỆN TRÊN tôiđược nghe được từ một người lính Tây Nguyên khi anh cùng tôi bị mắc kẹt lại ởHuế hồi tháng 10/1975.

Năm ấy Huế có mưa lớn, lũ về nước đầm phá dâng cao, cầuAn Lỗ bị lũ phá hỏng ( cầu lúc đó làm bằng gỗ thông tẩm dầu Mỹ, chưa có cầu ximăng như bây giờ).

Huế dồn cục người từ phương Nam ra, lính đi phép, đi côngtác, ra quân và đi học, người miền Bắc vào chơi miền Nam ra .vv.

đôngnghịt.

Ai cũng lỉnh kỉnh đồ đạc hàng hóa của xã hội tiêu thụ.

Chỉ có mấyanh lính chiến trường chúng tôi là ba lô lép kẹp.

Đồ quí nhất trong hành trangcủa tôi là con búp bê nhỏ, có cái lông mi cong cong, đặt nằm xuống là nó nhắmmắt.

Tôi dành những đồng tiền ít ỏi của mình mua nó làm quà cho bé Hà, con gáidì tôi.

Tôi thương bé Hà vì chú Hưng chồng dì tôi không bao giờ trở về nữa, béHà chưa bao giờ biết cha mình.

Trong ngày khải hoàn này chắc hai mẹ con dì tôibuồn lắm...

Lính nằm chờ thông xe dỗiviệc nên chuyện cứ dài dài không biết bao nhiêu chuyện.

Riêng câu chuyện trênthì tôi chú ý vì rất có thể cô gái ấy tôi biết ..

Tôi có anh bạn cùng đơn vịthân lắm, chúng tôi cùng người Hà Nội.

Anh bạn tôi cũng ở cái số nhà ấy và cócô em gái cùng tên với cô gái mà anh lính Tây Nguyên vừa kể.

Là lính chiếntrường chúng tôi thường chia sẻ với nhau nhiều thứ kể cả những lá thư của ngườiyêu.

Bạn tôi vẫn thường cho chúng tôi xem thư em gái gửi cho mình.

Đọcthư, tôi biết em gai bạn tôi đang là sinh viên đại học mỏ địa chất mà trườngnày cũng đang ở Thái Nguyên.

Trong cái ví của cậu ấy bao giờ cũng có ảnh giađình trong đó có ảnh cô em gái là chúng tôi để ý nhiều nhất.

Quả là em gái cậuta xinh đẹp và sắc sảo lắm, vậy nên cả chốt ai cũng nhận là em rể hắn.Chuyện đùa vui thế thôi nhưng cũng làm cánh lính chúng tôi vui và không ít ôngmơ tưởng thật sự.

Chúng tôi khi buồn lại bảo anh bạn lấy thư em gái ra đọc vìcô bé có cách viết dí dỏm, nghe mãi không chán.

Rồi một lần đầu mùa khô1974, có người lính trinh sát e2,f324 mò lên chốt chúng tôi hỏi thăm anh bạntôi.

Lính tráng tiếp khách chỉ có thuốc lào và trà sâm chiến sĩ nhưng vui vẻtình đồng đội, đồng hương.

Người lính trinh sát Hà Nội , trước khi đi bộđội đang học năm thứ nhất đại học tổng hợp văn.

Qua chuyện trò thì biết anh ta là bạn trai của em gái bạn tôi, nghĩa là em gái bạn tôi đã có người yêu,điều này làm khối ông lính chúng tôi thất vọng nhưng không vì thế mà chúng tôi đốisử không tốt với người đồng đội f324 kia.

Ngược lại chúng tôi ngưỡng mộ anh tavì được một cô gái xinh đẹp như thế yêu và cánh lính chúng tôi rất tự hào vềđiều này.

Chỉ có điều từ ngày đó chúng tôi chia sẻ với người anh cô gáiđó từ điếu thuốc lào hay bất cứ một cái gì khác đều là tình bạn, tình đồng đội,đông hương.

Cái chuyện tán láo vui đùa anh vợ ,em rể chẳng còn ai nhắc đến.

Làlính, chúng tôi rất trân trọng mối tình của đồng đội mình.

Khi nghe người lính TâyNguyên kể thì tôi tin chắc hai cô gái đó chỉ là một...Lạ chưa, mỗi cô trong nóđều rất trong sáng, đáng yêu và cảm phục nhưng hai cái đáng yêu ấy trong cùngmột thời điểm, trong một con người thì ... tôi chưa tưởng tượng nổi, bất ngờ quátôi chưa đủ thời gian, từng trải để đón nhận, suy xét chuyện này, nó làgì trong cuộc sống chúng ta những ngày đã qua.

Tôi đành im lặng để mà qua sát,mà chiêm nghiệm .Khi quanh cô là những người lính trẻ được cô yêu ( anhquân khí, anh trinh sát và các đồng đội của anh trai cô )
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 2)
Kỳ 11: Hồi ức bác Xuanxoan


Trước tết năm 1972, Trung đoàn tân binh thuộc Quân khu Thủ đô của chúng tôi được nghỉ phép để đi B; Hà Nội đêm giao thừa năm ấy gam mầu khác hẳn (mọi năm là pháo và hoa )- áo lính bạc mầu (vải rất thô, sờn lông, loang lổ do bạc không đều) tràn ngập đường phố đến nỗi người Hà Nội phải thốt lên: trên trời là pháo hoa, dưới đất là mầu áo lính.

Năm ấy, anh em công an đường phố thật vất vả, luôn phải đi cùng anh em quân cảnh bên Bộ tư lệnh Thủ đô, giờ nghĩ lại thấy mình ấu trĩ quá, công thần quá - mới nhập ngũ, ở thao trường 3 tháng đã nghênh ngang coi trời bằng vung... nhưng người Hà Nội vẫn cao thượng giành cho chúng tôi những người lính trước lúc đi B những tình cảm ấm áp và những ánh mắt đầy vị tha và chỉ khi vào đến Khu Bốn chúng tôi mới hiểu - Lính đi B khi vào Khu Bốn chắc không thể quên những câu "tếu" hết sức chân chất như Bọ không biết các chú bộ đội mất cái chi mà mang con gái bọ ra hè ngửi...với tôi không quên câu "chú cho bọ cái mũ cối (chóp), vào Nam răng cũng có chú chết..lời nói thật chát phát, mộc mà mỗi vùng, mỗi miền và các bà mẹ Lào (đoạn sau sẽ viết) cũng thể hiện khác nhau nhưng bản chất tình thương giành cho anh bộ đội cụ Hồ chỉ là một.

Từ Bãi Nai, Hòa Bình chúng tôi hành quân về Hòa Xá, quê hương của chiếc gậy Trường Sơn để đổi quân trang, nhận vũ khí.

Hà Nội vừa trải qua trận lũ khủng nên đời sống nhân dân càng khó khăn - nhìn ông chủ nhà khoảng 70 - 80 móm mén nhai ngô bung tôi không khỏi sót sa, hình ảnh đó khắc đậm theo vào chiến trường và tôi đã tự hỏi để trả lời: họ đã sống làm ruộng, trồng lúa khoai nhưng sãn sàng ăn ngô bung nhường những bát cơm trắng ngần cho chúng tôi; vẫn biết đi vào Nam là chấp nhận cái chết nên được đãi ngộ hơn nhưng trong tâm can mình vẫn áy náy hình ảnh cụ già món mén nhai ngô bung; Họ đã sống, làm việc và hưởng thụ đơn giản như thế đây.

Sau khi nhận quân trang và vũ khí, đơn vị hành quân ra ga tầu.

Sân ga đầy lính với trang bị lỉnh kỉnh soong nồi, súng ống, xẻng gậy va vào nhau côm cốp và những khuôn mặt, ánh mắt của lính nhìn xuống sân ga hy vọng gặp được người thân lần cuối trước khi tầu chuyển bánh vào khu 4 nhưng tất cả đều vô vọng vì chuyến di chuyển quân lần này thật bất ngờ không ai tin kịp về gia đình.

Tiếng còi tầu vẫn ầm ĩ như mọi khi, bánh xe nghiến răng rắc trên đường ray nhưng trong lòng tôi vẫn thấy thiêu thiếu cái gì..phải chăng thiếu bàn tay với chiếc khăn nhỏ bé vẫy vẫy của người bạn gái tiển đưa, tôi ra mặt trận khác xa với phim ảnh tuyên truyền hồi đó các cuộc chia tay ra chiến trường đều có nụ hôn và giọt nước mắt - hình ảnh ra trận được tôi tưởng tượng như phim 4 người lính và 1 con chó trên chiếc xe tăng của Nga, thật thất vọng.

Ga Vinh đây, đơn giản như một ga xép nhỏ, bom đạn đào xới ngang dọc gần như không còn căn nhà xây nào, tháp nước còn với đầy vết thương... nhưng anh chị em công nhân đường sắt vẫn đảm bảo đường ray thông suốt, an toàn; chúng tôi tiếp tục lên xe đi về phia nam, qua một hay bến phà gì đó chúng tôi tập kết ở Quảng Bình, vùng đất huyền thoại mà tuổi học trò chúng tôi chỉ được đọc qua sách vở, những căn nhà nho nhỏ đi đụng đầu, dân cư chủ yếu người lớn tuổi và phụ nữ con nít, một mầu áo chủ đạo của dân cư thời kỳ này là mầu đen (phía bắc là mầu nâu) và với ông chủ nhà tốt bụng tôi đã tặng chiếc mũ cối khi nghe được lời chân thật: vào chiến trường răng cũng có chú chết, bỏ mũ uổng phí chú cho tôi cái mũ ni vào trong đó chú lấy cái mũ khác và tôi bắt đầu dùng mũ tai bèo từ đây.

Chiều chúng tôi tập trung bên dòng sông Nhật Lệ chờ các mẹ, các chị và các em gái chở qua sông - ngày các mẹ các chị đi làm đồng, chiều tối về chở quân qua sông tôi không hiểu sức lực ở đâu mà các mẹ dẻo dai quật cường đến thế; không một đòi hỏi, không một lời than phiền, mẹ thực hiện việc hàng ngày đưa bộ đội qua sông giống như mẹ thanh thản chèo thuyền đưa con trai mẹ đi làm.

Ôi các mẹ, các chị thế hệ lính chiến chúng tôi hôm nay còn sống dù có bỏ tiền tỷ tỷ ra xây tưọng đài các mẹ cũng không thể báo đáp sự công ơn của mẹ.

Văn thơ ca ngợi Mẹ Suốt, tôi không biết đã gặp chưa vì buổi qua sông hôm đó tôi ngồi trên thuyền của một mẹ và một cô gái đưa đò, sông thì rộng con thuyền thì nhỏ nhoi mẹ nhỏ nhẹ dặn: các con ngồi yên nhé khi thấy chúng tôi đồng loạt thả bát "B52" xuống dòng sông làm con thuyền tròng chành.

Đơn giản thôi, mẹ dặn khi con khi thuyền tròng chành...các con ngồi yên nhé và mình hiểu hãy tin mẹ cầm lái con đò.

Chiều trên sông Nhật Lệ hôm ấy đẹp đến nao lòng, nắng vàng nhẹ dát lên gò má hồng của em gái nhỏ, con sóng lăn tăn chẩy về phía biển, ơi đời đẹp sao lúc tuổi 20 ta lên đường, mẹ chèo thuyền dáng hao gày chữ S; em chúm chím nhoài người về phía trước; anh mơ màng buổi sáng em sang sông - Bất ngờ tôi phát hiện ra, người tiễn tôi ra trận hôm nay lại là người không quen biết và đơn giảm chỉ là ánh mắt nhẹ nhành nhìn nhau.

Thế đấy, người lính ra trận chưa được yêu thì cứ hay mơ màng.Thuyền chạm bờ chào mẹ chia tay vội em gái nhỏ chúng tôi hành quân về phía tây Quảng Bình, vùng bán sơn địa như khu vực rừng tôi thường đi lấy củi khi sơ tán theo Bộ Tài Chính ở huyện Quốc oai, nhà ở đây thấp thật, vách được đắp bằng đất nhưng nằm thì mát.

Ở được vài hôm thì chúng tôi lên xe gaz đi vào Binh trạm 5.

Dọc đường chị em thành niên xung phong đang làm đường, lúc đầu còn khỏe cứ reo hò nhận đồng hương; sau mệt quá, rát cổ lính ta im dần.

Tối qua ngầm, dưới ánh đèn gầm thấy những cọt tiêu trằng mờ lay động, tôi gọi mấy thằng ngồi cạnh ở phía sau chỉ đứa thì bảo chị em mặc áo may ô trắng, đứa thì bảo chị em mặc áo sơ mi, còn tôi, tôi bảo chị em không mặc áo ngoài thế là cãi nhau ỏm tỏi.

Tới giờ tôi cũng không biết trong chúng tôi đứa nào đúng và từ đó hình ảnh người nữ thành niên xung phong mặc áo lính luôn hiện diện trong trí tưởng tượng của tôi và trở thành thần tượng của tôi lúc nào không biết.

Binh trạm 5 cái tên khi nói đến Trường Sơn, khi nói đến đi B luôn được nhắc đầu tiên đây rồi; ngày nhận lương thực mỗi thằng một ruột tượng gạo, chúng tôi được nhận gạo không hạn chế thế là sợ đói tôi và một số thằng lấy đầy ruột tượng đến nối phải buộc bằng dây ngoài, còn những đứa khác thì thắt nút ruột tượng.

Chiều không biết thằng nào xử giặc rủ nhau lấy dây dép dự phòng đốt và xăm lên cánh tay hai chữ 4/9 để sau này vào chiến trường nếu có bị thương hay chết anh em sẽ tìm được xác nhau – nghe có lý thế là mình cũng xăm hai số 4/9 và thêm một cánh chim bay đơn độc.

Cánh nhập ngũ 4/9/1971 chúng mình giờ gặp nhau giơ cánh tay ra là nhận được nhau, không chạy đâu được.

Đêm đầu tiên trên đường Trương Sơn mắc võng đung đua sao thi vị thế: ánh trăng sáng trắng đổ xuống rừng lọt qua kẽ lá như sao rơi, mùi hương lan rừng thoang thoảng; đang mơ màng chợt nhớ mẹ, nước mắt ứ ra thế là tôi gọi - má ơi; bừng tỉnh cả nhóm nhớn nhát nhìn tôi, ngượng quá - lớn thế đi bộ đội rồi, vào đến Trường Sơn rồi mà còn khóc gọi mẹ, trong đời lính chiến mình còn gọi mẹ lần 2 là khi đánh bãi đá cứ điểm Thanh Bình tôi bị pháo DKZ bắn trọng thương chỉ kịp kêu - má ơi.

Từ Binh trạm 5 chúng tôi theo giao liên tiến về phía Nam, đường dốc loanh quanh, cây cối che rợp đường mòn, những đoạn theo đường ô tô chúng tôi phải rảo bước nhanh.

Dốc và dốc bắt đầu thử sức những tràng trai trẻ đất Hà thành, lúc này mình mới thấy thấm thía những đêm dài đeo đất hành quân dã ngoại ở dốc Cun hòa Bình; qua một binh trạm bắt đầu thấy áo rét bằng sợi mầu cứt ngựa của lính Hà được treo trên cây và sau đó những ngày tiếp theo là những đồ dùng cá nhân khác được lính bỏ bên đường thậm chí cả tăng võng, ruột tượng gạo và sữa bột cũng được các anh chàng lười rèn luyện thời tân binh bỏ cẩn thận cho phía sau chúng tôi.

Lúc đầu thấy tiếc cũng nhặt, nhưng sau mệt quá mình cũng bỏ dần, không nhặt gì nữa.

Tối đến binh trạm, mỗi thằng đổ 1 ca gạo (bi-đông có ca ở phía dưới) góp để nấu cơm; tiểu đội mình có thằng D nhà ở hàng Bột (khi hành quân đến Paksong trên người chỉ còn đúng cây AK) không có gạo góp đầu tiên, lúc đầu tức định không cho ăn, sau mình (khi đó là A phó hành quân) bàn với thằng Thắng người Gia Lâm (Thắng chết sốt rét ác tính ở binh trạm cuối trước khi rẽ sang Lào, mộ Thắng sau được quy tập về nghĩa trang Trường Sơn, nằm hàng đầu khu vực anh em liệt sĩ người Hà Nội ) cho nó ăn và tối cho nó ngủ phía dưới võng anh em tiểu đội khi gặp trời mưa.

Hồi đó tức thằng D giờ nghĩ lại thấy cảm phục tinh thần của nó "ăn xin số 1" của đường đây 559 những vẫn không đảo ngũ.

Bây giờ nếu ai vượt được Trường Sơn như thời đó tôi nghĩ họ đều xứng danh anh hùng.

Vượt Trường Sơn đã rất nhiều bài viết nên mình không đề cập nhiều ở đây và điều kỳ lạ ở vùng đất này có loài xương rồng cổ thụ đường kính cả mét mọc thẳng đứng hơn một người ôm không hết như "trọng C6" đã kể.

Dốc cao, vực thẳm là điều có thật, chỉ cần không cẩn thật trượt chân cũng toi mạng; dọc đường Trường Sơn tôi thấm thía lời thơ ở tờ truyền đơn chiêu hồi của phía Việt Nam Cộng Hòa rải đầy dọc đường...

"3 tháng đêm nghỉ ngày đi, mòn vẹt gót áo sờn vai rách chỉ..." và khi đến vườn chuối cao nguyên Bôlôven áo quần thằng nào cũng rách toạt, dép mòn tụt quai không đi được nữa nhưng có một điều tuyệt vời không một thằng nào đảo ngũ.

Dân Hà Nội là thế, thời bình thì "tây rau muống", khi tham chiến thà xin ăn chứ không "B quay".

Khi ở ngoài bắc cán bộ lãnh đạo cứ nghi ngờ anh em Hà Nội là loại công tử bột, vào chiến trường là đảo ngũ những thực tế đâu phải thế - bản thân tôi năm 1969 -1970 đang học lớp 10 năm cuối cấp III ở Thường Tín thì gia đình báo về khám sức khỏe thế là mình bỏ học chờ giấy gọi nghĩa vụ quân sự; 5/1970 mình nhập ngũ ở tiểu đoàn 36 (tiểu đoàn mà Trọng C6 bôi bác đấy) được mấy ngày thì được lệnh ra quân mà không hiểu lý do.

Sau khi về mới biết Bà H. phó khu Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hồi ở Điện Bàn Quảng Nam là người làm thuê của ông ngoại tôi đã tố gia đình tôi là địa chủ nên tôi không được đi bộ đội (nhà tôi là địa chủ kháng chiến, bà ngoại tôi: Phạm thị Ngự là bà mẹ Việt Nam anh hùng có 3 con là liệt sĩ thời chống Pháp); nhưng tội nhất là cậu tôi Khúc Thừa Quỳnh khi ra Bắc đã là trung úy, tham mưu trưởng tiểu đoàn, chuyên huấn luyện quân đưa vào chiến trường B rồi lại quay ra huấn luyện, khi giải phóng Miền Nam năm 1977 ông về hưu ở Đà Nẵng vẫn quân hàm trung úy.

Có lẽ đây là một trung úy có tuổi thâm niên nhiều nhất và là số 1 trong quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau này khi tôi vào chiến trường, địch đánh vào cứ lấy được nhật ký của tôi và trên đài tiếng nói của Việt Nam Cộng hòa mục sinh Bắc tử Nam có thông báo tôi đã hồi chánh và được phong trung úy quân lực Việt Nam công hòa và đang đồn trú ở Mang Giang thế là Bà H, cùng các đệ tử đến nhà tôi lúc đó ở Lương yên đòi thu hồi 3 bằng liệt sĩ của các cậu tôi, má tôi nổi khùng nói: tôi đẻ ra nó, tôi biết nó không hồi chánh, bà cầm kiếm đòi chém kẻ nào dám bước vào tịch thu bằng liệt sĩ của gia đình.

Tuy không thu được bằng liệt sĩ và Bảng Vàng Danh Dự do Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tặng cho ba má tôi (do có 3 con tham gia quân đội và đều ở chiến trường); nhưng do công tác tuyên truyền miệng thời đó nên hàng xóm và nhất là bà con có con em đi B ở Ô Đống Mác khi thấy má tôi đi chợ đều hay nói bóng gió con bà Miền Nam hồi chánh (dân chợ Ô Đống Mác và Lương yên thời đó hay gọi má tôi là bà Miền nam) và nhà tôi chuyên bị ném đá.

Cũng may, năm 1974 thằng em tôi ở sư 325 đánh Quảng Trị bị thương ra Bắc điều dưỡng đã đưa anh em thương binh cụt chân, cụt tay về nhà ở nên không còn cảnh ném đá và khi giải phóng Miền Nam được 2 tháng má tôi chuyển ngay gia đình về Nam vì theo má tôi nói không biết con có hồi chánh thật hay không nhưng khi giải phóng giấy báo tử về nhiều quá, má sợ.

Riêng ba tôi ổng cũng buồn vì nghe tin tôi hồi chánh, dù tuổi đã cao nhưng ông vẫn tình nguyện đi B theo đoàn công tác của Bộ Tài Chính và tháng 3/1975 ông bắt đầu vào Miền Trung (ông nguyên cán bộ tài chính khu ủy khu V thời chống Pháp), nói như Bọ Lập "đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh".

Nhận quân chúng tôi ở vuờn chuối là anh Thính D3 tình nguyện vừa đi học bổ túc sĩ quan về; người anh to cao, ăn nói chất phát, rất ấn tượng qua lời dặn dò chúng tôi.

Tiểu đội hành quân trên đường dây chúng tôi chia tay nhau, tôi theo chân anh Thính về đơn vị.

Cao nguyên Bôlôven tuyệt đẹp, thảm cỏ xanh mướt như có người cắt xén, chăm sóc; nghỉ 10 phút ở bản Kapơ dọc đường hành quân, nằm thả mình trên thảm cỏ, nhìn trời xanh trong veo sao thấy hạnh phúc thế; phải chăng hạnh phúc là đây?... những căn nhà sàn xinh xắn, sạch sẽ, vài chú ngựa thong dong gặm cỏ như trong truyện cổ tích – giá có người con gái xuất hiện thì mình bảo đó là nàng công chúa ngủ trong rừng mới dậy.

Thôi mơ màng thế là đủ, mình hành quân tiếp.

Tối cao nguyên se se lạnh, gần đến Paksong tôi đi gần anh Thính hơn...bỗng một người to lớn, đen chũi tay vung một vật trắng toát dài như cây kiếm về phía tôi, tôi vội bật khóa an toàn lăn xuống theo phản xạ và hô có địch; có địch làm cả đội hình rối loạn...anh Thính vội nói quân ta, quân ta... hóa ra người như lính tây đen (sau này tôi mới biết ) đó là Thảo đen con lai người Pháp da đen, người Sơn Tây vào trước chúng tôi 1 năm ở C4 cối bộ binh tiểu đoàn, nó biết chúng tôi là lính mới, đang ăn thịt bò nó lấy cái xương sườn bò dài ra dọa chúng tôi, thật chẳng các dại nào giống cái dại nào, lính mới có biết gì đâu, nếu thần hồn nát thần tính bấm cò thì chết - hú hồn.

Sau này ở tiểu đoàn tôi chơi thân với bọn Sơn Tây là vậy.

Tôi được bổ sung vào K3 tình nguyện (sau 4/1972 đổi tên thành D1 E19 F968) mà đối tượng tác chiến của đơn vị là lực lượng đặc biệt của Thái lan được Mỹ huấn luyện và các đơn vị hoàng Gia Lào GM41, GM 42..., bọn tôi là lớp thanh niên Hà Nội đầu tiên và duy nhất tới giờ của tiểu đoàn.

Lính đợt 4/9/1971 được bổ sung vào K3 tình nguyện gồm:

D bộ có Tuân "gián điệp"(có nốt ruồi cạnh mắt) ở Hàng Lược vào hữu tuyến; Phan Thế Hùng "Hùng nhẩm" liên lạc tiểu đoàn năm 1973 ra học sĩ quan, nay ở VP.Bộ Quốc Phòng; Trường "đỏ" lính 2W nay ở VP.Bộ Ngoại Giao; Giá lính liên lạc tiểu đoàn (đã hy sinh salavan); Dục râu lính hữu tuyến (đã hy sinh ở salavan); Toán trinh sát nhà ở dốc Vĩnh Tuy, nó đi trinh sát nhanh như quạ, thấy tổ ong bò vẽ khi nghe nó hô thì đã thấy nó tung tấm ni lông phủ kín người rồi, chỉ khổ bọn mình máy 2W lỉnh kỉnh chạy bán chết; Huy 2W sau về làm chủ tịch công đoàn ngành giáo dục huyện Từ Liêm và tôi "Xuân xoăn" lính 2W sau về miền Nam sang hữu tuyến ( tóc dài không cắt nó xoăn tít thế là anh em gọi là xuân xoăn).

Về các đại đội chiến đấu có: Lợi "trọc" ở Gia lâm (sốt rét rung hết tóc, đầu trọc lông lốc như cái bình vôi) thích sử dụng xtoc (súng cối cá nhân), Chanh Gia lâm B trưởng ( Chanh và tôi hưởng trọn qủa DKZ ở trận Thanh Bình, Bắc Tây nguyên, Chanh hy sinh, tôi bị vỡ hàm); Ngọc "thiu thiu" lính tiểu đoàn 34 - 36 thu dung (sốt rét suốt ngày, da sỉn như bọn nghiện bây giờ nên bọn tôi gọi là Ngọc thiu thiu) nhà ở K80 cạnh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ - thiu thiu nhưng đánh lỳ đòn; Hậu bạc (tóc bạc trắng) bị bắt là tù binh trao trả năm 1974; Minh con Hàng Khoai - lính chốt C3 bị thương ra quân 1974; Đại Lợi nhà phố Ngọc Hà gần Lăng Bác lính cối C4 hiện công tác tại Viện khoa học xã hội: mẹ đau, tự mình chăm sóc cho mẹ nằm liệt gần 20 năm nay không hề kêu ca, chàng trai Hà thành này thật có hiếu "một bông hồng cho những ai , cho những ai đang còn mẹ..." – chiến tranh cầm súng ra trận như một điều tự nhiên, hòa bình nhẫn nhịn chịu thương chịu khó chăn sóc cho mẹ già theo bổn phận; Dương "nghệ sĩ" nhà Hàng Đào (lúc nào cũng có cây ghi ta bên cạnh) hy sinh ở khôngsêđôn và Thắng ở Gia Lâm tuy có bàn giao do sốt phải nằm lại đường dây và hy sinh vì ác tính.

Như vậy chỉ trong vòng 4 năm gần 1/3 số lính Thủ Đô ở tiểu đoàn chúng tôi đã hy sinh; 2/3 còn lại đều bị thương tật - chiến tranh là thế đó.

À mình nhớ sau này bọn thằng Trọng C6 có bàn giao một anh lính định "tút" nhưng đi ngược vào E9 (đi sâu vào vùng địch) nên bị bắt trả về đơn vị mình có lẽ Trọng C6 viết nhầm - nó là người Hà Nội, sau về nuôi quân chỗ D bộ mình, nhà ở HĐ thì phải.

Không giống như anh em lính mới Hà Nội ở (Trọng C6) E9, bọn tôi ở Paksong ngày đầu tiên đi thực địa chiến trường chính là đi...bắn bò – bò ở cao nguyên nhiều vô kể, cứ hết thực phẩn là lại đi băn bò nhưng bắn cũng phải theo kế hoạch phân chia đều cho các đại đội.

Về khoản bắn bò mình phục nhất là Mão trinh sát người Quảng Bình khi bắn, bò đang còn giẫy mà nó đã dùng dao găm lột sạch da con bò rồi (sau Mão hy sinh ở khôngsêđôn – kỳ lạ là trận đó mình và Mão, 2 thằng đi trinh sát thực địa, khi tạm dừng ở con suối cạn mình vừa tung dây trời lên cây để chuẩn bị lên sóng liên lạc về tiểu đoàn thì Mão gọi mình lên bờ ăn cơm, 2 thằng ngồi đối diện nhau, một quả pháo chụp 2 thằng cùng bổ ngửa, thấy Mão nấc, biết nó bị thương mình xé vội băng cá nhân để băng cho nhưng khi cầm cuộn băng nhét vô bụng thì bàn tay mình lọt thỏm vô luôn bụng xuyên qua sau lưng.

Biết không thể sơ cứu, mình đành nhìn đồng đội trút hơi thở cuối cùng trên tay mình).

Cao nguyên rộng, tương đối bằng phẳng, khi D3 tình nguyện đánh giải phóng dân bỏ đi hết, nhà cửa chỉ còn một căn nhà ngói 3 tầng của tỉnh trưởng Bun Um hoang phế; vườn chè của việt kiều rất nhiều, tươi tốt, búp to, xanh mướt lính tự do hái về sao (mình biết sao chè là ở đây); cà phê thì bạt ngàn, lính rang uống cả ngày, thời đó bọn mình chỉ sử dụng đường hóa học để uống cà phê mặt thằng nào thằng nấy cứ tưng tưng thích thú – giờ mới biết mình ngu.

Rau thì khỏi phải nói nhiều loại vô kể từ rau nhút, quả su su đặc biệt là đọt su (ở với anh em khu 4 nhiều nên hay dùng từ khu 4) đọt su ăn cực ngon; rau cần, rau muống như ở Hà Nội mọc đầy hoang dại; còn cá cứ vũng nào còn nước dứt khoát chỗ đó có cá và chủ yếu là cá rô, cá quả; còn khí hậu tuyệt vời, ngày mát mẻ, tối lạnh nhưng đắp chăn càng thú vị và đặc biệt có đêm mình để chậu nước thì sáng ra trên mặt nước có váng mỏng dính đóng lại như màng nước đá khi ta để trong tủ lạnh.

Cao nguyên Bôlôven – đặc biệt là Paksong thời đó đẹp không bút nào tả nổi,

Thời gian này tiểu đoàn còn có máy thông tin 15W riêng, sau khi tiểu đoàn biên chế vào trung đoàn 19 thì máy 15 W chuyển về Sư đoàn.

Các đại đội của tiểu đoàn có nhiện vụ chốt và bảo vệ Paksong còn lính 2W chúng tôi cứ 2 người một máy đi dã ngoại tập liên lạc với nhau.

Chúng tôi thật may là khi vào chiến trường có thời gian dù chỉ cần vài ngày làm quen với thực địa, với bom đạn chính vì vậy tổn thất của lính Hà Nội so với các tỉnh khác như Nam Hà, Hà Bắc, Vĩnh Phú là ít.

Cuối tháng 5/1972 chúng tôi được lệnh chuẩn bị chiến dịch, sau thời gian nghỉ ngơi tôi rất phẩn khởi được ra trận lần đầu tiên - chiến dịch giải phóng Khôngsêđôn.

Lương thực thì chuẩn bị đầy đủ và có thể nói còn hơn cả thời ở Miền Bắc, tuy nhiên gạo tẻ thì không có chỉ có gạo nếp Lào – cơm gạo tẻ là thứ xa xỉ đối với lính ở Lào, thực phẩm mang theo chúng tôi dùng cả ngựa thồ, nói như vậy thôi, vì đây là lần thực phẩm nhiều nhất và duy nhất trong đời lính chiến của tôi.

Từ cao nguyên Boloven chúng tôi hạ dần độ cao xuống đồng bằng; bọn trinh sát đã đi trước mấy ngày chuẩn bị vượt sông Khôngsêđôn.

Chiều bọn tôi ẩn mình bên này bờ sông chờ đến tối mới vượt, nhìn nước cạn thấy cả những viên đá dưới lòng sông nhiều thằng nói vượt ào qua chứ chờ với đợi – chập tối bọn thằng Toán trinh sát cùng bọn hữu tuyến bắt đầu vượt sông dây điện thoại được chăng vừa chuẩn bị liên lạc vừa làm dấu dẫn đường vượt (chỗ nông nhất).

Mặt trời vừa khuất bóng chúng tôi vượt sông, C1 và C2 đi trước tiếp đến D bộ, C3,C4 đi sau cùng, trung đội thông tin bọn tôi được phân theo các đại đội, đài 2W của tôi theo đại đội 3.

Các đại đội lần lượt qua, tôi cảm thấy nước sông mỗi ngày một to, khi D bộ qua, tôi đã thấy hiện tượng vượt sông khó khăn, có người trượt ngã và nước cuốn trôi, khi tôi đến gần giữa dòng sông thì từ trên thượng nguồn nước đổ về cuồn cuộn, củi rều trôi bồng bềnh như ở lũ sông Hồng, tôi kêu to: lũ rồi - đấy là bản năng của dân đầm trấu ven đê sông Hồng mà tuổi thiếu niên tôi hay đi vớt củi rều mùa lũ (còn mùa cạn bơi vượt sông Hồng ăn trộm khoai lang bãi giữa); liên tiếp những cây to, rất to từ thượng nguồn chạy băng băng quăng quật vào chúng tôi như ta đánh gián; đúng là như lũ cuốn, không gì ngăn được, cả đội hình chúng tôi tan ra từng mảng, tan biến trong màn đêm; lúc đầu tôi còn cố ôm máy và khẩu AK nhưng sau đó muốn giữ cũng không được lũ đã cuốn trôi toàn bộ những gì ngoài cơ thể trần như nhộng của tôi, chiếc quần đùi rộng thình cũng bị lũ cuốn phăng teo.

Lần đầu tiên tôi mới thấm thía thế nào là lũ đầu nguồn (đâu phải như bọn trẻ ven đê bọn tôi mong lũ để vớt củi rều về làm củi) và cũng lần đầu tiên tôi hiểu đầy đủ câu "chết đuối vớ phải cọng rơm" khi chống chọi với lũ cả tiếng đồng hồ có lẽ tôi đã trôi được cây số; sức tàn, lực kiệt thấy bất cứ cái gì trước mặt đều có giơ tay nắm – từ cái lá cây cũng cứ vơ, một cọng rác nhỏ nhoi cũng giữ... cố lắm ngón chân cái mới chạm đất, nhìn thấy cành cây lòa xòa mặt nước cố với mà không được, chấp nhận buông xuôi cho dòng nước cuốn thì may quá một cành cây đưa ra bảo tôi nắm vào để kéo vào bờ, khi tôi vào được bờ thì đồng chí đó lại chạy đi tìm cứu những đồng chí khác; vì là lính mới nên mình không còn nhớ ai đã cứu mình lúc đó.

Trong chiến tranh việc cưu mang, cứu giúp là việc làm tất nhiên, là nghĩa vụ của người lính không một tính toán vụ lợi, không một lời kể công - đơn giản thôi vì họ là một công dân Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mặc áo lính.

Trời lúc này đã gần sáng, mệt mỏi, đói khát người lại trần như nhộng, nhìn quanh cũng nhiều đồng chí như tôi ( ngày thường thấy nó to, hùng dũng là vậy sao bây giờ bé téo tẹo teo, mềm xèo như con chi chi, nhìn chán chết ) chúng tôi bàn nhau trốn vô các bụi rậm tránh gặp dân; đói, khát dù ở cạnh sông cũng không dám mò xuống uống, đành nằm chờ tối bắt liên lạc với tiểu đoàn.

Chờ, cố gắng chờ, phải chờ, sống chết cũng phải chờ tối, câu nói này cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi, phía xa thưa thớt có người đi lại nhưng tất cả chúng tôi đền năm im chờ và đợi và tối cũng đến, bọn thằng Ngọc thiu thiu C2 đi từng bụi dậm gọi nhỏ, mừng quá chúng tôi lần lượt chui ra, đói quá nên ăn trước rồi mới mặc quần đùi sau.

Sau đợt lũ cuốn này chúng tôi phải lùi lại ít ngày chờ chi viện từ cứ Pakson; con ngựa mang theo để gùi nghe nói cũng thịt để ăn.

Trận đầu ra quân của tôi là thế đó – sạch sành sanh, trắng tay đúng nghĩa; may rủi đều do số phận, nhanh một giây cũng chết, chậm một giây cũng chết.

Sau trận chết hụt này tôi không bao giờ tắm "Tiên" nữa, duy bọn thằng Lợi trọc ở Gia Lâm ở C2 đi trước không hưởng thụ "chết đuối vớ phải cộng rơm" nên hiện giờ bọn nó dù đã "60 năm cuộc đời" rồi nhưng vẫn rủ nhau từ già đến trẻ vẫn đi tắm tiên ở bãi sông Hồng.

Nếu bạn nào ở Hà Nội cứ ở bên này bờ sông Hồng dưới cầu Long Biên khoảng 200m, sáng bắc ống nhòm nhìn sang phía Gia Lâm là thấy bọn nó tắm "tiên" đấy.

Mấy ngày sau, tôi được bỏ sung máy 2W và khẩu AT tiếp tục cùng C3 hành quân tham gia chiến dịch giải phóng khôngsêđôn.

Khoảng đầu tháng 3/1975 khi tham gia chiến dịch nghi binh Bắc Tây Nguyên, mình cùng C3 chốt ở điểm cao 605.

Sáng hôm đó sau khi đánh bật địch tấn công chiếm chốt (sau này mình kể rõ hơn ở phần sau) mình lấy được một ba lô của lính Việt Nam Cộng hòa có 2 vật mình chú ý là 01 lon, tròn, nhôm trắng ( hồi đó gọi là longô hay gì đó giờ quên mất tên gọi rồi) mở ra có một miếng thịt heo tươi còn nguyên lông đen, mình nghĩ thằng này đúng là lính chiến nhưng lười hơn mình, chắc thịt trộm heo của dân chỉ kịp sẻo một miếng để hàng quân và một cuốn nhật ký – hay thật, lính chiến bên này hay bên kia đều có ghi nhật ký và cũng đều chân thật.

Khi đọc nhật ký của đối phương, mình nhớ mãi đến giờ chàng lính này viết khi về phép trước tết 1974-1975 ( nhà ở 100 đường Hồng Thập tự Sài Gòn, sau giải phóng mình có tìm mà không gặp – nay là đường Xô viết nghệ tĩnh) chắc bị mẹ trách nhiều nên mới viết: mẹ à (chắc người Bắc di cư) đóng quân quanh năm vùng rừng rú, một năm về phép một lần, lính xa trường khổ lắm mẹ ơi; về tiêu hết tiền, đi chơi nhiều mẹ mắng...lần sau về mẹ nhớ cho con ăn bánh xèo nghe.

Đặc biệt trong cuốn nhật ký có câu đối tết của người lính cộng hòa này viết:

Một cành mai, ba bẩy điếu thuốc, bị không gạo cũng vui đón xuân

Một thằng quan, năm ba thằng lính, túi không tiền cũng ngồi đón tết.

Lúc đầu mình chưa hiểu ý một cành mai, sau thời gian ở Miền Nam mới biết mai xuân và mai ve áo.

Cũng một kiếp người, dù ở bên nào chiến tranh người cha, người mẹ của người lính cũng đều quan tâm đến con cái, và hết lòng dậy dỗ con phải không anhThơ và con người phải chấp thuận sống theo số phận an bài phải không.

Quảng thời gian ở lính mỗi khi đi đánh phối thuộc đánh điểm hay đi chốt với các đơn vị về có chiến sĩ hy sinh hay bị thương ...anh em đang thông tin cho nhau thì thằng Tư người Nghệ An lính hữu tuyến mới bổ sung sau đợt đánh Khôngsêđôn (bắt trước câu nói đùa của lính Hà Nội trong lúc hành quân, hay đi cải thiện khi không có lãnh đạo) bô bô nói tếu "...một tên x.l và mấy tên khác bị thương"..

Trường B phó người Kỳ Anh, Hà tĩnh góp ý ...mày câm cái mồm thối của mày được không; còn chính trị viên trưởng tiểu đoàn "Mặc khẩu khột" nghe được gọi lên hỏi ...tại sao gọi các đồng chí đã hy sinh như thế?..

địch cũng gọi tôi và đồng chí là tên xâm lược; về suy nghĩ và trả lời cho tôi.

Sau đợt phê bình này ...không những Tư nhà ta mà cả bọn tôi cạch đến khi ra quân không dám nói tếu kiểu nay. mọi cái rồi sẽ qua, cái đau để lại sau, nhưng đã là con người thì có quyền lựa chọn đứng lên sau mỗi lần ngã hay không đúng lên.

Đối với kẻ thù cũng vậy, sau chiến tranh mỗi dân tộc có mỗi cách ứng xử với kẻ thù khác nhau nhưng về cơ bản vẫn là tha thứ.

Nhớ lời Bác Hồ đã từng nói...tôi Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa sẵn sàng trải thảm đỏ cho người Mỹ cuối cùng rút về nước.

Đấy là kể chuyện phê bình, còn chuyện Vắt (dọa mấy em gái chơi) - Nói tới Paksong chỉ nói tới cái đẹp không thì bảo mình thiên vị, thôi thì phải nói thật là ở Paksong sợ nhất...vắt, eo ôi vắt nghĩ lại mà kinh – Trong nhật ký Trọng C6E9 nói thế là ít đấy, lính K3 tình nguyện luôn có đôi tất chân do lính tự làm bằng vải bọc nhựa ( giờ nhìn các em chân dài mặc váy ngắn tất lên tới bẹn mình nghĩ mấy em dùng "mốt" xưa quá, bọn tớ ở chiến trường mang tất dài lên tới háng cách đây hơn 40 năm rồi, nay học mốt bọn tớ mà còn bầy đặt mặc váy ngắn...), đùa tí thôi; nhưng đúng là nếu không có những đôi tất tự chế đó, lính Paksong chắc khó hoàn thành nhiệm vụ vì vắt cản đường – phải đạp lên vắt mà đi..

Paksong vắt và vắt vì thị xã không dân nên cây cỏ mọc um tùm, chẳng cần phải sau cơn mưa chỉ cần thấy hơi người vắt đứng thẳng người mọc như măng; vắt ở mọi lúc mọi nơi và càng nhiều hơn khi tiểu đoàn vào đánh giành lại Paksong lần 2 năm 1973.

Vì đây là vùng tranh chấp ta và địch, thì cái sợ thứ 2 là mìn - địch cài mìn ta đánh giải phóng, ta cài mìn địch chiếm lại cài mìn... cứ thế đã làm nên một Paksong có đặc điểm riêng biệt do con người tạo ra là mìn và mìn ( tháng 4/1973 Đại tá Đặng Tính khi vào nghiên cứu chiến trường dù công binh đã đi trước dò mìn nhưng xe chở Đại tá vẫn vấp phải mìn chống tăng và hy sinh); tối tối nghe mìn nổ mai mò tới dứt khoát không phải thám báo cũng là thú rừng, chỉ việc khiêng về cải thiện.

Nằm chốt cùng C3 ở bản NaBông, phía bên kia nhà sư là địch do lực lượng đặc biệt của Thái chiếm giữ, ta và nó chỉ gầm gè tìm sơ hở của nhau mà tung cú đá quyết định; địch mạnh hơn vì được hỗ trợ của không quân, pháo binh còn ta chỉ có sự gan lỳ chịu đòn của lính bộ binh C3; có cối C4 mà cối tiểu đoàn các bác biết rồi đấy – đạn bắn chi viện gần như bằng không vì cơ số đạn trên đường hành quân chiến đấu mang được mấy quả; to khỏe như thằng Thảo đen thì vác được cái đế, Thằng Minh đen Sơn Tây to cao chỉ vác được cái nòng, loại như Đại Lợi ở Ngọc Hà gánh tòng ten được 4 - 6 quả lấy đâu mà bắn chi viện.

Hỏa lực chốt chủ yếu tại chỗ như B40, B41, cối cá nhân M79).

Trận này thằng Minh con 17 Hàng Khoai đeo Xtoc ( M79 ) đạn to bằng nắm tay vàng óng quanh ngực trông oách thật – đúng là cao bồi chợ Đồng Xuân.

Bom pháo liên tục, bản cháy ngút trời, không biết là ta đánh hay chúng rút để cho bom, pháo bắn mà khi chiếm được bản thì chẳng còn thằng địch nào.

Chốt ở bản không dân thì tiện việc nấu ăn, gạo sẵn, gà thì thằng nào thích thì bắn vài con bọc vô đất nhão vất vào nhà cháy thế là có bữa gà nướng ( nói như dân nhậu bây giờ là đặc sản ), còn bọn tôi sau này do ăn gà nướng quá nhiều nên cứ thấy thịt gà là...muốn ói vì sặc mùi cứt gà sát và mất một thời gian không dám ăn thịt gà.

Chốt ở Bản NaBông được vài hôm, tối tối một chiếc máy bay bà già bay vòng vo tam quốc phát đi lời kêu gọi của một thằng nào đó chiêu hồi kêu gọi bọn tôi hồi chánh, sau này mới biết khi C2 đánh khottaben, thằng T người Hà Tây (nay Hà Nội) bị bắt chắc bị nó đánh đau quá chịu không nổi nên đọc lời kêu gọi bọn tôi chiêu hồi, nhiều thằng lính tức quá cứ AK nã về phía máy bay, đạn lửa bay kẻ đường dọc ngang giống như trò đùa cũng hay hay.

Sự hy sinh mất mát như các bạn thấy đâu phải chỉ có những người lính cầm súng - Những người ở hậu phương có thể còn chấp nhận sự hy sinh quyền lợi, tự do, tính mạng gấp trăm lần những người cầm súng ra trận như tôi đã viết trên dọc đương hành quân: Cụ ông 70 -, 80 tuổi răng cái có cái không món mén nhai ngô bung nhưng vẫn cảm thấy chưa làm được gì nhiều cho tổ quốc; những người phụ nữ hậu phương ngày đeo súng làm cỏ để có gạo nuôi quân, chiều tối về tât bật chở quân qua sông dưới làn bom đạn vẫn thấy thời gian trong ngày quá ít để đóng góp sức mình cho cuộc chiến tranh giải phóng; nhữnh nữ thành niên xung phong lấy thân mình làm cọc tiêu cho xe qua - mất mình em có sao đâu, miễn là các anh bộ đội bình yên đến được chiến trường là dù có hy sinh họ vẫn nở nụ cười trên môi mãn nguyện vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Những khoẳng khắc của phóng viên mặt trận từ 2 phía ghi được sự hy sinh của nhân dân ở hậu phương 2 phía là những minh chứng cho sự quyết tâm của một dân tộc sãn sàng hy sinh tất cả cho độc lập tự do dù có đốt cháy cả dẫy trường Sơn.

Nói về sự sẵn sàng chấp nhận hy sinh cho độc lập tự do cho tổ quốc, lớp hậu sinh bọn mình so với các bậc đàn anh đi trước trong đơn vị là người khu 4 thì bản lĩnh chưa bằng bằng - Tiểu đoàn mình nguyên là lính biên phòng bảo vệ cầu Hiền Lương, sau Bộ rút tăng cường cho chiến trường Lào.

Lớp chiến sĩ năm 1968 của tiểu đoàn có những tấm gương hy sinh thật bi hùng nhưng chưa sách vở phản ánh cũng như sự tưởng tượng của nhà văn như khi chặn địch, xe địch không chạy vào đúng nơi gài mìn, đồng chí trung đội trưởng chạy ra giữa đường nã súng về đoàn xe cho xe địch túa ra hai bên đường vào đúng bãi mìn để bộ đội tiêu diệt và có những sự hy sinh thật bi tráng đó là lần trinh sát đường 16 đi xêbănghiên, đồn paipo gần ChămPacSac ( sekongnoi ) bị địch phát hiện 3 đồng chí gồm anh Thu B trưởng trinh sát, anh Khải A trưởng Trinh sát cùng quê Quảng Bình và đồng chí Phán lính trinh sát người thọ Xuân Thanh Hóa phải dầm mình xuống bãi lầy một ngày đêm, khi địch hết lùng sục đơn vị đi tìm cáng về thì 3 đồng chí trên mình đỉa bám như mặc áo "áo tơi" bằng đỉa.

Hai đồng chí Thu và Khải hy sinh do không còn máu, đồng chí Phán khỏe mạnh còn sống khi gỡ đỉa đếm trên người có đến 375 vết đỉa cắn phải đưa khẩn ra đường dây đưa ra bắc điều trị.

Khi phục viên lập gia đình, con cái cứ bảo cha do ở bẩn, bị ghẻ (người chằng chịt vết sẹo, xấu xí) nên quân đội thải hồi; anh Phán nói con không tin, sau phải nhờ anh Dũng nguyên tiểu đoàn trưởng D 3 tình nguyện quê ở Ba Đồn, cùng anh Quá người Thanh Hóa nguyên tác chiến tiểu đoàn đến nói gia đình, dòng họ, làng xã mới tin là đỉa cắn.

Giờ tôi viết ra đây có lẽ cũng không ai tin - vì có lẽ chỉ ở D3 tình nguyện mới có chuyện đỉa cắn chết người.

Khi nhận được thông tin báo qua đài 15 W của tiểu đoàn rằng 2 hy sinh vì đỉa cắn, một bị thương nặng, Mặt trận không tin đã cử cán bộ vào kiểm tra xác minh; không biết lịch sử Sư đoàn 968 có đưa bi anh hùng ca này vào lịch sử Sư đoàn không?.( một lần nào đó nếu có điều kiện nhờ Anh Thơ và anh Vetran rể Thành Hóa khi về quê vợ ghé thăm đồng chí Phán người còn sống sót 1 trong 3 đồng chí trong lúc đi trinh sát đó- giáp miền núi Thọ Xuân Thanh Hóa ).

Trải lòng cùng các "xiều", chiến hữu, bạn hữu trên mạng.

Mọi việc khởi đầu – nói như các cụ ta đã dạy.

Khi vào trang thông tin "một thời máu và hoa" do mình chưa chuẩn bị hành trang đầy đủ nên thiếu cái này, thừa cái kia và đúng là lính mới " ngơ ngơ như bò đi cợp" khi tiếp cận chiến trường - nói như mấy chàng lính cũ đơn vị K3 Tình Nguyện người Hà Tĩnh mắng mình; âu cũng lại là bài học "đi một ngày đường học một sàng khôn".

"Một thời Máu và hoa" chuyên mục là vậy, nhưng càng đọc nước mắt càng nhiều hơn; đọc chưa hết các bài viết của đồng đội nước mắt đã cay xè, giờ đồng đội viết đấy - biết rằng đã lược đi những sự tàn bạo của chết chóc; lược đi sự trần trụi của thô tục, mài rũa bớt đi sự thô bạo của sự kiện nhưng vẫn đau lòng trước sự chịu đựng quá sức tưởng tượng của người lính chiến trường.

Hôn nay chúng ta, những người còn sống sót sau cuộc chiến tranh nói chung và những người đang ngồi trên trang mạng "một thời máu và hoa" nói riêng muốn nói với nhau, kể với nhau những kỷ niệm vui - buồn, đắng - cay, mặn - ngọt, đau khổ đến tuột cùng và một chút lãng du của tuổi xuân ở chiến trường.

Hồi ký là vậy; hồi tưởng là vậy, mỗi người ở mỗi góc độ cuộc chiến, cùng đi tới đích cuối của cuộc chiến tranh bằng cách đi khác nhau; có người chấp hành đúng kỷ luật chiến trường, nhưng cũng có người xé rào; có người lúc này, lúc khác; có hành vi này, hành vi khác như thằng D người Hà Nội khi ở Binh trạm 5 vất hết quân tư trang do không đủ sức mang vác, chỉ còn đúng cây AK cứ kéo lê dọc đường hành quân và dù ngửa tay "xin" cơm đồng đội trên đường dây 559 cũng không đảo ngũ, vào chiến đấu đã hy sinh anh dũng; như thằng Tư "toác" lính thông tin người xứ Nghệ, tiểu đội mình lúc nào cũng toang toác nói "kiểu đài phản động" nhưng trong chiến trận lúc nào cũng xung phong đi trước.

Cuộc đời lính chiến thế mới thật là lính, không tròn chĩnh như hòn bi, không hồng như báo cáo của chính trị, không khô cứng như cây súng và khao khát được yêu.

Còn tình yêu lính ư, có chứ ai bảo là không; không chỉ có mà còn cuồng nhiệt, dữ dội nữa, nó luôn cháy bỏng trong người lính và những người đã từng mặc áo lính, nó theo người lính đến cuối cuộc đời mà câu thơ của Xuân Diệu đã là lột tả bản chất "yêu" của lính mà mình đã chép lại tặng Vetran:

...Trong hơi thở chót dâng trời đất

Cũng vẫn say tình đến ngất ngư...

Nhưng mỗi chiến trường sẽ có sự tỏ tình và "yêu" khác nhau như mình lính K3 thì lấy đâu bóng dáng phụ nữ Việt mà tỏ tình, còn với em gái Lào thì lời đầu tiên khi bước chân vào tiểu đoàn tình nguyện này đã được nghe giáo huấn:

Tòa án binh sẵn sàng mở để xét xử bất kỳ đồng chí nào vi phạm tình hữu nghị Việt - Lào và đặc biệt là đối với phụ nữ Lào nếu vi phạm là tước quân tịch, xử bắn ngay tại chiến trường, vì vậy lính bọn tôi hầu như "sun vòi" ngay.

Nói thế, đời trai trẻ của lính làm sao cưỡng lại yêu cầu tự nhiên những lúc nhớ quá thì xung phong đi cải thiện để ra bản nhìn chị em giã gạo – nói chị em đừng cười, vì khi giã gạo do ngực để trần ( không áo trong và cũng không áo ngoài ) cặp "đào tiên" nhún nhẩy theo nhịp giã gạo đẹp tuyệt, nhiều khi phía dưới của mình cũng gật gù theo nhịp giã cắc, cắc... bùm là đây "SGG" nhé.

Táo bạo hơn nữa là đi tắm suối – Chiều ở Bản Bạc (khoảng đoạn cuối cao nguyên xuống đồng bằng) tôi thường "tắc nạm"; tắm ở bản vui lắm, khi chị em xuống tắm thì cứ từ từ (...ừ thì từ từ khoai cũng mềm nhừ... như "lính thông tin" là đây) ngồi xuống nước và chị em cũng từ từ cuốn váy lên và ném cái bịch lên bờ ( bây giờ bọn thằng Lợi vẫn tắm tiên có thể là lý do này) thế là lúc này tôi cũng xuống tắm, lính ta thì lịch sự hơn là mặc quần đùi vì kỷ luật quân đội (vì cả lý do khác nữa...) khi mình khoái thì quay lưng bảo em cọ hộ lưng và khi em cần, em quay lưng bảo mình cọ lưng, mình cọ cẩn thận lắm - thậm chí nhiệt tình tay vượt ra cả phía trước, khi đó em bảo ngay: cái này là dành cho con mình đấy...

Đấy là ở bên Lào chỉ lơ tơ mơ thế thôi, ai dám vượt quá, "nó" đi báo cáo cán bộ là chết ứ ự - chỉ có thế thôi; còn khi về Tây nguyên đi dải dây gặp đầu tiên là chị em dân tộc ở vườn xoài Lệ Thanh – Lệ Xuân mấy thằng mình sốt rét thèm soài cũng có mà tinh nghịch cũng có mới nhờ chị em dân tộc hái xoài vì cái bộ đội không biết trèo, chị em giúp ngay trèo lên hái, mình ở dưới cứ tủm tỉm cười thế là chị em biết: Ơ cái bộ đội thấy "cái" của em, "cái" của em thấy mặt bộ đội rồi, ngượng quá chạy thối chết.

Thế đấy, tuổi 18 - 20 nhập ngũ đã có mối tình nào vắt vai đâu anh "Vetran", chỉ giỏi tưởng tượng khi được người con gái nắm tay, trao cuốn sổ trắng để ghi nhật ký thì tưởng bở được yêu, vào chiến trường sau mỗi cuộc chiến cứ mơ, nơ, màng, màng...kết thúc chiến tranh, đến dưới góc cây đầu đường Hàng Bún gần dốc Hàng Than như mọi chiều thứ 7 trước chiến tranh chờ - ngước nhìn lên gác anh bộ đội ...nghe tiếng cười trẻ thơ - Thật đúng là kết thúc chiến tranh.

(Chuyện vui bên lề:

Phụ họa bác Xuanxoan một câu chuyện về tình huống "mặt đối mặt":

Khi đó là ở chiến trường Trị Thiên.

Bộ đội đóng quân trong rừng, nhưng xung quanh vùng vẫn có một số bản người dân tộc.

Khác với các bản làng tít trong Tây Nguyên thường trồng cây gạo (Pơ-lang) hay cây Kơ-nia ở đầu bản, ở vùng này lại trồng dừa, nhưng ở mãi ngoài nương.

Đồng bào dân tộc rất hiếu khách, họ sẵn sàng cho các tốp lính đi lẻ vài trái dừa ngày nắng.

Phiền một nỗi cây dừa rất cao, mà lính tráng hầu như không biết trèo dừa.

Vì thế nhiều khi đồng bào cho đấy mà đành chịu không hái được.

Về sau chúng tôi phát hiện ra các cô gái dân tộc trèo dừa rất giỏi.

Thế là phải tán.

Tán xong rồi thì chỉ còn việc ngồi chờ mà chuẩn bị bổ dừa.

Một lần nhóm chúng tôi tán xin được một cô gái mấy quả dừa.

Quá nhiệt tình (và cũng háu ăn nữa), chúng tôi theo cô ra sát gốc dừa chờ đón "chiến lợi phẩm".

Cô gái lấy ra 1 đoạn dây thừng bện bằng dây lông beo (loại dây rừng này rất bền, chuyên dùng bện dây buộc, khắp rừng Trường Sơn chỗ nào cũng có) quấn 1 vòng to quanh cây dừa, vặn xoắn lại rồi cho chân vào túc tắc trèo lên.

Ba thằng lính nhà ta đứng ngửa cổ lên nhìn.

Đầu tiên là nhìn chùm dừa trên cây cao.

Mà thực ra cũng định nhìn chùm dừa là chính thôi.

Thế quái nào khi cô gái leo lên được độ 3 mét, thì cả ba thằng lại nhìn vào cô gái.

Người dân tộc mặc váy ngắn, áo thì cũn cỡn, may lắm chỉ dài độ ba chục phân, lại có thói quen không mặc "nội y", nên khi ngửa cổ lính tráng nhà ta nhìn thấy đủ cả dừa thật lẫn dừa giả và ... vân vân.

Cả 3 thằng chợt đỏ mặt chưa biết làm thế nào.

Thằng Dũng chắc định cười nhưng lại muốn nén nên hắt từ trong cổ họng ra một tiếng "hục" to tướng.

Bất chợt cô gái tụt nhanh xuống gần như chỉ trong chớp mắt rồi túm lấy chúng tôi kêu:

- Bộ đội nhìn thấy gì rồi phải không?

- Khô ..ông, khô ...ông.

Chúng tôi không nhìn thấy gì cả.

- Cả ba thằng tôi luống cuống.

- Có thật không nhìn thấy gì không.

Bộ đội phải nói thật đi.

- Cô gái lại gặng, giọng căng thẳng.

- Thâ ..ật, thâ ..

ật.

Thật mà.

Chúng tôi không nhìn thấy gì đâu.

- Thằng Dũng vội gân cổ lắp bắp chối.

Tim đập chân run.

Chúng tôi hoảng thật sự.

Nhớ lại tháng trước bên Đại đội bạn, có một thằng nhìn trộm gái bản tắm suối bị bắt quả tang.

Thế là cán bộ Đại đội phải trực tiếp dẫn đến già bản xin lỗi và nộp phạt nửa cân muối theo đúng lệ làng.

Khi đó chúng tôi cũng rất thiếu thốn nên nửa cân muối không phải là chuyện nhỏ.

Nay ba thằng tôi mà nhận tội nhìn thấy cái gì, bị phạt mất vài cân muối của đơn vị thì có đem bắn chúng tôi cũng không oan.

Cô gái vẫn nhìn chúng tôi dò xét, trong khi cả ba thằng mím môi, nín thở, mắt nhìn xuống đất.

May sao cô gái cất giọng:

-Thôi các anh lùi ra xa đằng kia đi, để em hái dừa cho.

Chúng tôi lùi thật xa, khe khẽ thở phào rồi ngồi xuống đất, mặt cúi gằm.

Cô gái lại trèo lên cây dừa và hái cho chúng tôi 3 trái.

Chúng tôi nhận dừa, cảm ơn cô với lòng biết ơn như trẻ nhỏ được mẹ đi chợ mua quà về.

Hú vía.

Chúng tôi đi xa rồi mà vẫn còn run.

Chuyện này không thể kể được với ai, cũng không dám đem ra bàn tán.

Chỉ đến khi đã vào sâu trong B3 rồi, đôi lúc chúng tôi mới dám ôn lại.)

Điều tôi sợ nhất sau chiến tranh kết thúc:

Trước năm 1975 người lính ra trận có một hậu phương Miền Bắc vững chắc, có một gia đình làm chỗ dựa tinh thần, có một niềm tin và nỗi khao khát cháy bỏng là thống nhất đất nước thì đường ra trận của người lính đúng như trẩy hội mùa xuân; những ai đã từng ở Trường Sơn cuối năm 1974 được chứng kiến khí thế ra trận của người lính - quân vào, quân ra lấy hàng rầm rập suốt ngày đêm đúng là như thác đổ, khi đó bọn tôi lật cánh từ chiến trường Lào về Tây nguyên góp phần làm đường dây 559 thêm sôi động bởi cả một sư đoàn với phong thái ung dung, đỉnh đạc, tính hài hước vui vẻ, tinh thần lạc quan yêu đời của người lính phong trần, từng sông pha trận mạc nơi đất nước bạn nay mới được "về quê" để chiến đấu - đúng với tâm nguyện người lính.

Nhưng "Chiến tranh đâu phải là trò đùa..." tuổi xuân trôi qua ở chiến trường với đầy kỷ niệm vui buồn, đồng đội hy sinh đã được đưa về đất mẹ, tuy vẫn còn " rải rác biên cương mồ viễn xứ/chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/áo bào thay chiếu anh về đất/sông Mã gầm lên khúc độc hành...như lời bài thơ Tây tiến của Quang Dũng"; những người còn sống sót có đấy những tấm Huân chương "đỏ" ngực, nhưng di chứng của cuộc chiến trên mỗi thân thể của mỗi người thì vô cùng đa dạng.

Tồi tệ nhất là di chứng của chất độc da cam mà có một hồi nhân dân chưa biết nên khi anh em đồng đội bị nhiễm chất độc mầu da cam về sinh con đẻ cái bị "dị tật" thì miệng lưỡi dân gian nói là gia đình đồng đội ta ăn ở thất đức mới đẻ con "quái thai", nay hiểu ra thì chẳng gì cứu vớt được: đau!

Đau!

Đau lắm, muốn chết trời cũng không cho chết; có lẽ đời lính chiến trường khổ nhất, khổ đến tột cùng, khổ đến tận cam lai vẫn còn khổ - chính là dính vô chất độc mầu da cam.

Nhưng kể cũng lạ, cùng đơn vị người bị dính, người không bị dính chất độc da cam như ở Dbộ Tiểu đoàn 3 tình nguyện, bọn tôi cùng ăn, cùng uống nguồn nước, cùng hít thở khí trời vùng chiến trận nhưng Chọn là y tá tiểu đoàn bộ người Thanh Hóa lại bị nhiễm chất độc, truyền qua các con, có một đứa lành lặn hơn, có chồng và người ta nói chỉ có thế hệ thứ 2 những khi con Chọn lấy chồng thì thế hệ thứ 3 vẫn bị ảnh hưởng chất độc da cam, gia đình cháu lại tan vỡ - đến cam lai mà vẫn còn khổ, có lẽ không còn gì khổ hơn nữa.

Ở Mỹ khi người Mỹ tham chiến ở Việt Nam thì xã hội có hội chứng "sau Việt Nam", khi người Mỹ tham chiến ở Irac hay Afghanistan cũng có các hội chứng tương tự như vậy.

Còn ở Việt Nam thắng lợi to lớn quá, hòa bình rồi mà cứ ngỡ như mơ lên mọi cái riêng tư, mọi di chứng chiến tranh đều được đặt qua bên; anh em rời quân ngũ tự mình bơi chải kiếm sống kẻ đạp xích lô, người lên rừng buôn bạc trắng, kẻ bán phở chợ Đồng Xuân ai may mắn thì tiếp tục đi học, ra làm công chức "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" vui thú điền viên, đến giờ nhìn lại chẳng ai giàu có gì; âu cũng đặc trưng của một thế hệ người tham gia bảo vệ Tổ quốc và khi đặt "Tổ quốc trên hết" thì mọi riêng tư phiền muộn đều tan biến đâu hết.

Riêng tôi có thể bị thể nhẹ bị nên lúc đang học học viện của Đảng ở Thủ Đức năm 1979 có một đoàn gì đó tôi không nhớ, trong đó có một nhà sư đến bắt mạch cho tôi và có nói tôi bị chất độc nặng (hồi đó chỉ nói là chất độc thôi) và có bốc thuốc và châm cứu cho tôi; Sợ thật sự, khi nhà sư báo cho mình biết nhưng không có tiền mua thuốc nên nhà sư dặn tôi cứ mỗi buổi sáng vắt một quả chanh uống nguyên chất trước khi đánh răng sẽ bớt và không biết đúng hay không, tôi tin và duy trì việc uống nước chanh nguyên chất này trong 5 năm tới khi ra trường và thật sự là khi đó tôi đang yêu cô bé quàng khăn quàng đỏ (do người bé nhỏ, mà gia đình tôi đặt tên gọi riêng)... mà không dám "động đậy" thế là tan vỡ một mối tình và người đó trách tôi đến giờ, sao hồi đó anh không "hư" một tí để thành vợ thành chồng.

Trục trặc mãi đến năm 1985 khi gặp là cưới liền nói như vợ tôi bây giờ nói thấy tội tôi "ngồi xó bếp" không ai thèm rước mới đồng ý cưới; Năm 1986 khi vợ có bầu tôi sợ suốt 9 tháng 10 ngày mà không dám nói; khi đưa vợ đi đẻ đứa con đầu lòng thấy tôi, một thằng đàn ông cứ chộn rộn ra vô phòng đẻ, một bà cụ chăm đẻ bảo tôi ra gốc đa quỳ lạy thắp hương vái, không có hương bà cụ cho bó hương và bảo vái - tôi vái theo lời bà cụ: Cầu Trời, cầu Phật phù hộ cho mẹ tròn con vuông; cầu Trời, cầu Phật phù hộ cho mẹ tròn con vuông nhưng tôi vái thêm câu...con trai cũng được, con gái cũng được, cầu mong mẹ tròn con vuông ...chỉ đến khi bác sĩ ra bảo sinh con trai, lành lặn, cháu khỏe, tôi mới thở phào nhẹ nhõm; (cháu mới tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội 2 năm nay).

Run thật, chỉ sợ đẻ con dính chất độc da cam mà không dám nói đến giờ, đánh trận một thân một mình sao đời nhẹ thế, nếu bị hy sinh chắc cũng nhẹ thênh, nhưng khi có gia đình cái gì cũng phải tính trước tính sau, nặng thật; đời lính trở về sau chinh chiến 1975 mà vẫn còn run sợ là thế đó.

(ghi chú: suy nghĩ nhiều mình mới đưa bài viết này, cũng là cái tôi chẳng giống ai, nếu bi ai quá, cá nhân quá mình sẽ rút)

(Chuyện bên lề:

- Cũng là suy nghĩ chung của cánh lính trước 75 cả thôi, bác xuanxoan.

Khi đó cũng có ai biết là da cam da quýt gì đâu mà đề phòng, mãi về sau này mới biết (thời trước thông tin mờ mịt lắm).

May thì con cái không sao, mà cũng chẳng biết nữa, còn đời sau nữa thì sao?Bản thân chúng ta chắc ít nhiều cũng "dính" cho nên mới lắm bệnh tật như vậy, cũng tự an ủi rằng vẫn còn đỡ hơn nhiều anh em khác còn khó khăn hơn , đó là một cái giá phải trả cho ngày chiến thắng .Kệ nó đi, vẫn cứ vui vẻ mà sống !!!

- Bố vợ em nguyên là sĩ quan đặc công thời chống Mỹ, hoạt động tại chiến trường Tây Nam bộ, chủ yếu là Tây Ninh và sang cả Campuchia từ năm 1968 cho đến giải phóng miền Nam, năm 1976 cụ được xuất ngũ về quê.

Sau 17 năm khi đi chiến đấu trở về thì mới sinh được cô con gái đầu lòng ( chính là sếp của em bây giờ ).

Cụ bị nhiễm chất độc màu da cam trong chiến trường mà cũng không biết, mãi đến những năm gần đây do sức khoẻ kém đi khám thương tật _ bị một mảnh đạn vào đầu nhưng không lấy ra được mới phát hiện ra.

Ngày đó khi tìm hiểu nhau biết chuyện em cũng trăn trở lắm, tuy vợ em không có sao nhưng cũng không đảm bảo là đến thế hệ thứ 3 an toàn.

Khi chúng em có đứa con gái đầu lòng, em lúc nào cũng lo nơm nớp, liên tục đưa nhau đi khám thai, bác sĩ nói bình thừơng nhưng em cũng không hết lo, thêm một số kẻ độc mồm độc miệng phán linh tinh càng làm em suy nghĩ. cũng may ông bà bên nội hay an ủi là cái này chỉ bị di truyền theo bên nội chứ cún nhà em không bị ảnh hưởng.

Ơn trời khi cháu ra đời hoàn toàn khoẻ mạnh và trí tuệ phát triển đến nay bình thường, có vẻ hơi thông minh nữa, không dốt như em.

Tuy như vậy nhưng để nhận chế độ thương binh của cụ cũng gặp rất nhiều khó khăn với mấy bác cán bộ chính sách cơ quan TBLĐXH , em nghe cụ kể lại nhiều khi tức phát điên lên, do giấy tờ lúc xuất ngũ không để ý bị thiếu và cụ cũng thẳng tính không chịu làm cái phong bao nên mãi không được hưởng chính sách.

Sau này có một nguời anh em họ hàng là một vị tướng bên quân khu Một đã về hưu đến chơi biết chuyện giúp đỡ thì mới có chút tiền xương máu hưởng tuổi già.

Đến bây giờ do ảnh hưởng của viên đạn trong đầu nên mỗi khi trở trời là cụ rất hay cáu gắt.

Hàng tháng cũng có chế độ đi nằm viện đông y châm cứu, an dưõng vài ngày.

Bình thường thì vẫn khoẻ lắm, hàng tuần đi xe máy mang quà ra cho con rể và cháu ngoại.

Hai bố con gặp nhau vẫn bắt con rể chia đôi sòng phẳng chai rượu mật nhân xong mới về .

- Kể thêm một kỷ niệm để góp phần đưa topic của bác Xuanxoan trở lại hồi ức xưa.

Hồi năm 1968, 1969 ở mặt trận Trị Thiên, bộ đội chủ lực nhà ta mặc quần đùi nhiều hơn mặc quần dài.

Số là khi đó ở rừng, nhưng hầu như đêm nào cũng phải xuống đồng bằng vùng giáp ranh để nhận gạo và thực phẩm tiếp tế.

Núi rừng miền Trung dốc nên lắm sông nhiều suối.

Một chặng đường đi cùi gạo nhiều khi phải đi hai ngày, vượt hàng chục sông suối.

Lúc nào cũng mặc quần dài thì ướt át và dính khó chịu vô cùng vì cùi gạo đạn nặng, cứ cởi quần ra rồi lại mặc vào liên tục rất bất tiện.

Mà để nguyên vượt suối thì khi qua suối xong, quần chưa kịp khô đã phải lội tiếp suối khác.

Thế nên mặc quần đùi là tiện nhất.

Khi vượt sông thì không gì tiện bằng cởi hết quần áo ra bọc vào ni-lon rồi cứ thế "thiên nhiên" mà ôm bọc đồ lội sông.

Lúc đầu toàn lính tráng đàn ông cả thì không sao.

Ai chả giống ai.

Mà quả thực lúc đó mệt mỏi, ai cũng muốn vượt sông suối nhanh để tránh pháo bắn cầm canh của bọn Ngụy chẳng may rót tới, còn hơi đâu mà nhìn ngang ngó dọc.

Nhưng sau Mậu Thân 1968, trong Trung đoàn có nhiều chị em cùng góp sức.

Họ là các nữ du kích từ các xã ven thành Huế phải thoát ly lên rừng do bị lộ sau Chiến dịch Tổng tấn công, sau 26 ngày đêm cùng Quân Giải phóng chiếm giữ thành Huế.

Các o du kích bạo dạn và tự nhiên gấp nhiều lần bộ đội.

Lúc đầu cùng vượt sông, họ né dịch ra khúc sông khác.

Nhưng nhiều con sông chỉ có một chỗ vượt, vả lại vượt sông toàn vào ban đêm, nên dần dà chị em cũng lội chung với lính.

Họ không cởi hết, nhưng cũng chỉ mặc đồ lót.

Dạo đó ven sông ngay sát cửa rừng còn có một khu lán tạm cho bộ đội nghỉ sau khi vượt sông, vì khi đã vào rừng thì đợi đến sáng đi tiếp cũng được.

Mỗi lán chỉ là một dãy sạp dài có thể nằm được hai ba chục người.

Thế là sau khi qua sông, tới lán, hạ cái gùi gạo xuống là mỗi người chen vào một chỗ nằm, tranh thủ ngủ.

Chị em du kích cũng chẳng nề hà gì, chỗ nào còn trống là chen vào nằm.

Sáng ra nhìn nhau thấy quần áo sơ sài, mới vội khuơ Đông, quờ Tây kiếm cái mặc vào.

Vậy mà có lẽ cái sự thông cảm của tình đồng chí, tình giai cấp trong lúc gian khổ đã lấn át tất cả nên rồi ai cũng cảm thấy bình thường.

Lúc đó cũng chẳng ai có ý nghĩ và nhất là hành động vẩn đục.

Chúng tôi cứ sống và chiến đấu như thế suốt mùa mưa mà không xảy ra chuyện gì.

Sau này khi chuyển địa bàn sang chiến trường khác, trong lúc rỗi chúng tôi mới có dịp moi lại chuyện đó ra để tán gẫu với nhau.

Rồi chợt nhận ra là chẳng ai biết tên cụ thể của một o du kích nào.)

Cơn sốt rét đầu tiên của tôi ở chiến trường

Nói lính chiến chỉ nói toàn đánh trận, thành tích ...thì báo chí đã viết từ xa xưa rồi; nhưng cuộc đời lính chiến, đâu chỉ toàn mầu hồng như trong thơ ca văn học mà cuộc đời lính chiến còn có cái hài của dân gian, vị ngọt của tình yêu, vị đắng của bi quan và sự tuyệt vọng của con người trước sức mạnh của thiên nhiên, tất cả những thử thách của vòng đời con người từ khi sinh ra đến lúc chết thì người lính chiến đều được trải nghiệm nhưng ở những góc độ khác nhau.

Với tôi đã có một lần bị lũ cuốn trôi khi tham gia trận đánh đầu tiên trong chiến dịch 128 ngày đêm Nam Lào 1972 -1973; khi đó tuổi hai mươi cường tráng, hừng hực sinh khí trước lúc vượt sông Khôngsêđôn là vậy, nhưng lũ đổ về bất ngờ, cuồn cuộn cuốn theo những cây cổ thụ cứ như cây chổi quét của lính nhà trời quăng quật tôi lúc bên này lúc bên kia đến khi người rã rời, mất hết sức chống đỡ thì tâm lý tuyệt vọng xuất hiện, buông xuôi cho số mệnh; thấy trên mặt nước có gì thì cứ bấu viếu dù là cọng rơn, ngọn lá.

Đó là lần thứ hai tôi tuyệt vọng nhưng là sự tuyệt vọng buông xuôi do không còn sức chiến đấu, phó mặc số mệnh mình trước sức mạnh của thiên nhiên, cho sự may rủi ở trời; còn lần thứ nhất sự tuyệt vọng xuất hiện trong tôi do ý chí suy sụp, tinh thần bi quan do không chịu nổi cái đau về thể xác - đó là lần đi gùi gạo trên đường dây về cho đơn vị.

Đi gùi gạo, trong cuộc đời lính chiến chắc các đồng đội cũng đã từng nhiều lần đi gùi gạo nhất là khi đói thì tiểu đội bao giờ cũng cử những người khỏe nhất trong tiểu đội đi gùi gạo và bao giờ người lính đi gùi gạo cũng được giao nhiệm vụ gùi thêm vài ký, càng nhiều càng tốt về cho tiểu đội "ca cóng" cải thiện thêm.

Trong lần gùi gạo đầu tiên đó, tôi từ vị trí đóng quân Thị xã Paksong đoàn chúng tôi đi ngược chiều với đợt hành quân của lính tân binh bọn tôi từ bắc vào – Từ thị xã Paksong chúng tôi đi ngược ra Bản Kapơ đi ra vườn chuối và lên đường dây.

Tại đây chúng tôi được anh em binh trạm cho tự do lấy được bao nhiêu thì lấy, thế là lòng tham trong người nổi lên - tôi lấy đầy một gùi đeo trên lưng, một ruột tượng gạo quấn quanh bụng và một cây AK lủng lẳng trước ngực vui vẻ bước trên đường về...lúc đầu thì đi đầu đoàn lấy gạo, sau tụt dần, vất dần ruột tương gạo và là người đi cuối cùng ...trời mưa, lại mưa rừng như thác đổ, tôi lầm lũi đi trong chiều tà, nước mưa như tát vào mặt, sấm chớp cứ như bổ vào đầu mình để trấn áp và bất chợt người nóng ran hoa mắt, chóng mặt ...tự nghĩ mình sốt rét ư ...cố đi ...đường đâu mất rồi, lạc đường rồi...cứ đi ...tôi ngã và ngất lúc nào không hay...rét quá, đau đầu quá, nóng quá...cố gắng dậy đi và ngã...lần đầu tiên trong đời bị sốt rét và vào trường hợp một thân một mình không biết xử lý ra sao...đau đầu quá; thật sự sức chịu đựng của tôi là có hạn, tôi không chịu được cơn đau đầu của lần đầu tiên bị sốt rét.

Trong đêm tối rét buốt tôi mơ màng thấy ánh sáng ấm áp của ngon đèn tròn, chiếc chăn bông ấm áp ở nhà và đôi mắt bồ câu (mầu nâu) của người bạn gái...choàng tỉnh chỉ thấy bóng đen, sấm chớp và mưa - thất vọng...chợt ý nghĩ tự sát lóe lên, ý chí sống không còn trong người, đau đớn rã rời chỉ muốn được giải thoát khỏi cõi trần gian, với chút sức lực còn lại tôi cố gắng mở khóa an toàn, dựa đầu mình vào nòng súng và bấm cò...khi tỉnh dậy tôi thấy mình đã nằm ở Bản Kapơ rồi.

Sau này anh em nói biết tôi đi lạc, đơn vị cho người đi tìm một ngày mà không thấy, sau nghe tiếng AK anh em đi tìm theo tiếng súng và thấy tôi nằm ngất giữa rừng.

Khi khỏe lại xấu hổ với hành vi tiêu cực của mình, tôi không dám nói với đồng đội tiếng súng đó là tôi định tự sát do không chịu được sự đau đớn của cơn sốt rét chứ không phải bắn báo hiệu bị lạc và thật may sao, viên đạn có thể do tôi ngồi khẩu AK dựng đứng và khi bấm cò nòng súng đi thẳng lên trời nên tôi không sao cả; sau đợt sốt rét này với tôi sốt rét như cơm bữa là chuyện bình thường.

Thiđua làm đẹp doanh trại

Cuối chiến trận Nam Lào 1972 -1973, chỉ cần một khoảng thời gian không có tiếng súng, chúng tôi những ngườilính đã làm đẹp ngay doanh trại như mỗi tiểu đội có cổng trại riêng, phong lanrừng chặt cả khúc cây treo hiên lán, đơn vị thường xuyên tổ chức liên hoan vănnghệ và tiểu đội "ca cóng" đêm ngày - Ấy là ngày sau đình chiến 1973 chúng tôiđóng quân ở gần bản Nọng chùa có đường xe bò (bên Lào có đường xe bò thường làđường chính và đường vào bản) phía đầu đường có cây bưởi, đi sau vào là cả rừngmít và rừng rậm.

Đóng quân trong rừng, chúng tôi thường đào hầm rộng đủ từ 3 –6 người và giường nứa dài như hồi ở Bãi Nai – Lương Sơn, Hòa Bình, làm nhà trênhầm che mưa nắng; hai bên ngách có hầm chữ A như mọi kỳ; nhưng đợt này tiểuđoàn chuyên đánh rừng của bọn tôi có một sự thay đổi mang "tính đường dây" (nói anh em đường dây đừng buồn vì anh em giỏi nhất là đảm bảo thông suốt, antoàn cho quân vào quân ra, doanh trại đẹp; còn bọn tôi doanh trại không là vấnđề, đi đánh địch là chủ yếu, ở cứ là phụ - thời gian hành quân nghi binh củabọn tôi nhiều hơn nghỉ, vì thế bọn tôi có thể vừa đi vừa ngủ, sau này có dịptôi sẽ viết về vừa đi vừa ngủ), không phải rèn kỹ chiến thuật nhiều vì Tiểuđoàn trưởng mới của bọn tôi là lính đường dây, mới được mặt trận bổ sung vàoquân số tiểu đoàn (trong chiến dịch chúng tôi hao binh tổn tướng nhất là từKhôngsêđôn rút về đánh các trận để giải phóng xalavan và Paksong lần II) nênkhi về cứ, có tiểu đoàn trưởng ( tên là L... ) mới.

Ngay từ ngày đầu ông đã yêucầu doanh trại chúng tôi phải sạch, đẹp, đường đi phải đắp đất cao hơn mặt bằngtừ 20 – 30 phân, rộng khoảng 2 m và hai bên phải được kè bằng gỗ...tôi còn nhớkhi mang máy 2 W đi tháp tùng cùng cán bộ tiểu đoàn thăm các đại đội về thấy anhL... tiểu đoàn trưởng tự nhiên ngã xoài (sau này biết ông ta khéo mồm miệng, giảđò ngã để khéo phê bình bọn tôi chặt cây còn để gốc cao), ngồi ôm chân bọn tôichạy tới ông suýt xoa chân nói: tại cái gốc cây này chặt còn để cao quá đi vấp,đau quá... anh em tiểu đoàn hành quân đêm dễ vấp ngã, các đồng chí chiều vềcho anh em tiểu đoàn bộ đi chặt hết các gốc cây cho sát đất; bọn tôi chỉ lặnglẽ nhìn nhau và điều bất ngờ nữa xẩy ra khi đi đến gần nhà tiểu đội trinh sát,tự nhiên thấy D trưởng L... nhẩy, nhẩy lên hai tay nắm chặt cái gì đó í a, í ớigọi bọn tôi đến giúp một tay (tôi cứ tưởng lính đường dây giỏi săn bắn chắc bắtđược trăn đang kéo xuống cho anh em cải thiện) bọn tôi chạy đến thì ông đang đubám trên cành cây héo kéo xuống; rồi ông gọi Tăng người Hà Tây tiểu đội trưởngtrinh sát đến nói: đồng chí cho anh em kéo các cây khô này xuống không máy bayđịch biết...lúc này bọn tôi chỉ còn biết lè lưỡi.

Cũng ở đây tôi nhớ mãi thằngHùng "nhẩm" mặt mày hớn hở chạy trên con đường rộng 2m này từ đại đội 1 lên tiểuđoàn bộ nói với tôi – tao được ra Bắc học sĩ quan rồi, mừng cho nó mà cũng buồncho mình vì không biết bao giờ mình mới được ra Bắc (suy diễn lung tung).

Ởchiến trường, bọn tôi quen cái gì cũng phiên phiến nhưng với Tiểu đoàn trưởngmới thì không...khi bọn tôi đang đào hầm tiêu sau nhà, vô tình ông đi qua, Tư"toác" lính tiểu đội bô bô chào thủ trưởng và ...thủ trưởng vào xem bọn em làmhầm tiêu đẹp không, ngắm nghía một hồi thủ trưởng L... nói: đẹp lắm, tốt lắm,giỏi lắm chiều nay nuôi quân có món thịt hộp ngon lắm, các đồng chí nghỉ taysớm đi...tôi và mấy thằng lính hí hởn tưởng được thủ trưởng khen, đang phổng mũi...thì D trưởng L... nói luôn – mai các đồng chí tháo ra làm lại, xoay chỗ ngồi, cửaquay mặt về phía rừng cho đẹp...và sau này thằng nào trong D bộ nói "khéo" kiểuđó bị bọn tôi gọi là ...dẫm phải c...ông L...

Thời gian này chán nhất là tôi, khi có khách trên về hoặc D bộ muốn ăn bánh cuốn là gọi tôi xuống tổ nuôi quân D bộ phục vụ: giã gạo ra bột bằng mũ sắt, sau đó dây bột bằng vải màn và đúc bánh cuốn cho khách ( khi ở ngoài Bắc huấn luyện anh em nuôi quân thích tôi phụ giúp nấu ăn như thịt heo, thịt chó...nên vào chiến trường sau đánh trận là tôi hay chủ động "ca cóng" cho tiểu đội, nấu ăn cũng tàm tạm – có dịp tôi kể chuyện khi tôi là lính mới nhập ngũ ăn... vụng ở bếp đại đội ở Lương sơn, Hòa Bình), cũng từ quan điểm sống và lãnh đạo như trên, anh em lính nhất là lính trinh sát; lính quê Hà Nội và Sơn Tây thường trốn đơn vị đi vào bản và vùng giáp ranh với địch để buôn bán trao đổi đồ dùng và thực phẩm, thuốc lá chữ A và nhiều khi lính tiểu đội tôi muốn ăn thịt heo là dù là nửa đêm tôi cũng dậy đi thịt ngay heo con của tiểu đoàn bộ ( không nhớ thằng nào bầy tôi cách đập heo trộm như sau: giả đò ngồi ị, cho ít thức ăn phía trước, khi heo đến, cầm cây gỗ đập phía trước sống mũi của nó là heo lăn quay không một tiếng kêu) làm thịt heo ban đêm thì chặt bỏ đầu, lột da vất, bỏ lòng chỉ lấy thịt ( cho nên bài trước tôi viết chàng lính chiến phía Việt Nam Cộng Hòa ở điểm cao 605 Bắc Tây nguyên năm 1975 lười nhác hơn bọn tôi là chỗ longô của họ toàn thịt heo nhưng còn lông đen xì); nhiều khi cũng áy náy nhưng bản chất là lính chiến mà suốt ngày cứ phải ngồi học chính trị, học hát ...phát cuồng chân tay biết làm sao, mới đình chiến đã hơi bị hư, không biết khi hòa bình mình sống ra sao?.

Năm đó, trong dịp ngày lễ 2/9 tôi được phân công đi mua rượu của dân bản gần đường dây, mang một gùi bi đông trên lưng đến nhà đầu tiên thấy anh em uống thử rượu trên bát, mình cũng bắt chước thử (thật sự lúc đó đâu biết uống rượu, ngoài Bắc thì thỉnh thoảng có tiền mới đi làm một vại bia hơi ở vườn hoa Pasteur với đĩa đậu phọng rang mà ngồi cả buổi).

Nhà đầu tiên người dân cho bọn mình thử rượu nước nhất thấy anh em lắc đầu mình cũng "bò đậy", đi nhà 2, nhà 3 mình uống thử cũng "bò đậy, bò đậy" đến nhà cuối cùng của Bản cả đoàn "đậy, đậy...ậy, ạy" thế là mua đầy rượu về nộp bếp nuôi quân..và khi liên hoan chia rượu về cho các tiểu đội tôi bị không chỉ lãnh đạo chửi và cả lính tráng D bộ chửi té tát vào mặt vì mua rượu nhạt phèo như nước ốc – tôi thử rượu nước nhất (mà lại hứng nóng hổi trên lò nữa chứ) nhiều quá say ngất ngưởng, khi đến cuối bản thử rượu nhạt thì có thằng trong đoàn bảo rượu ngon, rượu ngon, mình tưởng thật mua ngay.

Chính trong thời kỳ chỉnh đốn doanh trại này ở C3 có đồng chí T... có tuổi quân gần 10 năm, không chịu làm gì, tư tưởng chỉ muốn ra Bắc lên bị khép tội phản chiến thế là bị tước quân tịch áp giải về mặt trận ( giờ nghĩ cũng tội anh T...tuổi cũng lớn, chinh chiến nhiều năm trời khi đình chiến chỉ ăn chơi, hát hò làm sao không nhớ nhà, nhớ quê chứ, gép tội phản chiến nặng quá; âu cũng tại thời thế, thế phải thế).

Nhưng cũng may cho tiểu đoàn bọn tôi, sau thời gian ngắn ông L...được điều đi đơn vị khác và bọn lính chúng tôi lại bắt đầu trở lại rèn kỹ chiến thuật – trung đội thông tin bọn tôi đi thực địa bốn phía truyền tin, học thuộc mật mã, dải dây các địa hình, còn các đại đội bộ binh học các cách đánh trong lòng địch của đặc công, đánh vận động...

đơn vị không còn cảnh thi đua trang trí doanh trại đẹp để bình chọn; không còn cảnh anh em cả ngày ngồi ở hội trường...

ê... a ...học chính trị, ca hát và ca cóng đêm này sang đêm khác nữa; trong thời gian đình chiến này, bọn tôi đi làm đường giao thông giúp bạn khoảng 3 tháng ở Xalavan.

Lời của thơ ca thủa ấy là một phần đời thực của người lính chiến trường

Những người yêu thơ với những vần thơ đẹp có thể có những lời bình tuyệt hay, tiếng ngâm của diễn viên Linh Nhâm thời thế hệ tôi làm sao động lòng người bởi chất giọng vàng với ý thơ lả lướt đêm đông; đêm văn nghệ vào ngày bọn tôi kết thúc khóa huấn luyện trước khi đi B, chúng tôi như đã được nghe lời tâm tình của người bạn gái qua tiếng hát của ca sĩ Thanh Huyền - mượt mà, sâu lắng tình người đến thế; lời ca của Cố nghệ sĩ Quốc Hương như tiếng trống trận dồn dập, thúc dục bọn tôi ra chiến trường...tôi cảm nhận cái hay của lời ca, cái đẹp của nàng thơ mộc mặc đơn giảm và dễ cháy bỏng như tuổi mười tám, đôi mươi của mình như thế đấy.

Khi vào đến chiến trường chúng tôi với những ngày hành quân trèo đèo, vượt suối, cơm vắt, mưa rừng bám theo gót chân anh chị giao liên "chơi" trốn tìm với những tọa độ" chết" (do B52 thường dải thảm ) của lính đường dây 559 mới hiểu thật, hiểu đủ nghĩa ý thơ, của lời ca tiếng hát "...Trường Sơn đông nắng tây mưa/ai chưa đến đó như chưa hiểu mình..." ngẫm lại quãng đời hành quân trên đường Trường Sơn những gian lao vất vả đi bên đông trời nắng, đi bên tây trời mưa; dốc cao, vực thẳm; bom gầm đạn rít bên mình ...lại được nhà thơ Tố Hữu chắt lọc từng từ, đan kết sự kiện lại nêu bật cái gian nan vất vả của anh bộ đội trường Sơn thành ý thơ tự hào, bay bổng đến như vậy.

Hay trong cuộc đời những người lính mà tôi được đọc thì những người lính tham gia chiến trường Camphuchia thực sự là những người lính luôn đặt vấn đề nước uống lên hàng đầu so với các thế hệ trước đó ( đây là cá nhân tôi được đọc, nghe anh em chiến trường K lính Quân khu V kể cho nghe về sự hy sinh của lính về mìn và nước, Sư trưởng sư 2 Trương Hồng Anh cũng hy sinh vì mìn giống như sự hy sinh của đại tá Đặng Tính ở Bôlôven; khi đọc nhật ký của Trần Phú 341 mình chưa thấy nói nhiều về mìn và nước nên cũng hơi phân vân khi viết đoạn này, anh em ở K có gì góp ý cho mình rõ hơn nhé) thì tôi liên tưởng ngay mùa hè ở rừng khộp...

Với bọn tôi mới thụ hưởng chỉ một mùa khô chinh chiến ở đồng bằng Xalavan đã thấm thía vấn đề nước và địa hình không có nước.

Khi tôi rơi vào trận chiến ở địa hình vùng "...khô khan rừng khộp, khô gầy rừng le..." mới hiểu thế nào là cách sống ở rừng khộc - trắng tái trơ mặt đất; còn cây le mọc nhiều dọc bên bờ suối nhưng lại là những cây khô gầy, mảnh mai, cong queo cháy xém vì suối không có nước nước và nước ở đây chính là vấn đề có tính quyết định chuyện đánh đấm ở khu vực rừng khộc và rừng le mùa khô.

Cũng câu thơ đó, đêm thơ nào đó, diễn viên nào đó thời hiện tại mà ngâm trong đêm khuya tĩnh mịch chắc các bạn trẻ bây giờ sẽ nói... nghe cũng hay hay, những những người lính chúng tôi từng trải qua tác chiến những địa hình này mùa khô sẽ rùng mình...thấy khát khô cổ họng và chợt nhớ về đồng đội với những ngày giữ chốt phải tiết kiệm từng viên đạn, từng giọt nước.

Trường Sơn ngày đó, bất kỳ tháng nào, bất kỳ ngày nào, bất kỳ giờ nào nếu chúng tôi mở đài đều được nghe "những bài ca đi cùng năm tháng" với giọng hát của những ca sĩ nổi tiếng và đêm đêm nằm nghe tiếng thơ nước mắt cứ rơi hoài.

"Tiếng hát át tiếng bom" - đây chính là một lực lượng vô hình, một thứ vũ khí phi vật chất giúp chúng tôi trên đường hành quân ra trận, vào thời kỳ đó thật sự văn nghệ sĩ đã đồng hành cùng chúng tôi ra chiến trận - thông qua lời ca tiếng hát.

Với họ - các anh chị văn nghệ sĩ luôn là thần tượng của người lính chiến trường chúng tôi; khi đánh trận về mắc võng nằm đu đưa, rít một hơi thuốc lá chữ A mà được nghe nghệ sĩ Thanh Hoa hát chèo trên đài là anh em lại í a..muốn trèo rồi phải không anh "lính thông tin"...

(Chuyện bên lề:

- Đọc qua phần bác nói về mùa khô ở Lào BY thấy và hình dung nó chẳng khác gì mùa khô ở K, giống nhau từ những rừng dầu khộp đến rừng le, tre gai rậm rịt, những con suối cạn sịt nước từ bao giờ, những bình độ hay trảng rộng cỏ úa vàng như rơm.

Nếu có khác hoặc do bác chưa nói đến nên BY chưa thấy thôi chứ ở K thì mỗi lúc vượt qua những trảng trống ấy là "tử thần" đang chờ đấy, nếu như cán bộ chỉ huy thiếu tỉnh táo thì cũng rất dễ đưa cả đại đội, hay tiểu đoàn của mình "lên thớt" làm bia sống cho Pốt nó "ăn sống" không cần chấm muối.

Từ lâu lính ở K hay truyền tai nhau một câu ví: Lính ở K mà chưa từng uống nước tiểu của nhau thì không phải thằng lính ở K.

Grin Cũng không có gì là nói ngoa lắm đâu bác ạ.

Mùa khô đầu tiên ở K lính ta thiếu kinh nghiệm chưa rõ thực tế, cứ dở bản đồ ra là có suối với hồ nước, chắc mẩm yên tâm là có nước dùng nên sự chuẩn bị mang theo cũng rất giới hạn, vừa đủ dùng chứ mang theo nhiều làm gì cho thêm nặng lúc hành quân và nhất là những đơn vị đánh luồn sâu chia cắt đội hình địch, đến khi vào sâu trong rừng rồi mới té ngửa ra rằng mùa khô nó khác rất nhiều với bản đồ.

Vì vậy lính ở K "tè" cho nhau uống là chuyện bình thường bác ạ, lính tự "tè" rồi uống của mình thì uống không thể vào nổi, vì vậy phải trao đổi cho nhau để dễ nuốt thì trao đổi cho nhau, uống đi uống lại đến lúc nước tiểu nó chuyển sang màu đỏ nhìn phát ghê và nhịn khát nước vài 3 ngày là chuyện bình thường.

Hình như BY từng nghe bác nói là lính ở K: Chết khát nhiều lắm, thì phải?

Chẳng biết bác nghe ai nói lại như vậy, thực tế có chuyện đó đấy nhưng không nhiều, đâu đơn vị nào đó trên Pret viahia của F307, trên VMH này anh em lính ở K có kể lại chuyện đơn vị đó anh em chết vì quá khát nước, còn chuyện nhịn khát vài ngày hành quân tác chiến giữa mùa khô thì gần như ai là lính chiến ở K đều gặp cả.

Cũng vì chuyện nhịn khát nước lâu ngày như vậy nên lính ở K nhiều người mắc bệnh thận là vì vậy.

Còn chuyện lính sốt rét bệnh tật ở K thì không còn gì để nói nữa bác ạ, có trận 2/3 quân số của 1 trung đoàn phải nằm viện vì hết sức chiến đấu, lên viện F thấy lính sốt rét nằm la liệt là biết lính đơn vị nào rồi không cần hỏi.

Khổ lắm và cũng thấy thương lắm, có người tay cầm tờ giấy đi phép mà nước mắt chảy dòng dòng vì không còn sức mà đi nữa, chết rồi tay còn cầm chặt tờ giấy nghỉ phép được sư đoàn thưởng cho khi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Còn chuyện mìn thì có lẽ trong tất cả những cuộc chiến tranh mà VN chúng ta đã đi qua thì có lẽ chuyện mìn ở K nhiều nhất, cũng khoảng từ năm 1980 trở đi, những khu vực giáp biên giới Thái Lan Campuchia thì mìn nhiều hơn cả châu chấu bác ạ, nhiều mìn lắm có loại KP2 khi gài mìn địch đấu nối mấy chục quả liền tạo thành dây, có dây tới 72 quả liền và khi nó đã nổ thì đủ sức "hốt gọn" cả 1 tiểu đoàn, ác hơn nữa là trong cái kịp số 8 ấy có 1/2 kịp là thủy ngân, khi trúng mảnh dù nhỏ ở phần mềm mà dính thủy ngân thì thằng lính cũng được tải về F bộ tuyến sau đi song song với mặt đất rồi, sau này nữa thì địch chuyển sang dùng mìn Zip nhỏ hơn, to hơn lọ hồ dán chút xíu, bắn hạ thằng Pốt đếm trong cái ba lô của nó có mỗi 280 quả mìn chứ mấy đâu, loại này thì chỉ xin để lại mỗi cái bàn chân thôi bác ạ.

Nhiều thủ đoạn chiến trường, nhiều cách gài mìn của địch từng gây thương vong cho QTN VN ở K thiệt hại đáng kể.

- Tôi đã từng chiến đấu ở Lào từ năm 1968-1971 bạn ạ.

Tôi không ở vùng Xalavan mà ở Trung Lào, tỉnh BôLiKhamxay.

Tôi cũng đã từng chiến đấu ở KPC từ 1977-1980.

Vùng hoạt động của sư đoàn tôi (sư đoàn 341,QĐ4) trên nửa nước phía Nam KPC.

Mùa khô thì hai nước Lào và KPC đều giống nhau, nhất là vùng rừng núi, do đó cái khát cũng giống nhau, còn thiếu nước, thiếu khát cũng chỉ từng lúc, từng nơi, từng trận, từng hoàn cảnh cụ thể chứ không phải cứ mùa khô là thiếu và khát nước đến khô khốc, phải chết khát cả đâu.

Khô, khát không có nước mà bộ đội ta phải hy sinh cũng có nhưng không nhiều.

Do bị thương, ra nhiều máu không có nước, khát phải hy sinh hiện tượng này nhiều hơn.

Còn khô, khát, thiếu nước phải dùng nước tiểu của nhau thì như BY nói cũng có, như phancongblog, như lêxuantuong1972 nói cũng có, đấy là những trận đánh cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể.

Còn mùa mưa ở hai nước này cũng có đặc điểm khá giống nhau.

Tại Lào độ dốc vùng rừng núi lớn hơn nên mùa mưa nước tàn phá mạnh hơn.

Có những viên đá nặng hàng tấn bị nước cuốn trôi ào ào từ trên cao xuống, kéo theo cây đổ, cành rơi, lũ cuốn như thác đổ.

Mùa mưa ở vùng rừng núi KPC không dữ dội đến mức như vậy nhưng cũng rất đáng sợ.

Mìn ư ?

Mìn ở KPC thì phức tạp, ác hiểm hơn ở Lào nhiều bạn ạ.

Mùa mưa 1980 trên vùng rừng núi phía tây và nam KPC lại là một thử thách lớn đối với cán bộ, chiến sỹ chúng ta.

Bốn chữ M: Mưa-Mìn-Miên-Muỗi, làm cho anh em kiệt sức.

Mưa đất lở, đá trôi, cây đổ, cành rơi, sông tràn, suối xiết làm chết bộ đội một cách bất đắc dĩ.

Mìn địch cài, ta cài giăng giăng khắp dọc biên giới, gọi là xây dựng tuyến phòng thủ biên cương như những cái bẩy, gây chết người đáng kể.

Bọn Miên (lính Pôt) từ bên kia biên giới từng tốp được Ăngka xúi về cài mìn, phục kích, giết dân làm cho ta không ăn ngon ngủ yên.

Bộ đội ta hy sinh vì mìn Miên cài, ta cài là khá lớn.

Muỗi, Sên bám khắp mặt mũi, chân tay, trong người hút hết máu, sốt rét ngày càng nhiều, bộ đội chết vì sốt rét không ít.

- mùa mưa bên K nước ở đồng bằng ngập mênh mông , đi phục hay đi chốt đường đều ngâm mình dưới nước , thỉnh thoảng tìm được mô đất khô ráo cũng phải dò mìn cẩn thận mới dám đặt mông ngồi .

Mưa ờ rừng núi thì suối chảy xiết , ở varin phải bó xác anh em treo lên cây chờ cả tuần nước rút mới đem xác ra được .

Có những lần tác chiến trở về đói , mệt tay nhấc không không nổi , nhìn qua thấy phum nằm bên kia bờ suối mà ức muốn khóc vì nước chảy xiết không thể vượt qua được , phải lết thêm 4-5 km tìm chỏ nước cạn lội qua .

Mùa mưa hao quần hao áo vì phải mặc cả ngày ngâm nước suốt , vải cứ bục ra gai cào nhẹ cũng rách , cỏ tranh , lúa cứa vài lần là chổ đùi và đầu gối tét ngược tét xuôi đành phải xé thành quần què chứ không nó lất pha lất phất rất khó chịu như cẳng chân trúng mìn 652a lủng lẳng vì còn dính chút gân và da .

Mùa mưa nước nhiều là thế nhưng mùa khô nước trốn biệt tăm .

Không cần phải hành quân qua rừng khộp rừng le mới chết khác .

Lính và dân sống trong phum cũng khốn khổ vì chuyện nước .

Leo xuống đáy giếng chờ hàng giờ để hứng từng giọt nước rỉ ra từ mạch nước ngầm .

Dân và lính tranh nhau hứng nước và những phiền hà trách móc cũng xảy ra bởi những con mắt mang hình viên đạn .

Tuy nhiên trong máu nó cũng có hoa những lúc giành nhau hứng nước là cơ hội tốt để lính cưa cẩm em gái K .

Đã có nhiều mối tình nảy sinh từ giếng nước và giếng là chứng nhân cho những câu chuyện tình , có câu chuyện tình lãng mạng đầy trắc trở như Lan và Điệp nhưng cũng có những chuyện tình mang nặng giấu ấn hiện sinh yêu cuồng sống vội ( hehe em tính dẫn chứng vài chuyện nhưng hình như lạc đề Grin)

Mùa khô khổ về nước nhưng được cái tìm địch đánh rất dễ dàng , cứ lần theo suối thế nào cũng hốt được vài ba thằng , nếu may mắn tóm được 1 lũ con trai con gái đang nô đùa dưới suối vừa đã con mắt vừa hốt ba lô súng đạn ngọt xớt .

Tuy nhiên hành quân theo chiến dịch thì liệu cái thần hồn , mấy ông tham mưu tác chiến chấm điểm toàn trên bản đồ ,lính đi lè lưỡi không có nước uống mà hình như theo mấy ổng nghĩ lính chắc là trâu bò nên không cần ăn không cần uống và thậm chí không cần ngủ .

Cứ địch chạy tới đâu là dí lính chạy theo tới đó (chả trách C cứ báo cáo đi lạc hoài Grin)

Mìn thời gian sau này không đa dạng về chủng loại hay bẫy như trước .

Mình 652a gọn nhẹ gài rất nhanh con nít cũng gài được nên địch và dân không cần bẫy gì cho phức tạp cứ phát hiện ra mình la nó bỏ mìn xuống rồi rút êm , vài chục thằng đi qua thế nào cũng 1 thằng đạp trúng .

Mìn có thể nổ mọi lúc mọi nơi chứ không cần mò vào cứ địch khiến lính rất ám ảnh lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác chổ nào dân né không đi thì mình cũng tránh vậy mà cũng bị hoài .)

Bom nhọn như cây kim

128 ngày đêm trong chiến dịch Nam Lào, Tiểu đoàn tôi hành quân liên miên để đánh địch: đánh chiếm cũng có, chi viện cho đơn vị bạn cũng có, riêng tiểu đội 2W bọn tôi liên tục phải chuyển quân theo các đại đội hoặc trung đội khi cần.

Có ngày tôi phải di chuyển nhiều lần theo đại đội cũng có hoặc từ đại đội này sang đại đội khác do yêu cầu tác chiến của Tiểu đoàn.

Mệt mỏi và thiếu ngủ là chuyện thường ngày của lính 2W đến mức đến đại đội mới bọn tôi không đủ sức đào hầm trú, chỉ nằm dựa gốc cây hay ụ mối nào đó để dịch mật mã và phát sóng ngay và nếu địa hình tác chiến có suối cạn là bọn tôi mừng hú rồi.

Do chuyện không đào hầm trú ẩn đã một lần mình nhìn thấy thần chết mà không động đậy được chân tay, đó là lần mình cùng Trường "đỏ" vác máy 2W xuống đại đội 2 gần Bản Nataben dưới chân phukhông, do quá mệt mỏi mình chọn một cây to chu vi khoảng hai ba người ôm đã bị đổ để trú chân ( gần hầm đại đội trưởng).

Sau khi quăng dây trời phát tin báo về Tiểu đoàn mình ôm máy nằm ngủ, còn Trường đỏ đến hầm đại đội chuyển tin báo cho đại trưởng và ở đó luôn.

Khi nghe tiếng gầm rú của máy bay ném bom mình thức giấc vội ôm máy chạy đến hầm đại đội lúc này anh em đã xuống hầm và khi thấy mình một ai đó nói vọng ra: hầm chật rồi, mình vội ấn chiếc máy 2W cho Trường đỏ và dặn cho máy vô hầm, còn mình vội chạy ra nằm bên cạnh cây đổ và nhìn máy bay ném bom – ba chiếc quần thảo vong tròn khu rừng mình trú quân, bom thả liên tục mình chỉ tự nhủ chắc bị lộ nên máy bay ném bom dữ dội vậy... và bất ngờ một chiếc bay đến phía mình và thả bom – Ôi chết rồi, chân tay cứng đờ không nhấc nổi khi mắt tôi nhìn thấy quả bom nhọn như mũi kim đâm thẳng xuống, mình cứng đơ nằm chờ chết; bom nổ, mình còn sống ư, bấu tay chân – đau; anh em chạy úa lên tìm mình thấy họ nói mà mình chẳng nghe thấy gì, hóa ra ù tai, điếc mất mấy ngày.

Thật may hôm đó bom thả là quả bom phạt, và nằm phía bên kia thân cây nên mình thoát chết.

Cả cánh rừng trước đó còn xanh um, sau trận bom này các cây to bật trơ gốc, xơ xác trống trơ cả cánh rừng, các hầm chiến đấu nổi rõ hoặc sập gần hết và nay nghĩ lại nó chỉ khác trận siêu bão ở Đà Nẵng là mầu cỏ cây bị cháy nham nhở.

Từ trận đó về sau, mệt mấy mình cũng đào hầm dù có nông quèn cũng còn hơn không đào.

Trận bom này, khiến đại đội 2 tổn thất nặng nề phải ke cáng nhau rút khỏi vị trí chiến đâu.

Về Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ, tôi được phân đi phối thuộc với đại đội 3 chốt ở xưởng cưa và do tai ù không nghe được rõ lên chuyển vị trí máy chính cho Trường đỏ và tôi là máy phụ.

Bám theo đường dây điện thoại chúng tôi đến đại đội 3.

Tại đây chúng tôi ở chung hầm với đại trưởng để tiện việc chỉ huy của Tiểu đoàn, thỉnh thoảng tôi chạy xuống các trung đội chơi với bọn thằng Minh Hàng Khoai.

(Xin phụ họa thêm với bạn.

Ngày 14 tháng 2 năm 1971 tai lèn NaĐi huyện CamCơt Lào tôi chỉ huy một đại đội giao quân 137 đồng chí, trong đó có 27 đồng chí là cán bộ trung, đại đội sang tiếp thêm quân cho các đơn vị đang chiến đấu tại tỉnh BôLiKhamxay.

Buổi trưa đơn vị dừng lại nấu ăn để chiều tối vượt trọng điểm địch hay đánh phá gần đó.

Do lính mới, cứ nghĩ quanh lèn cao thế này có khói một tý cũng tan ngay nên chủ quan.

Lúc đó đã 13h anh em đã vào hang lèn ăn cơm, máy bay OV10, L19,AD6 cứ gầm rú, đảo lộn bên ngoài.

Có 5 chiến sỹ đang dập khói trên bếp vừa nấu xong để vào hang ăn cơm nhưng lại dập khói bằng cách đổ nước vào.

Một đám khói bay lên cao trùm lên một khoảng không khá rộng thế là máy bay địch phát hiện, chúng nhào xuông ném bom trong lúc tôi đang đứng kêu gào và xô, đẩy 5 chiến sỹ kia vào hang thật nhanh.

Không kịp nữa.

Một quả bom phạt nổ cạnh tôi chỉ khoảng 3m, may có hòn đá to che chắn.

Tôi bị bom xé toạc bộ quần áo Tô Châu mới coong.

Trên mình chỉ còn nửa thân quần phía trên ôm lấy quần lót vì có thắt lưng buộc chặt.

Đồng hồ RAKETTA Liên Xô đeo tay, dép cao su TQ bay mất tăm.

Toàn thân thuốc bom đen nhẽm, thế mà không một vết chầy xướt nào do bom hoặc mảnh đá gây ra.

5 chiến sỹ kia tôi xô nhào vào trong hang nên cũng có đồng chí xây xẩm mặt mày nhưng không ai hy sinh, bị thương, vì bom rơi gần tôi nhất.

May mắn có Tổ tiên và ông Trời phù hộ.

- Vào trung tuần 11/78 trên hướng Snuol F5 bắt đần mở chiến dịch đánh lên Kratie.

Q16 tụi tôi nhận nhiệm vụ thọc sâu đón lõng địch.Sau 3-4 ngày ,đêm hàng quân liên tục tụi tôi đến vị trí phục kích.Bên tôi chỉ mấy thằng vác súng không phải mang theo cuốc,xẻng còn lại ae vác đạn phải mang theo cuốc chim,xẻng,cưa cá mập.Đất cứng trộn sỏi vẫn phải đào (xẻng Mỹ không ăn thua đâu bác ơi ) tụi tôi phải dùng cuốc chim bổ cho đất,sỏi rã ra sau đó dùng xẻng xúc từng chút một,đào xong cưa cây lát làm nắp xong lại...đi qua vị trí mới .1 đêm di chuyển vị trí 3 lần và tôi tham gia đào 3 cái hầm.Tay phồng rộp ,người mỏi như đi mượn nhưng vẫn phải đào vì tụi tôi biết là hỏa lực một khi đã khai hỏa là lộ vị trí ngay ,mà lại không thể di chuyển mau lẹ như bộ binh được mà các bác biết bên nào cũng vậy hỏa lực là phải tiêu diệt trước, nên biết là khổ vẫn phải đào.

Một lần chủ quan và chúng tôi phải trả giá ! khoảng mùng 7-8 tết 78 qua 79 (tôi không nhớ ngày dương) sau khi đi đánh Pailin về khẩu đội 12.8 ly của tôi nhận nhiệm vụ bảo vệ kho đạn thu của Pốt trên con đường nhánh từ Battambang về Sisophon .Chiền hôm đó sau khi nhận vị trí anh Hà lính 74 Thanh Hóa khẩu đội trưởng chỉ vị trí đặt súng và nhắc đào hầm.Lúc này tôi xạ thủ 2 Hải nhà Q3 đi cùng đợt 17/9/78 với tôi xạ thủ 1 (hai thằng thân nhau vì cùng huấn luyện chung một A và đều là con cán bộ Miền nam tập kết). vị trí đặt 12.8ly là một roi đất nhô ra rìa phum khoảng 2m .Phía sau có một cây soài và ụ mốt sau ụ mối có 1 hầm có sẵn có nắp.Vì làm biếng, lại nghĩ địch mới bị đánh te tua đuổi tận lên biên giới Thái thì làm sao giám vào nên tôi và thằng Hải bàn nhau không đào hầm .Sau một đêm yên tĩnh ,sáng hôm sau chưa kịp ăn cơm sáng thì địch vào .Tụi Pốt đi một hàng dọc từ phía ruộng vào phía chúng tôi khoảng 30-40 thằng,Địch vào khoảng 60-70m bộ binh nổ súng trước Hải cũng điểm xạ cùng... cùng khẩu 12.8ly tôi ngồi bên trái súng quan sát địch chỉ cho Hải bắn và sẵn sàng thay thùng đạn khi bắn hết.Sau một lúc bị bất ngờ,địch lợi dụng ụ mối,bờ ruộng bắt trả .Đạn nhọn,M79 bắt đầu tập trung vào khẩu 12.8ly của tôi .Được một lúc do phải ngồi trên doi đất không có hầm hào Hải trúng đạn nhọn ngay ngực trái hi sinh tại chỗ .Sau khi đưa Hải về sau tôi lên thay Hải bắn được vài loạt nữa thì một quả M79 trúng ngay cành soài nổ trên đầu tôi ,tôi bị một mảnh cỡ gần bằng hột bắp xuyên qua nón cối găm vào gáy.(quả đạn này không trúng cành soài mà rớt thẳng thì chắc giờ này tôi cũng không còn được ngồi đâu mổ cò bàn phím).Thấy khẩu 12.8 ly quá bất lợi anh Hà khẩu đôi trưởng dùng AK bắn uy hiếp cho chúng tôi tháo súng 12.8 ly mang lùi vào trong .Từ đó đến trưa tụi tôi lợi dụng ự mối phía sau dùng AK và M79 chiến đấu .Khoảng 15h thì khẩu đội tôi được lệnh rút.Tôi cứ ân hận mãi ,nếu hôm đó tôi đừng làm biếng cố đào hầm đặt súng thì chưa chắc Hải đã hi sinh.)

Lời xin lỗi muộn màng sau 40 năm

Đời lính tham chiến thì nhiều lúc mệt mỏi quá nên đi cũng ngủ, đứng cũng ngủ, ngồi cũng ngủ trong lúc hành quân – các bạn từng ở lính cũng có bạn phân vân, còn các bạn trẻ dứt khoát khẳng định ... tôi nói phét cho vui, những đó là chuyện thực của lính chuyên đánh rừng của bọn tôi.

Chiến dịch Nam Lào 128 ngày đêm ấy bọn tôi gần như không có đêm nào gọi là ngủ đúng nghĩa, ngày đánh chiếm từng điểm, đào hầm chốt giữ, tối lại hành quân tác chiến, cứ thế liên miên ngày qua ngày không biết nghỉ là gì, vì vậy thời gian nghỉ bồi dưỡng sức cấp thời chính là khoảng cách thời gian nghỉ giải lao hoặc đứng chờ vượt qua khoảng trống lúc dọc đường hành quân tác chiến; thực sự bọn tôi quá mệt mỏi nên khi đứng dựa lưng vô gốc cây là có thể ngủ rồi, khi đi hành quân cũng ngủ - chúng tôi ngủ lơ mơ, đi theo phản xạ tiếng động phía trước; ngồi cũng ngủ thì không phải bàn.

Nhưng kiểu ngủ này có lần tôi đã đưa gần tiểu đoàn suýt đi vào giữ đội hình địch nộp mạng.

Đó là khi bọn tôi hành quân về đánh giành lại sân bay xalavan khi bị địch đổ bộ ra vùng giải phóng chiếm giữ, tôi đi phối thuộc cùng C1 do thủ trưởng Thính Tiểu đoàn phó dẫn đầu tiểu đoàn hành quân.

Trinh sát đi trước cùng đại trưởng Ạt và một trung đội, đi giữa đội hình đại đôi một là anh Thính; các đại đội còn lại đi cùng chính trị viên trưởng tiểu đoàn.

Đi trong đêm tối không trăng sao, địa hình là rừng thưa, chỉ cần nghe tiếng bước chân người đi trước đạp lạo sạo trên lá là biết đường đi, mệt thì nghỉ khoảng 10 - 20 phút gì đó lại đi tiếp; cả đêm cứ đi, lính tráng vừa đi vừa ngủ gần sáng ngồi nghỉ và đi tiếp bỗng tôi nghe tiếng anh Thính quát khẽ - thằng nào đi trước đấy, dừng lại, dừng lại...cả đội hình bừng tỉnh, lính tráng nhanh như sóc đã đã lăn sang hai phía chuẩn bị tác chiến; thủ trưởng Thính chạy lên phía trước quan sát thì trinh sát và trung đội đi trước không thấy đâu... phía xa xa là bản dân, vài tên địch vừa hút thuốc vừa đi đi lại lại canh gác, thủ trưởng kêu lùi lại...cả đoàn quân từ từ lui về phía sau theo lối mòn vừa đi.

Vừa đi thủ trưởng Thính vừa hỏi thằng nào đi trước dẫn đường đấy, tất cả đều ngơ ngác nhìn không biết ai vì đều lơ tơ mơ ngủ cả, riêng tôi, tôi vội lui ra xa ngay, lẩn ra phía sau đội hình không dám ho he.

Trinh sát đi trước không thấy đội hình đâu, quay lại tìm và hóa ra chúng tôi đi lạc đường bởi tôi – cái thằng tôi khi ngồi nghỉ lại quay người sang bên không theo hướng tịnh tiến ban đầu nên khi người đi trước vỗ vai bảo đi thế là tôi đứng đậy cứ theo quán tính tịnh tiến mà đi.

Hú hồn, may thủ trưởng Thính giỏi địa hình tác chiến, đi một đoạn ông biết ngay – suýt chết ứ ự.

Giờ sau gần 40 năm nay viết ra xin nhận khuyết điển với thủ trưởng Thính và đồng đội....cũng vì sợ ông Thính nóng tính "bóp cổ" – riêng chuyện này có lúc sẽ kể.

Tưởng nhớ những người đã hy sinh vì Tổ quốc

--------------

Sống vui vẻ hết mình, chết thanh thản

Khi lính tân binh Hà Nội được bổ sung vào tiểu đoàn 3 tình nguyện đầu năm 1972 thì ở đây có những lớp lính đi trước được bổ sung lần lượt ở các địa phương như Quảng Bình, Hà Tĩnh, Hà Tây (cũ), Thanh hóa; các thế hệ đi trước này luôn là những đồng chí gương mẫu trong công tác và chiến đấu, là mẫu người cho bọn lính tân binh kiểng Hà Nội học tập.

Ở cứ, khi đi cải thiện theo sự kèm cặp của lính cũ như lúc đi bắn bò với Mão"đen" trinh sát ( trinh sát có 2 đồng chí tên Mão, một người Sơn Tây gọi là Mão "mèo", còn Mão Quảng Bình gọi là Mão "đen") thì khi bắn đồng chí Mão "đen" bảo tôi chỉ được ngắm vào đầu một con bò và bắn chỉ bắn phát một, không được thấy bò đàn hàng chục con đứng chụm gặm cỏ mà lia ngang AK làm bò chết và bị thương nhiều khi chạy vào rừng chết phí phạm và không tốt (bò của thị trưởng Bum Um nghe nói có hàng trăm con và cả của dân khi chiến tranh chạy vào rừng lâu ngày thành bò hoang).

Khi thịt bò thì Mão "đen' làm rất nhanh, không phải mất sức nhiều vì khi con bò đang giẫy chết Mão lợi dụng sức giẫy của bò để lột xong da lấy thịt. những lúc rãnh rỗi, bọn mình đều chạy sang trinh sát nhờ Mão cắt tóc, tay thợ lính này cắt tóc thuộc diện siêu, lại vui vẻ, ai nhờ cũng cắt hết (mình cũng cắt tóc được nhưng tay nghề không bằng Mão), nhiều lúc quần áo rách cũng chạy sang nhờ, Mão cũng sẵn lòng vá giúp cứ như tay kim phụ nữ vậy.

Còn tiếng Lào thì nói như gió nhưng cũng chơi mình một cú nhớ lâu đó là lần đi xin rơm về nằm vì ở Paksong đêm lạnh giá buốt nên dọc đường nhờ thầy Mão dậy truyền miệng mình tiếng Lào...khi đến bản thấy rơm nhiều mình xin "kho" rơm... mẹ Lào: bò hủ (không biết), ; mình tuôn ra văn vẻ hơn: mẹ hãy lục ..rơm...(mẹ hãy cho con rơm); mẹ vẫn "bò hủ" chưa hiểu ...; mình thể hiện sự hùng biện của mình bằng kiểu vận dụng cách thầy Mão "đen" dậy là kéo rơm ra trải xuống đất rồi nằm lên giơ tay chân ra hiệu?...bạn biết bà mẹ Lào nói gì không - Mẹ thẩu lẹo...mẹ già rồi; phù sao ...con gái trong bản xinh lắm, vào lấy chúng làm vợ đi...

Mão lúc đó mới đến nói: mẹ bảo mày vào bản mà tán gái, bảo nó nằm ngủ với mày chứ mẹ già rồi...Trời đất ơi – chơi nhau đến thế thì thôi; sau này về đơn vị Mão ta tiếu lâm kể chuyện tôi đi xin rơm làm cả đơn vị cười ngất ngưởng.

Khi đánh Khôngsêđôn, mình đi phối thuộc cùng tổ trinh sát, mình với Mão "đen" ở một hầm, mỗi khi đi trinh sát về Mão hay dúi cho mình túi gạo khô của Thái ( gạo khô này rất trắng, khi ăn chỉ cần đổ nước là thành cơm), mình chỉ ở nhà cặm cụi dịch mật mã báo cáo cho tiểu đoàn khi hết báo cáo lại thu dây trời ngay để có động là chạy.

Khu vực bọn mình nằm để tiện nắm địch là cạnh một con suối cạn, rừng thưa.

Sáng hôm đó, khi đi trinh sát về Mão chuẩn bị báo cáo, mình mới quăng dây trời để liên lạc, đang ở dưới hầm mở máy, Mão gọi: Xuân xoan lên ăn cơm, mình bảo xuống dưới này ăn luôn; Mão bảo lên đây ăn đi, có nhiều đồ ăn đây, lính thông tin gì mà nhát thế – nghe vậy mình mò lên bờ suối cạn ( hầm khoét dưới bờ suối cạn) hai thằng ngồi ăn sáng, Mão vừa ăn vừa kể chuyện đi nắm địch, đột nhập vào lấy thức ăn của bọn lính Thái ...bỗng Bùm, một quả đạn pháo mồ côi ở đâu nổ trên đầu làm cả hai té ngửa; khi dậy nhìn thấy Mão vẫn nằm mình chạy tới thấy máu chảy từ bụng ra, tay vội xé ngay cuộng băng cá nhân ấn vào vết thương định cầm máu cho Mão những bàn tay mình vô tình nằm lút luôn trong ổ bụng Mão; nhìn xung quanh mình thấy một mảnh gan bắn ra còn mắc ở bụi le, nhìn Mão thở hắt ra mình biết không thể cứu được Mão; ôm Mão vào lòng, nhìn đồng đội trút hơi thở cuối cùng trên tay (đến giờ mình vẫn không quên được mảnh gan bắn ra nhưng không một lời rên rỉ và chỉ có hơi thở hắt ra lần cuối cùng của Mão).

Ngay sau đó mình đã điện về tiểu đoàn báo cáo và tự tay bọc Mão vào tăng và bó lại cho vào võng để chuẩn bị cho anh em đến cáng đưa Mão về tuyến sau; những mãi đến ngày hôm sau tiểu đoàn mới cử người đến đưa mình và Mão về tiểu đoàn bộ.

Đường đi cũng mất hai ngày, cáng tử sĩ các đồng đội ai đã từng cáng chắc biết: cáng thương binh thì mỗi ngày một nhẹ, còn cáng tử sĩ mỗi ngày một nặng, anh em vận tải cáng mệt liên tục đổi ca, mình phải thay ca cáng với anh em.

Nhân ngày 27/7 tôi nhớ lại những ngày chinh chiến gian khổ và sự lạc quan sống vui vẻ và pha chút tinh nghịch của Mão người chiến sĩ - liệt sĩ của tiểu đoàn 3 tình nguyện.

Mão "đen" ơi, mình viết bài này thay một nén hương thắp cho Mão và các đồng đội đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc - nhớ mày lắm Mão"đen" ơi..

Chà, nói chuyện ăn bánh kẹo ở chiến trường cũng giống như ngày xưa được các cụ dắt đi ăn cỗ vậy.

Lính ở C bọn mình gạo sấy như cách gọi của anh em lính K thì đối với bọn mình là thứ lương thực xa xỉ, vì mỗi khi có được là bỏ túi để dành dự trữ như lương khô vậy.

Còn làm kẹo thì khi về cứ chủ yếu làm kẹo sữa (đường và sữa bột) hơn nữa là khi đi cải thiện trong dân nếu xin được ít đậu phọng làm kẹo kéo là nhất trời đất rồi.

Tối đánh bài "túlơkhơ" cách gọi của bọn mình anh em hay tìm mọi cách phải thắng để được ăn kẹo.

Mình hay ăn gian - chùi bài bằng cách cho quân bài úp ở lòng bàn tay rồi giả vờ xem bài đã úp để bỏ quân bài xấu, nên chơi bài mình hay thắng.

Chuyện giờ mới kể kiểu ăn gian để được ăn kẹo - trẻ con quá phải không đồng đội, vì thèm ngọt quá mà thôi...giờ đồng đội có biết chắc anh em chẳng ai trách hỉ...

Chuyện đi gùi mật ong về bồi dưỡng cho bệnh binh, thương binh nhẹ tại đơn vị

Nhân chuyện thằng con mình cùng đoàn bác sĩ trẻ tình nguyện của thành phố Đà Nẵng vừa đi khám chữa bệnh cho nhân dân tại 2 tỉnh Atôpơ và xavanakhet – Lào trong dịp kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh Liệt sĩ và kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký hiệp ước hợp tác Việt - Lào mới về nhà tối nay 24/7/2012 (ảnh con mình chụp ở Nam Lào tặng mình để nhớ thời trai trẻ đã từng sống và chiến đấu) ; mình nhớ chuyện sau đình chiến khoảng tháng 3 hay tháng 4 năm 1973 được phân công cùng đoàn công tác của tiểu đoàn đi xuống Atôpơ mua mật ong về để bồi dưỡng cho anh em hay bị đau ốm như sốt rét, bị thương nhẹ không đi viện hoặc mới ở viện phẫu tiền phương về.

Dọc đường từ Paksong xuống cảnh vật thật êm đềm và xinh đẹp, hai bên đường hoa dã quỳ nở rộ mình hái một bó thật to để khi đi qua mộ nữ liệt sĩ không tên ( không biết có phải của tiểu đoàn vận tải của Bà Thao không?...) của Sư đoàn 2 thuộc quân khu V hy sinh khi tham gia đánh tăng cường với tiểu đoàn 3 tình nguyện ở Phù Nọng Kin đông giải phóng cao nguyên Bôlôven lần thứ nhất ( thời gian đánh giải phóng trước khi mình vào đơn vị ).

Mộ của chị thành niên xung phong nằm gần đường xe bò nên lính bọn mình mỗi dịp được cử đi công tác xuống đồng bằng anh em thường ghé lại nhổ cây dại và để hoa dã quỳ trước mộ và thầm cầu mong chị TNXP phù hộ cho mình - Nghe anh em cũ kể lại khi một trung đoàn của Sư đoàn bộ binh 2 (hình như trung đoàn 64) đánh phối thuộc xong rút đi, lính K3 bọn mình tiếp quản tìm thấy thân thể của chị thanh niên xung phong với đầy đủ trang bị của lính chiến đấu đã chôn cất chị chu đáo theo nghi thức lính chiến.

Anh em bảo tóc chị dài lắm, khi chôn cất anh em để tóc của chị trải dài trên bụng; sau này anh em lính này hay nói khi mơ ngủ thấy chị về tâm sự với mái tóc dài, thật dài – chị thiêng thật; chắc giờ mộ của chị đã được đội quy tập sư đoàn 968 quy tập về nghĩa trang Trường Sơn với anh em đồng đội.

Atôpơ thật đẹp, nhà cửa cao ráo với những mái tôn thấp thoáng sau những bụi vầu to đùng, nhân dân ở đây rất hiền hòa, coi tà hán Việt (bộ đội Việt) như con cháu trong nhà thường cho ở và ăn cơm cùng họ.

Mấy ngày ở Atôpơ bọn mình đều ngủ bản với nhân dân, ăn bốc xôi trong típ, chấm mắm phà dẹt (không dễ ăn đâu nhé).

Một bữa khi ghé nhà dân để hỏi mua mật ong, thấy nhà có đông người ( mặc áo lính phu mi và có súng cạc bin ) chủ nhà bảo ăn cơm trước rồi mua sau, bọn mình vào ăn cùng và cười đùa vui vẻ với tốp thanh niên mặc áo lính.

Sau khi ăn xong, tốp thanh niên mặc áo lính cầm súng đi; khi bọn mình mua mật ong mới hỏi: thanh niên ở đâu đông vậy mà có cả súng nữa; bạn biết dân nói gì không: lính phu mi tới mùa thì về làm rẫy với gia đình (mình gọi là địch) nó ghé qua xin ăn rồi đi thôi – lính ta thằng nào thằng ấy tái mặt hỏi lại...tại sao không nói bộ đội mình để bắt nó...dân nói thế này: nó với bộ đội Việt Nam đều tốt cả, tao coi chúng mày như con, như nhau thôi...từ đấy lính ta rất cảnh giác nhưng không có chuyện gì xẩy ra.

Nếu ở Khôngsêđôn tôi thấy trong bản, ngoài nương rẫy nhân dân trồng xoài nhiều và ở xalavan thì ngược lại toàn me cổ thụ thì ở Atôpơ lại nhiều loại vầu hoặc gọi là bương không nhớ nữa; bụi to, cây dựa vào nhau rất cao, thẳng đứng, không gai, ống to bằng bắp đùi, dài cả thước trông rất đẹp (có lẽ không có bão như bên mình nên trông vầu ở Lào rất đẹp).

Bọn tôi xin chủ nhà mấy cây vầu già hạ xuống và chặt khúc để đựng mật ong.

Dân bảo để nguyên vỏ mang đi, bọn tôi sợ nặng đem bóc hết cật bên ngoài để gùi cho nhẹ ( sáng kiến quá phải không đồng đội?...hơn dân chưa...Hì...

Hì..) mỗi thằng chỉ gùi được 3 ống bương mật ong là nặc nè rồi... hành quân về...ống bương đựng mật ong được nút kín cho khỏi đổ... nửa đường về ... trời nóng ...bụp... bụp...bụp...mật ong tóe ra, các ống bương nổ hoặc tự nứt; thằng nào thằng nấy tái mặt vội lấy nilon (áo mưa) đựng mật ong, bao nhiêu đồ trong gùi đều bỏ ra hết để cho túi áo mưa mật ong vào gánh về.

Lúc này gùi cũng không được đành chặt cây làm khung đựng gùi nặng thấy ông nội luôn và thay phiên nhau gánh mật ong về..

Đấy dân nói thì không nghe, sáng kiến với chả sáng lui rốt cục gùi cũng không được mà phải chặt gỗ gánh ngược lên cao nguyên mới cực... hì..hì..sướng hỉ...

đúng là thằng mục.

Đợt này mình còn cái sui nữa là khi nổ toác bình mật ong mình ngã vấp vô đá, chân sưng; tiếc mật ong bị đổ còn vương lại ở các ống bương mình vét ăn bằng hết – thích thật, nhưng sau đó thì cái chân sưng như được mật ong tiếp sức sưng vù to hơn, lại còn nhức buốt mới chết, cả quảng đường về cà lết, cà nết với cây gậy...

đúng là tham thì thâm thật.

Gặp bạn thủa thiếu thời nơi chiến trường

Đang chốt cùng đại đội 3 ở xưởng cưa, mới sáng sớm đã nhận được bản tin thật dài thì mình biết ngay ông Ngô - chính trị viên trưởng tiểu đoàn viết; ông là người lãnh đạo ở tiểu đoàn nổi tiếng viết điện dài và rất dài nhưng nội dung thì ít, bọn tôi mỗi lần dịch mật mã là mệt luôn.

Thời đó bữa nào ăn cơm gạo đồ của Trung Quốc (nhạt phèo, cứng ngắc) chán lắm, cộng thêm phải dịch điện của ông Ngô là oải nên từ lính thông tin bọn tôi truyền ra toàn tiểu đoàn câu – "Cơm gạo đồ, điện ông Ngô" đã trở thành câu nói ám chỉ của riêng bọn tôi về sự việc nào đó nhạt nhẽo, dai nhắt...; nhưng ông cũng là mẫu người khắc khổ (khi tôi vào Đảng cũng khổ vì kiểu thử thách của cụ này), gương mẫu lấy mình ra để làm gương cho lính - thời đó lính mới Nam Hà bổ sung vào đơn vị buổi chiều, chập tối là đi đánh ngay nên hy sinh nhiều do không quen địa hình, tiếng nổ của bom đạn và sợ bom B52 nên có một đồng chí luôn ở dưới hầm từ ăn uống đến đi đại tiện...

Biết được tin như vậy, ông cho liên lạc chọn những đồng chí nhát nhất lên tiểu đoàn bộ công tác và cho ở cạnh ông, khi bom pháo ông cứ ung dung nằm trên hầm mở đài nghe ca nhạc, còn lính mới chạy núp dưới hầm ông cũng mặc kệ... sau vài ngày lính ta tự điều chỉnh tinh thần bản thân, khi đó ông mới cho về đại đội, sau các đồng chí Nam Hà này đánh rất tốt.

Lệnh Tiểu đoàn điều Đại đội 3 là đơn vị ở gần nhất Phù Khống đi đánh giải vây cho anh em lính pháo chốt ở Phù Khống đang bị lính Thái phong tỏa mấy ngày nay, anh em pháo 12 ly 7 đã phải gim nòng pháo xuống bắn nhau với bộ binh Thái để giữ trận địa được tôi truyền đạt cho đại trưởng thông qua bản tin.

Mình lại cuốn dây trời, đeo máy vận động ban ngày theo chân đại đội 3 đi giải vây ở Phù Khống.

Máy bay L19 bay vè vè trên đầu thì dùng lại, đi xa lại chạy vận động cho kịp thời gian ứng cứu; lúc này thời gian là quan trọng nên đại đội 3 bất chấp nguy hiểm chạy đua với thời gian.

Vì là mùa khô nên suối cạn, ruộng (na) khô, rừng thưa... bọn tôi cắt đường ngắn nhất đến vị trí chiến đấu.

Đến nơi, anh em bộ binh đánh ngay, còn tôi lên máy báo về tiểu đoàn để chỉ huy trận đánh, đến chiều đại đội 3 đánh thông lên và bắt được liên lạc với đơn vị pháo.

Tối đại đội 3 được lệnh rút ra cùng đơn vị pháo phòng không 12 ly 7, dọc đường về khi nghỉ giữa bãi na thấy tiếng nói quen quen, ngửng đầu nhìn lên thấy bóng dáng một người lính cao, vạm vỡ, đang một mình vác nòng pháo khệnh khạng đi vượt qua đội hình chúng tôi - dưới bóng trăng, hình ảnh người lính thật đẹp và oai hùng; người lính này đang hể hả kể lại chuyện mình vừa bắn rơi được một chiếc máy bay ném bom với giọng nói vang trong đêm khuya tĩnh mịch, rất khỏe khoắn, trong sáng và giọng cười rất tươi, tôi buột miệng gọi: Đài đó phải không?..cậu ta hỏi lại ai đó?..mày đấy phải không xuânxoăn.. thế là cậu buông nòng pháo xuống đánh phịt xuống đất, tôi đứng dậy hai đứa ôm nhau hỏi han rối rít..hóa ra cả hai cùng là lính sư đoàn, tôi nhập ngũ 5.1970 trước cậu 3 tháng sau ra quân, cậu lại nhập ngũ sau 3 tháng nhưng đi thẳng chiến trường nên sau này tôi nhập ngũ lần hai không ai biết ai.

Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng nhiều ngày sau mình không ngủ được vì ký ức tuổi thơ cứ tràn về... vì không có 5 xu mua vé nên phải xé - chui rào nứa ở bãi chiếu bóng Lương yên, Hà Nội vào xem phim ké; hè về đi câu cá rô, hái ổi trộm ở các bờ ao rau muống ở Thanh Nhàn, Vĩnh Tuy...rồi cảnh hai thằng lớn lên cùng đạp xe đạp đi tán gái (hai chị em ruột) ở Hàng Bún sao nhớ nhung đến thế - mình thích cô em, Đài thích cô chị nhưng cô em lại thích Đài, cô chị lại thích mình thế là chẳng thằng nào được yêu, vào chiến trường cứ tiêng tiếc, nhớ nhớ kiểu chi chẳng biết nữa.

Sau này Đài ra quân năm 1974 chúng tôi tạm biệt nhau trên đường tôi về Miền Nam chiến đấu.

Ra quân cậu đi Đức mấy năm, khi về nước mở tiệm vải cùng vợ ở Phùng Khắc khoan.

Lính chiến... nhưng ngố ơi là ngố

Mang tiếng là lính K3 tình nguyện, từng là tiểu đoàn bảo vệ bên này cầu Hiền Lương, vào chiến trường mang đủ mật danh mặt trận từ mặt trận A, B, C tới mặt trận X và Y thậm chí cả mặt trận Z ( oách quá phải không các chiến hữu ); thế mà khi về Miền Nam lại ngơ ngơ như "bò đi cợp" nói như anh em khu 4 hay nói đùa.

Chẳng là khi ra đường dây, vui quá, binh trạm quân vào quân ra rầm rập, í ới tiếng con gái thích quá là thích; lính ta mặt thằng nào thằng nấy hớn hở, dọc đường hành quân thấy bên đường nhiều thùng phi 200 lít đựng đầy mỡ thế là lính ta hô mỡ, có mỡ ...sướng quá thế là bao nhiêu longo, ănggô...đều được lính ta tận dụng đựng đầy mỡ.

Khi đóng quân ở vườn xoài Lệ Thanh – Lệ Xuân có rất nhiều sắn lính ta mới trổ tài ca cóng nào nơi này nhổ sắn luộc, nơi kia giã làm bánh rồi dùng mỡ dọc đường hành quân lấy được để rán bánh – ngon ơi là ngon, nhưng khốn nỗi sau đó đít quần thằng nào thằng nấy chẩy và dính ngập dầu mỡ, giặt mãi không hết; gặp anh chị em đường dây hỏi, họ phì cười bảo:

- ới mấy anh bộ đội giải phóng ơi, mỡ đó là mỡ cho xe tăng ăn đấy, không phải cho bộ đội ăn đâu, ăn mỡ đó vào không tiêu, tự nó chẩy ra thấm hết đít quần ...thôi thì lính anh, lính em của tiểu đoàn tôi về cho mỡ ra rừng hết...ngố thật.

Nằm chốt tiền tiêu năm đình chiến cùng đại phó Lợi C2

Trước đình chiến 1973, đơn vị có đánh giành một số điểm chốt có lợi cho chiến đấu sau này nên khi đình chiến tôi được bổ sung cho hữu tuyến đi chốt cùng đại phó Lợi C2 (người Hà Nội vào B năm 1967) để quan sát nắm tình hình phía bên kia chuyến tuyến.

Nói chuyến tuyển cho to chứ chỉ cách nhau một vườn chè của dân Việt kiều, không biết ở Miền Nam đình chiến như thế nào chứ bọn tôi ở đây rất yên ắng vì phía bên kia là lính Hoàng gia Lào họ thật sự không muốn đánh đấm, nếu đoạn nào có lính đặc nhiệm Thái được Mỹ huấn luyện thì giới tuyến thật sự căng mắt 24/24.

Khu vực hai anh em nằm chốt nắm địch là khu rừng già cây cổ thụ cao, rất nhiều sóc và chim; phong lan nở tỏa hương đêm như thì thầm nhắc nhở mình nhớ về Hà Nội với mùi hương sữa thơm nồng nhưng đêm đầu tiên mắc võng ngủ lại là đêm bất an nhất vì nghe nhiều tiếng sột soạt cả 2 anh em đều phải thức canh chừng suốt đêm, sáng ngày thấy nhiều vết chân thú mà rùng mình.

Anh Lợi bàn với mình đào hầm trú đêm, thế là một thằng quan, một thằng lính hì hục đào cả ngày được một hầm chữ A rộng để đồn trú.

Hầm có 2 cửa để dễ bề đào tẩu nếu thú rừng tấn công, trên miệng hầm là những bó cành gai để ngăn thú rúc vào...tối yên tâm ngủ đủ giấc.

Nhưng cũng chỉ được vài ngày, quanh quẩn vẫn có thú rình rập 2 anh em làm bẫy quanh hầm – vì là lính "cày đường nhựa" không giỏi chuyện săn bắt, mình chỉ nghĩ được mỗi kiểu bẫy đơn giản là bẫy thòng lọng: lấy dây điện thoại buộc làm thòng lọng, làm một cái cần có treo theo thêm 2 vỏ hộp thịt hộp và một cái chốt hãm khi thú bước vào hoặc giật mồi thì cần bật tung, kéo cổ con thú lên.

Đêm anh em hồi hộp chờ và phân công anh Lợi cầm đèn pin và khẩu súng ngắn còn mình thì chuẩn bị sẵn khẩu AK chờ...

Leng keng...ầm ĩ thế là 2 anh em lao lên, anh Lợi soi thấy một con thú mắc bẫy to như con chó, mầu lông đen xì đang lồng lộn tìm đừng thoát, tôi bấm cò một phát con thú dẫy chết ngay.

Sáng bắc nước sôi cạo lông, thui và mổ thịt như chó ( con này nước đái khai lắm ), sau này khi bắn được tiếp gọi về cho anh em D bộ và đại đội 1 lên chốt quan sát gánh về thịt, anh em ở nhà nói là chó sói, bọn này đi theo bầy, nhiều lắm.

Nằm chốt chỉ có 2 anh em cũng buồn, nên mình hay tập bắn bằng AK và mượn súng ngắn của anh Lợi tập bắn và sau khi thấy bắn tốt mình bắt đầu đi săn (chỉ ban ngày) và mỗi khi nghe có tiếng nổ ở nhà là anh Lợi đã bắc nước chuẩn bị khi thì bắn được chim câu, khi thì sóc, chủ yếu là thú nhỏ - cho đến giờ mình bắn chim vẫn tốt dù đã là U60 nhưng mắt chưa dùng kính: nhà có giàn phong lan, có loại chim to hơn chim sẻ một tí, mầu lông xám hay ăn nụ hoa, tức mượn khẩu súng săn về và thỉnh thoảng vặt lông vài con để dành kha khá là mời anh em hàng xóm nhậu.

Hai anh em ở với nhau thân thiện, có thời gian rảnh rỗi nói chuyện riêng tư thoải mái, anh buồn khi nói sau chiến tranh giải ngũ về già rồi chắc không lấy được vợ, mình đùa bảo về em giới thiệu chị gái và mình bảo anh thôi thì ... bộ xương già ấp ủ trái tim non... vậy là anh cười hì hì khoái trá thế là tâm sự hết cỡ và tối hôm đó anh đùa anh em mình thương nhau đến chết mới thôi nhé...mình ừ đâu biết ổng cho mình hít...

Tối hôm đó hai anh em đắp chăn chung, anh bắt trùm chăn kín đầu và...bủm, bủm...thở không được mình nhoài ra thở ổng cười hì hì..nói thế mà bảo thương nhau đến chết mới bủm một cái đã ...thật hết biết kiểu đùa của lính Hà thành.

Sau đợt chốt này, khoảng đầu 1974 đại phó Lợi ra quân vì lớn tuổi về làm chủ tịch UBND phường Hàng Bông, tôi có giới thiệu bà chị gái nhưng sau khi gia đình tôi chuyển về Miền Nam anh chị có duyên mà không có phận nên không thành vợ thành chồng được tuy vẫn quý nhau.

Lan rừng và nhớ về đồng đội ở Trường Sơn

Ở trường Sơn, khi hành quân qua bất chợt gặp những cánh rừng già, những thác nước đổ nhẹ nhàng (mùa khô); phong lan mọc dầy đặc trên thân cây cổ thụ với chùm hoa phong lan treo lơ lửng trên cành cây, chim hót, vượn hú phong cảnh như đẹp cảnh thần tiên vậy.

Nhưng cũng có những cánh rừng bị bom B52 rải thảm thì cảnh vật sơ xác tiêu điều; cây đổ ngổn ngang, cây chưa đổ thì đứng trọc trời như "Từ Hải" bị cháy xém và trên những gạc giữa thân và cành đó còn lại vài giò phong lan bám sát thân treo lơ lửng như mình gửi tặng đồng đội chiêm ngưỡng.

Sự hồi sinh của loài cây họ dương sỉ (như Behien Qyv7c) lan còn sống sót này ( giờ khi dưỡng giỏ lan rừng này mình mới biết càng nhiều năm tuổi nó càng to và càng dài, nên mình có thể khẳng định là nó sống sót sau cơn bom B52) hay nói cách khác sự sống sót của loại lan này sau bom đạn thật kỳ diệu – tươi xanh và thả mình dài khoe sắc.

Đúng như CCBTT nói có người đã gọi nó là ổ rồng hay đuôi công, đuôi phượng hoặc như bọn lính tôi thời đó gọi là tai voi - lan tai voi, đơn giản là cái mà CCBTT gọi là "ổ rồng" có lá phủ to (mọc) bọc quanh thành ổ to như bọn tôi tưởng tượng tai to nhất trong các loài thú là tai voi.

Nhưng có lẽ gọi là "ổ rồng" là hay nhất vì mầu xanh và chiếc đuôi của nó tuyệt đẹp; và ở đây tôi lại nghe một tên gọi mới giật mình của beHien quân y viện 7C gọi "ổ rồng" cùng loại với họ dương sỉ ( chắc hai cô bé này có nuôi lan này, hoặc yêu lan mới hiểu tên lan này) – Tuy nhiên mình hơi buồn một xí tên gọi vì cây ổ rồng mình nâng niu nuôi dưỡng 10 mà "em bé" quân y phang ngang họ dương sỉ; nhưng điều "behien QYV7C" nói đây có thể là điều sự thật vì loại lan "ổ rồng" này không có hoa như loài dương sỉ, và hơn 10 năm qua (dạng lan cổ thụ rồi đấy), mỗi năm ổ nó to ra một xí, đuôi nó dài ra một xí, riêng xí hoa lại không có, buồn hỉ...

Ở cánh rừng bom trơ trụi này có một vài giỏ lan "ổ rồng" còn treo lơ lửng trên cây là nơi tôi và trọng C6 đã đi qua; trong nhật ký của trọng có viết tới một đại đội trong tiểu đoàn đi B của chúng tôi do cấp trên yêu cầu chi viện gấp cho chiến trường lên đã hành quân đột xuất bằng xe cơ giới vào Nam; với Trọng nói là sau này có gặp các chiến hữu này đánh ở Quảng Trị ra thì mừng cho chúng nó quá; còn tôi hồi đó đã khóc khi nghe cánh giao liên dẫn quân thuộc binh trạm giục chúng tôi đi nhanh qua khu vực này vì mấy ngày trước có một đại đội hành quân cùng đợt của chúng tôi bằng xe cơ giới bị đúng làn bom B52 và hy sinh hết, mùi tanh vất vưởng và quạ còn bay xáo xác trên đầu chúng tôi.

Chiến trường là vậy, khi ở binh trạm trước khi bọn chúng được lên xe ô tô đi thì reo hò phấn khởi vẫy tay chào tạm biệt chúng tôi, còn bọn tôi mặt xị như cái bị vì không được may mắn như chúng nó, mình chỉ ao ước được đi ô tô như chúng nó dù có chết cũng được - cho đỡ khổ cái thân phải hành quân bộ; đời đúng là mỗi người một số phận, không ai nói trước được.

Lá thư thứ nhất của lính tình nguyện:

Viết trong chiến dịch 128 ngày đêm ở Nam Lào 1972

Những cuốn nhật ký như của Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và những lá thư bất hủ của các liệt sĩ đánh thành cổ Quảng trị - là những di sản văn hóa vô giá của những chiến binh Việt Nam bảo vệ Tổ quốc thời hiện đại; những di vật lịch sử ấy đã kể lại cho con cháu muôn đời sau biết một thế hệ đã sống và chết như thế; sẽ mãi mãi là nguồn lửa thiêng thiêu rụi mọi kẻ thù xâm lăng đất nước ta.

Và hôm nay chúng ta đang sống giữa thế giới thực của cuộc đời thực mà cha ông chúng ta mơ ước từ 80 năm về trước; trong thời đại mà Bằng cấp, Chức vụ được đặt nặng lên nội dung đời sống xã hội thì vấn đề "con dân" từ người nông dân tay lấm chân bùn, những thị dân nơi đô thị, người lính nghĩa vụ sau khi hoàn thành nghĩa vụ...đang trở nên mờ nhạt.

Rất may, trong các hình thức giáo dục; trong các sân chơi có tính giáo dục lại có diễn đàn "dựng nước và giữ nước" xuất hiện đúng lúc Tổ quốc cần và đây là một nhu cầu rất tự nhiên của dân tộc Việt Nam từ ngàn năm dụng nước và giữ nước luôn luôn tự khẳng định mình trước nguy cơ bị thôn tính; nơi nhân dân tự định hướng và giáo dục con dân đặt vấn đề: Tổ quốc trên hết - "một thời máu và hoa" đã thực hiện được mong muốn truyền lửa cho nhau của những chiến binh bảo vệ Tổ quốc thời hiện đại.

Với thế hệ lính trơn, lính không số đúng nghĩa như bọn tôi, may mà còn sống thì sau 40 năm cũng cố lần hồi ức để nhớ lại, viết lại những năm tháng của tuổi thanh niên đã từng sống như thế nào?...; rằng dù đây chỉ là những nét vẽ thô thiển của những người lính trơn, không danh phận trên diễn đàn chính trị nhưng cũng muốn minh chứng rằng trong thời máu và hoa lửa ở chiến trường số lính trơn này đã vẽ nên lịch sử chiến thắng bằng máu và nước mắt của họ; viết tuy chưa đúng lắm do phải viết theo quy chế của diễn đàn, chưa phản ảnh đầy đủ lắm vì chỉ là một bộ phận nhỏ, rất nhỏ tham gia diễn dàn nhưng cũng muốn gửi gắm với đồng đội đã hy sinh rằng chúng tôi cũng đã cố gắng phản ánh trung thực nhất cuộc đời thực mà các anh, các chị và chúng tôi từng đã sống và chiến đấu.

Để tôn trọng lịch sử của thời gian, với những lá thư ít ỏi ( vì tôi là 1 trong 3 đứa con tham gia chiến đấu ở chiến trường Miền Nam trong một gia đình và tôi bị đồn thổi là hồi chánh theo địch) thư tôi gửi về nhà trước 1975 đã được cha mẹ cất kỹ, coi như bảo bối và sau ngày chiến thắng Má tôi vẫn giữ cho đến ngày bà mất năm 2004 tôi mới được đọc lại (chụp gửi nguyên bản).

Đọc lại thư tôi biết là từ ngày vào chiến trường tôi không nhận được thư nhà cho tới ngày ra về phép năm 1976; trong thư tôi không biết Lang - anh đầu tôi đi chiến trường Lào 1966 và ra bắc an dưỡng năm 1970 lại đi B vào chiến trường khu V năm 1972 và cùng năm đó Liên - em trai tôi bỏ giấy gọi vào đại học Lâm nghiệp, nhận giấy gọi nhập ngũ và tham chiến tại chiến trường Bình Trị Thiên đánh mãi đến năm 1974 bị thương mới ra Bắc điều dưỡng (trong thư tôi viết hỏi thăm cứ tưởng anh và em tôi đang đi học đại học ở Miền Bắc); lá thư thứ nhất này thật sự mình không nhớ là gửi ai mang ra, nhưng tin chắc một điều dứt khoát chỉ có đồng đội bị thương của tiểu đoàn và thân với mình ra Miền Bắc điều trị vết thương.

Lá thư thứ nhất dài 4 trang có cả số hòm thư hồi đó, lá thư thứ 2 chỉ đúng vài dòng - đúng nghĩa lá thiệp báo tin; lá thư thứ 3 thể hiện không khí mùa xuân 1975.

Nội dung thư viết về chiến trường tôi viết rất ngắn gọn mà chủ yếu dành hỏi thăm gia đình để thỏa lòng nỗi nhớ cha mẹ; hồi ức viết trên trang mạng của tôi đã phản ánh tương đối chân thực về chiến trường Lào mà đơn vị tôi đã sống và chiến đấu.

Trong hồi ức tôi viết có thể nhần lẫn giữ các trận đánh giải phóng và những trận chốt giữ Khôngsêđôn sau giải phóng mà trong thư 1973 tôi sử dụng từ "chống càn".

Cũng một người viết, không gian và thời gian viết lại đã làm sai lệch "hình thức" sự thực mình đã từng sống, nhưng về nội dung là không sai – trong thư toát lên tinh thần một thế hệ thanh niên đầy lạc quan trong chiến đấu và sức chịu đựng gian khổ vượt quá giới hạn sức sống một con người; đây là lá thư thứ nhất.

Thế đấy, một thế hệ được nuôi dưỡng bằng tinh thần nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Bản Tuyên ngôn do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 mang tính dân chủ: "tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" và thế hệ chúng tôi được học tập và rèn luyện trong một môi trường sư phạm như vậy, với những nhà lãnh đạo kiệt xuất như vậy thì điều tất yếu để bảo vệ quyền dân chủ của bản thân mình chúng tôi phải sống, chiến đấu hết mình và chết như thế đó.

Lá thư thứ 2: Thiệp báo tin

Lá thư thứ 2 của mình viết đó trong những ngày đình chiến năm 1973, thời gian này bọn lính mình được nghỉ ngơi không phải đánh nhau nữa, như bài mình viết về đi mua mật ong ở Atôpơ gặp bất ngờ giữa lính Hoàng gia Lào và bộ đội Việt Nam không cần biết địch ta, dân cho ăn hai bên cứ ngồi ăn rồi ai đi đằng nấy; Mình nhớ hồi đó hình như trên chỉ đạo theo ý của trung ương bạn là gặp lính phu mi Lào không tiêu diệt mà nếu đánh thì chỉ đánh tượng trưng thôi vì dân bạn quá ít.

Khi hiệp định đình chiến được ký kết mỗi thằng lính chiến trường chỉ được phát 01 (một) thiệp báo tin (như bản chụp kèm theo); đây là lá thư đầu tiên và duy nhất trong những năm đánh đấm ở chiến trường mình được phép gửi theo đường quân bưu và được đưa đến tận nhà.

Thiệp báo tin - được dùng từ thời 2 miền Nam Bắc của đất nước chia cách tạm thời, tôi nghe nói hồi đó trong vòng 2 năm đầu nhân dân 2 miền có nhận được tin của gia đình ly tán thông qua thiệp báo tin này và tôi không ngờ đến thế hệ tôi lại sử dung thiệp báo tin này.

Bác nào còn giữ thiệp báo tin hồi 1955 - 1956 gửi cho xem, xem có khác thời tôi không.

Nội dung thiệp báo tin được trên quy định chỉ viết báo tin còn sống, không để lộ địa chỉ chiến trường (mặt sau tự ghi địa chỉ gia đình).

Lá thư thư 3: Đường ra trận như trẩy hội mùa xuân

( gửi bản sao bên thư của lính)

Lá thư thứ 3 cũng là lá thư cuối cùng của đời lính chiến của tôi gửi về nhà khi trở về Việt Nam, khi ấy được lên đường dây 559 là nhất rồi. khí thế lắm, con đường mình đã đi qua và đã cùng đồng đội bảo vệ nó thế mà khi lên đường dây thấy mình như là lính mới - "đường Trường Sơn, con đường ra trận của người lính trẻ năm ấy vui như trẩy hội mùa xuân" không phải chỉ có trong công tác tuyên truyền và những truyện trong phim ảnh, trong huyền thoại mà điều đó có thật.

Trong bài "lính chiến ngố ơi là ngố", tôi đã phản ánh một phần sự hoan hỉ của Sư đoàn tôi khi trở về Miền Nam chiến đấu.

Ở lá thư viết năm 1974 này tôi đã tả lên nỗi súc động và niềm vui sướng tuột độ đến nỗi tôi đã reo lên lúc đó: Đất mình, nước mình đây rồi; có chết cũng sướng vì được về đất mẹ để chết.

Niềm vui sướng khi được về đất nước và được chết trong lòng đất mẹ không chỉ là lòng mong muốn của riêng tôi mà còn là ước nguyện của cả Sư đoàn tôi; bao năm ở nước bạn Lào, nỗi nhớ quê da diết trong lòng, được nhân lên gấp bội qua mỗi trận đánh, qua mỗi lầm ôm xác đồng đội.

Nay đường về quê xanh mướt những cánh rừng già, những đoàn quân vào quân ra với tiếng í ới của các O lính thanh niên xung phong; thoảng đâu đó tiếng anh ơi, em ơi nghe sao ngọt lịm đến thế.

Tháng 12 năm 1974 đặt chân về đất mẹ thân yêu, tôi đã tranh thủ viết thư về thăm nhà và thật ra mình chỉ nhớ mài mại là gửi thằng Minh Hàng khoai bị thương ra Bắc điều trị; nhưng giờ xem lại bút tích Ba mình ghi địa chỉ ở phong bì người mang thư ra thì đúng là thằng Minh 17 Hàng khoai và thằng Quang 43 Hàng Đồng về bắc mình đã gửi thư về gia đinh.

Cám ơn 2 đồng đội đã mang thư về và đến tới tận nhà kể chuyện mình còn sống để động viên Ba, má và chị em trong gia đình mình ( vì lúc đó mình vẫn bị mang tiếng là lính hồi chánh sang phía Việt Nam Cộng hòa).

Nằm ở đường dây 559 chờ xe chở quân, bọn mình chỉnh trang quân phục (nói thế chứ quần áo lính chiến đấu cũ rích khác hẳn lính đường dây), rỗi lúc nào là chạy vào binh trạm tán mấy O lính binh trạm và hồi đó anh em lính binh trạm thấy mặt lính chiến bọn mình là .... thấy gét luôn, vì nhiều thằng tán "gái" – tán mấy O rất điệu nghệ, khi về thế nào cũng được mấy O thưởng nào là thịt hộp, ruốc bông, lương khô cao cấp...nhiều thứ thực phẩm hết biết luôn.

Thích lắm, nhưng cũng chẳng được mấy ngày; xe đến, lần này đúng là không muốn cũng phải lên xe ô tô đi, khi mình đã quen hành quân bộ, dọc đường nghỉ còn tán được mấy O binh trạm thì cấp trên lại bắt đi ô tô có tức không...Tạm biệt binh trạm các anh ra vẫy chào vui vẻ, còn chị em bùi ngùi lưu luyến nắm tay to nhỏ với một số thằng và bớt chợt một lính ta được "chút" – một nụ hôn cả xe reo hò, làm cô nàng lính binh trạm sợ chạy mất tiêu...

Tản mạn lính về đời thường

Thế là được đi ăn dưỡng; mong ước nho nhỏ hồi ở chiến trường những năm gian khổ là được nghỉ ngơi để khỏi phải đánh đấm ít ngày thôi mà không được, nay sau 34 năm ra quân mới thực hiện được – không chỉ ít ngày mà 10 ngày cơ đấy và lại là ở Đà Lạt mộng mơ chứ không phải trạm xá trung đoàn đâu nhé.

Thật thú vị phải không các bạn, đời cứ mơ ước đị; trời sẽ chẳng phụ người có ước mơ và có lòng kiên trì theo đuổi.(hình ảnh trạm nghỉ dưởng 198 Đà Lạt).Đoàn an dưỡng, điều dưỡng này được tổ chức chu đáo và nề nếp, doanh trại khang trang sạch đẹp.

Tác phong của cán bộ nhân viên của đoàn niểm nở như các đồng chí binh trạm đường dây năm xưa; trả lời và giải đáp thắc mắc chu đáo, ăn luôn đổi món và nấu ngon; tối có y ta đến từng phòng đo mạch, nhắc nhở các đồng chí lớn tuổi đêm tránh ra gió, dù kinh tế thị trường khắt khe, đoàn an dưỡng vẫn bố trí xe đưa anh em đi tham quan một buổi...tự nhiên mình mong các viện quân y bây giờ giữ được tác phong như đoàn an dưỡng này thì hay biết mấy, tuy chưa bằng viện quân y thời chiến tranh nhưng tình đồng chí, đồng đội được đề cao.

Nghỉ dưỡng của anh em cựu binh đã nghỉ hưu theo giấy mời của Bộ Quốc phòng thông qua Quân khu và gửi về cho các tỉnh, bộ chỉ huy tỉnh đội thông báo trực tiếp cho cựu chiến binh cơ sở theo mình được biết là như vậy đấy "lính thông tin" ạ.

Tại đoàn an dưỡng này mình thấy cách tổ chức tùy các tỉnh đội địa phương như cách địa phương Miền Trung thì cá nhân tự túc đi, vé tầu xe Bộ thanh toán lại; còn khu vực phía nam mình vừa gặp anh em cựu binh tỉnh Đồng Nai do phó chủ tịch hội cựu binh làm trưởng đoàn (có ảnh mình chụp đoàn CCB tỉnh Đồng Nai) thì các huyện đội thông báo và có hỗ trợ thêm kinh phía cho anh em CCB, tỉnh đội bố trí xe đưa đón và có một (01) cán bộ tỉnh đội đưa đi.

Mình đi nhờ xe anh em Đồng Nai đi dinh Bảo Đại và nhận thấy quản lý trật tự xã hội thật đa rạng, không hiểu còn có nơi nào như ở đây không; các cháu bán hàng tranh ảnh khỏa thân của thiếu nữ lại tự do đến như vậy – nhớ năm 1975 hộp quẹt của Mỹ cũ có hình cô gái nuy cứ nhìn nghiêng bên này có kiểu hình nuy một cô, nghiêng bên kia lại hình nuy khác, thằng nào có để lộ là bị kiểm điểm chết bỏ và kết tội đồi trụy cách mạng và bây giờ ở Đà Lạt những hình này không còn là hộp quẹt bé nhỏ mà là những bức tranh to để treo tường được; mấy anh lính già Miền đông mua một bức và nói khi nào về cho bọn nó nhậu 3 xị hết mồi kêu tao, tao cho chúng mồi mới này...hì..hì..thế là trên đường đi rôm rả lính Miền Đông và lính Miền Trung, lính Tây Nguyên kể cho nhau nghe chuyện xưa của mình...mình ghi lại câu chuyện này của lính Nam bộ kể cho đồng đội nghe chơi....Nằm viện quân y miền, có đồng chí thương binh bị thương mà vết thương rất khó băng bó nhất là khi có y tá nữ trẻ - khi vào thay bông băng và vệ sinh vết thương, nữ chiến sĩ y tá này rất chu đáo tận tình từ khâu gỡ gặc và rửa vết thương của thương binh này nhưng khi y tá vừa ra đến cửa thì đồng chí thương binh gọi với: y tá ơi, nó lại tuột băng rồi; cô y tá lại đến bên thương binh từ từ nhẹ nhàng băng lại vết thương cho đồng chí thương binh, nhưng cứ khi nữ y tá này bước ra cửa là đồng chí thương binh lại gọi giật y tá, yêu cầu băng lại vết thương làm anh em thương binh nặng nằm cùng lán nghĩ nữ y tá trẻ kém nghiệp vụ chuyên môn.

Cả sáng, nữ y tá này không thể băng bó được vết thương của người thương binh này.

Cô y tá bèn chạy xin ý kiến của y tá có kinh nghiệm hơn; một nữ y tá lớn tuổi đến cùng y tá trẻ khi nhìn vết thương của chàng lính bèn bảo cô y tá trẻ đưa ngay lọ cồn và chấm...chấm vô vết thương - chàng lính trẻ kêu đau, kêu rát quá má ơi; khi đó nữ y tá trẻ bắt đầu băng bó lại, kỳ lạ thay, kỳ này chỉ cần băng một lần là được ngay...hóa ra chàng thương binh trẻ bị thương vào "cái cần" và mỗi khi cô y tá trẻ đụng vô thay băng là nó to tướng và khi băng rồi cô y tá đi là nó xẹp lép làm bông đi đằng bông, băng đi đằng băng...tội cô y tá thật.

Gót chân Asin sau giải phóng

Người ta giờ đây hay nói đến tính chuyên nghiệp và để hiểu được khái niệm này đất nước ta sau hòa bình đã trả giá bằng sự thất thoát tài năng, tài nguyên; trật tự, kỷ cương của đất nước thiếu các Bộ Luật dẫn dắt; đến giờ chúng ta vẫn lúng túng từ cách dùng người, cách tổ chức bộ máy, nói như nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là lỗi hệ thống; ai đó hợp với trên là làm được tuốt, vì con người nào đó là lại sinh ra tổ chức mới – cứ nhập vào rồi tách ra, chi phí thì cứ dùng tiền thuế của dân mà thử nghiệm chính sách.

Cách đây 35 năm bọn tôi tuy là lính nhưng cũng phải hành quân kiểu đèn cù do điều hành chỉ theo ý chí của người cấp trên: lúc thì ở quân cảng Cam Ranh, tình hình yêu cầu lại lên rừng tiểu phỉ, Tây Nguyên tạm yên lại điều sư đoàn thiện chiến rừng núi về đồng bằng trồng bông ở Thuận Hải ( sau gần 40 năm thành dự án điện hạt nhân ); đổi phiên hiệu sư đoàn thành nông trường trồng bông 968 và tất nhiên lính chiến bọn tôi không có trình độ trồng bông nên đồng loạt ra quân...sau 1978, tình hình phức tạp, anh em nông trường trồng bông 968 lại bỏ cầy cuốc, tập cầm súng và tiếp tục lên rừng vượt Trường Sơn sang Lào lần II.

Nói vắn tắt là vậy, chứ chuyện thủng thẳng như thế này: .

Trại Trần Nguyên Hãn tháng 6/1975.

Nắng như thiêu, như đốt, cả tiểu đoàn bộ nằm gọn trong khu nhà tôn có tên Trại Trần Nguyên Hãn, anh em lính cởi trần ra nằm dưới đất tránh cái nóng buổi trưa của Cam Ranh; buổi tối bọn tôi, Tuân gián điệp, Toán trinh sát thường trèo lên nằm ở mái bằng bằng bê tông của vọng gác cho mát, ngắm trăng sao và tâm sự cuộc đời riêng tư của mỗi đứa và ước mơ sau này khi dời quân ngũ (lên cao để khỏi bị điều ra tiếng vô không hay của những người hay nghe lỏm rồi báo cáo lấy công); thỉnh thoảng bọn tôi bị ngắt quảng bởi tiếng hô: có địch, có địch của một đồng chí lính của đơn vị nào không biết bị tâm thần vừa chạy vừa hô – lần đầu bọn tôi tưởng thật đơn vị báo động chiến đấu, nhưng sau quen dần...với đồng đội bị tâm thần này.

Mới giải phóng xong đã thấy phức tạp rồi, cuộc sống trong sáng của người lính chiến không còn như trước; những tháng ngày vô tư đã sống, chiến đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ không còn nữa, còn hôm nay hòa bình rồi lại phải tìm cách để sinh tồn trong thế giới vật chất thực mà lãnh đạo hồi đó hay phê phán là chủ nghĩa thực dụng.

Trong cả tốp lính 4/9/1971 ở Tiểu đoàn bộ lúc này chỉ có mình tôi mới vừa được kết nạp vào Đảng ít ngày, còn các địa phương khác cũng có một số ít; số kết nạp nhiều phần đông là anh em người cùng quê cán bộ Tiểu đoàn nên nhiều chuyện to nhỏ của lính, anh em hay tâm sự với mình.

Bi quan, chán nản bắt đầu xuất hiện, anh em đơn vị hay gọi tôi là anh do tôn trọng người lính gương mẫu đi đầu trong chiến đấu nên thường nói: anh tham gia trận giải phóng Thanh An, Thanh Bình bị quả 105 may còn sống, trong chiến đấu phục vụ tốt thông tin chỉ huy ở trận chốt giữ điểm cao 605 nổi tiếng của Tiểu đoàn mới được kết nạp Đảng; còn lãnh đạo Tiểu đoàn thì được cấp trên cất nhắc lên trung đoàn sau trận thắng hướng nghi binh chiến lược; còn anh em lính như tôi vẫn làm lính.

Ngược lại số lính vào sau được đề bạt nhiều do thành phần cơ bản và cùng quê, còn lính Hà tiểu tư sản quá nên chỉ dùng đánh trận mà không sử dụng, nếu có sử dụng cũng không cất nhắc, có cất nhắc thì cũng cất nhắc đại khái nhưng không dùng.

Cuộc đời cứ lẩn quẩn quanh mấy chữ "cục bộ địa phương".

Điển hình như thằng Lợi "trọc" Gia Lâm đại đội 1 "tút" về Bắc mới vào thời đó suýt bị tước quân tịch, (cậu ta đảo ngũ mang luôn súng, lưu đạn về chắc để tán gái cho oách) – dại thật đánh đấm không đảo ngũ, hòa bình không được về phép theo thứ tự nên "tự thưởng phép" cho mình, đúng là bản chất của dân kẻ chợ, thích tự do phóng túng và chính tôi ở lá thư gửi ngày 22/12/1974 về cho gia đình đoạn gạch tẩy xóa nay vẫn đọc được nếu các bạn chú ý tuy tôi viết hơi nặng nhưng thực sự là bức súc ( " SaiGonGuider" xem gúp chuyển lá thư đó về trang này này giúp bạn đọc dễ xem và chứng minh mình bức xúc trước hòa bình về chuyện là có thật) chính là sự thất vọng của tôi khi đó là do cán bộ lúc nào cũng nghi ngờ anh em địa phương khác - theo kiểu văn hóa sau lũy tre làng, cứ đề bạt sử dụng quê hương mình đã, còn miền quê khác cứ chờ đấy, cứ thử thách dài dài đến chết mới tin.

Nhưng vào Đảng thời đó chỉ khổ thêm chứ có được gì đâu mà than với vãn, tôi vào Đảng xong, cứ chỗ nào khó, chỗ nào vất vả là ấn Đảng viên dự bị đi trước.

Sau này lên Tây nguyên tiểu trừ Pulro mình cũng nhiều lần sống dở chết dở và bị phê bình thậm chí lý lịch quân nhân hồi ra quân còn bị ghi là ....(sao lý lịch quân nhân kèm theo).

Mà về phép hồi đó chỉ có quà giá trị nhất là con búp bê mắt nhắm mắt mở và hơn nữa khung xe đạp; mà cũng lạ xe đạp hồi ấy miền Bắc quản lý ngặt nghèo từ số khung và biển số; không biết lính ta mang ra làm gì nữa; đồng đội nào mang ra, nay kể chuyện mang cái khung xe đạp Miền Nam mang ra Bắc làm gì đi.

Thời đó chỉ có Ngọc Thiuthiu là mang "con cá xanh" ra Bắc là thấy được, đỡ tủi phận lính chiến. còn mình về phép đơn vị cho phép mang khẩu AK báng gấp, còn khẩu côn quay thằng Toán đưa để mình phòng thân ở vùng mới giải phóng, 5 quả lựu đạn mỏ vịt, một cái ống nhòm Mỹ và một tập bản đồ đánh trận Bắc Tây nguyên (...về Đà Nẵng cho oai lính Tây nguyên ) và một chiếc ba lô lép kẹp – tài sản về phép sau chiến tranh của mình là thế đó ...khi về nghe chuyện Má kể hồi ở Miền Bắc bị ép do có con hồi chánh, tức quá định vác súng ra Bắc trị tội bọn dám nói mình hồi chánh – trong này mình đánh cũng chết đi sống lại, khen thưởng cũng đỏ ngực mà dám nói mình hồi chánh; Má, Ba mình khuyên mãi nên tạm thời mình không đề cập đến việc ra Bắc bắn bỏ kẻ thù hậu phương.

Sau ngày tôi trả phép đơn vị mình được lệnh hành quân với mệnh lệnh: mỗi đồng chí một bó củi; lính ta đồn thổi thổi tiếp tục Nam tiến rồi; Nửa đêm, xe GMC vận tải đến và anh em lên xe chạy ngược ra phía Bắc chạy tới Nha Trang rẽ trái lên cao nguyên, đường 21 đây rồi...bọn bay ơi, dậy đi, ta lại về với rừng rồi...lúc này vui buồn lẫn lộn thằng thì phân tích như ông cụ non ...ta là lính đánh rừng ở đồng bằng không đúng; thằng thì bảo chúng mày nhìn lại xem, mặt mũi thằng nào, thằng nấy xỉn đen, mắt trắng rã, môi thâm xì có mà để chúng mày ở đồng bằng làm mất mặt Quân giải phóng Miền Nam – phải để bọn tân binh, môi son, da trắng quần áo mới tinh vào quân quản mới phù hợp ; 7 thằng Việt cộng bám cộng đu đủ không gãy mà đòi về tiếp quản thành phố...thôi thì đủ lý lẽ nhưng lý lẽ này là đúng nhất: Một , hai, ba ..vất ...thế là những bó củi được vất toàn bộ dưới chân đèo phượng Hoàng.

Lên Tây nguyên đợt này bọn mình được giao nhiệm vụ truy quét tàn binh và tẩy trừ Pulro và chuyện Pulro báo chí đã nói nhiều theo tiếng nói chính thống. mình không phải chuyên gia nên chỉ viết những chu yện mình trải qua.

Tiểu đoàn bộ ở Bunky, các đại đội ở các buôn xung quanh, lúc này chỉ sử dụng hữu tuyến và liên lạc tiểu đoàn chỉ khi tác chiến mới dùng 2W.

Do cơ cấu bố trí lại tổ chức sau này mình được điều xuống làm quản lý tiểu đoàn bộ và sau giải phóng được dùng từ mỹ miều là Quản trị trưởng tiểu đoàn bộ - thực thà lúc này mình cũng muốn được đi học sĩ quan, nhưng có thể do thành phần gia đình bên ngoại là địa chủ (địa chủ kháng chiến), cha mình là công chức thời Pháp (nhưng theo cách mạng từ năm 1944 - là người liên lạc đưa thư từ trại giam ra ngoài cho đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ Xứ ủy Trung kỳ ) và do mình là dân từng sống một thời gian ở Hà Nội thì có lẽ cũng phải biết điều là quên chuyện này đi - dù sau này anh em biết mình là người Miền Nam theo cha mẹ tập kết ra Bắc; và dù cá nhân được suy tôn chiến sĩ thi đua cấp sư đoàn, được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng thì chuyện học sĩ quan vẫn xa vời vợi với mình giống như mơ tưởng với trời xanh vậy - nói thế thôi chứ Hà Nội cũng có 1 thằng - thằng Một mới về làm chính trị viên đại đội 2 nhưng là người ở tiểu đoàn khác đi học bổ túc sĩ quan được điều về tiểu đoàn mình (sau làm viện trưởng một viện Kiểm sát quân đội).

Quản lý D bộ nơi mà mình gét nhất trong các vị trí ở quân đội như những bài trước mình viết.

Khi đánh đấm thì mình làm lính chiến, thèm khát từ miếng cơm cháy, muốn được nghỉ một ngày cũng không được, nay hòa bình bọn lính chiến được tự do tung tẩy các bản làng còn mình lại phải cơm bưng, nước rót cho chúng nó – tức thật, thế là phản pháo với ông C. chính trị viên tiểu đoàn.

Họp toàn đơn vị, ông C. phê phán tư tưởng dao động của mình bị ảnh hưởng bởi vật chất, cách sống thực dụng của chủ nghĩa tư bản và chụp cho mình cái mũ: tư tưởng mang hoang giao động trước diễn biến hòa bình (không phải bây giờ mới có những từ ngữ này, hồi mới giải phóng đã có rồi, và đánh nhau với địch thì không hoang mang, còn bây chừ lại hoang mang với đồng chí mình - chi lạ rứa), từ người chiến sĩ gương mẫu của tiểu đoàn trong chiến đấu, mình bước một bước lùi trở thành lính tụt tạt trước con mắt của chính trị viên tiểu đoàn – hết việc nấu ăn là suốt ngày mình ngồi cà phê, nghe nhạc vàng ở căn nhà sàn ở tiểu đội trinh sát của thằng Toán (nó có dàn máy A kai nghe sướng cả lỗ tai).

Thế là tháng ngày phụ trách nuôi quan và nuôi quân D bộ bắt đầu, dưới mình chỉ có 2 hay 3 thằng lính gì đó, ngày ngày phải ra chợ Ban Mê Thuột mua thực phẩm, về có gì ngon gọi bọn lính thân xuống ăn trước khi đãi quan tiểu đoàn; thỉnh thoảng làm giấy tờ cho mấy thằng đệ của cán bộ tiểu đoàn đi học bổ túc sĩ quan mà càng thương lính Hà; giờ nghĩ lại vẫn tức: trong chiến đấu anh em đánh tốt quá, văn hóa cũng đều tốt nghiệp cấp III hoặc đang học dở lớp 10 có kinh nghiệm trong chiến đấu mà nó chẳng cho đi học hành gì hết, cứ làm lính tuồn rừng đánh đuổi Pulro, còn cứ đồng hương của nó đánh đấm cũng lằng nhằng, là lính vào chiến trường sau, văn hóa cũng chưa qua cấp III nhưng lại được cử đi học bổ túc sĩ quan tuốt; chán đời thằng mục thật.

Tuy mang tiếng tụt tạt, nhưng cuối năm mình vẫn có tên trong danh sách mời đi dự và báo cáo thành tích tại đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua của Sư đoàn tổ chức tại ngã 6 căn cứ cũ của Sư đoàn 23 của Việt Nam Cộng Hòa, tại thị xã Ban Mê Thuộc.

Pulro là tao

Được quán triệt tiểu trừ Pulro, lính tiểu đoàn 4 lại bắt đầu luồn rừng.

Nhưng lần này, lính bọn tôi không đi theo đội hình đại đội hoặc trung đội gì hết một phần vì lính đều trải qua chiến trận và lính mới chưa bổ sung, anh em đã thông thuộc địa hình tây nguyên nên cứ tổ 3 người là bọn tôi có thể luồn rừng được rồi.

Người của Pulro hình như luôn tránh mặt chúng tôi, trong khi lính đoàn 773 nông trường cao su binh đoàn Tây nguyên chuyên bị tấn công; linh trinh sát thì đi tìm vị trí của người mà trên chỉ đạo bắt là Phó tổng Thống tự phong của người dân tộc là Ibacơi, còn chúng tôi lính bộ binh cứ chia thành từng tốp nhỏ mang cơm nắm luồn rừng tìm địch để đánh những không gặp.

Sau một thời gian không có hiệu quả ở rừng do chỉ bắt được số ít người có mang vũ khí quân dụng của lính Việt Nam Cộng Hòa (bất cứ người dân nào mang vũ khí là bọn tôi bắt tuốt) và theo báo cáo của trên xuống thì lực lượng Pulro có xu hướng lan tỏa trong các buôn làng, trên chỉ đạo tăng cường nằm chốt tại các bản và các đơn vị lại cử người đi dân vận, có lúc tăng cường dân vận từ Buôn Mê Thuột tới tận Lâm Đồng. bọn Lợi trọc đại đội I đi làm cán bộ xã giáp giới với Lâm Đồng, còn bọn tôi vẫn nằm ở Bunky.

Hàng ngày ngồi chơi nói chuyện với bọn trai bản và chiều chiều anh em tiểu đoàn bộ tổ chức đá banh chung với người Ê-đê; thanh niên bản khỏe thật chúng ụi bọn mình ngã lia chia, về khoản đá banh chỉ lính Hà Nội hồi đó đá là thanh niên người Ê-Đê phục vì tài dắt bóng và làm bàn; trong đội bóng tôi và thằng Toán, Tuân Hàng Lược, Sơn người Sơn Tây ở đại đội 2 hay đá – trận đá bóng mừng giải phóng năm 1975 tại Đà Nẵng, đơn vị cử thằng Toán tham gia đội bóng Sư đoàn 968 quân giải phóng đá hữu nghị với các đội tại sân Chi Lăng.

Chiều ra góc đa đầu bản Bunky uống nước quán cô Hà - cô gái kinh rất đẹp lấy chồng người dân tộc; tóc cô bán hàng dài tới gót, môi son tự nhiên, da trắng hồng, thằng Một người Hà Nội bên tiểu đoàn 5 đi học bổ túc sĩ quan mấy tháng về được bổ sung làm chính trị viên đại 2 ở tiểu đoàn mình chuyên ra đây ve vãn cô nàng này, bên hông nó lúc nào cũng đeo kè kè khẩu súng ngắn, miệng thì tía lia coi lính Hà Nội ở tiểu đoàn bọn tôi không ra cái gì vì chậm tiến bộ, thằng chồng của cô Hà bán quán ghen với thằng Một còn bọn tôi nó coi bình thường như anh em.

Sau có lần ngồi uống rượu với nó, tôi hỏi nó về Pulro là ai nó nói: pulro là tao, bọn nó vào bản ghi tên tao vào danh sách thế là tao thành pulro rồi...Câu nói này được phản ánh lên trên và từ nguồn tình báo chính thống của quân đội nắm được mình mới biết thực chất quân đội pulro này là không có thực, chỉ có số ít người thượng trí thức không chấp nhận chế độ giải phóng đã khơi lại một tổ chức đã chết của người thượng từ thời Pháp đô hộ trước đây và nhóm người này thường đi các buôn làng ghi tên tuổi thanh niên người thượng vào danh sách và coi đó là thành viên của mặt trận Pulro...họ tuyên truyền ra nước ngoài là lực lượng được mở rộng trên tất cả bản làng Tây nguyên thực chất chỉ là trên giấy vẽ mà thôi; và sau này khi tập trung một số thanh niên bản đi học tập quả thật có tên anh chàng này..

.

Cả thời gian này ở rừng Tây nguyên gần như bọn tôi chỉ đánh lằng nhằng vì tàn quân lính VNCH thấy chúng tôi truy quét mạnh và gắt gao lên tự tan rã, vất vũ khí trong rừng, tìm đường về quê; còn lính pulro chỉ là sự manh nha, tổ chức lỏng lẻo, quân số ít trong khi cả Sư đoàn tôi là lính chuyên đánh rừng lùng sục suốt ngày đêm như "ma só" không chỗ nào trên bản đồ dự kiến có lính Pulro mà bọn tôi không đạp đến bằng luồn rừng hoặc cơ động bằng xe ôtô GMC và cả đổ bộ bằng đường không ( trực thăng ở sân bay dã chiến L19) ; lính 968 đi rừng cũng giống như người dân tộc đi rừng chỉ khác là mình mang đầy vũ khí và đi ít nhất là tổ 3 người; chỉ tội anh em mình quần áo sơ mướp hết, anh em chủ yếu mặc quần đùi là chính – tôi nhớ khi tôi được đi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua của Sư đoàn mới được cấp một bộ đồ mới để dùng và sau trừ vào chỉ tiêu quân trang của năm đó; khi ngồi uống rượu cần với dân bản hai bên cũng ngà ngà say mình nói nó là dân đít mốc vì chuyên đóng khố; dân bản nói mình bọn mày là lính đít chai, quần đùi cũng rách tả tươm khác gì đóng khố – huề, vì đít bọn mình mốc thực, chai đít thật vì lội rừng suốt ngày như người dân tộc, mệt đâu là ngồi nghỉ như người dân - đất, đá, gốc cây...da mông cọ sát trực tiếp nên chai đít hết.

Dân nói bọn mình là lính chai đít có lẽ một phần họ thấy lính chúng mình đen trũi, cũng lem luốc, quần áo cũ rích gần gũi như con dân họ vậy.

Đó là kết luận về pulro của bọn lính mình còn lính trinh sát và các đại đội vẫn luồn rừng tìm hang ổ của tổ chức này theo chỉ đạo của trên; khoản đầu năm 1976 lính trinh sát báo nắm được sào huyệt Pulro thế là bọn tội lên xe GMC đổ bộ cạnh thị tứ Hà Lan; lội bộ rào rừng tìm địch; mấy ngày sau vẫn không thấy, chỉ thấy chỗ mắc mấy cái tăng võng của chúng giống như người đi rừng ngủ lại.

Năm phục mấy ngày cũng không thấy bóng dáng chúng đâu, hêt thuốc, thèm thuốc tôi đi bới tìm những mẫu thuốc mà mình vất trước đây để hút lại, đang tìm thì ông C. tới hỏi tìm gì, tôi bột miệng nói tìm vàng.; ông tưởng thật cũng cúi tìm giúp tôi và hỏi nó như thế nào, chết thật nói đùa mà giờ thủ trưởng hỏi thật biết làm sao đành nói rối tiếp, hồi về phép cha mẹ có cho chỉ vàng đeo, nằm mở ra xem ngủ nó rơi lúc nào không biết – thế là thủ trưởng cùng mình lục tung đám lá rừng tìm, mình thì chủ động tìm thuốc hút, còn ông C. tìm cái kia, làm sao có thế có khi mình không có và còn mình vẫn có thuốc hút dù là thuốc mót.

Tôi làm quản lý tiểu đoàn bộ

Sau này khi về đơn vị, tiếng đồn rộ lên việc tôi chơi sỏ chính trị viên, ông C. càng cay cú; cứ họp Tiểu đoàn bộ là mình bị phê bình đầu tiên; chán nản tột độ chợt nghĩ giá hồi ở cạnh sân bay Nọng Nô, khi anh em trinh sát đưa đội hình đặt nhầm Tiểu đoàn bộ ngay rìa na; sáng địch đổ bộ sát ngay Tiểu đoàn bộ mọi hoạt động đều ngừng để sãn sàng chiến đấu nếu địch phát hiện ta.

Trong trận này, ông ta là chính trị viên phó tiểu đoàn mới ở đường dây xuống và toàn ở dưới hầm chỉ huy, không dám ló mặt lên miệng hầm, còn tôi lính 2W phải nằm trên miệng hầm của ông ta và sau này ông còn bắt mình bò ra sát rìa để đánh địch nếu chúng mò đến.

Nằm cả ngày chỉ thấy lính địch ra ị, nhìn phát tức mà không được lệnh nổ súng, cứ để cho chúng ị trước mặt – giờ mình mới biết tức như thế nào là bị bò đá (không phải là bồ đá); nhưng chúng không dám vào sâu trong rừng nên không phát hiện ra ta... lúc đó tôi tức ông ta vì nhút nhát, không gương mẫu như các cán bộ khác, một ý nghĩ thoáng qua – nhát thế, chắc bắn ông ta trước rồi bắn địch sau, may địch không phát hiện nếu không chẳng biết chuyện gì xẩy ra nữa.

Năm ấy họp hội nghị quân chính, nghị quyết của Hội đồng quân nhân là mổ heo, nhưng kinh phí không có, đơn vị cơ động liên tục để truy quét tàn quân và phỉ Pulro nên không có chuyện tăng gia sản xuất, không có heo dự trữ như ngày ở chiến trường Lào.

Mình đã báo cáo Chính trị viên tiểu đoàn nhưng ông ta bảo: Nghị quyết đã ra rồi, phải có heo liên hoan, đồng chí làm quản lý phải thực hiện, nếu không có là chết với tôi.

Chết thì chết, lấy tiền đâu mà mua heo; ngày đạị hội quân chính tôi cũng cho anh em chuẩn bị chu đáo bữa cơm liên hoan, không có heo nhưng thịt cá tươi có đủ, các món rau tươi và tiêu chuẩn mỗi tiểu đội có một chai rượu được bọc một tờ giấy có hình một con heo mà tôi vẽ cả đêm.

Tan hội nghị quân chính, anh em xuống lấy cơm cứ hỏi sao thủ trưởng bảo có thịt heo liên hoan vì không thấy dồi heo ( hồi ấy liên hoan phải mổ heo mới là to) – tức mình tôi chỉ: đấy con heo to thế mà không nhìn thấy à...lính tráng nhận cơm liên hoan ra hô: heo giấy, heo giấy, thịt heo giấy, liên hoan heo giấy.

Chắc mọi chuyện sau này các đồng đội biết tôi bị quy kết như thế nào rồi không cần phải kể nữa; nhưng câu phê phán về tôi, tôi nhớ mãi là ...đồng chí Xuân lưu manh chính trị, trên chưa cấp bổ sung tiền thì thôi, lại đi vẽ heo giấy để khích bác thủ trưởng tiểu đoàn...thật đúng như các cụ dậy: khôn không đến trẻ, khỏe không đến già... cứ tưởng mình ứng sử thế là hay lắm, khôn lắm ...thật ra là dở ẹt; nhưng có dở ẹt thì mới có câu chuyên hôm nay mình vừa viết vừa cười tủm tỉm..hi ..hi cười sống thêm ít giây cũng tốt và cũng hay hay khi đời lính chiến có những kỷ niệm buồn, hơi buồn tí thôi.

Chuyện phấn đấu vào Đảng Lao Động Việt Nam ngày ở chiến trường

Chậm một chút mà lại hay – qua ý kiến tuy chưa nhiều nhưng tôi cho là tiêu biểu hai luồng quan điểm đóng góp về bài viết này, cám ơn các đồng đội đã tham gia.

Để làm rõ hơn tôi sẽ chia thành phần để lý giải quá khứ và hiện thực của người Đảng viên ngày xưa vào Đảng và tôi tin rằng có nhưng không nhiều đồng chí trong Bộ chính trị hơn tuổi Đảng của tôi vì có đồng chí từng công tác với tôi ở một văn phòng hồi tuổi trẻ...

Tôi hy vọng các đồng chí đó thỉnh thoảng ghé qua trang "Dựng nước và giữ nước" để hiểu những người lính đã từng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng năm xưa nay sống và suy nghĩ như thế nào về Đảng.

Phần I.

Động cơ

Cuộc đời người lính nhập ngũ ngày 4/9/1971 của Trung đoàn Thủ đô vượt được Trường Sơn đã là một thắng lợi, một cột mốc quan trọng trong cả cuộc đời lính chiến - Hành quân trên đường Trường Sơn vô cùng vất vả, với bao gian lao nguy hiểm giống như mọi cuộc hành quân khác của thanh niên Miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào Nam chiến đấu; nhưng dù là cùng một thế hệ 5X thì tính đặc thù của thanh niên thị thành khác với các địa phương khác ở lối sống và mức hưởng thụ tinh thần vật chất ( thời đó) đã tạo nên tính tự do vô tổ chức là có thật và sức chịu đựng vất vả gian lao thì dứt khoát không bằng anh em ở vùng nông thôn ( chính vì lý do đó các đồng chí thủ trưởng ở các đơn vị chiến đấu thường không thích nhận lính là người Thủ đô).

Nhưng khi anh em vào đến chiến trường lại hòa nhập rất nhanh về sức bền cũng như sự chịu đựng bom đạn, sự vận dụng linh hoạt trong chiến đấu và tính tập thể rất cao.

Dọc đường Trường Sơn, lính Hà Nội luôn tạo ra những tiếng cười vui vẻ bởi những câu chuyện tiếu lâm để quên đi nỗi mệt nhọc đường trường.

Sự vô tư trong sáng đó đến độ chẳng cần gì hết, chẳng sợ tai tiếng gì hết - chỉ cần "còn cái đó" và đến được chiến trường chiến đấu hiểu theo nghĩa lính chiến như Dục "râu" tôi đã kể: vất tất, chỉ cần vào đến chiến trường là được; vui vẻ sống dù gian khó đến mấy để rồi khi phải chết lại rất thanh thản không một điều oán trách.

Đó là đặc điểm của thế hệ 5X, có thể nhiều thế hệ sau này nói bọn tôi ngông cuồng cũng được, mà nói ngố cũng chẵng sao; bởi thế hệ chúng tôi ( tôi không nói cái tôi, tôi nói cái chúng ta ) là thế hệ thứ 2 con của những người nông dân được cách mạng chia ruộng đất, được quyền làm chủ trên mảnh đất được chia trong cải cách ruộng đất nên nhà Thơ Tố Hữu mới đúc kết "...Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà/vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng/lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng..." và thế hệ chúng tôi con cháu những người nông dân ấy đã biết chữ, được học hành biết rằng mình cầm súng chính là sự nối tiếp biện chứng của tinh thần cha ông trong cuộc cách mạng tháng 8/1945 không chỉ bảo vệ sự yên bình của gia đình quê hương, bảo vệ mảnh ruộng được cách mạng chia cho gia đình, mà cao hơn xa hơn là sự thống nhất hai miền Bắc Nam; là sự hòa hợp dân tộc Việt Nam.

Chính sự nung nấu ý chí quyết thắng và sự hun đúc tinh thần vì độc lập tự do ấy, những con người ưu tú nhất của thế hệ chúng tôi đã ngã xuống bảo vệ từng tất đất của Tổ quốc - tiêu biểu như những chiến sĩ là học sinh, sinh viên sẵn sàng xếp nghiên bút, rời giảng đường đại học và đã hy sinh ở thành Cổ Quảng Trị; là những đồng chí Đảng viên ở khắp mọi miền đất nước luôn gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và hy sinh anh dũng như những chuyện hy sinh ở tiểu đoàn tôi đã kể và sẽ kể tiếp.

Họ là những tấm gương tiêu biểu mà chúng tôi những người lính tham chiến luôn ngưỡng mộ - những người đảng viên với tình thần sãn sàng dâng hiến tính mạng của để hoàn thành nhiệm vụ đơn vị giao trước sự hiện diện của những người quần chúng như chúng tôi; với chúng tôi, họ chính là những thần tượng có thực ngay trước mắt, không đâu xa; chính vì vậy, chúng tôi đã luôn cố gắng sống và chiến đấu như họ, những người Đảng viên ấy và mong ước được mau chóng đứng trong hàng ngũ của Đảng Lao Động Việt Nam ( bây giờ đổi tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam)

Đó là động cơ tôi phấn đấu vào Đảng và dù bây giờ khi Đảng đang mất dần lòng tin trong nhân dân do một số sai lầm trong chính sách, do sự tham nhũng của một số kẻ có chức quyền dẫn đến bức súc ở số lớn Đảng viên và đã có một số Đảng viên đã trả thẻ Đảng nhưng với tôi thì chưa thể, vì hiện diện trước mắt tôi vẫn là các đồng chí đảng viên, quần chúng của Đảng khi gục ngã vì đạn kẻ thù vẫn giữ niềm tin: Đảng là hy vọng của nhân dân lao động chân chính; tôi tin rằng để tồn tại, Đảng mà trực tiếp những người cầm quyền sẽ phải tự điều chỉnh chính sách và coi bọn tham nhũng là kẻ thù duy nhất và lớn nhất và lâu dài của Đảng ở trong nước.

Phần II.

Sự thủ thách

Ở chiến trường được công nhận là đối tương đảng trong chi bộ thì những đồng chí đó phải là những đồng chí mẫu mực trong công tác và dũng cảm trong chiến đấu được đồng đội tin tưởng và lúc này tôi cũng được công nhận là cảm tình Đảng.

Nhưng khi viết lý lịch do thành phần địa chủ bên ngoại và thành phần gia đinh Tiển tư sản viên chức theo bên nội – họp Chi bộ xét các đồng chí đảng viên thời đó hầu hết là người khu 4 nên địa chủ, phú nông thì biết, Tư bản thì có nghe nhưng tiểu tư sản thì không biết nên chất vấn tôi: thành phần tiểu tư sản là gì?..lại còn là tiểu tư sản viên chức nữa chứ - hồi ở nhà khai lý lịch đoàn viên như thế nào thì mình khai vậy thôi, tuổi trẻ đâu có biết gì mà giải thích ...và có thể có kết luận như Trường trung đội phó là người giới thiệu thứ nhất nói với tôi: Đã thành phần địa chủ lại còn thành phần Tiểu tư sản viên chức là em của tư sản nên cần phải thử thách thêm, thế là cuộc thử thách đối tượng Đảng của tôi bắt đầu.

Đêm Pasong tỉnh mịch, lính tráng đã xuống hết hầm nằm để đề phòng B52 thì Hùng người Sơn Tây liên lạc tiểu đoàn xuống gọi tôi bảo: Xuân xoăn đâu?...Thủ trưởng N...gọi đi công tác, tôi vội lấy khẩu AK, túi gùi và máy đi cùng Hùng đến gặp Chính trị viên Tiểu đoàn và nhận chỉ thị: đi xuống các đại đội nhắc các đại trưởng bảo nuôi quân cho xoong nồi xuống dưới hầm không B52 rải thảm thủng nồi xoong, ngày mai không có nồi nấu cơm cho anh em ăn; tôi buột miệng nói: Báo cáo thủ trưởng, thủ trưởng dùng điện thoại chỉ đạo cho nhanh ạ (các cụ ngày xưa gọi nhanh nhẩu đoảng là vậy); Chính trị viên nói: tôi nói đồng chí đi, đồng chí có chấp hành không?...chết cái thằng tôi, mất một điểm rồi...Lầm lũi một mình một súng lần theo đường dây điện thoại đi đến đại đội 1 truyền đạt ý kiến của chính trị viên tiểu đoàn, đại trưởng Lũy người Thanh Hóa nói sao mày không bảo chính trị viên gọi điện thoại nhắc nhở mà lại đi truyền đạt...mình chỉ lắc đầu...dạ nhẹ...rồi lần lượt đi hết 4 đại đội thì trời sáng.

Vừa rồi lên Sơn Tây chơi thăm anh em đồng đội, mình nhắc lại chuyện này với thằng Hùng nó nói: tao đâu có biết ông ấy thử thách mày, tao cũng bảo để em gọi điện thoại cho các đại đội nhắc nhở, ông bảo không được, bảo tao đi gọi mày...hồi ấy mày mà bị B52 thì toi; hết phấn đấu nhé...anh em lại cười hà ..hà.. với nhau.

Chiều xuống, mưa bắt đầu đổ lại được công vụ tiểu đoàn gọi lên chính trị viên trưởng gặp, chuyện này đã trở thành chuyện thường ngày ở tiểu đội tôi nên thằng Trường "đỏ" lắc đầu bảo tôi: lại thử thách "em tư sản" rồi.

Tôi lại gùi cá nhân, súng lên hầm chỉ huy nhận nhiệm vụ: đi đón khách, và được dặn bao giờ đón được mới về.

Đêm tối, một thân một mình ngồi co ro ở cạnh đoạn giữa ngã ba đường xe bò đón khách...buồn ngủ mà không giám ngủ cứ gà gà gật gật... nửa tỉnh nửa ngủ vừa sợ gặp địch vừa sợ đoàn khách đi qua mà không biết...tới sáng, mấy thằng trinh sát tiểu đoàn bộ đi cải thiện ra bảo: Thủ trưởng N ...bảo mày về...hỏi có thấy khách vào tiểu đoàn không, bọn nó bảo không biết...sợ không biết khách vào lúc nào...về đến hầm chỉ huy sợ cứ thụt thò, gặp thằng Hùng đi lấy cơm sáng về hỏi nó bảo thủ trưởng ở trong hầm đó vào báo cáo đi, mình vào báo cáo không gặp khách, ông bảo thôi đồng chí về đi, khách không đến nữa...

Thử thách đến hai năm cũng không kết nạp Đảng được, buồn quá trước khi về Miền Nam chiến đấu năm 1975 tôi có viết thư ra Bắc cho ba má than phiền - đoạn than phiền này sợ bị kiểm duyệt thư không ra được nên tôi có lấy bút xóa; nay bức thư gần 40 năm tuổi vẫn được giữ, xem lại cũng vui.

Bức thư này gửi thằng Minh "con" Hàng Khoai bị thương ra Bắc, nó mang đến tận nhà ở Lương Yên cho Ba Má mình, khi này gia đình mới biết mình không hồi chánh theo địch như đài địch tuyên truyền mà đang chiến đấu ở chiến trường Miền Nam.

III.

Thay lời kết

Đầu năm 1975 đánh trận nghi binh, tôi phối thuộc C3 chốt tại điểm cao 605 ở Plei - cu do có thành tích góp giữ vững thông tin và trong tình thế mất chốt do anh em hy sinh và thương vong gần hết, không còn chỉ huy; chấp nhận hy sinh nếu trúng pháo mình - tôi đã yêu cầu pháo mặt trận bắn đúng điểm chốt chính của chúng tôi; đánh đuổi một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 của địch ra khỏi chốt; giữ vững điểm chốt; tôi được khen thưởng và tiếp sau đó là đánh giải phóng cứ điểm Thanh Bình khi xung phong cùng Trung đội trưởng Chanh người Hà Nội, chúng tôi bị một quả pháo; Chanh hy sinh còn tôi bị thương nặng...khi đó Trường B phó, cấp ủy chi bộ lúc này mới thông báo tôi được xét duyệt kết nạp Đảng những mãi đến tháng 02/6/1975 mới được làm lễ kết nạp Đảng tại Quân cảng Cam Ranh.

Đấy - đồng đội thấy không, ngày xưa chỉ mới là đối tượng Đảng thôi, các đồng chí được công nhận là đối tượng đảng đã phải tự thể hiện mình gương mẫu trước quần chúng rồi chứ chưa nói là Đảng viên chính thức; còn bây giờ hãy để cho nhân dân nhận xét về phẩm chất người Đảng viên cơ sở là đúng nhất vì trong Chi bộ Đảng hôm hay "dĩ hòa vi quý" với nhau lắm, nhất là đối với người thủ lĩnh đơn vị thì anh là người tốt nhất, nhì cũng là anh, ba cũng là anh.

Sống và trước khi chết lính Hà vẫn Amateur

Cứ đến mùa gió heo may của Miền Bắc là mình nhớ đến ngày nhập ngũ, nhớ tới những chàng trai trẻ quê ở mọi miền đất nước nhưng nhập ngũ ở Thủ Đô như mình ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Hùng "nhẩm" quê ở Hà Tĩnh"...nhưng tất cả tự hào mình là lính ở Trung đoàn Thủ Đô.

Ở những bài viết trước đây, lính nhập ngũ tháng 9/1971 ở Thủ đô nhưng sau ngày nhập ngũ được bổ sung đi các binh chủng, các đơn vị khác nhau và có lẽ chỉ riêng anh em nhập ngũ ngày 4/9/1971 được hội tụ thành một trung đoàn thủ đô.

Ở trung đoàn này hội đủ các thành phần như xã viên các HTX nông nghiệp; giáo viên cấp II, cấp III; học sinh, sinh viên các trường; công chức, viên chức; công nhân các xí nghiệp nhà máy có hộ khẩu ở gia đình được gọi nhập ngũ tại địa phương...vì vậy tính cách của lính cũng rất đa dạng làm lên một trung đoàn bộ binh đầy tính cách thị dân.

Dục "râu" là một chàng trai to cao, râu quai nón rất đẹp; tính phóng khoáng tự do đầy chất dân thị thành..."tút" hiên ngang giữa ban ngày từ Bãi Nai về Hà Nội.

Cũng chính vì lý do chuyên "tút" về chơi Hà Nội mà sau này khi vào chiến trường chàng ta không mang nổi quân tư trang và dọc đường dây 559 cứ dải quân tư trang đánh dấu đường đi như nàng công chúa trong truyện cổ tích xưa...khi vào vườn chuối còn đúng khẩu AK để chiến đấu.

Nhưng Dục "râu" tuyệt vời ở chỗ dù vất hết đồ dùng cá nhân cho nhẹ người nhưng tinh thần không hề giao động, không đảo ngũ, không vất đi nhân cách của người Hà Nội; vẫn theo anh em trung đoàn Thủ Đô mấy tháng trời hành quân, đêm nghỉ ngày đi - vào tới chiến trường, chiến đấu dũng cảm và chết đúng tính cách của người Hà Nội chân chính.

Sau khi đánh giải phóng được xưởng cưa nằm cạnh sân bay dã chiến ở Không sê đôn, lệnh tiểu đoàn giao đại đội 2 ở lại chốt giữ.

Đây là đại đội chủ công của tiểu đoàn, nhưng khi đánh KhôngSêĐôn do các đại đội đã căng mình ra đánh để mở rộng vùng giải phóng; các đại đội trong tiểu đoàn đều thực hiện một mục tiêu như nhau là đánh chiếm các điểm đóng quân của địch.

Đội hình đại đội được phân chốt toàn sân bay dã chiến và xưởng cưa, riêng Trung đội của thằng Ngọc "thiu thiu" cơ động nằm chốt giữ giữa sân bay và xưởng cưa cùng ban chỉ huy đại đội; Dục "râu" lính hữu tuyến bên thông tin được điều đi phối thuộc và nằm ở ban chỉ huy đại đội cùng 2W bọn tôi – Dục ở hầm đại trưởng, còn tôi nằm hầm chính trị viên đại đội.

Cả ngày bom pháo bắn bầm dập, dây đứt liên tục, thấy Dục cứ phải bò ra khỏi hầm chỉ huy chạy đi chạy lại như con thoi nối dây đảm bảo cho thông tin thông suốt của tiểu đoàn; còn tôi trận này lại thư thả cứ nằm dưới hầm của chính trị viên đại đội ôm máy dự phòng khi đứt liên lạc là lên sóng.

Sau nhiều đợt bom dữ dội này, nhà cửa xung quanh xưởng cưa cháy rực, lửa khói ngút trời, địch bắt đầu tấn công vào đầu xưởng cưa, lực lượng của địch quá mạnh, lại được sự hỗ trợ của pháo, bom nên trung đội 3 ở đây không giữ được chốt, bị địch đánh bật dần về phía sân bay dã chiến; Liên lạc trung đội xin chi viện, trung đội dự bị được lệnh tấn công - Dục "râu" đeo máy điện thoại vừa chạy vừa dải dây bám theo đại đội trưởng Ạt cùng Trung đội Ngọc thiu thiu vận động đánh chi viện cho trung đội 3; Nằm giữa khu vực trung tâm, mình thò đầu lên hầm cùng chính trị viên trưởng đại đội quan sát trận đánh, anh em vừa vận động vừa nổ súng tấn công, từng ụ mối, từng cột nhà cháy được anh em tận dụng ẩn nấp để tiến lên.

Tiếng súng B40 nổ danh thép và tiếng B41 vang dội, tiếng cối cá nhân nổ lóc cóc (cạch – bùm ); cối 60 và cối 82 của tiểu đoàn chi viện kịp thời làm địch bị đánh dạt ra, đạn AK liên tục được anh em bắn hỗ trợ nhau tiến lên.

Thằng Dục chạy bám anh Ạt, địch bắn rát, đội hình tấn công chững lại; nằm ngay rìa xưởng cưa đại trưởng Ạt gọi điện thoại xin cối tiểu đoàn chi viện liên tục, Dục nằm sát ngay cạnh Ngọc thiu thiu, chắc cậu Ngọc thiu thiu bắn hết đạn lên nhìn thấy cậu nằm ngửa thay băng đạn AK, xong lại nằm sấp nổ súng tiếp.

Trước sự tấn công hỗ trợ của trung đội Ngọc và cối tiểu đoàn, địch rút dần quân cũng theo chiến thuật như bộ binh mình (kỹ thuật chiến đấu, phòng ngự địch – ta được đào tạo như nhau), những thằng lính phía sau bắn gìm đầu anh em mình để đồng đội phía trước của chúng rút; bắt đầu có tiếng gầm rú của máy bay ném bom, tiếng anh Ạt kêu lính nấp tranh bom, lúc này Dục "râu" nằm cạnh Ngọc thiu thiu khi nghe lệnh liền cuốn dây điện thoại và ôm máy hô: a lê té...vừa đứng dậy định cuốn dây điện thoại rút lui thì đúng lúc một quả pháo 105 nổ phía trước, Dục ngã gục ngay cạnh Ngọc.

Bom pháo lần này đánh đều khắp xưởng cưa và rìa sân bay dã chiến như kiểu muốn hủy diệt bọn mình, tất cả đều phải tìm nới ẩn nấp.

Hết đợt tấn công bằng bom pháo của địch, anh em mới đưa được xác của Dục xuống hầm.

Sau khi Dục "râu" hy sinh, Ngọc thiu thiu ngồi kể với mình...đánh trận mà Dục cứ tài tử tếu táo như xưa, giống như ngày huấn luyện ở Bãi Nai mỗi khi trốn ra đường 6, ăn kẹo dồi, uống nước chè mạn, hay "tút" về Hà Nội chơi, cậu hay dùng từ "té" và khi thấy bóng dáng cán khung huấn luyện đi kiểm tra thì cậu nói "a lê té" để khỏi bị thủ trưởng đơn vị bắt gặp... và lúc bom thả, khi nghe đại trưởng Ạt hô anh em tránh bom, Dục bảo mình: té thôi Ngọc và ...và khi Dục "râu" nói câu ...a lê té là trúng ngay mảnh pháo 105 và hy sinh.

Thôi nói chuyện đánh đấm trên rừng, dưới biển, xuôi dòng sông SêĐôn theo đồng bằng lúa xanh ngút ngàn cũng có, nghe đồng đội hy sinh, thương vong về bom đạn nhớ lại mà đau đớn lòng nhau rồi, giờ ta nghỉ ngơi chút giữa 2 đầu trận đánh để kể về góc cạnh khác của đời lính chiến trường – tăng gia sản xuất.

Chuyện này kế tiếp đoạn kể về "thi đua làm đẹp doanh trại" sau ngày đình chiến 1973, chúng tôi bỏ cây súng sang góc nhà, dùng dao găm đi trồng bắp như đồng bào...thọc thọc gậy, bỏ hạt ngô...hạt bí nhưng chẳng giống ai...và sau này vẫn cứ tiếp diễn như năm 1975, mới hòa bình tư tưởng tiểu nông lại xuất hiện khi bọn tôi bỏ súng hoen gỉ do gió cát mặn ở Ninh Thuận; chăm chút cây cuốc trồng bông trong khi kẻ thù đồng loạt chuẩn bị tấn công ta từ biên giới phía Bắc đến Tây Nam, đánh chiếm Hoàng Sa, một phần Trường Sa; cũng như hiện nay bọn bành trướng Bắc Kinh đang từng giây, từng phút mưu đồ thôn tính nước ta; chúng đã ngang nhiên tuyên bố 90% biển đông là của chúng, chúng tăng cường đóng tầu đổ bộ...

Phát rẫy làm nương

Sau này, khi rời quân ngũ nhớ đồng đội, nhớ rừng lại mở nhạc nghe bài tháng ba Tây nguyên cho nguôi ngoai nỗi nhớ ...tháng ba, mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông hút nước, mùa em đi phát rẫy làm nương, anh vào rừng đặt bẫy cài chông...rồi ngẫm nghĩ người kinh dùng từ con ong hút mật, nhạc sĩ dùng từ con ong lấy mật của người dân Tây Nguyên hay thật nhưng ngẫm nghĩ mãi chưa ra là ..."mùa em đi phát rẫy làm nương...".

Làm rẫy có 3 hoạt động chính là phát rẫy rồi đốt rẫy và gieo trồng thu hoạch.

Trong đó phát rẫy làm nương một công việc thật nặng nhọc nhất sao lại để người con gái phát cái rẫy mà không dùng từ làm rẫy cho nhẹ nhàng, đúng nghĩa?...chắc hôm nào gặp nhạc sĩ hỏi cho phải lẽ.

Lính công binh trường Sơn chuyện mở đường là nghề của chàng – phá đá ư, chặt cây to mở đường ư: chuyện nhỏ, lính công binh làm cái rẹt.

Nhưng với lính bộ binh, chuyên luồn rừng như bọn tôi lại là chuyện lớn đấy các bạn, tôi nhớ năm 1973 đình chiến cái ngày mà bọn tôi chuyên dọn dẹp, làm đẹp doanh trại cũng là cái ngày bọn tôi phải phát rẫy làm nương trồng rau mầu để tăng gia cải thiện, nuôi heo, gà....

Ở Bản Nọng Chùa, nương rẫy của dân nhiều nên việc phát rẫy của bọn tôi cũng bình thường như hoạt động của người dân địa phương, máy bay địch không quan tâm.

Làm rẫy cái khó nhất của bọn tôi là dao chặt cây, dao của lính bộ binh chủ yếu là dao găm, lên khi làm rẫy bọn tôi thường hay vào bản mượn nhân dân dụng cụ làm rẫy, tuy ít nhưng cũng có để thay phiên nhau chặt cây to.

Lúc đầu thì hăng hái lắm, sau một ngày, tay thằng nào thằng nấy sưng tấy, phồng rộp, tối về dùng kim băng trích nước cho đỡ tức.

Từ ngày thứ 2 thấy cây to là lính ta lắc đầu, chuyện chặt cây to thành to chuyện - thằng nào cũng lảng tránh sau phải lấy tinh thần Đảng viên nhất là các đồng chí đối tượng Đảng, cảm tình Đảng phải xung phong đi trước, làm trước thế là mình tay phỏng hết cũng phải cắn răng mà cầm dao chặt...phập, phập...đau chết cha mà không dám ho he, sợ quần chúng phê bình đối tượng Đảng mà không gương mẫu là chết...Do lần đầu chặt cây làm rẫy bọn tôi đâu biết gì cứ chặt đại, cây đầu tiên đổ, tôi chỉ kịp hô: cây đổ, chạy đi - lính ta chạy té đái vì không biết hướng cây đổ; sau về rút kinh nghiệm, trong tiểu đội có đồng chí Tên tân binh người dân tộc Nùng của Vĩnh Phúc vừa được bổ sung vào thông tin đã hướng dẫn anh em cách chặt là chặt về một phía, một bên thấp, một bên cao để cho đổ theo ý định.

Những ngày sau cây to lần lượt đổ, anh em phấn khởi lắm vì nhìn mảnh rẫy bắt đầu to dần và diện tích đã đủ theo kế hoạch của tiểu đoàn bộ.

Lúc này bắt đầu đi chặt những cây nhỏ còn sót, chặt cành để chuẩn bị dốt rẫy.

Chuyên gia phát rẫy Tên ( sau khi hướng dẫn bọn tôi cách chặt cây ngày đầu, bọn tôi gọi Tên là chuyên gia làm rẫy, chuyện gì cũng hỏi nó) hướng dẫn bọn tôi để vài ngày cho cây khô để đốt.

Những ngày nghỉ này bọn tôi tranh thủ ra Bản đổi trác thực phẩm với dân như quần áo nhất là thằng nào có giầy Thái, quần áo lính Thái đổi là có giá về ca cóng tiểu đội bồi dưỡng sức quân.

Sau cũng đến ngày đốt rẫy, chuyên gia Tên đốt rẫy đứng chọn hướng gió để đốt; cả hàng quân đốt rẫy bọn tôi đứng im phăng phắc chuẩn bị mồi lửa để đốt - sau một hồi lẩm bẩm những câu gì có vẻ thần bí, Tên chạy ra phía đầu rẫy gọi bọn tôi đến và bắt dàn hàng ngang đốt rẫy.

Châm mồi lửa đầu tiên trong đời để đốt rẫy nghe tiếng lửa cháy, lửa reo sao thích thế.

Lính ta reo hò khi lửa bốc cao...bỗng ngọn lửa quật ngược lại...chạy, chạy đây mới chính là chạy thối chết...chạy bỏ cả dép, chạy bỏ cả chóp (mũ), mạnh thằng nào thằng nấy chạy, chạy không ai nhìn ai, cứ phía trước mà chạy...thoát rồi, anh em ngồi lại nhìn nhau xem có mất thằng nào không; đủ cả nhưng chẳng thằng nào còn lông mày, tóc thì cháy khét lẹt, áo quần nham nhở cháy đen nhẻm, vài thằng bị bỏng nhẹ.

Tối về kiểm điểm rút kinh nghiệm thì Tên nói cộc lốc kiểu người dân tộc: tao đã chọn hướng gió rồi, đã đọc câu thần chú của dân tộc tao mỗi khi đốt rẫy ở quê tao rồi, nhưng ở đây nó không thiêng...chịu, cười trừ chứ biết nói gì ( không biết anh chàng Tên này đọc câu thần chú gì mà lửa bừng bừng cháy ngược, sau này ra quân mình chưa kịp hỏi, tiếc thật ).

Mấy hôn sau ra đốt lại rẫy, thấy rẫy cháy nham nhở chẳng đâu vào đâu, lại phải chặt cành cây để đốt lại.

Sau này hỏi dân hóa ra vì lính ta khi chặt cây để cây đổ lung tung, không chọn được hướng gió, để ngọn lửa cháy quá cao, lan ra quá nhanh, gió ở đây nhiều khi luẩn quẩn lên bọn mình bị đốt ngược – hú chết.

Thực tế phát rẫy, đốt rẫy và làm nương của bọn tôi là vậy; không hay, không thơ mộng như bài hát tháng ba Tây Nguyên phải không các bạn.

Nhớ về Hà Nội một thời đạn bom

Cứ đến mùa thu hàng năm, cảm xúc của mình luôn trào dâng nhất là từ tháng 8 đến tháng 9 vào mùa gió heo may; không khí se se lạnh, vờn mát làn da thật thích thú; hồi đó tuổi thanh niên cứ chiều thứ 7 và chủ nhật hàng tuần mình hay rủ bạn gái thả bộ đường Lò Đúc để thỉnh thoảng có cứt cò rớt lên người mà lấy cớ nịnh đầm (che dấu sự vụng về không biết tán gái của mình) và rồi cùng nhau đạp xe đến Bờ Hồ chen chân đứng ở vườn hoa chí Linh có cái nhà kèn ngày xưa của Pháp để nghe các ca sĩ nổi tiếng hồi đó như Thanh Huyên, Tân nhân, Quốc Hương, Quý Dương, Kiều Hưng, ...hát mà tinh thần yêu tổ quốc Việt Nam của thế hệ thanh niên chúng tôi nói chung và thanh niên Hà Nội nói riêng được nuôi dưỡng và chín dần bằng những lời ca da diết, nồng thắm, trong sáng với khí thế xung trận hào hùng của các ca sĩ này; chính họ đã góp phần động viên chúng tôi vào trận chiến một cách tự nhiên bằng lời ca tiếng hát.

Mùa thu Hà Nội - khí trời thật mát mẻ tháng, đặc biệt là tháng 9 ở Hà Nội không khí chuẩn bị ngày Quốc khánh thật tưng bừng náo nhiệt ngay từ giữa tháng 8 và bắt đầu sôi nổi từ ngày 19/8 cho đến hết ngày 2/9; nét mặt của mọi công dân hồi đó từ già đến trẻ đều tưng bừng phấn khởi, nhà nhà đều nhộn nhịp dọn dẹp nhà cửa để ăn mừng ngày Tết Độc Lập; Lũ thanh niên chúng tôi tha hồ rủ nhau tụm năm, túm ba dong duổi trên 36 phố phường mà không biết chán vì nhìn bọn con gái thấy đứa nào cũng đẹp, quần áo tha thướt, dịu dàng như dáng liểu ven hồ vậy.

Tháng 9/1971 cũng là tháng ghi nhớ trong cuộc đời lứa thanh niên sinh năm 50 – 52 của chúng tôi ở Thủ đô Hà Nội, một lứa tuổi cũng giống như những lứa tuổi khác – lên đương tòng quân, nối bước thế hệ cha anh và năm đó có điều đặc biệt hơn và tôi cho rằng đây là đợt tổng động viên cục bộ riêng ở Hà Nội ( không biết lịch sử quân đội ghi thế nào về năm này); Trên năm cửa ô, không khí động viên quân nhập ngũ rầm rộ mà không năm nào có được, đêm đêm vườn hoa nhà kèn luôn có các cuộc buổi diễn ca nhạc ngoài trời, các rạp chiếu phim là những phim của Hồng quân Liên Xô đánh phát xít Đức với những tình tiết rất thơ mộng như bộ phim 4 chiến sĩ xe tăng và một con chó...làm háo hức những người có giấy báo nhập ngũ như bọn tôi; thành phần nhập ngũ năm 1971 cũng không loại trừ ngành nghề cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp nào; đặc biệt lớp sinh viên các trường đại học, trung cấp các năm trước ít gọi thì đợt này gọi với số lượng đạt kỷ lục cao nhất và có thể không còn gì hơn nữa và Hà Nội lúc này cũng giống như các địa phương khác ra đường thấy các bà các chị , các em gái nhiều hơn.

Tối 3/9/1971 tôi mua hoa dơn về cắm đầy nhà và mời anh em bạn bè đến liên hoan tiễn đưa bằng nước chè mạn và hạt bí rang; sáng 4/9/1971 anh em nhập ngũ thuộc công dân Khu Hai Bà Trưng tập trung tại trường Đại Học Bách khoa Hà Nội, hôm đó Ba tôi nguyên một là Trưởng phòng của Bộ Tài Chính lọc cọc đèo tôi đi nhập ngũ trên chiếc xe đạp Thống Nhất; đường vào sân trường đại học bách khoa cả một rừng người tiễn đưa, lúc này chẳng biết bạn bè là đứa nào, đông quá, người tiễn không chen được, chỉ dành lối cho người nhập ngũ; tạm biệt ba, tôi chỉ nói được một câu: con hứa là đứa con ngoan, xứng đáng với truyền thống gia đình...và nhảy lên xe khi được gọi đến tên...xe chạy...cả một rừng tay vẫy đưa...

Tháng 9 những cảm xúc cứ tự nhiên ùa về, giờ Hà Nội, thiên nhiên có còn đẹp như mơ không hả bạn?...tháng 9 này Bờ Hồ còn có ca nhạc ngoài trời cho dân chúng bình dân xem không nhỉ?...các thiếu nữ Hà Nội giờ có còn tha thướt áo dài ven hồ để làm liễu hờn ghen không em gái nhỏ ?...mình nhớ về Hà Nội ngày xưa đi thôi.

Lính chiến ra quân thời nào cũng thế thôi

Mình định nghỉ ít ngày, nhưng đọc một số bài thấy tâm sự lấn cấn ít nhiều của anh em lính chiến K đánh thời lính khơ me đỏ có sự chỉ huy của cố vấn Trung Quốc, mình lại nhớ về những đồng đội thời của mình may mắn còn sống được về với gia đình nhưng lại không có được may mắn trong cuộc sống như anh L. người Thanh Hóa nguyên tiểu đoàn phó về phục viên gia đình khó khăn, vợ chết hai cha con dắt nhau đi kinh tế mới đói quá bắt cóc ăn không ngờ bị độc mà chết cả hai cha con; như T. y tá tiểu đoàn người Thanh Hóa về bị dính chất độc da cam sống khốn khó với những đứa con tật nguyền; còn anh em cùng nhập ngũ ngoài Hà Nội khi ra quân đợt đơn vị đi trồng bông ở Thuận Hải cùng với mình như B.

"thổ" người Sơn Tây, nguyên là trung đội phó của C1 cùng L.

"trọc" đánh cầm cự giữ địch ở Không Sê Đôn rất hay khi về gia đình nhiều chuyện quá mà mình không tiện kể ở đây chỉ vì ở nhà làm chính sách hậu phương không tốt, cậu về không nhà không nhà cửa cầm đầu một nhóm đi ăn mày ăn xin, trước còn quanh ở Chợ Đồng Xuân anh em gọi lại khuyên bảo hỗ trợ nhưng không được, giờ cậu mất tích ở đâu không biết; hay như K.

ở chiến trường to cao chuyên vác B41, nhận những công việc nặng nhọc giúp anh em yếu, khi ra quân không công ăn việc làm, không có tiền mua xe xích lô, hàng ngày phải thuê xe xích lô đi đạp đưa khách kiếm đồng lẻ của tứ xứ lấy tiền sống qua ngày và rồi một ngày khi hết việc trước khi về, K đi uống rượu với bạn bè khi bơi về nhà ở bãi giữa đã bị nước Sông Hồng cuốn trôi; Như L.

Trọc ra quân không biết làm gì, hàng ngày mắc võng dù tím nằm đung đưa ở đường thanh niên để câu cá kiểu bậc tiền bối Phùng Quán nhưng không thành đành theo bạn bè đi miền Tây bắc buôn bạc trắng, thất bát về bán lẻ ở chợ Đồng Xuân cùng T.

"gián điệp" ở Hàng Lược; Hoặc như S.

Sơn Tây, xoay đủ nghề từ buôn chuyến đến làm xe đạp bán cũng không đủ sống, sau theo vợ bảo lãnh định cư ở nước ngoài...

Nếu ta viết hết ra đây cũng đau sót lắm, thời bọn mình ra quân là thời bao cấp, chế độ cấp cho mấy tháng gạo thì đã bán liên hoan cùng tiểu đội rồi, hai bàn tay trắng về thôi; mà hồi đó ra quân đồng loạt, xã hội lấy đâu việc làm cho cả nhiều trăm ngàn lính chiến cơ chứ, họa anh em nào về đi học tiếp như mình hay anh em bên 6/9/1971 hoặc tiếp tục ở quân đội thì tạm đủ sống lấy đâu khá giả chứ, ngày làm việc ở cơ quan, tối về mình đi bốc vác thêm ở cảng để có đồng ra, đồng vào nuôi con nhưng cũng chẳng giầu có gì đâu; chức quyền không có lấy gì mà bổng với lộc; đã là lính chiến làm việc, giải quyết công việc nhanh như bắn súng - tạch đùng, thẳng băng chứ biết gì mà lươn với lẹo để được thăng tiến nhanh cơ chứ - không phải hậu duệ, tiền tệ không có, cũng chẳng có quan hệ mà trí tuệ thì đâu bằng cùng người cùng quê của thủ lĩnh chứ; bực với lãnh đạo là bỏ về ngay lấy đâu mà tồn tại.

Viết thế để anh em lính chiến 2 thời kỳ ta cùng tự an ủi với nhau thôi, cố gắng sống khỏe và nuôi dậy con cái lên người là mục đích lớn nhất của người lính chiến chúng ta; ta sống được đến hôm nay là may lắm rồi, ta không dính vô chất độc da cam là cả đống vàng cho con cháu rồi; giờ ta lên máy ngồi để kể về đồng đội, kể cho nhau nghe chuyện mình đã trải qua đời lính chiến, còn xã hội hiện giờ vẫn định hướng mà...cố lên đồng đội

Phong trào học sinh sinh viên ở hai miền thời kỳ trước 1975

Cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc thì bất kỳ ai - từ già, trẻ, trai, gái kể cả các cháu thiếu niên đều tham gia bảo bệ Tổ quốc ở những góc độ khác nhau.

Đối với lớp thanh niên nơi đầu gió ngọn sóng thì phải đi đầu và trước đây ở Miền Nam thì phong trào học sinh sinh viên ở các đô thị lớn; tiêu biểu đô thành Sài Gòn là niềm tự hào của học sinh và sinh viên của cả nước như Lê Quang Vịnh, Phạm Chánh Trực, Huỳnh Tấn Mẫn, Lê Văn Nuôi, Tôn Thất Lập...là những con người tiêu biểu của thế hệ thanh niên Miền Nam nói riêng và cả nước nói chung.

Hồi đó, ở Miền Bắc những đợt biểu tình đấu tranh của các anh chị ở Sài Gon – Huế - Đà Nẵng luôn được thế hệ chúng tôi quan tâm và học tập.

Ở Miền Bắc phong trào học sinh sinh viên có, nhưng do quan điểm chính trị hồi đó cào bằng hết nên nét đặc thù của phong trào học sinh sinh viên nằm luôn trong phong trào chung của thanh niên tình nguyện, phong trào 3 sãn sàng... không được đề cao trong cái riêng của sinh viên, trí thức.

Các thế hệ thanh niên Miền Bắc vào Miền Nam chiến đấu hồi đó có biết bao thanh niên là học sinh, sinh viên nhất là giai đoạn sau này số học sinh cấp III thường hay viết quyết tâm thư bằng máu để được đi bộ đội và mặt bằng văn hóa lính Miền Bắc thời kỳ này ít nhất là hết cấp II còn thường thường là cấp III và đang học đại học ( giờ lính nghĩa vụ không biết tiêu chuẩn văn hóa lấy từ mấy? ).

Như Nhật ký Đặng Thùy Trâm; nhà thơ Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý là minh chứng... một thế hệ trí thức Miền Bắc luôn đặt vấn đề Tổ quốc lên trên cái danh cá nhân.

Trước đây, tôi có viết một số bài khi công tác tuyên truyền chỉ ca ngợi một phía; ở một miền về phong trào học sinh, sinh viên nhưng rất tiếc họ đã cắt bỏ hoặc không đăng.

Nay được mở mồn ra một tý - là do sự bức xúc của một thế hệ không được công nhận cái riêng của mình đã chủ động bằng nhiều hình thức để được công nhận là thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc cả hai miền Nam Bắc đều có phong trào học sinh sinh viên tham gia bảo vệ tổ quốc.

Đúng quá, nếu không có đợt tập trung cao độ sinh viên học sinh tháng 9/1971 và đặc biệt lứa sinh viên các trường đại học nhập ngũ 6/9/1971 lại dồn vào một trận chiến ác liệt trong chiến thuật ở Quảng Trị thì không thể có ai ca ngợi phong trào học sinh sinh viên Miền Bắc như phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Miền Nam và lứa học sinh sinh viên này chiến đấu quật cường bằng sức trẻ, bằng vốn kiến thức có được để giữ vững trận địa – thành cổ Quảng Trị và số còn may mắn trong lớp thanh niên này còn sống không thể và không được quyền quên đi những bạn học một thời tung tăng trên giảng đường và một thời máu, nước mắt thắm đượm trên vắt cơm đồng đội hy sinh nhường lại cho mình.

Hôm nay họ đã làm được một điều cho cả một thế hệ học sinh sinh viên đã ngã xuống để bảo vệ tổ quốc mà Quảng Trị là sự tiêu biểu của phong trào học sinh sinh viên Miền Bắc tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta.

Chống càn ở KhôngSêĐôn

(Đợt chống càn này, như lá thư thứ nhất tôi gửi về gia đình ngày 19/8/1972 là bức ảnh thời gian quá khứ của bản thân tôi phản ánh tình hình địch ta; địch tấn công ồ ạt bằng tổng lực bộ binh, pháo binh, không quân để giành lại vùng đất ta đã giải phóng, ta và lính đặc nhiệm Thái Lan giành nhau từng nóc nhà, mảnh sân – địch quyết lấn chiếm, ta quyết giữ; trận chiến càng khốc liệt hơn khi càng đến gần ngày đình chiến 1973 chiến thắng giữa ta và địch là 50 - 50.

Chỉ khi địch chuyển hướng chiến lược: đổ quân ra chiếm vùng giải phóng Xalavan và cao nguyên Bôlôven, áp sát đường dây 559 chúng tôi mới chính thức được lệnh rút quân khỏi Khôngsêđôn quay về vùng giải phóng cũ đánh địch lấn chiếm, giải phóng lần 2 ở Xalavan và cao nguyên Bôlôven bảo vệ đường dây 559 )

-------------------------------

Nhận được lệnh đi phối thuộc chống càn ở bản NaBông (hoặc tên Napong) cùng đại đội 1 do một mình một máy, không đào được hầm chiến đấu tôi bê máy ở ké hầm với anh em bộ binh; nơi hầm tôi chọn ở chỗ gần đại trưởng Lũy người Thanh hóa để tiện nhận điện báo cáo đi, truyền đạt chỉ thị của tiểu đoàn xuống đại đội.

Bản NaBông rất rộng và sạch sẽ và rất nhiều gia cầm và chó; cây ăn trái xum xuê nhất là me ngọt và soài, tối tối quan sát thấy không có địch anh em thay phiên nhau bò ra lần hái mò mang về hầm ăn vì khi sốt rét lính mình thèm của chua như con gái nghén thèm của chua vậy ( viết đến đây nước miếng ra rồi – thèm thật) mà me ở Lào thì ngọt, xoài khác hẳn quả quéo, và xoài miền Bắc hồi đó; xoài ở KhôngSêĐôn to bằng bàn tay mở, ăn sựt sựt chấm muối ớt ăn với cơm nắm là hết vắt luôn.

Đi theo các đại đội phối thuộc hồi đó mình thích lân la ở hầm anh em lính để nói chuyện quê nhà cho đỡ nhớ; lần này mình ở hầm Thọ người Hà Tĩnh và một đồng chí nữa người Hà Tây và Lợi "trọc" đồng đội cùng nhập ngũ ở Hà Nội ( thời gian đó mình mới vào được mấy tháng, đi phối thuộc các đại đội đánh liên tục lên không nhớ hết tên anh em).

Tuy là lính chiến như nhau nhưng dân bộ binh ở các đại đội thường phong phú về chiến lợi phẩm mà hồi đó bọn chúng thường đãi lính thông tin tiểu đoàn bọn tôi là thuốc chữ A, gạo sấy và lần này Thọ cho mình một lọ nhỏ ( lọ nhỏ hơn ngón tay út) đường hóa học và dậy tôi cách dùng là khi nào thèm ngọt cho một hai hạt vào nước uống là được – thấy lạ quá, mình có một lọ liền cất để dành nếu có dịp gửi ra Bắc làm quà cho mẹ, nhưng sau địch đánh vào cứ lấy mất; về chiến lợi phẩm của địch thì lính thông tin bọn tôi chủ yếu xin của anh em bộ binh còn nói là lấy được của địch thì thật là khó, ngay cả tiền kíp Lào đến giờ tôi cũng không biết mặt mũi thế nào – năm 2011 mình đi theo xe hàng cứu trợ do Ngọc thiu thiu và Dung (vợ ngọc) tự bỏ tiền mua một xe tải gạo và quần áo, đồ chơi trẻ em cũ của gia đình anh em bộ đội của khu K80 Bộ tổng tham mưu quyên góp đi ủng hộ đồng bào vùng khó khăn của đồng đội cũ ở Khu 4.

Trên đường từ Hà Nội vào Ba Đồn – Quảng Bình theo địa chỉ của anh Dũng nguyên tiểu đoàn trưởng, ở Quảng Trị theo địa chỉ đồng đội cần giúp của anh Lừa nguyên tiểu đoàn trưởng sau về làm tỉnh đội trưởng Quảng Trị giới thiệu; lúc này trên xe có Mão "mèo" người Sơn Tây nguyên trinh sát tiểu đoàn, mình nói mà nó không tin là mình "ngố" đến như vậy, vì bọn chúng nói hồi đó trên không cho mua đồ nếu cho mua chúng mua vô tư - thú thật lính thông tin bọn mình chưa bao giờ được đi tự do vì luôn phải bám theo đại trưởng còn lính bộ binh đánh xong là tỏa ra lùng xục, kiểm tra trận địa chiếm được nên mỗi lần đi phối thuộc là mình hay la cà xuống các tiểu đội để kà khịa chúng cho thuốc hút; còn không mình thường dùng thuốc lá vặt ở rẫy đồng bào, tự phơi, tự cắt mà hút.

Nằm chốt bản NaBông được mấy ngày không thấy địch, chỉ có máy bay ném bom vào Bản và pháo 105 trên Phù Khống dội xuống cầm canh, làm bản cháy nham nhở; ăn uống nuôi quân chỉ cung cấp 4 ngày 1 lần; cơm nắm một cục to tổ bố để ăn 4 ngày, muối mè và ruốc bông.

Nằm chốt cứ tán đủ chuyện, thấy chó nhiều mình hỏi có thằng nào biết thịt chó không, bắn một con nấu ăn chơi, anh em nghe có lý thế là ... phằng – một phát hạ ngay một chú cẩu; Không biết ở các chiến trường khác nấu thịt chó như thế nào chứ bọn mình nấu rất đơn giản không cần gia vị mà ngon như ăn kẹo vậy – bọn tôi nấu như thế này này, đồng đội nào cần học thì chú ý: mang con chó vất vô đống than nhà đang cháy cho cháy hết lông mang ra cạo bằng dao găm và mổ bỏ hết lòng, chỉ lấy thịt cho vào "mọ" lấy trong nhà dân bỏ hoang ra, đổ nước và cho một lọ đường hóa học vào bỏ lên đống củi than đang cháy...mùi thịt chó thơm ngào ngạt, nứt mũi thế là lính cả tiểu đội chia nhau ăn... nồi thịt chó ngọt lự như kẹo vậy, cả đời mình chưa bao giờ được ăn thịt chó ngọt đến thế.

Saukhi ăn thịt chó được ngày thì địch nống ra lấn chiếm, bom pháo địch dọn đườngtrước, đợt này dồn dập hơn để bọn bộ binh địch tấn công vào sau - kinh nghiệmlà vậy khi có bom, pháo là anh em xuống hầm ẩn nấp, hết bom là lính ta nhoàilên sẵn sàng nghênh tiếp lính địch, ta với địch nổ súng từ sáng đến chiều cứgiành nhau từng nóc nhà, mảnh sân.

Đánh giải phóng Không Sê Đôn và đánh chốngcàn ở đồng bằng này, bọn tôi không có chuyện đào giao thông hào, chỉ đào hầmtrú ẩn hoặc đắp ụ chiến đấu; khi đánh cứ như bọn trẻ thanh thiếu niên bây giờchơi trò chơi bắn súng sơn anh em bọc lót cho nhau ( đã đồng đội nào tham giatrò chơi này chưa, bắn trúng cũng đau lắm); khi đánh nhau với địch anh em vậnđộng hỗ trợ nhau theo sự chỉ huy của trung đội trưởng và tiểu đội trưởng –Trung đội trưởng bao giờ cũng đi đầu mũi tấn công và tiểu đội trưởng đầu mũitiểu đội ( cấp phó luôn ở phía sau bọc lót); tổ 3 người hỗ trợ nhau cứ ngườinày bắn gìm thì đồng đội phía sau tiến lên chạy hoặc lăn đến vị trí có chechắn, nhà cháy lan khắp bản.

Không biết ở các đơn vị khác sao chứ ở tiểu đoànbọn tôi cán bộ quân sự từ chức danh Tiểu đoàn trưởng đến chức danh nhỏ nhất làTiểu đội trưởng và thậm chí cả chức danh không quân hàm là Tổ trưởng tổ 3người, họ bao giờ cũng là người tiêu biểu - vì trong chíến trận bao giờ cácđồng chí này cũng là người đi trước; cứ người trưởng hy sinh thì ngay lập tứcngười cấp phó lên thay không cần chỉ đạo của ai hết.

Khi địch rút ra,anh em lập tức về lại hầm để tránh bom pháo bắn cản đường bảo vệ lính địch;điểm cầm cự của chốt cuối cùng chính là hầm trú ẩn tránh bom pháo của chúngtôi.

Đánh trận có thắng có thua là chuyện thường tình, nhưng nếu song phẳngđánh với số quân hay vũ khi như nhau thì bọn tôi không bao giờ thua, bọn tôithua chỉ vì đối phương quá mạnh về bom và đạn pháo.

Đánh trận này, anh em C1đánh rất hay nhất là khi bắn, AK nổ chắc cú; chưa thấy loạt đạt nào kéo kiểuliên thanh cả, B40, B41 rất hạn chế bắn vì cơ số đạn có hạn.

Thằng lợi Trọcmang hai dây đạn M79 cũng chỉ bắn hết một dây, khi anh em tiểu đội tiến lên cậuta cứ từ từ quan sát thấy lính địch lổm nhổm phía trước là tắc đoàng...cứ thế cậutừ từ tiến.

Phải thừa nhận M79 rất hiệu quả ở những khoảng trống và các ụ mối,gốc cây có đối phương ẩn nấp; đạn rơi theo cầu vồng, địch nhốn nháo chạy là anhem AK cứ thế nã bắn đuổi theo.

Với mình là lính 2Wthông tin nên khi đánh nhau thường lên máy liên lạc với tiểu đoàn để nhận chỉthị, việc đánh ác liệt của anh em bộ binh mình giống như người quan sát lúcthụt vào khi đạn nổ quá chát chúa, lúc nhô ra khi thấy quá im ắng để đề phòngđịch tấn công hoặc anh em rút hết rồi mà mình không biết (nhiều khi rút anh emcũng quên trớt mình, nên cẩn tắc vô áy náy vẫn hơn), súng lúc nào cũng lên đạnnhưng chưa bao giờ bóp cò súng...nhiều khi cũng muốn xung trận với anh em nhữngnhiệm vụ không cho phép cứ phải luôn miệng một hai ba bốn năm....nghe rõ trảlời...; tai nghe luôn để choàng qua cổ cứ như bác sĩ, tuy vậy anh em bộ binh lạirất quý mình vì khi bom đạn hay địch tấn công mình xử lý tình huống cũng giốngnhư anh em luôn sãn sàng chiến đấu, tinh thần không bao giờ bộc lộ sự hoảnghốt.

Lúc anh em bị thương đưa về mình có thể làm thay y tá băng bó cho anh emnên tình cảm giữa lính thông tin tiểu đoàn và anh em bộ binh rất gắn bó.

Khicần mình nhờ vả là anh em giúp ngay không câu nệ thắc mắc.

Sau khi đánh lui đợtlấn chiếm, lính địch lui ra là bom pháo địch lại bắn phá vào bản.

Nằmdưới hầm Thọ đưa bàn tay cho tôi xem và nói xuanxoan ơi tự nhiên có một nốt đỏở giữa lòng bàn tay nè; mình cầm tay nó nhìn và nói – một sao, chắc sau mày màylên tướng đấy thế là cậu cười ha hả.

Lúc này, ngớt tiếng bom địch Thọ đứng lênquan sát... anh em trong hầm nghe thấy tiếng nổ chưa kịp kêu Thọ ngồi xuống nấpthì đã thấy người Thọ ngã thụp xuống hầm không thấy đầu đâu...; để Thọ nằm đấy,cả tổ ba người kể cả tôi lên hầm chiến đấu, địch lố nhố phía xa cả đại đội đồngloạt nổ súng chống trả đợt tấn công của địch...anh em xung phong, còn tôi ở lạiôm máy 2W báo cáo về tiểu đoàn tình hình bảo vệ điểm chốt; sau khi Thọ hy sinh,tôi về hầm đại trưởng Lũy để tiện việc truyền tin liên tục phục vụ chống càncủa đại đội.

Sang ngày thứ 3, địch tấn công càng dữ dội thể hiện quyết tâm bằng mọi giá lấy cho được bản; chúng tăng cường pháo bắn và máy bay ném bom vào vị trí đơn vị, lực lượng bộ binh địch đánh cả các phía; cả đại đội giống như đang nằm trong chảo rang, cả bản như cùng bị đốt.

Pháo địch căn tọa độ quá chính xác khi bộ binh địch đánh áp sát dần vào các hầm chiến đấu của ta, anh em đơn vị vừa đánh vừa lùi dần về phía hầm đại đội; pháo địch cứ giã thình thịch đánh đúng vị trí quân của ta; đơn vị bị tổn thương nặng nề, trước tình hình mất chốt, đại trưởng báo cáo xin ý kiến - lệnh tiểu đoàn cho rút; đơn vị phải cố cầm cự đến tối, đánh phá vòng vây rút ra phía rừng thưa.

Chúng tôi ke cáng đồng đội hy sinh và bị thương nặng rút khỏi bản, trận đánh này chúng tôi hy sinh 3 đồng chí, một không lấy được xác là đồng chí Trần người Hà Tĩnh và không giữ được bản vừa được giải phóng - trận này chúng tôi thua.

Chiến dịch nghi binh mùa xuân 1975

Phần I.

Sư đoàn tiếp nhận vị trí chiến đấu và dàn binh cấp mặt trận chiến dịch Tây Nguyên để nghênh chiến với địch

Sư đoàn 968 sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ đường dây 559 và giúp bạn giữ vững và mở rộng vùng giải phóng đã trở về miền Nam ( lá thư thứ 3 viết ngày 22/12/1974), chúng tôi tập kết quân dọc đường 19 kéo dài tây Pleicu; trong khoảng thời gian này các cơ quan tình báo của chính quyền Sài Gòn và tình báo Mỹ đang theo dõi sát sao tình hình chuyển quân ở Tây nguyên, khi thấy sư đoàn 968 từ Lào về được tăng cường ở khu vực này càng làm tăng thêm nghi ngờ ở các cơ quan tình báo quân sự của đối phương; trước động thái các sư đoàn quân chủ lực của mặt trận B3 tổ chức cho anh em lính ăn tết trước đã làm cho tình báo Mỹ và bộ tư lệnh quân đội Sài Gòn càng khẳng định Việt Cộng sẽ đánh Pleicu – Công Tum.

Về bố trí địa bàn tác chiến: Mang tiếng là một sư đoàn chiến đấu mạnh nhưng lại là sư đoàn thiếu - hướng Pleicu ở đây chỉ có một trung đoàn bộ binh 19 và có thêm pháo sư đoàn – trung đoàn 19 chúng tôi trực tiếp nhận bàn giao địa bàn chiến đấu của sư 320 ( tôi còn nhớ như in khi đi thực địa cùng các thủ trưởng Trung đoàn, Tiểu đoàn nhìn đường dây trần của anh em lính thông tin đơn vị bạn để lại - cột dây thông tin mắc cao, chạy thẳng tuốt thấy hiện đại mà tràn trề niềm tin); còn trung đoàn 9 của sư đoàn 968 được Bộ điều tăng cường cho Quân đoàn 2 sau giải phóng mấy năm mới quay về đội hình sư đoàn; Trung đoàn 29 nằm ém quân dọc đường 14, ép sát Kông Tum vào thay vị trí tác chiến của sư đoàn 10.

Do yêu cầu đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu của 3 sư đoàn (một sư thành ba sư); Sư đoàn 968 phải bố trí đội hình rất mỏng nhưng trải dài để chứng tỏ cho địch thấy Bộ chỉ huy mặt trận B3 đang tăng cường lực lượng quân chủ lực để tấn công Bắc Tây nguyên; Mặt khác đồng chí Vũ Lăng Tư lệnh trưởng mặt trận B3 đầu năm 1975 đã yêu cầu các tỉnh Bắc Tây nguyên gấp rút mở đường giao thông, bắc cầu tạo thành vòng cung vận lương thực, đạn pháo cho các sư đoàn chiến đấu ( thực tế cho sư 968) đang tập trung về về Pleicu.

Chính động tác này mặt trận B3 và của sư đoàn 968 đã làm địch nhầm lẫn là ngoài sư đoàn 10 và sư đoàn 320 ta đã tăng cường thêm 2 sư đoàn ở hướng này; Cùng thời gian đó sư đoàn 10 chuyển về hướng Nam và sư đoàn 320 chuyển về ém quân ở tây Thuần Mẫn.

Khi nhận xong toàn bộ địa bàn thì Bộ chỉ huy sư đoàn 968 lập tức bầy "trò chơi điện tử" bằng hệ thống thông tin 15W – các báo vụ của các sư đoàn 10; sư 320 để lại cùng báo vụ sư đoàn 968 đã lập tức tung lên trời dồn dập những bản tin khẩn và rất khẩn – đến nỗi lính của Quân khu 2 của phía Việt Nam Cộng hòa đã phải báo động chiến đấu và chuẩn bị tác chiến với bọn tôi; kế hoạch giam chân địch ở Kông Tum và Plei-cu đã thành công bước đầu về ý đồ chiến lược.

Ở đây cũng phải nói thêm yêu cầu phải giữ các tổ điện đài 15W của các sư đoàn và mặt trận B3 ở lại là vì bất kỳ một đồng chí báo vụ nào thay đổi vị trí là tình báo mạng điện tử của Mỹ biết ngay; các báo vụ giỏi sẽ biết ngay người đang truyền tin cho mình là người quen hay không quen, thậm chí đồng chí đó có khỏe hay đang đau ốm chỉ cần qua cách gõ ma nip - thông qua nhịp tích te....

"Có thể nói chúng ta đã thực hiện cả một chiến dịch nghi binh từ tung tin thất thiệt, tạo những cơ sở giả đến việc tiến hành công tác thiết bị chiến trường – trích dẫn từ...Thượng tướng Hoàng Minh Thảo" và như nhận xét của Frank Snepp – Trần Văn Trà: "người Cộng sản đã tổ chức một chiến dịch đánh lạc hướng tinh vi nhằm đánh vào điểm mạnh nhất trong bộ máy tình báo của kẻ địch: các trang bị trinh sát điện tử và thám sát trên không của Việt Nam Cộng hoà và đồng minh Mỹ".

Nhưng tình thế vẫn có thể thay đổi nếu như phía Bộ Tổng tham mưu quân đội phía Việt Nam Cộng Hòa thực hiện đúng chỉ thị ban đầu của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó:

Tư liệu I:

Một nữ chiến sĩ trung đoàn 25 Quân quân khu V hồi chánh và sau này thêm... (( Trích hồi ký của Trung ta Ngô Văn Xuân nguyên Trung đoàn trưởng 44 Sư 23 quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1975:

...Tên Sính thượng sĩ thông tin của sư 320 hồi chánh bị Trung đoàn 45 của địch bắt và khai thác thông tin - là lính thông tin sư đoàn nên người lính này này nắm rất nhiều thông tin mật của chiến dịch và đã khai báo kế hoạch hành quân của sư 320 và một số đơn vị phối hợp, Điều đặc biệt nguy hiểm là người hàng binh này khai rõ với địch là mặt trận B3 chuẩn bị đánh Ban mê Thuột với 4 sư đoàn bộ binh là sư 320; sư 10; sư đoàn 968 đã chính thống về mặt trận B3 và một sư từ Lào về nữa, sau này địch biết là sư 316.

Hợp đồng tác chiến còn có thêm 1 trung đoàn tăng; 2 trung đoàn pháo và 1 trung đoàn đặc công và người hàng binh này còn nói rõ các mũi tấn công vào Ban Mê Thuột.

Cùng thời gian này Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang thị sát ở Tây nguyên và ăn bữa cơm đầu năm - ngày mồng 1 tết tại trung đoàn 44 của sư 23; sau khi nghe báo cáo đã chỉ thị cho tướng Phú:

Anh Phú cho toàn bộ sư đoàn 23 Về Ban Mê Thuột, tăng cường thêm một chi đoàn M48.

Dù sao địa thế pleicu cũng là khu vực trống trải, bao gồm đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, lại bây giờ là mùa khô anh có thể sử dụng tối đa phi pháo và chiến xa để đánh chiến xa và bộ binh địch, nếu chúng dám đưa quân ra đương đầu với anh trên khoảng trống!

Ngoài ra tôi sẽ tăng cường cho anh thêm 1 liên đoàn biệt động quân để làm lực lượng dự bị.

Tướng Phú trả lời: Vâng, tôi sẽ thi hành theo kế hoạch của Tổng Thống chỉ thị.

Sau đó TT Thiệu quay qua tướng Tường và nói:

Khi anh trở về Ban Mê Thuột phải tổ chức ngay lại hệ thống phòng thủ vòng đai thị xã và lập kế hoạch chống xe tăng địch.

Ngoài ra anh cũng tổ chức các cuộc hành quân vùng sát biên giới thuộc Quận Đức Lập.

Để tránh các rắc rối về ngoại giao với Cam – bốt, chỉ nên tung các toán hoạt động viễn thám qua vùng biên giới thôi.

Nếu phát hiện địch thì dùng phi pháo mà tiêu diệt – viết theo tư liệu của trung đoàn trưởng trung đoàn 44 thuộc sư đoàn 23 quân lực Việt Nam Cộng Hòa) và tướng Phú cũng xác nhận TT Thiệu giao nhiệm vụ trên. – hết trích dẫn)

Như vậy, thực lực trên cao nguyên Tây Nguyên lúc này địch có sư đoàn 23 chủ lực cùng các liền đoàn biệt động quân số 6, số 21, số 22, số 23, số 24 và số 25, cộng thêm lữ đoàn 2 kỵ binh; thiết đoàn 21 chiến xa; pháo binh với 2 sư đoàn không quân – sư đoàn không quân số 2 và sư đoàn không quân số 6 hỗ trợ với thế trận địch cho rằng cứng như thép đó ta không thể nào quân chủ lực Bắc Việt chọc thủng Ban Mê Thuột và Tây nguyên được.

Phần II.

Sư đoàn 968 tác chiến thật, đánh dứt điểm các căn cứ địch, quyết tử giữ điểm cao - chính là "động tác giả" nghi binh có hiệu quả nhất thu hút địch về Bắc Tây Nguyên.

Trên thực tế chiến dịch nghi binh này, Sư đoàn 968 tổ chức tác chiến điện tử hư hư, thực thực; tung tin giả, đan lưới trên không trung bắt địch... thì ngược lại tác chiến quân sự lại là thật, rất thật - Sư đoàn chỉ thị cho Trung đoàn 19 ngay sau khi trinh sát địa hình, ổn định cơ sở hậu cần và xác định các vị trí chiến đấu thì tiến hành tổ chức tấn công ngay theo lệnh của Bộ chỉ huy sư đoàn – đánh những căn cứ nhỏ nhưng ở những vị trí quan trọng; đột phá lần lượt các cứ điểm đơn lẻ, đánh chiếm dẫy điểm cao nằm trong tuyến phòng ngự tây nam Pleicu nhằm uy hiếp mạnh các căn cứ quân sự và thị xã Pleicu.

Hướng Công Tum, Sư đoàn 968 chỉ thị trung đoàn 29 thuộc sư đoàn đánh vây - uy hiếp thị xã và cắt đường 14 ở Tân Phú.

Bị đánh mạnh ở hướng Bắc Tây Nguyên, địch buộc phải đưa thêm liên đoàn biệt động quân số 4 từ quân khu IV lên; dùng trung đoàn 45 thiện chiến đang nổi danh hồi đó của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đang lùng sục quanh Buôn Ma Thuộc về ứng cứu cho cứ điểm Thanh Bình, Quận lỵ Thanh An để bảo vệ Pleicu.

Sự đột phá chiến thuật của sư 968 trong chiến dịch này chính là đánh các cứ điểm nhỏ nhưng bằng hỏa lực mạnh và rất mạnh để dứt điểm đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong chiến lược nghi binh trước khi sư đoàn 968 tấn công mục tiêu chính và chính cách đánh như thế đã làm cho Bộ chỉ huy quân lực Việt Nam Cộng Hòa hiểu nhầm là đang có rất nhiều Sư đoàn chủ lực Bắc Việt nỗ lực dùng hỏa lực tập trung đánh chiếm nhanh Pleicu; địch hoang mang thật sự... kể cả đến khi sư đoàn 10 đã đánh Đức lập, Sư 320 đánh chiếm Thuần Mẫn mà viên tướng Tư lệnh Quân khu 2 của Việt Nam Cộng Hòa vẫn khẳng định Việt cộng không đánh Buôn Ma Thuộc vẫn tập trung quân toàn lực đối phó ở Bắc Tây Nguyên như tôi đã dẫn chứng - chúng điều các trung đoàn bộ binh thuộc sư đoàn 23 cùng các liên đoàn biệt động, các lữ đoàn thiết giáp, pháo binh, các sư đoàn không quân đối phó với Sư đoàn 968 (thiếu) của bọn tôi.

Lúc này ở Buôn Ma Thuộc chỉ còn lại vỏn vẹn có tiểu đoàn 2 của trung đoàn 53 bộ binh, một tiểu đoàn của trung đoàn 45 bộ binh thuộc sư đoàn 23 bộ binh với trách nhiệm bảo vệ Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn địch.

Nằm chệch về hướng tây thành phố Buôn Ma Thuột là phi trường Phụng Dực do tiểu đoàn 3, trung đoàn 53 địch chốt giữ; tiểu đoàn 1 của trung đoàn 53 đang giao chiến với ta ở Daksong của Quảng Đức; Tỉnh trưởng Đăklac đại tá Nguyễn Trọng Luật của địch lúc đó có 6 tiểu đoàn địa phương quân nhưng nằm rải rác khắp địa bàn của tỉnh.

Khi ta đánh Buôn Ma Thuộc quân số lực lượng phòng thủ của địch tương đương 4 tiểu đoàn.

Trong khi đó, Mặt trận phía Bắc Tây Nguyên dầy đặc lính Việt Nam Cộng Hòa và lượng bom đạn do sư đoàn 2 không quân và sư đoàn 6 không quân của địch oanh tạc - bom ném xuống, đất đá bắn lên trời, đổ xuống đầu bọn tôi ào ào khủng khiếp và không ngừng giống như các bà đổ thóc rê; thế trận giữa ta và địch nếu đem cân đong đo đếm thì một sư đoàn (thiếu) mà thực tế đánh trực diện hướng nghi binh Pleicu này chỉ có một trung đoàn 19 bộ binh chúng tôi giống như một con "tốt" dúi sang sông để thí trên một bàn cờ đầy tướng sĩ tượng xe của địch.

Bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn giờ đây bắt đầu thật sự bị thôi miên cách đánh của bọn tôi, một cuộc đương đầu trí tuệ của những vị tướng cầm quân hai phía đạt tới mức "thượng thừa" lúc này chỉ cần ta có một chút sơ hở hay địch có một nước cờ điều chỉnh phù hợp với thực tế chiến trường thì chẳng ai thắng ai trong năm 1975 này.

Nếu chúng tôi đánh nghi binh không tốt, đánh thua chỉ cần một trận thôi hoặc bị bắt làm tù binh thì địch biết ngay, rút về phòng thủ Ban Mê Thuộc thì tổn hao xương máu của đồng chí đồng đội không thể lường được.

Khi Bộ tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn bị Sư đoàn 968 chúng tôi đưa vào trò chơi ảo thuật nghi binh chiến lược thành công: hút các trung đoàn chủ lực và các lữ biệt động quân thiện chiến địch về Pleicu; các sư đoàn không quân, pháo binh địch tập trung bom pháo dội vào trận địa chúng tôi suốt ngày nhưng lại vào đúng thời điểm tinh thần quyết chiến của lính trung đoàn 19 chúng tôi lúc này hơn bao giờ hết rất thông suốt, chấp nhận hy sinh với quyết tâm rất cao sẵn sàng đánh địch đến người cuối cùng.

Tinh thần quyết tử này có lẽ do việc thay đổi từ chiến trường Lào về Miền Nam mà anh em chiến sĩ hằng mong đợi - về quê hương chiến đấu, được toại nguyện mơ ước từ ngày nhập ngũ chưa trọn những lời hứa với người thân, với quê hương khi vượt Trường Sơn sang Lào; nay về chiến trường Việt Nam đã tác động rất lớn tinh thần chiến đấu của anh em, nó được biểu hiện trên nét mặt của cả đoàn quân phấn khởi vui vẻ lắm.

Tôi cho đây là lựa chọn đúng đắn nhất của Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên khi dùng Sư 968 (thiếu) đánh nghi binh và có thể chỉ có sư đoàn 968 mới đảm nhận một cách tốt nhất vai trò nghi binh này.

Tuy đánh nghi binh nhưng là nghi binh chiến lược, nên không những chúng tôi đánh thật mà còn đánh hơn sức mình do sự trợ giúp của pháo binh; dù chúng tôi đánh theo cấp đại đội nhưng quyền yêu cầu chi viện pháo được hưởng cấp tiểu đoàn, cấp trung đoàn; vì vậy khi vào trận, riêng tôi, tôi đánh trận dùng hỏa lực theo cấp sư đoàn – ăn miếng trả miếng với địch; đáp trả những đòn pháo của địch cũng bằng sự đáp trả dồn dập pháo của mặt trận bắn chi viện cho bọn tôi, bộ binh chúng tôi ép sát 2 thị xã, sân bay Cù hanh - buộc những tướng lĩnh tiền phương của quân lực Việt Nam Cộng Hòa không chấp hành mệnh lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tăng cường trấn giữ Buôn Mê Thuộc (như đã trích dẫn ở trên) mà phải điều gấp quân từ Buôn Mê Thuột về tăng cường giữ Pleicu.

Từ ngày 24 tháng 2 năm 1975 Trung đoàn 19 bọn tôi bắt đầu nổ súng - đánh Đồn Tầm, chốt Mỹ và điểm cao 535 đến ngày 2 tháng 3 năm 1975 thì Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên chỉ huy trực tiếp sư đoàn chúng tôi đã chỉ thị chúng tôi đánh nhanh, đánh mạnh hơn nữa và sẵn sàng chi viện pháo không hạn chế khi đơn vị có yêu cầu và chỉ thị cho Trung đoàn 19 Sư 968 tổ chức ngay việc vây hãm và tiêu diệt điểm cao 605 ở Chư Goi, đánh chiếm cứ điểm Thanh Bình, uy hiếp Thanh An; dùng pháo sư đoàn đánh Chưkara, Chưgôi và dùng bộ binh các tiểu đoàn vây chặt buộc địch phải tăng viện binh đưa trung đoàn 45 và các liên đoàn biệt động quân ứng cứu các cứ điểm này; đồng thời giam chân Trung đoàn 44 tại các đường 5a, 5b; tiến hành đánh các liên đoàn biệt động số 4, số 25 ...không cho chúng rút khỏi Chư sang.

Phần III.

Chúng tôi những người lính – chiến sĩ sư đoàn 968 tuân thủ nghiêm đấu pháp của Đại Tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về nghi binh; thực hiện triệt để mệnh lệnh của Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên Hoàng Minh Thảo - diệt 605, chốt giữ dãy Chư gôi, giam chân chủ lực địch trên hướng Pleicu .

Trích dẫn nội dung bức điện Bộ Tư Lênh Mặt trận Tây Nguyên điện cho Sư 968 tấn công điểm cao 605 vào ngày 2/3/1975:

((Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh trưởng Mặt trận Tây Nguyên đã điện mật (hiện lưu giữ tại Sư đoàn) gửi cho sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 Thanh Sơn ngày 2 tháng 3, sau khi Trung đoàn 19 chúng tôi đã tiêu diệt các vị trí Đồn Tầm, Chốt Mỹ, điểm cao 535.

Nội dung điện như sau:

1- Tổ chức ngay việc vây, diệt 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An.

2- Dùng hỏa lực đánh vào Chư Kara kết hợp bộ binh bao vây buộc địch đối phó.

3- Đưa lực lượng ta chiếm giữ ngay dãy Chư Gôi, tổ chức thành trận địa mới trên đông sông Ia Puk.

Trên tuyến đường 5A, 5B:

1- Tích cực bám đánh liên đoàn 4, không cho chúng rút khỏi Chư Sang.

2 -Tiếp tục hoạt động nhỏ trên đường 5B, giam chân Trung đoàn 44 tại đó.

Tóm lại: Sư đoàn phải giam chân chủ lực địch trên hướng Plei-cu – Kon Tum và cố gắng thu hút thêm để tạo thuận lợi cho hướng chính...."

-hết trích dẫn)).

Chấp hành lệnh của Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, chúng tôi đã tiến hành đánh chiếm 605 và các cứ điểm dọc dẫy Chư Kara,Chư gôi.

Chốt, tiến hành chốt giữ các vị trí này và bao vây cứ điểm Thanh Bình, uy hiếp Quận lỵ Thanh An.

Ngày 4/3/1975 Trung đoàn 44 bộ binh thuộc sư 23 và liên đoàn 25 biệt động quân tại vòng đai bảo vệ thị xa Pleicu bị chúng tôi tấn công, Tướng Phú đã báo cho chuẩn tướng Phan Đình Niệm - Tư lệnh sư đoàn 22 bộ binh địch điều trung đoàn 42 từ vùng duyên hải lên pleicu đối phó với các đơn vị đánh nghi binh.

Thế trận đối đầu một mất một còn của Trung đoàn 19 bọn tôi ngày càng khốc liệt hơn và đã lên đến đỉnh điểm, mắt xích của cuộc chơi – hoặc thất bại, bị bắt làm tù binh sẽ làm lộ ý đồ chiến dịch Tây Nguyên; hoặc dù hy sinh cả Trung đoàn nhưng phải giữ vững được trận địa để đảm bảo được bí mật chiến dịch; có lẽ vậy, trong trận chiến này ở Tiểu đoàn tôi người trực tiếp chỉ đạo là một đồng chí Trung đoàn phó nằm tại Tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy - điều này có nghĩa là chúng tôi chỉ có tiến mà không có lùi.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Tây nguyên phải chốt giữ bằng được 605 khi địch tấn công, Phía Bắc 605 do một đại đội của tiểu đoàn 5 chốt giữ; Tiểu đoàn 4 giao nhiệm vụ đại đội 3 chốt giữ phía Nam điểm cao 605; đại đội 3 cử 2 trung đội lên chốt, một trung đội cơ động dự phòng phía sau và do đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy và tôi được lệnh dải dây nối thông tin từ tiểu đoàn bộ lên điểm chốt 605 và nằm lại điểm chốt cùng anh em Cùng đi với tôi có đồng chí lính mới người Hà Bắc mới bổ sung vào tiểu đội thông tin (sau đồng chí hy sinh khi tiến đánh giải phóng Pleicu) chúng tôi dải hết cơ số dây mang theo, tôi phải gọi về xin chi viện dây điện thoại. (cũng xin nói lại như QuangCan đã viết lúc này phiên hiệu của chúng tôi lại đổi là Tiểu đoàn 1;Tiểu đoàn 5 thành tiểu đoàn 2; Tiểu đoàn 6 là tiểu đoàn 3 - Tiểu đoàn 3 sau này đánh chiếm đảo hòn tre của nha Trang).

Sáng ngày hôm sau điểm chốt của chúng tôi bắt đầu rung chuyển bởi bom và đạn pháo, dây điện thoại đứt ( lúc này toàn bộ vô tuyến vẫn chưa được sử dụng, chỉ sau 10/3 khi đánh Ban Mê Thuột mới dùng 2W) không liên lạc được, đại trưởng giục tôi đi nối dây dù bom pháo chưa dừng – tôi vừa bò, vừa chạy, vừa lăn theo đường dây để kiểm tra; thật sự chưa bao giờ tôi lại nối dây trong tình huống bom pháo trực diện như vậy; bom rơi mặc bom, pháo nổ mặc pháo tôi như người mộng du nối dây đi, nối dây lại cả mấy giờ đồng hồ mà liên lạc khi được khi mất.

Khi gọi được tiểu đoàn thì mất liên lạc đại đội; khi gọi được đại đội lại mất liên lạc tiểu đoàn cứ thế tôi đi đi lại lại trong tầm pháo bắn...đoạn nhiều mối đứt nhất chính là con suối cạn còn nước, thời gian tôi đầm mình ở đây là nhiều nhất khi nghe tiếng pháo là tôi dìm người nằm xuống nước hoặc hục hõm ven bờ tránh đạn...

Bom, đạn pháo thì sợ về tinh thần; còn thể xác thì lại sợ nhất là đang nối dây ở nhà quay gọi là tôi bị điện giật bắn người...có đoạn thiếu dây, điện tiểu đoàn yêu cầu được liên lạc với điểm chốt đại đội 3; tôi lúc thì cầm 2 đầu dây - ở nhà, ở chốt 2 đầu đều liên tục quay... quay, quay...điện giật tung tay ra, lại dùng miệng ngậm một đầu cho chắc như truyền miệng của các lính cũ, một tay cầm để tiểu đoàn làm việc không biết được hay không nhà cứ quay mình cứ bị giật bật tung dây mấy lần, thấy không ổn mình bỏ đó, chạy đến đầu guồng dây có dự phòng dây dự trữ cắt một đoạn đem nối lại, cứ thế liên lạc thông rồi lại bị pháo bắn đứt cứ nối, cứ đứt và chỉ khi pháo hết bắn thì đường dây liên lạc cũng được nối lại thông suốt; về tới hầm mệt nhoài, bộ binh địch lại tấn công, tôi cầm điện thoại trực tiếp báo cáo tình hình trước mặt cho thủ trưởng tiểu đoàn...địch rút pháo lại bắn, tôi lại ra khỏi hầm lùi lũi lăn lê, bò toài nối dây một mình ( có 2 lính thông tin nhưng do đồng chí tân binh mới quá, chưa quen chiến trận... nên tôi không phân công đi nối dây được, chỉ ở nhà trực điện thoại cho tôi); khi về hầm thật sự tôi chỉ thích địch tấn công cho tôi đỡ phải đi nối dây, một mình đối diện với pháo 105 của địch giờ nghĩ mà ớn...

Những lúc tạm dừng trận đánh, khi trung đội trưởng thông tin đồng chí Nghiệm người Hà Tĩnh điện lên động viên chúng tôi cố gắng đảm bảo an toàn trong liên lạc đã trao đổi với tôi cách xử lý tình huống đứt dây mà không có đủ dây nối ( tôi mới từ 2W chuyển qua chưa có nhiều kinh nghiệm nối dây) tôi cũng đã báo cáo đã xử lý theo kiểu đó nhưng không biết có được không chỉ bị điện giật liên tục khi nhà quay điện; tôi đã trao đổi và đề nghị nhà khi đứt dây tăng cường người nối dây phía tiểu đoàn kéo dài về phía tôi, vượt qua vài guồng dây để tôi tập trung ở điểm trọng yếu bình độ 605; nhưng đồng chí trung đội trưởng thông báo không còn quân vì đi phối thuộc các đại đội khác đã hết quân, hiện các đồng chí cán bộ trung đội đang đảm nhận thay lính nối dây cùng tôi đảm bảo trực tiếp thông tin trận này nên chỉ nối đến điểm đã quy ước trong phân công; đành chịu, không kêu ca gì được nữa.

Mấy ngày chốt ở đây đối với tôi thật sự quá dài trong cuộc đời lính chiến; điểm cao 605 bị bom pháo đào bới nham nhỏ, chẳng còn bụi cây nhỏ nào; tuy là điểm cao nhưng bình độ thoai thoải dài cả cây số, tầm nhìn rất rộng, ngồi hầm quan sát thấy địch đông, dày đặc thể hiện ý chí quyết tâm đánh chiếm lại điểm cao 605 này; đã 2 lần đại đội xin Tiểu đoàn cho rút lui khỏi chốt do địch quá đông; bom địch ném xuống và pháo giã tới tấp vào làm đơn vị tổn thương quá nhiều nhưng Tiểu đoàn không cho rút và yêu cầu bằng mọi giá phải giữ được chốt.

Nếu như ở Nam Lào thì chỉ cần điện một lần yêu cầu xin rút là Tiểu đoàn đồng ý ngay, nhưng ở đây, lúc này mình nghĩ đây là trận chốt giữ đầu chiến dịch nên Tiểu đoàn không chấp nhận...

Đây là trận đánh trực diện đầu tiên tôi về Miền Nam chiến đấu, bom rơi không tính, pháo bắn chẳng quan tâm, chỉ khi nghe tiếng hô đứt dây là vùng dậy chạy đi nối.

Tối về càng cảm phục anh anh em đánh ở chiến trường Miền Nam, thấy đánh trận mà bom pháo nhiều như xinê ngày xưa mình xem phim Liên Xô đánh nhau với phát xít Đức vậy...vì lúc đó đâu biết là mình đang được vinh dự tham gia chiến dịch đánh nghi binh chiến lược hết sức quan trọng có một không hai trong lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam mà mình chỉ được một quyền duy nhất là phải giữ được chốt và quyền thứ 2 cũng phải giữ được chốt – nghĩa là nếu có hy sinh cũng không được mất chốt, phải chấp nhận sự hủy diệt không cho chúng thắng; nhưng phía địch cũng quyết tâm chiếm được điểm cao 605 này để xác định nghi ngờ đâu là mặt trận chính - Pleicu hay Ban Mê Thuộc.

Chính vì vậy chúng tôi được ưu đãi cả bom pháo của địch lẫn pháo của ta, chỉ mới có mấy ngày thôi mà thấy đồng đội vãn dần.

Giờ vẫn nghĩ không biết anh em mình hồi đánh Quảng Trị có được ưu đãi pháo của ta không chứ, ở đây tôi xin pháo bắn là được ngay, bắn bao nhiêu cũng được; nếu kéo dài thêm một ngày nữa chắc chúng tôi cũng chẳng còn người để chốt giữ 605.

Sang ngày thứ 3 địch tăng cường máy bay ném bom và sau đó là pháo bắn cấp tập vào điểm cao 605, dù hàng đêm chúng tôi đều được bổ sung quân chốt và số liệt sĩ, thương binh hàng ngày chúng tôi đã cho chuyển về tuyến sau, trung đội cơ động cũng đã hết quân bổ sung cho chúng tôi; nhưng hôn nay, chỉ mới buổi sáng, quân số chốt của chúng tôi hao hụt vì bom pháo của địch, chỉ còn gần trung đội.

Đại trưởng luôn động viên anh em cố gắng giữ chốt, chờ chi viện của tiểu đoàn và theo dự tính của Tiểu đoàn tối nay đơn vị khác lên thay chốt nhưng lính thông tin bọn tôi vẫn ở lại.

Cả ngày anh em bộ binh vừa tránh bom đạn, vừa chiến đấu chống lại bộ binh; trưa cũng không có thời gian để ăn hết miếng cơm và anh em chỉ dùng nước để dưỡng sức, còn tôi cứ phải đi nối dây mỗi khi pháo địch bắn – tối hôm trước mình cho đồng chí lính thông tin mới bổ sung đi theo cáng thương binh về tiểu đoàn xin thêm dây điện thoại chưa lên chốt...khoảng 14 giờ, pháo địch liên tục giã vào trận địa chốt của bọn tôi và lần này chúng bắn rất hiệu quả; liên tục anh em bị trúng hầm, bị thương và hy sinh nhiều...sau khi đi nối dây về; ngớt pháo tôi cùng số anh em không bị thương tiếp tục nổ súng cản địch tấn công vào điểm chốt...

Địch lúc này đông nghẹt ở phía trước điểm chốt, chúng không thận trọng như trước mà ồ át tấn công; anh em nổ súng cản đợt tấn công của địch nhưng trước lực lượng áp đảo quá đông của địch tiếng súng của anh em thua thớt dần; đạn lúc này tôi cũng chỉ còn một băng trên súng đang bắn dở, lựu đạn thì đã ném hết...nhìn lại xung quanh chỉ còn mấy tay súng bộ binh, hỏa lực không còn, không có chỉ huy tại hầm chỉ huy; tôi bảo anh em đưa tử sĩ thương binh xuống hầm chiến đấu và điện liên tục xin pháo bắn...ở đầu máy tiểu đoàn bộ lúc này đồng chí trung đoàn phó trực tiếp cầm điện thoại nghe tôi báo cáo và đồng chí trực tiếp gọi điện xin pháo mặt trận bắn theo yêu cầu của tôi, cứ tôi nói là tôi nghe đồng chí lại gọi ngay máy pháo bắn chi viện, có lẽ 2 tay đồng chí cầm 2 tổ hợp nghe và nói ngay, đạn nổ liên tục phía trước nhưng lúc này địch đang áp sát chúng tôi; tôi xin pháo bắn ngắn lại ...

Cứ thế đạn pháo của ta rơi sát tới địch, càng dồn chúng tiến nhanh hơn vào điểm chốt của chúng tôi và sát tới chúng tôi luôn, hình như ý đồ của chúng định bắt sống chúng tôi nên hạn chế hỏa lực tiêu diệt chúng tôi...địch phía trước tưởng chừng như chuẩn bị đánh giáp lá cà; đạn nổ càng sát, chúng càng liều lĩnh, càng tiến dần sát điểm chốt còn lại của chúng tôi...không còn cách nào khác tôi xin pháo bắn đúng vị trí chốt...

đồng chí trung đoàn phó hỏi: nếu bắn như vậy đúng tọa độ điểm chốt anh em hy sinh sao?...tôi trả lời...Chúng tôi còn mấy đồng chí, chi viện tiểu đoàn chưa lên; thương binh tử sĩ chúng tôi đã đưa hết xuống hầm; nếu pháo không bắn vào chúng tôi thì chúng tôi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng hoặc bị bắt hoặc đầu hàng địch hoặc chúng tôi tự sát, đề nghị thủ trưởng cho chúng tôi được chết như một người lính; xin thủ trưởng cho pháo bắn ngay kẻo không kịp; địch đang ở trước mặt tôi... sau giây phú ngần ngừ thủ trưởng trung đoàn yêu cầu tôi bảo anh em còn sống xuống hầm để pháo bắn...vài quả pháo mặt trận bắn thăm dò trước...tôi đứng dưới hầm chiến đấu nhìn những phát pháo đầu tiên chưa đúng điểm tôi chốt, tôi xin rút lại...tới khi bắn trung đội hình địch cũng là lúc địch ở trước mặt rồi, địch tóe ra bỏ chạy ngay trước khi chúng túm được chúng tôi, tôi hô: pháo bắn trúng đội hình địch, xin thủ trưởng cho bắn cấp tập .. thế là pháo mặt trận bắn cấp tập xung quanh tôi, trúng vị trí chúng tôi...thấy địch chạy toán loạn tôi hô: Xung phong...mấy đồng chí còn sống đang ở hầm bên cạnh cũng đồng loạt hô xung phong...lúc này tôi quên mất mình là lính thông tin; cứ thế lao lên khỏi hầm bỏ máy điện thoại lại cùng mấy đồng chí bộ binh vừa hô xung phong vừa bóp cò... nhưng súng không nổ; ở nhà chắc thủ trưởng trung đoàn nghe tiếng hô xung phong, biết chúng tôi đang xung phong ông cho pháo bắn chuyển làn xa dần điểm chốt...xác địch nằm la liệt trên điểm chốt; tôi với lấy một ba lô địch vất chổng trơ trên đường về chốt ( chính chiếc ba lô của địch mà tôi đã viết ở bài trước có quyển nhật ký và câu đối tết của chàng sĩ quan có một bông mai của Trung đoàn 45 sư 23 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa); về kiểm tra lại súng hóa ra chẳng có viên đạn nào cả.

Tối hôm đó tôi được lệnh bàn giao chốt thông tin cho đồng chí khác, quay về tiểu đoàn nhận nhiệm vụ đi phối thuộc với đại đội 1 chuẩn bị đánh cứ điểm chính Thanh Bình và Thanh An theo lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận.

Khi về tới tiểu đoàn, anh em tiểu đoàn bộ và thủ trưởng trung đoàn, thủ trưởng tiểu đoàn tươi cười phấn khởi chạy ra ôm lấy tôi và kể khi pháo bắn vào điểm chốt, cả ban chỉ huy, anh em tiểu đoàn bộ im lặng như mặc niệm chúng mày...nhưng khi nghe mày hô xung phong qua điện thoại bọn tao sướng quá, biết bọn mày còn sống lập tức hô pháo chuyển làn...và thông báo cho tôi biết Trung đoàn đã thống nhất với Tiểu đoàn đề nghị cấp trên tặng thưởng cho tôi Huân chương chiến công giải phóng về thành tích đảm bảo thông tin liên lạc và phục vụ chiến đấu tốt và để động viên phong trào thi đua lập công của toàn đơn vị.

Nếu như đánh trận ở Nam Lào "chốt" đồng nghĩa với "chết" vì thế chúng tôi có thắng trận, mà cũng có thua trận ke cáng nhau rời chỏi chốt; nhưng từ khi về chiến trường B3 và tham gia chiến dịch Tây Nguyên và sau này là chiến dịch Hồ Chí Minh chúng tôi chưa hề thua trận nào.

Tiểu đoàn tôi có 3 trận ác liệt nhất và cũng suýt thua ở ba trận này; đó là giữ chốt 605 phía Bắc Tây Nguyên; hai là đánh vô cứ điểm Thanh Bình; ba là đánh vô sân bay Gò Quánh ở Bình Định - ở Trận này anh em đánh hết đạn, xin chi viện, Trung đoàn điện yêu cầu anh em nằm chốt giữ tại chỗ, bắn điểm xạ tiết kiệm đạn, chờ trung đoàn vận chuyển đạn đến; nằm giữa sân bay, đường băng của sân bay Gò Quánh trống trải là vậy, anh em đơn vị thay phiên nhau điểm xạ từng phát một tử thủ, chờ trung đoàn vận chuyển đạn đến mới đánh giải phóng được.

Trận này cả thủ trưởng Trung đoàn và cán bộ trung đoàn bộ cũng phải đi gùi đạn mang đến cho bọn tôi...tội thủ trưởng thế đấy - bảo làm sao thời đó lính bọn tôi không vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng chứ..

Trong cuộc đời chinh chiến cái may mắn lớn nhất với tôi là không bị phơi nhiễm chất độc da cam và cho tôi được chứng kiến một kỷ niệm thật đẹp trên đường hành quân ra trận và một trận đánh nhớ đời:

Kỷ niệm đẹp nhất trên đường ra trận - nếu như các bạn trẻ và những đồng đội chưa được hành quân vào mùa xuân 1974-1975 trên đường Trường Sơn thì sẽ không hiểu hết được ý nghĩa câu...đường ra trận như trẩy hội mùa xuân; xe ra, xe vào đông đúc, chen lấn nhau; tíu ta tíu tít anh anh, em em...nét mặt người lính nào cũng tươi cười rạng rỡ, không hề có chút vẩn đục trong ánh mắt, trong suy tư; đặc biệt là lính sư đoàn tôi phấn khởi lắm, vì được về quê mà...có lẽ lịch sử không bao giờ lặp lại lần thứ 2 nữa đường ra trận như trẩy hội mùa xuân nữa.

Sự kiện thứ hai là được tham gia chiến dịch nghi binh Bắc Tây Nguyên mùa xuân 1975 có một không hai của lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam; được nằm trong đội hình chính của sư đoàn 968 đánh nghi binh và được đánh một trận đối đầu đã đời với một đơn vị mà phía Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó có tên gọi sư đoàn 23 rất kiếm hiệp là sư đoàn - NAM BÌNH, BẮC PHẠT, TÂY NGUYÊN TRẤN đối đầu với sư đoàn 968 được gọi tên rất dân dã là - BẠN TIN, DÂN MẾN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG (như phù điêu ở bản tin sư đoàn năm 1975 tôi đã đưa ảnh ở những bài viết đầu).

Còn gì tự hào hơn, vui hơn khi tuổi trẻ của mình đã được đi qua đường Trường Sơn đầy mưa bom bão đạn thời chiến tranh; được đánh những trận đầu mở màn chiến dịch Tây nguyên và giải phóng Miền Nam; nay ngồi hồi tưởng lại cảnh những người lính - chiến sĩ chúng mình chỉ là binh nhất, binh nhì dù chưa một lần yêu, nghe chuyện yêu mà hồi hộp hơn đánh trận, khi vào trận tâm hồn lại vô tư trong sáng hơn...và bùi ngùi rơi nước mắt nhớ lại đồng đội trước khi chết vẫn còn kiểu đùa bông lơn tuổi trẻ ...a lê té...

Đánh chiếm căn cứ Thanh Bình

Sau khi rời chốt C3, mình về nhận nhiệm vụ mới là đi phối thuộc với đại đội 1 đánh chiếm cứ điểm Thanh Bình.

Lính thông tin đợt này ngoài tổ hữu tuyến của mình còn tăng cường thêm máy 2 W do Trường "đỏ" làm máy trưởng; lính 2W được nghỉ dài ngày từ ngày sang Miền Nam đến giờ có vẻ phấn khích tợn khi được phân công đi phối thuộc với đơn vị chiến đấu; các cậu cứ mang máy ra, rồi mang máy vô lau chùi có vẻ như tâm sự nhưng vẫn chưa được lên máy thử sóng...đi ngang qua mình đùa...súng là vợ, chứ ôm cái cục nợ đó mà mân mê...một hai ba bốn...được cái chi...các cậu nổi đóa cự lại mình...vừa phải thôi đi ông (thằng Trường "đỏ" hay gọi mình bằng ông) ông mới chuyển sang hữu tuyến mấy tháng mà coi thường nó rồi...cậu vỗ cái máy 2W dạng trách cứ mình; mình cười hì hì nói lại – đùa đấy mà, xa nó cũng nhớ lắm chứ, đánh xong về để tao xem có quên mày không nhé.

Tối tổ máy mình cùng tổ máy của Trường "đỏ" đi xuống đại đội 1 để chuẩn bị hành quân; Mình được phân công theo mũi của trung đội chủ công đại đội do đại trưởng dẫn đầu, tổ máy 2W đi theo chính trị viên đại đội; Lệnh tiểu đoàn hành quân tiến đánh cứ điểm Thanh Bình I gồm 2 đại đội – Đại đội 1 và đại đội 2.

Hành quân vượt qua các khu rừng thưa, sáng đến bãi trống rất rộng, xa xa trên sườn đồi thoai thoải là khu nhà sàn giống như ở bên Lào – nhà cửa cao ráo, sạch sẽ không như buôn làng của bà con dân tộc ở trong vùng giải phóng mà mình từng đi qua; lệnh Tiểu đoàn anh em hành quân qua nhanh nhưng từng người một tiếp cận nhanh đến buôn và tạm thời ẩn nấp ở đó.

Ở chiến trường Miền Nam hay thật, ở Lào thì bọn mình chuyên đi đêm, ngày đào hố chiến đấu và nằm nghỉ, tối lại hành quân đi đánh, còn ở đây ngày cũng hành quân, mình cũng lo ngay ngáy địch phục, nhưng thấy anh em trinh sát bọn thằng Toán, Mão dẫn đi đầy vẻ tự tin nên mình cũng yên tâm chắc mấy ngày trước các cậu đã đi địa hình kỹ rồi...

đến vị trí chiến đấu bọn mình tới phiên rải dây sau khi bộ phận trực ở tiểu đoàn đã dải hết dây, mình bắt đầu dải theo đại đội 1.

Căn cứ Thanh Bình nằm trên bình độ thoải thoải không hẳn là đồi, bọn mình vận động áp sát dần căn cứ; gặp địch hai bên cùng nổ sùng, các tay súng bộ binh chững lại, tản rộng nổ súng bắn trả; còn mình, cứ lấy Chanh Gia Lâm B trưởng làm mục tiêu - cậu ta đi đâu là mình lại bám theo đó, đến giờ mình vẫn không hiểu là hồi đó tại sao không đi theo đại trưởng mà mình lại dải dây theo trung đội trưởng...tuy mình nhớ là được phân theo đại trưởng, nhưng thực tế trận đánh mình lại theo B trưởng...giờ nghĩ không ra...và nữa, trận này cũng kỳ cục là hai bên chẳng có hầm hố gì hết giống như "tao ngộ chiến" gặp nhau giữa đường là nện nhau vậy - ((nay tưởng tượng như hồi chưa nhập ngũ, thanh niên (nhóm) mình kéo bè kết cánh phân bang này bang nọ như mình thì trùm "Bang Cò ỉa" dẫn đầu một tốp Ô Đống Mác phục đánh Bang ô Quan Chưởng trên bờ đê ngày xưa vậy, hai bên gặp nhau giáp lá cà đánh tay bo (không gậy gộc, không vũ khí đâu) kiểu anh hùng hảo hán)); pháo của địch cũng kỳ lạ là toàn đánh chung quanh bọn tôi và bọn địch; bọn mình đánh từ đầu giờ chiều đến khi trời chập choạng; địch lùi dần thì bọn tôi tiến đến sát bãi đá; nhìn từ xa mình biết là khó gặm rồi vì bãi đá trải dài và rộng như những tấm áo giáp che chở cho những người lính phía bên kia vậy; địch cứ núp phía sau các tảng đá mà phệt bọn tôi; cả đại đội lúc này không tiến được và pháo bắt đầu tấn vào sát đội hình bọn tôi...Trận này, chúng tôi phải tự thân vận động thôi, không có sự chi viện pháo phiết trung đoàn gì cả, cứ dùng hỏa lực tiểu đoàn và lực lượng bộ binh để đánh, cứ đánh lấn dần, tiến tới bằng sự nhanh nhẹn già dặn trong trận mạc của từng người lính bộ binh.

Anh em chiến sĩ các tiểu đội thuộc trung đội của Chanh quá quen kiểu đánh đối đầu này nên chủ động vận động che chở cho nhau trong tiến công.

Trận chiến này đại đội một đánh đúng theo sở trường của mình là đánh vận động tiến công ( đại đội 3 sở trường là chốt giữ).

Lệnh tiểu đoàn áp sát vào bãi đá, bám sát lính bộ binh địch để tránh pháo địch, đứt dây tôi bảo đồng chí Phương máy phụ quay lại nối dây còn tôi vừa rải dây theo mũi tiến; khi thông suốt liên lạc báo cáo tình hình về tiểu đoàn ngay...gần chiều thì bãi đá đã ở trước mặt bọn tôi, lúc này pháo không còn là nguy hiểm đối với bọn tôi nữa...nằm sau tảng đá mồ côi, tôi đưa máy cho Chanh và nói tiểu đoàn cần gặp mày...nghe máy xong Chanh bảo lệnh tiểu đoàn yêu cầu dứt điểm ngay trận đánh trước khi trời tối.

Chanh cho lính truyền đạt các tiểu đội thuộc trung đội chuẩn bị tấn công cùng toàn đại đội.., theo tiếng hô của Chanh - Tôi lúc này cũng chuẩn bị dây để rải theo lệnh xung phong khi Tiểu đoàn chỉ đạo đại đội qua 2W, còn trung đội bọn tôi qua hữu tuyến.

Nhận được lệnh, Chanh hô xung phong, tôi ôm máy chạy vận động theo Chanh tới sát bãi đá, địch thoắt ẩn thoắt hiện sau những tảng đá cứ nện thẳng vào bọn tôi, đồng đội đã nhiều người trúng đạn – lính mặc rằn ri thấy trước mặt đấy, thấy nó nhằm vào mình đấy, súng đeo sau lưng mình đấy - nhưng mình lại không được quyền bắn để tự vệ...cứ ôm máy nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác theo Chanh...và khi dừng, gọi điện báo cáo tiểu đoàn...dưới sức ép tấn công liều lĩnh của bọn tội, địch phải rút.

Trận này, bọn tôi quyết liệt tấn công theo kiểu chi tôi cũng chẳng hiểu nữa, giờ nghĩ cũng chẳng ra; hay mình là lính thông tin không quen kiểu đánh trống trải như vậy?.. nhưng cuối ngày, bọn tôi cũng đã hoàn thành nhiệm vụ - đánh chiếm thành công được bãi đá và đại đội đã chiếm được căn cứ Thanh bình; địch bỏ điểm trấn giữ hoàn toàn tại bãi đá, bọn tôi vui mừng chưa kịp ôm nhau thì pháo địch bắn ào ào vào bãi đá, Chanh hô anh em rút, bọn tôi nhảy vội ra khỏi bãi đá nhưng chưa kịp thì...chớp lửa lóe kèm theo một tiếng nổ đanh trước mặt tôi và Chanh, tôi đổ gục xuống và chỉ kịp kêu ...Má ơi...và ngất lịm đi...( tiếng miền Bắc là Mẹ, tôi người Miền Nam theo ba má ra Bắc tập kết ).

Tỉnh dậy, thấy xung quan toàn là mầu áo trắng, tiếng dao kéo loảng xoảng và những tiếng thì thầm rất nhỏ...đây rồi, một mảnh đạn, gói lại cho cậu ta làm kỷ niệm..có một ít xương vụn...cứ thế... mở mắt nhìn và biết mình đang trên bàn mổ dưới ánh đèn điện mầu vàng...chắc đây là một căn hầm dã chiến...tự mình nghĩ...đây là trạm phẩu tiền phương chắc...Lên bàn mổ và mổ - nhưng mình lúc này lại tỉnh rụi, bình thản nằm nghe các y, bác sĩ trao đổi và có lẽ mình mổ nhưng không gây mê như anh em bị thương thường bảo, chắc là chỉ tiêm thuốc gây tê thôi, nhìn và cảm giác biết được đường dao mổ, tiếng kéo cắt, mũi khâu của vị bác sĩ đi trên mặt mình... xong rồi, tiếng vị bác sĩ vang lên; mình chỉ nhìn thấy những giọt mồ hôi trên trán của vị bác sĩ mổ cho mình đang lăn dài trên gò má ông, dù đã được bàn tay của ai đó lấy khăn lau.

Mình biết mình còn sống muốn mở miệng cám ơn ông và đồng đội trong trạm phẫu mà không được, vì mồn mình đã bị bịt kín rồi...mình được cáng ra...và tiếp theo một cáng thương binh khác được đưa vào...

Sáng một đoàn dân công hỏa tuyến (mình tạm gọi là vậy) toàn bà con mặc các sắc phục đồng bào dân tộc Tây Nguyên, từ nước da, dáng vóc không trộn vào đâu được cáng mình và một số thương binh nặng khác đi.

Lúc này toàn bộ đầu và các vết thương ở hai cánh tay, xương sườn được băng chặt nên không thể động đậy được...nằm cáng nhìn những cây rừng chuyển động mình biết đang đi qua các khu rừng già, rồi qua rừng thưa...bà con nghỉ giữa đường...một mẹ người dân tộc thấy mình mở mắt liền quơ tay lấy nải chuối chín ý hỏi mình ăn không...mình lắc đầu; sau tự nghĩ băng kín đầu chỉ hở mắt mũi lấy đâu mà ăn được...nay nghĩ lại thấy mẹ người dân tộc chân thật quá đi thôi...cáng tiếp qua bãi na trống...bỗng tiếng máy bay vọng đến...bà con dân công bỏ cáng thương cái phịch, cáng rớt xuống, mình đau ê ẩm...bà con chạy túa vô lại rừng...anh em thương binh như mình lúc này chỉ biết nằm nhìn trời...chỉ thấy mây bay...bay...và chiếc máy bay lượn mấy vòng tô điểm bầu trời xanh... chắc nó thấy mấy cáng thương binh trắng xóa, người nằm bất động tưởng là cáng tử sĩ không đáng phọt tên lửa nên nó bỏ qua và bay đi.

Hết máy bay, bà con lại chạy ra cáng, lúc này thì cáng đi như bay vậy...chiều đến Viện 2 Tây Nguyên...giờ mình mới chính thức nằm viện.

Hàng ngày các nữ y tá dến chăm sóc và đút cho ăn (sướng như tiên nhé xuanxoan) – mút sữa ...sữa bò thật đấy chứ không phải sữa bột đâu nhé đồng đội ạ....; làm lũng được ít ngày, thấy chướng và ngại quá, tự mình điều chỉnh, tự làm hết những việc có thể làm được.

Ngày ở Viện 2 về đơn vị, nghe anh em nói đánh căn cứ Thanh Bình, sau khi đánh chiếm được bãi đá thì pháo địch cấp tập bắn vô, mình rút lui không kịp, cả đội hình tiến công bị trúng đạn pháo 105 - hy sinh mất năm đồng chí trong đó 3 đồng chí người Hà Nội (trong đó có Chanh Gia Lâm cùng nhập ngũ với mình và 2 đồng chí người Hà Tây cũ); số anh em bị thương nhẹ rút ra được hết, còn mình bị thương nằm bất tỉnh tại bãi đá đó cùng các đồng chi hy sinh; tối bọn thằng Toán, Mão trinh sát dẫn bộ binh lên đưa xác các đồng đội về và thấy mình còn sống băng tạm đưa về tiểu đoàn và đưa ngay về phẫu tiền phương...

Ngày đầu lính chiến chuyển qua trồng bông ở Thuận Hải

Sau khi chuyện Pulro tạm lắng, Sư đoàn 968 được lệnh đi trông bông, thực tế bọn tôi cũng chẳng quan tâm di đâu nữa – Cứ lên xe và về lại Thuận Hải, không khí đơn vị hồi này sao sao đấy, tư tưởng hết muốn ở lại quân đội đã trở thành phong trào của lính nhất là lính Hà Nội và Hà Tây; sự phá bĩnh biểu hiện ra mặt ở những người lính cam trường ngày xưa khi sống trong hòa bình, lãnh đạo hôm nay vừa mang tính áp đặt trong chiến đấu vừa mang tính cục bộ địa phương đã làm sốc nặng tâm lý anh em lính chiến.

ở lính bắt đầu hình thành, mâu thuẫn không phải lính mới cũ, mà nổi lên tính địa phương tuy chưa đến nỗi phải đánh nhau.

Chán lắm đồng đội ạ; có phải anh em lính muốn chia rẽ nhau đâu, đánh nhau vào sinh ra tử, chia nhau từng hớp nước, tìm nhau khi lạc đường, nhường đồng đội rút trước mình rút sau để bắn cản đường cho nhau đâu phân biệt tỉnh này, tỉnh nọ, nay Hòa bình chỉ vì tính ích kỷ, địa phương của người lãnh đạo nổi lên nên anh em phía dưới phải gánh đại họa bài sích lẫn nhau– chán lắm, đến khi mình về Nam cũng vậy, mới hòa bình thì Đà Nẵng có câu: Nhất khu, nhì tù, tam trụ, tứ kết nghĩa là khi sử dụng cán bộ và đề bạt cán bộ thì việc xem xét đầu tiên là đề bạt mấy anh ở chiến khu về, sau đến là mấy anh ở tù về và sau nữa là mấy anh bám trụ và loại tâp kết như xuanxoan là loại thứ 4 sát với dân thường và phía Việt Nam Công hòa và bây giời còn nặng hơn là người cùng huyện...thôi không bàn nữa kẻo vi phạm Luật chơi trên trang mạng.

Ga Sông Lũy là điểm tọa độ bọn tôi thường chấm khi "tút" đi chơi Sài Gòn hoặc Nha Trang bằng đường sắt; đường bộ sau này có anh em quân cảnh thường kiểm tra nên bọn tôi hay đi bằng tầu hỏa và cái tài nhảy tầu điện của dân Hà Nội lúc này được phát huy.

Kiểu nhảy của bọn tôi làm anh em công nhân đường sắt Miền Nam phục sát đất: mấy chú giải phóng Miền Bắc nhảy tầu hay quá, nhảy như trong phim cao bồi vậy.

Lúc đầu đóng quân ở Sông Mao, ngoài đường I gần mấy đồi cát.

Từ đây bọn tôi đi bộ ra Phan rí để mua cá cho đơn vị, ăn cơm ở đây bọn tôi thường chan lẫn cát vì mỗi lần có cơn gió là cát bay mất mặt nên chuyện ăn cơm với cát đối với bọn tôi là bình thường.

Ngoài người dân tộc Nùng, ở đây bọn tôi thường gặp ít người dân tộc địa phương gầy guộc, đen thui thường từ trong rừng ra đổi đồ và có lẽ là người dân tộc cực khổ nhất mà tôi từng gặp.Tiểu đoàn bộ bọn tôi đóng quân ở khu vực toàn người dân tộc Nùng của Miền Bắc di cư 1954 nên cũng phức tạp; đời sống nhân dân khổ chẳng kém gì lính, vùng đất khô cằn toàn cát trằng và không có nước, dân ở những căn nhà nhỏ, lụp sụp như đồng bào Bắc Trung bộ hồi đó, trái cây chỉ lác đác vài vườn na (mẵng cầu ta).

Ở được ít ngày bọn tôi lại tiến vào rừng thưa để ở và công việc như hồi huấn luyện lại bắt đầu: Ngày vào rừng sâu chặt lá cọ, chặt nứa, gỗ để làm nhà...được khoảng vài tháng thì tôi ra quân do chính trị viên không chịu nổi cách chia cơm của tôi – lính thì được ưu tiên chia trước và khẩu phần nhiều hơn, còn thủ trưởng ít hơn do không phải vào rừng vất vả như anh em.Thế đấy, khi trong đầu người ta có ý nghĩ tiêu cực mà không được giải thích, giải thoát nó cứ tích tụ sẽ làm bùng thêm mâu thuẫn mới và hành động cũng bất chấp hậu quả thế nào.

Hy vọng có những đồng đội ở tiểu đoàn tôi độc trang thông tin này để bổ sung, sửa đổi để dựng lại hình ảnh chân thật của người lính của tiểu đoàn bộ binh 4 Trung đoàn 19 Sư đoàn 968.

Dãy Trường Sơn huyền thoại

Trường Sơn đông em đi.....

... thương bên tây anh mùa đông/nước khe cạn bướm bay lèn đá/biết lòng anh say miền đất lạ...

Những bài ca, lời ca đi cùng năm tháng nay nghe vẫn da diết, tình người đến thế - nhớ thời gian hành quân trên đường Trường Sơn, cứ mỗi lần khoác ba lô, vác cây súng nhịp bước theo anh em đồng đội; trong đầu lại văng vẳng lời ca ấy và điều kỳ lạ là thời gian đó Đài tiếng nói Việt Nam hình như 24 /24 giờ không bao giờ tắt những ca khúc quân hành như vậy.

Cứ hành quân, anh em đi qua binh trạm nào cũng vậy, hoặc gặp bất kỳ đồng chí cán bộ nào mở đài cũng nghe những lời ca tiếng hát làm nức lòng quân đi...

Ôi năm tháng hào hùng mới đó, nay đã đi vào huyền thoại - ngay hồi đó anh em bọn tôi truyền tai nhau: tiếng hát 24/24 giờ đó là lời hát ru cho linh hồn những người lính trẻ đã hy sinh, đã ngã xuống mà thân xác còn nằm dải rác ở biên cương, trên rừng, dọc đường đường Trường Sơn ...cứ thế lần lượt, những đoàn quân - lính trẻ bọn tôi đi vào huyền thoại Trường Sơn..

Cứ thế đi miên man trên đường Trường Sơn dòng rã mấy tháng trời không nghỉ, áo quần sờn rách, quai dép thay mấy lần, những kinh nghiệm đi đường Trường Sơn từ từ nhập tâm vào chúng tôi, đã biến thành một tố chất riêng có của người lính chiến: thích nghi nhanh các điều kiện khắc nghiệt, biết chọn các vấn đề cơ bản để tồn tại trong các hoàn cảnh đơn độc khi bị lạc trong rừng, trong chiến đấu.

"nó" trở thành bản lĩnh của người lính chiến sau này khi xung trận... cuối cùng chúng tôi cũng đến đơn vị chiến đấu – K3 Tình nguyện.

Chiến trường đây ư - sao thanh bình đến thế, ngút ngàn mầu xanh của cây cỏ, từng đàn bò gặm cỏ xanh non; vài con ngựa đang vờn hý trên sườn đồi sao đáng yêu thế...hành quân qua buôn Kapơ và một số buôn làng...nhìn những cô gái Lào mặc những chiếc váy thêu thùa sặc sỡ như người dân tộc Tày ở Miền Bắc nước ta; cảnh người vợ địu con đi trước, sau nàng là người chồng gùi nặng đồ lùi lũi theo sau (một thời là hình ảnh mong ước của mình đấy) ... những chiếc xe bò lóc cóc, tiếng mõ về buôn vào buổi chiều; những làn khói vương vấn trên những mái tôn sau cơn mưa sao nhớ nhà, nhớ mẹ đến lạ...

Cao nguyên BôLôVen nằm trải dài, bình độ thoai thoải, chúng tôi đi gần như không biết đang lên dốc, dọc đường hành quân gặp những người dân Lào với những ánh mắt đầy thân thiện, sự cởi mở toát lên ở hành động, nhiều khi tôi buột miệng hỏi bằng tiếng Việt, họ vẫn trả lời bằng ý họ hiểu được và trả lời cả bằng cả tiếng Việt họ có được cộng tiếng Lào và cả những động tác tay...vui thật – cũng hiểu tí tí vì có tiếng Việt chêm vào tiếng Lào và động tác tay chân của họ.

Đến đơn vị chiến đấu rồi, nhìn quanh không thấy hố bom và không ngửi thấy mùi thuốc nổ như ở dọc đường Trường Sơn; lạ quá, vào đến chiến trường lại yên ắng, bình yên hơn trên đường dây...nhìn thấy một căn hầm đẹp, sạch sẽ mình chạy ào vô định hỏi thăm – roạch, cạch; tiếng đạn lên nòng vang lên, mình chột dạ đứng im và nói: em tân binh mới bổ sung...lúc này anh Thính người nhận quân ở đường dây chạy vào nói: đây là đồng chí tân binh mới bổ sung, không biết gì, mong đồng chí thông cảm...và quát tôi ra...hóa ra tôi chạy đúng vô phòng cơ yếu máy 15 W của Tiểu đoàn, khi đồng chí cơ yếu đang dịch mật mã...hú hồn, từ đó về sau tôi cạch không bao giờ vô hầm cơ yếu, dù sau này quen đồng chí gọi vô chơi tôi cũng lắc đầu luôn.

Tiểu đoàn 3 Tình nguyện nguyên là tiểu đoàn bộ đội Biên Phòng bảo vệ bên này Cầu Hiền Lương được Bộ điều tăng cường cho lực lượng chuyên gia quân sự của ta ở Lào nên quân chủ yếu là người Quảng Bình và Hà Tĩnh, năm 1970 có tăng cường quân Hà Tây cũ (nay Hà Nội) và Thanh Hóa.

Đây là một tiểu đoàn được xây dựng tương đối chính quy, có nề nếp và tác phong của quân chủ lực. khi bọn tôi bỏ sung được ít ngày thì đơn vị được hợp nhất với 2 tiểu đoàn Tình nguyện khác của mặt trận thành Trung đoàn 19 thuộc sư đoàn 968.

Nói đến huyền thoại Trường Sơn ngoài những con đường huyền thoại như trên, còn có những con người đầu tiên mở đường 559; những huyền thoại của Lực lượng Thanh niên xung phong, công binh mở đường, bắc cầu, làm ngầm... giữ đường dù bom rơi đạn nổ, dù hy sinh cả đơn vị đứng điểm, chốt đường nhưng các anh, các chị vẫn phải đảm bảo thông suốt cho đoàn xe ra trận; là huyền thoại của sư đoàn vận tải bằng ôtô nhận lệnh là lên đường thần tốc vận chuyển ngay, xe đầu cháy - chấp nhận hy sinh tăng tốc lực chạy mở tuyến khác cho máy bay, bay theo bắn đuổi để đoàn xe qua trọng điểm an toàn; là lực lượng bộ đội đường ống đảm bảo xăng cho các đoàn xe đi qua; là các anh lính pháo cao xa hiên ngang mang pháo tới điểm cao nhất của đỉnh núi để bắn hạ máy bay, bảo vệ đường và chia lửa với các chốt điểm của thanh niên xung phong; các binh trạm, đặc biệt những câu chuyện của các anh chị ở các kho binh trạm, lực lượng gùi hàng của nhân dân các dân tộc sống trên dãy Trườn Sơn và bộ đội bằng đôi chân trần đã gùi thồ, giữ gìn an toàn hàng hóa lương thực vũ khí cho bộ đội trong điều kiện đơn độc trong núi rừng..

Ngoài ra, sống chiến đấu trên dãy Trường Sơn huyền thoại, của đường dây 559 còn một lực lượng nữa tuy chỉ phụ trợ nhiệm vụ chính của đường dây 559, ít được đề cập là các đơn vị bảo vệ đường dây vòng ngoài; lực lượng này là một nét thôi, chỉ một nét bút vẽ trong huyền thoại đường dây 559 của đường Trường Sơn mà sư đoàn chúng tôi nằm trong nét bút vẽ huyền thoại này...vì không chỉ là lực lượng bảo vệ đường dây, không chỉ làm nhiệm vụ quốc tế bảo vệ vùng giải phóng Lào và hơn thế trong đợt Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975 còn được chọn làm một cánh quân chủ lực trong mặt trận Tây Nguyên - đánh nghi binh đã tô điểm thêm trong huyền thoại đường Trường Sơn...

Tiểu đoàn 3 Tình nguyện lúc này vẫn là đơn vị độc lập nên biên chế rất mạnh - Tiểu đoàn lúc này do anh Miến làm Tiểu đoàn trưởng, Anh Ngô người Hà Tĩnh làm Chính trị viên tiểu đoàn, anh Lừa người Quảng Bình làm tiểu đoàn phó, anh Dũng người Ba Đồn tiểu đoàn phó; tiểu đoàn bộ lúc này có một trung đội trinh sát, một trung đội thông tin, một máy 15W và tiểu đoàn có một đội phẫu do một bác sĩ phụ trách hay một bệnh xá gì đó ( một thời gian sau chuyển máy 15W và bệnh xá này về sư đoàn).

Lính chiến trường nhưng cũng có người phù hợp với khí hậu ở Paksong như Phong trung đội trưởng trinh sát người Hà Tĩnh ( sau 1979 được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng, hy sinh khi sang Lào lần 2), Tân người Thạch Hà, Hà Tĩnh lính 2W da cứ trắng hồng như con gái, còn đa số anh em bị ảnh hưởng sốt rét nên cứ xạm đen, tai tái nếu bây giờ bọn trẻ thị thành gặp bọn tôi như hồi đó dứt khoát bảo bọn tôi giống bọn nghiện hút ... anh em lính cũ gặp lính mới phấn khởi lắm, thôi thì hỏi han chuyện gia đình, tình hình Miền Bắc và khi hành quân ngang qua quê hương Hà Tĩnh, Hà Tây, Quảng Bình có gì đổi thay không...và hướng dẫn bọn tôi cách sống, sinh hoạt của người Lào; cách phán đoán bom rơi và tiếng réo của đạn pháo...

Lính Hà Nội đợt này bổ sung vào tiểu đoàn bộ đông nhất là bổ sung vào trung đội thông tin 6 người (3 lính 2W, 2 lính hữu tuyến, 1 liên lạc) và một mình thằng Toán nhà ở dốc Vĩnh Tuy giờ là chân cầu Vĩnh Tuy được bổ sung vào trinh sát, về sau có tiếp nhận một lính Hà Nội về nuôi quân tiểu đoàn; số còn lại bổ sung về các đại đội chiến đấu.

Tinh thần và không khí của lính ở tiểu đoàn 3 tình nguyện lúc này rất hay, tình cảm đồng đội thật sự như trong thơ Chính Hữu :...Áo anh rách vai / Quần tôi có vài mảnh vá / Miệng cười buốt giá / Chân không giày / Thương nhau tay nắm lấy bàn tay...anh em cũ đi kiếm vải bày chúng tôi may tất chống vắt, may gùi đựng đồ trong chiến đấu, bày cách tháo màn cắt ra làm bọc võng và kiếm lựu đạn Mỹ cho chúng tôi thay lựu đạn chày dài vướng víu, kiến thắt lưng, xẻng hai tác dụng của địch để bọn tôi sử dụng cho tiện dụng...cứ thế tinh thần, hành vi hàng ngày và trang bị trên người của bọn lính tân binh chúng tôi dần dần thay đổi và trở thành lính chiến lúc nào không hay.

Từ đây lính tân binh chúng tôi đi theo chân lính cũ dọc ngang cao nguyên để làm quen địa bàn bảo vệ cũng như tập cách quan sát nắm bắt địa hình...cứ thế cao nguyên Bôlôven đặc biệt là địa hình Paksong chúng tôi thuộc chỗ nào có mìn, chỗ nào vào được ...giống như thời trẻ bọn tôi khoanh vùng tác chiến để câu cá, bứt ổi ở khu vực từ Ô đống Mác chạy từ sông Kim ngưu – đê La thành chạy bọc chợ Mơ về dệt 8/3 vòng về Vĩnh Tuy ...nơi rất nhiều ao hồ, ruộng rau muống và ổi...Ở Paksong tối bọn tôi có thể ra bứt chè về nấu uống, sáng đi bứt đọt su su, rau cần để nấu canh...và xuống các hố bom, đạn để bắt cá...

Tối tối chạy sang bọn trinh sát ngóng chuyện chúng nó kể những lần đi trinh sát gặp địch, bọn thằnh Mão đen người Quảng Bình; Mão mèo, Tăng gầy, Phụng tròn người Hà Tây vào trước một năm vừa kể thật để bọn tôi học kinh nghiệm vừa bịa để hù dọa bọn tôi cho vui...sau này vào đánh thật thấy cũng thường thôi.

Chuyện kể của các đồng đội:

Chuyện loanh quanh của lính mới ở chiến trường

Những ngày đầu về tiểu đội vô tuyến, mình được phân theo Tân người Hà Tĩnh học việc và là máy phụ, thôi thì đủ thứ bà giằng như bê máy ra lau chùi bên ngoài, bê máy vô cất, tháo ăng ten, tập quăng dây trời...thôi thì làn sóng 2W bay vi vu trên trời giống như Tôn hành giả du ngoạn năm châu bốn biển, đến khi gặp ngọn ăng ten đúng tọa độ sóng như con khỉ ( giờ nhớ lại cái anh chàng Tân này cứ mở miệng là ...con khỉ) gặp hoa quả sơn thế là hội tụ, ta nghe được tiếng chim kêu vượn hót và tiếng gọi bạn của đồng đội và cuộc sống thường nhật của người lính thông tin là bảng mật mã nếu địch bắt được thì phải thủ tiêu ngay cuốn mật mã trước khi hy sinh... mình đau cả cái đầu vì cái gì cũng quan trọng, cái gì cũng phải sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nó...thôi thì đối với người lính 2W cái gì cũng là nhiệm vụ quan trọng cả là được rồi.

Mỗi lần đi dã ngoại, trên vai mình mang đủ thứ từ vũ khí, pin dự trữ, xẻng ....

đến lương thực 2 xuất, theo máy trưởng đi quanh Paksong thật nhiều lần nhưng chưa một lần lên máy.

Cứ mỗi lần xin ngồi máy nhận điện là máy trưởng Tân lại quát: không được vào máy, đây là khí tài quan trọng hỏng là chết cả nút, lính mới ngơ ngơ như " bò đi cợp"...thế là mình lại thụt vòi – chỉ loanh quanh quan sát cách Tân vào máy, sử dụng máy và học thuộc mật mã để dịch điện khi Tân giao nhiệm vụ.

Trong thời gian này mình dần dần được tiếp cận với máy 2W thường xuyên, thực hiện việc làm máy phụ một cách chính xác, Tân máy chính không chê vào đâu được. cậu ta ít dần những lời la hét ban đầu về mình và thỉnh thoảng cho phép mình được lên máy làm việc;

Những lúc xuống các đại đội, mình tranh thủ chào hỏi làm quen với thủ trướng các đại đội; những khi không phải phiên lên máy, mình là cà xuống các tiểu đội học hỏi cách sống của các cựu binh và ăn ghé các món mà lính bộ binh ca cóng được.

Vì là tân binh nên việc đào hầm hố và đi lấy cơm hàng ngày là bổn phận của mình khi đi phối thuộc ở các đại đội - nhưng thực tế qua lấy cơm ở bếp đại đội mình lại được quen biết anh em rất nhiều và tinh thần của mình qua giao tiếp với đồng đội đã giải tỏa được nỗi nhớ nhà cũng như có chất súc tác giúp mình hòa nhập nhanh với môi trường sống mới lạ,.cần phải thích nghi.

Rồi một hôm, Tân bị lên cơn sốt rét cao, rên hử hử vì đã qua nhiều ngày cơn sốt không hạ được báo cáo về tiểu đoàn, tiểu đoàn cho phép Tân về tiểu đoàn để điều trị và lúc này mình được Tân bàn giao máy...và lần đầu tiên được đeo chiếc đồng hồ Ỏrieng mạ vàng tuyệt đẹp mà ở Hà Nội thời đó bọn mình chỉ ngắm nó ở tay người khác mà mê mẩn – vì ở tiểu đội mình chỉ máy trưởng mới được đeo những chiếc đồng hồ chiến lợi phẩm này khi nhận máy; mình như trẻ thơ được manh áo mới ngày tết thủa đó, hồi hộp, chăm chú nhìn đồng hồ để đến giờ lên máy, cứ tung tăng tung tẩy dịch thuật, lên máy, báo cáo và tối lại xuống các tiểu đội lính chiến đàn đúm cà phê, chè mạn làm kẹo kéo và đánh tú lơ khơ ăn kẹo...sao lúc đó thèm ngọt đến thế, mình chuyên tìm cách đi hết tiểu đội này, sang tiểu đội khác rủ đánh bài ăn kẹo...chơi cũng chẳng khá gì đâu, nhưng toàn dùng thủ đoạn chùi bài đen nên hay thắng và được ăn kẹo của anh em bộ binh...giờ chúng mà biết chắc bị trùm chăn đánh hội đồng quá...hì hì chuyện xưa rồi này mới kể mà...tha thứ đi, đồng đội.

Nhớ lại những trận đánh mùa khô 1971 của Nguyễn Chí Mão

trong Nam Lào một thời để nhớ

Nếu cao nguyên Bô lô ven là địa bàn chiến lược của Nam Lào thì Paksong, đông bắc của tỉnh Chămpasac là địa bàn cực kỳ quan trọng của cao nguyên Bôlôven.

Từ paksong theo đường 23 về là pakse, thành phố thứ hai của Lào khoảng 50 Km; cũng từ paksong theo đường 23 đi Tha teng 38 Km; đi Lào Ngam, xalavan cũng mấy chục Km thôi.

Cũng từ Paksong đi hướng đông độ 30 Km là đến Phù Langkeo; từ đây, nhìn đường quốc lộ 16 từ Tha Teng qua tỉnh Tavenooc (nay là tỉnh Seekoong) đến thị xã mường mày, tỉnh Attoopo rồi về biên giới tỉnh Công Tum của Việt Nam.

Từ đỉnh phù Lăng Kẹo ra phía đông không xa là tới đường chiến lược Hồ Chí Minh nhánh phía tây.

Xung quanh Paksong có 7 điểm cao địch đóng quân , đó là Phù nọng kin đông, Phù Nọng kin Tây, Phù Thêvađa Nam và Phù Thêvađa bắc, Phù Chăm Pi, Phù Nọnglé, Phù Nọngpa.

Có cả nhà máy thủy điện ở Bắc thị trấn trên con đường đi bản Kapo.

Với địa bàn chiến lược quan trọng như vậy nên ta và địch giành nhau quyết liệt.

Từ mùa khô ta tấn công giải phóng thì đến mùa mưa, ta gặp khó khăn về tiếp tế thì địch lại hành quân tái chiếm.

Tháng 12 năm 1971, để phối hợp nhịp nhàng với E9 đánh ở hướng Keng Nhao, Tha Teng, Lào Ngam.

Mặt trận Y giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 3 tình nguyện đánh vây ép Phù Nọng kin đông và Bản Sết (bản này địch đuổi hết dân từ mùa mưa để xây đồn), nhằm chia lửa và giam chân địch không cho chúng đi ứng cứu nhau.

Phù Nọng Kin đông cách paksong 6Km về hướng đông, là núi yên ngựa mỏn cao A cao 1.326m so với mực nước biển.

Địch đóngchốt hai mỏn và bản sết dưới chân phù, sát đường 23, có một tiểu đoàn lính đánh thuê Thái Lan.

Mặt trận Y tăng cương cho tiểu đoàn 3, một khẩu cối 120mm, 1 khẩu ĐKZ 75 ly và 2 khẩu súng phòng khoong12,7 ly, một tổ trinh sát gồm các đồng chí Thế, Phẩm, Minh, Đạt, Hộ, Dân.

Đến ngày 6 -12- 1971 Hậu cứ của tiểu đoàn 3 ở khu vực Km 12 đã chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, những thứ cần thiết cho trận đánh.

Bộ phận gánh lót đạn cối cũng đã hoàn thành nhiệm vụ vào nơi quy định.

5h chiều, toàn tiểu đoàn đến nới tập kết.

Tổ trinh sát của đồng chí Thế dẫn bộ phận cối 120 ly, tổ đồng chí Đạt dẫn đơn vị 12,7 ly, tổ đồng chí Mão (đen) dẫn đại đội 4 cối 82ly do đồng chí Lê Duy Thăng là đại đội trưởng vào các vị trí đào hầm hào trận địa.

8h tối, tổ đồng chí Phong, Hạnh, Soát dẫn đại đội 3 do đại trưởng Đỗ Trọng Hoàn chỉ huy vào vị trí vây ép ở bản Sết.

Tổ đồng chí Hải Chính, Mão dẫn đại đội 1 do đại đội trưởng Bùi Minh Lũy chỉ huy mỏn A phù Nongkin là nơi đặt bộc phá mở cửa vây ép.Đồng chí Sử, Hòa dẫn đại đội 2 do đại đội trưởng Trần Sĩ Lừa chỉ huy và vị trí dự bị đánh cơ động.

Tiểu đoàn bộ đứng chân cách đại đội 2 chừng 400m anh em bộ đội mang vác rất nặng, ngoài súng đạn, cuốc xẻng, tăng võng, hai ngày cơm vắt, mỗi người còn phải vác 1 bó gỗ từ cứ lên để làm hầm.

Bộ phận thông tin hữu tuyến dải dây điện từ chỉ huy tiểu đoàn theo bộ binh về các đại đội.

Ngoài máy hữu tuyến, mỗi đại đội còn được tăng cường 1 máy 2W. thời gian cứ lặng lẽ trôi nhưng cực kỳ căng thẳng, cứ hơn chục phút trong đồn lại bắn ra vài quả cối sáng.

Gần 12h đêm các mũi đều tiếp cận vào vị trí an toàn và khẩn trương đào hầm.

Rất may, đất bazan mềm nên không phát ra tiếng động.

Từ chỗ dự kiến mở cửa đến chỗ địch ở khoảng hơn 40 m.

2h kém 15' sáng các mũi báo cáo về chỉ huy sở đã chuẩn bị xong xuôi mọi việc.

2h rạng sáng 7 – 12 – 1971 tiểu đoàn trưởng Lê Tất Miến hạ lệnh điểm hỏa.

Gần như một lúc những tiếng nổ vang trời, các khói lửa nhóa mắt cao đến gần chục mét, quét sạch 4 hàng rào bùng nhùng, chông, mìn.

Một cửa mở rông chừng chục mét kéo dài vào tận giao thông hào của địch.

Sau khi mở cửa, hỏa lực của ta bắn dữ dội vào hướng quân địch.

Đạn bắn thẳng gồm DDKZ57, B40, B41, xa hơn thì cối 60, 82, 120 ly cũng đồng loạt gầm rít.

Đạn cối 120 ly khoan sâu nổ ùng ục, tiếng đề ba cối 82 cứ bạch, bạch đều đều.

Hơn 30 phút sau vẫn không thấy địch trong đồn bắn trả.

Có lẽ bị hỏa lực của ta đề bẹp không ngóc đầu được; khoảng 3h sáng pháo 105 ly từ Pakcut dồn dập bắn trả.

Chúng bắn lung tung không nhằm vào đâu cả.

Mờ sáng ngày 7 – 12, khi pháo địch vừa ngớt thì từ trong đồn địch tới tấp tung lựu đạn ra khu vực cửa mở.

Không may một quả lọt vào vào hầm đồng chí H.

B trưởng và 2 đồng chí nữa hy sinh.

Như vậy 3 đồng chí của đại đội là những người đầu tiên hy sinh của tiểu đoàn 3 tình nguyện trong đợt vây ép này.

Sương vừa tan, hai chiếc máy bay trinh sát L19 đã chao đảo dòm ngó khu vực, chúng lượn xoáy quanh phù và bản sết.

Từ trong đồn địch, ném ra một quả pháo hiệu khói mầu đỏ ngay sát hàng rào ngoài cùng.L19 phóng tiếp một quả pháo hiệu khói màu trắng gần nơi quả pháo hiệu mầu đỏ.

Ngay lúc đó 3 chiếc T28 xuất hiện lượn một vòng rồi bổ nhào trút bom.

Hai khẩu 12,7 ly cùng đồng loạt nhả đạn.

Bom nổ chát chúa, những căn hầm nhỏ cứ lắc lư chao đảo như đưa võng.

Khói bom bụi đất mù xộ vào hầm, đắng sạn đến ngẹt thở.

T28 hết bom bay đi thì F4 lại đến ném bom, phóng rốc két.

Cứ nghe thấy tiếng bom nổ là biết mình còn sống.

Anh em làm nhiệm vụ vây ép ở trên phù có sáng kiến căng dây dù từ hầm nọ đến hầm kia, buộc ống bơ thông báo cho nhau biết khi địch xông ra phản kích, bịt cửa mở.

Giai đoạn này ban ngày trời nắng như thiêu, như đốt.

Bi đông nước uống phải hết sức tiếp kiệm.

Đêm về thời tiết lại trở lên rét buốt như cắt da thịt, máy bay C130 lại tới, chúng lượn vòng vài lượt rồi thả pháo sáng bắn đại liên và pháo 20 ly.

Bon này dai lắm, có thể thay nhau hoạt động cả đêm.

Sáng ngày 8 – 12 pháo địch từ Paksong, Pakcut bắn ra dữ dội vào mọi nơi chúng nghi, ngồi dưới hầm nghe tiếng rú ù ù thì có nghĩa là đạn vượt tầm xa, khi nghe tiếng loẹt xoẹt thì là rất gần, im lặng tiếng pháo thì máy bay lại xuất hiện, chúng xăm xoi cố tìm trận địa súng cối, súng 12,7 ly của ta.

Nhưng do anh em ngụy trang tốt và có cả những trận địa giả nghi binh của ta nên địch không phát hiện được.

Chiều 8 – 12 địch ở Bản Sết nống ra phản kích hòng khai thông đường 23 và bịt cửa mở, bị đại đội 3 của đại trưởng Đỗ Trọng Hoàng đánh cho tan tác, phải rút vào đồn.

Đại đội 3 bắt sống được 17 tên địch, anh em dùng dây dù trói chúng vứt xuống 3 chiếc hầm cũ của dân.

Đến 8h tối, tổ trinh sát của anh Hòa, Thế, Mão và anh Quá trợ lý tác chiến vào đại đội 3 hỏi cung tù binh.

Trận bom khi chiều ném trúng hầm đã giết 7 tên nưa, đồng chí Hưng cũng bị thương nhẹ, đồng chí Hòa, Quá, Thế trực tiếp hỏi cung khai thác ( đồng chí Thế Việt kiều Thái về nước nên rất giỏi tiếng).

Sau 2 ngày bị vây lấn, ép bọn địch thiệt hại nặng, tinh thần rất hoang mang xin chỉ huy cho rút nhưng không được đồng ý.

Lời khai của tù binh trùng khớp với nội dung đài kỹ thuật của ta dịch được từ điện đài của địch.

Sáng sớm ngày 9 – 12, khi pháo địch vừa ngừng bắn thì chiếc máy bay vận tải C47 ì ạch bay tới, nó vừa lượn nữa vòng thì 12,7 ly của ta đồng loạt nhả đạn, hoảng hốt nó vọt lên cao và đùn ra 16 cái dù, phần lớn số dù đó cơ man nào là đạn cối, đạn ĐKZ, nước uống, hoa quả thực phẩm đông lạnh, lương khô...Trong hầm, anh em dùng mìn clay mo đun nước luộc thít, luộc gà, pha café .

Như vậy 3 ngày cực kỳ ác liệt, căng thẳng trôi qua, 2h chiều ngày 10 -12 địch từ Thêvađa Nam đi ứng cứu giải tỏa.

Chúng bí mật luồn qua vạt rừng khộp thưa, đến bãi tráng hôm trước chúng đã ném bom cháy thì ta phát hiện được.

Tiểu đoàn trưởng Lê Tất Miến điều đại đội 2 do đại trưởng Trần Sĩ lừa trực tiếp đánh viện cùng đi có 2 khẩu cối 82 ly của đại đội 4 do đại đội trưởng Lê Duy Thăng chỉ huy.

Ta tiếp cận gần địch đến nỗi cối 82 phải bắn ứng dụng.

Trên trời máy bay địch quần thảo, gầm rít nhưng không dám ném bom.

Hơn 20 phút đánh nhau dữ dội, địch thiết hại nặng phải tháo chạy, ta cũng khẩn trương dời khỏi nơi chiến sự.

Khi máy bay địch đến ném bom thì quân ta đã về nới tập kết an toàn.

Cùng lúc này trên Phù Noong Kin lính địch cũng xông ra hòng đánh bật lực lượng vây ép của ta và bịt cửa mở.

Súng của ta, súng của địch nổ đinh tai nhức óc.

Bụi đất, khói thuốc súng mù mịt, gần nửa tiếng địch không thực hiện được ý đồ phải rút vào đồn, bỏ lại hơn 10 xác chết và một số súng đạn.

Phía ta, đồng chí H. chính trị viên đại đội 1 và một đồng chí nữa hy sinh, hai đồng chí bị thương.

Sơ phẩu của tiểu đoàn 3 tình nguyện đặt ở rìa suối Mặc chăn gần bản Xê piên.

Mấy ngày chiến sự xẩy ra, Y sĩ Thiêm, y tá Đồng và các y tá khác làm việc cật lực suốt ngày đêm, không mấy khi được nghỉ.

Những thương binh ở phía trước chuyển về được kiểm tra, xử lý băng bó những ca nặng phải chuyển ra Phu lang Kẹo, dưới chân dốc là Mường Mày tỉnh Attopo.

Tối 10 – 12, Tiểu đoàn trưởng Lê Tất Miến giao nhiệm vụ cho đại đội 1 mở tiếp một cửa mở ở mỏn B.

Tổ 5 người này được tăng cường 1 khẩu B40, 1 khẩu M79 gọi là tổ giương công để chia lửa với mỏn A.

3 (ba) giàn bộc phá 54 kg thuốc, khi điểm hỏa một đụm lửa như hai gian nhà chói lòa.

Trên phù Noong Kin địch hết sức hoang mang, quân đi cứu viện không tới được, đường bộ bị cắt, không tiếp tế được.

Tiếp tế đường không bị súng 12.7 ly bắn rát phải vọt lên cao thả dù hầu hết chệt ra ngoài.

Vì vậy súng trong đồn bắn ra rất ít.

Sáng 12 – 12, súng cối của ta lại dồn dập bắn cấp tập vào quân địch ở 3 điểm, tuyệt đối không không có quả đạn nào của địch trong đồn bắn trả.

Lát sau máy bay địch bu đến ném bom vào trận địa cối của ta, không may một quả bom nổ ngay cạnh khẩu cối 82 ly, cả khẩu đội bị thương và hy sinh, cối bị hỏng nặng. cuổi chiều cùng ngày, đồng chí Long chính trị viên tiểu đoàn thông báo bằng điện thoại cho các đại đội biết E9 đã giải phóng Keng nhao, Tha Teng.

4h30' sáng 13 -12 – 1972 sau 7 ngày 7 đêm liên tục vây, lấn, ép, tấn toàn bộ quân địch đóng ở Phù Noong kin và Bản Sết đã tháo chạy.

Tiểu đoàn trưởng Lê tất Miến điện gấp cho đại đội 2 và trung đội 2 và 2 trung đội của đại đội 1 truy kích địch.

Tổ trinh sát Phong, hải, Mão "đen" kiểm tra tảo trừ bản Sết.Tổ Sửu, Thính, Mão, Soát, kiểm tra tảo trừ Phù Noong Kin, toàn tổ đi theo cửa mở mỏn A vào đồn.

Trước khi vào kiểm tra thường phải ném một quả lựu đạn hoặc bắn găm một loạt đạn ngắn.

Chúng tôi thấy hầm địch nào cũng lập một bàn thờ ở góc.

Trên cổ những xác địch tên nào cũng đeo bùa hộ mệnh.

Đạn cối 82, 120 ly của ta bắn trúng hầm và giao thông hào nhiều lắm.

Có hầm xếp bao cát dày đến hơn 1m mà cối 120 vẫn bắn khoan đổ sập.

Các hầm dọc giao thông hào hàng ngoài bị ĐKZ và B40, B41 phá hủy tan hoang.

Ở trận địa cối 60 ly, 81 ly, ĐKZ 57 dịch bỏ lại nằm trơ, không còn lấy một viên đạn.

Có 2 hầm chưa đầy xác giặc, chúng lấp vội đang bốc mùi hôi thối.

Địch bỏ lại rất nhiều sùng ống và quân tư trang.

Chúng tôi vào một hầm bỗng giật mình nhìn thấy 2 giây lưng đeo bi đông, băng đạn ASK và một khẩu AK gãy bán của đồng chí H.B trưởng, thì ra lúc xông ra bịt cửa mở, địch chui xuống hầm các đồng chí bị lựu đạn hy sinh nhặt mang về đồn.

Lúc này trời sáng rõ, pháo từ Paksong, Pakcut lại bắn ra dữ dội vào nơi đồng bọn vừa rút.

Hơn nữa tiếng sau im tiếng pháo thì máy bay T28 lại đến trút bom.

Lúc này quân ta đã giãn ra ngoài, họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho trận đánh mới.

Máy thông tin 15W quay rè rè chuyển báo cáo của tiểu đoàn 3 tình nguyện về mặt trận Y Bộ tư lện mặt trận biểu dương tinh thần chiến đấu anh dũng giam chân địch một thời gian, không cho chúng đi ứng cứu nơi khác, tạo điều kiện cho đơn vị bạn hoàn thành nhiệm vụ và sau đó buộc chúng phải tháo chạy khỏi Phù Noong kin và Bản Sết.

Sườn phía dông thị trấn Paksong đã hở mở ra một khoảng trống.

Tiếp đó Bộ tư lệnh mặt trận Y giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 3 tình nguyện tiếp tục tấn công phù Thêvađa Nam và Thêvađa Bắc ngay những ngày cuối tháng 12 năm 1971.

Đi ngược về lối xưa

Sau hai ngày ở Chăm Phăc săc, sáng chúng tôi tiếp hành quân về Xalavan; đường đi dốc thoai thoải xuống dần, dọc đường nhiều cây dã quỳ nhưng không có hoa (hình như hoa đã nở trước đó), tự nhiên thấy buồn buồn ...phong cảnh vẫn như xưa, dù đã 40 mươi năm, cũng cách canh tác ấy, mùa này lúa đã chuyển mầu, dân bản tập trung ra đồng gặt đổi công (mình nghĩ vậy, vì có mảnh ruộng rất nhiều người tham gia gặt như kiểu đổi công ở Việt Nam) cũng vườn ruộng xen lẫn rừng thưa nhìn mát mắt, với tôi hình ảnh này đã ăn vào tâm trí tôi, giống như tôi đã từng sinh ra và lớn lên ở đây vậy, đây vùng đất quê nhà, thật gần gũi, thân quen.

Hồi mới giải phóng nếu mình ở đây có lẽ phù hợp với tính cách mình hơn là về sống giữa đô thành xa hoa, lộng nẫy – ý nghĩ hoang tưởng, điên rồ quá phải không đồng đội.

Dọc đường đi theo đường 23 rẽ sang đường nhựa có tên rất mới, mình nhìn thấy hình như đường 1H nhưng các địa danh bọn mình đi qua lại rất quen như huội chămpi, bản 42; bản 48...lần lượt lướt qua.

Đây rồi, Bản Nacasao với nhiều kỷ niệm bi hùng của quân tình nguyện 968; nơi đây, gần như rất nhiều đơn vị tham chiến và hy sinh rất nhiều; tại đây anh em các đơn vị tranh cãi nhau rất nhiều về trận đánh ở bản.

Miệng to nhất là hai anh chàng lính cùng nhập ngũ ở tiểu đoàn 6 trung đoàn 19 cho rằng chỉ có đơn vị hắn đánh ở đây, bọn hắn có đào giao thông hào để đánh chiếm...và là nơi bị bom Napan...nhưng lính tiểu đoàn 3 tình nguyện bọn tôi lại khẳng định, nơi này lính trung đoàn 9 và 19 đánh quần nhau với địch ở đây rất nhiều lần và không có chuyện đào giao thông hào tác chiến, bản không bị bom napan đốt cháy; lính tiểu đoàn 6 cho rằng đây là khu kho của địch, bọn nó đánh vào còn lấy màn của địch phát cho dân...ôi mới đấy mà lịch sử đã nhiễu loạn ngay từ miệng lính từng tham chiến vì anh nào cũng cho mình là người đánh chứ đâu biết địch – ta giành giật càn qua quét lại, một điểm nên mới có chuyện mìn đợt sau chôn đè lên mìn đợt trước, mìn ta chôn lẫn cạnh mìn của địch.

Thôi đấy là chuyện hồi ức có khi thực và thực lại không thực đều do con người tưởng tượng quá khứ, lấy râu này cắm cằm bà kia...

Tham gia đánh Xalavan chiến dịch này có Trung đoàn 9 và Trung đoàn 19 thiếu ( một só đơn vị E 19 ở lại giữ KhongSêĐôn và Paksong cùng Trung đoàn 39), Tiểu đoàn 3 Tình nguyện bọn tôi lúc này được đổi tên thành Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 19, được điều từ Không Sê Đôn ra đánh chặn địch ở Xalavan.

Chúng tôi cùng Trung đoàn 9 bao vây đánh địch ở Thị xã Xalavan.

Địch bố trí GM41 và GM42 cùng một số đơn vị hỏa lực tại chỗ của quân đội Hoàng gia và hỏa lực của không quân, pháo binh được tăng cường trải dài từ đoạn từ Thateng đi Hin Sìu.

Theo chỉ đạo của Sư đoàn 968 giao Trung đoàn 9 được tăng cường thêm 1 tiểu đoàn đặc công thiếu của tỉnh Tavenooc (bộ đội Phathet Lào) đánh từ phía Bắc và Đông Bắc vào thị xã, Trung đoàn 19 (thiếu) đánh từ Nam và Tây Nam vào thị xã Xalavan; bộ đội Phathet Lào đánh địch ở Nakhonphen.

Trong trận chiến này, Bộ chỉ huy sư đoàn 968 và Bộ chỉ huy tỉnh đội Xalavan kết hợp chặt chẽ, cùng ngồi với nhau, cùng trực tiếp chỉ huy chung đánh trận...

Tháng 10, bắt đầu mùa khô, mùa của chiến dịch của lính chiến (riêng Tiểu đoàn 3 tình nguyện bọn tôi đã đánh địch từ mùa mưa ở KhôngSêĐôn, nay sang mùa khô lại đánh tiếp Xalavan); chiến dịch này cả Trung đoàn 9 và 19 đều được tăng cường hỏa lực và xe tăng tham chiến...Trung đoàn 9 có pháo binh và tăng hỗ trợ đã đánh dứt điểm Tiểu đoàn 621 Thái Lan ở ngã 3 Lào Ngam nằm trên trục đường 23; Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 19 có 5 xe tăng phối thuộc trên đường hành quân bị mìn tăng, một xe tăng bị hỏng phải bỏ dở việc dùng tăng đánh chiếm Xalavan...chúng tôi lại tiếp tục dùng súng bộ binh và lòng quả cảm của người lính bộ binh đánh chiếm sân bay Xavavan.

Cuộc chiến kéo dài, gay go, quyết liệt cho đến tháng 1 năm 1973 chúng tôi mới giải phóng được thị xã Xalavan.

Sự tổn thất quân trong chiến dịch giải phóng Xalavan này, Lính trung đoàn 9 và tiểu đoàn 3 tình nguyện bọn tôi có thể là tương đồng, vừa gặp đấy, chào nhau – mày khỏe không, mai không thấy, hỏi đồng đội khác – nó mất rồi...cứ thế câu hỏi này, câu trả lời này lặp đi lặp lại như một điệp khúc bi ai triền miên trong 128 ngày đêm...

Nhật ký của đồng đội Nguyễn Doãn Thiết lính đại đội 6 tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 9 Sư 968 viết về đồng đội hy sinh trận đánh Lào Ngam với lính Thái đầu năm 1973.

Anh Thiết là người cùng đại đội với Trọng C6 đã viết trên diễn đàn này: 34 năm về trước...cuốn nhật ký bằng thơ của anh Thiết đã bổ sung và minh chứng thêm những trận đánh ác liệt của Trọng C6 E9 đã tham gia.

-----------

C5 có ở đâu xa

Mỗi năm hai đứa gặp nhau vài lần

Nhớ nhau, nhớ quá người thân

Có được điếu thuốc cũng phần cho nhau

Cái hôm đi đánh cuốn sâu

Bước anh vội vã bên cầu qua khe

Nhường nhau qua chiếc cầu tre

Trao nhau bao nỗi bộ bề nhớ thương

Vội vàng câu được câu không

Kể từ cái buổi chia tay

Chúng tôi 2 đứa mấy ngày vắng nhau

Sáng nay

Trời sập trên đầu

Đồn thù tan nát

Chín đâu?

Mất rồi

Nghe tin chết nửa con người

Anh thành Liệt sĩ...còn tôi không hồn.

Không sê đôn - 3 tháng đánh liên tục...

Lính 4971 Hà Nội tiểu đoàn 3 bọn tôi, những thằng còn sống đã trở thành cựu binh rồi, trong khi đó anh em ở các đơn vị khác cùng nhập ngũ cùng vào chiến trường vẫn là tân binh, chưa biết được đau khổ khi ôm xác đồng đội, nghe tiếng thở nấc cuối cùng...số phận là sự may rủi thôi mà.

Đánh nhiều, có nhiều kinh nghiệm nhưng chắc gì trận sau còn sống – cũng may rủi thôi mà, mới đánh, ngơ ngơ như bò đi cợp đã chắc gì chết, cũng may rủi thôi mà...đời lính chiến chỉ toàn chuyện may rủi, chứ chẳng ai khôn mà sống và cũng chẳng ai dại mà chết cả đâu - cũng may rủi thôi mà, trời cho sống thì cố gắng sống vui với nhau, trong tình yêu thương đồng đội; trời bắt chết thì chết thôi, chỉ mong chết thật nhanh để khỏi làm chạnh lòng đồng đội; ra đi thật thanh thản, như cày xong thửa ruộng thôi mà.

Hai tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 cũng là các đơn vị quân tình nguyện độc lập, sau hợp nhất vào Trung đoàn 19 như tiểu đoàn 3 bọn tôi, nhưng sau hợp nhất, các đơn vị này không chuyển hướng đánh; vẫn chốt chặn, tác chiến ở địa bàn đóng quân cũ, nên khi vào trận mùa khô 1972 anh em cựu chiến binh tiểu đoàn 5 và 6 trung đoàn 19 trên xe nói - Đơn vị được giao nhiệm vụ đánh Xalavan, chúng tôi ra quân khí thế hừng hực, phấn khởi lắm...

Nhưng trái ngược với tinh thần hồ hởi của lính 2 tiểu đoàn bạn, Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện của bọn tôi lại âm thầm lội ngược ra Xalavan với số quân ít ỏi; với những khuôn mặt hốc hác, đói ăn, thiếu ngủ, kiệt quệ về thể xác và tinh thần...khác hẳn 3 tháng trước đây, khi được mặt trận 968 điều xuống đồng bằng Không sê đôn đánh từ đầu mùa mưa dù không có pháo binh hỗ trợ - tôi chưa bao giờ thấy pháo chi viện nên nghĩ là vậy, không biết có đúng không; lính K3 tình nguyện chúng tôi vẫn kiên cường đánh địch chủ yếu bằng cây súng AK, hỏa lực của tiểu đoàn và lòng quả cảm của người lính bộ binh thôi ( có hỗ trợ pháo 12ly7 phòng không mặt trận 968), việc đánh giải phóng đối với chúng tôi có thể nhanh, nhưng khi chốt giữ sức người làm sao trụ được với bom, pháo của địch; đánh giải phóng tổn thất của chúng tôi ít nhưng sau chốt giữ, chống càn chúng tôi hao hụt quân số tăng lên hàng ngày; chuyện cử lính đi khiêng xác tử sĩ và thương binh nặng về tuyến sau cứ đều đều ...hàng đêm chúng tôi liên tục thay phiên nhau.

Quân số Tiểu đoàn khi đi đánh Khôngsêđôn là tiểu đoàn đủ, khoảng hơn 500 quân, nhưng khi bàn giao khôngsêđôn cho đơn vị bạn, ra đánh Xalavan, đơn vị chỉ còn gần 200 lính - lính tiểu đoàn bộ và đại đội 4 chết ít, quân số còn nhiều; 3 đại đội bộ binh của Tiểu đoàn, nếu đại đội nào trên 20 lính chiến là tương đối nhiều rồi.

...Riêng Ngọc "thiu thiu" Đại đội 2 tiểu đoàn 3 tình nguyện thì chỉ ngồi thủng thẳng kể lại chuyện khi ở Không sê đôn về đây...Bản Nacasao này đây là một trong những trận đánh của chiến dịch 128 ngày đêm giải phóng Xalavan này, ...đại đội chúng tôi đã đánh liên tục 3 tháng mùa mưa trước đó, đã hy sinh nhiều lắm rồi; đại đội 2 chỉ còn 20 lính kể cả quản lý và nuôi quân.

Mỗi lúc hành quân, ngồi nghỉ nhìn nhau mà buồn rười rượi, chắc trong đầu anh em ai cũng có suy nghĩ - mai, ngày mai, đến phiên thằng nào đi đây, mình hay đồng đội nào không biết nữa...ngày mai, người ta sau này chỉ nghĩ tới công danh lợi lộc có được bao nhiêu; còn hôm nay, chúng tôi, những người lính chiến chỉ có một suy nghĩ ngày mai tới phiên mình hay đồng đội nào hy sinh đây.?.Chỉ đơn giảm vậy thôi, ngày mai - đồng đội nào ke cáng mình đây?.Ngày mai - chỉ sau giây phút suy nghĩ này thôi...

Khi lực lượng đặc nhiệm Thái và lính Hoàng gia Lào nống ra chiến Xalavan nói chung và Bản Nacasao nói riêng, nhân dân các bản Lào đã bỏ đi hết - bản trống; Lệnh tiểu đoàn chỉ thị đại đội 2 đánh ngay trong đêm địch ở Bản Nacasao, không cho chúng có thời gian củng cố công sự; Đại trưởng tập hợp đơn vị phổ biến tình hình và phân mũi tiến công - điểm danh từng người, chỉ còn 17 tay súng, chia làm 2 mũi để đánh Bản nọi và Bản nhầy - thường bên Lào khi Bản đông quá thì bản tách ra thành Bản nhầy (bản lớn) và bản nọi, (bản nhỏ) nhưng vẫn mang tên bản chính; đại trưởng quy ước mật khẩu: lệnh rút lui khi hô "12".

Mũi 1 đo đại đội trưởng Đinh Nam Sến người Thanh Hóa làm mũi trưởng – Ngọc đi mũi này; mũi 2 do chính trị viên Tuynh người Hà Nam mũi chính, Sơn "nhuần" Sơn Tây đi mũi này.

Các đồng chí còn lại là Biên "mường" người dân tộc mường ở Thạch thành Thanh Hóa; Dự lính Nam Hà, Chiêm, Du lính Hà Tĩnh, Nạy lính Hà Nội 4971, Ca lính Hà Tay, Vũ đức Quất người Hà Tây, Phường người Ninh Bình, Lạc y tá người Hà Tĩnh, Đinh khắc Cường người Nam Hà; Nguyên Doanh Lưu, người Vân Đình là lính đường dây mới bổ sung vào và đánh trận đầu tiên (3 lính nuôi quân ở cứ) đánh theo hai hướng Bản nhầy và Bản nọi - mũi của đại đội trưởng có Ngọc đi giữa 2 bản đánh vô trung tâm bản nhầy...

Trên đường đi C130 xăm dọc đường, đạn đỏ đổ xuống đội hình tấn công của đại đội hai ...tới vị trí chiến đấu khoảng 2 giờ sáng, đại đội trưởng ra lệnh nổ súng tấn công...cứ tưởng ta giành thế chủ động, không ngờ địch đã giăng sẵn lưới ở các điểm chốt chống chặn ta - địch bắn ra cản đường tiến của ta...anh em lợi dụng đêm tối, địa hình bố trí nhà của bản Lào quá quen thuộc như khi đánh bản ở KhongSêĐôn - anh em vẫn tiến đánh chiến được đầu bản.

Khi đánh vào sâu bên trong bản, địch phản công dữ dội, không lùi...các mũi tấn công của các tiểu đội khựng lại...nằm gần giữa bản, mũi Phường "sún" lính mới vừa bổ sung vào đơn vị đánh trận đầu tiên của đời lính nên không biết đâu là địch, không biết chỗ nào cần bắn bèn hỏi Lựu - lính cũ binh trạm, nhưng cũng lần đầu đánh trận:

- anh Lựu ơi,em không thấy địch, bắn vào đâu?.

- Lựu trả lời: bắn vào chỗ có ánh lửa,

Phường bấm cò làm một loạt điểm xạ dài ...ngay lập tức một quả M79 của địch bắn trả tức thì...

- Phường kêu ối giời ơi, em bị thương rồi;

- Lựu bảo: tao cũng thế,

Lựu ôm mặt đầy máu, Phường "sún" ôm vai bịt vết thương, 2 anh em chạy ngược ra, khi chạy được 2 ,3 căn nhà sàn, thấy có người bị thương; Lựu dừng lại vác lên vai chạy về tuyến sau...chạy được mươi bước sờ thắt lưng thấy lưu đạn mỏ vịt của Mỹ và tiếng người bị thương nói tiếng là lạ...

Lựu sợ quá biết vác nhần lính địch, cuống cuồng vứt bỏ...ù té ngay.

Đại đội 2 không ngờ trận đánh này, địch lại chủ động đánh trả quyết liệt ta, toàn bộ đội hình giống như bị bao vây; không thể tiến, đánh chiếm được Bản; đại trưởng Đinh Nam Sến quyết định cho đơn vị rút để bảo toàn lực lượng - anh hô "12", Ngọc được lệnh của đại trưởng chạy sang hướng của đồng chí Tuynh hô "12" và gặp được mấy đồng chí đưa về hướng xuất kích.

Truyền đạt xong nhiệm vụ, Ngọc quay về báo cáo đại trưởng; lúc lày đại trưởng đang dẫn đội hình rút ra...khi rút về điểm tập kết khoảng 5 giờ sáng thấy thiếu 8 đồng chí...chờ đến chiều có 3 đồng chí về là Cường, Quất và Lạc.

Còn 5 đồng chí mất tích là Dự, Chiêm, Du, Nạy, Ca và vĩnh viễn số anh em này đã không trở về -.

Dọc đường từ bản rút về cứ, đơn vị luôn bị C130 xăm bằng ĐK và 40 ly (anh em chiến trường gọi là xin thùng) có lẽ số anh em này bị trúng đạn của C130, hy sinh trên đường rút quân; đến nay, đơn vị cũng không tìm được xác của anh em.

Sau này về được đài kỹ thuật cho biết trong trận này đơn vị diệt được 15 tên, nhưng phía ta tổn thất quá lớn, cả đơn vị ai cũng dính mảnh đạn, tự băng bó cho nhau để tiếp tục chiến đấu, cả đại đội lúc này chỉ còn hơn nười tay súng.

Chuyện cực ngắn

2 tháng sau, được sự tăng cường 2 trung đoàn (thuộc Sư đoàn 308 và Sư đoàn 338 Huh) - Trung đoàn 102 vào chốt giữ vùng đã giải phóng; trung đoàn 52 đánh vào trung tâm Xalavan thay Trung đoàn 9; Trung đoàn 9 sư 968 chuyển hướng quay về đánh Lào Ngam, Paksong; đại đội 2 của Ngọc "thiu thiu" được lệnh quay về đánh chiếm lại Nakasao lần 2; hiệp 2 này. do anh Thính Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy.

Trận đánh này ta tấn công giữa ban ngày - đường vận động ven rìa rừng khộp dọc theo "na" áp sát bản mới nổ súng, theo hướng nhà sư để phát triển...nhưng ngay từ đầu xuất kích, địch trong bản phát hiện, gọi máy bay ném bom chi viện; đơn vị bị T28 quần thảo rượt đuổi ném bom sát phạt rừng khộp theo chỉ điểm của L19 liên tục, không thể tấn công vào bản được; đại đội đành tản rộng để tránh thương vong, phân tán đội hình thành từng tốp nhỏ ẩn nấp ngoài rừng khộp chờ lệnh tấn công – nhưng càng trưa, T28 càng quần thảo, xà xuống ném bom riết, rồi bom thả cũng trúng đội hình... anh Thính bị thương cùng một số đồng đội...

Lạc y tá đại đội chạy đến băng bó vết thương cho tiểu đoàn phó Thính, rồi lần lượt băng bó cho các đồng đội khác, khi T28 quay lại ném bom tiếp tục, anh Thính hô rút...

......Lính đã rút chạy, quay lại nhìn vẫn thấy anh Thính cứ vùng vằng, lẩn quẩn không chạy ra, cũng chẳng chạy xuống suối cạn được; liên lạc tiểu đoàn cùng lính đại đội quay lại... hóa ra anh chàng Lạc, y tá khi băng bó vết thương đã mất bình tĩnh, luống cuống băng luôn đầu anh Thính vào cành cây cụt; bom thả - muốn đứng cũng không được, chạy cũng không xong, anh em phải chạy lại chặt cành cây để anh mang theo trên đầu mà chạy; có thể do đầu anh Thính băng trắng toát nổi bật ở rừng khộp lên L19 phát hiện được cứ anh đi đâu là pháo khói chỉ điểm theo đến đó; anh em phải kiếm cho anh chiếc mũ tai bèo của lính che lại cho L19 không nhìn thấy.

Khi rút ra an toàn, không thấy Hậu "bạc"lính 4971 đâu, đơn vị cử ba đồng chi quay lại tìm cũng không thấy.

Sau này qua thông tin biết Hậu "bạc" cối đại đội, lính Hà Nội bị thương nặng và bị địch bắt làm tù binh.

Đánh đợt 2 này cũng không thành, lại ke cáng nhau đi nằm viện.

Ở phẫu lúc này thương binh tử sĩ nhiều, thuốc men hạn chế, bông băng cũng phải tiết kiệm... anh em đơn vị bị thương nhẹ nằm cùng anh Thính ở viện phẩu tiền phương ở bản Kabun khi ra viện về trước, bọn chúng kể chuyện mà cười ra nước mắt chuyện của tiểu đoàn phó Thính ở bẩn... do thiếu băng, vết thương trên đầu anh Thính ít được thay; khi được thay băng, trên đầu anh Thính toàn chấy, bò lổm ngổm đông đặc, mốc đen cả đầu... khi y tá bôi cồn rớt ra từng mảnh chấy làm y tá và mọi người chung quanh rợn da gà.

Đấy là cảnh bị thương, nằm viện của tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Thính bọn tôi đấy, anh là người Ninh Bình, sau là giáo viên khoa chiến trường học viện quân sự Hà Nội.

Chiều đoàn cựu chiến binh 968 đến tỉnh lỵ Xalavan, đây Nam sân bay người dân đang treo bảng bán đất...khu vực này hiện nay chỉ có ít nhà sàn nhỏ ở rải rác; cảnh vật thay đổi nhiều, địa điểm có con suối cạn ở đâu đó...

Nhìn cánh rừng thưa giống như thời đó, khoảng tháng 11 hay 12/1972, khi đi phối thuộc cùng đại đội 3, đang lên máy liên lạc với tiểu đoàn thì dây trời máy 2w của tôi bị một loạt pháo bắn phăng đứt...nhiễu loạn, không liên lạc được; pháo địch dồn dập không thể nối được dây trời, đành chấp nhận mất liên lạc trong khoảng thời gian pháo bắn..

Đợi hết đợt pháo, tôi bò ra từ hầm được lợi dụng đào hầm ếch bên bờ suối cạn...nhìn lên, phía trên cao còn đoạn dây trời lơ lửng ..dây trời dự trữ hết, bắt buộc tôi phải leo lên cây kéo đoạn dây trời xuống nối và đang giữa ban ngày, nên cái gì đến là nó đến thôi...có lẽ địch nhìn thấy hoặc vô tình lại bị loạt pháo bắn cắt xẹt cây tôi đang trèo kéo dây trời, cây đổ gục và tôi ngã nhào xuống cùng ngọn cây; rồi tiếp đến L19 bắn pháo khói chỉ điểm và sau nó là thần chết - máy bay T28 lừng lững, ung dung ném bom xuống vị trí chúng tôi đang trú quân...cứ tưởng mình sẽ là liệt sĩ rồi...nhưng may quá, sau cú ngã, bị ngất, anh em đã đưa kịp vào hầm...nằm bật động một lúc, cứ tưởng gẫy đốt sống lưng, đi đứt đường tình duyên, suýt không được yêu thật...được y tá chăm sóc hơn ngày gì đó, bôi, quết và băng bó lại một vài vết thương nhỏ, lại hành quân tiếp.

Giờ sờ phía sau lưng, vẫn thấy một cục ngăn giữa cột sống mà chờn chợm.

Trong khu vục sân bay, diện tích đất đã thu nhỏ hơn trước, nay sân bay vẫn dùng cho mục đích quân sự, thỉnh thoảng vài chiếc trực thăng đến rồi đi bình lặng.

Nơi đây trung đoàn 9 và 19 chúng tôi thay phiên nhau đánh.

Trung đoàn 19 đánh phía Nam - Tây Nam thị xã Xalavan, Trung đoàn 9 đánh Bắc - đông Bắc thị xã Xalavan, giờ mảnh đất này thật thât bình, cỏ xanh mát rượi...

Chuyện cực ngắn

Theo xe tăng đánh trận đầu đánh Xalavan (đánh trước Nacasao đợt 1)

Trên đường từ Không sê đôn quay về Xalavan Bộ chỉ huy mặt trận tăng cường hỏa lực pháo và xe tăng cho trung đoàn 9 và trung đoàn 19 đánh giải phóng thị xã Xalavan; Trung đoàn 19 chỉ thị cho Tiểu đoàn 1 (lúc này tiểu đoàn tôi đã đổi phiên hiệu từ tiểu đoàn 3 tình nguyện sang tiểu đoàn 1 rồi sang miền Nam lại đổi sang phiên hiệu tiểu đoàn 4 ) bố trí một đại đội bộ binh đánh theo xe tăng.

Đại đội 2 tiểu đoàn 1 vinh dự được đánh theo xe tăng theo kiểu binh chủng hợp thành như phim hành động - đánh hiện đại có pháo, tăng hỗ trợ...lính đại đội 2 bọn tôi được chỉ thị trèo lên xe tăng từ Bản păckut, theo tăng để tấn công theo hướng Bản Tên.

Trận này, do chính tiểu đoàn phó Thính chỉ huy, bộ binh hộ tống 5 xe tăng...lính đại đội 2 mừng rơn, mơ mãi từ ngày vào chiến trường đến giờ mới thấy có xe tăng đánh phối hợp...mấy thằng lính 4971 Hà Nội ngày nhập ngũ thằng nào, thằng nấy mắt cứ sáng lên, cứ tưởng tượng mình lớn nhanh hơn, to cao vững chắc hơn; oai hùng như chàng lính Nga trẻ trong phim – Bốn chàng lính và con chó trên một chiếc xe tăng...giờ có xe tăng bên cạnh, chắc thằng Ngọc "thiu thiu" thế nào cũng lại mơ một nụ hôn cháy bỏng của em gái lính Trường Sơn trước khi nhẩy lên chiếc xe tăng đi đánh trận quá...giờ cứ tưởng tượng hồi đó, nó ngồi trên chiếc xe tăng đó cười ngạo nghễ, trông nó oách thật.

Xe đầu có Ngọc, Oang Thanh Hóa, Hải Hà Tĩnh, Sơn "nhuần" Sơn Tây nằm trên tăng tập kết về vị trí chiến đấu.

Đã mấy ngày thiếu ăn, nay nằm trên xe tăng, nhìn thấy trong đống xoong nồi của lính xe tăng buộc cuối xe có nồi cơm nửa sống nửa chín ( gạo còn sống) của lính tăng chưa kịp ăn phải nổ máy hành quân; mấy chàng lính bộ binh sướng quá bốc vội ăn tranh thủ trên đường đi...Xe tăng số 1 đi đầu, có trung đội của Ngọc nằm trên khi đến cách Bản Tên 100m, bỗng một tiếng nổ to, giống như bị nén lại, chặn lại, vỡ òa ra; xe tăng rùng mình như ngựa lồng bị gìm cương - trúng mìn tăng, lính bộ binh văng xuống đường, xe đứt xích nằm tại chỗ, nhưng may mắn không ai hy sinh.

Lính bộ binh lập tức tản ra xung quanh tổ chức phòng ngự, đào hố chiến đấu ngay dưới gầm xe tăng bảo vệ xe tăng và anh em lính tăng nối xích, xích xe hỏng quá nặng, anh em không có phụ tùng thay thể, chờ xin chi viện...

Điện trên yêu cầu bộ binh ở lại giữ tăng chờ sửa xong tăng tiếp tục hành quân.

Đại đội tăng cường thêm quân để bảo vệ xe tăng là anh Tần, đại phó người Hà Tĩnh, Hải Hà tĩnh, Biên, Quất, Yên, Thanh Vĩnh phú, Long "mân sốt" người Nghệ an...Cả đêm đó, C130 xăm quanh vị trí xe tăng đến sáng C130 bàn giao cho L19 và T28 và F4 đánh hủy diệt anh em bảo vệ tăng... lính bộ binh nằm tơ hơ với chiếc tăng, nhìn máy bay ném bom, chỉ cầu mong được nghe tiếng nổ của bom... sau nhiều giờ chốt giữ tăng, hứng chịu bom địch,anh em bị thương vong nhiều ...Điện báo cáo về Tiểu đoàn, được lệnh rút, bỏ xe tăng lại, số thương binh nhẹ phải ke cáng liệt sĩ và thương binh nặng - Hải trung phó hy sinh và Tần đại phó bị thương nặng rút về Tà Kịt; trận này không đi đánh được, 4 chiếc tăng còn lại phải rút về cứ.

Chuyện cực ngắn

Nhiều khi hành quân chiến đấu chúng tôi cũng đi loanh quanh, đánh nhầm lẫn nhau như ở bản Cac bun, lính đại đội 1 đã đánh chiếm được bản, địch bỏ chạy; anh em tiến hành chốt giữ, đang đào hầm chiến đấu....bất ngờ lính đại đội 3 vận động đến đến tưởng địch ở trong bản đã tổ chức tấn công ngay, cối 60 của đại đội 3 giã dồn dập, đạn AK nổ căng, cũng hô xung phong...đánh đại đội 1 một trận te tua, nhưng ngay sau đó nhận ra nhau, may quá không ai chết cả; cùng lúc này, ở đại đội 2, chàng Toán lính 4971 trinh sát Tiểu đoàn dẫn C2 đi, loanh quanh thế nào tới rìa na, thêm đại đội 2 lại áp sát ngay bản Cacbum, nhìn từ xa thấy 2 đại đội thuộc tiểu đoàn mình dùng cối thúc đít nhau – quân ta thắng quân mình là cái chắc... biết tọa độ thông báo sai, Toán đưa đại đội vòng quay lại...chờ xin ý kiến tọa độ mới.

Tao ngộ 3 đại đội trong một vị trí thật là một điều hiếm có; một vị trí dồn đống 3 đại đội lại...Khi đi sai điểm đánh hay tập kết, thường trinh sát không sai vì cứ căn tọa độ trên bản đồ mà đi, còn sai chỉ có thể do người viết điện chỉ đạo sai hoặc lính 2 W dịch sai khi phát điện hay hoặc khi nhận điện dịch sai...

Chuyện này giờ không thể biết được ai sai và sai từ đâu...nhưng có lẽ lính 2W bọn mình quá mệt mỏi nên dự cảm dịch không chính xác "tai thối" thật rồi; hoặc ở nhà khi nhận lệnh của Tiểu đoàn, Máy 2W trung đội khi phát điện cùng lúc cho 3 máy 2W đi tăng cường ở các đại đội đều nhận bức điện cùng nội dung. ví dụ...yêu cầu đưa đại đội đến đến tọa dộ X..Y đánh ngay...nên đã có những sơ hở chết người này – bức điện có thể chỉ nói đại đội chung chung mà không nói đại đội nào nên dẫn đến tình trạng dồn cục là vậy, đây là ý nghĩ của cá nhân suy đoán sau chiến tranh thôi.

Thật sự là may mắn không có đồng đội nào bị chết, không anh em ân hận suốt đời vì bắn nhầm nhau...may quá, phước 3 đời cho lính 2W không mang tội phản thùng.

Chuyện cực ngắn

Cuối tháng 12 /1972, càng gần tới thời điểm ký kết hiệp đinh đình chiến, đơn vị chúng tôi càng gia tăng tác chiến giành giật với địch từng bản làng , những tọa độ, điểm cao quan trọng; cả Tiểu đoàn hành quân liên miên đánh, chốt, giữ không kể ngày đêm, tổn thất càng lớn khi anh em đói ăn, đói ngủ, suy kiệt cơ thể.

Nhiều đêm hành quân đi băng qua, vào cả vị trí tạm dừng của địch; rồi tin đồng đội mất tích hay lạc đơn vị khi hành quân vì quá mệt mỏi, lính mình vừa đi vừa ngủ, cứ thẳng tiến mà đi; nhiều đồng đội vài ngày sau mới tìm về đơn vị đã trở thành cơm bữa và là chuyện hàng ngày của chúng tôi.

Trường hợp như đại đội 2 - có lần đơn vị hành quân chập tối, khu vực gần sân bay Xalavan, anh em hành quân như mộng du, không biết rằng mình đang đi qua một đội hình lính Thái Lan - họ cũng quá mệt mỏi vì phải ứng chiến liên tục với bọn tôi; khi không tác chiển là họ ngủ bù lấy lại sức; vì vậy, khi được nghỉ giải lao, họ ngủ ngay, ngủ gà ngủ gật, ngủ năn lóc ở bìa rừng... khi nghe tiếng bước chân và thấy đội hình ta hành quân qua... trời lúc đó cũng chập choạng tối, lính địch cũng mắt nhắm mắt mở, thấy bước chân hành quân cứ tưởng đơn vị chúng hành quân, lính tráng cũng vội ngồi dậy, đeo ba lô vội vã hành quân bám theo đuôi ta cho kịp...

Đội hình hành quân của ta lúc này...như tuổi thơ ta đùa chơi..."cùng rồng rắn lên mây, có con xúc sắc..." cả ta và địch đều bám đuôi nhau mà đi theo mộng du.... bỗng. có tên lính sử dụng máy ARC25 (máy vô tuyến của địch) vừa đi vừa truyền tin – đi cuối đội hình đơn vị lúc này của đại đội 2 là Ngọc "thiu thiu" rồi đến Cường "mấu cầu" răng vẩu và Thắng người Diễn Châu là người đi cuối cùng..., bỗng nghe tiếng Thắng kêu á..á...Ngọc quay lại thấy tốp cuối cùng của lính Thái Lan đang lố nhố đứng dậy hành quân theo đội hình đơn vị mình; vì hai đồng đội đang đi sau, súng lại quàng vai không thể bắn trực diện được địch, Ngọc phải nhảy sang một bên lia đại một băng AK để trấn áp tinh thần, nhằm xua đuổi địch; lính địch nhào xuống suối cạn tản ra chạy mất; không biết có diệt được thằng nào không, phía trước đơn vị được báo có địch hành quân bám đuôi đơn vị; lệnh rút - chạy vận động đề phòng bị tấn công, vẫn theo hướng hành quân, không tiến hành truy kính địch.

Giờ mới nghĩ ra, hồi đó lính Tiểu đoàn 3 Tình nguyện của xuanxoan đã tiên đoán trước, thực hiện trước, tình hữu nghị của các nước ASEAN – Lính tình nguyện Việt Nam hành quân đi trước, theo sau lính đặc nhiệm Thái Lan cũng hành quân cùng....nay 40 năm sau mới có cảnh cùng hành quân chung...vui thật.

Chuyện cực ngắn

Việc mệt mỏi vì cuộc chiến dài ngày đã nẩy sinh tư tưởng không muốn đánh nhau cả 2 phía - Phía chúng tôi do tổn thất nặng từ Không Sê Đôn, nhìn đội hình cả đại đội hành quân, số lính còn ít hơn cả một trung đôi; đói ăn, thiếu ngủ nhìn thằng nào cũng gầy rạc, trơ xương, quần áo rách nát, da mặt bị cày xước, rách, vêu, có thằng thì băng trắng đầu, thằng băng tay, chân... căng thẳng đạn bom, đồng đội hy sinh, bị thương, mất tích liên tục đã làm yếu tinh thần chiến đấu của bọn tôi; còn phía địch mình có dự cảm lính bộ binh họ cũng chẳng hơn gì ta; họ tránh đụng độ với ta trực diện, thấy ta họ lùi, chỉ gọi phi pháo tấn công ta là chủ yếu...

Phía địch, tình thần chẳng thiết tha chiến đấu càng về cuối chiến dịch càng bộc lộ rõ... như có lần thằng Toán lính 4971 trinh sát Tiểu đoàn đưa tốp lính đại đội 2 - có Ngọc "thiu thiu" đi lấy nước, xa vị trí chốt vài cây số, chỉ dựa vào bản đồ để đi tìm khe suối cạn, may rủi có nước; đi mãi cũng thấy có khả năng đoạn suối cạn này có nước..khi đến gần vũng nước, bỗng có tiếng ho, và vài tiếng ho liên tiếp....nhìn vào thấy một người lính mặc quân phục lính đặc nhiệm Thái Lan – đứng phía bên kia vũng nước của con suối cạn...

đang nhìn tốp lính Việt Nam bọn mình đi lấy nước; người lính này gật đầu như ra hiệu...các ông đi đi... cả đoàn đi tìm nước vội lui ra xa, thật xa thì người lính kia mới nổ súng bắn chỉ thiên đuổi ta...giờ nghĩ lại có thể người lính này không muốn đợn vị cậu ta chạm trán đấu súng với ta lên báo hiệu rằng ...bọn tôi đang nằm phục ở đây đấy...và bọn thằng Toán, thằng Ngọc "thiu thiu" cũng không muốn đánh nên rút, nhường hố nước đó cho lính đối phương sử dụng, anh em lại đi tìm nước chỗ khác ( giống như các cầu thủ bóng đá bây giờ khi cầu thủ bị thương đá bóng ra ngoài biên, đối thủ được quyền đá, đá trả bóng về lại cho đối phương - fair play ).

Còn tôi khi đọc lại chuyện của Trọng C6 D2 E 9 khi đánh ở Xalavan cùng thời điểm với bọn tôi thì lại có chuyện ngược với chúng tôi nhưng kết cục lại giống nhau ở đoạn kết ...hôm nay nghĩ lại thì nó có hậu:

Trích trong ngày này 34 năm trước của Trọng C6:

....Trong mấy ngày chốt chúng tôi gặp địch 2 lần.

Lần thứ nhất là sau khi vào bản 4 ngày.

Chiều hôm đó địch không vào bản mà chỉ hành quân đi chéo qua bản, nhưng lướt qua ngay chỗ phía hầm của thằng Loòng (người Tày) cách chỉ có mươi mét.

Chúng tôi nín lặng chờ thằng Loòng nổ súng trước rồi mới đánh tiếp theo chiến thuật vận động vì địch cũng chỉ có hơn chục thằng.

Mãi không thấy thằng Loòng nổ súng, chúng tôi cũng ngồi im chờ đợi.

Đến khi hàng quân địch đi khuất dần vào rừng khôộc phía bên kia nương, chúng tôi mới mò sang thì thấy thằng Loòng vẫn thản nhiên ôm súng ngồi im trong hầm.

- Mày không nhìn thấy địch à?

- Anh Trịnh hỏi

- Có chứ, chúng nó đi ngay trước mặt em mà - Thằng Loòng trả lời.

- Thế sao mày không bắn?

- Nó có bắn em đâu mà em bắn nó.

Ối giời ơi!

Anh Trịnh ngẩn người ra rồi chợt hiểu.

Đụng phải bố dân tộc thật thà quá đây mà.

Hóa ra cái cách tuyên truyền trong đơn vị của mấy ông CTV đối với lính dân tộc khi đó không phải là giáo dục lý tưởng hay trách nhiệm quân nhân gì cả, mà đơn giản là "mình phải bắn địch, nếu không nó sẽ bắn mình".

Thằng Loòng hiểu quá thật thà và đơn giản, thấy địch chỉ đi qua nên nó không nổ súng.

"Mẹ kiếp, nếu để địch nó nổ súng trước thì mày chết cha nó rồi còn gì", anh Trịnh làu bàu nhưng cũng không biết nói gì hơn, cũng không thể cáu hơn được. ...

Thế đấy, theo mình nhiều khi mệt mỏi quá rồi, suy nhược cả cơ thể và tinh thần chẳng muốn đánh đám gì nữa, lính mình vì ý thức kỷ luật phải gắng chấp hành thôi, nhiều khi bấm cò chỉ là theo phản xạ tự nhiên của người lính...còn con người trong chiến tranh vẫn có thể chơi đẹp với nhau trong từng tình huống.

Chuyện cực ngắn

Sau khi rời Xalavan chúng tôi đi Tỉnh Sê Kông – nơi năm 1973 sau đình chiến có thời gian chúng tôi làm đường ở đây; không gian thật yên bình, cảnh vật đất trời vẫn như xưa, rừng cây cao vút, rừng khộp, rừng xăng lẻ ven đường chạy dài mút tầm mắt.

Thời gian chúng tôi ở đây khoảng một năm, nhưng không có ấn tượng nhiều về đời lính để nhớ.

Đoàn cán bộ tỉnh Sê Koong đưa chúng tôi đến thăm quan một điểm du lịch sinh thái nằm trên đường Trường Sơn cũ có một thác nước rất đẹp, nước đổ tung bọt trắng xóa, hơi nước bay lên như sương sớm Sapa, lành lạnh...mình chợt nhớ tới binh trạm ngày xưa khi hành quân trên đường dây 559 - hình ảnh cả chuyến đi, có lẽ chỉ ở đây mới có hình ảnh binh trạm đường dây, những túp lều tre nứa cho lính ngủ, những cây bằng lăng cho lính ngồi nghỉ khi hành quân hay tạm nghỉ qua đêm hiện diện trước mắt, thật đến bất ngờ...; khong kìm hãm được nỗi nhớ trường Sơn, nhiều người trong bọn tôi đã nhẩy ào xuống tắm ở con thác tuyệt đẹp này.

Đón chúng tôi có đại diện tỉnh Sê Kông, Trường ban đối ngoại và Hội cựu chiến binh bạn.

Chúng tôi được bố trí nghỉ tại khách sạn Sê Kông...Cơm trưa được bố trí ngay tại khách sạn và bạn bố trí 2 nữ cán bộ ban đối ngoại theo dõi giúp đoàn trong thời gian ở Sê Kông .

Chiều Tối, đoàn chúng tôi được Bí thư,kiêm tỉnh trưởng tiếp chiêu đãi đoàn và sau là múa lăm vông ngay cạnh dòng sông sêkoong

Sê Koong, địa bàn đơn vị chúng tôi ở trước khi trở về Miền Nam đánh trận cuối cùng.

Nơi đây, chúng tôi nhậm nhiệm vụ làm đường, rãnh rỗi ra sông đánh cá bằng bộc phá...có lần, sau khi bộc phá nổ, tôi bắt được con cá to; vẩy cá cứ như nắp bia bọn tôi thời trẻ đập dẹp để chơi ăn tiền; nó quá to, sức sống còn mạnh, khi tôi ôm dìu nó vào bờ mấy lần suýt tuột dù tay tôi đã bấu được mang của nó...khi vào tới bờ tôi phải nằm đề lện nó, gọi anh em tới giúp một tay mới mang lên bờ được.

Ở Sê Koong, không có chuyện đánh đấm chi hết – ngày chặt cây, đào đất, tối mệt thì đi ngủ, nhiều khi bỏ gác luôn vì mệt quá, thằng gác trước quên gọi thằng gác sau, ngủ tới sáng luôn, chẳng có kiểm điểm chi cả vì ai cũng thế - mệt thì ngủ thôi.

Sê Kông - có lẽ ở đây có mỗi chuyện rượu ...

Hồi chưa nhập ngũ, tôi chỉ biết vài vại bia là ngât ngất rồi...vào chiến trường Lào cái tết duy nhất đời lính chiến được uống rượu lại do chính mình đi mua là tết 1973 – 1974 có lẽ ở đây hay ở Atopo tôi không nhớ rõ địa điểm, nhưng việc đi mua rượu mình không thể quên được.

Năm ấy đình chiến rồi, Tiểu đoàn bọn mình được lệnh nhận nhiệm vụ mới: làm đường giúp bạn ở đoạn Xalavan – Sê kông – Atopho, ngày đêm lao động cực nhọc chỉ có câu chuyện tiếu lâm, trêu trọc nhau đùa vui cho qua ngày.

Dụng cụ làm đường ngoài dao găm là vật bất ly thân của lính cộng với, ít cuốc, xẻng và cuốc chim, dao dựa được bổ sung...và sức lính bộ binh đi mở đường thôi, làm đường mệt nhưng vui vì năm ấy đơn vị không có thằng nào chết cả; gần đến tết, thủ trưởng tiểu đoàn khao quân ( tiểu đoàn trưởng là lính đường dây xuống mà) tiểu đoàn bộ cử mình phụ trách nhóm đi mua rượu cùng lính các đại đội của tiểu đoàn, ra bản Lào sát ngay chân đường dây 559.

Thủ trưởng Tiểu đoàn bộ cử mình đi mua rượu vì thủ trưởng cứ nghĩ rằng dân Hà Nội uống rượu bia dữ lắm, biết rượu ngon và không ngon.

Còn mình đi thì cứ tưởng mấy thằng lính đại đội, dáng vóc lực lưỡng, râu ria lởm chởm dân các tỉnh khác, làm nông nghiệp chắc uống rượu dữ lắm, dứt khoát chúng biết mua rượu nên yên tâm vững bước, đeo hơn chục cái bi đông của lính tiểu đoàn theo anh em dấn bước vào bản... tay cầm bầu rượu nắm nem, mải vui quền hết lời em dặn dò...cứ tưởng khi mình về đã trở thành bậc tiên tửu như câu thơ của các cụ ngày xưa...vui lắm, vì được tin tưởng đi làm công tác hậu cần (đây là lần đầu tiên mình được đơn vị cử đi mua rượu); khi cùng mấy anh em của các đại đội khi đến bản, dân mang rượu ra mình thử, thấy anh em khác thử lắc đầu, mình bảo bò đậy ( không được) , cứ thế thử và lắc đầu...đến mấy nhà đang nấu rượu, chủ nhà đưa bát rượu cho thử - bát nóng hổi đi vòng quanh mấy anh lính thấy anh nào anh nấy lắc đầu mình cũng lắc đầu..' đến cuối bản, vài thằng chân nam đã đá chân xiêu, bước lên cầu thang ngang bước lên tiên cảnh..chủ nhà mang cả rượu cũ và mới nấu cho thử...thấy thằng nào thằng nấy gật gù mình bảo đậy, đậy; được được; âu mứt, lấy hết...chủ nhà vui quá thế là dồn bà hầm các loại rượu và nước mót lần cuối rồi chia đều đề cho tốp lính lấy rượu bình đẳng như nhau (nhân dân ưng cái gì cũng chia cho bằng nhau mà)...lúc này bọn mình... tay cầm bình tong rượu, phong lương khô; non xanh, núi biếc...ngật ngưỡng anh về...doanh trại.

Tốp lính chiến tiểu đoàn 4 trung đoàn 19 được cử đi mua rượu là những người lính dầy dạn trong chiến trận, nhưng chưa một lần uống rượu; luôn đặt việc hoàn thành nhiệm vụ được giao là số 1, vui lắm - nay trong khung cảnh thanh bình, đường đất rộng thênh thang, miệng nói líu lo như chim hót trên đường; quân trang gọn nhẹ, hơi men bốc lên, mặt mày tưng bừng .. .ta cảm thấy oai phong, vì thời bình mình vẫn hoàn thành nhiệm vụ đơn vị giao...

đi mua rượu, mua được rượu ngon nhất bản về cho đơn vị đón tết; tự mình nhận xét – mình đi trinh sát cả bản, đi từ đầu bản đến cuối bản mới chọn được điểm rượu ngon thật....có thằng vừa đi vừa tự thưởng cho mình thêm vài hớp - rượu dân cho thêm mà; miệng hát ngêu ngao, lính đi như người mộng du, mấy lần té ngửa, lồm cồm dạy đi tiếp; khí thế tưng bừng, anh em hạ quyết tâm - đi một mạch về đơn vị không nghỉ; đúng là trời thương, tất cả anh em về đơn vị đủ.

Về nộp rượu cho quản lý và thanh toán tiền thừa ...ngày hôm sau, anh em ăn tết có chai rượu...bỗng thằng lính công vụ tiểu đoàn chạy đến...anh xuanxoan ơi, thủ trưởng bảo anh mua rượu gì mà nhạt như nước ốc vậy Huh ...hóa ra mình đã không biết uống rượu, mấy anh lính đại đội ở các tỉnh khác cũng như mình...17- 18 tuổi đã vào chiến trường biết quái gì rượu với gái gú mà bảo đi mua rượu; thấy chúng lắc đầu thì mình cũng lắc đậu, chúng say khập khiễng mình hỏi thấy chúng cười vui, cười vui gật, gật; mình tưởng chúng gập đầu mình ừ, được mua hết...thế thôi – đâu biết đó là rượu nước cuối nhạt thếch, chua loét...

Mãi sau này thời bao cấp khốn khó, vợchồng mình cất rượu nuôi heo mới biết...thế nào là rượu nhạt như nước ốc.
 
Back
Top Bottom