Cập nhật mới

Khác Hồi ký chiến tranh - Một thời máu và hoa (Phần 1)

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
111947190-256-k944624.jpg

Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Tác giả: kanda_yuu
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Hồi ký của các bác các chú cựu chiến binh của một thời máu và hoa đã bỏ một thời tuổi trẻ, những phần máu thịt, cả những ký ức đau thương về những người bạn đã ngã xuống.

Để cho thế hệ trẻ hôm nay có được một cuộc sống hòa bình.

Nếu muốn tìm hiểu kỹ hơn các bài hồi ký, cũng như các thảo luận chi tiết, bạn có thể truy cập vào :http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?board=53.0 để hiểu và trân trọng hơn giá trị của hòa bình.

Có những hồi ký phải dừng ở một lưng chừng nào đó khi câu chuyện về một thời hoa lửa vẫn còn dang dở bởi có lẽ người chiến sỹ đã trở về với những đồng đội mãi mãi tuổi hai mươi.

Hãy trân trọng quá khứ.

Bởi không có máu thịt cha ông đổ xuống thì không có ngày hôm nay chúng ta ngồi đây viết và đọc những dòng này.

Sống vững chải bốn nghìn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Huy Cận)



tranh​
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 1: Biên giới Tây Nam - Hồi ký của bác Trungsy1 - phần 1


TRUNG ĐOÀN

(Đã từ lâu tôi có ý định viết về trung đoàn 2, sư đoàn 9 thân yêu của tôi.

Tình cờ biết trang web quansuvn này,tôi tranh thủ ghi lại những chặng đường đã đi qua cùng Trung đoàn của mình ở dạng đơn sơ nhất trước khi rèn giũa biên tập lại thành cái gì đó hay hơn để chia sẻ với các anh em đồng đội trên diễn đàn.

Kỷ sử của một binh nhì trong Quân sử lớn.

Tạm coi là thế !

Tất cả tên người, tên đất trong bài này, vì theo tiêu chí Sử nên xin phèp các Liệt sĩ, các đồng đội cho phép dùng tên thật.

Xin cảm ơn!)

Cho đến khi chuyển từ trạm Long Bình về cứ của Sư đoàn 9 ở Trảng Lớn, Thị xã Tây ninh năm 1978, tôi - một binh nhì 18 tuổi đời vẫn chưa có hình dung nào về chiến tranh, về những ngày tháng mình sẽ đi qua cùng trung đoàn mình được bổ sung vào.

Trung đoàn Đồng Xoài của tôi, một trang bi hùng, một phần máu xương của đồng đội tôi, của tôi...

Thị xã Tây ninh, một thị xã biên giới xinh xắn và xanh ngắt nằm yên tĩnh giữa một vùng đất đỏ.

Đoàn xe quân sự vừa dừng bánh, các dì, các em chìa tận cửa xe mời mua những bịch nước mía đá, những gói kẹo đậu phộng..."

Mía ghim !

Mía ghim....Năm hào một cây mía ghimm...".

Xe lôi, xe thổ mộ ngược xuôi.

Toà Thánh Cao Đài, chợ Long Hoa người đi lại nhộn nhịp.

Đám đông dân chúng thỉnh thoảng điểm sắc lính áo xanh.

Trong một vài quán cóc, dăm ba thương binh chống nạng hoăc băng tay trắng toát, phì phèo điếu thuốc rê trên môi, nhìn theo đoàn lính mới ra chiều thông cảm...

Ngày 25/11/1978, buổi tối, trong khi đang điểm danh đơn vị, bầu trời thị xã đột nhiên sáng bừng bởi hàng trăm vệt đạn vạch đường xé toạc màn đêm yên tĩnh.

Đại trưởng hô: " Giữ nghiêm hàng ngũ!

Các đơn vị phòng không đang diễn tập đánh máy bay địch!

Đêm đó, tôi đã cảm thấy hơi thở của thần Chiến tranh đang phả đâu đây !

Trảng Lớn là căn cứ cũ của sư đoàn 25 QLVNCH trước đây nằm ngoài rìa thị xã Tây ninh, bao gồm nhiều phân khu độc lập.

Các phân khu giới hạn bởi các hàng rào thép gai phủ đầy cỏ Mỹ, vạch ngang dọc những lối chồn đi.

Bấy giờ đang là mùa khô.

Ngày nắng, bụi, nhưng đêm về gió chướng lùa qua lỗ vách, vốn là những tấm ghi lột lên từ đường băng dã chiến cũ, lạnh gai người.

Bình minh mùa khô phương nam thật lạ.

Chân trời đỏ rực với những dải mây thấp, loang lổ xám.

Chưa đến giờ tập thể dục.

Tôi còn đang ngái ngủ bỗng dỏng tai nghe.

" Vi vi vuuut.....Oành!

Oành...!

Tất cả chạy nháo ra sân.

Trung đội trưởng hét lên : " Tản ra !

Nằm xuông !

Pháo 130 ly nó giã đấy..!

Mấy quả nữa bắn trúng dãy nhà tôn bỏ không mé bên trái, giật tung mái bay xoang xoảng.

Tôi không còn thấy sợ nữa nhưng lòng cảm nhận tê tái : Chiến tranh thực sự rồi !

Nó bắn thêm mấy quả nữa rồi ngưng, chắc sợ ta dò toạ độ phản pháo hoặc oanh tạc không quân.

Cỏ Mỹ khô bắt lửa cháy giần giật. tàn lửa bay tung toé trong khói cuồn cuộn.

Ở căn cứ thêm mấy ngày nữa, ngày 8/12/1978, chúng tôi lên đường ra chốt.

Lại lên xe.

Nhưng không phải xe ca nữa, mà là xe REO, loại xe vận tải quân sự của Mỹ.

Chạy về hướng Sài gòn à?

Ai cũng thắc mắc, mặt trận ở hướng Tây kia mà?

Lại qua những xóm ấp yên bình, những cánh đồng, trảng mía ngút tầm mắt,sông Vàm Cỏ đông nước xanh ngăn ngắt, thị trấn Gò Dầu hạ tấp nập...

Chóp núi Bà Đen uy nghiêm chầm chậm xoay mình theo hướng xe lăn....

Bây giờ thì chóp núi ấy đã ở phía sau chúng tôi, hơi chếch về tay phải.

Có nghĩa là trước mặt là hướng chính Tây...Đường bắt đầu vắng teo.

Cánh đồng không cày cấy cỏ dại dày rịt, vàng úa.

Một con đê thấp nằm chắn ngang cánh đồng, đùn lên là mấy ụ đất bao quanh mấy khẩu pháo tự hành lừng lững.Dãy lều bạt lụp xụp.

Đơn vị pháo chiến dịch 175mm (pháo Mỹ) đấy!

Cửa khẩu Mộc bài đấy!

Biên giới đấy!

Ôi chao biên giới là thế này đây...!

Nó không như hình dung của tôi.

Đoàn xe bình thản vượt qua ranh giới vô hình ấy.

Chúng tôi ngoái lại nhìn nước Việt một lần nữa.

Ôi đất nước mẹ tôi em tôi!

Có lẽ nhiều nghìn ngày nữa, trên những con đường đầy khói bụi của chiến tranh, có thể tôi sẽ gặp, hoặc không gặp lại Người !

Đồng không mông quạnh.

Thốt nốt mọc theo những bờ ruộng thành từng cụm hoặc đơn lẻ.

Đến ngã ba Chi Phu, đoàn xe rẽ trái xuôi về hướng nam chừng 1.5 km rồi dừng lại.

Bộ đội xuống xe rôì được phân về từng đơn vị theo sự dẫn dắt của ban quân lực.

Tôi và nhiều chiến hữu quê Hà nội khác được điều về tiểu đoàn 4, trung đoàn 2, sư đoàn 9 thuộc quân đoàn 4.

Anh Tuấn - hỗn danh Tuấn "còi", trung đội phó thông tin tiểu đoàn dẫn tôi và đoàn lính mới tò te băng đồng về chốt.

Bố này muốn doạ , hoặc ra điều ta đây lính cũ thỉnh thoảng lại nhắc: " Bảo đi khom là đi khom, bảo chạy là chạy rõ chưa !

Không 12.8 mm nó quất cho bỏ mẹ !".

Tiếng thì eo éo như con gái, nghe vừa tức, vừa buồn cười.

Xế chiều hôm đó, chúng tôi về đến chốt Long An.

Địa bàn chốt giữ của tiểu đoàn nằm trọn trong vùng Mỏm Vẹt, phía nam cách ngã ba Chi Phu chừng 4 km.

Tiểu đoàn bố trí đội hình hàng ngang theo chiều dài một con đê thẳng tắp.

Đại đội 2 nằm ngoài cùng, gần phum chùa Cốc.

Tiếp đó là đại đội 1.

Đại đội 3 nằm nhô lên phía trên đội hình tiểu đoàn chừng 350m trong một cụm nhà cũ đã bị phá huỷ.

Đại đội 4 - đại đội hoả lực nằm gần tiểu đoàn bộ, hơi chếch về bên trái.

Đã bắt đầu mùa khô nhưng những căn hầm nửa nổi nửa chìm tựa vào bờ đê vẫn toát lên mùi mốc ẩm.

Thôi nhé từ nay vĩnh biệt thời huấn luyện!

Ah ha !

Cái phản lính dài dằng dặc trại Trảng Lớn trở thành niềm mơ ước.

Còn cốc chè đậu đường đen thị xã Tây Ninh, trong tiếng hát ma mị Khánh Ly chừng thuộc một thế giới xa mờ.

Thôi tiến lên nào, anh lính chiến !...

Tình hình cuối năm 1978 ở địa bàn đứng chân của trung đoàn 2 khá yên tĩnh.

Ta và địch cách nhau một cánh đồng rộng khoảng 1.2km.

Ngoại trừ một lần vào lúc chập tối, tiểu đoàn trưởng Sơn ( anh Huỳnh Ngọc Sơn hiện là tư lệnh Quân khu 5) lệnh cho đại 3 mang cối 60 tập kích địch để thăm dò.

Khẩu đội cối bò lên trước đội hình khoảng 600m, nạp liều 3 bắn chừng hơn chục quả.

Địch trả lời bằng 12.8 mm toang toác suốt đêm.

Hầm của trung đội thông tin nằm gần hầm tiểu đoàn.

Ban ngày, tiểu đội hữu tuyến củng cố lại dây dợ máy móc.

Tiểu đội vô tuyến 2W chúi đầu học bảng mật danh mới.

Thằng Vỹ, thằng Mạnh, Thằng Ban trố suốt ngày lầm bầm như cầu kinh:" 01 tiểu đội, 02 trung đội, 03 tiểu đoàn, 04 trung đoàn...."

Cha Nhương - tiểu đội trưởng 2W suốt ngày càu nhàu vì quân lâu thuộc.

Nhưng tôi dám chắc nếu kiểm tra thì chính bố này thể nào cũng tạm tịt nhất.

Đã thế lại còn cái tính hay chê, bôi bác người khác.

Chẳng hạn kể chuyện anh Hoạch bên hữu tuyến, hồi mới giải phóng Saigon cứ tưởng cái bồn cầu là chậu vo gạo.

Thế là cứ tống gạo vào vo.

Đến khi giật nước gạo trôi đi sạch cứ thắc mắc um lên.

Lại còn luôn mồm chửi tiện nghi của bọn tư bản là thâm độc.

Hay chuyện Khương "khàn" dưới đại 1 dẫn lính đi khao.

Không biết gọi phin cafe là gì mới e hèm cất giọng sang sảng: " Naỳ cô em !

Cho một số cái nồi ngồi trên một số cái cốc" !

Hết biết !

Tuy tiểu đoàn bộ nằm lui về sau đội hình nhưng vẫn tổ chức gác ba vọng đề phòng địch bâu bám mật tập.

Tôi đã biết định vị sao Tua Rua để căn giờ gác.

Trong đêm, nếu ếch nhái đang rỉ rả ầm ĩ mà tự nhiên im bặt, hoặc chim đêm trong chòm cây phía trước bỗng dưng xao xác là phải coi chừng.

Luồn hào về bấu tay anh em dậy rồi trở lại vị trí gác ngay.

Hãy cúi thật thấp sát mặt đất, dùng nền trời đêm sáng mờ làm phông sẽ dễ phát hiện địch hơn.

Lại còn muỗi mới khiếp.

Muỗi Chi Phu có họ với muỗi Đồng Tháp mười, con nào con nấy to như con châu chấu con.

Áo ka ki ga ba đin không là cái đinh gì.

Vòi muỗi xuyên qua hết.

Muỗi lăn xả cảm tử xông vào đốt người.

Không được đập vì sẽ gây tiếng động.

Cũng không được dùng dầu gió xoa vì ban đêm trên đầu gió, mùi dầu sẽ lan rất xa.

Chỉ được phép vuốt thôi, vuốt đến đâu lép bép đến đó...Có anh (chắc là con bác Ba Phi) còn kể là hồi mùa mưa, minh nằm trong màn.

Muỗi bâu kín ngoài màn hết lớp này lớp khác, một lúc thì dây màn (dây dù) đứt phựt.

Lỡ để một ngón tay sát chân màn, muỗi châm ngay.

Những con khác không châm được thì châm ngay vào bụng con đang hút máu mình thành một dây chuyền dài hàng mét.

Tóm lại là cũng biết làm ăn theo kiểu hợp tác xã...

Ngày 22/12/1978 - ngày Tết Quân đội.

Ngoài tiêu chuẩn mà xe hậu cần B3 chở từ nước sang, chúng tôi còn tổ chức cải thiện thêm.

Tôi xách AK đi dọc bờ mương bắn cá.

Đứng rình một lúc, từng đàn cá sặc rằn to cỡ bàn tay từ từ nổi lên.

Thế là : Bụp !

Cá láng trắng nước nhưng phải lập tức lấy màn vớt ngay.

Vì chỉ một lát là nó hồi lại.

Bố Nhương lại có kiểu bắt cá khác.

Không biết anh ấy kiếm đâu được quả đạn B.40 lép liền tháo ngòi nổ ra.

Buộc vào một thanh tre cứng dài chừng 2m rồi vác xuống cái đìa cạn gần đại đội 4.

Vào xin ít liều cối tọng vào đầu đạn đốt.

Thuốc nổ TNT bắt lửa cháy đen kịt.

Thế là cha ấy gí cái dụng cụ bắt cá quái dị ấy xuống đìa rà đi rà lại một lúc cho thuốc cháy hết rồi lội ào xuống.

Quờ quạng rồi quăng liên tiếp lên bờ những con cá lóc đen bị say thuốc to cỡ bắp tay.

Tôi ngán cái dụng cụ nghề cá ấy quá.

Kinh bỏ mẹ !

Thôi !

Để em xách cá về cho nào...

Điểm qua thực binh và trang bị của trung đoàn 2 trước chiến dịch giải phóng Phnom Penh :

- Trung đoàn trưởng : Thiếu tá Nguyễn Như Thạnh.

- Các ban Tác chiến, ban Chính trị, ban Hậu cần

- 3 tiểu đoàn bộ binh gồm D4, D5, D6 ( tiểu đoàn anh hùng) - tổng quân số khoảng 700 người

- Đại đội 16 : 3 khẩu đội cối 120mm

- Đại đội 17 : 4 khẩu đội DKZ 75mm

- Đại đội 18 : 4 khẩu đội 12.8 mm

- Đại đội 19 : Công binh - trang bị nhẹ.

- Đại đội 20 : 1 B Thông tin -Vô tuyến máy 15W, 1 B hữu tuyến, 1 B truyền đạt

- Đại đội 21 : Trinh sát - Trang bị nhẹ - AK , M.79

- Đại đội 22 : Vận tải - 2 xe REO, 1 xe Zeep, trực thuộc B3

- Đại đội 23 : Trạm phẫu, bệnh xá trung đoàn

- Đại đội 24 : Vệ binh - trang bị như đại đội bộ binh, bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn ,trực thuộc ban tác chiến.

Thống kê như thế để thấy rằng tại thời điểm đó, quân số dù đã được bổ sung vẫn còn lâu mới đủ quân số theo biên chế chính thức của một trung đoàn bộ binh chủ lực.

Chúng ta đã từng xem rất nhiều phim về chiến tranh.

Theo tôi, có bộ "Giải phóng châu Âu" của Liên xô có những cảnh quay chiến tranh thành công nhất.

Còn mấy bộ phim chiến đấu nước nhà muốn chân thực hơn có lẽ phải cho mấy bố làm phim cầm súng choảng nhau vài năm hãy cho về cầm máy quay.Chiến tranh giản dị đến khắc nghiệt vô cùng.

Diễn tiến tâm lý cũng chẳng lằng nhằng phức tạp trong thời điểm cận chiến.

Mày sống tao chết hoặc ngược lại.

Huy động và sử dụng tối đa các kỹ năng sống sót của con thú.

Lăn đi!

Nằm xuống!

B.41 đâu?

Bịt mồm khẩu đại liên!

Mẹ kiếp !....Không sủa, không gầm gừ được thì văng tục!.....

Có thế thôi !

Sau này lắng lại, các xúc cảm con Người trở về, và được sự giúp đỡ của các nhà văn nhà báo lãng mạn mới hay mình đã chiến đấu vì Đất nước.

Kể cũng thấy tự hào...

Rồi thời điểm ấy cũng đã đến !

TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN

Cán bộ tiểu đoàn đi họp quân chính về vào những ngày cuối cùng của năm 1978.

Các đại đội cho người lên tiếu đoàn bộ nhận thêm một cơ số đạn.

Hữu tuyến tổ chức thu dây ngay trong trưa 31/12/1978.

Thông tin 2W nhận pin mới rồi xuống các đại đội nhưng cấm lên sóng.

Mọi thông tin tạm thời dùng tiểu đội truyền đạt chạy bộ cho đến khi có lệnh mới.

Kiểm tra toàn bộ vũ khí trang bị toàn tiểu đoàn trước 14h.

Đúng 16h30, toàn tiểu đoàn rời chốt hành quân theo dọc bờ đê về vị trí quy định.

Tiểu đoàn 6 chủ công, tiểu đoàn 5 dự bị tấn công hướng chính dọc theo lộ 1, con lộ từ Saigon đi Pnom Penh.

Tiểu đoàn 8 (trung đoàn 3 - trung đoàn Hoa Lư) với tiểu đoàn 4 chúng tôi hộ công luồn sâu vu hồi cánh trái.

Tại vị trí tập kết, sau khi ăn tối, anh nuôi phát cho mỗi người một vắt cơm và gói bột gia vị là khẩu phần ăn ngày mai.

Bữa tiệc tất niên năm 78 hoành tráng như thế đấy.

Lính nằm ngồi thao thức hoặc gà gật dưới tán cây ô môi cổ thụ chờ lệnh xuất phát.

Một cán bộ tác chiến sư đoàn được phái xuống đi cùng với mũi của chúng tôi.

Lính bâu vào hỏi: "Thủ trưởng ơi!

Năm nay ăn Tết ở đâu đây?"

"Có thể sẽ ở tây S'vay Riêng!".

Anh ấy có cái đài bán dẫn mở nho nhỏ, đang phát đi bản tin báo gió mùa đông bắc...Chao ôi là nhớ nhà.

Những giờ khắc cuối cùng của năm này, những người thân yêu của tôi đang làm gì?

2h30 sáng 1/1/1979, anh Ky tiểu đội trưởng vỗ mọi người dậy.Thì ra tôi cũng ngủ được một lúc.

Tiểu đoàn 8 đang vượt qua đội hình chúng tôi.

Kế đó đến đại đội 2 , đại đội 1.....Im lặng !

Lầm lũi đi !

2W mở máy nhưng chỉ thông tin ám hiệu bằng cách bóp công tắc..

Bùn lép nhép dưới chân.

Thỉnh thoảng đội hình dừng lại.

Trinh sát đang bám địch.

Lại tiếp tục đi xuyên vào một rừng tràm non cao đến ngực.

Lá tràm toả mùi thơm hăng hắc.

Nhưng rẽ tràm nhọn hoắt mọc ngược, đâm vào đế dày đau điếng.

Chả hiếu sao quân nhu hồi đấy sản xuất loại giày chết tiệt mỏng như vỏ trứng như thế !

Tiểu đoàn 8 đã sát địch rôi.

Lệnh dừng lại, triển khai công sự tại chỗ.

Đằng đông, sao Mai đã mọc.

..Đất bùn yếu nên chỉ sau 10 phút là tôi và thằng Thiệu "mù" - quê Đông anh , Hà nội đã khoét được một cái hố cho hai thằng nằm.

Trời sáng dần.

Đã quan sát rõ trước mặt chúng tôi là một cái phum rộng.

Trong phum thấp thoáng mấy mái ngói đỏ khuất sau hàng cây ngoài rìa.5h30- Phía bên lộ 1 hướng D6,D5, pháo 105mm của sư đoàn bắt đầu bắn chuẩn bị.

Bên này, cối 82 (4 khẩu) của D8 và D4 cũng lập tức lên tiếng.

Địch giã lại ngay.

Cối 60 nổ vài quả giữa đội hình tiểu đoàn tôi rồi thu tầm theo hướng phát triển của D8.

Trinh sát đã cắt nhầm hướng.

Đáng lẽ phải vòng qua sau phum này thì chúng tôi lại đâm đầu đúng vào nó.

Bộ đội tiểu đoàn 8 không lên nổi vì sát phum là bãi mìn chống bộ binh dày đặc.

Đạn 12.8mm và đại liên quất ràn rạt.

Đại đội 2 tiểu đoàn 4 được lệnh xuất kích đánh vào sườn nhưng cũng bị vướng mìn không phát triển nổi.

Địch mới được trang bị loại mìn KP.2 ( còn gọi là K.978 ) hình trụ.

Đường kính khoảng 8 cm, cao 15 cm.

Dây bẫy vướng nổ sơn màu xanh lá cây nên lẫn hoàn toàn với cỏ cây.

Khi vướng dây tụt chốt, liều phóng phía dưới đẩy mìn nhảy cao lên ngang ngực mới phát nổ.

Văng nhiều mảnh nên gây sát thương rất lớn.

Đã thế mấy thằng lính mới lại nhảy lung tung mới bỏ mẹ.

B trưởng gào khản giọng: " Chạy đi đâu...?

Nằm xuống... !

Chết mẹ bây giờ !".

Lúc bắt đầu nổ súng, tay tôi tự nhiên run bắn, nhưng một lúc thì cũng hết sợ.

Bấy giờ thằng Thiệu mù tư dưng dở chứng bảo tôi dịch ra cho nó đi ỉa.

Tôi bảo nó bò ra đằng kia mà làm cái việc không đúng lúc ấy, chứ ai lại bĩnh vào cái công sự chung của tao với mày.

Nhưng nó cứ phớt lờ đề nghị của tôi, lóng ngóng tụt quần.

Tôi tức quá bò ra chỗ khác đào một lỗ nông choèn rồi nằm xuống.

Thương binh, tử sĩ bắt đầu được cáng về.

Thương vong khoảng gần 3 chục, chủ yếu do mìn.

Cũng may hoả lực địch ở hướng này không mạnh.

Cả đơn vị nằm cứng giữa rừng tràm non.

Lá tràm che phủ chúng tôi.

Địch cũng thôi không bắn nữa.

Hướng D5,D6 cũng không chọc thủng được tuyến phòng ngự của địch.

Xế chiều có lệnh rút quân.

Tiểu đoàn 4 đi sau rút trước nhưng lính tiểu đoàn 8 cứ chạy tràn qua đội hình chúng tôi.

Địch phát hiện nên đồng loạt khai hoả hoả lực các loại.

Nghe rõ lính nó gào truy kích : " Trô..! trô.. ! trô..!."

Anh Sơn hô 2 khẩu đội 12.8mm giá súng đứng, kiểu bắn phòng không, bắn thẳng vào đội hình địch.

Nó chỉ hô thế thôi chứ bố bảo cũng không dám đuổi theo.

Thế là D4 đâm ra rút sau cùng.

Chúng tôi về lại đúng vị trí xuất phát.

Tập hợp đội hình xong rôi hành quân về đội hình trung đoàn ngay trong đêm...

...Đêm ấy nằm sau đội hình trung đoàn nên lần đầu tiên không phải gác.

Mặc kệ quần áo toàn bùn khô đóng vảy, tôi quay ra kiếm mấy cái cọc đóng 4 góc rồi giăng mùng ngủ một mạch.

Hôm sau mở mắt trời đã sáng rõ.

Kiếm được một con lạch mùa khô nước lờ lờ đục, bộ đội ào xuống tắm giặt.

Lại có mỳ tôm và rau cải xanh mới chở từ bên nhà sang nên lính tráng được một bữa nóng sốt tỉnh cả người.

Chiều cán bộ đi nhận nhiệm vụ về phổ biến mai đánh tiếp hướng lộ 1.

Không còn hồi hộp gì nữa, kể cả trận ngày hôm qua, như nó đã xảy ra nghìn lần trong đời.

Tinh mơ ngày 03/01/79, trung đoàn tiếp cận mục tiêu xong.

Lữ đoàn pháo 71 (thuộc quân đoàn) tăng cường hướng trung đoàn 2 hai khẩu 85mm đẩy tay lên sát tiền duyên trực xạ.

5h30 sáng, pháo chiến dịch khai hoả.

Màn mở đầu quá ấn tượng.

Pháo 155mm quân đoàn, 105mm của sư đoàn và các cỡ cối trung đoàn, tiểu đoàn thi nhau trút đạn xuống đầu địch.

Nằm nghe đạn cầu vồng rít qua đầu mà khoan khoái cả con người.

Chết mẹ mày đi!

Cho bõ tức ngày hôm qua.

Địch phản pháo yếu ớt rồi câm luôn.

Hai khẩu 85mm nòng dài đi cùng trung đoàn không đào công sự, nằm ngay trên mặt ruộng khô rạp nòng xuống quất.

Mỗi lần giật cò lại nảy lên cầng cẫng.

Tiếng 85mm đanh lọng óc, hơi đạn thấp đi phần phật.

Tiểu đoàn 6, tiểu đoàn 4 bắt đầu xung phong.

Bộ binh phát triển đến đâu, pháo 85mm kéo lên đến đấy.

Trên tuyến phòng ngự của địch, những bựng khói đen dựng lên liên tiếp.

DK.75 địch mới đầu còn "cùng - x..éo.o" vài quả sau cũng tịt luôn.

Loe loé đầu nòng độc nhất một khẩu 12.8mm, toang toác chừng được vài phút thì bị DK tiểu đoàn 6 xơi ngay.

11h30 trung đoàn đã đánh qua lớp công sự thứ nhất.

Ở mấy hầm tiền tiêu còn mấy quả bom bay đen trũi bọn lính Miên chết pháo, không kịp gí.

Đến 12 h, chịu không nổi, địch bắt đầu tháo chạy.

Phát triển truy kích đến chiều tối, tiểu đoàn 4 dừng lai trước một con lạch nhỏ chảy vào sông S'vay Rieng.

Bên trái có lẽ là trạm phẫu tiền phương của địch.

Bông băng, dụng cụ y tế quăng bừa bãi.

Mùi máu tanh nồng lẫn mùi hăng của thuốc tê...Những chiếc võng còn dính đầy máu chăng ngang dọc dưới chân cột nhà sàn.

Đêm ấy tiểu đoàn bộ nằm lẫn luôn với đội hình đại 1.

Trung đoàn 3 phát triển sườn phía bắc đường.

Các đơn vị nhận nhau ngoài vô tuyến điện còn bắn bắt liên lạc, cộng tròn bằng 7.

Đêm đầu tháng, như để bù lại cho buổi ban ngày, cực kỳ yên tĩnh.

Sáng sớm ngày hôm sau, có lệnh tiếp tục tiến.

Đồng ruộng trống trải.

đội hình hàng dọc đi trên mặt lộ như một buổi hành quân dã ngoại mỗi lúc một rảo bước.

Thị xã S'vay Rieng đã hiện ra trước mặt.

Trên cây cầu sắt bắc qua sông phía xa, một đoàn quân đang vượt tới.

Triển khai ngay đội hình và bắn bắt liên lạc.

Ba phát AK vang lên.

Bên kia trả lời đĩnh đạc bốn phát.

Ta rồi !

Thì ra lính tiểu đoàn 7 trung đoàn 3.

Trong chiến đấu, không gì vững lòng bằng lúc gặp đơn vị bạn đang cùng hướng, cùng nhiệm vụ.

"Cho xin hớp nước bạn ơi!"."

Này!

Dốc sang một nửa bi đông!"

9h30 sáng ngày mùng 4 tháng một năm 1979, trung đoàn chúng tôi vào thị xã S'vay Riêng không tốn một phát súng nào.

Mãi về sau này mới biết lúc đó Quân đoàn 3 đã vượt qua Kômpong Chàm, đánh lên Kômpng Thom ở phía bắc.

Quân khu 9 và Hải quân đánh bộ đã chuẩn bị giải phóng cảng Kompong Som ở hướng nam.

Nó sợ bị bao vây tiêu diệt chiến lược lớn nên bỏ chạy tiệt.

Cả tháng trời nằm hầm, nằm đất, bây giờ khoan khoái ngả lưng trên nền đá hoa mát rượi.

Đã đời ghê!

Anh Nhương (lại anh Nhương) túm đâu được con lợn khoảng 25 kg vẫy tay gọi Toàn cồ hữu tuyến.

Hai người lôi nó vào trong toilet làm thịt, phân công tôi đứng ngoài canh...tiểu đoàn.

Có lệnh cấm tuyệt đối không được vi phạm tài sản của nhân dân bạn và chiến lợi phẩm.

Ông Thưởng - chính trị viên tiểu đoàn biết là toi ngay.

Ở thị xã này lấy quái đâu ra dân, Lợn của địch thì có - thế thì thịt thôi.

Một bao dứa đầy gio bếp chụp vào đầu nó, thế là con lợn Pôn Pốt chỉ còn "hập ! hập" được mấy cái là xong đời.

Gia vị chỉ có mấy gói ngũ vị hương tống vào nhưng cứ thơm phức.

Anh nuôi nhọ đít chia xong là mấy thằng vội vác chậu cơm về.

Một nửa trung đội ăn trước, một nửa ăn sau.

Nhớn nha nhớn nhác nhưng ngon miệng không chịu được.

Chén xong, thằng Ban trố đi rửa chậu về trả anh nuôi.

Bố Nhương giằng lấy khịt khịt ngửi đi ngửi lại rồi bắt nó mang xà bông đi rửa lại.

..Chiều tối hôm ấy, lại tiếp tục hành quân thẳng tiến hướng tây.

Lúc đi, lúc nghỉ mải miết.

Bàn chân tôi dần sưng phồng mọng nước như bị bỏng.

Mắt nhắm mắt mở thỉnh thoảng lại đụng thằng đi trước vì buồn ngủ.

Hễ có lệnh nghỉ giải lao là hạ ba lô nắm ngay trên mặt lộ ngủ ngay được.

Đến khi bị đá dậy còn càu nhàu, tưởng là mình vừa mới ngả lưng xong.

Khốn khổ nhất là hoả lực cối đại 4.

Mỗi thằng một gánh đòn tre kẹp 8 quả cối 82.

Thằng Văn râu đỏ đồng hương Hà nội lặc lè với cái mâm đế cối.

Tướng người đậm thấp, khoác cái mâm đế trông không khác gì con rùa.

Bù trừ thôi mày!

Lúc bộ binh xung phong thì các bố chỉ mỗi việc nằm sau ung dung thả đạn.

Mãi gần trưa hôm sau mới đến Kômpong T'rabêk.

Có lệnh dừng lại, nấu cơm ăn rồi chờ xe của trung đoàn.

Hai dãy nhà sàn xếp hàng thẳng tắp hai bên đường.

Trong lúc chờ cơm, trèo lên một căn nhà lục lọi, tôi bỗng thấy trong bao thóc đổ có mấy cuốn truyện của Duyên Anh (trước năm 75).

Chắc chủ nhân ngôi nhà này là Việt kiều chăng?

Không biết còn sống hay đã chết?

Nghỉ ngơi vài tiếng thoải mái cho đến chiều thì bắt đầu sốt ruột.

Mãi không thấy xe trung đoàn đâu.

Kiểu này lại hành quân bộ quá.

Y như rằng có lệnh lên đường.

Quá ít xe nên trung đoàn sẽ chuyển tăng bo dần từng đơn vị.

Lại mải miết đi...Bỗng nhiên ai cũng ngẩng lên nhìn trời.

Dường như có hàng trăm con diều sáo đang lên tiếng cùng một lúc, rồi phía đằng sau lưng, rộ lên một loạt đề pa như sấm ầm ì.

Tiếng hú gió của đạn pháo 130mm bay qua đầu chúng tôi, nổ bên kia phà Niek Luong.

Thê thiết thay cái dàn hơi chết người ấy...

..Rồi xe sư đoàn cũng đón chúng tôi.

Tất cả leo ào lên thùng xe, duỗi đôi chân đã quá rã rời cho khoan khoái.

Tôi ngồi ngó nghiêng cảnh vật thay đổi hai bên đường.

Đi trận mà như thế này quả là dễ chịu.

Xe chạy chừng hơn 1 tiếng.

Một làn gió mát rượi hơi nước ào tới.

Phà Niek Luong đây rồi!

Mêkong đây rồi!

Tôi - một học sinh trung học vừa rời ghế nhà trường đi lính, trong hồn còn đầy những xúc cảm học trò.

Thấy bỗng nhớ Mêkong của Nguyên Hồng:

...Mê Kông chảy cây lao đá đổ.

Lan hoang, dứa mật, thông nhựa lên hương.

Có những trưa ngun ngút nắng Trường Sơn.

Ngẫm nghĩ voi đi.

Thác Khôn cười trắng xoá...

Và cuộc chiến đã cuốn tôi đến đây, tới bờ sông này, trước khi đẻ chín nhánh Cửu long trên đất Việt.

Chúng tôi chạy ào xuông dốc phà, khoả nước lên mặt.

Mê Kông loang loáng chảy.

Gió lồng lộng.

Trên sông, đoàn tàu há mồm LCU chở quân lùi lũi ngược sóng.

Hộ tống hai bên sườn là bốn chiếc khinh hạm loại nhỏ.

Ba chiếc LCU khác cập bến thả cầu đón đơn vị sang sông.

Sư đoàn 7 đã sang sông trước.

Thật là lạ, đến một thằng binh nhì như tôi cũng không thể hiều nổi vì sao nó không lợi dựng cái chiến hào thiên nhiên vĩ đại này để tổ chức phòng ngự?

Chắc chắn sẽ gây không ít khó khăn cho quân ta.

Đêm ấy, đơn vị dừng chân ngay bến phà, bờ hữu ngạn...

..Ngày 05/01/79, ai cũng yên trí rằng sẽ tiến dọc lộ 1 vào Ph'nom Penh thì trung đoàn lại lệnh xuống cho tiểu đoàn 4 xuôi cặp bờ Mekong truy quét địch.

Từ Niek Lương, đơn vị ngoặt theo hướng nam, hành quân trên con đường đất dọc bờ sông.

Khu vực này bắt đầu gặp dân bạn.

Họ đứng trên sàn nhà, nhìn đoàn quân đi.

Không vồ vập cũng chẳng sợ sệt.

Dân mà...cốt yên bình sống là đủ.

Cán bộ dân vận cùng trinh sát hỏi thăm một cụ già về tình hình địch.

Ông cụ cười nhe lợi: " Ruột tằng o hơi!" ( chạy hết sạch rồi!).

Chúng tôi đi qua một nông trường lớn với những con mương thẳng tắp.

Cái nhà ăn tập thể lợp lá thốt nốt rộng mênh mông.

Mấy cái nồi gang to đùng chúng nó bắn thủng hết đáy, chắc không để cho ta sử dụng được.

Bọn này đúng là thực hiện tốt việc tiêu thổ kháng chiến.

Các dãy nhà sàn đứng cách nhau đều như xếp hàng duyệt binh.

Lại còn gà nữa mới đau.

Thằng Cầm anh nuôi nghịch gõ một tiếng kẻng đầu nhà ăn, gà bỗng nhiên ở đâu đổ về đông nghịt.

Giữa ban ngày ban mặt, không có vật che khuất nên không đứa nào dám ho he.

Anh Nhương đi cùng tiểu đoàn, nhìn đám gà cứ như nhìn thấy kẻ thù giai cấp, nuốt nước bọt ừng ực.

Thỉnh thoảng lại liếc anh Thưởng chính trị viên, rồi lại thở dài nhìn lên trời ...xanh mây trắng.

Trưa hôm ấy, chúng tôi hạ trại nghỉ nấu cơm ngay tại nông trang.

Thực đơn bữa trưa gồm cá khô mang từ bên nước sang và món gà "ngó" trứ danh ấy.

Mâm tiểu đoàn cũng cá khô như lính.

Nhưng có thêm chút me thằng Điệp liên lạc hái về dầm vào cho dịu vị .

Bố Nhương vẫn còn hậm hực quay sang kháy liên lạc tiểu đoàn: "Điệp à!

Me này mày cũng ém mang từ nước sang đấy à?

".

Tôi thì tự nhủ thầm: chiến tranh đúng là cực kỳ phi lý !

Một con gà trống, như tán thưởng tư duy hàn lâm ấy, cất tiếng gáy o o...

Quá trưa ngày 07/01/79, chúng tôi nhận được tin quân ta đã vào được Phnom Penh.

Cả đơn vị vui sướng tột cùng , dù vẫn còn chút tiếc nuối nho nhỏ vì vẫn phải loanh quanh tìm địch ở bến phà này.

Cánh lính cũ được dịp ôn nghèo kể khổ.

Thôi hết nhé những ngày mưa nằm chốt cầu Prasot, ngã tư Nhà thương, giành giật với địch từng met đường 24...Tôi thì tưởng tượng cảnh trung đoàn sẽ tiến vào thủ đô trên những chiếc xe thiết giáp đầy bùn đất.

Lá Quân kỳ ám đen khói súng và lỗ chỗ vết đạn sẽ phủ bóng trên những gương mặt kiêu dũng của binh đoàn tình nguyện.

Chúng tôi sẽ mỉm cười với nhân dân ra đón.

Và nếu như có cô gái nào đó tặng hoa tôi, thì tôi sẽ ôm hôn cô ấy.

Hệt như những nụ hôn không biên giới khi Hồng quân tiến vào Budapet mà tôi đã được xem trên phim...Than ôi!

Thương thay cho những tưởng tượng huy hoàng ấy.

Gần một tuần sau, trung đoàn tiến vào Phnom Penh không một bóng người.

Chỉ có tiếng léc chéc đạn nhọn của mấy thằng lính ta đi lục lọi kiếm ăn bắn bậy.

Tiểu đoàn 4 lộn lại nam cầu Sài gòn khoảng 6 km chốt lại bên sông Mê kông.

Chốt đằng đít vì mình đánh nhanh quá, sợ những đơn vị lẻ của địch bây giờ mới chạy đến thủ đô đánh tập hậu - (hồi đó gọi là đánh bọc đít - sở trường của bon Miên).

Đơn vị nằm giữa vườn sa bô chê (hồng xiêm) rậm rạp, cạnh một trại nuôi gà (lại gà).

Đời lính của tôi chưa bao giờ có những ngày hạnh phúc đến thế.

Mắc võng giữa vòm cây xanh mát.

Trên đầu, sóc đi tìm quả chín chạy loạt soạt.

Những quả sóc ăn làm rụng ngọt đến nhức răng.

Ban ngày, tôi vào nhà một ông già sống độc thân chơi.

Ông già đãi tôi món khô cá lìm kìm nướng nhậu với nước thôt nôt chua.

Để làm được thức uống trứ danh này (được mệnh danh là bia Pochentong) là cả một kỳ công.

Đầu tiên, người ta đi chặt những cây tre già có gióng rất đều, tỉa cành đi rồi buộc áp vào thân cây thôtnôt.

Có những cây có thể cao hơn 20m nên phải hai, ba cây tre mới leo đến ngon cây.

Hoa thôt nôt ra buồng.

Người ta dùng hai thanh tre cứng kẹp lấy cuống hoa.

Ngày nào cũng kẹp cho đến khi cuông hoa thôt nôt mọng lên, ứa ra nước là cắt cuống, treo ống lố ô vào.

Sáng hôm sau đã đầy ống nước ngọt, dùng để nấu đường.

Còn muốn làm nước thôt nôt chua, bỏ thêm vào ống mấy mảnh vỏ cây có tác dụng lên men (tôi không biết là vỏ cây gì), là có bia Pochentong uống ngay.

Thứ nước này sinh ga rất mạnh.

Tôi đã chứng kiến có lần lính ta mang một can 20 lit nước thôt nôt chua ra sân phơi nắng để uống cho thêm bốc.

Một lát sau, cái can nhựa từ từ phồng lên hết cỡ rồi nổ cái bùm.

Mấy thằng không biết gì xách súng chạy toé ra, tưởng địch tập kích.

Thế là công toi...nghỉ uống.

Ngồi uống một vài bát, mặt tôi đã thấy nong nóng.

Anh Ky, với thứ ngoại ngữ bằng tay, hỏi cụ già công nghệ chế tác mồi nhậu.

Cụ già dẫn chúng tôi ra sông.

Một con thuyền nhỏ, một cái te bằng tre đan gióng trước mũi thuyền.

Đàn cá kìm đang ve vẩy ngược sóng.

Thân hình chúng trông giống như quả tên lửa, gần như trong suốt với cái mồm dài ngoằng.

Một con to nhất đàn đang cặp ngang một con cá nhỏ bằng cái miệng đặc biệt ấy.

Te từ từ nâng lên.

Xong rồi !

Mang về làm sạch, phơi qua một nắng và đưa lên gác bếp xông khói.

Không còn gì phải bàn nữa...!

Đã gần Tết Nguyên đán.

Gió chướng lao rao trên các vòm lá.

Buổi đêm lạnh nên hay ngót bụng thèm ăn.

Dường như không chịu được nữa, anh Tuấn còi trung đội phó thông tin sai tôi với thằng Tường lé mò xuống trại gà.

Vừa sờ lườn được vài con thì hướng tiểu đoàn thấy có ánh đèn pin loang loáng đi xuống.

Bỏ mẹ !

Tôi với thằng Tường vội trèo ngay lên sàn gà đậu, nằm im không dám thở.

Anh Thào, tiểu đoàn phó cùng thằng Điệp liên lạc đang xuống kiểm tra.

Tay vung vẩy khẩu K.59, anh ấy quát hú hoạ: " Mấy thằng mò gà đâu ra ngay!

Tao bắn bể sọ !"

Im lặng đến nghẹt thở.

Đám gà mé bên kia tự nhiên loác quác.

Ánh đèn rê theo hướng ấy, quét đi quét lại vài lần .

Có cái gì buồn buồn ngang lưng.

Tôi rờ rẫm chạm phải cái gì lành lạnh bỗng rủn người hất xuống.

" Xoạch!

Phì... phì ì ...!"

Thằng Điệp quay ngoắt lại, lia đèn vào chỗ phát ra tiếng động.

Một con rắn hổ mang đang lắc lư trên nền đất.

Nó lia đèn loanh quanh một chút rồi chĩa thẳng vào mặt tôi.

Hai thằng im lặng nhìn nhau nửa giây rồi ánh đèn chĩa ra hướng khác.

" Rắn!

Thủ trưởng ạ!

Nó vào mò trứng gà thôi!".

Tiếng chân bước xa dần.

Tôi và thằng Tường tụt xuống.

Đêm lạnh nhưng mồ hôi ra ướt đẫm cả người.

Hai thằng bóp cổ chết năm con gà mái tha về trung đội.

Nước đã sôi sùng sục.

Tuấn còi chửi " Làm chó gì mà lâu thế?"

Tôi nói không ra hơi, chỉ tay về hướng tiểu đoàn.

Anh Hoạch chồm dậy, dụi bớt lửa.

Bố Nhương lấy tấm liếp thôt nôt che chắn xung quanh rồi sai thằng Vỹ ra gác.

Lông gà và lòng mề chôn ngay.

Một lát sau, nồi cháo thịt gà nhiều hơn gạo đã ngấu.

Cả trung đội đang sì sụp ăn vụng bỗng giật nảy mình.

Thằng Điệp liên lạc, không biết bằng cách nào, đã đứng lù lù trước đống lửa.

Nó nhe răng cười và chìa bát sắt ra.

Hú hồn !

Mẹ thằng này khôn thật !

Cả về sau này, có lẽ chẳng còn bát cháo gà nào với tôi, ngon như thế nữa.

Sáng hôm sau, tôi được phân công xuống trực máy đại đội 1.

Mừng hú, vì dưới đại đội sinh hoạt có phần thoải mái hơn nằm ở tiểu đoàn bộ.

Gần lửa thì rát mặt.

Cán bộ đại đội có anh Khanh, đại phó, anh Síu chính trị viên.

Đại đội 1 có mấy thằng lính cùng đoàn với tôi, chơi với nhau cũng hợp tính như thằng Căn liên lạc, Thằng Đặc trung đội 3...Xuống đến nơi thì chúng nó đi đâu cả.Tôi hỏi thì ông Khanh nháy mắt:" Cho chúng nó đi cải thiện!".

Gần trưa, hai thằng lặc lè khoác ba lô về.

Mở ra thì toàn rượu Napoléon loai lâu năm thượng hạng.

Còn ba lô kia toàn sữa hộp Neslé và thuốc lá thơm Ara.

Trong thành phố Phnom Penh lúc đó có rất nhiều kho dự trữ của địch.

Chắc hai thằng này may mắn vớ đúng kho Sở ngoại vụ rồi.

Chiều ra sông tắm, quăng xuống quả US da láng (M.26).

Nổ đánh ục một cái, cá nổi trắng nước.

Lao vội ra vớt những con to nhất quăng lên bờ.

Thêm hai con gà luộc nữa là bữa tối trở nên hoành tráng.

Thằng Tuý 2W xì ra một lố pin PRC.25 đã thải, đấu vào cái bóng 12V.

Lúc này, cái nhà sàn ban chỉ huy đại đội bỗng thành nơi dốc bầu tri kỷ.

Cha con anh em ngất ngưởng nâng bát.

Lưng chừng cuộc vui, anh Khanh lúc ấy đã tây tây rồi, đòi đục sữa hộp ra pha vào rượu.

Bố ai chịu được loại coctail ấy.

Thế mà anh ấy ực một hơi hết bát B.52 rồi ra vịn lan can ...ói.

Chưa ai kịp ra đỡ thì từ từ gục xuống , cắm đầu rớt qua thành lan can rơi xuống hồ.

Thằng Căn lao xuống lôi lên.

Bố ấy vẫn còn lè nhè : "Đ...mẹ !

Tao rớt ngọt như quả mít!

" Nói tiếng Đan mạch (Đ...m) một lúc nữa rồi cha ấy nằm thẳng cẳng.

Tôi cũng say quá.

Tự nhiên thấy nhớ nhà kinh khủng.

Nước mắt giàn giụa không kìm đươc, tôi bật khóc hu hu !

...Những ngày yên tĩnh như thế rồi cũng nhanh chóng trôi qua.

Trưa ngày 25/01/79, tức là ngày 27 Tết Kỷ Mùi, đơn vị nhận lệnh hành quân gấp.

Tiểu đoàn 4 đi dọc con đường ngược sông về Ph'nom Penh.

Đến mũi đất phía nam sông Bốn mặt (gần cầu Sài gòn), chúng tôi leo xuống bờ sông dốc đứng.

Ở đó đã có mấy chiếc tàu LCU đang chờ sẵn.

Tiểu đoàn xuống tàu, lùi lũi ngược Tonle Sap.

Sông bốn mặt rộng mênh mông.

Thủ đô Ph'nom Penh trải dài ven bờ phía trái tầm mắt chúng tôi.

Những mái vàng của Hoàng cung lấp lánh trong nắng.

Từng vòm cây xanh ngắt ôm ấp những khu nhà ngói đỏ xinh xắn.

Trước mũi tàu rẽ sóng, thỉnh thoảng những đàn cá linh thấy động vụt nhảy rào rào trắng xoá.

Ph'nom Penh lùi dần lại sau lưng.

Chạy được khoảng 2 giờ, bỗng có tiếng đạn nhọn rộ lên bên sườn bờ bên tay phải.

Chúng tôi ngồi thụp xuống lòng tàu, không bắn trả.

Đoàn tàu né sang bờ hữu ngạn, tăng tốc phả khói đen mù mịt tiếp tục tiến .

Chạy thêm 1 tiếng nữa, hải quân cập bờ trái.

Đơn vị đổ bộ lên bến phà Preck Đam, tiếp tục tiến theo mé sông hướng bắc lên Ô Đông.

Địa hình ven bờ toàn những bụi cây dại lúp xúp.

Con đường đất chạy giữa một bên sông, một bên là đầm lầy.

Trời đã mờ mờ tối.

Tiểu đoàn dừng lại ở một cái xưởng cưa ven sông, triển khai đội hình chiến đấu.

Trên mặt sông, mấy chiếc giang hạm nhỏ đen trùi trũi đi phối thuộc với chúng tôi đang buông neo gần bờ.

Anh Ky và tôi được lệnh kéo dây xuống đại đội 1 ở phía trước.

20h30, liên lạc hữu tuyến đã thông suốt.

Đêm cuối tháng tối như mực.

Im lặng đến rợn người.

Máy điện thoai để mức chuông nhỏ nhất.

Cấm đốt lửa, chúng tôi đổ nước lạnh vào bịch gạo sấy hoặc xé mỳ tôm sống ra trệu trạo nhai.

Đến nửa đêm, tổ trinh sát tiểu đoàn 3 người vượt qua đại đội 1 lên bám địch.

Qua đội hình trung đội 3 tiền tiêu, anh Sơn tiểu đội trưởng trinh sát còn lào thào dặn với :"Chút nữa bọn tao về !

Nhớ hỏi mật khẩu không có bắn nhầm đấy!".

Gà gật đến 2h30 sáng 26/01 (28 Tết), đạn nhọn rồ lên phía trước mấy loạt rồi im bặt.

Gần sáng, hầm tiền tiêu thấp thoáng bóng người.

Tiếng nói nhỏ:" Trinh sát đây!

Sơn đây!

Đừng bắn!".

"Mật khẩu?"

" Mật khẩu đ... gì?

Mấy thằng lính mới trung đội mày gác giật mình ngoéo cò thì bố mày lên nóc tủ à?".

Trinh sát đã về qua đại đội.

Mọi người xúm vào hỏi.

" Còn thằng nữa đâu?"

"Chắc tiêu rồi!

Sát họng đại liên, không kéo về được!".

5 h30, trời bắt đầu sáng.

Chỉ huy tiểu đoàn triển khai nhiệm vụ cho đại đội 1 qua máy điện thoại xong, 2W lên máy.

Anh Nhương dặn tôi qua máy:" Chúng mày không phải thu dây, tao cho chúng nó thu từ dưới này lên!".

Cả đội hình tiểu đoàn từ từ tiến.

Dưới sông, tàu hải quân cũng tiến song song.

Trước mặt có một cái cồn nổi lớn chia Tonle Sap thành hai nhánh.

Bốn chiếc khinh hạm của ta phát hiện địch trước.

Đại liên 50 hai nòng trên các tàu bắt đầu khai hoả.

Lính đại 1 bám từng bờ cây, bụi cỏ phát triển dần lên.

Địa hình hẹp bề ngang, nhiều vật che khuất chỉ có một đường tiến.

Cối 82 tiểu đoàn được yêu cầu bắn trước đội hình 60 m nên đại 4 gần như dựng nòng lên thả đạn.

Dưới sông, bốn chiếc khinh hạm yểm trợ nhau lần lượt quay đuôi về phía địch thụt cối 81 (thằng cối 81 dưới tàu Mỹ bắn bằng điện nên góc bắn có khi nhỏ hơn 45 độ).

Trên cái cồn (giồng) giữa sông, địch có một cái tăng PT.85 chôn âm, nguỵ trang đầy lá thôt nôt gióng nòng pháo bắn săn tàu chiến.

Do tàu cơ động liên tục, và khoảng cách cũng xa nên nó nã hơn chục phát cũng không chiếc nào dính đạn.

Mấy khẩu 85mm đi tăng cường cho tiểu đoàn 4 không bắn được do địa hình bị che khuất bởi cây cối.

Trước mặt là cái trảng , rồi đến con mương thuỷ lợi rộng khoảng 20m ăn thông với sông .

Một cây cầu nối hai bờ mương.

Bộ binh cứ thò ra ngoài trảng là đại liên bên kia mương nó quất ngay.

Địch tựa vào bờ sông và cồn bên kia làm thế ỷ giốc gây khó khăn lớn cho ta.

May là nó không bắn cối chứ đường độc đạo như thế, nó cứ thả cối dọc theo đường thì cha con khiêng nhau mệt.Tử sỹ đã được chuyển về.

Trong số đó có thằng Thành quê Hà Nam Ninh, thằng Thái người Quảng Bình, thằng Thư ở Bắc Ninh là mấy đứa cùng bổ sung cùng đợt 1978 như tôi.

Mấy chiếc tàu quân ta hùng hổ được một lúc, bắn hết đạn cối rồi quay đuôi chuồn thẳng.

Bộ binh cũng nằm luôn, không tiến nữa.

Buổi trưa yên tĩnh trở lại, như chưa hề có điều gì vừa xảy ra.

Trên mặt công sự của tôi, những con kiến đang chăm chỉ tha những cọng mỳ tôm vương vãi.

Mặc kệ!

Ai có việc của người ấy phải không?

Tớ bận kiếm ăn, còn loài người các cậu thì bận giết nhau.

Cũng thế cả thôi!

Tự nhiên tôi bỗng nhớ tới nụ cười Bayon mà chúng tôi đã gặp rất nhiều trên đất nước này.

Đôi mắt lim dim, nụ cười đá nhếch mép thoang thoáng, nửa như chia sẻ, nửa như giễu cợt :"Thôi đi nào!

Kể cả sự Sống cũng như cái Chết !

Chỉ có Thời gian mới là vĩnh cửu!".

Cái đất nước bí ẩn và quái quỷ này...

Pháo 105mm sư đoàn bắt đầu giã vào ngã ba chùa sau lưng địch.

Tiểu đoàn 5 từ Ô Đông đánh bọc đít tuyến chốt này, quyết bao vây tiêu diệt gọn.

Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn 4 xung phong phối hợp.

Đại đội 4 còn bao nhiêu đạn cối 82 mang ra xài hết.

Đẩy khẩu DK.82 duy nhất của tiểu đoàn lên sát đại 1 thổi thẳng vào những bụi cây ven bờ mương.

Địch vỡ trận bắt đầu tháo chạy.

Phía bên kia cồn, tiếng động cơ rồ lên.

Cái tăng PT.85 lùi ra khỏi ụ lủi đi thật nhanh.

DK82 bắn đuổi với nhưng không trúng.

Bộ đội đã vượt qua được cầu.

Ngay trước hầm địch 5m là xác thằng Năm trinh sát hy sinh hồi đêm.

Súng đã bị địch thu mất, thi thể găm đầy vết đạn.

Tôi thấy đôi dép cao su đúc của nó còn tốt liền tháo ra xỏ vào chân, quăng ngay đôi giày thối xuống sông.

Trên sân chùa, đoàn xe bò chở gạo và thương binh tử sỹ địch trúng pháo văng tung toé.

Một con bò què cẳng rống lên thảm thiết.

Có ngay một phát đạn nhân đạo dành cho nó.

Anh nuôi các đại đội đi qua mỗi thằng xẻo một miếng tướng trước mặt ban chỉ huy tiểu đoàn nhưng cũng chẳng ai nói gì.

Không thế lấy sức chó đâu ra mà đánh nhau.

Đến chiều tối thì hai tiểu đoàn gặp nhau.

Trận này không kể bị thương trung đoàn hy sinh 11 người.

Anh Thạnh trung đoàn trưởng (đi cùng mũi với tiểu đoàn 5) phần thì xót lính, phần thì tức tối vì sổng mất cái xe tăng, luôn mồm chửi rủa.

Đúng lúc ấy, hai trong số bảy thằng tù binh to vật vã đang ngồi dưới gốc cây bỗng lao vào giật súng của vệ binh định ăn thua đủ.

May mà lính ta ra tay kịp thời.

Đạn cày nát cái sân đất trước mặt.

Trận ấy trung đoàn 2 không bắt sống được tù binh, nhưng đã xoá sổ gần một tiểu đoàn địch.

Mai đã là 30 Tết rồi !

Chiều ba mươi Tết (năm ấy tháng thiếu, 29 là ngày ba mươi), đơn vị dừng chân ở một phum trù phú ven bờ Tonle Sap.

Tôi bị Tào Tháo đuổi có lẽ do món thịt bò hầm bằng thùng đại liên trộn với nước lã uống đại dọc đường oánh nhau trong bụng.

Đêm mắc võng cạnh anh Thịnh 2W, nghe Thu Phương (không phải Thu Phương bây giờ) hát qua cái radio chiến lợi phẩm mà lòng quặn lên nỗi...đi ngoài.

Bài hát này tôi thuộc và rất thích :" Em ơi mùa xuân đến rồi đó!

Thắm đỏ ngàn hoa sắc mặt trời...".(Bây giờ thằng con giời đánh của tôi nghe chúng bạn đâu đó sửa lại thành:" Em ơi đừng nghe nó lừa đấy!

Nó ở nhà quê mấy vợ rồi...!").

Gà lợn đầy phum và đã có lệnh được phép sử dụng thực phẩm thu được của địch một cách hợp lý.

Nhưng các bạn biết đấy,với mấy thằng lính chiến thì giới hạn của sự hợp lý là vô hạn.

Thôi thì đủ các món trên trời dưới bể : kho, xào,nướng, tái...Anh Hồng đại trưởng đại 4 còn thể hiện món tiết canh chó.

Các đại đội đóng quân tương đối xa nhau nên hữu tuyến được nghỉ không phải dải dây.

Đến giao thừa, tất cả các cỡ súng đồng loạt rộ lên.

Tiếng đạn nhọn giòn như bắp rang điểm nhịp trầm trầm của hoả lực.

Đạn vạch đường AK, đại liên, 12.8 từ hướng các tiểu đoàn bay vạch ngang vạch dọc bầu trời.

Thậm chí còn có thể nhận ra những vệt đỏ lừ của đạn chống tăng M.72 .

Anh Lộc người Hà Tây mới về nhận nhiệm vụ chính trị viên phó tiểu đoàn 4 định kêu 2W gọi xuống các đại đội thì mọi người gạt đi :"Gọi làm gì !

Địch tập kích ấy mà!"."

Mẹ chúng nó !

Tập kích đường không hay sao ấy nên toàn bắn lên trời thế kia !

Mai trung đoàn hỏi thì ăn nói thế nào ?"."

Ấy đừng lo !

Chắc bây giờ trung đoàn bộ cũng đang bị tập kích thôi !"

- Chính trị viên Thưởng khoái trá.

Thực ra từ hồi chiều chỉ huy tiểu đoàn đã lệnh cho các đại đội cấm cho lính bắn bậy.

Nhưng giờ phút thiêng liêng này, ai nỡ ngăn cản những xúc cảm con người.

Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương xa xót, lòng hy vọng ở một ngày mai yên bình, lời vĩnh biệt thằng bạn cùng ra lính sáng nay ngã xuống, niềm cô đơn bất tận của đoàn người tha hương...Tất cả, tất cả những ẩn ức dồn nén ấy đã bật ra trong tiếng súng.

Bi tráng và day dứt hơn bất cứ dàn giao hưởng nào.

Phải chăng con sói của Jack London cũng đã từng tru lên như thế trong đêm lạnh dưới vầng trăng vùng cực?

Trong tận cùng cô độc, nhìn sâu vào lòng mình, con người trưởng thành hơn và thấy thương con người hơn.

Tất nhiên chúng tôi hiểu Đất nước và Nhân dân luôn bên cạnh, nhưng trong khoảnh khắc ấy, với tôi là những giờ phút rất riêng tư.

Sau Tết được vài hôm, anh Ky, tôi và thằng Tuý 2W (hy sinh năm 1980) được lệnh đi độc lập với đại đội 2 (đại đội anh hùng) cùng sở chỉ huy nhẹ tiểu đoàn ra Ô Đông phối thuộc với trung đoàn 3 .

Địch bâu bám, quấy rối và đánh cắt giao thông lộ 5 đi Kompong Ch'nang, đẩy tiểu đoàn 8 trung đoàn 3 ra sát rìa lộ.

Ở ngã tư gần thị trấn Ô Đông còn thấy năm sáu chiếc xe tăng T.54, M.113 của ta bị nó phục kích bắn cháy đen thui.

Địa hình ruộng khô xen lẫn rừng thưa nên rất khó quan sát.

Được tăng viện, trung đoàn 3 quay lại đuổi địch dạt vào phía rừng.

Nhưng bọn này thuộc địa hình, cứ dạt ra chỗ này lại bâu chỗ khác rất khó chịu.

Đã ba ngày liền, tiểu đoàn 8 và đại 2 tiểu đoàn 4 quần nhau với bọn này.

Rình rập nhau từng xó rừng, bờ ruộng.

Mùa khô lính khát nước gần chết.

Phía trong rừng thưa lẫn ruộng chỉ có độc nhất một cái hồ nhỏ, không hiểu sao lại gọi tên là hồ Thiên nga.

Đại 2 đánh lên rồi nằm trấn ngay bờ hồ ấy, cứ thằng nào mò ra lấy nước là bắn tỉa.

Gần 2 chục thằng phơi xác.

Có lần địch bắn rát hô xung phong nhưng anh Hải (người Quảng ninh – hy sinh năm 1981) đại trưởng quát lính nằm im không thèm bắn.

Bọn này biết ngay là gặp thành phần không dễ chơi nên lại dạt ra phía lộ.

Trên máy PRC.25 nó dò được tần số liên lạc của ta liền chửi :"chuây me Duôn!" nhặng xị.

Có thằng biết chửi cả bằng tiếngViệt.

Thằng Tuý chửỉ lại mỏi mồm, bảo chúng nó có khát thì chịu khó đái ra mà uống chứ đừng dại dột lại gần cái hồ này rồi chuyển tần số theo quy định.

Gần tối, đại đội 2 lại được lệnh quay ra lộ 5 đánh bọc đít.

Đi đến đâu địch dạt ra đến đấy.

Trên mặt lộ, anh Nguyễn Năng Nguyễn – trung đoàn trưởng trung đoàn 3- dàn cả 5 khẩu DK.75 táng đạn xuyên vào bìa rừng chúng nó mới tháo lui.

Sơ qua về truyền thống đơn vị chúng tôi một chút : Sư đoàn 9 - Từng được mệnh danh Quả đấm thép miền đông Nam bộ có ba trung đoàn.

Trung đoàn 1 mang tên trung đoàn Bình Giã.

Sau trận Bình Giã oanh liệt mà mang danh.

Trung đoàn 2 là trung đoàn tôi phục vụ, mang tên chiến thắng Đồng xoài.

Trung đoàn 3 mang tên chiến thắng Hoa Lư.

Riêng trung đoàn tôi với truyền thống "Thành đồng quyết thắng- Trung dũng kiên cường- Đi là chiến thắng- Đánh là dứt điểm" đã có tiểu đoàn 6 được phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Tiểu đoàn 4 của tôi có tới hai đại đội Anh hùng là đại 1 và đại 2.

Từ cái nôi tiểu đoàn 4, qua trui rèn chiến trận đã thành danh các tướng lĩnh như anh Sơn, anh Nguyễn...Còn biết bao các anh nữa nếu giờ phút này chưa hy sinh anh dũng hẳn sẽ là những sỹ quan rường cột nước nhà như anh Hải, anh Quang..

Đi trận với những người chỉ huy dày dạn và quyết đoán, bộ đội tin tưởng và quyết tâm hơn.

Tôi nhớ anh Sơn tiểu đoàn trưởng, quân phục lúc nào cũng tinh tươm.

Khi đụng địch cũng chẳng lúc nào đi khom, trừ khi nó bắn rát quá.

Thằng thông tin tiểu đoàn là tôi đi bên cạnh chẳng nhẽ lại bò, nên cũng cố hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy.

Tôi nhớ anh Quang râu (hy sinh năm 1980), khi địch nó đánh thốc vào đại đội 1 ở Ămleng.

Có mỗi cái hầm nhỏ, hai anh em nhường nhau chẳng ai chịu chúi.

Anh ấy dúi tôi vào rồi cứ ngồi kềnh kễnh trên miệng hố mà thét lính...Chiến thắng đến có thể bằng nhiều cách.

Nhưng những hành vi cao thượng luôn khích lệ con người...

Lộ 5 đã thông, đại đội 2 và chúng tôi trở về đội hình tiểu đoàn bằng xe tải.

Từ Ô Đông lên thẳng Kampong Ch'nang rẽ phải xuôi ra bờ Tonle Sap.

Tiểu đoàn 4 (thiếu) đã cùng tàu hải quân lên Kampong Ch'nang trước bằng đường thuỷ.

Đại đội 2 qua sông bằng thuyền của dân bạn, về đội hình tiểu đoàn ở Bongbang, bên kia thị xã Kampong Ch'nang.

Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng tại cái chùa lớn.

Trung đội thông tin nằm trong cái nhà đúc 2 tầng cách BCH khỏang 100m.

Về đến nơi, tôi và anh Ky được phân công xuống đại đội 1 ngay.

Phải nói là sau những đòn mãnh liệt và nhanh chóng của ta, địch bắt đầu hồi lại và tổ chức phản kích.

Các đơn vị nhỏ lẻ bâu bám cầm chân chủ lực ta để các đơn vị cấp sư đoàn gom quân, vũ khí, khí tài rút vào địa hình hiểm trở hòng kháng chiến lâu dài.

Chiến tranh có vẻ kết thúc sau khi Phnom Penh được giải phóng.

Nhưng với chúng tôi, nó mới thực sự bắt đầu.

Đêm vừa xuống đến đại đội 1, địch tập kích ngay.

Tiếng súng rộ lên khắp các đại đội.

Nó đánh cả vào ban chỉ huy tiểu đoàn.

Đại đội 1 nằm cạnh một gò núi nhỏ mọc đầy tre tầm vông, chẹn ngang con đường đất đi về phía rừng thưa.

Đại 2, đại 3, đại 4 nằm liền kề bố trí hình vòng cung lõm.

Ban ngày yên tĩnh.

Cánh đồng trống trải nhìn rõ những gò cây khô trơ trụi do cháy và rụng lá mùa khô.

Lính tráng đi lại kiếm ăn cải thiện khá thoải mái.

Sơn "ba tai" hữu tuyến còn kiếm đâu được con ngựa liền cưỡi ra bờ sông sang thị xã Kampong Chnang kiếm rau ăn.

Chiều tối cả người cả ngựa bơi vượt sông về.

Tôi cũng thử tập làm kỵ sỹ.

Dù lót cả cái bao tải làm yên nhưng cũng trợt cả da mông vì mồ hôi ngựa.

Một lần vào buổi trưa, thằng Đồng Huế liên lạc phát hiện một con trâu đang xồng xộc chạy trên đồng, hướng địch hay vào tập kích .

Tôi và nó nằm ngay trên cái phản trong lều đại đội vớ ngay AK cứ thế tương.

Con trâu đã loạng choạng lảo đảo thì lại thấy bóng người đang đuổi theo nó.

Ah!

Địch rồi!

Thằng này tợn thật, dám tiếc con trâu à!.

Thế là lại quay sang tỉa nó.

Thằng Gia "cà bây"(trâu) bên cối 60 hét lên:" địch đâu mà địch!

Ông Khanh đấy!".

Xung lực ngưng bắn ngay lập tức.

Bố Khanh -(Quê Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá - đại trưởng) – đúng là bố Khanh thật, từ từ đứng dậy quan sát rồi bình tĩnh tiến đến con trâu đã chết.

Sau một hồi hì hục giải phẫu, xách về một cái lưỡi trâu, một quả tim lừ lừ đi thẳng vào lều hỏi: "Thằng nào vừa bắn đấy?"

Thằng Đồng im lặng.

Còn tôi đứng ngay dậy :" Em bắn đấy!

Em tưởng...".

Thế là veo một cái, cả cái lưỡi trâu trên tay cha Khanh bay thẳng vào mặt tôi.

Phản ứng cực lẹ, tôi né được phát thứ nhất.

Chưa định thần thì bụp, cả quả tim trâu đầy máu đập ngay vào bụng tôi rồi lăn ra đất.

Dường như đã hả tức, anh ấy chửi rủa vài câu nữa rồi thôi.

Thằng Đồng len lén đi nhặt chiến lợi phẩm bất đắc dĩ ấy đi rửa để chiều làm bữa.

Còn tôi cởi áo (cái áo duy nhất), ra sau bụi le đái vào vò sạch máu trâu rồi đi giặt.

Đấy là ban ngày, còn ban đêm các trung đội căng ra gác.

Kể cả các trung đội thông tin, trinh sát và vận tải tiểu đoàn.

Đêm nào địch cũng tập kích quấy rối.

Bọn nó nằm ngoài bờ hoặc bìa rừng khô lia đạn nhọn vào đội hình chứ cũng không dám xáp vô.

Thỉnh thoảng cóc oành quả M.79.

Hồi đầu, khẩu DK.75 đi phối thuộc với đại 1 cứ thấy loé lửa đầu nòng chỗ nào lại phụt một trái vào đấy.

Lâu ngày thành quen, ta chán không bắn lại nữa.

Bọn nó đâm sợ bị ta dâng đội hình phục kích nên dãn ra xa.

Đêm mùa khô thật lạnh.

Địch tập kích đã thành quen.

Có những hôm không có tiếng súng bọn tôi không thể ngủ được.

Tất nhiên,đừa nào gác cứ gác,đứa nào ngủ cứ ngủ.

Bây giờ là khoảng giữa tháng hai năm 1979.

Qua radio, tôi biết bọn Khựa đang tiến công ta trên toàn tuyến biên giới.

Dường như để phối hợp ,bọn Miên cũng tăng cường hoạt động.

Có lần, giữa đại đội 1 và đại đội 3, có hai thằng phụ B.40 lọt hẳn vào đội hình.

Lính ta thấy mặt hơi bị lạ túm lại hỏi :"Mày ở B nào?".

Nó chỉ loằng ngoằng một lúc rồi phọt ra cánh đồng.

Mất cơ hội bắt sống hoặc diệt địch.

Đêm khuya thanh vắng.

Bầu trời quanh vị trí đứng chân của tiểu đoàn bỗng rền rĩ nức nở những tiếng than ai oán.

Tôi nằm nghe cũng rợn hết cả da người.

Súng đây!

Đồng đội cũng ngay đây!

Ông Khanh đại trưởng đại 1 đánh nhau thì hay nhưng hoá ra cũng sợ ma.

Ông ấy hô thằng Dung "kỳ đà" bắn cối.

Cả đại đội nhỏm dậy.

Điện thoại tiểu đoàn gọi xuống hỏi tại sao các anh dùng hoả lực.

Thì ra là tiếng kêu của bày công đất đi ăn đêm (thịt công đất tuyệt ngon-đúng là nem công chả phượng.

Chuyện này tôi sẽ kể với các bạn sau).

Hướng trung đội 2 tiếng trung liên của thằng Cự kéo hai loạt ngắn trước.

Tiếng AK của địch đáp trả rất gần.

Một lát sau nổ thêm 3 phát nữa nhưng xa hơn.

Sau đó tất cả lại im lặng.

Bình thường địch bao giờ cũng nổ súng trước nhưng đêm nay như thế thì quả là lạ.

Anh Khanh nhỏm dậy gọi thằng Đồng cùng xuống trung đội 2 kiểm tra tình hình.

Một lát sau trở về kêu các trung đội tổ chức thêm vọng gác.

Cả BCH đại đội và cối 60mm vì nằm gần nhau nên cũng phải tổ chức chung một vọng gác nữa.

Cái linh cảm là lạ này bắt đầu ở đâu nhỉ?

Ah!

Thì ra là từ sự im lặng bất thường ấy, Rồi đêm cũng dần qua.

Buổi sáng, trước hầm gác của thằng Cự trung đội 2 lù lù một cái xác Miên to vật.

Nó nằm sấp úp mặt xuống đất.

Lính ta định lật xác nó lên thì anh Khanh cản lại.

Săm soi một lúc nữa mới phát hiện thêm một vệt máu nữa cách đấy một chút rồi mất dấu.

Trở lại xác thằng địch chết, thận trọng lật lên (vì đề phòng chúng nó gài mìn) thu khẩu M.79 với rất nhiều đạn và lựu đạn.

Bộ ka ki màu xám, cái túi mìn claymo bên trong có một cái võng nilon (cái võng này tất nhiên thuộc về thằng Cự).

Một cuốn sổ ghi chép linh tinh chữ loằng ngoằng như giá đỗ.

Ở moi quần còn phụt ra cả một đám tinh dịch loang lổ, chắc do mất kiểm soát hành vi trước khi về nước Chúa.

Khẩu M.79 đã bắn nhưng đạn mới ra khỏi nòng đượcmột nửa vì ngã sấp.

Trinh sát tiểu đoàn khi dịch cuốn sổ cho biết đây chính là bọn đặc công, đêm qua định xơi tái đại 1.

Thật may là đàn công đất đã báo động cho chúng tôi.

Khi đại đội bắn cối nó tưởng là bị lộ nên rút ra.

Có thể hình dung tổ ba người của thằng trinh sát này đen đủi mò vào đúng họng RPD của trung đội 2.

Chết 1, bị thương 1 vì vẫn còn dấu máu khi rút lui.

Tiếng AK bắn 3 phát sau từ phía xa có thể là hiệu lệnh tập hợp đội hình của địch.

Hú vía!

Từ đó bố có bảo cũng chẳng thằng nào dám bỏ gác.

Thường thì cán bộ đại đội khi chọn liên lạc bao giờ cũng chọn những thằng nhanh nhẹn tháo vát, nhỏ người trong số quân mới bổ sung.

Ngoài nhiệm vụ liên lạc với các trung đội, nó còn là cả một cái kho di động, chuyên ém những nhu yếu phẩm cần thiết.

Chẳng hạn có giai thoại là khi bắt đầu buổi họp quân chính đại đội.

Khi đại trưởng hoặc chính trị viên muốn khao các B thì hỏi liên lạc:" Này thằng em!

Thuốc rê còn hay hết?"

Thế là liên lạc nhanh nhảu ngay:" Còn anh ạ!" rồi mang ra tất cả phì phèo.

Còn nếu hỏi ngược lại rằng" hết hay còn?" thì câu trả lời bao giờ cũng là "Dạ đã hết!".

Tất nhiên trong bồng bao giờ cũng phải còn một bịch nữa dành cho những lúc anh em nhà nó lên cơn vật.

Tôi cũng tập toẹ hút thuốc từ dạo đó.

Hồi đầu mỗi tháng được hai gói thuốc Mai, Đà lạt, Lao động hay Vàm cỏ, tôi đều cho đi hết.

Sau này đến cả thuốc rê Tây ninh đắng nghét hôi xì cũng chẳng từ.

Điếu thuốc rê sâu kèn, quận bằng báo Quân đội nhân dân hoặc bằng lá cò ke còn một tý tóp cũng giắt lên vách, phòng khi cơ nhỡ mang ra xài tạm.

Mỗi lần có nhu yếu phẩm ở nước sang là cả một ngày hội đúng nghĩa.

Trà B'lao (lính gọi là trà Bố láo), thuốc lá bao các loại, đường và sữa...Đục mấy hộp sữa ra, láng chảo một ít mỡ, tiếp thêm một chút đường.

Bắc lên bếp ngoáy đều cho đến khi quánh lại.

Đổ ra vung xoong quân dụng cán phẳng rồi dùng dao cắt thành những miếng vuông đều nhau.

Thế là xong món kẹo.

Ca inox Mỹ cho trà vào,số lượng không hạn chế sau đó úp ngược cái bình tông nhựa vừa khít đầy nước sôi lên trên.

Thế là xong món trà quắt lưỡi.

Quanh cái bàn dã chiến với những món " thời trân" đó, những câu chuyện của lính bất tận liên tu...Trà trong bát hết lại nhấc bình toong lên một chút, Nước lại chảy xuống ca.

Chuyện chán thì quay ra bôi bác nhau hoặc bôi bác tỉnh nọ tỉnh kia.

Những câu chuyện vui về các miền quê trên khắp đất nước truyền từ đời lính nọ sang đời lính kia, mà chắc bây giờ vẫn lưu truyền trong quân ngũ.

Lính Hải hưng chê lính Thanh Hoá "ăn rau má, phá đường tàu- khu 4 đuổi ra- khu 3 đuổi vào - đuổi sang nước Lào- Lào không thèm nhận- biết thân biết phận - lập quốc gia riêng- thủ đô thiêng liêng – là vùng Nông Cống –bài ca truyền thống- dô tá dô tà....".

Lính tỉnh Thanh đốp lại dân Hải Hưng là loại đội nón cho chó.

"Nước lụt tháng 3, ngồi trên nóc nhà hát bài ca hy vọng...".

Chuyện này bắt đầu là vì hồi nước lụt năm 1971. có gia đình ở Hải hưng leo lên nóc nhà.

Khi trực thăng bay qua thả bánh mỳ cứu trợ thì ông bố nhanh trí giằng nón đội cho con chó để lấy thêm một suất nữa...Những chuyện vô thưởng vô phạt như thế mà đôi khi máu đồng bào nổi lên là quay ra táng nhau ngay.

Tỉnh nào cũng có "thành tích" nhưng khốn khổ nhất vẫn là Nghệ an và Thái bình...Ghét nhau tức nhau lúc ấy thôi nhưng khi lâm trận mới thấy liền như ruột thịt.

Tôi được điều xuống đại đội 3 trực máy vì một lý do rất vớ vẩn.

Thằng liên lạc mới (không nhớ tên) của anh Đạt đại trưởng nhặt được ở đâu đó quả đạn cối 81 lép mang về định kẹp thêm lựu đạn đánh cá.

Anh Đạt đang nằm võng trông thấy hét nó mang đi vứt ngay.

Thằng ngu đấy giật mình ném đi luôn thật.

Thế là :"Uỳnh!".

Đạn thì nặng, tầm ném gần.

Đại trưởng và thông tin bị thương, liên lạc hy sinh.

Đang thiếu người, anh Thưởng, anh Sơn tiểu đoàn tức lộn tiết nhưng đành động viên anh Thoan xuống nhận nhiệm vụ đại đội phó.

Tôi từ đại đội 1 sang đi với đại 3.

Nói thêm một chút về anh Thoan, người Thanh Hoá, lính 74 đang mang hàm chuẩn uý.

Sau những trận đánh ác liệt ở cầu Prasaut, anh ấy không nhận nhiệm vụ nữa.

Tiểu đoàn rút lên kỷ luật Đảng nhưng vẫn để đi kèm tiểu đoàn bộ.

Lính tráng nói kháy gọi là "tham mưu tụt tạt" hay là "thành phần đọc báo" anh ấy cũng mặc kệ.

Lần này không nhận nhiệm vụ không được nên đành xuống đại đội 3.

Một lần trong đêm, tôi gọi về tiểu đoàn kiểm tra đường dây như thường lệ.

Thấy tay quay máy nhẹ và không có tín hiệu biết ngay là dây đã đứt.

Tôi gọi thằng Phụng 2W(người Huế- hy sinh năm 1982) lên máy rồi trở dậy, khoác súng đi nối dây.

Lại còn cẩn thận mang thêm cả bao xe.

Xin anh Thoan thằng liên lạc đi cùng nhưng anh ấy không cho.Tôi bảo thằng Phụng gọi về tiểu đoàn thông báo các chốt gác để khỏi bắn nhầm rồi lên đường.

Chỉ huy sở tiểu đoàn cách đại 3 khoảng 1,5 km.

Đêm tối như mực.

Tay tôi cứ lần theo dây mà đi thật chậm tìm chỗ đứt.

Thỉnh thoảng lại co kéo dây thật nhẹ nhàng để kiểm tra.

Nếu thấy dây điện thoại co về dễ dàng thì hãy cẩn thận, vì đã đến gần chỗ phải nối.

Ai biết được dây đứt vì lý do gì?

Bọn Miên thường chơi trò cắt dây điện thoại rồi nằm phục tại vị trí cắt hoặc gài mìn.

Điều này anh Hoạch, anh Tuấn "còi" đã dạy chúng tôi từ hồi còn nằm chốt biên giới.

Lần mò dần nhưng không thấy dây đứt chỗ nào.

Đã nhìn thấy nóc chùa tiểu đoàn mờ mờ trên nền trời sao.

Vọng gác thông tin đây rồi.

Tôi cúi người thật thấp rồi giặng hắng: " Thông tin đây!

Đừng bắn!".

Anh Hoạch ra đón.

Tôi thông báo tình hình.

Anh Hoạch nhận định có thể dây bị đứt ngầm rồi giục tôi về làm cọc âm.

Khi ta nối một dây vào cọc âm thì máy điện thoại vẫn có thể liên lạc được.

Tất nhiên chất lượng liên lạc có kém hơn.

Về đến đại đội, tôi lôi que thông nòng AK ra lấy xẻng đóng xuống đất làm cọc âm.

Nhưng vẫn không liên lạc được vì đất mùa khô độ dẫn truyền điện tích rất kém.

Thế là tôi mang ra ngay cây dừa, đóng vào thân cây.

Tiếng chan chát vang lên trong đêm làm anh Thoan cáu :" Thôi ngay đi!

Địch nó bắn vào bây giờ!".

Tôi cũng phát khùng.

Phần thì mệt, phần thì tức chuyện không cho người đi cùng lúc nãy liền vặc lại :" Đây là nhiệm vụ của tôi!

Tôi không thể không nhận!".

"Ah !

Thằng cà chớn...!"

Anh ấy chạm nọc văng vung xí mẹt, đòi đuổi tôi về tiểu đoàn ngay.

Đến lúc này thì tôi cũng cóc cần gì nữa.

Liên lạc đã thông, tôi quay máy thẳng về báo cáo với trung đội.

Sau vụ đó vài hôm, thấy căng thẳng, anh Nhương (lúc này đã là trung đội phó) lại chuyển tôi sang đại đội 1.

Cuối tháng 2 lại có lệnh hành quân.

Đơn vị rời Bongbang sang Kampong Ch'nang bằng tàu hải quân.

Đến thị xã, tôi nhận được một lúc 14 lá thư.

Thư gia đình, thư các bạn cùng lớp phổ thông...Đây là lần đầu tiên những lá thư đến với tôi.

Chúi vào một góc kín đọc chậm từng lá.

Nước mắt lặng lẽ chảy...

Làm thế nào được, năm đó tôi mới 19 tuổi đời.

Không có nhiều thời gian cho những xúc động riêng tư, tiểu đoàn lên xe theo lộ 27 tiến về ga Rômeas.

Đây là con lộ đất dài khoảng 30 km.

Phía trong khu vực ga, địch đang bao vây tiểu đoàn 6 và một đại đội của trung đoàn pháo 42 (105mm).

Đêm đêm nó đánh vào tận chân pháo.

Pháo thủ phải đánh nhau như bộ binh.

Nhiều lần phải hạ nòng xuống bắn thẳng.

Thậm chí các đơn vị địch còn dùng pháo hiệu bắt liên lạc với nhau để hiệp đồng.

Bọn này thuộc quân khu Tây nam, đang bị ta dồn vào các thung lũng rừng núi kẹp giữa Kampong Ch"nang và Kampong Speu – thánh địa cuối cùng- nên điên cuồng chống trả.

Đường đất đỏ mùa khô bụi mù mịt, nghẹt hết cả mũi.

Xe chạy được nửa đường có lệnh xuống xe hành quân bộ theo đội hình chiến đấu.

Đại đội 2 đi đầu.

Đại 3 sườn bên phải.

Đại 4, tiểu đoàn bộ đi giữa cùng xe tải.

Đại 1 đi chặn hậu.

Đại 2 bắt đầu chạm địch.

Chúng nó không đối đầu, dạt sang bên phải.

Cứ thấy tiếng xe nổ máy rì rì ở đâu là bắn đạn nhọn về phía đó nhưng cũng không dám dàn mặt.

Mặc kệ!

Xe cứ chạy, tiểu đoàn cứ tiến.

Phát đạn duy nhất bắn về phía địch là quả M.72 của một tham mưu trung đoàn đi cùng đội hình đơn vị.

Bố này mang nặng muốn quăng bớt đi cho nhẹ.

Cách ga Rômeas 1 km, đến cầu cháy thì gặp trung đội chốt đường của đại 11 tiểu đoàn 6.

Tôi gặp thằng Hiệp là thằng bạn cùng lớp, cùng trường Phan Đình Phùng rồi đi lính.

Nó vẫn mặc bộ quân phục màu vàng đất thời huấn luyện ở Phủ Lý.

Trên tay là khẩu B.41 "ống loe".

Cùng lớp 10E của tôi năm ấy ra trận có thằng Tuấn Anh, thằng Bình cáo, thằng Thọ.

Mỗi lá thư của chúng tôi gửi về đều là thư chung cho ngần ấy gia đình.

Khỏi phải nói chúng tôi đã mừng rỡ như thế nào.

May mà vẫn chưa có đứa nào bị thương hoặc hy sinh.

Thằng Hiệp kể rằng trung đội chốt đường của nó đã nằm đây 4 ngày trời.

Rình rập tỉa nhau với địch quanh cái cầu cháy này.

Bọn nó muốn chiếm và phá huỷ cầu để ngăn cơ giới ta nhưng không được.

Chuyện ngắn vài câu tôi lại mải mốt bước theo đơn vị.

Chiều tối tiểu đoàn 4 nghỉ luôn ở vị trí đại đội pháo 105mm.

Lính pháo mấy ngày lạnh lưng hở sườn lo sốt vó chống địch, bây giờ thấy chúng tôi đến, lại được tiếp thêm đạn pháo thì sướng quá.

Còn bao nhiêu trà lá thuốc thang mang ra chiêu đãi mệt nghỉ.

Thằng Bình cáo nghe tin tiểu đoàn 4 đến tăng viện, mò sang chỗ tôi chơi.

Hai thằng trải nilon nằm trên mặt bờ ruộng nói chuyện.

Được mươi phút thì địch lại đánh rát vào đại đội 11.

Tiếng súng rộ lên.

Nó trở dậy chạy về đơn vị.

Rừng mùa khô đang cháy dữ dội.

Lửa hắt lên trời những vầng sáng hồng rực, nhìn rõ cả từng cái cát tút rơi trên đường.

( Một chút cảm xúc của một bác trong diễn đàn- chiến trường k đối với tôi là một kỷ niệm hào hùng không bao giờ quên.Lúc ấy tôi nhớ là đại tá Thuận, biệt danh là ''Thuận nẹt''là Ftrưởng 309,tính ông ấy rất nóng nảy các CB chỉ huy trong sư đòan mới gọi ông như thế.Năm 82 hình như 1bác là Etrưởng E96 về thay thì phải.Đại tá Hồng sau nữa chắc, bác Thuận năm 82 lên phó tư lệnh MT479 hơn 20năm rồi khong biết bác còn khỏe khong? hồi ký của bác Hồng tôi có đọc rồi,bác ấy viết hay và xác thực lắm,đầy đủ từng cột mốc trưởng thành của sư đòan,nhất là 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế.Chắc có lẻ kỷ niệm và đời thường của các anh binh nhì giống nhau nên tôi thấy bài viết của trung si1,như là từng thước phim quay lại từng cảnh từng cảnh một với một sự đồng cảm sâu sắc.những câu châm biếm vùng miền thật hài hước hóm hỉnh nghe TS nhắc lại nghe thân thương quá xá.''Thái bình là đất ăn chơi,...'',''Hải hưng có món tôm bay...'',''củ chi thành đồng đất sét'',''Long an trung dũng kiên cường,tòan dân đánh giặc mượn xuồng hổng cho'' còn nhiều lời đặt ra bôi bác lẩn nhau ,giửa các tĩnh thành trung ,nam bắc.,tôi chỉ còn nhớ từng hồi ức ngắn,nhưng còn lộn xộn lắm tôi sẽ cố gắng nhớ lại và xin làm ''trợ ly'' choTS. anh Hùng ,a.Cường,luyện ,quê hà nội, các anh bây giờ làm gì ở đâu? viết nhanh nhé TS nhiều người chờ đọc lắm đó... )

Sáng hôm sau, tiểu đoàn 4 nằm ở sân ga đợi lệnh.

Ga Rômeas, cũng như mọi nhà ga nhỏ trên trái đất này, với đủ đường ke, nhà chờ và tháp nước...Con đường sắt heo hút chạy giữa rừng dầu thưa, mùa khô lá rụng, không biết về đâu.

Nhà ga một tầng, lợp ngói đỏ.

Tường lỗ chỗ vết đạn to nhỏ.

Phía trong nhà cũng cửa tò vò, ghi sê bán vé.

Những vật thể kiến trúc còn lại như nhắc nhở về một thời yên bình từng hiện hữu nơi đây.

Ngắm nhìn chúng, tôi thấy buồn buồn...Trên sân ga, hàng cây keo cổ thụ toả bóng râm mát.

Mỗi khi gió mạnh thổi qua, những quả keo chín loăn xoăn quay vòng rụng xuống.

Hướng tây ga Rômeass là một trái núi nhỏ, thấp, cách ga khoảng 3 km.

Trung đoàn 1 đang đánh địch ở đó.

Trên núi, nó có một khẩu pháo cao xạ 37mm hai nòng hạ góc tà âm bắn điên cuồng hòng cản bước sư đoàn.

Cứ "Bốp bốp...khục khục" suốt.

Trận địa pháo 105mm của trung đoàn 42, được chúng tôi hộ tống xe tiếp tế hôm qua, bắt đầu bắn không tiếc đạn lên núi.Tại giao lộ đường sắt và đường 27, cán bộ quân lực và chính sách trung đoàn 1 đang vạch võng thương binh,tử sỹ nhận người.

Tiểu đoàn 4 theo đường sắt lên hướng tây bắc 1.5 km rồi tạt xuống lòng một con suối cạn chuẩn bị vu hồi.

Hai bên bờ suối, le mọc dày rịt.

Thân nọ đan thân kia như một hàng rào không thể vượt qua.

Toàn "cồ" túm được một con tê tê (con trút) ngay trong lòng suối định mang theo làm thịt nhưng ai cũng bảo vứt đi.

Đi đánh nhau ăn thịt trút, ăn rùa và nhất là cơm khê thì lính rất kiêng, kể cả cán bộ tiểu đoàn.

Thằng anh nuôi mà sơ ý để cơm khê là nghe chửi vỡ mặt rồi chuẩn bị cọ nồi mà đi nấu nồi khác.

Được thả, con trút đang cuộn mình từ từ duỗi ra rồi chậm chạp lủi vào một cái hốc.

Khẩu 37mm của địch bây giờ không thấy bắn nữa.

Thông tin trung đoàn thông báo là E1 đã tịch thu được nó rồi.

Thu nốt cả cái xa ô tô kéo pháo.

Tiểu đoàn tôi lại được lệnh quay lại nhà ga, theo đường bò bắc lộ 27 tiến giữ sườn cho trung đoàn 1.

Đường bò là loại đường dân sinh.

Nông dân Campuchia thường dùng loại xe gỗ bánh cao do đôi bò kéo để vào rừng, lên rẫy.

Những con đường do bò kéo bao giờ cũng có hai vệt bánh xe, ngang dọc khắp rừng.

Chiều tà, nghỉ giải lao tại một cái nhà tôn có cần anten cao vút địch bỏ chạy chưa kịp dỡ.

Anh Trung tham mưu tiểu đoàn bảo đây chính là sở chỉ huy sư đoàn địch.

Tôi gặp thằng Thọ - bạn cùng lớp cũ - trong đội hình tiểu đoàn 6 đang hành quân qua.

Khẩu cối 60 cồ cộ trên vai, đầu chụp cái mũ nhựa ép dạng mũ sắt của QLVNCH cũ, không biết nó kiếm được ở đâu.

Nó thả khẩu cối bịch xuống đất, xin tôi hớp nước.

Nói được dăm ba câu chuyện rồi lại vác cối lên vai, lùi lũi đi theo đội hình.

Lại tiếp tục lên đường.

Đi mãi đến sâm sẩm tối, đơn vị dừng lại ở một cái phum cũ, rừng vây xung quanh.

Không còn nhà cửa, chỉ có thể nhận biết là nơi từng có người ở qua những cây me, cây chùm ruột lẫn trong những hàng rào đổ nát.

Các đại đội lặng lẽ bố trí đội hình.

Lại cấm đốt lửa, chúng tôi bẻ cơm vắt được phát hồi trưa, chấm với bột gia vị cố mà nuốt.

Đêm trong rừng núi tịch lặng và bí hiểm.

Trên những cây dầu lớn, trong những hốc người ta đục vào thân cây đốt để lấy dầu, ánh lửa chập choạng ma quái.

Đâu đó phía xa, vài tiếng súng lẻ vang lên rồi tắt ngấm.

Sau tiếng súng, không gian như càng im vắng hơn.

4 h sáng.

Dậy!

Tiếp tục hành quân.

Lần này đơn vị bỏ đường lộ cắt xiên sang tay phải vào rừng.

Tốc độ hành quân chậm do trinh sát phải dò dẫm bám địch.

Đi được một lúc, sau khi vượt qua một con suối có một bờ cao dốc đứng, đội hình dừng lại.

Đằng trước có tiếng chặt cây chan chát cùng tiếng đào đất thình thịch.

Địch đang chặt cây làm hầm chiến đấu.

Tiểu đoàn báo về trung đoàn đã phát hiện địch rồi triển khai đội hình bí mật tiếp tục bám dần lên.

Đại 3 vượt sang bên phải sẵn sàng đánh sườn.

Đã gần địch lắm rồi.

Trong khi đặt đạn, không biết đứa nào bên cối đại 4 để gánh đạn va vào mâm cối đánh "cốc" một tiếng.

Tiếng chặt cây lập tức im bặt.

"Cóc!

Oành...!".

Quả M.79 của địch bắn thăm dò trúng một thân cây loé xanh nổ.

Không ai bắn trả.

Tất cả lại im lặng.

Tôi nghí thầm bọn này ghê gớm đây!

Không gọi 2W vì sợ lộ, tiểu đoàn cho truyền đạt bò lên các đại đội lệnh khi phát hiện địch cho hoả lực nổ súng đồng loạt áp đảo.

Tổ truyền đạt vừa về đến tiểu đoàn thì "Ùng !

Uỳnh!".

B.40, B.41 thi nhau nổ tức ngực.

Tiếng đạn nhọn ré lên ngay tức thì .

Trời đã mờ sáng.

Lính đại 1, đại 2 cứ thấy chỗ nào có ụ đất mới hoặc cành cây gãy còn tươi lù xù trên đất là thổi B.40, B.41 vào đấy.

Lối tiếp cận quá gần cùng hoả lực mãnh liệt làm cho bọn nó choáng.

Sau khoảng 15 phút là tháo chạy ngay.

Bỏ lại hơn chục thằng toi mạng trên dãy hầm mới đào đêm qua.

Có thằng nằm vắt nửa trên nửa dưới hầm, cánh tay và gần nửa người bị hơi nổ tuốt đi.

Cối 82 đại 4 mới bắn chi viện hơn chục trái đã phải tháo súng lên theo bộ binh.

Truy kích thêm nửa cây số nữa đến một cái phum.

Địch chạy tuốt vào đấy rồi tổ chức chống trả.

Cối 60 của địch trong phum hoàn hồn, bắt đầu lên tiếng.

Hai khẩu cối 82 của đại 4 bắt đầu giã vào phum.

Mấy thằng lính cối khôn vặt tranh nhau tháo đạn để khỏi mang nặng.

Hễ cứ nghe tiếng M.79 hay tiếng cối ta, cối địch đề pa "Coong!" một tiếng, y như rằng tiếng đạn nhọn lại câm bặt.

Nổ "Oành!" xong một cái thì lại rồ lên như xé vải.

Đạn cối địch rơi ngay trúng đội hình tiểu đoàn bộ.

Thằng Khoát người Thanh Hoá lính vận tải bị một quả cối 60 nện giữa đỉnh đầu.

Phần sọ biến mất.

Chi còn xương hàm dưới với khúc đứt đầu tuỷ sống nám đen thuốc nổ.

Đại 1, đại 2 vẫn chưa vượt qua được trảng trống trước phum.

Đúng lúc đó, phía sau đội hình, tiếng súng địch toang toác rộ lên rất gần.

Chúng nó đánh bọc đít.

Bọn này cơ động nhanh thật.

Anh Sơn điều một trung đội của đại đội 3, cùng với thông tin, trinh sát tiểu đoàn bộ vận động ra phía sau chặn địch.

Lúc trung đội của đại 3 vận động ra phía sau, có tiếng lao xao :" Đại 3 chạy kìa!".

Anh ấy vằn mắt nhìn quanh.

Tôi tin là nếu phát hiện thằng nào vừa lên tiếng, ông ấy bắn cho vọt óc.

Chúng tôi bắn dữ dội về phía sau, mặc dù không nhìn thấy địch.

Phía trước, bộ đội đã bám được vào rìa phum.

Tiếng súng thưa dần.

Cối 82 quay nòng giã về phía sau mấy trái.

Bọn bọc đít biết tình hình không ổn nên cũng chuồn nhanh.

Tiểu đoàn 4 đã làm chủ trận địa.

Đơn vị dừng lại củng cố vị trí đứng chân sau 2 ngày đánh địch, vượt quãng đường gần 50 km.

Anh nuôi triển khai nấu cho bộ đội ăn cơm nóng.

Đang mùa khô, lính ăn 8 lạng một ngày (mùa hè 7 lạng gạo/ ngày).

Thông tin còn trên tiểu đoàn 9 người, vị chi là 2.7 kg, vừa xoẳn cái ruột tượng tôi mang.

Khốn nạn hệt mấy thằng lính cối lúc nãy, tôi nhanh chân đến xoong quân dụng của thằng Cầm điếc trút tuột hết gạo vào.

Nhẹ mang đi được mấy ký.

Thậm chí còn nháy mắt với thằng Ban trố đến sau.

Trừ các trung đội cảnh giới vòng ngoài, lính ta bắt đầu lục lọi kiếm ăn.

Tôi lục được một chum đường thốt nốt, múc đầy một ca inox rồi vẫy tay gọi chúng nó.

Sau một loáng chỉ còn lại cái chum không.

Của này buổi tối lạnh nấu một nồi chè thì cả trung đội ấm chân răng.

Còn cái gì đây thế nữa?

Ah!

Một dãy toàn chum đựng muối đầy ặc.

Muối biển tải lên rừng để kháng chiến lâu dài đây mà.

Mấy thằng xúm lại, hè nhau lăn ra dốc hết xuống suối.

Lia thêm loạt AK, mấy cái chum vỡ toác.

Thế là đi ráo cả cặp phạm trù nội dung lẫn hình thức.

Xin các nhà đạo đức đừng vội kết án.

Chiến tranh là thế đấy!

Tiểu đoàn tôi hôm nay đã mất đi ba người nữa rồi...Trên một căn nhà khác, tôi tìm được một con dao cắt kính.

Con dao nhỏ chuôi gỗ đen bóng khắc nhiều hoạ tiết, chuốt cong như một mái chùa xứ này.

Có thể nói là một tác phẩm tuyệt đẹp.

Tôi dám chắc nghệ nhân chế tác ra nó chỉ để chơi mà thôi, chứ không phải để rạch cắt trên bất cứ tấm kính thô lỗ nào.

Gia tài bẻ bỏng trong ba lô của tôi thêm một món đồ.

Nào!

Thử kiểm kê xem nó có những gì: Một bộ quần áo lính vải kaki gabađin Nam Định (đang mặc trên người), thêm một cái quần dài vải chéo đã mủn vài chỗ.

Đôi áo lót trước kia là màu trắng.

Hai cái quần đùi giải rút lính, rộng thùng thình, chừa rất nhiều tự do cho đối tượng mà nó cần bảo vệ.

Một cái võng vải còn khá tốt lột được của địch.

Tấm nilon dày phát từ thời huấn luyện ở Phủ Lý.

Hai cuốn truyện lấy được gần phà Niek Luong hao gầy dần đi theo năm tháng, vì ngoài chức năng phục vụ văn hoá, nó còn phải phục vụ thêm một số nhu cầu bắt buộc khác.

Cái địa bàn Mỹ anh Phát tôi (lính trinh sát cũ bị thương năm 75) cho trước khi vào bộ đội.

Bịch thuốc rê và tập thư bọc kỹ trong túi nilon quý hơn vàng.

Mấy miếng liều cối 60 và sợi dây inox để kéo lửa khi trời mưa ẩm và để bôi dán ghẻ.

Năm viên đạn vạch đường (tích trữ do sợ bị lạc).

Cái bát sắt B.52 và đôi đũa.

Bây giờ có thêm con dao cắt kính nữa.

Hết!

Thêm máy móc, súng đạn, tất cả gọn nhẹ trên người 16 kg, không kể đôi dép đúc lấy của thằng Năm đã hy sinh dưới chân.

Như thế thôi nhưng còn khá giả hơn khối thằng trong đơn vị.

Như không bao giờ ngưng nghỉ, như những cuộc hành quân tháng 3 tháng 4 mùa khô năm 79.

Sư đoàn 7, sư đoàn 341 ở hướng nam và tây nam, sư đoàn 9 chúng tôi theo hướng đông bắc tiến vào Ăm leng - chiến khu của Khơmer Đỏ.

Có thể hình dung khu vực này giống như một tứ giác lồi.

Một cạnh là tuyến đường sắt từ ga Rômeas đến ga Pursat dài khoảng 100 km với các ga Thơmay, Bâmnak, Kâmrenh... mà lính sư 9 không thể nào quên.

Một cạnh là rìa phía tây tỉnh Kampong S'peu.

Một cạnh là lộ 56 chạy từ thị xã Pursat đi thị trấn Leach, đến tận biên giới Thái lan.

Cạnh cuối cùng là một lũng núi rộng lớn nằm kẹp giữa vùng núi tỉnh Kôcông và dãy núi Ôrăng S'vai, thông từ Kampong S'Peu cho đến Leach - nơi hầu như toàn bộ quân khu Tây nam của địch bị ta dồn vào đấy.

Sở dĩ nhớ được những điều này bởi vì tôi là thằng rất khoái bản đồ, địa bàn.

Là lính thông tin, luôn được đi với chỉ huy sở khi hành quân nên cứ mỗi lần tiểu đoàn trưởng, tham mưu hay trinh sát pháo binh xem bản đồ, vạch tuyến đi là tôi cứ sán đến le lé mắt xem ké.

Tôi dần học mót được khối điều.

Chẳng hạn cách xác định địa điểm đứng chân theo các mốc chuẩn tự nhiên của địa hình.

Các đường bình độ sít sịt dính nhau như thế kia là chuẩn bị leo dốc hộc cơm.

Cái con suối vẽ vạch đứt quãng như thế này thì chỉ có nước vào mùa mưa.

Còn hôm nay cái bút chì đỏ chỉ huy tiểu đoàn vẽ một mũi tên dài độ nửa gang tay trên tấm bản đồ bọc nilon tỷ lệ 1/15.000 thì yên tâm là đi 15 km sẽ được nghỉ...

Mùa mưa đã gần tới.

Phải đập tan phiên hiệu các đơn vị địch, phá huỷ các căn cứ hậu cần của chúng, tạo thế đứng chân trong mùa mưa là nhiệm phải hoàn thành gấp rút.

Chúng tôi đi như bị phát cuồng.

Hành quân cả ngày, đôi khi cả đêm.

Càng vào sâu trong thung lũng đi càng gấp.

Đụng địch ở đâu đánh địch ở đó.

Một đêm trong khoảng trung tuần tháng 3, sau vài lần chạm súng lẻ tẻ với bọn trinh sát, chúng tôi đã tiến gần tới Ăm leng.

Con đường cát trắng, mờ mờ bụi dưới ánh trăng.

Hai bên là rừng thẫm tối.

Đến gần sáng thì đại đội 3 chạm địch.

Anh Thoan đại đội phó đi cùng trung đội đi đầu lĩnh đủ một phát M.79 bi.

Lính tản ra nằm xuống bắn loạn xạ rồi bò lui, kéo được anh ấy vả thằng liên lạc về.

Ngực và bụng lỗ chỗ vết bi, máu ra đẫm ướt cả cái võng, anh ấy khò khè được vài tiếng, kêu "Mẹ...!" rồi tắt thở.

Hy sinh hai, bị thương một.

Ơi anh Thoan!

Hãy yên nghỉ!

Quên đi những phút nổi khùng giữa hai anh em mình nhé!

Quên đi những lời đàm tiếu hay những phút yếu lòng!

Đơn vị mình mà túm được cái thằng chó bắn phát M.79 ấy sẽ mang nó ra tế vong linh Liệt sỹ!

Tiểu đoàn tôi quân số vãn dần đi.

Mỗi đại đội còn hơn ba chục tay súng khi xung phong là đã thấy vững lòng.

Nhưng trường hợp hy sinh của anh Thoan làm tôi suy nghĩ mãi.

Con người ta ai cũng có đôi khi cảm thấy sợ hãi, nhưng lại có những lúc lao lên dấn thân đi đầu như anh chăng?

Bản thân tôi cũng tự thấy mình đã mừng rỡ một cách khốn kiếp khi được chọn vào trung đội thông tin nhiều cơ hội sống sót hơn.

Cả đến bây giờ vẫn thấy là mình đã may mắn mới tệ!

Chúa ơi!

Sao Người không tạo những cơ hội cho con người được soi trong những cảm xúc yên lành, để được thấy rằng mình tốt đẹp và tử tế.

Chiến tranh quả thực là một tấm gương buồn.

Tôi bỗng nhớ một bức tranh khắc gỗ của một tác giả nước ngoài vẽ người lính Việt.

Bố cục là một cái mũ sắt trùm lên gương mặt trầm tư đang cúi xuống ống sáo trúc.

Ngang vai sau lưng, vạch qua nòng súng là một đàn cò giăng giăng...

Hay người lính Nga trong bộ phim vượt sông Dniep.

Cả cánh đồng lúa mì đang cháy.

Gã mujich phủi tàn lửa ở ống quần, tuốt một bông, xoa xoa trong bàn tay to bè thô kệch cho sạch vỏ rồi hất vào mồm...Thân phận quá!

Vì trước khi là lính, tôi và họ đều là những con người bình thường.

Đêm ấy đơn vị triển khai đội hình tại chỗ chờ trời sáng.

Đó đây, trên các hướng khác thỉnh thoảng lại rộ lên tiếng súng, càng gần sáng càng dữ dội.

Có cả tiếng động cơ ô tô rì rì, không rõ xe ta hay xe địch.

Tang tảng sáng, mờ mờ địa hình địa vật.

Cối 82 đại đội 4 bắt đầu bắn.

Bắn thì cứ bắn thế thôi, chứ có xác định được vị trí địch đâu.

Các đại đội giữ sườn cho nhau.

Bộ binh bám đường tiến dần lên.

Lên qua chỗ địch phục kích hồi đêm 200m, cả tiểu đoàn lại chúi xuống.

Hai bên rìa đường phía trước, hai khẩu đại liên địch bắn chéo cánh sẻ rèn rẹt.

Lính tráng hồi này cũng hư, cứ gặp hoả lực địch hơi mạnh một chút là nằm kềnh ra, ỷ vào hoả lực tiểu đoàn.

Rừng dày thế này, DK.82 xếp xó mặc dù đã giá súng.

Hai khẩu 12.8mm trong phòng ngự thì lợi hại , hoặc ngỏng nòng bắn trợ chiến khi xung phong cho nó hách, chứ còn trong trường hợp này cũng vô dụng.

Tất cả trông chờ vào 2 khẩu đội cối 82 và mấy khẩu cối tép dưới các đại đội.

Đúng lúc đó, có tiếng động cơ xe tăng rền rền phía sau.

Từ đâu lòi ra 4 cái T.54 của lữ đoàn 22, phun khói mù mịt.

Trưởng xe tháo mũ công tác gào lên hỏi bộ binh tình hình địch rồi lại thụt vào xe.

Bốn chiếc tăng vượt qua đội hình, càn qua cả những bụi cây nhỏ xộc thẳng vào vị trí địch.

Bộ đội bám liền ngay theo sau.

Pháo 100 và trọng liên 12.8 mm trên xe nổ điếc tai.

Rừng rung rinh nghiêng ngả.

Mấy thằng lính chạy gần nhăn cả mặt, há cả mồm.

Tiến được một lúc nữa, mấy chiếc tăng tự nhiên dừng lại.

Thằng xạ thủ 12.8mm trên tháp pháo quay xuống hỏi các anh đơn vị nào?

Khi biết chúng tôi là trung đoàn 2, bọn tăng ơi ới gọi nhau trở lui ngay lập tức.

Thì ra bọn này có lệnh đi phối thuộc với trung đoàn 1 lại nhầm đường sang hướng đơn vị tôi.

Đường bò ngang dọc trong rừng.

Chưa biết tiến hướng nào thì nghe chúng tôi nổ súng dồn dập nên đổ xô đến.

Ôh!

Cảm ơn chiến hữu về sự hiệp đồng bất ngờ này!

Bọn lính chúng tôi quen gọi những trận chiến đi qua theo đặc điểm riêng của nó.

Chẳng hạn trận "rừng tràm", trận "cầu cháy"...

Và lần này là trận "xe tăng nhầm đường".

Một đám dân bạn rách rưới cùng mấy chiếc xe bò đi ngược về hướng đơn vị.

Tiếng mõ bò lốc cốc.

Mấy người đi đầu huơ khăn cà ma rối rít rồi kín đáo chỉ về phía sau.

Chúng tôi dạt sang hai bên đường cảnh giác.

Y như rằng!

Bọn địch bám theo dân thấy động lủi sang hai bên rừng, bắn mấy loạt réc réc rồi biến mất.

Một cái trảng nhỏ xuất hiện bên tay trái.

Ngô mọc mới đến ngang thắt lưng tạo một khoảng xanh giữa vùng rừng cháy.

Thẩp thoáng trên triền bình độ thấp trong hõm núi, cách chúng tôi chừng 300m là mấy mái tôn xám nhạt.

Vết bánh xe tải ngang dọc trên bãi.

Đây là cứ của địch rồi!

Tiểu đoàn dàn hàng ngang tiến đến.

Bộ binh đi đầu bắn như vãi đạn.

Trung đội đi đầu đã lọt hẳn vào trong khu vực mà không hề có tiếng bắn trả.

Địch đã bỏ chạy.

Vào đến nơi mới thấy đây là một căn cứ hậu cần quá rộng.

Một chiếc xe Hoàng hà vẫn còn đang nổ máy.

Đường đi lối lại phong quang.

Thậm chí trong bếp lò nấu cơm, than vẫn còn hồng.

Trong các nhà tôn, chất đến gần mái toàn là vũ khí các loại.

Có đến hàng vạn khẩu súng.

Thôi thì đồ Mỹ đủ loại : AR.15, M.16, M.72, M.79, đại liên 30 hai càng...Đồ Trung quốc cũng oách : AK, CKC, K.63, rồi lựu đạn chày, nụ xoè, kíp nổ, thuốc nổ các loại...Chỉ huy tiểu đoàn báo ngay về trung đoàn rồi bố trí đội hình các đại đội bảo vệ kho súng thu được.

Hai hôm sau, xe vận tải sư đoàn đến bốc dỡ ngay.

Lính tiểu đoàn 4 chốt ở đó cứ tuỳ tiện mà trang bị thêm.

Tôi cũng lấy một khẩu M.16, bắn bậy chán rồi cũng quăng lên xe vì ngại mang nặng.

Trong một căn nhà tôn vách gỗ mà đại đội 1 dùng làm chỉ huy sở có cả một chiếc máy phát điện cỡ lớn Made in Germany, choán gần hết diện tích.

Cái máy mới cáu cạnh, to gần bằng cả gian nhà, được địch bảo quản rất cẩn thận.

Về sau khi rút đi, không có cẩu mang đi được nên trung đoàn cho lệnh đặt mìn phá huỷ.

Của một đống tiền, thật tiếc!

Mười ngày bảo vệ kho súng là mười ngày xả hơi của đơn vị.

Vừa được thành tích, vừa được nghỉ ngơi, trong khi các đơn vị khác đi càn rã cẳng.

Quanh khu vực đứng chân, rừng dâu da đất đang mùa, chín từng chùm lúc lỉu màu hồng sậm.

Tôi khoái cái vị chua ngọt thanh thanh của nó.

Nhưng anh Ky bảo tọng vừa thôi, không thì sốt rét ốm đòn bây giờ!

Cha này người Thái trắng, quê huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Anh ấy hơn tôi một năm lính nhưng cái gì cũng biết.

Vận tải sư đoàn chuyển xong kho vũ khí, chúng tôi lại lên đường.

Thời tiết càng về cuối mùa khô càng khốc liệt.

Rừng dầu, rừng khộp rụng lá, nắng chói chang.

Triền rừng bốc hơi nóng, rung rung dưới nắng.

Thảm mục và cỏ gianh dưới chân rừng đã cháy hết, liếm cháy cả bên ngoài lớp vỏ những thân cây.

Chúng tôi hành quân, quệt ngang quệt dọc một lúc là mặt mũi quần áo thằng nào thằng nấy lem nha lem nhem, đen sì như hề.

Nhưng đáng sợ nhất là thiếu nước.

Mang nặng quá, những thứ khác có thể quăng đi chứ bi đông nước thì dứt khoát là không.

Đi rạc rài nửa ngày không có nước mà gặp một lòng suối cạn, lớp cát đáy còn hơi âm ẩm là cả một niềm hạnh phúc bất ngờ.

Dùng xẻng bộ binh khoét xuống lòng suối khoảng 1m.

Ngồi chờ nước ri rỉ ứa ra, lờ lờ đục.

Chúng tôi giải khát luôn bằng thứ nước ấy, tích trữ trong bi đông cũng bằng thứ nước ấy.

Ấy thế mà không đứa nào bị tháo dạ mới lạ.

Một lần, cũng trong tình huống khát nước như thế, chúng tôi tìm thấy một hủm nước trong vắt giữa lòng suối cạn.

Trên bờ rặng le ngả bóng xanh om.

Quả là may mắn!

Chúng nó uống và lấy nước chán chê.

Vũng nước đã gần cạn.

Đến lượt mình, tôi vục mũ đưa lên miệng làm một hơi sảng khoái cho đã.

Nước mát lạnh và ngọt đến không ngờ.

Khi vục bi đông để lấy nước dự trữ, tôi bỗng thấy cái gì trăng trắng dưới đáy.

Định thần nhìn kỹ lại thì cha mẹ ơi!

Cái đầu lâu người trắng nhờ đang nhìn tôi bằng hai hốc mắt vô hồn mọc đầy rêu.

Hàm răng nhe ra như nhạo báng.

Tôi giật mình bật ngửa hét toáng lên.

Mấy thằng chạy ào xuống, ngó vào vũng nước lom lom rồi cũng thấy sởn da gà.

Hai hốc mắt sâu hoắm của cái sọ người đang hấp háy, bỗng dựng lên một hàng mi dài thượt như nổi giận.

Một thằng can đảm nhất bẻ vội cành le khô chọc xuống, hẩy cái sọ lăn đi.

Từ trong hốc xương mắt, mấy con cá nhỏ bị quấy rầy vọt ra.

Kinh quá!

Hoá ra mấy con cá quậy bên trong làm rêu trong hố mắt toé ra.

Ấy thế mà cũng chẳng ai đổ bi đông nước của mình đi.

Đằng nào thì cũng đã vào bụng rồi!

Dùng thứ nước này còn hơn là uống nước đái.

Nói thế bởi vì chúng tôi đã có những lần phải đái ra mà uống.

Nắng như thiêu đốt.

Hành quân mệt nhọc.

Mồ hôi rịn ra giọt nào khô ngay giọt đó, thấm vào quần áo cứng như mo nang.

Môi đã nứt nẻ hết cả.

Trên bản đồ còn tới 5km nữa mới đến nguồn nước.

Thế là tè vào bi đông mà uống để có đủ sức mà lết đi.

Mà nước tiểu có nhiều nhặn gì cho cam!

Cố mà rặn may chỉ được chục nắp bi đông, đỏ quạch, mặn và nồng không chịu được.

Lại một lần khác, đơn vị cũng gần như lả đi vì khát nước thì đại đội 3 phạt hiện một con trâu.

Trời cứu ta rồi!

Hai loạt AK vang lên.

Con trâu ngã kềnh ra.

Anh em lao vào xẻ thịt, thái những miếng thịt to như bao diêm rồi quăng vào nồi quân dụng.

Lửa được nhóm ngay lập tức.

Nồi thịt trâu đã xình xịch nước.

Ưu tiên ngay cho những ai yếu nhất.

Phần còn lại chia cho mỗi người một hụm.

Thịt chín thì rục ngay ra rừng, để đưa lượt thịt mới vào đun tiếp lấy nước.

Yên bụng tàm tạm lại khoác súng lên đường thiên lý.

Càng đi tới gần suối hay gần nguồn nước càng phải cảnh giác.

Địch hoặc thú dữ cũng hay dựa vào đấy để tồn tại qua mùa khô.

Giữa vùng rừng khô khát vàng cháy bỗng xuất hiện một vệt xanh sẫm của rặng le thì đích thị đấy là suối hoặc suối cạn rồi.

Triển khai đội hình cẩn thận, thậm chí bắn thăm dò, cử tổ cảnh giới xong xuôi mới có thể yên tâm mà giải khát.

Thời gian này, địch đã bắt đầu tan rã hoặc phân tán nhỏ lực lượng.

Để đáp ứng tình hình mới, thay vì tổ chức những trận đánh hiệp đồng quy mô lớn, trung đoàn tôi cũng phân tán từng tiểu đoàn độc lập truy quét địch.

Mùa mưa chuẩn bị bắt đầu.

Tiếng sấm đâu đó đã ì ầm thoảng qua phía chân trời.

Rừng dầu đang thay lá.

Từ những thân cây, cành cây vỏ cháy đen trong những trận cháy rừng mùa khô, những búp non xanh mỡ đã xoè tay đón nước.

Tiểu đoàn 4 (thiếu đại đội 3), sau khi càn qua phum chuối (lính gọi như thế vì phum này mọc rất nhiều chuối) sát phía đông chân núi Ô răng S'vai thì rút ra cách đó 6 km, để lại đại đội 1 có tăng cường khẩu đội 12.8 mm của đại 4 chốt lại.

Tại vị trí đứng chân của đại đội 1 có một con suối chảy theo hướng Bắc – Nam, ở giữa có cây cầu gỗ nhỏ bắc ngang.

Rừng bám vào tận rìa phum.

Gần như không còn tổ chức lại được lực lượng, địch thấy ta là chạy.

Trận nào hiệu suất lắm cũng chỉ diệt được ba bốn tên là may, nên bắt đầu có tư tưởng chủ quan khinh địch.

Có thể vì thế mà anh Khanh khi bố trí đội hình đại đội 1 đã đưa chỉ huy sở đại đội lên đầu nguồn nước, tại tiền tiêu luôn.

Lại còn giỡn với các trung đội là lần này cho chúng mày ăn ...ghét văn phòng.

Liền kề là khẩu đội cối 60mm.

Kế đến khẩu 12.8mm chẹn ngang cái cầu gỗ.

Bên kia suối là trung đội 2 và trung đội 3.

Trung đội 1 nằm ở cuối nguồn, cách quan sát sở 120m.

Các đồng đội của tôi!

Các bạn còn nhớ cái thú tắm suối mùa khô không?

Nước mát lạnh, trong văn vắt, cuốn đi bao nhiêu mệt nhọc, bụi đường.

Nước mát nâng ta lên, bềnh bồng ve vuốt.

Những con cá nhỏ rỉa vào chân, vào lưng buồn buồn, nhồn nhột.

Bên ngoài đã sạch rồi, làm sạch nốt trong lòng bằng cái việc không được thơ cho lắm là...ỉa bậy.

Tôi thì tôi cho rằng ngồi cái bồn cầu bằng vàng ròng của Satdam ở Batda đã chắc gì thú bằng làm cái việc ấy trong lòng suối mát đang xuôi chảy.

Sáng Chủ nhật, ngày 15/4/1979.

Trời xanh trong, nắng đẹp.

Như mọi chủ nhật khác, chương trình văn nghệ Chủ nhật dành cho chiến sĩ từ 7h30 đến 8h sáng đang phát đi đoạn nhạc hiệu quen thuộc.

Thằng Căn liên lạc với tay vặn to cái radio bán dẫn rồi ôm quần áo ra suối tắm.

Dưới suối, rất đông lính các B đang bì bõm giặt áo quần bỗng nghệt mặt ra nhìn : mái nhà, vách nhà bằng gianh của chỉ huy sở đại đội bỗng bay tung lên trời.

Liền luôn đó mới là tiếng B.40 mà tiếng đề pa đầu nòng chập làm một với điểm nổ.

Tiếp một phát B.40 tức ngực nữa giật tung lều cối, may mà không đưá nào bên trong.

Đạn trung liên, đạn AK cày tung hai bên bờ suối.

Địch rồi!

Nó đã làm chủ vị trí chỉ huy sở và trung đội 3.

Anh Tảo người Hà Bắc- Trung đội trưởng 12.8mm đang tắm cứ cởi trần nồng nỗng, nhảy lên khẩu 12.8 cạnh cầu, hất tung tấm tôn che súng bắn cản địch.

Lính ta quần đùi áo may ô, trong tay không vũ khí chạy trắng lòng suối về hướng nam - hướng trung đội 1.

Hoả lực, đạn nhọn của địch tập trung vào diệt khẩu 12.8mm.

Chịu không nổi, xung quanh cũng chẳng còn ai, bố Tảo bắn thêm được mấy loạt ngắn nữa rồi cũng bỏ súng chạy nốt.

Thằng Tư trung đội 3 lớ ngớ tưởng còn chỉ huy sở, lại thấy 12.8 vừa giòn giã liền chạy về qua cầu.

Bị đạn nhọn rớt bịch xuống suối chết ngay.

Anh Lượng – (người Hải hưng, biệt danh Lượng khỉ) mới về nhận chức đại đội phó ngày hôm trước chỉ kịp vơ khẩu AR.15 không biết của ai và một băng đạn, kéo thằng Căn nhảy đại xuống một cái hầm sát bờ, cứ thấy bóng áo đen là điểm xạ.

Dưới lòng suối, hai cái đầu đen thò lên cách hầm có 7m.

Cò lại xiết nhưng hộp đạn rỗng không.

Anh ấy nhanh trí giương súng quát to :"lớc đay lơn!" (giơ tay lên).

Hai thằng địch hụp đầu xuống.

Hai thầy trò kéo tay nhau vọt lên miệng hầm chạy gấp.

Khẩu 12.8mm địch đã chiếm được quay nòng bắn theo mục tiêu vừa phát hiện.

Đạn cày tung dưới chân, xuyên qua dãy thùng phuy làm dầu bốc cháy ngùn ngụt.

Thật là còn may!

Khói dầu đã cản tầm quan sát của địch.

Trên trận địa chỉ còn khẩu đại liên của thằng Lễ là còn lên tiếng, khằng khặc thêm một thùng đạn rồi cũng tháo súng tuỳ nghi di tản.

Cha con anh em đại đội gom dìu nhau ở trung đội 3, theo con suối, thất thểu chạy về tiểu đoàn.

Anh Quang râu, chính trị viên phó cũng bị một phát AR.15 xuyên bắp chân, đi tập tễnh.

Thằng Tường lé, thằng Ban trố mất máy PRC.25, đôi mắt thất thần.

Lính tráng non nửa là quần đùi áo lót, đi tay không, súng ống , ba lô mất sạch.

Khẩu cối 60mm cũng rơi vào tay địch.

Thấy thằng Gia "cà bây" vẫn còn gánh 6 quả cối trên đòn, Thằng Trung B1 bảo sao không vất mẹ nó nốt đi rồi trang bị mới luôn thể.

Thằng này cáu bảo vất đạn lại để nó giã cho vỡ đầu ông vải nhà mày ra à?

Hục hặc như thế nhưng cũng chẳng còn lòng dạ đâu mà đánh nhau nữa.

Kiểm điểm lại đại đội 1 trong sáng hôm ấy mất một khẩu 12.8mm; một khẩu cối 60mm; một máy PRC.25; 12 AK và RPD; hy sinh 5; bị thương 3.

Tử sỹ không mang đi được.

Đến trưa thì về đến đội hình tiểu đoàn.

Gương mặt ai nấy bơ thờ.

Đau quá!

Anh Sơn lệnh ngay phần còn lại của đại đội 1, toàn bộ đại đội 2 và một khẩu đội cối 82 đại đội 4 do anh Thào - tiểu đoàn phó chỉ huy, quay ngay lại đánh địch.

Vào đến nơi thì địch đã rút đi từ bao giờ.

Tại chỉ huy sở đại đội 1, cái máy 2W nằm móp méo, lăn long lóc.

Tử sỹ bị chúng nó dùng xẻng bộ binh băm nát mặt.

Ba lô quần áo cũng bị rạch nát tứ tung.

Tiền phụ cấp chúng tôi vừa mới lĩnh (toàn tiền mới) bay như bươm bướm trên mặt đất.

Trong một bụi cây gần chỗ bố trí khẩu đại liên cũ, anh Thào lấy gậy chọc chọc, lôi ra một thùng đạn đầy nguyên rồi gọi toáng lên :" Lễ!

Lễ lại đây!

Mẹ mày!

Bảo bắn hết đạn rồi mới chạy thế thùng đạn nào đây?".

"Đạn địch đấy anh ơi!" .

" Mẹ!

Cờ đỏ sao vàng lè lè ra thế này mà mày dám bảo là đạn địch à ?".

Thế là cứ cái gậy sẵn đấy, ông ấy quất vun vút.

Thằng Lễ đại liên chân dài, ôm vội thùng đạn rồi bỏ chạy sau khi ăn mấy chưởng gậy vào lưng.

Thu dọn chiến trường xong xuôi, về đến đội hình tiểu đoàn thì trời đã tối.

Thật là một đêm nặng nề!

Nửa đêm về sáng, có hai phát pháo hiệu xanh vọt lên trên đỉnh rừng, cách chúng tôi khoảng 3 km.

Điện về trung đoàn hỏi thì được thông tin là không có đơn vị nào đứng chân hay làm nhiệm vụ ở vị trí đó.

Xác định rõ là địch đang bâu bám tiểu đoàn 4.

Sáng hôm sau, chỉ huy tiểu đoàn triệu tập toàn bộ các đại đội và trung đội trưởng về họp rút kinh nghiệm.

Căn cứ lực lượng địch trong trận đại 1 mất chốt và các dấu hiệu đêm qua, dự đoán địch sẽ có thể đánh vào đội hình tiểu đoàn nay mai.

Các đơn vị củng cố hầm hào sẵn sàng đánh địch.

Cử các tổ thám sát vòng ngoài phát hiện dấu vết, tránh bị bất ngờ.

Cuộc họp ngắn vừa tan thì xe tải trung đoàn có một trung đội của đại đội công binh 19 hộ tống vào đến nơi.

Bổ sung súng đạn xong xuôi, tử sỹ thương binh được chuyển lên là xe vội biến ngay vì sợ bị phục kích.

Tiểu đoàn trưởng trực tiếp bố trí lại đội hình.

Cái phum đơn vị tôi đang đứng chân lính gọi là phum "cây dừa cụt" hoặc "phum 19".

Trước đây một thời gian, đại đội 19 công binh trực thuộc trung đoàn đóng quân ở đây nên mới đặt tên như thế.

Địa hình dốc thoai thoải từ cái chùa cũ đã bị phá huỷ, qua một trảng trống có một khẩu pháo 155mm xẹp lốp (thu được của địch, đã mất kim hoả) là đến con suối cạn hình cánh cung, ôm lấy rìa phum.

Đại đội 2, xác định là hướng chủ yếu, bám rìa con suối cạn cắt ngang con đường.

Khống chế trảng trống sườn phải ban chỉ huy tiểu đoàn là trung đội vận tải và khẩu đại liên 30 Mỹ do thằng Luân – liên lạc tiểu đoàn lấy được ở kho súng tháng trước (ba cán bộ tiểu đoàn mỗi người một liên lạc).

Tôi nhớ thằng Luân người Thanh Hoá, người nó to vật vã.

Cái ba lô trên lưng nó cõng đồ cho cả hai người, cả nó cả chỉ huy mà vẫn lọt thỏm trên tấm lưng bè bè như cái phản.

Ngoài khẩu AK treo bụng, nó còn vác thêm trên vai khẩu đại liên Mỹ này.

Băng đạn quấn ngang quấn chéo đầy mình, cứ đụng địch lại hạ càng bắn rèn rẹt.

Phần cao nhất địa hình là cái chùa đổ ở chếch phía sau bố trí đại đội 4 với khẩu 12.8mm còn lại và 2 khẩu cối 82mm.

Đại đội 1, có tăng cường khẩu DK.82, giữ sườn trái tiểu đoàn.

Vị trí đại 1 nằm trong một chòm cây rậm sát bìa rừng thưa, cách tiểu đoàn bộ khoảng 200m bằng một khoảng ruộng khô.

Chỉ huy đại đội bây giờ là anh Tuy "voi" Hà Bắc, thay cho anh Khanh.

Anh Lược, dân Hải Phòng làm chính trị viên phó thay cho anh Quang râu bị thương hôm trước.

Như là duyên nợ, tôi và anh Ky lại được điều động xuống đại 1.

Ngày 17/4/1979, buổi sáng, anh Sơn tiểu đoàn trưởng kéo theo thằng Điệp xách khẩu M.16 xuống đại đội 2.

Hai thầy trò dò dẫm ngược lòng suối cạn xem xét tình hình.

Việc này đáng nhẽ của trinh sát tiểu đoàn, nhưng không hiểu sao hôm đó anh ấy muốn trực tiếp thị sát.

Vừa qua khỏi đội hình đại đội 2 hơn 50m thì đụng 2 thằng trinh sát địch.

Thằng đi đầu đứng trên bờ suối mọc đầy le, há hốc mồm vì bất ngờ nhưng cũng kịp bóp cò khẩu M.79.

Quả đạn bay thẳng vào đùi anh Sơn, rơi bịch xuống nhưng không nổ vì cự ly quá gần, không đủ vòng xoay.

Thằng Điệp (người Huế- học sinh trường Quốc học hẳn hoi) cũng bị giật mình, chĩa khẩu M.16 kéo một loạt.

Hai thằng trinh sát địch chúi xuống bỏ chạy.

Thầy trò anh Sơn cũng tập tễnh dìu nhau tới đại đội 2 rồi về tiểu đoàn, lệnh cho các đại đội chuẩn bị đánh địch.

Trung đội thông tin đang họp trong cái nhà sàn con con, nghe tiếng "Póc!" của M.79 và tiếng tiểu liên hướng lòng suối cạn, xớn xác ngó ra ngoài.

Anh Nhương lao về hét thông báo địch vào rồi xua chúng tôi xuống các đại đội ngay.

Tôi và anh Ky vừa lao xuống cầu thang thì khắp các đại đội, tiếng súng đã rộ lên.

Hai thằng cắm cổ chạy vượt qua khoảng trống về đại đội 1.

Không thể nói đạn bay chiu chíu hay cắc bụp bên tai nữa, vì lúc này đã ào lên như một nồi cơm sôi rền từ khắp các hướng.

Sau mấy lần ngã chúi vì vấp, hai thằng cũng chạy về tới ban chỉ huy đại đội 1.

Địch đã bám được vào lòng suối cạn trước mặt đội hình đại đội.

Cứ nhô lên thằng nào là trung đội 1 xỉa ngay thằng đó.

Biết không thể lên theo hướng này, nó để lại bộ phận bắn kiềm chế rồi quay sang bìa rừng đánh vào hướng trung đội 2, trung đội 3.

Khẩu DK.82 nằm kẹp giữa hai trung đội làm liền mấy trái.

Tiếng nổ làm tai ù đặc.

Lính trung đội 2 hô ầm ầm :" Cối bắn trước đội hình 40m!".

Thằng Dung tiểu đội trưởng cối 60 do ù tai, lại đang cuống cả lên liền lấy cự ly 40m thả đạn.

Quả đạn cối rơi sát ngay khẩu đội DK.82.

Thằng Hạnh, xạ thủ số 1 dính ngay một mảnh vào đầu nằm quay táng ra.

Một chú nữa dính mảnh vào đùi.

Thằng Mận - tiểu đội trưởng DK phát khùng, cõng thằng Hạnh về đặt nằm trong quan sát sở rồi xách AK chạy xồng xộc về khẩu đội cối tính ăn thua đủ.

Dung "kỳ đà" mặt xanh như tàu lá.

Anh Tuy chửi ầm ĩ, can chúng nó ra.

Bên hướng tiểu đoàn bộ, địch cũng bị trung đội vận tải với khẩu đại liên của thằng Luân ghìm chân không vượt qua trảng được.

Cối 82 đại 4 cứ thì thụp giã vào bìa suối theo yêu cầu của đại 2.

Thằng Cường vận tải thấy thưa đạn, bò lên định gí quả H.12 giá cạnh khẩu pháo 155mm thì bị chúng nó tỉa.

Viên đạn có mắt đi qua trán nó.

Anh Sơn bị thương vì quả M.79 hồi sáng, không đi lại được, nằm trong hầm quay điện thoại hỏi hết đại đội này đến đại đội khác rồi quay xuống đại 1.

Cán bộ đại đội chạy hết xuống các B nên tôi báo cáo luôn :"Đại đội 1 vẫn vững!

Anh yên tâm!"," Ờ!

Ngon nghe thằng em!".

Đúng lúc đó, ngay sau chỉ huy sở đại đội sát mép trảng, đằng sau ụ mối thấp thoáng mấy thằng địch áo đen.

Tiếng AK toang toác ngay sau lưng.

Đạn xuyên qua nóc lều lợp tạm bằng mấy mảnh tôn rách, thủng lỗ chỗ.

Thằng Căn, thằng Đồng liên lạc nhảy ra núp sau lều, bắn cản địch.

Sợ mất máy, tôi lăn vào lều, đè cả lên người thằng Hạnh đang khò khè, giật vội cái máy điện thoại rồi nhào ra.

Thấy thằng Thư y tá đang nhớn nhác, tôi bảo nó trong lều còn thằng Hạnh đang bị thương nằm đấy, vào kéo nốt nó ra đi.

Anh Tuy thấy địch đánh rát phía sau, thét khẩu đại liên quay lại, giá súng ngay cạnh lều bắn dữ dội.

Lúc này chẳng thấy tiểu đội trưởng Quyến "khợp" đâu nữa, đại liên chỉ còn thằng Nhạ tân binh, người Thái bình và thằng Lễ.

Thằng Nhạ cứ ngồi xổm chồm chỗm trên mặt đất mà đẩy cò.

Hai thằng liên lạc và tôi cũng bắn điên cuồng hỗ trợ.

Cái ụ mối lớn, cạnh gốc cây to mấy thằng địch nấp bục dần từng mảng.

Biết không ngon ăn, chúng nó rút lui.

Chúng tôi vận động lên đến đó, thấy quanh ụ mối máu me be bét lẫn cả bông băng.

Thu được hai quả lựu đạn địch chưa kịp ném.

Tôi chạy vào trong lều đại đội mắc vội dây vào máy.

Chắc tiểu đoàn đang sốt ruột quay máy nên tôi bị giật rung cả tay.

Lập cập mấy lần mới xong.

Liên lạc lại thông suốt.

Anh Tuy báo cáo tình hình, nghe máy một lúc rồi nhăn mặt, đưa tổ hợp cho tôi.

Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn.

Thế mà đã quá trưa lâu rồi!

Đến lúc này, anh Tuy mới gọi :" Thư!

Thư!

Băng cho tao!".

Anh ấy bị một viên AR.15 xuyên bắp đùi, máu ra không nhiều.

Cái mũ cứng của thằng Nhạ cũng bị đạn xuyên thủng vành hai lỗ tròn vo lúc nó ngồi xổm bắn đại liên.

Buổi chiều, nó cứ ngơ ngẩn sờ sờ cái lỗ thủng, cười ngây ngô.

Khẩu DK.82, do quân ta đánh quân mình, bị thương 2, còn lại 3 người.

Tiểu đoàn rút luôn khẩu đội này về đội hình đại đội 4.

Trung đội 2 được lệnh bung ra ngoài đội hình đại đội, qua bờ suối cạn thám sát địch.

Bọn này cũng chỉ lò dò qua trảng đến suối, loanh quanh một lúc, bắn bậy mấy loạt rồi về.

Đạn thiếu, lính đi mót từng viên đạn lẻ rơi vãi tra vào băng.

Chẳng bù cho những lúc chúng nó cứ bẻ đầu cát tút, dốc thuốc đạn đổ vào để nhóm bếp pha trà.

Đại đội 3, sau một thời gian đi phối thuộc trung đoàn được trả về đội hình.

Cắt rừng về đến nơi thì trời đã gần tối, bố trí ngay sau lưng tiểu đoàn.

Thêm một đại đội, dẫu chỉ hơn ba chục tay súng, ai nấy cũng yên tâm hơn hẳn.

Anh Tuy chào chúng tôi rồi chống gậy tập tễnh về tiểu đoàn bộ.

Hôm sau cũng theo xe thương binh tử sỹ, cùng anh Sơn tiểu đoàn đi viện luôn, lập kỷ lục người chỉ huy đại đội 1 trong thời gian ngắn nhất (2 ngày).

Anh Quảng trung đoàn cử về thay, nhận chức tiểu đoàn trưởng.

Anh Chính "tréc" người Hà nam ninh làm đại đội trưởng đại đội 1.

Tình hình yên ắng trở lại.

Sau một tuần củng cố, sư đoàn lại chuẩn bị chiến dịch đánh thông lên thị trấn Leach theo thung lũng phía bên kia núi Ô răng S'vai để phối hợp với các sư đoàn bạn.

Trung đoàn 2 chúng tôi được lệnh trèo vượt núi này, chẹn ngang thung lũng để các đơn vị bạn lùa địch vào đấy cất một mẻ lớn.

Ô răng S'vai là một dãy núi cao nằm theo hướng tây bắc – đông nam.

Có những đỉnh độ cao tuyệt đối đạt gần 1500m.

Địa điểm bắt đầu cắt vào để vượt núi được xác định đúng cái phum hoang mà đại đội 1 mất chốt tuần trước, cách phum "dừa cụt" tiểu đoàn 4 đang đứng chân 6 km.

Mệnh lệnh rất rõ ràng, quán triệt đến từng chiến sĩ: bí mật bất ngờ, tránh các đơn vị nhỏ lẻ của địch, mang đầy đủ lương thực súng đạn tác chiến trong 6 ngày, nhất là đồ đựng nước uống.

Chuẩn bị tư tưởng, hậu cần xong xuôi, trung đoàn lục tục lên đường.

4h sáng, nhận xong phần cơm vắt cho cả ngày dưới anh nuôi là hành quân ngay.

Tiểu đoàn 4 đi đầu, theo con đường nhỏ (mà tôi đã vẽ trên sơ đồ trong bài viết này) ngược về hướng bắc.

Cấm dùng thông tin vô tuyến, cấm bắn bắt liên lạc.

Nói theo kiểu Tam quốc chí của La Quán Trung thì "người ngậm tăm, ngựa khoá nhạc cứ theo khe núi lần lần đi".

Một bộ phận của đại đội trinh sát 21 trung đoàn và trinh sát tiểu đoàn 4 thuộc địa hình đi trước bám địch.

Gần 6h sáng có lệnh dừng lại.

Trinh sát đã phát hiện có khói bay lên trong phum (bây giờ gọi là phum "đại đội 1 mất chốt").

Đơn vị im lặng dạt vào rừng, cắt lối khác áp vào triền núi.

Bắt đầu leo dốc.

Hai ba trăm mét độ cao khởi đầu còn ngon nhưng càng lên cao càng khó đi.

Rừng nguyên sinh trên núi dày rịt dây leo.

Tầng cây cao khép tán, toả bóng thâm u che phủ.

Đã 9h sáng mà đáy rừng vẫn nhờ nhờ tối.

Những cây con bên dưới bị cớm nắng, thân mảnh thẳng đuột, ken dày như thành.

Tôi cũng biết là phải giữ hơi đều, hít sâu và thở ra từ từ, nhưng đến khoảng gần trưa thì mớ kiến thức dưỡng sinh ấy trở thành vô dụng.

Mũi, mồm và tai cùng thi nhau hoạt động hết công suất.

Đấy là còn được đi sau đấy!

Còn mấy thằng trinh sát đi đầu, vừa đi vừa phạt cây mở đường lên thì phải biết chúng nó siêu như thế nào.

Khoảng tiếp xúc giữa ba lô và lưng áo đã ướt đẫm mồ hôi.

Rồi cái ruột tượng 5 ký gạo quàng quanh cổ cũng ướt nốt phần đáy.

Quai máy, quai súng siết vào vai tê dại.

Vẫn chưa có lệnh nghỉ.

Đi!

Đi cho kịp giờ hiệp đồng!

Toàn đơn vị thằng nào thằng nấy khoanh tay trước bụng, còng lưng vượt dốc.

Thằng Tào, thằng Lại anh nuôi đại đội 1 cậy mang nhẹ, chỉ phải khiêng cái nồi nhôm quân dụng, nên cứ băng băng vượt trước.

Nhọ nồi quệt vào lá cây, từ lá lại quệt vào mặt những thằng đi sau lem nhem.

Ông Thào tiểu đoàn phó tức, vừa xoa mặt vừa quát chúng nó xuống đi sau.

Nhưng hai thằng này cứ như điếc, càng vọt khoẻ, mỗi lúc một xa.

Bất lực!

Thế là bố ấy lấy cái gậy chống phi theo luôn nhưng trượt.

Đã thế lại còn mất đà ngã quay ra.

Lính tráng cười ồ lên hô :" Tháo đạn đứng dậy!".

"Mẹ hai thằng cà chớn!

Rồi biết tay tao!".

Chửi với chữa ngượng thế thôi chứ sức chó đâu mà đuổi!

Tình huống khôi hài cũng làm quên đi cái mệt được một chốc.

Quá trưa, có lệnh nghỉ ăn cơm.

Tôi kiếm một chỗ phẳng, ngồi phịch xuống, dựa vào ba lô vẫn quàng nguyên sau lưng hồng hộc thở.

Đỡ mệt, giở cơm vắt ra ăn.

Bây giờ vợ hỏi muốn ăn gì còn phải nghĩ chứ lúc đó, vèo một cái là nửa vắt cơm với chút bột gia vị đã chui tuột vào trong bụng mà vẫn còn thòm thèm.

Huống chi hôm đó lại có món mắm trâu của bọn cối đại 1.

Thịt trâu ăn chán rồi, còn lại nước thịt.

Chúng nó cho muối, bột gia vị vào rồi đun nhỏ lửa cho đến khi cô lại sền sệt.

Đổ vào đoạn ống DK.82, lấy nilon bịt lại mang theo khi hành quân.

Loại "mắm" đó hao cơm vô cùng!

Nghỉ một lát lại leo tiếp.

Rừng ở độ cao lớn quang hơn nhưng độ dốc lớn hơn.

Bắt đầu có mây mù.

Trời tự nhiên tối lại.

Những hạt nước li ti nhưng dày đặc làm triền dốc trơn nhẫy.

Khổ nhất là lính pháo DK.75 đại đội 17 trung đoàn.

Khẩu đội trưởng đi trước, dùng xẻng pháo đào khoét triền núi thành từng cái hốc cho bọn khiêng pháo phía sau có chỗ đặt chân.

Hai thằng khiêng nòng, mỗi thằng một đoạn tầm vông.

Thằng xỏ miệng, thằng xỏ đuôi, hai đoạn tầm vông oằn xuống dưới sức nặng của nòng pháo.

Cứ trầy trượt như thế mà bám sườn leo lên.

Bọn mang đạn buộc hai ống DK néo lại làm một, cúi đầu gằn gằn bước.

Thỉnh thoảng có thằng trượt chân.

Nòng pháo lăn lông lốc rồi mắc lại ở cái gốc cây nào đấy.

Chúng nó lại quay xuống, nhẫn nại kéo lên không kêu một tiếng.

Để đại đội DK.75 của trung đoàn vượt qua là tôi đã bị tụt lại sau tiểu đoàn 4 khá xa rồi.

Hai thằng một máy, anh Ky đi cùng tôi cũng không giục không nhắc gì, cứ lùi lũi đi đằng sau.

Khi các đơn vị khác nghỉ, chúng tôi vẫn cứ cắm cúi bước để theo kịp đơn vị.

Trời sâm sẩm tối thì gần lên tới đỉnh.

Một hơi gió tạt qua mát lạnh, gió sườn tây núi Ô răng thổi từ vịnh Thái lan.

Nghĩa là sắp đổ dốc xuống núi.

Trời bắt đầu mưa lất phất.

Thật lạ lùng!

Mới bên này cách mấy trăm mét khí hậu khô rang nóng kinh người mà sang sườn bên này thời tiết quay ngược 180 độ.

Lần đầu tiên tôi biết thế nào là mưa địa hình.

Bây giờ đọc thêm thì mới biết hiện tượng địa lý ấy nó gọi tên là thế, chứ lúc đấy thì biết chó gì!

Chỉ biết là rất mệt!

Mệt đến há hốc mồm!

Tôi chui vào một bụi rậm vờ đi đái rồi tháo bao gạo đổ đi 1/3 ruột tượng.

Trông kỹ ra thì trong bụi ấy cũng trắng xoá gạo đổ của những thằng đi trước.

Gạo nhẹ đi nhưng nỗi nhọc ngày một tăng lên.

Đôi chân dường như không phải của tôi nữa mà như đi mượn.

Trời tối đen.

Cứ nghe tiếng vạch cây rào rào đằng trước mà chuệnh choạng lần theo.

Thỉnh thoảng lại vấp phải chân những thằng đang nằm ngủ, hoặc nghỉ thò ra giữa lối, ngã lăn ra.

Mồm vập vào súng đau điếng.

Phát cáu lên bảo chúng mày muốn ngủ thì cứ chui vào bụi mà nằm, sao lại ngáng chân bố mày.

Về sau mới biết có những thằng mệt quá ngồi nghỉ, sợ ngủ quên mất nên cứ thò chân ra đường để có ai đi sau vấp vào đánh thức rồi lại lần theo, không có lạc mất đơn vị.

Mà lạc ở đây chắc chỉ có làm mồi cho hổ.

Giờ thì chẳng còn phân biệt được đơn vị nào vào đơn vị nào nữa!

Cứ thằng khoẻ đi trước, thằng yếu đi sau, yếu nữa thì đi sau rốt như bài ca con voi của bọn trẻ con.

Giở nắm cơm vắt ra, nó đã chua loét phần bên ngoài.

Tôi bẻ đôi, cạp cạp mấy miếng phần lõi rồi lẳng vào bụi.

Nhai và nuốt với lý trí là để nạp thêm năng lượng thôi, chứ không hề có thấy đói.

Không phải cảm giác mệt nữa!

Phải nói là cảm giác tuyệt vọng đôi khi trào lên và dần dần chế ngự con người.

Một cái đầu đờ đẫn trên một đôi chân rời rã, lúc nào cũng chực gục xuống.

Dần dần xung quanh chẳng còn ai.

Khi tôi chợt nhận ra điều ấy thì nỗi khiếp sợ bỗng ùa tới làm tỉnh cả người.

Tôi dừng lại ghìm nhịp thở, lấy lại bình tĩnh nghe ngóng.

Chỉ có tiếng gió thổi trong lá.

Xa phía dưới kia, có tiếng lá rung ào ào từng nhịp ngắn.

Chỉ có người vịn vào cây vít lại rồi buông ra lá mới rung theo nhịp ấy.

Tôi tháo ruột tượng gạo định lẳng vào rừng cho nhẹ để đuổi theo, nhưng chợt nghĩ lại.

Hệt truyện cổ tích của Grim, tôi mở nút ruột tượng, thả gạo dần theo lối chạy để đánh dấu đường.

Tiếng động lá ngày càng gần.

Lúc này không phải chỉ có chạy nữa, mà vừa chạy vừa ngồi phệt tụt dốc xuống.

Vừa hết ruột tượng gạo thì va phải một đám lốc nhốc.

Chúng nó chửi ầm lên.

May quá!

Khẩu DK.82 của đại đội 4 đây rồi!

Hoá ra chúng nó cũng suýt lạc đường.

Lúc ấy đã là 2h30 sáng.

Cả bọn đi thêm một đoạn nữa thì gặp anh Ninh đại đội phó đại đội 4 hoả lực với thằng liên lạc đang ngồi nghỉ.

Mừng vì đã gặp lại đội hình, chúng tôi bước dấn qua.

Đêm tối mịt mùng.

Bọn DK82 rạch ống bảo quản, tháo đạn cho vào ba lô rồi đốt ống nhựa tìm đường về đại đội 4, bất chấp lệnh cấm đốt lửa.

Nhựa cháy xèo xèo, rỏ cả xuống chân bỏng rẫy.

Đi một lúc nữa, tôi về tới đội hình tiểu đoàn.

Chân núi chỉ còn một đoạn ngắn nữa.

Võng chăng ngang chăng dọc.

Tôi cũng tìm vội hai cái cây mắc võng.

Quăng ba lô cái huỵch rồi leo lên gần như ngủ ngay tắp lự...

Không có khái niệm thời gian, thiếp đi được một lúc tất cả đều choàng dậy.

Trên núi, không thể xác định được khoảng cách, ba phát AK nổ đĩnh đạc, kiểu bắn bắt liên lạc.

Tiếng nổ hồi âm qua các sườn núi, các tàn cây vọng lại ào ào rồi nhoè dần.

Chúng nó nhỏm dậy, lào thào hỏi nhau :" Bọn nào bắn ấy nhỉ?".

" Chắc bọn lạc đường!".

Hai thằng trinh sát được cử quay lại tìm người bắn, xồng xộc va vào võng tôi cũng hỏi câu y hệt :" Bọn nào bắn ấy nhỉ?".

Mé bụi bên kia có tiếng anh Nhương nhại đểu :" Bọn nào bắn ấy nhỉ?".

Mấy thằng trinh sát thấy vô lý, im lặng luồn ngược lên.

Kiểu này thì lộ mất rồi...

Lúc này, phía thung lũng dưới núi, tiếng động cơ ô tô, xe xích bỗng rộ lên, vọng lại ầm ì.

Nhìn rõ loáng thoáng những vệt đèn pha trong sương.

Chúng nó đã chạy.

Chắc chắn là lộ rồi!

DK.75 và một khẩu pháo 105mm của địch bắt đầu tương đạn lên núi.

Bắn kiểu mù thôi, đạn rơi cách chúng tôi rất xa.

Bộ đội thu võng ào ào.

Tiểu đoàn lệnh 2W lên máy, để lại toàn bộ ba lô cho bộ phận thu gom quân lạc đường trông, còn tất cả các đại đội lao xuống núi.

Lúc bắt đầu vận động, toàn thân tôi đau điếng, cứng đơ, tưởng chừng không cất mình lên nổi.

Được một quãng thì ổn định dần dần.

Trời mờ sáng.

Lội qua một hẻm nước tù sâu hoắm nước lạnh căm căm thì lên đến một cái trảng rộng.

Giữa trảng là con đường đất rộng rãi đầy vết xe cơ giới.

Bên kia trảng, một dãy nhà thấp lợp tranh nằm lẫn những chiếc xe vận tải, máy cẩu, máy xúc màu vàng choé.

Bộ binh dàn hàng ngang tiến lên.

Lính đại đội 2 nổ súng ầm ầm rồi hô xung phong.

Đại đội 1 hưởng ứng rồi tiếng hô lan ra toàn đội hình tiểu đoàn.

Đây là lần đầu tiên tôi thấy tiểu đoàn hô xung phong khi đánh địch.

Tiếng đạn nhọn, tiếng hoả lực, tiếng hô phản hồi giữa hai vách núi trộn lẫn rền rền không dứt.

Khẩu 12.8 giá súng, bắn qua đầu bộ binh đùng đùng.

Cối 82 và DK quay nòng bắn theo hướng con đường chạy dọc thung lũng.

Bắn đuổi là chính chứ cơ giới nó đã chạy từ đời tám hoánh.

Doạ thế xem có thằng nào sợ, lạc tay lái đâm vào đâu không thôi chứ bắn thế nước mẹ gì !

Bộ đội tiểu đoàn 4 đã làm chủ căn cứ.

Không tiêu diệt được được bất cứ một thằng địch nào.

Thu một khẩu pháo 105mm, một khẩu DK.75mm và một số đạn cối 82.

Số xe máy địch bỏ lại, toàn đồ KOMATSU Nhật bản, đã bị bắn thủng gần hết lốp, đề phòng quân ta dùng để đuổi theo truy kích.

Riêng lố đạn cối 82 sản xuất tại Trung Quốc, trung đoàn ra lệnh gom huỷ ngay.

Trong trận Ô Đông hồi trước, trung đoàn 1 thu được đạn cối 82 của địch mang ra xài.

Khi thả đạn thì nổ ngay trong nòng súng.

Hy sinh hết sức đau xót gần hết một khẩu đội!

Phải công nhận bọn này với thằng thầy nó cực kỳ thâm độc!

Bây giờ thì các bố mày không có dại!

Nắng lên được một lúc thì gặp lính trung đoàn 1 theo đường lớn tiến vào thung lũng.

Trung đoàn này cũng gần như phải hành quân suốt đêm hôm qua.

Đi đường bằng nên khoẻ quân hơn, theo đường lộ vượt qua chúng tôi, mải mốt truy kích địch.

Chúng tôi nghỉ lại một ngày, chờ công binh, vận tải sư đoàn lên thu hồi chiến lợi phẩm.

Chỉ vì ba phát súng vô kỷ luật ấy mà tất cả bao nhiêu công giăng bẫy, leo núi vu hồi của cả ngàn con người trở thành công cốc.

Về sau, quân pháp, phòng chính trị quân đoàn xuống đơn vị tôi điều tra mãi nhưng cũng không tìm ra người bắn.

Âu cũng là số phận!

Như Khổng Minh than với Khương Duy :" Tiếc thay!

Dùng mẹo to nhưng lại thành công nhỏ!".

Hôm sau, cũng theo hướng tây bắc trong đội hình sư đoàn, chúng tôi hành quân nhưng phát triển rộng hơn về hai bên đường.

Phía trung đoàn 1 đi trước, tiếng súng nổ vọng lại ầm ầm.

Trung đoàn 2, trung đoàn 3 mở rộng đội hình, sục sạo sát chân núi nhằm phát hiện triệt phá những kho tàng, cơ sở hậu cần của địch.

Cứ thấy ngách núi nào có đường bò hoặc nghi có địch là đơn vị rẽ vào.

Đây đã là địa phận tỉnh Pursat, cách thị trấn Leach khoảng 45 km.

Ngoài đường lớn chạy giữa thung lũng, trung đoàn pháo 42 kéo pháo theo bộ binh.

Cần chi viện hướng nào đáp ứng hướng đó.

Trong những ngày ấy, tiểu đoàn tôi tìm thấy khá nhiều những những kho hậu cần nhỏ địch phân tán trong rừng, để tạm trong những căn lán nhỏ cất vội.

Kho gạo mang không hết thì đốt, vì số lượng nhỏ không bõ gọi xe sư đoàn đến chở.

Kho muối thì mang ra suối đổ rồi bắn vỡ hết chum.

Nhưng may nhất là vớ được một kho vải màu xanh sỹ lâm.

Lính ta đang rách rưới.

Quần áo đi trận đánh nhau đã tơi tả cả mà quân nhu vẫn chưa phát kịp.

Nay sục được kho này như buồn ngủ gặp chiếu manh.

Phải nói là trong lính có rất nhiều thằng có tài, rất nhiều hoa tay trong nhiều lĩnh vực.

Bây giờ tiểu đoàn lòi ra một tay thợ may tay ngang là thằng Lễ đại liên.

Với một cây kéo cùn không biết xuất xứ từ đâu, nó cứ nhìn người đến nhờ một thoáng rồi hạ kéo cắt xoèn xoẹt, khỏi cần đo đạc mất thì giờ.

Thích quần ống loe hả?

Có ngay! (Hồi ấy quần ống loe đang là mốt).

Đây!

Xong rồi!

Về mà khâu lấy!

Tiền công là một điếu thuốc rê.

Đường kim mũi chỉ của mấy anh lính không được "mỹ thuật" cho lắm.

Chỗ đột mau, chỗ đột thưa và thường là ngoằn ngoèo nhưng cũng đủ giúp chúng tôi có tấm áo che thân lành lặn.

Thấy một thằng lính tử trận là điều bình thường.

Nhưng nhìn một thằng lính buổi trưa ngồi võng, tự khâu lấy quần áo cho mình thì lại là một điều bất bình thường.

Nghĩ lại thấy thương quá!

Từ đó, cứ thấy sắc lính xanh rì sỹ lâm là trung đoàn biết ngay lính tiểu đoàn 4 khỏi cần giới thiệu.

Ngoài việc may quần áo, chúng tôi còn mang vải ra đổi thuốc lá, đổi các nhu yếu phẩm cần thiết khác cho lính pháo 42.

Bọn này hành quân cơ giới, cái gì cũng mang đi được.

Lại hay được hậu cần tiếp tế nên cái gì cũng có, không khác gì cô hàng căng tin trong đội quân của Bonaparte.

Vào một buổi chiều gần tối, trong một cái ngách núi heo hút và ẩm ướt, tiểu đoàn 4 gặp lại "cố nhân" như một sự sắp đặt của định mệnh.

Vừa ở bìa rừng rúc ra mép trảng, chúng tôi bắt gặp mấy cái nhà nhỏ lợp gianh, lá còn rất mới.

Xin nói là ở Miên, dù cất nhà to hay làm nhà nhỏ, kể cả những cái chòi con đều làm kiểu nhà sàn.

Đại đội 1 đi đầu dừng lại ngay, chia mũi bí mật tiếp cận.

Dưới gầm nhà, quanh chân cột, gần hai chục thằng địch đứng ngồi lố nhố.

Chúng nó đang nấu cơm chiều.

Bộ đội cứ bám từng bụi cây, lặng lẽ bò tới.

Cách địch khoảng 30m thì tự nhiên hai thằng trong đám đó đứng dậy, vác 4 ống DK.75 đi xăm xăm thẳng về phía chúng tôi.

Chắc chúng nó đi lấy nước ở cái suối mà chúng tôi vừa đi qua.

Chính "tréc" đại trưởng vừa gí đầu nòng súng lính xuống, định ra hiệu bắt sống nhưng không kịp.

Thằng Trung B1 đã kéo một loạt AK.

Hai thằng địch đổ vật xuống ngay.

Liền đó, hai phát B.41 thổi tung căn nhà, nhìn rõ cả cái nồi gang với một cái đùi người bay lên không trung.

Trong đám đó chỉ còn ba thằng phía ngoài vùng chạy được.

Trời nhoè nhoẹt tối.

Lính đại 1 bắn đuổi theo ba thằng chạy rầm rầm.

Đứa quỳ bắn, đứa đứng bắn, có đứa kê súng vào chạc cây cẩn thận lấy đường ngắm, điểm xạ mãi mà vẫn thấy chúng nó chạy nhanh như hoẵng.

Thế mới biết đôi khi chết được cũng khó!

Trên cái nền trước kia là nhà, thịt người lẫn lòng ruột văng tung toé.

Vẫn còn hai thằng bị thương không chạy được kêu lên ồ ồ!

Trong mấy cái bồng rách hôi mù của bọn này, chúng tôi lôi ra được cuốn sổ ghi bài hát nhăng cuội của thằng Tư hy sinh hôm đại đội 1 tan tác.

Kẻ thù đây rồi!

Đời mày tàn rồi!

Anh Thào nổi điên quát lính khử nốt hai thằng tù binh bị thương.

Thằng khẩu đội trưởng DK.75 đại đội 17 đi phối thuộc hô lên : "Để em!".

Chúng tôi vội giạt ra khỏi hướng bắn của nó.

Nhịp AK găm vào ngực và họng thằng thứ nhất, nhưng nó không chết tốt lại còn khò khè lớn hơn.

Thằng thứ 2 (chỉ chừng 16 tuổi) lăn đến ôm chân thằng bắn.

Nó đạp ra, nhưng đã run tay lùi lại.

Ông Thào lườm nó một cái rồi rút K.59, phân phối đều vào sọ mỗi thằng hai phát vọt óc.

Thân người giật giật mấy cái rồi xuội lơ, môi vẫn còn run run.

Thấy chúng tôi nghệt mặt ra, anh ấy quay lại chửi :" Mẹ chúng mày!

Lính với tráng!" rồi bỏ đi.

Tôi đá nốt cuốn sổ của thằng Tư vào trong đống than hồng.

Trả mày cuốn sổ xuống đấy mà hát vớ hát vẩn!

Anh em đã thanh toán xong món nợ cho mày!

Không biết có phải cái thằng đã cầm xẻng băm mày không?

Cuối tháng 4 năm 79, các đơn vị địch đã tan rã gần hết.

Tàn quân địch rút về thị trấn Leach.

Đại bộ phận sư đoàn 9 đã tiến về đó đánh địch còn trung đoàn 2 vẫn dềnh dàng đi sau chặn hậu.

Trong bản đồ quân sự, cái thung lũng lớn mà trung đoàn tôi đang hoạt động, từ đó có đường rẽ đi nhà ga Bâmnak (dân gọi là ga Bom nọ) được gọi là "mục tiêu A3".

Địa điểm này có vị trí cực kỳ quan trọng, gần như là nơi tiếp giáp của bốn tỉnh Kampong Ch'nang, Pursat, Kampong S'Peu và Kô công, nằm ở phía nam Leach theo đường chim bay chừng 25 km.

Tiểu đoàn tôi cứ đi quanh đi quẩn trong các hẻm núi dường như chưa bao giờ có dấu chân người.

Có những nơi vòng qua vòng lại mấy lần.

Lính mà!

Có lệnh đi thì cứ đi, có lệnh nghỉ thì lại nghỉ.

Tàn quân Pôn Pốt bấy giờ chưa kịp phục hồi như sau năm 80.

Kiếm ăn còn khó chứ đừng nói gì đến đánh đấm.

Dân lành bị lùa theo tìm cách tháo chạy trở về quê cũ, nhưng chưa hiểu nên cũng tránh bộ đội Việt Nam.

Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp một đám nhỏ ở trong rừng.

Họ đói.

Họ rách rưới và hoang dại như một đám người rừng.

Các bạn xem trên TV, thấy những em nhỏ trong nạn đói ở Phi châu bụng ỏng đít beo, ruồi bâu đầy miệng không buồn đuổi hẳn là thấy rất xúc động.

Trong miền rừng sâu thăm thẳm này, chúng tôi đã gặp những cảnh tương tự.

Thậm chí còn thê thảm hơn thế nữa.

Đơn vị gom lại, chia cho những con người khốn khổ ấy những ruột tượng gạo bé nhỏ của người lính rồi chỉ lối cho họ ra phía đường lớn.

Vào một buổi trưa, khi đang cắt rừng tìm suối, chúng tôi gặp một đám phụ nữ chừng bảy tám người nằm ngồi quanh một cái xe bò gẫy trục.

Thấy bọn tôi, hai người đàn ông trong nhóm chống hai con dao quắm run run đứng dậy, chắc là để chuẩn bị chiến đấu (!).

Xương sườn, xương bả, xương ống bọc dưới lớp da đen nhờ, lộ như một tiêu bản thạch cao.

Họ đã gần như lả đi.

Không thể nói tuổi của họ bao nhiêu khi mà tất cả sợ hãi, khổ đau, tuyệt vọng và đói khát đã in hằn trên khuôn mặt.

Những khuôn mặt không có tuổi!

Không biểu cảm!

Và dường như ở một thế giới khác!

Câu chào "Xamaki !" của cán bộ dân vận trở nên giống như một lời xa xỉ giả dối!

Anh Ky móc cóc ba lô chìa nắm cơm ra.

Từng ấy cặp mắt sáng lên nhìn vào.

Thằng Phượng "bọ" y tá đại đội 1 (thay cho thằng Thư đi học) giằng lấy nắm cơm ấn vào chỗ cũ, gọi anh nuôi nổi lửa nấu ngay nồi cháo loãng.

Cháo chín được chia ngay thành từng suất nhỏ.

Lập cập giọt rơi giọt vãi, nồi cháo cũng dần hết.

Thằng Phượng giải thích là nhịn đói lâu, phải ăn hạn chế như thế mới không bị sốc.

Một bà mẹ cầm ca cháo đến chiếc xe hỏng, lật chiếu lá lên định bón cho thằng bé con.

Nhưng cháu bé đã chết.

Bên cạnh nó là một cái gùi.

Trong gùi, một cẳng tay sấy khô nằm lăn lóc cạnh mấy nắm lá giang.

Chứng kiến, không ai nói được một lời nào.

Tất cả đều im lặng quay đi.

Không phải là vì sợ, mà vì hình như thấy đau khổ quá!

Một sự im lặng cùng cực...!

Lúc ấy, tôi chỉ muốn rống lên thôi!

Đơn vị lặng lẽ chôn cất cháu bé.

Bà mẹ cũng không khóc một tiếng nào.

Thêm một mất mát trong cả ngàn vạn mất mát có ý nghĩa gì!

Đến chiều, cho ăn uống như bình thường xong, chúng tôi chia gạo rồi vừa dìu, vừa dẫn họ ra tận sát mé đường, nơi đã nghe tiếng ầm ì của xe pháo của trung đoàn 42.

Đài kỹ thuật vô tuyến điện quân đoàn dò được tin Tà Môk, chỉ huy quân khu Tây nam đang chạy về biên giới Thái lan qua nẻo "mục tiêu A3", phum Kâmnon.

Thằng này nghe đồn bị thọt, từng gây rất nhiều tội ác đối với đồng bào ta ở An giang, Bảy núi...

Hổ thọt bao giờ cũng là hổ dữ và tinh quái.

Thị trấn Leach đã bị ta chiếm.

Đường 56 tắc nên nó và bộ sậu cắt rừng đi đường này.

Tiểu đoàn 4 đang trong thung lũng A3 được lệnh lên đường giữa đêm khuya, nhằm phum Kâmnon tiến gấp.

Đơn vị bỏ đường bò, cắt rừng bí mật đến mục tiêu.

Cũng may là rừng quãng này thưa nên chúng tôi hành quân không đến nỗi vất vả lắm.

Đi cả đêm được gần 17 km, nhưng so với Ô Răng thì thấm tháp gì !

Đến gần vị trí xác định, tiểu đoàn hành quân chậm lại, vừa đi vừa tìm dấu vết.

Đến gần vị trí trên bản đồ chỉ nơi con suối gặp đường bò, chúng tôi thận trọng cắt ra đường.

Đây rồi!

Vết xích xe M.113 hằn trên triền rừng còn rất mới.

Thằng này khôn thật ! cũng biết bỏ đường bò để tránh tạo dấu vết.

Cả đơn vị được lệnh cấp tốc đuổi theo.

Đại đội 2 đi đầu, kế đến đại đội 1 rồi tiểu đoàn bộ...Đơn vị cứ theo dấu xích xe mà chạy tới.

Trong khi mũi mồm tranh nhau thở, đã thoảng thấy mùi dầu máy.

Hết khoảng rừng, chúng tôi ùa ra một bãi dốc thoai thoải mọc đầy cây dầu non.

Cách khoảng 100m, một chiếc xe M.113 đang đỗ.

Quanh chiếc xe địch đứng ngồi lố nhố.

Anh Quảng tiểu đoàn trưởng định ra lệnh bí mật tiếp cận nhưng không kịp.

Bọn nó đã phát hiện tình thế.

Hai đại đội đi đầu không chờ lệnh nổ súng, xung phong ngay.

Địch có chừng một trung đội, rẽ rừng chạy ào ào.

Vừa chạy vừa quay lại bắn léc chéc.

Trong số đó nhìn thấy cả mấy bóng phụ nữ mặc váy (sà rông).

Khẩu đại liên trên xe không kịp bắn một phát nào.

Lính đại 2 nhảy lên trên xe, quay nòng bắn rèn rẹt theo hướng địch chạy.

Đuổi thế quái nào được nữa!

Suốt một đêm hành quân gần hai chục cây số, lại vừa chạy vũ trang gằn một tiếng đồng hồ.

Lính ta ngồi thở dốc quanh cái xe M.113 vừa thu được.

Một thằng bê thùng đại liên trong xe tính thay băng đạn đang bắn sắp hết thì nặng quá trượt tay.

Thùng đạn đại liên rơi bịch xuống đất văng tung nắp.

Cả một khoảng vàng lấp lánh xoà ra mặt đất.

"Vàng!

Vàng chúng mày ơi!".

Lính ta đổ xô vào nhặt.

Loáng cái đã sạch nhẵn.

Anh Thào tiểu đoàn phó đến nơi thì hầu như chẳng còn dấu vết gì.

Anh ấy rút K.59 cầm tay, ra lệnh những quân nhân nào đã nhặt được lập tức nộp, thu gom ngay về cán bộ chính sách tiểu đoàn.

Quân đội cách mạng hay là một lũ kẻ cướp hả?

Thế là mấy thằng "trúng mánh" lúc nãy ỉu xìu mang nộp lại.

Cũng chẳng kê khai gì.

Thì giờ đâu?

Tôi biết có những thằng chỉ nộp lấy lệ mà thôi chứ chúng nó vẫn còn găm đâu đó.

Thằng Cầm điếc anh nuôi nhặt một bộ vest đũi trắng mắc ngay vào người.

Ai cũng biết là nó chỉ nghịch thế thôi nhưng ông Thào đang cáu, bắt nó mặc nguyên bộ mồi đó, khoác AK đứng nghiêm phơi nắng cạnh cái xe hơn 1h đồng hồ.

Nhìn không ai nhịn được cười.

Chiến lợi phẩm thu được trên xe ngoài những thứ như tôi vừa kể trên còn một số quần áo dân sự linh tinh, vài thùng các tông niêm phong đựng rất nhiều tài liệu.

Tôi đoán đó là những tài liệu hết sức quan trọng vì cán bộ quân báo quân đoàn gần như xuống ngay lập tức hôm sau.

Đơn vị có lệnh đứng chân ngay tại vị trí đó.

Chiều tối, tôi đang nằm võng thì tiếng AK nổ sát sạt.

Dây võng đứt đôi, đầu rơi xuống đập vào chân cọc phụ đau điếng.

Thằng Hiệp híp hữu tuyến, mắc võng nằm cạnh kêu rầm lên.

Nó bị một viên xuyên qua tay, mỡ lòi ra vàng như mỡ gà.

Hoá ra Bình "vàng" trung đội vận tải xách súng đi bậy, thấy chúng tôi nằm hơi xa đội hình, tưởng là địch nên bắn nhầm.

Anh Nhương tức, sang vận tải chửi cho một trận.

"Địch đ...đâu mà địch?

Địch nằm ngay đội hình tiểu đoàn bộ à?

Cái thằng dát đ...loại mày thì xung quanh toàn là địch...!".

Riêng thằng Hiệp có vẻ khoái trá với cái vết thương phần mềm đó.

Hôm sau theo xe quân đoàn về viện rồi biệt tích luôn.

Sau chiến tranh tôi mới gặp lại nó.

Sau này, chúng tôi mới biết là đã để xổng mất Tà Môk, Iêng Thirit (vợ Iêng Sary) cùng toàn bộ BCH quân khu tây nam của địch.

Quá là tiếc!

Giá như may mắn tóm sống được nó thì có lẽ đơn vị tôi không phải nằm đến gần 10 năm ròng rã bên đó.

Và chắc chắn sẽ có Huân chương Quân công...

Và bây giờ, nếu "quý ông", "quý bà" chạy re kèn trong cái ngày hôm đó, nếu như còn trên đời này hãy nhớ rằng chỉ chậm thêm một phút nữa thôi thì tôi không dám chắc điều gì sẽ xảy ra đâu!

(Đôi lời cảm nhận của một bác trong diễn đàn-những bài đầu ts1 có nhắc đến về điều lệnh và kỷ luật chiến trường,tôi nhớ và thuộc 9 điều qui định tren chiến trường K của bộ đội tình ngyện VN được thực rất nghiêm túc.Cuối 79 đầu năm 80 được nới lỏng và thỏai mái mua bán trao đổi với dân bạn, bạn tặng gì cũng nhận hết.Nhưng có 3 điều tuỵệt đói chấp hành là: không dược bắn giết ngược đải hàng binh, tù binh, không trộm cắp cướp cũa dân,không quan hệ bất chính phụ nữ bạn{cưởng hiếp}.phạm 1 trong 3 điều cấm này ra tòa án binh ngay! nhiều trường hợp bị dựa cây thốt như bạn gì viết đó.chiến tranh đôi khi có những điều xãy ra nếu ai chưa tham gia thì không tưởng tượng nổi,có những việc ta không muốn làm mà vẩn phải làm,nhưng phải để nó ẩn sâu trong tiềm thức.nhắc lại làm chi )

Cho đến bây giờ, chắc không chỉ mình tôi mà tất cả đồng đội đều vẫn còn hậm hụi tiếc.

Sau khi chạy thoát sang Thái lan, Tà Môk trở thành bộ não tổ chức "kháng chiến" của cái chính phủ lưu vong khốn nạn đó.

Còn Iêng Thirit bày đặt đi nước này nước nọ, lên đài xuyên tạc bá láp tình hình, kêu gọi viện trợ hòng khôi phục cái thây ma thối rữa vất vưởng xứ người.

Với đơn vị tôi, chúng nó chỉ là một đám ma đói chạy tụt cả váy (theo nghĩa đen), không hơn.

Kinh tởm độc ác thế mà cũng có đứa tin, tuồn viện trợ cho nó.

Có thể các bạn nghĩ tôi thiếu kiềm chế hay cực đoan, nhưng chúng nó đã làm anh em chiến trường K và cả đất nước Campuchia khốn khổ thêm chừng ấy năm trời.

Phải chi lúc ấy chỉ thêm một tiểu đoàn đón lõng thì bọn nó sẽ tha hồ được phát thanh trước tòa án quốc tế, hoặc phát thanh trước Diêm vương.

Bây giờ nói sang chuyện khác cho đỡ tức.

Coi như xả stress!

Dẫu có hơi lạc chủ đề nhưng nó cũng là những kỷ niệm của đời lính chiến.

Trong các bạn trên diễn đàn có ai quê ở Đồng nai không?

Đương nhiên, Đồng nai (ngày xưa) là một cánh đồng rất nhiều nai.

Cái tên thật là giản dị.

Ở vùng tác chiến của đơn vị tôi cũng có những đồng nai như thế.

Đấy chính là cái thung lũng A3 và vùng phụ cận mà các bạn nhìn thấy trên bản đồ đấy!

Tháng 5 năm 79, mùa mưa đã bắt đầu.

Trong khi trung đoàn truy quét (lính gọi là đi càn) để làm trong sạch và củng cố địa bàn đứng chân qua mùa mưa thì đàn nai cũng tràn ra những trảng cỏ trong thung lũng tìm gặm những ngọn cỏ đầu mùa.

Nai đi ăn lẫn với bò hoang.

Chiến tranh liên miên, bò nhà hoặc xổng, hoặc phá bầy lâu dần thành như hoang thú.

Lắm con vẫn còn đeo cả mõ lốc ca lốc cốc làm lính mình tưởng là bò của dân không dám bắn.

Đến khi lại gần thì cả đàn tháo chạy.

Những anh lính quê thành phố hay đồng bằng ngẩn người ra nhìn mấy con nai cao lớn nặng hàng tạ, nâu nhạt hoặc vàng hươm phi như tên bắn.

Ban đêm cứ phục gần vũng nước độc lập, rìa suối thoải mà le mọc thưa dứt khoát bắn được nai.

Những con nai bụng mang dạ chửa thèm muối, thường hay lần mò đến những phum hoang cũ, nơi chúng tôi đổ vãi muối dự trữ của địch ra để liếm đất mặn.

Không chỉ nai, lợn rừng, mễn(hoẵng) mà thú rừng nào hầu như cũng thèm muối.

Các phum hoang trở thành những địa điểm săn bắn cải thiện lý tưởng cho chúng tôi, khi mà tiếp liệu thực phẩm mùa mưa trở nên khó khăn.

Có thú ăn cỏ chắc chắn có thú ăn thịt.

Tôi muốn nói đến hổ - chúa sơn lâm của rừng già.

Những loại tẹp nhẹp như sói, lang, beo thì không tính.

Mặc dù con beo cũng rất nguy hiểm vì hành tung của nó rất bí mật và leo cây phục kích rất giỏi.

Hổ vùng này rất nhiều.

Chiến trường khốc liệt, xác lính địch, xác dân chết đói đầy rẫy.

Thế là chúa sơn lâm quay sang đổi món, thưởng thức thịt người như một món ăn khoái khẩu.

Cứ nghe tiếng súng trận, thay vì bỏ chạy cong đuôi, những con hổ tinh quái lại mò mò đến, chờ đánh chén bữa tiệc thịnh soạn đã được dọn sẵn.

Trong muà mưa năm 1979, trung đoàn 2 sư đoàn 9 lập cứ dừng chân ở nhà ga Bâmnak.

Tiểu đoàn 4 đóng quân trong cái phum hoang, gọi tên trên bản đồ là Kbal Tea Hean (lính phiên âm là Ba tà hiên – nghĩa là ba "người lính" trong tiếng Việt).

Đây là vị trí xa trung đoàn bộ nhất, gần thung lũng A3.

Rừng tự nhiên bao phủ rồi lấn cả vào những cái phum không người.

Tiểu đoàn 4 và trinh sát 21 trong trung đoàn có tiếng là sát địch.

Trong nhiều lần đi càn, có khi các tiểu đoàn bạn về không thì chúng tôi ít nhất cũng xơi được vài thằng.

Bộ đội ta săn địch sống, còn hổ thì săn địch chết.

Trong đợt truy quét địch ở phum Kà rọi (phum cam), Có hai con hổ cứ đi theo tiểu đoàn lẽo đẽo.

Lúc đi sau, lúc vượt trước ngoan như bọn chó con.

Chúng tôi nhận biết nó qua cái mùi khét đặc trưng và những vết chân to như cái bát ăn B.52.

Nước trong dấu chân ấy còn đang vẩn đục, nghĩa là bọn nó vừa đi trước đội hình chừng 5 phút.

Một lần đang ngược suối, trinh sát bỗng thấy dòng chảy đang trong bỗng có vệt lởn vởn đục.

Đơn vị thận trọng bám lên thì nhìn thấy hai ông kễnh to tướng đang lon ton bì bõm vượt suối.

Nhìn thấy chúng tôi, bọn nó khinh khỉnh nhìn lại cứ như bố tướng rồi đủng đỉnh ngoắt đuôi tránh đường.

Có thể loài vật thông minh ấy cũng hiểu là không nên tấn công những kẻ luôn mang lại những bữa ăn ngon lành cho mình.

Ban đêm, đơn vị mắc võng ngủ rừng, nó cứ à uôm xung quanh suốt.

Nhưng hổ đã kêu như thế thì không đáng sợ.

Lúc đấy nó đã no mồi rồi.

Hoặc đang tán tỉnh nhau.

Còn thấy mùi hổ mà không thấy động tĩnh gì thì hãy coi chừng.

Những thằng tụt tạt phía sau đội hình hành quân bỗng trở nên mạnh khỏe hơn bao giờ hết.

Đi truy quét, chúng tôi gặp rất nhiều thú nhưng không dám bắn vì sợ lộ đội hình.

Ưu tiên diệt địch bao giờ cũng là số một.

Những câu chuyện về thú rừng, về những chuyến săn cải thiện sẽ trở lại xen lẫn trong bài viết này.

(Đôi lời cảm nhận của một bác trong diễn đàn -

Kính chào bác Trungsy1, kính chào các cựu binh trong forum

Đọc hồi ký của bác Trungsy 1 nhiều đoạn thấy cay mắt... cũng có thể nhiều khói súng quá.

Hôm nay thì đến đoạn ẩm thực, săn bắn rồi... mạn phép gửi tặng bác một bài thơ tình trong chiến tranh của một nhà thơ - lính.

Hy vọng các cử tọa không phiền lòng vì đã làm gián đoạn không khí hồi tưởng cuộc chiến...

Hồi ký của bác làm " tôi nhớ những gì tôi chưa có được".

Cảm ơn bác.

THẢM CỎ BỜ SÔNG HỒNG

Buổi sớm

Gương mặt em như xa vắng

Anh đi những phố hè tìm mọi mảnh đường quen

Lá đổ tinh mơ rêu phủ

Đường cong xa vời

Gạch lửa phơi đỏ thắm

Đã từng mưa ở đây

Nắng đã từng trắng

Mảnh tường nơi này

Anh thuộc lòng dấu cũ em qua

Bữa ấy chúng mình đi trong đêm lửa đạn sông Hồng mưa lũ

Tay em lạnh mà không run sợ

Anh nghĩ ngày mai còn trời đạn ấy

Mặt anh thì xạm cháy

Nhưng ngày mai em ơi

Chớ vắng bàn tay em

Trên đôi vai người lính của ta cứng cỏi từ năm vào cuộc

Ngày mai ơi

Hà Nội không phai

Suốt một ngày bầu trời thăm thẳm

Nhớ riêng em

Tôi nhớ những gì tôi chưa có được

Thảm cỏ bờ sông Hồng non tơ

Màu cẩm thạch nghiêng chào giã biệt

Nếu ta có lỗi với em

Cũng vì ta muốn mình không có lỗi

Trước mặt em còn được tươi cười

Giọng vang và trẻ mãi

Bao giờ ta cũng chỉ là ta thôi

Cùng với những gì ta mến yêu sầu tư mộng tưởng

Thảm cỏ bờ sông Hồng phủ bọc trái tim

Nơi sâu kín ấy cũng đã bị đạn bom chạm tới

Những tròng mắt đảo điên để ý đến ta rồi

Ta chỉ muốn mình không có lỗi

Đừng buồn em nhé, bây giờ

Hồi em buồn nhớ

Anh còn buồn hơn

Em

Nhỏ bé mà trắng tinh

Trước mặt thảm cỏ dòng sông

Cầm tay một bông đại đoá

Em ạ, chớ buồn

Anh vào cực Nam đây.

Hà Nội, tháng 3 năm 1971

Trần Vũ Mai)

Vâng !

Chúng ta đang ở thời điểm tháng 5 năm 1979, tại ga Bâmnak và các vùng phụ cận quanh thung lũng A3.

Kể từ đây, thời gian bị nhoè đi theo cuốn nhật ký bởi những trận mưa rừng xối xả.

Nhưng những câu chuyện của đời lính không thể nào quên vẫn tươi nguyên trong ký ức, trong từng trang thiếu xé ra từ cuốn sổ để hút thuốc rê.

Đôi khi , một mảnh cỏ khô giắt lại, một vết cháy do tàn thuốc cũng nhắc lại được rất nhiều điều...

Vào một ngày mưa như thế, chúng tôi được lệnh hành quân ra Bâmnak.

Suốt mấy tháng sống giữa rừng già, nay được quay trở ra đường sắt nên ai cũng thấy phấn khởi.

Tiểu đoàn 4 hành quân trước.

Trung đoàn bộ và tiểu đoàn 5 đi sau.

Tiểu đoàn 6 chốt ở phum "Cà" (vì có một nương cà dái dê) sẽ rút ra sau cùng.

Chúng tôi đi giữa rất nhiều đám dân bạn được giải phóng, cũng đang lục tục trở ra đồng bằng.

Rừng thưa dần.

Đã thấy những khung nhà sàn không có người ở cắm chân bên những ruộng lúa nước.

Gọi là ruộng lúa thôi chứ làm gì có lúa, toàn cỏ dại mọc lấn um tùm.

Rừng chen ruộng.

Ruộng lại chen rừng.

Địa hình thoải và tầm mắt được mở rộng dần.

Lúc đó, hướng phum "Cà" tiểu đoàn 6, tiếng hoả lực bỗng vọng lại rền rền.

Tiểu đoàn 4 được lệnh dừng lại, bỏ trang bị nặng chuẩn bị đánh vận động.

Đơn vị ngoặt hướng chưa được nửa cây số lại có lệnh trở ra đường tiếp tục hành quân.

Chuyện này nghe thằng Bình "cáo" và thằng Bình "ghẻ" ở khẩu đội đại liên đại đội 12 kể lại là khi toàn tiểu đoàn chuẩn bị lên đường thì địch đánh ập vào.

Bọn này hẳn là rất thiện chiến và giàu kinh nghiệm nên chọn thời điểm tấn công hết sức nham hiểm.

Khi chuẩn bị hành quân, đương nhiên các loại hoả lực sẽ phải tháo súng, bộ đội sẽ rời công sự và tâm lý thường là mất cảnh giác hơn.

Khẩu đại liên đại đội 12 vừa tháo xong thì chúng nó khai hoả.

Quả B.40 dũi tung bờ công sự, kẹt vào cái gốc cây hai chạc nhưng không nổ.

Hai thằng trợn mắt nhìn cái đuôi đạn đen nhám còn bốc khói, bỏ khẩu đại liên đang tháo dở rồi lăn ra quạt AK vào bựng khói đen đầu nòng bên kia suối.

Anh Thắng "chàm", tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 lệnh cho các đại đội từ phương án đánh địch tại chỗ chuyển sang đánh vận động.

Yếu tố bất ngờ không khai thác được, lại bị đại đội 11 đánh bọc sườn nên bỏ chạy sau mươi phút giao tranh, bỏ lại xác 4 thằng.

Bên ta chỉ có một bị thương và thằng Kính, lính Hải phòng hy sinh.

Tôi nhớ thằng Kính hồi huấn luyện ở Phủ lý, Hà nam ninh nó là cán bộ khung - tiểu đội trưởng.

Vào đơn vị chiến đấu cùng đoàn, tuổi thì sàn sàn thì gặp nhau mới mày tao chứ thời huấn luyện thì phải gọi bằng anh bỏ mẹ!

Ra đến đường, đi thêm quãng nữa, một cảnh tượng hết sức phẫn uất bày ra ngay dưới mắt đơn vị.

Một thằng lính B3 hậu cần trung đoàn bộ (không biết tên) nằm trên một vũng máu, đầu lìa khỏi cổ.

Nó bị một nhát chém chí tử từ đằng sau bằng dao quắm vào gáy.

Khi tiểu đoàn tư vận động đánh địch lúc nãy, đội hình trung đoàn bộ đã vượt qua chúng tôi đi trước.

Thằng này có lẽ mệt, vừa đi vừa nghỉ, có ý chờ tiểu đoàn 4 nên bị mấy thằng địch trong dân xử ngọt.

Nó không còn gì trên người ngoài bộ quân phục đang mặc.

Chết bom chết đạn thì không sao chứ chơi nhau kiểu hèn hạ ấy làm lính tiểu đoàn 4 như phát cuồng.

Chúng nó cứ hằm hè nhìn đám dân, thấy người nào có vác dao quắm là xô lại túm ngực lôi đến cái võng tử sỹ ấn đầu vào hỏi.

Đoàn người khốn khổ sợ hãi xanh mét cả mặt.

Lúc nãy còn tử tế xin thuốc xin nước nhau là thế mà bây giờ tình thế đổi khác hẳn.

Cơn giận làm mờ mắt cả lương tri.

Chính trị viên tiểu đoàn hò hét khản cả giọng, rút K.59 ra bắn chỉ thiên mới dập nguội được những cái đầu nóng ấy.

Từ đó cho đến tối, vượt qua một đoàn dân bạn nào , tôi chỉ chăm chăm nhìn xuống chân xem có ai đi đôi dép giống kiểu dép mà hậu cần vừa phát cho đơn vị không?

Tiếc thay!

Hoặc may thay!

Họ toàn đi đất.

(Đôi lời cảm nhận của bác trong diễn đàn - "kiều bào mình sống ở cam rất nhiều mà có sao đâu thậm chí họ còn có mối quan hệ tốt với kiều bào mình nữa nên bạn cứ đi đi 0 sao đâu và bạn cũng nên bỏ đi những ác cảm lúc còn nhỏ . hiện giờ cậu tui làm trinh sát kĩ thuật đang công tác tại cửa khẩu của mình với cam về nói bên đó dân họ cũng thân thiện với mình ( đk 0 làm họ giận)".

Còn cách đây vài năm,có vài vụ đốt làng việt kiều,giết người gốc việt mà cp Việt nam phải yêu cầu cp Cam pu chia can thiêp.

Tức là đã có 2 chính phủ K trái ngược nhau hoàn toàn về chính trị (Lol nol và Pol pot )lãnh đạo một phần đáng kể dân Khmer thảm sát người gốc việt.

Bạn nào có chút hiểu biết một chút về lịch sử thì còn biết về những vụ "cáp duồn" cuối thế kỷ 19,đầu tk 20.

Và đây là hồi ký của đồng bào ta ở k hồi Lol Nol:

A Doun Chôl Chiết Khmer Cunk Tè Doun

"Nghe tôi hỏi tới tình cảnh Việt kiều đang sống tại Nam Vang, mắt cô Sáu đầy vẻ uất ức, cô nói:

- Mình đâu có dè nó dã man như vậy.

Cô xin lỗi nhe, mạng sống của người mình lúc đó thật không bằng một con chó.

Ðến nỗi hễ gặp mặt người nào Việt Nam là nó nhào lại đánh không cần xem giấy coi người đó là dân Miên hay dân Việt như trước nữa.

Nhiều người bị đánh la lên là mình dân Miên, thì chẳng những tụi nó không ngừng đánh mà còn chưởi rồi nói "À doun Chôl chiết Khmer cunk lè doun!" (An Nam vô dân Miên cũng là An Nam!) Ở ngay thành phố thì còn đỡ nhe cháu, chớ ở miệt Ga xe lửa, Cầu Lầu trở lên cây số 4, cây số 5 thì ôi thôi người ta chết biết bao nhiêu.

Khi tôi hỏi đến mấy người quen cũ, cô Sáu "cây gòn" xua tay lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, rồi bằng một giọng chua chát cô trả lời:

- Gia đình bà T. bây giờ ăn mặc rập theo dân Miên, họ không dám nói một tiếng Việt nữa.

Cháu coi hồi nào bà gặp mình bà mừng rỡ hỏi han mà bây giờ mình lại nhà bả, vợ chồng con cái xúm nhau lại đuổi mình như đuổi "tà" vậy đó.

Mấy người vô dân Miên họ sợ bị liên lụy lắm cháu ơi.

Gặp mình là họ làm mặt lạ, gầm đầu đi một mạch.

Nghĩ lại mình cũng không trách họ được vì ai lo phận nấy, sơ hở một chút là thấy cái chết trước mắt thì ai còn đầu óc đâu để nghĩ đến tình cảm nữa.

Coi bộ bà T. lúc này cũng có vẻ rầu lắm vì nghe nói tụi nó hăm bắn mấy người Miên lấy vợ Việt Nam.

Bà ta muốn về đây lắm nhưng lỡ vô dân Miên rồi, nếu trốn mà bị bắt lại thì mang tội phản quốc.

Tội đó thì chỉ có nước bị đem bắn bỏ.

"

"Nam Vang, ngày. . . tháng 5 - 1970

Cả nhà hôm nay vui ghê!

Nhất là mấy đứa em mình và em L., cứ lăng xăng, chạy tới, chạy lui sắp soạn quần áo, lấy cái này theo, bỏ cái kia lại.

Giấy tờ xong xuôi cả, chỉ còn thiếu giấy chích nữa là mọi người có quyền "bay" ra khỏi xứ này.

Hồi sáng cả nhà kéo nhau lại nhà thương Lớn để chích, thì họ bảo ngày mai trở lại.

Buổi chiều mình đến sở để chào ông Henri và bạn bè trong sở lần cuối.

Dù bị xét hỏi nhiều lần nhưng nhờ có giấy "laissez-passer" nên mình được đi thoát một cách dễ dàng.

Mình nhận thấy lính Kampuchia Cộm (người Việt gốc Miên) ở dưới Sàigòn lên có vẻ tử tế và lễ phép hơn lính Miên ở trên này nhiều.

Họ ăn mặc đẹp và nói sành tiếng Mỹ.

Chả bù với lính ở đây gặp mình là nạt nộ xét giấy "Oi các mo!" (Đưa giấy (card) đây! ), chưa kịp đưa họ đã giựt, làm tàng làm phách chịu không nổi.

Mình vừa bước vào sở thì gặp ngay ông Henri.

Ông có vẻ buồn khi nghe mình sắp đi Sàigòn.

Mình biết ông thương mình như con.

Từ lúc mình vô làm việc với ông cho đến bây giờ, lúc nào ông cũng nhỏ nhẹ chỉ bảo mình chớ chưa bao giờ nặng lời.

Biết bao giờ mình mới tìm được chỗ làm tử tế như vậy?

Ông cho mình hai tháng lương và làm giấy giới thiệu mình với những nơi mà ông quen ở Sàigòn.

Những lời khuyên bảo cuối cùng của ông làm mình rơi nước mắt.

Số bạn thân người Việt phần nhiều đã nghỉ làm nên mình cũng chẳng dám từ giã ai ngoài con Hương.

Nó ôm mình khóc như mưa.

Nó cứ nói sao mình có phước chẳng bù với nó, không thể đi được vì ba nó là quan Miên.

Mình cầu mong mọi sự an lành sẽ đến với nó.

Lúc đi ngang qua bàn thằng cha Panora, mình cứ vái trời cho hắn đừng hỏi mình.

Thằng cha này người Miên mà nói tiếng Việt rất là rành.

Hắn ta thấy L.

đến đón mình mỗi bữa, mà sao cứ theo nói chuyện với mình hoài, làm mình rầu ghê.

Thật Trời không thương mình nên hắn ta đứng dậy chìa tay trước mặt mình, mình vì phép lịch sự nên phải chào hắn ta (lúc này mình đâu dám tỏ thái độ).

- Cô định về Sàigòn à?

Mình lo sợ chối:

- Đâu có, tôi chỉ nghỉ một thời gian thôi.

Hắn nhìn mình có vẻ nghi ngờ rồi nói:

- Chừng nào về Sàigòn, cô nhớ cho tôi địa chỉ nhé!

Mình gật đầu đại rồi bỏ đi.

Trên đường về, mình thấy lo sợ làm sao vì chỉ khi nào đặt chân lên đất Sàigòn, mình mới thật sự thoát khỏi nanh vuốt của bọn "người rừng" này.

Hương có nói với mình rằng tụi Miên tuyên bố là bây giờ hành quyết Việt kiều không thèm chặt đầu nữa, cứ đem ra Kompongsom chôn sống rồi cho xe ủi đất ủi lên, còn lâu quốc tế mới biết được.

Mình nhận thấy tụi này ngoài sự tàn ác ra còn có tật gian manh nữa, muốn giết người mà khỏi bị kết tội.

Giết người tay không thì giỏi vậy đó, mà đi đánh giặc lại mặc sẵn bộ đồ civil ở trong, khi nào gặp Việt Cộng thì cởi bộ đồ lính ra đầu hàng.

Mình thấy tức cười làm sao!

Mấy lần mình thấy họ lên xe để đi đánh trận, họ giơ súng lên la hét coi bộ hăng lắm, chừng về thì chỉ còn toàn là xe không, nhiều lắm là có vài anh bị thương đang nằm thoi thóp.

Nhát cũng không chịu tiếng nhát, mà dở cũng không chịu nhận là dở.

Có lần mình nghe một thằng cha Miên khua mỏ:

- Miên mà đánh Sàigòn thì chỉ một ngày là lấy được.

Mình tự ái tức run.

Hắn ta lại còn nói:

- Chừng vài năm nữa Nam Vang sẽ đẹp bằng Paris.

Nghe câu nói sau của hắn sự tức giận của mình bỗng nhiên trở nên sự thương hại".

Trích hồi ký của Nguyễn Huỳnh Mai.

Luôn phải cẩn thận.Mình nghĩ khác,họ nghĩ khác.Đấy là một trong những lý do mà dân ta,bộ đội ta hay bị bất ngờ'=chết thảm.(võ của người yếu hơn là đánh trộm alias chiến thuật du kích).

Đây không có nghĩa là mình bảo rằng mọi người Khmer là dã man.Dân Khmer nam bộ cũng là một bộ phận của đất nước Việt nam đấy thôi. )

Những người dân thoát từ rừng ra cũng không dám trụ lại những phum bám quanh nhà ga Bâmnak vì nơi đây vẫn còn hoang vu và nằm trong vùng chiến sự.

Một cái nhà ga hoang, như ga Rômeas, đúng nghĩa.

Ban đêm, lợn rừng vào ủi tận những mảnh ruộng sát mép đường sắt.

Còn ban ngày, vịt trời và các loài chim nước tụ đàn trên những đầm nước ven đường.

Cầu đường sắt bắc qua con suối Damrei (trung đoàn gọi là suối tiểu đoàn 4) chưa bị địch phá nhưng cầu đường bộ, vốn làm bằng những cây gỗ lớn, đã bị chúng nó đốt nham nhở.

Trở lại cùng với mùa mưa là các hoạt động tăng cường của địch.

Những hoạt động tuy nhỏ lẻ nhưng thường xuyên gây khó khăn cho chúng tôi.

Công tác hậu cần bị chậm trễ.

Từ Bâmnak ra lộ 5 chỉ có hai con lộ đất.

Lộ 28 chạy từ ga Kâmrenh (ga phía trên Bâmnak), qua kẹp núi Tuk S'ra, gặp lộ 5 tại Kra Ko.

Lộ không tên, vốn là con đường bò lớn chạy từ ga Th'may, ga dưới ga Bâmnak ra thị trấn Ponley.

Đi đường nào lộ trình cũng tương đương 30 km toàn rừng thưa và đồng hoang không một bóng người.

Đường sắt chưa khôi phục hoạt động.

Tất cả trông chờ vào xe vận tải sư đoàn và trung đoàn.

Mỗi lần chốt đường thông xe là mỗi lần đổ máu.

Tuy ít nhưng cứ lai nhai kiểu "kê cân" rất khó chịu.

Nước mưa xuống, rừng nhiệt đới sinh sôi phát triển mãnh liệt.

Có những khoảng rừng thưa khẳng khiu khi đơn vị đi qua mới non một tháng.

Khi trở lại vòm lá đã trở nên thẫm tối.

Những con đường bò mùa khô đầy bụi.

Bây giờ cỏ dại đan ken che lấp hai vệt bánh, phải khó khăn lắm mới nhận ra.

Còn trên những bình độ dốc, nước mưa chảy ào ào trên đường bò, xói đi đất đá.

Lúc đó con đường bỗng trở thành con suối một mùa.

Mùa mưa đến cũng có nghĩa mùa sốt rét bắt đầu tác quái.

Đơn vị bắt đầu có những thằng sốt nằm li bì.

Quân số tác chiến bắt đầu giảm đi.

Riêng trung đội thông tin chưa bị dính ca nào.

Y tá tiểu đoàn và các đại đội bắt đầu phát thuốc Nivaquin, bắt phải uống trước mặt vì sợ chúng nó vứt thuốc đi.

Không hiểu sao hồi ấy lại có tin đồn là uống thuốc này (lính gọi là viên phòng 3) thì sẽ chẳng thể có con được.

Buổi sáng hoặc buổi trưa những ngày nghỉ truy quét, chúng tôi thường ngủ lu bù trên võng.

Anh Nhương phải đến lùa từng thằng dậy, bắt vận động đi lại cho nó tỉnh người.

Ngủ nhiều rất dễ bị sốt rét.

Nhưng mà địch thì không bị sốt rét (đó là do tôi nghĩ thế) vì nó bâu bám đơn vị rất sát.

Tại bình độ 100 trong kẹp núi Pean Sas, khi đại đội 1 rời đi lùng sục, địch mò hẳn vào chỗ đóng quân lúc sáng.

Có một cái chum sứt lớn, lính đại đội 1 thái măng ngâm chua với ớt rừng để ăn dần.

Bọn nó vớt hết sạch măng, sau đó cũng đập tan cái chum, hệt như cách chúng tôi cư xử với những chum muối của chúng nó.

Vừa tức vừa buồn cười!

Quân số hao hụt trong chiến đấu, nay càng hao hụt thêm vì sốt rét.

Đại đội 1 mà tôi đi máy lúc này chỉ còn khoảng gần 30 người, kể cả thông tin đi phối thuộc.

Có những trung đội chỉ còn 6 tay súng.

Đại đội lại phải san bớt người ở các trung đội khác sang.

Ban đêm, mỗi B gác 2 vọng từ chập tối.

Chỉ huy sở và cối 60 cũng phải gác, trừ cán bộ đại đội.

Nhưng thấy anh em vất vả quá, các anh ấy cũng chia phần thức đêm với lính.

Đi truy quét, chúi rừng rậm ngủ thì ù xoẹ gác thế nào cũng xong.

Còn dừng chân tại các phum cũ, các giao lộ đường bò, không thằng nào dám bỏ gác.

Có buổi sáng thức dậy, đang lào xào thu võng thì chúng nó bắn rát vào đơn vị.

Đại đội chia cánh vận động lên thì địch đã chạy.

Tại chỗ địch bắn vào đội hình lúc nãy đếm được 12 cái cọc phụ mắc võng.

Đêm hôm qua, đã có 6 thằng địch ngủ cạnh đại đội 1, cách có 40m, cứ như một B phối thuộc vậy.

Anh Chính "tréc" thè lưỡi trợn mắt, hất hàm dọa bọn tôi :"Thấy chưa?!".

Một đêm, đúng ca gác của tôi, gần hết ca tự nhiên đau bụng quá.

Tôi lần về võng, lục ba lô lấy vội mấy cái phong bì thư.

Để làm gì chắc các bạn đã biết.

Bên phải là B2 , bên trái là B3.

Lò mò sang hai hướng ấy chúng nó tưởng địch quất cho bỏ mẹ!

Thế là tôi cứ thẳng hướng gác của mình tiến lên.

Qua khỏi đội hình chừng 15m, nhớ lại chuyện ngủ chung với địch hôm trước.

Tôi không dám mò lên nữa, ngồi luôn xuống làm công việc giải thoát đại tràng.

Xong xuôi khoan khoái, rờ quanh thấy một nửa cái vỏ dừa tươi.

Tôi vớ lấy, úp lên cái sản phẩm cuối cùng của bộ máy tiêu hoá.

Hết ca!

Về bấu thằng Căn liên lạc dậy thay rồi chui vào võng.

Nằm được một lát, chưa kịp ngủ lại thấy thằng Căn mò về bấu anh Chính "tréc" đại đội trưởng :" Anh ơi!

Dậy!

Địch ở rất gần!".

"Sao mày biết?".

"Có mùi phân tươi, anh ạ!".

Quả đúng là trong không khí cuối gió, mùi phân người thoang thoảng.

Ông Chính dậy ngay, bảo thằng Căn luồn xuống các B báo động.

Tôi nằm im re, không dám nói gì!

Đến sáng, đội hình thận trọng bung ra.

Vẫn không thể phát hiện được cái mùi đặc biệt ấy từ đâu?

Dòm ngó loanh quanh một lúc, thằng Dung cối quả quyết vung chân đá tung cái vỏ dừa.

Nó vênh mặt nhìn quanh, đắc ý hệt Colombus tìm ra châu Mỹ.

Bên trong cái vỏ dừa, kèm theo những thứ không tiện nói là cả một cái phong bì.

Hàng chữ nắn nót trên đó tố cáo ngay chủ nhân của nó : " To Xuân Tùng – Hòm thư 4R......".

Vâng!

Tôi tên là Tùng thưa các bạn!

Phải giới thiệu tên mình trong cái hoàn cảnh đặc biệt như thế này quả là không tiện lắm!

Nhưng nó cũng là sự thật, như tất cả những sự kiện tôi đã kể với các bạn trong trang viết này!

Cho đến tận bây giờ gặp nhau, bọn tôi vẫn nhắc lại rồi không nhịn được cười.

Do địch chơi kiểu du kích như thế nên chúng tôi cũng thay đổi cách đánh để chơi lại.

Những trận đánh cấp tiểu đoàn, trung đoàn như hồi mùa khô không còn nữa.

Bây giờ chủ yếu là những trận phục kích, bao vây cấp đại đội.

Tiểu đoàn hành quân giải toả hoặc chốt đường xong, khi rút qua một địa điểm thuận lợi đã chọn sẵn liền bí mật để lại một trung đội cứng và một máy 2W nằm phục.

Còn đơn vị cứ hành quân như không có chuyện gì xảy ra.

Thậm chí đi được một lúc còn bắn bậy sang hai bên đường, ra cái điều thông báo chúng ông đã về đến đây rồi.

Mấy thằng địch bâu bám tưởng bở, tênh tênh mò ra đường hoặc theo dấu đơn vị lập tức ăn đòn đủ, thường là bị tiêu diệt gọn.

Đơn vị về đến vị trí đứng chân, nghe ở hướng trung đội phục kích rầm rầm B.40, B41 và đạn nhọn rộ lên là kể như chắc ăn.

Mấy thằng có võng cũ chạy ngay ra hóng để xin hoặc đổi võng.

Bọn nằm phục về, lỉnh kỉnh súng đạn thu được, còn trên tay thỉnh thoảng lại lấp lánh cái đồng hồ tự động chiến lợi phẩm hiệu Orient, Rado...Nhưng chiến thắng nào mà chẳng có cái giá của nó!

Tiểu đoàn 4 có tiếng sát địch thì cán bộ tiểu đoàn và cán bộ đại đội cũng thay như thay áo.

Mới có 3 tháng đầu năm 1979, chỉ tính riêng hàng ngũ cán bộ đại đội trở lên đã hy sinh và bị thương 5 người.

Anh Thoan đại đội phó đại đội 3 hy sinh tháng 3.

Đến tháng 4 thì anh Sơn tiểu đoàn trưởng, anh Quang, anh Tuy đại đội 1, anh Đạt đại đội 3 bị thương.

Vào một buổi trưa, anh Tiến mới nhận tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4 thay anh Quảng (bệnh – đau dạ dày cấp), cùng tổ trinh sát 27 sư đoàn trèo lên cái tháp nước trên sân ga.

Cái tháp nước này cao khoảng 15m.

Trong khi đang quan sát địa hình bằng ống nhòm thì bị địch bắn tỉa.

Phải nói thằng địch này rất thiện xạ.

Từ khoảng cách có đến vài trăm mét, viên đạn có lẽ bắn từ khẩu K.63 xuyên qua bụng (chắc chắn hồi đó địch không có súng bắn tỉa ống ngắm quang học dùng đạn K.53).

Chúng tôi thấy anh ấy ôm bụng gục ngay trên tháp nước.

Hai thằng trinh sát 27 vội nằm ngay xuống kêu ầm lên.

Anh Thào tiểu đoàn phó hô lính vận động, chủ yếu là để đuổi địch thôi chứ biết nó bắn từ đâu trong cái ngàn xanh bao bọc sân ga này.

Mọi người đưa anh Tiến xuống.

Cũng may là viên đạn không phá nhiều.

Khoảng 2h đồng hồ sau, trực thăng đáp xuống sân ga đưa anh ấy cùng mấy thằng sốt rét ác tính đi viện luôn.

Tôi bây giờ cũng không biết là có qua khỏi hay không!

Anh ấy là người thứ 6 trong danh sách cán bộ mà tôi vừa kể trên.

Từ đó, ngoài cái tiếng là sát địch, tiểu đoàn 4 còn có tiếng là sát cán bộ.

Lính nói nam nam, chuyện gẫu bá láp thế thôi chứ tôi chưa thấy ai từ chối nhiệm vụ chỉ huy mà trung đoàn giao cho bao giờ.

Ngay chiều tối hôm ấy, theo lệnh trung đoàn, anh Thào dẫn tiểu đoàn càn vào hướng địch bắn tỉa lúc trưa, tiến đến dãy núi "thằn lằn"- (tên trên bản đồ là Ph'nom Lang T'beng).

Đơn vị bỏ đường lớn, cặp theo suối Damrei rẽ rừng tiến bước.

Qua phum Th'may, trời đã nhập nhoạng tối.

Phum Th' may là một phum lớn, còn nguyên vẹn nhưng cũng là một cái phum hoang như hầu hết các phum trong khu vực.

Những ngôi nhà sàn lừng lững, mái ngói đã lên rêu phủ bóng tối xuống mảnh sân mà cỏ dại đã lấn vào.

Trên sân, mấy cái cối, dùng để giã gạo hoặc cốm dẹt trong Tết mừng cơm mới đã mục, nằm chỏng trơ.

Xoài tượng rụng vàng cả gốc, bốc lên mùi men rượu chua nồng.

Khi ta bước lên thang, những bậc gỗ cũ kẽo kẹt như sẵn sàng rụng xuống.

Trong những ngôi nhà rộng rãi và tăm tối đó đầy mùi ẩm mốc và tử khí.

Đôi khi gặp những xác người đã phân huỷ, dưới lớp áo quần đã mủn là những bộ xương rã rời.

Tóc rụng quanh sọ không tiêu huỷ được, xếp thành một lớp chằn chặn dưới sàn.

Và dơi!

Dơi quạ ở đây to khủng khiếp.

Sải cánh mỗi con phải đến 1.2m.

Cả đàn hàng trăm con đến ăn xoài chín, quạt cánh phần phật tối cả hoàng hôn.

Những con dơi xao xác bay làm lộ vị trí nghỉ đêm của chúng tôi.

Địch nó tập kích ngay.

Nó có chừng một tiểu đội với khẩu đại liên Mỹ, tha đi hết góc này đến góc khác bắn vào đội hình.

Đàn dơi hoảng sợ lại càng bay tợn.

Nghỉ đêm tại cái phum ma này quả là ngán!

Bố trí đội hình xong, mấy thằng chúng tôi lên mấy căn nhà, đạp vách gỗ xuống triển khai công sự nổi.

Tôi vẫn đi với đại đội 1 như truyền thống.

Thằng Căn, thằng Đồng Huế xúc đất đắp vào các tấm ván mà tôi với anh Lược chính trị viên phó xếp ốp vào các chân cột nhà sàn.

Chỉ một lát, cái "chiến luỹ" đã hoàn thành.

Bọn thằng Tào, thằng Lại anh nuôi đại 1 cũng triển khai cơm nóng cho anh em trong cái công sự ấy.

Địch bên ngoài thấy khói chỗ nào bắn bắn liên hồi vào chỗ đó.

Có những viên đạn xuyên trúng mép cột, tước gỗ xơ ra rồi văng lung tung.

Bọn tôi cứ phớt lờ.

Kệ cụ mày!

Bắn chán thì thôi!

Đạn tiểu đoàn đang thiếu.

Ăn cơm xong thậm chí còn kịp uống ấm trà chót mà thằng Đồng ém được.

Đội hình bố trí hơi gom, gần như lọt thỏm giữa các B nên quan sát sở không cần gác.

Bây giờ mắc võng tụt xuống hơi thấp một chút là có thể ngủ ngon.

Trời tối đen như mực rồi bắt đầu đổ mưa.

Phía dưới B2, thằng Tám khoẻ và Minh đen bò vận động lên cái bụi um tùm có cây thốt nốt độc lập, trước trung đội chúng nó khoảng 30m.

Rình thấy loé lửa đầu nòng khẩu đại liên của địch rồi kéo một điểm xạ dài RPD.

Sau đó lại rút êm về đội hình trung đội.

Đòn giang hồ kiểu dùng kỳ binh ấy của Tám khoẻ thì tôi không có lạ.

Bộc lộ lực lượng ở vị trí ảo để vị trí thật an toàn hơn.

Đêm đã về khuya.

Trời vẫn cứ mưa, mỗi lúc một sậm hạt.

Tiếng súng địch vẫn cứ oăng oẳng hết hướng này đến hướng khác suốt.

Vào thì chẳng dám vào, rút thì cũng không chịu rút.

Mưa rừng thế này sao không kiếm cái chỗ nào ngon mà mắc võng ngủ đi con!

Về nhà mà cày ruộng hay đánh cá.

Kiếm một con vợ ngực đầy hông nở trong cái đám gái phum vẫn múa lăm-thôn dưới trăng rằm hồi trước ấy.

Rồi ghen tuông đấm đá, rồi sinh con đẻ cái đi...!

Theo ba cái thằng vác cuốc đập đầu ấy làm gì...?

Mẹ kiếp!

Mưa đầu mùa cữ này cá rô đồng đang rạch lên phải biết!

Tự nhiên, không biết là có mất quan điểm hay không, tôi thấy ái ngại cho chúng nó.

Giấc ngủ đến trong tiếng súng địch và tiếng mưa rơi đều đều...

Và trong giấc mơ đêm ấy, tôi cũng mơ thấy tôi được trở về nhà.

Tháng 8/1979, tiểu đoàn 4 hành quân xuôi từ ga Bâmnak về ga Th'may, sau đó rẽ ra thị trấn Ponley ngoài lộ 5.

Địch có vẻ như đã xây dựng được một tuyến giao liên tiếp vận từ biên giới Thailand vào các vùng sâu trong nội địa ngoài biển Hồ.

Nhiệm vụ của đơn vị là bước đầu hỗ trợ xây dựng chính quyền cơ sở non trẻ của dân bạn, truy quét triệt phá các căn cứ nội địa ven biển Hồ.

Dọc đường hành quân cạp theo đường sắt trước khi rẽ trái sang lộ không tên, ở mấy chỗ đất mới trên lộ, chúng tôi phát hiện mấy quả mìn chống tăng địch mới chôn.

Bọn này làm ăn cẩu thả.

Cơn mưa lớn đêm qua đã rửa trôi đất cát, làm lộ ra cạnh mấy quả mìn đĩa.

Chúng tôi gỡ lên, lấp đất lại như cũ rồi kẹp thêm vào mấy quả mìn ấy những trái lựu đạn tức thì M.26.

Sau đó lại đem cài lại vào mấy lùm cây ven đường tại đúng vị trí đó.

Thằng địch nào đi kiểm tra mìn mà dính phải chưởng ấy thì đơn vị nó chắc sẽ phải báo mất tích.

Loại M.26 tức thì (có chấm đỏ) này lấy được ở kho súng trong Ăm leng.

Lính các C chịu khó tha đi để gài trước đội hình khi nghỉ đêm.

Sáng hôm sau lại ra thu về.

Nói chung loại này dùng tiện hơn mìn, khi cần có thể xài ném cá được.

Có điều trước khi ném phải cuốn quanh mỏ vịt mấy vòng dây nịt (cao su) cho nó nhả ra từ từ.

Ra đến cái đập nước lớn cách Ponley khoảng 15 km, tiểu đoàn dừng chân nghỉ lại một ngày.

Cái đập này nằm tại hợp lưu của gần chục con suối lớn trong khu vực.

Trên đập, nước tràn chảy ồ ồ.

Cá trắng từng đàn lách phe phé.

Trên mặt hủm nước sâu xanh thẫm nơi chân đập, những con lóc bông lớn cả chục ký thỉnh thoảng lại trồi lên ngáp bóng.

Cái viền mép vàng nhạt ngoác ra, thân mình chùn chũn vằn vện, oai vệ lắc khẽ một cái rồi lại từ từ chìm xuống.

Bọn lóc bông này hẳn là no mồi. (

Sau này, tại tổ đánh cá cải thiện do trung đoàn tổ chức đóng ở Sóc Tu ru - biển Hồ, tôi đã thấy những con cá lóc bông nặng hơn 20 kg).

Ở rừng lâu toàn ăn măng muối, lâu lâu mới có miếng thịt rừng nên lính ta không bỏ qua cơ hội cải thiện này.

Đánh cá thì quá đơn giản rồi!

Chỉ một loáng là tất cả các món cá tươi chế biến theo truyền thống của từng vùng miền đã xong.

Nhưng ngon nhất vẫn phải kể đến canh chua cá lóc nấu kèm lá giang.

Cây lá giang là loại thân leo, lá hình trái tim, có vị chua rất thanh mà tôi tin là các anh em chiến trường K không thể nào quên được.

Cá lóc đen tầm ký rưỡi, hai ký sau khi đánh sạch vảy, khía chéo thân, ướp bột gia vị, ớt giã và những thứ lá lẩu gia vị gì đó kiếm được rồi để nguyên con.

Bọc kín bằng bẹ chuối hột mọc hoang đầy bờ đập.

Tống vào giữa đống củi đang rừng rực.

Bao giờ cháy đến hết lớp bẹ chuối phía ngoài thì lôi ra.

Vừa ăn vừa thổi phù phù.

Những con cá lóc lớn quá, chúng tôi quăng bỏ thịt đi, chỉ lấy mỗi bộ lòng.

Những bộ lòng cá lớn như lòng gà.

Sau khi làm sạch lăng vào nồi canh đang sôi, vừa chín tới, vớt ra chấm muối ớt, ăn nóng giòn tan thì thằng nào dẫu có hy sinh cũng phải sống lại...Suỵt...!

Gõ đến đây thì tự nhiên lại thấy đói !

Chiều tà, tiểu đoàn nhích đội hình lên khỏi đập nước 300m, bố trí đội hình nghỉ đêm tại phum "rừng thị".

Một cái phum có đúng 3 cái khung nhà.

Cạnh phum là một rừng toàn cây thị đang mùa trái.

Cây thị trong truyện cổ tích Tấm Cám của bọn trẻ con đó, sinh sôi thành một quần thể xanh thẫm cao vọt lên hẳn so với rừng chồi thấp phía dưới.

Cây cao cây thấp chen nhau mọc.

Có những cây thị cổ thụ vòng gốc một người ôm mới hết.

Trên vòm lá, đủ các loại chim to chim nhỏ chòe choẹt kêu điếc hết cả tai.

Kêu chưa tệ hại bằng việc chúng nó oanh tạc vào đầu chúng tôi.

Đi gần như chạy qua cái rừng chết tiệt ấy tới phum nhưng thằng nào cũng bị dính vài bãi phân chim vào đầu.

Còn dưới gốc, quả thị rụng nhoe nhoét.

Muỗi bọ bay vần vụ.

Trong phum, trên nền vườn cũ, đậu đen cạnh tranh với các loài cỏ dại, vươn dài thành ra giống như một loại thực vật thân leo khác.

Tuy vậy vẫn ra trái như thường.

Thằng Căn và tôi chịu khó đi hái một lúc, chà ra cũng được một ca inox để tối nấu chè.

Nhưng chuyện đó không có gì đặc biệt bằng những điều tôi thấy buổi đêm trong ca gác của mình.

Đêm hôm ấy trăng mờ vì mây vẫn chưa kịp tan sau cơn mưa buổi chiều.

Đang ngồi ôm súng ngáp ngắn ngáp dài vì đã gần hết ca của mình, tôi bỗng tỉnh cả ngủ khi thấy trên cây thị gần vọng gác có mấy con chim lạ.

Dứt khoát không phải dơi mà là chim đến ăn trái vì tôi nhận ra cái đuôi của chúng rất dài.

Sải cánh loài chim này rộng khoảng 0,4m, vẫy rất nhanh và êm ru, hầu như không phát ra tiếng vỗ gió.

Ba bốn con quạt cánh mềm mại, gần như bay đứng, lặng phắc giữa không trung.

Chỉ thấy những đầu cành cây thị nơi chúng đang rỉa quả (hay hút mật quả) khẽ rung rung.

Tôi có đọc trên một số tạp chí nghiên cứu tự nhiên sau này.

Trong đó các nhà khoa học khẳng định trên thế giới chỉ có loài chim ruồi Nam Mỹ, với kích thước nhỏ bé mới có khả năng bay đứng và bay giật lùi.

Tôi phản đối cái kết luận này vì chính tôi đã chứng kiến kiểu bay và hành tung lạ kỳ của loài chim đêm không biết tên kể trên.

Nếu ai không tin, xin mời đến vùng rừng ven biển Hồ kiểm chứng.

Sáng hôm sau kể lại câu chuyện hồi đêm.

Ông Chính bình luôn một câu :" Đ...lo gác!

Lo đi ngắm chim thì có ngày nó vào oánh cho chạy tụt cả chim như hồi tháng tư đó!".

Riêng anh Ky khẳng định đấy là chim bắt muỗi chứ không phải chim ăn trái.

Trời đất!

Với kích cỡ thân hình như thế, mỗi đêm chắc nó phải xơi đến cả tỷ con muỗi mới tạm lửng diều.

Hôm sau, đơn vị ra đến thị trấn Ponley.

Dân bắt đầu định cư tại thị trấn ven lộ 5 này.

Lúa đã xanh đồng nhưng đang kỳ giáp hạt.

Dân đói và gạo thóc khan hiếm.

Thị trấn bắt đầu họp chợ và vật ngang giá chung không phải là tiền mà là gạo, thuốc chữa bệnh và vàng.

Với năm kg gạo người ta có thể đổi lấy một chỉ vàng.

Một hộp nhỏ thuốc Sunfamit, Đa-zi-năng cũng có giá trị tương đương.

Một hai lon gạo bớt ra trong khẩu phần lính cũng đủ để đổi cá tươi ăn thoải mái.

Thậm chí có những em gái trẻ rao bán mình với cái giá "pi loong" (hai lon).

Trong hoàn cảnh như thế, liệu có ai trong chúng ta chấp nhận cuộc mua bán bi thương mà kẻ mua chắc chắn sẽ khốn nạn hơn người bán ấy không?

Chiến tranh, với những hệ lụy mà nó mang đến không chỉ là chết chóc hoang tàn.

Tệ hại hơn cả cái chết, nó giày xéo không thương tiếc lên nhân phẩm con người.

Trong đó, kể cả kẻ chiến thắng cũng phải ngậm ngùi.

Đau xót lắm!

Một lần khi ra chợ đổi cá cho trung đội thông tin, tôi gặp một bà mẹ cứ xoắn lấy.

Bà ấy đòi đổi vàng lấy thuốc kháng sinh péniciline tiêm.

Thuốc này chống nhiễm trùng cho các vết thương, chỉ có trạm phẫu tiền phương mới có.

Hỏi đổi làm gì thì trả lời ngay là con trai bà ấy sắp chết.

Rồi bà ấy khóc lóc gần như ăn vạ ngoài chợ.

Quân y tiểu đoàn mang túi thuốc đến túp lều nát sát rạch – nơi trú ngụ của hai mẹ con thì đã thấy một mùi khẳn thối xộc lên.

Trong lều, đứa con trai đi lính Pôn pốt (bà mẹ nói rõ ràng như thế) đang nằm thiêm thiếp.

Nó bị thương vào chân.

Cái đùi đang bị hoại thư sinh hơi, phồng lên như bắp chuối tỏa ra mùi xác chết.

Vạch mắt ra thấy đồng tử đã giãn đờ như mắt cá, thằng quân y lắc đẩu rồi tiêm cho nó một liều giảm đau chiếu lệ.

Chúng tôi để lại lều hai lon gạo rồi trở về...

Đến ngay cả bọn địch cũng đói, cứ đêm đêm mò vào các phum, sục vào các nhà dân, vét đi những hột thóc cuối cùng.

Chiến tranh giải phóng gì cái bọn thổ phỉ ấy!

Ngày thì chúng tôi vào phum dân vận.

Nhưng đến đêm lại gom về đóng độc lập gần phum như đội hình chiến đấu.

Mấy đêm trước, tiếng chó sủa rộ lên trong các phum Chay Rum, Khon Roong.

Khả năng lần này sẽ đến lượt phum Cho Long sát đội hình tiểu đoàn đóng quân.

Thóc ở đâu mà vét mãi!

Ngay từ buổi chiều mấy hôm trước, tiểu đoàn đã triển khai mấy tổ phục kích ngoài rìa phum nhưng vẫn chưa thấy chúng nó vào.

Đến lần này, tổ phục của trung đội vận tải tiểu đoàn bộ gặp may.

Mới có sẩm tối, địch đã mò vào phum.

Bảy tên địch nghênh ngang xếp hàng một đi trên đường.

Qua suối sát phum, chúng nó dừng lại kỳ cọ chân cẳng rồi chụm lại hội ý.

Gom quá!

Chọn đúng thời điểm đó, thằng Nghĩa - Bạch Đại Nghĩa, trung đội phó trung đội vận tải siết cò khẩu B.41.

Quả đạn nổ quét bờ suối thoải, hất ngược lên một vầng lửa da cam hình rẻ quạt.

Sau tiếng nổ dữ dội nhưng trầm vọng ấy là sự im lặng hoàn toàn.

Chẳng còn gì trên bờ suối ngoài những mảnh thịt người.

Khẩu RPD và năm khẩu AK trung đội vận tải không có lý do khai hỏa.

Chúng nó ào lên thu súng nhưng hầu như cũng chẳng còn khẩu nào nguyên vẹn, toàn bị cong queo vỡ báng gần hết.

Lại còn phải lấy que gợt gợt đi những thứ dính vào rồi mang xuống suối rửa.

Hôm sau, trưởng phum Cho Long huy động bà con ra suối, đào một hố lớn rồi gom tất cả những gì còn lại quy tập vào một hố chôn chung.

Riêng thằng Nghĩa đi báo cáo thành tích trên Quân đoàn rồi được thưởng phép.

Mấy tháng sau nó mới mò vào đơn vị.

Sau trận phục kích kinh hồn táng đởm đó, suốt một dải từ Ponley lên đến K'ra Ko trên địa bàn hoạt động của trung đoàn 2, địch nín im thin thít.

Một số gia đình vào rừng vận động con em họ mang súng ra đầu hàng.

Chính quyền phum sóc do dân bầu bắt đầu hoạt động.

Tất nhiên làm gì có trụ sở, dấu má với xà cột.

Ông trưởng phum hằng ngày vẫn đánh xe bò vào rừng đốn gỗ hay ra ruộng làm cỏ lúa.

Thỉnh thoảng tạt qua tiểu đoàn bộ đem cho mấy ống thốt nốt chua.

Trung đoàn tách ra một đơn vị giúp dân xây dựng chính quyền, lấy tên là tiểu đoàn 4B do anh Lộc làm chính trị viên.

Tiểu đoàn dân vận hỗ trợ dân bạn đủ thứ, từ thuốc chữa bệnh đến lúa giống.

Cho đến cả đẻ đái bệnh xá quân y K.23 cũng phải xắn tay vào...Thời gian này, hội Chữ thập đỏ quốc tế, Tổ chức Lương thực thế giới (F.A.O) cũng đã bắt đầu nhảy vào viện trợ cứu đói cho nhân dân Campuchia, bất kể thuộc phe nào.

Tiếng là thế nhưng thực ra dân Kh'mer X'rây, Kh'mer Đỏ... bên các trại tị nạn vùng biên giới Thailand mới hưởng phần lớn sự hỗ trợ đó chứ còn trong nội địa, chúng tôi vẫn cứ phải san gạo cho dân.

Nghĩ thấy tội!

Hồi đó nước mình cũng đói bỏ xừ.

Trước khi đi bộ đội, tiêu chuẩn học sinh trung học như tôi nhà nước cấp cho 17 kg lương thực cả gạo lẫn mỳ sợi trong sổ.

Đấy là còn được ưu tiên vì đang tuổi lớn, là tương lai đất nước đấy!

Chứ còn bác sỹ giáo viên như bố mẹ tôi mỗi tháng có 13 ký chẵn.

Vào lính chiến mới được ăn gạo không chứ lúc huấn luyện vẫn phải ăn kèm ngô, bo bo rát mồm.

Ở đơn vị huấn luyện, tôi đã từng bị phạt đi làm cỏ lúa giữa trưa nắng vì cái tội dám bịa lời bài hát Hạ Trắng của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn :" Tuyệt quá..!

Bữa cơm chúng mình, toàn rau muống xanh... bát cơm ngô vàng, đệm cho món canh... mắm khô hôi rình, ngửi sao thấy tanh....".

Thôi thì con không chê cha mẹ khó, chó chẳng chê chủ nghèo!

Đã khổ đến như thế rồi lại phải san sẻ gánh thêm nỗi khổ của người khác nữa mà mấy thằng thối mồm vẫn chõ vào bảo mình là tàn sát, là xâm lược.

Nghĩ muốn điên cả ruột! (Ngôn ngữ lính binh nhì bỗ bã tý!

Anh em thông cảm!

Mai tôi tự sửa bài mà!).

Nhưng chó cứ sủa, còn đoàn người thì cứ tiến!

Buổi tối hôm chính quyền phum Chay Rum ra mắt, dân tổ chức múa lăm thôn.

Trên khoảng đất rộng giữa phum, từ chập tối, tiếng trống đã vang lên bập bùng.

Rìa sân, ba chú nhỏ xếp bằng tròn trên nền đất ngồi vỗ trống.

Những chiếc trống dài chừng 40 cm, tiện hơi thắt ở đoạn giữa.

Một đầu bịt da trăn, một đầu hở để có thể xòe bàn tay bịt hơi vỗ, điều chỉnh sắc độ.

Tiếng trống lúc đầu còn rời rạc, nhưng càng về sau càng thôi thúc.

Nào!

Bắt đầu đến tiết tấu :" Tình tinh, tạ, tinh-tinh-tình".

Một đen, một liên ba, lặng đơn...Hây!

Lại tiếp một đen- liên ba- lặng đơn... cứ thế mà giật boòng ơi!

Như nhịp Chachacha điển hình.

Nào!

Hai bước tiến, một bước lùi lại.

Thế!

Đúng rồi...!

Các cháu nhỏ hồn nhiên nhất, mình trần đen sạm, xương sườn phơi ra dưới ánh lửa, nhập vòng bằng những bước linh hoạt đầy nhạc cảm.

Cứ như thể chúng nó đã biết múa từ trong bụng mẹ vậy!

Ngập ngừng đôi chút, các chị, các em cũng bắt đầu bước vào.

Những bước vũ thật uyển chuyển, những cử động thật nhịp nhàng.

Nhiều em gái với cái áo đen vá và chiếc khăn cà ma duy nhất, còn ướt đẫm vì mới giặt ngoài suối, vừa múa vừa nghiêng đầu làm duyên.

" Oh!

S'vai chăn ti, nịa ri on ơi!

Bê mêc xa kha...Cùm a jô p'đây.

Chằm boong thơ thây, boòng tinh lan c'bây oi s'rây bợ liêng...!" – Ôh trái điều (đào lộn hột) đã chín kìa em gái!..Da thịt em trắng ngần.

Đừng có lấy chồng vội nhé!

Chờ anh mua cái xe trâu anh đưa em đi chơi...!

Lời bài dân vũ tuyệt hay!

Tiếng trống tan trong ánh lửa, trở thành một chất men thôi thúc xóa nhòa mọi khoảng cách.

Không hiểu tôi cũng đã vào vòng từ lúc nào.

Ông trưởng phum ngồi vỗ trống thay cho mấy cháu, nhe răng cười trắng lóa.

Cả phum Chay Rum phần lớn là gái góa (mêmai), gia đình đã tan nát hay thất lạc trong chiến tranh.

Nhưng trong đêm ấy, khổ đau, đói khát dường như không tồn tại.

Những gương mặt ngời lên trong ánh lửa, những cái lắc hông mềm mại, những đụng chạm cố tình...Phút thăng hoa ấy, đã chắc gì một ông hoàng lưu vong hạnh phúc bằng một thằng bé không áo cởi trần...

Mùa mưa đang độ sung mãn nhất.

Ngày nào cũng mưa, triền miên xối xả.

Buổi sáng trời còn loe nắng, nhưng độ hai, ba giờ chiều là mây đen kéo kín chân trời.

Gió như ngựa lồng cuốn theo những cơn mưa trắng trời trắng đất.

Tấm nilon lính chỉ khoác lên mình cho chiếu lệ và ngăn gió quất thôi chứ nhằm nhò gì!

Áo quần hầu như lúc nào cũng ẩm ướt.

Lại trộn lẫn mồ hôi, bùn đất lúc hành quân tỏa ra cái mùi thật khó chịu.

Tấm tăng, mà có nhà thơ ví như cái "bầu trời vuông" của lính hồi đó cũng mỏng quẹt, gió giật một lúc là các tai buộc đứt bung ra ngay.

Chúng tôi lấy dây điện thoại hoặc dây rừng buộc túm lại những góc đứt, chằng đụp cho xong chỗ nghỉ đêm.

Tăng thiếu hay rách quá, có thằng sáng kiến kiểu nằm chung.

Tức là hai đứa mắc võng cùng một chỗ, thằng trên thằng dưới như kiểu giường tầng của sinh viên nội trú.

Một tấm tăng lành che chung.

Còn tấm tăng rách kia buộc che hướng gió tạt.

Thằng trên đang nằm thì chép miệng, bảo quê tao tháng này sắp đến cữ gặt.

Tao với con em gái vác cái vợt nilon ra đồng, cứ thấy thửa nào chưa gặt là nhào tới quơ ngang quơ dọc một lúc là đầy châu chấu.

Mang về rút đầu vặt cánh, thêm chút lá chanh thái chỉ, cho vào chảo mỡ rang giòn nhậu hết sảy...Thằng nằm dưới im lặng thở dài.

Nỗi nhớ dường như cũng ngấm nước mưa, làm nhạt nhòa những gì xa xôi hoành tráng, nhưng làm hiển hiện long lanh đến từng chi tiết những gì tưởng chừng bé nhỏ.

Cái biển số nhà quăn mép của cô bạn học chung một lớp, mảng tường tróc ngoài cổng do bọn trẻ con đánh đáo Tết búng xu, cũng có thể là cái cành đa cụt đầu đình.

"Chiều chiều ra đứng lầu tây.

Thương cô gánh nước tưới cây ngô đồng...".

Bài dân ca quê Việt thiết tha từ cái radio ngân lên nho nhỏ trong buổi phát thanh dân ca và nhạc cổ truyền như cào thêm vào nỗi nhớ.

Tôi bắt đầu yêu và cảm dân ca từ buổi chiều mưa xa nhà ấy.

Thương gì nữa, tưới gì nữa em?

Mưa rừng đã tưới đẫm hồn bọn anh rồi...!

Thú thực với các bạn là hồi đó tôi cũng mong dính thương phần mềm, như thằng Hiệp híp chẳng hạn.

Bị thương nhẹ thôi, chứ đừng bị nặng, và nhất là đừng có hy sinh!

Sẽ được đưa đi viện, sẽ được nghỉ mấy tháng...Mưa sẽ bay ngoài cửa kính.

Còn trong phòng ấm áp, sẽ thoảng mùi thơm dịu của quả cam do cô y tá xinh như mộng đang gọt dở...Nhưng như tôi đã nói với các bạn, đôi khi chết được cũng khó, huống hồ bị thương.

Trên đường vào Ăm leng, có lần quả cối 60 nổ ngay trước mặt bọn tôi, cách có gần chục thước.

Có bốn đứa thì ba đứa dính miểng.

Còn tôi cố vạch vòi sờ soạng nhưng cũng chẳng sơ sướt gì.

Không phải chỉ vì muốn bỏ đồng đội hay lui bước cầu an gì mà với cái tư tưởng của tôi lúc đó, một vết sẹo chiến trường còn hơn tỷ lần một tấm huân chương.

Các em gái thường muốn khoe sự xinh đẹp kiều diễm hiểu (không hiểu lắm, chắc thế!), còn những thằng trai lính như tôi thời đó, có nhu cầu phô trương sự dày dạn và lòng dũng cảm.

Mà chắc thời nào cũng vậy thôi, đấy là đặc thù giới tính mà!

Một vết sẹo là một khẳng định bằng vàng cho những câu chuyện chiến chinh mà chiến thắng phi thường bao giờ cũng thuộc về người sở hữu tấm "huân chương" đó(!)

Cuối tháng chín năm 79, trung đoàn hoạt động ở khoảng giữa Kra Ko và Ponley.

Tiểu đoàn 4 truy quét địch phía tây đường 5.

Có khi sục vào sát chân sườn phía đông núi Tuk S'ra nằm kẹp giữa đường 5 và đường sắt.

Cũng giống như ta hồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ - Kh'mer Đỏ cũng triển khai trồng trọt nương rẫy, giải quyết nhu cầu lương thực tại chỗ.

Đơn vị càn rừng hôm ấy phát hiện trong hốc một cây dầu lớn, lửa đốt cho dầu ra còn đang cháy.

Vậy là vùng rừng này có người ở.

Tiểu đoàn lặng lẽ bám dần lên đến một khoảnh rừng thưa.

Một nương sắn rộng hiện ra, cây mới cao ngang tầm ngực.

Hai mũi khép vào, chuẩn bị xung phong...Rồi điều gì đến đã đến!

Hoàn toàn chẳng giống như tôi hình dung.

Mà hầu như trong cuộc sống chẳng cái gì đến như tôi tưởng tượng cả.

Thế mới tệ hại!

Kể cả trường hợp bị thương của tôi lần này nữa.

Không có pha ngã xuống tuyệt đẹp sau chớp lóe của đạn cầu vồng trong một trận tấn công cấp chiến dịch, có xe tăng và không quân yểm trợ.

Trong khi đang vận động cùng đơn vị đuổi theo toán địch hủi (có cả phụ nữ nữa) tăng gia ở nương sắn này, tôi bị sụp hầm chông.

Thế mới bầy hầy!

Ngã sấp mặt, mồm vập vào rễ cây giập cả môi, tôi vẫn kịp ôm cái gốc cây đằng trước để khỏi bị tụt xuống.

Thằng Phụng với anh Ky chạy đến lôi lên.

Một mũi chông tre xuyên rìa gót, chọc thẳng vào xương mắt cá rồi gãy gập tại đó.

Chúng nó rút mũi chông gãy ra, rửa qua quấn băng chặt lại, nhưng chưa đến mức phải ga rô.

Lúc ấy không thấy đau lắm, tại chỗ đó chỉ thấy nó giật giật tức tức một chút.

Chống gậy vẫn lết đi được chứ không cần cáng.

Định thần lại, nhìn xuống hố bây giờ mới thấy kinh.

Toàn phân người nhoe nhoét quện lấy từng mũi chông tua tủa.

May mà tôi bám kịp cái gốc cây chứ còn rơi hẳn xuống, chưa nói dính bao nhiêu mũi, chỉ cần dầm mình trong cái hố đấy cũng đủ ốm ba tháng.

Chúng nó dùng "vũ khí sinh học" tự nghiên cứu, tự sản xuất ghê quá!

Thằng Quỳnh "xe lôi" và thằng Thống truyền đạt võng tôi về phía sau.

Ra đến đường bò lớn gần lộ 5, gặp xe bò của dân đi rẫy về, chúng nó tống tôi lên xe rồi theo đi luôn.

Đến cứ tạm thời của tiểu đoàn ở gần thị trấn Ponley, hai đứa rẽ vào rồi gửi tôi theo xe bò về trạm phẫu K.23 của trung đoàn.

Đúng là đồ vô trách nhiệm!

Khi còn lại một mình giữa đám dân tôi mới nhận ra tình thế của mình và rủa thầm chúng nó như thế.

Cả đoàn xe chừng hơn chục chiếc vẫn lọc cọc chậm rãi lăn bánh trên đường.

Các lão nông dân bạn đen trũi, kẻ ngồi trên xe im lặng rít thuốc rê, người vác dao quắm lừ lừ đi bộ.

Từ cứ tiểu đoàn đến trạm phẫu khoảng 1,2 km, hai bên cũng toàn rừng thưa.

Nhớ lại chuyện thằng lính B3 bị chém bay đầu mấy tháng trước trên đường ra Bâmnak.

Tôi không dám nằm nữa mà ngồi nhỏm dậy trên xe.

Nỗi sợ làm cảm giác đau dưới chân tan biến.

Dưới gót, máu lại thấm qua lớp băng chảy nhều nhệu.

Tôi mặc kệ, mải nhìn quanh quất kiếm cái gì phòng thân hoặc ước lượng đường chạy khi có biến.

Mà làm gì có cái gì?

Chân cẳng thế này chạy đi đâu?

Thấy tôi máu chảy nhiều và không chịu nằm, mấy người đàn ông đi bộ vác dao quắm xúm lại.

Thôi lần này mình tong rồi!

Lúc đó tôi choáng thực sự.

Hoa hết cả mắt nhưng vẫn còn kịp thấy hai người quay lại chiếc xe cuối rút một cây tầm vông rồi trở lại.

Một người tháo chiếc võng nilon đen đeo ở thắt lưng (đúng loại võng địch hay dùng) buộc vào cây tầm vông làm đòn khiêng.

Họ đỡ tôi sang võng rồi cáng thẳng đến trạm phẫu.

Khi nhìn thấy mấy thằng lính thông tin trung đoàn bộ đi nối dây trên đường, tôi mới dám thở phào!

Thì ra thấy tôi ngồi dậy, mặt thì tái mét, họ tưởng xe xóc làm tôi đau nên mới chuyển phương tiện cho êm.

Đến nơi, giao tôi cho quân y xong, người đàn ông còn nhe răng cười với tôi rồi đi giặt máu dính vào võng.

Một cái võng nilon hồi đó đổi được một chỉ vàng.

Thời gian nằm ở K.23 là khoảng nghỉ ngơi thật dễ chịu.

Ở đây toàn những thằng bị thương nhẹ, bị sốt rét chưa đến mức phải chuyển lên quân y tuyến trên.

Sau khi điều trị hơn chục ngày, vết thương của tôi đã khép miệng và có thể đi lại được.

Anh em đại đội phẫu có một cây guitar còn khá tốt.

Đúng là tuyến sau có khác!

Hồi còn đi học ở nhà, giống như nhiều chàng trai Hà nội hay Sài gòn khác, tôi cũng khoái tập guitar.

Trình độ còi nhưng cũng đủ chơi những bản nhạc thịnh hành thời ấy ở mức phổ thông.

Cũng có thể so hợp âm đệm theo nhiều bài hát, thỉnh thoảng máu lên còn chêm vào một đoạn list học mót...Tự nhiên xuất hiện một "nhạc công" sạch nước cản tại đơn vị nên lính chuyên môn ở K.23 rất khoái.

Cứ sau bữa cơm chiều là chúng nó xúm lại, pha một ấm trà thật se lưỡi rồi hát nghêu ngao.

Thôi thì đủ các loại trên trời dưới bể.

Hết nhạc Nga ra nhạc Trịnh.

Sau nhạc trẻ lại lạng quạng bẻ sang nhạc "vàng".

Những bài hát truyền thống của quân ta như "Vì nhân dân quên mình", "Tiến bước dưới quân kỳ"...chắc chỉ được hát chính thức khi hội họp.

Còn những buổi sinh hoạt "văn hoá văn nghệ" như thế này thì nhạc "vàng" chiếm đa số.

Mấy cha lính cũ thời đánh Mỹ trên trung đoàn bộ là cả một kho tàng phong phú về thể loại nhạc này.

Thằng em đệm cho anh bài "Xuân này con không về", thằng em cho anh bài "Anh nằm xuống..."...

" Thành phố buồn đi mày!"...

Đôi khi mấy anh trợ lý chính trị bên ban 2 cũng sang bên phẫu chơi.

Ngồi uống trà nghe lính tráng hát những bài như thế cũng chẳng nói năng gì.

Thây kệ, hồn ai nấy giữ!

Mai về lại đơn vị đánh nhau ngón tay hẳn vẫn quen hơi cò súng, lại lội rừng băng ruộng tăm tối mặt mày...Thế thì cứ hát đi!

Cao trào nhất phải kể đến bài "Thư của lính".

Hai cái thìa nhôm được mang ra.

"Nghệ sĩ" phụ trách bộ gõ kẹp đôi thìa giữa hai ngón tay, miết xuống mặt bàn.

Tiếng phách giòn tan, hoạt như những bước claket điêu luyện.

Ba bốn cái miệng gào lên:" Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo t'râyzi...Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây...Uh oa ùh oà...".

Có tốp vocal cẩn thận, Thanh Lam có khi phải gọi bằng cụ.

- Dừng lại!

Chúng mày hát bài gì lạ thế các em?

Ai sáng tác?

- Báo cáo anh!

Bài "Tình thư của lính" của nhạc sỹ Xuân Hồng ạ!

- Ừ!

Ngon heng!

Ta sáng tác thì được!

Đừng có hát tầm bậy mấy bài lá xa cành anh xa em!

Nghe hông!

Thủ trưởng đi khỏi, cuộc vui lại tiếp tục.

Ngày xưa cối nhỏ chày to, bây giờ cải tiến cối to hơn chày – Mời các bạn thưởng thức bài Tiếng chày trên sóc Bom Bo do Vũ Hựu biên soạn lại : "Lấy xà beng đập đầu con cá lóc, nấu canh chua bỏ ớt cho thật cay...".

Lúc này, các em-xi (MC) thi nhau thể hiện.

Đảm bảo Long Vũ, Diễm Quỳnh bây giờ chạy mất dép!

Hai con dê cùng qua một chiếc cầu hẹp.

Chẳng con nào chịu nhường con nào.

Chúng húc nhau, cả hai đều lăn tòm xuống...Nhưng may mà :" Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua...".

Trường sơn sớm nắng mưa chiều, anh đi nhớ chị Vân kiều...

ấy...to.

Sau đây là bài Tiếng đàn ta lư :" Đi chiến trường, mùa khô năm 71.

Vào trong Vinh, mới biết cấp trên đưa mình sang Lào.

Hành quân bằng xe hơi...Hú...!".

Cứ thế!

Hầu như các bài hát của các nhạc sĩ đều bị biên tập lại.

Chắc để cho vừa với kích cỡ tâm hồn giản dị và tếu táo của người lính.

Chiến trường ác liệt và nhọc nhằn, có vẻ các món ăn tinh thần nhẹ và vui được tiêu hoá nhanh hơn.

Sau hơn một tháng nằm viện, tôi trở về đơn vị.

Đấy là đã được anh em trạm phẫu ưu tiên nghỉ ngơi thêm một tuần.

Tiểu đoàn 4, trong thời gian tôi nằm viện vẫn đứng chân gần thị trấn Ponley.

Tôi vừa về được một hôm là có lệnh hành quân ngay.

Cứ như là đơn vị chỉ chờ mỗi tôi lành là lên đường.

Lại vào ga Bâmnak, nhưng lần này không theo lộ 28, cũng chẳng theo lộ không tên qua phum "rừng thị".

Nhằm thẳng hướng dãy núi Tuk S'Ra, đơn vị cắt rừng tiến bước.

Dãy núi này điểm cao nhất chỉ khoảng 400m, còn toàn bình độ 200,300 nên vượt qua nó chẳng khó khăn gì.

Địa bàn hoạt động quen thuộc đây rồi.

Qua phum Chùa, phum Th'may, những cái công sự nổi của chúng tôi mấy tháng trước chỉ còn những đống đất.

Ván thành, kể cả các vách gỗ trên các nhà sàn trong phum đã biến đi đâu gần hết.

Có thể là dân ngoài lộ 5 đánh xe bò vào lấy, cũng có thể là địch lấy.

Những lốt xe bò rất mới lăn ngang lăn dọc ven rừng.

Vào đến ga Bâmnak, nhìn thấy ngay cây cầu gỗ trên con lộ song song với đường sắt dã bị địch phá hủy hoàn toàn.

Chúng nó đốt quãng giữa cho cháy sập xuống.

Đại đội công binh 19 phải hì hụi mấy ngày liền mới làm xong một cái cầu tạm tại vị trí cũ.

Trong khi khắc phục nối liền giao thông, đại đội công binh này đã phát hiện và gỡ được rất nhiều mìn.

Ban Tác chiến phổ biến xuống các đơn vị loại mìn kiểu mới của địch tên gọi là K.58.

Mìn này có vỏ cấu tạo bằng chất dẻo để chống máy dò mìn.

Hình dạng giống như một hộp nhựa vá ruột xe đạp.

Chỉ cần một lực rất nhẹ tác dụng lên bề mặt là mìn phát nổ.

Hơi nổ sẽ tuốt đi bàn chân vô tình dẫm phải.

Nếu ga rô tốt, cấp cứu kịp thời thì cũng coi như đi đứt một giò.

Ý tưởng của kẻ phát minh ra loại mìn này rất thâm độc.

Nó làm cho người lính không chết, nhưng đương nhiên bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Khi trở về hậu phương có thể sẽ gây hoang mang, chán nản cho cộng đồng.

Xã hội sẽ phải gánh thêm cái gánh nặng vật chất lẫn tâm lý ấy...Chúng tôi đặt tên cho loại mìn này là mìn "xin một chân!".

Bên tiểu đoàn 5 đã có hai trường hợp dính phải loại mìn này.

Đã có tư tưởng ngại đi đầu vì sợ dính mìn.

Các đại đội thì không có chuyện đó, chứ dưới các trung đội bắt đầu tị nạnh nhau về việc đi đầu đi cuối.

Một hai lần được chỉ định đi trước thì không sao chứ đến lần thứ ba thể nào trung đội đó cũng thắc mắc thẳng thừng rằng tại sao đại đội cứ "gí" trung đội em thế?

Biết là quân lệnh như sơn, nhưng dần dần cán bộ đại đội cũng phải sử dụng chính sách xoay vòng.

Còn lính ta thằng đi sau cố đặt bàn chân vào vết chân thằng đi trước.

"Sao y bản chính không có đùng rầm!" là một câu nói vui phổ biến thời đó, nhưng nó cũng thể hiện tư tưởng ngại mìn địch trong bộ đội.

Để tránh mìn, đơn vị hành quân truy quét thường phải né đường bò, cắt rừng đến mục tiêu quy định.

Nhiều thằng đi đầu một lúc, thấy quãng nào nghi nghi liền đứng lại tạt vào bụi mặc dù không mót đái.

Thằng đi sau kế bên vượt qua một tẹo rồi cũng dừng lại làm cái công việc y hệt.

Dần dần cả tiểu đội, trung đội thực hành bài "đái cuốn chiếu".

Tốc độ hành quân chậm, nhiều lần Chính "tréc" đại đội trưởng phát khùng, cứ băng băng vượt trước đội hình đại đội 1.

Mặt mũi cứ hầm hầm không thèm nói câu nào.

Các trung đội và anh em thấy thế cũng ngượng nên cố gắng hơn.

Quả tình cán bộ nói được làm được thì đơn vị mới mạnh được...

Đại đội 1 đặt chỉ huy sở ở căn nhà gác ghi đường sắt đầu ga.

Ban ngày bung đội hình đi sục từ sáng sớm, ban đêm lại co về.

Mé trong núi, đôi lúc nghe tiếng mìn nổ vọng lại.

Có thể là thú rừng vướng mìn địch cài.

Tôi mới đi viện về nên anh em cũng ưu tiên cho được nghỉ ngơi.

Trời đang chuyển mùa.

Mưa nhỏ hơn và thường xuất hiện vào nửa đêm về sáng.

Gần sớm thức giấc, còn nửa mơ nửa tỉnh, nghe đơn vị lịch kịch súng đạn trở dậy đi càn.

Còn mình thì kéo cái tấm đắp trùm qua đầu co mình trên võng.

Ngoài trời đang mưa lắc rắc...Cái cảm giác được nghỉ trong khi những người khác vẫn phải làm việc thực thà mà nói cũng dễ chịu.

Bảnh mắt ra mới lò dò trở dậy, mấy thằng ốm dở xuống bếp anh nuôi.

Nếu còn dầu ăn thì rang cơm cho thật săn.

Chén xong rồi tổ chức đi kiếm cá cải thiện cho anh em tối về có cái ăn tươi.

Hai thằng anh nuôi ở lại trông cứ.

Ba bốn đứa còn lại vác súng đi loanh quanh.

Tìm được một đoạn suối nhỏ nước chảy chậm một chút là cả nhóm bắt tay ngay vào việc.

Cành cây và đất lấp ngay dòng chảy ở chỗ lòng suối hẹp nhất.

Lúc này mé trên "đập", nước không còn chảy nữa.

Chúng tôi mang hàng bó cây "say"- một loại cây rừng có vỏ nhiều nhựa màu đỏ ra đập vào đá cho xơ ra.

Hai thằng đập, một thằng mang xơ vỏ và cả lá loại cây đó vò nát, khỏa đều khắp.

Một lát sau, cá bị say bắt đầu ngoi lên mặt nước lờ đờ ngáp.

Cá ngựa là yếu nhất, gần như ngoi ngay lập tức.

Giống cá này trông như con cá chép.

Đuôi cũng đỏ như thế nhưng nhỏ hơn, mình thuôn và tròn hơn và không có đôi râu.

Tiếp đến là cá mè vinh đuôi vàng.

Những con yếu thì không nói làm gì.

Chỉ việc bụm tay hất lên trên bờ.

Còn những con to và còn khỏe thì chúng tôi lấy cây nhè đầu mà đập rồi vớt.

Cá lăng, cá kết (giống cá thác lác), cá bò bị say luồn ra khỏi hang trú ngụ.

Vây ngạnh vây lưng duỗi ra đờ đẫn. cứng đơ rất nguy hiểm.

Lúc này phải thật khéo, lội suối bao giờ cũng phải đưa ngón chân xuống trước để thăm dò chỗ đặt bàn chân nếu không muốn ăn cả cái ngạnh trên kỳ lưng nó.

Thủng chân vì ngạnh cá này thì sưng và phát sốt ngay.

Trơn trơn, mềm mềm, dài dài đây rồi!

Nào, từ từ luồn hai bàn tay xuống.

Tránh cái vây ra.

Và cả bộ râu đẹp của nó nữa!

Thật nhẹ nhàng vừa phải tha thiết thôi, đẩy nó dần dần cặp bờ thoải.

Đã thấy cái lưng cá bóng nhẫy.

A lê hấp!

Hất thẳng lên bờ.

Có những con cá lăng dài đến nửa mét.

Cá bò lên bờ đổi màu vàng ươm hoặc loang lổ trông như bộ ngụy trang của cánh đặc công nhà ta.

Lên bờ rồi mà răng vẫn nghiến kèn kẹt èn ẹt nghe rất vui tai.

Mỗi chuyến như thế bắt được cả tạ cá là chuyện bình thường.

Trên đường khiêng về tiện tay hái nắm lá giang hay lá bứa nữa là kể như đủ vị.

Những chuyện bắt cá bên này có thể kể cả ngày không hết.

Còn cái loại cây say ấy là cây gì?

Tên latinh, tên khoa học là gì anh em nào trên diễn đàn biết nên phổ biến trên trang kinh nghiệm để lính ta cải thiện.

Tôi chỉ biết Toàn cồ người Thái gọi nó là cây say thôi!

Tháng 11 năm 1979, không quân trinh sát báo phát hiện địch tại vùng núi phía nam ga Th'May .

Ga này nằm dưới ga Bâmnak 12 km về hướng Ph'nom Penh, nơi con lộ không tên cắt từ đường sắt ra thị trấn Ponley.

Vùng núi này cũng thuộc hệ thống Ủrăng S'vai nhưng có độ cao thấp hơn.

Trên các đỉnh với bình độ tương đối bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ, địch phá rừng làm rẫy, xây dựng lán trại.

Tham mưu trung đoàn gọi tên khu vực đó là cao điểm 701.

Lại lên đường!

Thấm thoắt bây giờ đã là những tháng cuối năm.

Một năm có lẽ đáng nhớ nhất, gian khổ nhất và cũng vinh quang nhất trong thời gian tác chiến bên K của đơn vị.

Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi...!

Trong năm đó, không kể hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, chỉ tính riêng quãng đường hành quân, những người lính trung đoàn đã vượt quãng đường hàng ngàn cây số, chủ yếu là đi bộ...Đã đi qua biết bao những đồng rộng sông dài, những đỉnh núi mịt mờ mây phủ, những thành phố thị xã hoang tàn lửa khói, những nẻo rừng heo hút không một dấu chân người...Nhưng những con đường vô định của chiến tranh vẫn cứ còn thăm thẳm.

Để rồi một chiều cuối năm như chiều nay, ngồi thõng chân bên bờ suối hoang vu...

Nghe bản tin đài báo gió mùa đông bắc, lòng lại cồn lên nỗi nhớ nhà.

Như con ngựa xứ rợ Hồ, chợt phồng mũi lên ngửi thấy mùi cỏ quê hương cách xa hàng ngàn dặm qua hơi gió Bấc.

Đi ngược lại những hành trình cơ học, hành trình tác chiến trên bản đồ là hành trình của trái tim người lính viễn chinh.

Hoặc còn sống, hoặc đã tử trận nhưng luôn trở về với những mái nhà xưa cũ, với mẹ hiền...

Ơi Nước Việt thương yêu của chúng tôi ơi!

Càng vào đến chân cụm cao điểm 701, rừng càng rậm rạp và ẩm ướt.

Trong những quãng rừng le, vắt nâu, vắt xanh quăng mình theo bước chúng tôi rào rào.

Đi một lúc, thấy trầy trượt dưới chân.

Cúi xuống nhìn thấy dép mình đã nhoe nhoét máu.

Vén ống quần lên, ba bốn con vắt to kềnh no máu rời ra.

Trong các loại hút máu người thì tôi kinh con này nhất.

Cũng như mìn của địch vậy!

Cái gì ta không biết, không phát hiện được thì lại càng đáng sợ.

Sợ hơn cả đỉa trâu, đỉa hẹ đồng trũng ở Hà nam thời huấn luyện.

Đặt một cành le khô cho con vắt bám vào rồi quan sát.

Nó lập tức biến thành một màu vàng cùng với cành khô bạn đang cầm.

Giác chân quặp chắc vào cái que.

Còn cái đầu huơ đi huơ lại cuống quít đánh hơi người trông rất hung hãn.

Tăm tối và háu ăn một cách kỳ dị, bị một nhát kéo cắt đôi người mà phần đầu vẫn bám chặt lấy cẳng chân thằng Thư quân y.

Qua được quãng rừng vắt ấy, tiểu đoàn dừng chân tại khoảng rừng thưa hơn, nơi có một vệt đường mòn cắt qua để chờ tiểu đoàn 5 lên kịp mũi hiệp đồng.

Ngày hôm đó sẽ là một ngày bình thường nếu như không xảy ra chuyện có 5 tên địch nữ đi xồng xộc thẳng vào đội hình của đại đội 2.

Lính ta phát hiện thì nó đã vào rất gần.

Thậm chí vừa đi vừa nói chuyện rất to.

Cho dù là địch đi chăng nữa thì phụ nữ vẫn có nhu cầu buôn chuyện.

Tài thật!

Đến khi cả năm đứa nhìn thấy mấy cái võng không của lính mình, đờ người ra định quay đầu chạy thì đã nghe tiếng hô bắt sống và những nòng súng chĩa xung quanh.

Đồ đạc phụ tùng trên người rơi lịch bịch xuống khi tay đưa lên trời.

Kiểm tra "quân tư trang" thì thấy không có gì đặc biệt.

Vài củ mì, vài quả bí ngô non, võng, với mấy thứ đồ lặt vặt khác...

Hoàn toàn không có vũ khí.

Tù binh lập tức được đưa ngay về tiểu đoàn bộ.

Cái vốn tiếng K bập bẹ của Bình "cháo'' chỉ để hiểu được rằng các "chị ấy" thuộc một đơn vị tăng gia của địch.

Đêm ấy, tiểu đoàn giao họ cho trung đội vận tải canh gác.

Họ cũng căng võng ngủ như lính ta và hoàn toàn không bị trói.

Sớm hôm sau, tiểu đoàn 4 lại tiếp tục hành quân, mang theo cả tù binh.

Rừng thì chỗ nào chả giống chỗ nào?

Nhưng khi đi được khoảng gần 4 tiếng đồng hồ vã mồ hôi hột, tôi thấy khu rừng này là lạ.

Nó là lạ ở chỗ trông nó...quen quen (!) Hình như tiểu đoàn đã trở về đúng vị trí dừng chân đêm qua.

Tôi đưa cái nhận xét này ra và anh Ky cũng đồng tình ngay lập tức.

Anh Thào tiểu đoàn trưởng mắng át đi :"Mẹ chúng mày!

Lệnh đi thì cứ biết đi!

Kêu ca gì?

Đi đến đâu chả là đi?"

Quá chí lý!

Đang nghỉ giải lao, tôi quyết tìm ra chứng cứ chứng minh cho nhận xét của mình.

Tất nhiên không phải chống lại anh Thào nhưng cái ý muốn biết mình đang ở đâu thôi thúc tôi lò dò tìm quanh.

Đây rồi!

Cái bếp anh nuôi đại đội 1 nấu cơm ban sáng lù lù cạnh cái gốc cây mục rành rành.

Tôi kêu toáng lên và chúng nó đổ xô lại.

Có đứa còn nhận ra mình vừa dẫm phải cái "hố mèo" của chính mình ban sáng.

Không cái dại nào giống cái dại nào!

Lập tức tôi ăn hai cái đá đít của ông Thào vì cái phát hiện vừa rồi.

Bọn tù binh dường như cũng nhận ra tình thế.

Chúng nó là ma xó vùng rừng này nên lạ gì!

Đã thế lại còn bụm miệng cười khúc khích khiến ông Thào càng cáu tợn.

Tiểu đoàn phó của tôi đánh nhau thì không thể chê được nhưng khoản tham mưu bản đồ có vẻ có vấn đề.

Sau hai chưởng mà anh ấy giành cho tôi, không thằng nào dám ý kiến ý cò gì nữa.

Mẹ đời!

Đúng là dây phải "giặc cái" thì đen thế đấy!

Mà đúng là đen thật!

Chiều tối, tiểu đoàn 5 đã đến điểm hẹn trên núi mà chúng tôi vẫn loanh quanh dưới chân.

Cả một rừng dây mây giăng thành chắn mất lối lên.

Còn con đường bò lớn vẽ trong bản đồ lúc nãy vẫn thấp thoáng bên cạnh (chúng tôi không dám đi trên đường) bây giờ tự nhiên mất tích.

Lên sóng 2W nghe tiếng tiểu đoàn bạn rất rõ, chứng tỏ cự ly thật gần mà mãi vẫn chưa đến được vị trí hiệp đồng.

Tham mưu trung đoàn khỏi dùng bảng mật danh luôn.

Cứ cầm trực tiếp tổ hợp nói chuyện thẳng với tiểu đoàn hỏi rằng có thấy cái đỉnh núi nhọn độc lập nào bên tay trái không?

Cho trinh sát cắt hướng 45 xem có gặp cái đìa nước nào không???

Có đến một tá câu hỏi, gấp hai lần như thế để hướng dẫn nhưng mò vẫn hoàn mò.

Sọt sẹt một lúc thì gần hết pin, phải lắp lố pin dự trữ.

Tối mù thế này thì trông thấy cái gì?

Lại nói chuyện ban sáng.

Anh Sơn trung đội trưởng trinh sát (không phải anh Sơn "big" D trưởng đang đi viện) cũng là một tay kỳ cựu đi đầu đội hình.

Địa bàn cầm tay, hướng cắt đúng, các vật chuẩn địa hình lần lượt xuất hiện như dự tính.

Ấy thế mà đi cả buổi lại lộn về vị trí cũ.

Điều này không giải thích được!

Cứ như bị ma làm.

Một con cú lớn đến giờ kiếm ăn, lừ lừ liệng qua đầu chúng tôi lặng phắc, không một tiếng động, để lại một mùi hôi tanh lợm giọng.

Tướng với quân lúng túng như gà mắc tóc, lao xao hết cả lên.

Trung đoàn sốt ruột không chờ nữa, lệnh tiểu đoàn 5 đụng địch thì đánh ngay.

Vừa dứt câu lệnh thì tất cả giật mình vì tiếng súng 12,8 nổ ầm ầm.

Đạn vạch đường, chớp B.40 nhoang nhoáng sáng một góc rừng.

Tiểu đoàn 5 đã nổ súng.

Chúng nó ở ngay trên đỉnh đầu chúng tôi, hai đơn vị chỉ cách nhau chưa đầy một km.

Một thằng ngu nào đó không chờ lệnh thống nhất qua thông tin, bắn ba phát đạn vạch đường lên núi bắt liên lạc.

Do quá gần nhau nên bọn tiểu đoàn 5 tưởng chúng tôi là địch đánh từ dưới lên.

Lập tức, hai khẩu 12,8 quay nòng bắn thốc xuống chân núi.

Đạn lửa chớp cứ giần giật.

Có những viên xuyên qua cây văng lung tung hình chữ chi phụt lửa lằng ngoằng Cũng may là sườn dốc, chúng tôi chúi cả vào sát chân nên không ai bị dính.

Lính tiểu đoàn 4 hét lên như di nhưng mấy thằng điếc ấy đâu có nghe tiếng.

Bọn DK đại đội 4 nổi xung đòi giá súng bắn "bắt liên lạc" lại vài trái chắc chắn bọn trên núi nhận ra ngay!

Ai còn lạ gì tính khùng của thằng Mẫn A trưởng khẩu đội này.

Không can có khi nó làm thật!

Đã có lần ở phum dừa cụt nó đã định ăn thua đủ với thằng Dung cối cũng vì chuyện bắn nhầm.

Ta với ta mà còn điên với nhau như thế huống chi là địch.

Trong chiến trận, đôi khi bản năng mách bảo hành động.

Thế đấy!

Được trung đoàn thông báo, bọn tiểu đoàn 5 thôi bắn xuống.

Nhưng tiếng súng trên đỉnh núi vẫn đùng đùng đến khuya.

To be continued
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 1 - Biên giới Tây Nam - Hồi ký của bác Trungsy1 - Phần 2


Mọi vật trở nên rõ ràng sáng sủa trong ánh ban mai.

Khi được mở đáp án thì bài tập nào cũng dễ.

Nấu cơm sáng ăn xong, quay trở lại hướng đi hôm qua chừng nửa cây số, chúng tôi thoát qua được cánh rừng mây và bắt đầu leo lên.

Mấy cô tù binh (bây giờ chẳng biết gọi họ thế nào) vác đạn và gánh cối đỡ cho bọn vận tải.

Vừa đi vừa chí chóe với mấy thằng lính ta cứ như dân công hỏa tuyến thời kháng chiến.

Bố Thành chính trị viên tiểu đoàn (thay anh Thưởng) trông thấy chướng mắt quá gọi lính lại càu nhàu một lúc nên chúng nó mới thôi.

Đang leo thì mấy chị ấy dừng lại, bỏ gánh cối tạt vào bụi.

Mấy đứa được giao nhiệm vụ trông coi tù binh không biết làm thế nào cũng đành phải rúc theo, sợ chúng nó chuồn mất.

Khi tất cả quay lại đội hình thì bị mấy cha lính cũ đã có vợ rồi phỏng vấn sát sạt.

Bôi bác đùa dai quá đến mức bọn kia tức quá suýt đánh nhau...Gần trưa thì chúng tôi lên đến mỏm 2.

Một vùng quang đãng với bình độ thoải nằm gọn trong tầm mắt.

Mỏm 2 và mỏm 1 nơi tiểu đoàn 5 đánh vào đêm qua chỉ cách nhau 1,5 km, với đường tụ thủy là một khe suối hẹp.

Hơn chục xác địch nằm rải rác trong các lán lá, cạnh nguồn nước...Đêm qua tiểu đoàn 5 đã đánh tràn qua đây.

Trong một cái lán có cả một cặp ngà voi to tướng.

Của này mà tha về được cho ông già tiện một bộ quân cờ đánh chơi thì vô địch.

Tiểu đoàn 4 dừng chân tại đây để mở rộng truy quét sang các mỏm lân cận cùng tiểu đoàn 5.

Đại đội 1 đóng quân ở mấy cái lán cạnh suối nhỏ.

Lính ta phải khiêng mấy cái xác địch dọn ra chỗ khác chôn vì sợ ô nhiễm nguồn nước ăn duy nhất.

Trên đường từ đại đội một về tiểu đoàn bộ cũng có hai cái xác địch nằm chình ình nằm gần trung đội 2.

Bọn này lười không chịu lấp.

Mấy ngày hôm sau nó sình lên hôi không chịu được đành mang xẻng ra vừa bịt mũi vừa chôn.

Dưới tiểu đoàn bộ, mấy thằng lính vận tải cứ nhấm nha nhấm nháy với bọn tù binh suốt.

"Đơn vị phối thuộc" bất đắc dĩ này ở với lính ta thành quen, hoàn toàn không có ý định bỏ trốn.

Mặt mũi cùng các chỉ số hình thể cũng không đến nỗi nào nếu như không muốn nói là trông được.

Thế mới bỏ mẹ!

Thành ra trung đội vận tải thì canh tù binh.

Còn chính trị viên tiểu đoàn thì canh lính vận tải.

Mệt với mấy ông tướng ấy quá!

Đêm cuối mùa mưa trên độ cao này rất lạnh.

Tôi với thằng Căn nằm úp thìa trên sạp tre trong lán địch, đắp chung cả hai tấm đắp nhưng cũng không ngủ được.

Gió và hơi lạnh luồn qua những khe hở dưới sạp cù vào sườn buốt giá.

Dưới các trung đội lính không ngủ được vì rét, phải đốt lửa sưởi sát võng nằm cho ấm.

Một lần, đang thiu thiu ngủ thì phía dưới trung đội 2, tiếng thằng Minh đen kêu toáng lên :"Địch vào!

Em trúng đạn bắn tỉa rồi!".

Cả đại đội nổ súng ầm ầm.

Tôi ôm máy chạy như biến ra khỏi lán đang đốt lửa vì sợ nó thổi B.40.

Thằng Phượng bọ y tá chạy xuống b2 thấy Minh đen ôm ngực quằn quại đau đớn lắm.

Nó hỏi bị thương chỗ nào thì thằng này thều thào chỉ ngay vào ngực.

Đêm tối, không rõ vết thương ra sao.

Phượng bọ cuốn băng thật chặt vào ngực nó rồi hô anh em cáng xuống quân y tiểu đoàn bộ.

Đến nơi, lấy kéo cắt băng, bấm đèn pin soi kiểm tra mãi không thấy vết thương đâu.

Chỉ có một chỗ tấy và hơi rớm máu.

Thì ra chúng nó bẻ đạn nhóm lửa sưởi,vất cả cát tut vào trong đống than.

Chắc cái hạt nẻ nó nổ văng vào.

Lúc trở về đại đội, nó bị mấy thằng khiêng chửi quá trời.

Gặp nhau bây giờ chúng tôi nhắc lại vẫn còn quê độ.

Hôm sau lại xảy ra một chuyện ly kỳ không kém.

Lúc buổi chiều tối, đại đội 1 bắn thử đạn cối.

Thằng Dung cầm quả đạn thả vào nòng.

Tiếng đề pa nghe "phọp" một cái.

Quả đạn cối 60 vọt ra khỏi nòng, bay cao khoảng 20m, lúc lắc cái đuôi rồi cắm xuống đúng vị trí trung đội 3.

Bọn này vừa ăn cơm vừa nhìn xem bắn thử thấy thế quăng bát chạy tóe ra.

Quả đạn nổ cái "rầm!".

Thằng Thành bị một miểng trúng mông mừng hơn cưới vợ.

Mọi người xúm lại khẩu cối xem xét.

Đứa thì đổ cho đạn, đứa đổ cho liều...Anh Lược lẳng lặng đến xách khẩu cối dốc ngược xuống.

Nước trong nòng đổ ra òng ọc, đen sì.

Cơn mưa ban sáng không đứa nào đậy nòng mới đến nông nỗi đấy.

Riêng cái thằng Dung này cực kỳ vô duyên, toàn chơi quân mình vố nào ra vố đấy.

Gọi là Dung "kỳ đà" cũng chẳng oan!

Nằm tại núi 701 gần một tuần, sau khi tổ chức lùng sục thêm không có kết quả, tiểu đoàn 4 rút quân sau khi đốt sạch những thứ gì đốt được của địch trên đỉnh núi.

Kết thúc một cuộc hành quân toàn những chuyện vớ vẩn và vô duyên.

Sớm tinh mơ ngày lên đường, trong khi tiểu đoàn cùng các đại đội chuẩn bị hành quân thì một tiếng nổ thật căng xé tan sự tĩnh lặng của rừng núi.

Anh Thào lập tức kêu 2w gọi ngay xuống các đại đội.

Tất cả đều nghe tốt.

Chỉ có đại đội 1 là không trả lời.

Một linh cảm xấu làm tim tôi thắt lại.

Mày làm sao thế Tuý ơi?

Chiều hôm qua, lúc thu dây về tiểu đoàn bộ, tôi và anh Ky còn gặp nó ở chỗ hai thằng địch chết đầu b2.

Nó đi lĩnh pin về đại đội, gặp chúng tôi còn nhe răng cười...Anh Nhương giằng lấy tổ hợp máy tiểu đoàn của thằng Mạnh.

Hết gọi "Bến Cầu- Bến Cát 01 !" lại gào lên trực tiếp :"Tuý đâu?

Tuý đâu?

Tuý ơi...!".

Truyền đạt vừa kịp chạy đã thấy lính đại đội 1 võng hai võng đẫm máu về tiểu đoàn.

Thằng Tuý và anh Quang râu chính trị viên đã hy sinh.

Hai anh em đi tè chuẩn bị lên đường thì thằng Tuý đá mìn.

Quả mìn KP.2 địch gài từ trước, sau khung nhà cháy, cạnh hòn đá lớn bìa rừng cách chỉ huy sở đại đội 1 chỉ khoảng gần 10m.

Tôi và anh Ky cũng thường xuyên ra đấy tè bậy khi trực máy hữu tuyến ở đại đội 1, nhưng chẳng hiểu sao lại không vướng.

Anh Quang bị thương hôm đại 1 mất chốt hồi tháng tư, đi viện rồi được giải quyết về phép, mới cưới vợ xong.

Còn thằng Tuý người huyện Ý Yên, Hà nam ninh, học sinh chuyên văn hẳn hoi.

Nó có thể đọc thuộc lòng từng trích đoạn "Đi săn" trong " Chiến tranh và Hoà bình" không hề vấp váp.

Bảng mật danh mới trong khi chúng nó ôm đầu vã mồ hôi hột cố mà thuộc thì nó chỉ vài hôm là làu làu...Quả mìn quá ác nghiệt!

Những người anh, người đồng đội quá thân thương!

Thằng Đồng Huế liên lạc khóc ồ ồ như cha chết, ôm khư khư cái túi mìn đựng đồ của anh Quang.

Tôi nghiến răng lại nhưng nước mắt vẫn cứ giàn giụa...Chỉ còn anh Thành chính trị viên tiểu đoàn là còn bình tĩnh, bảo anh em lau mặt rồi quấn băng lại cho liệt sĩ thật cẩn thận, đừng để máu chảy ra nữa...

Bầu trời cao điểm 701 có xanh như bầu trời Austerlitz không Tuý ơi...!???

Trở về ga Bâmnak, tôi lên cơn sốt.

Chỉ thấy lúc nóng điên người, lúc thì lại gai gai lạnh nhưng không thấy run cầm cập rung cả võng như chúng nó.

Hai hôm đầu được nghỉ truy quét, tôi còn cố gắng gượng dậy lần ra con đập nhỏ ngay cạnh chỗ dừng chân tạm của tiểu đoàn bộ xem thằng Hải cụt câu chạch.

Đến hôm thứ ba, tôi quỵ hẳn.

Nằm li bì trên võng từ sáng đến đêm, người nóng hầm hập.

Khi lấy cơm về trung đội, anh Nhương hết dỗ lại chửi giục tôi xuống ăn.

Nhưng ngồi dậy với tôi lúc đó cũng còn khó chứ nói gì đến ăn uống.

Thằng Tuý hy sinh, tôi lăn đùng ra ốm, trung đội thông tin thiếu người nghiêm trọng.

Bấy giờ anh ấy lùa thằng Mạnh tiểu đội trưởng 2W xuống đi với đại đội 1.

Còn chính anh ấy phải khoác máy đi theo chỉ huy tiểu đoàn.

Lâu không làm máy, mật danh thì không thuộc, tậm tà tậm tịt nên nghe ông Thào chửi thả dàn.

Anh ấy sinh ra bẳn gắt như mắm tôm.

Cứ chiều tối, sau khi đi càn về là anh ấy lại ngồi ngay đầu võng tôi.

Hỏi thăm hỏi nom thì ít, càu nhàu than vãn thì nhiều.

Mà tôi có nghe thấy anh ấy nói cái gì đâu!

Cái võng tôi mắc hơi chùng cạnh bờ suối, nằm rất khó chịu nhưng chẳng còn hơi đâu mà mắc lại.

Tôi đùn ra cả cõng cũng chỉ đủ sức nhỏm dậy lấy cái quần đùi bẩn lau qua rồi thả nó trôi luôn theo suối.

Mọi giác quan, mọi xúc cảm gần như tê liệt.

Cứ nằm thiêm thiếp, mắt thì he hé lúc nhắm lúc mở nhìn vào một điểm vô định.

Chẳng thấy thương cha, không thấy nhớ mẹ gì hết nữa!

Địch giá có đánh vào tận nơi có khi tôi cũng mặc mẹ nó...Thành thử anh ấy có lầu bầu cáu kỉnh thì tôi cũng chỉ coi như con nhện con ruồi cáu mà thôi!

Sau ba ngày sốt (bây giờ tôi vẫn nghĩ là không phải sốt rét.

Vì sốt rét thì tôi lại bị ngay tại nhà mình, lên cơn ngay giữa lòng Thủ đô nên không lạ.

Chuyện này nói sau!), tôi hoàn toàn không ăn được gì, chỉ uống nước cháo cầm hơi.

Sáng ngày thứ tư, thằng quân y tiểu đoàn (quên tên – đang hỏi lại) xuống kiểm tra giật mình thấy tay tôi thõng ra khỏi võng.

Trên mặt đất là những viên thuốc nó phát cho tôi chiều hôm trước chưa kịp uống rơi tung toé.

Bấu vào người gần như không có phản ứng.

Hoảng hồn!

Nó chạy sang vận tải hô cáng tôi lên bệnh xá trung đoàn.

Đêm hôm ấy ở K.23, tôi lơ mơ cảm thấy có người đo huyết áp cho mình.

Một lát sau lại có thêm người đến nữa.

Huyết áp tụt không đo được.

Các anh ấy lấy ven truyền nước.

Huyết thanh làm tôi cũng tỉnh táo dễ chịu hơn.

Sáng hôm sau, tôi được đưa lên xe tải, cùng với mấy thương bệnh binh nữa về viện 97 của sư đoàn.

Một trung đội công binh của đại đội 19 tháp tùng xe ra đến phum "rừng thị" rồi lại đi bộ trở về.

Sư đoàn bộ sư đoàn 9 thời gian này đóng ở sân bay Kampong Ch'nang.

Viện 97 nằm sát ngay thị xã, trong một cái phum cũ phía đông sư bộ.

Tuổi còn trẻ nên tôi phục hồi sức khoẻ nhanh chóng.

Dứt đợt sốt, đến kỳ ăn trả bữa.

Lúc nào tôi cũng thấy đói.

Tôi với thằng Trung - dân Sơn Tây, lính trung đoàn 3- cứ lân la xuống bếp nhặt rau mổ cá giúp bọn anh nuôi để được chúng nó chia thêm cơm hoặc cháy.

Thị xã Kampong Ch'nang nằm ngay bờ Tonle Sap nên cá là thực phẩm chủ yếu.

Chiều thì leo mấy cây lêkima quanh chỗ ở, hái những quả vàng gần chín.

Lấy dao nhọn khoét những lỗ nhỏ gần cuống quả xong, nhét vào mấy hạt muối, quả sẽ rất mau chín.

Sau những bữa cơm, chúng tôi dessert bằng thứ quả đã qua xử lý đó.

Tuy mồm miệng lúc chén xong dính bột quả có hơi giống vừa ăn...lòng đỏ trứng gà thật.

Nhưng hề gì!

Rất ngọt và ngậy bùi.

Với lại việc lấp đầy cái dạ dày hình như lúc nào cũng rỗng mới là việc quan trọng nhất.

Đôi khi chúng tôi đi nhờ xe bò của dân ra thị xã chơi.

Cuộc sống hậu phương bình thường đã dần dần trở lại.

Tiền Riel của chính phủ mới đã được phát hành nhưng tiền Việt cũng rất thông dụng.

Rõ ràng lính Việt cũng là một bộ phận của xã hội mới.

Kampong Ch'nang nhỏ nhắn và yên tĩnh, khiêm nhường nép mình dưới những hàng phượng tây xanh mát.

Kiến trúc nhiệt đới của các công thự theo phong cách Pháp còn chưa bị lai căng.

Trên những đường phố lớn, hàng đoàn xe bò đủng đỉnh lăn bánh về phía chợ bờ sông.

Những cặp bò vừa đi vừa bĩnh phùm phụp ra đại lộ, vừa khinh khỉnh nhìn những chiếc xe Renaul, Peugeot hay Citroen nước sơn còn khá tươm, nhưng bị tháo tiệt cả đệm lẫn bánh, nằm gí bên đường.

Hẳn là chúng nó bằng lòng với sự độc quyền của mình nên thỉnh thoảng lại rống lên rất hãnh tiến.

Đúng là ngu như bò!

Hàng chùm ống nước thốt nốt ngọt, nước thốt nốt chua treo lủng lẳng trên cột đèn cao áp, trên những hàng rào gang đúc.

Bằng cách nào đó, hàng tiêu dùng Thailand theo chân những thương lái người Tàu đã bắt đầu xuất hiện.

Thuốc lá Samit, thuốc lá Ba con một, kem đánh răng Hynos, vải vóc.

Nhưng đắt hàng nhất phải kể đến đủ loại dép tông.

Tông hai quai đế dày, tông màu gan gà xỏ ngón...Các cô gái mới từ phum ra thử dép, ngón chân cái toè ra đen sì, ngượng ngập kẹp vào cái cuống quai lắc lắc.

Thấy chúng tôi ngắm, họ đẩy vai nhau cười rũ rượi rất hồn nhiên.

Tôi kéo thằng Trung lại gian hàng mơ ước của tôi.

Một tủ kính sáng trưng bày đủ các loại đồng hồ đeo tay các nhãn Rado, Citizen, Orient hoặc Seiko...Giá mỗi chiếc là 3 chỉ vàng.

Giá hồi đó tôi không nộp lại vàng cho cán bộ chính sách trong trận bắt hụt Tàmok thì bây giờ có phải đã đổi được cái đồng hồ nữ xinh xắn kia, làm quà cho con em gái.

Khi trở về còn có cơ hội nói phét rằng tao đã tránh được nhát lê của địch trong một trận giáp lá cà.

Khử nó xong thu được cái đồng hồ chiến lợi phẩm này...Than ôi!

Vét sạch tiền Việt trong túi, hai thằng chỉ đủ mỗi đứa một ly đá bào trộn đường thốt nốt và hạt é pha màu xanh đỏ.

Một chiếc xe vận tải cỡ nhỏ màu trắng in hình biểu tượng của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) đậu ở gần chợ.

Trên thùng xe chở gạo và các cô gái rất xinh đang cười đùa như nắc nẻ.

Có lẽ họ là người nước ngoài đến đây làm công tác tình nguyện cứu trợ.

Trông thấy hai thằng tôi họ im bặt, cứ như nhìn thấy quái vật.

Họ hiểu bọn tôi như một lũ xâm lược hoặc người rừng chăng?

Tôi nhìn lại mình qua tấm kính hàng xe nước đá.

Một mớ tóc lưa thưa do rụng gần hết vì sốt, úp lên một gương mặt dãi dầu xanh tái.

Bộ quần áo màu xanh sỹ lâm tự khâu lấy thật vụng về và đã toả mùi mồ hôi chua chua do lười giặt.

Tôi nhìn vào đôi mắt tôi trong tấm kính ấy!

Thấy gì đâu hả anh lính tình nguyện?

Một nỗi hờn giận điên cuồng vô cớ bùng lên.

Tôi bật đứng dậy, thẳng tay đập tan cái ly xuống vỉa hè.

Tất cả xung quanh đều im phăng phắc.

Tôi ném tất tiền vào cái khay rồi kéo thằng Trung về.

Có những vỉa hè, như vỉa hè này đã cách đây không lâu, chúng tôi đi học giữa hai hàng sấu rắc đầy hoa trắng.

Tại vườn hoa cạnh sân vận động thị xã Kampong Ch'nang buổi sáng hôm ấy có hai người lính ngồi chờ xe để trở về đơn vị.

Chẳng nói thì các bạn cũng biết.

Đấy là tôi và thằng Trung.

Hai thằng cùng được ra viện một ngày.

Chờ suốt từ sáng đến gần trưa mà chỉ thấy xe xuôi Ph'nom Penh, không thấy xe ngược.

Bụng đã hơi ngon ngót.

Tôi quay sang bảo thằng Trung :"Lần này mà lại gặp xe xuôi nữa thì tao với mày đi về nhà!".

Rất tự nhiên, nó đồng ý cái rụp.

Cứ như là nếu không ăn cơm thì ăn cháo vậy!

Thế đấy!

Có những quyết định quan trọng thì tôi lại xử lý rất bản năng và nhanh chóng.

Và lần này thì lại thấy xe xuôi.

Tiếng động cơ rền rền như tấu lên Symphony số 5 của Beethoven.

Đúng là Định Mệnh rồi!

Vì nếu có xe ngược thì chắc chắn chúng tôi sẽ trở về đơn vị.

Có một xúc cảm hồi hương mơ hồ rộn ràng thoảng qua trong trí não.

Nào!

Bây giờ thì mình đi về nhà!

Không một chút lưỡng lự, tôi giơ tay vẫy.

Đoàn xe ba chiếc dừng lại ngay.

Anh lái xe đứng tuổi chạy xe đầu thò cổ ra hỏi giọng Quảng Ngãi hơi khó nghe :" Các em đi đâu?".

"Về Việt nam!".

"Lính sư mấy?".

"Sư 9!"."

Ra viện à?

Chơi nhau được không?".

Chẳng ai bảo ai, tôi với thằng Trung cùng thè lưỡi ra.

Tôi chỉ tay xuống vết sẹo dưới chân.

Anh lái xe bật cười, mở ca bin lấy hai khẩu AK đầy nhóc 2 băng đạn, vứt cho bọn tôi rồi chỉ tay lên thùng.

Chúng tôi leo lên ngay không khách khí.

Các bố này thấy có lính chiến đi nhờ xe thì rất khoái, yên tâm hơn hẳn trong trường hợp bị phục kích.

Mấy chiếc xe chạy lòng vòng rồi đỗ lại một quán ăn ba Tàu gần chợ.

Anh tài xế nhe răng cười :" Ăn đã chú em!" rồi lôi bọn tôi vào quán.

Mấy thằng thương binh chưa ra viện đi chợ thị xã chơi thấy thế xúm vào nhao nhao hỏi :"Phé à?".

Tôi gật đầu xác nhận.

Thế là thằng Nghĩa Hải Hưng d5 trung đoàn 2, thằng Đực và mấy thằng lính Bến Tre bên trung đoàn 1 (không còn nhớ nổi tên) lộn túi còn bao nhiêu tiền gom vét lại đưa cả cho tôi.

Anh Tư tài xế Thấy vậy thương quá kéo tuốt cả bọn vào trong quán chiêu đãi mỗi thằng một đĩa cơm chiên to sụ.

Lại thêm hai lit rượu nữa.

Cơm rượu xong xuôi lúc anh Tư đứng dậy thanh toán thì bị thằng Đực kéo tay lại.

Nó móc ở bụng ra quả da láng loại tức thì đặt cái cốp lên mặt bàn rồi bảo cha chủ quán ba Tàu :"Các anh đây bỏ xương bỏ máu mà chưa có dịp tính tiền.

Bây giờ các anh ấy vội về.

Tui cứ đặt tạm trái da láng này ở đây làm tin!

Thanh toán sau!".

Mẹ cái thằng Lỗ Trí Đực này uống vào bầy hầy quá!

Trò xưa như Trái Đất!

Thấy cha chủ quán mặt xanh như đít ếch, nó càng sấn lại làm già.

Tay nó rút chốt cái phựt rồi quăng sang bên kia đường.

Tay kia bóp cái mỏ vịt cứ dúi vào bụng chủ quán.

"Này!

Cầm lấy!".

Cha này lạy như tế sao.

Lúc đó nó mới cười hề hề rồi thò tay vào túi, móc ra một cái chốt khác cắm vào chỗ cũ.

Kiểu đùa quá trớn kinh chết mẹ!

Đến lúc này, khi anh Tư đưa tiền cha chủ quán cũng dứt khoát không nhận nữa, với lý do ủng hộ bộ đội Việt nam.

Thằng này lại trừng mắt lên doạ, cha ấy lại vội vàng cầm lấy tiền.

Bỡn cợt nhau như thế để làm gì hả mày?

Với người này nó chỉ là trò đùa vô thưởng vô phạt.

Với kẻ khác nó là sự tổn thương khó mà xoá bỏ.

Chiến tranh chẳng phải trò đùa!

Chua chát lắm...!

Và bây gìờ thì lên đường.

Đã gần một năm trôi qua, trở lại con đường này với biết bao điều thay đổi.

Con đường vẫn thế, đầy những ổ gà ổ trâu nên xe chạy chậm.

Hành trình trở về khiến chúng tôi hưng phấn.

Hai thằng cứ đứng bám thành xe háo hức ngó quanh.

Đây ngã ba lộ 27 rẽ vào ga Rômeas, điểm đầu tiên của một đường khép kín với chu vi hàng trăm km mà tôi đã đi qua và bây giờ gặp lại.

Cung đường đó đã thấm biết bao mồ hôi và máu của những người lính cùng đơn vị.

Phía xa xanh trong rừng núi kia, trung đoàn tôi đang hành quân về đâu?

Đánh địch ở nơi nào?

Anh Nhương, anh Ky, thằng Mạnh, thằng Ban trố...đang làm gì?

Đeo máy đi với đại đội hai hay đại đội một?

Những ai còn và ai đã mất?

Một cảm giác ân hận khiến tôi cúi đầu xuống vuốt ve khẩu súng.

Mùi thép lạnh, mùi dầu luyn và hơi thuốc súng vẫn còn như phảng phất ở đầu nòng.

Bỗng dưng, tôi thấy nhớ đơn vị.

Nhớ cái "gia đình" của toàn những thằng đực rựa đôi khi chẳng tiếc nhau gì mạng sống.

Đôi khi lại lao vào tẩn nhau chí tử chỉ vì một câu bôi bác quá lời...Đến đây chắc sẽ có bạn bảo tôi là thằng nói láo!

Nhưng nó thế đấy!

Không giải thích được vì tôi không phải chuyên gia tâm lý.

Chó chết thật!

Nhớ nốt cả cái mùi ngòn ngọt đăng đắng của liều phóng, mùi thơm hắc của thùng đạn mới khui.

Nhớ tuốt...!

Nhưng nỗi nhớ mẹ, nhớ em còn lớn hơn.

Bây giờ lớn "nhơ nhỡ" rồi, không biết "nếu thời gian có quay trở lại" thời đó thì tôi sẽ xử lý như thế nào?

Đến Ô Đôngk, chiếc xe ngoặt vào một con đường nhỏ rồi dừng lại trước một cái quán.

Phụ xe nhảy lên, nhờ chúng tôi giúp một tay lăn xuống phuy dầu.

Thùng dầu nhanh chóng mất hút trong gầm sàn quán.

Đây là mánh của mấy ông tài xế.

Chắc đây là mối ruột của anh Tư nên mọi sự không cần nhiều lời.

Chỉ một loáng, đoàn xe lại lên đường.

Đến Ph'nom Pênh thì trời đã tối.

Thủ đô lác đác có những đường phố có điện.

Những hàng ăn bơm đèn măng sông sáng trưng.

Anh Tư lại kéo cả đoàn đi ăn.

Chúng tôi chén xong, mắc màn ngay trên thùng xe đi ngủ ngay.

Đội tài xế kéo nhau đi uống cà phê sau khi thảy cho hai thằng tôi gói Samit.

Nằm duỗi dài khoan khoái phì phà khói thuốc, tôi thầm tự bằng lòng với cung Di trong bảng tử vi của mình.

Đi đâu cũng có quý nhân phù trợ.

Đoàn xe vượt cầu Sài gòn (Mô ni vông) lúc mờ sáng.

Chú lính kiểm soát quân sự ngái ngủ chống cằm trong trạm nhìn theo chúng tôi.

Thế là thóat một trạm!

Đây rồi khu vườn sabôchê nơi tiểu đoàn 4 chốt gần Tết năm ngoái.

Những ngôi nhà sàn cắm chân trên những đìa nước sâu hoắm không bao giờ cạn nước kể cả mùa khô.

Phà Niek Luong dào dạt sóng, Kampong T'ra Bêch xanh mát và trù phú.

Kia là cái nhà sàn buổi trưa chờ xe sư đoàn năm ngoái tôi đã leo lên đánh một giấc...S'vây riêng, cầu Prasaut, ngã ba Chi phu...Càng gần về đến Việt nam, chúng tôi càng sốt ruột.

Mà xe thì cứ chạy chậm như rùa bò.

Cuối cùng thì trạm kiểm soát biên giới cũng hiện ra.

Lúc đó đã quá trưa một chút.

Tôi hồi hộp quá.

Nếu quân cảnh có kiểm tra thì tôi sẽ trình giấy ra viện, giấy cung cấp tài chính.

Thời hạn còn những hơn một tháng nữa cơ mà!

Cứ bình tĩnh nào!

Anh Tư xuống trình giấy tờ gì đó.

Người lính gác biên nhìn giấy, nhìn lên hai thằng lính khoác súng đứng trên thùng xe rồi khoát tay cho đi.

Ôi trời...!

Thoát rồi!

Còn mỗi trạm Suối Sâu nữa thôi!

Bốn giờ rưỡi chiều hôm đó, chúng tôi chia tay anh Tư ở ngã tư Bảy Hiền.

Đã hàng chục năm trôi qua, nhưng tôi vẫn nhớ như in gương mặt và giọng nói của anh.

Có những con người chỉ gặp một lần thoáng qua, thậm chí còn chưa hề nói chuyện nhưng đôi khi ta vẫn nhớ mãi cái khoảnh khắc ấy, đôi mắt ấy.

Huống chi là đã là ân nhân, đã đi chung với nhau một quãng đường dằng dặc.

Chẳng biết bao giờ mới gặp lại nhau!

Chúng tôi nhảy xe lam về nhà bác thằng Trung ở cư xá Lữ gia quận 11.

Hai thằng lính ở rừng về chìm ngỉm trong cái tấp nập nao nức chuẩn bị đón Tết Nguyên đán của một thành phố sầm uất nhất nhì Đông nam Á.

Hai bác đón chúng tôi với sự điềm tĩnh và phải phép của dân miền Bắc đặc trưng.

Nhà có hai cô con gái trạc tuổi nhưng tôi vẫn gọi bằng chị theo thằng Trung.

Các chị ấy vừa đi họp Đoàn phường về.

Cứ ríu ra ríu rít hỏi chuyện bọn tôi suốt.

Tiếng Bắc pha tiếng Nam nghe hay đáo để.

Lâu không nghe tiếng con gái Việt nên tôi mặc kệ thằng Trung thao thao bất tuyệt.

Còn tôi thì im lặng nghe các chị ấy nói.

Sau khi biết lý do chúng tôi về Sài gòn và dự định ra Bắc, các bà đoàn viên kiểu mới này lập tức lôi bài Tây ra bói.

Quẻ hiện ra lồ lộ trên mặt bàn.

Con K pích và con 7 pích này không hứa hẹn điều gì tốt lành cả.

Còn Q rô đây sót lại một niềm vui nho nhỏ.

Thế thôi!

Tóm lại là chuyến đi lành ít dữ nhiều.

Tốt nhất là chờ đợi đã!

Cũng nhanh chóng như khi theo tôi về nước, thằng Trung đồng ý ở lại chơi Saigon vài bữa để đi sau.

Đúng là đồ điên!

Vừa mới về được vài tiếng đồng hồ đã dở chứng.

Quyết định của nó càng củng cố quyết tâm của tôi.

Và tôi sẽ lên đường, càng sớm càng tốt.

Buổi tối hôm đó ăn cơm xong, tôi lảng ra phố một mình để cho gia đình nó nói chuyện riêng với nhau.

Ngồi uống một ly rau má năm hào, tôi vừa nhẩm tính số tiền còn lại trong túi.

Có tám mươi đồng tất cả.

Nếu chia đôi tôi sẽ chỉ còn bốn mươi đồng.

Không đủ tiền mua vé tàu Thống nhất là đương nhiên.

Lại còn tiền ăn uống trên tàu ba ngày ba đêm hành trình nữa (hồi đó tàu hỏa Nam Bắc chạy mất bảy hai tiếng).

Tôi thở dài...Chỉ có thể khởi hành càng sớm càng tốt.

Tình thế không cho phép trì hoãn thêm nữa.

Tết đã đến sát sau lưng rồi!

Nghĩ là làm!

Thằng Trung để hết tiền cho tôi rồi hẹn đi sau.

Tôi ra chợ mua một cái áo thun dân sự mất hai chục đồng.

Mặc luôn để tránh kiểm soát quân sự.

Còn lại sáu chục đồng.

Nói qua để các bạn dễ hình dung là sáu chục đồng hồi đó tương đương với 120 cái bánh mỳ không người lái (không có nhân) hoặc 45 bát phở.

Tối hôm sau, tôi bắt xe lam ra ga Bình Triệu rồi nhảy lên tàu đi lậu vé.

Chọn một chỗ trống gần toilet, tôi đặt ba lô lên giá rồi quan sát xung quanh.

Dưới gầm ghế, những sọt trái cây, những kiện hàng vải lấp đầy không có chỗ đặt chân.

Bên cạnh tôi, chủ nhân của những kiện hàng xuyên Việt là mấy chị tuổi đã sồn sồn chuyện trò như pháo rang.

Tàu rùng mình chuyển bánh rồi tăng dần tốc độ.

Đường ke, nhà chờ, phố xá lùi lại loang loáng.

Đúng là "đưa nhau lên tàu về quê em thấy vui hơn" thật!

Chỉ còn bảy mươi hai tiếng đồng hồ nữa là tôi sẽ gặp lại Hà nội, gặp lại những người thân yêu của tôi.

Rình rình...!

Kịch kịch...!

Tiếng bánh sắt reo lên ù ù giữa hai làn ray, điểm nhịp đều đều những khi vượt qua những đoạn nối.

Lập lách, tà vẹt, bù loong đinh ốc... tất thảy cùng ca lên bài hát hồi hương.

Suốt từ ga Nam Định về đến ga Hàng Cỏ, tôi cứ nghển cổ ngó ra ngoài.

Đồng đã cấy xong gần hết.

Sương chiều mùa đông mỏng và nhẹ như tấm voan trắng đục, dịu dàng quấn chân những rặng tre.

Đây ga Bình Lục, nơi chúng tôi tắt đồng từ đơn vị huấn luyện ra, nhảy lên toa chở đá trốn về nhà ba ngày sau khi được phát quân trang.

Mặc trên người bộ quần áo lính hồi đó về để lấy le với mấy đứa bạn gái cùng lớp.

Bộ quân phục (dù mới tinh) giống như một khẳng định rằng anh đã có một cuộc đời phong trần và lãng mạn lắm!

Khổ thân!

Mới 18 tuổi đầu đã biết chó gì đâu?

Ở nhà có khi mẹ vẫn phải giặt quần đùi hộ.

Thế mà ra đường vào quán ngênh ngáo bất cần lắm!

Rút điếu thuốc đang cắm ở miệng ra, vảy tàn thật điệu nghệ, viết vào không gian hai chữ: "...Biển ...

Nhớ ..." rồi quay sang hỏi cô bạn gái đang mắt tròn mắt dẹt bên cạnh rằng đấy là chữ gì?

Còn mồm miệng cố giữ vì suýt chết sặc khói thuốc...Đây ga Phủ Lý, nơi buổi chiều ngày 18/11/1978, chúng tôi lên tàu vào Nam đi chiến đấu giữa hai hàng vệ binh lê tuốt trần.

Bố Trung (lạy trời người vẫn mạnh khoẻ!) - bố của Tuấn Anh (c1-d4-e2) vốn làm tại phòng điều độ ga Hà Nội biết có đoàn tàu quân sự đón quân ở ga này, nên theo tàu vào tận nơi để kịp giúi cho mỗi thằng thêm ít tiền lộ phí.

Và cũng để lần cuối cùng trông thấy những đứa con có thể không bao giờ gặp lại nữa...

Những ga xép, những cột tín hiệu đường sắt, con đường nhựa loáng nước vùn vụt trôi qua.

Đã giăng giăng cả một trời mưa bụi, Lửa đèn, bếp đỏ nhoè dần trong buổi chiều ướt, trôi trong màn mưa mênh mông...

9 giờ 30 tối, con tàu mệt mỏi lừ đừ trườn vào ga Hàng Cỏ rồi dừng lại.

Tôi xuống tàu, đi ngược lại phía hẻm phố Sinh Từ tránh cửa soát vé.

Con hẻm này rất nguy hiểm vì nó cực hẹp, nơi bất cứ lúc nào cũng có thể có tàu chạy qua.

Lúc đó kể như rồi đời!

Chỉ có dân buôn lậu thông thuộc giờ tàu mới biết được đường này.

Thoát ra khỏi con hẻm tăm tối đó, tôi đặt chân lên vỉa hè Hà nội, ngửa mặt nhìn ngọn đèn đường giăng mờ mưa bụi rồi ngơ ngẩn cười.

Hẳn là nụ cười của tôi lúc đó ngô nghê giống hệt nụ cười của thằng Nhạ đại liên, khi nó sờ sờ tay vào cái lỗ thủng trên vành mũ bị đạn xuyên qua!

À ra không thể tin được thì người ta cười!

Mọi sự cứ như mơ!

Cách đây đúng một tuần, tôi đang còn nện "dép" trên vỉa hè Kampong Ch'nang, chờ xe trở về đơn vị...

Phố mùa đông buổi khuya vắng vẻ.

Dưới một gốc cây bàng, bà hàng ngô nướng đang nhanh tay quạt.

Mấy người khách bu quanh hơ tay trên ngọn than hồng.

Mùi thơm thật quen lan toả trong không gian tịch lặng.

Lạnh run cầm cập, tôi kéo dựng cổ áo lên, khoác ba lô đi men theo cầu đá Phùng Hưng.

Trèo đèo lội suối đã quen, bước chân anh lính chiến trên vỉa hè quê hương sao chuệnh choạng như say thế này?

Phố vẫn phố, cây vẫn cây mà sao như nhỏ bé hơn?

Hay bởi anh nhìn không gian rộng đã quen?

Hay bởi thành phố đang thu chật lại, ôm lấy đứa con phiêu linh trở về?

Cổng nhà mình đây rồi!

Ánh đèn ấm áp hắt mấy vệt qua khe cửa.

Tôi đặt ba lô xuống bậc tam cấp, ngồi phịch xuống rút một điếu thuốc ra hút, lặng lẽ so vai chống cằm nghe tiếng giọt gianh tí tách.

Hết điếu thuốc, tôi đứng dậy, sờ sờ cái nút đến chừng nửa phút trước khi bấm chuông.

Và vỡ oà trong nước mắt...!

Một cái Tết hậu phương thật đầm ấm.

Tôi đến thăm nhà từng người đồng đội cùng đơn vị kể chuyện, thông báo tình hình.

Tất nhiên là thằng nào cũng khoẻ như trâu cả!

Mọi người mừng hú!

Đến nhà nào các cụ cũng giữ lại ăn cơm, chiêu đãi thằng con (chắc là đói khát - trông mặt thì biết!) vừa ở chiến trường ra.

Có những câu chuyện có khi phải kể lại đến cả chục lần, hôm sau vẫn bị gọi đến hỏi lại :"Mày thấy nó như thế nào?

Gặp ở đâu?".

Có bác gái còn hỏi :" Thế các con ăn bằng thìa hay bằng đũa?","Có xà phòng giặt không?", thậm chí: "Đi đồng khi đang đánh nhau thì chúng mày làm thế nào?".

Tôi phải trả lời cả tỷ bài sát hạch như thế.

Lần nào cũng như lần nào, các bà mẹ cũng đưa tay chấm mắt.

Khổ quá!

Mới rời tí mẹ, ở nhà còn tranh ăn với em mà bây giờ đang giữa trời đạn lửa, xa lắc xa lơ tận u tì quốc thế kia..!

Rồi Tết cũng nhanh chóng trôi qua.

Cái gì ngon cũng thường nhanh hết!

Thế mới lạ !

Lông bông mãi rồi cũng chán.

Ở hẳn nhà thì biết làm gì?

Gạo và thực phẩm thì ăn ké gia đình.

Hồi đó thời bao cấp, toàn dân ăn gạo sổ, thịt phiếu, nước mắm bìa...

Chẳng có một đơn vị kinh tế hay xã hội nào chấp nhận một thằng lính tuột xích hết.

Ông tổ trưởng dân phố và công an khu vực thỉnh thoảng lại sang thăm, hỏi sao cháu về phép lâu thế?

Xỏ xiên phết!

Thực ra thì họ biết tỏng!

Đấy là họ còn nể gia đình truyền thống Cách mạng của tôi lắm đấy!

Chứ không thì gọi lên tiểu khu (phường bây giờ) làm việc lâu rồi.

Phải lên đường thôi!

Tháng 4, khi đang chuẩn bị trở về đơn vị thì tôi lên cơn sốt rét.

Lần này thì đúng là sốt rét thực sự.

Buổi chiều, tự nhiên người thấy ngây ngấy rồi ớn lạnh.

Cơn rét kéo đến rất nhanh, người cứ run cầm cập.

Tôi lôi tất hai cái chăn bông ra quấn vào người mà vẫn rung bần bật trên giường.

Cô em út mới mười tuổi, cùng bạn nó đến chơi thấy thế cuống quýt chạy quanh, không biết làm gì.

Tôi ra hiệu cho chúng nó ngồi đè cả lên người mà vẫn không hết run.

Một lúc sau, cơn run hết dần, nhường chỗ cho cơn sốt nóng.

Nóng từ trong nóng ra, nóng vã mồ hôi hột.

Trán bỏng cứ như lò than hồng.

Lúc này chúng nó phải lấy cả chậu nước lạnh, dấp khăn mặt vào đấy, thay liên tục đắp lên trán tôi.

Nhìn mặt thằng anh tái dại, con này cũng xanh xám mặt mày rồi khóc.

Nó chưa từng thấy sốt rét bao giờ.

Nay được chứng kiến con bệnh điển hình, khỏi cần tưởng tượng qua Giáo khoa thư lớp 4.

Sau khoảng hai tiếng đồng hồ chui qua "nước lạnh và lửa đỏ" tôi thẫn thờ ngồi dậy.

Người tỉnh táo dần, tôi thay cái áo ướt đẫm, lau qua người rồi tót ra ngoài đường.

Mấy thằng cùng lớp, chẳng hiểu sao lại không phải đi bộ đội đang ghếch chân trên xe đạp, huýt sáo chờ ngoài cổng.

Lại đi chơi như không có chuyện gì xảy ra...

Cứ cách một ngày, tôi lại lên cơn sốt một lần, vào đúng cái giờ ấy buổi chiều.

Dứt cơn lại có thể đi chơi được ngay, cứ như là giả vờ vậy!

Bố tôi bảo tôi bị sốt cách nhật.

Không nguy hiểm gì lắm, chỉ là sốt "nhớ", sốt phản xạ thôi!

Tôi lại phải uống Nivaquin như hồi trong đơn vị.

Trận sốt này kéo dài thêm thời gian ở nhà của tôi thêm một tháng nữa.

Rồi thời điểm lên đường cũng đã đến.

Mẹ tôi bán cái xe đạp nam Thống Nhất, tiêu chuẩn của người do gắp thăm được, lấy 245 đồng cho tôi làm lộ phí.

Bố tôi nhờ một đồng nghiệp ở quân y viện 108 lấy cho tôi một giấy cung cấp tài chính, một giấy ra viện.

Có hai cái "bổi" đại tướng này, tôi ung dung theo đoàn sỹ quan công binh của Bộ tư lệnh tiền phương mặt trận do chú Vĩnh dẫn đầu (trung tá Vĩnh - giờ làm hiệu trưởng trường dân lập Nguyễn Siêu tại Hà nội) lên đường sang Ph'nom Penh

Lại một hành trình thiên lý nữa trong coupé toa quân sự mà trong đó, các trung tá, thiếu tá luôn hỏi han những chuyện chiến trường K của chú lính binh nhất là tôi.

Có gì tôi kể hết.

Rằng đơn vị cháu đánh thế này, chạy thế này, chúng cháu núp ụ mối nhưng vẫn hô xung phong thế này...Thỉnh thoảng các chú ấy lại cười ầm lên.

Tôi thấy chẳng có gì đáng cười ở đây cả.

Chỉ thấy quãng đường đi lâu quá.

Thậm chí nằm ở Sài gòn mấy hôm tôi còn rất sốt ruột chỉ muốn khởi hành sang Campuchia ngay.

Không biết trung đoàn tôi bây giờ tác chiến ở đâu?

Đã gần năm tháng trời rồi!

Tình hình chiến sự không biết thế nào?

Chẳng nhớ gì về cái quãng đường này cả.

Khi đã quá bình yên và ổn thoả thì người ta lại chẳng nhớ gì hết nữa hay sao ấy?

Cuối cùng cũng sang đến Ph'nom Penh.

Bộ Tư lệnh Công binh đóng ở khu điện Chămcamon, cùng khu vực với Bộ chỉ huy tiền phương mặt trận.

Đây là nơi bố trí chỗ ở cho các đoàn ngoại giao, các đoàn khách của chính phủ cũ nên tuyệt đẹp và sang trọng về kiến trúc.

Các biệt thự hai tầng ngói đỏ xinh xắn với tầng hầm chứa rượu vang ốp đá tự nhiên, nằm xen kẽ giữa những vườn cây trái xanh mát.

Những lối đi trải sỏi trắng duyên dáng ẩn mình trong hương xoài, hương vú sữa chín.

Trong phòng, máy điều hoà nhiệt độ chạy êm ru.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi mới biết thế nào là máy lạnh.

Ở Bộ tư lệnh Công binh cũng có hai thằng lính thông tin người Nghệ an, nhưng là thông tin 15W.

Mấy ngày ở đấy, tôi ăn cùng mâm, ngủ cùng phòng với chúng nó nhưng chẳng nói chuyện gì nhiều.

Có lẽ bởi tôi thấy chúng nó sướng quá!

Cứ nhìn thấy chúng nó gửi những bộ quân phục mới tinh cho người quen mang về nước do mặc không hết thì đủ biết.

Có đánh nhau chó bao giờ đâu mà rách áo!

Tôi nhớ những bộ áo trận sỹ lâm trứ danh của tiểu đoàn 4 mà không khỏi chạnh lòng.

Cảm giác ghen tỵ là có thật.

Mẹ kiếp!

Cùng là lính như nhau sao có thằng sướng thế?

Có thằng khổ thế?

Giải thích bằng sự phân công của xã hội, như con Mèo phòng Khách với con Mèo nhà Bếp trong câu chuyện của Anderxen chăng?

Tôi thì tôi cho rằng mặt mũi cũng như những câu chuyện của ông này nghe thì có vẻ hiền hậu, nhưng thực ra cũng thâm nho nhọ đít ra phết!

Ph'nom Penh đang đổ mưa chiều.

Tôi vén rèm cửa, nhìn ra khu vườn đẫm nước.

Chỉ vài hôm nữa thôi, những giọt nước kia sẽ dội lên vai tôi trong những cánh rừng nào?

Sau khi hỏi thông tin ở Bộ tư lệnh mặt trận, chú Vĩnh cho tôi biết sư đoàn 9 vẫn đứng chân tại sân bay Kampong Ch'nang. (Nói thêm một chút cho rõ - chú ấy là một người bạn của gia đình tôi).

Thế là tốt rồi!

Ngày lên đường đã đến.

Tôi đi cùng đoàn BTL công binh đến bến phà P'reck Dam thì chú cháu chia tay nhau.

Các chú ấy qua sông, theo đường 6 đi P'ret Vihia.

Nghe nói ở đó có cái đền gì trên núi to lắm mà ta với địch đang choảng nhau dữ dội.

Còn tôi theo lộ 5, con đường cũ quen thuộc để trở về đơn vị.

Con đường này trước kia hoang vắng là thế nhưng bây giờ đã có rất nhiều xe qua lại.

Xe hậu cần của bộ đội mình, xe khách của dân bạn...Những chiếc xe dân sự lèn chặt người.

Trong xe không còn thở được nữa thì người ta trèo lên nóc.

Các bạn xem TV, thấy những chuyến xe đò ở Phi châu thế nào thì ở đây cũng tùy tiện, bản năng và đầy màu sắc như thế.

Hành khách, hàng hóa, thùng can ngất ngưởng lắc lư, kẽo kẹt suốt hành trình như say rượu.

Mà dân bạn sống cũng hồn hậu và thực thà.

Ai vẫy xe cũng dừng, trừ khi không chở thêm được nữa thì thôi.

Ai đưa chừng nào tiền cũng được, và hầu như không có chuyện lẩn trốn quỵt tiền vé.

Hoàn toàn không giống cách ứng xử của các quái khách cũng như mấy chú phụ xe nhà mình.

Trên một chuyến xe như thế, tôi về đến thị xã Kampong Ch'nang vào lúc 2 giờ chiều.

Tất nhiên là miễn phí tiền vé!

Ai lại đi thu tiền của bộ đội Việt nam bao giờ?

Lần về đến cứ Sư đoàn tại sân bay thị xã, tôi lại gặp may.

Đang ngáo ngơ tìm về T9 (trạm tiếp đón) thì nghe tiếng gọi rất quen trong một cái lán.

Sục vào, gặp ngay anh Lược chính trị viên đại đội 1.

Anh ấy đang dự lớp tập huấn chính trị, vừa kết thúc thời gian, mai trở về trung đoàn.

Anh em gặp nhau mừng quá!

Anh ấy kéo tôi đi ăn cơm ở bếp tập huấn rồi về lán mắc võng nói chyện gần như suốt cả đêm.

Qua câu chuyện, tôi được biết anh Sơn tiểu đoàn trưởng đã trở về đơn vị.

Tiểu đoàn tôi vào phum Kbal Tea Héal, đang xây dựng doanh trại nơi trú quân để đứng chân lâu dài.

Nhiệm vụ của Trung đoàn là đứng chân tại vùng đệm Bâmnak, làm lực lượng cơ động sẵn sàng chi viện cho mặt trận Tây Biển Hồ khi cần.

Về phần mình, tôi nói đại là nằm viện sốt lâu quá nên được chuyển về viện Quân y 108.

Anh ấy nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi bật cười bảo rằng mày chắc phải được lên tướng rồi mới có tiêu chuẩn vượt cấp ấy.

Chứ còn sốt ác tính kịch liệt lắm thì cũng chỉ đi đến viện quân y 175 là kịch trần.

Tôi cười trừ, thôi anh muốn hiểu thế nào thì hiểu!

Chứ còn em đã về đây rồi!

Em lại đi với đại đội 1 của anh như truyền thống.

Cũng như khi trở về nhà, tôi sốt ruột ghê gớm, chỉ mong sao trời mau sáng.

Đêm đó là đêm đầu tiên sau 5 tháng, tôi lại bắt đầu ngủ võng.

Nhưng nào có ngủ được đâu?

Nằm thao thức bồn chồn suốt.

Chỉ tối ngày mai thôi, là tôi sẽ gặp trung đội thông tin của mình, tiểu đoàn 4 của mình.

Trên cái xứ sở xa lạ này, đơn vị chính là gia đình tôi, ngôi nhà thân thương của tôi.

Sáng hôm sau, trừ những đơn vị trực thuộc đóng quanh Sư đoàn bộ thì cán bộ chính trị tự túc phương tiện.

Số còn lại lên tất thùng mấy chiếc xe tải, theo lộ 27 chạy vào ga Rômeas.

Các trung đoàn bộ binh e1, e2, e3 đóng dọc đường sắt - như một vành đai an toàn ngăn giữa dãy núi Ô Răng và đồng bằng ven biển Hồ.

Mới có một năm trời mà đã biết bao điều thay đổi trên đất nước này.

Dân đã về sống quanh những phum dọc theo lộ 27.

Đồng ruộng xanh mát một màu xanh của lúa.

Đường sắt đã bắt đầu hoạt động tuyến Ph'nom Penh – Battambang, nối liền thủ đô với thành phố miền biên viễn.

Thật không thể tưởng tượng sao đất nước này lại có thể đổi thay với tốc độ nhanh chóng đến như thế!

Cứ như rừng nhiệt đới gặp lại mùa mưa vậy!

Đây trận địa pháo của trung đoàn 42 cũ.

Các hầm pháo đã xập xệ, các chiến hào sụt đất cỏ phủ xanh um.

Nhà ga Rômeas vẫn thế.

Trên các bức tường, trên các thân cây keo cổ thụ vẫn lỗ chỗ vết đạn, tứa nhựa vàng quánh.

Vài mảng tường thủng toang hoác do bị B.41 hoặc DKZ của Trung đoàn 1 tương vào trong trận tiến công đánh chiếm năm ngoái.

Chóp ngọn núi thấp phía tây vẫn trọc tếch trên đỉnh vì bị pháo ta dội vào.

Ở đấy, rừng vẫn chưa kịp tái sinh.

Chỉ có mỗi điều khác là nhiều người quá.

Dân nắm ngồi vạ vật chờ tàu đi buôn.

Trong số đó rất nhiều phụ nữ nữa.

Phải là những kẻ bạt mạng lắm mới có thể dám đi buôn trên tuyến đường sắt này vì địch vẫn đánh cắt, phục kích liên tục.

Nhưng hàng tiêu dùng Thailand đang hút.

Mấy năm trời cúi mặt xuống đất ruộng làm thuỷ lợi công xã, làm cỏ lúa...Lúc nào cũng chuẩn bị đón nhận một nhát cuốc gọi hồn đập vào gáy.

Bây giờ tự do thoải mái quá!

Hàng hoá của một thời thanh bình tràn ngập nên ai cũng háo hức muốn mua một chút gì đấy.

Như là muốn sở hữu, muốn khẳng định cuộc sống mới của mình qua món hàng bé nhỏ cầm trên tay.

Sướng nhé!

Cứ vô tư đi!

Giữa trưa thì tàu đến.

Có khoảng gần chục toa đen (không có các toa hành khách) chật cứng người.

Chúng tôi nhảy đại lên một toa, kiếm cho mình một chỗ, ngồi phệt xuống sàn tàu.

Mấy em, mấy chị đi buôn giạt ra, nhường thêm một khoảng nhỏ cho lính.

Trong đám đó có một cô khá xinh.

Gặp ánh mắt của tôi, em gái ấy vội lảng nhìn sang chỗ khác rồi kín đáo thu cái túi xách nhỏ vào trong lòng.

Tôi thấy hơi chạnh lòng vì cái hành động cảnh giác ấy.

Nhưng theo anh Lược, hành động đấy có lý do của nó.

Tầu đã chạy từ tháng ba.

Trong khoảng thời gian vừa rồi, trên những chuyến tàu ngược Battambang này có những kẻ mặc quân phục bộ đội Việt nam với đầy đủ súng ống.

Đến một địa điểm thuận lợi nào đó, sau khi đã quan sát, đánh giá con mồi, chúng liền ra tay cướp sạch tiền, vàng của dân buôn trong những chuyến tàu ngược.

Hành động mau lẹ xong xuôi, bọn cướp ấy nhanh chóng biến mất trong những khu rừng ven đường sắt sau những cú phi thân nhảy tàu điệu nghệ.

Tôi nghiêng về giả thiết đấy là những thằng lính đào ngũ của quân ta hơn là địch đóng giả.

Vì thủ đoạn như thế, những cú nhảy tàu "lá vàng rơi" như thế thì chỉ có dân Việt ta thôi.

Dân buôn Ph'nom Penh nhiều nhà đã mất sạch vàng, sạt nghiệp trong những chuyến buôn đánh đu với tử thần như thế này.

Nhưng vì lãi lớn quá, kiếm dễ quá nên người ta cứ lao vào như thiêu thân, bất chấp mạng sống.

Thôi có gan thì làm giàu!

Khoảng 3h, chúng tôi xuống ga Bâmnak.

Mấy anh em cán bộ tiểu đoàn 4 gom nhau lại cùng về đơn vị.

Từ ga vào đến căn cứ tiểu đoàn 4 phum K'bal Tea heal mất 7 km.

Tôi cứ xăm xăm rảo bước đi trước.

Đây kẹp núi Pean Sas, chỗ ngủ chung với địch năm ngoái.

Bây giờ là doanh trại của đại đội 3.

Những ngôi nhà do lính ta dựng nằm thấp thoáng trong rừng dầu.

Mái lợp gianh còn mới, vàng hươm.

Đại đội này được bố trí phía sau, nằm chẹn giữa con đường từ trung đoàn bộ xuống tiểu đoàn 4.

Qua khỏi đại đội 3 một đoạn, các anh ấy dẫn tôi tạt sang trái, qua phum hoang "nhà dài" theo đường mòn vào suối Damrey.

Đội hình tiểu đoàn đóng dọc theo bờ suối.

Khẩu DK .82 đại đội 4 nằm ở ngay khúc quanh đầu tiên.

Chúng tôi vào sát tận công sự pháo cũng chẳng thấy ai hỏi han phát hiện gì.

Điều này chứng tỏ tình hình cũng đã yên bình trở lại.

Thôi thế là mừng rồi!

Mấy anh em tạt vào lán DK ngồi uống nước nghỉ chân.

Đây là vị trí "tiền tiêu" trên con đường giao thông giữa tiểu đoàn- trung đoàn.

Như một cái trạm tiếp đón, ai đi qua cũng tạt vào làm hớp nước, điếu thuốc rê.

Không thấy thằng Mẫn tiểu đội trưởng đâu vì lúc đó nó đi thăm bẫy thú.

Thằng Hùng lé- nhà ở Ái mộ, Gia lâm đang nằm võng thấy tôi vùng dậy.

Thằng này có ngón đàn bầu tuyệt hay, về sau được móc lên đội văn nghệ Sư đoàn.

Tiêu chuẩn đặc biệt được dọn ra ngay.

Nước lá và dây đồng tiền lông chúng nó cô đặc lại, trữ trong bi đông bây giờ mới được mang ra.

Thóc đâu mà đãi gà rừng?

Ai đi qua "trạm" này cũng có tiêu chuẩn thế này thì "sạt nghiệp" kiếm củi kiếm lá đun nước hầu hạ à?

Tôi móc ba lô, để lại vài ba ấm chè, mấy điếu thuốc Tam Đảo gọi là chút quà quê miền Bắc rồi đi ngay.

Anh Lược, anh Bình cò với mấy ông chính trị viên nữa thì ở lại chờ xem thằng Mẫn có vớ được con gì hay hay không để gây độ nhậu.

Đường trong đội hình quanh co nhưng được làm lan can dẫn hướng bằng những thân cây le nên rất dễ tìm.

Doanh trại đang trong thời kỳ củng cố nên khá khang trang.

Các lối đi cỏ đã được dọn sạch.

Tiếp một cái lán nữa.

Đây là khẩu 12.8mm đại đội 4, nòng quay ra hướng bìa rừng.

Từ khi mất súng trong trận đại đội 1 tan tác, trung đoàn cũng không bổ sung cho tiểu đoàn 4 thêm khẩu 12.8mm nào thêm nữa.

Với lại cũng không còn đủ người.

Chúng nó lôi tôi vào uống nước, hỏi han cả nghìn tỷ câu chuyện.

Lại mấy thằng bên cối 82mm thấy thế cũng lội suối mò sang.

Trời ạ!

Mấy cái lán của tiểu đoàn bộ kia rồi!

Sốt ruột bỏ mẹ!

Hỏi gì mà hỏi lắm thế?

Tôi để lại thêm mấy ấm trà, nửa bao thuốc còn dở rôi đánh bài chuồn, nửa đi nửa chạy về trung đội.

Tiểu đoàn bộ đóng quân ven suối, dưới một cây xoài mút cổ thụ.

Những ngôi nhà nhỏ nằm rải rác ôm lấy một sân bóng chuyền tự tạo.

Lưới vẫn còn căng trên cột.

Trung đội thông tin nằm mé trái, sát rặng le bên con suối nước tù nhưng rất sâu.

Tả qua về những cái nhà, nơi chúng tôi sống suốt 2 năm trời một chút để các bạn hình dung.

Nhà thường ba gian, chiều ngang hơn 3m, dài 7m là tối đa.

Cột nhà thì ra rừng dầu chặt những cây thẳng, đường kính chừng 15 cm là ngon.

Vì kèo cùng loại gỗ đó nhưng nhỏ hơn, Cũng thượng thu hạ thách, cũng chống đứng, chống xiên, mộng mẹo cẩn thận.

Rui, mè bằng tre tầm vông loại như cổ tay là vừa.

Còn lá lợp thì ra ruộng xen rừng, bắt chước dân bạn làm thang leo bằng thân tre, leo lên những cây thốt nốt chặt lá.

Mang về đan thành từng tấm, chèn đá ngâm suối chống mọt hẳn hoi rồi mới lợp.

Vách cũng bằng lá thốt nốt hoặc đánh gianh thưng, kiểu như vách những ngôi nhà nhỏ miền quê đồng bằng sông Tiền sông Hậu.

Sang hơn nữa thì được ốp ván dầu, vản thông do lính ta kỳ công vào những phum không người ở dỡ ra mang về.

Hình thức những căn nhà này nói chung phụ thuộc trình độ khéo tay, trình độ "thẩm mỹ" của các "kiến trúc sư".

Các căn nhà trong đội hình được nối với nhau bằng những lối đi rẫy cỏ sạch sẽ.

Hai bên lối đi, hai hàng lan can làm bằng những cây le chạy song song trông rất đẹp mắt.

Cũng cầu tắm suối với các bậc lên xuống được lát thân gỗ.

Cũng vườn rau cải, rau muống xanh um.

Phía lán anh nuôi sát bờ suối, khói bếp vấn vít quanh bụi tre trong buổi chiều tà.

Nước mình đã ba mươi năm chiến tranh.

Những người lính quen chiến trận đã đành.

Họ còn rất tháo vát trong việc tổ chức cuộc sống.

Thằng anh dạy thằng em, thằng lính cũ dạy thằng lính mới...Cứ thế, cả cái "quần thể kiến trúc" này mọc lên mà tình quê hương quấn quít hiển hiện trên từng múi lạt buộc.

Trông chẳng khác như một cái xóm nước Việt ấm áp nằm giữa đại ngàn.

Anh Nhương với thằng Ban trố đang ngồi cởi trần chẻ lạt le, thấy tôi liền quăng con dao đứng dậy lôi sềnh sệch vào trong "nhà".

Câu đầu tiên cha ấy hỏi tôi không phải hỏi thăm sức khoẻ hay giấy tờ mà là :"Có trà bắc, thuốc lá bắc không?

Đưa đây!".

Tất nhiên là có, dù ít.

Thế là anh ấy móc cái gói ấy ra, đưa cho thằng Ban trố cất đi.

Buổi tối, trung đội thông tin vui như tết.

Bọn nó kéo đến đầy nhà uống hớp trà, làm hơi thuốc thơm hỏi chuyện Việt nam tào lao.

Anh Bình cháo quân lực cũng sang chơi.

Tiện thể tôi nộp luôn giấy ra viện, giấy cung cấp tài chính.

Anh ấy chỉ xem qua rồi cất đi, chẳng thèm hỏi han thêm một câu nào.

Tôi được biết anh Sơn tiểu đoàn trưởng sau thời gian đi viện đã trở về đơn vị.

Anh Được - người Hà Bắc về thay anh Thành làm chính trị viên tiểu đoàn.

Dưới đại đội 1, đại đội mà tôi hay đi máy, cán bộ vẫn là anh Chính tréc, anh Bình cò...Từ khi có tàu chạy ngoài Bâmnak, do đi lại thuận tiện hơn nên đơn vị đã có một số thằng đào ngũ.

Lạ lùng thật!

Mới nửa năm trước đánh nhau ác liệt như thế mà chẳng có thằng nào bùng.

Bây giờ tình hình tạm êm êm rồi lại thi nhau chuồn.

Có đứa ra đi lại còn chôm sạch đồ của anh em nữa.

Chả hiểu ra làm sao cả?

Nhưng những thắc mắc ấy cũng nhanh chóng chìm đi trong cơn buồn ngủ đang đến sau một chặng đường mệt nhọc.

Đêm ấy, tôi đã ngủ một giấc thật ngon!

Tôi được anh Nhương cho nghỉ ba hôm rồi lại xuống phối thuộc dưới đại đội 2.

Bây giờ là tháng 6 năm 1980, đang mùa mưa.

Một buổi chiều, đang chuẩn bị mưa thì từ phía đường sắt dội lên những tiếng nổ rất lớn.

Chỉ có thể là tiếng DK thôi, tôi nghĩ thế!

Những tiếng nổ lẫn trong tiếng sấm ầm ì nhưng vẫn phân biệt được rất rõ.

Chưa kịp nấu xong nồi nước hà thủ ô thì tiểu đoàn gọi xuống kêu đại đội 2 vận động ngay.

Trung đoàn thông báo địch đánh cắt đường tàu tại kẹp núi tiểu đoàn 5.

Đại đội 2 gần nơi xảy ra chiến sự nhất, có trách nhiệm vận động theo hướng tây bắc, phía sau lưng đường sắt, chẹn đường rút của địch vào trong núi.

Cả đại đội lao đi trong trời mưa bắt đầu nặng hạt.

Chúng tôi đến điểm quy định sau đúng 1 tiếng rưỡi đồng hồ.

Mưa sầm trời tối đất.

Mới ba bốn giờ chiều mà trời đen kịt cứ như sắp sửa vào đêm.

Đường bò ngang dọc, nhưng nào thấy có bóng thằng địch nào?

Mưa đã xoá hết những dấu vết trên đường.

Lại có lệnh cắt vuông góc với đường sắt, đến thẳng điểm phục kích của địch.

Đến gần đường sắt, cả đại đội triển khai thành ba mũi cứ thế song song tiến lên.

Vừa ra đến cửa rừng, đại đội 2 bắn bắt liên lạc với tiểu đoàn 5 đã vận động lên dọc đường sắt theo hiệp đồng.

Dân buôn sống sót nghe tiếng súng, tưởng địch tấn công một lần nữa liền quăng hết đồ, nhao hết sang phía bên kia đường sắt, kêu khóc như di.

Một khung cảnh tan hoang hiện ra.

Đoàn tàu nằm chết gí trên đường ray nhưng không đổ.

Hai toa sát đầu máy trúng đạn DK.82 của địch thủng sườn toang hoác.

Thịt xương, nội tạng, máu me nhoè nhoẹt trong nước mưa, lê lết theo quán tính tàu chạy thành một vệt đỏ thẫm trên đường.

Như tôi đã kể với các bạn ở phần trước - những chuyến tàu, chuyến xe trên đất bạn trong thời gian này thường lèn chặt người.

Nhiều người trong số đó do quá sợ hãi, ngã xuống từ trên nóc toa, từ các chỗ nối khi trận phục kích xảy ra.

Thân thể bị cán đứt đôi, đứt ba.

Hàng hoá quăng la liệt tung toé.

Nhiều thằng lính cúi xuống tháo trộm nhẫn, đồng hồ trên những cánh tay người chết.

Quẹt qua quẹt lại cho sạch máu rồi đút vào túi quần.

Chết rồi thì dùng làm gì cho mệt?

Tôi cũng để ý nhưng chẳng nhặt được chiếc đồng hồ nào.

Phải nói bọn chó Pôn Pốt này khốn nạn thật!

Dùng pháo chống tăng tương thẳng vào đồng bào mình thì không biết bài này chúng nó học được từ đâu?

Kể từ đó, tiểu đoàn 5 có thêm nhiệm vụ rải quân chốt đường sắt, đoạn từ ga Bâmnak đến ga Kâm rênh.

Còn các cung khác thuộc đơn vị bạn.

Các tổ chốt mỗi tổ ba người cách nhau khoảng 250m, trên đoạn đường dài 6 km.

Đến khi nào tàu chạy qua mới được rút quân.

Tiểu đoàn 4 ở sâu trong núi, hằng ngày đưa một trung đội bộ binh nằm phục ở những điểm nghi địch sẽ đi qua để mò ra đường sắt.

Địch thì không thấy.

Chỉ thấy dân sống quanh ga đánh xe bò vào rừng lấy gỗ.

Trung đội phục lộ vị trí, đành xua họ về vì sợ địch trong dân liên lạc với bọn ngoài rừng.

Có vẻ như có nội gián vì suốt hơn một tháng trời địch ngừng hoạt động.

Dường như mọi thủ đoạn đánh địch của ta nó đều nắm được.

Các trung đội phục thay nhau, ngày nào cũng dầm mưa bợt bạt hết người mà vẫn không có kết quả.

Nản chí, nhiều bọn đi phục chỉ ra khỏi đội hình hai ba cây số, tìm chỗ nào đẹp đẹp, có suối là dừng lại.

Chúng nó tổ chức đánh cá, nấu cơm ăn với nhau rồi rúc bụi căng võng ngủ khò khò.

Tiểu đoàn có điện hỏi thì thằng thông tin đi theo trung đội vẫn cứ leo lẻo rằng đang nằm ở đây, ở đó theo ý đồ tác chiến.

Nói thể để thấy rằng thời đó ý thức tác chiến của một số cán bộ cấp trung đội còn kém, a dua theo mấy ông lính cũ nhập ngũ năm 74, năm 75.

Các cha lính cũ này không nhận nhiệm vụ.

Giao tiểu đội trưởng không nhận.

Trung đội trưởng cũng không nốt.

Chỉ suốt đời đòi làm lính trơn mong phục một suất ra quân.

Cứ đủng đà đủng đỉnh.

Đi càn thì trận đi trận không, toàn đùn cho đàn em vì cứ cáo ốm suốt.

Lên quân hàm theo năm nên rất nhiều thượng sĩ "già" làm lính trơn hoặc làm anh nuôi.

Đơn vị đánh nhau, quân số hao mòn nghiêm trọng mà chưa kịp bổ sung.

Thành ra có cán bộ trung đội có khi mới chỉ là trung sỹ phải chỉ huy các bác thượng sỹ này đâm ra khó ăn khó nói.

Cán bộ đại đội cũng nhập ngũ vào khoảng những năm ấy.

Và thường là cùng đoàn nên nể nang, mặc kệ.

Các bác này tụ tập với nhau trong cái xã hội của lính.

Khoẻ thì cùng khoẻ trong những đợt truy quét ngắn.

Ốm cùng ốm (tất nhiên mỗi người một bệnh) trong những đợt truy quét dài Ấy thế mà hôm nào có thằng em dại săn được con gì ngon ngon (mặc dù đang ốm liệt giường liệt chiếu?) là mắt sáng trưng như đèn pha.

Lập tức tung tấm đắp vùng dậy chạy xuống tận nơi chỉ bảo là em phải cạo lông như thế này, làm lòng như thế kia!

Tôi khó chịu với mấy cha này nhất.

Mẹ kiếp!

Đã là lính tráng thì phải bình đẳng như nhau chứ!

Đừng có chơi trèo!

Đến cuối tháng 8, đầu tháng 9, địch lại đánh đường sắt, kết hợp quấy rối trên lộ 28.

Con lộ này từ ga Kâm rênh đi ra thị trấn K'ra Ko ngoài đường 5.

Quy mô chiến sự nhỏ lẻ, không có quy luật nào hết.

Kiểu đó chỉ có thể là bọn địch trong dân hoạt động chiến tranh du kích.

Trung đoàn rút đại đội 2 tiểu đoàn 4 do anh Hải đại đội trưởng chỉ huy, đi hoạt động độc lập dọc tuyến lộ này.

Anh Hải quê Quảng ninh, dân vùng than thứ thiệt.

To, cao, tất nhiên là đen và cằm vuông như Từ Hải.

Rất đào hoa và thương lính!

Nhậu và đánh nhau thì rất lỳ.

Hồi ở ven Tôn lê Sáp, trước khi ra Ô đôngk phối thuộc với trung đoàn 3 đánh địch thông lộ 5, tôi với anh Ky vẫn đi máy theo đại đội 2.

Chúng tôi ở trong một cái phum toàn là phụ nữ với gái goá, như cái phum Chay Rum sau này ngoài thị trấn Pon Ley.

Trong đó có nhiều cô rất xinh gái.

Một buổi trưa, tôi mò ra chỗ con lạch nhỏ kín đáo, trèo lên cái cây me to rậm lá.

Chỗ này là chỗ yêu thích của tôi để sử dụng nó, như sử dụng cái cầu cá, cầu tõm Hà nam ninh hay Nam bộ vậy.

Chưa dứt cơn sướng đứng hàng thứ nhì sau cái sướng của ông quận công, mặt nước lạch bỗng dưng cồn sóng.

Một cái xuồng nhỏ do một cô gái chèo tấp vào trong bụi cây thấp, gần sát dưới cái cây chỗ tôi đang ngồi.

Trên xuồng, anh Hải và cái cô da bánh mật hay đến giặt đồ cho anh ấy thay thằng kiên lạc lập tức quấn lấy nhau.

Họ đam mê cuồng nhiệt quá nên không biết giời đất quỷ thần là gì nữa!

Cái xuồng nửa trên mặt bùn nửa dưới nước cứ lắc lư, dập dềnh tôm cá suốt.

Tôi năm đó mới 19 tuổi.

Chỉ mới thấy người ta hôn nhau trên phim Liên xô xem trong các rạp Đại Đồng, Bắc Đô mà thôi, chứ có biết yêu đương tán tỉnh là cái quái gì đâu?

Nay bất ngờ chứng kiến cảnh này nên mồm cứ há hốc.

Vừa thích, vừa sợ và xấu hổ nữa!

Nỗi buồn từ rốn trở xuống biến đâu mất.

Cũng không dám kéo thắt lưng lên vì sợ bị lộ.

Thành ra cả ba đều ở trong cái tư thế lộ thiên rất trớ trêu.

Mà trong tình thế đó, tôi là thằng trớ trêu nhất!

Khó chịu nhất!

Khổ cái thân tôi quá!

Cơn "địa chấn" qua đi, chị chàng đờ người ra, ngửa cổ mỉm cười hạnh phúc thì trông thấy tôi trên cành me liền kêu rú lên.

Anh Hải quay ngoắt lại, nhặt khẩu K.54 lăn lóc trên sàn xuồng, lăn ra định thực hành động tác nằm bắn.

Tôi hoảng quá la lên :"Em đây mà!

Em đây!".

Anh ấy định thần, nhận ra tình thế của tôi thì bật cười lớn, trùm cái áo lính lên cô nàng đang run cầm cập rồi cứ thế nhảy tót xuống nước, chổng mông đẩy xuồng đưa nàng phóng chạy.

Từ đó, dù không nói gì về chuyện này nhưng hai anh em cứ nhìn thấy nhau là bật cười.

Kể cả đang lúc họp quân chính hay phổ biến nhiệm vụ rất nghiêm trang.

Bây giờ thì anh ấy hy sinh rồi các bạn ạ!

Hy sinh đúng vào cái trận thông đường 28 này.

Lúc đại đội 2 trở về qua cái kẹp núi Tuk S'ra vào buổi chiều gần tối.

Một viên đạn bắn tỉa - viên duy nhất của địch bắn từ sườn núi đi qua phần trên bụng anh ấy.

Chúng nó nhằm vào người không mang súng dài.

Một trung đội lao lên như điên cuồng nhưng nào thấy gì nữa!

Băng bó xong, Tất cả anh em thay phiên nhau võng anh ấy chạy gằn, cắt chéo đường về thẳng trung đoàn bộ.

Nhưng muộn mất rồi!

Đến gần phum Tà-chét thì anh ấy tắt thở.

Cả đại đội dừng lại chút xíu rồi lững thững, vật vờ đi trong đêm.

Một thằng nào đó chĩa súng lên trời kéo một điểm xạ hết trọn băng đạn.

Một số khác bắn theo.

Xin đừng hiểu đấy là lời vĩnh biệt đồng đội như trong phim.

Đơn giản do uất quá, hận quá thôi!

Như là vừa bị vả trộm một cái hộc máu mồm, nhưng không biết thằng vả mình là đứa nào?

Đêm hôm ấy, khi biết tin anh Hải hy sinh, dày dạn như anh Sơn tiểu đoàn cũng phải bật khóc!

(Đôi lời cảm nhận của một bác trong diễn đàn - Ở mặt trận tui ít bị dính đạn nhọn lắm, anh em hi sinh chủ yếu là mìn.Mìn nhiều lọai lắm nào là KP2,k58,mìn lá,thậm chí cả đạn cối 82,60 li cũng có nửa.Chốt ở các cao điểm lình ta thi thỏang bị dính đạn cối gài bẩy cũa tụi nó.Mổi lần lên xuống lấy nước lấy thực phẩm là bị,lên đồi xuống đồi, qui luật chung là chúng ta phải níu các cây rừng ở vừa tầm với.Chúng nó gắn ngòi nổ vào, tháo chốt an tòan, gá trái đạn trên 1 chạc ba cây trên cao, ta vừa níu cây1 cái,quả đạn rơi xuống thẳng đứng thế là nổ.Sát thương ghê gớm lắm các anh ạ, có khi cả tổ gùi nước 6,7 đc đều bị chết và bị thương hết.Còn mìn KP2 chúng có hai cách gài là đạp nổ và vướng dây nổ lọai nầy nếu đá phải thì 2 đc đi đầu ngõm là cái chắc.Nó nẩy lên khỏang 1m-1m5 mới nổ lính ta gùi nặng nên lưng khòm ,dầu cúi nên vướng rồi tan khói ra hai phần ba đầu và mặt bay mất tiêu.Còn K58 thì anh nào đạp thì anh đó bị ,chũ yếu là mất nguyêng 1 khúc chân,còn mìn lá thì mùa khô chúng hay dùng để chống lại dân bạn mà ta huy động để phát quang mỡ đường,đôi khi ta cũng bị dính,nó tròn và dẹp đường kính khỏang 4cm màu nó tiệp với màu lá khô vỏ bằng nhựa máy rà không rà được. lính ta dùng chổi quét lá dồn lại một đống lớn rồi đốt lá nếu có nó thì cho nổ luôn, lọai nầy đạp phải là mất 1 nửa bàn chân.Tôi nói về MT479 vùng biên giới THái-CPC đó các bạn ạ. )

Anh Hải hy sinh rồi.

Cán bộ đại đội thiếu nghiêm trọng.

Không hiểu sao Ban cán bộ trung đoàn chưa chuẩn bị được người thay thế.

Hoặc cũng có thể vì mọi người ngán cái tiếng "sát cán bộ" của tiểu đoàn 4 chăng?

Anh Sơn, anh Được chính trị viên phải động viên mãi, Cáp đen - đương nhiệm anh nuôi đại đội 2, quân hàm thượng sỹ mới nhận chức vụ đại đội phó.

Anh Cáp vào cùng đoàn Quảng ninh, lính 74 như anh Hải.

Trong trận thông đường ở Ô Đôngk, khi đi đưa cơm cho đại đội 2 từ hồ "Thiên nga" về.

Thấy lính tiểu đoàn 8 cứ lom khom bò dưới chân lộ khi địch bắn rát, trong khi cán bộ trung đoàn thì vẫn đứng trực tiếp chỉ huy mấy khẩu đội DKZ.75 ngay trên mặt lộ.

Bố này ngứa mắt quá, tự nhiên nổi hứng mới quát :" Lính tráng cà chớn?

Mới thế mà đã chúi thì đánh đấm gì?".

Bộ dạng cao lớn lòng khòng trong bộ quần áo vàng đất còn dính nhọ nồi.

Tóc tai thì dài cợp, bờm xờm phủ xuống trùm gáy.

Cứ như một nhân vật từ "Thuỷ Hử" từ rừng xanh vừa bước ra đường.

Bộ đội tiểu đoàn 8 lúc đấy mới nhổm hết cả dậy.

Bên trung đoàn 3 xì xào hỏi nhau đấy là ai thì nhận được câu trả lời luôn :" Nó là thằng anh nuôi tiểu đoàn 4 ấy mà!".

Câu chuyện thủ trưởng trung đoàn 3 mắng lính.

Lấy câu chuyện đại đội 2 đánh rẽ vây mấy lượt cho d8 để làm gương và chuyện hôm ấy của Cáp đen về sau trở thành giai thoại.

Mỗi một đơn vị đều có một "thương hiệu" riêng đấy các bạn ạ!

Có thể địch cũng biết rõ "thương hiệu" lỳ của trung đoàn tôi từ hồi chiến tranh biên giới kia.

Nên khi trung đoàn tôi đứng chân ở đâu, chúng nó cũng ít tập kích hơn các đơn vị khác.

Lên làm cán bộ chỉ huy đại đội rồi, chất "Lương sơn bạc" của anh này vẫn thế.

Anh Được bảo viết đơn xin vào Đảng, bác này dềnh dàng mãi.

Sau thì bệ nguyên lá đơn mẫu của ai đó, sai thằng cu liên lạc viết lại.

Chỉ thay mỗi tên tuổi quê quán...rồi ký đại.

Đi họp quân chính tiểu đoàn thỉnh thoảng vẫn chơi nguyên cái bộ quân phục vàng đất từ "thuở hàn vi" anh nuôi nhọ đít đó.

Mấy ông "chính tắc" có nhắc thì gân cổ lên vặn lại luôn :" Ơ này!

Ông tưởng địch nó phát cho tôi bộ này chắc?" rồi cười hơ hớ.

Nói về cái bộ quân phục có màu đặc biệt này một chút.

Thời đó trong kỳ lĩnh quân trang bổ sung rất nhiều thằng dính bộ này.

Giá mà đem phát cho lính Mỹ trên sa mạc Iraq thì hợp nguỵ trang hơn.

Màu đã đặc biệt, vải lại càng đặc biệt.

Dệt kiểu đan nong mốt như bọn trẻ con làm thủ công và mỏng thì thôi rồi!

Giặt qua một lượt hết lớp hồ vải thì nó nhẽo nhèo nhèo.

Đưa cho mấy nhà thời trang bây giờ thiết kế mẫu style sun sun mùa hè thì hợp.

"Ta may áo làm sao cho kỹ.

Cho chiến sĩ ta vừa ý đẹp lòng...".

Bài ca may áo của nhạc sĩ Xuân Hồng chỉ để hát cho vui mà thôi, chứ không có tác dụng với các bác thầu quân nhu thời đó.

Cũng có thể vì mình lúc đấy còn nghèo quá?

Mãi sau đến năm 1981 thì mới đỡ hơn đôi chút.

Quần áo quân trang thì như thế rồi.

Còn gạo nước lương thực không có lý do để phàn nàn.

Năm đấy cả nước mình ăn độn chứ còn chúng tôi không bao giờ thiếu gạo.

Mỗi tháng đôi kỳ, Cả tiểu đoàn ra ga Bâmnak lĩnh gạo.

Lính thằng ốm, thằng bị thương hoặc đi học này nọ nên quân số thực bao giờ cũng nhỏ hơn quân số trong sổ sách.

Thế là gạo lĩnh thường là thừa ra.

Giải quyết lượng thừa này thế nào?

Đơn giản thôi!

Các đại đội ra lĩnh quăng lại một hai bao ngoài "cơ sở" trong dân đổi rượu mang về dùng dần.

Nhớ nhất có lần lính bắn được con heo rừng chửa nặng hơn tạ.

Gần nửa đêm khiêng về đội hình đại đội liền ngả ra đun nước làm lông ngay.

Mồi quá chuẩn rồi, chỉ còn thiếu mỗi chất cay.

Thế này thì tức chết đi được!

Ăn vã à?

Ờ!

Thế là Cáp đen hô một tổ 5 thằng bố trí hoả lực, xung lực cẩn thận băng rừng ra dân lấy rượu.

Đơn vị lúc đó mới được bổ sung tân binh.

Toàn anh em lính Nam quê Bến Tre, An Giang, Vĩnh Long...

Nhậu giời gầm luôn!

Vừa nghe tới rượu, chúng nó hô xung phong ầm ầm.

Dốc hết đồ trong ba lô ra.

Tống vào đấy cái can vàng 5 lit.

Năm đứa đi năm can trên lưng, một M.79, một B.40, ba AK với đầy đủ bao xe.

Được rồi!

Mười bốn cây số cả đi cả về mà chúng nó hành quân chỉ mất có hơn hai tiếng đồng hồ.

Về gần đến đội hình còn bắn "bắt liên lạc" tử tế.

Ở nhà tất cả đã sẵn sàng.

Nhậu thôi!

Rượu dốc ồng ộc ra bát thẳng từ miệng can.

Này thì quê hương "Đồng khởi" – Z...

ô!

Này thì Hải phòng - Đà nẵng kết nghĩa – Z...ô!

Này Hà nội Huế Sài gòn thương quá – Z...ô!

Rượu vào hừng hực, hơi men chuếnh choáng.

Những bàn tay đập sầm sập xuống sạp, những cái thìa gõ thật lực vào ca inox, vào báng súng theo nhịp bài hát hát Sơn tinh- Thuỷ tinh đã được chế lại rất thịnh hành khi đó :" Sáng sớm hôm sau, đây đó xuất hiện hai thằng, hai- hai thằng.

Z...ô!

Vai mang AK, một tay- một tay nâng chén.

Z...

ô!

Đẹp trai ngang nhau.

Tài ba ngang nhau.

Z...ô!

Vua Hùng khó phân- khó- khó phân...!"

Z...ô!

Z...ô!

Z...ô!

Thằng thông tin kia chạy đi đâu?

Đã có lệnh rút đâu mà chạy?

Quay lại!

Cho nó băng nữa!

Không thì đổ vào đầu nó!

Cứ thế!

Tôi đã líu cả lưỡi, loạng choạng mò xuống bếp với cái đầu đẫm rượu.

Mở cái vung nồi nhôm đang nấu cháo, thấy cả cái bọc bao tử heo chúng nó mới vừa tống vào.

Chẳng còn biết sống hay chín, múc ngay một trong những cái bọc trong suốt.

Trong đó cái bào thai heo lớn hơn con chuột nhắt vẫn còn trắng đục húp đánh soạp một cái.

Lần mò vịn theo cái lan can về lán chỉ huy.

Quăng xác lên sạp, còn hồn du tiên lên chín tầng trời...

Sáng sớm hôm sau, người còn đang đau nhừ thì vai tôi bị lay dữ dội.

Lờ đờ he hé mắt nhìn thấy những 3 anh Nhương đang mờ ảo đằng trước mặt.

"Dậy!

Dậy!

Đ...m đêm qua thằng nào quay máy lên tiểu đoàn rồi ca cải lương hả?"

Có trời chứng giám, biết chết liền !

Tôi hoảng hồn, ông Sơn, ông Được cầm máy lúc đó thì kể như toi.

Không biết thằng điên nào chơi mình vố này?

Anh Cáp đang nằm với thằng liên lạc ở bộ ván bên cạnh nhỏm ngay dậy.

Giọng vẫn còn méo xẹo :"Tao ca đấy !

Chúng nó "chết" hết rồi thì tao ca cho ai nghe?

Phải quay lên tiểu đoàn ca cho mày nghe chơi!

Ngon thì nhậu tiếp!

Kêu la gì?

He he...!"

Lính tiểu đoàn – quan đại đội, bằng vai phải lứa rồi.

Huống chi lại là trung đội phó thông tin nữa.

Quá đã!

Thằng Quân lùn b phó b2 xách nốt cái can cuối cùng ra.

Một loáng sau đồ nhậu đã nhuộm hấp là hơi như mới !

Bố Nhương lúc đầu còn hầm hầm, sau dịu lại, không khách khí ngồi xuống ngay đi liền mấy chiêu.

Tôi cố mò dậy, chắp tay lạy như tế sao nhưng cũng dính thêm một chén (bát) nữa.

Anh Nhương bảo :" Tao xuống đây đi trực máy thay cho mày về làm luôn trung đội phó trung đội thông tin nghe chưa?

Lên đấy nằm cạnh tiểu đoàn tha hồ mà ca!"

Tôi gật đầu vâng dạ lia lịa rồi ôm quần áo ra giếng giặt (ở đại đội 2 không có suối).

Tắm giặt tỉnh táo xong xuôi, lúc trở về ban chỉ huy đại đội đã thấy giọng anh Nhương đang lè nhè xuống sề :"...hay họ đẹp họ sang họ nhà cao cửa rộng?

Nên ăn đắm ăn say ăn mơ ăn mộng.

Coòng tiếc thương chi người coong gái guê....ngh...èo" (vào câu một hay câu ba? – quên mất rồi!).

Lính sư 9 miền đông Nam bộ hồi mới thành lập toàn các bác lính Nam.

Sau này mới được bổ sung lính Bắc.

Anh dạy em, cán bộ dạy chiến sĩ...Mỗi đơn vị có đặc thù riêng mang đậm dấu ấn của những người đi trước.

Thành ra có những thói quen, có những tập quán ăn ở hay chiến đấu không lẫn vào đâu được.

Vẫn mang những phong cách sinh hoạt, thậm chí ngôn ngữ nữa, đậm chất quê hương Nam bộ - nơi đơn vị được sinh thành.

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn dùng những từ ngữ, những ví von Nam bộ một cách tự nhiên vô thức nhất.

Đâu có đó!

Kể cả thói quen ăn rau cải xanh sống cay xộc mũi, hay nhai rau ráu quả đậu đũa tươi một cách ngon lành.

Các cụ nhà tôi bây giờ vẫn bảo :" Thằng này vào Nam sống thì hợp!".

Vậy nên nghe cha Nhương phê phê, quê đất quan họ chính tông ca cải lương ngon lành thì chẳng có gì là lạ hết!

Chẳng nhẽ lại cầm cái tổ hợp gí vào miệng lão này bây giờ!

Anh ơi là anh ơi...!

Chỉnh huấn chỉnh quân thì thế!

Còn những ngày bình thường thì chúng tôi làm gì?

Nằm giữa chỉ huy sở nên đêm thông tin không phải gác là đương nhiên.

Sáng ra, các đại đội cử một tổ bung khỏi đội hình thám sát dấu vết, kiểm tra xem có gì lạ không.

Thu lại những trái lựu đạn gài đêm hôm trước để rồi gần tối ra gài lại.

Còn lính ngủ muộn sưng mắt rồi mới ra suối đánh răng rửa mặt.

Ăn sáng xong thì thả gà rồi ra trảng, lăn lê bò toài vồ châu chấu nuôi sáo.

Trong thời gian củng cố lại đơn vị, tiểu đoàn khuyến khích việc tăng gia sản xuất cải thiện đời sống.

Mỗi trung đội một chuồng gà, một vườn rau.

Gà giống thì ra dân mua hoặc lấy gạo đổi.

Còn hạt rau giống thì xe quân nhu chở từ nước sang.

Những vườn rau tuỳ theo thế đất, bám quanh rìa suối Damrey xanh mướt với đủ các loại.

Rau cải, rau muống, đậu đũa, mồng tơi...được chăm sóc vun xới, lớn vùn vụt trông thấy từng ngày.

Quân ta có đến 80% là nông dân mặc áo lính nên rất thạo những công việc trồng tỉa trái rẫy thế này.

Tự tay mình cuốc đất, lật cỏ, lên liếp, tự tay mình ra suối chặt le về làm giàn cho đậu đũa leo hoặc làm rào giậu cẩn thận để ngăn gà vào phá.

Những công việc quen thuộc của thời bình ấy lôi cuốn chúng tôi, làm vơi đi nỗi nhớ nhà.

Tôi khoái vụ nuôi gà nhất.

Cứ mỗi buổi sớm, nâng lườn từng con gà trong chuồng trước khi thả.

Vỗ vỗ cái lưng, vuốt vuốt cái đầu, nghe nó kêu oóc oóc khe khẽ thấy sướng lắm!

Anh Nhương thấy thế hay càu nhàu :"Sáng sờ lườn, tối sờ lườn!

Mày làm thế nó chột đ... lớn được nữa!".

Buổi chiều, khi tưới rau xong, đứng ngắm những liếp rau cao thấp tựa những vườn treo dọc bờ suối thật thích mắt.

Có phải cắt hái, tỉa lá để ăn cũng thấy rất tiếc.

Đến bữa, trên cái bàn dài tự tạo của trung đội bằng cây rừng có gì nhỉ?

Những tàu lá cải xanh mỡ, lớn bằng cả trang vở đã rửa sạch cắt khúc, xếp lớp trên cái đĩa nhôm quân dụng hai ngăn.

Những trái đậu đũa bánh tẻ, căng mọng sau trận mưa đêm được ngắt từng cọng một nằm bên cạnh.

Hai lọ măng le ngâm ớt thóc đỏ khé ở đầu bàn...

Chỉ nhìn đã biết là giòn tan hoặc hăng nồng, đang chờ sự phối thuộc của bát mắm lóc chưng gừng thơm lừng liu riu trong bếp.

Vừa tắm mát dưới suối sau trận bóng giành cup tiểu đoàn về, bụng đang đói ngấu, ngó thấy bức tĩnh vật hấp dẫn này, thằng nào thằng nấy nuốt nước miếng ừng ực...Chúng tôi hồi đó ăn theo bếp trung đội.

Cơm thì anh nuôi nấu chung ở đại đội hoặc tiểu đoàn bộ.

Còn thức ăn, rau cỏ trung đội tự túc.

Chia nhỏ bếp như thế nên anh em không ỷ lại được vào ai nên cố gắng cải thiện hơn.

Đấy là chuyện ăn.

Còn bây giờ là chuyện chơi.

Trong một bận trèo lấy lá thốt nốt để lợp nhà, thằng Quan- lính An giang mới bổ sung về trung đội thông tin- vớ được một ổ sáo non ba con.

Nó hốt cả ổ vào mũ bưng về.

Những cái mỏ há ra, viền mép còn vàng choé, loéc choéc gào lên suốt cả ngày đòi ăn.

Cào cào châu chấu, con nào bằng đầu, con nào nhọn đầu cạp tất không phân biệt, không cãi cọ, thậm chí đánh nhau như lính mình.

Hầu như lúc nào chúng nó cũng đói, cũng tranh nhau ăn.

Kém một miếng là khó chịu!

Cho uống nước còn đơn giản hơn nữa.

Thằng Quan chum miệng, phun một bãi nước miếng vào những cái mỏ đang há ra.

Nó bảo như thế cho sáo nó nhớ chủ.

Bây giờ thì bọn sáo đã biết bay chuyền.

Trên cái mỏ vàng là một túm lông mào đầu rìu lúc dựng lên, lúc cụp xuống giữa đôi mắt linh lợi, nhóng nhánh đen trông rất ngộ.

Anh Nhương bỏ mấy ngày liền đan một cái lồng quả chuông, xí con khôn nhất rồi xách về lán mình.

Từ khi có bọn sáo này, buổi sáng không ngủ muộn được vì mới bảnh mắt, chúng nó đã gào điếc tai đòi ra ngoài.

Sạch sẽ cảnh quất lắm nhé!

Cửa lồng vừa mở là bay vù ra cái cây đổ nằm giữa suối.

Quạt đuôi vãy cánh, quạt nước tắm vung xí mẹt.

Sáo tắm thì mưa?

Sai bét!

Cả những hôm không mưa bọn sáo cũng tắm.

Vệ sinh tỉa tót đã đời xong, bay vù vù về xâu vào rỉa bung cái nắp lồng nhốt châu chấu làm bữa điểm tâm.

Bọn này rất khôn và lanh lẹn.

Có lần tôi ngồi thái thịt thỏ do anh Nhương với thằng T lé săn về đêm qua.

Ba con sáo thèm rỏ dãi, tất nhiên là nhảy chân sáo, lân la đến bên cạnh rỉa lông rỉa cánh.

Chúng nó làm như không thèm quan tâm đến sự đời.

Ấy thế mà đánh nhoằng một cái, một con lao vào cướp miếng thịt trên thớt rồi bay vù lên cây.

Theo phản xạ, tôi vừa kịp huơ tay xua thì hai con còn lại lao vào.

Mỗi con tha một miếng tướng rồi biến nhanh như điện.

Quái kiệt!

Cũng giương đông kích tây, chính diện vu hồi bài bản.

Lúc đầu tôi còn buồn cười nhưng về sau đâm lo.

Nhìn chúng nó ngúc ngoắc cái cổ, cố tọng miếng thịt tướng đến phát nghẹn mà đâm hoảng!

May mà mãi nuốt cũng trôi.

Sáo là loài chim dễ thuần dưỡng và rất quyến người.

Đi đâu, chỉ huýt một tiếng sáo là chúng nó theo liền.

Con vù vù bay trước, con nhảy "chân sáo" theo sau, con đậu trên vai vui đáo để!

Thằng Quan kiếm ớt rừng chín về cho ăn để nó mau biết nói.

Chẳng cách ly gì ráo!

Cũng chẳng cần vải phủ lồng cầu kỳ chết mẹ!

Đến kỳ thích nói thích nhại thì cứ lẻo lẻo thôi!

Con nuôi của lính thì đương nhiên ngôn ngữ cũng của lính rồi!

Toàn những từ nhảm nhí hay chửi thề thôi rồi!

Có lần, các cán bộ đại đội đang họp trong nhà tiểu đoàn.

Anh Chính tréc đang đứng lên phát biểu.

Con này đậu ở cửa sổ, nghiêng đầu nghé mắt trông thấy buông luôn một câu.

Tuy còn hơi ngọng nhưng mọi người đều nghe rất rõ :" Chíng chéc...!

Chíng chéc...!

Mẹ chíng chéc...!".

Mọi người bật cười ồ!

Anh Chính tức điên ruột nhưng không làm gì được.

Gậy ông đập lưng ông!

Ai bảo mỗi lần đến thông tin chơi, toàn dạy bọn sáo chửi thề.

Bọn nó nhại xong mới chịu xì châu chấu ra.

"Côn ka keo ơi!

Si ây coong coòng...?"

Đây là lời một bài dân ca Căm pu chia rất phổ biến.

Những người lính Việt chiến đấu, công tác bên K chắc chắn ai cũng thuộc một vài câu.

Mấy thằng lính trung đoàn tôi ra ga lĩnh gạo và vũ khí, khi gặp mấy cô gái dân bạn cũng gân cổ hát bài này.

Có điều chúng nó đã sửa lại lời rất quái quỷ :" Côn kà keo ơi !

Si ây pu thum thum...?" (chim sáo ơi !

Mày ăn phải gì mà cái bụng to to....?".

Lời hát trêu chọc tuổi thanh niên vô tư lự, hồn nhiên làm các cô rúc rích cười hay đỏ lựng cả mặt.

Trung đội thông tin có ba con sáo.

Thằng Căn đại đội 1 xin một con.

Quân lùn b phó đại đội 2 nói rã họng, sau phải mang đến một can rượu đón về một con nữa.

Còn lại một con duy nhất.

Thôi thì niềm vui chia ba vậy!

Ở đâu cũng có chim sáo, dù nước Việt hay Campuchia...

Sáo đậu cành đa, hay con sáo qua sông trong dân ca.

Sáo đẻ dưới nước trong ví von ca dao.

Sáo đậu trên lưng trâu bắt rận giữa trưa nắng.

Sáo xập xoè bay, vồ cào cào châu chấu trên những thửa ruộng vừa mới gặt buổi chiều tà.

Con sáo thật thân thiết với người nông dân, với những trẻ em mục đồng.

Với người lính chúng tôi, những con sáo là bạn, là hiện thân của những kỷ niệm thanh bình tiền chiến. là đồng chí "thông tin" lắm lời của trung đội những khi "Có khách!

Có khách!".

Những buổi trưa yên tĩnh, nghe chúng nó hót, ríu ran trò chuyện, hoặc chỉ lúc rúc trong cổ họng nơi đầu lán cũng thấy lòng dần thanh thản.

Chỉ cần nhắm mắt lại, nghe tiếng nó loách choách một lúc là thấy cả cánh đồng quê hương đang trải tháng mười trước mặt.

Vàng như thế và cũng thơm như thế... !

Rồi bỗng dưng con sáo ấy lìa đời.

Thương lắm các bạn ạ!

Nó lìa đời bởi cái sự "dân chủ", nói đúng ra là "chim chủ" nửa vời của anh Nhương.

Cứ mỗi chiều tối, chén kễnh xong là nó tự giác nhảy vào lồng.

Bố này còn cẩn thận đi chốt cửa lồng lại.

Để làm chó gì thì không biết?

Nhẽ ra cứ để ngỏ cửa, coi đó như là một cái nhà của nó chứ đừng coi là cái lồng của mình thì nó còn cơ hội thoát thân, nó còn được hót.

Một sáng thức dậy, tôi bỗng thấy là lạ vì không nghe tiếng nó đòi ra như mọi khi.

Giật mình vùng dậy, tôi chạy đến ngó vào lồng bỗng thấy sởn gai ốc.

Một con rắn xanh lét, mình sọc dưa dài đến gần 2m đang nằm khoanh trong lồng sáo.

Nó đang ngủ.

Khoảng giữa thân phình lên một cách quái dị.

Chính nó đã nuốt chửng con sáo của chúng tôi mất rồi!

Hỏng rồi sáo ơi!

Buốt cả ruột!

Thói tham ăn cũng làm hại con rắn.

Cái bụng phình không cho nó rút trườn qua nan lồng được nữa.

Kệch cỡm, kênh kiệu và ngu đần hệt phường giá áo túi cơm, không chui ra được thì bố mày nằm ngủ.

Tôi điên tiết khều cái lồng sáo xuống rồi gọi tất cả dậy.

Cả trung đội thẫn thờ nhìn tình cảnh ấy.

Phát gậy đầu tiên của anh Nhương chọc cái lồng sáo lăn nghiêng.

Con rắn tỉnh giấc, ngo ngoe cái đầu bé tý kiếm lối ra.

Phát gậy thứ hai của tôi, nhằm thẳng cái đầu con rắn vụt tới.

Cái đầu nát toét mắc vào nan lồng.

Thân mình nó xoắn lại, gồng lên.

Một trận mưa gậy khác dần nó và cả cái lồng từ đầu đến đuôi nát bấy.

Chỉ chừa lại khúc giữa theo yêu cầu của thằng Quan.

Thằng này vừa khóc, vừa sợ con sáo trong bụng rắn bị đau thêm lần nữa.

Mẹ cái loài bò sát máu lạnh kinh tởm này!

Từ đó, cứ gặp rắn bất kể lành độc, chúng tôi chọc, phang cho kỳ chết.

Thương thay!

Tiếng hát trong trẻo, tinh khiết giữa trời xanh bây giờ chôn trong cái quan tài dạ dày nhầy nhụa và hiểm độc ấy!

Vùng rừng này không những rắn mà các loài động vật khác rất phong phú.

Đất Campuchia rừng rộng, người thưa.

Nay càng thưa hơn nữa sau nạn diệt chủng và sau chiến tranh.

Rừng nhiệt đới và thú hoang phát triển tự nhiên, sinh sôi nảy nở con đàn cháu đống luôn.

Cách sau nhà tiểu đội truyền đạt chỉ 50m là dãy rừng le mà chúng tôi hay vào đó lấy củi cho anh nuôi.

Cũng có lúc vào bẻ le khô về bó lại làm đuốc soi cá suối.

Thằng nào đi chặt le là cả một vấn đề.

Đầu tiên, một hội chơi "tiến lên" ghi điểm (hồi đó không có vụ đánh phỏm) được mở ra.

Hai thằng bét hội ôm hận vác dao vào rừng sau khi trang bị kỹ từ đầu đến chân.

Giày cao cổ (VNCH cũ) nhét ống quần vào cẩn thận.

Tay áo buông xuống vì trong đó rất nhiều muỗi và vắt.

Hai con dao quắm, kiểu dao của dân bạn, có cán dài cực sắc.

Thêm một khẩu AK chéo lưng nữa là lên đường.

Bữa đó tôi với thằng Hải cụt dính chấu, phải đi lấy củi do bị chúng nó quây.

Gọi là Hải cụt vì nó bị mất một ngón chân cái do quả cối 120mm chui đúng hầm chỉ huy trong trận cầu Prasaut.

Không chết hồi đó, bây giờ vẫn đi vác củi được là may rồi!

Hậm hực cái gì?

Trong rừng, nghe tiếng chúng tôi chặt le, rút le chí chát, những con rắn ráo dài cả 2m, nghe động quăng mình chạy rào rào trên vòm lá.

Những bụi le đan vào nhau, tạo thành những đường hầm tối tăm phủ đầy lá mục.

Trên đó, không một loài cây nào có thể mọc được vì thiếu ánh sáng.

Rắn chàm quạp hay ẩn mình phục kích trong thảm lá mục như thế.

Giống này da mốc thếch và béo một cách kỳ dị.

Cái đầu bạnh ra hình tam giác, gắn lên một cái thân ngắn tũn trông rất bần tiện.

Nó mà đợp trúng một cái thì xong đời.

Trong khi hai thằng đang phát một bụi le khô, tôi bỗng nghe tiếng rít đánh "e....e...éo" một cái.

Dưới chân thằng Hải, một con rắn chưa từng thấy, bị đè chặt bởi đế giày, đang gồng mình mổ côm cốp vào cổ giày.

Thằng này tiện dao lia xuống một đường đứt đôi con rắn rồi nhảy cẫng ra chỗ khác.

Hai nửa thân mình màu đỏ chói loang đen loăng quăng quằn quại một lúc nữa mới chịu nằm im.

Con rắn này chỉ dài chừng 0.7m, thân lớn cỡ ngón tay cái nhưng cái màu đỏ và tiếng rít đặc biệt quá.

Lần đầu tiên tôi mới biết rắn kêu.

Thế chưa lạ bằng lúc vác le về, đi qua cây xoài mút độc lập nằm giữa trảng.

Cây này nhỏ thôi, mới cao chừng 5, 6m.

Do mọc độc lập nên rất nhiều cành ngang (cành la).

Tới đó hai thằng quẳng 2 bó le dài đã bó kỹ xuống ngồi nghỉ hút thuốc rê.

Ngửa mặt phà khói thuốc nhìn lên cây, tôi thấy rất nhiều cành nhỏ màu xanh đâm ra tua tủa.

Mà sao không có lá hè?

Định hồn nhìn kỹ lại thì cha mẹ ôi!

Toàn rắn không à!

Những con rắn lục đuôi đỏ quấn chặt mấy vòng đuôi vào một cành nhỏ nào đó.

Còn thân mình đuỗn ra, đu đưa hệt như một cành xoài trong gió.

Vô phúc cho con chim, con bọ nào mỏi cánh dừng chân trên những cành xanh chết chóc đó.

Mà lạ là sao nó tụ đông như thế?

Có đến hàng chục con luôn.

Cứ như về cây này dự hội nghị vậy.

Anh Ky- nhà "tự nhiên học" của tiểu đoàn bảo đấy là hội rắn.

Rắn mà cũng biết hội họp thì kinh khủng thật!

Cơm nước xong xuôi, một hội "tiến lên" nữa lại được tổ chức để xem thằng nào phải lãnh trách nhiệm vác đuốc soi cá.

Tất nhiên hai thằng đi chặt le làm đuốc lúc chiều được miễn.

Sau một hồi đập tay chan chát, đỏ mặt tía tai cãi cọ trong hội bài khổ sai đó, hai nạn nhân mới được xác định mà không kêu vào đâu được.

Và lên đường!

Đuốc được châm cả hai đầu.

Chúng tôi soi cá ở những đoạn suối trong đội hình đóng quân của tiểu đoàn, không dám đi xa.

Thằng Vỹ vác đuốc đi trước.

Kế đến là anh Nhương vác con dao.

Anh Ky đi bên cạnh cầm nơm (tự đan, cái gì lính cũng làm được tuốt).

Thằng Ban trố xách giỏ và tôi tự nguyện xách súng đi sau cùng.

Suốí Đamrey mùa mưa hung dữ là thế mà đến mùa khô lại hiền hoà chảy.

Nước trong vắt và lạnh buốt riu riu luồn qua chân.

Tránh những chỗ nước quẩn ra vì tại đó sâu lắm!

Không ăn thua gì đâu!

Kiếm những bãi cát bồi, suối chảy nhẹ và cỏ xùm xoà phủ trùm mép nước là ăn chắc.

Những con cá lóc đen bằng cổ tay nằm bất động theo chiều ngược suối, đuôi hơi ve vẩy.

Sập nơm vào là ngon rồi!

Còn bọn cá măng suối, (giống này giống hệt cá hồi, ăn cực ngon) thì tinh hơn, cứ láng cháng đảo qua đảo lại vếch mõm lên ngắm lửa.

Bọn này phải dùng dao khử.

Có nhát dao lia ngọt quá tay đứt đôi thân cá.

Những loại cá đuôi vàng cỡ ba ngón tay thì không thèm chấp!

Đêm mùa khô hôm nào cực lạnh thì không cần nơm với dao làm chi cho mệt.

Cứ khe khẽ lùa hai bàn tay vào những đám cỏ loà xoà kia.

Rờ đi rờ lại, nhẹ nhàng như gỡ mìn vậy.

Cá bị cóng ngủ rất sâu, chạm tay vào cũng không phản ứng.

Hai tay cứ thế khéo lựa chụp rồi thả vô giỏ thôi!

Hết nửa bó đuốc le là giỏ cá đã đầy.

Giờ thì đi về!

Đi cho nhanh nhé!

Vì tàn đuốc soi đường rơi xuống rất thu hút rắn bu theo phía sau.

Rắn độc rất khoái tàn đuốc.

Chẳng thế mà các cụ bảo :"Theo đóm ăn tàn" là để chỉ bọn rắn này!

Có gì là lạ đâu?

Tàn đuốc mới rơi còn than hoặc còn nóng.

Mà rắn độc mắt thì kém.

Để bù lại nó có một cơ quan tầm nhiệt nằm ngay dưới hốc mắt,.

Cơ quan này hết sức nhạy cảm với bất kỳ nguồn nhiệt hồng ngoại nào.

Thấy tàn đuốc rơi, bọn nó tưởng là một con mồi máu nóng nên lặng lẽ trườn theo săn thôi.

Cũng bình thường như đi soi cá, kiếm củi hay trồng rau...mỗi tháng đôi lần, tiểu đoàn 4 lên đường truy quét địch.

Để lại một bộ phận nhỏ gồm toàn những anh em ốm yếu ở lại trông cứ, cứ mờ sáng là lích kích chuẩn bị lên đường.

Lần này lại lên đường vào mục tiêu A3, gạo mang 4 ngày.

Thịnh đen khoác máy 2w xuống đại đội 2, đại đội đi đầu do Cáp đen chỉ huy.

Hai ông "đen" đi với nhau ắt xảy ra chuyện.

Thịnh đen hiện bây giờ là ông chủ xưởng mộc mãi trên Tuyên Quang.

Ba mươi năm nay vẫn chưa trắng ra được tý nào hết.

Sau khi hàn huyên hết đôi lít rượu, anh ấy đồng ý cho tôi kể chuyện này và giữ nguyên tên thật.

Có quái gì mà phải giấu?

Phó thường dân, cán bộ cán bèo đâu mà lo giấu quá khứ để mà đấu đá leo cao?

Lo làm ăn chết mẹ còn chưa xong kìa!

Hắn quê huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, vào đơn vị chiến đấu trước tôi mấy tháng.

Tay này nghịch ngầm và hay xem trộm thư của người khác rồi lôi ra bôi bác rất khó chịu.

Thời đang chiến dịch tổng tiến công Ph'nom Penh, chúng tôi chưa được công khai sử dụng chiến lợi phẩm nên bữa ăn toàn là cá khô mục mang từ nước sang.

Hành quân liên miên cả ngày lẫn đêm, làm chó gì có thời gian mà cải thiện?

Ăn uống kham khổ chết mẹ!

Thế nhưng thằng Hải "Thái lọ" truyền đạt khi viết thư về nhà lại kể đại loại :"...gia đình đừng lo gì.

Chúng con bên này ăn uống phủ phê toàn gạo trắng.

Campuchia là đồng bằng to nhất của sông Mê kông, lúa mọc hoang đầy đồng...Thực phẩm toàn cá tươi ăn phát ớn !...".

Nó viết thế chắc để gia đình yên tâm.

Thịnh đen vớ được đoạn đó, cứ đến bữa ăn, nhìn thấy cá mục lại quay sang thằng Hải lên giọng lải nhải :"...toàn cá tươi ăn phát ớn!

Toàn cá tươi ăn phát ớn...!

".

Thế thì bố thằng nào chịu được!

Thằng này tức quá hắt nguyên bát nước mắm cá mục vào người cha Thịnh.

Cả hai quăng bát đũa, lao vào chiến nhau giáp lá cà.

Anh em xúm vào giằng mỗi đứa ra một nơi.

Tôi thì bị quả khác.

Tính tôi thì chỉ thích mơ mộng những điều phi thường hoành tráng.

Trong đầu toàn thứ phẩm của Pau, của Daudet...phiêu diêu hơn cả hồn Nguyến Trãi(!).

Tết năm 1979, khi viết thư cho con em gái, người hùng trungsy tôi bệ nguyên đai nguyên kiện một câu của đài BBC nghe được trên radio vào trong lá thư ấy :"...Khờ me đỏ không chịu nổi sức tiến của chiến xa và pháo nặng, tan rã trong vòng chưa đến một tuần...".

Cụm từ này hấp dẫn tôi ghê gớm.

Anh Thịnh đọc trộm được, cứ thấy tôi lại gân cổ cò :"Ui!

Ui...!

Chiến xa vớí pháo nặng đến kìa!".

Chẳng nhẽ lại đập cho một cái bẹt mặt!

Nhưng hắn to con hơn nên tôi chỉ lầu bầu chửi lại.

Quê Vĩnh "toét" mà mắt tinh gớm!

Vĩnh Phúc ngày xưa nhiều người đau mắt nên lính ta bôi bác gọi là tỉnh Vĩnh toét.

"Toét mắt là tại hướng đình.

Cả làng em toét chứ mình em đâu?".

Nhưng lần này thì Từ Thịnh gặp phải Trương Cáp.

A chà!

Chuyện là thế này!

Đợt truy quét đã kéo dài sang ngày thứ ba.

Cả tiểu đoàn đang chuẩn bị hành quân về cứ thì trung đoàn lệnh xuống là d4 đứng chân tại chỗ.

Cho các đại đội tản ra bố trí đón lõng vì tiểu đoàn 6 (đi mũi sườn) vừa diệt được địch.

Địch đang chạy về hướng tiểu đoàn 4.

Bọn d6 gặp một đơn vị địch đang hành quân.

Có cả một con voi chuyên chở vũ khí đi lẫn trong đội hình.

Bộ đội tiểu đoàn 6 thực hành xung phong tao ngộ chiến.

Phát B.40 đầu tiên phá toang cái bụng khổng lồ.

Con voi lật nghiêng chết không kịp ngáp.

Cả đại đội địch chỉ kịp bắn lại vài phát rồi bỏ chạy.

Bỏ lại chiến địa hơn chục xác và rất nhiều vũ khí mới.

Chắc bọn này tải vũ khí từ Thailand về Biển Hồ.

Tiểu đoàn tôi giăng ngang đội hình chờ địch.

Chờ mãi không thấy địch đâu, không biết nó chạy hướng nào Gạo chỉ còn đúng một ngày.

Anh Cáp đen sốt ruột bảo Thịnh đen gọi về tiểu đoàn liên tục.

Gì chứ để lính đói thì không chịu được!

Gọi đến lần thứ 3 cùng một thông tin như thế.

Tiểu đoàn điện xuống, lệnh cho bớt khẩu phần lại, nấu cháo mà ăn chứ không được rời vị trí phục kích.

Thịnh đen gí tổ hợp vào tai anh Cáp, bảo ông nghe cho rõ, đừng có hỏi nữa tốn pin lắm!

Cáp đen phát khùng thẳng tay tương một quả đúng giữa mặt cha này.

Không phải tay vừa!

Thịnh đen vớ ngay khẩu AK của thằng liên lạc, mở nấc raphale nhè cẳng Cáp đen điểm xạ hai viên một.

Cáp đen nhảy cẫng lên theo nhịp bắn như trẻ con nhảy dây rồi chạy xuống b2.

Thịnh đen sau mấy loạt bắn doạ, quăng súng ngồi thừ ra.

Đại đội 2 báo về tiểu đoàn.

Anh Nhương cho thằng Vỹ xuống thay.

Sau đợt truy quét đó, Thịnh đen khoác ba lô ra chui hầm giam của vệ binh trung đoàn một tuần liền.

Lang thang lao động đào hầm ngoài Ban tác chiến một thời gian nữa thì nhận quyết định tước quân tịch, đuổi về địa phương.

Chỉ một cơn điên giận bất thường, cuộc đời người ta đôi khi rẽ sang một ngả khác hẳn.

May mắn hơn hay bất hạnh hơn?

Điều ấy chỉ có Số phận mới biết được.

Mà Số phận, cũng như Con tạo, hoặc tệ hơn nữa là ông Tơ bà Nguyệt thường tính đỏng đảnh và đồng bóng.

Trong lần truy quét độc lập ngay sau đó của đại đội 2, khi đang mắc võng chuẩn bị chỗ nghỉ đêm bên bờ suối gần phum Kh'rang S'va thì thằng liên lạc của anh Cáp đen đá mìn.

Thằng địch cài mìn rất tai quái.

Nó hẳn là một tay tay trinh sát hoặc thợ săn có kinh nghiệm.

Lần này nó chọn địa điểm là một bờ suối đẹp, cách đường bò khoảng 20m.

Cây rừng chỗ đó thưa, cách nhau đủ một tầm mắc võng nhìn rất mời mọc.

Chỗ này nếu lội suối thì phải dồn đội hình để xắn quần.

Nếu nghỉ chân thì khoảng rừng sát bờ này là một nơi lý tưởng.

Thằng liên lạc nhanh nhảu xí ngay cái chỗ định mệnh ấy.

Lúc đi, đại đội 2 đã dừng chân tại đây an toàn nên lúc về nó có phần chủ quan.

Không bao giờ tắm hai lần trên cùng một dòng sông!

Không bao giờ đi hai lần trên một con đường bò!

Anh Cáp đen quên điều ấy mất rồi!

Quả mìn KP.2 nhảy lên chớp sáng trong buổi chiều tối.

Cáp đen vẫn còn thều thào dặn với :" Các em chuyển đội hình ngay... xuôi suối...đừng lội ngược...lộ... nước...

đục.

Bình tĩnh...đi... thưa r...a..." rồi mới chịu tắt thở.

Trời ơi !

Ngày trước, bao giờ anh ấy cũng :"Chúng bay thế này!

Chúng bay thế nọ...!"

Có gọi "các em" bao giờ đâu?

Con chim trước khi chết hót tiếng kêu thương.

Con người phút lâm chung nói lời nói khôn thiêng.

Người anh hùng "thô lỗ", người anh chuyên nhận lỗi về mình, cây nhậu giời gầm của Tiểu đoàn Tư đã ra đi.

Hai mươi bốn tay súng đại đội 2 võng thi thể Cáp đen và thằng liên lạc lặng lẽ xuôi nước theo lời trăng trối.

Bình tĩnh triển khai đội hình nghỉ đêm cách điểm nổ mìn 500m.

Thằng Vỹ thông tin lúc đó đang trèo cái cây gần đó mắc antenna vì sóng kém nên an toàn, nhưng máy 2W bị mảnh văng làm hỏng.

Mất liên lạc!

Cả tiểu đoàn xôn xao sốt ruột.

Hôm sau đại đội 3 được lệnh hành quân theo đúng lộ trình tác chiến của đại đội 2 đi tìm.

Vừa ra đến đầu phum K'Bal Tea Héal thì gặp nhau.

Lính đại 3 xông vào cáng đỡ tử sỹ ra thẳng trung đoàn bộ.

Anh em đại đội 2 nhường cáng nhưng không một ai quay trở về cứ.

Cứ thế!

Cả hai đại đội đưa Cáp đen và thằng liên lạc ra Bâmnak.

Thằng liên lạc này cũng mới vào bổ sung đoàn vừa rồi.

Tôi không sao nhớ nổi tên.

Chỉ biết thằng em quê ở An Giang năm đó mới mười tám tuổi.

Đã gọi rất nhiều đến các anh em ở đại đội 2 còn được trở về, còn liên lạc được với nhau nhưng tên tuổi chú em vẫn bặt vô âm tín.

Không còn ai nhớ nổi tên.

Thôi chú em đừng trách!

Em cũng như một con sáo nhỏ, con chim chích trên con đường xa vạn dặm...Các anh Tiểu đoàn Tư vẫn nhớ đến em luôn, người liệt sỹ vô danh yêu quý ...!

Mùa khô năm cuối 1980-1981, trung đoàn có lệnh hành quân lên biên giới Thailand.

Cán bộ "quán triệt" nhiệm vụ đến từng người.

Không hiểu sao cái động từ "quán triệt" này trong quân đội rất hay dùng, kể cả hiện nay.

Động từ này chắc có từ thời các cụ đánh Tây trên Việt Bắc.

Các đồng chí nhà ta nghe thấy nó hách, nó kêu nên khoái dùng, riết dần thành quen luôn.

Quán triệt nhiệm vụ có nghĩa là nhất quán triệt để nhiệm vụ.

Thế thì nói cụ nó là giao nhiệm vụ, thông báo nhiệm vụ đi cho nó rồi!

Từ này là đặc sản của Quân đội.

Ra khỏi môi trường đó lính thường quên luôn.

Nhưng nhiều bác có 20 năm thâm niên quân ngũ, khi về hưu vẫn quen "quán triệt" vợ hôm nay nấu món giả cầy, hay "quán triệt" con Lou đừng có ị bậy, trông nhà cho tốt.

Có cái chuyện vui thế này: một bác cựu binh qua đời.

Anh em bạn bè đến viếng nhìn qua tấm kính quan tài bỗng kêu ầm lên:" Ơ kìa!

Mồm vẫn còn mấp máy thế kia!

Đã chết đâu?

Cứu mau!".

Tang chủ lúc đó mới vòng tay thưa rằng mong các bác thông cảm.

Lúc sinh thời cụ nhà em vốn là chính trị viên, làm công tác tuyên huấn.

Thế nên cụ đi thật rồi, nhưng miệng vẫn mấp máy quán triệt thế đấy ạ!

Khách viếng chỉ còn biết "...mọi người nén thương đau, nghe thưa mà cúi đầu" (ca sĩ Kim Anh hát).

Ngày 25/12

Trừ một bộ phận ở lại trông cứ, đơn vị chuẩn bị hành quân Trang bị mang theo vũ khí nhẹ.

Máy điện thoại, máy 2W, hoả lực cối, 12.8mm, DK.82 để nhà tuốt.

Tất cả chỉ mang AK như bộ binh.

Sau bữa cơm trưa ăn sớm, toàn tiểu đoàn lên đường ra ga Bâmnak.

Ra đến nơi mới biết không chỉ đơn vị mình mà lên biên giới còn rất đông các đơn vị khác trong sư đoàn.

Trung đoàn 1, trung đoàn 2, trung đoàn 3, các đơn vị trực thuộc sư đoàn...Thậm chí các các sỹ quan trợ lý trong Ban Tác chiến, Ban Chính trị trung đoàn tôi cũng lên đường.

Đồng hương đồng khói, bạn bè gặp nhau tíu tít.

Đúng 15h, đoàn tàu quân sự chuyển bánh trực chỉ ga Pursat.

Cung đường sắt này dài trên 30 km quanh co giữa toàn rừng và núi thấp.

Tàu chạy chậm 15, 20km/h.

Lính sư đoàn ngồi đặc cả trên nóc toa.

Chuyện vãn, đốt thuốc rê mù mịt còn hơn ống khói đầu tàu hơi nước.

Lúc chạy qua cứ tiểu đoàn 5, lính ở lại trông cứ ra sát đường tàu vẫy tay tạm biệt.

Nhà cửa, vườn rau san sát, áo lính phơi giăng mắc trên dây... cứ như tàu đang đi qua cái làng quê nào đó.

Năm giờ chiều, tàu vào ga Pursat.

Các đơn vị nghỉ đêm tại thị xã chờ xe d29 vận tải sư đoàn bốc vũ khí và gạo.

Tiểu đoàn bộ nằm luôn tại nhà ga. (Tình cờ trên Google, tôi tìm thấy tấm hình ga Pursat.

Vẫn cái nhà ga cũ.

Ba mươi năm nay hầu như chưa thay đổi.

Vẫn mái ngói ấy, vẫn bức tường ấy.

Cảnh cũ hồn xưa, nhìn xúc động quá!).

Trung đội thông tin kiếm một cái nhà hoang trên con đường song song với bờ sông ngủ tạm.

Những căn nhà hoang ở thị xã này hồi đó đầy rẫy.

Ăn cơm chiều xong, tìm mãi không có chỗ nào lấy nước, tôi đành mò ra bờ sông dốc đứng múc đại một bình tông 5l.

Nước sông Pursat mùa khô đục ngầu nhưng có hề gì?

Thằng Sơn ba tai xách đâu về nửa cái lốp xe con.

Chúng tôi đốt trước cửa nhà thay đèn.

Các đơn vị khác cũng bắt chước.

Cả một dãy phố nhập nhoạng trong dãy đèn đường tự tạo ấy.

Những ngọn nến đêm Giáng sinh của chiến tranh.

Đêm mùa khô thật lạnh.

Trời càng lạnh, sao trời càng sáng.

Một thằng say trong cái hội nhậu nào đó bên kia sông rống lên hát, giọng khê nồng:"...

Xin em đừng qua vùng cỏ hoang!

Xin em đừng đến những nơi chim xanh vang ca...!".

Sơn ba tai không biết nghĩ cái gì, tần ngần kéo ra kéo vào mãi cái cửa sắt gỉ, đột nhiên gào với sang, lạc cả giọng :" Nó ở nhà lấy chồng mẹ nó rồi...!

Ha ha...!".

Tiếng hát bờ sông im bặt.

Phút sau, ba phát AK nã thẳng vào căn gác nhà chúng tôi nằm "Pằm!

Pằm!

Pằm!".

Cửa kính trên gác vỡ xoang xoảng.

Sơn ba tai lăn ra cười hô hố!

Buồn quá!

Đêm nay Giáng sinh, không biết em ở nhà làm gì?

Nhà thờ Lớn có đông không?

Lính trải chiếu, trải nilon nằm ngang dọc trên nền đá hoa.

Tàn ấm trà cuối, tôi đi nằm.

Mãi rất lâu sau vẫn không ngủ được vì cái mùi khăn khẳn, ẩm mốc của ngôi nhà hoang trộn lẫn mùi lốp cao su cháy...

Ngày 26/12/1980

Lấy cơm anh nuôi ăn sáng xong, lĩnh thêm cơm vắt nữa, 7h xe chạy.

Trên xe chở đầy gạo, đạn.

Cứ năm thằng một xe.

Tôi, anh Ky, anh Hoạch, Sơn ba tai, thằng Quan "bảo kê" một xe gạo.

Buổi sáng lạnh.

Tôi nằm rúc giữa những bao gạo sạch tinh ngủ vùi vì đêm trước thao thức mãi.

Sơn ba tai thì tiếc hùi hụi, làu bàu luôn mồm vì không được áp tải xe mỳ tôm hay thịt hộp.

Từ thị xã Pursat vào đến thị trấn Leach khoảng 30km.

Đường đi tốt và an toàn nên xe chạy khá nhanh.

Đoàn xe chạy thưa, cứ 40m một xe.

Khoảng 9h xe chạy đến Leach, một thị trấn buồn tẻ.

Những quy hoạch nhà cửa cho biết đây là một khu dân cư mới được xây dựng thời Kh'mer đỏ.

Những ngôi nhà sàn mái ngói cùng kiểu, giống nhau như đúc nằm thẳng tắp hai bên đường.

Những vườn điều, vườn dừa cũng cách đều nhau trông rất chán mắt.

Báu bở gì cái kiến trúc, cái xã hội thủ tiêu cá tính, thiếu nhịp điệu ấy mà mấy thằng dở hơi ăn cám lợn này cứ thích học mót.

Thậm chí là bệ nguyên xi áp đặt lên đất nước mình.

Đoàn xe vượt một chiếc ngầm rất sâu ngay rìa thị trấn.

Mùa khô mà nước ngập đến quá nửa bánh xe.

Bắt đầu đường 56, con đường đất xuyên sâu vào rừng già đến biên giới Thailand.

Không biết được làm từ bao giờ?

Nghe nói hồi đầu là con đường chuyên chở gỗ, chuyên chở hồng ngọc từ Tà sanh, Pai lin về biển Hồ của bọn buôn lậu.

Rừng mỗi lúc một dày.

Thỉnh thoảng đã gặp những tổ chốt đường của đơn vị bạn.

Lính chốt đường mỗi tổ năm sáu người ôm súng ngồi tản từng gốc cây.

Khoảng bảy tám trăm met lại gặp một tổ như thế.

Đoàn xe chạy qua, anh em quay lại vẫy phớt tay rồi lại chăm chú làm nhiệm vụ của mình, mắt đăm đăm nhìn ra phía rừng.

Nhìn những thân cây, cành cây đạn xé, những hố mìn chống tăng lấp vội, quả mìn đĩa còn lẳng trên vệ rừng chưa kịp mang đi, chúng tôi biết là đã đến những cung đường nguy hiểm.

Giữa cái mênh mông hoang vu, ẩn chứa rất nhiều bất trắc của rừng già, trông anh em mình thật mỏng manh và bé nhỏ.

Nhiều thằng nói không ngoa, khẩu B.41 phải dài gần bằng người nó.

Quần áo te tua hơn anh em tôi nhiều lắm!

Mỗi lần lâu lâu không gặp tổ chốt, tôi lại bồn chồn.

Những câu chuyện bá láp đang mặn trên thùng xe tự nhiên nhạt dần rồi im bặt.

Ai cũng rờ rờ tay vào khẩu súng.

Khi nhìn thấy bóng họ từ xa, tất cả lại thở phào như trút đi được gánh nặng.

Chỉ nhìn nhau thoáng qua phút giây, người trên xe, kẻ dưới đường nhưng trong lòng cảm thấy thật ấm áp.

Hẳn đấy là tình quân ngũ, hay là nghĩa đồng bào?

Không định nghĩa được, nhưng tận trong lòng thấy thương nhau ghê lắm!

Bọn đại đội 2 chạy trên xe trước chở thực phẩm.

Chúng nó khui cả thùng thịt hộp với mỳ tôm trên xe.

Cứ mỗi lần gặp anh em chốt đường lại quăng xuống rào rào.

Cả những bịch thuốc rê cũng được ném xuống.

Cáp đen mà còn sống, ngồi trên xe thì chắc quý như rượu anh ấy cũng chẳng từ.

Lắc lư, gầm gừ 15km/h trên con đường bụi nghẹt mũi từ sáng đến chiều tà mới đi được gần trăm cây số.

Nghĩa là mới được nửa đường.

Lính ăn trên xe, uống trên xe và đi tè thì vịn tay vào thành tưới luôn xuống đường cho xe sau đi đỡ bụi (!).

Đoàn xe chở khẳm nhíp, đường xấu, phải chạy chậm nhiều nên máy nóng.

Thỉnh thoảng đến chỗ có suối, có chốt của lính ta lại dừng lại đổ két nước.

Một lần dừng lại như thế, tôi nhảy xuống rửa mặt mũi dưới suối cho tỉnh táo rồi vào lán uống nước.

Rừng lấn vào sát sân.

Tôi ra sau lán, lội thêm vào rừng hơn chục bước định để giải thoát bàng quang cho nó lịch sự con người Tràng an thì bị quát giật lại.

Chú em lính khu 9 chắc mới bổ sung, mặt tái xanh cầm tay gí mũi tôi chỉ vào mấy cái gốc cây xung quanh.

Má ơi !

Toàn mìn !

Dây mìn xanh lét cái nọ nhằng vào cái kia như mạng nhện.

Đấy là toàn mìn địch chúng nó gỡ được mang về cài lại quanh khu ở chống đột nhập.

Chúng nó cài chằng dây như thế để chống gỡ.

Hỏi ra mới biết rừng ven đường toàn mìn.

Ta với địch cài nhau lẫn lộn.

Một cuộc đấu trí chết chóc mà kẻ thua không bao giờ còn cơ hội ngồi rút kinh nghiệm.

Trời tối hẳn, đoàn xe bật pha sáng quắc, tăng tốc chạy cố đến Tuol Kà ruốt.

Ở đó có một đơn vị lính ta.

Hình như cỡ cấp trung đoàn bộ vì thấy lán trại khang trang lắm.

Chúng tôi nghỉ đêm tại đó.

(Đôi điều cảm nhận của các bác trong diễn đàn - Nghe các kể chuyện "xưa" thấy vui quá, những con đường ấy, những địa danh, đồng đội ấy em đa phần đều biết cả lính c1 d29 vận tải f9 mà.

Nhưng lu bu công chuyện quá nên không tham gia được, cảm ấy áy náy quá.

D29 bọn em có 3c thì 2c là vận tải cơ giới còn lại 1c là vận tải bộ.

Trừ đám vận tải bộ còn lại lái xe đa phần là lính trước 75 cả rất ít lái xe trẻ, d em 2 lần anh hùng trong đánh Mỹ .

Ngày đầu tiên em về c1, thì đơn vị nhận nhiệm vụ đi tiếp tế cho f339.

Anh Bình c trưởng hỏi: "Sao chú em đi không? em mới về nếu mệt thì nghỉ vài bữa đi chuyến sau".

Nghĩ trong bụng "cán bộ ĐV ai lại ở nhà ?" (mới ra trường mà các Bác) "Vâng em đi".

Đòan xe đã lấy gạo và hàng quân nhu từ hôm qua rồi, gồm 3 cái Reo 3 và 2 cái Hồng Hà lên đường.

Ngồi trên xe Reo chạy đầu, do thói quen em cầm khẩu AK lên thấy nhẹ quá, băng đạn không có viên nào - chết rồi lấy súng mà lại quên mang đạn do phải kiểm tra lại hết các khâu trước khi b lên đường nên bận quá.

Em liền quay nói với lái xe - cậu cứ chạy trước mình vào nhà lấy ít đồ rồi đi xe cuối cũng được.

Đòan xe đi trên đường 56 bụt đất đỏ mù mịt, mấy "chàng" vận tải bộ quấn khăn càma kín mít ngồi vát vẻo trên thùng xe ném mấy gói Samit cho các "chàng" chốt đường nhìn tội quá.

Tóc tai dài thườn thượt, áo quần rách teng beng đều được "ưu tiên phía trước cả" (phía sau quần ngồi lê lết nhiều quá nên rách mạng "TV" hết phải mặc ngược từ phía sau ra phía trước).

Đang nghĩ ngợi lung tung - lần đầu tiên đi vào "chốn thiên đường" mà các Bác.

Bỗng nhiên "ùnh ..."

ánh lửa chớp trước tiếng nổ đinh tai tiếp ngay sau đó, xác mấy chú ngồi trên thùng xe bay lên không trung chới với.

Xe Reo em ngồi lúc nẫy do 1 bác "chọ trẹ" cầm lái (chưa kịp biết tên) dính mìn DH lật nghiêng nát bét cháy như bó đuốc.

Tiếng AK, "Chô, chô..." của Pốt vang lên rợn cả người.

Chết mẹ bị phục rồi, em đạp cửa cầm súng và bao đạn lao ụ mối gần xe.

Lên đạn mà tay run quá, mấy Bác bỏ chạy về phía sau dính đạn nhọn chúng nó té úp mặt.

"ùnh..." lại một xe nữa trúng đạn B41 cháy bùng bùng.

Khỏang gần 20 chục tay súng bọn em nằm lại "chơi" với chúng nó, bắn xong vài lọat tay chân em hết run hẳn.

Nghe tiếng súng của đồng đội bên cạnh vững tin hơn, khỏang hơn 20 chục thằng pốt tính làm gỏi đòan xe nhưng gặp phải tòan cựu binh cứ điểm xạ đều đều hất những đợt xung phong của bọn lại.

Hơn 20 phút cầm cự tự nhiên nghe thấy tiếng súng rộ lên phía trước .

Linh chốt đường nghe tiếng súng vận động lại cứu đòan xe.

Nhắm chơi không lại Pốt rút chạy, bọn em truy kích một đọan tì mất dấu.

Kết quả mình cháy 2 xe chết 6 (trong đó có 3 lái xe - đau quá) bị thương 5, pốt để lại 7 xác và 2 thằng ngắc ngỏai .

Ông Sinh b trưởng vận tải bộ mặt phừng phừng nhẩy lên nói "để tao", 2 lọat AK vang lên - cuộc chiến không có tù binh.)

Ngày 27/12/1980

Mãi 9h sáng mới khởi hành vì còn chờ các tổ đi thông đường và gỡ mìn.

Mỗi càng lúc càng khó đi.

Cả đoàn xe lắc lư trầy trật mãi trên con đường heo hút.

Những tiếng nổ ùng oàng thỉnh thoảng từ xa vọng lại, không rõ tiếng cối hay tiếng mìn.

Bỗng một tiếng nổ lớn, rồi tiếng hoả lực, tiếng đạn nhọn ầm ầm rộ lên phía trước cách chúng tôi khoảng 300m.

Bộ binh trên xe nhảy xuống rào rào.

Cả đoàn xe vẫn từ từ tiến thẳng đến nơi súng nổ.

Chúng tôi đi dạt ra hai bên đường, cố tránh chiếc xe mình hộ tống một đoạn vì đấy là mồi ngon cho B.40, B.41 khi bị phục kích.

Cánh lái xe cũng lỳ, bộ binh tiến đến đâu xe cũng theo đến đấy.

Có tiếng súng nổ nghĩa là có quân mình.

Lâu không chơi nhau trận nào, giờ nghe tiếng súng, lính tiểu đoàn 4 phấn khích ra mặt muốn đến đánh hôi.

Hai thằng lính sư 339 chạy xồng xộc ngược đường đón chúng tôi.

Chúng nó nhắc chúng tôi không được vận động sâu vào hai bên đường vì tại đó đầy mìn.

Lên đến nơi thì tiếng súng đã dứt.

Một trung đội địch đi phục xe bị dính quả DH lính ta gài, nguỵ trang trên cây.

Quả mìn hướng vào nơi vị trí đặt bẫy điểm hoả.

Năm thằng địch người nát bét.

Một thằng nữa chắc xạ thủ B.40 đi gần, bị hơi mìn thổi và mảnh kích nổ liều phóng mấy quả đạn đeo trên, lưng tan tành xác pháo không còn hình hài.

Phải công nhận mấy thằng chốt đường sư 339 này là bậc thầy, là chuyên gia về mìn.

Chúng nó có những con đường riêng để chui rừng, được đánh dấu bằng những ký hiệu riêng chỉ mình chúng nó biết.

Thỉnh thoảng phải rấp lại, phải thay đổi tạo con đường khác đề phòng địch phát hiện cài lại.

Cũng như bảng mật danh của thông tin tiểu đoàn tôi vậy.

Nhìn chúng nó chạy đi chạy lại thu súng giữa rừng đặc những mìn mà thấy ghê quá!

Bọn địch chuyên quen ăn bén mồi quãng này, ngày thì phục xe, đêm thì tập kích giờ chắc tởn đến già.

Tôi nhớ đến những người hy sinh vì mìn của tiểu đoàn 4.

Giờ này, dưới suối vàng, chắc anh Quang, anh Cáp đen. thằng Tuý với chú em liên lạc đại đội 2... cũng đỡ tủi hận.

Tối hôm ấy, chúng tôi đến khu "Hai Mươi Nhà" – Sư bộ Sư đoàn 339.

Chỉ còn cách biên giới gần 30 km nữa theo đường chim bay.

Các tiểu đoàn trực thuộc đóng quanh căn cứ này.

Gọi là khu Hai Mươi Nhà vì cái doanh trại sư bộ này lúc đầu chỉ vỏn vẹn có đúng hai mươi căn nhà.

Nay đã đông hơn, nhiều nhà hơn nhưng cái tên ban đầu vẫn được dùng.

Nói đến khu này, không chỉ lính F339 mà còn nhiều đơn vị khác trong mặt trận 479 chắc cũng nghe danh.

Từ MT 479 là để chỉ mặt trận hợp thành bởi Quân đoàn 4, Quân khu 7, Quân khu 9.

Dẫu chỉ có hai mươi nhà nhưng lúc đó, nó là điểm đến, là thủ đô của đại ngàn biên giới này.

Ở đó, có nhà cửa thực sự, có vườn rau, có sân bóng chuyền...Ban đêm, thậm chí có thể đốt đèn măng sông những khi cần thiết mà không sợ bị ăn cối.

Chúng tôi nhảy xuống suối tắm sau hai ngày hành quân ròng rã.

Đang vốc nước hò hét té nhau lộn bậy thì tất cả ngẩn người ra nhìn.

Từ trong cái nhà nhỏ gần đấy, một cô gái bé nhỏ trong bộ quân phục gọn gàng xách đôi thùng ra suối lấy nước.

Những thằng đực rựa đang nồng nỗng trang phục Adam, ngồi kỳ cọ trên mấy hòn đá mồ côi giữa dòng nhảy xuống nước đùng đùng.

Lời chào và nụ cười còn mát hơn nước suối nữa.

"Dạ!

Các anh anh mới vô".

Tiếng con gái đồng bằng sông Cửu Long nghe dễ thương quá chừng!

Trừ tôi mới "đi phép", còn lại toàn những thằng mấy năm trời chưa gặp, chưa được nghe tiếng con gái Việt.

Cả bọn như há mồm ra đớp lấy từng lời.

Thằng Quan mau mắn xí nhận đồng hương, rồi hẹn tối sang chơi...

Cô lính nhỏ cũng quái!

Mỉm cười bảo thằng Quan đứng lên xách hộ thùng nước về thì mới nhận đồng hương được.

Cả bọn cười ồ!

Thằng này cứng họng, chắc cũng cứng... cả người nữa nên đỏ hết mặt.

Ngày 28/12/1980

Tiếp tục hành quân.

Mới sáng ra đã thấy máu.

Đến một khúc cua, đi ngược hướng chúng tôi là một toán người.

Thằng tù binh địch đi đầu, khuôn người đậm thấp của nó lom khom, khoác trên vai con mễn (hoẵng) khoảng 30 kg lông bết máu.

Chúng nó buộc bốn cẳng con mễn bằng khăn cà ma của thằng địch với dây võng, như kiểu người ta buộc quai bồng, bắt thằng này khoác.

Cái đầu ngúc ngoắc theo nhịp đi, máu vẫn nhểu ra ở mõm.

Con thú bị dính mìn cài.

Còn thằng tù binh thì trong tổ đi cài mìn, bị trinh sát phục, vồ được sau khi diệt hai thằng khác.

Hai thằng lính mình đi sau áp tải, mặt xanh bủng, AK lăm lăm trong tay.

Kế đến là hai cái võng có bốn thằng thay nhau khiêng.

Hỏi với xuống đấy là thương binh hay tử sỹ thì chúng nó trả lời đấy là bệnh binh.

Đang sốt rét ác tính nặng, hôn mê sâu rồi.

Tôi nghĩ đến trận sốt nhớ đời năm ngoái, nghĩ đến cái mùng của tôi đang rách te tua, phải lấy dây buộc túm những lỗ thủng.

Trông nó chẳng khác gì chiếc vó tàn tạ...

Chiều, vào đến Khu Năm Nhà, điểm cuối cùng của hành trình vận tải cơ giới.

Chúng tôi xuống bốc gạo vào các lán lính sư đoàn bạn đã chuẩn bị trước.

Còn quân áp tải tự làm lấy lán ở.

Đơn vị nào gom về đơn vị đó.

Việc này quá dễ!

Cây rừng sẵn, chỉ trong vòng 3 giờ năm thằng chúng tôi đã có một cái lán hoàn chỉnh.

Mái phủ nilon, sạp ngủ làm kiểu nhà sàn, ken bằng những thân cây nhỏ, nâng cao khỏi mặt đất 70 cm để chống rắn rết.

Một "phố rừng" đông vui nhanh chóng hình thành.

Tối ăn cơm xong đi nằm sớm.

Lưng có hơi đau vì các cành cây gồ lên bên dưới.

Hề gì đâu?

"Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối ?".

Đã sắp hết một năm nữa rồi !

Ngày 29/12/80

Sáng dậy sớm ra suối rửa mặt đánh răng mà nghe lưng, sườn đau ê ẩm, lằn ngang lằn dọc vì cái sạp làm rối.

Câu Tiễn ngày xưa nằm gai nếm mật phục quốc cho mình.

Còn chúng tôi nếm gai nằm mật phục quốc cho người.

Oai hơn hẳn chứ!

Ôi ngài Hoàng thân lưu vong thay đổi cứ như chong chóng ôi!

Làm cách mạng bằng máu của người khác hẳn là dễ chịu rồi!

Còn các nhà hảo tâm từ thiện nữa.

Ngon thì lên đây mà chặn nạn diệt chủng cho chúng tôi trở về nhà đi!

Báu bở gì đâu?

Chán lắm rùi...!

Nghỉ tại vị trí đóng quân.

Nghe cán bộ sư đoàn bạn và đơn vị phổ biến các thủ đoạn của địch thường áp dụng trên địa bàn này.

Thông báo về địa hình cung đường tải bộ lương thực, vũ khí ra chốt.

Định lượng vận chuyển thông báo rõ: mỗi ngày mỗi người 17 kg.

Bằng phân tuốt, quan cũng như lính, gầy cũng như béo...Một chút rắc rối nhỏ về sự thiếu hụt của số lượng thịt hộp với mỳ tôm.

Anh em nói có quẳng xuống cho cánh lính chốt đường một chút.

Hai bên giao, nhận khoát tay cho qua.

Nói dại chứ địch nó phục bung cả đoàn xe thì cũng phải cấp lại chứ!

Có thể nào lại dự toán hay quyết toán được chiến tranh?

Chiều mấy thằng kiếm tre về đan phên lót thêm trên mặt sạp.

Đêm nay chắc ngủ ngon.

Ngày 30/12/80

Năm giờ sáng dậy.

Vệ sinh cá nhân và ăn sáng gói gọn trong nửa tiếng.

5h30 đến lán kho mở ba lô trút gạo vào, buộc chặt và lên đường.

Đội hình hàng một, hai thằng một súng, cứ bám nhau mà đi.

Bắt đầu leo núi.

Núi ở đây không dốc như U Răng nhưng rừng trên núi rất dày.

Con đường tải gạo là con đường lính F339 mở ra đi từ trung đoàn bộ (Khu 5 Nhà) xuống các tiểu đoàn.

Một con đường quả là đặc biệt.

Nó giống như một đường hầm bí mật chui ngoằn ngoèo giữa tán rừng nguyên sinh tối thẫm.

Những cành cây nhỏ xoè ngang chắn lối chúng nó không chặt mà uốn vào rất khéo để nguỵ trang, tránh địch phát hiện.

Lòng đường chỉ rộng 70 cm, đi không khéo thì túi cóc ba lô mắc cây bên cạnh ngay.

Con đường đóng lại ban đêm và mở ra ban ngày.

Nói thế vì cứ đêm xuống là tổ chốt khoá đường lại bằng các quả mìn dày đặc gài cả hai đầu đường.

Sáng hôm sau, có đoàn đi thì bọn nó lại ra gỡ.

Chúng nó nói địch cũng có những con đường riêng như thế.

Hai bên rình rập lần mò tìm dấu vết những con đường của nhau.

Đã phát hiện thì tổ chức phục kích, cài mìn là ăn chắc.

Vậy nên yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu.

Một trung đội sư bạn trang bị đầy đủ đi đầu gỡ mìn và dẫn đường, mở đường.

Một trung đội đi sau rốt chặn hậu.

Còn " lừa ngựa và các nhà bác học đi vào giữa!" (Bonaparte).

Leo được chừng 2h đồng hồ thì dừng lại nghỉ.

Phải hạ ba lô nghỉ ngay trên mặt đường cũng theo hàng dọc.

Đi lại lộn xộn tràn qua vệ là có thể ăn mìn ngay.

Tôi ngồi sau, xin anh Ky ngồi trước cách mấy hàng hơi thuốc rê.

Chuyền qua mấy ông trung gian, đến mình chỉ còn cái tóp cũng phải ngậm cười, không dám chen lên để lục bồng.

Một quãng nữa lại bắt đầu leo xuống.

Đi giữa lòng suối cạn đầy đá mồ côi, to như con heo màu trắng.

Nước lạnh buốt trong vắt chảy riu riu qua các khe đá.

Hai bờ thành suối dựng đứng, cao khoảng dăm chục mét và cách nhau bằng nửa chừng đó khoảng cách.

Thành ra, đi giữa lòng suối nhìn lên trông cực kỳ ngợp mắt.

Giống như những nứt gãy đoạn tầng địa chất hùng vĩ bang Colorado Mỹ quốc mà chúng ta xem trên TV.

Mấy cái lán chốt lính mình dựng ngay trên bờ thành, nhỏ xíu như những tổ chim.

Không chốt ở đó, nó chỉ lăn đá xuống không thôi cũng chết ráo.

Đoạn lòng suối cạn nguy hiểm đó dài khoảng 1 km, ai cũng cố đi thật nhanh.

Lên khỏi lòng suối là đến kho trung gian.

Chúng tôi trút gạo tại đó, ăn cơm vắt xong là vội vã trở về.

Gì thì cũng phải đón năm mới cho nó đàng hoàng!

Trong lúc láo nháo lĩnh đồ sáng sớm, tôi "múc" được hai hộp thịt ở kho, tuồn sang cho Sơn ba tai.

Thằng này lấy mũ úp lên.

Nó để xuống đáy bồng rồi nhanh chóng trút gạo vào.

Hăm hở lên đường.

Ai cũng cố đi cho nhanh.

Chẳng mấy chốc đã đến lòng suối đá.

Hạ ba lô gạo xuống, vã nước lạnh lên mặt lại tỉnh ngay như sáo.

Chúng tôi nhảy chuyền trên những tảng đá bàn cờ.

Phần do quen đường, phần do cơ thể đã thích nghi với công việc mới sau mấy ngày mang nặng nên con người dẻo dai hơn.

Đội hình đến trạm trung chuyển mới gần 11h trưa.

Chưa thấy ai nhận gạo, đang định giở cơm vắt ra ăn thì có lệnh đi tiếp.

Một tiểu đoàn bạn chốt sát đường biên cách đây 4 km bị địch bâu bám, vây đánh mấy ngày hôm nay.

Anh em không ra chuyển gạo được nên chúng tôi phải thồ ra tận chốt.

Kho trung chuyển cử một tổ đi dẫn đường.

Ui chao!

Đang phấn khởi, khoẻ như vâm mà vừa nghe lệnh xong, thằng nào cũng xìu xuống.

Đã thế đi luôn cho sớm, vào đó ăn sau.

Cả đoàn "trâu gỗ ngựa máy" sư đoàn 9 xốc ba lô lên đường ngay.

Đi được một quãng nữa, gặp một trung đội bạn mở đường đi ra.

Bọn đi sau võng theo bốn võng.

Hai tử sỹ, hai sốt rét ác tính.

Võng tử sỹ dường như để lâu mấy ngày nên đã trương ngang.

Dưới đáy võng đã thấm ướt.

Mùi tử khí xông lên nồng nặc.

Không ý thức được hành vi, tôi bất giác đưa tay lên che mũi.

Một cái tát nảy đom đóm mắt, kèm theo một họng K.54 lạnh ngắt gí vào màng tang.

"Đù ...m!

Anh em mình chứ ai mà mày bịt mũi?

Tao bắn bể sọ mầy!".

Hố mắt sâu trũng nhưng sáng quắc đầy những tia căm giận của người chỉ huy đơn vị bạn chiếu thẳng vào mắt tôi.

Đờ đẫn hết người, nước mắt tôi giàn giụa...Không phải vì đau, cũng hoàn toàn không phải vì sợ.

Một cảm giác ân hận và xấu hổ bao trùm không chỉ riêng tôi mà cả mọi người quanh đấy.

Mọi người lại lặng lẽ lên đường.

Không ai nói với ai lời nào nữa từ đấy ra đến chốt.

Khoảng 1h chiều, trút gạo xong, tổ năm thằng chúng tôi chui vào một cái lán chốt lính f339 xin miếng nước rồi ăn cơm vắt.

Căn lán thấp, nhỏ như một cái lều tạm cho ba người ở.

Xung quanh lều ở, cách chừng 3m, anh em mình đắp đất dày 60cm, cao đến quá thắt lưng làm công sự chiến đấu.

Mái lều lợp một thứ lá rất lạ.

Những chiếc lá giống như lá bàng nhưng nhỏ hơn.

Lính ta lấy những thanh le chẻ nhỏ kẹp lại hoặc "khâu" qua thành từng dảnh rồi đem lợp.

Chúng nó bảo đấy là lá trung quân.

Nhưng bây giờ, mới đây thôi, tôi có đọc một bài báo nói về lá trung quân được sử dụng để lợp nhà khu TW Cục Miền Đông Nam bộ.

Trên ảnh thấy khác hoàn toàn loại lá này.

Chẳng biết thế nào?

Những chiếc lá này đốt cũng không cháy.

Trông ngoài vào, cái lều lính đó trông như một con rùa đất đầy vảy màu nâu đen của lá khô.

Lều chật quá, các chủ nhà mến khách lấy mấy khúc củi lăn ra "sân" cho bọn tôi ngồi đỡ.

Anh em sốt rét nhiều, hầu như chưa ai thoát nên gầy nhỏ, môi tái nhợt.

Ánh nắng buổi chiều, lọc qua các tàn lá dày của rừng già, in thêm trên gương mặt của những đồng đội tôi một màu xanh hắt.

Bạn ơi!

Cùng hai mươi hai mốt, trứng gà trứng vịt lứa tuổi yêu đời như nhau.

Đừng xưng anh xưng em làm gì!

Tóc bọn tôi cũng dài cợp, nhưng chưa dài như chúng nó.

Trên vách, giắt cùng với cái lược nhựa gãy răng, mảnh gương con đã vỡ chỉ còn một nửa là những lọn tóc rối, bị rụng tơi tả do sốt rét quần.

Ở rừng thì còn đẹp với ai nữa cha?

Chải đầu soi gương cho khỏi quên mất mình là thanh niên Sài thành thôi bạn ạ!

Ha ha ha!

Nồi nước sâm rừng đặc quánh và nóng hổi được bưng ra.

Ba cái bát sắt chuyền tay nhau.

Nước sâm rừng ngăm đắng và có vị ngọt hậu.

Đó là một loại cây thân mộc, cao khoảng 1.5m.

Lá dày bóng loáng, gân lá hình cung.

Cây thuốc quý ấy là đặc sản vùng chốt này.

Chúng nó thu hái rễ, vỏ gần gốc, thái ra từng lát rồi đun nước thay trà.

Còn thuốc rê nằm trong một bọc nilon kín.

Một loại thuốc rê tôi chưa từng được biết.

Nó là những sợi, nói đúng hơn là những cọng to tướng, ngắn ngủn.

Quấn vào cố rít cũng có mùi thuốc lá nhưng hăng xộc.

Hỏi bạn ở đâu ra loại thuốc này thì chúng nó dẫn ra sau nhà.

Trên mấy luống đất vun, những cây thuốc lá tự trồng đã bị vặt hết lá.

Đã hết lá hút thì chúng nó sử dụng thân, tước ra sấy thành loại ciga Havanna mà khách quý là chúng tôi đang sử dụng.

Những hơi thuốc đắng nghét nhưng chưa bao giờ đậm đà như thế!

Đơn vị tôi đã lục tục ngược đường ra.

Đến giờ chia tay rồi!

Tôi lấy chân hẩy hẩy cái ba lô của thằng Sơn ba tai.

Thằng này hiểu ý, gật gật đầu móc ra hai hộp thịt ăn cắp ngoài kho lúc sáng trịnh trọng đặt lên "bàn".

Kiêng bắt tay, chúng tôi vỗ vai nhau rồi chia tay...

Ngày 1/1/81

Tết Tây.

Cán bộ thông báo địch đã phát hiện các hoạt động của đơn vị.

Dứt khoát phải mang súng, không được để lại ở lán.

Thay đổi vị trí các quãng nghỉ chân theo hướng dẫn của trung đội trinh sát mở đường.

Cấm nghỉ tuỳ tiện.

Trở về muộn.

Hai thằng tôi với Sơn ba tai đi tụt xuống cùng trung đội chặn hậu xem bọn nó cài mìn chẹn đường.

Tiểu đoàn 4 ở cứ cài lựu đạn thường trước đội hình.

Cài cho nó thêm yên tâm mà nhậu, mà ngủ bỏ gác thôi.

Ngoài ra, nó như cái "ba-ri-e" vì đêm nhỡ có thằng nào đội đèn đi săn, lại phải vào b tiền tiêu uống ngụm nước rồi nài nỉ chúng nó ra gỡ lựu đạn hộ.

May kiếm được con gì thì dây máu ăn phần, kể công xong thu lệ phí miếng thịt.

Cách gài còn đơn giản lắm!

Thằng nào kiếm được cái gim băng nhét chốt cho trơn đã là cải tiến.

Ở đây khác hẳn!

Ngoài những lối cài thông thường, lính ta còn những kiểu cài quái chiêu khác.

"Liên hoàn kế" là kiểu cài đôi.

Hai quả mìn giăng ngang, nối với nhau bằng sợi dây mìn mảnh.

Kỹ thuật quan trọng nhất của kiểu cài này là phải để làm sao cho dây thật căng.

Hai đầu dây là hai cái gim cài trơn bóng cắm vào hai cái chốt mìn.

Trường hợp địch nó phát hiện và gỡ, thường bao giờ cũng phải co dây một đầu cho chùng mới an toàn.

Đầu dây bên kia tụt.

Thế là "Rầm!".

"Đà đao kế" là lối cài kèm.

Quả KP.2 cài xong, cài thêm đôi quả đạp nổ tại vị trí mà khi ngồi gỡ thì công tác thuận lợi nhất.

"Tiện tay dắt dê" là kế gài mìn trên cây.

Quả mìn nằm ẩn đâu đó, đang đi vô tình kéo một sợi dây rừng hờ hững chắn lối coi như giật chốt diểm hoả...Có đến cả chục kiểu cài khác nhau.

Kiểu nào cũng tinh vi chết chóc.

Hai "sinh viên" tiểu đoàn 4 quen vận động chiến ngó các "giáo sư" f339 thị phạm phương pháp cài mìn chốt chặn mà toát mồ hôi hột.

Thế mới biết mình còn ngu lắm!

Tiệc đầu năm với canh suông lá bứa kèm ớt, thêm vào hai gói mỳ tôm cuối cùng.

Ớt quả mang đi từ cứ đầy nhóc hai túi cóc, vỏ ngoài đã nhăn nheo.

Mai phải tãi ra phơi không có mốc hết!

Ăn măng, ăn dâu da hại máu, ăn ớt nhiều chống được sốt rét.

Bài thuốc lính truyền khẩu ấy cứ thế mà thực hiện.

Sơn ba tai tham ăn, cứ nhè những búi mỳ to nhất mà khoắng đũa chóng mặt.

Thằng này đối ngoại thì ngon sao đối nội kém quá!

Trông kiếu nó ăn ngứa cả mắt!

Màn sương mỗi lúc mỗi dày trùm lên bữa cơm chiều sì sụp vị cay xé họng.

Bóng tối sụp xuống rất mau.

Đêm mùa khô có sương dày thế này cũng lạ.

Nhưng vùng này gần biển, cách có vài chục km đường chim bay.

Hẳn những trận gió tây hiếm hoi trái mùa đã lùa hơi nước đến rừng già.

Sương ngưng đọng trên tán lá, giọt xuống mái lều lộp bộp như một trận mưa nhỏ.

Trời càng khuya càng lạnh.

Anh Hoạch mò dậy, gạt hết than và những khúc củi cháy dở xuống gầm lán rồi ngồi bó gối trông ra ngoài rừng.

Tôi trở mình, kéo tấm đắp lên trùm đầu, nằm sát lại anh Ky.

Chắc ở đâu đó trên thế giới, người ta đang thắp nến, chén ngỗng quay và bắn pháo hoa.

Happy new year !

Ngày.............

Thằng Quan hôm trước nhận được đồng hương An Giang ở đại đội công binh trung đoàn bộ.

Hẹn nhau mai về sớm sang chỗ chúng nó chơi.

Chiều về đã thấy nó ngồi ở lán chờ.

Tôi, Sơn ba tai theo nó đi luôn.

Xã nó với xã thằng Quan cách nhau cả mấy chục km.

Đồng hương mấy tầm đại bác nhưng nghe quyến nhau lắm!

Ríu rít đi đường suốt.

Sơn ba tai với tôi đi sau.

Nó nghe hóng câu chuyện không thủng, quay sang nháy mắt với tôi :"Coong cá gô gãy gôộc geẹc!" (con cá rô giãy rột rẹt).

Xuyên mấy chặng đến một quãng, rừng bỗng quang hẳn ra.

Ánh nắng chiều chói loá.

Một hàng rào kiên cố cao ngất, cột thấp cũng phải gần 3m gồm toàn những thân gỗ to như bụng chân ken khít vào nhau.

Cái cổng hẹp cũng kết cấu như thế, nâng lên hạ xuống bằng trục như cổng thành thời trung cổ đang đóng im ỉm.

Tôi thắc mắc rẫy gì mà phải làm hàng rào kiên cố vậy?

Rẫy gì cha?

Nghĩa trang Liệt sỹ đấy!

Quãng này đi nhanh lên không ăn cối bây giờ!

Thắc mắc của tôi nhanh chóng được giải thích ở đại đội công binh.

Đại đội trực thuộc trung đoàn bộ này chuyên đào hầm, bố trí mìn và chôn cất tử sỹ.

Trong số tử sỹ ấy, hy sinh do sốt rét ác tính tương đương với số hy sinh vì mìn, vì đạn hoả lực.

Biên giới xa xôi quá!

Thương binh, bệnh binh không chuyển kịp nên rất nhiều ca chết oan.

Trong những mùa mưa khó khăn, suối lũ hoặc địch đánh cắt đường, không đưa anh em mình về được.

Phải bố trí chôn tạm tại đây chờ bốc.

Hồi đầu chưa có hàng rào thì hổ, con lang (chó rừng chuyên ăn xác thối), kỳ đà và con dông cứ đêm đêm, rình lúc vắng người canh là mò đến móc trộm mồ Liệt sỹ.

Anh em mình xót quá giăng mìn bẫy.

Được vài bận là đâu lại vào đó.

Những quả mìn giăng còn dính hơi người bây giờ không lừa được những loài tinh ma thính mũi ấy.

Cuối cùng phải huy động toàn trung đoàn bộ phá một khoảnh rừng, dựng lên cái hàng rào đặc biệt này.

Chống được thú thì lại bị giã cối.

Bọn Kh'mer chó bên kia biên giới, chắc được chỉ điểm của không quân nước bảo trợ khoanh toạ độ.

Thấy quãng rừng quang cây vuông vức, đất đào mới, tưởng là căn cứ hay hầm chỉ huy sở của ta nên giã cối 120mm, cối 82mm vào tuỳ hứng.

Nhiều anh em nằm xuống còn bị đạn xuyên quật tung mồ...

Ăn xong bữa cơm chiêu đãi với thịt tắc kè rang mặn, bọn tôi trở về.

Hai thằng công binh tiễn bọn tôi qua nghĩa trang.

Những cột gỗ hàng rào trần trụi cao thấp, chọc thẳng lên trời sao, như một rừng cánh tay đang giơ lên biểu quyết.

Anh em tôi sống khôn thác thiêng!

Đã lấy nắm xương tàn hứng đạn thay cho đồng đội, hỡi những Liệt sỹ hai lần...!

Ngày.............

Có lệnh dừng lại nghỉ.

Hạ ba lô xuống thở chưa được một phút thì "Pình...

ình!".

Mìn rồi!

Hướng cây chò cổ thụ.

Cả đoàn xôn xao, không biết đơn vị nào?

Chỉ là thồ gạo, không phải tác chiến nên các đơn vị lúc đầu còn đi gom.

Nhưng sau một quãng đường, thằng khoẻ đi nhanh, thằng yếu đi chậm nên các đơn vị đi lẫn vào nhau thành từng nhóm nhỏ.

Quân tải gạo đứng hết cả dậy bồn chồn.

Thịt xương Việt nam, máu đỏ da vàng như nhau nhưng ai cũng thầm mong không phải đơn vị mình dính.

Một lúc thì thấy toán lính trung đoàn 1 ngược đường, (trung đoàn của lethaitho đấy!).

Anh em cởi áo quấn chặt tử sỹ và thương binh cõng trên lưng vì đi tải gạo nên không ai mang võng.

Hy sinh 4, bị thương 2.

Thằng chạy sau cùng ôm một cánh tay rời không biết của thằng nào?

Đội hình dày thế làm gì không dính chùm!

Máu xuống đẵm, lẫn mồ hôi trên tấm lưng trần những thằng cõng, giọt giọt xuống con đường.

Những bước chân chạy huỳnh huỵch.

Anh em thay nhau cõng chạy về trung đoàn bộ.

Bộ phận còn lại tiếp tục lên đường.

Qua chỗ gốc cây chò, máu trộn gạo tràn trên mặt đất.

Chỗ này có một khoảng rộng đầy lá khô.

Quả mìn địch cài sát gốc cây chò.

Có lệnh nghỉ, chúng nó tràn vào cái chỗ rộng và sạch ấy hạ ba lô nên dính đòn độc.

Hơn chục ngày bình an nên sinh chủ quan, không tuân thủ lệnh dừng nghỉ tại chỗ theo hàng trên đường.

Cái giá trả quá đắt và đau xót

Những con kiến rừng đen khổng lồ đã tràn ra mặt đất.

Nhấc bổng những cái lá khô đẫm máu chạy thành hàng về tổ.

Chúng tôi cũng nhấc bổng ba lô tiếp tục lên đường.

Ba lô gạo trên vai giờ như nặng đến ngàn cân...

Ngày.............

Một ngày đáng nhớ!

Đang chén cơm vắt ở vực suối gần lán kho thì ngay trên đỉnh đầu có tiếng vu vu re re rất gần.

Cả bọn ngửa mặt lên nhìn bỗng giật mình vớ vội lấy súng.

Một bóng đen trườn thấp qua đỉnh đầu lừng lững, phát ra tiếng lướt gió lạ kỳ ấy.

Một loài chim cực lớn, trông không khác một cái tàu lượn cỡ nhỏ.

Mấy thằng lính coi kho cũng chạy ra ngó theo rồi bảo chúng tôi đấy là chim đại bàng.

Loài chim ăn thịt này chỉ xuất hiện ở những vùng rừng nguyên sinh trên núi cao.

Chà !

Lần đầu tiên có cơ hội được ngắm vua của các loài chim.

Con đại bàng lặng lẽ lượn trở lại, sải cánh rộng phải hơn 4 m, xoè ra rất hùng dũng.

Đôi cánh lớn đạp lướt trên gió, phát ra những tiếng rung như một dàn dây đang kéo những nốt trầm bổng.

Nó chao cánh trên đỉnh rừng, tựa theo những cột khí nóng bốc lên từ triền đá suối, bốc lên cao tít.

Đôi cánh rộng chậm rãi vươn vươn mấy nhịp, sau đó lững lờ xoay tại chỗ bằng những vòng rất hẹp như đang trong một điệu valse không tiền khoáng hậu.

Phong thái cực kỳ ung dung tự tại!

Thật rõ là ông chủ của bầu trời!

Cả không trung ngập tràn tiếng vi vi vu vu như sáo diều mùa hạ.

Trông thấy đại bàng trong tự nhiên thực là một diễm phúc trong đời.

Với kích cỡ thế này, Quỳnh Nga công chúa không bàn, còn con mễn 20 kg chỉ là một con mồi vừa miệng, đừng nói đến chồn hay thỏ.

Sơn ba tai kê súng vào chạc cây nheo mắt, đợi vòng lượn tiếp theo tính bắn đón.

Anh em xô đến cản rồi tất cả lại nghếch cổ lên im lặng nhìn.

Hẳn mọi người đang thầm ngả mũ kính phục trước cái ưu thế tuyệt đối của loài chim oai vệ này.

Và chắc ai cũng mong có đôi cánh như thế để bay về quê nhà...!

Chỉ có mấy thằng lính f339 vẩn tỉnh bơ.

Một thằng thấy tôi há mồm ra ngắm liền kẻ cả vỗ vai kéo vào trong lán.

Trên vách, cái mỏ đồ sộ của "Điểu quân vương" nằm treo, kẹp giữa cặp chân khô, khoằm khoằm chọc xuống mặt bàn.

Những cái móng vuốt đen bóng quặp lại, gại thử vào đã thấy buốt ngón tay.

Tôi định hỏi một câu cực kỳ vớ vẩn rằng sao lại bắn nó?

Nhưng thấy có vẻ vô duyên nên kịp im lặng.

Lính mà đói chất đạm thế này thì vua chúa chúng nó cũng xơi tất !

(con đại bàng núi lính f339 bắn cân được 14 kg)

Ngày..........

Kho gạo và vũ khí đã chuyển vơi đi gần hết.

Càng gần đến ngày về, thực phẩm càng khan hiếm.

Tuần hai hộp thịt cho sáu người chẳng bõ liếm mép.

Chiều về, mệt bải hoải tất cả các cơ quan đoàn thể.

Trông cái xoong nước chấm suông toàn lá bứa vàng khè nấu với bột gia vị mà không muốn nuốt.

Tôi đã "múc" ở kho được 4 trái thủ pháo Mỹ loại 6 lạng nhưng đào đâu ra suối lớn mà đánh cá?

Có lẽ vì thiếu Pờ rô tít nên trông mặt thằng nào cũng đần đần.

Kiểu này khó ở quá!

"Sáo đói thì sáo ăn đa

Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn"

Nhớ lại món tắc kè rang mặn của bọn công binh f339, tôi rủ anh Ky đi bắt tắc kè.

Loài này đêm đêm kiếm ăn vẫn chắt lưỡi vang rừng.

Chẵn mưa thừa nắng!

Tầm bậy tầm bạ hết!

Đúng là các cụ thượng cổ nhà ta vốn dân nông nghiệp mút mùa, bị chi phối nặng bởi con mẹ thời tiết đỏng đảnh nên phập phồng mong tiếng chẵn cầu mưa.

Ai hơi đâu chơi xóc đĩa với trời?

Đang giữa mùa khô, nước không rơi xuống một giọt mà nó vẫn cứ kêu tiếng chẵn đều đều kìa!

Nghe đến cải thiện, mọi người hưởng ứng ngay.

Tôi lôi cái đèn pin Mỹ gập đầu của lão Hoạch ra cạo lại các đầu mối tiếp xúc.

Lão này dân Thái lọ mà keo hết sức.

Không hiểu cái đèn này có phải của Aladin không mà giữ như giữ mả tổ?

Mượn được cái đèn pin của hắn là cả một kỳ công.

Có lần anh Nhương mượn không được, xúi tôi lấy trộm quăng mẹ nó xuống suối cho bõ tức...Anh Ky lo kiếm tre về vót vài cây cần vụt thật dẻo.

Pin thì chúng tôi không thiếu.

Có điều lố pin cho máy PRC.25 gồm toàn những cục pin nhỏ ghép lại, đường kính khác với thân đèn nên phải chế, độn ghép lại.

Việc đó không khó lắm!

Cơm tối xong, cả bọn chun vô rừng.

Đi ròng ròng quanh khu lán thôi, không dám đi xa vì sợ dính mìn.

Đây rồi!

Một con chắc mới ra khỏi bọng cây, mắt lấc láo dưới ánh đèn.

Vút!

Nó gần đứt đôi thân rụng xuống.

Khả quan rồi!

Lại con nữa.

Vút!

Lần này chỉ rụng mỗi cái đuôi rơi xuống đất giãy giãy.

Không sao!

Nhặt tuốt!

Đuôi tắc kè cực bổ.

Con tắc kè mất đuôi kêu kẹc kẹc rồi vọt mất lên cành cao.

Tiếng kêu như báo động cho đồng loại hay sao đó mà đến gần tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vụt thêm được dăm con nữa.

Cả bọn kéo nhau ra con suối con lội ngược về.

Những con nhái bén xanh lét, gầy đét nhảy tứ tung, bám vào cây, vào đá rào rào.

Vi văn Ky mắt sáng trưng, múa roi vun vút.

Đúng nghề của chàng rồi!

Nhái bén rụng lộp bộp.

"Nhặt lấy!

Chúng mày!".

Tôi nhặt những con nhái nhẽo nhèo, nhớt nhát và lạnh ngắt vứt vào cái xoong nhỏ mang theo.

Chỉ một lúc là đầy lưng xoong.

Pin hết, chỉ còn một vầng sáng đỏ quạch cả bọn mới chịu đi về.

Lão Hoạch nhìn thành quả lao động, phấn khởi ra mặt, quay sang bảo anh Ky :"Chỉ còn thiếu mỗi măng thôi mày ạ!".

Anh Ky thật thà, không hiểu thằng cha đang xỏ xiên mình là dân Thái trắng ăn nhái ôm măng, trả lời tỉnh rụi :"Mùa khô này lấy đâu ra măng?

Mày ngu thế?"

Chẳng biết thằng nào ngu!

Hê hê!

Chúng tôi về cơi củi to lên, lột da nhái.

Sau bóp muối cho hết nhớt rồi tống ớt giã với muối thật nhiều, thêm chút bột gia vị vào rang khô lên.

Mai có đồ ăn dần rùi!

Công thức món này Cụ Hồ đã dạy bộ đội ta trên Việt Bắc, không ngờ có lúc lại được con cháu mang ra áp dụng một cách sáng tạo đến thế!

Còn tắc kè, chúng tôi nướng sém da, cạo sạch hết vỏ ngoài rồi sang kho xin ca gạo nấu cháo.

Thú thật là ăn giấu ăn giếm, cũng như ăn vụng cháo gà thời ở Neak Luong, vì chỉ sợ bọn các lán bên biết sang ăn ké.

Nhìn thằng Sơn ba tai vừa húp sì sụp vừa nhớn nhác ngó quanh thật tức cười!

Chẳng ai ngờ là nó đã dốc hết thịt hộp ra tặng hết bạn như một trang hảo hán.

Thứ Bảy, 31/1/1981 (ngày 27 Tết)

Nghỉ.

Gạo và đạn đã chuyển ra hết chốt.

Chuẩn bị hành quân trở về căn cứ ăn Tết.

Xe sư đoàn đã vào chờ sẵn để mai lên đường sớm.

Thằng Quan xếp lại bộ quân phục mới tinh chưa mặc lần nào mà đồng hương vượt tầm đại bác f339 gửi về cho chú em cà cộ quê nhà.

Nó nghĩ đơn vị tôi gần hậu phương, có thể có cơ hội hơn chăng?

Rách chết cha lại còn bày đặt!

Cầu trời khấn Phật cho thằng em dại chỉ bận bộ đồ đó trong lúc đi chơi mà thôi!

Chứ đừng có phải tham gia những điều mà thằng anh nó và chúng tôi đang trải qua.

Tôi chia mỗi người một trái thủ pháo mang cho nhẹ rồi tháo súng ra lau, thậm chí còn huýt sáo...Nắng vẫn nắng ấy, gió vẫn gió ấy nhưng sao phơi phới thế!

Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay.

Chiều, lão Hoạch hô bọn tôi dỡ nilon trên mái lều cất vô bồng, mai dậy sớm khỏi lục cục.

Một đêm sương ý nghĩa gì?

Các lán bên làm theo ầm ầm.

Chẳng mấy chốc, cái phố rừng chỉ còn trơ xương mái.

Đêm nằm thao thức mãi không ngủ được.

Lần thứ hai trong tháng, địch giã cối 82 vào trung đoàn bộ, hướng đại đội công binh.

Tiếng đề pa lọt thỏm giữa rừng già, nghe rất khó xác định vị trí.

Đạn nổ rền rền, vọng ào ào trong rừng đêm...

"Khi ta ở chỉ là nơi đất ở.

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn".

Tâm hồn khỉ khô gì cái địa ngục này?

Chỉ thương anh em mình còn ở lại mà thôi.

Chủ nhật, 1/2/1981 (28 Tết)

Bốn giờ sáng, bếp anh nuôi đã đỏ lửa.

Cả đơn vị gần như dậy cùng một lúc.

Hầu như đêm qua ai cũng ít ngủ.

Đánh răng rửa mặt xong, tôi nằm ngửa, ngó mông lên tán cây còn thẫm tối chờ cơm.

Núi rừng yên tĩnh kỳ lạ.

Chào nhé !

Vùng đất xa xôi nơi biên giới, đã lưu lại dấu chân của chúng tôi, đã ôm phủ trong lòng mình những hình hài người lính Việt nam bé nhỏ.

Con suối nhánh nước lúc nào cũng lạnh buốt này, cái cây gì buộc lán này nữa!

Bao giờ ngươi sẽ thành sông?

Bao giờ ngươi sẽ thành cổ thụ?

Mười năm, hai mươi năm hay nhiều đời sau nữa, có những ai sẽ lại qua đây?

Có dấu chân nào sẽ lại đánh thức giấc ngủ đại ngàn bí hiểm này?

Tôi đã vỗ vào cái thân cây trần trụi ấy, như vỗ vai từ biệt một người bạn.

Cuộc sống bình lặng chảy trôi, người ta chẳng có gì để nhớ.

Chỉ khi có biến cố, có đổi thay, những vật tưởng như vô tri xung quanh đôi khi cũng trở thành nhân chứng trong ký ức.

Đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được giọt sương lạnh luồn trong cổ trong buổi sáng hôm ấy, hay cái cộc đầu đau điếng vào đòn tay mái lán khi vội khoác ba lô chạy ra xe...

Xe chạy qua khu Hai Mươi Nhà.

Lúc vượt ngầm nơi con suối tắm, ai cũng ngó vào căn nhà nhỏ, nơi gặp cô lính Việt lúc mới vào.

Đó có lẽ là cô gái duy nhất ở cái nơi khỉ ho cò gáy này. (Về sau, khi cùng đội văn nghệ Sư đoàn 9 về Ph'nom Penh dự hội diễn nghệ thuật Quân đoàn, tôi lại gặp cô gái sư 339 ấy).

Chúng tôi gọi ầm lên, mong một cái vẫy tay.

Không thấy ai ở đó hết!

Nhân diện bất tri hà xứ khứ, chỉ còn rừng khô y cựu...mất tiêu luôn!

Mong rằng em đã được trở về nhà, hay được chuyển về một nơi an toàn nào đó.

Ở đây rừng thiêng và sốt rét sẽ nuốt chửng em mất!

Xe chạy không tải, lồng lên nước mã hồi cuốn bụi đường cuồn cuộn.

Mới vào mùa khô đôi tháng, rừng lại đã chuyển màu vàng ruộm.

Trong những bãi tranh cháy, tiếng mìn đôi khi vọng lại ì ầm.

Cái khăn mặt nhúng đẫm ướt, lót trong mũ phủ trùm đầu cho mát một lát đã cứng lại như bánh tráng và đỏ quạch bụi đường.

Mấy thằng D29 này chạy cũng gấu!

Có những chỗ cua khá gấp nhưng xe vẫn không giảm tốc độ.

Chúng tôi trên thùng, hết văng bên này lại lăn bên kia nhưng như thế càng khoái, đỡ sốt ruột.

Tiếng nổ khi đánh nhau, hay tốc độ trên đường hiểm cũng kích thích con người, gần như một thứ ma tuý.

Xe trước xe sau bánh tung bụi cát, hệt như cuộc đua Paris – Dakca...

Chiều tối, nghỉ ở phum Rôviêng.

Từ đây ra đến Leach chỉ còn một quãng ngắn nữa.

Mấy thằng thông tin tiểu đoàn 4 kiếm được một cái nhà nhỏ lợp rơm, tường trình đất nện.

Kiểu nhà này chắc chắn của lính mình từng đóng quân ở đây.

Trong nhà khá sạch và khô ráo.

Chúng tôi rút rơm trải trên nền đất nằm cho khỏi lạnh.

Một bếp lửa được nhóm ngay lập tức.

Bọn tôi ra suối rửa mặt rồi gọt cơm vắt ra ăn.

Vắt cơm sau một ngày sấy nóng trên thùng xe vỏ ngoài đã khô cứng.

Quan trọng gì?

Chỉ mai là về đến cứ rồi!

Cả đêm ấy, tất cả ngủ say như chết mà không thằng nào gác...

Hôm sau, 8h đã vượt ngầm Leach, khoảng 10h thì ra đến Pursat.

Mấy thằng đi ròng ròng ngó thị trấn trong khi chờ tàu đến.

Pursat tuy nhỏ hơn nhưng vui kém gì thị xã Kampong Ch'nang đâu?

Dân thị xã chính tông chắc bị khử gần hết.

Nông dân ly tán đổ bộ vào, ở luôn những ngôi nhà không chủ.

Buôn bán ì xèo tấp nập ra dáng!

Tất nhiên là không điện, không nước máy, thậm chí là không cửa.

Trong nhà lầu, các hũ mắm prahoc (bò hóc) nằm lẫn những chum đường thôt nôt trên sàn gạch bông.

Sà rông, áo quần trên dây giăng ngang dọc trên tường ố.

Mùi sầu riêng, mùi đường cháy, mùi phân bò, mùi mắm prahoc hoà quện với mùi khét của thuốc rê loại nặng quấn bằng lá cò ke thành một mùi tổng hợp rất đặc trưng.

Cam nữa!

Cam trong các bao tải, nông dân đánh xe vào đồn điền thu hái bày đầy chợ.

Cam tỉnh Pursat vỏ xanh, tuy có sần sùi nhưng ngon nổi tiếng.

Đặc sản trái cây này thời thái bình đã từng được xuất khẩu sang Pháp quốc vì chất lượng tuyệt hảo.

Tỉnh này có hẳn mấy đồn điền trồng loại cam này phục vụ cho ông hoàng lưu vong thời còn chưa bị Lonnon với Pôn pốt nó rượt chạy.

Sau này, tôi được mách thêm thông tin rằng vùng nào có cam ngon vỏ sần là nơi đó có nhiều hồng ngọc và đá quý.

Như vùng Bố hạ, vùng Lục Yên châu bên mình cũng thế!

Địa chất, thổ nhưỡng nào thì sẽ phù hợp, sinh sôi loài cây thích hợp đó.

Chắc vậy thôi!

Chúng tôi lấy gạo đổi mấy ký đường thốt nốt về nấu chè ăn Tết.

Cô gái đang múc nước tắm sau nhà chạy vội ra.

Đầu tóc, sà rông ướt rượt dán dính trên thân hình vũ nữ ngăm ngăm phồn thực.

Đã thế còn hào sảng khuyến mại thêm các anh nước tắm tiên về nếm cho mà nhớ!

Nước trên tóc, trên sà rông nhỏ tong tỏng cả xuống đường đựng trong tấm nilon.

Sơn ba tai khoáy ngón tay vào chỗ đường dính thứ nước tuyệt trần đó, quệt cho lên miệng mút chèm chẹp, kêu oai oái :

-Ui, ui!

Êm chà rờn on à! ( ngọt quá em à!)

-À ơi!

Alabor dzô...!

A ch'ngư dzô...! (Đồ phải gió...!

Đồ mắc dịch! )

Tiếng cười rộ lên.

Ngoài sông Pursat, gió chướng lao xao lướt trên mặt nước, lùa gợn những con sóng nhỏ lăn tăn chạy ngược triền sông chảy.

Phiên chợ Tết phương nam đầy nắng gió, lồng lộng dưới bầu trời khoáng đạt.

Tự nhiên tôi nhớ đến tán rừng thâm u biên giới, nhớ những đồng đội f339 chưa kịp quen thân.

Từ đây tới đó cách nhau có hai ngày đường mà như đã ở tận thế giới xa xôi nào!

Tàu từ Bat đom boong vào ga Pursat.

Bà con xuống tàu mai đi tiếp nhé!

Ưu tiên bộ đội Việt nam (ngày có nhõn một chuyến).

Nhưng nếu có gói Samit thì tình hình có thể khác đấy!

Hoặc ít ra cũng phải xinh xinh mau miệng thì mới được!

Bà con đi buôn quá quen với cảnh này, tự nguyện chuyển hàng xuống ga ngay.

Một số nhỏ đàn ông nhóm bếp ngay trên sân ga, nấu ăn trưa trong những cái cà- mèn móp méo.

Các chị các em dẫn nhau ngược lên một đoạn, che sà rông vô tư tưới bụi xương rồng đến chết sặc.

Con tàu tiếp tục hành trình.

Bộ đội ngồi xúm quanh các đối tượng ưu tiên, phun khói thuốc thơm mù mịt.

Đấu hót với nhau, cười như nắc nẻ...

Quá trưa về đến ga Bâmnak.

Chúng tôi không nghỉ, vào dân mua can rượu rồi quay ngay trở về.

Gặp luôn cả anh em ở nhà trông cứ ra trung đoàn bộ lĩnh hàng Tết cho đơn vị.

Cả bọn guồng chân 7 cây số đường rừng, đi như chạy.

Mới xa hơn một tháng mà khung cảnh đổi mùa thay đổi trông khác hẳn.

Rừng thưa đã ngả vàng, lá rụng gần hết chỉ nhìn thấy quả.

Cây săng đầy gai, quả vỏ cứng, đập ra ruột đặc hột, giống quả lựu.

ăn có vị chua.

Quả này lúc đi rừng khát nước chọc xuống xài đỡ cũng tàm tạm.

Quả cám nhỏ cỡ đầu ngón chân cái, da nâu bóng, lấm tấm những chấm trắng, vị bột bùi và ngọt.

Quả mã tiền chín, lớn và vàng như trái cam lúc lỉu trên cành.

Trông thì đẹp nhưng trái này rất độc.

Hạt của nó mang về, sang quân y xin ít cồn ngâm.

Lỡ vấp rễ cây, bong gân hay sưng tấy mang ra bóp rất chóng khỏi.

Ở chân trảng cháy gần khẩu DK.82, phân thỏ dày đặc, lổn nhổn tròn như những viên thuốc tễ.

Không hiểu bọn ở nhà có săn được con gì không?

Càng về gần, những đôi chân càng rảo bước.

Mồ hôi đặc quánh lẫn bụi đường hai ngày không tắm.

Chỉ nghĩ đến dòng suối trong vắt thôi đã thấy rộn cả người.

Ngày 29 Tết.

Như ngày đầu tiên thời đi học được nghỉ hè, muốn nằm ngủ thật muộn nhưng hôm đó lại chẳng thể ngủ được.

Radio đang phát đi chương trình ca nhạc đón xuân Tân Dậu.

Những bài hát về mùa xuân bao giờ cũng gợi nhớ về cái Tết đầm ấm quê hương.

Mấy con heo tiêu chuẩn Tết sau vài trăm km tàu xe đói khát gần chết đang kêu như xé vải dưới bếp anh nuôi.

Anh Ky rủ tôi, lão Hoạch, Sơn ba tai đi đánh cá.

Chúng tôi chọn hủm suối ẩn dưới gốc cây táo dại nằm giữa khẩu đội DK.82 và khẩu đội 12.8mm.

Đoạn suối chỗ đó ngoặt hướng, có cây táo già, rễ cắm tua tủa xuống lòng suối đổi dòng.

Đã hai mùa mưa, con suối hung dữ xối nước thẳng vào chùm rễ vĩ đại ấy nhưng không ăn thua gì.

Đất có lở đi một chút nhưng cây táo vẫn đứng vững trong tư thế nửa trên bờ, nửa dưới suối.

Tàn lá xanh thẫm la đà, tầng trên tầng dưới, đẹp hơn tất thảy những thế bonsai sau này mà tôi từng gặp.

Đồ nghề chuẩn bị xong xuôi, tôi lẳng quả thủ pháo 6 lạng xuống đúng chỗ nước quẩn sâu nhất.

Ục!

Tiếng nổ dội nước, vọt lên trên ướt cả tán cây rồi trút xuống rào rào.

Nhiều con văng cả lên bờ.

Toàn cá bò to cỡ cườm tay vàng choé.

Cá chết bị nước đẩy, tuồn từ trong hốc cái vòm rễ ra đặc cả nước.

Bốn thằng hì hụi hất cá lên bờ.

Một loáng đã đầy chặt hai cái bao dứa.

Bọn tôi phải buộc túm ống quần dài vào làm đồ đựng thêm.

Bọn DK.82 gần đấy thấy thế cũng lội xuống đánh hôi.

Bì bõm một lúc cũng được cả yến.

Thằng Hùng lé bỗng la toáng rồi nhảy lò cò lên bờ.

Nó dẫm phải một con cá lớn.

Cái gai trên kỳ lưng nhọn hoắt xuyên thấu gan bàn chân.

Thằng Mẫn cõng vội nó về quân y tiểu đoàn lấy panh gắp mãi mới rút ra được.

Kiểu này mất Tết là cái chắc rùi!

Nhớt cá bò rất độc, gây sốt, buốt đến phát sốt phát rét.

Cả bọn thấy thế cũng đâm ngán, chỉ đứng rình xem con nào lớn mới vớt.

Cá từ trong cái hốc vực ấy vẫn tuôn ra.

Cá tụ ở đây kinh khủng quá!

Rặt một loại cá bò!

Dường như dưới đó có một cái hang ngầm sâu thẳm.

Tôi chạy về gọi chúng nó ra phụ khiêng.

Có đến hơn hai tạ cá, phải đổ ra nền đất, dùng xẻng chia cho các trung đội trong tiểu đoàn bộ.

Cá bò nấu canh chua lá giang với ớt ăn mát quên sầu.

Cho bõ những ngày soi đèn đêm vụt tắc kè, vụt nhái.

Lòng chợt chùng xuống, nhớ những đồng đội đã từng chung nhau điếu thuốc, chung nhau bát nước sâm rừng.

Phải chi có cách gì mang cho chúng nó tất chỗ cá này!

Ngày 30 Tết Tân dậu

Ngồi phụ cắt, tết lá dừa cùng anh Bình cháo dựng cổng chào cho tiểu đoàn bộ.

Mỗi đại đội phải dựng một cổng để đón năm mới.

Chiếc cổng xương tre, ngoài đan bằng những tàu lá dừa xanh rất khéo, trông thật đẹp mắt.

Đường đi lối lại đã được rẫy cỏ phong quang.

Ngày cuối năm, ai cũng cố bận túi bụi.

Các trung đội lo chỉnh trang nhà cửa lán trại, lo cải thiện kiếm mồi, kiếm rượu đãi khách.

Trung đội thông tin còn lên kịch bản, phân công nhau thằng trước thằng sau xa luân chiến sao đó, để mai khi khách đến sẽ không còn đường về.

Không cho "chúng nó" thoát là mục tiêu tối thượng!

Thiếu gì thì thiếu, nhất định không thể thiếu rượu.

Thằng Vỹ, thằng Ban trố mang thỏ ra suối lột da.

Đêm qua lão Nhương với T lé đội đèn đi bắn được 7 con.

Loại thỏ này ngoài trảng ven rừng rất nhiều.

Chúng tôi đi cắt tranh thỉnh thoảng vẫn gặp cả bầy thỏ con bằng nắm tay.

Trông chúng giống như những cục bông xám lăn tròn trên mặt đất.

Giống thỏ ngày rằm, trăng sáng rất say đèn.

Dưới đại đội 1, Chính tréc với thằng Căn đêm vác gậy dài đi đập cũng chết cả lố.

Thế mà lúc xách mấy con thỏ nát về, mặt hai thầy trò nó vên vên thấy ghét, cứ như bắn được heo độc!

Bọn đại đội 2 lên cho chúng tôi miếng thịt mễn.

Ngoài suất đương nhiên của Ban chỉ huy tiểu đoàn, bao giờ trung đội thông tin cũng phải có phần tử tế.

Thói "tham nhũng" do độc quyền hẳn có từ thời đó!

Vì nếu không có suất thì từ lần sau đừng có mà lên đây nài nỉ xin pin thải về lắp đèn đi săn.

Cắt ngay!

Đó là một thí dụ sinh động về chữ "móc ngoặc" thời bao cấp.

Có đi có lại mới toại lòng nhau!

Chẳng ai chấp nhận một cái tương lai không có mình ở trong ấy, thế thôi!

Vậy là mùa xuân thứ ba đời quân ngũ đến một cách đầy đủ, giống như một cái Tết phải có với những bận rộn thịt rượu, gạo nước, lễ lạt biếu xén...như thật.

Sẽ là thiếu sót lớn nếu không có một cành mai cho đủ phong vị.

Cách đại đội 1 hai km ngược suối Đamrey là một rừng mai bạt ngàn.

Thằng Quan thui thủi lặn lội khoác súng mò lên, chặt tha về một cành lớn chi chit nụ.

Về đến nơi, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, và trong khoé mắt nó, thoáng cả những ngấn nước.

Khổ thân chú em, Tết đầu tiên xa nhà ai mà chẳng vậy!

Chúng tôi cắm nó vào cái ống đạn DK.82, buộc néo các góc cho khỏi lật.

Đến nửa chiều, tất cả mọi việc đã chuẩn bị xong.

Hết việc, thằng nào thằng nấy tự nhiên thuỗn mặt ra nhìn nhau.

Không khí chùng xuống.

Lão Nhương hắng giọng, hết đi ra lại đi vào rồi đuổi chúng nó ra suối tắm.

Tôi ngồi cời đốt những đống cỏ anh em rẫy vun vào lúc ban sáng.

Cỏ khô đượm lửa cháy rừng rực, liếm tràn sang trảng rồi lan vào bìa rừng.

Khói mịt mờ trong chiều tắt nắng, toả mùi thơm ngòn ngọt.

Một đàn chim én lao đến, bay lên lộn xuống đớp những con bọ bay lên loạn xạ trong đám cháy.

Trầm ngâm ngắm lửa, phút nhớ nao lòng những buổi chiều Ba mươi lạnh hắt phố phường.

Không hiểu sao tôi thích dạo phố một mình trong buổi chiều cuối năm ấy.

Khi mọi nhà đã quây quần bên mâm cơm cúng ông bà.

Con đường trở nên vắng vẻ, vài người đang vội đạp xe về.

Không gian thoảng mùi hương trầm, mùi khói pháo bọn trẻ con đốt lẻ đì đẹt đâu đó.

Những mái ngói nâu già, liêu xiêu cúi xuống ngẫm nghĩ trong mưa bụi, để rồi chút nữa bùng lên, rền rền tiếng pháo giao thừa...

Mình cũng đi tắm tất niên thôi!

Để mình khỏi quên mất mình.

Mùa xuân dẫu vô tư cũng chẳng thể bỏ quên một ai !

Hãy hy vọng ngày trở về !

(Đôi lời cảm nhận của các bác trong diễn đàn - trong khi chờ ts viết tiếp chuyện ,tôi xin kể lại cho các bác nghe 1 chuyện buồn cũa đơn vị tôi E 36 pháo f309 mà bác Hồng sư trưởng có nói qua mươi dòng trong hồi ký cuộc chiến tranh bắt buộc.

E 36 cũa tôi các đơn vị trong e ít khi được nằm chung đội hình lắm, năm 80 E bộ và các đơn vị trực trực thuộc đóng quân ở vùng 3 núi, còn D10 đóng ở đập pinpui cách e 15km, riêng D11 cũa tôi theo e96 đóng ở sơrêantiếc trên trục đường 58 bên sông mongcoboray e bộ 96 đóng ở nămsap cách chúng tôi 15km về hướng bắc.

Năm 82 địch luồn sâu tập trung đánh các đơn nằm ở phía sau là chủ yếu, nên chúng tôi được lệnh rút bỏ sơrêantiếc giao lại cho e 812 đảm nhiệm, D rút về tuyến sau để lại C4 lựu pháo 105mm ở lại đội hình e96 phối thuộc không thời hạn, lúc bấy giờ E bộ cũng rời 3 núi lên đóng quân tại thị trấn S'đao cùng các đơn vị trực thuộc giúp bạn xây dựng chính quyền.

D tôi xuôi về hướng nam theo đường số 10, đội hình đóng quân như sau: c5 pháo 85 đóng hướng nam đường 10 khu vực không có dân ở, cách e bộ 4km, D bộ chúng tôi và c6 lựu pháo 105mm xuôi xuống thêm 3km đóng quân ở hướng bắc đường 10, chúng tôi đặt doanh trại cách đường 400m, phía sau cách 500m là 1 con đập thủy lợi lớn.

Bên kia đường là 1 phum dân ở có 40 nóc nhà gọi là phum băngpầmbêng thuộc xã tà hen huyện s'đao, xuôi xuống hướng nam 3km nửa là 1 phum dân sống rất đông nằm cặp 2 bên đường trồng rất nhiều dừa và xòai (sau này chúng thường xuống phum nầy cải thiện thường xuyên).

Đội hình chúng tôi đóng song song với đường 10, c6 nằm hướng phum vườn xòai d bộ nằm trên đối diện với phum bên kia đường đường nhựa.

Còn c5 phía trước là đường nhựa sau lưng có nhiều núi, e chọn bình độ 202 làm điểm chốt khống chế và lệnh cho D đưa 1 tổ chốt trang bị 12mm7 lên chốt cao điểm này, cao điểmhướng xuống đường 10 sẳn sàng yểm trợ c5.

Về sống gần dân lòng chúng tôi cứ lân lân vui sướng vì từ tháng 10/79 cho tới nay chúng tôi mới thấy được cuộc sống bình thường, những mặt hàng bình thừơng như dưa hấu, đậu đủa,dưaleo,xà phòng, rau cải,nhưng tuyệt vời nhất là rượu và thuốc rê, nhìn ngắm các cô gái K tuy có hơi bị đen nhưng có duyên ra phết.Các công trình hầm hào phòng thủ chúng tôi làm rất hòan chỉnh, cây làm hầm vào rừng cách đó 3km phía sau phum chặt thỏai mái, chặt xong mượn xe bò cũa dân chở về khỏi phải vác cho đau vai, là lính vùng chiến về nên chúng tôi rất cảnh giác, cảnh giới lùng sục truy quét ,1 vùng bán kính 10km xung quanh đơn vị thường xuyên được duy trì.

Nhưng chính cái cuộc sống bình thường đó đã nảy sinh tâm lý chủ quan lan tràn cả đơn vị, các tổ lùng sục bảo vệ từ xa không lùng sục theo qui định mà lùng vào các phum học tiếng k,tranh thủ cải thiện, các ông phum trưởng chung quanh cứ đem thịt cầy đến samaki cùng đơn vị lia chia.Về vùng có dân nên tài vụ cũng phát tiền riel cho anh mua đồ cải thiện.Mổi tháng bạn hổ trợ cho contop vn 10riel,từ tháng 1 năm 80 chúng tôi không có lảnh vì đâu có chổ xài mà lảnh, vì thế em nào cũng có vài trăm riel rủng rinh, không biết năm đó ở các vùng các bác ra sau chứ chổ tôi ở giá dành cho bộ đội nghèo như thế nầy đây: 1 bit thuốc rê hút cả A là 1riel,1bịt rượu thuốc 1l 5R, 1gói rùmđo 3R, samit 10R, đậu đủa dưa hấu cứ 10R là ăn thỏai mái...các bác miền bắc nhập ngũ dợt 77,76 trnh thủ mua vải katê mì chính, xàphòng,để chuẩn bị ra quân thật là vui.

Ngày 15/5/82 anh Huân D trưởng nhận lệnh về hà nội học, anh Huân lúc đó là thượng úy quê anh ấy ở Ý yên thái bình, dự kiến ngày 25/5 sẽ lên f bộ tâp trung, bch các c5,c6 và các bt ở d bộ bàn liên hoan đưa anh H đi, anh H đồng ý.Kế họach được triển khai,đem gạo ra mấy phum chung quanh đổi thực phẩm, mấy thứ ưu tiên đổi là gà, vịt,chó mà chó dứt khóat phải có.Ngày liên hoan là ngày 22/5, sáng hôm đó các tổ cải thiện hòan thành xuất sắt nhiệm vụ, 2 ông phum trưởng đánh xe bò vào tặng 50kg đậu xanh, 1số đu đủ xanhvà 40kg thịt bò đặc biệt hơn nữa là 20 lít rượu đựng trong 5 cái can dầu ăn màu vàng.

11h bắt đầu buổi liên hoan trước đó D cũng có lệnh mổi A chỉ dùng 1/2l rựơu vui xuân không quên nhiệm vụ.Có 1 điều không bình thường là từ mấy ngày nay cả 2 phum tổ chức đám cưới nhiều quá đám nào cũng có múa lămthôn hết, mà đám nào cũng có mặt contop nhà ta rượu để kín trên bàn ai muốn uống thì uống, uống lắc lư rồi nhào vào múa mừng cột chỉ tay cô dâu chú rể.Như đả nói ở trên chỉ phát cho mổi A 1/2l rượu nhưng A nào cũng lén ra dân mua thêm từ 1-2l nửa cho nên buổi liên mới hơn 2h chiều mà đãsay khật khưởng hết.Năm đó tôi không biết uống rượu chỉ say mê phá mồi mà thôi nhưng cũng bị anh Bàng quê quảng ninh ép uống mấy chén chóang cả mặt mày.Tôi ngủ 1 giấc dài giựt mình thức giất ngó qua giường kế bên thấy chỉ còn thằng hầu quê trảng bàng nằm ngáy o.o còn lại vắng hoe với ngọn đèn dầu chai leo lét, tôi mò dậy lấy bi dong hớp 1 ngụm nước cho đở khô cổ thì anh Trân b trưởng bước vô và hỏi: Atrinh sát chỉ còn thằng Luyện,cường, còn bên kế tóan(kế tóan tính phần tử pháo) cũa mầy thằng Bắc với anh bàng đâu đi kiếm về ngay 9h tối rồi còn gác đêm nữa chứ! tôi với anh luyện a cường và thằng Hầu chia 2 cánh đi tìm các bố kia, đeo bao xe mang súng đàng hòang, bác cường hà nội với giọng làm biếng nói kháy:2 ông là At nên đi xuống phum xa mà kiếm lính, còn tớ với thằng hầu ra phum truớc đây kiếm con gà nấu cháo chờ các ông về ăn cho nó tê mình.

Tôi với a luyện ra đường nhựa gặp mấy anh c6,c5 cũng đi tìm quân hợp thành 1 nhóm 7,8 người vừa đi vừa nói chuyện rôm rả.Từ chổ c6 đến phum xòai có 1 trảng rộng có 1số cây táo rừng cành lá rậm rạp cách tuyến hào phòng ngự cũa c6 chừng 200m, tới phum hướng vào nơi có ánh đèn bình acqui sáng tiếng trống tung tung tiếng kèn tò te tí là thấy lính ta gần mấy chục mạng, lớp đứng lớp ngồi, lớp đang múa lăm thôn trong vòng, đi lôi từng ông, hăm he đe nẹt gần cả tiếng đồng mới kéo hết về được, các bác thông cảm ông nào cũng có tí men,cũng có súng cả găn quá thì không nên( đáng buồn là trong số này có 8 đc pháo thủ cũa c6 đều quê ở tân biên tây ninh bị hy sinh ngay trong đêm hết) khi về ngó qua trảng rộng thấy có gì đó bất an mà lúc đó linh tính không dự báo được.

Vế đến nhà cũng hơn 11h thằng hầu đang gác, nó nói hơn 12 tôi ra đổ cho nó còn mấy ông kia cho gác sau đi.Xin nói qua về B TS pháo 1tí,B tôi có 2 A,Akế tóan,Atrinh sát quân khỏang 12 người, chúng tôi ở làm 2 nhà, nhà âm nửa nổi nữa chìm có đường thông ra hào chiyến đấu đầu hồi có hầm chử A tránh pháo.Tôi thay ca gác cho hầu lúc 12h, đến hơn 1h tôi vào kêu thằng Bắc đổi nó nói nhựa nhựa mầy ráng thay dùm tao, tao múa lam thôn uống rượu nhiều hết dậy nổi rồi, thôi đành gác thay nó thôi bề gì tôi cũng đã ngũ 1giấc dài rồi, tôi ra chốt gác đang còn mênh mang suy tư thì từ hướng c6 chớp lữa và những tiếng nổ đùng...òanh,,đùng,,òanh liên tôi la thấm chết mẹ...thì súng bộ binh các nổ tạch,,tạch đùng đùng, nhìn ánh lửa chớp tôi biết là hướng cũa các khẩu đội pháo thủ.Lúc nầy Bắc và hầu cũng bò ra tới hào, tôi bảo 2 đứa tảng ra, thằng bắc tỉnh rượu hẳn nó giử m79 tôi bảo mầy bắn đi, vì đội hình nằm 1 hàng song song nên chỉ có thể dùng m79 bắn mà thôi , thằng bắc cóc được trái đầu thì đùng..òanh 1 chớp lửa sáng rực sau lưng chúng tôi, nhà A TS bị trúng 1 quả DK, mái nhà đang bốc cháy, có tiếng anh bàng kêu khóc, thằng hầu tự nhiên bắn 1 lọat ak về hướng đường nhựa đầu phum nó nói thấy ánh chớp lửa ở phía đó.Quả thật cách chúng tôi 400m là nhà và tuyến hào cũa A TS c6 các bác hướng RPD và b40 về phía đó nên không thấy đạn dk bắn về D bộ nửa, hướng c5 chúng nó cũng bị đánh tưng bừng.c6 bị tê liệt trong 15' đầu , sau đó bám theo tuyến hào nổ súng đánh trả, anh Trân dẩn b TS vận động ra lộ nhựa chi viện cho c6, còn tôi cùng b thong tin vận đông theo đường nhựa ngược lên chi viện cho c5, sau 20' chúng tôi cách c5 100m lúc nầy đả im tiếng súng tôi bắn bắt liên lạc, sau 2,3 lần bắn mới bắt liên lạc đươc, thì ra bị đánh bất ngờcácbố bỏ chạy dạt vô núi, mấy khẩu 85 nằm chơi vơi nhưng không bị vì, cũng nhờ khẩu 12mm7 từ trên cao điểm bắn chặn chi viện nên chúng lo phá kho lấy thực phẩm , không truy kích, hy sinh 3 đc gác và 1số bị thuơng.

Chúng tôi trở về báo cáo, lúc nầy hướng c6 địch cũng rút, c6 bị thiệt hại nặng nề, hy sinh 16 bị thương 5 rơi vào các khẩu đội pháo thủ, ngoài ra chúng dùng bộc phá đánh hỏng nặng 2 bệ khóa nòng pháo 105mm( pháo mà banh bệ khóa nòng thì coi như vứt), còn D bộ thì chỉ có anh bàng bị dính mảnh dk chết sau 2g, pốt bỏ lại 1 xác và rất nhiều vết máu vương vải trên trảng.Trời sáng tỏ chúng tôi lùng sục khắp trảng cỏ thì trời mẹ ơi chúng nó tập kết ém quân dưới mấy gốc táo rừng, xem dấu vết chúng nằm ước cũng khỏang 50-60 tên còn khẩu dk chúng đặt trên mép đường nhựa bắn vào d bộ.Như vậy trinh sát nó ém quân lúc 9h thời gian mà chúng tôi lên phum xòai kêu anh em về. thật là đau thương ở biên giới gần 3năm bị chúng đánh liên tục mà không sao, về tuyến sau do chủ quan khinh địch mà hy sinh ngần ấy đc mình.Anh Huân khóc, khóc trong đau xót)

Những ngày Tết...

Tết yên bình, thoải mái!

Đêm giao thừa không có tiếng súng, không có đứa nào bắn bậy.

Lệnh rất rõ ràng là thằng nào bắn bậy sẽ không được xét đi phép hay ra quân.

Chỉ nghe tiếng gõ thùng phuy, gõ chậu ầm ầm ở hướng đại đội 1.

Anh Nhương rủ tôi với thằng Quan mò xuống.

Con cưng phối thuộc truyền thống bị gí ngay ba bát rượu vào mồm.

Vào ba ra bảy đừng lằng nhằng nếu muốn sống!

Chúng nó đã đốt một đống lửa to tướng, cởi trần múa may nhảy Va xi lô.

Hai chục cái miệng đang gào hết cỡ :" Va xi lô - kè ri cố và xì lồ!

Cha cha cha - kè ri cố chà chà chà...!"

Hai chú em đoàn mới vào đang uốn éo, cố gắng thi triển điệu shake công-phu.

Đám còn lại mỗi đứa nhảy một kiểu.

Ngực trần mồ hôi loang loáng, đầu tóc xoã xượi, chân tay nghều ngoào con cào cào quanh đống lửa như bọn thổ dân da đỏ.

Thỉnh thoảng lại đồng thanh hú lên rất sướng.

Thằng Tào anh nuôi đang cố sức giằng lại cái vung nhôm xoong quân dụng nấu cơm từ tay mấy thằng phụ trách bộ gõ.

Bọn này lấy băng đạn giáng thật lực thì cái vung nào còn lành?

Mai khỏi ăn cơm luôn cũng được!

Cuối cùng thì cái vung vô tội cũng được tha.

Thế là mất mẹ nó xanh-ban, làm ăn gì?

Một thằng vào quan sát sở kiếm đồ chơi gõ tiếp, vớ được cái thùng đại liên Mỹ nặng trịch tính mang ra thay thế.

Mở ra ở trong là tảng thịt heo rừng luộc thằng liên lạc ém.

Sung công nốt làm mồi luôn.

Bình cò chính trị viên cũng đành nhe răng cười.

Mồi thì ê hề nhưng Chính tréc bắt đầu giở chứng.

Tay lão lăm lăm con lê Mỹ, còn mồm thì ra tuyên cáo :" Một hụm một miếng!

Thằng nào phá mồi tao chặt tay liền!"

Rượu pha mật ong khoái rừng.

Uồng thì dễ nhưng say chết mẹ!

Đến lượt thằng Quan uống thì can rượu để đó đã cạn.

Nó tưởng bở, khi uống xong, liền lật cái chén lên, liếm xung quanh đít chén, ra cái điều còn khát lắm.

Đúng thằng em dại mới nhập ngũ mà dám khiêu khích!

Bình cò đắc chí vẫy tay :"Suối Đamrey hết nước thì đại 1 hết rượu!

Bay đâu?"

Thằng Căn liên lạc giả đò khúm núm mang ra can khác, cứ như hề Tam Quốc!

Ban nhạc ngay lập tức đã chuyển sang chơi bài :"Không cho chúng nó thoát!

Không cho chúng nó thoát!

Chúng bay vào sẽ không có đường ra...!".

Chết oan với thằng ngu này rồi!

Tiếng thùng phuy bị nện đùng đùng điếc đặc hết tai...Thằng Quan to vật nhưng cũng đã chịu hết nổi phun tại bệ.

Lính đại đội 1 sướng phát điên.

Năm mới hên rồi!

Thằng Quan bò ra gốc cây ói tiếp rồi khều tôi lủi về trung đội.

Con đường mòn như muốn lộn lên trời.

Gan ruột cũng lộn lên theo hết!

Có chừng 400m mà cả hai thằng đều sợ lạc đường, cứ bám dây điện thoại mà loạng choạng đi.

Lúc sau nữa không đi nổi thì bò.

Gần về đến tiểu đoàn thì anh Được nghe vui, đi xuống đại 1 với thằng liên lạc bắt gặp.

Hỏi chúng tôi là sao chúng mày không đi đàng hoàng, lại bò như chó thế?

Tôi cố gắng giữ giọng thật bình thường, bảo anh ấy là đang bò tìm nối đoạn dây bị đứt.

Hai thằng chờ anh ấy đi xa rồi nằm ngửa luôn trên cỏ cháy.

Lồng lộng trên đầu chúng tôi là cả bầu trời sao đang di chuyển.

Kia là chòm Đại Hùng tinh bảy ngôi hình cái gầu sòng.

Chòm Thiên Hậu năm ngôi, hình chữ M.

Vương miện bà hoàng lấp lánh này chỉ xuất hiện trong những đêm mùa đông.

Chòm sao Chiến sỹ (Orion) với cái chuôi kiếm ba ngôi bao giờ cũng chỉ hướng chính Nam...Ồ!

Trí nhớ còn tỉnh táo lắm!

Nhưng sao nó không di chuyển từ Đông sang Tây như thầy dạy ngày xưa mà cứ chạy vòng vòng thế kia?

Chết tiệt!

Đêm trừ tịch lặng lẽ trôi trong cuộc diễu binh vĩ đại, thăm thẳm lòng trời...

CHÁY RỪNG ĐẦU NĂM TÂN DẬU

Đường đi lối lại khô ráo.

Lá cải xanh vẫy trong gió chướng, lật đáy tàu lá xuôi theo hướng gió.

Nắng chói nhưng không gắt, không khí nhẹ bổng.

Đến đêm lại lạnh.

Kể cả ban trưa, lội xuống suối thấy lạnh nổi da gà.

Thời tiết giống như mùa thu Bắc Việt.

Mấy đống cỏ con con tối qua chúng tôi đốt đã lan qua trảng, vào rừng.

Đầu tiên còn cháy ngún.

Sau được gió khô tiếp sức, lùa dựng lên thành một đám cháy lớn.

Cháy ở các bụi gai, bụi cỏ và thảm mục dưới chân rừng.

Cháy leo trên những thân cây có dầu.

Những cây chết khô từ trước, đường kính hàng mấy người ôm, bị lửa liếm ngọt phần gốc, bốc dần lên đến ngọn rồi từ từ ngã xuống, tung lên trời một đám mây tàn đỏ khé.

Tàn lửa cuộn tung trời, bay trên đỉnh rừng theo hướng gió như bờm một con ngựa bất kham.

Lửa đang chạy ù ù về triền núi U Răng Kh'vai.

Thân le khô nổ lốp bốp như súng liên thanh dọc theo con suối.

Đến đêm mùng 1 thì lửa trèo đến lưng chừng núi thành một dải đỏ rực, bốc mỗi lúc một cao.

Lần này thì cháy rừng thật sự!

Cháy lớn lắm!

Phạm vi đến cả hàng chục km2.

Ban ngày, mặt trời rung rung, mờ ảo trong đám khói và không khí nóng, tối sầm lại như đang trong nhật thực.

Ban đêm đường đi lối lại trong đội hình sáng rõ như ban ngày, nhìn tỏ mặt người.

Thỉnh thoảng vấn nghe tiếng mìn nổ ùng oàng trong núi do bị lửa nung...Thú rừng trong vụ cháy này chắc cũng toi hàng loạt.

Thiệt hại này cũng coi như hệ quả của chiến tranh.

Mùa khô ở Campuchia thời đó năm nào cũng có cháy rừng trong chiến trận, nhưng chưa bao giờ tôi thấy cháy dữ dội như cái Tết năm Tân dậu đó.

BÍ MẬT THƯ TÍN - NẤM ĐỘC - CHO TAO HỎI THĂM XEM THẰNG SÍU ĐÃ CHẾT CHƯA?

Sau Tết, thằng Bình cáo đi phép vào đơn vị với rất nhiều thông tin.

Ở nhà gửi cho tôi cái màn cá nhân theo yêu cầu vì cái màn cũ đã rách tứ tung.

Con em gái kế tôi có giấy báo trúng tuyển trường Đại học Kinh tế -Tài chính, thừa hẳn 2 điểm.

Nhưng nó chọn nguyện vọng 2, đi học Trung cấp Tài chính để được học gần nhà, đỡ đần mẹ trong thời gian tôi đi bộ đội.

Ngoài ra có một lá thư của một người bạn cùng đoàn lính năm 1978.

Chú em này là lính đại đội 1.

Khi đơn vị đang nằm chốt Chi phu ở biên giới, nó theo cáng thương binh rồi chuồn luôn.

Trước khi đi, nó quẳng lại tất tật đồ đạc cho tôi để khỏi bị lộ.

Tôi biết trước điều đó nhưng cũng chẳng báo cáo báo cầy gì hết.

Sau đó ba tháng, khi đơn vị đang đóng quân ở bên kia thị xã Kampong Ch'nang thì nó lại mò vào cùng một thằng nữa.

Anh Thưởng đã xuôi xuôi, nhưng Anh Sơn tiểu đoàn trưởng cáu quá, cho chúng nó mấy cái bạt tai đá đít, dứt khoát không nhận.

Nó xuống đại đội 1 nằm thêm mấy ngày.

Anh em cùng trung đội 2 (trung đội Khương khàn cũ) mừng lắm.

Thêm một tay súng lúc ấy quá quý.

Trung đội vẫn phần cơm nó, vẫn chia ca gác cho nó như không có chuyện gì xáy ra.

Chỉ có anh Síu chính trị viên đại đội cứ hằm hè chửi bới, xuống đuổi nó đi.

Tay này vốn ghét những thằng trông có vẻ lính kiểng quê thành thị.

Đơn vị đang thiếu người bỏ mẹ.

Gác đêm lòi mắt hai thằng một ca.

Bây giờ đuổi thì người ta biết đi đâu giữa chiến tuyến ác liệt thế này?

Lúc đó đêm nào địch nó cũng đánh vào đơn vị.

Tôi thương bạn quá, bảo mày cứ nằm lỳ ở đây thể nào các anh ấy cũng nghĩ lại.

Lính trơn thì chức chó đâu mà cách?

Quá lắm nhận kỷ luật xong thì bị gí xách khẩu B.41 là cùng.

Đã rất nhiều trường hợp xảy ra như thế rồi.

Nhưng thằng này cũng ngang, nó chào anh em rồi lại ra đi.

Trên tay nó còn một chỉ vàng bà già cho để phòng thân chắc không lo đói.

Đấy là lo đói khi về đến Việt nam thôi.

Chứ còn ở bên này thì lính mình nhỡ bữa cứ sục vào các đơn vị khác là có cơm ăn.

Thời gian đó Quân đoàn 3 đang lục tục rút ra Bắc đánh Tàu.

Một số đơn vị rút theo đường bộ.

Nó đi lẫn vào quân đoàn bạn rồi trở về nhà.

Qua lá thư, tôi được biết nó đã đi lính lại.

Đơn vị thu dung của nó đóng quân ở Tân lạc, tỉnh Hoà bình.

Thôi thế cũng mừng cho bạn!

Nhận lá thư này lại nhớ cái lá thư trước của nó gởi cho tôi hồi đơn vị đóng quân ở ga Kầm rênh.

Tôi đi phối thuộc, nằm với đại đội 1.

Anh Síu đi họp quân chính trên tiểu đoàn, tiện thường nhận thư luôn cho toàn đại đội.

Cứ thích xem lá thư nào là bóc lá thư đó.

Rất bố láo!

Lần ấy, khi thấy lá thư của tôi có tên người gửi là thằng bạn đó nên mới bóc luôn ra xem.

Các chuyện linh tinh khác trong thư không nói làm gì.

Riêng phần tái bút nó viết nguyên văn :" À!

Cho tao gửi lời hỏi thăm xem thằng Síu chính trị viên đã chết chưa?".

Lão này đọc đến dòng đó tức tái mặt, nhảy dựng lên như đỉa phải vôi, làm toáng lên rồi đùng đùng chạy đi tìm tôi.

Lúc đó tôi đang cười sằng sặc cùng bọn trung đội 2.

Có mấy đống rơm dưới cây xoài đang lên nấm dày rịt.

Ăn rất ngọt!

Mọi ngày vẫn ăn thì không sao.

Hôm đó chúng nó hái lẫn thứ nấm nào đó mà khi ăn xong thấy nóng mặt rồi tự nhiên thấy buồn cười quá!

Cả bọn nhìn nhau rồi cười rũ rượi như bị ma làm!

Nhìn thấy cái khuy áo thằng kia sao có bốn lỗ?

Cười!

Hai con kiến sao huơ râu đụng nhau thế kia?

Cười!

Không nhịn được!

Cười chảy nước mắt nước mũi.

Huống hồ nhìn thấy chính trị viên quần ống thấp ống cao, tay vẫy vẫy lá thư cứ như múa thì nhịn cười sao nổi?

Anh ấy tưởng bọn tôi cười giễu, càng bảo càng cười, nóng mắt vớ khẩu AK roét một loạt sạt đầu cả bọn.

Ha ha ha!

Chết cười mất thôi!

Gần thế mà còn bắn trượt.

Buồn cười quá!

Cười vãi cả đái ra!

Quần trung đội trưởng Khương khàn đã ướt một miếng tướng.

Chừng như nhận ra tình thế, anh ấy nhìn xoong nấm rồi chạy ngược về quan sát sở gọi thằng Phượng bọ y tá.

Nó xuống pha cho mỗi người cốc nước đường.

Cơn điên lắng dần dần.

Mãi mấy ngày hôm sau, cơ hoành, cơ liên sườn tôi vẫn đau như dần vì co rút nhiều trong khi lên cơn cười.

BAO TỬ NHÍM - BAO TỬ NGƯỜI

Như các bạn đã thấy trên bản đồ đã post trong trang này, tôi đã để lộ một bí mật quân sự không được phép nếu thời điểm đó cách đây 28 năm.

Trên đó thể hiện chính xác từng vị trí các đại đội, các trung đội, cách bố trí hoả lực tiểu đoàn Tư ở căn cứ phum K'bal Tea heal.

Mỗi kỳ lĩnh gạo hay vũ khí, dân bạn đều lấy xe bò chở giúp đội áp tải vào gần đơn vị.

Tới đó mời bác dừng lại!

Không được phép vào đội hình đóng quân!

Anh em ở nhà sẽ ra điểm tập kết khuân tất cả những thứ đó về.

Lạng quạng tự tiện đi vào dính mìn, lựu đạn cài thì tự chịu trách nhiệm lấy.

Trên câi bản đồ không ảnh đó, các bạn đã thấy đơn vị chúng tôi lọt thỏm trong một vùng rất nhiều dạng địa hình.

Rừng rậm, rừng thưa. trảng ruộng, núi đất, phum hoang...Thú rừng cũng đa dạng như thế.

Trảng ruộng thì thỏ, cầy giông, cầy triết (con này chuyên bới cua, ếch).

Rừng thưa xen trảng có hoẵng, cheo, nhím, nai, heo.

Rừng già thì hổ, báo...Lãnh địa sinh tồn quy ước thường như thế, nhưng chúng cũng kiếm ăn lộn tùng bậy trong lãnh thổ của nhau theo luật rừng.

Mạnh được yếu thua!

Các bác ra ngoại thành nhậu thú rừng, vớ được con nhím chừng dăm sáu ký đã sướng phát rên.

Chúng tôi bắn được những con nhím hơn 20 ký là bình thường.

Ban đêm đụng nhau, nó lủi vô bụi, rũ lông rù rù như tiếng người ta đưa cái đóm vào cánh quạt đang quay.

Những cái lông nhím dài cả nửa mét, khoang đen khoang trắng cứng và nhọn như những mũi tên.

Người ta nói nhím biết bắn lông vào kẻ thù nhưng tôi chưa chứng kiến điều đó.

Chỉ biết thịt nó ăn rất lành và ngon!

Nhất là những miếng bì lưng hấp sả nóng, trên còn những lỗ chân lông lớn nhỏ, nhô lên sát nhau như miệng núi lửa trên mặt trăng, vẫn đang bốc hơi nghi ngút.

Chấm muối tiêu ăn giòn thôi rồi!

Dạ dày nhím là một vị thuốc quý.

Bọn tôi hay săn nhím vào mùa khô.

Mùa mưa nhím ăn tạp nham đủ thứ.

Nhưng mùa khô, thức ăn khan hiếm, lá lẩu bị rừng cháy liếm sạch.

Nó phải lụi cụi đào dũi thật sâu mới có củ, rễ mà ăn.

Quý bởi những củ, những rễ nó dũi trong rừng mùa này thường là những vị thuốc quý.

Nhím săn được về, làm lông, phanh bụng.

Cái dạ dày buộc thắt trên thắt dưới, để nguyên các thứ bên trong mang rửa rượu phần bên ngoài rồi đem phơi.

Bốn nắng là khô cong, dậy mùi thuốc bắc thơm thơm.

Của này sao vàng tán nhỏ chữa bệnh đau bao tử rất hiệu nghiệm.

Bọn tôi bắn nhím vừa để cải thiện, vừa để lấy dạ dày ra ga Bâmnak bán cho dân kiếm tiền mua rượu.

Giá tiền 25 rịa (riel) một cái.

Tôi cũng như nhiều thằng trong đơn vị, ở nhà có biết uống giọt rươụ nào đâu?

Vào đơn vị theo anh em lính cũ dần dần cũng biết nhậu.

Đời lính chiến không thể có chủ thuyết trung dung, không thể đứng ngoài bất cứ việc gì!

Không biết nhậu, không dám lên chúng nó ghét cho như chó!

Quan tới lính bằng phân tuốt!

Tôi không có ý định bàn về cơ chế của chuyện nhậu.

Như kiểu cơ chế của nụ cười chẳng qua là sự co cơ mặt.

Tôi chỉ hỏi anh em?

Cùng cảnh xa nhà áo ngắn như nhau, nay sống mai chết chẳng biết khi nào.

Cùng lùi lũi bám rừng xung phong, nhìn quanh quất anh em mình có 20 tay súng không thấy thằng nào nhớn nhác đã thấy ấm lòng.

Mòn vai đổi cáng thương binh tử sỹ trong mưa rừng hay trong nước mắt...Nay gặp buổi xuân về.

Gió lộng lên thế kia, suối xanh mát thế kia, thịt nhím thơm thế này, rượu đầy can thế này!

Anh em mình sống chết có nhau đây rồi!

Thế thì chúng ta nên học nghị quyết hay nên làm gì hả?

Tất nhiên là học nghị quyết rồi!

Hà hà!

Chính vì nhậu nhiều, vận động bất tử, ăn uống thất thường nên ở đơn vị bệnh đau bao tử rất phổ biến.

Vậy nên chu trình săn nhím, chữa bệnh dạ dày xong nhậu tiếp...kéo dài mãi mãi.

VĂN HOÁ ĐỌC - NGƯỜI TA BẮN B.40 NHƯ THẾ NÀO?

Tôi là thằng cũng chịu khó đọc linh tinh.

Thượng vàng hạ cám gì cũng đọc tuốt.

Thời nhỏ trước khi đi bộ đội, những cuốn sách cho thiếu nhi như chuyện tranh "Sát thát" với minh hoạ của Nguyễn Bích, "Cuộc truy tầm kho vũ khí" của Đoàn giỏi mà các bác hỏi hay yêu cẩu trên diễn đàn.

"Timua và đồng đội" của Gaiđa, "Trong rừng thẳm và trên sa mạc" của Sienkiewicz.... tôi may mắn cũng có đọc.

Phải nói là thời bao cấp đó kham khổ về đời sống vật chất.

Nhưng sách cho thiếu nhi có nhiều cuốn truyện hay.

Không có những "Thuỷ thủ mặt trăng", "Đô rê mon"... với những "Bu..

ù..m!", "Oặc..!" nổ hoa cà hoa cải.

Con trai thì mồm ngoác đến mang tai.

Con gái phơi rốn dài đến nửa trang như sách thiếu nhi bây giờ.

Kỳ công lục tủ sách, lấy ra những cuốn in trên giấy đen sì, có khi còn dính lẫn sợi rơm của một thời khốn khó.

Hít hà cảm động xoa bìa, như gặp một người bạn cũ.

Mang ra bảo con thử đọc cuốn này xem sao?

Chúng nó ậm ừ, xem chiếu lệ vài trang rồi nhảy vào "Bùm!

Bùm!" trên máy tính.

Cuốn sách thì lẳng vào gầm bàn.

Thu nhận cuộc sống từ mắt, trực tuyến thẳng xuống tay trên bàn phím không cần qua não, như phản xạ không điều kiện.

Đúng là mỗi thế hệ một công nghệ khác!

Cung phản xạ quá ngắn,!

Thời gian đâu mà đọc?

Nói gì đến xúc cảm.

Tiếp chuyện đọc không có lại lạc đề.

Đến khi đi bộ đội, không còn cơ hội đọc nhiều thì tôi đọc báo Quân đội Nhân dân, Văn nghệ quân đội...Thời đó ở nhà, báo Quân đội Nhân dân và các tờ báo khác thường có giá năm xu.

Dân mình thích đọc báo Quân đội vì có nhiều tin chiến sự.

Đến nỗi cô bưu điện phố Đồng Xuân bắt người mua báo Quân đội phải mua kèm thêm tờ Nhân Dân.

Khi ông cậu tôi (vốn dân hoạ sĩ) phát bực, dứt khoát không chịu mua kiểu bia kèm lạc đó thì cô ấy mắng sa sả:" Thái độ?

Anh không đọc báo Đảng à?"

Bố này tức quá vặn lại:" Thế báo Quân đội Nhân dân là của Đảng nào?" thì cô bưu điện mới chịu im.

Bây giờ trong quân ngũ, báo và tạp chí không phải mua.

Hết báo mới thì đọc lại báo cũ.

Hết báo cũ thì đọc báo cũ nữa, đọc nghị quyết hay bản nháp biên bản họp quân chính viết tay xin của Bình cò.

Kể cả khi đi toilet trên cây me tôi cũng thử đọc mảnh giấy cầm tay xem nó viết cái gì?

Nạp vào đầu một thứ, song song với việc tống ra một thứ ở đầu đằng kia.

Đồng hoá dị hoá cùng lúc.

Có bác nào hay làm như thế không?

Khoái phết!

Cuối cùng, cả đạo lẫn đời đều rơi tõm xuống nước hay để gió cuốn đi.

Trong tiểu đoàn tôi, tạp chí Văn nghệ Quân đội được lính ta rất trân trọng.

Căn bản nhất là vì nó dày và gọn, giấy lại mỏng, đọc xong làm giấy quấn thuốc rê thì tuyệt, hơn hẳn mấy tờ báo giấy dày, khói đắng.

Thứ nữa là các tác giả truyện ngắn. thơ ca trong đó thường cũng xuất thân từ lính, thông cảm với lính nên dễ được đón nhận.

Trong đó cũng có nhiều bài thơ, truyện ngắn cũng hay.

Nhưng tôi nhớ hồi đó Tạp chí có đăng một câu chuyện về tấm gương một xạ thủ B.40 trên mặt trận Tây nam.

Anh ấy tên là Lê Phương Liên gì đó!

Có đôi mắt nhung như nước hồ thu đẹp thôi rồi! (Tả lính như thế thì chết mẹ người ta).

Khi bị thương vào mắt phải, địch vẫn xông lên.

Anh ấy chuyển súng sang vai trái nhằm bắn.

Bất kể lỗ chích khí trên thân súng B.40 sẽ làm mù nốt con mắt còn lại.

Chuyện này về sau còn được cải biên thành câu chuyện truyền thanh sáng Chủ nhật, phát trên đài cho lính nghe.

Âm nhạc vĩ cầm da diết lắm, chêm giữa các đoạn hồi tưởng phục hiện.

Chắc các bác cựu binh ở đây có nghe rồi...Thú thật tôi đếch tin chuyện này!

Nghe cứ tức anh ách!

Nó gần như xúi người ta hy sinh vô nghĩa mà không dạy cách người ta chiến thắng.

Như thế không phải là người lính chân chính!

Anh Nhương nghe chuyện, gãi sồn sột rồi bình phẩm:"Mẹ cái thằng ngu gì đâu!"

MỖI VIÊN ĐẠN MỘT QUÂN THÙ - MỖI CÁI MÙNG MỘT CON CHÓ!

Đơn vị lại nhận tiếp đợt tân binh.

Anh em mới vào toàn quê vùng đồng bằng Nam bộ.

Thêm quân mới chắc lại chuẩn bị oánh nhau to rồi!

Tiểu đoàn thực hành huấn luyện và bắn đạn thật theo các bài bắn tổng hợp mới của Bộ tổng Tham mưu.

Bia số một trong bài bắn này không phải đen sì như bài một cũ mà là bia chị em nhỏ tí màu xanh rất khó bắn, bia "thằng còm" số 7 lằng ngoằng...Kết hợp nằm bắn với vận động.

Súng thì quân khí trung đoàn mang xuống sau khi đã chỉnh chán chê.

Trường bắn là cái trảng ruộng nằm giữa đại đội 2 với tiểu đoàn bộ.

Tôi có hỏi anh em mới vào là ở nhà đã bắn bài bắn này chưa?

Hoá ra chúng nó cũng như mình thời huấn luyện cũ.

Bắn xong mỗi bài 1 cũ, đầu ruồi đội đít điểm đen cự ly 100m là lên đường sang đây ngay.

Có ai ngờ đã choảng nhau ba năm liền rồi mà bây giờ phải tập bắn lại.

Hài hước thật!

Chắc lính ta đổ đạn tìm chim nhiều quá nên mới có bài bắn mới bổ sung này.

Đang thiếu đồ nhậu, đây là một dịp tốt để cá cược.

Xạ thủ được chọn đại diện cho trung đội thông tin là anh Ky.

Trung đội vận tải- bên thách đấu là Bình vàng, tay thợ săn lão luyện.

Chính cha ấy gần phum Kầm nom đã bắn nhầm què tay thằng Hiệp híp và suýt đưa tôi về thế giới bên kia bằng loạt đạn cách cái sọ này 15cm đứt dây võng.

Mỗi trung đội chung độ một cái mùng huy động của mấy thằng đoàn mới vào.

Các bạn sẽ hỏi sao lại là mùng chứ không phải là tiền, là tút Samit hay là cái gì khác?

Xin thưa !

Phải thực hành tập bắn lại, chưa chắc mỗi viên đạn một quân thù.

Nhưng mỗi cái mùng một con chó là cái chắc!

Mùng mới có khi được hai con.

Dân bạn Campuchia theo Phật giáo (tiểu thừa), không ăn thịt chó.

Những năm đầu đánh vượt biên, hễ thèm món cờ tây thì ra dân xin họ cho ngay.

Nhất bạch nhì vàng, tam khoang tứ đốm cứ thế tha hồ mà chọn.

Ở bên đó chó trắng là nhiều nhất!

Dần về sau này, nhu cầu cầy tơ của lính ta nhiều quá.

Người ta còn mỗi một con giữ nhà mà cũng có thằng mặt dày ra xin.

Họ không cho nữa, muốn ăn thì đổi!

Chó bắt đầu lên giá!

Bộ đội Việt nam đi qua phum bị bọn cẩu ghét cái mặt, cứ sủa gâu gâu ầm ĩ suốt!

Đến bây giờ thì giá mỗi con là một cái mùng không hơn không kém.

Lính tiểu đoàn tư trở nên đoàn kết hơn bao giờ hết (?) Hà hà!

Cứ hai thằng ôm nhau nằm chung một cái mùng, thừa ra một cái thì đem "mắc cho chó".

Ngày "đấu súng" cũng đã đến.

Các cặp bắn khác thì không ai quan tâm mấy.

Kết quả bắn cũng bình thường.

Đến cặp Ky – Bình vàng bước vào vị trí bắn, cả tiểu đoàn bộ xô vào háo hức.

Chúng nó ngồi ngang bờ ruộng ngong ngóng, cứ như chó ngồi xem tát ao.

Tôi cũng thấy hồi hộp.

Bình tĩnh nào anh Ky!

Bắn bia số 1.

Cái đầu ruồi ngọ nguậy.

"Pằm!", "Pằm pằm!

Pằm pằm!".

Loạt đầu anh Ky tắc cú, trừ một điểm.

Hai loạt sau điểm xạ tốt.

Bình vàng thì qua loạt đầu suôn sẻ.

Cả hai xách súng bắt đầu vận động lên phía trên.

Bia số 7 xuất hiện.

Hai đấu thủ súng nổ nhịp đôi giòn giã.

Sao Bình vàng tiến nhanh thế kia?

Lạ thật!

Đúng lúc đó, cán bia số một trong tuyến bắn của Bình vàng gãy gục.

Chúng nó ồ lên cả lượt:"Phạm quy rồi!".

Thằng cha này khôn lỏi.

Bia số 7 bắn dễ, hắn thấy trúng rồi thì quay sang quất đạn tiếp vào bia số 1 cho chắc ăn con chó.

Vận động lên gần thế thì trúng là đương nhiên.

Nhưng trời có mắt!

Đạn bồi thêm trúng cả cán bia làm nó gãy gục, tố cáo kẻ gian manh.

Anh Nhương đắc chí ôm ngay hai cái mùng tại trận, lại còn chỉ tận mặt Bình vàng:"Khôn ngoan chẳng lại với giời đâu con ạ!".

Cán bộ tác chiến trung đoàn cùng theo dõi thao trường gọi Bình vàng lại chửi cho một trận vuốt mặt không kịp.

VƯỢN NGƯỜI - NGƯỜI VƯỢN

Thằng Căn gọi điện lên tiểu đoàn, rủ tôi với mấy thằng hay đi máy với đại đôi 1 xuống ăn đặc sản.

Tôi hỏi đặc sản gì thì ậm ừ mãi nó mới nói là thịt khỉ.

Khỉ ở vùng núi U Răng (Đậu Khấu) này rất nhiều, có gì mà nửa kín nửa hở thế?

Tiểu đoàn tôi đi truy quét thường gặp hàng bầy.

Có khi con khỉ đầu đàn đang ngồi dưới đất bắt rận mải mê, gặp chúng tôi bất ngờ.

Nó giật mình kêu choéc một tiếng rồi chạy càn cắt qua đội hình hành quân.

Những con khác thấy thế cũng phá chạy theo lối ấy.

Rặt một loại khỉ lông vàng đuôi dài lắm mồm.

Lắm con khỉ mẹ, ẵm con dưới bụng bằng một tay, tay còn lại tập tễnh chống cùng hai cẳng, chạy luồn ngay dưới chân bọn tôi.

Không dám bắn vì sợ lộ đội hình, nhiều thằng tiện chân đá chúng nó văng lông lốc.

Mấy con dính cước, rống lên choeng choéc.

Nói chung bọn khỉ cũng rất kỷ luật.

Nhất định chạy theo đầu đàn, chỉ huy chứ không chịu sẻ bầy chạy lối khác, dù ít nguy hiểm hơn.

Xuống đến đại đội mới biết không phải là khỉ.

Trung đội 2 bắn được con vượn đen lớn.

Chúng nó không biết làm, mang lên cho văn phòng.

Thằng Trung nghịch ngợm, buộc xác con vượn ngồi bó gối, tựa lưng vào cột lán chỉ huy, lấy cái mũ mềm đội lên đầu cho nó.

Đôi tay dài nghêu lông mượt đen nhánh, đặt ôm lấy khẩu AK trong lòng.

Bàn tay với các ngón thanh dài vắt nhẹ qua cò súng.

Cái đầu đội mũ, chúng nó để gục xuống, tựa vào thân súng.

Thằng Nhạ quấn một điếu thuốc rê tổ bố, châm lửa rít vài hơi rồi cạy răng con vượn nhét vào cho ngậm.

Khói thuốc bay lơ đãng.

Xong tác phẩm theo trường phái "bày đặt" ấy, cả bọn đi lại xung quanh ngắm nghía, cười hô hố bình phẩm!

Tôi không thấy buồn cười, tôi thấy sợ!

Nhất là nhìn cái hàm răng nhe ra, cắn chặt điếu thuốc dưới cặp môi đen mỏng dính trễ xuống.

Như một nụ cười lạnh ngắt, nửa giễu cợt, nửa khổ đau.

Cặp mắt đen tròn ngơ ngác không nhắm được, vẫn còn ngân ngấn nước.

Trông nó giống như một anh lính nhỏ đang đờ đẫn ngồi gác.

Vừa gác vừa buồn ngủ, hoặc nhớ nhà.

Nào mình với nó có khác nhau về hình thể là mấy đâu?

Cũng tai, mắt ấy, chân tay ấy!

Cũng bắt ve bắt bét, cũng gãi ghẻ sồn sột.

Đôi lúc hứng chí bất tử hay tuyệt vọng cũng hú lên điên rồ.

Từ nay mày sẽ xa đàn, xa rừng mãi mãi.

Thầm mong tao không phải xa đồng đội, xa nhà vĩnh viễn như mày!

Tôi bỏ về tiểu đoàn bộ.

Không dám nhìn chúng nó làm thịt chứ đừng nói là xơi.

Thế mà trong cuốn sách nào đó tôi từng đọc, có kể về một bà hoàng thời cận đại rất sành món khỉ.

Quý bà Trung Hoa này đãi khách chỉ bằng món gỏi óc.

Người ta dùng búa bạc đục đỉnh sọ con khỉ đang sống.

Đổ rượu, vắt chanh, tiêu với các gia vị phức tạp gì gì đó vào cái lỗ nhỏ xíu hoen máu đó rồi khoáy thìa vào móc não ra xơi nóng.

Trong khi đó, người anh em gần gũi, người láng giềng bé nhỏ (thuyết Darwin – hoàn toàn không ám chỉ ai) đang gào lên thảm thiết.

Cơ thể run lên bần bật trong sự sống tắt dần.

Những kẻ tham gia bữa tiệc ấy cũng đang tiến hoá, có điều ngược với tiến trình của ông bác học người Anh kể trên.

Nghĩ mà lợm giọng !

To be continued...
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 1: Biên giới Tây Nam - Hồi ký của bác Trungsy1 - Phần cuối


RÁI CÁ

Đến cả tuần không bắn được con gì.

Tối nào anh Nhương với T lé cũng xách đèn xách súng đi rồi lại về không.

Bọn hay săn dưới các đại đội cũng chịu chung hoàn cảnh đó.

Đang tháng ba tháng tư, mùa giao phối, mùa sinh sôi của núi rừng nhưng thú quanh chỗ đứng chân của đơn vị bỗng nhiên biến đi đâu sạch.

Mọi đêm nằm vẫn nghe một vài tiếng con mễn tác gọi bạn "oác! oác" xa gần.

Bây giờ thì lặng phắc.

Đến cả thỏ rừng vốn nhiều như thế cũng còn không thấy nốt.

Dường như có điều gì bất thường đang xảy ra.

Đến bữa đành lòng với những con cá suối kiếm được.

Bình cò thương tình, bắn được con rái cá hiếm hoi trên eo suối đại đội 1 vất lên cho thông tin.

Bọn tôi hí hửng vác ra suối làm lông.

Con rái cá nặng khoảng 4 ký.

Lông nó màu tro đen, khoảng ngực lại trắng như trẻ con đeo yếm dãi, đặc biệt mịn như nhung.

Cái mõm ngắn, hàng ria bạc, chân trước có màng như chân vịt, đuôi dài và dẹp làm bánh lái khi lặn đuổi cá...đại loại trông nó như thế.

Tôi muốn kể là về cái bộ lông của nó.

Chúng tôi dốt, có thằng nào làm thịt rái cá bao giờ đâu nên cứ thực hành làm lông nó như mọi con thú rừng bình thường.

Nghĩa là nhúng nước lạnh cho ướt đều, dội nước sôi, sau đó cạo lông và đem thui.

Thế nhưng lông con này đã được nhúng ướt đẫm hết rồi, dội nước sôi lên để cạo thì không đi một tý nào hết.

Cứ như là chưa dội vậy.

Hoá ra nó chỉ bị ướt ở phần ngoài thôi, bên trong vẫn khô nguyên.

Giống như lớp lông tơ mịn trên mặt lá khoai, lá sen ...

Đã thế lại được tráng một lớp dầu trơn nữa.

Nước chỉ có thể lăn tròn trên đó chứ không bao giờ thấm được.

Đúng là nước đổ lá khoai, nước đổ đầu vịt, nay thêm thành ngữ nước đổ lông rái cá nữa cũng không sai.

Có vậy nên nó mới lặn giỏi như thế!

Hì hục mãi đến gần năm nồi nước sôi mà vẫn chưa đâu vào đâu.

Anh Nhương ngồi xổm, chừng đã tê chân, bấy giờ mới sốt ruột bảo thôi chúng mày lột mẹ da nó ra cho tao!

Hoá ra đây là cách làm hữu hiệu nhất.

Khăn choàng cổ trên thế giới bằng da rái cá cực đắt.

Chỉ có các ông hoàng bà chúa mới dám dùng cũng chính là bởi cái bộ lông mịn, không thấm nước và ấm đặc biệt này.

Chúng tôi là lính, chúng tôi cần thịt rái cá hơn cái bộ da đẳng cấp đó.

Cái đẹp là thực phẩm của con mắt.

Thịt tươi là thực phẩm của cái dạ dày đang thèm pờ rô tít.

Roạt một cái là da đi đằng da, thịt đi đằng thịt.

Roạt thêm cái nữa, nó thành "thịt với xương tim óc dính liền" trong nồi rựa mận, lửa canh liu riu dậy mùi sả ớt.

Thằng Sơn ba tai còn cẩn thận bóp cả tiết đọng vào thịt cho sánh và đậm nước.

Tôi với anh Ky tiếc của, ngồi làm rốn nốt bộ lòng.

Trong phủ tạng con này, dưới hai lá thận có hai cục vôi cặn nặng trịch như đá, to bằng nửa bàn tay.

Đầu tiên tôi cứ nghĩ nó có sỏi do chén lắm cua, cá, ốc... những thức ăn giàu canxi nên bị thế.

Nhưng bây giờ nghĩ lại, có thể hai cục đá vôi hoá đó trong cơ thể của loài này làm nhiệm vụ giống như đối trọng hay quả nặng điều chỉnh trọng tâm cho nó khi hoạt động ngầm dưới nước.

Không biết thế có đúng hay không?

Bọn cá lòng tong suối, cá đuôi vàng ăn nổi lao vào đớp chí chết những mẩu mỡ lòng, giành giật với nhau hết sức quyết liệt.

Đang làm dở thì "oẵng" một tiếng - một con cá lớn cướp nửa bộ lòng ngay trên tay chúng tôi rồi biến mất tiêu.

Bọn cá con hoảng sợ nhảy lên rào rào.

Thôi thí cho mày!

Rái ăn cá, bây giờ đến lượt cá ăn rái cho công bằng.

CỦA ĐỂ DÀNH CHO LÍNH - CỌP TRẮNG

Vâng !

Câu chuyện của chúng ta vẫn tiếp tục, dù đội Nga đã dừng bước ở tứ kết.

Năm 1981, lính ta bắt đầu được giải quyết phục viên hoặc ra quân.

Đầu tiên là các thượng sĩ anh nuôi lính 74, 75.

Kế đó là những anh em lính 76, 77 sức khoẻ yếu hoặc đã từng bị thương nhẹ.

Mỗi lần có đợt ra quân là cả đơn vị nửa vui nửa buồn.

Vui với người đi, những người ở lại gánh phần trách nhiệm thêm và cũng mong một ngày nào đó mình sẽ đến lượt như thế.

Anh em đồng hương gom góp phụ cấp ít ỏi, dồn cho người lính may mắn được trở về.

Những ngày rỗi rãi, bên những ấm trà lãng xẹt, nhiều thằng xoè bàn tay bấm độn xem đợt này ai sẽ được giải quyết chính sách.

Những thằng cảm thấy sắp đến lượt bao giờ cũng gom tiền ra dân mua một con chó con.

Kích thước cân nặng con chó tuỳ thuộc vào thời gian sẽ phải chờ đợi lâu hay chóng.

Nuôi để thịt liên hoan chia tay đồng đội khi ra quân.

Như nuôi lợn để dành lúc cưới vợ ở nhà.

Thế thôi!

Tiểu đoàn có đến hai chục con chó, lính nuôi như của để dành.

Bọn nó tranh ăn, cắn nhau lộn bậy, sủa ầm ĩ nhức cả óc.

Chó tao cắn chó mày đôi khi thành chuyện mất đoàn kết.

Nhưng thời gian này, cùng với sự biến mất của của thỏ, chồn, mễn...

" trung đội" cẩu mọi đêm vẫn sủa nhặng xị dạo này cũng bặt tiếng.

Có những đêm, tự nhiên hai con chó trung đội vận tải của Bình vàng sát bờ suối chạy rúc vào gầm sạp bọn tôi, cụp đuôi cụp tai rên ư ử, đuổi mãi không chịu ra.

Hình như có điều gì đó không ổn mà chỉ bọn chó mới cảm thấy.

Lính tiểu đoàn vẫn sang lán nhau uống trà tán gẫu, nhưng không ai thấy điều gì khác thường.

Vào một đêm cuối tháng 4, cha Nhương và T lé lại xách súng xách đèn đi săn.

Hai anh em vượt qua suối, vào đến phum nhà dài.

Gọi là phum nhà dài vì ở đó có một cái nhà sàn lớn rất dài, chỉ còn khung nhà và mấy khoảng vách mục ngăn buồng.

Nhiều khung nhà trơ trụi như thế cắm chân rải rác trên những mảnh vườn hoang, những hàng rào mục nát.

Mọi khi vào đến rìa phum đã gặp thú.

Nhưng đêm đấy tịnh không gặp một con nào.

Đến cả gió cũng không buồn thổi.

Không gian yên lặng như tờ.

Chỉ nghe tiếng rẽ cỏ lạt xạt của bốn bàn chân bước.

Lão Nhương cảm thấy hơi ớn, lầu bầu lia đèn giục thằng T lé bước dấn lên.

Qua hai cây xoài trước mảnh sân trống, tới đầu hồi căn nhà lớn nhất phum, cả hai đứng lại há mồm chết lặng.

Trên sàn nhà khuất phía sau tấm vách mục cách có dăm sáu mét, một con hổ lớn ngồi chồm chỗm trên khung nhà giật mình ngoảnh lại.

Đôi mắt lớn như hai cái cốc, đỏ đòng đọc bắt đèn sáng rực.

Lão Nhương tê cứng người, ngón tay quắp lại xiết cò khẩu AK.

Một điểm xạ dài gần chục viên suýt tự bắn vào chân.

Con thú trắng tinh cũng giật mình, phất đuôi vọt ào ngang ngọn cây chùm ruột rồi dông thẳng vào rừng.

Hai thằng cha đi săn ngã ngửa, vọt đái ra ướt đẵm hết cả quần.

Hoàn hồn lại mới dìu nhau chạy hộc cơm về đội hình.

Vừa chạy vừa bắn loạn xạ để tự trấn an bản thân.

Mấy thằng lính mới đại đội 2 tưởng địch tập kích nhảy hết ra hào tương đạn ầm ầm về hướng súng nổ.

Lão Nhương với T lé mới chịu dừng lại, bắn bắt liên lạc.

Về đến nhà rồi mà mắt vẫn còn trắng dã, lạc hết cả hồn.

Ai hỏi gì cũng không nói được.

Anh Hoạch phải lôi ra hai bát rượu cho uống mới rời rạc kể lại câu chuyện vừa rồi.

Từ đó, trung đoàn tôi có lệnh cấm đi săn đêm.

Bác Nhương bây giờ về nhà làm tài xế xe công nông chở vật liệu xây dựng ở Bắc giang.

Lên chức ông nội, ông ngoại rồi.

Bọn tôi về quê ăn cưới các cháu lần nào cũng nghe lão trợn mắt kể về con hổ trắng.

Bác Nhương gái nghe mòn tai câu chuyện này, phát gắt lên rằng ông có im đi không?

Ra kia bắt cho tôi con gà!

Làm gì có hổ trắng?

Lão ấy lại im tịt!

Anh ạ!

Chẳng biết con hổ nào đáng sợ hơn con hổ nào?

Ngày xưa gặp nó thì chạy.

Bây giờ đụng nó thì cứ im đi là hơn!

LÊN BAN CHÍNH TRỊ

Định kể những câu chuyện khác về gà rừng, công đất; chuyện phục heo rừng dũi phá rẫy ngô; chuyện câu cá suối; chuyện về những trận tranh cúp bóng đá tiểu đoàn...

Nhưng thôi!

Hè hè!

Không có các bác lại bảo lính lác quân chủ lực gì mà dạo này không thấy làm nhiệm vụ gì hết trọi.

Suốt ngày săn bắn, câu kéo, nhậu nhẹt hoặc bóng banh...Nhưng cái thời gian ở Bâmnak nó như thế đấy!

Quân số đơn vị vừa được bổ sung mấy đợt liền, đông như hồi mới đánh chiến dịch 1979.

Vui lắm!

Lính 77, 78 giờ cũng thành cựu binh đắp chiếu, khệnh khạng đùn việc cho anh em mới vào.

Đúng lúc đó thì tôi được gọi đích danh lên Ban Chính trị (B2) trung đoàn.

Lý do vì tôi cũng biết chơi guitar phèng phèng, biết gõ xô thùng đùng đùng đúng điệu :"Giặt quần đùi!

Giặt quần đùi!..." thật bốc cho chúng nó nhảy rã rượu khi nhậu.

Ngoài ra, các anh em ở đại đội phẫu K.23 nằm ngay cạnh B2 mà tôi cũng có hân hạnh "phục vụ" trong thời gian dưỡng thương có quảng cáo ác liệt cho tôi nữa.

Mừng rồi!

Từ nay khỏi đi càn rã cẳng.

Cùng lên B2 với tôi có thằng Hùng lé khẩu đội DK.82 với ngón đàn bầu ác chiến, thằng Chương đại đội 3 với giọng Téno thuốc lá đá thuốc lào nữa.

Sau một trận nhậu có cờ, ba "nghệ sỹ" từ biệt tiểu đoàn Tư, khoác ba lô lên Ban Chính trị.

Ban Chính trị trung đoàn nằm tại hai cái nhà sàn lớn sát suối Đam rey – con suối đã chảy qua tiểu đoàn Tư của chúng tôi.

Trên sàn nhà thì chính uỷ, các trợ lý chính trị ở.

Ngoài ra còn là nơi chứa các loại hồ sơ, chứa ba lô, đồ đạc, kỷ vật của anh em liệt sỹ chưa chuyển về kịp cho gia đình họ.

Dưới sàn, mấy thằng đội tuyên văn chúng tôi và hoạ sĩ chuyên cắt kẻ khẩu hiệu là thằng Bình mẩu ở.

Sinh hoạt chính quy lắm!

Mấy thằng lính dưới đơn vị như chúng tôi vốn quen sống phóng túng, ào ạt bây giờ lên đây, người cứ như bị cứng ra.

Chuyện!

Gần các thủ trưởng, nhất là thủ trưởng chính trị chẳng nhẽ ăn nói tùm lum tá la vô lối đâu có được?

May mấy hôm sau, các anh em năng khiếu dưới các đơn vị trong trung đoàn được gọi cũng lên dần đủ.

Cuối cùng đội tuyên văn quân số cũng bằng một trung đội cứng.

Chúng tôi được chỉ định một khoảng đất rìa suối để làm nhà ở riêng.

Ngon quá rồi!

Nhà cửa làm xong thì dựng chương trình tập để đi dự hội diễn nghệ thuật quần chúng của Quân đoàn.

Phòng Chính trị Sư đoàn 9 tăng cường cho chúng tôi một tay guitar list lão luyện.

Hắn tên là Dân – Mai Dân, nhà ở đường Hùng Vương thành phố Huế.

Nhờ có hắn kèm riết nên tay đàn tôi cũng tiến bộ thấy rõ.

Toàn đội tôi gồm có cây đàn bầu của thằng Hùng lé, đội ca có năm thằng, ba cây guitar là tôi, Dân với thằng Phúc Bến tre.

Thêm cây mandoline của thằng Hợp nữa là hết vị.

Ngày chỉ có ăn, tập đàn tập hát, tối gom tiền ra dân mua rượu nhậu chui.

Lúc đầu thì thích nhưng sau thấy chán dần.

Ở tiểu đoàn có đám cải thiện, có đám nhậu nào cũng tự nhiên sà vào được.

Lên đây toàn người lạ, muốn vui cũng phải dè chừng.

Ăn uống đồ tươi, sinh hoạt kém hẳn dưới tiểu đoàn.

Toàn cá khô Kampong Ch'nang sư đoàn diễn hoài!

Bác Thọ đọc đến đây thì cười!

Cứ mỗi kỳ các đơn vị ra trung đoàn bộ lĩnh gạo, thằng nào trước ở đơn vị nào thì bám theo mấy thằng quản lý của đơn vị ấy ngay từ khi chớm bước vào Ban Hậu cần để xin ít gạo gom về đội đổi thức ăn.

Đội tuyên văn mới thành lập, quân ô hợp tứ xứ chưa kịp hiểu nhau như dưới cái nôi ở đơn vị chiến đấu.

Lại toàn những ông lười như hủi, ở bẩn và nói phét thôi rồi!

Quan trọng gì?

Phần hồn, phần tinh thần nghệ sỹ mới là căn bản(!) Lán trại, quần áo sạch sẽ quá lấy thời gian quái đâu mà sáng tác, mà tư duy nghệ thuật(?) Nuôi được 5 con gà mới chưa đầy tháng đã bàn nhau thịt sạch.

Hết gà thì đi mò gà của bọn khác, chẳng thằng nào chịu nuôi nữa...Từ đó, các cơ quan trung đoàn bộ mất gà là nghi cho bọn Văn nghệ chúng tôi.

Anh Bến phó CN CT gọi bọn tôi lên hỏi chúng mày có ăn cắp gà của chúng nó không?

Liệu hồn!

Bọn bên Ban Tác chiến bây giờ nó bắt đầu cắt gác rồi đấy!

Nhưng thời gian hội diễn Quân đoàn gần kề rồi!

Văn nghệ dẫu có hơi bầy hầy trong sinh hoạt nhưng không vì thế mà giải tán đi được.

NHỮNG BÀI HÁT BAN NGÀY

Ăn sáng xong, bọn hát luyện thanh nà na ná ná na nà, ồ ô ố ố ô ồ, cẩn thận như Doãn Tần, Quang Lý... rồi cả đội lao vào tập.

Các đồng chí tập cho tốt nhé!

Không thì về đơn vị khoác súng khoác máy đi càn thì tuỳ!

Bác Hoạt trợ lý Chính trị- đội trưởng cứ khéo đùa.

1- Bài hát Trung đoàn, nhạc và lời -Mai Dân :

Mang tên đoàn Đồng xoài vẻ vang.

Truyền thống vinh quang tô thắm lịch sử vàng son.

"Thành đồng quyết thắng, trung dũng kiên cường, đánh giỏi thắng nhều".

Đoàn Đồng xoài, gian nguy đạp bằng.

Mưu trí tiến công, vượt mọi gian khó.

Đoàn kết son sắt bên nhau, đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm.

Bao nhiêu năm trên chiến trường miền Đông.

Đoàn ta lớn nhanh như Phù Đổng thiên vương.

Vinh quang thay!

Biết bao máu đào hy sinh của những chiến sỹ kiên trung, tô thắm thêm truyền thống Trung đoàn./.

2- Tốp ca nam - Tiếng đàn bên dòng sông biên giới - Nhạc và lời : Phạm Tuyên

Đàn theo ta ra tận chốt đây, ngày đêm cùng ta gắn bó.

Với khúc hát thanh xuân toả ấm khắp bến bờ.

Đàn mang theo bao niềm ước mơ ngay bên dòng sông biên giới.

Ta vẫn hát vang chiến hào, chờ cuộc chiến đấu ngày mai.........

3- Đơn ca nam – Xin hát mãi về anh, người chiến sỹ biên cương ! – Sáng tác của Thế Hiển.

Người trình bày, Nguyễn Văn Chương (Phềnh – trong đội gọi nó như thế) - Chiến sỹ đại đội 3, tiểu đoàn Tư, trung đoàn 2.

Bài này đến đoạn điệp khúc tôi vừa đàn, vừa phải gân cổ dựng bè cho nó.

4- Độc tấu đàn bầu (điện) – Hùng lé DK tiểu đoàn 4 thể hiện hai bài.

"Ru con Nam bộ" và bài "La Habana xinh đẹp".

Tất nhiên khi đàn, nó nhắm nghiền mắt lại, hồn nhập trong tiếng nhạc nên không ai biết là nó lé.

Ngón đàn của nó không có gì phải bàn.

Nức nở ai oán lắm!

Thủ trưởng Hai Hữu còn phải sụt sịt.

Nhưng các cô gái K thì khoái "giật đùng đùng!" hơn.

Nhờ cây độc huyền cầm của nó mà chúng tôi liên tục giật giải nhất.

Sư đoàn lấy luôn đội VN trung đoàn tôi đại diện đi thi Quân đoàn.

5 – Múa lăm thon.

Đây là cây đinh của chương trình.

Đội nhạc chơi bài dân ca K "Oh!

S'vai chăn ti, nịari on ơi!...".

Ba cây guitar- một cây solo, một cây sans, một cây bass.

Tôi thủ cây đàn bass.

Gọi là đàn bass cho oai chứ thực ra nó vẫn là đàn guitar thùng đủ cả 6 dây.

Có điều cọc bô bin (mua ở Sài gòn) các dây trầm Mì, Là, Rề quấn sao đó để khi qua ampli ra loa đạt tiếng trầm tốt nhất.

Không lên dây kiểu Sol rê la mi như đàn bass bình thường mà vẫn lên dây theo lối guitar thường, để đề phòng thằng Phúc giật sans máu quá đứt đây thì kịp thời ứng cứu.

Đến đoạn 2 bài này, thằng Hợp vê mandoline rất mướt tiếng.

Người nó to vật, cái đàn lại nhỏ treo trên cổ.

Chúng tôi gọi nó là thằng trâu đeo mõ.

Bọn múa bốn đứa.

Hai thằng Minh bọ, thằng Tuất nhỏ người mặc sà rông giả gái K trông kháu phết.

Cũng độn ngực, cũng phấn son loè loẹt lắc hông múa đôi với thằng Nghĩa, thằng Đại.

Thỉnh thoảng cũng giả vờ đánh mắt giao lưu đĩ đời, trông chỉ muốn đạp cho một cái.

Trống samphô thằng Thành vỗ.

Trống này đầu tiên mượn của dân rồi để lâu cứt trâu hoá bùn, không trả nữa.

6, 7, 8 vvv........................................................................

Khi tập đã nhuyễn chương trình thì âm nhạc đã trở thành công cụ kiếm cơm, kiếm rượu cực đắc lực.

Lúc đang chờ tàu về Ph'nom Penh đi hội diễn, chúng tôi thấy mấy cô xinh xinh đi buôn, hứng chí tấu toàn dân ca Campuchia.

Dân bạn chờ tàu máu quá, xúm lại ròm (múa) luôn trên sân ga.

Thàng Thành gật gật, vỗ trống như lên đồng.

Thằng Hợp giả đò ngửa mũ cứng, đặt kẹp giữa hai cái ba lô.

Những đồng 1, 2 ria bay vào tới tấp như mưa.

Thuốc samit cũng được ném vào mũ ầm ầm, hút muốn chết sặc.

Về sau anh Bến biết, gọi lên chửi ầm ĩ rồi cấm làm cái trò đó.

Quân đội Cách mạng đi làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đâu phải cái bọn đàn rong kiếm cơm?

Không ra cái thể thống gì hết!

Chỉ thiếu mỗi con Capi là đủ bộ.

Hề hề!

NHỮNG BÀI HÁT BAN ĐÊM

"...Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?

Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?...".

Cũng là những bài hát về người lính, nhưng buổi ngày cương mãnh, hy sinh bao nhiêu thì buổi tối lại xa vắng, thân phận bấy nhiêu!

Buổi tối, dội văn nghệ rất đông khách.

Anh em trong trung đoàn bộ đến chơi người thì xách sang ấm trà, người thì bịch thuốc rê.

Đàn treo trên vách, ai muốn thử, muốn chơi tuỳ thích.

Khách đến văn nghệ mỗi người góp đôi bài hát.

Đã hát nhiều cho cái chung, bây giờ hát cho cái riêng chút vậy!

"...Tôi về qua xóm nhỏ.

Con đò nay đã già.

Nghe tin anh gục ngã.

Dừng chân quán năm xưa, uống nước dừa.

Hay nước mắt quê hương?...".

Ngần ấy năm chiến tranh, nước mắt quê hương có chảy cũng phải thành sông lớn, thành biển mặn.

Giờ vẫn cứ chiến tranh hoài...Bất kể do ai viết ra, hàn lâm hay sến táu, những bài hát về thân phận thằng lính chiến luôn ám ảnh tôi.

Nhất là khi mình đang ở trong hoàn cảnh đó.

Cũng gió mưa như thế!

Cũng xa nhà như thế!

Khi xung phong cũng chẳng bao giờ lùi.

Ấy thế mà đêm về không hát về điệp trùng đội ngũ; về nhân dân vĩ đại, lại đi hát về một tình đầu đã mất; một bà già một nắng hai sương; một quê hương khói lửa dạ mòn...Hay đấy cũng là đất nước, là nhân dân ở dạng đơn giản nhất mà tôi chưa nhận thức được?

Có điều các anh sỹ quan Ban tác chiến, Ban chính trị sang ngồi chơi cũng chẳng ai có ý kiến gì.

Trà ca inox, thuốc nặng Tây ninh, phận người phận mình trong cuộc chiến mỏng và lơ đãng như khói thuốc.

Một điều thật giản dị: chết trận thì là hy sinh!

Sống sót về thì lấy...đuôi trâu làm thước ngắm.

Kệ nó vảy bùn đầy mặt.

Càng sướng!

Còn ở khoảng giữa, chưa chết hoặc chưa về được thì tối nay ngồi đây, nhổ râu cằm nghe giọt gianh mái lá.

Hát, hoặc nghe hát về một phần cuộc đời mình trong đồng cảm.

Chiến tranh đã lùi xa.

Trong phòng Karaoke sau chiều nhậu sương sương, chúng ta hát thật trầm hùng với tất cả tình cảm từ trái tim những :'Năm anh em trên một chiếc xe tăng", những :" Bước chân trên dải Trường Sơn", rồi "Chiều dài biên giới"...

Nhưng tin tôi đi!

Khi ngồi trong cái hầm âm như liệt sỹ Trần Duy Chiến, (có nhật ký trong trang này), như thằng Tuý thằng Khoát thằng Phụng thằng Năm vvv......trong tiểu đoàn tôi, chúng nó chỉ hát về mẹ hiền, về em yêu với những giao thừa xa vắng thôi!

"...Trả lại em yêu tình đầu vời vợi.

Ngôi trường thân quen bạn bè cũ mới.

Đường buồn anh đi bao giờ cho tới?

Nỗi đau còn buồn, nỗi đau cao vời...!"

Tất cả các bài hát về người lính, ban ngày cũng như ban đêm, dẫu ở cung bậc tình cảm nào cũng đều rất hay !

HỘI DIỄN NGHỆ THUẬT QUÂN ĐOÀN VÀ NHỮNG CHUYỆN XẢY RA

Lại nói về cái đám ròm (múa) xa- ma- khi tự phát trên sân ga Bâmnak, tàu đến là giải tán liền.

Vũ công lẫn nhạc công tranh nhau leo tót lên toa.

Đoàn tàu già nua xập xệ, toàn các toa đen tiếp tục lăn bánh.

Cuối chiều thì đến ga Ph'nom Penh.

Sân ga đầy lá chuối gói bánh, ruồi bay vù vù.

Chúng tôi len ra lối cổng lớn, đi bộ một quãng rồi ngồi phệt cả một đám ngoài đường.

Nghỉ đã!

Cả bọn vừa hút thuốc, vừa thộn mặt ra ngắm đèn nê ông, đèn đường sáng trưng trên con phố vắng vẻ.

Lão Hoạt đội trưởng (thượng sỹ- trợ lý Chính trị) nói từ ga về Phòng Chính trị Quân đoàn phải hơn 3km nữa.

Tôi bảo vẫy xe lôi mà đi cho nó đỡ mệt.

Đói lắm rồi!

Leo U Răng cao ngất trời còn được, nhưng về thủ đô chẳng hiểu vì sao cái chân nó sinh hư, không muốn cuốc bộ.

Thằng Hợp cà cộ đứng dậy, tay cầm cái đàn mandoline huơ huơ vẫy xe.

Nhưng mấy chiếc xe lôi thấy thế, chạy né sang bên kia đường rồi vọt qua thật nhanh không thèm ngoái lại.

Mấy lần đều như thế cả.

Kiểu này thì không xong rồi!

Phải chuyên chính thôi!

Tôi bảo nó vất mẹ cái "mõ" của mày đi, xách súng ra đây với tao.

Lại một chiếc xe lôi nữa trờ đến.

Hai thằng giơ súng lên vẫy rất tử tế.

Y như rằng xe từ từ chạy lại, đỗ sát chân êm như taxi máy lạnh, kèm theo nụ cười thật tươi của bác tài.

Thấy chưa?

Quân sự, trong những tình huống cấp bách bao giờ cũng có tác dụng hơn văn hoá.

Chúng tôi yêu cầu gọi thêm một xe nữa vì 11 người, ba lô, ba khẩu súng, đàn địch...một xe không chở hết.

Tất nhiên là bác tài đồng ý ngay lập tức.

Chẳng ai nỡ đi từ chối những quý khách mang súng bao giờ cả!

Không tin các bạn cứ thử mà xem!

Thằng Hợp khoác súng nhảy lên xe đi theo vì sợ bác tài lịch sự này quên mất đường quay lại đón.

Mười phút sau, chúng tôi đã chễm chệ trên hai cái xe, trực chỉ ban tiếp đón của Quân đoàn bộ (Chỉ huy sở Quân đoàn lúc đó đã rời về Ô Đôngk).

Đi hơn 120km xe lửa không mất tiền, nhưng về thủ đô, tư cách con người nó hoành tráng lên hẳn.

Chúng tôi trả tiền sau khi dịch mãi cái từ "ph'rẻm rịa, ph'rẻm rịa!" (5 riel) khó nghe của bác tài.

Hẳn bác ấy là người KP Chàm nên nói nặng như thế!

Trước khi lên đường, chúng tôi có chạy chương trình cho Ban chính trị duyệt.

Chính uỷ trung đoàn ngồi xem khoái lắm!

Thấy bọn tôi quần áo cà tàng quá, mới điện cho Hậu cần chọn cấp cho một bộ quân phục mới tinh.

Lại ưu tiên cho lĩnh tiếp suất quân trang trước kỳ hạn nữa nên trông đội hình cũng khá tươm.

Gì thì cũng là bộ mặt đại diện cho một sư đoàn chủ lực giàu truyền thống, không thể nhôm nhoam được!

Anh em trích tiền thù lao hát rong, ra chợ Tức Tha- la gần nơi đóng quân mua một thỏi son, một hộp phấn Thái với cặp soutien độn ngực cho hai thằng giả gái.

Không phụ lòng mong mỏi của đơn vị, công sức chúng tôi bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng.

Chúng tôi giành giải nhất toàn đoàn.

Thứ nhì là trung đoàn 165 của sư đoàn 7...

Tiết mục đàn bầu và lăm thon giật luôn giải suất sắc.

Đêm hôm sau công diễn cho lính quân đoàn bộ xem.

Niềm hứng khởi thành công cộng một chút men sau bữa liên hoan chiêu đãi ban chiều khiến chúng tôi chơi như lên đồng.

Tiết mục đàn bầu tha thiết sâu lắng bao nhiêu thì màn múa lăm thon lại hừng hực rộn ràng bấy nhiêu.

Bộ đội ngồi dưới vỗ tay đập ghế ầm ầm.

Không khí chan hoà, nồng hậu, không giống hôm thi chấm điểm.

Lính hát lính nghe nó khác hẳn!

Đoàn nhà báo Cu Ba, nhà báo Nhật bản bị không khí nồng nhiệt cuốn theo.

Chân họ cũng nhịp nhịp, đầu gật gật theo tiết tấu mỗi lúc một hoạt, mồm thì tắc tắc như gọi chó, thỉnh thoảng hứng chí lại cho tay lên miệng huýt sáo lanh lảnh.

Thằng Tuất, thằng Minh bọ, được sự giúp đỡ của đồ "hoá trang" loại xịn nổi bật trong ánh đèn sân khấu.

Tóc dài đen nhánh, khuôn ngực gợi cảm, da dẻ trắng mịn, chân dài đến...cạp sà rông.

Bọn đang vỗ tay khoái trá ở dưới có biết đâu rằng bọn tôi ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa?

Phải tốn cả tá lưỡi lam, hết tiệt hộp phấn trắng không ít tiền để cải tạo cặp chân vốn đen sì và đầy mao ít như chân nhện của chúng nó, thành cặp chân vũ nữ Apsara dưới mờ ảo ánh đèn.

Thế mới biết nước mắt có thể đổi được nụ cười.

Mua được niềm vui quả là tốn kém!

Kết thúc tiết mục này, đoàn phóng viên chiến trường ngoại quốc ào lên sân khấu phỏng vấn.

Họ thắc mắc sao quân đội Việt Nam có cả lính nữ tham chiến?

Hay đây là con gái Campuchia?

Anh Hoạt nói qua phiên dịch, bảo đấy là chúng tôi đóng giả.

Họ ồ lên thán phục!

Máy ảnh chớp nhoang nhoáng, máy ghi âm sè sè, bút ngoáy lia ngoáy lịa...Chừng như vẫn còn hồ nghi, một tay nhà báo nam Nhật Bản thò tay bóp ngực thằng Minh bọ.

Chuyện xảy ra quá nhanh trước mắt bàn dân thiên hạ.

Lính Quân đoàn vẫn tưởng là lính nữ ta thật, mới đứng cả dậy rào rào, muốn ăn tươi nuốt sống thằng cha này.

Hoạt đang luống cuống không biết xử trí thế nào?

Tôi giật vội micro, thông báo với anh em về giới tính "tạm thời", anh em hãy bình tĩnh, để các nhà báo tự do "tác nghiệp" tìm hiểu sự thật (!).

Mọi người lại cười ồ lên.

Phải nể luôn cái ý thức tìm hiểu, tôn trọng sự thật của mấy thằng nhà báo tư bản.(Các nhà báo của ta tất nhiên cũng tôn trọng sự thât) Có điều, khi đã chạm được đến cái "sự thật" mềm mại đó, cây bút tuyệt đẹp, có gắn cả đèn pin nhỏ xíu chỉ sản xuất dành cho các phóng viên chiến trường của nó không cánh mà bay.

Chú thuỗn mặt ra xin lại nhưng nào ai biết?

Cái gì chẳng có cái giá của nó, kể cả là đồ giả.

Không biết đồ "thật" thì đắt đến đâu?

CHÚNG BAY NGỒI XUỐNG MÀ HÚT THUỐC RÊ ĐI !

Từ Ph'nom Penh về trung đoàn bộ được ba hôm thì chúng tôi được điều xuống phục vụ tiểu đoàn 6.

Tiểu đoàn tổ chức lễ nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND lần thứ 2.

Trung đoàn cấp cho 4 con bò, còn lại các đại đội dưới tiểu đoàn tuỳ sự tháo vát của mình cải thiện thêm.

Buổi lễ diễn ra tại cái nhà dài lợp ngói của phum Chùa, nơi tiểu đoàn bộ đóng quân.

Cái phum này sát phum Th'may, cách đây hai năm còn là nơi trú ngụ của bầy dơi quạ khổng lồ.

Giờ thì chẳng còn con dơi nào sống nổi với lính mình.

Chúng nó đã rình bắn thịt sạch.

Cả đội mất đến một ngày lăn vào cùng các trợ lý chính trị căng màn, cắt khẩu hiệu, dựng cổng chào...Đêm làm chưa xong, phải thắp đèn măng-sông lên làm tiếp cho kịp sáng hôm sau tổ chức.

Buổi lễ diễn ra trang nghiêm và long trọng.

Ngôi sao vàng năm cánh lấp lánh trên tấm phông nền đỏ thắm.

"Nghiêm...!

Quốc kỳ....Chào!"

Lần đầu tiên sau ba năm chiến đấu, những thằng lính chúng tôi sát vai nhau hát Quốc ca không phải trên đất Việt.

Giọng hát lúc vào còn ngập ngừng, chưa đều.

Nhưng một tình cảm lớn ẩn chứa đâu đó trong tiềm thức những người lính chiến, sau phút đầu bối rối, bỗng tìm thấy hoà thanh đồng vọng, bắt đầu tràn ra từ lồng ngực.

Nhiều thằng vừa hát, vừa lúng túng cài lại khuy áo.

Khúc quân hành bi tráng cất lên chậm rãi.

Những nẻo đường gập ghềnh xa nào đã đưa chúng tôi đến đây?

Đến đất nước xa xôi này?

Vai sát vai chung một đoạn chiến hào, chung một nắm cơm vắt thiu, một tấm áo trận chưa khô vết máu của thằng mặc trước.

Đường Vinh quang nào chỉ được xây bằng xác quân thù?

Còn phải được xây bằng cả xương, cả máu của anh em đồng đội chúng tôi nữa!

Hơn hai trăm tay súng của Tiểu đoàn anh hùng, gương mặt sạm đen vì cháy nắng, hoặc xanh bủng vì sốt rét, hát Quốc ca như hát về cuộc chiến đời mình.

Bóng cờ chung dẫu chưa được phất lên trong cuộc chiến vị nghĩa ấy, nhưng những gian khổ, những nỗi niềm riêng chia sẻ đã kịp liên kết, hoà chung dòng máu đồng đội đồng bào...Hành khúc vút lên cao trào rồi kết thúc.

Khối vuông tiểu đoàn đứng lặng phăng phắc.

Chính uỷ trung đoàn Hai Hữu, dường như vẫn còn cảm động, ho khan mãi mới sửa được giọng.

Năm đó, ông đã gần năm mươi, tóc đã lốm đốm bạc.

Bài diễn văn hào hùng Ban Chính trị đã chuẩn bị công phu từ trước cho ông, hôm qua anh Bến còn thức đêm để soát lại, hoá ra có đoạn đầu như thế này :

- Kính thưa...!

Cám ơn các...đồng chí!...Thôi...chúng bay ngồi xuống mà hút thuốc rê đi !

Các anh hùng cười ồ lên và ngồi xuống trong không khí đầm ấm "phụ tử chi binh".

em kể câu chuyện về chính sách bọn em đã áp dụng trong mùa nước nổi vậy!

Dẫu nó không năng động kịp thời cho lắm!

Đấy là cuối mùa mưa năm 1981 ạ!

Tháng 12 năm 1981, sư đoàn 9 em rục rịch chuyển vị trí đứng chân sang tỉnh Kampong Thom – Siêm Riệp bên kia biển Hồ.

Trước khi rời cứ, khoảng đầu tháng 11 năm đó, chúng em trải qua một trận lũ rất lớn.

Nước suối Đamrey tràn bờ, ngập gần hết đội hình trung đoàn bộ.

Riêng tiểu đoàn 4 ở trong núi, địa hình cao nên không bị ngập.

Ban đêm hôm trước, nước mới mấp mé gầm cầu sắt ga xe lửa, sáng hôm sau đã chảy ồ ồ trên đường sắt.

Nước dần lên sát mép sạp nằm của lán văn nghệ.

Cây đổ, thân gỗ trôi từ trong nguồn núi U Răng ra, phi vun vút.

Chúng em phải tháo vách cho nước lọt qua dưới gầm, sợ sức nước, củi vụn bị chặn dồn đống sẽ kéo sập nhà.

Mọi sinh hoạt ăn ở đều diễn ra trên hai cái mặt mặt sạp lán rộng chừng 12 m2.

Vách tháo toang bốn góc.

Ba lô, bồng bị, đàn địch làm giá treo lên xà ngang.

Lính văn nghệ ngồi bó gối trên giường, buộc cước vào tay câu cá ngựa.

Giống cá này từ biển Hồ ngược lên.

Nó trông giống cá chép nhưng nhỏ hơn, con to cũng chỉ tầm 300gr và không có đôi râu.

Đuôi cũng đỏ như thế và rất phàm ăn, đặc biệt là...thức ăn có mùi phân huỷ.

Tưởng nó thích gì chứ loại "thính" thơm đó mấy thằng em đâu có thiếu.

Mưa thối trời thối đất ra như thế, chỉ có mỗi việc ăn, nằm và thả "thính" câu cá chứ còn biết làm cái gì?

Chẳng cần năng động lắm!

Lật một tấm ván giường lên thành cái cầu tõm, thằng chuẩn bị thả "thính" thoát y vào vị trí cấp một.

Ba bốn tay câu vừa quăng mồi tùm tũm, vừa...

đăm chiêu nhăn mặt.

Nhưng chắc chắn không phải nhăn vì đang nghiền ngẫm nhân tình thế thái hay đau đáu sự đời.

Cái thú tiêu dao mùa thu của cụ Nguyễn Khuyến, được lính thực thi rõ ràng không phong nhã cho lắm!

Nhưng không thế thì lấy cái gì mà làm thức ăn giữa trời nước này?

Nước chảy re ré qua khe cột.

Tiếng cá đớp mồi ũng oẵng dưới chân giường.

Mỗi ca như thế cũng có ba bốn con dính câu.

Đôi khi may mắn còn giật được cả cá bò vàng hươm hoặc vài chú rô mề.

Giống cá đó cũng thích mồi tanh thối.

Giờ thì lội nước đi vặt mấy quả me, vớt những đọt lục bình dài nghêu, tước vỏ ra cắt khúc...Sờ soạng mò thêm mấy quả ớt chỉ thiên trong vườn đang bị ngập dưới nước là có một nồi canh chua xài tạm trong buổi ngặt nghèo.

Tất nhiên nước nấu cơm canh cũng được múc ngay dưới chân giường ấy nhưng có đánh phèn cho trong.

Đến bữa, chẳng thằng nào chê cả!

Cứ sì sụp chan, sì sụp húp rất ngon lành...

Chính sách của bọn em lúc đó đành buộc phải phù hợp với hoàn cảnh.

Em mà to hơn, em sẽ ra lệnh cho trời đừng có mà mưa nữa.

Dứt cơn ngay !

CHUYỂN CỨ

Bộ phận tiền trạm sang địa bàn mới bên kia biển Hồ báo về tại đó không có lá thốt nốt.

Toàn rừng thưa nên vật liệu lợp nhà phải chuẩn bị trước từ bên này.

Lại những ngày vào rừng, tìm đến những phum hoang chặt lá.

Thốt nốt quanh ga dân bạn đã xí hết để lấy nước bán cho cánh đi xe lửa.

Kể cả những cây mọc ngay cạnh nhà chúng tôi.

Đất của bạn, tất nhiên cây cũng là của bạn.

Có cho không bọn tôi cũng không biết làm gì với cái cây này.

Có điều mỗi sáng trèo lấy nước thốt nốt, cũng nên để lại vài ống cho bộ đội nếu không muốn mất sạch trong đêm.

Thốt nốt mất nhiều quá!

Họ đành để trống đoạn cây tre làm thang ở đoạn sát gốc.

Làm một đoạn thang di động, đến cây nào áp vào cây ấy.

Các chú lính nhà mình từ đó tịt luôn.

Mỗi sáng ra đánh răng ngoài suối, nhìn bác nông dân đen trũi loay hoay buộc cái đoạn thang cuối vào mấy cây cạnh lán Văn nghệ, chúng tôi cũng thấy áy náy ra phết.

Nhưng bác ấy dường như còn ngượng ngập hơn.

Chào chúng tôi lí nhí rồi xách ống biến đi thật nhanh.

Kẻ nhỡ đánh cái búm giữa đám đông với kẻ nhỡ nghe phải cái tiếng đó không biết ai nên xấu hổ hơn?

Dáng cây thốt nốt phù hợp đặc biệt với các kiến trúc đền đài, chùa tháp.

Nhớ lại hồi mới đánh sang Niék Luong, toàn phải hành quân đêm.

Chúng tôi đi trên ruộng, trên đồng bằng giữa điệp trùng thốt nốt.

Những hàng cây cao lớn và bí hiểm, đứng lặng phăng phắc trong đêm.

Đến nỗi tôi có cảm giác như trên đất nước này gió không tồn tại.

Giữa bóng tối tịch lặng, tự nhiên nghe tiếng rơi cái bịch.

Đội hình chạy toá ra nằm xuống, tưởng chúng nó phục, rục lựu đạn.

Trong đêm sâu bỗng thoảng mùi khóm chin (dứa, thơm).

Trái thốt nốt chín rụng đấy!

Mùi trái chin không khác mùi dứa chín.

Trái thốt nốt chín màu đen tím.

Lớp ruột xơ chứa một thứ bột màu vàng có vị ngọt, hơi ngăm đắng và thơm hơi gắt.

Nạo bột quả ra, quết với bột nếp ngâm nước tro, gói lá chuối rồi đem hấp lên là thành thứ bánh thốt nốt đặc sản.

Tôi không ưa ngọt nên không thích loại bánh này lắm!

Ăn cho biết thôi!

Rồi cũng đến ngày lên đường.

Trung đoàn chia quân làm hai cánh.

Một cánh gồm các tiểu đoàn bộ binh hành quân ra K'ra ko, từ đó vượt biển Hồ bằng thuyền.

Cánh thứ 2 gồm các ban bệ trung đoàn bộ, đi cùng bộ phận hậu cứ các tiểu đoàn đem theo vật liệu xây dựng lán trại.

Cánh này hành quân bằng xe lửa về ga Rô Viêng.

Từ đó đi xe D29 vượt phà P'reck Đam, rẽ theo lộ 6 về hợp quân với đơn vị tại S'tung.

Thị trấn này nằm trên lộ 6, cách Siêm Riệp khoảng gần 50 km.

Tôi đi với cánh thứ 2.

Tuy hành quân cơ giới nhưng khi đến vị trí đóng quân mới đã thấy anh em hành quân bộ đã có mặt trước rồi.

HAI THẰNG MẶT DÀY!

Căn cứ mới của trung đoàn 2 cách thị trấn S'toung 3.5 km dọc theo lộ 6, nằm cạnh một con đê thuỷ lợi thẳng tắp chạy theo hướng đông – tây.

Con đê có tên "Xam sập canh nha" – lưu danh ba mươi cô gái lao động tiên tiến trong cái đội thuỷ lợi công xã đã đắp nên công trình này.

Địa hình toàn rừng thưa xen lẫn trảng nhỏ.

Phía bắc cách 2 km là tiểu đoàn 4 nằm sát suối.

Giữa tiểu đoàn 4 và trung đoàn bộ là đại đội 17 DKZ.75mm.

Cũng cách 2 km về phía đông theo dọc con đê là tiểu đoàn 5.

Giữa khoảng này là đại đội 18- 12.8mm.

Đại đội trinh sát 21 và đại đội 2 tiểu đoàn 4 nằm chẹn trên cầu S'toung ở hướng đông.

Phía tây nam E bộ là tiểu đoàn 6.

Đội hình Ban chính trị bố trí hình chữ U ôm lấy một cái trảng nhỏ, có chừng mươi nóc nhà.

Đội văn nghệ được bố trí ở rìa bên phải chữ U đó, nằm khoảng giữa đại đội 12.8mm và đại đội 20 thông tin.

Nghĩa là có hướng lạnh sườn để mà phải gác.

Cũng may là có một rừng dây mây thấp rất dày, không thể nào chui qua được ôm lấy đội hình nên cũng yên tâm phần nào.

Hướng này chỉ có mỗi con đường bò chui qua cái luỹ mây đó.

Đi truy quét thì thôi chứ lập cứ lâu dài thì việc quan sát, sắp xếp chỗ ăn ở sao cho kín đáo và thuận tiện, cho chuyện chống đột nhập là rất quan trọng.

Xem "phong thuỷ" xong xuôi, chúng tôi bắt đầu dựng nhà và đào giếng nước ăn.

Buổi chiều hôm đó, trời nóng gắt.

Không khí nóng từ mặt trảng bốc lên rung rung dưới nắng.

Lính ta phải đợi gần tắt nắng mới sục vào rừng chặt cột.

Rừng thưa có sẵn nên cột kèo cũng dễ kiếm.

Bên kia đê, qua con mương có một đám cây tương đối thẳng.

Bọn vệ binh và chúng tôi lao vào chặt.

Nhưng chúng nó chơi bẩn.

Chỉ chọn những cây đẹp, chặt mỗi cây mấy nhát vào gốc để tranh xí phần.

Chúng tôi chặt thì không sao, nhưng hai thằng vệ binh to vật như Thạch Sanh đang hăm hở đốn trong đám cây "chủ quyền" đó thì bỗng dưng sây sẩm mặt mày.

Mặt chúng nó đỏ rực lên, rồi dần dần sưng mọng, to như cái lệnh trông rất khủng khiếp.

Hai thằng trợn ngược mắt nhìn nhau trong ánh chiều tà.

Mặt người chết do thắt cổ cũng sưng như thế do tụ máu.

Ma nhập tràng?

Rừng có ma?

Một thằng kêu ré lên.

Cả bọn sợ hãi quăng cả rìu rựa chạy về.

Tôi cũng hoảng, guồng ríu cả chân!

Không hiểu chuyện gì đang xảy ra?

Hổn hển về đến trung đoàn bộ mới được biết nguyên nhân.

Té ra trong đám đó có những cây sơn.

"Sơn ăn tuỳ mặt, ma bắt tuỳ người!".

Câu thành ngữ quen thuộc được thực tế chứng minh một cách quái quỷ nhất.

Hai hôm sau mặt mũi và toàn thân chúng nó vẫn bị sưng như thế.

Da mặt, da lưng dần tróc vảy ra, loang lổ tựa da rắn lột.

Trông nhăn nhăn nhở nhở như... người lở sơn.

Hễ quân y đến thăm bệnh là cả hai thằng trùm vội tấm đắp dù trời nóng chết cha, không dám cho nhìn.

Những người dị ứng sơn chỉ cần đi gần cây cũng bị như thế chứ khỏi cần đụng đến nó.

Đám Thạch Sanh bỏ việc, bọn văn nghệ tiếc công lại ra chặt tiếp, kéo về dựng nhà.

Dẫu biết rằng căn nhà mới này từ nay sẽ vắng khách vệ binh.

Thằng Đại và tôi vốn ghét bọn này từ hồi còn ở Trảng Lớn vì bị thu áo, bị nhốt vô cớ nên có phần đắc chí.

Nó đánh luôn một câu:" Kệ mẹ!

Càng đỡ tốn trà thuốc!

Đúng là hai thằng mặt dày!

"

S'TOUNG.

Trong khi triển khai đào hầm, công sự cho vị trí đứng chân trên địa bàn mới, thằng Bình cáo đại liên liên vớ được một cái dây chuyền.

Được bạc thì sang, được vàng thì lụi.

Nó alô lên ban chính trị cho tôi, hẹn đến Chủ nhật tới ra S'toung đập phá.

Đúng hẹn, tôi lò dò xuống tiểu đoàn 6.

Cả bọn hơn chục thằng, áo quần nghiêm chỉnh ra thị trấn.

Trong ký ức của tôi, nó là một cái phum lớn giống hơn là một phố thị.

Một hai ngôi nhà đúc, còn lại là những ngôi nhà sàn lớn vách gỗ dầu lợp ngói.

Những con đường ngang dọc ngập ngụa bùn đất.

Bùn trộn phân trâu, phân bò lõng bõng sủi bong bóng xanh lè, nồng nặc một mùi hôi ngái.

Có những quãng bùn ngập đến gần nửa bánh xe.

Dân bạn đi chợ, qua những quãng sâu đó lại thúc bò rượt cho nhanh để lấy đà.

Bánh xe, đuôi bò quăng quật, vung bùn tung toé cả vào khách bộ hành đang men theo những sống đất cao đến chợ.

Nhưng cũng chẳng ai lấy đó làm điều.

Thậm chí còn cười ré lên trêu nhau.

Hình như nông dân nước bạn có lối sinh hoạt cộng sinh, tan lẫn trong đất ruộng, trong nước trời một cách tự nhiên không thể tả.

Cứ như họ là một phần không thể tách rời của mưa, của bùn đất vậy!

Cả đoàn xe bò đang nối đuôi nhau rung reng, lốc cốc...Cơn mưa đen trời đến đằng trước, đến đằng sau.

Gió bắt đầu lồng lên giật ngang giật dọc những tàu dừa.

Mưa chạy đến thật nhanh.

Những hạt mưa đập bụi trắng mờ chân ruộng.

Nhưng bò thì vẫn đủng đỉnh như thế.

Người thậm chí chẳng thèm nhìn trời.

Những gương mặt đen ngời vẫn tĩnh như đá tượng!

Không một chút nhốn nháo, không một ai rút áo mưa trùm.

Áo ướt xong áo lại sẽ khô.

Đoàn xe tan biến trong cơn mưa, bỗng hiện ra lù lù ngay cổng chợ.

Như là hành trình này đã đến từ quá khứ, về tới hiện tại mà không hề thay đổi.

Dù đến cả hàng ngàn, hàng vạn cơn mưa đã trôi qua...

Tiệm vàng nằm dưới gầm một căn nhà sàn lớn, lẫn giữa những hàng cá, hàng tôm hay hàng dép tông Thái.

Ở đây vàng cũng là một loại hàng hoá bình thường như tôm như cá thôi, có gì đặc biệt hơn đâu?

Một cái hộp kính nhỏ toạ trên một cái bàn sơ sài.

Trong hộp kính là một cái đĩa nhôm của bộ đội đựng các miếng vàng ròng 24K.

Vàng lá Kim Thành, vàng lá trơn, mấy cái nhẫn méo to sụ, vài nửa cái xúc xích, dây chuyền...Nhưng chủ yếu là các miếng do chặt ra từ các khối vàng nguyên nên có đủ mọi hình thù.

Thằng Bình xỏ ngón tay vào cái dây xích, quay quay trước mặt cha ba tàu chủ tiệm như chong chóng.

Lão vồ lấy, móc từ bụng ra một cái cân tiểu ly cổ quái, ném cái dây vào đĩa.

"Pi chi!" (hai chỉ), mồm nói còn tay xỉa tiền Rịa luôn.

Cái cân mồi lại chui tụt vào trong bụng bự như ảo thuật.

Cân tiểu ly hồi đó còn đắt hơn cả vàng.

Mất cân là mất nghiệp!

Không hiểu lão đó có cân gian hay không?

Có tiền rồi thì lên sàn, chờ gì?

Vài xiên cá kết xông khói mà thân cá trong, óng ánh đỏ sậm như hổ phách, nhìn đã muốn nuốt nước miếng.

Thốt nốt chua xếp thành dãy dài, cứ hết lại bê ra.

Súng ống ngổn ngang, ống thốt nốt lăn long lóc trong tiếng hát bắt đầu nhừa nhựa.

Một cơn mưa nữa vừa kéo qua.

Một thằng say gục đầu xuống khóc...

Tôi đưa em sang sông.

Chiều xưa mưa rơi âm thầm...Con mẹ chủ quán nghe nói Việt lai, tiếp thêm vài xâu cá và chục trái dưa leo nữa.

Nó xéo cả vào chân tôi, mắt liếc nhanh như điện rồi hi hí, chùi mỡ cá vào vạt sà rông.

Mấy thằng lính không biết đơn vị nào nữa, lạ hoắc kéo lên đánh ké tự nhiên như ruồi.

Hô hô!

Chó chết là hết chuyện!

Đủ các loại tiếng chửi thề...Thằng Bình loạng choạng đứng dậy bấu vào cửa sổ gào lên:" Mang hết nước thốt nốt chua lên đây...!".

Dứt lời, một cái vòi rồng từ miệng nó vụt thẳng xuống đất.

Từ cửa sổ đến mặt đất cao khoảng 3m mà cái vòi ấy không đứt cách quãng một đoạn nào.

Nếu như trời không mưa...đường nắng đâu cần tôi đưa...Mẹ kiếp!

Cứ mưa, cứ mưa nữa đi!

Mưa cho khắp, cho nước biển Hồ lên, cho mấy thằng lính xa nhà lấy cớ mà nhậu tiếp.

Lại mưa nữa kìa!

MÁ NUÔI

Sĩ quan thì ít thấy hoặc không, nhưng trong đám lính trơn thể nào cũng có thằng có má nuôi nếu đóng quân lâu tại vị trí gần dân, và nếu nó là thằng chịu giao du và mau mắn.

Má nuôi của thằng Hợp tên là Ộp hay Ọp gì đó?

Cũng có thể cái tên này chỉ là biệt danh do lính tự đặt ra cho dễ gọi.

Có thằng lính nào mà lại không có biệt danh kèm theo đâu?

Trong đơn vị tôi thì có Trung khói, Toàn cồ, Lượng khỉ, Sơn ba tai, Tùng mập hoặc Tùng bẩn...Đến cả cán bộ hoặc chính trị viên tiểu đoàn, trung đoàn chúng nó cũng chẳng từ: Chiến tréc (Chính uỷ E- lùn), Sông già...Cái tên ăn chết vào số phận.

Đến bây giờ gặp nhau đã lớn lớn cả rồi nhưng không gọi nhau kèm tên "tục" là không chịu được.

Thế cho nên bà má nuôi thằng Hợp có tên là Ộp cũng có thể hiểu do bả mập, nhẵn và tròn như một con ếch xinh thực sự.

Mà cũng có thể đó là tên thật của bà.

Má năm đó chừng 40, 41, người tầm thước hơi đậm.

Tới đâu cũng biết ngay vì tiếng cười rất thanh thường đi trước người má mười lăm phút.

Một bà goá mới sương sương trễ nải, nhận thằng con nuôi lính Việt tuổi mới đôi mươi là một điều rất bình thường.

Chồng má chết trong công xã, nghe đâu cũng là dân trí thức xóm, thông thạo Pháp ngữ.

Trí thức ở Campuchia rất được coi trọng trong chế độ cũ, và thường có vợ khá xinh.

Má cũng thế!

Bà này ở vậy nuôi thằng con trai 10 tuổi.

Mà không ở vậy thì lấy ai?

Cả đất nước Campuchia hồi đó đàn ông đi đâu hết!

Giạt rừng?

Chết trận? ...Tóm lại một đất nước nhiều đàn bà goá, gần như đất nước Tây Lương trên hành trình lấy kinh của một ông sư thời Đường.

Nhưng những biến động đau thương khốc liệt đó không xoá đi được những nét ưa nhìn của những người đàn bà sung mãn.

Và Tình nguyện quân hoàn toàn không phải là thầy trò Đường Tam Tạng.

Người dân Campuchia không biết buồn lâu bao giờ!

Một đất nước tĩnh với các giá trị tôn giáo, nhưng vô cùng động trong các hoạt động sống phồn thực hội hè.

Tôi đã chứng kiến có cô em, chồng vừa chết mìn trong núi chưa được nửa tháng, chất xác chồng lên xe bò mang về, khóc sướt mướt như mưa xối.

Thế nhưng buổi tối tuần trăng sau đã gặp tiếng cười lanh lảnh vô tư của cô ấy trong đám ròm "chay" không có nhạc, chỉ bằng trống vỗ đầu phum.

Như tất cả các bà goá khác, nhà má nghèo.

Một cái lều đứng chênh vênh trên tám cái cột tre thì đúng hơn là một căn nhà.

Vách thưng lá thốt nốt, trống tênh buộc dây vắt quần áo ướt.

Trong khi chờ vạt lúa mà thằng Hợp hè chúng tôi lăn ra làm giúp đến kỳ thu hoạch được thì má đi làm cỏ lúa rẽ, hay theo chị em đi sâu vào tận những phum hoang nơi chân núi cả ngày.

Khi trở về, trong cái khăn cà ma cuốn khéo như cái tổ chim lớn xù xù đội trên đầu là đủ các loại quả thu lượm: ổi, xoài, mãng cầu...dể bán cho khách buôn đi tàu, kiếm vài rịa.

Thằng cu con thì khỏi nuôi.

Vì nó toàn sang ăn, ở với chúng tôi.

Không phải ăn ké đâu, đến bữa là nó có một ôm rau càng cua đã rửa sạch sẽ mang về.

Cái thứ rau sống lá mọng hình trái tim mọc hoang, vị he he man mát, chấm mắm cá cũng hao cơm.

Nó hát rất sõi tiếng Việt bài hát của ông hoàng Sihanuc :" Ta hát bài ca, đi lên chúng ta bên nhau Việt Lào bên Kh'mer anh em.

Cùng chung dòng sông, Mekong đắp xây mối tình..." không biết ai dạy.

Đêm mưa, có khi nó chun mùng thằng Hợp, ngủ với bộ đội.

Ban ngày, nó ngồi vắt vêo trên bậc thang, bắt chấy (chí) cho má nó cùng thằng anh kết nghĩa.

Má ngồi bậc thang dưới, hai thằng con ngồi trên sàn, mỗi đứa một nửa đầu.

Thỉnh thoảng chí choé tranh nhau con chấy kềnh khiến má chúng nó cười rung rung cả ngực tròn.

Tóc bà Ộp dày, mới cum cúm ôm kín ót.

Giờ gội mưa ẩm liên tục nên chấy bả nhiều.

Thằng Hợp mang kéo sang tính cắt trọc cho rồi nhưng bả không chịu.

Hồi đó có nhiều chị em dân bạn cắt trọc, cắt cua chắc do bị chấy tấn công.

Thế là nó phải lấy hạt mãng cầu, giã ra trộn với dầu hôi quân nhu sang cho má nó ủ tóc diệt hết chấy.

Lại thêm cục xà bông Lux Thái nữa mới tình cảm.

Mẹ thằng này!

Hôm nào tắm suối chung mà nhỡ "mượn" nó cục xà bông thơm nó lại chửi mình là dân Vĩnh Phú mà giờ sộp thế!

Có đám vui thì má cũng ròm.

Bước chân trần uyển chuyển trong vòng tròn.

Hông lắc nhẹ, hoạt theo vũ điệu nhưng phần từ eo lưng trở lên trên không lắc, gợi cảm như một vũ công chuyên nghiệp.

Đôi tay cong cong, uốn mềm mại vừa phải trước ngực chứ không tung tẩy, khoáng đạt như các em gái trẻ.

Những cử động tiết chế ẩn chứa một nội lực duyên dáng đầy nguy hiểm vô hình, như hút mắt người xem, đẩy người ta đến những khát khao rạo rực.

Trong không gian thoảng mùi xà bông thơm, khối cô phải ghen tỵ lòi mắt.

"Túp lều má Ộp" là địa chỉ nhậu tin cậy của đội văn nghệ chúng tôi.

Các chỗ khác có thể hết nhưng tại đó không bao giờ thiếu rượu.

Ra đó vừa vắng, vừa xa cán bộ.

Nhỡ có hứng gào lên hát lớn cũng chẳng ai thèm để ý.

Má cũng là một tay nhậu cự phách.

Cũng một hơi nửa bát sắt xâmakhi như ai.

Có những buổi trưa mưa buồn, nổi cơn thèm rượu, tôi kéo thằng Hùng lé lội nước mò ra lều má.

Trên sàn, hai má con thằng Hợp đã say sưa tự bao giờ, đang gác lên nhau ngủ.

Nghe động thang thấy tôi, má vươn vai trỏ tay vào góc chái nhà nơi cất rượu rồi ôm thằng Hợp lăn tiếp vào cơn mộng.

Chuyện thường ngày ở huyện!

Tôi lấy can rượu ra.

Thằng Hùng trở qua trở lại con khô.

Chúng tôi ngồi cạnh má con nó ngó ra mưa, im lặng nhậu tới.

Một hồi ríu cả mắt, cũng lăn ra sàn đánh một giấc vô tư như má con nó.

..............................................................................

Sau này thằng Hợp ra quân, má nuôi nó dẫn cu em đến thăm.

Má cho nó hai chỉ vàng trong buổi liên hoan chia tay với rất nhiều nước mắt.

Còn thằng Hợp dân huyện Đà Bắc.

Nghe đâu chạy thuyền cát gần Chẹ, Tu Vũ tỉnh Hoà Bình bên sông Đà.

Em đang làm ở Phú thọ, bên kia sông gần đó cũng đã dò la tìm kiếm nhưng chưa gặp, để hỏi chuyện má con tình cảm gì đâu!

Gặp nó sẽ kể tiếp chuyện tình nghĩa má con hầu các bác!

MỘT TRẬN TAO NGỘ CHIẾN

Ngày mai - 17/08/2008, tròn 30 năm ngày anh em tôi nhập ngũ lên đường sang Campuchia chiến đấu.

Tất nhiên sẽ có một cuộc họp mặt tưng bừng khói lửa.

Điều ấy không phải bàn!

Cách đây ba mươi năm có lẻ mấy tháng, nghĩa là vào tháng 4, tháng 5 năm 1982, như các bạn đã biết, chúng tôi đóng quân ở S'toung.

Thời gian đó Sư đoàn 9 có một kho đạn nằm ngay cạnh thị trấn, trong một cái chùa, sau lưng trung đoàn 2.

Gần như để phủ đầu, mới đến ngày thứ 3 dừng chân, địch nó tập kích ngay.

Lời chào hỏi cũng quá giản dị, chừng 6 trái M.79 với vài băng đạn nhọn rồi câm bặt.

Ta không bắn lại một phát nào.

Duy nhất có một lần như thế rồi bặt luôn.

Như thể gây tiếng nổ cảnh báo rằng có bố mày đang ở đây, liệu hồn!

Rồi thôi!

Đó hẳn là bọn địch trong dân!

Nhưng đêm đêm, và cả ban ngày nữa ở phía núi Hồng, hướng tây bắc đội hình đứng chân của trung đoàn, tiếng pháo, tiếng hoả lực vọng lại vẫn rền rền.

"...

Do lực lượng quá mỏng, Bộ tư lệnh 719 ( ?! chắc là 479) lúc đó chỉ đủ sức bám giữ, đánh địch quanh địa bàn tỉnh Siêm Riệp.

Ở Kampong Thom chỉ có các đội công tác và đoàn chuyên gia quân sự của tỉnh Tiền Giang.

Địa bàn này vốn là căn cứ chính của Pôn Pốt với lực lượng địch khá mạnh.

Chúng ngang nhiên đi lại trên lộ số 5 ( ?!

Chắc là lộ số 6) giữa ban ngày và lập hẳn một căn cứ giang thuyền để kiểm soát toàn bộ khu vực bãi biển Hồ.

Nhiệm vụ của Sư đoàn 9 lúc này là phải phá tan căn cứ giang thuyền, đẩy địch lên vùng núi cách càng xa lộ 6 càng tốt.

Đồng thời giúp bạn củng cố chính quyền xã ấp, trừng trị địch lũng đoạn ở hai huyện Chi K'reng (Siêm Riệp) và huyện S'toung (KP Thom).

Pôn Pôt đã cử tên Un Ươn, một tên trùm gián điệp đứng đầu để nắm dân, kích động dân chống lại bộ đội tình nguyện Việt Nam..." (trích lịch sử Sư đoàn 9).

Vừa kịp dựng xong lán trại, hầm hào tại vị trí đứng chân mới, tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 5 được lệnh hành quân lung sục bao vây căn cứ giang thuyền biển Hồ - cái căn cứ mà trung đoàn 3 cùng Sở chỉ huy nhẹ sư đoàn 9 sang trước nhưng phải huỷ kế hoạch tấn công do bị lộ vì có gián điệp trong dân báo cho địch trước.

Nhận lệnh, tiểu đoàn 4 lặng lẽ lên đường trong đêm.

Sau đây là trận đánh qua câu chuyện của thằng Căn – liên lạc đại đội 1 d4 (lúc này tôi đã rời tiểu đoàn 4)

"...Ngày thứ 2 không có nước.

Rừng cao hơn, thưa hơn, chẳng hứa hẹn điều gì là sắp tới nguồn nước cả.

Các vạch xanh đứt đoạn, thể hiện suối cạn một mùa trên bản đồ thì chằng chịt, nhưng chẳng nơi nào có nước Cả tiểu đoàn đã gần như lả đi.

Đã có một số ý kiến đòi quay lại cái lạch nhỏ nước xanh lè rong rêu phía sau, cách đấy 2 ngày hành quân bộ.

Có quay lại được thì chưa đến nơi đã chết!

Một ý kiến ngu không tưởng!

Tiểu đoàn quyết định dừng chân nghỉ đêm tại chỗ trước đây là suối.

Một số thằng đào khoét lòng suối kiếm nước trong tuyệt vọng.

Vừa đào vừa lấy đất còn hơi ẩm áp vào mặt, lem nhem như hề.

Các tấm tăng được trải trũng để hứng sương.

Một đêm cháy họng nữa dần trôi qua.

Tới sáng hôm sau, cái bi đông nhựa đựng nước đái của tao với anh Lược treo đầu võng đã rỗng không.

Thằng chó nào đó đã uống trộm mất rồi, Đ... mẹ!

Tức gì đâu!

Nhìn quanh toàn những thăng thất thần, trõm mắt, môi vều tướng...biết thằng đ... nào lấy?

Lệnh hành quân tiếp!

Thằng Gia "cà bây" cối cứ nằm im so trên võng.

Hỏi sao không dậy chuẩn bị đi?

Nó bảo đằng đ...nào cũng chết, nằm đây chêt cho khoẻ, chúng mày cứ đi đi!

Kệ mẹ tao!

Thì kệ mẹ mày!

Tha cái thân tao còn chưa xong, khiêng vác gì nổi?

Đại đội đi được một quãng đã thấy nó loạng choạng mò bám theo...

Phúc nhà tao còn lớn lắm!

Đi được nửa cây số nữa thì gặp cái lạch nhỏ sâu hoắm.

Trên mặt lạch lục bình ken dày, xanh ngắt mọc cao thẳng đuột ngang tới thắt lưng.

Chúng nó nhào tới nhấc bèo ra.

Săm sắp chỉ khoảng 5 phân nước bùn, đục ngầu do rút rễ bèo.

Sống rồi!

Lính tiểu đoàn để nghiêng chén bát, ca inox, hớt nước trên mặt bùn.

Một số trải tăng vào những chỗ trũng, gạt bùn bám ở rễ lục bình rồi vắt rễ lấy nước.

Sáng kiến này có vẻ khả thi vì nước lấy được trong hơn.

Lạch nhỏ, chưa chen xuống được, những thằng chờ trên bờ vặn thân bèo lính đang lấy nước ném lên, nhai rau ráu hít nước như voi hít bã mía.

Đã vào đến vùng đệm nhưng chẳng thằng nào cảnh giới vì mải lấy nước.

Một lát uống đủ, các bi đông cũng tràn đầy.

Mấy ông lo xa, còn cắt cả thân lục bình, bó thành bó gùi theo.

Trong đời tao không có thứ nước nào ngon bằng cái thứ nước rễ bèo lờ lờ hôm ấy.

Mặc dù uống xong thì chỉ muốn gây sự chửi nhau với thằng nào đó vì nó ngứa mồm quá thể...

Lại đi tiếp!

Trinh sát cùng đại đội 1 đi đầu.

Vẫn rừng thưa xen lẫn trảng.

Qua một cái trảng con, vừa tiếp bìa rừng thì có tiếng chạm lá loạt soạt.

Một đơn vị dài dằng dặc, quân phục xanh rì đang hành quân qua mũi trinh sát tiểu đoàn, cách có chục thước.

Không phải tiểu đoàn 5 rồi!

Đơn vị nào ngon vậy ta?

Bọn kia cũng vừa kịp phát hiện, bỗng giật mình tháo súng.

Địch rồi!

Nhanh hơn một khoảnh khắc, loạt AK của anh Yên, trung đội trưởng trung đội1 đi đầu kéo đổ hai thằng.

Mấy thằng trính sát cũng kịp lia túi bụi mấy loạt.

Địch bị đánh đúng khúc giữa, sau phút giây đầu bị choáng, giạt sang hai đầu bắt đầu nổ súng rát.

Trung đội 1 đại đội 1 và trinh sát bây giờ rơi vào thế bất lợi, nằm chết gí giữa hai làn đạn trên trảng trống.

Trung đội trưởng Yên hô anh em xung phong bám lấy bìa rừng trước mặt.

Chỗ này gần địch hơn nhưng nhiều vật che khuất.

Cuối cùng, phần lớn b1 và trung đội trinh sát (4 người) cũng bám được vào bìa rừng.

Ban chỉ huy đại đội kịp lùi về khoảng rừng cạp mé trảng sau.

Thằng Phụng 2w (người Huế) khoác máy chạy theo nhưng không kịp, bị đạn nhọn té sấp giữa trảng.

Thịnh đen Hà nội lính c4, vác cái chân cối 82, nằm gần b1 hơn nhưng cũng nhấp nhổm muốn bò lui.

Không phải vì nó rát, có lẽ nó sợ cối không có chân không bắn được thì ông Thào tạt tai.

Ngu gì đâu!

Anh Yên (lúc này đã bị thương lần thứ 2) thét:" Anh em không được bỏ chạy, bò lên đây!

Có chết thì cũng chết tại đây!".

Anh ấy vẫy tay gọi nó trườn lên cho gần, nhưng chẳng hiểu sao, thằng này lại vùng lên, vác chân cối chạy trở lui.

Đạn nhọn lại rồ lên.

Một viên bắn vỡ tung gót làm nó quỵ xuống.

Nó hăng lên, trườn như con thằn lằn về cuối trảng.

Từ đó làm bia sống bắn tập cho bọn địch đang núp sau cái ụ mối bìa bên kia.

Bò được chục met thì nằm luôn bất động.

Thằng Đặc cũng đang bị kẹt giữa trảng, thấy thế điên ruột thổi quả B.40 vào ụ mối rồi vùng chạy được lên hướng b1.

Quả đạn không trúng đích nhưng nổ sát làm bọn nó chờn, lùi lại vì lộ mục tiêu.

Từ đó, b1c1 và trinh sát bị cắt rời khỏi đội hình tiểu đoàn.

Cối 82 c4 bắt đầu "toong, toong...!".

Có 2 khẩu thì một khẩu chắc bắn ứng dụng thôi vì mất mẹ nó chân rồi còn đâu!

Hoả lực lên tiếng đã khích động tinh thần anh em lên nhiều.

Đại đội 2, phần còn lại của đại đội 1 bắt đầu tổ chức xung phong bám bìa rừng lên cứu bồ.

Gần như có bao nhiêu hoả lực, bọn địch dồn vào cả b1, trinh sát tiểu đoàn 4 đang nằm ngáng ngang đội hình chúng nó.

Nhưng vẫn nghe tiếng M.79 của anh Sơn, tiếng trung liên của thằng Đăng kéo đều.

B.40 của thằng Đặc đã nổ đến trái thứ 4, còn hai trái nữa là hết đạn.

Nghe mà xót ruột!

Bọn tao xung phong điên lắm!

Cụm địch bên phải bắt đầu lùi dần.

Cối 82 đã phải nâng tầm.

Cuối cùng, bọn bên trái cũng chạy nốt!

Lên đến nơi, anh Yên đã hy sinh.

Anh Sơn b trưởng trinh sát bị B.40 tiện mất một giò.

Thằng Đặc cháy mông do nằm bắn B.40 cứu thằng Thịnh không để ý góc an toàn.

Trận tao ngộ chiến này, tiểu đoàn 4 hy sinh 3 người, bị thương 4 người.

Những người hy sinh gồm anh Yên b trưởng b1 (quê Tam dương-Vĩnh phúc); Thịnh đen(Phố Trần Nhật Duật-Hà nội); thằng Phụng 2W(Hương Thuỷ- Huế).

Anh Yên người nhỏ, da trắng trẻo, môi đỏ thắm như môi con gái.

Đơn vị vừa mới cho về phép cưới vợ.

Chẳng biết kịp có mầm sống nào kế tục chưa?

Không hiểu sao cứ cha nào về phép để cưới vợ, khi trở lại đơn vị thường hay hy sinh?

Bọn Pôn Pốt đếm được toi tại chỗ 6, số tử trận và bị thương khác không xác định được.

CÂU CHUYỆN PH'NOM PENH

Tháng 5 năm 1982, tôi được anh Bến phó chủ nhiệm chính trị trung đoàn, người Hải Phòng cử về Ph'nom Penh học lớp viết tin.

Chắc vì anh ấy thấy những bài báo tường của tôi ở đơn vị có ít lỗi chính tả.

Về thủ đô chắc chắn khoái hơn là xuống các phum dân vận ba cùng rồi.

Thế là khoác ba lô, ra S'toung đón xe lên đường.

Sau gần hai ngày tăng bo trên đủ loại phương tiện, tôi cũng mò đến được tới nơi cần đến.

Đón tôi là anh Lê Huy Khanh - (nhà văn quân đội, có tác phẩm trong trang này).

Tôi trình các giấy tờ cần thiết.

Anh Khanh hỏi :" Em đã in mấy tác phẩm rồi?

Bút danh là gì?".

"Tác phẩm gì ạ?".

"Truyện ngắn, thơ trên VNQĐ ấy!?".

Ối cha mẹ ơi!

Anh này đùa chắc?

Một cái trích ngang ngắn bằng ngôn ngữ của tôi được trình bày.

Rằng em là lính dưới tiểu đoàn 4, rằng em lên ban chính trị rồi được cử về đây đi học...Nghe xong, anh ấy cười ngất :" Rõ đúng là các bố quan liêu!

Đây là trại sáng tác của Tổng Cục Chính trị, chỉ dành cho những nhà văn quân đội".

Uầy!

Thấy tôi trẻ măng, mặt lại đang thuỗn ra, anh ấy lại càng cười tợn :" Thôi!

Đã về đây thì cứ ở lại đây.

Coi như cho chú nghỉ choảng nhau mấy tháng!

Có biết nấu ăn không?".

Tất nhiên là có rồi!

Dại gì?

Vài hôm sau, các anh Nguyễn Quốc Trung, Trần Đình Thế, Hồng Dân (cũng có tác phẩm trong box Biên giới Tây nam của ptlinh) dưới Phòng chinh trị Quân đoàn lên đủ.

Các bác nhà văn số 4 Lý Nam Đế cũng sang góp mặt.

Bác Bùi Minh Quốc to cao đẹp trai.

Bác Duy Khán người đen, nhỏ, có cái hộp thuốc lá vụn bằng sắt tây.

Điếu thuốc tự cuốn dán bằng nước bọt không lúc nào rời khỏi miệng...Rồi cuối cùng, cụ Vũ Sắc, cụ Đỗ Gia Hựu – phụ trách nhà xuất bản Quân đội nhân dân cũng sang.

Trại viết này do Quân đoàn 4 đăng cai.

Anh Khanh là trưởng trại, mời cụ Sắc và cụ Hựu về ở riêng trong cái biệt thự hai tầng gần đài phát thanh.

Lại kéo tôi về làm tiểu đồng điếu đóm.

Công việc của tôi chẳng có gì.

Ngày ba bữa xuống bếp trại gần đó lấy cơm.

Đi chợ mua thêm những món cải thiện cho hai cụ theo yêu cầu của trưởng trại.

Không được để phích hết nước nóng...Tóm lại là làm cần vụ, thế thôi!

Ph'nom Penh không thu hút được tôi.

Thứ nhất bởi vì tôi không có tiền.

Thứ nữa cũng bởi tôi thèm ngủ.

Chắc tại nhịp sinh hoạt bình lặng quá nên tôi lúc nào cũng buồn ngủ.

Nằm giường chưa quen, tôi buộc võng vào chấn song cửa sổ để ngủ cho ngon.

Các anh ấy bận viết.

Còn tôi rửa chén bát buổi sáng xong, ngồi ngó cây phượng vĩ đang nở hoa đỏ rực ngoài cổng, ngó ra ngoài đường một lát là hai mắt bắt đầu díp lại như có bọ ngủ chui vào.

Hôm nào nổi hứng thì hộ tống hai cụ đi bát phố.

Cụ Sắc bảo mày viết đi, nằm mãi làm gì!

Viết cái gì ạ?

Thì viết những tấm gương dũng cảm, viết những chuyện chiến đấu dưới tiểu đoàn mày ấy, đưa tao sửa cho.

Chúng nó đầu tiên cũng như mày thôi.

Viết đi đừng sợ!

Thế là tôi viết.

Cũng lên lĩnh giấy bút như ai.

Và cũng gò lưng cặm cụi viết.

Thỉnh thoảng hứng lên lại gác chân lên bàn đốt một điếu CAPSTAN mua được do ăn bớt tiền đi chợ.

Nhìn khói thuốc bay qua cửa kính, lòng bồi hồi rạo rực vì sắp thành nhà văn đến nơi.

Đúng ba hôm sau, tôi trình cụ Sắc một tập linh tinh chuyện thượng vàng hạ cám dưới tiểu đoàn 4.

Mà cũng quái lắm, biết khen ta chê địch hẳn hòi.

Cụ Sắc đọc xong, thần mặt ra mới hỏi nhỏ :" Này!

Sao chết nhiều như thế hả mày?".

"Vâng!

Thế đấy ạ!".

Thế là cụ im lặng cất luôn cái bản thảo đầu tay của tôi đi mất.

Mấy hôm sau lại bảo :"Hay mày viết những chuyện khác đi, đừng viết chuyện đánh nhau nữa.

Chuyện dân vận chẳng hạn!

Có khi tạng mày viết những chuyện như thế lại ăn tiền".

Lại vâng!

Lại một tuần đăm chiêu bóp trán mà nghĩ.

Những chuyện dân vận là gì?

Mấy năm choảng nhau dưới tiểu đoàn, mới lên ban chính trị mấy tháng, có bao giờ tham gia trực tiếp vào đời sống xã hội dân bạn đâu?

Biết gì mà viết?

Chia gạo cho dân đói, cấy lúa giúp dân, dạy những bài hát nhảm nhí xuyên tạc cho bọn trẻ con, tiêm thuốc cho người bệnh thì hẳn là dân vận rồi.

Nhưng nhất thiết không được kể những chuyện ra dân xin chó, chui bụi ngó trộm con gái tắm suối bị kiến cắn sưng mông, nhậu say lăn ra nhà bà giá ngủ...Vậy là tôi bắt đầu mê mải viết những điều trong tưởng tượng...

..Tôi nghĩ ra một câu chuyện về tình bạn giữa một anh lính Việt và một thanh niên Campuchia.

Anh lính Việt tìm thấy và cứu anh bạn K này gần chết đói trong khi đánh địch ở Biển Hồ.

Anh bạn K đi lính Hun Xen vì có mối thù riêng với Angka đã bức giết cô gái người yêu của anh ấy.

Bối cảnh hai người bạn gặp nhau tại nhà một ông già làm thốt nốt và thuộc nhiều câu chuyện cổ về ma cọp.

Cổ tích huyền thoại và hiện tại đan cài trong vị chua đắng của nước thốt nốt chua cùng xâu cá khô.

Kết luận : Angka và ma cọp tàn ác chẳng khác gì nhau, phải chung sức đánh đuổi nó.

Sáng hôm sau, đơn vị của hai anh cùng lên biên giới.

Đại khái thế!

Đặt xong tên đứa con tinh thần của mình là "Men thốt nốt", tôi lại nộp cho cụ Sắc.

Đọc xong, cụ khoái trá ra mặt, sửa chữa chút ít rồi lôi truyện ngắn của tôi ra đọc rút kinh nghiệm trước toàn trại viết vì lúc đó, các anh ấy chưa kịp đẻ xong.

Hè hè!

Bác Duy Khán bảo :" Thường!

Thường thôi!".

Anh Khanh khen :"Có không khí lắm...!".

Các anh khác không nói gì.

Anh Dân đang viết dở truyện của anh ấy, phải quay sang đánh máy cho tôi vì cả trại chỉ có một cái máy chữ duy nhất và anh ấy biết đánh máy.

Khi gõ xong câu chuyện, ở phần tên tác giả, anh Dân cười hô hố rồi gõ : Đại văn hào phố Phùng.

Nhà tôi ở Hà Nội lúc đó đã chuyển từ Hàng Khoai về Phùng Hưng, không ở cùng ông bà ngoại nữa.

Nhà mới cách cơ quan các cụ bên phố Lý Nam Đế cái cầu đá dẫn xe lửa lên cầu Long Biên thôi.

Cùng dân Hà Nội, lại thấy tôi bằng tuổi con mình mà dấn thân chiến trường ác liệt quá nên các cụ thương lắm.

Các bác kể chuyện Hà Nội, còn tôi kể lại những chuyện linh tinh bá láp của đời lính.

Nhà cụ Sắc ở làng Hoàng Mai.

Cứ mỗi sáng Chủ nhật, nghe tiếng flute dặt dìu say đắm thổi bài "Khát vọng" trong chương trình Văn nghệ, cụ lại nháy mắt hãnh diện :" Đấy!

Nó chơi đấy!".

Nó ở đây là anh Dương (tôi không dám chắc tên lắm, nhớ mang máng thế), con trai cụ và cũng bằng tuổi tôi.

Phòng Chính trị Quân đoàn cho trại viết hai con heo.

Các cây bút cự phách không ai biết làm thịt.

Được giao việc, tôi sang vệ binh nhờ anh em sang chọc tiết, cạo lông có ăn chia tỷ lệ.

Một loáng, hai con heo đã phanh bụng móc hàm trắng hếu.

Anh Khanh ca cẩm :" Ăn thế chó nào hết được?".

"Thì bán bớt đi!".

"Thế mày đi bán đi!".

Tôi gọi xe lôi, chất một con heo lên xe chạy thẳng ra chợ Olympic.

Xe dừng, cánh lái thịt ào đến ngay.

Không nhớ là đã thu bao nhiêu tiền nhưng tôi bán đứt con heo chỉ trong vòng 15 phút.

Trở về, tôi đưa tiền cho anh Khanh sau khi đã trích lại khoản cà phê tối tự thưởng.

Bữa cơm chiều, xoay trần làm đủ các món heo cho mâm bốn người.

Đến lúc ăn, anh Khanh lôi ra một chai rượu với bốn cái ly hạt mít.

Cụ Sắc lại hỏi :"Có biết uống không?".

"Dạ!

Kh...ô...ông...

ạ!".

"Thế thì tốt!

Nhưng hôm nay vui thì cũng làm vài chén đi!".

"Vâ â...ng...ạ !".

Chết cười sặc!

Tôi nhấm nháp chút chít ba ly cho các cụ vui lòng...

Rửa chén bát xong, tôi xin phép chuồn ra phố.

Lang thang từ đài phát thanh ra đến Cầu Sập phải hơn 1.5 km đi bộ.

Trên cầu, hàng nhậu đêm, hàng nước giải khát đốt đèn trứng vịt lốm đốm.

Tôi gọi một chai 75, vài con khô nướng rồi ngồi kê dép thõng chân ngay đoạn đứt cây cầu, cảm nhận tận cùng cái hụt hơi của cao độ xuống lòng sông.

Tonle Sáp dưới chân bóng sáng mờ xuôi chảy.

Độc ẩm nhưng sao rượu vào thế này!

Ờ!

Thì tao uống với mày, uống với dòng sông đêm mà hơn ba năm trước, tiểu đoàn tao đã ngược lên đánh trận Ô Đông.

Hơi rượu vào quá!

Gió thổi mạnh quá!

Hồn tử sỹ gió ù ù thổi...

Anh em tao đấy, anh em tao đang về theo gió đấy!

Anh em tao đã hy sinh khối.

Còn mày chắc cũng thương tích đầy mình!

Nhất là cái trận bọn giang hạm nó giã cối 81.

Trúng địch thì ít mà trúng mày thì nhiều.

Cá chết trắng cả!

Thôi đổ xuống chén rượu đền mày đây!

Còn xa tít bên cầu, phía những đám mây vần vụ, chớp biển đang nhằng nhịt kia là quê cha quê mẹ tao!

Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa mày có biết không?

TUOL S'LENG

Cuối tháng 6, Chính quyền bạn cùng Phòng Chính trị Quân đoàn tổ chức cho trại viết đi thăm nhà tù Tuol S'leng và Chùa Bạc Hoàng cung.

Các bác các anh đều là sĩ quan cao cấp, trung cấp cả.

Còn thằng tôi là lính trơn duy nhất, trẻ nhất, chưa bao giờ trong đời lính lại được hưởng cái suất ăn theo như thế!

Xe đưa rước tận nơi.

Nhà tù Tuol S'Leng thì các bạn chắc biết cả rồi.

Nó vốn là cái trường trung học nằm trong một con phố nhỏ.

Kh'mer Đỏ đã biến cái nhà trường này thành nơi giam giữ, nơi tra tấn, hành hình những phần tử cứng đầu.

Những lớp học không có bàn ghế.

Trong đó, vài cái giường sắt hàn thêm những thanh cùm hoen gỉ.

Vệt máu khô phun vọt đã thâm đen trên tường, trên nền gạch bông.

Trong một lớp khác, đống quần áo bẩn thỉu, hôi hám của những tử tù chất thành đống như núi.

Vết móng tay cào bật máu hằn trên cửa chớp, trên tấm giát giường đã ải, tố cáo cơn đau tột cùng của nạn nhân.

Tấm bảng đen vẫn còn ghi công thức một hợp chất hữu cơ có nhân vòng benzen chưa kịp xoá trong giờ học cuối cùng, trước khi thầy giáo, học sinh bị lùa ra khỏi thành phố.

Đoàn khách tham quan không ai nói một lời nào, đi chen vai thích cánh giữa những oan hồn trên cái hành lang dài tịch lặng.

Tôi vịn lan can.

Cái thành lan can này đã có những bàn tay nào vịn vào?

Sao nó giống lan can trường tôi đến thế?

Tiếng bầy quạ kêu thảng thốt.

Người hướng dẫn kể rằng quạ vào ban ngày và chim lợn vào ban đêm ngày trước vẫn bay qua các cửa sổ mở, chầu rìa rình móc mắt người chết hoặc người sắp chết bị cùm cố định trên giường.

Đã ba năm trôi qua nhưng tại đây vẫn nồng nặc mùi tử khí.

Cái mùi ấy không thể tả được, như là mùi cũ của một con người đang lạnh đi.

Một cơn gió mạnh thổi ào qua.

Các cửa lớp khép hờ bỗng bung ra mở toang, như là hết tiết đến giờ ra chơi...

Auschwitz, Treblinka, Sachsenhausen...những trại tập trung của phát xít Đức dẫu man rợ hơn gấp nhiều lần nhưng cũng không gây ám ảnh như tại nơi đây.

Tội ác đã được thực thi tại học đường, giữa những công thức hoá học và màu đỏ hoa phượng vĩ.

Như chổng mông vỗ phành phạch vào nền văn minh nhân loại.

Sẽ là thiếu sót nếu không nói về cái bản đồ nổi tiếng.

Một tấm bản đồ chằng lưới mắt cáo để neo giữ những cái sọ người ghép thành hình đất nước Campuchia thời Pôn Pôt.

Kampong Thom, Kampong Ch'nang, S'vay Rieng, P'ray Veng, Ta Keo...Cả đất nước này là một nghĩa địa khổng lồ.

Sọ người chết không mấy cái còn nguyên vẹn.

Cái thủng đỉnh đầu, cái vỡ trán, cái mất nửa hàm trên...lặng lẽ dõi theo bước chân chúng tôi bằng những hốc mắt vô hồn tội nghiệp.

Công lý đã được thực thi, tội ác đã bị trừng phạt.

Những người đã khuất hãy cho họ được yên nghỉ đời đời.

Có cần thiết mang thân xác thật của họ ra làm vật chứng để tố cáo chế độ cũ hoặc vinh danh chiến thắng hay không?

KÝ TÊN MỘT CÁI LÀ THÀNH NHÀ VĂN!

Rời Tuol Sleng, xe đưa chúng tôi đi chụp ảnh ở đài Độc Lập rồi đến thẳng Chùa Bạc Hoàng cung (ảnh mất rồi, tiếc quá!).

Phần miêu tả ngôi chùa này các bạn có thể tìm trong các trang trên Google.

Tất cả tháo giày, tôi thì tháo dép trước khi đặt chân lên những viên gạch lát bằng bạc ròng mát lạnh trong chùa (mỗi viên là 1,1 kg bạc).

Vương quốc Campuchia theo phong trào các nước không liên kết, nên các viên gạch bạc này cũng không liên kết với nhau bằng hồ?

Dẵm chân lên, có những viên vẫn cập kênh nhẹ.

Tượng Phật bằng ngọc lục bảo, tượng Phật vàng nặng 90 kg, cao 2m không gây chú ý cho tôi bằng những tủ kính đựng đầy các con giống cũng chế tác bằng vàng ròng rất tinh xảo.

Ngắm chúng, tôi lại thêm một lần nhớ tiểu đoàn 4 chiếm được vàng trong trận bắt Ta Mok ở phum Kâmnom.

Lòng vẫn bồi hồi tiếc nuối.

Những tiếc nuối rất đời, rất tục bất giác ào đến giữa chốn linh thiêng khiến tôi sợ, liếc trộm Đức Phật một cái rồi cúi đầu xuống.

Giá mà cái túi quần lính của con lúc này có được một vốc những thứ bày trong tủ kính kia!

Trăm ngàn lạy Ngài xá tội!

Giá hồi đó con không nộp chiến lợi phẩm thì những đêm ở Ph'nom Penh này, con sẽ chẳng bao giờ chịu đi ngủ sớm!

Tôi chắp tay đứng trước tượng, lẩm nhẩm khấn với lòng thành kính vô bờ : Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Tại chúng nó bắn vào con nên con cũng bắn lại như điên.

Nhỡ có sát sinh cũng tại chúng nó cả!

Trời tru đất diệt chúng nó!

Con lạy Ngài phù hộ độ trì cho con và anh em con mạnh khoẻ, đừng chết ở đây và chóng được trở về nhà...

Đoàn khách tham quan vào Hậu cung, nơi trưng bày các vật dụng của Hoàng Gia.

Những thứ khác không nói làm gì.

Nhưng cái ngai bằng gỗ quý, nệm bọc tơ tằm thêu cầu kỳ bằng những sợi vàng mảnh của Ngài Sisowath Monivong- ông ngoại Đức Hoàng thân lúc đó đang lưu vong hấp dẫn tôi một cách kinh khủng.

Chờ mọi người lục tục trở ra gần hết, tôi trở lại, chễm chệ toạ ngay lên một cách rất đàng hoàng.

Trời ơi sao nó êm ái thế!

Mát hết cả...một phần con người!

Sướng quá!

Tử vi có nói số mình được làm vua trong 5 phút là lúc này đây!

Đang định vung tay bắt chước mắng đám quần thần bạc nhược tưởng tượng cho giống thì tiếng cụ Sắc gọi :"Tùng!

Thằng Tùng đâu rồi?".

Tôi chạy tọt ra gian ngoài.

Các bác, các anh đang túm tụm quanh cái bàn.

Cụ Sắc đang ghi cảm tưởng trong cái sổ vàng dày cộp.

Dưới những lời phi lộ đẹp đẽ, cụ viết bằng chữ hoa :" Đoàn Nhà Văn Việt Nam" rồi ký tên.

Các bác, các anh cúi xuống lần lượt ký vào.

Cuối cùng, cụ bảo tôi :"Còn mày nữa, ký vào đây!".

" Cháu á?".

"Không mày thì ai?'.

Nói qua về cái chữ ký của tôi một chút.

Chẳng bao giờ giống nhau, như mệnh tôi vốn thân vô chính diệu.

Khi cáu bực thì chứ ký chỉ gồm 5 cái lò xo.

Khi xông xênh đắc ý có khi kéo đến 7,8 cái lò xo lận.

Hôm đó, tôi mắm môi mắm lợi làm cái lò xo khoảng mười vòng...

Nếu Ban quản lý Chùa Bạc lưu lại những cuốn ghi cảm tưởng thì hẳn là các bạn sẽ thấy cái lò xo của tôi trong đó!

HAI TRỨNG MỘT NGÀY, VỊT ĐẺ RÁT ĐÍT VẪN KHÔNG KỊP!

Sau cái truyện đầu được chấp nhận, lại nghe mọi người động viên ầm ầm, máu văn chương của tôi chảy hừng hực.

Tôi lăn vào viết như điên.

Trong đầu toàn những tuyến nhân vật chính diện, phản diện bắn nhau đùng đùng.

Hoặc yêu nhau tay đôi , tay ba trong các thiên diễm tình thấm đấm nước mắt Việt nam – Campu chia.

Xamakhi thì si bò hóc!

Tôi bắt đầu cáu vì mình sao không xơi được món bò hóc?

Có ăn được các món nhân vật của mình ăn thì mới hiểu họ hơn.

Cái con bé bán cà phê đầu phố có cái miệng xinh xinh kia, thỉnh thoảng vẫn có mùi bò hóc ở đâu đó.

Có làm sao đâu?

Lần này ra gánh bún cá mình phải cố bịt mũi quyết tâm tọng thật nhiều bò hóc!

Không chịu được thối sao trở thành nhà văn chân chính được?

Lại nữa kìa!

Các nhân vật trong đầu đó, nó làm tôi bỏng mấy lần vì không rót nước sôi vào miệng phích (bình thuỷ) mà lại đi rót vào đúng bàn chân của mình.

Chết tiệt!

Cứ chờ đấy!

Ngày xưa Trần Quốc Toản bực lên tay bóp nát quả cam lúc nào không biết thì sao?

Bỏng tý ăn thua gì?

Tự động viên mình thế, nhảy lò cò về phòng, gác chân lên bàn thổi phù phù, tôi ngồi viết tiếp...

Thấm thoắt gần hai tháng trôi qua.

Điếc không sợ súng!

Tôi đẻ liền một lúc hai truyện nữa.

Ph'nom Penh cuối hè nắng gắt.

Cụ Sắc cụ Hựu lôi cái bàn kiểm duyệt từ trong phòng ra ban công có mái che ngồi làm việc cho mát.

Tôi pha ấm trà mới.

Cụ Sắc đang quạt phành phạch, lườm tôi rồi mới bảo :"Về thì mày xin làm trưởng trại vịt!".

"Sao lại thế ạ?".

"Mày làm trưởng trại thì thúc mỗi ngày vịt nó đẻ hai trứng.

Như mày đang đẻ ra truyện thế này!".

Cụ Hựu cười ồ ồ :" Vịt mày có đẻ hai trứng một ngày, đẻ rát đít mười ba tháng trong năm thì vẫn không đủ trứng bán cho dân ta đâu con ạ!

Đang đói lắm!".

Hai cụ lại cười rộ lên.

Quả thực, qua câu chuyện hậu phương của các cụ, miền Bắc và cả nước nói chung lúc đó đang ở trong thời kỳ cực khó khăn.

Điều này tôi đã cảm thấy trong thời gian chuồn về nhà.

Không hiểu sao thống nhất rồi, tình hình kinh tế đất nước lại tệ hại đi nhanh chóng đến thế?

Cả một sê ri chuyện tiếu lâm thời đại được các cụ xuất bản bằng miệng chiều hôm ấy.

Cười ra nước mắt!

Ấy thế mà chúng tôi viết nhỡ có gì động đến chế độ một tý là bị cắt xoẹt ngay.

Bút sa gà chết con ạ!

Ơ!

Thế bác cháu mình đang nói dối nhau, dối bản thân mình à?

Trẻ con!

Biết gì?

Cả ba cái truyện tôi viết ra trong thời kỳ bên K đó được các cụ cho in cả.

Bây giờ vẫn nằm im trên giá sách gia đình.

Mỗi khi giở nó ra, thấy xấu hổ, ngượng ngùng như nhìn lại những cuốn sổ liên lạc hay học bạ cũ.

Nó non nớt, nhạt nhẽo kinh khủng.

Nhưng chưa tệ hại bằng nó đã được viết bằng những xúc cảm vay mượn, tô hồng vô lối.

Và đặc biệt nó không đúng với sự thật chiến trường, không đúng với bản ngã thằng lính chiến là tôi và anh em đồng đội tôi.

Cụ Sắc đã nói đúng!

Một quả trứng vịt lộn khi cần thiết còn đáng giá hơn cả tá những truyện ngắn như thế!

Nhớ như in một buổi tối mưa tạnh, tôi dẫn bác Sắc đi xem người ta ròm trên vỉa hè trước cổng uỷ ban.

Bác phấn khởi quá!

Nói thích cô mặc áo thun xanh.

Còn tôi lại thích cô áo đỏ hơn.

Sao bác biết, bác vẫn cho qua những câu chuyện như thế?

TRỞ VỀ ĐƠN VỊ

Đầu tháng 8, trại viết giải tán.

Tôi ra chợ mua một cái bút máy Héro, vài thứ linh tinh lặt vặt khác, chuẩn bị quay về đơn vị.

Các bác lục tục hành trang trở về Hà nội.

Bác Hựu thì đang buồn vì chuyện hậu phương riêng của bác ấy bị "tập kích".

Trong thời gian các bác sang đây, vợ bác ấy ở nhà có ngay tình yêu mới.

Thế mới thấy trong tình yêu, ông thượng tá hay anh binh nhất, súng ngắn súng dài cũng khổ sở như nhau.

Bác Sắc nháy tôi :"Có cái gì gửi về nhà không?

Tao mang hộ!".

Thằng lính như tôi thì có cái gì được chứ?

Tôi viết lá thư gửi về nhà cho gia đình yên tâm.

Phút chia tay nhiều lưu luyến.

Lá thư này bác Sắc chuyển về tận nhà.

Trong câu chuyện với gia đình mà mẹ tôi kể lại bây giờ, bác ấy chỉ có mỗi ca ngợi cái đức ngủ của tôi :"Thằng này nó có tài ngủ, ngủ suốt ngày ông bà ạ!".

Các cụ có tuổi, ít ngủ nên ngả mũ trước cái tài ngủ của tôi là đương nhiên!

Anh Dân kéo tôi về phòng Chính trị Quân đoàn ở Ô Đông chơi ít bữa.

Anh ấy gạ, bảo mày cứ ở đây, tao làm cái giấy xuống Sư đoàn xin cho mày về phòng này.

Có khả năng đấy!

Thích đi học ở Sài gòn thì cũng dễ.

Thôi!

Ở đây với các anh!

Biết anh ấy quý mình nên mới tạo điều kiện thế.

Nhưng nếu đồng ý ở lại là suốt đời chọn con đường binh nghiệp, là tiếp những tháng năm dằng dặc xa nhà.

Thôi anh ạ!

Em chỉ muốn mau được trở về nhà thôi!

Dưới đơn vị đang có chính sách giải quyết ra quân, phục viên dần dần rồi.

Vài bữa nữa chắc em cũng đến lượt.

Ở với các anh sướng thật đấy!

Nhưng em muốn về đơn vị, nơi em sống thoải mái hơn, em được vô tư hơn.

Không phải ne nét ý tứ nhiều vì tính thằng em lắm khi vô duyên lắm!

Với lại em nhớ chúng nó quá...

Phải nói là ở S'toung, nơi trung đoàn tôi đóng trong thời gian này, tình hình chiến sự cũng yên ắng nên tôi mới quyết định như thế!

Còn không biết nếu Sư đoàn đã lên biên giới Thailand, ngày nào cũng ùng oành thì tôi sẽ quyết định thế nào?

Cuộc đời có những ngã ba.

Dẫu vẫn đi lối mình đã chọn nhưng vẫn có phần tò mò về cái ngả rẽ kia.

Nếu ta đi lối đó thì sao nhỉ ?

MỘT TRANG HIỆP SĨ

Sáng hôm sau, tôi khoác ba lô ra phà (bắc) P'rech Đam đón xe.

Chờ mãi không thấy xe lính mình, tôi đành leo đại lên một cái xe đò.

Coong top Vietnam tâu na?

Tâu vinh, tâu vinh, tâu S'toung khet Kampong Thom!

Một khoảng nhỏ được dành cho tôi trên tấm ván kê cao, cạnh mấy cô gái đen giòn phía cuối nóc xe.

Ngược dốc phà, xe nghiêng ngả chạy.

Gió mát cứ lồng lộng.

Thỉnh thoảng hành khách chúng tôi phải cúi rạp người xuống khi xe chạy qua những cành cây ngang xoà thấp trên đường.

Dân quê hồn hậu, cười đùa trêu chọc nhau cứ rinh rích cả.

Một cô ngó tôi, nói liên liến gì đó trong gió ù ù, nghe lõm bõm có chữ sì ke (chó).

Cả nóc xe cười rộ.

Tôi cũng nhe răng ra điều ta đây cũng hiểu hết nhưng bụng thì phân vân.

Có khi nó bảo mình là chó cũng nên?

Hay nó bảo bộ đội Việt nam hay ăn thịt chó?

Cũng có khi nó bảo mình ngồi thù lù giống con chó ba tiền rưỡi?

Tôi sửa lại tư thế ngồi cho thật đàng hoàng, bắt đầu nóng mắt và nghiêm mặt lại.

Nhưng lúc này thì các cô không thấy trêu cười nữa.

Họ im lặng dần.

Gương mặt đăm chiêu hẳn và có phần trở nên nghiêm trọng.

Có thế chứ!

Phải biết tôn trọng bộ đội Việt nam chứ!

Xe đã chạy hơn ba tiếng.

Bụng tôi bắt đầu thấy tưng tức nơi bàng quang.

Suy bụng ta ra bụng người, hẳn các cô này cũng buồn giống mình bây giờ.

Thảo nào mặt đần thối ra như thế kia.

Cười nhiều nó vọt ra thì khốn!

Cứ ních nước dừa cho đẫy vào!

Cũng may, các em mời nhiệt tình nhưng tôi lại từ chối.

Một cuộc thi chịu đựng bắt đầu.

Mỗi lần xe xóc, các cô ấy nảy người lên nhưng lại cố hạ xuống từ từ.

Mặt nhăn như đau nỗi đau diệt chủng.

Cho chết!

Cười anh nữa đi!

Tình trạng tôi cũng chẳng hơn gì nhưng vẫn cầm cự được chán.

Một cơn gió ào qua, mang theo hơi nước mát lạnh.

Xe đang chạy ngược chiều với cơn mưa đang tới.

Các chị này tỉnh người ra hẳn, ngồi xệp xuống nóc xe, hóng về cơn mưa như cá rô mề hóng nước.

Tôi lục ba lô, lấy tấm nilon ra để sẵn.

Lòng cũng mong cơn mưa như mong mẹ về chợ.

Gió lạnh lắm rồi!

Bầu trời bắt đầu tối rầm.

Tôi trùm kin tấm nilon lên người, tháo "súng", chờ những giọt nước đầu tiên nguỵ trang để bắt đầu khai hoả.

Một cái xóc nảy người, kèm theo một tiếng sét ngang trời đánh "Oành" một cái!

Tiếng sét đã khai thông mọi bế tắc.

Gần như đồng thời, nước trong xì-téc của các cô vụt ra trên nóc xe, chảy ồ ồ cùng lúc với những hạt mưa mới bắt đầu xối xả.

Đến lúc này đến lượt tôi bật cười lớn.

Cười không nhịn được.

Vừa cười vừa xả rất sung sướng, không gì sướng bằng!

Một cô thụi vào vai tôi một cái đau điếng rồi giật phắt tấm nilon trên vai tôi ra.

Hờ hờ!

Anh mày xong rồi!

Ba cô trùm tấm nilon của tôi, làm nốt công việc đang làm dở dang, hết cả ngượng ngùng.

Tôi nhường tấm nilon lính ấy cho các cô, gửi thêm cái ba lô cho khỏi ướt.

Bây giờ thì chúng nó cũng như em gái mình thôi mà.

Qua cơn bĩ cực, người ta dễ thông cảm với nhau hơn.

Tôi vừa vuốt nước mưa trên mặt vừa đắc ý, vì đã cư xử như một trang hiệp sĩ thứ thiệt.

BÀI HỌC VỀ HIỆN TƯỢNG QUANG HỢP

Con lộ 6 những đoạn chạy sát biển Hồ trông giống như một con đê.

Theo hướng lên Siêm Riệp, bên phải đường là ruộng, rừng thưa.

Bên trái là rừng lá thấp, xuôi dần ra hướng biển Hồ.

Tại cầu S'toung, ngay lối rẽ ngã ba "Xam xập Canh nha" từ lộ 6 theo đường đê vào trung đoàn bộ, tiểu đoàn 4 bố trí đại đội 2 chốt độc lập và một khẩu 12.8 chĩa nòng ra hướng rừng ngập.

Tôi xuống xe, "ocun chà rờn" sốp-phơ cẩn thận.

Bọn đại đội 2 nhận ra, gọi nheo nhéo.

Chúng nó đang thịt chó liên hoan cho hai thằng ra quân.

Tôi tạt vào chào hỏi anh em chút rồi chuồn, chẳng còn lòng dạ nào mà ngồi chờ nhậu.

Xa đơn vị đã hơn 2 tháng, bụng sốt ruột chỉ muốn về ngay, thành ra đi như chạy trên con đường dọc mương.

Con mương thẳng tắp này đặc biệt ở chỗ là cả mùa mưa lẫn mùa khô không bao giờ có nước.

Có lẽ thằng kỹ sư thuỷ nông của bọn Pốt nó tính sai cao trình, hoặc chưa xây dựng được trạm bơm tưới tiêu tại ngã ba ngoài kia.

Nhà mình đây rồi!

Giàn bí xanh đã trùm kín khoảng sân rộng, leo cả lên mái.

Quả bí to ăn không hết, mới cắt một nửa được chúng nó bọc nilon cẩn thận vẫn treo lủng lẳng trên giàn.

Sắn (mỳ) mới cao đến ngực phủ xanh những khoảng trống.

Lên ban báo cáo có mặt, xuống anh nuôi báo cơm xong thì trời tối mịt.

Trời mưa sụt sùi.

Anh em quây quần bên ca trà với gói Samit tôi mua làm quà.

Văn nghệ được bổ sung thêm hai thằng lính Nam nữa chơi cổ nhạc là thằng Sang với thằng Đức.

Anh em lính Nam kỳ này vào đông nên phần cổ nhạc trong chương trình là không thể thiếu.

Thằng Sang ở An giang, người nhỏ nhắn trắng trẻo, không đen như các bố lính miền Tây khác.

Hỏi ra mới biết là nó bằng tuổi tôi nhưng đã có những 3 vợ cưới hỏi đàng hoàng (chẹp!) và có bốn đứa con chính thức.

Nó ở nhà quê nhưng đếch phải làm gì.

Chỉ xách đờn lê la các nhà có đám.

Phạm vi hoạt động văn hoá cả chục cây số.

Đàn sáo, nhậu nhẹt say sưa rồi rúc xuồng, rúc bụi nghiên cứu muỗi A nô phen khi đốt chổng mông như thế nào với con gái nhà người ta nên bị bắt đền.

Có lần nó nhậu say quá, nằm bẹp như cái dải khoai.

Một lúc cả ba cô vợ to như con tịnh chống xuồng phi ngay đến.

Đám tịnh đó lao vào túm tóc xé áo bóp...vòi lẫn nhau hòng cắp cái dải khoai héo kia về nhà mình để phục dịch.

Nước mẹ gì!

Chỉ sướng mắt cánh đàn ông ngồi nhậu trên bộ ván ngựa kê ngoài sân, cười hô hố...Sau một hồi dày xéo bụi mù bất phân thắng bại, ông chủ nhà đám (vốn là một tín đồ cải lương) phải ra tay can thiệp tống cổ ráo.

"Chúng bây cút ngay!

Bộ tính phá đám hử?

Đêm nay nó ngủ ở đây với...con gái mỗ!".

Thằng Đức thứ tư, người hơi xấu trai nhưng có duyên thầm.

Nó ôm đàn, ngó ra khoảng mưa tối nhấn nhá từng khúc sáu câu.

Ngón chân cái kẹp cái song loan gỗ thỉnh thoảng tróc lên giòn tan canh nhịp.

Nó chơi cổ nhạc bằng cây đàn phím bằng của tôi, không thèm xuống dây như đàn guitar phím lõm chuyên dùng chơi cổ nhạc.

Tiếng đàn nghe lắng lót trần ai lắm, nhất là trong những đêm sâu, mưa như thế này...

Ca trà tàn thì đêm đã khuya.

Trà làm chúng tôi xót ruột, đói cồn cả bụng.

Mưa sùi bong bóng mưa lâu.

Nhổ sắn ăn đi!

Thằng Chương bàn.

Sắn văn nghệ trồng mới đến bụng, làm gì ra củ?

Thì sang mẹ nó rẫy của chủ nhiệm chính trị ấy!

Bên đó tốt lắm!

Sai hai chú em cổ nhạc đi nhưng chúng nó sợ chưa quen chó.

Chân ướt chân ráo mới được lên ban, vô kỷ luật bị tống cổ về tiểu đoàn thì xách B.41 ốm.

Nghe cũng có lý!

Ba ông cựu đành cởi trần xách bao dứa luồn sang.

Rẫy sắn của chủ nhiệm nằm ngay trước cửa gần nhà chính uỷ.

Con chó Bốp bên đó sủa nhặng lên lao ra.

Nhưng nhận ra tôi là người quen nên lăn vào liếm láp.

Con Bốp vẫn hay ăn chực cơm nhà văn nghệ lắm rượu nhiều xương.

Nó chồm cả hai chân trước đầy bùn, chùi lên lưng tôi đang bò như đặc công.

Mẹ con này!

Chắc nó ưu tiên tình cảm cho mình vì vừa mới đi xa về.

Lưng tôi rồi cả người tôi toàn bùn do nó bôi vào.

Tình cảm thể hiện quá mức đôi khi cũng gây phiền hà cho người khác đấy!

Đồ ngu!

Tuy là tao đang bò như mày thật, nhưng hoàn toàn không phải là bạn mày.

Hiểu chưa?

Tôi vừa vỗ vỗ đầu nó vừa lầm bầm.

Nhẹ nhàng nhấc nhấc, rung rung lôi gốc sắn lên cho khỏi sót củ.

Được gốc nào, bẻ ngay củ cho vào bao dứa rồi dặm lại thân cây thật sâu, thật chắc chắn như hiện trường cũ.

Cũng may trời mưa nên công việc đó chẳng khó khăn gì.

Xong!

Về vất bao sắn cho chúng nó tách vỏ đem luộc.

Ba thằng ra tắm mưa.

Lúc nãy mải tập trung "bám địch" nên không biết gì.

Còn bây giờ lạnh run cầm cập.

Lạnh teo cả... rốn!

Ra giếng chung tắm thì nước ấm hơn nhưng thế thì lộ mất.

Nồi sắn hấp đêm ấy cực ngon.

Nhất là những củ sém ở đáy nồi vỏ thơm phức, lấm tấm mặn những hạt muối, bở tung dưới ánh đèn che nhỏ.

Sắn bở quá, ăn nghẹn cổ nên cả bọn vừa ăn vừa phải chiêu nước.

Vài hôm sau, đám sắn đó vàng hết cả lá.

Anh Bến phó chủ nhiệm đứng trước sân than vãn :"Nước ngập thối rễ, đám sắn này hỏng hết rồi!".

Thượng sỹ Hoạt - "kỹ sư nông học" bèn khoa tay giảng giải, ra vẻ rất hiểu biết :"Không phải đâu!

Lá dày quá nên ảnh hưởng đến sự quang hợp thôi anh ạ!".

Tôi đứng cạnh phải vụt bỏ chạy ra sau nhà để cười, không thì cũng bị nghẹn như nuốt sắn bở.

Riêng cái thằng cha đội trưởng đội Văn nghệ này thì cái gì nó cũng biết tuốt!

Em sẽ kể với các bác sau...

Tiếp nốt bài hiện tượng quang hợp

.......

Đám củ mì đó tất nhiên là chết, kể cả đã được vun luống và tỉa lá.

Thượng sỹ Hoạt một chiều trời buồn ra thu hoạch thử một khóm.

Giống như chuyện cổ tích anh nông dân và con quỷ, những phần trên mặt đất thì không phải của chúng tôi.

Hiểu ngay rằng mì chết không phải do lá quang hợp yếu, lão Hoạt mang nguyên khóm vào cho anh Bến xem (chắc định giải thích là do sâu đục củ?) .

Anh ấy than vãn lại chỉ có bọn Văn nghệ thôi!

Anh ấy cho gọi tôi với thằng Hùng lé đàn bầu lên.

Phó chủ nhiệm chính trị quả có con mắt nhìn người, tuy là vẫn còn thiếu thằng Chương còi.

Trông thấy khóm mì không củ nằm giữa sân, hai thằng tôi biết ngay sự tình.

Con Bốp đang lim dim trong gầm lại lao ra mừng ư ử, quấn vào ôm chân tôi như một khẳng định đồng loã.

Con chó dái này này khoái sang văn nghệ vì ngoài xương ra, bọn tôi còn nghịch ngầm, cứ xoa "cu" cho nó sướng đâm nó nghiện.

Loài vật trả ơn là như thế này đây, trời ơi!

Không mào đầu, anh ấy hỏi luôn: Chúng mày hả?

Bọn em đâu có!

Nếu không tụi mày thì chỉ có thể là ông Thạnh, ông Chiến thôi! (ông Thạnh ông Chiến là trung đoàn trưởng và trung đoàn phó).

Thằng Hoạt ra nhổ thêm về cho anh em nó ăn.

Lọ mọ đêm hôm rắn nó đợp cho thì khốn!...

Im tịt hết, nể ông ấy quá!

Lão Hoạt chắc chưa biết "Bài ca sư phạm" hoặc Makarenko là ai, tức lộn tiết nhưng vẫn phải ra vườn trợn mắt nhổ về cho chúng tôi mấy khóm.

Mà nó chọn toàn khóm nhỏ còi cho bõ tức.

PHIÊN CHỢ BA TƯ

Cuộc sống bộ đội của tôi bây giờ nhàn tản như công chức.

Sinh hoạt cơ quan giờ nào việc nấy nghiêm lắm chứ không tự do thoải mái như dưới tiểu đoàn.

Sáng dậy đánh răng rửa mặt, vệ sinh cá nhân rồi tập cho đến trưa.

Cơm nước xong nghỉ trưa.

Chiều lại tập rốn một đoạn nào đó chưa nhuyễn nhưng tai chỉ dỏng sang hướng sân bóng trung đoàn.

Hễ bắt đầu có tiếng bịch bịch của trái bóng da bọn vệ binh khởi động là hô nghỉ luôn.

Vác cuốc ra xới ví dụ mấy đám củ mì, đám đậu đũa cho các em noi gương, xong ra sân bóng quần đến mệt lử.

Thưa với các bác là em hồi này ăn chức "tiên chỉ" rồi!

Lính cũ mà!

Tuy không phải là trợ lý ăn nói lí nhí thập thò xin chữ ký.

Cũng chẳng là đội trưởng nhưng lại được nể nhiều!

Do biết bảo vệ cho quyền lợi anh em trong đội rành rẽ khúc triết lắm, không toan tính vì mình cái gì cả!

Phân đời cũng dám chơi tới bến, nhậu mút ngón chân cái, không ngán bố con thằng nào.

Lại hay bày trò ăn cắp cải thiện nên chúng nó khoái là đương nhiên.

Cả đội Văn nghệ tuyệt nhiên giống máu nhau.

Là lính lại nhiều cái thú nữa thì cần đếch gì?

Ở cơ quan Chính trị yên hàn, ba lô các sĩ quan, các trợ lý ngày càng phồng lên những đồ Thailand, những chiến lợi phẩm xin hoặc trấn được của đồng hương đồng khói dưới các tiểu đoàn để dồn cho các kỳ nghỉ phép.

Một số ông còn biết dồn lương, phụ cấp, hùn tiền rịa gửi bọn hậu cần đi buôn, đánh quả mánh mung.

Nhất là đám sĩ quan dân Bắc mình xuất thân quê ở nông thôn.

Ăn không dám, tiêu lại càng không.

Lại chẳng dám vô kỷ luật để trốn giờ đi cải thiện nên nhiều khi nhìn mâm cơm các trợ lý sĩ quan cũng thấy động lòng.

Ngược lại, ba lô bọn văn nghệ tôi ngày càng lép.

Có bộ quân phục trung đoàn cho riêng làm trang phục biểu diễn thì chúng nó không dám động vào.

Còn thì thượng vàng hạ cám bán dần tuốt luốt.

Thành phần đội toàn thằng lính kiểng, quê thành phố thị trấn, không chịu được gian khổ mà lại lắm giao du.

Một chiều Chúa nhật - mưa- hồn buồn, mồm cũng buồn nốt thì thôi rồi!

Chẳng nhẽ lại nằm ngửa xoa bụng, nghe tiếng mưa rót đều mái lá?

Lại bảo nhau giở ba lô ra bày kiểm đồ như bán đấu giá tự nguyện.

Mùng này còn dùng được, duyệt!

Cái áo kia còn tươm, tốt rồi!

Sao lại có những ba cái đèn pin ở đây?

Chúng mày mù dở à?

Một cái là đủ cho tất cả rồi!

Đi ị đêm chứ có tác chiến bao giờ đâu mà phí hoài thế?

Xong nhé!

Thằng Hợp dẻo mồm mang tất đồ gom ra chợ S'toung.

Thằng Minh sang nhờ điện thoại C20 gọi xuống cho đám anh em quần hùng kiếm khách thân văn nghệ dưới các đơn vị.

Nhớ nói khẽ thôi!

Gào ông ổng trên tổ hợp bọn 20 nghe thấy kéo sang đánh chạc thì khốn.

Cặp quần đùi hoa hoét của con bồ thằng Đức (cho nó khi đi lính, nó không dám mặc bao giờ) thì để lần sau.

Triển khai ngay đi!

Bây giờ cứ nghe cây violoncello não nuột mô tả lão ăn mày Phiên chợ Ba-Tư (nhạc sỹ Ketelby), tôi lại nhớ những phiên chợ S'toung ngày ấy.

Đám ăn mày ba lô lộn trái ấy chính là đội văn nghệ tôi đấy!

Nhưng vẫn còn hai chiếc quần đùi...Chưa hết đâu!

Một hôm, anh Thực- trợ lý chính trị gặp riêng tôi rồi bảo :"Này!

Phấn đấu vào Đảng đi!

Định đưa mày với thằng Đại vào diện cảm tình.

Cố gắng vào đợt 22/12/ năm nay (1982)!

Cứ suy nghĩ đi nhé!".

Anh Thực năm đó mới đóng hàm thiếu uý.

Ban Chính trị chuẩn bị đưa anh ấy xuống tiểu đoàn 5 làm chính trị viên.

Cùng dân Thủ đô nên anh ấy coi tôi như thằng em dại.

Đồng hương đồng khói hội hè tụ bạ là phổ biến trong lính ta.

Nhưng phải nói lính Hà nội, Sài gòn và các thành phố lớn khác chơi rộng rãi hơn, không "gom" như lính các tỉnh khác.

Bác nào định cãi chuyện cục bộ địa phương này thì cứ việc.

Vô ích!

Vì nó đúng như thế trong đơn vị tôi.

Thời đó vào Đảng là rất khó, phải phấn đấu hy sinh gian khổ lắm, lý lịch phải thật trong sạch và thuộc thành phần cơ bản (công-nông).

Bố tôi là bác sỹ bệnh viện trưởng nhưng cũng khốn khổ vì cái lý lịch Tư sản (dân tộc) to đùng bên ngoại nên trầy vẩy mãi mới được kết nạp.

Mà ông ngoại tôi chính là đồng chí Tư Nghi, đảng viên, cựu tù Côn đảo cùng với Cụ Bằng, Cụ Đồng.

Sau này, các cụ đã hiến gần như hết tài sản được thừa kế cho Đảng, cho Nhà nước mà không hiểu tại sao cái chi bộ bệnh viện ấy lại khó khăn thế?

Sau này cảnh nhà sa sút.

Cụ Đồng, cụ Trinh (phu nhân Cụ Bằng) vẫn gửi áo rét cho ông tôi mặc.

Như biểu hiện của tình đồng chí, tình bạn chí cốt trong nhà tù đế quốc.

Thực tình những điều đó làm tôi thấy ngại.

Các cụ như thế, mình đã là gì?

Chỉ nay mai trong đội là đến lượt Mai Dân và mình được ra quân.

Vào Đảng bây giờ thì chắc chắn phải chậm lại ngày về.

Vào Đảng thì phải cống hiến cho Dân, cho Nước chứ được vào Đảng xong xin về ngay nhà thì ông nội nào chả muốn!

Với lại cứ nghĩ đâu xa?

Ngay bản thân mình đã ra gì đâu?

Hồi dưới tiểu đoàn 4, đánh nhau to điên lên thì thôi chứ về sau bắt đi càn lẻ dài ngày thì cũng ngại thấy mẹ!

Rồi còn chuyện nằm viện quá hạn, chuyện say sưa, rúc bờ rúc bụi, chuyện ngủ ngày cày đêm...Dẫu tất cả những chuyện ấy chỉ một mình mình biết nhưng nếu đem ra so sánh với tiêu chuẩn một Đảng viên cần phải có thì còn lâu mới đạt được.

Vào rồi sẽ phải cố vượt bản thân mình.

Không cố được đâm khổ mình, khổ nốt cả người giới thiệu.

Tôi nói với anh ấy là thôi anh ạ!

Anh em trong nhà thì anh tạo điều kiện cho em ra quân trong đợt này.

Dù ở đâu em cũng giữ tư cách như một người Đảng viên chân chính.

Anh Thực phân tích lợi hại phải trái cho tôi mãi không xong mới cáu :" Thì kệ cụ mày!".

Tôi buồn, vì mình đã phụ công anh ấy.

Nghĩ ngợi sâu xa chuyện này nhiều quá đâm tôi như phát ốm, lờ đờ mất mấy hôm liền.

Dạo sai cả cung khiến bọn ca gân cổ lên theo tông không được, chửi bới ầm ĩ.

Thằng Đại thì ngược lại.

Giờ thì nó không ngủ muộn nữa, dậy sớm lắm.

Chiều vác cuốc vào rừng đào hà thủ ô đến tối mịt.

Sáng nào cũng làm một nồi nước củ đặc sánh cho cả đội, vừa đun vừa ti tỉ hát.

Thế đấy!

Chuyện buồn của người này đôi khi là chuyện vui của người kia.

Chẳng thể nào khác được trên thế giới này.

CHUYỆN THẰNG ƯƠN

Trung đoàn 2 khi sang bên này biển Hồ, đã cùng các đội công tác phá tan cái căn cứ giang thuyền của địch, lật mặt tóm gáy tên Ươn - thằng địch ngầm sừng sỏ đã leo đến cấp cán bộ huyện đội trưởng trong chính quyền mới - giao cho bạn.

Chính nó với hai thằng nữa làm trận tập kích cảnh cáo, gãi ghẻ vào kho súng Sư đoàn ngoài Chùa khi chúng tôi chân ướt chân ráo mới sang.

Thằng đó khai là nó xin đạn M.79 lính mình trong khi dễ dãi lúc nhậu với nhau.

Đêm đó khi đi họp huyện, nó kêu hai thằng nữa cắt ruộng, nã mấy trái vào kho súng rồi rửa chân, lội ngược lên đường lớn, đi họp bình thường như không có chuyện gì xảy ra.

Đội công tác với mấy thằng an ninh bạn hỏi tại sao mày dám làm như thế?

Sao mày theo bọn diệt chủng?

Vợ con mày ở S'toung bộ đội vẫn cấp gạo cho cơ mà?

Nó trả lời tỉnh bơ là nó cũng ghét Pôn pốt, nhưng nó cũng không chịu được cảnh bộ đội Việt Nam nghênh ngang trên đất nhà nó.

Nó ghét, nó ngứa tay thì nó chống lại quân xâm lược, nó bắn chơi.

Hỏi mày xin đạn M.79 của ai?

Nó liệt kê luôn một cách rất chính xác tên các cán bộ trung đội, đại đội cứng, sừng sỏ chiến trận trong trung đoàn đã cho nó đạn.

Đòn ly gián đó khá hiểm độc.

Nhiều anh em cán bộ chưa biết nó bao giờ tự nhiên nghe có tên mình cũng đâm lo sốt vó.

Cuối cùng nó bảo đường thốt nốt sẽ bọc trong lá thốt nốt.

Bắn tao đi!

Đồ bán nước!

Khẩu khí hiên ngang như một Héro chính hiệu.

Mấy thằng an ninh bạn điên tiết không chịu nổi, xuống tay khử luôn.

Ban trinh sát Sư đoàn đóng cách đó 8 km, nghe điện xin xe Zeep cong đít chạy xuống tính hốt lên khai thác nhưng không kịp.

Ban CT trung đoàn 2 sém bị kỷ luật oan gia.

Sau vụ đó, tình hình khá hơn hẳn.

Địch giạt ra, bám vào các phum ven thị trấn.

Nhật ký lính K- (những trang cuối)- của kẻ mắc nợ Trần Duy Chiến và các anh em đã hy sinh.

25/6/82

Đã tròn 2 năm xa nhà.

Trời u ám sắp mưa.

Vừa ở Ph'nom Penh về mấy ngày.

Sau mấy hôm sốt, hôm nay đã đỡ.

Buổi trưa không ngủ được.

Được tin Bình cáo đã vào và cầm giấy tờ cho mình nhưng nó đi Sư bộ mất rồi.

Mấy hôm nữa phải mò lên lấy mới được.

Nếu kịp không biết có ra được đợt tháng 8 này không?

Mưa đã trắng mờ bên kia trảng.

Lại mưa!

Mưa!

Mưa!...

26/6/82- Chủ nhật

Vẫn chưa công tác.

Sáng Căn và Đặc vào chơi.

Lát sau Hải cụt và Trai cũng ra.

Buổi trưa cùng Hùng lé, Hải, Phúc "đĩa" đến chỗ thằng Tính chơi.

Toàn chuyện bong đá ESPANA 82.

Chiều đá bóng được một lúc lại mưa.

Tối vẫn mưa.

Cơn mưa ở đây gió rất mạnh.

Rau đã hết.

Bầu bí còn nhỏ.

Nguy cơ ăn muối đã xuất hiện.

27/6/82

Mưa cả ngày.

Anh em đi học chính trị hết.

Định bám xe Zeep ông Thạnh (trung đoàn trưởng) lên Sư đoàn bộ chơi nhưng chúng nó bám đông quá lại thôi.

28/6/82

Học chính trị.

Sau mấy hôm sốt lại hút thuốc.

Tối lại mưa.

Dân kiếm đâu được ấm trà.

Bốn đứa ngồi tán gẫu.

Chuyện vác tôn ở hậu cứ, chuyện làm ăn sau khi ra quân.

Tóm lại là xung quanh vấn đề kiếm sống.

Còn mình về sẽ làm gì?

3/7/82

Hôm qua lên Sư bộ chơi.

Vào T9 gặp Bình.

Lúc về đi nhờ xe của quân chủng phòng không.

Buồn cười cha thượng uý trên xe cứ sợ bị phục kích.

Mình được thể doạ cho một mẻ.

Chắc ông ấy mới sang đây lần đầu.

Buổi tối xuống Phúc "đĩa" chơi.

Nó ra quân.

Mãi 11h đêm mới về.

Đụng anh Dân đi c17 (DK.75) về rủ đi tiếp.

Hai thằng mặc quần đùi mò sang.

Lại rượu...

Chia tay vừa vui vừa buồn, lại sốt ruột nữa!

Bao giờ mới tới lượt mình đây?

1h sáng mới về đi ngủ.

Tiến ngủ lại nhà mình vì mai nó có việc bên quân lực.

23/7/82

Một ngày như mọi ngày...Chẳng có gì để nhớ.

22/8/82

Lưu bút của Mai Dân ngày anh ấy đi học SQ dự bị, trở về cố đô Huế:

Thế là chỉ còn một giây nữa thôi!

Tạm xaTùng, chỉ biết rằng biết bao điều muốn nói nhưng giữ trong lòng những kỷ niệm trong tâm hồn.

Thời gian Nghệ thuật anh em mình gặp nhau, sống trong mọi bản tình ca những nốt nhạc không thể diễn tả được.

Như Beethoven viết: (Tình bạn như bản giao hưởng không có cung nào).

Như thế đấy Tùng ạ!

Người đi người ở nhớ lắmnhưng tâm hồn sưởi ấm những ngày qua- ngày không bao giờ lặp lại tình bạn nữa.

Chỉ còn những dòng chữ nối liền mà thôi.

Tạm biệt nghe!

Mong Tùng mau chóng mà go Hanoi sẽ là vui và đúng hoài bão.

Goodby!

Mai Dân-65 Hùng Vương-Huế

Ngày 22-08-1982

3/9/82

Nhận được thư Diệp.

Nghe nói cuối tháng này có đợt ra quân.

Không biết có trúng vé đi Espana hay không?

Nhìn lại bản thân mi hơn 4 năm qua như thế nào?

Chẳng là anh hùng nhưng cũng không hèn nhát.

Với đồng đội chưa bao giờ lừa thầy phản bạn hay kẹt sỉ.

Nghĩa là như một người lính bình thường.

Có điều là vẫn cẩu thả, có phần vô trách nhiệm với bản thân mình.

Bốn năm trôi qua...Đã trở thành lính cựu của trung đoàn.

Quần áo bạc theo thời gian nay chỉ còn một bộ.

Ba lô lép kẹp- nơi trú ngụ lý tưởng của kiến.

Cũng không biết tống gì vào đó cho nó phồng lên.

Tiền đã thanh toán đến hết tháng 8.

Chỉ còn cái bút với cuốn sổ này ghi bậy.

Tại sao lại lười viết?

Từ nay phải cố gắng viết đều hơn mới được!

Phải ghi bằng hết và đừng dối trá với nhật ký, với bản thân mình.

Viết đến đây thì nó bắn cối vào c19.

Thôi tắt đèn mau!

6/9/82

Sáng nay học Nghị quyết 5 trên hội trường.

Trời u ám.

Mưa và gió.

Ta nhớ mùa đông quê hương.

Nhớ những phố dài mốc thếch sau những đêm trời lạnh; nhớ dưa cải bắp giòn và có vị chua rất thú vị; tàu điện nghiến ken két buồn bã, lừ đừ trôi trong lòng phố đêm mưa...

11/9/82

Đêm qua mưa to.

Sáng nay cũng mưa.

Sân bóng, đường đi ngập tràn toàn nước.

Nhà nổi như đảo trên nền đã bị lún.

Không khí ẩm ướt, quần áo hôi sì.

Còn điếu thuốc vét ba thằng hút chung.

Hoãn học chính trị nên ngủ xả ga ngày hôm nay đây!

Ngày 12/9/82

Người rất mệt.

Nắng rát.

Trời oi.

Chiều Chủ nhật.

Mà Chủ nhật hay thứ 2 cũng không có gì quan trọng.

Đã lâu không để ý đến thời gian bằng ngày tháng mà bằng những sự kiện, bằng những tên đất, tên núi, tên sông đã đi qua...Chốt Long an, trận rừng Tràm, trận Xoài riêng, trận U đông, ga Rô mia ...và chiều nay- trên đất Kông pong Thom.

Những chiều Chủ nhật sẽ đến với ta ở đâu nữa?

Núi Hồng, Xiêm Riệp, Pai lin hay Poi pét?

Nghe nói sư đoàn sắp chuyển lên biên giới Thái.

Cần gì?

Người ta đi được thì mình cũng đi được!

23/9/1982

Gần hết tháng 9 rồi.

Hôm nay đội Văn nghệ mới lại được thành lập.

Thủ trưởng cơ quan động viên cứ phục vụ nốt mùa này rồi sẽ giải quyết cho ra quân dần dần.

Chơi thì chơi thôi!

Mai Dân đã ra đi.

Mất một trụ cột, một cây guitar solo cứng cựa.

Đội nhạc năm nay yếu hơn năm trước.

Đành phải cố gắng thôi!

Cơ quan không rút thằng Dũng C20 lên ban mặc dù nó chơi guitar cũng rất khá vì lý lịch gia đình không đảm bảo.

Ông già nó là đại uý quân y nguỵ (VNCH).

Còn nó có tội gì đâu?

Tội là con một sĩ quan nguỵ à?

Thì ra vẫn chưa xoá bỏ được cái khoảng cách đó.

Mình rất ấm ức về chuyện này!

26/10/82

Dân rước sư ngoài Sa Tung vào chùa xã Tà Ria, mời đội văn nghệ sang góp vui.

Hai cây guitar với cây đàn bầu thằng Hùng lé làm nổi đình nổi đám ầm ĩ.

Sau đi với bọn thằng Căn, thằng Đặc sang nhà bà già thằng Hạnh nhậu.

Rồi lại ra Chùa, vào nhà ông chủ tịch nhậu tiếp.

Không thể say!

Dân Cam pu chia ưa những màu sắc rực rỡ, chói mắt và tương phản.

Mấy bà nàng xanh đỏ tím vàng hoa hết cả mắt.

Mãi đến chiều mới lêu têu lội nước về.

Không ăn cơm.

Lại nước muối nấu lá bứa làm sao nuốt nổi?

Trăng non đã mọc.

Bây giờ là rằm tháng Chín.

Ba tháng nữa thôi lại Tết.

Rất buồn!

NHỮNG CÂU CHUYỆN LINH TINH

Nghe bác Tom nói chuyện tôm chui rúc vào những chỗ "khó thấy" mới nhớ ra chuyện này.

Hồi đó năm 79 mùa khô.

Cứ chiều lính ra Tonle Sap tắm, giãy đùng đùng.

Tất nhiên là cả bọn "nhật thực toàn phần"!

Đang giỡn nước thì thằng Ban trố chạy sầm sập lên bờ, mồm la oai oái.

Cả bọn lao lên bờ theo vì tưởng bị sấu tấn công.

Có cảnh báo rằng sông này mùa cạn vẫn còn những con sấu bự luồn từ biển Hồ ra.

Cha mẹ ôi!

Cái chỗ thừa của nó sao quá bự luôn, lại còn giãy vung xích chó.

Trông ra mới thấy nó bị con cá gì in hệt cá nóc táp dính vào đó.

Lấy cây đập đuôi cho nó đau mà nhả ra thì cứ mỗi lần đập, nó lại càng nghiến chặt.

Tét đuôi cũng không chịu nhả.

Thằng này kêu la ầm ĩ.

Sau chúng nó bóp vây ngực, nạy mồm mãi mới lôi ra được.

Khiếp cái miệng!

Toàn răng lăm răm phát ớn!

Còn cái "van" của thằng kia trông không khác cái nhánh su-lơ đỏ hoét.

May chỉ tiêm chống nhiễm trùng ít ngày thì khỏi, không thì tuyệt đường yêu dấu.

Nó là cá cóc nước ngọt, một loài cá đáy sống độc thân rất hung dữ.

Nghe dân nói của nợ này lúc thì là cá đực, lúc khác không thích thì lại làm cá cái - một loài cá lưỡng tính cộc cằn.

Nó thường nằm sát đáy, phủ cát lên mình hoặc chui hốc.

Lượn qua lượn lại chỗ phục của nó bất kể cá to hay cá bé, ngứa mắt là nó tấn công ngay.

Đôi khi nó táp chặt vào miếng bụng con cá bông lau to gấp cả chục lần nó.

Dân đánh cá lôi được con bông lau lên bờ, được cả con cá cóc bám dính ngay bụng.

Hơn 5 tháng xa tiểu đoàn về thăm quê tự túc, khi trở lại đơn vị trong phum Ba-tà-hiên, anh em d4 cũng đã kịp xây dựng căn cứ đứng chân ổn định.

Khang trang lắm!

Trung đội thông tin có ba nhà : Truyền đạt, hữu tuyến, 2 W.

Cuối tháng 6 năm 1980 thì được bổ sung thêm lính mới.

Thêm người, nhà chưa kịp làm thêm, cả trung đội lần mò kiếm thêm vật tư mở rộng nơi ăn chốn ở.

Chúng tôi lại vào những phum không người ở sâu trong núi để kiếm đồ.

Những cái chum lớn bây giờ không đập nữa.

Thả chum theo suối Đamrray, đến vị trí thì khiêng lên để đựng nước, để rộng cá...Còn giường nằm và ván thưng, anh em mình ở đây, ai chắc chắn cũng còn nhớ cả, rặt một loại ván dầu.

Vỏ ngoài tấm ván nào cũng nứt nẻ, trắng mốc và xơ tước như mục.

Nhưng khi dùng xẻng bộ binh băm tách ván ra để nấu cơm, đun nước, hoặc đơn giản là chỉ để đốt lên một đống lửa lúc chiều tà...thấy bên trong vẫn đỏ au, cháy rất đượm.

Trung đội thông tin d4 năm đó được bổ sung ba thằng.

Quý hoá quá!

Chúng tôi vào phum trong núi, lên một cái nhà ngói lớn thâm u.

Trong đó, trên sàn có một bộ ván ngựa hai mảnh bằng gỗ gõ đen dày khoảng 6-8cm.

Trên bộ ván là một bộ xương người đã phân huỷ hết.

Tóc ngang vai sắp lớp trên ván thế này...

Cái dây buộc tóc ni lon thế này...

Cô ấy hẳn là thiếu nữ!

Dùng xẻng hót, nạo hết những gì thuộc thân xác, hình hài của chủ nhân cũ xong, bốn thằng một tấm, khiêng mang ra suối, nhờ nước xuôi dòng về cứ tiểu đoàn.

Đã ngâm suối gần nửa tháng, làm cầu cho chúng nó nhảy bông nhông, kỳ cọ.

Tắm xong còn dùng dép cao-su đúc chà sát, tẩy rửa thật kỹ, nhưng khi mang 2 tấm ván lên nhà, thằng Quan với Toàn cồ vẫn không chịu nằm tấm ván ấy.

Thằng này có căn làm sao đó?

Đêm ngủ thì nghiến răng.

Thỉnh thoảng lại lảm nhảm hoặc tệ hơn nữa là hét lên khi mơ ngủ!

Đồ điên!

Lính cũ phải làm gương, phải thể hiện cho anh em noi theo.

Đã thế tôi với anh Ky nằm cái giường đặc biệt đó.

Chẳng làm sao cả!

Mất ngủ không, mộng mị cũng không nốt.

Hoàn toàn không có gì khác thường...

Nhưng có điều: Tấm ván này là.... cái đài dự báo thời tiết vô cùng chính xác!

Rất dễ nhận biết!

Bình thường, thời tiết tốt thì không có vấn đề gì xảy ra.

Nhưng hễ khi độ ẩm không khí tăng, trên tấm ván thiêng ấy, một hình người nằm xuôi mờ mờ hiện ra.

Khi hình hài quá khứ ấy xuất hiện cực kỳ rõ nét, có thể đánh cá mười ăn một với chúng nó rằng: ngày mai sẽ trời mưa sầm trời tối đất.

Kể cả đó đang là một ngày chớm mùa khô.

Liệu đây có phải chuyện ma hay không?

Chuyện thật đấy!

Thật như tôi đang ngồi gõ phím như thế này này...

Ngạn ngữ Ấn độ :" Hãy tránh xa con voi điên 30 thước, con trâu điên 50 thước và thằng say rượu 100 thước!".

Qua câu đó có thể thấy rằng con trâu điên còn nguy hiểm hơn con voi điên.

Thằng say đương nhiên thuộc tốp đầu bảng, không có đối thủ cạnh tranh.Ở phum Chùa, thằng Luân liên lạc của anh Sơn "big" một chút nữa thì thành liệt sỹ vì con trâu điên.

Thằng này to vật, rất khoái súng đạn, đánh đấm.

Sau khi thu kho súng địch trong Ăm leng thì nó biến thành cái kho súng di động luôn.

Ngoài khẩu đại liên M-30 vác vai, trong bồng nó còn ém một khẩu ru lô 6 viên ổ quay.

Một lần gần trưa, nghe tiếng súng lẻ ngoài cánh đồng, chúng tôi ngoảnh cổ nhìn ra.

Thằng Luân, trong tay cầm khẩu ru lô, đang bị một con trâu mộng đuổi theo sát lưng.

Trên thân con trâu thấy máu loang từng đám.

Nó đã bị thương, đang điên lên đuổi thằng Luân sát gót.

Thằng này cũng khôn, cứ cái mũi con trâu hồng hộc gí gần sát lưng là nó lại đột ngột đổi hướng.

Con trâu lại lỡ đà, khoảng cách lại giãn ra được một chút.

Tranh thủ mỗi lần con trâu lấy lại hướng, nó lại vung khẩu ru lô lên vảy bọp đại một cái vào con trâu.

Quá bằng gãi ghẻ cho nó!

Nó càng điên lên vì mùi thuốc súng!

Súng đã hết đạn, thằng này quăng luôn, cố chỉnh hướng chạy chữ chi về nhà sàn tiểu đoàn.

Anh em chúng tôi xách súng chạy ào ra, thót tim theo từng bước chạy đuối dần của nó.

Người với trâu cứ luẩn quẩn chữ chi.

Bốn năm nòng súng rê theo nhưng chưa dám bắn, sợ thằng Luân phải đạn.

Cả người và vật đã đuối sức, vật vờ loạng choạng.

Cuối cùng, gần về hướng chúng tôi thì hai mục tiêu cũng đã tách ra một khoảng an toàn.

Bốn năm khẩu AK cùng nổ đồng loạt.

Con trâu sựng lại, từ từ lật nghiêng kềnh ra.

Mũi nó sầu bọt trắng xoá, đôi mắt đỏ như hai miếng tiết.

Còn thằng Luân chạy leo lên được vài bậc thang nhà sàn thì gục tại chỗ, ngất xỉu, lại lăn xuống đất.

Quân y lập tức tiêm trợ lực, hô hấp nhân tạo mãi mới tỉnh.

Sau vụ đó, thằng này ốm luôn mấy ngày liền.

Ngủ mê, mồm lảm nhảm như thằng dở người

THUNG LŨNG LÁ DÂU

Mùa mưa năm 1981...

"Thung lũng lá dâu" là tên do lính tiểu đoàn 4 đặt.

Đương nhiên đó là cả một thung dâu xanh ngắt.

Không biết dân bạn có nghề tằm tang canh cửi hay không nhưng dâu ở đó xanh lắm!

Thung này nằm chếch về phía Tây bắc đội hình d4 ở K'bal Tahean khoảng hơn 20km.

Sau một thời gian bám rừng, trinh sát 21 trung đoàn báo về Ban Tác chiến là đã phát hiện một căn cứ hậu cần lớn của địch nằm sâu trong núi U Răng, hơi lệch về hướng thị trấn Leach.

Căn cứ này nằm giáp ranh phần địa bàn hoạt động của Quân đoàn 4 và Quân khu 9.

Lập tức, trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn 4 lên đường.

Tiểu đoàn lặng lẽ cắt rừng, tiến về toạ độ mục tiêu mà trung đoàn đã cho biết trên bản đồ tác chiến.

Trận này đi có anh Sơn chỉ huy, anh Nhượng làm Chính trị viên...

Đi với anh Sơn chỉ huy thì không bao giờ phải lo lạc rừng.

Sau một ngày hành quân, đến chiều tà, chúng tôi đã bám được rìa thung lũng một cách bí mật.

Tiểu đoàn dừng lại.

Sau khi xác định đúng toạ độ, anh Sơn "big" cử năm thằng trinh sát do Sơn con phụ trách bám tiếp để sáng mai bao vây tấn công.

Sơn con trinh sát hồi đó chưa cụt giò, còn nguyên đôi chân.

Không một tiếng ho, không một ngọn lửa...Chúng tôi vừa nhai gạo sấy, vừa bồn chồn ngắm những con bò, những đàn trâu bình thản gặm cỏ.

Phía căn cứ địch, nhiều ngọn khói vương vất bay lên.

Chỉ sớm mai thôi, đời chúng mày ra bã.

Đêm ấy trôi lâu...

Sớm hôm sau, đội hình vòng cung của tiểu đoàn cứ lừ lừ tiến vào.

Hai khẩu cối 82 đã giá súng phía sau, nhưng chỉ được phép bắn khi có lệnh chứ không khai hoả trước như mọi khi.

Khẩu DK.82, khẩu 12.8 và cối 60 các đại đội lên cùng bộ binh.

Đến vạt dâu cuối thì các mái nhà đã hiện ra trong sương sớm.

Bỗng từ đâu nhao ra mấy con chó dữ lao vào sát chân mấy thằng đi đầu của đại đội 3 cắn ầm ĩ.

Theo phản xạ tự nhiên, chúng nó giật mình nổ súng luôn.

Thế là bị lộ.

B.40, B.41 phụt rền rền, nổ áp đảo bung hàng rào gỗ rìa phum.

Địch chạy toá ra như vịt đàn.

Có cả phụ nữ nữa.

Trông rõ lắm thằng phi thân từ trên nhà sàn thẳng xuống đất, loạng choạng chút rồi cắm cổ chạy.

Đội hình tiểu đoàn cứ thế xung phong.

Tràn đến giữa phum mới có vài loạt AK quất lại.

Bốn năm thằng địch bên trái vừa chạy, vừa quay lại bắn ghìm bước vừa hô "xung phong".

Bỏ mẹ!

Có khi nhầm?

Nhưng nhầm thế nào được?

Toạ độ đã chấm đúng như Tác chiến E cung cấp.

Vẫn thấy nghi hoặc, anh Sơn hô thu quân, không truy kích nữa.

Trở lại rìa phum xem xét thì phát hiện thấy cả võng, cả ba lô y như lính mình.

Chắc chúng nó chạy không kịp tháo.

Giở ba lô ra xem mới biết là nhầm thật.

Thế là tiểu đoàn 4 rút lui ngay.

Vất lại "chiến lợi phẩm" nguyên đai nguyên kiện.

Hành quân về cứ vội như chạy.

Nhưng mấy thằng lính tháo vát đã kịp kẹp nách mấy con gà quang quác, xẻo được mấy tảng thịt đùi từ các con bò chết đạn buộc ngang ba lô.

Ruồi nghe mùi máu, bay theo đẻ mù trời.

Thằng đi sau phải lấy lá quật vào thịt đeo của thằng chạy trước để đuổi ruồi...

Tay tham mưu đơn vị Quân khu 9 quản lý cái phum bị d4 tẩn nhầm cũng là một người mưu lược.

Lính bên ấy chạy về báo lên.

Cha đó soi bản đồ, phán đoán khu vực này chỉ có trung đoàn tôi hoạt động bèn gọi điện thẳng đến sư đoàn.

Báo là lính E2 đốt nhà, giết trâu bò của dân.

Hiện Quân khu 9 đã bắt giữ được một số quân nhân.

Đề nghị sư đoàn 9, trung đoàn 2 cho cán bộ xuống nhận người...Ban chính trị E hoảng hồn, cử hai ông trợ lý chính trị hộc tốc bắt tàu hoả, lên đường vào đơn vị bạn trước khi tiểu đoàn 4 hành quân về đến cứ.

Đến nơi thì mới biết là có tóm được thằng lính e2 nào đâu?

Chạy như vịt thế thì bắt cái gì?

Đơn vị QK9 đó giữ luôn hai đ/c trợ lý CT ấy lại làm "con tin" để bắt đền...

Chuyện này có gì đâu mà làm ầm ĩ lên, không hiểu vì sao?

Anh Sơn bị kỷ luật.

Đang là điển hình tiên tiến thì mất phong Anh hùng LLVTND lần đó.

Quân pháp Quân đoàn xuống thẩm vấn riêng anh Nhượng CTV tiểu đoàn về chuyện này thì anh ấy bảo thế là chúng tôi còn thận trọng đấy!

Bắn lại chúng tôi như thế, chúng tôi không giã cối là may!

Vì câu nói đó, anh Nhượng cũng ra ngồi chơi xơi nước, đọc báo ngoài ban Chính trị mất mấy tháng ròng...

Úp mở làm gì?

Nói ra được chuyện này tôi cũng thấy nhẹ lòng.

Trong chiến tranh, đánh nhầm là chuyện bình thường.

Hơn nữa toạ độ đó là do trung đoàn báo chắc chắn, chứ không phải ai nghĩ ra.

Các bạn nghĩ thế nào?

Còn lính tiểu đoàn 4 chúng tôi mấy tháng sau đó ăn nửa cơm nửa cháo.

Lý do là trung đoàn bớt gạo, bớt tiêu chuẩn ăn của lính lại để lấy tiền mua bò đền cho dân bạn.

Năm 1981 đó, lần đầu tiên tôi biết thế nào là cháo rau dền...

Tháng 1 năm 1983, mình về lại Long Bình nằm binh trạm chờ tàu ra Bắc cả hơn tháng trời.

Lai những ngày in hệt như thời mới vào Trảng Lớn.

Không làm gì, suốt ngày nằm chờ cơm.

Có khi lang thang xuống ngã ba Tam hiệp ngồi chầu rìa xem chúng nó giải cờ thế ăn tiền.

Toàn mấy ông lính cờ vịt, nhiều lần nộp cho mấy thằng cha cờ gạo đó nên ức.

Có mấy đồng ra quân để chúng nó vét sạch.

Thế là kéo cả bọn ra cướp lại.

Mấy thằng bảo kê ở đó thì không chấp rồi.

Nhưng KSQS thấy lộn xộn xông vào, túm được hai thằng, bị anh em nhào dô, đánh tháo cướp tù như Lương sơn bạc.

Bên đó thấy địch không lại, chạy về gọi thêm lực lượng ra đuổi thì bọn này đã chạy qua cái Sa tô lô nước tròn rồi.

Đuổi cắt qua trảng cỏ Mỹ vào binh trạm thì tụi nó không dám vì bọn em đông lắm.

Cứ đứng trong hàng rào ê ê...

ầm cả lên.

Chỉ huy bên đó tức lắm, mới báo chỉ huy binh trạm.

Anh em tuy các đơn vị khác nhau bên K được về đợt đó nhưng đoàn kết lắm.

Tra suốt nhưng không nghe, không biết, không thấy thằng nào khai nhau hết trọi.

Sợ loạn quân nên mãi khi tàu Thống nhất chạy đến ga Thanh hoá thì họ mới trả cho Quyết định ra quân...

Lại nói thêm trong căn cứ Long bình có cái suối nhỏ hay cái cống gì đó.

Mùa khô vẫn có nước chảy.

Nước trong và lạnh lắm.

Có cả cá sống ở đó nữa.

Cứ chiều chiều là cả bọn chui ra cống đó tắm giặt.

Cô em gái em vừa rồi nó bảo cái hồ Biên Hùng nhiễm đi ô xin nặng.

Anh mà tắm ở cái suối trong tổng kho đó thì phải coi chừng!

Nghe nó doạ cũng ớn ớn chút, nhưng hồi đến giờ thấy đâu có sao?

Năm 1982, Sư đoàn bộ sư đoàn 9 đóng ở phum Loveay, phía trên thị trấn S'toung khoảng chục km.

Chỗ mà bác Thọ bị giáng cấp xuống binh nhất đấy!

Chắc bác còn nhớ.

Nhà cửa các ban bệ đóng khá dày, quần tụ rất ấm cúng.

Ban ngày lính khối trực thuộc đi đầy trên lộ 6.

Còn ban đêm đèn đuốc sáng như một thị trấn nhỏ, như không hề có chiến tranh.

Ngày thì lính tráng giày dép tử tế, nhưng ban đêm toàn xỏ tông ra mặt lộ ngồi nhậu.

Bọn e2 tôi lên sư chơi, hay tạt vào T9 (trạm tiếp đón sư đoàn) ăn ké thằng Tuyến đen Đông anh.

Hồi đó đội tuyển bóng đá sư đang tập trung tập luyện nên buổi chiều cứ bình bịch suốt, vui lắm!

Bếp T9 chúng nó nấu cơm khá thừa thãi, ăn vô tội vạ...Không biết hồi đó khối cơ quan sư bộ có đơn vị nào gác đêm không?

Kỳ đại hội đảng bộ sư đoàn năm đó, bọn văn nghệ e2 được kéo lên phục vụ cho thêm hoành tráng.

Ngoài giờ tập, mình hay giúp thằng Bình mẩu kẻ vẽ khẩu hiệu chuẩn bị cho đại hội.

Một lần buổi chiều, đang tướt mồ hôi với mấy cái pa nô làm dở để dưới đất trong hội trường thì đàn vịt Ban CT ở đâu nó ùa vào.

Bọn nó dẫm chân bẩn với phẹt lung tung vào cả khẩu hiệu để dưới đất.

Mình tức quá chẹn cửa vồ được con đầu đàn.

Thằng Bình gí đầu nó luôn vào chậu hồ vẽ màu đỏ.

Không có gôm nhưng màu pha nước cháo rồi nên bắt dính lắm.

Đầu nó đỏ hoét.

Lúc thả ra nó vội chạy theo đàn.

Nhưng đám vịt kia thấy đầu con này lạ nên vãy đuôi chạy xáo xác, cánh vỗ ầm ầm như có loạn.

Con kia thấy thế cũng theo đàn, hết sức đuổi theo.

Thành ra bầy vịt ban Chính trị lạc mỗi con một nơi, không gom được.

Tối hôm đấy có nhiều đám lính nhậu có thịt vịt lạc.

Mấy bố trợ lý xộc xuống hội trường hỏi tại sao thì bọn tôi bảo bọn nó vào đây phá đám.

Sục mò cơm trong chậu màu lẫn nước cơm nên nó mới bị thế chứ ai làm gì?

Thế là phải chịu.

"Tô Vũ mục dương", còn thaitho năm đó mà vẫn đang "mục áp" trên sư bộ chắc xuống binh nhì với tôi quá!

Hé hé...!

Tiếp luôn chuyện con voi còi - cối ta cối địch...

Chỉ huy phó đại đội 4 hoả lực có khẩu đội cối 82 suýt mất trên lộ 27 hồi đó là anh Ninh - Tên họ đầy đủ là Thái Gia Ninh, em ruột nhà thơ Thái Thăng Long.

Bọn em trong đơn vị khi được chia thịt heo hay thịt thú, cứ giả vờ hỏi nhau là bây giờ thịt thái ra ninh, thái ra nấu hay thái ra hầm...hả mày ? thì anh ấy cáu lắm, chửi mấy thằng xỏ lá cứ loạn lên...Thằng liên lạc mới thay, không biết kiêng huý, một lần được chia thịt heo cũng tiện mồm khơi khơi hỏi anh ấy câu đó, suýt ăn cái tát lệch mặt...

Hai khẩu cối này thì một khẩu của thằng Văn râu đỏ có kính ngắm, còn khẩu kia thì không có.

Đụng địch, giá súng thì ước lượng tầm, hướng c bộ binh báo về là quất thôi nhưng khá chính xác.

Tiểu đoàn em thấy chủ yếu là dùng cối 82 chứ ít khi dùng 12.8 với DK82 lúc đánh vận động.

Thành ra bọn DK với 12.8mm toàn bị đẩy lên tăng cường với các đại đội tiền duyên.

Có lẽ là cối khó lộ vị trí bắn hơn là các loại kia, không sợ nó phản...

Đánh nhau rát thì D trưởng túm tất cả hai khẩu cối ngay bên cạnh, chỉ huy trực tiếp chứ không thông qua đại đội nữa.

Đứng chân lâu dài ở cứ Kbal'Tahean cũng thế !

Chỉ huy tiểu đoàn nằm bên này suối thì hai khẩu cối dựng nhà, đào hầm nằm ngay bờ suối phía bên kia.

Còn gần hơn cả các B thông tin, trinh sát hay vận tải...Lại còn bắt chúng nó bắc cầu, đi qua đi lại cho dễ...

Nói chung, anh Sơn d trưởng là một chỉ huy rất "sính" cối.

Có gì nhậu là hai bên gọi nhau ơi ới...

Còn cối địch thì thế này!

Các bác có nhận xét gì về những đôi dép râu tự chế xỏ ở chân mấy thằng địch chết trận?

Nó cắt từ lốp xe tải ra, to và dày nặng gì đâu!

Mà đặc biệt là bọn nó cắt khá vuông mũi, vuông gót, chứ không tròn mỏng như dép đúc lính mình.

Các bác mà buộc phải xỏ đôi đó thì có khi nhà nước phải tăng tiêu chuẩn gạo.

Đi đôi đó rèn ba năm liền thì thi triển tốt món khinh công...

Anh em bảo đó là xác mấy thằng lính cối 60 của bọn địch.

Chúng nó đi những đôi dép to, vuông như thế để khi cần thì lót thay đế cối, bắn ứng dụng.

Chống nòng xuống dép thay bàn đế, quấn khăn cà ma lót tay giữ nòng, thả đạn là "c..o...o...ng..".

Đến bố du kích cũng chịu cái sáng kiến đó!

Chẹp !

VÙNG QUÊ YÊN TĨNH

Sẽ là một thiếu sót lớn trong câu chuyện Tây Nam khi không nhớ gì, không nhắc gì đến cái làng quê mà chúng tôi huấn luyện ở tại đó trước khi vào chiến trường.

Cái xóm Núi, thôn Lãm gần ga Bình Lục ấy...Một làng quê Bắc bộ vùng đồng chiêm trũng điển hình.

Những ngọn đồi thấp cắm chân thẳng xuống đồng sâu.

Tre gai bao bọc lấy làng thành luỹ dày ngăn ngắt.

Đoàn tân binh vừa xuống khỏi mấy chiếc xe ca Ba đình, được tập trung tại sân kho.

Những đồ lính được phát ngay lập tức gồm: bát sắt, chiếu đơn hoa, màn xô trắng, chăn chiên sợi Nam định màu đỏ nhạt.

Đũa thì tự đi mà tìm lấy...Quân phục, mũ, sao, tiết vẫn chưa được phát.

Chúng tôi vẫn mặc thường phục ở nhà mang đi.

Chiều tối hôm đó đơn vị không nấu cơm.

Phát cho mỗi người hai cái bánh mỳ to tổ bố.

Chúng tôi được biên chế thành tiểu đội, trung đội ngay.

Lính các tiểu khu (phường bây giờ) được xáo trộn, về các đơn vị khác nhau.

Chắc để cho khỏi tụ bạ làm loạn hoặc để dễ chia dễ trị...

Chưa được phát ba lô, mấy thằng chúng tôi ôm tất cả các thứ đồ đó trên tay, lếch thếch đi theo các cán bộ về các nhà dân ở.

Dân làng nghèo, nhiều nhà phải ngả cả cánh cửa xuống, lấy chỗ nằm cho bộ đội.

Tôi với thằng T được anh Ly a trưởng đưa về nhà một chị có chồng cũng đi lính chống Mỹ.

Chị ấy có thằng bé con năm đó mới đi học lớp Một.

Thằng T cho nó cái bánh mỳ.

Nó nhìn mẹ nó rồi ngập ngừng cầm lấy.

Đã ba năm kể từ ngày thống nhất mà chồng chị ấy vẫn không có tin tức gì.

Rất ít nói, rất buồn, cứ như một cái bóng.

Mờ đất, khi chúng tôi nghe tiếng còi báo thức sáng của lão Ly thì chị ấy đã cuốn xà cạp vào chân, loạt soạt kéo cái rào rong lấp cổng ra đồng rồi...Xà cạp là cái miếng vải cuốn vào bắp chân, cao đến tận đùi để chống đỉa.

Đồng chiêm trũng nên đỉa rất nhiều.

Đỉa hẹ nhỏ, mỏng như cái que, hai lườn vàng choé nhưng rất thính, động nước là lao đến liền.

Con này rất sợ vì nó tham ăn, lại hay luồn lách được vào những chỗ không ngờ.

Đỉa trâu thì quả là nỗi khủng khiếp!

Khi đói nó co lại có khi chỉ bằng cái dái mít.

Nhưng khi đã no máu thì nó trương lên cỡ chục lần.

Những buổi chiều, chúng tôi tập xong ngồi nghỉ ở sân kho cũng là lúc đàn trâu hợp tác đi cày về.

Cũng dồn ở sân kho như bộ đội, trệu trạo nhai lại, hay ngửi hít, cọ sừng cồng cộc với nhau.

Trên đùi bọn này là một túm đỉa lúc lỉu căng máu, to như quả chuối tiêu cỡ bự.

Ấy thế mà bọn trẻ trâu nó cứ mặc kệ.

Tôi kinh tởm nhất cái giống này...Bẻ một cành rong, cùng anh em hò nhau đi bắt đỉa cho từng con.

Con khủng long rơi xuống, lấy chân dẵm lên day day.

Hai tia máu đỏ phọt ra từ cả hai đầu thành vòi vụt xa đến cả mét.

Vẫn chưa hả, chúng tôi đốt rơm, gắp chúng nó thảy vào.

Một lúc, những con đỉa nổ trong lửa bụp bụp, tiết dở sống dở chín văng tung toé.

Trung đội 2 có thằng Trương xếch, muốn thể hiện bản lĩnh trước anh em.

Nó nướng cháy từ từ một con đỉa cho đến khi vỏ ngoài thành than.

Hắn bóc cái vỏ đen đen đó, cầm miếng tiết trâu nóng hôi hổi cho thẳng vào mồm, mặt nhăn nhăn nhở nhở.

Tởm chết mẹ!

Nhưng cũng có những thằng sợ đỉa.

Một lần, thằng T đang tập ngắm bia số 1 ngoài bờ cùng trung đội thì đau bụng.

Nó đi loanh quanh tìm chỗ rồi chúi trong đám cỏ năn, bị đỉa bâu mà không biết.

Đến khi phát hiện ra thì máu đã chảy ròng ròng trên bắp chân.

Nó rú lên, không kịp xốc quần, chạy cà giựt cà tang về phía các chị em xã viên đang ngồi nghỉ.

Các bà này thấy thế cũng hoảng, ôm nón chạy toá ra, vừa chạy vừa cười rũ rượi.

Cả trung đội trưởng tôi cũng cười rồi xô vào gỡ cho nó.

Nhưng anh Cường chính trị viên (dân phố Cầu Gỗ- Hà nội) thấy thế tức lắm!

Hôm sau cho nó nghỉ tập ra sân kho, bắt gỡ đỉa cho trâu bằng tay dưới sự giám sát của cán bộ.

Nó sợ rủn người, dứt khoát không làm.

Vùng vằng mãi rồi suýt đập nhau với cả a trưởng.

Tối đại đội gọi lên thì nó nói thẳng là bảo nó làm gì cũng được, kể cả bốc phân.

Nhưng nếu cứ bắt nó làm như thế thì nó sẽ đào ngũ.

Hình phạt ấy về sau phải bỏ.

Có những nỗi sợ vô thức đâu đó trong con người, trong từng khoảng khắc nó bất chấp cả kỷ luật.

Tôi cũng sợ đỉa nhưng không đến mức như nó...

Một tuần sau, thấy chúng tôi ở nhà chị ấy có vẻ không tiện, anh Ly a trưởng lại lôi hai thằng tôi về ở cùng...

HOA MAI

Chào các anh em, các đồng đội thân mến của tôi!

Hôm nay ngồi viết, chẳng hiểu sao thấy nhớ một rừng mai đất khách, thấy nhớ cái bầu trời mùa khô chói chang xứ người...

Tôi lính Bắc.

Thời đi học thì cứ leo lẻo: miền Bắc có hoa đào, miền Nam có hoa mai.

Hoa đào thì không nói, đương nhiên.

Còn hoa mai, cho đến khi tòng quân, tôi chỉ biết hoa mai năm cánh và có màu vàng qua sách đọc.

Hồi ở Bamnak.

Tôi hay khoác súng hộ vệ anh Nhương ngược suối Damrey đi bắn cá, đi săn cải thiện.

Thường đi ba người vì sợ đụng địch thì chiến luôn.

Cá thì chắc chắn bắn là có.

Nhưng săn ban ngày thì chỉ được những loại vớ vẩn như con kỳ đà, con rái cá thôi...chứ còn những loại thú lớn như mễn, heo rừng, nai hay dím cụ thì chỉ đi ăn ban đêm...Con suối thượng nguồn một bờ dốc đứng, một bờ thoải cát.

Rừng tạp non xen lẫn rừng dầu, rừng khộp.

Qua một đoạn quanh, có một bãi cát bồi.

Trên bấi bồi đó có một thân cây gỗ cực lớn bị lũ cuốn về chắc là từ lâu lắm mắc ở đó.

Nước bao mùa đã bào hết vỏ cây, đục xói qua thân thành cái hang hình ống khổng lồ.

Thân gỗ đã thành lũa gỗ đen bóng.

Đến đó thì bọn tôi hay ngồi nghỉ.

Trên bờ thoải là một vỉa rừng thấp toàn một giống cây cành ngang, lá thưa như lá na.

Có khi mọc cả trên ụ mối, gốc rất lớn.

Giữa mùa khô khát mà lá nó vẫn xanh ngời, không bị quăn, rụng sạch như là cây khộp.

Anh Nhương bảo đấy là cây mai, rừng mai đấy!

À!

Cây mai nó như thế này đây!

Không có gì đặc biệt lắm.

Tôi chú ý đến những ụ mối hơn.

Những ụ mối có bọng cây mục ở trên bao giờ cũng có tổ ong.

Loại ong ruồi bé tí không biết đốt.

Cứ lấy báng súng giọng cho vỡ rồi cạy đất, bẻ từng miếng mút như gấu.

Có điều mật của loại ong ruồi này hơi chua...

Rồi đến một ngày, khi ngược suối lên, rừng mai bắt tôi phải để ý đến nó.

Những chùm lộc tía đỏ bóng mỡ chen lẫn với hàng nụ xanh biếc.

Lác đác một vài bông nở sớm.

Một khoảng xanh đáng ngạc nhiên, đẹp tuyệt dưới những thân khô của cây khộp không lá, dưới tán của những cây dầu rái cổ thụ vút cao.

Rừng hầu như đã kiệt nước nhưng mai vẫn ra lộc.

Có lẽ rễ nó ăn sâu lắm để hút nước.

Và lá nó nhỏ nên không bị bốc hơi nước nhanh như lá khộp nên không bị rụng.

Tết Tân Dậu năm 1981.

Tiểu đoàn mới được bổ sung tân binh toàn anh em quê Nam mới vào.

Đến chiều Ba mươi, thằng Quan ngược suối lên cái rừng mai đó chặt một cây lớn.

Nặng quá, nó phải lôi xuống suối, nhờ sức nước kéo về.

Cả bọn hè nhau lôi lên sân bóng chuyền, mang dao chia cho mỗi trung đội một cành.

Chiều muộn, khi mọi việc đã xong cả, nhiều anh em đi ra đi vào ngó cành mai, như gặp mặt người thân quen cũ nơi đất khách quê người.

Có khi thoáng thấy như có bóng mẹ mình, em mình đâu đây ngày cuối năm.

Rơm rớm, cay cay như khói chiều dụi mắt!

Một cành hoa với người vô tình chỉ là một loài hoa.

Nhưng khi hoa đã gắn với tuổi thơ, với những buồn vui kỷ niệm, với sum họp của những người thân yêu nhất thì hoa đã thành Mai mất rồi, thành nỗi nhớ không cùng của người đi xa mất rồi.

Năm sau, sang bên kia biển Hồ, chúng tôi cũng gặp Mai.

Có khi Mai mọc chen lẫn giữa cả rừng mây, rừng lá thấp...nhưng không mọc thành rừng.

Đến khi chợt thấy vài bông vàng tươi, vẫy chào gió chướng trong những bụi cây vô danh gần lán mình mới biết có Mai hiện diện ở đây, mới biết lại một cái Tết xa nhà nữa đang vồi vội đến...

Thương sao là thương nụ cười vàng thắm nước non nhà !

(Chuyện bên lề của các bác cựu binh:

- Chuyện 1: Chuyên này tớ đã nghe bác Dksaigon kể lâu rồi, tớ cũng kể một chuyện tương tự đã kể cho bác nghe cũng lâu rồi không biết bác còn nhớ không ?!.

Lúc đó là mùa mưa, bọn mình đang truy quét vùng ven biển hồ, mùa này nước mênh mông.

Bấy giờ đã gần tối, cần phải leo lên được gò đất cao trước mắt khoảng nửa cây số để có chỗ nghỉ trước khi trời tối.

Căn cứ vào các ngọn cây, anh em ta tìm được đường leo lên ngọn đồi bằng cách đi trên một con đê ( có lẽ là một đập nước đã bị vỡ dưới thời Pônpốt).

Nước chảy rất xiết, sâu ngang ngực.

Trước khi bắt đầu vượt qua đập nước, mọi người cẩn thận đội balô lên đầu để khỏi ướt, súng thì quàng ngang vai, vừa đi vừa dò đường, một tay năm lấy các cành cây để giữ thăng bằng để nước khỏi cuốn đi.

Đi được nửa đoạn đê, bổng dưng thằng Dũng đi trước mặt mình bị hụt chân la thất thanh.

Phản ứng của mình thật kịp thời, một tay giữ cành cây, rồi lao người ra chụp được đầu nó rồi kéo vào.

Chuyện chỉ có vậy, thế mà tối hôm đó nó tâm sự với mình: "Chiều nay không có mày cứu kịp thời, chắc tao bị nước cuốn trôi mất xác, không thể nào bơi được vì nước chảy quá mạn, nước ở bên dưới lòng kênh thì quá sâu, mà chân tao lai mang giầy bốt đồ sô thì làm sao mà bơi được".

Thật tình mình cũng không ý thức được hoặc hình dung ra sự việc lại quan trọng như vậy.

Sau này thỉnh thoảng nó lại nhắc lại kỷ niệm này như một ơn cứu mạng thì mình mới hiểu ra việc này có thể xảy ra nếu mình lúc đó, trong một tích tắc, không phản ứng kịp thời.

Sau này ra quân nó về Phan Thiết, năm 84-85 gì đó, nó gởi thư báo tin cưới vợ trước cả tháng.

Báo hại mình phải xin cơ quan nghỉ phép mấy ngày để đón xe than ra Phan thiết dự đám cưới của nó.

Mình nhớ lúc đó cảm thấy ngượng khi nó giới thiệu mình với vợ nó:" thằng này là người đã cứu anh mà anh đã kể cho em nghe đó" Thì ra, nó đem chuyện này ra để kể cho vợ mới cưới nó nghe.

Chuyện của lính thì nhiều lắm.

Sau này, cuộc sống đưa đẩy thế nào mà nó lại trôi giạt về SG, rồi mình cũng thế.

Bởi vậy, cả đơn vị bây giờ còn sót lại hai thằng cùng trung đội trôi giạt về TPHCM.

Buồn buồn nhớ nhau thì a lô, nếu rảnh gặp nhau ở quán nào đó.

Hôm nọ, mình hẹn gặp bác TQNam cũng nhắn nó ra chơi., sáng CN hôm đó vừa từ quán cà phê ra thì thằng Dksaigon gọi điện hỏi thăm có rảnh không, từ Biên Hoà lên ghé thăm mày chút xíu.

Giá mà nó gọi điện sớm hơn có lẽ hôm đó gặp cả bác TQNam thì hay biết mấy.

Chuyện 3: Chuyện là ông chính trị viên C1 được về nước giải quyết chuyện gia đình, ngày trở lên đơn vị trong cái màn trà thuốc chiêu đãi bọn thuộc hạ , tất nhiên là có chuyện hỏi thăm về tình hình quê hương, sau một hồi cà kê về lúa má ruộng đồng, giỗ chạp! bỗng lão vỗ đùi đét một cái...

" đù... có một chuyện tao quên chưa nói...

đù, chuyện này ly kỳ, rùng rợn lắm!" cả bọn lính nhao nhao hóng chuyện... kể đi anh sáu, chuyện thế nào?

Lúc đó lão đủng đỉnh trầm ngâm, vẻ mặt thương cảm: " má... con nhỏ... trong bọn mày có thằng nào biết?... má!... nó chết thê thảm quá... nó có thằng bồ nghe nói là quân ở bên này, nó chắc không chờ nổi thằng này, mà biết đâu nó cũng toi rồi! vậy là nó sang ngang!... bữa đang đám hỏi thì thằng bồ nó lù lù về... và sau đó thằng đó xả một băng 31 viên AK, con nhỏ chết thẳng cẳng, nát người!... ngạc nhiên có thằng hỏi... sao mà biết được thằng đó nó xả đúng 31 viên AK?!

Lão tỉnh bơ đáp: " thì tao cũng nghe nói vậy!" ....

Lúc đó có một thằng lẳng lặng lủi mất, có thằng tinh ý đoán được sự tình có liên quan đến thằng vừa lủi, với lại cũng biết lão này vua xạo ke, nên gạ lão riết...

Cuối cùng lão mới tiết lộ là: dịp về nước vừa rồi, một số thằng viết thư nhờ lão mang về gửi, trong đó có mấy thằng lính cùng quê, trên đường đi lão phải giải quyết cái thú quận công, trong thế kẹt, thế là một lá thư vô phúc bị trưng dụng! và lão cũng chỉ lựa thư của mấy thằng cùng quê, chính là nhằm trúng lá thư của thằng vừa lủi mất, mà ngồi giải quyết thì thằng nào không tò m, lỡ rồi xem luôn mấy cái chữ nghĩa gì trong đó !và : trong thư thằng này kể lể nhớ nhung với con bồ nó mùi mẫn cải lương lắm, đọan cuối có câu hăm dọa nếu em không chờ, bỏ sang ngang thì anh thề sẽ xử em đúng 31 viên AK ( bởi lúc đó thường AK nạp 31 viên lên đạn sẵn ).

Thế là lão sẵn câu chuyện 31 viên AK lão mới phóng tác..... thằng tác giả nghe qua là biết ngay lão này đã xài thư mình vào cái vụ đó, nhưng bởi lão là xếp nên đành nuốt hận lủi mất!!!he he . mà rồi cũng chẳng giận được gì!

Nghe nói sau này con nhỏ đó sang ngang thật, vì không chờ được!!!, mà nó lính lác cũng làm quái gì được về mà xả 31 viên !

- Chuyện 4: F 309 ở vùng Taren bat đoom bong cũng đảm nhận xây dựng 1 sư đòan bạn, sư 196.

Đầu tiên xây dựng đầu khung F,E sau đó phát triển D,C,B,A.

Năm 82 khi về vùng Sơđao, Taren đóng quân E tôi cũng ở gần 1 D K thuộc F 196.

Vị trí của D nầy nằm ở hướng không quan trọng lắm (giống như được bảo vệ).Hình như vũ khí nặng không được trang bị thì phải,vì khi phối thuộc truy quét lùng sục bảo vệ vị trí đóng quân từ xa, tôi thấy bạn chi được trang bị AK và RPD mà thôi, nhưng súng , quần áo trang thiết bị thì mới toanh, quần áo ,mũ giống mũ tai bèo nhưng có vành mũ cứng đẹp và bền lắm ( không như quân trang của congtóp VN bèo không thể tả được) thì ra bọn K nhận viện trợ trực tiếp của anh ''Hai" nên''xuy'' hơn ta là phải, về mặt đánh nhau thì các bác bb chê thậm tệ, có đơn vị nhận lệnh phối thuộc là cảnh giác nom nóp vì sợ nó trở mặt đánh sau lưng hoặc ngang hông là toi.Nhưng bọn nầy cũng có nhiều điều hay lắm, là cái ''mỏ'' hậu cần cho chúng tôi tùy nghi khai thác.,ở gần trong ngày đầu tiên hôm đó mới khỏang 10g sáng bầu trời chuyển mưa tối trời tối đất sấm chớp ì đùng rồi mưa như thác đổ, hòa lẩn trong mưa chúng tôi có nghe tiếng súng nổ rộ lên ở hướng D K, từ 1,2 lọat rồi hình như cả D súng nổ, chúng tôi chạy ào ra chiến hào mặt cho mưa quất, rét lạnh căm căm.C21 trinh sát E vận động qua tiếp ứng, 20' sau báo về là không có địch tập kích gì hết, trời mưa to nên bọn k bắn đuổi ''Ma'' mà thôi.Trời mẹ ơi bọn nầy hại người hết chổ nói... dần dần mổi khi trời mưa lớn bọn k bắn là chúng tôi bõ lơ không chú ý nữa.

Chúng nó bắn hòai nên hết đạn cho nên lần mò đem quân tư trang qua chổ chúng tôi xin đổi lấy đạn AK, lúc đầu đổi lấy quần áo, võng, bidong... sau chúng tôi đòi đổi lấy gà, thuốc rùmdo, samít, rượu,mì chính.

Cơ số đạn có hạn , báo cáo láo với quân khí mải cũng không ăn thua, một hôm chúng tôi luộc 2 con gà kèm theo 1/2l rượu nằn nì mời cho được anh Cầu quân khí E ( bác nầy dân thái bình) nhưng rất vui ra chổ chúng tôi đánh chén.

Đánh chén xong bác nheo mắt hỏi: chúng mày mua gà ở đâu thế nhỉ? chỉ chờ có thế chúng tôi thú thiệt cúi xin bác ấy lén cấp lại chúng tôi 1,2 thùng đạn ak, sau nầy trong ban hậu cần của bác có muốn tìm chất tươi chiêu đải đồng hương thì hú bọn nầy 1 tiếng sẽ cung ứng cho bác ngay vì trong B của tôi bây giờ mổi tên chỉ còn không quá 2 băng đạn, nay mai có lệnh đi phối thuộc với bb thì bị kỷ luật mút mùa.Nhờ bác Cầu thương tình hổ trợ nên thỉnh thỏang chúng tôi có chút chút chất tươi cải thiện ( vì né luật nên chúng tôi chỉ đổi chứ không dám bán lấy tiền riel, vì nếu bị phát hiện thì đổi với bạn cũng nhẹ tội hơn là bán)...he he he

- Chuyện 5: Nghe chuyện ông lính ta móc lưu đạn ra cưa với ông xe ôm k thiệt là chết lãng nhách!

Ở VN thời những năm 80-81 nghe nói cũng có ông chơi kiểu tầm bậy như vậy, không riêng gì ở K!?

Nói chung mình nghĩ chuyện này phải phân biệt ở K đâu là dân, là quân, bọn quân K thì là lính nó cũng theo lệnh cấp chỉ huy của nó thôi, mà mấy thằng chỉ huy đó cũng có thằng học ở bên VN về nhưng bất mãn sao đó hoặc lý do bị khống chế, tinh thần dân tộc cực đoan ... phản lại, thì ngay từ những năm đầu giải phóng đã có rồi! tôi đã từng ngày hôm trước còn cười nói chào hỏi nhau, ngày hôm sau chính tay chỉa súng bắt trói giao chính quyền bạn một tay huyện đội phó!? và cũng đã bắt một thằng tiểu đoàn trưởng pốt mò về thăm nhà, mấy tháng sau tình cờ gặp lại nó, nó còn mua 1kg thịt bò kính biếu, hỏi nó sao mày làm vậy nó nói tại hôm đó tui không đánh nó còn cho nó uống nước! vậy đó! còn dân thì lúc đó rất tốt với mình, chuyện đi nhờ ghe, tàu xe đều vui vẻ, không phải vì lúc đó mình có súng, bởi quá giang thì xum đàng hoàng rồi xôm lia, o cun xamaki lắm mà!

Thậm chí có một ông dân K lúc đó cũng còn trẻ thôi, ở phum nơi mình đóng quân, ông này cũng hiểu biết chính trị! bởi anh ta tự nhận mình là khơme đỏ nhưng không chấp nhận pốt, khi chính quyền pốt tan rã anh ta về làm dân, hàng ngày làm nghề chạy đò chở khách, hỏi sao không tham gia chính quyền cách mạng, anh ta nói để xem đã! rất tự nhiên và thật tình! ( thật tình khi biết ông nội này từng là khơme đỏ, lúc nào đi nhờ ghe cũng phải cảnh giác ngồi ở đàng mũi cho chắc ăn!hihi ), mình biết được địch chuẩn bị tập kích cũng là có dân báo cho biết! ( không phải người mình gài đâu!) .

Đồng ý với bác Tran479 là do cách cư xử của mình thôi.

- Chuyện 6: Chiến tranh mà các bác ơi, cuộc sống khắc nghiệt quá đôi khi làm ta mất thăng bằng, ở D tôi có 1 anh nhập ngũ năm 79 quê Thủ thừa long an, làm lính kỷ thuật sữa chửa xe ở hậu cần D bộ, không tham gia đánh đấm gì, xe hư tham gia sửa, đêm không phải gác, người hiền hậu ít nói.Thế mà khi về tuyến sau, đóng quân sống gần dân k, có điều kiện rượu chè tý chút,lại bộc lộ bản chất thật, không tưởng tượng nổi.Một ngày tháng 6 năm 82 khỏang 15h trưa chúng tôi đang tăng gia xới mấy giồng rau muống thì nghe tiếng anh ta chưởi rất to ở khu nhà hậu cần D, đúng là tiếng cha Lạc quậy, vì từ khi về đóng quân xa biên giới tay này thường lẻn ra phum mua rượu về uống xĩn là chưởi đổng BCH.Đã bị hội đồng quân chính xử lý kỷ luật rồi, nay lại bổn củ sọan lại nữa đây, suy nghỉ như thế nên chúng tôi cũng không để ý thêm chi nữa vì lệ thường chưởi hả hơi rượu là sẽ ngủ 1 giấc, sáng hôm sau lên bch ngồi, tỉnh rụi xin lổi từ rày về sau em xin chừa, nào ngờ sự việc xãy ra ngòai sức tưởng tượng, vì kèm theo tiếng lè nhè là tiếng ak nổ cầm nhịp 2 phát 1, nhìn sang chúng tôi thấy lạc đang chỉ súng bắn vào nhà ban CH, BCH chỉ còn 2 người là anh Bình quảng bình Dt và anh Nhận Hải phòng CTV đã kịp thời chạy xuống nhà B TS của chúng tôi, theo phản xạ chúng tôi bỏ cuốc xách súng nhảy xuống hào xem hành vi của Lạc, vào nhà bch hắn bắn vào buồng ngủ, thấy không có ai, vừa chưởi hắn đi lòng vòng bắn lung tung, nhưng không trúng ai, vì mọi người đã tảng ra chiến hào hết, nhìn hình dáng hắn lè phè tay cầm súng chỉ có 1 băng đạn, chúng tôi bàn nhau chờ hắn hết đạn là lựa thế tiếp cận đè trói lại, tay nầy xỉn mà khôn vì hắn cứ đi vòng khu hậu cần vừa chưởi vừa bắn, nếu hắn thẳng hướng TS chúng tôi để tìm BCH mà bắn chắc chúng tôi phải bắn hạ anh ấy thôi.

Tiếng hắn la: tao bắn hết băng này tao về tao lấy đạn tao bắn nửa ,thì đúng lúc là đạn hết lúc đó tổ tiếp cận mới xông vào trói lại. chúng tôi tìm hiểu được nguyên nhân bất mản của Lạc là: đáng lẻ anh ấy được tháp tùng hậu cần e về VN nhận quân trang kết hợp đại tu xe ở đòan 583 nhưng không biết sau E lại đình chỉ không có lạc trong danh sách, anh ấy suy luận là BCh D ém không cho đi sinh ra bất mản tệ hại như thế, thật tình là do khách quan thôi chứ bch không có đì.

Tối hôm đó vệ binh xuống bắt chuyển về K39 XR cải tạo và bặt tin luôn... tình cờ năm 2006 tôi gặp lại Lạc với 1 xấp vé xố đang đi bán dạo...

Ông cậu họ của em lính 78 cũng là chuyên gia như bác TQNam lại làm hậu cần nên đô angco lấy vàng hột soàn thoải mái năm 79 ông tranh thủ theo xe hậu cần về nước , vàng lá được ổng cắt dép râu ra nhét vào tính về cưới vợ .

Xe bị trúng mìn chống tăng , ổng văng lên trời và té xuống dập tuỷ sống liệt cả 2 chân , dép văng mất tiêu .

Cũng may là sau 5 năm nằm viện ổng đi lại được giờ chạy xe ôm

Chuyện 8: lần đó hành quân tác chiến cấp D , em vác PRC 25 đi theo C 13 có nhiệm vụ đánh từ hướng tây sang đông cặp theo bờ nam con suối , C11 và C12 đánh từ hướng đông sang tây dọc theo hai bờ của con suối .

D bộ với 2 b TS và TT đứng chân ở 1 phum cách khoản 2 Km có nhiệm vụ đón lõng nếu địch chạy về hướng nam .

Cả C hành quân theo hàng dọc cách bờ nam con suối khoản 500m ( vì cứ địch thường tập trung ven suối ).Khoản 8 giờ sáng B đi bọc hậu phát hiện 2 cô gái đánh 1 chiếc xe chở hàng trong rừng gần bờ suối nên đội hình dừng lại .

Cả bọn hí hửng xin ý kiến C phó xông lên bắt sống 2 cô gái thì thằng Ngô liên lạc vội giật tay áo em báo "địch" em giật mình nhìn lại thì thấy 1 thằng Para đang đứng trên 1 gò mối quan sát hướng đi .

Lúc này 2 B đi đầu cũng đã phát hiện đội hình của địch từ hướng bắc lội qua suối và chuẩn bị hành quân tiếp về hướng nam ( là chổ đội hình tụi em ) .

B trưởng Nếp đã giương AK ngắm thằng đi đầu nhưng chưa bắn vì muốn chờ nó đến gần hơn ( thằng này tham quá vì khoảng cách chỉ khoản 10-15m ) thằng địch đang quan sát thì khựng lại vì phát hiện ra Nếp .

Lộ rồi nên mọi người cùng nổ súng .

B bọc hậu nhanh chóng dạt thành hàng ngang phối hợp 2 B đi đầu tạo thành gọng kềm chữ L ép địch về sát bờ suối .

Bọn địch bắn trả điên cuồn mở đường máu chạy về hướng đông( là hướng còn trống ) Hehe vậy là chúng nó chạy về hướng C12 đang tiến đến .

Lúc này D bộ yêu cầu xác định toạ độ để bắn cối 8 nhưng đang đánh vận động nên không biết chổ nào mà báo .

Lúc này anh em đánh rất hăng đuổi theo sát bọn địch vì biết chắc bọn này từ TL mới qua vì ba lô nào cũng to cả .

Bọn địch chạy ra đến 1 cái trảng và tổ chức đánh trả yểm trợ cho nhau rút lui .

Cả C cứ bám bìa rừng mà đánh vì qui ước trảng là của C 12 .

Lúc này đã xác định được toạ độ do có mốc là cái trảng nên em phải leo lên gò mối cao báo toạ độ cho D .

Đang đứng gào vào tổ hợp thì thằng Ngô nhào lên nắm giò lôi em té xuống , nghe tiếng lạch xạch em ngước nhìn lên trời thì thấy 1 quả B đen sì đang lao xuống chổ mình , hai thằng nhắm mắt nín thở chờ đợi hên sui .

Ầm 1 phát bụi bay mịt mù quả B nổ cách 2 m .

Thì ra mình đang ở vị trí đạn cuối tầm của B .

Hai thằng co giò phóng lại 1 góc cây to để núp .

Phía bên kia trảng C 12 cũng đã vận động đến và nổ sung ào ào vào bọn địch ỡ giữa trảng cộng thêm cối 8 của D .

Phải nói trận này đánh quá đẹp .

Bọn địch rút về phum ở hướng nam bị B TS và B TT đánh bật trở ra .

Sau này nghe anh em nói lại xém tí tụi nó đã đạp qua đầu B TT để vào phum .

Nổ súng khoảng 20 phút nữa nhìn ra trảng thấy địch chia làm nhiều tốp chạy toán loạn các hướng nên mọi người vận động ra để thu đồ cổ .

Vừa ra khỏi bìa rừng thì bị bắn ào ào phải rút trở vô bắn trả .

Mầy lần nhào ra đều bị đánh bật trở vô nên em mới nghi là bắn lầm với C 12 nên gọi cho C 12 thì tụi nó báo tụi nó phát hiện địch vẫn còn trụ lại tại bìa rừng chống trả quyết liệt . mẹ kiếp lúc này trảng trống trơn địch chạy mất tiêu hết còn ai đâu .

C 12 là C chuyên đánh phòng ngự cách nhau cả 5 trăm mét mà đạn AK nó cứ bay là là mặt đất làm bọn em chết cứng không thằng nào dám nhúc nhích .

Tội nghiệp thằng Anh gánh đạn cối 6 bị thằng xạ thủ chửi như chó mà không gánh đạn lên được nhìn đạn lửa lượn trên mông khi nó bò mà sống lưng em lạnh ngắt .

Tiếng chửi thề bắt đầu rộ lên khi thông tin không báo được cho C 12 biết là bắn lầm .

Mấy cha cán bộ xác d8ịnh toạ độ trật lất nên cứ cho lính bắn hoài .

Cuối cùng D lệnh cho 2 bên ngừng nổ súng bắn bắt liên lạc qui ước là + tròn 5 . bên kia bắn 2 cha C phó bắn lại 3 nhưng không hiểu sao lại bắn 1 loạt ( quên chuyển sang nấc tắc cú ) thế là bên kia lại tiếp tục nổ súng và tụi em tiếp tục lủi gốc cây .

Em lại phải gọi báo bắm lầm và đề nghị bắt liên lạc lại .

Khi hành quân về 2 bên chửi nhau om sòm thằng này đổ thằng kia .

Trận này địch bỏ xác tại trận 14 thằng ở trảng .

Sau đó dân báo lại còn 6 cái xác bị tụi em bỏ sót trong rừng ( chết do loạt nổ súng đầu ) .

Trên báo hôm đó địch khoảng 150 thằng đang hành quân xuống hướng Nam BH 5thì đụng C 13 .

Nghe xong tụi em xanh mặt vì mình chỉ có chưa tới 40 tay súng nếu mà tụi nó lì trụ lại chắc mình cũng khó nhai .

Hèn gì tụi nó bắn trả kinh quá .

À lo nổ súng nên 2 con nhỏ kia chắc là tiền trạm dò đường chạy thoát , tiếc quá .

Chuyện 9: Hê! nhắc chuyện thuốc men, chỗ tớ cũng nhiều chuyện vui:

Cũng là chuyện đau mắt đỏ, nghe vubang nói vậy, chắc hồi đó có dịch nhiều vùng ở K.

Nhỏ bằng nước muối ăn thua gì! hết thuốc!!!, sáng kiến xuất phát từ tên y tá C1( y tá gì mà lác, lang ben đủ bộ! hê, xin lỗi yta262 nha! )lấy dầu lau súng của mỹ nhỏ mắt, mà thằng này nó cũng... gan! nó tự thử nghiệm trước, bà độ sao ấy! hết bệnh mới quái đản! thấy vậy người thứ 2 xung phong là C trưởng, rồi toàn C hết bệnh, tiếp theo là phổ biến chữa cho dân trong vùng! khi thấy hiệu nghiệm quá trời!

ông C trưởng lên báo cáo thành tích với D, Dbộ chỉ bị vài em nhưng chữa cũng thấy hiệu nghiệm bèn báo cáo thành tích lên E, ai dè bị mấy ông y sĩ E chửi cho là phản y học ! tưởng rằng được khen ai ngờ bị chửi quá xá, rồi bị hăm nếu bộ đội bị...mù hết! thì đưa mấy ông chỉ huy vô quân lao! tức! về chửi um xùm mấy cha chỉ ngồi trên đếch biết nỗi khổ của lính bên dưới, lạ là cấm xài thuốc mỹ nhưng cũng chẳng cấp cho một giọt thuốc gì để chữa ?!

Còn chuyện dân bạn họ bệnh đến xin thuốc, coong top VN cấp C thì có gì ngoài thuốc phòng sốt! thế là cứ thuốc phòng sốt mà phát, mà dân họ lại khỏi tuốt tuồn tuột từ đau bụng, nhức đầu, cảm cúm...! giải thích thế nào? chắc là niềm tin chiến thắng bệnh tật! bởi vậy các pét được trọng vọng như lục thum , được dân hậu tạ kính biếu dừa xòai,mon,tia, thuốc cotab hút mệt nghỉ!hê hê!

Chuyện 10: CHUYỆN CÂY CỐI 6 CỦA C6 - D54 /

Cấy cối 6 này được truyền lại từ nhiều đời xạ thủ trước với lời dặn tuyệt đối không được vỗ vào nòng cối .

Đã nhiều xạ thủ đã hy sinh hoặc bị thương vì lỡ vỗ vào miệng cối .

Nhìn nó cũng bình thường như những cây cối khác nghĩa là cũng đế bằng dép râu quai là khăn cà ma nhưng cứ hễ vỗ vào miệng nó khi tác chiến là chắc chắn sẽ có thương -tử .

Lần đó nó được bàn giao từ 1 anh lính 84 ra quân cho thằng Hùng tàu quê Tây Ninh .

Thằng này dân tộc Hoa mập mạp như xì thẩu nhưng là 1 thợ hớt tóc rất giỏi , cả C đẹp trai là nhờ vào cây kéo của nó .

Khi nhận cối đương nhiên Hùng cũng nhận được lời dặn dò và nó cũng rất tin nên không bao giờ dám vỗ vào miệng cối .

Hôm đó cả C hành quân tác chiến khu vực cao điểm 12 .

Chạm địch nổ súng từ sáng sớm , cứ vừa đi vừa đánh đến trưa được lệnh vào phum trămsoso nghỉ ngơi cơm nước xong khoảng 4 giờ chiều lại được lệnh lùng sùng khu rừng hướng bắc của phum này vì cơ sở báo còn 1 cứ địch ở đó .

Cả đội hình xuất phát hàng 1 một nhắm hướng rừng cắt tới .

Đang đi thì thằng Hùng chợt vỗ vào miệng cối hát nghêu ngao .

Em đi sát bên chết lặng người , hỏi nó tại sao vỗ miệng cối thì nó trả lời tự nhiên tao thấy buồn quá nên hát chơi .

Mọi người im lặng căng thẳng khi tiến vào sát bìa rừng .

Một loạt AK vang lên - đụng cảnh giới của địch rồi các B dàn đội hình tấn công vào cứ ( bọn này làm cứ sát bìa rừng khi đó đã phát hiện mình trước , chờ mình tới gần là nổ súng ) .

Nổ súng khoảng 10 phút Thằng Hùng vác cối 6 vọt qua 1 bụi cây em cũng vọt theo sát nút thì ầm một tiếng khói đen mịt mù người em rát rạt .

Lúc đó em nghĩ chết rồi mình dính mìn rồi .

Mấy giây sao nghe huỵch 1 cái và có tiếng rên khe khẽ khói vừa tan em thấy thằng Hùng nằm đó mắt nhắm nghiền , bàn chân phải bị tiện đứt hẳn chỉ còn lại gót chân .

Lúc này cả C đều ngừng lại không ai dám truy kích địch vì sợ mìn .

Sau khi phụ y tá khi băng bó cho nó xong em mới thấy dấu vết chổ tụi em đứng là 1 vọng gác , chổ thằng gác ngồi mòn lẳng , trên cành cây còn treo lủng lẳng miếng thịt heo luộc ( chắc dân trong phum vừa tiếp tế cho ).

Tụi nó thấy mình trước nên đã gài mìn trước khi rút chạy , thằng Hùng thấy đường mòn trống trải vọt ra nên dính mìn .

Phải nói đời lính của em gặp nguy cũng nhiều nhưng chưa bao giờ sợ đến thế , khi nghe mìn nổ toàn thân tê liệt , chết đứng như Từ Hải .

Khốn nạn là lúc đó D yêu cầu tiếp tục cáng thương binh theo hành qyân tiếp lên Xầm Rông ( chổ bác Y tá 262 ) gởi thương cho F 302 rồi đi tác chiến tiếp .

5 tiếng đồng hồ cáng thằng Hùng cắt rừng trong đêm mưa lất phất mới tới được cứ của F302 , bàn giao xong lại đi tiếp nên không biết nó có qua được không .

Thằng gan lì thiệt không rên la gì cả , chắc là qua được .

mấy ngày hôm sau tự nhiên thấy người mình thúi quá ( hehe là chuyện lạ đối với loại mồ hôi muối phải không bác Trâu ) nhìn lại mới biết thịt, xương của thằng Hùng văng đầy quần áo và khăn cà ma nên bốc mùi (hèn chi lúc đó thấy người rát quá ).

May là trời mưa đêm đó đã gột đi 1 mớ rồi .

Quần áo cực chẳng đã phải giặt lại vì nhất y nhất qưỡn còn cái khăn cà ma em đào lỗ chôn luôn xem như là chôn cất 1 phần thân thể của bạn .

Một tuần lễ sau thằng Quý y tá cũng hy sinh , sau đợt tác chiến đó anh em yêu cầu trả cây cối ma ám cho D nhưng không được .

Chuyện 12: LINGA - LINH HỖN TƯỢNG ĐÁ

Tháng 5 năm 1979,

Năm 78 và 79 đơn vị chuyển cứ liên miên, có lẽ đây là một cách dấu đội hình linh hoạt của Quân đội Nhân Dân VN chăng, tôi tự đồ đoán như vậy.

Ngay cả khi tôi đi học y tá khi mới qua K, vừa quen chút ít được tên các loại thuốc và quen đường xá ở Siêm Riệp thì tháng sau lại được lệnh chuyển cứ tất cả học viên trường y tá sư đoàn 302 về huyện Pouk, cách Siêm Riệp 16 cây số về phía Tây.

Lúc này thì chúng tôi đang ở tạm 1 dinh thự kiến trúc Pháp ở phía Nam của dinh Sihanouk.

Đang an tâm được ở nhà mát ăn bát B52 cho cả khoá học, mới chừng 2 tháng đã phải hộc tốc bỏ đi, ai mà chẳng tiếc nuối chất thơ mộng của cái thành phố xa lạ nhưng lại đầy ắp hình ảnh khu phố biệt thự quận 3 Sài Gòn, với hàng cây me cây dầu buông lá và trái dầu rơi rơi thành chong chóng rải hoa trên mặt đường nhựa, nhớ làm sao bóng cây mát rượi đường Võ Văn Tần, Sương Nguyệt Ánh.

Tôi lại chợt nhớ anh Trịnh Công Sơn, với con đường có lá me bay và "Nhớ Sài gòn những chiều ngợp gió, Lá hát như mưa suốt con đường đi, Có mặt đường vàng hoa như gấm, Có không gian màu áo bay lên ... em ra đi, nơi này vẫn thế, ...

".

Còn nhớ chứ, nhớ quá đi thôi, sao lại quên ...

Lại thêm hình ảnh đường Hồ Xuân Hương nơi tôi lên đường nhập ngũ, và nhớ cả ngôi trường nhỏ trên đường Hùng Vương mà tôi cắp sách đến trường.

Siêm Riệp đã đến và đã đi với tôi tới thân quen trong từng khu phố, từng khuôn mặt người quen và không quen.

Thế là trở lại Pouk, nơi 4 tháng trước chúng tôi vừa xây xong hầm chỉ huy cho E bộ là được lệnh đi Prey Chirúc ngay.

Bây giờ thì một đơn vị bạn K.

đã "hưởng xái" hầm chỉ huy kiên cố của tôi đào.

Phần chúng tôi được ở nhà mới, có điều vừa học vừa xây nhà thì cũng hơi cực, trước mắt là ở chung dãy doanh trại với tù binh Pôn Pốt, ai muốn thoải mái thì giăng võng trên bụi cây dâu mé đồi (sau này tôi mới biết đây là địa điểm nuôi dâu tằm truyền thống của huyện Pouk, là 1 chỗ du lịch cho khách viếng thăm Siêm Riệp).

Không biết có phải một phần ý đồ của ban giám hiệu trường hay không, phòng giam tù binh nằm giữa, phòng nữ học viên 1 bên gần mé đường, còn phòng nam học viên bên kia phòng giam.

Không biết ai là tù đây nữa?

Nhóm học viên đồng hương Hải Phòng ở trung đoàn đặc công 429 sẵn dịp trút hết tội lên nhóm tù binh, hễ mỗi lần có phiên tra tù là các anh em vào tham gia ngay.

Tôi có một niềm vui nho nhỏ, đang nhớ trường nhớ lớp nhớ Sài Gòn, thì đột nhiên trong khi đi đốn cây làm nhà quanh khu vực đền Angkor Vát, tôi gặp lại Thành học lớp ngay bên cạnh.

Giữa rừng già, nhắc bạn học người còn kẻ mất, buồn vui lẫn lộn cứ xô đẩy nhau.

Thành nhập ngũ cùng lúc với tôi, hắn tướng người nhanh nhẹn chắc chắn không thư sinh trói gà như tôi và bổ xung cùng đợt vô E88 nên lúc nào cũng húc, húc và húc mãi cho tới khi Thành đã lên lon trung sỹ A trưởng!

Thành nói xong chiến dịch này có lẽ nó lên B thôi, mỗi tháng giỏi lắm thì chỉ mất 1, lính cứ hao đều như vậy mà không lên B thì chỉ có toi rồi rút ra phía sau.

Cái đền Angkor này thiệt lạ, khi trước tôi nghe kể trong đền có rất nhiều tượng, vậy mà bây giờ không thấy bao nhiêu, chỉ còn mấy cái bằng gỗ mốc meo, theo tôi là ít giá trị khảo cổ lắm.

Còn mấy cái bằng đá thì mất đầu.

Duy có vài cái tròn lẵng trơn tuột thì còn nguyên.

Sau này tôi mới biết người Khmer thờ linh vật Linga tượng trưng cho dương tính, có hình khối trụ đặt trên Yoni hình khối vuông, đại diện cho âm khí, giống như các linh vật thường thấy thờ phượng ở các chính điện của tháp Chàm bên Việt Nam.

Thành bảo tôi: "Mày lên đó nhớ phải vuốt hết ngực tiên nữ Apsara nghe chưa, vuốt càng nhiều thì được sống dai chừng đó vì người K. họ cầu xin khoẻ mạnh và con cái đầy đàng bằng cách này.

Tụi tao vuốt hết rồi, tới phiên mày đi".

Quả thật, lên tới đền thì các phù điêu trên đá nhám điêu khắc nữ thần Apsara nhảy múa và các linga đều đã bóng mồ hôi tay của khách thập phương.

Tôi không tin lời của Thành lắm, nhưng vuốt thì vuốt, mất mát gì của nhà mình, tay chân ở không thì tội gì mà không vuốt.

Tôi nhanh chóng thực hiện động tác xoa xong rồi rút xuống dưới trở lại vô rừng.

Thành đã đốn sẵn chục cây đòn tay thẳng tắp rồi nói: "Vuốt apsara chưa?

Tốt, mày không quen rừng chỗ này không biết nhe mậy, có đi tới tối nhiều khi không gặp 1 cây mà còn bị thần Angko dấu lạc đường luôn đó".

Chuyện 13: NHỮNG BÔNG HOA TUYẾN LỬA

Thành bất giác cầm lấy tay tôi giật mạnh, lần đầu tiên tôi thấy môi nó rung rung khoé trái, và mắt bỗng đanh lại, nó nói nhỏ đủ cho tôi nghe thấy: "Có gì ... mày cho tao nhắn lại gia đình là tao vẫn khoẻ mạnh nhe mày".

Tôi như bị chạm trúng nọc, tự nhiên cũng nghiêm sắc mặt: "Mày cũng nhớ nhắn với ba mẹ tao nhe Thành nhe, nếu mày ... nếu tao ...

".

Tôi bỏ lững và thường tránh né những câu dự đoán tương lai vô bổ như vậy.

Cả hai chúng tôi mỗi người bỗng túm một đầu lặng lẽ buộc đám đòn tay lại, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ vớ vẫn về một nơi xa xôi ấy, về một mái ấm và về những người thân thương.

Xe tới Puốc rồi mà hình ảnh người bạn thoăn thoắt trong rừng cứ theo tôi.

Lại thêm một gởi gắm, lại thêm một lời xa xôi, vậy ra Apsara có giúp gì ngoài mấy cái vuốt mát rượi tay?

Vất vả rồi cũng đâu vào đó, nhà cửa và lớp học cũng vừa kịp mùa mưa ùa đến.

Để bù lại những giờ mất đi do làm nhà dựng trại, chúng tôi phải học rút để kết thúc khoá học trước mùa khô cho kịp bổ sung về đơn vị.

Chiến trường tự lúc nào không biết, nó như một con thú hoang đói mồi nhân sự hằng ngày, hằng tuần.

Trong khoá học tôi là người lạc lõng nhất.

Giờ rãnh rỗi thì hết chuyện chiến trường đến chuyện chiến dịch, nào là trận tập kích Lò Gò Xóm Giữa của E đặc công 429, nào là vượt sông Vàm Cỏ Tây bằng ghe của E201 rồi bị 3 đứa con gái Pốt cầm chân gần cả ngày dưới chân đồi, nào là truy kích lạc đường khát khô cổ uống nước đái của E271 và E88 những ngày rượt Pôn Pốt từ lộ 68 lên Sầm Rông xuyên qua Anlong Veng rồi vòng về Núi Hồng, nào là bị rớt đơn vị gặp đám Pốt con nít vừa đi vừa ria, thôi thì đủ thứ trận mạc.

Chiến công nào thua chiến công nào?

Có ai biết chăng những chiến công thầm lặng của những người lính thầm lặng?

Họ, được gọi vô chung một cái tên bộ đội của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, để rồi khi nhắm mắt lìa đời thì, họ, người chiến sỹ vô danh!

Tôi muốn nói đến những bông hoa trên tuyến lửa năm nào.

Lớp học có 8 cô tân binh người Sài Gòn mà mãi đến giờ phút này tôi cũng vẫn không hình dung họ đã chiến thắng tư tưởng ra sao để đến vùng biên địa xa xôi chia lửa cùng chúng tôi?

Tôi lại miên mang đến chi đoàn phường 8 của tôi trước ngày lên đường.

Năm 1978 tự dưng sinh hoạt đoàn vợi hẳn đi, nhất là trong khối nữ đoàn viên, hầu như đều bận học, về quê, bị bịnh, lắm lý do!

Năm đó thành đoàn phát động chiến dịch toàn đoàn xung kích ra tuyến đầu, kể cả các em trong ban chấp hành liên đội thiếu niên tiền phong, 3 trong 4 em mới 16 tuổi và anh Toàn hướng dẫn liên đội TNTP cũng đã làm đơn tình nguyện cùng lúc.

Trong 8 học viên nữ ngày ấy, tôi phải thú thật với lòng là tự nhiên cảm tình nhất với Bảy.

Đám đực rựa với nhau thường rất thẳng thừng.

Đôi khi những cái mềm không sao làm cho cứng, cái cứng không sao làm cho mềm ...

Chuyện 14: Nghe bác Ytướng nhắc đến chuyện MA nên tôi lại nhớ chuyện ngày xưa.

Tôi vốn là thằng chúa sợ ma từ nhỏ.

Cho tới bây giờ vẫn vậy.

Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy ma nhưng trong đầu vẫn cứ gờn gợn một nỗi sợ mơ hồ.

Tháng 6 năm 1980, vụ đi lấy xác anh Năm Lập tôi sợ đến nỗi 3 đêm không thể ngủ được.

Cứ tắt đèn là lại " thấy " khuôn mặt anh Năm hiện lên với những máu me be bét, chiếc lưỡi to đùng lè ra dài thượt, đôi mắt trợn trừng lên như vẫn đầy ngạc nhiên.

Khốn khổ thân tôi, do chữ nghĩa viết cũng xem được nên đơn vị phân cho vào trong tổ " Khám nghiệm tử thi " nên mình cứ phải lật đi lật lại cái xác anh Năm đã trương sình, nham nhở do Kỳ đà gặm xác.

Cố tỏ ra không sợ để làm xong nhiệm vụ ( kẻo mấy thằng cùng nhiệm vụ nó cười ) nhưng đêm về tôi xém té đái ra quần.

Bam đêm mót đi tiểu cũng phải cố nhịn chờ trời sáng mà không dám đi.

Vụ thứ 2 là chuyến đi xuống E2 của TS1 công tác.

Nhiệm vụ của P3 giao là xuống E2 lấy số liệu về hậu cần trong tháng như Quần áo, đạn dược, tình hình tăng gia sản xuất .... tiện thể ( hừ...hừ.. cái khố nạn cho tôi là cái tiện thể này đây ) tiện thể lấy luôn một xác liệt sỹ hy sinh đã ba ngày đang nằm trên chiếc xe goòng ở ga Bamnak.

Sáng sớm, cùng với một chiếc Vọt tiến của D29 tôi hăm hở đi xuống E2, cùng đi có thêm một trợ lý HC Bùi Xuân Hùng mang hàm thiếu uý.

Xuống đến nơi, chỉ trong mấy giờ mọi số liệu đẫ được các trợ lý HC E2 cung cấp đầy đủ.

Cơm trưa xong, tôi hỏi Lão trợ lý ban chính sách xem liệt sỹ đâng nằm đâu?

Hắn giơ tay chỉ ra chiếc xe goòng nằm ngoài đường rầy xe lửa, tôi chưa đi đến nơi đã ngửi thấy mùi hôi xông lên nồng nặc.

Liệt sỹ được nằm trong túi nilon, đôi bàn chân vàng khè to tướng vẫn thò ra ngoài.

Nhìn quanh chẳng thấy có ai để nhờ.

Bỏ mẹ !

Một mình thì làm sao khuân được cái xác trương phình to tướng này.

Trong đầu tôi bắt đầu nỗi sợ.

Tôi quay vào ban HC ngồi nghỉ và nghĩ cách...

Vừa lúc ấy, một tốp lính E2 chừng hơn 10 chú nhào vào hỏi em :

- Anh ơi, xe của anh về sư bộ phải không?

Hờ hờ...thoát rồi, thoát rồi.

Mặt tôi tỉnh bơ trả lời :

- Ừ, xe của hậu cần sư sắp về sân bay đây.

- Bọn em là hạ sĩ quan được gọi về sư tập huấn.

Anh cho bọn em đi ké về sân bay nhé.

Tôi vồn vã :

- Được thôi, các bạn cứ chuẩn bị đi.

Mình lấy nốt mấy sô liệu rồi ta cùng lên đường.

Thực ra số liệu chó gì đâu, phải nói vậy cho nó ...oai thôi.

Mấy anh lính E2 lao xao chuẩn bị ba lô và lại kèm cả một chú heo to tướng ( chắc là thực phẩm kềm theo cho lớp tập huấn ).

Tôi bảo tất cả đưa ba lô, hòm B40 đựng đồ và cả chú heo lên xe, nhắc mấy chú để cho gọn vào phía đầu xe.

Tôi nhanh nhẹn và tỉnh bơ kêu lái xe re xe vào chỗ lấy xác tử sỹ.

Tôi nói giọng rất thản nhiên :

- Mấy bạn giúp tôi một tay cho liệt sỹ lên xe rồi lên đường kẻo muộn rồi.

Con đường từ ga Bamnak về là con đường rất hay bị địch phục kích.

Hai bên đường chỉ thấy những bụi cỏ tranh cao vút, không một bóng người nên xe bộ đội muốn an toàn phải đi sớm, chiều muộn mà còn lénh phéng trên đoạn đường ấy rất dễ ăn B.

Mấy anh lính vui vẻ ào xuống khuân xác liệt sỹ lên xe.

Tôi nén một tiếng thở phào.

Tôi nhanh nhện nhảy lên cabin xe, kệ cho ông Hùng trợ lý phải trèo lên thùng đứng cùng với túi xác liệt sỹ.

Sau vụ này, lão căm tôi lắm.

Ông Hùng cứ tưởng tôi lên mặt chơi trèo với ổng, ổng đâu biết là tôi đành phải cư sử không phải với ổng chỉ vì tôi...sợ.

Dọc đường từ Bamnak về sân bay, chiếc xe đi đến đâu ngưòi dân cũng chỉ chỏ, bịt mũi.

Từ sàn xe, nước rỉ ra từ xác liệt sỹ cứ nhểu nhểu dọc đường.

Ra đến ngã ba thị trấn Pôlây, xe lại còn dừng lại để nghỉ chân uống nước sirô đá bào.

Dân tình hai ven đường chạy tán loạn vì mùi thối nồng nặc.

Ra đến QL5, chiếc xe của chúng tôi chạy vựot lên trên chiếc xe đò chở khách của dân, lão lái xe còn chơi khăm cứ chèn chiếc xe đò không cho nó vượt, dân trên xe khách chửi bới um xùm.

Cho đến giờ, tôi vẫn sợ ma.

Nhà có việc phải đi xuống nghĩa trang Văn điển, đi cùng cả nhà rất đông người giữa ban ngày nhưng bao giờ tôi cũng len lén đi len vào giữa đoàn người cho yên bụng.

Chuyện 15: 1 chuyến chuyển thương về Việt Nam.

Ngày mai chuyển thương về Việt Nam, chuyện thường chẳng có gì đáng nói!

Giao ban buổi sáng thì bác tài lúi húi bên xe, chuẩn bị cho ngon...

Hình như là có trục trặc nhỏ gì đấy, phải chạy ra chợ Công-pông-chàm thôi!

Tôi thường được đi theo bác tài (bác này nhiều chuyện lắm, mới gặp lại cách đây 1 tháng) ra chợ.

Việc đầu tiên là làm quả hủ tíu Nam Vang cho ấm bụng.

Xong xuôi uống cà-fe.

Không biết bằng cách nào mà đã thấy xuất hiện 1 hai bác Tàu tới bàn bạc công việc.

Lúc sau chất hàng lên xe.

Thôi thì đủ cả.

Mùa nào thức ấy.

Lúc thì thuốc lá, lúc thì gạo, lúc thì cao su bành ...

Kết thúc là một bữa nhậu say bét nhè.

Xế chiều rồi, về đơn vị thôi!

Xe 6 giờ sáng sớm xuất phát, chú y tá đã chuẩn bị xong giấy tờ, thằng đi kèm chuyển thương - kết hợp đi phép cũng xong.

Đơn giản chỉ có cái ba lô 10 cây thuốc lá, 1 khẩu AK 4 băng lên đạn sẵn ...

Chiếc DOGE Mỹ thùng vuông chạy xuống trại bệnh.

Tại đây trại bệnh đã tập trung thương bệnh binh lên xe.

Tiếng gọi nhau í ới.

Vài thằng nhắn nhủ về nhà ...

Xe lăn bánh về thị xã.

Chả biết thế nào mà MT479 lại bố trí bệnh viện 7D tớ ở ngoài thị xã mới hay, chắc là tại đơn vị tớ cấp trung đoàn, lính đông nên cho ra tuyến trước để bảo vệ Thị xã của bạn chăng?

Hay là để hạn chế bớt các chú bệnh binh quậy phá trong thị xã?

Qua thị xã, xuống phà vượt sông Mê-Kong, nhằm hướng VN mà tiến.

Dọc đường cũng chẳng có gì nguy hiểm.

Chỉ mỗ tội là xóc, xóc kinh hoàng.

Tui ngồi bám trên cái "tai" xe hồng mà nhiều lúc muốn bị hất văng xuống đất.

Ngồi trong thùng xe thì chịu không nổi vì ngộp.

Hồi trước xe Mỹ có quạt thông gió nên cũng đỡ.

Bây giờ lấy đâu ra?

Chỉ có 1 cái lỗ vuông bé bé mà thôi!

Xe chạy còn đỡ 1 chút, chứ nó mà dừng lại thì thôi rồi!

Nóng chết cha, kèm theo mùi máu mủ của thương binh.

Mấy bác bệnh binh thì ho sù sụ, rên hừ hự ...

Cũng còn chưa sao vì dù gì cũng là anh em mình cả!

Khiếp nhất là mùi hàng hóa của bác tài.

Trời nóng, trong thùng xe ngộp lên mùi thuốc lá hăng hắc, mùi cao su thum thủm ...

Tệ hại nhất là các bác sĩ quan gửi mấy con gà về nhà cho bu cháu ...

Ôi trời, phải chi có thuốc gì cho chúng nó uống, chúng nó không ị ra nhỉ !

Chạy khoảng 12 giờ trưa thì đến biên giới.

Từ xa, cây ba-ri-e của đồn biên phòng bạn đã mở lên sẵn cho xe ta lao vút qua.

Chỉ mấy phút sau là tới đồn biên phòng Xa-Mát.

Xịch lại.

Các cú lính đi ké ào xuống tè 1 bãi cho nó thoải mái!Mấy thằng có ba-lô thuốc thì dúi vào trong thùng xe nhờ anh em thương bệnh binh cầm giúpThương bệnh binh cũng sẵn sàng, vui vẻ vì quan hệ lúc còn ở bệnh viện rất tốt!

Bác tài lại có chuyện khác với biên phòng.

Tụi biên phòng biết tỏng là xe chở cái gì và kèm cái gì rồi nên không ra xét xe mà kêu bác tài vào đồn làm việc ... khoảng đâu 30 phút thì xong.

Có bữa không biết làm sao mà bác tài chạy ra, đến thùng xe kêu " mấy thằng mày - thương bệnh binh - Bác tài lính 74 - kêu lên một chút, biên phòng nó xét xe, bắt tụi mày xuống đấy.

Nó mà xét xong thì cả tiếng đồng hồ đấy.

Muốn nhanh thì rên to vào!

Một hai chú biên phòng mặt hằm hằm đi ra xét xe, lính ta cười khẩy, nhìn các chú ấy như con gì!

- xe chở gì đây (mẹ, biết rồi còn hỏi).

Thằng y tá cười nhăn nhở

- dạ xe bữa nay có chở 2 thương - hoại tử, 1 sốt sét, 1 ho lao!

- Ho lao à?

- Đấy anh cứ mở ra xem!

Thằng BP vừa đến cuối xe thì đã nge tiếng kêu rên từ trong vọng ra thảm thiết.

Chú ngó vào thì tời ơi, cái mùi trong xe xộc ra, không thể nào tả xiết!

- thôi thôi, đi đi các bố!

He he, cả xe lại lên đường về quê mẹ!

Chạy dọc đường Tây Ninh nhìn mấy cô gái làm cỏ lúa, mặc áo bà ba hai lớp, mặt bịt kín chống nắng, chân lội bùn để hở ra 1 khoảng thịt trắng sao mà thân thương thế!

He he, hoàn toàn trong sáng đó nghe!

Cảm giác xúc động bồi hồi khi về đến đất mẹ mà!

1 tiếng sau xe tới Thị trấn Tân Biên thì dừng lại, ghé quán ăn trưa và cho mấy chú thương bệnh binh ra khỏi xe cho nó thoáng và tận hưởng không khí nước Việt mến yêu!

Bác tài bao giờ cũng đãi cả bọn thịnh soạn.

Và bao giờ cũng thết đãi các thương bệnh binh trên xe tiêu chuẩn đặc biệt là nước mía và bánh bao nhân thịt thơm phức.

Tụi tui rất khoái đi với bác tài quê Thái Lọ này, có 1 bác tài khác dân Tây Ninh chính hiệu thì không được như thế!

Xe bon bon về Thị Xã Tây Ninh, qua Gò Dầu, Trảng bàng.

Trạm Kiểm soát liên ngành Suối Sâu khét tiếng đây rồi!

Hơ hơ, cứ chạy tiếp thôi, bố dám đụng vào xe chở thương từ K về!

Đến thành phố khoảng 4-5 giờ chiều, thả bệnh xuống 7A - Nguyễn trãi, giải tán.

Đến đây không còn gì nói nữa, ai về nhà nấy.

Vài bữa sau lại tập trung lên xe qua đơn vị.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 2: Những chuyện không thể quên - hồi ký của bác Tichtuongnhule - Phần 1


CHUYỆN I

Chúng tôi là lính trinh sát 325.

Sau 5 ngày luồn sâu trong lòng địch ở ngay gần nhà thờ La Vang, Quảng Trị, gần sáng luồn về được cứ nằm ven sông Nhùng.

Cứ này nằm trên phần đất do ta kiểm soát.

Chúng tôi bò ra làm hồ sơ để chuyển về trên.

Đến trưa công việc cũng xong.

Không biết có ae nào đã trải nghiệm 5 ngày chỉ nói thầm hoặc làm ám hiệu mà không được nói thành tiếng ?

Chúng tôi hoàn toàn mất tiếng nói.

Thường thì sẽ hồi phục dần sau vài ngày.

Anh là Ng T D, quê ở Bình Lục, Nam Hà (Hồi đó là 2 tỉnh Nam Định và Hà nam sáp nhập), nhập ngũ tháng 8 năm 70.

Xong việc, hứng chí mấy ông giọng khạc khạc trong cổ như nagn đực ngồi tán chuyện dóc rồi thách đố nhau.

Loanh quanh thế nào, anh nhận thách đố ăn hết 1 cân lương khô (loại 701).

Một cân 4 phong, mỗi phong có 4 thanh.

Anh em phải xót xa, từng người móc gùi của mình để có đủ 1 cân.

Quả thật, đang đói khát, nửa cân đầu hết đánh vèo.

Nửa cân sau càng ngày càng khó.

Mà cái giống ăn lương khô là phải uống nước, không thì không trôi được.

Đến thanh cuối cùng thì anh không ngồi được, cũng chẳng nằm được.

Chỉ còn một tư thế giống như bà đẻ đang nằm chống tay trên bàn đẻ.

Rồi cũng không thể chịu được.

Cả chiều hôm đó, anh phải nằm ngâm mình dưới sông Nhùng.

Chuyện không còn cười được nữa.

Nếu bây giờ, chắc phải đưa đi viện cấp cứu rồi.

Không quên được vì sau đó anh đã hy sinh trên đường tiến vào Sài Gòn, nơi gần cửa Xuân Lộc.

CHUYỆN II

Đại đội hành quân di chuyển từ Quảng Trị đến Nam Đông, phía tây nam Huế.

"Mưa trên xứ Huế" dai dẳng hết ngày này qua ngày khác. bầu trời lúc nào cũng u ám bàng bạc. mưa có lúc đổ xuống xầm xập có lúc à à, âm âm ngập cả không gian.Cây cối và mặt đất ngậm no nước, xũng xịu.

Đường rừng từ Nam Đông về động Truồi là cánh rừng nguyên sinh sao chẳng thấy đẹp ở đâu nữa.

Hình như rừng núi muốn vít lấy người, chẳng cho qua mà chỉ rình để quật ngã những người lính bất cứ lúc nào.

Di chuyển cả đơn vị nên tất cả đều lên vai những người lính gầy gò.

Nào thì ba lô, súng đạn đủ 2 cơ số, bao gạo như con trăn lớn trằn lên cổ.

Các loại nồi xong lủng củng, xong 20 thì úp vào sau ba lô, nồi quân dụng lớn thì hai thằng khênh. các thực phẩm dự trữ thì chia nhau mà vác, . . .

Trời vẫn mưa và mưa.

Người hâm hấp như sốt, dâm dấp mồ hôi.

Đường trơn nhầy nhụa như đổ mỡ, ngoằn nghoèo, khúc khuỷu như răng cải mả.

Tôi đi sau Ngh., chàng này đã tốt nghiệp 10, có vẻ thư sinh.

Dù sao tôi cũng khoẻ hơn hắn nên luôn đi sau để thúc đẩy hắn khỏi bị tụt lại.

Đại đội cứ thế đi, ai nấy lầm lũi bước.

Bước thấp bước cao, bước trồi, bước sụt, cứ bước.

Chẳng ai còn buồn nói gì.

Chỉ có tiến lanh canh xẻng, cuốc, nồi xong.

Tiếng áo mưa xột xoạt, tiếng nước òng ọc trong giày.

Mùi mồ hôi hắc nồng xông lên từ áo, quần, luẩn quẩn trong áo mưa, ngạt thở !

Tôi thấy từng bước chân của Ngh. cứ nặng dần, cứ rời rặc dần.

Rõ ràng anh không còn làm chủ được chúng nữa. làm sao mà chúng vẫn cứ bước ?

Không biết nữa.

Bất chợt, rừng thủng ra một đám.

Ánh trời bạc oà xuống trảng cỏ, xũng nước.

Anh dừng lại, có vẻ như anh muốn quỵ xuống.

Tôi đi lên ngang anh và đẩy nhẹ vào ba lô.

Tiếng anh bật ra rất khẽ lẫn trong tiếng thở gấp, phì phò:

- Tao muốn, muốn, ...

- Gì ?

- Tao chỉ muốn ngã xuống, tao muốn chết, . . . tao muốn chúng mày lấp đất lên, . . . là tao sướng !

- . . .

Tôi lấy đỡ khẩu khẩu súng cho anh và đẩy anh đi.

Văng vẳng trong tai:

" ... chúng mày lấp đất lên, . . . là tao sướng !

CHUYỆN III: CÁI CÂY

Vẫn tiếp tục hành quân đến động Truồi.

Đó là những ngày tết âm lịch năm 1975.

Sư đoàn có nhiệm vụ đánh xuống Phú Lộc, chia cắt Huế với Đà Nẵng.

Trời vẫn "mưa cứ rơi dầm dề" suốt ngày này sang ngày kia.

Đi phía trước Ngh. vài đứa là Lê Văn Đ., quê phủ Khoái, nổi tiếng thịt chuột.

Đ. rất khoẻ.

Tôi vật tay với hắn chỉ trụ được vài giây.

Tay này tính nóng nảy như hổ lửa, ăn to, nói lớn, đích thị "trai nông chi điền".

"Cái cây" là chuyện của hắn.

Chả là ở tiểu đội anh nuôi có một lão Chí già (vì lão hơn lứa bọn tôi 3, 4 tuổi gì đó), quê Diễn Châu.

Lúc ở nhà chuyên rèn liềm, dao cho bà con trong vùng.

Lão rất chịu khó, rèn cho mỗi người trong đại đội trinh sát chúng tôi một cây dao găm (bây giờ gọi là hàng thửa hay hàng độc).

Dao găm rất nhỏ và rất sắc, có thể cạo được lông chân. . .

Trời vẫn mưa, đường trơn kinh khủng, lại còn vướng gốc cây với dây rừng lằng nhằng.

Bỗng một tiếng rầm, xoạch xoạch . . .

Thì ra Lê Văn Đ. bị ngã một cú "Trời giáng", chắc là hắn rất đau.

Đoàn người xững lại, Những cái đầu ngoái lại, những người sau dồn lên nhiều con mắt đổ dồn về hắn.

Dường như chẳng có ai định phản ứng gì.

Một giọng cất lên rất to:

- Tháo đạn đứng dậy !

Mọi người cười ồ lên.

Hắn lồm cồm bò dậy, rút phắt ngay con dao găm.

Cơn điên đồn hết lên đầu hắn khiến hắn đỏ mặt tía tai.

Ai nấy kinh hãi dạt hết.

Tôi tưởng hắn sẽ phải đâm một ai đó.

Nhưng hắn phăm phăm chạy lại cái cây láo, dám đưa rễ ra ngáng chân hắn.

Mắm môi, mắm lợi, hắn bổ con dao xuống cái rễ cây, liên tục, liên tục, mỗi nhát văng ra:

- Đ. mẹ cái cây !

- Đ. mẹ cái cây !

- . . . .

Tới bây giờ khi nhớ bạn, nói thật, tôi vẫn nghe thấy tiếng đâu đó: Cái cây !

Cái cây ! . . .

CHUYỆN IV: CÁI WC

Đúng WC là nhà vệ sinh, nghe có vẻ chuyện rất mất vệ sinh.

Tôi được rút về cứ từ đài quan sát ở Nhan Biều, nơi ngày đêm pháo bom, nơi mà không có nước.

Muốn có nước sạch thì ban đêm mò xuống sông, thế thì quá sang rồi.

Để tiện thì lấy nước hố bom, chỗ nào chẳng có.

Có lần thằng Hoàng múc gần đáy hố bom, nhìn thấy có anh em nằm đó không biết từ bao giờ.

Thôi được rồi, chuyện ở Nhan Biều hãy để lại sau.

Cứ của đại đội ở phía sau, chân dãy Cao Hy, ngay gần cao điểm 108, một điểm đặt đài quan sát của chúng tôi.

Sao cứ vắng vẻ thế, chỉ có vài đứa mới đi các chốt về nghỉ ngơi dăm ba ngày.

Tôi đang lò mò tìm một căn hầm thì M. nhìn thấy reo lên rất to.

Rồi chúng tôi hai thằng ở chung một hầm.

Hầm ở đây phải nói là rất kiên cố, pháo thường chẳng nhằm nhò gì trừ khi là pháo khoan hay bom rơi trúng nóc.

Hầm của chúng tôi chỉ cách một con suối nhỏ cỡ vài chục mét.

Không biết là suối gì, nước chảy chậm, tuy không trong lắm nhưng tuyệt vời.

M. là người Hà Nội, hiền lành, ít nói nhưng rất hòa đồng với mọi người.

Hắn không biết bơi, chỉ biết đánh đàn và viêt nhật ký.

Người tỉnh thành, kẻ quê mùa nhưng chúng tôi rất thân nhau.

Ở cứ mấy hôm tôi đã dạy hắn biết bơi ở con suối nhỏ đó.

Có lần tôi đã đọc trôm nhật ký của hắn mới thấy hắn hồn nhiên, phơi phới, rất lãng mạn và sôi nổi.

Ở nhật ký tôi mới thấy cái chất Hà Nội tế nhị và lịch sự của hắn, không ào ào như tôi.

Sự tế nhị và lịch sự bỗng nhiên bộc phát ra ngoài.

Nghe như thế có vẻ lạ nhỉ ?

Đó là câu chuyên "Cái WC".

Hôm đó trời u ám, không có tiếng OV10, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng "thần sấm" hay "con ma" ầm ào rít qua đầu.

Ấy là sắp có B52 đánh gần đây.

Chúng tôi đang ngồi trong hầm thì nó vò giấy rồi chạy ra ngoài.

Chắc mọi người nghĩ, ở nơi ác liệt ấy thì chỉ có "hố mèo".

Không phải vậy.

Chúng tôi làm nhà vệ sinh rất lớn và rất vệ sinh, rất kín đáo.

Được một lát thì bỗng tôi nghe lục bục trên đầu, căn hầm bỗng chao đảo dưới loạt bom.

Tôi hét lên gọi hắn:

- M.

ơi, M., chạy vào đi !

Không có tiếng trả lời.

Hết loạt đầu, rồi sang loạt thứ hai.

- M.

ơi, vào đi !

Vẫn không có tiếng trả lời.

Hết loạt thứ ba, tôi nhào ra khỏi hầm, lao về phía cái WC.

Trong đầu dội lên một tiếng nghẹn: mày chết rồi hả M.

ơi ?!

Ra đến nơi thấy hắn vẫn đang đứng, thản nhiên phủi đất cát ở trên người . . .

- Mày có bị thương ở đâu không ?

- Không.

Thật là không còn biết nói gì nữa.

Từ nghẹn ngào chuyển sang tức giận, tôi gào lên:

- Ông qua đáng thế ! hết một loạt chạy vào vẫn kịp, sao ông cứ đực ra đấy?

Ông bị điên à ? . . .

Cơn giận của tôi vẫn không nguôi suốt chiều hôm đó.

Tối đến chúng tôi châm ngọn đèn làm từ lọ thuốc BComplex (thuốc này chỉ có sỹ quan được phát), ống tiêm thủng hai đầu nhồi bông, xăng thì xin của lái xe chạy trên đường.

Hắn lại ngồi viêt nhật ký.

Trông mà ghét quá.

Rồi cũng không nhịn được, tôi lại làm cho hắn một trận nữa.

Hắn vẫn không nói gì.

Lúc tắt đèn đi ngủ, tôi hỏi:

- Sao hết loạt đầu ông không chạy vào ?

Im lặng một chút, rồi hắn từ từ nói:

- Tôi có khả năng chạy vào được, nhưng tôi không thể.

Tôi không thấy sợ, cũng không điên.

Tôi chỉ nghĩ, mình mà chạy vào, sau này chúng nó sẽ gọi tôi thành biệt hiệu.

- Biệt hiệu gì ?

- . . . .

- Quái gì ?

- Là . . .

"thằng không kịp chùi" !

CHUYỆN V: MỘT CHUYẾN LUỒN SÂU " XÈ XÈ . . ."

Chúng tôi chuẩn bị luồn sâu xuống đường 1, phía sau lưng địch.

Bàn đạp của tụi tôi ở bờ sông Nhùng (trong bản đồ ghi là "Nhùng Giang"), ngay dưới chân cứ điểm 367 của địch, phía trên động Ông Do đỏ trọc (có người bảo là Ông Đô).

Gọi là sông Nhùng nhưng đoạn đầu nguồn này khá nhỏ, nằm trong rừng đại ngàn, um tùm cây cối.

Vì khu vực này nằm khá xa đường vận tải, địa hình lại rất hiểm trở, không thể vận tải hay chuyển quân được nên hình như không bị bom và chất rụng lá tàn phá.

Bàn đạp này là cứ của một xã thuộc huyện Hải Lăng nhường lại cho trinh sát chúng tôi vì họ đã xây dựng cứ mới khang trang hơn.

Đó là giữa năm 74.

Ngừng bắn đã lâu rồi.

Trên chiến trường Quảng Trị không còn đụng độ cũng đã lâu rồi.

Giai đoạn này, chúng tôi liên tục luồn sâu xuống đồng bằng. chúng tôi đoán ý đồ chuẩn bị chiến dịch của sư đoàn có thể đưa mội mũi chủ công đánh vào sau lưng địch (chỉ là đoán thôi).

Cũng không phải chuẩn bị gì nhiều, mỗi người một gùi tự tạo làm từ nylon lấy từ vỏ tải gạo Trung Quốc, rất dày.

Chỉ 2 bộ quần áo, bản đồ, ống nhòm, địa bàn, giấy và bút chì HB và 2B.

Lương thực chỉ có vài cân gạo, 1 cân lương khô và ruốc mặn.

Xanh tuya rông chỉ đeo một băng đạn, hai quả lựu đạn mỏ vịt, loại bé như quả ổi và bi đông nước.

AK báng gấp 1 băng đầy đeo trên vai.

đạn và lựu đạn phải dùng đến là bất đắc dĩ rồi vì trinh sát thắng lợi là không được lộ.

Vậy là xong.

Ấy, còn một thứ bất li thân mà tôi học từ M.

đó là nhật ký.

Nhưng tôi không mang theo cuốn nhật ký đâu vì sợ nhỡ có chuyện gì thì bị bật mí, chỉ là vài tờ 5 hào 2 gấp đôi.

Tôi cũng chỉ định gạch đầu dòng các sự kiện để lúc về sẽ viết, khỏi quên.

5 giờ chiều, chúng tôi xuất phát.

Lần này chỉ có anh P. và tôi.

Chúng tôi đi trên bờ vách của sông Nhùng, xuôi xuống.

Chừng 10 phút sau chúng tôi đã đến cứ của huyện Hải Lăng.

Ở đây có các cơ quan của huyện, cả cơ quan chính quyền, cả huyện ủy và huyện đội.

Cứ của các xã cũng ở ngay xung quanh.

Đất của Hải Lăng hầu như hoàn toàn thuộc địch kiểm soát.

Cơ quan huyện và các xã chỉ còn có rẻo rừng già này làm căn cứ, sát với huyện Đackrông.

Sẽ có một du kích xã Hải Lâm dẫn chúng tôi đi.

Đó là một cậu trai 17 tuổi, cao, gày và nhanh nhẹn.

Cùng đi với cậu là một huyện uỷ viên đi cơ sở dưới đồng bằng.

Cùng đi với chúng tôi còn có 3 du kích ở các xã khác đi xuống cơ sở.

Chúng tôi trao đổi đường đi trên bản đồ.

Những người thạo đường thì không thạo bản đồ, tôi thạo bản đồ thì lại chả biết đâu vào với đâu.

Tuy nhiên, sau 5 phút thì mọi việc cũng tạm ổn.

Lên đường.

Chúng tôi lại đi dọc theo ven sông, hướng nước chảy.

Chừng 10 phút sau thì đến chỗ giáp ranh (giữa ta và địch).

Mọi người tạm nghỉ chờ trời tối.

Chúng tôi trao đổi ám hiệu để nhận nhau.

Người đi trước chỉ tróc lưỡi 2 tiếng, người đi sau cũng đáp lại 2 tiếng - nghĩa là ổn.

Nếu cần yêu cầu phía trên đi chậm lại thì tróc 3 tiếng.

Tiếng khạc hơi trong cổ là báo động, yêu cầu mọi người dừng lại, giữ yên tĩnh.

Từ lúc này, chúng tôi phải nhịn nói.

Tiếng tróc lưỡi và khạc hơi trong cổ nghe như tiếng của các con vật nào đó phát ra trong đêm.

Trong khi chờ trời tối, tôi chẳng nghĩ gì nhiều, chỉ quan sát xung quanh.

Tiếng nước sông vẫn chảy rì rào dưới kia.

Ngước lên cao, phía bên trái, nhìn qua cây lá có thể thấy những tia nắng cuối cùng vẫn còn hắt lên điểm cao 367.

Và, gần hơn, thấp hơn là những điểm cao khác của địch đã tắt nắng và trở nên xẫm màu.

Tôi mở bản đồ, đánh dấu các điểm cao có địch và ghi vào hồ sơ.

Trong đoàn đi, vài người cũng đứng xem.

Thực ra có mỗi tấm bản đồ tôi mang theo. vả lại, mọi người cũng không thạo dùng bản đồ cho lắm.

Anh P. là cán bộ đại đội, làm công tác chính trị.

Chắc hồi học trường sỹ quan chính trị, anh cũng phải học nhưng có vẻ anh cũng không thạo.

Anh đi cùng chúng tôi theo kiểu đi thực địa cho biết.

Nhưng có lẽ anh muốn gần gũi với lính tráng, và sau khi đi một lần , anh sẽ dễ làm công tác của mình hơn.

Chúng tôi dấu dép đúc vào các bụi cây và đi giày dép, ngụy.

Thực ra đó là những đôi giầy của lính ngụy.

Dân luồn sâu anh nào chả thửa một đôi.

Có người đục thêm nhiều lỗ ở xung quanh, có người cắt ngang cả một đoạn mõm giày để thoát nước nhanh.

Có nước trong giày sẽ phát ra tiếng kêu òng ọc.

Tôi cắt hết phần giày, chỉ để lại đế, xâu lỗ rồi luồn quai cao su đúc của ta vào - gọi là dép rồi, vừa nhẹ, vừa mát, vừa không òng ọc.

- Đi thôi !

Anh P. và tôi được ưu tiên đi giữa đoàn, vừa có người dẫn đường phía trước vừa có người cản hậu phía sau, khỏi lạc.

Khi đi trinh sát bao giờ tôi cũng đi đầu để "cắt phươg vị", lần này được đi giữa thấy là lạ, hay hay.

Ở đây du kích về cơ sở như cơm bữa nên thuộc đường như lòng bàn tay.

Trời sập tối rất nhanh.

Rừng mà.

Nửa tiếng sau, tôi hoàn toàn không còn nhìn thấy gì.

Ừ, thì rừng thật nhưng sao tối thế không biết.

Lâu rồi chỉ dùng lịch dương, không biết hôm nay là bao nhiêu âm lịch? tôi tính nhẩm mãi không ra, chỉ biết hoặc là đầu tháng hoặc là cuối tháng.

Đúng là tối như hũ nút.

À, quên, mỗi chúng tôi đều có gậy đi đường, nếu không thì bây giờ chẳng thể đi được.

Tôi hoàn toàn dựa vào tiếng xột xoạt cây lá của người đi trước để nhắm hướng và dựa vào gậy để dò đường dưới chân, lổm ngổm những đá và rễ cây.

Khó chịu nhất là thỉnh thoảng cành cây và dây rừng vắt ngang qua mặt, lúc thì chẹn ngang cổ.

Đang đi nhanh, bật ngửa lại.

Rồi cũng nghĩ ra một cách hợp lý.

Tôi đưa tay bên đeo súng lên phía trước, ngang đầu làm "xúc tu dò đường" và để hất cành cây và dây rừng trượt qua mũ tai bèo.

Chúng tôi cứ thế đi.

Lúc đầu anh P. và tôi không theo kịp người đi trước.

Thỉnh thoảng cứ phải tróc lưỡi 3 tiếng, yêu cầu đi chậm lại.

Chẳng có nhẽ thế !

Bọn trinh sát chúng tôi đi đêm có chịu ai bao giờ.

Ừ, nhưng với điều kiện mắt phải còn có tác dụng.

Đằng này, có căng hết mắt ra thì cũng như nhắm thôi.

Thật là một cảm giác bức bối khó chịu, mới thấu hiểu tâm trạng bất lực của những người khiếm thị.

Tôi ước gì có đom đóm mà bắt vài chú, dán vào mũ tai bèo làm đèn pha và dán vào gùi làm đèn hậu dẫn đường cho người đi sau.

Bỗng anh P. dừng lại và nói thầm với tôi: "Lội sông nhé !".

Chúng tôi tụt từ vách sông xuống.

Xuống nước rồi, bây giờ mắt đã có tác dụng.

Đêm nay không trăng đã đành, mà sao cũng chẳng thấy một ngôi.

Sao vậy ? rõ ràng chiều nay rất nắng.

À, mình ngốc thật.

Hẳn là ban đêm mây núi đã phủ kín trên đầu chúng tôi rồi.

Đang nóng nhột nhạt khắp người được lội xuống nước thật không có gì sướng bằng.

Tôi cúi xuống vỗ nước lên mặt và nhúng cả hai tay xuống nước, ướt đến tận nách.

Lủm một cái, xuýt nữa thì tuột mất súng.

Chúng tôi lội đi, mát mẻ, khoan khoái.

Đã có thể nhìn thấy lờ mờ người đi trước.

(Hôm nay nhớ lại chuyện này, sau khi biết bác PHONGQUảNG khênh cả cối đá xuống đồng bằng để giã giò, thấy nể quá !).

Đoàn người cứ thế mải miết đi, lúc đi trong rừng, lúc lội sông.

Rừng ngày càng dãn ra.

Bóng đêm không còn đặc quánh nữa mà mỗi lúc một loãng hơn.

Có đoạn, chúng tôi rời con sông để vòng tránh chốt của địch.

Tiếc là mình không xác định được vị trí để điền vào sơ đồ.

Chúng tôi đang đi trên đồi tranh, ở đây không có rừng, mát hẳn.

Gió đêm nhè nhẹ thổi quấn quýt lấy người.

Qua đỉnh đồi.

Giải lao.

Đã gần 12 giờ, vậy là đã đi được hơn 5 tiếng.

Đường loằng ngoằng như vậy, chắc mỗi giờ chỉ đi được dưới 3 cây số.

Vị chi là 15 cây.

Tính ra đường chim bay chắc mới hơn chục cây.

Mai mình sẽ xem bản đồ, một vị trí địch ở một cao điểm sát bờ sông bên trái, gần đồi trống không có rừng, cách cứ chừng 10 cây số theo đường chim bay ?!

Lại lội xuống sông, sáng hơn một chút rồi, có thể nhìn thấy bóng một hai người đi trước.

Phía trước đột ngột dừng lại.

Chuẩn bị đi qua chốt địch ở sát bờ sông, phải đi thật khẽ và cách xa nhau.

Chỗ này là bãi đá lớn, trống trải.

Chúng tôi đi rất chậm, đoạn lội nước, đoạn đi trên các tảng đá, bước từ tảng này sang tảng khác.

Bất ngờ tôi bước phải một tảng đá trơn.

Chân tôi bị trượt xuống, không hãm lại được.

Ùm ! xuống nước, người tôi ngã sập xuống tảng đá.

Khẩu súng giáng mạnh xuống đá.

Tiếng thép và đá va vào nhau vang lên lạnh mà đanh, vọng đi vọng lại trong rừng đêm tĩnh lặng chẳng khác gì tiếng bom.

Tiếng súng bị va đập không thể lẫn với tiếng gì khác, là lính, nghe biết ngay.

Tất cả đoàn người như chết lặng đi.

Đây chính là chỗ sát địch nhất, trên bờ sông, ngay trên đầu.

Ai nấy thò tay mở chốt an toàn.

Loáng qua trong đầu tôi, rất nhanh: "Hỏng rồi !

Một cú trượt nhỏ làm hỏng cả một ý đồ lớn.

Phải bắn nhau rồi, . . . bình thường !

".

Nhưng ngay lập tức, tôi cảm thấy xấu hổ vì làm hỏng việc và xấu hổ vì mang tiếng là trinh sát.

Sao mà lại có thể hậu đậu thế không biết !

Thế là hết cái tinh tướng của thằng tôi, lúc nào cũng tỏ vẻ ta đây trinh sát lọc lõi, oai hùng lắm !

. . . .

Vài phút trôi qua, vẫn lặng yên như tờ.

Chắc bọn địch ngủ hết, chắc không có người gác (thời bình mà).

Nếu không, cũng là lính, chúng nghe sẽ biết ngay.

Tiếng động bất chợt vang to trong đêm thanh vắng chắc có thể đánh thức vài tên nhưng bất ngờ tỉnh dậy nên có thể cũng không nhận biết được là chuyện gì.

Tang tảng sáng thì đến một quãng rừng thưa, đất bằng phẳng.

Chúng tôi chia tay ba du kích xã.

Họ đi chếch về phía đông nam, chắc là xuống vùng Mỹ Chánh.

Bốn người chúng tôi vẫn tiếp tục đi về phía đông, tôi đi sau cùng.

Mặc dù trời chưa sáng nhưng đã nhìn rõ mọi người, mọi vật.

Được đi đường bằng, lại nhìn rõ thế này thật là khoan khoái.

Rừng thưa, cây nhỏ chỉ cao ba bốn mét nhưng cũng làm khuất tầm nhìn.

Tôi không quan sát được xa bao nhiêu.

Thỉnh thoảng, một chú chim giật mình vụt bay lên từ trong các đám cây.

Chừng nửa tiếng sau, trời sáng.

Nghe đâu đó trên cao những tiếng chim hót trong vắt, lảnh lót, báo hiệu một ngày đẹp trời, nắng to.

Rồi đến đoạn rừng toàn giang với lau lách và cây nhỏ dưới ba mét.

Những cây giang bò ngoằn ngoèo, chằng chịt suốt từ mặt đất đến trên tầm với, rồi ngóc đọt lên cao.

Được chừng mươi phút trong rừng giang thì cậu du kích dừng lại và thì thào:

- Tới rồi hè !

Rẽ khỏi con đường mòn, chúng tôi bắt đầu chui rất thấp luồn lách qua các cây giang và lau sậy cùng những cây nhỏ lúp xúp rậm rạp.

Sau hàng trăm mét luồn lách như vậy, một trảng đất trống bỗng hiện ra.

Một trảng đất bằng phẳng, sạch sẽ rộng cỡ 10 mét vuông.

Ở đây có thể đứng thẳng lưng thoải mái.

Các cây giang được khéo léo đan vào nhau thành một mái vòm trên đầu, rất kín đáo, mát mẻ.

Có cảm tưởng như nắng cũng khó có thể lọt qua được.

Thế này thì dân hay địch có đến rất gần cũng không thể phát hiện được.

Vả lại, nếu có người tình cờ đi tới, sẽ phát ra tiếng động, anh em có thể nhanh chóng rút đi nơi khác.

Thì ra đây là những cái động của du kích làm chỗ đi về khi xuống cơ sở ở trong ấp.

Trong khi chúng tôi xuống súng, tháo gùi và xanh tuy rông thì anh huyện uỷ móc túi áo sơ mi (mọi người đều mặc đồ dân sự, trừ anh P. và tôi) lấy ra một túi bóng, bên trong là thuốc rê và bao diêm.

Anh vấn thuốc bằng giấy mỏng đàng hoàng (chứ không phải là giấy 5 hào 2 hay giấy giang đen).

Loáng một cái, đảo lưỡi một vòng, xuất xưởng ngay một điếu sâu kèn cực đẹp.

Anh châm thuốc rít một hơi dài và nhả khói từ từ, rất đậm đặc.

Thật là khoan khoái, ngon chưa từng thấy!

Bây giờ anh mới bỏ đồ ra.

Đã bao nhiêu lần cố nhớ tên anh mà không sao nhớ ra được (ở trên đã nói, nhật ký của tôi đã bị cháy).

Tôi nhớ tên anh có vần "anh", mà cũng không chắc.

Tôi sợ nhiều lần cố nhớ nên cuối cùng bị ám thị một tên hay một vần nào đó.

Không biết có phải là Hạnh, là Chánh hay là Thành ?

Thì ra anh không phải là huyện uỷ viên như tôi tưởng mà là trung uý, huyện đội phó huyện đội Hải Lăng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ta hãy cứ tạm gọi anh là Chánh, cho nó có gì đó là Mỹ Chánh quê miềng.

Anh Chánh người nhỏ bé, gày guộc.

Phải nói là rất gày.

Anh có nước da đen mái, tóc rất thưa, cắt 3 phân, gần như không có râu.

Đôi má hóp của anh có đến ngoặc tam ngoặc tứ, nhất là mỗi khi cười.

Mới tầm 40 mươi nhưng trông anh rất già (không biết có phải lúc đó mới có 21, 22 tuổi nên nhìn anh tôi thấy rất già).

Trông anh như người đau bao tử lâu năm, rõ là sốt rét chuyên nghiệp rồi.

Chỉ có đôi mắt trũng sâu là tinh anh.

Giá như bây giờ, mọi người sẽ tưởng anh là con nghiện bố chấy.

Cả ngày hôm đó, chúng tôi nghỉ ngơi trong động và tôi được nghe anh kể rất nhiều chuyện, nhiều nhất là chuyện đánh nhau.

Một du kích và bộ đội nhanh như sóc.

Khi chúng tôi hỏi chuyện vợ con thì anh chỉ im lặng.

Mãi rồi anh mới cười, anh cười rất thoải mái, đuôi mắt xoè ra những nếp nhăn như dẻ quạt.

Trong tiếng cười hồn hậu anh buông ra chậm rãi:

- Cả một đời vì nước vì non !

Rồi lại cười.

Chắc chắn những đồng đội của anh sẽ không thể quên được: "Cả một đời vì nước vì non !"

Cậu du kích xã Hải Phú còn trêu anh với một cô y tá nào đó ở huyện, thì anh vẫn cười và lại lặp lại đúng câu đó.

Tôi tả kỹ anh như vậy, hy vọng sẽ có ai đó nhận chân dung và cho tôi được biết lại tên anh, cho tôi biết thêm về hoạt động và cuộc sống của anh sau này.

Bức chạm về một người nông dân, huyện đội phó, anh hùng nhỏ thó đó khắc vào tâm khảm tôi, đã bao nhiêu năm, vẫn chẳng mờ đi một nét nào.

Cậu du kích dẫn tôi đi lấy cây để trải đệm.

Chúng tôi luồn trong rừng giang chừng 15 phút thì tới một vạt tinh những lau sậy.

Mỗi người cắt một ôm, kéo về.

Đệm được trải tinh tươm.

Đúng là "buồn ngủ gặp chiếu . . . lau", ba chúng tôi đặt lưng là kéo liền.

Yên tâm đi, đã có anh Chánh gác rồi.

Đến trưa, chúng tôi tỉnh dậy.

Cậu du kích chạy đâu đó vào trong bụi cây lấy ra hai cái xoong, lại còn cả bát đũa nữa mới sang chứ.

Tôi ra suối lấy nước còn cậu đi kiếm củi.

Gọi là suối cho oai, thực ra là một cái rãnh nhỏ có nước chảy ri rỉ, ngoắt ngoéo trong rừng giang.

Tôi lấy nước ở một cái hố được bới sâu xuống đất.

Nước rất trong và mát.

Mang nước về, vừa lấy gạo ra, đã thấy cậu trai mang củi về, toàn là giang khô.

Lửa cháy rất đượm, chẳng cần bếp Hoàng Cầm cũng không hề có sợi khói nào.

Tôi ra rãnh nước rửa mặt.

Vốn là đến đâu tôi cũng phải đảo một vòng quanh xem thế nào.

Tôi đảo vòng một lượt rồi lần theo rãnh nước, ngược lên một đoạn.

Lúc đi xuôi rãnh được có vài mét, bất chợt nhìn thấy mảnh áo mưa màu xám của lính ta lòi ra ngay chỗ nước chảy.

Tôi kéo mảnh nylon ra một chút đã nhìn thấy xương sọ người, rất trắng, rất sạch chứ không như tôi thấy ở những lần đi bốc mộ.

Anh là ai vậy, du kích hay bộ đội ? thì ra động này đã có lâu rồi.

Chắc anh em xuống ấp, bị thương, được đưa về đây nhưng không đưa được về phía sau và đã mất ở đây.

Tôi bùi ngùi vét đất ở xung quanh để đắp kín lại, rồi lại vét đất cho rãnh nước chảy vòng qua, không xói vào chỗ anh nằm.

Đất mỏng quá, lại bị nước xói vào.

Lại còn nắng nữa chứ, rồi mưa . . . .

Sao lại thế !

Tội quá !

Cậu du kích đang nấu canh măng giang tươi với ruốc mặn.

Đói quá, thèm rỏ rãi.

- Tối ni em về nhà lấy bột ngọt, đậu phộng.

Tên cậu du kích là Vượt (có lẽ thế).

Hoá ra không phải du kích Hải Lâm mà là Hải Phú.

Những ngày ấy đi phối thuộc với du kích hay đơn vị bạn đều thế cả.

Chưa kịp hỏi gì về nhau đã chiến rồi.

Nhiều khi chia tay vẫn chưa biết tên.

Ba cậu cũng là bộ đội miền, mẹ và em vẫn ở trong ấp.

Bọn địch đã gom dân về các ấp.

Làng quê, xóm mạc đâu còn, giờ đây chỉ là những nền đất trơ trọi.

Có xót lại vài cây ăn trái, hay hàng rào cây thì cũng xơ xác hết cả.

Chúng tôi thay nhau ra tắm ở rãnh nước.

Mát quá !

Tôi còn cạo cả râu nữa, cũng chỉ lún phún chứ có bao nhiêu.

Móc ngón tay út vào lưỡi dao lam, vài đường là xong.

Tôi trải bản đồ, trao đổi với anh P và Vượt.

Chúng tôi chọn một vị trí cao, có thể quan sát được rộng và ẩn nấp kín đáo.

Vượt nhìn bản đồ, mày hơi nhíu lại, có vẻ như cậu đang hình dung ra thực địa để chọn chỗ cho thích hợp.

Đây là "nhà" của cậu mà, chỗ nào chẳng biết.

- Được eng à !

Dưới đây là vị trí một động của du kích Hải Phú, nền nhà của Vượt và điểm quan sát mà chúng tôi sử dụng trong ngày hôm sau.

Tôi gấp bản đồ, cho vào gùi rồi quay sang hỏi Vượt:

- Mình thấy có anh em nằm ngay cạnh suối ?

- Em có biết anh nằm đó nhưng không biết là ai - Rồi cậu ngoái sang anh Chánh:

- Ai chú hè ?

Anh Chánh quay sang tôi giọng buồn buồn:

- Cũng là du kích Hải Phú đó.

Tên gì hè . . .?

Gì hè . . .?

Nằm đây từ năm 68 lậng.

Cơm chiều xong cũng gần tắt nắng.

Chúng tôi đóng đầy nước vào bi đông.

Vượt còn lấy thêm cả bi đông Mỹ (bằng inox) của anh Chánh nữa.

Cả ngày mai chúng tôi chỉ có nước và lương khô.

Trời tối hẳn, chúng tôi luồn ra khỏi động theo một lối khác.

Chỉ khoảng 20 phút sau đã thoát khỏi rừng giang.

Đây là đồi trọc, không có rừng và cây cối, chỉ có ít cỏ và lơ thơ cây lúp xúp như ta thường thấy ở vùng đồi Ái tử hay Vĩnh Phước.

Chúng tôi đi trên đường mòn, đường đi lấy củi của dân.

Gió mát, thật là thoáng đãng và thoải mái.

Nhìn xuống phía trước xa xa, thấy lốm đốm ánh đèn hoe vàng của nhà dân, ánh đèn pha ô tô lấp loáng lúc ẩn lúc hiện dọc trên đường QL1.

Không vội gì, chỉ chừng vài cây số chứ mấy.

Chúng tôi ngồi trên đỉnh đồi hóng gió và quan sát.

Thật là một cảm giác kỳ lạ.

Có thể ngồi thảnh thơi hóng gió ở rất sâu trong lòng địch.

Mà tại sao mình lại ở chỗ này nhỉ?

Xa cách với mọi thứ thân quen, xa cách mọi người.

Sao mình ở một nơi chẳng ai hay biết có mình.

Giá như mình có chuyện thì sẽ chẳng còn lại dấu vết gì!

Tôi không cảm thấy buồn mà chỉ nghĩ về cái logic của chiến tranh.

Không còn gì là bình thường.

Kể cũng lạ !

Tôi không thấy ngán, cũng không sợ chết mà thấy có vẻ như mình đang đùa chơi với sự sống và cái chết.

Mà, sao vẫn cảm thấy thanh thản lạ.

Phải chăng đó là logic cho ta sức sống.

Tuổi trẻ của chúng tôi đi vào chiến tranh có phải đều như vậy?

Sự gian khổ hay ác liệt không tước đi hết mọi thứ trong mỗi người lính.

Những giây phút tĩnh lặng vẫn trả lại cho họ tất cả.

Thật không vậy?

Không!

Có một thứ không bao giờ được trả lại.

Đó là những người thân thiết đã nằm lại đâu đó trong dòng chảy thác lũ của cuộc chiến.

Đó là sự day dứt mà những người lính không bao giờ thoát khỏi.

Đã bao năm rồi.

Vẫn vậy!

Vượt dẫn chúng tôi đi trên con đường mòn.

Cậu rất quen con đường này cứ như ngày nào cậu cũng đi trên đó.

Chúng tôi đi rất từ từ, vừa đi vừa quan sát xung quanh, nhất là phía đường 1.

Nơi đó có ánh đèn, nơi đó có mẹ và em Vượt.

Những người dân không được ở làng xóm của họ mà phải ở trong ấp.

Cũng may chỉ là "ấp dân sinh" chứ không phải là "ấp chiến lược" như những năm về trước.

Ban ngày, dân có thể tương đối thoải mái ra ngoài đi làm, đi lấy củi hay về thôn xóm cũ.

Chúng tôi tới một vùng đất thấp. tôi tróc lưỡi để Vượt dừng lại và hỏi:

- Mình đi đâu đây?

- Đây là Phú Long thôn em.

Em qua nhà lấy ít đồ.

Gọi là thôn Phú Long nhưng bằng địa, không có mái nhà nào.

Dấu tích còn lại chỉ là những nền nhà đất trơ trọi.

Đâu đó còn sót lại mấy cây mít.

Cái giống mít sao mà sống dai dẳng, kiên cường vậy.

Dù gãy hết cành, thân mình đầy vết mảnh bom pháo, chồi mít vẫn nhú ra, mãnh liệt.

Thấp thoáng mấy dặng duối, xơ xác . . .

- Nhà em nè !

Nói rồi, Vượt nhặt mảnh tôn, đi lại phía sau mảnh đất.

Trước đây, chỗ này là mảnh vườn ở đầu chái (nhà ở Quảng Trị bao giờ cũng có 4 mái kể cả hai bên chái nhà).

Cậu vục mảnh tôn xuống đất, chỉ cào một lớp đất mỏng đã thấy lôi lên hai thùng đại liên Mỹ.

Một thùng đựng toàn đậu phộng với đậu xanh còn thùng kia có cơm sấy (của lính ngụy) với bột ngọt và vài thứ linh tinh nữa.

Chắc là thương con, ban ngày má cậu lên đây bỏ đồ cho cậu.

Vượt lấy một ít đậu phộng và gói bột ngọt cho vào gùi rồi lại chôn hai thùng đạn, khoả đất như cũ.

- Đi hè !

Ôi !

"Làng quê, xóm mạc đâu còn! giờ đây chỉ là những nền đất trơ trọi.

Có xót lại vài cây ăn trái, hay hàng rào cây thì cũng xơ xác hết cả". .

Chẳng mấy chốc đã đến địa điểm chúng tôi lựa chọn làm điểm quan sát.

Một vị trí nằm ở đầu mỏm của một dải đất bằng trên bình độ 20 mét (dân xây dựng hay dân trắc đạc gọi là đường đồng mức, chúng tôi gọi là đường bình độ).

Phía trước mặt dốc thoai thoải xuống ruộng, vị trí quan sát không bị vướng bất cứ vật cản nào, quá đẹp!

Chỉ cần tìm được chỗ ẩn nấp kín đáo là xong.

Chúng tôi đảo qua các bụi cây lúp xúp rải rác trên mỏm đất, phải tìm vài chỗ để nếu có động có thể di chuyển từ điểm này qua điểm khác giữa ban ngày mà khả năng lộ là ít nhất.

Các bụi cây lúp xúp ở đây là những bụi có rất nhiều loại cây, chen lẫn cỏ tranh với cây mâm xôi, một vài cây hoa mua với cây "huân chương" (lá cây này có lông, hồi trẻ con, chúng tôi thường dán lên ngực làm huân chương), rồi có cây gì đó quả tròn, thân rất nhiều gai, khi có quả cây còn rất ít lá, cả cây bông lau nữa, . . .Cũng đủ rậm rạp để ẩn nấp được.

Chúng tôi chui vào giữa bụi rậm, vắt cây lá thành một cái vòm nhỏ, rất kín đáo, bên ngoài khó có thể nhìn thấy có mấy chú Vi-Xi bên trong (VC: Việt Cộng).

Vì cây khá thấp nên phía trên đầu không được kín cho lắm.

Nắng chết đây, được rồi, lúc đó hãng hay!

Xong việc, mọi người chui ra ngoài nghỉ ngơi, chờ trời sáng.

Các ấp không còn ánh đèn, trên đường cũng không nhìn thấy xe chạy nữa.

Mới biết về đêm, ở sâu trong lòng địch mà chúng vẫn sợ không dám đi trên đường.

Có thể du lích hay bộ đội địa phương thỉnh thoảng phóng một quả B40, 41 rồi rút chạy, chẳng biết đường nào mà lần (Bác Phong Quảng còn choảng cả cối 82 mới kinh chứ !).

Tờ mờ sáng, đã có những chú chim (lại là chim) ríu ra ríu rít đâu đó, rồi đến lũ chiền chiện cứ vút lên lại liệng xuống, vừa liệng vừa kêu chíu chít không lẫn vào đâu được.

Lũ này, buổi sáng, chưa kiếm ăn mà đang chơi đùa đấy.

Chúng tôi chui vào bụi cây, tranh thủ ăn lương khô và uống nước. trời sáng hẳn sẽ phải làm việc rồi.

Sư đoàn có một tiểu đội trinh sát kỹ thuật (gọi là A12, trước đó thuộc C20 sư đoàn) chuyên môn nghe lén điện đàm của địch.

Mỗi tiểu đội địch có một máy điện đàm PRC-25.

Chập tối chúng phải báo cáo vị trí đóng quân của tiểu đội lên đại đội.

Rồi cứ thế đại đội lại báo cáo lên nữa.

Vị trí của địch sư đoàn nắm rất rõ.

Chúng tôi luồn sâu mục đích chính là vẽ lại cảnh thực quan sát được (gọi là cảnh đồ), coi như mắt của tư lệnh kéo dài xuống tận đây.

Chúng tôi cũng phải vẽ sơ đồ nữa.

Tuy nhiên, chỉ được một phạm vi hẹp.

Nhưng điều đó rất quan trọng nếu khu vực vẽ trên sơ đồ là khu vực tác chiến vì sơ đồ mô tả chi tiết hơn nhiều so với bản đồ và so với báo cáo tọa độ địch mà ta nghe lén được.

Đã có những tia nắng đầu tiên hắt thẳng vào ống nhòm.

Những mái nhà tôn trong các ấp đã hiện rõ, sáng bàng bạc lấp loá.

Đã nhìn thấy xe cộ chạy trên đường, cả ô tô, xe lam và nhiều nhất là HonDa (Hồi đó cứ xe máy là mọi người đều gọi là HonDa tất, chắc cũng chả sai bao nhiêu).

Điểm gần đường QL1 nhất chỉ cách chúng tôi chừng 2 cây số, đường sắt chỉ cách 1 cây.

Nhìn về phía bắc, ngay từ lúc chưa sáng, tháp chuông nhà thờ La Vang là nhìn thấy đầu tiên vì nó cao vượt lên hẳn.

Hồi chưa ngừng bắn, nhiều anh em trinh sát cứ thắc mắc tại sao nhà thờ La Vang và một chòi canh ở Ái Tử không bị bắn đổ.

Thì ra đó là các vật chuẩn mà địch giữ lại để căn chỉnh pháo.

Nhà thờ thì đã bị bom pháo đánh tan tành, chỉ riêng tháp chuông là vẫn đứng sừng sững.

Tôi bắt đầu vẽ cảnh đồ, phải chia làm ba mảnh vì dài quá.

Tôi vẽ cảnh đồ trên giấy cuộn của Mỹ, màu vàng nhạt, chiều ngang khổ giấy chỉ 30 cm, nhưng dài vô tư.

Được một chập, bỗng nghe tiếng người líu ta líu tíu từ phía các ấp đi lên, toàn tiếng con gái, nghe thật dễ chịu, mềm cả lòng !?

Vượt nói:

- Đi kiếm củi đó !

Tôi vẫn tiếp tục vẽ, anh P. và Vượt quan sát cảnh giới (không biết có cảnh giới hay lại đang nhìn gì đó không biết?).

Tôi vừa quan sát qua ống nhòm vừa vẽ nhưng tai vẫn dỏng đi đâu ấy.

Tiếng em út nói chuyện líu la líu lô như chim hót nghe ngày một gần.

Trời còn mát, mọi người đang hăng hái mà.

Anh P. thì thào:

- Này !

Gượm hãy vẽ, nhìn đã ! (đúng là giọng Thái Bình xịn).

Nhìn qua kẽ lá, theo hướng anh P. chỉ, năm bảy người con gái đang đi đến gần trên đường mòn.

Các o đội nón vải (giống mũ tai bèo của lính giải phóng, chỉ khác màu sắc).

Lại còn có hai mụ tầm tầm (mụ tiếng Quảng Trị không có nghĩa xấu, thường để chỉ người đã có chồng) miệng bập bập thuốc lá vấn (điếu thuốc được quấn nguyên bằng lá, không có giấy), đã thấy có mùi thuốc khét lẹt thoảng qua, cái mùi đặc trưng của thuốc lá Quảng Trị.

Tôi nhớ mấy tay nghiện thuốc nhất đơn vị cũng không ai sài nổi loại thuốc này.

Thuốc xin được của dân lấy từ gác bếp xuống, mấy tay phải đem thái nhỏ, phun nước đường vào rồi ủ qua vài ngày cho lên men, có mùi chua chua, rồi sao rất nhỏ lửa mới sài được.

Bỗng nghe văng vẳng tiếng "Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, phát đi từ Hà Nội - Thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà".

Loa phóng thanh của ta đặt ở đầu cầu Quảng Trị, phía bắc, chĩa về phía địch nên ở đây nghe mồn một.

Sáu cây số đường chim bay chứ lậng!

- Anh P.

ơi!

đến bảy rưỡi nghe tiếng hát theo yêu cầu nhé, hôm nay là chủ nhật đấy!

Anh P. là thuộc chương trình phát thanh nhất.

Thường ngày, anh vẫn đeo bên hông chiếc đài LIDO.

Ngày chủ nhật, lúc có tiếng hát theo yêu cầu bao giờ anh cũng vặn to hết cỡ để những nhà xung quanh cùng nghe.

Quả thật, rất thú vị!

Ở sau lưng địch, chúng tôi lại được nghe các giọng hát thần tượng của Trung Kiên, Kiều Hưng, Trần Khánh, Thanh Huyền, Bích Liên,. . .

Tôi nhớ nhất hôm đó được nghe Trung Kiên hát bài "Dáng đứng Việt Nam".

- Anh P.

à!

Nếu có chuyện thì đúng là mình cũng "Không một tấm hình, không một dòng kỷ niệm, anh chẳng để lại chi trước lúc lên đường", chỉ để lại gì đó trong bụi rậm thôi anh nhề!

- Ừ!

Cái thằng này! . . .

Ăn nói mất lập trường (vẫn cái vần tê e rờ rất nặng của dân nhà máy cháo).

Hai tiếng đồng hồ sau tôi mới vẽ xong được cảnh đồ thứ nhất.

Đây là mảnh gần nhất, mọi chi tiết đều rất rõ, thấy cả đường sắt, đường bộ, các nhà dân trong ấp, cột anten trong căn cứ của địch.

Tôi còn vẽ thêm vài cái xe cho sinh động.

Đánh dấu xong điểm nhìn, góc nhìn và toạ độ một số điểm chuẩn, tôi đưa cho anh P. xem để anh cho ý kiến.

Giờ này sao tĩnh lặng lạ lung, không nghe thấy một tiếng chim nào.

Ừ!

ở quê mình cũng vậy, giờ này bọn gà vịt chui vào đâu đó bới đất kiếm ăn, cấm thấy con nào kêu một tiếng.

Mảnh thứ hai là mảnh phía bắc, có nhà thờ La Vang nổi bật, có ngã ba Long Hưng tấp nập nhà cửa.

Ở hơi xa nên các thứ đều rất nhỏ.

Tôi không thấy có lô cốt hay công sự và xe tăng gì cả.

Chỉ quan sát thấy những chỗ nhiều xe lính vào ra và anten mà đoán ra sở chỉ huy của địch – cái này sẽ đưa vào sơ đồ thôi (cũng dễ hiểu vì đây là rất sâu sau lưng địch).

Đến chưa thì xong mảnh thứ hai.

Giá mà chụp ảnh thì xong lâu rồi.

Sư đoàn cũng có trinh sát chụp ảnh chuyên nghiệp, máy ảnh có "Tê lê" đàng hoàng.

Ảnh chụp được gọi là ảnh đồ.

Tuy nhiên, ảnh đồ không bao giờ so sánh được với cảnh đồ do người vẽ (cái này xin nói ở ngoài câu chuyện V).

Trời nóng quá, nắng gắt soi vào người, chói chang.

Vượt nói:

- Để em ra ngoài kiếm ít lá.

Chưa kịp nói gì thì cậu đã luồn, chui để ra ngoài.

Loáng sau cậu đã lôi về một đống cành lá.

Cậu cài các cành lá ở phía trên vòm.

Mát hẳn.

Chúng tôi giở lương khô, gọi là ăn trưa.

Đậu phộng sống với nước trắng, ngon ra phết.

- Anh P.

ơi !

Anh kể chuyện vợ đi, bọn em chưa biết gì cả. . .

Hay là thằng Vượt nó biết rồi ?

- Đâu có !

Anh P. nguyên là chính trị viên đại đội ở tiểu đoàn 6 trung đoàn 95.

Trước khi chuyển về đại đội trinh sát, anh được về phép thăm vợ con.

Khi bọn tôi đòi kể chuyện, đúng là "được lời như cởi tấm lòng", bao nhiêu nỗi nhớ thương người vợ trẻ, chuyện nọ, chuyện kia . . . anh kể ra hết.

Tại bọn tôi cả thôi, ai bảo bắt anh kể chuyện đêm tân hôn để rồi phải ngồi . . . chịu trận.

Đến tầm 3 giờ chiều, tôi đã vẽ xong cảnh đồ và sơ đồ.

Mọi người ngồi ngắm nghía, góp ý chỗ này chỗ kia.

Anh P. dương ống nhòm lên soi từng chỗ một.

- Ừ được đấy !

À, mà cái chỗ ngã ba này này, tớ có nhìn thấy đâu.

- Em thấy xe GMC đi từ chỗ này nhé, lúc sau thấy ở đây nhé.

Phải có ngã ba ở đây không?

Em dịch cái nhà và đám cây này ra một chút để các thủ trưởng nhìn thấy ngã ba mà.

- Có được không?

- Biến báo một tí, miễn không sai là được mà anh.

Sửa sang xong cũng là lúc chiều tà.

Tôi hỏi:

- Sao chưa thấy mấy chị em đi kiếm củi về nhỉ ?

- Về đàng ni thôi eng à .

Em nghe thấy tiếng rồi.

Quả nhiên, một lúc sau đã nge tiếng í ới nói chuyện của chị em đi lấy củi về.

Mấy o đang đi trên đường mòn lại gần phía chúng tôi.

Mọi người kéo các cành lá che kín hết vòm, ai nấy im bặt không còn nói chuyện thì thào nữa.

Có tiếng nói chuyện của một hai o đang đi lại rất gần, tiếng họ quẳng gánh củi xuống, nghe có vẻ rất gần.

Chúng tôi cúi xuống rất thấp, gần như nằm.

Nếu bị phát hiện, chúng tôi đã có sẵn phương án rồi.

Sẽ phải uy hiếp họ và bắt tất cả lại, chờ đến lúc trời tối sẽ thả cho họ về và chúng tôi cũng chuồn lẹ.

Cách này dân luồn sâu đều áp dụng.

Thì ra mấy o ghé vào giải quyết nỗi buồn, nghe tiếng sột xoạt phía ngoài đám bụi rậm.

Chúng tôi bấm bụng nhìn nhau.

Xin thề với các quê, em không nhìn đâu đấy !

. . . .

Nhưng mà nghe thấy . . . .

"xè xè . . . .".

Hai ngày sau, chúng tôi về đến cứ hoàn toàn mất tiếng, chỉ phát ra tiếng lào thào được thôi.

Chuyện kể lại với mọi người, mấy đứa không tin, cãi lại:

- Làm gì có chuyện . . . không nhìn !?

Tôi hỏi, thế ghé sát mắt xuống đất để làm gì ?

CHUYỆN VI: ĐẶC SẢN NHƯ LỆ

Chỉ còn dăm ngày nữa là đến ngày ngừng bắn (28/1/1973).

Sắp đỡ rồi !

Tôi đi cùng anh A. từ cứ của đại đội ở chân dẫy Cao Hy.

Chúng tôi đi từ rất sớm.

Anh A. là chính trị viên phó đại đội.

Nghe nói anh giỏi võ lắm, dân Bình Định mà.

Anh nhảy núi từ năm 14 tuổi (nhảy núi là từ chỉ người dân trong vùng địch trốn lên núi theo ta), đã hai lần được tặng danh hiệu "Dũng Sỹ", đánh nhau gan tày trời.

Lớn hơn lứa chúng tôi trên chục tuổi, thấp, đậm với nước da gọi là "Maroc kiều", trông anh rõ là khắc khổ.

Không mấy khi nét mặt anh giãn ra được trừ khi cười (may mà anh hay cười), đôi mày lúc nào cũng chau lại.

Vậy mà hiền khô.

Trong số các thủ trưởng đại đội, anh gần gũi lính tráng nhất.

Lính tráng, đứa nào cũng thích trêu anh, bao giờ anh cũng chỉ cười hề hề.

Gọi là "trình độ văn hóa có hạn", làm chính trị viên hẳn là chẳng thoải mái với anh chút nào, nhất là khi phải nói "chuyện chính trị" cho anh em trong đơn vị.

Với anh, thà rằng có địch lại dễ, chỉ việc "uýnh" thôi.

Trên đường đi xuống Như lệ, chúng tôi sẽ rẽ qua cao điểm 108, nơi có đài quan sát của C20 (trung đoàn và sư đoàn đều có một đại đội trinh sát và đều được gọi là C20).

Anh A. bảo:

- Hái rau đi, trên 108 chúng nó làm bún rồi.

Ngay gần cứ, chẳng có dấu tích gì của làng xóm nào mà sao những rẻo đất thấp ven suối lại có những đám rau rõ là do người trồng hẳn hoi nhưng đã bỏ từ lâu.

Thế mới lạ !

Những cây rau rền cằn cỗi, những khóm húng chanh xơ xác và mấy cây cà chua còi cọc.

Rồi cũng hái được một nắm rau rền, lá nhỏ lắm, màu xanh chứ không to, mướt và có màu tím như rau dền ở chợ bây giờ.

Một thứ rau dền mọc hoang dại cùng với cây cỏ ở những chỗ xó xỉnh trên các con đường thôn quê.

Lại được một túm rau húng với dăm bảy quả cà chua nữa.

Nói là quả cho nó hoành tráng chứ cà chua ở đây chỉ to như quả nho, không biết có phải là giống cà chua bi bây giờ ?

Điểm cao 108 là một quả đồi trọc cao hơn hẳn xung quanh, không có cây cối gì, đến cỏ cũng hiếm vì bị bom pháo địch thăm hỏi đều.

Mọi người đều phải ở trong hầm có hai ngách dẫn ra chỗ quan sát.

Ở đây còn có cả nhà âm, chỉ vài mét vuông, mái lợp tranh, phủ đất lên trên để ngụy trang.

Khổ nhất ở đài là đi lấy nước và lấy củi.

Lấy nước mãi tận suối, rất xa, đi lên đi xuống dễ là ẩm thực món "cà pháo" của địch lắm.

Tuy nhiên, đã nhằm nhò gì so với đài quan sát của chúng tôi ở cao điểm 20, Nhan Biều.

Được về đài 108, coi như đi an dưỡng rồi.

Chúng tôi lên đến nơi, thấy hai đứa trần trùng trục đang giã bột.

Ở trần vừa mát và nhất là đỡ phải xuống suối giặt quần áo, vẫn lịch sự chán, quần đùi rộng lắm, tháo ra có thể may được chăn mà?!

Vậy coi như vẫn thả rông nhé !

Anh A.

Hỏi:

- Thằng C.

đâu?

- Nó đang quan sát thủ trưởng ạ!

Gạo được ngâm chua dễ đến cả tuần, thay nước liên tục.

Gạo được giã trong cái cối là mũ sắt, còn chày là một quả lựu đạn cán gỗ đã tháo ruột.

Chày cối này giã . . . . sướng phải biết ?!

Bột được nắm thành quả cho vào luộc cho chín lớp bên ngoài, gọi là làm bột áo, rồi vớt ra đem giã lại.

Cái vắt bún là chiếc tất Trung Quốc dệt bằng loại sợi màu cỏ úa, có ánh vàng (tất lính cũng thời trang đáo để).

Chiếc tất được khâu cẩn thận vào cái miệng thở của mặt nạ phòng độc có nhiều lỗ rất tròn.

Đồ nghề làm bún quá sáng tạo (tiếc là không dự thi "Trí tuệ Việt Nam").

Sợi bún hơi to một chút nhưng không đến nỗi "giun đũa".

Hai tên này làm bún có nghề quá, vắt bột thoăn thoắt vào nồi nước sôi, một loáng đã thấy vớt ra.

Có bún rồi.

Gạo ngâm lâu, sợi bún dai và giòn như bún Huế.

Thực sự là ngon.

Bún chan canh thịt hộp nấu cà chua và rau dền ăn với húng chanh nữa.

Tuyệt!

Giá bây giờ mà có . . . vẫn tuyệt !

- Chín rưỡi rồi, đi thôi ! – Anh A. nói.

Chúng tôi bắt tay 3 lính đài rồi xuống núi.

Từ đây xuống Như Lệ phải qua một số chỗ trống trải.

Bọn địch trên động Ông Đô (anh em thường gọi là động Ông Do) và nhất là trên cao điểm 29 Tanh Lê thể nào cũng thấy và gọi pháo.

Cứ chuẩn bị tinh thần đi !

Sau ngày 16/9/1972, ở phía đông địch đẩy ta đến Tám Cát, Lệ Xuyên, Long Quang, An Lộng, Bích La nằm phía bắc sông Thạch Hãn.

Còn ở phía Tây, địch chiếm giữ hoàn toàn phía nam sông.

Gần như con sông đã trở thành giới tuyến.

Chúng tôi xuống núi rất nhanh, chỗ này rất trống trải.

May mà không thấy địch bắn pháo.

Đoạn sau có rừng cây thấp, chúng tôi đi dưới cây men theo đường tăng ("đường Tăng" là từ mọi người hay dùng để gọi đường mòn của xe, pháo địch đi nhiều mà thành.

Nhiều chỗ phát cây đi trong rừng, nhiều chỗ trống trải).

Ba tiếng sau, chúng tôi đã đến khá gần Như Lệ, chỉ còn vài cây số nữa.

Đoạn này trống trải.

Chúng tôi dừng lại nhắm hướng, chọn đường rồi . . . chạy.

Trên cao điểm 29, chắc chắn địch nhìn thấy, chỉ hy vọng có hai thằng lính còi chúng không bõ bắn pháo.

Chúng tôi cứ chạy từng đoạn, dừng lại, chọn đường, lại . . . chạy.

Nghe tiếng pháo địch đang giã vào Như lệ và Tích tường.

Đúng là giã giò.

Nhừ tử hết cả !

Bỗng nghe tiếng "ùng . . ." lạ, rất nhỏ và xa.

Không ai bảo ai, anh A. và tôi mỗi người đã lăn xuống một hố pháo rồi.

Vừa kịp, . . . một loạt pháo 105 chạm đất nổ ùng oàng xung quanh, may mà không trúng ai.

Đúng là trò đùa !

Mà sao chúng tôi lại hay đùa thế ?

Nhưng, bình thường thôi.

Chạy tiếp . . .

Không thấy địch bắn tiếp nữa.

Có hai thằng ranh này, chỉnh pháo không kịp, có ăn được cũng "không bõ dính răng".

Đến gần bờ sông, cỏ tranh, lau lách và cây lúp xúp.

Chúng tôi lần theo một đường tụ thủy giữa hai quả đồi, cây cối dày đặc, rất kín đáo.

Đứng trong đám cây, đã nhìn thấy bờ nước ngay trước mặt.

Chỉ cần bơi cỡ trăm mét là tới Như Lệ rồi.

Sao bên kia bỗng nhiên im tiếng súng.

Không thấy pháo bắn, cũng không nghe tiếng súng bộ binh ?!

Chắc là giây phút tĩnh lặng, khét lẹt.

Một dấu lặng trong bản trường ca bất tận.

Là lính, ai cũng biết đây là những giây phút mà ta có thể tận dụng để điểm lại ae, nghỉ ngơi đôi chút, xốc lại trận địa, là cơ hội để làm một số việc gì đó . . .

- Vượt luôn anh nhé !

- Ừa !

- Bọn 29 Tanh Lê nhìn thấy đấy.

Bơi thật nhanh anh nhé !

- Ừa !

Không thấy đứa nào bên kia ra đón hè ?

Hai tên tháo gùi, cho hết quần áo vào gùi, chỉ vận mỗi cái quần đùi ống rộng của lính.

Tôi gác súng lên gùi và tuồn nhanh xuống nước.

Anh A. thì "khỏe" hơn, anh chỉ mang K54.

Chúng tôi bơi ngang dòng nước, mở hết tốc lực.

Nếu nó bắn thì vẫn yên tâm đi. . . .

Vì mai sau vẫn có nhiều người khóc mình ". . .đáy sông còn đó bạn tôi nằm . . .

" và hàng năm mọi người sẽ "thả hoa" cho mình thưởng hương rồi mà.

Trên ban 2 của sư đoàn yêu cầu chúng tôi khẩn cấp xuống đây nắm địch, vẽ sơ đồ phòng tuyến địch trước khi ngừng bắn.

Phải tranh thủ đúng lúc ngừng bắn, địch đều lên khỏi công sự mà nắm toàn bộ bố trí trận địa của chúng.

Vì vậy chúng tôi bắt buộc phải chơi đùa với pháo giữa ban ngày.

Thế mới vui !

Chúng tôi qua sông mà không bị quấy rầy một lần nào.

Đã thấy bên kia, y tá Tất sinh viên y2 ra đón.

Tất nói:

- Các anh vào hầm của du kích nhé !

Đêm qua pháo bắn liên tục, vận tải không qua được.

Thương binh nằm hết trong hầm của mình rồi.

Hầm của du kích Hải Lệ đào ở ngay vách sông, sát mép nước.

Chỗ này vách sông khá cao, bên lở mà (xem bản đồ).

Ngách vào được đào một đoạn rồi mới rẽ ngang làm hầm. bình thường, mỗi hầm chỉ có hai du kích.

Ở đây du kích Hải Lệ chỉ có 2 nam còn lại toàn nữ.

Họ cấp cứu và chăm sóc thương binh, tham gia cùng vận tải của trung đoàn chuyển thương binh qua sông, chuyển lính bổ sung, đạn dược và lương thực vào các chốt.

Đã bốn giờ chiều, chúng tôi được dẫn vào hầm của du lích Hải Lệ.

Đây là hầm của hai nữ du kích, nghe nói một o tên là Nữ, một o tên Sâm.

Giờ này các o đang phải chăm sóc các thương binh ở bên Tích Tường, đến tối mới chuyển anh em ra bến vượt.

Căn hầm khá chật, đúng là chỉ vừa cho hai người nằm.

Tôi hỏi Tất:

- Xuống sông tắm được không ?

- Ấy, không được.

Phải sáng mai, nếu không thì tối hãy tắm.

Ở đây bất cứ lúc nào cũng có thể có pháo bắn tới đấy.

Chúng tôi trút các bao tượng gạo và lấy thịt hộp, mì chính, đường, thuốc lá, . . . xuống cho Tất mang về hầm.

- Khoảng 6 giờ sang chỗ em ăn cơm nhá !

Nói xong tất chạy nhanh về hầm, vừa hay pháo địch bắn tới.

Chỗ ăn cơm là nhà âm, ở ngay cạnh hầm của Tất.

Nhà được làm sát vách bờ sông dựng đứng, chỉ cao đến ngang bụng, cao hơn chừng ba mươi phân là mái được đổ đất và làm cho tơi bời ra một chút – coi như ngụy trang xong vì ở đây chỗ nào cũng được pháo địch cày xới hết cả.

Từ bờ sông, luồn qua một ngách hào là vào nhà.

Chui vào nhà phải cúi vì chỗ này chỉ để ngồi ăn cơm hoặc thỉnh thoảng ngồi chơi cho thoáng một chút - cũng bõ cả ngày phải ở trong hầm hoặc chạy nhảy như choi choi trên các chốt.

Mà nhà cũng chỉ bé tí teo, năm sáu người ngồi thôi.

Ở đây tương đối an toàn, pháo không thể khoan được vì có vách sông che chắn.

Nóc nhà thì có thể chống được pháo chơm rồi.

*(Pháo chơm nổ ngay trên cao khi chưa chạm đất và có hai loại.

Một loại nổ ra nhiều mảnh nhỏ, một loại nổ phóng ra hàng vạn mũi tên thép trông giống như đinh 3 phân nhưng có 4 cánh đuôi, không biết tẩm bột gì đó màu đỏ.

Cả hai loại đều gây sát thương rất lớn người ngoài công sự.

Về sau này, chúng tôi lấy đạn pháo chưa bắn ở bãi Ái Tử, gỡ ra lấy hàng vạn mũi tên đó làm đinh.

Bảo đảm đinh này đóng không bao giờ bị quằn.)*

Toán trinh sát của chúng tôi có bảy, tám người.

Tất y tá, Thứ thông tin và Phố anh nuôi, còn lại anh em chia nhau lên chốt và đi nắm địch.

Tin tức thường xuyên được Thứ chuyển thẳng về ban 2 (Những điểm nóng phải thông tin trực tiếp với ban 2 còn những điểm thường thì báo cáo với đại đội).

Tất, Phố và Thứ ở trong hầm suốt ngày và rỗi rãi nhất nên coi như một tổ cấp dưỡng lo cơm nước cho anh em.

Tầm 6 giờ tối, ngày nào cũng vậy, có lẽ gần như 100% là im tiếng pháo.

Bọn tôi chui ra khỏi hầm, được giãn xương cốt, tai vẫn còn i i tiếng nổ cũng được thảnh thơi một chút.

Chỉ trong vòng nửa tiếng đến một tiếng thôi.

Mọi người tụt ngay xuống sông, tranh thủ tắm giặt giũ hết đất cát và hơi cay nồng của đạn pháo.

Kể cũng lạ.

Sao giờ này bao giờ bọn địch cũng im lặng thế không biết.

Chẳng lẽ bọn pháo địch bàn giao ca, đổi lính hay sao vậy ?!

Đúng là đánh nhau kiểu pháo binh Mỹ.

Cơm trắng phau đựng trong xoong to(xoong tám) đang bốc hơi nghi ngút, canh trong xoong nhỏ (xoong 6) thấy lởn vởn mỡ thịt hộp lẫn với rau tàu bay.

Lạ cái giống rau tàu bay, mỗi hạt có một dúm lông trên đầu, bay rất xa, đã hạ xuống đâu là chỉ vài ngày đã thành rau, xanh mơn mởn, nhất là nơi hố bom, hố pháo.

Hấp dẫn nhất là món mặn đựng ở nắp xoong 8 (nắp xoong lật ngửa lên để đựng thức ăn, có 4 ngăn đàng hoàng).

Một món mặn.

Thứ gì đó nâu nâu như đất, loằng ngoằng như giun.

Lại thứ gì nữa nhẵn nhụi, cũng nâu nâu, bong bóng cỡ bằng ngón tay út nằm rải rác trong đám "giun".

Với lại lác đác những sợi thịt hộp , tơi tả.

- thơm thế không biết !

Mùi thơm bốc lên ngào ngạt – ngon quá đi mất, rỏ rãi . . . .

Anh A. hỏi:

- Cái gì thế ?

- Dế xào củ chuối với ruốc mặn mí lị thịt hộp của thủ trưởng mang xuống đấy.(dân " xin xà phòng" có cái từ "mí lị" không lẫn vào đâu được).

- Ngon nhể ! – tôi nói.

- Ừ ! bữa nào cũng chuyên trị củ chuối với dế (đúng là y tá có khác, lúc nào cũng chuyên trị . . .).

- Tất nói xong, cười hề hề, rất thoải mái.

"Dế xào củ chuối".

Đấy là đặc sản của Như Lệ.

Phố chạy từ dưới sông lên, mặc mỗi cái quần đùi dải rút ống rộng, người ướt lướt thướt.

Mặt nó vốn đã nhiều trứng cá nhưng hôm nay trông còn tệ hơn.

Mặt mày cháy nhem nhuốc, lông mày, lông mi chẳng còn một sợi; tóc phía trước cháy vàng loăn quăn, chỉ còn lại đôi môi đỏ "gợi cảm" là còn nguyên vẹn.

- Mày làm sao mà trông ghê thế ?

- Sáng hôm kia, trời mưa, nhóm bếp mãi không được.

Tao cầm ống liều phóng M72 dốc dốc vào bếp thế này này.

Nó phùng một cái, kinh quá.

May mà chỉ bị cháy mặt.

- Ai bảo ngu, cho mày chết !

- Mọi khi tao vẫn làm thế, chắc hôm qua mạnh tay quá.

Phố là chàng trai bằng tuổi tôi (20 tuổi), quê phủ Khoái (thịt chuột).

Nó hiền lành, ít nói, chỉ hay cười.

Nhin nó tôi lại nhớ thằng bạn nối khố của nó, thằng Phớt (anh em vẫn hay gọi là Cờ Lít Phớt - cho nó tây).

Thằng Phớt bị B52 ở gần Cao Hy cùng 3 anh em khác.

- Dế ngon thật mày ạ !

Làm sao kiếm được nhiều thế ?

- Sáng mai mày đi với tao đào củ chuối với . . .

đào dế nữa .

Bỗng có bóng người thấp thoáng ngoài ngách, rồi một o du kích tay bưng một tô gì đó chui vào nhà âm.

Tất nói:

- Đây là út Mừng anh A.

ạ !

- rồi quay sang Phố:

- Kìa !

Cái thằng này . . .

Nói gì đi chứ !

Tôi thấy cái mặt cháy của Phố bỗng đỏ lựng lên.

Út Mừng cũng lúng túng, cô đặt vội chiếc tô đánh ịch xuống đất, cạnh khay dế xào, chỉ bật ra mỗi một từ:

- Keeng !

Rồi út mừng vụt chạy ra mất, không ai kịp giữ lại, cũng không kịp mời.

Tất vừa cười vừa nói:

- Anh A.

à !

Ở đây ngày nào bọn em cũng được "ăn tươi".

Không biết họ thế nào chứ anh em mình được cái chén đã, anh nhở . . .

"Keeng" nghĩa là canh nói theo giọng Quảng Trị.

Canh rau lang nấu mắm ruốc, ngọt lịm.

Cứ gọi là thun thút !

- Này, mày có phải đổi dế của mày lấy mắm ruốc của của út Mừng không đấy ?

Mặt Phố đỏ tưng bừng, hắn nói:

- Dân ở đây họ không ăn dế.

Lúc đầu thấy bọn mình ăn, mấy út kinh lắm.

Bảo thử nếm xem, họ cũng không chịu đâu.

- Ừ !

Thế lãi quá còn gì.

Mày không mất dế mà lại được mắm ruốc.

Canh rau lang nấu mắm ruốc thực sự rất hợp vị, cực ngon – gọi là đặc sản của Quảng Trị.

Trời tối.

Sau khi nghe H. báo cáo với anh A. tình hình địch ta ở Tích Tường-Như Lệ, anh A. giao cho Hùng và tôi trong ngày mai phải "đi địa hình", nắm lại toàn bộ các chốt của ta và vị trí địch trên toàn tuyến (ae thường gọi tắt là "đi tuyến").

Thứ dẫn anh A. và tôi qua hầm của trinh sát e95.

Vì không có nhiệm vụ trực tiếp chốt giữ các "chốt", nên cũng giống như chúng tôi, trinh sát e95 cũng chọn vị trí hầm ở nơi an toàn nhất.

Đó là vách sông.

Toán trinh sát 95 bám địch và vị trí các chốt của ta, thường xuyên báo cáo về cho trung đoàn.

Toán trưởng là Lê Tấn Hổ (sinh viên năm 2 ĐHSPhạm HN) cùng 3 ae khác.

Ae phải chia nhau đi các chốt hàng ngày, tối đến đổi ca, về nghỉ một ngày.

Tôi đã nghe nói đến Hổ từ trước bây giờ mới gặp mặt.

đẹp trai, khỏe mạnh, ngăm đen, người Hà Nội gốc khu 5 tập kết.

Chúng tôi nắm lại tình hình ở đây, từng chốt một.

Chốt (1), (2), (3, (4) ở Như lệ và (5), (6) ở Tích Tường.

Hổ nói chuyện sôi nổi, cởi mở như chúng tôi đã thân thiết từ lâu.

Anh đã là một "con sói" trong làng trinh sát rồi.

Chúng tôi thống nhất giờ xuất phát sáng hôm sau với nhóm của Hổ rồi chạy nhanh về hầm.

Pháo địch vẫn đang bắn hủy diệt trên các chốt và cầm canh khu vực bờ sông không cho ta qua lại.

Hầm của hai o du kích Sâm và Nữ đúng là khác với hầm bọn tôi vì nó sạch sẽ và nhất là không có mùi nặng của đàn ông, cũng không có mùi thuốc lá.

Hồi đó tôi không hút thuốc nhưng rất thích các ae hút thuốc.

Tôi thường châm thuốc cho chúng nó, nhất là sáng ra chúng hút thuốc lào, ngã vật ra, tôi cảm thấy rất khoái.

Anh A. bật lửa soi trong hầm, tôi tìm thấy cái đèn dầu "Hoa Kỳ" có thông phong hẳn hoi để trong hốc đất trên vách hầm.

Đèn được châm lên, anh A. móc bịch thuốc lá trong túi quần.

Thuốc lá và giấy quấn đều là hàng vụn, phế phẩm của nhà máy thuốc lá Thăng Long.

Tôi gỡ giấy và quấn một điếu, đưa cho anh A.

Không cần nhìn, anh A. liếm nhẹ vào mép giấy, ngón tay trỏ ốp nhẹ một cái thế là đã bập ngay vào môi rồi.

Tôi châm lửa cho anh và khoan khoái ngắm bức tượng đồng đen nhả khói chậm rãi.

- Anh nghỉ trước đi, hôm nay chúng nó ưu tiên em chưa phải gác.

Đêm mai em đi gác anh tha hồ mà tâm sự với hai o nhé !

Tôi lấy giấy, phóng tạm một cái sơ đồ từ bản đồ để mai đi chốt làm việc cho nhanh.

Quãng 9 giờ đêm, thấy tiếng pháo ngớt ở bờ sông.

Nghe tiếng í ới của bộ đội và du kích.

Bên bờ bắc, thuyền chở ae mới sang bổ sung, chở lương thực chế biến sẵn, cơm nắm, ruốc, có cả thịt, nước uống, bông băng, đạn dược.

Hai tiểu đội công binh của trung đoàn được chở sang để đào lại công sự cho các chốt và chôn cất anh em tử sỹ.

Thuyền đến bờ nam, mọi thứ được khẩn trương vứt đại lên bờ để nhanh chóng đón thương binh qua bờ bắc.

Thuyền còn quay lại để gần sáng đón công binh trở ra.

Nếu bị pháo bắn rát quá, đôi khi ngày hôm sau công binh phải dạt vào các hầm của du kích, của hỏa lực cối 82 của trung đoàn hay các hầm của thông tin và trinh sát (tóm lại là hầm của các lực lượng đảm bảo phía sau – toàn ở bờ sông, vì rất an toàn).

Thực ra mỗi đơn vị chỉ đưa một nửa ae lên chốt, nửa còn lại nằm ở các hầm ở bờ sông và thay thế nhau lên xuống các chốt từ (1) đến (6).

Bờ sông về đêm thật sự nhộn nhịp.

Tuy nhiên hễ nghe kịch, kịch . . . tiếng nổ đầu nòng của pháo địch thì chỉ một loáng, bờ sông lại vắng vẻ quạnh quẽ như "chốn không người". . .

Thật là kỳ lạ !

Ôi, . . . .

Đây có phải là cuộc sống ?

Không!

Đây là hơi thở của cuộc chiến đấy !

Một bức tranh bằng chì với những nét kỷ hà sắc nhọn, nhạt nhòa đủ cả, . . . nhảy múa rồi tĩnh lặng, chớp lóe lên rồi bỗng đen xẫm lại.

Một dòng sông và một bến bờ trĩu nặng . . .

Tôi chui vào hầm và ngủ lúc nào không biết.

Tiếng ì ùng của pháo cũng không làm tôi giật mình lần nào.

Tôi giật mình tỉnh dậy vì có ai đó đẩy vào người.

Thì ra là o Sâm và o Nữ.

Một o cầm chiếc đèn bão, còn một o đang đẩy anh A. và tôi nằm dịch qua.

Họ tắt đèn rồi nằm xen vào với chúng tôi, "trở đầu đuôi".

Vẫn là chiếc đèn bão nhưng được che bịt bằng sắt tây chỉ để hở một quầng sáng nhỏ như đèn phòng không ở các xe ô tô lúc bấy giờ.

Cảm giác lạ khi nằm cạnh một người con gái làm tôi vừa thấy thinh thích vừa thấy sờ sợ.

Hai o ngủ rất nhanh, đã nghe tiếng họ thở đều.

Sao giờ này yên ắng thế ?

Mình chưa biết mặt hai o.

Đêm nào cũng vậy sao?

Sao những người con gái, đáng ra được nâng niu, chiều chuộng.

Dù cho nghèo khó, vẫn có mái tranh mát mẻ và đầm ấm, có người yêu để mà hàng đêm cứ cười khúc khích bên cạnh mẹ và được nghe mẹ chửi: "Cha tổ bố mi, là cái thằng nớ chứ ri . . ."

Vậy mà biết bao nhiêu dập vùi, biết bao nhiêu nhọc nhằn, đớn đau . . .

Tôi chợt nhớ " Em là ai, cô gái hay nàng tiên . . .

Tôi bị anh A. lay dậy.

Đã năm giờ sáng.

Giờ này pháo địch chỉ bắn cầm canh nhất là ở các chốt.

Ban đêm địch sợ ta tấn công nên chúng thường bắn pháo sáng để trên các cao điểm xung quanh chúng có thể kiểm soát được các hoạt động của ta.

Tôi bỏ bản sơ đồ đã vẽ phác tối qua, tấm bản đồ, cuộn giấy Mỹ và hai cái bút chì vào trong túi nylon rồi thả luôn vào ngực áo đã đóng thùng.

Xanh tuy rông có hai quả lựu đạn nhỏ, một băng đạn, một túi bông băng và bi đông nước.

Phong lương khô thì đút tỏm vào túi quần.

Tôi xách súng chui ra khỏi hầm.

Tôi chạy đến nhà âm thì cũng là lúc H. vừa chạy tới.

Phố đã nấu cơm xong, tài thật.

Nó nấu cơm trong nhà âm vào ban đêm, phía địch khó mà phát hiện được.

Trời cũng tang tảng sáng rồi, vả lại lính ta mò đêm cũng là chuyện thường mà.

Lại được xơi món dế xào củ chuối.

Hổ và một anh em nữa đang chờ chúng tôi, cậu ấy cũng tên H.

Chúng tôi luồn theo giao thông hào lên chốt (1).

Từ chốt có tiếng hô:

- Ai ?

- Tôi.

Hổ đây !

"mười lăm".

- "Không ba".

Chúng tôi lại luồn theo hào vào chốt.

Hổ hỏi:

- Đêm qua thế nào ?

- Một bị thương nhẹ thôi anh ạ, nó đang gác thì bị mảnh.

Nó bảo không sao, cứ cho nó ở đây.

Chốt là vị trí cao hơn xung quanh một chút, có 4 hầm kiên cố, rất nhiều giao thông hào nối các hầm và ra các vị chí chiến đấu.

Cứ một đoạn giao thông hào lại có một hầm kiểu hàm ếch để tránh pháo.

Thì ra đây là tác phẩm hàng đêm của công binh.

Khá nhiều đạn B40, B41 và lựu đạn, ba bốn quả một, để dọc theo giao thông hào.

Mặt đất, hầm và giao thông hào chỗ nào cũng nham nhở.

Đêm qua trời mưa lúc nào mà giao thông hào lõng bõng nước đục. các hố pháo cũng ngập đầy nước.

Vẫn còn những dòng nước nhỏ ri rỉ chảy xuống hào.

Trời đã sáng, pháo địch vẫn cầm canh chốt này qua chốt khác.

Hổ và tôi chui vào một hầm, hai thằng H. chui vào một hầm khác cùng anh em ở chốt.

Chúng tôi phải chờ địch ngừng bắn pháo.

Hổ nói:

- Cứ yên tâm, ngày nào chúng nó cũng ngừng bắn từ lúc 6 giờ đến 7 giờ.

Quả nhiên là như vậy.

Đúng 6 giờ, chúng tôi kịp nghe tiếng đầu nòng cấp tập của loạt đạn cuối, rồi bầy pháo rơi xuống phía chốt (3).

Đột nhiên im lặng, trong khi khói bụi vẫn mù mịt nơi các chốt.

*("Pháo bầy" là lính ta gọi cách bắn cấp tập của pháo 105 của địch.

Đây là cách bắn mà tất cả các trận địa pháo 105 của địch đồng loạt bắn vào một điểm.

Cách đánh này rất nguy hiểm, nếu đánh trúng thì ta không kịp chạy vào nơi trú ẩn, đã bị pháo sát thương.

Tôi nhớ, có lần địch gọi loa nói nếu ta không dùng H12 thì chúng cũng không đánh kiểu pháo bầy nữa.

Đúng là chuyện cười !)*

Phải nhắc lại là bọn pháo binh ngụy này học thày nó cả cách nghỉ giải lao đúng giờ.

Đúng kiểu Mỹ !

Hổ nói với cậu H(c20-95):

- Mày sang bên chốt (5) đi, Tao ở bên này được rồi.

- Vâng.

Tôi thấy Hai thằng H. bắt tay nhau và dặn:

- Đi cấm chết đấy nhé !

Hổ dẫn chúng tôi luồn ra đến ngách xa nhất của chốt (3) thì trời đã sáng.

Chỗ này có thể quan sát thấy toàn bộ các chốt của ta ở Như Lệ.

Anh giới thiệu toàn bộ tuyến của ta.

Phía địch, bên trái có Đồi Chè, một quả đồi chẳng thấy còn cây chè nào, chí có cỏ và cây dại lúp xúp, cũng đã xờ xạc vì đạn của cả địch và ta.

Bên phải là Đá đứng, một điểm chốt nổi tiếng của địch ở bờ sông.

Chếch về phía trước là cao điểm 29.

Từ Đồi Chè và điểm cao 29 địch nhìn xuống các chốt của ta như nhìn vào lòng bàn tay.

Phía trước mặt là ruộng lúa cũ.

Xa hơn là các chốt của địch.

Phía sau chúng là nơi xe tăng của địch ẩn náu để sẵn sàng tấn công.

Xa hơn nữa là rặng núi thấp chắn ngang làm khuất tầm nhìn.

Tôi phác nhanh sơ đồ trận địa của ta và chấm các vị trí của địch lên sơ đồ sơ đồ.

Mình ở dưới thấp, không nhìn thấy trân địa của chúng để vẽ.

Cứ như vậy, trong vòng nửa tiếng, tôi đa xong các chốt (3), (2) và (1).

Chúng tôi bắt tay Hổ rồi theo giao thông hào tụt xuống bờ sông để sang chốt (4).

Lên đến chốt (4) vẫn chưa đến 7 giờ.

Vẽ xong sơ đồ chốt (4) thì vừa đúng 7 giờ.

Chúng tôi tụt vội xuống bờ sông.

Ở bờ sông thật là nhộn nhịp, các anh em ở chốt về tắm dưới sông chạy lên, du kích và bộ đội vận động qua lại giữa Như Lệ và Tích Tường như con thoi men theo vách sông.

H. cũng dẫn tôi sang Tích Tường bằng đường này.

Pháo địch bắt đầu bắn trên các chốt.

Có vẻ như hôm nay chúng chưa tấn công.

Không nghe thấy tiếng xe tăng và 12 ly 8 bắn yểm hộ cho bộ binh của chúng.

Ở bờ sông cũng rất nhiều hầm của du kích và bộ đội.

Ở đây chỉ có hai chốt và bị địch tấn công quyết liệt hơn nhưng chúng cũng không nhổ được hai cái chốt nhỏ bé này.

Chúng tôi luồn lên chốt (5) lúc pháo địch chuyển làn bắn vào Như Lệ.

Anh em ở cả trong hầm, chỉ có một người ra nghách cảnh giới.

Hai thằng H. hỏi thăm nhau:

- Mày chưa chết à !

Rồi chúng cười lên ha hả.

Sao mà vô tư, hồn nhiên đến thế !

" Đi cấm chết đấy nhé ! . . . . .

Mày chưa chết à ! . . . ." . . . . là món đặc sản Như Lệ- Tích Tường.

Sao chúng nó không dặn nhau:"mày đi cẩn thận nhé" Mày vẫn còn sống . . ."

Lời dặn dò và tiếng cười của hai thằng H. làm tôi thấy xót trong ruột quá !

Chờ pháo chuyển làn sang chốt khác, chúng tôi mới chui ra ngách quan sát để vẽ sơ đồ.

Pháo 105 vẫn đang bắn bên Như Lệ.

H.(95) chỉ các vị chí các chốt của ta và các vị trí địch:

- Bọn nó chốt ở kia anh ạ.

Trước khi tấn công chúng bắn pháo cấp tập rồi xe tăng từ chỗ kia và chỗ kia xông lên.

12 ly 8 ở chỗ này này và chỗ kia nữa bắn liên tục.

Bọn tăng vừa đi vừa bắn pháo và đại liên, cả M113 nữa, vừa chạy vừa bắn đại liên.

- Mình làm thế nào ?

- Chỉ chết vì pháo thôi chứ bọn nó tấn công, bọn em không sợ.

Cứ ở trong hầm, chờ chúng đến gần, cứ B40, B41 bọn em chơi.

Xe tăng, thiết giáp cũng chơi, mà bộ binh cũng chơi.

Một thằng lính bọn em cũng chơi một quả.

Bọn nó đứa nào cũng sợ.

Bọn nó còn bị cối 60 với cối 82 của mình ở phía sau kia kìa, còn 12 ly bảy nữa.

Chỉ ngán pháo bắn thôi anh ạ !

- Thế nhỡ ae mình bị thương vong vì pháo hết rồi thì sao?

- Bọn em có hữu tuyến với tiểu đoàn, liên tục.

Nếu thấy đứt liên lạc thì hoặc là đứt đường dây hoặc là tiêu hết rồi thì ở phía sau bọn nó vận động lên luôn.

- Hỏa lực nó thế làm sao mà bắn B40 được?

- Bọn em bắn nhanh lắm, bọn nó đến gần rồi.

Mình chỉ dương lên là bắn liền, rồi thụt xuống, chạy sang chỗ khác.

Mỗi thằng phụ trách mấy khẩu, để dọc theo hào, lắp đạn sẵn, cứ thế mà chơi thôi.

H.(95) là lính nhập ngũ 72, kém tôi 2 tuổi, lúc nào cũng anh em ngon lành.

Cậu có giấy gọi vào Đại Học Xây Dựng sau giấy bão nhập ngũ nên vẫn được gọi là sinh viên Xây Dựng, người nhỏ bé, nhanh nhẹn, nói liên tục và cười ha hả.

Một chú lính trinh sát rất vui vẻ lạc quan, bao nhiêu tinh anh phát tiết ra ngoài cả.

Thật là dễ chịu.

Đột nhiên nghe tiếng "cu...ù ...ng" đầu nòng lạc nhịp, tôi kéo H. và cả hai cùng chúi xuống hào, vừa kịp một trái pháo nổ ngay cạnh vách hào, chắc là trúng một hố pháo cũ ngập nước.

Nước bùn đất bắn tung tóe và dềnh lên làm tôi và H. bị bùn trùm lên, ướt nhoe nhoét.

Chúng tôi chạy vội vào hầm, chờ pháo chuyển làn mới ra làm tiếp.

Lủng củng mãi tới gần trưa mới xong.

H. và tôi rút khỏi Tích Tường.

Ăn cơm trưa xong, tôi hoàn thiện sơ đồ và nộp anh Th. (đại đội phó c20/f325) mang về báo cáo ban 2.

Ngày mai, chúng tôi phải vẽ cảnh đồ.

Kệ nó, cứ nghỉ ngơi chút đã.

Chiều tối, Hổ chạy sang hầm chúng tôi báo với thằng H., giọng nghẹn ngào:

- Mày ơi !

Thằng H. chết rồi ! . . . .

Mẹ nó ! . . . .

Mắt Hổ đỏ lừ, cái mặt đẹp trai của anh bạnh ra như rắn hổ, trông dễ sợ.

Thằng H. mắt cũng đỏ, nó cứ để cho nước mắt lăn trên má xuống cằm và lặng lẽ không nói gì.

Mãi sau nó mới thốt thành lời, giọng không đùa một tý nào:

- Tao dặn nó rồi, nó đ... nghe !

Ngày hôm sau, H. và tôi luồn bờ sông ra chỗ đặt 12 ly 7 đặt ở khá xa, phía sau chốt (3).

Đây là một vị trí khá cao, quan sát rất tốt. công sự đặt 12 ly 7 được đào sâu tới ngang ngực, có bệ kê giá súng, đặt lên vừa tầm bắn và xoay được mọi hướng.

Trên bờ công sự có rặng trúc chỉ còn trơ lại lởm chởm, te tua của gốc cây trúc.

Tuy rặng trúc không che chắn được nhưng rất hay vì nó che khất được khi nhô đầu lên quan sát.

Từ 7 giờ sáng pháo địch, như thường lệ vẫn thăm hỏi các chốt và bắn canh chừng cả khu vực bờ sông.

Tôi đã phác nhanh được nửa cảnh đồ, quét từ phía cao điểm Đá Đứng đến phía chốt (2).

H. bảo:

- Hôm kia, mặt trận cho bốn thằng mang tên lửa chống tăng vác vai điều khiển bằng hữu tuyến xuống đấy.

Chúng nó ở đằng kia kìa, cả kia nữa.

- Hay nhể !

Không biết bắn có chính xác không ?

- Nó có dây điều khiển dài 3 cây số.

Thằng bắn cứ nhìn vào ống kính mà lái tên lửa vào mục tiêu.

Dễ thế, làm gì chả bắn trúng.

Bọn tên lửa chia làm hai nơi, ở bên trái và bên phải chúng tôi, chỉ cách mấy chục mét.

Chúng nó dùng chung công sự với bọn cối 60.

Bọn cối làm công sự sâu hơn 12 ly 7, chỉ cần một thằng trên cao quan sát được để chỉnh đường đạn thôi.

- Bọn tên lửa ở đấy bắn khó chết, mỗi lần bắn lại phải trèo lên à ?

- Không, chúng nó đắp bục đất cao lên.

- Không khéo lửa xơi tái anh em cối đứng sau.

- Ừ, chắc chúng nó phải biết chứ.

8 giờ.

Đột nhiên pháo địch bắn cấp tập dồn vào chốt (1) và chốt (2).

Chúng tôi nhô lên quan sát thấy khói lửa tơi bời, xen lẫn pháo nổ ngay và pháo "khoan".

Pháo khoan chỉ nghe tiếng nổ ục một cái, một cột đất phụt thẳng từ dưới đất lên cao.

Hầm ở đây tuy kiên cố nhưng dính đạn khoan thì cũng không chịu nổi.

- Sao bọn nó lắm đạn thế ?

- Chắc là nó sắp tấn công đấy.

Để xem nhé !

Mày thử lia ống nhòm lại đằng kia xem có xe tăng nó bò không?

Tôi chưa nhìn thấy xe tăng thì thằng H.

đã hô lên:

- Kia kìa !

- Hai chiếc, . . . bốn chiếc, . . . .năm, . . .

à sáu chiếc.

- Sao không thấy bộ binh ?

Mấy chiếc tăng bắt đầu bắn.

Tùng-oành . . ., tiếng đầu nòng và tiếng đạn nổ gần như ngay lập tức.

Đường đạn rất căng, chói tai.

Nếu không trúng mục tiêu thì nghe tiếng, lính non gan cũng có thể vãi đái rồi.

Anh em 12 ly 7 bây giờ mới lôi súng từ trong hầm chạy ra.

Họ đặt giá rồi lắp súng lên.

Ba thằng này thạo thật.

Chỉ một loáng là thùng đạn đã gắn xong, đạn đã lên nòng.

Chúng tôi cũng thấy mấy thằng cối 60 đang vào tư thế.

Bọn tăng có vẻ cứ thản nhiên tiến, vừa hành tiến vừa bắn pháo và bắn đại liên.

12 ly 8 của địch từ Đá Đứng, cao điểm 29 và đồi chè cũng bắt đầu nhả đạn.

Tiếng đạn liên thanh chậm rãi và trầm đục hơn đại liên, bầm . . . bầm . . .bầm . . .bầm . . .

- M113 kìa !

8 chiếc M113 đang vọt ra từ sau các chốt của địch.

Chúng chạy rất nhanh, dàn hàng ngang cách xa nhau.

Một lúc sau, chúng đã bắt kịp phía sau bọn tăng.

- Sao không thấy bọn 82 bên kia sông bắn đi ?

Cứ bắn vào bọn M113 sau tăng kia kìa.

Tóc . . . .

ành.

- Đấy cối bắn đấy !

- H. và tôi đứng xem trận chiến.

Không khác gì xem phim.

Bọn tăng này nghênh ngang quá.

Chúng cứ lừ lừ tiến.

Bọn này láo quá !

Chúng chỉ còn cách chốt 500 mét chứ mấy.

Pháo địch vẫn cấp tập vào chốt.

Chúng nó bắn nhiều quá !

Chỉ sợ mấy đứa trên chốt trúng pháo khoan thôi.

Không biết anh em có sao không mà sao thấy im lìm thế.

Khói đen của đạn nổ, khói bụi đỏ nâu của đất mù mịt không còn nhìn thấy gì ở trên chốt cả.

Hù . . .

ụt . . . .

Một cục lửa kéo theo một cái đuôi khói trắng bất ngờ phóng ra từ phía sau lưng chúng tôi, từ bờ sông bên kia.

- DK đấy ! sao trông đạn đi chậm thế nhỉ ?

Quả đạn DKZ lao đi, hút về phía xe tăng địch rồi nổ trúng vào một ụ đất ở phía sau tăng.

Rồi quả thứ hai cũng vẽ một con rồng lửa và nổ dưới ruộng.

Toành. . . toành . . .

Đạn tăng nổ chát chúa cảm tưởng như nổ ngay trên đầu chúng tôi.

Chúng bắn phản pháo vào vị trí DKZ của ta rất nhanh.

Rồi nhiều phát đạn nữa của bọn tăng bắn về phía ấy.

Chúng tôi không thấy DK bắn nữa.

Tệ quá!

Muôn vàn ánh chớp lóe lên của đủ các loại đạn.

Bao nhiêu là tiếng ùng oàng và tiếng rít chói tai và khói bụi tơi bời.

. . . .

Một giàn nhạc giao hưởng của không biết bao nhiêu nhạc cụ . . .

đang chơi bản sonat " Thần Chết" . . . . dồn nén đến đoạn cao trào . . . . chương " Bão Tố" . . .

Bọn tăng và M113 vẫn lừ lừ tiến lên, chắc là chỉ cách chốt khoảng trăm mét chứ mấy.

Pháo binh địch không còn bắn vào chốt nữa nhưng pháo tăng, đại liên, 12 ly 8 và súng bộ binh trên các xe M113 bắn như vãi đạn.

Sao ở các chốt im lìm thế.

Anh em bị hết rồi sao ?

Xẹ . . .t . . . xẹ. . . t, bên trái và bên phải tôi đồng loạt hai quả tên lửa B72 phóng ra, kéo theo một dải khói.

Đường đạn đi hơi ngoằn nghoèo ngày càng gần xe tăng rồi đâm thẳng vào hai chiếc đi đầu.

Hai chớp lửa lóe lên đúng mặt hai chiếc tăng.

Nếu là đầu đạn lõm thì chúng mày chết rồi.

Hai chiếc tăng đi đầu có vẻ như mất lái, chạy liên xiên một đoạn rồi khựng lại.

H. nói

- Ăn rồi !

Bọn này bắn khá thật !

Nấp xuống đi, bọn nó phản pháo bây giờ đấy.

Mấy thằng kia có biết đường mà nấp không, không khéo toi ?

Quả nhiên đại liên trên xe tăng, quay lại bắn xối xả về phía chúng tôi, đạn bay chiu chiu qua đầu.

Mấy tiếng nổ dữ dội gần như liền nhau làm rùng rình mặt đất và tung đất đá xung quanh chúng tôi.

Nghe ớn lạnh xương sống.

Thằng H. trêu tôi:

- Mày sờ quần xem có ướt không, có khi ướt mà không biết đấy !

- Bố không sợ !

Đ. . . có chuyện ướt quần.

Kìa ! mấy thằng B72 không sao, chúng nó lại sắp bắn kia kìa.

- Lính mặt trận mà, chúng nó là lính già đấy, sừng sỏ đấy !

Bọn tăng bắn rát quá.

Chúng tôi chẳng dám nhô đầu lên để quan sát và quay sang quan sát bọn B72, mấy đứa đang vận động tìm chỗ bắn.

Cái bờ sông này lợi hại thật.

Đạn bắn thẳng chẳng làm gì được.

Xẹ . . .t. . . xẹ. . . t.

H. và tôi không ai bảo ai đều nhoài người lên để quan sát đường đạn.

Hay lắm !

Thần chết đang treo lơ lửng trên đầu chúng mày nhé !

- Bọn nó sợ quá kìa !

- Chúng nó lùi rồi !

Quả đạn B72 lao nhanh về phía chiếc tăng, sượt ngay bên cạnh, bay một đoạn rất xa rồi mới nổ dưới ruộng.

Cuộc tấn công chấm dứt.

Bọn tăng chạy giật lùi, vãi đạn đại liên còn M113 thì quay đầu chạy luôn.

Lùi rất xa rồi bọn tăng mới quay đầu chạy.

- Xem phim hay thế !

Ta thắng địch thua.

Sao mày không vỗ tay đi.

- Bố đang . . .

đái !

Bữa cơm chiều yên ả không có món pháo mà lại có món dế xào.

- Thằng Hổ nó đang buồn, mày kéo nó sang đây ăn cơm cho vui.

Thằng hổ và 1 đứa nữa trinh sát 95 cùng sang nhà âm của chúng tôi.

Trông nó hôm nay còn buồn hơn cả hôm qua.

- Hôm nay mày ở đâu thế ?

- Tao ở chốt (2), thằng này ở bên Tích Tường.

- Chốt (2) thế nào ?

- Chết hết cả rồi !

Sập hai cái hầm, không đứa nào bị sao.

Chúng nó dồn hết vào một hầm, cả tao là 6 thằng.

Tao vừa chạy ra ngách quan sát, bảo thằng Bình nó vào, tao cảnh giới cho một lúc.

Pháo nó bắn ghê quá.

Thằng Bình vừa chui vào hầm thì một quả pháo khoan trúng ngay hầm.

Cả sáu thằng đều đang ở đấy.

Chết hết !

Mẹ nó !

- Thế còn mỗi mình mày ở đấy, may mà chúng nó bỏ chạy.

Một mình mày mần sao nổi.

- Điện thoại không bị hỏng.

Chính tao là người gọi cứu viện.

Lúc pháo ngừng bắn, tao lấy B40 rải dọc theo hào, còn có 4 khẩu, mấy khẩu khác bị pháo bắn hỏng hết.

Tao chờ chúng nó đến thật gần.

Ừ, hôm nay B72 đuổi được bọn nó.

Chúng mày có nhìn thấy không?

- Có !

Sao tự nhiên mày lại nghĩ chạy ra quan sát ?

- Biết được !

- Chúng nó gọi mày là thằng giời đánh cũng phải.

Thằng ở ngoài không chết, chết thằng trong hầm.

- Bọn nó rút rồi mới thấy 6 thằng lên bổ xung.

Phải bới mãi hai cái hầm sập để trú tạm.

Chắc đêm công binh phải mang thêm gỗ sang làm lại.

Ui giời . . . !

- Anh em vẫn nằm đấy à ?

- Tao chui vào sờ hết chúng nó.

Không thằng nào còn sống.

Bây giờ chắc anh em đại đội mới đang đưa chúng nó lên chôn cất.

Không làm nhanh đến 7 giờ chúng nó lại bắn.

Về sau nhiều lần Hổ vẫn còn kể lại với tôi chuyện này.

Lần nào khi kết thúc câu chuyện anh cũng than: "Ui giời . . . !".

Hôm 12/6/2010 tôi gọi điện vào Đà Nẵng hỏi thăm bệnh tình của anh.

Tôi có nói đang kể chuyện Như Lệ.

Anh Nói:

- Tao vừa ra khỏi hầm thì pháo khoan chết 6 thằng trong hầm.

Ui giời . . . !

Hổ Mất ngày 14/6/2010.

Anh bị ung thư gan đã phát hiện được từ hai năm nay.

Sáng 26/1/1973

Chúng tôi tiếp tục hoàn thành cảnh đồ tại điểm nhìn phía sau chốt (4) ở Như Lệ.

Cảnh đồ này thể hiện khu vực phía trước chốt (4) và Đồi Chè.

Khu vực bờ sông sáng nay tấp nập khác thường.

Đêm qua vừa có một đại đội được đưa qua sông để đêm nay đánh Đồi Chè.

Công binh của mặt trận xuống phối thuộc và đang tiến hành công tác chuẩn bị ngay gần chỗ chúng tôi.

Họ đang đo cự ly, chiều cao của Đồi Chè và đang đào hai cái bệ phóng.

Đây là hai cái bệ phóng bom.

Hai quả bom trong như hai chú lợn choai.

Mà đúng là hình quả bom thật, sơn xanh màu lính.

Không biết hai người khênh có nổi không.

Bốn người lính công binh vừa tính toán, vừa thảo luận.

Trông họ già giặn hơn bọn tôi nhiều.

Họ đang sửa đi sửa lại hai cái bệ phóng.

Chúng tôi tò mò hỏi:

- Phóng bom này chắc khó lắm các anh nhỉ ?

"Được lời như cởi tấm lòng", có vẻ như các đàn anh muốn dạy cho các đàn em biết thế nào là vũ khí hiện đại mà cũng có vẻ như các anh muốn nói chuyện với chúng tôi để thêm phần tự tin trong công việc của họ.

Tôi cảm thấy họ có vẻ chưa thực sự thành thạo cho lắm.

Vừa làm vừa bàn rất nhiều, rồi sửa đi sửa lại.

- Bọn mình phải tính toán tầm xa và độ cao rồi tính ra góc chếch của bệ phóng.

Còn tính lượng liều phóng đặt phía sau nữa. khi điểm hỏa, liều phóng cháy mới đẩy bom đi.

- Bệ bằng đất này có chính xác không ạ ?

- Chính xác chứ !

- Thế cái đống kia là gì thế ạ ?

- À !

đấy là tên lửa phá rào SR71 (không biết là tôi nghe nhầm hay là anh công binh nói nhầm.

Một thời gian rất lâu tôi vẫn cho là SR71, mãi đến khi tập trận ở Cùa cuối năm 1973 tôi mới biết là FR71, tên lửa Fá-Rào do ta tự chế tạo theo mẫu của Liên Xô, 71 chắc là kiểu ra đời năm 1971).

- Phá thế nào ạ ?

- Quả tên lửa có buộc dây cáp nylon, từng đoạn lại buộc lượng nổ.

Khi tên lửa bay, nó kéo theo sợi cáp vắt qua hàng rào rồi đồng loạt nổ.

Nếu hàng rào sâu quá thì đánh xong một quả lại phải bò lên đặt tiếp quả khác.

- Vâng !

Thế thì nhanh quá !

Chắc là hơn mìn định hướng hả anh?

- Cái này hơn nhiều chứ, phá được hàng rào có chiều sâu 100 mét, kích nổ hết mìn chống tăng phía dưới, cửa mở rộng 4 mét, thoải mái cho xe tăng vận động.

Mìn định hướng chỉ được 20 mét thôi mà chưa chắc đã làm nổ hết mìn chống tăng.

Được chưa ?

- Các anh vừa đánh bom, vừa phá rào ạ ?

- Bọn tớ cả, nhưng 4 thằng phá rào nó sang đây từ hôm kia, đi tìm hiểu địa hình.

Đêm qua , trinh sát dẫn chúng nó bò lên đồi đến sát hàng rào rồi.

Đống này bọn tớ mới mang sang đêm qua.

- Mình chỉ dùng một quả thôi hả anh ?

- Ừ !

Hàng rào ở Đồi Chè không sâu lắm.

Còn hai ngày nữa là ngừng bắn.

Cả ta và địch đều muốn giành lợi thế trước khi ngừng bắn.

Hôm qua, chắc bọn địch muốn chiếm được Như Lệ.

Như Lệ mà mất thì Tích Tường cũng phải lui vì không còn đường tiếp tế.

Phía Tích Tường vượt sông tiếp tế phải qua trảng cát trống, rất khó.

Đêm này mà chiếm được Đồi Chè thì nhất đấy !

Chiều hôm đó tôi chuyển sang Tích Tường và vẽ xong hai mảnh ở đây, tròng lòng ngong ngóng hồi hộp đến buổi tối để xem đánh Đồi Chè.

Pháo vẫn bắn ì òm suốt cả ngày vào các chốt.

Không biết chúng có định tấn công hay không.

Nếu đến chiều muộn mà chúng không tấn công thì sẽ không.

Bọn chúng rất sợ đánh đêm và cũng rất sợ ban đêm ta tấn công.

Hàng đêm pháo vẫn bắn chặn các hướng mà ta có thể di chuyển khi tấn công.

Pháo sáng chốc chốc lại vụt sáng lên.

Giá như ở Nhan Biều hay Long quang, anh em còn cố nhớ xem dù rơi ở đâu để sáng mai đi lấy.

Ở đây thì chịu rồi không có trò chơi vui đó.

Ăn chiều song, tôi thắp đèn trong nhà âm, bò ra hoàn thiện các cảnh đồ.

Sáng mai có hai người mang về ban 2.

Nhiệm vụ của toán trinh sát còn lại là tranh thủ lúc ngừng bắn, địch ra khỏi các chốt và các cứ điểm mà nắm tình hình của chúng.

Anh em sẽ phải rải ra tất cả các hướng mà quan sát và ghi chép.

Tôi có nhiệm vụ phác cho mỗi người một sơ đồ, đánh dấu các điểm chuẩn mà ai cũng biết để từng người có thể điền những vị trí địch vào đó.

Giờ G là 2 giờ sáng ngày 27/1/1973.

Trinh sát sư đoàn không có nhiệm vụ dẫn bộ binh đánh chốt.

Nhiệm vụ đó là của trinh sát trung đoàn 95 và tiểu đoàn.

Tuy vậy, không ai ngủ.

Mọi người đều hồi hộp chờ đợi.

Anh A. nhắc lại chuyện lần đầu tiên anh đánh đồn, khi đó mới 16 tuổi.

Giọng Bình Định rất nặng, dề dà:

- Tao nằm chờ "oắn", hồi hộp dữ hê !

Đái ướt quần lúc nào không biết ("Oắn" - nghĩa là đánh) – rồi anh cười hề hề, nghe hiền khô.

Vì chuyện này của anh mà khi căng thẳng, ác liệt mọi người hay đùa nhau sờ xem quần có ướt không.

Năm ngoái anh A. từ Ninh Thuận ra Hà Nội gặp mặt c20, chúng tôi nhắc chuyện ướt quần, anh chỉ cười hề hề.

Vẫn nụ cười ngày nào . . . !?

Anh A. liên tục giơ đồng hồ, nét mặt căng thẳng và hồi hộp cứ như chính chúng tôi là người đánh trận:

- Tới giờ rồi bây !

Chúng tôi ra khỏi hầm, tất cả đều hướng về Đồi Chè.

Một vệt những ánh chớp lóe lên ở sườn đồi

- Phá rào đấy !

Mìn phá rào nổ là pháo lệnh của trận đánh.

Hú . . .ù, hú . . .ù, hú . . .ù, . . . dồn dập tiếng H12 từ rất xa, tiếng đạn réo qua đầu chúng tôi và những chớp lửa bùng lên trên đỉnh đồi chè.

Liên tục hết đợt này đến đợt khác.

Anh a. nói:

- Chúng mày nghe tiếng cối không ?

Cối 120 của sư đoàn đấy.

- Em vừa nghe tiếng đầu nòng của pháo nữa.

- Ừ !

Pháo 85 của trung đoàn 84 đấy.

Vui quá hề !

Thế mới gọi là oắn chứ !

H12 chỉ bắn chừng 5 phút.

Sao một thứ vũ khí kinh như vậy lại đặt cái tên rất dễ thương của con gái Nga : "Cachiusa".

Pháo 85 và cối thì giã liên tục chừng 15 phút.

Chúng tôi không nghe thấy tiếng phóng bom mà cũng không ai nhìn thấy ánh chớp lúc bom phóng vì tất cả đang hướng về Đồi Chè.

Cũng không phân biệt được lúc nó nổ trên đồi như thế nào, có lẽ lẫn vào các ánh chớp khác.

Pháo ngừng bắn được một lát thì nghe tiếng AK bắn rất dữ dội.

Rồi tiếng B40, B41 . . .

- Đang xung phong đấy ! hay quá !

Được một lúc thì nghe tiếng súng phóng lựu M79 và tiếng lựu đạn nổ liên tục.

Phía địch không thấy có tiếng đại liên hay AR15.

Rồi tiếng súng cũng thưa thớt dần, dai dẳng, kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ.

Anh A. sốt ruột:

- Tao chạy qua tiểu đoàn xem.

Không biết chiếm được chưa ?

Đến sáng anh A. mới về, vẻ mặt buồn thiu:

- Hỏng rồi !

Tức thật !

Sáng 27/1/1973

Đêm về sáng địch bắn pháo liên tục vào các chốt, chân Đồi Chè và khu vực bờ sông.

Lúc anh A. về được là lúc địch đã "nghỉ giải lao" theo thường lệ.

Chúng tôi ra sông tắm giặt và lấy nước thấy rất nhiều anh em đánh trận đêm qua vẫn đang ở đó chưa kịp qua sông.

Họ toàn ở ngoài, không có hầm trú ẩn.

Cũng may vách sông khá cao che chắn hết đạn pháo và đạn thẳng.

Nếu có pháo rơi gần thì hoặc là trên bờ đất cao hoặc là xuống sông ở khoảng cách khá xa.

Thấy có một nhóm ở gần nhà âm, chúng tôi kéo họ vào cùng ăn sáng.

Gọi là ăn sáng nhưng bao giờ cũng phải no hết cỡ không phải kiểu xuất ăn sáng ở doanh trại hay là điểm tâm như bây giờ.

Vừa ăn chúng tôi vừa nói chuyện.

Đánh Đồi chè cũng là 1 đại đội của 95 nhưng bây giờ tôi không nhớ được là đơn vị nào.

- Hôm qua thế nào mà không chiếm được thế các anh ?

- Bọn tôi tức lắm !

Đầu tiên là hai quả bom xuýt nữa thì rơi vào đầu chúng tôi.

May không ai việc gì.

- Một người khác chen vào:

- Pháo mình bắn rất nhiều, tớ chưa từng thấy nhưng rơi ra đằng sau đồi rất nhiều.

- Thế à !

Chắc họ sợ bắn non tầm đạn sẽ rơi vào quân ta.

Thế phá rào có tốt không ?

- Tốt lắm nhưng chỉ có mỗi một đường vận động.

Mình bắn lên rất khó.

Bắn AK thì còn được chứ bắn B40, 41 thì phải bảo phía sau dạt ra mới bắn được.

Không cẩn thận thì thằng đằng sau bị nướng vàng hết.

- Bọn tôi vừa bò vừa bắn.

Chẳng thấy động tĩnh gì.

Chúng nó đểu thật !

Mình lên gần đến nơi, nó cứ ngồi trong hầm mà thả lựu đạn xuống, mí cả bắn cối cá nhân.

Anh bảo, nó cứ thả lựu đạn liên tục vào đúng cửa mở của mình thì làm sao mà lên được.

Chết thì ít nhưng bị thương nhiều lắm.

- Bọn tôi chẳng nhìn thấy thằng nào nhô đầu lên mà bắn, cứ bắn đại lên thôi, cả B40 cũng vậy.

- Rồi phải rút.

- Xuống rồi động viên nhau lên lại.

Đến gần, nó lại thả lựu đạn, mình lại phải xuống.

- Dằng dai lên lên xuống xuống bốn lần không được các thủ trưởng mới ra lệnh rút.

Bọn tôi phải bò lên đề đón thương binh và lấy xác.

Chắc chết hơn chục đứa còn bị thương thì nhiều. . . .

- Thương binh được ưu tiên rút qua sông trước.

Hình như du kích với bọn công binh hay vận tải gì ấy chôn cất tử sỹ.

Những đứa sống cũng có một số đứa qua sông rồi.

Bọn tôi xác định ở đây thôi.

Mai ngừng bắn rồi, qua sông làm gì cho nguy hiểm.

- Ăn cùng các anh vui thật nhưng bọn em vẫn còn cơm nắm với lương khô đây.

- Các ông cứ ở đây với bọn tôi, lúc nào rút thì rút.

Bây giờ chui vào hầm mà ngủ.

Bọn tôi cũng đi vắng hết bây giờ í mà.

Đánh nhau thì chuyện được thua, sống chết cũng là thường nhưng chuyện đánh Đồi Chè làm tôi cứ suy nghĩ mãi, không phải là về kỹ thuật và tác chiến mà về "sự lạ" ?!

"Sự lạ" là tôi không hiểu Như Lệ có giá trị gì lớn về chiến thuật mà tập trung nhiều thứ ở đây để đánh 1 quả đồi con con vậy.

Bom phóng, H12, FR, DKB, B72, pháo 85, cối 120,. . .

Mãi rồi tôi cũng chỉ hiểu được, chỗ này có thể làm "đầu cầu" để sau này làm bàn đạp đánh bờ nam Thạch Hãn.

Thêm nữa, đúng là chỉ còn mỗi chỗ này gọi là nam Thạch Hãn thôi.

Ngoài ra, chiến trường Quảng Trị gần miền Bắc nhất nên có thử nghiệm thì ở đây là tiện nhất (đấy là hôm nay, nói theo ý của bác ViTính đấy).

Vụ đánh Đồi chè cho tôi hiểu ra một điều lớn hơn rằng ngừng bắn chỉ là tạm thời.

Cuộc chiến sẽ phải tiếp tục.

Đó là "tinh thần cách mạng tiến công".

Không có chuyện nửa chừng !

Mỹ đã "cút" nhưng "ngụy" chưa "nhào".

"Cách mạng là phải triệt để !".

Thời điểm đó nhiều anh em nghĩ "ngày mai hòa bình rồi !", gì gì nữa . . .

Đêm 27/1/1973

Đêm nay địch bắn pháo cầm canh các chốt và bờ sông.

Pháo sáng bắn liên tục.

Chắc chúng sợ trước khi ngừng bắn ta lại tấn công để chiếm thêm đất.

Ở bờ sông thật là nhộn nhịp.

Ấy là các du kích, bộ đội địa phương K8 (Tỉnh đội Quảng Trị) và các đơn vị nào nữa (tôi không còn nhớ) chuẩn bị "cắm cờ".

Rất nhiều cờ Giải Phóng có cả cây que để cắm đã được chuyển qua từ bên kia sông.

Các chốt cũng được phát rất nhiều cờ và được lệnh cắm cờ ở những vị trí xa nhất có thể.

Chúng tôi cũng chuẩn bị các sơ đồ của mình, trao đổi rất kỹ về cách ghi chép và đánh dấu các vị trí của địch và đường ranh giới "cắm cờ" của ta.

Tôi đoán rằng bọn địch không nghĩ ra chuyện này vì chúng bắn rất nhiều pháo sáng để ngăn chặn ta tấn công thôi chứ không tắt pháo sáng đi để bí mật "cắm cờ" như mình.

Chừng nửa đêm, tất cả mọi hướng đều được triển khai.

Bờ sông trở nên vắng vẻ lạ thường.

Chúng tôi ai nấy đều rất hồi hộp chờ đón "bình minh của ngày mới", có lẽ còn hồi hộp hơn cả thời điểm trước một trận đánh.

Chỉ có điều không ai "ướt quần" thôi.

Thật là hồi hộp!

Cái thời khắc mà không còn bom pháo dội vào đầu, đinh tai nhức óc cả ngày.

Sẽ không còn sự tra tấn thần kinh và sự rình rập của cái chết.

Sẽ không phải dặn nhau "mày đi, cấm chết đấy nhé !".

Sẽ không phải sống chui rúc dưới hầm hăng nồng hơi đất ẩm, đặc sánh mùi mồ hôi và máu đồng đội.

Sẽ được hít thở "khí không" chứ không phải hút thứ không khí khét lẹt thuốc súng và bụi đất.

Đêm nay thật sự là "một đêm lạ kỳ nhất" trong đời nhiều người lính. (Về sau này, ngày 30/4/1975, lúc 7 giờ sáng trinh sát chúng tôi đã làm được đầu cầu bên đất Sài Gòn thì không thấy ai hồi hộp nữa cả.)

Trạnh nhớ về Hà Nội.

Chỉ được nghe tin tức 12 ngày đêm, rồi "Điện Biên Phủ Trên Không" với 34 máy bay B52 của Mỹ bị ta bắn rơi. . . .

Bà tôi . . ., bố mẹ tôi . . ., các em tôi . . . có ở chỗ sơ tán . . . hay là . . . ?!

Chúng tôi không ai ngủ cả.

Thế là hai ngày hai đêm thức trắng nhé.

Làm sao mà ngủ được vào cái đêm đánh Đồi Chè và cái đêm như đêm nay.

Anh A. dặn bọn tôi:

- Ngừng bắn mới được đi nghe !

Phải quan sát kỹ, chính xác, khẩn trương hề !

Cẩn thận vướng mìn đấy, đừng có xông xáo quá, phía trước các chốt đều có mìn đấy.

Cứ hố pháo mà bước vào đó nghe !

Thằng nào bây giờ mà chết là tao không cho liệt sỹ đâu nghe !

- Ấy !

Em x. .i. .n !

Anh phải để cho bu nó nhà em còn có cái "Tổ Quốc Ghi Công" mà treo trên bàn thờ chứ !

- Tau không đùa đâu nghe !

- Vầng !

Anh ở nhà . . . lại sang . . . hầm út Táo chứ gì ? – Lính tráng thật là "bố láo", toàn trêu thủ trưởng.

- Em đi cắm cờ rồi !

- Thế anh đã nắm tay chưa ?

Mà gặp nhau lúc nào lại biết . . .

" i. .e. .m đi cắm cờ rồi !" , thế mới lạ.

Đúng là "ai mà biết ma ăn cỗ bao giờ" - Tệ thật, lại còn đai lại cả thủ trưởng "i. .e. .m. ." nữa chứ !

- Mà út Táo đi cắm cờ thì tí nữa là về, bọn em đến tối mới về.

Anh tha hồ nhé !

Không biết là mặt anh A. có đỏ lên không vì anh đen quá, chỉ thấy anh cười hề hề và không nói được gì với bọn tôi nữa.

7 giờ sáng ngày 28/1/1973

Bốn thằng chúng tôi chia nhau đi bốn đoạn địa hình được phân công.

Tôi lên chốt (2).

Nhìn lên phía trước đã thấy cờ ta "đỏ xanh sao vàng" và cờ địch "vàng 3 sọc đỏ" cắm tia lia khắp nơi.

Bọn địch chỉ có cờ xung quanh các chốt của chúng.

Còn của ta, cứ chỗ nào đất trống, đồi trống là cắm.

Có chỗ cờ ta và cờ địch cắm xen lẫn nhau.

Đấy là thấy ta cắm, bọn địch mới nhổ cờ lên để cắm nống ra thêm.

Cờ của ta cắm cả trên cao điểm 29.

Đất của ta ở Như Lệ và Tích Tường rộng ra rất nhiều.

Cả ta và địch đều đều hướng súng lên trời mà nổ liên thanh chào đón giờ phút "Hòa Bình?!"

đầu tiên.

Rồi tiếng súng cứ thế mà nổ lan ra từ khắp nơi này đến nơi khác.

Không phải tiếng súng của Thần Chết mà là của Thần Sống.

Sổ tử của Bắc Đầu và sổ sinh của Nam tào đều gấp lại.

Tằng. . . .tằng . . .

Xong chốt (2), Tôi chuyển sang chốt (1).

Sướng là được vẽ tuyến của ta đến cả cao điểm 29.

Yên ả và thanh bình như những ngày ngừng bắn nhân dịp tết Nguyên Đán hàng năm. – Hòa Bình -?!

Đất ơi !

Hãy nhả ra khói lửa của đạn bom và thấm đi máu xương của biết bao người.

Hãy thở đi và hãy sống lại !

Chiều về trên bến Như Lệ sao mà thanh bình, dòng sông sao mà hiền hòa, xanh thắm biết bao.

Lính và du kích cùng nhau tắm và trêu đùa ồn ã cả một quãng sông.

Mấy cậu lính "cắm cờ tranh nhau nói:

- Tao nhảy lên ôm một thằng ngụy rồi hai thằng cùng bắn lên trời.

Lúc nãy bị chính trị viên sửa cho một trận "mất cảnh giác cách mạng" nhưng mà ông ấy vẫn cười.

- Chúng tao bò lên cao điểm 29.

Trời sáng rồi mà chưa đến giờ ngừng bắn.

Nhìn thấy nhau, chẳng biết làm thế nào ?

Bọn tao cứ xông lên cắm cờ.

Bọn nó thấy thế cũng cắm cờ.

Rồi cầm súng đứng nhìn nhau.

Không ai bắn cả.

Đúng lúc rộ lên tiếng súng ngừng bắn thế là nhảy ra ôm nhau.

Bọn nó bảo: Đêm qua bọn em thấy bọn anh bò lên, nhưng bảo nhau không bắn đấy !

Phải chăng là "Tình cốt nhục, nghĩa đồng bào" như một câu khẩu hiệu của ta sau này viết ở bờ bắc cầu Quảng Trị ?!

Nói vậy thôi, chuyện ôm nhau chỉ có lính chủ lực của cả hai phía chứ du khích với lính "bảo an" (địa phương quân) hay lính "nghĩa quân" (một kiều dân quân tự vệ của địch) thì không bao giờ có chuyện ấy.

Vậy đây là "cái chết" không còn thì "cái sống" ôm nhau thôi! . . .

Là con người cả. . . .

Ở Như Lệ chỉ ngừng bắn được một ngày.

Sau đó bọn địch nhiều lần tấn công cố đẩy ta sang bờ bắc sông Thạch Hãn.

Các chốt của ta vẫn giữ vững.

Biết không làm gì được sau một tuần chúng mới ngừng bắn thực sự.

Trên đài của ta thì tố cáo chính quyền sài Gòn vi phạm hiệp địch, dùng pháo và xe tăng lấn chiếm vùng giải phóng ở Quảng Trị.

Đài của địch thì lên án cộng sản dùng xe tăng lấn chiếm cảng Cửa Việt . .

CHUYỆN VII BẮT TÙ BINH

Sư đoàn 325 đang chuẩn bị đánh xuống Phú Lộc.

Công binh đang chuẩn bị đường cho xe tăng từ trên Động Truồi thuộc dãy Bạch Mã trong rừng đại ngàn vận động xuống Cầu Hai.

Họ chỉ dùng cưa để cắt gần sát gốc các cây nhưng không hạ đổ cây để giữ bí mật.

Khi xuống núi, xe tăng sẽ húc đổ cây để hành tiến.

Pháo 85 của trung đoàn 84 và cao xạ 37 được bộ binh hợp sức kéo lên sườn núi của điểm cao 560.

Bộ binh cùng tham gia vác và khênh đạn pháo.

Từ đây bắn xuống đường QL1 chạy ven biển Đầm Cầu Hai pháo phải bắn chúc nòng (bắn tà âm).

Cả cao xạ cũng sẵn sàng bắn tà âm xuống đường 1.

Chuyện bắn tà âm thì đã có hơn 30 mươi năm nay từ hồi Điện Biên Phủ nhưng pháo 37 bắn tà âm thì bây giờ tôi mới biết.

Vậy là có đại bác bắn liên thanh, làm sao mà chịu cho thấu.

Nhóm chúng tôi đang làm sa bàn khu vực Phú Lộc cho sư đoàn nên được ở luôn tại sư đoàn bộ.

Mà sư đoàn bộ và c20 chúng tôi cũng ở chung một cánh rừng sát sông Truồi cách nhau không xa.

Đoạn này của sông Truồi rất dốc, là nước chảy trên đá thôi, xung quanh cây cối um tùm.

Sa bàn được làm trong hội trường âm (nhà âm rất to làm hội trường họp tác chiến của sư đoàn do công binh làm bằng vật liệu tại chỗ).

Sa bàn rất lớn làm gần hết lòng nhà, chỉ để lại hành lang xung quanh, có tay vịn chắn ngang để đứng thảo luận và lên quết tâm chiến đấu ngay trên xa bàn.

Một nhóm 4 tên được khoán trong 3 ngày phải xong.

Thôi thì chia nhau ra mà đi cạo tinh tre, kiếm rêu và đào củ chuối để làm mô hình nhà cửa cầu cống và xe tăng, trọng pháo, . . .

Lại phải làm bao nhiêu lá cờ bé tí síu, cờ vuông, cờ chữ nhật, cờ quả trám, cờ tam giác, . . .

để cắm vào các vị trí Sư đoàn, lữ đoàn, thiết đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, và đại đội của địch.

"Trăm thứ bà dằn', cứ gọi là vắt chân lên . . . nách !

Giấy thủ công thì lấy đâu ra, chỉ có mỗi hai lọ mực Hồng Hà xanh và đỏ.

Thế mà cuối cùng cũng rực rỡ sắc màu ra phết.

Màu xanh đỏ của mực, màu trắng của giấy để nguyên, màu nâu của đất mùn, màu đỏ của đất đồi, màu đen của than giã, màu xám của tro đốt cỏ tranh, màu lục với nhiều sắc độ của các loại rêu và tinh tre . . .

Đầu tiên, chúng tôi căng chỉ, kẻ ô vuông trên nền sa bàn và phóng bản đồ lên đó.

Bước thứ hai là cắm tăm, lấy độ cao của tất cả các núi đồi.

Thực tế phải "ăn gian" một tý vì nếu đúng tỷ lệ chiều cao thật thì trông địa hình "tẹt" lắm.

Đầu tiên tôi ăn gian 1,5 lần, thấy vẫn "tẹt" nên cuối cùng phải ăn gian lên 2 lần.

Tất nhiên là không ai lại đi đo độ dốc ở sa bàn để đánh giá thực địa.

Thành ra "ăn gian" như vậy trông rất thật.

Khó nhất là núi cao ở sát tay vịn của các thủ trưởng.

Thế là phải mất hai thằng pha nứa, đan liếp, đóng cọc để làm tường chắn đất xung quanh sa bàn.

Ban 2 trực tiếp chỉ đạo chúng tôi thể hiện các vị trí địch trên sa bàn.

Rồi 3 ngày cũng phải xong có điều chưa đẹp.

Tôi báo cáo ban và xin thêm một ngày làm đẹp và được đồng ý ngay.

Hóa ra là thủ trưởng ban ép chúng tôi làm trong 3 ngày chứ chắc Tư Lệnh cho thời gian rộng rãi hơn.

Màu của dòng nước sông và biển chẳng biết làm thế nào cho vừa nổi bật vừa hài hòa với núi non để thành "Sơn thủy hữu tình".

Nếu bôi mực lên dòng sông thì trông chối quá.

Tất nhiên là không ai đổ nước vào sa bàn để làm sông suối cả.

Mà đổ nước thì "nước chảy chỗ trũng", bao nhiêu nước thì cũng tuột xuống "biển" hết.

Nói đùa cho vui chứ ai lại làm thế !

Cuối cùng cũng thử nghiệm ra được một thứ bùn trộn từ đất, tro và mực xanh.

Hay thật !

Đúng là sông núi quấn quýt lấy nhau rồi.

Bùn này được bôi lên các lòng sông suối.

Không biết có thể gọi là "Sơn Cao cấp DULEX" ??

Xong việc, chúng tôi ngồi cắt sẵn các mũi tên đỏ để các thủ trưởng đặt vào làm mũi tấn công của ta.

Đẹp ra phết, chỉ thua sa bàn Điện Biên Phủ trong viện bảo quân đội vì không có đèn nhấp nháy và xe tăng "củ chuối" không biết chuyển động.

Lúc các thủ trưởng họp lên phương án tác chiến chúng tôi không được ở đó.

Nghe nói có cả cục tham mưu và các phòng tác chiến và phòng trinh sát của mặt trận cũng xuống họp.

Mấy đứa chúng tôi vẫn phải ngồi chơi ở ban2 mà chưa được về c20, phòng khi các thủ trưởng cần gì.

Chiều hôm đó vẫn họp.

Chúng tôi nghe các trợ lý ban 2 nói chuyện với nhau c20 vừa bắt được tù binh theo đúng yêu cầu của ban và đã giải về đến sư đoàn bộ nhưng phải hỏi cung ở bên ngoài, không cho vào cơ quan.

Hỏi cung tù binh là thủ trưởng Báu.

Tôi biết ông từ hôm qua khi ông xuống làm việc ở ban hai.

Ông ở phòng 2 của quân khu, lâu rồi không còn nhớ ông giữ chức vụ gì trên đó.

Cụ thuộc thế hệ trước, có lẽ cụ tham gia từ hồi chống Pháp.

Vóc người nhỏ gày, tóc bạc rất nhiều và hói với cái mũi hơi khoằm và nhọn kiểu mũi diều hâu, trông cụ rất dữ tướng.

Đặc biệt là đôi mắt rất sâu, rất sáng, không chớp, luôn luôn nhìn đau đáu vào một điểm, cụ có đôi lông mày rậm chĩa thẳng về phía trước làm thành đôi mắt "cú vọ" hoàn chỉnh và làm cho người khác sợ hãi, khó gần.

Một con người ẩn chứa nhiều ở bên trong, đầy trí tuệ.

Tôi ra chỗ hai thằng đang áp giải tù binh.

Thì ra là thằng Sơn với thằng Quynh áp giải tù binh.

Khi cụ Báu đến, tù binh được đưa vào một nhà âm nhỏ, một vệ binh Ở trong với cụ Báu còn một vệ binh gác ở bên ngoài (hai vệ binh c23 của sư đoàn).

Hai trinh sát và tôi cũng đứng gần đó, không phải chúng tôi đứng nghe hóng mà hai cậu phải chờ hỏi cung xong rồi áp giải đi tiếp ra Vũng Tròn, Nam Đông.

Thỉnh thoảng chúng tôi nghe tiếng cụ Báu quát rất to.

Dù có lì lợm đến đâu thì nghe tiếng quát trấn áp đó cũng phải run sợ.

Tiếng gầm của một con hổ lớn trước một con mồi đang run rảy !

- Bắt nó ở đâu thế ?

- Tao cũng không biết tên chỗ đó là gì, trên bản đồ không có tên, bọn nó chốt ở đó.

Bọn tao luồn rừng đến từ chiều hôm kia.

Cũng phải luồn khá xa vào chốt ở phía sau, bọn nó không cảnh giác.

- Hai thằng mày ?

- Năm người, hai thằng tao với ông L. bê trưởng, ông T. bê phó với thằng Toàn nữa.

- Bọn tao rình ở dưới chân đồi từ đêm hôm kia, chờ bọn chốt trên đỉnh sáng hôm sau xuống lấy nước.

Phục kích ngay gần suối, hai bên đường mòn xuống suối.

Gần 9 giờ rồi vẫn không thấy gì, sốt ruột quá !

Biết đâu nó lại không lấy nước ?

- 9 giờ mới thấy một thằng tò tò gánh hai cái thùng đi xuống.

Đi mỗi một thằng lại chẳng súng ống gì cả.

Đợi nó vào trong vòng vây, tao nhảy ra trước mặt nó, chĩa súng.

Nó quăng thùng định chạy ngược lên thì đã thấy ông L, hai bên lại có 3 người nữa.

Ông L. bảo nó nằm xuống, để hai tay ra sau gáy.

Thế là hai thằng xông vào đè nó mà trói thôi.

- Bọn tao tra hỏi ngay tại chỗ.

Nó có một tiểu đội 8 thằng chốt trên đó.

Chiều qua hai thằng về đại đội lấy thực phẩm, thư từ . . . .

Nó bảo nó biết mình sắp đánh.

Thằng này cũng gấu, nó bảo các chốt của chúng nó vững chắc lắm, có hầm kiên cố, lại ở trên các điểm cao mình khó mà đánh được.

Tức quá, tao đấm cho nó một quả vào mồm, máu chay be bét. – Thằng Quynh nó nóng tính thật (sau này lúc ở gần Bà Rịa, bắt được hai thằng đang giải đi một thằng hơi có vẻ kháng cự, nó đòm liền rồi đạp con người ta xuống rệ đường).

- Bọn tao nút khăn mùi xoa của ông L. vào mồm nó, trói nó vào cây rồi phục tiếp.

Bắt thêm thằng nào từ trên chốt xuống cũng được hay hai thằng đi lấy thực phẩm cũng được.

Một lúc thì thấy hai thằng đi lấy thực phẩm về đang dịnh đi lên chốt.

Cái thằng bị trói mất dạy lại kêu lên ú ớ để báo cho đồng bọn.

Hai thằng kia quay đầu định chạy.

Bọn tao đòm chết luôn.

Lục xoát các tài liệu, lấy một ít đồ hộp. – Thằng Sơn chen vào:

- Thằng Quynh nó quay lại bin cho thằng kia một trận, bắt tháo giày đi chân đất.

- Nhưng mà chán lắm mày ạ ! – Quynh thở dài.

- Gì mà chán ?

- Từ lúc đó tao không thấy thằng T.

đâu, nó đi lạc.

Bê phó gì nó !

- Sao mày lại nói thế ?

đi lạc là chuyện thường mà !

- Lạc gì mà lạc !

Bọn tao về đến đại đội một lúc thì nó cũng về, tay lại băng bó nữa chứ.

Nó bảo nó bị bắn.

Thế có láo không chứ ! làm gì có thằng nào bắn.

Chỉ có bọn tao bắn, bọn nó có bắn gì đâu !

Nó ở . . . . chuyển về, cũng làm a trưởng như tao.

Chỉ được cái nịnh giỏi, được lên bê phó vênh mặt lắm, lúc nào cũng quát nạt.

Mà cũng quát thằng khác thôi đ. . . giám quát tao.

Rồi Quynh tiếp, một thôi một hồi:

- Thằng này đ. . . có hột dái, về xê mình làm trinh sát sợ quá.

Nó lỉnh đi đâu, làm bọn tao vừa phải giữ tù binh, vừa phải tìm nó.

Tìm mãi không thấy, ông L. mới bảo thôi, nếu không dẫn được tù binh về là không hoàn thành nhiệm vụ.

Chắc nó đợi bọn tao đi xa mới tự bắn vào tay.

Tao truy nó, nó cứ ấp a ấp úng.

Tao mà báo lên, khám thấy hơi thuốc súng AK là nó chết ngay. – Sơn gạt đi:

- Thôi !

Bọn mình biết với nhau thế thôi, báo làm gì, cho nó về quê đi.

Mà mày cũng đừng kể chuyện này với ai nữa nhé.

Ông L.

ông ấy cũng dặn rồi.

Có hay ho gì đâu ?!

Mấy chục năm rồi, không ai biết tin tức gì về T. cả, mấy thằng đồng hương cũng bảo không tìm thấy nó.

Chỉ biết là nó bị thương, được ra luôn, có về quê.

Sau đó thì không rõ. . . .

CHUYỆN VIII PHẢN HỒI VỀ BỨC THƯ CỦA LIỆT SỸ LÊ VĂN HUỲNH

Tôi có đọc ở một topic nào đó trên QuânSửVN thấy có những bình luận về bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh.

Trong đó có một vài ý kiến cho rằng lá thư này do người khác viết sau khi anh Huỳnh đã mất mà không phải do chính anh Huỳnh viết trước lúc hy sinh.

Thực sự tôi cảm thấy rất buồn.

Chuyện ai đó nghi ngờ cũng là bình thường nhưng việc viết ra như vậy là hơi thiếu thận trọng.

Tôi không biết liệt sỹ Huỳnh nhưng rất thân với các bạn bè của anh là những cựu binh sinh viên ĐH Xây Dựng và chuyện bức thư của Huỳnh tôi cũng được nghe kể lại từ trước khi báo chí đăng tải bức thư.

Sau khi hỏi kỹ với các bạn của anh Huỳnh, tôi xin được trao đổi lại với anh em trong quân sử để vấn đề được nhìn nhận rõ ràng.

8/1972 chín người gồm Huỳnh, Cường, Sơn cụt, Hiền phệ, Thu già, Sản, Được, Mỹ, Cần được điều về c17 của e95.

Các anh là công binh.

Hàng đêm dùng thuyền cao su vượt sông Thạch Hãn từ Nhan Biều chở quân và chở đồ sang phía Thành Cổ, chở thương binh, liệt sỹ trở lại Nhan Biều.

Thực sự lúc đó các anh làm nhiệm vụ vận tải.

Thư anh Huỳnh viết đề ngày 11/9/1972.

Lúc đó các anh đang vận tải qua sông Thạch Hãn ở đoạn mà bờ Bắc là Nhan Biều 1 và bờ nam sát với Thành Cổ và thôn Đệ Tam.

Trong bức thư anh nói với vợ là tìm anh ở "Nhan Biều 1", tính theo dòng nước thì ở cuối làng.

Điều tiên đoán này không đúng !

Báo Nhân Dân ngày 27/4/2003 viết: ". . .

đã được tìm thấy ngày 28-10-2002 khi quy tập hài cốt của anh tại nhà ông Hách thôn Nhan Biều 1 . . ." là không đúng với sự thật.

Báo SGGP ngày 13/7/2007 có đoạn ". . .

Thực tế đã diễn ra đúng như dự báo trong lá thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, thư viết khi còn sống gửi cho gia đình" cũng là không đúng.

Diễn đàn WebTreTho thì viết: "Họ đã biết trước hy sinh và cả ngày chiến thắng. . ."

1/1/1973 hai bên ngừng bắn trong ngày Tết dương lịch.

Rạng sáng 2/1/1973, các thuyền cao su của c17 rời bờ sông ở đoạn Thượng Phước để vượt sang Tích Tường Như Lệ ( Lúc này toàn tuyến chỉ còn điểm này của ta là nằm ở bờ nam Thạch Hãn).

Trên một thuyền cáo su có năm người gồm Luân tiểu đội trưởng, Huỳnh, Chuyên, Thiệm và anh Lan chính trị viên trưởng.

Một quả pháo trúng ngay thuyền cao su.

Huỳnh, Thiệm và anh Lan hy sinh tại chỗ; Luân và Chuyên bị thương được chuyển ra phẫu của trung đoàn và Chuyên đã hy sinh tại phẫu.

Ba liệt sỹ được Cường, Sơn cụt và Thu già khâm liệm và chôn cất tại Thôn Thượng Phước.

Tờ trích ngang của mỗi người được đặt trong ống nhựa đựng liều phóng B40 và được chôn theo cùng.

Sơn cụt đục bia của 3 liệt sỹ trên vỏ thùng đạn AK và tấm tôn lợp nhà bằng nhôm mỏng.

Sau khi ngừng bắn (28/1/1973), tư trang của các liệt sỹ được gửi về gia đình theo đường chính thức cùng với giấy báo tử.

Lá thư của anh Huỳnh chỉ có gia đình được biết.

Mãi đến khi các anh Lê Cường, Sơn cụt, Tường cận và Hùng côn cùng gia đình đi tìm mộ Huỳnh thì đồng đội mới biết đến lá thư.

Như vậy nơi anh mất và được chôn cất cách địa chỉ anh Huỳnh tiên đoán trong thư cách nhau 5 cây số đường chim bay và ở thôn Thượng phước chứ không phải thôn Nhan Biều 1.

Mộ của các anh trong các đợt quy tập không tìm thấy vì bom đạn đã làm bay các tấm bia đi nơi khác.

Chỉ có đồng đội Cường và Sơn mới chỉ đúng khu vực các anh nằm mà cũng phải mất 2 ngày thuốn đất mới tìm ra vì bom pháo vùi các anh xuống sâu hơn lúc chôn cất.

Nơi đó nằm trên mảnh vườn do hai mẹ con chị Yến trồng sắn ở đó, gần nhà anh Hậu (Anh Hậu là người giữ 2 tấm bia để chờ ngày có người tới hỏi).

Sáng 8/9/2002 việc bốc mộ ba anh được hoàn tất và chiều hôm đó lễ truy điệu được tổ chức tại nghĩa trang liệt sỹ Ái Tử (không phải là 28-10-2002 như báo Nhân Dân viết).

Chúng tôi chỉ biết sự thật là như vậy.

Việc báo chí có chỗ sai lệch có thể làm cho bức thư trở thành như một lời tiên tri chính xác là việc của báo chí.

Tôi nghĩ anh em không nên bình luận khi chưa có căn cứ, sợ rằng có lỗi với các đồng đội đã khuất.

CHUYỆN X CÓ MA

Tối ngày 30/4/1975, đại đội trinh sát chúng tôi được chỉ định đóng quân ở căn cứ Hải quân Cát Lái (sau này gọi là cảng Cát Lái) nằm ở sông Đồng Nai bên phía Sài Gòn.

Hòa bình rồi, mọi người được nghỉ ngơi trừ việc canh gác ban đêm và trực ban, trực chiến.

Trong căn cứ Cát Lái rất nhiều đồ quân tiếp vụ.

Các loại đồ hộp: thịt hộp, cá hộp, phở hộp, kem mứt hộp, . . .

Các loại thuốc lá Basto, Rubi.

Thuốc lá của quân tiếp vụ làm riêng cho quân lính, vỏ bao có hình lính chiến đang lao lên . . ., còn ghi "Huynh đệ chi binh, quyết tâm chiến thắng".

Gạo, muối, bột ngọt cũng không thiếu nhưng lại thiếu nhiều thứ mình cần.

Ai cũng cần có bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng.

Chả nhẽ cứ rửa mặt bằng tay, lại tiện thể dùng ngón tay mà đánh răng mãi sao.

Giặt quần áo cũng cần xà phòng nữa.

Thế là có vụ trao đổi với dân để lấy các thứ đó.

Có anh còn đổi lấy cả lược.

Đây là Sài Gòn chứ có phải xó sỉnh núi rừng đâu.

Tôi không được tham gia các vụ thu chiến lợi phẩm và đổi hàng đó vì phải quay lại các căn cứ Long Thành và Thành Tuy Hạ để vẽ lại sơ đồ các nơi đó.

Nhưng khi về đến đơn vị thì tôi cũng có đủ các thứ như mọi người, anh em trong tiểu đội vẫn giữ phần cho tiểu đội trưởng mà.

Trong căn cứ Cát Lái lúc đó bị mất nước.

Tắm giặt và cả nước ăn nữa đều lấy nước sông.

Một sớm nọ, sau 30/4 vài ngày, mọi người ra bờ sông đánh răng, rửa mặt đều bị bất ngờ vì có một cái xác người trương phềnh, nổi lập lờ, dập dềnh cạnh bờ nước.

Chắc là do sóng đánh và do thủy triều sáng nay rút đi nên cái xác bị giữ lại.

Đây là cái xác của lính địch.

Trên người chỉ độc một chiếc xà lỏn.

Trên tay trái có một chiếc đồng hồ rất to có 2 núm vặn, loại đồng hồ "thủy quân lục chiến".

Một mùi kinh khủng bốc lên, lợm giọng.

Mọi người đành giạt lên phía trên để đánh răng, rửa mặt.

- Thằng này chắc là, trút bỏ quần áo lính để chạy rồi bơi qua sông mới bị chết đuối.

- Sao nó trương to thế, trông cứ như con bò.

- Các cụ nói đúng thật, chết đuối khi nổi lên thì đàn ông bao giờ cũng nằm xấp, đàn bà thì nằm ngửa.

- Kinh quá ! kéo nó đi chỗ khác đi !

Đến hôm sau, cái xác vẫn còn đó.

Đúng là chỗ này hơi hõm vào nên mấy hôm trước mọi người mới hay ra đây để tắm giặt.

Bây giờ chỗ hõm này làm cho cái xác không trôi đi được.

Trạnh nhớ, mờ sáng 30/4, một phân đội trinh sát chúng tôi dùng thuyền của dân vượt sông từ bờ bên kia sang bên này để nắm địch và đặt đầu cầu cho sư đoàn vượt sông.

Lúc đó tầu chiến của địch vẫn nằm ở căn cứ Cát Lái.

Chắc chúng nó tưởng chúng tôi là dân nên không bắn.

Chẳng may hôm đó chúng tôi bị bắn thì bây giờ chắc tôi cũng như thế này đây !

Đằng nào cũng toàn thắng rồi.

Giá mà cái thằng này nó không bị chết đuối thì vẫn tốt hơn.

Dù sao hắn cũng còn mẹ già và có khi còn con nhỏ nữa . . .

Thoáng nghĩ như vậy nhưng tôi cũng chẳng dám nói với ai . . .

Lại bảo là "trí thức tiểu tư sản".

Hôm sau nữa, cái xác vẫn còn đó.

Mọi người bảo nhau kéo nó đi chỗ khác nhưng kết cục chẳng ai làm.

Rồi sáng hôm sau nữa, tôi thấy mọi người xì xào là thằng lính vẫn ở đó nhưng cái đồng hồ "thủy quân lục chiến" thì không còn.

Quả là như vậy.

Đúng là có ma !

CHUYỆN XI TRẬN PHAN RANG

Quân đoàn 2 chúng tôi hành quân Đà Nẵng gồm bộ binh của trung đoàn 101, lữ tăng 203, pháo binh và cao xạ 37 ly.

Bộ binh và các đơn vị phục vụ chiến đấu đều hành quân bằng xe của đường dây 559.

Rời khỏi Đà Nẵng theo đường số 1.

Đến Điện Bàn thì rẽ lên đường liên tỉnh.

Nói tóm lại, đường hành quân bám theo đường số 1.

Nơi nào cầu hỏng thì đi đường vòng.

Đến gần Cam Ranh, nơi địch vẫn còn chiếm giữ, đoàn quân đi vòng lên đường rừng rồi theo đường qua Ma Nai, Ma Trai mà đổ xuống đường số 1 ở gần Bà Râu. (Xem bản đồ).

Chúng tôi tới gần thôn Ba Râu vào đêm 14/4/1975.

Toán trinh sát sư đoàn chúng tôi do một b trưởng chỉ huy, có thêm một chiến sỹ thông tin và một chiến sỹ trinh sát kỹ thuật mang PRC-25.

PRC-25 nghe lén thông tin của địch và lần đầu tiên trinh sát kỹ thuật lại đi kèm với trinh sát bộ binh.

Đúng là thần tốc phải có cách mới của thần tốc.

Trinh sát bộ binh của sư đoàn cũng chiến theo cách mới.

Không có luồn sâu vé sơ đồ, cảnh đồ nữa mà là bám địch và dẫn xe tăng đánh địch.

Không biết Núi Chúa hiện nay địch hay ta chiếm giữ.

Thôn bà Râu cũng vậy.

Nhiệm vụ của toán trinh sát là bám địch và báo cáo tình hình liên tục về cho sư đoàn.

Tình hình địch tính đến 10/4/75 tại Phan Rang là lực lượng lữ đoàn 2 dù.

Tiểu đoàn 5 dù ở trong sân bay Thành Sơn, tiểu đoàn 7 dù giữ các cao điểm ở phía bắc sân bay, tiểu đoàn 11 dù chiếm phía bắc Bà Râu, quận Du Long và các cao điểm thuộc Núi Chúa và các điểm khác hai bên đường số 1, tiểu đoàn 3 dù chiếm giữ vùng Ba Tháp tiếp giáp với Bà Râu.

Pháo binh địch có tiểu đoàn 1 PB dù.

Ngoài ra còn có một đại đội trinh sát dù nằm ở phía tây sân bay.

Đến ngày 12/4/75, lực lượng tại Phan Rang được Tăng cường 2 trung đoàn 4 và 5 thuộc sư đoàn 2.

Đến ngày 13/4, tiểu đoàn 7 dù rút về Biên Hòa, Liên đoàn 33 biệt động quân đã ra đến Phan Rang và đang chờ nhận bàn giao của lữ 2 dù để lữ 2 dù về bảo vệ Sài Gòn.

Tuy nhiên, ngày 13/4, ta bắt đầu pháo kích và tiến hành đánh lấn vào sân bay nên địch không thể rút thêm lính dù (trừ có tiểu đoàn 7 dù may mà rút từ hôm trước).

Sở dĩ địch điều lực lượng tinh nhuệ ra Phan Rang vì lúc này toàn bộ Tây Nguyên đã thuộc quyền kiểm soát của ta.

Dải miền trung từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa-Nha Trang ta đã giải phóng hết.

Cam Ranh cũng đã thuộc về ta nhưng còn đụng độ với nhiều tàn quân của địch.

Địch không có cách nào khác là lập tuyến phòng thủ tại Phan Rang.

Ta nhớ rằng Phan Rang là quê của Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang là tổng thống VNCH), đồng thời nếu không ngăn chặn được ta từ Phan Rang thì Sài Gòn sẽ không còn lá chắn nào đáng kể nữa.

Không biết có phải vì quê hương không mà Nguyễn Văn Thiệu dứt ruột điều lính dù ra đây thay vì bảo vệ Sài Gòn.

Từ ngày 13/4 sư đoàn 3 bắt đầu công kích vào sân bay Thành Sơn.

Pháo của ta lúc bấy giờ khá nhiều đạn nên đều đặn bắn vào sân bay khống chế máy bay địch dùng không quân.

Bộ binh của sư 3 đánh các chốt trên các cao điểm phía tây và tây bắc sân bay.

Vòng vây sân bay ngày càng siết chặt.

Sân bay Thành Sơn cũng là sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn III của địch, là nơi đặt sở chỉ huy của lữ đoàn 2 dù và biệt động quân.

Còn phía bắc Phan Rang, là nơi quân đoàn II của ta sẽ tấn công bằng xe tăng và bộ binh thì tình hình như thế nào ?

Theo thông tin của trinh sát kỹ thuật và thông tin bàn giao của sư đoàn 3 thì khu vực Bà Râu ta đã chiếm được.

Các điểm cao trên núi Chúa vẫn còn địch đang chốt giữ.

Từ trên cao chúng có thể khống chế đường số 1 và dễ dàng gọi bom pháo đánh chặn đường tiến quân của ta trên đường số 1.

Chúng tôi hành quân suốt đêm 12/4/75.

Xe của cúng tôi có hai lái xe thay nhau lái.

Không biết lực lượng của trung đoàn 101 và của tăng pháo hành quân phía sau chúng tôi như thế nào.

Đại đội trinh sát chúng tôi có nhiệm vụ đi trước, không ngừng nghỉ tới Cam Ranh càng sớm càng tốt.

Vì có một chiếc cầu gần Cam ranh bị bom địch phá hỏng nên chúng tôi phải đi đường vòng lên núi.

Sáng 14/4 chúng tôi từ trên đường rừng rẽ xuống đường số 1, ở đoạn gần cuối vịnh Cam Ranh.

Đến đây thì không thể hành quân bằng xe được nữa mặc dù xe được cắm dầy đặc lá ngụy trang.

Trên Núi Chúa, tiểu đoàn 11 dù vẫn đang chốt giữ.

Chúng sẽ gọi máy bay đánh bom và bắn pháo.

Đại đội xuống xe tại một làng ven đường số 1.

Đây là một làng rất trù phú chắc là Hòa Diêm (bây giờ không còn nhớ).

Một ngôi làng giàu có và thật đẹp với rất nhiều dừa và cây cối khác.

Dân trong làng cũng đi "chạy giặc" cả rồi chỉ còn du kích.

Sau khi dấu 5 chiếc xe (có thể là 6 vì không nhớ) vào dưới các lùm cây và ngụy trang cẩn thận.

Các tiểu đội chia nhau vào các nhà dân bỏ không để nghỉ ngơi và cơm nước.

Đã hai ngày hai đêm tôi chưa chợp mắt tí nào.

Mọi người ngồi trên thùng xe vẫn ngủ đều trên đường.

Tôi và một hai ae nữa thì không ngủ chút nào.

Tiểu đội tôi được một du kích mặc áo đen dẫn vào một ngôi nhà lợp tôn, tường xây nằm dưới um tùm cây cối.

Trên nóc nhà vẫn đang cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Mọi đồ đạc trong nhà vẫn còn nguyên vẹn.

Hôm nay trời nắng đây vì mặt biển rất nhiều sương mù.

Đúng là cái vịnh này kín gió thật, không nghe tiếng sóng biển ầm ầm như những vùng biển khác.

Chỉ có những con sóng dịu dàng vỗ vào bờ rồi đổ xuống lăn tăn trên bãi biển.

Xa xa về phía Núi chúa vẫn có tiếng pháo kích ì ầm và tiếng bom ung ùng. . . .

Sư đoàn 3 của ta đã nổ súng đánh địch ở khu vực Núi Chúa và Bà Râu vào 5 giờ sáng nay.

Đã lâu lắm rồi tôi mới được ở cùng tiểu đội của mình.

Nhiều tháng nay, suốt từ tháng 6 hay 7 năm ngoái tôi thường xuyên phải đi công tác lẻ, lúc thì lên ban 2 sư đoàn vẽ sơ đồ tác chiến cho ban 2 và phòng tham mưu, lúc thì đắp sa bàn, lúc đi tập trận đánh hợp đồng binh chủng, lúc thì đi luồn sâu ở Quảng Trị và ở Huế.

Lạ là lần nào tôi đi cũng chỉ có một mình tôi phối thuộc với các anh em ở các b khác.

Ba lô của tôi thường xuyên để ở nhà.

Những lúc hành quân di chuyển anh em trong tiểu đội lại phải vác hộ.

Đang cho mọi người dọn dẹp nhà cửa và cơm nước thì tôi được đại đội triệu tập lên nhận nhiệm vụ.

Lần này nhận nhiệm vụ, tiểu đội tôi lại chỉ có một mình tôi.

Mình là a trưởng mà chẳng bao giờ được tác nghiệp với chúng nó trong a mình.

Chỉ khổ chúng nó phải vác hộ ba lô.

Cái ba lô của tôi thì cũng chẳng có quần áo hay đồ đạc gì vì có gì cần cho công việc thì tôi mang trong gùi rồi.

Nhưng mà khá nặng vì có nhiều giấy để vẽ, các bản đồ Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, lại còn từ điển Anh-Việt mới cả "Vũ Tá Lâm" nữa.

Hơi tệ !

Toán trinh sát của chúng tôi do một b trưởng chỉ huy, một lính thông tin 2 oát, vài lính trinh sát nữa, trong đó có tôi.

Đặc biệt lần này có Thân, lính trinh sát kỹ thuật đi cùng.

Thân là sinh viên năm thứ hai ĐHNThương, nhập ngũ 6/9/1971.

Chúng tôi có nhiệm vụ bám theo đơn vị bạn (sư 3) đang tấn công ở phía trước, nắm tình hình địch và những vị trí mà ta đã chiếm được và thông tin liên tục về cho ban 2 của sư đoàn (sư 325).

Chúng tôi hoàn toàn không được biết gì về ý đồ của cấp trên.

Nhiệm vụ cứ thế mà thi hành.

Tuy nhiên, là lính trinh sát thì chú nào cũng có tính tò mò, hay nghe lỏm và rất hay suy đoán.

Nhưng không bao giờ được "bép xép" và "nói leo".

Gì thì gì ! ? . . .

Chắc chắn là chuẩn bị tấn công hợp đồng binh chủng đây.

Sư đoàn tôi đã tập trận tấn công hợp đồng binh chủng cuối năm 73 ở Cùa và may mắn, tôi là một trong 2 lính trinh sát được tham gia.

Cả đại đội chỉ có mỗi một bản bản đồ do anh Nhạ đại trưởng giữ.

Ở Quảng Trị hay ở Huế thì kiểu gì tôi cũng phải kiếm được ít nhất là một bản.

Ở đây, mới tới, chưa biết kiếm đâu ra.

Thông tin mà chúng tôi có được từ đại trưởng cũng rất mù mờ.

Không biết hiện nay sư 3 đã đánh được những đâu.

Chỉ biết là hôm qua sư ba đã vây ép sân bay Thành Sơn ở phía tây bắc Phan Rang và 5 giờ sáng nay họ tấn công vào những điểm cao trên Núi Chúa dọc theo đường số 1 nằm ở phía bắc Phan Rang.

Anh Nhạ yêu cầu toán trưởng liên lạc liên tục về ban 2.

Trinh sát kỹ thuật dùng PRC – 25 nghe lén các cuộc gọi của các đơn vị địch giúp chúng tôi biết chỗ nào có địch và chỗ nào địch đã rút để bám theo.

Máy PRC-25 chỉ có "tai nghe" mà hoàn toàn cắt "miệng nói" vì chỉ để nghe trộm.

Tôi xin anh Nhạ một giờ để căn ke bản đồ.

Trinh sát mà không có bản đồ, tôi có cảm giác như bị bịt mắt, chẳng biết đàng nào mà lần.

Cuộn giấy can đã bị mấy thằng nằm ngủ trên xe nằm đè lên nhàu nát hết cả.

Tốt chán !

Tôi cũng chỉ căn ke bản đồ thoang thoáng thôi, lược bỏ những chi tiết không cần thiết. . . .

Và thế là cũng có bản đồ.

Tuyệt !

Tôi quay về tiểu đội để chuẩn bị gùi.

Mọi người đã dọn dẹp nhà cửa và nấu cơm xong.

Quả thật, tôi hơi thất vọng về tiểu đội của mình vì toàn anh em mới chưa có kinh nghiệm gì.

Đó chỉ là một chuyện.

Thường xuyên đi công tác lẻ ít khi ở cùng với đơn vị khi về, tôi thấy đơn vị đã chuyển anh em cũ đi các đơn vị khác, thay bằng lính mới nhập ngũ 10/74.

Đây là những ae mới huấn luyện tân binh và bổ xung vào c20 đầu năm 75 khi còn ở Quảng Trị.

Chẳng biết trong thời gian qua họ có được huấn luyện gì về trinh sát không nhưng rõ ràng là chưa kinh qua trận mạc bao giờ.

Tôi buồn vì bị "mất " các bạn chiến đấu cũ.

Nói thật, đến tận bây giờ tôi vẫn có ý oán trách anh P. chính trị viên trưởng (anh P. là người đã đi luồn sâu cùng với tôi trong chuyện "Một chuyến luồn sâu xè xè").

Chỉ tại anh P. thôi, anh Nhạ đại trưởng vừa mới chuyển từ c20 trinh sát 101 lên đã biết gì về lính tráng chúng tôi đâu.

Những thằng lính cũ tiểu đội tôi, cũng như các tiểu đội khác toàn là những thằng có cá tính, kinh qua trận mạc rất nhiều rồi.

Nhiều thằng đánh nhau xuất sắc ở bộ binh được tuyển về nữa.

Mỗi đứa đều có "chân dung" riêng và đều "gấu" cả.

Trong ánh mắt người chính trị viên thời bình, những người lính có cá tính đó dường như là khó bảo.

Họ không "vâng", "dạ" răm rắp, có lúc còn hỏi xoáy thủ trưởng, đôi khi còn trêu thủ trưởng nữa.

Không phải họ ghét anh P., họ vẫn quý anh theo cách của họ.

Anh P. có cảm giác không kiểm soát được họ và anh cũng không biết quí cái giá trị thực sự của người lính và họ trở thành những cái gai.

Bây giờ, khi sắp vào trận rồi, càng nhớ chúng nó.

Trinh sát chúng tôi đi lẻ hai ba đứa, tôi chưa bao giờ thấy "lạnh lưng".

Suốt từ trận này vào đến khi giải phóng Sài Gòn, các toán trinh sát đi độc lập đành phải chọn các anh em cũ còn lại.

Sau này có một lần khi toán trinh sát chúng tôi chuẩn bị cho trận đánh vào Nhơn Trạch, trong toán có 2 ae mới, tôi không thấy lạnh lưng nhưng luôn luôn cứ phải quay lại phía sau để bao quát ae, chỉ sợ ae không theo kịp, lo lắng cho họ nhỡ có xảy ra chuyện thì có thể tự ứng phó được không.

Chuẩn bị gùi xong thì cơm cũng vừa chín.

- Gọi mấy thằng dậy đi !

- Lâm à ! (Lâm là lính cũ ở tiểu đôi 1 bây giờ làm a phó), bọn này nó được cái ngoan.

Ông có đi đâu thì yêu cầu chúng nó bám sát.

Mà có làm gì thì phải nói rõ và dặn dò trước, kỹ một tý.

Chúng nó chưa biết gì.

Không nói thì chúng nó không tự động làm được gì đâu.

Tôi còn mang theo một nắm cơm do mấy đứa chuẩn bị.

Nắm cơm được bỏ vào cái túi vải trắng chuyên đựng cơm nắm, túi này mấy đứa lính mới vẫn còn.

Vẫn cái gùi, bản đồ, địa bàn, ống nhòm, 2 băng đạn, 2 quả US, dao găm, bông băng, bi đông nước, giấy, bút chì, . . .

10 giờ, toán trinh sát bắt đầu đi dọc đường số 1.

Phải hơn chục cây số nữa mới đến Du Long.

Từ lúc sư đoàn 3 đánh Núi Chúa, Du Long đến giờ, máy bay địch dồn vào đánh chặn ở đó thành ra ở phía sau này không thấy máy bay địch đánh phá phá cầu và đánh vào đội hình nữa.

Phía trước chúng tôi, tiếng bom, pháo và các loại súng bộ binh vẫn đang ì ùng.

Đúng là trời nắng to, chẳng có gió gì cả.

Oi bức và ngột ngạt, hơi nóng bốc lên lấp lóa trên mặt đường nhựa.

Qua mấy cái ấp vẫn nhà cửa nguyên vẹn nhưng không một bóng người.

Những cái cờ vàng ba sọc cắm trên nóc nhà và trên các cây dừa ủ rũ vì không có gió.

Không có vẻ gì là tang tóc nhưng đã bắt đầu hừng hực một không khí của chiến trận.

Một thông tin đi theo toán trinh sát thường xuyên nhận điện và gửi điện về ban 2.

Thông tin bằng máy 2 oát ở đại đội chúng tôi bao giờ cũng dùng ma-nuyp gõ tạch tè.

Điện báo bao giờ cũng phải dịch qua mã thành số.

Mỗi cụm số là 5 con số, rồi sang cụm khác chẳng hạn như:

02536 43682 56419 97821 . . .

Tôi đã xem bảng mật mã để dịch điện, cũng rất đơn giản.

Có thể dịch xuôi, dịch ngược được.

Tuy nhiên nếu lính thông tin mà hy sinh thì viết một bức điện chắc cũng phải rất lâu vì không thuộc mật mã.

Đánh Mooc xơ còn khó hơn.

Vì tò mò, lúc rỗi rãi tôi cũng đã nhờ lính thông tin dạy gõ ma-nuyp.

Tuy rất chậm nhưng được cái "tè" ra "tè", "tạch" ra "tạch".

Cứ cho là viết được điện và tà tạch được thì vẫn không phải là đã đánh được điện vì phải thuộc lòng mã tạch tè của từng con số từ 0 đến 9.

Vì vậy, lính thông tin được đi ở vị trí an toàn nhất trong đội hình và có hẳn một lính trinh sát đi kèm bảo vệ.

Ngày 13/4 địch bắt đầu rút tiểu đoàn 7 dù về Biên Hòa với ý đồ đưa liên đoàn 33 biệt động ra thay cho lữ dù 2.

Tiểu đoàn 11 dù sau khi bàn giao Du Long cho biệt động quân, trên đường rút về sân bay Thành Sơn thì phải hoãn lại vì máy bay địch đã phát hiện được ta chuẩn bị tấn công Du Long.

Ngày 14/4 khu vực sân bay bị ta vây ép dữ dội, sân bay bị pháo ta oanh kích.

Tuy nhiên máy bay địch vẫn cất cánh được và dùng máy bay và pháo mặt đất đánh chặn các mũi tấn công tại sân bay và tại quân Du Long.

Trung đoàn 2 của sư đoàn 3 vây hãm, tấn công ấp Bà Râu từ hai hướng.

Dù và biệt động quân của địch ở ấp Suối Đá và cao điểm 86 phải tháo chạy về khu vực Kiền Kiền.

Mất Bà Râu, Du long rơi vào tình thế bị tấn công từ cả phía trước và phía sau, không có ứng cứu.

Cụm phòng ngự Du Long trên cao điểm 300 rút chạy về phía đông nam (thoát ra phía biển).

Như vậy đến cuối ngày 14/4.

Sư đoàn 3 đã chiếm được Du Long, Bà Râu, làm chủ một phần lớn Núi Chúa.

Ta cũng bao vây chặt sân bay, nơi tập trung nhiều binh lực và các sở chỉ huy của các đơn vị địch.

Nhiều khí tài như máy bay, tăng, thiết giáp, pháo các loại của địch đã bị kiềm tỏa.

Toán trinh sát chúng tôi bám theo phía sau anh em trung đoàn 2 của sư đoàn 3.

Tối hôm đó chúng tôi dừng lại tại một vị trí nằm giữa Du Long và Bà Râu.

Đây là thôn Suối Đá nằm ở chân Núi Chúa.

Phía trái chúng tôi là sườn núi rất dốc, sừng sững vươn lên tới đỉnh ở độ cao trên 900 mét.

Phía bên phải là một thung lũng nhỏ, có đường số 1, đường sắt, suối nước và cánh đồng lúa.

Hình như lúa cũng mới được cắt.

Trên cánh đồng chỉ còn trơ lại gốc rạ và những đống rơm vẫn còn tươi.

Không khí khét lẹt mùi đạn pháo và bom.

Trời đã dịu đi đôi chút nhưng chẳng có ngọn gió nào.

Ông Thắng bê trưởng phân công người nấu cơm, chọn chỗ nghỉ ngơi và canh gác.

Thằng Dũng, thằng Luân và tôi sau khi ăn cơm sau sẽ tiếp tục bám bạn.

Đến đây chúng tôi vẫn chưa bám địch mà vẫn bám theo anh em sư đoàn 3 và ở phía sau các đơn vị tấn công của bạn nên gọi là "bám bạn" . . .

Quá dễ !

- Này, chúng mày đừng có chủ quan, đừng có đốt lửa to thế.

Chúng nó vẫn còn trên núi, nó gọi máy bay, nó bắn pháo thì chết ráo !

- Hai thằng gác nữa, cẩn thận, bọn tàn binh.

Mọi người phải sẵn sàng đấy, tàn binh thì quất liền.

Thân liên tục vặn núm chuyển các kênh của máy PRC-25.

Bọn địch gọi nhau ý ới trên sóng.

Chúng sử dụng ám mã và tiếng lóng.

Tiểu đội trinh sát kỹ thuật hàng ngày theo dõi địch ở Quảng Trị đã quá thạo ám mã và tiếng lóng của địch.

Thỉnh thoảng chúng lại đổi ám mã, ae lại phải dò tìm vài tiếng mới theo kịp.

Tôi đã nhìn thấy cái chìa khóa ám mã.

Đó là hai tấm bìa dầy tròn, tán đinh bấm để hai tấm bìa có thể quay đồng trục với nhau.

Trên hai tấm bìa có in các con số và chữ màu đen, xanh, đỏ, vàng, . . . tấm bìa phía trên còn đục một số lỗ để có thể nhìn được số và chữ ở tấm dưới. hai tấm bìa được tráng nylon trong suốt rất bền và khó thấm nước.

Thân bảo, nếu nó đổi ám mã thì mình phải dò.

Nhanh nhất là dò tọa độ mà địch đóng quân và đối chiếu với thông tin từ trinh sát mặt đất.

Về nguyên tắc, chỉ cần biết chính xác một vị trí địch là suy ra bộ mã số và quay chìa khóa tới vị trí mới.

Tuy nhiên, do cả địch và cả trinh sát của ta báo cáo tọa độ thường không chính xác nên phải đối chiếu dăm ba tọa độ.

Tiếng ý ới trên sóng của địch nhiều nhất là ở vùng sân bay.

Trên Núi chúa, mấy thằng dù vẫn đang xin máy bay và pháo bắn vào đường 1 ở phía gần vịnh Cam Ranh.

Chắc là chúng quan sát thấy ánh sáng đèn của ô tô đang di chuyển vào vị trí.

Mấy thằng dù tiểu đoàn 11 rút chạy từ Du Long về phía biển đang yêu cầu trực thăng ra đón.

Kênh nào cũng thấy tiếng địch rất hoảng loạn.

Nhiều yêu cầu của cấp dưới không được cấp trên đồng ý thậm chí không được trả lời.

Tiếng các cấp chỉ huy điều quân nghe hối hả và loạn xạ . .

Cơm nước xong, tôi nói với ông Thắng:

- Bọn tôi sẽ bám bạn đến ấp Bà Râu, nếu ở đó đêm nay địch đánh chiếm lại thì Luân sẽ về báo cáo.

Nếu không có gì thì sáng mai mọi người ra Bà Râu để bọn tôi còn tiến lên tiếp nhé.

Thông tin chạy bộ này bất tiện quá !

- Đồng ý !

6 giờ bọn mình sẽ ra đó.

Cả toán trinh sát có mỗi một máy liên lạc 2 oát thành ra phải để lại chỗ ông Thắng để còn nhận thông tin, báo cáo tính hình và nhận lệnh của ban 2.

Tốp "bám bạn" đành phải thông tin chạy bộ.

Khoảng cách từ Bà Râu về Suối Đá cũng chỉ có 5 cây số.

Chạy nhanh cũng chỉ mất 20 phút.

Một toán trinh sát đông người khi gần đến địa điểm cần trinh sát bao giờ chúng tôi cũng thả một tốp nhỏ đi trước, rồi cứ thế theo kiểu sâu đo mà tiến lên.

Lúc bám địch thì tốp đi trước cũng khá gần tốp sau nhưng hôm nay "bám bạn" nên hơi xa một chút.

9 giờ thì chúng tôi đến ngã ba đường 1, nơi rẽ vào thôn Bà Râu, thì gặp ae sư đoàn 3 đang chốt ở đây.

Đây là chốt tiền tiêu của họ.

Họ đã đào công sự cá nhân ở sát chân núi, chỉ cách đường cỡ hai chục mét.

Tôi không biết tại sao dọc đường đi không gặp chốt nào cả mà cuối cùng lại gặp luôn chốt tiền tiêu.

Giá không gặp họ ở đây và không có bản đồ thì chúng tôi cứ thế mà đi sẽ đụng địch ở Kiền Kiền cũng nên.

Thì ra đại đội của họ ở trong ấp Bà Râu bố trí thành chốt cứng.

Còn một chốt nữa cũng ở gần đường 1, phía sau, cách vài trăm mét, bố trí trên sườn núi.

Ba thằng chúng tôi lùi lại đằng sau cỡ trăm mét.

Chẳng ai mang xẻng đào công sự, tôi thì mang gùi, Dũng và Luân thì mang ba lô xẹp lép mấy thứ cần thiết thôi.

Chúng tôi lợi dụng taluy của đường 1 và một bên núi.

Chỗ này có một cái cống thoát nước chảy từ trên núi xuống qua đường 1.

Nếu pháo bắn hay địch ném bom thì chui vào cống.

Đây là một cái cống ở phía dưới là vòm bằng tôn, phía trên là bê tông và trên cùng là đường nhựa.

Tiết diện thông thủy hình tròn đường kính chỉ 60 phân, nửa trên bán nguyệt, nửa dưới cũng bán nguyệt bằng tôn.

Chui vào ngồi phải khòm khòm nhưng mà có trúng pháo cũng vô tư, trừ khi là trúng bom . . .

Khá ổn !

Trời về đêm, không khí dịu đi rất nhiều.

Sao ở đây im ắng thế ?

Không bị bom pháo gì.

Chúng tôi leo lên sườn dốc để quan sát.

Bắt đầu có những sợi gió phe phất thổi.

Thằng nào thằng nấy phanh áo đón gió, mồ hôi vẫn còn dâm dấp.

Thằng Dũng lúc nào cũng đóng cúc gấu quần và cúc tay áo, thằng Luân thì quần sắn móng lợn còn tay áo thì đóng cúc.

Tôi thì lúc nào tay áo cũng sắn cao trên khuỷu, quần sắn cao trên đầu gối, thành quen rồi.

Nhiều lần đi luồn sâu về tới nhà hai cẳng tay và hai ống chân te tua những vết cỏ tranh cứa và vết gai cào, rồi đóng vẩy, rồi vẩy bong để lại những vết sẹo mờ, chỗ thì thâm chỗ thì sẹo trắng, nhằng nhịt.

Dũng quê ở Bắc Thái, nó chuyển từ tiểu đoàn 19 đặc công về, người săn chắc, nhanh nhẹn.

Luân quê ở Ân Thi, Hưng Yên, người cao mà rất gày.

Đây là lần đầu chúng tôi đi với nhau.

- Sao suốt hai năm hòa bình mà ông Thắng không kết nạp hai ông thế ?

- Tại bọn tôi thằng nào cũng ngang.

Ông đi vắng không biết đâu.

Gần đến tết thì một loạt thằng bị chuyển đi bộ binh, thằng thì sang vận tải, thằng thì sang c26 lái xe.

Ông Thắng giữ được bọn tôi lại là may rồi.

Bây giờ toàn lính mới Hải Dương cả.

- Thằng Sự đồng hương Ân Thi với tôi chuyển về bộ binh.

Hôm vác đạn ở 560 bị pháo bắn chết rồi.

Đơn vị mới thì ai biết nó là thằng nào. . .

Chẳng biết nó nằm ở đâu ?

- Ừ !

Tôi đang đắp sa bàn thì được tin nó chết.

Đau quá !

Nó ở tiểu đội tôi mà !

Nó chuyển đi thì tôi đang ở Hòn Vượn.

Hôm ở 560, tôi nhận được thư tay của nó không biết nhờ ai chuyển.

Thư của nó đây này !

Tôi móc bức thư từ trong túi ngực đưa cho Luân.

Bức thư được viết trên giấy xé ra từ vở ô ly (thủng bụng), bốn mặt dày đặc chữ.

Thằng Dũng soi đèn.

Hai thằng lặng lẽ đọc thư rồi gấp lại đưa cho tôi.

- Ông khóc à !

Đúng không ?

Tôi thấy nhiều đoạn bị nhòe nước mắt ? – Luân hỏi.

- Tôi chẳng được chia tay nó khi nó chuyển đi bộ binh.

Lúc đang ùng oàng ở động Truồi lại nhận được thư nó.

Hai hôm sau thì nó chết. . .

Tôi lục hết đồ của tôi, chẳng có cái gì của nó cả.

Mãi mới nhớ ra là tôi có cái khăn mùi xoa của nó.

Nó có hai cái, nó bảo tôi cầm một cái.

Còn cái bút của nó đây nữa.

Cái khăn và cái bút thì tôi vẫn nhét trong túi ngực.

Bút đây này! khăn đây này!

- Thằng Sự nó lùn nhưng ở xê mình, chơi bóng chuyền, có nó đứng giữa sân phòng ngự là vững nhất.

Sự ở tiểu đội tôi, kém tôi một tuổi, cực kỳ ít nói, người thấp đậm, mặt bầu bĩnh.

Nó có nét cười rất tươi, dễ gần, dễ mến.

Tôi và nó có rất nhiều kỷ niệm.

Lá thư nó gửi cho tôi là lá thư duy nhất giữa hai đứa.

Lá thư và chiếc khăn tôi để trong ba lô khi hành quân bằng ô tô.

Đụng nhau với địch trên đường từ Xuân Lộc về Bà Rịa.

Xe cháy, mất sạch rồi.

Chiếc bút của nó tôi cài ở túi áo nên bây giờ vẫn còn.

Đó là một chiếc bút "Trường Sơn" màu ghi, nắp bút vặn vào thân bút bằng ren.

- Không ngờ thằng Sự nó viết thư tình cảm thế.

Mà các ông quý nhau thật.

Nó đi rồi, lại chết, chắc ông buồn lắm. – Dũng nói.

- Mà nó gọi ông bằng anh xưng em là sao thế ? – Luân hỏi.

- Ừ !

Lúc nào tôi với nó cũng ông ông, tôi tôi thôi.

Nó chỉ kém tôi có mấy tháng.

Đây là lần đầu tiên nó gọi như thế đấy . . .

Và là lần cuối . . .

Các ông thấy có đau không ?

- Cũng tại lão P. cả !

Lão ấy chả bao giờ hiểu được bọn mình.

Lão ấy lúc nào cũng tưởng là lão đang là chỉ huy ở trường sỹ quan chính trị.

Ông còn khá chứ "đầu chày đít thớt" như bọn tôi thì lão ấy làm sao mà hiểu được cái gì.

Lão ấy giảng chính trị nói vụ "Oa-tơ-ghét" làm bọn tôi bật cười, chắc là lão ghét bọn tôi lắm. ("Water Gate" là vụ nghe trộm điện thoại của Richard Milhous Nixon năm 1972, lúc đó đang là tổng thống Mỹ - tổng thống thứ 37)

Sực nhớ còn nắm cơm từ hồi trưa vẫn đeo bên sườn.

Tôi lấy cơm, rút dao găm cắt nắm cơm thành lát.

- Ông vẫn còn giữ được dao của lão Chí à ? – Luân hỏi. (Chí là tiểu đội trưởng anh nuôi có nghề rèn, tôi đã nói đến trong chuyện "Cái cây").

- Ừ ! cái lão già ấy cười mới hay chứ, răng đã vàng thì chớ lại còn lủng một cái răng cửa.

Nhìn lão cười, không cần biết là chuyện gì là tôi đã không thể nhịn được cười rồi.

Đã thế lại còn hay cười chứ lị !

Nghĩ đến lão Chí "thợ rèn" cả ba chúng tôi đều òa lên cười. . . .

Tôi nói:

- Các ông nhớ không ?

Lão ấy dơ cái ống thả lả của lão ra bảo " Chúng mày xem thằng có vợ rồi nó trắng bạch ra thế này này, còn của chúng mày thì cứ đỏ tía lên . . . hà . . . hà . . ."

Cả ba thằng lại ôm bụng cười. . . .

Mảnh trăng non bàng bạc đã ngả về tây, mờ mờ lấm tấm màn sao chiu chít trên bầu trời.

Hơi sương huyền ảo giăng giăng . . .

Thảng hoặc là một con gió trườn trên thung lũng, rồi táp ngọn lên sườn núi.

Hơi ẩm của đồng đất và mùi rơm rạ mới ngai ngái vừa e ấp vừa nồng nàn.

Trời thở và Đất thở quện vào nhau quấn quýt !

Lại là một cái đêm. . .

Thinh không, sắc không không . . . !

- Luân à, không có ghi ta ở đây mà mày chơi vài bài có phải hay không nhể !

Một cái đêm như thế này, tao nhớ thằng Tư quá (không biết từ lúc nào chúng tôi lại chuyển sang gọi mày tao chứ không ông tôi nữa).

- Ừ !

Tao vẫn nhớ giọng hát của nó.

- Nó vẫn hát bài "Cháng cháng côồng cạc" . . . (Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình).

Nó đi Hòn Vượn với tao.

Nó bị nguyên một quả 40 ly đạn ria bắn thẳng chỉ cách có 2 mét. (M79 có loại đạn ria.

Đầu quả đạn không tròn như thông thường mà có một cái nắp nhựa phẳng.

Trong quả đạn nhồi thốc nổ và rất nhiều bi, dùng để bắn thẳng ở cự ly gần).

Tao ngồi đục bia đá cho nó cũng bằng con dao găm này.

Sao nó không đứng lại mà lại vượt qua tao để đi trước chứ ?

Chỉ mấy chục mét thôi ! . . .

Thằng Tư chết hôm đó, ráng chiều bầm đỏ !. . .

Phía chân trời tây, mây tím hung hung . . .

Một tiếng nổ, hai tiếng nổ . . . những tiếng vọng ù ù . . .

à à . . . giật đi giật lại trên vách núi.

Tư ơi . . . !

ơi . . . !

Khoảng 3 giờ sáng, một trung đội của trung đoàn 2 sư ba vận động từ phía Bà Râu đi dọc theo đường 1 về phía chốt tiền tiêu.

Trăng đã lặn, trời tối.

Những cái bóng đen lầm lũi tiến về phía trước.

Họ đang chuẩn bị tấn công.

Đúng 5 giờ sáng, pháo của sư đoàn 3 bắn cấp tập vào sân bay Thành Sơn.

Trời vẫn còn mờ sương, nhìn thấy chớp đầu nòng hình như là ở Núi Đất (cao điểm 154 ở phía tây chứ không phải Núi Đất cao điểm 180 ở tây bắc sát sân bay).

Chắc là mình đã chiếm được Núi Đất từ những ngày trước rồi.

Từ chỗ chúng tôi đến sân bay phải gần 15 cây số đường chim bay, tiếng súng bộ binh nghe rất nhỏ nhưng tiếng đạn pháo và đạn cối nổ nghe ì ùng như giã giò.

Bỗng rộ lên tiếng súng cối 82 nổ phía trước mặt chúng tôi, trên đường 1, chỉ cách khoảng 500 mét.

Cối 82 của trung đoàn 2 sư 3 bắn từ Bà Râu, cấp tập.

Họ đang tấn công địch ở một cái xóm nhỏ nằm sát một bên là chân núi, một bên là đường 1, nơi con suối Kiền Kiền chảy qua đường (ta cứ tạm gọi là xóm Kiền Kiền).

Chừng mươi phút, khi tiếng đạn cối ngừng nổ, nhất loạt súng RBD và AK nổ túi bụi, nhát nhát điểm vào là tiếng B40, B41 xoẹt xoẹt xoẹt . . .

ùng.

Tôi dùng ống nhòm quan sát nhưng cũng chỉ nhìn thấy lờ mờ.

- Cho tao xem với !

- Chỉ nhìn rõ đạn B40, 41 nổ thôi, chẳng nhìn thấy lính tráng gì cả.

Chắc khoảng 15 phút nữa, trời sáng lên thì xem được hết.

Pháo ở sân bay nổ dịch dần về phía đông.

Giữa sân bay chỉ còn thấy cối nổ.

Chắc bộ binh mình đang đánh vây lấn ở đó rồi.

Phía xóm Kiền Kiền tiếng súng bộ binh cũng thứ dần chỉ còn nghe đì đẹt tiếng súng AK.

Không biết là đã chiếm được xóm Kiền Kiền Chưa ?

Trời đã sáng rõ.

Không nhìn thấy lính ta và lính địch ở xóm Kiền Kiền.

6 giờ sáng, tốp trinh sát của ông Thắng đang dò dẫm đi trên đường 1.

Năm đứa đi cách xa nhau, súng lăm lăm, mắt nhớn nhác quan sát, dáng lom khom, dập dờn mấy chiếc mũ tai bèo.

Trông đến là buồn cười, cứ y như đang tập đi khom vậy.

- Bọn ông Thắng kìa !

- Ừ !

Cứ "để yêm xem sao", hì . . . hì . . .

- Ông ấy thận trọng thế là đúng rồi.

Nhỡ đâu bọn mình "téc" hết rồi thì sao.

Hôm qua bọn mình hơi liều.

Nếu không đụng mấy thằng bộ binh sư 3 thì mò vào địch còn gì.

Mà hai thằng mày cũng nhẹ.

Thằng nào bị thương tao cũng cõng được, khỏi lo !

- Có mày bị thương, tao cõng thì có !

- Mày ý ! mày to con hơn tao, đạn nó trúng mày.

- À ! hai thằng mày trúng đạn nhé !

Một mình tao không cõng được hai đứa thì tao kéo lê chúng mày đấy.

- Thằng Bốn nó đi giữa kìa.

Cái thằng mũi to, tay thì như chày vồ, thế mà gõ tạch tè nhanh nhất tiểu đội thông tin.

Hôm qua, nó bắt tay tao, nó bóp tao đau quá.

Bố sư khỉ !

- Chúng mày nấp đi để tao dọa chúng nó chơi.

- Này đừng có đùa !

Chúng nó bắn thật đấy.

Ba thằng chúng tôi nấp sau mô đất có lùm cây um tùm chờ họ đến gần.

Cả toán ông Thắng đang lò dò thì đất đá ở đâu rơi rào rào.

Chưa kịp định thần thì thằng Luân nhanh mồm:

- Anh Thắng . . . !

Bây giờ cả toán ông Thắng mới thở phào, đứng thẳng lưng:

- Ở đây thế nào rồi ?

- Kia là thôn Bà Râu.

Chỗ lô cốt kia là đầu đường vào thôn.

Thôn này sư 3 đang chốt trong đó.

Trước mặt mình, kia . . . là chốt tiền tiêu của họ đêm qua nhưng bây giờ họ đánh lên xóm kia rồi.

- Thôi !

Tất cả vào đầu thôn Bà Râu đi. – Ông Thắng nói.

Thân vẫn đang đeo tai nghe, vừa đi vừa chuyển kênh tạch tạch trên chiếc PRC-25.

Đang đi, bất chợt Thân nói:

- Bọn nó đang gọi pháo và máy bay đánh vào đây đấy!

Bọn này ở trên núi ngay gần đây.

Chúng nó nhìn thấy mình đấy.

Chạy nhanh vào lô cốt kia còn kịp, nhanh lên !

Cả toán chạy về phía lô cốt.

Đây là một cái lô cốt kiên cố xây bằng gạch và bê tông, ở trên có tháp canh rất cao (tôi nghĩ bây giờ có thể vẫn còn).

Trên nóc lô cốt vẫn còn cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Cũng may là lô cốt gàn ngay ngã ba đường, chỉ cách mấy chục mét.

Chúng tôi vừa vào trong lô cốt thì pháo bắn trên đường 1 đúng vào chỗ chúng tôi đứng lúc nãy.

- Cẩn thận đấy, có khi máy bay ném bom vào lô cốt cũng nên.

- Không đâu, phi công được thông báo tọa độ ở trên đường cơ, muốn xin lại tọa độ thì bọn trên núi phải điện về tiểu đoàn.

Tiểu đoàn nó mới xin được pháo, lên nữa thì lữ đoàn mới xin được máy bay ném bom.

Riêng trực thăng của bọn dù nhiều khi lính nó gọi trực tiếp được.

* Hôm 6/8/2010, tôi đi cùng với các CCB trinh sát kỹ thuật, Thân vẫn còn nhắc lại chuyện chúng tôi chạy vào lô cốt hôm đó *

Ông Thắng nói:

- Bây giờ thế này !

Ông TichTuongNhuLe với ông Luân, ông Dũng tiếp tục bám địch.

Bây giờ là phải bám địch thật đấy.

Sư 3 họ sẽ chuyển toàn bộ sang đánh sân bay.

Hôm nay họ chiếm được đến đâu thì các ông tiến đến đó.

Họ rút đi thì các ông chốt giữ lại đó làm bàn đạp.

Đêm nay xe tăng và 101 mới vào.

Các ông cứ yên tâm, chắc bọn nó cũng không dám đánh nống ra đâu.

Trường hợp bọn nó đánh ra, các ông để đến gần mới được nổ súng.

Cố gắng giứ bí mật.

Nếu các ông nổ súng bọn tôi sẽ lên tiếp ứng ngay.

Các ông lấy thêm đạn và lựu đạn của bọn tôi đây.

Sau khi các ông đứng chốt ở đâu thì ông Luân chạy về sau báo cho tôi.

Chúng tôi sẽ bám gần các ông.

Mọi người rõ chưa ?

- Rõ !

- Đêm xe tăng đến thì ông Toàn theo xe đễn lên chốt của các ông.

Nếu không có gì thay đổi, đêm nay hoặc sáng mai sẽ tấn công.

Nhóm ông TichTuongNhuLe sẽ dẫn đường cho xe tăng.

Thế nhé !

- À ! cầm cơm này, cả ruốc nữa, nước nữa.

Đi luôn nhé !

- Vâng !

Nhưng mà anh xem bản đồ đi đã.

Tôi trải tấm bản đồ căn ke ra:

- Mình đang ở đây.

Khả năng là xóm này sư 3 chiếm được rồi vì không thấy súng nổ nữa mà cũng không thấy họ rút lui.

Chắc là chúng tôi sẽ tới đây.

Có thể anh lên chỗ mỏm núi này này, có cây cối rậm rạp, quan sát rất tốt.

- Ừ !

được đấy.

Là bọn tôi sẽ cách chỗ ông ba bốn trăm mét. – Ông Thắng nói.

Thân chỉ vào bản đồ những nơi từng toán lính dù và biệt động đang ẩn náu và tìm đường chạy.

Nhiều toán dù chạy ra phía biển, một số đang chạy về phía sân bay, một số vẫn đang chốt lỳ quanh quất trên khu vực Núi Chúa.

Chắc bọn này hy vọng có tiếp viện của lữ đoàn để chiếm lại Bà Râu và Du Long. (Có lẽ thế nên chuyện chỉ huy của lữ dù mới nhận được tin tức lung tung không chính xác, bọn thì báo cáo Du long đã mất, bọn thì bảo là chưa.

Bọn bảo chưa chắc là bọn dạt lên núi không nắm được tình hình mà cũng có thể ngoan cố báo cáo như vậy để xin tăng viện ? !).

Tôi gấp bản đồ, cho vào ngực áo đang đóng thùng.

Chúng tôi bắt tay nhau rồi đi.

Thế là ba ngày ba đêm trọn chưa ngủ tí nào.

Mà sao không thấy buồn ngủ, mắt vẫn mở trừng trừng, khô kháo và cay cay.

Chắc có gương soi sẽ thấy mắt đỏ ngầu, không biết nữa ?!

Toán ba đứa chúng tôi rời lô cốt và đi dọc vên đường 1.

Chúng tôi cứ từ từ mà đi vì thời gian còn tha hồ rộng rãi.

Vả lại cũng phải thận trọng vì không biết chắc là đơn vị bạn đã đamhs được đến đâu.

Bỗng một loạt đạn pháo không biết từ đâu choảng ngay vào đầu chúng tôi.

Tôi quát:

- Chạy ngay vào cái cống kia !

Ba đứa chúng tôi chạy thục mạng.

Thằng Luân nhanh nhất chui tọt ngay vào trong cống, thằng Dũng chui vào sau cùng.

Một cái cống thoát nước khô ráo.

Tôi nói:

- Thân nói đúng thật.

Bọn nó vẫn còn ở trên núi gọi pháo chơi mình đấy !

- Cứ tưởng pháo nó bị ta kiềm chế hết rồi, thế mà bắn nhanh và chính xác thế.

Thì ra trong cống không phải chỉ có ba chúng tôi.

Trong đó đã có một chú lính của sư 3 ở đó từ bao giờ.

Chú này có cái vẻ hớt hơ hớt hải, mệt mỏi và sợ hãi khó tả.

Luân nhanh mồm:

- Ông là lính sư 3 à ?

- Vâng !

- Ông có bị thương ở đâu không ?

- Không ạ !

- Mọi người đâu mà có mỗi mình ông ở đây ?

- Ở trên kia kìa.

Em mệt quá, chui vào đây nghỉ một lúc.

- Ông có đói không ? bọn tôi có cơm đây này.

- Em không đói.

Em vừa ăn lương khô.

- Này, ông uống nước đi.

- Em xin !

- Bọn ông đánh vào đây từ bao giờ thế ?

- Từ sáng hôm kia.

Cứ phải dấn liên tục.

Em mệt quá không chạy được nữa.

- Thế lúc nãy mà bọn tôi là lính nó thì làm thế nào ?

- Em ngồi ngay miệng cống.

Nhìn thấy các anh đi.

Pháo bắn em mới tụt vào trong.

Em cũng đoán các anh chui vào đây.

- Ông ở đây, không sợ mọi người lo lắng đi tìm à ?

- Nói thật với các anh, em là lính mới bổ xung vào đơn vị là phải đi đánh ngay.

Em sợ lắm !

Anh tiểu đội trưởng thì cứ quát, em càng sợ.

Lúc chạy qua chỗ này, anh ấy quay lại bảo em là "mày chui vào đây mà trú cho nó rảnh" rồi anh ấy đẩy em vào.

Em vừa sợ vừa buồn.

Sao em lại hèn thế, chân tay cứ bủn rủn, chỉ chực ngã.

Em mệt quá các anh ạ !

Đã quen với bóng tối, ánh sáng từ đầu cống bên kia xuyên vào làm tôi nhìn rõ hình hài chú lính.

Một cái bóng thằng người bé tí tẹo và gày gò, chẳng có sức sống gì cả.

Không biết làm sao mà người ta động viên cả cậu ấy đi lính, mà lại dúi ngay vào chỗ hòn tên mũi đạn thế này, đánh đấm làm sao ?

Chiến tranh dày vò mỗi thằng lính chúng tôi đã đành, sao nỡ đưa đẩy cậu bé này vào đây chứ ?

Chẳng ai bảo ai, chúng tôi đều có cảm xúc thương cậu ta vô cùng.

Nhìn không rõ mặt nhưng chắc là thiếu niên mới lớn vẫn đang trong vòng tay mẹ.

Chú này nếu đang học cấp II thì cũng bị bạn bè bắt nạt thôi.

Ôi ! chiến cuộc.

Một guồng máy đưa đẩy mọi thứ vào vòng quay của nó.

Một cỗ máy nghiền khổng lồ và lạnh lùng.

Pháo ngừng bắn rồi, bọn tôi chui ra ngoài để đi tiếp.

- Này !

Có bi đông không ? lấy ít nước mà uống.

Ông Dũng đưa cho cậu ấy nắm cơm đi !

Lần này chúng tôi men theo sườn núi mà đi khom.

Tôi đi đầu, Luân đi sau cùng.

Chừng non cây số thì hiện ra trước mặt là một xóm nhỏ.

Đúng là một xóm nhỏ, trông nghèo nàn với những mái nhà tôn sơ sài và cách khá xa nhau.

Cây cối thì chỉ thấy dừa là dừa rồi lại chuối và chuối.

Một con suối nhỏ từ Núi Chúa vắt vẻo trong rừng cây lúp xúp chảy qua ngay đầu xóm rồi luồn qua một cái cầu nhỏ trên đường 1.

Chúng tôi dừng lại nghe động tĩnh trong xóm.

Vắng tanh vắng ngắt và khét lẹt mùi thuốc súng.

Chúng tôi không vào xóm mà lợi dụng địa hình giữa xóm và đường 1 mà dò dẫm tiến lên, Vừa đi vừa nghe ngóng và quan sát.

Dường như cơn lũ chiến trận mới trôi qua đây tàn phá cái xóm nghèo.

Quang cảnh một trận địa vừa im tiếng súng.

Các cây chuối đổ, lá xác xơ còn tươi nguyên nhựa.

Các cây dừa trúng pháo cối ở gần với các tàu lá te tua lắt lẻo, đung đưa.

Một vài nóc nhà trúng đạn cối, mái tôn thìa lìa, quăn queo.

Mới chưa tới 9 giờ sáng mà sao không khí đã hừng hực.

Mùi dừa tươi hăng hăng trộn với hơi khét của thuốc nổ và hơi đất nồng nồng cuộn lên tạo thành một cái mùi khó tả thành lời – mùi chiến trận còn tươi.

- Sao không thấy có ai chết nhỉ ?

- Chắc là chúng nó nhanh chân rút trước rồi.

Bọn này bây giờ mất hết tinh thần rồi.

Nó biết mình hay tấn công vào sáng sớm mà.

Mới lại xem ra chẳng có công sự, trận địa gì thì phòng ngự làm sao được.

- Cẩn thận đấy !

Có khi nó rút lên đồi, ngay trên đầu mình chưa biết chừng ?

- Có khi nó thấy mấy thằng đi lẻ nó thịt luôn.

Hì . . .

Hì . . .

- Nó thịt mày, vì mày béo.

Tao thì làm gì có thịt.

- Ừ !

đúng thật.

Bọn nó hay bảo mày liệu hồn không có nó bẻ chân mày xỉa răng là phải.

Mà mày ăn còn khỏe hơn tao.

Thế cơm vào bụng mày thành c... hết à ?

- Thôi hai bố ơi !

Nói khẽ thôi !

Cẩn thật một tý đi !

Không khéo dẫm phải c... thật đấy.

Bọn tôi cùng cười òa lên, không ai nói chuyện nữa.

Đến cuối xóm chúng tôi dừng lại quan sát xung quanh.

Phía trên núi vẫn im lìm, hai bên con đường nhựa vắng ngắt là cánh đồng trống trơ, trống trọi.

Hàng cây số trước mặt đều trống trải.

Không quan sát thấy đơn vị bạn đang ở đâu.

Tôi giở tấm bản đồ căn ke và bàn với mọi người:

- Bây giờ thế này nhé.

Từ sáng quân của ta đánh ở đây chắc là thuận lợi, không có địch chống trả.

Có thể họ phát triển tiếp lên phía trước đến Ba Tháp.

Chắc chắn họ chưa rút đi đâu vì nếu họ lùi lại thì mình đã biết.

Họ cũng không rút lên núi làm gì.

Họ cũng không thể chuyển quân về phía sân bay trên cánh đồng trống giữa ban ngày được.

Bây giờ mình cứ tiến.

Giữ bí mật.

Không để địch trên núi nhìn thấy gọi pháo bắn.

Không để họ phát hiện ra mình trước.

Nếu phía trước là địch, cũng không được để địch phát hiện ra.

Mọi người ngụy trang cẩn thận một chút.

Mình sẽ vận động rất chậm thôi.

Vậy có được không ?

- Một trí ! ("Một trí" tức là "nhất trí".

Lính trinh sát những lúc nói chuyện nghiêm túc thì vẫn cứ đùa như vậy).

- Dũng, thế nào ?

- Tao cũng một trí !

Con dao găm của lão Trí sắc lẹm, cắt cây sim, cây mua, cây gì nữa lá nhỏ mà rất rậm mùi hăng hăng như lá chanh nhưng hơi hôi hôi.

Ba thằng ngụy trang cứ như ba lùm cây.

Nắng gắt rồi, tiện thể cũng mát, càng hay.

- Đi nhớ !

- Từ từ, tao đái cái hẵng.

Bệnh đái hay lây, chúng mày không đái à ?

- Có chứ !

- Mày biết không, suốt ngày hôm qua tao uống bao nhiêu nước mà chả đái lần nào.

Bao nhiêu ra mồ hôi hết.

- Thì tao cũng thế.

Ba thằng lò dò đúng động tác "đi khom" hơn hẳn những khi tập.

Lúc tập, thằng nào cũng lười, chỉ rình bê trưởng quay đi là đứng thẳng mà tiến vèo vèo.

Bê trưởng luôn phải nhắc nhở "thấp xuống, thấp xuống !".

Được cái, mái đường ở đây khá cao, bọn tôi "đi khom" thấp hơn đường nhiều.

Ba bụi cây di động lừ lừ tiến, trên núi khó mà nhận ra là ba cái đống gì . . .

Hì . . .

Hì . . .

Chắc ở đây vào mùa mưa lũ, nước lớn, nên đường đắp cao, thỉnh thoảng muốn quan sát bên kia đường, phải đứng thẳng lên mới nhìn được.

Trời bắt đầu nắng gắt.

Hơi nóng bốc lên từ mặt đường lấp lóa, rần rật.

Hơi ẩm từ những đụn rơm rạ trên ruộng lúa bốc lên nồng nồng, ngột ngạt.

Dân ở đây không mang rơm rạ về nhà như ở bắc bộ.

Họ cắt lúa cả rơm lẫn rạ và đập lấy thóc ngay tại ruộng.

Cái thùng đập lúa hình phễu vuông bằng gỗ được khênh ra ruộng, gặt đến đâu kéo thùng đến đó.

Người ta không dùng rơm rạ làm chất đốt hay cho trâu bò ăn.

Củi thì đi kiếm trên rú.

Mỗi con trâu hay bò được buộc vào một cái mà chúng tôi vẫn gọi là "cần câu bò".

"Cần câu" là một cây tre chôn xuống đất, phía trên là một cây tre nhỏ hơn có thể quay đủ mọi hướng, đuôi "cần câu" treo bao cát làm "đối trọng" cũng giống như cái cẩn cẩu tháp mà ta thấy trong xây dựng cao ốc bây giờ.

Đầu cây tre nhỏ buộc dây rất dài để giữ trâu bò.

Buộc trâu bò ở đây cũng khác.

Không đơn giản là "xỏ sẹo" như ở miền bắc, ngoài "xỏ sẹo", người ta còn buộc dây thành một bộ dây vòng qua sừng, vòng xuống dưới hàm giống như bộ dây đóng hàm thiếc của ngựa.

Trâu bò có giằng dây thì chỉ bị đau chứ không bao giờ "đứt sẹo" được.

"Cần câu" được đặt ở nơi cỏ tốt, trâu bò ăn thoải mái, không phải chăn dắt.

Hết cỏ nơi nảy thì rời "cần câu" đi nơi khác.

Phía trước chúng tôi bây giờ là một rẻo trảng cỏ cây lúp xúp bám theo phía phải đường 1.

Mấy cái "cần câu bò" trơ trỏng, chổng ngược lên giời.

Bò cũng đi "chạy giặc" rồi . . . ?!

Tôi dừng lại và vẫy tay, muốn hội ý một tý:

- Mình cứ đi ven đường bên này thôi nhé.

Nghe ngóng xem có sư 3 chốt ở đây không.

Có thể họ chốt ở phía trước đoạn có cây lúp xúp này.

Ai phát hiện ra họ trước thì kêu dừng lại nhé !

Mình không biết mật khẩu của họ nên phải tiếp cận họ thật gần mới chủ động liên lạc với họ.

Nếu là địch thì mình sẽ chốt ở đây và báo về cho ông Thắng.

Một trí không ?

- Ừ !

- Theo kế hoạch thì hôm nay họ rút khỏi đây, tập trung đánh sân bay.

Từ đây sư mình sẽ đánh tiếp.

Cứ đề phòng cẩn thận nhỡ họ rút lúc nào mà mình không biết.

- Biết rồi !

Đụng nhau với lính nó thì táng luôn, bọn tao đâu có ngán !

- Không được !

Không táng tiếc gì cả.

Chỉ bám thôi.

Làm hỏng việc lớn là cụ Ngoan cụ ấy chửi chết đấy.

Cụ ấy lại bảo "trinh sát chúng mày ngu quá, đuổi mẹ chúng mày xuống bộ binh . . .

".

Bọn tôi đã bị cụ chửi một trận rồi, cụ bảo "súng của trinh sát chúng mày là củi à . . . !". (Cụ Bùi Đức Ngoan lúc đó là tham mưu trưởng sư đoàn 325.

Trước kia cụ là trung đoàn trưởng 101.

Chuyện cụ Ngoan, bác Lê Xuân Tường có viết một chuyện – xem trong topic Một thời hoa lửa).

- Được rồi !

Thì không táng.

Thực ra thì còn nhiều thời gian, nên tôi mới nói với hai thằng nó dài dòng như vậy thay vì nói độc một nhát : "Cấm lộ đấy !"

- là xong.

Hai thằng này, nhất là thằng Luân, nói chuyện rông dài thì "tép nhảy" suốt ngày làm vui.

Chuyện nghiêm túc bao giờ chúng nó cũng chỉ thích ngẵn gọn, rõ ràng.

Mà cũng chả phải hai thằng đó.

Những thằng trinh sát chúng tôi quen đi độc lập, quen tự xử lý mọi chuyện rồi, không thích bị "dạy bảo" lôi thôi.

Tốt nhất là "nói ít hiểu nhiều".

Tôi dơ tay ra hiệu cho mọi người dừng lại.

Sắp hết trảng cây rồi.

Trước mặt chúng tôi là một rẻo đất cao vắt từ bên kia đường sang, cũng cỏ và cây lúp xúp khá rậm rạp, sim, mua, dứa dại và lau lách.

Có nhiều vệt cây cỏ bị dẫm đạp còn mới.

Chúng tôi cúi rất thấp, chỉ có cây cỏ che khuất thôi, không còn mái đường che đỡ nữa, vừa tiến vừa lắng tai nghe ngóng.

Dũng đập vào tôi để tôi dừng lại và thì thầm:

- Có mùi thuốc lào.

- Ừ !

Mũi mày thính thật.

Chúng tôi dừng hẳn lại và bắt đầu bò về phía trước.

Bỗng nghe tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, rồi một bụm khói bốc lên cách khoảng chục mét.

Sao lính tráng không nói chuyện mà im lặng thế.

Tôi ra hiệu cho mọi người nằm rạp xuống rồi ném hòn đất về phía có khói thuốc bốc lên.

Một giọng bắc cất lên:

- Đứa nào thế ?

- Chúng tôi lính 325 lên tiếp quản thay các anh đây.

Đừng bắn !

Thấy một chú đội lá ngụy trang đứng lên, dớn giác nhìn quanh.

- Tôi ở phía sau anh đây ! – Nói rồi tôi từ từ đứng lên, lom khom.

- Bọn anh ở 325 bổ sung cho chúng tôi à ?

Đại ơi ! mày lên báo ông Bang đi ! (Tôi không nhớ tên ae sư 3 nên cứ tạm gọi là Đại và Bang cho nó dễ nghe chứ không phải tên thật)

Một tay nhảy khỏi công sự chạy lom khom về phía trước.

Chúng tôi cùng tiến về công sự của họ.

Lính sư 3 đã kịp đào mỗi người một công sự cá nhân sâu đến thắt lưng, ngồi xuống ẩn nấp được, quỳ lên là bắn tốt, lại còn ngụy trang rất cẩn thận.

Được lắm !

Lính này cũng dày dạn đây.

- Bọn anh chốt ở đây đông không ?

- Bọn tôi có một đại đội, bên này đường là trung đội tôi, bên kia là hai trung đội.

- Tình hình địch phía trước thế nào ?

- Chúng tôi tiến đến đây thì sáng rồi.

Chúng nó bắn pháo chặn.

- Vâng, bọn tôi cũng biết.

Các anh đang đánh nhau với bọn biệt động.

Cả dù và biệt động đều đang dạt lên núi thôi.

Chúng nó chưa tan hết đâu.

Mà các anh cũng thấy "o vê mù" thỉnh thoảng bay qua bay lại.

Tôi nghĩ, đến cửa ngõ Phan Rang rồi, chắc phía trước chúng nó chốt chặn rất chặt.

Khó lòng mà lên được.

Dừng lại ở đây là tốt quá rồi.

- Đại trưởng tôi cũng bảo thế.

Một loáng sau đã thấy ba người luồn lách qua đám cây lúp xúp tiến đến.

Một ông có vẻ lớn tuổi hỏi:

- Các đồng chí ở 325 à ?

- Báo cáo anh, chúng tôi là trinh sát của 325 có nhiệm vụ bám địch, đến đây thì gặp các anh.

Tôi chẳng có giấy tờ gì cả, chỉ có cái này.

Tôi rút từ túi áo ngực cái giấy "Chứng Minh Thư Quân Giải Phóng".

Cái giấy đã nhàu và ướt mồ hôi.

- Chúng tôi không có giấy công tác.

- Thôi !

Nhìn là biết rồi.

- Quê ông ở đâu thế ? có phải Hà Bắc không ?

Trông ông giống em thằng bạn tôi quá.

- Dạ !

Không.

Báo cáo, tôi Hà Nội, anh này Hải Hưng còn anh này Bắc Thái.

- Được.

Thế này nhé ! các ông muốn biết tình hình gì chúng tôi sẽ cung cấp.

Chúng tôi đã nhận được lệnh rút sang đánh sân bay rồi nhưng mà chưa đi được.

Có lẽ chiều muộn mới đi.

Tôi là đại đội trưởng còn đây là ông Bang trung đội trưởng.

Thế ra 325 thay chúng tôi chốt ở đây à ?

- Vâng, tôi cũng chỉ biết thế thôi ạ !

- Bang à !

Cậu trao đổi tình hình với mấy ông này nhé.

Tớ chạy sang chỗ thằng Quân xem thế nào.(Quân cũng là tên bịa thôi, vì tôi không nhớ).

- Vâng, anh cứ đi đi.

Bọn em cũng sẵn sàng rồi.

- Thôi chào các đồng chí nhớ !

- Vâng !

Anh đi !

Chúng tôi trao đổi tình hình địch với nhau trên tấm bản đồ căn ke.

Vậy là rõ.

Đây là phía trước của ta.

Thôn Ba Tháp mình chưa tấn công tới, có lẽ địch lập phòng tuyến ngăn ta tại đó.

Chúng tôi cảm ơn anh Bang Và bắt tay anh.

Anh nói:

- Có hai công sự này, nhường các anh.

Bọn tôi cũng sắp đi rồi.

Không biết có dịp gặp lại nhau nữa không ?

Chúc may mắn nhé !

- Vâng !

Chúc anh may mắn !

Ba thằng tôi ngồi dưới bụi cây giở cơm nắm ra.

Suốt từ sáng đến giờ không thấy đói sao bây giờ tự nhiên thấy đói thế ?

Buổi chiều 15/4/1975.

Trời nắng gắt, dường như không có một đám mây nào ngoại trừ những sợi mây ti bất động trắng muốt ở rất cao.

Gió thoang thoảng thổi từ hướng đông mang theo hơi biển vào làm cho không khí đỡ phần oi bức.

Tôi ngồi vẽ sơ đồ tình hình địch và ta khu vực Ba tháp cho đến Kiền Kiền, chỗ ông Thắng.

Xong, tôi ghi nội dung báo cáo tình hình bằng lời vào một góc sơ đồ.

Tôi cũng báo cáo chiều nay, ae của sư 3 sẽ rút khỏi khu vực này.

- Luân à ! bây giờ chạy về báo cáo tình hình cho ông Thắng đi.

Chắc từ giờ đến tối ở đây không có chuyện gì đâu.

Bọn nó có tâm trí đâu mà đánh nống ra.

Mày đi cẩn thận, trên núi vẫn có bọn nó.

- Được rồi, yên tâm !

Tao chỉ lo hai thằng mày ở đây . . .

- Mày cứ ở chỗ ông Thắng, lúc nào có xe tăng thì dẫn đến đây.

Mày cũng yên tâm, có gì bất trắc thì chúng tao cũng rút về Kiền Kiền.

Nếu ông Thắng muốn thêm một đứa ở đây thì cử đứa khác.

Mày tả đường đi cho nó.

Mày phải ở lại đấy để tối còn dẫn xe.

- Ừ !

- Đi nhé ! – Mấy đứa bắt tay, rồi Luân nhanh nhẹn luồn cây và mất hút về phía sau.

Dũng người thấp hơn tôi một chút và hơi đậm hơn.

Đấy là lúc đó nhìn thấy thế chứ như bây giờ mà như vậy cũng là gày còm rồi.

Nó ở tiểu đoàn 19 đặc công của sư đoàn.

Tiểu đoàn bị giải tán đầu năm 1973 và bổ sung quân cho đại đội trinh sát của sư đoàn và 3 trung đoàn.

Số còn lại về trinh sát tiểu đoàn và bộ binh.

Tôi nhớ nó nhập ngũ tháng 12/71 thì phải.

- Dũng à ! mày có người yêu chưa ?

- Chưa.

Tao cũng thích một đứa từ hồi học lớp 9, lớp bên cạnh.

Đến năm lớp 10, lúc thi tốt nghiệp nó lại ngồi cạnh tao.

Các lớp thi thốt nghiệp của trường tao xếp phòng thi theo a bê xê.

Nó tên Dung mà.

- Từ từ, . . . có xinh không ?

- Xinh.

Nhiều đứa thích nó lắm.

Trước ấy, tao chưa bao giờ nói chuyện với nó, chỉ nhìn trộm thôi.

Thấy nhiều đứa nói chuyện với nó, nó cười trông càng xinh nhưng mà trong người tao nó cứ sao ấy.

- Mày ghen ?

- Nhiều lần ở nhà nhớ nó, lại lo sợ nó yêu thằng nào mất, sót ruột lắm.

Tao lên dây cót, nhất định hôm sau phải bắt chuyện với nó.

Hôm sau, đến trường, thấy nó đi một mình, tao mạnh bạo đến gần nhưng nó hồi hộp làm sao ý, ngượng lắm.

Thế là đi qua nó ngay bên cạnh mà vờ như không nhìn thấy.

Mày bảo có dở hơi không ?

Mày phải biết là trường cấp III ở huyện chỉ có 2 lớp 10 thôi.

Biết hết nhau cả ý mà.

Con gái cũng chỉ có đâu hai chục đứa, mỗi lớp một nửa.

- Lúc thi tốt nghiệp thì sao ?

- Lúc thi môn toán nó không làm được bài, cứ ngó nga ngó ngoáy.

Tao để dịch bài cho nó xem.

Tao làm không tốt lắm nhưng cũng được.

Tao thấy hãnh diện ghê !

Lúc về, nó nhìn tao ghê lắm làm tao ngượng, phải cúi xuống.

Môn thi sau cùng sắp xong thì trời mưa rất to.

Lúc ra về tao không có áo mưa.

Nó đưa áo mưa nhường tao.

Mày bảo, ai lại để nó đi mưa.

Tao cứ thế đi dưới mưa.

Ai dè nó cũng không mặc áo mưa mà cũng đi mưa luôn.

Nó hỏi tao trọ ở đâu.

Tao bảo trọ ở thị trấn gần nhà nó.

Thế là hai đứa đội mưa đi cùng đường.

Mày bảo có dở hơi không ?

- Tao thấy chúng mày tình tứ quá !

Ừ đúng là lúc bấy giờ chẳng ai dám đi chung áo mưa chứ bây giờ thì chết với bọ rồi.

Mà sau mày đi lính thì sao ?

- Mày nghe bài này nhé !

" Hôm nay em lên xe hoa.

Trời mưa, mưa rơi âm thầm.

Nhìn xác pháo dưới gót chân.

Giờ phút cuối đến tiễn em. . .

Gót chân người xa xưa, sợ lấm nên cần tôi đưa.

Nàng đã quên một lối về.

Quên cả người trong gió mưa. . ."

- Nghe buồn quá mầy !

- Là hát thế thôi, chứ tao có được tiễn em lúc lấy chồng đâu.

Tao nhận được thư bạn tao, nó nói Dung lấy chồng hồi cuối năm.

"Mợ nó đi Tây rồi" !

Nhưng mà tao vẫn nhớ.

Mày bảo có dở hơi không ? (Là thằng Dũng nó cứ hay nói cái câu " Mày bảo có dở hơi không").

- . . . ?!

- Mày còn viên sát trùng nào không ? – Tôi hỏi.

- Còn.

- Mày cứ ở đây nhé, đưa bi đông, tao đi lấy nước.

Hoàng hôn bảng lảng trên triền núi phía tây.

Ánh tía hồng hừng hực quét lên bầu trời thành hình rẻ quạt.

Mảnh trăng non bàng bạc đã lắt lẻo tít trên cao.

Ae lính f3 đã chuyển quân về hướng sân bay.

- Dũng ơi !

Mình chuyển ra đường đi.

Không biết lúc nào xe tăng mới đến nhỉ ?

- Ừ !

Mình ở đây nhỡ xe đến, chạy ra không kịp.

Nó chạy vào chỗ địch thì mo (không biết chữ "mo" này từ đâu ra nhưng mà lúc đó chúng tôi dùng với nghĩa "chết").

- Lại tìm chỗ cống thôi.

Chúng tôi xuống đường, chỉ cách chỗ cũ vài chục mét.

Tìm ngay được một cái cống.

Tốt rồi.

- Có lẽ phải tiến lên thêm ra đến chỗ trống trên cánh đồng thì hay hơn mày ạ !

- Ừ !

Trời đã tối hẳn.

Chúng tôi tiến thêm lên phía trước cỡ 500 mét ra chỗ đồng trống.

Hai bên là ruộng.

Đường nằm cao hơn có dễ trên một mét.

Chỗ này là một cái cầu nhỏ, nước chảy từ bờ đường phía tây sang phía đông.

Nước rất thấp và chảy chậm.

- Tao muốn tắm một cái.

Mấy ngày rồi.

Mày ở trên quan sát nhé.

- Mát quá !

Mày có xà phòng không ?

- Có.

Hôm ở Đà Nẵng tao lấy xăng ở kho Liên Chiểu đổi lấy khăn mặt, bàn chải, thuốc đánh răng đầu tây đen, cả mấy cục xà phòng thơm hẳn hoi.

- Mày tắm thơm để tối tán gái làng Kim liên chứ gì ?

- Ngồi liên hoan văn nghệ cùng du kích thì cũng phải thơm chứ lị.

Đây !

Nhanh lên cho tao còn tắm với.

Chúng tôi thay nhau tắm giặt.

Quần áo vắt kiệt rồi chùm lên mấy cái cây lúp xúp ven suối.

- Mày gày, sao ăn khỏe thế.

Lúc nãy vừa ăn lương khô, bây giờ lại ăn. (Lúc đó tôi cũng thuộc diện gày nhưng mà chỉ là trung bình trong xê thôi.

Cao nhất tôi cũng chỉ được 47 ký.

Sau nhiều ngày lăn lộn liên tục chắc không quá 45 ký)

- Mày không biết à.

Tao lúc nào cũng là thằng ăn nhiều.

Mâm tao chúng nó xong rồi đứng lên hết thì tao lại chuyển qua mâm khác. a2 của tao ở gần nhà ăn, mày biết rồi.

Chín giờ cả đại đội phải đi ngủ là bọn tao lại lẻn vào nhà ăn.

Luồn tay qua cái cửa phát cơm ấy.

Thể nào cũng khoắng được mâm dự trữ.

Mang về chén sạch rồi trả lại xong nồi vào chỗ cũ.

Hôm tao đi tập trận ở Cùa về, ông P. gọi tao lên nói: "đồng chí về kiểm điểm đồng chí Thìn chui vào bếp lấy cắp một xong cơm, một xong canh, một khay thức ăn.

Đồng chí rõ chưa".

Tao nói: " Anh em họ đói mà thủ trưởng".

Ông ấy liền xổ ra một tràng về ý thức nọ kia. . .

Tao đành hô rất to: "Rõ !" rồi biến.

Hôm ấy, mâm dự trữ không để gần cửa phát cơm mà để trên giá ở xa.

Thằng Thìn mới chui qua lỗ cửa phát cơm.

Bất ngờ, thằng Phố mở khóa kho lấy gì đó mới giật mình thấy thằng Thìn ở trong.

Buồn cười quá nó mới về kể chuyện với mấy đứa nhà bếp.

Không biết đứa nào lên tâu ông P.

Chứ thằng Phố nó biết bọn tao vẫn lấy trộm cơm của nhà bếp, nó chỉ cười hì hì, có nói gì đâu.

Thằng Thìn bị cảnh cáo đại đội mày biết đấy.

Sau, nó cũng bị ông P. chuyến đi vận tải cùng đợt với nhiều đứa khác.

- Tao kể chuyện người yêu của tao rồi nhé ! còn mày thì sao ?

- Chuyện hay lắm.

Hồi lớp 4, tao thích một đứa xinh nhất lớp.

Chỉ có thế thôi.

Tiểu đội tao nó đòi tao kể chuyện người yêu.

Lấy cảm hứng từ bạn lớp 4 tao liền phịa ra một câu chuyện nghe lâm ly lắm, oan trái lắm.

Đứa nào nghe xong cũng thấy nuối tiếc.

Bọn nó cứ thúc giục tao quay trở lại với em ấy.

Làm gì có em nào.

Chả lẽ lại là cái em lớp 4.

Thế là tao đành thú nhận chuyện kể với bọn nó là chuyện tao bịa ra chứ không phải chuyện thật.

Nhưng mà chúng nó không tin đó là chuyện bịa.

Biết làm thế nào được !

Bọn tôi ngồi ngay rìa đường.

Bốn ngày và ba đêm rồi chưa được chợp mắt.

Sao không thấy buồn ngủ.

Chỉ thấy dường như mắt hoắm vào sâu bên trong, da thì khô ram ráp.

Bước chân đi thấy chơi vơi chứ không thật chân như mọi khi.

Tôi nói:

- Chắc bây giờ cỡ chín giờ chứ mấy.

Mày ngủ đi một tý .

Tao thức được rồi.

- Ừ !

Tao buồn ngủ quá ! – Nói rồi Dũng nằm luôn xuống dệ cỏ ven đường.

Mắt cậu ta đã díp vào mất rồi.

Mảnh trăng đã xế tà.

Không gian bồng bềnh mà nhẹ tênh, trong suốt mà hư ảo, thức mà như ngủ mơ màng . . .

Chút nữa thôi là mảnh trăng kia cũng xuống núi.

Trái Đất vẫn quay, ngày qua ngày.

Con tạo vẫn xoay vần, vô tình, có biết đến đâu trên một cái mảnh đất nhỏ bé kia là khói lửa, chớp giật, thấm đẫm máu xương. . .

Bỗng nghe tiếng rì rì của xe tăng từ phía sau mà chưa nhìn thấy.

Tôi đánh thức Dũng.

Chúng tôi cùng đứng ra giữa đường.

Chắc khoảng 12 giờ rồi.

Phải 15 phút sau mới nhìn thấy ánh sáng le lói hắt ra từ đèn phòng không của mấy chiêc xe đang tiến đến.

Mấy chiếc xe dừng lại cách chỗ chúng tôi chừng 500 mét.

Tôi bảo Dũng ở lại và quay lại đón xe.

Thì ra thằng Luân chỉ dám cho xe tiến đến chỗ ban sáng.

Luân và tôi cùng nhảy lên chiếc xe thiết giáp đi đầu.

Ngay sau chúng tôi là một chiếc xe tăng, đằng sau còn nhiều xe nữa.

Tôi yêu cầu các xe tắt đèn, đi xa nhau đề phòng trên núi địch phát hiện yêu cầu máy bay ném bom hay bắn pháo.

Được cái trời không quá tối nên có thể tắt đèn vẫn nhìn rõ đường và nhìn rõ xe đi trước nhưng phải đi chậm lại một chút.

Đoàn xe từ từ tiến lên đến chỗ Dũng đứng thì dừng lại tắt máy.

Sau khi trao đổi với anh chỉ huy chiếc xe thiết giáp về tình hình địch.

Ba tháp cánh chúng tôi khoảng 1 cây số.

Phía trước mặt là đồng trống, không có địch.

Tôi được biết giờ "G" là 5 giờ sáng.

Như vậy, đi đầu là chiếc thiết giáp, tiếp sau là 5 hay sáu chiếc xe tăng, rồi đến thiết giáp chở quân của 101, rồi đến ô tô chở quân (xe của 559) rồi pháo binh và pháo cao xạ 37. . .

Bên tăng họ hội ý với nhau xong thì ai về xe nấy.

A37 ù ù xuất hiện.

Pháo sáng giăng liên hoàn dọc trên đường 1.

Tôi hét lên:

- Chúng nó ném bom đấy !

Chui vào gầm xe đi.

Có hai cậu lính tăng đã nhanh chân nhảy lên xe và đóng nắp. số còn lại chui hết xuống gầm.

Tiếng bom dậy đất, mảnh lia ràn rạt, leng pheng vào thành xe.

Xe của tôi không ai bị dính cả.

Không biết phía sau thế nào.

Chắc, máy bay của địch cũng mỏng mà quân của ta thì đông nên chúng cứ đánh rải ra chứ không tập trung vào một điểm.

Tôi bảo anh xe tăng đưa xe xuống ruộng.

Chúng tôi cùng đi kiếm lá để ngụy trang thêm cho xe.

Thửa ruộng này khô.

Một lúc sau đã thấy thằng Dũng nằm ngáy dưới gầm xe rồi.

Bom còn đánh thêm vài lượt nữa, nó tỉnh dậy một tý rồi lại ngủ.

Tôi ngồi ven đường làm nhiệm vụ gác.

Thằng Dũng vẫn đang ngủ dưới gầm xe.

Sắp đến giờ tấn công rồi.

Tôi lay Dũng dậy.

Hai thằng nhảy lên thùng xe.

Chỗ nắp xe này hai thằng đứng là vừa.

Chỗ nắp tròn có một lính của tăng đứng bắn 12 ly 7.

Anh em nhà tăng đã sẵn sàng từ lúc nào.

Họ không ngủ và đang chờ lệnh xuất kích.

Thằng Luân ở sau cùng nhóm ông Thắng, tôi không biết họ lên xe nào.

Sau tôi là mấy chiếc xe tăng.

Có lẽ nhóm ông Thắng lên xe thiết giáp hoặc ô tô ở sau nữa.

Tôi đề nghị với ae tăng nổ máy bò lên mặt đường.

Tôi móc túi áo lấy hai viên dẫn đường và nạp lên trên cùng của băng đạn.

5 giờ ngày 16/4/1975

Pháo ta bắn vào sân bay Thành Sơn cũng là pháo lệnh mở màn cho trận đánh.

Chiếc thiết giáp BTR -50PK của chúng tôi là chiếc đi đầu dẫn đường.

Chiếc xe gầm lên rất lớn rồi lao về phía trước.

Phía sau chúng tôi, những chiếc xe tăng cũng lao theo.

Cả đoàn xe gầm rít chạy gằn trên đường 1 tiến về Phan Rang.

Phía trước chúng tôi là Ba Tháp.

Trời chưa sáng rõ nhưng đã nhìn được lờ mờ khu vức ba Tháp.

Tôi vỗ vai lính 12 ly 7 để anh chú ý.

Tiếng gầm gào của đoàn xe rất lớn phá toang màn đêm yên tĩnh.

Chắc chắn bọn địch nghe tiếng xe tăng đều khiếp sợ vì chúng chưa bao giờ bị xe tăng tấn công.

Nhưng mà chúng cũng đang chờ để bắn mình đây.

Cách khu tiền tiêu của làng Ba Tháp chừng 200 mét tôi vẫn chưa nhìn rõ thấy địch nhưng ở tầm này thì 12 ly 7 bắn quét hiệu quả rồi.

Tôi điểm xạ, 2 viên AK đạn lửa vụt đi.

Bầm bầm bầm . . .

Đạn lửa 12 ly 7 vẽ thành từng dòng, quét qua quét lại.

Bỗng một cục lửa từ phía địch bay nhanh về phía chúng tôi rồi xạt qua bên phải.

Thì ra chúng chơi DKZ.

12 ly 7 bắn trả vào đúng chỗ đó, rất rát.

Đại liên 12 ly 8 của địch cũng bắn rất dữ.

Chúng tôi có tấm chắn nên không có cảm giác sợ gì bọn đại liên.

Đúng là lô cốt di động lợi hại thật.

Xe chúng tôi chạy chậm lại và nép về bên phải.

Hai chiếc xe tăng nhanh chóng vượt qua.

Pháo 85 trên xe bắn thẳng vào Ba Tháp.

Đại liên trên xe tăng quét liên tục.

Vài phút sau, đã vào tới Ba Tháp.

Lính địch đang tháo chạy nháo nhác.

Tôi vỗ chỉ hướng cho 12 ly 7 bắn quét sang hai bên đường.

Dũng và tôi, cũng quét AK về hai bên đường tiến.

Chỉ vài phút sau đoàn xe đã trôi qua Ba Tháp.

Tiếng gầm gào của xe, tiếng pháo tăng chát chúa, tiếng ùng ùng của 12 ly 7 ngay bên tai và bao nhiêu tiếng động khác.

Rung động truyền đến từng thớ thịt những người lính.

Máu chảy rần rật trong các huyết quản, mê mải, say say . . .

Sơ đồ tác chiến trận đánh vào thị xã Phan Rang sáng ngày 16/4/1975 của quân đoàn 2, dẫn đầu là thiết giáp và xe tăng của lữ 203 (về sau này và hiện nay 203 là biên chế của quân đoàn 2).

Phía sau là trung đoàn BB 101, Pháo 85 của trung đoàn 164, Cao xạ 37 ly,. .

Đoàn xe cứ thế tiến lên.

Xe tăng và thiết giáp vừa chạy vừa bắn 12 ly 7 về phía trước và hai bên ruộng.

Ở đó bọn địch đang tháo chạy tán loạn.

Phía trước mặt chúng tôi bây giờ đã là thôn Gò đền.

Một làng trù phú.

Rút kinh nghiệm ở Ba Tháp, lần này pháo tăng nã đạn trước vào chốt của địch ở đầu làng.

Quá kinh hãi vì xe tăng, bọn địch ở đây hầu như không phản ứng lại được và tan ra rất nhanh giống như ở Ba Tháp.

Thế là trôi qua Gò đền.

Chắc giờ này chưa quá 5 giờ 30.

Trời đã sáng, quan sát sang hai bên ruộng thấy bọn địch chạy bạt mạng, dạt về phía biển và về phía sân bay Thành Sơn.

Sắp đến thôn Cà Đú.

Đây là một ngã ba quan trọng.

Rẽ phải sẽ vào sân bay, chạy thẳng là vào thị xã.

Chắc chắn lực lượng chặn của địch ở đây phải nhiều hơn và có tổ chức phòng ngự mạnh hơn.

Quả đúng như vậy!

Đoàn xe tiến được thêm một đoạn nữa thì hai chiếc xe tăng đi trước tôi bị DKZ của địch bắn trúng, bị cháy và dệ sang bên đường.(bác LiXeTa cho biết số xe của 2 xe đó là 764 và 761, trận này 203 chỉ bị cháy 2 xe tăng và không phải do bị bom như nói trong lịch sử sư đoàn 3).

Xe chúng tôi vượt qua hai chiếc tăng cháy. khi đi ngang qua, thấy anh em từ trong xe tăng cháy bật nắp nhảy ra, có anh trên người còn đang cháy, khói nghi ngút.

Không rõ sau đó có sao không.

Chúng tôi không được phép dừng lại, cứ thế vượt qua.

Xe của chúng tôi lại thành ra đi đầu.

12 ly 7 quét liên tục về phía địch. thấy chúng nó bỏ chạy, thằng thì chạy dọc theo đường, thằng thì chạy tản ra phía hai bên cánh đồng.

AK của tôi cũng được dịp điểm xạ liên tục.

Sao mà điểm xạ ngon thế, đúng hai viên một, không tắc cú phát nào.

Nhưng không biết có trúng được phát nào không, thấy chúng ngã xuống thế mà khi chúng tôi đi qua chúng lại vùng chạy tiếp . . .

Hì . . . hì. . .

Chúng tôi chạy qua Cà Đú, thẳng đường tiến về phía thị xã.

Tiếng xe tăng gầm rú, tiếng pháo tăng và tiếng 12 ly 7 thì đùng đùng ngay bên tai khiến tôi và xạ thủ 12 ly 7 có gào lên cũng không nghe thấy nhau.

Tôi vỗ vai anh ấy và chỉ lên phia trước, trên đầu.

Một tốp A37 bốn chiếc bay rất thấp.

Chúng bay rất nhanh có cảm giác như nếu không cúi xuống thì nó đâm vào mặt mất.

Xạ thủ 12 ly 7 (có lẽ đêm hôm trước đã hỏi tên anh rồi nhưng mà bây giờ không nhớ) hướng súng về phía máy bay vừa rê súng vừa giữ cò liên tục.

Anh ấy khỏe thật.

Giữ cò liên tục như vậy ê ẩm và rung giữ dội lắm, không khỏe thì đã bung tay ra rồi.

Ngoảnh lại phía sau, tôi thấy một đoàn xe rất dài của ta đang hành tiến trên đường.

Bọn chúng bay thấp quá chắc là cao xạ 37 không kịp bắn, chỉ thấy toàn 12 ly 7 bắn.

Bị bắn rát quá nên sau đó các tốp A37 khác bay lên cao thả bom.

Tôi có nghe thấy tiếng liên thanh của cao xạ 37 nhưng không nhìn thấy máy bay rơi vì đang mải quan sát địch ở phía trước.(Về sau này tôi mới biết hôm đó máy bay địch cũng bị hạ rơi mấy chiếc ?!)

Chạy tiếp được một đoạn, xe chúng tôi lại chạy nép về một bên để nhường đường cho xe tăng.

Từ đây chúng tôi vừa chạy tốc độ cao vừa bắn liên tục về phía trước và hai bên đường.

Qua Cà Đú, không thấy có một sự kháng cự nào đáng kể

Tiến quân như chẻ tre.

Tuy nhiên, bọn A37 bắn như đổ đạn.

Nó đang bay thẳng tới phía trước mặt chúng tôi.

Thấy nó hơi chúi xuống một chút là đạn 20 ly đã xả xuống rất nhanh.

Có thằng thì bay cao hơn và chúc xuống thả bom.

Chúng bị 12 ly 7 từ tất cả cá xe bắn rất rát nên thả bom không trúng.

Tôi có cảm giác nóng ran khắp người vì đây là lần đầu tiên đánh nhau trực diện với máy bay địch.

2 trinh sát chúng tôi vừa quan sát và bắn địch trên mặt đất, vừa quan sát trên trời để chỉ điểm cho 12 ly 7 bắn máy bay.

Chưa bao giờ được đánh nhau thoải mái như thế này.

Không phải chui rúc trong hầm vì bom pháo.

Cứ bắn nhau thôi, trúng đạn thì thôi mà không thì cứ xông lên.

Chúng tôi lướt tới ngã ba thị xã vẫn chưa tới 6 giờ sáng.

Đến đây xe tăng và thiết giáp rẽ thành hai ngả.

Mũi bên trái sẽ tiến thẳng vào phố.

Mũi bên phải để tiến đánh sân bay Thành Sơn.

Không biết pháo của ta bắn sân bay thế nào mà trên đường đánh vào sân bay chúng tôi vẫn phải choang nhau với máy bay. (

Sau này, theo tài liệu của địch tôi mới biết A37 của địch cất cánh ở sân bay Phan thiết để đánh chặn ta trong trận Phan Rang)

Hoàn toàn không phải đánh nhau với địch trên mặt đất. chúng nó đã tan rã hết rồi.

Mạnh đứa nào đứa nấy chạy.

Nhiều đứa trút bỏ quần áo lính chạy vào các làng xóm vên đường hoặc chạy ra ruộng.

AK của chúng tôi cứ bắn ào ào vào những đứa còn đang loay hoay chưa kịp vứt vũ khí và chạy gần xe của chúng tôi.

Liên tục A37, chiếc này tới chiếc khác thay nhau khạc đạn 20 ly bắn chặn đoàn xe.

Tôi không bắn bộ binh địch nữa mà tập trung quan sát cho 12 ly 7 bắn máy bay.

Nhiều lần thấy máy bay nó bổ thẳng vào mặt và bắn vãi đạn.

Cả anh xạ thủ và tôi không ai cúi xuống một lần nào.

Hai bên đối mặt nhau, anh ấy cứ thế bắn thẳng.

Đang bắn chiếc này, tôi quan sát thấy chiếc khác đang bổ nhào chếch từ hướn trái chúng tôi.

Thấy bom nó rời máy bay còn thằng đó thì ngóc lên.

Tôi giật áo anh "ly bảy", kéo anh ấy, cả hai cùng thụt xuống.

May mà bom không trúng xe, mảnh thì mặc kệ nó . . .

Khoảng 6 giờ sáng thì không thấy còn máy bay của địch nữa.

Có lẽ chúng tập trung vào đánh cứu ở khu sân bay.

Ở đó nhiều lực lượng của địch đang bị vòng vây của sư 3 xiết chặt.

Các sở chỉ huy của địch đều ở đây, lại nhiều tướng tá nữa.

Chúng tôi cũng được thông báo là sân bay Thành Sơn đã có đơn vị khác đảm nhiệm rồi.

Chúng tôi quay lại thị xã ngay.

Khi tới nơi thì mọi việc trong thị xã cũng xong rồi.

Cũng mới chỉ có tăng và thiết giáp của 203 ở khu vực trung tâm thị xã.

Tiếng súng đã ngừng.

Xe của chúng tôi đỗ sát vào vỉa hè cùng 2 xe tăng, phía bên kia đường là một vườn hoa nhỏ cũng là hai chiếc xe tăng khác. . .

Mới là 6 giờ 30 !

Hai trinh sát chúng tôi nhảy ra khỏi xe, súng lăm lăm.

Trong thành phố không khí vẫn còn hơi đêm, mát mẻ.

Có mấy cây phượng vĩ đã lốm đốm vài túm hoa đỏ.

Dân từ trong các căn nhà đóng kín cửa đã bắt đầu thò ra nghe ngóng.

Một lúc sau thì xe chở bộ binh cũng vào tới nơi.

Lúc này dân mới mở cửa.

Nhiều người ra khỏi nhà đến gần để nói chuyện với "Giải phóng", có người còn mang theo nước uống để mời chúng tôi, có người còn mang dừa bổ sẵn ra mời lính uống nước dừa.

Trưởng xe, cảnh giác bảo:

- Đừng uống !

- Không sao đâu ! – Tôi nói.

Đón trái dừa từ tay một cậu thanh niên cao gày, quần loe, tóc dài đi giày Xì Mông cao gót, mặt trứng cá.

Tôi uống làm mẫu cho mọi người.

Lính tăng không dám rời xe nên mấy người dân phải đưa nước đến mời tận nơi.

Dân đón bộ đội giải phóng như vậy chứ không có như trong phim ảnh.

Trong phim, đoàn chiến xa tiến vào thành phố giữa hai hàng cờ hoa của nhân dân . . . dân vẫy cờ và hoa để chào đón ?!

Cũng không thấy đâu cờ giải phóng đã sẵn sàng chuẩn bị từ những hôm trước để lúc ta vào dân bung cờ ra ngay.

Cũng chẳng thấy du kích hay biệt động Phan Rang dẫn đường cho xe tăng đánh vào thị xã như trong phim.

Một cái phim về Phan Rang, hình như là "Trước Lúc Bình Minh . . ." gì đó thì phải.

Trong phim thấy dân rộn rịch chuẩn bị đón "giải phóng".

Thực tế lúc xe chạy vào thành phố thấy vắng tanh vắng ngắt.

Vẫn đang là sáng sớm.

Vậy là trận đánh giải phóng thị xã Phan Rang chỉ diễn ra trong vòng có hơn một tiếng đồng hồ.

Sau này tôi được biết, 10 giờ sáng hôm đó quân của sư đoàn 3 đã hoàn toàn làm chủ sân bay Thành Sơn.

Sư đoàn 3 truy quét tàn quân địch và bắt được nhiều tù binh trong đó có trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh tiền phương quân đoàn 3, chuẩn tướng Phan Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn 6 không quân, Đại tá Nguyễn Thu Lương lữ đoàn trưởng lữ dù 2 . . .

Khí tài và trang thiết bị tại sân bay Thành Sơn gần như còn nguyên vẹn. . . .

Trận đánh vào thị xã Phan Rang ta bị cháy 2 xe tăng.

Máy bay có làm cho đoàn quân phía sau bị thương vong gì không thì tôi không được rõ vì ngay sau đó tôi gặp lại đại đội trinh sát và được lệnh tiếp tục trinh sát chuẩn bị đánh Phan Thiết.

Chia tay các lính xe tăng rồi bọn tôi lên xe ô tô tiến về Phan Rí.

(Hết chuyện TRẬN PHAN RANG)

CHUYỆN XII TRỊNH THÚC DOANH – BẠN TÔI

Hôm nay 16/9.

Ngày này cách nay 38 năm, sau 81 ngày đêm kiên cường chốt giữ thị xã Quảng Trị, chính thức thì người lính cuối cùng cũng đã vượt sông Thạch Hãn rút qua bờ bắc (đúng ra là bờ tây) trong ngày này.

Chắc hẳn còn không ít anh em, hoặc ở chốt độc lập không biết lệnh rút, hoặc lạc đồng đội, hoặc bị thương không thể vượt sông đã ở lại bờ nam sau ngày 16/9/1972.

Những anh em đó, cho đến bây giờ, vẫn không ai biết gì về họ . . .

Trịnh Thúc Doanh học cùng tôi suốt 4 năm kể từ lớp bảy cho đến hết lớp 10.

Hết lớp 10, Doanh thi vào Đại Học Bách Khoa còn tôi thí vào Đại Học Tổng Hợp.

Chúng tôi thân nhau từ năm học lớp 9, sơ tán ở Hưng Hóa, Tam Nông, Phú Thọ.

Những buổi chiều hay ngày Chủ Nhật hai đứa thường dạo chơi ở thị trấn Hưng Hóa, một phố huyện miền trung du đất đỏ với con đường rải đá khấp khểnh.

Thể nào cũng rẽ qua cửa hàng hợp tác xã mua bán, nhìn ngó một tí thôi chứ có gì mà mua.

Cái mà chúng tôi cần thì từ cái khăn mùi xoa cũng chẳng có.

Đi lòng vòng một hồi chán rồi có khi rẽ qua đường đi Thanh Sơn, một con đường đất đỏ ngoằn nghoèo, chạy ven một cái đầm toàn những cỏ lác rồi chạy về phía núi.

Cũng có khi chúng tôi đi về phía Trung Hà, qua đầm Dị Nậu, thôn Dị Nậu, mỏi chân thì quay về bờ sông.

Đoạn sông này cũng là một phần của sông Hồng, chưa gặp ngã ba với sông Đà.

Cuối cùng thì xà vào một cái quán nước ven sông.

Đây là một bến thuyền nhỏ, thỉnh thoảng có thuyền chở than đến, rồi thuyền chở chuối, mít từ đây về xuôi.

Hai thằng gọi 2 bát nước chè xanh, rồi trứng vịt luộc và chuối.

Sao mà ăn khỏe thế.

Chục trứng luộc chấm muối ớt chỉ một loáng là đánh bay, lại đánh tiếp chuối, chuối tiêu, chuối tây, chuối hột hay chuối lá.

Tối chúng tôi thường ra sân bóng, nằm trên cỏ ngắm trăng sao và nói chuyện linh tinh, đủ các thứ chuyện chỉ trừ chuyện gái.

Không phải kiêng đâu mà vì không biết gì.

Hết lớp 10 chúng tôi vẫn chưa lớn mà.

Năm 1970, Doanh vào Bách Khoa còn tôi vào Tổng Hợp.

Tôi hay đến nhà Doanh.

Nhà nó ở khu tập thể bệnh viện 108 quân đội.

Bố Doanh là bác sỹ.

Ông là bác sỹ đầu tiên được đào tạo dưới chính thể của Cụ Hồ.

Mẹ Doanh cũng đang tại ngũ.

Nhà tập thể cấp bốn chỉ có một phòng.

Đàng sau nhà là khu bếp tập thể, mỗi nhà một ô.

Muốn xuống bếp thì phải trèo qua cửa sổ . . .

Không ngờ rằng hai thằng tôi cùng nhập ngũ một ngày, 6/9/1971.

Thế là từ đó bặt tin nhau.

Về sau này khi ra quân rồi tôi mới biết Doanh và tôi cũng ở cùng sư đoàn 325.

Doanh ở trung đoàn 95 và lĩnh đủ 81 ngày đêm ở thị xã Quảng Trị.

Đúng ngày 16/9/72, được lệnh rút qua sông.

Doanh hy sinh vì bị pháo lúc vượt qua sông . .

Doanh nhập ngũ 6/9/71 vào trung đoàn 95.

Sau 3 tháng huấn luyện ở Việt Yên, Hà Bắc.

Cuối tháng 12 năm đó, toàn sư đoàn vào trấn giữ đèo Ngang đề phòng địch đổ bộ vào khu vực này khi 308 và 304 đánh Quảng Trị.

Tháng 6/72, sư 325 bắt đầu vào Quảng Trị.

Đây cũng là lúc địch phản kích để tái chiếm Quảng Trị.

Trung đoàn 95 lúc đó ở Cam Lộ, đóng quân tại dãy Nghĩa Hy.

Vị trí này rất thuận tiện đường đi lối lại.

Nếu tiến lên thì có thể xuống Đông Hà rồi đi về Cửa Việt.

Có thể tiến về phía nam thì đi qua gần căn cứ Phượng Hoàng đỏ ối rồi vào Ái Tử, Nhan Biều và vượt sông sang thành.

Chếch xuống phía tây thi vào động Ông Do, Đá Đứng, Như Lệ - Tích Tường.

Đường rút cũng rất thuận lợi.

Có thể rút thẳng qua Cam Lộ, Bãi Hà và cũng có thể rút qua Đầu Mầu, Tân Lâm để đi Tà Cơn, Khe Sanh.

Ngày 1/7/72, hai tiểu đoàn của 95 vượt sông Thạch Hãn. d5 chốt giữ bìa đông nam của thành cổ, Ty Cảnh Sát, khu Đông Mỹ, chùa Bà Năm, kho rốc két. d4 chốt giữ bìa tây nam thành cổ và khu vực Dinh Tỉnh Trưởng cho đến khu Mỹ Tây.

Trong thành là d3 của tỉnh đội Quảng Trị (gọi là quân của tỉnh Quảng Trị nhưng toàn lính bắc), sau đó thì d1 của trung đoàn 48 cũng rút về thành. d7/e18/f325 thì chốt giữ khu vực nhà Tin Lành, Đệ Ngũ.

Trung đoàn 101 chốt giữ phía bắc sông Vĩnh Định kể từ Chợ Sãi.

Thực ra thì mức độ ác liệt ở mọi nơi của thị xã cũng tương đối như nhau.

Nhưng khi nói đến Quảng Trị 72 thì nhiều người nghĩ chỉ có Thành Cổ.

Có một đia danh khác là Cổ Thành.

Đây là một làng nằm phía bắc Thành Cổ.

Theo tôi, chữ Thành Cổ bây giờ có nghĩa tượng trưng cho cả khu vực thị xã Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972.

Có thể rằng một vài điểm khác còn nóng hơn trong khu vực Thành cổ.

Chẳng hạn như bến vượt ở Dinh Tỉnh Trưởng hay bến vượt ở Trường Phước, rồi Tri Bưu, khu Mỹ Đông, ty Cảnh Sát, Khu Mỹ Tây, Dinh Tỉnh Trưởng, Chợ Sãi, An Mô . . .

Nhà Doanh có 5 anh em.

Lúc đó bố, mẹ Doanh và 2 anh trai của Doanh cũng đang tại ngũ.

Do đó trước khi "đi bê", Doanh được cho về thăm gia đình.

Khi vào đến Quảng Trị thì Doanh vào sau mọi người.

Lúc đầu về đến trung đoàn thì trung đoàn 95 đã ở phía nam Thạch Hãn.

Doanh được đưa về c23, vệ binh trung đoàn.

Sau đó, Doanh xuống đơn vị chiến đấu từ lúc nào thì các bạn tôi đều không nhớ.

Chỉ nhớ là Doanh vào sau khoảng một tháng.

Tính từ 1/7/72 đến 16/9/72 là thời gian trung đoàn 95 tham gia chốt giữ thị Xã Quảng Trị - 78 ngày.

Nếu Doanh vào sau một tháng thì thời gian ở đây là 48 ngày.

Nhưng số ngày nào có nghĩa gì.

Lúc vượt sông sang thành, rất nhiều anh em đã hy sinh.

Chỉ là "không" ngày.

Vậy thì 0 ngày hay 81 ngày có gì là quan trọng đâu !

Quan trọng là, từng giờ, từng phút, từng giây biết bao ae đã đổ máu xương trên cái mảnh đất "Thị Xã Quảng Trị", một vết thương không bao giờ có thể lành được . . .

Chuyện kể lại của Toàn, đồng đội Doanh

- Thằng Doanh vào sau trong đợt đổi quân và được phân về cùng hầm với tôi và thằng Phú.

Doanh hiền lành, trẻ măng.

Tôi còn nhớ, mặt nó nhiều trứng cá.

Nó bảo bố nó làm ở bệnh viện 108... có quen trung đoàn trưởng Lý Long Quân nên xin phép cho nó về nhà trước khi đi chiến trường.

Thằng này nó hiền lắm.

Bọn mày biết đấy.

Lúc đó bọn tao suốt ngày ngồi trong hầm, không thể ló mặt lên được.

Hết B52 rồi lại đến máy bay ném bom.

Lại còn máy bay gì hình như là L19, tao cũng chả biết, luôn tục xăm soi bắn đại liên suốt ngày.

- Chắc nó bắn 20 ly đấy.

Chuyện kể lại của Toàn, đồng đội Doanh

- Bọn mày biết không ?

Bọn tao mót đái thì cứ bụm tay mà đái vào rồi hất ra ngoài.

Trời thì cứ mưa suốt.

Hầm thì nước vào, dưới chân bùn nhão nhoét trộn với máu.

Tao nghĩ chẳng khác gì bọn Pháp ở Điện Biên hay bọn Mỹ ở Khe Sanh.

Kinh thật ! bây giờ nghĩ vẫn kinh.

- Quá kinh !

Mà sống được là không sao hết.

- Lúc bọn tao ở sát thành, thằng Doanh mới vào.

Nó còn hộp sữa đặc mẹ nó nhét vào ba lô trước khi đi.

Đói quá, bọn tao lấy thông nòng xọc hai cái lỗ, thế là thay nhau tu.

Rồi khát nước.

Mày biết không ? tu hết hai bi đông nước, toàn nước sông, sát trùng sát chiếc gì cũng chẳng có.

Cả ba thằng bị tháo tỏng.

Thằng Phú bĩnh cả ra quần thành ra trong hầm vừa khai vừa thối, ẩm thấp tanh tưởi.

Nghĩ lại, ghê quá !

- Thế lúc rút qua sông như thế nào ?

- Cứ từ từ . . . cho khoai nó nhừ !

Đến chiều 15 bọn nó đã bao vây ba mặt.

Bọn tao chỉ còn mấy cái hầm.

Ban ngày không thể liên lạc được với nhau.

Cứ hầm nào có địch thì hầm đó chống trả, thỉnh thoảng mới hỗ trợ được cho nhau.

Mãi tối khuya mới có thằng truyền đạt chạy đến bảo rút qua sông.

- May mà ra lệnh rút nếu không bây giờ bọn tao đâu nhìn thấy mày.

Chuyện kể lại của Huy, đồng đội Doanh

- Đêm 15/9 chúng tao được lệnh rút.

Tao chỉ cầm theo khẩu súng thôi.

Mà thằng nào cũng thế.

Lúc đó ba bề bốn bên đều là địch rồi, chỉ còn mỗi lối xuống sông thôi.

Nếu không cho rút thì chết hết cả..

Toán nào toán nấy, nháo nhào bổ xuống sông.

Tao nhanh chân chạy đầu tiên, lao ngay xuống nước, mấy thằng nhóm tao cũng bơi bám theo.

Súng tao khoác vào vai, thế là tao bơi rất nhanh.

Bọn thằng Doanh và mấy thằng nữa cùng chốt của nó chạy sau tao cũng lao xuống nước.

Một quả pháo nổ sáng lòe ngay phía sau tao.

Tao thấy hơi tức ngực nhưng có vẻ như không bị thương.

Nhóm thằng Doanh, thằng Toàn, thằng Phú chạy sau tao không biết có việc gì không ?

Bọn tao sang đến bờ mới ngồi thở, sờ khắp người thấy không bị thương ở đâu.

Chờ chúng nó một lúc thì chỉ thấy thằng Toàn mới thằng Phú bơi sang.

Chúng nó bảo thấy quả pháo trúng chỗ thằng Doanh.

- Thế ông có biết chỗ vượt sông là chỗ nào không ?

- Chỉ biết bên này là Nhan Biều thôi.

- Thế phía trên hay phía dưới cầu Quảng Trị ?

- Phía dưới chứ !

- Thế có gần cầu không?

- Chắc là gần.

- Được rồi.

- Ừ !

Lúc đó làng mạc, phố phường, chỗ nào chẳng như chỗ nào tơi tả hết biết đâu là Nhan biều hay hay nhan biếc gì, là khi bọn tao chốt thì thấy bảo bên kia là Nhan Biều.

Thế thôi !

Chuyện kể tiếp của Toàn, đồng đội Doanh

- Thằng Doanh chạy trước, rồi đến tao, thằng Phú chạy sau cùng.

Lúc tao đến sát bờ sông thì đã thấy thằng Doanh nhảy xuống rồi.

Nó đang bơi thì lòe một cái tối tăm mặt mũi.

Quả pháo trúng ngay chỗ thằng Doanh.

Bọn tao thì lăn ngay xuống, đ... biết là hố hay rãnh hay gì nữa.

Lúc ngớt pháo tao vẫn còn lóa, phải một lúc mới nhìn được.

Hai thằng tao mới gọi thằng Doanh, mà cũng chỉ dám gọi khẽ.

Bọn nó ở ngay xung quanh mà.

Bọn tao lội xuống rồi bơi, quờ quạng khắp mà không thấy.

- Ừ !

Thôi, mày đừng có day dứt mãi thế !

Trong cảnh ấy thì làm sao mà tìm được.

Chắc nó trúng đạn, lại mang súng thì chìm xuống rồi

- Mãi rồi bọn tao đành bơi qua sông.

Thật may khi qua sông không bị quả đạn pháo nào.

Sang đến nơi mới thấy pháo sáng bọn nó bắn ăn mừng, rực trời.

Cả ngày hôm sau tôi nằm trong hầm ngập nước ở Nhan Biều ngủ li bì.

Có lẽ Doanh trúng đạn rồi bị cuốn trôi theo dòng.

Khi ấy đang là mùa nước.

- . . .

- Mày biết không ?

Tao vẫn bị ám ảnh cảnh thằng Doanh bị trúng pháo.

Tiếng chúng tao gọi nó rất nhỏ thôi mà sao lúc nào cũng văng vẳng bên tai tao :

"Doanh ơi . . . !

Doanh ơi . . . !"

CHUYỆN XIII LÀNG QUẤT XÁ

Toàn tuyến Quảng Trị đã im tiếng súng.

Nơi ác liệt nhất sau ngày ngừng bắn 28/1/73 là Tích Tường và Như lệ cũng không còn xảy ra chiến sự nữa.

Bọn địch không làm gì nổi mấy cái chốt nhỏ bé kiên cường ấy nên đành bỏ cuộc.

Quảng Trị còn duy nhất đoạn Khe Trai là thỉnh thoảng địch còn bắn vào ta khi anh em đi gần khu vực này.

Khi chúng tôi từ Như Lệ về đơn vị thì xê 20 không còn ở suối La La nữa mà chuyển về thôn Quất xá.

Đó là một làng khá trù phú nằm ở chân động Động Hà, nơi có cao điểm 544.

Phía bắc làng là dòng sông Cam Lộ (còn gọi là sông Hiếu) chảy quanh co uốn lượn như rồng.

Đoạn sông nước nông, trong vắt, rì rào chảy qua thềm sỏi đá.

Cá nhỏ bơi từng đàn tung tăng luồn lách khe đá này sang khe đá khác, lóng lánh trong nắng vàng hanh hanh.

Con đường nhựa đen xám cũng miết mải lượn theo dòng sông ôm lấy bìa làng phía nam.

Một cái làng, rừng và núi nghiêng nghiêng hắt bóng, đá và nước chảy lô xô, làng xóm và những con đường mòn ngoằn nghoèo trong cỏ cây.

Một bức tranh khảm thiên nhiên làm cho bất cứ họa sỹ nào cũng phải rung động !

Nước giữa dòng vừa trong vừa mát

Đường Cam Lộ nhỏ cát dễ đi . . .

Ở sau thôn Quất Xá có một vạt đất lớn, bằng phẳng, cây cối um tùm.

Rất nhiều cây lớn và tre ngà.

Chúng tôi đang xây dựng doanh trại ở đó.

Mỗi tiểu đội làm một cái nhà tranh, hai cái hầm kèo và một cái nhà âm.

Chúng tôi sẽ làm một cái làng nhỏ – Làng Xê Hai Mươi.

Trong khi xây dựng cái làng này, đơn vị tôi vẫn ở nhà dân.

Cái làng trầu cau này lo chuyện trăm năm cho các đôi lứa cũng bị bom rải thảm, lại cả bom bi nữa.

Dăm bảy nóc nhà đã bị đánh bay với những hố bom sâu hoắm.

Một số dân bị thương vong lúc máy bay đánh bom và sau đó vẫn còn thương do bom bi thỉnh thoảng lại nổ.

Những người già hôm nay vẫn nhớ trận B52 ngày đó.

Tên tuổi những người dân bị chết thảm không phải ai cũng nhớ hết, nhất là trẻ con vì chúng còn quá nhỏ :

1.

Phạm Công Xê 2.

Lê Thị Đỉu 3.

Lê Thị Liên

4.

Nguyễn Khung 5.

Lê Thị Giao 6.

Phạm Thị Con

7.

Nguyễn Thị Xoa 8.

Hoàng Vấn 9.

Nguyễn Thị Hương

10.

Trần Bối 11.

Nguyễn Thị Chậm 12.

Nguyễn Thị Mang

13.

L/S Trần Xuân Trường (Cán bộ xã) 14.

L/S Trần Xuân Thạc (Du kích xã)

15.

Nguyễn Thị Thược + 3 con nhỏ . . . . . . . . . . . .

Chuyện "Làng Quất xá" là nén tâm nhang thành kính, không nói thành lời.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước nỗi đau thương này !

Một ngày năm sau Xê Hai Mươi chúng tôi sẽ trở lại . . .

Vâng 38 năm rồi !

Nhà tiểu đội tôi ở có hai ông bà già.

Con dâu ông bà là chị Phụ, hay nết đẹp người.

Chị có hai đứa con trai, thằng lớn tên Nga, bốn tuổi, thằng nhỏ tên Đức mới có hai tuổi.

Hai thằng bé xinh đẹp như hai thiên thần vậy.

Đúng là vưu vật !

Nghe nói chồng chị Phụ là đại úy phía bên kia.

Nhưng ông bà và chị rất quý mến bộ đội.

Chúng tôi cũng rất quý ông bà, quý chị và yêu hai thằng bé.

Khi chúng tôi từ chỗ doanh trại về đến nhà chị Phụ là hai thằng bé lại quấn quýt.

Thằng Đức đang tập nói bi bô nhiều lúc làm cả nhà bật cười.

Bữa cơm chiều của chúng tôi sớm hơn nhà chị Phụ nên lúc nào hai thằng bé cũng ăn cơm cùng bộ đội.

Không bữa nào chị Phụ không có thức ăn thêm cho bộ đội, lúc thì bát canh, khi thì đĩa cá, còn cà thì lúc nào cũng sẵn.

Có một câu ngắn gọn rất giống út Mừng mỗi lần chị đưa canh cho chúng tôi: "Keeng !" (xem chuyện "Đặc Sản Như Lệ").

Mỗi lần như vậy, H. và tôi lại nhìn nhau cười.

Chồng chị Phụ là đại úy bên kia thì cũng không tạo ra một chút khoảng cách nào giữa chị và chúng tôi.

Sau này anh đã trở về với cha mẹ già và gia đình.

Năm sau, xê 20 chúng tôi sẽ gặp mặt tại Quảng Trị, sẽ về lại làng Quất xá.

Có thể chúng tôi sẽ chuyện trò cùng nhau trong bữa cơm cùng với gia đình.

Thằng Nga và Đức cũng đã trên bốn mươi rồi.

Hôm nọ tôi vừa nói chuyện qua điện thoại với chú Phát, hiện nay là phó chủ tịch công đoàn thành phố Đông Hà.

Lúc chúng tôi ở Quất xá, chú Phát mới 13, 14 tuổi.

"Thắng Quản" và tiếp phẩm Dõi của xê hai mươi ở nhà chú Phát.

Chú Phát có nói, chồng bà Phụ về nhà "vẫn sống bình thường lắm anh ạ".

Ban đêm chúng tôi vẫn tổ chức gác.

Một đêm nọ, hai thằng gác phát hiện có lợn rừng từ trên núi xuống và nổ súng.

Con lợn rừng ấy được cắt làm hai phần, dân một phần và bộ đội một phần.

Đấy cũng là lần đầu tiên tôi được ăn thịt lơn rừng.

Thịt thì toàn nạc, chẳng có tí mỡ nào.

Không biết anh nuôi chế biến thế nào, cả thịt và bì đều dai ngoanh ngoách.

Tôi chẳng thấy gì là ngon.

Chỉ có món canh xương nấu xu hào là chạy nhất.

Hồi đó đơn vị tôi, do tài xoay sở của anh Thắng quản lý (gọi là Thắng Quản), cử người ra Quảng Bình mua lợn và mua rau.

Xu hào là để dành được lâu nhất.

Lạ thật !

Lúc bom pháo ùng oàng, chúng tôi cũng ở suối La La rừng rú mà có bao giờ thấy lợn rừng đâu.

Thế mà vừa mới im tiếng súng được ít hôm chúng đã lại có mặt ở đây rồi.

Không nói gì giống lợn thông minh, d24 quân y còn bắt được cả nai.

Ấy là lần xe cứu thương từ Cùa đi về Quất Xá vào ban đêm, lúc qua cao điểm 241, anh lái xe nhìn thấy đôi mắt sáng của con gì đó đang đi trên đường.

Con vật bắt đèn xe nên đứng ngây ra.

Xe chạy đến gần thì phát hiện ra đó là một chú nai nhỏ.

Thế là anh lái xe cứ thế tông thẳng.

"Duỳnh" một cái thì xe dừng lại.

Mấy người trên xe nhảy xuống túm được, nó chỉ bị thương và bị trói chặt quẳng lên thùng xe.

Đơn vị được bữa "tèn tén ten !".

Hàng ngày, nhất là đêm đêm, xe từ ngoài bắc, qua Bãi Hà, vượt qua ngầm B và ngầm A trên sông Cam Lộ rồi ầm ì chạy trên đường 9 đi về phía tây để chuyển vào sâu hơn theo đường mòn HCM.

Những đoàn xe nối đuôi nhau chở lương thực và đạn dược đến khắp các chiến trường.

Chúng tôi hiểu rằng đây là công việc chuẩn bị chiến lược cho trận đánh lớn cuối cùng nay mai.

Tôi nhớ, hôm mới về Quất Xá, đại đội chỉ còn ít gạo ở suối La la chuyển ra.

Anh Thời đại đội phó mới lấy mỗi tiểu đội một hai người đi lấy gạo ở kho hậu cần của sư đoàn mãi tận sâu trong rừng.

Tôi không nhớ có phải thằng Quynh a trưởng a4 phụ trách không.

Sáng sớm chúng nó đeo ba lô không ra đi, mang theo hai khẩu AK, có lẽ chiều chúng nó mới về.

Ấy vậy mà chưa dập bã trầu đã thấy chúng nó dẫn hẳn một xe ô tô chở đầy gạo chạy từ đường 9 vào làng, thẳng đến nhà Thắng Quản.

Chúng nó dùng bài cũ, ra đường 9 cách độ hai trăm mét, dương súng, bắt xe hỏi xe chở gì.

Xe chở súng đạn thì cho qua.

Rồi chúng tóm được chiếc xe "Giải Phóng" chở gạo đầu tiên, bắt lái xe chạy về đơn vị.

Không biết hôm đó anh Thời hay Thắng Quản ký giấy biên nhận cho lái xe.

Lái xe cũng sướng, có thể nhiều thời gian, tranh thủ tụt tạt đâu đó cũng nên.

Vẫn là gạo Trung Quốc, mỗi bao năm mươi cân, đóng 4 lớp bì.

Ngoài cùng là bao gai, rồi đến hai bao nilon màu xanh cứt ngựa, trong cùng lại bao gai nữa.

Loại gạo này, lúc trước ngừng bắn được tàu của Trung Quốc thả xuống từ ngoài khơi biển Quảng Bình.

Gạo trôi dạt vào bờ được du kích và dân vớt lên sau đó vận chuyển tiếp vào chiến trường.

Vào rừng chặt gỗ làm hầm và làm nhà.

Gỗ đòn nóc hầm phải hai thằng khênh lặc lè.

Xong món gỗ, chia nhau, thằng thì đào hầm, thằng thì dựng nhà, thằng thì cắt tranh.

Công việc kể ra cũng vất vả nhưng được cái ăn no, ngủ kỹ nên thằng nào thằng nấy trông đã bắt đầu có da có thịt.

Hôm đó, thằng Thìn tiểu đội tôi, không nhớ là quay về nhà lấy cái gì thì một quả bom bi nổ.

Nó bị một viên bi xuyên vào đùi.

Quân y sư đoàn (d24) cũng đóng ở Quất xá nên chỉ vài ngày sau là nó đã ra viện.

Chiều chiều nó vẫn ra sông Cam Lộ tắm cùng với chúng tôi, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Thỉnh thoảng bom bi lại nổ đâu đó trong làng.

Rất nhiều người dân làng Quất Xá vẫn tiếp tục bị thương.

Chúng tôi nghỉ buổi chiều rất sớm sau một ngày lao động cật lực.

Xóm Xê Hai Mươi ở sát bờ sông.

Không ai bảo ai, tất cả đều nhào xuống bãi tắm (xem trên bản đồ ở dưới, bản đồ đã post ở trang 12 của topic này).

Nhanh thật, mới ngừng bắn mà nhu yếu phẩm đã có đủ thứ, xà phòng Liên Xô 72%, thuốc đánh răng (lúc đó chưa gọi là kem đánh răng),khăn mặt nhuộm màu lính, thuốc lào, thuốc lá, . . . có thằng tắm ùm ùm rồi mới giặt, có thằng giặt xong, vắt kỹ rồi phơi trên bãi đá rồi mới tắm.

Lính vừa tắm giặt vừa đùa nghịch, rộn rã cả một quãng sông.

Quãng sông này lòng sông toàn đá, nước trong vắt.

Gần bờ, nước chảy lắt lẻo qua những kẽ đá tảng.

Muốn ngâm mình thì phải lội ra xa một chút.

Gần bờ, mấy tảng đá to làm phản giặt, tha hồ mà chà xát, tha hồ mà đập.

Đứng dưới sông, nhìn về hướng tây, núi cao ngân ngất, có đoạn hai bờ núi dốc thẳng xuống sông.

Ánh Mặt Trời chiếu chếch qua khe núi, trải thành một dải xanh vàng trên đám cây cối xanh xẫm um tùm.

Một vài tia nắng lấp lóe qua tán lá cây.

Bạn phải dơ tay ra chắn các tia nắng mà ngắm nhìn cảnh núi rừng, . . .

Đẹp ! hùng dũng, xốn xang lòng người !

- Ối ! chiệc chiệc !

Cá nó rỉa chúng mày ơi !

- Đâu ?

- Đây này.

- Sao chỗ tao không có ?

À, mày bị ghẻ nên cá nó mới bâu vào đớp.

- Mày còn ghẻ hơn tao.

Mày ghẻ quá, lên mùi, cá nó sợ không đến đâu.

Càng lúc càng nhiều cá ở đâu ra không biết, từng đàn.

Tinh giống cá bằng ngón tay, dài dài.

Giống cá suối nhanh và mạnh.

Không thằng nào là không bị cá rỉa.

Lúc đầu bị rỉa hơi giật mình.

Giống này rỉa đau chứ không như giống cá rỉa trị liệu ở một số điểm du lịch bây giờ.

Mấy thằng có vết lở loét bị cá rỉa đau quá, vừa tắm vừa đuổi cá.

Những thằng khác cũng bị rỉa đau nhưng vẫn mặc kệ.

Mấy thằng ra vẻ thông thạo cãi nhau về tên của giống cá rỉa, thằng bảo cá nọ, thằng bảo cá kia, viện đủ lý lẽ dẫn chứng, không phân thắng bại.

- Thôi chúng mày không biết thì để tao bảo cho mà biết.

Có thế mà cũng không biết.

- Mày bảo cá gì ?

- Bọn mày thấy nó có bé không ?

- Ừ !

- Vậy là cá tép.

Nó lại rỉa.

Thì tên nó là "tép rỉa" chứ còn gì.

- Ồ ồ . .ì . . .

- Thôi nhanh mà về ăn cơm, hôm nay ăn tươi, có thịt bò, lúc nãy tao vừa thám thính được.

- Về là về thế nào ? mày ngu lắm !

Chị em đang ra tắm kia kìa.

Bà con trong làng Quất xá bây giờ mới đi tắm.

Đàn ông, đàn bà, trẻ con, các út nữa.

Từng tốp, từng tốp đang đi từ trong làng ra.

Đám lính trẻ bớt ồn ào đi đôi chút.

Thằng nào thằng nấy liếc mắt về bãi đá phía dưới, chẳng xa chỗ chúng tôi tắm là mấy.

- Này cẩn thận không có mọc lẹo ở mắt đấy.

- À !

Cái thằng mắt ve này, mày nhìn gái từ bé lên lẹo mãi nó mới thành ra ve.

Bây giờ sợ rồi hả ?

Thôi mày chuồn trước đi !

Chiều muộn, sau khi cơm nước xong TBH, SauChinBayMot và tôi thường đi dạo trên con đường làng.

Con đường đất dẫn chúng tôi ra cánh đồng, đường Quốc lộ số 9 ngay kia.

Mặt Trời đã khuất sau đỉnh năm bốn bốn.

Ráng chiều đỏ hắt lên từ sau dãy núi.

Cái núi già nguyên sinh trở nên sẫm màu thăm thẳm.

Quay lại nhìn về phía làng.

Một cảnh tượng thanh bình đến lạ lùng.

Những dải khói lam chiều mỏng mảnh uốn lượn nhẹ nhàng bốc lên từ những mái nhà lẩn khuất sau rặng tre ngà.

Lạ thật !

Sao chỉ có những buổi chiều thanh bình như thế này mới thấy màu khói lam ngăn ngắt như vậy nhỉ ?

Nhà ai đó kia?

Rặng duối rậm rạp, hàng cau cao vút.

Thấp thoáng sau những cây mít là những giàn trầu biêng biếc xanh.

TBH học hết năm 2 khoa toán ĐHSP còn SauChinBayMot và tôi cũng vừa hết năm thứ nhất khoa vật lý ĐHTH.

Chúng tôi nhập ngũ cùng một ngày 6/9/1971.

Mới hơn một năm thôi mà sao biết bao nhiêu chuyện.

Chuyện nắng chuyện mưa, chuyện vui chuyện buồn, chuyện sống chuyện chết.

Cuộc chiến ác liệt ở Quảng Trị chỉ là vài ba tháng thôi, nhào nặn chúng tôi thành những người hoàn toàn khác.

Thỉnh thoảng tôi liếc ngang nhìn hai người bạn.

Vẫn trẻ thế nhưng sao dày dạn, rắn giỏi, từ tốn, đĩnh đạc và bao dung.

Dường như tất cả cái mãnh liệt của trai trẻ đã lẩn vào trong.

Hai người bạn tôi đây đã trở nên đẹp lạ !

Nét đẹp của những người lính chiến, như những bức tượng đồng ngạo nghễ.

Trong lòng tôi không khỏi không ngưỡng mộ mà thốt lên: "đẹp thật !"

Có hôm cả ba đứa đều có thư.

Chúng tôi vừa đi vừa đọc thư rồi trao đổi cho nhau.

Hồi hộp nhất là khi đọc thư của TBH vì đó thường là thư của một người con gái ở rất xa, mãi bên trời tây.

Tình bạn của hai người vừa trong sáng vừa lãng mạn vừa đằm thắm.

SauChinBayMot và tôi có cảm tưởng đang được lần giở từng trang tiểu thuyết của một chàng lính dày dạn trong chiến trận giống như Bolkonsky và một tiểu thư như Natasha nhà Rostov trong tiểu thuyết "Chiến Tranh và Hòa Bình" của Lev Tolstoy vậy.

Một mối tình bay bổng, thoát khỏi thực tại ác liệt của đời lính chiến.

Mối tình thơ mộng.

Nỗi nhớ dịu ngọt.

Niềm ngưỡng vọng xa xôi, chắp cánh cho anh bay lên cao, dường như thoát khỏi những lăn lộn dập vùi nơi chiến địa khốc liệt này.

Buổi tối ở Quất xá chúng tôi thỉnh thoảng mới phải sinh hoạt.

Lần đầu tiên sinh hoạt trung đội sau ngày ngừng bắn, anh Thêm b trưởng bắt ae ra xóm Xê Hai Mươi.

Lính tráng đi bộ từ trong làng ra vừa đi vừa lầm bầm khó chịu.

Chỉ có vài đứa có đèn pin nhưng cũng may, trăng nhạt đầu tháng cũng vừa đủ để đi trong làng mà không đâm vào bụi rậm hay lăn xuống hố.

Trung đội ngồi ngay trên bãi cỏ lớn to bằng nửa cái sân bóng đá.

Đây sẽ là sân trung tâm của dại đội.

Anh Thêm phổ biến tình hình, lên dây cót về kỷ luật và công tác dân vận xong thì chuyển sang phần văn nghệ.

Mảnh trăng khuyết đã chênh chếch chiếu xuống sân cỏ.

Thằng Thìn nổ bài đầu tiên "Tình Ca", thằng An vừa đánh ghi ra vừa hát bài gì tôi không nhớ tên: " Trăng lại chiếu sáng trên lưng đồi, ánh trăng/ Lung linh bên hàng dừa xanh êm đềm/ Biển rộng ơi nghe chăng lời hát ân tình . . . .".

Hết mỗi bài, lính tráng vỗ tay và hò hét rất to.

Cuối cùng là hát tập thể.

Đùn đẩy nhau mãi, cuối cùng thằng Thìn phải lên "cầm càng".

Tiếng bên dưới nhao nhao í ới:

- Ta là con của bố ta mẹ ta đê . . .

- Đêm nay trên đường hành đê . . .

- Vùng lên đê . . .

Thằng Thìn phải quát lên chúng nó mới chịu yên :

- Được rồi, bây giờ mọi người hát bài "Vùng lên" nhớ !

Nào thôi, bắt đầu nhớ !

Tôi bắt giọng, mọi người hát theo nhớ !

Thằng Thìn đằng hắng mấy tiếng rồi cất giọng, rất to :

"Ôi xương tan, máu rơi . . .

" hai – ba . . .

Khoảng tháng 10/1972, do một số lính trinh sát bị hy sinh và bị thương, một số chuyển đơn vị khác, chúng tôi được bổ sung thêm lính mới.

Nói đúng hơn là chúng tôi bổ sung lính cũ lấy từ các đơn vị bộ binh sang.

Ba cán bộ trung đội trưởng về các đơn vị bộ binh để tuyển chọn những người chiến đấu xuất sắc, dũng cảm.

Thế là có vụ "lừa".

Các b trưởng lấy giấy của sư đoàn để xuống các đơn vị.

Không biết trong giấy ghi gì nhưng khi xuống các đơn vị từ trung đoàn rồi tiểu đoàn và đại đội, người ta đều tưởng là cử những lính chiến xuất sắc nhất đi học ở ngoài bắc.

Khi "lính mới" về đến đại đội tôi, bấy giờ hậu cứ sau cùng ở suối La La (gọi là khu B), họ mới té ngửa ra là về trinh sát sư đoàn.

Ai nấy đều tiu nghỉu.

Chắc hẳn rất buồn ?

Một là không được ra bắc. hai là bị chia cắt khỏi các đồng đội vào sinh ra tử, sống chết bên nhau bấy lâu nay.

Ba là, trinh sát - kinh bỏ mẹ, lúc nào cũng đi lẻ, lạnh sườn lắm.

"Lính mới" lại toàn lính cựu từ các trung đoàn 101, 95 và 18 về.

Thằng Thìn, lính 12 ly bảy của tiểu đoàn 1; thằng H. tiểu đội trưởng tiểu đội 1, trung đội 1, đại đội 1, tiểu đoàn 1, trung đoàn 101 (toàn một).

Thằng Cam, liên lạc của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 và thằng Nội ở 95.

Bốn thằng được bổ sung vào tiểu đội tôi.

Tình cờ, cả bốn thằng đều là dân Hà Nội.

Hồi đó có câu: "Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay".

Mấy đứa Hà Nội này không chuồn mà lại chiến đấu ở phía bắc và phía nam thành cổ cho đến tận bây giờ thì cũng phải gấu lắm.

Thằng Nội, mặt rất dài, có một vết sẹo lớn nhăn nhúm ở má bên trái kéo suốt từ thái dương xuống dưới gò má.

Trông nó đúng là dân anh chị ở Chợ Đuổi (Chợ Giời).

Sau này có lần ở chung hầm với nó ở khu A.

Nó kể chuyện đi chơi đêm, đĩ bợm, linh tinh, . . . rất tự nhiên cởi mở, thoái mái.

Vậy mà ở bộ binh chắc đánh nhau cũng "hăng tiết vịt" lắm nên mới "được" về đây.

Sao cái thằng này nó lại gày thế, nhìn đâu cũng thấy xương xẩu.

Mặt dài như bơm, chân tay dài loằng ngoằng.

Hẳn là cái gì cũng dài rồi ?!

Dáng điệu của nó, ai đã nhìn thấy một lần thì không thể quên.

Lòng khòng, giống như hình ảnh thần chết mà người tây hay vẽ.

Nó hút thuốc lào trông mới càng quái dị.

Lúc rít thuốc cái sẹo kéo xếch bên mắt trái của nó, mắt phải thì lờ đờ sung sướng.

Hình ảnh tôi nhớ nhất về thằng Nội là hôm làm hầm.

Nó khênh cái đòn nóc với thằng Thìn.

Hai thằng đều cao nhưng thằng Thìn thì to con, khênh ngon.

Cái cây gỗ nặng quá, thằng Nội thì có phải gánh ghiếc gì bao giờ.

Nó gân cổ lên mà gồng, vài bước lại phải đổi vai.

Đau vai quá, có đoạn nó dâng cây gỗ lên đỉnh đầu như cử tạ, cứ thế oặt oẹo, lắc lư mà bước.

Trời thì mưa to, sụt sùi.

Hai thằng ướt lướt thướt.

Bộ quần áo lính rộng thùng thình.

Trông thấy nó thế tôi không thể nào ngăn được nước mắt.

Sau này, thằng Nội chuyển đi đơn vị khác.

Bặt tin nhiều năm trời.

Đột nhiên, một tối tôi đang ở nhà thì có người gọi tên tôi rất to ngoài đường.

Từ trên gác ngó xuống, chẳng nhìn rõ là ai :

- Ai đấy ?

- Tao đây ! tao Nội đây.

Địa chỉ nhà Nội ở ngõ ngách, nên tôi không nhớ.

Địa chỉ nhà tôi, nó nhớ mà bây giờ mới tìm đến.

Mấy ngày sau tôi đến nhà nó.

Thấy tôi đến, cả vợ nó và hai đứa con đều xúm lại xung quanh nghe chuyện.

Nó thì chìa tay để vợ nó đưa tiền cho nó đi mua mấy điếu "ViNa" lẻ.

Hai vợ chồng nó không có việc làm.

Nó khoe nó mới mở rửa xe.

Cả nhà chui lên gác xép cho nó có chỗ rửa xe.

Đã là rửa xe trong ngõ nhỏ thì chớ, nhà thì chật, dụng cụ cũng không có gì, bơm xe máy cũng bằng tay.

Trông cảnh nhà thằng Nội nheo nhóc, túng bấn quá.

Trông quần áo nó cũ mướp, tả tơi.

Nhà nó chắc không hơn nhà "Chị Dậu" là bao.

Lúc đó kinh tế tôi cũng hẻo lắm nhưng nhìn cảnh thằng Nội thật không đang lòng.

Tôi về nhà, vét voi được ít tiền bắt nó đi mua đồ rửa xe máy.

Lúc ở chợ Giời, nó toàn chỉ vào những cái máy bơm hơi bé tẹo và cũ hoặc máy bơm tự chế từ bình hơi của xe ô tô.

Tôi không để cho nó quyết mà chọn một máy bơm to.

Lúc về đi qua khu quần áo Kim Liên tôi bắt nó mua hai bộ quần áo mới, cởi đồ cũ thay ngay tại trận.

Mang đồ về, thử xong ngon lành hai thằng tôi kéo nhau vào một quán bia hơi hoành tráng một bữa.

Khi say say, thằng Nội mới nói là nó đói, đói thật, theo nghĩa đen. . . !

Mấy lần sau đến chơi, thấy nó có vẻ khá hơn nhưng vẫn cực kỳ khó khăn, nhếch nhác.

Rồi đột nhiên có biến động cách đây 2 năm.

Người ta làm đường "Kim Liên mới" (đường Xã Đàn), nhà nó ra mặt đường.

Mấy anh em nó bán nhà , chia nhau, mỗi người mua nhà riêng.

Nó mua nhà mấy tầng ở khu Cầu Mới đi vào sâu trong làng.

Còn thừa tiền, thế là dính vào ma túy.

Tiền hết, nó quay ra vừa hít vừa bán.

Nó bị bắt một năm nay.

Phải bóc lịch 4 năm. . .

Ôi !

đồng đội tôi.

Sao lại thế ! . .

Nhà Thằng Cam cũng ở gần nhà thằng Nội, cùng làng Xã Đàn.

Hai thằng cùng đi lính một ngày, cùng huấn luyện ở Hòa Bình, cùng về trung đoàn 95 một lúc.

Rồi hai thằng cùng về tiểu đội tôi một dịp.

Thằng Cam hơi thấp, hơi béo, cực trắng luôn.

Lúc đó nó mới 19 tuổi.

Nó là liên lạc cho ông Trị, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6.

Ông Trị đi đâu thì nó theo đó.

Nó cũng lăn lộn khắp phía nam thành cổ rồi sang Như Lệ.

Đêm 15/9/1972, nó cùng ông Trị bơi từ bên thành, rút qua sông.

Vừa sang đến bên này sông, hai cha con bị pháo bắn.

Thằng Cam nhanh nhẹn kéo thủ trưởng lăn xuống hố pháo nằm đè lên nó.

- Mày gian quá Cam ạ !

Dám kéo thủ trưởng làm bia đỡ đạn cho mày.

Thế mà ông ấy còn yêu mày, cử mày đi học.

Hay thật đấy !

- Đâu !

Tao kéo thủ trưởng ngã xuống đè lên tao cho nó êm, thủ trưởng đỡ đau đấy chứ.

- Giỏi thật !

- Hì hì . . .

- Tao nghĩ mày trông ngon như con gái, ông ấy thì xa vợ.

Trông thấy mày thì yêu luôn.

- Chẳng biết được . . .

Khi chúng tôi chuyển từ Quất Xá về Trà Liên Tây, lúc đầu ở nhà dân.

Thằng Cam ở nhà ông lái đò.

Nó thích út Túy con gái ông.

Sau đó chúng tôi làm nhà riêng thì nó vẫn thân với út Túy.

Út Túy vừa cao vừa to, lại đen, ngược hẳn với thằng Cam.

Hôm tôi và thằng Cam uống rượu, hai thằng chơi hết một chai huyết thanh một lít với một cân đường làm đồ nhắm, tôi hỏi chuyện nó với út Túy thì nó bảo " Có gì đâu !"

Bây giờ thỉnh thoảng gặp nhau hỏi lại thì nó chỉ cười hì hì.

Thằng Nội chuyển đi bộ binh đầu năm 73 còn thằng Cam chuyển sang d26 (tiểu đoàn xe) cuối năm 74.

Gọi là tiểu đội trưởng nhưng trước khi ngừng bắn tôi chẳng biết tiểu đội có những ai vì mỗi đứa đi một hướng, giăng ra suốt các nơi.

Từ khu B, khu A, cao điểm 108, Cao điểm 20, Ái tử, Nhan Biều, Bích La, Như Lệ, . . .

Bây giờ mới có dịp về đây kha khá.

Còn vài đứa nữa vẫn đang ở một số điểm nóng hay đài quan sát.

Thằng H., a trưởng a1/b1/c1/d1/e101 cũng rất trắng, cao và gày, trông rất thư sinh.

Vậy mà nó cũng đánh nhau trày trụa ở Bích La, An Lộng, từng rơi nước mắt khi bạn thân nhất của nó chết ngay trước mắt nó.

Thằng Thìn to con là lính 12 ly 7 của d1/e101.

Nó bảo 12 ly 7 bắn sướng lắm nhưng quét không kỹ bằng đại liên (Sướng gì mà sướng, vác súng đạn thì nặng làm sao chạy pháo cho nhanh được).

Thằng này chẳng bao giờ chịu kể chuyện nó bị bom pháo gì (đơn vị nó cũng hy sinh rất nhiều).

Lúc nào nó cũng chỉ cười hề hề, nói chuyện tếu, nhất là chuyện em út.

Khi ra quân, nó học trường Phú Thọ ở Sài Gòn, khoa kinh tế ngoại thương.

Ra trường làm ở Seaprodex, số 4 đường Đồng Khởi.

Sau rồi làm lên đến giám đốc gì đó xuất khẩu thủy sản, rồi giám đốc du lịch.

Bây giờ thì làm xuất khẩu lao động.

Nó bị bệnh tiểu đường.

Lại bệnh tim, hai cái động mạch vành của nó đã được nong bằng hai cái sten rồi.

Nó vẫn nhậu hết cỡ, ăn uống thoải mái, chẳng kiêng khem gì ráo.

90 ký lậng !

Thằng Tính, dân Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An đi lính 5/72, bổ sung vào tiểu đội tôi 8/72 mà bây giờ tôi mới biết mặt.

Thằng này to béo và đen, ae gọi nó là "Tính béo" hay "Tính Diễn Tru" (Tru tiếng khu 4 là con trâu).

Nó là dân đánh cá biển, ra khơi vào lộng đã ba năm, ăn to nói lớn, đặt lưng là ngủ.

Sao thằng này nó nhiều mồ hôi thế.

Cái riêng nhất của nó là lúc nào cũng mồ hôi lấm tấm trên chóp mũi.

Sau này, khoảng tháng 4/73, nó ở trong toán "trinh sát cắm" tại Cửa Việt.

Đại đội tôi, duy nhất có nó làm trinh sát trên biển.

Lúc đó thằng Tính ở nhà dân, lên thuyền đánh cá của dân.

Nó mang theo một khẩu súng bắn pháo hiệu.

Yếm đạn của nó nhét đầy đạn pháo hiệu xanh, đỏ, vàng.

Nó còn mang theo một khẩu B40 và mấy quả đạn.

Nó đi cùng dân.

Tham gia đánh cá, ăn ở với dân trên thuyền.

Nếu tình hình bình yên, không có tàu hay canô của địch thì nó bắn pháo hiệu xanh.

Có khả nghi địch ở xa thì bắn pháo vàng.

Nếu địch vào gần thì bắn pháo đỏ.

Tín hiệu của nó giúp cho các đơn vị trong bờ sẵn sàng đánh địch từ biển vào.

Mỗi khi nói chuyện đi biển là nó kể chuyện rất hăng say về cái nghề đánh bắt cá, Nào thì tìm dò cá, nào thì buông lưới mấy chục sải thế nào, nào thì cháo cá, rồi cá ăn gỏi ngay trên thuyền, . . .

Hôm 6/9 rồi, nó ở Diễn Châu đưa con ra Hà Nội khám bệnh, tôi kéo nó đến chỗ gặp mặt ae.

Rồi việc làm doanh trại cũng xong – Xóm Xê Hai Mươi.

Cơ ngơi của đại đội tôi rất đẹp, không khác gì "Rì-sọt" (Resort) bây giờ.

Xung quanh là tre vầu và tre ngà rất cao, lại thêm rất nhiều cây cổ thụ.

Cái sân của đại đội là một bãi cỏ xanh rì, phẳng phiu, tự nhiên.

Những mái nhà tranh nấp bóng dưới các tán cây.

Một khu nghỉ dưỡng thiên nhiên tuyệt đẹp.Vài lối đi vào khu nghỉ dưỡng đó là mấy con đường đất nhỏ ngoằn nghoèo.

Hai đường dẫn vào làng Quất Xá, một lối dẫn lên núi, vài ba lối nữa luồn qua rặng tre dẫn thẳng xuống bãi tắm.

Mỗi tiểu đội có một nhà.

BCH đại đội một nhà.

Nhà của tiểu đội tôi nằm mé gần làng, dưới một gốc cây đại thụ, lá xum xuê nhiều tầng, chỉ vài bóng nắng lấp lánh trên mái tranh.

Dưới mái tranh là căn nhà âm.

Mỗi thằng biết vài thứ, bảo nhau làm từ A đến Z, từ việc làm vì kèo, luồn con xỏ, chống kèo, đặt đòn tay, đặt dui, kết mè, đánh tranh, lợp mái, . . . cứ như chuyên nghiệp vậy.

Chúng tôi đóng cọc xuống đất, gác các thang giường rồi đặt giát lên trên.

Các tấm giát giường được ken bằng tre theo kiểu chõng.

Mấy đứa còn lấy sơ vót tre đánh nhẵn bóng.

Đặt lưng xuống, mát lạnh.

Tiểu đội tôi làm xong nhà sớm.

Mấy thằng nghĩ ra chuyện làm bồn hoa.

Thằng Lê Văn Ngữ, dân Nam Định (không nhớ là Hải Hậu hay Xuân Trường), truyền thống cây cảnh.

Nó bắt mọi người vào làng đánh duối để trồng làm tường hoa.

Ở Quất xá rất nhiều nhà trồng hoa nhưng chỉ có mỗi giống hoa vạn thọ (loại hoa cúc lớn) thành ra bồn hoa của tiểu đội tôi cũng chỉ có vạn thọ.

Mấy tiểu đội khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo.

Thằng Ngữ và thằng Sự rất chịu khó, nó đi nhặt phân trâu bò, đánh tơi với đất, đem đổ xuống hố để trồng mướp.

Thằng Sự nó tia thấy trên gác bếp nhà chủ có mấy quả mướp giống, nó xin một quả từ bao giờ.

Thằng Hưởng, quê Hà Tĩnh, ve một bên mắt, tóc xoăn tự nhiên, lúc nào cũng điệu.

Thỉnh thoảng nó rút lược trong túi ra, chải ngược tóc lên, thêm tí nước, rồi ép xuống cho lượn sóng kiểu "đầu bồng đít vịt".

Tôi vẫn hay hát trêu nó : "Mời anh đến thăm quê tôi/ Mà xem mấy chú cao bồi/ Chải đầu bồng, đi tán gái/ Tì tì tì . . . ti tí ti ti" (câu cuối cùng hơi bậy một tý nên tôi thay bằng tì tí ti . . ., ai biết thì biết, ai không biết thì thôi !).

Ấy vậy mà chăm ra phết, ai bảo làm việc gì là lăn ra làm quần quật.

Chúng nó đứa nào cũng vun vén như nhà riêng của mình vậy.

Tôi thấy sung sướng lắm vì có những thằng như vậy trong tiểu đội.

Lúc chiến, chẳng nói nhiều cũng hiểu ý nhau, về đến tiểu đội thì như gia đình.

Mỗi tiểu đội đã cử 1 người gúp tiểu đội anh nuôi làm nhà và làm bếp nên công việc của anh nuôi cũng xong.

Một sớm, chúng tôi dọn từ trong làng ra xóm mới.

Hai thằng một giường.

Tôi nằm cùng giường với thằng Ngữ.

Sau này thằng Sỹ tiểu đội phó chuyển đi bộ binh thì thằng Ngữ lên thay.

Tối hôm đó, sáng trăng.

Sinh hoạt đại đội kết nghĩa với du kích làng Quất Xá.

Tôi không còn nhớ.

Nhưng có một bài mấy du kích nam nữ vừa múa vừa hát thì rất ấn tượng.

Một nét nhạc ngây thơ với lời hát quê mùa, mộc mạc :"Vui hát ca, hòa bình đã về ta/ Nay sướng vui dân ta có ngày/ . . . ./ Chúng ta vui đón chào mùa xuân".

--------------

Tái bút : "Tì tí ti . . .

" ai biết thì hô lên là biết nhé !

Ai không biết thì cấm được hỏi !

Một sáng Chủ Nhật được nghỉ, ba đứa Thìn, H. và tôi rủ nhau đi chơi Đông Hà.

Lúc đó, mới ngừng bắn nên không có xe đò, cũng chẳng có xe ôm như sau này.

Trên đường ra Đông Hà, đoạn đầu gần Quất xá, chỉ thấy toàn xe tải đang chở nặng đi về miền tây.

Thỉnh thoảng mới thấy một vài chiếc xe đạp.

Người đi bộ trên đường cũng không nhiều, gặp lính tráng đi bộ là nhiều nhất.

Không hiểu tại sao đường 9 không bị hư hỏng gì nhiều.

Đường rải bê tông nhựa, độ khum vừa phải, rất nhẵn.

Thỉnh thoảng mới thấy hố pháo trên đường, không sâu lắm, chỉ khoét trên đường một cái ổ gà.

Chỗ hố pháo, nhiều mảnh mặt đường bị văng lên, tung tóe xung quanh.

Tôi nhặt một mảnh lên.

Một lớp trải mặt rất đẹp, rắn chắc, đá sỏi kích cỡ khác nhau trộn với nhựa rất đều, trông như miếng kẹo lạc.

Nắng mưa Quảng trị đều dữ mà mặt đường không có chỗ nào bị chảy nhựa.

Xe tải nặng đi trên con đưởng 9 từ cảng quân sự Đông Hà sang Lào không hề làm sụt lún mặt đường.

Đường Mỹ làm rất tốt.

Bây giờ đường của ta làm theo công nghệ này nhưng vẫn không bằng được.

Chúng tôi đi rất nhanh, mấy khi được đi người không thế này.

Mười hai cây số đi bộ trên đường 9 chỉ một loáng đã tới.

Mãi gần đến Đông Hà mới có làng mạc ven đường.

Cũng như ở Quất Xá, dân đã trở lại cuộc sống bình thường, không còn cảnh chui rúc dưới hầm, ban đêm mới dám ra đồng làm việc nữa.

Nhanh thật ! chỉ mới ngừng bẵn có ít hôm mà trông làng xóm có vẻ rất thanh bình.

Đông Hà mới là nơi mà tháng 4/72 có giao tranh quyết liệt.

Chúng tôi đi qua đường tàu mới thấy cảnh đổ nát thực sự của chiến tranh.

Duy cái lô cốt có tháp canh ở góc đoạn đường quẹo vẫn đứng sừng sững với nhiều vết đạn chiu chít.

Cái tháp này còn đứng đấy cũng vì nó được giữ làm vật chuẩn của pháo địch.

Chúng tôi đi qua cái tháp, bấy giờ chưa có hai cái xe tăng M41 và M48 kéo vào để ở chân tháp.

Đường phố Đông Hà đã được dọn sạch, không còn cảnh đổ nát trên mặt đường.

Hai bên phố cũng được dọn dẹp, vẫn cảnh đổ nát nhưng trông rất sạch sẽ.

Gọi là thị xã Đông Hà nhưng đường phố thực ra chỉ có mỗi đoạn từ góc quẹo ra đến đường 1.

Phần còn lại của thị xã cũng chỉ là làng xóm.

Nhưng Đông Hà có quân cảng lớn (bây giờ là di tích được xếp hạng), có sân bay, có ga tàu, có giao lộ quan trọng đường 1 với đường 9, có kho bãi hàng rất lớn.

Về quân sự và kinh tế thì Đông hà quan trọng hơn tghij xã Quảng Trị rất nhiều.

Nghe nói, có lúc định chọn thị xã Đông Hà làm thủ phủ của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ?!

Phố xá Đông Hà chưa có gì.

Một vài nhà dân trở về đang sửa chữa nhà.

Chợ Đông Hà đã họp lại, vẫn ở chỗ cũ như bây giờ.

Mới chỉ có lều lán dựng tạm của dân.

Cầu Đông Hà vẫn có đoạn nhịp đang gục xuống sông.

Công binh đang bắc cầu phao qua sông, chắc vài ngày nữa là xong.

Đây sẽ là con đường quan trọng vận tải từ bắc vào.

Từ Đông Hà, theo đường chín lên đường Hồ Chí Minh để vào trong nữa.

Cái lô cốt có tháp canh ở góc quẹo thị xã bây giờ không còn nữa.

Một di tích có giá trị như vậy lại bị phá bỏ.

Bây giờ chỗ này là ngã tư rồi.

Người ta giải thích rằng chỗ đó hay xảy ra tai nạn giao thông nên phá đi.

Sao không giải quyết bằng cách khác ?

Thật đáng tiếc !

Đây là lần đầu tiên tôi đến thị xã Đông Hà.

Trước đây khi đi vào phía trong, tôi đã đi qua Cao Hy, bươn ngang qua căn cứ Phượng Hoàng (Pedro) từ đó mà xuống Như Lệ.

Nổi bật nhất Đông Hà là cái lô cốt rồi đến mấy cái nhà vòm để máy bay.

Nhà cửa ở Đông Hà tan hoang hết.

Khi chúng tôi đứng ở đầu cầu, gió từ biển thổi vào tràn qua mặt sông, hây hẩy.

Nhìn về phía đông bắc, thấy trải dài những cồn cát trắng Gio Linh.

Chếch lên phía bắc là Cồn Tiên và Dốc miếu, trắng lẫn đỏ, chỏng trơ, trụi thì lụi.

Làn gió mát cũng không làm dịu đi nỗi gì đó "phất phơ" buồn. bạn sẽ phải thở dài khi đứng trước cảnh vật như thế này.

Đi ngắm chợ chơi, tiền chẳng có.

Hàng gạo, hàng khoai, hàng cá, hàng rau, đồ lính hai bên có đủ.

Tiền bắc, tiền nam đều tiêu được.

Lúc đó, tiền bắc rất có giá trị.

Có vẻ như mọi người có gì trao đổi nấy, lấy thứ cần dùng chứ chưa phải là buôn bán gì.

Trên đường về, cách Quất Xá mấy cây, chúng tôi rẽ vào con đường tắt đi trong đường xã.

Con đường đất này là con đường quen thuộc của chúng tôi trước kia khi đi từ suối La La qua Nghĩa Hy để xuống Ái Tử.

Có một ngôi nhà xây rất lớn nằm ngay trên mặt đương.

Ở vùng này, một ngôi nhà xây hai tầng đồ xộ như vậy chỉ có một.

Trên cao, gần mái có đắp chữ nổi "TÔ PHAN KÝ".

Tôi được biết chủ nhà đã chạy vào phía trong.

Tô Phan Ký không biết có phải là tên gia chủ không nhưng đó là một thương hiệu đã có tên tuổi.

Thời Pháp thuộc, ở miền bắc người ta đã biết đến thương hiệu này.

Bạn tôi bảo, hồi bé đã thấy những ngôi nhà cũ lợp ngói "Tô Phan Ký".

Ở chỗ này, "Tô Phan Ký" không phải chỉ là một ngôi nhà lớn mà là cả một dinh cơ phía trong nữa. năm 1972, sư đoàn tôi (325) đặt kho quân nhu ở đó.

Ban đêm, xe qua ngầm ở Bãi Hà rồi đi theo "đường tăng" ngoằn nghoèo rồi lội qua "ngầm B" là đến gần kho hàng "Tô Phan Ký".

Lúc bấy giờ, đường này cũng là đường vận tải để đi ra đường 9.

Từ đó ra Nghĩa Hy, vượt đèo vào Cùa để đi ba Lòng.

Từ đường 9 cũng có thể đi đến Đầu Mầu thì rẽ lên đường đi căn cứ Tân Lâm (ta thường gọi là cứ điểm 241, địch hay gọi là Camp Carroll), qua Mai Lộc mà đi Ba Lòng.

Đường của bác Phong Quảng và cũng là đường vận chuyển hay kéo pháo chính là đường này.

Khi đi qua đây, thấy ngôi nhà "Tô Phan Ký" bị bom đánh chỉ còn lại mấy mảnh tường.

Tôi nhớ lại cái hôm ngôi nhà bị đánh bom.

Đó là vào khoảng tháng 10/1972, quãng 10 giờ sáng.

Lúc đó một thằng nữa và tôi từ chân cao điểm 108 về làng Quất Xá để lấy gạo và đồ hộp.

Hậu cứ của đại đội ở mãi bãi Tân Kim, suối La La, nhưng có kho lương thực, thực phẩm ở Quất Xá.

Trên đường từ Quất Xá về 108 tôi cũng đi đường này.

Bất ngờ từ phía biển một tốp bốn chiếc F4 đang lao rất nhanh tới, khá thấp, thẳng về phía chúng tôi.

- Máy bay !

F4 mày ạ.

Nó đi đánh đâu thế nhỉ ?

- Nó bay thẳng đến đây mày ạ !

Chưa kịp nói hết câu thì thấy chiếc đi đầu chúi xuống, bổ thẳng vào mặt chúng tôi.

Không ai bảo ai, hai thằng lăn nhào xuống ruộng, mắt vẫn dõi theo máy bay.

Nó ngóc đầu lên thì hai quả bom cũng rời máy bay mà lao xuống.

Chúng tôi chúi đầu xuống ruộng.

Hai quả bom gần như nổ cùng lúc.

Ngẩng lên nhìn thấy một quầng khói đen bốc lên, đất đá bay ràn rạt, chút sau thì rơi lụp bụp xung quanh người.

May là chúng tôi không quá gần. chỗ bom nổ phải cách chỗ tôi năm sáu chục mét.

Hết chiếc này đến chiếc khác lần lượt thả bom.

Mỗi thằng chỉ thả đúng hai quả.

- Đi thôi !

- Từ từ đã.

Xem nó còn đánh tiếp không.

- Ừ !

Kia kìa, một tốp nữa kìa.

Vẫn là bốn chiếc F4, vẫn hướng đó, vẫn khá thấp như vậy.

- Nằm xuống đi !

Từng chiếc một lại bổ nhào.

Lần này chúng không ném bom mà bắn tên lửa.

Hai quả tên lửa phóng ra cùng lúc, lao rất nhanh.

Chiếc thứ hai cũng phóng hai quả tên lửa.

Rồi vấn hai thằng đó ngóc lên cao, bay vòng trở lại.

Mỗi thằng phóng thêm hai quả tên lửa nữa.

Hai thằng còn lại bay vòng trên cao quan sát.

Không thấy chúng bắn tên lửa hay thả bom.

- Cháy rồi mày ơi !

- Cháy đúng chỗ kho quân nhu đấy !

Tao ù tai tai quá mày ạ !

- Mày nuốt nước bọt đi, nuốt mạnh vào . . .

Đỡ chưa ?

Ngọn lửa ngày càng bốc cao.

Mấy thằng máy bay lượn vài vòng rồi bay ra biển.

Không biết kho quân nhu có gì mà bốc cháy nhanh, cháy dữ vậy ?

Lửa đỏ và khói đen bốc lên rần rật làm cho ánh nắng cũng run run nhảy múa.

Hơi nóng phả cả đến chỗ chúng tôi.

- Đi mày ơi ! chắc nó không đánh nữa đâu !

Mình đi qua ruộng thôi.

Vừa đi chúng tôi thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn.

Đám lửa ngày càng bốc cao.

Không biết có ai bị sao không ?

Mãi khi qua dãy Nghĩa Hy thì chúng tôi mới bị khuất không nhìn thấy.

Sau này tôi mới biết, hôm đó nó đánh trúng kho quân trang và nhu yếu phẩm của sư đoàn.

Có mấy anh hy sinh tôi không nhớ.

Bà con Quất xá nói lại, hôm đó nó cũng đánh trúng ủy ban xã.

Chủ tịch xã là ông Phát đã hy sinh.

Về vụ máy bay đánh chính xác vào kho hậu cần của sư đoàn về sau này được cho rằng có chỉ điểm mặt đất.

Chuyện đó bàn ra tán vào mãi.

Sau này khi c20 ở Trà Liên Tây, anh em đi công tác các ngả thì dân cũng biết cả.

Cho nên, vụ "A74" (xem trong topic "Nhật Ký Viết Lại" của SauChinBayMot), để đánh lạc hướng, khi nhóm A74 lên đường thì cả đại đội cũng hành quân dã ngoại.

Đi đến giữa chừng mới tách ra.

Sau đó, để đảm bảo bí mật các hoạt động chuẩn bị chiến trường năm 74 và đầu 75, c20 phải chuyển lên vùng đồi ở ven nhánh của sông Ái Tử, biệt lập với dân.

Hai giờ chiều chúng tôi mới về đến "Rì-sọt".

Bồn hoa của chúng tôi đẹp quá.

Chắc sáng nay thằng Ngữ vào làng đi kiếm hoa ở những nhà dân bỏ không.

Hai bụi lớn hoa mẫu đơn được trồng hai bên lối xuống nhà âm.

Thằng Ngữ, mặt nhiều trứng cá, rất chăm chỉ và chu đáo.

Nó lo vun vén cho tiểu đội, để ý chăm sóc đến từng người.

Nó bằng tuổi tôi nhưng lúc nào cũng gọi tôi bằng ông và xưng tôi, tôi thì gọi nó bằng tên và xưng mình với nó.

Nó coi tôi như anh cả trong gia đình còn tôi lại có cảm giác nó là người chị cả trong nhà.

Nhớ một lần, năm 1976, lúc đó thằng Ngữ cũng được ra quân rồi, tôi từ Hà nội đi về quê nó.

Tôi đi xe hàng đến bến xe Nam Định, vào xếp hàng để mua vé xe đi tiếp về quê nó.

Chen lấn xô đẩy nhau, cuối cùng tôi cũng lên đến cửa bán vé, móc tiền để mua vé thì ôi thôi . . . !

Tiền đã không cánh mà bay từ lúc nào, xót thì ít mà bực thì nhiều.

Đểu thật, mấy thằng "lính mổ" Nam Định nhìn thấy thằng bộ đội "bò lạc" từ Hà nội xuống cố tình gây ra chen lấn xô đẩy.

Tôi mặc quần áo lính, để tiền trong túi áo ngực, chúng móc lúc nào không hay biết.

Ở Hà nội, đi chợ Đồng Xuân, Bắc Qua, đi chợ giời lượn lờ mua đồ cũ chẳng bao giờ mất tiền.

Có lần ở chợ giời tôi túm tay một thằng đang luồn vào trong túi quần.

Nó giật mạnh tay ra mà bỏ chạy, vứt cả lại đôi dép Tiền Phong mới coóng.

Tôi cũng chẳng buồn đuổi theo, mồm chỉ lẩm bẩm: "bố được đôi dép của mày rồi con ạ !"

Vậy mà về cái tỉnh lẻ này lại bị nó chơi ngon.

Ừ, đất có Thổ Công, sông có Hà Bá !

Tôi lẩm bẩm trong miệng: " mấy thằng con này làm lỡ việc của bố !" rồi ra quán "bà bóp" ngay trong bến xe, bán lại đống quà trong ba lô.

Bánh qui bơ với kẹo sữa Hải Châu (bấy giờ là loại hảo hạng), lại bị "bà bóp" nặn một lần nữa.

Có tiền, tôi mua vé xe, ngược về Hà nội.

Ba thằng tôi bước xuống nhà âm thấy mấy đứa đang ngủ say.

Căn nhà sạch sẽ mát mẻ, gọn gàng.

Cơm phần chúng tôi để trên bàn giữa nhà, qua cái bàn là cái giá súng dựng ngay ngắn, tám khẩu AK báng gấp.

Giá ba lô làm ở hai đầu hồi, trên cao, bốn thằng một cái.

Đói quá, ba thằng nhấn hết ga.

Bốn giờ chiều chúng tôi mới ngủ dậy.

Thằng Tính "mồ hôi mũi" đang lau súng.

Nó tháo băng đạn ra để trên giường rồi lau rất cẩn thận.

Thấy bọn tôi đã thức, thằng Tính rủ đi tắm:

- Chừ đi tắm hè !

Trông thấy mũi thằng Tính lấm tấm mồ hôi, thằng H. vừa cười vừa nói:

- Mi trộ cái mũi mi coi !

Nỏ mần chi mà mồ hôi dữ hè ! (Thằng H., người Hà Nội, nó nói theo giọng khu bốn hùa theo thằng Tính)

Thằng Tính đang vui, nó vừa lau súng vừa hát.

Cũng là đùa vui, nó quay mũi súng, chĩa thẳng vào ngực thằng H., xiết cò !

Đoàng !

Tiếng nổ bất thần, . . . bàng hoàng . . .

Thằng Tính mặt cắt không còn hột máu.

Mấy thằng tôi cũng mắt mũi xanh lè.

Số thằng H. (cái gì cũng 1), vào sinh ra tử ở miền đông, bom pháo quật lên quật xuống không chết.

Thấy thằng Tính vừa hướng súng vào mình, nó nhanh tay gạt một phát, mũi súng chếch lên, viên đạn bay qua đầu nó, qua mái tranh, không biết đi đằng nào.

Hú vía !

Tháng 10 năm ngoái (2009), thằng Tính từ Diễn Châu ra Hà Nội.

Tôi đón nó ở bến xe Nước Ngầm.

Chở nó đến quán bia Hoàng Hoa Thám.

Ở đó, thằng H., thằng Cam và thằng An "đen" đang chờ (An "đen" - xem "Ký ức một thời hoa lửa" của LeXuanTuong).

Thằng Tính không nhận ra thằng H.

Cho đến khi thằng H. nhắc lại chuyện Tính xiết cò vào ngực H ở Quất Xá, thằng Tính mới òa lên, gật đầu lia lịa.

Gần bốn chục năm trời rồi.

Thằng H ngày xưa thì trắng trẻo mảnh khảnh, thư sinh.

Bây giờ nó đỏ hồng hào và đường bệ, ai mà có thể nhận ra được.

Chúng tôi ở khu "rì-sọt" được đâu một tuần thì có một đoàn của sư đoàn xuống kiểm tra chỗ ăn chỗ ở của anh em.

Hai hôm sau thấy đại trưởng thông báo đại đội tôi phải di chuyển chỗ ở về sát sông Thạch Hãn.

Đại trưởng nói tỉnh bơ như vậy nhưng tôi vẫn nhận ra nét mặt anh không vui.

Còn lính tráng chúng tôi dường như đồng thanh kêu lên:

- "Ồ . . .!"

Đại trưởng nói tiếp rằng chỗ này dành cho sư đoàn.

Lính tráng lại nhất loạt than lên một tiếng:

- Ồi . . .!"

Tôi thấy tay mọi người tự nhiên thõng xuống hết cả.

Thế là phải chuyển khỏi cái chỗ đã bao nhiêu công sức và thích thú.

"Nước sông, công lính", biết làm sao?

Thế là phải xa các làng Quất Xá, Cam Lộ đã trở nên thân thiết với tất cả mọi người.

Không biết bao giờ mới có dịp trở lại đây ?

Chúng tôi chuyển về thôn Trà Liên Tây, thuộc Trệu Phong.

Nhưng rồi tôi còn trở lại đây, sau chừng một năm nữa.

Tiện thể, gần Quất xá nên xin kể tiếp chuyện một năm sau tôi được tham gia diễn tập đánh lớn, hợp đồng quân binh chủng của sư đoàn.

Trận tập diễn ra ở gần làng Cùa.

"Làng Cùa" không có tên trên bản đồ vì trên các bản đồ đều ghi là "Thôn Mai Lộc".

Không biết tại sao lại có cái tên "Cùa"?

Thấy trên "Wiki" nói rằng "Cùa" là tên gọi khác của dân tộc "Co" !?

"Vùng Cùa" là cái tên chỉ cái thung lũng bốn bề là núi.

Trong thung lũng này có nhiều thôn (xem trên bản đồ), rất nhiều đồng bào dân tộc sống ở đây.

Từ Quất xá, ngược đường 9 lên đến gần cầu Đầu Mầu có một ngã ba ré bên trái, đi lên núi.

Đó là con đường quan trọng đi vào thung lũng Cùa, qua cứ điểm 241 (còn gọi là căn cứ Tân Lâm hay có tên Mỹ là Camp Carroll, tên Mỹ này cũng được đặt cho một căn cứ Mỹ ở Triều Tiên).

Một đường lớn khác để vào Cùa là từ đường 9 rẽ lên từ Cam Lộ, qua Nghĩa Hy, qua một đoạn đèo ngoằn nghoèo.

Con đường này lớn hơn, chắc hẳn là đường vận chuyển hay kéo pháo vào phía trong năm 72, sau khi ta đã giải phóng được đường 9.

Bây giờ con đường này là con đường rất đẹp và "tiện đường".

(Bây giờ là thời điểm đầu năm 1974).

Lục và tôi được đại đội cử tham gia diễn tập.

Lục là lính đặc công từ d19 chuyển về đại đội 20.

Hắn là dân Hưng Nguyên, Nghệ an, nhập ngũ 12/71.

Lệnh chiều hôm sau có mặt ở Cùa, nhận nhiệm vụ của ban 2.

Hai thằng đi từ sáng sớm, không chọn đường gần mà chọn đường đi qua Đông Hà, theo đường 9 để qua Quất Xá chơi rồi mới vào Cùa.

Đông Hà bây giờ đã là phố đàng hoàng rồi.

Cửa hàng bách hóa của "mậu dịch Quốc doanh" đã có vài mặt hàng bày bán.

Chúng tôi mua hai hộp sữa "Thống Nhất", nhãn màu xanh xanh, loại sữa đặc có đường.

Mỗi thằng mua một cái mùi xoa nữa.

Hiệu sách cũng ở trong một cái nhà ngói mới.

Không còn nhớ có những sách gì.

Chỉ nhớ, cuối cùng tôi mua được cuốn "Miếng Da Lừa" của Ban-Dắc.

Tôi vẫn còn nhớ chương đầu là "Tấm Bùa".

Hai thằng mua sách xong thì rẽ vào "cửa hàng ăn uống" làm mỗi thằng một cốc "sen dừa" có đá (đây là đồ uống sang nhất bấy giờ).

Các chị "mậu dịch viên" đều là người từ miền Bắc vào – gọi là đi công tác vùng giải phóng ở miền Nam.

Nhớ lại, ngay sau ngừng bắn ít lâu, các trường học cấp 1 và cấp 2 đã khai giảng lại, toàn là thày cô từ Bắc vào.

Anh Thêm c phó c20 yêu một chị giáo viên cấp hai dạy văn ở Cửa Việt (sau này hai người thành vợ chồng).

Chủ Nhật hàng tuần, anh Thêm đi bộ từ Trà Liên Tây xuống Cửa Việt để thăm người yêu.

Anh Thêm, người cao to, chiếc răng cửa trên số 2 bịt vàng ròng.

Mỗi lần cười, ánh vàng lấp lánh, rất đẹp!?

Không biết có phải vì thế không mà anh rất hay cười.

Anh em cũng cần nhớ rằng lúc đó một số người bịt răng vàng là một kiểu mốt.

Anh Thêm mặc bộ đại cán, bên trong lấp ló cái áo "đông xuân" trắng lốp, khẩu K54 treo vào xanh tuy rông đeo trễ bên hông, bên kia đeo trễ một cái xà cột bóng loáng.

Quân hiệu trên mũ với lá cờ nửa xanh nửa đỏ được anh đánh rất bóng.

Trông anh thật sự là một sỹ quan rất "oách".

Làm sao mà em giáo viên dạy văn, với sự lãng mạn nghề nghiệp vốn có, lại không chết mê một sỹ quan chỉ huy bóng bảy như vậy nhỉ ?

Mọi người biết trong xà cột của anh Thêm có những gì không ??

Một lần anh Thêm xuống tiểu đội tôi ngồi chơi.

Lừa cho lúc anh đánh "tiến lên" đeo ba lô với mấy đứa, thằng Thìn và tôi mới dò dò mở cái xác cốt ra.

Đây là chiếc xác cốt kiểu gập đôi.

Khi lật ra thấy một loạt bút cắm rất ngay ngắn.

Bút máy "Hồng Hà" này, bút "Kim Tinh" này, bút bi "Nguyên Tử" này, bút chì đen "Hồng Hà" HB và 2B vót rất nhọn này, bút chì xanh đỏ vót nhọn hai đầu nữa này.

Mò vào trong ngăn thấy có cuốn sổ bìa nylon đen bóng (lúc đó hiếm).

Ngăn bên kia là bản đồ Quảng Trị gấp rất cẩn thận, bài bản (gấp bản đồ cũng phải có kiểu của nó đấy).

Ngăn tiếp là hai chiếc quần đùi xanh "Sỹ Lâm", rồi ngăn cuối cùng là hai chiếc quần xịp (ngày ấy gọi là xi-lip) màu đỏ loại buộc dây trông như tua mực ấy.

Cái này anh phải may tận Đông Hà đấy.

Thằng Thìn và tôi bấm bụng cười mà cũng không nhịn được, . . . thành ra "lão răng vàng" phát hiện được, giật lại chiếc xà cột rồi chửi toáng lên.

Hai thằng tôi phải ù té chạy.

Cả tiểu đội được bữa trêu trọc thủ trưởng, cười vui phá giàn.

Tất cả những cái quê quê, tỉnh lẻ, thích ăn diện, thích ra oai của "lão răng vàng" không có gì là không quý cả !

Những cái đó càng làm cho anh gần gũi và thân thiện với lính tráng chúng tôi hơn.

Lục và tôi chỉ mang đồ nhẹ, mỗi thằng ba lô toòng teng hai bộ quần áo, vài phong lương khô và một khẩu AK báng gấp, xanh tuy chỉ đeo mỗi cái bi đông.

Khi c20 ở Quất Xá thì Lục chưa về đơn vị nên nó không biết gì.

Tôi dẫn nó về Quất Xá, lại đi qua Tô Phan Ký.

Quãng cánh đồng làng Quất xá trồng đang trồng khoai, những vồng khoai lớn mới vun, đất nâu mới, lá khoai mơn mởn.

Mùi dất mới và dây khoai hăng hăng, ngai ngái.

Vẫn là con đường đất dẫn vào làng nhưng bây giờ cây cối đã xanh um tùm.

Nhiều giàn trầu không được dựng lại, dây lá xanh đã phủ kín giàn.

Chúng tôi vào nhà chị Phụ, chỉ có bà già và hai thằng cu đang ở nhà còn ông già và chị Phụ đi làm khoai ngoài ruộng.

Mới chừng một năm thôi mà hai thằng bé đã lớn hẳn.

Thằng Nga nhận ra tôi ngay nó kêu tên tôi đúng âm, chỉ sai vần một chút (nghe cũng gần giống nhau).

Thằng Đức đã nói sõi đủ thứ rồi nhưng nó là lạ khi thấy tôi.

Sao thằng Đức nó trắng thế, bụ bẫm và rất xinh.

- Lục à ! lúc nãy quên không mua quà cho hai thằng bé.

- Cho nó lương khô cũng được đấy !

Thằng này xinh thế, như Tây mày nhỉ ?

- Năm ngoái ở đây, nó cởi chuồng suốt ngày, chạy chơi khắp làng, mặt mày lem luốc nhưng mà trông

nó vẫn yêu lắm.

- Năm ngoái được nhiều thóc không má ?

- Diều, gần đầy thùng lậng (tiếng Quảng Trị "diều nghĩa là "nhiều").

- Sấy được diều cau không má ?

- Năm ngoái mất mùa cau.

Nỏ biết năm ni răng ?

Nghe sai trái dữ hầy.

Mà lo ló kém, nỏ trồng ló, cặm

khoai thôi.

- Ngoài Bắc có câu "được mùa cau, đau mùa lúa" má à !

- Ờ ! nói ri là trúng đó hầy !

- Bây giờ có bộ đội ở làng mình không má ?

- Mấy chú đi rồi, lần lần mấy chú khác cũng đi hết à.

Có bộ đội là vui, chừ buồn lắm !

Làng Quất Xá sau khi chúng tôi đi thì sư đoàn bộ cũng di chuyển xuống Tân Vĩnh, gần cao điểm 58, sát với sông Vĩnh Phước.

D24 cũng chuyển đến gần sư đoàn bộ nhưng ở bên kia sông Vĩnh Phước.

Quất xá không có bộ đội, đúng là vắng vẻ.

Các nhà khá xa nhau, xung quanh vườn rất rộng, cây cối xanh um tùm.

Vườn nhà chị Phụ trồng rất nhiều cau, giàn trầu không rất lớn ngay lối cổng vào làm cho lối đi vừa mát vừa đẹp.

Trong vườn còn có chục cây mít, rất sai quả.

Mít ở đây chỉ giữ ít quả chín để ăn chơi, phần lớn là ăn lúc còn xanh.

Mít dùng để xào hay nấu canh ăn rất ngon.

Mít còn dùng làm mắm nhút, chỉ có vùng từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị mới có loại mắm này.

Nếu bạn ra vườn bạn sẽ dẫm lên những đám lá rụng và phải bước tránh những cây lá lốt, lá rất to, bò lan khắp mặt vườn.

- Má có nhận được thư từ hay tin tức gì của bố mấy đứa nhỏ không ?

- Nỏ có chi.

Đang vui, giọng má bỗng chùng xuống.

Má không khóc, chỉ hơi thẫn thờ một chút rồi trở lại bình thường ngay.

Có lẽ quá lâu rồi . . ., thành quen ?!

Liệu có quen không ? hay là hàng đêm má vẫn thầm khóc nhớ con ? . . .

Má kêu thằng Nga đi gọi chị Phụ về làm cơm mời chúng tôi.

Cảm thấy phiền phiền nên chúng tôi nói với má rằng bận phải đi cho kịp, không ở lại được.

Hai đứa chào má rồi xin phép đi.

Hai thằng bé túm theo bọn tôi ra tận đầu làng.

- Thôi chào chú, rồi đi về nhà đi !

Hai thằng lễ phép khoanh tay chào rất to:

- Cháu chào mấy chú ạ !

- Chú chào các cháu nhé !

Lục và tôi quay ra đường 9, đi về phía Đầu Mầu.

- Vẫn còn sớm ông ạ.

Chiều mới phải có mặt.

Ra cầu Đầu Mầu xem cái đã.

Chỗ này tôi chưa biết.

- Ừ ! tôi cũng chưa biết Đầu Mầu.

Gần đến cầu Đầu Mầu con đường bắt đầu lên dốc.

Đến đỉnh dốc thì mé bên phải là một quả đồi thấp cây lúp xúp xen lẫn với cây cao hai ba mét.

Đến đây vẫn chưa nhìn thấy cây cầu như thấy trên bản đồ.

Tôi nghĩ bản đồ vẽ không chính xác lắm.

Cây cầu và cái khe gió ở đoạn này phải dịch về phía tây chút nữa, gần sát với chân cao điểm 252.

Tôi vẽ bổ xung thêm một đường bình độ phụ trên hình vẽ để anh em thấy thấy rõ cây cầu nằm ở một vị trí hiểm ác như thế nào.

Một căn cứ nhỏ nằm trên cao điểm này.

Nó có thể khống chế cái yết hầu của con đường chính là cầu Đầu Mầu và đoạn đường đi sát cao điểm 252.

Đoạn này, một bên vách núi dựng đứng, một bên dốc thẳng xuống sông Cam Lộ.

Đoạn này của sông Cam Lộ húc thẳng chân núi cao điểm 252 nên ngoặt rất gấp tạo ra cái "bờ lở" sừng sững.

Quả thật rất hiểm.

Nếu muốn tấn công lên điểm cao cũng không thể từ hướng này được.

Một câu cầu rất nhỏ và hẹp.

Có thể trước đây nó cũng to và rộng như các cây cầu khác trên đường 9 nhưng đã bị đánh sập.

Bây giờ cái cầu do ta làm tạm quá hẹp, chỉ vừa đủ cho một xe đi qua. hai bên cầu cũng chẳng có lan can gì.

Chúng tôi đi qua cầu, ngắm nghía một lúc rồi quay trở lại.

Đứng trên mép cầu nhìn xuống sông thấy hơi ghê ghê.

- Đường chỗ này kinh thật Lục à !

Cả đoàn tăng và cơ giới mà đi qua đây chỉ cần vài thằng là chặn

cứng hết.

- Chả trách nó bé tẹo thế mà nổi tiếng thế !

- "Thỏa mãn bần cố" chưa ?

Biết thế nào là Đầu Mầu nhé ! (Cái câu thỏa mãn bần cố lúc đó chúng tôi

hay dùng)

- Thôi !

đi đi.

- Ừ !

Cũng trưa rồi.

Mình rẽ lên đường vào Cùa rồi tìm chỗ nghỉ một tí.

Kể mà lối xuống sông không dốc

ngược như thế thì xuống bờ sông mà nghỉ là nhất.

Chúng tôi đi đến ngã ba thì rẽ vào đường lên Cùa.

Tôi chọn một chỗ có cây bóng mát ngay gần ngã ba rồi hai thằng leo lên vạt cỏ dưới bóng cây ngồi nghỉ.

Chỗ này vừa mát vừa nhìn ngắm xe cộ và người đi lại trên đường 9.

Hai thằng lấy dao găm chọc hai cái lỗ hộp sữa, mỗi thằng một hộp cứ thế mà tu.

Thằng Lục nó ăn sữa giỏi, chỉ một loáng đã thấy nó dốc ngược hộp lên mà húp xoạt xoạt.

Ngọt quá làm tôi khó nuốt.

Còn non nửa hộp thì ngắc rồi phải nhờ Lục ăn hộ.

Nó chẳng ngần ngại gì hết, tu một hai hơi hết luôn.

Tầm trưa, thỉnh thoảng mới có xe chạy qua, cái ngược cái xuôi, toàn xe bộ đội.

- Mày thấy mùi gì không ?

- Có.

Mùi thuốc rê.

Một cái mùi rất khét, rất nặng thoang thoảng bay qua.

- Tao đảm bảo với mày mùi này là mùi thuốc lá Vân Kiều.

Không ai bảo ai, cả hai đều ngoái nhìn về phía Đầu Mầu.

Quả nhiên, có một toán đồng bào Vân Kiều đang từ trên dốc đi xuống.

Một ông già râu tóc dài đã bạc, một bà "sồn sồn", hai chàng trai, hai cô gái và một cậu choai.

Tất cả đều ở trần, đi chân đất.

Đàn ông thì đóng khố còn đàn bà thì mặc váy.

Hai thanh niên đi trước, đến thằng nhóc rồi đến ông lão.

Ba người đàn bà đi sau.

Ông lão ngậm cải tẩu thuốc rất to, dài đến 30 cm.

Bà sồn sồn cũng ngậm tẩu, nhưng cái tẩu nhỏ và ngắn hơn.

Một tay thanh niên cũng đang hút tẩu, cái tẩu không to và dài như của ông lão nhưng có vẻ trang trí cầu kỳ, có một đoạn cán tẩu được nạm đồng thì phải, đánh bóng vàng chóe.

Tay thanh niên kia thì giắt tẩu vào khố.

Họ đi rất nhanh, chiếm toàn bộ mặt đường, người sau, người trước không ai che khuất ai.

Chỉ có ông lão là đi không, hai thanh niên đeo ba lô bộ đội.

Đàn bà và cậu bé đều đeo gùi, thứ gùi đan bằng mây tre gì đó lên nước nâu bóng.

Chắc hẳn họ mang hàng hóa xuống Đông Hà, ngủ lại đó đêm nay.

Mai bán hàng xong lại mua những thứ khác về.

Nhìn phụ nữ ở trần có cảm giác là lạ.

Họ lại còn đi rất mạnh mẽ, đung đưa . . .

- Mày nhìn gì mà ghê thế ?

- Thế mày bịt mắt lại đi !

Lục và tôi mỗi thằng còn ăn hết hai thanh lương khô, uống đẫy nước vào thành ra buồn ngủ.

- Lục ơi, chui vào chỗ kia ngủ cái đi.

Tôi buồn ngủ quá ông ạ !

- Tôi cũng buồn ngủ quá.

Hai thằng trèo lên một chút nữa thì tìm được bãi cỏ dưới bóng mát của cây lá ngái với lằng nhằng đám dây leo gì không rõ.

Chỗ này hơi dốc nhưng có bóng mát, lại có bãi cỏ, hai bên còn thoáng gió.

Nằm chỗ này cao, gần ta-luy đường 9, người đi đường chẳng bao giờ nhìn ngược lên đây mà lo.

Còn chúng tôi muốn nhìn đường thì quan sát được hết cả một được đường quốc lộ dài và đường lên Cùa nữa.

Thằng Lục đi ngoài, tôi dặn với theo bắt nó phải đi xa xa một chút và cẩn thận không lại dùng phải lá han thì . . .

Có lẽ chúng tôi ngủ đên hai tiếng.

Mặt Trời đã chênh chếch về tây.

- Chỗ này mát quá, ngủ sướng thật.

Tao chỉ hơi ngại rắn thôi.

Mình ngủ không biết gì, nó đợp cho một phát thì xong.

Nhổ rễ thôi !

- Thì nhổ.

Chúng tôi tụt xuống đường.

Con đường vào Cùa là con đường nhỏ, cũng được trải nhựa nhưng lớp nhựa rất mỏng và bị bong tróc nhiều giống những con đường nhựa bỏ hoang lâu năm.

Phần nhiều đường bong nhựa nham nhở.

Có điều khác là đường này xe chạy liên tục.

Chỗ nào còn mặt nhựa thì đều nhẵn nhụi và sạch bong.

Tuy vậy, đất đồi ở đây chỗ nào xe chạy là thành đường.

Đất đồi nâu đỏ lèn chặt trong một thứ đá miểng màu nâu rất cứng, mưa cũng không lầy mà nắng cũng ít bụi.

Con đường dốc lên thoai thoải đến tận đỉnh đồi.

Không có đoạn nào quá dốc cũng không có đoạn đường bằng.

Đoạn đường này khá thẳng, cứ thoai thoải mà lên.

Đỉnh đồi khá rộng và bằng phẳng.

Đó là căn cứ Tân Lâm.

Đến căn cứ Tân Lâm rồi.

Sao tan hoang hết cả ?

Cái tháp canh không thấy đâu nữa.

Còn dấu vết của rất nhiều lớp hàng rào nhưng không còn thấy hàng rào đâu.

Tất cả đã được đào cắt và lấy hết đi.

Thậm chí, các lô cốt bằng bao cát cũng bị phá tan hoang.

Những bao cát còn lành lặn cũng được trút hết cát để lấy bao rồi.

Kinh thật !

Bao nhiêu mìn các loại kiểu trang bị cho hàng rào điện tử McNamara (Mac-na-ma-ra), không biết khi rỡ lấy đồ có ai bị sao không ?

Nhớ lại, Đầu năm 1973, khi c20 về Trà Liên Tây, chúng tôi cũng ra sân bay Ái tử để lấy đồ về xây dựng nhà ở các tiểu đôi, hội trường của đại đội và nộp vật liệu cho sư đoàn bộ.

Cả bộ đội và dân đều lấy.

Không có gì có sức tàn phá mạnh như vậy.

Chỉ có sức công phá của bom nguyên tử mới thổi bay được một căn cứ Ái Tử rất lớn, có cả sân bay như thế.

Kìm cộng lực rất lớn, không chỉ đơn giản để cắt dây thép gai đâu.

Chúng tôi còn cắt hai nhát ở hai mép của cọc thép dùng chăng dây thép gai rồi bẻ đi bẻ lại vài cái là gãy cọc.

Nhanh gọn như như ăn gỏi.

Ba rưỡi chiều hôm đó chúng tôi mới đến nhận lệnh của ban 2.

Tư lệnh và bộ tham mưu cùng các đơn vị tham gia tác chiến đều đóng quân ở trong doanh trại của một đơn vị nào mà tôi không nhớ tên.

Đơn vị này đã tạm chuyển đi đâu đấy để lấy chỗ cho diễn tập.

Chúng tôi có nhiệm vụ vẽ toàn bộ sơ đồ căn cứ của "địch".

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi được chỉ đường tới một ngôi nhà nhỏ, mái tranh, dứng bằng đất theo kiểu nhà ở đồng bằng bắc bộ.

Ngôi nhà khá xa các nhà khác.

Chỉ có hai đứa chúng tôi ở căn nhà đó.

Nhà đơn sơ chỉ có hai cái giường tre và một cái bàn gỗ.

Hai bên bàn là ghế tre đóng xuống đất.

Giữa cái bàn và hai cái giường được ngăn bằng một tấp liếp.Có lẽ đây là nhà của y tá đại đội.

Hai cái giường của hai y tá và cái bàn để khám cho anh em.

Lúc đó không có tủ thuốc.

Toàn bộ thuốc men đều trong túi của y tá.

Nhưng cũng có thể đây là cái nhà gác của đơn vị vì nó ở rất xa các nhà khác.

Như thế có vẻ hợp lý hơn.

Lục đi lĩnh cơm ở bếp của hậu cần.

Tôi tranh thủ phóng bản đồ để sáng mai ra thực địa vẽ sơ đồ trận địa.

May có cái bàn phẳng nên công việc rất thuận tiện.

Lục lấy cơm về, nó nói:

- Nghỉ tay ăn cơm đã.

Lính tham gia diễn tập được ăn tiêu chuẩn 9 hào (lúc đó tiêu chuẩn ăn của lính

là 6 hào 8, lính trinh sát chúng tôi được ăn tiêu chuẩn 7 hào 2, hơn lính khác những bốn xu một ngày).

- Sang nhề.

Có nhiều nhúc không mày ? ("Nhúc" tiếng miền trung là thịt)

- "Cỏ nhục, cỏ cả cà cỏ đuôi" (có nhúc, có cả cá có đuôi – cá có đuôi để phân biệt với cà có cuống).

Chúng tôi ăn xong thì trời vẫn sáng.

Tôi tranh thủ khoắng nốt mấy đường, loáng một cái cũng xong.

Hai thằng tôi lang thang trên đồi.

Thung lũng Cùa rất lớn và bằng phẳng nằm lọt giữa tứ bề là núi thẳm, rừng xanh.

Đất đồi ở đây trồng tiêu rất tốt.

Tiêu Cùa thơm cay nổi tiếng.

Nhìn xuôi xuống dốc theo hướng tây nam, một triền đất cứ thoải dần, thoải dần rất xa tới tận nơi trũng nhất của thung lũng.

Đó là một cánh đồng lúa nước khá rộng.

Xung quanh đồng lúa là năm bảy cái làng của cả người Kinh và đồng bào dân tộc.

Nghe nói có lúc cây cối xung quanh thung lũng bị thuốc rụng lá của Mỹ đánh trơ trọi hết.

Giờ này cây cối đã trở lại um tùm.

Tuy nhiên về sau này tôi được nghe những chuyện người dân vùng Cùa bị nhiễm chất độc da cam từ chất rụng lá.

Có gia đình, các con sinh ra đều dị dạng, chỉ sót lại một người không bị.

Người đó bỏ làng mà đi kiếm sống ở nơi khác.

Anh không dám lấy vợ.

Mãi sau có người thương mới lấy anh làm chồng.

Hai người chẳng dám sinh con vì sợ sẽ sinh ra những đứa con giống như cô chú của chúng.

Rồi chị cũng có bầu.

Ngày chị sinh, anh không dám đến nhà hộ sinh vì sợ nhìn thấy con mình.

Một nỗi ám ảnh kinh hoàng . . .

Những gì trên mặt đất đã được rửa trôi theo năm tháng.

Nhưng không biết dưới mạch đất kia còn lại những gì ?

Nó làm tôi nhớ đến chuyện nhiều người dân chết không rõ nguyên nhân ở thôn Trà Liên Tây.

Một cái thôn bị lụt nước sông Thạch Hãn hàng năm, có năm gần tháng trời.

Nước lụt cũng là nước ăn của bà con những ngày đó.

Liệu có phải nó không liên quan gì đến những cái chết bất thường đó không ?

Chưa ai trả lời được.

Bất chợt cảm thấy buồn.

Phải rồi !

Mảnh đất này đã mấy đời nay đau đớn giãy dụa.

Không gia đình nào yên ổn không người nào là không dính chiến cuộc, kiểu này hay kiểu khác.

Từ thời ông bà tôi với cảnh người chết đói năm 45.

Chuyện bà tôi kể, có thằng người bị đói, lả đi, dặt dẹo không biết đã bao nhiêu ngày.

Đột nhiên nó vùng lên cướp cái bánh của người ta. người ta la hét, chửi bới nó rồi bỏ đi.

Nó nhét vội vàng cái bánh cướp được vào mồm, nghẹn lên nghẹn xuống mấy lần.

Nuốt xong cái bánh được một lúc thì nó lên cơn đau đớn vật vã rồi sùi bọt mép mà chết.

Bà tôi bảo, người đói lâu ngày mà ăn ngay như thế là bục bao tử là chết.

Mỗi lần kể chuyện này hai hốc mắt đục lờ không rõ lòng trắng lòng đen của bà lại hấp háy, từ đó nước mắt cứ lăn xuống hai gò má răn reo của bà.

Bà tôi lấy vạt yếm chùi chùi, chấm chấm lên hai con mắt.

Mắt bà tôi, đôi mắt của dân đồng chiêm chũng, ao đồng lẫn lộn.

Cả làng "mắt toét ba vành sơn son".

Bố mẹ tôi thì lăn lộn ở Việt Bắc.

Hai người gặp nhau trên chiến khu mà thành vợ chồng.

Chả mấy khi được ở với nhau.

Thế mà lại sinh ra tôi ở đó, có lẽ là để có người kế tục mà vật vã cho cái mảnh đất này.

Bởi khi bố tôi vẫn còn lăn lộn ở B, mẹ tôi thì lận đận lo toan cho mẹ chồng và lũ em sơ tán thì tôi vào hàng ngũ của bao nhiêu người cùng thế hệ.

Lại một thế hệ "xách súng ra đi".

Ôi !

Mảnh đất.

Yêu hay đau ?

Ghét và thương !

Sáng hôm sau, hai thằng tôi với hai khẩu súng đeo vai đi lên trận địa.

Tôi thì mang thêm giấy bút, bản đồ, ống nhòm địa bàn để tác nghiệp.

"Căn cứ của địch" đang được xây đắp bằng các bao cát và cũng sắp hoàn thành.

Chỗ này đang đắp nốt lô cốt, chỗ kia đang chăng các loại dây thép gai.

Có đủ các loại hàng rào từ hàng rào đơn, hàng rào bùng nhùng, rồi mái nhà và cũi lợn.

Chiều sâu của cá loại hàng rào có lẽ lên tới năm chục mét (bây giờ tôi không nhớ chính xác nhưng lúc đó phải đo vẽ đầy đủ và chính xác).

Từ chân đồi đến qua tuyến hang rào độ dốc không lớn.

Từ các lô cốt con đầu cầu lên các lô cốt con phía sau dốc hơn một chút nhưng chỉ gần 30 độ .

Đoạn từ lớp lô cốt thứ hai đến lô cốt mẹ ở trung tâm rất dốc.

Tôi dùng địa bàn đo cẩn thận để đánh giá khả năng xe tăng có vượt lên được không.

Đoạn này 40 độ, gần đến giớ hạn leo dốc của xe tăng và còn tùy vào chất đất.

Có thể chỉ 40 độ thôi nhưng xe leo lên vẫn bị trượt.

Ở trên tôi đã nói, đất vùng này là đất nâu lèn chặt trong đá dăm màu nâu rất chắc.

Xe tăng dễ bám mà đất không bị lở tơi ra gây trượt cho xích.

Các lô cốt con kích thước như nhau chỉ quay hướng hơi khác nhau một chút.

Kích thước lô cốt cỡ hai mét rưỡi.

Lô cốt mẹ to hơn rất nhiều, kích thước lên tới bốn năm mét.

Tất cả các lô cốt đều có lỗ châu mai hướng về phía ta sẽ tấn công lên.

Vì làm lô cốt giả nên chẳng có cái nào có nắp, tất cả đều hở phía trên và hở cả phía sau.

Nhìn phía trước thì y như thật nhưng lên đến nơi thì thấy rõ là đồ giả (bây giờ gọi là "hàng dỏm").

Giao thông hào được đào giữa các lớp lô cốt, cắt ngang đường mà xe tăng và bộ binh sẽ tấn công.

Tất cả trận địa chỉ có mặt phía trước.

Lên đến đỉnh đồi, chỗ lô cốt mẹ là hết.

Đánh đến đó coi như thắng trận.

Thiết kế trận địa giả là ban tác chiến phòng tham mưu sư đoàn và đã được thông qua cả phòng rồi.

Ban 2 cũng có hồ sơ trận địa rồi nhưng chúng tôi vẫn phải vẽ.

Chắc là để xem trinh sát làm ăn thế nào thôi.

Nhưng mà quá dễ đối với trinh sát vì cứ đi đàng hoàng giữa ban ngày, sờ vào tận nơi.

Lấy thước mà đo kích thước, lấy bước chân mà đo khoảng cách các mục tiêu trong "căn cứ địch".

Chuyện là vậy.

Lục và tôi đo đạc cẩn thận.

Tôi đánh dấu vào sơ đồ, xác định tọa độ lô cốt mẹ, phác qua hình dáng mấy cái lô cốt và hàng rào.

Thế là xong.

Còn lại mang về vẽ tiếp.

Lục lại sang bếp hậu cần lấy cơm.

Hai thằng tôi được chia một mâm riêng.

Một xoong sáu đựng cơm có nắp. chồng lên trên là một xoong sáu đựng canh.

Trên cùng là cái nắp xoong lật ngửa có hai ngăn để đựng ba bốn món thức ăn vừa rau, vừa thức ăn mặn.

Chín hào có khác, cả canh là năm món.

Cơm rất nhiều, hai thằng ăn không hết mặc dù cả Lục và tôi đều là những thằng miệng rộng, ăn rất khỏe.

Ăn xong hai thằng lăn ra ngủ, sơ đồ, cảnh đồ, thiết đồ gì đó để mai nộp "các cụ" cũng không sao.

Cái chính là phải vẽ thật đẹp, để cho biết thế nào là trinh sát trước các binh chủng khác.

Thế thôi !

Còn cái hồ sơ chúng tôi nộp lên thì chẳng có ý nghĩa gì cho diễn tập.

Ngủ dậy, tôi bò ra trên bàn để vẽ.

Đầu tiên là hoàn chỉnh cái sơ đồ.

Lục làm cho tôi cái thước kẻ bằng gỗ.

Không biết nó lột cái nẹp gỗ này ở chỗ nào mà ngon thế, vừa dài, vừa thẳng lại vừa mỏng.

Xong việc nó ngồi gọt bút chì cho tôi và góp ý kiến cho các bản vẽ.

Việc cuối cùng của sơ đồ là ghi tên người vẽ "TíchTườngNhưLệ và LưuXuânLục".

Xong sơ đồ, tôi vẽ thiết đồ mấy cái lô cốt.

Lô cốt bao cát thì vẽ đại khái thôi, thế nào mà chả ra lô cốt.

Nhưng tôi cố thể hiện mấy bao cát ở gần, vẽ sao cho thấy rõ các dợi dệt bằng nylon, rồi vờn cho bóng loáng như thật.

Nhìn qua lỗ châu mai còn thấy vài cọng hoa cỏ may.

Đúng là "hoa lá cành" một cách cố ý.

Đểu thật !

Nhớ lại, ngày chúng tôi học binh địa ở d74 (tiểu đoàn trinh sát của cục 2), tôi vẽ cảnh đồ cũng khá lắm.

Lão Hùng "đen", vừa là trung trưởng vừa là giáo viên rất thích thiết đồ tôi vẽ, lão hay cho điểm 10.

Lão Hùng thích ở với mấy đứa tôi trong ngôi nhà lá vách đất chật chội của ông lão mù.

Ba thằng tôi SauChinbayMot, Thái "gẩu" và tôi đã chật, thế mà lão còn xông vào ở cùng.

Lão này tính rất hay, rất lính tráng và vui vẻ.

Ngoài giờ học, lão và chúng tôi trêu trọc nhau đủ thứ, cười đùa, đuổi nhau, đấm đá linh tinh xòe.

Mà lão đấm đau đấy, không chạy nhanh thì oẹo vai, thót sườn với lão.

Nhớ một lần buổi tối có phim chiếu ở sân bóng.

Lão Hùng sốt ruột đi trước.

Một quãng chẳng thấy chúng tôi đâu, đâm ra bơ vơ.

Lão quay lộn trở lại để tìm bọn tôi, lại còn bịt mũi giả giọng, đứng ngoài hàng cúc tần hỏi vọng vào nhà xem thằng 6971 nó đi chưa.

6971 cũng bịt mũi trả lời lại "thằng 6971 nó đi với ông Hùng đe-en đe-en rồi !".

Bọn tôi cười tóa lên.

Lão Hùng nhảy phắt qua hàng rào, một phát đến sát ngay sườn bác 6971, bác này cũng nhanh, luồn ngay sau lưng cụ chủ nhà mù.

Giằng co một lúc, cười ầm ỹ, rồi kéo nhau ra sân bóng.

Chúng tôi không lần nào gặp lại anh Hùng.

Nghe có người nói, anh bị thương ở trong B, mất một chân.

Nhiều thì giờ, cũng chẳng việc gì phải vội.

Tôi mà làm nhanh quá, không khéo ban 2 thấy rỗi việc lại giao cho việc khác thì lại tối mày tối mặt.

Chuyện đi tham gia diễn tập chỉ mất công đi bộ từ đơn vị đến đây, tôi chỉ coi đây là một chuyến đi chơi.

Lên đây chủ yếu là nghỉ ngơi.

Ở c20 bây giờ đang phải tập tành rất vất vả.

Sao mà người ta bịa ra lắm thứ thế để mà bắt lính tập hết ngày này qua ngày khác.

Nào là đi khom, lăn lê bò toài, dò gỡ mìn, chui luồn hàng rào.

Ở đơn tôi còn phải tập hai cái môn rất đặc biệt, không thấy ở đâu nói đến.

Thứ hất là loại "hàng rào chống xung phong" hay là "hàng rào vướng chân" (hình như tên gọi là như thế).

Hàng rào này rất thấp.

Chỉ cao cách mặt đất chừng 20 cm. các cọc căng dây thép gai khá gần nhau, cách nhau chừng bảy tám mươi phân.

Muốn vượt qua hàng rào này không phải chui rào như bình thường mà phải ngồi trên đầu cọc và bước ngồi từ đầu cọc này sang đầu cọc kia.

Hai chân đặt trên hai đầu cọc, tay phải cầm súng, tay trái nắm vào một đầu cọc khác.

Mắt nhìn thẳng phía trước, thường xuyên quan sát mục tiêu.

Thế mà khi đó giáo án lên lớp của giáo viên rất bài vở, bắt chúng tôi phải tập đúng "yếu lĩnh".

Động tác này gọi là đi ngồi.

Bài tập này do anh Thêm xê phó phụ trách.

Bọn tôi hay trêu anh Thêm nên gọi là động tác "ngồi ẻ" ("ẻ" là là một từ miền trung).

Thứ hai là, tập đi ngồi khom.

Tư thế ngồi xổm kiễng trên đầu bàn chân, tay phải xách súng.

Bụm năm đầu ngón tay cái lại, cắm năm đầu ngón tay xuống đất.

Từ từ bung năm đầu ngón tay ra gạt lá khô, lá mục gì đó để dò mìn.

Được một vết hình tròn.

Từ từ đưa một chân lên đặt đúng vết đó.

Tay trái lại tiếp tục dò một vết như vậy cho chân bên kia, rồi lại đặt chân bên kia lên.

Cứ như vậy mà tiến.

Hai động tác trên không khó nhưng cứ tập suốt buổi như vậy, kiễng trên nửa bàn chân nên rất mỏi bắp chân và đùi.

Không khác gì tra tấn.

Đợt này chúng tôi đi diễn tập chốn được tập võ.

Khi mới vào trinh sát, nghe nói đại trưởng giỏi võ nghệ, lính tráng rất nể.

Ai cũng háo hức tập võ vì học mãi đi khom, dò mìn, cởi trần bôi nhọ nồi lá khoai rét căm căm chán quá rồi.

Ngày đầu tập võ ai nấy nô nức.

Bát đầu là 4 tư thế ngã.

Tập đi tập lại hàng tuần.

Sáng ngủ dậy đau ê ẩm hết cả "các cơ quan đoàn thể".

Sau đó học các thế tấn mất hàng tuần.

Chán chết, đau hết hai chân.

Mãi rồi cũng đến lúc tập đánh đối kháng.

Trời nắng chang chang, lôi nhau ra bãi quật nhau huỳnh huỵch.

Thằng kia mà kém, nó quật mình không đúng động tác , ngã đau, có khi gãy xương sườn, hay sái quai hàm.

Tập võ là mệt nhất, lại còn bị đau.

Bây giờ tập hết trò rồi lại quay lại tập võ, ai cũng ngán.

Chúng tôi được đi diễn tập, "oai" này, ăn ngon này, lại khỏi phải tập võ.

Đúng là đi an dưỡng.

Hôm sau, sau khi ăn sáng, tôi chọn một vị trí cách hàng rào chừng hai trăm mét để ngồi vẽ cảnh đồ.

Vị trí này có độ cao ngang với các lô cốt tầng ngoài cùng.

Đã biết trước vị trí cửa mở nên tôi chọn vị trí này để cửa mở nằm thẳng giữa bản vẽ.

Trông cái quả đồi này xấu quá, cây cối lại toàn lúp xúp xen lẫn cỏ, lên hình không thể đẹp được.

Đã có chủ định vẽ lấy đẹp để lên gân với các thủ trưởng (lúc đó tôi mới hơn hai mươi tuổi mà) nên tôi chọn khung hình với sang hai bên và với lên cao, phía sau một chút.

Tôi dơ cái thước milimet để đo độ cao các mốc quan trọng rồi tính tỷ lệ cho vừa khuôn hình.

Từ các mốc đo tôi phác sơ lược toàn bộ cảnh.

Bản phác họa sơ lược đã xong, nhìn thấy bố cục trông cũng được.

Cái trò vẽ vời này, lúc đầu mà không ưng ý thì lúc vẽ rất chán, không thể kiên trì được.

Đối với tôi, vẽ phác cảnh là quan trọng nhất.

Thấy được được thì mới có hứng để vẽ chi tiết.

Tôi vẽ theo đúng bài bản, "gần trước, xa sau", "gần tỏ, xa mờ", "trái trước, phải sau", . . .

Mặt Trời đang ở sau lưng chúng tôi, gọi là vẽ suôi nắng.

Quan sát rất rõ chi tiết và rõ chiều sâu của cảnh.

Nắn nót cũng phải mất đến 3 tiếng đồng hồ mới tạm xong.

Kể ra thế này mà nộp thì cũng được rồi nhưng tôi sẽ mang về phòng để vờn lại cho kỹ hơn.

Mấy cái cây có tán lá ở dãy đồi phía sau và hai bên quả đồi chính là chỗ tôi cố tình vẽ lấy đẹp cho bức cảnh.

Sau khi ăn cơm trưa xong, tôi ngồi tại nhà tiếp tục tỉa tót, gọt dũa lại các đường nét cho sắc.

Sau đó tôi dùng ánh sáng tạo chiều sâu cho cảnh.

Chỉ cần sửa lại độ đậm nhạt của các chi tiết là trông các các khu vực và địa vật là đã thấy cảm giác không gian.

Để nổi khối các đám cây cối và lô cốt, tôi lia vài vết bóng đổ về phía sau.

Cuối cùng, để cho có cảm giác cảnh có chiều sâu hút về phía chân trời sẽ phải tạo bầu trời và một điểm hội tụ tại chân trời.

Đặt bẹt bút chì xuống tạo những vệt chì mờ mờ các đường cong thu dần về điểm hội tụ.

Sau đó lấy giấy xoa đều lên các đường này.

Những chỗ vờn như vậy thường người xem không nhìn thấy nhưng cái nền ấy lại chính là bầu trời.

Không có bầu trời thì không bao giờ thấy cảnh sâu thực sự.

Thằng Lục ngồi xem tôi vẽ rất chăm chú. cuối cùng nó phải bảo:

- Ông vẽ đẹp thật đấy !

- Thì tôi cố tình mà.

Để tôi thả vào vài đám mây nữa là xong.

Mà bây giờ đem nộp, nhỡ ban 2 lại bắt

làm thêm việc khác thì mệt lắm.

Tôi định để đến chiều muộn mới nộp.

Lúc đó các thủ trưởng đã nghỉ

ngơi nên ít nghĩ đên công việc để mà giao thêm.

- Ừ ! hay đấy.

Nhưng mà mày đểu thật !

- Còn sớm, chưa đến giờ lấy cơm đâu.

Đi hái sim trái mùa đi !

- Ừ thì đi !

Chúng tôi được nghỉ chơi một ngày.

Công binh đang lắp tên lửa phá rào FR-71.

Vệ binh sư đoàn đi dọc các đỉnh đồi, núi cắm cờ cảnh giới.

Kế hoạch tác chiến đang được rà soát lại lần cuối.

Vì bắn đạn thật nên không có quân xanh như diễn tập thông thường.

Sẽ có pháo 85, cối 120 của sư đoàn, cối 82 của trung đoàn và cối 60 của tiểu đoàn.

Đơn vị bộ binh cũng bố trí ở bên này đồi khá xa cửa mở để bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Tên lửa phá rào được điểm hỏa điện và ròng dây rất xa đến tận đồi bên này.

Giờ G là 7 giờ sáng hôm sau Trận đánh tập vào ban ngày để các thủ trưởng có thể quan sát đầy đủ trận đánh hợp đồng binh chủng.

Sáng hôm sau, chúng tôi ăn sáng sớm hơn thường lệ.

Ăn xong, Lục và tôi đi ra chỗ quan sát.

Chỗ này chúng tôi đã chọn sẵn, chỉ có hai thằng, ở xa các thủ trưởng.

Hai thằng có mỗi cái ống nhòm nhưng có lẽ chẳng cần ống nhòm.

Ban đầu chúng tôi ở cách xa đến 500 mét.

Sau khi pháo bắn xong sẽ tiến lên cho gần hơn.

- Mày có hồi hộp không ?

- Hơi hơi.

Thế mới lạ.

Lúc bom pháo dội lên đầu thì chẳng hồi hộp, bây giờ đánh trận giả lại hồi hộp.

- Ừ !

Có lẽ lâu ngày không nghe tiếng nổ lớn lại phải chờ đợi nên hồi hộp.

- À, mà bộ binh nó bắn đạn giấy hả mày.

- Không.

Bắn đạn thật hết.

Cả 12 ly 7 cũng bắn đạn thật.

Hôm kia tao nộp tài liệu, bọ Luyến bảo:

"chúng mày có thích lên khán đài thì lên bên này mà xem".

Tao bảo:"Báo cáo thủ trưởng, thôi ạ.

Chúng

em ở bên kia cũng được".

Bọ Luyến dặn "Chúng mày không được liều đến gần quá, bắn toàn đạn thật

đấy !"

Mới gần 7 giờ mà đã tan hết sương mù, có lẽ hôm nay nắng to.

Trời rất đẹp, không có ngọn mây nào che dãy núi phía sau.

Nắng bắt đầu chiếu từ sau lưng chúng tôi về phía các quả đồi trước mặt.

Mọi thứ đều rõ mồn một nhưng tôi vẫn dùng ống nhòm để dòm kỹ lại một lượt.

Tôi chuyển ống nhòm cho Lục và bảo:

- Sắp bắn rồi đấy, mày xem đi !

- Không cần đâu, tao nhìn rõ lắm.

Nhìn ống nhòm nhức mắt lắm.

- Mày không quen nhìn nên thế thôi.

Tao bảo nhé, Mày bịt ống kính bên này lại rồi điều chỉnh kính

bên kia cho đến khi rõ nét nhất thì dừng lại, rồi mày lại bịt kính bên kia mà chỉnh bên này.

- Tao biết rồi, học mãi còn gì nhưng mà tao không thích, trừ khi là rất xa tao mới dòm, còn không thì

nhìn mắt thường vẫn xướng hơn.

Thằng Lục nó cao hơn tôi và béo lẳn, con nhà nông dân thuần chất mà sao da nó trắng trẻo, nhẵn nhụi như da công tử.

Lục có đôi mắt lá dăm như mắt con gái, đuôi mắt rất dài.

Ban ngày mắt nó rất tinh và nhanh tôi phải chịu thua nó nhưng nó rất nể tôi khi đi đêm.

Có thể ban đêm mắt tôi cũng không hơn nó nhưng tôi đi đêm nhiều hơn nó nên có phản xạ phán đoán địa hình, địa vật lờ mờ.

Có thể tôi quen với cách rón chân, khi bước này chưa tiếp đất thì chân kia đã sẵn sàng điều chỉnh thăng bằng.

Phải lấy thăng bằng trở lại rất nhanh khi có cảm giác bị lệch trọng tâm.

Cái trò này giúp tôi đi qua suối rất nhanh.

Khi tới bờ suối, có đứa dò dẫm nhảy từng hòn đá một.

Khi tôi qua suối, bao giờ cũng quan sát một chút rồi bắt đầu chạy trên các hòn đá, liên tục từ hòn này sang hòn khác.

Đơn vị tôi cũng có nhiều thằng làm như tôi.

Thằng Lục, tính cẩn thận, nó không làm được như vậy.

Lục là lính tiểu đoàn 19 đặc công.

Khi tiểu đoàn 19 giải tán, khá nhiều anh em chuyển về xê hai mươi chúng tôi.

Hôm qua được nghỉ cả ngày.

Lục và tôi cởi trần mà tập võ với nhau.

Nó biết nhiều "miếng", chủ yếu là những miếng quật ngã đối phương.

Nó dạy tôi tất cả những miếng mà nó biết.

Tôi thì rất chịu khó tập.

Thực ra thì cả hai thằng tôi võ vẽ được mấy tý đâu, chẳng qua là tuổi hai mươi, biết một tí đã nho nhe.

Đến chiều, Lục bảo tôi hai thằng thử đấu xem.

Thấy nó nhiều miếng quá, tôi hơi ngại nhưng chả lẽ lại từ chối.

Hai thằng đứng thế thủ, chưa thằng nào dám vào.

Tôi biết, mình mà nhào vào thế nào nó cúng giở một trong những miếng quật ngã.

Phải chơi nó thật nhanh, rồi nhảy ra ngay.

Nghĩ vậy, tôi đảo người qua bên phải, rồi bên trái, rồi nhảy chân trái qua bên phải (gọi là sàng xê), chân phải co lên, quay người 180 độ, thằng Lục ở sau lưng tôi rồi, tiện chân phải đang co đạp luôn vào đầu gối phải thằng Lục.

Nó mất thăng bằng, hơi loạng choạng.

Vẫn tiện chân trái làm trụ, tôi rút chân phải về, quay 180 độ, giữ thế thủ.

Thằng Lục bị bất ngờ, nó chưa bao giờ thấy tập võ đánh nhau lại có kiểu sàng xê.

Nó học rất nhiều các miếng, nếu tôi túm tay nó hay túm cổ áo nó hay ôm vào nó bất kể chỗ nào thì nó quật tôi chết.

Nhưng mà nó cũng dát.

Chỉ mới thế nó đã bảo thôi không chơi nữa.

Nó bảo nó tưởng đùa chứ ai lại chơi thật.

Ngay sau đó tôi nghĩ, mình cũng dở hơi và nói vớt vát với nó rằng tôi cũng chỉ đùa, hơi mạnh một tý, xin lỗi.

Tuổi hai mươi thật là hiếu thắng.

Lúc đó tôi cũng hơi hý hửng vì đã cho thằng đặc công biết thế nào là trinh sát.

Thật là trẻ con, ẩm ương phải không anh em ?

Đúng 7 giờ.

Uỳnh . . . xoạt . . . xoạt . . .

Quả tên lửa phá rào vọt lên, kéo theo một vệt khói trắng, nó lao qua các lớp hàng rào, trông có vẻ không nhanh lắm, rồi chúi xuống đất phía bên kia hàng rào.

Khi quả tên lửa vừa chạm đất, một loạt bụm lửa lóe lên kèm theo sau là những tiếng nổ rền liên tiếp "như pháo rang".

Khói bụi, đen lẫn trắng, nâu lẫn vàng bốc lên cùng đất đá, cây que, mù mịt cả một đám, che khuất cả hai cái lô cốt đầu cầu ở giữa.

Xa quá nên tôi không nhìn thấy hàng rào bị bay lên hay bị đánh hất đi đâu.

Vài giây sau, tiếng nổ đầu nòng cùng . . . cùng . . . cùng . . . của mấy khẩu pháo 85 từ trận địa nằm phía sau lưng chúng tôi, khuất sau đồi, đồng loạt cất lên.

Tiếng đạn chi . . u . . chi . . u . . . bay qua đầu rồi nổ oành . . oành . . . trên đỉnh đồi mục tiêu, hơi lệch sau lô cốt mẹ một chút.

Chỉ vài giây sau, pháo 85 bắn cấp tập.

Từng bụm khói bốc lên thành các nấm thẳng đứng, khá dày đặc.

Chiu chiu, oành oành liên tục.

Không biết trinh sát pháo ở đâu mà họ chỉnh pháo liên tục.

Điểm nổ của đạn cứ dịch dần, dịch dần về gần hơn, ban đầu ở phía sau lô cốt mẹ, bây giờ đã quét đến các lô cốt phía trước.

Pháo 85 bắn chừng 5 phút thì ngừng.

Tiếng súng bỗng im bặt.

- Sao không thấy động tĩnh gì nữa hả mày ?

- À !

Cối 120 sắp bắn đấy.

Nhưng theo kế hoạch phải chờ chừng 5 phút cho khói tan hết mới bắn.

Có thế, các thủ trưởng mới quan sát được hiệu quả của từng loại súng.

Mày cứ chờ đi, làm gì mà sốt ruột.

Hôm kia, tao nộp tài liệu xong, ngồi chầu rìa bọ Luyến đánh cờ với bọ Kim.

Hai bọ vừa đánh cờ vừa trêu chọc nhau vừa nói chuyện diễn tập nên tao biết.

- Bọ Luyến thì tao chưa tiếp xúc, nhưng bọ Kim thì tao biết rồi.

- Bọ Kim cũng mới từ trinh sát 101 lên ban.

Người thì nhỏ, nói giọng kim, nghe cứ láu ta láu táu.

Lúc đánh cờ mới là hay nhất.

Tính ai thế nào, cứ đánh cờ là bộc lộ ra hết.

Bọ Luyến liên tục nhổ râu, miệng thì liên tục cười khảy.

Bọ Kim thì đánh cờ chộp, xong lại xin hoãn, hoãn đi hoãn lại.

Bọ Luyến chỉ nhổ râu và nói "Cái thằng này vừa đái vừa run, nào đi chắc chưa ?

Sợ quá rồi hả !"

Bọ Kim lúc nào cũng chơi tấn công, sẵn sàng hy sinh xe, pháo, mã, chỉ nhằm chiếu hết cờ.

Lúc được nước chiếu hết cờ, bọ Kim cầm quân cờ đập xuống "ăn quân" chát một phát rất sướng và hét rất to: "Nhì !".

Bọ Luyến vào thế bí nên lừ lừ, không diễu bọ Kim nữa mà suy nghĩ rất căng.

Thể nào cũng tìm ra sơ hở của bọ Kim, mặt bọ giãn ra rồi cũng cầm quân cờ giáng xuống rất mạnh: "Này thì . . . nhì này !"

Cốc . . . oành . . ., cối 120 bắt đầu bắn. quả đạn đầu tiên gần trúng lô cốt mẹ.

Đến quả thứ hai thì tọt luôn vào lô cốt.

Giá lúc đánh nhau thật mà được như thế thì tốt quá.

Cối 120 ở phía sau khán đài của các thủ trưởng thì phải.

Họ nhằm từng lô cốt một mà điểm chỉ.

Thường thì vài bốn quả đạn thì trúng vào giữa mục tiêu.

Đạn cối bay không nghe tiếng rít như pháo.

Nghe cốc một cái, lúc sau thấy oành . . .

Mặc dù sức công phá của đạn cối 120 chẳng kém gì pháo nòng dài 85 nhưng sao nghe vẫn có vẻ hiền hơn.

Nó không có tiếng rít đe dọa, uy hiếp tinh thần như pháo.

Cối bắn cấp tập cũng chừng 5 phút.

Trong lúc cối bắn chúng tôi thấy tiếng xe tăng gầm rít di chuyển ở phía sau.

Cái giống T54, không biết thiết kế ống xả kiểu gì mà nghe tiếng gầm rất lớn.

Tôi nhớ có lần hỏi lính xe tăng chuyện đó, họ bảo họ bỏ bớt phần giảm thanh đi cho nó thoát máy đồng thời dùng tiếng nổ to như thế để uy hiếp tinh thần đối phương ?!

Tôi thấy M41 và M48 của Mỹ chạy trên đường nhựa rất nhanh vả rất êm, tiếng nổ cũng chỉ to hơn tiếng GMC một chút thôi.

Vài phút sau, cối 82 nổ súng.

Trận địa cối ở giữa khán đài của các thủ trưởng và mục tiêu, cách mục tiêu 200 đến 300 mét.

Ở cự ly này , chân bệ chắc chắn, lại không có địch phản pháo thì giót cối cũng như giót nước vào cốc thôi.

Cối 82 bắn rất chính xác, không thể chê được.

Chúng tôi quan sát được cả trận địa cối, từng quả đạn mà họ giót lên.

Bụm khói trắng bốc lên từ miệng súng thì liền theo sau là tiếng cóc . . .

đầu nòng, vài giây sau mới thấy đạn nổ ành . . .

ở mục tiêu.

Tiếng xe tăng tiến đến phía sau lưng chúng tôi ngày một gần.

Cối 82 rót cấp tập cũng chừng 5 phút.

Gió tạt nhẹ từ phía tây làm cho khói bay về phía chúng tôi.

Đã bắt đầu thấy mùi khói thuốc nổ.

Một cảm giác rạo rực, nôn nao trỗi dậy từ đâu đó của bom pháo vùi dập suốt ngày đêm, ngày này qua ngày khác.

Sao những ngày đó mình bình thản, không có cảm giác bồn chồn như lúc này.

Bất giác cảm thấy ngàn ngạt, bức bối tràn qua trong cảm xúc.

Chẳng chợt nhớ mà chi, bỗng thấy gai người.

Ba chiếc T54 đang tiến lại gần chúng tôi.

Tiếng gầm gào của xe tăng thật là kinh khủng.

Chẳng trách bọn địch hễ nghe tiếng T54 là khiếp đảm.

Đội hình ba chiếc tăng làm thành chữ V.

Chiếc ở giữa đi đầu, hai chiếc hai bên chạy sau một chút.

Đúng đến ngang tầm chúng tôi ngồi, cả ba chiếc nhất loạt dừng lại.

Chiếc tăng gần chúng tôi nhất chỉ cách tôi trên chục mét, nó kêu vài tiếng xạch . . . xạch. . . rồi chết máy.

Thì ra đây là điểm "dừng ngắn bắn" của xe tăng.

Chiếc đi đầu đã chỉnh pháo xong.

Một tiếng nổ chát chúa "tùng . . .", đã thấy lô cốt số 3 bên phải cửa mở nổ tung," . . . oành . . . rạt rạt rạt", tiếng vọng chạy rần rần trong núi.

Tăng bắn gần quá làm tai tôi bị ù, phát ra tiếng kêu i i, khỉ thật !

Hai thằng tôi bịt tai và theo dõi chiếc tăng bên phải nổ súng, "tùng . . . oành", chiếc lô cốt thứ tư bên phải bị tung lên.

Chiếc tăng gần tôi bắn sau cùng.

Phát đạn sạt qua lô cốt tiền tiêu số 1 và nổ ở phía sau.

Chiếc tăng đi đầu đang chỉnh pháo vào lô cốt số 2, bên trái cửa mở.

Chỉ một phát, lại trúng mục tiêu.

Có vẻ như hai chiếc tăng đã hoàn thành nhiệm vụ đang chờ chiếc xe gần tôi bắn nốt lô cốt số 1.

Hơi chậm một chút có lẽ do phát đầu bắn trệch nên phát này ngắm nghía kỹ càng.

"Tùng . . . oành . . ."

Chiếc lô cốt xụm xuống.

Không biết chiếc xe này nổ máy như thế nào ?

Tôi hồi hộp chờ xem ba chiếc xe phối hợp ra sao.

Không ngờ, chỉ đề "rầ . . .m" một cái là máy đã nổ ngon lành.

Tôi chưa thấy ô tô nào đề mà nổ máy nhanh ngay tức thì như vậy.

Động cơ xe tăng công suất rất lớn mà đề nhanh như vậy thì chắc là ac qui phải cực mạnh.

Ba chiếc tăng tiến thêm chừng trăm mét nữa thì dừng lại bắn loạt thứ 2.

Lần này, mỗi chiếc chỉ bắn một phát là tan ngay ba cái lô cốt ở tầng hai.

Bắn xong chạy tiếp.

Bây giờ xe tăng vừa chạy vừa bắn đại liên.

Tiến thêm một đoạn nữa, họ lại "dừng ngắn bắn". cả ba chiếc tăng đều ngắm bắn vào lô cốt mẹ.

Lần này cũng vậy, chiếc đi đầu vẫn bắn nhanh nhất và lại trúng mục tiêu. hai xe kia bắn chậm hơn nhưng cũng trúng vào lô cốt mẹ.

Ba chiếc tăng tiếp tục tiến, vừa chạy vừa bắn đại liên, nhưng lần này chạy chậm hơn.

Họ chờ bộ binh cùng xung phong.

Không thấy có cối 60 bắn như các thủ trưởng nói chuyện hôm trước.

Bộ binh đang chạy bộ xung phong.

Một cánh vọt lên từ phia trước trận địa cối 82, cách lô cốt đầu cầu số 4 bên phải khoảng ba trăm mét.

Một cánh nữa vọt lên từ phía trước chúng tôi.

Đúng là ở khoảng cách đó thì rất an toàn.

Nếu là đánh thật thì bộ binh đã phải áp sát gần cửa mở từ trước giờ G.

Lục và tôi cũng "nhổ trại" chạy phía sau xe tăng một đoạn xa, vừa chạy vừ theo dõi trận chiến.

Khi ba chiếc xe tăng tiến đến cửa mở cũng là lúc bộ binh vừa kịp chạy tới bám theo phía sau.

Trên đường tiến, họ vừa chạy vừa bắn AK và bây giờ chạy chậm theo xe tăng tiếng AK càng rộ lên.

Không thấy B40, B41 tham chiến (hay là tôi không nhớ ?).

Chiếc tăng đi đầu vượt qua cửa mở, hai chiếc kia đi sau theo đội hình hàng dọc.

Đến tầng lô cốt thứ 2 thì hai chiếc đi sau rẽ về hai phía.

Chiếc đi đầu tiếp tục tiến đánh lô cốt mẹ.

Khi xe tăng trèo lên áp sát vào lô cốt mẹ trên đỉnh đồi, một chú bộ binh bung cờ ra.

Lá cờ được cắm vào lô cốt mẹ, đánh dấu trận chiến đã thắng lợi.

Cái đỉnh đồi bé con con làm cho chiếc xe tăng đậu ở đó nom rất chênh vênh.

Chiếc xe vừa bị dốc ngược lên, vừa bị nghiêng về một bên.

Lính tráng tranh nau chạy lên đỉnh đồi.

Cả một trung đội hoan hỷ quay về phía khán đài khua tay, huơ mũ mừng chiến thắng !

(Hết chuyện "LÀNG QUẤT XÁ")

* Chuyện bên lề của các bác cựu binh:

-1.

Xin góp một Kỷ niệm đẹp .

Ngày x..ngày xưa , ( hình như cuối mùa khô 72 ) toán trinh sát pháo binh D42 gồm 5 người chúng tôi đi luồn sâu ,tham gia đánh Long Chẹng

Xiêng Khoảng .Tôi còn nhớ rõ buổi chiều ấy ...Rừng già ẩm ướt , vào khoảng trời vừa tắt nắng , Trên nền rì rào của tiếng rừng là tiếng máy bay chỉ điểm eo óc , thỉnh thoảng chen tiếng ụt ụt của đạn 20 ly từ xa , tiếng bom ùng uỳnh vọng lại ...Con đường mòn dưới tán cây rừng rầm rập lính ta đi vào ( bây giờ hình dung lại mới thấy đẹp quá ! ) Rất nhiều người đi chân đất,ba lô vuông , dáng thiện chiến lắm . (Thỉnh thoảng cũng có toán đi ngược lại :hối hả là những cáng thương binh , còn lại là cáng tư sĩ ,tăng bó kín gọn gàng theo dáng người ,,,)

Chọn chỗ phăng phẳng một tí , chúng tôi dừng cho bữa chiều và cũng là bữa gạo cuối cùng dành dụm của một chuyến đi dài .Nấu cơm ,không đáng nói nhiều : Dùng dao găm chẻ lõi của một cây to thật khô - phải chẻ nhỏ như đóm ấy , ba hòn đá xanh cụ kê lên , dùng một mảnh ni lông dày ( trữ sẵn ) làm vung nồi ...Trời ơi ! cơm ở chiến trường kiểu gì cũng ngon quá !

Bữa ấy của chúng tôi cũng vậy , chưa ăn đã thấy miệng ứa nước ...cái dạ dày lép như cố chen lên cổ để đón...Họ đi tấp nập qua , cũng mời một câu cho phải phép lấy lệ :" Cơm các đồng chí nhá a ..á !

" Chẳng ai ngờ : quá chúng tôi khoảng 30 m một cậu dáng trẻ trung nhanh nhẹn tách ra "ấy ấy, đợi em một tí nhé e..

é ", rồi hạ ba lô xuống , Rồi bẻ hai nhánh cây rừng thay đũa , rồi cậu tân binh ( ấy là tôi đoán thế ) ăn với chúng tôi vui vẻ ,tự nhiên như cùng một tiểu đội vậy ... ...

Hôm 10/4/10 vừa rồi ,tôi về Thường Tín được găp lai dăm đồng đội cũ nhân kỷ niệm ngày nhập ngũ 10/4/68 của họ .Bữa trưa cơm gà cá gỡ nào bia nào rươu...tại nhà anh Thụy ,với đông con cháu của gia đình anh Thụy vây quanh ,Vui quá !

Có 2 người nữa có mặt trong bữa cơm chiều tôi vừa kể trên...Râm ran hàn huyên và kỷ niệm ấy cũng được nhắc tới ."

Hôm ấy nó làm mình choáng !" , " Nó tự nhiên như ruồi ấy nhỉ !?" , "Đâm ra mình bị đói " , " không biết bây giờ nó ở đâu nhỉ !?

" ," Có khi nó tèo rồi cũng nên " , "Đúng là gặp ngay một ô.thớt trưởng "...Rồi chúng tôi cười ha hả ...

Mấy con người ấy- chúng tôi : bây giờ mỗi người mỗi hoàn cảnh , mỗi mức sống , mỗi tính cách ...

Cũng khác nhau nhiều , Nhưng chúng tôi gật gù và đều phải công nhận một sư thật với nhau rằng :Chưa từng một lần chúng tôi nghĩ xấu về cậu lính trẻ đó - kể từ bữa cơm chiều dọc đường chiến dịch ấy đến bây giờ và chắc chắn sẽ nhiều năm sau nữa !...

-2.

Chuyện giống như của bác thì chúng tôi gặp rồi , anh em mình cả họ đói và thiếu chất khi ở trong rừng lâu ngày nên cứ đâu có thể ăn được là cứ tự nhiên hơn ruồi , anh em lính cả chia sẻ với nhau chút ăn uống ai lại nghĩ xấu về nhau .

Lần đó chúng tôi gặp một đơn vị công an vũ trang từ giáp biên giới Thái lan rút ra , anh em ai cũng da xanh như tàu lá chuối non , thấy chúng tôi đang ngồi ăn cơm theo từng B của mình , cơm thì chẳng có gì ngoài cá khô kho với đầu đuôi cá nấu canh chua lá rừng họ hành quân qua liền hỏi :

- Các bác ăn cỗ đấy à ?

- Không , cơm thường hàng ngày thôi có gì đâu ?

- Bọn em 6 tháng nay chỉ có cháo với muối chẳng có gì cả , các anh sướng thật .

- Thế thì ngồi xuống ăn cùng chúng tôi đi .

Họ tự nhiên như người nhà ngồi xuống móc ba lô lấy bát đũa rồi ngồi ăn , các B khác cũng mời số anh em CAVT khác cùng ăn , thấy họ ăn nhiệt tình quá chúng tôi lặng lẽ nhường bằng lý do đã ăn no rồi .

Ăn xong anh em CAVT đó ngồi lại uống nước một lúc nữa rồi chào tạm biệt chúng tôi khoác ba lô hành quân ra tuyến ngoài .

Chúng tôi thấy thương họ , họ phải chịu nhiều khổ cực gấp nhiều lần chúng tôi lúc đó , nhìn người thì biết gày đến mức không thể gày hơn được nữa , da dẻ xanh mét ai cũng có cái ba tong làm gậy chống mà đi , đường thì trèo đèo lội suối , chẳng ai coi thường hay kinh khi họ cả , họ đã làm được cái việc gấp chúng tôi cả trăm lần , người lính chúng ta là như vậy , khó khăn cùng gánh vác ngọt bùi cùng sẻ chia và đó cũng là chuyện thường của lính thôi .

- 3.

Hôm trước đọc bài bác LXT viết về Hà Nội tháng 12 trong B52 của Mỹ, tôi cũng dự định viết chút ít về những ngày đó, dù mình ở Thạnh Hãn.

Hôm nay nhân 10/10, viết vừa xong.

Xin gửi chia sẻ lại những ngày chiến trường với các bác.

Bài hơi dài, phía sau lại có phần văn nghệ chút không rõ có được gửi ở đây không.

Tôi chia làm ba phần.

TLT.

--

Quảng Trị và Hà Nội cuối 1972

Sau khi quân ta rút khỏi thành cổ Quảng Trị đêm 15/9 và dự kiến đưa quân qua chiếm lại thị xã tối 16/9 của mặt trận được hủy bỏ một phần dựa trên báo cáo của trinh sát sư đoàn, ngày 19/9 tiểu đội tôi được rút về nghỉ ở hậu cứ của đại đội.

Vào chiến trường cuối tháng 6, trinh sát sư đoàn chia thành nhiều bộ phận đi khắp Quảng Trị, riêng tiểu đội tôi vào tham gia chiến đấu bảo vệ thị xã.

Tuy chủ yếu đóng ở Nhan Biều cả hai tháng từ giữa tháng 7 cho đến khi về hậu cứ, số bom đạn chịu chưa thấm vào đâu so với các đơn vị đánh trong thị xã, tiểu đội tôi hình như cũng "dày dạn chinh chiến" nhất trong cái đại đội trinh sát trẻ măng của sư đoàn.

Ngày về cứ, trong mắt lính tráng đại đội chúng tôi như đã là những gã trinh sát thực thụ.

Quãng ba tuần sau (quanh 10.10.1972), tôi nhận được lệnh xa tiểu đội lên sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn.

Sở chỉ huy tiền phương đóng ở một vùng đồi cây lúp súp, nằm trên quãng đường từ sở chỉ huy cơ bản đến thị xã.

Các bộ phận chiến đấu của sư bộ đều có mặt ở đây, ban trinh sát có một hầm gồm một anh trên ban và tôi là lính từ đại đội.

Việc chính của tôi là hằng ngày nhận điện thoại của tiểu đội trinh sát kỹ thuật (chỗ anh Tỉnh, Thân, Vinh, Duyên, ...) báo cho các tọa độ bên ta địch sẽ B52 hay pháo trong vòng một vài ngày tới.

Sau đó tôi phải tra trên bản đồ xem đơn vị nào đóng ở vùng các tọa độ đó, và gọi điện báo cho họ.

Cạnh hầm ban trinh sát là hầm ban pháo binh.

Trưởng ban pháo binh là đại úy Bích, người thấp nhỏ và đã có tuổi, trực tiếp chỉ huy ở đây.

Sau một tháng ở sở chỉ huy tiền phương, giữa tháng 11 tôi lại được lệnh đưa tiểu đội về lại vùng thị xã, ở bờ Tây sông Thạch Hãn, phía Bắc thôn Nhan Biều chừng một cây số, bên trái là thôn Minh Hương và phía bên kia sông hình như gọi là Cổ Thành.

Nhiệm vụ của tiểu đội là theo dõi tình hình địch phía bên kia sông.

Lúc này đang mùa mưa.

Nước sông Thạch Hãn dâng cao.

Đất sũng trong nước.

Lính tráng suốt ngày múc nước trong hầm đổ đi.

Một sáng thức dậy sau đêm mưa, nước từ đất ngấm ra hầm rất nhanh múc không xuể, đành phải ngoi lên chịu pháo.

Tụi tôi phải bỏ các hầm trong khu vườn lên đào lại hầm trên mấy nền nhà cao.

Hai tháng sau khi thị xã bị chiếm lại, cuối tháng 11 mặt trận có lệnh cho trinh sát chuẩn bị cho các trận đánh mới vùng thị xã.

Một nhóm trinh sát vượt sông của sư đoàn được lập, gồm 5 lính trinh sát sư đoàn và 5 lính trinh sát trung đoàn.

Tôi được lệnh chia tay tiểu đội tham gia nhóm này.

Bắt đầu là hai tuần huấn luyện khẩn cấp.

Nơi tập là một đoạn trên sông Miếu Giang, là con sông chảy qua Cam Lộ xuống Đông Hà rồi nhập với sông Thạch Hãn cùng ra Cửa Việt.

Nhiệm vụ chính là tập các kỹ thuật bơi bí mật dùng qua sông sang phía bên địch, cũng như tập một số kỹ thuật tiềm nhập.

Mặt trận cử hai cao thủ đặc công nước tới huấn luyện cho tụi tôi.

Đấy là hai cán bộ cấp trung đội, anh Thành và anh Việt, đến từ vùng Cửa Việt.

Hai anh hơn tụi tôi chừng vài tuổi, nhưng đã là những người lính dày dạn chiến trường, và bơi lội thật điêu luyện.

Cách họ xuống nước và bơi nhẹ nhàng làm mấy gã lính bộ binh tụi tôi phục sát đất.

Bài tập đầu tiên là bơi ếch.

Bơi ếch là loại bơi cơ bản nhất, có thể bơi lâu và ít gây tiếng động, nhưng vấn đề là nắm rõ các nguyên lý và tập để bơi được bí mật.

Bọn tôi được tập lại bơi ếch như sự phối hợp của ba động tác cơ bản đạp-khép-co.

Có thể tập đạp-khép-co trên cạn rất nhiều rồi mới xuống nước.

Cả nhóm đứa nào cũng đã biết bơi, nhưng đều học bơi tự do và đầy bản năng.

Sau mấy ngày đạp-khép-co với lý thuyết và chỉnh sửa, đứa nào bơi cũng khá hẳn lên.

Trong bơi ếch cơ bản, thân người ngang với mặt nước và nổi nhiều để lướt, nhưng để bơi không gây tiếng động, thân người sẽ nghiêng chéo với mặt nước, và chân tay hoàn toàn đạp-khép-co trong nước.

Một bài tập nữa được dành nhiều thời gian học là kỹ thuật thả trôi.

Đây là một kỹ thuật cơ bản của đặc công nước, dùng để bơi tiếp cận đến đối phương, đúng hơn là một người ngập trong nước ở tư thế thẳng đứng nhưng vẫn thở được và điều khiển để từ từ trôi đến gần mục tiêu.

Trong kỹ thuật này, thân người hoàn toàn ngập trong nước và vuông góc với mặt nước, hai chân lần lượt đạp xuống như đạp xích lô, còn hai tay quạt kiểu bơi ếch nhưng chúc xuống và hoàn toàn trong nước.

Khó nhất là thở vì cái đầu cũng phải hoàn toàn trong nước, mặt ngửa lên trời chỉ cái miệng nhô khỏi mặt nước chút xíu để thở, mũi được kẹp lại cho khỏi sặc nước bằng một cái kẹp gỗ nhỏ tự gọt.

Để điêu luyện chắc phải tập hàng tháng trời vì khó nhất là thở sao cho nhẹ và đều, mồm không nhô cao không sặc nước.

Hai anh Thành và Việt bơi ra xa, giữa ban ngày thả trôi vào bờ, và cũng phải đến rất gần tụi tôi mới nhận ra.

Còn khi mấy gã trinh sát chúng tôi thả trôi thì từ xa đã thấy cả mồm cả mũi nhô trên mặt nước, thở phì phò.

Những cũng không thể tập lâu hơn.

Sau hai tuần nhóm trinh sát được đưa xuống ven Thạch Hãn, gần chỗ tiểu đội tôi đóng, tuy tôi không được liên lạc với tiểu đội.

Đêm đầu tiên là bơi thử ở một đoạn sông Thạch Hãn, dịch lên phía Bắc nơi bên kia địch không đóng gần mép nước.

Đấy là một hôm trời rất rét, nước cuồn cuộn chảy về từ thượng nguồn.

Cả nhóm lần lượt xuống bơi quãng hai phần ba sông rồi quay về.

Mỗi người chỉ có một dao găm và hai quả lựu đạn trong thắt lưng.

Khẩu AK bang gập được tháo băng đạn, tất cả gói trong cái bao gạo nilông Trung quốc sao cho nổi bồng bềnh trên mặt nước như một khúc gỗ, buộc dây kéo theo.

Lần bơi tập này không trục trặc gì.

Nhưng một trinh sát trung đoàn, vốn là một người to khỏe, bơi rất giỏi nhưng bữa đó bị sặc nước và chìm, mấy đứa phải thay nhau bơi dìu vào.

Hôm sau sư đoàn đánh giá đây là dao động tinh thần, và quyết định rút đồng đội này ra khỏi nhóm.

Chúng tôi về địa điểm tập kết và bắt đầu sang sông điều tra.

Đấy là những ngày giữa tháng 12.1972.

Nếu ở thị xã Quảng Trị bờ sông bên kia cao, trận địa và hầm nằm sát mép nước, thì ở đoạn này bờ sông thoai thoải thấp dần, trận địa và hầm nằm cách bờ chừng hai chục mét.

Đêm đầu tiên tôi là tổ trưởng ba lính vượt sông trinh sát.

Nhiệm vụ của tổ là bơi sang bờ bên kia, nằm quan sát ở mép sông rồi về.

Chuyến đi chót lọt, nhiệm vụ hoàn thành.

Sau đấy cứ hai ba ngày một lần, trinh sát lại bơi sang điều tra.

Tôi cũng qua ba bốn lần, trong đó lần cuối có nhiệm vụ phải nắm lại được toàn bộ hầm hố và bố trí phòng thủ phía bên kia.

Đấy là những ngày nước lớn.

Tôi dẫn đầu tổ ba người lần lượt bơi sang sông (trinh sát đi đầu thường nguy hiểm hơn, và khi trở lại thời bình tôi phải sửa rất lâu cái thói quen "lội nước đi trước" của thời Quảng Trị, vì không phải bây giờ lúc nào cũng là việc lội nước).

Sau khi đi được một phần, theo kế hoạch tụi tôi lùi ra bờ sông tìm cách ém lại một ngày.

Đến một rãnh sâu um tùm cây dại, chợt có tiếng ho nho, tôi kịp ra hiệu để tổ dừng lại.

Trên mép hào cao là bóng một lính địch.

Hắn ho khan vài tiếng, nhìn xuống giây lát rồi biến mất và lại quay lại cùng một bóng nữa.

Tôi từ từ quay nòng súng hướng lên, khẽ mở khóa nòng, nín thở.

Thời gian chững lại.

Roạt!

Một hòn đất bất ngờ bay xuống nhưng chúng tôi vẫn nằm im.

Không thấy động tĩnh, hai tên lính bỏ đi.

Chúng tôi lùi ra, ém lại ở gần bờ sông, chia nhau mấy cái hố cạnh bãi rác, đầy vỏ đồ hộp.

Chỗ này khá kín, dễ quan sát và ban ngày địch cũng không dám ra.

Đêm lạnh mà ngày thì nóng hầm hập, ngột ngạt, dài dằng dặc.

Có lúc một chú rắn bò vào hố, đành giương súng lên dọa cho nó bò đi.

Tôi lên cơn sốt.

Mẩu lương khô đắng ngắt trong miệng.

Biđông nước phải dè sẻn từng ngụm cho một ngày.

Rồi đêm cũng xuống, ba đứa tôi đi tiếp phần còn lại.

Những ngày đó của tháng 12.1972 Mỹ đang rải bom B52 vào Hà Nội.

Ở trong hầm bên bờ Thạch Hãn chúng tôi chỉ thỉnh thoảng biết về Hà Nội dưới bom B52 qua chiếc đài bán dẫn của thủ trưởng.

Chiến trường xa xôi.

Quê hương vời vợi.

Nghĩ về Hà Nội và những người thân của mình dưới bom B52 mà lòng thắt lại.

Trưa 25.12 chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị đêm dẫn đặc công sư đoàn qua sông đánh.

Cấp trên cũng tính đây là một trận đánh chi viện cho Hà Nội chăng?

Chập tối một đại đội đặc công hành quân tới.

Đại đội có chừng gần ba chục tay súng.

Theo kế hoạch, tôi sẽ dẫn đại đội trưởng và ba trung đội trưởng qua trận địa bên kia sông, sau đó các anh sẽ về dẫn bộ đội qua đánh.

Quãng 10 đêm giờ chúng tôi bơi sang.

Tôi là trinh sát nên đi tay không, có nhiệm vụ dò mìn và dẫn đường cho bốn đặc công với AK báng gấp đi theo.

Mọi việc cũng ổn, tuy nhiên do tôi chưa được huấn luyện dò gỡ mìn bao giờ, nên một lúc sau thấy chậm anh đại đội trưởng đề nghị On, một trung đội trưởng và tôi đổi cho nhau.

On quê Thái Bình, cũng chạc tuổi tôi, kịp quen trước khi đi.

Tôi cầm súng của On, đổi thành người đi thứ hai nhưng sát ngay On để chỉ đường.

Quãng 3 giờ sáng chúng tôi quay về bờ bên ta.

Các anh đưa đại đội qua đánh còn tôi xong nhiệm vụ ở lại, nằm trong hầm chờ trận đánh.

Quãng sau 4 giờ sáng, tiếng thủ pháo, tiếng lựu đạn, tiếng B40 và tiếng súng đồng loạt nổi lên phía bên kia sông.

Rạng sáng các anh trở về.

Nhưng thiếu mất On.

Mãi về sau này tôi vẫn nghĩ đến On.

Có thể vì cái tên On quá đặc biệt.

Có thể vì On đã làm thay cho tôi một việc rất khó và nguy hiểm.

Có thể vì hai đứa vẫn chưa nói với nhau them một lời dù phối hợp rất ăn ý.

Có thể vì bố mẹ và gia đình On không biết trận đánh cuối của con mình ra sao.

Những chắc chắn hơn cả vì On là người duy nhất đã không trở về sau trận này.

Về sau tôi nghe nói đây là trận thắng lớn nhất của đặc công sư đoàn trong chiến dịch Quảng Trị.

Đặc công vốn chỉ có hỏa lực nhẹ, đánh thắng được do có yếu tố bí mật bất ngờ và vào sát được địch.

Nhưng ở Quảng Trị 1972 làm gì còn bí mật và bất ngờ, lính tráng hai bên thức canh nhau suốt đêm, nên đặc công nhiều khi nhận lệnh vào đánh và không tránh khỏi thất thiệt.

Chiến trường Quảng Trị cuối 1972 khá êm ắng, đem lại yếu tố bí mật bất ngờ cho đặc công.

Mãi về sau tôi mới biết rằng chiến dịch B52 Hà Nội của Mỹ cũng kết thúc vào cái đêm đặc công sư đoàn đánh trận ấy.

Hai mươi lăm năm sau, một tối ở nhà Hoàng, một sinh viên tại Tokyo, tôi chợt lần đầu thấy bài thơ "Hà Nội-phố" của Phan Vũ.

Cảm xúc ùa đến ngập lòng.

Mối liên hệ mỏng manh giữa Hà Nội và Quảng Trị những ngày ấy chợt trở trở về.

Tôi hối hả viết "đôi lời về bài thơ Hà Nội-phố" trong những cảm xúc đan xen về Hà Nội và Quảng Trị, về những ngày mãi không thể quên ấy.

To be continued...
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 2: Những chuyện không thể quên - hồi ký của bác Tichtuongnhule - Phần 2


Nhớ lại, Cuối năm 1971, lúc đó chúng tôi đã huấn luyện tân binh xong.

Đơn vị đang ở Đông Du, Hà Bắc.

Anh em trong mấy tiểu đoàn sinh viên đang chờ các đơn vị thuộc binh chủng kỹ thuật về lấy quân.

Suốt ngày chỉ có đi chơi lêu lổng ra đường 18 rồi chui vào quán nước ven đường.

Quán nước này là của cụ chủ nhà mà tiểu đội tôi đóng quân.

Kẹo lạc, kẹo bột, kẹo vừng và kẹo dồi cụ chủ đều làm lấy.

Không phải kẹo nấu từ đường kính trắng hay đường hoa mai, cũng không phải từ đường phên mà toàn từ mật.

Tôi rất ngạc nhiên.

Mật có màu nâu xẫm, khi nấu thành nước kẹo vẫn có màu như vậy nhưng sau đó đem quật lên xà nhà và kéo dài ra, chập lại, rồi lại kéo dài ra.

Cứ như vậy nhiều lần, không khí chui vào trong đường mật thành các lỗ xốp. càng kéo nhiều và nhanh kẹo càng trắng.

Nhiều lần tôi cũng tham gia kéo kẹo với cụ nhưng không đạt yêu cầu vì tôi không chịu được nóng như cụ. hai bàn tay cụ chịu đựng sức nóng của đường nấu chảy thật là tài.

Cụ cũng chỉ cho tôi cách thử đường kẹo đến lúc nào là được.

Xểu một giọt nước mật trong chảo nhểu vào bát nước.

Nếu nó chìm xuống đáy thành giọt hình tròn (hình cầu), vớt lên cắn thấy giòn tan là được.

Phải thử liên tục.

Nếu để quá lửa thì kẹo sẽ đắng.

Đấy là cụ chỉ bảo cho tôi và cho làm thử, còn cụ chẳng cần thử kiểu ấy.

Cụ chỉ cần xêu một ít vào ngón tay rồi đưa vào răng cắn cắn là biết.

Chơi mãi cũng chán, tôi nảy ra ý định tranh thủ trốn về nhà.

Bốn thằng cùng lớp đại học lại cùng ở Hà Nội rủ nhau.

Chuồn 4 ngày liền.

Lúc lên đến đơn vị, Thấy mọi người bảo tối hôm kia lúc điểm danh, đại trưởng đọc "giấy truy nã" bốn "quân nhân đào ngũ".

CHUYỆN XIV TỪ PHÚ LỘC ĐẾN HUẾ

Cuộc luồn sâu "thất bại" ở Hòn Vượn.

Chúng tôi mất hai anh em.

Đinh Văn Tư lính trinh sát xê hai mươi chúng tôi và Quý (tôi không biết họ của anh) là trinh sát của mặt trận B5.

Thằng Mào bị một viên AR-15 găm vào phần mềm ở ngực.

Đúng theo kế hoạch, sau khi làm hồ sơ căn cứ Hòn Vượn và Chóp Nón, chúng tôi từ cứ của biệt động Huế luồn rừng ngược lên miền tây Huế.

Lúc đi, đoàn trinh sát của chúng tôi gồm có 12 người:

1.

Anh "Già", tham mưu trưởng của e95 (tôi không còn nhớ tên, chỉ nhớ biệt hiệu).

2.

Quý, trinh sát mặt trận B5.

3.

Một trinh sát nữa của mặt trận B5 (không nhớ tên).

4.

Hổ, trinh sát binh địa của e95.

5.

Chinh, trinh sát binh địa của e95.

6.

Một trinh sát e95 (không nhớ tên).

7.

Toàn, trinh sát f325.

8.

Tư, trinh sát f325.

9.

Mào, trinh sát f325.

10.

Duyên, trinh sát ảnh f325.

11.

Lâm, trinh sát binh địa f325.

12.

TichTuongNhuLe, trinh sát binh địa f325.

Đoàn cùng xuất phát một lúc, đến quá nửa đường mới chia làm hai toán, một toán đi Hòn Vượn và toán kia đi Chóp Nón.

Toán đi Chóp Nón do một trinh sát mặt trận dẫn đường, xong việc đã về trước.

Toán Hòn Vượn chúng tôi có Quý dẫn đường.

Quý hy sinh, chúng tôi phải tự lần đường về.

Từ Hòn Vượn về đến điểm xuất phát ở đầu nguồn sông Bồ, giống như lúc đi, bây giờ chúng tôi trở về cũng mất hai ngày.

Phải nghỉ đêm ở điểm dừng chân là một cứ biệt động Huế ở rất sâu trong lòng địch.

Còn lại anh Già, Hổ, Toàn, Duyên, Mào (bị thương) và TichTuongNhuLe.

Rất may mào chỉ bị dính một viên AR-15, viên đạn chỉ găm ở bên ngoài, sượt từ bên nách và nằm lại trong tí, không xuyên vào lồng ngực.

Tôi là thằng đi đầu, sát sau tôi là Hổ.

Thỉnh thoảng tôi phải dừng lại để trao đổi đường đi với Hổ.

Đang lội suối, bất chợt tôi nhìn thấy một đám rau đay mọc rất tốt, rất đều, thân tía đỏ mảnh mai, lá xanh mơn mởn.

Chúng tôi dừng lại tranh thủ hái rau để tối đến có rau ăn.

Tôi đề nghị mọi người không nghỉ lâu vì mình không thạo đường, sợ không về kịp cứ của biệt động trước lúc trời tối.

Chừng 5 giờ chiều, chúng tôi đã về được cứ biệt động.

Đây cũng chính là điểm dừng hôm chúng tôi đi vào.

Cơm nước xong, trời tối, mọi người mắc võng nghỉ sớm, chỉ cử một người gác rồi thay phiên.

Nhưng không ai ngủ được ngay.

Mọi người kể lại chuyện đụng địch ở Động Ngang và chuyện bị thám báo phục kích "nhầm".

Rồi chuyện biệt động Huế đánh bọn thám báo đó tơi tả.

Suốt nhiều ngày om chân trong đôi giày ngụy, nước gần như thường xuyên òm ọp trong giày, hút nước vào rồi phọt nước ra qua mấy cái lỗ.

Tôi bị nước ăn chân qua hết lần da này đến lớp da khác rồi ăn vào thịt.

Đôi chân tôi sưng tấy, mấy chỗ da toang hoác, thịt đỏ lòm, ứa máu.

Đi lại đã đau rồi nhưng mà dừng lại nghỉ mới chết.

Sau khi dừng lại nghỉ ngơi, lúc bắt đầu đi rất đau.

Phải mất mươi mười lăm phút mới quen với cái đau để bước đi vững chãi được.

Hôm sau chúng tôi dậy và đi rất sớm, mỗi người chỉ ăn một thanh lương khô.

Cơm nắm từ tối hôm qua sẽ để đến trưa.

Thằng Mào bị thương nhưng chảy rất ít máu, thay băng cho nó thấy vết thương đã khô và miệng vết thương đã kín lại, đóng vảy.

Có lẽ lúc mới bị thương nó hơi hoảng nên trông mặt mày tái mét.

Bây giờ nó cũng quen nên trở lại bình thường.

Nó đi nhanh cũng không thua gì mấy so với mọi người.

Đến gần trưa thì chúng tôi đã ra đến sông Bồ.

Từ đây về điểm dừng chân ban đầu đường đi dễ hơn, cứ việc bám theo đường mòn ven sông Bồ mà đi là đến.

Chỗ này lại là vùng ta kiểm soát nên cũng thoải mái hơn.

Về đến vùng do ta kiểm soát mọi người đi rất nhanh không theo hàng ngũ đội hình gì ráo.

Mạnh ai nấy đi.

Ai đi nhanh thì vượt lên trước.

Chân tôi càng ngày càng đau.

Mỗi bước đi là một bước đau.

Đến một tảng đá, tôi ngồi phịch xuống, tháo giày ra xem cái thằng chân nó làm sao.

Hai bàn chân bợt hết.

Những chỗ loét máu chảy rim rỉm.

Tôi buộc hai chiêc giày lại, nhét đôi tất vào trong rồi vắt qua cổ.

Đi chân đất may ra khá hơn chăng.

Quả thật thấy có vẻ dễ chịu hơn vì không còn bị giày và tất cò cưa vào vết đau.

Nhưng tôi đã nhầm.

Được một hai bước đã không chịu nổi vì các tảng đá rất nóng.

Chân thường đi trên đó đã bỏng, nói gì các vết đau đã mất hết da.

Cuối cùng cũng tìm ra được một cách là thêm đôi tất vào.

Mất lớp da dầy ở chân rồi, các dây thần kinh chạm vào đá nóng không chịu nổi.

Thế mới biết tạo hóa sinh ra các thứ trên con người ta cái gì cũng quan trọng cả.

Tôi bị tụt lại sau cùng.

Càng ngày đi càng chậm.

Tôi không còn có thể nhảy tanh tách từ tảng đá này sang tảng đá khác mà phải dò dẫm từng bước.

Có lúc tôi phải đi vòng vèo để tránh những tảng đá lởm chởm vì nếu bước vào đó, đá sẽ chọc vào chân.

Nước sông bồ xanh ngắt chảy rì rào qua đá.

Bên kia bờ sông vách đá nhấp nhô thẳng đứng.

Bờ bên này đang là bãi đá.

Những tảng đá lớn nhỏ lô xô tuyệt đẹp.

Nhưng mà !

Mặt trời đang thiêu đốt trên đỉnh đầu.

Dưới chân tôi là một bãi đá nung.

Hơi nóng bốc lên từ mặt đá lấp lóa rần rật.

Không biết mọi người đã đi đến đâu rồi.

Anh em đừng có nghĩ là tôi cảm thấy buồn vì bị mọi người bỏ rơi lại phía sau trong khi chân thì đau như vậy.

Lính trinh sát chúng tôi quen đi lẻ từng tốp một.

Rất nhiều khi luồn rừng, lạc nhau đi một mình là bình thường.

Tôi chỉ khó chịu vì cái chân đau và vì không theo kịp được mọi người.

Đi mãi, đi mãi cũng chẳng thấy ai.

Cũng có thể mọi người nghĩ tôi đi trước rồi vì vốn là lính binh địa thì đi trước dẫn đường mà.

Thôi kệ ! muốn đến đâu thì đến.

Đi tất không, vết thương cũng không chịu nổi sức nóng của đá.

Thỉnh thoảng tôi phải rẽ xuống nước, nhúng chân vào nước cho nó dịu bớt đau và cho tất ướt xũng thì mới đi tiếp được.

"Đi thì sẽ đến !"

Đến một đoạn có mấy cây lúp xúp khá rậm rạp tôi nhìn thấy Duyên đang nằm trong đó, hai chân thò ra ngoài nắng.

Duyên thấy tôi, liền nói:

- Tôi tưởng anh đi trước rồi.

Tôi mệt quá, có lẽ bị say nắng.

- Chân tôi đau quá anh ạ !

Anh còn đôi tất nào không ?

Bây giờ Duyên mới nhìn tôi cẩn thận, cái cách mà tôi bước đi từng bước, với đôi giày treo trên cổ.

Lão ngạc nhiên vì tôi không đi giày:

- Không đi giày thì nóng chết, làm sao mà dẫm lên đá được.

Anh xỏ giày vào đi !

- Anh xui dại tôi đấy à !

Anh nhìn chân tôi này.

Tôi lột tất ra để lão nhìn thấy chân tôi.

- Chậc ! chậc !

Sao anh không nói.

Bị từ bao giờ thế ?

- Mấy hôm rồi.

Chỉ là nước ăn chân thôi.

Anh còn đôi tất nào không ?

Vốn tính cẩn thận, đúng là lão ta có hai đôi tất thật.

Duyên lấy đôi tất từ trong gùi đưa cho tôi.

Tôi lồng cả hai đôi tất vào chân.

Chắc là sẽ khá hơn.

Bây giờ tôi mới nhìn kỹ Duyên.

Mặt hắn đỏ dừ.

Chiếc khăn mặt ướt chùm lên đầu, dưới cái mũ tai bèo.

Duyên bị say nắng nhưng thế này còn khá.

Nếu say nắng đến lúc mặt tái dại đi, mắt lờ đờ và sùi bọt mép thì mới đáng sợ.

Tôi chui đầu vào dưới gốc cây bên cạnh cái cây của Duyên.

- Lúc đụng nhau ở Động Ngang, tôi lo quá không biết anh sống chết thế nào.

Thằng Mào thì bị thương.

Tôi mới thằng Toàn phải dìu nó đi đường khác để về một cứ của biệt động.

TichTuongNhuLe à !

Tôi chỉ sợ anh chết hay bị thương, trong lòng không yên tý nào.

Nhỡ anh bị thương, lại có một mình.

Cứ nghĩ thế thì tôi mới thằng Toàn chỉ muốn quay lại ngay chỗ đó để tìm.

Nhưng rồi sợ bọn nó giăng bẫy phục kích.

Sáng hôm kia khi quay lại tìm anh, thấy thằng Tư và thằng Quý nằm úp mặt chết dưới suối.

Tôi đinh ninh là anh rồi vì lúc nào anh cũng đi trước.

Tôi vừa khóc vừa tiến lại (tính lão này hay nói chuyện kiểu "cảm động", ngược với tính tôi, có khóc bạn cũng không bao giờ kể).

Lúc lật thằng lên, thì là thằng Quý, rồi đến thằng Tư.

Vẫn biết là thương thằng Quý và thằng Tư cũng như thương anh thôi nhưng mà anh mà chết thì tôi sẽ day dứt cả đời.

Bọn tôi đã bỏ anh một mình, rồi anh chết thì làm sao mà tôi yên được.

- Này !

Tôi chết thì khó đấy.

Bọn nó đông nhưng tôi nhanh lắm chứ !

Một mình tôi luồn trong rừng thì làm sao mà chúng lùng bắn được tôi.

Thú thực tôi cũng có cảm giác là bỏ rơi bọn anh để an toàn một mình.

Tôi áy náy mãi cho đên khi gặp lại cả ba người đấy.

Thôi bỏ đi ! chỉ thương thằng Tư và thằng Quý chết thay tôi.

(Chuyện Tư và Quý hy sinh xin khất anh em kể trong chuyện khác).

- Bọn nó ở đâu mà nhanh thế ?

Hơn một phút sau đã thấy nó bắn cối săn đuổi anh.

Nó bắn cối tức là không đi càn nhưng tôi lo anh dính đạn cối.

May quá, cuối cùng anh vẫn không sao.

- Đã bảo bỏ đi mà .

- Ừ !

Thôi . . . !

Tôi lại tháo tất ra hơ chân ra ngoài nắng cho khô.

Hai thằng nằm im, không ai nói chuyện nữa.

Nhìn qua kẽ lá thấy hút đi rất xa là những mảng da trời xanh thăm thảm, không một gợn mây.

Lạ thật !

Sứ Huế ?

Mưa ngày này qua ngày khác, bầu trời và mặt đất lúc nào cũng nghìn nghịt nước, nước chui vào trong hơi thở, bịt bùng !

Thế mà cái nắng mùa đông sao lại quá gắt gao, soi vào từng thớ thịt, khét đắng !

Chừng mười lăm phút thôi, để chết lặng đi . . .

Rồi không ai bảo ai, Duyên và tôi cùng nhào dậy một lúc.

Tôi xọc chân vào hai đôi tất.

Bất giác cả hai cùng thở dài rồi xốc gùi lên vai bước đi.

Tôi cắn răng chịu đau và tự nhủ: "Rồi sẽ quen và bớt đau thôi !

Cố gắng bám kịp Duyên đấy nhé !"

Hai thằng bước đi lặc lè như người mang vác nặng vậy nhưng không phải là những bước đi nặng và chắc của người vác nặng mà là những bước chân dặt dẹo, gắng gượng.

Hai thằng người và hai cái bóng đã hơi chếch về phía sau cứ lầm lũi dấn lên, theo những quỹ đạo cong queo kỳ lạ.

Càng đi, cái nắng rát càng chiếu xiên vào mặt.

Có lẽ đến 4 giờ chiều rồi, nắng càng gắt tệ.

Đoạn đường cuối cùng tôi bị tụt lại khá xa làm cho Duyên phải đứng lại chờ.

Lúc này, cũng như mọi khi, tôi rất khỏe, nắng này chẳng ăn thua gì, mồ hôi chỉ hơi rịn ra một chút nhưng quần áo và toàn thân bốc ra mùi khét lẹt – mùi lính.

Thủ trưởng Bùi Đức Ngoan (tham mưu phó sư đoàn) đang quát nạt và chửi bới rất to.

Không biết cụ mắng chửi từ bao giờ mà tôi tụt lại rất xa, bây giờ đến nơi còn nghe chửi:

- Trinh sát chúng mày như cứt !

Súng phát cho chúng mày làm củi à.

Sao không thằng nào bắn được một phát.

Chắc là cụ xót ruột vì bị mất lính lại còn dẫn một thằng bị thương về nữa chứ, mà cái đám lính trinh sát thì không thằng nào bắn lại địch, làm gì cụ chẳng điên.

Chúng tôi cúi đầu nghe cụ mắng chửi một hồi lâu nữa.

Tôi nhìn ngó xung quanh thì thấy mọi người đã đi hết, chỉ còn lại bốn thằng trinh sát xê hai mươi của sư đoàn.

Anh "già" và Hổ đã đi rồi.

À ! thì ra cụ Ngoan đang sốt ruột chờ chúng tôi.

Sau này tôi mới biết, khi chúng tôi luồn vào Hòn Vượn và Chóp Nón, ở nhà A12 liên tục canh đài theo dõi điện đàm của địch để nắm tình hình chúng tôi.

Họ biết thám báo đang phục kích ở cửa động của biệt động Huế mà không có cách gì thông báo được cho biệt động hay cho chúng tôi.

Bọn nó phục kích biệt động chiều tối sẽ từ cứ đi ra, để vào Huế.

Không ngờ, chiều tà chúng tôi lại từ phía Huế chui vào cứ.

- Thôi, chúng mày lên xe nhanh đi.

Thằng Mào bị thương sẽ về quân y của ba linh tư nhá !

- Vâng !

Chiếc Xe Com-măng-ca "đít vuông" mở bạt đằng sau chở 6 người.

Cụ Ngoan ngồi trên còn bốn thằng tôi chia nhau hai ghế sau.

Con đường rừng ngoằn nghoèo, lắc lư như đánh võng.

Công binh chỉ phát cây sơ sài, rồi xe đi mà nên đường.

Vả lại con đường này mấy khi có xe đi dâu.

Lính có đi thì toàn đi bộ.

Lương thực, thực phẩm thì được thả trôi theo sông Bồ suốt từ đầu nguồn, giữa đoạn A Sầu, A lưới.

Bất chợt cụ Ngoan quay lại hỏi tôi:

- Thằng Như Lệ chân cẳng mày làm sao ?

Tuấn, đưa nó lọ thuốc đỏ.

Chúng mày hay đi như thế mà không biết lo lấy thân.

Mày mà uốn ván, cưa chân thì bỏ mẹ mày.

Tôi chờ cụ quay lên mới lột tất ra.

Thằng Toàn mở bi đông, dốc nước cho tôi rửa mấy vết loét.

Tôi lôi cái quần đùi trong gùi ra thấm sạch sẽ rồi bôi thuốc.

May mà thuốc đỏ nó mát, chỉ hơi xót một tý chứ nếu bố Ngoan mà cho tôi lọ i-ốt thì chắc phải xót nhảy lò cò lên mất.

Tôi nhìn cụ Ngoan mà nhớ bố tôi, thương con mà rất nóng tính.

Bố tôi cũng hay quát mắng bọn tôi nhưng hễ đứa nào làm sao thì cụ rất xót.

Đường xấu quá, chiếc xe lắc qua lắc lại dữ dội.

Mấy thằng phải bám chặt tay vào khung xe.

Thỉnh thoảng những cành cây rào rào quất vào hai bên bạt xe.

Đột nhiên cụ Ngoan bảo dừng xe lại:

- Mấy thằng xuống, trèo lên kia cắt lá dong đi !

Toàn và Duyên nhanh nhẹn nhảy xuống.

Tôi cũng đi tất, xỏ giày, nhảy xuống xe.

Cụ Ngoan quát:

- Thằng này thì thôi !

- Em hết đau rồi thủ trưởng ạ !

Tôi cũng trèo lên dốc theo Duyên và Toàn.

Mấy con dao găm phạt tới tấp.

Những chiếc lá dong cứ thế rơi phầm phậm cắm xuống đất.

Chỉ một loáng mỗi thằng đã ôm một ôm lá to chạy xuống.

- Thôi đủ rồi !

- Cụ Ngoan nói.

- Chốc nữa qua chỗ nào có giang, thủ trưởng dừng xe, em xuống chặt mấy ống giang.

- Ừ !

đi thôi.

Lúc lên xe rồi cụ Ngoan mới bảo:

- Hôm nay là 30 tết.

Chúng mày có thằng nào biết gói bánh không ?

- Có ạ ! – Duyên và Toàn đồng thanh trả lời.

- Tao nói là gói bánh chưng.

Thằng Toàn, dân Vĩnh Linh nhà mày thì chỉ gói bánh đòn.

Mày rửa lá,

vo gạo đãi đỗ thôi.

Xe chạy một đoạn thì dừng lại để thằng Toàn xuống lấy giang.

Nó phạt một cây giang khá to lấy ba ống giang rồi nhảy lên xe.

Chiếc xe lại gật gù, oằn oại lao đi.

Không biết cụ Ngoan đưa chúng tôi đi đâu.

Bọn tôi không ai biết mà cũng không ai dám hỏi.

Một lúc sau, chiếc xe thoát khỏi con đường nhỏ và rẽ về bên trái, nhập vào "đường mòn Hồ Chí Minh".

Đoạn này ở phía bắc A Lưới.

Cũng chỉ là đường đất nhưng rộng rãi và êm ái hơn rất nhiều.

Chiếc xe đi thêm một đoạn dài rồi rẽ về bên phải.

Một doanh trại với rất nhiều nhà cửa.

Những cái nhà lá cọ nằm dưới rừng cây rậm rạp, mặt đất bằng phẳng sạch sẽ thoáng mát.

Cụ Ngoan bảo:

- Đây là dê hai bốn của ba linh tư.

Thằng Mào vào đây điều trị.

Lúc nào khỏi thì tự tìm đường mà về

đơn vị.

Chúng tôi xuống xe bắt tay thắng Mào.

Nó có vẻ không muốn đi viện.

Mào là một đứa cao gày, đẹp trai, lúc nào cũng bẽn lẽn như con gái.

Thằng Toàn dẫn thằng Mào theo cụ Ngoan vào trong một ngôi nhà còn chúng tôi chờ bên ngoài.

Chỉ mấy phút sau đã thấy Cụ Ngoan và thằng Toàn đi ra.

Chúng tôi lên xe đi tiếp.

Ngoái lại thấy thằng Mào đang dơ tay vẫy theo.

Từ cái chiều 30 tết đó, chia tay Mào, tôi chưa lần nào gặp lại.

Ba mươi tết sang năm Tân Mão 1975

Xe tiếp tục chạy về phía nam.

Chúng tôi không biết thủ trưởng Ngoan đưa đi đâu.

Rồi chiếc xe rẽ về bên phải, đi chừng vài bốn cây số nữa thì dừng lại trước một doanh trại.

Xe dừng lại tại trạm gác, cụ Ngoan vẫy vẫy vài cái rồi xe qua.

Một doanh trại rất tề chỉnh.

Các ngôi nhà lá cọ được làm rất cẩn thận, cách xa nhau, bám vào các chân đồi thấp.

Bây giờ cụ Ngoan mới nói cho biết đây là sư đoàn bộ của 304.

Rất vắng vẻ, dường như sư đoàn đã di chuyển đi.

Sau này mới biết lúc đó sư 304 đã lên đường hành quân vào phía trong theo đường mòn Hồ Chí Mính.

Vẫn còn một số rất ít người ở lại.

Chúng tôi cùng vào một căn nhà ven đồi, cây cối che rợp trên đầu.

Trong nhà ánh đèn điện le lói hắt ra sân.

Ánh đèn làm tôi nhớ Hà Nội quá.

Một thủ trưởng của 304 có vẻ như đã chờ từ lâu ra bắt tay từng người.

Chúng tôi được cụ Ngoan giới thiệu nhưng bây giờ không còn nhớ.

Chúng tôi được chỉ tới một căn nhà bỏ không ở gần đấy, cũng áp sát chân đồi.

Tôi lia chiếc đèn pin và tìm được công tắc đèn.

Chỉ là một bóng đèn tròn nhưng có cảm tưởng cả căn phòng sáng choang. so với ánh lửa đỏ đèn dầu thì ánh sáng điện vàng trở nên sáng trắng hơn bao giờ.

Thích thật !.

Bốn chiếc giường kê ở bốn góc nhà, ở giữa lại còn có bàn ghế tiếp khách.

Chúng tôi ra cái giếng ở sau nhà, sát một lạch nước đang chảy róc rách.

Thằng nào thằng nấy múc nước giếng tắm gội ào ào.

Nước mát quá, thấm vào từng thớ thịt. sảng khoái và tỉnh táo vô cùng !

Sao các cụ bảo chỉ có "tứ khoái" thôi nhỉ ?

Có lẽ phải có "ngũ khoái" mới đúng.

Bọn tôi tắm giặt xong về phòng đã thấy có một mâm cơm để sắn trên bàn.

- Toàn ơi, mày đi mời các thủ trưởng ăn cơm đi.

Thằng Toàn chạy lên phòng thủ trưởng, rồi thấy nó chạy về luôn:

- Thủ trưởng bảo ba thằng cứ ăn đi, các thủ trưởng ăn với nhau ở trên nhà rồi.

- Ừ! thế càng hay, lính tráng ăn uống với nhau cho nó tự nhiên thoải mái.

Mà chắc các thủ trưởng có

nhiều chuyện để nói với nhau.

Có lính ở đó không tiện.

Ba thằng chúng tôi đang đói ngấu.

Một mâm sáu người chén bay, chỉ còn thừa có tí cơm.

Chúng tôi ăn xong thì thấy một cậu chạy vào, một tay xách phích nước, tay cầm ấm trà với gói trà Thanh Hương.

Cậu ta nhanh nhẹn dọn mâm cơm bê đi và nói:

- Thủ trưởng bảo anh Toàn theo em lấy đồ gói bánh chưng.

Các anh muốn xuống bếp luộc bánh thì xuống mà thích luộc ngay ở đây thì phải mang nồi về.

Mọi người đi hết rồi, chứ mọi khi ở đây nghiêm lắm, không được thổi nấu gì đâu.

Nghe nói bọn anh là trinh sát vừa đi luồn sâu về hả.

- Cảm ơn nhé !

Tốt quá !

- À ! các anh làm nhanh nhé, chín rưỡi tắt đèn đấy !

Chắc các thủ trưởng quí nhau nên bọn tôi cũng được sướng lây.

Duyên sướng lắm vì được uống trà Thanh Hương.

Nhu yếu phẩm của lính chẳng bao giờ có trà đừng nói gì đến Thanh Hương hay Ba đình.

Tốt lắm thì được thuốc lá vụn với giấy vụn của nhà máy thuốc lá Thăng Long còn chủ yếu là thuốc lào.

Mấy thằng lính nằm mơ mà được hưởng tiêu chuẩn tiếp khách của sư đoàn.

Lúc bấy giờ tôi chưa bao giờ hút một điếu thuốc nào nên chè cháo cũng chẳng có nghĩa gì.

Duyên và Toàn đều nghiện thuốc.

Có chè mà không có thuốc chắc chúng nó thèm lắm.

Thằng Toàn đi một lúc thì mang về một cái xoong hai mươi, mấy cái xong 8, dăm cân gạo nếp, một hai cân đỗ với một miếng thịt lợn.

Lại còn có gói hạt tiêu nữa.

Thế là đủ vị.

Chết nỗi, đỗ xay nhưng chưa ngâm.

Tôi nhớ, hồi ở nhà khi gói bánh thiếu đỗ, mẹ tôi ngâm đỗ với nước sôi, chỉ một hai tiếng sau là được.

Tôi liền hiến kế với mọi người cho đỗ vào luộc, lúc nào nước sôi thì bắc ra ngâm.

- Mày quên lấy muối rồi.

Chạy xuống bếp lấy đi.

Lấy cả củi nữa nhé !

Mỗi người vài việc, rửa lá, chẻ lạt, vo gạo, đãi đỗ, thái thịt, nhóm bếp . . . linh tinh xòe một hồi rồi nồi bánh cũng được bắc lên bếp.

Vừa hay đèn tắt.

Nhanh thật, cha Duyên này thế mà gói bánh khéo, chẳng cần khuôn khiếc gì mà bánh rất vuông.

Còn thừa mỗi thứ một tý lại còn làm hai cái "bánh mụn".

Tay này đúng là ông trưởng của nhà Nguyễn Đức có khác, bánh mụn là cho trẻ con cho chúng nó sướng.

Không khéo nửa đêm mấy thằng trẻ con này lại tranh nhau bánh mụn chửa biết chừng !

Mấy thằng ngồi quanh nồi bánh bắt đầu sôi.

Trà Thanh Hương thơm phức hương vị ngày tết được rót ra ca bi đông, ba thằng uống chung.

- Thế này mà không có thuốc có phí không !

- Tôi thèm quá.

Mấy hôm ở cứ của Hương Trà còn được hút ghé mấy tay biệt động.

Rặt những Hà

Tây, Thái Bình, Bắc Thái, Hà Bắc, . . . cấm có tay nào đồng hương tôi . . .

Hì hì . . .

"chín củ thành

mười" có phải hay không.

- Mấy ông đi từ năm sáu sáu.

Ghê thật, ở mãi đây thành thổ dân mất rồi còn gì.

- Chân anh thế nào rồi ?

- Khỏi rồi !

- Gì mà nhanh thế ?

- Tôi đỡ nhiều rồi.

"Chó liền da, gà liền xương" mà.

Ba thằng xòa lên cười vui vẻ.

Bỗng ánh đèn pin loang loáng từ phía trước nhà, vòng qua đầu hồi, rồi chiếu vào bọn tôi.

Thằng Toàn nhanh mồm:

- Thủ trưởng chưa đi ngủ ạ ?

- Để một thằng trông bánh thôi, hai thằng đi ngủ đi rồi thay nhau.

Đây !

đứa nào hút thuốc thì hút.

- Chà chà !

Tam Đảo hả thủ trưởng ?

Em xin !

Em đang ước gì có thuốc hút thì đúng là bụt hiện ra đấy

thủ trưởng ạ ! (Tay Duyên này khéo thật.

Ăn nói với các thủ trưởng đúng là nhất hắn).

- Cái thằng này, chỉ được cái khéo nịnh.

Tao cho chúng mày mượn đài mà nghe ca nhạc đón giao

thừa.

Cấm nghe BBC đấy !

- Thủ trưởng ơi, quá 10 giờ thì hết BBC rồi ạ.

- Ơ cái thằng này, mày lại còn thạo giờ đài địch à ?

- Ngày nào mà bọ Luyến bên ban chúng em chả mở.

- Thôi chúng mày thích đón giao thừa thì đón mà không thì đi ngủ đi.

ở đây không phải gác,

có vệ binh rồi

- Em chào thủ trưởng ạ !

Cụ Ngoan khoanh một tay trước ngực, một tay soi đèn bước về phía trước nhà.

Dáng cụ đậm, chắc, bước đi bệ vệ.

Mặt cụ lúc nào cũng như đang suy nghĩ gì đó rất lung.

Lúc nói chuyện hay quát tháo lính thì nét mặt cụ rất sinh động, đầy biểu cảm chứ không như một số thủ trưởng khác.

Tôi thấy có thủ trưởng nói năng rất nhẹ nhàng, nghe có vẻ dễ chịu nhưng nét mặt lúc nào cũng rất lạnh.

Cụ Ngoan tham gia bộ đội từ thời chống Pháp.

Tôi nghe bọ Luyến nói, nếu cụ không bị một lỗi lầm vô tình thì bây giờ cũng phải đại tá hay tướng rồi?!

Một thủ trưởng sâu sát, tận tụy và thương lính như con.

Ba thằng đùn đẩy nhau đi ngủ để rồi cùng thức đón giao thừa.

Về đêm, trời mát mẻ, nghe âm âm trong tai tiếng rừng.

Hương núi thấm đẫm không gian.

Sao mà núi có hương nhỉ ?

Chỉ có ai ở rừng núi lâu mới cảm nhận được.

Có phải là hơi sương từ nóc rừng tỏa xuống cùng với hơi đất ẩm và lá mục bốc lên từ nền rừng quện vào nhau, tràn ngập ?

Dù cho trong đêm không có tiếng chim từ qui rúc "chót, chót . . .", tiếng róc rách chảy của suối hay tiếng gì khác, ban đêm ở rừng, ta vẫn nghe được thứ tiếng rừng đêm i . . . i . . . văng vẳng không biết từ đâu.

Tiếng rừng đêm tĩnh lặng không mà có !

Ba thằng đã hồi lâu nín lặng, ánh lửa bập bùng hắt lên thành ba cái bóng rập rờn trên tán lá.

Những đôi mắt lính bơ thờ bất động đang thả hồn về nơi xa xôi nào đó, mỗi người một cõi . . . một chốn quê hay một chốn thị thành.

Nhớ về một nơi nào đó hay một thời khắc nào.

Nhớ mà không, không mà nhớ !

Thỉnh thoảng trong đám lửa phát ra những tiếng nổ lép bép lẫn trong tiếng ù ù của lửa cháy.

Từ đuôi của những cành củi vạt chéo sùi lên những đám bọt trắng lẫn với màu nâu anh ánh của nhựa.

Tôi nhớ bà tôi bảo bị chốc mép mà lấy bọt củi bôi vào là khỏi.

Tôi nhớ cái "BÌA GIA ĐÌNH" trong đó có ô phiếu củi.

Nhớ những lần xếp hàng củi ở Ngõ Trạm hay ở ngõ Yên Thế.

Những ngày gần Tết, hàng củi còn bán cả lá dong.

Mua lá dong cũng cắt một ô.

Những ngày gần Tết cũng là những ngày "xếp hàng cả ngày".

Cả nhà như một đàn kiến, mỗi con tỏa đi một hướng.

Người thì xếp hàng mua gói hàng tết, một túi bóng với mứt, kẹo, chè, thuốc lá, bóng, miến, . . .

Người xếp hàng gạo nếp, đỗ xanh, người xếp hàng mua thịt.

Những con kiến chạy đi chạy lại, tha về tổ thứ này thứ khác.

Đầu chợ nhà tôi có hai nhà xay vỡ đỗ xanh bằng cối đá rất đông khách làm không hết việc thành ra có lần nhà tôi phải tự vỡ đỗ bằng chai và thớt.

Vất vả nhất là xếp hàng làm bánh quy ở những lò bánh "Qui gai xốp".

Nhà tôi làm bánh ở ngõ Kỳ Đồng, một đường ngõ rải đá (về sau này đổi tên thành phố Tống Duy Tân cho đến bây giờ).

Lò bánh ngày tết đông nườm nượp.

Một cái hàng xếp rồng rắn những người là người.

Hai tay người nào cũng xách nào bột, nào đường, nào trứng, nào sữa.

Có nhà còn cho nước quế hay dừa nạo.

Va-ni thì ông chủ cho, không phải mua, trừ khi không thích thì phải bảo trước.

Lò bánh lớn thì rất đông thợ, mỗi người một việc.

Xếp hàng đến lượt mà được đưa các thứ cho thợ thì mới thở phào một cái.

Rồi sau đó cứ đi theo từ thợ này sang thợ khác để xăm soi xem người ta có ăn bớt của mình không, từ lúc đập trứng nhào bột, rồi cán bột.

Cán bột xong người thợ mới hỏi mình thích hình gì để cho tùy chọn, bánh tròn hay vuông hay sáu cánh.

Người thợ cầm cái khuôn dập phầm phập xuống bột và nhả bánh vào cái khay nướng.

Bánh nướng xong còn phải ngồi mà quạt cho nguội rồi mới cho vào túi bóng.

Có khi đi làm bánh suốt từ trưa đến 10 giờ tối mới về đến nhà.

- Bật đài đi sắp đến giao thừa rồi.

Tiếng một tràng pháo nổ giòn giã, rồi sau bài Quốc ca, tiếng Bác Tôn đọc lời chúc mừng năm mới: " Nhâng dựp năm mới, thay mặc . . ."

Chúng tôi ngồi nghe chương trình ca nhạc năm mới.

- Duyên ơi, vớt bánh mụn đi.

- Ừ !

Duyên vớt hai chiếc bánh mụn để trên cùng rồi thả vào cái xong nước lã.

Một lúc sau, hai chiếc bánh đã được bóc và cắt làm tư rất khéo.

Những lúc như thế tôi có cảm tưởng Duyên như người chị trong nhà.

Thằng Toàn đã pha ấm trà mới.

Chúng tôi vừa ăn bánh vừa nói chuyện phỏng đoán công việc ngày hôm sau.

Sao cụ Ngoan lại đích thân vào tận sông Bồ mà đón mấy thằng chúng tôi.

Đâu có phải là chuyện đón đi ăn tết hay đón giao thừa.

Chẳng biết đằng nào mà lần nhưng chăcc là phải có chuyện gì chứ ?!

Năm giờ sáng thủ trưởng Ngoan đã sang gọi chúng tôi chuẩn bị lên đường.

Tôi giật mình tỉnh dậy, cứ ngỡ đến phiên canh nồi bánh.

Thì ra Toàn và Duyên để cho tôi ngủ, hai người đã thay nhau canh đến khi thủ trưởng gọi.

Bánh được vớt ra, thả luôn xuống lạch nước.

Chúng tôi vệ sinh sáng xong thì xách bánh trưng lên xe.

Thủ trưởng 304 ra tận xe tiễn, dường như hôm qua hai thủ trưởng cũng chẳng ngủ được nhiều.

Xe ra đến đường thì rẽ phải, được một đoạn thì đến thị trấn A lưới.

Trời vẫn chưa sáng, thị trấn vắng vẻ, thưa thớt vài cái nhà, vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Ánh đèn xe hoe hoe sang hai bên đường.

Con đường đất đỏ mấp mô, thấp thoáng cây bám đầy bụi.

Chừng vài cây số, chiếc xe đột ngột rẽ sang trái , xiên vào đường núi nhỏ hẹp.

Chiếc xe bắt đầu lắc lư dữ dội.

đoạn lên dốc làm ánh đèn hắt lên trời không còn nhìn thấy đường đâu nữa.

Cụ Ngoan nhắc Tuấn cứ từ từ, đường mới chưa biết thế nào, không cần vội.

Vậy là qua A Lưới một đoạn thì rẽ về phía đông.

Tôi không có bản đồ miền tây Huế ở đoạn này nên cũng đành chịu, không biết chính xác đây là đoạn nào.

Như đoán được băn khoăn của chúng tôi, cụ Ngoan bảo:

- Đường này đi Nam Đông.

Nhưng mà còn xa đấy.

- Vâng !

Hôm qua thủ trưởng có ngủ được không ạ ?

- Bọn tớ nói chuyện mãi mới ngủ.

Tớ vẫn ngủ ít mà, bình thường thôi.

Mấy thằng thanh nên chúng

mày, đặt lưng là ngủ, sướng thật.

Tôi hiểu là thủ trưởng luôn có nhiều việc để suy nghĩ.

Tham mưu sư đoàn đi cùng trinh sát thế này chắc chắn là chuẩn bị chiến dịch rồi.

Trong lòng tôi tự nhiên cảm thấy thanh thản hơn rất nhiều vì sư đoàn không chọn Hòn Vượn làm mục tiêu chiến dịch nữa.

Thật là may mắn !

Hòn Vượn là một căn cứ lớn, có hàng trung đoàn chiếm giữ trên đó với đầy đủ hỏa lực pháo binh, xe tăng và trực thăng.

Nó ở trên một nọn núi được mệnh danh là "con mắt Huế", rất đắc địa cho việc phòng thủ, với vách núi xung quanh dựng đứng, được phát quang rất rộng, công sự địch rất kiên cố.

Hòn vượn cũng là điểm cao nhất so với xung quanh.

Trinh sát chúng tôi không có cách gì để nhòm được lên mặt trên của căn cứ trừ khi phải bò lên tận nơi.

Mà bò thì chúng tôi chưa bò.

Nếu đánh Hòn Vượn thì hỏa lực của ta khó có thể phát huy hiệu quả.

Sau đó, bộ binh mà lên thì không khác gì kiến bò lên dốc cát.

Khi trinh sát ở đây, đã bao lần tôi băn khoăn: "Bao nhiêu xương máu sẽ nhuộm đỏ chỗ này đây – mà liệu có ăn thua gì không? – Khó quá !"

Bây giờ được đánh chỗ khác, có khó đến mấy cũng không thể sánh với đánh Hòn Vượn.

Không biết Có phải vì lý do đó mà các thủ trưởng quyết định chuyển hướng ?

Dù thế nào, tôi thấy trong lòng rất nhẹ nhõm.

Chừng gần bảy giờ, cụ Ngoan cho nghỉ giải lao, lấy bánh trưng ăn sáng.

Không biết cụ đang nghĩ gì rất nhiều mà chẳng nói chuyện, thỉnh thoảng chỉ hỏi thăm mấy câu chẳng có gì là quan trọng, chẳng có câu nào là câu chúng tôi đang cần nghe.

Chiếc xe tiếp tục lên đường, càng vào sâu, con đường càng xấu, có đoạn rất ngoằn nghoèo, cua tay áo mấy đận dể lên hay xuống một con dốc.

Chừng một tiếng sau, chiếc xe bắt vào một con đường nhựa.

Chắc trước đây đường rất đẹp.

Bây giờ nhiều đoạn là đường đất nhưng rất bằng phẳng, đoạn nào có nhựa thì phẳng lỳ.

Xe chạy chừng mười lăm phut nữa thì tấp lại bên đường.

Cụ Ngoan nói:

- Đây là nông trường Hải Đông.

Từ đây các cậu phải đi bộ, sẽ có trinh sát các cậu ra đón.

Cứ chờ ở

đây.

Cụ Ngoan chia tay mấy thằng tôi rồi lên xe đi tiếp, chiếc xe rẽ vào rừng rồi mất hút vào trong.

Bản đồ dưới đây là đường chúng tôi đã đi từ A Lưới đến Nông trường Nam Đông.

Trên bản đồ, từ Nông trường đi vào còn có đường xe kéo pháo và đường bí mật cho xe tăng.

Chẳng phải chờ lâu, đại đội tôi cử một người ra đón.

Đó là một lính thông tin 2W của tiểu đội thông tin.

Bây giờ tôi không còn nhớ tên nên tạm gọi là Đoàn.

Chỉ là không nhớ tên thôi còn tôi vẫn nhớ như in cậu ấy quê Thanh Hóa, người thấp, mũi không to nhưng hơi tòe một chút, mồm hơi doe một tý.

Cậu ấy mồm doe nhưng khi nói lại không mở miệng to nên tiếng nói lè nhè, thoát ra từ kẽ răng.

Được cái nói chuyện hay cười, mồm đã doe sẵn nên khi cười mồm rất rộng sang hai bên trông như trăng lưỡi liềm.

- Thông tịt sao không ở nhà mà tạch tè ?

- Thất nghiệp rồi, báo vụ không có việc làm, chỉ cần một thằng viết điện thôi.

Đánh điện thì toàn bộ

nhờ đơn vị nào ý.

Hình như người của quân khu Trị Thiên Huế hay sao ý.

- Sao lại phải thế ?

- Báo vụ phát điện thằng nào cũng có tật.

Nếu bọn tôi đánh điện thì chúng nó biết ngay là trinh sát

325 ở đây thì lộ hết.

Nghe nói cả sư mình đều nhờ ở đây họ đánh điện để đảm bảo bí mật.

- Ừ !

Chuyện này hay nhỉ !

Thế mình có để lại ai ở lại Quảng trị để đánh điện nghi binh không ?

- Có, hai thằng ở lại.

Mí lị đại đội mình vẫn còn một số chưa vào.

Nhiều lính mới lắm.

- Lính ở đâu thế ?

- Tinh bọn Hải Hưng, nhưng toàn ở Hải Dương thôi.

Lính cũ chuyển đi đơn vị khác nhiều lắm.

Tiểu đội

ông cũng bị đi gần hết.

Chúng tôi đi trong rừng, men theo suối, trèo lên núi.

Càng đi càng vào sâu trong rừng già.

Cây cối rất rậm rạp, nhiều tầng.

Có những cây rất to vươn tít trên cao.

Các cây tầng trung lá xum xuê che phủ kín trên đầu.

Con đường rất rộng rãi vì được công binh san khá bằng phẳng để làm đường cho xe kéo pháo và đường cho xe tăng.

Hôm nay trời không có nắng.

Chín mười giờ rồi mà vẫn đẫm hơi sương.

Chắc hẳn trên Bạch Mã hôm nay, mây phủ kín, giăng giăng đến lưng sườn núi.

Đến gần trưa thì con đường đưa chúng tôi đến ven một con suối lớn mà sau đó tôi mới biết là đầu nguồn sông Truồi.

Tiếng thác đổ ầm ào xen với tiếng chảy luồng luỗng, luồng luỗng của dòng nước xiết qua đá.

Biết bao nhiêu lần hành quân, biết bao nhiêu lần mệt mỏi mà bỗng nghe tiếng suối chảy thì ai nấy như tỉnh ra, khỏe lên.

Âm thanh của dòng chảy vấn vít bên tai, bụi nước tràn ngập vào trong hơi thở.

Ấy là sự sống động nhất của rừng.

Nó thấm vào từng mạch máu của những người lính.

Đại ngàn bao giở cũng làm cho người lính cảm thấy mình nhỏ bé nhưng rất đỗi thân thiết và gần gũi.

Xa là nhớ da diết, mà chỉ cần đến gần thôi là thấy rất đỗi bồi hồi !

Bỗng nhiên rừng khỏa ra một trảng sáng rộng.

Ồ !

Suối. . .

Một con suối rất lớn với ngững tảng đá to, hòn nọ hòn kia lô xô.

Dòng nước trong vắt uốn lượn, lúc ẩn lúc hiện ngoắt ngoéo lách trong đá.

Ngước nhìn lên phía tiếng động ầm ào, ta thấy một thác nước khá lớn, dòng nước trắng xóa cứ hối hả nối đuôi nhau đổ xuống mặt đá bên dưới. . . tung lên màn bụi nước li ti.

Giá mà có nắng suôi chiều, hẳn là sẽ nhìn thấy cầu vồng nho nhỏ, muôn sắc lung linh.

Cây gì kia, không biết, sao cứ lắt lẻo ngay trên vách đá, cành lá phần phật trong dòng thác.

Một cái cây có sức sống kỳ lạ.

Dòng thác cứ quật lên quật xuống mà nó vẫn xanh tươi, nô giỡn ngày này qua ngày khác.

Chúng tôi ngồi nghỉ trên các tảng đá ngay trên lòng suối.

- Chén bánh chưng đê !

- Ử !

Đói quá !

Mà ở đại đội có gói bánh không Đoàn ?

- Có.

Thằng Dõi nó lo gói bánh từ trước tết mấy ngày.

Mỗi thằng có một cái.

Hết rồi còn đâu.

- Đây, bọn tôi có bánh cụ Ngoan đơi . . .

Tôi tưởng bọn ông không phát điện nhưng vẫn phải thu điện

chứ ?

- Tất nhiên rồi.

Thu điện thì vẫn thu.

Đến giờ lên sóng, dò đúng sóng, thấy nó gọi tên mình rất lâu rồi

nó mới phát.

Chỉ việc thu và dịch là xong.

- Thế phải có tên mới à ?

- Tên mới là do bọn tôi đặt chứ đâu.

Cả tiểu đội có bốn cái tên thôi.

Thằng nào thu chả được.

- Không phải phát điện thì mất cái trò gõ boòng . . . boòng . . . lên mặt máy nhể ?

Mà, sao ở đây lại có

ngã ba đi đâu thế ?

- À !

Công binh mở đường này để kéo pháo lên núi, còn đường kia thì san tương đối bằng phẳng thôi,

cây to họ chỉ cưa gần đứt chưa cho cây đổ.

Khi nào xe tăng đi sẽ tự húc đổ.

Hình như đường bí mật

cho xe tăng làm sát tới tận đồng bằng.

- Hay nhể !

Bây giờ tôi mới biết đường bí mật cho xe tăng họ làm như thế.

Chúng tôi chén hết hai chiếc bánh trưng, đang chuẩn bị đi tiếp thì nghe tiếng ầm ầm và tiếng xạch xạch rít lên của xích sắt xe tăng đang ngày càng gần.

Mấy thằng ngưng lại để xem xe tăng cái đã.

Một lúc sau thì thấy thấp thoáng bóng xe lẫn trong cây.

Thì ra là xe xích đang kéo pháo.

Phía sau chiếc xe là khẩu pháo 85 ly nòng dài.

Đoạn này hơi dốc nhưng chiếc xe phải gầm lên rất dữ mới kéo được khẩu pháo qua.

Đi theo khẩu pháo là rất đông lính để chèn và giữ pháo.

Rồi chiếc xe đột ngột tắt máy.

Đám lính nhào tới xung quanh, mấy người chèn bánh, mấy người đang gỡ pháo khỏi xe xích.

Hóa ra chúng tôi đang ở vị trí tập kết của pháo.

Từ đây, pháo kéo lên núi phải dùng sức người.

Sáng hôm kia, vừa tỉnh dậy, bỗng nhớ ra cái cậu thông tin dẫn chúng tôi về đơn vị tên là Trung.

Trung là người dạy tôi cách dò sóng trên máy 2 oát, nó cũng dạy tôi gõ tạch tè các chữ cái và con số.

Bây giờ tôi quên hết rồi, nhưng hồi đó học rất nhanh, cũng chỉ là để biết thôi chứ chưa bao giờ phải dùng.

Chúng tôi qua suối, có một đoạn phải lội, vẫn là con đường công binh làm để kéo pháo.

Hôm nay là mồng một tết, ngày dương là 11/2/1975.

Vừa đi được một đoạn thì gặp công binh đang làm đường.

- Đơn vị nào đới ?

- Bọn tôi trinh sát sư.

- Trính sát còn đi sau công binh bọn này nhớ .

- Vâng.

Bên công binh không có thím bộ đội nào à ?

- Thím bộ đội thì chỉ có bên tuyên văn thôi.

Có hai thím Kiều Oanh, gì nhể ?

à, Thu Lý nhớ.

Ở đây chỉ

toàn đực rựa thôi.

- Các anh làm đường kéo pháo à ?

- Ừ !

Mà bọn tôi còn làm đường cho xe tăng nữa.

- Đường ngoằn ngoèo quá nhỉ ?

- Không được chặt cây to mà lị.

- Đường xe tăng cũng thế à ?

- Không.

Đường tăng thì chỉ cưa các cây to gần đứt thôi, cây nhỏ không phải chặt.

Tăng nó đi tự nó

làm đổ cây.

- Bọn tôi cứ tưởng bên công binh có mấy thím làm chị nuôi, em nuôi gì chứ ?

- Hề . . . hề . . .

Có mà đến Tết!

- Hì . . . hì . . .

Hôm nay là tết mà . . .

Chào nhau xong, chúng tôi tiếp tục đi, một con đường mòn khá lớn có vẻ rất mới nhưng đã khá nhiều người đi qua.

Chừng hai tiếng sau, chúng tôi đến khu vực của sư đoàn bộ.

Chúng tôi đi qua trạm gác vệ binh rồi leo ngược lên men theo bờ sông.

Khung cảnh thật náo nhiệt suốt một vạt rừng bên bờ phải (hữu ngạn) một chi lưu sông Truồi, bám theo sườn động Lưỡi Cái.

Công binh đang làm nhà âm và đào hầm cho các thủ trưởng.

Đoạn này sườn núi rất dốc che chắn toàn bộ hỏa lực pháo của địch.

Trung dẫn chúng tôi vào ban 2.

Một tốp năm bảy lính trinh sát chúng tôi cũng đang đào hầm và làm nhà âm cho ban.

Bọ Luyến ngồi trên cái giường chõng mới làm đang xem bản đồ.

Thấy bọn tôi đến, bọ nghênh mặt lên nhìn từng đứa và đưa tay ra bắt.

Bọ Luyến là phó ban trinh sát sư đoàn, người đậm, chắc, to ngang với chiếc cằm vuông.

Ngày nào bọ cũng cạo râu mà trông râu quai nón của bọ vẫn xanh rì.

Đôi mắt sâu lõm xuống dưới cái trán dồ hẳn ra đằng trước.

Đôi lông mày rất rậm chặn ngang dưới trán làm cho đôi mắt càng có vẻ sâu hơn.

Một đôi mắt nom rất dữ và đầy mưu mô.

Bọ Luyến có cái hàm dưới đưa ra phía trước, cằm thì lại vuông, đầy râu nên trông càng ghê gớm.

Khi nhìn ai, bao giờ cái mặt bọ cũng nghênh nghênh, trông rất có vẻ dò xét và khiêu khích.

Tôi đã nhiều lần ở cùng với bọ thì thấy tính cách hoàn toàn không giống với vẻ bề ngoài.

Một thủ trưởng gần gũi lính, khá điềm đạm và ôn tồn, hay cười mỉm và hay trêu trọc lính.

Bọ Luyến bảo:

- Thôi, mấy thằng này về đi ! – Bọ lại đưa tay cho chúng tôi bắt.

Khi bắt tay tôi, bọ còn vỗ vỗ vào cánh tay tôi, giọng hơi dịu xuống:

- Thằng Như Lệ binh địa về nghỉ hai hôm rồi lên đây.

Tiểu đội trinh sát kỹ thuật ở ngay gần ban nên Duyên ở lại còn ba thằng tôi đi tiếp.

Chúng tôi ra khỏi sư đoàn theo đường cũ rồi đi xuôi xuống phía dưới khoảng 30 phút thì về đến "nhà".

Đại đội tôi cũng ở cùng ven chi lưu sông Truồi như sư đoàn nhưng chúng tôi ở trên cao chứ không làm nhà sát sông.

Thế là về đến nhà, không nhớ chính xác sau bao nhiêu ngày . . . !

Tiểu đội tôi có nhiều thay đổi.

Bây giờ tiểu đội phó là Vương Lâm, người Đông Triều, Quảng Ninh.

Lâm to cao hơn tôi một chút, có đôi má bầu bĩnh, rám đỏ.

Lâm là a phó a1 chuyển sang a2 chúng tôi. a2 bây giờ toàn lính mới Hải Dương bổ sung về lúc tôi đi vắng nên tôi chưa biết.

Lâm phải giới thiệu từng đứa.

Lính cũ tiểu đội tôi, thằng Thìn, thằng Sự, thằng Hưởng "đầu bồng đít vịt", thằng Cam đều bị chuyển đi đơn vị khác.

Thằng Thìn chuyển sang tiểu đoàn vận tải, thằng Cam chuyển sang đại đội xe c26.

Thằng Sự, thằng Hưởng chuyển về bộ binh.

Lính cũ tiểu đội còn thằng Tiến chuyển sang trung đội khác, thằng Tính thì bị chuyển sang anh nuôi.

Không riêng gì tiểu đội tôi, tình hình trong cả đại đội đều như vậy.

Tôi vừa buồn vừa tức.

Đại trưởng, đại phó đều mới.

Anh Ánh xê viên phó thì không thể làm việc này rồi.

Chỉ còn có mỗi một người làm việc đó.

Không biết thời lính, lão là lính tráng kiểu gì.

Lão không có tình thâm gì với lính tráng.

Đã không biết động viên anh em trong đơn vị thì chớ mà hiểu biết về tình hình cũng kém.

Ai cũng biết, hai năm ngừng bắn để ta chuẩn bị thực lực và đã đến lúc phải đánh lớn rồi.

Nhìn thấy lính trong đơn vị liên tục đi trinh sát, luồn sâu chuẩn bị chiến trường mà không biết, lại cho "thay máu" đơn vị vào thời điểm này.

Nhẫn tâm và không có gì ngu hơn thế !

Xin lỗi anh em, máu tôi hơi điên mỗi khi nghĩ đến chuyện này !

Lính mới rất trẻ, mười bảy, mười tám, nhập ngũ tháng 10 năm 1974.

Tôi không có gì phải phàn nàn về anh em mới.

Đều là những đứa em dễ thương và chịu khó, chịu khổ cả.

Mọi người đang làm hầm và làm nhà.

Anh em phải đi khá xa để chặt cây to làm hầm chữ A rồi cây làm nhà nữa, rất vất vả.

Nghĩ lại nhiều lúc cũng thấy mình tệ.

Tôi nhớ tên mọi người rất nhanh nhưng vài tháng sau đã quên gần hết.

Tôi cũng không nhớ là mình đã làm gì cho cái a2 của tôi.

Một phần thì do bị điều đi lẻ cùng với anh em cũ ở tiểu đội khác liên tục cho đến tận ngày 30/4.

Phần nữa thì tôi không còn nhớ tại sao mình lại không quan tâm gì mấy đến anh em mới.

Mọi việc của tiểu đội đều bỏ mặc cho Lâm.

Tôi đi lẻ bao giờ cũng chỉ có một chiếc gùi bé tí tẹo đủ dùng cho việc trinh sát.

Các thứ khác đều để lại ở "nhà".

Mà đồ đạc của tôi cũng khá lủng củng vì các loại giấy vẽ và bản đồ, lại còn thêm một đống sách vở.

Đơn vị đi đâu, anh em đều phải thồ giúp.

Anh Nhạ (Trương Thế Nhạ), đại trưởng mới, nguyên là đại trưởng trinh sát của trung đoàn 101 được điều về đại đội tôi và tôi chưa có dịp tiếp xúc nhiều.

Đang làm hầm thì anh Nhạ tới kiểm tra và báo cho tôi rằng hoãn việc lên ban 2.

Ngày mai tôi sẽ đi địa hình cùng anh Nhạ.

Khoảng bảy giờ sáng, tốp đi địa hình chúng tôi xuất phát từ cứ của c20.

Tốp có anh Nhạ, một người nữa và tôi.

Người kia bây giờ tôi không nhớ là ai.

Chúng tôi đi theo con đường mòn mới trong rừng.

Chắc hẳn nhiều lính tráng đã đi theo đường này để lên các điểm cao mà ta đang chốt giữ trên dãy Lưỡi Cái.

Qua vài bốn lần lội suối lớn nhỏ, chúng tôi phải leo dốc khá cao.

Con đường rất quanh co và có đoạn rất dốc.

Hôm nay, trời mù, càng lên cao mây càng dày đặc.

Hơi thở ngàn ngạt ẩm.

Những giọt nước ly ti, dày đặc, bay lên, bay xuống, đôi khi nhảy múa ngay trước mặt.

Phía trước, đường dốc ngược lên.

Ngoái lại nhìn xuống phía sau chỉ thấy được một đoạn.

Không còn nhìn thấy khu vực cứ của sư đoàn và c20.

Khoảng hai tiếng sau chúng tôi mới leo lên được điểm cao 694.

Đây là một điểm cao nằm trên sườn của dãy Lưỡi Cái.

Chúng tôi dừng lại nghỉ.

Ba người đều chu mồm thổi phù . . . , phù . . .

Một đám đất không lớn nhưng khá bằng phẳng.

Một chỗ nghỉ chân thật tuyệt.

Chắc ai đi đến đây cũng phải dừng lại nghỉ.

Những mảnh giấy lương khô trắng, ẩm sịu, vương vãi trên đám đất.

Lại còn mấy cái lá bánh trưng còn rất mới.

- Cậu là người Hà nội à ?

- Vâng !

Anh quê ở đâu ạ ?

- Mình, quê Hà "Bốc" chính khựa.

Vừa nói, anh Nhạ vừa vén hai ống quần lên.

Hai bàn tay anh, cứ thế cào khắp hai ống chân.

Không biết anh bị bệnh ngoài da gì mà sau này tôi vẫn thấy anh Nhạ luôn luôn là như vậy, thành một "phong cách riêng".

Mỗi khi có thể được, thỉnh thoảng anh lại gãi ống chân, lúc thì bằng một tay, khi thì bằng cả hai tay.

Bây giờ nghĩ lại, có lẽ anh bị phơi nhiễm chất độc của thuốc rụng lá cây.

Anh Nhạ, người đậm thấp, chắc nịch và trắng trẻo.

Anh mới về thay anh Dụ đại trưởng cũ khi tôi đi vắng.

Chỉ cần một lần tiếp xúc thôi là thấy ngay một con người gần gũi, dễ chịu, sống tình cảm, đôn hậu và chu đáo với mọi người.

Tốt rồi, có một thủ trưởng như thế thì lính có thể yên tâm.

Nói thế thôi, anh Nhạ cũng là người hay suy nghĩ và khá sâu sắc.

Sự dễ chịu của anh không phải hời hợt bên ngoài mà xuất phát từ sự sâu sắc bên trong.

Bản đồ dưới đây có thể hiện điểm cao 694.

Trên bản đồ còn thể hiện một số điểm cao khác do địch đang chốt giữ và các cao điểm đặt đài quan sát của c20.

Một số địa danh không có sẵn trên bản đồ cũng được điền thêm vào.

Nghỉ ngơi một lúc, chúng tôi tiếp tục đi.

Chừng nửa tiếng sau, chúng tôi mới lên tới đài quan sát nằm trên điểm cao 769.

Mọi người lại thi nhau "thổi lửa" phù phù.

Tôi rút ống nhòm khỏi gùi và khoác lên cổ.

- Trời mù thế này thì còn làm ăn gì.

Nhìn bằng mắt thường cũng chỉ được một đoạn, ống nhòm của cậu

cũng coi như vất đi.

Anh Nhạ mở bản đồ.

Chúng tôi cùng xác định điểm đứng nhưng cũng chả ăn thua gì vì trời mù quá, không nhìn thấy các điểm cao xung quanh.

Giá mà trời không mù, gióng thẳng tới mũi Mũi Né là được một tia.

Gióng thêm thằng 650 nữa là giao hội chính xác ngay được vị trí đứng.

Đành chấp nhận đây là 769.

Nhưng mà rất yên tâm vì đây là điểm đặt đài của đại đội.

Mấy đứa trong đài thấy tiếng chúng tôi lao xao liền nhảy ra xem.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Hai thằng này và tôi đã lâu không gặp nhau nên tay bắt mặt mừng lắm.

Thế mà rất tệ, bây giờ tôi không nhớ là hai thằng nào – hai thằng lính cũ.

Một cậu nữa là lính mới, tôi được giới thiệu tên mà ngay sau đó cũng chẳng nhớ.

- Không đứa nào ra quan sát hử ? – Mấy đứa gãi đầu gãi tai ra chiều bối rối.

Thực ra thì anh Nhạ nói câu đó có vẻ là một câu hỏi nhiều hơn là một câu nhắc nhở.

Trời mù như thế này chỉ cần canh gác cảnh giới thôi chứ có quan sát được gì.

Chúng tôi cùng chui vào đài.

Một cái nhà âm có nắp dày được ngụy trang cẩn thận giống như cây cối xung quanh.

Đứng trong đài nhìn qua một dải khe quan sát nằm ngang có thể bao quát toàn bộ phía trước.

Cái đài này rất tuyệt.

Đạn bắn thẳng thì không làm gì được đã đành mà đạn pháo bắn rất khó trúng vì nó nằm sát dệ sau của đỉnh núi hẹp.

Sau khi trao đổi tình hình địch trên bản đồ với "nhà đài", chúng tôi đi tiếp lên đài 843.

Đường từ 769 lên 843 đi dọc theo đỉnh của một dãy núi.

Đường cứ thế đi lên, hơi dốc một chút và khá thẳng, chỉ lượn qua lượn lại đôi chút.

Dãy núi này khá dài nhưng mỏng, hai bên rất dốc.

Hèn chi được gọi là Lưỡi Cái.

Trên đài 843 có anh Nguyễn Thế Dân, trung đội trưởng trung đội ba.

Anh Dân lên trung trưởng thay cho bác TràLiênTây từ hồi bác này bị thương và không trở lại đơn vị nữa.

Anh Dân là người mà tôi đã viết trong chuyện "Lương khô" với tên là Ng T D.

Anh Dân chỉ huy chung cả ba đài 769, 843 và 762.

Anh Dân báo cáo rất chi tiết binh tình địch trên các điểm cao đang chốt giữ.

Điểm cao nhất của địch trong khu vực này chỉ là đỉnh 560.

Thành ra, từ đây mà quan sát, không khác gì nhìn vào lòng bàn tay.

Anh Dân cũng báo cáo tình hình xe cộ đi lại trên đường 1, đoạn từ đèo Phú Gia (Mũi Né), qua Phú Lộc đến đèo Phước Tượng.

Số lượng xe cộ được đếm hàng ngày và thống kê theo từng giờ trong ngày.

Ông Dân quê Bình Lục, Hà Nam, chính gốc "dân cầu tõm" hay "dân chín củ".

Mỗi khi nói chuyện lúc nào mặt lão cũng đỏ lựng, lúng túng ngượng nghịu như con gái.

Được cái lão cao ráo, đẹp trai.

Lão này đặc biệt có cái môi dưới hơi trề ra một tý nên rất gợi cảm với em út.

Tính tình thì cực kỳ dễ chịu và thoải mái nên anh em ai cũng quý.

Sau khi báo cáo tình hình xong, gã mới quay sang hỏi chuyện thằng Tư chết ở Hòn Vượn thế nào, thằng Mào bị thương ra sao.

Rồi chuyện 6971 và TràLiênTây có gửi thư không, bây giờ đang làm gì . . .

Rồi, như bất chợt nhớ ra điều gì quan trọng Dân gọi giật tôi:

- À, này !

Có, có, có thằng đồng hương cùng phố ông đấy (thỉnh thoảng Dân hay nói lắp từ đầu của

một câu).

Nó ở bên trinh sát pháo kia kìa. – Rồi Dân bảo một trinh sát mới:

- Ề, thằng này !

Chạy sang gọi thằng Thanh sang đây.

Chả là, ở đại đôi tôi, như đã nói ở trên, nhiều người nhớ địa chỉ nhà tôi, cả số nhà và tên phố mặc dù chưa mấy người đến.

Một loáng đã thấy Thanh chạy sang, nét mặt rất hồ hởi:

- Em nghe mấy anh nói anh ở số 60.

Em ở số 172 đây.

- Ngay bến xe Kim Mã à ?

- Vâng.

Em nghe nói anh là sinh viên tổng hợp lý.

Em cũng vừa có giấy gọi vào tổng hợp lý thì đi bộ đội.

Chúng tôi bắt tay nhau rất chặt.

Thanh lắc mạnh tay tôi và giữ tay hơi lâu.

Bàn tay này thật rắn và mạnh.

Vẻ mạnh mẽ, nhanh nhẹn, nhiệt tình, tốt bụng và nghiêm chỉnh toát ra ngay từ vẻ bề ngoài của Thanh.

Hắn cao to, nước da ngăm đen, đẹp trai với khuôn mặt vuông bầu bầu, cương nghị, đầy nam tính.

Chúng tôi hàn huyên với nhau về phố xá, chuyện sơ tán, chuyện xếp hàng ở máy nước công cộng "rồng rắn lên mây".

Bố mẹ thanh đã già.

Hai ông bà có quán nước ở trong nhà, bán nước chè 2 xu một chén, kẹo lạc, kẹo bột, kẹo gôm xanh đỏ với kẹo dồi.

Vẻ giản dị, chân thật của hắn thật dễ mến.

Thanh là trinh sát pháo của trung đoàn 164.

Đã nhìn thấy ánh nắng xuyên qua những đám mây mù, hắt ánh vàng loang lổ trên vạt rừng xanh thẳm phía dưới.

Mây dường như loãng hơn, thỉnh thoảng thủng ra từng đám lớn.

Đã có lúc nhìn rõ từng khúc của đường 1với nhộn nhịp xe cộ chạy ra chạy vào.

Gió bắt đầu thổi từ hướng biển vào rồi thốc mạnh lên theo sườn núi làm cho hơi mây nhanh chóng bị đuổi lên cao.

Gì nhỉ ?

À !

Gió này là một loại "gió địa lý" có tên gọi là "gió biển", một hiện tượng thấy ở các vùng núi gần biển vào ban ngày.

Ngược với gió biển là "gió núi", thổi từ núi ra biển vào ban đêm.

Lúc chúng tôi ăn trưa thì Thanh cũng chạy về ăn trưa ở đài của hắn, ngay gần đấy, cùng trên điểm cao 843.

Ăn trưa xong, chúng tôi nằm nghỉ một lúc.

Dân và tôi chẳng ngủ được tý nào, nằm nhớ lại chuyện ở sông Nhùng.

Nhắc đến chuyện cân lương khô, Dân đỏ mặt nói:

- Ông biết không ?

Lúc ấy tôi tưởng tôi chết.

Bây giờ nghĩ đến vẫn còn sợ.

Dại thật! không có gì dại

bằng.

Chúng tôi tiếp tục đi lên đài 862 (ở cái bản đồ đã đưa lên lúc trước, tôi viết nhầm là 762).

Đây là đỉnh cao nhất của dãy Lưỡi Cái.

Sau lưng dãy Lưới Cái là Động Bạch Mã có đỉnh cao 1450 mét.

Trời ơi !

Đẹp tuyệt !

Sau lưng tôi - Bạch Mã,

Trời thiên thanh,

mây trắng,

núi thẳm.

Trước mắt tôi – Đầm Cầu Hai,

vụng Chân Mây,

bãi cát lô xô,

biển biếc.

Xung quanh tôi – rừng đại ngàn,

nhấp nhô,

trùng điệp,

xanh ngăn ngắt.

Chưa bao giờ tôi thấy cảnh đẹp mê hồn đến vậy – nguy nga, diễm lệ và hoành tráng.

Một cảm giác nao nao lòng . . . khó tả.

Bất giác, lệ rơi trên má . . .

Khi tôi đang dùng ống nhòm quan sát các điểm cao ở gần chúng tôi nhất thì anh Nhạ lấy trong ba lô ra một cái ống nhòm "đại tướng", ống nhòm Đức kiểu 10x50 (độ bội giác 10 lần và đường kính vật kính 50 mm).

Ống nhòm của tôi cũng là của Đức nhưng chỉ là kiểu 6x30.

- Anh kiếm đâu ra của quý thế ?

- Bí mật.

- Chắc bọ Luyến, trưởng ban đồng hương với anh chứ gì ?

- Bọ Luyến cũng chẳng có.

- Thế thì cụ Ngoan rồi, đúng không anh ?

- Tớ phải lên phòng tham mưu mượn cụ Ngoan đấy.

Cụ cũng chỉ cho mượn đợt này thôi.

- Chắc trước kia anh là đại trưởng trinh sát của 101, là con cưng của trung đoàn trưởng Ngoan nhỉ ?

- Ác chữ lị.

- Anh dòm xong, cho em dòm mấy chỗ xa xa, bên núi Bông, Mũi Né mới lại Lương Điền nhé !

- Thì cậu phải dòm là chính, chứ còn gì.

- Vâng, hay quá !

Trời chiều lòng chúng tôi, không khí trong veo vẻo, nắng đẹp, lại xuôi chiều, nhìn mọi thứ cứ rõ một một.

Ống nhòm thì đại tướng.

Quá sướng đi !

Anh Nhạ quả là dễ chịu, vừa vui vẻ, cởi mở, vừa tạo điều kiện tốt cho anh em làm việc.

Tôi cứ thế lia ống nhòm, suốt một lượt các điểm cao vừa trao đổi với anh em ở đài đã theo dõi địch từ mấy ngày nay.

Tôi ghi từng tọa độ vị trí địch, lực lượng địch để mai về còn vẽ lên sơ đồ.

Các điểm cao của địch bây giờ không nhớ hết.

Ngay ở dãy Lưỡi Cái có 520, 494, 363, 356, và 560.

Mom Kim Sắc có 310, 312, 329.

Mũi né là điểm cao 139.

Đường 1 nằm kẹp giữa điểm cao 139 của Mũi Né và cao điểm 230 Đá Bạc.

Chỗ Bạch Thạch là điểm cao 120.

Lương Điền có điểm cao 162.

Núi Bông là một dải cao khoảng 150.

Thật may là sư đoàn chúng tôi chuyển hướng tấn công về đây.

Mình ở trên cao, địch ở dưới thấp.

Quả thật, nếu kéo pháo lên cao như thế này thì không còn gì phải bàn nữa.

Nghĩ lại, nếu đánh Hòn Vượn hay Núi Gió (Chóp Nón) thì rất kinh . . .

Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi xuống núi.

Khi đi qua 843 đã thấy Thanh chờ sẵn chúng tôi ở đó.

Chúng tôi chia tay nhau, Thanh còn hẹn gặp lại chúng tôi ở Huế.

Anh Dân với cái vẻ bẽn lẽn vốn có thì bắt tay từng người.

Chúng tôi còn dừng lại ở dài 769 để quan sát kỹ hơn một lần nữa các cao điểm 520, 494, 363, 356 và 560 mà buổi sáng ở gần nhưng trời mù chưa quan sát được.

- Anh Nhạ này, các đài báo cáo tình hình về nhà thế nảo ?

- Ba đài ở đây có 2 thông tin, một máy 2 oát nhưng chưa được dùng.

Hàng ngày cậu Dân vẫn viết

báo cáo vào giấy căn ke (giấy than) thành 2 bản rồi một cậu chạy bộ về nộp cho mình.

Mình lại cho

người nộp lên ban một bản. có gì cần thông báo cho đài thì mình viết trả lời về đài.

- Vất vả quá anh nhỉ ?

- Bao giờ sư đoàn cho phép mới được sử dụng thông tin vô tuyến.

Trên sư đoàn bây giờ toàn dùng hữu

tuyến và lính truyển đạt.

Để bí mật mà.

Này !

Tớ thấy cậu hiền thế mà lại bảo ở Hà Nội một mét vuông

mấy thằng ăn cắp là thế nào ?

Lúc ở trường lục quân ra, tớ được về phép, đi qua Hà Nội chơi hãi bỏ

mẹ, tay cứ giữ khư khư cái ví ở mông đít này này.

- Chắc mấy thằng ăn cắp nó nhìn mặt anh buồn cười lắm nhỉ.

Nhưng nhìn mặt anh, nó đoán anh sắp đi

bê nên nó tha thôi, chứ không, dao lam nó rạch đít anh rồi.

- Thế hử ?

- Thì nhìn anh mua bánh mỳ của con phe thì chỉ có bộ đội đi phép về quê mới mua bánh mỳ làm quà.

Thế mà thời buổi này mà lính lại đi phép thì có phải là sắp đi bê không ?

- Thế hử ?

Thế thì ăn cắp Hà Nội nó cũng thương lính đi bê bọn mình nhảy ?

Ra là ăn cắp nó cũng yêu

nước nhảy ?

Khi anh Nhạ nói chuyện đó, tôi không biết là anh nói thật hay nói đùa.

Có lúc anh nói đùa như thật mà có lúc thật như đùa.

Thành ra tôi nói chuyện với anh theo kiểu "tào lao chi khươn" cho vui thôi.

Chúng tôi xuống núi rất nhanh, những đoạn dốc cứ thế mà theo đà chạy xuống.

Chả mấy chốc đã về đến nhà.

Anh Nhạ nói sáng mai tôi hoàn thiện sơ đồ rồi lên chỗ anh xem lại để tôi mang lên ban cùng với điện của anh gửi cho ban.

Mấy đứa lính mới có vẻ rất kính nể tôi, chắc không phải vì tôi là tiểu đội trưởng mà vì nghe đồn tôi đi luồn sâu địch hậu liên tục như đi chợ.

Có biết đâu rằng, tôi lại rất kính nể biệt động thành Huế, du Kích Hải Lăng và trinh sát Mặt trận.

Họ đi vào đi ra vùng địch như đi trong nhà của mình vậy.

Họ có hẳn các vòm cứ ngay trong lòng địch.

Địch thì biết rõ mười mươi mà không làm gì được.

Hầm và nhà của đại tôi đã xong.

Công việc ngày mai là đi kéo pháo và gùi đạn pháo mãi từ đầu sông Truồi lên núi Lưỡi Cái.

Mọi công việc của đại đội và tiểu đội, tôi không phải tham gia.

Chiều mai tôi lên ban 2 để đắp sa bàn cho sư.

Hoàn thành xong sơ đồ, tôi lên ban chỉ huy đại đội thì thấy đang có cuộc họp nên tôi phải ngồi chờ.

Bây giờ không nhớ hết những người trong cuộc họp lúc đó.

Tôi nhớ, có anh Nhạ, Duyên – trinh sát ảnh, Quách Lâm – binh địa, một vài tay súng nữa và hình như là hai hay ba trinh sát của trung đoàn 101.

Nhóm đang họp để chuẩn bị đi trinh sát căn cứ Lương Điền.

Lần này anh Nhạ đích thân chỉ huy nhóm trinh sát.

Yêu cầu của ban 2 là làm binh yếu địa chí căn cứ Lương Điền, được nghi là căn cứ của một trung đoàn (lâu ngày không còn nhớ là trung đoàn nào).

Nếu Bạch Thạch có địch thì làm luôn cả điểm này.

Nhóm cũng được yêu cầu kiểm tra xem hầm đường sắt qua đèo Mũi Né địch có pháo đặt trong đường hầm hay không đồng thời nắm địch ở Mũi Né.

Khi tôi đến thì mọi người đang bàn phương án tiếp cận mục tiêu.

Nhóm quyết định sẽ luồn rừng men theo Mom Kim Sắc, đi dưới chân cao điểm 312, đến chân cao điểm 560 và 494 xuống thẳng đường 1.

Đường đi đoạn sau là rừng cây lúp xúp mà khi ở đài quan sát đã thấy không có địch đóng quân, chỉ có ít lính tráng đi lại từ các điểm cao xuống đường một theo hai con đường hai bên điểm cao 494.

Vậy là phải vượt qua đoạn này vào ban đêm, lúc đó địch hoàn toàn không đi lại nên mình có thể vượt qua tương đối tự do.

Sau khi vượt qua đường một có thể do thám được hầm đường sắt và địch ở Mũi Né.

Sau đó, đi dọc theo phía đông đường 1 lên phía bắc tiếp cận căn cứ Lương Điền.

Ở phia đông đường 1 địch ít để ý, có thể chui rúc trong cái rẻo hẹp của ruộng lúa giữa đường 1 và Đầm Cầu Hai.

Ban đêm sẽ di chuyển để tiếp cận địch.

Vậy là ban ngày phải tìm chỗ trú bên phía đông đường 1.

Ban đêm di chuyển đến vị trí lựa chọn thích hợp, kín đáo để quan sát.

Nhiều khả năng phải chui vào cống hoặc gầm cầu nhỏ có nhiều cây cối rậm rạp trên đường 1.

Nhóm bàn thảo kỹ càng và chuẩn bị thêm một ngày để chiều mai xuất kích.

Họp xong, anh Nhạ mới ngồi viết báo cáo gửi lên ban.

Lúc nãy ngồi ngoài, nghe hết nên bây giờ tôi đoán được anh Nhạ viết gì gửi cho ban.

Đường đi và hoạt động của nhóm trinh sát được thể hiện trên bản đồ dưới đây.

Nhớ lại sáng nay, tôi ngồi phóng bản đồ thành sơ đồ trên giấy tờ rô ki (troki) mà bây giờ gọi là giấy A0.

Tôi xem rất kỹ cái bản đồ 1:50.000 của khu vực này, dò lại con đường 1 suốt từ Lương Điền về Mũi Né.

Trên bản đồ này không thể hiện các cống trên đường.

Hồi ở Quảng Trị tôi có đủ cả bản đồ tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000.

Bản đồ sau, nếu là vùng đồng bằng thì vẽ chi tiết hơn nhiều, thậm chí có cả cây độc lập, chùa, miếu, cống, . . .

Nhưng chắc chắn đường 1 ở đoạn này phải có rất nhiều cống chảy qua đường vì ở đây núi sát biển.

Rất nhiều đường tụ thủy trên núi xuống đường 1 mà không có thể hiện cầu cống gì.

Các cống này không phải bao giờ cũng có nước chảy.

Chúng thường để thoát nước của những trận mưa lớn.

Nếu cửa cống có cây cối rậm rạp thì ban ngày là chỗ lý tưởng để làm đài quan sát.

Tuy nhiên ở ngay sát đường, xe cộ hoạt động suốt ngày, địa hình thì trống trải nên không thể di chuyển ban ngày được.

Mỗi ngày chỉ có thể ở một chỗ, ban đêm mới di chuyển được.

Một khó khăn nữa là khi vẽ sơ đồ, cảnh đồ hay chụp ảnh Lương Điền, Đá Bạc, Mũi Né mình toàn ở dưới thấp, không thể biết toàn cảnh địch ở trên cao điểm.

Nhất định sẽ phải quan sát vong quanh mấy mặt.

Một toán trinh sát khá đông thì việc xóa dấu vết cũng khó hơn, nhất là khi lội ruộng.

Tuy biết anh Nhạ là trinh sát kỳ cựu, nhưng nhất định tôi sẽ nói chuyện này với anh.

Vì khu vực tổng thể khá rộng nên mãi đến trưa tôi tôi mới xong công việc.

Các vị trí địch chốt trên các điểm cao, lực lượng tiểu đội hay trung đội, đại đội đều được thể hiện, chỉ thiếu mỗi phiên hiệu.

Anh Nhạ viết điện xong thì quay ra xem cái sơ đồ tôi vẽ.

Anh góp ý mấy chỗ rồi đưa bức điện cho tôi chuyển lên ban 2.

Tôi cũng nói với anh mấy ý đã suy nghĩ từ nãy.

Chuyện đắp sa bàn trên sư đoàn thì tôi đã kể trong chuyện "Bắt Tù Binh" ở topic "Những Chuyện Không Thể Quên – Cười Ra Nước Mắt (phần 1)", trang 28.

Những ngày đắp sa bàn, chúng tôi ở ban 2, ngay cùng nhà âm với bọ Luyến.

Các thủ trưởng trong ban cũng hay trao đổi qua lại tình hình chuẩn bị chiến dịch của sư đoàn nên tôi cũng nắm được sơ sơ.

Tôi nhớ, một hôm bọ Luyến đi họp trên phòng tham mưu về cứ cằn nhằn: "Sao mấy thằng ngu thế, mấy thằng này chủ quan quá ! . . .".

Rồi bọ Luyến trao đổi với bọ Kim chuyện sư đoàn lo lắng, sợ lộ ý đồ chiến dịch.

Anh em kéo pháo lên Lưỡi Cái chủ quan, hò hét quá to.

Rồi chuyện một khẩu lựu 122 ly bị lăn xuống vực, không thể kéo lên được.

Mà nếu có kéo lên thì cũng hỏng hết rồi không thể dùng bắn được nữa.

Anh em cứ nhìn kỹ trên bản đồ mà xem.

Hai bên sườn của dãy Lưỡi Cái rất dốc.

Đường kéo pháo tuy được công binh làm nhưng là đường bí mật vì địch vẫn dùng máy bay L19 bay lượn trinh sát ở tít trên cao.

Nếu nghi vấn, chúng sẽ xăm soi và phát hiện ra đường là lộ ý đồ đánh lớn.

Rồi chuyện lộ cũng không tránh khỏi.

Không rõ là do máy bay hay là do thám báo phát hiện.

Chuyện này tôi chưa có dịp hỏi lại anh em a12 - trinh sát nghe lén điện đàm.

Hồi đó mà thám báo tìm ra, sẽ báo cáo về phía sau và anh em sẽ nghe lén được.

Chỉ sợ anh em cũng quên rồi.

Vấn đề ở chỗ, hết ngày này qua ngày khác, mười mấy anh em a12 phải liên tục căng tai ra nghe địch liên lạc với nhau để lấy thông tin.

Rồi còn chấm tọa độ của địch đến tận từng tiểu đội của chúng.

Quá nhiều, thành ra không nhớ.

Địch bắt đầu cho L19 lượn loanh quanh phía trên đầu dãy Lưỡi Cái suốt ngày, rồi OV10 cà rà, nghi đâu là gọi A37 tới rồi bắn pháo khói chỉ điểm.

Pháo của địch liên tục bắn vào những chỗ nghi vấn. c3/d1/e101 của bác Lê Xuân Tường bị pháo đich bắn đúng vào chỗ trú quân bị thương vong rất nặng (theo bác Tường nói là coi như xóa sổ ?!).

Rất nhiều anh em bị thương vong trên đường tải đạn pháo.

Mặc dù vậy, việc kéo pháo vẫn có kết quả.

Từng ngày, tôi vẫn được nghe chuyện các thủ trưởng nói pháo kéo được đến đâu.

Ta kéo cả pháo mặt đất và cao xạ 37 ly lên Lưỡi Cái.

Vì để giữ bí mật nên cao xạ không nổ súng bắn máy bay và pháo mặt đất của ta cũng không bắn trả pháo địch.

Tôi không được nhìn tận mắt việc kéo pháo.

Cao xạ 37 ly thì tôi và các bạn tôi đều nhớ. nhưng pháo mặt đất kéo lên núi người thì nhớ là pháo 122, người thì bảo là pháo 85.

Hay là có cả hai loại không biết ?

Lính trinh sát cựu chúng tôi không ai tham gia kéo pháo và tải đạn vì phải chia đi các mũi để trinh sát địch ở các điểm cao và dò thám tìm các đường để dẫn bộ đội tiến xuống đường 1.

Chỉ có anh em trẻ tham gia vác đạn.

Giá mà họ cũ một tý như chúng tôi thì nhìn đạn pháo là biết, mà nếu không biết thì hỏi.

Lính trẻ đâu có dám hỏi.

Mới huấn luyện xong tân binh được 2 tháng thì bổ xung vào đơn vị tôi, đúng lúc lên đường từ Quảng Trị vào Huế chuẩn bị chiến dịch.

Lúc đó ở hậu phương đói hơn lính tráng chúng tôi ở Quảng Trị.

Chúng tôi được dưỡng quân gần 2 năm rồi.

Trông lính mới vào, rõ ràng sức lực kém hơn hẳn lính cũ.

Họ ngơ ngác chưa biết gì, trông lại càng thương.

Tôi mất thằng bạn thân nhất khi nó đang trên đường vác đạn pháo . .

Sau khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực vào 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, một số điểm vẫn còn giao tranh.

Ở Quảng trị lúc đó còn diễn ra trận Cửa Việt.

Ở Như Lệ và Tích Tường, địch vẫn đang cố hết sức đẩy nốt các chốt của ta ở bờ nam Thạch Hãn.

Chiến sự cực kỳ ác liệt.

Tuy nhiên và dù sao Quảng Trị cũng là nơi gần với hậu phương lớn miền bắc nhất.

Do đó địch cũng nhận ra là ở đây, tốt nhất nên ngừng bắn và phòng thủ chặt.

Vì vậy sau ngày 28/1 khoảng mươi ngày, toàn tuyến Quảng Trị về cơ bản im tiếng súng.

Các toán trinh sát của đại đội tôi, tốp trước tốp sau, lần lần, lục tục tập trung về đại đội.

Khi tôi từ Như Lệ về đến nơi thì đại đội tôi đã chuyển từ suối La La ở bãi Tân Kim về làng Quất xá.

Lúc đầu chúng tôi ở nhà dân.

Đồ đoàn của tôi cũng dược anh em ở nhà mang hộ về đây.

Lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi vào Quảng Trị, đại đội mới có dịp tập trung khá đông tuy rằng chưa đầy đủ vì còn một số anh em vẫn đang làm nhiệm vụ ở các đài quan sát quan trọng.

Cũng là lần đầu tiên, tiểu đội tôi được tập trung và lần đầu tiên tôi là tiểu đội trưởng thực thụ, ở cùng anh em trong tiểu đội – Gọi là tiểu đội hai.

Ở đơn vị tôi, cứ sau một thời gian lâu lâu thì tổ chức biên chế lại, cho nên về sau chúng tôi gần như cùng tiểu đội với rất nhiều anh em.

Bây giờ khó mà nhớ được cùng tiểu đội với ai trong thời gian nào.

Nhưng cái tiểu đội hai đầu tiên sau ngừng bắn thì tôi nhớ.

Lúc đó, chúng tôi có đủ 9 đứa, không có đứa nào nằm đài.

Chín đứa bốn quê.

Thằng Sự, thằng Tiến - Hưng Yên; thằng Tính - Diễn "Chu", Nghệ An; thằng Hưởng - Đức Thọ, Hà Tĩnh; thằng Ngữ - Nam Định; Bốn thằng Hà Nội là thằng Thìn, thằng Hùng, thằng Cam và tôi.

Gọi là Hà Nội nhưng cũng là chỉ ba đời trở xuống chứ quê tổ thì cũng ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ.

Phạm Xuân Sự và tôi cùng ở tiểu đội 2 lâu nhất.

Chúng tôi ở với nhau mãi từ lúc đó cho đến cuối năm 1974.

Sự người thấp đậm, hai má bầu bĩnh với nước da ngăm đen.

Hắn rất ít nói nhưng lại rất hay cười.

Lúc hắn cười, hai đuôi mắt nheo lại, hai cái má phính nhích lên cao trông rõ là hiền.

Tuy lùn thế thôi nhưng hắn là libero số một của đại đội trên sân bóng chuyền.

Ở Quất Xá một thời gian rất ngắn, sau đó đại đôi tôi chuyển về thôn Trà Liên Tây cho gần tuyến trước hơn.

Làng Trà Liên nằm sát ngay sông Thạch Hãn.

Sau khi làm Nhà mới ở Trà Liên.

Thằng Hùng chuyển sang a12 ở cùng với ban 2, ngay sư đoàn bộ đóng tại Tân Vĩnh, sát sông Vĩnh Phước.

Chúng tôi ở Trà Liên đến khoảng tháng 2/1974 thì chuyển về Nại Cửu.

Lúc này đã bắt đầu các vụ luồn nông, luồn sâu ở các cao điểm 367 và Hải Lăng.

Vì vậy đại đội phải ở xa dân để đảm bảo bí mật các hoạt động của đơn vị.

Sự và tôi rất quí nhau nhưng không ai nói ra điều đó.

Những lúc có hai đứa, đôi khi nó rủ rỉ nói chuyện thày bu và mấy đứa em nó ở nhà.

Sự chỉ kém tôi có mấy tháng nhưng có lẽ do tôi là tiểu đội trưởng và một phần nữa nó cũng hơi nể vì tôi là sinh viên còn nó mới hết lớp 10 (lúc đó phổ thông trung học chỉ đến lớp 10 là hết) nên nó gọi tôi bằng ông xưng tôi, còn tôi gọi nó bằng tên và xưng mình.

Tôi được bác TraLienTay dạy bơi từ lúc ở chân cao điểm 108.

Lúc ở với sông nước Thạch Hãn tôi đã là tay bơi khá.

Thằng Sự bơi rất khỏe nhưng chỉ biết "bơi chó", tốc độ chậm và rất tốn sức.

Thế là tôi được dịp dạy nó cách bơi ếch đúng kiểu, vừa nhanh lại không mệt.

Lúc đó mà bơi ếch thì có thể bơi cả ngày được.

Bây giờ thì chịu rồi.

Thằng Sự vốn tính cẩn thận sạch sẽ. hàng ngày khi rút quần áo khô vào bao giờ nó cũng vuốt rất phẳng, gấp cẩn thận, ép chặt, để trong ba lô cho có nếp.

Nó thường gấp luôn cả quần áo của tôi và để lên đầu giường tôi.

Những ngày được nghỉ, tôi với nó hay đi chơi cùng nhau sang chợ Thuận hay chợ Đại Áng.

Thỉnh thoảng còn ra Đông Hà đi chợ Đông Hà, vào hiệu sách và ăn sen dừa.

Hôm đi chợ Đại Áng, hai thằng mua 2 cái mùi xoa với cả hai hộp sữa đặc "Thống Nhất".

Dọc đường về, hai thằng vừa đi vừa tu sữa.

Tôi chỉ chơi được nửa hộp.

Thằng Sự thì chỉ một loáng là hết.

Đùn đẩy nhau một hồi cuối cùng nó mới chịu hỗ trợ nốt phần sữa của tôi.

Mà cũng chỉ một loáng là hết.

Ở Trà Liên, chúng tôi trồng rau để nộp cho anh Thắng "quản" theo qui định đầu người và để có rau ăn thêm.

Chúng tôi phân công mỗi ngày hai đứa tưới rau.

Tôi với thằng Sự một cặp.

Nhiều hôm có việc họp hành hay hội ý gì đó sau giờ tập, về đến nhà thì nó đã tưới xong rau ngon lành rồi.

Những hôm nó đánh bóng chuyền về muộn thì tôi cũng làm thay nó.

Tôi mà làm một mình thì thằng Ngữ thể nào cũng nhảy vào làm cùng.

Nó chẳng chơi gì chỉ chăm sóc tiểu đội như người chị cả.

Suốt thời gian ở Trà Liên rồi chuyển lên Nại Cửu, chúng tôi chỉ toàn tập tành các "ngón nghề" của trinh sát từ đi khom, chui rào, gỡ mìn, làm hầm bí mật, tập võ thuật, . . .

Rồi học cách sử dụng ống nhòm, địa bàn, cách đo và ước lượng cự ly, cách sử dụng bản đồ, luồn rừng băng ruộng, lội sông "cắt phương vị", . . .

Tập ban ngày thuần thục rồi thì chuyển sang tập ban đêm.

Tập trên bãi tập tốt rồi thì tập trên thực địa.

Lấy hàng rào căn cứ Ái tử mà tập.

Có lần gỡ được mìn thật ở Ái Tử.

Chuyện này 6971 đã kể rồi.

Ở tiểu đội tôi, trong sinh hoạt cũng như tập tành, thường tôi chẳng cần phải nói gì.

Mọi người đều tự giác vào công việc.

Thằng Sự vốn khỏe lại có năng khiếu thể thao nên mấy trò tập tành nó rất nhanh thạo.

Nếu thấy nó trễ nải lúc tập thì tự tôi hiểu là nó "ngọc thể bất an" nên không bao giờ nhắc nhở hay đốc thúc gì nó.

Thường thì chính tôi cũng đầu têu việc trốn tập.

Hễ nhãng cán bộ đại đội và trung đội là cho anh em tranh thủ nghỉ ngơi.

Miễn sao lúc kiểm tra tốt là được.

Nếu bất thình lình mà đại đội xuống kiểm tra thì mọi người cứ thản nhiên mà nghỉ.

Lúc đó tôi sẽ báo cáo thủ trưởng anh em tập căng một tiếng rồi, tôi vừa cho nghỉ giải lao.

Thế là thủ trưởng cũng không bắt bẻ được gì.

Tập tành cũng không mấy chuyện hay.

Ngày này qua tháng khác, rất chán.

Hai lần làm hầm bí mật thì thằng Sự và tôi đều làm cùng một cái.

Lần ở Trà liên, tiểu đội tôi có 8 đứa phải làm 3 cái hầm bí mật, mỗi hầm 2 thằng.

Hai thằng còn lại coi như dân làng.

Nắp hầm được đóng trước bằng gỗ.

Mỗi tiểu đội phải làm hầm bí mật trong một khu vực qui định.

Trung đội và đại đội không được xem mà ngồi chơi ở đâu đó.

Có khi các thủ trưởng ngồi đánh tiến lên với nhau ?!

Khi nào làm hầm ngụy trang xong thì báo cáo để các thủ trưởng đi tìm.

Thật cứ như chơi chốn tìm.

Rất hồi hộp.

Khó nhất là làm sao không để lại dấu vết vận chuyển đất đổ đi.

Tiểu đội tôi đào hầm ở khu vực gần rặng tre.

Chúng tôi lên phương án là cả ba hầm đều đào dưới ruộng, sát rặng tre.

Đất đào được không phải vận chuyển đi đâu cả, cứ đổ ngay trên ruộng.

Ống thông hơi thì cho xiên từ hầm vào trong rặng tre.

Sự và tôi thay nhau đào.

Những lúc Sự đào thì tôi tranh thủ chạy sang các hầm khác để xem anh em làm.

Chúng tôi đã có mưu rồi.

Làm rất nhanh vì không phải vận chuyển đất và cũng không lo làm rớt đất lúc vận chuyển.

Làm xong hầm, 6 thằng chui xuống.

Hai thằng ở trên mượn sẵn bừa của dân, bừa đi bừa lại vài lượt.

Quả nhiên, các thủ trưởng tìm mãi không thấy hầm.

Chúng tôi đã hoàn thành nhanh nhất.

Thằng Ngữ ở trên, bấy giờ mới gõ gõ vào thân tre báo cho chúng tôi, đội hầm chui lên.

Lần khác, ở Nại Cửu, tiểu đội tôi cũng làm xong nhanh nhất và ít vất vả nhất.

Mưu của chúng tôi lần này là làm hầm ở bờ suối.

Chỗ này bờ lở, vách đứng, phía trên có cây lúp xúp và lau sậy.

Thực chất, chúng tôi không đào từ trên xuống mà đào từ suối vào.

Đất cứ thế mà trôi theo suối.

Sau khi làm hoàn chỉnh hầm ở bên dưới mới đào phần nắp ở bên trên.

Tất cả đất đều cho rút hết xuống suối, không vận tải tí đất nào trên mặt đất.

Phần nắp hầm còn trồng cả lau lách lên trên.

Bây giờ chúng tôi mới gác cây que và đắp bùn và đất để che cái sườn hầm ở dưới suối, để lại lỗ thông hơi và ngụy trang cẩn thận.

Lần này các thủ trưởng cũng chịu thua vì không ai lội xuống suối để tìm hầm cả.

Lần này Sự và tôi cũng làm chung một cái hầm.

Một lần, Sự và tôi đi lấy thực phẩm cho đại đội cùng với mấy đứa khác.

Chúng tôi đi sau cùng.

Trên đường về, khi đi qua một đơn vị bộ đôi nào không biết, có một chú chó con cứ đi theo hai thằng.

Đuổi nó mấy lần, một lúc sau lại thấy nó lẽo đẽo đi theo.

Con chó ấy sau này theo tiểu đội tôi đi khắp nơi.

Nó quí thằng Sự nhất rồi đến tôi.

Thỉnh thoảng tôi phải đi công tác.

Lúc thì đi Cửa Việt, lúc đi Gio Linh, Cồn Tiên Dốc Miếu, lúc thì lên ban 2. .

Cho phép em gọi như vậy vì em đã muốn gọi như thế đã lâu rồi.

Anh em mình sống với nhau lâu nhất và em rất hiểu anh gần gũi và thương yêu mọi người như thế nào.

Rồi những ngày anh đi luồn sâu liên tục.

Chắc anh có thể hiểu em rất lo cho anh.

Không biết một khi nào đó anh có ra đi như thằng Sơn Trọc không.

Người đi thì chẳng lo lắng gì, có biết đâu người ở nhà mới lo.

Em lo anh, nhỡ có chuyện gì . . .

. . .

Em biết có thể em không xứng đáng làm em của anh nhưng em luôn mong anh là anh trai của em.

Được như vậy thì còn gì bằng nữa.

Anh ạ !

Những ngày anh đi vắng em rất lo đã đành, mà em cũng tự trách mình rất nhiều.

Sao lúc ở gần nhau em đã không xin làm em trai của anh.

Nhưng mà, thực sự em thấy lúc nào anh cũng đối xử với em như người anh ruột đối với em trai vậy.

Không biết anh có thấy em quý anh như anh trai không ?

Nếu thế thì kể ra cũng chẳng phải nhận anh em cũng được vì mình đã sống với nhau như anh em rồi . . .

Lúc anh đi em mới thấy nhớ và em đã quyết tâm, lúc nào anh về, em sẽ nói ra và xin được làm em trai của anh.

. . .

Bây giờ em chuyển đi bộ binh rồi, chẳng biết bao giờ mới được gặp lại anh.

Đợi khi nào gặp thì biết đến bao giờ.

Em viết thư này để xin làm em của anh.

Có được không anh ?

. . .

Em xuống bộ binh vẫn mạnh khỏe như thường.

Nhưng mà rất buồn.

Về đơn vị mới chẳng quen ai lại phải liên tục hành quân.

Rồi liên tục đào hầm, vác đạn. . .

. . .

Hôm nay trời mưa quá, lại nhớ ngày ở Trà Liên nước lũ.

Hai anh em ở trên giường suốt ngày.

Cơm nước cũng thổi trên giường.

Em nhớ cái hôm trời rét quá, đốt lửa dưới gầm giường.

Đang đêm giật mình tỉnh dậy, lưng nóng rát.

Cài tấm gỗ dán dầy thế mà cháy đen một đám tròn ở bên dưới.

. . .

Thôi nhé !

Anh nhớ viết thư và kể chuyện ở đơn vị mình nhé !

Anh nhớ giữ gìn sức khỏe !

Em – Phạm Xuân Sự "

Tôi đọc thư thằng Sự mà trong lòng rưng rưng.

Thực tình tôi chỉ nghĩ tôi và nó thân nhau và đối xử với nhau như ruột thịt.

Tôi không bất ngờ vì tình cảm chúng tôi dành cho nhau nhưng bất ngờ vì nó đã nói ra.

Vậy là tôi có thêm một người em.

Có lẽ tôi còn hiểu Sự hơn những đứa em tôi ở nhà.

Hàng ngày sống cùng nhau nó vẫn trông chừng và chăm sóc cho tôi còn hơn những đứa em khác.

Đọc thư xong, trong lòng tôi cảm thấy rất buồn và không yên tâm về thằng Sự.

Nó vốn sống tình cảm, bây giờ về đơn vị mới sẽ rất bơ vơ và chán chường.

Sắp tới đây 101 sẽ đánh xuống Phú Lộc, mà cuộc chiến chắc còn lâu dài.

Liệu có hay không ngày gặp lại ?

Hay lá thư nó gửi cho tôi là sự chia tay vĩnh viễn.

Có cái gì đó làm tôi cứ khắc khoải mà không biết là cái gì.

Sau đó, chúng tôi ai cũng mải miết vì công việc chuẩn bị chiến dịch bộn bề.

Chắc thằng Sự đang phải kéo pháo, gùi đạn hay cùng đơn vị nó chuẩn bị trận đánh xuống đường 1.

Tôi thì vắt chân lên cổ làm cho xong cái sa bàn, rồi lại đi địa hình lần nữa và chuẩn bị xuống núi trinh sát dẫn đường cho bộ binh . . .

Tôi không nhận được thêm tin tức gì của Sự nữa.

Cho đến một ngày . . . .

Hôm ấy là ngày 26/3/1975, sau khi chúng tôi luồn sát nách thành phố Huế để tìm đường đánh vòng cho bộ binh thì trưa 25/3 chúng tôi được tin xe tăng và bộ binh đã vòng đường khác và đã giải phóng thành phố Huế.

Chiều 25/3 chúng tôi vào Huế rồi ngay sáng hôm sau chúng tôi quay trở lại về phía Đà Nẵng.

Trên đường quay lại, chúng tôi gặp một toán trinh sát đại đội tôi ở gần Phú Bài.

Có ai đó trong toán nói với chúng tôi là gặp mấy mấy đứa đi 101.

Tất cả chúng nó không sao ngoại trừ thằng Sự.

Cái tin thằng Sự làm cho tôi choáng váng và đau đớn.

Tôi không thể đi cùng mọi người mà tụt lại phía sau để mặc sức cho sự đau đớn dày vò.

"Sao lại thế ?"

"Có thật không em hay là người ta nhầm lẫn ?"

"Sao em lại viết cho anh lá thư như vậy chứ ?"

"Em ơi ! khoảnh khắc đó như thế nào vậy ?

Em có kịp nhận ra ánh chớp chói lòa ác nghiệt đó không ?

Có ai ở bên em giây phút đó không ?"

- Cái đất này làm cho tôi rơi nước mắt vì đẹp thì bây giờ lại làm tôi rơi nước mắt một lần nữa vì đau đớn . . .

Sự bị pháo khi đang vác đạn lên Lưỡi Cái. . .

Sao lại thế chứ ?

Sự ơi !

Thì ra lá thư cuối cùng mà em viết là lá thư này đây.

Có phải lá thư em viết cho anh là một điềm báo trước làm cho lòng anh khắc khoải không yên suốt những ngày qua ?

Tại sao em lại ra đi trước lúc bình minh này chứ ?

Tại sao ?

Nỗi khắc khoải đó cứ ám ảnh tôi suốt bao nhiêu năm qua.

Chưa một lần nào tôi nói ra chuyện này.

Chỉ có hai người đã đọc lá thư đó là thằng Dũng và thằng Luân lúc chúng tôi chuẩn bị đánh vào Phan Rang.

Lần đầu tiên kể chuyện Sự sau mấy chục năm thì cũng vẫn đau đáu, khắc khoải y như ngày ấy.

Không bao giờ có thể cất đi được hay vợi nhẹ đi chút nào . . . !

Sau khi làm xong sa bàn (chuyện đắp sa bàn cho sư đoàn tôi đã kể trong chuyện "Bắt tù binh"), tôi được về đại đội.

Lần này đi địa hình cùng với c phó Triêm.

Anh Triêm, người Hà Tĩnh, mới ở "luộc quân" ra, người rất cao, dễ có đến mét tám chứ không ít.

Cái ảnh dưới đây chúng tôi chụp ở trong căn cứ Nước Trong, sau ngày 30/4/75.

Tôi phải đứng lên bao cát cũng vẫn thấp hơn nhiều so với anh Triêm. (Lúc này anh Nhạ c trưởng đang luồn sâu cùng với Lâm binh địa, Duyên ảnh, . . . mà tôi đã nói ở trên).

Lần này tôi là người dẫn đường cho anh Triêm.

Việc kéo pháo ầm ỹ làm cho việc chuẩn bị chiến dịch dường như bị lộ.

Địch liên tục pháo kích vào những chỗ khả nghi.

Trên các cao điểm mà chúng tôi đặt đài quan sát cũng không được nhởn nhơ như trước.

Mặc dù địch chưa phát hiện ra các đài quan sát nhưng chúng có thể đoán ra và bất cứ lúc nào cũng có thể ăn pháo.

Ngặt một nỗi, để đảm bảo bí mật trước giờ G, trên vẫn chưa cho phản pháo và cũng không cho bắn máy bay.

Việc này thật sự là cần thiết vì như sau này ta biết, nhiệm vụ của sư đoàn là phải đánh chia cắt địch giữa Huế và Đà Nẵng.

Cho nên, pháo kéo lên núi không phải đơn giản là để chọi pháo với địch, cũng không phải bắn máy bay mà là sẽ bắn thẳng xuống đường 1.

Có lẽ địch cũng biết ta có chuẩn bị đánh từ động Truồi xuống nhưng có thể chúng không biết ta sẽ đánh lớn với đầy đủ binh chủng hợp thành.

Mặt khác, lúc này chiến dịch Tây Nguyên đã bắt đầu.

Địch đang lo đối phó ở Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng như người ta nói "Ai chiếm giữ được Tây Nguyên thì người đó có cả miền Nam này".

Thời điểm này Nguyễn Văn Thiệu rất lo lắng cho Sài Gòn và đã rút sư đoàn Dù về trấn thủ Phan Rang và sài Gòn.

Chắc lúc đó, ông Thiệu đã có ý thả lỏng địa bàn Huế, Đà Nẵng ??

Thật không may, hôm nay trời mù quá.

Từ trên các điểm cao 769 và 843 quan sát các chốt của địch ở gần nhất như 520, 363 cũng bị mây mù che phủ.

Chúng tôi đành giở bản đồ ra và trao đổi tình hình với anh Dân.

Lúc này tôi mới được biết, sư đoàn sẽ kéo pháo lên sườn điểm cao 769 và bố trí trận địa liên hợp giữa các loại pháo mặt đất, pháo phòng không 37 và 12 ly 7.

5 giờ 45 phút sáng ngày 8 tháng 3, sư đoàn 324 bắt đầu tấn công căn cứ Mỏ Tàu, các điểm cao 75, 76, 224, 273 và 303 ở Tây Nam Huế.

Mặc dù ở khá xa nhưng ở trên cao trong núi rừng yên tĩnh, chúng tôi có thể nghe rõ tiếng pháo của ta bắn vào các căn cứ của địch.

Trong khi đó, việc chuẩn bị của sư đoàn chúng tôi (325) vẫn chưa xong.

Các thủ trưởng sư đoàn có vẻ rất sốt ruột.

Những ngày chúng tôi đắp sa bàn ở đó, thấy các thủ trưởng đi qua đó rất vội vàng tất bật, họ chỉ nhìn lướt qua chỗ chúng tôi làm việc chứ không ai dừng lại hay hỏi han gì.

Phía ban 2 thì liên tục thúc ép chúng tôi làm nhanh.

Chắc là các thủ trưởng sợ chậm chân thì sư 324 sẽ chiếm được Huế và 325 trở thành vô ích.

Thì . . .

Ngày 18 tháng 3, các đơn vị thuộc Quân khu Trị Thiên đồng loạt tấn công.

Ở cánh Bắc, tỉnh Quảng Trị quân ta đã đánh chiếm được toàn bộ lúc 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 3.

Sư đoàn tôi vẫn yên ắng.

Tin tức càng làm cho không khí chuẩn bị thêm khẩn trương.

Toán trinh sát của đại trưởng Nhạ gồm anh em trính sát sư và trung đoàn 101 cũng đã về báo cáo tình hình với ban 2.

Ảnh của Duyên chụp thì tôi không được xem nhưng cảnh đồ của Lâm thì tôi xem và góp ý.

Lâm cứ khẳng định đi khẳng định lại rằng nó quan sát thấy xe tăng ở căn cứ Lương Điền.

Thấy nó cứ nói đi nói lại làm cho tôi đâm nghi ngờ rằng nó không nhìn thấy.

Cảnh đồ của Lâm vẽ rất đẹp.

Bố Lâm là họa sỹ và được giải thưởng Quốc Tế về tranh áp phích về chủ đề "Hòa Bình" tại Nhật.

Lâm cũng học vẽ từ bé.

Đi đâu trên ba lô của nó cũng có một tấm gỗ dán.

Dừng đâu là nó vẽ ký họa ở đó, lúc thì ở chợ Đông Hà, lúc thì vẽ mấy người dân Vân Kiều với trang phục dân tộc hoặc quần áo bộ đội, áo bỏ ngoài quần, nước da đen cháy, tóc xoăn, lúc thì ký họa thằng này thằng kia trong đơn vị.

Quách Ngọc Lâm, một gã trai Hà Nội, ở phố Lê Văn Hưu, dáng cao, mặt đẹp sương gió, lãng đãng chất nghệ.

Không biết cố tình hay một cách tự nhiên, trông hắn có vẻ "gạo cội" (như từ bây giờ người ta dùng).

Lâm ít tham gia thật sự vào những câu chuyện tào lao lính tráng.

Khi cùng với mọi người, Lâm có cái cười dễ dãi và ánh mắt thì không bao giờ ăn nhập với nụ cười.

Nhìn mắt hắn, sẽ biết rõ là một thái độ nghe chuyện lơ đễnh.

Có lẽ hắn đang nghĩ chuyện gì khác sâu xa hơn, nội tâm hơn, hay là đang mơ về một nơi nào khác.

Ai mà biết được.

Một đôi khi hắn nói chuyện thật sự thì không phải là chuyện tào lao mà là chuyện nghiêm túc, có gì đó suy tư rất lâu để nói ra vài từ.

Tuy nhiên những từ đó không phải bao giờ cũng đắt và thường làm cho điều muốn nói trở nên khó hiểu.

Về sau này tôi mới biết Lâm không biết nhiều chuyện của đơn vị và những người xung quanh và vì cách nói năng cầu kỳ nên có lẽ làm cho Lâm trở thành khó diễn đạt lời nói của mình.

Cảnh đồ rất đẹp, "bay bướm" hơn cảnh đồ chúng tôi vẽ nhất là khi tả cỏ cây, hoa lá.

Sau khi vẽ xong cảnh đồ bằng chì, Lâm hỏi tôi có nên vẽ màu vào không.

Tôi biết Lâm hỏi như vậy thì hắn sẽ làm chứ không phải hỏi thật.

Quả thật sau khi đưa màu vào, trông cảnh đồ đẹp như tranh phong cảnh (chỉ thiếu bố cục).

Tôi tỏ ý nghi ngờ Lâm không nhìn thấy xe tăng thì Lâm càng khẳng định là nhìn thấy rõ ràng.

Có lẽ, lúc bấy giờ trong đầu Lâm cũng bị dao động ?!

Tại sao tôi nghi ngờ ?

Đó là vì cảm nhận của tôi khi đối thoại với Lâm làm cho tôi nghi ngờ và để ý kỹ mấy cái xe tăng mà hắn vẽ.

Xe tăng tập trung chĩa nòng pháo về phía biển làm gì chứ ?

Mình có thể tấn công từ biển lên đâu.

Vậy, nếu ở Lương Điền có xe tăng thì cũng không bố trí như thế mà phải để chỗ nào đó dễ cơ động và hành quân ứng cứu chỗ này chỗ khác.

Mãi về sau này tôi mới biết rằng Lương Điền là căn cứ pháo binh của địch và không có xe tăng.

Sau khi đi địa hình, chúng tôi trở về c20.

Các toán trinh sát chuẩn bị sẵn sàng dẫn bộ binh cùng với trinh sát trung đoàn 101 và trung đoàn 18.

Sư đoàn 325 còn có trung đoàn 95, bấy giờ được điều đi phối thuộc với ở phía nam Tây Nguyên.

Hai toán trinh sát dẫn đầu là những trinh sát đã đi luồn sâu xuống đường 1, có nhiệm vụ cùng trinh sát 101 và 18 dẫn bộ binh xuống đường 1.

Một toán dẫn 101 đánh ngược từ đường 1 ra Huế.

Toán kia dẫn 18 đánh về phía bạch Thạch, Phú Lộc, cầu Thừa Lưu và bịt chặt cửa Tư Hiền, không cho địch thoát ra biển.

Đến giờ G, pháo binh sẽ nã pháo vào các điểm cao 520, 560, 494, 329, 312, 310, . . .

Bộ binh các trung đoàn 101 và 18 sẽ đánh chiếm các điểm cao đó.

Trong khi đó, Các mũi khác sẽ đánh thọc sâu thẳng xuống đường 1 để chia cắt Huế với Đà Nẵng.

Toán chúng tôi là thê đội 2, sẵn sàng nhận nhiệm vụ luồn sâu, tìm đường dẫn bộ binh đánh vòng nếu đường tiến của ta bị chặn lại đâu đó trên đường tiến đánh Huế dọc theo đường số 1.

Lúc bấy giờ sư 324 vẫn đang phải chiến đấu rất ác liệt tại điểm cao 224, núi Nghệ và một số điểm khác.

Có những vị trí chiến đấu giằng co cả tuần lễ.

Địch vẫn cố chống trả và tìm cách tái chiếm các vị trí đã mất để cản đường tiến của ta cắt ngang xuống biển.

Trong khi đó, một lực lượng của sư 324 cũng đang được chuẩn bị để tấn công chiếm lại điểm cao 224, đánh chiếm điểm 303 và núi Bông cùng lúc với sư 325 – gọi là đợt 2 của chiến dịch.

Các đơn vị bộ binh của 101 và 18 đã áp sát các mục tiêu.

Lực lượng xung kích thẳng xuống đường 1 cũng đã áp sát chân cao điểm 312 và sẵn sàng xuất kích.

Ngày N là 21/3 1975 và giờ G là 5 giờ 40.

Dưới đây là bản đồ tác chiến, có lạm dụng một chút, đưa thêm vào các hoạt động của c20 phục vụ chiến dịch của sư đoàn.

Đúng 5 giờ 40 phút sáng 21 tháng 3, ánh chớp lửa dữ dội từ các trận địa pháo trên dãy Lưỡi Cái.

Các trận địa pháo khác ở phía sau cũng nhất loạt khai hỏa.

May mắn thay hôm nay trời không có nhiều mù, đã có thể nhìn rõ các mục tiêu của địch trên các điểm cao.

Pháo binh cứ thế mà chĩa thẳng nòng mà bắn.

Cự ly gần, bắn thẳng.

Không có gì có thể chịu đựng được kiểu bắn như vậy, thật là "táng đởm kinh hoàng" cả về mặt hủy diệt mà nhất là về tinh thần.

Các căn cứ của địch không chịu đựng được bao lâu, chắc không quá 15 phút.

Cha con nhà lính cứ thế hết điểm cao này đến điểm cao khác nhất loạt tháo chạy.

Không biết phía địch thương vong bao nhiêu nhưng chỉ một lúc sau quân ta đã tràn ngập các điểm cao 310, 312, 329, 494, 520, 560, đồi yên ngựa và Mom Kim Sắc.

Trận đánh pháo thực sự là một cơn bão khủng, nhanh chóng quét sạch hết cả.

Trời đã sáng rõ.

Pháo 85, 122 và cao xạ 37 bắt đầu chuyển hướng bắn chúc (tà âm) xuống dòng xe cộ đang nhốn nháo tháo chạy trên đường số 1.

Có bao giờ ae lại được xem pháo binh bắn tỉa không ?

Thật là quá uy lực !

Pháo 122 với sơ tốc đạn 515 (m/s), pháo 85 với sơ tốc đạn 793 (m/s).

Pháo cao xạ 37 ly là pháo phòng không, chắc có sơ tốc đầu đạn rất lớn bây giờ lại thành pháo mặt đất bắn liên thanh thì thật là kinh.

Chỉ một lúc sau, cha con nhà lính lại quẳng xe cộ mà chạy tháo thân.

Đường số 1 từ Đà Nẵng đi Huế bị cắt đứt hoàn toàn.

Không còn chiếc xe nào dám liều mạng chạy nữa.

Chúng tôi không chứng kiến tận mắt pháo bắn nhưng tiếng pháo nổ rền vang làm nức lòng những người lính.

Bao nhiêu ngày giờ chờ đợi.

Đúng hơn là bao nhiêu năm tháng đợi chờ mới có một ngày.

Cái ngày mà pháo binh ta làm chủ hoàn toàn trên chiến trường.

Pháo binh địch không có sự phản kháng nào.

Địch cho máy bay A37 đánh vào trận địa pháo ta.

Thật đúng là chờ sẵn.

Pháo cao xạ 37 ly rồi 12 ly bảy và tên lửa vác vai hợp đồng tác chiến hất ngược bọn máy bay lên khiến chúng không thể đánh vào trận địa pháo của ta.

Chưa bao giờ nghe pháo binh mặt đất và cao xạ bắn giòn giã như thế.

Thảy mọi người đều thấy náo nức, rộn ràng hơn bao giờ hết.

Chúng tôi bị bom pháo của địch vùi dập bao nhiêu năm tháng rồi.

Bây giờ mình mới được chơi.

Một cuộc chơi pháo tưng bừng, náo nhiệt.

Một trận dập vùi đáo hận.

Một sự hận ròng, canh cánh trong lòng, với biết bao hình bóng đồng đội ngã xuống tơi bời trong những ánh chớp lửa kinh hoàng.

Chưa bao giờ người lính được chứng kiến sự gì hơn thế kể cả trận Phan Rang hay trận cuối ngày 30 tháng tư sau này.

Bên sư đoàn 324 cũng tấn công Núi Bông cùng lúc với sư đoàn chúng tôi.

Núi Bông ở gần chỗ chúng tôi hơn căn cứ Mỏ Tàu nên nghe tiếng pháo bắn ì ùng bên đó rất rõ.

Chiều hôm đó cánh quân xung kích xuống đường 1 xuất kích.

Họ men theo chân các điểm cao 312, 329, 560, 494 và cao điểm 44 rồi chọc thẳng xuống đường.

Đêm 21 tháng 3, trung đoàn 18 bắt đầu tấn công các cụm địch trên đường số 1.

Đến 10 giờ sáng 22 tháng 3, họ đã cắt đứt đường số 1 và chiếm một đoạn 4 kilômét từ Ràng Bò Đến Bạch Thạch.

Cầu Thừa Lưu cũng bị đặc công nước K5 đánh sập.

Ngày 21 tháng 3 cũng là ngày ta tấn công căn cứ Truồi.

Động Truồi là nơi chúng tôi ở để chuẩn bị chiến dịch.

Đầu nguồn Truồi là nơi chúng tôi tắm trong tiếng thác đổ rì rào.

Động Truồi cùng với Bạch mã là hai ngọn núi cao nhất của Thừa Thiên.

Vậy mà căn cứ Truồi thì tôi không nhớ tí gì cả (có lẽ do sư đoàn chúng tôi không đánh ở đó).

Như vậy toàn bộ tuyến phòng ngự của địch ở phía tây đường số 1 suốt từ Phú Lộc đến căn cứ Truồi đã bị đánh sập.

Về sau này tôi mới biết, sáng 23/3 75, sư đoàn 324 bắt đầu đánh vu hồi và vòng qua điểm cao 303 Mỏ Tầu để tiến về phía đông, phía đường 1, ở tây bắc cầu Truồi.

Nhưng đến ngày 24/3, khi chúng tôi vượt qua cầu Truồi, chọc theo đường 1 lên cầu Nông (chúng tôi vẫn gọi là Nong) thì vẫn chưa thấy f 324 xuống đến đường 1.

Tiếng pháo và các loại súng vẫn nổ rất rộ.

Không biết sao f 324 gặp phải khó khăn như vậy.

Lúc đó tôi vẫn tưởng f324 chưa giải quyết xong núi Bông.

Nhưng theo bác Lixeta thì ngày 23 núi Bông cũng được giải quyết ?!

Sáng 23/3/75, trung đoàn 18 của 325 bắt đầu đánh chiếm Mũi Né.

Thực sự là tinh thần của địch đã không còn nên mất sức chiến đầu và dễ dàng tháo chạy khi bị ta đánh.

Được đà e18 tiến đánh qua Phú Lộc và đến chiều thì chiếm được đèo Phước Tượng.

Một lực lượng của e18, vòng theo bờ Đầm Cầu Hai để chặn địch tại cửa Tư Hiền.

Lực lượng chính chuẩn bị tiến đánh đèo Phú Gia và Lăng Cô.

Một toán trinh sát của chúng tôi đi trước, cùng đi theo e18 đánh hướng này.

Trong khi đó, trung đoàn 101/f325 tiến ngược ra phía Huế và 16 giờ 30 ngày 23/3 đã đánh chiếm căn cứ Lương Điền.

Toán trinh sát thứ hai của chúng tôi được lệnh xuất phát.

Toán này có trung trưởng Bùi văn Thắng, trung phó Dương Chí Lục, thằng Quynh a trưởng, một thông tin 2 oát, hai tay súng AK bảo vệ thông tin và tôi là người cầm bản đồ, sẵn sàng cắt đường dẫn bộ binh đánh vòng nếu hướng tấn công dọc đường 1 bị chặn ở đâu đó.

Chúng tôi xuất phát từ cứ của c20 và khoảng 2 giờ chiều thì đến sát chân Mom Kim Sắc.

Khoảng 4 giờ, chúng tôi xuống đến Bạch Thạch.

Bạch Thạnh là một vị trí của Địch đã bị ta đánh chiếm từ đêm 21/3.

Lâu ngày ở trên rừng, bây giờ được đặt chân lên đường nhựa, trong lòng ai nấy đều cảm thấy rất bồi hồi.

Tuy trận đánh ở đây là đêm hôm kia rồi nhưng vẫn còn thấy mùi chiến trận.

Mùi thuốc pháo vẫn còn phảng phất làm trực giác những người lính tởn lên một cảm xúc lạ mà quen.

Không khí căng thẳng của những ngày nào đó ùa về cùng với sự thảnh thơi khi nhìn cảnh chiến trận vừa đi qua đan xen lẫn lộn.

Ai đó thốt lên " Có mùi !".

Tôi ngó dớn dác xung quanh và nhìn thấy một chiếc thuyền úp ngược.

Một chiếc thuyền gỗ, chắc là của dân đánh cá trong Đầm Cầu Hai, người ta đã kéo nó từ biển lên, kéo qua đường 1 và cất ở đây.

Tôi và một đứa nào đó (bây giờ không nhớ) đi lại phía chiếc thuyền.

Chiếc thuyền úp và được kê cao, có thể chui vào ngồi ở dưới được.

Không ai bảo ai, hai thằng đều cúi xuống nhìn vào trong.

Phía dưới, ở giữa chiếc thuyền là một đống củi gỗ, loại củi mà dân ở đây thường đào hố cho xuống để đốt lấy than hoa.

Hai thằng tôi đều "Ồi !" lên cùng lúc.

Trên đống gỗ, dưới chiếc thuyền úp ngược là một cái xác lính địch.

Cái xác được đặt nằm ngửa, hai tay đặt trên bụng, đầu quay về hướng bắc rất ngay ngắn.

Thì ra "có mùi" là từ đây.

Chắc hẳn thằng này có thằng bạn thân, không kịp chôn cất chiến hữu nên giấu tạm vào đây hy vọng sẽ quay lại.

Ừ ! cũng là tình bạn vào sinh ra tử mà.

Nghĩa cử của anh ta trong đêm bị đối phương tấn công quyết liệt như vậy kể cũng đáng trân trọng.

Chúng tôi qua đường 1 thì cũng là sát bờ biển của Đầm Cầu Hai.

Cả toán, người ngồi, kẻ nằm tất cả đều hóng ra biển đón gió, nghỉ ngơi trước khi đi tiếp.

Tiếng súng vẫn đang rộ lên ở phía căn cứ Lương Điền.

Mới có bốn rưỡi mà đã tắt nắng, một phần vì Mặt Trời bị khuất sau động Truồi và Bạch Mã, nhưng chính vì hôm nay trời nhiều mây.

Mây đã buông xuống đến lưng chừng núi.

Từng cơn gió mát nhè nhẹ thổi từ biển vào.

Nhìn ra xa trên Đầm Cầu Hai trời cũng mù nên không nhìn tới được cửa Tư Hiền.

Làn nước bàng bạc chỉ lăn tăn chứ không có sóng vỗ vào bờ rì rào, cũng không có tiếng gió vi vút qua rặng phi lao như thường thấy.

Trên đầm không thấy có bóng dáng một con thuyền nào.

Chúng tôi cũng không nghe thấy có tiếng súng phía ngoài đầm.

Phía căn cứ Lương Điền tiếng súng cũng đã im.

Xung quanh chúng tôi vắng lặng như tờ, không một bóng người, không một tiếng chim kêu.

Suốt cả một đoạn đường dài cũng không nhìn thấy một chiếc xe nào cho dù là xe hỏng hay xác xe trúng đạn.

Một chiều hoang vắng, . . . không có cái chết mà dường như cũng chẳng có sự sống.

Một Đầm Cầu Hai ảm đạm, vô hồn.

Chúng tôi đi tiếp dọc theo đường 1 về phía căn cứ Lương Điền.

7 người lính lặng lẽ bước, người nọ cách xa người kia đi đan nhau hai bên đường.

Tôi cầm bản đồ đi trước rồi đến anh Thắng, rồi thằng Quynh.

Sau thằng Quynh là hai đứa kẹp cậu thông tin ở giữa.

Anh Lục đi sau cùng.

Đoạn này chúng tôi phải cảnh giác, có thể gặp tàn quân địch với những thằng ngoan cố.

Tuy vậy, suốt quãng đường từ Bạch Thạch tới Lương Điền chúng tôi cũng chẳng gặp một ai.

Khi qua thôn Bát Sơn, một thôn nhỏ nằm ngay ven đường thì làng xóm cũng quạnh quẽ không một bóng người mà cũng không thấy một bóng gia súc lợn gà hay chó mèo gì.

Có lẽ người dân ở đây đã đi chạy giặc từ lâu và đem theo tất cả.

Khoảng 5 rưỡi, chúng tôi đến Lương Điền.

Một tiếng trước đây chỗ này là trận chiến mà sao có vẻ như không có gì nhiều.

Chúng tôi không nhìn thấy lính chết, cũng không nhìn thấy xe tăng hay pháo của địch, hay xe cộ vứt lại ngoài căn cứ để bỏ chạy.

Mấy cái lô cốt đầu cầu bằng đất đỏ và bao cát gần đường 1 vẫn còn nguyên.

Có thể trận đánh chỉ rộ lên vì tiếng súng của ta và địch thấy lực lượng ta từ xa đang cơ động trên đường đã báo động cho nhau bỏ chạy hết.

Hẳn là còn nhiều thứ nguyên vẹn nhưng phải leo hẳn lên điểm cao 162 của căn cứ mới thấy.

Trời đã xẩm tối, vả lại chúng tôi không ai có ý định lên đó làm gì.

Chúng tôi phải đuổi theo bộ binh của trung đoàn 101.

Khoảng gần 6 giờ, trời đã tôi tối, chúng tôi vẫn chưa bắt kịp bộ binh.

7 rưỡi tối thì chúng tôi đến thôn Tế Xuân.

Phía trước kia khoảng trăm mét là cầu Truồi rồi, vì vậy lúc đó chúng tôi gọi thôn này là thôn Truồi.

Đến đây chúng tôi mới gặp Bộ binh 101.

Phía trước của đơn vị đã áp sát cầu và đang trinh sát nắm địch để chuẩn bị đánh qua cầu.

Chúng tôi rẽ vào làng tìm một ngôi nhà.

Trời rất tối nhưng bên kia là địch nên chúng tôi phải lần mò trong đêm tối để tìm.

Cuối cùng mọi người quyết định nghỉ lại đêm trong một ngôi nhà gần sát với sông Truồi nhưng ngược từ cầu lên cỡ 200 mét.

Cái bếp quay vuông góc với bờ sông và rất nhiều cây cối che chắn nên chúng tôi vẫn thổi cơm nấu nước đàng hoàng.

Cơm nước xong, anh Thắng cắt gác và yêu cầu mọi người đi ngủ.

Khi nào ta nổ súng thì chúng tôi sẽ dậy và bám theo sau bộ binh.

Chúng tôi giật mình tỉnh dậy vì tiếng đạn cối nổ liên hồi ở phía cầu Truồi.

Một lúc sau nghe rộ lên tiếng súng AK và các loại B.

Anh Thắng thúc chúng tôi dậy nấu cơm ăn sáng.

Chắc hôm nay sẽ vượt qua cầu Truồi nhưng không biết trong ngày nay có tiến qua cầu Nong được hay không.

Trong đêm, chúng tôi vẫn chưa nghe thấy xe tăng của ta từ trên núi xuống.

Nếu bộ binh tiến nhanh quá mà không có hỏa lực mạnh cũng rất nguy hiểm vì từ đây đến Huế chẳng còn bao xa.

Địch bị dồn ép vào một vùng chật hẹp như vậy sẽ chống trả đến cùng.

Trận đánh qua sông Truồi chỉ thấy có tiếng súng cối, không thấy có pháo của trung đoàn 84 lên tiếng.

Chắc pháo của ta đang vận động từ trong rừng xuống đường 1?!

Chúng tôi men theo bờ sông Truồi.

Con đường này thật là đẹp với hàng dừa lớn nghiêng mình xuống dòng sông.

Đoạn này dòng chảy nhè nhẹ, mặt nước phẳng lặng.

Một cái làng trù phú với rất nhiều cây cối xanh tốt um tùm.

Bờ sông bên kia là thôn Xuân Lai cũng cây cối xùm xòa.

Chắc địch đã bỏ chạy khỏi Xuân Lai, ngôi làng yên tĩnh không ánh đèn hay lửa khói.

Chúng tôi ra đến đường 1 thì trời vừa sáng.

101 đã vượt qua cầu Truồi một đoạn xa rồi.

Cầu Truồi khá dài và vẫn nguyên vẹn.

Qua Truồi mới thấy cảnh cây cối và đường xá bị đạn cối bắn.

Đây đó là những đám cháy.

Mùi khét của thuốc đạn, mùi hăng của nhựa cây tươi và mùi khói quện vào nhau thành một thứ gì đó kiến những người lính cảm thấy rạo rực.

Nó kích thích vào cái bản năng sống, đưa con người vào một trạng thái cuồng say cao độ, đánh thức mọi sự tinh nhạy của giác quan.

Các lò xo phản xạ được dồn nén và chờ . . . sẵn sàng bật lên bất cứ lúc nào.

Ấy là bản năng thành thục của người lính.

Chúng tôi bám ngày càng gần bộ binh 101 phía trước.

Tạm thời không tiến gần hơn nữa và giữ khoảng cách vài trăm mét.

101 tiến đánh khá chậm vì địch trụ ở các làng hai bên đường và chống cự lại.

Ta đánh đến đâu chắc đến đó.

Trinh sát trung đoàn bám địch, nắm tình hình rồi đơn vị mới tiến đánh tiếp.

Tầm 2 giờ chiều, chúng tôi mới đến thôn Xuân Hồi.

Làng Xuân Hồi nằm rải hai bên đường.

Lác đác đây đó là một vài cửa hàng, hiệu may, hiệu tóc, nơi bán xăng lẻ cũng có biển hiệu Shell với hình cái vỏ sò hay Esso, . . . chủ yếu phục vụ bà con và khách nhỡ độ đường hết xăng.

Chúng tôi rẽ vào một ngôi nhà ven đường để nghỉ và ăn cơm nắm.

Ngôi nhà có mảnh sân phía trước láng xi măng khá rộng.

Nhà bốn mái, lợp tôn rất sạch sẽ, không có cảm giác bụi bậm của những nhà ven đường thường thấy.

Hai cây vú sữa lớn che gần hết mái làm cho trong nhà rợp mát.

Ăn trưa xong, tôi và anh Lục đi dạo trên đường và xục vào những nhà ở phía trước.

Có một căn nhà rất đẹp, cũng bốn mái nhưng xây vuông vức và quét ve xanh nhạt.

Một chái nhà được xây nhô ra trước với một cái cửa mở đón ra hành lang dưới mái hiên.

Hẳn là nhà công chức, có tiền.

Tất cả các nhà đều không có dân ở lại nhưng đồ đạc còn nguyên vẹn và cửa thì không khóa.

Trong một cái ngăn kéo không khóa chúng tôi lấy ra một cuốn album rất lớn.

Cuốn album chụp hình một đám cưới.

Chú rể là một phi công trong không lực VNCH.

Bộ quân phục không quân bên cạnh áo dài trắng làm thành một thứ đẹp trong cảnh binh đao.

Một số ảnh chụp tại ngôi nhà và một số ảnh chụp ở thành phố, có lẽ là Huế.

Tất cả các bức ảnh đều là ảnh màu.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ảnh màu thực sự rất đẹp chứ không phải ảnh tô màu.

Ở Hà Nội lúc đó chỉ có ảnh tô màu.

Người thợ dùng bút lông tô màu nước lên ảnh đen trắng.

Khi ta vào hiệu ảnh "Quốc Tế" hay "Phương Đông" ở phố Hàng Khay bao giờ cũng bị gạ làm ảnh màu.

Quyển AlBum cũng rất "xịn".

Bìa dày, có lớp mút êm êm bên trong.

Chỗ dán ảnh cũng rất lạ, có những đường kẻ ngang song song nhau, chỉ cần đặt ảnh lên là dính, mà nhấc ảnh lên không có keo dính theo.

Anh Lục và tôi cứ ngắm nghía, trầm trồ mãi.

Đúng là . . .

"nhà quê ra tỉnh".

Chỉ còn hơn hai cây số nữa là đến cầu Nong.

Lúc này bộ binh gặp phải sự kháng cự khá quyết liệt của địch.

Phải nói là suốt từ cầu Truồi đến cầu Nong, ta cứ tiến được một đoạn lại gặp địch kháng cự.

Dừng lại giờ lâu rồi lại đánh và tiến cứ như là ăn cơm có nhiều sạn phải nhằn liên tục chứ không thể nhai ngon lành được.

Khoảng 4 giờ chiều, giao tranh quyết liệt khu vực gần cầu Nong.

Rồi cuối cùng địch cũng phải rút qua cầu Nong.

Chúng án ngữ bên kia cầu, liên tục bắn đạn cối và đại liện để không cho ta vượt qua cầu.

Xẩm tối, hai bên đã ngừng tiếng súng.

Anh em bộ binh đang củng cố lực lượng, hơi lùi về phía sau, dùng hỏa lực để khống chế đầu cầu.

Toán trinh sát chúng tôi lần ra cầu để nắm địch.

Mùi thuốc nổ khét lẹt.

Trên cầu một đám lửa cháy rần rật ngày càng lớn.

Chúng tôi không biết tại sao trên cầu cũng là mặt đường nhựa dày như vậy mà chúng lại có thể bắn cháy ở trên mặt cầu.

Trời tối, địch ẩn nấp nên chúng tôi không quan sát thấy chúng.

Thỉnh thoảng chúng mới câu cối lên cầu và đường.

Có vẻ như chúng muốn nói rằng "tao vẫn đang ở đây, Vi Ci đừng có mà tiến . . .".

Phía cầu đường sắt địch cũng chặn ở phía bên kia.

Chốc chốc đại liên lại bắn cầm canh.

Rất có thể, bên kia hai cây cầu chúng bố trí mìn định hướng Claymo.

Đám lửa cháy trên cầu rất sáng nhưng chúng tôi cũng không quan sát thấy địch bên kia cầu.

Trên mặt cầu và trên đường, nhìn rõ những thứ vương vãi, đống này đống kia.

Có lẽ lính địch vừa rút qua cầu vừa vứt bỏ bớt đồ đạc cho nhẹ để sẵn sàng chạy cho nhanh ?!

Lúc chúng tôi chạy qua chạy lại từ bên này đường sang bên kia, chắc hẳn là chúng nhìn thấy chúng tôi nhưng không thấy bắn đuổi theo.

Đêm hôm đó ta bị chặn lại, không tiến qua cầu được.

Mấy hôm sau, khi tôi từ Huế quay về Đà Nẵng thì mới biết cầu Nong bị đánh sập.

Chúng tôi phải vòng lên đi cầu đường sắt để qua sông.

Đồ rằng địch sợ ta tấn công bằng xe tăng nên phá sập cầu đường bộ mà không phá cầu đường sắt, hoặc là chúng không phá được cầu đường sắt ?!

Lúc này toán trinh sát sư đoàn mới phải làm nhiệm vụ.

Sau khi nắm địch và điện về ban 2, chúng tôi nhận được điện của ban ra lệnh tìm đường vòng sang phía đông.

Nếu ngày hôm sau mà ta không vượt được cầu Nong thì chúng tôi phải dẫn bộ binh đi vòng, bỏ qua cầu Nong, đánh thẳng về Huế.

Toán trinh sát bàn nhau tìm đường vượt qua sông Nong.

Nó là một con sông nhỏ, rất có thể lội qua được.

Nếu phải bơi qua sông thì sẽ rất khó cho bộ binh của 101.

Sau khi xem xét kỹ trên bản đồ, chúng tôi quyết định, trước hết là cứ tiến về phía đông chừng năm bảy trăm mét, cách xa cầu Nong, nơi địch đang chốt giữ để nếu trung đoàn có hành quân lực lượng đông thì vẫn bảo đảm bí mật.

Sau đó sẽ dò tìm đoạn nào lội được để qua sông.

Tôi cầm bản đồ và chiếc đèn pin để dò đường đi.

Sau lưng tôi là Quynh rồi đến những người khác.

Trong tay tôi chỉ có bản đồ tỷ lệ 1:50.000.

Như thế cũng tốt rồi.

Bản đồ Quảng Trị thì trong ba lô tôi, để ở cứ của c20, có đủ bộ với tỷ lệ 1:25.000, bây giờ chẳng có tác dụng gì.

Chúng tôi cứ men theo bờ sông.

Đoạn này là thôn An Nông IV.

Đường đi có lúc dễ, có lúc rất khó vì vướng cây cối rậm rạp.

Chừng được 500 mét, chúng tôi gặp một nhánh sông với một chiếc cầu nhỏ.

Chiếc cầu nối giữa thôn An Nông IV và An Nông III.

Cầu này mới chỉ giúp chúng tôi qua được một nhánh của sông, vì có một ngã ba của sông Nong ở đoạn trên.

Đến đây dòng nước bị chia ra làm hai ngả.

Lượng nước ở mỗi nhánh sẽ bớt đi.

Nhánh bên phải thì tan biến dần trong cánh đồng thành các con rạch tưới tiêu.

Nhánh bên trái lớn hơn sẽ đổ vào sông Cống Quan rồi đổ ra đầm Cầu Hai.

Tôi dò được một chỗ trên bản đồ thấy có đường mòn qua nhánh sông này.

Chắc hẳn chỗ này phải lội được.

Sau khi qua cầu, đường đi có vẻ dễ dàng hơn.

Chỉ một lúc sau, chúng tôi tìm được đường mòn đó.

Chúng tôi lội sông theo đường mòn.

Lòng sông là cát pha chút bùn, rất dễ lội, nước sâu nhất chỉ lên đến đùi.

Sau khi qua sông, tôi dừng lại để chờ mấy người lội sau và để nói với anh Thắng tọa độ điểm lội qua sông mà viết điện báo cáo về ban.

Từ đoạn này trở đi, tôi bắt đầu nhắm hướng đi theo phương vị, cứ thế mà lội ruộng thẳng tiến.

Khổ cho mấy đứa đi dép.

Tôi nhớ có hai đứa phải đeo dép vào xanh tuya và lội chân đất.

Đôi dày lính ngụy của tôi đã sẵn có mấy cái lỗ, tôi còn đục thêm vài cái nữa.

Giày cao cổ, dây giày quấn vài vòng quanh cổ giày, buộc chặt, lội ruộng rất ngon lành.

Nước vào rồi nước lại ra, xì xà xì xoạp.

Gần đến thôn Tô Đà, chúng tôi gặp một con đường đất nối từ thôn Tô Đà ra bờ sông Cống Quan.

Anh Thắng cho dừng lại nghỉ.

Điểm này theo đường đất vào làng chừng một cây số và ra đến bờ sông cũng khoảng một cây.

Khoảng 10 giờ mà phía thôn Tô Đà rất im ắng, cũng không có ánh đèn, ánh lửa gì.

Không biết trong thôn có dân ở lại hay đã chạy hết rồi ?!

Trên bản đồ, tôi thấy có một con đường nhựa loại 2 bắt từ đường 1 ở thôn Phú Bài III chạy vào thôn Tô Đà.

Qua thôn là đường đá.

Chúng tôi sẽ tránh con đường này vì lực lượng của mình ít mà nhiệm vụ là tìm đường chứ không phải đánh nhau.

Chúng tôi ngồi trên con đường đất, vừa uống nước vừa dõi nhìn về phía thành Huế.

Một vầng sáng mưng mưng trên nền trời ở phía đó.

Nó làm tôi nhớ ngày học cấp hai, năm sáu tư, sáu lăm, ở nơi sơ tán gần ngã tư Vác.

Lúc đó, tối đến anh em tôi lên bờ đê nhìn về phía Hà nội cũng thấy một quầng sáng như thế này.

Mặc dù Mỹ đánh phá, nhưng ở Hà Nội vẫn thắp đèn điện.

Chỉ khi nào báo động mới tắt đèn.

Tôi cũng nhớ cái ngày sơ tán ở Thái Nguyên, vùng đồi núi trung du, chúng tôi cũng trèo lên chỗ cao để mà vươn dài cổ tìm Hà Nội.

Nhớ chiều hôm đó, năm sáu sáu, máy bay Mỹ bay rất nhiều qua chỗ chúng tôi rồi ném bom ở phía Hà Nội.

Rồi bỗng một cột khói đen kịt bốc lên từ Hà Nội.

Phải là cháy rất lớn thì ở tận đây mới nhìn thấy cột khói như vậy.

Vài ngày sau chúng tôi mới được biết chúng đánh trúng vào kho xăng Đức Giang.

Tôi mô tả đường đi bằng các tọa độ trên bản đồ để anh Thắng điện về cho ban 2.

Trên đường chúng tôi đã vận động qua không hề có địch vì đây là phía đông đường 1.

Địch không có căn cứ nào ngoại trừ sân bay Phú Bài.

Bộ đội có thể vận động cùng với hỏa lực của trung đoàn.

Đêm tối không thể làm các nghiệp vụ xác định tọa độ bằng cách ngắm nghía các địa vật nhưng rất may mắn chúng tôi có các địa hình sông và đường.

Có hai cái đèn đỏ rất cao là đèn ở sân bay Phú Bài và của đài phát thanh.

Hay nhất là cái đài phát thanh Huế với cột ăng ten rất cao, có đèn đỏ nhấp nháy.

Do đó việc xác định điểm đứng khá chính xác.

Đài phát thanh nằm phía tây tây bắc quận lỵ Hương Thủy, ở góc một ngã ba đường, đi từ trong nam ra, qua quận lỵ chừng 1 cây số.

Mọi người có vẻ mệt mỏi, riêng tôi thì không.

Có thể tôi là người dẫn đường còn mọi người bị động đi theo nên rất mệt.

Việc này giống như khi chúng tôi hành quân từ bắc vào Quảng Trị, giao liên mang vác cũng nặng mà cứ đi phăm phăm, rồi phải đứng lại chờ chúng tôi.

Trông họ chẳng thấy mệt gì, còn mình thì chỉ muốn nghỉ.

Chúng tôi ngồi nghỉ khá lâu, chờ anh Thắng gửi điện đi và nhận điện lại từ ban 2.

Điện từ ban động viên "Tốt" và yêu cầu tiếp tục tìm đường vượt qua luôn cả quận lỵ Hương Thủy.

Chúng tôi tiếp tục băng ruộng, tiến về phía tây bắc.

Các ruộng lúa đang thì con gái mà chúng tôi cứ thế đạp qua mà đi.

Lúa chưa làm đòng, chưa thấy mùi thơm của sữa đòng nhưng mùi lúa thơm thì lúc nào cũng thoang thoảng.

Mỗi khi gặp hương lúa thoảng bay trong gió là sức lực con người dường như được tăng lên một phần.

Hít căng lồng ngực mùi lúa thơm, để cho mùi lúa tràn vào từng huyết quản.

Sức trai trẻ cảm thấy cường tráng hơn bao giờ hết.

Tờ mờ sáng, chúng tôi vẫn đang băng đồng.

Xa xa là các làng mạc vẫn đang im lìm chìm trong màn sương mỏng nhẹ giăng mờ.

Bình minh sắp đến rồi.

Nếu cứ tiếp tục đi như thế này, giữa đồng không trống trải mà ở đâu đó có địch thì có thể chết vì đạn cối M79.

Bất chợt tôi nhìn thấy phía trước có một đoàn lính, lờ mờ, khoảng ba chục người đang chạy khá nhanh từ phía trong thôn Lương Văn (3).

Họ chạy hàng một, súng ống đầy đủ, chéo qua phía trước mặt chúng tôi, cách chừng hai trăm mét.

Mọi người lập tức nằm rạp xuống lúa.

Đoàn lính không phát hiện ra chúng tôi và vẫn chạy một cách bình thản.

Họ chạy về phía bắc, hướng ra biển còn chúng tôi đang đi theo hướng tây bắc, về phía thành phố Huế.

Anh Thắng bật ra:

- Có lẽ 101 đấy.

- Không thể thế được, nếu đêm qua 101 vượt qua cầu Nong rồi thì tiến vào Huế chứ chạy ra biển để làm gì.

Mà có thấy đánh đấm gì đâu mà truy quét về phía này.

Địch đấy anh ạ ! – Tôi nói.

Thực lòng, tôi cũng không chắc chắn lắm và chỉ suy luận.

Không có lẽ trinh sát 101 nhanh thế và họ dẫn đơn vị nhỏ vào nơi có địch mà lại chạy ào ào như thế sao?

Hơn nữa, nếu có thì ban 2 phải báo cho chúng tôi biết chứ.

Nghĩ vậy, nhưng ai mà biết được cha con 101 có thể làm gì.

Đã vào trận thì chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Đợi đoàn lính chạy xa, chúng tôi tiếp tục tiến.

Khi đến con đường mà đoàn lính vừa chạy qua, nhìn dấu giày thấy toàn vết giày lính ngụy.

Con đường đất này là một con đường mòn trên bản đồ.

Con đường sẽ gặp bờ sông Đại Giang và nối tiếp qua bên kia sông.

Có thể đoạn sông đó lội được hay có đò?!

Trời đã hơi sáng, tôi phảy tay ra hiệu cho mọi người tăng tốc.

Phía trước là bờ sông Đại Giang, chúng tôi phải tìm cách qua sông.

Có một con đê nhỏ chỉ cao tới ngực chạy dọc ven sông.

Chúng tôi men theo con đê và đi thêm khoảng non một cây số nữa thì trời sáng.

Mọi người cúi lom khom và tiến tiếp.

Bất chợt tôi nhìn qua bên kia sông và thấy có một đám người rất đông đang tụ tập dưới gốc một cây đa.

Nơi đó có một cái miếu nhỏ.

Vậy thì chắc là họ cũng đã nhìn thấy những cái đầu nhấp nhô của chúng tôi rồi.

Tôi vẫy tay rồi chỉ sang bên kia sông để mọi người biết.

Mọi người có vẻ lúng túng, anh Thắng cũng chưa biết nên xử lý thế nào.

Tôi nói:

- Theo tôi, đằng nào cũng lỡ rồi, đằng sau mình toàn đồng trống, chẳng chui vào đâu được, ta cứ tiến đến ngang đoạn sông đó.

Nếu cần đánh nhau thì mình chủ động vẫn hơn.

Nói xong, tôi tiếp tục tiến.

Mọi người, không còn cách nào khác là phải tiến theo.

Khi đến ngang đoạn sông có miếu, chúng tôi dừng lại, ai nấy sẵn sàng.

Tôi nhô đầu lên quan sát, thấy toàn sắc dân.

Không biết trong miếu và phía sau có lính hay không.

Nếu chỉ có dân, mình nấp ở đây thật là vô lý và lỡ mất thời gian.

Nếu có địch thì mình nấp ở đây cũng không ổn.

Chỉ trong tích tắc, tôi đã quyết định.

Tôi nhảy lên đê, đứng thẳng người, chĩa súng qua sông và quát rất lớn:

- Chúng tôi là giải phóng.

Yêu cầu bà con đứng yên tại chỗ !

Yêu cầu anh em lính hạ súng đầu hàng !

Anh em sẽ có con đường sống và được về với gia đình.

Các đồng chí chuẩn bị sẵn sàng nổ súng !

- Mấy ông giải phóng ơi, ở đây không có lính, đừng bắn !

- Tiếng một người đàn ông nói vọng qua.

- Bà con không được che giấu lính.

Chúng tôi sẽ để anh em lính được về nhà.

Bà con và anh em yên tâm, chúng tôi không nói sai.

- Tui nói thiệt đó ông giải phóng ơi.

Bà con dân lành hết, không có ai lính mô.

- Bây giờ một người đưa thuyền qua sông chở bộ đội giải phóng qua.

Một ông già lật đật đi về mép nước, nơi có chiếc thuyền nhỏ đang cột ở đó.

Vẫn là ông già vừa nói vọng qua sông với chúng tôi.

Ông lấy thuyền và chèo qua sông.

Thực ra, gọi là sông Đại Giang mà đoạn này khá nhỏ, chỉ như một con kênh lớn.

Chúng tôi chia làm hai tốp, một tốp lên thuyền và một tốp tiếp tục cảnh giới.

Tôi trèo lên thuyền đầu tiên rồi đến ba anh em khác.

Anh Thắng, cậu thông tin và một cậu nữa đi chuyến sau.

Chúng tôi vẫn rất cảnh giác, súng lăm lăm hướng sang bờ bên kia.

Khi lên đến bờ, bốn đứa chúng tôi tản ra, đảo một vòng quanh cái cồn đất rồi kiểm tra trong miếu.

Đúng là toàn ông bà già, phụ nữ và trẻ con.

Khi cả bảy chúng tôi đã sang cồn đất thì mọi người mới hết căng thẳng và ngồi xuống trò chuyện hỏi thăm tình hình bà con.

Bà con cũng tíu tít cho biết đã chạy ra đây được mấy hôm, mang theo gạo và thực phẩm.

Họ sợ hai bên đánh nhau, tên bay đạn lạc, mà đạn thì đâu có mắt.

Cái cồn đất này khá rộng và cao hơn so với ruộng.

Cây đa to, tán lá xum xuê. ngoài ra còn rất nhiều cây khác nhưng nhỏ hơn nhiều.

Có mấy cái võng mắc vào những cái cây nhỏ đó, còn lại bà con trải chiếu nylon bên trong miếu và xung quanh để nghỉ ngơi.

Ta cứ tạm gọi cái miếu này là "Miếu Cây Đa" (Cái miếu này trên bản đồ cũng có và trên hình tôi vẽ một cái khác to hơn đè lên trên để nhìn cho rõ).

Một bà nào đó rót nước trà xanh và đưa cho chúng tôi mỗi người một bát.

Cái đoạn nghệ thuật dân vận thì anh Thắng là nhất rồi.

Anh hỏi đủ thứ chuyện của bà con và hỏi tình hình lính địch hoạt động ở xung quanh.

Chuyện gỉ chuyện gì thì tôi không nhớ nhưng bà con nói xung quanh đây không có lính.

"Bà con chỉ nghe nói lính chạy nhiều lắm ở trên lộ nớ, chạy tuốt ra ngoài Cửa Thuận tề !"

Nghỉ chừng 15 phút rồi chúng tôi đi tiếp.

Bây giờ chúng tôi cứ hiên ngang mà đi, vừa đi, vừa quan sát nghe ngóng.

Được một đoạn, chúng tôi rẽ theo một con kênh dẫn nước rất thẳng.

Hai bờ kênh đều lác đác có nhà dân.

Đây chắc hẳn không phải là một cái làng, những cái nhà có lẽ được cất lên hai bên kênh để dãn dân trong làng.

Người ta gọi cái xóm này là ấp Lợi Nông.

Anh Thắng nói sẽ nghỉ lại ở ấp này.

Chúng tôi tìm hai cái nhà gần nhau để xin nghỉ nhờ.

Anh Thắng, cậu thông tin, một người nữa và tôi nghỉ ở một nhà.

Lục, Quynh và người còn lại ở một nhà.

Việc đầu tiên là báo cáo tình hình về ban 2.

Tôi đọc liên tục các tọa độ trên đường đi cho anh Thắng viết điện.

Chỗ miếu, có vẽ trên bản đồ, lại có cây đa "độc lập" nữa nên rất thuận tiện để nhận ra.

Chỗ này là ấp Lợi Nông với con kênh thẳng tắp cũng rất dễ.

Từ đây có thể đánh dọc theo kênh vào đến An Cựu mà cũng có thể qua cầu, chưa đến hai cây số là đài phát thanh Huế.

Tôi nghĩ chúng tôi chỉ nghỉ lại đây một ít phút rồi đi tiếp.

Vì vậy sau khi anh Thắng điện xong tôi giục anh đi tiếp.

Tôi hơi bực mình vì thái độ chần chừ của anh.

Mãi sau anh mới à ê rằng để nấu cơm ăn đã.

Tôi bực mình lắm vì anh Thắng không cho tiến tiếp mà lại đi nấu cơm.

Một mình tôi ra khỏi nhà đi dọc con kênh.

Cả ấp vắng tanh vắng ngắt.

Người dân có lẽ chạy dạt hết cả rồi khi nhìn thấy chúng tôi từ xa tiến lại phía ấp.

Bỗng tôi nghe tiếng ì ì từ rất xa, có lẽ ở phía cầu Nong.

Tiếng xe tăng của ta.

Mặc dù tiếng xe khá nhỏ nhưng rõ là tiếng gầm của xe tăng ta.

M41 và M48 của địch tiếng máy êm hơn và chạy trên đường cũng không có tiếng rít của xích sắt.

Xe của Mỹ có guốc cao su dày, chạy trên đường nhựa không để lại vết.

Không biết 101 giờ đang ở đâu, có tiến đánh cùng xe tăng không ?

Về sau này tôi mới biết 101 đã vượt qua cầu Nong, tiến thẳng vào tới An Cựu và vào Huế.

Cầu Nong bị đánh cháy và sập từ đêm hôm trước.

Xe tăng phải đi vòng nên đã vào Huế sau vài tiếng.

Nghe tiếng xe tăng, lòng tôi rất rạo rực, chỉ muốn tiến lên cùng các đơn vị bạn.

Khi tôi nói với anh Thắng, không hiểu sao anh ấy rất chần chừ.

Hay là ban 2 đã ra lệnh cho chúng tôi dừng lại ?!

Quãng 12 giờ trưa ngày 25/3/75, có mấy người dân chạy từ Huế về, nói ta đã giải phóng Huế rồi.

Thế là chúng tôi trở thành người đi sau.

Nghĩ lại thấy chuyện trinh sát mò suốt đêm, rồi quát tháo, dọa nạt mấy người dân lành.

Thật là buồn cười !

Giá như anh Thắng cho đi tiếp luôn từ bảy giờ sáng, có lẽ chúng tôi sẽ gặp bộ binh 101, hoặc nếu rẽ ra đài phát thanh và chốt lại thì cũng làm ra một chuyện gì đó?!

Hoặc là chúng tôi bị tiêu hết cũng nên ?!

Cả chiều hôm đó, chúng tôi nghỉ lại ở ấp Lợi Nông.

Mãi đến 5 giờ 30 chiều, toán trinh sát mới lên đường đi Huế.

Chúng tôi qua cầu của con kênh thì gặp anh em du kích mặc áo đen quây lấy. mọi người đều rất vui mừng.

Một người dân nhanh nhẹn nói để anh về lấy xe đưa chúng tôi vào Huế.

Xe của anh là một chiếc xe lam, cả bẩy người chúng tôi đều lên xe.

Du kích, dân và chúng tôi ầm ỹ tiễn biệt nhau, rồi chiếc xe giật giật tiến lên.

Ra gần ngã ba, tôi ngước cổ nhìn lên cái cột ăng ten của đài phát thanh, nơi cái đèn đỏ vẫn đang nhấp nháy.

Nhờ nó chỉ đường mà đêm qua chúng tôi mò đi rất thuận lợi.

Khi đến gần An Cựu, đã thấy các nhà dân hai bên đường lên đèn.

Chúng tôi vừa vượt qua cầu An Cựu thì có ai đó bảo xe dừng lại vì phát hiện ở phía trước có người của c20.

Chúng tôi xuống xe, tay bắt mặt mừng.

Một toán trinh sát khác của chúng tôi cùng đi với 101 và đến Huế từ trưa.

Họ được lệnh sáng mai phải quay lại Đà Nẵng ngay.

Vì vậy mới quay ra đây sẵn để sáng mai đi sớm.

Chúng tôi cảm ơn anh xe lam rồi vào nhà.

Mọi người ồn ào nói chuyện, ai nấy như mở cờ trong bụng.

Tôi lững thững đi lại phía cây cầu.

Đường nhựa và ánh điện trong nhà xây của thị thành làm tôi nhớ nhà quá !

Sau này thấy nhiều tài liệu nói khác nhau về giờ cắm cờ ở Phu Văn Lâu.

Chẳng biết ai đúng ai sai.

"Thượng tướng Nguyễn Hữu An - nguyên Tư lệnh Quân đoàn 2, viết: "Sau khi giải phóng Phú Bài và Hương Thủy, Trung đoàn 101 , tiếp theo là Trung đoàn 3 bộ binh có xe tăng đi cùng, được nhân dân địa phương giúp phương tiện... vận chuyển tiến rất nhanh vào nội đô Huế.

Đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3, Tiểu đội phó Tiểu đội trinh sát Nguyễn Văn Phương đã cắm cờ chiến thắng lên Phu Văn Lâu."

"

"Đồng chí Vũ Thắng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế viết: "Ngày 25-3-1975, từ hai hướng Nam và Bắc Huế, các lực lượng đi đầu của Tiểu đoàn 8, bộ đội địa phương Quảng Trì, được tự vệ dẫn đường tiến vào nội thành Huế.

Đúng 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ giải phóng được cắm trên đỉnh Phu Văn Lâu.

Thành phố Huế đã được giải phóng."

"

Chẳng lẽ đã có cờ của K8 tỉnh đội Quảng Trị cắm trên cột rồi, Nguyễn Văn Phương, tiểu đội phó trinh sát của 101 lại tháo cờ xuống cắm lại lá khác ?!

Tôi cũng đã xem tranh luận này trên Quân Sử rồi.

Nhưng chắc chuyện tranh cãi sẽ chẳng đi đến đâu !

. . . (Hết chuyện "Từ Phú Lộc Đến Huế")

CHUYỆN XV QUA ĐÈO HẢI VÂN

6 giờ sáng ngày 26/3/1975, cả hai toán trinh sát chúng tôi đã ăn cơm xong và lục tục quay từ Huế ngược trở lại phía Đà Nẵng.

Cả đoàn đi thảnh thơi dọc theo đường số 1.

Không có pháo và máy bay của địch.

Lúc này ta đã giải phóng được Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ở phía bắc Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi ở phía nam.

Địch co cụm lại Thành Phố Đà Nẵng và quyết tâm tử thủ.

Địch bố trí phòng thủ Đà Nẵng thành hai tuyến.

Lúc đó chúng tôi chỉ biết là mau chóng đuổi theo trung đoàn 18 của f325 để tấn công Đà Nẵng.

Oái oăm thay, nhiệm vụ giao riêng cho tôi và một lính trinh sát nữa là phải làm "binh yếu địa chí" sân bay Phú bài.

Thế là phải đi sau mọi người một lần nữa.

Chúng tôi hành quân bộ qua lại cái đài phát thanh Huế, qua quận lỵ Hương Thủy, qua quân trường Quang Trung.

Tất cả hầu như nguyên vẹn.

Quân trường Quang Trung có mặt tiền quay ra lộ số 1, có tường xây và rặng phi lao xanh tốt dọc theo đường.

Cái cổng quân trường rất lớn và biển doanh trại cũng rất lớn, màu đỏ.

Ở đoạn này chúng tôi gặp pháo 85 của trung đoàn 84 đang kéo trên đường.

Họ đang làm động tác quay xe và quay pháo.

Cả xe và pháo rất dài nên họ phải tháo pháo ra quay xe, còn pháo thì anh em phải xúm lại để đẩy và quay pháo.

Công việc có vẻ khó.

Nói vậy thôi còn dễ hơn nhiều lần khi kéo pháo ở trên rừng núi.

Tôi hỏi thăm trinh sát pháo Thanh, người cùng phố tôi và được anh em chỉ cho.

Thanh cũng đang tham gia kéo pháo.

Chào nhau, hỏi thăm dăm ba câu rồi chúng tôi nhanh chóng ai về việc nấy.

Đến gần và sờ vào khẩu pháo 85 và thấy nó rất dài. xe và pháo đều được ngụy trang lá um tùm.

Không biết có phải khi tuyển quân người ta chọn lính pháo to con hơn lính bộ binh không mà tôi thấy, nói chung lính pháo béo tốt và cao to hơn chúng tôi.

Chắc là không phải vậy.

Khi chúng tôi huấn luyện tân binh xong, những đứa được tuyển đi pháo binh cũng tầm vóc như chúng tôi thôi.

18 tuổi vẫn đang lớn vì những năm tháng đó toàn đân tộc thiếu đói nên trẻ con phát triển chậm.

Lúc hết phổ thông, khi khám sức khỏe, tôi chỉ nặng có 33 cân và đang lớn như nhiều đứa khác.

Gần bốn năm lính bộ binh, đi bộ, vác nặng, ăn đói, thiếu chất đã làm chúng tôi gày gò và không lớn thêm được bao nhiêu thành ra thấp bé so với lính pháo.

Tôi chưa thấy ai so sánh chuyện này, nhưng chắc hẳn nguyên nhân là như vậy ?!

Đến cửa sân bay, bắt tay với toán trinh sát xong, hai thằng tôi rẽ vào sân bay.

Việc đầu tiên là chúng tôi trèo lên đài kiểm soát không lưu để quan sát toàn bộ sân bay.

Cái đài này không cao lắm nhưng cao hơn tất cả các chỗ khác trong sân bay và quan sát được khá xa ra mọi hướng.

Tầng trên cùng của đài, xung quanh toàn kính, có tám mặt hay sáu mặt (bây giờ không nhớ chính xác).

Mặt kính vát và loe ra ở phía trên.

Bạn tôi vẫn luôn cảnh giới cho tôi vì sợ nhỡ có thằng điên nào đó ở lại đây để chết với Việt Cộng?!

Sau khi quan sát toàn bộ sân bay.

Tôi thấy công việc thật là nhiều, chắc phải mất rất nhiều thời gian đây.

Chợt tôi nảy ra một ý hay.

Hai thằng bắt đầu đi lục lọi, kiếm tài liệu sẵn có của địch để lại.

Ở khu sân bay này, các nhà cho lính và nhà làm việc đều là nhà kiểu lắp ghép nhanh bằng khung.

Sau đó được thưng gỗ dán rất dày.

Cửa phòng cũng bằng gỗ dán.

Trần nhà đều rất thấp, nhảy lên có thể với tới.

Bạn tôi có vẻ hăng hái đi lục lọi lắm nhưng tôi nói hãy cẩn thận, nhỡ chúng nó gài lựu đạn.

Lúc bấy giờ tiếng Anh của tôi rất "ây bi xi" nên không biết biển đề trên các cửa phòng có nghĩa gì.

Tất cả các biển phòng đều là tiếng Anh.

Thế mới cú !

Chúng tôi lục thấy rất nhiều hồ sơ, tài liệu, gần như nguyên vẹn.

Bọn địch không kịp mang theo và cũng không kịp hủy tài liệu.

Các khu nhà này thì chỉ cần một mồi lửa là tất cả sẽ thành tro hết.

Chúng tôi lục lọi tất cả các phòng, phòng nào khóa thì nhảy lên cho một cú song phi là bật ra hết.

Không có mìn hay lựu đạn gài lại ở bất cứ chỗ nào trong sân bay.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng tìm được thứ mình cần.

Đó là toàn bộ sơ đồ sân bay cùng với tài liệu kèm theo.

Rồi chúng tôi tìm thấy ở nhiều phòng khác cũng có tài liệu này.

Tất cả đều được vẽ trực tiếp bằng tay (không phải vẽ máy) và được in thủ công (héliographie) mà lúc đó dân kỹ thuật ngoài bắc vẫn gọi là "in nắng" ("Héliographie" dịch sang tiếng Việt cũng không tìm được từ nào đắt hơn từ "in nắng").

Các bản in có màu nâu-tím nhạt hoặc màu xanh "Cửu Long" nhạt.

Người ta vẽ bản gốc trên giấy can (còn gọi là giấy bóng mờ hay giấy căn ke), sau đó đặt lên trên một tờ giấy có tẩm thuốc.

Mang ra đặt lên bàn giữa trời nắng và đặt một tấm kính đè lên trên.

Một lúc thì mang bản giấy tẩm thuốc vào cho vào dung dịch định hình.

Rồi phơi ra nắng cho khô là thu được một bản in.

Khi ở Việt Nam chưa có photocopy khổ A0 thì khi in bản in lớn, người ta vẫn dùng cách này.

Các bản sơ đồ và tài liệu chúng tôi thu được có màu nâu-tím nhạt.

Ánh nắng bắt đầu đứng bóng nhưng chúng tôi vẫn chưa lục soát hết.

Hai thằng chui vào một phòng ngồi nghỉ ăn cơm nắm với ruốc mặn.

Đây là một phòng làm việc.

Nắng chói làm cho không khí trong phòng rất ngột ngạt.

Tôi nhìn thấy một cái máy khá to bên trên cửa sổ phía sau mà mãi về sau tôi mới biết đó là máy điều hòa.

Mà giả sử chúng tôi có biết đó là máy điều hòa thì lúc đó trong sân bay cũng không có điện.

Buổi chiều 26/3/75, chúng tôi vẫn lục lọi tiếp các nhà trong sân bay.Khu sân bay rộng mênh mông mà chỉ có hai đứa chúng tôi. tất cả chìm trong nắng và sự tĩnh lặng.

Dường như cũng không có lấy một bóng chim sẻ, giống chim thường làm tổ trên các mái nhà có người ở.

Cũng không thấy bóng dáng một con chuột nào, cái giống luôn bám theo người để ở và kiếm ăn.

Một cái sân bay hoang vắng lạ lùng.

Lục lọi mãi cũng không thêm được gì vì có nhiều giấy tờ sổ sách khác không liên quan đến công việc của chúng tôi.

Bây giờ chúng tôi mới nghĩ chuyện đi kiếm cái ăn.

Thể nào ở sân bay cũng có kho tàng, sẽ có rất nhiều hàng hóa và đồ ăn.

Lúc đó chúng tôi không hề nghĩ đến các thứ hàng hóa hay đồ đạc gì.

Nếu có lấy gì đó thì chỉ tìm đồ ăn hay thuốc hút thôi.

Nhưng rồi chiều đang đến mà tôi thì đang muốn đảo một vòng xung quanh sân bay xem xét thực địa có gì khác trong sơ đồ để bổ sung thêm vào tài liệu.

Chúng tôi chỉ lượn được một phần của sân bay vì nó quá rộng.

Nếu muốn đi hết và xem xét hết bố trí phòng vệ và bố trí hàng rào chắc phải vài ngày.

Trong sân bay, không có một chiếc máy bay nào.

Chắc hẳn địch đã tận dụng tất cả các máy bay để chạy rồi.

Hay là còn những chiếc máy bay hỏng nằm trong kho.

Khu vực nhà để máy bay chúng tôi chưa đi tới nên không rõ.

Quãng năm rưỡi chiều, hai thằng trong cái sân bay mênh mông làm cho chúng tôi thấy lẻ loi và chán.

Chẳng ai thiết nghĩ đên việc ti tìm đồ ăn nữa.

Tôi đã có đầy đủ tài liệu để nộp cho sư đoàn rồi.

Hai thằng nhanh chóng rời sân bay rồi đi về phía cầu Nong.

Chợt nhớ ra tên người đi cùng tôi là Hồng.

Hồng thấp hơn tôi một chút, dáng người đậm và nước da đỏ, hơi đen.

Hắn cũng chuyển từ d19 đặc công về.

Hồng ở tiểu đội 3, cùng trung đội với tôi.

Hắn vốn ít nói và thích sống chìm sau người khác, một tính cách rất dễ chịu.

Quê hắn ở Vĩnh Phú, hình như là Yên Lãng thì phải.

Hai thằng đi cùng nhưng thỉnh thoảng tôi cứ phải bảo hắn đi ngang hàng lên nói chuyện cho vui:

- Có lẽ tìm một nhà nào đấy, nghỉ lại, còn cơm nước không có tối mất.

- Ừ !

- Ông để ý tìm nhà nhé, tôi xem cái Trại Con Ó một tý.

Trại này trước kia của biệt kích Mỹ đấy.

Không biết Mỹ rút rồi thằng nào đóng ở đây ?

- Đến làng còn xa.

- Ừ mình chọn cuối làng Phú Bài đi, làng này theo đạo Phật, có chùa đây này.

Tôi đưa bản đồ cho Hồng và chỉ vào cái ấp Phú Bài VI.

Chúng tôi sẽ chọn một cái nhà ven đường, ở cuối ấp.

Lúc đó, khi nghỉ lại ở đâu chúng tôi thường chọn làng theo đạo Phật.

Mọi người vẫn ngại những cái làng theo Thiên Chúa vì ở đó vẫn phải cảnh giác và phải gác đêm cẩn thận.

Tôi vừa đi trên đường 1 vừa dùng ống nhòm ngoái lại quan sát sân bay Phú Bài và trại Con Ó (Camp Eaggle).

Các trại này, trước đây là căn cứ biệt kích của Mỹ.

Lực lượng vật chất cho chiến tranh ở khu vực Phú bài thật là khổng lồ.

Sao địch lại có thể bỏ chạy một cách dễ dàng như vậy, với sự kháng cự hầu như bằng không ?

Bây giờ nghĩ lại, những người lính vẫn thấy có gì tiếc nuối.

Những người lính thực sự đánh nhau, đổ xương máu hầu như không lấy gì ở những đống vật chất khổng lồ đó.

Con đường của họ ở phía trước.

Họ đi và tiếp tục chiến đấu, tiếp tục đổ máu.

Thế mà những đống vật chất đó, ở phía sau họ, sau đó bị tàn phá tơi bời, phí phạm một cách hoang đàng . . .

Thật là chua xót !

Đến cuối ấp Phú Bài VI, chúng tôi rẽ vào một cái nhà nhỏ ven đường.

Trong làng, lác đác đã có những người dân trở về, những nhà khác vẫn bỏ không.

Có thể người dân chưa yên tâm trở về nhà.

Một số nhà khác chắc sẽ không có người trở về, họ đã chạy tuốt vào Sài Gòn rồi.

Sáng 27/3/75, tôi bừng tỉnh dậy thì thấy ánh nắng đã xiên chéo vào nhà thành một vệt dài lên đến tường.

Trên tường còn có ánh phản chiếu lấp lóa, rung rinh, hắt lên từ mặt nước ở chỗ nào đó.

Thì ra Hồng đã dậy từ lúc nào.

Nó đang nấu cơm dưới bếp.

Tôi đánh răng, rửa mặt xong, rồi ra đứng ở sân mà ngắm ra đường và ra Đầm Cầu Hai.

Con đường 1 vắng lặng không một bóng xe cộ hay người qua lại.

Phía bên kia đường là cánh đồng trống, tít tắp cho đến tận bờ đầm.

Nhìn ra biển phải lấy tay che "ánh nắng non" buổi sớm.

Thì ra ánh sáng lấp lóa được phản chiếu từ mặt ruộng lỗ chỗ xen trong đám lúa đang thì.

Hơi ẩm sương đêm vẫn còn luẩn quẩn quanh mảnh sân và mảnh vườn bên chái nhà.

Hồng thấy tôi đứng ngắm cảnh, nó cũng từ bếp chạy ra:

- Hôm nay nắng chết ông ạ !

- Ừ !

Hôm nay mình sẽ đến quãng Bạch Thạch.

Có thể gặp chúng nó từ trên núi xuống, đi cùng cho đỡ buồn.

- Cơm được rồi, chiến đi !

- Ông nhập ngũ năm nào thế ?

- Mười hai bảy mốt, tôi đi sau ông mấy tháng, hết tân binh xong thì được tuyển đi đặc công 305 rồi cả tiểu đoàn

bổ sung cho 325.

Bọn tôi bị giải tán, lúc đầu về đây chán lắm.

Tôi thấy đi luồn sâu chỉ một vài thằng, lạnh gáy ghê !

Bọn tôi cũng đi lẻ từng phân đội nhưng dù sao cũng đông người, lại trang bị thủ pháo, lựu đạn, đạn mấy băng yên

tâm hơn nhiều.

Các ông đi lẻ, nói dại, có làm sao thì chẳng ai biết.

- Quen hết mà !

Tôi mà đi cùng bộ binh hay đặc công là ngại lắm.

Đông người, dễ lộ.

Bọn tôi đi lẻ, khỏe ăn.

Cốt sao

không được lộ và để lại dấu vết, gặp địch thì mình tránh, ít người trốn cũng dễ.

Nếu "tao ngộ chiến" thì bắn vài loạt

rồi ù té.

Bọn nó đuổi theo đâu có dễ.

Cơm nước xong, hai thằng tôi tiếp tục đi về phía Đà Nẵng.

Chừng nửa cây số thì gặp cầu Phu.

Đây là cây cầu ngắn bắc qua sông Phu.

Bây giờ nhiều người gọi là cầu Phú Bài vì nó nằm gần ấp Phú Bài VI, ấp Phú bài I và II lại nằm xa đường một chút và ở hai bên của một nhánh sông Phu.

Nắng non cuối xuân còn khá mát mẻ, hai thằng đơn lẻ hăng hái bước dồn.

Mong sao gặp lính ta trên đường từ đây đến cầu Nông (Nong – theo cách mà lúc bấy giờ chúng tôi vẫn gọi).

Không khí sớm mai, lòng thanh thản không khỏi làm ta trạnh nhớ đến những địa danh mà ta đang đi qua, được kết vào lời bài hát "Bình Trị Thiên Khói Lửa".

Đây đúng là đoạn " . . .

Văn Xá, Truồi, Nong . . .".

Nghe nói, ở cái làng nhỏ Văn Xá nằm ven sông Bồ, có một nàng thiếu nữ "sắc nước hương trời", "một hai nghiêng nước nghiêng thành" được Vua Gia Long rất yêu chiều và được cưới làm vợ thứ hai (tức là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu - mẹ vua Minh Mạng)

Đi tiếp chừng cây số nữa, chúng tôi đến cầu Cổ Nông.

Bên phải đường là xóm Cổ Nông, bên trái là cánh đồng lúa.

Có một bãi đất phẳng và cao ở bên trái đường, nằm trơ trọi trên đó là nhà thờ Cổ Nông.

Thêm một cây số nữa, chúng tôi tới cầu Nong.

Cầu Nong đường bộ đã bị hỏng.

Đây là chiếc cầu không dài lắm được làm bằng gỗ thông dầu ngâm hắc ín đen xì.

Các cây thông dầu rất dài, đường kính đến 40 cm được đóng xuống lòng sông.

Bên trên các cọc gỗ là một dàn gỗ cũng là gỗ thông ngâm hắc ín.

Mặt cầu vẫn đổ bê tông nhựa.

Cây cầu không bị sập do bị đánh mìn mà bị cháy.

Dàn gỗ bị cháy xịu xuống lòng sông.

Các xà gỗ chưa cháy hết xiên lên lởm chởm.

Người và xe không thể qua lại được nữa.

Chúng tôi vòng lên cầu đường sắt ở ngay gần đấy để qua sông.

Cầu đường sắt làm bằng dàn sắt, không dùng để đi bộ.

Chúng tôi qua cầu phải chăm chú bước cho đúng nếu không có thể bước vào chỗ hổng.

Lúc qua cầu, thỉnh thoảng chúng tôi phải dừng lại để nhìn cái cầu đường bộ đang hỏng.

Tới đây tôi mới gặp năm bảy lính, không biết của đơn vị nào.

Họ cũng đã vượt qua cầu đường sắt như chúng tôi nhưng đi trước một đoạn.

Đến gần cuối cầu, tôi dừng một lần nữa để nhìn lại con đường mà 24/3 chúng tôi đi mò trong đêm.

Thật là buồn cười, có một con đường đàng hoàng đi từ đường 1 vào thôn An Nông IV thì chúng tôi không đi, lại chui bờ, chui bụi ở ven sông đi cho nó khó . . . hì hì . . .

Chắc chắn con đường này cũng dẫn đến cây cầu nhỏ giữa hai thôn An Nông III và An Nông IV.

Tôi nói với Hồng chuyện buồn cười đó thì nó bảo:

- Thì đêm tối như vậy, ông làm sao mà biết có con đường.

- Đáng lẽ tôi xem kỹ bản đồ thì có thể đoán ra.

Nhưng mà tôi cứ lao bừa đi "hùng hục như trâu húc mả", làm mọi người

bở hơi tai.

Mãi 7 giờ sáng chúng tôi mới đến ấp Lợi Nông, ở đây này – Tôi chỉ trên bản đồ và đưa cho Hồng xem.

- Một đêm mà đi mò được từng này đường thì ghê quá !

- Thế bọn ông qua cầu Nong lúc nào ? – Tôi hỏi

- Mãi bảy giờ tối, ban 2 mới ra lệnh điều một toán đi xuống cầu Nong.

Bọn tôi đã chuẩn bị sẵn nên đi được ngay.

Mãi đến

10 giờ chúng tôi mới đến gần cầu Nong và gặp lính 101.

- Thế mấy giờ mình mới đánh qua cầu ?

- Khoảng năm rưỡi (sáng 25/3), 101 họ vòng lên trên, vượt qua sông.

Rồi đồng loạt nổ súng với đơn vị ở cầu.

Chúng tôi

chỉ đi theo sau thôi, vượt qua cầu đường sắt.

- Chúng nó không kháng cự à ?

- Qua cầu Nong một đoạn, mới thấy địch bắn trả.

Có cả xe tăng M41, M48, M113.

Chúng nó vừa giật lùi vừa bắn, không

cho mình đến gần.

Bọn nó sợ bê bốn mươi, bốn mốt lắm.

- Thế mình có bắn cháy chiếc nào không ?

- Nó vừa chạy, vừa bắn, xa quá, bắn không trúng.

101 đánh cũng gấu, giống như trận Cửa Việt ấy.

Bọn tăng mà để vào

gần thì chỉ có chết.

Chắc bọn này đã đánh nhau ở Cửa Việt, bây giờ đụng nhau với 101 thì "són đái ra quần".

- Bọn nó chạy hết vào Huế à ?

- Chẳng biết nữa.

Có cả mấy chiếc tăng với xe lội nước nó cũng vứt và chạy dạt đi đâu không biết.

- Sao lúc mình đi ngược lại không thấy nhỉ ?

- Có mấy xe lội nước chạy ra ruộng, lúc quay lại tôi cũng không để ý xem còn không.

Nhưng mà lúc ở Huế, tôi nhìn thấy

tăng của bọn 203 có cả M48, có khi họ lấy của chúng nó và dùng luôn.

- Hay nhể !

Thế mấy giờ thì vào đến Huế ?

- khoảng 11 giờ chứ mấy.

- Nhanh thật đấy.

Bộ binh mà tiến đánh nhanh thế.

Chỉ 5 tiếng rưỡi, suốt từ cầu Nong đến Huế, 25 cây số.

Vừa đi vừa

đánh nhau.

Quá nhanh ! – Tôi nói.

- Này !

Giá mà 101 đi theo bọn ông, 7 giờ đã đến gần lắm, chỉ còn năm sáu cây là đến Huế rồi.

Thì !

Có khi 9 giờ đã

xong rồi.- Hồng mói.

- Ừ . . .

Ừ . . .

Nhưng mà cũng khó.

Họ đánh suốt đến cầu Nong, cũng phải nghỉ ngơi chứ.

Thành ra hướng chúng tôi chỉ

là phương án 2 thôi.

- Tôi nghĩ, 101 đánh thì chỉ một bộ phận thôi, còn đoạn đi sau được nghỉ ngơi rồi.

Tôi mà là tư lệnh là tôi cho triển khai

cả hai mũi cùng một lúc.

Có mũi vu hồi như thế thì địch nó mới khiếp, không biết đằng nào mà lần.

Có khi nó sợ quá mà

chạy tuốt không còn kháng cự gì. – Hồng nói.

- Đấy là bây giờ mình nói thế, chứ lúc đó ai biết được địch nó lại hoảng loạn như vậy, cho nên phải chờ xe tăng và 324

phối hợp tác chiến chứ.

Các cụ cũng không nghĩ một mình 101 có thể giải quyết xong đến tận Huế.

- Nhưng mà 101 đánh cũng nên có một mũi vu hồi chứ ! – Hồng cự lại.

- Họ không cho ông đi học sỹ quan kể cũng phí một "thiên tài quân sự".

- Tôi nói.

- Ông cứ bôi bác tôi, ấy là tôi thấy rõ mười mươi thì nói đại thôi. (Từ "bôi bác" lúc đó chúng tôi dùng có ý là "nói diễu")

Cứ tưởng Hồng nói năng khó khăn.

Thì ra . . . không phải.

Những lúc máu lính bốc lên, nói năng cũng luyến thoắng ra phết.

Những người lính trinh sát cựu của chúng tôi là như vậy đấy.

Mỗi thằng một tính, ít nói, nói nhiều hay tếu táo thì lúc vào trận cũng rất nhanh nhẹn và hiểu biết.

Chúng tôi đi với nhau, chẳng cần nói nhiều, cũng hiểu ý và phối hợp rất nhịp nhàng.

Rất ăn ý và yên tâm.

Bám theo toán lính phía trước nhưng không quá gần, chúng tôi tiếp tục đi bộ về phía Truồi.

Họ đi khá nhanh và chúng tôi còn nhẹ hơn.

Hai thằng tôi đều để ba lô ở cứ của c20.

Trên lưng mỗi thằng chỉ là chiếc gùi toòng teeng vài cân gạo, một khẩu báng gấp với hai băng đạn và hai trái lựu đạn M26 (US – còn gọi là da láng).

Tôi thì thêm ống nhòm, địa bàn, bản đồ, giấy vẽ và hồ sơ của sân bay Phú Bài.

Chúng tôi qua cầu Truồi, một cây cầu khá dài.

Thôn Truồi đây rồi, một ngôi làng trù phú và bình yên.

Tôi không nhận thấy ngôi nhà của BìnhYên bị cháy như nói trong quân sử.

Có lẽ nhà bác ấy ở xa đường nên không nhìn thấy, cách đường những 200 mét mà cái làng thì lớn, cây cối um tùm, tốt tươi.

Nước sông Truồi bấy giờ rất trong và chảy êm đềm.

Thật là thanh bình.

Qua ga Truồi một quãng thì hai thằng ngồi nghỉ lại.

Chẳng có quán xá gì.

Nhiều người dân đã trở về nhà nhưng dường như không thấy làng xóm hoạt động gì cả.

Có vẻ như chó cũng không dám sủa.

Những người dân vẫn e ngại Việt Cộng, mà đến chó của họ cũng sợ.

Tôi nhớ lại "anh xe lam" chở chúng tôi từ ấp Lợi Nông ra đến An Cựu.

Vừa lái xe anh ấy vừa lấy làm hãnh diện và thể hiện rằng mình rất liều lĩnh một cách thông minh.

Cái cách mà anh ấy giải thích rằng không sợ Việt Cộng là: "Em nghe chính quyền nói Việt Cộng đi đến đâu là giết hết bà con đến đó, man rợ, khát máu.

Đàn bà mà bôi móng thì bị lấy kìm rút hết móng.

Việt cộng xanh như tàu lá vì ở trong rừng, thiếu đói, rất thảm hại. bảy Việt cộng đeo một cọng đu đủ không gãy.

Em thấy mấy ông giải phóng trắng trẻo, to lớn, trông hiền lành.

Vậy là em không tin.

Em tin là dù bên nào thì cũng phải có dân chứ làm sao lại giết hết dân.

Hết dân thì ở với ai ?"

Một lời giải thích vừa nôm na vừa dài dòng nhưng mà nó cho chúng tôi hiểu, dân bị tuyên truyền về Việt Cộng như thế nào.

Một kiểu nói mãi cũng nhiều người phải tin (theo kiểu Gơ-ben).

Dân họ sợ giải phóng cũng phải thôi.

Nghỉ chừng 15 phút, rồi chúng tôi đi tiếp.

Một đoạn thì gặp toán lính đi trước chúng tôi, họ đang ngồi nghỉ.

- Hai đồng hương đơn vị nào thế ?

- c20 đây.

Các đồng hương có phải 101 không?

- 101 đây.

- Lính của bọ Ngoan à ?

Bây giờ bọ Ngoan là thủ trưởng của chúng tôi

(lúc đó phiên hiệu đầy đủ của chúng tôi là c20, phòng tham mưu, sư đoàn 35, gọi là sư đoàn 35

chứ không gọi là 325 và . . . thực ra thì gọi thế nào cũng được).

- Hai đồng Hương có ai Nam Hà không ?

- Đồng hương này Vĩnh Phú xin xà phòng, còn tôi Hà Nội chuồn đây.

- Tiếc nhể, không có ai cầu tõm nhảy !

- Các đồng hương đi sau nhá !

- Cho gửi lời thăm bọ Ngoan nhá !

Bọ Ngoan, trước là e trưởng 101, bây giờ là tham mưu trưởng sư đoàn.

Bọ lên sư đoàn một thời gian thì kéo theo anh Nhạ c trưởng c20 của 101 lên làm c trưởng c20 chúng tôi.

Chuyện này, có lẽ tôi đã kể rồi thì phải.

Toán lính của 101 có lẽ mệt hơn chúng tôi nhiều vì họ mang đầy đủ đồ đoàn, đầy đủ cơ số đạn và ruột tượng gạo.

Chỉ một lúc sau chúng tôi đã mất hút trong tầm mắt của họ.

Bây giờ qua căn cứ Lương Điền chúng tôi mới có dịp nhìn kỹ.

Ngay gần đường, lại sát ngay đầm Cầu hai mà có căn cứ trên điểm cao 162 mét.

Xung quanh nó là bằng địa.

Căn cứ này thật là lợi hại.

Nó có thể quan sát và khống chế được một vùng rộng.

Địch đóng ở trên cao.

Ngay gần chân cứ điểm, chúng tôi nhìn thấy đường đất cho xe chạy vòng quả đồi để lên đỉnh.

Ngay sát đường, không có lô cốt hay ụ chiến đấu hoặc công sự cho xe tăng.

Tôi nhớ lại cái cảnh đồ Lâm vẽ.

Thì ra, vì quan sát không được rõ nên mọi người phán đoán và vẽ ra.

Chắc cây gì đó làm mọi người tưởng là nòng pháo xe tăng nên vẽ luôn xe tăng.

Và, để cho hợp lý thì vẽ luôn cả hầm cho xe tăng.

Lúc đó, tôi thấy việc "vẽ bịa" ra như thế không hay lắm.

Nhưng sau này tôi lại nghĩ: "thôi thì cũng được, thừa còn hơn thiếu", dù sao thì 101 đánh đến đây cũng phải chuẩn bị phương án đánh xe tăng địch, không có xe tăng thì càng dễ chứ sao.

Có lúc tôi lại nghĩ, biết đâu lúc đó có xe tăng địch nó đậu ở chỗ đó thì sao ?

Thật vô lý, vì xung quanh không có biểu hiện gì là có trại lính cả.

Thôi kệ !

Qua Lương Điền gần cây số thì con đường đã đi sát ngay bờ đầm.

Sau đó, cả một đoạn dài qua khu vực thôn Bát Sơn thì có một phần làng che khuất đầm.

Qua thôn Bát Sơn thì sẽ gặp con đường mà chúng tôi từ cứ trên thượng nguồn Truồi bên sườn Bạch Mã đi xuống.

Không biết có gặp đứa nào của c20 chúng tôi từ trên núi xuống không ?

Quãng gần 11 giờ, chúng tôi mới đi qua thôn Bát Sơn.

Đoạn này đường bộ nay sát ven đầm, có chỗ chỉ cách một thửa đất nhỏ, có đoạn là đám ruộng lúa hẹp.

Chợt chúng tôi nhìn thấy mấy toán lính ta đi trên đường ở phía trước.

À !

Đây là đầu con đường từ trong cứ ra.

Các lực lượng ở phía sau và các lực lượng đảm bảo bây giờ đang lục tục kéo từ trên núi xuống.

Nhưng thấy rặt anh em đi bộ, chưa thấy một chiếc ô tô nào.

Mọi người đang phải thồ rất nặng.

Mỗi toán đi riêng, vài ba người.

Họ không cùng đơn vị với nhau nhưng tất cả đều di chuyển theo một hướng.

Đi về phía Đà Nẵng.

Hai thằng dừng lại hỏi thăm tình hình trên cứ mới biết ở trên đó các đơn vị đảm bảo và sư đoàn bộ đang rục rịch di chuyển.

Cơ quan sẽ di chuyển bằng cơ giới.

Các đơn vị tiểu đoàn và đại đội trực thuộc sư đoàn thì vẫn phải hành quân bộ.

Anh em mà chúng tôi hỏi thăm là những người đi tiền trạm cho đơn vị và họ phải mang toàn bộ quân tư trang và lương thực theo nên người nào cũng vác nặng.

Chúng tôi hỏi thăm c20 thế nào thì không ai biết cả.

Chắc anh em sẽ thắc mắc rằng hai thằng tôi đi nhẹ toòng teeng như thế có mang vác hộ anh em mang vác nặng không.

Thật sự là không.

Kể cũng tệ !

Hai thằng chào họ rồi đi vượt lên.

Gần trưa rồi nên con đường cũng vắng vẻ chứ chắc buổi sáng nay người xuống núi phải nhiều hơn?!

Chúng tôi vừa đi vừa ngó chừng kiếm chỗ nghỉ trưa.

Thế mà mãi gần đến ngọ chúng tôi mới tìm được cái nhà ven đường ở thôn Bạch Thạch.

Trước đây tôi cứ nghĩ Bạch Thạch và Đá Bạc là hai thôn khác nhau vì trên bản đồ thấy có ghi hai địa danh Đá Bạc và Bạch Thạch ở gần nhau nhưng là hai chỗ khác nhau.

Hóa ra là cái bản đồ 1/50000 nó ghi một chỗ là "Thôn Bạch Thạch" và chỗ kia là "Da Bac Heliport" (nghĩa là sân bay trực thăng Đá Bạc).

"Bạch Thạch" là tiếng Hán Việt nghĩa là "Đá Trắng" hay "Đá Bạc".

Thì ra là như vậy.

Khu vự Bạch Thạch này cũng khá rộng nằm dọc theo đường 1 quãng bốn năm cây số, cả ở hai bên đường.

Một bên là Đầm Cầu hai, bên kia là núi.

Bên phía đầm là rẻo đất hẹp, chỗ nào hơi dày một chút thì có năm ba nóc nhà.

Bên núi nhiều nhà hơn và cũng có những thẻo ruộng lúa ngoằn ngoèo gọi là cánh đồng, còn lại là đất đồi.

Dăm ba chỗ trên đất đồi có trồng chè, trông không được quy mô cho lắm.

Trời tuy nắng gắt nhưng có gió từ đầm thổi vào nên không khí mát mẻ và ráo mồ hôi.

Không ai bảo ai, hai thằng tôi, từ lúc nào đã mở mấy cái cúc áo để đón gió.

Bình thường, khuy áo trên cùng tôi không hay đóng, hai tay áo sắn cao và quần thì sắn lên đến đầu gối.

Mỗi lần đi luồn sâu về bao giờ hai cẳng tay và hai ống chân cũng nhằng nhịt những vết cỏ tranh và gai góc cào xước, vết mới chồng chéo lên vết cũ.

Thành quen rồi, thả ống quần xuống thấy rất vướng víu.

Một căn nhà nhỏ, nằm trên vỉa đất cao ngay bên đường.

Mái nhà được lợp tôn, xung quanh thưng bằng lá gồi, vài cái cây không to lắm nhưng có tán lá.

Cái vẻ mát mẻ của nó thực ra là vì có gió biển thồi thốc từ đầm thẳng vào nhà.

Hai thằng ăn cơm nắm xong, nằm vật ra ngủ ngay tức thì.

Hai giờ chiều hai thằng mới choàng dậy.

Tôi lấy bản đồ ra, hai thằng xem và ước lượng đường đi trong buổi chiều.

Bây giờ qua dốc Mũi Né sang đến huyện lỵ Phú Lộc.

Nếu đi qua đèo Phước Tượng sang bên Nước Ngọt là vùng công giáo mà ngủ lại thì không thoải mái lắm.

Mà đi tiếp thì phải đi rất xa.

Bàn đi tính lại, cuối cùng chúng tôi quyết định chỉ đi thêm chừng chục cây số nữa và sẽ chọn thôn Trung An ở chân đèo Phước Tượng để nghỉ lại.

Khi leo đến đỉnh đoạn đèo Mũi Né, tôi dừng lại để xem cái hầm đường sắt Mũi Né.

Lúc tôi ở trên ban 2 đắp sa bàn, thấy các thủ trưởng cứ băn khoăn không biết có phải địch giấu pháo trong đường hầm này không.

Nếu không biết, bất ngờ, pháo nó kéo ra bắn thẳng phản pháo với ta trên dãy Lưỡi Cái thì cũng là vấn đề.

Cũng có thể pháo ra, sẽ khống chế đoạn đường mà e18 tiến đánh từ Bạch Thạch về Phú Lộc và cản bước tiến của ta đi Đà Nẵng.

Tôi nhớ bọ Luyến có yêu cầu c20 chúng tôi phải dò thám cái hầm này.

Sau đó tôi không có dịp được biết có xác định được cái gì ở trong hầm không.

Từ trận địa pháo của ta trên Lưỡi Cái không khống chế được cái hầm này vì nó chui vào giữa đèo, hai bên là đồi.

Một quả đồi trên bản đồ có chữ "Da Bac Heliport", còn quả kia là cao điểm 139 của Mũi Né.

Đứng từ trên đường bộ ngắm cái hầm đường sắt đi thấp phía dưới với bờ "ta luy" khá cao.

Đúng là không thể bắn pháo vào đây được.

Nhưng ngược lại, nếu đưa pháo vào đây thì cũng khó mà phát huy được hỏa lực.

Muốn bắn, vẫn phải kéo ra chỗ trống trải ở khá xa. vả lại kéo vào kéo ra ở cái hầm đường sắt chật hẹp này sẽ rất bất tiện.

Có chăng, chỗ này chỉ có thể đặt pháo phòng thủ bờ biển thì còn hợp lý.

Các cụ lo xa, đề phòng nhưng không biết thực hư ra sao.

Thế mới bảo trinh sát là tai mắt cho các cụ.

Đôi khi trinh sát không thể nghe nhìn được hết mà cũng chỉ phán đoán.

Có khi cứ báo cáo theo phán đoán.

Khi vẽ sơ đồ hay cảnh đồ cũng vậy, cứ thêm thắt vào những thứ không nhìn thấy cho nó hợp lý.

Chuyện này hồi đó chúng tôi có một từ rất đắt.

Đó là chữ "tạc-mọc".

"Tạc" ra lô cốt, pháo, xe tăng . . . và "mọc" ra cây cối, nhà cửa, hầm chỉ huy, . . .

Đúng là "Trinh sát nhà nghề . . .?!"

Gọi là thị trấn Phú Lộc nhưng nhà cửa rất lèo tèo và phân tán.

Không có cảnh phố xá tấp nập hay cơ quan văn phòng, ủy ban hoành tráng như bây giờ.

Lúc đó tôi còn không thấy "phố huyện" như thường thấy ở ngoài bắc.

Vòng xuống cầu đường sắt để qua cái cầu Thừa Lưu đã bị đặc công nước đánh sập.

Quả thật, bây giờ tôi không nhớ quang cảnh cầu này bị sập như thế nào.

Đối với tôi, nó không để lại một dấu ấn gì cả.

Khoảng bốn rưỡi chiều chúng tôi đã đến thôn Trung An.

Hai thằng tìm chỗ nghỉ lại qua đêm để mai đi sớm.

Sáng 28/3/75, chúng tôi dậy sớm cơm nước và lên đường đi tiếp.

Đèo Phước Tượng buổi sớm rất đẹp.

Đứng trên đỉnh đèo bên này có thể nhìn thấy toàn bộ đầm Cầu Hai vẫn còn đẫm trong sương.

Đi thêm một đoạn sang đầu dốc bên kia thì nhìn thấy một dải đồng bằng khá rộng, cây cối tốt tươi.

Đó là khu vực Nước Ngọt.

Rồi bên phải là núi cao xanh, bên trái kia là vịnh Chơn mây cũng xanh ngăn ngắt, mờ trong sương.

Một con đường thẳng tắp hàng chục cây số đến tận đèo Phú Gia.

Trên bản đồ chúng tôi đã hình dung ra cảnh đẹp nơi này, nhưng khi nhìn thấy mới thật sững sờ.

Đoạn vườn dừa kia khi hành quân mệt mỏi mà được dừng chân nghỉ lại chắc là tuyệt.

Động Nhựt, với đỉnh cao trên 500 mét, và triền của có là núi Vĩnh Phong có đỉnh cao 482 nằm sát ngay biển.

Cái động này sừng sững chắn phía tây của vụng Chơn Mây.

Dải núi đá Chân Mây uốn thành cái móc câu che chắn phía đông của vịnh.

Núi rừng, đồng lúa, vườn dừa, biển xanh . . .

Tuyệt sắc, mê hồn!

Khi đi qua "Vườn Dừa" (chúng tôi gọi như vậy vì không biết chỗ này gọi là gì), bạn không thể không dừng lại.

Vườn cây rợp bóng, gió reo xào xạc trên ngọn cây.

Trưa hè mà mắc võng giữa những cây dừa ở đây thì thật không gì bằng.

Hồng và tôi tạt vào vườn ngồi nghỉ khá lâu.

Chẳng còn muốn đi tiếp nữa.

Khi nhổ rễ được thì hai đứa vẫn còn có vẻ tiếc rẻ lắm.

Sáng nay hai thằng đi rất hăng, được rất nhiều đường đất.

Trên đường cũng nhìn thấy rất nhiều lính tráng đi cùng chiều, phía trước và phía sau.

Hai thằng mải miết đi, vượt qua khá nhiều toán lính.

Họ đều là lính của sư đoàn chúng tôi.

Mãi vẫn chưa gặp đứa nào cùng đơn vị.

Đến khoảng 10 giờ, khi chúng tôi đi tới thôn Phú Gia, hai thằng định ngồi nghỉ một lúc thì thằng Hồng bỗng kêu lên:

- Hình như thằng Ngữ kia kìa.

- Ừ ! giống lắm.

Thằng Ngữ, a phó anh nuôi đã đến đây rồi cơ à.

Thế thì đơn vị mình họ đi trước hết rồi cũng nên?

Thằng Ngữ đang đứng chơ vơ giữa đường có ý chờ ai đó.

Khi chúng tôi tới, Thằng Ngữ reo lên.

Nó không ngờ gặp chúng tôi ở đây.

Nó tưởng chúng tôi đã qua đây từ trước rồi.

Ngữ nói:

- Tôi tưởng bọn ông ở đâu rồi chứ.

- Bọn mình phải làm binh địa cái Phú Bài.

- Thôi, vào nhà đi.

Bọn mình ở cái nhà ngay đầu làng.

Tôi còn phải chờ mấy thằng.

Tất cả tập kết ở đây.

Bao giờ đủ hết thì đi.

Từ đường 1, chúng tôi phải đi xuống dốc vào đường làng.

Đầu làng cách đường trên trăm mét.

Mấy thằng thông tin, anh nuôi, và mỗi trung đội còn một hai đứa.

Nhiều thứ đã vứt lại trên cứ nhưng vẫn rất nặng.

Ngay từ sáng 26/3, những anh em ở lại cứ đã phải vòng đi vòng lại thồ hết đồ đạc của đơn vị xuống núi.

Mỗi thằng hai ba lô, lại còn đồ đạc khác, nồi niêu xoong chảo, . . .

Bọn nó đã phải thồ chuyến này là chuyến thứ hai mới hết.

Họ phải đi theo kiểu sâu đo.

Có người quay về cứ đi chuyến khác, có người thồ tiếp đi phía trước rồi lại quay về đón phía sau.

Một cậu lính mới 74 nói:

- Bọn anh may rồi. cũng chỉ chờ mấy đứa nữa đi nốt một chuyến thôi.

Sáng nay vừa chuyển một chuyến đi Lăng Cô rồi và không quay lại.

Bọn em ở đây là vét đấy.

Có gì, bọn anh cũng chỉ cần đỡ bọn em một ít thôi.

Thế là bọn tôi ở lại nhập bọn "thu dung".

Phía Đà Nẵng, chiến dịch đang quyết liệt.

Toán thu dung vét hết anh em thì sẽ đi tiếp.

Cả hội được nghỉ ngơi, tắm giặt thoải mái.

Vẫn là mấy cái nhà dân không có người.

Mấy đứa thay nhau ra trực ở đường suốt buổi chiều hôm đó mà chưa đón thêm được ai.

Chúng tôi nghỉ lại Phú Gia ngày 29/3.

Mãi đến chiều có ba đứa khật khừ thồ nặng đồ đạc ra tới nơi.

Đây là ba đứa cuối cùng của đại đội tôi.

Chiều rồi nên mọi người quyết định nghỉ lại để sáng mai đi sớm.

Ngay chiều đó, chúng tôi nhận được điện của đại đội thông báo đã giải phóng Đà Nẵng. c20 chúng tôi tập kết tại làng Kim Liên, ngay gần chân đèo Hải Vân ở phía Đà Nẵng.

Mọi người ai nấy đều phấn khởi.

Thằng Ngữ cho mở ngay mấy hộp thịt để bữa chiều liên hoan.

Thằng Ngữ là cái thằng mà tôi đã có dịp kể.

Nó vẫn thế, lúc nào cũng như người chị cả trong nhà.

Sớm ngày 30/3, bọn tôi chia đồ đạc để thồ đi Đà Nẵng.

Từ đây, qua đèo Phú Gia, qua Lăng Cô, qua đèo Hải Vân cũng khoảng bốn chục cây số.

Toán người thồ nặng, không biết đến tối có đến được Kim Liên không, hay là ngủ lại trên đèo Hải Vân ?

Sao cũng được, cứ phải đi thôi !

Toán chúng tôi chỉ có chín mười đứa.

Tôi không phải khiêng nồi quân dụng nhưng phải mang hai ba lô, một cái đeo trước ngực một cái sau lưng.

Hì hục hàng tiếng đồng hồ mới qua được đèo Phú Gia.

Ở chân đèo lại là một cái đầm, đầm Lập An.

Lúc đi từ trên dốc xuống mới có dịp ngắm cảnh.

Đầm Lập An Nước cũng trong xanh in bóng mây trời.

Đường bộ đi qua một dẻo đất hẹp, một bên gần biển, một bên sát bờ đầm.

Đường sắt đi vòng ở phía bên kia đầm.

Phía xa trược mặt là sừng sững Hải Vân, "biển và mây".

Tôi và một đứa (không nhớ là ai) phấn chí chạy xuống dốc.

Đến thôn Lập An sẽ nghỉ giải lao ngắm cảnh cho thỏa.

Bất chợt, tôi nhìn phía bên trái dường, ở dưới cái ruộng kia, có chiếc xe GMC của địch vứt lại.

- Chúng mày ơi, kiểm tra chiếc xe kia đi !

Biết đâu lại có gì hay thì chết với bọ !

Nghỉ ở đây nhé !

Vừa nói, tôi vừa vứt phịch hai cái ba lô xuống bên đường.

Nhẹ cả người.

Thằng chạy cùng tôi cũng quẳng đồ xuống.

Hai thằng đi tới chỗ chiếc xe, chắc mẩm thể nào cũng có gì.

Thế mà kiểm tra mãi cũng chả có gì.

Chiếc GMC chở quân, không căng bạt.

Chiếc bạt được vứt trên thùng xe.

Hai thằng lục lọi khắp cabin cũng chẳng kiếm được gì.

Cái xe GMC hay xe Doge có cái mùi hôi đặc trưng của nó, không lẫn đi đâu được.

Không biết có phải là mùi dầu máy hay mùi sơn, hay mùi gì đó.

Sau này tôi dùng xe Jeep không thấy có mùi này.

Phát chán!

Tôi ngồi phịch xuống cái ghế của lái xe.

Bây giờ mới để ý thấy chiếc chìa khóa xe vẫn đang cắm trong ổ khóa điện.

Không nhớ lúc đó tôi xoay khóa điện hay rút cái nút đề.

Chiếc xe khạc khạc và nổ máy.

Bình sinh, tôi chưa bao giờ cầm vô lăng, kể cả xe com-măng-ca chứ chưa nói gì đến cái xe GMC cồng kềnh thế này nên khi máy nổ, tôi có cảm giác hơi ngợp ngợp.

Mất vài giây tôi mới chấn tĩnh lại.

Tôi nhớ lại tất cả các thao tác lái xe mà tôi đã nhiều lần quan sát khi đi cùng bố tôi hay cùng các chú trong đơn vị của bố.

Khi hành quân từ bắc vào nam, chúng tôi đi xe ca từ Hà Nội đến Diễn Châu tôi cũng rất tò mò nói chuyện lái xe với bác tài.

Tôi hỏi từ cách đạp côn, ngớt ga, vào số, rồi từ từ nhả côn tăng ga như thế nào.

Khi chuyển từ số nọ sang số kia, lái xe giỏi là bao giờ cũng phải sang số hai nấc đi qua số không ra sao, . . .

Tôi đánh liều, đạp côn, ngớt ga và vào số 1.

Rất may là ngay trên block trước mặt hay là ngay trên quả đấm có sơ đồ số (lâu ngày không còn nhớ).

Khi tôi nhả côn và tăng ga thì chiếc xe chồm lên giật giật một chút rồi tiến tới một cách êm ái.

Chiếc xe khỏe thật và lội ruộng ngon lành.

Có lẽ nó lội ruộng không bị lún nhiều hay bị Ba-ti-lê là nhờ có 10 bánh.

Thằng đi cùng tôi sợ quá nhảy vội xuống ruộng và chạy lên đường.

Cứ để số 1, tôi từ từ cho xe lội đến bờ và leo lên đường.

Lên đến đường, thấy đi số 1 chậm và ỳ quá, tôi mới nghĩ chuyện lên số 2.

Hoàn toàn chưa có một "sợi" phản xạ nào về lái xe.

Tôi cứ dậm ga nhè nhẹ, rồi nhìn sơ đồ số, rồi nhẩm lại thao tác để chuyển dần lên số cao hơn.

Thế là, hơn một trăm mét đường đất đã trôi qua phía sau và tôi đã đưa được xe ra đến đường 1.

Tôi cho xe dừng lại ngay giữa đường.

Mấy thằng đang ngồi nghỉ, tíu tít bám vào xe, dồn đập hỏi:

- Ông biết lái xe à ?

- . . . . . ?

- Ừ !

Bây giờ tôi đã thấy thoải mái hơn, không còn căng thẳng như lúc đầu ở dưới ruộng.

Mọi người nhao nhau khuân đồ lên thùng xe rồi tất cả trèo lên thùng.

Chỉ có một đứa (không nhớ đứa nào nữa) chui vào cabin ngồi cạnh tôi.

Chiếc xe từ từ lăn bánh.

Thực sự, lúc đó tôi không có cảm giác mình liều lĩnh hay lo sợ gì mà chỉ tò mò và thích thú (phải mấy chục năm sau thỉnh thoảng mới thoáng nghĩ là "liều").

Tôi không dám tăng ga chạy nhanh.

Chiếc xe cứ chạy rù rù trên đường.

Quãng Lăng Cô rất đẹp.

Một doi cát mảnh bề ngang không quá nửa cây số.

Rất nhiều dừa và lác đác đây đó là các quán.

Chắc đó là những quán giải khát phục vụ xe cộ dừng lại nghỉ trước khi leo đèo.

Đoạn này đẹp thật.

Gió thổi lồng lộng từ biển vào làm xôn xao rừng dừa rồi vắt qua con đường sang một cái đầm lớn để trườn lên núi.

Đoạn cuối doi cát có một cái làng đông đúc toàn dân chài.

Có vẻ như biển ở chỗ này khá nông.

Hàng loạt cọc tre đóng nhấp nhô trên biển.

Có lẽ những cái cọc đó dùng cho việc chài lưới gì đó.

Nói vậy thôi, đang tập trung hết vào việc lái xe nên tôi đâu có nhìn thấy gì hai bên đường.

Phải đến cuối con đường, trước khi qua cầu Lăng Cô, tôi mới cho xe dừng lại nghỉ và ngắm cảnh.

Mọi người nhảy xuống xe.

Mấy đứa rủ nhau vào nhà dân xem có gì ăn uống được không.

Một lúc sau thấy chúng trở lại, hai tay mỗi thằng đều lủng lẳng một trái dừa.

Chẳng có ai có tiền.

Dân thấy bộ đội khát thì cho, hay là muốn cho dừa để bộ đội đi chỗ khác cho nhanh không biết.

Lúc bấy giờ bộ đội rất nghiêm chỉnh, không có chuyện lấy của dân hay làm phiền gì.

Nhưng dân chưa hiểu nên rất e sợ.

Chỉ có một số vùng có cách mạng hoạt động thì dân mới quí bộ đội ngay lần gặp đầu tiên.

Chiếc xe từ từ qua cầu.

Cầu hẹp nên tôi phải lái cẩn thận hơn.

Thế mà, thằng ngồi cạnh tôi ngó ra ngoài và bảo tôi lái sát bên đó quá.

Chắc là như vậy, vì tôi chưa biết căn đường chính xác phía bên phải.

Rồi chiếc xe cứ thế rù rù tiến lên đèo.

Lúc đó tôi không có ý thức gì về sự nguy hiểm khi leo đèo.

Lái thì cứ lái thôi.

Vì leo lên, nên tôi cứ để số 2 cho xe bò.

Chẳng đi đâu mà vội, đi số cao nhỡ nó tụt thì chắc gì đã xử lý kịp.

Thế này là tốt bằng mấy leo bộ.

Tôi rất tập trung vào con đường đèo trước mặt nên không nhìn cảnh đẹp trên đèo, không ngắm xuống biển, cũng chẳng nhìn được con đường đèo ngoằn nghoèo ở xa phía trước.

Hồi đó con đường đèo nhỏ hẹp hơn bây giờ nhiều.

May cho tôi, lúc này không có chiếc xe nào khác chạy trên đèo.

Đến đỉnh đèo, Tôi cho xe dừng lại.

Mọi người nhảy xuống "giải quyết vấn đề".

Mấy đứa còn chạy lại mấy cái lô cốt để xem xét.

Mấy cái lô cốt này rõ ràng có từ thời Pháp, tường xây cũ, rêu phong.

Đoạn này đường phình ra rất rộng thành bãi đỗ xe. các sườn núi đất xung quanh chỉ thoai thoải dốc.

Những tảng đá rất to, hòn đứng, hòn nằm, mầu nâu, và rất sạch.

Tôi chạy sang bên kia đỉnh đèo, trèo lên một tảng đá để nhìn Đà Nẵng.

Hùng vĩ thật !

Biển đó, xanh thẳm.

Núi đây, chập trùng xanh biếc.

Con đường đèo quanh co uốn lượn, rất bé, như lằn chỉ vương trên núi.

Và kia, Đà Nẵng . . .

Đẹp thật !

Chiếc xe nổ máy chạy xuống đèo.

Tôi chỉ dám lên số 3.

Xe xuống núi, lịm ga.

Chân tôi lúc nào cũng rà rà trên bàn đạp phanh.

Tôi còn bảo thằng thằng ngồi cạnh tôi, lúc nào thấy nguy hiểm thì kéo phanh tay.

Xe chạy xuống đèo có phần nhanh hơn nhưng vẫn chỉ là đi chậm.

Chậm cho nó chắc !

Xuống đến kho xăng Liên Chiểu, nhìn thấy mấy cái bồn xăng trắng toát gần ngay bên đường đèo.

Có một cái biển khá lớn ngay gần đó: "Esso".

Chiếc xe đã xuống đến chân đèo.

Làng Kim Liên đã ở phía trước chúng tôi, chỉ còn khoảng một cây số.

Vượt qua một chiếc cầu sắt nhỏ được một đoạn thì bỗng chiếc xe khật khừ một quãng thì chết máy dừng lại.

Tôi đề đi đề lại mấy lần vẫn không nổ được.

Chắc là hết dầu rồi.

- Xuống xe nhá ! hết tiền rồi !

Mọi người rỡ đồ xuống.

Tôi vẫn ngồi lái và hô mọi người đẩy cái xe vào lề đường.

Mọi người tạm nghỉ ở đây.

Hai đứa người không, đi trước tìm đơn vị và bảo mọi người ra đón.

May quá !

đơn vị chúng tôi đúng là ở làng Kim Liên, ngay ga Kim Liên.

Chúng tôi chỉ phải đi bộ có vài trăm mét, vượt qua mấy cái đường tàu trong ga là vào đến đơn vị.

Cái ga này cũng lạ, chẳng thấy có hàng rào xung quanh, mà trong ga cũng chẳng có cái toa nào như thường thấy.

Mấy cái đường sắt ở đây có vẻ như cũng lâu lâu không có tàu chạy qua thì phải.

Làng Kim Liên là một làng bán nông nghiệp vừa làm ruộng ở vùng bán sơn địa vừa làm chài lưới.

Một cái làng nghèo.

Tất cả các nhà trong làng đều lợp tôn, vách thưng bằng loại cây gì đó như cây đót hoặc bằng lá gồi.

Trong làng không có cây gì đáng kể ngoại trừ phi lao. làng cũng không có đường làng.

Từ nhà này sang nhà khác muốn đi lối nào thì đi toàn cát pha và lá phi lao rụng.

c20 chúng tôi ở đó một vài hôm thì quân đoàn 2 xin được đi chiến đấu tiếp, lập nên cánh quân duyên hải.

Thằng Toàn, người Vĩnh Linh là cây đập bóng chuyền số một của đại đội tôi.

Ngoài cách đập thông thường, nó còn có kiểu riêng là đập quai, đánh bóng vòng qua đầu làm đối phương rất khó chắn.

Toàn cao to, trắng trẻo, đẹp trai, tính tình cới mở.

Không biết nó kiếm đâu ra một chiếc bình bịch, loại xe đam (xe nam) mầu đỏ xậm, hiệu Honda (mãi sau này tôi mới biết là xe Honđa "67").

Hai bên bình xăng có biểu tượng cánh phượng hoàng bạc, lóng lánh.

Cả đại đội chưa thằng nào biết đi bình bịch.

Mấy thằng đạp cái cần số mãi không được.

Loay hoay một hồi cũng về được số không rồi đạp nổ máy. nhưng cứ vào số là xe chồm lên và tắt máy.

Thằng toàn chạy sang tôi vì nghĩ chắc là tôi lái được ô tô thì phải đi được bình bịch.

Đúng là tôi biết về xe máy rất rõ.

Từ những năm 60, bố tôi đã đi làm bằng bình bịch, loại xe Simpson Spart của Đức, xe MZ, rồi xe gì rất to của bộ đội có hai xi lanh, hai ống xả, tiếng nổ rất chậm rãi bùng . . . boằng . . . bùng . . . boằng . . ., loại xe có thể lai thêm cái thùng ở bên cạnh gọi là mô tô ba.

Nói thế, nhưng tôi cũng chỉ được ngồi đằng sau thôi, chưa bao giờ cầm lái.

Tuy vậy cách bóp côn vào số tay hay đạp số chân thì tôi rất rõ.

Hồi học trinh sát ở tiểu đoàn 74 ở Sơn Tây, ở gần đó có đơn vị huấn luện lái mô tô.

Tôi rất hay xem họ tập.

Bài khó nhất là dừng xe giữa dốc.

Mô tô không có phanh hãm như ô tô nên lúc dừng xe giữa dốc muốn đi tiếp phải tăng ga, nhả côn và nhả phanh kết hợp với nhau.

Không cẩn thận là xe tụt xuống dốc hoặc chết máy.

Sau này khi lái xe Jeep tôi áp dụng khá ngon.

Tôi chạy ngay sang chỗ Toàn.

Xe của Nhật chỉ khác xe của các nước XHCN là cần khởi động nằm ở bên phải, ngồi lên rồi mới đạp.

Tôi bóp côn, về số không rồi đạp cho máy nổ.

Toàn vội trèo ngay lên ngồi sau.

Thế là, "không tiền khoáng hậu", hai thằng vù đi chơi Đà Nẵng.

Mặc dù không mang theo bản đồ hay thứ gì khác nhưng tôi vẫn còn nhớ được các con đường đã xem trên bản đồ từ trước.

Qua cầu Nam Ô một đoạn dài là bãi tha ma.

đường rất vắng, thỉnh thoảng mới có xe máy chạy ngược chiều.

Thêm một đoạn nữa thì nhìn thấy bức tượng trắng rất lớn ở trên đồi cao, bức tượng Phật ngồi trên tòa sen.

Bây giờ tôi không còn nhớ chính xác nó ở chỗ nào.

Qua ngã ba Huế, tôi cho xe chạy thẳng vào thành phố.

Vào đến thành phố mới thấy rất nhiều xe máy chạy rầm rập.

Tôi chạy xe khá nhanh, cũng lạng lách ra trò như ngày nào lạng lách xe đạp trên đường Hà Nội-Hà Đông để vượt qua xe buýt Karosha (xe Tiệp) và xe Lvov (của Liên Xô).

Nhiều lần cái Yến "béo" và thằng Quát "điên" đi xe buýt đến lớp nhìn thấy tôi trên đường phải kêu trời vì tôi đi quá nhanh.

Đủ các kiểu xe máy trong thành phố.

Ngay từ ngày đó, xe máy đã nhiều hơn xe đạp.

Chúng tôi cứ dông thẳng dọc thành phố.

Được một lúc thì thấy đường phố vắng vẻ hơn.

Trước mặt tôi là một cây cầu thép, giàn thép nổi vồng lên thành từng múi, từng múi, trông khá hoành tráng.

Đó là cầu Trịnh Minh Thế.

Sang bên kia cầu, đường rất vắng vẻ.

Thế là hết vui rồi ! (Lúc đó ở bên kia cầu rất vắng vẻ và hết thành phố rồi).

Tôi vòng xe, quay lại.

Hai thằng lợn lờ các phố cho biết.

Thành phố rất nhiều biển quảng cáo.

Nhiều biền rất lớn và treo rất cao.

Tôi nhớ nhất cái biển quảng cáo đen trắng "Hinos" với hình đầu tây đen nhe hàm răng trắng.

Đó là kem đánh răng đầu tây đen.

Lòng vòng một hồi rồi hai thằng quay về đơn vị.

Đang chạy thì bỗng có hai quân cảnh thuộc ban quân quản của thành phố chặn xe chúng tôi lại hỏi giấy tờ.

Nói dối loanh quanh một hồi, cuối cùng vẫn bị họ thu mất xe.

Chúng tôi nói với họ sẽ về đơn vị lấy giấy tờ và ghi lại biển số xe..

Thế là hai thằng phải lóc cóc đi bộ.

Chết cha ! xa quá !

Đoạn này chưa ra đến ngã ba Huế.

Hai thằng bàn nhau vẫy tay đi nhờ.

Mãi rồi cũng có người nhận cho đi nhờ và chở luôn cả hai thằng.

Ông ta tầm trung niên cũng chạy chiếc xe đam và chỉ đi đến Nam Ô.

Nhưng ông ấy chở chúng tôi đến tận Kim Liên rồi mới quay xe lại.

Rồi chúng tôi bàn nhau xin ban 2 cho giấy đi lấy lại xe.

Bọ Luyến suy nghĩ một lúc rồi đồng ý cho giấy và giao nhiệm vụ cho hai thằng đi lấy xe về và đưa lên ban 2 để sử dụng cho ban "đi công tác".

Thật là "không có cái dại nào bằng cái dại nào".

Bố sư khỉ !

Ban 2 còn cử thêm anh Vinh, tiểu đội trưởng trinh sát kỹ thuật, đi lấy xe cùng.

Ba anh em ra đường bắt xe bộ đội đi nhờ.

Khi vào đến chỗ giữ xe máy, tôi đi vòng một lượt bãi để xe.

Rất nhiều xe, cả môt bãi mênh mông.

Ngắm nghía chán thì tăm được một cái xe ưng ý.

Ba thằng lại lộn ra ngoài.

Tôi rút giấy của phòng tham mưu sư đoàn đề nghị trả xe cho đơn vị làm nhiệm vụ.

Trong giấy có ghi số xe của chiếc "67".

Tôi rút bút ghi thêm một số xe nữa vừa tăm được.

Chúng tôi trình giấy cho quân cảnh và lấy ra hai chiếc xe.

Chiếc xe lấy thêm là chiếc Vespa 150 Spring.

Xe này rất nổi tiếng ở Hà Nội hồi đó.

Tiếng nổ nghe phành . . . phành . . . từng phát một gọi là "đếm tiếng".

Những lão anh chị ở Hà Nội vẫn bảo xe này rất dễ nổ, chỉ cần chim bay qua thả một bãi trúng cần khởi động là nổ.

Tôi ngồi lên chiếc xe Vespa, nổ máy rồi hướng dẫn anh Vinh cách vào số tay.

Số 1 xuống, số hai lên, số ba lên tiếp.

Cái số tay cũng rất hay, nếu không bóp côn thì không chuyển số được nên muốn chuyển số, kiểu gì cũng phải bóp côn, chỉ cần nhả côn từ từ là được.

Anh Vinh đi Vespa còn tôi đèo thằng Toàn bằng xe "67".

Thế là mất một xe, bây giờ lại được hai xe. ban 2 lấy chiếc vespa còn bọn tôi vẫn giữ chiếc "67".

Xăng thì khỏi lo.

Hết xăng là phi lên kho xăng Liên Chiểu xin.

Thủ kho mới là bộ đội của mình cả, vô tư.

Được hai hôm thì được lệnh hành quân.

Chúng tôi hành quân bằng xe của "559" trong cánh quân Duyên Hải.

Chiếc xe máy được đưa lên ô tô đi cùng mãi vào tận Sài Gòn.

(hết chuyện XV)

CHUYỆN XVI TRÀ LIÊN TÂY

Sau khi làm khu "Resort" ở Quất Xá, c20 phải di chuyển đi nơi khác.

Lính tráng rất tấm tức vì nghe nói phải nhường lại cho các thủ trưởng sư đoàn ?!

Về sau này chúng tôi mới biết là không phải.

Sư đoàn bộ di chuyển từ chân cao điểm 544 về Tân Vĩnh ven sông Vĩnh Phước và đóng ở đó đến đầu 1975.

c20 chuyển về ấp Tân Định, cách Quất xá khoảng 2 cây số.

Cái ấp Tân Định cũng nằm ven sông Cam Lộ nhưng thế đất ở đây không đẹp bằng.

Các nhà được làm ven một khu đồi thấp.

Đất đồi có vẻ rất cằn cỗi.

Cây cối trong làng có phần xơ xác.

Nhiệm vụ của đơn vị là cắt và đánh tranh để nộp lên trên.

Nghe nói để lợp nhà cho khu nhà của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng ở gần đấy, cách chừng mấy cây số.

Việc thứ hai là tăng gia trồng sắn và cấy lúa.

Đám ruộng thấp để cấy lúa và đất đồi để trồng sắn.

Chúng tôi chẳng có công cụ gì trong tay.

Cả đại đội được triển khai ở nhờ nhà dân.

Mượn được dân dụng cụ gì thì dùng nấy, liềm, cuốc, xẻng, vồ đập đất. . . .

Liềm để cắt tranh, dao găm thì chặt tre làm hom.

Ruộng và đất đồi đều phải cuốc bằng tay.

Giai đoạn ở đây là thời gian không đọng lại trong trí nhớ mọi người được bao nhiêu.

Tôi thuộc bộ phận tăng gia.

Hàng ngày vác cuốc và vồ lên đồi để cuốc đất.

Sau đó dùng vồ đập tơi đất và lên luống trồng sắn.

Tôi còn nhớ, thằng Thìn và tôi phải làm một đám đất khá rộng.

Tưởng rằng tay lính chai sạn lắm, thế mà lúc làm đất, tay hai thằng phồng rộp lên, chảy nước.

Trời cuối năm mà sao nắng gắt vậy chứ.

Cứ giữa nắng mà cuốc, mà đập, người dâm dấp mồ hôi.

Được cái ăn no thoải mái nên thằng nào cũng rất khỏe.

Kho hậu cần của c20 vẫn để ở Quất Xá.

Chúng tôi có rất nhiều gạo.

Cách đây không lâu, lúc mới ngừng bắn, chúng tôi đã ra đường bắt 2 xe Giải Phóng chở đầy gạo và chất đầy kho chỗ anh Thắng "quản".

Một buổi chiều, ngủ dậy, Thìn và tôi vác đồ "lên nương" làm đất, bất ngờ trên đường làng đụng phải một út rất xinh, đội một chiếc nón "bài thơ" mới tinh, làm cho hai thằng nhìn dớn dác muốn nổ đom đóm mắt.

Thằng Thìn nhanh mồm:

- Nón cũng xinh nữa hè !

Cô gái ngượng nghịu dạt sát vào bờ tre khi hai thằng đi qua.

- Thìn à !

Sao ông không nói cả vế trước của câu ?

- Nói thế mới hay chứ !

- Ông có biết các cụ có câu gì không ?

- Câu gì ?

- Người xinh . . .

- Không biết.

Các cụ nói gì ?

- "Người xinh cái ấy cũng xinh,

Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn."

Hai thằng phá lên cười, ầm ỹ cả đường làng

Chúng tôi ở Tân Định được một tuần thì được lệnh di chuyển.

Không biết di chuyển đi đâu, chỉ biết là đi về phía trước.

Sáng sớm, chào tạm biệt chủ nhà rồi lục cục đồ đào hành quân.

Cả đại đội đi thành một hàng dọc theo đường 9 về phía đông.

Hai tiếng sau thì thì tới Đông Hà.

Vượt qua đường xe lửa một đoạn thì đến chỗ khúc ngoặt thứ nhất.

Đi thêm đoạn nữa thì gặp lại cái lô cốt có tháp canh nằm ở một góc ngoặt thứ hai.

Một chiếc M41 và một chiếc M48 được kéo về để ngay dưới chân tháp làm thành cái biểu tượng chiến thắng của Đông Hà.

Đường 9 bắt vào đường một ở ngã ba, lúc đó gọi là ngã ba Đông Hà.

Chúng tôi đi theo đường 1 về phía nam.

Con đường sẽ dẫn chúng tôi đến cầu Quảng Trị.

Bên kia sông là địch kể từ sau ngày 16/9/1972.

Đây là lần đầu tiên tôi được đi trên con đường 1 ở đoạn này.

Con đường còn rộng và đẹp hơn đường 9.

Sau khi qua cầu Lai phước một đoạn chừng 2 cây số, bất ngờ đoàn lính rẽ sang ben trái đườn nhằm vào chỗ sân bay Ái Tử.

Nhưng chúng tôi không vào sân bay mà vào làng Tả Kiên.

Qua làng Tả Kiên thì đến thôn Trà Liên Tây.

Một cái làng lớn, trù phú, nằm sát ven sông Thạch Hãn.

Mỗi trung đội đã có một b phó đi tiền trạm, nên nhanh chóng chóng tôi được đưa về các nhà dân.

Thằng Ngữ, thằng Hưởng và tôi ở cái nhà cuối cùng, xa nhất.Thìn và Hùng ở nhà bên cạnh có một út 16 17 tuổi tên Nữ.

Nữ có khuôn mặt khá xinh đang là học sinh trung học.

Bọn tôi thường trêu gán ghép Thìn với Nữ làm cho cô gái nhiều phen đỏ mặt.

Phải cái ông già Nữ rất khó tính và có vẻ ủng hộ quốc gia chứ không thích Việt Cộng.

Ông vẫn để giờ theo giờ Sài Gòn.

Lúc đó giờ Hà Nội và giờ Sài Gòn chênh nhau 1 tiếng.

Ông già có cái đài bằng cục gạch và hễ vắng mặt mấy đứa là mở đài Sài Gòn.

Ông luôn để mắt đến cô con gái, canh chừng không cho thân mật với mấy thằng lính Việt Cộng chúng tôi.

Lúc đầu ông có thái độ khinh khỉnh, nghĩ rằng bộ đội là những đứa dốt nát, hung dữ, chớ có giây vào.

Dần dà vài hôm, lính giở bài dân vận, quét nhà cửa, sân sướng, nọ kia; lại còn nói chuyện học hành chữ nghĩa với út Nữ.

Thì ra mấy thằng này toàn có học thức và hiểu biết.

Thái độ của ông già bớt kinh khỉnh, dè chừng nhưng vẫn luôn giữ khoảng cách cho đến lúc chúng tôi chuyển đi.

Chắc là ông như cất được một gánh nặng.

Chúng tôi chuyển đi sau khi tự làm nhà xong, vẫn ở Trà Liên nhưng không ở nhà dân nữa.

Các nhà khác thỉnh thoảng chúng tôi vẫn vào chơi, còn nhà ông già và em Nữ thì không.

Mỗi tiểu đội chọn một cái nền nhà bỏ không dọc trên đường làng để làm nhà.

Hàng ngày, chúng tôi ra sân bay Ái Tử kiếm vật liệu để làm nhà.

Tất cả thứ gì cần, từ cột nhà, xà nhà, tôn, ván thưng xung quanh, ván làm giường và làm bàn ghế đều khiêng về từ sân bay.

Một sự tàn phá ghê gớm.

Không những chúng tôi mà rất nhiều đơn vị khác ở gần đấy đều ra sân bay khai thác.

Không những lính mà cả dân ở xung quanh cũng ra kiếm đồ.

Cuối cùng thì ghi sân bay cũng bị rỡ hết.

Ghi sân bay bằng hợp kim nhôm (gọi là đuya-ra) sơn màu rêu còn được vận chuyển về sư đoàn bộ để làm hội trường của sư đoàn.

Các tấm ghi này rất dài, khoảng 4 mét, chiều ngang mỗi tấm 60 phân.

Đầu tấm ghi và hai bên sườn đều có các gờ để lắp ráp vào nhau thành sân phẳng.

Tấm ghi rỗng, khi cắt ra thấy nhiều đường gân chịu lực ở bên trong.

Lúc đầu chúng tôi còn khênh đồ trên vai từ sân bay về.

Sau, nảy ra sáng kiến, thả nổi những tấm ghi trên sông làm bè cho trôi trên sông Thạch Hãn về và chỉ việc vớt lên là xong không phải khuân vác nữa.

Nhà tôi ở có hai ông bà già mà chúng tôi gọi là ba và má.

Con ông bà đều chạy vào phía trong hết chỉ còn lại một đứa con trai út.

Thằng bé sáu bảy tuổi gì đó.

Tên thật của nó tôi không còn nhớ.

Ông bà vẫn gọi nó là thằng Chót.

Thằng Chót suôt ngày chỉ mặc quần đùi và áo cộc.

Trên đầu nó là chiếc mũ nan hình chóp nhọn (bây giờ không thấy người ta làm loại mũ ấy).

Tay nó cầm cái cành tre, trên đầu buộc một túm lá chuối.

Nó đi chăn ngỗng và cũng không cao hơn mấy con ngỗng là mấy.

Trông nó rất xinh và rất buồn cười.

Mỗi khi nhìn thấy nó như vậy là tôi và Hùng "côn" lại bật cười.

Trông nó cực giống chú Pinôkiô (Buratinô).

Chiến tranh làm cho gia đình ông bà già tan đàn xẻ nghé.

Ông có chiếc xe đạp tàng tàng nhưng dùng tốt.

Ngặt một nỗi là xăm lốp không kiếm đâu ra.

Một lần ông ra sân bay Ái Tử kiếm được mấy mét tuy-ô bằng cao su rất dầy.

Ông già chế thành "lốp liền xăm" cho xe đạp.

Ông tâm đắc lắm thỉnh thoảng lại khoe sáng kiến đó với chúng tôi.

"Cái bánh ni nỏ cần bơm chi hết, nỏ lủng chi hết nữa hề !".

Hàng ngày vẫn thấy ông già èng èng chiếc xe đạp trên con đường làng.

Lâu rồi tôi không còn nhớ tên ông bà già.

Cả hai người đều rất hiền lành dễ chịu và hay cười.

Bà già thì có cái gì cũng mời bộ đội ăn cùng rất xởi lởi.

Cơm của chúng tôi lúc đó chỉ có canh lõng bõng, lương vương vài sợi thịt hộp, lơ vơ vài lá rau dền gai hái ở bờ bụi trên đường làng.

Cho nên má cứ phải liên tục bổ sung thêm món đặc sản Quảng Trị "rau lang mắm ruốc" ngọt lịm.

Ông già có cái mũ phớt, hễ đi đâu ra khỏi nhà là nó nằm ngay ngắn trên đầu ông rồi.

Rất đặc trưng, của riêng ông, ở cái làng quê Trà Liên này.

Ông chỉ có một cái tính khó chơi là hơi "ki ki".

Khi có nhà riêng rồi, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn rẽ qua chơi với ông bà và thằng Chót.

Một trận nói cười thoải mái rôm rả.

Quãng mươi ngày gì đó thì nhà cửa làm xong.

Từng tiểu đội chuyển về nhà mới.

Mỗi tiểu đội một căn.

Ba cái nhà của bê 3 ở đầu làng.

Ba cái nhà của xê bộ và y tá, a thông tin rồi a anh nuôi ở giữa làng.

Ba nhà của bê 1 cách đó một quãng.

Ba cái nhà cuối cùng của bê 2 ở xa nhất.

Cả Xê Hai Mươi ở dọc hai bên trục đường làng kéo dài khoảng trên 300 mét. a 12 thì vẫn ở trên ban hai cùng sư đoàn bộ mãi trên Tân Vĩnh.

Họ đặt đài trinh sát kỹ thuật trên cao điểm 58.

Nhà tiểu đội tôi (a2 của bê 1) nằm ngay bên đường làng, trên một cái nền nhà cũ đã bỏ không từ lâu.

Khung nhà hoàn toàn bằng gỗ với mộng mẹo thì ít mà đinh thì nhiều.

Đủ các loại đinh to gỡ ra từ các công trình ở sân bay.

Mái nhà lợp tôn và đóng đinh luôn vào đòn tay.

Trên mỗi cái mũ đinh còn cẩn thận đắp lên một cục keo làm từ xốp trộn với xăng để chống giột.

Xung quanh nhà chúng tôi thưng gỗ dán.

Những tấm gỗ dán rất dày, chiều dài hai mét, chiều ngang mét hai cứ thế mà phệt đinh vào.

Một cửa ra vào ở giữa, hai cửa sổ hai bên và hai cửa sổ hai đầu hồi nữa.

Bốn cái giường, mỗi cái là bốn cọc gỗ đóng chặt xuống đất và đặt tấm gỗ dán lên, rồi, . . . lại phệt đinh vào.

Chưa ở đâu có kiểu giường đơn giản như thế và cũng chưa có giường ở đâu lại chắc như thế.

Hai cái giá ba lô dài suốt chiều ngang nhà và đặt trên cao ở hai đầu hồi.

Giá súng đăt chính giữa sát vách phía sau.

Cuối cùng là bàn và hai cía ghế băng hai bên được đặt chính giữa nhà.

Về sau khi đóng các đồ lặt vặt chúng tôi có sáng kiến là lấy đinh gỡ ra từ quả pháo đinh.

Những chiếc đinh đều tăm tắp, dài ba phân, mỗi chiếc đều có bốn cánh đuôi hơi xòe ra một chút.

Mỹ nó làm kiểu vũ khí này đều thật, pháo nổ trên cao mỗi chiếc đinh trở thành một mũi tên phóng xuống gây sát thương cho những người ở trên mặt đất rất hiệu quả.

Lúc đầu chúng tôi còn hơi e dè vì đinh bó chặt có hàng lối trong ruột quả pháo trộn lẫn với một thứ bột đỏ.

Không biết bột này có phải là chất độc không ?!

Về sau dùng thử, thấy không sao nên cứ thế mà phệt.

Một thứ đinh rất cứng không bao giờ bị quằn.

Nhắc đến chuyện Trà Liên Tây là tôi lại nhớ Phạm Xuân Sự.

Nó là đứa ở cùng tôi lâu nhất ở cái tiểu đội 2 này.

Thời gian chúng tôi ở với nhau nhiều nhất cũng là trong căn nhà này.

Mãi đến sau ngày Giải phóng 30/4, tôi mới ghi lại địa chỉ của nó và tên cụ thân sinh theo trí nhớ:

"Phạm Xuân Sự:

thôn An Đỗ, xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi, Hải Hưng,

con ông Phạm Văn Cửu."

Tôi biết Sự hy sinh ở trên núi như thế, đơn vị chôn cất xong là đánh trận ngay.

Sau đó 325 còn sang K, rồi chuyển về Hà Bắc.

Chưa ai quay lại Bạch Mã.

Cho nên muốn về quê Sự gặp bố mẹ mà chẳng dám.

Không biết người ta đã báo tử những gì.

Tôi rất sợ!

Tôi nhớ một lần đi tìm mộ Nguyễn Thế Dân một mình ở Bà Rịa.

Một nơi rất thuận lợi để tìm được.

Tôi đã tìm đến đúng khu vực chôn cất.

Nhưng rồi thật đáng buồn là địa phương đã quy tập về nghĩa trang và trở thành một trong hàng ngàn mộ "Vô danh" ( hồi đó người ta viết trên bia như vậy, bây giờ mới viết là "Chưa biết tên").

Mãi mấy chục năm sau tôi mới tìm đường về nhà Sự.

Tôi hỏi thăm đúng người cháu họ nên được đưa vào tận nhà.

Đây là ngôi nhà của cậu Kim, em trai Sự.

Cửa khóa, không có ai ở nhà.

Tôi đứng ngoài sân chờ cậu cháu đi tìm chủ.

Không tìm thấy Kim, cậu cháu đưa tôi sang nhà người em trai út.

Khi tôi đến sân thì cậu em trong nhà bước ra.

Tôi cứ thế đứng ngẩn ra một thoáng hay chừng như là rất lâu ?! mắt đăm đăm nhìn cậu em trai.

- Mời anh vào nhà !

- Anh vào nhà đi ạ !

Hai người phải mời mấy lần tôi mới bước vào nhà được:

- Giống quá !

- Anh bảo gì ạ !

- Giống . . .

Trong khi cậu cháu đi tìm Kim và chuẩn bị cơm nước, tôi và cậu út thủ thỉ nói chuyện với nhau.

"Hôm ấy, vào tháng 12 năm bảy mốt, sau khi huấn luyện xong tân binh, anh em tập trung ở ga Cẩm Giàng.

Ông ấy xin phép đơn vị về nhà và được phép đi trong ba tiếng.

Từ ga Cẩm Giàng về nhà em mười hai cây số, anh bảo, thế là anh ấy chạy, cứ thế cắm cổ chạy.

Hôm ấy đẹp giời lắm anh ạ !

Máy bay nó bay ầm ầm ở trên giời, lúc ấy em còn bé tý, mới có 8 tuổi.

Em sợ quá, cứ ruộng lúa em rúc vào, úp mặt xuống ruộng, người thì run chứ lại !

Không biết bao nhiêu là đỉa bâu đầy vào mặt em, đầy cả chân tay.

Kinh quá anh ạ !

Thế nào mà, ông Sự ông ấy chạy tắt qua đám ruộng nên mới nhìn thấy em.

Ông ấy kéo em dậy, cứ thế hai tay ông ấy cào cào, không biết bao nhiêu là đỉa.

Ông ấy cứ cào cào thế này này.

Bây giờ nghĩ lại em vẫn còn kinh.

Ông ấy lôi em về nhà, cứ muối với xà phòng ông ấy xát khắp từ trên đầu, trên mặt xuống đến tay chân.

Bây giờ em vẫn còn nhớ.

Ông ấy chỉ vào nhà có một lúc là đi ngay.

Bố mẹ em bảo cần gì thì anh ấy bảo nhờ người chạy ngay đi mua một cân thuốc lào.

Có thế thôi, rồi ông ấy quay đi và lại chạy.

Đấy anh ạ ! lần cuối cùng em gặp anh em là anh ấy tắm cho em đấy."

" Anh ạ! lúc đấy nhà em không ở đây đâu mà ở ngoài trại Bãi Sậy cơ.

Nhà em chuyển ra trại từ năm sáu tám, mãi năm bẩy hai mới chuyển về đây.

Nhà nghèo lắm, có gì đâu, chỉ có cái nhà tranh thôi.

Em cũng biết người ta báo tử là chôn cất ở Phú Lộc, nhưng mà đánh nhau ác liệt như thế, bom dạn như thế.

Bây giờ muốn tìm thì chỉ có người nào trực tiếp chôn cất thì may ra, còn làm sao mà tìm được."

Câu chuyện lắng đi một lúc rồi cậu út lại thủ thỉ nói tiếp, giọng nó cũng thủ thỉ như giọng thằng Sự.

"Lúc nãy, em thấy anh đứng ngẩn ra nhìn em ghê quá !

Thì ai cũng bảo là em giống ông Sự nhất mà.

Để em kể chuyện báo tử anh em . . ."

Lúc này chúng tôi đã sang nhà Kim.

Sau khi chào hỏi nhau dăm ba câu.

Kim và Mẻ (tên cậu cháu) xuống bếp cơm nước.

Cậu Vàng (tên cậu em út) thủ thỉ kể tiếp.

"Anh ạ !

Một hôm gia đình thắp hương cúng cụ và khấn vái cầu cho hai anh em đi bộ đội được may mắn tránh được hòn tên mũi đạn, mẹ em khấn thế.

Bất ngờ bát hương bốc cháy đùng đùng.

Bố em bảo nhiều hương quá.

Bát hương hóa rồi, lấy gio mới thay đi.

Chúng em đổ tro xuống ao, rửa sạch sẽ bát hương rồi thay gio nếp mới vào.

Vừa châm mấy nén hương mới thì nó lại cháy đùng đùng.

Anh bảo thế có lạ không ?"

Vừa lúc đó Kim ở dưới bếp lên thêm vào câu chuyện: " Mà em thấy nó cháy từ dưới lên, đùng đùng, bát hương thì đã rửa sạch, nguội chứ có phải nóng đâu."

Vàng tiếp lời một cách từ tốn : " Hai hôm sau, huyện đội đưa giấy báo tử anh Công em.

Anh bảo có lạ không ?

Mẹ em choáng quá, ngất xỉu.

Rồi cụ còn khóc vật vã nhiều ngày sau nữa.

Đừng nói gì thì thôi, hễ động nói gì thì lại khóc. . . .

Bàn thờ nhà em có thêm tấm ảnh anh Công em với bằng Tổ Quốc Ghi Công. . . .

Rồi mấy tháng sau một hôm đang thắp hương anh Công thì bát hương lại hóa đùng đùng.

Lần này rửa kỹ để nguội, đốt gio mới cũng để nguội rồi mới đổ vào bát hương.

Thế mà vừa châm mấy nén hương nó lại hóa anh ạ.

Hai hôm sau huyện lại đưa giấy bảo tử anh Sự em.

Lần này phải đưa mẹ em đi cấp cứu rồi đưa xuống bệnh viện Việt Tiệp.

Quê ngoại em ở Hải Phòng mà.

Anh bảo, trong mấy tháng, hai cái bảo tử của hai đứa con trai lớn thì làm sao cụ chịu đựng được.

Bàn thờ nhà em lại thêm một cái bằng Tổ Quốc nữa.

Anh Sự chẳng có cái ảnh nào, anh ấy có bao giờ chụp ảnh đâu."

" Anh Sự em là chịu khó nhất nhà đấy.

Nhà đông con.

Lúc em còn bé, anh ấy chưa đi bộ đội.

Ông ấy theo mẹ em xuống bà ngoại ở Hải phòng.

Không phải đi chơi đâu anh.

Ông ấy đi đẩy riu.

Nhiều tôm tép lắm.

Đến trưa là mẹ em phải quẩy đầy một gánh riu lên chợ bán.

Chiều lại một gánh nữa.

Anh nói đúng đấy, tính ông ấy chăm chỉ, ít nói lại hay cười."

Tôi nói:

- Thì tính nó thế.

Mà chắc chưa cầm tay con gái bao giờ.

- Vâng, nói chuyện với con gái là đỏ mặt rồi anh ạ !

Phạm Xuân Sự hy sinh ngày 22 tháng 3 năm 1975, đúng một hôm sau ngày khai hỏa của sư đoàn từ dãy Lưỡi Cái.

Nhà của a2 chúng tôi có một mảnh sân trước nhà khá rộng.

Sát đường là dãy hàng rào bằng rặng trúc, bên phải nhà cũng là hàng rào trúc ngăn cách với một con đường nhỏ rẽ từ đường làng vào.

Bên trái nhà là khoảng đất trống xa khoảng trăm mét mới có nhà.

Phía sau nhà cũng khoảng bốn chục mét là đất trống.

Phía trước nhà là con đường làng, qua đường làng một trăm mét đất trống thì đến sông Thạch Hãn.

Thành thử, cái nhà của tiểu đội chúng tôi là một cái nhà độc lập.

Khoảng đất trống bên kia đường làng tiểu đội tôi tha hồ tăng gia.

Lúc đó đại đội khoán rau và củi theo đầu người.

Anh Thắng "quản" đã tốt nghiệp Đại Học Nông Nghiệp nên nghĩ đến việc cử người ra Hà Nội mua giống rau.

Đầu tiên, chúng tôi trồng rau muống gieo bằng hạt.

Giống rau Trung Quốc, trắng, thên mỏng và mềm, lớn nhanh như thổi.

Tiểu đội tôi có tiểu đội phó là thằng Ngữ, rất chịu khó.

Nó bón cả phân bắc và nước giải cho rau nên rau rất tươi tốt.

Nộp khoán xong chúng tôi vẫn còn rất nhiều, tha hồ cải thiện thêm.

Sau vụ trồng rau muống, chúng tôi còn được phát hạt giống cải củ.

Đất phù sa của Trà Liên rất tốt, lại được tưới tắm đầy đủ, củ cải chúng tôi trồng rất to.

Củ ngắn cũng phải dài 30 phân còn củ dài thì trên 40 phân.

Củ rất thẳng, không còng quèo tí nào, mà lại không hề bị bấc.

Khi chúng tôi ở Việt Yên, Hà Bắc, cũng là đất trồng rau chuyên nghiệp nhưng đất cũng không tốt bằng đất phù sa Trà liên.

Lúc bấy giờ, chúng tôi được phát cả nhu yếu phẩm và phụ cấp.

Lính binh nhì được phụ cấp 5 đồng một tháng.

Tiểu đội tôi, có tôi là trung sỹ, còn lại là hạ sỹ và binh nhất.

Ngày nghỉ, chúng tôi đi chợ Thuận ở bên kia sông.

Mỗi lần mua 1 đến 2 cân thịt.

Lúc đầu giá thịt lợn là 5 đồng, sau đó tăng dần lên đến 7 đồng một cân.

Tiền thì phát riêng cho từng người còn việc mua đồ ăn thêm cho tiểu đội thì tùy, ai mua thì mua, không bao giờ tính đếm.

Đồ đã mang về nhà rồi thì là của chung, không có ai "tắc lẻm" riêng.

Chúng tôi vẫn sống với nhau như những ngày còn ác liệt đạn bom của năm 72 vậy.

Đêm 30 tết Quí Sửu (1973), đại đội tổ chức đón giao thừa chung ở hội trường.

Hội trường của đại đội được làm ở gần nhà các thủ trưởng c20.

Tôi nhớ tiểu đội tôi cũng phải góp công xây dựng và góp hai cái ghế băng.

Hùng "côn", sinh viên xây dựng, thiết kế ghế băng vừa đơn giản, vừa chắc chắn.

Có "hàm lượng lý thuyết kết cấu" mà lị !

Lấy một cái cây có cấu trúc cành như cành đào, tuốt gần hết lá rồi đính hoa đào cắt bằng giấy, nhuộm mực đỏ.

Vậy là có cây đào đón xuân.

Trên cây đào còn đính nhiều lá phiếu để hái hoa dân chủ.

Nội dung các lá phiếu thường là hát một bài, kể một chuyện, . . . và được thưởng gì đó như bánh kẹo hay điếu thuốc lá.

Tác phẩm này là của bác TraLienTay đấy.

Bây giờ kể lại, thấy buồn cười nên có khi bác ấy không nhận đâu và có khi bác ấy cũng quên thật rồi !

Thằng Cam, tiểu đội tôi và tôi, hai thằng phải canh gác cho trung đội.

Thằng Cam kiếm đâu ra một lít rượu đựng trong cái chai huyết thanh.

Vì thiếu đồ nhắm, tìm mãi cũng chỉ thấy đường (thật may không phải là ớt) nên hai thằng đã uống hết lít rượu với đường.

Năm 73 và nửa năm 74, chúng tôi ở Trà Liên Tây.

Thôi thì đủ các thứ tập tành.

Nào thì tập lăn lê bò toài như tân binh, rồi tập tiềm nhập cởi trần trùng trục bôi nhọ như ma lem khắp người trong đêm tối.

Tập vượt qua các kiểu hàng rào, tập dò gỡ mìn ngay trong thực địa của căn cứ Ái Tử.

May mà chỉ có vài lần đụng mìn thật và gỡ mìn thật, không ai bị sao.

Mệt nhất là tập võ thuật, suốt ngày quật nhau ngoài nắng, tối về đau dừ hết các "cơ quan đoàn thể".

Thằng nào làm không đúng động tác, ghì không chắc mà nó quật mình không khéo thì gãy toi xương sườn hay xương sống.

Chuyện thục đầu gối hay cùi chỏ vào bụng hay vào mạng mỡ là thường tình.

Méo mặt !

Lại gì nữa đây ?

Tập hành quân vác nặng rèn luyện thể lực, thật là kinh.

Còn chuyện làm hầm bí mật và ăn ở dưới đó một ngày đêm thì tôi đã kể rồi.

Vậy chứ, ngày nghỉ thì làm gì, những tối không phải sinh hoạt thì làm gì?

Buổi tối ở Trà Liên Tây hồi đó cũng chẳng có gì để chơi.

Đèn thì chỉ có đèn dầu lù mù.

Chơi tiến lên, thằng bét phải đeo 2 ba lô, thằng ba thì đeo một cái.

Hết ba lô thì đeo xanh tuy đạn, hết xanh tuy thì đeo súng, . . .

Chơi uống nước thì mỗi ván về bét uống 2 bát "bê năm hai".

Uống nước nhiều quá, cứ phải đứng lên ra ngoài liên tục, gọi là "rô bi nê".

Đeo ba lô hay uống nước mãi cũng chán.

Chỉ có mấy đứa cưa cẩm em út là vui nhất.

Chẳng biết chuyện chúng nó có đi đến đâu không, nhưng 9 giờ tối là phải điểm danh rồi.

Không điểm danh đại đội thì điểm danh trung đội.

Về sau này, chúng tôi cũng không nghe thấy nói có chuyện tai tiếng gì của c20 với các út ở Trà Liên Tây.

Có một chuyện mà bác 6971 đã kể.

Dịp 27/7/2009, chúng tôi về thăm lại Trà Liên Tây.

Nghe một người dân nói, có chú bộ đội về đây dự đám cưới con gái, chắc là bộ đội đơn vị 20.

Về sau tôi nghĩ là không phải.

Nếu bộ đội 20 mà có "sản phẩm" thì phải cách đó 35 năm rồi, không phải là đứa con gái mới lớn lấy chồng vào năm 2008.

Chỉ có hai chuyện thật.

Nhất là, xê phó Thêm yêu một chị giáo viên người bắc dạy mãi dưới Cửa Việt.

Sau năm 75, hai người là vợ chồng.

Nhị là, xê viên phó Ánh thì yêu út Trà xinh đẹp trắng trẻo, lại còn cao hơn cả bọ Ánh nữa.

Sau này, bọ Ánh về quê ở Bình Định, hai người đứt liên lạc từ đó.

Nghe nói út Trà cũng không còn ở Trà Liên mà ở Bình Dương thì phải.

Cái căn cứ Ái tử bị phá hết nhưng chúng tôi vẫn còn mót được nhiều thứ.

Một trong những thứ đó là áo giáp Mỹ.

Bỏ lớp vải bên ngoài ra, bên trong là nhiều lớp bố dầy, dệt bằng sợi nylon trắng bóc và cực dai.

Tháo lấy sợi đó, rồi nối từng đoạn với nhau, mỗi đoạn chỉ dài chừng 40 đến 50 phân.

Riêng cái đoạn nối nút dẹt, vòng sợi đánh ngoằng một cái rồi rút hai đầu là được một nút nối vừa bé, vừa chắc là tôi đã chịu rồi, rất mất thì giờ.

Sau đó lại còn dùng đèn dầu để hơ và vê tròn cho mối nối khỏi tuột.

Chưa hết đâu, mấy thằng còn làm cả cái sa để xe sợi.

Cứ ba sợi mắc lên sa, chiều dài mỗi sợi khoảng năm chục đến trăm mét, giăng dọc theo đường làng.

Thấy quay quay một hồi, ba sợi cùng xoắn theo một chiều.

Sau đó chập ba sợi đã xoắn lên sa và cho xoắn theo chiều ngược lại để kết thành một như kiểu bênh thừng.

Đem dây cuộn lại thành một cục to như quả bưởi con là đủ đan một chiếc võng.

Chúng nó lấy thuốc pháo khói để nhuộm sợi.

Ở sân bay Ái Tử rất nhiều đạn pháo khói.

Chỉ cần cẩn thận với những quả pháo có sơn viền vàng thì đừng có bổ ra.

Đấy là pháo bắn chất độc hóa học.

Không biết có bao nhiêu màu, nhưng thấy mọi người thường nhuộm màu lá cây xậm, màu đỏ và màu tím xẫm.

Rồi còn làm cái thước bằng tre để lấy cữ.

Thước to thì đan võng thưa, thước nhỏ thì đan võng mau.

Đầu tiên là tính số mắt võng theo chiều ngang, tôi không nhớ, hình như lấy bốn mươi sợi dài bằng nhau.

Túm chặt một đầu rồi dùng thước làm cữ và bắt đầu đan.

Thực ra là buộc các sợi cạnh nhau vào làm một nút, thành từng đôi một, ở mép võng là sợi đôi.

Tôi chịu khoản đan võng, giá có ai cho thì lấy chứ đan thì thôi.

Lão Tất y tá đại đội tôi là một trong những tay làm võng đẹp.

Mấy tháng trước lão ở Vũng tàu ra, gặp nhau, nhắc chuyện đan võng, lão vẫn còn sướng, cười phá lá, ngất ngây ("con gà tây") !

Cái võng nhuộm tím của lão, vo tròn đút túi quần, tiện đâu là mắc lên nằm rất mát.

Tiểu đội 1 ở gần chúng tôi, ngay sát nhà mụ Tiệu.

Mụ Tiệu tầm 30 tuổi, người nhỏ nhắn, khuôn mặt khá xinh.

Mụ nói, quê gốc của mụ ở Huế nên mấy món nữ công gia chánh có vẻ thạo.

Thỉnh thoảng mụ làm bún theo kiểu Huế.

Gạo ngâm rất lâu, thay nước hàng ngày.

Cách làm bún thì cũng như thằng Ghi, thằng Quế làm trên cao điểm 108 nhưng bún của mụ tiệu sợi to hơn, hơi trong trong và rất dai, rất giòn.

Lúc nào chúng tôi muốn ăn bún thì báo cắt vài suất cơm nhà bếp lấy ít gạo nhờ mụ làm cho.

Mụ tiệu cũng hay làm mấy món bánh ít kiểu Huế.

Bánh làm bằng bột lọc nhân đậu xanh, . . .mặn hoặc ngọt.

Chúng tôi hỏi mụ: "thế có bánh nhiều không?" thì mụ bảo "bánh nhiều là bánh gai của mấy chú ngoài bắc đó, nhưng trong ni làm nhỏ như bánh ít".

Rất chịu khó và quí các chú bộ đội.

Có khi mụ làm rất nhiều bánh rồi gọi cả a1 và a2 chúng tôi sang ăn. a1 còn bở hơn vì thỉnh thoảng mụ còn mang đồ ăn sang cho, trong những bữa cơm khô khan mà anh em lĩnh từ nhà bếp về.

Ở Trà Liên Tây vào những ngày mưa lũ, nước sông Thạch Hãn tràn ngập khắp làng, tràn vào tận nhà.

Nhà của chúng tôi, nước lên gần đến mặt giường.

Nước cứ ngập thế trong năm bảy ngày mới rút.

Nước lũ đỏ ngầu phù sa như nước sông Hồng và làm cho đất đai làng Trà màu mỡ, cây cối làng Trà tốt tươi.

Những ngày lụt, hay nhất là không phải tập tành gì.

Từng tiểu đội lĩnh gạo và thực phẩm về tự nấu ăn, vui như hội.

Tiểu đội tôi phải nấu cơm trên giường.

Lót một tấm tôn lên ván giường, đổ lên trên một lớp đất khô rồi kê ba hòn gạch là thành bếp.

Củi ướt, khói nghi ngút, nấu được bữa cơm thì dàn dụa nước mắt nước mũi, nhưng rất vui.

Lần lụt đầu tiên cũng là lần đầu tiên tôi được biết món chuột luộc ép lá chanh và chuột chiên giòn.

Nước lụt làm lũ chuột túa ra rất nhiều.

Chúng chạy cả vào nhà, chúng leo lên cây.

Bờ trúc phía trước và bên cạnh nhà chúng tôi rất nhiều chuột trèo lên lánh nạn.

Mấy đứa Hưng Yên được dịp trổ tài bắt chuột.

Con nào ở dưới thấp thì bị đập, con ở cao thì bị rung lắc cho rơi xuống.

Giống chuột bơi chậm, cứ tõm xuống nước là bị bắt sống.

Chuột làm lông sạch, trắng nõn, mổ bụng, vứt ruột rồi cho vào nồi luộc.

Luộc xong, banh phẳng ra, đặt vào giữa hai tấm ván mà ép với lá chanh.

Ép chừng một tiếng, cho ráo nước rồi chặt miếng cho lên đĩa (nắp xong).

Món này chấm muối tiêu ớt.

Sơi, . . . chắc cũng được.

Món chuột chiên giòn có vẻ hay hơn.

Chuột làm sạch, banh ra tẩm lá chanh, muối, ớt, tiêu (lúc đó chỉ có thế, giá như bây giờ thì đủ các thứ gia vị hành, tỏi, húng lìu, giềng, xả, . . .), rồi cho vào chảo có mỡ rán vàng sậm lên, bốc mùi thơm như chả nướng vậy.

Vì là lần đầu tiên nhìn thấy món chuột nên tôi vẫn có cảm giác hơi ghê ghê, chỉ dám nếm một tý món chiên sau khi được động viên, chào mời mấy lần.

Mấy đứa Hưng Yên được bữa tưng bừng, rõ là rất khoái khẩu lắm.

Từ trong nhà nhìn ra, thấy nước ngập mênh mông.

Nước trong làng chỉ chảy lờ đờ, nhưng nước ngoài sông thì hăm hở chảy, cuồn cuộn, dậy sóng.

Nhìn dòng nước chảy cuốn theo nhiều cây cối từ thượng nguồn về, những cây gỗ rất to phăng phăng chạy theo dòng nước.

Bất chợt làm cho thằng Thìn và tôi cùng nghĩ đến chuyện kiếm củi.

Hai thằng cởi phăng đồ, buộc lại dải rút rồi lội ra đường làng bất chấp mấy thằng can ngăn.

Hai đứa lội dọc theo đường làng lên đến đầu làng, qua cả khu vực đơn vị đóng quân.

Chúng tôi lội ra bờ sông.

Hai thằng đứng nhìn dòng nước chảy để chọn gỗ.

Thằng Thìn nhắm một cây rất to.

Tôi tham hơn, nên nhắm một cây còn to và xa hơn.

Hai thằng nhào ra ôm gỗ và cố gắng bơi đẩy vào bờ.

Cũng không ngờ nước chảy lại nhanh đến thế.

Khi chúng tôi đưa được gỗ vào bờ thì đã bị trôi rất xa, qua cả làng Trà một đoạn.

Hai thằng lội nước kéo gỗ về sân nhà.

Mấy thằng ở nhà đón gỗ, khênh vào buộc ở hông nhà.

Thằng Thìn và tôi rút kinh nghiệm, lần này lội hẳn sang thôn Tả kiên rồi mới lao ra vớt gỗ.

Thế mà chuyến này cũng không về đúng chỗ tiểu đội tôi nên vẫn phải lội nước kéo gỗ một đoạn.

Chúng tôi làm vài chuyến nữa.

Được rất nhiều củi.

Chẳng còn lo khoán củi nữa.

Hôm nào lấy củi, hai thằng tha hồ đi chơi.

Lụt làng Trà là chuyện thường niên.

Dân làng đã quen, chỉ có đơn vị 20 là không biết trước.

Nước sông ngập tràn, đỏ quạch phù sa.

Chẳng kiếm đâu ra nước sạch để nấu ăn và nấu nước uống.

Dân làng Trà không ai làm nghề chài lưới, thế mà những ngày lụt thỉnh thoảng thấy có người bơi thuyền đi trên đường làng.

Chúng tôi hiểu ra rằng chuyện này là bình thường ở đây.

Vậy phải có cách lấy nước sạch chứ.

Quả vậy, nhà dân đều có đồ trữ nước sạch, nước lên đến đâu, họ khênh nước lên đến đó.

Vài ngày đầu chúng tôi còn xin nước sạch của dân nhưng mấy hôm sau, không dám xin nữa vì họ cũng chỉ tích nước để đủ dùng.

Nhưng dân lại cho bộ đội phèn để về đánh nước.

Phèn chua giã nhỏ, thả vào nước, khuấy mạnh.

Phèn tan trong nước tạo thành keo, cuốn theo các hạt đất phù sa, rồi lắng xuống.

Đợi một lúc là có nước tương dối trong có thể làm nước nấu ăn được.

Tốt chán !

Lính tráng chúng tôi, ai chẳng đã từng uống nước sống dưới hố bom, hố pháo.

Chuyện dùng nước hố bom đến cạn đáy mà thấy xác chiến sỹ đơn vị nào đó hay xác lính địch cũng không phải là chuyện hiếm.

Đọc "Nhật Ký Viết Lại" của SauChiBayMot mới biết thời điểm làng Trà bị lụt năm 73 là đầu tháng 7.

Lúc đó, 6971 và tôi đang biệt phái sang lớp binh địa của sư đoàn.

Chắc hẳn những ngày lụt lội, 6971 và tôi đều về tiểu đội của mình nên mới có chuyện tôi đi vớt củi cho tiểu đội và được nếm thịt chuột.

Nước rút đến đâu chúng tôi khoắng nước phù sa và quét ra ngoài đến đó, từ trong nhà ra đến thềm rồi xuống sân.

Nước rút, lại hết những ngày vui chơi thoải mái.

Tôi lại trở về lớp binh địa.

Chuyện tổ chức lớp học binh địa thì bác 6971 đã kể rồi.

Nghĩ lại thấy, hồi đó chúng tôi cũng hăng.

Bác 6971 và tôi thay nhau lên lớp lý thuyết, bắt đầu từ ống nhòm, địa bàn, rồi bản đồ.

Tôi còn nhớ, tôi phải lên lớp về bản đồ.

Nói thực, dùng thì được chứ phải lên lớp bài bản lại là chuyện khác.

Rất may chúng tôi được sư đoàn cho mượn tài liệu "Binh yếu địa chí", sách in hẳn hoi và khá dầy.

Chúng tôi đã được học ở d74, đã sử dụng bản đồ khá nhiều, nhưng phải dạy, phải đọc lại, mới thấm, từ cách chia mảnh bản đồ, cách ký hiệu mảnh trên bản đồ, lưới tọa độ, độ lệch của hướng bắc bản đồ so với hướng bắc của địa bàn.

Thế mà F48 là gì bây giờ lại quên sạch sẽ rồi.

Hai thằng 6971 và tôi bắt mình phải cố gắng đã đành lại còn "hành" anh em ra phết.

Có 4 tiểu đội của lớp binh địa, cũng bày đặt trực ban, luân phiên các tiểu đội trưởng.

Hàng ngày trung đội tập hợp thì trực ban phải điều hành trung đội.

Sau khi tập hợp xong, các tiểu đội báo cáo quân số cho trực ban.

Trực ban hô anh em "Nghiêm" rồi báo cáo " Báo cáo đồng chí giáo viên, trung đội có mặt đầy đủ.

Xin mời đồng chí làm việc !"

Sau mỗi buổi lên lớp, trực ban lại hô anh em "nghiêm" và báo cáo giáo viên cho nghỉ. – Oai quá !

Lúc đó tôi thấy chuyện đó cũng bình thường nhưng có vẻ như không phải là hai thằng tôi tự nghĩ ra cái kiểu như ở trường sỹ quan "luộc quân" như thế mà phải do đại trưởng Ngơi dạy dỗ rồi.

Thế nhưng hai thằng cũng bắt mọi người phải làm mỗi người một cái giá vẽ cơ động.

Trông học viên binh địa đi vẽ trên thực địa cứ như là những sinh viên trường ĐH Mỹ Thuật.

Cũng có kế hoạch giảng dạy,chia lịch học tập lý thuyết, thực hành, cũng vẽ dã ngoại, căn cứ địch này nọ, cũng tập sử dụng bản đồ ban ngày, ban đêm, bắt chước như hồi chúng tôi học ở d74.

Bài vẽ phải nộp cho giáo viên, bốn thằng giáo viên chia nhau mà chấm.

Tôi đi công tác miền đông trong thời gian lớp binh địa.

Vừa về đến nhà thì xảy ra vụ "nổ bom nguyên tử" do học viên lớp binh địa gây ra.

Lúc đó, tôi là người ngoài cuộc lại biết rất rõ ai là thủ phạm.

Nhưng tôi hoàn toàn không biết đại đội lại tìm ra một thủ phạm khác cho đến khi đọc "Nhật Ký Viết Lại" của 6971 kể lại trên Quân Sử (Trong "Nhật Ký Viết Lại" đã in thành sách không nói rõ chuyện này).

Thủ phạm thực sự là Chinh.

Thấy bác 6971 nói lại là Chinh đã kể là đốt liều phóng gần đống đầu đạn 175.

Đống đầu đạn ở trận địa pháo Ái tử thì nhiều người biết.

Tôi cũng biết đống đạn đó.

Chiều hôm bị nổ, tôi được anh em đi vẽ về kể lại.

Chinh nó dựng ngược một quả đạn pháo lên và gày mãi thuốc đạn mới cháy.

Thuốc nổ TNT đốt cháy không phải dễ, phải đủ nóng và đủ lâu nó mới cháy và cũng cháy bình thường thôi chứ không mãnh liệt lắm.

Sau khi cháy mấy đứa còn thưởng thức chán rồi mới bỏ đi.

Thật tệ là, trước khi bỏ đi, có một đứa đạp đổ quả đạn pháo.

Ai đạp đổ quả pháo cháy đó thì không thấy ai nói mà tôi cũng không hỏi.

Pháo cháy làm cháy lan sang đám cỏ và khi mọi người đã đi một đoạn xa nó mới cháy vào đến đống đạn.

Chắc hẳn trong đó có ngòi nổ (ngòi nổ pháo, trước khi bắn mới lắp vào đạn).

Bác 6971 bảo, Chinh nó đốt liều phóng là không phải đâu.

Liều phóng thì chỉ xoẹt một cái là đi hết.

Người đốt không cẩn thận thì cháy xém mặt mũi, lông mày, lông mi đi sạch, tóc cháy quăn vàng như châu Phi ngay.

Cháy xoẹt như thế mà phun vào chỗ có ngòi nổ thì không ai còn kịp chạy nữa.

Thế thì gần bốn mươi năm nay làm gì còn "Chinh Lốp".

Hôm đại đội đi lấy củi, khoán mỗi người 30 cân củi trong một ngày.

Mọi người tỏa đi khắp nơi để kiếm củi.

Dễ nhất vẫn là ra sân bay Ái Tử kiếm những mảnh gỗ hay cây cọc còn xót lại.

Cột điện bằng gỗ thông ngâm hắc ín ở căn cứ Ái Tử đã được cưa hết về xẻ ra làm nhà và làm hầm rồi.

Những cái cột đã cưa hay chặt để lấy phần trên, bây giờ còn đoạn ngắn thì phải bổ, thậm chí phải đào.

Nhớ lại, những cây cột rất to và rất cao cũng được cưa và để nguyên cây về làm cột cho hội trường của sư đoàn.

Hội trường sư đoàn làm rất to, nóc nhà cao đến bảy, tám mét, cột đen xì.

Mái hội trường được lợp tôn cũng được lấy từ căn cứ Ái Tử.

Một cái hội trường rất rộng, hoàng tráng.

Khi khánh thành, mọi người đều rất phấn khởi.

Chưa bao giờ sư đoàn có cái hội trường to như vậy.

Đại hội "Chiến Sỹ Quyết Thắng" toàn sư đoàn cũng họp được đủ trong hội trường.

Đến mùa mưa lũ bắt đều có chuyện.

Các thủ trưởng đang họp thì mưa rào đổ xuống, ầm ầm trên mái tôn như hàng trăm chiếc thùng rỗng cùng khua lên một lúc, không còn nghe thấy gì nữa.

Thế là những đơn vị trực thuộc phải lăn ra cắt và đánh tranh.

Sư đoàn cũng khoán cho đại đội tôi một số lượng tranh khá nhiều.

Tranh nộp lên phải đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, chiều dài 2 mét, đánh dầy và phải là tranh già và dài.

Được cái, chúng tôi đã từng đánh tranh làm nhà cho Chính Phủ rồi nên về kỹ thuật không khó.

Nhưng chúng tôi ở Trà Liên rất xa nơi có cỏ tranh.

Đại đội tôi lại khoán tiếp xuống chúng tôi.

Cha con phải dắt díu nhau đi rất xa để cắt tranh rồi kiũ kịt gánh về.

Mái hội trường lợp tranh không còn bị mưa làm ồn nữa mà lại mát.

Những tưởng thế là xong.

Ai ngờ, một ngày bão đến làm tốc hết mái.

Lại phải đánh tranh bổ xung.

Rồi ai đó nghĩ ra việc chống tốc mái bằng lưới chống B40.

Vậy là phải đi kiếm lưới nộp lên.

Tất cả những việc đó tiểu đoàn công binh phải làm.

Chúng tôi chỉ là những người đóng góp nguyên vật liệu.

Trở lại chuyện lấy củi.

Riêng tiểu đội tôi, cứ việc cưa đám gỗ mà thằng Thìn và tôi vớt hôm lũ cũng được vài lần cho cả tiểu đội.

Thằng Thìn và tôi không phải làm gì.

Kệ chúng nó làm thế nào với nhà bếp thì làm.

Nhà bếp mà kêu củi to quá thì chúng nó phải bổ ra.

Nếu lựa đến lúc thằng anh nuôi nào dễ tính mà nộp ào đi thì thoát.

Hai thằng tôi qua đò sang chợ Thuận chơi.

Trước khi về c20, thằng Thìn là lính 12 ly 7 của tiểu đoàn 1.

Ở khu miềm đông ác liệt này hồi đó nó đã từng lăn lóc, may mà không dính miểng nào.Nhưng nó lại dính bom bi ở Quất Xá khi đã về đại đội tôi.

Nó dính đúng một viên.

Viên bi xuyên vào đùi nó từ phía sau.

Nó cũng chảng phải đi viện hay băng bó gì và vẫn làm việc bình thường.

Rồi một hôm chúng tôi đang tắm ở sông Thạch Hãn (ở làng Trà).

Thằng Thìn thấy ngứa ngứa ở chân nên thò tay gãi.

Nó gãi bật cả da và gẩy ra được viên bi ở phía trước đùi để lại một lỗ hình cầu đúng khuôn của viên bi.

Không chảy máu chút nào vì cái lỗ đó đều có da non phủ kín hết rồi.

Bi xuyên vào đùi nó ở phía sau, mà nó lại gẩy được bi ra ở phía trước.

Đùi thằng Thìn là cái đùi to nhất đại đội tôi, thế mà viên bi xuyên gần qua.

Không biết có phải vậy không, hay là cơ thể thấy vật lạ nên đẩy dần ra ngoài ?

Về sau này thằng thìn có lúc cân nặng trên 90 ký, rất to con và cao.

Nó bị bị tiểu đường, giảm ăn chất bột đi nên thụt cân xuống còn 87 ký.

Hai thằng đi một vòng qua chợ.

Cái chợ Thuận này nằm ở ngã ba đường ủa một con đường đất.

Một nhánh chạy ra bờ sông Thạch hãn rồi bám theo bờ sông.

Hai nhánh còn lại đều chạy vào đường 560 chạy từ thị xã Quảng Trị về Cửa Việt.

Chợ Thuận nằm giã hai thôn, thôn Phúc lộc và thôn Trúc Thuận.

Không biết trước kia như thế nào nhưng vào năm 73, cái chợ chỉ toàn những lều lán lụp xụp.

Hàng hóa cũng rất nghèo nàn nhưng cũng có thịt, cá, rau, quả, củ.

Nhiều nhất là ruốc khô, cá khô.

Thằng Thìn và tôi dừng lại trước một lều bán tạp hóa, rất nhiều thứ lặt vặt.

Thằng Thìn cúi xuống nhặt một bao thuốc lá.

Bây giờ tôi không nhớ là thuốc lá gì vì hồi đó tôi không hút thuốc.

Một loại tuốc lá gia công, đóng bao, có hình vẽ đơn giản bên ngoài (in lưới).

Không biết có phải thuốc "Con Gà" không?

Bà già rất đắt hàng và bán cũng rất đắt.

Nhân lúc mấy người khác vào mua hàng, Thìn nhấc lên đặt xuống mấy bao thuốc rồi cuối cùng mới hỏi giá và trả tiền một bao.

Lúc đi khỏi hàng bà già thăng Thìn móc hai bên túi quần cho tôi xem.

Mỗi bên 2 bao.

Thằng này nhanh thật.

Tôi hỏi:

- Ông lấy của người ta à ?

Thằng Thìn vừa cười vừa trả lời:

- Lấy của bà bóp mà mày.

Tôi mua một cân thịt lơn mông, giá 7 đồng rồi hai thằng quay về Trà Liên.

Đang ở lớp binh địa thì tôi nhận nhiệm vụ đi tuyến miền đông.

Tôi phải vẽ sơ đồ toàn tuyến miền đông, từ Bích La, An Lộng, Long Quang, Lệ Xuyên, Thanh Hội, Tám làng, Tám cát,. . .

Lâu ngày quá không nhớ nổi tên các chốt của e101 mà tôi đã lên từng chốt để vẽ sơ đồ sao cho liền tuyến giữa ta và địch.

Các thông tin để vẽ đều do anh em ở các chốt cung cấp.

Lúc bấy giờ đã sau ngừng bắn được nửa năm rồi nên hai bên không còn giao lưu ở nhà liên hợp như ban đầu nữa.

Bên nào biết bên đó và giữ vững phần đất của mình.

Có những vùng lõm, chốt của ta nằm sâu trong đất của địch và ngược lại.

Bấy giờ việc thương thảo giữa hai bên để đổi những vùng lõm đã giải quyết xong.

Toàn tuyến tuy "cài răng lược" nhưng bên nào ra bên ấy.

Nhà liên hợp, lúc đầu còn là nơi gặp gỡ của hai bên.

Bên ta thì phần lớn đưa xê viên lên đó, còn bên địch lại đưa sỹ quan tâm lý chiến lên.

Chủ yếu là tuyên truyền lẫn nhau, bên nào nói hay về bên đó và tìm điểm dở của nhau để nói qua nói lại, so sánh chế độ và kêu gọi về với chính nghĩa Cách Mạng hay "hồi chánh" về với "chính nghĩa Quốc Gia".

Lúc mới ngừng bắn, trinh sát chúng tôi còn phải học tất cả các loại quân hàm, quân hiệu binh chủng của địch từ cấp tiểu đội đến cấp trung đoàn để đi tuyến nắm địch, . . .

Loa tuyên truyền của hai bên chĩa về phía nhau, ngày đêm nói xa xả để tuyên truyền.

Cả hai bên đều lấy tinh thần dân tộc ra để tuyên truyền.

Tôi nhớ, có một khẩu hiệu rất lớn nằm ở đầu cầu Quảng Trị, ở bờ bên ta, quay dòng chữ sang phía địch ghi "Tình cốt nhục, nghĩa đồng bào, . . .".

Loa của mình ở bờ bắc cầu Quảng Trị, công suất lớn, chĩa sang bờ bên kia, suốt ngày phát Đài Tiếng nói Việt Nam, chương trình ca nhạc, thời sự.

Thỉnh thoảng còn có những bài kêu gọi, nhắm vào nỗi xa quê hương hay xa mẹ già, vợ dại, con thơ, . . .

Tôi luồn sâu ở Hải Lăng, gần nhà thờ La Vang bên kia sông, sau lưng địch khá xa mà sáng Chủ Nhật còn được nghe ca nhạc theo yêu cầu (chuyện này tôi đã kể trong chuyện "Một Chuyến Luồn Sâu Xè Xè").

Chuyến đi miền đông của tôi chỉ để lại một ấn tượng, thật là khó quên.

Đó là bọ chét.

Khi ở làng Tám (Tám Làng), chúng tôi đi vẽ ban ngày, tối về ở nhà dân.

Nhà ở làng Tám cũng như những nhà dân chài ở vùng khác, rất nhỏ và sơ sài.

Nền nhà với ngoài sân hay ngoài làng, ngoài bãi như nhau cả.

Toàn cát là cát.

Đi trên cát lẫn với lá phi lao rụng và xác vỏ hến, vỏ ốc li ti.

Nếu trời không nắng gắt thì tốt nhất là đeo dép vào xanh tuya mà đi đất.

Từng bước đi trên cát, sụt xuống, rất mất sức.

Giữa nắng mà đi trên cát thì rất bỏng chân, ánh nắng lấp lóa, chói chang, rất nhức mắt.

Đêm đầu, mãi chúng tôi không ngủ được vì bọ chét cắn nhoay nhoáy.

Nhói, nhói, hết con đốt chỗ này, lại con đốt chỗ khác.

Bọ chét từ dưới đất búng lên rất cao, bám vào quần áo và vào võng, rồi luồn đi khắp nơi mà đốt.

Hai thằng trinh sát chưa quen nên không biết làm cách nào mà ngủ được.

Chẳng thấy dân kêu gì.

Họ vẫn nằm trên giường và ngủ đều.

Cuối cùng, hai thằng nghĩ ra trò mắc võng tít lên sát nóc nhà, rồi giũ sạch võng, nhảy xuống đất.

Cởi hết đồ rồi vừa nhảy tưng tưng cho bọ chét nó chạy đi vừa giũ sạch lấy chiếc quần đùi, mặc vội vào rồi trèo ngay lên võng.

Còn vài con nấp đâu đó thì rình cho nó cắn rồi đập chết hết.

Mãi, chúng tôi mới ngủ được.

Ở Trà Liên, một lần tôi còn quay lại hai căn cứ Cồn Tiên và Dốc Miếu để làm lại binh yếu địa chí ở đó.

Lâu ngày quá không còn nhớ lại bao nhiêu.

Để tôi hồi tưởng lại, sẽ kể về hai cái căn cứ quan trọng trong hệ thống hàng rào điện tử McNamara của Mỹ tại khu phi quân sự DMZ.

Đêm 27/1/1973, trước giờ ngừng bắn, địch bắn pháo rất nhiều khu vực các chốt của ta dọc theo bờ biển.

Trong khi đó, xe tăng của chúng bò theo mép nước xâm nhập vào tận cảng Cửa Việt.

Sau ngày ngừng bắn rồi, ta mới "vi phạm hiệp định" và đánh tan thiết đoàn xe tăng này và đẩy chúng lui trở về tám Cát.

Bây giờ, sát mép nước ở tám cát, ta dựng lên một hàng rào gồm rất nhiều mìn chống tăng.

Đặc biệt là loại hàng rào chưa từng có.

Đó là các tấm ghi sân bay chôn sâu dưới đất dầy dặc lớp lớp theo chiều sâu, chĩa tua tủa về phía địch để chống xe tăng.

Không biết hiệu quả chống tăng thế nào nhưng trông thật hùng vĩ.

Tôi nhìn cái hàng rào này và nghĩ chắc cũng chẳng ăn thua vì xe tăng rất nặng, nó có thể đè lên ghi và bẻ gục tấm ghi.

Tuy nhiên tăng không thể tiến nhanh được dễ bị vướng phải mìn và bị các loại B bắn tỉa ngon.

Chuyến đi miền đông của tôi chỉ còn đọng lại hai thứ là bọ chét và hàng rào chống tăng ở mép nước trên bờ biển.

Một thứ hàng rào có một không hai, không theo một bài vở nào.

Bài cắm cọc dưới lòng sông thời Ngô Quền hay thời nhà Trần là cắm dưới lòng sông để chống tàu thuyền.

Cọc ghi sân bay để chống tàu bò chắc chưa bao giờ và cũng không có ở đâu.

Không nhớ là năm 73 tôi phải làm binh yếu địa chí hai căn cứ Dốc Miếu và Cồn Tiên vào lúc nào.

Căn cứ Dốc Miếu tôi cũng không còn nhớ được bao nhiêu.

Còn Cồn Tiên thì thật là Hoành tráng, Đây là hai căn cứ chắn "Cộng sản Bắc Việt" tràn từ phía bên kia giới tuyến sang và là sáng kiến của bộ trưởng quốc phòng McNamara.

Rất nhiều tiền của đổ vào cái lá chắn này.

Tất cả những thiết bị điện tử quân sự mới nhất được trang bị cho hai căn cứ.

Một lá chắn được mện danh là "Hàng rào điện tử McNamara".

Hai căn cứ này cũng được trang bị hỏa lực rất mạnh lực lượng lớn lính Mỹ và lính Việt.

Tôi xin trích lại một đoạn trong trang web "Văn Hóa Quảng Trị" dưới đây:

"Căn cứ quân sự Dốc Miếu và hàng rào điện tử Mc Namara

Căn cứ quân sự Dốc Miếu nằm ở phía Đông Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Gia Phong cách thị trấn Gio Linh 3 km về phía Bắc.

Dốc Miếu là đồi đất đỏ bazan, nơi đây, từ năm 1947 thực dân Pháp đã đóng chốt quân sự để án ngữ Quốc lộ 1A, được gọi là đồn Ba Dốc.

Sau năm 1954, đặc biệt từ khi đế quốc Mỹ đổ quân vào miền Nam, địch đã tập trung xây dựng Dốc Miếu thành một căn cứ quân sự lớn nhất vùng Gio Linh với tổng chi phí hơn 800 triệu USD.

Trong những năm 1967 – 1970, để đối phó với tình hình bất lợi cho chúng và nuôi hy vọng có thể ngăn chặn mọi sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, đế quốc Mỹ đã xây dựng phòng tuyến hàng rào điện tử McNamara (mang tên Bộ trưởng bộ Quốc phòng Mỹ).

Trên phòng tuyến này, địch đã bố trí nhiều căn cứ quân sự mạnh từ bờ biển thuộc thôn 8 Gio Hải lên đến đồi 51, đồi 28, Bến Ngư, Dốc Sỏi, Dốc Miếu, Cồn Tiên cùng một loạt chốt phụ làm thành hành lang ngăn chặn từ Cồn Tiên kéo qua căn cứ Bái Sơn, Đông Tròn, nối với Tân Lâm, Đầu Mầu và phòng tuyến bảo vệ Đường 9 lên biên giới Việt Lào.

Tuy nhiên, do điều kiện chiến trường lúc đó mà Mỹ chỉ xây dựng hàng rào quy mô lớn từ bờ biển lên căn cứ 31 với chiều dài trên 3 km để bảo vệ cảng Cửa Việt.

Hàng rào điện tử McNamara gồm 12 lớp kẽm gai chồng nhau cao 3m, trên mặt hàng rào cài mìn tự động, phía dưới hàng rào là bãi mìn dày đặc rộng hàng trăm mét.

Ngoài ra, địch còn rải hệ thống (cây nhiệt đới) là loại phương tiện thông tin nhạy bén nhằm phát hiện mọi vi phạm trong phạm vi phòng tuyến.

Ở các cứ điểm có hệ thống đèn pha cực mạnh để kiểm soát chống mọi sự xâm nhập vào ban đêm.

Cùng với hệ thống (mắt thần điện tử) là đội ngũ binh lính (hồn ma biên giới) - bọn biệt kích được huấn luyện công phu, thiện nghệ, thường xuyên len lỏi vào hành lang của ta để chống phá mọi hoạt động của du kích.

Dốc Miếu được coi là cứ điểm quan trọng nhất của phòng tuyến McNamara.

Ở đây địch xây dựng những hệ thống hầm nhà ván, hệ thống lô cốt di động bằng bê tông, có trận địa pháo mặt đất thường bắn phá ra bờ Bắc sông Bến Hải, có trận địa phòng không 37, trung tâm điều khiển bảo vệ hàng rào, chi đội thiết giáp tuần tra cùng nhiều đại đội hỗn hợp Mỹ - ngụy.

Xung quanh căn cứ, ngoài các hàng rào kẽm gai ken dày bom mìn là hệ thống máy móc báo động chống xâm nhập.

Tuy là một căn cứ hiện đại nhưng hàng rào điện tử này đã bị dần dần vô hiệu hóa bởi những hoạt động của ta.

Trước hết, đó là sự tấn công phá hủy từng đoạn để đưa lực lượng và vũ khí vào chiến trường.

Ở Trung Sơn, Trung Hải, du kích ta ngày đêm khống chế không cho địch tự do hoạt động bằng cách vây ép bắn tỉa...

Trong những ngày đầu quân ta nổ súng trên chiến trường Quảng Trị năm 1972, du kích Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn đã vây chặt và bắn hàng trăm quả đạn DKB, A2 và bom phóng vào căn cứ trong suốt 3 ngày, buộc địch phải tháo chạy vào đêm 31 tháng 3, kéo theo sự tan rã của căn cứ Quán Ngang."

Đại đội lại cử hai đứa đi Dốc Miếu và Cồn Tiên để làm lại toàn bộ sơ đồ.

Hai thằng đi bộ qua Đông Hà rồi đi tiếp dọc theo đường 1 để đến Dốc Miếu.

Nhìn sang hai bên đường, đất Gio linh là một vùng cát trắng mênh mông, nhất là về phía biển.

Có thể nhìn thấy trên bản đồ, tất cả các làng của Gio Linh ở gần giới tuyến đều ghi là đã bị phá hủy.

Địch dồn 13 000 dân ở đây về Cam Lộ.

Tháng 3/1972 ta đã đánh pháo dữ dội và tiến đánh Dốc Miếu làm căn cứ bị phá hủy một phần.

Sau ngày ngừng bắn, dân trở về làm lại nhà cửa thì vật liệu đều khai thác từ các căn cứ.

Trong đó Dốc Miếu là gần nhất nên bị đào bới nhiều nhất kể từ bao cát, cọc hàng rào, các tấm ghi làm trần của lô cốt, . . .

Tôi không thể tưởng tượng được tại sao dân mình lại có thể vượt qua được rất nhiều loại mìn được chôn và cài đặt bài bản ở Dốc Miếu.

Tất cả hầu như không còn gì ngoại trừ lô cốt xây từ thời Pháp và xác những chiếc tăng và pháo.

Lúc đó chưa có việc khai thác kim loại để bán ve chai và người ta chỉ kiếm vật liệu để làm nhà hay làm vật dụng khác.

Chắc hẳn chiếc xe tăng còn sót lại ở Dốc Miếu đã có lệnh cấm dỡ và được bảo vệ nên mới thành di tích ở đây ngày hôm nay.

Cũng vì thế mà căn cứ Dốc miếu tôi không còn nhớ được bao nhiêu ngoài ấn tượng về sự liều lĩnh của dân.

Âu cũng là bấn quá phải liều !

Hai căn cứ Dốc Miếu và Cồn Tiên là hai căn cứ độc lập và nằm khá xa nhau và nằm trong hệ thống hàng rào điện tử McNamara.

Đó là một hệ thống các căn cứ chạy suốt từ bờ biển qua Dốc Miếu, Cồn Tiên, lên đến Tân Lâm, Khe Sanh, Lao Bảo,. . .

Không hiểu sao, trong bài viết của trang web "Văn Hóa Quảng Trị" lại nói rằng Dốc Miếu là căn cứ lớn nhất.

Có tài liệu khác lại nói Cồn Tiên và Dốc Miếu là một căn cứ.

Tôi chẳng biết mình đánh giá có đúng không nhưng trực tiếp bằng mắt thấy căn cứ pháo binh Cồn Tiên của lính thủy đánh bộ Mỹ đồ sộ hơn Dốc Miếu.

Khoảng 500 lính thủy đánh bộ Mỹ thường trực ở đây, không kể lính ngụy và những lúc tập trung lực lượng trong những trận càn lớn.

Khi tới Cồn Tiên, cảm giác đầu tiên của chúng tôi là lạc vào một vùng đất đỏ hoang vu.

Một vùng đất rất rộng, dốc thoai thoải ra xung quanh với đỉnh cao 158 ở trung tâm.

Rất nhiều lô cốt, hầm chỉ huy được dựng rất kiên cố.

Nóc hầm và lô cốt đều lót đà sắt và ghi sân bay, bên trên chất bao cát rất dầy, ít nhất cũng khoảng một mét, có chỗ dầy đến hai mét.

Nhìn cái lô cốt thấy ngán ngẩm vì muốn đánh sập chắc phải cần đến bom.

Thế mà Cồn Tiên cũng là một trong những nơi khốc liệt đối với lính Mỹ.

Pháo từ bờ bắc hàng ngày giã vào Cồn Tiên, có ngày lên đến 3000 quả (phía Mỹ đáp trả bờ bắc có ngày lên đên 20 000 quả).

Theo thiết kế chuẩn của lớp ngăn chặn ở Cồn Tiên có độ sâu 600 mét, đặc biệt có chỗ lên đến 1000 mét.

Được nghe kể, cứ sau mỗi lần hàng rào bị pháo ta phá hủy thì ngày hôm sau lính Mỹ làm lại.

Một số tài liệu nói có 12 lớp hàng rào mỗi lớp cao 3 mét.

Có lẽ gần đúng như vậy nhưng không phải hoàn toàn đúng.

Thường chỉ có hàng rào bùng nhùng "ba" thì cao khoảng 2 mét, hàng rào bùng nhùng "năm" cao gần ba mét.

Các hàng rào khác như hàng rào mái nhà, hàng rào cũi lợn, hàng rào đơn cũng thấp như bình thường.

Có thể các lớp hàng rào được bổ xung liên tục sau thiết kế ban đầu.

Tôi nhớ, hai thằng đếm đi đêm lại số lớp hàng rào nhiều nhất mãi vẵn nhầm.

Đếm được trên hai chục lớp vẫn chư hết.

Tôi nói : Thôi cứ viết vào báo cáo là ba chục lớp ở chỗ này đi.

Quả thật có máu nghề nghiệp trinh sát đến đâu mà nhìn thấy đoạn này thì cũng "xỉu".

Một đêm, dưới ánh đèn pha xenon và mìn tự động dầy đặc, cùng với mìn điều khiển chắc cũng chỉ có thể vượt qua được mười lớp.

Rồi để sáng hôm sau nó ra tóm sống hay liều chết bắn vài phát AK chờ pháo nó giã lên đầu là xong.

Từ năm 2006, Tỉnh Quảng Trị đã huy động lực lượng tìm mộ 173 chiến sỹ đặc công, sau một đêm đã bị mắc kẹt lại và hy sinh.

Cho đến bây giờ mới chỉ tìm được 6 hay 7 mộ.

Cứ sau nhiều lớp hàng rào lẫn mìn lại đến một "vành đai" trống khá rộng.

Chắc chắn dưới đó chôn nhiều mìn điều khiển bằng điện.

Hệ thống điện tử để phát hiện xâm nhập gồm rất nhiều thứ: Đèn pha xenon, Cảm biến phát hiện chấn động từ đất, cảm biến âm thanh, cảm biến hồng ngoại, thiết bị quan sát ban đêm bằng ra đa AN/PPS-5, AN/PP-6, Thiết bị cảm biến cân bằng áp suất, . . . hễ phát hiện được thì địch bắn pháo ra hay đánh mìn điện.

Ban ngày, xe tăng và thiết giáp chạy trên vành đai trống để tuần tra và kiểm tra các lớp rào bảo vệ.

Chúng tôi vẫn còn nhìn rõ vệt đường của xe chạy nhiều trên các vành đai này.

Hai thằng tôi không đứa nào dại gì đi thử trên những chỗ trống đó mà chỉ đứng ở lô cốt gần đó, tia ống nhòm ra quan sát.

Ở Cồn Tiên vẫn còn nhiều lô cốt và hầm chỉ huy nguyên vẹn nên tôi có dịp vẽ thiết đồ một vài cái tiêu biểu.

Bản đồ dưới đây cho thấy căn cứ pháo binh của lính thủy đánh bộ Mỹ rất rộng.

Chỉ cần tính từ đường bình độ 100 trở lên, mỗi chiều đã là 3 cây số.

Lính Mỹ gọi căn cứ này là "Đồi của các thiên thần"(Hill of Angles).

Trong năm 1967, căn cứ Cồn Tiên liên tục bị pháo của ta trần cho tơi bời.

Lúc đó tôi tôi mới 15 tuổi nhưng đã nghe ba địa danh nổi tiếng là Cồn Tiên, Dốc Miếu ở bên kia giới tuyến và Vĩnh Linh ở bờ bắc.

Đài của ta luôn đưa tin thời sự về các nơi này.

Đó là những cuộc đấu pháo giữa hai bên, rất quyết liệt.

Năm 1971, Cồn Tiên được bàn giao cho quân ngụy.

31/3/1972, ta đã đánh chiếm được hai căn cứ Cồn Tiên và Dốc Miếu trên đường giải phóng Đông Hà và Quảng Trị.

Khi tôi đến đây đã là hơn một năm sau rồi nên những gì đã xảy ra chỉ nghe qua báo chí và đài mà chủ yếu là đài của ta.

Đọc bài báo của Al Hemingway [1] trên báo Time mới thấy phía Mỹ mô tả sự ác liệt của các trận đánh ở Cồn Tiên.

Tôi xin tóm tắt nội dung các bài viết để anh em cùng đọc.

"ConThien dịch thoáng từ tiếng Việt sang tiếng Anh là "nơi ở của các thiên thần".

Nhưng bất cứ ai đã từng chiến đấu tại Cồn Tiên sẽ cho bạn biết không có thiên thần cư ngụ ở đó.

Đó là một ngọn đồi đất đỏ có đỉnh cao 158 mét.

Đại tá Richard B.

Smith, chỉ huy lữ 9 thủy quân lục chiến nhận xét: Nếu đối phương chiếm được Cồn Tiên, họ sẽ nhìn xuống Đông Hà như nhìn xuống cổ họng của chúng tôi.

Tờ mờ sáng ngày 05/8/1967, hai tiểu đoàn cộng sản đã tấn công Cồn Tiên.

Lần đầu tiên trong chiến tranh, quân Bắc Việt sử dụng cả súng phun lửa.

Các tiểu đoàn 1 và 4 của thủy quân lục chiến đã chiến đấu cận chiến (hand – to – hand) với cộng quân.

Đến khi trời sáng họ mới đẩy được địch ra khỏi căn cứ.

Nhưng cái giá phải trả là rất cao: 44 thủy quân lục chiến bị giết và 110 người khác bị thương.

Thủy quân lục chiến tiến hành một loạt các hành động để đẩy quân Bắc Việt ra khỏi khu vực căn cứ pháo binh quan trọng nhất.

700 loạt đạn pháo 105mm và 155mm nã xuống các công sự ở gần làng Phú An.

Máy bay thả bom 750 và 1000 pound, tràn ngập một thứ chất lỏng napalm.

Các lữ 9 và 26 thủy quân lục chiến đã chiến đấu với quân Bắc Việt trong ánh chớp của pháo gần khu phi quân sự (DMZ).

Thủy quân lục chiến đã bị chặt nhỏ.

Một số được xe tăng M48 hỗ trợ, số khác phải chiến đấu giáp lá cà với quân Bắc Việt.

Tính đến cuối tháng, 142 thủy quân lục chiến bị chết và 896 bị thương.

Trong khi đó, Hà nội quyết định dùng pháo hạng nặng làm cho Cồn Tiên rơi vào tình trạng hỗn loạn để họ "chơi trò mèo vờn chuột" suốt năm 1967.

Thời gian này được lính tráng ở Cồn Tiên gọi là "bị quay trong thùng" hay là "máy xay thịt".

Vùng DMZ trở thành "vùng thủy quân lục chiến chết" ("Dead Marine Zone")

Tồi tệ nhất là vào ngày 02/7/1967.

Trong một trận càn gọi là Buffalo, Đại đội A và đại đội B của tiểu đoàn 1, lữ 9 thủy quân lục chiến càn một khu vực phía bắc Cồn Tiên dọc theo đường 561.

Đại đội B bị quân Bắc Việt chia cắt ra từng mảnh.

Khi lực lượng cứu trợ đến nơi, một trung sỹ của đại đội B báo cáo: "Thưa ngài, đây là đại đội, hay là những gì còn lại".

Chỉ còn lại 27 lính Thủy quân lục chiến không bị thương vong."

Vào năm 1967, lực lượng đặc công của ta cũng đã luồn qua lớp lớp hàng rào của Cồn Tiên để tập kích vào căn cứ.

Trong đó có một lần 173 chiến sỹ đã hy sinh.

Cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu xác đáng nào nói về trận đánh đó.

Dưới đây tôi xin trích lại một bài viết trên "Xa Lộ Tin Tức" với nhan đề:

"Cuộc tìm kiếm 173 chiến sỹ đặc công hy sinh tại chân đồi Cồn Tiên (Quảng Trị)"

"Việc tìm kiếm kể trên đã được tiến hành trước đó, vào ngày 20/6/2006, theo một bản thông báo của Hội Cựu chiến binh Mỹ cung cấp cho phía Việt Nam về vị trí chôn 173 thi hài quân giải phóng.

Họ hy sinh trong trận tấn công vào cứ điểm đồi Cồn Tiên năm 1967.

Đại uý Nguyễn Đức Ti cho biết thêm, đến nay chưa tìm thấy bất kỳ tư liệu nào nói đến sự hy sinh của 173 chiến sĩ đặc công trong trận huyết chiến với kẻ thù năm đó tại căn cứ đồi Cồn Tiên.

Tuy nhiên, theo lời kể của người dân địa phương, cũng như sự phân tích của các nhà Quân sự, thì cuối năm 1967 là thời điểm chúng ta ráo riết chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân 1968, nhằm giải phóng các tỉnh miền Trung.

Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bấy giờ là phải chọc thủng bằng được tuyến hàng rào điện tử McNamara.

Đồng thời làm được điều đó chỉ có thể là Bộ đội đặc công.

Sau khi đột nhập qua khỏi "con mắt thần" của Mỹ - quân đội Sài Gòn (tuyến hàng rào điện tử McNamara), lực lượng này đã bí mật vây ráp căn cứ đồi Cồn Tiên.

Theo một vài nhân chứng là dân quân du kích xã Hải Thái làm nhiệm vụ dẫn đường lúc đó hiện còn sống kể lại, căn cứ đồi Cồn Tiên năm 1967 được Mỹ - quân đội Sài Gòn bố trí lực lượng canh gác rất nghiêm ngặt, cùng với 9 lớp hàng rào gai kẽm bùng nhùng vây kín quanh chân đồi.

Trước lúc tiến đánh, các chiến sĩ trinh sát đặc công đã đột nhập vào sát chân đồi, vẽ lại toàn bộ sơ đồ và đếm được số lớp hàng rào gai kẽm bùng nhùng kể trên.

Tuy nhiên, công tác trinh sát dường như bị bại lộ, phía địch đã bí mật giăng thêm 7 lớp hàng rào.

Do vậy, kế hoạch của ta đến 4h sáng là cắt xong 9 lớp hàng rào, thành ra đến lúc đó, hàng rào vẫn còn nhiều.

Trong tình huống đó, phía ta rút không được, dùng cây khô làm chỗ đứng chân bắc ngang qua hàng rào, cảm tử tiến lên.

Địch đã lợi dụng tình huống này, nhả đạn từ đỉnh đồi xuống, đồng thời gọi pháo từ các căn cứ của chúng như đồi A1 - Quán Ngang và đồi Mới, xã Gio Bình (Gio Linh) nã đạn vào vùng chân đồi.

Do thế lực không cân bằng, các cán bộ, chiến sĩ đặc công của ta đã anh dũng hy sinh."

Những trận đánh rất ác liệt ở Cồn Tiên mà phía ta là bên tấn công.

Thương vong chắc rất lớn.

Chiến sỹ ta đã chiến đấu với lòng dũng cảm và chí khí kiên cường ở đây.

Họ thật xứng đáng là "Các Thiên Thần".

Còn ít ngày nữa là được hai năm trong quân ngũ.

Thế mà mới chỉ có hai năm.

Hai năm biết bao nhiêu là sự, đi biết bao nhiêu là đường đất, ở biết bao nhiêu nơi chốn.

Biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, bao nhiêu cười và bao nhiêu lần rơi lệ.

Đời lính cứ xuyên qua ngày tháng, mải miết đi.

Mấy khi ngoái lại nhìn những con đường dài đã đi qua, mấy khi nhìn thật xa về phía trước mà thấy ngày về.

Ngày trở về, phải là ngày mà cuộc chiến này đã thắng.

Biết là năm năm hay mười năm, . . .

Thường thì chẳng khi nào hỏi mà cũng không bao giờ có câu trả lời.

Nhưng mà ngày đó sẽ đến.

Bất luận là lúc đó như thế nào mỗi người lính đều góp sức thúc đẩy nó đến gần hơn.

Có thể biết và không biết mình có còn đến ngày đó hay không - Một triết lý tự nhiên đối với mỗi người lính - không lo lắng, không đợi chờ.

Đại đội tôi có 5 đứa cùng nhập ngũ một ngày – ngày 6/9/1971.

TraLienTay hết năm 2 ĐHSP, Hà Văn Tất hết năm 2 ĐHY, Trần Văn Việt hết năm1 ĐHY.

SauChinBayMot và tôi vừa hết năm một ĐHTH.

Hai thằng học cùng lớp và theo nhau suốt từ ngày nhập ngũ đến nay, chuyển qua nhiều đơn vị khác nhau nhưng lúc nào cũng có đôi.

Năm thằng tụ lại c20 từ tháng 1/1972 đến giờ.

TraLiênTay có sáng kiến họp nhóm 6/9/71 để kỷ niệm hai năm.

Ban ngày phải tập tành.

TraLienTay là bê trưởng, Tất và Việt là y tá của đại đội, SauChinBayMot và tôi là a trưởng, không thể bỏ anh em để tổ chức kỷ niệm riêng được.

Chúng tôi chọn buổi tối, sau giờ điểm danh để gặp nhau.

Tôi đưa ra ý kiến là họp mặt trên thuyền thả trôi trên sông Thạch Hãn cho nó bí mật và lãng mạn.

Tôi được phân công lo "món" thuyền.

TraLienTay thì lo viết giấy mời 3 vị khách.

Đó là Hùng "côn", An "đen" và anh Thắng "quản".

Tất cả là 8 "nhân khẩu".

Đồ liên hoan thì mỗi người đóng góp một ít, ai có gì góp nấy, chỉ là đồ ngọt, nhẹ nhàng.

Giữa hai thôn Trà Liên Tây và Trà Liên Đông có một bến đò.

Người chèo đò là cha con út Túy ở gần nhà tiểu đội 2 của tôi.

Tôi đã nói chuyện với ông già để mượn thuyền và ông già vui vẻ cho mượn ngay vì ông rất biết tôi.

Mỗi lần có dịp qua sông bao giờ tôi cũng chèo đò thay cho ông hay thay cho út Túy.

Lần đầu, ông già phải dạy tôi từng động tác "bát", "cạy" và chỉ một lần qua sông là tôi đã biết cách chèo thuyền.

Nhiều lần qua sông, tay chèo tôi đã vững nên ông già rất yên tâm.

Ông già có hai con thuyền, một con thuyền bằng gỗ cũ ông vẫn chở bà con sang sông bao nhiêu năm nay.

Sau ngày ngừng bắn, ông kiếm được ở Ái Tử một con thuyền bằng đuya-ra sơn màu cứt ngựa.

Con thuyền này có vẻ như là một chiếc xuồng máy của lính Mỹ nhưng không còn máy gắn trên đó.

Được cái nó cũng rất nhẹ và lướt tốt.

Cái giấy mời mà TraLienTay làm rất cầu kỳ, bay bướm.

Ngày giờ mời khách còn được cho vào một câu đố có tính chất toán học.

Chả gì cũng là lính sinh viên mà lỵ.

Chuyện này bác 6971 đã kể trong chuyện "Nhật Ký Viết Lại".

Sau giờ điểm danh, mọi người đi ngủ cả.

5 thằng 6/9/71 và anh Thắng "quản" đã có mặt ở bến đò.

Trăng đã mọc ở phía bên kia bờ sông.

Đêm nay là một đêm gió mát nhưng nhiều mây.

Tuy vậy nhờ có trăng nên đêm khá sáng.

Chúng tôi có thể nhìn ra rất xa.

Làng Trà Liên Đông đen thẫm những rặng tre in hằn lên trên nền trời bàng bạc.

Mặt sông cũng sáng mờ mờ, lấp lóa sóng nước.

Nhìn về phía Trà Liên Tây, ánh trăng muộn đang lên nhuộm một màu xám mờ ảo.

Làng xóm đã chìm vào giấc ngủ, không một tiếng gà gáy hay tiếng chó sủa.

Gió hiu hiu thồi, những cây tre đung đưa, khe khẽ phát ra tiếng kêu kẽo kẹt làm cho cảnh đêm càng thêm thanh vắng.

Chờ mãi không thấy Hùng và An đến.

Mọi người quay sang phía TraLiênTay lo lắng sợ câu đố toán có làm cho hai thằng đó tính toán sai ngày giờ không.

Bác TraLienTay cứ giãi bày mãi là cái bài toán ấy cho nó vui thôi chứ ai mà chằng giải ra được.

Chờ lâu vẫn không thấy khách, mọi người mới trèo lên thuyền.

Tôi đẩy con thuyền ra khỏi bờ rồi nhảy lên sau cùng.

Tôi chèo thuyền ra đến giữa sông và thả cho thuyền trôi tự do.

Đã qua mùa lũ, nước sông Thạch Hãn chỉ chảy chầm chậm.

Cũng dòng sông này, một năm trước đây đã dậy sóng ngày đêm bởi pháo kích, nhấp nhoáng lửa, ùng oàng đạn nổ và đỏ ngầu mặt nước.

Doanh, bạn tôi đã bị trúng pháo đúng cái đêm 16/9 năm ngoái khi vượt từ bên Thành sang bờ Nhan Biều.

Bạn đã trôi đi đâu ?

Bạn về với biển ?

Hay bạn nằm lại đâu đó dưới đáy sông ?. . . chơi vơi !

Mẹ đã đi tìm bạn.

Nắm đất ven bờ, nơi Thành Cổ, thấm máu, giờ trở thành ngôi mộ - Trịnh Thúc Doanh.

Con thuyền lãng đãng trôi trên dòng Thạch Hãn.

Mọi người ôn lại những kỷ niệm từ ngày nhập ngũ.

Rồi chuyện Thành Cổ, Tích Tường Như lệ, Nhan Biều, Xuân An, Ái Tử, cao điểm 108, cao điểm 20, Phương Thúy, Tanh Lê, Tân Kim, Quất Xá.

Thôi thì Nhã Nam, Yên Thế, Việt Yên Hà Bắc đến Kỳ Sơn, Kỳ Anh Hà Tĩnh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Lệ Thủy, Bãi Hà, Bến Hải, . . .

Tranh nhau nói, tưởng như không bao giờ cho hết.

Khi thuyền đã trôi đến quá thôn Trà Liên đến khúc sông rộng đã quá nửa đường tới ngã ba sông Cam Lộ (Hiếu Giang), mọi người mới bất chợt bừng tỉnh.

Tôi vội chèo thuyền, ngược dòng một đoạn rất dài.

Mọi người vẫn tiếp tục chuyện trò rôm rả.

Không ai để ý xem con thuyền đã ngược đến đâu.

Rồi lại bất chợt, ai đó giật mình tỉnh giấc mộng mà kêu lên rằng: "Chết rồi !

Có khi gần đến An Mô rồi !

Chỉ tẹo nữa thôi là đến vùng địch đấy !"

Ai nấy đều hú vía, thót tim.

Nếu tôi quá tay chèo tí nữa thì xong.

Địch mà thấy thuyền đi giữa sông thì trên bờ chúng nó choang chết ngay tắp lự.

Kinh Thật !

Chỉ có mình tôi là biết thuyền đang ở đâu.

Nhưng mà tôi chẳng nói gì.

Cứ kệ cho mọi người nghĩ thế.

Sau này, chuyện đêm đó "xuýt" đi chơi vào vùng địch được ghi vào nhật ký của bác SauChinBayMot và nhiều lần ôn lại kỷ niệm này thấy vẫn hay.

Ngay cả khi chỉ có hai đứa SauChinBayMot và tôi, bác ấy nhắc lại, tôi vẫn "im thin thít như thịt nấu đông".

Cứ để như vậy cho câu chuyện thêm phần thú vị.

Còn với riêng tôi, lại có cái thú vì mọi người tá hỏa lên.

Cớ sao phải cải chính làm gì cho mất hứng của câu chuyện nhỉ ?

Nhưng gần 40 mươi năm rồi cũng đến lúc nói ra sự thật.

Sự thật cũng chẳng làm ai mất hứng nữa !

Lúc đó mọi người mải nói chuyện nên không nhìn ra xung quanh.

Lúc giật mình mới tá hỏa lên tưởng đã gần địch lắm.

Thật ra, con thuyền chưa đến khúc sông quẹo ở đoạn Tả Kiên.

Đoạn này, sông ngoặt gấp, lòng sông có nhiều đá, khá nông và nước chảy nhanh hơn nhiều.

Đến đoạn này cũng còn chán mới tới chỗ địch.

Phải qua một đoạn trống dài của sân bay Ái Tử mới đến chỗ địch.

Dù sao thì việc nhầm đó đem lại cảm xúc cho mọi người chứ có gì đâu mà phải đính chính.

Đến bây giờ đính chính cũng đâu có muộn.

Tôi sẽ mô tả vị trí con thuyền đêm đó trên bản đồ dưới đây.

Trên bản đồ, chúng tôi xuất phát từ điểm A, Để cho thuyền trôi đến điểm B.

Chèo thuyền từ B đến C.

Điểm D là điểm ngoặt ở thôn Tả Kiên, chỗ này nước chảy xiết hơn, dưới đáy có đá.

Khi bơi lấy củi các lần thứ hai trở đi trong trận lụt hai tháng trước đó, tôi đều phải lội dọc theo đường làng đến gần điểm D mới lao ra sông.

Nếu đi ngược dòng một chút nữa là chạm vào khu vực Ái Tử.

Đến đây, bên bờ sông phía tây không còn làng mạc cây cối gì nữa.

Lúc bơi thuyền đến điểm C mọi người tá hỏa lên.

Tôi cứ để vậy cho máu lính nó bốc lên đầu một tý.

Xúc cảm ấy vẫn còn giữ gần 40 năm sau mỗi khi nhắc lại.

Bây giờ mới nói ra sự thật là, . . . còn xa địch lắm !

Bác SauChinBayMot và TraLienTây tha cho tôi tội im lặng nhé !

Cái tội im lặng - "không chết người" !

Sau khi ngừng bắn, tôi mới biết đại trưởng mới là anh Đinh Ngọc Ngơi và chính trị viên mới Nguyễn Văn Phi.

Anh Ngơi người Ninh Bình, tôi đã có lần ở gần anh vài ngày trên ban 2, còn anh Phi người Thái Bình.

Xê viên phó vẫn là anh Đặng Ngọc Ánh và đại phó vẫn là anh Võ văn Thời.

Anh Thời, quê ở Tam Hiệp, Núi Thành, Quảng Nam.

Tôi chưa lần nào đi công tác lẻ với anh Thời.

Khi tôi học binh địa ở d74 về đến đại đội thì anh Thời đang ở Nhan Biều.

Anh Thời người rất gày, có giọng nói "nguyên chất Oẳng Nơôm – Khó kheeng, Kheéc phuục".

Anh là người cao tuổi thứ nhì đại đội tôi (1941), sau anh Ngơi (1940).

Cách đây vài tháng, anh Khâm, xê viên đầu tiên của xê 20 của chúng tôi thông báo đã tìm ra địa chỉ và số điện thoại của anh Thời.

Chúng tôi ai nấy đều rất phấn khởi.

Cách đây mươi ngày, anh Khâm từ Nha Trang ra và cho biết, anh đã đến nhà anh Thời ở thôn 4, Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam.

Anh em gặp nhau mừng lắm.

Rất nhiều chuyện anh Thời kể lại mà trước đây chúng tôi chưa hề biết.

Cái ngày ở Trà Liên Tây, thấy anh hiền lắm, chân chất, từ trước đến nay vẫn vậy.

Nghe nói anh đã mấy lần dũng sỹ!

Nhưng mà nghe chuyện anh kể, mới thấy anh rất "gấu".

Cái ngày đang giành giật nhau ở Thành Cổ.

Lệnh từ ban 2 xuống cho toán của anh Thời là phải đưa anh em đặt đài trên cái nhà 2 tầng để quan sát và nắm địch.

Trên ban còn chỉ định rõ tên từng người trong đó có Bùi Văn Thắng lên đặt đài ở đó.

Anh Thời phản ứng lại: " Yêu cầu chúng tôi đặt đài là việc tui nhận nhiệm vụ với ban, còn chuyện điều người là thuộc quyền của tui."

Vị trên ban tức lắm nhưng không làm được gì.

Sau đó, biết việc đặt đài trên cái nhà tầng đó là chắc chết vì bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắn chết ngay lập tức.

Nghĩ thương anh em phải chết vô ích, anh Thời cứ lẳng lặng không cử người lên làm đài ở nhà tầng.

Chuyện này, một lần nữa bị ai đó ghi nhớ là "chống lệnh".

Thì, . . . ngay ngày hôm sau một trận pháo đã cho bay mất cái nhà tầng.

Gì thì gì chứ chuyện chống lệnh, dù đúng hay sai, mình anh phải chịu và anh Thời bị ghi nhận như là một tay "rắn mặt".

Thể nào cũng có lúc bị "dằn mặt" cho biết.

Nhưng lúc đó đang ác liệt, không thể rút anh Thời về được.

Chuyện cứ để đấy đã.

Đầu tháng 11/1972.

Đã là tháng rưỡi kể từ ngày "mất thành".

Địch bí mật vượt sông Thạch Hãn.

Chính tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 hay tiểu đoàn 9 Thủy quân lục chiến chỉ huy dẫn quân vượt sông.

Tất cả các đài quan sát của c20 ở gần bờ Thạch Hãn đều quan sát ngày đêm động tĩnh của địch bên kia sông, đếm tất cả số lượng pháo mà địch bắn tại mọi điểm để báo cáo cho ban 2.

Đó là công việc thường ngày của họ.

Về phía địch, chúng chọn chỗ vượt sông ở đoạn Thành Cổ Quảng Trị.

Hai đại đội tăng cường với đầy đủ trang bị, vượt sông bí mật vào ban đêm.

Không biết chúng vượt sông trong một đêm hay mấy đêm.

Sở dĩ chúng chọn đoạn này vì chỗ đó lòng sông hẹp, phía địch, bờ đông là bờ lở, rất cao.

Các hầm chốt kiên cố của địch dày đặc ở đó có thể dễ dàng không chế toàn bộ mặt sông và bờ phía tây.

Địch bố trí nhiều xe tăng, dàn hàng ngang ở bờ sông để dùng hỏa lực mạnh bắn thẳng của xe tăng không chế toàn bộ các chốt của ta ở bờ tây.

Bên ta ở bờ tây, sát bờ là bãi cát với địa hình thấp và trống trải nên các chốt của ta phải lùi sâu về phía sau một đoạn khá xa.

Ta cũng dễ dàng khống chế bãi trống thấp ở phía trước.

Vấn đề đối với thủy quân lục chiến là bí mật.

Và chúng đã làm được điều đó.

Hai đại đội địch đã vượt sông và đào công sự cá nhân trong đêm rất bí mật.

Ban ngày chúng nằm im bất động.

Chắc hẳn đến giờ nào đó theo hợp đồng tác chiến, địch sẽ ồ ạt bắn pháo, ném bom, dùng pháo tăng bắn thẳng.

Chúng sẽ đánh tan các chốt của ta bằng hỏa lực rồi lính thủy đánh bộ tràn lên chiếm lĩnh trận địa của ta.

Khi có được đầu cầu, xe tăng và xe lội nước cùng lực lượng lớn hơn ở phía sau sẽ vượt sông.

Lực lượng đột kích mạnh của thiết giáp sẽ chọc sâu và triển khai đánh vào sau lưng các vị trí tiền tiêu của ta.

Bên ta, không phát hiện được động tĩnh gì của địch cho đến ngày 31-10-72.

Lúc đó, đài quan sát do anh Thời chỉ huy ở khá gần vị trí vượt sông của địch.

Không may cho chúng là mấy lính trinh sát mắt tinh đã phát hiện ra có dấu hiệu khả nghi.

Hai ống nhòm dương lên dò xét từng mét đất, từng bụi cỏ nơi khả nghi và đi đến kết luận rằng, cỏ ở khu vực này có vẻ hơi héo hơn các khu vực xung quanh.

Soi cẩn thận hơn thì phát hiện ra có dấu vết mới của cỏ và đất cát.

Anh Thời quyết định báo cáo với ban 2 là địch đã vượt sông sang khu vực bãi cát Nhan Biều 1 và đã đào hố cá nhân, ẩn nấp kín vào ban ngày.

Đề nghị sư đoàn cho triển khai đánh địch.

Mãi đến bây giờ khi nghe chuyện anh Thời kể lại, tôi mới biết rằng trinh sát chúng tôi là những người đầu tiên phát hiện ra địch vượt sông và chuẩn bị tấn công ta.

Khu vực chốt giữ của ta ở đây là tiểu đoàn 8, trung đoàn 18 sư đoàn chúng tôi.

Sau này tất cả các tài liệu nói về trận đánh diễn ra ngày 02 và 03/11/1972 đều nói rằng ngày 01/11/1972, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B5 thông báo: "Địch có ý định vượt sông Thạch Hãn tấn công Nhan Biều, Ái Tử".

Chúng tôi vẫn biết Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B5 có nhiều nguồn tin, đặc biệt là của trinh sát kỹ thuật (lực lượng trinh sát kỹ thuật chuyên nghe lén thông tin vô tuyến của địch, sau đó phòng quân báo phân tích và phán đoán tình hình cùng với thông tin từ trinh sát mặt đất).

Trận đánh tiêu diệt hai đại đội thủy quân lục chiến và nhiều xe tăng, . . . sau đó là một mẫu mực về phòng ngự và đánh địch.

Từ đó địch không còn dám có ý đồ vượt sông tấn công nữa.

Mọi chuyện đã qua lâu rồi, chiến thắng là chiến thắng chung, chẳng cần phải kể công rành mạch làm gì.

Bây giờ nói lại để biết những đóng góp thầm lặng của các chiến sỹ trinh sát, đã không một lần được nhắc đến.

Dưới đây tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài viết của bác Nguyễn Đức Huy, trung đoàn trưởng e18/f325 lúc đó:

"Cuối tháng 10-1972, sau khi chiếm được Thành cổ Quảng Trị, quân địch tiếp tục vượt sông Thạch Hãn đánh chiếm tiếp Ái Tử, Đông Hà nhằm khôi phục lại tuyến phòng thủ đường 9 như trước ngày 30-3-1972.

Phía ta, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 sau khi rút khỏi thị xã, được giao nhiệm vụ tổ chức phòng ngự bắc sông Thạch Hãn, khu vực đối diện với Thành cổ Quảng Trị.

Chính diện trận địa phòng ngự khoảng 5km, chiều sâu hơn 4km, bao gồm các làng Trung Kiên, Nhan Biều 1, 2, 3, các cao điểm 20, 21, làng Ái Tử, sân bay Ái Tử, Xuân An.

Ngày 1-11-1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 thông báo: Địch có ý định vượt sông Thạch Hãn tấn công Nhan Biều, Ái Tử.

Trung đoàn lệnh cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, đồng thời cử đồng chí Lâm, Trung đoàn phó xuống tăng cường chỉ huy tiểu đoàn 8 trên hướng phòng ngự chủ yếu của Trung đoàn.

Đêm hôm đó trời mưa, rét, rất tối, 4 giờ sáng 2-11-1972, Trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Huy đi kiểm tra tình hình các đơn vị.

Tiểu đoàn 8 báo cáo không có gì xảy ra, nhưng khoảng 30 phút sau, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 báo cáo gấp có khoảng 2 đại đội địch bí mật vượt sông sang chiếm bãi cát Nhan Biều 1, trước khu vực chính diện của đại đội 5 và đại đội 7.

Đây là tình huống bất ngờ, trung đoàn trưởng lệnh cho kiểm tra lại thì được biết địch bí mật vượt sông khoảng 1 giờ ngày 2-11-1972.

Trung đội của đồng chí Thiều Chí Đinh phát hiện được nhưng nghĩ là quân thám báo, nên chỉ cử 1 tổ ra đánh và không báo cáo với tiểu đoàn.

Nhưng thực tế, địch đã đưa được 2 đại đội và cơ quan chỉ huy tiểu đoàn 6 thuỷ quân lục chiến qua sông, chiếm toàn bộ bãi cát trước mặt thôn Nhan Biều 1 (dài khoảng 300m), có nơi chúng vào sâu chỉ cách đường số 1 khoảng 50m- 60m, mở đầu cuộc hành quân mang tên "Sóng thần 9".

Ban chỉ huy trung đoàn hội ý nhanh và nhận định đây là lực lượng đi đầu đánh chiếm đầu cầu, tiếp theo sẽ là lực lượng chủ lực sang tiếp ứng để tiến công Nhan Biều 1 và Ái Tử.

Vì vậy, Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn 8 phải kiên quyết chiến đấu không để địch chiếm được đường số 1.

Đặc biệt là trung đội của Thiều Chí Đinh phải giữ bằng được khu lô cốt, dùng hoả lực chặn không cho địch vượt sông; các đơn vị còn lại triển khai chiến đấu theo kế hoạch.

Mờ sáng ngày 2-11-1972, pháo địch từ các trận địa trong thị xã Quảng Trị, La Vang, Hải Lăng bắn hàng trăm quả vào trận địa phòng ngự của 2 tiểu đoàn 8, 9.

Cùng lúc, hàng chục máy bay phản lực đánh bom vào thôn Nhan Biều 1 và Ái Tử, các cao điểm 20, 21, sân bay Ái Tử.

Máy bay B52 được điều tới ném bom rải thảm 2 đợt vào trận địa phía sau của trung đoàn.

Được chi viện hoả lực mạnh của pháo binh và không quân, khoảng hơn 7giờ, địch tổ chức tiến công trên 2 hướng: một hướng tập trung đánh chiếm chốt lô cốt do trung đội của Thiều Chí Đinh phụ trách; một hướng (chừng một đại đội) chia làm 2 mũi đánh vào đại đội 5.

Bộ đội ta dựa vào các công sự đã chuẩn bị, chờ địch vào thật gần tới 20m - 30m mới nổ súng.

Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt ở khu vực lô cốt địch cố chiếm bằng được.

Nếu chiếm được nơi đây sẽ là bàn đạp tiến công vào đường số 1 và bảo đảm cho lực lượng tiếp tục vượt sông thuận lợi.

Bộ đội ta chiến đấu rất ngoan cường, súng cối 60, cối 82 ly bắn trực tiếp vào đội hình địch trên bãi cát; cối 160 ly, hoả tiễn BM14 đánh trúng đội hình tập kết ở bờ nam sông, nên địch không thể vượt sông sang tiếp ứng.

Sau chừng 30 phút tiến công, địch bị thiệt hại nặng, phải lui về phía bãi cát và mép sông để củng cố, đồng thời yêu cầu pháo binh, kể cả pháo hạm Mỹ bắn mãnh liệt vào trận địa của ta.

Gần 9 giờ, địch lại tổ chức tiếp đợt tiến công nhưng bị bẻ gãy.

Khoảng 10 giờ, Trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Huy xuống thôn Nhan Biều 1 gặp tiểu đoàn phó tiểu đoàn 8 Trần Minh Thiệt nắm tình hình và giao nhiệm vụ tổ chức phản kích tiêu diệt toàn bộ quân địch đã vượt sông.

Thời gian tổ chức hoả lực chuẩn bị cho phản kích là 15 phút.

Trong thời gian đó, cối 60 ly, cối 82 ly bắn trực tiếp vào đội hình địch ở phía trước, 2 đại đội cối 120 ly bắn chặn địch ở mép sông sang ứng cứu.

Tiểu đoàn ĐKB bắn vào thị xã.

Pháo binh của mặt trận và sư đoàn chế áp các trận địa pháo của địch, súng 12,7 ly và cao xạ khống chế máy bay địch, bảo đảm cho đội hình phản kích.

Xe tăng ở trận địa dự bị nổ máy thật to để uy hiếp địch.

Sau 15 phút hoả lực chuẩn bị, nhiều tên địch đã bị tiêu diệt, đại đội 5 và đại đội 7 đồng loạt xung phong.

Quân địch chống trả quyết liệt, chỉ còn chừng 30-40 tên chạy ra mép sông, lợi dụng địa hình để co cụm chống cự.

Một số tên nhảy xuống sông định chạy về thị xã.

Lúc này hoả lực pháo binh địch cũng bắn mạnh vào đội hình xung phong của ta làm một số bị thương vong.

Để hạn chế tổn thất, bộ đội ta lui về trận địa phòng ngự.

Sáng 3-11-1972 ta sử dụng cối 82 ly, cối 60 ly chi viện cho lực lượng của đại đội 5 và đại đội 7 thực hành phản kích tiêu diệt nốt số quân địch co cụm.

Sau 2 ngày chiến đấu, ta đã diệt gọn 2 đại đội và cơ quan chỉ huy tiểu đoàn 6 thuỷ quân lục chiến, trong đó có cả tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng, thu rất nhiều vũ khí, trang bị, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội ở nam sông Thạch Hãn.

Trong trận đánh này, ta bị hy sinh 7 đồng chí (có 1 chính trị viên đại đội, 1 trung đội trưởng), bị thương 13 đồng chí.

Điều đáng nói, với chiến thắng này, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân mang tên "Sóng thần 9" của địch.

Sau chiến thắng, bộ tư lệnh mặt trận B5 đánh giá: "Đây là trận chiến đấu phòng ngự xuất sắc nhất, mở ra kinh nghiệm đánh tiêu diệt gọn bằng sức mạnh hiệp đồng trong phòng ngự".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi điện khen và đánh giá: "Trận chiến đấu phòng ngự của trung đoàn 18 thắng lợi, đã góp phần đánh bại ý chí của địch phản công lấy lại vùng đất đã mất sau 30-3-1972 tại bắc Quảng Trị".

Với chiến công này, Trung đoàn 18 đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Nhân kỷ niệm 33 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, để ghi nhớ công ơn của các liệt sĩ và nhân dân địa phương xã Nhan Biều, huyện Triệu Phong (Quảng Trị), Sư đoàn 325 đã làm thủ tục đề nghị xây dựng một bia tưởng niệm nhằm tôn vinh, lưu giữ và giáo dục truyền thống, đáp ứng nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ sư đoàn.

Địa điểm xây dựng ở khu vực xã Nhan Biều.

Nguyễn Đức Huy"

Đăng bởi Tôi cũng có nhiều tài liệu khác nói về trận đánh này.

Địch bỏ lại 120 xác chết, bị bắt 1 tên.

Ta phá 5 thuyền, bắn cháy 5 xe tăng, xe bọc thép, 8 ô tô (ở bên kia sông).

Thu hàng trăm súng, . . . (Theo Ban Liên Lạc Truyền Thống Bạn Chiến Đấu Bảo Vệ Thành Cổ Quảng Trị Hè 1972).

Anh Thời kể lại, vì phát hiện được địch vượt sông chuẩn bị tấn công nên tha cho anh tội chống lệnh.

Gọi là có công chuộc tội – "coi như hòa".

Cuối năm 1973, đại đội nhận nhiệm vụ từ sư đoàn chuẩn bị luồn sâu, trinh sát trong vùng địch.

Nhóm luồn sâu có mật danh A74 được thành lập.

Vì là lần đầu tiên nên việc lựa chọn cán bộ, chiến sỹ rất cẩn thận.

Những ngày sau đó, nhóm luyện tập theo bài bản rất cẩn thận.

Chuyện này đã được bác 6971 kể trong "Nhật Ký Viết Lại".

Sớm 7/1/1974, nhóm lên đường làm nhiệm vụ.

Để nghi binh, đơn vị cũng đồng thời báo động, hành quân dã ngoại.

Việc nghi binh là cần thiết vì chúng tôi ở trong làng Trà Liên Tây, có thể có tai mắt của địch.

Mà trinh sát mà biến mất khỏi chỗ đóng quân thì đi đâu ?

Câu trả lời có vẻ không khó đoán.

Một vài ngày sau khi nhóm A74 đi làm nhiệm vụ.

Chúng tôi bàng hoàn nhận được tin tai nạn ở dốc 365.

Trong đó Ngạc hy sinh tại chỗ, hầu hết anh em bị thương.

Khi thấy chiếc xe bị trơn và từ từ trượt khỏi mặt đường, chỉ có hai người nhảy ra kịp là Tất (y tá) và Chinh (trinh sát e95).

Chính trị Viên Phi có vẻ rất buồn khi thông báo tin tức trong cuộc họp cán bộ từ a trưởng trở lên.

Anh Phi động viên và dặn dò mọi người về phổ biến cho anh em biết nhưng giữ bí mật không nói chuyện lung lung cho dân.

Việc luồn sâu của trinh sát để chuẩn bị chiến trường vẫn phải tiếp tục, "người trước ngã xuống người sau tiến lên".

Nhưng nếu cứ ở Trà Liên Tây mà tổ chức các đợt luồn sâu trinh sát thì không khác gì "lậy ông, tôi ở bụi này !".

Xê 20 mươi đành tạm biệt bà con Trà Liên và chuyển địa điểm đóng quân khác.

Chúng tôi được phép chia tay và cảm ơn bà con làng Trà đã giúp đỡ bộ đội trong thời gian đóng quân ở đây.

Chúng tôi cũng được yêu cầu không nói địa điểm đóng quân mới cho dân biết, sợ việc đi lại quân dân có thể tạo điều kiện cho chỉ điểm lấy tin tức về đơn vị.

Nếu dân có hỏi chuyển đi đâu thì chỉ nói chuyển lên miền thượng.

Sư đoàn hỗ trợ ô tô cho chúng tôi chuyển quân.

Nhà thì để lại, chỉ mang theo đồ đạc như giường, bàn ghế, . . .

Chúng tôi chuyển về ở thôn Nại Cửu 2.

Đây là chỗ ở cũ của đơn vị bạn.

Nhà cửa đã có sẵn, đủ cho đại đội tôi, mỗi tiểu đội một nhà.

Gọi là thôn Nại Cửu theo địa danh trên bản đồ chứ thực ra chẳng có làng mạc gì ở đây.

Chắc hẳn dân ở vùng đồi này đã bị dồn về đồng bằng từ lâu rồi.

Chỗ này ra căn cứ Ái tử chỉ một, hai cây số.

Địa danh Nại Cửu cũng lạ.

Có những bốn thôn Nại Cửu.

Một thôn Nại Cửu ở sông Vĩnh Định phía bắc Thành Cổ Quảng Trị và phía Đông sông Thạch Hãn.

Ba thôn Nại Cửu 1, 2, 3 lại ở phía tây sông Thạch Hãn như trong bản đồ dưới đây.

Trong bản đồ có ghi chú thích dưới thôn Nại Cửu 1 và Nại Cửu 3 chữ "đã bị phá hủy" (destroyed).

Thực ra, thì cả Nại Cửu 2 cũng bị phá hủy từ lâu rồi, chắc Mỹ nó quên không ghi vào bản đồ.

Đến năm 1972 thì cả thôn Nại Cửu ở phía đông cũng bị tàn phá hết.

Nơi này bác LeXuanTuong chiến đấu, bị thương và bác ấy biết rất rõ.

Trước khi chuyển lên Nại Cửu, tôi đã ghé chào ông bà già nhà cu Chót.

Khi ông già hỏi chúng tôi có chuyển đi xa không ?

Thỉnh thoảng ghé chơi.

Lúc đó, tôi nhớ là tôi đã trả lời một câu, đại loại là, bọn con chuyển lên sống cùng với người Thượng (người Thượng là tiếng địa phương Quảng Trị chỉ đồng bào dân tộc).

Tôi cũng qua chào cha Cò, mụ Miến.

Vẫn cái lối vào đi qua vườn, vẫn cái cây lê ki ma và cây vú sữa phía trước sân, vẫn là cái giường bằng ván gỗ dầy lên nước đen bóng, vẫn cha Cò, râu tóc bạc, dáng khòng khòng.

Ông mặc bộ bà ba sáng màu, vẫn là ngồi gõ tay lên tấm phản gỗ.

Mụ Miến lật đật cái chân tập tễnh từ dưới bếp đi lên.

Hai ông bà hỏi chuyện tôi rất vui vẻ.

Rồi hai người còn hỏi thăm 6971, "răng lâu không thấy chú T.?".

Tôi bịa ra là 6971 đi công tác rồi và gởi lời hỏi thăm cha, mụ .

Hai ông bà già, không đủ sức "chạy giặc" sống tựa vào nhau, lụm cụm, khắc khoải.

Tôi không nhớ là chân bà mụ làm sao mà tập tễnh.

Có thể tôi quên mà cũng có thể hồi đó, tế nhị không dám hỏi.

Trông cảnh hai ông bà già yếu ớt trong ngôi nhà tối âm âm, rất sạch đến mát lạnh và quạnh quẽ - ai nhìn thấy cũng phải xót xa.

Tôi bùi ngùi chia tay hai cụ rồi đảo qua chào mụ Tiệu.

Tạm biệt Trà Liên !

Biết có ngày trở lại.

35 năm sau, tôi mới có dịp lần đầu về thăm lại làng Trà, một buổi trưa cuối tháng bảy năm 2009.

SauChinBayMot, Hùng "Côn" và tôi nhảy xuống xe ở cuối căn cứ Ái Tử, nơi bắt vào con đường - con đường xưa.

Con đường ngày nào chúng tôi đã đi để vào căn cứ khai thác vật liệu làm nhà, để tập dò gỡ mìn và chui hàng rào của căn cứ.

Vậy mà đã ba mươi lăm năm.

Chúng tôi đi qua một trảng cát lẫn với đá sạn đỏ và những cây dứa dại, giữa buổi trưa chớm sang chiều.

Một buổi trưa hè Quảng Trị nắng gắt và nhột nhạt.

Làng Tả Kiên vẫn như xưa, vẫn con đường ngoằn ngoèo đất cát pha trộn với sạn đỏ.

Vẫn những cái cây tả tơi như ngày xưa.

Vẫn những ngôi nhà nhỏ, mái tôn với những đụn rơm đầu ngõ.

Khi bắt vào làng Trà, cảnh vật thay đổi hẳn bởi cây cối xanh um tùm.

Con đường làng bây giờ dường như nhỏ lại vì cây cối rậm rạp hai bên, không tỉa xén.

Ba thằng đi dọc đường làng vắng lặng.

Hầu như không gặp ai mà cũng chẳng có con mắt nào, ở đâu đó, trong các căn nhà thấp nhỏ núp dưới bóng cây dõi theo chúng tôi.

Làng Trà vẫn nghèo như ngày nào.

Dường như tất cả mọi vật đều ầm ầm chuyển động, chỉ có cái làng này đứng lại, tĩnh lặng trong thế giới riêng bất biến, không suy tư, không nhòm ngó - bàng quan và thẫn thờ.

Chắc hẳn, từ cái ngày đơn vị hai mươi rời khỏi đây thì làng Trà lại chìm đắm vào cái vốn có của nó như trước những ngày có bom rơi đạn nổ trên mảnh đất này - như từ bao đời nay, vẫn vậy !

. . . hết chuyện Trà Liên Tây.

CHUYỆN XVII ANH Ở ĐÂU ?

Sáng sớm, một ngày tháng sáu năm chín lăm.

Tôi lục cục dắt chiếc xe "tám hai, năm mươi phân khối" ra khỏi nhà rồi nổ máy lao ra đường từ chung cư của một công ty vận tải đường sắt.

Mới có sáu rưỡi mà con đường Cách Mạng Tháng Tám đã rầm rập xe cộ.

Tôi lao xe ngang qua đường vào một quầy bánh mỳ vỉa hè trước cửa công viên Lê Thị Riêng.

Vừa ăn bánh mỳ, vừa ngắm dòng người xe như một đàn kiến, đông đúc, ngược xuôi trên đường, tôi vừa suy nghĩ xem phải làm những gì.

Tôi vừa đi vừa hỏi thăm đường đến sở thương binh xã hội thành phố.

Cũng không thể vội được.

Lạ gì, cho dù giờ làm việc có là 7giờ30 thì cũng phải quá 8giờ guồng máy mới bắt đầu khởi động.

Lúc đó tôi mất chứng minh thư nên không có giấy tờ tùy thân gì nên tôi đến đây để xin cái giấy đi đường lên tận Long Khánh và đi Bà Rịa.

Được cái, gặp mấy bác cựu chiến binh nhiệt tình, thành ra chỉ mươi phút sau, tôi đã có giấy đi đường.

Trong giấy còn ghi rõ, có mang theo thẻ Thư Viện Quốc Gia (trong thẻ có ảnh).

Khoảng 8 rưỡi tôi bắt đầu phóng xe.

Tôi đi qua đường Điện Biên Phủ, đi tiếp đường Hà Nội ra thành phố Biên Hòa.

Qua biên Hòa rồi đến đoạn qua khu dân cư của "người bắc di cư năm năm tư".

Nghe nói có những xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm, . . .

Càng gần long Khánh thì dân cư hai bên đường càng thưa thớt.

Thay vào đó là những cánh rừng cao su bạt ngàn, trùng điệp.

Con đường 1, lúc lên dốc, lúc xuống đèo, hai bên xanh mướt rừng, trông thật đẹp.

Tôi cứ thế chạy hết tốc lực.

Cái xe 50 phân khối, cố lắm cũng chỉ lên được tốc độ 60.

Qua thị xã Xuân Lộc, tôi bắt đầu đi chậm lại và dò xét từ đó.

Vừa đi tôi vừa cố gắng nhớ lại. . . .

Chiều 22/4/1975, Xuân Lộc vẫn đang ác liệt.

Địch ngoan cố chống trả quyết liệt.

Chúng còn thả hai quả bom ngạt, loại bom đã bị quốc tế cấm sử dụng.

Chúng tôi từ Phan Thiết chạy theo đường 1, vào đến gần Xuân Lộc thì phía trước mặt là một căn cứ địch trên điểm cao gọi là Núi Chứa Chan án ngữ đường tiến quân vào Sài Gòn.

Chúng tôi được lệnh rẽ về phía trái (phía biển).

Sẽ bỏ qua Xuân Lộc, đi vòng để đánh từ phía Bà Rịa vào Sài Gòn.

Xe chúng tôi là chiếc xe "Giải Phóng", chở mười mấy lính trinh sát sư đoàn.

Đây là chiếc xe dẫn đầu "cánh quân duyên hải".

Sau xe của chúng tôi là chiếc xe Jeep, chiến lợi phẩm mà chúng tôi kiếm được ở Phan Thiết.

Anh Nhung, bê phó b1 của chúng tôi lái chiếc xe này.

Trên xe có anh Kim "còi", trợ lý ban 2 và hai lính trinh sát nữa.

Đoàn xe của trung đoàn 101, rồi xe tăng ở mãi phía sau.

Họ chưa chạy theo xe của trinh sát.

Chúng tôi còn phải đi trước dò dẫm đường, mà nếu cần thì chiến luôn, theo kiểu "trinh sát chiến đấu cơ động".

Vừa chạy xe, vừa quan sát mấy cái ngã ba.

Hai chục năm rồi, cảnh vật quá đổi thay.

Vậy mà cuối cùng tôi cũng quyết chọn được một con đường đất và quẹo xe vào đường đó.

Đường đi, là lạ mà cũng có lúc thấy quen quen.

Con đường này bây giờ là đường đi của nông trường cao su nào đó.

Hầu như không có xe cộ hay người đi lại trên con đường.

Nhưng đây vẫn là con đường xe chạy, ít nhất là xe của nông trường nên con đường không phải là bỏ hoang.

Phải chạy năm bảy cây số mới thấy có vài ba nóc nhà, chắc là nhà của các nhân viên nông trường.

Chẳng có hàng quán mà cũng chẳng có ai gặp trên đường để có gì còn hỏi thăm.

Trời nắng trong rừng cao su, sao mà im ắng và lặng gió đến kỳ lạ.

Cái nắng trong rừng cao su không gắt gao mà sao rất khó chịu.

Tuy nhiên, điều đó cũng không làm cho tôi bận tâm.

Càng đi trong rừng, tôi càng cảm thấy đây đúng là con đường mà 20 mươi năm trước tôi đã đi qua.

Lúc đó, rẽ vào rừng từ đường 1 đã là khoảng 5 giờ chiều nên một lúc sau chúng tôi đi trong đêm tối.

Vậy mà vẫn có cảm giác mình đi đúng con đường ngày đó.

Thật là lạ!

Anh em cũng biết rằng đường trong rừng cao su thì nhiều lắm, chỗ nào cũng là đường, các con đường quanh co, ngoằn nghoèo giữa các lô cao su.

Đến gần trưa thì tôi gặp một chiếc xe tải của nông trường.

Hình như chiếc xe đỗ ở đó để chờ thu mủ cao su do các nhân viên từ các lô cao su xung quanh mang đến giao nộp.

Tôi chỉ hỏi thăm rằng con đường này có đi về Cam Mỹ được không.

Và đây đúng là con đường sẽ gặp đường tỉnh lộ số 2 (bây giờ là Quốc lộ 56) ở Cẩm Mỹ.

Hồi năm 1975, tôi có bản đồ nên đi đến đâu là biết đó.

Cẩm Mỹ (lúc đó trên bản đồ chúng tôi thấy ghi là Cam Mỹ) là địa điểm mà chúng tôi từ trong rừng ra bắt gặp đường số 2 đi Bà Rịa.

Bây giờ tôi chỉ đi theo trí nhớ chứ không có bản đồ.

Sau khi hỏi thăm, tôi yên tâm hơn và tăng tốc chạy nhanh trong đường rừng.

Được cái con đường này cũng tương đối bằng phẳng, lên dốc xuống đèo cũng không cao lắm.

Đường đất, tuy không êm nhưng cũng không đến nối nào.

Ra đến đường số 2 (bây giờ là Quốc lộ 56), tôi dừng xe, trong lòng bồi hồi nhớ lại.

Đêm hôm đó, 22/4/1975.

Chúng tôi từ trong rừng ra đến đoạn này thì rẽ trái đi về hướng Bà Rịa.

Hai chiếc xe tạm dừng gần ngã ba.

Tôi lấy bản đồ rồi nhảy xuống xe.

Anh Triêm, từ trong cabin cũng nhảy xuống.

Chúng tôi quay lại phía chiếc xe Jeep lúc đó vẫn đang bật đèn.

Đèn xe cũng đã được che chắn gần hết, chỉ để lại một quầng sáng hắt chéo xuống đất.

Chúng tôi cùng soi đèn vào bản đồ và xác định điểm này đúng là vị trí ngã ba Cam Mỹ giao cắt với đường 2.

Bọ Kim nói gì đó, bây giờ không còn nhớ chính xác.

Chúng tôi được thông tin là Xuân Lộc đã được giải phóng.

Như vậy, đại quân sẽ không đi theo đường rừng, nhưng vẫn rẽ từ Xuân Lộc đi theo đường 2 về phía này.

Chúng tôi vẫn tiếp tục trinh sát "chiến đấu".

Cứ xông thẳng.

Gặp địch ở đâu thì đánh nhau và sẽ biết là địch ở đó rồi chốt lại chờ bộ binh lên.

Tôi thấy lạ là có có hai lính trinh sát kỹ thuật A12 đi cùng xe bọ Kim chứ không phải hai lính trinh sát mặt đất.

Vừa đi trên xe, mấy đứa vừa liên lạc bộ đàm với ban 2 ở phía sau.

Lần này thì máy PRC-25 có lắp miệng nói hẳn hoi.

Thế là hai thằng A12 thành lính thông tin.

Không biết các cụ có dùng mật ngữ gì không ?

Rất có thể không cần, mình có liên lạc với nhau bằng PRC-25 thì địch cũng chẳng biết là ai vì đã có khi nào lên sóng đâu.

Vả lại, nếu đợi viết điện, rồi dịch, rồi tạch tè, rồi chờ nhận điện lại thì sẽ rất chậm, có thể lỡ mất thời cơ.

Bọ Kim yêu cầu chúng tôi đi chậm và chú ý có địa phương ra đón, cẩn thận, không được bắn ẩu.

Tôi thấy giỏi thật.

Chúng tôi từ Đà Nẵng dông thẳng một mạch vào đây, thế mà lại bắt liên lạc được với địa phương luôn thì các cụ cũng tài.

Bây giờ hồi tưởng lại lúc đó, thấy cần phải đi thêm cỡ năm bảy cây nữa thì sẽ đến chỗ tôi cần tìm.

Hai mươi năm rồi, mọi thứ đổi thay không biết liệu tôi có tìm được không ?

Có cái may là trong giấy chứng thương của tôi có ghi rõ nơi bị thương: "Cách thôn Đồng Cùng 2 km, xã Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa".

Cũng may nữa là tôi lười, chưa đi khám thương lần nào nên vẫn còn nguyên giấy cũ.

Nếu khám rồi, bị thu giấy thì có thể chưa chắc tôi đã nhớ được.

Nếu không nhận ra địa hình xưa thì hỏi thăm theo địa chỉ là sẽ đến được.

Cái đêm đó đụng địch, chúng tôi mất hai người, một số bị thương.

Mong sao hai cái mộ vẫn còn ở đó.

Đó là mộ của Nguyễn Thế Dân, bê trưởng bê 3 và Ngô Thanh Nhật bê 1.

Càng gần đến nơi, trong lòng tôi càng như có lửa đốt.

Giá mà có thể cầu xin Trời Phật mà được thì tôi mong Trời Phật cho tôi tìm được hai người.

Khi tôi đến thôn Đồng Cùng (Trên bản đồ đọc ra như thế.

Một cái tên rất khó hiểu nên xê viên của chúng tôi có khi gọi là "Đồng Cúng", có khi hài hước lại gọi là "Đường Cùng"), tôi tạt vào một quán ven đường và hỏi thăm chuyện mộ.

Người này, chạy đi hỏi người khác.

Một lúc sau đã có dăm bảy người xúm lại.

Trao đi đổi lại, cuối cùng không ai biết về hai ngôi mộ.

Mọi người rất nhiệt tình nhưng không ai biết gì.

Cuối cùng ai đó đưa ra ý kiến hãy đến thương binh xã hội của xã và còn mách tên chị phụ trách thương binh xã hội, bây giờ tôi không còn nhớ nên tạm gọi là chị Bình.

Thôn Đồng Cùng nằm mé tây đường tỉnh lộ 2, Ủy ban xã lúc đó nằm ở mé đông và chỉ cách đó vài trăm mét.

Gọi là ủy ban mà chỉ có mỗi một cái nhà cấp bốn dài với nhiều phòng.

Sân ủy ban cũng chỉ là sân đất nhưng khá rộng.

Khi tôi đến xã hỏi thăm thì được biết chị Bình đã đi họp trên huyện rồi, chắc bốn năm giờ mới về.

Tôi tạt vào một quán và ăn một thứ gì đó.

Đợi mãi cũng chán, tôi cho xe chạy chầm chậm ngắm cảnh dọc đường 2.

Chiếc xe chạy về hướng Bà Rịa.

Hai bên đường là nhà dân ở rất thưa thớt.

Đi một quãng nữa thì hai bên là những quả đồi trồng cây.

Tôi thấy rất nhiều cọc gỗ trồng tua tủa, thẳng đứng.

Thì ra dân trồng hạt tiêu.

Hạt tiêu quấn vào và mọc vươn lên xung quanh cây cọc.

Chắc trồng hạt tiêu hay hơn cao su nên các hộ dân đều trồng hạt tiêu.

Quãng 3 rưỡi chiều, tôi quay lại ủy ban xã và ngồi chờ.

Đứng lên ngồi xuống, đi ra đi vào rất sốt ruột.

Tầm bốn giờ, cái ủy ban vốn đã vắng lại càng vắng hơn, vì chỉ có vài người thôi mà lại đang lục tục ra về.

Khi về, ai cũng hỏi thăm tôi và động viên cứ chờ tiếp.

Nếu 5 giờ mà chưa thấy thì hỏi thăm đến nhà chị ấy, cũng ở trong thôn này thôi.

Mấy phút sau, có một phụ nữ đi xe đạp phóng vào sân ủy ban, xuống xe rồi dắt xe dựng vào đầu hè.

Tôi đến gần và hỏi:

- Chị có phải là Bình, phụ trách thương binh xã hội không ạ ?

- Vâng !

Anh hỏi gì em ạ ?

Tôi kể về việc đi tìm mộ đồng đội thì chị Bình trả lời là không biết gì vì chị ấy cũng mới lên thay chú Hoàng về nghỉ được có mấy tháng.

Chị bình dẫn tôi đến nhà chú Hoàng để hỏi xem có biết gì về hai ngôi mộ.

Chúng tôi đi bộ mấy trăm mét rồi rẽ vào làng.

Nhà ông Bình ở ngay ven đường làng.

Ông rất nhiệt tình khi tôi nói chuyện đi tìmm mộ.

Ông kể, ông thấy hai xác liệt sỹ chết mấy hôm rồi, nhìn không đặng nên ông đã gọi mấy người cùng ông chôn hai liệt sỹ.

Ông kể, Một người ở trên xe bị cháy và một người ở dưới đường.

Hai cái mộ được chôn ngay ven đường.

Không những thế, sau này ông còn thỉnh thoảng tảo mộ và hương khói suốt nhiều năm.

Ông Hoàng tước đây cũng tham gia du kích.

Vì sức yếu nên sau ngày hòa bình ông cũng chỉ tham gia những công việc nhẹ nhàng ở thôn và ở xã.

Hồi ông phụ trách thương binh xã hội xã thì có việc qui tập mộ liệt sỹ về nghĩa trang huyện.

Lần này ông phụ trách việc di chuyển mộ liệt sỹ, trong đó có mộ của Dân và Nhật.

Vị trí hai cái mộ đó ông nhớ rất rõ.

Tôi rất mừng.

Trong bụng đang nghĩ đến chuyện thông báo cho gia đình như thế nào.

Tôi nói:

- Thế thì may quá rồi !

Hôm nay cháu đi chỉ một ngày mà đã tìm được đồng đội.

Rất cảm ơn chú !

Ông Hoàng chép chép miệng vài cái.

Trông nét mặt ông, tôi thấy có gì không ổn.

Tôi sốt ruột hỏi:

- Thế nghĩa trang huyện có gần đây không ạ ?

- Anh cứ uống nước đi.

- Vâng !

Có phải ở nghiã trang Châu Đức mình không ạ ?

- Tụi tui đưa hai anh về nghĩa trang Châu Đức.

Bây giờ hổng biết nói với anh thế nào.

_ Ông ngần ngừ một đẫn rồi nói tiếp:

- Cách đây mấy năm, tỉnh qui tập các mộ liệt sỹ về nghĩa trang Châu Thành.

Lúc đầu đấy cũng chỉ là

nghĩa trang huyện nhưng tỉnh quyết định mở rộng làm nghĩa trang liệt sỹ của toàn tỉnh.

- Cũng không sao chú ạ !

Nhưng mà . . . , cháu hỏi chú, thế trên mộ hai anh ấy bia ghi thế nào?

Nhất định cháu sẽ tìm thấy.

Ông Hoàng chậm rãi, giọng như có lỗi:

- Lúc tụi tui chôn cất hai ảnh thì hổng biết tên tuổi gì hết trơn, mà trong người mấy ảnh cũng đâu có

giấy tờ gì.

Chúng tui cũng chỉ chôn rồi đắp thành mộ thôi, hổng có bia.

Rồi họ chuyển từ huyện về tỉnh

thì tui đâu có theo, nên giờ có xuống đó thì cũng hổng biết ai với ai gì ráo.

Ông Hoàng cảm thấy có lỗi ghê gớm, ông ngồi im không nói thêm câu nào.

Còn tôi, đang khấp khởi hy vọng bỗng xịu xuống, cũng không hé răng được nữa.

Chị Bình, theo dõi câu chuyện từ đầu đến giờ thì thở dài thất vọng.

Cả ông, cả chị Bình và tôi đều cảm thấy có lỗi rất lớn với các anh.

Tôi trách mình sao mãi đến bây giờ mới đi tìm.

Giá mà đi tìm sớm hơn . . . !

Một lúc lâu, ông Hoàng mới cất giọng:

- Phải chi, lúc đó tui làm một cái bia, ghi tạm một cái tên gì đó, hay ghi ngày và nơi hy sinh thì bây giờ

đỡ rồi. . . .

Cũng tại tui không nghĩ ra.

Tôi ngồi kể lại chuyện chúng tôi đụng địch hôm đó.

Từ trên xe nhảy xuống, mỗi người tìm lấy một vị trí, ẩn nấp và nổ súng.

Chiều hôm đó tập trung tại rừng cao su để nghe mệnh lệnh về chiến dịch Hồ Chí Minh thì ba người vắng mặt từ sáng vẫn không thấy.

Chúng tôi chấp hành mệnh lệnh, lên xe hối hả vượt rừng cao su chạy về hướng Long Thành.

Sau ngày 30/4, thằng Đọ bị lạc từ đêm đó mới mò được về đơn vị.

Nó không còn nói được ra tiếng, chỉ khào khào trong cổ họng.

Sau đó, mấy đứa bị thương nhẹ từ viện trở về, chúng tôi mới biết Dân và Nhật hy sinh như thế nào.

Tôi hỏi thăm chú Hoàng đường đi nghĩa trang Châu Thành.

Chia tay chú Hoàng và chị Bình, lúc đó đã là 6 giờ.

Tôi chạy xe về Sài Gòn, đi thẳng theo đường số hai ra Xuân Lộc để bắt vào đường 1.

Sau đó một tuần, cũng vào ngày Chủ Nhật, tám người chúng tôi đi một xe 7 chỗ từ Sài Gòn chạy thẳng một mạch đến nghĩa trang Châu Thành, Tỉnh Bà Rịa.

Vì đi muộn, nên mãi mười rưỡi chúng tôi mới đến nơi.

Chúng tôi đỗ xe trước cổng nghĩa trang, dớn dác tìm người quản trang.

Thì ra cái phòng để trông coi nghĩa trang lại nằm phía bên kia đường.

Ông quản trang rất nhiệt tình đưa hết sổ danh sách các mộ trong nghĩa trang cho chúng tôi tìm.

Có đến ba cuốn sổ lớn và dày ghi lại tên các liệt sỹ, một hay hai dòng trích ngang cho mỗi người.

Sổ sách làm bằng tay nhưng rất qui củ.

Chúng tôi chia nhau tìm hết ba cuốn sổ mà không thấy tên Dân và Nhật.

Phần lớn trong danh sách đều ghi "Vô danh".

Để lại mấy người kiểm tra kỹ một lần nữa, một người và tôi ra thẳng nghĩa trang và bắt đầu đi tìm trực tiếp.

Chúng tôi hy vọng, biết đâu có gì đó ghi trên bia mà không ghi vào sổ sách, biết đâu có dấu ghi nguồn gốc mộ chuyển từ đâu đến thì sao.

Đúng là phần nhiều các mộ "Vô danh" thật.

Trời nắng rất gắt, đi hết ô này đến ô khác mà vẫn chỉ thấy "Vô danh" và "Vô danh".

Một lúc sau, mấy người còn lại cũng vào cuộc tìm tên trên các mộ.

Cái nghĩa trang rất rộng, hình vuông, mỗi chiều rộng sáu bảy trăm mét.

Rất nhiều mộ được xây có qui hoạch thành hàng lối.

Mất gần hai tiếng đồng hồ, tám thằng tôi mới tìm gần hết, còn lại vài ô.

Bạn bè đi cùng tôi, người kém, người hơn tuổi tôi, tất cả đều là dân sự và chưa bao giờ cầm súng kể cả làm lính "Việt cộng" hay lính "Quốc gia" nhưng ai nấy rất tận tình.

Một mình tôi thẫn thờ quay lại cổng nghĩa trang.

Tôi ngồi dựa lưng vào cổng mà mắt đăm đăm nhìn các hàng mộ.

Các đồng đội xếp hàng tề chỉnh, thẳng hàng ngang, thẳng hàng dọc, thẳng hàng chéo, như một đội quân đang duyệt đội ngũ.

Mắt tôi nhìn mà như không nhìn vào những chữ "Vô Danh".

Tưởng như hàng ngàn cặp mắt "không tên" đó đang chiếu vào tôi, vây lấy tôi, . . . làm tôi bất động, nghẹn thở, . . . bơ thờ.

Về sau này, nhiều lần đi thăm các nghĩa trang liệt sỹ ở Quảng Trị, tôi vẫn hay ngồi thu vào một xó, bất lực như vậy, mà trâng trâng nhìn các ngôi mộ . . .

"Chưa biết tên".

Sau ngày ba mươi tháng tư, xê viên đại đội tôi, cùng đi với hai người nữa, đã đến thôn Đồng Cùng để làm công tác tử sỹ. . . .

Mà sao không làm một cái bia ?

Một mẩu gỗ chứ mấy !

Hay chí ít thì cũng là một cái lọ Pênixilin chứ ?

Sao mấy người "làm qui tập" lại không ghi chép đầy đủ ?

Chỉ cần một dòng thôi chứ bao nhiêu !

Sao tôi đã không đi tìm hai người sớm hơn chứ ?

Mọi người đều dường như chẳng có ai có lỗi thì phải ?!

Phải vậy không . . .?

CHUYỆN XVIII NGÃI GIAO – CHÂU ĐỨC

Ngày 21/4/1975, cánh quân Duyên Hải đã chạm tới Xuân Lộc.

Đúng lúc đó thì "cánh cửa thép Xuân Lộc" cũng vừa phá được.

Cánh quân chia làm hai ngả, một ngả tiến đánh dọc theo đường số 1 và một ngả rẽ trái đánh qua Long Thành, Nước Trong để tiến vào Sài Gòn qua sông đồng Nai tại Cát Lái.

Sư 325 (thiếu e95) của chúng tôi tiến theo hướng này.

Cũng trong ngày hôm đó, hai chiếc C-130 đã thả hai quả bom Daisy Cutter, mỗi quả 7 tấn xuống Xuân Lộc.

Ngoài sức mạnh công phá của thuốc nổ, khi nổ, nó còn làm cháy hết dưỡng khí trong một phạm vi lớn, gây ngạt thở và chết người.

Sử dụng loại bom này là một tội ác giết người hàng loạt.

Bước đường cùng chúng đã "chơi đến cùng", bất chấp tất cả.

Loại bom này cũng còn một số quả nữa nhưng hình như không có ngòi nổ nên chúng không thả thêm được.

Sau này ta đã thu được như trong hình ảnh dưới đây (ảnh này hình như trong Quân Sử đã đưa lên rồi).

Trận đánh Xuân Lộc đã có rất nhiều tài liệu của hai phía viết và trên Quân Sử cũng có rồi.

Chiều 21/4, trinh sát chúng tôi đi trên 2 xe.

Một xe "Giải Phóng" chở mười mấy tay súng.

Một xe Jeep chúng tôi kiếm được ở Phan Thiết.

Chiếc xe Giải Phóng do một lính xế của đường dây 559 lái.

Anh Triêm, xê phó chỉ huy ngồi trong cabin.

Trên thùng xe là đủ các thành phần bê trưởng, bê phó, a trưởng , lính tráng. . . lẫn lộn cả các bê khác nhau trong đại đội và có thêm cả Duyên, lính trinh sát kỹ thuật nữa.

Chiếc xe Jeep chạy sau một quãng do anh Nhung bê phó bê 1 lái.

Trên xe có "bọ" Kim (trợ lý ban 2) , một lính trinh sát kỹ thuật sử dụng điện đàm PRC-25 và một tay súng AK (không nhớ là ai).

Khi nhận lệnh lên đường.

Tham mưu trưởng Ngoan và "bọ" Luyến thúc dục và động viên chúng tôi tiến thật nhanh, gặp địch đâu là đánh, vừa tiến vừa đánh và chốt giữ chờ bộ binh và xe tăng lên đánh tiếp.

Không cần thiết phải dò dẫm trinh sát hay luồn sâu như mọi khi nữa.

Trinh sát chúng tôi trở thành mũi chọc sâu.

Đã là rất gần Sài Gòn rồi.

Chắc hẳn tất cả các đơn vị đều muốn là đơn vị đầu tiên vào Dinh Độc Lập.

Mục tiêu cuối cùng của sư đoàn tôi cũng vậy.

Có một sự ganh đua giữa các đơn vị.

Tôi hiểu được tâm trạng của các thủ trưởng của chúng tôi lúc đó là như vậy.

Lính trinh sát 20 cũng "máu".

"Máu" ấy được truyền từ các thủ trưởng sư đoàn và ban 2.

Hai chiếc xe quẹo vào rừng cao su ở đoạn Núi Môn.

Chúng tôi sẽ dẫn đầu trong hướng tấn công của sư đoàn.

Nếu như ngày hôm nay Xuân Lộc chưa được giải phóng thì cánh quân sẽ đánh vòng qua Xuân Lộc để vào Sài Gòn.

Khi đó thì Xuân Lộc sẽ bị cô lập hoàn toàn và chẳng cần đánh cũng phải tan.

Lúc này, địch rút lui từ Xuân Lộc về phía Sài Gòn theo đường số 1 và rút về phía Bà Rịa theo liên tỉnh lộ số 2 để lập phòng tuyến mới (đường liên tỉnh số 2 trước đây, bây giờ là Quốc lộ 56).

Khi chúng tôi luồn vào rừng rồi , ngoái lại phía sau, không thấy có xe nào theo.

Đại quân vẫn nằm ở đường 1, khá xa chỗ chúng tôi rẽ vào rừng.

Không biết đại quân đi đường khác hay có kế hoạch đi sau chúng tôi một quãng xa.

Chúng tôi phải độc lập mà xoay sở.

Mười mấy lính trinh sát xông lên độc lập không khác gì lao vào bầy ong vỡ tổ.

Chúng tôi chỉ có súng AK báng gấp, một khẩu M79 lấy được từ Phan Thiết và hai khẩu K59 mà lại chạy nghênh ngang giữa đường số 2 để xông vào địch thì thật là . . . liều !

Tuy vậy không có ai nao núng cả.

Vấn đề là ở chỗ làm sao giữ được bí mật, phát hiện ra địch trước và không để lộ lực lượng của mình.

Nếu chúng tôi để lộ lực lượng ít ỏi của mình trước "bầy ong vỡ tổ" ấy thì . . .

"ôi xương tan, máu rơi !".

Về sau này tôi mới biết, địch rút từ Xuân Lộc về phía Sài Gòn thì bị ta đánh tơi tả nhất là bọn dù.

Còn lực lượng rút khỏi Xuân Lộc chạy theo đường số 2 này hoàn toàn trọn vẹn.

Chúng có tổ chức, có phương tiện và vũ khí mạnh.

Dọc đường địch rút không có lực lượng nào của ta ở phía này truy quét.

Lực lượng đó của địch rút về Bà Rịa và Vũng Tàu và có thể là lực lượng chủ yếu sau này đảm bảo cho Mỹ và các lực lượng di tản khác ra đi khỏi Vũng Tàu.

Trời bắt đầu tối, chiếc xe giải phóng phải lên đèn để chạy.

Ánh đèn phòng không xòe ra một vạt sáng hẹp và cắm khá gần phía trước mặt.

Xe chạy rất chậmvì đường rừng gập ghềnh và quanh co.

Liên tục là những ngã ba, ngã tư mà mỗi lần gặp lại phải giảm tốc độ để chọn đường.

Nếu là ban ngày, chắc không khó phân biệt giữa đường chính và các đường nhánh rẽ vào các lô cao su.

Anh Triêm và tôi là hai người có bản đồ.

Tôi đứng trên thùng xe sát cabin phía bên phải và liên tục theo dõi đường đi trên bản đồ.

Thỉnh thoảng xe phải dừng hẳn lại để anh Triêm và tôi trao đổi với nhau và chọn đường.

Có lúc phải nhảy hẳn xuống xe để xem vết bánh xe trên đường tìm ra đường chính và đường nhánh.

Đa số anh em trên xe bắt đầu ngủ gà ngủ gật.

Mọi người cứ ngả dần, ngả dần xuống để gối đầu vào ba lô hay gối vào chân người khác.

Suốt từ trước hôm đánh Phan Rang đến nay, chưa ai được ngủ bữa nào cho đẫy cả.

Trên thùng chỉ có vài người thức.

Tôi thức vì phải theo dõi đường đi.

Mà, tính tôi đã đi xe là không bao giờ ngủ, dù chỉ là chợp mắt hay ngủ gật một tý cũng không.

Như thế, chắc chắn trên xe lúc nào cũng có ba người theo dõi đường đi là lính xế, anh Triêm và tôi.

Rồi chúng tôi cũng bắt được vào một con đường nhựa.

Đây đúng là đường số 2 mà chúng tôi đang cần tới.

Xe chúng tôi dừng lại để trao trao đổi với "bọ" Kim xem tiếp tục hành quân như thế nào.

"Bọ" Kim dặn chúng tôi hết sức cẩn thận quan sát địch, có thể vẫn còn nhiều địch đang rút từ Xuân Lộc theo đường này.

"Bọ" cũng dặn phải chú ý quan sát có du kích địa phương ra đón.

Hai chiếc xe tiếp tục bám theo nhau.

Mọi người căng mắt ra theo dõi mặt đường phía trước và xung quanh.

Đèn xe chỉ chiếu được một đoạn rất ngắn gần mũi xe mà trời hôm nay lại âm u nên rất tối.

Mọi cảnh vật chỉ là những cái đám đen đen.

Được một quãng chừng cây số, bất ngờ thấy một ánh đèn pin từ trong rừng phía trước chiếu vào xe chúng tôi.

Ánh đèn quay vòng tròn ba vòng.

Thật may quá, đúng là ám hiệu chúng tôi đang mong chờ.

Anh Triêm mở cửa xe và cũng huơ đèn pin ba vòng đáp lại.

Khi chúng tôi đến gần thì nhận ra một người mặc quần áo đen.

Anh bảo chúng tôi rẽ vào một còn đường đất ở mé tây đường.

Anh đi bộ và dẫn hai chiếc xe vào một cái ấp hay một cái trại lính thì phải.

Tối quá, chẳng nhìn được xa, nhưng tôi thấy anh nhấc một cái cự mã bằng gỗ chăng dây thép gai đúng chỗ một cái cổng chào để cho xe chúng tôi đi qua.

Người du kích bảo dừng xe và tắt hết đèn.

Chúng tôi xuống xe trao đổi tình hình với anh du kích.

Thì ra suốt từ trưa đến giờ lính địch liên tục đi trên con đường này.

Chúng rút từ Xuân Lộc về Bà Rịa.

Tuy bây giờ đã vãn nhưng thỉnh thoảng vẫn có những tốp lính đang rút qua.

Phía trước, về phía Bà Rịa thì du kích cũng không nắm được là địch đóng quân ở đâu hay là chốt ở đoạn nào.

Từ đây đến xã Ngãi Giao cũng chỉ chừng dăm cây số nữa.

Hai bên đường toàn rừng cao su không có nhà dân nào.

Mấy cái đèn pin lia trên bản đồ.

Nhưng cũng chả thêm được thông tin gì.

Địa phương đã hoàn thành nhiệm vụ là đón xe chúng tôi.

Anh du kích chào chúng tôi rồi rút vào rừng cao su bên kia đường.

Hai chiếc xe dò dẫm tiến lên.

Chúng tôi căng mắt soi đường phía trước.

Vẫn chỉ có mấy người thức.

Anh em khác lại chìm vào giấc ngủ, chập chờn.

Đột nhiên tôi nhìn thấy có gì đó đen đen, loang lổ trên mặt đường phía trước.

Đúng lúc tôi đập tay vào nóc cabin thì chiếc xe cũng phanh đứng lại.

Tài xế và anh Triêm cũng thấy có gì đó trên đường.

Bất ngờ, đèn pha của xe bật lên, sáng chói quãng đường phía trước.

Trên mặt đường, có đến hàng cây số lính địch nằm ngủ ngổn ngang.

Đồ đoàn, súng ống vật vạ khắp cả mặt đường.

Có thằng nào đó tưởng là xe của bọn chúng liền quát lên:

- Tắt đèn đi mấy cha ơi !

Tôi chưa biết phải phản ứng như thế nào, chỉ biết quát lên nho nhỏ thúc mọi người dậy:

- Dậy mau, có địch, có địch !

Đồng thời lúc đó, anh Triêm mở cửa xe, đứng trên bậc lên xuống xe và hô rất dõng dạc, bây giờ tôi không nhớ chính xác, chỉ còn nhớ đại khái:

- Chúng tôi là Quân Giải Phóng.

Yêu cầu tất cả anh em binh lính hạ súng đầu hàng !

Chúng tôi để anh em tự do về với gia đình.

Nếu ai chống cự sẽ bị bắn !

Sự việc xảy ra quá nhanh, thoáng trong đầu tôi một ý nghĩ: "Lão Triêm, cũng được đấy !".

Tôi bật chốt an toàn và hướng súng về phía địch, sẵn sàng.

Mấy anh em khác cũng vùng dậy và sẵn sàng nổ súng.

Quá nhanh và bất ngờ, lính địch chưa kịp phản ứng gì.

Chúng tôi đang chờ đợi phản ứng của họ.

Ánh đèn pha chói lọi trong đêm tối chiếu hắt vào địch.

Chắc chắn chúng không thể nhìn thấy chúng tôi.

Tôi cứ chắc mẩm mọi việc diễn ra sau đó là thấy bọn lính hạ súng giơ tay lên đầu hàng.

Có thể lắm chứ !

Chúng đâu có biết lực lượng chúng tôi như thế nào, lại còn bị đèn pha chiếu vào, có động cựa gì sẽ bị bắn chết.

Nhưng sự việc lại không diễn ra như vậy.

Sau này nhiều lần nhắc lại chuyện đó, anh Triêm vẫn còn tức lắm.

Địch thì chẳng hàng mà anh em còn bị thương mấy người và hy sinh 2.

Thế có điên tiết không chứ !

Địch không hàng, không phải vì chúng dũng cảm hay ngoan cố mà lại chính vì lính trinh sát chúng tôi quá kém.

Thật chán hết chỗ nói !

Mọi người nín thở chờ đợi . . .

Bỗng một loạt đạn AK bắn xéo về phía trước.

Bọn địch xô nhau chạy dạt và lăn xuống hai bên đường.

Trên xe, mọi người cũng nhảy ào xuống.

Lái xe rất nhanh tay, tắt đèn pha và nhảy xuống.

Tất cả tối xập lại.

Có vài tên địch bắn AR15 về phía chiếc xe.

Ta và địch hoàn toàn không nhìn thấy nhau.

Phải một lúc sau mới nhìn thấy ánh đèn gầm hoe hoe vàng.

Ánh sáng đó trở thành mục tiêu cho mấy tay cối cá nhân của địch.

Chúng nó không bắn đạn thẳng nữa mà cứ cối cá nhân bắn vào chiếc xe.

Cối bắn làm cho chúng tôi phải dạt vào bờ đường, nơi có rãnh thoát nước và phải lùi lại một đoạn.

Chúng tôi cũng có một khẩu M79.

Khẩu này thằng Quynh nó cầm, không biết khi nhảy xuống có mang theo không.

Như trả lời câu hỏi của tôi, thằng Quynh bắt đầu bắn M79 về phía địch, từng phát một.

Tiếng địch kêu lên "đù mé !đừng bẵn nữa, vào đầu bọn tao rồi".

Thì ra chúng tưởng khẩu M79 này cũng do chúng nó bắn.

Bắn nhau một hồi rồi chúng tôi tổ chức lại đội hình và bò lên chỗ xe để tấn công.

Thằng Quynh, límh xế, thằng Hồng và một thằng nữa ở bên trái đường.

Anh Ương, thằng Lâm, Tôi và mấy đứa nữa ở bên phải đường.

Có vẻ như bọn địch đã lùi về phía sau, chúng tôi tiến lên.

Tôi ghé sát mắt xuống mặt đường để quan sát thì vẫn thấy những đống đen nằm giữa đường nhưng bất động.

Chỉ là ba lô và đồ đạc của địch thôi.

Tiếng đầu nòng cối cá nhân ngày càng xa dần.

Bọn nó đã chạy rồi.

Khi chúng tôi tiến qua chỗ chiếc xe vài bước, thì bất ngờ một quả cối cá nhân bắn đúng chỗ chúng tôi.

Một ánh chớp lóe lên kèm theo một luồng gió ràn ràn thốc lên từ đó.

Tôi thấy rát ở đầu và ở đít nhưng không thấy đau.

Tôi đang định tiến lên tiếp thì nghe tiếng kêu của anh Ương ngay sau lưng tôi:

- Như Lệ ơi ! anh bị thương rồi.

Ánh đèn gầm của xe hắt xéo lên, tôi thấy anh Ương hai tay đang ôm bụng.

Tôi hỏi anh bị thương thế nào để em băng cho thì chỉ thấy tiếng anh Ương rên rỉ kêu đi kêu lại:

- Anh bị thương rồi, Như Lệ ơi.

Thấy anh bị thương, tôi vừa xót ruột vừa bực mình và phản ứng lại, tôi ghé vào tai anh:

- Anh có im đi được không.

Em cũng bị thương đây này.

Không sao đâu, anh đừng kêu to như thế

nó bắn tiếp vào đây bây giờ.

Anh Ương đã im thì Thằng Lâm, phía bên phải tôi lại nói:

- Ông Như Lệ ơi, tôi bị vào bụng.

- Chịu được không ?

- Được.

Nói ra thì bảo rằng tôi "máu lạnh" nhưng thực tình lúc đó đầu tôi nghĩ rất nhanh.

Quả cối gần tôi nhất nhưng do tôi cúi rất thấp nên bị một mảnh vào đầu và một mảnh vào đít.

Mảnh cối cá nhân thì có gì đâu mà phải hoảng lên thế.

Tôi hỏi anh Ương và Lâm có tự đi được không thì lùi về phía sau.

Hai người ngoan ngoãn lùi lại.

Toán chúng tôi trước đó có sáu bảy đứa, Ương và Lâm lùi lại.

Thế mà bây giờ còn có 2 .

Không biết mấy đứa nữa chạy đi đâu.

Mấy thằng đó đâu có bị thương.

Bên này đường còn lại một đứa nữa và tôi.

Bên kia đường chắc chắn có thằng Quynh vì vẫn thấy M79 nổ đều đặn về phía địch.

Tất cả sự việc chỉ xảy ra trong thời gian đủ để lắp một quả đạn M79.

Và, quả đạn tiếp theo đến liền sau đó.

Lần này rất chính xác, trúng ngay chiếc xe.

Chắc là trúng vào chỗ nào đó có xăng nên chiếc xe bắt đầu cháy.

Đám cháy bốc lên ngày càng to, làm tôi cảm thấy nóng rát.

Rồi không còn thấy bắn nữa.

Chỉ còn tiếng M79 bên thằng Quynh vẫn đều Đặn.

Tôi đứng thẳng lên nhìn chiếc xe rần rật cháy.

Thú thực, lúc đó tôi rất bực mình.

Lính trinh sát kém quá !

Không biết thằng nào mắt nhắm mắt mở lại lia một loạt AK chứ !

Chắc là thằng lính mới (thoáng nghĩ thôi, không biết có đúng không.

Sau này không ai nhận đã bắn loạt đạn ấy).

Bị thương chút xíu có ăn thua gì mà đã kêu toáng lên làm mất tinh thần mấy cậu lính mới.

Bây giờ cháy xe rồi, có mà đi bộ.

Đồ cháy hết rồi, gạo, lương khô, cháy hết lấy gì ăn.

Riêng tôi còn tiếc mấy cái bản đồ Huế và Quảng Trị.

Nghĩ đến bản đồ, tôi sờ xuống bụng.

Cái bản đồ vùng đang tham chiến vẫn nằm ở đó (tôi quen giắt bản đồ vào cạp quần mỗi khi xem xong để hai tay được rảnh).

Tiếc nhất là toàn bộ nhật ký tôi viết từ ngày đầu nhập ngũ đến giờ, thế là ra tro hết.

Tôi quát sang phía Quynh:

- Quynh ơi ! thôi đừng bắn nữa.

Chúng nó rút xa rồi.

Tôi và thẳng Vân (có lẽ thế, vì bây giờ không nhớ) thẳng lưng đi sang chỗ Quynh.

Thì ra bên này cũng chỉ có hai thằng, Thằng Quynh và lính xế.

Anh lính xế Trường Sơn Thì lại quá được.

Hóa ra những quả cối cá nhân, cả thằng Quynh và lính xế thay nhau bắn.

Anh ấy, đâu có bỏ chạy.

Anh ấy rất bình tĩnh và chính xác từ lúc dừng xe, bật đèn pha rồi tắt đèn pha đúng lúc, lại còn trụ lại đây cùng chúng tôi và bắn cối nữa.

Khi chúng tôi tổ chức lại để tấn công có Anh Ương chỉ huy và khá đông lính.

Anh Triêm, Duyên và hai lính thông tin không tham chiến.

Thế mà bây giờ trơ lại có lính xế và ba thằng tiểu đội Trưởng.

Tôi không trách gì anh em lính mới, lần đầu tiên nghe tiếng súng của địch thì như thế cũng không có gì là lạ.

Nhưng mà, đơn vị trinh sát chiến đấu như thế, bảo có chán không ?

Bốn thằng chúng tôi lui lại một quãng cho đỡ nóng vì lửa cháy của chiếc xe và nằm phục hai bên đường cho đến lúc trời gần sáng.

Trời gần sáng.

Không còn thấy động tĩnh gì.

Chiếc xe của chúng tôi thì đã cháy rụi rồi.

Bốn thằng lếch thếch quay lại phía sau tìm mọi người, cứ thẳng lưng mà đi giữa đường.

Phải đến 500 mét mới tới chỗ mọi người đang nghỉ ngơi trong rừng cao su, cách đường không xa lắm.

Chúng tôi đi vào chỗ mọi người.

Tôi bỏ mũ ra, không nhớ ai đó thấy trên đầu tôi máu vẫn còn rim rỉm nên làm một vòng băng trắng quấn quanh, giống như vòng khăn tang vậy.

Khi tôi ngồi xuống mới giật thót người vì đau ở đít.

Một vết trúng vào mông bên phải, chắc rất nhỏ nhưng không ngồi lên nó được.

Tôi kê hai chiếc dép và ngồi xuống trên một bên mông.

Chúng tôi cử người cảnh giới và lùng sục xung quanh.

Số còn lại lấy nước và lương khô ra nhai.

Mà cũng chỉ có dăm bảy đứa còn lại ở đây.

Một số anh em khác đã lùi hẳn về phía sau.

Một lúc sau, hai thằng đi lùng sục vớ được hai tên lính liền bắt và trói nghiến lại.

Chúng được dẫn về chỗ chúng tôi ngồi nghỉ và bị trói mỗi đứa vào một gốc cây.

Toán lùng sục cũng tìm thấy vòm của du kích ở sâu trong rừng.

Ngồi mãi cũng chán, tôi rủ anh Triêm vào chỗ du kích chơi "xem có gì hay".

Vòm của du kích ở ngay cạnh một lạch nước nhỏ, cây cối um tùm.

Mọi người cũng đang đi công tác hết, chỉ có hai người ở nhà.

Họ toàn mặc quần áo đen.

Thấy chúng tôi đến họ mới ngồi dậy trên võng.

Du kích huyện Châu Đức phần lớn là lính bắc.

Các anh lớn tuổi hơn chúng tôi, nhập ngũ quãng sáu lăm, sáu sáu.

Du kích sống chui lủi trong rừng, ban đêm mới xuống cơ sở để hoạt động.

Nguồn sống của các anh chủ yếu dựa vào dân.

Ăn uống rất kham khổ, nhiều lúc rất đói do địch bố ráp các ấp không thể về được.

Tiền được phát cũng phải nhờ dân mua hộ lương thực, thực phẩm rồi dấu ở đâu đó để đến đêm các anh đến lấy.

Bọn địch thường xuyên tổ chức đi càn, các anh lại phải chạy luồn rừng để thoát thân, không mấy khi đánh trả lại được.

Cũng có nhiều anh em hy sinh và bị thương.

Hy sinh thì đành chịu rồi, nhưng cực nhất là bị thương.

Các anh chỉ có thể tự cứu chữa cho nhau, nhờ dân mua thuốc "trụ sinh" để chống nhiễm trùng.

Không thể đưa đi bệnh viện để chữa vết thương được.

Quá dài lâu !

Thư từ, báo chí không bao giờ có.

Chẳng bao giờ có thể mơ đến một ngày nào đó thắng lợi hay được về quê hương.

Đằng đẵng . . ., năm này qua năm khác . . ., "tăm tối không thấy ánh Mặt Trời", hy vọng cũng chẳng có lấy một tia.

Cứ như vậy, "sống không ai biết, chết chẳng ai hay".

Làm sao trụ mãi được đây ?

Nhiều anh đã lấy vợ địa phương nhưng vẫn không dám lộ diện.

Một số anh em đành qui hồi để về với vợ con và miễn cưỡng trở thành chỉ điểm.

Mỗi lần như thế, họ lại phải di chuyển khu vực hoạt động đi nơi khác.

Chúng tôi băn khoăn hỏi:

- Sao bị thương, các anh không đi ra bắc ?

- Biết đường nào mà đi.

Mà có đi thì làm cách chi mà không đụng địch.

Có anh bị thương cụt một chân, vẫn phải ở lại đây, trong đội du kích này và vẫn hoạt động.

Tôi ở Quảng Trị, quả thật có ác liệt vì bom pháo.

Nhưng người lính ở đây phải chịu đựng hơn nhiều, bền bỉ hơn nhiều.

Làm sao giữ cho tinh thần không nao núng, làm sao có thể hy vọng vào một ngày chiến thắng.

Thật là rất khó !

Thấy các anh như vậy mới biết mình "chưa là cái gì".

Chúng tôi xin ngả mũ chào !

Bái phục !

Bái phục !

Chiều đến, chúng tôi được lệnh bỏ đướng số 2, chuyển hướng vào rừng cao su tiến đánh Long Thành.

Chỉ còn lại sáu bảy người, cứ thẳng đường số 2 tiến ngược về phía Xuân Lộc để tìm ngã ba rẽ đi Long Thành.

Hai tù binh được thằng Quynh giải đi phía trước.

Chỉ thấy một thằng có vẻ hơi nhùng nhằng gì đó.

Tôi không nghe thấy thằng đó và thằng Quynh nói gì với nhau, liền sau đó là một loạt đạn AK.

Bắn song, thằng Quynh đạp nó lăn xuống rãnh ven đường.

Khi anh Triêm tới chỗ tên lính bị bắn chết, anh quát thằng Quynh về tội bắn tù binh.

Thằng Quynh có giải thích gì đó với anh Triêm.

Anh Triêm làu bàu:

- Cái thằng, làm ăn thế này !

Nói rồi, anh lấy dao cắt dây trói tay tên lính, rút hết dây và ném đi chỗ khác.

Chuyện này tôi thấy chẳng hay chút nào nhưng cũng không hỏi thằng Quynh một lần nào về chuyện đó.

Tên tù binh còn lại chắp tay xin:

- Xin các ông giao con cho bộ đội chủ lực.

Các ông đừng giao cho du kích hay bộ đội địa phương !

Con xin các ông !

Các ông mà giao cho du kích thì chi bằng cứ bắn con như thằng đó cho xong.

Lời cầu xin và thái độ sợ hãi của tên lính làm chúng tôi càng hiểu thêm sự ác liệt của du kích nơi đây.

Du kích sẽ không tha cho bọn này, có thể có trả thù vì bọn địch đã càn quét và giết chóc nhiều người.

Đi được một đoạn thì thấy chiếc xe Jeep quay lại đón.

Anh Triêm nói với anh Nhung chở tôi đi viện.

Rồi quay về phía tôi, anh nói:

- Ông phải đi viện thôi, thế này không được.

Quay sang tên tù binh, anh nói tiếp:

- Bây giờ chúng tôi thả anh, cho về nhà.

Muốn đi đường nào thì đi.

Về đến nhà phải ra trình diện

quân giải phóng.

Không được quay lại làm lính nữa.

Rõ chưa ?

- Dạ, con đâu dám. !

Tên tù binh được thả, còn tôi lên xe để đi viện.

Trên xe chỉ có anh Nhung và tôi.

Chiếc xe này tôi cũng đã lái ở Phan Thiết rrồi.

Bây giờ nó hỏng tiếp điểm đề.

Anh Nhung phải moi dây sau taplô ra phía trước.

Mối lần đề, cho chập hai đầu dây với nhau, máy nổ thì nhả ra.

Tôi phải kê bàn tay cho cao để ngồi trên một bên mông.

Gần đến đường 1, gặp rất nhiều xe chở bộ binh của sư đoàn đi ngược chiều lại, khí thế lắm.

Chiếc xe Jeep rất khó khăn để chạy theo chiều ngược với đoàn quân.

Tôi nói với anh Nhung:

- Thôi quay lại đi anh ạ !

- Mày cứ đi đi, cũng sắp xong rồi.

Cứ đi viện cho nó an toàn.

- Quay lại đi anh !

Ỳ xèo, . . .

đôi co với nhau một hồi, cuối cùng, tôi nói:

- Anh không quay lại, em nhảy xuống xe đây ! – Nói rồi, tôi nhảy xuống xe.

Chiếc xe buộc phải quay lại và chạy theo dòng.

Được vài cây số, đoàn xe bắt đầu chạy vào rừng cao su.

Tôi không nhớ chính xác con đường rẽ vào rừng, nhưng sau đó c20 chúng tôi có trinh sát phối thuộc với trinh sát e18 và e101 để đánh ấp Bình Sơn.

Chiếc xe khật khưỡng chạy vào rừng cùng rất nhiều xe của e101 và e18.

Quãng gần tối thì chúng tôi bắt kịp đơn vị.

Đại đội tôi lúc ấy trú dưới một vạt rừng.

Đám rừng này là đám rừng tự nhiên.

Tuy cây không to lắm nhưng khá rậm rạp.

Không biết tại sao khu vực này chưa trồng cao su.

Đại đội cũng chỉ có khoảng hơn một nửa số người.

Số còn lại đã đi trinh sát phối thuộc cùng các trung đoàn.

Một số ít nữa chắc đang ở phía sau.

Anh Nhạ đại trưởng tập trung đại đội và đọc quyết định về "Chiến Dịch Hồ Chí Minh".

Sau đó anh phát cho chúng tôi, mỗi người một dải vải đỏ.

Băng vải đỏ được buộc lên cánh tay trái.

Đó là hiệu lệnh của chiến dịch, cũng là một cái gì đó làm cho khí thế của chiến sỹ rất cao, ai nấy đều rất náo nức.

Mục tiêu cuối cùng của sư đoàn chúng tôi là Dinh Độc Lập.

Cờ Giải Phóng được phát cho một số đơn vị để sẵn sàng cắm trên dinh này.

Đối với chúng tôi, thời điểm 22/4 là thời điểm bắt đầu chiến dịch.

Không còn xa Sài Gòn, nhưng không biết bao lâu nữa chiến dịch mới hoàn toàn thắng lợi.

Riêng tôi, tự cảm thấy may mắn vì đã quyết định không đi viện mà quay lại và được tham gia vào trận đánh cuối cùng.

Chúng tôi lục tục chuẩn bị cơm nước cho bữa tối.

Bất chợt có tiếng gọi tôi từ phía sau.

Ngoảnh lại, thì ra là thằng Cam tiểu đội tôi.

Bây giờ nó chuyển sang đại đội xe của sư đoàn.

Từ trên xe nhảy xuống, nó chạy lại bắt tay tôi rất chặt:

- Ông bị thương có nặng không ?

- Xoàng ý mà, vỏ chấu của cối cá nhân thôi.

- Xoàng gì mà phải băng đầu thế ?

- Để tôi xem, nếu không chảy máu nữa thì tôi bỏ băng luôn.

Tôi ngại băng đầu có vẻ khác người quá.

Tôi đưa tay sờ lên vết thương, thấy máu đã khô hết mà cũng chẳng đau mấy trừ lúc bắt đầu đội mũ thì phải cẩn thận một tý, có gì đâu.

Đeo băng trắng trên đầu mà đi đánh nhau, "ra cái vẻ ta đây" như thế này thì tôi cảm thấy ngượng lắm.

Tôi từ từ rỡ mấy vòng băng xuống để thằng Cam thấy là không có gì nghiêm trọng cả.

Tiếng còi xe thúc thằng Cam.

Chúng tôi bắt tay nhau.

Xe thằng Cam đang chở đạn cho pháo, nó không thể nấn ná được.

Chuyện tôi gặp thằng Cam và tháo băng tôi không nhớ.

Mới gần đây, gặp nhau ở nhà thằng Sự, thằng Cam kể rất nhiều chuyện trong đó có chuyện gặp tôi chiều hôm đó trên đường đi ấp Bình Sơn, và tôi đã tháo băng, vứt cái băng vào gốc cây cho nó xem để nó yên tâm.

Anh Nhạ đi kiểm tra và động viên các tiểu đội.

Anh đến tiểu đội tôi:

- Tháo băng rồi à ?

- Vâng, khỏi rồi anh ạ.

Đại đội thế nào anh ?

- Chỗ các cậu gặp tàn quân đêm qua hai đứa chết đấy.

Cậu Dân bê trưởng và cậu Nhật lính mới.

- Thế mà em chẳng biết gì.

- Đấy là anh em họ báo cáo thế.

Mấy đứa ở gần mới biết còn ngay ông Triêm cũng không biết cơ mà.

Dân nó nhảy xuống xe rồi mới bị trúng đạn, còn cậu Nhật thì bị chết ngay trên xe.

Điểm lại, vẫn còn

thiếu cậu Đọ.

Không biết nó hy sinh hay có bị thương nằm ở đâu không.

Cả anh nhạ và tôi bất giác cùng thở dài.

Thế là bỏ đồng đội ở lại, không ai chôn cất.

Trong lòng tôi cảm thấy bứt rứt vô cùng.

Thật vô tâm quá.

Lẽ ra lúc trời sáng, chúng tôi phải quay lại kiểm tra chỗ chiếc xe.

Lúc đó nào có địch gì đâu, chúng tôi đã thẳng lưng mà đi giữa đường kia mà.

Thật không ra gì cả.

Trinh sát gì mà vừa đụng địch đã tá hỏa lên bỏ chạy đến nỗi quên cả đồng đội.

Thực sự, chúng tôi rất kém.

Ừ thì lính mới, trận đầu có thể hoảng khi thấy có đồng đội hy sinh, nhưng sao không đứa nào nói gì chứ.

Sao lính cựu như chúng tôi cũng không nghĩ đến việc có thể có ai đó bị thương hay bị chết lúc "tao ngộ chiến" chứ !

Sao mà cả anh Triêm cũng không nghĩ đến việc quay lại kiểm tra nữa.

Thật quá tệ !

. . .

Hết chuyện XVIII.

CHUYỆN XIX LONG THÀNH

Khoảng một nửa c20 nằm lại phía sau, chỉ có một nửa đang cùng các e101, e18 và e46 (của quân khu 3 phối thuộc với sư đoàn).

Sáng 24/4, xe tiếp tục chở chúng tôi tiến trong rừng cao su.

Đến khu vực ấp Bình sơn thì chúng tôi xuống xe.

Những chiếc xe của 559 được đem đi ngụy trang và cất dấu.

Rất nhiều bộ đội tập kết ở khu vực này.

Đây đều là những đơn vị phía sau, sẵn sàng trợ chiến và các đơn vị bảo đảm khác.

Pháo binh đã vòng xuống phía nam Long Thành về khu vực xã Long An để chuẩn bị hợp đồng tác chiến với xe tăng và bộ binh.

Ngày 25/4, địch phát hiện việc tiến quân của ta và bắt đầu bắn chặn.

Trong chuyện kể của các thủ trưởng không thấy nói đến đoạn trước khi đánh Long Thành, lực lượng của ta trong rừng cao su bị máy bay A37 ném bom và pháo của địch bắn rất dữ dội.

Rất nhiều anh em bị thương và hy sinh.

Có một đại đội nào đó (lâu không còn nhớ phiên hiệu) của e101 bị bom và pháo mất quá nửa quân số.

Chúng tôi chưa kịp đào hầm để tránh bom pháo nên mạnh ai tìm được khe ránh nào thì lăn nhào xuống.

Hết đợt này đến đợt khác máy bay liên tục ném bom vào đội hình.

Thấy tiếng máy bay trực thăng phành phạch bay từ xa lại, tôi hét anh em trong tiểu đội tìm những gốc cây to, hy vọng có thể ẩn nấp được khỏi đạn bắn thẳng.

Mấy chiếc HU1A cứ quần đi quần lại trên đầu.

Đây là lần đầu tiên lính trinh sát bị trực thăng nó quần.

Chưa ai có kinh nghiệm, chỉ biết chạy và nấp theo bản năng.

Hễ máy bay vòng đi thì di chuyển tìm nơi ẩn nấp tốt hơn, khi nó vòng lại thì nấp im tại vị trí.

Có lẽ vì ta quá đông nên địch cũng không tìm diệt một mục tiêu cụ thể nào.

Chúng cứ vừa rà trên đầu vừa bắn đại liên.

Về phía ta, 12 ly 7 và cao xạ 37 hay súng bộ binh của chúng tôi không ai được phép bắn trước giờ sư đoàn bắn pháo mở màn chiến dịch.

Những lực lượng ở phía trước đang chuẩn bị trận đánh lại hoàn toàn không bị những trận bom pháo này.

Sau này cũng không thấy thống kê những trận bom pháo này đã làm bao nhiêu anh em bị thương vong.

Chắc hẳn sư đoàn biết nhưng lính tráng chúng tôi không biết.

Tôi chỉ thấy rất nhiều bạn bè ở các đơn vị đều kể về trận bị đánh tả tơi và thương vong trong rừng cao su trước khi đánh Long Thành.

Sau này tôi mới biết, hướng tấn công của sư 325 vào Long Thành rất hiểm, chọc sườn địch.

Hướng tấn công này cũng là mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh.

Vì vậy địch dùng khá nhiều máy bay và pháo để đánh chặn.

Kể cũng lạ C20 không có ai bị thương hay hy sinh.

Mãi sáng ngày 26/4, đại đồi cử thêm một toán làm nhiệm vụ bám địch.

Toán có năm tay súng AK và một lính thông tin 2W do anh Thắng b trưởng chỉ huy,.

Tôi là thằng cầm bản đồ dẫn đường cho cả nhóm.

Nhiệm vụ của chúng tôi là bám theo 101.

Sau khi họ đánh vào Long Thành thì nhanh chóng vượt lên trước làm nhiệm vụ trinh sát dọc theo tỉnh lộ 25 đi Phú Hội, Nhơn Trạch.

Năm giờ chiều 26/4/75, pháo của sư đoàn dồn dập nên xuống chi khu Long Thành và trận đại pháo 105 của địch ở An Lộc.

Rất nhiều pháo, chưa bao giờ bắn nhiều và cấp tập như vậy.

Liên tục trong nửa giờ đồng hồ.

Trung đoàn 18 đánh vào ấp Bình Sơn, trong khi đó xe tăng và bộ binh 101 chọc thẳng đường vào ngã ba Long Thành.

Pháo binh của địch bắt đầu bắn chặn đường tiến quân của ta vào Long Thành.

Chúng tôi ở phía sau thấy pháo hai bên bắn dữ dội.

Sau này tôi mới biết có một trận phản pháo của ta vào pháo binh địch ở Bến Sắn làm cho pháo binh địch bị thiệt hại nặng.

Vì vậy xe tăng và bộ binh ta dễ dàng tiến vào Long Thành.

Tôi cũng nghe kể lại khi ta tiến vào sâu, bộ binh địch chống trả rất quyết liệt từ trong các ngõ ngách của thị trấn .

Một ổ đại liên địch từ trên tháp nước rất cao của thị trấn bắn rát, không cho bộ binh ta tiến quân.

Mãi sau, xe tăng mới chỉnh pháo bắn vào tháp nước và tiêu diệt ổ đại liên này.

Nghe nói, cả ba thằng cùng súng đại liên bị rơi từ trên tháp nước xuống.

Bộ binh và tăng của ta tràn vào thị trấn Long Thành, rẽ phải, vận động bao vây quận lỵ Long Thành.

Trời tối, không còn nhìn rõ các mục tiêu.

Tiếng súng, ánh lửa đạn bộ binh nhoang nhoáng bay qua bay lạinhư đan lưới.

Thỉnh thoảng bùng lên bụm lửa của đạn pháo và các loại đạn B40, B41.

Vì địa hình thị trấn phức tạp nên trong đêm 26/4 ta chưa dứt điểm được Long Thành.

Hai xe tăng của ta bị súng chống tăng của địch bắn cháy ở gần quận lỵ, các anh em của xe bị hy sinh.

Trận đánh lúc đầu tưởng chừng thuận lợi nên anh em có phần chủ quan.

Mặt khác xe tăng cũng muốn bảo toàn các nhà dân nên để địch lợi dụng đánh lén từ trong các căn nhà và các ngõ ngách.

Trong đêm tối việc triển khai tấn công rất khó khăn.

Trận đánh phải kéo dài sang ngày hôm sau.

Chúng tôi vẫn nằm chờ phía sau, chưa xuất kích được.

Mãi sáng hôm sau, nhóm trinh sát mới tiềm nhập vào Long Thành.

Địch vẫn liên tục bắn nhỏ lẻ từ mọi nơi nên rất khó cho xe tăng và bộ binh đánh nhanh.

Chúng tôi cứ lần theo các căn nhà cho đến khi vào được thị trấn.

Chúng tôi không đi về hướng chi khu mà rẽ trái đi về ngã ba Long Thành - Phú Hội.

Khoảng 9 giờ sáng 27/4, đang đi men theo các căn nhà trên phố thì pháo địch nã tới.

Nhóm chúng tôi nhanh chóng nhảy vào một căn nhà xây mái bằng để tránh pháo.

Tuy trong nhà không có một cái hầm nào nhưng an toàn hơn ngoài đường rất nhiều vì sẽ không bị dính mảnh pháo, trừ khi đạn rơi trúng nóc.

Dân trong thị trấn đã chạy hết.

Có lẽ họ chạy ra ngoài cánh đồng hay chạy về phia Vũng Tàu để tránh bom đạn.

Đúng là "vườn không, nhà trống".

Tuy nhiên chỉ là "trống" không có dân thôi, họ chỉ chạy lấy người chứ không mang theo gì, đồ đạc của dân vẫn còn nguyên.

Pháo vẫn bắn nhưng không tập trung vào một chỗ.

Lúc không còn pháo bắn vào chỗ chúng tôi, mọi người lục tục chuẩn bị đi tiếp.

Vì tò mò, chúng tôi xem xét toàn bộ căn nhà.

Nhà cũng khá, có ti vi, có tủ lạnh, có cả catset.

Có đứa nào đó lấy băng catset ra xem rồi lôi ruột ra, một đống băng mỏng màu nâu, rối tung, phất phơ trước gió.

Xem chán rồi, có đứa cầm vào nắm tủ, giật giật để mở, nhưng tủ đã khóa.

Một anh khác (không tiện nói tên) liền rút ngay dao găm:

- Dễ không mà.

Để tớ ! – nói rồi, nó cắm ngay dao găm vào khe cánh tủ.

Cũng rất nhanh, tôi nắm lấy cổ tay nó và nói nhỏ:

- Đừng anh !

- Có gì đâu, xem một tý thôi.

- Đừng ! – Tôi nói và trừng mắt nhìn vào mắt nó.

Việc đó chỉ là do sự tò mò vô ý thức thôi chứ không ai có ý định lục lọi hay lấy gì cả.

Tôi nói làm cho hai anh mới giật mình và có ý thức trở lại.

Những người lính chiến thực sự, lúc đói chỉ kiếm cái ăn, không ai có ý lấy cái gì của dân.

Cũng không thấy đứa nào dấu gì đó vào "đáy ba lô" theo kiểu vơ của.

Lấy mà làm gì, nay sống biết mai thế nào mà mang theo các thứ cho nặng vào xác.

Mà nhỡ có chết, mọi người sẽ thấy có đồ trong ba lô thì xấu hổ lắm.

Có vài người còn thêm mê tín thì càng không thể lấy gì.

Ấy là 99% như thế.

Một phần trăm còn lại ở c20 thì tôi chưa gặp.

Chiến lợi phẩm là những thứ thu được của địch.

Chúng tôi có lấy.

Anh em thường lấy thuốc lá, đồ hộp, gạo sấy, bi đông Mỹ, xẻng Mỹ, xanh tuya Mỹ, Màn tuyn, chăn thám báo, giầy cao cổ, lưỡi lê, lựu đạn US M-26, . . .

Toàn những thứ hay hay và rất thiết thực.

Nói đến chuyện này, tôi sực nhớ, từ khi mò vào Hòn Vượn đến giờ tôi toàn đi giày ngụy.

Trước đó tôi cắt lấy đế rồi xâu quay dép.

Nhưng từ lần Hòn Vượn, tôi đi nguyên cả giày, chỉ dùi thêm vài cái lỗ cho thoáng và thoát nước nhanh.

Đôi giày ngụy đó tôi đi vào tận Sài Gòn ngày 30/4 đấy.

Sau khi xem lại bản đồ và bàn bạc, chúng tôi tiếp tục tiến.

Hết quãng có nhà của thị trấn mới thấy trời nắng quá.

Không khí cứ hừng hực bốc lên từ mặt đường.

Đâu đó phía sau chúng tôi vẫn thấy đạn pháo nổ và tiếng súng bộ binh đánh nhau ở chi khu Long Thành.

Đến ngã ba giữa QL15 và TL25, chúng tôi quẹo phải để đi Phú Hội.

Trên đường liên tỉnh 25 (LTL25) qua một đoạn cánh đồng trống trống, thấy la liệt trên đường là quần áo lính ngụy và những đồ lính khác.

Bọn này khôn đấy, thấy pháo bắn và bị ta đánh chúng đã nhanh chóng tự bỏ chạy.

Trút bỏ đồ lính để chạy trốn hoặc đi về quê cho thuận tiện.

Có thể nhiều đứa đã kịp lấy quần áo của dân để mặc.

Nhưng nhiều đứa chắc chỉ còn đồ lót trên người.

Ở phía này thì như vậy, sao ở phía chi khu Long Thành tiếng súng bộ binh vẫn không ngớt.

Chắc hẳn đánh nhau giằng giật từng đoạn phố và từng đoạn hào trong chi khu.

Trận chiến ác liệt đó sau này tôi mới được nghe kể lại.

Đến đoạn rừng cao su gần Phú Hội, chúng tôi đi tản ra, vừa tiến vừa quan sát.

Theo như trên bản đồ, phía trước có cao điểm 30, rất có thể có lính địch chiếm giữ chỗ đó.

Toán trinh sát bí mật tiến lên rất chậm.

Có mấy thằng lính trinh sát lèo tèo làm sao có thể nhổ chốt của địch.

Vì vậy chúng tôi chỉ cố gắng bí mật tiến lên càng xa bao nhiêu càng tốt và chờ bộ binh.

Đến gần điểm cao, chúng tôi không quan sát thấy địch nhưng cũng không dám tiến lên thêm nữa.

Mọi người tìm chỗ ẩn nấp hai bên đường.

Chúng ăn lương khô trong khi chờ bộ binh tới.

Khoảng 2 giờ chiều (27/4), bộ binh của trung đoàn 46 vận động bộ theo đường TL25 tiến về phía chúng tôi.

Long Thành vẫn chưa giải quyết xong nhưng một hướng tấn công mới chạy dọc theo đường này.

Chúng tôi bàn giao tình hình cho bộ binh, còn họ thì chuẩn bị tổ chức tấn công về phía trước.

Nghĩ cũng chán, trinh sát kiểu này thì có nắm được địch ở phía trước đâu.

Chỉ có chạm súng ở đâu thì biết địch ở đó.

Vẫn cứ ào ào tiến lên, lúc nào đụng địch thì dừng lại chờ.

Có khi chỉ cảm thấy có địch là dừng lại rồi.

Cũng không biết chúng tôi trinh sát kiểu đó có được tích sự gì không.

Thôi thì cứ cho rằng bộ binh yên tâm vận động, ở phía trước có trinh sát rồi.

Bao giờ gặp trinh sát, biết tình hình mới phải chiến.

Nghĩ vậy thì cũng được "an ủi cho nó đỡ tủi" mấy chú trinh sát.

Đúng là từ trận Phan Rang đến giờ, mọi việc đều theo kiểu "thần tốc".

Sau ngày 30/4/75.

Lúc đầu, riêng c20 chúng tôi độc chiếm căn cứ Cát Lái.

Chúng tôi có một xe Jeep và môt Honda 67.

Anh Nhung và tôi thay nhau lái xe Jeep đưa anh em đi chơi Sài Gòn.

Không may cho tôi, ngay sau 30/4 hai ngày tôi đã bị cử đi công tác lẻ.

Toán trinh sát chỉ có hai đứa.

Lại là thằng Hồng và tôi.

Chúng tôi có nhiệm vụ làm lại hồ sơ Thành Tuy Hạ và chi khu Long Thành.

Hai thằng chỉ mang toòng teeng ít đồ.

Tôi thì mang đồ đạc để xẽ và bản đồ.

Thằng Hồng thì mang mấy hộp đồ ăn của Mỹ lấy ở Cát Lái và một bao tượng gạo.

Chúng tôi qua phà Cát Lái.

Sau khi xong hồ sơ Thành Tuy Hạ, chúng tôi phải đi bộ đến Long Thành.

Hai thằng vào nhà dân ngủ nhờ một đêm.

Sáng hôm sau, chúng tôi gửi đồ ở nhà dân và đi vẽ.

Chúng tôi vẽ trận địa pháo Long Thành trước vì nó đơn giản.

Xong trận địa pháo hai đứa mới vào chi khu.

Đầu tiên là lục lọi hồ sơ.

Chẳng thu được gì.

Có thể trước khi rút chạy, quận trưởng Hà Văn Sáu đã cho hủy hết hồ sơ.

Tôi đành phải vẽ lại toàn bộ sơ đồ chi khu.

Chỉ trong hai tiếng buổi sáng là đã khoắng nháp xong sơ đồ và thiết đồ lô cốt.

Về nhà tôi sẽ hoàn thiện nốt.

- Hồng ơi, xong rồi.

Đi Vũng Tàu đi !

- Đi !

Hai thằng ra đường, mỗi đứa khoác một khẩu báng gấp trên vai.

Chúng tôi vẫy xe đò.

Thấy xe đò từ xa, thằng Hồng chỉ vẫy vẫy mấy cái là xe dừng lại ngay.

Chiếc xe không đóng cửa, lơ xe nhiệt tình nhảy ngay xuống đón khách. . . hay là sợ mấy ông lính có AK thì không biết.

- Cho chúng tôi đi nhờ đến Vũng Tàu !

- Dạ, mời hai ông.

Chiếc xe còn chưa đầy hết chỗ nên hai thằng kiếm được hai chỗ ở ghế sau cùng.

- Này anh, đừng gọi chúng tôi là ông nữa đấy !

- Dạ !

Thế tui kêu hai ông bằng gì ạ !

- Cứ gọi chúng tôi bằng anh thôi.

- Dạ !

Lần đầu tiên đi xe khách của miền nam, tôi rất ngạc nhiên vì nhiều chuyện lạ.

Xe khách và xe buýt ở miền bắc chỉ đỗ đúng bến, không đón khách dọc đường.

Tôi rất lạ khi thấy lơ xe đứng ở cửa xe.

Hễ thấy có người nào đứng bên đường hay đang đi bộ là rà rà đến gần.

Tay lơ xe chỉ bám cửa một tay, một tay và một chân giang ra sẵn sàng đón khách bước lên bậc mồm thì liên tục hô lên đê . . .

đê . . .

Anh ta rất nhiệt tình, xốc nách các bà, các chị lên xe, trong khi chiếc xe chỉ chạy chậm lại chứ không dừng hẳn.

Tôi cũng rất ngạc nhiên vì lơ xe thu tiền trực tiếp chứ không có vé và còn ngạc nhiên hơn khi thấy có mà cả giá tiền.

Thường thì nói bao nhiêu, khách trả bấy nhiêu nhưng cũng có khi khác mặc cả ít hơn vẫn được đồng ý.

Đặc biệt, nếu hai bên không đồng ý thì đuổi khách xuống.

Chiếc xe tôi đi là một chiếc xe chạy dầu khá lớn, ống khói của nó ở phía sau và ngóc lên tận nóc xe.

Tôi không nhớ hiệu xe, có lẽ là DESOTO thì phải.

Bến xe vũng Tàu rất sạch sẽ và quy củ.

Chiếc xe vào trả khách trong bến.

Thực ra chỉ còn lại vài người, trong đó có hai thằng lính.

Không phải vì chúng tôi muốn đi xa nhất mà vì đối với chúng tôi thì xuống đâu cũng như nhau thôi.

Hai thằng bắt đầu đi bộ dọc theo các con phố.

Phải nói, lúc đó Vũng Tàu Rất sạch.

Thành phố này cũng nhiều cây xanh, rất nhiều phượng vĩ và phi lao.

Thành phố có vẻ rất yên tĩnh và rất vắng vẻ.

Tôi có cảm giác đi trên những con đường của Hải Phòng thời sơ tán.

Càng về trưa, trời càng nắng. hai thằng chọn những con đường có bóng cây rợp mát để đi.

Không còn nhớ chúng tôi đã đi qua những con đường nào.

Rồi hai thằng lại đi loằng ngoằng theo những con đường khác để về bến xe.

Tại sao lại quay về bến xe sớm thế ?

Là vì tôi nói với Hồng:

- Tôi đói quá ông ạ !

- Tôi cũng thế.

- Nếu biết thế này thì đã mang theo đồ ăn.

- Ừ !

Ông chả bảo tôi trước.

- Tôi vẽ xong mới nảy ra ý định đi xuống đây chứ đâu có định trước.

- Tôi đói run chân tay rồi ông ạ.

Hai thằng lếch thếch lê bước quay về bến xe.

Trong túi không có một hào nào.

Giá mà có vài hào thôi cũng được.

Nhớ lại, hôm 30/4 ở Sài Gòn, mấy đứa có một đồng hay mấy hào cũng đổi được cái đồng hồ Seiko hay Orient.

Người hiếu kỳ chỉ cần có được tiền bắc trước tiên để đi khoe là sướng rồi.

Vào đến bến xe, tìm xe đi Sài Gòn xuất bến đầu tiên rồi lại đến hỏi đi nhờ.

Không còn nhớ Vũng Tàu Sài Gòn 15 phút hay 30 phút một chuyến.

Đại khái là như thế.

Khác hẳn với ngoài bắc, một ngày chỉ vài chuyến.

Chiếc xe mà chúng tôi lên cũng là một xe lớn.

Ghế của nó được đan bằng những dải sợi nylon xanh và trắng thành hình carô, vừa bền vừa sạch lại vừa thoáng mát.

Trên xe cũng chỉ có vài người.

Khi xe ra khỏi bến tôi lại ngạc nhiên lần nữa vì nó đi ngược vào thành phố.

Nó chạy chậm rà qua rất nhiều phố để bắt khách.

Chúng tôi đã đói, lại càng sốt ruột.

Mãi rồi chiếc xe cũng rời thành phố và chạy nhanh về hướng Long Thành.

. . . (hết chuện Long Thành)

To be continued...
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 2: Những chuyện không thể quên - hồi ký của bác Tichtuongnhule - Phần cuối


CHUYỆN XX NHỮNG BỨC TƯỢNG MANG TÊN NHÀ ĐIÊU KHẮC "CHIẾN TRANH"

5 giờ 40 phút ngày 21/3/1975 pháo của sư đoàn bắt đầu nổ súng.

Tất cả các điểm cao trên Lưỡi Cái và Mom Kim Sắc đều bị pháo bắn rất dữ dội.

Toàn là pháo bắn thẳng (trực xạ).

Kể cả pháo cao xạ 37 ly cũng hạ nòng, bắn tà âm.

Pháo này bắn liên thanh 5 phát một, đạn căng hơn pháo mặt đất nhiều.

Sau đó, pháo chuyển làn, bắn xuống đường 1 để cắt đứt con đường Huế - Đà Nẵng.

Sáng 23/3/75, trung đoàn 18 của 325 bắt đầu đánh chiếm Mũi Né.

Thực sự là tinh thần của địch đã không còn nên mất sức chiến đầu và dễ dàng tháo chạy khi bị ta đánh.

Được đà e18 tiến đánh qua Phú Lộc và đến chiều thì chiếm được đèo Phước Tượng.

Một lực lượng của e18, vòng theo bờ Đầm Cầu Hai để chặn địch tại cửa Tư Hiền.

Lực lượng chính chuẩn bị tiến đánh đèo Phú Gia và Lăng Cô.

Một toán trinh sát của chúng tôi đi trước, cùng đi theo e18 đánh hướng này.

Trong khi đó, trung đoàn 101/f325 tiến ngược ra phía Huế và 16 giờ 30 ngày 23/3 đã đánh chiếm căn cứ Lương Điền.

Toán trinh sát thứ hai của chúng tôi được lệnh xuất phát.

Toán này có trung trưởng Bùi văn Thắng, trung phó Dương Chí Lục, thằng Quynh a trưởng, một thông tin 2 oát, hai tay súng AK bảo vệ thông tin và tôi là người cầm bản đồ, sẵn sàng cắt đường dẫn bộ binh đánh vòng nếu hướng tấn công dọc đường 1 bị chặn ở đâu đó.

Chúng tôi xuất phát từ cứ của c20 và khoảng 2 giờ chiều thì đến sát chân Mom Kim Sắc.

Khoảng 4 giờ, chúng tôi xuống đến Bạch Thạch.

Bạch Thạnh là một vị trí của Địch đã bị ta đánh chiếm từ đêm 21/3.

Lâu ngày ở trên rừng, bây giờ được đặt chân lên đường nhựa, trong lòng ai nấy đều cảm thấy rất bồi hồi.

Tuy trận đánh ở đây là đêm hôm kia rồi nhưng vẫn còn thấy mùi chiến trận.

Mùi thuốc pháo vẫn còn phảng phất làm trực giác những người lính tởn lên một cảm xúc lạ mà quen.

Không khí căng thẳng của những ngày nào đó ùa về cùng với sự thảnh thơi khi nhìn cảnh chiến trận vừa đi qua đan xen lẫn lộn.

Tôi ngó dớn dác xung quanh và nhìn thấy một chiếc thuyền úp ngược.

Một chiếc thuyền gỗ, chắc là của dân đánh cá trong Đầm Cầu Hai, người ta đã kéo nó từ biển lên, kéo qua đường 1 và cất ở đây.

Tôi và một đứa nào đó (bây giờ không nhớ) đi lại phía chiếc thuyền.

Chiếc thuyền úp và được kê cao, có thể chui vào ngồi ở dưới được.

Không ai bảo ai, hai thằng đều cúi xuống nhìn vào trong.

Phía dưới, ở giữa chiếc thuyền là một đống củi gỗ, loại củi mà dân ở đây thường đào hố cho xuống để đốt lấy than hoa.

Hai thằng tôi đều "Ồi !" lên cùng lúc.

Trên đống gỗ, dưới chiếc thuyền úp ngược là một người lính tử trận.

Cái xác được đặt nằm ngửa, hai tay đặt trên bụng, đầu quay về hướng bắc rất ngay ngắn.

Nước da lính trận, xạm nắng gió, đã bệch ra, hai mắt nhắm lại.

Một bức tượng người nằm, thanh thản.

Một người ra đi, thanh thản như thế, để lại cho một mẹ già và rất có thể là một người vợ trẻ khắc khoải đợi chờ.

Đợi mãi, đợi mãi, để bạc phơ mái đầu, đến mòn mỏi tuổi xuân.

Người chinh phu đâu có thấu hiểu lòng chinh phụ.

Chắc hẳn người tử trận đã được một chiến hữu vuốt mắt, nhưng không kịp chôn cất bạn.

Người lính ấy tạm giấu bạn vào đây, hy vọng sẽ quay lại.

Ừ !

Tình bạn vào sinh ra tử mà.

Nghĩa cử của anh ta trong đêm bị đối phương tấn công quyết liệt như vậy thật đáng trân trọng.

Giá mà chúng tôi còn ở lại đây thì chúng tôi sẽ chôn cất người tử trận.

Âu, đều là con dân Đất Việt.

Âu, đều có những bà mẹ thót ruột gan chờ con đêm đêm.

Vậy nên, nỗi buồn người lính . . . không bao giờ vơi đi được.

Một người lính chúng tôi hy sinh, có khi kéo thêm nhiều người nữa hy sinh khi lấy xác đồng đội.

Nhưng cũng có khi, ngặt không có hoàn cảnh nào để chôn cất bạn.

Thì, sau này cũng không tìm lại được.

Bạn tôi kể, đồng đội bị pháo bắn, chết ngồi tựa vào gốc cây.

Hai hôm sau quay lại, đã thấy một đụn mối, hình người, tạc chặt vào gốc cây.

Một bức tượng người ra đi, đang bình lặng ngồi, ngắm nhìn trời đất và núi rừng.

Tôi đã từng chứng kiến những trận pháo trong đêm đen trên sông Thạch Hãn.

Hình ảnh chiếc thuyền và chiến sỹ, dựng ngược, trên dòng nước đen sẫm, bung xòe lửa đỏ.

Tất cả chỉ lóe lên, trong một ánh chớp nhì nhằng của lửa đạn.

Những dáng hình đó, tạc trong không gian của chiến trận, khắc vào tâm khảm người ở lại, không bao giờ nguôi.

CHUYỆN XXI NHƠN TRẠCH – THÀNH TUY HẠ

Chuyện đánh vào Nhơn Trạch Làm tôi cứ suy nghĩ mãi về vấn đề thời gian.

Những gì tôi nhớ được khớp với một số tài liệu, nhưng lại sai lệch thời giờ với tài liệu khác.

Trên bản đồ, địa danh Nhơn Trạch được ghi sát ngay vào Thành Tuy Hạ.

Thực tế, nó chỉ nằm rất gần.

Quận lỵ Nhơn Trạch nằm trên địa phận xã Phú Thạnh, đúng như trên bản đồ.

Và, trận đánh vào Nhơn Trạch có người hiểu là quận lỵ Nhơn Trạch, người khác chỉ có ý diễn đạt đánh vào vùng đất thuộc huyện Nhơn Trạch.

Theo ông Vũ Trọng Hóa, thời điểm đó là tham mưu trưởng e18/f325t: "Sáng 28-4-1975, Trung đoàn 46, do Quân khu 3 tăng cường cho Sư đoàn 325 hành quân theo tỉnh lộ 25 tiêu diệt trận địa pháo 155 ly của địch ở ấp Bến Sắn, xã Phước Thiềng, Nhơn Trạch.

Sau khi tiêu diệt xong trận địa pháo của địch, quân ta đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch.

Trung đoàn 46 áp sát, đánh chiếm thành Tuy Hạ".

Trong cuốn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,2008 (Chỉ đạo nội dung: Thiếu tướng TS Phạm Văn Thạch, Chủ biên: Đại tá PGS TS Hồ Khang): "14 giờ ngày 29-4, Sư đoàn 325 - Quân đoàn 2 sử dụng Trung đoàn 46 (có xe tăng - thiết giáp hỗ trợ) đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở khu vực Nhơn Trạch, bến phà Cát Lái (phía bắc) và thành Tuy Hạ".

Bất luận thế nào, tôi sẽ kể theo trí nhớ của mình, kể cả ngày giờ.

Ý kiến của ông Vũ Trọng Hóa là không đúng (lúc đó e18 đi cuối đội hình).

Phải đến đêm 29/4 chúng tôi mới đánh qua Thành Tuy Hạ.

Điều này chính xác vì đến gần sáng, chúng tôi áp sát bờ sông Đồng Nai, đã là gần sáng của 30/4 rồi.

Quãng 2 giờ chiều 27/4, mới có một bộ phận nhỏ của bộ binh 101 tiến theo đường LTL 25 (liên tỉnh lộ 25).

Chúng tôi bàn giao tình hình cho họ.

Nhưng sau đó chỉ thấy họ lập chốt và nghỉ ngơi.

Sáng sớm 28/4, chúng tôi nghe tiếng xe tăng đang chạy từ hướng Long Thành tới.

Tôi nghĩ, có lẽ, hôm qua bộ binh chưa đánh vì lực lượng còn ít và chưa có xe tăng.

Những chiếc xe tăng tiến đến ngày càng gần, chúng tôi thấy rất đông bộ binh trên xe tăng và chạy bộ phía sau.

Chúng tôi tháo hết băng đỏ ở tay xuống, đưa cho một đứa đứng ra giữa đường, vẫy xe, báo hiệu: "Đây là quân ta, đừng bắn".

Lực lượng bộ binh là trung đoàn 46.

Lúc bấy giờ, tôi không biết trung đoàn 46 thuộc quân khu 3, chỉ biết đây là trung đoàn phối thuộc với sư đoàn 325 của chúng tôi.

Lực lượng bộ binh của 101 vẫn chốt lại.

Trung đoàn 46, có xe tăng, bắt đầu tấn công dọc theo LTL 25.

Chúng tôi đi theo sau bộ binh 46.

Sáng 28/4 hôm đó, trung đoàn 46 bắt đầu tấn công vượt qua đám rừng cao su mà trên bản đồ tỷ lệ 1:250000 ghi là Phước Mỹ.

Vùng đất này thuộc xã Phước Thiềng.

Sau đó phát triển theo LTL 25 tiến đến Phú Hội.

Bên trái đường có điểm cao 30.

Tôi được nghe kể lại, pháo tăng và hỏa lực cối của trung đoàn bắn phá dữ dội.

Bọn địch ở đây, lần đầu tiên nghe tiếng xe xe tăng và pháo tăng bắn, đã, quá hoảng sợ mà bỏ chạy.

Đoạn Phú Hội, hai bên đường là làng mạc và các vườn cây sầu riêng cùng chôm chôm rất rộng.

Con đường ở đoạn này ngoặt gấp sang bên phải.

Trước đoạn ngoặt, có mộ cây cầu nhỏ.

Khi xe tăng đến đây, không dám chạy qua cầu vì sợ cây cầu không chịu đựng nổi sức nặng của tăng.

Đây là chiếc cầu bắc qua một lạch nước nhỏ.

Để có thể vượt qua lạch nước, anh em phải làm đường tránh ngay cạnh chiếc cầu.

Dưới lạch nước là bùn, làm sao đây ?

Rất may, khi bộ đội đến đây thì ngay sau đó, du kích địa phương "áo đen" cũng xuất hiện.

Yêu cầu phải lót đường dưới lạch bằng gạch đá và gỗ.

Nhờ du kích vận động những bà con còn ở lại trong làng, khoảng một tiếng đồng hồ sau vật liệu đã được huy động.

Thôi thì đủ cả gạch, đá của dân chuẩn bị xây nhà, rồi gỗ cột, gỗ ván, . . . thậm chí có người gỡ cánh cửa hay mang phản ra góp.

Cúng phải mất hai tiếng đồng hồ xe tăng mới vượt qua được.

Sau này, tôi có vài ngày trở lại Phú Hội.

Nơi này là vựa chôm chôm và sầu riêng.

Các ngôi nhà đều nằm rất xa nhau.

Xung quanh nhà là rừng cây chôm chôm và sầu riêng.

Chôm chôm cành lá xùm xòa rất thấp, trái sai chiu chít từng trùm xanh xanh vàng vàng.

Sầu riêng thì rất cao và khá thẳng, trái đeo lúc lỉu.

Những trái sầu riêng chín thỉnh thoảng rụng xuống, lịch bịch trên đất.

Ban đêm ngủ trong vườn sầu riêng, thỉnh thoảng lại nghe trái rụng.

Mấy thằng chúng tôi thấy cũng ghê ghê khi đi từ nhà này sang nhà khác.

Trái sầu bất chợt có thể rơi trúng đầu.

Khi chúng tôi trở lại đây, sau ngày 30/4 khoảng nửa tháng, dân vẫn còn nhắc lại chuyện đã dỡ cả nhà trong vườn để làm đường cho xe tăng đi qua.

Ai nấy kể lại đều rất hồ hởi và tự hào.

Chuyện này làm cho tôi nhớ những câu chuyện đồng bào ở Quảng Bình dỡ nhà làm đường cho xe đi qua trong những ngày Mỹ thả bom đánh chặn các tuyến đường vận tải vào miền nam.

Đến chiều 28/4, trung đoàn 46 đã áp sát và triển khai bao vây căn cứ địch ở Long Tân.

Tại sao hướng tấn công vào Sài Gòn qua Long Thành, Nhơn Trạch lại cực kỳ quan trọng thì sau này tôi mới biết.

Lúc bấy giờ tôi chỉ nghĩ, đơn vị nào cũng cố gắng, càng nhanh càng tốt để vào Dinh Độc Lập đầu tiên.

Hướng của sư đoàn tôi ào ào xông lên là vì thế.

Sư đoàn tôi cũng muốn là người cắm cờ đầu tiên.

Sự thật, điều đó chỉ là một phần.

Trong khi trung đoàn 46 đã bao vây chặt Long Tân thì, chiều hôm đó, pháo 130 ly được kéo đến Phú Hội.

Ở cự ly này, cách sân bay Tân Sơn Nhất 20 cây số đường chim bay.

Đó là cự ly mà pháo 130 có thể phát huy được hỏa lực.

Về sau này tôi mới biết, đây là sự điều động pháo có nhìn lớn.

Chỉ có thế, ta mới khống chế được không quân của địch, tạo điều kiện cho tất cả các cánh quân tiến vào Sài Gòn thuận lợi, ít tổn thất.

Trong cuốn "Đại Thắng Mùa Xuân" của đại tướng Văn Tiến Dũng đã nói rõ việc chỉ thị cho quân đoàn 2 làm thế nào nhanh chóng chiếm được Nhơn Trạch để đưa pháo 130 vào khống chế Tân Sơn Nhất.

Và, ngày 29/4 phải thực hiện được điều đó.

Sớm hơn một ngày thì không kịp, mà chậm hơn một ngày thì các cánh quân sẽ bị phơi áo trước không quân của địch.

Vì vậy mà sư đoàn 325 mới chọc khe qua rừng cao su, bóc bằng được Long Thành để tiến tới Nhơn Trạch.

Trong khi đó, ngày 28 và 29 cũng là ngày ta tạm ngừng tấn công để Mỹ có thể rút khỏi Sài Gòn trong danh dự.

Đêm 28/4, trung đoàn 46 đẩy nốt địch khỏi Long Tân, mở đường tiến quân vào Nhơn Trạch và Thành Tuy hạ.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng 29-4-1975, pháo 130 ly của Sư đoàn 325 dõng dạc lên tiếng.

Tiếng nổ đầu nòng rất đanh ở phía sau chúng tôi khá xa.

Đạn bay và rít lên liên tục qua đầu chúng tôi về phía tây, phía Sài Gòn.

Chưa bao giờ tôi được thấy pháo 130 bắn cấp tập và nhiều như vậy, phải đến vài trăm quả.

Ngay lúc bấy giờ, chúng tôi đã được thủ trưởng nào đó nói cho biết là đang bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Chắc hẳn các cụ quá mừng, biết là ngày chiến thắng đã đến rất gần rồi và quá phấn khích nên cũng chẳng giữ gìn bí mật gì mà chia sẻ hiểu biết của mình với lính tráng để được vui chung.

Lúc đó, chúng tôi không biết là bắn vào sân bay có hiệu quả không.

Nếu chỉ bắn theo tọa độ thì có thể chỉ trúng khu vực thôi.

Có ai là trinh sát để chỉnh pháo không ?

Lính tráng được chứng kiến trận bắn pháo đều thấy tưng bừng, hả hê.

Chúng tôi không biếtt chính xác pháo đặt ở đâu nhưng đoán là pháo chưa qua khúc quẹo có chiếc cầu nhỏ ở Phú Hội vì có thể xe xích kéo pháo không dám kéo pháo qua ?!

Việc 130 bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất thực ra không khó đoán.

Vì Sài Gòn là thành phố đông dân cư, pháo chiến lược bắn tầm xa, độ tản mát lớn không thể bắn vào chỗ nào khác trong thành phố được.

Sau trận pháo kích cấp tập, thỉnh thoảng 130 lại cầm canh vào Tân Sơn Nhất.

Ngoài việc bắn pháo ra.

Hướng của chúng tôi có vẻ rất yên tĩnh.

Tầm bảy tám giờ sáng, rất nhiều F4 của hải quân Mỹ bay ầm ào trên trời, rất thấp, hết tốp này đến tốp khác.

Chúng lượn vòng ngay trên đầu chúng tôi.

Lúc đầu chúng tôi không hiểu là chuyện gì.

Sao chúng nó bay nghênh ngang thế mà pháo 37 của ta không thấy lên tiếng ?

Lại một "cụ" nào đó nói với chúng tôi:

- Mỹ nó bay hộ tống cho việc rút quân đấy.

Chúng mày có thích xem Mỹ nó rút quân thì trèo lên đồi kia

mà xem.

Cao xạ được lệnh không bắn máy bay Mỹ.

Mấy thằng A72 ngứa tay cũng phải nhịn (A72 là tên

lửa phòng không vác vai tầm nhiệt).

Có lẽ "các cụ" được phổ biến mà "các cụ" còn nghe cả BBC và Tiếng Nói Hoa Kỳ nữa.

"Cụ" nào chả thế.

Chúng tôi trèo lên cái đồi nằm bên trái đường đi Nhơn Trạch và nhìn về thành phố.

Vướng rất nhiều đồi ở phía trước nên chúng tôi không nhìn rõ máy bay đáp xuống chỗ nào trong thành phố.

Nhưng, một cảnh tượng thật là hoành tráng mà chúng tôi chưa bao giờ được thấy.

Không biết cơ man nào là máy bay trực thăng, như, một bầy ong vỡ tổ, những cái bay lên, bay xuống, lượn vòng, ào ạt, nhao từ phía nam tới rồi khi cất lên lại lao về phía nam (phía biển).

- Kinh quá nhỉ, cứ như một đàn ruồi ý nhỉ !

- Nhiều thật đấy !

- Thì Mỹ nó rút mà lại.

- Có khi có cả trực thăng của không quân ngụy.

- Thì ngụy nó cũng chạy chứ !

Sau này nhiều lần xem các loại phim Mỹ tôi cũng chưa thấy lần nào có nhiều máy bay trực thăng như thế.

Chúng tôi đứng xem Mỹ rút bằng trực thăng rất lâu.

Chắc trực thăng bay ra tàu đổ người xuống rồi quay lại Sài Gòn đón đợt khác.

Ai nấy đều hiểu rằng cuộc chiến sẽ chỉ còn ngày một ngày hai nữa tôi.

Bình minh sắp đến rồi.

Trong lòng ai nấy đều rộn ràng.

Thoáng qua một ý nghĩ, có thể mình sẽ được chứng kiến giây phút đó.

Hay là, ai sẽ ngã xuống trên đường từ đây đến, trước lúc bình minh !

Dù có bất chợt nghĩ như vậy, thảy không một ai chùn bước.

Đang xem hay thì có người gọi đích danh tôi và những ai ở a2 về chuẩn bị xuất kích. a2 chỉ có Vương Lâm là lính cũ, còn lại toàn các em nhập ngũ bảy tư.

Lúc này đây, ai là trinh sát cũ hay mới không còn quan trọng nữa.

Cứ tiến lên, đụng vào đâu thì địch ở đó, chẳng cần phải nghiệp vụ hay dầy dạn chiến trận.

Chúng tôi được lệnh bám theo bộ binh 46.

Họ sắp tấn công vào Nhơn Trạch và Thành Tuy Hạ.

Khi họ qua được đó, chúng tôi sẽ phải vượt lên trước để trinh sát cho trận đánh sớm hôm sau.

Khoảng 2 giờ chiều, pháo cối của trung đoàn bắn vào quận lỵ Nhơn Trạch.

Xe tăng đã nổ máy và đang tiến lên cùng bộ binh.

Rút kinh nghiệm trận Long Thành.

Lần này xe tăng vừa tiến vừa bắn 12 ly 7 về phía địch.

Không những thế, những vị trí được cho là có địch, pháo tăng không nề hà gì, cứ tương thẳng cánh.

Ở Long Thành, sợ phá hỏng nhà dân nên pháo không bắn, xe tăng bị địch bắn cháy hai chiếc.

Bây giờ pháo bắn tất, triệt hạ các ngôi nhà mà địch cố thủ trong đó.

Tất nhiên trong nhà không có dân vì dân đã tùy nghi đi ẩn náu ở đâu đó rồi.

Pháo cối, pháo tăng, B40, 41 bắn không tiếc đạn.

Một cảnh phố xá tan hoang, nhà cửa tả tơi khi chúng tôi đi qua Nhơn Trạch.

Đồ đạc quân dụng, cả súng đạn, quân phục, giầy, mũ lính vứt tung tóe dọc đường chúng tôi chạy qua.

Cuộc tiến quân quá nhanh chóng và người rút chạy còn nhanh hơn.

Lính địch bỏ chạy theo đường LTL25, chạy bến phà Cát Lái hoặc chạy ra các bến nước trên sông Đồng Nai.

Họ lấy thuyền của dân để vượt sông.

Cũng có người quẫn quá phải bơi bộ qua sông.

Đoạn sông chỗ phà Cát Lái rộng mênh mông, tới 800 mét.

Nhiều lính trút bỏ quần áo, súng ống chỉ để lại trên người mỗi cái xà lỏn.

Họ chạy tản ra các cánh đồng hay vào trú trong các nhà dân ở sâu trong xóm.

Cũng rất nhiều lính mặc xà lỏn, tay cầm vải trắng xin hàng.

Anh em bộ binh phải trói các tù binh rồi cử người dải về phía sau.

Đến lúc có quá nhiều tù binh thì không ai bị trói nữa.

Họ được thả, cho về quê.

Chập tối thì chúng tôi vượt qua Thành Tuy Hạ.

Trời nhanh tối quá, đường tối thui, chúng tôi phải dùng đền pin để soi đường đi.

Lúc này xe tăng đã dừng lại và chạy chậm ở sau chúng tôi khá xa.

Có năm bảy tù binh được thả đang đứng chần chừ hai bên đường.

Tôi soi đèn và hỏi rất to:

- Anh em được cho về nhà hả ?

Sao không đi mà còn đứng đây ?

- Các ông giải phóng cho chúng tôi được xem T54 đã !

Chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy T54.

Thì ra là như vậy.

Bọn lính ở quanh khu vực Sài Gòn thường là những đứa con ông cháu cha hay những đứa có nhiều tiền chạy chọt.

Chắc họ chưa phải ra trận và chưa nhìn thấy T54.

Lúc đó tiếng T54 đang gầm rú rất lớn ở phía sau.

Kể cũng lạ, mấy thằng lính thất trận, được thả cho về còn "máu" ở lại để xem xe tăng.

Không biết từ đâu mà họ có thể tin tưởng quân giải phóng.

Sao họ không lo sợ, nhỡ có sự đổi ý, sẽ bị bắt lại hay bị đánh đập, thậm chí có thể bị bắn giết ?!

Từ đây đến bờ sông Đồng Nai chỉ còn khoảng dăm cây số.

Qua hết Thành Tuy Hạ là cánh đồng trống.

Trung đoàn 46 và xe tăng đã dừng lại.

Mấy thằng lính trinh sát a2 của chúng tôi đang mò mẫm tiếp tục tiến lên.

Khi chúng tôi đang tạm dừng để nghỉ thì thấy ánh đèn pịn loe lóe ở phía sau.

- Ngồi chờ đây xem ai đang đến đã.

- Chắc là trinh sát trung đoàn đấy.

Khi toán người đến gần, tôi hô:

- Ai đấy ?

Phải trinh sát 325 không ?

- Ừ !

TíchTườngNhưLệ hả ?

- Anh Thắng hả ?

Thì ra là quân mình.

Toán ông Thắng được cử đi sau chúng tôi nhưng anh em không phải chờ bộ binh đánh nhau nên đã bắt kịp chúng tôi.

- Chắc các bọ thấy bọn tôi không có điện đài thì trinh sát cũng chả được tích sự gì nên mới cử bọn

anh đi tiếp.

Đúng không ?

- Bọn ông đi rồi, anh Nhạ mới giật mình nghĩ ra không có điện đài.

Nhưng tôi biết các ông cũng không

thể đi nhanh được nên chiều muộn bọn tôi mới xuất phát.

- Hôm nay nóng qua anh ạ.

Bây giờ ra đây mới có tí gió.

Anh ăn cơm chưa ?

- Rồi !

- Thế bọn tôi chén cái đã, cơm nắm từ trưa đây.

Chỉ khát nước thôi anh ạ.

Bây giờ mới thấy đói.

Có gì mới không anh ?

- Có đấy !

- Gì thế ?

- Chuẩn bị vượt sông.

Sau ngày 30/4, Hồng và tôi được cử đi làm hồ sơ Thành Tuy Hạ và chi khu Long Thành.

Chuyện Long thành đã kể ở trên.

Ngay khi làm hồ sơ Thành Tuy Hạ, tôi cũng không biết rằng cái kho này là kho bom đạn lớn nhất miền nam.

Lúc đó, tôi vẫn nghĩ tổng kho Long Bình mới là nơi chứa nhiều bom đạn nhất.

Về sau này tôi mới biết thông qua các tài liệu.

Nhưng các tài liệu này rất hạn chế vì sau này kho được giao cho cục hậu cần quản lý nên mọi chuyện kho bom đạn này lại thành bí mật, không ai được viết kỹ nữa.

Chuyện kể rằng, kho này được xây từ thời Pháp.

Sau đó, dưới thời Mỹ, nó được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng và được đổi tên thành "căn cứ Phan Bội Châu".

Tuy vậy, mọi người vẫn cứ gọi nó là Thành Tuy Hạ.

Người ta cũng kể lại, Thành Tuy Hạ được bảo vệ rất cẩn mật, với 14 lớp hàng rào, có lớp cao đến hai mét rưỡi.

Hệ thống phòng thủ được chia làm 3 tuyến, mỗi tuyến đều có lô cốt, hầm hào và chướng ngại vật.

Khoảng 100 con bẹcgiê và lính tuần phòng liên tục.

Ngoài ra, còn có giang thuyền rà soát ngày đêm trên sông, lại còn có căn cứ hải quân Cát Lái quan sát, canh chừng.

Rồi chuyện đặc công Rừng Sác đã mấy lần đánh kho bom này làm rung chuyển cả Sài Gòn.

Cũng rất nhiều anh em đặc công bị hy sinh, ghi danh tại đền thờ Nhơn Trạch ngày nay.

Mỹ đã thả bom xuống ngã ba Giồng Sắn và Ông Kèo, tàn sát 536 người dân vô tội.

Mặc dù là người trực tiếp làm hồ sơ nhưng tôi biết ít hơn thế nhiều.

Vả lại, lâu ngày quá, quên gần hết.

Hơn nữa những thứ đi làm lại sau trận đánh, bao giờ tôi cũng cho ra ngoài bộ nhớ ngay sau đó.

Thôi thì còn nhớ gì kể nấy vậy.

Chiều 30/4, từ Sài Gòn, chúng tôi được xe chở về căn cứ Cát Lái.

Xê Hai Mươi Trinh Sát và Xê Hai Sáu Xe Cộ được đóng ở Cát Lái.

Sau đó vài ngày thì tôi được giao đi làm hồ sơ Thành Tuy Hạ và Long Thành.

Hai thằng đi đò qua sông, rồi đi thẳng đến Thành Tuy Hạ.

Đêm 29/4, chúng tôi đã đi qua đây nhưng không vào bên trong mà chỉ đi bên ngoài.

Trời lại tối nên không nhìn thấy gì bên trong đó.

Vả lại, bị trường rào che khuất hết, nhìn gì được.

Bây giờ đến nơi mới thấy, tường xung quanh Thành Tuy Hạ không phải tường xây mà hoàn toàn làm băng tôn.

Những tấm tôn dài, dựng đứng, cao trên hai mét.

Phía bên trong có trụ đỡ cao vượt trên tôn khoảng 1 mét.

Trên đó căng dây thép gai thường kết hợp với thép gai bùng nhùng.

Để ý kỹ còn thấy có hai đường dây điện trần căng trong đám thép gai đó.

Hai thằng tôi nhìn thấy cái tường này đều thất kinh.

Từ cha sinh mẹ đẻ cái nghề mò mẫm, chưa ai dậy chúng tôi vượt tường bằng tôn hốn hợp với thép gai và được ướp điện.

Chuyện 11/12/1972, đặc công vào ém 24 khối chất nổ C4, lúc đó chỉ có hàng rào kẽm gai (14 lớp).

Hai thằng lắc đầu ngán ngẩm.

Tôi hỏi Hồng:

- Này, nếu phải vượt qua hàng rào này thì làm thế nào ?

- Chắc chỉ có cách bắc thang.

- Thế, lên đến nơi, điện nó giật chết thì thành chả nướng à ?

- Ừ Nhỉ.

- Mới lại, ông động vào tôn, nó kêu pheèng pheèng thì có mà, . . .

"lạy cụ, tôi đây !"

- Thế ông bảo phải làm thế nào ?

- Thì ông cứ đứng ngoài này, chắp tay vào mà vái "Con lạy bố ạ !"

- Ừ !

Hàng rào này hiểm thật đấy.

Hai thằng vào bên trong qua cổng, đi thu thập hồ sơ mà trong đầu vẫn lởn vởn câu hỏi "Làm thế nào để vượt qua cái rào tôn ?"

Bất thình lình tôi reo lên, chỉ đúng một từ.

Rồi hai thằng khoái chí lắm vì từ nay thêm một ngón nghề trinh sát mới, ngón vượt qua tường tôn.

Cách mà chúng tôi nghĩ ra, chưa chắc là cách duy nhất mà cũng chưa chắc là cách hay nhất.

Tôi hô lên một tiếng "Đào".

Nhưng mà đào thì làm sao xóa dấu vết đây ?

Thực ra thì đất ở trong căn cứ Thành Tuy Hạ cao hơn xung quanh một chút.

Vì vậy trong "thành" vẫn có cống rãnh thoát nước mưa và nước sinh hoạt trong căn cứ.

Chỉ có thể lợi dụng trời mưa gió mà đào địa đạo qua tường tôn ở gần rãnh nước.

Kỹ thuật xóa dấu vết phải giống như khi đào hầm bí mật.

Đồng thời, khi đã vào được bên trong, sẽ quan sát địa hình để xem có thể ngụy trang như thế nào cho phù hợp.

Chẳng hạn như rãnh có nhiều rác rưởi cây que trôi dạt hay gỗ rều, . . ..

Khi địa đạo đã qua tường rồi thì làm sao để mở một cửa ở bên trên để chui lên.

Việc này thì chúng tôi sẽ áp dụng kiểu nắp hầm bí mật. sẽ phải có một tấm ván hình chữ nhật có diện tích sao cho người có thể chui qua.

Đào moi từ dưới lên, khi ước lượng còn cách mặt đất khoảng 20 xăngtimét thì đỡ tấm ván phía dưới và sắn đất xung quanh ván theo dạng vát, loe ra như mô tả ở hình dưới.

Được một cái nắp hầm bằng đất liền thổ với xung quanh.

Đẩy nắp lên và chui ra.

Khi nào rút thì chui xuống và đậy nắp lại.

Nếu có lá rụng hoặc cây cỏ thì tự nó ngụy trang rồi.

Mà trời mưa thì càng tốt.

Sau khi đậy nắp, tốt nhất là dùng các thanh đỡ nắp hầm, đề phòng địch dẫm phải cũng không bị sập.

Vậy là có một con đường bí mật có thể ra vào nhiều lần.

Nói thì dễ thế nhưng không khéo, có thể bị lộ ngay từ lúc đào hay là sau khi mình rút ra lần đầu để lại dấu vết.

Nếu vậy thì . . .

"hết phim".

Chó bẹcgiê là một vấn đề.

Có thể trời mưa to nó không nghe tiếng và địch ít đi tuần hành nhất là đoạn cống rãnh.

Nhưng chó nó đánh hơi thì thính vô cùng.

Vụ chó, chúng tôi đã được học, phải ngâm mình, cả đầu tóc trong bùn đủ thời gian để hết hơi người, xong phải giã tỏi mà bôi khắp người nữa.

Có người còn bảo lấy rượu cao hổ cốt mà bôi thì giống chó sẽ sợ.

Chuyện này không biết có thật không.

Người thì bảo đúng, người thì bảo có lần đưa xương hổ dọa chó, nó chẳng sợ mà còn liếm láp nữa mới chết.

Xê Hai Mươi chúng tôi chưa bao giờ phải luồn vào đâu có chó cả nên chưa có thực tế.

Việc đầu tiên khi vào Thành Tuy Hạ, Hồng và tôi đi lục hồ sơ tài liệu.

Cả căn cứ rất rộng chỉ có hai thằng.

Đã có kinh nghiệm, chúng tôi sục vào ngay căn nhà lớn hai tầng (hay ba tầng – bây giờ không nhớ) mái ngói kiểu cổ cổ.

Đây là sở chỉ huy.

Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã tìm được đủ hồ sơ gồm bản đồ chi tiết tất cả các kho, tất cả các bố phòng trong căn cứ.

Giống như ở sân bay Phú Bài.

Tài liệu ở đây vẫn còn nguyên vẹn.

- Xong việc rồi đấy ông ạ !

Bây giờ đi chơi thôi.

- Ừ !

Căn cứ địch thì có gì hấp dẫn đâu.

Chúng tôi chỉ sục vào khu vực có một cái cổng đề "Khu Gia Binh".

Đây là khu vực dành cho gia đình các sỹ quan trong căn cứ.

Đó là các nhà một tầng, mái tôn, có trần chống nóng.

Mỗi gia đình được ở một gian khá chật hẹp.

Đồ đạc vứt lung tung, ngổn ngang.

Chắc khi bỏ chạy, người ta chỉ lục đồ và mang theo những gì quí nhất.

Trong một phòng, có lẽ có trẻ con, tôi nhìn thấy quần áo trẻ.

Trên xích đông treo tường còn có đường và sữa bột.

Mấy cái hộp sữa Guigo.

Loại sữa này bây giờ không thấy.

Đó là loại sữa có hộp cao bằng nhôm sáng lượn sóng .

Loại này ở Hà Nội có từ thời Pháp.

Sau năm 54, nhà tôi vẫn còn dùng mấy cái hộp đó để đựng đường đến mãi về sau này.

Nắp nhôm rất khít, đường không bị chảy nước.

Thằng Hồng thấy trong tủ ly cái ảnh nổi.

Ảnh một cô gái.

Khi nghiêng qua nghiêng lại thì mắt cô gái nhấp nháy.

Nó thích lắm và cho luôn vào trong gùi.

Không biết ở phòng nào, chúng tôi lục cái tủ gỗ hai buồng.

Nói chung chỉ xem, chẳng có gì đáng lấy.

Hai thằng mải lục, lúc ngẩng lên, định đóng cánh tủ thì giật mình.

Trời ! một tấm hình cô gái đẹp, chụp chính diện, dán bên trong cánh tủ.

Cái ảnh rất to, gần bằng người thật.

Chết nỗi, cô gái không có một tẹo vải nào trên người.

Hai thằng ngắm nghía giờ lâu:

- Kinh nhể !

- Kinh quá !

Chắc phòng này của hai thằng độc thân mày ạ.

Mà này, còn khối họa báo đây này.

Tôi không nhớ là họa báo gì, toàn hình khỏa thân.

Hai thằng xúm lại giở hết từng trang họa báo.

Không thằng nào nói được một tiếng.

Tôi muốn nuốt nước bọt quá mà thằng Hồng nó nghe thấy thì ngượng chết.

Không biết nó có thế không ?

Nếu không có thằng Hồng, không biết tôi có thủ một cuốn vào trong gùi không.

Xem xong, hai thằng lẳng lặng sang phòng khác, không ai bàn tán gì.

Cái khu gia binh này bẩn cực kỳ, từ trong phòng cho đến bên ngoài.

Đồ đạc tung tóe đã đành mà tường cũng bẩn và ẩm thấp, muỗi đầy trong các góc tôi, ruồi rất nhiều đang bâu vào những đồ ăn vương vãi.

Rãnh thoát nước cũng bẩn, đầy rác rưởi và ruồi muỗi.

Trong thành cũng có chỗ nước đọng lâu ngày sau mưa, nhiều rác rưởi, . . .

- Thôi ông ơi, ra khỏi đây đi, bẩn quá.

Sau này, Xê Hai Mươi có ít ngày đóng quân trong Thành Tuy Hạ, làm vệ sinh rất cẩn thận thế mà đơn vị bị dịch sốt.

Rất nhiều người dính bệnh.

Khi chúng tôi chuyển về căn cứ Nước Trong rồi vẫn còn một số anh em phát bệnh.

Một y tá của đại đội mất vì bệnh dịch này ở đó.

. . . (hết chuyện XXI)

CHUYỆN XXII ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG LÒNG SÀI GÒN Cùng cơ quan, tôi quen biết anh đã ba mươi năm nay, chúng tôi đều là những cựu chiến binh thời chống Mỹ.

Tuy vậy chưa lần nào chúng tôi nói chuyện với nhau về những ngày đó.

Hôm nay, rỗi việc, tôi rẽ qua phòng anh, gọi là, cựu binh lâu ngày gặp thì chào hỏi nhau một tí.

Anh vừa pha nước vừa hỏi:

- Sao hôm nay lại rỗi việc thế ?

- Ừ ! nghe nói anh có chè ngon, ghé vào xin chén.

Chúng tôi cùng cười xòa lên.

Dăm ba câu chuyện về tình hình cơ quan.

Cũng chả có gì mới.

Rồi tôi hỏi:

- Này bố đi lính, chắc lính cậu, toàn ở ngoài Bắc à ?

- Đâu có, tôi cắm ở bê hai bốn năm đấy bố ạ.

- Ở đâu ?

- Củ Chi.

- Ồi ! thế thì ghê đấy !

Bây giờ tôi tua lại cái "băng ghi âm" để anh em cùng nghe.

Không tua lại ngay, khéo "cái máy ghi âm" này nó không nhớ được lâu, rồi rơi vãi hết.

Máy cũ rồi, chóng quên lắm.

Anh tên Hà, nhập ngũ năm 1970 sau khi tốt nghiệp lớp 10 (hệ 10 năm – đúng hơn là hệ 11 năm, kể cả "vỡ lòng").

Từ năm 1971 đến 1976 anh chỉ đóng quân tại một chỗ.

Đó là Củ Chi, một địa danh nổi tiếng với tên gọi "Đất Thép Củ Chi".

Một nơi khá gần Sài Gòn và Biên Hòa.

Hỏi chuyện anh, anh kể:

- Tôi may mắn, suốt từ 1971 đến 30/4/1975, chỉ vài lần chứng kiến súng nổ.

Chúng tôi sống

ở Củ Chi hòa bình lắm.

- Lạ nhỉ ?

Tôi thì nghe nói vùng Củ Chi ác liệt lắm.

Địch nó càn ghê lắm mà.

Bây giờ địa đạo

Củ Chi là chứng tích nổi tiếng.

Làm sao có chuyện hòa bình được.

- Ấy, thế mới là chuyện.

Chúng tôi không ở vùng địa đạo đó mà ở vùng giáp ranh, cài răng lược.

Ban ngày là của địch, ban đêm là của ta.

- Thế anh là lính hay cơ quan dân chính của Trung Ương Cục ?

- Bộ đội chứ !

- Thế không phải choảng nhau trận nào à !

- Ừ !

đã bảo tôi may mắn mà.

- Thế thì lính tráng làm gì vậy ?

- Tôi ở hậu cần.

- Gọi là đơn vị gì thế ?

- Chính xác là c25/Y83 cục hậu cần miền.

- Y là gì thế ?

Còn miền là thế nào ?

- Ờ thì cứ gọi tắt như thế, ở trong đó chúng tôi gọi Y là tiểu đoàn cũng như d hay k thôi.

Còn

cục này thuộc tổng cục hậu cần.

- À, ra thế.

Bọn anh lo súng đạn, gạo mắm cho anh em.

- Súng đạn thì tôi cũng không rõ nhưng gạo này, đường này, muối này, đồ hộp này, nhiều thứ

lắm, . . . .

- Thế các thứ đó mình vận chuyển ở Tây Ninh về à !

- Ai lại thế !

Mình vận chuyển từ Sài Gòn ra chứ.

- Ồ !

Hay lắm ! thế thì anh phải kể chuyện cho tôi nghe rồi.

- Chuyện của tôi bình thường lắm.

Tôi cũng chỉ làm bảo vệ cho việc vận chuyển thôi.

- Hay chứ, chuyện này chắc phải gọi là "Đường Hồ Chí Minh trong lòng Sài Gòn".

Anh biết đấy,

có "Đường mòn Hồ Chí Minh trên Trường Sơn", rồi "Đường Hồ Chí Minh trên biển".

Đường nào cũng

là một thiên tráng sử đấy.

Đường của các anh có ác liệt không ?

- Ở đâu thì tôi không biết, chứ ở chỗ chúng tôi hòa bình lắm.

- Ông bảo ở Củ Chi, chính xác là ở chỗ nào thế ?

- Phú Hòa Đông.

- Vùng này tôi đã xem bản đồ cũ của Mỹ thấy nhiều rừng cao su lắm.

- Không, chúng tôi ở chỗ rừng cây tự nhiên lúp xúp chứ không ở trong rừng cao su.

Ở nhà tôi đã "đao" trên mạng xuống rất nhiều bản đồ.

Oái oăm, cái chỗ này nằm giữa bốn mảnh bản đồ.

Từ bốn mảnh đó, tôi cắt mỗi mảnh một góc và ghép lại.

Tạm thành cái bản đồ mà Củ Chi là trung tâm.

Phía tây bắc là Trảng Bàng, đông bắc là Phú Hòa (Bến Cát), đông nam là Gia Định – Sài Gòn, tây nam là Khiêm Cương (Bàu Trai).

Xã Phú Hòa Đông hiện nay nằm trong vùng có khoanh đỏ.

Không biết trước đây rộng hay hẹp hơn.

Phú Hòa Đông nằm giáp sông Sài Gòn, có thể thuận tiện cho việc vận tải trên sông.

- Cài răng lược là thế nào ?

- Vùng chúng tôi ở là vùng của ta.

Các đồn bót của địch cũng ở khá xa.

Giữa vùng ta và đich có một vùng trống.

- Gọi là "vùng đệm".

- Gọi thế cũng được.

Cơ mà vùng này ban ngày là của địch.

Chúng nó từ trong đồn vẫn hành quân kiểm soát.

Dân

vẫn đi làm ăn buôn bán hay trồng trọt gì đó, bình thường.

Ban ngày thì mình chả đi vào đó làm gì.

Nhưng chiều

đến, chúng nó rút hết về đồn.

Tối đến thì chúng nó giới nghiêm, không cho ai qua lại nữa.

Chờ tối hẳn thì mình

muốn đi vào đó cũng không sao.

- Thế , mình vận chuyển hàng từ Sài Gòn vào chiến khu như thế nào ?

- Thế này nhé !

Mình đưa tiền nhờ dân nhờ dân người ta về Sài Gòn mua hàng hóa rồi bán lại cho mình.

Đêm là họ

chở hàng ra cho mình.

Chuyện đơn giản !

- Sao lại thế ?

Chở hàng cho Việt Cộng lãi lờ được bao nhiêu mà bị lộ thì sao chứ ?

- Bị lộ thì nó bắn chết chứ lị.

- Thế thì không phải là họ bán hàng ăn lãi đâu, mà chắc là cơ sở của mình hoạt động, mua hàng tiếp tế cho bộ đội.

- Ừ !

Chắc là thế.

Nhưng tôi ở đó 4 năm chưa ai bị bắn cả.

- Nhưng mà, chả lẽ mua nhiều hàng, đi lại như thế địch nó lại không có nghi vấn gì ?

- Tôi chả biết.

Nhưng cũng có thể chúng nó biết mà không làm gì.

- Sao lại thế ?

- Thì ông tính, trong làng, nhà nào theo Việt Cộng, nhà nào theo Qốc Gia, có nhà vừa Việt Công vừa Quốc Gia ai

mà chả biết.

Mà họ vẫn sống bình thường với nhau, chứ có gì đâu.

Chuyện đơn giản !

Việc gì mà phải bắn nhau.

- Người làng thì không nói làm gì.

Thế còn quân đội, còn cảnh sát.

Còn các trạm kiểm soát, thấy kìn kìn chở hàng

về phía tây thì nó phải nghi ngờ chứ ?

- Chẳng biết nữa.

- Hay là bọn nó cũng được ăn chia và làm bảo kê luôn.

- Có lẽ thế.

Chuyện này tôi không biết đâu vì tôi chỉ đi để bảo vệ hàng thôi.

Chuyện đơn giản !

Có lẽ tôi làm cho cái đầu đơn giản của Hà thêm rắm rối.

Hay là, chuyện vốn dĩ nó đơn giản thật ?

Tôi hơi thất vọng vì người thực, việc thực suốt 4 năm trời mà hắn cũng không nắm được nhiều chuyện liên quan.

Cầm súng bảo vệ thì chỉ biết bảo vệ.

Chả lẽ hắn không hỏi han gì người dân hay anh em hậu cần về việc nhập, xuất hàng ra sao.

Liệu có phải mọi chuyến đi đều đến đích hay là bị địch chặn phá, tịch thu và bắt người, . . .

Tôi lảng qua chuyện khác:

- Thế mấy năm ở gần dân như thế, có cưa cẩm ẻm nào không dzậy ?

- Vùng này xấu mù à, vừa quắt vừa đen.

- Anh nói bậy rồi.

Tôi khẳng định với anh, ở vùng nào cũng có người đẹp hết, chẳng đâu là không có.

- Ừ ! nhưng tôi không gặp người.

Đơn vị tôi sau này ra quân cũng có một ông đưa cả bố mẹ quay lại

đấy xin cưới một em.

Mỗi trường hợp đó.

- Thế các ông bảo vệ thì làm gì ?

- Này nhé, cỡ hai ba giờ chiều thì bọn tôi mò ra, ém lại, theo dõi địch nó rút thế nào, có gài mìn hay

phục kích gì không.

Nếu không có gì thì đợi tối hẳn mình sẽ đi theo đường đến điểm hẹn với dân để

đón hàng.

- Đường là đường lớn á ?

- Không, đường ruộng thôi.

Nhưng ở trong ấy đường ruộng xe bò đi được.

Dân họ vẫn dùng xe bò ra

ruộng đi làm hàng ngày mà.

Mà xe bò ở vùng này to, đường ruộng rất rộng, xe đi thaỏi mái.

- Thế nếu địch nó chốt lại thì làm sao ?

- Thì về thôi.

Chuyện đơn giản !

Có khi cả tuần đi đi về về chả được chuyến nào.

- Tôi hiểu rồi, mình nắm địch rồi xuống điểm hẹn với dân.

Nếu không thấy mình đến đón thì dân tự hiểu

là hôm đó không đi được.

Thế nhận hàng của dân rồi thì chuyên chở thế nào ?

- Thì vẫn thuê dân họ chở xe bò đi tiếp đến tận kho hàng của mình chứ.

Chuyện đơn giản.

- Thế họ có về kịp trong đêm đó không hay phải ở lại.

- Ồ !

Chuyện đơn giản.

Ngày nào họ chả đi làm.

Hôm đó họ chở hàng, rồi hôm sau họ làm luôn, chiều

về bình thường.

Ai mà biết được họ đi làm bình thường hay đi chở hàng.

Nge Hà nói, mọi chuyện thật đơn giản.

Quân lương được tiếp tế lấy từ trong lòng địch ra.

Cứ thầm lặng mà đi, không kèn không trống.

Không có chuyện đánh chặn, mất của, hy sinh người.

Vấn đề còn lại là cần phải có tiền.

- Nhưng mà anh lúc nào cũng nói thuê.

Chở tiếp tế cho Việt Cộng có thể bị phục kích, bị mìn, mất mạng.

Tôi nghĩ, vì tiền thì người ta chả làm đâu.

- Ừ ! thực ra thì tôi cũng không biết hậu cần họ nhờ dân như thế nào.

- Thế một đêm mấy chuyến xe bò như vậy ?

- Một chuyến thôi bố ạ !

Có khi hai chiếc xe, nhưng thường chỉ có một chiếc.

- Thế ngày nào cũng chở như thế à ?

- Tuần vài chuyến.

Hai chuyến, ba chuyến, cũng tùy.

- Thế, hàng này mình chở đến đâu.

- Thì chở đến kho của hậu cần.

Kho thì nằm rải rác khắp nơi.

Nhưng mà gần sông Sài Gòn.

Từ kho đấy,

mới đưa hàng xuống thuyền mà chạy ngược sông vào sâu trong vùng mình.

- Tôi thấy cách này hay thật đấy.

- Thì thế chứ, ai lại chở từ Bắc vào, vận tải tốn kém, lại còn bom đạn nữa chứ.

- Nói thật, tôi vẫn thấy lạ.

Làm sao mà địch nó không biết.

- Chắc là nó cũng biết.

Nhưng chắc nó cũng được ăn chia rồi.

Bọn nó ăn tiền bảo kê như ông nói ấy.

- Này, thế ngoài chỗ anh làm thế, còn chỗ nào khác không ?

- Tôi không biết.

Nhưng chắc phải còn nhiều chỗ khác nữa chứ.

Nhưng mà chỗ tôi, hay một cái là rất

"hòa bình" nhé.

Bản thân tôi, 4 năm chưa phải nổ súng lần nào.

- Thế địch nó có bao giờ càn tới chỗ anh không ?

- Chưa bao giờ, thế mới hay chứ.

Mới lại, nó mò ra vùng mình thì nó cũng sợ chết chứ.

Cho nên chẳng

đứa nào nó dại gì.

- À, thế có khi nào chở súng đạn không ?

- Không biết.

Tôi chỉ biết bảo vệ thôi.

Nhưng chắc có thể có.

Có thể mình cũng dùng tiền mua luôn vũ

khí lậu của địch.

Thì ngay như bọn tôi đây cũng có M79 cơ mà.

- Thế vũ khí các anh được trang bị gì ?

- Chuyện đơn giản !

Bọn tôi chỉ có tiểu liên, đến trung liên, B40, B41 với M79 là hết.

Tôi cứ ngẫm nghĩ chuyện của Hà.

Đúng là con đường "tiếp lương tải đạn" này lợi hại thật.

Ngon lành, không hao tổn xương máu và thất bát vật chất nhiều.

Có lẽ lính VNCH ở gần Sài Gòn chỉ mải làm ăn, cứ có tiền là làm tất kể cả tiếp tay cho đối phương.

Ngược lại, việc chính là đánh nhau, tìm diệt Việt Cộng thì không chịu làm.

Triết lý thật đơn giản, đánh nhau chẳng được lợi lộc gì, không khéo thì mất gáo.

Vậy thì, tội gì mà phải đánh . . .

Cái lão Hà này, tôi vẫn tưởng là lính cậu nằm ở ngoài Bắc vì trông lão bảnh bao và ung dung lắm, không thấy cái vất vả hay tất bật như thường thấy ở những thằng lính chiến.

Lão nói, chỗ lão "hòa bình lắm".

Thành ra tạo cho con người lão như vậy cũng phải.

Câu chuyện trên hoàn toàn tôi không phải lục lọi trí nhớ, "máy ghi âm" hóa ra còn tốt, đảm bảo không bỏ xót chi tiết nào.

. . . (hết chuyện ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG LÒNG SÀI GÒN)

CHUYỆN XXIII VƯỢT SÔNG ĐỒNG NAI - TIẾN VÀO SÀI GÒN

Đêm 29/4/1975

Quãng nửa đêm, đại quân từ phía Thành Tuy Hạ ùn ùn kéo tới.

Trung đoàn 101, trung đoàn 46, trung đoàn 18, rồi xe tăng và rất nhiều xe chở lính.

Cuối cùng là xe kéo pháo 85, 105 và pháo cao xạ 37 ly.

Con đường trở nên ùn tắc.

Người, xe, tăng pháo rùng rùng chuyển động.

Tôi không còn phân biệt được đơn vị nào với đơn vị nào.

Tất cả đều kéo về phía bờ sông.

Khoảng 3 giờ sáng, tôi thấy sư trưởng Tâm, trưởng phòng tham Mưu Ngoan từ những chiếc xe Commăngca cũng đã tới ven sông.

Pháo 85 và pháo cao xạ 37 ly được dàn hết ra bờ sông để bắn thẳng qua sông sang bờ bên kia.

Tất cả các đơn vị đều rộn rịch chuẩn bị vượt sông.

Đêm tối, chưa nhìn được bờ sông bên kia.

Chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy những ánh đèn lốm đốm sáng của các căn nhà.

Nổi bật nhất là mấy cái tàu chiến của địch đang đậu ở căn cứ Cát Lái.

Các cửa sổ nhiều tầng của các con tàu hầu hết đều có ánh đèn.

Không biết địch đang làm gì.

Liệu có phải chúng tập trung tàu và dùng hỏa lực mạnh của các tàu để chống trả cuộc vượt sông của chúng tôi.

Hay là chúng vẫn không hay biết gì bờ bên này, hay là chúng đang lục tục chuẩn bị tháo chạy.

Khoảng 3 rưỡi hay 4 giờ (bây giờ không nhớ chính xác), một phân đội trinh sát được điều động.

Phân đội sẽ vượt sông trước, lập đầu cầu bên kia.

Anh Nguyễn Phẩm Hạnh, trợ lý ban 2 trực tiếp chỉ huy phân đội Anh Hạnh người Bình Định, sau này anh là người duy nhất của sư 325 về sinh sống ở Long Thành.

Thông tin có Nguyễn Đức Duyên, lính trinh sát kỹ thuật đeo PRC25 để trực tiếp đàm thoại với ban 2 và phòng tham mưu.

Tôi không biết người đối thoại trực tiếp với Duyên ở bờ bên này là ai.

Chắc chắn là một hai lính của a12 và thông tin sẽ trực tiếp đến thẳng tham mưu trưởng Ngoan.

Phân đội khoảng tám, chín hay mười người (bây giờ không nhớ rõ).

Tôi chỉ còn nhớ chính xác có Tất y tá, Quynh a trưởng a4 và tôi.

Những người khác thì nhớ không chắc chắn lắm.

Hai chiếc ghe máy của du kích sẽ chở chúng tôi qua sông trước khi trời sáng.

Tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh thủ trưởng Ngoan chạy đi chạy lại điều hành các khẩu pháo vào trận địa và trực tiếp trao đổi kế hoạch tác chiến với các chỉ huy pháo và các đơn vị bộ binh chuẩn bị vượt sông.

Tôi là một thằng rất hay để ý mọi chuyện nhưng không phải là tay nghe trộm.

Do đó tôi cũng chạy lăng xăng để xem pháo binh triển khai.

Khi đi ngang qua chỗ các thủ trưởng trao đổi với nhau tôi cố gắng đi nhanh để không nghe lỏm nội dung trao đổi.

Thật là hoành tráng.

Nếu tất cả các khẩu pháo này mà bắn trực xạ sang bờ bên kia, cách 800 mét, thì không có gì có thể chịu đựng được.

Cho dù hỏa lực của mấy cái tàu HQ2, HQ9, . . .của địch có hỏa lực mạnh đến đâu, nếu chúng không muốn tan tành thì chỉ có nước chạy.

Nói chạy là phải chạy sớm chứ muộn thì cũng tiêu.

Khống chế và dọn bờ bên kia như thế này thì chắc chắn không gì bằng rồi.

Vấn đề là làm sao đưa nhanh bộ đội sang sông để tiến vào Sài Gòn.

Đây đúng là chỗ bến phà Cát Lái.

Nhưng không có phà.

Có thể các con phà ở bờ bên kia, cũng có thể địch đã cắt phà và di chuyển đi chỗ khác.

Không biết các cụ sẽ xoay sở thế nào.

Chúng tôi cũng rất nóng ruột chờ ghe của du kích.

Rồi thuyền cũng đến nhưng còn hơi sớm.

Thời điểm chúng tôi chọn được ấn định sao cho khi đi trên sông địch không nhìn thấy rõ và tưởng là thuyền máy của dân đang chạy sang bên địch.

Chờ đợi làm cho mọi người hồi hộp và bồn chồn.

Không biết trong đầu mọi người có lo lắng không, có sợ sệt không hay là căng thẳng ? . . .

Riêng tôi, chẳng nghĩ gì, chẳng lo gì, chẳng căng thẳng nhưng rất sốt ruột.

Về sau này, sau 30/4, có lúc tôi cũng chợt nghĩ : " Biết đâu mình đã có thể chết trước lúc bình minh !".

Nghĩ vậy, bấy giờ mới thấy ghê ghê.

Mờ sáng 30/4/1975

Càng gần sáng, sương xuống càng nhiều.

Khắp mặt sông trở nên mờ ảo.

Thật là may mắn, màn sương làm cho ta và địch vẫn nhìn thấy nhau nhưng không thật rõ.

Chúng tôi vượt sông thì địch sẽ nhìn thấy nhưng sẽ không nhìn được sắc lính tráng trên thuyền.

Tại sao chúng tôi không vượt sông sớm hơn ?

Câu hỏi trong đầu mọi người dường như anh Hạnh đọc được, hay là anh thấy mọi người bồn chồn, nên nói :

- Đừng sốt ruột !

Chờ hỏa lực chuẩn bị xong đã.

Nếu có bị lộ thì mình sẽ được pháo bắn iểm trợ và khống chế

địch để tụi mình vượt sông.

Dứt khoát phải vượt sông bằng được.

Rõ chưa ?

- Rõ !

- Mọi người chú ý, khi tới bờ, nhớ bám sát nhau, tiến sát vào căn cứ Cát Lái.

Càng giữ được bí mật càng tốt.

Nhớ tiến theo đội hình sâu đo.

Hai người tiến trước, mọi người phía sau iểm trợ, sau đó đến 2 người tiếp theo,

cho đến hết.

Rõ chưa ?

- Rõ !

- Quynh đi đầu tiên, Như Lệ đi sau cùng bảo vệ cho Duyên.

- Rõ !

- Duyên nhớ canh máy liên tục, phải đảm bảo bất cứ lúc nào cũng thông thoại.

Báo cáo tình hình liên tục về

bên này.

Chỉ khi nào có lệnh của tôi mới được yêu cầu bắn pháo.

Rõ chưa ?

- Báo cáo rõ ! – Duyên trả lời.

Tôi hơi bực và hơi buồn, cảm giác như bị thất sủng.

Đành rằng thằng Quynh rất xông xáo và nhanh nhẹn, nó đi đầu cũng tốt.

Nhưng vốn đã quen đi đầu, lần này tôi bị đi cuối nên hơi tủi tủi.

Giá như chỉ huy phân đội là đạị trưởng hay đại phó thì thường tôi vẫn được cử đi đầu hoặc trong lúc đang lúng túng thì tôi chủ động vọt lên trước.

Đằng này, trước khi xuất quân, anh Hạnh phân công rõ ràng, bài bản, thành ra hết cựa.

Tôi cứ lăn tăn không hiểu trong đầu anh nghĩ gì mà gí tôi xuống đuôi.

Cho đến bây giờ tôi vẫn băn khoăn mà chưa có lúc nào hỏi lại anh Hạnh.

Cái đuôi ấy có anh Hạnh, rồi đến Duyên và cuối cùng là tôi.

Chúng tôi xuống thuyền.

Hai chiếc thuyền máy nổ máy.

Đây là hai chiếc ghe nhỏ và dài, kiểu ghe nam bộ.

Chỉ có hai du kích đứng cuối thuyền điều khiển còn lại cúi rạp xuống, súng lăm lăm hướng về phía trước.

Màn sương vừa đủ để chúng tôi có thể nhìn thấy căn cứ Cát Lái và hai chiếc tầu của hải quân địch đang đậu ở đó.

Chắc chắn khi chúng tôi lao ra giữa dòng nước thì địch cũng nhìn thấy.

Hy vọng là chúng tưởng là thuyền của dân chạy sang phía chúng mà không bắn ẩu.

Hai chiếc thuyền chếch mũi, ngược dòng nước và lao ra sông khá nhanh.

Hai chiếc thuyền ngược dòng nước một đoạn rồi rẽ sóng sang ngang.

Mọi người ngồi rạp dưới lòng thuyền nhưng mọi con mắt đều hướng về phía trước.

Bờ sông bên kia vẫn là hai chiếc tàu hải quân của địch và trong căn cứ Cát Lái vẫn có nhiều ánh đèn.

Sau lưng chúng tôi, tất cả hỏa lực đã sẵn sàng nổ súng nếu có chuyện gì bất trắc.

Khoảng cách chỉ là 800 mét sao tôi có cảm tưởng nó rất rộng.

Sao chiếc ghe gắn máy lại chạy chậm như vậy.

Sau này, khi kể lại, bạn tôi thường thêm "mắm, muối, hạt tiêu" vào cho câu chuyện vượt sông của trinh sát thêm đậm đà.

Rằng, khi đang vượt sông thì địch phát hiện, bắn xối xả vào hai con thuyền.

Rồi pháo binh của ta lên tiếng và cuộc bắn nhau rất quyết liệt.

Cuối cùng thì hai con thuyền cũng sang được bờ bên kia.

Tuy nhiên, sự thực hai con thuyền nhỏ không bị địch bắn một phát đạn nào và lúc chúng tôi vượt sông, không gian hoàn toàn tĩnh lặng.

Lúc đó tiếng máy nổ của hai chiếc ghe nghe rất ầm ỹ và là động tĩnh duy nhất trên sông.

Hai chiếc thuyền cập vào bờ gần như cùng lúc và khá gần nhau.

Chúng tôi nhảy xuống thuyền, chạy lom khom trên mặt ruộng trống trải.

Trời đã sáng, bến cập của chúng tôi thì ngay phía bắc căn cứ Cát Lái có vài trăm mét.

Anh em nhanh chóng vận động trên đồng trống và ẩn nấp trên những bờ ruộng.

Cứ hai người một, "cóc nhảy", dịch chuyển dần áp sát với căn cứ.

Trời đã sáng bảnh, không còn cách nào khác là phải tiến càng nhanh càng tốt.

Tất cả các con mắt đều căng ra quan sát mọi động tĩnh của căn cứ, những ngón tay mấp máy đặt trong vòng cò, sẵn sàng nghoéo lại.

Chỉ cần thấy một động tĩnh của địch trong căn cứ phát hiện ra toán trinh sát thì súng nổ.

Súng AK của chúng tôi mà lên tiếng thì lập tức từ bờ bên kia các loại pháo sẽ lập tức khạc lửa.

Duyên di chuyển phía trước tôi, liên tục đàm thoại về bên kia, báo cáo không có động tĩnh gì trong căn cứ.

Mãi quãng 6 giờ sáng mới thấy bờ bên kia bắn mấy chiếc tàu chiến hải quân của địch có tính chất xua đuổi chứ không phải bắn hủy diệt.

Hai chiếc tàu địch cũng có bắn trả chút ít gọi là rồi bỏ chạy thẳng.

Không hề có phát đạn nào của ta bắn vào căn cứ Cát Lái.

Chúng tôi quan sát thấy bờ tường phía bắc của căn cứ có một khoảng trống do bờ tường bị phá đổ.

Anh Hạnh yêu cầu tiến thật nhanh vào Cát Lái qua khoảng tường đổ đó.

Có vẻ như bờ tường này cũng mới bị phá, không biết vì sao.

Sau này tôi mới nghĩ, có thể lính địch phá tường để nếu có bị tấn công thì có thêm lối thoát cho nhanh.

Cũng có thể chúng phá tường để tuồn đồ đạc ra khỏi căn cứ mà không đi qua cổng chính.

Lính rã đám biết là có thể làm những gì ?

Cả toán trinh sát vượt qua chỗ tường đổ và lọt vào bên trong.

Tất cả các tay súng đều lăm lăm chĩa về mọi hướng.

Bây giờ mà nổ súng thì chúng tôi sẽ cùng chịu trận pháo của ta giã vào đầu, chung với lính địch.

Nhưng, tất cả các ngón tay trỏ đều đã sẵn sàng nghoéo cò.

Cái góc căn cứ Cát Lái này có lẽ thật sự là chỗ ra vào của lính tráng trốn trại ra ngoài.

Gần đó là một tháp nước khá cao.

Tiếng loa của máy truyền tin rọc rẹc trên tai Thứ.

Nó nói:

- Báo cáo thủ trưởng, thủ trưởng Luyến nói sẽ bắn pháo ngay vào đây.

- Nói ngay, chúng tôi đang ở trong căn cứ rồi, dừng ngay việc bắn pháo.

Trong căn cứ có lẽ

không có địch.

Chúng tôi đang tiến vào trung tâm căn cứ. – Anh Hạnh nói.

- Báo cáo, bên kia vẫn chuẩn bị bắn.

- Nói lại đi, chúng tôi đang ở trong căn cứ rồi, đừng bắn. – Giọng anh Hạnh hơi gắt, có vẻ như

anh đang bực mình vì bên kia không hiểu ý.

Phải vài lần gào vào máy mà bên kia vẫn thông báo nổ súng vào Cát Lái.

Cuối cùng mấy người xúm lại quát vào cái ống nói [1]:

- Chúng tôi ở trong này rồi, đừng có bắn vào đầu chúng tôi.

Trong này không có địch !

Và rồi bờ bên kia cũng hiểu ra chuyện và hỏi lại, rất lằng nhằng.

Anh Hạnh phải giằng lấy ống nói và quát:

- Tôi Hạnh đây.

Chúng tôi ở trong căn cứ Cát lái rồi.

Trong này không có địch.

Đề nghị cho bộ đội vượt sông !

Chúng tôi chia nhau rà soát toàn bộ căn cứ.

Tôi cũng bỏ chàng thông tin và cùng một đứa nào đó lùng sục dọc theo con đường từ chỗ tường đổ ra cổng căn cứ.

Cổng căn cứ nằm sát con đường từ bến phà lên.

Tính từ mặt sông vào, con đường nằm phía lưng của căn cứ và rẽ các nhánh vào các khối nhà.

Hai thằng ra trước cổng căn cứ và kiểm soát đoạn đường trước cổng dọc đến bến phà.

Chúng tôi phải đứng chờ mọi người sục sạo xong bên trong căn cứ.

Một lúc, người trước, người sau đều ra đến chỗ chúng tôi đang đợi.

Mấy đứa rất nhanh, đã mò vào kho, chúng nó đang phì phèo thuốc lá "Quân Tiếp Vụ - Rubi Queen – Huynh Đệ Chi Binh, Quyết Tâm Chiến Thắng".

Thuốc này mấy đứa thường gọi là Rubi xanh.

Mấy thằng lại còn lấy rất nhiều thuốc lá và đồ hộp bỏ trong ba lô nữa.

"Tài thật, tài thật, tiên sư anh trinh sát !"[2].

Tôi không hút thuốc nên chúng nó quẳng cho tôi mấy hộp đồ hộp gì đó.

Ghi chú:

[1] Khi đàm thoại trên máy 2 oát, muốn nói thì bóp công tắc, lúc nghe thì nhả công tắc ra.

Thông tin đại đội tôi từ xưa đến nay toàn liên lạc qua moóc-xơ gõ bằng ma-nuýp.

Bây giờ

đàm thoại chắc không thạo lắm.

Nếu hai bên cùng bóp công tắc thì "trần văn tịt".

[2] Trong chuyện "Đôi Mắt" của Nam Cao có câu "Tài thật, tài thật, tiên sư anh Tào Tháo".

Nói là chờ mọi người một lúc, nhưng khá lâu.

Lúc đó tôi rất sốt ruột.

Nếu thực sự lùng sục kỹ cả căn cứ thì cũng lâu thật.

Nhưng nhiệm vụ của chúng tôi đâu có phải là lùng sục mà phải nhanh chóng trấn giữ được đầu cầu để sư đoàn qua sông mà vào Sài Gòn.

Lúc ai đó, cấp trung đội, quẳng mấy lon đồ hộp cho tôi, anh ghé vào tai tôi:

- Mày từ từ thôi, đằng nào cũng sắp xong rồi.

Bây giờ mà đứa nào chết thì phí quá !

Trong đầu tôi, cho đến lúc đó, chưa hề nghĩ đến điều mà anh ấy nói.

Có lẽ tôi "máu" quá chăng ?

Chuyện này có vẻ giống như hôm chúng tôi luồn sâu vào Huế.

Chỉ còn cách Huế vài cây số, tôi thì muốn tiến tiếp, hai ông trung đội thì cứ lảng lảng rồi ra lệnh nghỉ ngơi và nấu cơm.

Tôi không biết anh Hạnh nghĩ gì.

Hay là anh cũng thương lính, không muốn ai phải hy sinh vào lúc này.

Anh Hạnh cũng "chùng chình" chờ mọi người, không có vẻ gì là vội vàng hay sốt ruột.

Về sau này có lúc tôi cũng thấy may mắn.

Nếu anh Hạnh cũng muốn ào ào xông lên như tôi thì có thể đã "ngóm" cả lũ rồi.

Có thể anh Hạnh luôn liên lạc với sư đoàn và biết ta không có phương tiện vượt sông cho cả đại quân.

Vậy thì toán trinh sát còm này sẽ làm được gì mà đòi tiến lên.

Lằng nhằng đến khoảng 10 giờ, anh Hạnh mới giao nhiệm vụ cho các nhóm.

Tôi không còn nhớ anh Hạnh phân công những ai sục ra bến phà và trấn giữ đầu bến phà để bên kia vượt sông sang.

Một nhóm ba người chúng tôi phát triển theo hướng ngược lại.

Ba thằng đi từ Cát Lái dọc theo liên tỉnh lộ 25.

Trên bản đồ 1:25000 thấy con đường dẫn đến một bến phà trên sông Sài Gòn, gọi là bến Bạch Đằng (là chỗ đường hầm Thủ Thiêm bây giờ).

Ba thằng cứ dọc theo đường, giữ đúng cự li vài chục mét theo đội hình zic-zac.

Đoạn này hai bên đường đều có nhà dân san sát.

Đich đã bỏ chạy từ lâu rồi, dân thì không thấy đâu.

Không biết họ ở trong nhà hay cũng chạy đi đâu rồi, con đường vắng lặng quá.

Tôi vừa tiến mắt vừa láo liên quan sát rất nhanh.

Bất cứ động tĩnh gì bất trắc có thể xiết cò ngay lập tức.

Hai thằng đi sau tôi cũng vậy.

Chúng tôi tiến rất nhanh.

Tới ngã ba, một đường đi thẳng sẽ ra đường đi cầu Sài Gòn.

Chúng tôi rẽ trái đi theo LTL25 để ra bến Bạch Đằng.

Nếu ở đó có phà hay thuyền của dân đều có thể qua sông mà tiến thẳng đến dinh Độc Lập.

Tại sao chúng tôi không chọn đường ra cầu Sài Gòn ?

Là vì, chỉ có mấy thằng trinh sát lẻ mà ra cầu Sài Gòn, chắc chắn địch có phòng ngự kiên cố làm sao mà vượt qua dược.

Con đường chúng tôi chọn tuy có vướng bến phà qua sông nhưng sẽ không có địch lập tuyến phòng thủ vì đường này xe tăng qua sông sẽ khó nên "Việt Cộng" không chọn.

Mới đi được một đoạn cỡ mấy trăm mét kể từ ngã ba, đoạn này nhà dân thưa thớt, chúng tôi chợt thấy có gì đó bất thường trong các nhà dân.

Những người dân thập thò qua cửa.

Họ đang dớn dác nhìn.

Rồi dân cũng thấy chúng tôi.

Một người dơ tay vẫy, rồi nhiều người cùng vẫy.

Rồi có người nào đó hô lên:

- Mấy ông Giải Phóng !

Tổng thống đầu hàng rồi !

Rất nhanh, chỉ một loáng, một số người dân đã bao quanh chúng tôi tuy rằng họ chưa dám đứng quá gần.

Hết người này đến người khác hồ hởi nói, tổng thống đã đầu hàng trên đài phát thanh rồi.

Ba thằng chúng tôi cũng sững sờ trong một cảm xúc khó tả.

Không hẳn là "niềm vui vỡ òa" như bây giờ thường nói.

Một cảm xúc giống như người chạy Ma ra tông, nước rút về đích.

Chỉ là một cảm giác thẫn thờ. . .

Ừ thì cũng cười nói vui vẻ, nhưng không phải là cảm giác tưng bừng như lúc 7 giờ sáng ngày 28/1/1973, ngừng bắn.

Lúc đó, là bước ngoặt, từ chỗ bom pháo ngày đêm dội trên đầu, ngày đêm chui rúc dưới hầm được thoát lên mặt đất bình yên.

Mới thật là . . .sung sướng.

Dưới đây là hai bản đồ.

Bản đồ thứ nhất tỷ lệ nhỏ 1:500000 vẽ đường tiến của chúng tôi từ Cát Lái đến bến Bạch Đằng.

Bản đồ thứ hai, tỷ lệ rất lớn 1:12500, vẽ đoạn đường chúng tôi đi xe lam của dân để ra bến Bạch Đằng.

Nhiều người dân lần lần bao quanh chúng tôi.

Mọi người rất hồ hởi, cũng có người ra xem vì tò mò.

May là mọi người không sán vào quá gần.

Mấy thằng lính, không nhớ đã bao nhiêu ngày không tắm và đang "tỏa hương".

Mấy thanh niên lượn Honda đến và hỏi:

- Mấy ông Giải phóng cần đi đâu bọn tui chở ?

- Mấy anh cần đi đâu, tui chở ?

Rồi một chiếc xe lam phành phạch cũng đỗ xịch lại đòi chở chúng tôi đi bất cứ đâu chúng tôi muốn.

Ba thằng quyết định chọn xe lam để đi được cả nhóm.

Chúng tôi yêu cầu chạy về Dinh Độc Lập.

Khi chiếc xe lao đi thì trên xe, ngoài người lái, không phải chỉ có ba thằng lính chúng tôi mà có thêm một vài thanh niên nữa cũng đi "chơi" cùng.

Xe chạy khá nhanh về phía bến Bạch Đằng.

Mươi phút sau đã đến bờ sông Sài Gòn.

Bên này là đất quận 9 còn bên kia là quận nhất.

Mấy thanh niên nhanh nhẹn nhảy xuống xe và đi tìm người lái phà.

Anh xe lam nói, hàng ngày anh ấy vẫn chở mấy bà đi chợ bên kia sông qua phà này.

Đi đường này phải qua phà nhưng "rất phẻ" (rất khỏe), "đường ngắn không mấy anh à !" (bây giờ mọi người đều gọi chúng tôi là anh rồi, sau khi chúng tôi phàn nàn về chuyện gọi bằng "ông").

Mấy thằng trinh sát đứng sát ra bến phà mà ngóng sang bờ bên kia.

Lúc đó tôi chẳng biết nhà nào là nhà nào.

Mà, có nhìn thấy chữ "Magetic Hotel" thì bây giờ cũng quên rồi.

Nhưng, rất hoành tráng.

Đặc biệt là các cao ốc.

Lúc đó Sài Gòn đã có một số cao ốc, cái cao nhất có đến 16 tầng.

Ở Hà Nội lúc đó chỉ có nhà bốn năm tầng là cao nhất.

Trong mắt tôi lúc đó, Sài Gòn là thành phố giàu có và hiện đại.

Rất nhiều biển quảng cáo đủ các cỡ và màu sắc treo khắp mọi nơi trong thành phố.

Trong suy nghĩ của tôi lúc đó, biển quảng cáo làm giảm cái đẹp của thành phố.

Đường Bạch Đằng bên kia sông vẫn thấy Honda, rồi xe đạp và ô tô ngược xuôi mà không quá đông, trông rất thanh bình.

Ngay bờ bên kia chưa có lính ta tới, cũng không thấy một lá cờ nào nửa xanh nửa đỏ hay cờ đỏ sao vàng.

Tôi rất nóng lòng, chỉ muốn vượt qua sông ngay.

Chừng 15 phút sau, mấy thanh niên quay lại, vẻ mặt thất vọng:

- Có phà mà không có người lái mấy anh ơi ! giờ sao hả mấy anh ?

Lúc đó trong tốp 3 chúng tôi có một người "cấp bê" (không nhớ là ai).

Tôi chỉ còn nhớ ý kiến của tôi lúc đó là muốn qua sông "đi chơi Sài Gòn cái !

Không có phà thì đi thuyền cũng được, có mấy trăm mét chứ bao nhiêu" thì anh ấy bảo "thôi, quay lại.

Bây giờ có đi tiếp thì cũng chỉ là đi chơi chứ không còn nhiệm vụ gì để làm.

Không khéo rồi lại lạc đơn vị"

Chiếc xe quay lại ngã ba.

Chúng tôi xuống xe, cảm ơn anh xe lam và mấy thanh niên.

- Chờ ở đây thôi anh ạ !

- Ừ !

Lúc này dân đã đổ ra đường, họ đứng thành từng toán rải rác hai bên để chờ đón và xem bộ đội vượt sông qua đây.

Không phải là quá đông người như các bức ảnh chụp mà sau này ta thường thấy.

Những bức ảnh đó, tôi cho rằng là ảnh dựng lại để chụp.

Một bức ảnh chụp xe tăng đang tiến về Dinh Độc Lập .

Rất nhiều lính ngồi trên tháp pháo, có cờ giải phóng tung bay.

Hai bên đường, dân đứng vẫy rất đông.

Ảnh lại là ảnh màu mới đẹp chứ. (tôi không tin bức ảnh được chụp nóng ngày 30/4).

Phóng viên "chiến trường" chắc là người hùng, tiến trước cả xe tăng và bộ binh để chụp ảnh ?!

Phải một lúc sau thấy từng toán bộ đội lục tục từ hướng Cát lái tới.

Anh em đi thoải mái chẳng có hàng lối gì.

Trên mặt mọi người không còn nét căng thẳng.

Mọi người bước đi hồ hởi lắm, những bước đi thanh thản, dường như vô định.

Ừ thì, mấy chục ngày qua, chúng tôi liên tục hành quân, liên tục đi về một hướng, ấy là hướng Sài Gòn.

Thì đây, Sài gòn đây rồi.

Bộ đội vượt sông bằng các phương tiện khác nhau, xuồng máy, ghe máy, xe lội nước, . . . .

Hình như mọi người vượt sông không có tổ chức gì, mạnh ai sang được trước thì sang.

Người sang trước sẽ chờ anh em cùng đơn vị sang sau.

Suốt từ Bến Cát Lái đến chỗ ngã ba lính dồn lên ngày càng đông .

Xê 20 của chúng tôi cũng thấy lẻ tẻ toán trước, toán sau qua sông.

Chúng tôi tụ tập ở đây để chờ mọi người.

Riêng c20 chúng tôi mách nhau vào Cát Lái lấy đồ trong kho nên ba lô đứa nào cũng đầy những thuốc lá và đồ hộp.

Lính xê tôi có mặt ở đây đã khá đông nhưng không theo một đội hình nào, cũng chẳng thấy ai chỉ huy.

Thì ra không phải chỉ có "quân hồi vô phèng" mà quân thắng trận cũng "vô phèng".

Lính chạy đi cạy lại tìm đơn vị, tiếng gọi nhau í ới, rộn rã khắp cả con đường. lính c20 gặp chúng tôi, tay bắt mặt mừng.

Vừa mới sáng nay thôi mà cứ như sau bao nhiêu ngày mới gặp lại.

Trong lúc chờ đợi anh Triêm rủ tôi lùng sục vào một cái bốt.

Đây là một cái đồn nhỏ nằm ngay ngã ba đường.

Không rõ lính bỏ đồn chạy từ lúc nào.

Tất cả vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có đồ đạc bị vứt lung tung.

Sau khi sục xạo một lượt, chúng tôi vào phòng tay đồn trưởng.

Các cánh cửa tủ và ngăn kéo bàn đều đã mở từ trước.

Cả giấy tờ, cả quần áo đều đã bị xới tung.

Trong ngăn kéo, chúng tôi thấy đôi quân hàm, bây giờ không còn nhớ là quân hàm của lực lượng nào, chỉ còn nhớ là đại úy.

Anh Triêm vớ được chiếc va li nhỏ (briefcase).

Trong đó có hai chiếc đồng hồ mạ vàng, một nam, một nữ và một khẩu colt 6.

Tôi thì tìm được một chăn "thám báo" mới khự.

Anh Triêm đeo luôn chiếc đồng hồ nam mạ vàng vào tay.

Khi ra khỏi đồn, tôi xách chiếc va li, trong đó có chiếc đồng hồ nữ, chăn "thám báo" và khẩu colt.

Khẩu colt rất đẹp lại thêm một hộp đạn nhỏ bằng bìa cứng đựng những viên đạn nhỏ vàng óng, tôi rất mê.

Ngày 28/6, lính sinh viên được ra quân.

Chiếc đồng hồ nữ rất nhỏ và xinh thì tôi cho Vương Lâm khi chia tay.

Xe chở chúng tôi hình như tới Hố Nai thì bị kiểm tra quân trang.

Thế là phải cắn răng mà nộp khẩu colt và hộp đạn.

Tôi định liều giữ lại nhưng lại sợ nhỡ bị phát hiện, bị giữ lại thì . . . ai mà biết được sẽ xảy ra chuyện gì.

Chiếc chăn thám báo vừa gọn vừa nhẹ lại rất ấm, dùng mãi tới mười lăm năm sau.

Chiếc vali hiệu Echolac cũng là loại mini (42x32x8).

Bây giờ đi đâu một hai ngày, tôi vẫn dùng.

Có lẽ phải đến 12 giờ ngày 30/4/1975, anh em c20 mới hội tụ đủ ở cái ngã ba này.

Nhưng chưa có xe nên mọi người phải đợi.

Đủ các loại xe, nào thì thiết giáp và xe tăng tự bơi, nào thì "Vọt Tiến", nào thì "Giải Phóng, nào thì "Zin Ba Cầu" (chính xác là Hoàng Hà, vì là xe TQ), rồi "Comăngca", "Bắc Kinh" (loại xe bắt chước Comăngca), . . . .

Không còn biết là xe nào của đơn vị nào nữa.

Tất cả cứ nháo nhào, mạnh ai nấy chạy.

Chỉ cần trong đơn vị có người nhớ số xe hoặc nhớ lái xe thì là "xe của mình" và anh em ào ào trèo lên thùng.

Quang cảnh thật nhốn nháo và hỗn độn.

Rồi thì, Chắc khoảng 1 giờ chiều, đại đội tôi cũng lên được xe.

Như tất cả các xe khác, thảy đều chạy về Sài Gòn, theo đường qua cầu Sài Gòn.

Từ ngã ba, xe chạy thẳng ra hướng đường 1.

Đường QL1 cao hơn hẳn, nên ở chỗ cắt nhau là một cái dốc khá cao.

Tôi nhớ cái dốc này vì một lần lái xe Jeep qua đây, tôi không tăng ga và để xe bị chết máy giữa dốc.

Ra đến đường lớn thì, thật là kinh hoàng !

Không biết bao nhiêu là xe, không biết bao nhiêu là lính.

Đúng là trên trời, dưới lính.

Tất cả các xe đều chạy theo một hướng, không theo "đội hình hành quân" nào hết.

Các trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn rùng rùng chuyển động, không còn phân biệt được ai với ai.

Tất cả đều là lính.

Không biết cảm xúc những người lính lúc này như thế nào.

Anh em có sung sướng, hay hồ hởi, hay tự hào, hay gì gì đó, . . .

Nhưng tôi nhận thấy một điều, tất cả các nét mặt lính đều giãn ra.

Dường như tất cả thần kinh và "các cơ quan đoàn thể" đều được thả lỏng.

Không còn thấy đâu, nỗi âu lo ngày thường của lính trận.

Không thấy đâu, nét mặt đăm chiêu, đôi mắt tia lia láo liên, đôi tai trực chỉ mọi tiếng động.

Cái bản năng sẵn sàng chạy, sẵn sàng nhảy, sẵn sàng lăn xuống hố để tránh đạn hay sẵn sàng nghoéo cò dường như lặn đi đâu hết cả.

Tiếng cười nói trên xe ầm ĩ.

Có xe còn hát tập thể "Rầm rập bước chân ta, rung chuyển thành phố Sài Gòn . . .", "Nơi thành đô trong ánh điện quang tiếng nấc nghẹn câu cười . . .

Sài Gòn ơi, ta đã về đây ta đã về đây . . .".

Hầu hết các xe đều cắm cờ nửa xanh nửa đỏ, chúng bay trong gió phần phật như chưa bao giờ được thế.

Đến gần cầu Sài Gòn, có chiếc xe bị chết máy làm đoàn xe bị dồn lại.

Tiếng hò hét trên các xe: "đẩy sang bên đê !", rồi nhiều tiếng hô: "đẩy xuống ruộng đê !", . . .

Chỗ cầu Sài Gòn có mấy chiếc xe tăng của ta bị cháy, khói vẫn đang bốc lên leo lét.

Trên cầu là chướng lũy bằng thùng phi cát và bao cát.

Những người đi trước đã rỡ bỏ bớt nhưng chưa hết.

Những chiếc xe của đoàn quân qua cầu phải qua từng chiếc một ngoằn nghoèo theo đường rắn lượn.

Qua cầu Sài Gòn được một đoạn ngắn thì không còn đi được nữa.

Xe lính ùn ùn kéo vào thành phố.

Đồng bào chạy loạn đi bộ gồng gánh đồ đạc, xe Honda, xe lam, đủ các kiểu xe ô tô của dân thì ùn ùn túa ra từ trong thành phố.

Con đường trở nên kẹt cứng.

Có lẽ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ Sài Gòn lại kẹt đường như thế này.

Không có ai điều hành, tất cả cứ lao lên, "nhào vô".

Đứng trên thùng xe, nhìn ra xung quanh, ngoái lại phía sau, đâu đâu cũng người và xe, đặc quánh, à à như vô vàn tổ ong.

Chỗ nào cũng thấy động đậy mà chẳng ai có thể nhích lên được.

Rất lâu, chẳng xe nào có thể nhích lên được.

Và, rất nhanh, đã thấy nhiều người mang hàng ra bán cho bộ đội.

Đầu tiên phải kể đến trà đá.

Đây là lần đầu tiên những chú lính"Quảng Trị" nhìn thấy nước trà đóng trong túi ni lông lại còn có mấy cục nước đá bên trong.

Túi nước được buộc chun và cắm một cái ống để hút.

Mọi người trên xe đều không hiểu đây là nước gì.

Giải thích mãi thì chúng tôi cũng hiểu được đây là nước chè.

Ai nấy đều bất ngờ và lấy làm thích thú vì biết thêm "món lạ".

Không chỉ trà đá mà còn có nước mía đá đóng túi.

Nước mía thì biết rồi nhưng đóng túi bóng thì thật là lạ.

Giao dịch liền sau đó là của các thanh niên cầm đồng hồ và bút máy đi quanh các xe bộ đội.

Nhiều anh em đã biết các loại đồng hồ và bút máy từ hồi 1972 ở Quảng Trị.

Nhưng bây giờ, lính hầu hết là "cò lùi" [1].

Những chiếc đồng hồ rất đẹp Orient, Seiko (anh em thường đọc là sen-cô do chữ hiệu của loại đồng hồ này là SEIKO).

Lúc bấy giờ không phải là đồng hồ tốt nhất nhưng bình dân và phổ biến nhất.

Mọi người trên xe tôi cũng cầm và truyền tay nhau xem nhưng không ai mua.

Có một cậu thanh niên, trông không phải là dân "bán đồng hồ dạo" [2], cứ nài nỉ muốn đổi đồng hồ cậu ta đang đeo tay để lấy tiền cách mạng làm kỷ niệm, bao nhiêu cũng được, một tờ cũng được.

Một chiếc ORIENT mặt trắng mạ vàng và dây cũng vàng óng.

Bạn tôi đã đổi 1 đồng để lấy chiếc đồng hồ đó.

Chiếc đồng hồ này bây giờ vẫn còn và trở thành một kỷ vật.

Có một vài anh em mua đồng hồ.

Giá thì rất rẻ vì người bán không biết giá trị tiền cách mạng như thế nào nên cũng bán đại đi, miễn là bán được.

Về sau này chúng tôi thấy những đồng hồ đó vẫn chạy được nhưng là đồng hồ "cọp" [3].

Những người bán hàng dạo phát chán vì mời chào mãi cũng chẳng bán được bao nhiêu, thành thừ con sóng mua bán dịu dần xuống rồi lặn hẳn.

Anh em bắt đầu lôi đồ hộp chiến lợi phẩm ra chén.

Rất nhiều loại khác nhau, hộp to, hộp bé, hộp cao, hộp dẹt, hộp tròn, hộp bầu dục, . . . bên ngoài đều sơn màu cứt ngựa và không ghi gì thêm, chẳng biết bên trong khác nhau thế nào.

Đồ hộp của lính ta cũng vậy.

Quen rồi thì mới biết đâu là cá, là thịt, là giò, là ruốc mặn hay ruốc ngon, hay là calathầu khai khai. . . .

Thế là có bao nhiêu loại mọi người đục ra thử hết một lượt.

Có thằng khui được hộp thịt, có đứa hộp cá, rồi hộp phở, hộp giò ba lát, . . .

Hộp nhỏ cao cao là Cocacola, nước soài, nước dừa, . . .

Hộp mỏng dính là mứt và caramen, nhiều nhất là caramen.

Mứt cũng có đủ các loại không biết là làm từ những loại hoa quả nào - soài, dâu, cam, . . . chỉ biết là mứt - sền sệt và rất ngọt.

Cả xe tôi chỉ có mỗi cái mở hộp, mấy thằng sốt ruột dùng luôn dao găm "anh Chí" [4] để đục.

Thằng có thìa inox giắt sau đít (giống bác LXT – có lẽ là mốt lúc đó) thì múc bằng thìa, thằng có đũa giắt ba lô thì dùng đũa.

Đại đa số dón thử bằng "năm quân".

Không khí trên xe thật náo nhiệt như chợ vỡ.

Khi đã biết hộp nào đựng gì rồi thì đứa nào đứa nấy chọn những thứ mình thích mà chén đến no.

Mải ăn, rồi thuốc lá phì phèo, không ai để ý.

Lúc đó đoạn đường phía trước đã có đơn vị nào đó tự phát đứng ra dẹp đường.

Cứ súng lăm lăm trong tay, chĩa lên trời.

Bà con dân chúng cũng sợ nên cuối cùng thì đường đã được thông.

Tất cả dân đều phải dừng lại để nhường đường cho đoàn xe lính chạy vào thành phố.

Nhìn về phía sau, trời đất ơi !

Đoàn lính có vẻ như dài vô tận, tít tắp đến khi khuất vào chỗ đoạn đường vòng ở rất xa.

. . . (còn nữa)

Chú thích: [1] "Cò lùi" là cò không tiến.

Cò không tiến là "tiền không có".

[2] Những cụm từ này về sau chúng tôi mới biết.

[3] Chúng tôi được giải thích đấy là đồng hồ "dỏm" chỉ có một chân kính nhưng làm giống như thật.

[4] Dao găm lão Chí đại đội tôi tự rèn cho anh em.

Gọi "Anh Chí" có ý trêu trọc là "Chí Phèo".

Đoàn xe lính bắt đầu chuyển bánh chạy vào thành phố.

Vì đã hỏi thăm trước đường đến Dinh Độc Lập nên xe chúng tôi rẽ trái đi theo đường Thị Nghè.

Nhiều xe chạy thẳng và nhiều xe chạy theo sau chúng tôi.

Tôi nhớ, tôi chỉ có mảnh bản đồ phía đông thành phố, đoạn quận 9 và quận Thủ Đức mà không có bản đồ thành phố nên không ai biết đường đi đến Dinh.

Đoàn xe vừa chạy vừa hỏi thăm đường.

Đến đúng cầu Thị Nghè, một lần nữa đoàn xe lại bị nghẽn lại.

Vẫn là, dân từ trong thành phố tỏa ra để về nhà.

Cầu Thị Nghè lúc đó có hẹp hơn đường ở hai đầu cầu, nhưng nhìn cây cầu này cũng thấy rất rộng so với cấc cây cầu ở miền bắc.

Lúc xe dừng trên cầu, một đứa phát hiện ra món lạ.

Đó là một hộp bằng bìa cứng rất nhẹ, bóc ra bên trong là một túi bóng hàn kín.

Trong túi là một loại "bỏng" nhỏ li ti và nhẹ, tung lên có thể bay trong gió.

Không ai biết đây là thứ gì.

Đứa thì bảo là đồ ăn đứa thì bảo là loại vật liệu gì đó, đừng ăn nhỡ có chất độc ?!

Những cánh bỏng bé như những chiếc khuy bấm nhỏ, nhẹ, xốp và rất giòn.

Nhìn vào hình vẽ trên hộp, thấy có hình một tách cà phê đang bốc khói.

Thế là yên tâm đây là đồ ăn nhé !

Bỏ một vốc vào miệng, thấy vị nhàn nhạt.

Nhai xong, thấy được một tẹo bột không đáng kể gì.

Đối với những chú lính quen ăn no, vắc nặng, món này thật là vô vị và chả bõ dính răng.

Về sau này chúng tôi thấy nhiều loại bỏng ngon hơn và biết rằng đó là một trong rất nhiều kiểu gọi là "Snack".

Snack để ăn chơi (như bỏng ngô) hay ăn khi uống rượu, hoặc uống cà phê.

Vào đến gần trung tâm thành phố, chắc là cách Dinh Độc Lập không còn xa thì đường không còn quá đông.

Lính tráng dòm ngắm thành phố.

Xe chạy nhanh hơn và lại nghe tiếng lá cờ bay phần phật.

Chợt nhìn lại, vẫn thấy trên tay trái mọi người hầu hết đều còn dải băng đỏ.

Đi qua một đường phố có nhiều cây to.

Một cái cổng lớn bên trái đường xe chạy có biển đề "Thảo Cầm Viên".

- Thảo Cầm Viên là cái gì hả chúng mày ?

- Ừ nhỉ, chẳng biết là cái đếch gì nhể ?

. . .

- Thảo là cỏ này, cầm là gà vịt này, viên là vườn này.

Thế thì là cái khỉ gì ?

Mấy xe của xê 20 dừng lại để hỏi thăm đường.

Thấy xe dừng lại, nhiều người dân đang đi đường dừng lại xem bộ đội và tranh nhau chỉ đường.

Rồi có một thanh niên nhanh nhẹn nhảy lên xe xin dẫn đường.

Đoàn xe tiếp tục chạy.

Cậu thanh niên giải thích, trong Thảo Cầm Viên có hổ, báo, sư tử, chim muông, . . .

Thì ra đây là vườn "bách thú" hay "bách thảo' như ngoài bắc thường gọi.

Đến một khu phố rất đẹp và thanh bình.

Mấy chiếc xe của xê 20 dừng lại.

Mấy thủ trưởng xê quyết định không vào dinh nữa mà chơi ở đây.

Bấy giờ khoảng hai rưỡi ba giờ gì đó.

Anh em nhảy xuống xe và được phép đi chơi gần, trong thời gian một tiếng.

Thời tiết chiều lòng người, nắng chiều nhè nhẹ.

Đường phố rất sạch và đẹp.

Nhiều vườn hoa với những thảm cỏ xanh biếc được chăm sóc cẩn thận.

Chỗ chúng tôi đang đứng là ngã tư đường Tự Do và đường Lê Lợi.

Qua một vườn hoa đẹp trước mặt là một tòa nhà rất lớn, kiến trúc theo kiểu Pháp.

Chính giữa tòa nhà, trên đỉnh tầng hai có ghi "TÒA ĐÔ CHÁNH".

Chỗ xe chúng tôi đỗ lại là ngay trước thềm một tòa nhà khác cũng kiểu Pháp và cũng rất đẹp với một cấu trúc vòm ở chính giữa.

Phía dưới vòm ghi dòng chữ "HẠ NGHỊ VIỆN".

Vườn hoa chếch phía trước "Hạ Nghị Viện" có nhóm tượng đài "thủy quân lục chiến".

Phía phải Hạ Nghị viện là một con đường nhỏ. có một tòa nhà 3 tầng với biển đề "PHÒNG THÔNG TIN".

Chúng tôi chỉ đi loanh quanh một lúc, ngắm các công trình rất đẹp trong khu vực đó.

Lúc bấy giờ, đường phố rất vắng lặng.

Rất ít người dân đi ra đường.

Giá mà có ai đó chụp mấy kiểu ảnh thì tuyệt quá.

Nhưng tuyệt nhiên không có một phó nháy nào.

Ấy là cứ ước thế thôi chứ lúc đó chúng tôi cũng chưa có khái niệm thợ ảnh chụp dạo.

Phải mấy ngày sau khi chúng tôi đi chơi Sài Gòn thì đến chỗ nào đẹp đều có người mời chào chụp ảnh.

Lúc đó tôi mới biết các thợ ảnh tận tình chụp tận nơi, ảnh lấy ngay.

Đây cũng là điều lạ lẫm đối với tôi.

Lúc đó ở ngoài bắc không có dịch vụ kiểu này.

Mấy xe của c20 lục tục quay về căn cứ cát Lái.

Chúng tôi ở Cát Lái một thời gian cùng ban 2, đại đội xe c26 của sư đoàn và một số đơn vị khác nữa. c20 có một xe Jeep và ban 2 cũng có một xe.

Đại đội tôi chỉ có hai người lái được xe là anh Nhung "lẹm mông" và tôi.

Anh Nhung bị mảnh bom B52 phạt mất nửa kí thịt mông ngày 4/8/1972 ở Nghĩa Hy, Quảng Trị.

Hai anh em thay nhau lái xe đưa anh em trong đại đội đi chơi Sài Gòn và chở đồ chiến lợi phẩm từ kho về nơi ở của đại đội.

Trên ban 2, thằng Nguyên lái xe cho các thủ trưởng đi chơi Sài Gòn.

Có hôm đi về, nó phàn nàn: "Tao lái xe cho ông x với ông y đi chơi.

Các bố ấy có nhiều tiền mua cát sét, mua quần áo trẻ con, mua len, nhiều thứ lắm.

Tao chả có đồng nào, thế mà mấy bố cũng lờ đi.

Hóa ra chả được đi chơi mà đi hầu mấy bố mua đồ.

Bận sau tao đ... lái nữa, bảo là xe hỏng mẹ nó rồi".

Đại đội chẳng phải họp hành hay luyện tập gì ngoài việc điểm danh lúc 9 giờ tối.

Tuy nhiên, ai muốn đi đâu đều phải báo cáo, phải mang theo súng và đi ít nhất phải ba người trở lên, đề phòng tàn binh.

Sáng 5/5/1975, mấy thằng Điều, Lâm, Nghiêm và tôi báo cáo đi chơi Sài Gòn.

Chiếc xe Jeep rất tốt nhưng acquy yếu không đề được.

Lâm, Điều, Nghiêm phải xuống đẩy xe.

Chắc không quá 3 mét là chiếc xe đã nổ ngon lành.

Chúng tôi đi đúng theo đường hôm 30/4 đã đi, "ngựa quen đường cũ" mà.

Đến khu Hạ Nghị Viện còn khá sớm.

- ỒI ! cái tượng "Thủy quân lục chiến đã bị đập rồi kìa !

Mấy thằng nhảy xuống xe.

Lâm còn mang theo cặp, bút chì và màu nước.

Bao giờ cũng vậy, đi đến đâu hắn cũng vẽ.

Thường là hắn ký họa người và cảnh vật.

"Chất nghệ" di truyền thôi thúc trong huyết quản.

Hắn vẽ bất cứ gì có thể vẽ được, những khuôn mặt lính, khuôn mặt o du kích, lão nông hay đồng bào dân tộc, . . .

Rất nhanh, đã có mấy phó nháy bao quanh mời chào.

Chúng tôi băn khoăn không biết chụp ảnh rồi thì làm sao lấy ảnh đây.

Băn khoăn của chúng tôi được một người chụp ảnh khá lớn tuổi giải quyết.

Ông bảo:

- Tôi chụp ảnh lấy ngay đây !

- Lấy ngay được à ?

- Dạ !

Ảnh Polaroid mà mấy anh.

Cái từ Polaroid mà ông ta nói tôi vẫn nhớ đến tận bây giờ.

Chắc là phân cực phân kiếc gì đấy.

Thế mà bây giờ thử tra từ điển của "Google dịch" thì nó để nguyên văn không dịch được sang tiếng Việt.

Sau khi hỏi giá cả, mấy thằng vét voi tất cả tiền lại cũng không đủ mỗi đứa chụp một hình.

Đành chịu vậy chứ biết làm sao.

Vậy là đầu tiên chụp chung bốn thằng một kiểu, sau đó mới chụp riêng.

Tôi không có đồng nào nên chỉ được chụp chung.

Sau khi bấm máy, ông già lấy tấm ảnh ra rồi lẩm nhẩm đếm 1, 2, 3, . . . .

đến mấy thì ông lột tấm ảnh làm đôi.

Thì ra tấm ảnh được dính với một cái bìa có hóa chất gì đó.

Căn cứ vào độ sáng bên ngoài mà người ta tính thời gian để lột ảnh khỏi hóa chất.

Công nghệ polarroid bấy giờ chỉ được đến thế.

Tôi không nhớ mấy đứa chụp riêng thế nào.

Tôi cứ lẩm nhẩm trong bụng " Bọn này tệ thật, tao không lái xe thì chúng mày làm sao đến đây mà chụp ảnh riêng chứ ?"

Thế là tôi cũng có một tấm ảnh.

Tấm ảnh này tôi vẫn còn giữ

Tôi cứ thường đi chơi với anh em trong đại đội, chưa lần nào đi chơi với anh em trong tiểu đội.

Nghĩ lại thấy mình cũng tệ.

Ấy vậy mà, ở nhà, anh em tiểu đội tôi có cái gì cũng để phần cho tôi.

Các thứ đồ ăn chiến lợi phẩm, rồi nhu yếu phẩm khác đổi với các cửa hàng tạp hóa bằng chiến lợi phẩm, anh em đều chia phần cho a trưởng.

Tôi có đầy đủ khăn mặt, kem đánh răng, giấy bút để viết thư, . . .

Hai hôm sau, nhằm ngày 7/5/1975, sau khi ăn sáng xong, xê phó Triêm đến tiểu đội tôi và rủ đi chơi Sài Gòn.

- Vào dinh Độc Lập anh nhá ?

- Ừ !

Ra đến xe thì thấy anh Bùi Văn Thắng bê trưởng và Dương Chí Lục bê phó đã chờ sẵn.

Anh Triêm ngồi cạnh tôi, hai anh kia ngồi ghế sau.

Lần này chiếc xe đã được thay acquy nhưng lại hỏng nút đề.

Anh Nhung đã lôi trong hốc ra hai đầu dây điện.

Khi đề, chập hai đầu dây với nhau, xe nổ máy được thì nhả ra.

Không biết hôm nay có chuyện gì mà khi vào giữa thành phố rồi đường vẫn rất đông.

Có đoạn kẹt đường, phải nhích lên từng tí một.

Tuy là lái xe chưa thành thục lắm nhưng tôi cũng "luồn lách" ra trò.

Chiếc Jeep mui trần, cửa võng (thực ra là không có cửa) cứ phăm phăm tiến tới.

Có hai lần cái tai hồng của bánh trước cạ vào xe khác.

Người lái xe quay sang lườm chúng tôi.

Thì tôi, cũng quay sang lườm lại có ý nói: "đáng gì đâu".

Thấy sắc lính, đen đúa, nét mặt nghiêm nghị quá, lại thêm mấy khẩu AK và K54 nên người lái xe cũng đành ngoảnh đi nơi khác.

Chăc hẳn anh ta phải chửi thầm: "mấy thằng lính nông dân này !

Không thèm chấp !"

Tôi cũng chiều mấy anh xê bê nên chở mấy lão đi qua các khu vực có cửa hàng để mua đồ.

Vậy là tôi cũng chẳng khác gì thằng Nguyên trên ban 2.

Tôi không còn nhớ họ mua gì và tôi cũng không vào cửa hàng mà chỉ ngồi trên xe.

Sau khi mấy "bần cố" được thỏa mãn vì đã mua được đồ thì đi đâu bây giờ là tùy tôi.

Chẳng biết chúng tôi đã đi qua những con đường nào.

Bây giờ muốn đến dinh lại phải hỏi thăm đường.

Tôi nhớ sau khi hỏi thăm đường, trong lòng hơi thắc mắc.

Tại sao người ta chỉ đường cho mình có đoạn đi hình chữ "U" thế này.

Tới ngã tư kia rẽ luôn có phải ngắn hơn không.

Tôi đi theo đúng ý nghĩ của mình, rẽ vào một con đường khá đẹp.

Dòng ô tô và xe máy nườm nượp.

Mọi người đi ngược chiều với chúng tôi đều phải tránh và có biểu hiện gì đó bất bình thường.

Tôi bật ra:

- Chết rồi !

đi vào đường một chiều.

- Kệ nó !

Cứ đi đi !

Nhưng mày đi sát bên phải quá !– Anh Triêm nói.

Chắc là dòng xe chạy ngược với chúng tôi, thấy xe lính nên lại . . .

"không thèm chấp".

Rồi chúng tôi cũng đến được Dinh Độc Lập.

Ba người xuống, để lại anh Thắng trông xe (có lẽ trông đồ còn quan trọng hơn).

Dinh không mở cửa cho vào.

Lính quân cảnh đứng gác nghiêm chỉnh.

Chúng tôi chỉ đứng ngoài ngắm nghía.

Chán rồi thì ra vườn cây rất rợp bóng phía trước dinh.

Chúng tôi nghỉ ngơi và ngắm đường phố với nhiều người và xe cộ.

Trông thật nhộn nhịp và thanh bình.

Thế mà đã 11 giờ.

Anh Triêm bảo:

- Thôi, về đi !

- Anh còn tiền, cho em chụp kiểu ảnh.

Thế là tôi có tấm ảnh thứ hai, chụp riêng, đứng trước dinh Độc Lập.

Lại là ảnh lấy ngay.

Lần này, sau khi xem ảnh, thấy một thằng lính đứng giữa trưa nắng, mặt đen ngòm, không nhận được ra là thằng nào.

Cái lão thợ ảnh này không để ý đến ánh sáng.

Đáng lẽ hắn phải có tấm hắt sáng hay ít ra cũng phải bảo tôi bỏ mũ ra mới phải.

Thôi thì, đằng sau lưng có cái "dinh" là được rồi.

Anh em cứ nhìn cái hình này mà xem - đen thui, đen thủi.

Xê Hai Mươi ở Cát Lái hơn một tuần thì chuyển về Phú Hội, thuộc huyện Nhơn Trạch.

Ở đây, lính tráng cũng không phải tập tành hay họp hành gì.

Nhưng mà có một chuyện quan trọng.

Ấy là truy quét tàn binh.

Việc truy quét này không phải chỉ riêng có đơn vị tôi mà rất nhiều đơn vị phải làm.

Chúng tôi chỉ tổ chức lùng sục vào ban ngày.

Chiều đến lại về.

Thời bình rồi mà bây giờ lại phải lội ruộng, băng rừng rậm vào những chỗ nguy hiểm thì ai nấy đều rất ngại.

Bây giờ mà "đòm" một cái thì thôi "xong".

Nhiệm vụ thì vẫn phải thi hành nhưng làm sao đây để tránh được thương vong.

Vì vậy, dù chỉ là truy tìm một nhóm tàn quân nhỏ thì mình cũng phải đi thật đông để chúng nó sợ mà ra hàng hoặc bỏ chạy.

Đến những khu vực nghi vấn thì hô hét địch đầu hàng.

Những chỗ nghi ngờ địch có thể dùng làm nơi trú ẩn thì rải truyền đơn kêu gọi ra trình diện chính quyền cách mạng.

Về phía tàn quân địch.

Đây là số lính "tùy nghi di tản" khi bị ta tấn công.

Rất có thể nhiều người chưa biết tình hình miền nam đã hoàn toàn giải phóng nên họ cứ sống trốn tránh chui lủi hết chỗ này sang chỗ khác.

Một số ít là lính ngoan cố, tụ tập nhau để đánh lén vào những anh em đi lẻ, . . . .

Tuy nhiên việc truy quét tàn quân cũng không lâu lắm.

Tự chúng cứ tan rã dần và ra trình diện.

Đại đội tôi cũng có phải nổ súng nhưng không bắn chết ai và mình cũng không có thương vong gì.

Anh em được nghỉ ngơi an dưỡng, được ngủ thoải mái, ăn uống đầy đủ.

Những lúc nhàn rỗi thế này thì món "tiến lên" và "đánh ù" là rôm rả nhất.

Đánh ù là kiểu đánh bắt chước tổ tôm, cũng có phỗng, có ù, . . .

Chán rồi thì ra đường LTL25 đứng hóng.

Tốt nhất là ở trong nhà hoặc ở ngoài đường chứ đừng lãng mạn mà thơ thẩn trong vườn rừng.

Bất cứ lúc nào cũng có thể, một trái sầu riêng rớt xuống đầu.

Mà, cây sầu thì rất cao, trái sầu lại lớn, vỏ sầu rất cứng và đầy gai nhọn.

Nghe xôn xao chuẩn bị chuyển quân, toàn sư đoàn ra bắc.

Thế thì sướng thật ! thể nào cũng được về nhà, nếu không được phép thì cũng "tút" cái đã.

Một hôm, vừa cơm sáng xong thì liên lạc xuống báo: "Anh Nhung và anh TichTuongNhuLe ngay bây giờ lên sư đoàn để thi sát hạch lái xe".

Chả là, sư đoàn có nhiều xe chiến lợi phẩm và muốn mang theo tất cả ra bắc.

Anh Nhung chở tôi trên chiếc xe Jeep đến bãi sát hạch.

Trên đường đi anh bảo:

- Sát hạch thì khó nhất là dồn số liên tiếp, mày cẩn thận đấy.

Ngón này là dùng để qua phà.

Nếu qua phà được thì coi như tốt.

- Sao anh biết nhiều ngón thế ?

- Tao làm cần vụ mấy năm, lúc nào chả ở cạnh thằng lái xe.

Các loại xe Commăngca, Bắc kinh, rồi Uaz tao lái mãi rồi.

- Ờ !

Bố lái thạo quá nên hôm ở Phan Thiết mới biểu diễn xiếc, tiết mục "lật xe".

Anh Nhung cười hì hì và nói:

- Tao không ngờ xe "dép" nó lại dễ lật thế, chỉ cua hơi nhanh thế mà nó lật.

May quá, không thằng nào việc gì.

Năm sáu thằng nhảy ra được hết.

- Chuyện này em biết rồi, sau hôm anh lật xe, em chở chúng nó đi chơi.

Lúc về đến nhà, vào cái dốc từ dưới

đường lên nhà, em vẫn để số ba.

Thế mà, tăng ga một cái là xe đã vọt lên.

Mấy thằng tưởng em sẽ đâm vào

nhà.

Roạt một cái, chúng nó đã nhảy xuống hết rồi.

Chúng nó bảo, tại hôm qua anh cho xe lật, nên bây giờ phải cảnh giác.

Hai anh em đến bãi thi sát hạch tay lái hơi muộn hơn mọi ngươi.

Chúng tôi lẳng lặng ngồi vào hàng chờ gọi đến tên mình.

Hai hàng thí sinh ngồi bệt dưới đất.

Giám khảo ngồi trên ghế, sau hai chiếc bàn liền nhau.

Chỉ có một chiếc xe Jeep của giám khảo dùng để thi tay lái.

Khi một người được gọi tên thì lên xe ngồi sau tay lái còn một vị giám khảo ngồi ở ghế bên cạnh.

Xe phải lái theo một đường qui định với quãng đường khá dài, lên dốc, xuống dốc, lượn vòng trái, vòng phải, ngoằn nghoèo, đủ cả.

Mé bên phải đường, từng đoạn lại có biển yêu cầu người lái phải đi số mấy, dừng xe, tắt máy, khởi động, . . .

Tôi chẳng phải chờ lâu.

Khi người trước vừa cho xe đi thì giám khảo đã đọc trên tôi: "TichTuongNhuLe chuẩn bị".

Tôi phải chờ chừng mươi phút thì chiếc xe mới quay về.

Đến lượt mình rồi, nhanh thật.

Tôi lên xe, nổ máy thì một vị giám khảo mới bước lên.

Anh ấy khá nhiều tuổi, đầu đội một chiếc mũ mềm ( lưỡi chai), nét mặt dày dạn "con nhà xế".

Thực tình, lúc mới gọi tên, tôi cũng hơi hồi hộp.

Bây giờ thì hết rồi.

- Chạy đi ! chú ý làm theo đúng biển chỉ dẫn đấy !.

- Vâng !

Tôi nghĩ là mình may mắn vì được lái một chiếc xe Jeep.

Xe này thì tôi đã quen rồi, không mất công bỡ ngỡ lúc đầu.

Nhưng mà, . . . không phải như vậy.

Ngay từ đầu, tôi tăng ga nhẹ và nhả côn đồng thời, quá ngon lành.

Nhưng tôi đâu có ngờ chiếc xe này không giống xe tôi đã quen chạy.

Mới chỉ hơi nhả côn một tí mà nó đã bám liền, làm chiếc xe bị giật về phía trước.

Chiếc mũ mềm của anh giám khảo bay khỏi đầu và rơi ra ghế sau.

Khỉ thật !

Chiếc xe tôi vẫn lái thì còn phải nhả côn một đoạn xa nó mới bắt, vậy mà . . .

Hai hàng thí sinh nhất loạt "Ồ !" lên một tiếng.

Tôi còn nghe lao xao tiếng cười và tiếng bàn tán của mọi người.

Tôi nghe rõ tiếng thở dài của anh giám khảo.

Liếc mắt qua, thấy mặt anh ấy vẫn lạnh tanh, nghiêm nghị.

Vậy là mình mất điểm ngay từ đầu.

Tôi tự động viên sẽ cố gắng để bù lại.

Quả thật, đoạn đường đầu tiên có ngoằn nghoèo một chút, cũng chỉ là dịp cho tôi gỡ lại chút điểm.

Đến đoạn lên một quả đồi dốc, vẫn ngon vì chiếc xe Jeep rất khỏe và tôi cũng kịp xuống số thấp ở giữa dốc.

Dừng xe giữa dốc rồi đi tiếp lên dốc thì tôi dùng phanh tay kết hợp với côn ga, cũng tạm ngon.

Tôi làm khá tốt theo những gì ghi trên biển yêu cầu.

Sau khi lên đỉnh đồi, chiếc xe tăng tốc rồi ngoặt trái.

Bất ngờ, đoạn trước mặt xuống rất dốc để rồi ngay lập tức lại lên dốc.

Vừa xuống dốc vừa lên dốc trên một đoạn rất ngắn.

Thế mà, liên tiếp năm sáu cái biển chỉ cách nhau khoảng 2 đến 3 mét.

Số 4, số 3, số 2, số 1, số 2, số 3.

Thì ra là đoạn dồn số mà anh Nhung nói – lên phà, xuống phà đây.

Các tấm biển quá gần nhau, xe thì đang chạy nhanh làm tôi lúng túng và không chuyển kịp số theo yêu cầu.

Trên đường cho xe về, đến đoạn bằng phẳng, dễ dàng nhất thì anh giám khảo bảo tôi:

- Thôi, về nhá !

Cứ tưởng dễ lắm phỏng ?

Cũng may mà anh ấy không nói gì nặng lời.

Chuyện tôi đi thi sát hạch lái xe và "trượt vỏ chuối" là như vậy.

Thế mới biết, cái gì biết "tay mơ" thôi thì dễ nhưng dính vào "thi cử" lại là chuyện khác.

Ở Phú Hội một thời gian một hai tuần, Xê Hai mươi lại chuyển về đóng ở Thành Tuy Hạ.

Ấn tượng nhất của tôi về cái "Thành " này là bẩn.

Bẩn vì hệ thống thoát nước quá tồi và vì dòng sông Đồng Nai bấy giờ nước rất lớn.

Nước cuốn đủ thứ rác rưởi, xác người, xác súc vật và tấp vào bờ.

Chúng tôi cũng không ở đây lâu.

Chắc khoảng một tuần đến mươi ngày thôi.

Thế mà bệnh dịch bắt đầu hoành hành.

Rất nhiều anh em ngã bệnh.

Những cơn sốt cao đến 40 độ và kéo dài ngày.

Bệnh dịch ngày càng lây lan trong đơn vị.

Thứ bệnh dịch này chúng tôi chưa hề mắc nên đơn vị cũng không có kinh nghiệm chữa trị.

Cứ thấy sốt là cho thuốc hạ sốt.

Về sau này, khi nhiều người mắc bệnh, lúc đó chúng tôi mới nghe nói đây là dịch sốt xuất huyết hay siêu vi trùng gì đó và không có thuốc điều trị.

Đơn vị chúng tôi chuyển về Căn Cứ Nước Trong.

Căn cứ này còn được gọi là "Trường Bộ Binh".

Gần Trường Bộ Binh còn có Trường Thiết Giáp.

Trước kia là như vậy.

Có lẽ bây giờ, cả Trường Bộ Binh cũ và Trường Thiết Giáp cũ gộp thành một khu vực gọi là "Nước Trong".

Trong đó có bãi tập tăng và thiết giáp rất rộng lớn.

Sư đoàn bộ của Sư 325 đóng ở đây cùng nhiều đơn vị trực thuộc.

Xê Hai Mươi của chúng tôi ở trong hai dãy nhà hai tầng.

Mỗi tiểu đội ở hai ba phòng vì các phòng này khá nhỏ.

Có lẽ mỗi phòng trước dây dành cho một sỹ quan học viên.

Bốn anh em chúng tôi ở một phòng.

Trải tăng xuống nền nhà làm giường. a2 của tôi ở ba phòng trên tầng hai.

Đơn vị không phải tập tành gì.

Ai khỏe mạnh thì đi chơi và phục vụ cơm nước cho người ốm.

Tôi nhớ, hình như đại đội tôi cũng được ăn cơm ở bếp của sư đoàn nhưng hàng ngày phải cử người xuống phụ bếp cho anh nuôi ban 5.

Điều kiện ăn ở đây vệ sinh hơn rất nhiều ở Cát Lái và Thành Tuy Hạ, Căn cứ thì rộng mênh mông.

Có việc gì lên ban 2 sư đoàn cũng phải đi bộ rất xa.

Đi ăn cơm thì xếp hàng đi đều đàng hoàng xuống nhà ăn.

Tổ chức ăn ở có vẻ "chính qui hiện đại" quá làm cho lính trinh sát hết chỗ quậy.

Nhà dân và các hàng quán cũng rất xa.

Vả lại, muốn ra khỏi cổng căn cứ lại phải qua trạm gác của vệ binh.

Thật là phiền toái.

Trung tuần tháng 6/1975, nghe lao xao tin đồn, sinh viên được giải ngũ về học tiếp.

Đối với những lính sinh viên, đây là một cái tin tuyệt vời nhất.

Đó là nỗi mong mỏi của các chú sinh viên.

Mong mỏi này mạnh đến đâu ?

Chắc mọi người đều hiểu.

Tôi xin kể chuyện của 6971 để anh em hiểu thêm.

Giữa năm 1974, có vụ trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự đi tuyển học viên ở sư đoàn tôi, là sư đoàn có nhiều lính sinh viên nhất.

Bác 6971 được gọi lên thẩm vấn.

Tốt rồi !

Thế nhưng bác ấy lại xin phép cho về suy nghĩ rồi sẽ trả lời sau.

Năm bảy tư thì đã ai nhìn thấy tương lai gì đâu.

Có thể chiến tranh còn ác liệt và kéo dài.

Một đằng được ra bắc học, một đằng tiếp tục lính chiến.

Còn gì phải chọn nữa ?

Bác 6971 rủ tôi lên đồi vắng, chỉ có hai người.

Sau khi bàn đi tính lại mãi.

Cuối cùng thì bác ấy mới quyết định ra bắc đi học vì ít nhất cũng được về nhà cái đã, rồi sau tính tiếp.

Bây giờ hết chiến tranh, sinh viên được ra bắc học ngay.

Thật không có gì vui sướng bằng.

Anh em trong đại đội đều mừng cho mấy thằng sinh viên được ra quân sớm.

Vương Lâm, a phó tiểu đội tôi bảo:

- Ông có việc gì, hay muốn đi đâu thì tranh thủ đi đi, tiểu đội cứ để tôi lo.

- Ừ !

Ông làm giúp nhé !

Không phải tất cả sinh viên đều được ra đợt đầu.

Những sinh viên nhập ngũ năm 1972 chưa được ra.

Đại đội tôi có Hùng "Côn" và An "Đen" ở A12.

Không nhớ Hùng kiếm đâu ra máy ảnh và phim.

Hai thằng rủ nhau vào Sài Gòn chơi một ngày và chụp ảnh.

Lúc về đến Nước Trong, sư đoàn đã tịch thu xe Jeep của chúng tôi.

Hai thằng phải ra đường QL15 bắt xe đò.

Bộ đội vẫn chẳng có tiền nên nhà xe toàn phải cho "quá giang".

Khi tới trung tâm Sài Gòn, chúng tôi xuống xe đi bộ.

Điểm đầu tiên là bến Bạch Đằng.

Đi tới đâu, thấy cảnh gì đẹp hay hoành tráng thì chụp ảnh.

Thằng này chụp cho thằng kia rồi đổi nhau.

Sau khi ngắm nghía và chụp ảnh ở bến Bạch Đằng, hai thằng đi dọc theo đường Nguyễn Huệ.

Đây là một con đường đẹp nhất bấy giờ.

Trên con đường này lúc đó có một tòa nhà cao nhất thành phố, 16 tầng.

Hết đường Nguyễn Huệ, gặp đường Lê Lợi.

Đường này cũng to và đẹp chẳng khác gì đường Nguyễn Huệ.

Đoạn đường này thì tôi quá quen rồi vì đã hai lần tới đây.

Hạ Nghị Viện nằm trên đường Tự Do còn Tòa Đô Chánh nằm trên đường Lê Thánh Tông.

Tới đây hai thằng mới nghĩ ra nhờ một toán thanh thiếu niên chụp hộ, rồi còn chụp chung với họ một kiểu.

Hai thằng lang thang tới Bưu Điện.

Chỗ này ngay kề với Nhà Thờ Đức Bà, còn gọi là "Vương Cung Thánh Đường".

Cái tên nhà thờ làm tôi nhớ đến chuyện "Thằng Gù Ở Nhà Thờ Đức Bà Paris" của Hugo.

Đang loay hoay tìm người chụp hộ thì gặp Nông Văn Tàu.

Tàu là a trưởng a3 của trung đội tôi và là giáo viên võ thuật của đại đội.

Hắn đi chơi Sài Gòn một mình.

Bây giờ tôi không còn nhớ có lý do gì đó mà hắn không nhập hội cùng chúng tôi.

Sau khi nói chuyện ồn ào một lúc, chụp mấy kiểu ảnh thì Chúng tôi rẽ đi hai ngả.

Hùng và tôi vào tham quan nhà thờ rồi mới rẽ vào đường Công Lý để đến Dinh Độc Lập.

Khi về Hà Nội, tôi chọn lọc một số kiểu để in ra ảnh vì lúc đó không có tiền để in toàn bộ cuộn phim.

Vậy mà, cái nào thành ảnh rồi thì bây giờ còn tạm được, phim thì mốc quá, có in ra ảnh cũng khó mà có thể nhìn ra cái gì.

Lúc nào scan lại mấy cái ảnh, tôi sẽ post lên để anh em "dòm" tạm.

Lính sinh viên chúng tôi được về đi học ai cũng "mở cờ trong bụng".

Tuy vậy, đã quen với việc thay đổi xảy ra bất cứ lúc nào, cho nên ai nấy rất hồi hộp.

Chỉ khi nào cầm quyết định ra quân mới có thể chắc chắn.

Vả lại, được về nhưng phải chia tay anh em thì không khỏi bùi ngùi, bin rịn.

Trong đại đội tôi, từ ban chỉ huy đại đội đến anh em trong tiểu đội, ai ai cũng mừng cho chúng tôi.

Anh Trương Thế Nhạ, đại trưởng, cứ cầm tay tôi lắc lắc:

- Cậu được về học thì tốt rồi.

Lúc nào ra đến nơi, nhớ viết thư cho tớ.

Khi nào tớ được về phép, tớ sẽ mang huân chương ra cho cậu.

Cậu cứ yên tâm !

Anh Nguyễn Xuân Triêm, xê phó thì cứ ôm lấy tôi và kéo tôi ra chụp ảnh kỷ niệm.

Anh Lê Hồng Thanh xê viên thì chạy lên phòng tham mưu lo giấy chứng thương cho tôi.

Lúc mang giấy chứng thương về, tôi xem và bảo anh ghi thiếu một vết thương:

- Em còn bị một vết vào đít nữa đây này.

Bây giờ chỉ ngồi được một bên mông thôi.

- Đọc đi, mình viết bổ sung vào cho, vẫn là chữ viết của mình mà.

Được rồi, sau này nhớ khám thương nhé !

- Em nghĩ cái giấy này là một kỷ niệm thôi, em bị thương có tí tẹo, ăn thua gì mà khám.

Cái giấy chứng thương, tôi gấp tư, nhét vào túi ngực.

35 năm sau tôi mới đi khám thương thì nó đã rách thành 4 mảnh, may mà không mất chữ nào.

Người ta giám định thương tật và phong chức cho tôi thành thương binh loại bét.

Anh Đặng Ngọc Ánh, xê viên phó thì ngậm ngùi, chẳng nói được câu nào.

Anh chỉ nhìn tôi và cười, vẫn nét cười hiền lành.

Trong anh có gì đó mặc cảm.

Hẳn là anh đang nghĩ: "Tụi bây có học sướng thiệt, chỉ có tau ít học, chả bao giờ được như tụi bây !"

Chia tay với anh em còn bịn rịn hơn.

Mọi người tíu tít ghi chép địa chỉ.

Quang Nhật tặng luôn tôi một quyển vở để ghi địa chỉ mọi người.

Ai có gì hay hay đều tặng tôi làm kỷ niệm.

Nào thì cạo râu cánh cụp cánh xòe, nào bộ thìa inox, nào thì ảnh nổi, . . .

- Anh ơi, em tặng anh giấy Mỹ này, anh xem, giấy trắng không ?

Anh học đại học viết giấy này thì nhớ đến em nhé !

- Nhớ chứ !

Vương Lâm, a phó tiểu đội tôi thì lúc nào cũng cặp kè bên cạnh.

Tôi tặng Lâm cái đồng hồ nữ, chiến lợi phẩm lấy trong đồn hôm 30/4.

H thì tặng tôi chiếc đồng hồ Orient mạ vàng.

Chúng tôi lên xe ngay ở căn cứ Nước Trong.

Mọi người ra tiễn rất đông.

Trước khi lên xe, tôi bất ngờ ôm Lâm và hôn vào má nó một cái.

Đó là nụ hôn đầu tiên.

Vì quá bất ngờ nên Lâm đứng chết lặng đi giờ lâu, hình như mắt hắn ngân ngấn nước.

Sư đoàn còn tặng quà cho mỗi sinh viên 2 mét vải khổ đúp.

Tôi được mảnh vải màu "gà con".

Sau này hai cô em gái, mỗi đứa được một chiếc áo rất đẹp.

Ba lô của tôi đã chật căng lại còn xách thêm một cái va li con nữa, trông thật nhếch nhác, chẳng ra làm sao.

Ra đến Hố Nai, có thủ tục kiểm tra quân trang.

Tôi đành cắn răng nộp mất khẩu colt 6 cùng mấy hộp đạn.

Cái va li, may mà không phải nộp.

. . . . (hết chuyện Vượt Sông Đồng Nai . . .)

HUYỆN XXIV MỘT CHUYỆN ĐIÊN RỒ

Tháng 12/1972 chiến sự ở khu vực Như Lệ – Tích Tường đang rất ác liệt.

Anh em trung đoàn 95 đang chốt ở Như Lệ và Tích Tường ngày đêm phải chịu pháo kích của địch.

Rồi thì những cuộc tấn công dữ dội bằng xe tăng và bộ binh của địch để nhổ các chốt của ta ở đó.

Càng gần đến ngày ngừng bắn, chiến sự càng ác liệt.

Bến vượt từ Thượng Phước qua Như Lệ bấy giờ phải vận hành hết công suất cũng không xuể để tải thương binh qua sông hàng đêm.

Vấn đề không phải là năng lực vận tải của công binh e95 không đủ sức mà do trên sông Thạch Hãn địch ngày đêm bắn pháo để ngăn chặn.

Chuyện này bác NguyenHuuLuan là người trực tiếp.

Đại đội trưởng của bác ấy sợ chết đã bỏ trốn khi c17/e95 tham chiến tại bến vượt Thượng Phước sang Như Lệ - Đá Đứng.

Trích:

Sau này tôi biết do Ô. sợ "chết" nên bắt TĐội tôi phải về Cứ để Ô. không phải xuống chỗ nguy hiểm.

Rồi Ô. cũng bỏ trốn vào giai đoạn Đại Đội tham chiến ác liệt nhất tại NHƯ LỆ- ĐÁ ĐỨNG.

Hỏa lực cối 82, DKZ, 12ly7 của ta chủ yếu bổ trí ở bờ tả ngạn của sông để yểm trợ cho bộ binh giữ chốt ở hữu ngạn.

Phải qua lại sông nhiều nhất là công binh và thông tin.

Mỗi lần anh em qua sông có khác gì "Cảm Tử Quân" đánh bom ba càng năm 1946 ở Hà Nội.

Chỉ khác ở chỗ không có lễ truy điệu trước khi anh em xuất phát.

Hai thằng bạn tôi, một thằng lớp A và một thằng lớp B Chế Tạo Máy K15 ĐHBK, một thằng hỏa lực ở bên này sông (bên ta) và một thằng thông tin ở bên kia sông (bên có địch).

Nhớ lại đêm 15/9/1972, trung đoàn cho lệnh rút qua sông Thạch Hãn từ Dinh Tỉnh Trưởng.

Cũng con sông này đây, ngày ấy, Trịnh Thúc Doanh vừa nhào xuống sông thì một loạt pháo dội tới.

Lớp A Chế Tạo Máy K15 mất thêm một bạn.

Những đứa Chế tạo Máy K15 còn lại, bây giờ mỗi đứa một nơi.

Tôi sẽ gọi hai đứa bạn ấy là "Thằng Bên Này" và "Thằng Bên Kia" cho nó dễ vì không tiện gọi tên thật.

Nếu không, chúng nó đánh tôi chết mất vì bảo chúng nó là điên rồ.

Lại một ngày, lúc ngơn ngớt pháo, Thằng Bên Này ló đầu ra khỏi hầm để nhìn sang bên kia sông Thạch Hãn.

Giời ơi !

Sao mà chúng nó cứ bắn mãi thế?

Chúng nó bắn ở trên chốt, chúng nó bắn cả khu vực hầm của Thằng Bên Kia nữa.

Không biết Thằng Kia đang ở trong hầm hay đang chạy ra ngoài để nối dây ?

Mấy quả pháo khoan liệu có "xin hầm" Thằng Kia không biết?

Xót ruột quá !

Hầm Thằng Bên Kia bị khói bụi và đất đá che phủ hết cả rồi, không còn nhìn thấy gì.

Thằng Bên Này cứ chổng mông lên mà nhìn, mà soi mãi.

Thằng Này cố hình dung ra khuôn mặt trái xoan héo của Thằng Kia, mắt cay cay.

Mà, Thằng Kia nó cũng láo thật.

Nó kém mình những ba tuổi mà lúc nào cũng mày tao.

Phải công nhận là nó rất gấu.

Nó bảo:

- Từ bé bố tao đã dạy tao: "Ra đường đánh nhau thì đánh nhưng cấm được khóc !"

Mày thấy bố tao

dạy tao có đặc biệt không?

Mày đã thấy ông bố nào dậy con như thế chưa ?

Tao cũng là thằng có hiếu

lắm chứ, tao nghe lời bố tao, có đánh nhau sứt đầu mẻ trán cũng không bao giờ khóc.

Quê Nam Định

của tao cũng nhiều thằng to con và gấu lắm.

Nhưng không bao giờ tao từ chối bất cứ thằng nào.

Không bao giờ tao rút lui trước bất cứ ai.

Mày phải biết, ở quê, tao đã là thằng nổi tiếng đầu gấu, học

sinh cá biệt, vân vân và vân vân.

Mày làm sao đòi làm anh tao được.

Mày là mày, tao là tao "éo" có

chuyện anh em nhá !

Thằng Này vừa nhìn qua sông vừa nghĩ lại lời Thằng Kia nó tỷ:

- Còn mày á !

Mày được đi Tây học, không đâm đầu vào học lại đâm đầu vào gái, rồi lại còn đao búa,

đâm chém.

Nghĩ, Nhà Nước mình cũng hay, họ đuổi mày về để mày phải xuống lớp học cùng khóa với

tao.

May mà mày không cùng lớp tao, không thì tao đá đít mày lâu rồi.

Nghĩ mà tức, lúc nào nó cũng làm cho mình "mất điện".

Sao nó bắn mày lâu thế hả Thằng Kia.

Mày mà không chết, về đây tao đá đít mày.

Nếu nói người rồ là người làm những việc mà người khác không làm thì hai thằng này đúng là hai thằng "Rồ".

Không phải chúng nó chỉ "rồ" khi nói chuyện, khích bác nhau mà còn "rồ" cả trong hành động nữa.

Chuyện "rồ" của chúng nó chỉ xuất phát từ hai điếu thuốc lào.

Lại chuyện thuốc lào !

Chuyện này thì bác phamphuviet đã nói rồi.

Đây này:

Trích:

Lúc đó chính điếu thuốc lào đã tạo ra sự thăng hoa, đê mê những lúc căng thẳng.

Có thể nói điếu thuốc lào (hay nói đúng hơn là cái chất ni cô tin trong nó) đã làm chai lỳ các đầu dây thần kinh cảm giác, làm cho lính ta quên đi những căng thẳng của hoàn cảnh, tạo sự bình tĩnh xác quyết, vượt mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ.

Bác phamhuyviet đã tổng kết chung đầy đủ cái thuốc lào rồi.

Ấy vậy mà vẫn còn có chuyện riêng, thuốc lào, của Thằng Này và Thằng Kia đấy.

Thằng Này cứ nhấp nhỏm dõi theo từng loạt pháo đang "xin đủ thứ" ở bên kia.

Mẹ bố chúng mày ! chúng mày cứ bắn bố chúng mày mãi thế.

Ông mà bắt được thằng nào thì chỉ có "xẻo" !

Bất chợt, nhất loạt các họng pháo đều im bặt.

Chỉ còn lại tiếng ong ong, ù ù trong tai.

Thằng Này bật ngay khỏi hầm.

Nó chạy sang hầm xê trưởng :

- Em gọi sang chốt cái !

Nó quay chuông thấy nằng nặng tay.

Vậy là đường dây qua sông vẫn còn thông.

Nó nhấc tổ hợp:

- A lô ! . . . .

A lô !

Sao im thế ?

Ngỏm hết rồi chắc ?

Bỗng nó nghe một tiếng nói khê nồng, khàn khàn ngái ngủ:

- A lô !

- Anh em bên ấy sao rồi ?

- Thằng Này Hả ?

Tao đây !

- Một giọng nghe như giật mình khỏi cơn ngủ.

Thì ra là chính Thằng Kia đang nói với nó.

Thằng Kia, thông tin mà chả mấy khi chúng nó nói chuyện với nhau qua đường dây.

Chỉ có khi nào kiểm tra đường dây Thằng Kia nó mới quay và gọi thử.

- Ừ !

Thằng Này đây.

Mày chưa chết hả ?

Vẫn còn gáo hả ?

Thế có mất chỗ nào không ?

- Tao bị rồi ! – Tiếng Thằng Kia lại từ từ, khàn khàn như tiếng ma.

- Mày bị sao thế ?

- Thằng Này sốt ruột quá vì Thằng Kia nó cứ ậm ừ, mãi mới nói:

- Tao thèm thốc lào quá !

- Tiên sư mày !

Tao mà sang là tao đá mày chết !

- Ừ !

Mày đá tao chết chắc sướng hơn pháo nó đá.

Mày sang đây mà đá !

Thằng Kia nhảy khỏi hầm.

Nó đi nối lại đường dây lên chốt.

Xong việc, nó ngồi trong hầm đang lần lần nhặt sái thuốc.

Lần đâu ra được sái ba cơ chứ.

Nó thở dài.

Chợt nó nghe tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch ngoài cửa hầm.

Rồi một thằng, trần trùng trục lao vào trong hầm.

Nước trên người nó và trên cái quần đùi ống rộng nhỏ tong tỏng, miệng nó quát rất to:

- Thằng Kia đâu ?

Tao sang đá chết mày đây !

- Thằng điên !

Mày sang đây làm gì ?

Pháo nó sơi tái mày.

Mày ngu quá !

- Tại mày bảo thèm thuốc lào.

Thuốc của mày đây.

Tao lấy của xê trưởng được có hai điếu.

Lúc về hầm cởi quần áo để bơi sang mày, mấy thằng nó xin mãi tao không cho đấy.

Nói rồi, Thằng Bên Này móc từ hai lỗ tai nó, mỗi bên một viên thuốc to bằng hạt lạc.

Hắn nói:

- Thôi, tao té đây ! – Nó vọt ra khỏi hầm rồi lao xuống sông.

Thằng Bên Kia nhoài ra khỏi hầm, ngóng theo cái đầu nhấp nhô trên dòng nước, miệng lẩm nhẩm:

- Mẹ mày !

Nhanh lên, nhanh lên . . . .

- Nó ngó theo bạn rồi lại ngoái đầu nhìn lên cao điểm 29.



cầu cho mấy thằng tiền sát pháo trên đó đui hết một lượt – Nhanh lên !

Nhanh lên ! . . .

* **

Ngày giỗ Trịnh Thúc Doanh lần thứ 39, tôi ngồi cùng hai thằng.

Chúng nó kể lại chuyện này.

Thằng Bên Kia quát vào mặt Thằng Bên Này:

- Mày đúng là điên rồ ! – Rồi nó vỗ vào tôi và bảo:

- Mày thấy tao có sướng không ?

Ở đời chả ai sướng như tao !

- Tao thấy, chưa có ai điên như chúng mày.

Nhưng mà, tao cũng chưa thấy chuyện nào lãng mạn

như chuyện hai điếu thuốc lào của chúng mày.

. . . (hết chuyện XXIV)

Chuyện XXVIII VỢ CHỒNG DU KÍCH – BIỆT KÍCH (1)

Năm 1967 chị về nhà chồng trong một đám rước dâu tưng bừng.

Trong bộ vét mới, trông anh rất điển trai, phong trần.

Còn chị, chắc chắn là một cô dâu xinh đẹp rồi.

Con gái làng này mấy ai được như chị, khuôn trăng vành vạnh, nước da rám nắng, tươi tắn, nở nang.

Dáng người cao, đang độ xuân thì của chị làm cho nhiều trai làng chết mê chết mệt.

Vậy mà chị lại chọn anh, một chàng trai ngang tàng ngỗ ngược nhất làng.

Chị thích cái tính mạnh mẽ và quyết liệt của anh, chị thích cái tính phiêu lưu, bất cần đời của anh.

Một lễ vu qui đình đám, nhộn nhịp nhất làng Quất Xá.

Ở cái làng này, nhiều nhà có con em đi lính Quốc Gia, nhiều nhà theo Việt Cộng.

Có nhà cha mẹ và anh trai làm Việt Cộng mà người em lại đi lính.

Nhà nào Việt Cộng hay Quốc Gia trong làng đều biết cả nhưng không có sự phân biệt gì, cũng không có chỉ điểm hay ác ôn tàn sát, truy bức các gia đình Việt Cộng.

Trong làng biết với nhau thôi.

Một cái làng rất "lành".

Ba mẹ gả chị vào nhà ông bà đây, cũng một phần vì bố mẹ chồng chị là những người theo VC, nuôi và che dấu cán bộ.

Chồng chị là con trai một, ba mẹ chị lại hiền lành và rất quí con nên chị cảm thấy thoải mái và hạnh phúc.

Đất nhà chồng rất nhiều nên chị được thỏa sức làm lụng, suốt từ sáng đến tối "gieo lúa, trồng khoai".

Sức gái đang thì, mọi việc cứ băng băng như người ta thường bảo "chửa con so, làm cho hàng xóm".

Nhưng năm sáu bảy là năm bắt quân dịch rất gắt.

Anh phải thường xuyên chốn chạy quân dịch.

Lúc thì anh chạy vào Huế, lúc thì trốn ở thị xã Quảng Trị.

Tưởng như thế là yên.

Ai dè, mấy thằng xã xuống bắt ông già, tra hỏi, đánh đập vì tội che dấu Việt Cộng.

Không tìm được chứng cứ, chúng thả về rồi vài ngày lại bắt.

Anh căm lắm, tìm bằng được mấy thằng xã, đánh chúng một trận tả tơi rồi bỏ trốn biệt tích.

Anh không nhảy núi theo Việt Cộng vì sợ cha mẹ và vợ con ở nhà bị o ép.

Tính sao đây ?

Rồi anh quyết định sung vào lực lượng biệt kích Mỹ chỉ với một chủ định đơn giản là về quê dằn mặt mấy thằng xã.

Chưa tới một năm, cả nhà càng hạnh phúc hơn khi chị sinh một thằng cu kháu khỉnh mà ba nó cứ nhất quyết đặt tên là Nga.

Ba cu Nga không có nhà mà đang ở Làng Vây, nơi đơn vị biệt kích đang cùng chốt giữ khu vực Khe Sanh cùng TQLC Mỹ và và TQLC của VNCH.

6 tháng trời huấn luyện tại căn cứ biệt kích ở Làng Vây, sau đó hành quân vừa tập luện vừa truy quét Việt Cộng suốt vùng núi non của Quảng Trị, từ Khe Sanh đến Mai Lộc, rồi xuống An Khê.

Khi ở Mai Lộc, gần nhà, anh nhảy về nhà, rình thằng xã khi nó đang đi trên đường 9 và tẩn cho nó một trận thừa sống thiếu chết.

Thằng xã làm đơn gửi cho biệt kích Mỹ, kiện anh.

Bọn biệt kích thường bao che cho nhau những việc làm tàng của lính nên chúng chỉ làm phép chuyển anh đi Huế, coi như đã thi hành kỷ luật.

Đấy là nói chuyện tay biệt kích này sau nhiều ngày khốn đốn ở Làng Vây – Khe Sanh, cho đến sau cuộc hành quân giải tỏa "Scotland II" và cuộc rút lui kéo dài hai chục ngày của Mỹ tại Khe Sanh tới tận 25/7/1968.

Ở thời điểm đó, quân biệt kích (CIDG) là một lực lượng người Việt nằm trong QL/VNCH nhưng do Mỹ tuyển dụng, tổ chức huấn luyện và chỉ huy.

Nhân vật có trong chuyện không phải là lực lượng biệt kích SOG dùng để thả xuống miền bắc vì y là người làng Quất Xá chính gốc, không nói được tiếng Bắc.

Sau những ngày khốn đốn ở Khe Sanh, rồi chạy tháo thân từ khe Sanh về tới Mai Lộc, đơn vị biệt kích của y đóng ngay gần căn cứ Camp Carrol của Mỹ (trên cao điểm 241).

Y được về nhà và lần đầu tiên được nhìn mặt cu con kháu khỉnh.

Nhìn thằng bé cởi truồng mới xinh đẹp làm sao !

Hắn cảm thấy sung sướng và hạnh phúc quá !

Giá như mà quên hết được những ngày trận mạc, máu lửa mới trải qua ?!

Trong bữa cơm gia đình, nhìn cảnh ba mẹ khỏe mạnh, vợ đẹp, con khôn, hắn cảm thấy gai gai trong người,. . .

Bất chợt thằng cu ọ ẹ muốn tè, mẹ nó vội quay nó ra phía ngoài nhưng hắn rất nhanh, ôm vợ quay lại: "cho nó đái vô mâm mới đã chớ !".

Thằng bé tè ngay một bãi vào mâm cơm trong tiếng cười vui vẻ của cả nhà, nhất là ba nó, vừa cười vừa hò hét" Hây . . . !

Hây . . . !"

Sau vụ đánh thằng xã, hắn bị chuyển vô Huế mấy tháng mới được về lại.

Một lần, mượn được xe của gã đại úy, hắn dợt xe thẳng từ căn cứ về, rồi dẹt xe vào thẳng sân nhà.

Mấy cán bộ Việt Cộng đang hội họp định vọt ra sau nhà nhưng má ngăn lại:

- Thằng đó về, kệ nó, nỏ mắc chi mô !

Hắn cảm thấy hãnh diện lắm.

Vốn đã ngang tàng nhất cái làng này, chừ lại dữ dằn trong bộ rằn ri biệt kích.

Phắp một cái, từ trên xe nhảy xuống:

- Chào mấy chú, mấy eng !

- Chứ mậy làm chi mà thăng nhanh dữ hè ?

Có xe Jeep chạy rồi tề ! – Một chú nói.

- Bay mần chi thì mần chứ đừng có bắn vào bà con mình đó !

- Một chú khác tiếp lời.

- Mấy chú nỏ cần nói mấy vụ đó nữa hề.

Hắn vào nhà để ôm vợ và ngắm thằng cu một lúc rồi lại đi ngay.

Chuyện khó tin

Lần khác hắn về nhà cũng gặp mấy cán bộ ở đó.

Chuyện lính biệt kích làm càn hắn mang ra kể với niềm tự hào của kẻ ngang tàng.

Hắn kể nhiều chuyện lắm làm mấy chú cũng nóng tai.

Một chú nói:

- Mậy làm tàng đó đâu có được.

Con nhà nghèo mà mần chuyện phá phách dân nghèo, nghe nỏ có được mô.

- Rứa là tui nói mấy thằng, chứ tôi có mần rứa mô.

Hắn chợt ngĩ ra một chuyện, liền hỏi:

- Rứa mấy chú có muốn coi mấy thằng Mỹ khôông ?

- Mấy thằng khỉ đột đó, coi chi cho mệt.

- Tui nói thiệt đó !

Mấy chú muốn coi, mốt, Chúa Nhựt, tui chở vô cho chú coi.

- Thì mậy chở vô đi !

- Mà mấy chú có đảm bảo là khôông bắn nó khôông ?

Chú đảm bảo là tui chở nó vô liền.

Chú chịu khôông ?

- Tau đảm bảo chớ !

Mà mậy bảo tao bắn mấy thằng khỉ đột đó, chúng nó về phá hết cái làng này, răng được.

- Vậy chú nghoéo tay tôi nè.

- Được !

Hai hôm sau, đúng giờ hẹn hắn chạy xe Jeep chở một thằng Mỹ, dẹt vô sân nhà.

Hắn đưa thằng Mỹ vào nhà, giới thiệu ông bà già, giới thiệu vợ con hắn.

Ở trong buồng, mấy chú cán bộ hơi căng thẳng.

Mấy khẩu súng, đạn đã lên nòng, cần thiết là vọt lẹ ra lối sau nhà mà bí quá thì rẹt luôn.

Còn hắn, hắn nói lõm bõm vài từ tiếng Mỹ kết hợp với ra hiệu chứ có nói được bao nhiêu.

Mà khi hắn nói tiếng Việt với ông bà già thì thằng Mỹ cũng chỉ đớp đớp chứ có hiểu cái chi mô nỏ tề.

Chỉ một lúc sau hai thằng lại lên xe.

Trước khi đi hắn còn nói vọng vào trong buồng:

- Các chú coi thằng khỉ đột rồi hề !

Tui đã nói là tui mần luôn đó hầy !

Lại chuyện khó tin

Hắn rất đắc chí vì đã đưa được Mỹ về tận nhà cho mấy chú Việt Công coi.

Vốn tính thích chơi ngông, một ngày hắn lại nghĩ tìm cách bày ra chuyện khác.

Nghĩ rồi hắn rắp tâm thực hiện bằng được.

Một hôm, hắn hỏi mấy thằng Mỹ chỉ huy đơn vị hắn bằng cách vừa nói bập bẹ vừa ra hiệu để diễn đạt rằng: "Chúng mày có muốn được thấy "Vi Xi" không ?".

Mấy thằng Mỹ trố mắt và ồ ồ à à ra chiều muốn được thấy.

Hắn hứa sẽ mang "Vi Xi" đến cho mà thấy với điều kiện không được bắn.

Mấy thằng Mỹ lại ồ ồ à à đồng ý và ra hiệu "Ô kê !".

Sau khi thỏa thuận chắc chắn với mấy thằng Mỹ, hắn xin về nhà để thực hiện kế hoạch.

Khi về nhà hắn hỏi mấy chú cán bộ:

- Chừ mấy chú có muốn đi coi căn cứ Mỹ mà nắm tình hình không, tui có thể giúp mấy chú vụ này được hầy !

- Mậy nói chuyện ba láp hề ?

- Tui nỏ ba láp mô, thiệc nớ !

- Mi mần cách chi ?

- Chừ ri, mốt tui mang xe ra ni, chở mấy chú vô nớ.

Tới nớ, tui chạy từ từ há, các chú cứ quan sát kĩ hề.

Rứa thui !

Được khôông ?

Mấy chú bàn với nhau qua lại, rồi một chú huyện đội Cam Lộ nói:

- Tau đi một chắc, mang theo súng hề ?

- Được !

Chú mang thì mang nờ.

Mấy thằng Mỹ nỏ bắn mô, tui kêu với tụi nó, chú là người nhà tui mà.

Hai hôm sau, hắn đánh xe Jeep về thật.

Một mình chú huyện đội lên xe với hắn.

Chú ngồi cạnh hắn, ngay hông cửa.

Khẩu Cạcbin chú bỏ lui về phía sau một chút, khóa an toàn mở sẵn cần là chú có thể vói tay đòm liền.

- Chú khỏi cần lo nổ súng.

Tui lấy mạng mà đảm bảo với chú, nỏ có chuyện chi hết !

Chú huyện đội cũng mặc một bộ đồ lính, lại ngồi trên xe Jeep với một tên biệt kích, râu ria, kiếng mát đen xì, nên bên ngoài khó mà biết trên xe lại có Việt Cộng.

Chiếc xe chở chú cán bộ huyện đội chạy ra khỏi làng rồi vọt lên đường 9.

Đi qua căn cứ pháo Binh Camp Carroll một đoạn thì tới trại lính Biệt Động Quân (biệt kích) của Mỹ.

Biệt kích người Việt dưới sự chỉ huy của Mỹ hàng ngày hành quân thâm nhập các vùng do Việt Cộng kiểm soát để do thám lấy tin tức.

Lực lượng này thường đi nhỏ lẻ từng toán và kiêng đụng độ với Việt Cộng.

Những cuộc hành quân như vậy gọi là hành quân Delta.

Hắn cũng thường xuyên tham gia vào hành quân Delta xung quanh Mai Lộc.

Những lúc không phải hành quân, lính biệt kích vẫn phải tập luyện nhưng, nói chung tương đối tự do.

Hắn nhiều lần được về nhà và chạy xe đi chơi Đông Hà, Quảng Trị, . . .

Khi đi qua các căn cứ Camp Carroll, hắn cho xe chạy chậm để cán bộ có dịp quan sát.

Bây giờ đi qua căn cứ biệt kích hắn còn chạy xe chậm hơn, như đi dạo mát vậy.

Lúc ngang qua mấy thằng Mỹ, hắn đứng hẳn lên, vẫy tay và hô lớn "hây . . .! hây . . .!". ra hiệu cho mấy thằng Mỹ chú ý mà dòm.

Chú huyện đội thì tha hồ quan sát bố phòng của địch.

Còn, mấy thằng Mỹ thì thoải mái ngắm Việt Cộng bằng xương bằng thịt đang ngang qua trước mắt.

Vậy là hắn đã thực hiện được lời thách đố và là một trò đùa ngang tàng của hắn.

Thật là một trò đùa trớ trêu của chiến tranh !

Năm nay thằng cu đã lên ba.

Trông nó rất xinh và dễ tính.

Hàng ngày tụi trẻ hàng xóm sang nhà chơi và tranh nhau đòi bế nên bà nội vẫn tranh thủ cơm nước và dọn dẹp nhà cửa cho ông nội và mẹ nó đi làm.

Thằng bé chỉ bám mẹ nó vào buổi tối, khó mà rời nó mỗi khi mẹ nó cơm nước và dọn dẹp xong.

Mỗi lần có họp du kích, chị lại phải tìm cách lừa nó cho ông bà rồi trốn đi.

Từ ngày anh đăng lính biệt kích, mấy thằng xã không còn dám nhòm ngó gì đến ông bà, chị là vợ anh nên cũng không còn bị xăm soi gì như hồi chị còn ở nhà.

Bọn xã cũng biết chuyện, nhưng ở cả cái xã này chuyện có liên quan đến Việt Cộng cũng là bình thường.

Cái xã này, ban ngày là của chính quyền, ban đêm là tự do, chẳng làm sao mà kiểm soát được.

Từ năm 1969, Mỹ thực hiện chiến lược Việt nam Hóa và đến năm 1970 thì lực lượng biệt kích cũng được giao lại toàn bộ cho quân lực VNCH.

Lực lượng biệt kích từ đó trả lại vào biệt động quân như vốn có từ thuở ban đầu.

Vậy là nhân vật của chúng ta chuyển đổi từ binh chủng mũ xanh sang binh chủng mũ nâu.

Lực lượng này không còn là lực lượng đặc nhiệm có tổ chức từng đại đội mà đã phải tan biến vào 15 liên đoàn biệt động quân (BĐQ, tính đến năm 1971) và phải tham chiến đối mặt với quân giải phóng.

Anh được biên chế về liên đoàn 1 BĐQ đóng ngay ở làng Đại An Khê cách thị xã Quảng Trị về phía nam 3 kilômét.

Kể từ ngày đó anh cũng ít được về thăm gia đình hơn.

Tuy vậy, cuối năm 1970 anh chị lại có thêm một thằng cu nữa. thằng cu này còn xinh hơn cả thằng anh.

Môi nó đỏ chót, nước da trắng trẻo, khác hẳn màu da của ba, mẹ và thằng anh.

Mỗi lần được về vui mừng bao nhiêu thì lúc đi anh lại bùi ngùi luyến tiếc mà ngắm vợ và hai cu con, . . . ba bức tranh tuyệt đẹp, máu thịt, của riêng anh.

Anh được tạt qua nhà vào ngày Tết Nguyên Đán Nhâm Tý (1972).

Nghe nói, quân đội điều động lực lượng để chuẩn bị đối phó với đối phương sắp đánh lớn.

Quân khu 1 VNCH căng lên như dây đàn.

Đây được coi như tuyến đầu đối mặt trực tiếp với đối phương ở phía Bắc.

Phòng tuyến này ví như một tuyến đê ngăn chặn thắc lũ từ phía Bắc.

Lính tráng bị cấm trại.

Nhiều lực lượng được điều động bổ xung cho Quảng Trị và Thừa Thiên, ban đầu gồm có 2 sư đoàn bộ binh số 1 và số 3, liên đoàn dù biệt kích 81, liên đoàn đoàn biệt động quân số 1, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 và 258, các lực lượng địa phương quân cũng có tới một vạn lính.

Đấy là chưa kể đến pháo binh, thiết kỵ, . . .

Lực lượng đông đảo như vậy, đi đâu cũng thấy lính.

Nhiều lực lượng khác nhau chồng lấn lên nhau và lính tráng bắt đầu lợi dụng để làm càn.

Tuy tình hình nhộn nhạo nhưng những người lính lại cảm thấy vững lòng lắm.

Riêng anh thì khác, anh thấy lo lắng.

Có đánh lớn, không biết sẽ ác liệt thế nào, vận mạng của miềng có cách chi mà bảo toàn được.

Anh đi lính như một điều bắt buộc chứ không có ý tưởng gì chống cộng.

Anh chỉ thích cuộc đời lính thời bình.

Nó như là một trò trơi ngông nghênh và thú vị.

Bây giờ phải làm sao đây ?

Trong đầu anh bắt đầu nung nấu một kế hoạch.

Ngày 30/3/1972, quân giải phóng bắt đầu bắn pháo và vượt qua khu vực DMZ.

Chiến dịch xuân hè 1972 đã mở màn.

Rất nhiều sách báo đã nói về các trận chiến ác liệt giằng co ở các chiến địa Quảng Trị năm đó.

Từng ngày từng giờ liên tiếp tin các căn cứ quân sự Dốc Miếu, Cồn Tiên, Đầu Mầu, Fuller, Carroll, . . . bị mất vào tay Quân Giải Phóng.

Ngay từ ngày 2/4 cả Đông Hà, Cam Lộ và suốt đường 9 đã bị mất.

Ở Carroll, trung tá Phạm Văn Đính, trung đoàn trưởng và trung tá Vĩnh Phong, trung đoàn phó trung đoàn 56 sư đoàn 3 đã dẫn 1500 quân ra đầu hàng mà không hề kháng cự.

Trời ạ !

Sao mà mất quá nhanh như vậy ?

Tinh thần lính tráng bắt đầu hoang mang dao động.

Chết thì anh đâu có ngán, nhưng mà anh không muốn chết.

Anh cũng chỉ là một hạt cát trên cái xa mạc chiến địa khổng lồ này.

Anh chết thì có ý nghĩa gì đâu vì nó sẽ tan biến như muôn hạt cát khác vào lòng đất.

Miềng phải sống chứ, miềng phải sống để trở về !

Anh nhớ hai thằng cu quá.

Chúng nó không thể mất ba được.

Rồi cơ hội đã đến.

Khi Quân Giải Phóng tấn công căn cứ Phượng Hoàng (Pedro) và Ái Tử thì pháo cấp tập bắn vào khu vực thị xã Quảng Trị và phía sau Quảng Trị.

Lợi dụng lúc pháo bắn rát rạt, anh chĩa khẩu M16, để nấc bắn phát một, đầu nòng súng cách bàn chân chừng 20 phân.

Đòm . . . ! . . .

Mũi giày lủng một lỗ, ngón chân cái của anh vỡ tung.

Anh nghiến răng, tháo giày, bọc vết thương bằng miếng gạc cầm máu và băng cả bàn chân lại.

Sau khi pháo ngớt, anh được đưa về phía sau cùng với những người bị thương khác.

Làng Quất Xá thật là nhộn nhịp.

Nhà nhà lục tục kiếm vải may cờ giải phóng.

Mấy cái máy may trong làng suốt ngày chỉ may cờ.

Có người muốn nhanh thì khâu cờ bằng tay.

Kích cỡ và hình dáng ngôi sao chỉ ang áng, thành ra có đủ các kiểu, sao béo, sao gầy, sao to, sao nhỏ.

Ủy ban xã lâm thời đang tìm trụ sở và rộn rịch chuẩn bị ra mắt.

Vui nhất là đội du kích thôn.

Các cô cậu du kích chạy khắp làng vận động bà con chuẩn bị biểu tình ủng hộ chính quyền cách mạng, vận động các thanh niên gia nhập du kích quân để bảo vệ xóm làng và giúp đỡ bộ đội chiến đấu.

Thật đúng là ngày hội.

Làng Quất Xá cũng có một số người chạy vào phía trong, nhưng những gia đình đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Mà những gia đình đó, phần lớn người già vẫn còn ở lại.

Có người thực sự sợ bị Giải Phóng trả thù vì gia đình có nhiều người đi lính, hoặc là sỹ quan.

Tuy nhiên, chủ yếu người ta sợ bom pháo của Quốc Gia sẽ dội vào làng.

Đặc biệt có một hai nhà thực sự ghét Giải Phóng.

Những ngày đó, họ đóng cửa, âm thầm ở trong nhà nghe ngóng.

Khi du kích đến vận động tham gia phong trào, họ lấy lý do này khác để không tham gia. . . .

Cuộc chiến làm li tán lòng người trong một cộng đồng làng xóm – quê hương là điều không tránh khỏi !

Chị cũng rất vui nhưng trong lòng cũng quặn thắt nỗi lo cho anh.

Hòn tên mũi đạn nào có mắt để tránh ai được.

Cứ đêm đến nhìn mẹ chồng thảng thốt thở dài và bố chồng đã ít nói càng ít nói hơn, bất giác chị đưa tay chùi hai hàng nước mắt.

Hai thằng cu đã ngủ ngon lành từ lúc nào.

Chị thương chúng quá.

Nói dại, bom pháo của Quốc gia, bất cứ lúc nào cũng có thể dội lên nóc nhà của chị.

Chị không dám nghĩ thêm nữa.

Rồi bỗng chị đứng phắt dạy, chị chạy sang nhà chú xã đội.

Vừa vào đến nhà, chẳng kịp chào hỏi, chị đã hoảng hốt nói:

- Chừ không cho bà con mần hầm, mai mốt pháo nó bắn thì chú mần cách chi ?

- Ừa !

Mi nói trúng rứa, vầy mà tau không nghĩ ra.

Chừ ri, mi đi kêu mấy đứa báo bà con, mai cả thôn miềng mần

hầm.

Tau nói bộ đội họ bày cách mần hầm tránh bom cho bà con hề.

- Thui, tui chào chú tui đi !

Những ngày đầu giải phóng, làng xóm chộn rộn việc may cờ, biểu tình mít tinh rồi làm hầm, . . . dần dần đã lắng xuống.

Mỗi nhà bây giờ đã có hầm tránh bom, có nhà còn làm hai hầm để phân tán gia đình làm hai, đề phòng bom trúng hầm này thì còn hầm kia.

Cuộc sống đã trở lại bình thường.

Năm nay nhà chị vừa mần ló, trồng củ và gieo đậu phộng.

Việc đồng bận suốt ngày, từ sáng đến tối mịt.

Tất cả chỉ trông vào chị và cha chồng.

Từ ngày liên lạc với anh bị đứt, anh không còn hỗ trợ được đồng nào.

Tuy vậy, nhà chồng chị nhiều ruộng nên cuộc sống vẫn tạm ổm.

Vả lại, đất ở quanh làng còn nhiều lắm.

Nếu nhà nào cần thì cũng có thể khai khẩn thêm đất hoang, chỉ lo không có đủ sức mà làm thôi.

Đội du kích thôn thường xuyên sinh hoạt vào buổi tối.

Họ tập hát các bài hát cách mạng, nghe phổ biến tình hình chiến sự trên cả nước.

Hàng đêm du kích phân công nhau canh gác bảo vệ làng xóm.

Súng đạn rất thiếu, cả đội chỉ có vài khẩu súng cạc bin, một khẩu AR15 lượm được.

Trên có trang bị thêm vài khẩu CKC chứ không có một khẩu AK nào.

Đội du kích phân nhau ra mà tập xạ kích ở bãi trúc đào ven sông Cam Lộ, phía sau làng.

Ba tháng sau ngày giải phóng, làng Quất Xá đột nhiên trở nên đông vui vì có bộ đội về đóng quân.

Đó là một bộ phận của d24 quân y và một cái kho lương thực - thực phẩm của c20 trinh sát sư đoàn 325.

Đội du kích đặc biệt vui vì có những đêm sinh hoạt "kết nghĩa" với bộ đội.

Bộ đội toàn là những thanh niên trai tráng.

Họ sống vui vẻ và chan hòa cùng với các gia đình.

Họ chuyện trò với người già, chơi đùa với trẻ con.

Họ sắn tay vào củng cố đắp dày thêm các căn hầm bằng bao cát và làm thêm các hầm mới.

Họ sẵn sàng giúp đỡ các việc nặng nhọc của gia đình.

Họ gọi người già là cha mẹ, xưng eeng út với đám thanh niên.

Từ lúc nào họ thật sự đã như các người thân trong gia đình.

Xóm làng trở nên ấm cúng và vững chãi lạ thường.

Tuy vậy, ai đó cũng thấy lo lắng hơn vì bộ đội ở trong làng, Quốc Gia sẽ đem bom đạn đến mà dội trên đầu.

Ban ngày vất vả ngoài đồng, rồi cơm nước cho cả nhà, buổi tối lại sinh hoạt đội, thế mà sức gái đang xoan cứ phăng phăng.

Chỉ có về đêm chị mới thấy buồn và lo lắng.

Phía thành phố Quảng Trị ngày đêm ùng oàng, không lúc nào ngớt.

Không biết anh có còn ở đó hay . . . .

Chị không dám nghĩ tiếp nữa mà cảm thấy hoang mang, bồn chồn và sợ hãi.

Người lính cũng có lúc phải lo lắng và sợ hãi vì bom đạn nhưng cũng chỉ là thoảng qua.

Cũng có lúc họ nhớ gia đình vợ con nhưng chỉ là thỉnh thoảng.

Chỉ có những người mẹ và những người vợ, không lúc nào là không khắc khoải xót xa, tê tái, chờ trông.

Đêm đêm, không biết bao nhiêu khúc ruột đàn bà thổn thức, quặn thắt, không biết biết bao nhiêu nước mắt đàn bà chảy dài, đêm đêm . . .

Được đưa về quân y viện ở tuyến sau như ý muốn nên tuy có đau chân một chút nhưng anh rất hài lòng.

Anh biết gia đình anh đang ở trong vùng giải phóng, sẽ không có chuyện gì đáng lo.

Cả ba mẹ và vợ anh đều gắn bó với Việt Cộng.

Những cán bộ Việt Cộng ở xã anh thì ai cũng biết gia đình anh.

Vì thế anh cảm thấy thanh thản và nhẹ nhõm hơn lúc nào hết.

Nhưng sự đời nào có ai ngờ.

Khi anh về quân y viện hôm trước thì hôm sau đã có thư gởi tới viện.

Lá thư tố cáo anh đã tự thương chứ không phải bị thương do chiến đấu.

Tội tự thương còn tệ hơn tội đào ngũ vì nó là gánh nặng cho quân đội.

Thêm nữa, người ta cũng không thể sử dụng làm lao công đào binh đối với lính đã bị tàn tật.

Vậy là trong khi cấp cứu, chạy chữa cho các quân nhân bị thương khác, người ta bỏ mặc anh, không hề khám, cũng không hề cho một viên thuốc kháng sinh nào.

Ngược lại, anh còn bị giám sát rất kỹ bởi mấy tay bảo vệ của viện, bởi muôn vàn ánh mắt các đồng ngũ khác ở xung quanh.

Không ai thèm hỏi chuyện anh, hễ có phải đi qua chỗ anh là họ ngoảnh mặt đi, có người còn nhổ nước miếng.

Một vài ánh mắt tỏ ra đồng cảm với anh, thì, những người đó cũng chẳng dám biểu lộ ra.

Quá nhiều lính bị thương.

Rất nhiều ca nặng.

Các quân y sỹ phải liên tục làm việc quần quật suốt ngày.

Họ chẳng có lý do gì mà phải chạy chữa cho anh mặc dù lương tâm thày thuốc có đôi lúc làm cho họ cảm thấy áy náy.

Chiến trận đuổi theo cái quân y viện này ngày càng gần.

Quân y viện buộc phải chuyển sâu về Huế.

Vài ngày sau, vết thương của anh bị sưng tấy vì nhiễm trùng.

Anh nghiến răng chịu đựng, không kêu la một lời.

Một mình anh phải tự di chuyển, không được ai giúp đỡ và động viên an ủi.

Anh không thể ngờ được số phận lại có ngày mạt kiếp, đen tối như thế này.

Chợt anh nhớ ra, có lần thằng Đáng đang quấy phá dân ở ngã ba Long Hưng thì gặp anh.

Nó đã bị anh quát nạt bắt dừng lại và xin lỗi dân.

Từ đó nó rất căm thù anh.

Chắc hẳn đây là cơ hội tốt nhất để nó trả mối hận.

Không biết nó có nhìn thấy anh tự bắn vào chân hay nó cứ tố cáo bừa.

Thằng khốn nạn đó, cầu cho pháo nó dập lên đầu mày !

Anh bị nhiễm trùng nặng, toàn bộ chân trái của anh sưng tấy, trương lên như cây chuối hột.

Người anh sốt nóng hầm hập rồi lại sốt rét run cầm cập.

Vẫn không ai đoái hoài đến anh.

Chắc hẳn chúng nó muốn anh chết luôn đi cho rảnh.

Trong cơn mê sảng anh nghe láng máng ai đó nói:

- Thưa trung tá bác sỹ.

Trung tá cứu cậu ấy không có cậu ấy chết mất.

Rồi anh thấy mọi vật quay cuồng trên đầu, mờ mờ, ảo ảo, hai thằng cu, rồi vợ và cha mẹ anh ẩn ẩn, hiện hiện phía sau lưng chúng.

Anh thấy mình cứ bay lên cao mãi.

Ồ ! anh đang ở trên đỉnh cái Fuller đây mà.

Cái chân đột nhiên đau quá, anh co chân lại, thì, mất thăng bằng và trượt từ trên đỉnh núi xuống.

Anh rơi ngày càng nhanh.

Bãi trúc đào nơi bờ sông Cam Lộ với hững hòn đá tảng nhấp nhô bên bờ nước, từ phía dưới đang tiến vùn vụt trước mặt anh.

Chỉ một giây nữa thôi là anh sẽ đập xuống bãi đá.

Rầm . . . !

Bừng tỉnh dậy, anh thấy mình vừa ngã từ trên giường xuống đất.

Thì ra một thương binh nằm chung giường đã đẩy anh, chạm phải cái chân đau, rồi anh rơi xuống đất.

Ba tuần sau ngày bị thương, cái chân của anh đã hoại tử, ăn lên đến ống chân.

Anh không còn cảm giác gì nơi bàn chân nữa mà chỉ thấy cái đau ngày càng dữ dội và lan tỏa khắp nơi trong cơ thể.

Anh không còn ý thức được về thời gian, anh cũng không nhớ mình đã ăn uống, vệ sinh như thế nào.

Hễ có cơ hội là cơn sốt nung nấu lại ập đến và anh lại rơi vào mê sảng.

Anh thấy một quầng sáng chói lọi đang chao đảo trước mắt.

Rồi anh thấy nhói đau ở cánh tay.

Choàng tỉnh dậy anh thấy mình đang lơ lửng ở trên cao.

Ánh đèn dọi vào mắt làm anh không mở mắt ra được.

Anh không biết người ta đang chuẩn bị cưa chân anh.

Anh thấy đau ở tay là do họ tiêm thuốc và gây mê cho anh.

Hoại tử đã ăn mất cả bàn chân.

Muốn cứu anh người ta phải tháo khớp và bỏ hẳn bàn chân đi.

Các bác sỹ còn chuẩn bị phương án, nếu tháo bàn chân mà vẫn còn phần cơ xương bị hoại tử thì phải cắt khúc ở cao hơn.

Đấy là về sau anh nghe bác sỹ nói và mọi người kể lại.

Mọi người còn nói, nếu chỉ chậm một hai ngày nữa thì sẽ tử vong vì nhiễm trùng máu.

Họ cũng bảo rằng anh có sức đề kháng tốt nếu không thì cũng đi rồi.

Khi anh tỉnh dậy vì cái chân đau rát như phải bỏng thì nhận thức cũng trở lại.

Anh thấy mình nằm trên một mảnh chiếu trải dưới đất ở trong một ngôi nhà của một người dân nào đó.

Quân y viện không còn chỗ cho lính bị thương.

Họ phải trưng dụng các nhà dân xung quanh.

Một số tình nguyện viên là các bà, các chị đang chăm sóc cho các thương binh.

Đây đó tiếng kêu rên vì đau đớn.

Mùi máu từ các vết thương, mùi thuốc sát trùng và mùi cồn iôt nồng nặc.

Quang cảnh thật là hãi hùng và buồn thảm.

Không biết lúc mê sảng anh có kêu thét hay rên la gì không nhưng, lúc tỉnh thì anh nghiến răng chịu đựng không bao giờ bật ra tiếng.

Lúc mới tới quân y viện anh đã một lần cầu xin bác sỹ chạy chữa cho anh nhưng các bác sỹ đã ngoảnh mặt đi.

Từ đó anh nhất quyết không cà ràm thêm một lần nào nữa.

Có lúc tỉnh táo anh đã tin rằng mình sẽ chết.

Vậy mà bây giờ anh đã được chữa chạy.

Anh nhìn xuống chân và biết rằng mình sẽ mãi mãi là người tàn phế.

Sau này, chắc chắn, khi kêu tên anh người ta sẽ đính kèm một chữ . . .

"cụt".

Khi vết thương đã đỡ nguy hiểm, anh được chuyển về phía sau trên chiếc xe tải cùng với nhiều thương binh khác.

Cứ di chuyển dần dần như vậy, không rõ thế nào mà, sau vài tháng anh đã được chuyển tới Vũng Tàu (chuyện anh kể, người viết không nhớ là ở quân y viện hay trại nào ở Vũng Tàu)

Chuyện chàng lính biệt kích ngang tàng kể đã đến hồi kết.

Tuy nhiên ta sẽ gặp lại anh sau ngày hòa bình, trong một cuộc sống khác.

Ngay từ trước khi quân Giải Phóng tiến đánh, trên bản đồ Quảng Trị, từ vùng bán sơn địa lên đến vùng rừng núi của đồng bào Vân Kiều, dưới mỗi tên làng lại kèm theo chú thích "Destroyed" (Đã bị hủy).

Quốc Gia đã bắt dân rời bỏ làng và di chuyển tập trung về "khu vực an ninh".

Mục đích chính là để tách dân khỏi Việt Cộng, không cho họ có chỗ dựa để hoạt động.

Những vùng đó, Mỹ thoải mái thả bom và Quốc Gia tha hồ kích pháo.

Xét cho cùng, việc làm đó chủ yếu để cản trở hoạt động của đối phương.

Những vùng mà Quốc Gia kiểm soát được thì làng xóm chưa bị động tới.

Người dân vẫn được sống và làm ăn trong làng xóm và ruộng đồng của họ.

Kể từ ngày quân Giải Phóng đánh chiếm Quảng Trị thì bom B52 và pháo kích cũng bắt đầu dội lên những cánh rừng, các con đường và cả làng mạc nơi mà Mỹ và Quốc Gia nghi ngờ có đối phương đóng quân hay là đường hành quân và vận chuyển.

Nhiều thôn làng vùng Nhan Biều, Ái Tử, La Vang, Tri Bưu, Như Lệ, Tích Tường, Chợ Sãi, Nại Cửu, Bích La, An Mô, An Lộng, An Tiêm, Đầu Kênh, Linh An, Long Quang, Lệ Xuyên . . . . liên tục bị oanh kích cho đến khi không còn một nóc nhà nào, không còn một cái cây nào nguyên vẹn.

Chỉ trong một thời gian ngắn, bao nhiêu thôn làng thực sự "Destroyed" (Bị hủy diệt) vì bom pháo, không thể kịp mà cập nhật trên bản đồ.

Vậy mà cái làng Quất Xá trù phú này vẫn nguyên vẹn thì kể cũng lạ.

Rồi một ngày, khi bà con đang cơm nước buổi trưa thì chợt nghe từ xa ba tiếng súng.

Ấy là tín hiệu báo động B52.

Rồi lại ba tiếng súng nữa bắn lên ở ngay trong làng.

Như mọi lần báo động khác, bà con lục tục kéo nhau xuống hầm.

Không ai ngờ, lần này B52 trút thẳng bom lên đầu họ.

Các căn hầm rung lên bần bật.

Rồi đến các mảnh bom bổng, liệng vù vù như chong chóng, rơi lịch bịch trên đất, leng pheng vào mái tôn cùng với đất đá ầm ào rơi loảng xoảng trên đó, khói bụi mù mịt.

Cả ba loạt bom đều trúng vào làng.

Rất may, cả nhà chị đã kịp xuống hầm và không bị trúng bom.

Hai thằng cu sợ hãi, khóc ré lên.

Thằng lớn ôm chặtt cổ bà nó còn thằng bé thì túm chặt lấy chị và rúc sâu vào lòng.

Chúng vừa khóc vừa ho sặc sụa vì hơi bom.

Bố chồng chị ở gần cửa hầm nhất.

Ông nhảy khỏi hầm đầu tiên.

Một cảnh tan hoang chưa từng thấy.

Cây cối trong vườn lẫn với đất đai, cây que và những mảnh tôn ngổn ngang khắp nơi.

Trái nhà bên tay mặt đã bay mất, phần còn lại của ngôi nhà bị đổ siêu về một phía .

Mái nhà tốc gần hết chỉ còn vài tấm tôn.

Một tấm tôn thõng xuống, vẫn đang đung đưa.

Ông già chưa cho mọi người lên khỏi hầm nhưng chị đã bỏ thằng bé xuống cho bà nó và lao ra.

Chị tất tả chạy qua đống đổ nát, bươn sang các nhà khác, vừa hay nhìn thấy bộ đội và mấy du kích khác cũng đang bổ đi tìm kiếm các hầm bị vùi lấp . .

Xã và du kích hết sức động viên các gia đình đi sơ tán lại.

Lại nói, trước đó, dân Quất xá đã được đưa đi sơ tán ở Quảng Bình từ đầu tháng 4/1972.

Ở Quảng bình, họ nghe ngóng tình hình chiến sự Quảng Trị, thấy quân Giải Phóng đã tiến rất xa xuống tận Mỹ Chánh.

Thế là lần lần, sau 3 tháng, hầu hết mọi người đã trở về Quất Xá.

Bây giờ, sau trận bom, mặc dù du kích hứa sẽ canh gác bảo vệ nhà và tài sản cho dân nhưng rất ít người chịu đi sơ tán, phần lớn bà con ở lại làng, sửa lại hầm và nhà cửa và tiếp tục sống, chấp nhận nguy cơ có thể bị đánh bom.

Họ không muốn rời bỏ làng và ngôi nhà thân yêu đã gắn bó nhiều đời nay một lần nữa.

Mấy hôm sau, khi việc chôn cất những người đã bị bom Mỹ giết hại vừa mới xong, một số bà con chuẩn bị đi sơ tán ra Quảng Bình.

Sáng hôm đó, ai đi sơ tán thì chuẩn bị đồ đạc để chiều tối sẽ lên đường.

Những người ở lại thì bắt tay vào việc sửa hầm, . . .

Bất ngờ một ánh chớp sáng chói, một tiếng nổ lớn, vang dậy đất trời, sau đó liên tiếp là những tiếng nổ lớn khác.

Bấy giờ mọi người mới ngơ ngác nhận ra là đang bị máy bay cường kích bổ nhào thả bom vào làng.

Những tiếng kêu thất thanh, tiếng chân chạy hỗn loạn lao về các hầm trú ẩn, . . .

Khi cả nhà đã ở trong hầm, chị vẫn nghe những tiếng nổ lớn khác.

Sau khi ngừng tiếng bom, chừng vài chục giây gì đó, lại nghe thấy những tiếng nổ nhỏ lụp bụp kèm theo là "tóe lọe" tiếng như bắp rang trên các mái nhà.

Trời ạ !

Chúng dùng bom tấn để đánh vào làng rồi lại rải bom bi kèm theo.

Đây là một chiến thuật giết người "hiệu quả cao" và "hoàn hảo".

Vậy mà nó được sử dụng để tấn công một ngôi làng trù phú và đông dân cư.

Thật là táng đởm – kinh hoàng, . . . !

Khi chị lên khỏi hầm và chạy ra phía sau nhà để sang hàng xóm thì chị thấy cả một khoảng trống rất xa.

Hai ngôi nhà phía sau đã bay mất, ở giữa hai ngôi nhà là cái hố bom, trông như một cái ao cạn, hình phễu, to và sâu hoắm.

Nhìn cảnh tượng đó, chị bỗng bủn rủn hết người và khuỵu xuống.

Chị cảm thấy mắt hoa lên, trời đất chao đảo, . . . .

Chị run quá, không thở được nữa, . . .

Không ý thức được thời gian đã trôi đi bao nhiêu lâu nữa, chị cứ rũ ra như vậy cho đến khi cha chồng đỡ chị để đưa vào nhà thì chị chợt bừng tỉnh.

Chị thở hắt ra một tiếng rất mạnh rồi hồng hộc thở như người vừa chạy maratông về đích.

Chị nói: "Cha để con đi cứu người !" mà không nói được thành lời, chỉ là những tiếng lập bập của môi và răng.

Tiên sư bố chúng nó !

Tổ cha cái chiến thuật hiệu quả cao và hoàn hảo – một chiến thuật mất hết nhân tính !

Tên tuổi những người dân bị chết thảm không phải ai cũng nhớ hết, nhất là trẻ con vì chúng còn quá nhỏ.

Có gia đình, bom đánh trúng hầm, chết cả mẹ và ba đứa con nhỏ.

Có người bị chết vì bom bi ngay lúc đó, có người chết vì bom bi nổ sau đó nhiều ngày.

Mãi tận tháng 11/1972, thằng Thìn tiểu đội tôi còn bị thương vì bom bi ở Quất xá.

Tôi chỉ hỏi được tên một số bà con bị chết vì bom:

1.

Phạm Công Xê

2.

Lê Thị Đỉu

3.

Lê Thị Liên

4.

Nguyễn Khung

5.

Lê Thị Giao

6.

Phạm Thị Con

7.

Nguyễn Thị Xoa

8.

Hoàng Vấn

9.

Nguyễn Thị Hương

10.

Trần Bối

11.

Nguyễn Thị Chậm

12.

Nguyễn Thị Mang

13.

Phạm Văn Phóng

14.

Trần Xuân Trường (Cán bộ xã)

15.

Trần Xuân Thạc (Du kích xã)

16.

Nguyễn Thị Thược + 3 con nhỏ

. . . . . .

Khi kể lại chuyện này, nhiều người dân vẫn cảm thấy sợ hãi và không cầm được nước mắt.

Danh sách bà con bị chết sau mấy trận bom đó tôi cũng đã đưa vào "Chuyện XXIII Làng Quất Xá" trong topic này.

Chuyện "Làng Quất xá" là nén tâm nhang thành kính, không nói thành lời.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước nỗi đau thương này!

Tôi đã trở lại thăm Quất Xá, sau 39 năm kể từ ngày đó.

Mặc dù Quốc Gia cực lực phản đối các chương mục trong bản hiệp định Pari, nhưng cuối cùng, ngày 27/1/1973, bốn bên tham gia hội nghị đều đã ký vào bản hiệp định.

Ngày 28/1/1973 là ngày hiệp định có hiệu lực.

Những ngày đó các báo và đài Sài Gòn liên tục đưa tin và các bài viết về việc rút quân đội Mỹ rồi việc sẽ có tổng tuyển cử ở Miền Nam Việt Nam.

Những bài viết của chính quyền rất quyết liệt, nói về sự phản bội và bỏ rơi đồng minh của người Mỹ.

Trong khi cuốn cờ rút quân đội khỏi Miền Nam, người Mỹ vẫn hứa sẽ tiếp tục viện trợ quân sự và cố vấn cho quân lực VNCH.

Những ngày này dân chúng Vũng Tàu rất chộn rộn.

Họ sôi sục bàn nhau về các điểm trong 9 chương của hiệp định.

Nhiều người Quốc Gia lo lắng cho tổng tuyển cử thì Việt Cộng sẽ thắng thế.

Chính quyền ông Thiệu quá mất tín nhiệm vì tham nhũng và sách nhiễu dân chúng.

Những người ghét Quốc Gia thì mở cờ trong bụng và hy vọng tổng tuyển cử sẽ chọn ra chính quyền mới, . . .

Dù ủng hộ bên nào thì người dân đều cảm thấy sung sướng vì không còn chiến tranh.

Con em của họ sẽ không phải đi vào chỗ chết.

Đất Việt này sẽ thoát khỏi cuộc chiến "huynh đệ tương tàn, nồi da sáo thịt".

Vết thương của anh đã lành.

Anh cảm thấy vui lắm vì dù thế nào anh cũng không bị bên nào ghét bỏ.

Anh sẽ được về với hai thằng cu.

Nghĩ đến người vợ xinh đẹp khỏe mạnh và hiền hậu anh thấy nhớ quá, mong quá.

Không biết bao giờ mới tổng tuyển cử và được đi lại tự do ?

Cái ngày mong đợi đó chắc là không đến được.

Anh thấy quân đội vẫn được viện trợ thêm nhiều vũ khí đạn dược.

Các đơn vị đều được củng cố rồi điều động hành quân liên tục.

Đụng độ giữa hai bên ngày càng nhiều hơn.

Anh không còn tin tưởng vào việc thực hiện hiệp định nữa.

Quốc Gia và Việt Cộng chắc chắn là sẽ quyết giành chiến thắng bằng quân sự chứ không có chuyện hòa bình.

Vậy là ngày trở về không biết sẽ là bao giờ.

Thật là nản quá.

Anh không còn bàn chân.

Thay vào đó, để đi lại được, người ta phải gia cố thêm ở đoạn cuối và cố định vào đó một đoạn tre để anh có thể đi lại được.

Lúc đầu, lấy thăng bằng chưa quen và rất đau nên anh phải nhờ đến nạng.

Anh kiên trì tập luyện và dần dần bỏ hẳn nạng.

Khi nào cần "lịch sự" anh sẽ mặc thêm vào đoạn tre một bàn chân giả, đi giầy hẳn hoi còn bình thường anh vẫn thấy thoải mái hơn khi không dùng chân giả.

Rồi anh gặp một người con gái.

Cô ấy rất thương và yêu anh cho dù anh bị tàn phế.

Cô gái thích anh ở cái tính ngang tàng, quyết liệt và dứt khoát.

Còn anh thích cô gái ở sự hiền thục và dịu dàng.

Chuyện lấy một phế binh bị gia đình cô gái phản đối nhưng không quá quyết liệt vì bấy giờ chuyện đó là chuyện bình thường.

Nhưng mối tình của họ bị phản đối quyết liệt hơn vì anh đã có vợ và có hai con.

Cuối cùng, bố mẹ cô đã phải chịu thua con gái.

Nhưng, vướng mắc nhất lại là từ phía người lính tàn phế.

Anh vẫn yêu vợ con và không muốn có thêm một người vợ khác.

Hơn nữa, gia đình cô gái lại là gia đình theo đạo.

Mặc dù anh không phải là phật tử nhưng anh không muốn cải đạo, tín ngưỡng mà nhiều đời nay trong gia đình và cả dòng họ đã thờ dưỡng.

Chiến tranh không biết sẽ kéo dài đến bao giờ, bên cạnh anh lại luôn luôn có một người con gái rất yêu và thương anh làm cái sức trai ba mươi, hừng hực tuổi xuân trong anh cứ thôi thúc.

Rồi một ngày đầu năm 1975, khi cô gái báo cho anh biết . . . nàng đã có thai, thì, anh không còn cưỡng lại được mình nữa.

Anh cũng không thể bỏ rơi cô gái mà bỏ chạy được.

Hôn lễ của họ được cử hành trong nhà thờ đúng theo nghi lễ cưới xin của hai người có đạo.

Ở bên người vợ trẻ anh cảm thấy rất hạnh phúc.

Sự dịu dàng và đằm thắm của cô đem lại cho anh những cảm xúc mới lạ.

Anh không ngờ đời một phế nhân lại được chúa ban cho nhiều đến thế.

Chúa đã cho anh một người vợ xinh đẹp, mạnh mẽ và hai đứa con trai đẹp như hai thiên thần.

Giờ đây, Người lại ban cho anh một người vợ khác và những đứa con khác nữa.

Anh tạ ơn chúa lòng lành, Amen !

Ngừng bắn rồi thì vài ngày sau Đơn Vị Hai Mươi Trinh Sát lần lần tập trung về làng Quất Xá.

Họ trẻ hơn chị đôi chút.

Dân Bắc có khác, trắng trẻo, đẹp trai phới phới.

Bộ đội thì chị cũng không lạ gì nhưng lần này họ về đông.

Có bốn năm chú ở nhờ nhà chị.

Hàng ngày họ vào rừng lấy gỗ, lên đồi cắt tranh rồi đưa ra cái trảng đất sau làng, sát bờ sông để làm doanh trại.

Mấy hôm đầu về đây chú nào chú nấy nom gày guộc và nhem nhuốc bụi đất chiến hào.

Vậy mà chỉ vài ngày sau nom họ đã có da có thịt.

Ban đêm khi chị đi họp du kích về thì họ đã ngủ.

Ánh đèn dầu đung đưa trên cơ thể cường tráng của những thằng con trai, lòng chị cảm thấy xốn xang.

Chị nhớ anh quá.

Chị thèm đêm đêm có anh ở bên cạnh.

Vậy mà anh chị vẫn chia cắt đôi nơi, hai người hai ngả.

Mỗi khi đêm về lòng chị cứ thót lại, . . . liệu anh có còn sống ?

Có lẽ nào Trời lại bắt mẹ con chị trở thành mẹ góa con côi ?

Sao ngừng bắn rồi mà không cho phép hai bên gởi thư cho nhau.

Giá mà chị nhận được thư anh, . . . dù chỉ một dòng thôi !

Giá mà có ai đó nhắn cho chị tin tức về anh, . . . dù chỉ một lời thôi !

Ngừng bắn rồi, không còn phải nơm nớp lo máy bay hay pháo bắn vào làng.

Hàng ngày chị vẫn ra đồng làm ló và cặm khoai.

Những vồng khoai Quảng Trị rất lớn, đất nâu xẫm, bở tơi.

Dây khoai Quảng trị, sức sống mãnh liệt đang đâm chồi nảy ngọn.

Chẳng mấy chốc đã vươn phủ kín vồng đất.

Chị trạnh nghĩ, phận mình cũng như vồng khoai này, mà sao chị lại lẻ loi và cô đơn đến thế.

Dù làm gì, thì chiều đến chị lại ra ruộng khoai.

Chị bấm ngọn khoai mang về nấu canh mắm ruốc.

Bao giờ chị cũng hái rất nhiều để có phần cho các chú bộ đội.

Đọt khoai bị ngắt, ứa nhựa trắng, thấm đẫm cả tay chị.

Những cây khoai bừng bừng sức sống . . .

Sau khi tắm cho hai thằng cu và nấu cơm xong thì cũng vừa lúc bữa cơm chiều của lính.

Bao giờ chị cũng bưng một tô canh lớn rau lang - mắm ruốc cho đám lính.

Đây là cái tiểu đội 2 của TichTuongNhuLe.

Cả tiểu đội ngồi ăn cơm giữa sân, có cả hai thằng cu con nhà chị.

Chị đặt tô canh xuống và bao giờ cũng chỉ buông đúng một từ: "Keeng . . . !".

Cho đến bây giờ, mỗi lần lính a2 gặp nhau thỉnh thoảng vẫn nhắc lại cái từ "Keeng" đó.

Mọi người đều rất nhớ chị.

Chị ra sông tắm thì đã muộn, Nỗi buồn lại bắt đầu ập đến.

Khi chị về đến nhà để ăn cơm với cha mẹ chồng thì trời đã tối.

Trong ánh vàng và nhập nhòa của đèn dầu, ba người ngồi ăn trong lặng lẽ . . . .

Xê Hai Mươi về Quất xá chẳng được bao lâu thì họ đã di chuyển cả đơn vị đi chỗ khác, chỉ còn lại kho lương thực với hai lính canh giữ.

Rồi đến lượt Dê hai Bốn Quân Y cũng chuyển đi nốt.

Thôn làng dường như xơ xác vắng vẻ lạ thường.

Bây giờ một số ít bà con sơ tán còn lại ở Quảng Bình mới lục tục kéo về, nhưng một số bà con khác từ vùng Đông Hà ở nhờ Quất Xá trong những ngày ác liệt lại rời đi.

Không có bộ đội, gia đình chị buồn hẳn.

May mà có hai thằng cu con nghịch ngợm suốt ngày khiến ông bà phải để mắt trông chừng và ngắm nhìn chúng.

Chúng là nguồn vui và là niềm an ủi cho ông bà và cho chị.

Ba năm trôi qua kể từ ngày anh đảo qua nhà trong dịp tết rồi đi biệt tăm biệt tích thì chiến tranh đã kết thúc.

Hòa đình đã được vãn hồi trên mọi miền đất.

Những người lính từ hai phía, lần lượt, người đã trở về, người đã mang cả gia đình ra đi vào phía nam, bộ đội giải phóng cũng đã được về phép thăm nhà.

Những người lính Quốc Gia đang trong thời gian học tập thì cũng đã có thư từ liên lạc qua lại với người thân.

Vậy mà sao, riêng anh, vẫn bằn bặt tin tức ?

Cả cái làng này chỉ có mình anh sung lính biệt kích rồi chuyển qua biệt động.

Ba mẹ và chị không biết một ai cùng đơn vị anh để hỏi thăm.

Nhiều gia đình hạnh phúc trong đoàn tụ thì ba mẹ và chị càng cảm thấy buồn và hết hy vọng.

Bà con trong làng ai cũng động viên rằng :"Rồi anh ấy sẽ về" nhưng họ đều nghĩ chắc là anh đã chết ở đâu đó trong những ngày ác liệt ở Quảng Trị.

Lại nói, sau ngày 30/4, theo thông báo của Ủy Ban Quân Quản thành phố Vũng Tàu, anh đã nhanh chóng ra trình diện tại Ủy Ban phường nơi anh đang ở cùng ba má vợ và người vợ mới, con thơ.

Sau đó vài tháng anh được triệu tập đi học.

Bản tự khai thì anh đã làm tỉ mỉ, chi tiết khi ra trình diện, thế mà ở nơi tập trung để học tập họ còn bắt anh khai lại hai lần nữa.

Chắc là họ muốn kiểm tra xem anh có khai báo chính xác không.

Đành rằng học tập để cho những người lính Quốc Gia nhận ra sự tốt đẹp của chế độ mới và hiểu thấu đáo cuộc kháng chiến chống Mỹ của Dân Tộc nhưng anh vẫn chắc mẩm trong lòng rằng trong thời gian đó, họ sẽ điều tra về anh.

Họ sẽ biết anh không phải sỹ quan, cũng không là ác ôn hay Việt gian, rồi họ sẽ thả anh sớm thôi.

Sau vài tháng thì anh được về lại gia đình thật, đúng vào dịp Tết Nguyên Đán bảy sáu.

Tuy nhiên, có một điều mà anh cứ băn khoăn và day dứt mãi, không dứt khoát được để báo tin cho ba mẹ và chị ở nhà.

Anh không ngờ cuộc chiến lại kết thúc chóng vánh đến như vậy.

Tưởng rằng sự chia cắt lại tiếp tục dài lâu như từ thời năm năm tư đến giờ.

Giá mà anh biết trước thế này thì anh đã chả lấy thêm vợ.

Anh không ân hận gì về người vợ mới nhưng rất day dứt.

Thật là "tiến thoái lưỡng nan".

Vốn tính ngang tàng và dứt khoát, vậy mà sao việc này mãi anh cũng không thể quyết được.

Anh đã không ngờ rằng sự im lặng của anh đã làm tổn thọ cha mẹ và làm cho vợ đau khổ đến mức nào.

Điều này thì mãi sau này, khi gặp lại gia đình ở Quất Xá, anh mới hiểu và ân hận.

Chị không tiếc sức làm lụng và lao vào công tác xã hội.

Bây giờ chị không còn quanh quẩn ở thôn nữa mà còn tham gia công tác ở xã.

Chị phải họp hành nhiều hơn, có hôm đi họp cả ngày, có hôm phải họp, tối khuya mới về.

Không có xe đạp nên chị phải đi bộ mất vài cây số.

Cũng may, những lần họp ban đêm đều có vài ba người cùng thôn nên cũng đỡ buồn và đỡ sợ.

Cái sợ không đâu của một người đàn bà khi đi một mình trong đêm tối.

Không có tin tức gì về người con trai, nỗi buồn đè nặng lên cả gia đình ông bà.

Giá mà biết chắc là anh đã tử trận như thế nào thì đã đi một nhẽ.

Có thể an ủi rằng, phận anh cũng như bao người lính khác ở cả hai phía, chết oan nghiệt vì chiến tranh.

Mà, trông vào hai đứa trẻ anh để lại thì nỗi đau sẽ nguôi ngoai dần.

Ông bà và chị nghĩ đến anh với bao hình ảnh tưởng tượng về cái chết.

Anh bị trúng đạn, chết ngay tại trận, anh bị thương trong đau đớn, bị bỏ rơi nơi trận tiền và chết vì mất máu và kiệt sức, . . . .

Rồi hình ảnh anh còn trẻ nghịch ngợm, đánh nhau với lũ trẻ trong làng, mặt lấm lem bùn đất, đang la hét và cười nói, . . . .

Mỗi hình ảnh tưởng tượng về anh hay hình ảnh từ quá khứ hiện về đều thấm đẫm nước mắt của người mẹ và người vợ trẻ, làm thắt ruột người cha với những tiếng thở dài đêm đêm.

Ông bà buồn bã và yếu đi trông thấy.

Toàn bộ công việc dường như dồn hết lên đôi vai của chị.

Không thể dừng lại, không thể ngồi ôm nỗi đau mất chồng, chị lao vào làm việc như điên như dại, nhắm mắt vào mà làm như đang say trong cơn du mộng.

Nỗi buồn của chị cũng được bạn bè và các cán bộ ở xã chia sẻ và động viên.

Có người ái ngại, có người thông cảm, an ủi và giúp đỡ chị trong công việc.

Nhưng, cũng có người nhìn thấy chị là người đàn bà đẹp, không chồng, đang cô đơn.

Chuyện ấy xảy ra vào một đêm trăng sáng trước ngày rằm tháng tám.

Tan buổi họp xã, chị tất tả bước đi trên con đường đất liên xã để mau chóng về nhà với hai đứa con.

Hôm nay cùng đi với chị chỉ có một anh cán bộ xã ở cùng thôn.

- Út à !

Đi từ từ chút.

Đêm nay trăng sáng đẹp quá nờ !

- Dạ !

Trăng đang lên, sáng vằng vặc.

Hai bóng người đen xẫm đổ xuống phía trước, nghiêng trên mặt đường bàng bạc.

Cánh đồng lúa đang thì con gái nghiêng ngả trong gió và tỏa mùi thơm của sữa.

Phía xa xa là thôn Quất Xá, xẫm màu cây cối với những hàng tre đang đung đưa.

Xa hơn nữa là mờ mờ dãy rừng rú Động Hà.

Gió lùa trong tóc chị, rối bời, làm cho thỉnh thoảng chị phải đưa tay sửa lại.

Hai người đi trong im lặng, rồi bất chợt tay xã nói:

- Tui thấy út vất vả quá, tui thương lắm !

Chị chưa kịp phản ứng gì thì đã thấy một bàn tay rắn chắc nắm chặt bàn tay chị.

- Eeng mần chi rứa ! bỏ tui ra . . . .

. . . .

Sức chống cự mãnh liệt của một người đàn bà cũng không làm sao thoát khỏi được một con mãnh thú đang cơn.

Vụ án hiếp dâm được đưa ra xét xử vài tháng sau đó tại huyện Cam Lộ.

Mặc dù án được giảm nhẹ đối với người có công, tay xã vẫn phải lĩnh án ba năm tù giam.

Anh sẽ phải ân hận và hối tiếc.

Giá như anh trở về ngay sau ngày hòa bình thì ba mẹ đâu có đau yếu nhanh như vậy.

Giá mà anh trở về thì chị đâu có vất vả như vậy.

Giá mà có anh thì liệu có ai dám động đến chị.

Là năm bảy bảy rồi mà anh vân chưa tin tức gì về nhà.

Vợ anh lại sinh thêm một bé gái nữa.

Anh đã bỏ mặc ba mẹ, bỏ mặc chị với hai đứa con trai mà vui thú với gia đình mới, lấn bấn không biết nên giải quyết thế nào.

Chính ba má vợ anh ở Vũng Tàu lại là người khuyên nhủ anh trở về với gia đình ở Quảng Trị.

Là người có đạo, họ không thể đồng ý cho anh vợ nọ, con kia.

Họ cũng không muốn vì con gái và cháu ngoại của mình mà cướp đi tấm chồng và người cha của những đứa trẻ khác.

Anh thì nói với ba má vợ cho anh ở lại đến ngày đứa con gái bé cứng cáp lên một chút.

Trong khi đó ba má vợ anh tìm cách thuyết phục con gái.

Cô cũng là người có đạo, lại được chính cha mẹ ruột khuyên bảo lời hơn lẽ thiệt mà giới răn thứ bảy trong mười giới răn của Chúa đã dạy.

Trong đó, không thể có chuyện một người đàn ông cùng lúc có hai người vợ.

Khi đứa con gái nhỏ đầy hai tuổi thì đã là bốn năm sau ngày 30 tháng tư.

Cô cứ dứt khoát đòi theo anh để biết quê hương chồng và gặp mặt người vợ cả.

Cô cảm thấy không yên lòng để chồng dứt áo ra đi khi mà cô chưa được đối mặt với chị.

Gửi hai đứa nhỏ cho ông bà ngoại, vợ chồng anh khăn gói lên đường.

Khỏi nói ngày đoàn tụ của anh với gia đình.

Cả ba và mẹ anh đều ôm chầm lấy anh mà chửi, mà mắng mỏ:

- Cha tổ mi !

Răng mi về nhà tau mần chi ?

Răng mi tệ bạc rứa ?

Mi nỏ còn cha mè nữa mô mà về !

- Mi bỏ cha mè mi, giỏi thiệt đó !

Mà mi bỏ hai thằng con mi cho nó côi cút, cù bơ cù bất . . .

Tao nỏ trộ ai gan tày Trời, tày Đất như mi rứa !

Bao nhiêu nước mắt rơi trong ngày trở về, mẹ anh, ba anh và cả anh nữa.

Hai người vợ của anh cũng đầm đìa nước mắt.

Họ lóng nga lóng ngóng đứng ngay cạnh đó mà không ai dám cử động chi hết.

Chỉ có hai thằng cu là không hiểu chuyện gì.

Chúng cũng không thể nhận ra anh, khi anh ra đi năm bảy hai thì chúng còn quá nhỏ.

Sau vài tiếng đồng hồ thì câu chuyện chia cắt của anh với gia đình mới dần dần sáng tỏ trong những tiếng thở dài của ba mẹ và tiếng nấc của hai người vợ.

Chợt giật mình nhớ đến phải cơm nước cho cả nhà, chị lật đật ra vườn lùa bắt gà, rồi tất tả chạy sang hàng xóm mượn xe đạp để đi chợ ngoài thị trấn.

Hai người vợ lo chuẩn bị cơm dưới bếp.

Chắc hẳn là hai chị em đã chuyện trò và đã khóc với nhau nhiều lắm.

Mắt của họ đều sưng húp . . . .

Được vài ngày thì anh lại lên đường để đưa người vợ hai trở về Vũng Tàu.

Hai thằng cu đã quen cách gọi anh và cô.

Chúng nhất loạt khoanh tay:

- Coong chào ba !

Coong chào gì !

Anh và cô trở lại Vũng Tàu.

Lúc này tư tưởng cô đã hoàn toàn không còn vướng mắc gì.

Vấn đề còn lại chỉ là tình cảm quyến luyến và nỗi lo lắng về con cái.

Tuy nhiên, cuối cùng một lễ của nhà thờ cho phép tháo gỡ sợi dây hôn phối giữa hai người.

Đây là cách vận dụng một trong ba trường hợp mà Hội Thánh có quyền gỡ bỏ hôn nhân.

Trường hợp của anh và cô được xem như "cuộc hôn nhân vốn đã không thành sự ngay từ đầu, vì mắc phải một hoặc nhiều ngăn trở".

Những luật đạo vốn chặt chẽ nhưng cũng phải linh hoạt vận dụng trên mảnh đất có lắm tai ương, nghiệt ngã của chiến tranh.

Anh cũng có phần yên tâm vì hôn nhân đã được gỡ bỏ thì sau này, cô hoàn toàn có quyền lấy một người khác.

Điều này hoàn toàn khác với trường hợp Hội Thánh chỉ cho phép li thân, thì, sau đó hai người li thân không được phép lấy người khác.

Cuộc chia tay của anh với cô và các con cũng đầy nước mắt và day dứt.

Hai người hứa sẽ giữ liên lạc và quan tâm đến nhau.

Mấy năm sau, ở Vũng Tàu, cô gặp được người đàn ông thương cô, thông cảm với hoàn cảnh của cô.

Hai người đã làm lễ cưới.

Các đứa con của hai người và con riêng của chị sống chung trong một mái nhà và được người bố dạy dỗ, chăm sóc như nhau.

Một người đàn ông độ lượng và thật tốt.

Anh trở về Quảng Trị sống cùng ba mẹ, vợ và hai thằng cu vào năm 1981.

Hai năm sau, anh chị có thêm một đứa con gái.

Năm 18 tuổi, thằng cu lớn bị bênh nan y.

Cả gia đình dồn hết tiền nong và chạy các bệnh viện để chữa cho con mà nó không qua khỏi.

Tôi trở lại thăm Quất Xá sau 39 năm.

Khi vào đến sân nhà anh chị, tôi ngơ ngác nhìn cảnh vật để cố nhận ra nếp nhà xưa.

Cảnh vật đã có nhiều thay đổi.

Ngôi nhà đã được làm lại, nhỏ hơn trước đôi chút.

Lối đi vẫn được trổ thẳng từ phía trước vào nhưng lệch về bên phải thay vì lệch về bên trái như trước kia.

Giàn trầu xanh biếc và vườn cây rợp bóng không còn được như xưa.

Một người đàn bà mặc quần áo đen từ trong nhà bước ra đón khách.

Tôi nhận ra ngay đó là chị, vẫn vóc dáng ấy, vẫn khuôn mặt ấy, vẫn nét cười ngày nào.

Khi hai chị em đang chào hỏi nhau, tôi nhìn thấy một người đàn ông đang lúi húi cho gà, cho lợn ăn ở cái nhà ngang bên cạnh.

Đó là anh.

Ông bà đã mất, anh chị ở với vợ chồng cô con gái.

Vợ chồng nó đi làm xa, tối mới về, ở nhà chỉ có anh chị và đứa cháu ngoại.

Vợ chồng đứa con trai và các cháu nội anh chị làm ăn xa và sống ở thành phố.

Suốt buổi, anh chị thay nhau kể chuyện về cái làng Quất Xá, về cuộc đời vất vả, nhiều "sự cố" của hai người.

Trong lúc chờ chị cơm nước, anh lấy xe máy chở tôi ra bờ sông Cam Lộ.

Bờ sông um tùm những vạt trúc đào ngày nào bây giờ xơ xác, toàn sỏi đá.

Người ta khai thác cát và đổ đất đá phế thải ngồn ngang cả một quãng sông.

Trúc đào xưa như một rừng cây cao gấp đôi đầu người, giờ đây chỉ còn lác đác những bụi cây non, cao ngang thắt lưng.

Dân làng đã chặt hạ trúc đào để làm củi và đã nhiều lần đốt cháy các vạt cây ven sông.

Anh cũng đưa tôi ra tận hạ nguồn suối La La, nơi nó đổ vào sông Cam Lộ.

Tôi còn được anh chở đi một vòng, thăm cánh đồng của Quất Xá.

Mọi người bỏ làng đi làm ăn xa, nên nhiều đám ruộng đã bị bỏ hoang từ lâu.

Chúng tôi đứng giữa đồng trống mà nhìn ra dòng sông và nhìn về Động Hà, nơi có điểm cao 544, căn cứ pháo binh có từ thời Mỹ năm sáu bảy.

Anh chỉ tay lên đỉnh núi:

- Phu – Lơ tề ! (Fuller)

- Vâng !

Anh chị chỉ cho tôi chụp hình khi hai người đã thay quần áo mới.

Chuyện XXIX HÒN VƯỢN

Nỗi buồn khi về nhà

Cuối 1974

Khi tôi luồn sâu xuống xã Hải Phú, Hải Lăng về đến Xê Hai Mươi ở sông Ái Tử thì giật mình vì đại đội tôi vắng hoe.

Một nửa đại đội đã bị chuyển đi đơn vị khác.

Nghe nói sắp nhận lính mới bổ sung về.

Về đến nhà riêng của tiểu đội còn buồn hơn vì tiểu đội tôi bây giờ chỉ có mỗi mình Vương Lâm.

Nó là a phó a1 chuyển sang khi tôi đi vắng.

Anh em cũ trong tiểu đội tôi bị chuyển đi hết.

Lâm nói:

- Tiểu đội 2 của ông bị chuyển đi hết.

Đại đội biên chế lại.

Bây giờ tôi về tiểu đội 2.

Tiểu đội bây giờ chỉ có hai thằng ông mới tôi thôi.

- Chúng nó bị chuyển đi đâu thế ?

- Thằng Cam sang c26, thằng Thìn sang vận tải, thằng Sự đi bộ binh 101.

Nhiều nhất là về 101, còn đi đâu nữa thì tôi không biết.

- Lúc nãy tôi ở trên đại đội thấy mấy ông mới quá.

- Ừ !

Ông Nhạ ở trinh sát 101 về làm đại trưởng, ông Thanh mới học ở ngoài Bắc vào làm chính trị viên, ông Triêm cũng mới ở

trường ra về làm đại phó.

Còn mỗi ông Ánh là cũ thôi.

- Không biết lão nào mà ngu thế ?

Sắp đánh nhau đến nơi lại đi thay quân.

Thế này thì làm ăn đ'. . . gì !

- Cả xê, thằng nào cũng chán.

- Ngu thật đấy !

Đểu thật đấy.

Sống với nhau từ bảy hai đến giờ thế mà lại đẩy bọn nó đi.

Chả có tình nghĩa chó gì . . .!

- Thì ở trên người ta biết đâu.

- Đ' . . . phải đâu.

Ở trên thì biết thằng nào với thằng nào.

Cái này là do thằng ở đại mình nó đưa danh sách lên chứ.

Tôi

nghĩ ra rồi, trước khi nó đi khỏi đại mình để phát triển lên đoàn lên điếc, thì nó cũng đẩy hết những đứa nó không ưa đi

chứ sao.

Quá đểu !

Không thể chấp nhận được.

- Là tôi nói ở trên cho nó qua chuyện chứ tôi cũng nghĩ như ông đấy.

Tôi cảm thấy bực dọc, buồn bã và bất lực.

Tôi nhớ chúng nó quá.

Giá mà chúng nó chuyển ra bắc để đi học thì đã mừng, đằng này lại chuyển đi đơn vị khác, lại cũng là chỉ trong sư đoàn chứ có phải vì nhiệm vụ gì đâu.

Cứ cho là lão máu lạnh đi, thì cũng phải biết, chúng nó toàn là những thằng dày dạn bom đạn từ năm 72, hai năm nay huấn luyện rất nhiều về nghiệp vụ. . . mà sao lại đẩy đi.

Quá ngu. . .!

Đại đểu . . .!

Giai đoạn này không thấy tập tành gì.

Cán bộ thì mới, lính tráng thì ít mà lại còn đang phân tán khắp nơi.

Xê viên mới cũng muốn thay đổi không khí nên thường xuống từng nhà để nắm tình hình và động viên lính.

Cách động viên lính của anh ấy là kể chuyện tiếu lâm và tự nói xấu mình để gây cười.

Rồi anh ấy cười trước, rất nhạt.

Khi cười cái hàm rậm râu đưa ra phía trước và khoe bộ răng có một chiếc răng viền vàng loe lóe.

Một tiếng cười không có một chút vô tư nào cả.

Không biết đứa nào mách mà lúc xuống tiểu đội tôi, xê viên bảo tôi lên xê bộ viết và vẽ cho mấy cái pa-nô:

- Cậu viết chữ đẹp lại vẽ giỏi lên giúp mình tí nhé !

- Em bị hỏng tay rồi anh ạ !

Tay bây giờ run lắm, không viết được.

Mà thằng Khang liên lạc của anh nó viết và

vẽ đẹp hơn nhiều anh ạ.

Tôi nói thế làm cho xê viên không biết nói thế nào nữa và có vẻ như cảm thấy hơi bẽ.

Anh ấy vội lảng qua chuyện khác.

Sáng sớm hôm sau ngày về nhà, tôi cuộn các tài liệu của chuyến luồn sâu và lên ban trinh sát (ban 2) để báo cáo.

Không còn nhớ ai đi cùng với tôi.

Hai đứa ăn sáng xong thì lội qua sông Ái Tử rồi đi bộ theo đường mòn, qua hàng loạt các quả đồi.

Chúng tôi đi trong lặng lẽ, chẳng ai buồn nói chuyện.

Gặp con đường tăng chạy từ lộ một đi căn cứ Phượng Hoàng (Petro), chúng tôi đi theo đường tăng một đoạn thì rẽ xuống phía sông Vĩnh Phước.

Đó là khu vực của sư đoàn bộ sư đoàn 325.

Sư đoàn đóng dọc theo hai bờ sông.

Tư lệnh và các phòng hầu hết ở bờ nam sông.

Một số phòng ban ở bờ bắc cùng với mấy đơn vị trực thuộc.

Riêng ban hai lại nằm độc lập sát chân đồi.

Ban 2 ở trong một nhà và tiểu đội trinh sát kỹ thuật a12 ở một nhà ngay cạnh đó, chũng tôi vẫn gọi chung là ban 2.

Do vậy ban 2 là ban duy nhất của sư đoàn bộ có một tiểu đội lính.

Anh em từ c20 lên ban 2 làm công việc xong thường vào chơi với anh em a12.

Tôi nhớ có lần tôi ở ban 2 khá lâu để làm bản đồ cho ban và cho phòng tham mưu.

Hồi đó, tôi còn trèo lên đài trinh sát kỹ thuật của a12 để xem họ nghe trộm thông tin của địch như thế nào.

Tôi còn tò mò hỏi xem muốn sử dụng bảng tra mã thì xoay cái bìa ra làm sao.

Đài nằm trên cao điểm 58, cao nhất khu vực này.

Gần đó còn có một đài quan sát của c20, đặt trên cao điểm 54.

Khi tôi nộp hồ sơ cho ban 2 thì nhận thấy không khí trên ban có vẻ bận rộn khác thường.

Trong khi đó, thái độ của "bọ" Luyến không vồ vập với các tài liệu mà chúng tôi mang về.

Bọ cũng không hỏi han gì về khu vực mà chúng tôi đã trinh sát và có cái vẻ rất thờ ơ :

- Các cậu có muốn ăn ở đây thì bảo thằng Quận nó sang ban 5 báo cơm, mà muốn về thì về.

- Chúng em về thôi thủ trưởng ạ !

Chúng tôi chào bọ Luyến rồi nhảy sang nhà a12 chào hỏi, nói chuyện một lúc rồi ra về.

Trên đường về, hai thằng "tham mưu con" bắt đầu bàn tán:

- Tài liệu luồn sâu lần này không dùng đến rồi.

Chắc chắn sắp tới mình sẽ chưa hoặc sẽ không đánh nhau ở

Quảng Trị đâu.

- Tôi thì nghĩ vẫn sắp đánh nhau vì thấy các bọ có vẻ bận và căng thẳng phết.

Chắc vẫn đánh ở Quảng Trị

nhưng đánh ở miền Đông chứ không đánh ở miền tây, có khi đánh hiệp đồng binh chủng, chính qui hiện đại,

dùng xe tăng đánh thẳng dưới đồng bằng.

- Nhưng có thấy đại mình trinh sát gì ở miền đông đâu ?

- Ừ !

Hay là sư mình sắp di chuyển để đánh ở phía trong cũng nên.

Chuyện "tham mưu con" của chúng tôi thường diễn ra như thế nhưng cũng chỉ là bàn tán giữa hai ba đứa với nhau, chứ không nói rộng chuyện ra với người khác.

Ai biết chuyện đâu, bỏ đó.

Đó là nguyên tắc bí mật, nếu không sẽ bị "sạc" chết.

Bố tôi vào thăm c20

Trên đường từ ban 2 về đơn vị, bất chợt thằng bạn hỏi tôi:

- Này, ông già ông vẫn ở trong này à ?

- Đợt trước, bố tôi vào đây chắc khoảng một tháng rồi lại ra Hà Nội, còn bây giờ thì tôi không biết.

- Thế ông viết thư thế nào mà ông già lại tìm được đơn vị mình thế ?

- Tôi viết thư thì cũng chỉ nói là ở Quảng Trị thôi.

Lúc bố tôi vào đến đại mình thì tôi cũng bất ngờ.

Mà, tôi cũng chả

hỏi tại sao ông tìm được địa chỉ sư mình.

Chuyện đó với bố tôi dễ ấy mà.

Chắc là ông hỏi bạn bè về sư 325, người ta

cho địa chỉ.

Ông vào sư đoàn, chắc hỏi thăm con ở trinh sát sư.

Lúc đó có thằng . . . (bây giờ tôi không nhớ tên) xê

mình đang ở ban 2.

Nó lên xe dẫn bố tôi về.

Xe để bên này sông.

Ông già tôi vào ban chỉ huy đại đội, rồi thằng Khang

liên lạc gọi tôi lên đại đội.

Lên đó tôi mới gặp cụ đấy chứ.

Nhớ lại, cách đây nửa năm, bố tôi đi công tác phía trong.

Trên đường đi ông có rẽ vào c20 để thăm tôi ở Nại Cửu.

Khi tôi lên ban chỉ huy đại đội thì xững người vì thấy người ngồi trước mặt lại là bố.

Đang lúng túng không biết làm thế nào thì bố đã đứng lên và ôm tôi, bên trái, bên phải, rồi lại bên trái, giống như thủ tục ngoại giao mà tôi đã xem ảnh khi bố tiếp khách nước ngoài, chỉ khác là bố tôi ôm chặt chứ không phải hờ hờ như đối với khách.

Mấy cán bộ đại đội thì hỏi bố:

- Thủ trưởng ở đây chơi với Như Lệ, chúng em mời thủ trưởng ăn cơm lính !

- Cảm ơn các đồng chí ! tôi chỉ tạt qua thăm cháu.

Thấy nó rắn giỏi quá, thế này là công của các đồng chí nhiều lắm.

- Thủ trưởng cứ yên tâm.

Như Lệ là tiểu đội trưởng cứng của đại đội chúng em đấy ạ !

Mấy khi cha con nhà lính lại gặp

nhau ở chiến trường thế này.

Thủ trưởng ở lại chơi với Như Lệ và với chúng em vài ngày.

- Thôi, xin phép các đồng chí.

Tôi đang phải đi công tác vào phía trong, chỉ ghé qua một lúc thôi.

- Chúng em cũng xin phép.

Thủ trưởng cứ tự nhiên nói chuyện với Như Lệ đi.

- Gặp cháu thế này là tốt rồi.

Có lẽ tôi cũng phải đi rồi.

Có ít trà và thuốc gọi là quà của hậu phương biếu các đồng chí

để nhớ hương vị của quê hương.

Thôi chào các đồng chí.

Tôi dẫn bố về nhà của tiểu đội thì thấy anh em tiểu đội tôi và các tiểu đội khác đang tụ tập để chờ hai bố con.

Bố tôi và mọi người nói chuyện rất vui vẻ.

Bố tôi hỏi đủ thứ chuyện của đơn vị còn mọi người thì tranh nhau trả lời.

Ai cũng gọi bố là bố và xưng con.

- Bố ăn cơm với chúng con nha.

Chúng con có cơm đại táo bố ạ.

- Thằng nào chạy xuống bếp bảo anh Thắng Quản xin một mâm cơm khách đặc biệt đê.

Bố tôi cười vui lắm, bố xua tay, rồi nói:

- Bây giờ bố phải đi rồi, chúng bay thương nhau thế này là bố yên tâm rồi.

Bao giờ chúng bay về Hà Nội bố sẽ mời cơm đại

táo của nhà bố.

Nhớ đấy nhá !

Đây, quà của mẹ.

Bà ấy gửi những gì thế này không biết ?

Thôi bố chúc các con mạnh khỏe,

chiến đấu giỏi.

Mà đừng có đứa nào hy sinh đấy nha.

- Vâng !

Mọi người tiễn đến bờ sông, có hai thằng đi cạnh bố khi lội sông.

Khi bố qua sông rồi, mọi người còn vẫy theo mãi.

Qua sông được một đoạn thì hai thằng cũng chào bố mà quay trở lại.

Mọi người muốn để bố con tôi được nói chuyện riêng mà.

- Bố à, bố gần sáu mươi rồi.

Bố cứ đi suốt thế này con chỉ lo sức khỏe của bố thôi, nhất là cái bệnh ruột và bệnh gan.

- Không sao, lúc nào mà mẹ chả chuẩn bị đủ thuốc cho bố rồi.

- Đợt này bố đi có lâu không ạ ?

- Bố vào trong kia xong thì rẽ sang Lào, rồi vòng về đường Con Cuông, chắc phải mất một tháng.

- Mẹ và chúng nó ở nhà thế nào ạ !

- Mẹ thì vẫn thế.

Được cái bà ấy chịu khó uống thuốc nam lắm nên bệnh tật cũng ổn định.

Bây giờ bọn trẻ về Hà Nội rồi,

không phải sơ tán nữa nên chúng nó cũng khỏe cả, con cứ yên tâm.

Mà bố thấy con gày mà đen quá !

- Vâng, nhưng con rất khỏe, chẳng ốm đau bao giờ, mà con ăn khỏe lắm, chả bao giờ biết no.

- Bố anh !

Anh giống cái thằng bố anh hồi trẻ đấy !

Ra đến chỗ chiếc xe đang chờ thì bố con tôi chia tay nhau.

Bố ôm tôi ba lần, rất chặt.

- Con về đi, nhớ giữ gìn sức khỏe.

- Vâng !

Bố đi đường may mắn nha !

Bố tôi mở cửa bên phải chiếc xe.

Tôi biết bố sẽ bước chân phải lên trước rồi đứng thẳng người trên cái bậc xe, sau đó mới cúi xuống để chui người vào xe, một động tác rất riêng của bố và rất quen đối với tôi.

Chiếc xe nổ máy, rồi vọt lên phía trước.

Chiếc Commăngca biển đỏ cứ xa dần rồi khuất hẳn.

Sau khi chiếc xe mất hút bên kia đỉnh đồi, tôi tần ngần quay về.

Con sông Ái Tử mùa này nước đã bắt đầu lành lạnh.

Đoạn sông mà tôi lội qua khá hẹp, nước chảy mạnh.

Đáy sông Ái Tử ở đoạn này có bùn và nước không thật trong lắm.

Thỉnh thoảng mấy thằng tiểu đội tôi thường đi ngược lên phía trên đến đoạn nước sâu chảy lững lờ và xa đại đội rồi ục một cái, một trái M26 đã nổ âm dưới sông.

Một lúc sau, chúng nó mang cá về, tuy không nhiều lắm nhưng cũng được một bữa cải thiện thoải mái.

Thằng Hưởng tiểu đội tôi có cái trò đánh cá bằng lựu đạn nổ tức thì.

Nó lấy lạt quấn nhiều vòng vào trái nổ rồi rút chốt và quẳng xuống sông.

Chờ một lúc thì lạt tở ra hết, mỏ vịt mới bung ra.

Lần nào tôi cũng cự nự nó, còn nó thì chỉ cười hì hì : "Nỏ can chi mô !".

Thằng Hưởng đầu chải sóng rất điệu, nó bị ve bên mắt trái.

Mỗi lần nó cười cái ve càng lộ rõ, còn đuôi mắt nó thì xòe ra một nắm rẻ quạt.

Tiểu đội tôi, mỗi thằng một kiểu, mỗi đứa một tật.

Thằng nào cũng có cái đáng yêu và đáng ghét riêng.

Bây giờ không biết chúng nó dạt về những đơn vị nào.

Chúng bỏ lại tôi trật lấc một mình.

Thật là buồn !

Mấy hôm sau là ngày tết quân đội, cũng vẫn liên hoan ăn tươi.

Cả đại đội tôi trong nhà ăn bây giờ trống vắng quá.

Các trung đội gọi nhau mang cơm về nhà ăn chung cả trung đội cho đỡ buồn.

Một tuần sau nữa là tết dương lịch.

Anh Nhạ, đại trưởng mới, xuống các tiểu đội động viên và chúc tết mọi người.

Một người chỉ huy gần gũi, thân mật và đậm chất lính.

Vào khoảng ngày 18/1/1975, chúng tôi được gọi lên đại đội để đi công tác.

Yêu cầu cũng như những lần luồn sâu khác.

Mỗi người chỉ mang một chiếc gùi nhỏ, quần áo tối thiểu, một khẩu báng gấp, hai băng đạn, hai trái mỏ vịt M26, chủ yếu là phải mang lương thực.

Mỗi người chặt một bao tượng gạo, mấy kí lương khô, rồi đồ hộp, . . .

Tôi thì có thêm mấy thứ bất li thân là ống nhòm, địa bàn, bản đồ giấy và bút vẽ.

Đại đội cũng không phổ biến chúng tôi nhận nhiệm vụ gì.

Sau khi kiểm tra song cho từng người, anh Nhạ mới giao cho tôi, sáng sớm hôm sau, dẫn phân đội lên ban 2 nhận nhiệm vụ.

Thật lạ, lần này chúng tôi đi không có thông tin đi cùng.

Không nhận nhiệm vụ tại đây thì đây là nhiệm vụ bí mật rồi.

Trinh sát sư đoàn đi chuẩn bị chiến dịch ở đâu thì rồi sư đoàn sẽ tác chiến ở đó.

Hồi đó, dân ở Trà Liên Tây thỉnh thoảng vẫn lên chỗ chúng tôi chơi.

Mà cũng không thể cấm dân vào chơi với bộ đội được.

Đại đội và ban 2 đề phòng anh em rò rỉ tin tức cho dân và rất có thể lộ bí mật bằng con đường nào đó.

Sáng sớm, chúng tôi tập trung ở sân bóng rồi cuốc bộ lên sư đoàn.

Trưởng ban 2 trực tiếp giao nhiệm vụ cho từng nhóm.

Các nhóm sẽ phối thuộc với trinh sát của e95 để làm nhiệm vụ luồn sâu, trinh sát hai cứ điểm quan trọng ở phía bắc Huế là căn cứ Hòn Vượn và cứ điểm Núi Gió.

Núi Gió có mấy đỉnh, trong đó có một đỉnh cao nhất và rất nhọn nên chúng tôi gọi là "Chóp Nón".

Mỗi nhóm được phát bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50000 vùng Hương Trà, sông Bồ.

Đường đi từ đây tới đó khá xa nên việc đầu tiên là chọn đường hành quân trên bản đồ tỷ lệ nhỏ.

Sau khi trao đổi kỹ trên bản đồ, tôi là người được giao tấm bản đồ này, một tấm bản đồ tỷ lệ 1:250000 được ghép từ 4 mảnh.

Vậy là tôi giữ hai bản đồ, một bản đồ chi tiết vùng bắc Huế và một bản đồ để đi đường dùng chung cho cả phân đội.

Bản đồ chỉ là một phần, ngoài ra chúng tôi còn được dặn dò địa điểm tập kết chung với e95 và trinh sát mặt trận B5 tại cơ quan quận đội Hương Trà, lúc đó đang đóng tại thượng nguồn sông Bồ.

Hành quân từ Quảng Trị đến Huế

Sau khi nhận nhiệm vụ, phân đội trinh sát bắt đầu hành quân.

Lúc đó khoảng 10 giờ sáng.Chúng tôi xác định ngày hôm nay sẽ hành quân tới thung lũng Ba Lòng thì sẽ dừng lại nghỉ.

Từ ban 2 ở Tân Vĩnh, chúng tôi trèo lên đường tăng.

Đây là con đường tăng lớn chạy từ cầu lai Phước vào căn cứ Phượng Hoàng.

Con dường này chạy qua chân cao điểm 58, nơi có a12 đặt đài thu tin điện đàm của địch.

Chúng tôi cắt qua con đường này để đi động Ba Gơ.

Đường đi toàn núi đồi đất đỏ nâu và cây xúp.

Mười hai giờ trưa mà chúng tôi vẫn chưa tới được chân núi Ba gơ.

Mọi người nghỉ giải lao bên vạt cây cao quá đầu người và tranh thủ ăn lương khô.

Vừa ăn, chúng tôi vừa xem lại bản đồ để chọn đường đi cho đỡ vất vả nhất.

Chúng tôi chọn đường đi vòng qua núi Ba Gơ để đỡ phải leo.

Vòng hết núi sẽ đến thung lũng Ba Lòng.

Có lẽ chúng tôi sẽ chọn vị trí mà trên bản đồ ghi là thôn Thanh Trà để nghỉ lại.

Không rõ Thung lũng Ba Lòng như thế nào, tôi chưa lần nào tới đó mà chỉ nghe bây giờ là thủ đô của lính.

Đường vận tải Bắc Nam chở lương thực, vũ khí đạn dược cũng đi qua đây.

Đây cũng là nơi tập trung đầu mối giao liên Bắc Nam Đông Tây.

Không biết có tìm được nhà dân hay nhà lính để ở nhờ hay phải mắc võng nằm ngoài rừng ?

Dưới đây là đường chúng tôi hành quân xuất phát từ ban 2 sư đoàn ở sát sông Vĩnh Phước của Quảng Trị và sẽ tập kết tại sông Bồ của Huế.

Trên bản đồ quãng đường này khoảng 90 cây, toàn đường rừng núi.

Vì không phải vội nên chắc chúng tôi phải đi mất bốn ngày.

Vòng theo đường chân núi Ba Gơ, chúng tôi bắt gặp phía trước mặt là một dải rộng cây lúp xúp khá bằng phẳng.

Xa xa thấp thoáng dòng nước xanh biếc.

Đó là sông Ba Lòng và còn được gọi bằng một tên khác là Đakrông.

Dòng này chính là đầu nguồn sông Thạch Hãn.

Ngước lên một chút lại là rừng núi trùng điệp.

Chếch về phía tay trái, Động Ông Đô đỏ trọc có vẻ thấp hơn nhiều so với khi chúng tôi ở đồng bằng nhìn lên.

Thẳng mặt chúng tôi là dãy núi khá cao, trên đó có đỉnh 367 hiện thời đang do địch chiếm giữ.

Nhìn chếch về bên trái là đại ngàn của Trường Sơn với Động Ba Lê sừng sững và rất dốc chắn ngang trước mặt.

Chúng tôi đi sát đến bờ sông, ai nấy đều lội ào xuống, vục vào dòng nước trong mát mà vốc từng vốc nước lớn tấp lên mặt, lên đầu, rồi nhúng cả mũ tai bèo xuống sông, thật là sung sướng hả hê.

Nhớ lại, hai lần trước khi chúng tôi xuất phát từ Ái Tử để vào sông Nhùng, chúng tôi đã lội qua sông ở khúc dưới, cách đây khá xa.

Hai lần đó, chúng tôi đều đi theo con đường giao cắt với con đường tăng chạy từ đầu cầu Quảng Trị, qua Tích Tường, Như Lệ, Đá đứng.

Sau khi vượt qua giao cắt, chúng tôi vượt lên đồi theo đường qua Khe Trai, nơi mà ta và địch hay có đụng độ, nổ súng vào nhau nên đến đó chúng tôi phải đi rất khẩn trương với đội hình rất xa nhau, coi như vượt qua một chỗ hiểm nghèo.

Lần này khe Trai khuất sau một dãy núi.

Trên đó là chốt của ta nên chúng tôi hoàn toàn yên tâm thoải mái mà đi thong dong trên bờ sông và đùa nghịch với nước.

Mọi người chọn được một bãi rất đẹp để nghỉ chân bên dòng nước trong xanh.

Đoạn đầu nguồn Thạch Hãn này thật là đẹp.

Dòng nước trong xanh uốn lượn quanh các triền núi, lúc ẩn lúc hiện.

Nhìn về xuôi, thấy bầu trời bàng bạc sáng, nơi ấy là Vùng đồng bằng, có Thành Cổ Quảng Trị sát ven sông, có làng Trà Liên cây cối tốt tươi mướt mát, một vùng đất chở nặng phù sa trong những ngày tháng tám.

Nhìn về phía tây, là ngút ngàn rừng núi trùng điệp đang bắt nắng hung hung.

Chỗ này hơi khuất, nên chúng tôi chưa nhìn thấy thung lũng Ba Lòng.

Chúng tôi tiếp tục hành quân.

Chừng hơn cây số thì thung lũng Ba Lòng bỗng hiện ra trước mắt.

Một cái thung lũng khá rộng và trù phú với nhiều sông suối đổ xuống từ các triền núi xung quanh.

Tất cả các làng xóm, chủ yếu của người Vân Kiều, trên bản đồ lúc đó đều có ghi chú "Destroyed" hoặc "Abandoned" (đã bị phá hủy, đã bị hủy bỏ).

Nhưng mới chỉ hai năm sau ngừng bắn, dân Vân Kiều đã trở về.

Họ đã dựng lại những nếp nhà sàn đơn sơ quen thộc.

Lác đác xen lẫn trong bản làng, đây đó cũng có nhà được làm sát đất như nhà của người Kinh để đỡ tốn công sức hơn và vì cũng lâu nay vùng này không còn thú dữ.

Đi thêm vài cây số nữa, chúng tôi gặp đường 15N, rồi theo đường vượt ngầm qua sông.

Toán trinh sát tìm đến cái làng mà trên bản đồ ghi là Sa Vẻ và xin ở nhờ dân trong hai chiếc nhà sàn gần nhau.

Chuyện bộ đội hành quân qua đây xin ở nhờ chắc đã quá quen thuộc nên dân nhanh chóng chỉ chỗ nghỉ cho lính với thái độ bình thản không ra nhiệt tình cũng chẳng phải thờ ơ.

Những người dân, kể cả trẻ con đều nói được tiếng Kinh tuy có hơi lơ lớ một chút.

Căn nhà sàn thật là đơn sơ.

Bếp lửa đặt ngay giữa nhà, hơi lùi về phía sau, trên một tấm tôn có lót đất.

Mấy cây củi gộc vẫn đang cháy âm ỉ và ngún khói.

Quần áo vắt túm tụm trên một cái dây thành một đống ở góc nhà.

Sát sau nhà, phía gần bếp lửa, những túm ngô, những túm lúa và vài túm thuốc lá được vắt trên những cái sào.

Góc nhà còn lại, người ta treo nhiều thứ dụng cụ gì đó trông rất đơn sơ, tôi không biết họ dùng để làm gì.

Nhà của người Vân Kiều nhỏ hơn nhà sàn của các dân tộc ở phía bắc và cũng đơn sơ hơn.

Nhà sàn cũng khá thấp, chỉ vài bậc thang từ mặt đất là đã lên đến mặt sàn.

Xung quanh nhà tạm thời thưng bằng phên tre nứa gì đó.

Nếu có điều kiện lâu dài, có thể người ta thưng bằng gỗ tấm.

Tôi chưa thấy nhà sàn nào của người Vân Kiều làm kỹ, phần nhiều cột gỗ đẽo sơ sài, ván thưng để mộc và xong queo nên không thể thưng kín xung quanh.

Điiều này chắc là do ở Quảng Trị không bị rét như ở phía bắc.

Về sau này tôi mới biết thêm dân tộc Vân Kiều còn có tên gọi khác là người Bru, người Mang Coong, người Trì hay người Khùa.

Người Vân Kiều, kể cả đàn ông, đàn bà và trẻ con đều ở trần, đàn ông thì đóng khố còn đàn bà thì mặc môt chiếc váy.

Váy của người Vân Kiều cũng có hoa văn chạy thành các băng ngang nhưng tôi thường gặp họ mặc váy đen.

Có thể do chiến tranh ác liệt, đời sống quá khó khăn nên dân không có điều kiện để làm đẹp.

Ba mươi sáu năm rồi, tôi chỉ còn nhớ rất ít về cái nhà người Vân Kiều mà chúng tôi ở nhờ.

Trong nhà không thấy có thanh niên, chỉ có hai vợ chồng tuổi khoảng năm mươi với mấy đứa trẻ trông rất lam lũ.

Chúng tôi cũng nấu cơm và cho bọn trẻ mỗi đứa một bát.

Ông già lườm mấy đứa bé nhưng chúng tôi đã làm cho ông cảm thấy thoải mái và đồng ý cho trẻ con ăn với bộ đội cho vui.

Gia đình ông bà cũng có hai đứa con trai lớn và đã cho đi bộ đội ở tỉnh rồi.

Cơm nước xong thì trời đã xế chiều.

Mặt trời đã khuất sau núi nhưng ráng trời tây rất đỏ.

Giá như ở đồng bằng bắc bộ thì "vàng gió, đỏ mưa", nhưng ở Quảng Trị, tôi thấy hầu như trời chiều trên núi bao giờ cũng đỏ như thế này.

Đứng ở đây khuất núi chúng tôi không nhìn được về phía đồng bằng mà nhìn xuống cái chiều buông trên thung lũng đã bắt đầu dần trở nên xẫm màu.

Chiều núi Quảng Trị không lạnh và cũng không có sương bay bảng lảng trên các sườn núi.

Hơi nóng từ núi và từ rừng vẫn tỏa ra hầm hập.

Nếu hôm nào đó mà chiều đến mây đen dựng đứng ở phía tây thì có mưa rất to.

Quảng Trị không bao giờ có một ngày mà sáng sớm mù sương, ban ngày trời nắng, chiều đến thì sương buông và se se lạnh.

Cái oi bức của buổi chiều và chập tối ở núi rừng Quảng Trị thật là khó chịu.

Chúng tôi dậy nấu cơm từ rất sớm, vừa để ăn, vừa để nắm mang theo.

Khi chúng tôi chào gia đình chủ nhà để lên đường cũng là lúc sương sớm dìu dịu, ánh nắng đã hắt qua đỉnh núi nơi chúng tôi đứng xuống lưng chừng thung lũng.

Một buổi sáng đẹp trời.

Hôm nay trời không mưa nhưng sẽ nắng rất to và nóng phải biết.

Tiếng chim buổi sớm ríu rít khắp nơi.

Buổi sớm trong rừng, lũ chim không bao giờ đi kiếm ăn ngay mà bao giờ cũng biểu diễn đủ các thứ giọng, hàng tiếng đồng hồ.

Rồi, một lúc sau, tiếng hú gọi nhau của đám vượn cũng vang lên vọng đi vọng lại trên núi nghe rất tưng bừng, rồn rã.

Chúng tôi đi theo đường 15N, đây là con đường đất chạy qua đầu nguồn sông Nhùng, đầu nguồn sông Mỹ Chánh, thượng nguồn ngọn Ô Lâu rồi tới Rào Trăng là thượng nguồn sông Bồ.

Đường đi của chúng tôi có đoạn gần cao điểm 367.

Ở đây um tùm cây cối của rừng già.

Nắng đã lên, phảng phất trong không gian là hương rừng âm ẩm, ngai ngái:

- Có phong lan chúng mày ạ !

- Ừ, thơm quá ! không biết ở đâu í nhỉ ?

- Gần đến sông Nhùng rồi.

Lúc bọn tôi ở sông Nhùng, cũng hay ra khu vực đường này để kiếm phong lan.

Lão Tất y tá là khoái phong lan nhất, rồi đến lão Dân, rồi đến thằng Công.

Lão Tất trèo cây ác phết, thế mà nhiều lúc cũng đành chịu.

Cái giống phong lan sao cứ tìm những chỗ cành cây khô lắt lẻo mà đậu.

Phàm những chỗ như vậy, phong lan lại ra hoa rất nhiều, rất đẹp và rất thơm.

Đến đúng chỗ đầu đường rẽ vào cứ của chúng tôi ở sông Nhùng thì chúng tôi ngồi nghỉ lại.

Đây là một đoạn đường chạy dọc theo suối, nước chỉ xâm xấp.

Cây cối um tùm trên đầu, chỉ có vài đốm nắng lọt được xuống mặt nước, loang loáng.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 22/1/1975, chúng tôi đến Rào Trăng đầu nguồn sông Bồ.

Chúng tôi bỏ con đường ô tô và rẽ xuống men theo rào.

Từ xa chúng tôi đã nghe tiếng nước chảy rì rào, có vẻ như có một cái thác nhỏ ở phía trước.

Hôm nay trời rất đẹp, nắng vàng óng ả xuyên xuống suối và thảm cây.

Dường như không khí trong suốt làm cho tiếng thác đổ nghe cũng trong veo.

Một dòng nước trong vắt đang trườn trên các tảng đá rêu phong xanh rì.

Nước chảy xuống, xoáy vòng qua các tảng đá nơi mà dưới đáy nhìn rõ những hòn sỏi nhỏ, đủ màu sắc, đang quay tròn cùng với đám bọt khí đang sủi tăm.

Bỗng dòng suối hẫng xuống một chiếc vịnh khá sâu, nước đổ thành một cái thác nhỏ.

Dưới vịnh, nước trong xanh, xẫm màu đang lững lờ trôi dưới ánh nắng lấp lánh.

Một cảnh tượng thật ngoạn mục.

Chúng tôi thật bất ngờ khi thấy mấy chú lính cởi trần trùng trục, người trên bờ, kẻ dưới nước đang vần các bao gạo ném xuống nước.

Đây là những bao gạo Trung Quốc được đóng trong hai bao ni lông và hai bao gai mà chúng tôi rất quen thuộc.

Thì ra họ đang vận tải gạo.

Người ta thả trôi theo dòng nước và có người đón ở phía dưới.

Không biết chỗ đó cách đây bao xa.

- Các anh vận tải kiểu này đỡ tốn bao nhiêu công sức, hay quá nhẩy !

- Bọn tôi phải vác suốt từ đường ô tô vào đây đới mấy anh ạ.

- Chuyển gạo xuống tận đâu đấy mấy anh ?

- Xuống tận cơ quan tỉnh đới.

- Cơ quan tỉnh mà toàn người bắc vậy à ?

Chúng tôi dừng lại nghỉ, nhận đồng hương, đồng khói và mấy đứa tranh thủ hút thuốc lào.

- Đây tính là sông Bồ rồi phải không ạ ?

- Ừ !

Tính từ đây cũng được mà tính ở phía trên kia cũng được.

Chúng tôi lội qua sông bồ, phía trên cái vịnh rồi chào các lính của tỉnh và đi tiếp suôi theo bờ sông phía bên phải.

Đi được một đoạn thì thằng Tư hỏi:

- Ở sông Bồ toàn lính của tỉnh hả ?

- Không phải đâu.

Họ nói thế cho qua chuyện để giữ bí mật đấy.

Ven sông Bồ có cả các cơ quan của tỉnh Thừa thiên, có cả

của thành Huế và có cả của mặt trận B5.

Trinh sát mặt trận cũng có một phân đội chuyên luồn sâu về đồng bằng và vào

thành Huế cùng với biệt động để nắm địch.

Tôi nghe các cụ bảo ở đo đông vui phết đấy.

Các cụ cũng chỉ nói chung chung

vậy thôi.

Bọn mình sẽ gặp trinh sát mặt trận và họ sẽ dẫn chúng mình luồn sâu, mày không nhớ à ?

Chúng tôi cứ men sông mà đi theo một con đường mòn.

Một con đường mòn nhẵn thín, chứng tỏ người đi lại qua đường này rất nhiều và thường xuyên.

Có đoạn ven sông gập ghềnh quá còn có cả sàn đạo ngắn, bằng gỗ, có đoạn phải vòng xa bờ khá dài.

Đi chừng vài cây số thì chúng tôi nhìn thấy ở bên phải sông hiện ra rất nhiều nhà cảu các cơ quan và bộ đội.

Xung quanh các ngôi nhà đều trồng rất nhiều rau và sắn, thạm chí còn có vài vạt mía.

- Giữa rừng núi thế này mà đàng hoàng quá nhỉ ?

- Ờ, lính thời bình mà lị !

Chúng tôi vừa đi vừa hỏi thăm đường đến nhà của trinh sát mặt trận.

Đến nơi mới thấy nhà của trinh sát làm hơi nhỏ nhưng gọn và sạch sẽ.

Họ chỉ có vài người ở nhà, những anh em khác đang đi công tác xuống đồng bằng.

Sau khi giới thiệu và chào hỏi nhau.

Mấy anh trinh sát chia chúng tôi làm ba tốp.

Một tốp ở tại chỗ, hai tốp dược gửi sang các nhà khác gần đấy.

Từng nhóm chúng tôi đã được nhận nhiệm vụ từ trước tác ra về các nhà.

Tư và tôi được chỉ lên một ngôi nhà nhỏ ở khá cao.

Mấy cái nhà trên cao là nhà của bộ đội thuộc tỉnh đội Thừa Thiên.

Đơn vị này toàn người Pa Kô.

Tôi được dẫn đến giới thiệu xin ở nhờ thì mấy người lính Pa Kô chỉ gật đầu mà không nói gì.

Mấy chú lính này chỉ mặc mỗi cái quần đùi và đi chân đất, trông nó cứ là lạ thế nào. . . .

Sau khi đặt gùi nghỉ ngơi một chút, chúng tôi xuống sông để tắm giặt.

Ở trên cao này bất tiện quá, mỗi lần xuống sông phải đi khá xa.

Nước sông mát rượi làm cho cái mệt nhọc của chặng hành quân dài dường như tan biến đi trong chốc lát.

Khi chúng tôi tắm giặt xong thì đã thấy mấy chú lính Pa Kô chuẩn bị ăn cơm trưa.

Lính Pa Kô cũng nấu cơm và thức ăn bằng xong 8 và xong 6 như chúng tôi nhưng trông các các cái xong cáu bẩn chứ không được sạch như những cái xong của chúng tôi vẫn đèo sau gùi.

Phơi quần áo xong, đã thấy mấy chú lính Pa Kô ngồi xổm xung quanh mấy cái xong đặt trên cái vạt sân nhỏ bên hông nhà và đang ăn.

Thấy chúng tôi ra, họ cũng mời rất nhiệt tình nhưng chúng cảm ơn vì sẽ ăn cơm cùng anh em trong phân đội.

- Các anh có món gì trông lạ thế ?

- Sóc đó.

- Các anh bẫy được sóc à ?

- Mình có cái ná thun ni. – Nói rồi người lính móc từ cạp quần lôi ra chiếc súng cao su.

Một cái chạc cây được đẽo tỉa khá

công phu, lại còn nạm thêm mấy cái vòng bằng đồng ở tay cầm.

- Anh bắn giỏi nhỉ ?

- Mình bắn ná giỏi ít thôi, thằng tê bắn ná giỏi nhiều tề.

Hắn bắn đó.

chúng tôi xuống chỗ trinh sát mặt trận để ăn cơm chúng với anh em trong phân đội.

Lúc đó tôi rất khỏe nên những lúc anh em nghỉ chặng giữa rừng, tôi thường chạy đi kiếm rau rừng để đến bữa có rau nấu ngay.

Hôm nay, chúng tôi có hoa chuối xào thịt hộp, một ít rau tai voi và mấy cái tai chua nấu canh ruốc mặn.

Thế là sang quá rồi.

Ba anh trinh sat mặt trận cúng góp với chúng tôi ăn chung cho vui.

Họ có canh rau cải, ngon quá là ngon . . . !

Lính Pa Kô

Ăn cơm xong Tư và tôi về lại nhà của lính Pa Kô.

Chúng tôi lăn ra giường và ngủ ngay tức thì.

Quãng 3 giờ chiều tôi mới tỉnh dậy, thấy chỉ còn lại một mình.

Nắng chiều đã xiên qua cửa sổ bên cạnh nhà, soi vào tận chỗ tôi nằm.

Bước ra ngoài, tôi thấy Tư và hai người lính dân tộc đang lúi húi làm gì đó.

Thì ra ba người đang lúi húi xung quanh chiếc xong tám .

Chiếc xong đựng hai phần ba nước và đen đặc nòng nọc ếch trong đó.

- Các anh vớt con này để làm gì thế ?

- Để ăn đấy ông ạ. – Tư nhanh mồm trả lời.

- Ông Tư ăn món này bao giờ chưa ?

- Chưa.

- Món này chỉ mình biết ăn thôi, bộ đội Kinh không biết ăn mô.

- Một chú lính nói.

- Các anh vớt ở đâu mà nhiều thế ?

- Mình vớt ở mấy hố bom nà.

- Chiều nay làm món này hà ?

- Mơi (mai) mình vớt nữa tề, được diều (nhiều) mới nấu chớ.

- Món này ngon không vậy ?

- Ngoong !

Nắng xiên khoai rất khó chịu, Tư và tôi liền bỏ vào nhà.

- Trông ghê quá ông ạ.

- Kinh !

Nhưng kể ra thì cũng do quen thôi mà.

Thì người Kinh mình cũng ăn cào cào, châu chấu, rươi,

mắm tôm, mắm ruốc mùi ghê chết mà mình ăn lại kêu ngon.

- Ừ !

Một lúc sau thì hai chú lính cũng vào nhà và vui vẻ nói chuyện với chúng tôi.

Tôi gọi là hai chú lính vì chắc chắn là họ còn rất ít tuổi, chỉ khoảng mười bảy, mười tám.

Họ vẫn ở trần và đi chân đất.

- Các anh không mặc quần áo và đi dép à ?

- Mình không quen mô.

Như ri quen rồi.

Khi mô họp, khi mô đi đánh nhau thì mới bận đồ vô.

- Các anh em khác đi đâu hết hà ?

- Đi phục kích chứ đi mô.

- Phục kích gì đấy ?

Câu chuyện bộ đội Pa Kô đánh giặc được mấy chú kể lại.

Họ thường chọn các con đường có xe vận tải của địch chạy tiếp tế cho các căn cứ và các chốt để phục kích.

Có khi họ rình nhiều ngày mới thấy xe chạy qua.

Cũng có khi rình mãi không được lại phải về không, rồi hôm khác lại đi phục tiếp.

Thường họ bắn một vài quả B40 vào xe địch rồi rút lui.

Công phu hơn một chút thì ban đêm chôn mìn trên đường, ròng dây vào chỗ nấp, ngụy trang cẩn thận rồi nằm chờ đến lúc xe địch tới đó thì giật mìn.

Có lần mìn nổ, địch nhảy xuống xe bỏ chạy thục mạng.

Đêm đến mấy lính nhà ta mò ra lấy chiến lợi phẩm.

Thôi thì đủ thứ lương thực, thuốc men, đạn dược, thuốc lá, . . .

Lính Pa Kô không đánh trận lớn và thường ít khi phối thuộc với các đơn vị khác.

Họ chỉ chuyên đi phục kích và đánh mau, rút lẹ.

Hầu như anh em chẳng bị thương vong gì.

Trong khi đó, địch lại rất lo sợ.

Nhiều khi chúng dùng hoả lực mạnh để bắn bừa trên đường đi.

Nhưng chúng đề phòng chỗ này thì mấy chú lại đánh chỗ khác, chẳng biết đường nào mà lần.

Nhiệm vụ thứ hai của các lính Pa Kô là dẫn đường cho các lính trinh sát của các đơn vị để họ chuẩn bị các trận đánh.

Họ rất khoẻ và đi rừng rất giỏi nên nếu họ không chờ thì khó mà theo được.

Phân đội trinh sát chúng tôi gồm 6 người và được chia thành 3 nhóm.

Một nhóm chụp ảnh có Duyên (phó nháy) và Toàn người Vĩnh Linh, có nhiệm vụ chụp ảnh Núi Gió và Hòn Vượn.

Nhóm thứ hai là Lâm (binh địa) và một người (không nhớ tên) trinh sát Núi Gió.

Nhóm thứ ba là Tư người Nhật Lệ Quảng Bình và tôi có nhiệm vụ trinh sát Hòn Vượn.

Chúng tôi phải chờ trinh sát của trung đoàn 95 để phối thuộc.

Trong bữa cơm chiều tôi hỏi chuyện mấy trinh sát mặt trận về bộ đội Pa Kô và được nghe kể thêm về những trận phục kích rất hay.

- Bọn này nó nhanh lắm, Đùng đoàng một cú, nhoằng một cái đã biến mất.

Chúng nó nhanh thuộc địa hình và đường

đi trong rừng lắm.

Có khi mỗi đứa rút một ngả, thế mà đứa nào cũng về được nhà, chẳng bao giờ lạc.

Sáng hôm sau, sau khi ăn sáng, Lâm đi theo chúng tôi.

Nó mang theo bút chì và giấy để ký họa mấy chàng Pa Kô.

Mấy chú Pa Kô trở thành người mẫu một cách vui vẻ. các chú định mặc quần áo đàng hoàng nhưng Lâm yêu cầu cứ để tự nhiên như thế, đẹp hơn.

Lâm ký họa nhanh mấy chú đang ngồi sau đó vẽ ký họa chân dung từng đứa rất kỹ.

Tư và tôi xem vẽ một lúc rồi rủ nhau đi kiếm rau rừng.

Chắc chúng tôi phải đi xa chứ ở quanh chỗ đông người thế này không thể còn gì mà kiếm.

Chỉ cần ngược lên một đoạn, chúng tôi đã gặp rừng đại ngàn nguyên sinh.

Rất nhiều rau vòi voi (đọt dương sỉ).

Lũ dương sỉ này mọc chen chúc với mây nên khi lấy vòi voi rất dễ bị gai mây, vừa dài, vừa nhọn đâm vào thịt rất đau.

Món vòi voi là đỉnh của rau dớn.

Chúng tôi có nhiều thời gian nên chỉ lấy vòi và những đọt lá non nhất.

Thấy được khá nhiều vòi voi rồi, tôi nói với Tư:

- Thôi, mình xuống chỗ nào gần khe kiếm ít môn thục đi.

- Ừ !

Tao cũng thích môn thục.

Chúng tôi phải leo qua sườn núi rồi tụt ra phía sau, xuống một khe núi.

Chắc cái khe này phải có nước chảy vì núi này rất lớn, rừng ở đây rất rậm.

Quả nhiên là chúng tôi tìm được môn thục mọc ven một cái khe có nước chảy róc rách.

Môn thục là một thứ rau giống như dọc mùng.

Đó là một loại khoai nước giống như cây khoai môn, khoai sọ hay cây củ dáy.

Nấu môn thục cũng giống như dọc mùng, không khéo khi ăn sẽ hơi ngứa.

Ở mấy cái cây gỗ mục, chúng tôi còn kiếm được mộc nhĩ (sau này tôi mới biết, trong nam gọi là nấm mèo).

Chúng tôi cũng hay gặp nấm, nhưng nấm, thường lính không thạo nên không bao giờ dám lấy nấm, sợ nhầm phải nấm độc.

Hôm nay chúng tôi kiếm được rất nhiều rau, ngoài vòi voi, môn thục, nấm mèo, còn có tai voi, tai chua, môn cay (lá bóng) tiện trên đường chỗ nào có chúng tôi đã vơ luôn.

Hai thằng giục nhau:

- Thôi về đi mày ơi !

- Thì tao bảo mày mấy lần rồi, mày ham quá !

- Tao cũng giục mày mấy lần rồi.

- Ừ ! về thôi, "chang chang côồng caạc . . ." rồi. – Tôi nhại giọng Tư khi nó hát bài tủ "Mẹ Suốt".

Tôi không nhớ chúng tôi "ngồi chơi xơi nước" ở sông Bồ bao nhiêu ngày.

Chúng tôi cũng không chờ trinh sát của e95.

Hai trinh sát mặt trận (B5) sẽ dẫn đường cho chúng tôi.

Một người tên Quí và một người tôi không còn nhớ tên, tạm gọi anh là Nghĩa cho tiện kể.

Trước khi đi, chúng tôi thảo luận rất kỹ đường đi trên bản đồ.

Chúng tôi sẽ đi chung một đoạn đường khá dài trong một ngày.

Ngày hôm sau chỉ đi chung một nửa đường.

Mục tiêu thứ nhất phải trinh sát là Núi Gió, trong đó có đỉnh cao Chóp Nón.

Chóp Nón có hình dáng như một hình chóp, rất nhọn.

Khu vực Núi Gió có hai cái núi hình chóp, nhưng hình chóp kia thấp hơn.

Mục tiêu thứ hai, xa hơn, sát với đồng bằng hơn.

Đó là Hòn Vượn, một căn cứ trên cao, cỡ trung đoàn.

Cả toán 8 người xuất phát từ sáng sớm ngày 20 tháng Chạp âm lịch.

Lúc đó chúng tôi chỉ sử dụng dương lịch để hợp đồng với nhau nhưng bây giờ tôi không còn nhớ ngày dương mà chỉ nhớ ngày âm lịch vì thời điểm này chỉ còn chục ngày nữa là Tết.

Núi Gió và Hòn Vượn thực ra cùng nằm trong một khu vực và thuộc hai xã khác nhau của huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên.

Cho đến bây giờ một số anh em trinh sát vẫn còn nhầm lẫn hai địa điểm này.

Ngay cả Lâm là người làm binh yếu địa chí Núi Gió mà bây giờ đã nhầm thành Hòn Vượn.

Khi tôi nói với Lâm là Lâm "làm" Núi Gió thì Lâm còn hơi ngờ ngợ.

Chỉ đến khi tôi nói: "Tôi là người "làm" Hòn Vượn từ đầu chí cuối và không có Lâm ở đấy !

Nếu ông nói ông "làm" Hòn Vượn, thì thử tả lại xem, đi đường nào, quan sát địch từ chỗ nào, nhìn thấy những gì ?

Có biết biệt động Thành Huế, cứ của huyện Hương Thủy, cứ của huyện Hương Trà, du kích xã Hương Mai ở đâu không ?

" Bấy giờ thì Lâm chỉ chống chế là lâu ngày nên quên rồi.

Lính tráng chúng tôi kể lại chuyện xưa thường cãi nhau chẳng phân thắng bại.

Nhưng chuyện này thì Lâm đuối lý và cười trừ, rất kẻ cả.

Trong đầu hắn, chắc chắn "Núi Gió phải là Hòn Vượn".

Nghĩa dẫn đầu còn Quí đi đoạn hậu. lúc đầu chúng tôi đi sát ven sông, suôi dòng một đoạn rất xa rồi tạt sang bên phải, tách khỏi bờ sông, rẽ vào rừng.

Đường đi khá dễ dàng vì chúng tôi đi theo các lũng thấp, không phải leo núi.

Đây là một trong những con đường giao liên của các xã thuộc huyện Hương Trà và huyện Hương Thủy, của biệt động thành phố Huế, để xuống các cơ sở dưới đồng bằng.

Con đường bắt đầu len lỏi trong vùng địch, tránh các căn cứ của địch trên các điểm cao.

Nhiều đoạn phải đi rất vòng vèo, lắt léo.

Nhiều đoạn phải đi xuống suối để xóa vết tích con đường.

Tùy tình hình mà lúc đi đường này, lúc lại trồi lên theo đường khác.

Chiều tối hôm đó, chúng tôi nghỉ lại trong một đám rừng non, cây chỉ cao chừng chục mét và không quá rậm rạp.

Một vạt rừng bằng phẳng, ngay cạnh một con suối nhỏ.

Có vẻ như rất nhiều người đã nghỉ lại ở chỗ này.

Mặt đất bị dẫm đạp nhiều và nhẵn nhụi.

Để ý tinh, vẫn thấy các vết tích mắc võng và làm bếp nấu ăn chưa xóa sạch.

Chiều nay chúng tôi không kịp kiếm rau dọc đường nên bây giờ chỉ có ruốc mặn và thịt hộp nấu canh xuông với nước lã.

Phải tranh thủ náu cơm lúc trời chưa tối hẳn để tránh ánh lửa mà địch sẽ phát hiện thấy từ trên cao.

Chúng tôi phải phải kiếm củi thật khô để nấu không có khói.

Không đào bếp hoàng cầm mà nấu không khói thì nhất là nứa và tre khô chẻ mỏng.

Treo cái nồi lên ba cái cây buộc chụm và liện tục canh lửa cho cháy thật đượm là được.

Cơm nước xong, mọi người mắc võng, phân công canh gác, rồi đi ngủ.

Tôi nằm mãi mà không ngủ được.

Nghĩ lại, chưa bao giờ chúng tôi đi luồn sâu mà không nắm được các vị trí bố trí của địch như lần này.

Vừa chân ướt chân ráo từ Quảng Trị vào, chúng tôi chưa biết hình thái địch ta ở vùng này như thế nào.

Chúng tôi luồn rừng trong vùng địch vào ban ngày mà tôi có cảm tưởng như bị bịt mắt vậy.

Một cảm giác bức bối, khó chịu, lúc nào các dây thần kinh cũng phải căng lên hết cỡ để đề phòng bọn thám báo đi phục kích hoặc chăng mìn trên các con đường bí mật xuống đồng bằng của lực lượng địa phương.

Những chỗ đường đi gần vị trí địch đóng chốt thì Nghĩa ra hiệu cho mọi người cố gắng không phát ra tiếng động, từng người một đi cách xa nhau.

Những chỗ xa địch vẫn phải luôn cảnh giác.

Những người lính trinh sát phải căn cứ vào tiếng rừng mà tiến.

Nếu thấy rừng lặng lẽ phăng phắc thì phải dè chừng.

Nếu thấy chim chóc bay dạt đi hay khỉ vượn xào xạc di chuyển trên cây thì chắc chắn phía trước đang có người.

Thảnh thơi nhất là những lúc có đủ các âm thanh quen thuộc của rừng, tiếng chim hót, vượn kêu mà không di chuyển.

Chúng tôi phải quan sát từ rất xa, trên các ngọn cây để phán đoán tình hình phía trước mà đi.

Đầu chiều nay, khi chúng tôi đang đi thì thấy phía trước, trên các ngọn cây, chim cóc vụt bay lên, cả toán đã phải dừng lại tìm nơi ẩn nấp, súng đạn sẵn sàng.

Được một lúc, nhìn thấy phía trước là một tốp ba người, hai người mặc quần áo lính địch và một người mặc quần áo đen.

Họ đang đi về phía chúng tôi, đúng trên con đường này.

Nghĩa đứng dậy đầu tiên và tắc lưỡi ba lần.

Chúng tôi dơ tay chào rồi bắt tay nhau.

Không ai nói gì.

Chỉ có mình Nghĩa và người mặc đồ đen trao đổi với nhau về tình hình địch trên đường đi.

Hôm đó "bình thường", nghĩa là không có địch phục kích hay có thay đổi về bố trí quân trên đường đi.

Nếu có gì bất thường, chúng tôi sẽ phải vòng tránh theo đường khác.

Rất nhanh chóng, chúng tôi lại đi tiếp.

Nghĩa nói, mấy người đó là du kích của huyện Hương Thủy đang từ dưới đồng bằng lên.

Bao giờ đến vùng của ta họ mới thay quần áo.

Một cuộc chiến thật kỳ lạ.

Ở đây cũng như ở Hải Lăng Quảng Trị, các huyện, các xã vẫn ngày đêm bám dân, bám địch để nắm tình hình, để vận động bà con, để xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng, chờ thời cơ . . .

Thời cơ đó bao giờ tới thì không ai biết mà chỉ có thể hy vọng một ngày nào, một ngày nào đó . . .

Nhất định là như vậy.

Nhưng mà một năm, hai năm, hay năm năm. . ., mười năm, hay lâu hơn nữa . . . ?

Những con người thầm lặng đó, họ vẫn đi lại như con thoi giữa vùng ta và vùng địch.

Đã nhiều lần máu đổ, nhưng những con thoi đó vẫn thấm thoắt đưa, dệt nên một cuộc chiến thần thánh đến lạ kỳ.

Càng biết những con người thầm lặng đó tôi càng cảm thấy mình nhỏ bé, nhỏ bé về thời gian, vì mới chỉ là hơn ba năm so với không biết bao nhiêu năm của cuộc chiến.

Tôi cảm thấy nhỏ bé về không gian vì mình mới chỉ có mặt ở một hai nơi trên mảnh đất miền nam rộng lớn.

Tôi cảm thấy nhỏ bé về sự từng trải và sức chịu đựng cuộc chiến so với những con người bình dị đó.

Mang tiếng trinh sát thật đấy, nhưng mới chỉ có vài lần luồn sâu , thật là quá ít kinh nghiệm so với biết bao nhiêu người dày dạn, họ đi như con thoi trong lòng địch.

Những con thoi đạn dệt trên mọi ngả đường , luồn lách trong mọi ngóc ngách của cuộc chiến.

Chính họ mới là những người dệt nên gấm vóc, bằng sức lực, tuổi trẻ và bằng máu của mình, bền bỉ và kiên trinh.

Sáng 21 tháng Chạp, chúng tôi dậy nấu cơm đàng hoàng khi đã nghe líu lo tiếng chim hót.

Khoảng 7 giờ, toán trinh sát tiếp tục hành quân.

Nắng sớm đã chiếu ngang trên các ngọn cây.

Chúng tôi đi rất thận trọng nên bất chợt còn có anh em phát hiện có khỉ trên cây cao ở phía trước.

Thế là yên tâm rồi, phía trước không có người.

Khi chúng tôi đến gần hơn thì bọn khỉ bắt đầu kêu và di chuyển trên các ngọn cây.

Hàng vài chục chú khỉ di chuyển rất nhanh.

Mọi người còn dừng lại xem lũ khỉ.

Chúng di chuyển lên triền núi, vừa chạy vừa gọi nhau "í ới", chỉ một loáng đã mất hút.

Trên đường chúng tôi đi, vẫn nghe tiếng chim hót văng vẳng khắp rừng, không biết chúng ở chỗ nào.

Thỉnh thoảng, một con chim giật mình bay vụt lên từ một bụi cây bên đường.

Đó là những con chim lớn, giống chim ăn đêm bây giờ đang ngủ bị chúng tôi phá đám.

Khoảng 8 giờ thì toán trinh sát tách làm hai.

Nghĩa, Duyên, Lâm, Toàn và một người không nhớ tên rẽ sang bên phải đi tiếp đến Núi Gió.

Đường đi đên đó như thế nào tôi không còn nhớ mặc dù đã thảo luận với nhau trên bản đồ.

Toán còn lại của chúng tôi chỉ có 3 người Quí, Tư và tôi.

Chúng tôi sẽ đi Hòn Vượn.

Khoảng 10 giờ, chúng tôi đến được chân Động Ngang.

Quí nói, trên đỉnh Động Ngang có địch chốt giữ.

Giữa Động Ngang và Hòn Vượn có một con đường tăng.

Địch thường xuyên đi trên con đường này.

Đây là con đường địch làm để hai cứ điểm này có thể dễ dàng chi viện cho nhau.

Chúng tôi phải vượt qua đường tăng ở gần đỉnh Động Ngang.

Càng lên gần đỉnh, cây cối càng thưa thớt.

Cây cối hai bên đường tăng bị địch phát quang và đốt cháy.

Gần đường chỉ có cây chết khô, trụi lá.

Quí lên đến mép đường tăng thì ra hiệu cho chúng tôi vượt lên qua đường tăng trước, còn anh làm nhệm vụ quan sát và bảo vệ cho chúng tôi.

Sau khi vượt qua Động ngang, chúng tôi tụt xuống dốc và luồn rừng xuống đến chân núi.

Một con suối nhỏ, nước chảy róc rách nằm dưới khe núi.

Chúng tôi bắt đầu lội theo suối, suôi theo dòng nước.

Nước suổi chỉ xăm xắp dưới đế giầy.

Con suối nhỏ này còn mấy lần nhập với các con suối nhỏ khác thành con suối khá hơn một chút.

Chúng tôi dừng lại nghỉ chân ngay trên bờ suối.

Xung quanh đây toàn rừng cây non, chỉ cao gấp hai, ba đầu người.

Ven suối cây cối rất xanh tươi.

Chỗ chúng tôi nghỉ là một vũng suối rộng, ánh sáng từ trên trời òa xuống lấp lóa trên mặt nước.

Mặt Trời đã lên cao, nắng xiên qua cây cối chiếu lên mặt nước thành những đám chói lọi.

- Sắp tới rồi.

- Quí nói.

- Mình tới đâu đấy anh ?

- Mình sẽ ở cứ của huyện Hương Thủy, nghỉ ngơi đến chiều tối thì đi tiếp sang cứ của xã Hương Mai.

- Sao không đi một thể luôn anh ?

- Từ "Hương Thủy" sang "Hương Mai" có nhiều dân đi kiếm củi, đi thăm ruộng lúa của họ nên không thể đi ban ngày được.

- À !

Mình chờ gần tối dân về hết mới đi được anh nhỉ ?

- Ờ !

Chúng tôi tiếp tục lội theo suối chừng 20 phút sau thì rẽ vào một khe nước nhỏ hơn, chảy rất ngoắt nghoéo.

Chúng tôi lội theo con lạch đó chừng mươi phút thì tới nơi.

Đây là cứ của huyện Hương Thủy.

Biệt động thành Huế

Quí dẫn Tư và Tôi vào cứ.

Càng vào gần cứ, chúng tôi càng phải đi rất thận trọng vì bất cứ chỗ nào cũng là cạm bẫy mìn.

Tư và tôi cứ lần theo từng bước của Quí, không dám bước chệch ra ngoài.

Đường vào rất lắt léo.

Tuy nhiên để ý tinh vẫn thấy dấu vết các bước chân của những người đi trước thường xuyên vào ra chỗ này.

Bỗng hiện ra một vùng rừng mà cây cỏ được phát quang hết ở phía dưới còn bên trên vẫn là rừng che phủ.

Đó là cứ của huyện Hương Thủy.

Cứ này nằm ngay dưới chân Động Ngang.

Vậy địch nó có biết không ?

Chắc là chúng không thể ngờ được ?!

Vậy mà không phải vậy.

Quí dẫn Tư và tôi vào giữa trảng đất trống, sẹch sẽ, trên đầu cây cối che phủ kín mít.

Một chiếc võng không, mắc giữa hai cái cây, vẫn đang đung đưa, chắc là có người nằm đó vừa mới chạy đi đâu đây thôi.

Quí chạy vào một cái hầm.

Ngay sau đó, theo anh ra, là một người đàn ông cỡ trên ba mươi tuổi.

Đối với chúng tôi lúc đó, anh đã là bậc cao niên lắm.

Quí giới thiệu chúng tôi với nhau.

Vậy người đàn ông đó là một chiến sỹ biệt động thành phố Huế.

Khi anh cất tiếng nói chuyện, mới hay anh lại là người Bắc.

Sau này chúng tôi mới biết nhiều chiến sỹ biệt động dầy dạn của Huế đều là lính Nam tiến hồi đầu và giữa những năm sáu mươi.

Ừ mà rõ anh là người Bắc thật, rất trắng trẻo và gầy gò.

Anh mặc bộ quần áo hoa kiểu bà ba của phụ nữ mà trong Nam lúc bấy giờ gọi là "bộ đồ" nên trông có phần hơi ẻo lả.

Nước da anh trắng nhưng rất xanh, rõ là một người ở rừng lâu năm không phơi nắng Mặt Trời và sốt rét kinh niên.

Thật sự tôi không nhớ được tên người lính biệt động nào (vì nhật ký đã bị cháy hết) nên tôi sẽ tạm gọi những cái tên nào đó vậy.

- Mấy anh đi đâu hết rồi anh Tam ?

- Quí hỏi.

- Anh Hùng, thằng Mạnh, thằng Sùng vào thành.

Thằng Đượm đang gác.

Chúng mày đi từ xa tao đã biết rồi.

- Vâng !

- Thằng Nhẫn đang đi bố trí lại mìn.

Ông Lảnh ông ấy gài, không biết đâu mà lần.

Không khéo, mình cũng ăn mìn của ông ấy.

- Em cũng nghe chuyện của anh Lảnh rồi.

Anh ấy nằm ở đâu hả anh ?

- Ngay kia kìa.

Các cụ nói đúng, "sinh nghề tử nghiệp" mà, tội quá !

Quí dẫn chúng tôi đến một cái hầm bỏ không.

Một cái hầm kèo rất kiên cố, nóc hầm kè đá và đổ đất dầy trên một mét với hai ngách hầm để lên xuống.

Hầm này chỉ dùng để ngủ ban đêm và những lúc có phi pháo của địch.

Bình thường, mọi người vẫn mắc võng để ngủ ngoài hầm.

Suốt trưa và chiều hôm đó chúng tôi được nghe Anh Tam kể chuyện biệt động.

Đầu tiên là chuyện anh Lảnh "Vua Mìn".

Toàn bộ hệ thống mìn xung quanh cứ đều do anh Lảnh cài.

Rất nhiều kiểu bẫy oái oăm được anh sáng tạo ra, nào thì dẫm nổ, dây căng chùng nổ, que gài nổ.

Tất cả các vật liệu để làm bẫy đều là dây rừng, cành cây, . . . rất tự nhiên.

Trong rừng biết bao nhiêu là dây rợ và cành cây, ai biết cái nào là bẫy.

Biết bao nhiêu lần thám báo dò tìm căn cứ và bộ binh lùng sục đều vướng mìn.

Chúng đều phải rút lui và dùng cối câu từ đỉnh Hòn Vượn và Động Ngang xuống.

Nhiều lần trực thăng rà sát trên ngọn cây để tìm kiếm rồi bắn đạn 20 ly tróc nã, thả pháo cối và lựu đạn.

Anh em rút hết xuống hầm nên vẫn bình an vô sự.

Mà chúng đánh vào cứ này, anh em lại chuyển sang cứ khác.

Chúng chưa bao giờ vào được cứ nào của ta chỉ vì mìn.

Trong một lần đi kiểm tra bẫy mìn, anh Lảnh chủ quan nên anh bị trúng một trái "mo" (Mìn M18A1 Claymore của Mỹ) do chính anh gài.

Đồng đội anh đã rơi không biết bao nhiêu nước mắt.

Khi kể lại chuyện này, anh Tam không còn khóc nữa nhưng mắt anh vẫn hoe đỏ và giọng nói hơi lạc đi.

Chuyện thứ hai, là chuyện lính biệt động chuyên mặc quần áo phụ nữ.

Khi các anh vào thành, bao giờ cũng ở nhà dân cơ sở. quần áo phụ nữ cứ việc giặt và phơi phóng thoải mái mà không gây nghi ngờ gì cho địch và những người tò mò.

Tùy theo nhiệm vụ mà biệt động được điều động nhiều hay ít.

Cứ chiều đến, lính biệt động, từ căn cứ, luồn rừng xuống đồng bằng rồi vào thành phố.

Khi ở thành phố lên họ cũng đi ban đêm theo chiều ngược lại.

Từ các căn cứ xuống đến thành phố chỉ khoảng chục cây số nên dù có trắc trở do địch mai phục hay đi tuần thì trong một đêm anh em vẫn có thể thoát về cứ hoặc về tới cơ sở trong thành phố được.

Xem ra vị trí các cứ của biệt động thật là lợi hại.

Biệt động thành Huế ở rất nhiều cứ khác nhau.

Chúng tôi chỉ biết được hai cứ là cứ của huyện Hương Thủy và cứ của xã Hương Mai (Huyện Hương Trà) Tên cứ là tên các huyện, các xã có lực lượng cán bộ địa phương, huyện đội, xã đội, du kích, những người lập nên các cứ này đầu tiên.

Xã Hương Mai là tên gọi có từ thời năm 1945 đến năm 1954.

Sau đó, chính quyền Niền Nam đã đổi thành tên khác (hiện nay huyện Hương Trà cũng không có xã Hương Mai).

Như thế có thể thấy các cứ này đã có từ rất lâu tuy rằng không cố định một chỗ.

Khi chúng tôi ở đây thì chỉ thấy có biệt động thành mà không có các lực lượng của huyện hay xã.

Có một chuyện mà anh Tam không kể mà chúng tôi cũng không hỏi.

Đó là biệt động làm những việc gì trong thành phố.

Không tò mò vào nhiệm vụ của nhau thì cả biệt động và trinh sát đều đã quen.

Chiều hôm đó chúng tôi ăn cơm sớm.

Cơm nước xong đã là 5 giờ.

Quí dẫn Tư và tôi luồn ra khỏi cứ của huyện Hương Thủy.

Khi từ trong con lạch ra tới suối, chúng tôi không đi ngược theo con đường buổi sáng đã đi qua mà đi suôi theo dòng nước.

Càng đi xuống, cây cối càng nhỏ hơn và rừng bớt rậm rạp hơn.

Rồi phía trước chúng tôi bỗng hở ra một khoảng trời.

Hai bên bờ suối là lau lách, cỏ tranh, sim, mua, cà dại, hồng gai, . . . xen lẫn với một ít cây thấp tầm hai đầu người.

Sau một đoạn khá xa, chúng tôi leo lên bờ và gặp một con đường mòn.

Đây là con đường của dân đi lấy củi và thăm đồng.

Đến một khoảng trống, tôi nhìn thấy nhiều ruộng lúa của dân nằm ở những chỗ đất thấp xen giữa những đồi cây lau lách.

Ngửng lên quan sát tôi nhìn thấy Hòn Vượn hiện ra ở trước mắt, còn cái Động Ngang thì sừng sững phía bên trái.

Khoảng cách đến đỉnh Động Ngang chỉ là một cây số nhưng chúng tôi đi lẫn trong cây cỏ nên trên núi khó có thể nhìn thấy chúng tôi.

Mà tôi cũng không nhìn thấy lính địch hay công sự gì trên đỉnh Động do sườn núi cong đã che khuất đỉnh núi bằng phẳng.

Tôi cũng không nhìn thấy gì trên đỉnh Hòn Vượn mà chỉ thấy Hòn Vượn là một dãy núi cao, có đỉnh chạy dài theo một đường gần như nằm ngang.

Trên đó nổi lên một chút là ba cao điểm.

Cái đỉnh cao nhất nằm ở giữa, nhô hẳn lên.

Đây là một cái đỉnh núi rất bằng phẳng kéo dài tới 200 mét.

Không biết cái đỉnh bằng này là tự nhiên hay do địch san phẳng đi để làm căn cứ.

Xung quanh đỉnh này rất dốc, bị bóc hết cây cỏ nên trơ trụi đât đỏ, trọc lóc như đỉnh Động Ông Đô ở Quảng Trị.

Rồi chúng tôi lại rẽ xuống suối, được một đoạn lại ngược dòng theo một con lạch nhỏ.

Càng đi núi càng dốc và cây cối càng rậm rạp.

Thoát khỏi lạch nước, đến đây Quí bắt đầu đi thận trọng, dò đường từng tí một.

À, bắt đầu đường vào cứ của xã Hương Mai đây.

Lại cũng là một con đường ziczắc đầy bẫy mìn.

Cứ của xã Hương Mai nằm trên một vạt đất khá bằng phẳng giữa rừng cây rậm rạp.

Một căn nhà lá nhỏ nằm ẩn mình dưới cây.

Qua một cái "sân" nhỏ, chúng tôi bước hai bậc mới lên đến thềm nhà.

Chúng tôi chào mấy anh đang nằm trên võng.

Đó cũng là những chiến sỹ biệt động Huế và cũng toàn là người Bắc.

Một anh nằm gần chúng tôi nhất đang nghe tin tức của đài mình bằng một chiếc SONY "hòn gạch".

Anh vặn nhỏ đài rồi cất tiếng, một thứ tiếng Hà Tây rất nặng :

- Các cậu ăn cơm chưa ?

- Dạ !

Rồi ạ !

- Hầm kia nhá, bếp kia kìa, xong nồi ở cả đấy.

- Vâng ! . . .

Quê anh ở huyện nào Hà Tây đấy ạ ?

- Cậu này tinh nhở.

Tớ ở Gạch.

Giọng tớ "Ba Vi, bo vang" lắm hở ?

Thế các cậu quê đâu ta ?

- Dạ em, em . . . .

"Cầu tõm" còn thằng này "Khoai khoai là khoai" anh ạ.

- Cậu ở Hà Nam à ?

- Dạ không, Nam Định ạ.

Lại là lính biệt động với quân phục là bộ đồ phụ nữ.

Sao biệt động họ giống nhau thế, người nào cũng gày và xanh, chẳng thấy da thịt đâu.

Họ sống trong rừng đã quá lâu, lại ở trong vùng địch nên chẳng mấy khi được hưởng tí nắng.

Những năm tháng chưa ngừng bắn, hầu như liên lạc với gia đình đều bị đứt.

Sau ngày ngừng bắn, tin tức với gia đình mới được nối lại.

Câu chuyện biệt động được các anh kể lại.

Cuộc sống của họ thật là khó khăn, thiếu thốn đủ thứ cả vật chất lẫn tinh thần.

Họ đi đi về về từ các cứ và nội thành.

Nhiều lần bị trúng phục kích trên đường và hy sinh, không biết xác bị quăng quật nơi đâu.

Có lần bị lộ tại nhà dân cơ sở làm trốc cả cơ sở.

Dân Huế thật kiên cường, nhà này hy sinh thì nhà khác lại làm cơ sở cho biệt động.

Thường thì người dân bị bắt tù đầy nhiều năm đến thân tàn ma dại trong các nhà tù.

Ác liệt nhất là sau Tết Mậu Thân 1968, rất ít cơ sở vẫn còn giữ được bí mật.

Vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, các lực lượng địa phương của xã, huyện lại có một mạng lưới cơ sở mới khá dày đặc.

Lính biệt động lại tiếp tục công việc của họ, diệt ác, đánh phá các con đường, kho tàng vũ khí, . . . của địch.

Ngày 23 tháng Chạp chúng tôi nghỉ tại cứ của Hương Mai.

Hôm nay chúng tôi là những đàn em nên sẽ phục vụ cơm nước cho cả nhà.

Bếp ở ngay bên chái nhà, cũng có mái lá rợp bóng cây.

Một cái bếp Hoàng Cầm làm rất cẩn thận.

Đường thoát khói làm rất dài.

Khói thấm qua lớp đất mỏng đã mất hết hơi nóng, chỉ là những làn khói mỏng manh lan tỏa trên mặt đất và tan biến trong không khí dưới rừng cây rợp mát.

Bất ngờ nhất đối với chúng tôi khi thấy có đầy đủ rổ, rá, mâm nhôm có hoa văn, chén, đọi, tô, muỗng, vá, . . . như ở nhà dân vậy.

Buổi chiều mấy anh biệt động rủ chúng tôi đánh cờ.

Tôi biết dân Sơn Tây đánh cờ cũng ác lắm nhưng cũng hăng hái làm vài ván.

Hóa ra mình đánh còn ác hơn, nên mấy anh biệt động có hoãn đi hoãn lại, mình vẫn thắng.

Tôi lẩm nhẩm trong đầu "vụ này là nhờ bác 6971 đây !".

Hồi năm 71, bác ấy đã luyện cờ cho tôi từ lúc tôi chưa sạch nước cản mã.

Quãng 5 giờ chiều, Quí dẫn Tư và tôi đến điểm trinh sát Hòn Vượn.

Chúng tôi ngược theo đường cũ ra ngoài suối mà trên bản đồ gọi là khe Dân Dung.

Lần này chúng tôi lội suôi dòng một đoạn rồi lên bờ đi theo đường mòn của dân.

Dãy núi chạy từ Động Ngang sang Hòn Vượn đã chắn hết ánh nắng.

Ráng chiều hồng vẫn đang bừng bừng phía sau núi và hắt lên trời một thứ ánh sáng mưng mưng, lìm lịm.

Chúng tôi đang đi trên những con đồi thấp chen lẫn ruộng lúa.

Những ruộng lúa lẻ tẻ này là của bà con ở ấp Nham Biều (lại là Nham Biều giống như ở bờ bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị).

Bây giờ mới thấy gió hây hẩy thổi từ phía đông tới.

Gió lùa vào cái áo đã bật hai nút của tôi, gió vấn vít trên hai ống chân và hai cẳng tay trần, mát lịm (thói quen của tôi là sắn áo trên khuỷu, sắn quần ngang gối và bật hai nút áo trên cùng).

Chúng tôi cứ đi thản nhiên đi trên đường mòn, chỉ cần chú ý cảnh giác, sợ gặp phải người dân nào vô tình về muộn.

Thường thì dân có đi kiếm củi hay thăm ruộng lúa cũng rời chỗ này rất sớm vì vùng này được xem này là vùng mất an ninh.

Trời bắt đầu tối thì chúng tôi tới được chân núi Nhà Nhạn nằm ở phía đông Hòn Vượn.

Nhìn trên bản đồ cứ tưởng núi này có rừng cây nhưng trên thực địa lại là những quả núi trọc.

Cây cối ở đây chỉ có rất ít, chạy ngoằn nghoèo theo các đường tụ thủy, còn lại chỉ là cỏ và cây lúp xúp cao đến ngang gối.

Hèn chi chúng tôi không có cách gì luồn ra đây vào ban ngày.

Một cái thung lũng khá rộng, mỗi chiều năm sáu trăm mét nằm giữa một vòng cung của núi Nhà Nhạn.

Gió lồng lộng thổi qua chỗ lõm của vòng cung và đổ xuống thung lũng.

Gió làm cho đám cỏ may và cỏ tranh rạp xuống tưng bừng như sóng.

Gió lùa trong áo lính, thổi phồng lưng áo như cánh buồn, reo vi vút qua vành mũ tai bèo.

Đỉnh cao nhất của vòng cung này là đỉnh núi phía tây, có độ cao trên 270 mét với các sườn núi đều rất dốc.

Chúng tôi leo một mạch lên đỉnh núi này.

Đến nơi, tai và mũi thằng nào thằng nấy tranh nhau thở.

Ở trên cao gió càng mạnh hơn như muốn đẩy lùi chúng tôi lại phía sau và quất phần phật trên quần áo.

Lên đúng đỉnh núi, chúng tôi mới bất chợt nhìn thấy ánh đèn pha sáng quắc của Hòn Vượn đang rọi sáng xung quanh căn cứ.

Chúng tôi ở khá xa mà ánh đèn còn tạo thành bóng mờ mờ phía sau chúng tôi.

Ngắm nhìn Hòn Vượn thì chỉ thấy ánh đèn tỏa rọi ra xung quanh chứ cũng không nhìn thấy gì hơn nữa.

Nhìn chán rồi, quay lại phía sau, tôi bỗng giật mình:

- Huế kìa !

- tôi reo lên.

Ánh sáng từ những ánh đèn điện trong thành phố, lung linh, lấp lánh, làm tôi nhớ nhà, nhớ Hà Nội quá !

Nao lòng !

Và kia, chắc là đường QL số 1 với ánh đèn pha ô tô đang rù rù di chuyển trên đường.

Từ đây vào thành phố chỉ là 6 cây số đường chim bay chứ mấy.

Ôi chà . . . !

Gần quá, mà xa quá.

Biết đến bao giờ mới tới được ?

Chỗ chúng tôi chọn chính là đỉnh núi.

Ở đây có mấy tảng đá lớn, xếp hỗn độn bên nhau, chen chúc cùng với một đám cây khô kháo và gai góc.

Mấy giống cây gì đó, lá đã nhỏ thì chớ mà lại rất ít lá, chỉ thấy toàn cành là cành, toàn gai là gai.

Đêm đã khuya, lành lạnh.

Chúng tôi rúc vào giữa mấy tảng đá để tránh gió.

Tôi thả tay áo và ống quần xuống, rồi lấy võng đắp lên người.

Thằng Quí và Tư cũng đắp bằng võng.

Chúng tôi nằm nói chuyện rất lâu.

Đây là lần đầu tiên tôi đi với Tư, lần đầu được biết đến gia cảnh nhà Tư ở vùng quê nghèo Nhật Lệ.

Chuyện "khoai khoai là khoai" không phải là chuyện lính tráng trêu trọc nhau mà là chuyện thực.

Một vùng đất mênh mông cát trắng.

Vậy mà, thằng Tư nó to béo.

Da nó lại trắng hồng nữa chứ.

Sốt rét chẳng làm nó xuống mã tí nào.

Nó nhập ngũ tháng 5/1972 thì tháng 7 đã có mặt ở Quảng Trị.

Nó có sức khỏe nên ngay khi vào đến Quảng Trị là liên tục đi công tác khắp nơi, nào thì vượt Thạch Hãn sang thành, nào thì đi miền đông An Tiêm, Chợ Sãi, Bích la, Cửa Việt, nào thì đi miền tây Ông Đô, Đá Đứng, nào thì phục kích bắt tù binh ở Phương Thúy, nào thì, nào thì, . . .

Cái bài mà thằng tư hay hát mỗi lần có sinh hoạt văn nghệ của đại đội là bài hò về quê hương nó - Mẹ Suốt.

Khi nó hò bài này tôi không thấy nó là một người kể chuyện như lời bài hát mà tôi có cảm tưởng thấy một con thuyền đang đò đưa, nhặt khoan . . . nhặt khoan, trên con sông xanh biếc với phau phau cát trắng hai bờ.

Lặng nghe mẹ kể ngày xưa

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình

Mẹ rằng " Quê mẹ Bảo Ninh"

Mênh mông sông biển lênh đênh mạn thuyền

Sớm chiều nước xuống triều lên

Cực thân từ thuở mới lên chín mười

Lớn đi ở bốn cửa người

Mười hai năm lẻ một thời xuân qua

Lấy chồng cũng khổ con ra

Tám lần đẻ mấy lần sa, tội tình

Nghĩ mà thương mẹ cha sinh

Thương chồng con lại thương mình xót xa

Bây chừ sông nước về ta

Đi khơi, đi lộng thuyền ra, thuyền vào

Bây chừ biển lặng trời cao

Cá tôm cũng sướng lòng nào chẳng xuân

Ông nhà theo bạn xuất quân

Tôi nay cũng được vô chân "sẵn sàng"

Một tay lái chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ quân sang đêm ngày.

Sợ chi sóng gió, tàu bay

Tây kia đã thắng.

Mỹ này chẳng thua.

Kể gì tuổi tác già nua

Chống, chèo xin cứ thi đua đến cùng.

Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung trắng bờ.

Gan chi, gan rứa mẹ nờ

Mẹ rằng: "cứu nước mình chờ chi ai"

Chẳng bằng con gái con trai

Sáu mươi còn một chút tài đò đưa

Tàu bay hắn bắn sớm trưa

Thì tui cứ việc nắng, mưa đưa đò

Ghé tai mẹ hỏi tò mò

Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo

Mẹ cười "nói cứng phải xiêu"

Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông

Nghe ra ông cũng vui lòng

Tui đi ông còn chạy ra sông ông dặn dò

Coi chừng sóng lớn gió to

Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình

Vui sao câu chuyện ân tình

Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say.

Ngày hăm bốn tháng Chạp

Tang tảng sáng, tôi bừng tỉnh, lạnh quá.

Tôi nhỏm dậy nhìn ra xung quanh thấy mù mịt hơi mây, "tầm nhìn xa dưới mười mét".

Ồ ! mây cũng có mùi thật, chẳng giống một thứ mùi gì khác, ngàn ngạt, âm ẩm làm ta tỉnh táo, dễ chịu.

Không khí trở nên đùng đục chứ không phải trắng như khi nhìn mây từ xa.

Sờ lên tóc thấy lạnh và ướt như đầu mới gội.

Trời lặng gió từ lúc nào, tôi ngủ nên cũng không hay.

Những hạt mây li ti đang lao xao nhảy múa trước mặt.

Hôm nay trời nắng chết đây.

Tôi vùng dậy, nhảy ra khỏi chỗ nằm, chạy đi chạy lại trên đỉnh núi cho nóng người.

Đã phân công gác thay phiên rồi, thế mà cả ba thằng lăn ra ngủ.

Ừ !

Ai có thể ngờ được trên cái đỉnh núi trọc ngay gần Huế này lại có ba chú "giải phóng" nằm ngủ "phỏng giái" như thế chứ.

Hai thằng kia vẫn đang ngủ say.

Tôi lấy cái võng của mình đắp lên đầu hai thằng, cho chúng mày ngủ ngon nhé.

Đoạn, tôi lấy giấy bút ghi lại những gì quan sát được ở Hòn Vượn vào đêm qua, chẳng có gì nhiều.

Tuy nhiên, mọi thông tin mục sở thị này đối với các thủ trưởng ở nhà đều rất quan trọng.

Cái sơ đồ Hòn Vượn tôi đã phóng từ bản đồ ra lúc tôi ở Sông Bồ đang sẵn sàng chờ điền thêm vào các chi tiết địa hình địa vật và các bổ trí của địch.

Trên giấy vẽ cảnh đồ tôi ghi:"CẢNH ĐỒ CĂN CỨ HÒN VƯỢN - TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 51 (Điểm nhìn 20,63 - 66,89/F48-16 . . .).

Không biết bao lâu nữa mới hết mây để có thể bắt đầu.

Tôi tranh thủ xúc miệng rồi chén một thanh lương khô, cứ kệ cho hai thằng nó ngủ.

Chừng 8 giờ sáng, trời mới quang đãng.

Nắng xuôi chiếu vào Hòn Vượn nên nhìn rất rõ.

Tôi dùng ống nhòm lướt qua một lượt.

Có một con đường chạy vòng vèo mấy đoạn ở Hòn Vượn, khuất sau núi rồi chạy sang chân núi Nhà Nhạn và mất hút.

Chắc con đường sẽ ra đến đường QL1.

Một con đường đất nhẵn nhụi do nhiều xe chạy lên xuống Hòn Vượn.

Chắc hẳn nó phải leo lên tới đỉnh núi ở cái đỉnh thấp nhất, mé tây.

Bị Hòn Vượn che khuất nên tôi không nhìn thấy Động Ngang.

Cuối cùng, tôi tập trung quan sát Hòn Vượn.

Trời ạ !

Thật là tệ, các sườn núi phía này quá dốc và trống trải, không hề có cây cối giống cái núi Nhà Nhạn mà tôi đang ngồi quan sát.

Không thể nào mà tấn công nó từ phía này được.

Trên bản đồ thì vẫn biết là nó dốc nhưng không ngờ nó lại trơ trụi thế này.

Toàn bộ phía này chỉ là cỏ và ít cây lúp xúp.

Gần đỉnh núi thì đỏ trọc do san lấp để có mặt bằng rộng làm căn cứ.

Tệ hơn nữa là tôi chẳng quan sát thấy gì trên đỉnh Hòn Vượn.

Cái mà tôi nhìn thấy chỉ là những cột ăng ten.

Muốn vẽ sơ đồ chi tiết trên đỉnh, chỉ có cách phải bò vào tận nơi.

Bực thật, chỗ chúng tôi quan sát là đỉnh núi chỉ cao 250 mét.

Trong khi đó đỉnh phía đông của Hòn Vượn cao 309 mét, đỉnh phía tây cao 270 mét còn đỉnh giữa cao 322 mét.

Một dải bằng phẳng chạy gần như nằm ngang kéo dài đến 1,5 cây số giữa ba đỉnh có độ cao thấp nhất cũng trên 260 mét.

Vì vậy trên sơ đồ, đỉnh Hòn Vượn bị bỏ trống.

Tôi chỉ vẽ được chính xác một phần con đường chạy lên Hòn Vượn.

Cũng đành vẽ cảnh đồ thật tốt để các thủ trưởng có thể hình dung ra và nhận thấy chỗ này "không thể gặm được".

Tôi cố gắng tả thật kỹ sao cho phải xong trong buổi sáng, khi nắng đang xuôi chiều.

Khi tôi đang chăm chú vẽ thì Quí vỗ vai tôi và chỉ xuống con đường.

Một đoàn mấy chiếc GMC đang ló ra phía sau của núi Nhà Nhạn.

Chúng đang rù rù trên đường lên Hòn Vượn.

Quí Nói:

- Thỉnh thoảng, trực thăng vẫn bay lên Hòn Vượn.

Trên đó là chỉ huy sở của trung đoàn 51.

Trên đó cũng có pháo 105 ly và pháo cối 81

- Chắc là mình thấy nó kéo pháo lên à ?

- Ừ !

Thực ra những thông tin này cũng chẳng có giá trị gì, vì đương nhiên sư đoàn và mặt trận đã biết rồi.

Vấn đề cần chúng tôi phải cung cấp thông tin là bố trí của địch trên Hòn Vượn như thế nào thì chúng tôi lại không làm được.

Dưới đây là bản đồ Hòn Vượn và Động Ngang và những vị trí mà chúng tôi tập kết để vẽ cảnh đồ và sơ đồ.

Càng gần trưa, trời càng nóng gắt.

Tư nói:

- Để tôi xuống khe lấy vài cành cây che cho đỡ nắng nhớ.

Nói rồi hắn tụt xuống đường tụ thủy.

Một lúc sau, đã thấy nó ôm về một đống lá.

Cũng may là mé đông mỏm núi chúng tôi đang "nhìn trộm" này, địch trên Hòn Vượn không thể quan sát thấy, còn ở phía đông của chúng tôi thì cái vòng cung bên kia của Nhà Nhạn cũng đã che khuất cho chúng tôi.

Chỉ có ai trong thung lũng ngước lên mới có thể thấy chúng tôi.

Từ sáng đến giờ, hai thằng cảnh giới cho tôi, chưa thấy ai đi vào thung lũng.

Chúng tôi găm các cành lá vào các khe đá.

Thế là có một cái mái che nắng khá tốt.

- Tư ơi, ông làm bài Mẹ Suốt đi !

- Ừa hé !

Tư đằng hắng lấy giọng rồi bắt đầu hò:

"Lặng nghe mè kệ ngày xưa, chán chán cái con c . . .

"

Cả ba thằng phá lên cười.

Tôi nói:

- Nghiêm chỉnh đi !

Phục vụ tớ vẽ chứ ai lại người làm người chơi thế này thì bất công quá !

Nói vậy thôi chứ tôi cũng hành nó suốt từ sáng đến giờ.

Tôi bắt nó gọt bút chì liên tục, cái thì vót nhọn, cái thì vót bẹt.

Thằng này cũng khéo tay, tôi chỉ làm mẫu một lần thế mà lúc nó gọt bút cho tôi còn đẹp hơn là tôi tự gọt.

Lần này thằng Tư nhấp giọng mấy cái rồi hát thật.

Tôi đã nghe nó hát bài này rất nhều lần, nhưng là hát to trước cả đại đôi.

Thằng Tư hát khẽ mới thật là hay.

Giọng nó rất trầm và ấm, lại là giọng Quảng Bình nguyên chất.

Bài này nó hát rất tình cảm, da diết.

Cứ hết mỗi câu, tôi lại đệm đàn mồm "từng tứng tưng" chêm vào những chỗ lặng

Lặng nghe mè kệ ngày xưa,

Chang chang côồng caạc nắng trưa Quảng Bưừn.

Tửng từng từng-tưng-tứng tưng từng . . . (từng-tưng-tứng là các nốt chùm ba)

. . . .

Cái câu hay nhất của thằng Tư:

Lậy chôồng (mà) cụng khổ coong ra

Tạm lầng đẹ mậy lần sa . . ., tội tưừn . . .

Tửng từng từng-tưng-tứng tưng từng . . .

Câu này nó đổ rất hay, rất xúc cảm.

Tôi phải quay lại xem có phải nó đang khóc hay không.

Tôi không thấy nó khóc, nhưng mắt nó đang cụp xuống.

Chắc là lòng nó đang "chết" theo câu hát đó.

Gần trưa thì tôi vẽ xong.

Ba thằng giở cơm nắm ra ăn.

Cơm nắm, ruốc mặn và nước lã, tuyệt ngon.

Cái dao găm gọt bút bây giờ cắt cơm, vẫn là con dao của lão Chí "phèo".

Tôi hỏi:

- Dao lão Chí rèn cho ông đâu ?

- Tôi làm gì có.

Lão ấy làm đến tiểu đội trưởng, rồi những thằng lên nịnh.

Sau rồi lão ấy chán nên nhiều thằng có đâu.

Không biết lão rèn bằng thép gì mà sắc thế ?

- Thế à ?

Tôi cứ tưởng đại mình, mỗi thằng được một con.

- Có gió rồi, mát quá !

Một cơn gió cái lướt qua đỉnh núi làm rung rinh các cành lá.

Đúng là gió biển có khác, thật mát mẻ.

Các dãy núi được chiếu nắng từ sáng đến giờ nên không khí ở mé đông các sườn núi bị nung nóng và đang bốc lên cao.

Không khí từ biển chạy vào để thay thế và tạo ra gió, gọi là gió biển.

Kiến thức này tôi đã học từ bao giờ, chẳng còn nhớ nữa.

- Này, buổi chiều, bọn trẻ chăn trâu bò và cắt cỏ thường vào thung lũng này đấy.

Mình cũng phải chuẩn bị phương

án, nhỡ chúng nó leo lên đây chơi thì xử lý thế nào ?

- Quí hỏi.

- Chuyện này bọn tôi đã có bài rồi.

Nếu đứa nào lên, mình phải giữ bí mật cho đến lúc nào không thể, thì bắt nó lại.

Rồi mình làm dân vận với nó, dặn dò nó thật chi tiết.

Lâu không thấy nó xuống, bạn nó sẽ gọi và đi tìm thì vẫn mặc

kệ.

Nếu chúng tìm gắt quá thì cho thằng này nói: "Chúng mày cứ chự Tru cho tau, tau buồn ngụ quá".

Nếu bí quá

thì bắt tất cả chúng nó trói lại.

Chiều muộn, mình sẽ thả ra rồi chuồn luôn.

- Ờ !

Cũng được.

Quả nhiên, buổi nhiều, rất nhiều trẻ chăn trâu thả trâu trong thung lũng của núi Nhà Nhạn và chơi đùa rất vui.

Tiếng trẻ chơi đùa và reo hò dưới lũng làm chúng tôi rất vui.

Thật là thanh bình !

Giữa Tháng 7/2011, tôi một mình đi lang thang từ Qui Nhơn ra Huế.

Từ trên xe đò, thấy chỗ nào cần xuống thì nhảy xuống.

Đi xe ôm chơi loanh quanh một ngày.

Rồi lại bắt xe chạy tiếp.

Tôi ra đến Đà Nẵng.

Từ Đà Nẵng, bắt xe ôm lên đèo Hải Vân.

Chơi chán rồi xuống Lăng Cô.

Tôi chơi ở Lăng Cô một ngày.

Sáu giờ sáng, bắt xe đò, nửa tiếng sau thì nhảy xuống Cầu Hai.

Ăn sáng, uống Cà phê xong, tôi nhờ xe ôm chở ra nghĩa Trang Lộc Điền.

Nghĩa Trang này nằm ở chân Đồi Lương Điền.

Thắp nén nhang cho đồng đội.

Sao nhiều mộ "Chưa biết tên" thế ?!

Lòng tôi trĩu nặng.

Xe chở tiếp tôi đến Cầu Truồi.

Cầu Truồi đang được sửa chữa.

Dòng sông Truồi xưa, giờ dường như nhỏ hơn và kém trong xanh hơn.

Hai bên bờ sông bây giờ tấp nập quá, chẳng còn yên ả như ngày nào !

Tôi thả bộ vào làng Truồi.

Con đường đất xưa bây giờ là đường bê tông rồi.

Trông làng mạc bây giờ "cứng quá", hai bên đường làng nhiều tiệm hàng nhỏ mọc lên, chẳng còn nét um tùm cây cối và mướt xanh của ngày xưa.

Chỉ còn chiếc lô cốt đầu cầu thì vẫn vậy, vẫn vết lủng ngày xưa.

May mà cái chứng tích từ thời Pháp này vẫn chưa bị phá.

Tôi đến Huế trên chiếc xe đò bắt được ở chợ Lộc An, mà lơ xe là một phụ nữ.

Ả cũng nhanh nhẹn, cũng nhảy lên nhảy xuống đỡ khách lên xuống xe, cũng hò hét, cũng dồn ép hành khách trên xe.

Từ bến xe phía nam Huế, tôi nhờ xe ôm đưa tôi vào thành phố kiếm một chỗ ở trọ.

Sáng hôm sau, tôi thuê xe máy của nhà trọ đi ra phía bắc Huế đến thôn La Chữ.

Khoảng mươi cây số từ đường 1 đầu thôn La Chữ, ngoằn nghoèo trên con đường làng.

Rồi tôi cũng đến được chân núi Hòn Vượn.

Núi thì vẫn như xưa nhưng bây giờ xanh tươi quá, không đỏ trọc như thời chiến tranh.

Khi tôi tới đây, nắng đã lên, tiếng nhiều thứ chim đang hót văng vẳng khắp nơi.

Tôi còn nghe lũ vượn hú gọi nhau vang khắp cả rừng núi.

Những chiếc lá vẫn còn đọng các giọt sương, lóng lánh phản xạ nắng sớm mai.

Bình minh rừng núi thật tuyệt vời !

Hòn Vượn cũng như núi Nhà Nhạn năm 1975 không có cây như bây giờ.

Rừng cây trên hình là rừng cây keo sau này mới trồng.

Lúc đó chỉ có cỏ và rất ít cây lúp xúp.

Anh em xem, đỉnh giữa của Hòn Vượn thế kia mà lại trọc lóc, liệu có cách gì bộ binh tấn công lên được ?

Ngày 24 tháng Chạp (tiếp)

Quãng hơn 3 giờ chiều, bỗng có mấy đứa trẻ thi nhau chạy lên núi.

- Chết cha !

Nấp kĩ nhớ !

Chúng tôi vừa nấp sau tảng đá vừa quan sát bọn trẻ.

Thật là phiền toái quá.

Chúng mà lên tới đây thì không có cách nào khác là phải giữ chúng lại.

Ba thằng đã sẵn sàng.

Rất may, mấy đứa trẻ hăng hái chạy lên dốc nên chẳng mấy chốc chúng đã mệt bở hơi tai và đã dừng lại.

Chúng nó hò hét, kêu mấy đứa ở dưới chạy lên trên này, "Trên ni gió mạt lăắm, tụi mi lên đi hầy".

Mấy đứa ở dưới ngước lên nhìn nhưng không có đứa nào lên thêm.

Mấy thằng ở trên ngồi chơi một lúc thì chán.

Chúng lại kéo nhau đi xuống.

Chúng tôi cũng thở phào nhẹ nhõm.

Chiều tà, khi lũ trẻ trâu đã ra về hết, ba thằng chúng tôi lục tục xuống núi.

Chúng tôi theo đường cũ trở về cứ của Hương Mai.

Chúng tôi về được một lúc thì một tốp trinh sát của trung đoàn 95 cũng từ cứ của Hương Thủy vào tới nơi.

Tốp này có 4 người.

Chúng tôi bắt tay nhau rất hồ hởi.

Tốp này có 4 người.

Người thứ nhất là trinh sát dẫn đường của mặt trận, người thứ hai là Lê Tấn Hổ, trung đội phó trinh sát của e95.

Hổ thì tôi đã thân từ hồi ở Như Lệ.

Hổ giới thiệu với chúng tôi một người rất lớn tuổi tên là . . . (tôi đã quên tên), tham mưu trưởng e95.

Sau này chúng tôi bắt chước Hổ gọi anh ấy là "Anh Già".

Người còn lại có tên là Mào, còn rất trẻ.

Tốp trinh sát e95 sẽ nghỉ lại và chiều mai sẽ ra điểm quan sát mà chúng tôi vừa ở đó về.

Hổ cũng cho biết thêm, ở Chóp Nón, nhóm thằng Chinh làm binh yếu địa chí.

Anh Già và Hổ chỉ đi thực địa.

Tốp chụp ảnh của Duyên chắc đã chụp xong Chóp Nón rồi và mai sẽ tới đây.

Thế là chúng tôi sẽ gặp nhau ở đây.

Hổ và Duyên cùng học một khóa Sư Phạm Ngoại Ngữ, chuyên ngành tiếng Anh và cùng nhập ngũ với tôi một ngày (6/9/1971).

Đáng lẽ, ngày mai Tư và tôi có thể về được rồi nhưng tôi cảm thấy rất bứt rứt.

Chúng tôi chẳng quan sát được gì trên đỉnh Hòn Vượn.

Chợt tôi nảy ra một ý và hỏi mấy anh biệt động:

- Em muốn quan sát phía nam Hòn Vượn quá, liệu có chỗ nào đến để quan sát được không các anh ?

Nghĩ một lúc, rồi một anh nói:

- Cậu muốn nhìn phía nam hả ?

Nhưng phải vượt qua đường tăng ở trên kia.

Khó nhất là vượt qua mìn của ông

Lảnh.

- Ậm ừ một tí rồi anh nói tiếp:

- Thôi được, tớ sẽ dẫn cậu qua bãi mìn, đến đường tăng.

- Vâng !

Thế thì nhất anh rồi. – Tôi rất phấn khởi và nói nịnh anh ấy rồi hồ hởi bắt tay cảm ơn.

Suy nghĩ một lúc, tôi quay sang bàn với anh Già và Hổ:

- Hòn Vượn thì em đã vẽ từ hướng đông rồi.

Anh cứ đi thực địa ở hướng đông cùng với Hổ vẽ cảnh đồ và sơ đồ.

Quí

với Tư sẽ đưa các anh đi đến đó.

Để cho Mào đi cùng Duyên và bọn em quan sát hướng nam.

Xong rồi mình cùng

về cho vui và lại được nhiều việc.

Lúc về cũng chỉ cần một mình Quí dẫn đường là được rồi, bọn em cũng biết đường

rồi mà.

- Mày thấy thế nào ?

Anh Già quay sang hỏi Hổ.

- Được anh ạ ! – Giọng Hổ rất thoải mái.

Anh Già quay sang tôi và nói:

- Nhất trí.

Rồi anh quay sang cậu trinh sát mặt trận:

- Thôi cho cậu về sớm đấy.

Đêm 24 tháng Chạp

Suốt từ ngày ở Như Lệ - Tích Tường đến nay Hổ và tôi mới gặp nhau nên chúng tôi mắc võng cạnh nhau và nói chuyện "rí ráu" suốt tối đến đêm khuya.

Lúc đó tôi mới biết Hổ (c20/e95) và Lâm (c20/f325) cùng ra học "Binh Địa" ba tháng tại d74 của Cục 2.

Lúc ở c20/f tôi đã biết Lâm đi học binh địa nhưng Lâm không biết Hổ và tôi cũng quen nhau nên hắn không nói chuyện gì.

Thằng Hổ "lắm mồm" hơn tôi, chuyện phần lớn là nó nói, tôi chỉ nghe là chính.

Hồi ở Như Lệ, đạn bom tối mày tối mặt, chẳng có thời giờ mà nói chuyện.

Bây giờ nó nằm ôn lại những kỷ niệm từ hồi nhập ngũ, những ngày ác liệt ở phía tây nam Thành Cổ, nhất là những ngày ở Như Lệ - Tích Tường, . . .

Nghe chuyện nó làm trinh sát ở trung đoàn thấy vất vả và ác liệt hơn chúng tôi.

Mặc dù trinh sát trung đoàn ít phải luồn sâu hơn chúng tôi nhưng phải trinh sát cận mục tiêu và dẫn đường cho bộ binh tấn công.

Rồi, tôi hỏi:

- Này ! kể chuyện người yêu của ông đi !

Hổ trầm xuống một lúc, không còn sôi nổi như lúc kể chuyện lính.

Nó kể với tôi chuyện "yêu" của nó với giọng nhỏ nhẹ, ngọt ngào.

Bao nhiêu day dứt, giận hờn, nhung nhớ, . . .

Nó tả người của nó xinh lắm, nét cười duyên lắm.

Nó bảo "Nó yêu tao, đằm thắm lắm", rồi "Nó rất dịu dàng, nhưng mà những đứa dịu dàng là những đứa ác lắm.

Mỗi lần nó giận nó cứ im như hến, tao chẳng biết đằng nào mà lần, phát điên . . .

".

Tôi cứ mường tượng ra chân dung người yêu nó mà thấy . . .

"yêu lây ?!".

Xin lỗi vong linh bạn Hổ !

Những chuyện mà bạn đã tâm sự, rất sâu sắc, bây giờ tôi không còn nhớ được chi tiết.

Ngày 25 tháng Chạp

Hôm nay được nghỉ, tôi ngồi hoàn chỉnh hồ sơ Hòn Vượn, nhất là cái báo cáo thuyết minh mô tả Hòn Vượn.

Quãng 5 giờ chiều, toán Anh Già, Hổ, Tư và Quý rời cứ đi Hòn Vượn.

Một lúc sau, nghe tiếng lách cách từ phía ngoài.

Rồi một toán bốn người từ ngoài đi vào cứ.

Đó là Duyên, Toàn c20/f, Mào c20/e và tay trinh sát mặt trận dẫn đường, vẫn là tay hôm qua dẫn nhóm Anh Già.

Mào có lẽ là cậu trinh sát của e95 đã học "trường binh địa" 3 tháng hè năm 1973 tại Trà Liên Tây, do 6971 làm "hiệu trưởng" và tôi là "hiệu phó".

Vậy là cậu ấy đã vững vàng là một "tay binh địa" của 95.

Đúng là Duyên đã làm xong ảnh đồ của Chóp Nón (Núi Gió).

Đây là lần đầu Duyên và tôi đi luồn sâu cùng nhau.

Tối hôm đó, tôi tò mò hỏi về đồ nghề của trính sát ảnh.

Máy ảnh của trinh sát ảnh cũng là máy ảnh bình thường nhưng cái ống kính của nó mới thật là dị thường.

Không phải là ống kính to hay dài mà là một cái ống kính tự chế.

Bài bản này Duyên được học ở d74.

Cái ống kính chính là một nửa cái ống nhòm, có thể được gỡ ra từ ống nhòm 6x30 hoặc 8x40.

Cái nửa ống nhòm của Duyên là loại 6x30.

Nửa ống nhòm được gắn với máy ảnh và được gia cố vào máy bằng . . . dây buộc.

Khi điều chỉnh máy, vừa phải điều chỉnh máy ảnh, vừa phải điều chỉnh ống nhòm.

Vậy là ống nhòm ghép nối thành cái ống "têlê", giúp chụp ảnh được từ xa, rất hiệu quả và rẻ tiền.

Một ống nhòm bổ ra được hai ống "têlê".

Lại một đêm nữa nằm ở cứ của xã Hương Mai.

Tôi đang kể lại chuyện luồn sâu Hòn Vượn đầu năm 1975.

Chợt nhớ hôm 10/7/2011.

Sáng hôm đó một mình trở lại thăm Hòn Vượn, khoảng 9 giờ sáng, tôi đã rời Hòn Vượn để trở về Huế.

Trên đường về, thỉnh thoảng tôi ngoái lại nhìn lại hết một lượt và chụp ảnh.

Khi đã quay về cuối thôn La Chữ, tôi dừng lại một quán nước ven đường.

Ở chỗ này tôi có thể quan sát từ xa cả Hòn Vượn và Núi Gió.

Tình cờ nói chuyện với chủ quán về những năm tháng tôi đã ở đây thì bà chủ quán bắt nhịp và kể chuyện của bà.

Thì ra, chị là cơ sở của biệt động Huế từ những năm 67 – 68.

Chị kể, vùng này, hồi đó, ban ngày Quốc Gia kiểm soát mà ban đêm là biệt động và các lực lượng khác của Việt Cộng bí mật đi lại rất nhiều.

Nhà chị rất nghèo nhưng đã nuôi dấu rất nhiều Việt Cộng.

Sau năm 1968, chị bị bắt tù.

- Chao là cực !

Con tui còn dỏ nờ.

Mà chi hắn đánh đau dữ hề.

- Thế chị có khai không ?

- Khai chi mà khai, càng khai càng chết chứ mồ.

Hai năm ở tù, tôi nỏ khai chi hết.

Vầy chứ, nó mới thả tôi ra tề !

- Rồi sau chị có làm cơ sở cho Việt Cộng nữa không ?

- Thì vẫn rứa chứ răng !

Bây giờ chị ngồi bán nước, mấy thẻ hương, mấy gói bim bim và bán mấy chai xăng để đỡ tiền ăn, ngoài trợ cấp hai trăm ngàn một tháng của nhà nước đối với "Người Có Công" ?!

Ngày 26 tháng Chạp

Nấu cơm và ăn sáng xong, anh biệt động dẫn bốn đứa chúng tôi vượt qua "rừng mìn" để đi về phía nam Hòn Vượn.

Chúng tôi phải đi cách xa nhau và phải đi theo đúng vết chân của người đi trước.

Khu vực này toàn rừng khá rậm nên dây dợ lằng nhằng, không biết đâu là dây rừng, đâu là dây bẫy.

Tôi đi sau anh biệt động.

Tiếp theo là Duyên, Toàn và cuối cùng là Mào.

Tôi cứ nhằm đúng vết chân anh biệt động để lại mà bước vào.

Dấu bước chân không phải là khó nhìn.

Rừng hoang không dấu chân người, bây giờ đạp lên là nhìn rõ dấu vết.

Sau khi vượt qua cỡ vài trăm mét, anh biệt động dừng lại và hướng dẫn đường đi tiếp cho chúng tôi đến đỉnh đèo.

Anh bắt tay từng người: "Cẩn thận nhớ !".- "Vâng !"

Chúng tôi tiếp tục leo ngược lên núi một đoạn thì đến đỉnh đèo.

Đỉnh đèo chính là chỗ có đường tăng thông Hòn Vượn với Động Ngang (bây giờ nhìn trên bản đồ bằng ảnh vệ tinh vẫn còn thấy).

Con đường tăng nằm đúng đỉnh đèo và cắt đôi cánh rừng.

Hai bên đường được phát quang, chỉ còn lại cây lúp xúp.

Trên đỉnh Hòn Vượn và đỉnh Động Ngang địch có thể quan sát được đoạn đường tăng này.

Tôi dừng lại quan sát rất kỹ xem có động tĩnh gì và chọn đường để vượt.

Tôi khoát tay để Duyên đến gần và đứng cảnh giới cho Duyên vượt qua đường tăng.

Rồi đến lượt Toàn và Mào.

Tôi là người đi sau cùng.

Sau khi quay lại, cẩn thận xóa dấu vết cửa rừng vào cứ, tôi quan sát mặt đường tăng thấy anh em chạy qua đường có để lại nhiều vết.

Những vết như thế thì cũng khó mà biết là do lính địch hay Việt Cộng để lại.

Tuy nhiên tôi vẫn cẩn thận bứt một cành lá, vừa vượt qua đường vừa xóa hết các vết đó.

Tưởng rằng mấy đứa vượt qua đường rồi thì đứa cuối cùng dừng lại cảnh giới cho tôi, ai dè, mấy đứa biến luôn vào rừng, nhanh như sóc.

Tôi bị rớt lại.

Rừng rậm nên tôi không nhìn thấy chúng nó mà cũng không còn nghe tiếng sột soạt của cây lá nữa.

Vậy là chúng nó đã đi khá xa, không đứa nào dừng lại chờ.

Tôi chỉ hơi bực một chút rồi lẩm bẩm trong đầu: "Tao sẽ bắt sống chúng mày nhá !".

Tôi dò theo từng dấu chân dưới đất và các cành lá bị uốn cong bất thường.

Chừng nửa tiếng sau, tôi nghe tiếng động của lá cây ở phía trước.

Tôi từ từ dò đến tận nơi mà ba đứa không hề hay biết.

Hai thằng đang trèo trên cây còn thằng Toàn đang cảnh giới dưới đất.

Nghe tiếng tôi tặc lưỡi, ba thằng đều giật mình quay lại, thì, tôi đã lù lù ở ngay gốc cây mà Duyên đang ngồi chụp ảnh trên cành cao.

Thằng Mào, ở trên cây khác, đang quan sát để vẽ cảnh đồ.

Tôi thì thào vào tai Toàn:

- Mấy thằng bỏ rơi tao, không đứa nào chờ.

Thằng Toàn nhăn cái mặt lại mà cười.

Tôi nói tiếp:

- Các bố để lại dấu vết, con còn phải xóa mãi đấy.

Bây giờ con bắt sống các bố nhá !

Ba thằng nó bỏ rơi tôi mà vẫn cứ làm việc bình thường, chẳng ai để ý xem tôi đang làm sao.

Có khi tôi bị địch bắt sống rồi chúng nó cũng chẳng biết.

Tuy vậy, tôi cũng chỉ giận chúng được vài phút rồi vui vẻ trèo lên một cây khác để quan sát Hòn Vượn.

Tôi nới cái xanh tuya rông rộng ra một chút, rồi choàng qua thân cây làm dây bảo hiểm.

Hai tay tôi được tự do dùng ống nhòm quan sát và bắt đầu vẽ cảnh đồ.

Đây là điểm quan sát Hòn Vượn từ hướng Nam.

Cũng như ở hướng đông, chúng tôi ở thấp hơn nên không quan sát thấy gì trên đỉnh núi.

Vậy cảnh đồ và ảnh đồ cũng chỉ cho thấy địa hình rất hiểm trở ở phía này mà thôi.

Ở phía nam Hòn Vượn là rừng cây khá rậm.

Xung quanh căn cứ của địch được phát quang xuống khá sâu, hàng trăm mét.

Nếu tấn công địch từ đây, lính ta phải leo sườn núi rất dốc.

Lên đến gần đỉnh, cách hàng trăm mét lại hoàn toàn trống trải.

Chẳng có cách gì mà vượt lên được.

Địch ở trên, chỉ cần thả lựu đạn liên tục xuống là "mo" hết.

Giữa trưa, chúng tôi tụt xuống nghỉ giải lao và bỏ lương khô ra chén.

Bây giờ Duyên mới nói xin lỗi, còn thằng Mào thì chỉ cười.

Thằng Mào cười, mắt nó cứ tít lại, không còn "dòm" thấy gì nữa.

Tôi cũng không biết rằng, sáng nay ba đứa bỏ rơi tôi lại là một điềm báo trước, chúng nó còn sẽ bỏ rơi tôi một lần nữa, vào tay địch.

Chiều 26 tháng Chạp - Bại lộ

Nghỉ ngơi một lát, ba thằng tiếp tục trèo cây để làm nốt công việc.

Ở trên cây vẽ cảnh đồ cứ run run.

Thôi cũng đành, "về nhà" sửa lại vậy.

Duyên hoàn tất công việc sớm nhất, nên đã tụt xuống đất cảnh giới cho Toàn trèo lên cây để "ngó" một chút.

Khoảng gần 4 giờ chiều, mọi việc đều xong.

Tôi lại dẫn đường cả toán trở lại cứ của xã Hương Mai.

Trời chiều nay âm u nên có cảm giác như gần tối đến nơi.

Tôi chạm đến đường tăng trên đỉnh đèo, đoạn này, phía tôi đang đứng, có ta-luy.

Cây lúp xúp sim mua, cỏ tranh, . . . mọc khá tốt.

Ngó trước ngó sau không thấy động tĩnh gì, tôi nhảy xuống đường, mắt vẫn dáo dác nhìn xung quanh.

Ngay lập tức tôi nhìn thấy hai tên lính đang ngồi trên bờ ta-luy, cách đó chừng hai chục mét, hơi khuất sau một đám cây.

"Chết cha ! lộ rồi !".

Sáu con mắt chăm chăm nhìn nhau.

Vừa lúc đó, một thằng hoảng hốt thét lên:

- Ai ?

Trong đầu tôi như có luồng điện, ý nghĩ lướt nhanh: "Quay lại hay vọt qua đường ?

Nếu quay lại, mấy thằng kia cũng sẽ bị lộ.

Mà, mình mở khóa nòng không kịp rồi".

Lúc đó hai thằng nó đã vơ súng chĩa vào tôi.

Lập tức, tôi vọt qua đường.

Mấy loạt AR15 rẹt rẹt phía sau.

"Trúng được bố cũng khó đấy con ạ !" – Trong đầu tôi lẩm bẩm.

Qua đường rồi, tôi nằm xuống ngay bờ dốc và mở khóa nòng.

Tôi chờ đợi chúng nó tới và không di chuyển thêm một chút nào nữa.

Lúc đó, tôi thấy rất nhiều tiếng súng AR15.

Rồi, tiếng lựu đạn được quăng, vượt qua đầu tôi, nổ ở mãi phía dưới dốc.

Chỉ là súng nổ và lựu đạn quăng chứ không có thằng nào dám mò về phía tôi.

Chừng 2 phút sau, đạn cối 81 bắt đầu nổ đâu đó ở phía dưới, nhưng rất xa chỗ tôi nấp.

Chắc chúng tưởng tôi chạy tiếp nên bắn đón đầu xuống phía dưới.

Bắn chán chê hồi lâu, tất cả trở lại im ắng.

Tôi không thấy lính địch có biểu hiện càn tiếp trên con đường.

Thì ra chúng cũng sợ.

Phía trước mặt tôi, không có đứa nào đi qua.

Chắc là chúng cũng rút về Hòn Vượn.

Chờ chừng nửa giờ đồng hồ, tịnh không có một bóng người, cũng không có một tiếng động nào.

Chắc chắn là chúng đã rút rồi.

Ừ, mà chúng rút rồi là hợp lý.

Có vậy cối nó mới bắn vào đây chứ . . . .

Tôi Tắc lưỡi ba lần khá to làm ám hiệu cho Duyên, Toàn và Mào.

Chờ đợi.

Lại tắc lưỡi và chờ đợi.

Lại vẫn "bặt vô âm tín".

Mình quay lại tìm chúng nó hay lui về cứ đây ?

Chẳng lẽ bỏ ba thằng nó mà về một mình ?

Nếu quay lại tìm, mò theo dấu vết của chúng, rất chậm, liệu có đuổi kịp chúng không ? – Trời tối mất.

Không biết tôi đã chờ, tìm cách liên lạc với ba đứa, dùng dằng chọn giải pháp trong bao lâu.

Nhưng mà trời đã bắt đầu tối thật rồi.

Trong lòng rất buồn bã và thất vọng vì hai điều hết sức hệ trọng.

Một là, đã làm lộ, sau khi xong việc trong lúc đi trên đường về.

Liệu có ảnh hưởng đến ý đồ lớn của sư đoàn ?

Mong sao địch nó vẫn tưởng là du kích hay biệt động thường đi qua đây và hôm nay bất ngờ để bị lộ .

Hai là, phải bỏ rơi ba đồng đội, không biết họ ra sao mà lại rút về một mình.

Bứt rứt không yên, tôi lại vọt qua đường và sục sạo một đoạn.

Dấu vết mấy đứa vẫn còn đây mà người thì chẳng thấy tăm tích gì.

Tôi vừa dò dẫm vừa dùng dằng trong quyết định nên "làm thế nào ?".

Nếu mò theo chúng nó, tôi sẽ không thể kịp khi trời chưa tối và sẽ phải ở một mình đâu đó trong rừng.

Nếu không về cứ nhanh, tôi cũng không thể vào được nữa vì trời tối sẽ không tránh được "rừng mìn" xung quanh cứ.

Cuối cùng, Tôi quyết định, trở về cứ Hương Mai.

Tôi dò dẫm tìm các dấu vết trên mặt đất mà buổi sáng chúng tôi còn để lại trong "rừng mìn".

Từng bước, từng bước một, lần lần, tôi cũng về được đến cứ của xã Hương Mai, vừa may khi trời đã sập tối.

Tiếng một người từ trong nhà vọng ra:

- Bị lộ rồi hả ?

Tôi không trả lời mà ngồi phịch ngay xuống thềm đất, trong lòng hết sức buồn bã vì làm hỏng việc.

Không những vậy, tôi rất lo lắng và day dứt vì đã bỏ rơi mấy đứa ngoài rừng.

Giờ này thì không có cách gì chúng về lại được cứ của Hương Mai nữa.

Không biết chúng sẽ vất vưởng, lay lắt trong rừng đêm nay như thế nào.

Nhỡ ra, trong đêm chúng mò về mà bị phục kích thì sao, . . .

Tôi cứ ngồi thừ người như vậy rất lâu.

Tiếng anh biệt động lại vọng từ trong nhà ra:

- Áy náy vì bỏ đồng đội chạy một mình hả ?

Lần này tôi vẫn chỉ im lăng.

Vừa lúc đó, tiếng sột soạt cây lá từ phía dưới suối, rồi mấy người toán Anh Già từ ngoài đã rúc vào đến sân.

Tôi trông thấy dáng người thâm thấp của Quí đi đầu, rồi đến Hổ, anh Già và Tư.

Hổ cất tiếng hỏi:

- Hôm nay nó bắn cối vào đây à ?

Lúc đầu chúng tôi tưởng chúng đi càn vào cứ mình.

Sau thấy nó bắn cối mãi, chẳng

thấy tiếng súng con mới biết là không phải càn.

- Các cậu bị lộ thì nó bắn chứ nó làm sao vào được đây. – Anh biệt động trả lời.

Hổ quay sang tôi, hỏi:

- Mấy thằng kia đâu ?

- Chưa về.

Sau khi nghe tôi kể lại chuyện bị lộ trên đường tăng, lại thấy tôi quá buồn bã và sốt ruột.

Hổ tương liền một mạch:

- Không thằng nào bị sao là tốt rồi, có gì mà phải lo.

Chúng nó ba thằng, tự lo cho nhau, có gì đâu.

Ngủ rừng thì thằng

nào mà chả ngủ.

Tao thấy ba thằng nó bỏ rơi mày thì đúng hơn.

Mày bị bắn mà chúng nó cũng không đứa nào nhòm

ngó.

Nhỡ mày bị thương, chưa chết, nằm một mình ở đấy, rồi mất máu mà chết thì thế nào ?

Thôi đi, chuyện không

có gì cả.

Đói quá !

đi nấu cơm đi.

- Thằng Hổ nó nói đúng đấy.

Đi trinh sát mãi, có ngày bị lộ cũng là chuyện thường.

"Đi đêm lắm có ngày gặp ma" là

chuyện tất nhiên.

Mình chỉ chủ quan một tí thôi là trả giá ngay.

Thôi, những lần như thế này, thì lần sau dày dạn

hơn.

Mà mấy thằng kia, đã là trinh sát thì chúng nó sẽ tìm đường khác mà đi.

Có khi chúng nó về luôn, chửa biết

chừng.

Thôi bỏ đi cậu ! – Anh già động viên.

Đúng là tôi đã quá chủ quan.

Tưởng chiều muộn rồi thì chẳng có ai trên con đường tăng hoang vắng.

Tôi cũng không ngờ rằng, mấy thằng đó lại ngồi nghỉ trên bờ ta-luy của con đường và bị cây che khuất.

Lẽ ra, đến đó, tôi phải dừng lại nghe ngóng thật lâu.

Giá mà như vậy, thể nào cũng nghe tiếng chúng nói chuyện, hay tiếng sột soạt của cây, hoặc tiếng lách cách của vũ khí, . . .

Bài học nào trên chiến trường cũng đều đắt giá.

Mấy đứa tôi không làm sao, thật là may. .

Ngày 27 tháng Chạp (Giáp Dần) - Rơi vào ổ phục kích

Đêm qua tôi trằn trọc mãi không ngủ được.

Không biết Duyên, Toàn, Mào bây giờ ở đâu.

Duyên, vốn tính rất thận trọng, chắc chắn hắn sẽ không dại gì mà quay về đây trong đêm vì cảnh giác sợ địch phục kích và sợ vướng phải mìn của biệt động bố trí xung quanh cứ.

Ba thằng có một cái bản đồ, không biết chúng có tìm được đường về đâu đó nghỉ tạm qua đêm.

Sợ nhất là chúng lại đi tìm tôi trong đêm thì, thật là tôi khốn nạn quá.

Tôi chui về đây mà ngủ để chúng nó đi tìm.

Thằng Hổ nó nói "Không thằng nào bị sao là tốt rồi" làm cho tôi cảm thấy đỡ bức xúc.

Tuy nhiên, tôi day dứt vì sợ đã làm hỏng ý đồ của sư đoàn.

Hôm nay, chúng nó nhìn thấy một thằng mặc đồ "giải phóng", đầu mang mũ tai bèo, sau lưng đeo một cái gùi nhỏ, tay cầm khẩu AK báng gấp.

Liệu khi giao ban, địch có thể phán đoán là ta đang chuẩn bị chiến dịch ở đây không ?

Quả thật, tôi thấy trong lòng nặng trĩu và rất ảm đạm.

Chốc chốc tôi lại thở dài và tự trách mình "Quá kém !

Quá kém !

Quá tồi, quá tồi !".

Không biết tôi đã chợp đi từ lúc nào.

Khi chợt tỉnh dậy, trời vẫn còn tối.

Bây giờ tôi mới cảm thấy đói.

Thực sự, tôi không còn nhớ mình đã ăn bữa tối qua như thế nào.

Tôi tụt khỏi võng rồi đi ra sân.

Kỳ lạ thật !

Đêm nay đã là 26 tháng Chạp.

Chỉ còn vài ngày nữa là tết, trời không trăng, không sao, mà sao lại sang sáng,.

Không có lẽ đèn thành phố làm cho bầu trời sáng như thế này.

Đâu đó vang lên tiếng "cù ú . . . cù ú . . .".

Tiếng cú rúc nghe thật ai oán và thê thảm.

Không biết có phải là điềm gì ?

Chắc là sắp sáng rồi.

Ngày hôm nay chúng tôi nghỉ lại, chiều tối sẽ sang Hương Thủy.

Không nghe tin tức gì về Duyên, Toàn và Mào.

Tôi ngồi hoàn chỉnh nốt cảnh đồ mà trong long chẳng yên tí nào.

Cả một ngày dài dằng dặc rồi cũng trôi qua.

Chưa tắt nắng, chúng tôi đã ra khỏi cứ.

Tôi đi đầu, đến Hổ, anh Già, Tư và Quí.

Ráng trời chiều đỏ hừng lên ở phía sau Động Ngang và Hòn Vượn.

Chúng tôi lặng lẽ đi.

Sẽ phải vào được cứ của Huyện Hương Thủy trước khi trời tối.

Sáng mai, chúng tôi sẽ từ đó mà hành quân về sông Bồ.

Không khí trong thung lũng này đã dịu bớt nóng nhưng vẫn còn oi ả.

Nhìn về phía trời tây, tôi phải thốt lên vì cảnh hoàng hôn đẹp lạ lùng và ma quái !

Vừa đi, tôi vừa ngoái lại phía sau để nhìn ngắm cái rặng núi chạy dài từ Động Ngang sang Hòn Vượn.

Áng trời đỏ đang ngun ngún bốc lên từ sau núi.

Rồi, không đừng được, tôi dừng lại mở gùi, lấy ống nhòm ra để ngắm và để quan sát lại lần cuối cái căn cứ chết người được mệnh danh là "Con mắt phía bắc của Huế".

Không biết sư đoàn có triển khai chiến dịch ở đây ?

Mong sao là không !

Tôi quan sát khá kỹ xong, đang chuẩn bị cho ống nhòm vào gùi thì Hổ nói để cho nó quan sát đã.

Lúc đó, Tư và Quí có vẻ sốt ruột nên đã vượt qua chúng tôi để vào cứ trước.

Trong khi Hổ đang quan sát, tôi rút bản đồ ra xem lại và trao đổi với anh Già.

Đoàng . . . !

Đoàng . . . !

à . . . .

à . . . .

Hai tiếng nổ bất ngờ liên tiếp, cách chỗ chúng tôi mấy chục mét.

"Bị phục kích rồi !", "Chúng nó bắn chết thằng Quí và thằng Tư rồi !"

Tiếng nổ vọng à . . .

à . . . trong thung lũng, giật đi giật lại.

Chúng tôi đều nhận ra hai tiếng súng, loại M79.

Chúng nó bắn thẳng bằng đạn ria, mỗi quả hàng trăm viên bi.

Ở cự ly gần thì không còn cơ hội sống.

Cả ba người đều bị bất ngờ và lung túng.

Hổ nhanh miệng nhất:

- Làm sao bây giờ ?

- Có lẽ anh Già ở đây, Hổ với em thử mò xem sao. – Tôi nói.

Hổ tiếp lời:

- Vâng, anh cứ ở đây, Trời chưa tối chúng em thử đi xem thế nào.

Chần chừ một thoáng rồi anh Già nói :

- Không được.

Hai đứa nó rơi vào ổ phục kích rồi.

Bây giờ chưa chắc chúng nó đã rút mà có khi vẫn phục tiếp.

Nó phục mà các cậu đi thì chỉ có chết.

Nếu nó rút rồi thì cũng gài mìn lại. các cậu phải tránh trực tiếp đến

chỗ đó và phải đi vòng đường khác.

Thế thì ăn mìn của biệt động.

Mìn của biệt động làm sao các cậu qua

được.

Đây là cửa cứ của biệt động rồi.

Các cậu không được đi.

- Vậy để hai thằng đó, nhỡ nó chỉ bị thương, mình phải cứu chứ !

- Chỗ cửa cứ này là cái khe suối hẹp.

Chúng phục ở trên bờ mà bắn găm cối cá nhân đạn ria, chắc chỉ cách mặt

mình 2 mét.

Không ai sống được đâu.

Đằng nào cũng vậy rồi.

Các cậu không được hy sinh vô ích.

Tôi có cảm tưởng như trời tối và đỏ sậm lại.

Tiếng súng nổ dường như vẫn văng vẳng bên tai.

Tư ơi !

Quý ơi ! vậy là chúng mày ra đi mà chưa kịp nhận ra điều gì.

Quá nhanh, quá ác nghiệt.

Bọn thám báo phục kích trước cửa căn cứ của huyện Hương Thủy để rình anh em biệt động chiều tối về thành sẽ úp trọn ổ.

Cái cứ này, chúng đã biết từ lâu, nhiều lần có ý định san phẳng mà không được. chúng cũng biết quy luật của biệt động, cứ tối đến là từ đây xuất kích và đã quyết tâm rình.

Không ngờ được, chúng tôi lại từ ngoài cứ đi vào.

Chắc vì thế nên chỉ thấy M79 nổ.

Nếu biệt động từ cứ đi ra, hẳn sẽ lĩnh đủ vài trái M18A1 (Claymore).

Mà sao hai thằng lại vượt lên trên chúng tôi để đi trước, chết thảm như vậy.

Mà sao, tôi bỗng dưng dừng lại.

Giá mà tôi không dừng lại thì chắc chắn cái chết là của tôi và Hổ.

Nếu đi cách xa nhau, chưa chắc thằng Tư và Quý đã lọt vào ổ phục kích và có thể thoát được.

Vậy là hai thằng đã chết thay tôi, chỉ trong gang tấc, chỉ là một phút vượt lên.

Chúng tôi mò mẫm ngược về cứ Hương Mai.

Trời đã tối từ lúc nào nên mãi chúng tôi mới vào được đến nơi.

Trong cứ chỉ còn lại một anh biệt động.

Dường như anh đã biết tất cả.

Hay là, anh đã quá quen với việc bị phục kích và hy sinh.

Không thấy anh hỏi han gì chúng tôi.

Một lúc lâu, anh mới nói:

- Bọn này phải chết.

Chúng nó không thể thoát được đâu.

Đêm 27 tháng Chạp

Chuyện anh biệt động nói: "Bọn này phải chết.

Chúng nó không thể thoát được đâu" sẽ xảy ra vào ngày 28 tháng chạp, xin được tạm gác để kể sau.

Đêm.

Tôi lại trằn trọc không ngủ được.

Tại sao thằng Tư vượt lên trên tôi ? không có gì có thể lý giải được.

Thực ra, tôi đâu có cần dừng lại mà ngắm Hòn Vượn từ xa như vậy.

Tại sao tôi dừng lại ?

Chịu !

Suất ăn đạn phục kích của thám báo chắc chắn là của tôi chứ !

Sao thằng Tư bỗng dưng lại tranh lấy.

Kể đến đây, tôi nhớ, hè 2009, tôi vào nhà Hổ.

Lúc đó khoảng gần mười giờ tối.

Hai thằng vẫn đau đáu nhắc lại chuyện hy sinh của Tư và Quý.

Chuyện đó hai thằng đều rất nhớ, nhắc lại vẫn thấy nhói đau.

Vậy mà chỉ nội chuyện đó hai thằng "rất nhớ" lại khác nhau năm bảy chi tiết.

Chúng tôi cãi nhau loạn xạ.

Hổ nói:

- Hôm ấy tao đi đầu, dừng lại để lấy ống nhòm xem nên tao với mày mới không chết.

- Đ' . . . phải !

Không bao giờ có chuyện tao đi thứ hai.

Tao đi đầu.

Tao dừng lại lấy ống nhòm, ngắm cảnh

hoàng hôn là chính, vì nó đẹp quá.

Tao xem xong, mày mới mượn để xem. – Tôi cãi lại.

- . . .

éo phải.

Không bao giờ tao đi thứ hai nhá !

Tao dừng lại, rồi, có mày xem nhờ ống nhòm của tao thì có. – Hổ cãi.

- Tao không ngờ chuyện đó mà mày lại quên .

Buồn cho trí nhớ của mày quá ! – Tôi quát.

- Tao thất vọng cho trí nhớ của mày đấy !

Hổ quát lại, to hơn.

- Thôi được !

Thế mày tả lại hôm đấy như thế nào, xem có hợp lý không !

- Tôi đưa ra bẫy cho thằng Hổ.

- Mày kể đi !

- Hổ đẩy cho tôi.

- Quá dễ.

Ngày mà thằng Tư và thằng Quí nó chết, tao không quên đến từng chi tiết.

Nó luôn ở trong đầu tao đây này.

- Tôi nói.

- Thế à !

Nó cũng luôn ở trong đầu tao.

Mà tao còn có nhật ký nhá !

Tao rất hay đọc lại đoạn này nhá !

Mày chịu

chưa ? – Hổ quát vào mặt tôi.

- Tuyệt !

Tao chấp nhận nhật ký của mày là trọng tài.

Kể cả mày ăn gian, viết không đúng đi nữa thì nó sẽ vô lý

ngay.

Vì trong đầu mày, lúc nào mày cũng là thằng dũng cảm nhất, nên phải đi đầu.

Tao đồng ý là mày dũng cảm

nhất, nhưng mà mày đi sau tao. – Tôi quát lại.

- Mày mới là thằng đi sau tao.

Được rồi để bố lấy nhật ký cho mày mở mắt ra mà xem.

- Mày lấy đi.

Mà lấy cho bố chai nước hãng !

Ở nhà, thằng Hổ mặc bộ đồ.

Nó tất tả đi khuất vào phía trong.

Tiếng nó chạy huỳnh huỵch lên cầu thang.

Chắc nó để nhật ký trên gác.

Hơn nửa tiếng sau, tiếng nó huỳnh huỵch chạy xuống.

Rồi nó hiện ra ở cửa hông, trần trùng trục.

Trên người nó chỉ còn độc cái quần đùi, mồ hôi nhễ nhại.

Nó quăng mấy cuốn sổ lên bàn và nói:

- Mày tìm đi !

- Nhật ký mày thường xuyên đọc lại thì mày tìm đi !

Cho nhanh.

Hổ bật bật các trang nhật ký một lúc thì tìm ra đoạn Hòn Vượn.

Nó nói:

- Đấy, mày đọc đi !

- Mày đọc đi để tự mày thấy mày sai.

- Tôi nói.

Rồi thằng Hổ nó đọc to cho cả tôi nghe.

Nó đọc đến đâu thì tôi "À !

À !"

đến đó.

Rồi tôi nói:

- Mày thấy mày sai rồi nhé !

- Ừ nhể !

Sao tao lại đi sau mày nhể ?

- Hổ băn khoăn.

- Thôi thế được rồi !À này, anh Già tên là gì nhể ? tao quên tên ông ấy rồi. – Tôi hỏi.

Hổ đã nhắc cho tôi nhớ lại tên anh ấy.

Thế mà chỉ sau đó ít lâu tôi lại quên.

Thế có tệ không ?

Chắc hẳn tên "Anh Già" đã hằn trong tôi nên bộ nhớ bây giờ không chấp nhận một cái tên khác.

Quay trở lại đêm sau khi bị phục kích.

Tôi không tài nào ngủ được.

Chuyện Tư và Quý sao quá mau lẹ và bất ngờ.

Không thể tin được.

Vừa đấy mà đã . . .

Thật là tức tưởi quá !

Rồi tôi nhớ đến chuyện bị lộ chiều hôm trước.

Nhớ lại tôi càng băn khoăn về lúc tao ngộ với mấy tên lính.

Rõ ràng tôi chỉ nhìn thấy hai thằng, không thấy có điện đài.

Thế mà sao chỉ vài phút sau, cối ở Hòn Vượn đã câu xuống.

Chắc hẳn còn nhiều tên khác mà tôi không nhìn thấy.

Vậy thì không phải chúng đang vận tải đồ từ Hòn Vượn đi Động Ngang mà là chúng đi tuần và đang ngồi hóng gió.

Như vậy mới hợp lý.

Thôi kệ !

Tôi lo lắng không biết ba thằng kia bây giờ ở đâu ?

Cả ngày hôm nay tôi vẫn chờ, nhất là lúc sáng sớm và chiều tối.

Mà, vẫn không thấy chúng nó trở về.

Tôi liên tục thở dài vì buồn bã.

Bị lộ, lung tung đã đành, lại còn ba thằng mất tích, rồi hai thằng hy sinh.

Một chuyến luồn sâu thảm bại !

Rút lui theo đường khác

Đấy là chuyện Duyên, Toàn và Mào.

Mãi chiều ngày 28 tháng Chạp tôi mới gặp lại Duyên và Toàn.

Ba thằng nắm chặt tay nhau trong nỗi bùi ngùi vì Tư và Quí đã hy sinh.

Rồi Duyên kể lại chuyện chúng tôi bị phân tán mất nhau trên đỉnh đèo đường tăng.

Khi chúng tôi đang về cứ Hương Mai từ vị trí quan sát, lúc tới sát đường tăng, Duyên ngửi thấy mùi thuốc lá Bato khen khét.

Vì cách khá xa tôi, nên Duyên dùng hòn sỏi nhỏ ném vào tôi để báo hiệu nhưng không trúng.

Vậy là tôi cứ thế mà "trôi' xuống đường tăng và bị lộ.

Những loạt đạn M16 rẹt rẹt đuổi theo tôi một hồi, sau đó chúng rẹt qua phía đường còn lại.

Chỉ là một loạt đạn vu vơ, hú họa, thế mà thằng Mào lại dính.

Viên đạn cỡ 5,56 milimét sượt qua trước mặt và găm vào đúng tí của nó.

Tí thằng Mào to và dầy nên viên đạn còn mắc lại trong mô mỡ.

Chỉ có chút máu rỉ ra rồi đông lại.

Duyên, Toàn và Mào rất lo lắng cho tôi.

Chúng lo tôi đã bị bắn chết hoặc đã bị thương.

Được cái chúng nó cũng "tử tế", tin tưởng tôi, nên không đứa nào nghĩ đến phương án tôi bị bắt sống.

Chúng nó cứ chần chừ mãi không biết nên xử trí làm sao.

Dò tìm tôi ở bên kia đường tăng thì quá nguy hiểm vì có thể địch chưa rút, thậm chí chúng đang mai phục.

Không đứa nào nghĩ ra chúng đã chạy xa hàng nhiều trăm mét rồi mới gọi cối bắn vào chỗ tôi.

Mặt khác, để thằng Mào bị thương ở đấy để tìm tôi, có khi quay lại thì lại lạc nhau.

Cuối cùng, ba đứa quyết định rút lui theo đường khác.

Chúng nó quyết tâm rút hẳn về trạm nghỉ chân qua đêm trên đường mà chúng tôi hành quân từ sông Bồ tới đây.

Mò mẫm một lúc thì trời tối nên ba đứa phải tạm dừng để sớm hôm sau đi tiếp.

Sớm ngày 27, ba đứa tiếp tục dò đường đi tiếp.

Phải mất cả buổi sáng hôm đó, cuối cùng, ba đứa đã đến được vị trí định trước.

Xem lại vết thương của Mào thấy không có gì nguy hiểm, ba đứa bàn nhau nghỉ lại đây để sớm hôm sau Duyên và Toàn sẽ quay lại tìm tôi.

Sớm ngày 28 tháng Chạp, sau khi lo chỗ ăn nghỉ cho Mào ở lại một mình, Duyên và Toàn tìm đường đi cứ của Hương Thủy.

Khi hai thằng vào đến cứ của Hương Thủy mới hay tin chiều qua thám báo phục kích trúng vào lính trinh sát.

Duyên và Toàn đinh ninh là tôi đã hy sinh (vì tôi thường đi đầu).

Duyên nghĩ, số tôi phải chết.

Nếu hôm kia tôi không trúng đạn khi bị lộ thì ngày hôm qua đã chết vì phục kích.

Nó nghĩ đến bố mẹ tôi.

Ngày về Hà Nội, đến nhà tôi nó sẽ không biết kể chuyện với bố mẹ tôi như thế nào.

Dưới đây là đường rút của Duên, Toàn, Mào và đường trờ lại cứ huyện Hương thủy cảu Duyên và Toàn.

Biệt động tập kích thám báo

Ngày 28 tháng Chạp

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, đã thấy anh biệt động đang ngồi uống trà và hút thuốc lào.

Anh bảo:

- Cậu đánh răng rửa mặt rồi đi với tớ.

- Vâng !

Anh biệt động dẫn tôi ra vị trí quan sát của cứ.

Mỗi người chúng tôi trèo lên một cây khá to và cao.

Tôi chọn một trạc ba ở gần ngọn cây.

Anh ấy nói và chỉ cho tôi quan sát xung quanh cứ, vị trí nào ở đâu.

Rồi anh chỉ cho tôi cứ của Huyện Hương Thủy và chỗ chúng tôi bị phục kích ngày hôm qua:

- Cậu cứ ở đây mà xem chuyện sắp sảy ra.

- Vâng !

Anh kể cho tôi nghe chuyện có duyên nợ với bọn thám báo của trung đoàn 51.

Cũng đã nhiều lần chúng phục kích đường đi của các anh.

Một hai lần đầu các anh đã bị dính.

Từ đó về sau, mỗi cứ đều có canh gác.

Cứ nào cũng có vài điểm quan sát trên các cây cao để bảo đảm có động tĩnh gì ở xung quanh thì đều nắm được.

Anh bảo, chắc chắn hôm qua bọn thám báo di chuyển từ xa đến điểm phục kích thì biệt động ở Hương Thủy phải biết rồi và họ đã phải có phương án tác chiến.

Bên đó họ không biết hôm qua các cậu từ đây đi sang đó.

Nếu biết, họ đã qua đây để báo trước rồi.

Khoảng 6 giờ 30 phút, một tiếng nổ đùng . . . hù . . .ụt . . . oành.

Rồi một tiếng nữa tiếp theo.

Đó là tiếng hai phát đạn B40 liên tiếp.

Khói trắng lẫn nâu bốc lên từ vạt cây thưa gần cứ của huyện Hương Thủy.

Ít giây sau, nghe tiếng nổ toác toác của những trái US.

Lặng đi một chút rồi dậy lên những loạt AK ngắn, điểm xạ rất đĩnh đạc.

Anh biệt động nói:

- Bên đó họ tập kích bọn thám báo đấy, chắc là tiêu diệt gọn rồi.

Tớ đã bảo rồi mà, bọn này phải chết, không thể thoát được đâu.

Chắc bên đó họ bám chúng nó ngay từ chiều hôm qua, trước khi các cậu bị bắn.

Nhưng thấy chưa thuận lợi nên chưa đánh.

Chắc bây giờ chúng ăn đòn khi vừa ngủ dậy.

Tôi vừa nghe anh biệt động nói vừa thấy trong lòng rất cảm phục vì sự dày dạn của các lính cựu biệt động.

Họ đánh địch cứ như cuộc chơi sinh tử.

Họ không thể chấp nhận thám báo lại rình rập ngay cửa căn cứ của mình và nhất quyết phải dằn mặt bọn chúng để chúng chừa hẳn.

Trông cách họ đánh, vừa nhanh gọn, vừa hiệu quả, chẳng khác gì những thợ săn lành nghề rình rập con mồi của mình vào cửa tử rồi nhả đạn.

Trinh sát chuyên nghiệp của một sư đoàn chủ lực 325 thiện chiến, chưa bao giờ biết tập kích địch như thế.

Tôi có cảm tưởng chúng tôi chỉ bắt được gà trong chuồng chứ chưa săn được thú trong rừng.

Chúng tôi là một đội rất đỗi nghiệp dư đang xem những thợ săn lành nghề biểu diễn.

Khoảng một tiếng sau khi súng nổ, hai chiếc trực thăng từ phía sau đỉnh đèo vọt sang.

Chúng đang rà quét trên khu vực bọn thám báo bị tập kích.

Chắc chúng nó định hạ xuống lấy xác.

Tôi rất hồi hộp và có phần lo lắng cho lính biệt động.

Không biết trận đánh sẽ tiếp diễn ra sao.

Một chiếc bay lượn vòng và bắn đại liên ra xung quanh.

Chiếc còn lại hạ độ cao rất nhanh.

Khi nó chuẩn bị tiếp đất thì một phát B40 phụt thẳng đến đó.

Quả đạn đi hơi thấp, hớt dưới bụng chiếc máy bay.

Tiếc quá !

Thằng này vội vã bốc thẳng lên cao.

Rồi hai chiếc máy bay liên tục nhả đạn.

Không thằng nào dám hạ xuống thấp.

Bắn bừa bãi một hồi rồi hai chiếc trực thăng bốc thẳng lên cao và chuồn mất.

Thật là một chuyện quá lạ.

Ngay tròng lòng địch mà vẫn tồn tại các căn cứ của biệt động thành Huế và địa phương các xã, huyện.

Chẳng những thế, thám báo của chúng bị tiêu diệt như những con mồi non nớt.

Còn quá đáng hơn nữa khi mà chúng không làm thế nào để lấy được xác lính tử trận.

Những xác lính ấy sẽ không bao giờ được chôn cất và sẽ vĩnh viễn nằm lại đó.

Chiều và đêm 28 tháng Chạp

Bọn thám báo đã bị tiêu diệt.

Đường từ Hương Mai sang Hương Thủy đã thông.

Vì buổi sáng có súng nổ nên buổi chiều chắc chắn không bà con nào dám đi thăm đồng hay lấy củi.

Chiều hôm đó ba chúng tôi đi từ Hương Mai sang Hương Thủy rất sớm.

Vừa vào đến cứ đã thấy Duyên và Toàn ở đó.

Mấy chúng tôi nắm tay nhau, xiết chặt.

Duyên chỉ cho chúng tôi chỗ chôn cất Tư và Quý.

Hai ngôi mộ mới đắp đất khá cao ở ngay rìa cứ.

Không có hương để mà thắp đâu.

Chúng tôi ai nấy đều hất mũ tai bèo ra phía sau và cúi đầu mạc niệm.

Giá như đang ở vùng mình thì sẽ có mấy loạt súng AK.

Tư ơi !

Quý ơi !

Các bạn nằm đây nhé !

Chúng tôi chẳng có cách nào đưa được các bạn về, . . . chẳng biết làm sao, làm sao ?

Không biết có ngày nào Tư à, mày được về nằm nơi "côồng cạc trặng, Lệ Thụy" ?

Nhìn hai ngôi mộ nơi heo hút rừng núi, mãi sâu trong lòng địch, xung quanh toàn mìn, tôi biết khó có ngày trở lại.

Tôi biết, chúng tôi sẽ sắp để lại các bạn hưu quạnh, hoang vu, rừng thẳm.

Đó là điều chúng tôi còn day dứt mãi, . . . cho đến tận bây giờ.

Tôi quay lại con suối nhỏ và tìm được hai tảng đá lớn.

Hai tảng đá nâu "gan gà", tuy hình thù vẹo vọ nhưng có một mặt tương đối phẳng.

Tôi ngồi trước mộ hai người và dùng dao găm trổ lên đá để làm bia.

Mũi dao thích vào đá từng dòng, từng dòng, . . . là từng dòng máu chảy. . . . !

"ĐINH VĂN TƯ – HY SINH NGÀY 7/1/1975 – QUÊ QUÁN: LỆ THỦY, QUẢNG BÌNH – ĐƠN VỊ: c20/F325"

" . . . .

VĂN QUÝ – . . . . – TRINH SÁT MẶT TRẬN B5" (Tôi không còn nhớ).

Xâm xẩm tối thì tôi cũng thích xong hai tấm bia.

Duyên, Toàn và tôi đem trồng ngay ngắn giữa đỉnh mộ.

Quá buồn và quá đau đớn vì tôi không thể tự hứa sẽ quay trở lại.

Trong lòng tôi cứ vang lên chỉ một từ, lặp đi lặp lại: "Vĩnh biệt !, . . .

Vĩnh biệt !".

Đêm đó Duyên, Toàn và tôi nằm chung một hầm nhưng tôi là người gác ca đầu.

Hai tiếng sau, tôi đánh thức Duyên để đổi gác.

Rồi tôi ngồi cùng gác với Duyên đến hết phiên của nó.

Duyên cứ thủ thỉ nói chuyện bên tai tôi.

Tôi chỉ lắng nghe, không nói một lời nào.

Duyên nói chuyện với tôi cứ như nó tự nói chuyện với chính lòng mình, giọng đều đều, chầm chậm, tả tơi:

- Tôi đến đây mới biết các anh bị thám báo phục kích.

Trưa nay, hai anh biệt động cùng tôi với Toàn mới đi ra chỗ bị phục kích.

Tôi nhìn thấy hai đứa nằm sấp mặt xuống suối.

Hai khẩu AK vẫn khoác trên vai.

Bọn nó phục kích trên bờ khe, chỗ hẹp nhất và sâu nhất ấy.

Nó ở trên đầu mình và bắn thẳng cối cá nhân vào ngay mặt.

Bọn nó bắn xong, không dám nhảy xuống nhặt súng mà lập tức rút luôn.

Biệt động họ kể, họ chỉ có bốn người mà chúng nó một tiểu đội.

Chúng nó rất cảnh giác, đi theo đội hình sẵn sàng chiến đấu.

Rồi chúng nó bố trí phục kích rất cẩn thận.

Họ chưa có cơ hội để tiêu diệt gọn mà tránh thương vong cho mình nên họ quyết định sẽ bám chắc và chờ.

Họ cũng không ngờ các anh lại từ Hương Mai đi vào.

Rồi, Duyên kể tiếp:

- Họ bảo, sau khi tiêu diệt bọn thám báo, tất cả các xác chết đều được cài lựu đạn, xung quanh đó còn gài mìn.

Lại còn có cả mìn định hướng, nếu máy bay hạ xuống thì sẽ xơi trọn luôn.

Họ giỏi thật anh ạ !

-

- Anh biết không ?

Lúc nhìn hai người nằm dưới suối, tôi bủn rủn cả chân tay vì thấy anh rồi đến Tư.

Lúc lật lên thì mới biết là không phải anh mà là Quý.

Rất nhiều vết đạn bi trên mặt và trên ngực hai đứa.

Anh với Quý cũng là đồng đội cả, nhưng anh mà chết thì tôi day dứt lắm !

Nói đến đó, tôi thấy giọng Duyên hơi rưng rưng.

Không biết có phải nó đang khóc ?

Tôi chỉ cúi đầu bần thần và chốc chốc lại lặng lẽ thở dài.

Ừ, mình đâu có tin vào những chuyện nhảm nhí, mà sao, lâu lắm rồi, đêm hôm kia, mình lại nghe tiếng cú rúc ?

Sao lại thế được ?

Sao lại thế chứ ?

29 và 30 tháng Chạp Giáp Dần

Sáng hăm chín tết, chúng tôi từ cứ của huyện Hương Thủy, vượt qua Động Ngang trở về sông Bồ.

Chúng tôi nghỉ lại dọc đường, nơi mà Mào đang nóng lòng chờ chúng tôi.

Toàn dẫn chúng tôi vào chỗ của Mào.

Thằng Mào người cao dong dỏng, nước da xanh mai mái.

Hôm nay nó còn xanh hơn mọi khi.

Tính nó dụt dè, e lệ, bây giờ trông còn dụt dè hơn.

Tuy bị thương không làm nó mất máu nhưng có lẽ bị thương làm cho tinh thần nó hơi xuống và mặt nó tái hơn bình thường.

Mấy thằng bắt tay nhau rất chặt.

Tôi đưa tay sờ vào ngực nó, theo phản xạ, nó né sang một bên sợ tôi chạm vào vết thương.

Rồi nó cới hai khuy áo cho tôi xem vết thương.

Tôi ấn nhẹ vào đó thấy gồ lên một chút "hình viên đạn" cồm cộm và làm nó hơi đau.

Tôi động viên:

- May nhỉ !

Không sao đâu !

Về quân y gắp ra là hết thôi, mà không gắp, để làm kỷ niệm cũng hay.

Sau này, cho người

yêu nó sờ, thích lắm đấy !

Mấy thằng cười ồ lên.

Thằng Mào cũng cười, mồm nó hơi meo méo ?!

Chúng tôi nghỉ lại đây.

Thật quả, tôi không còn nhớ chiều và đêm hôm đó như thế nào.

Sáng 30 tháng Chạp, chúng tôi đậy sớm.

Cơm nước xong, 6 người hành quân tiếp (gồm Anh Già, Hổ, Mào, Duyên, Toàn và tôi).

Chuyện này tôi đã kể trong "Chuyện XIV Từ Phú Lộc đến Huế".

Chiều hôm đó, tôi là người về sau cùng do chân bị loét vì đi giầy ngâm nước mấy ngày.

Khi tôi về đến nơi, Anh Già và Hổ đã đi rồi (sau này tôi mới biết, hai anh vội vã đuổi theo trung đoàn 95, đang trên đường hành quân vào Ban Mê Thuột).

Tiếng cụ Bùi Đức Ngoan, tham mưu trưởng sư đoàn đang chửi: "Trinh sát chúng mày như cứt . . . , súng phát cho chúng mày là củi à ?".

Nghe cụ chửi như vậy, tôi thấy trong lòng nhẹ nhõm vô cùng.

Giá cụ mắng chúng tôi, trinh sát để lộ, làm hỏng việc, thì chắc tôi sẽ khổ tâm vô cùng.

Tôi nhận ra cụ chửi chúng tôi là vị cụ thương xót những thằng lính trinh sát.

Bị lộ không quan trọng, do đó tôi cũng đoán ra được, sư đoàn chúng tôi sẽ không phải đánh Hòn Vượn nữa.

Tôi được giải thoát khỏi cảm giác tội lỗi đè nặng lên tôi suốt từ lúc tao ngộ với lính địch ở Hòn Vượn đến bây giờ.

Chân đau, bị mắng mà lòng lại rất thanh thản.

Tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm vì sư đoàn sẽ không phải đổ rất nhiều xương máu ở Hòn Vượn.

Và, vì tôi, phần xương máu đó sẽ phải đổ nhiều hơn.

Mấy lính trinh sát cảm thấy hãnh diện lắm, khi mà đích thân cụ Ngoan lại đón chúng tôi trên chiếc Comăngca của cụ.

Chúng tôi hành quân đi nam Huế . . . .

(Hết chuyện Hòn Vượn)

Chuyện XXX CHUYỆN CỦA THẨM PHÚ HUÂN

Đầu năm 1974, sau khi tham gia đánh thắng tại căn cứ Đăk Pet, Trung Đoàn 29 (Trung Đoàn 3)-Sư Đoàn 324 lại hành quân ngược từ Con Tum ra Quảng Nam để tham gia chiến dịch Thượng Đức (Thường Đức).

Lực lượng tấn công chính ở Thượng Đức là Trung Đoàn 66-Sư Đoàn 304.

Trung Đoàn 29 chỉ tham gia chốt trên các điểm cao mà chúng ta đã có từ trước, tham gia vận chuyển pháo, tham gia giăng bẫy, đặt mìn trên sông Vu Gia để chặn đường rút của địch về Đà Nẵng.

Đồng thời, trung đoàn cũng tham gia tiến công các vị trí nhỏ xung quanh Thường Đức, là thê đội 2, sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.

Thẩm Phú Huân bằng tuổi tôi và nhập ngũ cùng thời.

Anh là lính bộ binh thuộc Trung Đoàn 29 và cũng mới tham gia trận đánh vào căn cứ Đăk Pet.

Đây là một căn cứ được xây dựng từ thời Pháp mà lần đầu tiên ta mới đánh chiếm được sau bao nhiêu lần tấn công thất bại từ ngày Pháp thuộc đến thời Mỹ.

Mùi chiến trận Đăk Pet còn đang khét lẹt trên quần áo và trên thân thể mệt mỏi của những người lính.

Huân được điều đi giữ chốt trên điểm cao 1062.

Đây là một điểm cao "lẫy lừng" khi những người lính của cả hai phía nhắc đến Thượng Đức.

1062 là một điểm cao cực kỳ quan trọng.

Từ đây có thể quan sát toàn bộ thung lũng sông Vu Gia, đài quan sát pháo binh của ta được đặt ở đây để chỉ thị mục tiêu rất chính xác trong trận đánh vào Chi Khu Thượng Đức cũng như đánh chặn viện binh của địch và trong các trận đánh sau này.

Sau một thời gian dài chuẩn bị chiến trường, từ việc mở đường, vận tải vũ khí đạn dược trên sông và bằng khuân vác bộ, . . .

đến việc trinh sát, hạ quyết tâm chiến đấu, trận tấn công vào Chi Khu Thượng Đức được mở màn.

Sáng ngày 29/7/1974, hỏa tiễn của Sư Đoàn 324 đã đồng loạt bắn vào sân bay Đà Nẵng đồng thời với pháo giã vào Chi Khu Thượng Đức.

Sáng sớm 30/7, trong khi pháo kích tiếp tục vào Thượng Đức thì các lực lượng bộ binh của Trung Đoàn 66 và xe tăng bắt đầu tấn công dọc theo tỉnh lộ 4 từ phía tây.

Giao tranh quyết liệt, giành giật từng khu vực trong chi khu.

Pháo kích cả hai bên đổ lửa xuống các trận địa.

Thương vong của cả hai bên rất lớn.

Đến 8 giờ 30 ngày 7/8/1974, Trung Đoàn 66 đã hoàn toàn chiếm được Thượng Đức.

Đây là quận lỵ đầu tiên ta giải phóng được kể từ ngày ngừng bắn 28/1/1973.

Trong lúc đó Trung Đoàn 29, Sư Đoàn 324 đã đánh chiếm các mục tiêu ngoại vi như Bàn Tân, Hà Nha, . . .

Từ trên điểm cao 1062, Huân vừa được chứng kiến bằng mắt diễn biến sôi sục của chiến trận vừa theo dõi trinh sát pháo chỉ điểm các mục tiêu trên trận địa, chỉ điểm vị trí các lực lượng địch hành quân ứng cứu trên LTL 4 (liên tỉnh lộ 4).

Cảnh tượng không khác gì trận Điện Biên Phủ.

Ba Mặt của Chi Khu Thượng Đức đều là núi cao do ta chốt giữ và đặt các trận địa pháo.

Pháo của ta từ trên núi cao, hạ nòng bắn thẳng xuống các mục tiêu.

Pháo phòng không và tên lửa phòng không vác vai đã khống chế máy bay địch làm cho việc chi viện bằng không kích của chúng gần như không có tác dụng.

Tất cả các dù thả lương thực và đạn dược tiếp viện cho Thượng Đức đều không đến được tay chúng.

Diễn biến trận đấu được theo dõi từ 1062 chẳng khác gì xem phim.

Vậy là sau 8 ngày kể từ lúc mở màn, ta đã hoàn toàn thắng lợi.

Huân thấy phấn khích lắm.

Anh nhớ lại, trước đó mấy ngày, khi thấy Trung Đoàn 66 trày trật phá cửa mở mãi chưa được, anh đã sôi tiết mà quát lên với anh em trên chốt: "304 không đánh được thì để 324 thay đi !

Đăk Pet khó thế mà 324 chỉ mất có 1 tuần !".

Nhưng Huân không biết, chuyện ở Thượng Đức đâu có đơn giản và dừng lại ở đó như vậy !

Mất Thượng Đức vào tay Quân Giải Phóng làm cho Đà Nẵng rơi vào tình trạng nguy hiểm.

Cho nên, ngày 7/8/1974 bị mất Thượng Đức thì ngày 8/8, VNCH điều động Lữ Dù 1 vào Đại Lộc để chiếm lại Thượng Đức.

Mục tiêu của chúng là bằng mọi giá phải chiếm được cứ điểm cực kỳ quan trọng, điểm cao 1062.

Ngày 11/8/1974, Lữ Dù 3 được điều động từ Huế vào Đà Nẵng để tăng cường phòng thủ cho Đà Nẵng.

Điểm cao 52 nằm án ngữ ngay trên LTL 4 là mục tiêu đầu tiên lính dù đã chiếm được.

Sau đó, ngày 18/8 chúng tiếp tục đánh chiếm Hà Nha.

Ngay sau khi địch chiếm được cao điểm 52, rồi Hà Nha thì pháo của ta từ các điểm cao xung quanh đã bắn thẳng vào các mục tiêu đó làm cho chúng bị thương vong khá nặng nề.

Từ Hà Nha, mũi thứ nhất của Lữ Dù 1 tiến đánh cao điểm 109 và các mục tiêu lân cận, sau đó tấn lên cao điểm 383, đồi 500.

Mũi thứ hai thẳng hướng tiến từ Đại Lộc về phía 1062 theo đường dốc phân thủy mà mục tiêu đầu tiên là điểm chốt ở bình độ 500 (địch gọi là đồi B2).

Các loại pháo của Sư Đoàn Dù giã tối đa vào các mục tiêu làm cho anh em tại các chốt thương vong nhiều.

Lúc này, một số chốt trên động Thượng Đức, Trung Đoàn 31 của Sư Đoàn 2 đã thay chân cho Trung Đoàn 29.

Sau khi bàn giao chốt ở cao điểm 1062, Huân được rút về Đức Tây để nghỉ ngơi, củng cố lực lượng và sẵn sàng nhận lệnh đánh chiếm lại các vị trí đã mất.

Bao nhiêu ngày đã nằm trên 1062, nước rất hiếm hoi ngay cho cả việc ăn uống chứ đừng nói gì đến rửa ráy hay tắm giặt.

Quần áo rách tả tơi, hôi hám, cứng quèo và vướng víu nên chủ yếu anh em trên chốt chỉ mặc quần đùi.

Ngày nắng ráo, quần áo được trải lên mặt đá để phơi cho bớt mùi nặng và khét.

Ngày mưa thì tranh thủ hứng nước và tắm mưa.

Có đận lâu không có mưa thì chỉ có cách tắm khô.

Da dẻ đã đen nhẻm vì nắng gió và lửa đạn trở nên cóc cáy chưa từng thấy.

Huân ngâm mình dưới sông Vu Gia.

Anh kỳ cọ không biết bao lâu.

Đừng đám, từng mảng cứ tróc dần khỏi cơ thể, hết lớp này thì lại đến lớp khác.

Thật là quá kinh khủng.

Mấy chú lính vừa tắm vừa cười đùa vang động cả một quãng sông.

Dường như nước là một thứ gì đó mà ta chưa biết hết được.

Nước thấm dần vào cơ thể, qua từng lớp từng lớp làm cho cơn khát lâu ngày dần dần vợi đi.

Nước xâm nhập vào qua da, khoan khoái vô cùng !

Lữ Dù 1 của địch bằng mọi giá tiến chiếm điểm cao 1062.

Chúng đã sử dụng tối đa pháo binh, kể cả bom napan.

Sau nhiều lần trồi lên, sụt xuống xung quanh điểm cao với nhiều thương vong, đến ngày 19/9/1974, quân dù mới lần đầu tiên chiếm được 1062.

Sau đó điểm cao này giành đi giật lại rất nhiều lần giữa hai bên cho đến tận giữa tháng 11/1974.

Cứ bên này chiếm được thì bên kia dùng hỏa lực pháo bắn và bộ binh tiến công bật khỏi điểm cao.

Không biết bao nhiêu lần như vậy cho đến khi không bên nào còn muốn giữ chốt trên điểm cao này.

Như vậy, sau ba tháng trời giằng co trên mấy điểm chốt của 1062, quân dù cũng phải lui về căn cứ Đông Lâm nằm ở phía đông 1062 chừng 4 km. chúng chỉ còn giữ lại được cao điểm 52, nằm sát với LTL 4.

Sau 3 tháng này, sức lính hai bên đều đã kiệt.

Chiến sự lắng xuống cho đến khi chiến dịch mùa xuân 3/1975 của ta tràn qua toàn bộ phía tây Đà Nẵng.

Trong thời gia 3 tháng giằng co giữa ta và địch ở khu vực động Thượng Đức, đại đội và trung đội của Huân nhiều lần được điều động đánh chiếm các điểm cao thấp trên hành lang LTL 4 hoặc làm nhiệm vụ chốt chặn trên các đường tiếp ứng của lính dù.

Trung đội của Huân cũng nhiều lần phải làm nhiệm vụ vận tải vũ khí, lương thực, vận chuyển thương binh và làm nhiệm vụ chôn cất các liệt sỹ của các đơn vị bạn.

Đầu tháng 9/74 , sau một tháng giao tranh, trung đội được điều động làm công tác tử sỹ tại "bình độ 500" (địch gọi là đồi B2).

Trong đêm tối, được trinh sát dẫn đường, anh em luồn qua các vị chí chốt trên các điểm cao, xen kẽ giữa địch và ta.

Hành quân luồn lách từ chập tối đến nửa đêm trung đội mới tới được vị trí được giao.

Vị trí này, trước đây là một chốt của trung đoàn 29.

Sau khi địch chiếm được vị trí này, chúng đã phát triển lên các vị trí điểm cao phía trên (địch gọi là đồi B1, đồi B, đồi C, đồi D và 1062).

Không chắc chắn là "chốt bình độ 500" có địch hay không.

Được giao nhiệm vụ, Huân nghĩ chắc có thông tin từ cấp trên biết địch đã bỏ lại chốt này.

Tuy vậy, việc trinh sát mục tiêu vẫn phải làm rất thận trọng.

Gió đông thổi ù ù qua các trảng cỏ tranh hoang vắng, lờ mờ trong màn đêm.

Càng vào gần điểm cao, mùi tử khí ngày càng nặng, khi phảng phất, khi nồng nặc.

Trong các câu chuyện lan man kể lại của Huân về những nhọc nhằn hành quân mang vác nặng, đói khát, rách rưới, bẩn thỉu, cực khổ trên 1062, . . . rồi ác liệt bom pháo, cắm chốt chống trả địch tấn công, . . . rồi phản công chiếm chốt, . . . không chuyện nào anh kể lại trong trạng thái bàng hoàng như làm công tác tử sỹ lần này.

Cái chốt trên đồi 500 lính Dù chiếm được từ khoảng ngày 14/8/74.

Ngày hôm sau, đơn vị bạn của Huân phản công, định chiếm lại, nhưng pháo của địch quá ác liệt đã làm cho họ phải rút lui, để lại một số tử sỹ trên sườn đồi.

Đến nay làm công tác tử sỹ thì đã gần một tháng.

Một lính trinh sát của tiểu đoàn, Huân và một lính cùng tiểu đội vượt lên trước nắm tình hình trên chốt "bình độ 500".

Từ chân đồi họ bò lên rất thận trọng.

Được một đoạn, cậu trinh sát vấp phải một tử sỹ.

Họ tiếp tục bò thẳng lên chốt.

Cứ một lúc lại gặp liệt sỹ nằm đây đó trên đường tiến.

Trong chốt không có địch.

Cậu lính cùng tiểu đội quay xuống báo cáo tình hình với bê trưởng.

Cả trung đội dàn hàng ngang từ chân đồi dọc lên đến điểm chốt.

Hễ gặp liệt sỹ thì hai người một võng, đặt liệt sỹ vào và cáng về khu vực chôn cất của trung đoàn.

Huân kể lại với giọng thảng thốt mặc dù kể chuyện với tôi lần này đã là lần thứ ba:

"Ông biết không ?

Hai thằng tôi, một thằng bê đầu, một thằng bê hai chân.

Tôi nắm hai chân định đưa vào võng thì nhấc lên một tý bỗng thấy hẫng và tuột mất.

Trong tay tôi chỉ còn lại hai cái cẳng chân.

Lính chỉ mặc quần đùi mà.

Đánh nhau, tôi không biết sợ.

Lúc lấy tử sỹ tôi cũng không ngại gì và cũng không sợ đâu.

Mùi nặng lắm mà mồm tôi thấy đắng ngắt và khô ran.

Thật !

Có muốn nhổ nước miếng cũng chẳng nhổ được.

Thật ! tôi không sợ người chết đâu.

Bao nhiêu lần vận chuyển liệt sỹ rồi, tôi chẳng ghê đâu.

Nhưng mà, khi chỉ còn nắm hai cẳng chân, tự nhiên tôi thấy rụng rời hết cả chân tay, bủn rủn hết cả người.

Ông biết không ?

Lúc tôi đưa hai cẳng chân của liệt sỹ vào võng và buông tay ra thì cái chân nó cứ dính chặt vào tay mình, gỡ mãi mới ra.

Sau rồi, hai thằng tôi phải bế sốc cả người liệt sỹ mà đưa vào võng.

Cầm vào cái đòn khênh thì tay mình dính chặt vào đòn khênh, tôi giằng mãi mới ra.

Tôi phải chùi hai tay và đòn khênh vào cỏ mãi mới đỡ dính.

Thế mà, lúc xuống dốc, bọn tôi ngã dúi dụi, văng cả liệt sỹ ra ngoài.

Rồi, lại hì hụi bốc vào.

Trung đội tôi có mười hai mười ba đứa.

Đêm đó phải làm hai chuyến mới hết.

Chúng tôi chỉ đưa anh em đến phạm vi của mình kiểm soát thôi, rồi, để đêm mai đưa về chỗ qui định của trung đoàn.

Ông biết không ?

Lúc có gió còn đỡ, chứ lúc lặng gió hay gió quẩn thì mùi nặng lắm . . . !

Được một chuyến rồi, lúc ngồi nghỉ mà cổ họng cứ khô không khốc.

Mồ hôi mình lúc đó cứ dâm dấp mà lại lành lạnh chứ lị !?

"

Tôi chết lặng đi nghe Huân kể, nuốt liên tục, mà đúng là không có tí nước miếng nào.

Tôi cũng không thể cất lên lời nào ngoài những tiếng thở dài liên tục của người sắp hết dưỡng khí.

Hai mũi lại tịt ngóm rồi.

Vẫn bàng hoàng, Huân kể tiếp:

"Ông biết không ?

Chuyển xong hai chuyến, chúng tôi ngồi nghỉ thì đã gần sáng.

Cha con mới lấy nước ra uống rồi ăn cơm nắm.

Chùi tay một lúc vào cỏ, thế là lại bốc cơm ăn luôn.

Thế mà chả thấy ghê ghiếc gì cả.

Giá mà không phải chiến tranh ?

Giá mà không phải đồng đội mình thì chắc tôi cũng phải ghê, chứ ông bảo?!"

Ngớt chuyện một lúc, sau mấy đợt thở dài, Huân nói tiếp:

"Sáng ra, nhìn tay mới thấy kinh.

Một lớp loang lổ keo bám đầy hai bàn tay.

Ông biết không ?

Tôi phải mài vào đá mãi, hàng tuần mà cũng chả hết." – Huân trầm giọng xuống và nói: "Da người thành keo còn chắc hơn keo Con Voi nhiều ông ạ !"

- Nói câu này, Huân quay mặt đi, dường như anh đang nấc . . .

Quân ta bắn quân mình

Trung đội Huân chuẩn bị tấn công chiếm lại một chốt bị mất trên một điểm cao ở lưng chừng động Thượng Đức.

Địa hình ở đây thì anh em đã biết, đường đi lối lại cũng thông thạo rồi.

Đại trưởng giao nhiệm vụ và thảo luận phương án tác chiến cùng trung đội.

Phương án bí mật tiếp cận mục tiêu trong đêm rồi đồng loạt xung phong đã được lựa chọn.

Các yêu cầu về hỏa lực cấp trên hỗ trợ khi cần thiết đều được chấp nhận.

Nhiệm vụ được phân công cho 3 tiểu đội.

Mỗi tiểu đội sẽ áp sát mục tiêu theo một hướng.

Vì các tiểu đội đều có người đã chốt tại mục tiêu này trước đó nên ngóc ngách lên điểm cao này đều thuộc.

Đêm đầu tiên, trung đội đã bí mật xuất phát từ chân núi và leo lên cách mục tiêu khoảng ba trăm mét.

Lợi dụng các tảng đá hoặc khe đá, mọi người đều có chỗ ẩn nấp an toàn.

Ngày hôm sau, dự kiến khi trời tối sẽ bò lên tiếp cận mục tiêu.

Hoặc, nếu mục tiêu có mây che phủ từ lúc nào thì sẽ xuất phát sớm từ lúc đó.

Trời chiều lòng người, khoảng 4 giờ chiều, mây trắng đã che phủ phần trên cao của động Thượng Đức và đã bắt đầu lan tới che phủ mục tiêu.

Tốt rồi !

Trung đội bắt đầu tiến lên.

Anh em chẳng cần phải bò mà chỉ cần chạy lom khom.

Họ đã thống nhất với nhau sẽ áp sát mục tiêu và khi bắt đầu tối xẽ đồng loạt xung phong từ ba hướng theo hiệu lệnh của bê trưởng.

Ai nấy đều chắc mẩm trận đánh sẽ diễn ra nhanh gọn.

Từ trên một điểm cao ở phía sau, khẩu đội cối 82 của đơn vị bạn cũng đang quan sát bao quát toàn bộ khu vực động Thượng Đức.

Nhiệm vụ của họ là "bắn tỉa" lính địch khi chúng di chuyển ngoài công sự.

Bất ngờ họ phát hiện một toán lính đang di chuyển trên sườn núi.

"Chúng" đang vận động lên núi.

Chỉ một chút nữa thôi là "chúng' sẽ khuất vào trong đám mây mù.

"Bắn nhanh đi !

Khẩn trương ! . . .

"

Phát đạn đầu tiên đã khá chuẩn, và, họ liên tiếp thả đạn vào nòng cối. . . .

Đang vận động, bất ngờ bị bắn, mọi người tá hỏa.

Ai nấy đều lăn nhào xuống, tìm nơi ẩn nấp.

Đến phát bắn thứ hai thì Huân nhận ra là cối của mình ở phía sau bắn sang.

Anh quát: "Cối của ta, đ . . . mẹ thằng nào bắn thế !"

Đại trưởng đang ở cùng hỏa lực của tiểu đoàn để theo dõi trận đánh và kèm sát hỏa lực để yêu cầu hỗ trợ khi cần.

Anh bồn chồn và hồi hộp nhìn anh em đang tiến đến mục tiêu.

Đột nhiên thấy lính của mình bị cối bắn, anh giật mình.

Thoáng nghĩ "Thế là hỏng việc . . . !".

Rồi khi thấy thằng cối giã tiếp, anh điên tiết nhảy ngay vào khẩu đại liên đang ở gần.

Quay ngược súng, anh chĩa vào "bọn cối" và nhả đạn . . .

"Bọn cối" liền im tịt.

Nhưng trận đánh phải hủy bỏ.

Rất may không ai bị thương vong, kể cả "bọn cối".

Liên tục tham gia hai chiến dịch Đăk Pet và Thượng Đức, trung đội Huân đã bị nhiều tổn thất.

Một số anh em hy sinh và một số bị thương đã rời khỏi đơn vị.

Hình như bom đạn có mắt nên đều tránh Huân.

Anh chưa hề dính một mảnh nào.

Ăn uống kham khổ vậy mà anh vẫn rất khỏe, một tiểu đội trưởng dày dạn, xông xáo và xốc vác.

Mọi việc anh cứ làm băng băng, không nề hà bất cứ chuyện gì.

Trông anh cởi trần , nước da đen ròn, cơ bắp cuồn cuộn không khác gì hình ảnh tráng sỹ Thạch Sanh trong cổ tích.

Ai đã gặp Huân một lần hẳn không thể quên.

Anh có khuôn mặt vuông chữ điền, cặp mắt nhìn thẳng xa xăm dường như trong đầu luôn say sưa một chuyện gì đó.

Anh cười nhiều bằng mắt.

Mỗi lần anh cười hai đuôi mắt hơi nheo lại, con gái chỉ có mà chết mê.

Đặc biệt nhất là đôi lông mày, rất dày, rất dài và rất rậm.

Nếu tổ chức cuộc thi "tu mi nam hậu" thì chắc anh sẽ lãnh vương miện.

Mấy hôm nay được nghỉ ngơi được sau nhiều ngày làm công tác vận tải lương thực và các loại đạn khác nhau từ cối đến pháo.

Trên động Thượng Đức hết ngày này qua ngày khác, tiếng đạn pháo của cả hai bên dội lửa xuống các chốt.

Tiếng pháo nổ là một thứ tiếng hỗn loạn ong ong, ùng ùng, triền miên, trân trối . . .

Được nghỉ lấy lại hơi mấy ngày thì trung đội được lệnh chuẩn bị tấn công chốt trên cao điểm 109 (có đánh dấu trên bản đồ ở phần viết trên).

Huân chỉ còn nhớ trận đánh này vào khoảng nửa đầu tháng 10/1974.

Điểm cao 109 án ngữ LTL 4 trên đường từ Đại Lộc vào Thượng Đức.

Chốt này, hai tháng trước là một chốt của e29.

Sau khi trung đội đã tiến đến gần chân cao điểm.

Trận đánh ác liệt ngay từ đầu khi mà pháo và hỏa tiễn của ta liên hồi bắn vào điểm cao 109.

Khi pháo vừa ngừng bắn thì các hỏa lực đại liên và cối 60 thi nhau dập tiếp để hỗ trợ cho bộ binh tiến lên.

Rồi cối cũng ngừng bắn.

đạn đại liên hai hướng bắn chéo cánh sẻ vào chốt làm cho lính địch không ngóc đầu lên được.

Quân số của địch trên chốt cũng bị thương vong khá nhiều.

Được hỗ trợ tối đa bằng hỏa lực, anh em bộ binh đã vận động lên đến chốt.

Trận đánh giằng co bằng súng bộ binh trên chốt rất quyết liệt.

Các hầm hào trên chốt lần lần ta cũng chiếm được, chỉ còn lại một hai hầm.

Trong đó lính dù đang chống trả rất gắt.

Biết không thể chống đỡ được đòn tấn công như vũ bão của các chiến sỹ bộ binh, cuối cùng pháo của địch đành bắn bao chùm toàn bộ điểm cao.

Địch hy vọng sẽ gây thương vong cho ta khi anh em ta đang ở ngoài hầm và sẽ hất ta xuống khỏi điểm cao.

Huân đang sục sạo và truy quét những đoạn hào và hầm cuối cùng.

"Bỗng . . . lòe chớp đỏ . . . thôi rồi Huân ơi !".

Một trái nổ ngay trước mặt, chệch về phía phải anh một chút.

Huân chạy thêm mấy bước rồi đổ xuống.

"Mình bị rồi . . . !"

Anh thấy trời đất tối sầm, cánh tay phải dường như tê dại không nhấc lên được.

Cảm giác trối trối ở trên đầu và bên mắt phải, anh lấy tay phải sờ lên thì thấy máu đang túa ra.

Vài giây sau anh không còn biết gì nữa . . .

. . . nghe tiếng nói lao sao ở đâu rất xa: "tỉnh rồi, tỉnh rồi !".

Các tiếng nói cứ rõ dần, rõ dần.

Rồi anh hơi giật mình khi có ai đó đập vào cánh tay.

Khi nhận thức đã có trở lại anh mới biết mình bị thương năm bảy vết ở đầu và ở mắt phải, nhiều vết khác ở tay phải và ở ngực phải.

Anh cũng biết được mình đang nằm ở viện của Sư Đoàn và đã nhiều ngày hôn mê bây giờ mới tỉnh dậy.

. . . (hết chuyện Thẩm Phú Huân)

Chuyện bên lề của các bác cựu binh:

- Khoảng đầu năm 1978 khi ta tấn công Pốt hướng QL1 đẩy chiến tranh sang đất địch, trong một trận đánh vận động tấn công lấy chốt địch, sau màn pháo cối bắn dọn đường dìm đầu địch xuống thì lính BB sẽ vận động lên áp sát trận địa địch, lúc này là lúc đòi hỏi người lính phải nhanh nhẹn chớp lấy thời cơ một cách quyết đoán nhất khi xông vào quyết chiến điểm, chậm là địch phản công lại lúc pháo cối chuyển làn nâng tầm thì rất nguy hiểm, vì vậy người lính BB sẽ vận động rất nhanh và cũng nhanh chóng tận dụng địa hình có lợi để tránh đạn và nằm chờ pháo cối bắn là lại xung phong tiếp.

Một anh lính trong C đang vận động rất nhanh vượt lên thì thấy một tiếng nổ cùng khói ở vị trí anh ấy đang vượt lên, anh em thấy anh đó dáng cứ xiêu xiêu mà chạy cố lên đầu bờ mương ngang lấy chỗ ẩn nấp, cũng phải chạy thêm đến vài chục mét thì bỗng dưng anh ấy dừng lại và hỏi: Ơ, cái chân của tôi đâu rồi.

Thì ra anh ấy đạp phải mìn hơi K58 của địch, bàn chân bay mất chỉ còn chơ khúc xương phía sát bàn chân, lúc hăng máu vận động nên không kịp nhận biết của cảm giác đau đớn tột độ khi mất 1 bàn chân và mấy chục mét vận động kia của anh ấy với cái dáng nghiêng nghiêng là chạy bằng khúc xương ống liền với bàn chân.

Chuyện này BY em nghe cứ tưởng chuyện đùa chiến đấu, song nhiều người ở đơn vị đã xác nhận chuyện này là có thật.

Thêm chuyện nữa và chuyện này thì BY em lại là người trong cuộc, biết rõ từ đầu đến cuối.

Cuối 1978 đơn vị BY em bị địch dồn lực lượng mạnh quyết đánh bật chốt, nếu C2 mất chốt thì sườn của các đơn vị thuộc 2 trung đoàn hở sườn hết, các hầm hố quan trọng trong đội hình chốt mất gần hết, anh em hy sinh, bị thương và cả bỏ chạy khoảng 50% quân số lúc đó, C trưởng chỉ huy anh em vận động tấn công lấy lại 2 hầm trung gian giữa đã mất, chỉ sau khoảng 10' chiến đấu ta đã lấy lại được 1 hầm, còn lại 1 hầm nữa chuẩn bị vận động lên lấy nốt, C trưởng vừa phát lệnh tấn công và bật người lên trên khỏi công sự giao thông hào sâu khoảng 80cm thì một quả đạn DKZ75ly nổ ngay trước mặt cách khoảng từ 10 đến 15m bật ngược trở lại công sự, suốt dọc 2 chân mảnh găm đầy và nặng nhất ở gần đầu gối trái, nguyên phần bộ hạ bùng nhùng một đống, "đạn" súng ngắn 2 viên bay tiêu mất 1 chỉ còn lại 1 viên, đầu "súng" cũng bay đi đâu mất và sau này khẩu "súng" của anh ấy phải cưa ngắn bớt nòng.

Lúc đó BY em bối dối chưa biết băng bó sao cho anh ấy, lúng túng vì không biết cách băng, khi huấn luyện tân binh chẳng ai dạy cách băng cái chỗ đó thế nào, còn anh ấy thì không để ý đến mình mà luôn thò đầu lên khỏi công sự quan sát địch và giục: Băng nhanh lên để còn đánh tiếp, đánh nữa, đánh lấy lại hầm thứ 3 của trung gian giữa bằng được mới thôi.

Bí quá BY em vớ lấy cái bao nylon xanh đen sẫm của cuộn băng cứu thương cá nhân Mỹ mà lồng "súng" của anh ấy vào mà buộc vội để còn đánh nhau tiếp, sau đó khoảng 10' máu ra nhiều quá nên anh ấy lả đi và ngất xỉu thì trận chiến tấn công chiếm lại vị trí cũ mới tạm dừng lại.

Sau này đơn vị BY em chấp nhận mất một số hầm chốt mà chung sống không có hòa bình với lính Pốt cách nhau chưa hết một tầm ném lựu đạn.

Qua 2 câu chuyện đó của BY em cả thấy và được nghe, khi bị thương cho dù là rất nặng nhưng không phải ai cũng giống nhau và phải lăn quay ra đó liền, lúc đang hăng máu chiến đấu thì vài trường hợp "mất" cảm giác đau đớn thể xác tạm thời lúc bị thương, chỉ đến khi trở lại trạng thái bình thường thì nỗi đau thể xác mới khiến họ cảm nhận thấy, hoặc những vết cắt của mảnh đạn nhanh quá, ngọt quá nên cũng phải một lúc sau họ mới cảm nhận được.

Vì vậy trường hợp của anh La Văn Cầu ở chiến trường cũng là có thể lắm chứ, chỉ có điều BY em đang thắc mắc: Lúc đó anh LVC lấy đâu ra dao trong tình thế khẩn cấp ấy để chặt phăng cánh tay đang "lẵng nhẵng" vướng víu ấy?

Tất nhiên là BY em không tin là anh LVC lúc đó có con dao găm bên người để làm được việc đó.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 3: Chuyện thật chưa đặt tên - Hồi ký bác Nguyễn Trọng Thập


Nguyến Trọng Thập nguyên là lính Tây Nguyên.

Anh là họa sỹ và đã nghỉ hưu.

Sau bao năm vất vả lăn lộn với cuộc mưu sinh, bây giờ anh đã nghỉ công việc ngoài đời để trở về với dầu và cọ, trở về với ký ức một đời dằng dặc.

Niềm vui của anh bây giờ là vẽ, viết và bạn bè.

------------------------------------------------------------------CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊNNguyễn Trọng Thập – Tự chuyện

Từ lâu lắm rồi tôi vẫn đau đáu một ước mơ, một ngày nào đó tôi sẽ phải viết, phải viết bằng hình thức nào đó để ghi lại những kỷ niệm dọc theo năm tháng của cuộc đời mình.

Một cuộc đời với không ít vui buồn, cay đắng, ngọt ngào, thành công và thất bại của tôi, một cuộc đời đầy ân và đầy oán, . . .

Viết, chẳng để làm gì, chỉ nhằm giải tỏa sự trăn trở trong tôi.

Viết cho tôi, và nếu có thể, cho con cháu tôi hiểu, cảm thông và chia sẻ một phần nào chăng?!

Tiếc thay, khiếu viết văn của tôi không có, học hành thì chắp vá, ngôn ngữ nghèo nàn.

Sự kiện và kỷ niệm thì đầy ắp mà không biết sắp xếp như thế nào, bắt đầu từ đâu, viết theo thể loại gì ?

Giá như có ai bảo cho một lần, hướng dẫn cho một chút thì hay biết mấy !

Nhưng nếu tôi cứ ngại ngùng thì ước mơ sẽ không bao giờ được thực hiện.

Vợ con và bạn bè tôi động viên: "Cứ viết bừa đi, nghĩ sao nói vậy.

Mình có phải nhà văn đâu mà sợ, . . .

"

Thế là tôi đánh liều, cứ ghi chép ra đây những suy nghĩ của mình bằng lối viết khờ khạo và non nớt, dù câu chữ có thể không ra sao, hành văn rối rắm đến thế nào.

Còn, nếu mất lỗi chính tả chắc con tôi sẽ sửa hộ.

Đây là những tình cảm chân thành và trung thực, những kỷ niệm có thật, không thêm bớt hay hư cấu.

Tôi cố xếp sắp mạch chuyện theo trình tự thời gian, tất nhiên, có lúc quên, lúc nhớ.

Nếu đủ kiên nhẫn và dũng cảm mà sau này viết xong, vô tình có họ hàng hay bạn bè đọc thấy (nếu có người đọc) thì tôi ngàn lần xin được cảm thông và lượng thứ . . .

CHƯƠNG I SINH RA

Hắn sinh ra tại một phố huyện nghèo nơi vùng quê chiêm chũng.

Gọi là phố nhưng thực ra chỉ có một đoạn dài chừng dăm trăm mét với ít nóc nhà lèo tèo bám hai bên đường số năm nối từ Hà Nội xuống Hải Phòng, cách khoảng ba chục cây số.

Đằng sau phố là làng với các xóm thôn cổ kính, nơi họ hàng Tổ Tiên hắn ở đó.

Sau nữa là cánh đồng chiêm vời vợi xa mù xa.

Khi hắn sinh ra, quê hắn rất nghèo.

Nhưng đó là cái nghèo chung của cả xã hội lúc bấy giờ.

Tuy vậy, hắn ở phố nên cũng oai ra phết.

Gì gì thì đó cũng là huyện lỵ, trung tâm văn hóa, chính trị của huyện đóng ở đó.

Từ ngã tư Phố Nối xuống làng hắn chừng ba cây số.

Đầu làng bên tay trái là nghĩa trang của làng.

Cạnh nghĩa trang là đình làng với một cây quéo cổ thụ cao to lừng lững.

Đối diện với đình làng là ao Cổ Ngan rộng mênh mông, ước chừng có đến một vài chục mẫu.

Bên bờ ao, phía đường Quốc lộ là một hàng cây, nào là xà cừ, nào là phượng vĩ và bàng cổ thụ xà nghiêng xuống mặt nước.

Vào mùa hè, Ao Cổ Ngan là nơi đám trai làng và lũ trẻ con thỏa sức bơi lội.

Đêm đến, nơi đây lại là nơi vài cặp trai gái bí mật hẹn hò.

Ở làng hắn bấy giờ chuyện yêu đương là chuyện tế nhị luôn phải dấu diếm.

Trai gái thích nhau chỉ dám liếc mắt hay mỉm cười.

Rồi thì dấm dúi viết thư dấu vào hốc cây hay lóng tre đầu mái nhà.

Chuyện hẹn hò, âu yếm là cấm kỵ.

Chuyện đó nếu bị dân làng biết được là rầy rà to.

Khi hắn học lớp bốn, thày dạy hắn là ông giáo Tứ, có ngầm yêu nhau với cô con gái lớn con cụ cả Riêng.

Hai người hẹn nhau dưới một gốc cây ven ao Cổ Ngan.

Thế nào mà chuyện âu yếm nhau bị dân làng phát hiện.

Ngay ngày hôm sau, một bài vè được bay truyền trong khắp làng:

" Ao Cổ Ngan có cây Năm Trai,

Đường số năm có ếch chập đôi.

Ai về làng Thứa quê tôi,

Nhắn bà Tư Trước ra lôi ếch về.

"

Bà Tư Trước chính là mẹ thầy Tứ của hắn đấy.

Bài vè nhanh chóng trở thành bài đồng dao của lũ trẻ trong làng.

Chẳng có gì khoái trá hơn là râm ran bàn tán chuyện vui thời sự hiếm có như vậy.

Đối với lũ trẻ con thì chẳng có gì thích thú hơn là được dong duổi, chạy khắp đường làng mà hát đồng ca một bài hát mới hay đến như vậy.

Thầy Tứ của hắn ngượng quá mới xung phong đi bộ đội.

Ngày thầy lên đường, cả lớp hắn đi bộ ba cây số, tiễn thầy tới tận làng Yên Tập.

Lúc thầy khoác ba lô chuẩn bị đứng vào hàng quân thì lũ trẻ con túm tụm bên thày, dưới gốc đa, chúng dấm dứt khóc, nước mắt nước mũi nhoe nhoét cả hai bên vạt áo thầy.

Ao Cổ Ngan mới chỉ là ngoài làng, vào sâu chút nữa mới thực sự đến làng.

Một chiếc cổng to, cổ kính gọi là cổng tiền.

Mái cổng cong và được xây ba cấp.

Phía trên là tháp chuông với hai con rồng chầu hai bên mặt nguyệt.

Ô cửa chính giữa xây cuốn tò vò cao khoảng ba mét và bề rộng cũng cỡ chừng ấy.

Hai cửa bên cũng được cuốn tò vò, chỉ cao hai mét và rộng một mét.

Toàn bộ cổng có kiến trúc cổ kính và uy nghiêm, được trang trí đắp vẽ rất cầu kỳ.

Thầy bu hắn kể, hồi mới "Hòa bình lập lại", phong trào "bình dân học vụ" đang sôi nổi lắm.

Hai bên cổng làng treo các bảng chữ cái.

Ai đi qua cổng cũng phải đọc, đọc được thì được đi qua cổng giữa, mát mày mát mặt lắm.

Ai không đọc được thì phải đi cổng phụ.

Thế đã đành, nhưng chưa hết.

Ở cổng phụ, người ta chặn vào đó một con trâu cái đứng dạng chân.

Vậy là muốn qua phải chui qua háng trâu.

Qua cổng làng ta sẽ bước chân trên con đường gạch.

Những hàng gạch chỉ, được xếp nghiêng, vồng lên ở giữa đường.

Gạch đấy là gạch do những nhà có con gái phải nộp vào theo lệ làng để được phép cho con lấy chồng thiên hạ - bu hắn bảo thế.

Con đường này đã rất lâu đời rồi, những nhánh đường gạch màu đỏ tím, chạy ngoằn nghoèo trên các lối đi chính của làng.

Đến giờ, nó vẫn còn, gạch đã mòn, nhiều viên đã vẹt đi gần hết.

Phía trước cổng tiền là giếng làng, một cái giếng khá to.

Bờ giếng được kè bằng gạch, xếp dốc lên thành hình phễu.

Một cái phễu gạch phủ rêu xanh ngăn ngắt.

Lối xuống giếng là nhiều bậc thang được xây bằng đá xanh.

Hai hàng lan can hai bên xây cao, chạy xuôi xuống đến hai đầu trụ mà trên đó mỗi bên chạm khắc một bông sen cách điệu.

Cho dù các bông sen nay đã mẻ vỡ nham nhở nhưng vẫn không mất đi sự duyên dáng và điệu đà đến cầu kỳ.

Xung quanh bờ giếng được lát gạch đỏ au.

Đặc biệt nhất là các cụ còn đặt hai tấm phản đá xanh rất rộng, nghiêng thoai thoải ra phía ngoài.

Nó được dùng làm bàn giặt cho các bà các chị.

Trên bờ giếng còn có hai cây phượng vĩ cổ thụ rất lớn.

Cái giống phượng vĩ, càng già càng ra hoa muộn, màu hoa thì càng đỏ xẫm lại.

Chiều chiều không khí giếng làng thật nhộn nhịp.

Những người gánh nước ngược xuôi, chạy lên chạy xuống giếng như con thoi.

Những người khác thì giặt chiếu chăn quần áo.

Tiếng đập chiếu và quần áo bồm bộp, bồm bộp trên hai phiến đá và trên nền lát gạch thật là rộn rã.

Lũ trẻ con bọn hắn thì nằm sấp trên bờ giếng mà thò những cái cần câu bé tí teo xuống giếng để câu những con tôm trà xanh, những chú tôm đang thập thò trong các khe gạch hay đang trú ẩn trong những gốc dương xỉ nhỏ mọc lay phay dưới mép nước, trong leo lẻo.

Phố huyện của hắn chỉ có một đoạn ngắn dăm trăm mét.

Dọc theo phố là những căn nhà vách đất mái rạ hoặc những ngôi nhà xây không trát áo, lợp ngói ta, đan xen lẫn với những bụi tre.

Lác đác giữa phố mới có vài tòa nhà hai ba tầng cổ kính quét vôi, đã tróc lở.

Đó là nhà của các ông ký, thầy cai, ông đội hoặc nhà của địa chủ, tư sản nhỏ phố huyện.

Giữa phố, bên phải đường là một trường cấp hai của huyện với ba dãy nhà học cấp bốn, tường xây cao, lợp ngói, hơi lùi vào phía sau.

Hai cái nhà nhà cấp bốn nhỏ ở góc bên trái là nhà ban giám hiệu và nhà giáo viên.

Trước mặt là một khoảng rộng của sân trường với rất nhiều cây bàng to, tán lá rộng xanh mướt mát, những cây sấu cao vút xanh um tùm.

Đối diện với trường cấp hai là chợ huyện với những lều quán bé nhỏ liêu xiêu.

Hai bên chợ là hai dãy quán, đây là quán phở của bà Chính, kia là quán phở bà Quýt, kia nữa là lò rèn của anh Chí, quán cắt tóc của ông Có, anh Thanh, ông cai Xá.

Rồi đây nữa là vài quán nước chè chén của cụ Hai Vợi, bà Khoa, quán chữa xe đạp của cụ Hai Huân, quán nhuộm hợp tác xã của chị Hựu, cửa hàng thương nghiệp bán nước mắm của chị Linh, . . .

Cạnh khu chợ là "cửa hàng bách hóa" huyện, chuyên bán hàng phân phối.

Nhà hắn là căn nhà ba gian gạch xây không trát áo, cửa lùa, mái rạ.

Cạnh nhà là cơ quan thương nghiệp của huyện.

Đối diện bên kia đường là phòng thuế mà lúc ấy ông Tâm làm trưởng phòng.

Cạnh phòng thuế là bưu điện Mỹ Hào.

Trước cửa nhà hắn là bốn cây bàng đại thụ lá cành xum xuê đan vào nhau.

Về sau này khi hắn đã lớn, người ta treo hai chiếc loa điện động trên cây bàng, chĩa về hai phía của dãy phố.

Hàng ngày hai chiếc loa liên tục phát, suốt từ năm giờ sáng thể dục "tiếng thở" cho đến mười rưỡi đêm "tiếng thơ" hay "đọc chuyện đêm khuya".

Ngoài bốn cây bàng ấy, hai bên đường phố còn có hai dãy sấu rất lớn và một hàng phượng vĩ với cây me chạy dọc qua trước Ủy Ban huyện.

Chặn đầu và cuối của con phố huyện là hai cây gạo cao to lừng lững.

Đường, nhà, cây cối – phố huyện của hắn.

Thầy bu hắn mặc dù rất đông con nhưng gia đình hắn chưa phải chịu cảnh nghèo, mức sống ở bậc trung trung, đủ ăn.

Ấy là vì thầy hắn có nghề may.

Thầy hắn để một nửa gian nhà cạnh cổng mở cửa hàng may, nửa còn lại phía trong, mắc một chiếc võng.

Cơm nước xong, thầy hắn thường ngả lưng trên chiếc võng, đung đưa, kẽo cà kẽo kẹt.

Mặt tiền cửa hàng may được mở ra bởi 8 tấm cửa gỗ lùa, liền đó là bàn máy may.

Cạnh bàn may, là bàn cắt bằng gỗ có hộc tủ cũng với cửa cánh lùa.

Cái bàn này trông ra ngõ đi từ đường vào sân nhà hắn qua một cái cửa sổ khá rộng, nơi có giàn trầu bu hắn trồng.

Những dây trầu xanh ngắt, tốt tươi che rợp cả lối đi, loằng ngoằng bám cả vào tường bằng những túm rễ màu nâu nhạt, tua tủa.

Vậy là chỉ một gian nhà đầu hồi đã có đủ nơi làm việc sáng sủa và chỗ nghỉ ngơi của thầy.

Gian nhà giữa thầy hắn kê chiếc bàn thờ, trên đó bày bát hương, bộ đỉnh con nghê, chân nến bằng đồng thau.

Mỗi dịp Tết đến xuân về chị em hắn, đặc biệt là hắn được giao cho phải đánh bóng các đồ thờ cúng.

Hắn trộn tro với chấu rồi dùng giẻ cứ thế mà chà xát cho đến khi bộ đồ bóng lên, loang loáng.

Phía ngoài bàn thờ là một bộ phản rộng bằng gỗ mít đánh vecni màu cánh gián được kê ngay ngắn trên hai bộ niễng.

Đây là chỗ vừa để tiếp khách lúc ban ngày, vừa làm chỗ ngủ ban đêm.

Trong gian nhà còn lại kê một chiếc giường đôi bằng tre.

Cạnh giường có một lối nhỏ thông xuống nhà ngang.

Nhà ngang nối thông với nhà chính theo hình thước thợ.

Đó là một căn nhà hai gian.

Gian liền kề với nhà chính là nơi để quần áo, vắt trên các sào tre.

Dưới quần áo là nơi để bồ thóc, thúng gạo, nồi đồng, ấm đất, . . .

Gian còn lại kê chiếc giường của vợ chồng chị dâu cả, "kín đáo" bên trong một tấm ri đô "mỏng manh".

Đầu hồi bên kia của nhà ngang là một khoảng đất rộng mà thầy hắn trồng hai cây ổi, một cây ổi đào và một cây ổi mỡ.

Không biết thầy hắn trồng từ bao giờ mà hai cây ổi rất to, quả sai lúc lỉu.

Gối đầu đám đất có hai cây ổi là một căn nhà năm gian mà cả nhà hắn vẫn gọi là nhà sau vì nó ở sau thật.

Nhà sau hợp với nhà chính và nhà ngang thành hình chữ "U".

Hai gian đầu tiên của nhà sau là chuồng lợn nái và nhà cầu.

Gian tiếp theo là bếp và hai gian cuối đặt cối xay thóc, cối giã gạo, cày cuốc, đồ nghề nhà nông cùng nhiều đồ linh tinh khác.

Sát đầu hồi nhà sau là một bể nước mà thầy hắn xây để lấy nước mưa, đặt máng hứng từ mái nhà ngói của phòng thương nghiệp huyện.

Về sau này, khi hắn đã lớn, thầy hắn xây thêm cái giếng khơi ngay cạnh bể nước.

Giữa ba cái nhà là một cái sân khá rộng, ước chừng đến một trăm mét vuông.

Nhìn lại bức toàn cảnh nhà hắn những năm năm mấy, sáu mươi ở một phố huyện như thế cũng gọi là sung túc lắm.

Thầy hắn mất năm hắn đang mặc áo lính, ở mãi trong Tây Nguyên.

Hình ảnh người cha cần mẫn, chăm chỉ làm ăn, gánh vác cả gia đình có mười người con vẫn thường hiển hiện như lúc còn sống, làm việc, đi lại chỗ này chỗ kia trong nhà.

Lúc nào hắn cũng nhớ thầy, một ông thợ may phố huyện cao ráo, trắng trẻo, đẹp trai, môi lúc nào cũng đỏ như son với cặp lông mày đen đậm vuốt ngược rất dài ra phía sau, quắc thước và nghiêm nghị.

Trông vậy mà không phải vậy, thầy rất hiền lành ít nói và dịu dàng, hết lòng yêu vợ thương con.

Hơn nữa, ông còn có rất nhiều "tài lẻ".

Lúc sinh đứa con thứ mười (là hắn đấy) ông mới bốn mươi tuổi.

Khi còn bé tí hắn đã rất tự hào với đám bạn bè vì có người cha là "Hội trưởng hội bát âm Tầu".

Hàng tuần hay hàng tháng gì đó, đến hẹn, bạn bè trong hội bát âm lại tập trung đông đủ tại nhà hắn để hòa tấu nhạc "Hò xừ xang xê cống xê xang hò, 'lả', hò xừ xang liu hồ công . . . .".

Thầy hắn chơi giỏi các nhạc cụ nhị, hồ, nguyệt và măng-đô-lin (mandoline).

Còn các bạn của thầy thì chơi khá đàn bầu, trống cơm, sáo trúc, thanh la, . . .

Mỗi lần hội bát âm tập luyện hòa tấu, cả người lớn và trẻ con kéo đến xem chật cả cửa.

Khi ấy hắn thấy mình oai lắm, người xem chỉ được đứng ở cửa, còn hắn thì chắp tay sau đít, đi đi lại lại vênh vang trong nhà, canh chừng những đứa trẻ thò lò mũi.

Đứa nào luồn dưới chân người lớn để chui vào là nó quát, nó đuổi ra liền.

Ngoài giỏi nghề chính là may, thầy hắn còn làm được rất nhiều việc khác, rất thành thạo hàn xoong, gò nồi, gò thuyền, đan thúng mủng giần sàng, giặm giỏ, . . .

Mỗi khi ông làm, hắn thường mon men bên cạnh phụ giúp và học lỏm.

Nhờ thầy hắn mà sau này hắn cũng nhiều tài lẻ ra trò.

Thầy hắn có tên thật là một cái tên đẹp.

Vậy mà mọi người trong làng đều gọi ông là Chất, ông trưởng Chất.

Ừ thì thầy hắn là con trưởng của cụ Thông Vũ nên kêu là trưởng, nhưng tại sao lại gọi là Chất thì hắn không biết.

Sau thầy hắn là chú Hiền, cô Câu, cô Nhỏ.

Khi lớn lên, nó nghe kể lại, xưa ông bà nội dòng dõi nhà quan.

Rồi ông nó cũng làm quan đến chức thông phán (thường gọi tắt là thông hay phán – chức thư ký một ngành trong cơ quan nhà nước thời Pháp thuộc), thuộc giới nho sỹ, trí thức có máu mặt trong làng xã.

Không biết nguyên nhân vì đâu mà ông bà hắn mất sớm, bốn anh em bố hắn côi cút nuôi nhau.

Lại nói, bốn anh em thầy hắn còn có một người cô ruột lấy chồng là cụ Ký dưới Hải phòng, gọi là cụ ký Lập.

Hai cụ khá giả nhưng không có con.

Chồng mất sớm, cụ ký bà ở vậy buôn bán và cho vay lãi.

Thương các cháu mồ côi, cụ đón các cháu xuống Hải Phòng nuôi cho ăn học.

Thầy và chú hắn là con trai nên được cho học đến khi lấy được bằng Xe-ti-phi-ca (Certificat).

Thời bấy giờ, bậc tiểu học gồm hai cấp là Ấu học và Tiểu học với 6 lớp từ thấp lên cao: Đồng ấu (lớp Năm), Dự bị (lớp Tư), Sơ đẳng (lớp Ba), lớp Nhì năm thứ nhất, lớp Nhì năm thứ hai và lớp Nhất.

Cuối năm học lớp Ba, học sinh thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược (Primaire Elémenteire), cuối lớp Nhất, thi lấy bằng Tiểu Học Yếu Lược (Certificat d'Etudes Primaire Franco – Indigène).

Sau đó cụ Ký tập cho hai cháu trai theo học nghề may.

Còn hai người cô hắn được cụ dạy cho học buôn bán.

Một lần cụ Ký Lập về quê ăn giỗ anh, cũng là dịp tìm mai mối cho cháu trưởng.

Mấy người trong họ dẫn tới cho cụ xem mặt một cô gái.

Cụ nhìn cô, thấy nước da trắng trẻo, người cao ráo, trông nhanh nhẹn.

Cụ lại được nghe kể cô ấy giỏi giang buôn bán tảo tần, một mình nuôi bốn đứa em.

Cụ lập tức nhờ mai mối xin cưới hỏi cô gái cho cháu trai.

Thế là Thầy hắn và bu hắn nên vợ nên chồng từ ngày đó.

Sau khi lấy vợ, theo lời khuyên của cụ Ký, Thầy hắn về quê thuê một gian nhà cấp bốn nhỏ xíu ở khu Văn Chỉ, ngay phố huyện quê hắn, gần trường cấp hai sau này.

Cụ Ký bán chịu cho thầy hắn chiếc máy khâu, gọi là làm dấn vốn mở cửa hàng may.

Chồng mở hiệu may, vợ buôn bán, hai đôi tay xây dựng cơ đồ.

Chú Hiền, chú ruột hắn cũng được cụ Ký hỏi cưới một cô gái con nhà hàng xóm và cũng bán chịu cho một cái máy khâu để mở hiệu may tại Hải Phòng.

Từ đó chú định cư hẳn ở dưới Phòng.

Cô Châu buôn bán ở gần ga Phòng, phải lòng một anh lái tầu hỏa xa, đưa về ra mắt.

Cụ Ký thấy ưng, đồng ý gả.

Cô theo chồng về định cư buôn bán ở Thái Nguyên.

Vì chồng cô là tài xế lái máy nên về sau mọi người gọi là cô chú Tài.

Cô út của hắn là cô Nhỏ được cụ Ký gả cho một chú làm công nhân trong cảng.

Hai người sinh được một đứa con trai thì chú bỏ vợ con mà lấy vợ hai.

Cô Nhỏ hận lắm, ôm con về Ân Thi nương nhờ họ hàng và buôn muối tại đó.

Một lần để con ở nhà đi chợ, bất ngờ máy bay Pháp bay đến bỏ bom vào chợ, cô bị thương nặng.

Hay tin, thầy hắn và chú Tròn, em rể mẹ hắn, đón xe xuống, đưa cô vào viện.

Được mấy ngày thì cô trút hơi thở cuối cùng.

Thi hài của cô được chôn ngay tại Ân Thi.

Hài cốt sau đó được bốc về chôn ở Nớ.

Sau này, Nhà Nước lấy đất, phần mộ cô được đưa về chôn tại nghĩa trang ở Mỹ Hào.

Khi Pháp đánh chiếm Ân Thi, con cô Nhỏ được bà con bế đi tản cư rồi phiêu bạt, mất tăm tích mấy chục năm.

Mãi sau này hai chị em hắn đi tìm mới thấy và người ấy mới đoàn tụ lại được với họ hàng.

Bu hắn cũng chẳng may mắn gì hơn.

Theo nó (xin được dùng thêm đại từ "nó" để thay cho "hắn") được nghe kể lại, ông ngoại nó lấy vợ cả đẻ được hai người con gái là bác Thức và bác Lực.

Sau đó ông lấy thêm vợ hai là bà ngoại nó, hy vọng đẻ được con trai.

Trong mười năm, bà ngoại nó liên tục sinh cho chồng được năm người con, đáng tiếc, cũng đều là gái.

Mẹ nó là cả tên là Tỵ, dì thứ hai tên Lạp, dì ba là Luật, dì tư là Thiêm và dì năm là Gắng.

Bu nó kể lại, hồi bấy giờ, nhà ngoại ở thôn Sài trong căn nhà cấp bốn.

Xung quanh nhà có rất nhiều ao, bụi tre.

Trong vườn rất rộng, có cây sung, lộc vừng và nhiều cây cối khác.

Một ngày mùa đông lạnh lẽo, gần tết, ông ngoại hắn đang đi buôn bè ở mạn ngược thì nghe tin vợ sắp đẻ, đây là nói bà ngoại hắn sắp đẻ người con thứ năm.

Ông ngoại hắn hí hửng gom góp tiền bạc, xách tay nải và mua ít quà về ăn tết, chờ vợ đẻ.

Vợ ông trở dạ đúng lúc gần giao thừa.

Ông kính cẩn lau dọn ban thờ, bầy lễ vật để cúng.

Ông đặt lên ban thờ một nải chuối xanh, mấy quả cam, quả táo lấy ở vườn nhà, rồi cung kính thắp mấy nén nhang.

Trước khi lầm rầm khấn, ông lại sai bu hắn đi mời bà đỡ.

Rồi ông nhắm nghiền mắt cung kính cầu xin Trời Phật, Tổ Tiên phù hộ, ban cho ông một mụn con trai.

Đang cầu khấn, bỗng ông nghe thấy ở buồng trong oe oe tiếng khóc, trống ngực ông đập thình thịch, cúi đầu vái lia lịa, mong mỏi lời khẩn cầu được linh thiêng.

Nhưng im ắng quá !

Không thấy ai nói gì.

Ông hồi hộp gọi giật vào buồng trong:

- Tỵ lớn, Tỵ con, bu mày đẻ em trai phải không ?

Im phăng phắc không một tiếng trả lời, chỉ thấy tiếng khóc oe oe và tiếng nấc nghẹn ngào của vợ ông.

Bà đỡ vỗ về vợ ông:

- Có gì mà phải khóc, một của một con ai từ, mẹ tròn con vuông thế là may mắn lắm rồi.

Ông nhìn vào cửa buồng thấy cái Tỵ lớn, Tỵ con và hai em nó, mắt la mày lét, hết nhìn ra ông lại nhìn bà và bà đỡ trong buồng, ông hét lên:

- Tao hỏi sao chúng mày không nói ?

Bu mày đẻ con trai phải không ?

Bà đỡ bấy giờ lòng khòng bế dứa bé còn đỏ hỏn, quấn trong cái tã cũ của các chị để lại, chầm chậm bước ra bảo:

- Mừng cho cô ấy, mẹ tròn con vuông.

Mừng cho cậu thêm một công chúa nữa.

Ông nó nghe xong sững lại như trời trồng.

Cái chén nước trong tay ông đang cầm rơi xuống nền nhà nghe choang một tiếng lạnh coong.

Tay ông run run ôm đầu, từ từ ngồi xuống.

Ông không nói năng gì, mắt ầng ậc nước nhìn ra bụi tre bên bờ ao rau muống trước cửa.

Mưa bụi đang giăng mù, trời rét tái tê, lòng người se sắt.

Bà đỡ đứng bên nói:

- Thế bố nó đặt tên cho con hĩm con đi nào.

Ông im lặng rất lâu không nói, chỉ ngước mắt nhìn cụ đỡ, nhìn bốn đứa con gầy còm sợ sệt rồi nhìn lên ban thờ.

Ông đứng dậy, run run châm ba nén nhang, cắm tiếp, rót chén rượu, chắp tay lầm rầm khấn:

- Tổ Tiên và thầy bu tha tội, thầy bu sinh ra con là con trai độc, con cũng muốn thầy bu hưởng cháu đàn, nhưng con đã lấy hai lần vợ, bẩy lần sinh, lại toàn con gái.

Con bất hiếu không sinh được người nối dõi tông đường và thờ cúng Tổ Tiên.

Con là thằng bất hiếu.

Nói xong, ông vái ba vái, quay sang bà đỡ ông bảo:

- Cụ cứ đặt nó là cái Gắng cũng được.

Nói xong, ông vái ba vái, quay sang bà đỡ ông bảo:

- Cụ cứ đặt nó là cái Gắng cũng được.

Người ông rũ xuống, hai tay vẫn ôm đầu.

Một lúc sau ông ngẩng lên cầm chai rượu rót ra đầy bẩy chén.

Ông lẳng lặng uống ực bẩy hơi và lầm rầm nhắc tên bẩy người con gái.

Xong, ông cầm cả chai, ngửa cổ tu ừng ực, mắt ông đỏ đọc, trán toát mồ hôi.

Thấy vậy, Tỵ lớn bảo:

- Thầy ơi !

Thầy đừng uống nữa, để con bê mâm mời cụ đỡ, thầy bu và các em ăn cơm.

Ông quay lại nhìn, rồi từ tốn bảo:

- Con dọn cơm mời cụ đỡ.

Bu và các con ăn đi, thầy không đói.

Ông ngồi thừ trên ghế, cúi xuống vê một điếu thuốc lào cho vào nõ.

Ông châm đóm vào ngọn lửa trong cái đèn cầy bằng vỏ chai, để mãi, đóm cháy tới tận tay ông mới biết.

Rít hết điếu thuốc, ông lại tợp một hớp rượu rồi mới chầm chậm nhả khói.

Làn khói vần vụ, đùng đục, bảng làng lan tỏa trong đêm đông buốt lạnh.

Nửa đêm hôm đó khi cụ đỡ đã ra về, trong khi cả nhà đang ngủ say, Ông khật khưỡng đi vào buồng vợ, đứng im trong bóng tối, nhìn vợ và năm đứa con đã ngủ.

Rồi ông bước ra ngoài, thu xếp tay nải.

Xong, ông trở lại ban thờ, tần ngần thắp mấy nén nhang.

Nước mắt ông cứ ứa ra, chảy mãi.

Bỗng ông hét lên:

- Gần hết đời người, hai đời vợ, bẩy đứa con gái, thế thì còn thờ cúng cái nỗi gì.

Mồm ông hét, tay ông gạt đi hết bát hương và hoa quả.

Ông gầm lên như con thú bị thương, rồi ông lấy cái rổ lia hết bát hương, hoa quả và đồ thờ cúng vào đó, bê tất cả ra bờ ao.

Mắt ông đầy nước, giọng khàn khàn chua xót, nghẹn ngào, ông hét lên:

- Con bất hiếu rồi bố mẹ ơi !

Nói xong ông hất tòm cái rổ đồ thờ xuống ao.

Ở trong nhà, sáu mẹ con giật mình vừa tỉnh giấc.

Vợ ông tuy còn đang yếu, vẫn khóc dấm dứt mà bảo ông:

- Thầy nó đừng buồn, cái số mình nó thế.

Lần sau tôi sẽ đẻ cho thầy nó một đứa con trai.

Ông quay lại gầm lên:

- Còn sau sau gì nữa.

Hết sức hết đời rồi còn đâu !

Đoạn ông cầm bọc tiền nhỏ đặt vào bên cạnh vợ, vuốt tóc mấy đứa con.

Không nói năng thêm lời nào, ông lặng lẽ xách tay nải ra đi.

Từ đó cả nhà không bao giờ nghe tin tức gì về ông, chẳng một ai biết ở ông đâu.

Còn lại mình bà ngoại hắn với năm đứa con còn nhỏ, bà phải lặn lội sớm khuya kiếm ăn, đắp đổi qua ngày.

Rồi thì, phần vì hậu sản, phần vì buồn nhớ chồng, phần vì nhà nghèo không đủ ăn để chèo chống tiếp tục, cố gượng đến khi dì út hắn bốn tuổi, bà hắn đành chịu nhắm mắt suôi tay, bỏ lại năm đứa con mồ côi mồ cút từ đó.

Bấy giờ bu hắn đã 18 tuổi, đặng chẳng đừng, thay bố mẹ nuôi đàn em còn đang lít nhít.

Nhà nghèo không có vốn nhưng được cái vườn ao rất rộng.

Bu hắn bắt đầu xoay xở ngay từ cái vốn có này.

Bà hướng dẫn các em hái rau muống cũ, thả dây muống mới, vớt bèo, bứt quả mang ra chợ bán.

Được cái chị em thương yêu đùm bọc nhau, các dì hắn răm rắp nghe lời chị, chăm chỉ kiếm tiền.

Số tiền kiếm được, trừ ăn tiêu dè sẻn mỗi ngày cũng bỏ ra được đôi chút.

Tích tiểu thành đại, sau hai năm cũng có một chút vốn.

Bu nó đong thóc về cho năm chị em làm hàng xáo.

Năm chị em xoay vần cả ngày xay lúa, giã gạo, giần sàng rồi mang ra chợ bán, cám để nuôi lợn, trấu thì để đun.

Đâu vào đấy, chẳng bỏ đi tí nào.

Sau khi lấy thầy nó, bu nó chuyển về ở nhà chồng cũng ngay thôn bên cạnh nên vẫn thường xuyên qua lại bảo ban các em.

Những năm sau, bu nó lần lượt gả chồng cho bốn người em.

Dì Lạp được bu nó gả cho ông Thânh, người ở Đào Du.

Ông Thanh đã có một đời vợ và ba đứa con trai nhưng vợ đã chết.

Dì Lạp, sau đó cũng đẻ được thêm ba đứa con trai nữa.

Dì Luật, xấu gái nhất nhà vì có hàm răng "vổ vỉu", lại đen gầy thì bu nó gả cho chú Đương, người khá đẹp trai nhưng nghèo và vai vế thấp.

Dì Thiêm được gả cho chú Ân ở thôn Sài.

Gia đình chú là cốt cán, rất nghèo nên đồng ý ở rể để coi chăm vườn ao nhà cửa ông bà ngoại nó để lại.

Dì Thiêm chú Ân đẻ được mười người con, sau này phương trưởng cả.

Dì út Gắng nó lấy chú Tròn, vì thế sau này được gọi là Gắng Trọn.

Chú dì đã được một người con gái nhưng mẹ chồng dì quá khắc nghiệt đã đuổi dì đi.

Dì bỏ lên Thái Nguyên buôn bán và chết ở đâu không rõ.

Đó là vào những năm 1929 quân pháp chiếm đóng hầu hết miền bắc Việt Nam, làng nó cũng không ngoại lệ.

Tây đóng đồn ngay trong huyện lỵ, dựng trại lính, xây lô cốt kiên cố.

Đến nay, còn đó, lô cốt sừng sững đầu làng, cách nhà nó khoảng 200 mét.

Ngay rìa đường số Năm, là một ụ lô cốt bằng bê tông cốt thép cao tầm 3 mét, rộng khoảng 30 mét vuông, tường bê tông dày 60 phân.

Năm họng châu mai hình phễu cách mặt đất khoảng 50 phân, đen ngòm như mắt những con cú vọ, gườm gườm soi về bốn phía, kiểm soát toàn bộ trục đường Năm và con đường vào làng phía đối diện.

Bây giờ, ai đi trên đường Năm, vẫn có thể nhìn thấy lù lù khối lô cốt đó nằm cách đường chừng dăm chục mét.

Quán thợ may thầy bu nó thuê ở Văn Chỉ là căn nhà cấp 4 có hai gian hai chái nằm ngay phố huyện gần một biệt thự 3 tầng của ông cả Điền, người được cho là giầu có, tầng lớp tiểu tư sản ở quê nó lúc bấy giờ.

Quán may lợp lá tranh, vách đan thưa bằng nứa, tường được trát bằng rơm bằm trộn với bùn.

Cửa đi và cửa sổ đều là cửa xương trụ, phên nứa.

Thầy nó kê một cái máy khâu hiệu Xanh-de (Singer) đã cũ.

Ở phía trên, lùi vào phía sau treo một chiếc sào tre dài tầm hai mét, vắt ngay ngắn những tấm vải các mầu.

Trên vách bên trái ngăn với buồng trong có đính nhiều móc để treo quần áo đã may xong.

Thôi thì đủ loại, quần áo tứ thân, áo cánh, quần chân què, áo bông trần, áo the, khăn xếp, áo sơ mi, áo măng tô (manteau), com lê (comple), áo đờ mi (áo vest không có quần đồng bộ), . . . .

Vì là thợ may ở thành phố về, có tay nghề cao nên thầy nó khá nhiều việc.

Ban ngày bu nó bán hàng ngay trước cửa nhà, gần chợ, ban đêm ngồi đơm khuy, thùa khuyết trên cái phản kê bên gian trong.

Tại căn nhà này các anh chị hắn lần lượt ra đời.

Đầu tiên là chị Biên, chị Dụng rồi đến anh Bính.

Sau anh Bính là chị Thùy.

Năm đó, chị Thùy mới lên ba, đang tập nói bi ba bi bô, trông rất xinh, ai thấy cũng yêu.

Vậy mà đùng một cái chị ra đi vì căn bệnh đậu mùa.

Hắn nghe kể lại, chị chết thương tâm lắm.

Căn bệnh quái ác đã làm chị nó mụn nhọt đầy mặt, đầy đầu, mắt toét rỉ nhoèn.

Các nốt mụn cứ đóng vẩy rồi lại chảy nước vàng nhoe nhoét, ruồi nhặng bâu đầy, tay chân nứt nẻ.

Chị nó ngứa quá cứ gãi đầu gãi mặt, bóc vẩy mụn ra mà cho vào miệng nhai tem tém.

Thầy bu nó chạy ngược chạy xuôi tìm thầy, tìm thuốc cứu chữa cho con.

Nhưng vệ sinh không giữ được, chị nó bị nhiễm trùng quá nặng.

Sau một tuần ly bỳ sốt cao, chị nó đã ra đi.

Liên tục những năm sau đó thầy bu nó sinh thêm được ba người con gái nữa, Đó là chị Thơ, chị Vận, chị Thất.

Kinh tế gia đình bấy giờ đã khá giả, thầy nó mở rộng thêm cửa hàng và nhận dạy nghề cho ba ba học trò, là anh Bôn, anh Mài và anh Điểu.

Bu nó mở thêm sạp bán vải và tạp hóa.

Thầy bu hắn sinh được sáu chị lại chỉ có một anh Bính là trai, nên anh được cưng chiều hết cỡ.

Anh nó được đi học Quốc ngữ ở trường huyện.

Bấy giờ, trường huyện chỉ dành cho con trai các gia đình khá giả.

Vậy là anh nó trở thành một công tử con nhà giầu hay cậu ấm con quan, một cậu công tử bé nhỏ, trắng trẻo, đẹp trai, môi đỏ, tóc bồng.

Điệu đà và đúng kiểu cách lắm, anh nó đi học có "con sen", "thằng ở" đưa đón.

Cậu ấm toàn quyền ăn sáng hoặc ăn quà vặt ở tất cả các tiệm to nhỏ của phố huyện, không cần hạn chế, chỉ việc ký sổ.

Cuối tháng bu nó đều vui vẻ thanh toán hết.

Sau thời gian tích cóp, lưng vốn đã khá khá, bu nó đã quyết định mua một mẫu ruộng ở khu bốt đá (đường đi vào Trại Lớn 35 và xã Hưng Long ngày nay).

Bấy giờ anh cả nó đã 13 tuổi, xét cần phải có người để làm ruộng và quán xuyến việc nhà, bu nó đã hỏi cưới vợ cho anh nó là chị Mây con cụ hai Năng, một gia đình nông dân nhưng giầu có và nề nếp, to họ, dài dòng.

Chị Mây đã gần 17 tuổi, hơn anh nó ba tuổi rưỡi.

Ở cái tuổi dậy thì, chị Mây đẹp lắm.

Hôm cưới, chụp ảnh trước mái nhà tranh, chị mặc áo tứ thân, anh mặc áo lương, đội khăn xếp, trông đúng là đôi đũa lệch.

Chị Mây thì cao, đầu gần chạm đến mái tranh, anh Bính thì tuy trắng trẻo đẹp trai nhưng gầy còm, thấp bé, đứng chỉ cao đến ngang ngực chị Mây.

Vào khoảng năm 1950.

Chị cả Biên lúc bấy giờ đã mười bẩy tuổi.

Thấy anh Bôn, người trò học nghề cũng con nhà tử tế, bản thân anh hiền lành, chịu khó, lại có tình ý với chị nên cuối năm ấy thầy bu nó đã đồng ý gả chị cho anh Bôn.

Hai năm sau, chị thứ hai của nó là chị Dụng đã lớn phổng phao và rất xinh xắn, được người mai mối, thầy bu nó cũng đồng ý gả cho anh Chí, con cụ Cao ở xã Phùng Chí Kiên (tên xã về sau này), cách nhà khoảng chừng cây số.

Để ổn định và phát triển buôn bán, thầy bu nó đã tậu mảnh đất mặt phố của cụ lang Bưu khu đất rộng khoảng ba trăm mét vuông, mặt tiền hướng nam, rộng chừng hơn chục mét.

Trên khu đất đó có một căn nhà tranh cấp bốn, nơi mà hắn sinh ra sau này.

Trong khi chờ đợi để xây cất cho đàng hoàng, thầy bu nó mua thêm một mẫu ruộng, gọi là ruộng chéo, vì thửa ruộng nằm giữa ngã 3 hình chữ y nối từ phố Thứa đi vào.

Bên trái rẽ sang làng Dâu, Cẩm Sơn, Cẩm Xá.

Bên phải đi qua Phùng Chí Kiên, qua Dương Quang, qua ga Lạc Đạo thuộc huyện bên.

Thầy bu nó bỏ tiền ra thuê người đào đất, đắp lò đốt gạch.

Mỗi khi ra lò, gạch đẹp được xếp thành kiêu, bán cho thương lái.

Gạch non, gạch xấu được chở về khu đất mới mua để chuẩn bị xây nhà.

Các chị các anh lớn của nó thường được huy động kéo xe bò xuống Sặt mua than về nặn.

Sau đó lại dùng xe bò chở gạch xấu về nhà.

Đây là giai đoạn làm ăn hưng thịnh và tràn đầy hạnh phúc của gia đình nó.

Cũng giai đoạn này bu nó sinh thêm anh Bát và chị Cửu.

Trước sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực và quân du kích, giặc Pháp càng ngày càng bị co cụm, thu hẹp lại.

Vì vậy chúng càng điên cuồng trả đũa, hòng gây sức ép cho việc đàm phán của chính phủ ta và Pháp tại hội nghị Giơ-ne-vơ (Genève).

Chúng mở các cuộc càn quét quy mô lớn vào các địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại sự kiểm soát.

Chập tối một ngày đầu đông năm 1952, được cán bộ Việt Minh thông báo yêu cầu bà con toàn huyện đi "tản cư" đề phòng giặc Pháp tấn công, thầy bu nó thu xếp đồ đạc, gồng gánh các con cùng xóm làng đi "tản cư" sang cầu Tu Thúy Trúc, một vùng hẻo lánh trong địa phận huyện Ân Thi.

Các anh chị lớn cùng thầy nó đẩy xe bò và mang vác đi trước.

Bu nó đi sau cùng, gánh đôi quang, một bên có đầu máy khâu Xanh-ze cùng bọc tã lót, bên còn lại bu nó đặt chị Cửu.

Bấy giờ chị Cửu mới được gần một tuổi nằm ngủ ngon lành, gọn trong thúng, xung quanh cũng chèn tã lót, bên trên che miếng ni lông tránh mưa.

Trời tối nhờ nhờ, rét cắt da cắt thịt, mưa bụi giăng mờ, đường trơn, lầy lội, lép nhép.

Trên trời thỉnh thoảng lóe lên quầng pháo sáng, xa xa đoàng đoàng vọng lại tiếng đạn hỏa châu, tiếng chiu chiu, bùm bùm của đạn moóc-chiê (moochies – súng cối), tiếng đì đùm của các loại súng trường, súng kíp.

Hối hả bấm chân, ngã nghiêng, ngã ngửa, bu nó lầm lũi đi theo đoàn người.

Bỗng ầm ầm chiu chíu, đạn moóc-chiê nổ rền vang trên phố.

Mọi người tán loạn, tiếng hò hét than khóc như ri.

Cụ đỡ vừa ôm tay nải đi sau vừa hét:

- Mẹ cái hĩm con xuống hầm đi !

Bu nó tất tả lao bừa vào một cái hầm tăng-xê còn trống, với tay lôi một bên quang gánh có đứa con ở trong đó xuống hầm.

Rồi bu nó hổn hển kéo vội nắp hầm lại.

Bên ngoài pháo sáng rực trời, tiếng đạn pháo ca-nông (pháo nòng dài) và moóc-chiê càng ngày càng gần.

Bu nó chỉ biết lầm rầm cầu Trời, khấn Phật.

Bỗng một tiếng nổ rất lớn ngay trên đầu, viên đạn nổ sát bên cạnh hầm, khét lẹt, đất đá văng rào rào.

Sau đó là sự yên ắng đến rợn người.

Một lúc lâu, thấy đã yên, mọi người gọi nhau:

- Hết rồi, yên rồi, lên đi !

. . . . thấy đã yên, mọi người gọi nhau:

- Hết rồi, yên rồi, lên đi !

Bu nó ngoi ngóp rũ đất cát đầy đầu, đầy thúng, chỗ chị nó nằm.

Thế mà khi ra khỏi hầm, rũ mảnh áo mưa trong bóng đêm bu nó lờ mờ nhìn thấy đứa con gái vẫn đang "ngủ li bì".

Yên tâm, sốc quang gánh lên vai, bu nó tiếp tục chạy.

Gần sáng bu nó tới được nơi sơ tán gặp lại các con.

Hạ quang gánh xuống, bế chị Cửu nó ra cho bú, bu chựt giật thót người.

Trời ơi !

Chị Cửu nó bị mảnh đạn găm vào người đã nằm chết cứng trong thúng từ bao giờ.

Bu nó thét lên rồi chết ngất tại chỗ.

Mấy anh chị nó cùng nhào tới rồi khóc ré lên một lượt.

Chị Cửu nó đã ra đi như thế !

Cả nhà đã đau buồn quá sức lại còn thêm nỗi lo về thầy.

Thầy nó kéo xe bò (loại xe kéo tay có hai bánh như xe cải tiến bây giờ nhưng to hơn, được làm bằng gỗ, bánh xe cũng bằng gỗ có đai sắt, có độ chục cái nan hoa cũng bằng gỗ) trở lại chuyến cuối cùng để nhặt đồ đạc mà mãi giờ này này vẫn chưa thấy tới.

Ai nấy bồn chồn, hết đi ra lại đi vào, ngó trước, ngó sau, ruột gan như có lửa đốt.

Mãi đến gần trưa hôm sau, một chị ngóng ra đầu làng mới thấy thầy nó phờ phạc, quần áo lấm lem, ướt rượt, đang còng lưng kéo cái xe bò lọc cọc vào làng.

Các anh chị nó chạy ùa ra đón thầy.

Mọi người bỗng giật mình sửng sốt, bên trên đống chăn bông, quần áo, nằm thẳng đuỗn một cậu thiếu niên trạc mươi tuổi, quấn băng đầy mặt, đầy người.

Anh chị nó nhao nhao hỏi thì thầy nó bảo:

- Đẩy xe vào nhà đi, khênh nó lên giường đi đã.

Thầy sẽ nói chuyện sau.

Thấy chồng về bu nó òa lên khóc.

Mấy anh chị nó được thể cũng gào theo.

Thầy nó không hiểu chuyện gì, đến gần bu nó hỏi:

- Ở nhà có chuyện gì hay sao ?

Bu nó nói nghẹn ngào trong nước mắt và giở chiếc khăn vuông chùm chị Cửu:

- Cái Cửu bị trúng mảnh đạn, chết rồi !

Thầy nó sững lại hốt hoảng, lập cập quỳ xuống, tay run run bế chị nó lên.

Nước mắt ông chảy ra chan chứa, không khóc nổi thành tiếng.

Ông nâng mặt chị nó lên hôn tới tấp:

- Giời ơi !

Sao lạnh ngắt thế ?

Cửu . . . con ơi . . . !

Con ơi . . . !

Chị Cửu nó được gói trong lớp tã mới, bên ngoài quấn một chiếc khăn hoa nhỏ, cái khăn mọi ngày vẫn đắp cho chị.

Thầy nó sửa lại hòm gỗ thông đựng đồ làm cỗ áo cho chị.

Cả nhà nó lặng lẽ khiêng chị nó ra bụi tre đầu làng.

Một cái hố nhỏ đón chị nó về với đất.

Thầy nó vần một hòn đá to đặt vào chân mộ để đánh dấu.

Nó mất thêm một người chị từ đó.

Cậu bé bị thương mà thầy nó đưa về trên chiếc xe bò tên Nguyễn Văn Can, cũng là con của người cùng hàng huyện.

Thầy nó kể, đêm hôm đó sau khi về nhà, nhặt được vài cái chăn và mớ quần áo cũ, rồi thầy nó hối hả kéo xe chạy dọc đường Năm.

Lúc đó quân Pháp đã tràn được bộ phận cơ giới đi đầu vào làng quê nó.

Đạn pháo đã ngừng nổ, thay vào đó là tiếng rầm rầm của xe ca-mi-ông (camion - xe tải - một số người đọc sai thành xe "cam nhông") nhà binh chạy rầm rầm.

Đang kéo xe chạy trong bóng đêm nhập nhoạng, thầy nó giật mình khi thấy bên vệ đường một đống đen lù lù bỗng nhiên động đậy.

Thầy dừng xe tới gần xem kỹ, thì ra đó là một thiếu niên đang nằm rên rỉ vì bị xe nhà binh chạy qua đụng phải, toàn thân be bét máu.

Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, thầy liền cúi xuống bế cậu bé đặt lên trên đống quần áo cũ.

Ông rạp người vội vã kéo xe chạy thật nhanh về nhà thương Bần cách đó chừng ba cây số.

Tại nhà thương, các bác sỹ, cả người Việt lẫn người Pháp đều xúm vào cứu chữa.

Cũng may vết thương không có gì quá nghiêm trọng, bệnh viện đã băng bó lại cho cậu.

Thầy nó xin cho đưa về rồi cứ thế kéo xe, chạy thẳng về nơi sơ tán.

Những cuộc càn quét của quân Pháp gặp phải sự chống trả mạnh mẽ của bộ đội chủ lực và du kích.

Rồi dần dần ta từng bước đẩy lùi được nhiều cuộc hành quân càn quét của chúng.

Vì thương vong quá lớn, chúng đành rút về cố thủ ở bốt Mỹ Hào.

Cái bốt đó bị ta bao vây xung quanh và khóa chặt.

Làng nó hoàn toàn do ta kiểm soát.

Thầy nó là đội viên du kích hoạt động ngầm từ lâu, cho nên, sau khi ổn định nơi sơ tán cho vợ con, ông trở lại làng để tham gia chiến đấu, lâu lâu mới tạt về thăm nhà.

Rồi đến lượt bu nó, vì buôn bán vải và hàng tạp hóa, bu thường xuyên mang hàng cho lính nên hiểu rõ đường ngang ngõ tắt và nắm tin tức địch.

Không biết bu nó tham gia hoạt động từ bao giờ mà bây giờ là tổ trưởng tổ địch vận.

Bu nó giao phó nhà cửa và các con nhỏ cho các đứa lớn để trở lại phố huyện tham gia chuẩn bị việc đánh đồn, phá bốt.

Trong căn nhà cấp 4 thầy bu nó thuê, dưới cái bàn thùng đựng đồ may, khi mở cái cửa lùa, chui vào gạt vải vụn, dỡ ra tấm ván đáy sẽ hiện ra một căn hầm bí mật.

Đây là căn hầm thường xuyên nuôi giấu cán bộ nằm vùng như ông Bảy Đen, ông Lý Quỳnh, ông Tài Thức (anh rể bu nó), . . .

Đặc biệt lúc bấy giờ có ông Báu, người ở làng Vang làm chỉ huy du kích được tổ chức bố trí tại nhà nó thường xuyên, giả làm học sinh học may kiêm ông đồ dậy chữ nho trong bộ y phục áo the, khăn xếp để hoạt động công khai.

Chính những người này đã hướng dẫn và kết nạp bu nó vào làm trong tổ quân báo.

Bu nó thường đưa đồ vào trại lính, bí mật theo dõi, ghi chép tỷ mỉ theo hướng dẫn của tổ công tác để đêm đến báo cáo tình hình địch cho tổ.

Một tối nọ, theo lệnh cấp trên, ban chỉ huy du kích bố trí gặp chỉ huy chủ lực tại nhà nó để nhận kết quả báo cáo tình hình địch và bàn ngày giờ quyết định đánh đồn.

Để che mắt địch, bu nó làm mâm cơm thịnh soạn, gọi là nhà có giỗ để mọi người ra vào cho hợp lẽ.

Theo lệ thường, khoảng từ 8 đến 9 giờ tối Pháp cho quân đi lục soát từng nhà.

Hôm đó một tên thầy cai người Việt và hai lính khố đỏ vào nhà nó.

Thầy bu nó ra tận cửa đon đả mời vào, kéo thêm ghế, lấy thêm bát mời chúng cùng uống rượu.

Uống xong chén đầu bu nó kính cẩn, tươi cười mời các quan đi xét nhà.

Tên cai đội cười nói:

- Thôi !

Hôm nay nhà có giỗ, cả nhà cứ ăn uống tự nhiên.

Ai chứ nhà anh chị đây chúng tôi lạ gì, thân với quan đồn lắm, không phải xét.

Xin anh chị cho chúng tôi chén nữa để chúng tôi còn đi tiếp.

Câu nói vô tình này của tên cai đội đã giải thoát được nguy hiểm trước mắt.

Ai ngờ, nó lại mang đến nhiều hệ lụy cho thầy bu hắn sau này.

Chỉ ít ngày sau đó, quân chủ lực và quân du kích bất ngờ đáng úp đồn vào giữa đêm khuya.

Thầy bu nó mỗi người dẫn đường cho một cánh quân tung hoành trong cái trại lính ở phố nó.

Trận đánh kéo dài đến gần sáng thì quân ta làm chủ hoàn toàn.

Cái đồn lính bị san phẳng.

Đến năm năm tư, theo hiệp định Giơ-ne-vơ, quân Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc.

Người dân quê nó cũng như các vùng quê khác vui sướng không bút nào tả xiết.

Mọi người dân từ chỗ tản cư được trở về nhà và thôn xóm của mình.

Ở quê nó tưng bừng lắm, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp mọi nơi, trống ếch tà rành . . . , tà rành . . . thật là rộn ràng trong ngày mừng giải phóng.

Nhà nó cũng như mọi nhà khác rộn rịch bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình với tất cả niềm vui sướng, niềm tin và hy vọng.

Sau khi đã đốt đủ gạch, mua đủ vôi, cát, tre nứa, thầy nó cho xây một cái nhà ba gian rồi xây tiếp cái nhà ngang và nhà sau (như phần trên đã nói).

Cả nhà nó vui mừng chuyển về nhà mới và ổn định cuộc sống.

Lại nói về cậu thiếu niên tên Can mà thầy nó đưa về trên chiếc xe bò trong đêm chạy loạn.

Anh vẫn ở cùng gia đình nó khi chuyển về nhà mới.

Sau khi bình phục, anh được thầy nó dậy nghề may.

Gia đình anh Can, sau khi người con mất tích, cả nhà đã chạy đôn chạy đáo đi tìm khắp nơi, dò hỏi khắp chốn nhưng vẫn không thấy tăm tích, một phần cũng là do chiến tranh loạn lạc làm cho việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại.

Sau ngày hòa bình, tình cờ một lần hỏi dò đúng người biết chuyện thầy nó, rằng có người cứu được một cậu bé trắng trẻo bụ bẫm, gia đình ấy cử người sang xem thì nhận đúng là người con trai lưu lạc.

Họ ôm nhau cùng khóc, thật cảm động.

Thì ra gia đình anh Can ở ngay Bần, cách nhà nó không xa, chỉ năm cây số.

Ngay sáng sớm hôm sau đó Thầy bu anh Can bê mâm sôi, thủ lợn, con gà sang nhà nó, cung kính dâng lễ lên ban thờ, thắp hương khấn vái tạ ơn ân nhân và chính thức xin cho anh Can làm con nuôi thày bu nó.

Nó có thêm một người anh.

Ở khu lò gạch ngoài ruộng chéo, thầy bu nó đã ngừng đốt gạch.

Những thùng đấu lấy đất đốt gạch nước ngập thành ao thì để thả bèo, phần ruộng phẳng còn lại thì san thành ruộng để cấy lúa nếp và lúa tẻ.

Vào một ngày đầu thu, sau khi ăn sáng xong, gọi là ăn sáng nhưng là bữa ăn đầu tiên trong ngày vào quãng giờ ngọ, ở quê nó ngày chỉ có hai bữa, bu nó uống hớp nước vối được ninh trong cái nồi đồng, với vội cái tăm và cáp cái mê nón ra đồng thăm lúa.

Bấy giờ bu nó đang có chửa, cái bụng đã lớn lắm, chắc sắp đến cữ.

Từ xa nhìn thấy lúa tốt bời bời, vụ mùa này chắc khá.

Bu nó phấn khởi lắm.

Vừa tới ruộng, chưa kịp lội xuống, bỗng dưng bu nó thấy đau quặn bụng, cái thai đang bắt đầu đạp mạnh đòi ra.

Thằng cu hay cái hĩm này dữ đây.

Bu nó vịn gốc cây đứng thở dốc một lúc cho dịu cơn đau rồi vội vã quay về.

Khu ruộng chéo này cách nhà gần cây số, không biết có về kịp không.

Về gần đến nhà, cơn đau ngày càng dữ dội, mồ hôi túa đầy mặt, mấy lần bu nó phải đúng tựa gốc cây để chống chọi cơn đau.

Cố gắng lắm, cuối cùng bu nó cũng về được nhà.

Vừa đến cửa, gạt cái cửa liếp để bước vào, bu nó gấp gáp gọi:

- Vạn lớn, vạn con đi tìm gọi cụ đỡ cho bu mau.

. . .

Vừa đến cửa, gạt cái liếp để bước vào, bu nó gấp gáp gọi:

- Vạn lớn, vạn con đi tìm gọi cụ đỡ cho bu mau.

Hai chị của nó biết tình hình gấp lắm vội vắt chân lên cổ chạy đi.

Vịn vào thành giường bu nó đau quá, hét lên:

- Thầy nó ơi tôi chết mất.

Bỏ chiếc áo đang may dở, thầy nó chạy lại sốc hai nách định dìu bu nó lên gường thì thấy mặt bu nó đỏ gay, từ từ ngồi xuống đất hổn hển nói:

- Nó ra rồi.

Thầy nó cúi xuống nhìn vũng nước ối và máu, thấy một hài nhi con trai đỏ hỏn, mặt mũi nhăn nheo đang quẫy đạp dưới váy của vợ.

Đúng lúc ấy cụ đỡ chạy vào.

Cụ gạt thầy nó ra bảo:

- Bác lui ra tôi xem nào.

Cụ bế thằng bé lên, thận trọng lùa cái liềm đã chuẩn bị sẵn cắt dây rốn cho nó.

Xong, cụ lấy sợi chỉ thắt dây rốn lại.

Thấy thằng bé chưa khóc, cụ phát nhẹ vào mông nó.

Thằng cu giật mình, khóc thét lên oe oe.

Cụ mỉm cười chửi yêu:

- Cha tổ anh, con trai nữa đây.

Vội thế !

Không để người ta kịp lên giường đẻ cho đàng hoàng, làm cho người ta phải đẻ rơi đây này.

Các anh chị nó xúm lại, ai cũng mừng vui vì có thêm cậu em trai.

Hai chị nó dìu mẹ nó lên cái giường tre.

Mẹ nó tuy còn mệt nhưng vẫn mỉm cười mãn nguyện, nhìn theo tay cụ đỡ:

- Con trai hả cụ ?

- Ừ !

Con trai.

Thằng này nhỏ nhưng rồi chắc cũng khá.

Có đầu có đuôi, nuôi lâu cũng lớn.

Nói rồi cụ khẽ khàng chấm rửa lau khô các vết máu, với tay vào cái tay nải tã lót, cụ chọn một cái mới nhất, mềm nhất đặt nó vào, quấn lại và nhẹ nhàng đặt nó nằm cạnh bu.

Xong cụ quay sang thầy nó, bấy giờ đang rất phấn khởi đứng trước ban thờ thắp hương kính báo với tổ tiên, cụ hỏi :

- Thế bố thằng cu đặt tên nó là gì nào ?

- Nó là thứ mười, cụ cứ đặt nó là thằng Thập cho con cụ ạ.

Khấn xong, thầy nó trịnh trọng rút từ trong ruột một ống kẽm to bằng bắp đùi, nơi thầy nó cất quyển gia phả dòng họ, ông lấy chiếc bút máy Pắc-ke (Parker) của anh nó cẩn thận ghi nắn nót hai loại chữ, chữ nho và chữ Quốc ngữ với nội dung : « Nguyễn Trọng Thập, sinh vào giờ mùi ngày mồng sáu tháng chín năm ất mùi - tức 1955 ».

Thế là chính thức nó có mặt và tên có tên tuổi trong cõi đời này kể từ đó.

Lại nói về anh Can.

Tuy đã tìm được gia đình, nhưng anh vẫn ở nhà nó để học nghề may do thầy nó dạy.

Cuối năm năm nhăm, sau khi nó ra đời thì cũng là lúc anh Can lấy vợ.

Tên vợ anh ấy là gì, bây giờ nó không thể nhớ vì có ai gọi tên chị bao giờ đâu mà toàn gọi là chị Can, theo tên chồng.

Quê chị Can là làng Vay, gần ngay làng nó thôi và cùng ở trong xã nó.

Tuy là gái nhà quê, lại hơn anh Can đến mấy tuổi, nhưng chị rất đẹp, người cao, da trắng, mặt xinh.

Anh chị Can lấy nhau được hơn một năm thì sinh được cháu My.

Anh Can bấy giờ đã thôi học may để đi bộ đội.

Khi cái My được hơn một tuổi, chẳng biết chuyện mẹ chồng nàng dâu « cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt » thế nào mà chị Can bế con bỏ về nhà ngoại.

Hay tin, anh Can rất buồn.

Rồi anh viết thư và động viên chị hết nhời nhưng chị vẫn không nghe.

Tình hình rất căng thẳng, dễ anh chị sẽ bỏ nhau.

Thầy bu nó rất buồn.

Ông bà vội lên nhà chị Can để có nhời với ông bà bên ấy.

Thầy bu nó cũng nói hết điều hơn lẽ thiệt với chị Can.

Sau cùng, mọi chuyện đã thông.

Bu nó đích thân đưa chị Can về nhà chồng, bắt xin lỗi bố mẹ chồng.

Bu nó cũng đứt lưỡi nói chuyện tình nghĩa với bố mẹ chồng chị Can.

Người lớn đã thưa chuyện, con dâu đã xin tha, bố mẹ chồng chị Can cũng bỏ qua, gia đình chị Can từ bấy giờ rất yên ấm.

Về sau, anh chị đẻ thêm cháu Ly, cháu Nhưng và cháu Triển.

Các cháu con anh chị, hưởng hết nét đẹp của bố mẹ nên đứa nào cũng xinh, trông cứ như Tây.

Nó lúc nào cũng tự hào vì có mấy đứa trẻ đồng trang lứa gọi nó bằng chú, lại còn rất xinh đẹp nữa, nhất là con cái My.

Hết chương I

CHƯƠNG II TUỔI THƠ Không khí tưng bừng và hào hùng sau giải phóng tràn khắp mọi nơi, tràn vào từng xóm thôn, từng mái nhà gần xa hẻo lánh quê hương nó.

Sau "hòa bình lập lại", chủ trương của Đảng và Chính Phủ là kiện toàn và ổn định tổ chức các cấp lãnh đạo.

Đánh đổ địa chủ cường hào, phong kiến bóc lột, tịch thu của cải và ruộng đất chia cho dân nghèo, để người cày có ruộng.

Thực hiện vận động "bình dân học vụ" để xóa nạn mù chữ . . .

Thầy bu nó nói riêng và mọi người dân quê nó nói chung đều vui mừng phấn khởi tham gia các phong trào quần chúng.

Để tránh thiên vị, cấp trên điều những cán bộ cốt cán từ địa phương khác đến thực hiện cải cách ở quê hương nó.

Người địa phương nó lại được điều đi làm cải cách ở nơi khác.

Hôm đội về, làng nó tưng bừng lắm, cả làng ra đình mít tinh ủng hộ cách mạng, ủng hộ cải cách, Cán bộ đội phát biểu và giải thích với dân chủ trương của Đảng và chính phủ.

Khẩu hiệu "Trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Ừ ! cường hào gian ác, tay sai cho địch, bóc lột dân nghèo thì phải triệt, nghe sướng lắm.

Xong cuộc họp, cán bộ được phân về ở tạm ở một số nhà dân.

Gia đình nó cũng được tự hào nuôi hai trong số cán bộ cốt cán về làng khi đó.

Những ngày sau, đội cải cách thành lập tổ chức quần chúng gồm một số gia đình nghèo là bần cố nông vào lực lượng thanh niên xung kích.

Đội này được trang bị súng trường, súng ngắn gậy gộc, dáo mác thường xuyên tụ họp ngoài sân đình để được huấn luyện thực hiện cải cách.

Thưa các bác và các anh em, TichTuongNhuLe tôi đọc đến đây rồi không gõ được nữa vì nước mắt cứ tuôn trào, không làm sao ngăn được.

Chuyện cải cách ruộng đất, các bác lớn tuổi thì trực tiếp chứng kiến, ít tuổi hơn một chút thì được nghe kể lại.

Tôi cũng được nghe kể rất nhiều chuyện, đau lòng lắm, không thể nào quên.

Vậy mà bây giờ đọc đến đoạn chuyện này của Nguyễn Trọng Thập tôi vẫn không đừng được.

Chuyện rất đau đớn và rất buồn.

Là cái chuyện kẻ thù giai cấp bị đối xử như những con vật, còn những người kia thì đối xử với kẻ thù giai cấp theo cách mất hết tính người, . . .

Chuyện như thế không thể post lên đây được.

Xin mọi người thông cảm !

TichTuongNhuLe đã đề nghị Nguyễn Trọng Thập cho phép "cắt cúp" 16 trang, gọi là tự kiểm duyệt trước, khỏi bị "nhà đương cục" VMH "cấm cửa" thì "nghỉ chơi".

Tóm tắt mười sáu trang ấy là như thế này:

Trong "Cải cách ruộng đất", thầy bu Nguyễn Trọng Thập cũng "được lên thành phần".

Ông bà bị bắt, bị giam và bị đưa ra đấu tố.

Lúc bấy giờ Nguyễn Trọng Thập là đứa hài nhi đỏ hỏn trong tay mẹ, cũng bị giam cùng cha mẹ, bị ra đấu tố, bị ném các thứ bẩn thỉu vào người vì mẹ nó không che chở hết.

Thằng bé bị sốt cao, sắp đi đến nơi (chắc là viêm phổi cấp do lạnh), may nhờ cầu cứu được y tá tiêm cho một mũi trụ sinh.

Thằng bé hạ nhiệt được vài ngày thì lại sốt cao trở lại do mũi tiêm bị áp-xe (abcess).

Cái dải khoai bé nhỏ dặt dẹo đó chống chọi với cái chết và bằng cách nào đó, nó đã lừa được tử thần.

Cứ như vậy không biết bao nhiêu lâu, cho đến khi có lệnh sửa sai.

Chuyện đấu tố còn có nhiều nhân vật khác và nhiều chuyện khác nữa.

Tóm lại, rất tệ ! . . .

Tháng 2 năm 1956, Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất.

Quyết định sửa sai về cũng là lúc hết mùa đông.

Mùa xuân đến, cả làng nó bừng tỉnh.

Những cán bộ đội từng vi phạm nghiêm trọng trong cải cách lập tức bị điều đi.

Một số thành phần cốt cán sau sửa sai phần thì xấu hổ với dân làng, phần thì lo bị trả thù, đều tìm cách rời bỏ quê, trốn biệt tăm tích.

Đặc biệt là cô con dâu, bịa chuyện, tố bố chồng hiếp mình, ngay đêm ấy vội bỏ con, trốn khỏi làng, về sau chết mất xác ở đâu tới nay không ai rõ.

Thời gian đã chữa lành vết thương, lòng vị tha, sự sám hối cũng góp phần làm dịu đi nỗi đau thương, chua xót một thời.

Làng nó dần dần bình yên trở lại, chung tay xây dựng xóm thôn.

Thầy bu và nó được thả về, cả nhà đoàn tụ.

Ngoài sân, những búp non đã hé nụ đâm cành, cây đào cổ thụ nhà ông họ nó trong làng rực hồng khoe sắc thắm.

Thầy nó vào chúc Tết ông và xin ông một cành đào.

Mấy anh chị sát trên nó sướng lắm, tung tăng theo thầy vào nhà ông rước cành đào về, vừa đi các anh chị vừa nhảy chân sáo đánh nhạc mồm, tưng tưng tưng tưng, vui như rước hội.

Tết năm ấy dù nghèo nhưng hạnh phúc.

Thầy nó lại mở hàng may vì được đội trả cho cái máy.

Còn các đồ đạc khác bị thu, đã bị tiêu tán hết, không biết đi đâu ?!

Thì thôi . . . !

Nhà bây giờ nghèo lắm.

Bu nó gom góp, đi bán mấy cái nồi đồng dấu được cộng thêm vay mượn bạn bè ít vốn, bu xoay ra buôn thúng bán mẹt trong chợ, chỉ là một mẹt trầu cau.

Bu nó cũng lo cho chị cả một mẹt hàng tạp hóa ngay kế bên mẹt trầu của u.

Ở sát cổng tiền thôn trên có nhà ông Tư Nắng, là một gia đình nông dân, to họ dài dòng, có vai vế trong làng.

Ông có người con trai cả tên là Thưởng.

Anh này cao lớn, béo và hơi đen.

Tính tình thật thà ít nói, chất phác, chân quê.

Anh đi bộ đội từ khi mới mười bốn tuổi.

Năm hai mươi tuổi anh được bố mẹ cưới vợ ở quê cho, trong khi đơn vị anh đóng quân ở Thái Nguyên.

Ở nhà, vợ anh phải lòng trai bị anh phát hiện được.

Hai năm sau anh bỏ người đàn bà đó.

Chị cả Biên nó, tuy đã một đời chồng nhưng trông cũng khá đẹp, người cao, trắng trẻo, nhanh nhẹn, tháo vát, ngoan ngoãn, chỉ tội giống bu nó nên hơi bị vổ, nhưng mà là "vổ đẹp".

Qua mối mai anh Thưởng kết chị lắm, liền hỏi cưới ngay.

Bấy giờ chị đã hăm bẩy, anh Thưởng đã là thiếu úy, đại đội trưởng, pháo binh bảo vệ khu gang thép Thái Nguyên.

Cưới nhau xong, anh chị nó xin phép hai gia đình lên Thái Nguyên lập nghiệp.

Vì nhà nghèo, lại đông con, thêm nữa hai chị lớn đều sinh cháu nhỏ nên thày bu nó đồng ý cho chị Thất đi theo vợ chồng chị cả Biên lên Thái Nguyên.

Chị Thất lên Thái Nguyên bế cháu cũng là bớt được một miệng ăn.

Chị hai nó là chị Dụng lấy anh Chí từ trước cải cách, đến năm năm tám thì sinh được cháu gái đặt tên là Văn.

Bấy giờ anh Chí đang làm cần vụ cho ông Trần Duy Hưng, nên cả nhà chị chuyển ra Hà Nội sống.

Chị Thơ nó cũng lại đi theo ra Hà Nội để bế cháu.

Cu Thập bấy giờ cũng đã được ba tuổi.

Vùng quê sau những năm cải cách rất hoang tàn và nghèo khổ.

Hiệu may thầy nó chỉ có khách đến cắt quần đùi, vá mông vá đầu gối, vá vai, lôn cổ áo, lộn ống quần.

Không đủ việc làm, thầy nó đành ra Hà Nội vào hợp tác xã may gia công Quyết Tiến ở phố Huế.

Thầy và anh chị nó mới ra chưa được phân nhà nên xin ở nhờ nhà bà cô họ giàu có là cụ Xếp Ban ở số xxx phố Huế.

Mấy tầng dưới bị nhà nước trưng thu làm cửa hàng ăn uống cơm tám, giò chả.

Gia đình cụ ở tầng tư.

Nóc tầng tư là mái nhà thì cho thầy nó cùng anh chị Dụng, Chi và chị Thơ ở nhờ.

Xin được một ít giấy dầu, gỗ dán thùng hòm cũ, thầy và anh chị nó thưng lên được một gian nhà rộng hơn chục mét vuông, kê được một cái giường đôi cho anh chị nó ngủ.

Phía đối diện, thầy nó kê môt tấm ván lên mấy hòn gạch làm cái giường ngủ.

Ở giữa nhà kê một cái tủ con cũ xin được.

Dưới cái tủ là tấm ván nữa, ban ngày để ngồi ăn cơm, tối là giường của chị Thơ (Vận lớn), ngăn cách với giường anh chị Dụng bằng một cái ri-đô.

Ngoài hiên, vẩy ra được hơn mét vuông làm bếp.

Thầy nó gửi phiếu gạo và mấy đồng tiền ăn cho chị Thơ lo cơm nước cho cả nhà.

Đầu năm năm sáu, anh Bính 18 tuổi mới học xong Xe-ti-phi-ca.

Anh đã có vợ lúc mới 13 khi còn trẻ con, không biết gì.

Nhà có giỗ anh nó còn nhèo nhẽo bám theo vợ đòi luộc đuôi lợn, chân gà.

Lớn thêm một chút, bị bạn bè trêu trọc chuyện vợ, anh đâm chán, rồi chê vợ, bỏ xuống nhà chú ruột ở Hải Phòng.

Chú có đứa con trai tên Ban, kém anh Bính một tuổi.

Hai anh em được chú xin cho học cơ khí ở Hải Phòng.

Ở nhà, chỉ còn bu nó, chị Vận con, anh Bát và chị Bỉnh vợ anh.

Chị Thất ở với anh chị Biên trên Thái Nguyên được hai năm. phần vì chị Biên nó cũng nghèo, cô Tài Câu nó đông con cũng nghèo, phần vì nhớ nhà, chị Thất lại quay về với bu.

Nhà nó, thành ra có sáu miệng ăn.

Dù nhà nghèo nhưng cu Thập thấy nghĩa tình đầm ấm lắm.

Nó được các anh, các chị yêu chiều vì là em út, lại sinh ra đúng vào lúc gia đình khó khăn.

Cu Thập gầy yếu nhất nhà, lại sài đẹn, ốm quặt ốm quẹo.

Bu nó đi chợ trầu vỏ, các chị thì đi làm đồng.

Nó ở nhà thơ thẩn chơi một mình cả ngày, từ trên nhà, ra sân rồi vào trong bếp.

Thú vui say sưa nhất của nó là chiến đấu với lũ kiến.

Nhà nó đun rạ, tro nhiều lắm, lâu lâu lại đùn lên cao một đống lùm lùm.

Các chị nó phải xúc tro đổ vào cái thùng chứa trong nhà xí, hoặc đổ vào chuồng lợn.

Tro bếp cộng với rơm khô cho lợn nằm rất ấm và sạch.

Tro nhiều quá thì gánh ra ruộng rắc xuống làm phân cho lúa hoặc rắc vào ruộng bèo hoa dâu, chống rét cho bèo.

Bề ngang sân sau rộng hơn mười hai mét, bớt lại chừng sáu bẩy chục phân giọt gianh, giáp nhà bà Thưa lác hàng xóm, thầy bu nó xây nhà bếp năm gian.

Hai gian đầu đặt cối giã gạo, cối xay lúa, dụng cụ làm đồng như dậm, giỏ, nơm, gầu dai, gầu sòng, thúng mủng, cày bừa, thừng, chão...

Gian giữa làm bếp đặt sáu ông đầu rau cho hai bếp.

Những ông đầu rau nặn bằng đất sét trộn trấu được đun nấu nhiều nên cứng đanh lại và đen sì.

Bếp ngoài đun rơm dùng để nấu cơm và thức ăn.

Sát cạnh đó kê mấy hòn gạch, đặt ghé vào đó một nồi nước để tận dụng sức nóng của bếp rơm.

Bếp trong đun củi, dùng để nấu cám lợn.

Hai gian còn lại được ngăn bởi một bức tường mười, thu hồi, chịu lực.

Đây là chuồng lợn và nhà xí.

Trong chuồng lợn luôn luôn có một con lợn nái già rất dữ và hai con lợn cấn.

Nhà xí được xây cao lên một mét, đặt ngang mấy đoạn tre, cửa che toòng teng một miếng bao tải cũ, cáu bẩn.

Đi vệ sinh phải bước trên chiếc cầu ghép bằng hai cây tre nối từ cửa vào, qua chuồng lợn.

Chiếc cầu tre bập bà bập bềnh rất nguy hiểm, nhất là khi lợn đẻ, lợn mẹ hộc lên rất dữ để bảo vệ con.

Đi qua đó, phải cầm cái que dài, vừa làm gậy chống để giữ thăng bằng, vừa làm vũ khí để chống lợn.

Đang ngồi mà lợn nó hộc tới thì phải dùng gậy mà quật.

Toàn bộ nhà chính, nhà ngang, nhà bếp đều được xây bằng gạch non không trát áo, mái lợp rạ.

Lâu ngày, những viên gạch non ngâm nước mòn dần, bột gạch tơi ra từng đám, đỏ quạch.

Nấm "can-xi" mọc lông tơ trắng xóa tua tủa trên những viên gạch ẩm mục.

Mấy đứa nhà nó thường cạo lấy bột nấm, trộn với diêm sinh đem làm pháo chơi Tết.

Chạy men các mép tường ngoài là đường hầm ngoằn ngoèo của đàn kiến lửa, đỏ rực.

Kiến hành quân trong con đường hầm đó do chúng đắp bằng một loại đất trộn với nước rãi, mầu nâu nhạt, khô cong như bột cát.

Nó hay phủ phục xuống theo dõi đàn kiến đi, lấy các vỏ bao diêm, vỏ hộp, cát làm chướng ngại vật để chắn đường đường đi của kiến.

Nó còn kiếm được một cái xi lanh thủy tinh có cả kim tiêm để làm vũ khí đánh nhau với kiến.

Nó hút nước đầy xi lanh, nằm phục kích, đánh chặn lũ kiến.

Tên kiến nào dũng cảm bò lên, lập tức đại bác nước của nó phun ra tấn công, phằng phằng, phằng phằng...

Trò chơi của nó kéo dài đến khi chị dâu nó đi làm đồng về.

Chị dâu nó, tay dắt trâu, vai vác cái cày.

Chị buộc trâu vào gốc ổi, quần áo lấm lem nhưng cạp quần bao giờ cũng lận lên, cất một thứ gì đó làm quà cho nó.

Nó hồi hộp chờ đợi chị nó lấy cái rá mà xổ cạp quần ra, lúc thì vài con cua đang lột dở, lúc thì vài con cào cào, châu chấu, niềng niễng, muồm muỗm hay mấy con cà cuống.

Nó sung sướng lắm, hét rất to và nhẩy cẫng lên.

Nó sà xuống ngồi bên chị khi chị nấu cơm và lại chờ.

Chị nó xâu các con vật vào cái que tre vót nhọn rồi nướng trong ngọn lửa.

Mùi thơm phưng phức tỏa ra làm nó thèm rỏ rãi, cụ cựa không yên, mắt chăm chăm nhìn vào xâu thức ăn.

Xâu thức ăn đưa cho nó, nóng hôi hổi, nó chẳng đợi được đến lúc nguội mà vội vàng vừa thổi phù phù vừa chén ngay.

Mồm nó vừa nhai nhồm nhoàm vừa xuýt xoa vì nóng.

Thỉnh thoảng chị nó lại lấy que cời, cời nhanh những hạt thóc dính trong rơm, nổ bỏng, trắng lốp.

Nó cứ thế mà nhặt, tém tẻm ăn.

Đến khi nấu xong cơm thì mồm mép, tay chân, mặt mũi nó nhọ nhem nhọ thỉu.

Chị lôi nó ra giếng, kéo gầu, múc nước dội ào ào cho nó, nước giếng khơi trong vắt và mát lạnh.

Nó được chị tắm rửa, kỳ cọ rất kỹ.

Thằng bé sướng lắm, cười khanh khách, vừa tắm vừa đùa nghịch đập nước tòm tọp làm nước bắn tung tóe cả lên mặt, lên người chị nó.

Khi chị thay quần áo cho nó xong thì cũng là lúc cả nhà nó về đông đủ.

Cả nhà nó quây quần bên mâm cơm.

Nó được đơm một bát cơm đầy, chan canh cua, thêm hai miếng cà non nén, phơn phớt xanh, dẻo quẹo, rồi còn rắc lên trên mấy con tép kho khô nữa.

"Ngoong" quá !

Nó bưng bát cơm ra cửa, vừa ăn vừa ngắm phố.

Cuộc đời chẳng thể sướng hơn.

Mà sướng thật đấy, tắm xong ai cũng khen trắng quá, đẹp trai quá.

Nó nghĩ thế thật nên đứng ở cửa, vừa ăn cơm vừa hát xí la xí lố, vừa hóng người qua lại.

Nó hát xí lố như thế vì không thuộc bài hát nào, nhưng nó hát vì nó đang sướng và để thu hút chú ý của người đi đường.

Trong bụng nó chắc mẩm, ai trông thấy nó cũng phải tấm tắc mà thầm khen rằng nó đẹp và tưởng nó là con Tây.

Lớn lên, nhớ lại nó thấy thật buồn cười, nhưng hồi đó nó thật sự rất hạnh phúc.

Bên ngoài cửa gian buồng xay giã, thầy bu nó vẩy ra bốn tấm tôn cũ, xếp gạch xung quanh làm thành một cái kho nhỏ để chứa các bao tải trấu.

Dưới cái mái tôn ấy đặt một dãy chum tương rất to.

Một bận, chán đánh nhau với kiến nó nghĩ ra trò nặn.

Nó đi moi đất sét ở ngoài ao về hòa nước rồi nhào kỹ cho đến khi đất dẻo quánh.

Hôm đó nó hì hục nặn một con trâu, to bằng cái ống bơ bò.

Nặn xong, nó nghiêng bên nọ, ngả bên kia để ngắm nghía tác phẩm vĩ đại mới hoàn thành.

Nó cẩn thận đặt con trâu lên một hòn gạch, rồi bắc ghế, kiễng chân đặt hòn gạch có con trâu lên mái tôn để phơi nắng.

Hôm đó trời nắng, nó được giao trông thóc mà chị nó rải ra sân phơi từ lúc sáng.

Nặn trâu, đem phơi xong, nó quay ra dũi thóc.

Chị nó dặn thỉnh thoảng phải dũi một lần cho thóc chóng khô.

Chiều hôm đó khi dọn cơm, chị nó ra lấy tương để chấm rau muống, bỗng giật mình, chị gọi giật giọng:

- Bu ơi !

Ai làm vỡ hai chum tương rồi đây này.

Bu ra ngay đây mà xem.

Bu nó chạy xuống, sững người khi nhìn thấy hai chum tương to tướng, đồ ăn suốt năm của cả nhà đã vỡ tan.

Tương vàng nâu chảy lênh láng, tràn cả ra tới tận hai gốc ổi.

Bu nó tức lắm, quát tháo, tra xét cả nhà.

Thình lình, chị nó nhìn thấy hòn gạch cùng con trâu đất nằm trong vũng tương, giữa đống chum vỡ.

Chị hét lên:

- Bu ơi !

Chắc chắn thằng Thập nó phơi con trâu trên mái tôn, trượt xuống làm vỡ chum đấy . . . !

Ở trên nhà, nghe thấy thế, nó sợ quá.

Ghé mắt qua khe cửa nhìn xuống, thấy bu nó đang bẻ một cái que to lắm.

Nhanh như cắt, nó chạy vụt vào buồng chị dâu, chui ngay xuống gậm giường, bò tít vào bên trong.

Nó nghe thấy ngoài sân tiếng bu nó quật roi đen đét vào cái bừa ở ngoài gốc cây, lớn tiếng quát :

- Thằng Thập đâu rồi ?

Chúng bay, đi tìm ngay thằng Thập về đây cho tao.

Tao cho nó một trận.

Nằm trong gầm giường, nó sợ quá, trống ngực đập thình thịch, tay chân run rẩy.

Nó nép sát người vào góc gầm giường hôi hám, đầy mạng nhện.

Rồi nó nhìn thấy hai con cóc cụ ngay gần đấy, đang giương mắt nhìn nó.

Một lúc lâu, nghe ngóng thấy ở ngoài có vẻ đã trở lại bình thường, nghe tiếng bát đũa dọn mâm kêu lách cách.

Rồi mùi canh cua, mùi cơm, mùi cá thơm phưng phức cứ quấn quýt tràn ngập mũi nó làm nó cồn cào hết ruột gan.

Mặc dù đói lắm và thèm lắm nhưng nó chẳng dám ra.

Nó rón rén bò ra khỏi gậm giường, len lén bước đến sát cửa.

Hé mắt vào khe cửa nó nhìn bu nó và các anh chị đang đang ăn mà nuốt nước bọt ừng ực.

Bỗng nó giật mình khi nhìn thấy cái que to tướng đặt bên cạnh bu nó.

Tần ngần một lúc, nó quay trở lại giường.

Nó trèo lên giường, chùm chăn kín, ôm cái bụng đói meo.

Nó nằm im suy nghĩ đến tội lỗi mà nó đã gây ra, nó đâu có cố tình, nó đâu có biết là hòn gạch lại trượt xuống đúng chum tương, rồi nó lại tưởng tượng ra cảnh đang ăn uống ở ngoài kia mà cảm thấy tủi thân quá.

Tự dưng nước mắt nó lăn dài trên má.

Nó không biết là nó ngủ khoèo đi từ lúc nào.

Nó giật mình tỉnh dậy khi có ai đó đập nhẹ vào nó.

Một bàn tay ấm nóng, dịu dàng nâng đầu nó dậy, nó dụi mắt thấy chị dâu đang ở trước mặt.

Chị đưa cho nó một bát cơm to, một quả chuối và một cốc nước vối.

Đang đói, nó cầm lấy ăn ngấu nghiến.

Tối hôm đó, nó ngủ trong buồng cùng chị dâu.

Trưa hôm sau, chị Vận lớn nó ở Hà Nội về chơi nghe tin nó đánh vỡ chum tương, chị thu xếp quần áo cho nó ra Hà Nội chơi vài ngày.

Nó mừng lắm vừa thoát khỏi bị đòn vừa được đi chơi.

Tối hôm đó, bế nó ngồi trong lòng, thầy nó hỏi :

- Sao ở nhà con lại nghịch làm vỡ chum tương của thầy ?

Nó ngơ ngác hỏi lại:

- Sao thầy lại biết ?

Thầy nó chỉ ra cây cột điện có những sợi dây chạy vắt ngang:

- Ở nhà có chuyện gì, con ngoan hay con hư là thầy biết hết.

Bu lấy cái sào gảy rơm gõ vào dây thép, đánh điện cho thầy.

Chuyện gì ở nhà thầy cũng biết hết.

Con ở nhà phải ngoan, nghe lời bu và các chị, nếu không thầy sẽ rất buồn, nghe chưa ?

- Vâng !

Chị Dụng nó đang nuôi con nhỏ, ở nhà trông con.

Cái Tuyết Văn cháu nó chưa đầy một tuổi, trông rất xinh.

Nó quý cháu lắm, thỉnh thoảng lại chạy vào vuốt má cháu nó một cái.

Nó thích nhất là mỗi khi chị nó cho cháu bú.

Chị lấy cái nắp phích, vắt sữa hoi vào đó.

Vắt xong chị réo gọi nó để cho nó uống.

Thường thì nó đang chơi ở cầu thang, cúi nhìn các quán hàng ăn tấp nập người ra vào, mùi thức ăn bay lên điếc mũi.

Nghe chị gọi, nó dạ một tiếng rõ to rồi chạy ù lên.

Cầm cái nắp phích sữa, nó tu đánh ực một cái, vẫn còn thòm thèm lắm, nó liếm mép vòng quanh mấy lượt.

Vừa nhìn cháu nó bú, nó vừa lấy tay áo quẹt ngang để chùi mồm, chùi luôn cả cái mũi thò lò cố hữu của nó.

Cánh tay áo nó dính đầy mũi, lúc nào cũng cứng quèo, bóng nhẫy.

Khi cháu nó cai sữa, chuyển sang ăn bột, niềm vui của nó là được vét xoong.

Mỗi khi đổ bột ra đĩa, nó hồi hộp nhìn theo tay chị nó vét bột trong xoong, nó chỉ uớc chị đừng vét bột kỹ quá để nó còn mót được tí.

Nó vét cẩn thận lắm, từng ly từng tí một.

Đáy nồi đã sạch, nó nghiêng cạnh thìa cạo kỹ vào góc xoong, vét nốt tý bột cuối cùng.

Vét xong, nó còn thè lưỡi vào lòng xoong liếm láp như con mèo và tận hưởng vị ngọt của đường, của bột, tan ra, ứa trong chân răng nó.

Thỉnh thoảng nó được theo thầy đến chỗ làm.

Đó là hợp tác xã may đo Quyết Tiến cũng ở ngay phố Huế.

Các bác, các cô, các chú quý nó lắm, bao giờ cũng cho nó quà.

Nó thích nhất là món bi ron ron.

Lão người Tầu có cái hộp kính đặt trên cái ghế xếp đóng hình chữ X.

Giọng lão lơ lớ, khê khê :

- Bi roong roong . . .

Cái bi roòng roòng . . .

Cái bi ngoọc ngoọc tlê . . .

Những viên ron ron trắng ngà, phủ một lớp đường bột mỏng tang, tròn xoe như những hòn bi, bốc mùi va-ni thơm phưng phức.

Lão Tầu lấy cái ki nhỏ bằng nhôm trắng bóng xúc bi vào cái túi giấy quấn hình phễu nhọn hoắt.

Bao giờ lão cũng có động tác thêm thêm cho một hai viên rồi lão mới bẻ gập miệng phễu lại và đưa cho nó.

Nó rón bi cho vào mồm, sung sướng thưởng thức những hạt bi thơm, ròn tanh tách vỡ ra trong răng, vị ngọt và béo cứ tan ra trong lưỡi.

Hương vị của đó cứ phảng phất đi theo nó vào cả giấc ngủ, vào tuổi thơ và kỷ niệm, cho đến tận lúc già.

Nó sợ và bực nhất là bọn trẻ con phố Huế.

Chúng nó chặn đường, trêu trọc, bắt nạt nó:

- Ê !

Thằng nhà quê . . .

- Ê !

Thằng tẩm . . .

Nó tức lắm mà không làm gì được.

Nó ước: "giá mình được là người Hà Nội".

Khi nó lên sáu, bu cho nó đi học vỡ lòng, hơi sớm một tí vì nó còn thiếu mấy tháng.

Nó đến lớp vỡ lòng với cái túi vải bạt thầy nó may cho, đeo tòng teng trước ngực.

Nó tự hào lắm, vênh vang, rảo bước trên đường làng đi đến lớp ở điếm ngõ Sài.

Về sau này nghe kể lại nó mới biết, chỗ đó là nơi nó bị giam lúc mới lọt lòng cùng thầy bu hồi "cải cách ruộng đất".

Thày dạy nó đầu tiên là thày Hưng "Sứt".

Môi trên của thầy bị sứt bẩm sinh, hở ra một hình chữ "V" lộn ngược, như môi con thỏ, trông rất ngộ.

Vậy mà, lớp nó đứa nào cũng yêu quí thầy.

Nếu đứa nào ở lớp khác gọi thầy nó là Hưng Sứt là lập tức chúng nó đuổi đánh.

Có những lúc trận chiến ác liệt, chúng quăng cặp và sách vở, nhảy vào quật nhau ngay trong lớp hoặc ngoài sân.

Nhiều bận, mấy đứa sứt đầu mẻ trán chỉ vì bảo vệ thày.

Thầy Hưng nghiêm khắc lắm, đứa nào hư, không thuộc bài, rửa tay không sạch, thày bắt xòe tay để trên bàn, vụt vào lòng bàn tay, đau lắm !

Nhưng sợ nhất là bị thầy phạt, bắt đứng vào góc lớp đặt cái thước gỗ bẹt lên đầu.

Nếu động đậy thước rơi là thầy quật chết.

Nếu hai đứa cùng bị phạt thì có thước dài hơn để chung lên hai đầu.

Đứa cao, đứa thấp, đứa đứng yên, đứa ngọ nguậy, rất khó giữ thước không rơi.

Hễ thước rơi là bị phạt đứng lâu hơn.

Đứa nào cũng sợ.

Cuộc sống cứ thế êm ả trôi.

Buổi sáng nó đi học, trưa về ăn cơm, chiều nhông nhổng đi chơi.

Mùa hè nó đánh độc một cái quần đùi thắt dải rút, đồ thừa của anh nó.

Vác bát ô tô cơm to tướng có mấy miếng cà non xé chạy nhong nhong ra cửa, vừa ăn vừa hóng cảnh người và xe đạp đi qua đi lại.

Buổi chiều, nó ra sân trường cấp hai hoặc ra cổng huyện chơi cùng các anh chị và các bạn phố nó, bắn bi, đánh khăng, . . .

Nó với anh Bát nó bắn bi giỏi lắm.

Khi đi chỉ mang theo hai ba chục viên bằng đất sét tự nặn (quê nó bấy giờ chưa có bi ve hoặc bi nung sơn màu xanh đỏ như sau này) thế mà chiều về anh em nó ăn được hàng ống bơ sữa bò đầy mỗi người phải có suýt trăm viên.

Được nhiều bi, anh em nó thường kiếm hộp sắt to có nắp, đổ bi vào đem chôn giấu ngoài vườn.

Nó cũng thường đổi bi cho đứa khác lấy các đồ chơi khác.

Thích nhất là đổi được diêm để làm pháo.

Hãy tưởng tượng một chút, mùa đông nó được mặc quần dài và áo ấm hẳn hoi, toàn đồ cũ của các anh chị, chả bao giờ có quần áo mới.

Nhà nghèo lại đông con, thầy bu nó thường mua quần áo cho anh chị lớn, mặc cũ, hoặc ngắn lại chuyển cho em kế sau, nếu vẫn cũ và ngắn nữa thì lại chuyển xuống cho em sau nữa.

Nó là út ít, thứ mười, thì làm sao có quần áo mới.

Hôm nào rét đậm, các chị nó lấy cái áo bông cũ của bu nó, sắn tay lơ-vê ba lớp đem mặc cho nó.

Thắt quanh bụng áo một cái dây "thắt lưng" bằng vải, hay dây chuối, thậm chí, dây rơm.

Chiếc áo ấm lắm, chỉ tội dài quá, vừa đi vừa quét đất.

Được cái, các chị rất chiều nó, thường bỏ vào túi áo trong một nắm thóc nếp rang.

Nó cắn chắt luôn mồm, thú lắm.

Chiếc áo dài lòa xòa như thế khi đánh bi còn được chứ đánh khăng hay đá bóng thì ngã liên tục, rất khó đứng dậy.

Hay nhất là vật nhau thì ngã chẳng đau mấy, có khi còn khoái là đằng khác.

Một năm đôi ba lần, làng nó có đội chiếu bóng về phục vụ.

Mỗi lần chiếc xe bò chở máy nổ, cọc phông, máy chiếu về làng thì lúc đó quả là một ngày hội, nhất là đối với lũ trẻ con chúng nó.

Chúng thường rồng rắn chạy theo xe, í ới reo hò, đánh nhạc mồm tứng từng tưng.

Nhà nào cũng rậm rịch, chiều đến nấu cơm, ăn sớm để đi xem.

Nó cùng anh chị nó ăn cơm trước, ôm chiếu rách ra bãi, sớm hàng mấy tiếng, trải xuống xí chỗ.

Chỗ tốt nhất là ở giữa, gần sát với phông.

Xí chỗ xong, các chị nó về nhà làm nốt việc, nó và anh nó được cắt cử ở lại trông chiếu và sẵn sàng chiến đấu với bọn trẻ con để "bảo vệ lãnh thổ".

Sau khi "hoạch định biên giới" rõ ràng, nó yên tâm nằm khểnh ở đó, tò mò theo dõi các cán bộ văn hóa đóng cọc căng phông lắp máy chiếu và thử micrô :

- A lố, a lồ . . . , một hai ba bốn . . . , một hai ba bốn . . .

- A lố, a lồ . . . , một hai ba bốn . . . , một hai ba bốn . . .

Âm thanh chỉnh xong, chị thuyết minh dõng dạc thông báo :

- A lô, a lô . . . !

Đồng bào chú ý . . . !

Hôm nay đội chiếu bóng "Hai Mười Bẩy" của tỉnh Hưng Yên chúng tôi về đây phục vụ đồng bào hai bộ phim.

Bộ thứ nhất là phim hoạt họa "Đáng Đời Thằng Cáo".

Tiếp theo mời đồng bào xem bộ phim truyện "Chung Một dòng Sông" của đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân.

Đây là bộ phim về mối tình của đôi trái giá Vận và Hoài.

Một mối tình đẹp thơ mộng và thắm thiết giữa người con trai và người con gái sống bên hai bờ sông Bến Hải, con sông đã chia cắt hai miền Nam Bắc.

Hai người có đến được với nhau không sau bao nhiêu cách trở ?

Xin đồng bào chú ý đón xem !

Giá vé đồng loạt, người lớn một hào, trẻ em năm xu, trẻ em dưới sáu tuổi đi kèm người lớn không phải mua vé.

Buổi chiếu bóng được bắt đầu vào mười chín giờ ba mươi tối nay.

Kính mời đồng bào thưởng thức.

Tiếng thông báo được chị thuyết minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Xen vào giữa đó là âm nhạc và các bài hát cách mạng được phát ra từ một chiếc máy quay đĩa.

Nó còn nhớ, hồi còn bé tí được xem phim hoạt họa "Đáng Đời Thằng Cáo", "Chiếc Vòng Bạc", "Chú Thỏ Đi Học", . . .

Lớn lên một chút, cũng ở bãi này, nó được xem "Ông Già Khốt Ta Bít", "Vua Săng Tan", "Những Kẻ Báo Thù Không Bao Giờ Bị Bắt", "Chim Vành Khuyên", "Vợ Chồng A Phủ", "Chị Tư Hậu", . . .

Trên hai cái cọc tre cao làm cổng bãi chiếu bóng, người ta dong hai bóng đèn điện sáng trưng, lấy điện từ cái máy nổ to đặt ở góc sân.

Cái cổng này chính là cửa soát vé.

Từ đây, dây thừng bắt đầu được chăng, nó chạy bao xung quanh bãi chiếu.

Những chỗ ngõ nghách, hoặc lùm cây có thể luồn vào bãi đều có dân quân đeo băng đỏ đứng canh giữ đề phòng mấy ông choai choai chui vào xem lậu.

Xa cổng một chút là bàn bán vé.

Mua vé xong, mọi người thẳng tiến qua cổng, nơi có hai người của đội chiếu bóng đứng hai bên để soát và xé vé.

Vào trong bãi, mọi người tự do tìm chỗ ngồi.

Thường là những người già, trẻ con và các anh chị có gia đình rồi thì yên vị và nghiêm túc ngồi xem.

Còn đám thanh niên nam nữ chưa vợ chưa chồng hay chọn đứng vòng ngoài để di chuyển cho thuận tiện.

Các cô thanh nữ thường tụm thành một đám.

Đám con trai thì đứng gần đó, mon men làm quen, đưa đẩy, tán tỉnh, hẹn hò.

Đôi nào ưng nhau thì bí mật nháy nhau tách ra.

Người trước, kẻ sau, bỏ xem ngang chừng, tìm chỗ tối đứng yêu nhau vụng trộm.

Đó là về sau này, chứ hồi nó còn nhỏ chuyện đó rất hiếm, ai cũng giữ ý, người nọ nhìn người kia.

Bãi xem chiếu bóng làng nó, thế mà cũng làm cho khối người thành đôi đấy.

Lúc tan phim ra về, cả đoàn người rùng rùng chuyển động tản dần về các xóm.

Nó biết đường nên thường tách khỏi anh chị.

Nó giang hai tay ra như cánh máy bay, mồn kêu ẻn èn en . . . như tiếng động cơ, vừa chạy vừa chao liệng ngoằn ngoèo len lỏi trong dòng người, rẽ mọi người ra mà chạy.

Nó thích chơi trò này lắm.

Những khi có chiếu những bộ phim hay đặc sắc, người đi xem rất đông gây ra chen lấn xô đẩy.

Lần đó, chiếu phim "Nghêu Sò Ốc Hến", người xem đông quá, xô đẩy đổ cả máy chiếu, cọc phim, rồi dẫm đạp lên nhau làm chết mấy mạng.

Thật là kinh khủng !

Nó rất yêu nghệ thuật, ham đọc sách và có năng khiếu vẽ.

Mới có chín tuổi, nó đã nổi tiếng cả vùng vì khả năng vẽ bẩm sinh.

Các anh chị lớn hay nhờ nó đánh bóng chữ, viết chữ lồng vào sổ tay, vào khăn mùi xoa để thêu tặng nhau, để khâu vào nón.

Những chữ nó thường phải viết đại thể như kỷ niệm, nhớ mãi, đừng quên, . . . .

Thậm chí, nhà cụ Ký Bắc mở tổ HTX khâu nón trắng bài thơ, khâu thảm len, thảm gai, còn phải lên xin với bu nó, ngoài giờ học cho nó xuống huyện viết chữ lồng khâu vào nón theo đơn đặt hàng của cụ.

Có khi là vẽ lại các mẫu thêu ra bìa để làm dưỡng thêu.

Mỗi tháng cụ Ký trả cho bu nó mấy hào tiền công.

Bu nó nhét tiền vào ống tiết kiệm bằng tre để giữ cho nó.

Đến Tết, được nhiều tiền, bu chẻ ống tiết kiệm ra, lấy tiền mua giầy dép, mua diêm cho nó làm pháo.

Nó thích trò làm súng lục, nhét vào đó một cái van xe đạp hỏng, nhồi thuốc diêm vào đó.

Khi bóp cò, cái "búa" phía sau ghì bằng dây chun mới bung ra, gõ vào thuốc diêm làm súng nổ.

Nhiều đứa trẻ con đồng lứa nó rất thích.

Nó liền vượt tường rào trường cấp hai xã, nhặt nhạnh chân ghế, chân bàn gãy mang về làm một loạt súng lục để bán cho bọn chúng lấy tiền tiêu Tết.

Thầy nó làm thợ may ở Hà Nội được có vài năm thì hợp tác xã may đo giải tán.

Thày nó mang máy khâu về nhà mở lại hiệu đồng thời vẫn là thành viên hợp tác xã may của Huyện, chuyên may hàng gia công cho nhà nước.

Thầy nó là lao động bán nông nghiệp nên chỉ được hưởng 50% tiêu chuẩn của tem phiếu công nhân.

Một tháng tiêu chuẩn của thầy được đong bẩy cân gạo cộng với phiếu vải hàng năm.

Các tem phiếu khác như đường, xà phòng, thuốc đánh răng, đậu, thịt và các nhu yếu phẩm khác thì hầu như không có.

Nếu cả năm lao động đạt và vượt mức chỉ tiêu thì may lắm được thưởng vài lạng thịt, đậu các loại.

Bu nó và các anh chị thì không ai có tiêu chuẩn tem phiếu.

Cho nên, tuổi thơ của nó hầu như không có khái niệm đường sữa, bánh kẹo hay thịt thà.

Dịp Tết năm ấy có một việc về anh Bính và chị dâu làm nó nhớ mãi.

Hôm đó là ngày Tết Ông Công Ông Táo.

Từ sáng thầy nó đã sai các anh chị dọn nhà cửa, còn thầy thì quét dọn bàn thờ.

Bàn thờ đã sạch sẽ, thầy nó bày lên một mâm ngũ quả, có nải chuối xanh, quả phật thủ, vài quả cam, vài quả quýt.

Xong, thầy thắp mấy nén nhang lầm rầm khấn.

Không biết Thầy nó khấn khứa những gì, rất lâu mới xong.

Rồi thầy cúi xuống bảo nó:

- Thằng Thập, ăn cơm xong, ra đồng Bưởi tìm chị Bính, nói với chị ấy là thầy bảo xíu nữa nghỉ sớm nhá,

có thể anh Bính hôm nay về đấy.

Nó mừng lắm vì rất nhớ anh, anh nó xuống Phòng đã khá lâu.

Anh Bính đã học việc xong và đã ra đi làm.

Tết này anh mới về thăm nhà và ăn tết cùng gia đình.

Vợ anh Bính, chị dâu nó, năm nay đã hai mươi sáu tuổi, đang độ xuân thì.

Chị đẹp lắm, một cái đẹp khỏe mạnh, nền nã, chân quê.

Da chị dãi nắng, dầm sương, ánh lên màu bánh mật, đôi mắt to, đen lay láy.

Chị có cái miệng tròn với đôi môi nhỏ, môi dưới có đường xẻ mờ ở giữa nên chị cười rất duyên.

Một mái tóc thật dài và dầy được vấn cao, để lộ cái cổ tròn chĩnh trong hình quả tim của chiếc áo gụ, chiếc áo chật căng bởi đôi bầu ngực nở nang, đầy xuân sức.

Người chị tầm thước nhưng khỏe khoắn, lẳn mình trắm.

Chị là người chiều nó nhất, tắm rửa cho nó hàng ngày, đút cơm cho nó.

Nướng muỗm, nướng bỏng cho nó ăn cũng là chị.

Đi ăn cỗ nhà cụ Hai Năng, cõng nó đi theo cũng là chị.

Đi họp đoàn, đi đâu liên hoan, ăn cỗ ở xa về bao giờ chị cũng lấy phần cho nó, lúc thì nắm xôi, cái chân gà, lúc thì quả chuối cái oản, kẹo vừng, kẹo bột.

Nó quý chị dâu lắm.

Chị dâu nó là lao động chính của gia đình nên bị xung vào đội dân công chuyên nghiệp của xã, chị đang cùng mọi người đào mương thủy lợi, ăn nghỉ tại công trường.

Sau khi ăn trưa xong, nó nhảy chân sáo ra tới nơi chị nó đang làm việc.

Công trường rất đông, cờ đỏ bay lật phật khắp nơi, thanh niên nam nữ vừa làm vừa hát vừa cười đùa rộn rã.

Cuối đông, gió bấc thổi hút từng cơn lạnh cóng, thế mà các anh chị dân công vẫn vã mồ hôi hột, quần áo lấm lem bùn đất, miệt mài cắt từng thép mai.

Các tảng đất vàng ươm, vuông vức được chuyền tay nhau chuyển đi, ngoằn ngoèo rồng rắn từ dưới lên.

Cảnh lao động hăng say, vui đáo để.

Nó nhìn khắp một lượt, không nhìn thấy chị nó đâu.

May quá nó nhìn thấy chú Bé, con bà Năm Sữa, đối diện nhà nó.

Chú Bé hơn nó mười mấy tuổi nhưng là em họ.

Chú ta đang cầm loa tay thông báo kết quả lao động của từng tổ đội.

Nó chẹo vẹo chạy trên những mô đất trơn nhày nhụa, túm tay chú Bé mà nói:

- Bé ơi !

Chú gọi loa bảo cho chị Bính xin nghỉ sớm, anh Bính ở Phòng về, bác bảo thế đấy.

Chú Bé liền đứng lên mô đất cao gọi to vào loa:

- Ban chỉ huy đội hai thông báo.

Chị Bính con nhà bác trưởng Chất, ở tổ bốn, có em ra tìm báo tin chồng về.

Bác bảo chị xin phép đội nghỉ sớm về ngay.

Alo, alo . . .

Loa đã phát đi phát lại ba, bốn lần mà nó nhìn mãi vẫn không thấy chị nó đâu.

Một lúc lâu sau nó thấy một người phụ nữ đi từ dưới lòng mương đi lên, mắt sáng ngời, nụ cười rực rỡ vẫy tay với nó.

Nó nhận ra chị dâu, dậm chân văng tay rồi rít hét :

- Chị Bính ơi !

Về mau, anh Bính về.

Thầy bảo thế.

Chị nó lem luốc từ đầu đến chân nhưng xem ra vui mừng hạnh phúc lắm.

Mắt chị long lanh ánh lên trong ráng chiều đông giá lạnh.

Chị đi từ dưới lên, vừa đi vừa bị các bạn trêu đùa.

Có chị còn véo má trêu :

- Sướng nhé !

Chồng về, tỉnh tình tinh . . .

- Mai có đi làm không đấy ?

Nhớ phải giữ sức nhé !

- Còn lâu nó mới mệt, sướng bỏ cha đi ấy.

"Gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó" mà lại.

Mọi người cười ồ lên.

Chị nó chẳng chống đỡ được gì, chỉ hối hả đi lên, miệng cười trắng ởn, đập tay vào vai vài cô bạn chữa thẹn :

- Thôi đi !

Nỡm ạ.

Chị nó rửa chân tay, thay quần áo, không quên ghé mặt vào cái gương vỡ treo ở góc lán.

Chị vuốt lại cái tà áo, vén mấy sợi tóc mai làm dáng, xong dắt tay nó đi về.

Hai chị em vừa đi vừa chạy.

Mỗi người một tâm trạng khác nhau, đều rất hạnh phúc.

Về tới nhà, chị em nó thất vọng vì chả thấy anh đâu.

Mọi người, ai vẫn đang làm việc nấy, hối hả.

Nó buồn, hỏi thầy thì thầy nó xem đồng hồ rồi chép miệng thở dài.

Chị nó biết ý, dù buồn lắm nhưng không dám hỏi, lẳng lặng xuống bếp làm cơm.

Hôm ấy bu nó quyết định cho phép mổ con gà đẻ cúng Ông Công Ông Táo.

Trời đã về chiều, mưa càng nặng hạt, rét càng buốt giá, thấu thịt, thấu xương.

Các chị và anh Bát nó chuyển rơm vào để thầy nó bện một cái cúi rơm ở gian ngoài.

Đối diện với cái giường tre, ngay trong góc nhà, gộc tre, củi, trấu, được chất vào và được đốt lên để sưởi ấm.

Gió giật ngày càng mạnh, bu nó kéo tấm liếp che cửa, xỏ cái đòn càn ngang, chặn lại.

Vừa lúc đó, có tiếng cậy tấm liếp, rồi một bàn tay thò vào cùng tiếng gọi của anh Bính :

- Bu ơi !

Mở cửa cho con.

Cả nhà òa lên trong hạnh phúc.

Anh Bính nó đã về.

Lách tấm liếp bước vào là một người thanh niên to, cao ăn mặc lịch sự, da trắng, môi đỏ, tóc bồng bềnh cong mềm tự nhiên xếp vào nhau như làn sóng, ánh mắt tinh anh, thông minh, lấp sau cọng kính trắng gọng vàng, giọng nói trầm ấm.

Anh Bính bước vào, tay trái cầm cành đào và bó hoa huệ, tay phải cầm túi du lịch.

Anh nó đi bộ từ bến xe về, cái áo khoác và mái tóc bụi mưa xuân đậu lấm tấm, long lanh.

Nó cùng anh Bát, chị Thất, chị Vận nhẩy lên reo :

- Anh Bính về !

Anh Bính về thầy ơi !

Thầy nó đang lúi húi dưới sân sửa lại cái trụ sắt cắm hương vòng trên bát hương để chuẩn bị lễ.

Ông lật đật đi lên.

Nhìn thấy con trai cả đã về ông mừng lắm, đón cho con cành đào ở tay, ông cười hiền bảo:

- Sao anh về muộn thế, làm cả nhà chờ mãi, chẳng báo trước để thầy bảo các em ra đón.

Anh nó rũ cái áo phẩy nước trên tóc, từ tốn nói :

- Vé xe khó mua quá, con tưởng không về được.

Bu nó đưa cho anh nó cái khăn khô.

Bà bảo:

- Thế là may rồi !

Con lau tay, lau tóc, bu bảo nó đun ít nước nóng rửa mặt mũi chân tay rồi ăn cơm.

Anh nó cảm động, cầm cái khăn và nói :

- Con xin bu.

Bu nó gọi với xuống nhà :

- Chị Mây đâu, đun cho bu siêu nước ấm để anh ấy rửa mặt nha.

Vận Lớn, Vận Con dọn mâm cho thầy mày cúng.

Thằng Bát lên mời chú Gắng Trọn xuống uống rượu với thầy mày.

Bảo anh Bính cháu mới về nha.

Thằng Thập

lấy cái xô rửa cái lọ cho anh mày cắm cành đào.

Phân công xong, bu nó thân chinh vào buồng con dâu, gấp gọn gàng chăn màn, thu dọn sơ bộ các đồ lẩm cẩm trong nhà ngang.

Bu còn cẩn thận lấy tí nước mùi vẩy vào tường, vẩy xuống nền, rồi vẩy vào các xó nhà để tẩy đỡ mùi hôi.

Xong bu nó ra nhà ngoài với cái âu trầu, ngồi trên phản giữa, têm miếng trầu, gọt miếng cau, thêm tí vỏ, quẹt tí vôi, bỏm bẻm vừa nhai trầu vừa ngắm con trai.

Chị Mây vợ anh Bính vừa mừng vừa thẹn.

Chị tong tả làm mọi việc, hai má nóng bừng, đỏ hây hây.

Chị bưng nồi nước mùi già đang nóng đặt ngay gần cửa rồi chạy ù vào buồng moi cái khăn mặt bông mới trong tủ quần áo mà chị vẫn để giành.

Chị cũng không quên tranh thủ dấp nước vào vỏ bao hương, quẹt một tí vào môi, rồi soi mình trong gương, "chỉnh đốn" lại dung nhan.

Từ trong buồng đi ra, chị thả cái khăn vào cái thau đồng, đổ nước nóng từ nồi sang.

Chị bưng thau nước lên cho chồng bảo anh :

- Anh rửa mặt mũi chân tay cho ấm xong còn ăn cơm.

Anh nó đón lấy cái thau :

- Sao không để dưới bếp, tôi xuống rửa cũng được mà.

Nói vậy thôi chứ anh nó vẫn rửa, trong khi chị dâu nó đứng, lúng túng, len lén nhìn chồng.

Chờ chồng rửa xong, chị bê thau xuống nhà và chuẩn bị tiếp cho bữa ăn.

Nó vừa rửa cái lọ vừa nhìn anh Bính và chị Mây nó, không bỏ xót động tĩnh nào của hai người.

Nó biết chị dâu nó đang hạnh phúc lắm.

Thày nó lấy giấy đốt gốc cành đào và bó huệ.

Rồi thầy nó đổ nước vào hai lọ, cung kính cắm cành đào vào lọ to, cành huệ vào lọ nhỏ, đặt lên hai góc bàn thờ.

Cơm cúng đã bày xong, thầy nó thay quần áo thường, mặc bộ áo the, đầu đội khăn xếp, thầy thắp hương và lầm rầm cúng khấn.

Cúng xong thầy nó quay ra bảo:

- Bính, anh vào khấn cụ đi !

Anh vừa là trưởng nam trong nhà vừa là trưởng nam trong họ đấy !

- Vâng, thưa thầy !

Anh nó đứng dậy, cung kính, trang nghiêm đứng cạnh thầy, lầm rầm khấn.

Nó đứng sau lưng khoái lắm, chả biết khấn gì, cứ chắp tay bắt chước.

Thấy thầy và anh nó lạy nó cũng lạy, thấy ngửng lên, nó cũng ngửng lên.

Lễ xong, anh Bính mở túi du lịch lấy ra mấy món quà.

Anh biếu thầy nó cái mũ bông, bu nó cái khăn vuông.

Còn hai cái bánh mì và một gói kẹo là quà chung cho mọi người.

Nó nhìn thèm lắm, nhưng thầy nó không nói gì mà lẳng lặng xếp bánh mỳ và kẹo lên mâm ngũ quả.

Thế là cu cậu chưng hửng nhìn theo, rỏ rãi.

Hương đã tàn, chú Gắng Trọn cũng đã đến.

Thầy nó "cho lệnh" ăn cơm.

Nhà đông người nên chia làm hai mâm.

Mâm trên ở phản, dưới ban thờ có thầy, chú Gắng, anh Bính và bu.

Nó bé nhất nhà, út ít, nên được thầy ưu tiên cho ngồi cùng mâm.

Oai ghê!

Nó còn thấy sung sướng hơn vì được ngồi giữa thày và bu.

Còn mâm dưới là mâm các anh chị nó.

Ngày thường, thầy nó ít khi uống rượu, cỗ bàn thì cũng chẳng uống được nhiều.

Chú Gắng Trọn thì ngược lại, uống rượu rất giỏi.

Nhưng hôm nay vui quá, thầy nó uống, chú Gắng Trọn uống.

Hai người vừa uống vừa ép anh nó uống uống theo.

Cỗ có thịt gà ngon quá, nó ăn lấy ăn để, gắp tơi tới . . .

Vừa ăn, thỉnh thoảng nó lại ngước nhìn trộm anh nó rồi lại quay xuống mâm dưới nhìn trộm chị dâu nó.

Nó thấy anh nó đẹp trai thật còn chị dâu thì rất xinh.

Anh Bính không biết uống rượu, đến chén thứ hai là mặt đã đỏ tưng bừng, trông lại càng đẹp.

Nó thấy Chị dâu nó ngồi đầu nồi, xới cơm cho mọi người, còn chị ăn có vẻ ỏn ẻn.

Dưới cái khăn mỏ quạ, mặt chị nó cũng đỏ tưng bừng.

Chị Mây về làm dâu nhà nó từ lúc mười sáu tuổi.

Khi đó anh Bính mới mười ba, quá trẻ con, chẳng biết gì.

Lớn lên, bị bạn bè chê cười, anh dỗi bố mẹ, chê vợ, bỏ đi học nghề dưới Phòng và ở nhà chú.

Lâu năm, năm nay anh Bính mới về nhà thì chị đã hăm sáu, còn anh đã hăm ba.

Vợ chồng anh chị chưa từng ăn nằm với nhau bao giờ.

Ăn cơm xong, bu nó bảo :

- Thôi, chị Mây hôm nay vất vả, anh ấy hôm nay lại về, không phải dọn dẹp, rửa bát, để đấy các em nó làm.

Chị vào mắc màn cho anh ấy ngủ, anh ấy cũng mệt và say rồi.

Chị nó vâng lời dọn qua quýt xong vào buồng thu xếp.

Ở nhà ngoài thày bu nó và chú Gắng Trọn nháy mắt nhau, đẩy anh Bính vào buồng.

Anh say rượu, đứng dậy nghiêng ngả, xin phép đi ngủ.

Thấy anh Bính và chị Mây đã vào buồng, được một lát thì thầy nó lấy khóa, khóa trái cửa buồng lại.

Sau khi tiễn chú Gắng Trọn về, Thầy ra hiệu các anh chị em nó đi lại, nói năng nhẹ nhàng và bảo cả nhà tắt đèn đi ngủ sớm.

Nằm bên thầy ở phản giữa, nó ngước mắt lên bàn thờ nhìn làn khói mơ màng bay lên từ cái hương vòng, đèn nến chập chờn mờ ảo, ngoài trời mưa lất phất rơi, tiếng gió giật tàu chuối kêu lật phật.

Thỉnh thoảng giọt ranh nhỏ xuống cái chậu nhôm hứng nước kêu tí tách, lõm bõm.

Rồi nó thiu thiu trong giấc mơ đẹp ngày tết.

Hạnh phúc tuổi thơ ru hồn nó biêng đi, bồng bềnh vào giấc ngủ.

Hàng ngày Chị Mây nó dậy rất sớm, thường vào lúc năm giờ, để lo đun nước pha trà cho bố chồng, sắp hàng cho mẹ chồng đi chợ và lo cho các em tới trường.

Sáng hôm nay, khác với lẽ thường, bảy giờ rồi mà chưa thấy chị dậy.

Thầy nó khẽ khàng mở khóa.

Thầy còn suỵt suỵt ra hiệu cho các con nhẹ nhàng để không làm mất giấc ngủ của anh chị.

Một lúc sau chị Mai nó dậy.

Trông chị có vẻ gì đó bẽn lẽn nhưng hạnh phúc và mãn nguyện lắm.

Chị nó đon đả xuống bếp đun nước sôi rót vào phích cho bố, thả vài cọng mùi vào xoong đun nước cho mẹ và các em, không quên bê thau nhỏ với cái khăn mặt bông cho chồng.

Anh Bính bê thau nước ra sân, vươn vai tập vài động tác thể dục.

Xong anh nó vục cái khăn bông vào thau rửa mặt, vuốt nước lên mái tóc bồng.

Hương thơm nhè nhẹ của cuộng mùi già lan toản khắp nhà, thày bu nó và mọi người vui lắm.

Thấm thoát đã đến ngày 28 Tết.

Năm nay bu nó quết định ăn hoang một chút.

Tết năm nay, nhà nó đụng một đùi lợn.

Từ mấy hôm trước, các chị nó đã ra cửa hàng bách hóa xếp hàng mua được trăm lá dong, đong được yến gạo nếp, vài lạng đỗ, một gói nhỏ hạt tiêu, một gói mứt, một chai nước mắm Cát Hải, hai cân muối, hai chục cái bánh đa nem, nửa cân đường kính, một gói chè ba hào với một bao thuốc là Tam Đảo.

Đó là tiêu chuẩn phân phối tết của cả nhà nó.

Sáng sớm tinh mơ ngày 29, khi cả làng đang ngủ say, khi tiếng gà gáy còn đang eo óc, nó chợt bừng tỉnh bởi tiếng lơnk kêu eng éc, cùng với tiếng bước chân rậm rịch.

Nó vội tung chăn vùng dậy thật nhanh không có bỏ lỡ mất dịp xem mổ lợn.

Ra đến sân nó mới nhận thấy tiếng kêu eng éc của lợn khắp gần xa trong làng.

Thì ra hôm nay nhiều nhà cùng mổ lợn chứ không riêng gì nhà nó.

Dưới ánh sáng của mấy ngọn đèn hoa kỳ, nó thấy một cái cối lớn dùng để đập lúa đã được úp sấp giữa sân.

Bên trên cái cối là con lợn cấn nhà nó bị trói chân, đang nằm nghiêng sang một bên.

Ba người đang giữ chặt chú lợn.

Anh Nhu chồng hàng xóm, người to cao tóc húi cua đã điểm bạc, tay phải cầm dao bầu, tay trái đè lên tai con lợn, chân phải dẫm xuống đất, chân trái đặt hờ trên mặt con lợn.

Rồi với một động tác nhanh và dứt khoát anh chọc mạnh mũi dao vào cổ con lợn.

Tiếng con lợn đang kêu eng éc đột nhiên hộc lên rồi kêu òng ọc.

Tiết của nó chảy theo con dao, qua tay anh Nhu, qua cán dao lúc này đã chúc xuống và đang được ngoáy nhè nhẹ.

Tiết chảy mạnh xuống cái thau đồng đã có sẵn nước muối loảng để hãm tiết cho khỏi đông.

Cổ con lợn phun bọt đỏ theo nhịp thở phì phò của nó.

Chú Gắng Trọn cầm cái bát con, thò vào hứng nửa bát tiết nóng hổi đưa lên miệng uống.

Xong chú tợp một chén rượu rồi khà lên một tiếng.

Xong mục cắt tiết, con lợn được vần xuống chỗ sân gạch đã được rửa sạch.

Hai người kệ nệ khiêng một nồi nước sôi từ trong bếp ra, đặt xuống gần đấy.

Hai người khác vừa dội nước nóng lên con lợn vừa cạo lông.

Mỗi nhát dao đưa đi, lớp lông và da đen bên ngoài cuộn lên, quận vào thành một đám sau con dao, để lại một vệt da trắng ởn.

Chỉ một loáng sau, con lợn đã được cạo sạch bong.

Mọi người khênh nó vào cái nong sạch để giữa sân.

Anh Nhu đưa một nhát dao vòng quanh cổ cắt rời cái đầu con lợn.

Rồi anh vật ngửa con lợn ra, làm một nhát rạch thẳng băng từ cổ xuống.

Bao nhiêu ruột gan con lợn được moi ra, xổ xuống cái nong một đống nóng hôi hổi.

Đến đoạn cuối, mũi dao của anh Nhu đánh khoanh vòng một nhát, cắt toàn bộ hậu môn dính liền cả cái đuôi để lấy ra toàn bộ lục phủ ngũ tạng mà không dây rớt một chút bẩn nào vào phần thịt.

Toàn bộ được cho vào cái sảo to mang ra sân giếng để "làm lòng".

Anh Nhu dội vài gáo nước lạnh vào bụng con lợn, rửa sạch máu thừa rồi bắt đầu "pha".

Anh đưa mũi dao vào hai bên xương sống, vừa rạch, vừa lấy cái chầy nhỏ gõ gõ, tách rời xương sườn khỏi xương sống, rồi phanh thẳng con lợn ra.

Sau đó anh cắt khoẳm giò, đùi trước đùi sau, pha thịt, pha xương, pha thủ, . . . .

Tất cả các loại thịt, xương, gan tim, lá lách, . . .

được chia thành bốn phần đều nhau.

Lòng luộc chín cũng được anh chia đều thành bốn.

Riêng món tiết canh chú Gắng đảm trách cũng đã xong.

Chú đánh hơn chục bát, tiết canh đỏ, đông, đặc sánh, bên trên lại có lạc rang và dúm rau thơm.

Một đĩa lòng đủ các loại được bày lên mâm cùng với tiết canh và được bê lên nhà để người lớn ăn chung - bây giờ gọi là "lo lo ti ca" đấy.

Riêng nó bé nhất với anh Bát được ưu tiên cho cái đuôi dính mỡ nóng hôi hổi.

Hai anh em nó sướng lắm, nhận phần, chạy ra một góc chia nhau, đánh chén liền.

Ngày hôm đó, cả nhà nó vất vả, thày nó lọc thịt, chị nó rửa lá và đồ đỗ, bu nó gói bánh chưng.

Anh Bính nó sửa ông đầu rau, rửa cái nổi to, bắc bếp, chuẩn bị củi lửa để luộc bánh.

Chiều đến mọi việc đã xong, các chiếc bánh chưng vuông vức, xanh ngăn ngắt đã được xếp ngay ngắn trong nồi.

Chị Bính đổ xung quanh ông đầu rau ít trấu cho vào mấy cái củi nhỏ, ít thanh đóm diêm, thanh nứa rồi nhóm lửa.

Khi đã gầy được lửa, chị nó gác vào mấy cái gộc tre khô đã được chẻ đôi, chẻ ba.

Ngọn lửa đượm dần, được vứt thêm ít trấu, lúc sau đã hồng rực.

Nồi bánh chưng sẽ được nấu suốt đêm – gọi là ninh bánh chưng mà.

Cả nhà sẽ thay nhau túc trực để trông bánh.

Cô Biển con cụ Tài Nghiệm, ở nhà đối diện, đang yêu anh Trãi ở đoàn xe 14, đóng ở đầu phố, xung phong trông bánh.

Hai cô chú cứ ngồi sát vào nhau bên bếp lửa tâm tình.

Thỉnh thoảng họ lại đẩy thêm ít củi, vứt thêm ít trấu, cời than, rúc ra rúc ríc, nghe chừng tình tứ lắm.

Chỉ còn một giờ nữa là đến giao thừa, thầy nó châm thêm hai cây nến cắm vào hai đầu chân nến bằng đồng, bẻ một ít hương vòng đốt các đầu, cho vào trong cái đỉnh đồng.

Rồi thầy châm một vòng hương đặt lên cái cái cây cắm giữa bát hương, thắp bảy nén hương, cắm ngay ngắn phía trước.

Xong, thầy thay bát nước, pha ấm trà trong bộ xuyến bé xíu, đặt lên bàn thờ.

Vừa hay, chị dâu nó bưng mâm cơm giao thừa đã làm xong, đặt từng món ăn và cái bánh chưng mới bóc lên bàn thờ.

Thầy nó thay bộ áo the, khăn xếp và bắt đầu cúng.

Anh Bính nó lôi trong túi du lịch ra một bánh pháo hồng điều với dăm bảy quả pháo đùng.

Anh Bát và nó khoái quá, xúm lại giúp anh Bính cài mấy quả pháo đùng vào dây pháo.

Anh Bát lấy cái sào con, đưa cho anh Bính treo bánh pháo, đầu ngòi chúc xuống.

Đúng giao thừa, tiếng pháo to nhỏ nổ âm vang khắp cả làng.

Anh Bát nó vội cầm bánh pháo chạy ra cửa, giơ cao lên, anh Bính nó vo mẩu giấy cúi xuống đốt.

Bánh pháo giật mình nổ tung, thỉnh thoảng pháo đùng nổ váng lên, tóe lửa.

Xác pháo đỏ hồng tung tóe bắn ra khắp cửa.

Lũ trẻ con hàng xóm cùng với nó dũng cảm lao vào khói pháo để nhặt những quả pháo lép.

Nhặt hết pháo lép nhà nó, nó cùng bộn trẻ chạy qua nhà khác nhặt tiếp.

Đến lúc hết pháo nổ thì nó đã nhét được gần đầy một bên túi quần.

Sáng Mồng Một, cả làng dậy muộn, nhà nó cũng thế.

Bánh chưng luộc xong được vớt ra, xếp ngay ngắn trên cái sàng, bên trên đặt hai tấm gỗ, trên nữa thày và anh nó bê cái cối đá giã cua đặt lên để ép.

Nó dậy muộn nhất, lập tức bị chị dâu lôi ra lấy nước mùi rửa mặt, kỳ cổ, kỳ tai, rất kỹ.

Chị nó kỳ mạnh làm nó đau nhưng nước nóng, hương mùi thơm làm nó tỉnh ngủ.

Bu nó lôi ra cái quần yếm, cái đôi tất sọc xanh, sọc đỏ, đôi dép cao su đen bé xíu xinh xinh, cái áo sơ mi, cái áo bông, toàn đồ thầy nó chữa lại của các anh chị mặc thừa nhưng vừa vặn và đẹp lắm.

Sướng nhất là mình nó được cái "bánh mụn" bu nó gói cho, không biết được vớt ra từ bao giờ, bây giờ còn âm ấm.

Nó vội bóc bánh ăn.

Bánh thơm, ngậy quá, ngon quá, "nhem nhẻm nhèm nhem !"

Nó vội vàng tót ngay ra cửa vừa ăn bánh vừa hóng.

Mồng Một khác hẳn không khí tưng bừng nhộn nhịp của chợ xuân mấy ngày trước đó, ai cũng hối hả câu đối giấy, cuốn thư, tranh Đông Hồ vẽ con lợn, con gà, tranh in Trung Quốc màu sắc rực rỡ.

Sáng mồng một bao giờ cũng lạ, ngoài trời mưa bụi vẫn bay, phố phường vắng vẻ, im lìm.

Nó thấy đường phố dường như sáng trong hơn, sạch sẽ và tinh khôi.

Ngắm phố chán mắt, nó xúng xính trong bộ quần áo "mới" chạy tung tăng khắp nhà.

Thầy nó đang ngồi xếp bằng trên phản, ấp tay vào cái ấm trà mới pha nóng hổi.

Ông kéo cái điếu bát lại gần, châm lửa hút một điếu.

Rít xong điếu thuốc, thầy nó ho khù khụ.

Đợi cơn ho dứt, thầy nó chậm rãi chiêu một ngụm nước trà, rồi khà lên một tiếng khoan khoái.

Trước bữa cơm, thầy nó lần lượt gọi các con vào mừng tuổi mỗi đứa năm xu.

Riêng nó út ít được một hào mới cứng, đỏ tươi.

Anh Bính nó thì mừng tuổi cho các em đều nhau, mỗi đứa một hào.

Chị Thơ nó (còn gọi Vận lớn) cũng về quê ăn tết.

Chị chưa đi làm nên không có tiền mừng tuổi cho các em.

Chỉ mình nó được chị mừng cho năm xu.

Chị Thơ mới làm đầu "phi dê", trông chị cứ là lạ.

Ở quê nó, chị là người đầu tiên phi dê nên người lớn thì bảo là ra tỉnh đua đòi, còn trẻ con thì hò nhau trêu:

- Ơ súp lơ trái mùa . . .

Ơ súp lơ trái mùa . . . !

Chúng nó còn đồng thanh hát :

"Đầu phi dế trông cao bồi

Đầu phi dế trông chán ghê

Anh em ơi đầu phi dế trông cao bồi.

Thà cặp tóc ngang vai,

còn đẹp hơn phi dê !

Thà đội rế lên đầu,

còn đẹp hơn phi dê !

Nó tức cứ cầm que đuổi theo vụt bọn trẻ để bênh chị.

Dấm dớ thế nào, một lúc sau, chẳng thấy năm xu chị nó mừng tuổi đâu nữa.

Nó liền chạy về nhà rồi khóc ré lên làm cả nhà nháo nhác đi tìm.

Chị Thơ giả vờ tìm thấy, đưa cho nó đồng xu khác, nó phát hiện ra lại khóc ré lên không nhận.

Chị Thơ đành phải đưa thêm năm xu nữa thành một hào nó mới chịu nhận và thôi không khóc nữa.

Lần này, ăn chắc, nó vội lấy cái ống tre tiết kiệm và nhét hết tiền vào đấy.

Cái ống tre tiết kiệm của nó đã lên nước bóng nhãy, lưng vốn của nó đấy.

Nó âm thầm, bí mật lên kế hoạch làm ăn hẳn hoi.

Qua Tết ắt hẳn là tiền mừng tuổi nhiều, sẽ bổ ống ra mua của bu nó một mái gà để nó tự "tăng gia".

Mười năm làm dâu, mười năm trinh nữ, đằng đẵng mấy ngàn ngày, tưởng chừng tàn một đời hoa, thui một đời con gái.

Ấy vậy mà chỉ chín tháng sau cái Tết ngọt ngào đó, chị dâu nó sinh một thằng cu kháu khỉnh, khỏe mạnh.

Cả nhà nó ai cũng mừng vì ai cũng thương người chị dâu chăm chỉ, tảo tần, tận tâm tận lực với gia đình, thương chị bị ghẻ lạnh cả một thời xuân sắc.

Thầy bu nó là mừng nhất vì thằng cu là cháu đích tôn bấy lâu hằng mong mỏi.

Thầy đặt tên cho nó là Nguyễn Long Hoàng, ước mong cháu sẽ là ông hoàng của loài rồng.

Bé thế, nhưng nó oai lắm vì đã có năm đứa cháu.

Đầu tiên là cái Tuyết Văn, con chị hai, rồi thằng Son con chị cả, tiếp đến cùng lúc ba đứa cháu trai là thằng Hoàng con chị Bính, Hà con chị cả và Hùng con chị hai.

Lại nói, trước đó thày nó nằm mơ thấy bắt được ba con chim sẻ, thày nó cho vào túi áo nâu, cài kim băng lại cẩn thận.

Chẳng ngờ, có một con lách ra bay mất.

Y như rằng ?

Chỉ vài tháng sau thằng Hà cháu nó đi ỉa chảy, ông y tá xã là ông Nhiệt cho nhầm thuốc làm thằng bé chết.

Nó căm ông Nhiệt lắm !

Lúc nào nhớ cháu, nó lại vào ngõ nhà ông, đứng chửi "cha năm đời mười đời nhà thằng Nhiệt . . . !".

Hễ ông ta chạy ra cửa thì nó lại lủi vào vườn chuối um tùm nhà bà cả Riêng cạnh đó.

Thấy ông đi vào, nó lại chạy ra chửi "Tổ sư bố thằng Nhiệt lang băm . . . !"

Nguyễn Trọng Thập

Làng Thứa của Nguyễn Trọng Thập thuộc xã Dị Sử huyện Mỹ Hào.

Nơi đây, trước kia là một vùng quê nghèo, nơi có đến 90% dân số làm nông nghiệp, diện tích đất đai không nhiều mà cũng chẳng lấy gì làm phì nhiêu.

Những người thợ gặt thuê đến đây đã từng có câu ca rằng:

"Chắp tay vái lạy đòn càn !

Đồng Thứa thì lội, đồng Đan thì lầy."

Khi thằng Hoàng cháu nó được một tuổi cũng là lúc chị Vận con đi học địa chất.

Học xong, chị vào làm ở liên đoàn địa chất 36.

Chị Vận Thất đi học sư phạm, sau về dậy cấp1 ở Hưng Long.

Anh Bát nó cũng đã mười ba tuổi đang học cấp hai.

Nhà nó bắt đầu neo người, chị Bính là lao động chính nên rất vất vả.

Chị vừa đi làm để đảm bảo công điểm cho hợp tác xã.

Mỗi công chỉ ăn có hai đến ba lạng thóc, nhưng thiếu thì bị phạt cũng gay.

Ngoài ra chị còn phải làm thêm ruộng phần trăm của gia đình, có khi cấy lúa, khi cấy rau cần, khi thả bèo dâu, nuôi lợn mọn.

Chị Bính nó vẫn phải thức khuya dậy sớm lo cho bố mẹ và các em chồng.

Thày nó vẫn làm may, bu nó thì đi chợ.

Anh Bát nó ngoài giờ đi học cũng phải giúp chị dâu cấy gặt.

Anh Bát còn phải đi đánh dậm lấy cua cá về cải thiện bữa ăn.

Nó tuy vẫn còn bé nhưng cũng phải tham gia làm cùng gia đình.

Công việc cũng nặng ra phết.

Buổi sáng trước khi đi làm, chị Bính và anh Bát thường hay vãi thóc, vãi rơm ra phơi, giao cho nó phải dũi thóc, gẩy tơi rơm cho chóng khô lại vừa phải trông cháu cho chị đi làm đồng.

Khi cháu ngủ, nó phải tranh thủ thả bèo, nhóm nồi cám lợn, v.v . . .

Chị nó đi đồng về thường vào một giờ chiều.

Chị về cho cháu bú và cả nhà ăn cơm trưa.

Ba giờ chiều chị lại ra đồng làm tiếp.

Hôm ấy chị nó làm cố, đã hơn hai giờ chiều vẫn chưa thấy về.

Thầy nó đi nhận hàng trên huyện còn bu nó đi chợ.

Nó tự xới cơm, một mình ăn trước.

Cơm chan nước mưa, ăn với cà.

Thằng Hoàng cháu nó đói sữa quá, khóc ghê lắm.

Ngóng mãi không thấy chị về, giữa trưa trời tháng sáu nóng như đổ lửa, nó chẳng biết thế nào, đành bế cháu vào thôn Tháp nhà chị Diện xin bú nhờ.

Nhiều lần nó vẫn làm thế mỗi khi cháu nó đói.

Chẳng ngờ chị Diện hôm đó lại đi vắng.

Cháu nó đói quá rồi, cứ khóc ngặt nghẽo trên tay nó.

Nó tám tuổi rồi đấy nhưng mà vừa bé vừa còm nhom như con mèo hen.

Nó bế cháu lê la đi trên đường làng cứ như con mèo tha con chuột.

Rồi hai chú cháu nó lê dọc phố xuống Phùng Chí Kiên, mắt nó đăm đắm nhìn về phía đường năm, theo hướng bốt Đá, ngóng chị đi làm về.

Chị chẳng thấy đâu, người quen cũng chẳng có ai, rặt những người lạ.

Cháu nó khóc to, nước mắt nước mũi nhoe nhoét, nó nựng, nó giỗ mãi không được.

Tức quá nó phát đen đét vào đít cháu.

Càng phát, cháu nó lại càng càng khóc to hơn.

Cáu tiết, nó cấu thằng bé.

Càng cấu, thằng bé càng khóc thét lên.

Bất lực và mệt mỏi, nó ôm cháu, ngồi lên lưng con rùa đá ở cổng làng Ngọc Lập.

Dưới gốc đa, tủi thân nó khóc, nước mắt nước mũi nó cũng nhoe nhoét nhòe nhoẹt.

Trời tịnh không một ngọn gió.

Tiếng ve kêu ra rả, tiếng gà gáy trưa xa vắng, eo óc buồn.

Nó thấy sao mà khổ quá.

Rôm cắn rấm rứt khắp nơi, mụn nhọt đầy mặt, đầy tay nó ruồi đang bu đen, đuổi mãi chẳng xuể được.

Vừa lúc đó, cô Năm Sữa, cô họ nó, gánh lúa đi qua nhìn thấy, quát tướng lên :

- Nắng nôi thế này, mày bế cháu ra đây làm gì ?

Nó mếu máo:

- Cô ơi !

Chị cháu chưa về, thằng Hoàng đói sữa quá cứ khóc mãi.

Cháu xin bú chị Diện, chị lại đi vắng.

Nói xong nó tủi thân khóc rống lên.

Cô nó hạ gánh lúa xuống, lấy nón quạt phành phạch cho hai chú cháu rồi bảo :

- Về ngay, bế nó vào bà Tú Tư, con bà ấy mới đẻ đấy, xin bú cho nó.

Dường như bắt được vàng, nó lau mặt cho mình, rồi lau cho cháu.

Nó vội vã bế cháu vào thôn Sài, đến nhà bà Tú Tư.

Trời nắng lắm, nó nhặt một cái lá bàng to màu xanh tím, vừa làm nón cho cháu nó, vừa làm quạt, quạt cho thằng bé.

Vừa đi nó vừa lầm lũi hỏi thăm, thỉnh thoảng dừng lại để xốc thằng cháu cho đỡ mỏi và khỏi tụt xuống đất.

Vào tới cổng nhà bà Tú, nó thấy cô Ngụ đang ngồi cho con bú dưới bụi tre.

Thương hại thằng bé khát sữa, cô chuyển con cho bà Tú rồi đón lấy thằng Hoàng.

Thằng bé đang đói, vừa bập vào bầu vú, nó nhắm tít mắt lại, tu sữa tòm tọp.

Nó đã thiu thiu ngủ mà mồm vẫn mút oằm oạp.

Bà Tú lấy một củ khoai tím đã luộc trong rổ đưa cho thằng Thập.

Nó xin bà rồi ngồi xuống ăn dưới bóng mát êm ả của rặng tre.

Nó nghe tiếng võng bà Tú đưa cháu kẽo cà kẽo kẹt.

Nó nghe thấy tiếng rì rà của lá tre đang đùa reo trong gió.

Nó đã thôi không khóc từ lúc nào, thấy đời lại tươi mát và ngọt lịm như miếng khoai nó đang cắn trong miệng.

Nó bế đứa cháu đã ngủ say trên tay, cảm ơn bà và cô rồi tưng tửng bế thằng bé về.

Nó rất yêu nghệ thuật, ham đọc sách và có năng khiếu vẽ.

Mới có chín tuổi, nó đã nổi tiếng cả vùng vì khả năng vẽ bẩm sinh.

Các anh chị lớn hay nhờ nó đánh bóng chữ, viết chữ lồng vào sổ tay, vào khăn mùi xoa để thêu tặng nhau, để khâu vào nón.

Những chữ nó thường phải viết đại thể như kỷ niệm, nhớ mãi, đừng quên, . . . .

Thậm chí, nhà cụ Ký Bắc mở tổ HTX khâu nón trắng bài thơ, khâu thảm len, thảm gai, còn phải lên xin với bu nó, ngoài giờ học cho nó xuống huyện viết chữ lồng khâu vào nón theo đơn đặt hàng của cụ.

Có khi là vẽ lại các mẫu thêu ra bìa để làm dưỡng thêu.

Mỗi tháng cụ Ký trả cho bu nó mấy hào tiền công.

Bu nó nhét tiền vào ống tiết kiệm bằng tre để giữ cho nó.

Đến Tết, được nhiều tiền, bu chẻ ống tiết kiệm ra, lấy tiền mua giầy dép, mua diêm cho nó làm pháo.

Nó thích trò làm súng lục, nhét vào đó một cái van xe đạp hỏng, nhồi thuốc diêm vào đó.

Khi bóp cò, cái "búa" phía sau ghì bằng dây chun mới ra, gõ vào thuốc diêm làm súng nổ.

Nhiều đứa trẻ con đồng lứa nó rất thích.

Nó liền vượt tường rào trường cấp hai xã, nhặt nhạnh chân ghế, chân bàn gãy mang về làm một loạt súng lục để bán cho bọn chúng lấy tiền tiêu Tết.

Các chân ghế chân bàn gãy lấy ở trường học về để làm súng thì quá tuyệt.

Bề dầy của gỗ khoảng ba đến bốn phân.

Trước tiên, nó lấy bút chì vẽ hình khẩu súng lên đó, rồi nó lấy cái cưa con của thày, nó cưa cắt hình khẩu súng.

Sau đó, nó lấy dao gọt cạnh, khía báng, khía nòng.

Bây giờ cần phải đục lỗ làm nòng súng.

Phần gỗ làm nòng súng khá hẹp , mỗi bề chỉ chừng hai phân, cần phải khoan lỗ vào chính giữa môt cách chính xác dọc theo suốt chiều dài của nòng.

Nó kiếm một que sắt (về sau này nó mới biết - gọị là sắt phi sáu) đem mài nhọn một đầu và cắm đầu còn lại vào một đoạn tre làm thành một cái dùi.

Nó sang nhà bà Quýt bán phở bên cạnh, nướng cái dùi vào lò than.

Khi dùi đã nóng đỏ, nó dựng ngược súng lên, đặt dùi vào đúng tim nòng vừa ấn vừa xoay nhè nhẹ.

Mặc cho khói bốc lên cay xè mắt, hết lần nọ đến lần kia, nó cứ dùi mãi cho đến khi thông được sang đến đầu bên kia của khấu súng.

Bây giờ nó đã có một cái nòng súng đồng tâm thông suốt.

Công đoạn tiếp theo là lắp cái đầu van hạt gạo vào nòng súng.

Mấy cái van hỏng này nó phải đi xin anh Thới cụt hoặc anh Thăng què chữa xe đạp ở phố nó.

Van được nhồi vào cuối nòng súng, thân van khít vào nòng súng, đầu loe của van bám chặt vào gỗ ở phía ngoài, rất chắc chắn.

Trông khẩu súng đã hay rồi nhưng còn phải chờ có kim hỏa và cò nữa mới xong.

Nó lấy một đoạn sắt (phi 4), vừa bằng nòng trong của van, mài tù một đầu, đầu còn lại bẻ gập thước thợ một đoạn hai phân làm thành một cái "kim hỏa".

Một đoạn sắt phi bốn nữa đập bẹp ở giữa, một nửa uốn cong cong rồi luồn từ trên xuống dưới qua một cái lỗ nhỏ để làm cò súng.

Một cái dây chun vít kim hỏa vào nòng súng được buộc chặt vào nòng súng bằng những vòng dây chun khác quấn quanh nòng.

Bây giờ nó đã có một khẩu súng lục hoàn chỉnh, sẵn sàng nhả đạn.

Nó cho một que diêm vào đầu van, phần gỗ hướng ra phía trước, phần đầu que diêm có thuốc mắc kẹt vào đầu van hạt gạo.

Nó lên "qui lát" bằng cách kéo kim hỏa về phía sau, làm căng dây chun, rồi kê cái kim hỏa sát với lỗ van.

Khi bóp cò, cái cò súng nâng kim hỏa lên và phập vào lỗ van.

Đoàng . . . !

Một tiếng nổ vang lên, khói diêm bay khét lẹt.

Vào ban đêm, khi súng nổ, lửa tóe ra đầu nòng, rất oách.

Súng nó làm ra rất đẹp vì được đẽo gọt trang trí, xong sơn đen như thật, lại "bách phát bách nổ".

Bọn trẻ làng nó thích mà làm theo không được.

Thế là nó phát tài, cứ làm ra khẩu nào bán hết khẩu đó, một hào một khẩu.

Có vụ tết làm nhiều nó phải kiếm được mấy đồng bỏ ống.

Không chỉ làm súng mùa đông bán tết, mùa hè nó còn góp nhặt các vỏ bao diêm, vỏ hộp sắt tây các loại, mẩu gỗ nhỏ bỏ đi trong lò mộc cạnh nhà và rất nhiều nắp bia ở bãi rác bên huyện.

Tùy từng chất liệu, nó tạo hình rồi lấy cơm nếp làm thành hồ dán làm thành nhiều xe ô tô các loại khác nhau với bánh xe là nắp bia dùi lỗ.

Nó kéo xe ra cổng huyện, chở hoa me, hoa phượng.

Đứa nào thích, gạ nó, nó lại bán, tùy chất lượng xe, cái 5 xu cái 1 hào, v.v. . .

Đầu tháng tám, nó lại sang bãi rác bên huyện, thiên đường tuổi thơ của nó, nhặt các tờ pôluya đánh máy hỏng về ngâm nước gạo cho mờ hết chữ.

Xong nó lấy gạch non nhuộm màu đỏ, quả mồng tơi nhuộm màu tím phơi khô để làm đèn ông sao và đèn ông sư chơi rằm tháng tám.

Nó lấy tre bánh tẻ vót nan, chỉ may của thày nó làm dây buộc liên kết các nan tre với nhau rồi dán giấy "chế tạo" đèn ông sao, đèn ông sư.

Sau này lên tay, nó còn sản xuất cả đèn kéo quân để bán.

Thỉnh thoảng ở thiên đường bãi rác, nó nhặt được những quả pin "Con Thỏ" đã kiệt, có cả loại trung và loại đại.

Nó mang về cho vào nước muối luộc lên.

Nó kiếm ongbun (ampoules - bóng đèn pin) bằng cách xin ở đâu đấy đem nối dây điện nhỏ với mấy cục pin, bên ngoài chằng bằng dây cao su.

Thế là cu cậu có cái đèn chơi đêm.

Nó hay chui vào trong chăn, chùm kín đầu châm cực âm vào cạnh ongbun, cái đèn sáng trắng lên, rất khoái.

Bu nó vừa bán trầu vừa mua thóc cho các anh chị nó xay thóc làm hàng xáo.

Gạo ngon thì bán, tấm để nhà ăn, cám nuôi lợn, trấu để đốt lò.

Dân làng nó hay mua chịu, nên thỉnh thoảng bu nó sai nó đi đòi tiền.

Ban đêm đường làng vắng vẻ, nhất là vào ngõ chợ hay ngõ Bưởi.

Trời tối om, đường gồ ghề, chó sủa ông ổng, đi một mình nó sợ lắm.

Một tay nó cầm cái đèn chai hay cái đèn hoa kì bịt cổ cho khỏi tắt, một tay cầm cái gậy để đuổi chó.

Cái đèn thì bé, gió thì lộng, bóng đêm thì mông lung.

Các lùm cây nhìn chỗ nào cũng đen sì như bóng ma.

Nó vừa đi thỉnh thoảng vừa ngoái lại vì nghe thấy như có tiếng chân ai đó đuổi theo mình.

Hẳn là ma chứ còn ai vào đây nữa.

Nghĩ vậy người nó nổi hết da gà, toát mồ hôi lạnh.

Nhưng tệ nhất là lũ chó, cứ một con sủa là dắt dây cả làng chó cùng sủa.

Có nhà ba, bốn con đuổi theo.

Đuổi được con này thì con khác sồ ra, đến khiếp.

Cái giống chó cũng lạ, lấy gậy sua thì nó lùi ra xa, dừng xua thì nó lại thi nhau lao lên.

Nhưng mình giả vờ ngồi xuống nhặt gạch là chúng sợ chạy một đoạn rất xa.

Không biết sao, nhưng đó là kinh nghiệm dân gian mà bu nó truyền lại.

Từ ngày có cái đèn pin tự tạo, nó đỡ sợ phải đi đòi nợ hơn trong những đêm trời có gió to.

Đèn pin của nó còn có loa đèn bằng bìa trắng dán hình cái phễu tập trung ánh sáng, nó đi đòi nợ không lo tắt đèn nữa.

Thằng Hoàng cháu nó bấy giờ đã được hai tuổi, trắng trẻo đẹp trai.

Vì là cháu đích tôn nên cả nhà ai cũng yêu và chiều chuộng.

Riêng nó, không những nó chỉ yêu cháu mà còn tự hào nữa, vì gì thì gì nó cũng là bậc cha chú chứ ít của đâu.

Có cái đồ chơi hay của ngon vật lạ gì nó cũng để dành cho cháu.

Ngặt một nỗi, thằng bé lên hai tuổi mà chẳng nói năng bi ba bi bô, gọi bà gọi mẹ như những đứa trẻ khác.

Thằng bé chỉ ư ư, hự hự trong cổ họng, cả nhà lo nó bị câm.

Không biết ai mách, bệnh này phải chữa mẹo.

Ở cạnh nhà có cái bảng tin của huyện rất lớn, mỗi chiều có đến hai mét, thường dùng để kẻ khẩu hiệu.

Hôm đó, trời nắng chang chang, có một đoàn người ở xa đến.

Họ thấy gốc bàng cạnh bảng tin có bóng mát, liền chọn làm chỗ ngồi nghỉ trưa.

Họ bỏ cơm nắm, muối vừng ra ăn.

Bu nó bắt nó ra cướp cơm.

Lúc đầu nó không hiểu gì nên rất sợ.

Bu nó phải giải thích cướp cơm cho cháu ăn, cháu mới sớm biết nói.

Thế là nó liều.

Vượt qua nỗi sợ hãi, nó mon men tiến đến gần những người khách lạ.

Quả thật, nó là trẻ con nên cũng chẳng ai để ý làm gì.

Nó tiến sát đến người ngồi ngoài cùng chờ người ta đưa miếng cơm nắm trắng đục, to như múi bưởi lên mồm định cắn, thì bất thình lình, nhanh như cắt, nó giật phăng miếng cơm trong tay người ấy trước con mắt ngơ ngác của tất cả đám người.

Nó phi thật lực chạy vèo vào cổng huyện, chạy ngoằn nghèo trong các ngõ ngách đường làng.

Nó chỉ sợ bị người ta đuổi đánh.

Nhưng rồi nó cũng chạy vòng được về đến nhà và đưa miếng cơm nắm cho bu nó.

Tim nó đâp thình thịch, mồ hôi nhễ nhại.

Bu nó bế thằng Hoàng, cầm miếng cơm nắm vừa dứ vào mồm cháu 7 lần vừa khấn thầm lầm rầm gì đó.

Rồi bu bẻ miếng cơm, đút cho cháu ăn.

Chả biết là thế nào, ít ngày sau, thằng Hoàng nói được mấy từ bà bà, ba ba.

Cả nhà nó đều mừng, nó cũng sướng lắm vì cháu mình đã nói được mà nó lại là người có công lớn.

Ngày ấy, cả làng nó đã vào hợp tác xã.

Đã vào hợp tác xã thì ruộng chung, trâu chung.

Nhà nó cứ cách bốn ngày lại được dùng trâu bốn ngày.

Bốn ngày đó có trách nhiệm chăn trâu.

Nó phải chăn cho trâu ăn no bốn ngày.

Hôm nào chưa no, hai hõm ở cạnh sống lưng bên hông mà lõm vào thì đừng có trách.

Thầy nó tuy hiền nhưng nghiêm khắc và nóng tính lắm.

Chăn trâu đúng là phải có trách nhiệm, không những trâu phải no, mà cũng không được lơ là để trâu ăn lúa.

Thuở chăn trâu ngày ấy thực sự để lại cho nó nhiều niềm vui và hạnh phúc.

"Ai bảo chăn trâu là khổ,

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao . . ."

Sau này khi biết bài thơ "Quê Hương", chiêm nghiệm thấy Giang Nam nói đúng thật.

Nó vẫn là một thằng bé gầy ngẳng gầy nghoeo.

Bình thường đi chăn trâu đồng gần, nó thường hay đi sau cầm thừng điều khiển bằng cách kéo căng hay để chùng để trâu biết tự đi.

Tay nó cầm cái que tre, thỉnh thoảng vụt vào mông trái một cái.

Khi đi chăn ở đồng xa nó hay cưỡi trâu.

Nó thì thấp, con trâu lại cao.

Muốn leo lên lưng, nó bắt trâu cúi đầu xuống, trèo giữa cặp sừng, bám gù vai trâu, leo lên lưng nó, rồi quay người lại, ngồi dạng chân hai bên.

Cách thứ hai là tóm gù tai, chân trái đặt vào đầu xương kheo trên chân trước của trâu, kết hợp sức bật đu người lên lưng trâu.

Ngồi chễm trệ trên lưng trâu rồi, nó liền lấy gót chân thúc vào bụng trâu và dùng roi quất vào mông, dùng thừng giật "diệt . . . diệt . . ." hay hất cái thừng đánh vào mặt trâu "vắt . . . vắt . . .".

Ra đến đồng cứ nhét cái thừng chùng xuống, cho vào mông ngồi lên, để trâu lững thững tự do gặm cỏ, hai tay và mắt rảnh rang, nó tha hồ ngắm mây thưởng gió.

Những lúc như vậy nó lôi từ cạp quần ra cuốn truyện mà nó giắt sẵn ở đó từ nhà và khoan khoái đọc.

Truyện thì nhiều lắm, khi thì Tam Quốc Diễn Nghĩa, lúc thì Thủy Hử, hoặc truyện cổ tích, truyện tranh, . . .

Nó mê đọc truyện lắm.

Hễ nghe ở đâu có truyện hay là nó mon men mượn bằng được có hôm nó đi bộ mấy cây số sang tận làng bên đến nhà cụ lang Dịch mượn truyện.

Đối với Thư Viện Huyện hoặc Hiệu Sách Nhân Dân thì nó cứ xoắn xuýt nịnh các cô trông thư viện và cô bán sách bằng cách giúp các cô những việc lặt vặt như múc nước, hái rau v.v . . .

để mon men mượn sách.

Nó đọc hầu như hết các đầu sách dạng tiểu thuyết văn học, truyện tranh mà thư viện và hiệu sách có.

Những chiều hè mát mẻ đi chăn trâu sướng lắm, gió thì mát hây hẩy, chim chóc líu lo hót, cỏ xanh mơn mởn.

Mùi lúa làm đòng thơm ngọt thoang thoảng bay, mùi rơm rạ thơm nồng, mùi đất mới cày ải thì ngai ngái, mùi hoai hoai là của phân chuồng đang bón lót, mùi hăng sè sè là của nước đái trâu bò trên bãi chăn thả.

Ấy thế mà đi xa là nhớ da diết.

Khi xa nhà, chợt đến nào đó có mùi đồng đất như vậy là lại cồn cào nhớ.

Nỗi nhớ ấy là nhớ quê hương, cái mùi ấy là mùi quê hương, rất yêu, tha thiết !

Chán đọc sách, nó lại thả diều.

Anh Bát và nó làm diều rất hay, diều vừa bay cao, tiếng sáo lại trong.

Mỗi lần diều được dong lên cao, tiếng sáo diều o . . . o . . . , vi vút trên không trung, nghe sướng mê li.

Khi diều no gió, dây diều căng, nó hay xé các mẩu giấy nhỏ, rạch ở giữa đem cài vào dây diều.

Dây rung rung, gió nhè nhẹ đẩy, dần dần các mẩu giấy theo dây diều cứ tút lên cao cho tới tận đáy diều.

Nó bảo đấy là "viết thư cho Trời".

Chơi diều đã rồi, nó cột dây diều vào bụi cây, rồi quay ra chơi đánh khăng, đánh bi, đánh đáo hoặc chơi ô ăn quan.

Nó rất khoái chơi quay.

Quay của nó rất to, được đẽo bằng gỗ tay nhãn đặc, đầu đóng một cái đinh tù mũi, dây quay bện bằng sợi gai.

Khoái nhất là bổ trúng quay của đứa khác, nhẹ thì bập lõm vào con quay kia, mạnh thì thậm chí chẻ đôi quay đối thủ.

Quay đối thủ mà đổ "quay cu đơ" ra đấy là nó thắng.

Vào dịp đang mùa gặt hay lúc mới gặt xong, ngoài đồng rất nhiều chuột.

Bọn trẻ trâu hò nhau đi đuổi và vồ chuột.

Chúng còn tìm hang chuột, đem bịt hết các ngách hang lại bằng đất sét, chỉ để chừa lại hai cửa.

Một cửa đem tống rơm rạ khô vào rồi châm lửa, lấy nơm úp sẵn ở cửa còn lại.

Rơm cháy, khói nghi ngút được chúng quạt vào hang.

Bọn chuột không chịu nổi đành liều mạng vọt ra và chui ngay vào nơm.

Chúng đem những con chuột bọc trong đất rồi đốt rơm rạ để nướng, như nướng khoai.

Nếu có phân trâu bò khô mà nướng thì lửa càng đượm, "cháy nỏ" phải biết.

Khi chuột chín, chúng rỡ đất ra, lột theo cả lông và có khi còn lột theo cả da nữa.

Vặt đầu, cấu hết chân và đuôi, rạch bụng, moi hết lòng ruột vứt đi, chúng vừa chén vừa hò hét.

Thịt chuột nướng nóng, thơm phưng phức, ngon vô cùng.

Vậy nhưng không phải lúc nào chăn trâu cũng sướng.

Gặp hôm trời mưa, bão hay rét thì cực khổ.

Giữa cánh đồng mênh mông, chỉ có mấy đứa trẻ trâu co ro cúm rúm trong những chiếc áo tơi lá, rét run bần bật.

Mưa quất chéo vào mặt, rát rạt.

Gió lật áo tơi, giăng lên như cách buồm.

Nó vơ vội mấy dây rơm buộc thật chặt chặt cái áo tơi một vòng quanh bụng.

Đường mưa, bùn lầy trơn nhẫy, chân đất phải bấm móng chắc xuống, tê dại, cóng buốt hết mười đầu ngón chân.

Nhiều lúc cưỡi trâu không để ý, đến gần mương hay ao, bất thình lình trâu cắm hai chân trước xuống nước, cúi đầu uống nước mà chẳng "báo trước" gì cả.

Thế là nó nhào xuống nước, ướt như chuột lột từ đầu đến chân.

Rút kinh nghiệm, khi trâu đi gần nước phải đề phòng.

Nếu trâu chọc trân xuống uống nước, phải nhanh chóng đạp hai chân vào hai kheo chân trước của trâu, hai tay giữ chặt bướu vai của nó.

Lưng trâu lúc đó rất dốc, không cẩn thận là nhào xuống ngay.

Không may, sểnh ra, trâu nó ăn mạ thì phiền toái to.

Mạ non mà trâu nó đang quất ngon miệng thì có hét, có quất cũng chả ăn thua.

Thậm chí, trâu nó còn dứt thừng bỏ chạy vào ruộng mạ, có tức ứa nước mắt cũng khó mà bắt được nó.

Hợp tác xã mà bắt được sẽ phạt rất nặng nên đứa nào cũng sợ.

Một lần, thằng Bão con chú Trọn, để trâu ăn mạ.

Chủ nhiệm hợp tác xã gọi chú lên phạt thóc.

Về nhà, chú Trọn nọc thằng Bão ra đánh một trận tơi bời.

Thằng Bão tuy lớn tuổi hơn thằng Thập nhưng nó là con cô Gắng nên nó là em.

Ngược lại, thằng Thập tuy là anh nhưng lại là quân của thằng Bão.

Thằng Bão bị đánh đau, nó căm lắm.

Một hôm, trời nắng đẹp, quân tướng của thằng Bão đang chăn trâu, nó nhìn thấy con trâu cái nhà chủ nhiệm hợp tác xã thả ở bãi.

Thằng Bão lấy đâu được một đoạn gỗ tròn, dài đến bốn năm chục phân, to bằng cổ tay.

Nó đem quấn rẻ rách vào cái que, buộc dây thép xung quanh.

Xong nó đẽo vát một đầu và tẩm đẫm dầu vào đám rẻ.

Rồi nó bắt đầu kiên nhẫn rình.

Đợi đúng lúc con trâu cong đuôi lên ỉa, nhanh như cắt, nó bật lửa châm vào rẻ dầu.

Lửa cháy, nó đút nhanh thanh gỗ lửa vào lỗ đít con trâu, gần ngập lút . . . .

Nóng quá, con trâu tóp đít lại, lồng lộn phi.

Nó chạy hết ruộng này qua ruộng khác.

Bọn trẻ trâu vừa thích thú vừa sợ nên không đứa nào dám hò hét.

Chúng đứng lặng im nhìn con trâu đau đớn vật vã chạy lung tung khắp cánh đồng.

Không biết bao nhiêu ruộng lúa bị con trâu dẫm đạp, tả tơi . . . như vừa qua một trận bão lớn.

Đận ấy, gần chục mẫu lúa của hợp tác xã bị phá nát.

Cả làng truy vấn bọn trẻ trâu.

Đứa nào cũng sợ lắm !

Nhưng chúng còn hãi thằng Bão hơn nên "bố bảo" cũng chẳng đứa nào dám khai, không thì nó tẩn chết.

Nhưng rồi người ta điều tra mãi cũng tìm ra chuyện.

Thằng Bão bị đuổi học.

Đang đi cắt tóc rong từ làng bên về, hay tin, chú Trọn tức lắm.

Ông cầm cái đòn càn đi tìm khắp làng tìm thằng Bão.

Thằng Bão liền thì bỏ chốn ngay lập tức.

Nó chui vào khe của hai đống rơm to chất cạnh nhau, nằm sát tường cổng huyện.

Hai đống rơm và bức tường tạo thành một cái hõm hình tam giác, rất kín đáo.

Nó rút rơm, trải xuống đất, tạo thành một cái ổ rộng rãi và êm ái như một cái "ngai vàng".

Nằm trong "ngai vàng", nó sai "quân quyền" là thằng Thập và những đứa khác lấy thóc và gạo của nhà đổi bánh mì, mang nước uống đến cung phụng cho nó.

Không những thế, thằng Bão còn sai bọn trẻ đi hái trộm hoa quả trong vườn của các gia đình quanh đấy, mang đến cho nó.

Nếu buồn đi đại tiểu tiện, nó phốc qua tường rào chỉ cao có hơn một mét vào ngay cái vườn cạnh.

Thằng Bão nằm ở đó ít lâu thì bị lộ, chú Trọn mang cái đòn càn tới gọi con không ra, ông cứ nhằm khe mà chọc.

Chịu không nổi, nó phọt ra, ông vồ lấy túm tóc lôi về.

Thằng Bão bị ăn một trận đòn nhừ tử.

Nó bị treo ngược lên xà nhà, cứ thế mà roi mây vụt tới như mưa tuôn, thác đổ.

Sau khi đánh con một trận "tơi bời khói lửa", chú Trọn bắt thằng Bão phải ngồi viết bản kiểm điểm gửi đến hợp tác xã và nhà trường.

Rồi vài ngày sau, thằng Bão lại được đi học tiếp.

Nhưng chứng nào tật ấy, thằng Bão vẫn nghịch ngợm và ngang ngược lắm.

Nó thường tập hợp bọn trẻ, đẽo súng gỗ, gươm gỗ, quét vôi trắng, kéo quân sang làng bên đánh nhau với bọn trẻ bên đó để tranh giành lãnh địa chăn trâu và đánh dậm.

Thằng Thập, dù không muốn cũng buộc phải tham gia.

Một đận, thằng Hoàng cháu thằng Thập bị một cái "giọt bọc" ở trên trán trái, to như quả cam, mưng mủ mãi không khỏi.

Nó bị sai đi mời cụ lang Cới về trích nhọt cho cháu.

Cụ lang nặn ra được một bát mủ.

Nhưng thằng cu lại bị nhiễm trùng, sốt cao liên miên, các loại thuốc, loại lá chữa không khỏi.

Bu nó lên đình làng Vang xem bói.

Ông thầy nói số cháu nó không sống được, chỉ sống thêm được cùng lắm là một tuần, số "Giời" đã định thế.

Cả nhà than nó khóc than ời ời, đúng như nhà có đám.

Mọi người đau đớn chờ đứa cháu đích tôn ra đi mà không có cách gì chạy chữa được.

Bảy ngày đã trôi qua, rồi đến tám, chín, mười ngày sau mà cháu nó vẫn không ra đi.

Sau đó thằng bé từ từ khỏi, lại ăn ngủ tốt.

Sức khỏe trở lại bình thường.

Nó tức lắm, đến gốc cây quéo trước cửa đình làng Vang, chửi ông thày bói nói sàm.

Nó la hét chửi bới rất to cho bõ tức lão thầy bói nói cháu nó chết.

Chẳng ngờ bọn trẻ con làng này thấy kẻ thù xâm phạm lãnh thổ, liền hùa nhau đuổi đánh.

Nó chạy bán sống bán chết về đến gần nhà thì gặp em Bão.

Nó kể lại mọi chuyện.

Lập tức thằng Bão cho tay vào mồm làm còi, tu huýt . . ., tu huýt . . . .

Tiếng còi vang lên, lập tức hàng chục tiếng còi khác cứ truyền thông tin đi khắp phố.

Hai chục phút sau, quân sỹ đã tập hợp đủ lực lượng, gươm giáo tre, súng gỗ, gạch đá đút đầy túi.

Hơn hai mươi chiến binh phố nó hùng hổ kéo lên làng Vang.

Bọn trẻ con đuổi đánh nó xong đang vui vẻ chơi bi dưới gốc quéo đầu làng thì bị tấn công bất ngờ.

Chúng trở tay không kịp, tháo chạy tán loạn.

Thằng Bão xông lên, hùng dũng chạy rẽ đám đông, túm cổ thằng Nhượng "đảng trưởng" của làng Vang lên gối liên tiếp.

Nó bắt thằng Nhượng phải quỳ xuống quy phục.

Thằng kia không chịu, vùng lên đánh lại, hai đứa vật nhau hùng hục, tung cả cát bụi.

Trẻ con hai làng cứ trố mắt nhìn hai đại ca quần nhau.

Thằng Bão khỏe hơn, sau một hồi vật lộn, nó đã ghì sấp thằng Nhượng xuống cát, tì đầu gối vào lưng.

Một tay thằng Bão túm tóc, một tay liên tiếp thụi vào mặt thằng kia.

Thằng Nhượng ứa máu mũi, kêu đau oai oái.

Thằng Bão liền quát :

- Chừa chưa?

- Chừa rồi.

- Xin lỗi đại ca và xin quy phục đi.

- Em xin lỗi đại ca, em xin quy phục !

Thằng Bão buông tay, nó đứng dậy phủi quần áo :

- Từ nay hai làng không đánh nhau nữa.

Tao là thủ lĩnh.

Đứa nào không nghe chớ trách.

Rõ chưa ?

- Rõ !

- Bọn trẻ dồng thanh răm rắp.

Dứt lời, thằng Bão ra lệnh :

- Vứt hết "củ đậu" đi, chúng mày lục túi ra, có bao nhiêu tiền góp vào đây.

Hôm nay liên hoan đoàn kết, kết nghĩa huynh đệ !

Nói rồi nó móc túi lôi ra hai hào.

Những đứa khác, đứa có năm xu, đứa một hào, đứa không có, đều góp vào cả.

Tất cả được hơn một đồng.

Thằng Bão ra lệnh tiếp :

- Mấy thằng trèo lên cây quéo hái quả, thả xuống đây.

Hái quéo xong, đội quân rùng rùng kéo sang quán nước cụ Còi ở dưới gốc cây quéo phía trong.

Mỗi thằng một bát nước vối, còn bao nhiêu mua hết kẹo vừng, kẹo lạc.

Buổi liên hoan đoàn kết diễn ra rất vui vẻ.

Từ đó về sau thằng Bão em nó và thằng Nhượng thân nhau lắm, như con chấy cắn đôi, đi đâu cũng có nhau.

Lực lượng hai làng liên kết nên càng hùng hậu.

"Hội đảng" Phùng Chí Kiên hay tin cũng lập tức tự nguyện tham gia lực lượng.

Thằng Bão được thể càng vênh vang, làm lắm chuyện ngang tàng.

Cứ mỗi lần có chiếu bóng hay diễn kịch, chúng tập trung quân gần bốn mươi đứa mà chỉ mua một hoặc hai vé làm vì.

Lúc vào bãi, một đứa đứng ra che mặt người soát vé, một cái vé vào bãi ấy, chúng chuyền tay nhau vào được hết.

Có lần bị xé vé, đã thế, thắng Bão không mua vé nữa.

Nó lấy vé xé rồi, dán pô luya ở phía sau, cầm đầu một lũ bốn mươi tên tiến vào chỗ soát vé.

Người soát vé không cho vào, nó trả vờ cự cãi, cả bọn phía sau xúm vào bênh.

Hai người soát vé bị bao vây giữa mấy chục đứa trẻ đang lúng túng thì bất ngờ thằng Bải dẩy ngã người xé vé rồi hô to :

- A la xô . . . !

Mấy chục đứa trẻ chạy ùa vào trong bãi.

Khi lực lượng bảo vệ chạy tới ứng cứu thì chúng đã lẩn mất vào cùng với dòng người trong bãi.

Một thời gian sau đó, không nhớ là bao lâu, thằng Bão đi bộ đội.

Ngày nó tòng quân, rất đông bạn bè và "đàn em" đi tiễn.

Không hiểu nó đi lính có chịu được kỷ luật nghiêm khắc của quân đội ?

Chú Trọn cũng hy vọng người ta sẽ rèn cho nó vào kỷ luật sắt, có khi nó lại tiến bộ, chả biết được, dù sao thì chú cũng cất được một gánh lo.

Được vài năm, một hôm, nó nghỉ phép về thăm nhà.

Trông nó rắn giỏi và chững chạc, khác hẳn hồi ở nhà.

Nó mặc bộ quân phục mới coong, đánh cái thắt lưng da to bản.

Trên đầu nó đội cái mũ mềm có gắn sao vàng lấp lánh.

Bên hông nó, đeo trễ một khẩu súng lục đen xì lấp ló trong cái bao da màu nâu, bóng loáng.

Trông nó rất oai vệ.

Cả làng nó xì xào bàn tán, thắc mắc "Quái !

Thằng này mới đi vài năm mà lên chức nhanh thế ?

Nó đã được đeo súng ngắn, lại còn xà cột (sacoche – từ tiếng Pháp) nữa chứ !".

Nó không đeo quân hàm nên không ai biết nó đã lên đến cấp gì.

Nó nói với gia đình là nó về phép và tranh thủ hỏi cưới vợ.

Chú Trọn và cô Gắng rất mừng, chạy đôn chạy đáo tìm người mai mối cho nó.

Đám hỏi và đám cưới của nó được tổ chức rất nhanh chóng.

Bây giờ thằng Bão đã là trai có vợ.

Nhanh thật đấy !

Thằng Thập vui lắm vì có chú em là sỹ quan quân đội, lại còn có thêm cả em dâu nữa chứ.

Nó cũng cảm thấy hãnh diện ta đây lắm !

Sau khi thằng Bão cưới vợ, cả làng mới ngã ngửa người.

Hóa ra súng và xà cột chỉ có vỏ.

Trong bao, súng nặn bằng đất sét bôi đen, trong xà cột thì toàn báo cũ.

Nhưng nó đã cưới vợ rồi, biết làm sao ?

Thế mới hay chứ !

Ngày ấy, hợp tác xã của làng nó làm ăn thua kém lắm, cha chung không ai khóc.

Bẩy giờ sáng, có kẻng, mọi người mới lững thững ra trụ sở đội sản xuất nghe phân công, rồi lại lững thững, rồng rắn đi ra đồng.

Tới nơi còn ngả ngốn cười đùa, uống nước, hút thuốc lào vặt.

Phải đến chín giờ các xã viên mới xuống cày, bừa, cấy, hái, . . . mười một giờ, lục tục nghỉ ăn trưa giữa đồng.

Một rưỡi chiều đám xã viên mới dậy để làm.

Nhưng trước tiên lại phải chè, thuốc, cười đùa thoải mái cái đã.

Chả những thế, đội cấy còn giăng dây, giăng người thành hàng ngang mà "cấy tập đoàn" cho nó "khí thế".

Vừa làm họ vừa cười đùa, trêu trọc nhau.

Thật là vui vẻ hết mức !

Khoảng bốn giờ chiều, khi mà ánh nắng vẫn còn chói chang, khi mà lũ chim chiền chiện còn đang chao lượn trên đồng để kiếm mồi, ấy là lúc đã đủ thời lượng cho một ngày làm việc.

Các xã viên đều nhất loạt lên rửa ráy chân tay về nghỉ, chả ai làm cố làm gì, mai làm tiếp thì có chết ai đâu, mà cũng "chả ảnh hưởng gì đến thế giới hòa bình".

Sướng thật đấy ! chẳng còn đâu cảnh "đầu tắt mặt tối", "một nắng hai sương" truyền kiếp của người nông dân.

Sản lượng lúa và hoa màu rất thấp.

Sau khi thu hoạch, việc trước tiên là phải nộp thuế cho huyện và tỉnh đúng chỉ tiêu để nuôi quân, . . .

Sản phẩm còn lại, bấy giờ, mới chia theo công lao động.

Đội trưởng các đội và kế toán của hợp tác xã cứ bù đầu lên cộng sổ sách, tính công điểm cho từng lao động.

Để rồi, một công lao động chỉ được vài lạng thóc.

Cả làng nó "ăn dè, tiết kiệm" cũng chỉ có thể cầm cự được một phần ba thời gian kể từ "tháng ba" đến "ngày tám".

Thời kỳ "giáp hạt" kéo dài suốt hai phần ba thời gian còn lại.

Người dân ngày càng thiếu thốn đủ thứ, đói vàng mắt.

Nhà nó có mỗi mình chị nó đi làm ruộng, nên thóc được chia ít lắm.

Trông vào mấy thước đất "phần trăm" cũng chỉ đủ một nửa lương thực cho cả nhà.

Bu nó bon chen chạy chợ, làm hàng xáo.

Thầy nó cố gắng may đạt chỉ tiêu để lấy được bảy cân "gạo bông" (gạo mua bằng tem phiếu, mục mọt rất nhiều và rất hôi) một tháng mà chật vật lắm.

Anh chị em nó phải phụ thầy đơm khuy, thùa khuyết hoặc may đỡ thầy nó những đường đơn giản.

Dù vậy thiếu đói vẫn triền miên.

Cả làng phải băm rau muống phơi khô, hoặc thái khoai, thái sắn phơi khô cho vào chum để độn vào với gạo ăn cho tạm qua bữa chứ chẳng bao giờ được no.

Tranh thủ những ngày nông nhàn chị dâu nó thường hay lên Thái Nguyên ở nhờ nhà cô Tài và chị Biên nó.

Chị nó đi chợ chè và mua sắn đem về quê bán kiếm lời, gọi là đi buôn chuyến cho nó oai.

Sắn đẹp thì làm hàng để bán, sắn xấu thì thái phơi khô để nhà độn vào cơm ăn dần.

Một lần nó được chị đồng ý cho theo lên Thái Nguyên thăm cô và gia đình chị gái.

Nó mừng lắm cứ hồi hộp, thấp thỏm suốt đêm.

Sáng sớm nó cầm cái túi vải đựng vài bộ quần áo đi theo chị.

Chị dâu nó vác cái đòn xóc, một đầu đòn sọc vào bó bao tải không buộc chặt bằng một bó thừng.

Hai chị em đón xe khách đi ga Gia Lâm.

Từ ga Gia Lâm lên tàu hỏa đi lên mạn ngược.

Chị nó mua một vé người lớn hai hào, một vé trẻ em một hào.

Ngồi trên toa tàu chợ có hai hàng ghế gỗ chạy hai bên bóng nhẫy vì nhiều người ngồi.

Tàu chạy, nó quỳ trên ghế, hóng ra cái cửa sổ sắt đã được hạ xuống hết cỡ.

Nó cứ quỳ như thế mà ngắm nhìn phố phường, xóm làng, đồng ruộng, đồi núi vùn vụt chạy qua.

Mắt nó nhìn dường như không chớp, tóc nó tung bay trong gió.

Lần đầu được đi xa, mà lại được đi tàu, sướng quá.

Nó cảm thấy đời hạnh phúc và biết ơn chị nó lắm.

Trong toa tàu chợ rất bẩn, đủ các loại hàng hóa, thúng mủng, bao tải khoai sắn, rọ lợn, rọ gà, mẹt tôm, thúng cá, . . . thậm chí cả củi nữa.

Cứt lợn, phân gà, phân chó con nhoe nhoét chỗ này, chỗ kia.

Mùi xú uế, mùi mồ hôi người bốc lên nồng nặc.

Nhưng nó không quan tâm, nó đang bận thả hồn ngắm cảnh và dõi mắt lên những dải mây trắng vắt ngang bầu trời xanh ngắt, những cánh đồng và những làng xóm với lũy tre rậm rạp uốn cong.

Thỉnh thoảng vèo một cái, các cây bên đường tàu vụt qua che khuất, rồi cảnh vật lại hiện ra, loang loáng.

Hai chị em nó lên tới nhà cô Tài.

Nó được cô dẫn đi xem ga.

Trong ga, các đoàn tàu với các toa xe đen đúa, rỉ sét, xám xịt, to tướng nằm chình ình.

Các đường ray song song, mặt thép sáng xanh.

Những thanh ray được đóng ghim bằng những chiêc đinh to xuống các dầm gỗ thông màu nâu đậm vắt ngang bên dưới.

Các dầm gỗ được kê trên đá lót to bằng cỡ củ đậu, thấm dầu loang lổ.

Rồi nó qua nhà chị Biên chơi.

Anh rể dẫn nó đi tham quan bên ngoài nhà máy gang thép.

Nó nhìn thấy những ống khói cao vút, đen kịt đang phun lên trời, những nhà xưởng mái tôn rất to và những máy móc gì đó đồ sộ với hình thù thật lạ mắt.

Sau đó nó được lên đồi thăm khẩu đội pháo phòng không mười hai ly bảy mà anh nó phụ trách.

Nó cảm thấy cái gì cũng mới lạ.

Nó sung sướng lắm vì biết được bao nhiêu thứ, đúng là "đi một ngày đàng, học một sàng khôn".

Nó được chơi ở Thái Nguyên được đúng một ngày thì chị nó đã gom hàng xong.

Đang hứng thú với bao điều mới lạ, nó miễn cưỡng theo chị gồng gánh hàng ra ga lên tàu về xuôi.

Chị nó ham mua hàng nên khi mua vé tàu thì thiếu tiền.

Chị đánh liều chỉ mua một vé người lớn 2 hào, vé cước hàng hóa hai hào nữa.

Còn vé của nó thì đành phải tìm cách trốn.

Vẫn là toa tàu chợ bẩn thỉu hôi hám, nhưng chuyến về còn chật chội và ngột ngạt hơn vì hầu như ai cũng mua thêm sắn khoai, tải lớn, bọc nhỏ, "tay xách, nách mang".

Trong toa chật ních như nêm cối, chỗ bậc lên xuống cũng chật ních người đu bám.

Vì không còn một chỗ đặt chân trong toa mà cũng chẳng cần mua vé, nhiều người trèo lên ngồi ở nóc toa.

Nó còn thấy mấy người mắc võng dưới gầm toa, một số người khác ngồi đu trên thanh sắt bảo hiểm ngay gần đấy, trông thật đáng sợ.

Anh rể nó quen người bảo vệ ở ga nên hai chị em nó được vào sớm để chiếm chỗ tốt.

Chị nó có chỗ ngồi, còn nó lại được quỳ ngay ô cửa sổ.

Bẩn thỉu, hôi hám, chật chội, bị chen lấn xô đẩy nó cũng mặc kệ vì nó lại sắp được ngắm cảnh "kỳ thú" khi tàu chạy.

Con tàu hí lên một hồi còi dài, rồi một tiếng còi ngắn tiếp theo.

Nó oằn mình, hổn hển, giật giật mấy cái rồi từ từ lăn bánh một cách nặng nhọc.

Con tàu đang băng băng lao mình về phía trước, nó thì đang mơ màng ngắm trời mây, sông nước.

Cảnh ngoạn mục đang trôi qua mắt nó, dâng dâng sung sướng.

Bỗng nó giật mình, thì ra chị đang giật tay nó, mắt chị lấm lét, ghé tai nó thì thào :

- Em trốn xuống gầm ghế ngay, họ đi soát vé, lúc nào soát xong chị bảo thì hẵng lên !

Nhớ !

Nói xong chị nó xốc nách nó đẩy vội vào gầm ghế.

Bên ngoài chị chặn mấy bao tải sắn, xong, chị lại ngồi phủ hai ống quần , che kín vào khe hở.

Nằm xuống thì bẩn quá, ngồi thì không được vì gầm ghế quá thấp, nó phải cúi gập người, cong như con tôm.

Trời nóng hầm hập, mùi xú uế càng trở nên nồng nặc.

Để trốn thuế, mấy người buôn lợn con, chó con đã nhét mấy cái rọ chứa lợn và chó vào đó từ bao giờ.

Nhìn quanh mới thấy nó đang ở giữa một lũ toàn chó với lợn.

Lũ lợn và chó nóng quá đang há mồm, thè lưỡi thở hào hển.

Cứt chó và phân lợn nóng hổi đang "tỏa hương" ngay gần mặt nó.

Chưa bao giờ nó có cảm giác khổ sở và tủi nhục như thế này.

Liếc mắt qua khe mấy cái bao tải sắn, nó thấy đôi ba ta xanh, cái quần xanh công nhân rồi trên nữa là cái ca táp đeo vai màu nâu đen của người soát vé.

Nó không thấy mặt người soát vé nhưng người ấy cứ đi đi lại lại trước mắt nó.

Sao hắn cứ quẩn quanh ở đây lâu thế không biết.

Nó sốt ruột quá.

Mong sao cho người đó sớm đi khỏi chỗ này để nó nhô ra thở một chút.

Một lúc lâu sau khi không còn nhìn thấy người soát vé với đôi giầy xanh đâu nữa, nó đẩy cái bao sắn định bò ra.

Nhưng bao sắn thì nặng mà nó lại không có thế nên không thể đẩy được.

Sốt ruột, nó túm gấu quần chị nó, giật giật.

Chị nó lấy gót chân đá đá vào, ra hiệu cho nó nằm im.

Vừa lúc đó nó lại thấy sáu chiếc giày của ba chú cán bộ thuế đến kiểm tra, lần này lâu hơn nhiều.

Họ lục soát tất cả các tải hàng, tay nải, túi xách, thậm chí còn bắt khách đứng lên nắn thắt lưng xem có chè buộc vào bao tượng trong bụng không.

Tiếng quát nạt, tiếng xin xỏ, tiếng giằng co lúc căng lúc chùng cứ nhũng nhẵng kéo gần hai tiếng đồng hồ.

Mồ hôi nó túa ra chảy vào mắt cay xè, chảy vào lưng ngứa ngáy, rôm đốt nhoi nhói, muỗi vo ve, nó cảm tưởng mình sắp ngất đến nơi thì thấy cái gì mềm mềm, ươn ướt chạm vào trán nó.

Nó nhìn lên và nhận ra đó là khúc sắn luộc chị nó đưa xuống.

Nó giận lắm định không cầm, nhưng nghĩ sao rồi nó lại cầm vậy.

Tự dưng nó thấy mình đói, nước miếng cứ trào ra.

Nó đành phải nửa nằm nửa ngồi nhai tý tóp như thằng tù khổ sai trong cũi sắt.

Càng nghĩ nó càng căm chị nó.

Nó thề từ nay không thèm theo chị nó đi đâu một lần nào nữa.

Tu . . .

Tu . . . .

Một hồi còi tầu hý lên gióng giả.

Cuối cùng thì tầu cũng đang vào đến ga Gia Lâm.

Nó thấy rậm rịch tiếng chân người, ầm ào tiếng người lôi kéo hành lý, chen lấn xô đẩy để chuẩn bị xuống ga.

Chị nó vần cái bao tải sắn ra và gọi :

- Thập ơi !

Ra đi !

Nó cảm thấy như chim sổ lồng.

Thế là thoát cảnh địa ngục tù đày.

Nó chui ra khỏi gầm ghế, mặt mũi đen nhẻm, mồ hôi nhễ nhại.

Chị nó cởi cái khăn vuông đen, lau mặt cho nó.

Nó vùng vằng gạt tay chị ra, nó đang rất giận . . .

Thằng Hoàng cháu nó cũng còi cọc chẳng khác gì nó.

Bà ngoại thằng Hoàng thương cháu, ở trong làng ra chơi, mang cho nó mười quả trứng gà để tẩm bổ.

Mỗi ngày chị nó luộc cho cháu nó ăn hẳn một mình một quả.

Nó nhìn thèm lắm, ứa cả nước dãi.

Cứ lúc nào cháu nó ăn, nó lại mon men đến gần gạ xin.

Thằng bé tham ăn, không cho, nó chạy vào núp sau đít mẹ.

Thập ta tức lắm, mỗi lần không xin được, nó lại giơ nắm đấm ra dọa.

Thằng Hoàng lập tức hét lên :

- Bà ơi !

Chú Thập đánh.

Bu nó lườm cho một cái rõ dài.

Nó sợ, nuốt nước dãi chạy mất.

Đêm ấy nó vắt tay lên trán suy nghĩ rất lung rồi nảy ra một quyết định.

Sáng hôm sau, nó bổ ống tiết kiệm vuốt phẳng những tờ tiền giấy nhăn nheo, xếp các đồng xu thành mấy chồng, nó được hơn hai đồng.

Nó reo lên trong lòng "Ồi !

Tuyệt thật.

Mình có một số vốn to đây !".

Tối đến, bu nó đi chợ về, nó sán lại gạ :

- Bu ơi !

Bán cho con con gà mái nhá ?

- Tiền đâu ra mà anh mua ?

Nó giơ nắm tiền tiết kiệm ra.

Bu nó lại hỏi :

- Anh mua gà để làm gì ?

Nó nói, nó sẽ nuôi gà đẻ lấy trứng, ấp đẻ con cho bu đi chợ bán.

Nó sẽ tiết kiệm tiền nhờ bu mua cho con cái dậm.

Bu nó cầm nắm tiền đếm xong, liền bảo :

- Con gà mái bu bán rẻ cho anh năm hào, còn lại bu mua cho anh đàn vịt mà chăn, thiếu bu cho vay thêm.

Bao giờ gà vịt đẻ, bán đi anh trả bu, còn thừa lại bỏ ống.

Cố mà tích góp, bu sẽ mua cho quần áo mới

với cái dậm nữa.

Được chưa ?

Nghe bu nói thế, nó sướng lắm, lẩm bẩm trong lòng "Lần này mình sẽ tự kiếm được tiền, chả mấy mà mình sẽ có rất nhiều tiền."

Sáng hôm sau đi học về, nó đã thấy ở góc vườn hai mươi con ngan bé bằng nắm tay màu vàng ươm bu nó mua hộ được quây trong cái cót nứa rộng bằng cái nia mà thầy nó đã đan hộ.

Còn gà mái thì Bu nó cho chọn thoải mái.

Nó nhìn thấy một con gà hoa mơ vàng rất đẹp, nó liền chỉ con đó.

Bu nó gật đầu đồng ý.

Thế là từ đó nó có tài sản riêng, bắt đầu từ con gà mái mơ và một đàn ngan con.

Gà thì không có gì phải lo, tối đến chúng tự bay lên, đỗ vào cái giàn tre thầy nó gác ở trên nóc chuồng lợn.

Thóc lép của nhà thì đầy một bồ, ngày hai bữa nó cứ việc bốc cho gà ăn.

Nhưng là gà của nó nên nó hay bốc trộm thóc chắc và gạo đem cho gà nó ăn riêng và đứng canh.

Hễ gà của bu nó xông vào ăn tranh là nó đá, nó lấy que đuổi đi.

Thức ăn ngon như thóc, gạo hay giun, gián mà nó kiếm được chỉ cho gà nó độc quyền được chén.

Còn đàn ngan thì có vẻ nan giải hơn.

Điều đầu tiên, nó phải cắm cọc tre dưới gốc ổi buộc tấm cót sao cho đường kính nhỏ hơn cái nong rách để còn che đậy.

Mỗi khi có mưa thì phải phủ thêm một miếng ni lông lên trên.

Trên đường đi học từ trường về, ngày nào nó cũng phải tạt qua chợ, vào khu bán rau nhặt nhạnh trong đám rau nát hay rau già thải bỏ.

Có hôm nó nhặt được nguyên mấy bó rau cải úa, mấy cây xà lách bầm nát.

Về nhà, nó đem thái nhỏ biến rồi trộn thêm cám lợn làm thức ăn cho ngan.

Chiều chăn trâu về sớm, khoảng bốn giờ, nó thường lùa ngan ra bãi cỏ ở khu đất trống rất rộng trước cổng huyện gần ao nhà bà cả Riêng, nơi có những cây dứa dại và cây lúp xúp mọc hoang.

Bãi này huyện cấm thả trâu bò nên cỏ tốt và cỏ non nhiều lắm.

Nó thả ngan ở đó thấy không có ai nói gì.

Ngày ngày nó cứ chăm gà và chăm ngan như vậy, lặp đi lặp lại mãi đâm chán, nhất là phải đi thả ngan một mình, buồn chết đi được.

Cùng lớp nó có cái Huệ, con ông Quát bán phở ở cạnh nhà.

Thấy nó có đàn ngan, cái Huệ thích lắm.

Cái Huệ nằng nặc đòi bố nó mua cho đàn ngan.

Từ đó nó có bạn chăn ngan nên rất vui.

Chiều chiều hai đứa "hẹn hò" rủ nhau lùa ngan đi chăn.

Nhưng rồi cái Huệ chẳng làm bạn chăn ngan với nó được bao lâu thì phải bán ngan đi, phần vì cái Huệ ngại đi học bị bọn bạn chế với thằng Thập là "hai vợ chồng ngan", phần nữa vì nhà cái Huệ bán phở, đàn ngan về làm bẩn nhà.

Ông Quát bắt cái huệ phải bán đàn ngan.

Thế là chiều chiều thằng Thập lại phải lủi thủi dong đàn ngan đi chăn một mình.

Một hôm dong ngan ra bãi, thả ngan xong buồn quá, nó dò dẫm ra bờ ao nhà bà cả Riêng ở gần đó.

Chỗ này, trước đây có cái cầu ao bằng tre nay đã mục gẫy, không dùng nữa.

Nó với tay xuống ao, ngắt một lá khoai nước.

Nó thả lên hai hòn sỏi nhỏ lên trên lá khoai, lấy cái que nhỏ khỏa nước cho trôi đi.

Nó tưởng tượng ra một chiếc phà đang vượt sông.

Chiếc phà dần trôi xa bờ, nó cố với theo để khỏa nước.

Bỗng nó mất đà, đâm đầu, bổ xuống ao.

Nó hoảng sợ, quẫy đạp liên tục.

Rồi nó bị sặc nước, càng quẫy loạn xạ nó càng uống thêm nước. . . .

Không biết thằng Thập đã vùng vẫy như vậy bao lâu, xung quanh vắng lặng không một bóng người, chẳng ai nhìn thấy nó để mà cứu.

Nó cảm thấy ngày càng đuối dần, nó không thấy có cơ may nào để vào được bờ.

Nó biết nó sắp chết đến nơi.

Nó sắp sửa buông suôi tất cả . . . .

Nó thoáng nghĩ đến buổi học sáng mai.

Ừ ! mai là phiên trực nhật của nó.

Ai sẽ quét lớp, lau bảng và mang phấn cho thầy . . . ?

Thằng Thập đã đuối hẳn, một cách vô vọng, theo bản năng, tay nó vẫn quều quào chân nó vẫn quẫy quẫy và dần dần chìm xuống . . .

Bỗng chân phải của nó chạm phải một vật cứng, cái cọc tre đã gãy của cầu ao đóng ngầm dưới nước.

Đúng là "chết duối vớ được cọc", theo bản năng, nó đạp mạnh một cái.

Do cú đạp đột ngột đó, người nó lao đi một đoạn hơn một mét đến sát bờ ao.

Hai tay quáo quào, túm được bụi cỏ gà mọc um tùm lan xuống ao.

Nó ngoi đầu lên, thở gấp.

Nó cố đạp chân liên tiếp, may mắn thế nào lại gặp hai cái cọc tre trơn nhớt vì rêu nằm gần bờ.

Hai chân nó nhún lấy đà, hai tay nó túm vào cỏ đu người lên bờ.

Sống rồi !

Thật là Trời đã cứu nó !

Nó nằm thở hổn hển, đầu tóc, quần áo ướt rượt.

Hồi lâu, định thần lại, nó len lén đi luồn qua sau cái xe bò đang xếp mấy bao trấu của nhà bác Rưng.

Dù chẳng ai để ý nhưng nó cảm giác bao nhiêu ánh mắt dường như đang nhìn mình.

Về đến nhà, nó lủi theo lối cổng, luồn phía sau, lên nhà tìm quần áo để thay.

Bất ngờ thầy nó quay lại nhận ra.

Thầy nó giật mình hỏi tại sao lại ướt.

Nó định nói dối nhưng cái thước gỗ trong tay thầy nó và bèo tấm trên tóc, trên người không cho nó nói dối.

Nó đành mếu máo kể lại.

Thầy nó nguôi giận, không đánh mà lôi nó ra giếng rửa ráy, thay quần áo cho nó.

Ông quát :

- Anh Bát !

Ra lùa ngan về.

Bán ngay lập tức !

Nó mất mộng nuôi ngan từ đó và cũng từ đó thầy nó cấm tiệt việc nó ra gần ao chuôm nếu không có người khác đi cùng.

Mà chả cần cấm nó cũng sợ.

Nó mãi là một tay sợ nước.

Cho tới sau này, nó vẫn không biết bơi.

Thật tiếc !

Thời gian ấy chiến tranh phá hoại của Mỹ đã mở rộng trên khắp miền Bắc.

Chúng dùng không quân nhằm vào các mục tiêu là đường vận chuyển của ra các chiến trường ở miền Nam.

Nhà ga, bến cảng, đường giao thông huyết mạch là mục tiêu đầu tiên.

Rồi sau, chúng đánh phá tất cả các nhà máy, thậm chí là bệnh viện, trường học, khu tập trung đông dân cư, . . .

Cả miền Bắc căng ra vừa chống trả đế quốc Mỹ, vừa duy trì sản xuất lúa gạo và các sản phẩm khác để đảm bảo đời sống và tiếp tế cho các chiến trường.

Những khẩu hiệu cổ động khắp nơi, "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ Xâm lược", Mỗi người làm việc bằng hai", " Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", . . .

Cả miền Bắc thắt lưng buộc bụng, thực hiện chính sách kinh tế tập trung.

Ngoài nộp thóc thuế nông nghiệp được cắt ngọn ngay từ trước khi chia cho xã viên theo công điểm, các hộ xã viên còn phải nộp đủ chỉ tiêu, gà vịt, lợn, ngan, . . .

Tât cả vật nuôi, cây trồng nhà nước đều nắm độc quyền thu mua, điều hành phân phối, cấm buôn bán, giao lưu hàng hóa.

Cấm tuyệt đối không gia đình nào được tự giết mổ gia súc, gia cầm.

Giết mổ riêng là vi phạm pháp luật, bắt được là tội rất nặng, . . .

Người dân tìm cách đối phó với các điều cấm, sinh ra lắm chuyện bi hài.

Nhà có con gà rù, gay đây !

Làm đơn lên xã để xin giết thịt thì nhiêu khê quá.

Đành chờ đến đêm, người ta mới bí mật mổ trộm.

Một người lặng lẽ vặt lông mò trong bóng tối, người khác phải ra đứng canh cổng.

Vặt lông xong, lập tức phải đào hố chôn ngay.

Gà luộc xong không dám chặt, sợ hàng xóm biết được sẽ đi báo xã.

Phải kê thớt trên một lớp rơm dày rồi dùng dao mà cứa, cắt, nhay cho đứt chứ không được chặt.

Khi cứa đến đoạn gặp phải xương thì dùng chày gỗ đã bọc giẻ gõ gõ, . . ., mãi rồi cũng phải đứt.

Bằng cách nào đó bí mật, đôi khi cũng có thịt.

Kho thịt phải đúng bài để tránh mùi thịt bốc lên bay vào mũi hàng xóm.

Vậy thì thịt phải kho chung với cá.

Vẫn chưa yên tâm thì cho thêm nhiều ngải cứu lên trên.

Cái này hay đây !

Ngải cứu vừa át được mùi mà lại là màn che đậy đám thịt ở phía dưới.

Khi ăn móc thịt ở dưới lên từng miếng mà ăn.

Nếu có xương, gặm xong phải dấu đi ngay để sau đó đem chôn.

Nhà ông Ích Xì có con lợn bị ốm, đem nộp để tính chỉ tiêu thì không được mà có báo cáo lợn ốm xin mổ cũng không xong.

Ông Ích Xì đem mổ trộm, tiếc của, nhà chỉ chỉ dám ăn lòng còn bao nhiêu thịt thì mang sang làng bên bán dấm bán dúi.

Lại có chuyện ông Y Càrét mổ trộm lợn mang bán phải cõng lợn trên vai giả là cõng con bị ốm.

"Con" ông được chùm tấm áo mưa, vợ ông một tay xách túi quần áo, một tay xách phích nước.

Đúng cảnh hai vợ chồng đưa con đi chữa bệnh.

Lần này may thì qua mắt được các chốt kiểm tra nhưng lần khác gặp phải người tinh ý thắc mắc: "Tại sao nóng thế lại mặc áo mưa ?!

Cõng con sao không thấy đầu gối với bàn chân con đâu ?!".

Lộ ra là bị bắt, bị lập biên bản, bị giam trên xã, bị tịch thu lợn.

Còn chuyện ông Zét ngang nhiên được phép xử lý lợn mới hay !

Lợn nhà ông Zét đột nhiên bị ốm lăn quay, sùi bọt mép trắng, hai mắt trợn ngược.

Đợi đến gần tối, ông báo với xã xuống kiểm tra và báo cáo tỷ mỷ rằng lợn bị thổ tả, "miệng nôn chôn tháo" từ hôm qua.

Xã biết đây là bệnh tả lợn, không khéo lây bệnh cho lợn cả xã thì gay.

Xã lập biên bản cho xử lý ngay, chôn tại chỗ, rắc vôi bột lên "mả" lợn và toàn bộ chuồng lợn nhà ông Zét.

Lợn chôn xong thì cũng vừa tối.

Xã hết việc, xã về.

Xã vừa ra khỏi cổng thì cánh cổng cũng đóng lại ngay sau lưng xã.

Cử một người canh gác rồi cả nhà lập tức đào mả lợn lên.

Họ bí mật mổ lợn, cắt tiết hẳn hoi nhé !

Thịt xả nhỏ ra bỏ vào bao.

"Mả" lợn được đắp lại như cũ, cũng rắc vôi bột trắng xóa.

Ông Zét và con trai mang thịt đi lúc gà chưa gáy.

Đến chiều hai cha con nhà ông về không với một bọc tiền to.

Mãi về sau này, người ta mới biết ông Zét cho lợn ăn cái gì đó, bí mật chả cho ai biết, làm cho lợn bị say, lăn quay, sùi bọt mép.

Vì thiếu đói quá nên dân tìm cách "ăn vụng" và trốn thuế.

Tất cả các chỉ tiêu thóc và thực phẩm phải nộp thuế đều "qui ra thóc".

Người ta giấu thóc vào giữa đống rơm.

Có nhà đào hầm, chôn các bao thóc bọc ni lông xống, phủ đất lên, ngụy trang cẩn thận.

Thôi thì đủ các kiểu, . . . không thể biết được.

Đến ngày, dân quân vác súng và đòn càn cùng với cân tạ đi đến từng nhà để thu thóc thuế.

Nhà nào không nộp đủ, xã gọi loa suốt ngày đêm bêu riếu.

Chẳng những thế, dân quân còn khám xét, săm soi rất kỹ.

Thóc được phát hiện đem ra cân cho đủ chỉ tiêu phải nộp, không cần biết nhà đó còn bao nhiêu thóc để sống trong thời gian chờ tới vụ sau.

Còn chủ nhà thì bị bắt, giải lên xã.

Mỹ bắt đầu đánh bom không hạn chế nên tất cả các nhà máy, các thành phố, thị xã, nhà ga, bến xe, . . . , tóm lại là những nơi tập trung đông người đều phải đi "sơ tán".

Nghe các ông bà, cha mẹ kể lại, thời Pháp, người dân cũng phải đi "tản cư".

Thời Mỹ bỏ bom này, người ta dùng từ "sơ tán" nghe cho nó nhẹ đi và làm cho dân đỡ cảm thấy hoang mang, dao động.

Họ hàng nó ở Hà Nội về sơ tán ở quê đông lắm.

Các anh chị và các cháu nó ở Hà Nội, Thái Nguyên và Hải Phòng cũng chạy về quê.

Mà ngay phố chứ đâu, cũng phải đi sơ tán.

Nhà nó chạy vào ngõ Bưởi.

Khắp phố huyện, khắp làng, chỗ nào cũng đào hầm tăng xê, hầm chữ A và giao thông hào hai bên đường cũng như trong ngõ hay cạnh sân kho, cạnh trường học.

Trường học của chúng nó được chuyển vào sâu trong làng, cách xa đường quốc lộ.

Các lớp học được đắp tường đất bao quanh cao mét rưỡi, thành ra trông những căn lớp lợp lá thấp lè tè.

Cửa phụ của lớp học thông thẳng ra giao thông hào và hầm chữ A.

Khi đi học, đứa nào cũng phải đeo nùn rơm sau lưng và đội mũ rơm trên đầu.

Lớp nó nằm gần sân kho thôn Bưởi, sát với bờ mương.

Bên bờ mương mấy chiếc thuyền dùng để chở lúa vào mùa gặt đang nằm ép vào bờ.

Giờ ra chơi, bọn chúng thường nhảy xuống đùa nghịch nhau trên các con thuyền không đó.

Rất đông đứa trèo lên thuyền, hò hét, chơi trò dập dình làm cho nước tràn dần vào thuyền.

Đến khi thuyền đầy nước sắp chìm, chúng nhẩy sang thuyền khác, thò tay qua dập dình tiếp cho đến khi thuyền chìm hẳn.

Có bận chúng còn dùng đất mới cầy ở ruộng đáp đầy vào thuyền để làm thuyền chìm.

Ông chủ nhiệm hợp tác xã đi qua trông thấy tức lắm.

Ông quát sùi bọt mép :

- Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò !

Rồi ông tóm cổ đứa nghịch nhất lớp, chính là thằng Ngưng con ông, đáp thẳng nó xuống mương.

Thằng Ngưng vừa bơi vừa hét lên :

- Tôi biết rồi nhé, tối hôm qua tôi thấy bốn cái chân trong buồng.

Người nhà ngủ với người nhà.

Ê . . .

ê . . . !

Mọi người cười ồ lên một trận phá lá . . .

Ông chủ nhiệm cũng không nhịn được, phì cười mà bỏ đi.

Cơ quan huyện cạnh nhà nó đã đi sơ tán hết, phố phường, chợ búa vắng teo.

Tối đến, không đủ dầu thắp, mỗi nhà chỉ dùng một ngọn đèn hoa kỳ (đèn nhỏ, thắp bằng dầu).

Chả những thế, đèn còn phải che chắn không cho ánh sáng hắt ra xa để phòng tránh máy bay.

Để tiết kiệm dầu, bẩy giờ tối đã phải tắt đèn đi ngủ.

Làng xóm và đường phố tối thui tối thủi "như đêm ba mươi".

Nhưng suốt đêm ở ngoài đường Năm những đoàn xe bánh lốp, bánh xích của Trung Quốc, Liên Xô ầm ì chạy.

Những đoàn xe chở pháo, chở tên lửa cắm đầy lá ngụy trang, bật đèn gầm, rồng rắn di chuyển từ phía Hải Phòng về phía quốc lộ Một.

Trên cánh đồng ngoài làng nó, người ta cũng triển khai mấy bệ phóng tên lửa và các trận địa pháo cao xạ.

Chiến tranh đã đến tận làng nó rồi.

Không khí thời chiến vừa khẩn trương vừa nhộn nhạo trong tất cả các công việc từ việc làm đồng của người lớn, việc học hành của trẻ con đến việc sinh hoạt, ăn ở, đi lại, . . .

Loa phóng thanh của huyện được treo ở mấy nơi, trên các cây cao để có thể báo động máy bay cho dân cả ngoài phố, trong làng và trên cánh đồng.

Đồng thời có dân quân túc trực để sẵn sàng đánh kẻng báo động cả ban đêm lẫn ban ngày.

Tiếng loa và tiếng kẻng báo động đã vang lên ở quê nó nhiều lần.

Giọng người đọc phát lệnh báo động nghe đã quen nhưng mỗi lần nghe cái tiếng ấy nó vẫn cảm thấy gai hết cả người.

Tiếng kẻng báo động đánh dồn dập rất nhanh, cấp tập ba tiếng một, keeng keeng keeng . . . keeng keeng keeng . . .

Bây giờ nhớ lại vẫn thấy ghê ghê, rờn rợn.

Đang học mà nghe báo động là cả lớp nó bổ nháo bổ nhào lao ra cửa, chạy ra giao thông hào rồi chui nhanh vào các hầm chữ A.

Khi báo yên, bọn trẻ chui ra khỏi hầm, người đầy bụi đất, thi nhau phủi.

Những lần hầm hố có nước thì đứa nào đứa ấy bùn lấm lem hết cả quần áo, chân tay.

Một hôm, cũng như những lần khác, đang ngồi học yên tĩnh thì bất chợt có tiếng loa ọ ẹ rồi tiếng phát thanh viên gióng giả vang lên :

- Đồng bào chú ý !

Đồng bào chú ý !

Máy bay địch đã xâm phạm vùng trời Hà Nội, Hải Phòng.

Có một tốp đang bay về phía huyện ta.

Đồng bào khẩn trương xuống hầm trú ẩn !

Các lực lượng phòng không sẵn sàng chiến đấu !

Từ cửa hầm, nhìn ra cánh đồng, thấy một tốp máy bay đang lao rất nhanh, thẳng tới.

Bất chợt một chiếc bay chúc xuống cắt bom rồi bay vọt lên, tiếng động sèn sẹt qua đầu như xé vải.

Vài giây sau, bom nổ ầm ầm, rung nghiêng cả nhà cửa cây cối.

Bụi cát, đất đá, khói đen bốc lên mù mịt.

Lúc đó, các trận địa pháo đang nổ súng.

Đạn pháo cao xạ vút lên đan chéo nhau trên không trung như mắt lưới.

Thình lình, một quả tên lửa phòng không lao lên, kéo theo vệt khói trắng ngoằn nghèo in lên nền trời xanh biếc.

Nó cũng đã từng nhìn thấy pháo phòng không và tên lửa bắn ban đêm, làm rực đỏ cả một vùng.

Ánh đạn nổ, đường đạn đi chiu chíu đan nhau rực sáng như đêm hội hoa đăng.

Trận oanh tạc hôm ấy, chúng đánh vào Ủy Ban Huyện ngay cạnh nhà nó, trên đường số Năm.

Sóng xung kích và hơi bom làm đổ sập căn nhà ngang của chị dâu nó, Làm tốc một phần mái dạ trên nhà chính.

Có vài người trong Ủy Ban không chạy kịp hay bom đánh trúng hầm, nó cũng không rõ lắm.

Nó chỉ thấy người ta nhặt các xác người không còn lành lặn, bọc ni lông, cho vào băng ca mang đi.

Có người bị bom tiện đứt tay, cánh tay văng lên cành cây, lắt lẻo, máu đỏ lòm nhỏ xuống, trông thật khiếp sợ.

Sau đêm đó thầy nó cho dỡ luôn nhà ngang, không dựng lại nữa.

Sau này, cái nền nhà thầy nó để mấy đống rơm và làm hộc lúa bằng tre trát đất đặt ở đấy.

Đúng thời gian ấy, Anh Thưởng chồng chị Dụng nó là thiếu tá tiểu đoàn trưởng đang chỉ huy đơn vị pháo phòng không ở Thái Nguyên.

Trong một lần máy bay Mỹ oanh tạc bắn phá ở Thái Nguyên, vừa dơ cờ hiệu lên ra lệnh cho đơn vị bắn thì một mảnh bom chém phăng ngay vào tay phải của anh.

Tạm cầm máu xong, anh lại dùng tay trái tiếp tục chỉ huy đơn vị chống trả máy bay Mỹ.

Sau trận đánh cánh tay tìm được dưới đống đất đá đã đen kịt không thể nối lại được nữa.

Anh được đưa đi viện và thành thương binh cụt tay.

Sau đó anh giải ngũ, đưa vợ con trở lại quê hương sinh sống.

Ở Hải Phòng anh Bính nó cùng em Bào con chú Hiền đều là chiến sĩ phòng không bảo vệ nhà máy.

Hai anh em phụ trách khẩu trung liên đặt trên nóc tầng tư nhà máy xi măng Hải Phòng.

Mỹ đánh trúng nhà máy, một mảnh đạn lớn găm vào ngực em Bào và Bào đã hy sinh tai chỗ.

Chú Hiền mất người con trai duy nhất mà thằng Thập vô cùng yêu quý.

Sau lần đó, anh Bính chuyển về Hà Nội, làm ở nhà máy cơ khí Hà Nội.

Sau cái Văn và thằng Hùng, bây giờ Chị Dụng đã sinh thêm một cháu gái nữa là bé Mai Liên.

Chị đưa ba cháu cùng bà Ngà giúp việc về sơ tán ở nhà nó.

Cứ cuối tuần anh chị đạp xe từ Hà Nội về mang gạo, thịt, đậu, tiếp tế cho con.

Tuy ở chung trong một nhà nhưng nhà chị ăn riêng.

Nhà chị cũng rất nghèo nhưng dù sao ở Hà Nội, anh chị và các cháu đều có tem phiếu, chị lại làm ở cửa hàng thực phẩm, anh là cán bộ công ty thương nghiệp, nên bữa ăn của các cháu không phải độn rau muống, sắn khoai như nhà nó mà lại còn có miếng thịt, con cá.

"Dân Hà Nội" cũng phải ăn độn nhưng mà độn mì sợi, một thứ mà đối với "dân nhà quê" thì đó là một đặc sản (theo nghĩa một món ngon đặc biệt).

Chẳng những thế, mấy đứa cháu nó còn có đường sữa ăn đều đặn.

Thế ra dân nghèo Hà Nội còn hơn trưởng giả xó quê mùa.

Nó thấy đời thật bất công và có phần tủi thân lắm.

Về sau này, khi đã lớn, nó hiểu ra một điều, người nông dân bao giờ cũng là người vất vả nhất nhưng lại là người nghèo nhất, "thấp cổ bé họng" nhất.

Nhà nó bấy giờ có sáu người, thêm chị Thất và chị Vận đã học xong đang nghỉ ở nhà chờ xin việc thành tám miệng ăn.

Đời sống nông thôn quá khó khăn, tiêu chuẩn chế độ không có, ăn uống kham khổ vô cùng.

Nó lúc nào cũng thèm được ăn một bữa cơm thật no.

Nó thèm thịt, thèm cá, . . . thèm đủ thứ.

Nó ít ốm lắm, họa hoằn lắm nó mới ốm một lần.

Tội nghiệp cho thằng bé, lúc nào nó cũng chỉ mơ bị ốm thật nặng, không ăn uống gì được.

Sao lại có cái ước mơ lạ đời như thế chứ ?

Thì ra nó muốn ốm nặng như thế, bu nó sẽ thương mà dũng cảm bỏ ra hai hào sang nhà ông Quát mua cho nó bát phở (ốm nhẹ thì đừng có hòng).

Một mình nó một bát phở.

Ôi sao vĩ đại thế !

Lúc đó, dù có ốm nặng mấy đi nữa mà nhìn thấy bát phở đầy đến miệng, mỡ nổi lều phều vàng óng ánh bám vào thành bát, mùi thơm quyến rũ của nước dùng, màu trắng ngà của những lát thịt gà ẩn hiện thấp thoáng dưới mấy lá hành, lá rau thơm, cái mềm mềm, dai dai của bánh phở, vị ngọt lịm ngấm vào từng tế bào lưỡi, . . . là nó lập tức nhổm dậy đáp lại một cách cuồng nhiệt nhất.

Lần nào cũng vậy, tuy nó rất cuồng nhiệt nhưng vẫn xúc ăn một cách từ từ.

Nó ăn từ tốn như thế không phải vì quá mệt do đang ốm mà là nó cố tận hưởng hết cái sung sướng đầy tính ẩm thực đang vỗ về cái lưỡi khát thèm của nó, tận hưởng mùi thơm bay vào mũi, vị ngọt chảy vào chân răng, . . .

Nó đang nhấm nháp hạnh phúc ngọt ngào đấy.

Bữa cơm nhà nó thường chỉ dùng gạo xấu, vừa rời rạc vừa hôi, cho rẻ tiền.

Mà gạo xấu cũng chả đủ nên phải độn thêm rau muống và sắn.

Cơm chan nước rau luộc vào mà ngoắng lên một cái thì không khác gì bát cám lợn.

Còn thức ăn thường là rau muống, hái thật dài, không bỏ cuộng già cho tiết kiệm.

Nước chấm là nước muối cua, sang thì là tương.

Bữa ăn gồm một rổ rau muống già tú ụ, có thể có thêm một đĩa cá mụn hoặc là tôm tép lẩm cẩm kho thật mặn "một con tôm ôm ba hạt muối" để không ăn được nhiều.

Tôm mà cứ gắp gắp là bu nó lại lườm cho một cái nên đành phải thôi.

Thường khi bát cơm mới xới đầu tiên, bu xúc tôm cho mọi người, mỗi người một thìa con dúi sâu vào dưới cơm và không quên nhắc nhở : "Ăn dè cả bữa đấy !".

Ai không chịu ăn rau, bu nó lại quát : "Mày không ăn rau, sợ nó xanh ruột à".

Cả nhà nó ngồi "úp thìa", người này quay lưng vào mặt người kia cho đỡ chật, cứ thế cắm cúi ăn.

Nhìn sang mâm của các cháu ngồi ngay cạnh đó, bao giờ nó cũng thấy có nồi đậu rán dở, vàng ươm, kho chung với thịt ba chỉ thái to như ngón chân cái mầu nâu đậm, óng mỡ với cà chua đỏ rực và hành thái lát xanh ngắt.

Nó thèm lắm, chỉ ước gì mình là con chị nó thì sẽ được mặc đẹp, ăn ngon như những đứa cháu đồng trang lứa với nó.

Mỗi lần nó chống đũa tần ngần nhìn sang, bu nó lại lấy tay huých nó.

Nó ngượng lắm, nó không nhìn sang nữa, cắm mặt xuống ăn.

Nó cứ day dứt tự hỏi, sao mình nghèo hèn thế, mình là cậu chúng nó cơ mà.

Nó thích nhất những khi chị nó về.

Có hai cái bánh mỳ, bao giờ chị cũng cẩn thận cắt từng khoanh chia cho từng đứa trẻ.

Những lúc như thế, chẳng những nó cũng được ăn mà nó còn cảm thấy được bình đẳng với những đứa cháu.

Nó ăn thật chậm, nhấm nháp hương vị miếng bánh để cái sự sung sướng được kéo dài ra thật lâu.

Anh Bát nó thì chén vèo một cái đã hết.

Anh quay sang gạ xin hết đứa nọ đến đứa kia.

Nó biết vậy nên toàn phải trốn.

Những khi trốn không được, bao giờ nó cũng đành bẻ cho anh nó một miếng bé tí tẹo.

Đến bữa cơm, chị nó gắp một đĩa đậu kho nhỏ đưa sang biếu thầy bu nó.

Tám người thì sẽ chính xác là tám miếng đậu.

Thầy bu nó thường không ăn, nhường phần cho nó.

Có một lần chú Tự, bạn thân của thầy nó, người được thầy nó cưu mang và chịu ơn đến nhà nó chơi.

Chú phiêu bạt một thời gian lên tận Bắc Kạn.

Rồi hỏi thăm được địa chỉ nhà nó chú tìm về chơi để tạ ơn ân nhân.

Chú biếu thầy nó cái bộ đỉnh đồng nhỏ của gia bảo, một cây hồng dại để trồng làm thuốc cho phụ nữ mang thai và hậu sản.

Cho nó một cái cần câu trúc nho nhỏ xinh xinh.

Tiếp đón bạn quý, thầy nó dũng cảm mổ thịt một con gà bằng hai nắm tay.

Mổ xong chặt ra chỉ được một đĩa nhỏ cả lòng mề.

Trước khi ăn thầy nó dặn :

- Đây là phần bác Tự.

Các con không đứa nào được gắp.

Vào bữa, cả nhà ăn cơm với rau chấm tương và tép kho mặn. riêng đĩa thịt gà không ai dám gắp, chỉ lấm lét nhìn.

Thấy nó bé nhất, chú Tự bế nó vào lòng, gắp cho nó một miếng rất to.

Nó thích lắm nhưng nhớ lời thầy dặn liền gắp trả lại vào đĩa.

Chú Tự cứ dúi miếng thịt vào bát, mà nó thì sợ sệt đưa mắt nhìn thầy bu.

Thầy nó khẽ gật đầu, nó yên tâm đang định ăn thì anh Bát nó đánh mắt ra hiệu.

Nó nhìn sang anh Bát nó đang lắc đầu quắc mắt, nhưng thèm quá, vả lại thầy đã đồng ý rồi nên nó cứ ăn, muốn đến đâu thì đến.

Anh Bát nó dơ nắm đấm dọa.

Nó biết là sẽ không yên với anh Bát, một mình ăn một miếng thịt gà đâu phải chuyện nhỏ, nhưng nỗi thèm ăn miếng thịt của nó đã vượt lên trên sự sợ hãi.

Ăn cơm xong, anh Bát lôi nó ra sân, tát cho nó một cái lật mặt rồi quát :

- Tao không cho, sao mày dám ăn ?

Nó trợn mắt quát lại :

- Bác Tự cho em, với lại thầy đồng ý rồi.

Anh nó gầm lên :

- Nhưng tao chưa đồng ý.

Tao cấm mày !

Bị tát đau, nước mắt nó dàn rụa, thầy nó nghe tiếng xuống hỏi chuyện gì.

Nó mách :

- Thầy với bác Tự cho con ăn thịt gà, anh Bát không cho, đánh con.

Thầy nó tức lắm nhưng nhà đang có khách nên không nói gì.

Lúc bác Tự về, thầy nó gọi anh Bát lên, bắt nằm ra giường vụt cho ba roi vì can tội bắt nạt em, lại đúng lúc nhà có khách.

Anh Bát căm nó lắm, từ bấy rắp tâm trả thù.

Hôm sau, cả nhà đi gặt, nó ở nhà dũi thóc, trông gà, băm rau lợn.

Giữa trưa trời nắng như đổ lửa, anh Bát ngoặt nghoẹo gánh lúa về đến sân, mặt đỏ bừng bừng, mồ hôi nhễ nhại.

Thấy nó đang ngồi trong bóng râm cắn chắt và đọc truyện, Anh Bát chạy ngay lại, giằng quyển sách khỏi tay nó quẳng đi và quát :

- Cứ cắm đầu mà đọc sách, gà ăn lúa sao mày không đuổi ?

Nó giật mình nhìn lên, thấy đàn gà hàng xóm đang bới tung sân thóc và mổ ăn lia lịa, chợp . . . chợp . . . chợp . . . .

Nó biết lỗi, hoảng quá, lao ra xua hú . . .

ù . . . hú . . .

ù . . . làm cho đàn gà chạy tán loạn.

Khi nó quay lại thì thấy anh nó đang vạch quần, túm chim, phun nước đái vào quyển sách cho ướt hết.

Rồi hắn còn quay lại, phun ngoằn nghoèo nước đái vào sân thóc để "tẩy uế" đám thóc.

Nó tức quá lao vào hắn để đẩy hắn ra ngoài.

Hai anh em giằng co, nước đái phun vào bụng, vào quần, vào chân nó ướt sũng.

Không làm gì được, nó khóc ré lên rồi chạy vào nhà mách thầy.

Thầy nó đi xuống cầm cái thước lim, nhìn thấy thủ phạm đang nhét chim vào quần, thầy nó điên tiết quật túi bụi.

Nhìn thấy hắn bị đòn nó thấy rất hả dạ.

Nhưng thầy nó đánh anh đau quá, đó đâm mủi lòng, lại thấy thương anh quá.

Sau đận ấy, anh Bát càng thù nó tợn.

Một hôm, lừa lúc nó đang lấy cái gáo dừa chúi đầu vào trong chum để múc ít nước mưa còn rất ít dưới đáy, anh Bát liền chạy đến sau lưng nó, túm hai chân nó nhấc bổng lên, dốc ngược đầu nó vào trong chum.

Đầu nó cắm xuống nước, hai chân chới với trong tư thế "trồng cây chuối".

Giá mà nó kịp nghĩ thì nó sẽ biết là nó sắp chết đến nơi, không phải chết trong đại dương, cũng chẳng phải trong ao tù mà là chết đuối trong chum với chỉ một gang tay nước.

Không biết chuyện sẽ xảy ra tiếp theo như thế nào.

May sao, đúng lúc đó, từ trên nhà tình cờ thầy nó ngoảnh mặt lại nhìn thấy cảnh ấy vội lao xuống.

Ông túm chân, nhấc bổng nó lên.

Nhưng nó đến miệng chum thì bị vướng hai tay.

Ông nhanh tay vớ cái thước lim đập mạnh vào vết vỡ cũ ở miệng chum vừa vá lại chưa khô hẳn.

Lôi được nó ra xong, ông gầm lên lao đến anh nó.

Lần này ông tức thực sự, ông túm tóc lôi anh nó sồng sộc lên nhà, trên đường đi ông với lấy cái thừng con treo ở lối ra vào.

Vào đến nhà, ông vật sấp anh nó xuống nền nhà, trói chân trói tay.

Rồi cứ thế cái thước lim trong tay ông tới tấp vụt xuống.

Thật may, vừa lúc đó bu nó gánh hàng ở chợ về nhìn thấy.

Quẳng gánh hàng xuống, bà chạy lại giằng lấy cái thước, lấy lưng che cho anh Bát.

Bu nó cởi thừng, lau mặt cho anh Bát.

Sau khi nghe chuyện, bu nó nghiêm khắc nói :

- Thầy đánh con là đúng rồi.

Sao con nghịch dại thế ?

May có thầy ở nhà chứ nếu không chết em thì con nghĩ sao ?

Con không yêu nó hả ? . . . .

Nó nhớ nhất hai kỷ niệm với hai cô bạn gái cùng lớp.

Bấy giờ nó đã mười một tuổi, đang học lớp bốn, lớp của thầy Tứ.

Kỷ niệm thứ nhất là về cái Hằng.

Hồi đó, máy bay Mỹ chưa đánh phá mở rộng, phố huyện nó chưa phải sơ tán.

Cơ quan huyện cạnh nhà nó vẫn hoạt động bình thường.

Lớp nó đặc biệt có con bé cái Hằng, hai bố mẹ đều là bác sĩ người miền Nam tập kết.

Nhà Hằng ở trong khu tập thể Ủy ban huyện.

Ở gần nhà nhau nên cái Hằng và nó thường chơi với nhau và học nhóm cùng nhau.

Thấy nó lại hay lọ mọ vào bới các đống rác trong huyện tìm pin đài, giấy pơ luya (pelure – gốc từ tiếng Pháp), cái Hằng liền nhờ bố mẹ xin các cô các chú trong cơ quan những thứ đó.

Nó đỡ phải ra bới rác mà nhiều khi còn được các quả pin chưa hết hẳn, thậm chí còn kha khá hay giấy pơ luya trắng chưa đánh máy.

Giấy chưa đánh máy thì tuyệt lắm, nó khỏi phải tẩy bằng nước gạo.

Nó quý cái Hằng lắm, có củ khoai, củ sắn, quả khế, quả ổi nó hay để dành cho.

Ngược lại, cái Hằng thì cho nó quyển truyện tranh, cái thước kẻ, lọ mực Cửu Long.

Cái Hằng lại còn để dành cho nó mấy cái kẹo, vài cái bánh khi bệnh viện hoặc cơ quan huyện liên hoan.

Cái Hằng và nó trở nên quý mến và thân nhau lắm.

Một hôm thầy Tứ giao bài thủ công cho cả lớp.

Cái Hằng lúng túng chẳng biết phải làm gì.

Nó bảo cái Hằng xin các vỏ hộp các tông (carton), vỏ hộp thuốc của bố mẹ.

Hôm sau, cái Hằng mang đến một đống vỏ hộp thuốc sang nhà nó.

Thằng Thập khoái quá, nó bắt tay vào làm bài thủ công một cách rất hứng thú.

Nó kẻ kẻ, vẽ vẽ, cắt rồi dán, dựng thành một cái nhà mái ngói.

Bên trong căn nhà lại có đủ giường, ghế, bàn, tủ.

Ngoài sân có giếng khơi, bể nước, cây cau.

Nó còn tô màu cho nhà và các đồ vật bằng hộp chì mười hai màu của cái Hằng.

Hôm chấm điểm, nó khệ nệ bê tác phẩm lên bàn thầy.

Cả lớp trố mắt, trầm trồ khen đẹp.

Thầy Tứ chấm cho nó mười điểm.

Đến lượt cái Hằng, cái Hằng thưa với thầy là làm cùng với bạn Thập.

Thầy Tứ quay sang hỏi nó thì nó nói nó làm chung bài với bạn Hằng.

Thầy Tứ mỉm cười, nói đùa :

- Đây là ngôi nhà hạnh phúc anh Thập xây cho chị Hằng ở đấy.

Cả lớp cười ồ lên, vỗ tay rào rào.

Thầy đợi cả lớp im lặng, nói tiếp :

- Được điểm mười chia đôi nhé !

Từ đó, đi đâu bọn lớp nó cũng chế : "Thập - Hằng, Thập – Hằng . . . !".

Nó vừa ngượng, vừa tức nhưng trong lòng cũng thấy thinh thích.

Chẳng ngờ cuối năm đó cái Hằng phải theo bố mẹ đi sơ tán.

Hôm nó được kết nạp vào đội thiếu niên, nó rất mừng và nhớ tới cái Hằng.

Nó đi bộ năm cây số xuống nơi xơ tán của cái Hằng để thăm và báo tin vui.

Mấy lâu không gặp nhau, hai đứa không ngớt chuyện, vui lắm.

Cái Hằng giữ lại ăn cơm, nhưng nó ngượng nên không dám.

Khi về cái Hằng gói vào mùi xoa tặng nó năm quả quýt.

Lần đầu tiên được bạn gái tặng quà, nó rất xúc động, một kỷ niệm mà nó sẽ còn nhớ mãi.

Sau ngày sơ tán trở về, nó đi tìm cái Hằng nhưng buồn thay cái Hằng đã theo cha mẹ chuyển đi đâu, bặt không có một tin tức gì.

Đến tận bây giờ nó vẫn nhớ và ước gì được gặp lại.

Mỗi khi nhớ, nó thầm gọi : "Hằng ơi !

Bạn đang ở đâu ?

Hằng ơi . . . !"

Kỷ niệm thứ hai về một đứa bạn gái cùng lớp là con cái Rều.

Bấy giờ chúng nó đi học tuổi tác lung tung lắm, cùng một lớp đứa học sớm, đứa học muộn, đứa đúp lớp.

Do vậy cùng lớp mà hơn nhau bốn, năm tuổi là chuyện bình thường và cũng rất bình thường, vẫn cứ gọi nhau là mày tao.

Cái Rều hơn nó đâu bốn, năm tuổi gì đó, bấy giờ đã đã mười sáu, cặp vú đã nhú ra lùm lùm, cái mông cong tớn, đã bắt đầu để ý làm đỏm, làm duyên, làm dáng.

Một hôm, trong tiết học toán, thầy Tứ ra đầu bài toán, cho thời gian mười phút.

Hết thời gian, thầy kẻ đôi cái bảng, gọi cái Rều lên giải bài ở phần bên trái bảng.

Cái Rều lúng túng viết được mấy chữ rồi đứng đực mặt, vê vê tà áo.

Thầy gặng mãi mà mặt nó cứ cúi gằm, chân di di xuống đất.

Thầy bực lắm, giọng hơi gắt, nói :

- Cô lớn nhất lớp không giải được bài, để tôi gọi cậu bé nhất lớp lên nó giải cho mà xem.

Nói đoạn thầy quay xuống nhìn lướt cả lớp.

Ánh mắt thầy dừng lại chỗ nó.

Thày gọi :

- Nguyễn Trọng Thập, lên bảng !

Nó giật mình đứng lên :

- Thưa thầy, vâng ạ !

Nó làm bài ở phần bên phải bảng và chỉ ít phút sau đã ra đến đáp số.

Thầy hỏi cả lớp :

- Các em xem bạn Thập làm có đúng không ?

Nhiều bạn trong lớp đồng thanh :

- Thưa thầy, đúng ạ !

Thầy gật đầu hài lòng.

Quay sang chỗ nó, thầy Tứ kéo nó đứng sát bên cái Rều.

Thầy cầm thước kẻ đặt lên đầu hai đứa thì cái thước cứ dốc ngược lên.

Thầy quay xuống nói :

- Cả lớp nhìn xem.

Cậu Thập bé tí, chỉ đứng đến tí cô Rều nhá, mà giải được bài rất nhanh.

Cô thì to xác nhưng đầu óc toàn đất sét.

Học không nổi thì ở nhà mà đi hót phân trâui !

Cả lớp cười ồ lên.

Cái Rều ngượng quá khóc òa lên, nó chạy ra khỏi lớp, quên cả cặp sách.

Từ hôm sau cái Rều bỏ học ở nhà luôn.

Sau đó một năm, nó lấy chồng.

Bây giờ về làng, nó vẫn gặp cái Rều.

Bà Rều trông đã già lắm, có con đàn cháu đống, nhà rất giàu.

Bà Rều mới có chắt và được gọi là cụ Rều rồi.

Cuối năm đó, sau khi dính vụ "ao Cổ Ngan" như đã nói ở trên, thầy Tứ nó đi bộ đội.

Cả lớp nhớ thầy, ngơ ngẩn mất một thời gian.

Trong ngõ Bưởi, tổ tiên nó để lại khoảng bốn sào đất, một ngôi nhà ngói ba gian hai chái với hai cây táo cổ thụ.

Hồi cải cách ruộng đất, ngôi nhà đã bị đội cải cách phá mất.

Họ tịch thu gỗ lim và ngói mang đi làm trụ sở của đội cải cách.

Ngôi nhà chỉ còn lại các bức tường gạch vỡ nham nhở.

Theo thời gian, phần thì tự mục nát, phần là do dân làng phá dần lấy gạch nên bấy giờ chỉ còn trơ lại cái móng.

Khi sơ tán vào ngõ Bưởi, thầy nó phải cùng mọi người dựng tạm một ngôi nhà tre hai gian, hai chái bé xíu.

Tường nhà buộc dứng, trát vôi cát trộn rơm, mái lợp rạ.

Bu nó và anh Bát không đi sơ tán mà phải ở phố trông nhà.

Anh Bát nó bấy giờ đã học lớp mười ở trường cấp ba, sơ tán ở Dương Quang, cách nhà nó ba cây số.

Chị Thất, chị Vận bấy giờ người hai mươi, người hăm hai, đều đã xin được việc làm.

Chị Thất dạy học ở trường cấp một Hưng Long.

Chị Vận làm hành chính trong cơ quan Liên Đoàn Địa Chất ở ngay gần nhà.

Thầy nó, chị dâu, chị Thất, chị Vận, cháu Hoàng và nó, cả thẩy sáu người mà ở trong căn nhà mới quá chật chội, lụp xụp, không đủ điều kiện sinh hoạt, không nhà vệ sinh, không giếng nước.

Vì thế, ở đó sơ tán được được ít lâu, thấy tình hình yên yên, cả nhà nó lại dọn về phố.

Đối diện nhà nó ở ngõ Bưởi có nhà chú Cất, chú họ nó.

Cô họ nó là em ruột chú Cất bấy giờ cũng đưa các con từ thành phố về sơ tán ở nhà chú Cất.

Mấy đứa em họ từ thành phố về có tên khá vần Quyết, Tâm, Kháng, Chiến.

Chúng nó rất nhanh chóng hòa nhập ngay với họ hàng.

Chúng thường hay sang nhà nó chơi, mấy đứa ríu ra ríu rít, vui lắm.

Quyết là đứa lớn nhất, chắc hơn nó bốn hoặc năm tuổi.

Nó hay giúp đỡ anh chị họ, khi thì gảy rơm, tãi thóc, khi thì băm bèo, thái chuối.

Một hôm em Quyết đang băm bèo tây ở sân, trên một cái thớt vỡ, thằng Hoàng cháu nó lúc ấy đã được năm tuổi đang chơi đùa với nó.

Hai chú cháu chơi đá bóng bằng quả bóng rơm.

Quả bóng bị nó sút vào chỗ em Quyết.

Thằng Hoàng lao theo quả bóng, quá đà, lao thẳng vào mũi dao.

Quyết đang mải thái bèo nên rụt dao về không kịp.

Mũi dao bập vào giữa ngón cái chân phải thằng Hoàng, chẻ móng ra làm đôi.

Máu chảy ra lênh láng nhưng rất may vết thương không vào xương.

Vụ này làm cả nhà nó sót ruột xuýt xoa mãi.

Rồi vết thương cũng khỏi, nhưng móng chân thằng Hoàng thành cái tật, hình thù kỳ dị, vênh lên ở giữa như mái nhà.

Năm đó nó đã mười hai tuổi, học lớp đầu cấp hai, tức là lớp năm.

Vì nhanh nhẹn, nhiệt tình và có khiếu văn nghệ, khiếu mỹ thuật.

Nó được bầu làm đội trưởng đội thiếu niên, kiêm liên đội phó thiếu niên toàn xã.

Bấy giờ phong trào thanh thiếu niên quê nó hoạt động mạnh lắm.

Nó được phụ trách cả khối lớp năm, khoảng hơn một trăm đội viên.

Oách lắm !

Các chi đội gồm 5A, 5B, 5C, mỗi lớp một chi đội.

Hàng tuần nó cùng anh chị phụ trách cho các chi đội học múa, học hát, . . .

Các buổi sinh hoạt chi đội được tổ chứ riêng tại sân nhà ai rộng mà nó mượn được.

Mỗi tháng hai lần, giữa tháng và cuối tháng họp toàn đội thì mượn sân kho hợp tác xã hoặc sân trường.

Mỗi quý liên đội cả xã họp một lần tại sân Ủy Ban Nhân Dân xã trong thôn Rừng.

Liên đội trưởng là thằng Lợi, hơn nó một tuổi, con bác Lý Nhiệm chủ tịch xã.

Nó giữ bộ trống ếch của đội, gồm năm cái từ to tới nhỏ.

Ngày nắng nó thường mang ra sân phơi cho mặt trống thật căng.

Dùi trống do tự tay nó đẽo từ cây muồng muỗng, phải nói là rất đẹp.

Mỗi loại trống một loại dùi theo kích thước của trống.

Trống con gõ lên tiếng phải đanh giòn.

Dùi của trống cái khi gõ phải đầm tay, không bị rung, tiếng trống phải rền vang.

Nó thường cho đội tập hát, tập múa.

Đặc biệt là múa bài "Múa Sạp "sòn sòn sòn đô sòn . . .".

Có một bài khác cũng rất hay mà bây giờ nó vẫn còn nhớ lời đó là bài múa "Hải Quân":

"Một đoàn tàu nhấp nhô, nhấp nhô đoàn ta tiến đầu ra khơi.

Vượt làn sóng nhấp nhô, nhấp nhô đoàn ta tiến dần ra biển Đông.

Chúng ta là chiến sỹ hải quân anh dũng lướt mình tung gió, trong sóng bão bùng.

Chúng ta vượt lên, hết lòng vì nhân dân lập công . . ."

Cứ chiều đến, khi cơm nước xong, nó mang trống cái ra gõ một hồi chín tiếng, các đội viên vai đeo khăn đỏ tề tựu ở sân nhà nó múa hát, nó dùng còi toe toe thổi hiệu lệnh.

Dưới ánh trăng, xóm làng rộn vang tiếng trống ếch và điệu hát câu hò.

Chính vì vậy những nỗi nhọc nhằn thiếu thốn của đời sống vật chất dịu đi trong lòng người dân khi nhìn thấy trẻ con ca hát.

Họ bằng lòng, vui vẻ siêng, vui vẻ chịu đựng, vui vẻ vượt qua.

Mặc dù đã mười hai tuổi, là cán bộ đội của cả một khối lớp năm, như bây giờ mọi người thường nói "đường đường một đống su hào" chứ đâu có phải thường.

Nhưng thói xấu của nó vẫn ẩn dấu chưa có dịp bộc lộ.

Và rồi một ngày thời cơ đến . . .

Chuyện là thế này, Một lần chị Dụng nó gửi về hai lạng đường kính trắng biếu thầy bu nó.

Lúc bấy giờ, đối với dân quê, đây là món quà quý lắm.

Thầy nó cẩn thận rửa sạch cái lọ thủy tinh, lau khô, đổ đường vào, vặn chặt nắp.

Chưa hết, đề phòng kiến đen tấn công, ông đặt lọ đường vào bát ô tô nước.

Lũ kiến đen là nhanh nhạy lắm, phải cái không biết bơi, nên chúng đành chịu.

Để đề phòng "kiến trắng, đầu đen", ông bê cả cái bát tô cho vào ngăn trên cùng của cái tủ đứng và khóa lại.

Chìa khóa thì ông luôn dắt ở cạp quần.

Đường ơi, Tuyệt đối an toàn nhé !

Hôm đó thầy nó vừa mở cửa tủ, đang định lấy gì đó thì bên kia đường cô Năm Sữa gọi giật giọng :

- Ông trưởng ơi !

Con chó nhà ông bị ô tô chẹt chết kìa.

Thầy nó giật mình lao ra không kịp đóng cửa tủ.

Nhanh như cắt, nó lao đến, kiễng chân lấy lọ đường xuống, vặn thật nhanh cái nắp.

Tay trái nó cầm lọ, tay phải chụm lại như cái gầu.

Nó vục "cái gầu" vào lọ đường múc lên một gầu đầy.

Nước miếng nó đã ứa ra từ lúc nào, nhanh chóng nó há mồm đổ ộc đường vào.

Quá nhiều đường và quá vội vàng nên đường dính đầy xung quanh mồm và mũi nó, tóe xuống cả nền nhà.

Nó nhanh chóng để lọ đường vào chỗ cũ.

Mồm nó đang đầy đường, chưa kịp hưởng thụ cái vị ngọt của thứ tinh thể trắng lóng lánh hấp dẫn "chết người" đó thì đúng lúc ấy, vang lên ngay sau lưng nó là tiếng chị Thúy phụ trách đội :

- Thập ơi !

Tối nay em tập hợp đội, cho họp ngoài sân kho nha !

Mồm, mặt mũi, quần áo, tay nó đầy đường, cười chẳng được, nói không xong.

Nó ngượng quá !

Thật là chẳng có lỗ nẻ nào mà chui biến đi cho hết ngượng.

May sao chị Thúy biết ý bỏ đi luôn.

Từ hôm đó, dù chị Thúy coi như không thấy chuyện nó ăn vụng đường, nó vẫn len lén như kẻ tội đồ.

Nó cảm thấy nhục nhã quá, . . . cho tới tận bây giờ.

Không chỉ có ăn vụng đường thôi đâu.

Với "biệt tài" khéo tay của mình nó còn ăn vụng nhiều thứ khác.

Ngày tết, ngày lễ, anh chị nó biếu gói bánh, gói kẹo, thầy bu nó chưa cho ăn, còn để dành rất lâu trên giường thờ.

Nó thì thèm rỏ rãi, mỗi lần ngang qua gian giữa, nó lại liếc mắt lên giường thờ và nuốt nước bọt vào trong.

Thời bấy giờ vỏ hộp không dán kín ni lông như bây giờ, chỉ có tem thuế dán hai bên mép hộp.

Nó rình lúc vắng người, nhẹ nhàng trèo lên phản giữa, rón rén áp sát bàn thờ, đổ một ít nước lên đó.

Nó lấy nước, cho thấm nước từ từ vào cái tem ở một bên.

Hồ dán tem ở phía trong dần dần loãng ra.

Bấy giờ nó chỉ việc khẽ khàng bóc cái tem ra.

Kênh nắp hộp lên, nó thò hai ngón tay điêu luyện vào rút ruột vài cái bánh, vài cái kẹo.

Lấy trộm được rồi, nó đậy lại hộp, vuốt nhẹ cái tem, liền lại như cũ.

Giờ lâu, tem khô đi, lại "Nguyễn Như Vân", không ai phát hiện được.

Sau khi chị Thúy về, nó lau vội đường trên mặt, trên mũi, trên tay, quét ù đường dưới đất hất vào gầm tủ.

Đúng lúc đó thì thầy nó bế con chó Ki bị chẹt xe vào.

Chân sau con Ki nát bét, mắt vẫn mở nhìn nó như có ý cầu cứu.

Nó thương con chó lắm vội lấy tay nhẹ nhàng đỡ lấy con Ki từ tay thầy nó.

Tội nghiệp cho con Ki quá, mà cũng tội cho lũ chó con nó vừa mới đẻ được mấy hôm, chưa mở mắt.

Thằng Thập mang con Ki xuống bếp, đặt vào ổ chỗ mấy con chó con.

Nó lấy khăn sạch thấm máu cho con chó.

Mỗi lần chạm vào con Ki, toàn thân con chó giật lên nhè nhẹ, lòng phèo, gan ruột ở bụng dưới của nó lòi ra ngoài.

Bốn con chó con chẳng biết gì cứ lao vào tìm vú, giẫm cả vào ruột gan và vết thương của mẹ, đẩy nhau kêu ău ắu.

Con Ki nhìn con nó trìu mến lắm, nó cúi xuống liếm lũ con, hai mắt nó ứa lệ, hai giọt nước mắt to dần từ từ lăn xuống.

Nó khóc.

Thằng Thập cũng khóc theo.

Thầy nó nói :

- Thôi, không cứu được đâu, chắc nó chết thôi.

Vừa nói dứt lời, mắt con chó ngước lên nhìn thầy, nhìn thằng Thập lần cuối có ý vĩnh biệt.

Dường như con chó muốn gửi gắm lũ con nhỏ để ra đi.

Nước mắt nó lại ứa ra.

Nó nghiêng đầu nhìn bốn con nó và gục xuống chết, chắc hẳn trong lòng nó vẫn canh cánh nỗi lo về lũ con.

Nhìn thấy cảnh ấy, thằng Thập nhớ lại chuyện một thợ săn bắn được một con khỉ cái.

Nào ngờ con khỉ ấy còn có mấy đứa con nhỏ.

Biết sắp chết lìa bỏ lũ con, con khỉ lấy chếc lá cuốn lại như cái phễu rồi vắt sữa vào đấy để lại cho lũ con trước khi tắt thở.

Có phải tình mẫu tử ở giống vật cũng chẳng khác gì con người ?

Thằng Thập vốn yêu con Ki lắm, nó là một con chó vện rất đẹp lúc nào cũng quấn quýt bên thằng Thập.

Thằng Thập nhớ lại lúc con chó còn bé chẳng khác gì cu cậu lúc đó bé nhất nhà nên nó với con vện quấn nhau lắm.

Cái tên Ki cũng do nó đặt cho.

Thế mà bây giờ . . .

Chẳng còn những buổi trưa hè nằm trên tấm ni lông rải trên nền đất đen bóng, mát rượi trong gầm giường, luôn có con Ki nằm bên cạnh, liếm mặt, liếm tay và ngủ cùng với nó.

Những trưa hè nóng nực, chị em nó hay chơi trò giết rôm đổi công.

Chị em dăng hàng, người sau giết rôm ở lưng người trước, hết một lượt thì đằng sau quay, . . .

Không có rôm hay hết rôm thì giết trả vờ cũng được.

Những lúc ấy, bao giờ cũng có con Ki nằm ngay chân nó.

Bây giờ nó làm gì hay chơi ở đâu, không còn có con Ki bên cạnh.

Nó nhớ con Ki quá : Sao không về hả chó.

Tao nhớ mày lắm đó, Ki ơi là Ki ơi ! (nhại thơ Trần Đăng Khoa)

Con Ki để lại bốn đứa con nhỏ chưa mở mắt, xinh ơi là xinh.

Nó tự nhận lấy trách nhiệm thay con Ki nuôi đàn chó nhỏ.

Nó lấy nước cơm hoặc nấu cháo loãng, gạn lấy nước cho lũ chó ăn.

Mấy ngày đầu chúng chưa quen nên vài ngày sau ba con lần lượt ra đi theo mẹ.

Còn con cún cuối cùng, ngày nào thằng Thập cũng vài bốn bận vạch mồm đổ nước cháo cho nó.

Chẳng phụ lòng người, cuối cùng con cún con cũng mở mắt.

Thằng Thập vui lắm, nó đặt tên cho chú cún con là Mích.

Giống như con Ki, con Mích cũng luôn quấn quýt bên nó, lúc xay lúa, giã gạo, lúc đi chăn trâu hay khi đi họp đội.

Ấy thế mà chỉ được mấy tháng sau con Mích của nó lại chết.

Nó chết không phải do bị chẹt ô tô mà là một chuyện khác.

Một hôm, thằng Ly em thằng Thanh học cùng lớp nó, nhà trong ngõ Tháp, đang ngồi ở bậu cửa tre trong ngõ tha thẩn chơi thì bỗng từ đâu một con chó đen cao to lừng lững lao đến cắn vào má thằng bé.

Thằng Ly giật mình khóc thét lên, đưa hai tay gạt con chó ra.

Con chó đớp ngay lấy tay thằng bé, nó cắn và nhá nát bét cả hai bàn tay thằng Ly.

Ở trong nhà bố thằng Thanh trông thấy, lấy đòn gánh lao ra đánh con chó.

Hai anh của thằng Ly là thằng Tung và thằng Hoành thì lấy gạch đá đáp tới tấp.

Con chó sợ, bỏ chạy mất.

Trên đường nó chạy, gặp ai nó đợp người đó.

Rất nhiều người bị nó cắn, làm náo loạn cả làng.

Kẻng báo động lập tức được khua lên hối hả.

Dân quân, thanh niên cầm súng, cầm đòn càn đuổi theo để đập con chó.

Trước khi chạy ra đến phố, con chó còn đợp thêm mấy người nữa.

Cả phố sợ quá nhà nào nhà nấy vội vã đóng cửa.

Loa phóng thanh của làng vang lên tiếng thông báo về con chó dại.

Dân quân các làng khác xung quanh cũng xông ra tiếp ứng.

Họ bao vây, dồn con chó vào nghĩa trang Chú Riềng.

Con chó chạy tới góc tường sau đình thì hết đường.

Nó bị mọi người vụt tơi bời đến chết.

Điểm lại, con chó điên đã cắn tất cả mười một người của hai làng Phùng Chi Kiên và làng Thứa.

Bé Ly bị mất máu nhiều nên đã chết ngay chiều hôm đó.

Những ngày sau đó, mười người còn lại lần lượt lên cơn.

Họ lồng lộn như chó dại, mồm sùi bọt mép, nhe răng, mắt đỏ đòng đọc, hung dữ, lồng lộn.

Các gia đình có người thân bị chó cắn liền khóa cửa hoặc trói người thân trong nhà.

Mọi người chạy đôn chạy đáo cầu khẩn khắp nơi tìm thuốc cứu chữa.

Thậm chí còn lấy cả giòi trong hố phân đốt lên, tán nhỏ cho uống hoặc bắt thạch thùng cho nuốt sống.

Nhưng rồi, người sau tiếp người trước, lần lượt cả mười người đều vật vã rồi chết.

Sau cuộc họp khẩn cấp của Ủy ban xã, lệnh cấm chó trên toàn xã được ban hành và thực hiện ngay lập tức.

Dân quân đi khắp làng tay súng, tay gậy, lùng hết các nhà để đập chó.

Bất cứ chó to nhỏ, lớn bé gì đều bị đập hết.

Lo cho con Mích quá, nó đem con Mích nhét vào cối giã gạo, phủ rơm lên và dặn : "Nằm im ở đây nha !

Không được chui ra nhe, mày mà ra người ta đập chết."

Con Mích rất khôn, nó biết nghe lời thằng Thập, không hề ló đầu ra chút nào.

Đội dân quân "triệt để chó" vào sục sạo khắp nhà.

Khi họ sục đến cối gạo, con Mích vẫn nằm im thin thít, không sủa lấy một tiếng.

Đến khi tất cả bỏ đi sang nhà bà Thùa sát bên để đập chó, mấy chị em nó nghển cổ qua hàng rào để xem.

Nào ngờ con Mích thấy họ đi rồi cũng chạy ra đứng bên cạnh thằng Thập.

Tình cờ có một người trong đội ngoảnh lại trông thấy con Mích.

Anh ta vội hô lên :

- Chó nhà ông Trưởng kìa các anh ơi !

Kia kìa.

Loáng sau, cả đội đã quay lại nhà nó, không còn cách gì có thể che dấu được nữa.

Nó đứng chết lặng như trời trồng chứng kiến năm, sáu người xúm vào đập chết con Mích.

Trước khi chết con Mích còn kịp ư ử mấy tiếng, ứa nước mắt nhìn nó . . .

Nhà nó vẫn làm hàng xáo.

Nó là con trai không biết sàng sảy như chị dâu và chị gái nó thì nó phải xay lúa, giã gạo.

Để làm cối giã gạo, trước hết người ta lấy một cây gỗ to, phần đuôi đẽo nhỏ và mỏng hơn phần đầu, dài chừng ba mét, tạm gọi là cái cần cối.

Đầu to của cần đục một lỗ mộng hình chữ nhật để tra cái chày vào, phía trên khóa lại bằng một cái chốt gỗ.

Phần dưới của chày hình trụ tròn, đầu bọc sắt dầy, có khía quả trám để tăng ma sát.

Chày đã giã nhiều, đầu sắt lên nước bóng loáng, xanh biếc ánh thép.

Ở gần giữa cần cối, người ta đục một lỗ tròn xuyên ngang qua rồi tra một cái trục gỗ lim vào đó.

Trục gỗ lim được đút xuyên qua hai cái ổ trục bằng gỗ rất cứng của vai cối.

Nếu sang thì hai ổ trục được đóng hai vòng bi (vòng bi cũ của ô tô).

Vai cối ở hai bên là hai cây gỗ chữ nhật, dầy khoảng mươi lăm phân, bản rộng chừng hai lăm phân mà trên mỗi cây đều đục ổ trục đồng trục với nhau.

Hai vai cối được chôn sâu xuống đất, chỉ để nổi lên chừng bốn, năm mươi phân.

Cối là một khối đá nguyên được khoét lõm và được chôn sâu xuống đất, mặt trên cao hơn nền bếp khoảng hai chục phân.

Phía dưới đuôi của cần cối, người ta đào một rãnh sâu xuống đất để đuôi cần lấy chỗ hoạt động.

Khi đạp vào cần cối, cả cần sẽ quay quanh trục, đuôi cần quay xuống thấp dưới rãnh, còn đầu cần quay lên cao, nhấc theo cái chày.

Khi nhấc chân lên, Đầu cần rơi xuống, chày giã vào lòng cối.

Khi đầu cần ngẩng lên, cần cối khá nặng, một người giã thì vất vả do vậy thường là hai đến ba người cùng đứng giã, dậm chân nhịp nhàng cùng nhau.

Cối được kê dọc ở hai gian trong, áp sát tường nhà nó, bên trên có treo lơ lửng một thanh sào chạy ngang để vịn tay lấy đà khi giã.

Ngày nào cũng như ngày nào chị em nó phải xay giã, giần sàng đủ hai gánh thóc cho bu nó đi bán.

Thầy nó nghiện thuốc lào đã lâu năm.

Cụ bị bệnh ho, càng già càng ho nặng.

Mỗi lần châm lửa, rít chưa hết một hơi cụ lại lên cơn ho sặc sụa, chảy cả nước mắt, nước mũi.

Mấy lần thầy nó đã quyết tâm bỏ thuốc.

Cụ đập nát điếu vứt đi, nhưng chẳng được mấy lâu đã hút lại.

Chuyện bỏ thuốc lào sao mà khó thế, người ta đã tổng kết thành ca dao cũng phải :

Nhớ ai như nhớ thuốc lào,

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Bấy giờ bu nó đã năm mươi sáu tuổi, thầy nó năm mươi chín tuổi, bằng tuổi của nó bây giờ, khi đang ngồi viết những dòng này.

Và, nó cũng bị bệnh ho, càng già ho càng nặng, cũng sặc sụa, chảy cả nước mắt, nước mũi y như hệt thầy.

Tại vì nó cũng nghiện thuốc mà.

Chỉ có điều nó nghiện không phải thuốc lào, mà là thuốc lá.

Đêm đêm, thầy nó chẳng ngủ được bao nhiêu, chốc chốc lại lục sục dậy đi đái.

Thế mà cụ lại thường dậy rất sớm.

Sớm tinh mơ, thầy nó đã lọ mọ đun nước pha trà.

Ông lấy nước vào cái siêu "nhuôm" bé tí teo như quả bưởi con, rồi bơm cái đèn cồn cũ bằng đồng, mua lại của đồng nát.

Cụ châm lửa, ngọn lửa xanh lét loang loáng dưới đáy siêu.

Trong khi chờ nước sôi, cụ rửa bộ ấm chén da lươn cũng bé tí teo.

Nước sôi, cụ pha trà ngồi uống một mình, hai tay thường ôm vào cái xuyến cho ấm.

Hôm nào chú Hiền em cụ ở Hải Phòng về chơi, hai anh em cũng ngồi như thế lầm rầm nói chuyện từ lúc bốn, năm giờ sáng.

Thỉnh thoảng thầy nó lại hút thuốc lào và ho sù sụ.

Hút xong điếu thuốc, cụ chiêu một ngụm nước rồi với lấy cái ống nhổ để dưới gầm giường, cụ khạc khạc và nhổ đờm vào đó.

Thầy nó khéo tay lắm, tự làm một cái quạt bằng giấy bản, dán bằng nhựa cây cậy.

Cái quạt dài quá khổ, phải đến bốn mươi lăm phân.

Cụ thường mặc quần ta rộng thùng thình, thắt dải rút, cái áo may ô vải tự tay may, cổ vuông, tay vuông.

Cụ vẫn cứ ăn mặc như thế khi ngồi ở góc phản tiếp khách.

Cụ thường phe phẩy cái quạt giấy, khi nào ngứa lưng, cụ lại chụm quạt lại, thò vào trong áo gãi lưng sồn sột.

Máu cụ nóng, già rồi mà rất lắm rôm.

Đặc biệt là chân cụ không có lông và nó cũng giống bố nó điểm này.

Thanh niên trẻ đua nhau mở hiệu may, cắt may theo lối mới với nhiều mốt tân kỳ.

Thầy nó không thể cạnh tranh được nên khách hàng chỉ là các ông bà già khách quen nên thu nhập ngày càng giảm sút.

Kinh tế nhà nó ngày càng khó khăn, các anh chị em nó lớn hơn, ăn nhiều, học hành rất tốn kém.

Một mình bu nó chạy ăn, lo đủ mọi thứ nên quá sức chịu đựng.

Càng ngày cụ càng hay cáu kỉnh.

Mỗi lần xin tiền đóng học là nó rất sợ, xin thầy thì thầy chẳng có, quay sang xin bu thì cụ lại gầm lên :

- Lấy kìm ra vặn răng tao đi . . . !

Không xin được tiền đóng học, đến lớp bị cô giáo nhắc nhở, bị ghi tên lên bảng.

Nhục lắm !

Nhưng biết làm sao ?

Nó đã mười ba tuổi và lên lớp sáu.

Năm ấy, nó được cử đi thi học sinh giỏi văn khối sáu toàn huyện.

Nó được giải nhì.

Cộng với thành tích trong hoạt động công tác đội, nó được chọn đi dự Đại Hội Cháu Ngoan Bác Hồ toàn tỉnh.

Mỗi xã chỉ có một người, huyện nó có mười hai xã nhưng chỉ có mười người được đi vì huyện duyệt lại danh sách do các xã gửi lên đã gạt bớt hai bạn không đủ tiêu chuẩn.

Nó rất tự hào và trong lòng sung sướng lắm.

Các anh chị phụ trách dặn đi dặn lại nó :

- Phải mặc quần xanh, áo trắng, quàng khăn đỏ.

Tất cả phải mới đấy nhá !

Cả đời nó chưa bao giờ được mặc bộ quần áo nào mới nào theo đúng nghĩa mà toàn mặc thừa của các anh.

Về nhà, ngập ngừng mãi, lừa lúc bu nó đang rất vui vẻ, ngồi bỏm bèm nhai trầu, nó mới dám mon men lại gần nói chuyện được đi dự Đại Hội.

Bu nó nghe cũng phấn khởi lắm.

Được thể, nó ngỏ lời xin bu bộ quần áo mới.

Bu nó thở dài nói :

- Con ra bảo thầy chứ bu làm gì có, còn có mấy đồng bu vừa trả nợ tiền thuế xong.

Thôi, đi ăn cơm đi.

Thế là hết cách rồi !

Mặt nó tiu nghỉu buồn lắm.

Bốn giờ sáng mai là phải đi rồi, chẳng làm sao được nữa.

Thấy nó buồn bã chẳng thiết đến ăn, thầy nó nói :

- Con cứ ăn cơm xong, đi ngủ đi, sáng mai thầy sẽ may xong cho con.

Nó bán tín bán nghi nhưng cũng yên tâm đi ngủ.

Lòng nó xốn xang.

Nó không ngờ mình hạnh phúc đến thế, được xuống tỉnh chơi, được đi dự đại hội.

Ôi !

Vinh dự quá.

Niềm vui và hạnh phúc cứ bồng bềnh trôi vào trong giấc ngủ của nó.

Nó giật mình tỉnh giấc khi thấy có người lay lay vào vai nó.

Mắt nhắm mắt mở, nó nhìn lên, thấy mái đầu bạc phơ của thầy nó đang cúi xuống thì thào :

- Dậy đi con, thầy may bộ quần áo xong rồi.

Mắt thầy thâm quầng, gương mặt mệt mỏi phờ phạc.

Vậy ra thầy đã thức trắng đêm may quần áo cho nó.

Nó vừa cảm động vì sung sướng vừa thấy thương thầy quá.

Tự dưng nước mắt nó trào ra.

Sau khi xuống giếng đánh răng rửa mặt, nó lên nhà ăn vội bát cơm nguội với cá kho.

Thầy nó đưa cho nó một túi xách trong đựng hai bộ quần áo lành lặn, hai cái quần đùi, khăn mặt, bàn chải và một hộp nhựa đựng thuốc đánh răng "Ngọc Lan".

Trên vai ghế vắt sẵn bộ quần áo mới, nó sỏ thử vừa thì như in.

Cái quần được cắt và sửa lại từ cái quần công nhân có yếm được anh Trãi ở đoàn xe vận tải Mười Sáu biếu thầy nó, vải còn mới.

Cái áo thì trắng tinh mềm nhũn như vải lụa.

Nó xúng xính trong bộ quần áo mới, xách túi chào thầy bu rồi ra cổng huyện tập trung.

Đúng năm giờ xe chạy.

Đó là một cái xe Êta Fanh (Ette Fain) của đoàn xe vận tải mới về đóng ở đầu phố mà huyện đoàn mượn, một chiếc xe tải không có mui mà trên thùng cũng chẳng có ghế, chỉ có hai chiếc chiếu trải trên sàn.

Đầu xe cắm một lá cờ Tổ Quốc, một cờ Đội.

Hai bên thùng xe treo băng rôn : "Đoàn học sinh cháu ngoan Bác Hồ huyện Mỹ Hào".

Có chiếu nhưng chẳng ai chịu ngồi kể cả chị phụ trách.

Mọi người đứng bám vào thành xe để nhìn ngắm quang cảnh trên đường đi.

Nắng sớm mai "chiếu lên ngàn muôn tia sáng" từ phía chân trời, phía mà chiếc xe của chúng đang chạy tới, phía đông, hướng Mặt Trời mọc.

Gió hè hây hẩy, xóm làng, đồng lúa lao vùn vụt về sau.

Hai lá cờ phần phật bay trong gió.

Mới bảy giờ chiếc xe của đoàn nó đã đến nơi.

Mọi người nhảy xuống, chạy ào vào sân hội trường tỉnh.

Cờ, hoa và khẩu hiệu trang hoàng khắp nơi rất rực rỡ và tráng lệ.

Từng bầy con trẻ, khăn đỏ đeo vai, quần áo đủ màu đang ríu rít như chim sẻ.

Nó cảm thấy sung sướng và hạnh phúc lắm.

Từ dưới hàng ghế nhìn lên bục chủ tịch đoàn, nó nhận ra có bạn Trần Đăng Khoa, thần đồng thơ của tỉnh nó đang ngồi trên đó.

Lâu nay nó rất ngưỡng mộ bạn Khoa và tự hào vì Khoa cũng đồng trang lứa với nó.

Đến lúc giải lao, tự nhiên nó thấy các bạn cứ nhìn nó, chỉ chỉ, trỏ trỏ.

Nó không hiểu có chuyện gì.

Chờ đến khi có đứa bạn cùng đoàn đứng lên và đi đến gần, nó mới hỏi :

- Tuân ơi !

Sao mọi người cứ chỉ tớ thế ?

Thằng Tuân chỉ vào lưng nó :

- Cậu không biết à ?

Cậu mặc cái áo "Nhà Máy Phân Đạm Hà Bắc".

Dơ vạt áo ra nó cãi lại :

- Đâu, tớ mặc áo trắng thầy tớ mới may đấy chứ.

- Nhưng thầy bạn may bằng vỏ bao phân đạm Hà Bắc, giặt chưa sạch nên vẫn còn chữ đây này.

- Thằng Tuân bảo.

Nó giật mình rủ thằng Tuân vào nhà vệ sinh.

Nó cởi áo ra nhìn.

Ôi trời ơi !

Đúng giữa lưng áo, một nhãn hiệu tròn xoe "NHÀ MÁY PHÂN ĐẠM HÀ BẮC" đen đen, mờ mờ nhưng nhìn khá rõ.

Nó vừa ngượng, vừa buồn cười, vừa tủi thân, vừa nghĩ mà thương thầy bu nó.

Đoàn xe đóng ở phố nó được mệnh danh là "cơn lốc đường năm" có vài chục xe, chủ yếu là Gát (Gaz 63 – MoHoToBa, Liên Xô), I Pha (IFA-W50, CHDC Đức) và xe Giải Phóng (Trung Quốc).

Họ chuyên vận tải hàng viện trợ của các nước bạn, trung chuyển từ cảng Hải phòng về ga gia Lâm để chuyển tiếp đi các nơi.

Các lái xe chủ yếu là thanh niên trẻ chưa vợ và rất vui tính.

Họ hay xuống nhà nó may vá quần áo, một phần cũng là để nhăm nhe nhòm ngó chị Thất và chị Vận nó.

Anh Trãi người Cao Bằng, to cao, trắng trẻo, đẹp trai kiên trì theo đuổi chị Vận.

Chị Vận đang thì con gái cũng xinh xắn, hấp dẫn, phải cái giống nhà ngoại, răng hơi vổ.

Người theo đuổi chị Thất là anh Sáu, quê ở Bắc Giang.

Tuy anh hơi đen nhưng cũng to cao, có râu quai nón rậm, trông rất đàn ông.

Hai anh theo đuổi các chị nên rất chiều nó.

Đi đâu về, các anh thường cho nó quà, khi thì đẵn mía, lúc vài quả chuối, . . . .

Nó thích nhất là được hai anh cho vào đoàn xe chơi.

Ở đó, nó thường ngồi chăm chú xem các anh sửa xe.

Thấy có nhiều dầu luyn (dầu nhớt để bôi trơn trong động cơ) đọng trên các vũng nước, nó liền nảy ra ý thu lượm lại.

Nó dùng nửa con trai hay bát vỡ vớt dầu trên các vũng đó đổ vào ống bơ.

Nó mang dầu về trút vào chum.

Khi đầy chum, nó gọi người đến bán lấy tiền.

Thỉnh thoảng hai anh cho cả lũ chúng nó leo lên thùng xe phóng đi xa, tìm chỗ rửa xe.

Đó là những đầm nước ven đường mà xe có thể xuống sát được.

Hai anh và bọn trẻ dùng xô, chậu té nước lên xe để rửa.

Vừa làm mọi người vừa đùa nghịch với nhau, thật là vui.

Trên đường rửa xe về, bao giờ xe cũng đỗ ở cửa nhà nó.

Các anh thì vào tán tỉnh các chị của nó còn chúng nó thì trèo lên nóc ca bin, lấy gậy chọc bàng.

Những quả bàng trâu, bàng cơm, bàng mỡ to tướng trên bốn cây bàng trước cửa nhà nó rất ngon, ngọt "lịm ga" (từ của dân xế).

Kể về bàng ở phố nó thì phải nói đó là một đặc sản.

Đến mùa bàng chín, người lớn, trẻ con cả làng, người thì trèo lên cây rung mạnh, người thì đáp cho bàng rụng.

Lũ trẻ thi nhau tranh cướp.

Mấy đứa còn dùng áo may ô, kéo rộng ra để hứng bàng, chả khác gì cảnh trong bức tranh Đông Hồ "Hứng Dừa".

Có lần nó hứng và tranh cướp được vài chục quả.

Lớp cơm bàng chín vàng, ngon ngọt và thơm không thể tả được.

Gặm hết cơm bàng, chúng lấy gạch đập hột bàng, khều chén nhân trắng bên trong.

Nhân bàng ăn vừa béo vừa bùi, không gì có thể so sánh được.

Mãi về sau này, khi nó biết đến hạt hạnh nhân, thì hạnh nhân cũng chẳng sánh được.

Thỉnh thoảng có chiếu phim, diễn kịch ở xa mươi, mười lăm hay hai chục cây số, các anh ấy lại chở mấy ô tô trẻ con trên thùng, hành quân đi xem, rất rầm rộ.

Không có vé thì cứ ngồi trên nóc xe mà xem, hơi xa một tí nhưng cũng tốt chán.

Trước kia thầy bu nó thỉnh thoảng chỉ vặc nhau sơ sơ.

Nhưng càng ngày các cụ càng hay cãi nhau.

Độ rày, các cụ cãi nhau thường xuyên, như cơm bữa.

Chẳng biết chuyện đó có phải do thầy đã có tuổi, sức khỏe kém, đau ốm luôn, đêm hay mất ngủ mà đâm ra trái tính trái nết hay là do bu nó vốn khó tính, càng già càng khó tính hơn.

Có một bận thầy bu nó cãi nhau to lắm.

Thầy nó dỗi mang máy khâu và đồ đạc, quần áo vào ngõ Bưởi ở riêng.

Ở ngoài phố chỉ còn bu nó, anh Bát và chị Thất.

Chị Bính nó thì theo thầy vào Bưởi.

Mặc dù rất buồn, nhưng thương thầy, nó cũng theo thầy cho có người nọ người kia để thầy nó sai vặt.

Hơn nữa thầy nó đã yếu do bị hen suyễn, phải có các con ở cùng mỗi khi trái gió trở trời.

Biết thầy nó kiếm tiền khó khăn.

Chị Bính nó cuốc vườn trồng su hào, bắp cải, dưa gang, dưa bở, dưa hấu.

Chị còn làm một nhà xí con con ở góc vườn để lấy phân tưới rau, kê một cái chum con bên cạnh để lấy nước tiểu.

Nó cũng giúp chị nó dựng nhà xí, dựng một chái bếp con, cuốc đất, trồng và tưới rau trong vườn.

Thỉnh thoảng, anh Bát, chị Vận và chị Bảy nó cũng vào làm giúp thêm.

Thầy nó xin thằng Biển "Xít" con chú Đàm ở gần đó một cái dậm cũ còn khá tốt.

Vì nó vẫn còn còi cọc lắm nên thầy nó cạp lại cái dậm nhỏ bớt đi cho đỡ nặng.

Rồi cụ đan cho nó một cái giỏ.

Từ bấy giờ nó hay theo thằng Biển (em họ nó), thằng Đồng con chị Bân trong hội đánh dậm ở thôn Bưởi có cái tên " phi đội bay".

"Phi đội bay" "bổ nhào" đánh cá, tung hoành khắp các ngả đồng.

Nó không biết bơi nên chỉ dám đánh ở những vũng, những mép ao, nướ ngập quá gối một chút.

Mà thực ra cũng phải đánh ở những chỗ đó mới có nhiều cua cá nhỏ trốn dưới các bụi cỏ, các đám rễ bèo, đám rong rêu, đám khoai ngứa, . . . .

Thường bọn bạn nó đánh giỏi hơn, có hôm được đầy giỏ.

Nó mới tập đánh dậm, ban đầu chỉ được khoảng một bát con, rồi sau mới tăng dần lên đến lưng giỏ.

May mắn lắm nó cũng chỉ được trên lưng giỏ.

"Phi đội" thường đi cùng nhau một đoàn mươi đứa.

Phần thì đi đông cho vui, phần thì đấy là "đội hình chiến thuật" để đánh được nhiều cá.

Khi "oanh tạc" một cái ao, chúng tản ra đánh từ ngoài vào để dồn cá vào giữa, cuối cùng quây lại là "hốt trọn ổ".

Hơn nữa, đi oanh tạc xa làng đến bốn, năm cây số, một "phi đội" đông "rợp trời" sẽ hỗ trợ lẫn nhau đỡ bị hội làng khác bắt nạt.

Khi xuống nước, việc đầu tiên là hạ dậm xuống phía trước xa chân khoảng bẩy chục phân.

Ấn và giữ chặt cán dậm sao cho miệng dậm bám sát xuống bùn.

Đưa bàn đạp xuống sát chân, tay phải cầm chặt sợi chão buộc hai đầu bàn bàn đạp, phối hợp cùng với chân phải, nhấc lên hạ xuống nhịp nhàng, dập đều cho bàn đạp tiến dần vào mép giậm.

Khi bàn đạp vừa tới mép dậm, lập tức ngửa miệng dậm lên nhanh khỏi mặt nước, chao nghiêng qua lại vài lần cho chảy hết bùn đất trong dậm và dồn tôm, cá, rong rêu vào một góc.

Sau khi nhặt rong rêu, rác rến vứt đi, chao thêm vài cái nữa để rửa sạch tôm cá.

Cá to thì bắt cho ngay vào giỏ.

Để lấy tôm tép ra khỏi dậm thì khum bàn tay, vỗ nhẹ vào thành dậm, do dậm đàn hồi, tôm cá sẽ nẩy tưng lên.

Bấy giờ chỉ việc thò tay đỡ lấy, bao nhiêu cũng vào giỏ hết.

Riêng cái bàn dậm chân, đó là một cái ống tre dài khoảng tám, chín chục phân.

Ở quê nó, người ta buộc một sợi chão vào hai đầu ống để làm cái "tay cầm".

Nhiều nơi khác, tay cầm là một thanh tre uốn cong hình bán nguyệt, hai đầu cắm vào ống tre, có vẻ chắc chắn và dễ điều khiển hơn (như hình minh họa).

Sau mỗi buổi "oanh tạc", cả "phi đội" thường tung tăng bơi lội, tắm táp, nô đùa trong hồ nước.

Nó nhìn các bạn thì thèm lắm mà chỉ dám rửa chân tay rồi ngồi vào bóng mát chờ các bạn tắm xong sẽ cùng tới chợ.

Nó dốc giỏ ra mẹt cho các bà mua buôn ở chợ.

Các bà "hàng tôm, hàng cá" chọn nhặt hết các con ngon.

Nó mang về nhà một mớ tiền lẻ đưa cho bố và một mớ cá tép tẹp nhẹp đem kho kỹ với tương ăn dần.

Nhưng thường thì nó cũng ít khi bán.

Nó hay tạt về nhà chính đưa cho bu già nửa, non nửa còn lại nó mang về cho thầy.

Vậy mới có thơ cổ "Vịnh Thằng Đánh Dậm" :

Sớm ngày cơm nước cất binh mau,

Khí nghệ sắm sanh đủ trước sau,

Cán lọng giữa trời người đứng đó,

Tay cầm bán nguyệt dậm chân mau.

Những phường trê chuối đều sây vẩy,

Đòng đong cân cấn cũng dập đầu.

Việc nước xong rồi về kẻ chợ,

Bấy giờ các chị mới tranh nhau.

Đối với nó, có lẽ, nên sửa câu cuối thành :

Việc nước xong rồi về kẻ chợ,

Bấy giờ "phi đội" mới tranh nhau.

Ở ngõ Bưởi chị em nó còn nuôi một đôi lợn, hai con chó con và một đàn vịt để tận dụng cái ao bèo tây rất to ở gần đấy.

Lúc rảnh rỗi, cái ao đó cũng là nơi nó thường hay ngồi buông câu.

Dưới cây cối um tùm, gió hè hây hây, không gian tĩnh lặng, trong lòng nó thơ thới, thanh bình và nhiều xúc cảm.

Một lần nghe người ta kháo nhau nuôi giun đỏ bán xuất khẩu đắt lắm.

Nó hì hục đào một cái hố rộng một mét vuông, sâu chừng sáu tấc ở gần gốc táo.

Xong nó đi hót phân trâu, vơ mùn rạ thối đem trộn với trấu rồi đổ đầy hố, tới miệng.

Nó đi mua một đồng giun giống thả xuống hố.

Hàng ngày nó nóng lòng theo dõi hố giun.

Mãi vẫn không thấy "động tĩnh" gì, giun chẳng thấy đâu, chỉ thấy mùi hôi thối nồng nặc.

Chán nản, nó định bỏ cuộc thì bị thầy nó mắng :

- Thằng này chỉ "no người chán nết", chưa làm đã bỏ dở, không có quyết tâm, cũng chẳng học

hỏi cho đến nơi đến chốn.

Ngữ mày, sau này vào đời, chả làm nên cơm cháo gì đâu con ạ !

Nghe thầy mắng thế, hiểu ra, nó đi học hỏi cẩn thận kỹ thuật nuôi giun.

Về nhà, nó sới lại cái hố giun, trộn thêm mùn cưa để tạo thêm mùn và hút bớt độ ẩm của đất.

Một tuần sau, giun sinh sôi nẩy nở rất nhiều, đỏ au cả hố phân.

Sát cạnh vườn nhà nó về phía sau là đất nhà bác Phán Lâm, có họ với nhà nó.

Hai bác ở Hà Nội đã về hưu và sơ tán về làng cùng người con út là chị Thao, lớn hơn nó một tuổi nhưng học cùng lớp sáu với nó.

Dù mới mười lăm nhưng chị Thao phổng phao xinh đẹp lắm.

Lớp sáu của nó năm ấy có cô Ngà dạy môn văn, thầy Biểu vừa dạy môn toán vừa là thầy chủ nhiệm lớp.

Thầy Biểu là người miền Nam tập kết mới được điều về trường.

Thầy chưa có chỗ ở nên ở nhờ nhà bác Phán Lâm.

Nhà Bác Lâm vừa rộng rãi mà bác còn trồng rất nhiều hoa trong vườn, lại còn nuôi cả chim bồ câu và mấy con chim cảnh nữa.

Bác Lâm nghĩ là thầy Biểu có chỗ ở tốt sẽ yên tâm dậy dỗ các cháu, mà cũng tiện có thầy ở trong nhà dạy kèm thêm cho chị Thao.

Thầy Biểu là thầy giáo trẻ, trắng trẻo, đẹp trai, tóc bồng bềnh như nghệ sỹ lại chơi chơi ghi ta rất hay nên các trò lớp nó và chị Thao rất quý thầy.

Thầy Biểu dậy kèm chị Thao và nó môn toán.

Ngoài ra thầy còn dậy nó chơi đàn ghita.

Những lúc rảnh rỗi thầy Biểu còn chăm sóc hoa, tưới rau và làm vườn cùng chị Thao và gia đình bác Lâm.

Cô Ngà dậy môn văn cho khối năm và khối sáu.

Cô mới hai mươi hai tuổi, vừa ra trường.

Dáng người cô nhỏ nhắn, da trắng, tóc dài, khá xinh gái.

Nhớ về cô Ngà, bây giờ nó lại nhớ đến thằng Bão em con chú nó.

Thằng Bão bị đúp hai năm, xuống học lại lớp bẩy.

Chết nỗi thằng Bão lại yêu cô giáo của nó.

Giá mà nó cứ thầm yêu cô Ngà thì ai biết đấy là đâu.

Đằng này, bất cứ chỗ nào công cộng có thể viết được là nó viết.

Trên tường các lớp học, ngoài tường rào của trường, các bờ tường trong thôn nơi cô Ngà ở trọ, trên bảng đen, trên bàn giáo viên, chỗ nào nó cũng vẽ một trái tim có mũi tên xuyên qua, bên dưới đề Ngà-Bão.

Cô Ngà còn quá trẻ, chưa biết cách xử lý chuyện này như thế nào nên đem chuyện báo cáo với ban giám hiệu.

Thằng Bão bị phê bình trước toàn trường và bị dọa đuổi học.

Từ đó, thằng Bão chuyển từ yêu cô sang ghét cô.

Nó yêu cô thì nó đã viết khắp nơi như vậy.

Bây giờ nó ghét cô thì sẽ chẳng khó đoán, rằng nó sẽ làm những chuyện gì với cô.

Một hôm, rình đúng giờ văn của cô Ngà, thằng Bão lấy lá ngứa chà sát vào ghế ngồi.

Sau đó nó bôi nhựa mít lên.

Cô Ngà mặc quần phíp (một loại vải rất mỏng và mềm, thường để may quần con gái trẻ thời đó), đâu có biết có chuyện gì với chiếc ghế.

Ngồi một lúc trên ghế, chắc cô thấy nóng và ngứa.

Cô ý tứ đứng lên định gãi, nào ngờ nhựa mít dính chặt quần cô với ghế, cái quần chun của cô bị tụt xuống, còn mỗi cái si líp.

Học trò ở dưới "Ồ . . . !" lên một lượt vì quá bất ngờ.

Cô Ngà thẹn quá, mặt đỏ bừng.

Mấy trò con gái vội chạy lên gỡ hộ quần cho cô.

Sau chuyện đó, cô Ngà xin chuyển trường.

Từ đó không ai còn gặp lại cô nữa.

Chuyện nghịch hiểm của thằng Bão cũng không ai biết.

Về sau này, khi đã là người lớn, một dịp nào đó, thằng Bão mới "bật mí" ra chuyện đó.

Một trò thật quá đáng !

Dạy văn thay cô Ngà là cô giáo My.

Cô My cũng trẻ, khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi.

Cô rất gày, gày giơ xương.

Trông cô không có một chút sức sống nào, mông lép, ngực tóp.

Cảm tưởng như chỉ cần cơn gió là cô sẽ bị thổi bay.

Lần này thằng Bão cũng không thích cô giáo mới nên nó lại nghĩ ra cách trêu chọc.

Nó vẽ hình "cái kia" lên bảng, phía dưới đề chữ "My lá tre".

Rồi sau, mọi người phản đối và khuyên nó nên nó mới thôi không trêu chọc cô nữa.

Cuối năm đó, thằng Bão tốt nghiệp cấp hai (hết lớp bẩy) và xung phong đi bộ đội.

Chuyện về hai cô giáo dạy văn của nó là như vậy nhưng cũng không buồn bằng chuyện thầy Biểu dậy toán.

Đời học sinh có nhiều kỷ niệm, vui có, buồn có.

Có những chuyện muốn quên mà chẳng thể quên được.

Đời học sinh có nhiều kỷ niệm, vui có, buồn có.

Có những chuyện muốn quên mà chẳng thể quên được.

Một chuyện muốn quên

Hôm ấy cuối tháng, hai bác Phán Lâm về Hà Nội họp tổ hưu, tổ Đảng, lĩnh lương, đong gạo và mua các nhu yếu phẩm khác.

Chiều đến, cơn bão số bẩy đổ bộ về, mưa rất to, gió giật từng cơn, sấm chớp ầm ầm liên hồi.

Trời càng tối, mưa bão càng dữ dội.

Thầy nó, chị Bính và nó đang ăn cơm tối, thoảng nghe trong mưa bão có tiếng "Ơi . . .

ơi . . . !"

ở đâu đó.

Cả nhà không để ý cứ ngồi ăn cơm.

Một lúc sau, chợt một thoán lặng im tiếng sấm, mọi người nghe rõ tiếng kêu thét của chị Thao :

- Bác Trưởng ơi . . . !

Cứu cháu !

Cứu cháu . . . !

Cả nhà nó lập tức bật dậy, quàng vội áo mưa, chạy ào sang nhà bác Lâm, nơi mà chị Thao đang kêu cứu.

Cùng lúc đó những người bên nhà chú Đàm bên cạnh cũng đang lô nhô trèo rào sang.

Vừa tới nơi, nó thấy chị Thao lao từ trong nhà ra, đầu tóc rũ rượi, áo bị xé rách toang.

Hai tay chị bắt chéo phía trước để che bộ ngực trần.

Ở phía dưới, quần dài của chị bị tụt xuống, chưa kịp xốc lên, để lộ một bên quần lót màu đỏ.

Chị Thao lao tới ôm cứng lấy chị Bính, khóc nấc lên, nghẹn ngào :

- Thầy Biểu . . . , thầy Biểu . . . hiếp em . . . !

Chị Bính ôm chặt chị Thao, lấy cái áo mưa đang mặc chùm lên che cho chị Thao.

Nó theo những người khác chạy vào trong nhà.

Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, trong cảnh giường chiếu lộn xộn, chăn màn tung tóe, nó nhìn thấy thầy Biểu mặc vội quần đùi, rồi luýnh quýnh buộc cái dải rút.

Và đấy là thứ y phục duy nhất lúc đó.

Mọi chuyện đã rõ.

Mấy người lớn bao vây chặt lấy thầy Biểu.

Có ai đó sáng một cái bạt tai rất mạnh vào mặt thầy và quát :

- Đồ khốn nạn !

Khốn nạn quá . . . !

Mấy người giữ chặt thầy Biểu rồi trói tay lại.

Thầy Biểu bị giải lên trụ sở công an xã.

Từ hôm ấy không còn thấy thầy đâu nữa.

Nghe đâu thầy bị xử án và bị giam ở nhà giam Kim Chi ở dưới tỉnh thì phải.

Ngày bão tan, buổi chiều bác Phán Lâm ở Hà Nội về.

Biết chuyện, bác vừa đau khổ vừa thương con.

Ngay chiều hôm sau, bác thu dọn đồ đạc, quần áo, gọi xe ô tô cơ quan chuyển hết đi nơi khác.

Từ đó tới nay nó không lần nào gặp lại chị Thao nữa.

Căn nhà của bác Lâm, sau này, chú Mỳ, một lão thầy bói mù, em bác Lâm, đến ở nhờ và trông coi hộ.

Mấy anh ở đoàn xe theo đuổi hai chị nó nhưng thầy bu nó chê xa, không gả.

Ít tháng sau đoàn xe chuyển đi, các anh ấy cũng biệt tăm từ đó.

Ở trên thôn trên có anh Phương con nhà cụ Hai Đan, một thiếu tá đẹp trai, người tầm thước, trắng trẻo, hiền lành, môi lúc nào cũng đỏ như con gái tô son.

Anh bị thương, giải ngũ về làng.

Thấy chị Thất nó xinh gái, anh nhờ người mai mối đánh tiếng.

Bu nó ưng lắm nên vào Thôn Bưởi hỏi ý kiến thầy.

Rồi bu nó nói :

- Bây giờ phải chuẩn bị lo chuyện cho con rồi, không lẽ ông một nơi, bà một nẻo như thế này thì "đẹp mặt" lắm !

Hai ông bà "đành" không giận nhau nữa (?!).

Thầy nó, chị Bính và nó lại trở về nhà.

Còn cái vườn ở Bưởi thì chị Bính dọn dẹp lại rồi nhờ chú Đàm và chú Trình hàng xóm trông coi hộ.

Thỉnh thoảng chị Bính chỉ vào tưới tắm và thu hoạch.

Ngay hôm sau ngày thầy nó trở về nhà, gia đình cụ Hai Đan và Anh Phương đến nhà thưa chuyện.

Bu nó sai nó dẫn anh Phương xuống Hưng Long, nơi chị nó đang dạy học để đón chị.

Anh Phương đạp xe đạp đèo nó trên đoạn đường đá dài năm cây số.

Hai anh em vừa đi vừa trò chuyện.

Nó thấy anh Phương hiền hiền nên cũng quý.

Chị nó đang dạy một trong các lớp học sơ tán tại đây.

Đó là một lớp học nhỏ trong một căn nhà tranh ba gian rộng chừng bốn chục thước vuông nằm ẩn mình dưới hàng tre cao vút và um tùm.

Đằng sau lớp chị, thấp thoáng còn có vài lớp khác nữa nằm trong vườn mít, vườn xoan mát mẻ.

Xa hơn nữa là con đường với những bậc thang bằng đất thoai thoải dẫn xuống bến đò Chằm Xuyên bên bờ sông Sặt.

Anh Phương thấy ngài ngại nên dừng xe ở xa, đứng đợi.

Nó xuống xe, xăm xăm đi thẳng vào cửa lớp.

Nó thấy chị Thất đang viết trên bảng đen và nghe tiếng chị giảng bài thánh thót, giọng trong leo lẻo.

Hơn bốn mươi cặp mắt trẻ tròn xoe đang tập trung nhìn theo tay chị nó.

Nó khẽ gọi :

- Chị Thất ơi !

Chị nó thảng thốt dừng tay, quay ra nhìn nó.

Rồi chị khẽ gật đầu, bước tới.

Nó ra vẻ quan trọng, ghé tai chị thì thào :

- Thầy bảo chiều nay chị về sớm, nhà có khách.

Chị nó cười :

- Em về trước đi !

Tí nữa chị về.

Anh Phương ở ngoài ý tứ ngắm trộm chị qua lùm cây.

Chắc hẳn anh thấy chị nó xinh nên anh có vẻ phấn khởi lắm.

Trên đường về, nó hỏi :

- Anh thấy chị em có được không ?

- Quá được là đằng khác.

Chiều ấy chị nó về sớm để anh Phương ra mắt, làm quen với chị.

Nó đang hồi hộp theo dõi chuyện của chị thì phải đi họp đội nên nó tiếc lắm.

Chẳng biết trong lúc nó đi họp hai anh chị đã nói những chuyện gì.

Không biết chị Thất có ưng anh Phương không?

Mấy ngày sau đó nó thấy anh chị quấn quýt nhau lắm.

Hàng ngày anh lóc cóc xe đạp đèo chị, đưa đi đón về.

Thì ra là như vậy!

Nó cũng mừng lắm.

Đống rơm

Phía sau nhà nó có một đống rơm rất to.

Cạnh đó là hai cây ổi cổ thụ, một cây ổi đào, một cây ổi mỡ, rất sai quả.

Những lúc rảnh rỗi hoặc những khi muốn trốn bị sai vặt, nó thường cầm quyển truyện, bí mật trèo lên cây ổi, nơi tán lá um tùm của hai cây ổi giao nhau.

Nó đã bí mật buộc túm, giằng các cành lá vào một trạc cây lớn thành một cái giường êm ái.

Nằm ở trên đó, nó ung dung đọc sách.

Những giọt nắng, cái tròn, cái vuông, cái ô van chảy qua kẽ lá lay động trên người nó.

Gió rung lá cành nhè nhẹ, chốc chốc vài con chim sâu lích tích truyền cành ngay trước mắt nó.

Thỉnh thoảng nó lại vươn tay hái ổi ăn.

Nó cứ nằm đó mà ung dung tận hưởng, vừa đọc sách vừa ăn ổi.

Lâu lâu không thấy nó, tưởng đi chơi, thầy nó cầm cái thước gỗ thợ may bằng lim đi ra phố tìm.

Nó nhìn thấy thế, lẳng lặng tụt xuống và chờ cho đến khi thầy quay về.

Lúc đó nó đã sẵn sàng ở ngay chái nhà để thầy nó có thể nhìn thấy.

Thầy nó hỏi :

- Con đi đâu ?

Nó ung dung bước lên nhà, tự tin trả lời :

- Con ở nhà đấy chứ ạ !

Thế là thầy nó chịu không bắt bẻ hay đánh mắng gì được.

Hôm ấy, cũng như mọi lần, nó đang nằm đọc sách trên cây thì thấy chị Thất từ trong nhà đi ra sân.

Chị đang gẩy rơm ở sân thì anh Phương đến.

Nó nằm im dỏng tai, chống mắt theo dõi anh chị.

Hai anh chị nói chuyện với nhau.

Giọng chị Thất thì nhấm nha nhấm nhẳn nhưng mắt chị nó nhìn anh Dương thì lúng la lúng liếng.

Thế thì bảo làm sao mà anh Phương không "chết".

Nó thấy anh Phương ôm chị Thất rất chặt, anh ghì chị ngả xuống đống rơm.

Rồi nó nghe tiếng chị hào hển :

- Đừng anh !

Thầy bu biết thì chết.

Tiếng anh Phương nói gấp gáp :

- Không sợ đâu !

Thầy bu đang ngủ trưa ở trong buồng.

Anh yêu em !

Anh yêu em mà . . . .

Anh Phương hôn chị nó tới tấp, hối hả.

Tay anh cuống quýt lùa vào trong áo chị.

Chị Thất nhắm nghiền mắt trong cơn mê, miệng ú a ú ớ . . .

Nó nhìn anh chị mà thấy nóng bừng cả người, không biết sẽ xảy ra chuyện gì ?!.

Đột nhiên, chị Thất giật mạnh tay anh Phương ra rồi vùng dậy . . . .

Một tuần sau thì có đám ăn hỏi của anh chị.

Hôm ăn hỏi Chị Thất, cụ Hai Đan dẫn đầu đoaàn nhà trai sang nhà nó.

Những người khác là ông Tư Miện, bà Thoảng, bà Cam, bà Mộc và vài người nữa.

Bên nhà gái có thầy bu nó, cụ Cả Lăng, chú Đàm, chú Trình, chú Cất, chú Thương, các chị gái và hai anh rể.

Các cụ lớn tuổi ngồi xếp bằng trên phản giữa, hai anh rể nó và vài người khác ngồi sáu cái ghế đẩu ở xung quanh bàn.

Cu Thập thấy nhà đông khách thích lắm cứ chạy hết chỗ này đến chỗ kia, tò mò hóng chuyện người lớn.

Khi thấy anh Phương và chị Thất nhổm lên rót nước mời khách nó nhớ đến chuyện mấy hôm trước có đoàn xiếc về phố nó biểu diễn.

Tiết mục có hề đầu nhọn lừa hề mũi đỏ, kéo ghế làm cho hề mũi đỏ ngồi trượt, ngã chổng kềnh.

Một tiết mục rất ấn tượng và vui.

Nghĩ sao làm vậy, nó kéo ghế của anh chị dịch ra một chút.

Anh chị nó mời xong ngồi xuống bị hụt, cả hai ngã ngửa ra giữa nhà.

Mọi người giật mình, cười ồ cả lên.

Thầy nó quắc mắt nhìn nó, ông tức lắm, nhưng nhà đang có khách trọng nên không làm gì được.

Anh chị nó lồm cồm bò dậy, cười rất hiền, có phần hơi ngượng nghịu.

Anh Phương cũng rất nhanh, anh chuyển sang giọng đùa với nó :

- Thôi !

Cho anh xin cái ghế nào.

Đến tận bây giờ già rồi, nghĩ lại, nó vừa buồn cười vì chuyện nghịch dại dột của nó hồi nhỏ, vừa nghĩ mà thương anh nó bị "quả" ngã đau, một kỷ niệm chẳng bao giờ quên.

Đám cưới anh Phương, chị Thất diễn ra rất tưng bừng và vui vẻ.

Sau khi đưa chị về nhà anh Phương, khách khứa dần dần về hết, nó bỗng thấy hẫng hụt, trống vắng và mất mát.

Nó buồn quá, xuống nhà sau, nó ngồi khóc một mình.

Cưới xong ít ngày, anh Phương đèo nó ra Hà Nội chơi để thăm người em trai của anh ở một đơn vị xe tăng.

Hai anh em hỏi thăm tên anh Thái, thuộc đơn vị tăng thiết giáp mà mãi vẫn không thấy.

Hôm đó là một hôm trời mưa bão.

Hai anh em ra tới Hà Nội thì đúng lúc bão tràn qua thành phố.

Hai anh em đèo nhau trên đường đê ven sông Tô Lịch.

Gió mạnh làm mưa quất vào mặt rát rạt.

Chiếc xe lắc lư, nghiêng ngả chỉ trực lao xuống sông.

Anh em nó ướt như chuột lột, rét run cầm cập mà vẫn không tìm ra đơn vị anh Thái.

Hơn một giờ chống chọi với cơn bão, cho đến khi gần ngớt bão, anh em nó mới tìm được nơi anh Thái đóng quân.

Anh Thái và đồng đội vui lắm.

Các anh rất nhiệt tình, chân thành và cởi mở.

Họ đưa khăn khô cho anh em nó lau, lấy quần áo bộ đội ra cho anh em nó thay tạm.

Nó mặc cái quần đùi dải rút to "rầm", rộng thùng thình dài quá kheo chân, khoác cái áo bộ đội dài, rộng, tay phải xắn lên mấy vòng.

Các anh lấy cơm ở nhà bếp mang về phòng cùng ăn.

Bấy giờ nó thấy đói quá, ăn ngấu ăn nghiến, chẳng có giữ ý tứ "làm khách" gì hết.

Ăn xong, nó chui vào chăn, ấm quá, nó đánh một giấc dài tới chiều tối mới dậy.

Nhà nó vẫn làm hàng xáo, thiếu người thỉnh thoảng bu nó thuê thêm nhân công trong làng.

Bà Ba Dụ, chơi với bu nó, lúc nông nhàn bà thường hay lên làm giúp.

Bà có người con trai lớn cũng cao ráo, sáng sủa.

Hai bà thấy cũng hợp với chị Vận nên ngấm ngầm tìm cách xe tơ, kết tóc cho hai con.

Rất nhanh chóng, cuối năm đó chị Vận nó cũng đi lấy chồng.

Chồng chị là anh Tống, con bà Dụ.

Hai anh chị cùng làm ở Liên Đoàn Địa Chất.

Cưới nhau xong ít ngày, anh chị Tống Vận chuyển đến ở nhà tập thể của cơ quan.

Năm sau chị Vận sinh cháu đầu, nhà chồng lại neo người nên mẹ chồng chị bắt chị thôi việc cơ quan để về nhà, vừa là để trông nuôi con nhỏ vừa giúp thêm việc nhà.

Từ đó chị Vận nó nghỉ hẳn việc cơ quan về quê sinh sống.

Nó đã lên lớp bẩy, vẫn hoạt động công tác thiếu niên, khả năng vẽ của nó đã khá hơn.

Nó ít khi phải vẽ vào sổ tay cho các anh chị tay hay hoa bướm, chữ lồng cho nón bài thơ nữa.

Cao cấp hơn, nó hay vẽ báo tường cho lớp, cho trường, cho đội.

Các ngón đàn Ghi ta của nó cũng đã khá mặc dù nhạc lý thì chưa được học.

Nó đêm đàn cho các bạn hát, nó cứ tỉa nốt và chạy vài gam, dập chát xuỳnh . . . . xuỳnh . . . .

Đối với các bạn không biết chơi thế cũng đã là ghê lắm.

Ở Phòng Văn Hóa huyện có anh Huyền họa sĩ, chuyên kẻ khẩu hiệu, vẽ áp phích, tranh cổ động.

Một hôm anh mang quần áo đến nhà để thầy nó vá thì nhìn thấy nó đang vẽ.

Anh Huyền nhận thấy nó có năng khiếu nên anh động viên nó nên đi học vẽ.

Anh còn bảo nó, thỉnh thoảng lên phòng làm việc của anh để anh hướng dẫn cho mà vẽ mới tiến bộ được.

Nó rất mừng.

Lúc anh về, nó theo anh ngay.

Đầu tiên, anh hướng dẫn nó bài vẽ tĩnh vật bằng bút chì.

Anh Hướng dẫn nó những bước đầu tiên, từ việc giải thích thế nào là "tĩnh vật", cách bố cục các tĩnh vật, cách quan sát đường nét, cách đo đạc, đến việc quan sát ánh sáng rồi đánh bóng, . . . .

Nó hào hứng và say mê lắm, vẽ xong bức nào nó mang tới để anh xem và góp ý cho.

Cứ như thế nó sửa đi sửa lại cho đến khi bức vẽ thật hoàn chỉnh.

Nhiều hôm nó ở chơi chỗ anh để xem anh vẽ.

Thấy anh vẽ tranh bằng màu bằng bút lông, nó thích lắm.

Một hôm nó ngỏ lời xin anh vẽ tranh màu thì anh Huyền cũng rất vui vẻ động viên nó.

Anh cho nó một cái bút lông cùn, bột màu mỗi màu một ít và mấy tờ giấy trắng khá dầy.

Anh lại còn cho nó mượn thêm bức tranh chim bồ câu của anh để nó học theo.

Nó cảm động quá, trong lòng sung sướng vô cùng.

Về nhà, nó lấy bột mầu cho vào các nắp bia, mỗi màu một nắp, rồi lấy nước cơm đỏ vào.

Cứ thế nó nghiền kỹ bột màu với nước cơm.

Nó nằm bò ra phản và bắt đầu dùng bột màu để chép lại tranh của anh Huyền.

Đó là lần đầu tiên nó dùng bút lông và màu bột để vẽ nên trong lòng rất phấn khích.

Sau mấy tiếng đồng hồ bò lê bò càng, sửa đi chữa lại thì bức tranh cũng gần xong.

Nó thấy rất đạt, rất ưng ý.

Nó làm việc miệt mài và hăng say lắm quên cả việc có chị Thất và anh Bát đang xúm vào xem nó vẽ, quên cả việc nó đang mót đi ngoài.

Rồi đột nhiên nó thấy không thể nhịn thêm được nữa nên đành nhờ chị Thất và anh Bát trông hộ để nó chạy ra nhà sau :

- Trông hộ em nhá !

Đừng nghịch hỏng nha !

Nó đi ngoài xong quay lên nhà, nhìn thấy bức tranh thì mặt tái dại đi.

Bức tranh của nó bị gạch ngang dọc.

Nó lặng người đi giờ lâu, đau đớn . . .

Hỏi : Ai làm thế này hả ?

Chị Thất nó đáp : Thằng Bát đấy !

Nó thấy buồn vô hạn.

Đó là bức vẽ mầu "đầu đời" của nó với bao nhiêu tâm huyết thì đã ôi thôi . . . !

Mà cũng không kém phần buồn hơn về ông anh trai của nó.

Ông anh vẫn còn hận nó tới giờ chưa nguôi.

Bạn bè chốn quê hương

Nó chơi với rất nhiều bạn, bạn cùng lớp, bạn lớp trên, bạn lớp dưới, bạn cùng phố, cùng thôn, rồi còn bạn của bạn nữa.

Trong số những bạn nó thân trong lớp phải kể đến thằng Đồng, nhà sát tường nhà cái Huệ.

Nó hay sang nhà Đồng chơi.

Hai đứa lấy gậy gẩy rơm chơi trò làm Tôn Ngộ Không, đánh nhau, cười đùa ầm ĩ.

Thằng Đồng thì thế, còn cái Huệ, bạn chăn vịt một thời của nó, cũng là bạn gần nhà lại cùng lớp.

Thành ra, tự nhiên cái Huệ, thằng Đông và nó khá thân nhau.

Sướng nhất là cứ chiều chiều, nhà cái Huệ thay nồi nước dùng.

Xương bò, xương trâu, xương lợn đã ninh lấy nước xong được vớt ra sảo để thay đợt mới, Cái Huệ lai gọi nó với thằng Đông vào gặm xương.

Tuy xương được ninh đã kỹ, nhưng những mẩu thịt vụn, sụn đầu và tủy xương ăn vẫn ngọt lắm.

Hai thằng gặm gặm, mút mút, hít hít, nhai nhồm nhoàn.

Tuyệt ngon !

Đứa thứ ba nó thân là thằng Huy.

Thằng này ham đọc sách và có trí nhớ tốt.

Nó đã đọc Tam Quốc, Thủy Hử, Tây du ký và các chuyện khác thì rất nhớ, từng chi tiết.

Khi hỏi, nó kể vanh vách cấm quên tý nào.

Nó và thằng Huy hay trao đổi sách cho nhau.

Có những lần hai đứa đi hơn chục cây số để mượn sách về đọc.

Thằng Huy thích cái Huệ nên hay bị bạn bè "chế" (gán ghép thành đôi).

Một hôm nó và Huy đi làm bèo dâu, hai đứa đang khiêng một thúng tro bếp.

Vừa đi nó vừa chế thằng Huy với cái Huệ.

Nào ngờ, thằng Huy quay lại, bốc một nắm tro, đáp thẳng vào mặt nó.

Nó đang cười nên ăn đủ tro vào mặt, đầy mồm, đầy mũi.

Nó phải xuống ao rửa, mãi mới sạch.

Bên trái nhà thằng Huy là nhà thằng Kiến.

Thằng Kiến có họ với nó, đúng ra, thằng Kiến phải gọi nó là chú.

Nó cũng quý và chơi rất thân với thằng Kiến.

Sau này Kiến vào quân đội, công tác ở binh chủng tăng thiết giáp.

Nó được đi tu nghiệp ở Liên Xô, rồi thăng tiến lên đến hàm thiếu tướng.

Ông thằng Kiến chơi hoa và cây cảnh nên nhà nó có rất nhiều hoa và cây.

Thỉnh thoảng nó và thằng Huy xin ông giống cây cúc, cây thược dược, cây hồng hoặc cây nhài đem về trồng.

Bên phải nhà thằng Huy là nhà thằng Dân.

Thằng Dân gầy gò, cao dong dỏng.

Nó quý thằng Dân ở cái trí thông minh và cái đức học tốt.

Lui ra giữa phố có nhà thằng Dưỡng.

Dưỡng đẹp trai, cao, tóc quăn, hơi đen, tính tình điềm đạm hiền lành.

Sau này nó làm thợ cắt tóc.

Nó cũng khá thân với thằng Thuân, con bác Cau Hào làm nghề cắt tóc, nhà ở góc phố, phía đối diện với nhà nó.

Thuân thua nó một tuổi, học lớp dưới.

Bữa đó có đoàn sinh viên trường Nông Nghiệp về quê nó thực tập.

Trời mưa to, ốc sên bò ra vườn chuối rất nhiều.

Các anh các chị sinh viên bắt về, làm sạch rồi đem sào.

Họ biếu thầy bu nó một đĩa nhưng cả nhà nó không ai dám ăn.

Nó và thằng Thuân liền đánh chén tì tì đến hết, ngon đáo để.

Bạn cùng lớp thằng Thuân là thằng Sinh, con bác Lam.

Anh thằng Sinh là anh Thới, làm nghề sửa xe đạp.

Thằng Sinh đúng là "thư sinh", rất trắng, hơi lùn nhưng thông minh và học khá tốt.

Tối tối thằng Sinh ra nhà nó nhờ nó dạy chơi ghi ta và dạy đọc thơ.

Lớn lên, Sinh đi bộ đội, học ngành quân y và trở thành bác sỹ.

Nó có chuyên môn giỏi, sau này là thiếu tướng, phó viện trưởng Viện Quân Y 103 ở Hà Đông.

Đối diện nhà nó là trạm y tế của huyện.

Cạnh trạm là nhà ông bác sỹ từ Hà Nội về.

Ông dựng một cái cột ăng ten rất cao và làm đài tự tạo, bấy giờ gọi là "chơi galen".

Dây ăng ten được dẫn từ trên cao xuống và được nối với một cái kim.

Cái kim này sẽ dùng để châm vào một cục quặng bán dẫn, đóng vai trò như điốt (diode) tách sóng.

Cục quặng được nối với dây loa, đầu dây còn lại của loa thì nối xuống đất.

Cái loa của ông bác sỹ cũng do ông tự làm.

Nó đơn giản gồm một cục nam châm có quấn một cuộn dây xung quanh rồi đem úp cái ống bơ sữa bò vào.

Đáy ống bơ chính là màng loa, còn miệng ống bơ chính là chỗ để ghé tai vào mà nghe.

Khi muốn nghe đài, phải dùng cái kim mà dò dò, chọc chọc vào cục quặng để tìm được chỗ nào nghe được rõ nhất.

Chơi galen không phải tốn pin hay thêm bất cứ gì nữa nhưng chỉ nghe được đài nào phát sóng mạnh và ở gần.

Bấy giờ có đài galen mà nghe thì ai cũng thích vì ở nông thôn đói thông tin lắm.

Rất may là nó chơi với thằng Việt, con ông bác sỹ.

Thằng Việt thì "kiêu" lắm, muốn được nó cho nghe đài thì phải nịnh.

Dù sao thằng Thập gần nhà, lại thân, nên có phần được ưu ái hơn những đứa khác.

Thỉnh thoảng, lúc ông bác sỹ không nghe đài, thằng Việt ra hiệu cho nó chạy qua nghe nhờ.

Sát nhà thằng Việt là nhà dì Lạp, em ruột bu nó.

Dì Lạp ở Sặt, có lò nung vôi, lại xoay sang buôn nước mắm, rồi xoay qua buôn đồng nát.

Chồng dì Lạp lại là các bộ nữa nên kinh tế nhà dì thuộc loại khá giả, có thể nói là giầu có.

Dì Lạp mua ngôi nhà ngói cũ của Pháp, đối diện với nhà nó.

Trong thời gian "cải cách ruộng đất", dì Lạp cư xử rất tệ với nhà nó.

Nhớ lại, khi các cháu sắp chết đói, chị gái thì đang bị giam cầm, các cháu xuống dì kêu cứu, chẳng những dì không cho cháu ăn một miếng cơm, không cho vay một đồng một cắc hay một bát gạo nào, mà dì còn đay nghiến: "Tiền của tao là tiền buôn tiền bán, đâu có phải vỏ gion.

Về bảo thầy bu mày, cứ để chết bớt mấy đứa đi, rồi xuống đây, có thừa tao mới cho vay."

Từ ngày ấy bu nó và dì Lạp cắt đứt mọi quan hệ.

Hai chị em ruột ở đối diện nhau nhưng coi nhau quá người dưng, lại còn cấm con cái chơi bời hay giao lưu với nhau.

Thằng Miến là con cả của dì Lạp, thua nó một tuổi, hai đứa lại quý nhau.

Sợ mẹ cấm, hai đứa nghĩ ra cách liên lạc với nhau qua "điện đài hữu tuyến".

Chúng dùng hai ống bơ sữa bò rỗng, đục lỗ ở đáy, rồi nối một cái dây từ đáy ống bơ này qua đáy ống bơ kia.

Sợi dây được dòng qua tán hai cây bàng đối diện hai bên đường.

Khi muốn nói chuyện với nhau, chúng vỗ tay ba cái, là ám hiệu gặp nhau ở trên "mạng điện đài".

Nói qua "micrô" ống bơ nghe khá rõ.

Điện đài được chúng giấu sau nhà, không ai phát hiện được.

Chẳng những thế, chúng còn liên lạc với nhau bằng tín hiệu "vô tuyến" nữa.

Khi một đứa muốn rủ đứa kia đi chơi thì đứng trước cửa nhà mà vỗ tay nhát gừng, từng cái rời rạc, một hồi năm cái, thì nhĩa là "Đi chơi bây giờ nhé !".

Nếu đi được, bên kia vỗ lại một cái, "Được", nếu không sẽ vỗ hai cái, trả lời "không đi".

Chú Thanh, bố thằng Miến, ở Hà Nội về, mua cho anh em thằng Miến cái xe đạp con.

Dì nó quý lắm, không cho đi xe ra đường.

Bà treo xe lơ lửng ở nhà sau, bánh cách mặt đất một gang.

Dì cho các con ngồi lên tập đạp xe.

Thằng Thập thích lắm, nó mon men sang nhìn mà thèm.

Rình lúc vắng dì, nó xin đạp nhờ.

Một lần, nó đang sung sướng đạp xe thì dì Lạp về đột suất, bắt được.

Dì quát :

- Mày sang đây làm gì ?

- Cháu sang kèm em Tần học.

- Thằng Tần nó không cần, mày về đi.

Cấm có được sang nhà tao !

Nó tủi thân lắm, lủi thủi "cúp đuôi" đi về.

Chú Thanh là cán bộ làm việc ở Hà Nội, có tiêu nhiều tiêu chuẩn tem phiếu, được cung cấp nhiều mặt hàng.

Ngày tết, ông mang về rất nhiều quà.

Trên mâm ngũ quả còn có cả mấy bao thuốc lá Tam Đảo.

Thằng Miến bóc trộm, rút mấy điếu rủ nó hút.

Đó là lần đầu tiên nó hút thuốc, rít vào, chưa qua khỏi cổ, nó đã ho rũ rượi.

Thế rồi, vài lần tập hút thành quen.

Hai đứa hay hút trộm thuốc của chú Thanh, dần dần thành nghiện.

Đến bây giờ nó vẫn nghiện thuốc, cứ hút thuốc thì lại ho, nhưng ho mấy nó cũng không bỏ được.

Năm cuối cấp hai, bọn con gái lớp nó nhiều đứa đã mười sáu, mười bảy.

Đứa nào đứa nấy phổng phao, nẩy nở, má đỏ hây hây, trông rất xinh.

Con trai lớp nó nhiều đứa hơn nó bốn năm tuổi nên cũng rất lớn.

Chúng nó bắt đầu tán tỉnh, cưa cẩm mấy đứa con gái, mấy đứa con gái cũng thích.

Thằng Thập bé nhỏ, gầy còm nhất lớp nên bọn con gái chả thèm để ý.

Còn, bọn con trai thì lại nịnh nọt nó, nhờ nó chuyển thư, chuyển thơ tình cho bọn con gái.

Chuyện trai gái lớp nó kể ra chẳng thể hết.

Bây giờ bạn cùng lớp thuở nào, mỗi đứa một phương, "chín người, mười cảnh", "kẻ còn, người mất".

Thỉnh thoảng họp lớp những đứa cùng thôn cũng chỉ có hơn chục đứa.

Tuy vậy, thằng Thập vẫn nhớ từng khuôn mặt, từng cái tên bạn lớp nó, nhiều kỷ niệm không thể quên.

Những cái Lý, cái Cúc, cái Nụ, cái Hường, thằng Lợi, thằng Toàn, thằng Sơn, thằng Hợp, . . .

Năm 1969

Nhớ lại năm 1969, một năm rất nhiều sự kiện đáng nhớ.

Chị cả nó bấy giờ đã sinh được năm đứa cháu, ba trai, hai gái, cháu Son, cháu Hà đã chết sau sinh, cháu Thùy, cháu Lam, cháu Thanh.

Nhớ lại lần sắp sinh cháu Lam, chị bị băng huyết nặng.

Cả nhà xúm xít lại tìm cách đưa chị đi cấp cứu.

Chị được đặt nằm vào cái võng đay, rồi xỏ đòn càn vào, bên trên đòn phủ cái chăn hoa.

Hai người đàn ông lực lưỡng võng chị sang Cẩm Sơn cấp cứu.

Đang bị khiêng đi, từ trong võng, nhìn thấy thằng Son chạy theo, chị nó thò cổ ra gọi nó :

- Thập ơi !

Giữ cháu lại hộ chị.

Thằng Son lúc ấy năm tuổi, béo khỏe ục ịch.

Nó hơn cháu Son bốn tuổi nhưng lại gầy còm.

Nó đuổi theo túm tay thằng Son kéo lại không cho đi.

Không ngờ, thằng cháu khỏe hơn, đẩy cho nó một cái, ngã ngồi xuống đất.

Thằng Son tiếp tục chạy theo mẹ.

Thằng Thập quát gọi cháu lại, thằng cháu không thèm nghe, lại còn quay lại, cầm gạch vừa đáp vừa chửi :

- Đ. . . tổ thằng Thập.

Thằng bé thật là khỏe, nhưng có lẽ tình mẹ con làm cho nó khỏe gấp bội.

Vì mẹ, nó chiến đấu đến cùng, văng tục chửi bậy, không cần biết gì hết.

Bây giờ kể chuyện lại, cả nhà nó, ai cũng phải phì cười.

Chị hai nó ở Hà Nội cũng sinh được năm đứa con là Văn, Liên, Hùng, Mai An, Phương An.

Chị Thơ ở trông cháu cho chị hai tới năm hai mốt tuổi, thì được anh Chí, chồng chị hai, giới thiệu cho anh Phương, làm cùng cơ quan, người ở Hà Tây.

Đi lại một thời gian thì hai người cưới nhau vào năm 1965.

Đến năm 1969, chị đã có ba cháu là Vân An, Hoa và Hướng.

Chị Vận và chị Thất giống nhau, cưới năm trước thì năm sau sinh con.

Giữa năm chị Thất sinh cái Đức thì cuối năm chị Vận sinh cu Chiến.

Năm ấy là năm 1969.

Anh Bát đã học xong lớp mười không thi đỗ được đại học, được em anh Phương xin cho đi làm công nhân ở hồ Kẻ Gỗ, hai năm sau thì nhập ngũ.

Nó đã mười bốn tuổi, tốt nghiệp lớp bẩy.

Sau khi nghỉ hè, phòng văn hóa huyện thông báo nó được chọn đi học vẽ tại trường văn hóa nghệ thuật tỉnh, đóng tại thị trấn Sặt, thời gian mười hai tháng.

Nó bỏ dở ý định học tiếp cấp ba để đi học vẽ.

Đó là niềm ước mơ cháy bỏng thôi thúc nó, nó muốn trở thành họa sỹ.

Nó lục tục chuẩn bị tư trang, đồ đoàn để nhập trường vào ngày 10/9/1969.

Còn mấy ngày nữa là đến ngày tập trung thì nghe đài báo tin Bác mất.

Sáng 9/9/1969, loa phóng thanh công cộng đặt trên cây bàng trước cửa nhà nó tường thuật trực tiếp buổi tang lễ.

Hôm đó trời mưa tầm tã nhưng vài trăm người vẫn lặng lẽ dưới mưa, nước mắt chan hòa, đứng nghe bác Lê Duẩn đọc điếu văn.

Ủy ban huyện lập tức xuất vải đen và vải đỏ, huy động và hướng dẫn tất cả thợ may trong cả huyện tham gia may băng tang.

Thầy nó đứng pha vải, nó ngồi may hối hả, vừa nhìn mưa rơi, nhìn đoàn người khóc lặng dưới mưa, vừa đạp máy hết công suất.

Nó vừa làm vừa nghe bác Duẩn đọc, cảm động quá, nước mắt nó rơi cả xuống băng tang.

HẾT CHƯƠNG II

CHƯƠNG III VÀO ĐỜI Nó cài một cái băng tang màu đen có một vạch ngang màu đỏ ở giữa giống như tất cả người dân lúc đó để tang Bác.

Làng nó có hai đứa được chọn đi học vẽ là nó và thằng Đỗ, người cùng làng.

Sáng 10/9/1969, hai đứa chào gia đình, xách túi hành trang rời quê hương lên đường nhập trường.

Sáng mùa thu, nắng sớm lung linh, trời trong vắt, xanh cao vời vợi, gió mênh mang thổi, lúa đã đổ đòng thơm ngát, chim hót ríu rít trên đồng.

Nó và thằng Đỗ đi tắt qua cánh đồng về hướng ngã Ba Lăm.

Gặp con đường rải đá, hai đứa rẽ phải, đi thêm một đoạn trên đất xã Xuân Dục thì rẽ trái.

Đi thêm vài cây số nữa trên đường đất thì đến bến đò Chằm Xuyên.

Hai thằng dắt tay nhau dò dẫm xuống những bậc thang nhỏ dốc đứng được khoét vào thành đê.

Chúng trèo lên một con thuyền nan nhỏ, làm con thuyền chòng chành.

Bác lái đò già ngồi ở phía sau bình thản khua nước, sóng từ mái chèo vỗ vào mạn thuyền ào oạp.

Lên đến bờ là bắt đầu vào phố Sặt.

Từ bến đò, đi thêm mấy bước là tới cổng trường.

Trường nó rất rộng, nằm ngay sát sông, im lìm in bóng xuống mặt nước, uy nghi và trầm mặc.

Đó là khu trại lính Pháp ngày xưa với ba ngôi nhà.

Ngôi nhà thứ nhất, nằm bên phải, là một biệt thự, nơi ban giám hiệu, các phòng hành chính, hậu cần và giáo viên ăn ở và làm việc.

Bên trái là dãy nhà cấp bốn, trước đây dùng làm khu gia binh, bây giờ là nhà ở của học sinh.

Chính giữa khu trường là một ngôi nhà ba tầng to sừng sững, dễ chừng mặt bằng đến vài trăm mét vuông, mái ngói đỏ, của kính, cửa chớp sơn màu xanh rêu, cầu thang ở chính giữa.

Đây là giảng đường cho lớp học vẽ của chúng nó.

Toàn bộ trường từ cổng cho đến các ngôi nhà đã rêu phong, lở lói theo thời gian nhưng vẫn giữ được vẻ bề thế với những nét kiến trúc cầu kỳ kiểu Pháp.

Nền sân được lát gạch vuông bốn mươi phân, xung quanh để chừa một đường viền trồng cỏ xanh, rất mát mắt.

Trong sân trường, mấy cây xà cừ, cây bàng, cây sấu, cây phượng già xòa bóng um tùm.

Đã là mùa thu mà vẫn có tiếng ve kêu ra rả, tiếng chim hót líu lo.

Đặc biệt nhất là lũ chim sẻ, chúng làm tổ giữa mái ngói và lớp trần toóc-xi của ngôi nhà chính.

Sau ba tháng hè vắng vẻ, lũ chim sẻ sinh sôi nảy nở rất nhiều.

Học sinh lớp vẽ bắt tay vào dọn trường thì khi chui lên trần nhà, lũ chim sẻ hoảng hốt bay ra rất nhiều.

Có con chim bố mẹ nào rất vụng, hoảng sợ bay ra, làm rơi cả cái tổ, trong đó có ba con chim bé xíu, đỏ hon hỏn.

Thày dậy hình họa bọn chúng là thày Thịnh, quê Hải Dương.

Thày Thịnh trầm tính, hiền lành, người cao to, mặt vuông chữ điền, râu quai nón, trông rất quắc thước.

Thày dạy trang trí là thày Túc, cũng quê Hải Dương, người thày bé nhỏ, trắng trẻo, thanh tú, tóc để dài rẽ ngôi phải.

Thày Túc vui tính hay cười, hay hát, .

Thày dạy chúng khá nhiều bài hát khi tập văn nghệ.

Một số thày cô khác thì dạy toán, văn, mỹ học và các bộ môn khác.

Lần đầu tiên trong đời được tiếp cận với phương pháp học quy chuẩn, nó ngỡ ngàng và vỡ ra nhiều điều.

Nó biết thế nào là nguyên tắc bố cục, là trang trí, là đăng đối, là luật xa gần (thấu thị), đường chân trời, rồi hòa sắc, phối mầu, . . . .

Việc học hành ngày 2 buổi cuốn hút chúng, trưa và chiều khi nghe hiệu lệnh kẻng thì xuống bếp ăn.

Ngoài giờ học, chúng còn được hướng dẫn chơi thể thao, tập hát, học nhạc.

Mặc dù bữa ăn thời bao cấp đạm bạc, không có gì nhưng cũng đủ no, không đứt bữa.

Cuộc sống và sinh hoạt tập thể có nhiều điều mới, rất vui.

Cứ chiều Thứ Bẩy hàng tuần, học sinh được nghỉ để tổng vệ sinh trường.

Ngày Chủ Nhật, chúng nó được tự do.

Chúng nó thường đi chơi cả ngày, đầu tiên là khám phá thị trấn Sặt, một vùng quê mới mẻ đối với nó.

Sặt là một thị trấn nhỏ nằm bên con sông Sặt êm đềm, quanh năm nước chảy hiền hòa.

Hai bên bờ sông là hai con đường đê nhỏ, trồng nhiều phượng, me, các bụi tre xanh, các hàng dừa xòa bóng.

Dưới sông, cả hai bên, là những thuyền câu, cái to, cái nhỏ, có cả những con thuyền buồm vận chuyển hàng, đêm đến tụ nhau bên bến sông thành một xóm nhỏ bồng bềnh, ánh đèn hắt xuống mặt nước thàng những vệt sáng dài, lung linh, mờ ảo, trông rất đẹp.

Cách trường nó khoảng một cây số là cây cầu Sặt, được bắc từ thời Pháp, vắt ngang, cao chênh vênh trên sông.

Chạy dọc triền đê là chợ Sặt buôn bán vô cùng sầm uất, không thiếu thứ gì.

Qua chợ Sặt có mấy đường ngang rẽ ra sông, cắt vuông vức như xương cá.

Trung tâm thị trấn nằm trên trục chính, nhà cửa san sát nhau như thành phố với nhiều nhà xây, nhiều căn nhà cổ kính từ thời Pháp.

Đi sâu chút nữa là khu vực nhà thờ có sân rộng mênh mông với tường rào hoa sắt thoáng bao quanh.

Cổng sắt của nhà thờ trang trí hoa văn rất đẹp.

Nhà thờ có hai tháp hai bên và một tháp chuông lớn ở giữa, cao sừng sững.

Phía trên cao, vút lên giữa trời là mái vòm bom bê (bombe – từ tiếng Pháp).

Phía trước tháp giữa, dưới sân có hai bức tượng hai bên.

Trong đó một bức là tượng Đức Mẹ Đồng Chinh bế bé hài đồng, tỷ lệ to hơn người thật, đang dịu hiền nhìn xuống các con chiên.

Xung quanh nhà thờ chính là quần thể kiến trúc các nhà nguyện nhỏ, các xứ họ . . . .

Bên ngoài thị trấn có các ngả đường đi sang Thanh Miện, Thái Bình, Hưng Yên.

Nằm cạnh thị trấn, sát con đường lên huyện là một sân vận động khá lớn, cạnh sân vận động là doanh trại quân đội, trại an dưỡng của thương binh.

Dân thị trấn và dân làng Sặt đa số là theo đạo nên họ sống hiền hậu chân thật và nhân ái lắm.

Sinh hoạt chủ yếu của dân thị trấn là buôn bán hoặc mở các cửa hàng dịch vụ.

Khu vực trong làng chủ yếu làm ruộng và nghề phụ như tráng bánh đa, làm kẹo, khâu nón và dệt vải.

Sau khi ổn định trường lớp, nơi ăn chốn ở, Chủ Nhật đầu tiên được nghỉ, nó cùng các bạn ra phố Sặt chơi thăm và khám phá.

Chúng thơ thẩn chán trong chợ, lại ra phố, dán mắt vào các cửa hàng tạp hóa, hiệu may, hiệu chụp ảnh.

Cuối phố còn có hiệu vẽ rất lớn của thằng bé tầm tuổi nó tên là Mỳ.

Thằng Mỳ cùng với bố vẽ những bức cuốn thư, những tranh cưới chữ lồng có đôi chim bồ câu, những lọ hoa, mâm ngũ quả, những bức tranh Bờ Hồ, phong cảnh hữu tình, núi non, sông nước, cả những tranh các cô cậu bé con để tóc trái đào ôm những quả đào to, bên cạnh một ông tiên tóc bạc, râu bạc cầm gậy trúc đứng dưới gốc đa cười hiền từ.

Chẳng mấy chốc là hết veo ngày Chủ Nhật.

Qua cổng trường nó là một con đường lớn bằng đất chạy cắt ngang đường chính trong phố, dẫn thẳng ra một cái cầu sông bên bờ sông Sặt.

Cầu được xây từ thời Pháp, gạch được xây nghiêng, bề rộng khoảng bốn mét, các bậc đi xuống sông rộng chừng năm chục phân dẫn dần xuống rồi ẩn sâu trong lòng nước.

Các bậc thang lộ thiên thì nhẵn thín, trơ màu gạch đỏ au vì suốt ngày dân thị trấn ra tắm, giặt quần áo, chăn màn.

Các bậc càng xuống sâu càng xanh ngắt vì phủ rêu, trơn nhẫy.

Sau thằng toàn nó quen thêm nhiều bạn nữa, cái Hằng, cái Nga, cái Nguyện, cái Tâm, thằng Khóa, thằng Hải, v v . . .

Có một số đứa nó quen nhưng vì nhà chúng quá giầu, nó thì lại tự ti nên ngại tiếp xúc và quan hệ.

Cái Xuân Loan hơi lùn một chút nhưng trắng trẻo và rất xinh, con nhà hiệu ảnh rất đông khách, rất giầu.

Hay như là thằng Tùng Quỹ, thằng Mỳ vẽ, hễ là con nhà giầu nó ngại.

Nó thường chơi với những đứa kinh tế bình thường, bằng hoặc hơn nhà nó chút đỉnh.

Nhà cái Hằng nghèo nhất trong đám bạn chơi, nhưng bố cái Hằng rất cởi mở và vui tính.

Mẹ cái Hằng mất sớm, ông ở vậy nuôi hai đứa con gái là cái Hằng và chị Thủy.

Bọn chúng hay thường tụ tập ở nhà cái Hằng vui chơi, đàn hát và đôi khi tổ chức ăn uống nữa.

Các lần ăn uống như thế là do các bạn mời chứ cái Hằng thì lấy đâu ra.

Nó quen và chơi với những đứa cùng trang lứa gần như là cả phố.

Nhưng người nó quý và thân nhất là thằng Khóa nhà chụp ảnh, và thằng Hải nhà làm nghề thuộc da, khâu bóng, đóng giầy.

Vui nhất có thể kể đến những buổi tối ở sân vận động Sặt có chiếu phim hay diễn kịch.

Nó cùng hai đứa bạn thân trong lớp là thằng San và thằng Giong ra phố đi xem cùng các bạn nam và nữ ngoài phố.

Không khí ngoài bãi cũng gần giống các buổi chiếu phim ở quê nó.

Nhưng khác ở chỗ bây giờ nó không còn là đứa trẻ con, giữ manh chiếu rách giữa sân nữa, mà nó đã là một 'chàng' thanh niên.

Nó cùng các bạn nam nữ đi ở vòng ngoài, đùa cợt tán tỉnh, trêu gẹo lẫn nhau, hoặc tíu tít vào các hàng ngô nướng rải rác ngoài bãi, mua những bắp ngô nướng nóng hổi, thơm ngậy, uống nước sấu và trêu đùa nhau chí chóe.

Thằng San, da đen, cao, tóc húi cua, nhà ở Cống Trạch cách thị trấn khoảng năm cây về phía nam.

Nó đã xuống chơi nhà San vài lần.

Vẫn nhớ, đi qua cái cống rẽ trái vào làng thì ngay đầu làng là nhà San.

Nhà Giong ở Văn Lâm, cách nhà nó mười lăm cây.

Thằng Giong hơn nó mấy tuổi, người cao, gầy, tóc soăn, da trắng, trông như lai tây.

Thằng này có tật xấu, khi ngủ luôn thọc hai tay vào trong quần, khư khư ôm hạ bộ.

Tật này bị bạn bè trêu nhưng thằng Giong chẳng bỏ mà thỉnh thoảng còn trêu nghịch trở lại.

Nó giật ra vài "sợi rơm", đưa lên giứ giứ, rồi cười hô hố, ghê hết cả người.

Nhắc đến thằng Giong thì nó lại nhớ đến thằng Trưởng, họ hàng nhà thằng Khóa, ở Hà Nội về sơ tán.

Sau này nó chơi thân với thằng Trưởng.

Thằng Trưởng, nhà ở phố Phó Đức Chính, là một anh chàng khá đẹp trai, cao ráo, phong độ và nhiều tài lẻ, ra dáng dân thành phố.

Ít lâu sau nó quen thêm cái Hiên ở phố.

Đó là một kỷ niệm không bao giờ quên mà lúc bấy giờ nó rất xấu hổ.

Phải nói thêm thế này, ở nhà và ở quê thì nó vẫn tên là Thập, nhưng khi đến trường học vẽ, thấy tên Thập xấu quá nên nó khai thêm tên thường gọi là Nguyễn Trọng Dũng, một cái tên đẹp, rất nam nhi, trượng phu.

Nó dặn cả nhà và các bạn bè nó có tên mới.

Ở nhà và ở quê chẳng ai chịu chấp hành, nhưng với các bạn bè mới thì lâu dần thành quen, đều gọi nó là Dũng.

Chẳng may có đứa nào nhầm gọi tên Thập thì nó không cũng không thưa.

Với các bạn ở phố Sặt thì không ai biết tên nó là Thập cả.

Vào một buổi chiều hè, trời nóng như đổ lửa, tiếng ve kêu ran ran, cầu sông cực kỳ đông vui, tấp nập vì ai chả thèm được tắm.

Hôm ấy chủ nhật học sinh trường nó cũng ra cầu sông tắm giặt.

Bấy giờ ở cầu sông rất đông người giặt và người bơi.

Sau khi giặt xong mấy cái áo, còn cái quần, không còn chỗ bên trên, nó phải lội sâu xuống mấy bậc dưới để giũ nốt.

Ngoài xa, thằng Sầm cùng rất nhiều người, có cả bọn con gái phố Sặt đang bơi, vẫy vùng tận hưởng dòng nước mát.

Mấy đứa con gái nheo nhéo gọi :

- Dũng ơi !

Xuống đây bơi đi, mát lắm !

Nó không biết bơi, nhìn xuống thèm lắm nhưng sỹ diện nên dấu nhẹm chuyện này.

Nó chỉ đứng vẫy tay cười với các bạn.

Thình lình, sau lưng nó một người giặt chiếu vô tình quay cái chiếu ngang ra để giặt, cái chiếu đẩy vào lưng nó.

Nó mất đà bước thụt xuống bậc dưới.

Chẳng ngờ bậc quá trơn lại đúng vào cái hõm có mấy viên gạch vỡ, nó hẫng chân, trượt hẳn ra xa vài mét.

Vừa quẫy đạp, tay chới với chòi lên, tụt xuống . . . .

Vì quá đông người, ồn ào, không ai để ý, nó bắt đầu uống nước và «giã gạo» rồi chìm dần.

Hai tay nó vươn lên chới với, tuyệt vọng.

Nó nghĩ mình sắp chết và bắt đầu buông lơi.

Bỗng nhiên nó thấy mình chao nghiêng sang một bên, nhẹ bỗng.

Hai tay người nào đó xốc nách nó, nâng đầu nó cao lên, chân đạp nước oàm oặp.

Người đó dìu nó vào bờ.

Mắt nó đã hơi hoa đi, đầu choáng váng nhưng nó thấy đã dễ thở hơn.

Lên tới mép cầu, nó cố bò lên bậc cầu trên khô ráo và tự dưng thấy bụng tóp lại, cồn lên.

Nó nôn òng ọc ra bao nhiêu nước.

Lấy tay gạt nước chảy trên mặt trên mũi nó định thần mở mắt ra và biết là mình đã sống.

Một giọng con gái thanh thanh cất lên cạnh nó :

- Anh Dũng !

Có sao không ?

Nó ngước mắt nhìn lên thấy một thanh nữ chắc đậm, khỏe khoắn.

Cô gái đó tắm nguyên quần áo ướt rượt, nước làm vải dính vào người, để lộ ra những đường cong tươi trẻ của người con gái.

Nó chẳng biết nói gì, ngượng ngùng trả lời :

- Cảm ơn đã cứu tôi !

Bạn tên gì ?

Sao lại biết tên tôi ?

- Em tên Hiên, bạn của Nga, đã gặp anh mấy lần ở nhà Nga mà anh không nhớ.

- Cảm ơn Hiên !

Anh chưa biết bơi.

Nó quen cái Hiên từ đó và cũng bởi câu truyện này về sau bọn bạn nó thường gán ghép cái Hiên với nó.

Nó thì không thích cái Hiên, nhưng nghe chừng cái Hiên thích nó lắm.

Cái Hiên luôn tìm cách dò hỏi xem nó thiếu cái gì, cần cái gì là tìm cách mua tặng.

Chỉ còn vài ngày là lớp sơ cấp mỹ thuật bế giảng, tất cả học viên ai nấy đều náo nức chuẩn bị làm bài tốt nghiệp.

Bài tốt nghiệp của nó được điểm cao nhất lớp môn hình họa, đứng thứ ba môn trang trí.

Nhà trường chọn 10 học sinh giỏi nhất trong số hơn 100 học sinh của cả ba lớp gửi đi thi vào hệ trung cấp của trường Mỹ Thuật Yết Kiêu, Hà Nội.

Nó là đứa được chọn đầu tiên.

Trong chín người còn lại có ba người mà nó thân là chị Mỵ, anh Thiêm và thằng Giong.

Thằng Đỗ, thằng Đậu và một số bạn không đạt, phải học thêm 2 tháng nữa.

Vào một buổi chiều, nhà trường công bố danh sách tốt nghiệp khóa học sơ cấp mỹ thuật.

Sau đó là buổi thi các tiết mục văn nghệ của ba lớp.

Buổi tối hôm đó nhà bếp cho ăn tươi, gọi là liên hoan cuối khóa học.

Buổi liên hoan rất vui vẻ và cảm động.

Sáng sớm hôm sau, nhà trường tổ chức lễ tốt nghiệp cho các học viên đồng thời cũng là buổi mít tinh chia tay.

Hội trường được trang trí cờ, hoa, khẩu hiệu, trông rất long trọng.

Ngoài các thầy cô giáo và học viên của nhà trường, còn có các cán bộ của Ty Văn Hóa tỉnh về dự.

Sau khi thầy hiệu trưởng đọc báo cáo tổng kết, từng tốp học viên được đọc tên lên nhận chứng chỉ tốt nghiệp.

Thày hiệu trưởng và một cán bộ của Ty Văn Hóa trực tiếp trao bằng và bắt tay từng người.

Riêng mười học viên được đi thi trung cấp còn được nhận giấy của tỉnh giới thiệu lên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội để thi.

Kết thúc buổi bế giảng, mọi người chia tay nhau rất bịn rịn, khá nhiều người khóc, xin địa chỉ và viết lưu bút cho nhau trong sổ tay.

Gần một năm học tập, ăn ở sinh hoạt cùng nhau, giờ mỗi người sẽ đi một phương, tạm biệt mái trường, cuộc chia ly rất bùi ngùi và cảm động.

Sau khi dùng dằng chia tay các thầy và các bạn rất lâu, nó quay lại ngắm nhìn ngôi trường một lần nữa, rồi mạnh chân bước ra cổng, nơi đó có các bạn đang chờ tiễn nó.

Nó ra đến cổng thì thấy đã có rất nhiều bạn, một số bạn phố Sặt chuẩn bị sẵn xe đạp đang chờ.

Đưa chân nó về tận nhà có tất cả hơn mười đứa, cả gái lẫn trai.

Các bạn tiễn nó về tận nhà cũng là nhân thể đến chơi cho biết nhà.

Mọi người tíu tít nói cười, đạp xe đưa nó về phố huyện quê hương nó.

Nó cầm cái túi sách đựng quần áo, giấy tờ và một cuộn tranh giấy là bài học điểm cao của nó, ngồi trên póc ba ga (PorteBagage – đèo hàng – từ tiếng Pháp) xe thằng Khóa, lòng cảm thấy lâng lâng, xao xuyến và hạnh phúc.

Về đến nhà, trong vài ngày, nó chuẩn bị hành trang lên Hà Nội thi vẽ.

Nó lên phòng văn hóa huyện báo cáo kết quả học tập.

Anh Huyền mừng lắm.

Anh động viên nó cố gắng lên Hà Nội thi cho tốt.

Rồi anh chuẩn bị cho nó ít mầu bột các loại.

Về nhà, nó lại nghiền bột mầu rồi trộn với nước cơm, đem đắp đầy mấy vào các nắp bia.

Bút chì thì nó đã có mấy chiếc vẫn đang dùng.

Nó lấy đế dép xốp cũ đem cắt thành những viên nhỏ để làm tẩy.

Còn bút lông thì anh Huyền có vài cái anh không thể cho nó vì anh phải thường xuyên dùng đến.

Nó đành gói theo hai cái bút cũ đã mòn vẹt gần hết lông.

Thôi thì "cái khó ló cái khôn", nó đành phải tự làm thêm vài cái bút nữa.

Nó lấy tre tươi đem gọt và cạo hết xơ tre rồi đập dập đầu, làm thành đủ ba loại bút đại, trung, tiểu.

Nhưng mà bút tre thì làm sao mà mềm mại như bút lông được nên cuối cùng nó cũng cố gắng làm lấy cả bút lông.

Nghĩ sao làm vậy, nó ra hiệu cắt tóc kiếm một ít tóc dài, rồi nó lấy chỉ quấn chắc một đầu thành một cái lọn tóc.

Vót nhọn một que tre, nhúng vào nhựa mít, rồi nó cắm vào lọn tóc.

Nhựa mít khô đi cũng chắc ra phết.

Thế là nó có một cái chổi, chả khác gì cái chổi quét sân thu nhỏ, được cái cũng khá "suôn và mềm mượt".

Như đã hẹn, hôm đi thi, anh Thiêm, chị Mỵ, chị Dịu rẽ qua đón nó.

Bốn người cùng đạp xe, đèo nhau ra Hà Nội.

Cả bốn anh chị em tới trường cùng nộp hồ sơ, làm thủ tục một lúc.

Sau khi làm thủ tục xong, anh Thiêm đèo nó, hỏi thăm đường về nhà chị Dụng (chị hai nó) ở 155 Bùi Thị Xuân.

Đó là vào năm 1971.

Nhắc đến nhà Chị Dụng, cũng cần nói thêm là trước đó, anh chị ở nhờ tại gác hai nhà "Cơm Tám Giò Chả" phố Huế.

Khoảng năm 1969, anh chị mới được phân một phòng ở số 49 Hàng Thiếc.

Nhà số 49 Hàng Thiếc nguyên là nhà của ông chủ hiệu sơn Tô Châu.

Trong "cuộc cải tạo tư bản tư doanh", ông đã "tự nguyện hiến" nhà cho Nhà Nước, "vui vẻ" rút lên tầng hai để "nhường" tầng một cho người khác.

Cái tầng một ấy được chia cho mấy hộ.

Anh chị Dụng được phân một phòng cỡ chừng trên ba chục mét vuông ở tầng một.

Bẩy người gồm anh rể, chị gái, năm đứa cháu nhồi nhét trong căn phòng chỉ có ba mươi lăm mét vuông.

Anh Bính nó làm ở Sở Thương Nghiệp Hà Nội, chưa có chỗ ở, đến ở nhờ tạm là tám người.

Gian phòng này trước là phòng ăn của gia đình ông Tô Châu, phía trần trên để hổng một khoảng 2x3mét để lấy ánh sáng trời từ trên mái.

Xung quanh khoảng trống đó, trên tầng hai có lan can và hành lang bao quanh.

Mọi người đi lại trên tầng hai có thể nhìn thấy hết gian phòng của anh chị nên rất bất tiện.

Nhưng biết làm sao được, đang đi ở nhờ, bây giờ được phân nhà, thế là sướng lắm rồi.

Cũng may là cái khoảng hổng đó ở giữa, cho nên kê giường ở hai đầu phòng rồi kéo ri đô vào, vẫn coi như kín đáo.

Chị Dụng đã xin được vào làm nhân viên Cửa Hàng Ăn Uống phố Huế.

Anh Bính (anh trai nó) sau khi học đại học tại chức ra, làm việc ở Nhà Máy Nhựa Hà Nội.

Ngoài giờ làm, để kiếm thêm, anh nó xin được cho chị nó được dán vỏ hộp giầy dép, hộp đựng đèn bão, phích nước, túi đựng đường.

Cả nhà nó cùng tham gia dán.

Vào dịp nghỉ hè, nó ra chơi, cũng tham gia vào việc làm thêm này.

Khi dán được đủ số hộp, hàng được xếp lên xe bò chở đến nhà máy.

Nó và cháu Tuyết Văn đẩy xe đi trả hàng mấy lần.

Có lần gặp các bạn chị Dụng, ai cũng tưởng là con lớn của chị.

Mấy người cứ xoa đầu khen ngoan.

Hết giai đoạn dán hộp, chị nó lại nhận đi bán cam định mức cho cửa hàng.

Chị nhận một xe đẩy đầy cam, mang về phân loại.

Hàng tốt thì chở đi bán rong trên phố, hàng dập nát hay thối hỏng thì để ở nhà, mọi người chọn chỗ nào còn ăn được thì ăn, không ăn được thì mang đi đổ.

Nó cũng từng đẩy xe đi bán cam với chị nó nhiều lần.

Căn phòng ở 49 hàng thiếc đó, anh Bính nó cũng có một phần được hưởng vì anh cũng là cán bộ công nhân viên trong Sở Thương Nghiệp Hà Nội.

Ở đó được ít lâu, phần thì do bất tiện, phần thì anh Bính là kỹ sư, lại đep trai, đang chê vợ, nhiều cô gái đẹp đang theo bám, anh Bính muốn tự do đỡ phiền chị.

Do đó hai chị em bàn nhau "hỏa hồng" lại căn phòng cho người khác.

Số tiền hỏa hồng được chia làm ba. anh Bính một phần, vợ chồng chị Dụng hai phần.

Anh Bính thêm tiền mua căn phòng tám mét vuông ở Phùng Hưng.

Ở Phùng Hưng được ít lâu thì anh Bính bị đau mắt đỏ rất nặng, tưởng có thể hỏng mắt.

Nhân cơ hội này, thày bu nó giục chị Mây vợ anh ra chăm anh.

Chị mua nhiều gấc chín và đồ ăn bổ mắt cho chồng và chăm sóc cẩn thận nên hơn 1 tháng sau thì anh khỏi mắt.

Chị ra về mang theo cái mầm mới, để tám tháng sau sinh ra thằng Hưng cháu nó.

Anh chị Dụng thì mua được một gian phòng mười sáu mét vuông, tầng một của một căn biệt thự Pháp cũ, ở trong ngõ 155 Bùi Thị Xuân.

Lúc nó đi thi vào trường Mỹ Thuật năm 1971 thì nó đến ở nhờ anh chị tại đây.

Khi nó tới nơi thì chị Dụng nó đã sinh thằng út, không biết nó đi học vẽ ở Sặt đã lấy tên Dũng nên chị đặt tên thằng cu là Dũng, khai sinh đàng hoàng.

Thế là nó "mất trắng" cái tên Dũng.

Sáng sớm hôm nó đi thi, anh chị Dụng và anh Bính đều bận đi làm, không ai đưa nó đi thi được.

Anh Bính cho nó 2 chiếc "tem lương thực", mỗi cái 225 gam.

Nó đành đi bộ, vừa đi vừa hỏi thăm đến phố Yết Kiêu, số nhà 42.

Lòng vòng thế nào nó lại đi theo đường Nam Bộ (bây giờ là đường Lê Duẩn), tới ga Hàng Cỏ.

Đến trước cửa ga, tại góc đường Trần Hưng Đạo, có cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh.

Nó vào cửa hàng đưa hai cái tem 225 gam và ba hào cho chị bán hàng.

Nó mua được một bát mỳ sợi không người lái (không có thịt) và đổi được 2 cái bánh mỳ sừng bò.

Hai cái "sừng bò" nó để giành cho bữa trưa, còn bát mỳ thì nó chén luôn.

Nó ăn ngon lành, một mình một bát mỳ, mà không bị ai gạ xin.

Thật là sung sướng quá, đã đời thật !

Khi nó tới được sân trường, đã thấy các bạn ở khắp các miền quê tập trung về trường rất đông, khoảng 600 thí sinh.

Đa số các bạn được người nhà đưa đến tận nơi.

Trong số đó, có cả các bạn miền Nam tập kết ra Bắc cũng đến thi.

Các bạn ở thành phố, thị xã và đặc biệt là ở Hà Nội trông oách lắm, nhìn là biết ngay.

Bố mẹ các bạn ấy ăn mặc sang trọng, có người đưa con đi bằng xe máy Pơ Giô (Peugeot – của Pháp), Sim Sơn (SimSon Spark – của Đông Đức), xe đạp loại đắt tiền Pơ Giô, Sterling (của Pháp), xoàng nhất cũng là xe Pha Vo Rit (Favorite – xe Tiệp) hay Phượng Hoàng cánh chả (xe Trung Quốc, màu xanh cánh chả).

Các bạn ấy thì khỏi nói, ai ăn mặc cũng đẹp.

Bạn nào cũng rất tự tin, cười đùa vui vẻ như ở nhà.

Không ai sợ sệt, rụt rè, tự ti như nó.

Họa phẩm và dụng cụ các bạn mang theo toàn đồ quý, đắt tiền.

Nào là bút lông, bột mầu đóng hộp, màu nước, bút chì, tẩy, bảng vẽ, nhãn hiệu toàn chữ Tây, đồ quý mà nó chưa được nhìn thấy bao giờ chứ đừng nói đến chuyện đã từng ao ước.

Về sau này nó được biết được cụm từ "nhà quê ra tỉnh" thì đúng là hình ảnh của nó lúc bấy giờ.

Lúc tập trung học sinh trong sân trường, tình cờ nó ngồi cạnh một bạn miền Nam, người Quy Nhơn tập kết ra Bắc ở Hải Phòng.

Đó là bạn Nguyễn Sơn Hồng, mà sau này qua bao nhiêu thăng trầm cuộc sống, vẫn là người bạn thân của nó.

Sau khi phổ biến quy chế thi, nó được xếp đúng vào phòng thi cùng Sơn Hồng.

Ngày đầu tiên là ngày thi năng khiếu.

Buổi sáng thi vẽ hình họa, chiều thi vẽ trang trí.

Nó vẫn nhớ bài thi hình họa là bài vẽ tĩnh vật gồm một viên gạch cũ để trên một chiếc ghế đẩu có phủ khăn mầu xanh đậm, bên cạnh viên gạch là một cái chai, một quả bưởi, và một khối hình trụ.

Yêu cầu thể hiện bằng vẽ chì, với thời gian bốn tiếng.

Nó vừa vẽ vừa thỉnh thoảng liếc qua bài các bạn.

Dần dần nó cảm thấy yên tâm và có phần tự tin vì bài của nó cũng không đến nỗi nào.

Hết giờ thi hình họa thì cũng là đến trưa.

Bọn nó nghỉ trưa và tản ra sân trường.

Trường nó là một khu nhà lớn được xây trên thửa đất rộng chắc phải tới vài mẫu.

Trường xây đã lâu theo kiến trúc Pháp, cổ kính nhưng đường bệ và đầy ánh sáng.

Giữa trường là khoảng sân rộng với các cây đại thụ um tùm.

Ẩn dưới tán cây là các ghế đá, đây đó có vài chuồng nuôi chim, nuôi thú rộng chừng bốn mét vuông, có mái che.

Hai bên lối đi từ cổng vào là hai hàng tượng đá được chép lại từ nhũng tác phẩm điêu khắc vĩ đại của các nghệ sỹ thời phục hưng.

Bên trái cổng vào là khu nhà một tầng, xây rất cao, dài và rộng, mái lợp tôn, trần tóc xi, mặt tiền ngôi nhà đều bằng kính.

Bên phải cũng là một dẫy nhà cấp bốn rất khang trang bề thế, đó là nhà làm việc của ban giám hiệu, của các thầy và các phòng ban.

Ở giũa là khu giảng đường lớn 3 tầng cao lừng lững, xung quanh toàn kính lấy ánh sáng cho học sinh vẽ.

Sâu vào phía trong bên trái là dãy nhà chạy dài chia làm nhiều gian, một số phòng dùng cho học sinh học.

Hai đầu hồi dành ít phòng cho gia đình giáo viên.

Phía bên phải là dãy nhà dài, trong nhà kê các giường hai tầng bằng sắt.

Đây là ký túc xá cho các học sinh tỉnh xa về ở.

Nói chung toàn bộ ngôi trường là một quần thể kiến trúc bề thế, sang trọng và mang đầy dấu ấn nghệ thuật.

Được nghỉ trưa, nó cùng Sơn Hồng, chị Mỳ, chị Dịu, anh Thiêm kéo nhau ra một gốc cây mát nhất, có ghế đá.

Hai mảnh áo mưa được trải xuống thảm cỏ, mỗi người đều bỏ đồ ăn ra ăn chung.

Mỗi người một thứ, bánh mỳ, cơm nắm, bánh đúc, bánh cuốn, v v . . . .

Mấy anh chị em vui vẻ tự nhiên ăn uống rất ngon và nhanh gọn.

Trong khi đó, các bạn "người ở tỉnh" được bố mẹ tiếp tế đưa qua hàng rào rất nhiều đồ ăn ngon.

Chúng cũng lập thành nhóm và cùng ăn với nhau.

Buổi chiều thi trang trí với đề tài "Anh hay chị hãy vẽ một cảnh sinh hoạt mùa hè mà anh chị thích".

Chà !

Cái này hay đây.

Trong đầu nó hiện lên những hình ảnh quen thuộc của quê hương.

Thế là nó quyết định vẽ cảnh con trâu nhà nó đang nằm nghỉ nhai cỏ ở dưới gốc bàng.

Bên cạnh đó có 3 bác nông dân dừng gánh, dừng cày ngồi nghỉ.

Một bác đang hút thuốc lào, hai bác dùng nón quạt và nói chuyện vui vẻ.

Rồi nó vẽ thêm một thằng bé con đang bốc cỏ cho trâu ăn.

Thằng bé con cho con trâu nhà nó ăn cỏ thì còn ai vào đây nữa . . . !?

Nhà trường đã thông báo mỗi tỉnh chỉ tuyển một đến hai thí sinh.

Trong đó sẽ có xuất ưu tiên cho con thương binh, liệt sỹ và gia đình có công cách mạng.

Sau khi có kết quả chấm thi, nhà trường sẽ gửi giấy gọi đến địa chỉ của thí sinh theo đường bưu điện.

Thời gian đó, kể từ ngày 1/11/1968, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc nên nếu thí sinh nào ở xa nhất thì cũng chỉ 15 ngày sau sẽ nhận được giấy báo.

Thi xong, nó ra Bến Nứa (bến xe khách phía Bắc, ở đầu cầu Long Biên) đi xe hàng về quê.

Trong những ngày chờ đợi, nó rất lo, vì tỉnh nó có mười người thi, lại có xuất ưu tiên nữa.

Còn nó, không khéo lại còn bị "phản ưu tiên" do thành phần gia đình bị quy trong cải cách ruộng đất.

Thấp thỏm chờ đợi, nó đếm từng ngày, từng ngày trôi qua.

Đã hai mươi ngày mà nó không nhận được giấy báo, cũng chả có tin tức gì khác.

Biết là mình bị trượt, nó rất buồn.

Nhưng rồi nó cũng cố lên trường hỏi cho chính xác may ra mới yên tâm.

Thôi thì nhân thể lên Hà Nội mua một ít giấy bút, bột màu về nhà luyện thêm để sang năm thi lại.

Hơn nữa, đang buồn nên nó muốn lên nhà anh chị chơi cho khuây khỏa.

Thày bu nó cho nó ít tiền.

Thế là nó bắt xe hàng lên Hà Nội.

Tới nhà chị Dụng buổi sáng thì buổi chiều nó phi ngay vào trường.

Tới nơi, nó thấy các bạn được báo đỗ đã đến tựu trường khá đông đủ, trong đó có cả Sơn Hồng.

Tưởng nó cũng tựu trường, Sơn Hồng ngạc nhiên hỏi :

- Chăn màn quần áo của mày đâu ?

- Tao có đỗ đâu mà mang.

- Ơ . . . !

Mày có tên trong danh sách đỗ mà.

Ra bảng tin mà xem ! – Thằng Hồng cự lại.

Bán tín bán nghi, nó chạy ngay ra bảng tin.

Nó cứ nhìn chăm chăm vào cái danh sách, dường như không tin vào mắt mình, nhưng nó thấy tên nó rõ ràng ở đó.

Nó mừng lắm nhưng rất thắc mắc, tại sao nó không có giấy báo.

Thằng Hồng bảo nó :

- Mày vào Phòng Tổ Chức hỏi lại xem thế nào !

Nó liền vào phòng tổ chức gặp ông Thanh Thai trưởng phòng.

Đó là một ông già nhỏ bé, gày còm, mắt đeo kính cận, trông có vẻ khó tính.

Nó lễ phép hỏi :

- Chú ơi !

Cháu có tên trong danh sách đỗ sao không có giấy báo về quê ạ ?

Ông Thai ngước cặp kính lên nhìn nó, nét mặt quặu cọ, giọng cáu bẳn :

- Không có giấy báo, tức là không đỗ !

Còn hỏi . . . hỏi cái gì ! !

- Chú ơi !

Ở trên bảng tin, cháu thấy có tên cháu trúng tuyển mà.

- Đi mà hỏi người đánh máy, người ta đánh nhầm.

Tôi không biết.

- Ông Thai quát lên.

Nó sợ quá, đành cun cút cúi đầu bước ra khỏi phòng.

Trong lòng buồn bã, nó lủi thủi ra về.

Những ngày này là những ngày cuối tháng 8/1971, đang có trận lụt lớn chưa từng có ở đồng bằng sông Hồng (Về sau này, được biết, đây là trận lụt lớn nhất thế kỷ 20, theo đánh giá của cơ quan khí tượng Hoa Kỳ, vỡ đê sông Hồng, làm trên một trăm ngàn người thiệt mạng).

Nhìn qua cửa kính, nó thấy hai bên đường là những cánh đồng mênh mông ngập nước.

Trên xe, nó cũng nghe xôn xao tin mới vỡ đê ở Văn Giang và các vùng lân cận.

Quả thật, nước rất lớn, nhiều đoạn đường Năm nước đang tràn qua.

Có đoạn đường chũng, có lẽ nước ngập đến lưng chừng xe.

Chiếc xe cứ lao bừa xuống, rẽ nước mà xông lên.

Về đến bến xe phố nó, nó chen ra cửa bước xuống thì bất ngờ thấy anh Phương (anh rể nó), chị Thất và thầy nó đang đứng trước cửa nhà chờ đón nó, cách chỗ xe đỗ mấy chục mét.

Thầy nó đang cuống quýt, tay giơ một tờ giấy, gọi to :

- Thập ơi . . . , đỗ rồi !

Thập ơi . . . , đỗ rồi !

Mừng quá, trong lòng xúc động, chỉ trực khóc, nó lao vút tới nhà, đón lấy phong bì từ tay thày, nó run run mở ra.

Tờ giấy báo trúng tyển với dấu son đỏ tươi đã làm thay đổi đời nó, mở ra một chân trời mới mà nó hằng khao khát, ước mơ.

Nó thấy mình hạnh phúc, tất cả cứ tưng tưng ở trong lòng.

Quên cả thả cá vàng, nhờ chị Thất đổ tạm vào chậu, nó lao vào phòng văn hóa huyện để khoe với anh Huyền.

Anh Huyền cũng rất mừng.

Anh đưa tay bắt tay nó, lắc mạnh.

Lần đầu tiên nó được bắt người lớn bắt tay như vậy, như người lớn . . .

Sở dĩ giấy báo đến muộn là vì bưu điện chuyển từ Hà Nội về bưu diện tỉnh, từ tỉnh lại vòng ngược lại về bưu điện huyện, từ huyện qua xã mới về tới nhà nó.

Lúc đó thì khắp nơi trong tỉnh nó đều mênh mông nước ngập.

Theo thời gian ghi trong giấy báo, chỉ còn hai ngày nữa là hết hạn làm thủ tục nhập học.

Rất nhiều việc phải làm trong khi nước càng ngày càng dâng cao.

Nó và cả gia đình hối hả lo chạy giấy tờ.

Phải cắt hộ khẩu, phải xin giấy xác nhận của xã, . . .

Cả làng nó nước ngập mênh mông, riêng nhà nó ở giữa phố huyện, là nơi cao nhất nước chưa ngập tới.

Bà con xung quanh chạy lụt kéo về đó rất đông, mang theo cả trâu bò, lợn gà, . . .

Có người cột một con trâu to vào cây hồng dại.

Cây hồng này của chú Tư cho ngày nào, nay đã bằng cổ chân, cao hơn hai mét.

Đêm hôm đó, con trâu đói, nghển cổ ăn lá cây, cao quá nó không với được nên nó dùng sừng húc đổ gốc cây để ăn lá.

Sáng ra bu nó trông thấy tiếc của và tức lắm.

Hỏi mọi người quanh đó không ai nhận là trâu nhà mình.

Bu nó cáu quá chửi ầm lên.

Mãi chiều tối chủ trâu mới đến nhận.

Hóa ra đó là trâu cúa gia đình ông trưởng công an huyện.

Nước ngập quá cao, việc lấy giấy và xin dấu của Ủy Ban xã rất khó vì ủy ban xã nghỉ làm việc.

Chị dâu nó phải mượn một cái thuyền tôn.

Chị nó kéo thuyền ra chỗ nước nông trên đường vào thôn Rừng để dậy nó chèo thuyền.

Lúc đầu, nó chèo, chiếc thuyền cứ quay lông lốc.

Mãi sau nó mới chèo được nhưng vì không biết bơi nên nó vẫn sợ.

Anh Phương đành phải dùng thuyền chở nó đi.

Anh cho nó ôm hồ sơ giấy tờ ngồi lên thuyền, rồi anh lội nước kéo thuyền đưa nó lên làng Vang xin chữ ký của ông Quyến, phó chủ tịch phụ trách văn xã.

Sau đó anh em nó phải đi tiếp, xin chữ ký của ông tư Miện phó chủ tịch, trưởng công an xã.

Cuối cùng, nó phải vòng lại nhà anh Hòa xin dấu và xin xác nhận nước lụt, chưa thể cắt được hộ khẩu.

Đến hết ngày hẹn của trường nó vẫn phải tựu trường mà nợ chưa cắt được hộ khẩu.

Mặc dù đang lụt rất lớn nó vẫn phải tìm mọi cách đến trường đúng hạn.

Sau khi làm thủ tục nhập học nó được chỉ dẫn vào trong ký túc xá nhận chỗ.

Nó chọn tầng hai của chiếc giường ngay cạnh cửa ra vào, mà tầng một là của Sơn Hồng.

Nói kỹ về lớp nó một chút.

Vì là trường năng khiếu nên đầu vào chọn rất khắt khe.

Mấy trăm thí sinh chỉ chọn được hơn chục đứa.

Thêm mấy bạn đúp năm trước xuống, sỹ số lớp nó vẻn vẹn có 19 đứa, 6 nữ và 13 nam.

Trong số 19 đứa ấy, chỉ có 3 bạn từ nông thôn lên.

Đó là một bạn nữ tên Gái, thằng Hai và nó.

16 người còn lại đều là người Hà Nội, Hải Phòng, con các họa sỹ lớn có tên tuổi, được học hành rèn luyện từ bé trong các lớp hay câu lạc bộ năng khiếu của thiếu nhi.

Tóm lại, lớp nó chủ yếu các bạn là "con nhà nòi".

Việc đầu tiên, sau khi chúng ổn định lớp, nhà trường cho cả lớp đào, đắp hầm trú ẩn, dọn vệ sinh nơi ăn ở, lớp học, . . .

Năm thứ nhất chưa được vẽ người mẫu nên phòng học của chúng ở dãy phía sau, phía bên trái.

Trước mặt lớp cũng có sân rộng, nhiều cây đại thụ các loại và những cây phi lao cao vút.

Rải rác trong sân trường, trước các lớp học đâu đâu cũng thấy có những pho tượng to nhỏ ẩn hiện dưới gốc cây.

Cạnh phòng học vẽ hình họa là phòng học trang trí.

Gần khu ký túc xá, đối diện khu phòng học là nhà ăn tập thể.

Chúng nó phải học ngày hai buổi, vừa học chuyên môn, vừa học văn hóa chương trình cấp 3 như bình thường.

Với môn học trang trí, chúng được phát mỗi đứa một hộp đựng mầu bột bằng gỗ dán.

Giấy vở, bút chì thì được phát định kỳ đồng đều.

Giá vẽ để sẵn trên lớp, dùng chung.

Những học sinh nội trú được ăn ngày 3 bữa.

Bữa sáng là bột mỳ luộc, mầu nâu nhạt như cà phê sữa.

Thứ này bọn sinh viên chúng nó vẫn gọi là "nắp hầm" (nắp hầm tăng xê hình tròn và mỏng) hoặc ngắn gọn là "bẻng".

Trong miếng "nắp hầm" thỉnh thoảng thấy vài con mọt nâu đen béo mượt, đây đó còn có viên bột nhỏ chưa tan hết.

Miếng "bẻng" hơi dai dai, nhưng nhai kỹ thì cũng thấy rất ngọt.

Bữa trưa và bữa chiều được ăn cơm và thêm mỗi đứa một cái "bẻng" nữa.

Bữa ăn rất đạm bạc, thức ăn đạm chẳng có gì đáng kể.

Tóm lại, ăn uống kham khổ và hơi đói nhưng được cái đều đặn.

"Nói khí không phải", vẫn còn ngon hơn bữa ăn của nhà nó ở quê.

Ở góc, trong cái xó sau cùng của trường là một đống các loại đồ phế thải gồm bàn ghế gẫy, sa lông hỏng, thùng sắt gỉ, hộp các tông rách, thủy tinh vỡ và trăm thứ bà dằn khác.

Đặc biệt có một chiếc xe ô tô "đít vịt" của Pháp cũ đã bị tháo hết phụ tùng.

Lúc rảnh nó chui vào đó bới đào, lục lọi tìm kiếm xem có cái gì còn dùng được, giống như ngày ở quê nó hay bới rác tìm pin đèn và giấy pơ luya vậy.

Nó chui vào trong ô tô và phát hiện thấy trên nóc xe còn nguyên một lớp nỉ bọc trần màu huyết dụ, êm, mềm và xốp.

Cái này mà lót vào hộp mầu thì tuyệt vời vì khi đậy nắp hộp, nỉ chèn chặt xuống các ô.

Dù hộp màu rung lắc, lật ngược xuôi, bột mầu vẫn không bị lẫn lộn sang nhau.

Nó khoái quá, lập túc lấy dao nhỏ bóc hết miếng nỉ ở chỗ phẳng phiu có thể dùng được.

Mang về phòng, nó đo kích thước lòng trong nắp hộp, cắt được hơn chục miếng lót.

Nó chia cho các bạn và chỉ giữ lại có hai miếng đẹp nhất.

Thấy nhiều người trong lớp có miếng lót tốt quá, bạn gái Hiền Minh hỏi xin nó lúc nó đang ăn cơm ở nhà ăn.

Nó hứa sẽ cho Hiền Minh một miếng.

Về đến nhà thì thấy mất mất một miếng, không biết ai ăn trộm.

Miếng còn lại nó đưa cho Minh để giữ đúng lời hứa.

Nó đành ra xe, cắt nốt vài mảnh vụn đem về ghép lại làm hộp màu cho mình.

Không khí vui vẻ và say mê lắm.

Hàng ngày ba bữa ăn bếp tập thể, sáng lên lớp học văn hóa, chiều học chuyên môn.

Tối đến, cả lũ nội trú kéo nhau ra phố, ra ga Hàng Cỏ chơi.

Chơi chán chúng nó mới quay về ký túc xá đi ngủ.

Ngày ấy tuy đã lớn nhưng bọn chúng cũng vẫn chơi nghịch những trò trẻ con.

Chúng sang hợp tác xã thủy tinh bên cạnh xin ống thủy tinh nhỏ, dài vài chục phân, đem về làm ống "xì đồng".

Đạn thì đã có đất sét ở khoa điêu khắc.

Đất được vo tròn làm đạn thổi bắn nhau trong ký túc.

Hết đất ngại ra ngoài lấy thêm thì đã có ruột bánh mỳ hay bánh "nắp hầm".

Những giờ nghỉ, bắn nhau "loạn xị ngậu", rất vui.

Nhớ lại một chuyện, đó là đêm đầu tiên nó ở ký túc xá.

Buổi tối nó đi tiểu, bỗng giật mình toát mồ hôi lạnh, khi nó bất giác ngẩng lên nhìn thấy một người to lù lù, đen xì, đứng sừng sững đang giơ búa đập nó.

Nó hoảng hốt chạy tụt vào phòng.

Sáng hôm sau nhìn ra mới biết đó là pho tượng công nhân cầm búa.

Nhưng nó vẫn không biết cái đêm đó chính là điềm báo một tai họa búa bổ sắp giáng xuống đầu nó !!!

Mùa đông năm ấy, cả lớp bật đèn tập vẽ màu trang trí ban đêm.

Thằng Khải "chuột" đúp lớp trên xuống là thằng nghịch ngợm, dí dỏm và vui tính nhất lớp.

Nó và mấy đứa đem đặt cái chậu nước rửa bút lên trên hai cánh cửa khép hờ thành hình "chữ v".

Hễ đứa nào từ ngoài vào mở cửa, sẽ bị nước bẩn đổ lên đầu.

Cả hội vừa vẽ vừa ngong ngóng ra cánh cửa chờ chuyện vui.

Bỗng nghe tiếng bước chân đi lại gần cửa.

Chúng nó ngừng hết cả lại, chẩn bị để cười phá lên, có đứa phải bịt miệng lại để nhịn cười.

Cánh cửa bật mở, chậu nước bẩn đổ ụp xuống.

Vang lên đồng thanh một tiếng reo sung sướng của cả phòng : "Ôh . . .".

Tiếng reo đột ngột câm lặng như tiếng loa trong hội trường bất ngờ bị mất điện.

Người bị nước bẩn đổ ụp lên đầu, ướt hết từ đầu, đến bộ vét và cả đôi giầy đánh xi bóng loáng.

Đó là thầy giáo chúng nó xuống kiểm tra lớp.

Vụ này suýt làm thằng Khải bị kỷ luật, may mà thầy tha cho.

Nó cũng chơi thân với thằng Đức Bình, con thày Trọng Ly, là thầy giáo của trường.

Buổi trưa nó thường không ngủ mà vào nhà thằng Bình chơi.

Nhà thằng Bình là một gian ở tầng một, gần cầu thang lối lên nhà ba tầng của giảng đường chính.

Thằng Bình và nó hay lấy đất sét nặn tượng theo ý riêng.

Cả hai đứa đều mê mải làm việc, vô cùng thích thú.

Sau này thằng Bình trở thành họa sỹ tài năng và làm giáo viên nổi tiếng trong trường, một thầy giáo trắng trẻo, đẹp trai, hiền hậu và vẽ rất "siêu".

Nó mới học chưa đầy năm tháng thì bị "búa tạ giáng xuống đầu" đúng như điềm báo trước trong cái đêm đầu tiên nhập trường.

Nếu người công nhân giương búa lên để đập vào sắt thép thì anh ta là thợ rèn.

Đằng này nó bị một loại "thợ chuyên môn nện búa lên đầu người".

Đó là trưởng phòng tổ chức nhà trường và trưởng công an huyện.

Một hôm nó được phòng tổ chức gọi lên yêu cầu nó phải cắt và chuyển hộ khẩu về trường trong thời hạn mười ngày, nếu không nó sẽ bị buộc thôi học.

Nó hoảng hồn và lo lắm.

Xin phép nghỉ hai ngày, nó về quê lo thủ tục cắt hộ khẩu.

Ông tư Miện trưởng công an xã bảo nó lên gặp ông Quỳ, trưởng công an huyện.

Ông Quỳ bảo nó :

- Anh về trường xin công văn của nhà trường xác nhận anh là học sinh đã trúng tuyển và học tại trường.

Phải ghi rõ, đề nghị địa phương giúp đỡ . . . .

Nó lộn về trường gặp ông Thanh Thai.

Lần này ông Thai không quát tháo mà nhẹ nhàng nói rỉ rả một cách tỉnh queo rất nhiều lời để rồi rút cục ông dứt khoát không làm công văn và cũng dứt khoát không cho nó mượn lại cái giấy gọi nhập học :

- Anh muốn làm thế nào thì làm, không có hộ khẩu, dứt khoát tôi đuổi anh khỏi trường.

Không có cách nào khác, nó lại bổ về công an huyện.

Nó lựa lời nói hết "lý do lý trấu", năn nỉ "xin xỏ" đủ kiểu với ông Quỳ, rơi cả nước mắt.

Nhưng mặt ông này vẫn lạnh tanh, không biến sắc.

Ông ta nói :

- Không có công văn của trường, không thể cắt hộ khẩu.

Dứt khoát không là không !

Biết chưa !

Được chưa . . .Được chưa . . .

Câu "Biết chưa . . .

Được chưa . . ."

đay đi đay lại thể hiện cho nó biết "Tao trả thù nhà mày đấy !

Biết chưa . . ., được chưa . . .".

Bước đường cùng nó quay về công an xã thì xã lại không có thẩm quyền cắt hộ khẩu.

Nhùng nhằng nó chạy đi chạy lại kêu cầu từ xã lên huyện, rồi từ huyện về xã không biết bao nhiêu lần.

Một thằng bé chưa đầy mười sáu tuổi như nó cứ chạy đi chạy lại chẳng qua là nó không biết phải làm gì khác chứ chả phải có hy vọng gì.

Bố mẹ nó nghèo, ít học, lại ở quê, thấp cổ bé họng.

Anh chị nó mang tiếng có hai người ở Hà Nội thì thờ ơ, không quan tâm.

Những người ở quê phần thì kém hiểu biết, phần thì lo miếng cơm manh áo, phần thì nghĩ đó là việc của người khác.

Thân cô thế cô, hết cái hạn mười ngày, nó đành "cắp nón" rời khỏi trường trong nước mắt và sự tiễn đưa cười cợt của các bạn cùng lớp.

Với các bạn ấy, một cá nhân nó có là gì.

Có nó cũng được mà vắng nó các bạn vẫn vui.

Chỉ có một mình nó là đau đớn, hận đời đến lúc chết.

Nó nguyền rủa những kẻ vô tâm, những người vô cảm và những phần hồn ác quỷ mang bộ mặt con người, đã cướp đi của nó lòng tin, sự đam mê và một tương lai tốt đẹp.

Trong buổi học cuối cùng, nó chào các bạn và thày cô.

Thằng Khải "chuột" đứng lên xin hát một bài.

Nó hí hửng vì mọi người nhớ nó, đồng cảm và thương nó.

Nhưng nó đã lầm, thằng Khải hát rống lên :

- Thập ơi Thập ở đừng về . . . .

Rồi thằng Khải cười hô hố.

Cả lớp nó hùa theo, cùng cười vang . . . .

Nó ra khỏi lớp trong tiếng cười chua cay bẽ bàng đó.

Không ai an ủi, không ai đưa tiễn nó, kể cả Sơn Hồng.

Vừa uất ức, vừa cô độc, chỉ còn có thể biết tự thương cho thân mình, nó lủi thủi lầm lũi bước ra bến xe, nước mắt lưng tròng . .

Thằng Thập bị đuổi vì không cắt được hộ khẩu.

Nó không biết tại sao lý do lại có thể đơn giản như vậy.

Ở quê, Lão Quỳ không cắt hộ khẩu cho nó vì ghen ăn tức ở với gia đình nó có con học ở Hà Nội, lại thêm mối thù bị bu nó chửi vì con trâu phá đổ cây hồng dại ngày nào.

Nó chỉ biết oán hận những kẻ có chức có quyền mà vô tâm, vô cảm, ác quỷ mang bộ mặt con người.

Cũng không phải là nó không có phần giận gia đình nó, không ai lo chạy để giúp nó.

Nhưng có lẽ nó oán nhất là số phận hẩm hiu của nó, phải sinh ra trong kiếp nghèo hèn ở chốn quê mùa, thấp cổ bé họng.

Nỗi oan khuất có kêu lên chỉ là tiếng giun, tiếng dế, "Trời chẳng thấu, Đất không hay . . . .".

Nhưng . . . !

Nhưng thằng Thập không biết, ngay sau khi nó rời khỏi lớp, ngày hôm sau đã có đứa thế chân nó.

Đứa ấy có tên là Đậu Hồng Lệnh, con một gia đình trí thức ở Hà Nội và là cháu ông Thanh Thai, trưởng phòng tổ chức của trường Mỹ Thuật lúc đó.

Thằng Lệnh cùng thi vào trường với nó một đợt mà bị trượt.

Chờ cho lớp học của nó ổn định, ông Thai mới ra tay.

Bởi vì nếu ông làm ngay thì có lẽ đứa bổ sung vào lớp thay chỗ thằng Thập chẳng thể là cháu ông.

Làm nghề tổ chức bao nhiêu năm, một cái nghề rất "uy quyền", "đa mưu, túc trí" và "nghệ thuật", chuyện đuổi một đứa trẻ con nhà quê ra khỏi lớp thì quá đơn giản đối với ông Thai.

Chưa biết chừng, để cho mọi việc thật kín kẽ, và chắc chắn một trăm phần trăm, ông Thai có thể đã về quê nó để "điều tra lý lịch học sinh", nhưng thực chất là liên kết với lão Quỳ, không cắt hộ khẩu cho nó ?!

Tất cả chuyện này, mãi về sau nó mới biết.

Một lão là Quỳ, tức là "Quái" với một lão là Thai.

Đúng là "Quái Thai".

Với âm mưu thủ đoạn của lũ người đó, nó đã bị tước mất ước mơ và tuổi thơ vô tư trong sáng.

Một chút tài năng mới chớm nở đã bị dập vùi và xéo nát.

Thằng Hồng Lệnh vào học thế chỗ nó, sau này còn được cha mẹ "lo" cho đi tu nghiệp ở Liên Xô.

Lúc đó, đối với một ngành nghệ thuật, được đi Liên Xô là rất hiếm.

Thằng Lệnh về làm cán bộ giảng dạy điện ảnh, rồi làm tiến sỹ, danh giá lắm.

Bây giờ, bạn bè gặp nhau, thỉnh thoảng có đứa nói kháy chuyện xưa.

Chắc thằng Lệnh cũng không vui . . .

Trước khi nó đi học, hôm tiễn nó, thầy bu nó có làm mấy mâm cơm ăn mừng và mời bà con xóm làng.

Mọi người tới chúc mừng thầy bu nó và nó nhiều lắm.

Nay đang học dở chừng phải về, biết phân bua với bà con xóm làng ra sao ?

Ai là người hiểu được các âm mưu thâm hiểm cả lũ người kia đã hãm hại nó.

Người ta sẽ nghĩ và thì thào bàn tán, chắc hẳn nó bị kỷ luật, bị đuổi học.

Nỗi đau đè lên nỗi đau, nỗi oan đè lên nỗi oan.

Ôi cuộc đời !

Thật là khốn nạn !

Uất ức và tiêu cực, có lúc nó hận còn không muốn sống.

Có lúc nó muốn làm điều gì đó để trả thù, . . . .

Nhưng tuổi trẻ với nhịp sống trôi nhanh cùng với thời gian đã dần dần làm lành vết thương của nó.

Rút cục, nó như quả bóng cao su vừa được ném vào đời, được vài người tung hứng, rồi vào chân ke xấu, nó bị sút trở lại vũng bùn.

Đời nó trở về nguyên vẹn con số không, trở về nơi nó ra đi, trở về với chốn quê nghèo của nó.

Qua giai đoạn khủng hoảng nó dần bình tâm trở lại.

Nó quyết định sẽ kiếm sống bằng chính khả năng của mình.

Nó mở ống tiết kiệm, đếm được hơn 10 đồng.

Cầm mấy đồng, nó quay trở lại Hà Nội mua giấy, màu bột và keo da trâu.

Rồi nó dùng sổ tay thơ thẩn trên các cửa hàng tranh Bờ Hồ, bí mật chép lại một số mẫu mà nó yêu thích.

Về nhà nó bắt đầu chiến dịch vẽ "tranh Tết" và "tranh cưới".

Lợi dụng nhà ở mặt phố huyện, nó chăng mấy sợi dây thép cao, thấp, ngang tường, ngay trước cửa nhà.

Mỗi chủng loại tranh nó treo một bức làm mẫu.

Tạm gọi cửa hàng của nó là "cửa hàng tranh Tết".

Vì là phố huyện lại gần chợ, hơn nữa trừ Sặt ra, quanh khu vực không có "cửa hàng tranh Tết" nào.

Đặc biệt là tranh cưới, nó vẽ sẵn cành đào, đôi chim bồ câu ngậm dải lụa, ở giữa có hai trái tim hồng đè lên nhau, góc trên cùng là chữ song hỷ.

Khi có người đặt hàng, nó hỏi tên cô dâu chú rể rồi viết hai chữ cái lồng vào trong trái tim để trống đó và điền thêm ngày, tháng là xong.

Những ngày đầu không ai để ý, cửa hàng nó vắng teo, sáng treo ra, chiều thu vào, chẳng ma nào hỏi.

Vài hôm sau, bắt đầu có người đến xem rồi mua nhưng cũng có người xem xong thì bỏ đi, vài ngày sau mới quay lại mua.

Nó bắt đầu bán được hàng, nhiều nhất là tranh cưới.

Vào mùa cưới, tranh cưới bán rất chạy.

Nhiều khi nó vẽ cả ngày cả đêm không hết việc và bắt đầu lỡ hẹn.

Lập tức nó bắt chước các hiệu vẽ lớn, mua phim chụp phổi cũ bỏ đi, mang về trổ thành các khuôn in một loạt các hình định sẵn.

Có khuôn, nó pha màu rồi dùng panh xô lớn (chổi quét sơn hay bút lông - pinceau – từ tiếng Pháp) cứ thế mà quét in nhiều bản một lúc, coi như phôi tranh được sản xuất hàng loạt, đại trà, rất hiệu quả.

Cuối cùng nó chỉ còn phải chấm phá hoặc vờn nền vào những làn chuyển màu không in thẳng bằng khuôn được.

Công việc làm ăn của nó ngày càng phát triển.

Nó dựng một cái vách nứa đằng sau gian máy khâu của thày nó, treo tranh cả ngoài cửa lẫn trong nhà.

Nó đã trở thành ông chủ thực thụ của một cửa hàng "tranh bờ hồ" khá lớn.

Tiếng tăm đồn đại về một cửa hàng tranh vẽ đẹp lan dần khắp khu vực quanh đó.

Nhiều người bảo nó là "họa sỹ giỏi".

Nghe vậy nó cũng chẳng sung sướng gì nhưng cũng mừng vì một công việc làm ăn đã thành công.

Vợ cả, vợ hai - đều là vợ cả

Ở Hà Nội anh Bính nó ngày càng béo khỏe, đẹp trai, mà bây giờ gọi là "phong độ".

Nhiều cô mê anh lắm, mà toàn là những cô xinh.

Kể ra thì rất nhiều, nhưng anh nó nặng tình nhất, đầu tiên là chị Tấn, người Tân Đảo (Nouvelle-Calédonie, trước đây là thuộc địa của Pháp) gốc Việt.

Theo lời kêu gọi của Nhà Nước, cả gia đình chị về nước.

Bấy giờ chị Tấn mới tốt nghiệp đại học, chưa chồng.

Chị có dáng người đẹp, dong dỏng cao, tóc dày, da trắng.

Anh chị yêu nhau một thời gian khá dài.

Thỉnh thoảng nó ra Hà Nội chơi được anh chị cho đi ăn kem ở Thủy Tạ (Thủy Tọa), đi xem phim ở rạp Tháng Tám.

Thế mà chẳng biết vì lý do gì anh chị lại thôi nhau.

Sau đó, anh Bính lại sang yêu chị Liễu hay chị Phượng gì đó.

Nghe phong thanh, anh có với chị một cô con gái.

Hôm giỗ đầu chị (một năm gần đây), anh rủ nó tới ăn giỗ ở nhà con gái chị.

Đó là một ngôi nhà 4 tầng khang trang nằm ở phố Bạch Mai, tầng một cho thuê "chăn ga gối đệm".

Hôm đó không gặp chồng chị vì anh ấy đang đi nước ngoài.

Người cuối cùng anh nó yêu nhất là chị Gấm.

Chị Gấm là cán bộ trong trường Đại Học Thủy Lợi Hà Nội.

Đã vài lần anh Bính đưa nó đến chơi nhà chị.

Chị Gấm người tầm thước, nhưng các nét chị rất xinh, da trắng, miệng nhỏ hình trái tim, nói năng dịu dàng, có học.

Quê chị cũng ở gần quê nó.

Chị Gấm đã từng qua một đời chồng và có hai đứa con riêng.

Anh Bính quyết định lấy chị Gấm làm vợ hai.

Nhà ở Phùng Hưng đâm ra chật, nên anh phải bán đi và mua một gian trên tầng hai, số 25 Trần Cao Vân.

Gian nhà rộng hơn hai mươi mét vuông, lại có sân thượng.

Anh Bính làm thêm một gian buồng trên sân thượng, một cái thang gỗ từ tầng hai leo lên đó qua lỗ trần.

Anh còn để một khoảng sân nhỏ, trồng hoa và nuôi chim bồ câu rất đẹp.

Chiều tối 29 tết Nhâm Tí (năm 1971 sang 1972) nó vừa dọn xong hàng, kéo cánh liếp che cửa chính, lùa các tấm ván vào cửa hàng may của thày nó, gia đình chuẩn bị ăn cơm tối thì thấy anh anh Bính đèo chị Gấm về trên chiếc xe đạp Đi-A-Măng (Diamant), mang một cành hoa đào và một bó hoa huệ.

Cả nhà reo lên vui mừng.

Chị Gấm cởi cái áo mưa ướt sũng nước rồi bước vào nhà, thẽ thọt chào thày bu nó.

Thấy chị Mây (vợ cả của anh Bính) đang dọn cơm, bu nó liền bảo :

- Chị Mây để đấy cho em nó dọn mâm.

Chị xuống đun nước sôi cho anh ấy rửa mặt, thịt con gà và thổi thêm cơm nha.

Chị Mây tức lắm nhưng nén nhịn.

Chị đáp ánh mắt hằn học nhìn tình địch ăn mặc sang trọng, vác cái bụng bầu to tướng đang xếp bánh kẹo ra bàn để biếu bố mẹ thắp hương.

Chị lầm lũi cầm đèn hoa kỳ đi xuống nhà nhóm bếp.

Nó thương chị Mây liền đi theo xuống phụ giúp chị bắt gà, cắt tiết, làm lông.

Vừa làm nó vừa đưa mắt nhìn trộm chị Mây.

Dưới cái khăn mỏ quạ là khuôn mặt tròn trịa của chị với đôi mắt ầng ậc nước.

Chị cắm cúi làm, mặc cho đôi dòng nước mắt cứ thế trào ra, lâu lâu chị mới đưa tay lên quẹt ngang qua mặt để lau nước mắt, thỉnh thoảng lại sỷ mũi đánh xoẹt một cái . . . .

Thịt gà đã luộc xong, bàn thờ nghi ngút khói hương, mâm ngũ quả đã đầy thêm do bánh kẹo anh chị nó mang về, cành đào và bó huệ đã được cắm trang trọng vào hai lọ hai đầu ban thờ.

Cả nhà vào bữa cơm đoàn tụ cuối năm.

Trong bữa ăn, thầy bu và anh nó nói chuyện về công việc, về Tết và về họ hàng.

Chị Gấm thì ngồi bên bu nó ăn nhỏ nhẹ, chị Mây thì vẫn ngồi đầu nồi xới cơm cho mọi người, nhưng nó thấy chị ăn rất ể oải.

Thằng Hoàng cháu nó mới 8 tuổi, thằng Hưng 2 tuổi chẳng biết gì cứ hối hả ăn và tí tởn với khúc bánh mỳ và bộ quần áo tết bố mua cho.

Ăn xong thầy nó lôi ở gậm giường ra cái giường gỗ xoan mới đóng trước Tết, kê vào sau tấm vách nứa chỗ nó treo tranh, gần lối cửa ra vào xuống nhà sau.

Tối hôm đó chị Gấm ngủ với bu nó trên cái giường mới.

Đầu nhà đối diện, anh Bính ngủ với chị Mây và thằng Hưng.

Nó và thằng Hoàng thì ngủ với thầy trên cái phản giữa.

Mọi người nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Một đêm đông mưa gió và rét nhưng cả nhà đoàn tụ rất ấm cúng.

Nó chẳng thể ngờ nửa đêm hôm đó lại xảy ra một chuyện mà nó sẽ nhớ mãi.

Nửa đêm, đang ngủ ngon, nó bỗng giật mình tỉnh dậy vì nghe tiếng bu nó gọi :

- Thằng Thập đâu, Thập ơi !

Dạy u nhờ một tý.

Mắt nhắm mắt mở, nó thò đầu ra khỏi chăn :

- Bu bảo gì con ạ !

- Dậy !

Sang đây bu nhờ một tý.

Nó chồm dậy, sỏ tạm đôi dép to tướng, nặng trịch của thầy, khoác thêm cái áo rồi sang chỗ giường bu nó.

Nó vạch màn ra thì thấy chị Gấm đang tựa người vào tường, miệng rên hư hử . . . , bên cạnh chị là bu nó.

Bu nó khẽ nói :

- Con sang giường bên kia gọi anh Bính dậy, bảo chị Gấm bị đau bụng.

Vâng lời bu, nó chạy ngay sang bên giường của anh Bính.

Lẽ ra, ý tứ, nó phải đứng ngoài màn mà gọi, đằng này nó tồng tộc vén ngay màn lên.

Khi cái màn vải xô màu cháo lòng vừa mở ra, ánh sáng mờ ảo trên bàn thờ hắt xuống, đập vào mắt nó là cảnh tượng chị Mây nằm nghiêng quay mặt ra ngoài anh nó nằm úp thìa phía sau đang quờ tay qua ngực chị . . . .

Thằng Hưng thì nằm phía trong đang ngủ ngon lành.

Ngượng quá, nó thả màn trở lại và gọi :

- Anh Bính ơi !

Bu bảo anh dậy ngay.

Chị Gấm đang đau bụng.

Lục cục một lúc anh Bính mới qua được chỗ chị Gấm, chắc là anh còn phải mặc quần áo mà.

Nó nghe tiếng anh thì thào với chị Gấm, rất ân cần.

Rồi anh vặn to ngọn đèn dầu, mở túi du lịch lấy hộp dầu cao Sao Vàng, xoa bụng cho chị.

Cảnh tượng ấy hẳn không lọt qua mắt chị Mây.

Sự chịu đựng của chị đã vượt quá giới hạn.

Chị bật dậy, tung màn, nhảy xổ sang giường bên kia, xỉa xói chửi :

- Tổ sư con đĩ !

Mày cướp chồng bà.

Hôm nay mày còn dám dẫn xác về đây.

Nể bố mẹ, nể chồng,

bà đã nghiến răng phục vụ cơm nước cho mày.

Mày đã không chào bà, bà cũng không thèm đếm

xỉa rồi.

Thế mà, mày được đằng chân lân đằng đầu.

Thấy chồng bà ngủ với bà, mày ghen ngược hả ?!

Mày giả vờ đau bụng hả ?!

Mày thích đau thì bà cho mày đau luôn một thể này . . . . !!

Vừa nói, chị Mây vừa nhảy bổ vào chị Gấm, hai tay đang cào cấu để túm tóc chị Gấm.

May mà nó kịp giữ chặt chị Mây, ngăn lại.

Mặt cắt không còn giọt máu, chị Gấm len lét nép sát vào chồng.

Thầy nó thức dậy, vặn to đèn và thở dài.

Ông chẳng biết làm thế nào và cũng chẳng biết phải nói gì.

Nhưng ngay lập tức, bu nó lên tiếng bênh con trai :

- À, chị này giỏi !

Ngày Tư ngày Tết chị định làm loạn nhà tôi lên đấy phỏng ?!

Có im đi ngay không !!

Chị mà tru lên, tôi vả cho chị mấy cái ngay bây giờ !!

Chị Mây gào lên :

- Con không dám hỗn.

Là cha là mẹ muốn đánh con, con chịu.

Nhưng hôm nay xin phép tổ tiên,

xin phép thầy bu, con phải xé xác con đĩ này để nó chừa thói cướp chồng người khác, đã thế lại

còn ghen ngược chứ lại . . . .

Chị Mây lồng lộn, giằng tay nó ra để lao vào đánh chị Gấm.

Chị rất khỏe, rất mãnh liệt, nó phải dùng hết sức và cương quyết lắm mới đẩy được chị ra.

Thằng Hoàng và thằng Hưng tỉnh dậy thấy thế, chúng cứ khóc ré lên túm chặt lấy mẹ.

Một vợ mà xử không xong,

Còn đòi hai vợ cho... cong cái xương sườn!

Anh Bính gọi nó :

- Thập ơi, ra đây anh bảo !

- Dạ ! – Nó đáp và bước tới gần.

- Em giúp anh dìu chị lên bệnh xá, có lẽ chị Gấm đau đẻ rồi. – Anh Bính ôn tồn nói.

Thầy nó bấy giờ mới lên tiếng :

- Thằng Thập mặc ấm vào, cầm đèn đưa chị lên bệnh xá ngay.

Còn chị Mây, thầy bảo, con phải

bình tĩnh nghe thầy, đâu có đó.

Ngày Tết không được làm ồn kẻo xóm ngõ họ cười cho.

Chị Mây khóc rống lên, chua chát :

- Ôi Giời cao Đất dầy ơi . . . !

Sao tôi khổ thế này . . . . ?!

Từ đận mới lớn lên đã đi lấy chồng,

được cưới hỏi đoàng hoàng chứ có phải theo không đâu.

Quanh năm đầu tắt mặt tối, bán mặt

cho đất bán lưng cho giời.

Có của ngon vật lạ gì cũng để phần cho người ta.

Người ta ở thành

phố, đỏ da thắm thịt, nhìn thấy bọn đĩ ăn trắng mặc trơn, người ta về phụ bạc, ruồng rẫy cái con

gái già nhà quê này.

Có hiểu cho tôi không, Giời ơi là Giời . . . . !

Bu nó liền nối theo luôn, giọng thủng thẳng, "mát mẻ" :

- Làm tài trai dăm bảy vợ, gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Chồng chị, chị không giữ được, còn bù lu bù loa với ai ?

Anh Bính được mẹ bênh, bấy giờ mới lên nước :

- Mày có im ngay không !

Mày còn tru tréo, ông đánh róc xương mày ra bây giờ . . .

Chị Mây vẫn rền rĩ, tru tréo khóc rỉ rả không thôi . . . .

Nó mặc thêm quần áo, đi đôi tất và đôi bata màu xanh đế trắng. nó chọn một cái đèn tốt nhất, còn nhiều dầu, vặn to ngọn lửa, lấy tay cầm vào cổ đèn cho gió khỏi lùa vào làm tắt đèn.

Nó lấy cái áo măng tô dạ đã sờn rách của thầy nó khoác thêm cho chị Gấm.

Nó dìu chị Gấm đi trạm xá.

Ngoài trời rét căm căm, gió "Bấc" rít từng cơn, giật từng hồi, tung cả tà áo chị Gấm, mưa phùn quất chéo vào mặt.

Chị Gấm chắc là đau lắm, chị gần như tựa hẳn người vào nó, bước đi thập thõm trong ánh đèn hoa kỳ lắt la lắt lẻo trước gió . . . .

Đi được một đoạn chị Gấm không đi nổi nữa, vì đôi giầy cao gót.

Nó sợ chị ngã sẽ xẩy thai nên bảo chị đổi giầy cho nó :

- Chị đổi giầy cho em.

Chị đi thế này ngã mất.

Giầy của em nhẹ mà đi chắc chân lắm.

Hai chị em đổi giầy cho nhau, may là giầy của nó chị đi rất vừa.

Chị Gấm vịn vào nó và đi tiếp, dò dẫm từng bước.

"Mưa tránh trắng, nắng tránh đen", cứ chỗ nào lờ mờ trắng thì nó dìu chị đi vòng qua để tránh.

Trạm xá xã ở mãi thôn trên, hai chị em đi mãi rồi cuối cùng cũng tới nơi.

Cả trạm xá ngủ yên, vắng lặng, chìm trong đêm tối.

Duy nhất trong phòng trực có cái đèn bão vặn nhỏ hết cỡ, ngọn lửa đang cháy xanh leo, lom rom.

ông bảo vệ nằm trong chăn thò đầu ra hỏi :

- Ai đấy, có việc gì thế ?

- Bác ơi chị cháu đau đẻ.

Có chị Sáu Đỡ ở đây không ạ ?

Ông già ngái ngủ, giọng khê khê :

- Rét mướt thế này, ai đẻ đái gì đâu mà cô Sáu trực.

Cứ đưa vào trong này, xong rồi vào thôn Thợ gọi cô Sáu ra đây nhá!

Nó dìu chị Gấm vào cái giường trong phòng trực.

Trời rét quá, căn nhà cấp bốn cửa che bằng liếp, gió giật từng cơn, kêu lật phật.

Thôi chết, quên không mang chăn gối cho chị.

Thôi được, tính sau vậy.

Nó phải khẩn cấp đi tìm chị Sáu đã.

Chị ấy là y tá đỡ đẻ nổi tiếng ở quê nó.

Cho chị Gấm nằm xong, nó lấy cái áo dạ của thầy nó đắp tạm cho chị.

Chị Gấm nhìn nó ái ngại :

- Chị phiền em quá !

Thôi em cố gắng giúp chị nha !

Rồi nó thấy chị khóc.

Nó không hiểu chị khóc vì đau hay vì cảm động.

Lúc ấy vào khoảng 2 giờ sáng, trời mưa ngày càng nặng hạt.

Ông bảo vệ thương tình cho nó mượn mảnh vải mưa.

Nó khoác mảnh vải mưa rồi cầm đèn lầm lũi đi vào ngõ Thợ.

Cả làng cả xóm đang yên giấc thì nó làm chó giật mình sủa lên ông ổng, con này truyền sang con khác râm ran khắp làng.

Nó nhớ láng máng nhà chị Sáu ở khoảng đối diện với ao bèo tây, nhưng tối quá nó không nhận ra các bờ rào và cánh cổng giống nhau đang đóng im lìm.

Quanh quẩn mãi không biết hỏi ai, nó đánh liều cứ đập đại vào một cánh cổng tre mà nó hơi nghi nghi.

Đập mãi người trong nhà vẫn không nghe thấy vì tre không phát ra tiếng động lớn mà nhà lại ở rất sâu.

Nó lo cho chị Gấm, không nhanh nhỡ xảy ra chuyện gì thì sao.

Nghĩ thế, nó mò tìm hòn gạch nhỏ rồi đáp thẳng vào nhà.

Ném đến viên thứ hai thì ba con chó to tướng từ trong nhà lao ra, nhẩy dựng lên, chồm vào cánh cổng, sát ngay mặt nó, sủa váng lên khiếp sợ, như muốn nuốt sống nó.

Nó lùi ra đề phòng nhỡ chó phá được cửa lao ra thì gay.

Nó nhặt thêm vài hòn gạch củ đậu định đáp tiếp thì thấy trong nhà có ánh đèn, rồi tiếng quát vọng ra :

- Đứa nào ném đấy ?

Ông ra quật chết bây giờ !

- Cháu xin lỗi ông !

Cháu là Thập con ông trưởng Chất ngoài phố.

Cháu đi tìm chị Sáu đỡ cho chị cháu đang trở dạ.

- À, thằng Thập đấy à ?

Đây có phải nhà cái Sáu đâu.

Nhà nó cách đây hai nhà cơ, chỗ cổng có giàn cây leo ấy.

- Ông ơi !

Ông gọi hộ cháu với.

Chó cắn cháu sợ lắm.

- Cứ ra cổng nhà nó chờ đấy, tao đi vòng sau nhà gọi dễ hơn.

Nó đi tới đứng đợi trước cổng nhà chị Sáu.

Một lúc sau đèn trong nhà sáng, nó mừng quýnh, rồi nó thấy chị Sáu khoác áo mưa, cầm đèn bão đi ra.

Nghe nói chuyện chị Gấm trở dạ, chị Sáu hối hả vừa đi vừa chạy, nó lẽo đẽo đuổi theo sau.

Về tới bệnh xá, nó thấy chị Gấm đã có vẻ tạm ổn.

Sau khi thăm khám xong chị Sáu tiêm một mũi thuốc gì đó.

Quay sang nó, chị Sáu bảo :

- Em cứ yên tâm !

Không sao đâu.

- Nếu tạm ổn rồi thì em đưa chị Gấm về được không ạ ?

- Chưa được !

Để cô ấy nằm đây còn theo dõi.

Em cứ về nhà lấy chăn màn lên đây.

Nó yên tâm liền nhờ chị Sáu chăm hộ.

Nó chạy về nhà lấy chăn màn.

Về tới nhà nó thấy mọi chuyện đã yên.

Thày nó đang ngồi hút thuốc lào, chị Mây ngồi trên võng bế thằng Hưng vẫn còn đang khóc, bu nó đang ngồi têm trầu, anh Bính ngồi cạnh thầy, mặt vẫ còn đỏ gay.

Thấy nó về cả nhà dồn dập hỏi.

Nó kể lại tình hình chị Gấm đã ổn mọi người mới yên tâm.

Nó nói :

- Con về lấy chăn màn mang lên trạm xá.

Nó không ngờ chị Mây đứng ngay dậy, đưa thằng cu cho bu nó, rồi không nói năng gì chị nhanh nhẹn tháo cái màn và cuộn cái chăn của chị nhét vào bao tải đưa nó mang đi.

Nó thấy lạ kỳ, khó hiểu.

Ôi !

Cuộc đời kỳ lạ, con người kỳ lạ !

Vừa định "xé xác con đĩ . . .

", bây giờ lại gửi chăn màn của mình cho "con đĩ" . . . .

Anh Bính nó ngại không dám lên trạm xá vì sợ xóm làng dị nghị, anh đưa nó hộp dầu cao Sao Vàng rồi bảo :

- Em chịu khó chăm chị giúp anh, nếu ổn thì sáng mai đưa chị về.

Nó cầm hộp dầu, vác tải chăn màn đi lên trạm xá.

Từ bé đến giờ nó chưa bao giờ đi giầy cao gót nên không quen, bước chân cứ trẹo ngang trẹo ngửa, trật cả cổ chân.

Bây giờ nó mới nhớ, đáng ra nó phải đổi lại giầy cho chị Gấm từ lúc nó đi tìm chị Sáu.

Lên tới trạm, nó thấy chị Gấm đang ngủ.

Nó lấy chăn đắp cho chị.

Màn thì không mắc được vì không có cái đinh nào cả, vả lại nó cũng không thấy có muỗi.

Buồn ngủ quá, nó gục xuống ngủ bên cạnh chị Gấm.

Vừa thiếp đi thì nó bỗng giật mình vì tiếng gà gáy, rồi tiếng lợn kêu eng éc vang lên khắp cả làng.

Một sáng 30 Tết, một ngày cuối năm đầy những chuyện không thể quên . . . .

Sắp sang xuân rồi, nó hy vọng mùa xuân sẽ mở ra những ngày mới sáng sủa hơn . . . .

Nó chuẩn bị đưa chị Gấm về.

Chỉ vì việc cãi nhau đêm đó, không khí gia đình nó rất nặng nề.

Cái yên lặng trong nín nhịn chẳng qua là giả tạo.

Anh Bính quyết định không ăn Tết ở nhà nữa.

Sáng hôm đó anh đưa chị Gấm về Hà Nội.

Ra giêng, nó hay tin chị Gấm sinh một cháu trai, đặt tên là Bình Phương.

Chuyện Chị Vận

Sau khi lấy anh Tống chừng một năm, chị Vận sinh được thằng cu Chiến.

Lúc đó chị đang làm ở Liên Đoàn Địa Chất cùng cơ quan chồng nên hai vợ chồng và cháu ở nhà của cơ quan.

Hết thời gian nghỉ đẻ thì bắt đầu có chuyện.

Mẹ chồng bàn với anh chị "Thôi thì hai anh chị, một người làm cơ quan nhà nước là đủ.

Chị phải ở nhà mà nuôi con cho con nó khỏe mạnh.

Vả lại, chị làm dâu thì cũng phải lo công việc của nhà chồng nữa chứ . . .".

Chị nghe lời mẹ chồng và bỏ việc cơ quan từ đó.

Anh Tống thì vẫn đi làm xa còn chị thì chuyển về ở với mẹ chồng.

Được hơn một năm mẹ chồng nàng dâu chẳng chịu được nhau nữa, phần thì do mẹ chồng chị rất khắc nghiệt, phần thì vì chị Vận không khéo cư xử.

Mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu mới đầu chỉ là những chuyện nhỏ mọn nhưng càng về sau càng nặng dần lên, cho đến khi quá ngưỡng, không chịu được nữa.

Cây khô chết đứng giữa đồng

Nàng dâu khôn khéo mẹ chồng vẫn chê.

Chị Vận đành bế con về nhà mẹ đẻ.

Thằng Chiến cháu nó mới hơn một tuổi, đang bập bẹ tập nói.

Vậy là ở nhà nó bây giờ có ba đứa cháu, thằng Hoàng, thằng Hưng và cu Chiến.

Nó rất thích chơi với mấy thằng cháu.

Nó thường làm bò cho các cháu cưỡi lên lưng hay công kênh chúng nó trên vai.

Nhiều hôm mấy chú cháu vật nhau ở sân phơi rơm.

Chán vật thì chơi trò "giã gạo.

Nó nằm ngửa xuống rơm, lần lượt cho từng đứa ngồi lên hai chân, vừa dập dình vừa hát :

Giã gạo thổi cơm trưa,

còn thừa để đến tối.

ai vay thì nói dối ,

hết gạo rồi chống cối lên.

Nó rất yêu thằng Chiến vì nó bé nhất mà đang tập nói bi ba bi bô nghe rất ngộ.

Cu Chiến da ngăm ngăm đen, lùn lùn, tròn như hạt mít.

Cậu Thập đi đâu là đòi theo đó.

Thế nên nó có uy với cu Chiến lắm.

Mỗi khi cu Chiến lười ăn hay khóc nhè, chị Vận thường mang cậu Thập ra dọa :

- Im ngay !

Cậu Thập vào kia kìa.

Mỗi lần như thế, nó giả vờ lừ mắt là cu Chiến sợ lắm.

Rồi nó bảo cu Chiến :

- Ngồi xuống ! . . . .

Được rồi. . . .

Khoanh tay vào . . .

Ạ cậu đi .

Thằng cu ngoan ngoãn làm theo :

- Ạ chậu !

Giọng cháu thì ngọng nghịu, động tác khoanh tay cúi đầu trông ngộ nghĩnh đáng yêu lắm.

Có nhiều lúc nó bận thì cu Chiến lại "bám đít" ông khi ông đang đạp máy.

Thầy nó lại sai cu Chiến một việc gì đó để cho nó có việc mà chăm chỉ làm, ông bảo :

- Ra cửa tìm gọi anh Hoàng về đây cho ông !

Thằng Chiến cởi chuồng, mặc cái áo nâu cộc tay ông may cho, lũn tũn chạy ra cửa, gọi nhát gừng :

- Băm ơi . . . !

Ông bạo . . .

Buồn cười nhất là khi cu tí đói.

Nó bám theo cậu, liên tục gọi :

- Chậu ơi !

Mơm mơm . . . , măm măm . . . .

Hai mẹ con cu Chiến ở nhà nó được hai năm.

Rồi một lần anh rể nó đi công tác về, sau khi bàn bạc ở nhà bên ấy, anh cùng họ hàng sang nhà nó nói chuyện với thầy bu và chị Vận, xin đón chị và cháu về.

CHƯƠNG III VÀO ĐỜI (tiếp

Thôi !

Thế là hết . . . .

Không bằng lòng với số phận, cuối năm đó nó thi lại vào hai trường.

Trường thứ nhất là trường cấp 3 của huyện.

Thi xong, chưa biết kết quả nó khăn gói lên Hà Tây thi tiếp vào trường Mỹ Thuật Công Nghiệp, bấy giờ sơ tán ở Chùa Thày.

Nộp hồ sơ và làm thủ tục dự thi vẫn là tại số 42 Yết Kiêu, Hà Nội.

Hôm nộp hồ sơ, nó làm quen với hai đứa bạn mới là thằng Nam, nhà ở Nguyễn Công Trứ và thằng Kiếm nhà ở bờ sông, phố Cầu Gỗ.

Ba đứa hẹn nhau cùng đi xe đạp lên Chùa Thày.

Hôm đó thằng Kiếm và thằng Nam đèo nhau trên xe đạp Thống Nhất nam, còn nó thì đi xe đạp đi-a-măng, mượn của anh Bính.

Chẳng đứa nào biết đường nên chúng vừa đi vừa phải hỏi thăm.

Khổ nhất là nó phải đi trên cái xe đạp nam quá cao.

Ngồi trên yên xe mà đạp thì rất mỏi vì nó cứ phải vẹo vọ cái mông sang hai bên, đít nóng ran.

Đi được chẳng bao xa thì nó không chịu được nữa đành phải luồn chân phải qua lòng cái khung xe mà đạp.

Như thế được một lúc thì cũng mệt vì xe bị nghiêng, lực không tập trung, người cứ phải oẹo sang một bên, rất mỏi.

Thương tình, thỉnh thoảng hai thằng bạn phải đổi xe để đạp thay cho nó.

Tới nơi, chúng nó nhận số báo danh xong thì được bố trí cho ở trọ trong làng, tại nhà bác Ban.

Nhà bác Ban cách đình làng, nơi tổ chức điểm thi khoảng một cây số.

Ba đứa gửi gạo và tiền ăn ba ngày cho bác chủ nhà lo hộ cơm nước.

Chiều hôm đó, ba thằng tung tẩy đi chơi và khám phá quanh làng.

Chúng vào chợ ăn bánh khoai, ăn ổi, chuối và uống trà bát bảo của cụ già đầu xóm.

Không biết ăn uống thế nào mà nó bị "Tào Tháo đuổi", đau bụng quằn quại và đi liên tục.

Khổ nỗi, nhà bác Ban không có hố xí.

Một miếng ván bắc từ bờ ao đến mấy cái cọc tre đóng xuống lòng ao, bên ngoài quây mấy cái bao tải rách chính là chỗ để "giải quyết vấn đề".

Về sau này nó mới biết, công trình vệ sinh đó gọi là "cầu tõm".

Khổ thân nó, hôm đó lại đúng ngày mưa, nó cứ phải đội nón chạy đi chạy lại giữa nhà và cái cầu ao đó.

Sáng hôm sau các bạn đi thi thì nó sốt cao phải bỏ thi.

Cả nhà bác chủ cũng đi làm hết.

Nó sốt, người mệt lả, nằm ở nhà một mình rất buồn.

Lỡ mất cuộc thi, ốm cảm tưởng như kiệt sức mà lại chẳng có ai bên cạnh, tủi thân, nước mắt nó cứ tự động chảy ra.

Nó thấu hiểu sâu sắc chuyện phải xa gia đình là như thế nào.

Hai ngày sau nó khỏi ốm thì cũng là lúc các bạn nó thi xong.

Vậy là chuyến đi của nó coi như công cốc.

Nó thất thểu quay lại cái nơi nó từng sinh ra, một xó huyện quê mùa.

Mấy hôm sau thì nó biết là nó cũng bị rớt trong kỳ thi vào trường cấp 3.

Chả trách được vì nó đã bỏ học gần hai năm rồi.

Mọi cánh cửa tương lai của nó thế là cùng bị khép lại.

Thôi !

Thế là hết . . . .

"Nhiếp ảnh gia" lưu động

Mất hẳn hy vọng học hành, trong lòng buồn vô hạn, nhưng vẫn phải sống vì vậy quyết định kiếm sống là con đường mà nó bắt buộc phải chọn.

Nói cách khác, đó là con đường cùng mà cuộc đời đã đẩy nó vào.

Ở phố nó ngoài ông Vân hành nghề "chụp ảnh gia truyền" từ thời Pháp, gần đây có anh Trân, ở Hà Nội sơ tán về, mở hiệu ảnh ở gần nhà nó.

Những lúc rảnh rỗi, nó hay sang chơi nhà anh Trân, lân la học hỏi về kỹ thuật làm ảnh.

Anh Trân thấy nó ham học cũng chỉ vẽ cho nó ở mức độ "cơ bản - sơ lược".

Có một chút kiến thức "qua loa, đại khái" về ảnh, nó lấy tiền dành dụm được do bán tranh Tết mua lại của anh Trân cái máy ảnh cũ Zorki-4 (máy ảnh Liên Xô).

Rồi nó mua phim, thuốc hiện hình, thuốc hãm, giấy ảnh Bình Minh . . . , mỗi thứ một ít.

Một mình nó tự mầy mò tập chụp, tráng phim và in ảnh . . . .

Kết quả chưa phải là mỹ mãn nhưng ảnh cũng được lắm, chẳng thua kém gì ảnh của các hiệu ở phố nó.

Tuy nhiên, vốn chẳng có, lại nhỏ tuổi không có kinh nghiệm, nó có mở hiệu cũng không cạnh tranh nổi với hai "nhiếp ảnh gia" kia.

Do đó, nó phải tìm cách khác.

Gom góp toàn bộ số tiền nó ki cóp gửi bu nó bấy lâu nay, nó mua lại một chiếc xe Phượng Hoàng xích hộp màu cánh chả đã cũ.

Mỗi tuần một lần, nó dong duổi xe đạp và máy ảnh vào các làng xa xôi hẻo lánh quanh vùng, gọi là đi "chụp ảnh lưu động", mà bây giờ thì người ta gọi là "chụp ảnh dạo".

Nói thế nghe có vẻ kiếm ăn quá đơn giản, nhưng thực ra cũng phải "có mẹo" mới được.

Nó phải rủ người quen trong vùng hẻo lánh đó đi cùng, vừa để có bạn đi chung cho vui, vừa bảo lãnh nó trước dân làng để họ tin là không bị lừa mà đưa tiền trước, lấy ảnh sau.

Thường ngày nó ngồi vẽ ở nhà.

Rồi từ một hôm nào đó, có một thằng trạc tuổi nó, hôm nào cũng ngồi xổm xem nó làm.

Lâu dần thành quen, nó sai vặt thằng này, lúc thì đi mua thuốc lá, lúc lại đun hộ siêu nước.

Được cái, cu cậu làm rất nhiệt tình, ngoan ngoãn và dễ bảo lắm.

Hỏi ra mới biết nó tên là Ngọ, nhà ở Hưng Long, bố mẹ bỏ nhau đều đã đi bước nữa, cu Ngọ phải ở với bà nội.

Nó thấy hoàn cảnh đáng thương nên nhận thằng Ngọ làm phụ việc.

Vẽ thì đã có khuôn mẫu, thằng Ngọ chỉ việc quét mầu vào các lỗ trên tấm mi ca đã khắc sẵn.

Việc hoàn thiện tranh thì nó sẽ làm sau.

Còn chụp ảnh thì thằng Ngọ đi cùng nó rất được.

Thằng Ngọ khỏe, chuyên môn là "lái xe" đèo nó.

Dở nhất là thằng Ngọ không biết chữ, nhiều khi đông khách, nó nhờ ghi tên và đánh số thứ tự các kiểu ảnh chụp, thằng Ngọ cũng không làm nổi.

Nó đành vừa phải chụp ảnh vừa phải ghi chép lấy.

Thời gian đó và cả về sau này, làm được đồng nào, nó trừ tiền ăn tiêu nho nhỏ, tiền mua vật tư, vật liệu, còn lại bao nhiêu nó đều gửi bu nó giữ.

Đặc biệt nó nhớ anh Bát, anh đi bộ đội chẳng có tiền nên nó dành ra một khoản đáng kể, thường xuyên, lúc gửi ra Yên Mỹ, lúc gửi vào Ân Thi, lúc gửi lên Từ Hồ cho anh Bát.

Đồ nó gửi cho anh là thuốc lá sợi, ruốc, đồ ăn và các thứ linh tinh khác.

Ngoài việc vẽ tranh giấy, chụp ảnh lưu động, nó còn nhận ảnh cũ hỏng của các cụ già và vẽ truyền thần lại.

Những bức truyền thần ấy nhiều khi rất quan trọng với gia đình có người cao tuổi hay người đã mất.

Ba việc ấy làm nó khá bận nhưng có thu nhập ổn định.

Không những thế, Ủy ban xã, Ủy ban huyện cũng thường xuyên trưng dụng nó đi kẻ khẩu hiệu, vẽ áp phích, tranh cổ động, . . . .

Tối tối nó đi cùng một nhóm nam nữ thanh niên, vác đàn ghi ta, sáo trúc, măng-đô-luyn, âm li (amplifier), bình ác quy đến các xóm, các sân kho hợp tác xã để tuyên truyền, cổ động, hát và ngâm thơ, . .

Chiến dịch cổ động

Cuối năm đó, 1972 Mỹ dùng máy bay đánh phá miền Bắc rất dữ dội, sử dụng cả máy bay B52 rải thảm xuống Hà Nội liên tục trong 12 ngày đêm.

Những ngày này nó được sở văn hóa tỉnh huy động lên tăng cường cho phòng văn hóa huyện Văn Lâm.

Một mình nó phải vẽ mấy tấm áp phích rất lớn trên những pa-nô xi măng ven đường số 5 và một số nơi tập trung đông dân trọng yếu của huyện.

Công việc rất vất vả, vừa phải pha màu, bê thang, bê giáo di chuyển, vẽ tranh, . . . .

Thấy nó vất vả, huyện cử thêm anh Ưng phụ nó các việc vặt.

Buổi trưa nó nghỉ, ăn cơm nhờ bưu điện Như Quỳnh, tối thì về nhà anh Đồng, cán bộ văn hóa ở xã Trưng Trắc kiêm bưu tá đưa thư.

Nó không mang xe đạp theo nên anh Đồng toàn phải đưa đón nó từ nhà đến nơi vẽ và trở về trên chặng đường năm đến sáu cây số trong mùa đông giá rét.

Chỗ ở của anh Đồng là căn nhà hai gian, hai trái, tường đất mái rạ thấp lè tè.

Qua một khoảng sân đất nhỏ là căn bếp một gian liền chuồng xí và chuồng lợn còn thấp hơn, cũ nát và siêu vẹo.

Lối vào nhà anh vừa nhỏ vừa ngoằn nghèo, luôn luôn ngập nước.

Những lúc mưa to còn không nhìn thấy ngõ mà đi.

Khu vực nhà anh có các bụi tre rậm rạp và đặc biệt rất nhiều sấu cổ thụ, lá cành um tùm.

Những ngày nắng to, lúc đứng bóng còn có chút nắng chiếu xuống đường.

Thế mà chỉ cần chếch bóng một chút lại râm mát, cho nên gần như râm mát suốt ngày.

Anh chị Đồng có năm đứa con, gia cảnh rất nghèo.

Đứa lớn là cái Lài, khá xinh sắn, cỡ bằng tuổi nó, đã đi bộ đội, lâu lâu mới về thăm nhà.

Đứa thứ Hai là Bảo, thua nó 2 tuổi, dáng cao và gầy gò.

Còn mấy đứa về sau nó không còn nhớ tên.

Mới ở nhà anh Đồng được có mấy hôm mà nó đã rất thân với thằng Bảo.

Những hôm đi vẽ về, trời rất rét, hai đứa chui vào bếp chỗ chị Đồng đang nấu cơm rúc rích với nhau.

Rơm ẩm, khói đặc quánh, ngạt thở, hai thằng vẫn ngồi co ro bên cạnh chị Đồng, đút mấy củ khoai con vào nướng.

Khoai cháy đen lớp vỏ, nóng bỏng, hai đứa vừa bóc vừa đổi khoai từ tay này sang tay kia cho khỏi bỏng, rồi thổi phù phù, vừa ăn vừa xuýt xoa, rất sướng.

Cơm chẳng có thức ăn gì nhưng đang sức trai, trời lại rét, chúng ăn ngon lành.

Tối đến hai thằng cùng chui vào cái chăn bông rách ngủ cùng anh Đồng, còn chị Đồng và mấy đứa nhỏ ngủ ở giường đối diện.

Cái túi dết đựng thư của anh Đồng được treo cái đinh móc, ngay đầu giường.

Mấy đứa nó hay lục trộm túi dết của anh, cứ thư nào đọc phong bì thấy có "màu sắc yêu đương" kiểu như "Em gái quê hương – mến thương – gửi người phương xa" là chúng nhấp nước bọt vào chỗ dán, rồi bóc ra xem trộm.

Nhiều bức thư, ở đằng sau phong bì còn có thơ "Em viết tình em thành bài thơ - Ngày em thấy nhớ đêm về lại mong", "Xa nhau tình cảm dạt dào – Nhờ anh bưu điện gửi vào tận tay", . . .

Vậy mà anh Đồng cũng không hay biết gì.

Mà, lúc bấy giờ chúng cũng không nghĩ là chúng đã vi phạm luật bí mật thư tín.

Ở nhà anh Đồng được hơn hai tháng, nó phải chia tay để về Ủy ban huyện, đang sơ tán ở trong Chợ Gạo, cách nhà anh Đồng 15 cây số.

Đến đây, nó được bố trí ở nhà anh Ưng, phụ việc cho nó, cũng công tác ở phòng văn hóa của huyện.

Anh Ưng rất nghiện thuốc lá, ngủ chung với nó mà anh toàn mang thuốc lá vào trong màn hút.

Hơn một tháng ở với anh, nó đâm ra càng nghiện nặng.

Lại hai tháng sau nữa, xong chiến dịch cổ động, nó được trở về quê tiếp tục với công việc riêng đang bỏ dở.

Dễ thương mà " ngố "

Mùa hè năm 1973 thằng Sơn Hồng viết thư cho nó rủ lên trường Yết Kiêu chơi, rồi dẫn Sơn Hồng về nhà nó nghỉ hè.

Nó đạp xe lên trường tìm bạn.

Cách đây 2 năm, nó đường đường là một học sinh có quyền ra vào cổng đoàng hoàng.

Lần này khi đến cửa trường, bác bảo vệ ngăn nó lại hỏi "vào làm gì ?

Tìm ai ?".

Kể ra thì bác ấy hỏi như thế cũng là bình thương, nhưng vốn nhạy cảm về chuyện này nên nó thấy nhói đau trong lòng.

Nó đành nhờ bác bảo vệ nhắn gọi thăng Hồng ra.

Ngồi ở quán nước chè ngoài cổng trường nhìn các bạn quen cũ ăn mặc gọn gàng ,tay cắp cặp vẽ, nói cười ríu rít, vui tươi như bầy chim sẻ, mà nó chỉ nhìn trộm, không dám gọi.

Nó tự ti và rất tủi thân.

Chờ mãi không thấy Hồng ra, nó sốt ruột định đi về thì bác bảo vệ đi ra và bảo với nó :

- Hồng đi thực tế ở Chùa Thầy chưa về, nó gửi cho cháu lá thư đây này !

Nó nhận thư và cảm ơn.

Thư thằng Hồng nhờ nó sang bên trường nhạc hỏi bộ môn trom-pet (trumpet) chuyển hộ cho cái Thu, người yêu Hồng một bức thư.

Hồng còn nhờ đèo hộ cái Thu lên Chùa Thầy thăm và chơi một thể.

Hỏi thăm loanh quanh một lúc bên trường nhạc thì cũng tìm được cái Thu.

Đó là một cô bé trắng trẻo, xinh nhưng béo.

Nó chuyển thư của thằng Hông rồi hai đứa hẹn nhau ngày mai lên thăm Hồng.

Sáng hôm sau đúng hẹn, nó tới cửa trường nhạc đón Thu, đèo nó lên Chùa Thầy, nơi sơn đang đi thực tế.

Cái Thu thì béo, đường thì xa, Trời thì nắng chang chang, mồ hôi nó nhễ nhại và nó rất mệt nhưng không dám hé răng.

Nó sĩ diện mà, đường đường một đấng "xu hào", chả nhẽ lại để cho con gái nó đèo thì còn ra cái gì.

Lên tới nơi thì thấy thằng Hồng đã chờ sẵn để đón hai đứa.

Cu cậu dẫn hai vị khách về nhà mà thằng Hồng đang ở trọ.

Cơm nước xong, ba đứa túc tắc đi bộ lên thăm Chùa Thầy.

Chúng kéo nhau xuống cái "hang xương", sâu hun hút, tối om om.

Thằng Hồng đốt đôi đế dép cao su, mỗi đứa cầm một mẩu dép cháy để soi đường.

Thằng Hồng đi đầu, đưa tay ra sau dắt cái Thu, còn nó thì đi sau cùng.

Xuống tới đáy hang, nó nhìn thấy một hố lớn toàn đầu lâu và xương người.

Nghe nói đó là hài cốt của các liệt sỹ hồi chống Pháp.

Đến mãi chiều chúng nó mới lên khỏi.

Trên đường đi về, thằng Hồng với cái Thu cứ quấn quýt bên nhau.

Nó biết ý nên đi cách xa một đoạn.

Tuy nhiên, cảnh trai gái yêu nhau thì hấp dẫn lắm nên thỉnh thoảng nó cứ nhìn trộm hai đứa.

Cứ đến gốc cây là chúng dừng lại hôn nhau.

Nó vừa thấy xao xuyến lại vừa tức.

Hóa ra nó "đổ mồ hôi, sôi nước mắt", mệt "phờ râu trê" đèo cái Thu để chứng kiến cảnh chúng hôn nhau.

Đúng là "ngố Tầu"!

Sáng hôm sau thằng Hồng xin phép nhà trường nghỉ mấy hôm.

Hai đứa ấy ra bến xe về Hà Nội trước.

Nó lại lụi cụi đạp xe một mình.

Thật là "quê "quá đi mất !

Nó đạp xe thẳng một mạch về nhà.

Khoảng một tuần sau, thằng Hồng về quê nó chơi.

Nó vui lắm.

Hai thằng cùng vẽ tranh, hút thuốc, tâm sự.

Tối đến hai thằng lên đầu phố uống trà bát bảo hoặc xuống nhà thằng Sáu, bạn nó ở Phùng Chí Kiên.

Thằng Sáu hơn nó hai tuổi, đi Tiệp Khắc về.

Thằng này là em lão trưởng công an huyện, ở quê nó gia đình quyền thế lắm mới được đi nước ngoài.

Không biết làm sao mà Thằng Sáu lại về quê đã mấy năm và xoay ra mở hiệu may.

Chẳng hiểu thế quái nào mà nó lại chơi thân với thằng Sáu.

Gia đình chú ruột

Sau khi thằng Hồng về lại trường, nó tạm phải đóng cửa hàng để xuống Hải Phòng chăm sóc chú Hiền bị ốm.

Chú Hiền là chú ruột nó, lấy vợ và mở hiệu may ở dưới Hải Phòng.

Trước đây, nhiều lần nó được theo thầy nó xuống thăm chú thím.

Bây giờ chú ốm nặng, thím nó đã già yếu, em Bào thì chết sớm hồi máy bay oanh tạc, em Hoa em Nếp đều là con gái lại bận đi làm, các cháu thì còn nhỏ lại bận học.

Chỉ có nó đi chăm chú là chính xác nhất.

Gia đình chú ở trong một gian nhà của cái nhà cấp bốn đâu có năm gian thì phải.

Mỗi hộ ở một gian được ngăn cách bằng một bức tường mười.

Mặt các gian đều hướng ra ngõ, cửa sổ và cửa đi đều rất rộng.

Đằng sau nhà là cái sân chung dọc theo chiều dài của căn nhà, chiều rộng khoảng ba mét.

Qua sân là một dãy bếp dài, mỗi hộ một ô, chiếu thẳng với gian nhà ở.

Sau dãy bếp là một vuông đất nhỏ, trên đó là nhà vệ sinh chung cho cả dãy.

Em Hoa hơn nó 9 tuổi, bấy giờ đã hăm bẩy, làm công nhân nhà máy giầy dép số 3 bên bờ sông Cấm.

Em Nếp cũng đã hăm nhăm, làm việc ở Công Ty Vệ Sinh của thành phố.

Cả hai đứa đều rất xinh gái, người nhỏ nhắn da trắng, môi đỏ.

Chồng em Nếp là chú Dân (gọi là chú vì tuy là em rể nhưng tuổi hơn nó nhiều) lại là em ruột của chị Mây, chị dâu nó, con cụ Hai Năng.

Chuyện vợ chồng của Nếp là do thầy nó và chú Hiền sắp đặt.

Hai cụ muốn các con lấy người cùng quê, không muốn cho lấy người hàng xứ, sợ lâu dần mất gốc, mất quê.

Chú Dân là bác sỹ.

Hai người lấy nhau lấy nhau năm 1970 thì năm 1971 sinh con đầu lòng và ra ở riêng.

Ở nhà chú thím chỉ còn Hoa và vợ em Bào.

Em Bào thì mất năm 31 tuổi và đã kịp có được 5 đứa con, 2 trai, 3 gái, đứa út mới được hơn một tuổi, nhà rất nheo nhóc.

Đã vậy, vợ Bào không chịu ở vậy nuôi con mà cặp bồ rồi bỏ con theo trai đi biệt xứ.

Thím nó là một người phụ nữ bé nhỏ, trắng trẻo, hiền lành đã phải cùng em Hoa chăm sóc năm đứa cháu thơ dại.

Từ nhà chú Hiền, ra khỏi ngõ rẽ sang tay trái, đi theo đường tàu đầy rác rưởi, um tùm cỏ và nước cống rãnh hôi hám là ra ngã tư Lạch Chay.

Từ đó, rẽ phải đi thêm khoảng 500 mét nữa là đến hiệu may của chú.

Cửa hàng may nằm ở lối rẽ vào một con ngõ nhỏ, áp sát với mặt đường, trước cửa có cây xoan nâu to rợp bóng mát.

Cửa hàng này chú phải thuê, một căn phòng cũng nhỏ, chỉ rộng chừng chục thước vuông.

Ngoài cửa kê cái máy khâu, bên trái gần cửa chính ra vào để bàn trà nho nhỏ, trên bàn để cái điếu bát.

Sau cái máy khâu là một cái bàn vừa dùng để cắt vừa dùng để là quần áo.

Sau cái bàn là mấy cái sào tre treo vải các loại.

Trên bức tường bên phải treo một loạt quần áo mẫu và đồ mới may xong.

Trong cùng kê một cái giường một để chú nó ngủ trưa hoặc ngủ qua đêm khi cần.

Mỗi lần nó ra thăm, chú hay cho nó tiền ăn kem, bánh mỳ hay ăn kẹo.

Chú Hiền ốm nặng đang năm viện, cửa hàng may bỏ không, đóng cửa đìu hiu . .

Chú Hiền

Hôm nó đi Hải Phòng để chăm chú, bu nó đưa cho nó nải chuối và mấy cân cam.

Đến Hải phòng, từ bến xe nó đi thẳng tới bệnh viện Việt Tiệp, rồi tìm đến phòng bệnh mà chú Hiền đang nằm.

Từ cửa phòng nó đã nhìn thấy chú Hiền, tóc đã bạc rất nhiều, mà cả râu cũng bạc, một ông lão rất gày còm, hom hem đang nằm thiêm thiếp trên gường bệnh.

Nhìn thấy nó đến, chú mừng lắm, mặt chú bừng sáng lên.

Chú hiền từ nhìn nó cười :

- Thập !

Cháu lên thăm chú đấy hả ?

Nó xà vào giường, cầm tay chú, bàn tay già, khẳng khiu, gân guốc.

- Chú đã đỡ chưa ạ ?

Chú thấy trong người thế nào ạ ?

Giọng khàn khàn, đầy đờm, chú chậm chạp nói :

- Chú mệt lắm !

Ho quá cháu ạ !

Nó đặt nải chuối và cam lên cái tủ ở cạnh đầu giường.

Vừa hỏi han bệnh tình của chú, nó vừa bóc cam, từ từ đưa chú ăn từng miếng một.

Cái giường xếp đã cũ gấp gọn, ban ngày được nó giấu trong gầm giường, ban đêm nó lôi ra kê sát giường chú để nằm.

Nó phải nằm thật sát giường chú, đề phòng đêm nó ngủ quên, có gì chú còn với tay lay nó dạy được.

Sáng sớm, sau khi đi lấy nước sôi về, nó ra cổng viện mua thức ăn sáng cho chú, hôm thì xôi, hôm cháo sườn, hôm bánh nếp, bánh tẻ hay bún, . . . .

Bữa trưa và bữa tối của hai chú cháu thì được em Hoa và em Nếp thay nhau mang vào.

Chú nó ăn rất ít, có cái gì ngon chú toàn nhường cho nó, ép mãi thì chú cũng chỉ ăn thêm được chút đỉnh.

Chú nó ho rất nhiều và sốt lúc nửa đêm về sáng.

Người ông càng ngày càng gầy tóp đi.

Nhiều đêm ông không thể nằm được vì ho.

Có hôm nó phải thức trắng đêm ngồi sau cho ông tựa lưng và đấm lưng cho ông để "long đờm" mà bớt ho đôi chút.

Có những lúc cơn ho rộ lên, bụng ông thắt lại đau đớn, nước mắt nước mũi tóa ra giàn giụa, rồi ông thở hổn hển, hí ha hí hóp, trông thương lắm.

Thời gian đầu nó còn dìu ông vào nhà vệ sinh, rồi sau ông yếu dần nó phải cho ông đi tại chỗ.

Tất cả các việc, từ việc thay đồ, đổ bô phân, nước tiểu và đờm rãi nó đều làm một cách cần mẫn, chỉn chu.

Nó không hề cảm thấy ghê sợ hay khó chịu một chút nào.

Đúng là ruột thịt có khác !

Có những ngày rất nhiều việc, nó phải bế chú lên xe đẩy, đưa đi chụp chiếu điện, đi làm các xét nghiệm, . . . .

Có những chỗ không thể đưa ông đến bằng xe đẩy thì nó phải cõng ông.

Những lúc cõng ông như vậy nó cảm thấy rất xót vì chú Hiền nhẹ tềnh, khô kháo toàn xương với da . . . .

Có những lúc ông ngủ được vào ban ngày, nó thường vào văn phòng khoa mượn vài quyển tiểu thuyết, ngồi cạnh ông đọc cho đỡ buồn.

Sáng trong một chút tình

Bấy giờ tại bệnh viện Việt Tiệp có một đoàn sinh viên Đại Học Y Hà Nội về thực tập.

Các cô cậu sinh viên cũng trạc tuổi nó.

Tối tối các sinh viên tham gia trực ở bệnh viện.

Nó ngồi đọc sách thì mấy cô sinh viên trực cũng làm việc gì đó, người thì đan len người thì đọc sách.

Tuy đọc sách chăm chú nhưng đôi mắt nó cũng không bỏ qua cơ hội quan sát và ngắm nhìn các cô gái.

Rồi nó bị thu hút bởi một cô bé người nhỏ nhắn, mặt khá xinh.

Cô bé buộc hai bím tóc hai bên, trông như trẻ con vậy.

Nó thấy cô ta cũng ham đọc sách và có vẻ như có nhiều sách quý mang theo.

Nó mon men đến gần, làm quen :

- Bạn đang đọc gì đấy ?

Chắc là chuyện hay lắm nhỉ ?

- Dạ !

Miếng Da Lừa của Ban Zắc (Honoré de Balzac), hay lắm anh ạ.

- Nếu có thể được, lúc nào đọc xong, bạn cho mình mượn đọc với nhá ?

- Vâng !

Anh cũng hay đọc lắm phải không ạ ?

- Vâng, Ban Zắc thì tôi mới đọc Tấn Trò Đời , mới lại Lão Gô-Ri-Ô.

Tôi không có nhiều sách, toàn là sách đi mượn thôi.

- Em cũng có mang theo mấy quyển, mai em mang sang đây cho anh.

- Thế thì hay quá !

Cảm ơn bạn !

Thôi bạn đọc tiếp nhé, tôi về chỗ chú tôi xem thế nào đã . . . .

À mà, xin lỗi bạn tên là gì nhỉ ?

- Em là Lương, Hiền Lương ạ !

Còn anh tên gì ạ ?

- Mình là Thập, tên xấu lắm !

- Không đâu !

Tên anh cũng hay đấy chứ ạ.

Đúng như tên gọi Hiền Lương, cô sinh viên này rất dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, giao tiếp rất tự nhiên và cởi mở.

Nó cảm thấy Hiền Lương có gì đó rất cuốn hút . . . .

Từ ngày quen nhau, hai đứa hay ngồi ở cửa sổ, cạnh giường chú nó, gần hành lang để nói chuyện trên trời dưới biển, chuyện văn, chuyện thơ.

Hiền Lương cũng quan tâm săn sóc chú nó cẩn thận hơn trước.

Hai đứa càng ngày càng có tình cảm với nhau.

Hơn nữa, đứa này cũng cảm nhận được tình cảm của đứa kia dành cho mình.

Tuy nhiên, cả hai đứa đều lúng túng và ngượng ngập với nhiều e ấp mà chả dám nói ra.

Bên Hiền Lương nó cảm thấy đỡ buồn và cô đơn.

Niềm vui sống và hy vọng dường như đã bắt đầu nảy nở trong nó.

Hơn 2 tháng trông nom chú, ngoài nghĩa vụ và tình yêu với chú, nó còn có niềm vui riêng, có nỗi nhớ mong và đợi chờ mỗi khi Hiền Lương vắng mặt.

Nó cứ đọc hết cuốn sách này thì Hiền Lương lại chuyển cho nó cuốn khác.

Khi nhận lại sách, Hiền Lương hay hỏi nó : "Anh thấy thế nào ?".

Cô bé muốn nó đưa ra nhận xét đánh giá về nội dung và nhân vật trong sách.

Khi nó đưa ý kiến nhận xét thì thường sau đó, hai đứa lại tranh luận với nhau, . . . .

Rồi một hôm, đột nhiên nó không thấy Hiền Lương làm việc ở trong khoa.

Ra ngóng, vào trông, chờ đợi khắc khoải cả ngày hôm đó.

Nó rất muốn hỏi mấy đứa bạn Hiền Lương nhưng lại ngượng không dám hỏi.

Một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi bốn ngày trôi qua, . . . không có em.

Nỗi nhớ dường như cứ đẩy lên ngồn ngộn trong lòng nó, suốt cả ngày, cả đêm.

Bao nhiêu dằn vặt cứ xoáy vào tâm can nó, những nỗi niềm băn khoăn, hoài nghi không có lời giải đáp, . .

Ký tên vào "Sổ Tử"

Sang ngày thứ năm rồi vẫn không thấy em đâu.

Đêm qua nó thức trắng vì phải đỡ cho chú ngồi thở.

Giờ này chú nó mới chợp mắt được một lúc.

Nó nằm cạnh chú, cuốn sách đang đọc trên tay nó cứ trĩu xuống dần, nó ngủ thiếp đi. . . .

Nó có cảm giác ai đó đang nhấc quyển sách trên ngực nó ra, nó choàng mở mắt và nhìn thấy Hiền Lương ngay trước mặt.

Chẳng kịp giấu giếm nỗi mừng vui, nó hỏi :

- Em đi đâu mấy ngày nay mà sao không cho anh biết thế ?

- Anh mong em à ? – Hiền Lương cũng tự nhiên hỏi lại nó.

Câu hỏi của Hiền Lương làm nó ngượng ngập, nói tránh đi :

- Chẳng mong !

Nhưng thấy vắng thì hỏi.

Có lẽ Hiền Lương đã thấu hiểu nó, nàng hỏi thế chỉ để trêu nó một chút.

Nàng bật cười rất tươi, cởi cái khăn mùi xoa, đưa cho nó ba bắp ngô nướng nóng hổi, rồi rút trong túi một nhành ngọc lan trắng muốt, thơm phức đặt vào tay nó :

- Mẹ em ốm, em về thăm, lấy quà cho anh đấy.

- Quà . . . sao ngô còn nóng thế ?

Em mới nướng à ?

- Em mang lên nhiều, mọi người đang nướng, em mang mấy bắp cho anh ăn luôn cho nó nóng.

- Hiền Lương quê đâu mà có ngô thế ?

- Anh nghe tên em mà không đoán ra à.

- Hiền Lương ở Bến Hải mà sao nói giọng Bắc, anh chẳng thể đoán được.

- Ba má em tập kết năm năm ba.

Ra Thái Bình mới đẻ em.

Sau này ba em trở về nam.

Má và hai chị em

em ở Kim Động, ngay bờ sông Hồng giáp thị xã Hưng Yên.

Ngô này ở bãi sông Hồng đấy anh.

- À !

Thế em cũng ở gần quê anh đấy, anh cũng ở Hưng Yên.

- Sao bữa trước anh nói là sinh viên trường mỹ thuật ở Hà Nội.

- Ừ anh học ở Yết Kiêu, nhưng quê anh ở Hưng Yên mà.

Nó đã chót nói dối nó vẫn đang học ở trường Mỹ Thuật, bây giờ nó ngượng nhưng không đủ dũng cảm thú nhận.

Nếu nó khai ra nó là thợ vẽ tự do, trong khi Hiền Lương là sinh viên đại học, hẳn nó sẽ bị khinh thường.

Thôi đằng nào thì cũng chót rồi, "đâm lao phải theo lao" vậy.

Bệnh tình của chú Hiền ngày càng nặng.

Sau khi bệnh viện hội chẩn, bác sỹ trao đổi với gia đình, chỉ còn giải pháp duy nhất là phải mổ hoặc là giữ nguyên như vậy.

Nếu không mổ thì sẽ đau đớn vật vã, chết dần chết mòn vì khối u ác tính trong phổi sẽ tiếp tục phát triển.

Nếu mổ tức là chấp nhận năm ăn năm thua.

Mổ thành công chú nó có thể sống thêm được mươi năm nữa, mà nếu không thành công thì ông cũng ra đi trong thanh thản, đỡ phải chịu đựng nhiều đau đớn.

Thày nó xuống cùng thím và các em họp lại quyết định sẽ mổ.

Sáng hôm mổ, cả nhà nó có mặt trong viện từ sớm.

Trước khi đưa chú vào phòng mổ, bác sỹ yêu cầu gia đình phải ký cam đoan.

Không còn nhớ là do yêu cầu về thủ tục hay vì lý do gì mà cuối cùng gia đình lại cử nó đại diện để ký.

Nhiều ngày nó đã chứng kiến chú Hiền vật vã đau đớn nhưng phải ký vào văn bản nó rất băn khoăn.

Nghĩ đi nghĩ lại, vì thương chú, nó đã đặt bút ký, rất có thể đó là chữ ký vào bản án tử của chú, nhưng biết làm sao được.

Chú Hiền gày tọp và rất yếu, người chú mỏng dính khi nằm băng ca.

Chiếc băng ca được đẩy vào phòng mổ để gây mê, ánh mắt chú nhìn khắp lượt vợ con, rồi nhìn nó.

Ông đưa cánh tay gầy guộc nắm bàn tay nó đang đẩy băng ca cho ông.

Tới cửa phòng mổ, người nhà phải dừng lại.

Rồi cánh cửa phòng khép lại, không còn nhìn thấy chú nữa.

Mọi người phải chờ ngoài phòng, ai nấy hồi hộp, lo âu, cầu Trời, khấn Phật . . .

Vĩnh biệt em . . .

Nửa tiếng đồng hồ đã trôi qua, cánh cửa phòng mổ vẫn đóng im lìm.

Rồi một tiếng, tiếng rưỡi, vẫn không thấy có động tĩnh gì.

Sao mà lâu quá vậy ?

Hay là có chuyện gì . . . . ?

Nó cứ phải chạy đi chạy lại ra ngoài để hút thuốc.

Ai nấy bồn chồn và lo sợ mà chẳng dám ho he gì.

Sự căng thẳng và im lặng bao chùm, tiếng cái đồng hồ treo giữa hành lang đều đặn gõ những tiếng "thịch thặc . . . thịch thặc . . .

".

Đã gần hai tiếng đồng hồ, thời gian cứ trôi qua, vô cùng chậm chạp.

Bỗng cánh cửa phòng mổ động đậy rồi bật mở.

Bước ra từ đó là bác sỹ mổ chính, vẫn còn đeo khẩu trang.

Cả nhà xúm vào hỏi thì ông khẽ lắc đầu.

Khép lại cánh cửa phòng mổ, gỡ khẩu trang xuống, ông nói :

- Tiên lượng xấu lắm, chắc không qua khỏi, gia đình chuẩn bị hậu sự cho ông đi.

Một lúc sau cửa phòng bật mở toang, băng ca chở chú nó được đẩy ra, phía trên phủ một tấm ga trắng trùm mặt.

Mọi người khóc òa lên.

Chú Hiền đã ra đi . . .

Mới cách đó hai tiếng đồng hồ, chú còn cố cười, ánh mắt hiền hậu nhìn mọi người, chú còn cầm tay nó.

Vậy mà chú đã ra đi không ai bên cạnh, không trăng trối, không người thân vuốt mắt.

Cổ nó nghẹn lại, mắt nhòa nước, nó nấc lên, chết lịm "Chú ơi . . . !

"

Sau khi đưa thi thể chú vào nhà xác, cả nhà nó chạy ngược chạy xuôi để lo đám tang của chú.

Hồi đó ở bệnh viện Việt Tiệp chưa có bảo quản thi thể trong buồng lạnh.

Để chú ở đó một mình, không có ai thân thích bên cạnh làm cho gia đình rất đau lòng.

Thầy nó quyết định tang lễ càng sớm càng tốt nên chỉ qua một ngày nữa đến ngày thứ ba đã tổ chức phúng viếng và đưa chú nó đi chôn cất ở nghĩa trang thành phố.

Hiền Lương xin nghỉ hai ngày luôn ở bên động viên nó, giúp việc gia đình như con cái.

Nàng cũng quét dọn, cũng pha trà tiếp khách, cũng nấu nướng, ăn uống và rửa bát.

Tất cả những cử chỉ, việc làm đó làm nó rất cảm động.

Khi mọi việc tang lễ của chú đã hoàn tất, nó phải trở về nhà.

Nó buồn vì mất chú, bây giờ phải xa Hiền Lương lại càng buồn.

Hiền Lương cũng rất buồn.

Buổi tối trước hôm nó về quê, nó vào viện, đến khoa để cảm ơn.

Rồi Hiền Lương ra tiễn nó.

Hai đứa bịn rịn, ngồi trên ghế đá vườn hoa bệnh viện.

Trong lòng u uẩn, mỗi người theo đuổi một suy nghĩ riêng.

Im lặng rất lâu, mãi rồi nó mới cất lời :

- Anh phải về . . . .

Cảm ơn em !

Em tốt với chú cháu nhà anh quá.

- Anh đừng khách sáo thế !

Em thương ông, thương anh.

Em tiếc là không làm gì hơn được.

Lại im lặng rất lâu.

Rồi Hiền Lương lương hỏi nó :

- Nếu anh về trường luôn thì cho em địa chỉ.

Hôm nào hết thực tập em về Hà Nội sẽ đến chỗ anh.

Nó đành phải tiếp tục nói dối :

- Trường anh đang sơ tán, anh chưa biết địa chỉ cụ thể.

Lương cứ cho anh địa chỉ thực tập ở đây.

Về tới trường, anh sẽ viết thư cho em ngay.

Hiền Lương ghi địa chỉ của nàng vào một mảnh giấy và nói :

- Nhớ viết thư cho em ngay nha !

Nó cảm động cầm tay Lương xiết nhẹ, nó thầm thấy sai lầm vì đã chót nói dối.

Rồi nó cảm thấy tủi nhục vì thân phận của mình không xứng đáng với Lương.

Nó hứa bừa :

- Ừ !

Anh về, tối mai sẽ viết thư cho em ngay.

Vườn hoa bệnh viện quá sáng, lại quá đông người, nó rất muốn ôm và hôn nàng.

Mấy lần nó tự nhủ cứ liều ôm lấy nàng nhưng rồi nó sợ.

Nhìn trước nhìn sau, cảm giác như tất cả các ánh mắt đang săm soi nhìn nó.

Nó không dám . . .

Ngồi mãi, chẳng thể cất lời để nói thêm điều gì trước lúc xa nhau.

Nó chào Hiền Lương, hẹn gặp lại rồi đứng dậy ra về.

Trong lòng nó đang vang lên tiếng lòng tha thiết "Anh đã lừa dối em, Lương ơi !

Vĩnh biệt em . . . những rung động đầu đời của anh".

Tự trong sâu thẳm nó cũng muốn nói thật hết với Hiền Lương nhưng nó cũng biết rằng ngàn lần nó không đủ dũng cảm nói ra sự thật.

Và, vì vậy nó không dám gủi thư cho Lương, nhìn dấu bưu điện quê nó, Lương sẽ biết ngay nó là kẻ dối lừa.

Đến tận bây giờ mỗi khi nhớ lại nó vẫn thầm gọi tên em "Lương ơi !

Giờ này em ở đâu ?"

Có những khi nó lại cảm thấy hối tiếc và ước, giá mà ngày ấy nó hôn em . . . .

Nhưng mà để làm gì cơ chứ, nó tự hỏi rồi tặc lưỡi "Ôi Giời !

Tuổi trẻ mà, cuộc đời mà, biết làm sao được Lương ơi !"

Làm thợ

Về đến nhà, phần buồn vì chú mất, phần buồn vì xa Lương, lại buồn thêm vì ba tháng đóng cửa, bây giờ về nhà đã mười mấy ngày vẫn không có khách, không có việc làm, nó quyết định ra Hà Nội tìm cơ hội kiếm sống.

"Khăn gói quả mướp", nó leo lên xe hàng từ bến xe phố huyện.

Chẳng bao lâu, nó nhảy xuống xe ở Bến Nứa, ngay đầu cầu Long Biên.

Vẫn là cái bến xe ấy, nhưng lần này cảm giác của nó thật khác lạ.

Các lần trước đây, nó ra Hà Nội để đi học hay đi chơi nên thường chẳng chú ý gì đến quang cảnh xung quanh.

Lần này, "tay nải" trên vai, nó dáo dác quan sát tất cả, thấy bến xe dường như ồn ào và nhộn nhịp hơn.

Nó có cảm giác rất xa lạ khi phải đóng một vai đi tìm việc làm và sắp sửa bước chân gia nhập vào cái chốn đô hội hỗn độn này, một cảm giác cô độc khó tả . . . .

Trước tiên, nó phải tới nhà chị Dụng để ở nhờ tạm nhà chị trong thời gian đi tìm việc.

Nhà chị Dụng vẫn ở căn phòng tầng một nằm trong một biệt thự thời Pháp cổ tại 155 Bùi Thị Xuân.

Thực ra đây là căn phòng trệt của biệt thự, chỉ rộng 16 mét vuông và cao dưới 3 mét.

Cả nhà chị gồm hai anh chị, sáu đứa con và một người giúp việc, thêm nó nữa là mười người.

Vì nhà quá chật nên anh chị làm thêm một căn gác xép rộng 8 mét vuông, chiếm nửa căn phòng.

Từ ngoài đi vào, qua cửa là một bộ bàn ghế, rồi đến một khoảng trống dùng để trải chiếu ngồi ăn cơm, đồng thời cũng là chỗ ngủ của bốn đứa cháu gái vào ban đêm.

Tiếp đến là một cái tủ đứng và sát đó là giường ngủ của anh chị, kịch vào tường.

Cuối chân giường là một cái thang gỗ dựng đứng để làm lối lên gác xép.

Muốn lên gác xép phải chui qua một cái lỗ vuông, mỗi chiều chỉ có 60 phân.

Bên trên lỗ gác xép có một cái cửa gỗ gắn vào bản lề ở bên tường để có thể mở lên cho cửa áp vào tường mỗi khi lên xuống.

Lên rồi thì đóng cửa lại cho an toàn kẻo rơi qua lỗ mà sứt đầu mẻ trán.

Từ sàn gác xép lên đến trần nhà chỉ có 80 phân, ai mà dài lưng thì khi ngồi phải cúi khòm khòm.

Cho nên, tốt nhất đã lên gác xép là nằm luôn, ngồi làm chi cho mỏi.

Tối đến, đi ngủ, anh chị nó nằm với thằng út Dũng, bốn đứa cháu gái nằm đất, bà Ngà giúp việc với thằng cu Hùng và nó thì nằm gác xép.

Cả nhà chỉ có hai cái quạt "ba lăm đồng" (quạt con cóc) nên mấy nhân vật ngủ trên gác xép phải dùng quạt "ma-ri-nan".

Mùa hè, ở trên gác xép thì đúng là trong "Hỏa Lò", được cái may, tường "nhà Pháp" xây 40, cũng đỡ hấp nhiệt lúc ban ngày nên có thể chịu được.

Ở nhà chị Dụng được mấy tháng mà nó vẫn chưa tìm được việc làm.

Mãi rồi chị Dụng mới nhờ được một người họ hàng xin hộ việc cho nó.

Đó là ông Cầm, chú rể nó.

Lúc đó ông Cầm ở trong ban giám đốc của Sở Công Nghệp Hà Nội, phụ trách khối công nghiệp ngoài Quốc doanh.

Nó hỏi thăm đường đến nhà ông Cầm ở phố Tạ Hiện (mọi người hay gọi là Tạ Hiền).

Sau khi nó trình bày hoàn cảnh và nguyện vọng, ông đồng ý xin việc cho nó.

Đúng hẹn, sau vài ngày, ông Cầm dẫn nó đến một xưởng đúc nhôm của tư nhân.

Người chủ xưởng là anh Ngọt, nhà ở phố Bạch Mai, trên tầng hai của một ngôi biệt thự cổ.

Xưởng mà anh Ngọt thuê nằm trong một căn nhà cấp bốn, khung sắt mái tôn rất cao, đúng kiểu nhà xưởng.

Phần anh Ngọt thuê là một nửa căn nhà, rộng chừng 100 mét vuông.

Ở giữa xưởng là một lò lớn được xây bằng gạch chịu lửa cao 1,5 mét, đường kính lòng trong lò rộng khoảng 1 mét.

Đáy lò được ken bằng thép tròn phi 22, nằm cách nhau 5 cm.

Cửa lò bên dưới rộng 40x40 cm dùng để đốt củi khi nhóm lò và lấy sỉ than ra.

Chiếc nồi nấu rất lớn bằng thép có đường kính một mét, cao một mét đặt bên trên lò.

Miệng nồi có một cái mỏ rót trông như phần dưới của một cái mỏ chim.

Hai quai nồi bằng sắt được hàn chắc chắn vào thành nồi và được treo bởi dây xích sắt to, đu trên một cái ba lăng có thể di chuyển theo dàn thép ở phía trên.

Nhiệm vụ của nó và thằng Toán, một thằng cùng làm cũng trạc tuổi nó, là chọn nhặt nhôm phế thải, gang, mảnh đuya-ra (duralumin – từ tiếng Pháp – một loại hợp kim nhôm rất cứng và bền) của máy bay, trong một đống vật liệu do anh Ngọt mua về, cho vào trong nồi.

Sau đó hai thằng cùng hai người khác nữa vận chuyển các khuôn đúc nhôm đến đúng vị trí định sẵn gần lò nấu để sẵn sàng đổ nhôm nóng chảy vào.

Khuôn đúc được làm từ loại vật liệu gồm đất chịu lửa và cát, gọi là khuôn cát, thường gồm hai mảnh được ghép lại.

Thợ đốt lò phải điều khiển lửa để nấu chảy nhôm.

Thợ đúc có nhiệm vụ quan sát nồi nhôm.

Nhôm "chín" là một chất lỏng nóng sáng đỏ, sền sệt.

Khi đó thợ đúc sẽ điều khiển ba lăng di chuyển nồi hợp kim đến gần khuôn rồi nghiêng nồi, rót vào từng khuôn.

Cứ xong khuôn nào thì bê khuôn đó đi và đưa khuôn khác vào.

Hết một mẻ đúc thì được một dãy dài vài chục khuôn, chờ nguội để lấy phôi đúc ra.

Hết một mẻ nấu, lại cho nhôm nguyên liệu vào nấu mẻ khác.

Trong khi đó, phần khuôn đã đổ nguội dần.

Khi khuôn đã nguội, người ta tháo khuôn và lấy phôi đúc ra.

Những cái khuôn được vệ sinh sạch sẽ, lại cho vào xếp hàng chờ đổ đợt mới.

Dây chuyền cứ thế lặp đi lặp lại, nhịp nhàng và liên tục.

Hết việc chuẩn bị khuôn, nó và thằng Toán phải mang các phôi đúc đã nguội, đem bẻ hết ba-via (Bavure – từ tiếng Pháp – gờ, cạnh thừa của sản phẩm) và dũa cho sạch.

Phôi đúc nào bị khuyết lõm hay bị rỗ sẽ phải loại đi và cho vào lò nấu lại.

Nó làm thợ tiện

Làm phụ việc được ít lâu, thỉnh thoảng anh Ngọt cho thằng Toán và nó sang học tiện.

Các sản phẩm của cơ sở anh Ngọt là mâm nhôm, thau nhôm, xoong nhôm pha gang, pha kẽm tái sinh.

Đó là thứ nhôm tạp giòn chứ không dẻo như nhôm nguyên chất.

Để có thể thành thương phẩm, phôi đúc phải được tiện lại.

Công việc của thợ tiện trông thì có vẻ khó, nhưng khi nó làm thử thì thực sự không khó lắm.

Người làm cần khéo tay để có sản phẩm đẹp và cẩn thận để tránh xảy ra tai nạn lao động.

Các máy tiện ở cơ sở anh Ngọt đều là máy tự chế được thiết kế đơn sơ, tối giản nhất.

Khung và bệ máy được làm bằng thép "chữ V" hàn vào nhau, cao khoảng 1,2 mét, dài 1 mét, rộng 1 mét.

Mô tơ được đặt ở dưới cùng và được bắt bu lông vào khung máy.

Dây điện từ mô tơ được nối với cầu dao điều khiển đặt đúng tầm ở tay phải của người đứng tiện.

Đầu mô tơ được lắp pu-ly 3 cấp (poulie – từ tiếng Pháp – Trong chuyên môn cơ khí gọi là "bánh đai"), to nhỏ khác nhau để thay đổi tốc độ.

Một trục quay bằng thép, trên đó cũng được gắn pu-ly 3 cấp, được cố định ở phía trên khung máy để làm trục tiện.

Một dây curoa (dây đai) đơn mắc giữa hai pu-ly.

Để thay đổi dây đai từ cấp này sang cấp kia, người thợ phải gạt cần số có 3 nấc 1, 2, 3, dây đai sẽ nhảy theo ý muốn.

Mâm cặp dùng để cặp vật tiện được lắp vào trục quay.

Tuy nhiên, vì là máy tự chế nên mâm cặp này không tự định tâm.

Các lưỡi dao tiện được lắp trên bàn dao, còn bàn dao được gắn trên xe dao và có thể di chuyển vào-ra, phải-trái bằng tay quay hay thay đổi góc cắt của lưỡi dao tùy theo hình dạng và đường kính của vật tiện.

Việc đầu tiên của thợ tiện là lắp vật tiện.

Người thợ phải điều chỉnh sao cho trục của vật phải đồng trục với trục mâm cặp của máy tiện.

Đại để, thao tác rà dao tiện lên vật tiện cũng giống như "cân vành xe đạp" vậy.

Điều chỉnh xong, vật tiện được bắt chặt vào mâm cặp.

Nếu lắp vật tiện không đồng trục, khi tiện dao tiện sẽ gọt rất dầy ở một phía, rồi mãi sau mới gọt phía bên kia.

Kết thúc công đoạn tiện, tâm không nằm giữa sản phẩm, vật tiện xem như bỏ đi.

Học tiện được một thời gian ngắn thì anh Ngọt nhận thấy nó khéo tay và tiện rất tốt nên đã cho nó chuyển sang đứng máy tiện, một mình một máy.

Thằng Toán vẫn phải phụ việc ở bộ phận đúc, vừa độc hại vừa nặng nhọc mà lương lại thấp hơn nó.

Được đứng máy tiện, ăn lương theo sản phẩm nên thu nhập của nó cũng khá hơn trước.

Nó vui thích với công việc mới này, vừa nhẹ nhàng, vừa mang tính kỹ thuật.

Phôi tiện khi đưa vào thì sần sùi, màu ghi đen, xấu xí.

Nó đem lắp lên máy, quay thử, cà dao, thấy đã đồng tâm, nó bắt đầu tiện.

Đầu tiên là đưa dao tiện thô vào trước phá lớp ngoài sần sùi.

Bước thứ hai dùng dao "trung" rà bề mặt sản phẩm thì đã khá mịn rồi.

Bước thứ ba là dùng dao "tinh" lướt nhẹ và chính xác trên bề mặt sản phẩm để "lấy bóng".

Thao tác cuối cùng là cắt sản phẩm, các dường tiện là các vòng tròn cứ thu hẹp dần dần vào "tim" và kết thúc bằng một vòng tròn nhỏ xíu như đầu tăm.

Sản phẩm sau khi tiện bóng lọng, trông rất đẹp mắt.

Ngoài ra cũng phải kể đến việc mài dao và gá lắp dao cho đúng thì mới tiện tốt được.

Dao tiện bằng thép cứng, trông như một cái đục, chỗ mũi dao vênh lên chếch một góc 45 độ.

Bình thường một bộ dao gồm ba chiếc đại, trung, tiểu.

Mài dao tiện cũng khó như mài kéo thợ may và mài đục.

Nếu mài không khéo, chỉ vênh một chút khi tiện hiệu quả không cao, phải mài lại.

Tệ hơn nữa, mài đi mài lại, cuối cùng phải vứt dao đi.

Vài tháng sau nó thành thợ tiện giỏi, số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra tương đương với thợ cả làm lâu năm.

Anh Ngọt rất thích và quý nó lắm.

Làm thợ đánh bóng

Nó làm được một thời gian ở cơ sở của anh Ngọt thì một hôm ông Cầm xuống kiểm tra cơ sở thấy chỗ nó làm vừa nóng bức vừa độc hại, phải đi làm xa, mà lương lại thấp.

Ông Cầm xin cho nó chuyển sang làm ở một cơ sở khác.

Chỗ làm mới của nó ở Chợ Giời, chỉ cách nhà chị Dụng có hai cây số và cách nhà anh Bính nó có 200 mét.

Đó là một cơ sở mạ điện của anh Vĩnh.

Cơ sở của anh Vĩnh ở ngay tại nhà của anh nên có phần chật chội.

Công việc của cơ sở này là phục hồi các phụ tùng xe đạp.

Đùi, đĩa, ghi đông, pô-tăng, may-ơ, . . . cũ hỏng được hàn đắp lại, sửa nguội mài dũa cho phẳng phiu và đúng kích thước.

Cuối cùng đưa vào mạ kền và đánh bóng.

Vì nó có tay nghề tiện nên anh Vĩnh giao cho nó đứng máy đánh bóng.

Công việc này đối với nó rất nhẹ nhàng.

Cái máy đánh bóng rất đơn giản, chỉ gồm một cái mô tơ, dây cu-roa truyền lên một trục quay.

Đầu trục quay được lắp "phớt" là nhiều lớp vải bạt cắt hình tròn.

Nó chỉ việc bôi thuốc đánh bóng màu xanh lá cây (oxide đồng) vào phớt, đóng cầu dao cho máy chạy rồi tì sản phẩm đã mạ lên mặt phớt, đưa đi đưa lại.

Một lúc sau sản phẩm đã bóng loáng, ánh trắng xanh màu kim loại rất đẹp.

Một cái máy đánh bóng có hai đầu phớt để hai người có thể cùng làm việc.

Khi máy chạy, nó đứng một đầu, đầu khia là cái Thủy, cháu họ nó, con chị Nhàn.

Máy đánh bóng chạy rất êm và cũng ít bụi, hai chú cháu nó vừa làm vừa hát.

Công việc đơn giản thế nhưng lương lại khá hơn nên nó rất thích.

Mặc dù chỗ làm chỉ cách nhà anh Bính nó có 200 mét nhưng nó vẫn ở nhà chị Dụng.

Anh Bính biết nó làm ở đây mà không thấy anh nói gì nên nó "chả thèm".

Ban ngày đi làm, tối nó tranh thủ đến số 8 ngõ Trần Xuân Soạn học lớp ghi ta do anh Can dạy.

Sau này nó còn chơi thân với thằng Bình là em trai anh Can.

Một tuần nó học ghi ta vào ba buổi tối Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu.

Các buổi tối còn lại nó đi chơi tung tẩy với các bạn.

Dần dần nó có rất nhiều bạn ở hà Nội.

Đầu tiên phải kể đến thằng Trương, anh thằng Khóa bạn phố Sặt của nó.

Nhà thằng Trương ở Phó Đức Chính, dắt dây nó chơi với thằng Thanh, thằng Tiền và thằng Tuệ, cũng ở Phó Đức Chính.

Từ mấy đứa ở Phó Đức Chính, lại dắt dây tiếp mấy thằng Tuân, thằng Gia, thằng Đình, thằng Hai ở Yên Phụ.

Ở xung quanh chỗ ở của nó tại Bùi Thị Xuân thì nó chơi với đám thằng Chiên, thằng Thanh thợ may, cái Phúc, cái Anh Quỳnh, . . . .

Đúng là cuộc sống ở thành phố có nhiều bạn bè để mà chơi bời, lêu lổng.

Mấy đứa ở thành phố mỗi nhà một cảnh, mỗi đứa một kiểu, rất khác nhau nhưng đều có cái hay riêng.

Vả lại, Hà Nội đúng là rất nhiều chỗ để chơi, chán chỗ này thì đi chỗ khác.

Có buổi tối, chúng nó rong ruổi trên xe đạp đi từ hồ Tây ra hồ Gươm, rồi sang hồ Bảy Mẫu.

Có tối xem xi-nê ở rạp Công Nhân hoặc rạp Tháng Tám, ăn kem Bốn Mùa hay kem Bô-Đề-Ga, . . . .

Thế là ban đêm nó cũng làm thợ đánh bóng . . . mặt đường.

Đi làm, kể ra cũng có cái sướng của nó, là buổi tối và những ngày nghỉ được hoàn toàn tự do thoải mái, chẳng phải lo lắng học bài, thi cử, . . . .

Cuộc sống cứ thế mà trôi đi, rất thoải mái.

Gia đình Kiếm

Ở Hà Nội thì nó đã có sẵn hai thằng bạn từ ngày cùng lên Chùa Thày đi thi vào trường Mỹ Thuật với nó.

Đó là thằng Kiếm và Thằng Nam.

Kỳ thi ấy nó đau bụng bỏ thi, thằng Kiếm thi không đỗ, còn thằng Nam đỗ vào học hệ trung cấp.

Thằng Nam học ở khoa nội thất của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Công Nghiệp.

Thằng Kiếm bấy giờ cũng đi làm công nhân ở một hợp tác xã nhựa.

Nhà thằng Kiếm ở phố Cầu Đất, ngoài đê sông Hồng.

Đường Cầu Đất tuy rộng nhưng là đường đất, nườm nượp xe tải chở tre, nứa, vôi, cát, đá sỏi, . . . từ bến sông lên.

Về mùa mưa con đường rất lầy lội với ngoằn nghoèo, trầy trật những vệt bánh xe lún sâu đục ngầu bùn đất.

Còn vào mùa nắng con đường này thường xuyên bụi mù mịt.

Lớp bụi đường có chỗ dày đến hai chục phân, lội bộ trên đường, bột đất phùm phụp vọt lên bẩn hết hai bên ống quần.

Nhà Kiếm ở mặt con đường đó, mặt tiền rộng khoảng hơn 10 mét, một ngôi nhà chạy ngang dựng bằng tre, nứa, mái lợp lá cọ.

Tường nhà là các phên nứa, cửa trước, cửa sau và vách ngăn phòng cũng đều bằng tre nứa.

Trong nhà rất sáng và thoáng gió vì ánh sáng ngoài trời và gió cứ việc chui qua mọi chỗ trên vách nứa.

Nền nhà bằng đất dược đầm qua loa, xếp gạch đỏ chỗ có chỗ không.

Nhà Kiếm rất nghèo, đồ đạc tềnh toàng với hai cái giường và một cái bàn thờ, lại cũng bằng tre nốt.

Các cửa đều có "bản lề" bằng một vòng dây thép buộc vào cột.

Cửa giả chả cần phải khóa, đi đâu chỉ cần khép cửa, móc sợi dây thép vào cột tre là xong.

Phía sau nhà thằng Kiếm có một cái sân rộng vài chục mét vuông, có một hàng gạch nhỏ xếp dọc từ cửa tới một cái chum đựng nước đã sứt miệng.

Sát phía sau nhà, vẩy ra mấy mét vuông là một "nhà bếp" rất tạm bợ.

Phần còn lại của cái sân sau toàn là cỏ dại, lau lách.

Qua cái sân đó là bãi ngô rộng chạy tít suống tận mép sông.

Đồng ngô nghiêng ngả, xào xạc khua lá trong cái gió lồng lộng của sông Hồng.

Nó rất hay đến chơi nhà thằng Kiểm và thân với cả gia đình.

Thằng Kiếm có bốn chị em, chị cả đã đi lấy chồng, ở riêng.

Chị thứ hai là Trâm Anh, da ngăm đen, người lùn, khỏe khoắn và có duyên.

Nó quí chị Trâm Anh ở cái tính nết ân cần vui vẻ lại chăm chỉ.

Hàng ngày chị vẫn phải quầy quả gánh nước từ cái máy nước công cộng ở rất xa về đổ đầy cái chum sứt, rồi còn cơm nước cho cả nhà.

Nhiều lần nó đến chơi, chị còn nấu cả cơm nó.

Ấy là chị cũng rất bận vì hàng ngày phải đi làm.

Chị làm mậu dịch viên ở Cửa Hàng Bách Hóa 12 Bờ Hồ.

Thằng Kiếm là đứa thứ ba rồi đến thằng út là thằng Hiệp.

Mẹ thằng Kiếm là một người đàn bà cao, nét hơi thô, khắc khổ và không đẹp.

Trên gương mặt bà luôn ẩn chứa một nét buồn một cách nhẫn nại.

Bố thằng Kiếm là công nhân ở Đoàn Xe 12.

Nó đến nhà thằng Kiếm nhiều lần mà chỉ gặp ông duy nhất có một lần, mà ông cũng chỉ tạt qua nhà có một tí, đáp lại lời chào của nó ông cũng chỉ lạnh lùng gạt đầu rồi lại đi mất.

Nó chẳng dám hỏi, nhưng có lẽ bố mẹ thằng Kiếm không ở với nhau.

"Dấu bôi vôi" (*)

Trước khi "đi bê" (A, B, C và K dùng để chỉ miền Bắc, miền Nam, Lào và Căm Pu Chia) anh Bát nó được đơn vị cho về nghỉ phép một tháng.

Nó rất vui và nghĩ ngay đến việc phải làm việc gì đó cho anh Bát.

Nó bàn với thằng Kiếm giới thiệu anh Bát với chị Trâm Anh.

Thế là, một hôm, nó đèo anh Bát đi cùng nó đến chơi nhà thằng Kiếm, rình đúng lúc chị Trâm Anh có nhà.

Chả biết có phải "cái duyên Ông Trời se" hay không mà chỉ mới gặp nhau lần đầu anh chị có vẻ quấn quýt nhau lắm.

Rồi hai người bắt đầu hẹn hò, đưa đón, đi chơi riêng với nhau.

Đúng là lính chiến có khác, rất nhanh, gần một tháng sau, anh Bát đã đưa chị Trâm Anh về quê nó "ra mắt".

Đương nhiên dịp như thế thì nó và thằng Kiếm cũng phải về.

Vì đã về quê chơi phải ở đêm, chị Trâm Anh giữ ý nên phải rủ thêm cái Cúc Hoa, bạn thân cùng bán bách hóa với chị về cùng.

Mang tiếng là gái Hà Nội, nhưng chị Trâm Anh quen lam lũ, vất vả nên về quê nó chơi có mấy ngày mà chị cũng ra đồng gánh lúa, vớt bèo, băm rau, nấu cám lợn, . . .

Cả nhà nó ai cũng quý chị.

Tình yêu đẹp đẽ của anh Bát và chị Trâm Anh từng ngày, mật ngọt, cho đến ngày anh lên đường vào chiến trường.

Không biết sao mà anh chị lại không tổ chức đám cưới như nhiều anh bộ đội về tranh thủ lúc bấy giờ.

Những ngày sau đó, mặc dù anh Bát đã đi xa nhưng chị Trâm Anh và cái Cúc Hoa thỉnh thoảng vẫn về chơi, chả khác gì đã là dâu con trong nhà.

Chị vẫn giản dị, vui tươi, sống trách nhiệm "có trước có sau".

Mỗi lần chị về chơi, cả nhà nó đón chị như đón một người con của gia đình.

Ở nhà nó, ai cũng nghĩ, đến ngày anh được về, có thể chỉ là về tranh thủ thôi, thì anh chị sẽ làm đám cưới.

Lần nào chị Trâm Anh về chơi thì cũng có Cúc Hoa cùng đi.

Đó là một cô gái cao dong dỏng, da ngăm ngăm và nhiều hơn nó một tuổi.

Nhà Cúc Hoa ở ngõ Yên Thế, phố Nguyễn Thái Học, nơi có đường tàu điện chạy qua, hàng ngày đưa Cúc Hoa đi làm ở bến cuối cùng là bến Bờ Hồ.

Cúc Hoa thích đọc tiểu thuyết và rất yêu thơ.

Vài lần về nhà nó chơi, Cúc Hoa và nó trở nên thân nhau, hai người còn làm thơ phú tặng nhau.

Rồi nó chợt giật mình vì thấy "nguy hiểm quá !", Cúc Hoa có vẻ thích nó thật sự, mà nó thì không.

Vì thế nó luôn luôn giữ một tình bạn " ở khoảng cách an toàn".

Thời gian cứ dần trôi, đời người con gái đỏ mắt trông chờ đằng đẵng, biết có ngày nào . . . .

Những lần chị Trâm Anh về thăm nhà nó cứ thưa dần, thưa dần.

Rồi đến một ngày bẵng đi rất lâu, chị Trâm Anh không về chơi nữa, mà cũng không có thư từ tin tức gì.

Gia đình nó không hiểu thế nào ?!

Mới hay,

"Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé . . ."

Cái Cúc Hoa với nó vẫn chơi với nhau như bạn bè.

It lâu sau, cái Hoa yêu anh Mận, lớn hơn ba tuổi, nhà ở phố Hàng Bạc.

Sau đó hai năm nó được đi đám cưới của hai người.

(*) Thơ Hồ Xuân Hương:

" . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,

Ngàn năm khôn chuộc dấu bôi vôi"

Ăn chơi Hà Thành

Sau khi hiệp định Pa-Ri có hiệu lực, ở Hà Nội lúc bấy giờ không còn bị Mỹ đánh phá.

Người Hà Nội lại lục tục từ các nơi sơ tán trở về.

Cho dù hoàn cảnh kinh tế rất nhiều khó khăn nhưng thanh niên Hà Nội vẫn giữ cái nếp "ăn chơi" và tìm ra cái cách phù hợp để mà "ăn chơi".

Ừ thì còn đói, nhưng tại sao lại không chơi được nhỉ ?

Cứ vào chiều Thứ Bẩy và ngày Chủ Nhật, nam thanh nữ tú diện những bộ cánh kiểu cách mới nhất, tụ tập nhau thành từng hội đạp xe diễu phố.

Thường các đoàn nam hay nữ đi riêng, đạp xe lòng vòng quanh Bờ Hồ, các phố cổ hay xuôi xuống khu Ba Đình ra Hồ Tây – Đường Thanh Niên.

Rồi các đoàn "dzai" lượn lờ vây quanh các đoàn gái mà ngắm nghía, trêu trọc.

Cái cách diễu phố khoe mẽ và tán tỉnh ấy được gọi là "chậy tẩy".

Dân chạy tẩy được gọi là "lính tẩy".

Những con đường mà lính tẩy tấp nập lượn lờ như vậy được gọi là "phố tẩy đường nhựa".

Nếu có đoàn "dzai" nào đó dẻo mỏ mà cặp được với một đoàn gái thì chúng bắt đầu làm quen, tán tỉnh, phần nhiều chỉ để cho vui, gọi đơn giản là "cưa đường".

Ấy vậy mà cũng có trường hợp "cưa đường" mà thành đôi như vợ chồng Khải – Trâm, bạn nó.

Chạy tẩy thật là vui vẻ, coi như "xả su-páp" sau một tuần đi học hay đi làm vất vả.

Nó cũng thích trò này lắm và đua đòi theo các bạn, nhưng kẹt ở hai chỗ.

Một là, nó không có quần áo đẹp và đúng mốt.

Hai là, những đứa con gái khi biết nó là "Người Nhà Quê", đều lảng ra hết.

Cho nên, có những khi nó chỉ ước, giá như nó là "Người Hà Nội".

May thế nào mà nó lại chơi thân với thằng Hoành.

Nhà thằng này không phải giầu nhưng Hoành quý nó lắm.

Thấy nó không có quần áo tử tế, thằng Hoành cho nó một cái quần loe simili, một cái áo "lon" trắng cộc tay.

Nó rất biết ơn thằng Hoành vì như thế nó có thể theo đòi cùng chúng bạn.

Trong đầu nó tâm niệm, lúc nào đó, nó sẽ trả ơn.

Thế mà bao nhiêu năm rồi chẳng biết nhà thằng Hoành ở đâu, nó chỉ biết mang máng, hình như thằng Hoành ở khu tâp thể Trương Định, một khu quá rộng để nó có thể tìm thấy bạn.

Những từ lóng "lính tẩy", "lính nhẩy" (chuyên nhảy tầu điện), "lính mổ" (chuyên làm việc ở "Công Ty Hai Ngón" – tức là móc túi, ăn cắp), "bớp", "bóng" (gái điếm) là những từ mà dân "ăn chơi" "anh chị" thường sử dụng.

Trong đó lính nhảy là thành phần thường là các thanh niên thích chơi hay đua đòi.

Đám này không phải là đám "tệ nạn xã hội" và thường khi họ là những người đi tiên phong về mốt thời trang ở Hà Thành.

Trong mắt những người Hà Nội nghiêm túc, lính tẩy là những thanh niên đua đòi chứ không phải "con nhà lành" và có thể còn bị liệt vào diện không được tử tế cho lắm.

Sau ngày miền Nam giải phóng, thanh niên Hà Thành lại đuổi theo mốt lan ra từ Sài Thành, nhất là phong trào Hip-py (Hippy).

Phong trào Hippy là phong trào thanh niên khởi nguồn ở Mỹ từ đầu những năm sáu mươi, quay về với tự nhiên và chống đối chiến tranh.

Sau này trở thành một trào lưu về phong cách sống rời bỏ trật tự xã hội nghiêm khắc để được sống tự do, tự nhiên, bầy đoàn.

Hippy lan sang Sài Thành từ đầu những năm bảy mươi và bây giờ lan ra Hà Thành.

Tuy nhiên, thanh niên Hà Thành chỉ bắt chước Hippy về mặt hình thức, xem như một kiểu "ăn chơi" mới.

Cứ chiều các ngày cuối tuần, bọn Phó Đức Chính và Yên Phụ hay tụ họp nhau ở nhà thằng Gia.

Nhà thằng Gia rộng, có bếp riêng và đun lò than.

Chúng tự tạo lấy kìm uốn tóc bằng sắt phi 10, giống như một cái kéo, có chuôi dài quấn giẻ hoặc đút vào ống trúc làm tay cầm cho khỏi nóng.

Đoạn đầu để dài khoảng 25 phân gồm hai má.

Một má để nguyên sắt tròn, đầu mài tù, má còn lại đập dẹt, uốn lòng mo và ôm hờ vào má tròn.

Vài bốn cái kìm như thế thay nhau nướng trên lò than.

Chúng dùng các cái kìm nóng để uốn tóc cho nhau hoặc tự uốn lấy.

Đứa nào đứa nấy để tóc rất dài rồi uốn từng lọn cho tóc quăn, từ dưới lên, từ trong ra, thành nhiều lớp đuổi nhau, "ăn sóng", như tóc Tây, gọi là tóc Hippy.

Nhiều đứa khéo tay, uốn được những bộ tóc rất đẹp.

Tóc dài đi với quần loe là mốt lúc đó.

Tiêu chuẩn đánh giá "dân ăn chơi", nhà "Dzầu" là phải có cái quần ống loe bằng si-mi-li màu ghi đá, áo pô-pơ-lin pha ly lông màu trắng, hoặc là "trên lon - dưới téc" (áo nylon, quần tergal), chân đi dép nhựa trắng Tiền Phong, hoặc dép tông Thái màu xanh, túi đút bao thuốc Tam Đảo hay Đrao bao bạc, mắt đeo kính râm A-me-ri-cơn, đầu đội mũ cat-ket màu trắng, tay đeo đồng hồ Sen-kô (Seiko – đồng hồ Nhật) và đi xe đạp pơ-giô màu cá vàng.

Những trang phục như thế vừa là mốt ăn chơi Hà Thành vừa biểu hiện cái triết lý sống coi trọng vật chất.

Thời đó bài "ca dao" "Mười Yêu" rất phổ biến và có nhiều dị bản :

Một yêu anh có Sen-cô.

Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng.

Ba yêu lon, téc gọn gàng.

Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng Thủ Đô.

Năm yêu không có bà bô.

Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về.

Bảy yêu nhà cửa đề huề.

Tám yêu anh phải có nghề trong tay.

Chín yêu ví ních tiền đầy.

Mười yêu quan chức thì hay vô cùng.

Còn có câu trâm ngôn xanh rờn làm kim chỉ nam cho chị em phụ nữ : Đẹp trai đi bộ, không bằng mặt rỗ đi lơ.

Phong trào ăn chơi Hippy ngày càng lan rộng, chính quyền đã cử lực lượng công an và Thanh Niên Cờ Đỏ mở chiến dịch truy quét.

Họ đón lõng ở các góc phố hoặc quanh Bờ Hồ.

Hễ thấy nhóm thanh niên nào quần tuýp, quần loe, tóc dài thì bao vây bắt gọn.

Tóc dài thì được xử lý bằng một đường dũi tông đơ trắng phau từ gáy lên đỉnh đầu.

Quần tuýp, quần loe thì chỉ cần một đường kéo cắt chéo từ dưới lên đến gối, rồi cắt te tua cho cụt ống.

Xử lý xong, các chàng và các nàng được xếp hàng, dẫn đi dọc phố cho người đi đường chỉ chỏ, chê cười "để giáo dục".

Vụ này làm chúng nó rất sợ, lúc nào cũng phải len lén dè chừng.

Lính tẩy, thành ra, rất sợ Thanh Niên Cờ Đỏ, . . .

Ra dáng ông cậu

Làm ở cơ sở của anh Vĩnh dù lương không nhiều nhưng nó cũng đủ sống dư dả.

Nó vẫn ở nhà chị Dụng, trừ khoản tiền ăn uống nộp cho chị Dụng, nó chỉ giữ một phần nhỏ để tiêu vặt, còn đâu hàng tháng nó gửi về cho bu nó ở quê.

Con cả của chị Dụng là cháu Tuyết Văn, chỉ kém nó 3 tuổi.

Sau Tuyết Văn, cứ cách hai năm, chị Dụng lại sinh một cháu, sáu đứa tất cả.

Cháu Cương nhỏ nhất sinh năm 1969, là năm nó học lớp sơ cấp mỹ thuật dưới Sặt, thua nó 14 tuổi.

Nó là cậu ruột nhưng tuổi tác chênh nhau với lũ cháu không nhiều nên nó sống với các cháu vui vẻ như bạn bè.

Mặt khác nó vẫn làm oai ông cậu, lắm lúc khắt khe và giữ "kỷ cương" với các cháu ra trò.

Là ông cậu, nó hay đi họp phụ huynh cho các cháu, thay anh chị.

Một lần, thằng Hùng, cháu nó, nghịch ngợm thế nào mà để nhà trường và cô giáo gửi thư về nhà và mời phụ huynh đến gặp.

Nhận được thư của nhà trường, nó giận lắm.

Nó bắt thằng Hùng quỳ xuống, quay mặt vào tường.

Rồi nó lấy lá thư đem dán vào tường, ngang tầm mắt thằng Hùng.

Nó bắt thằng Hùng vừa quỳ vừa phải đọc bức thư cho đến khi thuộc lòng mới được ăn cơm.

Ngay sau đó, nó giục bà Ngà dọn cơm ngay bên cạnh thằng Hùng, cả nhà ăn uống vui vẻ.

Thằng Hùng rất sợ, phải quỳ nguyên tại chỗ, không dám ho he gì.

Cả nhà ăn uống mà thằng cháu không được ăn, lại phải quỳ thì nó cũng thấy xót ruột.

Nhưng nó làm mặt lạnh, tỉnh bơ, cương quyết không thay lời.

Ăn cơm xong, nó đứng dậy bước ra cửa, vẫy riêng cái Tuyết Văn theo và bảo nhỏ :

- Cậu sang nhà chú Chuyến, mày ở nhà cho thằng Hùng nó ăn cơm.

Xong,

dọn mâm bát ra ngoài sân, giả vờ hát to một câu, cậu nghe tiếng cậu về.

Dặn cái Văn xong, nó lững thững sang nhà anh Chuyến.

Nhà anh Chuyến ở số 157, ngay sát bên cạnh, chỉ cách bức tường xây cao mét tám.

Nó ngồi uống nước và chơi ghi ta cùng anh Chuyến.

Ở bên kia, thằng Hùng ăn cơm xong, Tuyết Văn dọn mâm ra sân, vừa rửa bát vừa hát.

Nó biết ý, lại lững thững đi về.

Vừa đi nó vừa cố tình hát to, đánh động cho thằng Hùng.

Qua cửa sổ, nó thấy thằng Hùng đang uống vội hớp nước, rồi hối hả chạy về chỗ, lại quỳ xuống như chưa có gì xẩy ra.

Nó chẳng nói năng gì, trèo lên gác xép ngồi đọc truyện.

Một giờ sau quay xuống, nó vẫn thấy thằng cháu đang quỳ, mắt lim dim ngủ.

Nó xuống khỏi gác xép, gọi thằng cháu ra, bắt xin lỗi, bắt hứa và làm kiểm điểm, rồi nó mới tha.

Sáu đứa cháu cộng với nó là bảy, vừa hay tuần có bảy ngày, nên nó làm một cái đồng hồ trực nhật.

Thằng Cương bé quá, nó tha.

Bảy ô đồng hồ thì năm ô là năm đứa cháu, một ô tên nó và một ô là bà Ngà.

Cái kim đồng hồ cứ lần lượt quay từ tên này sang tên khác theo ngày, đến tên ai, người đó phải trực nhật.

Nhiệm vụ trực nhật là lau nhà, xách nước, chẻ củi, rửa bát, giặt quần áo.

Kỷ luật duy trì rất nghiêm.

Mỗi tháng một lần cả nhà, kể cả anh chị, phải ngồi họp để rút kinh nghiệm, phê và tự phê.

Ai làm tốt được khen, ai làm không tốt bị chê.

Anh chị nó có gì không phải, nó và các cháu phản ánh, anh chị phải tiếp thu và sửa chữa.

Cái Văn bấy giờ đã 17 tuổi đang học lớp 10 (cuối cấp III).

Tuyết Văn rất xinh gái nên các bạn của cháu đại đa số là những đứa xinh như cái Nga, cái Trâm, cái Dung, vài đứa nữa, bây giờ nó không còn nhớ tên.

Tiếc thay cả lũ bạn cái Văn toàn gọi nó là cậu, xưng cháu.

Có khi nó thích một đứa nào trong số đó, xong lại ngại không dám tỏ thái độ, mà vẫn phải làm mặt bề trên.

Cậu mà lỵ . . . . !

Tình đầu

Nó hay đến chơi nhà Cúc Hoa ở ngõ Yên Thế.

Cúc Hoa có đứa em gái là cái Hợi, kém nó bốn tuổi, đang học lớp 9 (lớp giữa cấp III).

Khác với Cúc Hoa, cái Hợi không cao, chỉ tầm thước, nhưng da trắng, phải nói là rất trắng, môi lại đỏ nữa.

Đang tuổi dậy thì, nên càng nhìn con bé, nó càng thấy cái Hợi đẹp.

Nó bắt đầu thích cái Hợi rồi dần dần rất thích Hợi lúc nào không hay.

Nhưng nó không dám tỏ thái độ gì.

Thỉnh thoảng nó tới chơi, cho Hợi mượn sách hoặc mượn sách của Hợi.

Có nhiều lần nó chép vài bài thơ hay, nắn nót kẹp vào sách mà đưa cho Hợi.

Rồi, nó cảm thấy càng ngày Hợi càng tỏ ra có cảm tình với nó, mà có lẽ thích nó rồi cũng nên ?!

Nó mừng lắm nhưng "mặt ngoài còn e".

Con đường đến nhà Hợi nó đã quen, cứ mỗi lần đạp xe đến gần là nó cảm thấy hồi hộp và bồn chồn biết bao.

Cái ngõ Yên Thế là một con đường rải đá.

Hai bên đầu ngõ là hai cái biệt thự kiểu Pháp rất đẹp, quay mặt ra phố Nguyễn Thái Học nhưng lại có lối đi riêng trong ngõ.

Phía trong ngõ còn mấy cái biệt thự nữa, cũng rất đẹp và um tùm cây cối.

Gần ngay đầu ngõ là một cửa hàng bán chất đốt, mấy cái téc dầu hỏa nằm chình ình chắn mất một phần lối đi.

Nhiều khi lối đi bị chặn gần hết bởi rồng rắn can thùng và người xếp hàng mua dầu.

Vậy mà sao nó thấy cái ngõ này rất đẹp, với những bóng cây rợp mát xòa ra từ những ngôi biệt thự.

Một cái đẹp của ngõ nhỏ Hà Nội thời Pháp thuộc, lặng lẽ, thanh bình và thơ mộng.

Có lúc Cúc Hoa đã tỏ ra thích nó, nhưng bây giờ nàng đã yêu anh Mận, nên việc nó thích em gái nàng lại làm cho nàng thêm quý và coi là chỗ tin tưởng được.

Bố mẹ Hợi đã nhiều lần gặp nó.

Họ cũng thấy, thằng bé tuy có hơi "nhỏ con" một chút, nhưng trắng trẻo, môi đỏ, trông cũng thư sinh, hiền lành.

Cu cậu tỏ ra có lễ phép, tính tình cũng dễ chịu, lại có công ăn việc làm ổn định.

Vì vậy bố mẹ Hợi dần dà quý nó như con và rất yên tâm.

Mùa hè năm ấy Hợi được nghỉ hè hết lớp 9.

Nó nghĩ rằng phải tạo ra cơ hội để nó có thể ngỏ lời với Hợi.

Nó đến nhà chơi và mạnh dạn rủ em về quê nó chơi.

Thực ra trong lòng nó cũng không có nhiều hy vọng được em đồng ý.

Dù thế nào đi nữa, thì cũng coi như một ý kiến thăm dò để xem em phản ứng thế nào.

Nó không thể ngờ em lại vui vẻ đồng ý ngay, chỉ băn khoăn :

- Em chỉ sợ bố mẹ không đồng ý cho em đi chơi xa.

Mà, có khi anh thử xin phép bố mẹ xem, chứ em mà xin đi, chắc khó.

Tuy chưa xin phép bố mẹ em, nhưng nó và em lên kế hoạch và chuẩn bị đi chơi nhà nó rất kỹ.

Em còn lo chuẩn bị túi du lịch và thu xếp chọn quần áo và các thứ lặt vặt khác để đi chơi.

Để thăm dò bố mẹ em, nó kể chuyện về quê hương nó, kể tỉ mỉ từng người nhà nó ở quê.

Nó thấy bố mẹ em rất chăm chú nghe và bắt chuyện rất vui vẻ.

Mấy hôm sau đó, nó đến chơi nhà em.

Lựa lúc cả nhà đang vui vẻ, nó đứng đậy, tỏ thái độ rất nghiêm túc và rụt rè :

- Thưa hai bác !

Mấy hôm nữa cháu về nhà thăm thầy bu cháu ở quê, . . . .

Ưh . . . .

Ưh . . . .

- Có gì cháu cứ nói đi. – Bố em tươi cười gợi mở.

- Phải đấy, có gì con cứ nói. – Mẹ em nói hùa thêm.

- Dạ, vâng !

Cháu cũng xin mạnh dạn thưa hai bác, dịp này cũng là dịp nghỉ hè của em Hợi.

Cháu xin

phép hai bác cho phép em Hợi cùng cháu về quê, gọi là biết nhà biết cửa . . . .

Vừa nói, nó vừa chăm chú nhìn bố mẹ Hợi.

Chợt thấy ông bà khựng đứng, nét mặt đang tươi cười giãn nở, bỗng cau lại.

Nó chợt nghĩ, thôi chết, hỏng rồi.

Nghĩ vậy, nó vội nói thêm :

- Nhà cháu thì Cúc Hoa cũng đã về nhiều lần rồi, cháu và nhà cháu như nào, chắc Cúc Hoa cũng đã

nói chuyện với hai bác, đường đi cũng không xa lắm . . . .

Nó thấy bố mẹ em đưa mắt nhìn nhau, . . . rồi bố em hỏi :

- Thế hai đứa định đi thế nào ?

Nghe bố em hỏi thế, trong lòng nó như có trống rung cờ mở.

Vậy là các cụ đã đồng ý rồi, thật là vui quá, nó chỉ muốn nhảy cẫng lên.

Nó từ tốn nói :

- Thưa hai bác, cháu định đi bằng xe đạp ạ !

Có ba mươi cây số, chỉ đạp hai tiếng là đên nơi.

Đi xe

hàng thì đông lắm, chen chúc vất vả và phải chờ đợi ở bến xe cũng rất lâu ạ !

- Thôi được, hai đứa phải đi cẩn thận đấy !

Cái đường năm là nhiều ô tô lắm.

- Dạ vâng ạ !

Về sau này nó mới biết, em đã nói chuyện với Cúc Hoa và nhờ chị gái nói trước với bố mẹ rồi.

Chắc hai cụ cũng rất yên tâm mới dễ dàng cho phép nó đưa em đi chơi xa như vậy.

Tình đầu . . .

Đó là vào một buổi sáng Chủ Nhật, được bố mẹ em cho phép, cả em và nó đều vui lắm.

Em vui chẳng những vì kết quả học tập cuối năm rất tốt và còn vui hơn vì đây là lần đầu tiên em được đi chơi xa.

Mười sáu tuổi, em vui vẻ, hồn nhiên, mơ mộng và trong sáng như con chim non.

Ngay chiều hôm đó nó đèo em qua Bùi Thị Xuân để báo với anh chị và các cháu nó đi về quê mấy ngày.

Trên cái xe Phượng Hoàng xích hộp màu cánh chả, nó cứ thong thả đạp.

Trên đường đi, em phấn khởi, tíu tít hỏi nó đủ thứ vì cái gì đối với em cũng lạ.

Đây là lần đầu tiên em được về nông thôn, cũng là lần đầu được đi chơi tự do không có bố mẹ.

Nhưng có lẽ em vui một thì nó vui mười.

Em đã đồng ý đi chơi riêng với nó như thế này, nó cầm chắc là em cũng yêu nó rồi.

Nó yêu em và muốn có em thì nó phải mạnh dạn lên.

Nó chờ cơ hội để "Tass Được Quyền Tuyên Bố" (tên một bộ phim của Liên Xô, rất nổi tiếng) là nó sẽ có em trong vòng tay . . . .

Chiều tà mùa hè tuy trời còn nắng nhưng gió lồng lộng thổi nên rất mát mẻ.

Dọc hai bên đường, những cánh đồng lúa chín vàng ươm, nhấp nhô trên đồng những người nông dân đang thu hái vụ mùa.

Lúa gặt xong chất đầy ở hai bên đường năm, có những chú bò đang gò lưng kéo xe lúa nặng, mấy chị nông dân chân đi đất, quấn sà cạp vàng nâu mầu nước ruộng, móng chân cũng vàng nâu, đang cong mông đẩy xe hỗ trợ cho bò.

Đây đó, có những xe chưa xếp xong lúa, lũ bò, con nằm, con đứng dưới gốc cây ung dung gặm cỏ.

Xa xa trong những thửa ruộng đã gặt xong, một lũ trẻ trâu đang hô nhau bắt chuột, người chạy chó sủa kêu nhặng xị, inh ỏi.

Lác đác vài con cò trắng dạn người, con thì đậu trên lưng trâu, con thì lững thững đi trên ruộng lúa bắt tép.

Khi người tới gần chúng vỗ cánh phành phạch bay lên, chao nghiêng, chao ngả vài cái rồi lại xà xuống ruộng.

Phía xa xa là xóm làng với những rặng tre mờ ảo trong khói lam chiều tỏa phủ trên các mái rạ ẩn hiện yên bình.

Vút trên trời xanh, giữa làn mây trắng, vài cánh diều chao liệng trên thinh không, tiếng sáo diều da diết, dìu dặt, lúc gần lúc xa theo gió.

Cảnh sắc thanh bình, lòng người man mác, cảm xúc dâng trào.

Bỗng nhiên nó đạp xe chậm lại, chẳng muốn đi nhanh, sợ sớm trôi qua những giây phút bảng lảng thăng hoa tuyệt vời.

Hai tay Hợi đang bám vào sườn nó đột nhiên bấu nhẹ :

- Anh ơi !

Hoàng hôn đẹp quá !

Dừng lại đi anh.

Nó rẽ xe vào một con đường có rặng phi lao cao vút, dẫn tới một làng nào đó.

Nó cứ từ từ đạp xe trên con đường đất phủ dầy cỏ úa mùa hè.

Rồi nó chọn một gốc cây sạch và dừng xe lại.

Nó dựng xe vào gốc cây, hai đứa ngồi xuống thảm cỏ.

Phía đằng tây, Mặt Trời đang lặn hắt ánh sáng màu cá vàng lên không trung.

Vài đám mây màu ghi trắng nhấp nhô, cuồn cuộn được mặt trời luồn tia nắng phía sau vẽ lên một đường viền ở trên vàng rực hình lưỡi trai.

Tít mờ xa, núi nhấp nhô mầu xanh nhạt nhòa vào chân mây hồng tím ngằn ngặt.

Gió đồng lồng lộng thổi, mát rượi.

Những người nông dân làm đồng dần dần về hết, không gian tĩnh lặng, rỉ rả đâu đó cất lên tiếng ri ri, khúc ca bất tận của loài dế.

Hai đứa không nói năng gì, em nhẹ nhàng ngồi xích vào nó, nó đưa tay lần tìm tay em.

Nó nắm lấy bàn tay em, run run.

Em cứ để yên tay trong tay nó và xích lại vào gần nó hơn nữa, . . . .

Nó nắm lấy bàn tay em, run run.

Em cứ để yên tay trong tay nó và xích lại vào gần nó hơn nữa, . . . .

Hợi thì thầm, giọng rung rung cảm động :

- Đẹp quá !

Ở Hà Nội không bao giờ có cảnh này.

Đây là lần đầu tiên em được ngắm nhìn hoàng hôn ở quê đấy.

Cám ơn anh !

Trong lòng lâng lâng sung sướng, giọng nó cũng run run, ngọt ngào :

- Anh cảm ơn em mới phải.

Có em hoàng hôn hôm nay mới đẹp thế đấy !

Em quay mặt nhìn thẳng vào mắt nó, nàng đưa bàn tay còn lại béo má nó :

- Trăng đã lên đâu mà sao "Chú Cuội" đã nhảy ra sớm thế ?

Anh đừng có tán dóc nhé !

Mặt em ở gần sát với mặt nó, mắt em đang soi vào mắt nó.

Nụ cười của em như bông hoa hé nở với hàm răng trắng nhỏ đều tăm tắp và làn môi đỏ lịm ngọt ngào, chờ đợi . . . .

Bất thần nó quàng tay, ôm lấy đầu em, kéo lại gần.

Không biết từ đâu đó, một sức mạnh nào đã cuốn đẩy, không thể cưỡng lại, môi nó từ từ chạm vào môi em.

Một cảm giác rạo rực, mãnh liệt, chưa từng thấy làm cho hai đứa run bắn lên.

Đây là nụ hôn đầu tiên của cả hai đứa và cũng là mối tình đầu của của cả hai.

Nó cảm nhận được cơ thể của người thiếu nữ đang ở trong tay nó dường như lả đi trong hơi thở hổn hển :

- Anh Thập, . . . .

Anh . . . .

Em yêu anh !

- Hợi . . . .

Anh yêu em . . . . !

Khi hai đứa về đến nhà thì trời đã tối.

Cả bố mẹ và các anh chị nó đều rất mừng.

Mọi người đón mừng em tíu tít như đón một người con đi xa về, không có một chút khoảng cách hay lễ nghi.

Điều đó làm cho em cảm thấy gần gũi ấm cúng, không còn cảm thấy lo sợ gì nữa.

Trong bữa cơm tối, cả nhà vui vẻ hỏi chuyện em, thôi thì đủ thứ, từ hỏi thăm bố mẹ, gia đình đến việc học hành của em, . . . .

Em cũng bắt chước nó gọi thày u rất tự nhiên, cả nhà nó chỉ tủm tỉm cười cười và nghe em nói chuyện.

Đêm đó nó vẫn ngủ với thầy nó như mọi khi, còn em thì ngủ với bu.

Hôm sau là Thứ Hai, nó đèo Hợi xuống Sặt chơi với các bạn.

Trong đám con gái, có một hai đứa dường như có tình ý gì với nó nên không được vui.

Những đứa con gái khác và nhất là lũ bạn trai thì vui lắm.

Chúng nó cứ xâu vào hỏi chuyện và ngắm nghía em.

Con gái Hà Nội có khác, người thì rõ xinh, ăn nói lại lễ độ, rất gần gũi chứ không điệu đà kiểu cách.

Thằng Thập này đúng là gặp may, sướng thật !

Trưa hôm đó nó và em ăn cơm nhà thằng Khóa, thì lại đúng là bữa cơm liên hoan tiễn thằng Khóa đi bộ đội.

Bữa liên hoan rất đông họ hàng và bạn bè thằng Khóa.

Nó thấy thật may mắn, vô tình về chơi lại đúng dịp tiễn bạn đi bộ đội.

Cơm xong, Khóa rủ cả hội vào nhà thờ chơi và chụp ảnh kỷ niệm.

Cả hội rất đông bạn bè di chuyển khắp phố Sặt, vừa đi vừa nói chuyện ầm ĩ rất vui vẻ, chỗ nào cảnh đẹp thì dừng lại chụp ảnh.

Buổi chiều hôm đó, cả hội lại kéo lên nhà nó, sang bưu điện chụp ảnh chung.

Rồi hứng chí, rình lúc không có ô tô chạy qua, cả lũ đứng giăng hàng trên đường Năm để chụp một "pô".

Tấm ảnh này em cũng đứng cạnh nó, tóc em tung bay trong gió, trông rất đẹp.

Cả hội bạn bè ăn cơm tối ở nhà nó vui vẻ lắm.

Mãi đến chín giờ tối, lũ bạn nó mới đèo nhau trở về Sặt.

Sáng thứ Tư, nó và em qua tiễn Thằng Khóa đi bộ đội trong "Lễ Giao Quân" ở phố Sặt.

Sau đó nó đèo em về Hà Nội.

Trong lòng tràn ngập niềm vui và hạnh phúc.

Thằng Trương

Thằng Trương càng lớn càng đẹp, chẳng những mặt đẹp, thằng này lại cao, cân đối.

Cơ thể thằng này lại rắn chắc vì nó học võ từ nhỏ.

Đặc biệt thằng Trương tán gái thì dẻo mỏ lắm, "thôi rồi !".

Mười đứa con gái chơi với nó thì chín đứa "chết".

Mà cũng phải, thằng này đã đẹp trai, vui tính, ăn nói giỏi, biết vẽ, biết chơi ghi ta, lại con nhà giầu Hà Nội gốc.

Ở Hà Nội, nó vẫn giấu tiệt nó đã có Hợi là người yêu, chưa công khai với bạn bè, trừ thằng Kiếm và thằng Trương.

Thỉnh thoảng nó cũng đưa Hợi đi chơi cùng với Thằng Trương nhưng cũng chỉ là thỉnh thoảng.

Thằng Trương thay người yêu như thay áo, không biết đâu mà lần, không khéo thì em lại tưởng nó cũng giống thằng bạn thì nguy.

Thằng Trương rất vui tính và hay cầm chòm những trò quậy phá.

Nhiều trò quậy của nó rất quá đáng nhưng không thể nhịn cười được mà cũng không thể quên được những chuyện nó "nghịch đểu".

Chuyện tôi sắp kể dưới đây là một chuyện như vậy.

Thằng Trương có biệt tài đánh rắm "tùy biến", nghe như thật.

Nó lại hay dùng cái biệt tài ấy để trêu ghẹo các cô gái.

Đi trên đường Thanh Niên(*), chọn những đôi trai gái yêu nhau đang đạp xe đèo nhau đủng đỉnh hóng gió ngắm hồ Tây, thằng Trương đi sát lại, mặt tỉnh bơ, nó thả ra vài tiếng rắm rõ to.

Đôi kia thấy "chuối quá" nhưng chẳng biết làm thế nào, đạp xe nhanh lên cũng bị bám nó mà đạp chậm lại cũng vẫn bị bám.

Chốc chốc, thằng Trương lại "nhả đạn", mặt thì nhìn đi nơi khác, cứ tỉnh bơ, "ngơ ngơ như bò đội nón".

Chúng nó đi sau nhịn không được, bật cười ồ lên cả lũ, làm cho đôi trai gái kia xấu hổ mà phải xuống xe dắt bộ vào vỉa hè, chờ cả lũ đi qua mới dám đi tiếp.

Một lần, cả lũ đạp xe về quê nó chơi.

Khi tới chợ Đường Cái, cả bọn dừng lại nghỉ, vào uống nước ở một quán ven đường.

Thằng Trương chọn ngồi cạnh một cụ già râu tóc bạc phơ, cũng đang ngồi nghỉ.

Chờ cho cụ vê thuốc lào, tra vào nõ và chuẩn bị mồi lửa để hút, hắn giả vờ đánh rắm, kiểu "rắm xịt", kêu "i i ỉ . . . ."

Hắn quay sang nhìn cụ già, nét mặt có vẻ khó chịu lắm.

Cụ già không nói gì, lừ lừ nhìn nó, cụ châm đóm khác định hút thì hắn lại "i....i....ỉ" một tràng.

Lần này nó quay hẳn người nhìn cụ già hằn học hơn và ngồi dịch ra xa cụ một tí.

Mọi người trong quán ai cũng tưởng là cụ đã "thả bom" nên đều nhìn chăm chú vào cụ.

Lần thứ ba, cụ chuẩn bị hút thì hắn đánh "rắm nổ" "bủm ....ủm ....ủm".

Cụ già hết chịu nổi, vứt toẹt cái đóm không hút nữa, đứng dậy chửi đổng :

- Tiên sư chúng nó chứ . . . . !

Cả quán nước cười ầm lên, chẳng biết đổ lỗi cho ai.

Nhưng đúng là thằng Trương đã nghịch hơi quá "trẻ không tha, già không thương".

Một hôm, theo lệ thường vào chiều Thứ Bảy, cả lũ kéo lên nhà thằng Trương.

Chúng tụ tập nhau ở vỉa hè, gần cửa nhà thằng Trương.

Thằng Trương còn eo éo gọi thêm thằng Thanh và thằng Tuệ hàng xóm xuống đi chơi cùng, hơn chục đứa cả thảy.

Bỗng nhiên thằng Trương nhìn thấy bà bán kem đang đi tới, nó liền vẫy tay.

Chờ cho bà bán kem dừng lại, nó hỏi :

- Kem ngon không u ơi ?

- Kem cốm Thủy Tạ đơi, hai hào một chiếc.

- Kem còn "nóng giòn" không u ?

- U vừa mới lấy vẫn còn đầy hai phích đơi.

Thằng Trương lấy cho mỗi đứa 2 que, mình thằng Trương cầm 5 que.

Không biết hôm nay thằng này "trúng quả" gì mà "sộp" thế?!

Kem Cốm Thủy Tạ đúng là ngon thật.

Cả bọn vừa cắn vừa mút, vị ngon, vị ngọt, ngọt "lịm từ tim đến tận ót".

Chừng mỗi đứa đã chén xong môt chiếc, bỗng thằng Trương quay mặt về phía nhà hắn và gióng lên rất to :

- Dạ . . . . !

Con về ngay đây ạ . . . . !

Nói xong, thằng Trương bỏ chạy vào nhà nó.

Cả bọn cứ ngớ ra vì bà bán kem cứ nhè chúng nó mà đòi tiền.

Cả bọn đành móc túi, chung tiền mà trả, vừa buồn cười, vừa tức.

Nào có ai nghe thấy bố mẹ thằng Trương gọi gì đâu, thằng ôn này làm trò "ăn không" của chúng 5 que kem.

Tuy nghịch ngợm thế nhưng thằng Trương rất tốt với bạn bè.

Thường, mỗi lần nó lên chơi, thằng Trương nhìn thấy đều lôi về nhà hắn, có khi chui lên gác xép, pha trà ngồi uống và tâm sự đủ chuyện.

Hôm đó, nó đang chuẩn bị đạp xe từ quê ra Hà Nội, trời thì nắng chói chang, không khí oi nồng, nóng bức làm nó dùng dằng chưa muốn đi ngay.

Bỗng có một chiếc ô tô tải dừng lại nghỉ ở gốc bàng trước cửa nhà nó.

Cơ hội tốt đây, nó ra làm quen với anh lái xe và xin được anh cho đi nhờ.

Vứt cái xe đạp lên thùng xong, nó chạy vào nhà để lấy quần áo thì ở bên ngoài, anh lái xe tưởng nó đã lên thùng rồi, nổ máy lao vút xe đi mất.

Ra đến nơi, nó vội chạy theo gọi rất to nhưng anh lái xe không còn nghe thấy nữa, cái xe đã ở quá xa.

Thời điểm đó Mỹ vẫn còn đánh phá, nên chiếc xe phủ đầy lá ngụy trang, biển xe có bốn số ở hàng dưới, nó chỉ đọc được ba số cuối và thêm một số cuối hàng trên.

Đó là một chiếc xe IFA-W50.

Sau đó một tiếng nó mới bắt được xe khách đuổi theo.

Rượt đuổi thì coi như vô vọng rồi.

Thôi !

Thế là mất toi cái xe.

Tối hôm đó, nó đến nhà thằng Trương và kể lại chuyện mất xe.

Thằng Trương bảo nó :

- "Còn nước còn tát", mai tao với mày đi tìm.

Sáng hôm sau, Trương lấy xe Favorite đèo nó đi hỏi quanh khắp thành phố, cứ ở đâu có đoàn xe IFA là tìm vào.

Với số xe không đầy đủ mà nó ghi lại được, cả một ngày tìm vất vả trong vô vọng.

Chán nản và mệt mỏi, chiều muộn, hai thằng vào một đoàn xe ở quãng trên Nhật Tân.

Đang chả hy vọng gì thì anh đội trưởng khẳng định xe đó là của đơn vị anh.

Nhưng chiếc xe đó đang tập kết trả hàng ở Cầu Bươu.

Hai thằng bán tín bán nghi, không biết có thật hay không.

Mà Cầu Bươu, phải đi qua Văn Điển, rồi rẽ phải dăm bảy cây nữa.

Suốt từ sáng đến giờ dãi nắng, gò lưng đèo nhau đi khắp thành phố, bây giờ lại phải đi hai chục cây nữa.

Thật là oải quá !

Nhưng thằng Trương vẫn rất nhiệt tình :

- Đi suốt từ sáng đến giờ, bây giờ có tin tức thế này là tốt lắm rồi.

Đừng có bỏ cuộc !

Thằng Trương đèo nó xuống tới nơi thì trời đã tối.

May sao nó nhận ra ngay chiếc xe IFA hôm qua đang nằm đó, chờ được bốc hàng.

Nó vội trèo lên thùng thì thấy chiếc xe đạp của nó vẫn nằm nguyên đó.

Mừng quá, hai thằng vội chạy vào lán tìm anh lái xe để xin lại cái xe đạp.

Anh lái xe cười hì hì bảo nó :

- Tao tưởng mày lên rồi mới chạy.

Nào ngờ về đến đây mới biết mày chưa lên.

May đấy, sáng mai xe tao đi Quảng Bình thì chẳng biết bao giờ mới trả được xe cho mày.

Nhờ có thằng Trương nhiệt tình và thông thạo Hà Nội, tôi mới tìm lại được chiếc xe đạp.

Thời bấy giờ xe đạp là một tài sản có giá trị lớn.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

(*) Đường Thanh Niên chạy giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch.

Tối Thứ Bẩy, các đôi nam nữ thường ra khu vực này "tâm sự".

Những mảnh ghép sống

Mảnh ghép thứ nhất

Ở quê nó, sau khi thằng Khóa đi bộ đội, lại có những đợt tuyển quân khác, thanh niên cả làng gần như vãn hết.

Ở Hà Nội thì thằng Kiếm cũng nhập ngũ, sau thằng Khóa một tháng.

Tiễn Kiếm đi bộ đội mà trong lòng nó rất buồn.

Hai đêm nó ngủ nhà Kiếm thì trắng hai đêm hai thằng thức nói chuyện.

Tối hôm trước khi Kiếm đi, có mấy anh thích và theo đuổi chị Trâm Anh (chị gái Kiếm) cũng đến chơi và tặng quà Kiếm.

Trước mặt khách khứa bạn bè, thằng Kiếm không nói gì, hắn bấm tay nó và kéo nó ra cửa đứng đợi.

Không biết thằng này định làm gì thế.

Ừ thì anh Bát nó và chị Trâm Anh đã yêu nhau, còn người ta thích người ta đến thì mặc kệ họ chứ có sao đâu.

Thằng Kiếm kéo nó ra đứng nấp ở gốc cây gần nhà.

Đợi chị Trâm Anh tiễn bạn xong quay vào nhà, Thằng Kiếm nhảy ra chặn đường mấy anh chàng kia.

Tay trái hắn đưa gói quà trả lại, tay phải thì giơ dao bầu lên, mặt hắn đanh lại, gằn giọng :

- Tôi trả lại các anh quà, cảm ơn tôi không cần.

Nhưng tôi báo cho các anh biết, chị tôi có người yêu rồi,

đó là anh thằng này.

- Kiếm chỉ vào nó và nói tiếp - Tôi cấm các anh được mon men tán tỉnh.

Lần này

tôi tha, lần sau đừng trách!

Ba anh kia mặt cắt không còn hột máu.

Nhìn thằng Kiếm to cao lừng lũng, đen xì xì, tóc quoăn tít, mắt trợn ngược, đến "bố thằng Tây" cũng phải "vãi đái".

Ồ !

Bây giờ nó mới biết "bản lĩnh" thằng bạn.

Nó vừa có phần nể, vừa "tự hào" có thằng bạn nghĩa hiệp, đàn ông tính đến thế.

Nhưng cả thằng Kiếm và nó đều không biết, chị Trâm Anh đã thôi yêu anh nó từ lâu nhưng họ giấu nên hai đứa cứ tưởng . . . .

Mảnh ghép thứ hai

Mải về quê chơi, lần lượt tiễn các bạn đi lính, nó nghỉ làm nhiều nên lương tháng đó rất thấp, chỉ đủ tiền ăn nộp chị gái.

Nó nợ tiền học phí ghi ta một tháng chưa trả.

Hai buổi học gần đây nó đều bị anh Can nhắc trước mặt mọi người làm nó rất ngượng.

Tối hôm đó trước khi đi học, nó rẽ qua nhà anh Bính (anh trai) ở Trần Cao Vân để xin tiền.

Tới nơi, thấy anh Bính đang đứng trước gương, đóng thùng áo vào trong quần.

Áo pô-pơ-lin (Popeline) trắng, quần tuýt-xi (tutsi) màu lông chuột, thắt lưng bản to đang mốt, trông rất oách.

Rồi anh Bính bôi và vuốt va-zơ-lin (vaseline) lên mái tóc bồng rất kỹ, miệng anh thì vẫn đang huýt sáo một điệu nhạc gì đó rất vui.

Chị Gấm vợ anh và thằng cháu Bình Phương thì lại đi đâu vắng.

Nó nghĩ bụng, không biết bố này đi đâu, làm cái gì mà ăn diện, chải chuốt ghê thế ?

Ờ mà hay !

Chắc bây giờ xin mấy đồng thì ngon xơi đây.

Nghĩ vậy nó đánh bạo :

- Anh ơi !

Em nợ tiền học đàn ghi ta một tháng chưa trả.

Tháng này em nghỉ về quê và tiễn bạn

đi bộ đội, lương chỉ đủ trả tiền ăn cho chị Dụng.

Em sang xin anh 5 đồng đóng học.

Anh nó đang vui bỗng sa sầm nét mặt.

Ngần ngừ một lúc, anh mở ví rút ra tờ 5 đồng và rên lên :

- Ối Giời ơi !

Một nách ba đứa con, lại hai bà vợ, mà em thì nay xin, mai xin . . . .

Nói xong, anh quật tờ 5 đồng xuống bàn.

Nó vừa cảm thấy tủi thân vừa cảm thấy tủi nhục quá, xuýt bật khóc.

Nó nói :

- Đây là lần đầu tiên em xin anh, chứ đã có lần nào nữa đâu !

Thôi em cảm ơn !

Anh để đó gửi chị nuôi cháu.

Nói xong, nó chào anh, ứa nước mắt quay ra.

Mảnh ghép thứ ba

Bần thần một lúc nó quyết định rẽ vào nhà anh Vĩnh.

Nó trình bầy với anh Vĩnh và xin tạm ứng trước tiền lương.

Anh Vĩnh vui vẻ đưa nó 5 đồng.

Đến lớp ghi ta, nó nộp học phí tháng trước cho anh Can và chính thức xin nghỉ, không học ghi ta nữa.

Thằng Bình em anh Can, chơi ghi ta rất giỏi và cũng thân với nó, thấy vậy liền nói ngay, giọng rất động viên, an ủi :

- Thôi, mày cứ nghỉ đi, thỉnh thoảng tao sang tao dạy truyền tay cho.

Kể từ đó thằng Bình thỉnh thoảng mang đàn ghi ta sang dậy truyền tay cho nó dưới gốc phượng trước cửa nhà 155 Bùi Thị Xuân.

Cùng chơi với nó ở đấy còn có anh Chuyến và thằng Thanh nữa.

Mấy người chơi đàn ở ngoài vỉa hè vì trong nhà phải giành cho các cháu học.

Anh Chuyến người lùn, tính tình hòa nhã, dịu dàng, ăn nói rất có học.

Đặc biệt anh hát nhạc xanh và nhạc vàng thì hay chưa từng thấy.

Lúc bấy giờ nhạc vàng bị cấm vì người ta sợ giai điệu của nó nỉ non, ủy mị làm nản lòng dân và chiến sỹ trong cuộc chiến.

Nhưng cứ khi nào thấy anh Chuyến xuất hiện là trẻ con và thanh niên một đoạn phố gần đấy lại tụ tập để nghe anh vừa đàn vừa hát.

Nhiều khi cả anh Chuyến, thằng Bình, thằng Thanh cùng hòa tấu thì nó lại kẹp hai cái thìa vào ngón tay để gõ nhịp.

Nhạc đỏ thì mọi người thuộc rất nhiều nhưng chỉ khi nào hội họp đoàn thể thì mới hát.

Bấy giờ ở Hà nội, phong trào chơi ghi ta và nhạc xanh rất xôm.

Đâu đâu cũng thấy thanh niên nam nữ tụ họp dưới cây, quán nước, trên ban công, trên sân thượng chơi ghi ta và hát nhạc xanh.

Hồi đó đĩa nhạc có tên "Xương Rồng" rất nổi tiếng với nhiều bản rất hay.

Các đĩa khác là các bộ sưu tập nhạc Ý, nhạc Pháp, nhạc Nga, Tây Ban Nha và cả Cu Ba nữa.

Một số bài bây giờ nó vẫn còn nhớ như bài Đồng Xanh, Con Chim Xanh, Sông Đa Nuyps, Quả Táo Trắng và Cây Xương Rồng, tình ca Ha Ba Na, Trở Về su ri en tô, Mộng Lứa Đôi, Đôi Bờ, Chiều Max Cơ Va, . . . .

Ngày ấy máy quay đĩa rất hiếm.

Máy từ thời Pháp thì chỉ có nhà tư sản giàu có còn giữ được.

Sau đó có thêm một số loại máy của các nước Đông Âu.

Phần lớn đĩa là đĩa than, ngoài ra còn một số người đi Đông Âu về có mang theo đĩa nylon nhưng rất ít và chất lượng không được tốt.

Nó còn nhớ, hồi đó Hà Nội cũng có sản xuất đĩa than, có lẽ là từ xưởng DIHAVINA.

Sau ngày Sài Gòn giải phóng mới có băng cát-set (cassette).

Trong hội ghi ta mà nó chơi, nó quen thằng Tuân "Sô-lít".

Gọi thế vì thằng này nổi tiếng chơi ghi ta sô lít (solid electric guitar – ghi ta điện) cho các đám cưới "chịu chơi" ở Hà Nội.

Trong ban nhạc đám cưới, thằng Tuân chơi sô-lít nốt đơn luyến láy, thằng Bình chạy "gam" gọi là "ắc co", thằng Cương chơi trống, thằng Tâm chơi đàn ghi ta bass (Guitar Bass).

Nó chơi kém nên chỉ được các bạn cho cầm 2 cái sắc xô gõ "choẹt choẹt" theo nhịp mà thôi.

Ngày cưới thằng Giong, bạn thân nó ở trại vẽ dưới Sặt, nó dẫn các bạn nó từ Hà Nội về quê chơi giúp suốt hai ngày (miễn phí).

Cả làng, cả phố tụ hội đến đông nghìn nghịt để xem chúng chơi.

Mảnh ghép thứ tư

Nó càng chơi rộng bạn bè đàn hát, rồi "thuốc lá, chè tàu" thì chị gái nó càng lo nó học đòi, đàn đúm, hư hỏng.

Chị đem chuyện lo lắng đó về quê nói với thày nó.

Thầy nó lập tức bắt nó phải về quê.

Đấy là một chuyện.

Một chuyện nữa là chuyện nó và Hợi.

Em đang học lớp 10, còn phải thi tốt nghiệp phổ thông và thi vào đại học nữa.

Nó và em không thể cứ dập dìu nhau công khai được nên hai đứa bí mật hẹn hò đi chơi riêng.

Hai đứa hay đi xem phim ở rạp Tháng 8, rạp Công Nhân, Kinh Đô, . . . .

Những lúc khác lại hẹn nhau ở vườn hoa hay công viên.

Có những đêm trăng sáng, hai đứa đưa nhau lên mặt đê sông Hồng ngắm trăng.

Tình yêu ngày càng thắm thiết, cứ một hai ngày không gặp được nhau thì bồn chồn, nhớ nhung vô cùng.

Mối tình của chúng làm cho nhiều đứa bạn phát ghen lên, nhất là thằng Trương.

Thằng này cứ nhăm nhe tán tỉnh em Hợi của nó.

Ngoài mặt thì nó tỏ vẫn ra bình thường nhưng trong lòng thì nó rất tức.

Nó cứ thấy em nói chuyện và cười cợt với thằng Trương là nó ghen, trong lòng như có lửa đốt, . . . .

Xuân Diệu thì bảo "Yêu là chết ở trong lòng một ít", còn nó, có những lúc nó thấy khổ sở vô cùng :

"Vạn Cổ Thiên Thu Yêu là Khổ,

Thiên Thu Vạn Cổ Khổ Vẫn Yêu".

Chuyện nó và em bí mật hẹn hò đi chơi thì cũng như chuyện "cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra".

Một hôm, hai đứa vào công viên Thống Nhất.

Nó đang gửi xe thì gặp anh Mận đèo Cúc Hoa bằng xe máy Pơ-giô, cũng vào gửi xe.

Cúc Hoa nhìn thấy về nhà mách bố mẹ.

Các cụ mắng Hợi và cấm không cho đi chơi nữa, bắt tập trung vào học để còn thi.

Tuy các cụ không nói gì nó, nhưng nghe Hợi kể lại chuyện bị cấm làm nó cũng rất ngại.

Một đằng thì thầy nó bắt về, một đằng thì bị cấm yêu đương, sau khi làm nốt một tháng cuối cùng để trả tiền cho anh Vĩnh, nó đành "rút dù", về quê.

Chuyện của nó với Hợi chẳng biết sẽ như thế nào.

"Đò ngang cách trở biết đâu mà lần" . . . .

Mảnh ghép thứ năm

Nó vừa về đến nhà thì bu nó vội gọi nó vào và bảo :

- Bu bảo cho mày biết !

Cả nhà có ba anh em trai, anh Bát "đi bê", dễ chết mất.

Làng mình chết

nhiều lắm, mày biết không?

Cứ mỗi tuần báo tử vài người.

Anh Bính mày cũng sắp "đi bê" rồi.

Còn có mình mày nối dõi, mày phải chốn ngay.

Ở làng họ gọi lính ghê lắm.

Họ chưa biết mày về

mà cũng đã có giấy gọi rồi đấy.

Bu phải nói dối, mày đi làm ăn xa, không có địa chỉ.

Suốt đêm đó nó trằn trọc suy nghĩ không sao ngủ được.

Thanh niên cả làng đi hết, trừ những đứa gia đình thành phần có vấn đề và một số đã đi học, đi làm xa.

Xem ra còn lại mỗi mình nó.

Chiến tranh khốc liệt nó rất sợ, nhưng trốn thì nó rất ngượng và nhục với làng xóm, với bạn bè.

Sáng hôm sau nó quyết định cứ xuống Sặt một thời gian, học thêm nghề ảnh và tu nghiệp thêm về vẽ.

Khi nào có giấy gọi đợt mới sẽ quay về khám và đi bộ đội.

Nó lại buộc túi quần áo sau xe đạp rồi phóng xuống Sặt.

Bạn nó ở Sặt già nửa đã đi bộ đội, một số đứa đi học nghề, có đứa làm ăn xa quê.

Bọn con gái thì lác đác đã có đứa lấy chồng.

Trong hai thằng bạn thân nhất thì thằng Khóa đã nhập ngũ, chỉ còn lại thằng Hải.

Nó đến nhà Hải xin ở nhờ.

Nhà Hải ở gần nhà thằng Khóa, đối diện chênh chếch bên kia đường.

Nhà Hải hướng đông nam còn nhà Khóa hướng tây bắc, cả hai nhà đều nằm trên mặt phố chính.

Nhà thằng Khải là cửa hàng giầy, mặt tiền khoảng 6 mét, nhưng chạy tuốt vào trong đến năm bảy chục mét, ra đến tận bờ sông.

Cửa hàng là nhà cấp 4 có hai gian, mở cửa giữa, hai bên là cửa lùa để trưng bày hàng, một bên là bóng, một bên là giày, dép da các loại.

Bên trong của cửa hàng chính là nơi sản xuất, khâu bóng, khâu giầy, . . . .

Đó là cái nhà ngang.

Nhà ngang cũng là nhà cấp 4 gồm bốn gian, nối đầu hồi với mái nhà trên.

Từ đằng trước nhìn vào, góc trái là cửa 2 cánh ra thông ra hành lang xuống nhà ngang và sân sau.

Thông với nhà ngang còn có một cửa sổ kéo rèm nữa.

Chỗ đó kê một bộ bàn ghế để bố Hải tiếp khách.

Góc trong cùng, mé bên phải kê một cái phản gỗ dầy mà thằng Hải và nó thỉnh thoảng vẫn ngủ ở đó.

Trong nhà ngang thì 2 gian giữa kê một chiếc tủ chè, có kính lùa, dưới tủ chè là khoảng trống để trải chiếu ăn cơm và sinh hoạt chung.

Hai gian còn lại là hai buồng hai bên, kê giường cho bố mẹ Hải và mọi người trong gia đình dùng để ngủ.

Sân sau rộng chừng năm chục mét vuông, góc bên phải là một bể ngầm một chiều ba mét, một chiều hai mét và sâu chừng mét rưỡi.

Góc trái để một cái xà đơn và một xà kép liền nhau.

Phía sau cái sân ấy là bụi tre, rồi đến đất trống, thoai thoải chạy dài suốt đến bờ đê.

Đất này ít khi dùng đến, làm nơi đổ rác thải và để cây cỏ dại mọc hoang, tùm lum.

Bố Hải là một người đàn ông cao to tráng kiện, da trắng, môi đỏ, tóc bồng bềnh.

Ông thường cạo râu nhẵn nhưng vẫn để lộ hàm râu quai nón lờ mờ trông rất đẹp.

Ông có rất nhiều tài lẻ, đàn giỏi, hát hay, chơi thể thao tốt.

Mùa hè ông thường mặc quần soóc trắng, áo sơ mi trắng, đi giầy trắng, đội mũ phớt trắng, đeo kính trắng gọng vàng để đi chơi thể thao.

Nhìn dáng ông rất đẹp, tươi rói, ai thấy cũng phải khen.

Mẹ Hải là một phụ nữ tầm thước, hơi đậm, đẹp dịu dàng, chân quê nhưng tháo vát.

Tuy đã sinh sáu người con, nhưng nhìn bà vẫn toát ra một vẻ đẹp mặn mà và rất ưa nhìn, hẳn hồi còn con gái bà phải xinh lắm.

Bà rất dịu hiền, ít nói, luôn hết mình chăm sóc cho chồng, cho con.

Thằng Hải có sáu anh chị em.

Anh Hoan, lớn nhất, hơn nó một tuổi.

Thứ hai là thằng Hải, thứ ba là thằng Dưỡng, thứ tư là thằng Cường, thứ năm là cái Liễu và cuối cùng là thằng Dũng.

Anh em nhà thằng Hải chọn hết nét tinh túy của bố mẹ nên trông đứa nào cũng cao, trắng trẻo, đường nét đẹp.

Mấy anh em trai nhà Hải ai cũng chơi được ghi ta.

Thằng Dưỡng chơi hay nhất, kiểu cờ-lát-xích (classic – cổ điển).

Nó ngủ ở nhà Hải và ngày ăn ba bữa ở đó mà chỉ phải gửi gạo và đóng tiền ăn chứ không phải làm gì.

Hàng ngày nó đi làm ở nhà khác, cũng gần đấy.

Mảnh ghép thứ sáu

Ban ngày nó sang nhà bà Quý để làm việc.

Nó vẽ truyền thần cùng anh chị Đĩnh trên tầng hai.

Ông bà Quý là gia đình tương đối giầu có ở phố Sặt lúc bấy giờ.

Căn nhà hai tầng này cũng ở mặt phố lớn và gần nhà thằng Khóa.

Tầng một của căn nhà là cửa hàng may, ở phía ngoài kê bốn máy khâu chạy soành soạch suốt ngày.

Phía trong kê sập gụ rồi đến tủ chè, tất cả đều cổ kính và bóng lọng.

Bà Quý hay ngồi trên sập, bỏm bẻm nhai trầu, chỉ đạo người làm và thu tiền của khách.

Ông Quý là một thợ may nổi tiếng ở Sặt.

Cửa hàng may của ông bà rất đông khách.

Ông bà Quý có nhiều con nhưng nó không nhớ hết.

Bây giờ nó chỉ còn nhớ anh Đĩnh, anh Thạnh, cái Luân, cái Lai và thằng Đông.

Những người khác nó không còn nhớ.

Sau này, cái Luân là vợ thằng Khóa.

Ở nhà ông bà Quý, các con gọi ông bà là "cậu mợ" theo lối "Tây" trong một số gia đình ở thành phố.

Ông bà rất quý nó, nhiều lần cứ bảo nhận nó là con nuôi của ông bà.

Nó được ông bà nói thế thì cũng thích nhưng nó thấy nhà giầu quá nên nó lại ngại.

Không khéo mọi người lại bảo "thấy người sang bắt quàng làm họ".

Cái Luân và cái Lai khá xinh, tuy nước da hơi ngăm ngăm.

Hai đứa này rất hay hát và hát đặc biệt hay.

Nó ở trên tầng hai mà nghe tiếng hát của hai đứa từ dưới sân vọng lên khi chúng đi rửa bát sau bữa cơm, phải nói là rất tuyệt.

Nó khuyên cái Luân và cái Lai nên đi thi vào thanh nhạc.

Quả thật, sau này cái Lai thi đỗ và làm diễn viên của Nhà Hát Tuổi Trẻ Hà Nội.

Thằng Đông ít hơn nó mấy tuổi, to cao, đẹp trai, da cũng ngăm đen.

Thằng Đông may cũng giỏi và cũng phải ngồi may quần áo.

Ngoài những lúc phải ngồi máy, cậy con nhà giàu, thằng Đông sống như một công tử.

Hắn ăn mặc đẹp, đeo kính "Cơn" (American – Mỹ), đi dép tông Thái phóng xe máy "xịn" tung phố Sặt, thái độ rất "kiêu".

Chính vì thế nó không muốn gần thằng Đông, không khéo lại bị thằng Đông nó "khinh cậu" ngay (Từ "khinh cậu" hồi đó rất hay dùng để "ném" vào mặt nhau).

Anh Đĩnh sống giản dị và chân thành hơn.

Anh vẽ rất giỏi, đặc biệt là kỹ thuật truyền thần.

Tuy anh không mở hiệu nhưng rất đông khách vẽ truyền thần.

Nó vẽ cùng anh Đĩnh và học anh nhiều kỹ thuật, kỹ sảo rất lạ.

Chị Nhật vợ anh Đĩnh lại là chị gái thằng Quang bạn nó.

Chị là một phụ nữ xinh đẹp có tiếng ở Sặt.

Anh Đĩnh yêu chị nhưng không hiểu sao hai gia đình không đồng ý.

Anh chị đã vượt qua mọi trở ngại để đến với nhau, hai gia đình không cản được đều rất tức.

Nó nghe kể, đã có một Tết, hai nhà đánh nhau và chửi bới xúc phạm nhau, không biết có thật không ?

Có lẽ vì thế mà sau khi anh chị cưới nhau, anh Đĩnh phải làm ăn riêng ở trên gác.

Sau khi nó đi bộ đội được ít lâu lại nghe tin anh chị bỏ nhau.

Gần đây nó về chơi, thấy anh chị hòa hợp, nó rất mừng.

Mảnh ghép thứ bảy

Bà nội Hải có một khu đất ở sau bến xe Sặt.

Ở đó có một căn lều nhỏ xíu, lợp dạ, mái thấp tè, cửa đi, cửa sổ đều bằng liếp.

Tối tối, sau khi ăn cơm, thằng Hải và nó hay ôm chăn chiếu, xách đèn hoa kỳ ra căn lều đó để trông vườn.

Trong lều có một tấm phản nhỏ kê cạnh cửa sổ, hướng đông nam.

Nằm trong lều, gác chân lên song cửa bằng tre, "nghe" gió hè hiu hiu thổi, ngắm trăng vằng vặc soi vào, hai thằng nói với nhau rất nhiều chuyện.

Một hôm, thằng Hải hỏi nó :

- Dũng ơi !

Tao rất thích cái Nga, mày thấy thế nào ? (Ở Sặt, nó nhận tên nó là Dũng – Nguyễn Trọng Dũng).

Thằng Hải làm nó khó nghĩ mà cũng khó nói quá.

Cái Nga là người theo đạo, nhà buôn hàng nan - tre - mây ở gần chợ, nó cũng chơi thân và có cảm tình, nhưng yêu người theo đạo thì lại là chuyện khác.

Nó nghĩ mãi rồi mới dè dặt nói với thằng Hải :

- Tao thấy cái Nga cũng được lắm, nhưng mà, . . . . nhưng mà nhà nó theo đạo thì phức tạp lắm.

Nói xong, nó cũng cảm thấy có gì không phải cho lắm.

Nó sợ làm tổn thương thằng bạn đang yêu.

Ai dè, vài tối sau thằng Hải lại bảo nó :

- Dũng ơi !

Các cụ làm mối tao với cái Trung.

Con này xinh hơn cái Nga, mày chưa biết nó đâu.

Tao thì tao cũng thích nhưng ngại quá, chả dám đến một mình.

Mai mày đi cùng tao được không ?

Hôm sau, ăn uống, tắm rửa xong, thằng Hải ăn mặc, chải chuốt, trông rất bảnh.

Hắn cứ đi ra đi vào, mắt thì liếc vào gương, vẻ mặt hồi hộp, lo lắng.

Nó phải động viên :

- Đừng căng thẳng quá, phải tự nhiên, thả lỏng đi, có "mất gì của mình" đâu mà sợ.

Rồi hai thằng đèo nhau đến nhà cái Trung.

Từ nhà thằng Hải, đi theo phố, qua nhà Thờ một đoạn thì đến nhà cái Trung, thuộc khu vực làng Sặt.

Căn nhà phía trước là nhà cấp 4, ba gian.

Gian giữa kê ban thờ và bộ bàn ghế, bên trái có cửa thông xuống sân rộng, bên phải thông xuống dãy nhà xưởng.

Bố mẹ Trung rất vui vẻ, ân cần và tình cảm.

Hai thằng vào đến nhà thì cụ mời ngồi rồi đi pha nước.

Sau đó, cụ đi vào phía trong và đem ra một đĩa kẹo lạc mới ra lò do xưởng nhà cụ sản xuất.

Thằng Hải chọn ngay cái ghế phía ngoài, ngồi quay mặt vào trong để có thể quan sát hết sân và xưởng kẹo.

Quan trọng hơn là nó hy vọng có thể "tia" được cái Trung đang đi lại hay làm gì đó ở trong.

Đúng là cái Trung đang làm việc ở xưởng kẹo, thỉnh thoảng đi qua đi lại.

Cái Trung người tầm thước, hơi đậm, miệng nhỏ, mắt to đẹp, không trang điểm nhưng má lúc nào cũng phớt hồng.

Nhìn tổng thể cái Trung khá xinh, nhất là đôi mắt và đôi má hồng.

Các cụ bảo "Trai trứng cá, gái má hồng", phải biết đây, ít nhất về hình thức thì trên "nước" thằng Hải rồi.

Cái Trung cũng biết thằng Hải xuống chơi là có ý tứ với mình nhưng cô nàng vờ như không để ý, cứ lăng xăng làm việc này, việc khác, bê kẹo ra cho khách xong lại chạy ù vào trong.

Cái Trung làm việc ở phía trong nhưng thỉnh thoảng lại đánh mắt lên nhà nhìn trộm thằng Hải.

Thằng Hải cũng quá thế, ngồi trên ghế thì nhấp nha nhấp nhổm như kiến đốt, mắt hau háu theo dõi theo cái Trung ở dưới nhà.

Nó biết ý, liền thưa với cụ chủ :

- Ông ơi !

Ông có thể cho chúng con xuống thăm xưởng kẹo được không ạ ?

- Vậy mời hai anh ! – Cụ vừa cười vừa nói.

Rồi ông đứng lên đi trước, dẫn hai đứa theo ông xuống nhà sau, nơi đặt xưởng sản xuất.

Xưởng là một căn nhà cấp 4 chạy dài tít vào phía trong với khá đông thợ đang hối hả làm việc.

Mấy cái chảo to đặt trên các lò than đỏ rực lửa đang bốc khói nghi ngút.

Mùi kẹo tỏa ra nghi ngút, thơm lừng khắp cả xóm.

Ngay dãy cột ngoài gần cửa, mấy bác thợ đang quật kẹo vào mấy cái đinh.

Đường kẹo là thứ đường mật pha với mạch nha, màu vàng nâu, trông như những con trăn.

Mỗi bác thợ một vị trí, họ kéo các con trăn đó ra rất dài, xong gập lại mấy lần, rồi lại móc lên đinh, lại kéo, lại gập, lại treo, . . . .

Nó hỏi :

- Ông ơi, làm thế này là gì thế ạ ?

- Đó là quai kẹo cháu ạ.

Tiếp theo dãy quai kẹo có kê mấy cái bàn, trên đó thoa bột trắng xóa.

Kẹo quai xong được thả xuống bàn bột.

Vài bác thợ vừa tung bột vào đám kẹo, vừa vê, vừa kéo dài ra đến khi đủ nhỏ thì dùng dao cắt phầm phập thành từng chiếc kẹo nhỏ.

Ở trong cùng, vài người đang gói kẹo vào giấy, rồi đóng vào túi ni lông.

Xưởng kẹo nhà cái Trung làm nhiều mặt hàng gồm kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo bột, kẹo dồi chó, kẹo gôm xanh, đỏ, . . . .

Kẹo nhà này cũng là ngon có tiếng ở Sặt.

Sau lần ấy, nó còn phải đi cùng thằng Hải xuống nhà cái Trung chơi mấy lần nữa, rồi thằng Hải mới bạo dạn đi riêng xuống đó.

Mảnh ghép thứ tám

Gần đến ngày lễ thánh của công giáo tổ chức ở nhà thờ Sặt thì nó nhận được tin gia đình nó nhắn xuống bảo nó về.

Ủy Ban xã gửi giấy mời, triệu tập nó tham gia công tác văn hóa của xã.

Thấy thế, thằng Hải nói:

- Mày ở đây mà xem lễ hội đã, hay lắm, xong rồi hẵng về.

- Ừ !

Cũng được.

Những ngày chuẩn bị lễ đã rất tưng bừng nhộn nhịp.

Toàn thị trấn dọc theo các phố, các làng, nhà thờ lớn, nhà thờ nhỏ giăng đèn kết hoa rực rỡ.

Nhà ai cũng tự làm các hầm đá nhỏ, trong có chúa hài nhi, mấy con cừu và người chăn cừu.

Trước cửa nhà thờ, ngoài sân bên tay trái dựng một trái núi giả to sừng sững, bên trong thắp đèn nhấp nháy sáng lung linh, cũng có máng cỏ, có chúa hài đồng, đàn cừu và người chăn, tỷ lệ rất lớn trông rất sống động.

Ngày chính hội, các đội kèn đồng mặc quần áo trắng, găng tay trắng xếp hàng chỉnh tề, đi dọc các phố tấu nhạc rất tưng bừng.

Đi đầu đoàn, ở giữa là một trống cái rất lớn, đường kính cỡ mét rưỡi, để trên một chiếc xe bò.

Hai bên, từ lớn đến nhỏ là hai hàng trống con và trống trung đi theo đáng lên rộn rã cùng với tiếng kèn đồng vang lừng cả đường phố.

Tất cả nhạc công cho đến người đẩy xe đều mặc trang phục trắng từ đầu đến chân.

Oách thật !

Trong nhà thờ còn rực rỡ hơn nhiều.

Khu đại khánh tiết trang hoàng lộng lẫy, có chúa Giê-su đứng giữa, mặc áo thụng, mặt hơi ngửng lên trời, hai tay dang rộng.

Bên dưới đó là bục hành lễ của đức cha.

Dưới nữa là hai hàng ghế ngang xếp thẳng hàng nối tiếp nhau tới tận cửa ra vào, một dãy ghế dành cho nam, dãy kia dành cho nữ.

Tất cả mọi người đều quỳ, đặt tay lên băng ghế trước mặt, thành kính đọc kinh rì rầm.

Nó thấy rất kỳ lạ ở chỗ từng người thì chỉ lần rầm đọc kinh, thế mà tiếng kinh lại âm âm vang vọng trong nhà thờ như tiếng sấm rền, vừa mạnh mẽ, vừa sâu thẳm tâm linh.

Hai bên cửa nhà thờ, dưới các cửa vòm kính, treo những bức tranh sơn dầu cỡ lớn diễn tả toàn bộ quá trình chúa sinh ra, đi giảng đạo, bị đóng đinh, chúa sống lại, v v . . . .

Ở lối cửa trước nhà thờ có một ang nước thánh.

Từ ngoài đi vào khi qua đó mọi người lấy cành lá nhỏ ngậm sẵn trên miệng, chấm vào nước thánh và rắc lên người để lấy may.

Khi đức cha cầu kinh xong, có hai con chiên nhỏ đi theo hai bên người, một bên cầm âu nước, một bên cầm âu bánh.

Cha đi ở giữa diễu qua hàng các con chiên, cha lẩm nhẩm cầu kinh, tay cầm cành lá nhúng nước thánh vẩy lên đầu các con chiên, xong người nhón tay lấy bánh thánh ban cho các con chiên.

Đó là lễ ban thánh thể "Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống.

Ta là bánh hằng sống, ai đến cùng Ta không khi nào đói, ai tin kính Ta không bao giờ khát".

Tiếng kinh cầu ê a, râm ran trong tiếng đệm của đàn oóc-gan (organ) và dàn nhạc.

Không khí trang nghiêm và sùng kính vô cùng.

Ngoài đường phố thì đông kinh khủng.

Dân có đạo và dân ngoại đạo các nơi đổ về, chen vai, thích cánh nhíc từng bước một tiến về nhà thờ dự lễ.

Nó với thằng Hải cùng vài bạn nam nữ hòa trong dòng người tham dự buổi lễ.

Thằng Hải mắt cứ nhớn nhác, có ý muốn tìm cái Trung nhưng không thấy.

Hôm sau ngày lễ, nó xin phép bố mẹ Hải rồi chào mọi người.

Nó trở về quê.

Nó trở về nhà và hoạt động trong Đội Tuyên Truyền Văn Hóa của xã.

Ngoài những việc như viết báo, thông báo kết quả sản xuất của cả xã đọc trên loa truyền thanh, . . . . mỗi tuần một lần, Đội phải phải xuống các sân kho, các đội đào mương của dân công để hò hát động viên phong trào.

Riêng nó còn đặc trách kẻ khẩu hiệu, vẽ áp phích cổ động, trang trí cờ hoa cho hội nghị và chuẩn bị các lễ truy điệu cho các liệt sỹ được đơn vị báo tử về địa phương.

Thời gian này nó sống khá thanh thản.

Ngoài công tác tuyên truyền, công tác đoàn bận rộn ban ngày, tối tối nó thường mang đàn nghi ta ra cửa ngồi chơi.

Các bạn trong làng cũng hay ra tụ tập quanh nó hò hát rất vui.

Trong đám bạn đó, đặc biệt có thằng Thìn con bác Giá ở thôn trên, hát nhạc vàng và cải lương thì tuyệt đỉnh.

Đêm hè gió lộng, trăng thanh run rẩy rắc ánh vàng xuống cây lá, xóm làng, chảy óng ánh trên đường phố huyện quê hương.

Ai bảo chốn thôn quê là khổ ?!

Một hôm đang làm ở trên xã thì nó nhận được giấy báo tử, có ghi :

Nguyễn Trọng Bát

Thôn Tháp, xã Dị Sử, huyện Mỹ hào, tỉnh Hải Hưng.

Tên và địa chỉ chính xác là anh trai nó làm nó chết lặng.

Giờ lâu, chợt tỉnh, đầu óc rối bời, không biết làm sao để có thể báo cho thày bu nó.

Tay cầm giấy báo tử run run, nó thẫn thờ đạp xe về nhà.

Về tới nhà, nó lại thấy hai anh bộ đội, một anh đeo súng ngắn có ca táp nâu, một anh đeo súng A-ka.

Nhìn xéo vào góc nhà, nó thấy hai chiếc ba lô.

Nhìn thấy cảnh ấy, nó rụng rời hết cả người.

Anh Bát nó chết thật rồi.

Đơn vị anh đã cử người về tận nhà để an ủi và động viên gia đình.

Họ sẽ thay mặt đơn vị làm lễ truy điệu anh Bát cùng với địa phương xã.

Lạ thay, khi nó dựng xe ở đầu hồi, lại nghe thấy tiếng các anh bộ đội và thày bu nó nói chuyện rất vui vẻ.

Hai cụ đang giữ các anh ấy ở lại ăn cơm.

Nó đang hoang mang không biết là chuyện gì thì thày nó gọi vào :

- Thập ơi!

Con vào đây, các anh ở đơn vị anh Bát đến chơi đây này.

Nó bước vào nhà bắt tay hai anh trong lời giới thiệu của thày nó.

Hai anh bộ đội hồ hởi bảo nó :

- Các anh đã nghe anh Bát kể, nay mới gặp em.

Em vẽ giỏi lắm phải không ?

Nó cứ dạ dạ vâng vâng mà chẳng để ý gì.

Nó đang thắc mắc tại sao đã báo tử rồi mà đồng đội của anh Bát lại tươi cười phấn khởi thế.

Nó đưa cái giấy báo tử anh Bát cho hai anh bộ đội xem.

Hai anh lắc đầu và bảo :

- Đây chỉ là trùng tên thôi.

Anh Bát em bị thương nhẹ, đang điều trị ở trại an dưỡng dưới Sặt cơ mà.

- Có thật thế không ạ ?

Anh em đang ở Sặt ạ ?

- Chắc chắn là thế rồi.

Bọn anh vừa thăm nó về đây.

Nó mừng quýnh cả lên, trong lòng cảm thấy nhẹ bẫng.

Anh Bát thế là thoát, anh nó đã sống và trở về.

Mảnh ghép thứ mười

Nó vẫn sinh hoạt đoàn ở địa phương nhưng xã đoàn cũng rất vắng vẻ.

Thanh niên đi đã đi bộ đội gần hết.

Cái Thương được bầu làm bí thư chi đoàn thôn, nó là phó bí thư.

Anh Bát sau khi điều trị ở đoàn an dưỡng chắc cũng sẽ được giải ngũ.

Nó không còn lý do gì để mà chần chừ.

Gì thì gì chứ cũng là cán bộ đoàn.

Vậy nên nó làm đơn gửi Ủy Ban xã xung phong đi bộ đội.

Đợt tuyển quân cuối cùng trong năm đã hết, đành chờ đến đợt mới sang năm.

Thời điểm ấy là cuối năm 1975.

Miền Nam đã giải phóng, Nam Bắc đã thống nhất.

Làng nó bắt đầu có những người lính trở sống sót về.

Những người lính, người nào cũng đen đúa, gày còm.

Những người lính từ miền nam ra, vai đeo ba lô và vác theo lỉnh kỉnh đủ thứ, chiếc khung xe đạp, con búp bê mắt nhắm, mắt mở biết khóc, cái quạt Hi-ta-chi hoặc đài quay đĩa chạy điện 110 von.

Anh nào nghèo nhất thì cũng có cái áo len màu xanh sỹ lâm hay áo len đỏ để tặng cho em gái, . . . .

Thằng Miến em con dì ruột nó nhập ngũ đầu năm, biên chế vào đoàn xe quá cảnh.

Cứ vài tuần lại dẫn cả đoàn xe về nhà chơi.

Mỗi lần về chở theo bao nhiêu là của cải ở Sài Gòn ra.

Nhà dì nó mở cửa thật to, vặn đài hết cỡ, quạt máy chạy vù vù.

Chả những thế, bên dì còn cỗ bàn ăn uống linh đình.

Chú dì nó mát mặt, hởi lòng hởi dạ, hãnh diện với xóm làng lắm.

Bu nó nhìn thấy cảnh nhà dì nó "ta đây" ra mặt, lại trông thấy nó cứ lụi hụi, cắm mặt ngồi vẽ, thu nhập chẳng là bao.

Bực mình bu nó quay ra chửi nó :

- Sang mà bú d . . . cho thằng Miến kia kìa . . . !

Giọng bu nó chửi chì chiết thì đã không có gì là lạ với nó.

Nhưng nó cảm thấy tủi nhục và đau đớn vô cùng.

Nó đau và xót vì cuộc đời đã xô đẩy bu nó trong bao cơ cực, bất công để Người trở thành người đàn bà chao chát trong lối nghĩ, cay nghiệt trong lời ăn tiếng nói và mờ mắt trước những hào nhoáng của vật chất.

Nhìn nhận lại bu nó, nó vừa thương vừa xót lại vừa ghét.

Lời chửi của bu nó cứ xoáy vào tâm can nó.

Sự đời bao giờ cũng bất công, hóa ra lại có cái lý của nó.

Lời nói của người có tiền hẳn bao giờ cũng có sức nặng hơn và cái hèn của người nghèo là không thể tự bảo vệ được mình, không thể lo được cho những người thân và thường được người khác nhìn dưới con mắt thương hại.

Nó thấy uất hận ở trong lòng.

Nó giận bu nó và hận cuộc đời.

Mảnh ghép thứ mười một

Nó xuống thăm anh nó ở Sặt vài lần.

Hôm anh chuẩn bị ra viện, chị Dụng nó về dẫn thêm một chị nữa, nhỏ hơn anh nó hai tuổi, người cao, da trắng, tóc hơi quăn.

Đó là chị Nhưng, nhà ở phố Huế, gần cửa hàng của chị nó.

Chị Nhưng cũng bán hàng thực phẩm cùng công ty của chị Dụng.

Chị Dụng đưa chị Nhưng đến thăm anh Bát là có ý giới thiệu cho anh Bát.

Vài ngày sau nó xuống trại an dưỡng đón anh Bát về.

Anh Bát được nghỉ một tháng trước khi về đơn vị nhận nhiệm vụ mới.

Trong một tháng đó, nó cùng anh Bát ra Hà Nội chơi, có đến nhà chị Nhưng vài lần.

Saui đó hai anh chị còn đi chơi riêng với nhau.

Nhưng có lẽ "cái duyên, cái số" hai người không hợp nên chuyện cũng không thành.

Trong khi đó, ở quê, bu nó lại hỏi cái Yến, bạn học cùng lớp nó ngày xưa, cho anh Bát.

Cái Yến kém anh Bát năm tuổi, cũng gọi là tương xứng.

Bây giờ thì nó phải gọi cái Yến là chị rồi.

Chị Yến cũng trắng trẻo, môi đỏ, miệng nhỏ, mỗi tội lùn.

Chị làm công nhân xí nghiệp chăn nuôi gia súc của huyện ở Ngã Ba Lăm, cách nhà nó khoảng hai cây số.

Hai anh chị này, ngay lập tức ưng nhau, như các cụ bảo "cái duyên cái số, nó vồ lấy nhau".

Hai gia đình quyết định ngày cưới và rục rịch chuẩn bị tổ chức cho anh chị.

Anh Bát phải về đơn vị để báo cáo và xin phép lấy vợ.

Thời gian rất gấp rút vì chỉ có hơn một tháng.

Nói là gấp rút bởi vì thày nó phải lo nhà cho anh Bát.

Thày nó lập tức đi mời thợ yêu cầu xây "cấp tập, khẩn trương" một gian nhà mới.

Gian nhà đó nằm trên cái nền đất mà trước đấy là cái ngõ bên cạnh nhà, có giàn trầu không.

Nó cũng rộng tương đương với một gian nhà ngoài, liền kề của nhà nó.

Mái gian nối sang nhau cũng bằng tre, lợp rạ.

Nhiệm vụ vủa nó là đi mua vôi, cát, xi măng, gạch và tre nứa.

Sau đó thì làm các việc phụ như trộn vữa, chuyển gạch, chuyển tre, chuyển rạ, vv . . . .

Nhà có mấy cây soan thầy bu nó ngâm đã lâu, cộng với một ít gỗ thày nó để dành từ trước, nay thuê thợ về đóng một cái giường và một cái tủ gương mới.

Mọi việc chuẩn bị cứ thế "đến hẹn lại lên", còn vài hôm nữa thì mọi việc cũng đâu vào đấy.

Còn mấy hôm nữa là đến ngày cưới thì việc quan trọng là lo dựng rạp, kê bàn ghế, trang trí, trang âm, loa đài, . . . .

Đó là việc mà nó phải đảm nhận một mình.

Nó đạp xe sang Ban Văn Hóa xã Huỳnh Thúc Kháng liên hệ mượn được một tấm vải bạt to.

Tốt rồi, cái bạt này nó sẽ làm mái rạp.

Mái rạp dựng xong, nó sẽ huy động tất cả các chăn hoa đẹp nhất của gia đình và hàng xóm để quây xung quanh.

Rồi bàn ghế thì nó sẽ mượn ở trường cấp 2 ở ngay cuối phố, khăn trải bàn thì sẽ mượn ngay trong xã, chỗ nó làm việc.

Từ Huỳnh Thúc Kháng, nó tất tả đạp xe xuống Hưng Long, nài nỉ mượn được hai cái loa điện động, một cái am-ly (amplifier) và một mi-crô (microphone).

Rồi nó lại lao tới nhà thằng Lĩnh "Ngọng" mượn một máy quay đĩa mà thằng này mới mang ở trong nam ra.

Tất cả những thứ cồng kềnh, lủng củng đó nó buộc tất cả vào xe đạp.

Chiều đã tà, cơn mưa bão cuối thu đang rùng rùng ập đến làm cho trời bỗng nhiên sầm tối, dưới mặt đất thì gió lốc nổi lên tung cát bụi mù mịt.

"Trông trời, trông đất, trông mây", trông lại mình, một thân trơ trọi trên mặt đê cao trống vắng, nó biết nó không thể thoát khỏi cơn bão tố sắp đổ xuống đầu.

Mắm môi mắm lợi, nó trèo lên xe.

Vừa đạp được mấy vòng thì mưa bắt đầu đổ xuống sầm sập.

Khổ thân thằng còm, riêng cái bạt đã quá to và nặng, lại thêm am-ly, buộc chồng lên trên, Hai bên ghi đông phía trước lại treo hai cái loa to đùng.

Con đường trên mặt đê thì ngoằn nghoèo rắn lượn, mưa quất vào mặt nó rát ràn rạt, gió cứ tạt ngang tạt ngửa chực hất nhào nó xuống sông.

Nó phải gò lưng, cong vồng cả hai tay để ghì cái ghi đông cố gắng chống chọi với gió bão.

Tấm vải mưa nó khoác trên người bay phần phật rồi rách te tua như sơ mướp.

Hai cái loa "to tổ bố" cứ lắc bên này, bên kia, đập vào khung xe làm cho nó càng khó mà có thể trụ được.

Tiếng gió thổi vào lòng hai chiếc loa, xoáy cuộn lên một âm thanh ú ù . . .

ú ù . . . rất ghê rợn.

Chốc chốc ánh chớp sáng chói lòa đi kèm những tiếng sét nổ chói tai, rồi rền rền chạy ngang trên đầu.

Cứ chênh vênh, chòng chành như thế mà cuối cùng nó cũng về được đến nhà.

Trời cũng đã sập tối từ lúc nào.

Người ướt như chuột lột.

Loa đài, vải bạt cũng ướt sũng.

May mà cái am-ly và mi-crô nó bọc kỹ nên không bị ướt.

Nó thay quần áo, ăn vội lưng cơm, người nó mệt bã, nó nằm vật xuống và ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, các anh chị, các cháu nó lục tục kéo về.

Rạp đã bắc xong.

Nó mua giấy màu xanh đỏ các loại và giấy trang kim lóng lánh.

Nó huy động các cháu xúm vào cắt giấy và dán thành các dây xúc xích, đem chăng từ góc này sang góc kia của cái rạp.

Lá dừa được nó xin về đem kết thành cái cổng chào ở cửa chính.

Bọn cháu đã làm xong các dây xúc xích thì nó lại bắt cắt các mẩu giấy thừa thành các hoa giấy nhỏ li ti, hình tròn, hình vuông, hình tam giác, cánh hoa, . . . . rồi đem bỏ sẵn vào mấy cái hộp giấy đã được nó trang trí rất đẹp.

Hoa giấy này sẽ tung lên đầu hai họ và nhất là cô dâu, chú rể.

Cô dâu, chú rể sẽ như hoàng tử và công chúa trong phim mà nó đã từng xem.

Sáng hôm sau đón dâu thì chiều hôm trước anh Bát mới về.

Nhìn thấy nhà cửa mới, giường tủ mới, lại có rạp cưới trang hoàng lộng lẫy, anh Bát rất vui.

Tối hôm đó nhà nó vui lắm.

Họ hàng, xóm ngõ đến chơi rất đông, ăn trầu, hút thuốc, uống nước, cười nói râm ran trong tiếng nhạc sập xình.

Đêm đó nó ngủ cùng với anh Bát trong phòng cưới mới, trên giường, chăn màn, chiếu mới thơm tho.

Anh em nó thao thức không ngủ được.

Trong lòng nó cảm thấy rất hồi hộp thì chắc là anh nó còn hồi hộp hơn.

Anh Bát còn phải lo lắng chuyện ngày mai phải phát biểu như thế nào trước mặt hai họ.

Ở quê nó, lệ là thế mà, chú rể phải thay mặt cô dâu mà cảm ơn hai họ và bạn bè.

Nghĩ mãi chẳng ra, anh quay sang hỏi nó :

- Mai phát biểu thì nói thế nào ?

Nó ngồi dậy lấy giấy bút viết ra một bài phát biểu ngắn gọn, hàm nghĩa, đủ ý rồi đưa cho anh Bát học thuộc.

Anh nó cứ ngồi bên đèn hoa kỳ học suốt đêm, cứ thuộc rồi lại quên, rõ khổ.

Nó buồn ngủ quá, ngáy từ lúc nào không hay.

Đến giờ đón dâu, nó bố trí mười mấy đứa cháu cầm hộp hoa giấy đứng xếp hàng hai bên.

Khi cô dâu, chú rể về đến bên ngoài cổng, nó ra hiệu lần lượt các cháu nó từng đứa, tung hoa giấy phủ lên đầu cô dâu chú rể trong tiếng pháo nổ tưng bừng rộn rã.

Xong đợt rắc hoa "phủ đầu", các cháu nó chạy lên trước, đứng sẵn hai bên ở lối vào rạp và tung hoa tiếp khi cô dâu chú rể đến đó.

Những chi tiết độc đáo đó, cùng với sự chuẩn bị loa đài và phông vẽ của nó rất cầu kỳ, rức rỡ làm cho cả làng và hàng phố phải khen là đám cưới đẹp hiếm có và hoành tráng nhất làng.

Nó tự hào lắm !

Cũng bõ bao nhiêu công vất vả, mệt nhọc.

Biết bu nó khó tính đối với chị dâu từ ngày yêu và bước chân về làm dâu, nó luôn quan tâm giúp đỡ chị Yến.

Dẫu sao cũng là bạn học một thời của nó.

Nó luôn bênh vực chị mỗi khi bu nó cằn nhằn hay than phiền về chị.

Trong bữa ăn, sợ chị nó ngại, nó toàn gắp các miếng ngon cho chị.

Hồi đó, chị Yến làm ở trại chăn nuôi, thỉnh thoảng chị nó mua được một ít tóp mỡ thái to đã rán lấy mỡ mang về kho với cà chua ăn ngon cực kỳ.

Thời bao cấp, kinh tế có khá hơn lúc còn chiến tranh nhưng vẫn thiếu thốn đủ thứ.

Mà, nhất là thiếu cái ăn thì khổ vô chừng, ăn cái gì cũng ngon, nhìn cái gì cũng thèm.

Bảo làm sao mà có thể khá được.

Cưới vợ xong, anh nó trở lại đơn vị.

It lâu sau anh chuyển ngành về gần nhà, làm công nhân trong nhà máy bao bì xuất khẩu ở Phố Nối.

Còn nó cũng rời quê hương, bước vào quân ngũ, bắt đầu mở ra một trang mới của cuộc đời.

CHƯƠNG IV BƯỚC NGOẶT Cuối năm 1975, sau khi làm đơn xung phong nhập ngũ, nó đi khám một lần nhưng vì sức khỏe yếu, nó được sung vào quân dự bị địa phương.

Đến năm 1976 nó đi khám lại, trong kết luận, sức khỏe của nó là b2.

Ít ngày sau đó, nó nhận được giấy báo nhập ngũ.

Theo đúng ngày trong giấy báo, nó đến tập trung ở huyện thì được phát quân tư trang.

Sau đó người ta lại cho nó về và hẹn phải có mặt vào ngày "Giao Quân".

Trước hôm lên đường, thầy bu nó làm mấy mâm cơm mời họ hàng, con cháu đến liên hoan chia tay.

Hôm đó, hàng xóm trong làng, Ủy Ban xã và các đoàn thể đến động viên chia tay rất đông.

Đến khuya, khi mọi người đã về hết, anh Đường anh cái Huệ (bạn học và bạn chăn vịt thuở nào), vừa ở chiến trường ra, anh sang chơi để tiễn nó.

Trong khi thầy bu và các chị chuẩn bị kiểm tra ba lô cho nó, xếp sắp từng cái tăm, gói kim chỉ, bàn chải, khăn mặt, kem đánh răng, vv . . . .

Anh Đường tâm sự với nó những chuyện lính, rất nhiều.

Anh dặn nó lối sống, cách cư xử trong tập thể ra sao, kinh nghiệm hành quân cho đỡ mệt thế nào, . . . .

Nó vẫn nhớ lời anh dặn mà nó coi như châm ngôn sống và làm theo cho đến tận bây giờ: "Tuyệt đối khiêm tốn, không dậy khôn, không tranh luận đến cùng, nói ít nghe nhiều, luôn học hỏi cầu tiến bộ".

Anh Đường về rồi, bu nó mới lôi từ trong tủ ra hai cái đồng hồ Pôn–dốt (Poljot) mới cứng, đưa cho anh Bát một cái và nó một cái.

Bu bảo nó mang đi mà xem giờ giấc và cũng là để làm vật kỷ niệm.

Nó đang cảm động, muốn ứa nước mắt vì lần đầu tiên nó được cho một thứ đắt tiền đến như vậy.

Nó hiểu rằng đây là lưng vốn dành dụm của bu nó bấy lâu.

Đang cảm động, chưa biết nói gì với bu thì bu nó lại lần bao tượng, lôi ra một cái khăn vải, trong gói cái nhẫn vàng một chỉ, bắt nó đeo vào tay.

Bu bảo để đề phòng nhỡ có chuyện gì khi xa gia đình thì còn tự lo liệu.

Rồi bu còn đưa cho nó một ít tiền mặt nữa.

Nó nhìn nét mặt bu nó đầy thương cảm, mới hiểu tấm lòng của người mẹ già, gày guộc, còm cõi, suốt đời chỉ vì chồng vì con.

Hôm lên đường, từ sáng sớm, tiếng trống ếch vang rền trên phố huyện, cờ và khẩu hiệu chăng khắp nơi.

Các tân binh và người thân đưa tiễn từ khắp nơi đổ về hội trường Ủy Ban huyện.

Tới giờ tập trung, hơn 500 người tân binh xếp hàng ngoài sân rồi vào ngồi kín hội trường.

Không đủ chỗ trong hội trường nên một số anh em phải ngồi cả hai bên hành lang.

Bâu lấy xung quanh là các người thân đến tiễn, chen lấn xung quanh đám lính, bất cứ chỗ nào có thể đứng được, kể cả trên khán đài.

Ủy Ban nhân dân huyện, huyện đội cùng đơn vị nhận quân thực hiện "Lễ Giao Quân".

Sau lễ chào cờ, Ủy Ban và đơn vị lên đọc các quyết định, thủ tục và phát biểu động viên anh em lính mới.

Cứ sau mỗi thủ tục lại là một đoạn nhạc đệm vang lên.

Nó ngồi dưới rất hồi hộp vì nó được chỉ định thay mặt các tân binh lên phát biểu và đọc quyết tâm thư.

Thế rồi sau bài phát biểu của đơn vị nhận quân, kết thúc đoạn nhạc đệm, tiếng người dẫn chương trình vang lên :

- Xin mời đồng chí Nguyễn Trọng Thập, thay mặt cho các đồng chí tân binh lên đường hôm nay lên phát biểu cảm tưởng.

Nó đứng dậy đi lên khán đài trong tiếng hoan hô và tiếng reo hò của đám tân binh và của người thân lính xung quanh, rất nhiệt tình, ầm ỹ.

Tiếng vỗ tay và reo hò hưởng ứng còn lớn hơn hẳn so với các phát biểu của các quan chức trước đấy.

Nó cảm thấy hơi lúng túng, nhưng nó cũng phát biểu được đôi lời cảm tưởng được đứng trong hàng ngũ bộ đội, là vinh dự, tự hào, là trách nhiệm, . . . .

Rồi nó đọc "Quyết tâm thư" mà nó và mấy anh ở huyện đội đã rà đi soát lại từ hôm trước.

Đến đoạn cuối, nó "Đề nghị tất cả các đồng chí đứng dậy để tuyên thệ".

Đọc xong các lời thề, nó dõng dạc hô "Xin thề, xin thề, xin thề !".

Dưới cờ, mấy trăm cánh tay cùng dơ lên và đồng thanh hô "Xin thề, xin thề, xin thề . . . !".

Liền ngay đó là tiếng nhạc kèn vang lên cử bài "Tiến bước dưới quân kỳ".

Lần đầu tiên nó thấy âm điệu của bản nhạc sao mà trầm hùng, thôi thúc và có sức âm vang đến thế.

Theo cùng với tiếng nhạc đó là tiếng trống ếch và tiếng pháo nổ rền vang . . . .

Sau "Lễ Giao Quân", đơn vị cho anh em tân binh hành quân lên ga Lạc Đạo cách đó hơn chục cây số.

Đội hình hành quân theo hàng đôi, dài dằng dặc.

Một số người thân cũng dong xe đạp đi theo.

Trên đường hành quân, qua nhiều làng nó thấy có rất nhiều trẻ con và người lớn cầm cờ túa ra đường vẫy vẫy, chúc lên đường mạnh khỏe.

Tới sân ga Lạc Đạo, nó thấy tân binh ở các huyện khác nữa cũng tập trung ở đây.

Anh em tân đứng thành các khối lớn theo hàng ngũ.

Tại đây, người ta tổ chức biên chế lính mới thành các đại đội, trung đội, tiểu đội.

Nó được "biên chế" vào đại đội 21, trung đội 2, tiểu đội 4.

Đại đội nó thuộc quân số trung đoàn 136, Bộ Tư Lệnh Thông Tin.

Anh em trong làng xã nó bị phân tán mỗi người một đơn vị.

Cũng may, đại đội nó có mấy đứa cùng làng, thằng Hiệp, Quy, Hiển, Sinh, Thìn.

Lại thêm có thằng Bội, bạn nó ở bên xã Minh Đức nữa.

Đứng trong hàng ngũ đơn vị mới, nhìn hết một lượt cả đại đội, hầu hết là những gương mặt lạ.

Rồi nó thấy thỉnh thoảng, tiểu đội trưởng của nó đi từ trên đầu hàng xuống, cứ nhìn đi nhìn lại từng anh em trong tiểu đội.

Chắc anh ấy muốn ghi nhớ các gương mặt của từng người lính mới mà anh ấy sẽ phải quản lý.

Rồi nó thấy cả trung đội trưởng của nó, cả đại đội trưởng của nó cũng có động tác tương tự như vậy.

Nhưng thật là lùng, nó không có cảm giác bị dò xét mà lại cảm thấy yên tâm.

Nó xa gia đình người thân nhưng luôn có người để mắt lo lắng cho nó.

Nó cảm thấy cái tập thể mới này rất vững chắc mà nó có thể yên tâm gắn bó.

Đã yên tâm, nó liếc mắt sang các đơn vị khác cũng đang tập trung ở sân ga.

Ái chà !

Bọn con gái nhập ngũ lần này đông quá, dễ có đến trên một trăm đứa.

Cũng phải thôi, lính thông tin mà.

Lính mới tò te, nó chưa biết gì về việc chỉ huy, hay trực ban, gì gì đó nhưng nó thấy người ta sử dụng rất nhiều tiếng còi để điều khiển và ra lệnh.

Mấy thủ trưởng đeo băng đỏ, thổi còi liên tục, hướng dẫn từng đại đội lên tàu.

Không biết tàu sẽ đưa chúng nó đi đâu nhưng chắc chắn là chạy về phía Hà Nội.

Rồi đoàn tàu cũng chuyển bánh, lính tráng thò đầu ra ngoài cửa sổ để vẫy tay từ biệt các người thân đang đứng tiễn dưới ga.

Suốt quãng đường tàu chạy trên đất Hải Dương rồi Hưng Yên, thỉnh thoảng lại có mấy chú nhà ở gần đường tàu nhao ra cửa sổ, đau đáu nhìn về nhà, hy vọng có thể nhìn thấy người thân hay ít nhất là nhìn lại ngôi nhà thân yêu một lần nữa.

Con tàu chạy qua ga Hàng Cỏ ở Hà Nội mà không dừng lại, nó cứ chạy băng băng, thông qua rất nhiều ga để cuối cùng dừng lại ở ga Thường Tín.

Anh em được lệnh xuống tàu, tập trung theo đơn vị dưới sân ga.

Từ đây, chúng nó hành quân bộ đi vào các đường làng.

Không lâu sau, đại đội nó đã đến vị trí tập kết.

Nó thấy lạ lùng là vừa dừng chân có một tý thì đã có người dẫn từng tốp vào ở nhờ trong nhà dân.

Mỗi tiểu đội, trung đội của đại đội nó được ở thành từng cụm, đâu vào đấy.

Bộ đội có khác, làm gì cũng có chuẩn bị trước,chắc chắn, nhanh gọn và chính xác.

Một tháng đóng quân ở làng Vồi, các tân binh chưa phải tập tành gì mà chỉ học chính trị, học hát và nghỉ ngơi.

Hóa ra đây chỉ là đơn vị tạm thời.

Tân binh chờ các đơn vị khác nhau đến nhận quân.

Đóng quân cùng xóm nó lại có một đơn vị toàn lính nữ.

Các chú bộ đội rất nhanh đã lân la làm quen với các "thím".

Nó đã quen và chơi với mấy "thím" là cái Nhã, cái Lịch, cái Linh cái Cần, cái Đông, cái Oanh.

Tối nào, bọn con gái cũng sang nhờ nó vẽ vào sổ tay, vẽ vào khăn để thêu, . . . .

Bọn con gái có vẻ thích nó lắm thì phải.

Có lẽ một phần là vì các "thím" thấy nó mang theo cả đàn ghi ta, máy ảnh, lại có cả cuốn tiểu thuyết "Thép Đã Tôi Thế Đấy" trong ba lô.

Kinh thật !

Một chàng lính "công tử", "tài tử", "tài hoa" và "lãng mạn" như thế, thím nào chẳng "chết".

Trong số mấy đứa bạn gái đó, cái Cần thích nó nhất, ra mặt.

Cái Cần rất trắng, "trắng như ngó cần", người lại cao đẹp mới chết nó chứ.

Cái Cần thấy nó ước có một đôi dép đúc và cái thắt lưng Tàu, thế là thím ấy lùng bằng được để tặng nó.

Tình cảm của cái Cần chẳng phải làm nó không xao xuyến nhưng cái Cần so với Hợi thì không đẹp bằng mà nó lại đang yêu cái Hợi.

Nó định sau năm năm hết nghĩa vụ sẽ cưới cái Hợi.

Vì thế, hầu như nó không để ý tới Cần.

Nhưng mà nó càng không để ý bao nhiêu thì cái Cần càng "chết" bấy nhiêu và càng cố hết sức để chinh phục nó.

Đóng quân ở làng Vồi được hơn một tháng thì trong cái tháng ấy, nó lần lượt phải chia tay các đồng đội.

Một số đứa chuyển đi học y tá, anh nuôi, văn thư, công vụ ở Sơn Tây, vẫn thuộc Bộ Tư Lệnh Thông Tin.

Một số đồng đội bổ sung cho pháo binh và tăng thiết giáp.

Một số đứa như nó ở lại thông tin thì chuẩn bị chuyển quân đi nam.

Ngày Chủ Nhật cuối cùng ở làng Vồi, đơn vị cho phép lính đi chơi từ chiều thứ 7.

Đứa nào đứa nấy mừng rỡ reo hò, rồi cả lũ kéo nhau ra đường Quốc lộ Một, vẫy xe đi nhờ về Hà Nội.

Thật là may, có một chiếc xe tải thấy tân binh, động lòng dừng lại.

Chúng nó nhảy tất cả lên thùng xe và chỉ một lúc sau đã đến ga Hàng Cỏ.

Chiếc xe đỗ lại và cả lũ lại nhảy xuống.

Nó lúng túng thế nào khi tụt khỏi xe để ống quần bên phải móc vào mấu thép ở thành xe, xé toạc chiếc quần quân phục vải Tô Châu mới khự của nó, từ gấu lên đến bẹn.

Nó ngượng quá vừa đi vừa giữ ống quần.

Giữ được trên thì hở dưới, gió thổi bay lật phật, hở cả bắp chân.

Nó đi bộ vào mãi đến Trần Quý Cáp mới tới một hiệu may của một ông già.

Ông may lại quần cho nó mà nó trả tiền ông nhất định không lấy.

Ông bảo "Có đường sút chỉ có đáng là bao, ai lại lấy tiền của bộ đội.".

Nó cảm ơn ông, ung dung đi tắt đường sang ngõ Yên Thế để về với Hợi của nó.

Thành phố đã lên đèn, gia đình Hợi đang ăn cơm thì nó đột ngột xuất hiện trong bộ quân phục mới làm cả nhà Hợi ngỡ ngàng.

Sau phút bất ngờ, mọi người vui lắm, tíu tít sắp bát đũa cho nó cùng ăn.

Hợi vui ra mặt còn Cúc Hoa cũng cười với nó nhưng nó có cảm giác Cúc Hoa không vui.

Thoáng qua trong đầu nó cảm thấy thế, đang yêu và đang ở trước mặt người yêu thì tất cả cái gì khác đều không quan trọng.

Không biết về sau này nó có tự hỏi, giá mà lúc đó nó để ý một chút ?!

Bữa ăn vừa xong thì anh Mận người yêu Cúc Hoa tới và đón Cúc Hoa đi chơi.

Hợi thì hỏi mượn xe đạp của anh Giáp, anh trai Hợi, để hai đứa đèo nhau ra phố.

Nó đèo em lòng vòng một hồi lâu rồi hai đứa dừng lại trong bóng cây của vườn hoa trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc, lúc bấy giờ gọi là vườn hoa Chi Lăng hay gọi một cách dân dã là vườn hoa Cột Cờ (bây giờ là vườn hoa Lê Nin).

Nó dựng xe rồi hai đứa ngồi xuống một chiếc ghế đá.

Em nhẹ nhàng ngả đầu tựa vào vai nó.

Tay em liên tục vuốt ve bộ quần áo lính còn miệng em thì líu lo kể về việc thi cử, học hành và đủ các thứ chuyện khác chứa chất trong lòng ngày hai đứa xa nhau.

Nó quàng tay qua, ôm ghì lấy vai em, cảm giác như trong tay nó đang có một chú chim nhỏ vui tươi, nhí nhảnh và run rẩy.

Sợ làm em mất vui, lưỡng lự mãi rồi nó mới nói, giọng buồn bã :

- Mai anh về đơn vị.

Cả đơn vị anh sẽ chuyển quân vào Nam.

Giờ lâu hai đứa im lặng.

Nó biết em rất buồn nhưng nó chẳng ngờ được cho đến khi nó giật mình xoay mặt em lại thì thấy em đang khóc trong im lặng.

Hai hàng nước mắt cứ thế tự nhiên chảy không ngừng nghỉ, loang loáng trên hai gò má.

Em khẽ nấc lên rồi "xịt" nhẹ một tiếng, nói trong nước mắt :

- Anh có đi đâu ở đâu, dù bận thế nào thì bận, cũng phải viết thư cho em đấy nha !

- Ừ !

Anh sẽ viết thư nhiều cho em.

Anh hứa đấy !

Em cũng hứa thế nhé !

Ở Hà Nội "người ta"

vui chơi, sung sướng, "người ta" dễ quên anh lắm.

- Không !

Em sẽ chờ.

Em đã nộp đơn thi vào trường Ngân Hàng(*).

Anh đi nghĩa vụ mấy năm

trở về, lúc đó em cũng ra trường.

Mình cưới nhau anh nha !

Hai đứa hứa hẹn với nhau rất nhiều về chuyện cưới, cứ như là cảnh hai đứa sắp sửa lên xe hoa đến nơi.

Giấc mơ lứa đôi lúc nào cũng được ở bên nhau, thật là hạnh phúc.

Mơ ước thật là tinh khôi, chân thành và giản dị.

Lời hứa thật sự là thôi thúc, cháy bỏng và bền chặt, chẳng gì có thể chia cắt được . . .

Nó cảm động ôm chặt em vào lòng.

Nó hôn em lên môi, ngọt ngào, tha thiết và mặn mòi nước mắt của em.

Nước mắt người yêu cứ tuôn chảy không thôi, ướt đẫm vai áo nó.

Tối hôm đó, nó ở lại nhà Hợi, ngủ cùng anh Giáp.

Sáng hôm sau mẹ Hợi đi chợ về mua khoai và sắn cho cả nhà ăn sáng.

Rồi nó đèo Hợi sang chơi nhà chị Dụng.

Sau đó hai đứa còn vào rạp Tháng Tám xem phim.

Đi đâu em cũng khoác tay nó có vẻ hãnh diện lắm.

Nó cũng vậy, lần đầu tiên có người yêu để mà hiên ngang khoác tay giữa phố phường Hà Nội.

Ba giờ chiều em đưa nó ra bến xe Kim Liên (bây giờ là khách sạn Nikko Hà Nội, đối diện với Rạp Xiếc Trung Ương).

Em đứng giữ xe đạp còn nó vào mua một vé đi Thường Tín.

Lúc xe chưa chạy hai đứa cứ đứng quấn quýt bên nhau bên cạnh chiếc xe khách.

Khi chiếc xe nổ máy hai đứa còn bị rịn, dùng dằng một lúc rồi nó mới vội nhảy lên xe.

Em nhìn theo nó, vẫy tay, mắt đỏ hoe, ngân ngấn nước.

Khoảng một tuần sau, đúng ngày đơn vị nó lên đường, anh Giáp đèo Hợi tới thăm.

Em đưa cho nó mấy bao thuốc lá, một ít thuốc cảm cúm, một hộp tăm, một cái bật lửa.

Quý nhất là em tặng nó một cuốn sổ mà trang đầu là dòng chữ nắn nót của em "Thương mến tặng anh yêu !".

Ở những trang sau là mấy chục bài thơ mà em chọn lọc, chép tay, những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Chế Lan Viên.

Cuối cùng em còn tặng nó một chếc bút máy màu nâu, trên đó có khắc một đôi chim bồ câu và dòng chữ "Nhớ mãi - Đừng quên".

(*)Lúc đó là Trường Cao Cấp Nghiệp Vụ Ngân Hàng, chưa đào tạo Cao Đẳng và Đại Học.

Cả đơn vị nó tập trung tại sân kho của hợp tác xã làng Vồi.

Anh Giáp và Hợi cũng sẽ đi theo đơn vị để tiễn nó ở ga tàu.

Sau khi các thủ trưởng kiểm tra quân số, quân tư trang của lính, đơn vị hành quân bộ ra ga Thường Tín.

Dân làng đứng ở sân kho vẫy tay chào : "Đi nhớ !

Đi mạnh giỏi nha !

Ở lại mạnh khỏe nha ! . . ."

Ra đến ga, cả đơn vị lại đứng vào hàng ngũ để kiểm tra lại lần cuối trước khi lên tàu.

Sau khi chúng nó lên tàu, ổn định chỗ ngồi, từng tiểu đội, trung đội lại kiểm tra lại quân số một lần nữa.

Riêng nó, đứng bên cửa sổ để chia tay anh Giáp và Hợi.

Tiếng còi tầu hý lên lanh lảnh.

Nó nhoài người ra ngoài bắt tay anh Giáp rồi chuyển sang nắm lấy tay em.

Đoàn tàu rùng rùng rồi bắt đầu chuyển bánh.

Nó lắc lắc tay em một lần cuối.

Khi tay nó rời khỏi tay em thì cũng là lúc nó thấy mắt em lại đỏ hoe.

Em chạy theo tàu, tay em vẫy vẫy :

- Đi nha anh !

Nhớ viết thư cho em . . . . !

Tàu tăng tốc dần dần chạy hết nhà ga.

Em không thể chạy theo nữa, chỉ giơ tay vẫy vẫy.

Nó dướn hết cổ ra ngoài hét to :

- Ở nhà khỏe nha !

Anh đi nhá . . . . !

Các hàng cây bên đường, đồng ruộng, xóm làng, vùn vụt lướt qua hai bên cửa sổ.

Lần đầu tiên được đi xa, qua những vùng đất mới lạ, lính trẻ rất hào hứng.

Rồi một đứa bỗng cất cao giọng bắt nhịp cho cả toa cùng hát "Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận, trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác . . . .".

Một số chú lính vừa hát vừa thò tay ra ngoài cửa sổ phía bên phải, vẫy vẫy những người làm đồng đang hối hả đi về làng trong hoàng hôn chạng vạng.

Mấy đứa ở bên trái thì vẫy tay chào những người đi đường trên xe đạp hay trên ô tô ở ngay trên con đườn Một chạy song song với tàu.

Một đứa bỗng kêu to lên :

- Gửi thư đi anh em ơi . . . . !

Những lá thư viết sẵn được móc ra từ túi áo, túi quần và túi cóc của ba lô, cứ thế được ném túa xuống đường trong tiếng gào theo của lính :

- Nhờ chuyển hộ nhớ . . . . !

Nó đã xa nhà hơn tháng nay, mà sao bây giờ nó mới cảm thấy thực sự đi xa, thực sự rời bỏ quê hương ở lại phía sau để đi đến những miền đất mới.

Đi và đi, chẳng biết sẽ đến nơi nao.

Nó cảm thấy trong dạ bồn chồn, xao xuyến nhớ quê nhà và có gì đó háo hức của tuổi trẻ bởi hấp dẫn chào mời của những vùng đất mới, bởi những bất ổn và đe dọa của những điều không định trước.

Sương chiều nhẹ buông.

Đằng đông vầng trăng thu vàng óng, tròn vành vạnh dần dần dâng lên, nhấp nhô, thấp thoáng sau những ngọn tre đang nghiêng ngả trong gió.

Trên tàu anh em vẫn hát, hết bài này sang bài khác.

Nhưng càng về khuya tiếng hát cứ yếu dần rồi lịm hẳn.

Phần lớn anh em đã chìm vào giấc ngủ.

Nó ôm cây đàn, nhìn trăng lên, tay lướt qua các phím đàn, cất tiếng hát khe khẽ : "Trăng lên trên đồi hoa sim, có nghe thấy tim vọng về . . . .".

Nó đang nghĩ đên Hợi, nhớ em da diết.

Con tàu cứ hối hả chạy xình xịch như đệm thêm cho tiếng hát lòng của nó, thiết tha.

Vầng trăng đã lên đến đỉnh và đang dần vượt vắt ngang qua đường chạy để vượt sang phía Tây, về ngàn.

Ánh trăng bàng bạc trải trên những đồi sim lúc ẩn, lúc hiện, nhấp nhô lượn sóng.

Nơi chân trời đằng Đông phía xa xa, một quầng màu hồng xậm lờ mờ giao hòa với màu bạc của ánh trăng, mung lung như sương khói.

Chắc hẳn không bao lâu nữa ánh ngày của Mặt Trời sẽ lấn át ánh đêm của Vầng Trăng.

Thế là nó sắp qua một đêm, một đêm phiêu diêu trên một con tàu xuyên ánh trăng thu vằng vặc.

Một kỷ niệm không thể quên của đời lính.

Tờ mờ sáng, đoàn tàu từ từ vào ga rồi dừng lại.

Đây là ga Vinh.

Đại đội cho phép lính xuống sân ga làm vệ sinh và ăn sáng trong thời gian một tiếng.

Lính tráng túa nhau đổ xuống sân.

Nào thì bát sắt khua lanh canh, nào thì khăn mặt, tất cả đều châu vào mấy cái vòi nước công cộng.

Lính tráng đang tranh nhau đánh răng và rửa mặt.

Rồi theo hàng ngũ cứ sáu chú vào một bàn ăn để ăn sáng trong nhà ga.

Bữa sáng hôm đó mỗi chú được ăn mỗi đứa một bát cơm trắng, nhưng thức ăn thì chỉ có nước mắm nấu loãng với mấy cái váng mỡ lốm đốm trên mặt nước.

Đang đói, chúng nó đánh vèo cái thì đã trơ đáy nồi.

Một tiếng đồng hồ, vừa vệ sinh vừa ăn sáng đã xong.

Đoàn tàu lại tiếp tục chuyển bánh.

Lúc này đoàn tàu đi dần lên vùng đồi núi của Hà Tĩnh.

Cả đêm qua nó thức nên bây giờ nó thấm mệt và gật gà gật gù ngồi ngủ.

Không biết đoàn tàu đã đi bao lâu, nó chợt tỉnh dậy vì có tiếng ồn ào chuẩn bị ăn trưa ngay tại chỗ.

Mỗi đứa được phát một cái bánh mỳ và một phong lương khô.

Kể ra khẩu phần ăn như thế là khá nhiều rồi.

Ăn trưa xong nó lại ngủ tiếp.

Chiều tà, nó thấy đoàn tầu đã "hạ sơn" từ lúc nào.

Phía bên trái đoàn tàu là những đồi cát trắng ngà lướt qua, nhấp nhô.

Đột nhiên nó nhìn thấy xa xa, phía chân trời là mênh mông trời và nước.

Thì ra biển đang ở rất gần, chỉ cách đoàn tàu vài bốn cây số.

Gió lồng lộng từ biển thổi vào, mát lịm, mang theo vào không gian vị mặn mòi của biển hay của một làng chài nào đó.

Nó chưa biết đây là đâu, chỉ chắc một điều, đây là mảnh đất miền trung đầy nắng gió.

Về sau này nó mới biết, lúc đó nó đang đi qua sân bay Đồng Hới.

Đoạn này đường tàu khá gần biển, qua sân bay trống trải nó nhìn được biển.

Quãng bẩy giờ tối, đoàn tàu từ từ vào ga rồi dừng lại.

Lính được lệnh vào ga để ăn tối trong khi đoàn tàu làm tác nghiệp kỹ thuật.

Đây là ga Đồng Hới của Quảng Bình.

Đã là buổi tối một ngày cuối thu, mà sao cái đất Quảng Bình vẫn nóng thế.

Có cảm tưởng như gió thổi cũng có "vị" nóng, một cái nóng nhễ nhại, vật vờ.

Nó không còn thấy đâu ngọn gió mát từ biển thổi vào như lúc ở trên tàu.

Có hiệu còi của đại đội rúc lên từ phía cửa nhà ga, lệnh cho chúng nó xếp hàng vào nhà ăn.

Lính cầm bát đũa khua lanh canh rồi xếp hàng theo đội hình 6 hàng dọc trước cửa nhà ga.

Rồi sáu người theo hàng ngang lần lượt vào nhà ăn.

Mùi thức ăn thơm nức mũi làm lính tráng thèm rỏ rãi.

Mỗi người được một xuất là một bát mỳ.

Ngon quá !

Đứa nào đứa nấy, rất nhanh, không gì kiềm chễ nổi, bập ngay vào bát mỳ mà húp roàn roạt.

Kinh !

Lính ăn rào rào "như tằm ăn rỗi".

Nào ngờ, cũng rất nhanh, đứa nào đứa nấy bật ngửa ra, nhè vội nước và mỳ ra bát, ra sàn nhà, lại còn khạc nhổ, móc họng và ho sặc sụa, nước mắt nước mũi giàn giụa, . . . .

Những thằng lính "Khu Ba" đâu có ngờ đồ ăn của "Khu Bốn" lại cay đến xé họng xé ruột chúng đến như thế.

Môi thằng nào cũng cay xè và sưng phồng lên hết cả một lượt.

Một trăm phần trăm lính mới của đại đội nó không thằng nào ăn được một miếng.

Tất cả đều bỏ bữa, vừa đói, vừa tiếc.

Một kỷ niệm không thể quên.

Lính tráng xuýt xoa vì cay, ôm bụng đói lên tàu.

Đoàn tàu tiếp tục chạy mải miết về phía nam.

Những đứa nào còn lương khô hay bánh mỳ đều mang ra cho anh em chén hết mà chả thấm tháp gì, chỉ còn cách uống nước trừ bữa.

Nó đang ngủ gà ngủ gật thì đoàn tàu rùng mình giật giật rồi từ từ đỗ lại.

Đêm nay trăng cũng sáng vằng vặc nên nó nhìn thấy tàu đang đỗ trong một cái ga nào đấy.

Lính được lệnh xuống ga tập hợp và tiếp tục hành quân bộ.

Lúc tập hợp ở sân ga nó mới thấy cái ga này cũng là một ga hàng hóa lớn.

Nghe loáng thoáng thủ trưởng nào bảo đây là ga Đông Hà.

Đơn vị nó chỉ hành quân một đoạn ngắn, tới một đoạn đồi có rừng phi lao lưa thưa với những cây phi lao cao lớn.

Mỗi tiểu đội được phân một khu vực, triển khai mắc võng hay chọn chỗ trải nylon để nghỉ ngơi.

Anh nuôi nổi lửa nấu cơm cho cả đơn vị.

Chỉ một lúc sau chúng nó đã được chén cơm nóng với ruốc mặn.

Đang đói, thằng nào thằng nấy ăn băng băng ba bốn bát "Bê Năm Hai".

Ăn xong, trừ những đứa phải gác, đứa thì trèo lên võng, đứa thì lăn xuống nylon.

Chỉ một loáng, cả đơn vị đã chìm vào giấc ngủ, say sưa như chết.

Hai ngày đêm xình xịch trên tàu cũng mệt, lại được bữa căng diều, "căng bụng, trùng mắt" mà lị.

Nó giật mình tỉnh giấc vì tiếng còi lanh lảnh báo thức.

Toàn đơn vị thu xếp quân tư trang để hành quân tiếp.

Từ đám rừng phi lao thưa, chúng nó đi bộ một quãng ra mé đồi thì đã thấy rất nhiều ô tô đang từ đâu di chuyển đến và đỗ lại trên một con đường đất đồi đỏ quạch mà sau đó nó mới biết người ta gọi là "đường tăng".

Lần đầu tiên nghe cái từ "Đường Tăng" làm nó bật cười nghĩ đến Đường Tam Tạng đi lấy kinh.

Hóa ra đó là những con đường xe tăng, xe quân sự chạy mà thành.

Mỗi trung đội được bố trí lên một chiếc xe Zin ba cầu.

Cả đoàn xe dài dằng dặc rùng rùng chuyển động.

Đoàn xe chạy trên đường tăng một đoạn thì rẽ ra đường Một.

Cả đoàn xe Zin nối đuôi trên đường Một trông thật kỳ vĩ, chưa lần nào nó thấy như thế.

Có xem phim thì cũng chỉ thấy đoàn xe chở lính ngắn thôi mà xe nào cũng phủ kín lá ngụy trang.

Đằng này đoàn xe rất dài, không phải cắm lá ngụy trang, cứ hiên ngang mà rồng rắn giữa ban ngày ban mặt.

Hết chiến tranh rồi, lính cũng sướng thật.

Đoàn xe cứ thế chạy một lèo dọc theo đường Một.

Trên đường, đâu đâu nó cũng thấy tàn tích chiến tranh còn nóng hổi.

Những căn nhà đổ nát, những doanh trại lính thép gai bùng nhùng, những lô cốt đắp bằng bao cát lở loét đầy vết đạn.

Trên mặt đường các hố pháo băm nát đường đây đó rất nhiều.

Nó có cảm tưởng như đâu đó khói lửa vẫn mơ màng bảng lảng bay lên từ những đống đổ nát hoang tàn đang còn âm ỉ cháy.

Mũ sắt, vỏ thùng đạn, xe Zeep cháy, xe tăng đứt xích và rất nhiều đạn pháo chưa bắn vương vãi khắp nơi.

Cảnh cổng trại lính đổ xiêu vẹo, các khu gia binh lộn nhào những đồ đạc một cách lộn xộn, lung tung, bừa bãi trong một cuộc tháo chạy tùy nghi quy mô chưa từng có dường như vừa mới diễn ra ngày hôm qua.

Dọc đường lính háo hức và ngơ ngác nhìn ngắm ruộng đồng, làng quê miền Nam.

Tuy ruộng đồng thì đâu cũng vậy, chẳng khác miền Bắc là bao, nhưng điểm khác đầu tiên mà chúng nó thấy chính là, ở trong này người ta không mang lúa về nhà mà đập lúa hoặc tuốt lúa ngay ngoài ruộng.

Có nơi, người ta đập lúa vào một cái thùng gỗ lớn, có nơi người ta dùng máy tuốt lúa đạp chân ngay tại ruộng.

Thóc được một cái quạt thùng quay tay phành phạch thổi sạch bụi cát, rơm, hạt lép, . . . .

Rơm rạ thì được bỏ ngay ngoài đồng để làm phân bón cho những vụ sau.

Làng quê miền Nam cũng có những lũy tre xanh và cây cối xum xuê, ôm trọn xóm mạc trong vòng tay tán lá của chúng, nhưng khác biệt nhất là dừa.

Những cây dừa đủ loại thì đâu cũng có, cây thì xòa bóng xuống mặt nước, cây thì nhấp nhô trên ngọn những cây khác với cái dáng riêng biệt bởi các tay lá vươn lên nền trời như đung đưa vẫy vẫy hay cong xõa xuống mặt hồ.

Khác lạ nhất là nhà cửa ở những vùng cát trắng.

Trên những trảng cát trắng phau chạy dài đến nhức mắt, các ngôi nhà thấp mái, san sát, lợp tôn phản chiếu mặt trời chói lóa.

Trông mà đã thấy nóng phát kinh.

Các thị trấn và thành phố miền Nam thì khác hẳn với miền Bắc bởi nhiều nhà tầng cao san sát.

Đâu đâu cũng thấy biển quảng cáo đủ các kích cỡ, treo cao, treo thấp quảng cáo cho rất nhiều loại hàng hóa với đủ các hình vẽ và kiểu chữ cầu kỳ lạ mắt.

Xe máy, xe lam, xe lôi nhiều vô kể, mà ô tô cũng lắm.

Trong các gia đình thành phố ở miền Nam lúc đó, ti vi, quạt điện, tủ lạnh, máy nghe nhạc rất nhiều và hầu như nhà nào cũng có.

Những thứ đó ở miền Bắc rất hiếm.

Ở miền nam, hoa quả được gọi là trái cây, đặc biệt rất nhiều và phong phú.

Nhiều thứ trái cây rất lạ vì anh em lần đầu được nhìn thấy và được "thưởng lãm".

Nào thì chôm chôm, vú sữa, nào thì sầu riêng, măng cụt, . . . .

Những trái cây vừa nhiều, vừa lạ, vừa ngon.

Tuy hòa bình cũng đã lâu lâu, người dân cũng đã quý bộ đội nhưng vẫn có gì đó sợ sệt, khúm núm.

Đó là chưa kể những ánh mắt hoài nghi, thậm chí là hằn thù, . . . .

Đoàn xe chạy qua thị trấn An Nhơn của Bình Định một quãng thì vượt qua cầu Bà Di.

Qua cầu, đột ngột đoàn xe rẽ về phía tây, rời bỏ con đường Một mà chúng đang chạy băng băng và êm ái.

Con đường mà chúng rẽ vào cũng là một con đường Quốc lộ nhưng nhỏ hơn và chất lượng không được tốt bằng.

Mãi về sau này nó mới biết đấy là đường Quốc lộ 19, một con đường huyết mạch nối Quy Nhơn với các tỉnh Tây Nguyên.

Lúc đó, chúng nó là lính mới tò te, chưa ai từng đi xa quê hương như lần này.

Chẳng đứa nào biết đâu vào với đâu, kể cả các thủ trưởng trung đội và tiểu đội.

Nó cứ nhìn vào các cột cây số mà biết là sắp đi tới địa danh nào, những cái tên lạ hoắc, huyện Tây Sơn, đèo An Khê, thị xã An Khê, đèo Mang Yang, huyện Mang Yang, huyện Đăk Đoa, . . . .

Càng đi về phía tây đồi núi càng trùng trùng điệp điệp.

Còn mấy cây số nữa thì đến thị xã Pleiku.

Anh em rất phấn khích.

Phen này chúng nó được ở thị xã thì sướng quá.

Chắc hẳn được ở nhà lầu, có đèn điện.

Ai mà biết được đời lính chẳng có lúc "lên tiên".

Đoàn xe lính rồng rắn chạy trong thị xã plâycu.

Lính tráng rất tí tởn ngắm phố xá, xe cộ và hy vọng đoàn xe sẽ rẽ vào đâu đó trong thị xã.

Nhưng rồi phố phường cứ từ từ trôi về phía sau và chẳng mấy chốc đã trôi tuột ra khỏi thành phố.

Lính tiu nghỉu thở dài và lo lắng không biết còn phải đi bao xa nữa, chui vào nơi khỉ ho cò gáy nào đây.

Đường từ trung tâm thị xã ra ven đô hơi dốc xuống thoai thoải.

Sau đó đoàn xe rẽ vào một con đường nhỏ, màu đỏ đất bazan, rồi leo lên một con dốc nhỏ.

Đột nhiên xe chui qua một cái cổng sắt to có vẻ sơ sài nhưng có hai lính vệ binh đứng gác.

Xe dừng lại ở một cái sân rộng nằm ở sườn đồi, lính xuống xe tập hợp theo đại đội.

Đại trưởng của nó nói cuộc hành quân của đơn vị an toàn tuyệt đối và đơn vị nó chính thức đóng quân ở doanh trại này.

Anh em reo mừng và vỗ tay phấn khởi vì cái doanh trại này chỉ nằm cách thị xã Plâycu có hai cây số.

Nơi đơn vị nó đóng quân vốn là một khu gia binh với những dãy nhà trại gia binh lợp tôn, dây kẽm gai chạy dài.

Những căn nhà mái tôn, tường gỗ trải dài từ trên đỉnh đồi, thoai thoải xuống đến chân đồi.

Trên cùng, nhà cao to nhất là nhà làm việc của trung đoàn bộ.

Dưới khu nhà đó là ba căn nhà dài chừng hơn hai chục mét, rộng khoảng năm mét nằm song hành.

Một căn làm hội trường, một căn là nhà làm việc cho cơ quan tham mưu, căn còn lại là khu cơ quan chính trị, hậu cần và thư viện.

Dưới nữa là cả một khoảng sân rộng cỡ hơn một sân bóng đá.

Đại đội nó ở 2 căn nhà lớp thứ 3 bên dưới, cạnh một góc sân.

Ở giữa sân, thẳng nhà chỉ huy sở xuống là một gò đất cao, trên có cột cờ.

Qua sân lớn, phía dưới có 2 dãy nhà nữa.

Một dãy làm nhà ăn tập thể, một dãy làm trạm xá.

Lối xuống nhà ăn, gần cổng vệ binh, có 2 cái công-ten-nơ cũ mà mọi người gọi là "nhà ghi", dùng để giam giữ những lính bị kỷ luật.

Đơn vị nó là đơn vị đầu tiên sử dụng cái khu gia binh này làm doanh trại.

Mặc dù không phải xây dựng nhà cửa nhưng dọn dẹp một cái trại gia binh tan hoang sau chiến tranh cũng thật là kinh khủng.

Khắp mọi nơi, đủ mọi thứ đồ đạc vung vãi.

Từ trong nhà, ngoài sân, nơi góc vườn, đến tận hàng rào kẽm gai bùng nhùng mấy lớp bao quanh, đâu đâu cũng thấy có thùng đạn, đạn, súng, mũ sắt, chăn màn, quần áo, sách báo cũ, rượu bia, ca-pốt, búp-bê cao su bơm hơi dành cho lính xa vợ, . . . .

Rồi thì nồi xoong, quạt máy, ti vi, tủ lạnh hỏng, su-chiêng, si-líp, giầy dép, . . . .

Đơn vị nó phải bỏ ra cả tuần để dọn dẹp, nhặt nhạnh, phân loại, tiêu hủy mới tạm ổn.

Tiểu đội trưởng của nó là anh Ngoan, người Phú Thọ.

Anh Ngoan cao to, mặt vuông, quai hàm bạnh, da đen, chuyên húi tóc cua, lông mày rậm, rất nóng tính.

Tiểu đội trưởng của hai tiểu đội kia trong trung đội nó là anh Kỳ và anh Thỉnh, người Bắc Thái.

Trung đội trưởng của nó là anh Lạp, cũng là người Phú Thọ.

Anh Lạp da mai mái, người đậm lùn.

Đại đội trưởng của nó là anh Sử, trạc 40 tuổi mang hàm thượng úy, người cũng lùn, da đen, tóc húi cua và tính rất nghiêm khắc.

Anh Mạnh là chính trị viên đại đội, người gầy, cao dong dỏng, da trắng, môi đỏ, tóc để bồng.

Tên là Mạnh nhưng anh nói năng dịu dàng, hay cười "bẽn lẽn" như con gái, cứ tủm tà, tủm tỉm.

Đơn vị nó bắt đầu bước vào mùa huấn luyện.

Thao trường của đơn vị nó rất rộng lớn, cách doanh trại khoảng 6 cây số.

Đó là một vùng sườn đồi đất đỏ rất rộng và bằng phẳng.

Xa xa là đỉnh đồi, phía sau bên dưới, thoải xuống là thung lũng.

Tất cả đều tràn ngập hoa dã quỳ mọc tự nhiên, vàng rực cả không gian.

Lác đác đây đó xen lẫn vào là các bụi hoa sim tím, lúp xúp trải dài . . . . tưởng như vô tận.

Thao trường này về sau còn sử dụng để huấn luyện chiến thuật, diễn tập "quân xanh ,quân đỏ" và xây dựng trận địa giả.

Còn hiện tại, lính tân binh chúng nó đang tập điều lệnh đội ngũ, tập "lăn lê bò toài" và tập xạ kích.

Giữa vùng đồi mênh mông lộng gió và tràn ngập nắng lửa Tây Nguyên bỏng rát, hơn 300 con người cả tân binh và các cán bộ cựu binh, hàng ngày hai buổi quần nhau tơi bời.

Cứ buổi sáng hành quân từ doanh trại ra thao trường, tập đến 11 giờ trưa thì nghỉ ăn trưa tại chỗ.

Cơm trưa đã có anh nuôi thổi nấu và gánh ra tận thao trường.

1 giờ chiều lại quần nhau tiếp.

Chưa bao giờ nó phải làm việc nặng nhọc trong điều kiện khắc nghiệt và kéo dài ngày như thế, nhiều lúc mệt mỏi "muốn chết".

Đa số lính xuất thân là dân cày hẳn hoi mà cũng bị tả tơi vì nắng gió và cường độ tập luyện.

Cứ tập một tiếng thì được nghỉ mươi, mười lăm phút.

Thật là may quá !

Tiếng còi của trực ban cho nghỉ thì lính tráng lục tục giá súng tại chỗ theo "tổ tam tam", ba khẩu một, chụm vào nhau, nòng hướng lên trời.

Ngồi nghỉ cũng phải theo đội hình từng tiểu đội, trung đội, đại đội.

Nếu có muốn "đi nặng" hay "đi nhẹ" cũng phải báo cáo tiểu đội trưởng.

Gió trên cao nguyên Plâycu cũng thật khác thường.

Suốt ngày gió thổi không ngừng nghỉ.

Ừ thì đã có hẳn một cụm từ "cao nguyên lộng gió" dành cho nó nhưng đặc biệt hơn chính là ở chỗ gió xoáy thành vô số các con lốc, bất cứ lúc nào và bất kỳ chỗ nào.

Thôi thì lốc to, lốc nhỏ đủ kiểu và nhiều vô kể, cái xoáy ngược, cái xoáy xuôi.

Chúng bất ngờ xuất hiện, di chuyển ngoằn nghoèo rồi lại biến mất.

Có khi năm bảy cái xoáy lốc chạy loằng ngoằng, xô dạt cả vào nhau, . . . .

Những dòng gió từ nhiều hướng mênh mang của cao nguyên chạy tới, đâm vào nhau và quấn lấy nhau, quay tròn trong điệu "nhảy Tăng-gô" ngẫu hứng bất tận.

Chúng tạo ra các dòng khí quay tròn, cuốn bụi thành những cái rốn lốc, đủ các kích cỡ và quay cuồng.

Những lúc ngồi nghỉ, chúng nó rất thích đùa nghịch với gió lốc.

Chúng xé giấy thành thành những mẩu vụn rồi lấy que đẩy giấy vào vòng xoáy lốc.

Hoa giấy bị quay vòng và được bốc lên cao, rất thú vị.

Nếu là một cái lốc to thì giấy được cuốn lên rất cao.

Nhưng thường thì chỉ cao hơn mặt đất vài chục phân là các mẩu giấy bị rơi tung ra ngoài.

Lính buồn nghịch gió mà chơi,

Thả nắm giấy vụn lên Giời, cho bay.

Nắng chao trong gió tơi bời,

Nỗi niềm mảnh giấy tả tơi nỗi niềm.

Bốn rưỡi chiều thì việc tập tành kết thúc, lính tráng theo hàng ngũ hành quân về doanh trại.

Cũng phải mất hàng tiếng đồng hồ mới về tới nơi.

Dù tắm giặt hay chơi bóng chuyền, bóng đá thì cũng phải nhanh nhanh chóng chóng trong vòng nửa tiếng.

Đúng 6 giờ, theo hiệu lệnh kẻng, mọi người phải xếp hàng trước cửa nhà ăn theo từng tiểu đội.

Tiểu đội nào đủ quân số mới được vào nhà ăn.

Chính vì thế mà anh em không ai dám chậm trễ vì nếu chậm một tí thì chẳng những bị tiểu đội trưởng mắng mỏ mà anh em trong tiểu đội phải chờ đợi sẽ rất khó chịu.

Tiểu đội nó được biên chế đúng hai mâm, kể cả a trưởng Ngoan.

Anh Ngoan thường cho mười một thằng lính chúng nó xếp thành hai hàng dọc.

Sau khi hô "nghiêm - nghỉ", anh cho sáu thằng trên cùng vào một mâm, năm thằng còn lại và anh ấy thì vào mâm thứ hai.

Chẳng biết tiêu chuẩn quân đội cho lính tráng bao nhiêu một bữa nhưng cả cơm và thức ăn đều ít.

Nếu xới vơi thì mỗi đứa cũng được ba lưng cơm, đang sức trẻ, lại tập nặng nên không thể đủ được.

Nhưng vấn đề là ở chỗ "năng lực và tốc độ chiến đấu" mỗi người một khác.

Nó là đứa ăn chậm từ bé nên chẳng có cách gì mà theo cho kịp đồng đội.

Vừa vào mâm, mấy thằng đã vục ngay bát "bê năm hai" vào xoong, làm một bát đầy lèn, rồi phồng mang trợn mắt và lia lịa theo kiểu "tàu siêu tốc", cứ thế liên tục hết bát này đến bát khác, chắc là không kịp thở ?!

Đánh vèo một cái chúng đã "quẹt" xong bốn bát.

Nó vừa hết lưng cơm đầu tiên thì xoong cơm đã trơ đáy, thành ra những đứa ăn chậm như nó, hôm nào cũng đói.

Rồi mấy thằng ăn chậm tìm ra chiến thật mới.

Chúng xếp hàng thành một cụm với nhau để được cùng vào với nhau một mâm.

Bữa đó mấy đứa tạm được no.

Những đứa ăn nhanh phải ăn cùng mâm với nhau thì chỉ năm phút sau đã thấy giải tán.

Thằng "cao thủ" của mâm ấy, về sau này "tiết lộ", là nó phải dùng chiến thuật "Đầy-Vơi-Đầy" nên vẫn chén được hai bát lèn, một bát vơi.

Mấy đứa ăn chậm không biết rằng việc chúng nó tự sắp xếp mâm làm cho a trưởng của nó khó chịu.

Chắc hẳn trong đầu anh ấy phải vang lên "A !

Mấy thằng này láo.

Quyền xếp mâm là quyền của bọ nha !".

Bữa chiều hôm sau, sáu thằng nó lại đứng thành một cụm để vào cùng mâm.

Ai dè, a trưởng lại cắt mâm theo hàng dọc.

Thế là lại đói.

Rồi hôm sau nữa, chúng nó đứng theo hàng dọc thì anh Ngoan lại cắt mâm theo hàng ngang.

Tối hôm đó mấy thằng nó ngồi tính toán tìm ra một kiểu xếp hàng, bốn thằng đứng đầu ở hàng bên này, hai thằng đứng đầu ở hàng bên kia.

Như vậy nếu cắt ngang thì chúng nó có 5 thằng một mâm, mà cắt dọc thì chúng có 4 thằng một mâm.

Cứ như thế, hôm sau sẽ đổi lại để mấy thằng bị lẻ mâm hôm trước thì hôm sau không bị đói.

Thật là "tuyệt chiêu".

Ai dè, lão Ngoan hôm đó không cắt mâm theo hàng dọc, mà cũng chẳng theo hàng ngang, lão "cắt chéo".

Ha ha, các chú chết chưa . . . . ?!.

Vậy là đói vẫn hoàn đói, nhưng mà, mấy thằng ăn nhanh đều là những đứa tốt, mà a trưởng của nó cũng tốt.

Vậy tại sao những người tốt ở với nhau lại cứ phải chơi ác với nhau, thật là khó hiểu.

Phải chăng cuộc sống nó vốn dĩ phải như thế ?!

Triết lý này không phải là lần đầu tiên nó được học ở cuộc đời này.

Nó cũng nghiệm ra một điều khác, ấy là, ở trong quân đội thì không có tự do, không có cá nhân và người ta sẽ có cách để cắt đứt tất cả những thứ đó.

Đang sức trai lại bị ăn quá đói thì rồi nhất định sẽ "có biến".

Chuyện này thì các cụ đã bảo rằng "đói ăn vụng, túng làm liều".

Đúng là như vậy và nhất định phải là như vậy.

Một đêm, thằng Linh cháu nó và thằng Thìn bạn làng của nó cùng gác một phiên.

Hai thằng đói quá, nghĩ cách kiếm cái nhét vào bụng.

Hai thằng nhớ ra là tối muộn trước khi đi ngủ, anh nuôi mới luộc mấy trăm cái bánh bột mỳ "nắp hầm" để chuẩn bị bữa sáng cho đơn vị, mai khỏi phải dậy sớm.

Xong việc, anh nuôi khóa cửa nhà bếp và về phòng đi ngủ rất muộn.

Thằng Linh và thằng Thìn bí mật trèo lên mái nhà bếp.

Chúng tháo đinh rồi bẻ vênh tấm tôn.

Đoạn, chúng thò gậy buộc móc sắt có ngạnh cứ thế mà xiên.

Hai thằng xiên liền mấy chục cái bánh.

Hai thằng này được chén đẫy tễ, còn lại rất nhiều bánh, chúng chia nhau đem về dấu dưới đáy ba lô để ăn dần.

Tờ mờ sáng anh nuôi dậy để đun nước và chia bánh thì phát hiện ngay ra một rổ bánh bị vơi đi rất nhiều.

Nhìn lên mái nhà thì thấy lờ mờ một mảnh trời he hé sau mái tôn.

Vài phút sau, còi báo động đã nổi lên.

Lệnh đơn vị tập hợp, mang theo toàn bộ quân tư trang.

- Ôi Giời !

Lại báo động đột xuất, bắt hành quân rồi.

Khốn nạn thân tôi quá ! – Nó nghĩ.

Khi cả đại đội đã tập trung đầy đủ, đại trưởng Sử quát hỏi :

- Ai ăn trộm bánh của nhà bếp thì tự giác bước ra khỏi hàng!

Cả đại đội nó ngơ ngác nhìn nhau nhưng không có ai bước ra khỏi hàng.

Thấy vậy, ông Sử liền ra lệnh :

- Hạ ba lô tại chỗ !

Khi ba lô đã hạ xong, ông hô tiếp :

- Sang trái năm bước, bước !

Rồi ông ra lệnh cho các a trưởng đi khám ba lô.

Tới lượt ba lô của thằng Linh và thằng Thìn thì chưa cần khám, mới sờ phía đáy ba lô đã thấy, vừa âm ẩm vừa âm ấm.

Lúc rỡ ba lô ra thì mỗi đáy ba lô có hơn hai chục cái bánh . . . .

Đại đội giải tán, về ăn sáng và đi tập.

Riêng thằng Linh và thằng Thìn thì bị phạt ngay.

Mỗi thằng đeo 20 viên gạch trong ba lô và phải chạy 10 vòng quanh sân vận động dưới sự giám sát của bê trưởng.

Hai thằng chạy được 8 vòng thì đứt hơi, mặt tím tái, lảo đảo, rồi phệt xuống tại chỗ.

Tay bê trưởng chạy lại, bắt đứng dạy chạy tiếp.

Thằng Thìn quá mệt, không còn biết "ất giáp" gì, nó cự lại :

- Mệt bỏ mẹ !

Ông đi mà chạy !

Tay bê trưởng tức quá, rút ngay xanh-tuya-rông.

Hắn vung lên quật thằng Thìn.

Thấy vậy, thằng Linh liền ôm ghì lấy bê trưởng.

Thừa cơ, thằng Thìn giằng lấy xanh-tuya-rông.

Nó quất mấy phát vào mặt bê trưởng.

Ông đại trưởng lập tức tít còi liên hồi, gọi vệ binh tới.

Chỉ một loáng, 6 lính vệ binh lao tới quật ngã hai thằng, trói giật cánh khỷu.

Thằng Linh và thằng Thìn bị đẩy đi.

Hai đứa bị nhốt vào "nhà ghi".

Lính tráng nhìn thấy cảnh ấy, mặt đứa nào đứa ấy "tái dại", "hồn vía lên mây" hết.

Đứa nào đứa ấy ăn vội, ăn vàng rồi răm rắp "cúp đuôi" đi ra bãi tập.

Thằng Thìn, thằng Linh bị giam ba ngày ba đêm trong nhà ghi.

Ban ngày nắng chang chang thiêu đốt cái công-ten-nơ thì hai thằng ở trong đó không khác gì Tôn Ngộ Không ở trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân.

Cái nhà ghi đứng trơ trọi phơi giữa trời nắng với duy nhất một cái lỗ nhỏ, rộng mỗi bề chừng mươi phân ở chỗ ổ khóa.

Cái lỗ đó cũng là cái lỗ để đưa thức ăn, toàn bánh mỳ luộc, và nước uống vào.

Nó ngó qua lỗ thấy hai thằng cởi trần, mồ hôi đầm đìa như tắm.

Đến đêm, hai thằng không bị nắng nóng thiêu đốt nữa nhưng chúng rét, nhất là nửa đêm về sáng, rét run cầm cập.

Thêm vào sự hành hạ của cái rét và cái nóng, mỗi lần đi ăn cơm, đi tập hay đi đâu đấy ngang qua, bê trưởng cùng mấy tay a trưởng lại lấy đá ném vào nhà ghi để tra tấn hai thằng ở trong.

Nhốt người trong thùng sắt kín rồi ở ngoài tra tấn bằng cách gõ vào thùng là một trong những cách tra tấn dã man nhất mà người ta có thể nghĩ ra.

Nhà làm toàn bằng thép, tiếng động cộng hưởng rền vang nghe rất khiếp.

Chả khác gì chuyện thằng gù Quasimodo do được hưởng cái tiếng chuông ở Nhà Thờ Đức Bà mà thành ra điếc.

Sao con người lại có thể đối xử với nhau một cách quái vật như vậy ?!

Thương thằng Thìn và thằng Linh, bọn đồng hương chúng nó chờ đến tối bí mật tiếp tế thức ăn và nước uống cho hai đứa, lại còn thêm cả mấy điếu thuốc lá nữa.

Thấy hai thằng kêu đêm hôm trước rét quá, tưởng chết, chúng nó chẳng biết làm thế nào, đành quay về "nịnh khéo" lão bê trưởng rồi còn dọa thêm :

- Ban ngày mồ hôi như tắm, ban đêm rét run như cầy sấy thế, ngộ nhỡ đứa nào cảm chết thì anh

phải tội với Giời, phải tội với gia đình nhà nó chứ chẳng yên đâu.

Thôi thì anh nói với vệ binh họ

mở cửa để chúng em đưa cho chúng nó cái chăn.

Chắc là lão bê trưởng vừa được nịnh lên mây xanh, cũng sướng, vừa nghe dọa nên cũng có phần sợ, hay là lão cũng động lòng thương người thì không biết, lão ấy cho mở cửa để đưa chăn vào cho hai thằng tội đồ.

Bê nó ở trong một căn nhà mái tôn dài, tường được thưng bằng gỗ.

Những tấm gỗ dài từ một đến ba mét, bản rộng hai chục phân được đóng vào các cột gỗ vuông, tấm này đóng khít với tấm kia từ dưới lên đến sát mái, đều tăm tắp.

Căn nhà này rộng chừng 6 mét nhưng rất dài, dễ chừng tới 30 mét.

Đầu căn nhà được ngăn riêng thành một buồng để kê hai cái giường đơn, một bàn nước và hai bàn làm việc.

Đó là phòng của ban chỉ huy trung đội.

Phần nhà còn lại để thông, hai bên kê 2 dãy phản đơn, san sát, gác trên những thanh ghi chạy dọc theo chiều dài nhà.

Giữa hai dãy phản là lối đi rộng khoảng 2 mét.

Hai hàng xích-đông được làm bằng nứa ghép lại và được đóng ở trên cao, gần sát mái nhà, sát với tường ở hai bên.

Ba lô được để ngay ngắn trên xích-đông, quay lưng ra ngoài, chính giữa phản lên, thành hai hàng thẳng tăm tắp.

Đầu phản nằm của mỗi người thì để chăn màn gấp vuông như cái hộp, có vuốt li thẳng và xếp thẳng hàng với nhau.

Ngoài hiên nhà căng 2 sợi dây thép, cũng thẳng băng, song song hàng trên, hàng dưới, làm nơi phơi khăn mặt.

Tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp và quy củ.

Tối đến, sau khi ăn cơm, bảy giờ đến giờ sinh hoạt.

Ai ngồi giường nấy, từng tiểu đội sinh hoạt, phổ biến công tác, nhắc nhở phê bình, đọc báo chung, . . . .

Sau đó được tự do làm việc riêng, đọc sách, chơi cờ, chơi tú.

Đúng 9 giờ, theo hiệu lệnh kẻng, nhất loạt mắc màn, tắt đèn đi ngủ.

5 giờ sáng, kẻng đánh báo thức, lại nhất loạt dạy, tập hợp toàn đại đội trên sân để tập thể dục.

Sau đó thì vệ sinh cá nhân và ăn sáng rồi đi tập.

Nhịp sống cứ thế đều đặn, lặp đi lặp lại.

Đời lính đúng là vất vả, gò bó mất tự do nhưng sinh hoạt tập thể cũng rất hay và rất vui.

Mỗi đứa một quê, mỗi quê một tập tục, quê nào cũng có chuyện hay, chuyện lạ.

Chúng tâm sự với nhau, kể chuyện vui, tán dóc, trêu chọc nhau, thôi thì đủ cả, lúc nào cũng ồn ào vui vẻ.

Chúng còn bầy ra nhiều trò chơi rất hay và thú vị.

Nó rất nhớ và thích trò tạm gọi là "Đi Đưa Ma".

Trò này có người gọi là "Phụ đồng chổi", nhưng chắc chắn là không phải.

Phụ Đồng Chổi là một trò chơi "lên đồng" của trẻ con.

Trong đó một đứa trẻ ngồi ở giữa, những đứa khác đứng xung quanh và hát:

Phụ đồng phụ chổi !

Thổi-lổi mà lên !

Ba bề bốn bên !

Đồng lên cho chóng !

Nhược bằng cửa đóng;

Phá ra mà vào !

Cách sông cách ao;

Thì qua cho được!

Cách roi cách vọt,

Thì đánh cho đau,

Hàng trầu hàng cau,

Là hàng con gái.

Hàng bánh hàng trái,

Là hàng bà già.

Hàng hương hàng hoa

Là hàng cúng phật

Đội mũ đi tế,

Là quan trưởng-đô,

Đánh trống phất cờ,

Là phụ đồng chổi !

Chúng cứ hát như vậy cho đến khi đứa ngồi đồng "nhập đồng" thực sự.

"Đồng" cầm một cái chổi và quét lia quét lịa, tía lia khắp xung quanh.

Bọn trẻ xung quanh phải chạy, phải nhảy để tránh bị chổi quét vào.

Trò "Phụ Đồng Chổi" thì nó đã biết rồi, còn trò "Đi Đưa Ma" thì đây là lần đầu tiên nó tham gia và "mục sở thị".

Trò chơi có 8 người tham gia, không kể những người đứng xem.

Trò này thường chơi vào ban đêm trong không gian tối lờ mờ, đèn nến leo lét và trong một không khí nghiêm trang, tập trung tư tưởng cao độ.

Tuyệt đối không ai được cười.

Một thằng nằm ngửa dưới đất, đóng vai người chết.

Bảy đứa còn lại, mỗi đứa dùng một ngón tay trỏ để nâng "người chết".

Hai thằng nâng hai chân, hai thằng nâng hai vai, hai thằng nâng hai bên sườn, thằng còn lại nâng đầu.

Khi bảy ngón tay của bảy thằng đã đặt đúng vị trí, thằng đứng ở đầu bắt đầu thì thầm hỏi, thằng bên cạnh thì thầm trả lời.

Trả lời xong, thằng này hỏi tiếp thằng bên cạnh nữa, . . . .

Cứ như vậy, hỏi và trả lời lầm rầm theo ngược chiều kim đồng hồ:

- Ông đi đâu đấy ?

- Tôi đi đưa ma !

- Ông đi đâu đấy ?

- Tôi đi đưa ma !

- . . . . . .

Trong cái không gian âm u, hư hư, ảo ảo, rờn rợn ấy, không biết từ lúc nào, "người chết" được nâng lên khỏi mặt đất, rất từ từ, cho đến khi lên ngang tầm vai của người đứng thì bảy người "đưa ma" bắt đầu di chuyển đi dọc giữa hai dãy giường, rồi vòng đi vòng lại mấy lần.

Trò chơi đến đây coi như đã thành công.

Những đứa đứng xung quanh được dặn trước là khi đó phải đứng sát vào mà đỡ "con ma", nếu không, bảy thằng kia mà nó dừng chơi thì con ma sẽ bị rơi thẳng xuống đất.

Cũng có lần đang chơi thì một trong tám thằng bật cười, bỗng nhiên "thây ma" nặng trĩu rồi rơi uỵch xuống đất.

Trò chơi này có gì đó kỳ bí, mê hoặc và khó tin.

Không ai trong bảy đứa "khiêng ma" có cảm giác thấy "nặng" khi nâng "con ma".

Thật là lạ !

Cũng có những đứa không tin chuyện này có gì đặc biệt vì cho rằng, bảy ngón tay như thế đủ để nâng được một người.

Này nhé, một người nặng chưa đến 50 cân, chia cho 7, thì, mỗi thằng chỉ nâng có 7 cân.

Vậy chỉ cần hợp sức lại đồng đều là được.

Một cuộc tranh cãi sôi nổi xảy ra để kết thúc là chúng nó sẽ phải làm "một thí nghiệm khoa học".

Chúng chọn ra bảy thằng to khỏe nhất để làm bảy người khiêng "ma" và một đứa "thấp bé nhẹ cân" nhất thì cho làm "ma".

Bảy thằng cũng đặt bảy ngón tay như trong trò chơi.

Một thằng đứng ngoài chỉ huy việc "nâng ma" :

- Nào !

Tất cả tập trung vào !

Sẵn Sàng chưa ?

- Rồi !

- Chú ý, khi nào tao hô một, hai, ba . . . . . thì nhất loạt nâng lên nha !

Làm thật từ từ thôi !

- Nào !

Một, hai, ba . . . .

Bảy thằng mắm môi mắm lợi mà cái "thây ma" vẫn không nâng lên được tí nào.

Thử đi thử lại mấy lần nữa nhưng "thí nghiệm khoa học" vẫn thất bại.

Ngày nghỉ Chủ Nhật, mỗi a được phát 2 phiếu "giấy phép ra khỏi doanh trại".

Mỗi tiểu đội được hai người ra ngoài thay phiên, sáng hai đứa, chiều hai đứa.

Từ nhà ra đến cổng thì nộp phiếu cho vệ binh, buổi trưa về thì nhận lại phiếu và đưa cho hai người khác.

Chiều về thì nộp phiếu cho tiểu đội trưởng.

Cũng có thể xin được anh em trong tiểu đội đi cả ngày.

Tiểu đội nó mười một người, mỗi tuần bốn đứa được đi chơi thì phải ba tuần mới quay hết một vòng.

Lính ra ngoài vừa để thăm thú, khám phá thị xã, đi xem phim, mua bán nhu yếu phẩm, cắt tóc hay vá chữa quần áo.

Plâycu (Pleiku) là thị xã cao nguyên, trên vùng đất đỏ bazan, nằm dọc Quốc lộ 19.

Từ Quy Nhơn, theo đường 19, đi mãi mới tới đèo Mang Yang.

Qua đèo Mang Yang, tụt xuống thung lũng đến Đăk Đoa là bắt đầu vào thị xã.

Thị xã Pleiku nằm trên một vùng đất cao hơn xung quanh, khá bằng phẳng và rộng mênh mông mà trung tâm thị xã nằm ở vị trí cao nhất.

Nơi đó cũng là giao lộ của Quốc lộ 19 chạy theo hướng Đông-Tây và Quốc lộ 14 chạy theo hướng Bắc-Nam.

Từ khu Hoa Lư là doanh trại của đơn vị nó, ở phía bắc, một con đường ngoằn nghoèo, theo hướng nam, dốc dần lên để đi vào trung tâm thị xã.

Hai bên đường là hai hàng cây thông cổ thụ cao vút.

Đầu con đường, chỗ sườn đồi dẫn vào thị xã là rạp chiếu phim Diệp Kính.

Con đường chạy qua trước mặt rạp Diệp kính là Quốc Lộ 14.

Nếu chạy về phía bắc trên con đường này, qua khu vực Hoa Lư của đơn vị nó thì đi ra Kon Tum, mà chạy về hướng nam thì đi Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột.

Chếch ngay trước cửa rạp Diệp Kính là ngã ba giữa Quốc lộ 14 và Quốc lộ 19 từ Qui Nhơn lên.

Từ ngã ba này đi về hướng nam khoảng chín cây số lại có một ngã ba nữa, Quốc lộ 19 lại tiếp tục từ đây đi về hướng tây đến Chư Ty rồi Đức Cơ và kết thúc ở biên giới với Cambodia.

Phần lớn thị xã Plei nằm từ Ngã ba Diệp Kính đi về phía đông, chạy dài trên trục đường 19, dốc dần xuống.

Từ ngã ba này đi một đoạn là tới khu chợ Pleiku, mà ngay ngã ba Diệp kính cũng là một cái chợ trời, hoạt động cả ngày lẫn tối.

Ngoài rạp Diệp Kính nổi tiếng còn có rạp Thanh Bình cũng rất nổi tiếng.

Về sau nay rạp Thanh Bình chuyển thành nhà Hát Đam San.

Cũng phải kể đến mấy cái nhà thờ nữa mà có lẽ nhà thờ Thăng Thiên là đẹp nhất.

Các thị xã cao nguyên như Ban Mê Thuột, Pleiku, Kon Tum, Đà Lạt đều do người Pháp thời đóng chiếm đã quy hoạch, xây dựng và quản lý.

Riêng Pleiku là một thị xã nhỏ với vài tuyến phố chính có nhà xây cao tầng, biệt thự, rạp hát và khu hành chính tỉnh lỵ.

Nhà dân đan xen vào hầu hết lợp mái tôn vách gỗ.

Dân cư trong thị xã hầu hết là ngươi Kinh, phần nhiều theo đạo Thiên Chúa, số người theo đạo Phật ít hơn nhiều.

Xung quanh thị xã còn có rất nhiều buôn của các đồng bào dân tộc mà thời đó gọi chung là người Thượng.

Người Thượng da rất đen, để tóc dài và vấn lên.

Người Thượng chủ yếu đi chân đất, đàn ông ở trần đóng khố, phụ nữ mặc váy quây, áo hở rốn.

Các bà già thì hầu hết cũng ở trần, mặc quần.

Dân Thượng hầu hết là nghiện thuốc lá, gọi là thuốc rê, một loại thuốc tự trồng, hút trực tiếp bằng lá quấn hoặc thái to rồi nhồi vào tẩu, suốt ngày phì phèo, bập bập trên môi.

Mùi thuốc lá rê hôi rình, hơi khăm khẳm.

Thỉnh thoảng họ nhếch mép phóng toẹt một cục nước bọt tròn xoe thẳng căng xuống đất.

Trên vai người Thượng hầu như lúc nào cũng thấy mang gùi, to nhỏ đủ các cỡ.

Người thượng cũng đi xe máy.

Trông cảnh một người đàn ông cưỡi xe Honda 67 chạy tung hoành trong thị xã, khố bay phập phồng, lúc đầu chưa quen cứ phải bật cười.

Những người Thượng ở trần như vậy nhưng đi rừng rất siêu, nó rất nể phục.

Họ chỉ đóng khố, đi chân đất, tay cầm dao quắm vừa đi vừa phát lối mà cứ bước phăm phăm vào bạt ngàn cây xấu hổ cao ngang đầu gối, mặc cho loại cây này có gai nhọn chi chít.

Trong khi đó, bộ đội đi giầy tất đầy đủ, mặc quần kín hết chân, bám theo họ thì bị gai đâm thủng quần vừa đi vừa phải gỡ.

Họ cứ chân trần mà đi thoải mái, thế mới tài.

Chắc da họ phải rất dày, . . . . như da trâu ?!

Chạy dọc hàng rào trước cửa doanh trại nó có một con đường đất đỏ rộng chừng 6-7 mét, đi sâu vào các bản người Thượng.

Ngay đối diện cổng vệ binh của đơn vị nó, có một dãy ki-ốt dựng bằng tre, quây cót, mái lợp giấy dầu.

Đó là các quán hàng phục vụ lính.

Nào thì các hàng tạp phẩm, hiệu cắt tóc, cửa hàng may vá mạng quần áo, café, . . . .

Trong dãy ki ốt đó có cái quán may của một cô bé tên Hương, người thị xã.

Hương cũng trạc 19 - 20 tuổi, thướt tha áo dài trắng, rất xinh, được học hành và giáo dục cẩn thận nên tiếng Anh rất giỏi, cũng giỏi cả ghi ta và yêu thơ phú.

Vốn dĩ nó là đứa mơ mộng, ham đọc sách, yêu thơ, yêu ghi ta và hội họa, gặp Hương "hợp cạ" nó thích lắm.

Mỗi lần ra vá quần áo cứ nấn ná ở lại lâu.

Khi chỉ có hai người trong quán, hai anh chị lại đưa đẩy đọc thơ tình cho nhau nghe, thơ Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, . . . .

Một lần đến phiên nó được ra ngoài doanh trại.

Nó mang cái quần dài bị sờn đầu gối theo, không quên ngắt trộm một bông hoa hồng ở vườn hoa đơn vị.

Nó cẩn thận gói bông hoa cùng với bài thơ nó mới "mần", bí mật luồn vào trong áo đóng thùng, rồi tự nhiên đi qua cổng vệ binh như bình thường.

Sau mấy tuần, giờ gặp nhau, hai đứa "cả mừng", cứ tíu tít chuyện trò, tưởng như không thể dứt ra được.

Hương để dành cho nó mấy cái bánh bột lọc má mới làm.

Em bóc từng chiếc bánh, đưa tận tay cho nó.

Nó rút bông hồng từ trong ngực áo ra tặng Hương.

Rồi "dấp nước" giọng, nó xúc động đọc bài thơ mới viết tặng Hương.

Chàng và nàng cứ quấn quýt bên nhau, lai láng hồn trong thơ ca, đàn địch và trong "Suối mắt huyền mơ" . . . .

đồng vọng.

Mê mải, ngất ngây, bảng lảng "du theo xuân và vơ vẩn cùng mây", chàng nghệ sỹ "nó" đâu có để ý gì đến chuyện "tai vách mạch rừng".

Một người đang ngồi cắt tóc ở ngay quán bên cạnh đã chẳng bỏ sót đến một lời nào của "chàng và nàng".

Cắt tóc xong, người đó lẳng lặng về trước và chờ đợi.

"Chàng" cứ vô tư, hồn nhiên, chẳng thể biết những gì từ "trên trời" sắp đổ lên đầu mình.

Chiều Chủ Nhật đó, khi lính tráng đi chơi ngoài đơn vị đã trở về đông đủ và nó là đứa về cuối cùng.

Nó vừa bước qua cổng của vệ binh thì có tiếng còi báo động của trung đội.

Toàn trung đội tức tốc "ba lô sau lưng, súng khoác trên vai" chạy nháo nhác rồi tập hợp trên sân.

Nó cũng vừa kịp là người có mặt sau cùng, đứng vào đội hình.

Sau khi "nghiêm - nghỉ - chạy tại chỗ", bê trưởng Lạp nó đứng lên trên bục đất cao.

Anh ta rút từ trong xắc-cốt (sacoche) ra một quyển sổ dày, màu xanh.

Nhìn thấy cuốn sổ, nó giật mình đánh thót rồi chết lặng đi.

Cuốn sổ đó chính là nhật ký của nó.

Trong đó những sự kiện, con người, tâm tư tình cảm, . . . .

đã được nó ghi chép lại tỉ mỉ, trung thực kể từ ngày mới nhập ngũ tới nay.

Thì ra, khi nó đang ba hoa thơ phú ở tiệm may, lão Lạp ngồi cắt tóc ngay bên cạnh đã nhanh chóng về trước lục ba lô của nó, lấy trộm nhật ký.

Chắc hẳn lão đã đọc hết và ngồi chờ nó về là ra lệnh báo động.

Đứng trên cao, hắn bắt đầu giở từng trang nhật ký của nó, chọn chỗ và bắt đầu đọc rất to với giọng điệu nhấn nhá, giễu cợt.

Những lời lẽ từ tim, từ óc nó cứ tuồn tuột phơi bày trước mặt một đám đông đang phấn khích.

Rồi lão Lạp lại đọc cả bài thơ nó viết và mới tặng Hương sáng nay.

Cả trung đội cười ồ ồ, à à nhìn nó.

Nó thì chỉ muốn "có lỗ nẻ" nào dưới đất mà chui ngay xuống.

Mặt nó đỏ nhừ rồi dần dần tái xám lại.

Nó ngượng, nó nhục vì bị xúc phạm.

Trong lòng nó uất ức và căm hận khôn tả, cảm tưởng như nó là một con thú hoang bị người ta dồn vào bước đường cùng.

Bộc phát, nó nghĩ nó sẽ bắn cho lão Lạp một phát, ngay lập tức.

Nó sẽ nhảy lên và đấm ngay vào mặt lão ta một cú "trời giáng".

Nhưng rồi nó không làm gì hết, nó là đứa yếm thế từ bé mà, chỉ biết chịu đựng tủi nhục chứ đã bao giờ dám "vùng lên".

Nó ước giá mà nó như thằng Bão, em họ nó, hay như thằng Thìn, bạn làng, mà quật mấy phát xanh-tuya-rông vào mặt cái lão kia.

Thực sự là nó hèn và vì thế nó càng đau đớn và tủi hổ.

Đọc xong, lão Lạp bắt đầu lên giọng, cao đạo rao giảng.

Nào là lý tưởng cách mạng, nào là lối sống của người Đoàn viên tiên tiến, cách mạng, có văn hóa.

Nào là phải từ bỏ thứ văn hóa ru ngủ, tiểu tư sản ủy mỵ, thảm hại, làm mất sức chiến đấu của quân đội, . . . .

Sau đó lão Lạp còn sỉ nhục nó một hồi rất lâu.

Sau khi "chửi bới", sỉ nhục nó không thương tiếc, lão Lạp ra lệnh phạt nó đeo 10 viên gạch trong ba lô, chạy vòng quanh sân vận động theo hiệu còi của lão.

Nó căm lắm và ngậm mối hận trong tim cho đến tận bây giờ.

Sau chuyện ấy, nó đã đốt nhật ký, không viết gì nữa.

Nó cũng tuyệt nhiên không còn dám ra gặp Hương, dù cho em nhắn gọi nó rất nhiều.

Từ ngày ấy cho đến nay, bất giác những lúc nào đó nhớ lại, hẳn là Hương vẫn thắc mắc chuyện nó đột nhiên cố tình vĩnh viễn rời xa em, những u uẩn chẳng bao giờ có lời giải đáp . . . .

Tháng năm kỷ niệm đã qua rồi

Còn nhắc chi, buồn lắm người ơi !

Mất một thời gian khá lâu, nó "không ngẩng mặt lên được".

Nó cũng ngẫm ra một điều - Ôi cuộc đời !

Ôi đám đông !

Một thứ "văn hóa đám đông", hẳn là vậy.

Một đám đông sẽ sung sướng, hỷ xả, hả hê khi được chứng kiến nỗi đau khổ của đồng loại.

Có gì đó bầy đoàn, tự nhiên và man rợ . . . .

Lính mới chúng nó đứa nào cũng là lần đầu tiên xa nhà nên chẳng có đứa nào là không nhớ nhà.

Có đứa đọc thư nhà mắt đỏ hoe, có đứa còn khóc tu tu.

Nó cũng nhớ lắm nhưng không dám khóc.

Chiều chiều khi hoàng hôn buông xuống, hoặc khi sương mờ, trăng gió lả lơi phiêu bồng, ôm súng gác, nó thẫn thờ nhìn về phương Bắc.

Ở nơi ấy có xóm làng và phố nhỏ thân yêu của nó.

Ở nơi ấy có mái nhà tranh với thầy bu, anh chị em và cháu chắt họ hàng nhà nó.

Trong lòng nó là nỗi nhớ da diết và buồn vời vợi mà không nói được với ai.

Môi trường cuộc sống mới thay đổi, nhiều khi gặp những tình huống nan giải, lúng túng, nó không biết hỏi ai, chỉ ngửa cổ lên Trời gọi khẽ :

- Thầy ơi !

Con biết làm sao bây giờ ?

Nhớ nhà nó chỉ còn cách vùi đầu vào viết những lá thư dài dằng dặc cho thầy bu nó, cho bạn bè nó và nhất là cho Hợi, người yêu của nó.

Thư gửi đi xong nó lại ngong ngóng chờ đợi thư về.

Cứ mỗi lần cậu liên lạc cầm một tập thư từ ban chỉ huy đại đội đi xuống là cả đơn vị nó cồn lên như động kinh.

Lính tráng bâu lấy xung quanh cậu liên lạc mà nhao nhao hỏi xem thư của mình có không.

Đứa nhận được thư thì vui vẻ, phấn khởi ra mặt, rồi lẳng lặng ra một góc ngồi xem.

Đứa không có thư thì "mặt ủ mày chau", rất thiểu não.

Có người đọc thư xong thì vui mừng rạng rỡ, nhảy cẫng lên rồi đọc to cho các bạn cùng nghe.

Nhưng cũng có có kẻ sau khi đọc thư lại buồn xo, len lén ra sau nhà ngồi khóc.

Nó gửi thư đi rất nhiều nhưng thư trở lại cho nó thì ít và ngày càng thưa dần.

Nó cảm thấy buồn và tủi, trong lòng cũng có ý trách mọi người vô tâm, chỉ biết vui vầy cuộc sống hiện tại, nỡ quên đi sự nhớ nhung đau đáu mong chờ của kẻ đi xa, nhất là đối với một đứa như nó, sống bằng tình cảm và hơi lãng mạn.

Một lần, lâu lắm nó không nhận được thư của Hợi.

Nó liên tục viết cho em thì lại càng liên tục không nhận được thư em.

Nó viết thư cho Tuyết Văn cháu nó hỏi dò xem Hợi có chuyện gì.

Rồi một hôm nó nhận được thư Tuyết Văn kể rằng tình cờ Văn nhìn thấy thằng Trương đèo Hợi ngồi sau, ôm eo.

Hai người vừa đi vừa cười đùa vui vẻ, thân mật lắm.

Một luồng điện chạy dọc theo sống lưng rồi bốc hỏa trên đầu nó, làm cháy ruột nó.

Một ngọn lửa hoang tàng và dữ dội thiêu đốt tâm can nó.

Thằng Trương là bạn thân của nó ở Phó Đức Chính, vừa nhà "dzầu" Hà Nội, vừa đẹp "dzai", lại "mỏ nhọn", "cưa" đâu đổ đấy.

Mà từ lúc nó ở Hà Nội, ngay trước mặt nó, thằng Trương đã tán tỉnh Hợi của nó làm nó ghen "bầm gan, tím ruột" mà không làm gì được.

Ngày đó nó đã biết như vậy và tìm cách không cho thằng Trương tiếp xúc với Hợi.

Bây giờ nó ở xa, em thì xinh đẹp như con nai tơ lại cặp kè bên cạnh thằng Trương như một con hùm, thì, hẳn làm sao mà thoát được.

Trong lòng như có lửa đốt, không biết bao nhiêu điều tưởng tượng của nó về em cùng với thằng Trương đã dày vò, hành hạ, bóp nghẹt tim nó.

Nó chỉ muốn bùng ngay về Hà Nội, lao đến bên người yêu để giữ chặt lấy em, hay là, để chứng kiến một sự thật là em đã thuộc về thằng Trương.

Đằng này hay đằng kia đều rất thôi thúc nó.

Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ có thể làm được điều đó, nó không thể bỏ trốn đơn vị được.

Bán tín bán nghi, nó gửi thư trách Hợi bỏ nó mà đi theo thằng Trương, cạn tình để không còn muốn viết cho nó một lá thư, . . . .

Ít lâu sau, nó nhận được thư Hợi.

Em thanh minh và phân bua rằng chỉ là do bận nên mới chậm viết thư.

Nó yên tâm được đôi chút nhưng trong lòng vẫn không thôi day dứt.

Một hôm nó nhận được thư của thày nó.

Thày nó vốn chỉ giỏi chữ Nho, nay viết thư cho nó bằng chữ Quốc ngữ, chữ to kềnh càng, trông cứ ngồ ngộ.

Bức thư ngắn gọn, viết kín hai trang giấy vở học trò, làm nó rất cảm động.

Qua thư, nó được biết mọi chuyện trong gia đình, chuyện làng, chuyện xã.

Thày còn khuyên nó giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập phấn đấu.

Đọc thư mà trong đầu nó mường tượng ra cái dáng hình gầy còm cặm cụi của thày ngồi viết thư cho nó.

Nước mắt nó lăn xuống má lúc nào không hay.

Nó không thể ngờ rằng đó lại là lá thư cuối cùng của thày.

Càng gần những ngày Tết, nỗi nhớ nhà càng cồn cào day dứt.

Nó nhớ cảnh Tết quê nó với sự chuẩn bị rộn ràng tấp nập, những hương vị êm ái, ngọt ngào.

Những ngày Tết xum họp đầm ấm đã thấm sâu vào một đoạn đời của nó từ tuổi thơ tới giờ chưa lúc nào phai nhạt.

Một tối chủ nhật, tiết trời se lạnh, sau khi sinh hoạt đọc báo, chúng được nghỉ ngơi.

Đứa thì vùi đầu vào viết thư, đứa đọc sách, chơi tú.

Nó và vài đứa bạn thì ôm đàn ghi ta ra đầu hồi nhà, ngồi trên mấy viên đá cuội lớn, ngắm trăng, chơi đàn và hát.

Thằng Thìn thấy tiếng đàn cũng xà vào.

Hắn bắt đầu cất giọng hát, mà thằng này thì chỉ có chuyên nhạc vàng, loại nhạc mà đơn vị nó cấm.

Giọng thằng Thìn là thứ giọng nỉ non, ai oán, ru hồn vào cõi mộng buồn.

Xa nhà, gần Tết, nhớ mẹ, thằng Thìn thả hồn vào bài "Lạy mẹ con đi" :

Lạy mẹ con đi ôm ấp linh hồn Việt Nam

Lạy mẹ con đi noi theo chí hùng ngàn năm

Vắng con mẹ buồn là bởi ý thiên khơi nguồn

Nhưng còn gì hơn tình nước vẫn trong tình con

Từ nhỏ con chưa xa vắng quê nhà mẹ ơi

Một buổi xa con nhớ thương chắc mẹ chẳng vui

Biết con đi rồi nhà cửa vắng thêm một người

Ôi mẹ vì con từng hi sinh cả cuộc đời

Mẹ ơi ! việc lớn chông gai là đây

Tình núi non cao ngất trời không thể sánh tình mẹ thương phút này

Mẹ ơi !

Ở bữa cơm nghèo chiều nay cành vắng chim non rẽ bầy

Xin mẹ hãy mừng nhìn về tương lai !

Sau khi thằng Thìn "Lạy mẹ" xong, cả hội ngồi chết lặng, mỗi đứa theo đuổi một tâm tư về người mẹ riêng của mình.

Bài ca thực sự đánh trúng vào tâm trạng những người lính trẻ, nhớ nhà, nhớ quê hương.

Thằng Thìn hắng giọng, hắn nói :

- Sau đây, Đình Thìn xin trình bày một ca khúc nữa về mẹ.

Xin mời quý thính giả thưởng thức, ca khúc :

" Xuân

này

con

không

về . . . .

"

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con

khi thấy mai đào nở vàng bên nương

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về

nay én bay đầy trước ngõ

mà tin con vẫn xa ngàn xa

ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui

nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi

ên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng

trông bánh chưng ngồi chờ sáng

đỏ hây hây những đôi má đào

Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm,

mái tranh nghèo không người sửa sang

Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân

Đàn trẻ thơ ngây chờ mong

anh trai sẽ đem về cho tà áo mới

a ngày xuân đi khoe phố phường

Con biết bây giờ mẹ chờ em trông

nhưng nếu con về bạn bè thương mong

ao lứa trai cùng chào xuân chiến trường

không lẽ riêng mình êm ấm

Mẹ ơi con xuân này vắng nhà

Mẹ thương con xin đợi ngày mai...

Tiếng đàn thánh thót, giọng hát nỉ non, nội dung lời ca gõ vào nỗi nhớ, cảm xúc dâng đầy.

Cả lũ chúng lẩm nhẩm hát theo, thấy cay cay ở mũi, cổ tắc nghẹn, nước mắt trào ra.

Chúng òa lên khóc . . . .

Hiểu được tâm lý chiến sỹ, trung đoàn tổ chức đón cái Tết cho bộ đội rất chu đáo.

Ban hậu cần cho bắt lợn về, lại còn mua một con bò từ nhà dân.

Thịt lợn và thịt bò rất nhiều, vừa gói giò, làm chả, gói bánh chưng.

Mấy bữa ăn tươi liền có đủ các món "giò, nem, ninh, mọc", . . . . rất linh đình.

Về mặt tinh thần, các thủ trưởng cho tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn và hội diễn văn nghệ.

Những việc đó làm vơi đi nỗi buồn của lính và cuốn anh em vào niềm vui chung của người lính khi ăn tết xa nhà.

Nó biết chơi đàn và làm thơ nên được cử làm đội trưởng đội văn nghệ của Xê 21.

Được giao nhiệm vụ nó cũng cố gắng thể hiện.

Nó tự sáng tác được một bài thơ để dành cho tiết mục ngâm thơ.

Rồi nó cũng vận hết mình để sáng tác ra một bài hát.

Vậy là đại đội nó có hai tiết mục tự biên.

Ngoài ra còn tốp ca nam, song ca và đơn ca nữa, . . . . .

Đội văn nghệ của nó tập tành liên tục nửa tháng giời, rất nghiêm túc và công phu.

Hội diễn văn nghệ toàn trung đoàn của nó diễn ra trong ba đêm.

Mấy tiết mục của chúng nó lọt vào đêm thứ ba chung kết.

Nó vẫn còn nhớ như chuyện vừa xảy ra, tốp ca 8 đứa chúng nó đứng vòng cung, quân phục mới là phẳng phiu, mũ mềm đính sao lấp lánh.

Nó đứng ở một đầu tốp, vừa đệm đàn vừa hát :

Đoàn thanh niên chúng tôi

Từ bao quê xa xôi, về đây nhập ngũ ú u . . . .

Sống với đại gia đình trong hơi ấm tình thương.

Chia sẻ vui buồn và gọi nhau đồng chí i í . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tiết mục thơ và tốp ca của chúng nó là hai tiết mục được giải nhất vì đó là hai tiết mục tự biên tự diễn.

Xê 21 cũng được giải nhất đồng đội.

Đội của nó được thưởng một cây đàn măng-đô-lin (mandolin) và cá nhân nó được thưởng một chiếc kèn ác-mô-ni-ca (harmonica).

Đùng một cái, 4 giờ chiều, tiểu đoàn nó nhận được lệnh gấp hành quân chiến đấu.

Đơn vị nó có nhiệm vụ phối thuộc với tỉnh đội và du kích địa phương bao vây khu vực làng Nú và một số địa điểm thuộc huyện Ia Grai.

Tại đó đang có một nhóm tàn quân VNCH cùng tổ chức Fun-rô (FULRO*) vượt biên giới Căm-Pu-chia trở về tổ chức đồng bào Thượng chống phá chính quyền và vũ trang nổi dậy quấy phá vào dịp Tết.

Tập hợp xong, lúc đi bộ qua khu vực nhà bếp để chuẩn bị lên xe thì chúng thấy mùi cỗ tất niên bốc lên.

Mùi nem rán vừa thơm mùi hành vừa ngầy ngậy mùi mỡ cùng nấm hương, mùi thịt bò xào thì thơm nức mùi tỏi phi.

Ôi trời ơi !

Chúng nó cứ phải nuốt nước bọt ừng ực.

Thôi thế là đứt rồi.

Đi đánh nhau thế này biết lúc nào mới xong.

Tết nhất, ngại quá!

Nhất là cái tụi tàn binh với Fun-rô, chúng cứ lẩn khuất trong rừng, bắn trộm đùng đoàng rồi lủi mất . . . ., biết đằng nào mà lần.

Không biết chừng còn "mất gáo" ngay trong cái dịp Tết hòa bình đầu tiên này, . . . .

Lính mà !

Không có gì là không thể !

* FULRO (viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées, có nghĩa Mặt trận Thống nhất Giải phóng các Sắc tộc bị Áp bức) là một tổ chức chính trị, quân sự do một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, người Chăm, người Người Khmer Krom thành lập năm 1964 để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1975 và chống chính quyền Việt Nam đến năm 1992.

Thời điểm kết thúc được tính là khi 407 binh sĩ FULRO cuối cùng ra giao nạp vũ khí cho quân Liên Hiệp Quốc tại Campuchia.

Thì ra không phải chỉ có tiểu đoàn nó mà cả trung đoàn đều lên đường hành quân bằng cơ giới trên các xe GMC, xe Zin ba cầu và Giải Phóng.

Bộ đội rất đông với trang bị súng ống đầy đủ, ăm ắp trên những chiếc xe tải.

Đoàn xe rù rù chạy về phía tây.

Lính tráng cứ thế lặng lẽ tiến quân, sẵn sàng chiến đấu.

Tới ven rừng thuộc khu vực Ia Kha thì hết đường đi.

Xe dừng lại dấu kín trong rừng, tắt đèn, tắt máy nằm im.

Trung đoàn phối thuộc với bộ đội tỉnh chia làm 3 mũi bí mật áp sát mục tiêu.

Lính phải vận động bộ ước chừng khoảng 10 cây số đường rừng trong đêm 30, tối như hũ nút thì tới gần bản Nú.

Mũi tiến của đại đội nó dàn hàng bí mật tiềm nhập vào làng, đạp qua rất nhiều cây xấu hổ, cây gai, sim mua, . . . .

Khi đã tiến đến gần các căn nhà ở ven bản, thấy nhà cửa vắng tanh, vắng ngắt.

Đại trưởng Sử nhận định, địch lùa bà con đi mít tinh, hẳn là tập trung ở nhà rông của bản.

Lệnh cho các trung đội luồn dưới gầm sàn các căn nhà trong bản mà tiến vào giữa làng, hình thành thế bao vây chặt.

Tất cả phải quán triệt hạn chế nổ súng để tránh gây thương vong cho dân.

Sau khi bao vây xong, sẽ gọi hàng và bắt sống được là tốt nhất.

Qua hết nhà này, rồi sang nhà khác được một lúc thì thấy có ánh đèn măng-xông sáng trắng lấp lóe hắt tới từ phía nhà rông ở phía trước.

Lính cứ thế lùi lũi tiến lên vây chặt nhà rông.

Từ ngoài vòng vây, nó thấy ánh đèn măng-xông sáng rực trên sân của nhà rông.

Rất đông người đang tâp trung ở đó với nhiều tay súng và gậy gộc tua tủa.

Trẻ em, người già, phụ nữ đứng bao bọc ở vòng ngoài.

Bỗng nhiên ai đó đạp phải một hòn đá, làm nó trượt đi rồi lăn xuống chân đồi.

Lũ chó lập tức sủa váng lên, đèn măng-xông vụt tắt.

Toàn bộ chìm trong màn đêm đen kịt.

Tiếng loa bất ngờ vang lên từ đâu đó bằng cả tiếng Kinh và tiếng Thượng :

- Đồng bào chú ý !

Đề nghị đồng bào giải tán, ai về nhà nấy trong trật tự, không gây

náo loạn.

Đề nghị đồng bào không nghe lời xúi giục của FULRO và bọn phản động.

- Ủy ban cách mạng yêu cầu các anh hạ súng đầu hàng để tránh thương vong.

Hiện

nay tất cả các anh đã bị bao vây, nếu ai chống cự buộc chúng tôi phải nổ súng.

Tiếng loa chưa dứt thì một loạt đạn AR-15 xé toạc màn đêm đen, phun đạn về phía chiếc loa.

Loạt đạn bắn trúng đich làm một đồng chí bị thương kêu rú lên và ngã huỵch xuống đất.

Những người lính phía trước buộc phải nổ súng.

Những loạt đạn AK đầu tiên nhất loạt bắn vào chỗ tay súng AR-15.

Đồng thời lúc đó nhiều họng súng khác từ trong nhà rông bắn ra rát rạt.

Một cuộc đấu súng quyết liệt giữa hai bên chen lẫn với tiếng đàn bà, trẻ con kêu khóc í ới và dắt díu nhau chạy dạt ra xa nhà rông.

Tại đó, họ được bộ đội dẫn chạy ra tạm nấp sau vách đá để tránh nguy hiểm.

Bọn địch ngoan cố chống cự rất quyết liệt.

AR-15 đấu với AK-47, bắn qua bắn lại cũng chưa giải quyết được, buộc đại trưởng Sử phải điều trung liên RBD vào cuộc.

Trung liên băng đĩa bắn dồn dập phát huy ngay tác dụng, đã ghìm chặt đầu mấy tay súng của địch.

Liền theo đó là 4 quả lựu đạn cay được tung vào qua cửa từ 4 phía.

4 ánh chớp lóe lên, rồi tất cả chìm trong yên lặng . . . .

Thấy lặng im tiếng súng, trung trưởng Lạp hô :

- Trung đội hai, xông lên !

Anh Lạp dẫn đầu trung đội xông vào nhà rông theo lối cầu thang chính.

Nó, thằng Thìn, thằng Bội và vài đứa khác tiến theo anh Lạp.

Nấp bên cái cột lớn, anh Lạp lia đèn pin soi khắp một lượt trong nhà nhưng không thấy một bóng địch nào, quay lại phía sau anh nói :

- Báo cáo đại trưởng, trong nhà không có địch !

- Đồng chí cho thắp đèn lên.

Kiểm tra kỹ trong nhà và xung quanh !

- Anh Sử ra lệnh.

- Rõ !

Đèn măng xông địch vứt lại được đốt lên, soi sáng một quang cảnh ngổn ngang.

Một lá cờ vàng – ba sọc đỏ và một lá cờ Fulro ba màu lam-đỏ-lục với ba ngôi sao trắng được treo chính giữa khu đại sảnh.

Bên dưới đó kê một chiếc bàn phủ vải thổ cẩm với một bát hương, vài nén còn đang cháy dở.

Phía dưới bát hương đặt 2 con dao quắm bắt chéo nhau.

Tường nhà xung quanh lỗ chỗ vết đạn.

Dưới nền nhà có 2 xác người và mấy vệt máu lớn chạy dài ra phía cửa sau, hướng chạy ra sông.

Dao, gậy gộc cùng và nhiều giấy truyền đơn vương vãi khắp nơi.

Đại trưởng ra lệnh :

- Đồng chí Bình (y tá) kiểm tra ngay các xác chết.

Nếu còn sống thì băng bó và cấp cứu cho chúng !

- Rõ !

- Trung đội 2 nhanh chóng tổ chức truy kích địch theo hướng sông.

- Rõ !

Trung đội nó vừa soi đèn tiến theo các vết máu vừa rọi đèn pin tìm địch ẩn náu trên đường truy kích địch từ trong bản ra đến bờ sông.

Khi cách mép sông chừng 100 mét thì bất ngờ, từ sau những tảng đá ở bờ sông, nhiều loạt súng đan chéo nhau bắn vào đội hình đơn vị.

Anh em nhanh chóng nằm xuống, tìm nơi ẩn nấp và nổ súng bắn trả về phía địch.

Vừa bắn, anh em vừa bò, chậm chạp nhích từng mét một.

Lợi dụng địa hình các mô đá và cây cối um tùm, trung đội nó dần dần khép chặt vòng vây.

Một ổ đại liên của địch bắn quét vào vòng vây rất quyết liệt.

Bên tỉnh đội có một mũi bò vào được khá gần bị địch phát hiện bắn trúng đội hình làm vài người dính đạn.

Đúng lúc đó, nó nhìn thấy 3 quả lựu đạn bung nụ xòe, lóe lên rồi bay vào phía ổ đại liên.

Ba chớp sáng gần như nổ cùng lúc trúng mục tiêu, làm cho họng súng của địch câm tịt.

Trung trưởng Lạp hô :

- Toàn trung đội, tiến lên !

Tiếng hô của anh không to nhưng vừa đủ để anh em đều nghe thấy.

Tất cả cùng nhỏm dậy, khom lưng chạy gằn, vượt qua các mô đá, bụi cây, . . . .

Mới tiến lên được chừng 30 mét thì AR-15 và Cạc-bin của địch lại bắn quét về phía đội hình của trung đội.

Một lần nữa, anh em lại phải ẩn nấp và bắn trả.

Thằng Sang nằm cạnh nó vừa nhô đầu lên định lao tới mỏm đá trước mặt thì bị trúng đạn vào vai.

Mấy đứa vội nhảy ra ôm thằng Sang, dìu nó lùi ra phía sau.

Hai khẩu trung liên của đại đội nó lập tức lên tiếng, hai làn đạn quét "chéo cánh sẻ" rất kỹ vào các mỏm đá làm cho địch không ngóc đầu lên được.

Một lúc sau, nghe chừng phía địch đã im tịt, anh Ngoan a trưởng bò hẳn lên phía trước leo qua khe đá và nhảy lên phía trước.

Sau khi quan sát và nghe ngóng động tĩnh một lúc, anh Ngoan đứng thẳng người lên, hô gọi :

- Lên cả đi !

Chúng nó xuống sông hết rồi.

Anh em nhẩy ào lên, đèn pin quét loang loáng.

Nó thấy 6 cái thây nằm vắt vương sau các phiến đá và trong khe đá.

Thằng chết, thằng bị thương, cũng không rõ lắm.

Đèn pin quét xuống sông thì không đủ sáng, nó nhìn chỉ thấy lờ mờ, lô nhô rất nhiều cái đầu đang bơi nhấp nhổm về phía bờ sông bên kia.

Anh Sử đại trưởng bảo bộ phận cứu thương băng bó, cấp cứu cho thương binh và tù binh.

Anh Lạp hỏi đại trưởng xem có truy kích địch tiếp hay không thì anh Sử ra lệnh :

- Các đồng chí !

Nhiệm vụ của đại đội ta đã hoàn thành.

Bên kia sông đã có đơn vị bạn đang

phục kích, đón lõng sẵn sàng rồi.

Các trung đội điểm lại quân số, kiểm tra vũ khí.

Toàn đại

đội hành quân ra xe, quay về doanh trại.

Nó và mấy đứa còn bắn thêm mấy loạt đạn nữa vào các bóng đen đang rập rờn dưới sông rồi mới tập trung để hành quân ra xe.

Sau mấy tiếng chiến đấu trở về doanh trại, tuy mệt nhưng ai nấy đều rất phấn khởi.

Lần đầu tiên tham gia chiến đấu, trải qua những cảm giác lo lắng, bồn chồn rạo rực khó tả rồi chiến thắng và thoát ra khỏi vòng nguy hiểm, có gì đó rất hân hoan và "reo vui" ở trong lòng những người lính trẻ vừa trải nghiệm trận đánh đầu tiên.

Mọi người vừa rũ bỏ quần áo lấm lem bẩn thỉu bùn đất cùng gai nhọn, . . . . vừa tranh nhau tả lại chuyện "tao thấy" thế này thế kia, "úi gời ơi ! lúc đó nhá" thế này thế khác cơ, "trông thằng Fun rồ nó chết khiếp quá !", . . . .

"Mình đánh nhau giỏi nhảy ! chỉ có thằng Sang và 2 lính tỉnh đội bị thương thôi", "Cực kỳ hết xảy* nha!", . . . .

Những người lính cựu như anh Lạp trung trưởng và anh Ngoan a trưởng thì không nói năng gì mà lại có vẻ rất hiền hậu hơn hẳn những ngày trước mà nó nghĩ.

Anh Lạp quát lên :

- Thôi !

Các ông tướng.

Đi tắm rửa đi còn xuống nhà ăn liên hoan Tất Niên.

Hôm nay cho

anh em tự do, không phải xếp hàng.

Khẩn trương !

Sắp Giao Thừa rồi.

Anh em tắm giặt xong đi xuống tới nhà ăn thì cũng đúng là lúc Giao Thừa.

Một tràng pháo dài được trung đoàn đốt ngay tước cửa nhà ăn để chào đón năm mới, xuân Đinh Mão 1977.

Anh em vừa liên hoan vừa lắng nghe lời chúc Tết của chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Để mừng xuân mới và mừng chiến thắng, trung đoàn nó xuất kho cho mỗi mâm một chai 33 rượu ngô.

Bữa Tất Niên trở thành bữa Khai Niên đúng Giao Thừa thật rất tưng bừng vui vẻ và "no say", kéo dài cho đến 2 giờ sáng.

Về tới nhà, thằng Tấn ở a nó mới lôi bánh pháo ra đốt ở ngoài cửa.

Mấy a khác và cả các trung đội khác cũng đốt pháo.

Không khí đầu năm thật tưng bừng, hỉ hả . . . .

* "cực kỳ" và "hết xảy" là khẩu ngữ ở thời điểm đó.

Sau chiến thắng 30/4, Đất Nước được thống nhất, những tưởng rằng người dân sẽ được ăn no, mặc ấm (chưa nói là ăn ngon, mặc đẹp).

Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.

Những năm dài chiến tranh đã làm cho nền kinh tế hoàn toàn kiệt quệ.

Sức người, sức của ở cả hai phía đều dốc hết cho cuộc chiến.

Trong cuộc chiến thì vũ khí và lương thực được viện trợ từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa cho bên này và từ Mỹ cho bên kia.

Bây giờ mọi nguồn viện trợ không còn nữa.

Trong khi đó tất cả các cơ sở sản xuất, từ công nghiệp đến nông nghiệp đều bị bóp nghẹt bên trong cái lồng "Nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa tập trung" quan liêu bao cấp.

Lương thực, thực phẩm thiếu trầm trọng mà hàng hóa thiết yếu cũng không có gì đáng kể, . . . .

Trong khi đó thì lực lượng quân đội vẫn phải duy trì với số lượng lớn bởi một sự thực là sau chiến thắng 30/4 của ta, Khmer Đỏ liên tục tạo ra tranh chấp và xung đột biên giới nhất là trong các năm 1977 và 1978.

Nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay từ năm 1975.

Ngày 4 tháng 5 năm 1975, quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc.

Sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu.

Sau đó ta đã phải tổ chức đánh chiếm lại.

Nhưng điều thực sự lo ngại là quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang xấu đi.

Trung Quốc đứng đằng sau Khmer Đỏ với sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc cùng với sự tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang của Khmer Đỏ.

Cả nước lại gồng mình chịu đói khổ, thắt lưng buộc bụng chuẩn bị cho một cuộc chiến mới nhãn tiền.

Mặt khác ta cũng phải căng mình chống lại các lực lượng "Phục Quốc", từ bên trong và bên ngoài trở về, kể cả Fulro.

Khó khăn chồng chất khó khăn, cả nước thiếu đói thì đơn vị nó cũng không ngoại lệ, cơm độn mỳ, ngô, khoai, sắn cũng không đủ.

Thời điểm đó, đơn vị nó chỉ được cấp 70% lương thực và thực phẩm.

30% còn lại đơn vị phải tự lo.

Vậy là ngoài huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu chống "thù trong - giặc ngoài", cả đơn vị nó phải tham gia vào tăng gia sản xuất.

Đại đội nó được giao cả một khu đồi lớn bỏ hoang ở Biển Hồ (hồ T'nưng – Ea Nueng).

Còn khu tăng gia của trung đoàn thuộc khu vực Đrang Phốc (D'rang Phok) gần sông Sêrêpôc (Srepok – gồm hai con sông Krông Ana và Krông Nô thuộc Đăc Lăk, cách nơi đóng quân trên một trăm cây số đường rừng.

Khu vực tăng gia của trung đoàn cũng còn là nơi tập luyện và diễn tập, đồng thời với mục đích trấn giữ và bảo vệ biên giới phía tây với Campuchia.

Ngay sau tết năm Bính Thìn 1976, đại đội nó và một đại đội bạn được lệnh hành quân chuyển đến địa điểm mới, cách trung tâm thị xã Pleiku khoảng mươi cây số.

Đó là phía bắc của Biển Hồ.

Đại đội nó được chuyển quân bằng ô tô vì phải hành quân di chuyển tất cả đồ đạc của đơn vị.

Sau khi nhận đất, anh em phải dựng tạm nhà bạt làm nơi ở.

Ổn định nơi ăn chốn ở xong, lính tráng bắt đầu làm công việc của người nông dân thực thụ, đúng chất nông dân cao nguyên Trung phần, phát cây, làm rẫy, trỉa bắp.

Giữa cao nguyên trung phần, nơi có độ cao hơn mực nước biển đến bốn năm trăm mét lại có một thung lũng mênh mông lộng gió.

Trong cái lòng chảo đó, Biển Hồ (Ia Nueng - Tơ Nưng – T'nưng) quanh năm ăm ắp nước và luôn luôn xanh ngắt, như một chiếc gương trên chót vót cao nguyên cho mây trời soi bóng.

Xung quanh Biển Hồ được vây bọc bởi những ngọn núi xanh biếc cỏ cây hoa lá, lung linh mờ ảo, nghiêng mình in bóng nước.

Cái xanh ngăn ngăn ngắt thanh thiên ấy là cái xanh của bầu trời in trong làn nước thu thủy trong vắt của Tơ Nưng.

Cá tôm vô cùng nhiều, tung tăng bơi lội, chao lượn thành từng đàn lớn.

Cảnh thiên nhiên thật là kỳ thú.

Trên các quả đồi thoai thoải ven hồ, lính phát cây, đốt rẫy, trỉa bắp.

Lúc được nghỉ, anh em chạy nhao xuống hồ, tắm giặt, đùa nghịch trong làn nước mát, vô cùng khoan khoái, "Hết xảy con bà bảy !".

Sung sướng nhất là được ngắm cảnh đẹp, lãng mạn của hồ Biển.

Phía chân hồ xa xa là hình bóng của những dãy núi xanh lam uy nghi soi bóng.

Những làn mây trắng trên nền trời thanh thiên đang từ từ trôi qua tạo ra cảnh sinh động "bầu trời in đáy nước".

Thẳng hoặc đây đó là những phiến đá, doi cát nhô ra trên mặt nước, dập dềnh sóng vỗ.

Vài con thuyền câu thấp thoáng gần xa đang quăng lưới, lấp lánh như ánh bạc.

Chiều đến mặt hồ bốc lên một lớp sương mờ, hư ảo tựa như cảnh thiên bồng nơi tiên giới, đẹp mơ màng như tranh thủy mặc.

Lữ khách như lạc vào chốn mê quyến rũ có một không hai trên trần gian.

Có lẽ vì thế mà người ta ví Biển Hồ như viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên, là "đôi mắt" trong veo của phố núi Pleiku . . . .

Về sau này nó mới biết, Biển Hồ là một miệng núi lửa khổng lồ với rất nhiều bí ẩn và huyền thoại, thêu dệt nên chất thơ mộng và huyền bí từ ngàn xưa.

Chuyện cổ dân gian của dân tộc Jơ Rai kể rằng, Ia Nueng (Biển Hồ) khi xưa là bến nước uống chung của làng người Jơ Rai.

Nước ở bến Ia Nueng rất xanh trong, soi rõ mặt người.

Một hôm, trên đường đi đến bến Ia Nueng để lấy nước, có hai người dân trong làng là Yă Pôm và Yă Chao thấy lúc hiện, lúc ẩn trên đường đi của họ một chú lợn trắng rất đẹp.

Yă Chao đã bắt con lợn trắng xinh đẹp kia về nuôi ở nhà mình.

Hằng ngày, Yă Chao chăm sóc cho lợn trắng đủ thức ăn ngon nhưng chú lợn con không ăn gì cả.

Một lần Yă Chao mang những chiếc bầu đi lấy nước ở Ia Nueng về, trái bầu dính những hạt cát trắng, bỗng nhiên chú lợn con đã liếm hết những hạt cát một cách ngọt ngào.

Yă Chao sửng sốt lắm.

Sau đó, hàng ngày Yă Chao cứ đi lấy cát trắng về cho chú lợn ăn.

Chú lợn từ đó lớn nhanh như thổi.

Sau ba lần trăng tròn, chú lợn trắng đã lớn bằng con trâu to.

Cả làng của Yă Chao, ai nấy đều ngạc nhiên và lấy làm lạ lắm.

Năm ấy trúng mùa, dân làng dựng nhà Rông mới.

Tù trưởng (già làng) mới sai người trong làng đi tìm một con lợn thật to để cúng Yàng và làm lễ ăn mừng.

Sau khi sai người đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không lấy đâu ra con lợn to như già làng mong muốn nên trở về nhà Yă Chao xin bắt con lợn trắng này để làm thịt.

Yă Chao kiên quyết từ chối, dù có đổi bao nhiêu chiêng hay ghè (một loại đồ gốm tinh xảo), kể cả ghè Yang (Yang – Trời).

Cuối cùng dân làng đã phải cử 2 người to khỏe đến bắt cho bằng được con lợn trắng về làm thịt cúng Yàng.

Cúng lễ xong, thịt được chia cho các gia đình trong làng để ăn mừng.

Riêng Yă Chao không nhận thịt và thề rằng: "Nếu tôi ăn thịt này thì đất sẽ động, Ia Nueng sẽ sụp lở".

Nhưng đứa cháu của Yă Chao thấy thịt ngon đòi ăn và khóc cả ngày đêm nên bà không cầm được lòng mà phải cho đứa cháu ăn thịt lợn trắng.

Bỗng chốc, trời đất, núi rừng rung chuyển, nhà cửa ngả nghiêng, vùi lấp cả dân làng.

Yă Chao và cháu của mình cũng chạy nhưng không kịp nên bị nước nhấn chìm rồi biến thành tượng đá dưới đáy hồ.

Chiều chiều, nó cứ mê mẩn lặng ngắm cảnh hồ, dâng dâng cảm xúc, tan hòa trong cảnh sắc Đất Trời, ngất ngây.

Đơn vị nó tăng gia ở đây khoảng gần một tháng.

Khi những cây bắp mầm bắt đầu nhú lên được cỡ gang tay thì cũng là lúc đại đội nó được lệnh hành quân di chuyển.

Những rẫy bắp mênh mông được bàn giao cho đơn vị ở lại quản lý và thu hoạch.

Xe ô tô chở đại đội nó từ Biển Hồ đi theo Quốc lộ 14 đến ngã ba Chư sê.

Nhìn sang phía tây, bên phải đường là núi Chư Prông sừng sững.

Đây là ngọn núi cao nhất của huyện và tên của núi này cũng được đặt làm tên của huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Cũng phải nói thêm, còn có một núi Chư Prông khác ở huyện M'đrac của tỉnh Khánh Hòa.

Cũng có thể còn có nhiều núi Chư Prông nữa, vì theo tiếng J'rai, "Chư" là "ngọn núi", "Prông" là "lớn".

Xe chở đại đội nó đang căng trớn thì vừa qua ngã ba Chư Sê một đoạn lại tạt vào ven đường.

Lính phải xuống xe và đi bộ từ đây.

Lần này thực sự là một cuộc hành quân bộ theo đúng nghĩa.

Anh em không được báo trước sẽ đi bao xa hay trong thời gian bao lâu.

Lúc đầu nó cứ ngỡ cùng lắm thì chỉ phải đi bộ một ngày đường rừng vì xe không thể đi vào được.

Nhưng hết ngày này sang ngày khác đến hết ngày thứ sáu, chúng nó mới được nơi đóng quân.

Quãng đường hành quân ngoằn nghoèo trong rừng, lội suối, leo núi cao, chắc cỡ 130 cây số.

Đại đội nó xếp thành hai hàng dọc để các tiểu đội trưởng kiểm tra trước khi hành quân.

Ba lô đứa nào cũng căng phồng quân tư trang, cóc ba lô đút khăn mặt, bàn chải, kem đánh răng, xà phòng, đũa và bát sắt.

Tăng và màn nhét cóc sau, bi đông đeo bên sườn.

Trên nóc ba lô vắt ngang một cái ruột tượng gạo, rồi trên đó lại còn một cái chiếu đơn nữa.

Súng AK khoác ngược quai ra đằng trước và đặt ngang, đè lên cái chiếu.

Lại còn giày dép , mũ mãng, đồ hộp và các thức khác nữa, . . . .

Trông đứa nào cũng tầng tầng lớp lớp đồ đạc trên vai, đứng còng còng như những con lạc đà.

Sau khi kiểm tra xong, lệnh hành quân bắt đầu.

Dẫn đầu đại đội là đại trưởng Sử, rồi đến trung trưởng Lạp.

Sau anh lạp là tiểu đội của nó.

A trưởng Ngoan đi bên cạnh đội hình giống như các a trưởng khác.

Sau trung đội nó, cách một quãng là trung đội khác.

Đi sau cùng là cánh anh nuôi với xoong quân dụng to kềnh, hai người xiên đòn vào khiêng.

Các đồ làm bếp khác, cái thì đeo, cái thì gánh, . . . .

Hai máy thông tin 15W to đùng được bốn đứa báo vụ thay nhau mang vác.

Đứa nào không vác máy thì phải đeo 2 ba lô.

Cái máy to mà cần ăng ten rất dài, phía trên có 5 cánh xòe ra, mỏng tang, rung rinh.

Lính giữ đội hình hàng đôi cứ thế lầm lũi đi trên con đường mòn đất đỏ ngoằn nghoèo, lúc leo lên dốc, lúc lại chạy xuống thung, trên những trảng đồi hoa sim, mua hoa tím hường, cây xấu hổ hoa tím mung lung và giã quỳ vàng rực.

Được khoảng mươi cây số, chúng bắt đầu tiến vào rừng già.

Trong rừng, càng vào sâu cây cối càng um tùm, nhiều tầng lớp với đủ thứ loại cây, chẳng thể biết hết được.

Trên Trời mưa bay lất phất, dưới đất rừng thì rất ẩm thấp.

Con đường lâu không có người đi, lá mục ngập tới mắt cá chân.

Khắp nơi từ dưới đám lá mục cho đến trên các cành cây, đâu đâu cũng thấy vắt đang nghoe nguẩy, vươn đầu lên.

Rồi chúng cong mình, búng nhảy lên tanh tách, bám vào tay, vào chân, vào đầu, vào cổ, chui vào tất, ống quần và ống tay áo.

Đúng là một lũ hút máu, háu đói và thiện chiến.

Khi Trời đã đứng bóng thì chúng gặp một dòng suối nhỏ.

Đại trưởng ra lệnh nghỉ ăn trưa.

Đứa nào đứa nấy hạ ngay ba lô xuống, trên các gốc cây, trên các phiến đá ven suối.

Trưa nay mọi người có món lương khô và nước lã trong bi đông.

Nó dựa ghi ta vào gốc một cây, thả cái ba lô xuống cho nó muốn lăn đi đâu thì lăn, "bố sư, mệt quá !".

Nó nằm ềnh ngay xuống đất, ngẩng mặt lên nhìn bầu trời âm u qua các kẽ lá um tùm của các cây đại thụ rất to và rất cao.

Từ dưới đất không biết bao nhiêu là các thứ cây dây leo, cứ xoắn xuýt lấy các cây lớn mà leo lên cao tít.

Đây đó, rất nhiều cây tầm gửi đỗ bám vào các cành cây và thân cây, vươn lên chằng chịt, xanh um.

Thẻo đảnh ở đầu các cành cây khô, đây đó có vài đám phong lan rất đẹp, cong cong lá rủ, điểm vài bông hoa óng ánh như pha lê, trông rất lãng mạn.

Lính thì đang mải lột tất, lột áo ra bắt vắt.

Những con vắt no máu bị ném xuống đất rồi bị di đi di lại cho vỡ ra, máu đỏ lòm.

Mấy đứa khác thì tranh thủ lội xuống suối đóng thêm nước vào bi đông, rửa mặt, ngụp đầu cho mát, . . . .

Nghỉ được khoảng một tiếng, đơn vị lại tiếp tục hành quân.

Đường càng vào sâu trong rừng núi, càng khó đi.

Anh Sử phải cử ra một nhóm tiền trạm đi trước, dùng dao quắm phát cây, mở đường.

Đất dưới chân thì lầy lội, trèo lên hay tụt xuống những đoạn dốc cứ trơn nhẫy như đổ mỡ.

Vắt đã nhiều vô kể, bây giờ lại thêm muỗi cũng "đông như quân Nguyên".

Những con muỗi rất to, đầu đen xì bay vò vè, o o như trực thăng.

Chúng bám theo lính, bâu vào những chỗ da để hở mà trích hút.

Đường đi quanh co, lúc lên, lúc xuống dốc.

Có đoạn phải bám vào vách đá, đặt chân cẩn thận chắc chắn rồi trườn người leo lên.

Vách đá dựng đứng, mặt anh sau chạm vào gót chân anh trước.

Lính mang vác nặng, phải gồng mình, đạp chân, co tay hết sức để leo lên.

Đã thế, không khí trong rừng lại ẩm thấp, ngột ngạt và oi bức kinh khủng.

Mồ hôi nó túa ra như tắm, nó cứ phải liên tục lấy khăn mặt lau đi.

Chiếc khăn đã ướt sũng mồ hôi, không khác gì vừa nhúng vào nước, chảy tong tỏng.

Trời chiều trong rừng sâu tối rất nhanh.

Đại trưởng ra lệnh tăng tốc khẩn trương để thoát khỏi rừng già trước khi trời tối.

Mục tiêu là phải tới được khu rừng thưa, cách đó hơn chục cây số.

Lính tráng cắn răng, bậm môi, bấm chân vào đá, bấu tay vào dây leo mà nhích lên từng bước.

Đứa nào đứa nấy "mệt bở hơi tai", "thấy ông bà ông vải", cứ thế hì hụi tiến lên, không ai hé răng nửa lời.

Nắng đã tắt, rừng càng trở nên âm u, rồi mưa bắt đầu nặng hạt.

Khi leo tới một đỉnh khá phẳng trên một sườn núi, đại trưởng cho tạm dừng để lính mặc áo mưa, che cho ba lô, che gạo, che súng.

Đứa nào đứa nấy như cái máy, vội vàng móc nylon từ trong túi cóc ba lô ra nhanh chóng khoác lên mình, rồi hành quân tiếp.

Đột nhiên trời nổi cơn gió lộng, gió rít ào ào không biết từ đâu, kéo theo một trận mưa xối xả.

Mưa dầy và nặng hạt quất vào mặt ràn rạt.

Bầu trời sập tối rất nhanh, lính phải soi đèn pin để hành quân.

Ánh đèn pin nhập nhòe trong mưa gió, đứa nào đứa nấy ướt rượt từ đầu đến chân.

Khoảng 8 giờ tối chúng mới tới được cánh rừng thưa.

Nhận được lệnh dừng chân hạ trại, nghỉ ngơi thì ai nấy đã mệt bã bời.

Nhiều đứa còn không buồn cởi ba lô, cứ thế mà vật xuống, không cần biết là chỗ đó có khô ráo hay bùn lầy.

Có đứa thì tựa vào ba lô, có đứa dựa vào gốc cây hay tảng đá, cứ thế há mồm mà thở, hổn hà hổn hển, . . . .

Gió đã ngớt nhưng mưa thì vẫn sụt sùi.

"Tiếng mưa" ở đồng bằng quê nó nghe mênh mang, dội tới từ mặt nước trên cánh đồng lúa, rơi êm ái trên mái rạ hay lộp độp trên cây lá trong vườn.

Tiếng mưa đó có "sắc màu" trắng bàng bạc.

Mưa rừng nơi đây thì khác.

Nó sầm sập đổ xuống ngay trên đầu, à à bủa vây từ xung quanh.

Một thứ "màu mưa" đen sẫm, bủa vây bưng bít mọi ngả, cảm tưởng như ta đang bị luộc nhừ trong một cái "nồi ninh" của trời đất.

Không thể kiếm củi khô để nấu ăn được.

Vả lại ai nấy đều đã quá mệt nên lính lại phải "nhấm" lương khô 701 và "nhắm rượu H2O" trong bi đông (lúc ấy 701 là lương khô của Trung Quốc viện trợ từ trước năm 1975 vẫn còn.

701 rất ngon, về sau này lương khô của Việt Nam không ngon bằng.

Ăn xong, lính chọn cây, căng tăng, mắc võng.

Đứa nào cũng ướt sũng, quần áo và người ngợm đầy bùn đất.

Bùn đất thì lấy que mà gạt đi, còn ướt thì thây kệ nó, mệt quá, cứ thế lăn lên võng mà ngủ.

Trừ những đứa phải gác, cả đại đội nó nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, không thao thức hay mộng mị, chỉ vài giây sau đã ngủ say như chết.

5 giờ sáng, tiếng còi báo thức rúc lên mấy hồi, nhói buốt "thọc ngoáy" vào cơn ngủ mệt nhọc của lính.

Nó giật mình, tỉnh giấc.

Đang ngái ngủ, nó không ý thức được đang ở đâu, theo phản xạ, nó nhảy từ trên "giường" xuống đất như mọi khi.

Chân chạm mặt đất bùn lầy bị trượt đi, nó ngã phệt ngay xuống bùn.

Nhìn lên thì đã thấy hửng sáng, trời đã quang, mây đã tạnh.

Đã nhìn thấy ánh nắng hắt lên trên các ngọn cây cao.

Qua kẽ lá, nó nhìn thấy trời xanh, mây trắng, tít tắp.

Hôm nay hẳn sẽ là một ngày nắng đẹp.

Trời nắng đẹp mà hành quân trong rừng thì còn đỡ, chứ nếu hành quân trên đồi trọc thì sẽ mệt lắm.

Biết vậy !

Đến đâu hay đến đó.

Tiếng anh Lạp trung trưởng hô to :

- Trung đội một chú ý !

Các đồng chí, khẩn trương theo tôi xuống suối đánh răng, rửa mặt.

Từng tiểu đội cử người xuống anh nuôi lĩnh cơm, lấy nước vào bi đông.

Sáng nay ăn bữa

chính, trưa ăn phụ bằng lương khô.

Đúng 6 giờ 15, tập trung hành quân.

Đang đói, lại cả ngày hôm qua không có cơm, đứa nào cũng ăn ngấu nghiến như thể cố mà bù lại cái sức lực đã bị hao tổn qua một ngày hành quân vất vả.

Cơm thì chỉ có ít ruốc mặn với một xoong "canh" lõng bõng "vương vấn" mấy sợi thịt hộp và mấy đốm "hoa mỡ" lềnh bềnh.

Vậy mà sao ngon thế !

Bây giờ thì nó đã học được cách ăn nhanh một cách "tự nhiên và bản năng" nên cũng không còn bị đói như những ngày đầu.

Bữa ăn của nó đã là "cuộc chiến" "có tốc độ" và "có hào hứng" như một người lính thực thụ.

6 giờ 15 phút, trực ban đại đội thổi còi tập hợp.

Sau khi kiểm tra quân số, súng đạn, quân tư trang, anh Sử rút kinh nghiệm ngày hành quân hôm trước, động viên, nhắc nhở, trấn chỉnh binh sỹ rồi phổ biến kế hoạch hành quân tiếp, đơn vị tiếp tục lên đường.

Hôm nay chúng đi trong rừng thưa và khá bằng phẳng.

Trảng rừng thưa rộng mênh mông như bất tận cứ ngày càng mở ra trước mắt nó.

Càng đi rừng càng thưa thoáng.

Đây đó có chỗ có sương mù thì cũng đang tan dần.

Ánh nắng ban mai ửng vàng chiếu nghiêng nghiên từ trên cao, xuyên qua cây lá, tạo thành những tia sáng mung lung, chạy dài xa tít tắp.

Sau một đêm ngủ ngon, sáng ra được tắm mát sạch sẽ với một bữa cơm no nê, sức trẻ đã hồi lại.

Trong thời tiết ban mai nắng rừng "đẹp như trong tranh vẽ", lính tráng hành quân rất hứng khởi.

Vừa đi chúng vừa nói chuyện, tán dóc râm ran, vừa đùa nghịch trêu chọc nhau ầm ĩ.

Hứng quá, một thằng đột nhiên nhảy ra ngoài hàng :

- Hát nhá !

Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận, hai . . . . ba . . . .

Bài hát "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" vang lên lan truyền từ trung đội nó sang các trung đội khác.

Cả đại đội vừa tiến bước vừa hát trong khúc nhạc hành tiến, thôi thúc.

Đang đi, đột nhiên một thằng kêu lên :"Nhìn kìa !".

Nó ngước nhìn lên thì thấy phía xa xa trước mặt hiện lên nhiều đỉnh núi lô nhô.

Chết cha !

Lại phải leo núi rồi.

Đứa nào đứa nấy thất kinh, mặt tái dại.

Chẳng bù cho lúc sớm, hành quân vui vẻ, khí thế, hát hò.

Giờ thì không ai bảo ai, thằng nào thằng ấy "im như thóc".

Lại "mờ đời thằng mục(*)" rồi !

Càng đến gần núi, nó càng nghe thấy nhiều tiếng thở dài ngao ngán.

Rồi việc gì đến cũng phải đến.

Chúng bắt đầu leo lên đèo.

Những bước chân bắt đầu trĩu nặng, mũi mồm và tai bắt đầu tranh nhau thổi phù phù thì cũng đúng là lúc chúng nó thấy một làn gió mát táp từ phía trước mặt tới.

Ấy là gần tới đỉnh đèo.

Lên tới đỉnh đèo nó mới nhìn thấy phía trước mặt nó là một con đường chạy xuống dốc đi vào trong khe giữa hai bên là núi.

Nó thở phào nhẹ nhõm.

Vậy là không phải leo núi mà đi trong khe, đúng theo đường tụ thủy.

Cây cối ở hai bên núi có phần rậm rạp hơn trước nhưng cũng chỉ là rừng non lưa thưa.

Khi đi qua gần đến giữa thung, nó thấy trên sườn núi bên trái có một vạt lác đác các cây chuối dại gầy khẳng khiu, đơm hoa đỏ au, cái chĩa thẳng lên trời trông như mũi dáo, cái thì cong móc câu chĩa xuống đất.

Cái giống hoa chuối rừng sao mà đỏ thế, chẳng khác gì màu cờ.

Hoa chuối lốm đốm trên sườn núi xanh trông rất đẹp mắt.

Giá mà gần một chút, thể nào cũng phải trèo lên hái cho anh nuôi làm rau ghém, làm nộm hay xào với mỡ thì "hết ý con mẹ tý(**)".

Vừa đi lính tráng vừa ngắm hoa chuối.

Lần đầu tiên thấy hoa chuối rừng nên đứa nào cũng lạ, lại vừa thấy bùi ngùi tiếc của.

Chợt nó giật mình, chân nó dẫm phải cái gì tròn tròn, mềm mềm.

Cảm giác như con gì nát nhũn dưới chân, nó nhảy chân lên để tránh rồi cúi xuống nhìn.

Chà !

Thì ra là đu đủ.

Đu đủ rừng chín rụng từ trên cây xuống.

Nhìn ra phía trước, thấy đây đó rất nhiều quả chín lăn lóc vàng ươm dưới đất.

Ngẩng đầu lên thì thấy cơ man nào là đu đủ lúc lỉu trên cây, ngay phía trên đầu chúng.

Những quả đu đủ dài ngoẵng, quả xanh, quả vàng treo trên thân cây cao lêu đêu.

Mấy đứa nhanh nhẹn tóm gốc cây rung mạnh.

Đu đủ chín rơi lộp bộp.

Lính tranh nhau nhặt, lấy tay bửa ra cứ thế truyền nhau vừa chén vừa hò hét.

Đội hình hành quân bắt đầu rối loạn.

Không ai bảo ai, thảy đều chạy túa tới các cây đu đủ mà rung, rồi lại tranh cướp nhau.

Thằng nào thằng nấy cứ thế mà cạp ăn nhồm nhoàm.

Đu đủ rừng ngọt và mát, ăn đến đâu biết đến đấy.

Nhưng mặt mũi đứa nào cũng toe toét dính đu đủ trông rất nhắng, sướng quá đi mất !

Hết quả chín chúng chặt cây lấy những quả ương để chén tiếp.

Trông cảnh lính càng ngày càng hỗn loạn vỉ đu đủ, đại trưởng Sử đành rúc còi.

Đại đội lại chỉnh tề hàng lối hành quân tiếp.

Càng vào sâu trong khe, đu đủ càng nhiều, cả một vạt rừng.

Trông đu đủ mà tiếc ngẩn ngơ vì đứa nào đứa nấy đã căng một "diều" đu đủ rồi.

Trước mắt chúng bây giờ toàn quả chín, quả ngon.

12 giờ đơn vị nghỉ trưa. lính được phát lương khô nhưng phần lớn để dành vì chúng ăn đu đủ đã quá no.

Mỗi đứa cũng chỉ hái thêm một hai quả bỏ vào cóc ba lô.

Chúng hái cả quả ương để dành tối hay ngày mai ăn.

Quả xanh thì hái cho anh nuôi làm rau xanh.

Khi hành quân đi tiếp thì mới thấy khổ.

Đủ đủ rụng nhiều quá, người đi trước xéo lên, người đi sau xéo tiếp, tạo thành một một con đường bùn đu đủ vàng ươm, nhão nhoét trông vừa tiếc, vừa ghê ghê.

Hết rừng đu đủ qua rừng lau, cỏ lác cao ngập đầu người.

Qua rừng lau bắt vào rừng già tiếp theo thì trời cũng bắt đầu tối.

Anh Sử cho đơn vị hạ trại nghỉ ngơi.

Mỗi tiểu đội cử ra một người giúp anh nuôi kiếm củi nấu cơm.

Số đu đủ xanh anh nuôi thái ra xào cùng thịt hộp thơm phức.

Tối đó chúng được ăn một bữa ngon tuyệt.

(*)(**) Khẩu ngữ lúc đó

Mắc tăng võng xong, thấy còn sớm, tiết trời lại khô ráo, mát mẻ, anh em tụm nhau bên đống lửa mà anh nuôi nhóm lên để chơi vui.

Anh em hát thì nó ôm đàn ghi ta phập phùng đệm theo.

Những bài ca tình cảm, nó phải chuyển đàn cho Thanh, người phố Bần đệm đàn.

Thằng Thanh chơi ghi ta giỏi hơn nó nhiều.

Nhiều ngày tiếp theo, đơn vị vẫn tiếp tục hành quân, ngày hơn bù ngày kém, mỗi ngày đi khoảng 25 cây số.

Có mấy lần nó mệt quá, bị tụt dần xuống cuối đoàn.

Những lúc như thế nó chỉ muốn quẳng đàn, quăng hết tiểu thuyết, sách vở và vứt bớt quân trang đi cho nhẹ.

Muốn thì muốn vậy, nhưng rồi nó cứ cố, ỳ ạch như con lừa mà chẳng vứt đi thứ gì.

Sau bảy ngày hành quân bộ, đơn vị mới tới nơi tập kết.

Đó là một thung lũng lớn toàn cỏ tranh, cây lúp súp và cây xấu hổ, gần sông Krông Na, cách bản Đrang Phôk khoảng một cây số.

Chẳng được nghỉ một ngày nào, ngay ngày hôm sau, công việc đã được phân công cho từng nhóm.

Nhóm phải vào rừng chặt gỗ, tre, bương, hóp, khuân về.

Người ở nhà phải phát cây dọn cỏ.

Ai biết nghề mộc thì cưa cây, đẽo cột, đục kèo, dựng nhà.

Chưa đầy một tuần, đại đội nó đã dựng xong 2 căn nhà lớn, nhiều gian.

Một nhà làm nhà ăn và một nhà làm nhà ở cho lính.

Còn một nhà nhỏ hơn dùng làm nhà cho chỉ huy đơn vị và phòng giao ban.

Tất cả các nhà, tuy chắc chắn nhưng đều là nhà tạm.

Nhóm còn lại phải làm đất trồng rau và luân phiên cử người vào rừng hái rau, xuống sông đánh cá nộp cho nhà bếp để cải thiện bữa ăn .

Sau khi "ổn định nới ăn chốn ở", nhiệm vụ của đơn vị là trồng bắp.

Anh em lại phát cây dọn mặt bằng, cuốc đất, đập tơi, đánh luống, tra hạt, tưới tắm cho bắp, . . . .

Chưa đầy một tháng lao động miệt mài, Khu đồi ngô của đại đội rộng mênh mông đã xanh mướt mát, "rợn chân trời", trông rất sướng.

Gần nơi đại đội nó làm nương có một tổ đường dây thông tin, là tổ 48.

Tổ này cùng thuộc trung đoàn thông tin của nó, nhưng lính ở tổ cựu trào hơn lính mới chúng nó nhiều.

Những lúc rảnh rỗi, anh em rủ nhau sang tổ 48 chơi, được nghe các anh kể chuyện làm thông tin như thế nào.

Rồi các anh còn dẫn bọn chúng vào rừng hái quả lòong boong.

Quả loòng boong trông như dâu da đất nhưng to hơn và da có màu vàng nâu nhợt.

Đặc biệt là nó rất ngọt và gần như không có hột.

Nghe nói, quả này ngày xưa được dùng để tiến vua, dân thường không được ăn.

Một dòng sông sóng nước long lanh,

Đôi bờ đâu cách xa . . . .

Sông Krông Ana

Ngô non bắt đầu lên xanh thì cũng là lúc đại đội nó lại được lệnh hành quân trở về doanh trại của trung đoàn.

Bãi ngô giao cho tổ 48 chăm sóc, trông coi và thu hoạch.

Nhìn những cây ngô xanh mướt do mình tự tay vun trồng, nay lại phải rời đi thì trong lòng nó cũng cảm thấy bùi ngùi, tiêng tiếc.

Chuyện "nước sông, công lính" mà !

Đại đội tập trung hành quân bộ.

Lần này lính không phải đi đường rừng mà hành quân về hướng tây, trên đường mòn dọc theo triền sông Krông Ana.

Đường đi khá bằng phẳng và dễ dàng.

7 giờ sáng bắt đầu hành quân, đến khoảng 12 giờ thì tới Quốc lộ 14C, quãng đường khoảng hai chục cây số.

Lính tráng được dừng lại nghỉ ở vạt rừng ven đường, chờ đến sáng mai ô tô đưa về căn cứ.

Đoạn đường này nằm sát biên giới với Cămpuchia.

Thậm chí con đường 14C có đoạn chạy sang cả đất Cămpuchia.

Lính lại căng tăng, mắc võng theo khu vực từng trung đội.

Sau khi được ăn cơm trưa do anh nuôi nấu, nó trèo lên võng đánh một giấc ngon lành.

4 giờ chiều nó mới tỉnh dậy.

Mấy đứa chỉ tay lên cái đỉnh đồi ngay trước mặt, bảo đó là biên giới, "anh Lạp bảo thế !"

Mấy thằng liền rủ nhau lên biên giới xem nó thế nào.

Chúng xin phép a trưởng Ngoan, nói là đi hái rau.

Lên đỉnh đồi, nhìn sang bên kia thì thấy đồi núi cũng thế, vẫn đất ấy, cỏ cây ấy, chẳng có gì khác biệt.

Dù vậy, nó vẫn thấy có gì đó nao nao trong lòng vì đây là lần đầu tiên nó biết thế nào là biên giới, . . . .

- Chúng mày ơi, bước sang kia đi, coi như mình ra nước ngoài.

- Ừ ! thế là mình cũng "có số xuất ngoại" nha !

Sướng thật !

- Thế này mà gọi là đi ra nước ngoài á ?

Có mà đi ngoài ra nước ấy !

Sau khi "ra nước ngoài", mấy thằng lại "từ hải ngoại trở về".

Một thằng nói :

- Thôi, đứng đây mà đái một bãi từ nước này sang nước khác rồi đi về đi !

- Ừ !

Mà vụ này làm tao lại nhớ cái chuyện Trạng Quỳnh "Vũ qua Bắc Hải" à . . . .

Sáng hôm sau, lính ăn cơm làm bữa chính rồi tháo tăng võng ra đường tập hợp chờ xe.

Vừa hay, một lát sau thì xe tới, hợp đồng tác chiến tốt thật.

Chắc hẳn đội xe đã đến gần đây từ tối hôm qua và nghỉ lại ở đâu đó.

Xe chạy theo hướng bắc theo Quốc lộ 14C về thẳng Đức Cơ, bắt sang Quốc lộ 19, chạy qua Chư Prông, qua thị xã Pleiku, rồi chạy vào khu doanh trại Hoa Lư của trung đoàn.

Về đến nhà thì mới khoảng 2 giờ chiều.

Thì ra lần trước hành quân bộ là một cuộc hành quân di chuyển kết hợp với rèn luyện, chứ không phải là không có đường ô tô.

Lính được nghỉ sả hơi ít ngày và chuẩn bị cho giai đoạn học nghiệp vụ chuyên môn.

Nó vẫn thư từ qua lại với gia đình và với người yêu, đều đều.

Đối với bạn bè thì nhiều nhất là thư thừ với Sơn Hồng, bạn nó ở trường mỹ thuật.

Hay tin Sơn Hồng đã cùng ba má quay về tiếp quản Quy Nhơn, nó viết thư cho Hồng biết địa chỉ của đơn vị và báo với Hồng, đơn vị đã hành quân dã ngoại trở về.

Một buổi chiều, vừa hết giờ học chính trị trên hội trường, nó được vệ binh báo ra cổng có khách.

Nó băn khoăn, bán tín bán nghi, làm gì có ai mất công vào chốn xa xôi này tìm nó chứ.

Ngoài em Hương thợ may nó quen thì "cắt" mất rồi vì không dám gặp, ai mà lại tìm nó thế, khó hiểu thật.

Nó tất tả chạy ra cổng vệ binh và sững người lại.

Trước mắt nó là một thằng gầy còm, đen nhẻm, tóc để dài chùm tai, đầu đội mũ tai bèo, chân đi dép lốp, ba lô lính đeo tòng teng trên lưng, có vẻ không nặng lắm.

Thằng này mắt đen sáng quắc đang mỉm cười nhìn nó.

Định thần một lúc, nó mới nhận ra.

Hai thằng lao vào ôm chầm lấy nhau, cảm động ứa nước mắt.

Đó là Sơn Hồng, từ Quy Nhơn vào thăm nó.

Nó cầm giấy tờ của Hồng mang vào báo cáo đại trưởng.

Trung đoàn lúc đó chưa có nhà khách nên anh Sử cho phép đón Sơn Hồng vào lán ngủ chung một giường, ăn cơm cùng với tiểu đội trong bếp ăn của lính.

Nó mừng quá, quýnh quáng chạy ra cổng đón bạn.

Hai thằng khoác vai nhau, vừa đi vừa tranh nhau hỏi chuyện.

Cả trung đội nó đón Sơn Hồng rất nhiệt tình, cởi mở, nhất là mấy đứa đồng hương Mỹ Hào đã gặp Sơn Hồng trong lần Hồng về chơi nhà nó ở Mỹ Hào.

Hết đứa này hỏi chuyện nọ đến đứa khác hỏi chuyện kia, tíu ta tíu tít, cứ như Sơn Hồng vừa lạc từ thế giới nào khác trở về.

Hồng mở ba lô lôi ra một túi to thuốc lá cuốn, dễ đến một cân, cùng giấy cuộn.

Nó chia cho các bạn, biếu trung đội, đại đội mỗi chỗ một túi, còn lại một ít, nó cất vào cóc ba lô.

Ngoài thuốc lá, thằng Hồng còn mang theo rất nhiều cá khô, mực khô.

Tiểu đội nó lấy cơm nhà bếp về, nướng mực, nướng cá thơm lừng.

Chúng nó trải báo lên giường liên hoan một trận linh đình.

Đêm đó hai thằng nằm cạnh nhau nói chuyện rất khuya.

Nghĩ đến chuyện ngày mai đã phải xa Sơn Hồng, nó cảm thấy buồn và quyến luyến quá.

Chợt, nó nghĩ, hay là cứ liều xin anh Sử một phen, biết đâu đấy ?

Nó rất ấn tượng về sự nghiêm khắc của anh Sử từ ngày nó thấy anh phạt cháu nó và bạn nó trong nhà ghi vì tội ăn cắp mì luộc.

Nhưng dần dần nó cũng thấy anh ấy là người thương lính và sống có tình nghĩa.

Lần hành quân bộ leo núi, thấy đội hình đơn vị tung tán vì lính nhào ra ăn đu đủ dọc đường, anh Sử cũng để một lúc rất lâu mới chấn chỉnh đội hình.

Sau đó anh ấy cũng chủ động đi chậm lại để anh em có thể tranh thủ hái thêm đu đủ.

Và, nhất là chiều nay, nó không ngờ anh Sử không mắng nó về tội "lộ bí mật quân sự nơi đóng quân" mà còn cho bạn nó vào ở ngay trong đơn vị.

Nó tự động viên, thôi thì mai cứ đánh liều lên xin phép đến nhà Sơn Hồng chơi.

Gì thì gì, nó cũng thuộc loại "dẻo mỏ", biết đâu, bùi tai, anh Sử lại đồng ý ?!

Sớm hôm sau, nó lên ban chỉ huy đại đội gặp anh Sử.

Gãi đầu gãi tai ra vẻ lúng túng, rào trước đón sau, hót líu lo một hồi (mỏ nhọn mà), nó xin với anh Sử cho phép nó đi Qui Nhơn với bạn mấy hôm.

Anh Sử thấy thằng bé trắng trẻo, dễ mến, ngoan ngoãn, lại đóng góp cho đại đội thành tích về văn nghệ, báo tường nhất trung đoàn.

Chắc hẳn anh cũng nghĩ, thôi thì động viên nó một tý, sau nó sẽ phát huy tốt hơn.

Anh nói :

- Thôi được rồi !

Vừa qua cậu phấn đấu tốt, có một số đóng góp cho đơn vị.

Mình đồng ý cho

cậu đi mấy ngày, đây là đơn vị thưởng phép cho cậu đi tranh thủ.

Nhưng mà tôi cũng hỏi cậu,

ngộ nhỡ sau khi huấn luyện, có tiêu chuẩn đi phép ra Bắc, cậu đi phép rồi, không được đi nữa

thì cậu có đồng ý không ?

Nó hơi sững lại "Chết chà !", nhưng rồi rất nhanh, nó nghĩ "lính biết thế nào mà nói trước, được đến đâu hay đến đấy đã", nó nói :

- Dạ, em đồng ý ạ !

- Có chắc chắn chưa ?

Nó dập hai gót chân đưa tay lên làm động tác chào :

- Báo cáo thủ trưởng !

Chắc ạ !

Động tác của nó làm anh Sử phải bật cười :

- Thôi được rồi !

Thế cậu định xin đi mấy ngày ?

Nó lại nghĩ rất nhanh, mình mà xin nhiều ngày chắc là không được mà lại bị anh ấy nghĩ "được đằng chân lân đằng đầu", mà xin ít thì phí quá.

Nó làm bộ rụt rè :

- Báo cáo thủ trưởng !

Em không dám ạ !

Thủ trưởng cho bao nhiêu em xin chấp hành thôi ạ !

- Cho cậu đi phép 5 ngày, tính từ ngày hôm nay.

Nhớ trả phép trước 5 giờ chiều ngày thứ năm đấy, rõ chưa ?

- Báo cáo thủ trưởng !

Rõ !

Nó chào anh Sử rồi từ tốn bước ra khỏi nhà ban chỉ huy đại đội nhưng thực sự nó chỉ muốn nhảy chân sáo tưng tưng như hồi còn bé khi nó chạy trên con đường làng mỗi lần thày nó sai nó đi mời chú nó sang ăn cỗ.

5 ngày phép thực sự là một bữa cỗ lớn chưa từng có đối với nó.

Nó và Sơn Hồng ra bến xe mua vé về Qui Nhơn.

Kể từ ngày nhập ngũ, đây là lần đầu tiên nó được "sổ lồng, tung cánh", mà lại được ngao du miền đất mới cùng người bạn tuổi thơ thân yêu nhất của mình.

Nó vô cùng hạnh phúc.

Chiếc xe đò đang đưa bọn nó lao vun vút qua đèo, qua dốc, mênh mang cao nguyên, tràn ngập nắng gió, loáng loáng bỏ lại phía sau những phố phường, làng mạc, rừng cây, đồng lúa, . . . .

Chân trời thăm thẳm hút tầm mắt, chập trùng lên xuống bởi đồi núi rừng cây, đồng cỏ, viền thành một đường uốn lượn trên vòm trời xanh thắm, lãng đãng điểm những đám mây bạc đang lặng lẽ trôi.

Cảnh đẹp cao nguyên trung phần thật mê hồn.

Chiếc xe đò chở đầy người, lại thêm rất nhiều hàng hóa chất trên nóc xe, ngất nga ngất ngưởng.

Vậy mà xe chạy rất nhanh, kể cả những khúc cua trên đường đèo.

Nhìn thấy bất cứ ai đang đi bộ cùng chiều trên đường, xem chừng có thể "bắt" được là tay "lơ xe" lại hò hét từ xa để mời khách.

Khách lên xe được xốc nách, đỡ hành lý, khuân hàng hóa rất tận tình và nhanh chóng.

Chuyện này nó thấy lạ lắm, khác hẳn với thái độ phục vụ của xe hàng ở phía Bắc.

Tuy nhiên, đang mải sung sướng ngắm cảnh đẹp nên nó cũng không để ý gì nhiều.

Chiếc xe cứ thế "chao liệng" trên con đường quanh co giữa mênh mông núi đồi cao nguyên.

Lữ khách cứ thế nghiêng ngả dạt qua dạt lại cùng chiếc xe, phiêu diêu . . . .

Ấy là cảm giác của nó lúc đó.

Ngồi ngay bên cửa sổ, nó đang hào hứng thưởng lãm cảnh đẹp.

Gió thốc tháo qua khung cửa, thổi căng phồng chiếc áo lính và làm tung bay mái tóc "ba phân"của nó.

Sướng ơi là sướng !

Đến chiều thì tới thị xã Quy Nhơn, một thị xã khá đẹp với nhà cửa cao tầng san sát.

Đâu đâu cũng thấy cửa hiệu, vườn hoa, công viên, rất sạch đẹp, quy củ nhưng hơi vắng vẻ và có nét gì đó man mác buồn.

Nhà Sơn Hồng là một ngôi nhà hai tâng khá rộng, ở mặt một con phố nhỏ.

Mặt tiền ngôi nhà rộng chừng 20 mét, có hàng rào "bê bốn mươi" và cổng sắt.

Có hai cây, một cây hoa tím, một cây hoa vàng, lưa thưa leo trên hàng rào.

Qua hàng rào là một cái sân vườn khá rộng kê một ghế xích đu, một bàn tròn bằng đá sám, trồng một số cây bóng mát và cây cảnh.

Qua sân đến phòng khách rộng chừng 30 mét vuông, một tầng, lợp tôn, coi như "đại sảnh".

Nối tiếp phía trong là nhà hai tầng mái bằng, ở dưới là 2 phòng ngủ và cầu thang, ở trên chỉ xây một phòng, phần còn lại làm sân chơi và dành chừng 20m để phơi quần áo.

Ba Sơn Hồng là một người cao, vai vuông, quắc thước nhưng ít nói.

Ông là người gốc Quy Nhơn, tập kết ra Bắc sau năm năm tư.

Má Hồng cũng người Bình Định, theo chồng tập kết.

Cả ba đứa con trai của ông bà đều sinh ra ở miền Bắc.

Hồng là đứa lớn, sau nó còn hai thằng em trai nữa.

Má là người đàn bà bé nhỏ, đẹp và hiền hậu.

Thấy Sơn Hồng và nó thân nhau nên ba má cũng rất quí nó, coi như con vậy.

Có của ngon vật lạ gì, bà cũng mua về bầy vẽ cho nó ăn.

Lần đầu tiên nó được má tự tay làm món gỏi cá Quy Nhơn cho ăn.

Đó là món ăn mà nó nhớ mãi, "món ngon nhớ lâu" mà.

Thịt ba chỉ thái con chì, trứng tráng mỏng thái sợi, một dĩa (đĩa) rau sống với đầy đủ các loại rau thơm, chuối chát, khế chua, xoài xanh, . . . ., một dĩa bánh tráng đã được dấp ẩm vừa trắng, vừa mềm, vừa dai.

Đậu phụng rang giã nhuyễn trộn với nước tương, đem chưng kỹ với hành tỏi phi thơm, thành một thứ nước chấm vàng sánh.

Một chén (bát) nước chấm nữa là mắm tép chưng hành mỡ đỏ au, nêm thêm thính.

Trông và ngửi thấy đã "tóa mồ hôi lưỡi".

Một cái dĩa nhỏ với những miếng chanh xắt mọng nước, xanh trong, bên cạnh dăm bảy quả ớt chỉ thiên đỏ rực, cong cong, "thôi rồi Lượm ơi!".

Một cái chén con đựng thính gạo rang trộn với mè giã nhuyễn nâu vàng, thơm ngậy "chân răng".

Vài cái chén men lam bên cạnh một ve rượu Bàu Đá của làng Cù Lâm chính gốc, thơm, đượm, ngọt, nồng nàn, "Chết tôi rồi !".

Mâm gỏi cá cơm được bày ngay trên chiếc bàn đá xám ngoài sân vườn, một buổi xế chiều yên ả . . . .

Khi mọi người đã ngồi yên vị xung quanh thì cũng là lúc má bê ra một thau nhôm trắng, đặt lên trên một chiếc ghế ngay bên cạnh mâm.

Trong thau, đầy nhóc cá cơm trắng, nhỏ như đầu đũa, đang nhao nhao bơi lội.

Giống cá cơm trắng muốt với hai con mắt đen nháy như hai cái chấm nhỏ.

Chúng bơi theo nhau thành dòng, nhào lên lộn xuống trong thau trông rất sinh động.

Đặt mấy miếng thịt, trứng, khế, chuối chát, húng chanh dàn trên miếng bánh tráng, lấy vợt vớt vài con cá bỏ vào giữa, rắc thính màu nâu vàng lên trên rồi quấn chặt lại như quấn nem.

Miếng đó đem quẹt vào nước chấm, đưa lên miệng thấy thơm lừng, "thôi rồi !".

Lúc đầu nó không dám ăn vì thấy cá còn sống.

Má phải quấn mấy cái, nhiệt tình dúi vào bát nó.

Nể quá, nó đành cố gắng ăn thử.

Nó cắn một phát, thấy cá vẫn ngọ nguậy trong mồm, ghê quá, suýt nữa thì nó ói.

Nó phải cố nuốt cho trôi qua cổ, chẳng còn thấy vị gì.

Dần dần vài miếng sau, nhất là sau khi đã có vài hớp rượu Bàu Đá, nó thấy ngon ngon, ngọt ngọt, thơm thơm, chua chua, cay cay, . . . . rất ngon.

Tuyệt !

Mấy ngày liền, Sơn Hồng lấy xe "cá sám" (xe máy Mobylette màu xám) của ba chở nó đi chơi lòng vòng khắp thị xã, ra bờ biển, xuống Qui Hòa, lên thăm mộ Hàn mạc Tử, . . . .

Một lần Hồng còn chở nó về quê ngoại, cách đó hơn 10 cây số.

Đường đi rất đẹp, trời lại mát mẻ, hai đứa vào thăm họ hàng của má.

Mọi người quý Hồng nên rất chiều nó, nhà nào cũng mời cơm hai đứa.

Không chịu ăn cơm thì cũng phải uống nước dừa và ăn bánh tráng nướng.

Hôm đó chúng ngủ lại ở nhà cậu của Sơn Hồng.

Bữa tối đó nó lại được chiêu đãi món gỏi cá, lần này là gỏi cá mai.

Cá mai mỏng hơn cá cơm một chút.

Làm gỏi cá mai cũng mất công hơn vì phải bỏ ruột, bỏ xương, đánh vảy những con cá bé tí teo.

Thịt cá đã làm sạch được thấm khô, đem trộn với thính rồi bày ra dĩa.

Nó đã biết ăn gỏi, mà không phải ăn cá quẫy nên lần này ăn rất hào hứng.

Cá mai ăn gỏi, thịt rất ngọt và giòn.

Buổi tối ở nhà Sơn Hồng, hai thằng thường ngủ trên sân thượng.

Ở trên đó, chúng còn ngắm sao, hút thuốc, đọc thơ cho nhau nghe, rồi còn chuyện trò mãi khuya mới ngủ.

Trước hôm hết phép, Sơn Hồng đưa nó đi tắm biển Quy Nhơn cả ngày.

Hai đứa tắm biển rồi đi lang thang trên bãi biển.

Đến trưa, đói quá, hai thằng ăn trưa ngay trên quán ăn ở bãi biển.

Tối hôm đó, cả nhà lại liên hoan một bữa.

Bữa nay có nhiều món mà nó chưa biết.

Má bảo đây toàn là món riêng của Qui Nhơn, món bánh hỏi chấm với mắm ruột cá ngừ này, món bún cá Qui Nhơn này, món nem chua Chợ Huyện này, món chả cá Qui nhơn này, món chả giông (nhông) này, đây là bánh tráng nước dừa này, món này là bánh ít lá gai để tráng miệng với chè thập cẩm, . . . .

Món nào đối với nó cũng lạ.

Chả cá vàng nâu mỏng như bánh tráng, thơm nưng nức, chưa bao giờ trông thấy, sau này nó mới biết người ta còn gọi món này là "bánh tráng cá".

Món chả nhông thì nó không biết là thứ gì nên má phải giải thích.

Con giông giống như con tắc kè, mà nó sống ở trên cát ngoài bãi biển.

Con này mình bắt nó rất khó, người ta phải có nghề và có đồ để bắt nó.

Nhông bỏ ruột, bỏ đầu, làm sạch, đem bằm nhuyễn, nêm thêm nhiều gia vị rồi đem rán lên làm chả.

Bánh ít làm bằng bột lọc, trộn với lá gai đâm nhuyễn, nhân đỗ đường hoặc đỗ mặn, đem hấp trong vỉ hấp, . . . .

Quả thực bữa ăn hôm đó là một bữa nhớ đời.

Đối với nó không những là được ăn nhiều "của ngon vật lạ" mà thực sự chưa bao giờ nó được ăn uống linh đình như thế.

Ăn uống xong, má bảo nó xếp đồ đoàn để mai còn về đơn vị.

Từ lúc nào mà má đã chuẩn bị cho nó rất nhiều thuốc Bát Tô (Bastos), thuốc lá sợi, cá khô, mắm ruốc, . . . .

Sáng hôm sau, nó chào ba má để về đơn vị.

Sơn Hồng tặng nó một tập thơ mà nó thích lắm.

Đó là cuốn "Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến", xuất bản từ thời Việt nam Cộng Hòa.

Đó là một cuốn sách giới thiệu các thi nhân và tuyển tập những bài thơ của các thi nhân nổi tiếng thời tiền chiến như Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn mạc Tử, Nguyễn Bính, Chế lan Viên, Nguyễn Vỹ, Phạm Hầu,Tôn Nữ Thu Hồng, . . . .

Ngoài ra Sơn Hồng còn tặng nó khẩu súng Colt rulo 6 cùng hai hộp đạn mà Hồng lượm được.

Nó quý khẩu súng lắm, dấu kỹ trong cóc ba lô.

Xe chuẩn bị chuyển bánh rồi mà Sơn Hồng cứ ôm nó mãi.

Nó thì cảm động, nước mắt lăn dài trên má.

Rồi nó cũng gỡ bạn ra và dứt khoát bước lên xe, nếu không thì không biết làm sao mà dứt ra được.

Xe chạy rồi mà Hồng cứ đứng vẫy theo nó mãi, chiếc mũ tai bèo trên tay Hồng cứ lấp la lấp lánh mãi cho đến lúc xe rẽ sang chỗ ngoặt.

Nó cảm thấy buồn nhưng miệng thì mỉm cười, lòng thầm cảm ơn tình bạn của Sơn Hồng.

Chào Quy Nhơn, chào Hồng thân yêu !

Mong ngày gặp lại !

Về đến đơn vị, nó lên báo cáo anh Sử, biếu ban chỉ huy đại đội mấy bao thuốc lá.

Khi về đến tiểu đội nó mừng quýnh lên vì nhận được 3 lá thư.

Một lá của gia đình, một lá của Cần và một lá của Hợi.

Cần là người lính nữ mà nó quen ở Thường Tín và vẫn giữ liên lạc với nhau từ ngày ấy.

Lần này, ngoài thư, Cần còn gửi cho nó một đôi dép đúc với một dây lưng Trung Quốc mới tinh.

Đọc xong thư, nó bỏ cá khô và thuốc lá chia cho anh em.

Nó cũng cẩn thận biếu bê trưởng và a trưởng nữa.

Bê trưởng Lạp thấy nó có tập thơ và hai món quà Cần gửi cho, toàn những thứ hay, anh ấy hỏi:

- Mai tớ đi công tác sang đơn vị bạn, cậu cho tớ mượn cái thắt lưng và đôi dép nhớ !

- Vâng !

- Cho tớ mượn quyển thơ này đi công tác đọc cho đỡ buồn nha !

Quyển thơ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến Sơn Hồng mới tặng thì nó cũng chưa đọc hết, vả lại nó rất quý, chẳng muốn cho mượn, nhưng nghĩ, thôi thì anh Lạp đi công tác mấy hôm rồi về chứ đi đâu mà lo :

- Dạ . . . dạ, vâng !

Rất lâu sau chẳng thấy anh Lạp trả lại nó những thứ đã mượn.

Nó thì ngại nhiều lần muốn hỏi rồi lại thôi.

Cho đến một lần đang vui vẻ, nó đột nhiên hỏi xin lại thì anh Lạp thản nhiên bảo với nó :

- Tớ đi công tác, để trong ba lô, bị lấy trộm mất rồi !

Nó tức lắm mà không thể nói gì được.

Trong đầu nó hiện nguyên hình chân dung người bê trưởng, rút xanh tuya ra để quật vào mặt lính mới, dò dẫm nghe trộm nó ở cửa hàng may, lục ba lô lấy nhật ký của nó, đọc nhật ký bêu riếu nó trước toàn trung đội, mượn đồ của lính một cách cưỡng bức rồi không trả lại, . . . .

Một cái chân dung nó nhìn thấy đầy đủ mà không biết vẽ lại như thế nào.

Hội họa chẳng bao giờ có thể thể hiện hết được cuộc sống.

Từ Pleiku về A lưới

Đợt huấn luyện tập trung 6 tháng đã hoàn thành.

Trong lễ tổng kết bế mạc khóa huấn luyện, trung tá trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Văn lên giao nhiêm vụ và cho đơn vị tuyên thệ dưới Quân kỳ.

Sau lễ tổng kết, anh em được biên chế về các đơn vị thông tin khác nhau, ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết mình sẽ đi đơn vị nào.

Buổi liên hoan tổng kết rất linh đình và rất vui nhưng vẫn có gì đó lưu luyến buồn vì chúng nó sắp sửa phải chia tay nhau, mỗi đứa một nơi.

Đêm đó chúng nó cũng chẳng ngủ được, nằm nói chuyện râm ran mãi đến gần sáng.

Những đứa thân nhau đều nhảy sang nằm cạnh nhau, tâm sự cả đêm.

Sáng hôm sau, 2 đại đội, trên vai ba lô, chăn, chiếu, . . . . tập trung xếp thành hai khối vuông vức tại sân vận động.

Hơn 200 con người hồi hộp chờ đọc danh sách biên chế về đơn vị mới.

Đọc đến tên người nào, về đơn vị nào, đều có các cán bộ của đơn vị đó đón sẵn.

Lính tráng chia tay nhau sau sáu tháng sống chung thật là cảm động, bùi ngùi.

Rất nhiều đứa khóc, những cái ôm, những cái bắt tay xiết chặt, những giọng nói nghẹn ngào, những bàn tay vẫy vẫy chia xa.

Từng nhóm, từng tốp theo chỉ huy mới lần lượt khoác ba lô ra khỏi cơ quan trung đoàn bộ.

Chúng sẽ về các đơn vị lẻ của trung đoàn, đảm bảo đường dây thông tin suốt từ Quảng Bình vào tới Buôn Mê Thuột, chạy dọc đường Trường Sơn vắt vẻo qua đèo, qua núi, cùng với đường ống dẫn dầu của đoàn 559.

Thằng Thanh, thằng Bội, thằng Đông và nó được điều về tổ đường dây 19, c12.

Tổ này đóng quân cách huyện lỵ A Lưới, Thừa Thiên 50 km về phía tây, giáp biên giới với tỉnh Sa La Van (Salavan hay Saravan hoặc Saravane ສາລະວັນ) của Lào.

Người đón nó là tiểu đội trưởng Lộ, sinh năm 1957, ít hơn nó 2 tuổi.

Lộ nhập ngũ trước nó, quân hàm cao hơn nên nó vẫn gọi là anh.

Anh Lộ người Thái nguyên, nhập ngũ 1975, dáng người cao to rắn chắc, tóc húi cua, da ngăm đen, trông quắc thước và rất đáng tin cậy.

Anh Lộ dẫn bốn đứa chúng nó ra thị xã Pleiku, mua vé xe đò về Đà Nẵng.

Tới Đà Nẵng, chúng nghỉ lại một đêm ở trạm khách của đơn vị ở phường Hòa Cường, ngoại ô Đà Nẵng.

Đây là một doanh trại nhỏ từ thời VNCH, nằm sát quốc lộ rộng khoảng vài trăm mét vuông.

Một khu nhà 2 tầng rộng hơn 100 mét vuông là nhà khách của binh trạm và kho tiếp tế xăng dầu, nhu yếu phẩm, quân tư trang cho các đơn vị của trung đoàn khi hành quân qua đây.

Toán lính nghỉ đêm tại binh trạm.

Sáng hôm sau chúng nó đón xe đò để đi vào huyện lỵ A Lưới, nằm sâu trong đường Trường Sơn, giữa rừng đại ngàn Trường Sơn trùng điệp.

Năm lính được nhồi lên một chiếc xe đò mui rùa cùng với rất nhiều hành khách đủ loại, người Kinh, người Thượng, già, trẻ, đàn ông, đàn bà, . . . .

Từ tờ mờ sáng cho đến tối muộn, chiếc xe ì ạch leo đèo, leo dốc, lội ngầm, lắc lư, kẽo kẹt như "bà già đau khổ, một rổ tình yêu" (*).

Trong xe, người và đồ đạc chật ních như nêm, đầu gối bị tì vào ghế trước, chân tay chẳng thể nhúc nhích.

Chẳng những thế, trần xe rất thấp, các loại túi, tay nải, gùi tre được treo lủng lẳng, tha hồ lắc lư đập vào đầu vào tai, nảy đom đóm.

Không khí trong xe ngột ngạt kinh khủng, đủ các thứ mùi của hàng hóa, mùi dầu xe, mùi mồ hôi người, . . . .

Kinh nhất là mùi thuốc rê của người Vân Kiều, Pa Ko, hôi rình, làm nó chỉ muốn ói.

Nóng như thiêu, mồ hôi nó nhễ nhại, rôm cắn râm ran mà không cựa được để gãi.

Vật vã mãi thì đến 9 giờ đêm, chiếc xe cũng đến được A Lưới.

Một chuyến đi vất vả, một kỷ niệm khó quên.

(*) Câu hay dùng lúc đó

Vượt rừng A Lưới

Năm chú lính thông tin ăn ngủ tạm tại tổ 21, c12 trong một căn nhà lá, tường ken bằng các cây sậy.

Tổ 21 là tổ đường dây thuộc đại đội nó được đóng ở thị trấn này.

Cả một ngày dài vật vã trên xe đò làm cho chúng quá mệt mỏi nên ăn uống và rửa chân tay qua loa, mấy thằng lăn ra ngủ như chết.

Sáng hôm sau, nó có dịp nhìn quang cảnh huyện lỵ A Lưới.

Gọi là thị trấn nghe có vẻ oai chứ thực ra A Lưới chỉ vẻn vẹn hơn chục nóc nhà lợp lá, tường gỗ nằm rải rác cách xa nhau, lưa thưa bám theo dọc con đường đất bụi bậm đỏ quạch.

Ở đây cũng có cửa hàng bách hóa chuyên bán thuốc lào, cá khô và muối cung cấp cho các bản làng người dân tộc trong huyện.

Huyện lỵ cũng có cơ quan hành chính huyện, có bưu điện và vài hàng quà bánh, tạp phẩm lèo tèo khác.

Sau bữa sáng với vài củ sắn luộc, cất theo vài khúc gói trong giấy báo, nhét vào túi cóc.

Sau khi đã xếp gọn ba lô, anh Lộ nhờ tổ 21 sang hợp tác xã mua cho 20 gói thuốc lào và 5 kg cá khô mang theo.

Anh bảo, trong đó thuốc lào và cá khô quý lắm.

Năm anh em chia tay với tổ 21 xong thì bắt đầu hành quân bộ.

Anh Lộ dẫn đường, đi theo đường mòn của đồng bào đi lấy củi.

Đường đi tuy hơi khó nhưng gần hơn được đến chục cây số.

Lúc đầu, chúng đi theo đường lớn, vòng vèo qua mấy bản người thượng ở lưa thưa, hết thung lũng lòng chảo, vượt qua một cửa rừng cây thưa, chúng bắt đầu đi theo đường mòn nhỏ, dưới chân núi, vòng vèo uốn lượn, lúc lên, lúc xuống.

Càng ngày chúng càng đi sâu vào rừng già nguyên sinh của đại ngàn.

Nhiều cây đại thụ to, đan xen nhau, vút mãi lên cao, che tối cả rừng bên dưới với nhiều cây nhỏ và đủ loại dây leo lằng nhằng cùng với cỏ um tùm và lá mục tầng tầng lớp lớp.

Càng vào sâu trong rừng, cây cối càng rậm rạp, đường càng tối tăm.

May mà anh Lộ đã chuẩn bị cho mỗi người một con dao quắm.

Đường mòn thì đã có sẵn không phải mở, nhưng lâu ngày không có người qua lại nên cây cối, gai góc đã mọc lên bít lối nên phải phạt cây mà đi.

Nhiều đoạn cây bị đổ ngang lối, phải trèo lên để qua.

Thỉnh thoảng con đường mất hút vào dòng suối, chúng để nguyên giầy tất lội bì bõm trong làn nước trong mát, soàm soạp trên lòng suối toàn sỏi đá.

Con đường cứ theo suối một đoạn rồi lại vắt lên bờ.

Lên đến đường đi trên rừng, bước chân đầy nước trong giầy, ì à ì oạp, phọt ra nhóp nhép từ chỗ buộc dây.

Chẳng hơi đâu mà cởi giầy để dốc nước ra vì chỉ một lúc sau đã lại phải lội suối.

Gần trưa, chúng tới một mép rừng thưa, anh em dừng lại nghỉ và ăn trưa.

Mọi người bỏ giầy và tất phơi trên những phiến đá lớn nơi ánh nắng chảy tràn xuống, mưng mưng.

Năm người chọn những tảng đá nằm dưới bóng cây râm mát, lấm tấm những đốm nắng lung linh.

Sau khi chén hết đám sắn luộc mang theo, chúng còn ăn thêm lương khô rồi ngả lưng nằm khểnh trên đá mà hút thuốc.

Nó lặng lẽ ngắm trời xanh lấp ló trên tán cây, cao vời vợi.

Mây trắng từng đụm lững lờ trôi.

Tiếng đủ các loại chim hót đan xen nghe như một bản nhạc, khoan nhặt, luyến láy, thật là hấp dẫn.

Xa xa, đâu đó, thỉnh thoảng vọng lại tiếng nai rừng rắc tắc rắc . . . .

Lâu lâu tắc cú một tràng "bắt cô trói cột", nghe buồn thảm như đang cứa vào không gian.

Gió trườn theo thung lũng thổi tới, hây hẩy rung rinh cây lá.

Một buổi trưa thanh bình mát mẻ và đẹp một cách thơ mộng.

Hứng chí, nó lấy đàn ra, bảo thằng Thanh chơi một vài bản cờlátxich (classic - cổ điển).

Thằng Thanh tỉa "Bài Ca Hy Vọng".

Tiếng đàn điệu nghệ của Thanh quyện với âm thanh róc rách của suối chảy tạo thành những hòa âm mê ly, lâng lâng hồn người.

Thanh chơi xong, đưa đàn cho nó.

Nó không thạo Cờlátxích lắm nên chạy "đăng" và hát "Bài Ca Người Thợ Rừng" :

Ai bảo rừng xanh là quái ác,

Ai bảo Trường Sơn là nắng rát,

Gió núi mưa ngàn sói beo quanh mình xiết bao kinh hoàng.

Tôi bảo rừng xanh là quý giá,

Tôi bảo Trường Sơn yêu biết mấy,

Khi cháy trong lòng tôi lý tưởng dựng xây ngày mai.

Khi nó hát đến đây, tất cả năm anh em nhất loạt đồng thanh "bắt vào" :

Rừng ơi! ta đã về đây,

Mang sức của đôi tay, lao động khó khăn không quản ngại.

Rừng ơi! trong tiếng ca hôm nay,

Vang lên cuộc đời sáng tươi trong tương lai!

Đêm trăng rừng lạnh

Nghỉ ngơi một lúc chừng nửa tiếng đồng hồ, rồi anh Lộ lại hối thúc mọi người hành quân tiếp.

Giày, tất hong chưa khô lại phải xỏ vào, ba lô lại xốc lên vai, năm người lẳng lặng bước.

Riêng nó, từ lúc vào rừng rậm, nó đã phải tìm cách buộc đàn dọc theo ba lô, cần đàn chúc xuống, hai tay nó được rảnh để còn phát cây hay leo trèo qua cây đổ, tụt xuống hay trèo lên bờ suối.

Quãng năm rưỡi chiều bọn chúng mới tới nơi đóng quân của tổ 20.

Tổ này nằm chênh vênh trên một sườn núi vừa đá vừa đất.

Để leo lên tổ 20, phải qua một con suối nhỏ, hai bờ vách dựng đứng sâu hoắm xuống dưới.

Một chiếc cầu treo nhỏ bằng dây rừng và tre được bắc sơ sài vắt ngang qua suối.

Lần lượt từng người đi qua cầu chênh vênh, dập dềnh, đung đưa.

Lần đầu qua đây không quen, đứa nào cũng sợ và run.

Mà đã run sợ thì cái cầu dường như lại càng đánh võng mạnh, kinh quá mà nhìn xuống lại càng hãi.

Nó là đứa vốn sợ độ cao, qua được cầu vã hết mồ hôi lạnh.

Mỗi tổ lẻ bảo đảm đường dây của chúng thường chỉ có ba đến năm người, phải đảm bảo đường đây thông tin dài chừng 25 – 30 cây số.

Có đoạn cheo leo, hiểm trở thì chiều dài phải đảm nhiệm cũng phải 15 cây số.

Từ tổ này đến tổ kia thì đường dây được chia đôi ra để đảm nhận.

Tổ 19 đảm bảo một nửa đường dây từ tổ 19 đến tổ 20 và một nửa đường dây từ 19 tới 18, gọi là "phân chia lãnh thổ".

"lãnh thổ" của tổ nào thì tổ ấy hàng ngày phải lo sao cho đường dây thông suốt.

Bình thường, đường dây chẳng có chuyện gì, lính tráng nhàn nhã, cách một ngày mới phải đi dọc tuyến kiểm tra đường dây một lần, phát cây dọn cỏ quanh các cột, và hai bên đường dây để khi có gió to, cây và dây leo không vướng vào dây thông tin.

Lính tranh thủ tăng gia trồng trọt để bổ xung thêm vào khẩu phần ăn đạm bạc và đói trường kỳ.

Nhưng bất thình lình, bất cứ lúc nào đường dây cũng có thể có sự cố.

Những lúc ấy thì dù mưa gió bão bùng, nước lũ ầm ầm, hay lúc đánh nhau đang bom rơi đạn nổ cũng phải bổ đi khắc phục bằng được, thông tin là mạch máu của cơ thể mà.

Khi chúng nó qua cầu treo vào đến tổ 20 thì đã thấy có mâm cơm do tổ 20 làm sẵn chờ chúng nó.

Hẳn là tổ 20 phải quý anh Lộ lắm nên đã mổ thịt con gà rất to, lòng mề xào với hoa chuối rừng, nước dùng gà nấu rau tàu bay, lại có cả một chai rượu ngô nút lá chuối.

Trời chưa tối hẳn, mấy đứa được chỉ ra nhà tắm có "nước máy" dẫn từ trên núi xuống bằng những cây bương chẻ đôi nối tiếp nhau, chạy ngoằn nghoèo.

Nước trong và rất mát, tắm xong cảm thấy người sảng khoái và khỏe khoắn hẳn lên.

Thì ra mâm cơm gà là để phần riêng cho năm đứa, anh em tổ 20 đã ăn từ trước rồi.

Đang đói ngấu, cơm lại ngon, năm người xà vào mâm ăn ngấu nghiến, lại còn tợp vài chén rượu, lâng lâng.

Ăn xong chúng ra "máy nước" rửa bát.

Trời tối hẳn nhưng trăng non lưỡi liềm đang lên, buông ánh sáng mờ ảo, mung lung sương khói, âm u, huyền bí.

Tiếng suối nước chảy rì rào đâu đây, xa xa, gần gần, văng vẳng, vô định.

Có tiếng gió hi hút thổi từ trong hang, len lỏi qua cây lá lao xao, ma quái, rờn rợn như cảnh "Liêu Trai".

Trong lòng nó cồn lên một nỗi sợ hãi vô thức của bản năng và một nỗi buồn man mác, lay lắt khó tả.

Một đêm trăng lạnh giữa rừng hoang.

Trung đội

("Trung Đội" cũng là tên một bộ phim về cuộc chiến của Mỹ ở Việt nam)

Sớm hôm sau, năm anh em chào và cảm ơn tổ 20 rồi tiếp tục hành quân.

Chúng đi bộ trong rừng chừng 6 cây số thì bất chợt gặp đường lớn.

Đây chính là một nhánh của đường Trường Sơn, một con đường đất khá rộng.

Trên đường không thấy có xe chạy nhưng rất nhiều vết bánh xe qua đây còn mới tinh, chứng tỏ hàng ngày vẫn có xe chạy.

Con đường rộng và bằng phẳng, mấy chú lính cứ thế mà dàn hàng ngang thẳng bước.

Rồi chúng nghe ì ì tiếng ô tô xa xa ở phía sau.

Anh Lộ dơ tay ra hiệu cho anh em dừng lại.

Chờ một lúc, sau khúc cua, một chiếc xe Giải Phóng đang chạy tới gần.

Anh Lộ bảo đó là xe của "bọn xăng dầu", mấy anh em liền giơ tay vẫy lấy vẫy để.

Chiếc xe dừng lại, anh lái xe xe dừng lại, thò cổ ra tươi cười hỏi :

- Lính 136 phải không ?

- Vâng !

Bọn tôi c21 đây.

Cho đi nhờ với !

- Anh Lộ hỏi.

Anh lái xe hất tay về phía sau ra hiệu cho chúng lên thùng.

Mấy đứa vội vàng quăng ba lô lên thùng xe rồi đẩy đít nhau, nhanh chóng "chiếm lĩnh" thùng xe, riêng anh Lộ thì trèo lên cabin ngồi với lái xe.

Anh lái xe rút một điếu thuốc trong bao châm lửa và rít một hơi dài, xong anh anh quăng bao thuốc và bao diêm lên thùng cho chúng.

Anh này được đấy !

Chúng vừa được đi nhờ xe lại vừa được hút thuốc.

Mấy thằng châm thuốc, rít lấy rít để, thật là mãn nguyện, đã cơn thèm.

Đoạn đường này chạy xuyên trong rừng già.

Chắc hồi còn chiến tranh, đường này cũng chịu bom đạn ác liệt lắm.

Bây giờ xe chạy nghênh ngang, chẳng phải lo lắng gì bom pháo.

Mấy thằng ngồi ngả lưng, ngửa cổ mà ngắm rừng.

Đúng 12 giờ trưa, khi nó nghe tiếng kẻng cơm vừa dứt thì cũng là lúc chiếc xe đỗ lại trước cửa đơn vị.

Năm anh em nhảy xuống, chuyền ba lô xuống đất, chạy lại chào và cảm ơn anh lái xe.

Chúng khoác ba lô lên vai, xốc lại quần áo cho ngay ngắn.

Leo hơn 10 bậc thang đất thì lên đến sân của trung đội.

Đây là cái sân bóng chuyền rất rộng rãi và bằng phẳng, lưới vẫn còn căng trên cột.

Phía tay trái là căn nhà cấp 4 gồm 3 gian hai chái, là nhà trung đội trưởng, ban chỉ huy và phòng họp.

Trước mặt, cũng có một nhà cấp 4 như vậy là nhà cho lính.

Nối đầu hồi với căn nhà này, cao hơn một chút, phía tay phải là căn nhà cấp 4 không có tường, giữa nhà kê một bàn bóng bàn.

Từ mấy cái nhà, bước xuống vài bậc đất là một cái sân nhỏ chạy dài.

Viền ngoài của cái sân trồng mấy luống hoa cúc, hoa thược dược, mào gà, . . . .

Từ chỗ bồn hoa, dốc xuống một đoạn là con đường mà chúng vừa xuống xe.

Qua con đường là một ta-luy âm rất dốc (Taluy – tên một kỹ sư cầu đường người Pháp) mà phía dưới là một dòng suối lớn chạy ngoằn nghoèo, nước cuộn chảy, tung bọt trắng trên những phiến đá to nhỏ, cao thấp, lô nhô.

Qua làn nước trong vắt, nhìn thấy dưới đáy là thảm sỏi đủ màu sắc lóng lánh.

Từng đàn cá nhỏ, giống như cá mương, đang chao lượn tung tăng.

Tiếng suối chảy rì rào, ngân nga, âm vang như một bản trường ca bất tận của núi rừng đại ngàn.

Anh Lộ dẫn mấy đứa lên nhà bê trưởng báo cáo.

Bê trưởng cười rất hiền, bắt tay từng đứa, niềm nở :

- Chưa báo cáo gì vội !

Lộ đưa anh em về cất ba lô, rửa tay chân rồi xuống ăn cơm đã.

Ngủ trưa

xong, 3 giờ lên gặp mình, ta nói chuyện nha !

Mấy anh em về lán, tạm vứt ba lô vào một góc, lấy khăn mặt và bát, đũa ra "máy nước" (lại là máy nước giống ở tổ 20) rửa chân tay mặt mũi.

Vắt khăn trên vai, mấy đứa kéo nhau xuống nhà ăn.

Nhà ăn chính là phòng họp của trung đội.

Một cái bàn tre lớn, mặt ken bằng nứa kê ở giữa.

Hai bên bàn là hai dãy ghế băng cũng bằng tre, mặt ghế được ken bằng dóc, một loại cây nhỏ hơn cây nứa nhưng thịt dày hơn.

Chân ghế bằng tre và được đóng cố định xuống nền đất.

Thẳng chính diện với cửa ra vào treo một lá cờ Tổ Quốc, ngay dưới ngôi sao vàng là ảnh Bác, phía trên lá cờ là dòng chữ "Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do".

Cả trung đội hai chục người ngồi vào bàn ăn thì đã chật nên chính trị viên đại đội, trung trưởng và cậu liên lạc phải ăn trong phòng trung đội để nhường ghế cho anh em.

Ăn xong, chúng về nhận gường, trải chiếu, cất ba lô rồi lăn ra ngủ một hơi, không biết trời đất gì.

Gần 3 giờ chiều, anh Lộ đánh thức mấy đứa và giục :

- Lên gặp và báo cáo với trung trưởng đê !

Bê trưởng là anh Toản, trạc 30, quê Nam Định, người dong dỏng cao, tóc hơi quăn, trông rất hiền và có vẻ trí thức.

Anh Toản ngồi hỏi chuyện chúng nó rất thân tình và cởi mở.

Anh hỏi thăm từng đứa về sức khỏe, về gia đình, về sở trường, sở đoản, về nguyện vọng sau này, . . . .

Nghe xong anh mới nói ngắn gọn về tình hình nhiệm vụ của trung đội, nhiêm vụ của bọn nó.

Vừa nói chuyện anh vừa giót nước mời mấy đứa và thỉnh thoảng lại rít thuốc lào sòng sọc.

Mấy anh em ngồi nói chuyện với nhau đến hơn 4 giờ.

Lúc ấy, đã nghe tiếng anh em bắt đầu chơi bóng chuyền và bóng bàn ở bên ngoài, anh Toản liền bảo :

- Thôi !

Được rồi !

Ra chơi thể thao với anh em rồi xuống suối tắm nha !

6 giờ 30 ăn cơm, 7 giờ sinh hoạt.

Chúng quay ra ngoài sân, thấy anh em đang chơi bóng chuyền rất nhiệt tình và mê mải.

Anh Lộ hỏi :

- Có đứa nào biết chơi thì vào ?

Mấy thằng nó đều lắc đầu, chưa đứa nào thực sự biết chơi, chúng chỉ có thể đứng ngoài làm cổ động viên thôi.

Khiêu vũ với bày sư tử

(Phim "Khiêu vũ với bày sói" - Dances with Wolves, của đạo diễn Kevin Costner)

Mấy thằng ngồi xem bóng chuyền một lúc thì rủ nhau đi tắm.

Chúng vào nhà bỏ quần áo, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi dải rút rộng thùng thình, vắt quần áo sạch lên vai và cầm xà phòng theo.

Chúng xuống đến đường thì thấy chỗ nào ta-luy cũng rất dốc, không thể xuống được.

Bốn thằng quay lại, gặp anh Tăng đang ngồi đầu nhà rít thuốc lào, nó hỏi :

- Anh ơi !

Xuống suối tắm đi đường nào hả anh ?

Anh Tăng đứng dậy, tận tình chỉ tay ra phía sau nhà bóng bàn và bảo :

- Đi ra sau cái nhà bóng bàn kia, có đường mòn.

Đi theo đường mòn đó, xuống hết

đoạn đồi thì gặp cái khe đá, hai bên có hai cái cây to, cạnh đấy là cây hoa gạo.

Đi qua khe một đoạn thì tới bờ suối,

Nó dẫn đầu bốn thằng, cứ theo đường anh Tăng chỉ mà đi.

Con đường nhỏ ngoằn nghoèo trên dải đồi thoai thoải toàn hoa dại và cỏ may dẫn chúng xuống dần và ăn vào khe đá hình chữ "V" cao vút.

Bên trên khe đá là cây gạo hoa đỏ rực và 2 cây gì đó cành lá xum xuê xòa xuống cả lối đi.

Nó vạch lá cây bước theo các bậc nhỏ đi xuống.

Vừa qua hết khe đá thì trước mắt nó là một dòng suối uốn quanh khá rộng, nước trong vắt.

Có quãng nước sâu, nước màu xanh thẫm, chảy lững lờ.

Đây đó các phiến đá to, phẳng nhấp nhô trên mặt nước.

Bên kia suối là rừng cây um tùm in bóng xuống dòng suối, biêng biếc êm đềm.

Cảnh non nước đẹp đến "rợn" người.

Nó phấn khích reo lên :

- Suối đẹp quá mày ơi !

Xuống đây nhanh lên !

Nó chưa dứt lời thì đột nhiên nghe thấy nhiều tiếng rú, tiếng hét thất thanh của con gái ngay phía sau lưng.

Nó giật mình quay lại thì thấy bên góc quanh của con suối, hơn chục cô gái đang trần truồng.

Chị em cuống quýt, người thì nhảy xuống nước, người đưa tay che ngực, người quay lưng lại, những thân hình con gái trẻ, trắng nõn, ngồn ngộn.

Nắng vàng chiều tà chiếu xéo qua những thân thể thiên nhiên, đẹp như một bức tranh khỏa thân thời Phục Hưng.

Ấy chỉ là một cái chớp lóe lên trong mắt, chứ thực sự nó chưa kịp định thần để hiểu chuyện gì.

Từ ngay đâu đó, bốn cô bộ đội quần áo chỉnh tề, tóc ướt rượt, lao tới.

Nó bỗng thấy tối sầm trời đất.

Nó bị một thứ gì đó, hình như là một cái túi đen chụp kín lấy đầu.

Rồi nó thấy nó bị quật ngửa xuống đất.

Nó bị túm chặt hai chân hai tay và bị nhấc bổng lên, lăng qua lăng lại.

Chợt nó hiểu ra mình sắp bị quẳng xuống suối.

Nó sợ thất kinh, hét lên :

- Ối các chị ơi !

Em không biết bơi.

- Cho mày chết !

Ai bảo dâm dê nhìn trộm.

- Em mới về, em không biết.

Em xin lỗi các chị, em xin lỗi !

Giọng một cô căng nhức :

- Đứa nào chỉ đường cho mày xuống đây ?

- Anh Tăng, anh nuôi ạ !

- Đây là khu dành riêng cho phụ nữ, mà mày lại mò vào.

Mày có muốn chúng tao vứt mày xuống sông không ?

- Em nói thật mà, em mới về trưa nay nên không biết.

Thật em cũng không biết bơi.

Em xin lỗi các chị !

Ngần ngừ một chút rồi giọng một cô có vẻ đàn chị cất lên :

- Thôi nó lính mới, không biết, tha cho nó !

- Quê mày ở đâu ? – Một giọng khác hỏi.

- Em ở Hưng Yên ạ !

- Được !

Vậy thì lậy các chị Hà Tây đi !

- Em lậy các chị Hà Tây !

Bốn cô thả phịch nó xuống đất nhưng vẫn giữ cái túi đen che mắt nó.

Mấy cô dẫn nó dò dẫm trở lại khe đá.

Được một đoạn, xem chừng đã khuất hẳn khỏi con suối, một cô quát :

- Về ngay !

Từ nay các chị cấm bọn mày xuống đây nghe chưa ?

- Dạ !

Vâng !

Nói xong một cô tháo cái túi trùm đầu nó, một cô quăng quần áo của nó về phía trước.

Nó bị đẩy một cái rất mạnh và bị hét ngay sau lưng :

- Biến !

Nhặt vội quần áo, nó vội chạy ngược lên, không dám ngoái đầu lại.

Nó tìm ba thằng bạn nhưng chẳng thấy đứa nào đâu.

Chạy về đến gần đơn vị thì nó nhìn thấy 3 thằng đang chạy phía trước, vừa chạy vừa cười ngặt nghẽo.

Nó tức quá, văng luôn :

- Cười đ'... gì !

Thế mà đéo xuống cứu, cười cười cái con c...

Bọn nó càng cười phá lên :

- Bọn tao chạy được nhưng không sướng mắt bằng mày.

Nó đuổi theo mấy thằng về đến đầu nhà nhìn thấy anh Tăng và mấy người khác đang cười lăn cười lóc.

Một thằng còn làm động tác "giẫy đành đạch", sướng ngây ngất.

Nó hầm hầm nhìn anh Tăng, trong bụng rất căm.

Nhưng nỗi ngượng trong nó còn lớn hơn, mặt nó đỏ dừ, lúng túng chẳng biết nói gì.

Anh Toản bê trưởng thấy chuyện, đi đến.

Anh cũng cười và bảo :

- Cậu Tăng chơi khăm đồng đội thế là hơi quá mức đấy nhé !

Thôi, theo anh, anh chỉ chỗ tắm cho.

Rau rừng – Đồng bào Thượng

Mấy chú lính mới theo anh Toản và mấy anh mới đánh bóng chuyền xong đi xuống đường lớn, vòng quanh khúc cua theo quả đồi, đi tiếp xuống một con đường dốc nhỏ.

Ở đây dòng suối rộng, nước chảy hiền hòa, phía trên có mấy cái thác nho nhỏ, xa xa phía dưới có một đoạn suối phình ra khá rộng.

Nó trông thấy nước xanh thăm thẳm mà biết rằng suối rất sâu.

Anh Toản và các anh khác đã lao hết xuống suối và bơi ra xa.

Anh Toản quay lại :

- Nước mát lắm, xuống đây bơi đi !

Mấy đứa bạn nó lập tức nhảy xuống, riêng nó chỉ dám lội từ từ xuống chỗ nước sâu đến ngực.

Nước mát thấm vào da thịt dường như làm cơn bực tức của nó bỗng dưng tan biến.

Vừa tắm nó vừa nghĩ lại chuyện lạc vào giữa bày "sư tử" khỏa thân mà thấy ngượng và buồn cười.

Cuộc sống ở đơn vị tuy ở trong rừng nhưng nó thấy dễ chịu hơn nhiều so với thời kỳ huấn luyện.

Nó không còn bị o ép, bị giám sát và kỷ luật căng thẳng.

Ở đây mọi người sống với nhau thân ái, chan hòa cởi mở và yêu thương nhau như trong gia đình.

Hàng ngày chúng theo anh Lộ đi kiểm tra dọc đường dây.

Có những chỗ phải xiết lại mối nối, sửa chữa hư hỏng hoặc thay thế lặt vặt.

Những chỗ hỏng nhẹ thì cố gắng khắc phục lại để tiết kiệm vật tư.

Chiều về, chúng thay nhau chăm bón, tưới tắm mấy luống rau tươi ở đầu nhà, trồng hoa, nuôi gà, nuôi lợn.

Rau trồng không đủ ăn, mỗi ngày trung đội cử ra 2 người vào rừng kiếm rau nộp cho nhà bếp.

Đủ các loại rau linh tinh, có thứ gì lấy thứ đó, rau má, rau tàu bay, vòi voi, môn thục, tai chua, măng, hoa chuối, mít rừng, chuối rừng, . . .

Đóng ở khu vực này ngoài trung đội nó còn có đơn vị nữ thanh niên xung phong ở gần đó, có một trung đội của đoàn 559 bảo vệ đường ống dẫn dầu.

Thành ra rau tự nhiên bị càn quét rất kỹ và không kịp mọc lại.

Càng ngày đi lấy rau càng phải đi xa, vào sâu trong rừng.

Đứa nào đi lấy rau mà tối về không đầy ba lô là rất ngượng mà còn bị trung đội khiển trách nữa.

Đến phiên nó đi lấy rau, nó phải cố đi từ sớm và đi thật xa.

Nó cứ len lỏi thơ thẩn trong rừng.

Lần đó rất may mà nó gặp một vạt rau má, cứ thế xông đến nhổ cả rễ, đập hết đất rồi nhét vào ba lô.

La cà một lúc thì lại gặp ngay một đám rau tàu bay xanh mơn mởn.

Thế là lần đầu tiên đi hái rau, nó đã hoàn thành nhiệm vụ.

Những lần sau nó còn cố gắng tìm kiếm măng và hoa chuối, những thứ này là rau cao cấp, phải đi rất xa mới có.

Rồi có lần nó chợt nghĩ đến quả loòng boong, nhưng nó tìm mãi mà không kiếm ra.

Loòng boong thường mọc ở vùng cao, thời tiết ẩm và lạnh.

Mà thứ quả ngon như vậy thì chỉ có thể tồn tại được ở nơi rừng núi hiểm trở khó khăn, nghe nói vùng ngã ba biên giới có rất nhiều.

Cứ một tháng vài lần, đơn vị cử một toán xuống A Lưới gùi gạo, thuốc lào, cá khô và nhu yếu phẩm đi tắt đường rừng về tiếp tế cho đơn vị.

Chiều chiều, sau khi ăn cơm xong, nó hay cùng các anh lững thững đi dạo trên đoạn đường gần đơn vị.

Thời còn chiến tranh, con đường này cũng là một nhánh huyết mạch, tấp nập xe vận chuyển súng đạn, lương thực, thực phẩm cho chiến trường phía trong.

Vậy mà, giờ đây, con đường "vắng như chùa Bà Đanh", cả tháng giời cũng chỉ có vài cái ô tô chạy qua.

Con đường bây giờ chủ yếu là đường đi lại của đồng bào Thượng.

Có thể là họ du cư từ chỗ này sang chỗ khác, cũng có thể họ đi chợ hay đi chơi thăm người thân họ hàng, chẳng biết được.

Họ đi thành từng đoàn, thanh niên, trẻ con, người già, người nào cũng đeo gùi, đi chân đất.

Đàn ông đàn bà đều hút thuốc lá rê khét lẹt bằng những cái tẩu lớn.

Tất cả đàn ông đều ở trần, đóng khố.

Tất cả đàn bà đều mặc quầy nhưng phía trên cũng để trần, vú vê thỗn thện.

Bà già thì không tính, thanh nữ thì khoe vú các kiểu, cái to, cái nhỏ, cái lùm lùm, cái hơi chảy chảy.

Các chú bộ đội tha hồ mà ngắm.

Bộ đội gặp đồng bào đi trên đường, chào hỏi nhau vui vẻ lắm.

Có lần, một đứa hỏi :

- Đồng bào gái cho tao sờ một tí nhé !

Một cô gái đáp lại ngay :

- Bộ đội !

Cái trên tao dành cho con.

Bộ đội xin, tao cho cái dưới.

Nếu bộ đội

muốn thì bộ đội hỏi Pỉp, tao sẽ cho ("Pỉp" là "mẹ" trong tiếng Vân Kiều).

Gần nơi đơn vị đóng quân, cách khoảng 2 cây số, có một bản người Thượng định cư khá đông.

Thỉnh thoảng chúng vào chơi với đồng bào, đem áo, giầy đổi cho đồng bào lấy súng AR-15 và đạn, đổi lấy thịt nai, thịt hoãng phơi khô.

Lâu dần đồng bào quý bộ đội mới cho thưởng thức món ngon nhất để trong chum.

Đó là chum măng muối.

Những cây măng nhỏ bằng ngón chân muối cùng với nhái nguyên con.

Khi được thả vào nước muối mặn, nhái bị xót và sợ hãi, cứ thế bám chặt vào cây măng rồi chết dần.

Món đó gọi là "nhái ôm măng".

Ở vùng núi miền Bắc cũng có món "nhái ôm măng", nhái được thả vào nồi cùng với măng, đậy vung lại, đun nóng từ từ . . . . mà thành ra "ôm măng".

Một chuyện tình bi thảm

Có súng AR-15 và đạn đổi được, bọn nó mang ra bắn nghịch.

Chúng ra suối, trên các tảng đá lớn, đặt các cục đá nhỏ làm mục tiêu, cứ thế nhằm bắn, . . . . vui ra phết.

Nhưng nó vẫn mê vẽ hơn.

Nó thường vẽ ký họa cảnh bộ đội lao động, làm vườn, lau súng, . . . .

Thường thì các ký họa chỉ bằng chì đen, thỉnh thoảng hứng lên nó còn ký họa bằng màu nước.

Ký họa hết cảnh đơn vị rồi nó vào bản đồng bào, chọn góc đẹp, vẽ phong cảnh bản với nhà sàn, núi đồi, gia súc, cảnh sinh hoạt của những người dân trong bản.

Tập ký họa của nó đã rất dày, có cuộn lại đút vào hai cái ống bằng nhựa đựng liều phóng của B40.

Tờ báo tường của trung đội vừa là nhiệm vụ của nó mà cũng là niềm vui.

Nó viết bài, làm thơ, vẽ trang trí và minh họa.

Đối với một tờ báo thì, như thế, nó vừa là tổng biên tập, vừa là cây bút chính vừa là họa sỹ.

Nó nghiệm ra một điều, dù là việc to hay việc nhỏ, nếu mình cố gắng và làm có tâm huyết thì công việc đó tự nó mang lại niềm vui cho bản thân.

Nếu việc nhỏ mà làm đại khái qua loa thì sẽ chẳng thể làm được việc lớn.

Có lần một đứa có ảnh cũ của người cha, lâu ngày đã mốc hỏng gần hết, nó đem bức ảnh ấy "truyền thần" lại.

Anh em nhìn thấy "được quá", từ đó nó liên tục vẽ truyền thần ảnh cho cha mẹ các đồng đội.

Truyền thần thì chỉ cần có giấy, bút chì, tẩy và bông để vờn bóng.

Nhiều bức cũng giống và đẹp.

Hầu hết anh em rất thích, khen và cảm ơn nó "loạn xì ngầu".

Thấy nó vẽ còng lưng mất cả ngày mới được một bức, công việc thì tỷ mà tỷ mỷ, chỉnh đi chỉnh lại mãi mới xong, anh em tìm cách kiếm cho nó vài điếu thuốc lá cong queo hoặc gói thuốc lào Vĩnh Bảo để cạnh nó để nó hút khỏi phải đứng lên đi kiếm.

Cứ chốc chốc lại có đứa vào xem nó vẽ và tranh thủ bắn một hai phát "Ba-zô-ka", chả biết là chúng thích xem vẽ hay thèm thuốc quá mà vào hút thuốc tranh thủ.

Một lần bê trưởng đi họp về đưa cho nó tờ thông báo của Bộ Tư Lệnh gửi các đơn vị trong binh chủng.

Nội dung thông báo là động viên chiến sỹ tham gia viết về kỷ niệm sâu sắc chống Mỹ cứu nước và vẽ về phong trào thi đua toàn quân bằng hình thức tranh cổ động.

Ưu tiên hướng về ngành của đơn vị mình là thông tin liên lạc.

Nó rất phấn khích vội lao vào vẽ và viết.

Nó vẽ ba bức tranh cổ động khổ 30 x 45 bằng thuốc nước.

Vẽ xong, nó đưa cho anh Toản bê trưởng, chờ dịp anh về đại đội họp mà chuyển cho quân bưu gửi đi.

Chuyện nó vẽ thế nào mà rò rỉ sang đơn vị nữ thanh niên xung phong.

Chị em kéo nhau sang nhờ nó vẽ vào sổ tay, vào khăn mùi-xoa để thêu.

Nó thì thêm bận nhưng cũng vui.

Anh em trong trung đội thì rất thích.

Chị em ngồi xem nó vẽ thì anh em cũng mon men đến nói chuyện làm quen.

Mối giao lưu ngày càng thân thiết, chị em còn rủ rê hẹn hò anh em sang bên chị em chơi, . . . .

"Niềm vui ngắn chẳng tày gang", đâu được một tháng, một hôm, đùng một cái, cả 2 đơn vị cùng ra lệnh "cấm tuyệt đối quan hệ".

Lính tráng buồn và tiu nghỉu nhưng không hiểu tại sao.

Mãi về sau mọi người mới biết một chuyện.

Cách đơn vị nó không quá xa, có một đơn vị bộ đội và một đơn vị nữ thanh niên xung phong đóng gần nhau.

Anh chị em hai đơn vị giao lưu qua lại thường xuyên, nảy sinh tình cảm yêu đương.

Một lần đại trưởng thấy lính không về họp, đơn vị đi tìm và bắt gặp hai người đang ngủ với nhau trong rừng.

Đại trưởng kỷ luật người con trai và ra lệnh cấm chuyện quan hệ trai gái.

Vài hôm sau, đúng nửa đêm khi mọi người đang ngủ say, người lính đó vào giường đại trưởng, giật chốt lựu đạn, ôm chặt đại trưởng, cả 2 cùng tử vong.

Câu chuyện thật là bi thảm !

Từ đó các đơn vị cấm tuyệt đối quan hệ với đơn vị khác giới, sợ diễn biến tư tưởng của bộ đội phức tạp khó kiểm soát được.

Mưa rừng

Đã lâu lắm rồi, trung đội nó không còn sợi thuốc lào nào để hút, cá khô lại càng không.

Cửa hàng mua bán cũ ở A Lưới được chuyển vào sâu, cách đơn vị nó chừng 40 cây số đường rừng.

Cửa hàng mới tại A Lưới giao cho đơn vị mới quản lý, đơn vị nó không có quan hệ thân quen tình cảm để mua được các hàng hóa cần thiết.

Chúng thèm thuốc bã người, những thằng nghiện đã phải hút dâu ngô, bã chè phơi khô tẩm nước điếu.

Mùi vị thật kinh khủng, vừa khét vừa hôi rất khó chịu, nhưng dù sao cũng còn có tí khói.

Hết "sách", mấy thằng vào bản người Thượng xin thuốc rê.

Nhưng thuốc rê rất nặng, hút vào tắc nghẹn trong cổ, ho sặc sụa, lại còn hôi khăn khẳn, không thể nào hút được, đành bỏ.

Thịt hộp đã hết từ lâu, bữa ăn chỉ có rau và nước muối.

Rồi đến gạo cũng hết vì mưa to, núi lở, xe không tiếp tế được.

Lính toàn phải ăn sắn khô và luộc rau tầu bay chấm muối.

Thèm thuốc, đói cơm, lả người mà nhìn trời mưa ầm à suốt ngày này sang ngày khác.

"Mưa sứ Huế" đã kinh khủng, nhưng mưa trong rừng miền tây Huế còn tệ hại hơn nhiều.

Lúc nào trời đất cũng nặng trĩu mây và đổ mưa xuống sầm sập, triền miên.

Cảm tưởng như nước tràn ngập trong không khí đến hơi thở cũng đầy nước, quần áo phơi hàng tuần chẳng khô được, hôi mù.

Dòng suối trước kia hiền hòa là thế nay nước dâng cao, đục ngầu, cuốn theo rác rưởi, cây đổ, xác súc vật lềnh bềnh.

Tệ nhất là đường dây lại liên tục đứt.

Vừa nối xong chỗ này thì chỗ khác cây đổ đứt dây, gẫy cả cột.

Áo mưa chưa kịp cởi ra lại phải đi tiếp, bấm chân trong đất, bám vào cây, đu vào dây leo, gạt mưa bão mà đi nối dây cho bằng được.

Bụng đói, cật rét, thuốc không có hút, nước trên trời thì cứ ầm à đổ xuống suốt ngày, buồn não nề như "trấu cắn".

Nhà bóng bàn mưa bão quật sạt một góc, vả lại bóng không có, bàn thì ướt nhoèn nhoẹt.

Có mỗi bộ tú lơ khơ thì quân thiếu, quân đủ.

Đến đàn ghi ta của nó thì dây cũng đứt, chẳng có dây để thay.

Những lúc không phải đi nối dây, chẳng còn có trò gì, ê chề suốt ngày, đi ra nhìn trời mưa rồi lại đi vào nhìn quần áo ướt giăng khắp nhà, bốc mùi lầm lậm.

Nó mượn được cái đài bán dẫn SONY con con của bê trưởng, kiên nhẫn dò sóng, chỉ thấy ọ à ò ẹ, nói được một tí rồi lại mất.

Nó cầm đài chạy khắp nhà, xoay đủ các hướng, xoay núm chỉnh sóng liên tục mà vẫn chỉ là xọt xà xọt xẹt . . . .

Thấy anh em đói quá, anh Toản gọi điện khắp nơi đến các đơn vị bạn ở gần đó để xin vay gạo.

Gọi đến đâu cũng thấy các đơn vị khác cũng đang trong tình trạng đói.

May sao khi liên lạc với công binh, ở khá xa, họ đã đồng ý cho vay một tạ gạo và một ít nhu yếu phẩm.

Tiểu đội nó nhận lệnh sang ngay công binh gùi gạo về.

Cả tiểu đội mặc áo mưa, mang theo ni lông để bọc ba lô, . . . . lập tức lên đường.

Trời đã ngớt mưa, chỉ còn mưa lác đác.

Từ sáng sớm, tiểu đội ra đi theo đường lớn, nối đuôi nhau, hàng một thẳng tiến.

Sau cơn mưa bão lớn dài ngày, cảnh rừng trông rất xác xơ, cây lá tả tơi, ủ rũ, suối đỏ ngầu, cuồn cuộn chảy, đường đi nhão nhoét bùn đất, . . . .

Sa lầy

Đi được chừng hơn hai chục cây số thì anh em đi chậm lại, vừa đi vừa nhá lương khô để tiết kiệm thời gian, sợ tối không kịp đến đơn vị công binh.

Cuốc thêm dăm bảy cây nữa thì tới một khúc đường cua.

Núi bên ta-luy dương gặp mưa lâu, ngấm nước, lở xuống, chảy thành một thứ cháo bột nhão nhoét lấp kín mặt đường một lớp rất dày.

Chắc đám lở đất này xảy ra mấy hôm trước, hôm nay, nhìn đã thấy "se mặt".

Anh Lộ, đưa dao găm cho một đứa đi chặt cho mỗi người một chiếc gậy chống.

Anh tiến lại chỗ "cháo bột", lấy que chọc để thăm dò.

Thấy tạm ổn, anh đưa thử một chân vào, nhấn khẽ.

Đám "bột" dưới chân anh lùng bùng nhưng không bị sụt.

Sau khi cân nhắc kỹ, anh Lộ cẩn trọng bảo :

- Ở đây mưa ít hơn chỗ mình, đất sụt chắc đã lâu, bề mặt khá cứng.

Ta đi cách xa nhau

một chút, đặt chân và bước thật nhẹ, chắc là qua được.

Đoạn cây dóc này dài nhất dùng

làm gậy cứu sinh, nếu ai bị lún thì chìa gậy ra cho bám mà kéo lên.

Chú ý, nếu ai bị lún

thì không được quẫy mạnh mà phải đứng yên và dang tay ra, anh em khác sẽ kéo lên.

Tất cả rõ chưa ?

- Rõ !

- Tất cả đồng thanh đáp.

Chỗ đất sụt chỉ dài quãng ba chục mét.

"Cháo đất" dày nhất cỡ trên hai mét so với nền đường, phía hai đầu đoạn sụt có phần mỏng hơn, thoai thoải xuống.

Anh Lộ nhẹ nhàng như con báo đi săn mồi, vừa nhanh vừa nhẹ nhàng.

Sau anh Lộ đến thằng Thanh, thằng Bội, thằng Đông.

Nó là đứa đi sau cùng.

Mọi người bước theo chân anh Lộ rất thận trọng, nhẹ nhàng từng bước một.

Mỗi người cầm một cây gậy ở tay phải, tay trái dơ ngang để lấy thăng bằng, cứ thế dắt nối nhau bằng gậy để đi qua đám lầy.

Chỉ còn một đoạn ngắn nữa thì nó sẽ qua được đám lầy.

Ở đầu tốp, anh Lộ đã tới chỗ đất khô, ba thằng trước nó cũng sắp qua được.

Đúng lúc đó thì nó thấy đất dưới chân bắt đầu sụt xuống.

Nó là thằng "nhẹ phao câu" nhất mà lại bị lún, hẳn là do bốn người đi trước đã dẫm cùng một chỗ lại nhún để bước tiếp đã làm cho nước ở phía dưới "sình lên" và đất trở nên nhão nhoét.

Cái chân trái nó bị lún, nó phải tì người sang chân phải để rút lên.

Ai ngờ, chân nó thì bé, giầy thì rộng, lại buộc dây không kỹ nên cái chân cứ rút lên lại nhấn xuống để cứu giầy, sục sà sục sịch, càng ngày càng lún sâu.

Cái vòng lẩn quẩn bắt đầu.

Để rút chân trái lên thì trọng tâm dồn sang chân phải, vậy là chân phải cũng bị lún xuống tiếp.

Có cảm tưởng như đất nhão đang hút đôi chân của nó, ngày càng xuống sâu hơn.

Nó càng cố gắng để bước lên thì càng bị lún sâu hơn, càng ngày càng nhanh.

Nó hoảng hốt gọi :

- Anh Lộ ơi !

Em bị chìm rồi.

Mọi người giật mình quay lại thì thấy nó đang từ từ chìm xuống.

Anh Lộ vội hét :

- Khuỳnh tay ra !

Đứng yên, không được cựa !

Nó khuỳnh tay sang 2 bên.

Người nó từ từ chìm xuống tới nách thì dừng lại, phần vì do có hai tay, phần thì vì cái ba lô sau lưng nó đã cản lại.

Anh Lộ vội chìa cây dóc dài cho nó.

Nó với tay trái túm được, rồi nó đưa nốt tay phải, túm vào gậy ở một đoạn xa hơn.

Ba thằng kia, lúc bấy giờ đã lên được chỗ khô, anh Lộ bảo chúng chặt nhiều cành lá trải trên đám lầy, chằng chịt những cành với lá, thành một con đường mới khá chắc chắn.

Xong, anh Lộ tiến vào gần nó, chìa cho nó cây dóc ngắn.

Ba thằng kia đứng sau anh nối gậy để cùng kéo nó.

Anh Lộ bảo nó :

- Em bám chắc vào nhé ! bọn anh sẽ kéo lên.

Nào, các cậu tớ hô "một, hai, ba . . ." thì cùng từ từ kéo nha !

Bốn người đứng "dé chân chèo", cùng kéo nó từng tí một.

Người nó cứ toài dần dần về phía trước rồi gần như nằm sấp trên mặt bùn, chỉ còn hai cái cẳng chân từ đầu gối trở xuống vẫn chưa rút ra được khỏi bùn.

Chắc hẳn hai chiếc giày của nó quá to so với chân, như hai chiếc "phà" (nó vẫn hay nói đùa thế), không cho nó rút được chân.

Đến khi tay nó chạm được đống lá, thì nó buông một tay ra để túm vào đám cành lá.

Nó cố gắng co tay, rút được một đầu gối lên rồi đến đầu gối thứ hai.

Anh em thì kéo, nó thì cố dướn lên và quỳ được trên đám lá.

Bốn người kéo, một người bò, dần dần nó thoát khỏi đám lầy.

Nó đứng dậy, thở hổn hển, mồ hôi nhễ nhại.

Nó thoát rồi, anh Lộ mới "mắng vốn" :

- Đi đứng thế nào thế !

Đã dặn mãi rồi.

Lần này may có đông người chứ không thì chết mục xác, chẳng cứu được đâu !

Em ạ !

Nó không nói năng gì, lẳng lặng gỡ ba lô ra.

Mọi người xúm vào gạt bùn đất cho nó.

Nó cởi hết quần áo, giầy tất xuống vũng nước gần đó rửa chân tay, người ngợm và giặt hết đồ rồi mặc lại, đi tiếp.

Lúc bấy giờ nó mới thấy lạnh lưng, sởn tóc gáy.

Cho đến bây giờ nghĩ lại, nó vẫn thấy thất kinh.

Và, nó cũng không thể biết khoảng thời gian để nó thoát ra khỏi đám lầy đó là bao lâu.

Năm phút, mười phút hay nửa tiếng, chẳng biết nữa ?!

Đám cưới người Thượng

Sau khi vay được gạo và một ít nhu yếu phẩm của công binh, anh em được ăn cơm với cá khô và được hút thuốc lào.

Gạo thì rồi khi nào đường thông, đơn vị sẽ đ\ược tiếp tế, nhưng nhu yếu phẩm cái gì cúng thiếu.

Ban chỉ huy đại đội phải suy nghĩ làm sao lo cho cuộc sống của đơn vị.

Một hôm, anh Toản bê trưởng gọi nó lên và bảo :

- Anh ông A-Tơ-Ken, cửa hàng trưởng bách hóa sắp cưới vợ.

Đại trưởng bảo em mang

theo máy ảnh, bút, màu.

Em lên lên đó giúp cho đám cưới.

Đại trưởng cũng ở đó, anh

ấy đã mang cho em một cuộn phim rồi.

Hy vọng, qua đám cưới, có quan hệ tốt, ông

ấy sẽ duyệt bán cho đơn vị cá khô, thuốc lào, xà phòng, kem đánh răng và các nhu

yếu phẩm khác.

Thế nhé !

Nhận lệnh xong, nó về chuẩn bị.

Sớm tinh mơ hôm sau nó lên đường hành quân một mình, đi làm "công tác đối ngoại".

Trời nắng đẹp, gió thổi mơn man, mây trắng lững thững trôi bồng bềnh, tâm hồn phơi phới, nó mải miết đi theo đường rừng.

Trong rừng vắng, vừa đi nó vừa suy nghĩ miên man, chuyện gia đình, chuyện đơn vị, rồi chuyện em Hợi người yêu nó.

Lâu rồi không thấy mặt em, nhớ quá.

Nỗi nhớ em cứ ngun ngún trong lòng như đống dấm.

Thỉnh thoảng có gió tạt qua là đống dấm lại bùng lửa cháy phần phật.

Không có lửa cháy thì bên trong đống dấm lúc nào cũng vẫn cháy, âm ỉ và mãnh liệt.

Chiều tối thì nó đến được bản của ông A-Tơ-Ken.

Đó là một bản nhỏ với vài mươi nóc nhà, cách đường 15N khoảng 2 cây số, nằm ven một dòng suối lớn có tên là Rào Trăng.

Rào Trăng cũng là một nhánh chính của thượng nguồn sông Bồ (Nay trên địa bàn xã Phong Xuân, huyện Phong Điền có hai nhà máy thủy điện Rào Trăng 3 và 4).

Nó đi theo một con đường đất đỏ ngoằn nghoèo để vào bản.

Từ đầu bản, phải đi qua mấy căn nhà sàn nằm cánh nhau rất xa.

Mùi phân trâu bò lợn gà nuôi ở dưới nhà sàn bốc lên nồng nặc.

Giữa bản có một nhà rông (trong tiếng Vân Kiều là "roong hy xu ho") với cái sân rất rộng.

Người ta đã căng một tấm che lớn làm từ những miếng dù pháo sáng ghép lại.

Bên trong mái che ấy và xung quanh có rất nhiều dân bản đang mổ trâu, mổ bò tíu tít.

Từ trên nhà rông, thằng Ân liên lạc đại đội nhìn thấy nó, vội chạy xuống tận chân cầu thang dẫn nó lên.

Trong nhà rông, già làng cùng mọi người cao tuổi và khách khứa đang ngồi bên bếp lửa uống rượu cần.

Trong số khách có đại trưởng của nó, thủ trưởng các đơn vị công binh và thanh niên xung phong.

Sau khi nó chào mọi người, thằng Ân đưa nó ngồi vào một mâm.

Cỗ cũng có nhiều món xôi, thịt, lòng, . . . .

được bày trên lá chuối trải dưới sàn, rượu mạnh được rót từ hũ ra bát.

Nó đặt ba lô vào góc nhà rồi xà ngay xuống mâm cỗ cùng thằng Ân và mấy người trong bản.

Mọi người vừa ăn vừa uống rượu trong ánh lửa bập bùng và tiếng cồng chiêng âm âm, u u.

Tiệc rượu cứ thế diễn ra thâu đêm.

Nhiều đồng bào ở các các bản lân cận cũng kéo đến, ngày một đông.

Họ cứ uống rượu, gõ cồng chiêng và nhảy múa suốt đêm.

Sáng hôm sau, nó chén hết một nắm xôi với một miếng thịt kho thái rất to.

Ăn xong, nó và thằng Ân bắt đầu trang trí cho đám cưới.

Rất nhiều thứ lặt vặt, như hàng xén vậy, nào thì giấy trắng, giấy màu các loại, hồ dán, dao, kéo, bút chì, bút lông, . . . .

Nó nhờ mấy người trong bản căng cho nó một cái chăn to, đẹp để làm phông.

Nó vẽ một đôi chim bồ câu đang bay, mỏ cùng cắp một dải lụa có đề chữ "Hạnh Phúc".

Đôi chim được gắn phía trên, bên phải tấm phông.

Chữ "Song Hỷ" gắn phía trên, bên trái.

Khoảng rộng ở giữa là hình trái tim, trong đó có hai chữ cái đầu của tên cô dâu và chú rể lồng vào nhau.

Phía dưới đôi chim câu nó vẽ một nhà rông với các cây đại thụ cao lớn xung quanh.

Dưới chữ song hỷ nó vẽ một căn nhà sàn và 2 đứa trẻ thật xinh, mũm mĩm, như trẻ trong tranh Đông Hồ.

Nó vẽ đến đâu thì thằng Ân cắt đến đó, còn mấy anh công binh thì dán lên phông theo hướng dẫn của nó.

Đến trưa thì tác phẩm hoàn thành, ai cũng khen đẹp.

Nhưng đồng bào Thượng lần đầu tiên nhìn thấy, không hiểu ý nghĩa của các hình vẽ.

Họ nói bập bẹ tiếng Kinh để hỏi "Cái gì đây ?".

Biết rồi, họ lại hỏi tiếp "tại sao lại thế ?"

Thứ tiếng Kinh lơ lớ cùng những câu hỏi ngây ngô làm nó rất buồn cười.

Lễ đón dâu được tổ chức vào buổi chiều.

Đại trưởng đưa nó cuốn phim.

Nó lắp phim vào máy, lắp pin vào đèn flash, chỉnh sửa lại máy để chuẩn bị chụp.

Nó theo chân mọi người sang nhà gái để đón dâu.

Nhà cô dâu ở ngay trong bản và không xa lắm.

Chú rể là người bản này, đi ra Bắc tập kết hồi năm 54.

Ông học trung cấp thương nghiệp và làm trong ngành thương nghiệp ở ngoài Bắc.

Nay ông về bản và làm cửa hàng trưởng "Cửa Hàng Bách Hóa" huyện A Lưới.

Trông ông rất già, da đen, môi thâm, tóc quăn tít, chắc tuổi cũng phải suýt soát 50.

Mỗi lần ngắm qua ống kính cặp đôi này, nó thấy xót xa, thương cho cô bé.

Đám cưới đang diễn ra vui vẻ thì đột nhiên nghe tiếng súng nổ phía ngoài sông.

Lực lượng du kích và mấy anh bộ đội vội xách súng lao ra, đám thanh niên nhao nhao chạy theo.

Nó thấy nét mặt và thái độ của già làng vẫn rất bình tĩnh trước sự hốt hoảng, ngơ ngác của mọi người.

Sau đó nó mới được nghe chuyện.

Chả là, có cậu trai cùng bản tuổi 18 đã đã yêu cô dâu từ trước.

Đôi trẻ và hai nhà đã ưng cái bụng từ lâu và đang dự định tổ chức cưới.

Khi ông cửa hàng trưởng giầu có, quyền thế về bản, ông trông thấy cô bé thì ưng quá.

Ông mang biếu trưởng bản và gia đình cô gái nhiều cá khô, muối và những thứ quý giá khác.

Gia đình cô bé và trưởng bản vừa thuyết phục cô bé bởi sự giàu có sung sướng, vừa o ép, dọa nạt.

Cô bé đành "nhắm mắt đưa chân".

Chàng trai người yêu uất quá tìm cách phá.

Trưởng bản dùng quyền bắt anh phải sang bản khác tránh mặt trong những ngày đám cưới.

Hôm nay, ngày rước dâu, chàng thanh niên mang súng kíp lẻn về để bắn chú rể.

Già làng đã tính trước, cho du kích bảo vệ.

Họ phát hiện ra chàng trai đang mò về mang theo súng thì lao tới giằng co khẩu súng.

Súng cướp cò, đoo . . . aàng . . . .

Đang chụp ảnh, nó phải phì cười nhìn thấy cảnh áo cô dâu cài lệch khuy, chú rể cứ thế cởi áo cô dâu ra, cài lại (không có áo trong đâu nha).

Thật là một pha "nhớ đời".

Pha thứ hai cũng "quên đời" chẳng kém.

Ấy là răng cô dâu bị giắt cái rau xanh, thấy vậy chú rể liền lấy tăm, cứ thế mà nhể nhể mấy phát cho cái rau rơi ra, một cách rất "tự dưng", cô dâu thì nhe răng ra, ngồ ngồ, trông chẳng khác gì cha xỉa răng cho đứa con nhỏ.

Nó "hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ" đám cưới và rất tự hào.

Nó tự hào không phải vì trang trí hay chụp ảnh đẹp mà vì nó vác về cả một ba lô đầy thịt hộp, cá khô và thuốc lào mà không mất tiền mua.

Toàn bộ là do chú rể tặng nó để trả ơn.

Hơn nữa, đại đội nó được ông cho một phiếu mua hàng ưu tiên dài hạn.

Đại trưởng mừng, nó mừng, rồi tất cả anh em trong đơn vị đều mừng.

Tối hôm đó, nó bổ thịt hộp nấu với bí đỏ, cả trung đội liên hoan vui vẻ.

"Đụng độ" với đồng bào Thượng

Cuộc sống của nó cứ êm ả trôi đi với những công việc cuốn hút, những liềm vui nho nhỏ hàng ngày.

Nó tự thấy ngày càng cứng cáp, vơi hẳn đi nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu.

Chỉ có khi hoàng hôn buông xuống hay trong đêm gió mát trăng thanh giữa rừng, nó mới thấy buồn man mác và trạnh nhớ, một nối nhớ trong tưởng tượng những ngày thân yêu xa vời.

Thư gia của đình, bạn bè và thư của Hợi ngày càng thưa dần.

Nó hiểu, thời gian đã dần xóa nhòa nỗi nhớ, làm lành các vết thương lòng.

Mỗi người, ai cũng có việc của người đó, thời gian đâu mà suốt ngày nghĩ đến nó nữa.

Tranh dự thi của nó đã được đại đội chuyển đi từ lâu lắm mà không có hồi âm.

Cứ mỗi tháng một lần có báo của binh chủng, Văn Nghệ Quân Đội nó đều theo dõi rất sát nhưng toàn thấy tranh của họa sỹ Trường Lưu, Xuân Hạnh và Phạm Ngọc Liệu, không thấy một bức nào của nó.

Vậy là thất bại !

Trong thời gian huấn luyện, đơn vị có ba thằng có năng khiếu vẽ là thằng Đính, thằng Tiền và nó.

Huấn luyện xong thì nó phải vào Trường Sơn, thằng Đính, thằng Tiền lại được cử đi học vẽ ở Sài Gòn.

Nó rất buồn và không hiểu tại sao mình không được chọn.

Thôi thì, âu cũng là số phận ! – Nó tự an ủi mình như vậy.

Thấm thoát từ khi nó vào rừng tới nay đã là gần 11 tháng.

Thi thoảng nó vẫn mang bút màu đi vẽ phong cảnh.

Một hôm, nó vào sâu trong bản, vẽ đặc tả mấy căn nhà sàn chênh vênh bên mép núi, vút lên mấy cây cau, xum xuê vài cây hoa dại ở hàng rào.

Bức vẽ ấy rất đẹp, có thể nói là đẹp nhất từ trước đến nay mà nó vẽ được, một phần vì nó có rất nhiều thời gian thảnh thơi trong lòng, hai là nó cũng đã có đủ độ chìm lắng cần thiết.

Nó treo bức tranh trên tường ngay chỗ giường của nó.

Chẳng thể ngờ được bức tranh đó là "bức tranh định mệnh" làm chuyển biến cuộc đời của nó . . . .

Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, nó cùng anh Lộ, anh Tăng và mấy đứa nữa lững thững xuống đường đi dạo.

Bỗng mọi người nhìn thấy một con hoẵng đang uống nước ở gần ngay dưới nhà bóng bàn.

Mọi người ra hiệu cho nhau nhẹ nhàng bao vây.

Con hoẵng thấy đông người, nó hoảng sợ.

Nhưng vì địa hình trống trải, con hoẵng lao vọt lên khe núi, chạy mất.

Khi tới bản người Thượng, mấy đứa nói chuyện con hoẵng với ông già A Khen.

Ông già liền lấy súng kíp lùa đàn chó săn của ông đi ngay.

Mấy anh em cũng không để ý gì đến chuyện con hoẵng và ông A Khen nữa, vẫn nhẩn nha vừa đi vừa nói chuyện.

Trời nhá nhem tối chúng lại lững thững quay về.

Nghe đì đòm súng nổ, chúng biết là ông già vẫn đang săn con hoẵng đó.

Về gần đến đơn vị, bỗng mọi người giật mình, từ trên tà luy dương, cao hơn 10 mét, một con hoẵng khá to mất đà trượt chân, lao xuống ngay trước mặt.

Con vật bị choáng, lồm cồm định đứng dậy thì anh Tăng nhanh tay bê ngay hòn đá cạnh đó đập mạnh vào đầu nó một nhát.

Nó giật giật mấy cái rồi vật xuống, bất động.

Bọn chúng khoái quá, khiêng ngay con hoẵng về.

Lửa nổi lên, thịt hoẵng xẻ ra, chốc lát, dăm ba món thịt hoẵng đã thơm nức nở trên bàn ăn.

Cuộc liên hoan linh đình của trung đội kéo đến 11 giờ đêm mới xong.

Hôm sau, ông A Khen đi qua cổng, thấy đầu hoaẵng và bốn cái chân đang cột trên dây phơi ở hồi nhà.

Ông nhận ra con hoẵng hôm qua ông săn hụt liền vào đòi hoẵng.

Một cuộc cãi vã giữa ông A Khen và anh em.

Bộ đội nói con hoẵng tự rơi, bộ đội đập được nên con hoẵng là của bộ đội.

Ông già thì bảo do ông và bầy chó đuổi rát mà con hoãng chạy hụt chân nên mới rơi, con hoẵng là của ông.

Hai bên lời qua tiếng lại, không bên nào chịu bên nào.

Dân bản hay tin cầm giáo mác chạy sang.

Vợ ông già cứ xỉa xói, la lên :

- Bộ đội tồi, bộ đội ác, bộ đội cướp hoẵng.

Bộ đội xấu như thằng Mỹ, thằng ngụy . . . .

Anh Tăng cáu tiết quá đẩy bà già ra.

Không may bà già trượt chân ngã xuống.

Tình hình trở nên nghiêm trọng.

Dân hai bản với dáo mác và súng kíp lập tức bao vây anh Tăng.

Bộ đội thấy vậy cũng giương súng ra tự vệ.

Trung trưởng dùng AK bắn một loạt lên trời :

- Yêu cầu đồng bào giải tán !

Đồng bào giãn ra bỏ về.

Lính cũng quay vào trong nhà, coi như chuyện đến đấy là xong.

Một lúc sau, tiếng tù và từ bản vang rền, rồi có tiếng tù ở những chốn xa xa đáp lại u u, âm vang khắp núi rừng đại ngàn.

Anh em vẫn nghĩ là không có chuyện gì.

Nhưng Chỉ một giờ sau, từ khắp mọi ngả, đuốc đèn như mưa sao rùng rùng chuyển động về phía trung đội.

Rất đông đồng bào, cầm đuốc, cầm dáo, mác, cung nỏ, súng kíp tua tủa vây chặt trung đội.

Người các bản xa hơn cũng lần lần kéo đến, ngày một đông.

Họ bao vây chặt, triệt toàn bộ đường lấy nước của bộ đội.

Cả đơn vị thực sự hoảng sợ, chưa ai rơi vào tình huống khó khăn như thế này.

Giá mà địch đông như vậy thì cũng có thể có anh em không sợ và sẵn sàng sinh tử.

Nhưng đây là đồng bào, đang trong cơn giận dữ, đằng đằng sát khí, thì không ai là không run sợ.

Trung trưởng gọi điện báo cáo đại đội và trung đoàn, đang nói dở thì đường dây bị cắt đứt.

Anh đành phải dùng vô tuyến để liên lạc tiếp.

Trung đoàn chỉ thị "Án binh bất động không được đối phó, ảnh hưởng tình quân dân.

Nếu đồng bào nổ súng cướp trại có thể do Fulro xúi giục, lúc đó mới được phép tự bảo vệ con người và khí tài nhưng tuyệt đối tránh thương vong cho dân."

Ngay đêm hôm đó, đồng chí tỉnh đội trưởng Quảng Đà, vốn là người của bản của ông A Khen, lập tức đi ô tô trở về để can thiệp chuyện đụng độ giữa dân và bộ đội.

Nhưng vì đường đi quá xa, mãi tối hôm sau ông mới về tới nơi.

Ông là người có quyền cao chức trọng nhất, là người rất có uy tín của đồng bào Vân Kiều, bà con rất tin và rất nể trọng ông nên sau khi ông nói chuyện với già làng, với dân bản thì được già làng và dân bản chấp nhận.

Trung trưởng cùng anh Tăng phải ra xin lỗi đồng bào và trả lại đầu và 4 chân của con hoẵng.

Chuyện được giải quyết êm thấm.

Sau vụ việc đó, mặc dù không có chuyện gì xảy ra nhưng quan hệ giữa đồng bào và bộ đội không được mặn mà như trước.

Bẵng đi một thời gian thì một hôm có một cái nhà sàn trong bản, không biết vì sao, lại bốc cháy ngùn ngụt.

Chuyện cháy nhà sàn thì ở bản này là chuyện rất hiếm và xảy ra đã từ rất lâu.

Điều tình cờ là căn nhà cháy đó lại chính là căn nhà nó vẽ trong bức tranh treo ở đầu giường.

Đồng bào đi gặp thày mo để hỏi về việc nhà bị cháy.

Sau khi cúng bái, giờ lâu, thày phán rằng :

- Có kẻ ngoại lai mang ma về đốt bản !

Từ câu phán ấy, suy đi xét lại thì dân bản thấy chỉ có cái bộ đội ngồi vẽ cả cái bản này, rồi lại vẽ rất kỹ cái nhà bị cháy.

Cái bộ đội ấy ngồi rất lâu, mấy ngày liền.

Thế thì đúng hắn là kẻ ngoại lai đưa ma về rồi, không thể sai được.

Tất cả mối nghi hoặc đó đổ lên đầu nó.

Già làng yêu cầu trung đội trưởng giao kẻ đã đưa ma về đốt bản cho đồng bào.

Nó hoảng quá mà mọi người cũng đều sợ.

Bê trưởng phải báo cáo lên đại đội.

Đại đội yêu cầu lập tức, bằng mọi giá phải cho nó trốn sang đơn vị khác.

Nó thu xếp quân tư trang, chào mọi người rồi bí mật và gấp rút trốn sang đại đội công binh gần đó để lánh nạn.

Nó đi rồi không biết trung đội ở lại sẽ đối phó thế nào với già làng và dân bản . . . .

Bức tranh nó vẽ đẹp nhất trở thành "bức tranh định mệnh", làm cuộc đời nó biến động và sẽ ngoặt sang một hướng khác.

Trở về Pleiku

Nó trốn ở đơn vị công binh ngày hôm trước thì ngày hôm sau công binh nhận được điện thoại của đại trưởng của nó, báo cho nó biết trung đoàn điều động nó về trung đoàn bộ nhận công tác.

May mắn làm sao, hôm đó có xe của công binh về Quy Nhơn và nó được đi nhờ.

Nó nghĩ thấy cũng lạ, đúng lúc nó cần đi Pleiku thì công binh lại có xe, xe đó không phải ra Quảng Trị, xuống Huế, vào Đà Nẵng, vào thị xã Tam Kỳ hay vào thị xã Quảng Ngãi, mà lại vào đúng thị xã Quy Nhơn, rất chi là trùng hợp.

Nó chào anh em ở đơn vị công binh.

Trước khi bước lên xe, nó quay lại nhìn ngắm một lượt núi cao, rừng thẳm trùng điệp của Trường Sơn, nó muốn tạm biệt nơi chốn mà nó đã ăn ở và làm việc cùng trung đội thông tin của nó một năm nay.

Nó đi nhờ xe, mãi đến chiều hôm sau xe mới đến Quy Nhơn.

Đã hết xe đi Pleiku nên nó tạt vào nhà Sơn Hồng.

Hai thằng ôm chầm lấy nhau, tay bắt mặt mừng.

Đêm đó nó được chơi với Sơn Hồng và ba má.

Sớm hôm sau nó ra xe đò đi Pleiku.

Về đến trung đòan nó được giao nhiệm vụ vẽ áp phích, khẩu hiệu và trang trí phục vụ cho hội nghị quân chính.

Trong thời gian này nó được ở ngay ban tham mưu của trung đoàn.

Xong nhiệm vụ cho hội nghị quân chính, nó sao chép và phóng bản đồ cho ban tham mưu.

Ở trung đoàn bộ nó nhận đồng hương với anh Chính, trưởng tiểu ban quân lực trung đoàn.

Anh Chính quê Ân Thi, đồng hương Hưng Yên.

Nhà anh Chính cách nhà nó chừng hai chục cây số.

Anh Chính khá đẹp trai, người gầy, cao, da trắng, tóc quăn uốn sóng.

Anh có giọng nói trầm, nhiều âm sắc.

Anh đã có vợ và hai con gái ở quê.

Nói đến anh Chính thì phải nhắc đến chị Mạo, tổ trưởng y tá cơ quan lúc bấy giờ.

Chị tuổi Mão, sinh năm 51, tức là 26 tuổi dương lịch.

Chị kém anh Chính 15 tuổi.

Nó không còn nhớ quê chị Mạo ở đâu nữa vì lâu quá rồi.

Chị có làn da trắng, người mũm mĩm, ngực nở lớn, mông to, đầy sức sống.

Anh Chính và chị Mạo phải lòng nhau đã lâu.

Khi nó về đến đây thì chị Mạo đang mang trong mình giọt máu của anh Chính.

Nhưng nó mới về nên hoàn toàn chưa biết chuyện đó.

Nhớ lại, hôm nó về đây đúng vào một chiều Thứ Bảy.

Toàn đơn vị lớn được nghỉ sớm một tiếng để làm vệ sinh doanh trại, hái rau sam, rau sắn non, chuối xanh và rau má.

Đơn vị nào tự tăng gia được thì có quả su su, quả mướp, quả bầu hay quả bí.

Nấu rau tự cải thiện bằng hòm đạn đại liên của Mỹ, không có thì nấu bằng mũ sắt của lính Mỹ.

Rau nấu với bột canh, thịt hộp, mỳ tôm để cải thiện bữa ăn.

Nó vừa nhận phòng ở xong thì các anh trong ban sai nó đi hái rau.

Anh Thạnh, trưởng tiểu ban khí tài đang cắt tiết ngan, thằng Dõi, thằng Động, đồng hương nó đã được điều về đây từ lâu, thì đang phụ vặt lông ngan, rang lạc.

Hái rau xong nó mang về thì anh Hiệu lại bảo :

- Để đấy anh rửa !

Chú xuống cái nhà y tá dưới kia, gặp chị Mạo, nói anh Chính em

bảo xuống mượn chị cái cối, ở trên này anh em có chày rồi.

Nó vội chạy băng qua sân, xuống nhà y tá truyền đạt nguyên văn lời anh Hiệu dặn.

Đang ngồi phát thuốc cho mọi người và nói chuyện rất vui vẻ, chị Mạo đứng bật ngay dậy, chỉ tay vào mặt nó quát :

- Ai sui mày hỏi thế hả ?

Ai sui ?

Nó lúng túng không biết trả lời thế nào vì nó chưa nhớ tên anh Hiệu nên nó nói nhầm :

- Anh Chính bảo em thế.

Chị Mạo càng tức tối.

"Ba máu sáu cơn" chị nhảy dựng lên, xỉa xói chửi :

- Tổ sư bố đứa nào độc mồm sui mày, chứ anh Chính nào bảo.

Tổ sư nó !

Thấy chị Mạo cứ lồng lộn, chửi bới ầm ĩ, nó hãi quá, vội "cúp đuôi" chạy thẳng về ban.

Cả ban nó đang cười ngặt nghẽo.

Thì ra nó bị lừa để trêu chị Mạo.

Sau này, khi biết chuyện, nó thấy thương chị Mạo và thương cả anh Chính nữa.

Bạn bè ở trung đoàn

Nó được sử dụng một gian 18 mét vuông, đầu hồi của một dãy nhà. phía cuối phòng có lắp hố xí xổm tự hoại.

Cái vệ sinh này đã bỏ lâu lắm không dùng, bây giờ nó quây vải đen vào làm buồng tối để in tráng ảnh.

Phần còn lại phía trước của căn phòng thì nó để vẽ pa-nô (pano) phục vụ cho các công tác cổ động của trung đoàn.

Vậy là nó có riêng một phòng để tác nghiệp, kể cũng oai ra phết.

Bên cạnh phòng tác nghiệp của nó là một gian 18 mét vuông nữa thì nó và thằng Đăng dùng chung làm phòng ngủ.

Giường sát cửa ra vào là của thằng Đăng, giường sát tường phía trong là của nó.

Thằng Đăng phụ trách chiếu phim, quê Bắc Thái, da trắng, môi đỏ, tóc vàng như râu ngô.

Đăng tốt nghiệp phổ thông thì nhập ngũ.

Hắn vừa làm nhiệm vụ chiếu phim, vừa tự học thêm về cơ khí, điện kỹ thuật, thiết kế và quấn sú-von-tơ (survolteur) rất tốt.

Cần nói thêm là, hồi bấy giờ điện kém lắm, nơi nào có điện thì đều không đủ điện áp, đèn thì tối lò mò, quạt thì chạy lờ đờ.

Cái survolteur dùng tăng điện áp trở thành thiết bị cần thiết cho mỗi gia đình và nghề quấn survolteur đang rất thịnh, hái ra tiền.

Đăng thường xuyên đi chiếu phim lưu động ở các đơn vị, ít khi ở nhà nên cái phòng chung đó hầu như chỉ có nó sử dụng.

Vào những ngày nghỉ, nó hay cùng anh Hiệu, thằng Đăng và vài người nữa sang sân bay Cù Hanh, nhảy vào phòng điều hành bay, phá các máy thông tin, máy tải ba, gỡ lấy các biến thế nguồn, các cuộn cảm, đèn LED, bộ chuyển mạch, đề-can, dây cáp thông tin với rất nhiều sợi, mỗi sợi một màu, v.v . . . . làm vật liệu để quấn survolteur.

Được anh Hiệu và anh Cường kỹ sư "truyền nghề", nó cũng cuốn được mấy cái survolteur rất đẹp, chạy rất tốt.

Ở cơ quan trung đoàn bộ, nó quen và giao lưu với rất nhiều người, từ ban chính trị, ban tham mưu, ban hậu cần, vệ binh, bệnh xá, . . . .

Nhưng người thân và gần gũi nhất với nó là anh Cường và thằng Tiền.

Anh Cường Kỹ sư là trợ lý ban chính trị trung đoàn còn thằng Tiền là thằng được đi học vẽ ở Sài Gòn về, bây giờ giữ chân thư viện.

Anh Cường quê Quảng Bình, người dong dỏng, da đen, môi hơi thâm, trông khá đẹp trai và rắn giỏi.

Bấy giờ anh Cường đã đeo lon trung úy, tính anh vui vẻ, dễ hòa đồng, sống tình cảm và ân cần với mọi người.

Anh thường xuyên tâm sự nhỏ to với nó, nhất là chuyện tình yêu.

Anh có một chiếc hon đa 67 màu đen khá mới.

Anh nhờ nó vẽ vào hai bên xe hình đại bàng dang cánh.

Ngày nghỉ, thỉnh thoảng anh đèo nó đi chơi hoặc cho nó mượn xe phóng lên đèo Mang Yang thăm mấy thằng đồng hương của nó đóng quân ở đó.

Đường đẹp, xe ngon, thời tiết mát mẻ, "hết ý con mẹ tý".

Thằng Tiền quê Thái Nguyên, người lùn, bé nhỏ, da trắng, môi đỏ như con gái.

Đặc biệt thằng này có giọng nói cứ lanh lảnh với những âm sắc trong, cao vút như họa mi.

Đơn vị gán cho nó biệt hiệu là Tiền "gái".

Thằng Tiền có năng khiếu vẽ và đã được cử đi học vẽ ở Sài Gòn cùng Phạm Bình Đính.

Nó khá thân với Tiền một phần cũng là do nó mê đọc sách.

Nó vào thư viện cũng được thằng Tiền ưu ái hơn so với những người khác.

Ngoài hai người đó ra, nó không thể không nhắc đến thằng Tỵ anh nuôi.

Thằng này quê ở Nam Hà, người to béo, cao, mặt tròn, hói đầu.

Thằng Tỵ sống rất thật và thà chân thành lắm.

Một lần thằng Tỵ nhờ nó vẽ truyền lại bức ảnh của bố.

Tấm ảnh gốc khổ nhỏ 3x4, đã rất mờ thì chớ, lại còn bị mốc nữa.

Nó ngồi hai ngày, phóng ra cỡ 18x24, cố gắng hình dung, tưởng tượng ra người trong ảnh để vẽ.

Khó nhất là vẽ mắt vì khi phóng to không thể vẽ mắt nhòe nhòe như trong ảnh được mà phải vẽ đầy đủ cả hai mí mắt và đường chân mi cũng như lông mi.

Nó phải hỏi thằng Tỵ xem có giống bố nó không, may mà cha con giống nhau nên nó mượn mắt thằng tỵ để vẽ và thêm các đường chân chim vào cho già đi.

Bức "truyền thần" vẽ xong được thằng Tỵ khen là rất giống và rất đẹp.

Từ ngày đó thằng Tỵ rất quý nó.

Đầu tiên là thằng Tỵ lúc nào cũng để phần riêng cho nó một miếng cháy to bằng cái quạt nan.

Cháy nồi quân dụng màu vàng nhạt rất dày và rất giòn.

Thằng Tỵ gói miếng cháy nóng hổi vào giấy bào, lẳng lặng cắp nách mang lên cho nó.

Đang đói được cháy ngon, nó rất sướng, phết ngay đường vào, nhai rau ráu, thơm, giòn, ngọt, ngon tuyệt.

Mỗi khi nó xuống bếp lấy cơm, lại đúng vào lượt thằng Tỵ chia cơm thì mâm của nó được tăng lên đáng kể, cả về lượng và về chất.

Đã thành lệ, hễ khi nào Tỵ chia cơm thì mọi người trong nhóm ăn cùng mâm lại cử nó đi lấy cơm . . . .

Nghiện thuốc

Ngoài món cháy ngon thằng Tỵ cho nó thêm vào khẩu phần thiếu đói, nó còn có một ngón khác để chống đói.

Ấy là nó xin các loại bột để quấy hồ.

Nó phải dùng rất nhiều hồ để dán pano, rồi lại còn bồi nhiều giấy để pano có độ dày và phẳng.

Biết bao nhiêu hồ cho nó vừa.

Nó báo cáo lên các thủ trưởng xin tiền mua bột.

Mèng thì cũng là bột sắn, khá hơn thì bột gạo mà hơn nữa thì bột nếp.

Thực ra thì hồ nấu rất loãng, có tốn bột là mấy.

Chủ yếu làm lương thực dự trứ cho nó, khi nào đói, nó múc hai thìa bột cho vào xoong, thêm thìa đường rồi quấy đều với nước thành thứ bột sền sệt như bột cho trẻ em, gọi là món chè đường, ăn mãn luôn.

Các cụ bảo "thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn than, thợ hàn ăn thiếc", trong đó cũng có ý nói "làm nghề nào ăn nghề ấy".

Chẳng ngờ nó "ăn hồ" thật, theo nghĩa đen.

Vụ "ăn hồ" này cũng phải ăn vụng, nếu không cũng phiền với các thủ trưởng.

Nó nghiện thuốc lá nặng mà tiêu chuẩn căng tin mỗi tháng được 5 gói Bastos (loại thuốc rất nặng) đối với nó hoàn toàn không đủ.

"Túng thì phải tính", nó để ý thấy hầu như ngày nào cũng có họp hành, giao ban, . . . . của các thủ trưởng ở hội trường, mà các thủ trưởng lại rất nhiều thuốc lá.

Quản lý hội trường là thằng Ân công vụ.

Tốt !

Nó liền kết thân với thằng Ân.

Thỉnh thoảng, sau buổi họp của các "cốp", nó lên hội trường giúp thằng Ân thu dọn và tranh thủ nhặt đầu mẩu thuốc lá mà các "cốp" vứt bỏ, thôi thì đủ loại, Đ'rao, Tam Đảo, Điện Biên, Tam Thanh, . . . .

Mỗi lần như vậy, nó thu được một vốc to.

Đem về phòng, nó gỡ ra lấy thuốc rồi dùng giấy lịch mỏng để quấn sâu kèn lại mà hút.

Thằng Ân hiểu nó, những lúc nó không lên được hắn lại nhặt hộ đầu mẩu.

Nhiều lúc Ân còn lấy trộm thuốc của thủ trưởng để dành cho nó.

Đầu kỳ căng tin phát thuốc lá, những đứa nghiện, thằng nào cũng hút "thả phanh".

Vài ngày sau, hễ đứa nào có mẩu thuốc hút thì bị vài đứa khác xúm lại "xin một hơi".

Chúng xin, không cho không được mà cho thì tiếc đứt ruột vì thằng nào cũng rít tóp cả má, một hơi dài căng hết hai buồng phổi, cụt đến phần ba điếu là cái chắc.

Lắm lúc có thuốc, nó phải len lén giả vờ đi vệ sinh, chui vào đó mà hút.

Thế mà cũng chẳng yên.

Nhà vệ sinh tập thể một dãy dài quây bằng cót ép, vách ngăn các gian chỉ ngang tầm mắt.

Mùi thuốc bốc ra, thằng bên cạnh ngửi thấy, kéo quần đứng dạy, thò tay sang bảo : "Đứa nào đang hút, cho tao một hơi".

Thế là đành phải đưa sang.

Mà đã đưa sang là mất, mấy khi thằng kia nhổm lên để trả lại.

Có lần không kiếm đâu ra được đầu mẩu thuốc, nó phải lật hết cả dát gường lên, bới hết các ngóc ngách trong đám pano, trong buồng rửa ảnh, tìm mãi cũng được vài cái "đít sâu kèn" bé tí.

Dù sao cũng vấn được một điếu thuốc "sái của sái".

Suýt nữa thì nó thành diễn viên ?!

Trung đoàn tổ chức cho những anh em ở trung đoàn bộ chưa tốt nghiệp phổ thông được đi học bổ túc ban đêm tại thị xã Pleiku.

Tối tối, nó cùng một số anh em vào thị xã để học.

Nó có dịp giao lưu và làm quen với các bạn mới, rồi nó chơi thân với cái Mận và thằng Tình.

Một tối đang đi học như thường lệ, khi đi qua rạp Thanh Bình (bây giờ là nhà hát Đam San của thành phố Pleiku) thì thấy nhiều tấm pano và rồi tiếng loa phóng thanh quảng cáo biểu diễn ca múa nhạc của "Đoàn Ca Múa Nhạc Hải Hưng" tại thị xã Pleiku.

Trời ạ !

Ở đoàn ca múa này thì nó có rất nhiều bạn.

Nó liền "tút" buổi học và chui vào rạp tìm bạn.

Nó gặp lại thằng Tám, cái Thơm, cái Hoa, thằng Hợp.

Gặp nhau "tay bắt, mặt mừng" lắm lắm, vì chúng nó đều đã chơi với nhau từ ngày ở Sặt, toàn những đứa đồng hương thân thiết.

Trong đợt biểu diễn hàng tháng trời của đoàn tại PleiKu, bọn chúng thường đi chơi với nhau, cả ban ngày và buổi tối.

Ngày mà đoàn chuyển đi biểu diễn ở nơi khác, chúng chia tay nhau rất cảm động.

Thằng Tám nói:

- Giá ngày ấy mày tham gia cùng chúng tao thì hay quá !

Vừa không phải đi lính, mà

bây giờ đi biểu diễn khắp nơi có phải sướng không !

"Đoàn Văn Công Hải Hưng" (lính thường gọi như vậy) chuyển đi thì cũng từ đấy, chúng bặt tin nhau, không có dịp gặp lại nữa.

Nhớ lại, ngày ở Sặt, nó chơi với thằng Khóa.

Thằng Khóa có cậu ruột là Tám, diễn viên của Đoàn Ca Múa Nhạc Hải Hưng.

Tám cũng đồng trang lứa với thằng Khóa và nó, rồi dần dà nó thân với Tám.

Lần ấy, Đoàn Ca Múa Nhạc về quê nó biểu diễn và tổ chức tuyển diễn viên.

Tám, Hợp, Thơm và Hoa ở nhờ nhà nó.

Đoàn tổ chức biểu diễn hàng đêm ở các sân kho, bãi bóng các xã.

Những lúc rảnh rỗi, Tám và các bạn hướng dẫn nó dựng tiểu phẩm để tham gia thi tuyển vào Đoàn.

Buổi thi tổ chức ở sân kho thôn Long Đằng.

Ban giám khảo gồm 7 người ngồi ở dãy bàn kê chéo ở một bên, sát với sân khấu.

Thí sinh cả huyện nô nức tham gia dự thi.

Hôm đó, nó phải thi ba tiết mục (hay là ba vòng).

Một là, "đọc diễn cảm một bài thơ mà em thuộc".

Đề thi này đối với nó là quá đơn giản vì trước đó nó đã đọc nhiều trong các hoạt động của đoàn thanh niên và có khả năng diễn cảm tốt.

Hai là, trình bày một tiểu phẩm với đề ra : "Em đang ở nhà học bài, có bạn của bố dắt theo một đứa trẻ đến chơi mà bố em đang đi vắng.

Em hãy tiếp người bạn của bố và em bé".

Đạo cụ là một bàn và một ghế ở giữa sân khấu.

Nó ngồi ở bàn, làm động tác đang chăm chú học bài.

Rồi nó làm động tác như có khách đến, sau khi chào hỏi khách, nó pha trà và nói chuyện qua lại với người khách lớn tuổi và em bé, y như thật.

Tất cả chỉ diễn ra dưới dạng kịch câm, biểu diễn bằng động tác và biểu cảm trên nét mặt.

Ba là, trình bày tiểu phẩm với đề ra : "Có một vườn cau sai quả nằm sau một mương nước rộng 1,5 mét, vườn có hàng rào cây thưa, bên trong có một con chó dữ.

Em hãy vào hái cau".

Tiểu phẩm này khó hơn vì không có đạo cụ mà tình huống cũng phức tạp.

Trên sân khấu trống trơn, nó phải tưởng tượng ra cảnh huống và làm động tác để thể hiện từ lúc thăm dò chó, lúc vượt mương nước, vượt hàng rào, trèo cau hái quả và luôn luôn trong tình trạng phải đối phó với chó, . . . .

Cuộc thi ba vòng thật sự là rất khó, vả lại cũng có nhiều thí sinh rất giỏi.

Thế mà cuối cùng nó được chấm điểm khá cao và trúng tuyển làm diễn viên của Đoàn.

Nó đã thắng ở cuộc thi năng khiếu do Đoàn tổ chức vậy mà nó không thể vượt qua được cuộc thi của thày nó.

Cụ bảo :

- Hát hỏng, ưỡn ẹo chỉ là "đồ sướng ca vô loài".

Đó không phải là một nghề.

Mà nếu

coi như một nghề, thì cái nghề này "bạc như vôi".

Cuối cùng, đời cũng chả ra gì đâu !

Thày nó cương quyết không cho nó đi.

Nó tiếc lắm nhưng không dám cãi và làm trái lời thày.

Rồi nó trở thành người lính và gặp lại bạn bè trong Đoàn ở mãi chốn rừng núi xa xôi, tận Pleiku.

Đoàn Văn Công Hải Hưng đi rồi thì có đoàn các họa sỹ từ Hà Nội vào đi thực tế, lấy tư liệu sáng tác về Tây Nguyên.

Trong đoàn này nó được làm quen với cô Thanh Ngọc và chị Sơn Trúc đều là giảng viên Trường Mỹ Thuật Hà Nội.

Thấy nó ham vẽ và gặp hoàn cảnh trớ trêu, cô Ngọc động viên nó rất nhiều.

Trước khi về Hà Nội cô Ngọc cho nó 2 cây bút lông và khá nhiều tuýp thuốc nước cô đang dùng dở.

Nó cứ nhớ ơn cô mãi không chỉ vì ít họa phẩm quý mà còn vì cô đã động viên khuyến khích nó vẽ và học hội họa.

Khóc cha

Sau một lần gửi tranh dự thi.

Tranh của nó được chọn một bức đăng trên báo binh chủng và một bức đăng ở báo quân đội.

Nó mừng vì tranh của nó được đăng và nó khấp khởi hy vọng khi Bộ Tư Lệnh thông tin tổ chức trại sáng tác mỹ thuật, hẳn là nó sẽ được chọn.

Nhưng chờ mãi nó vẫn không được gọi.

Trung đoàn nó chỉ gọi một đứa duy nhất là thằng Phạm Bình Đính.

Nó không tị với thằng Đính, nhưng rõ ràng là không công bằng.

Thằng Đính đã được đi học vẽ ở Sài Gòn trong khi nó phải đi miền Tây A Lưới.

Bây giờ thằng Đính lại được học ở trại sáng tác.

Nó buồn, rất thất vọng và không hiểu vì sao ?!

Những ngày cuối năm 1977, gần đến Tết Mậu Ngọ (1978) là những ngày bận rộn.

Nhưng không hiểu sao trong lòng nó cảm thấy có gì cồn cào, bứt rứt.

Mắt nó cứ "máy" liên tục, rồi nó vật vã không ăn, không ngủ được.

Chưa bao giờ nó ở cái tâm trạng như vậy và nó không biết nguyên nhân vì sao.

Một hôm, nó đang ngồi vẽ, bỗng thằng Ân công vụ vào phòng nó chơi và bảo :

- Thập à !

Mày có rất nhiều thư và điện ở quê gửi đến đây, mà tham mưu trưởng đang giữ,

không đưa.

Tao dọn phòng vô tình nhìn thấy mấy bức thư và mấy bức điện để trên bàn.

Tao đọc trộm bức điện thấy ghi "Thập về ngay, thày ốm nặng".

Bức điện gần đây nhất còn

đề "Thày sắp chết, về ngay".

Ông Đặng không đưa cho mày, chắc ông ấy sợ gia đình nói dối

gọi mày về ăn tết.

Mày thử hỏi xem sao, nhưng đừng nói là tao bảo nhé, không có tao bị kỷ

luật đấy.

Nó rụng rời chân tay, thất thần, . . . .

10 ngày qua nó máy mắt và sốt ruột hẳn là thày nó nhắc.

Không còn biết gì nữa, nó khóc hu hu và lập tức chạy lên phòng tham mưu trưởng Đặng.

Chẳng còn nhớ nó đã nói gì.

Sau đấy, ông Đặng bảo nó :

- Thôi được rồi!

Đồng chí cứ về.

Sáng mai họp giao ban, tôi bàn với bên quân lực sẽ trả lời sau.

Nó thẫn thờ quay ra, tâm trạng bồn chồn, ruột gan như có lửa đốt, . . . .

Cứ thế, nó không ăn không ngủ, hết đi ra lại đi vào, nhấp nha nhấp nhổm chờ đợi cuộc họp giao ban.

Chín giờ sáng, sau cuộc ban họp, anh Chính trưởng ban quân lực, gọi nó lên phòng :

- Trung đoàn đồng ý cho cậu nghỉ phép 20 ngày, cộng với 10 ngày kết hợp công tác, tổng cộng

cả đi cả về là 30 ngày.

Nhiệm vụ của cậu là ra Bộ Tư Lệnh, vào Phòng Quân Lực nhận phim,

giấy ảnh, thuốc ảnh, phôi chứng minh thư quân nhân.

Là đồng hương, tớ nói cho cậu biết thế

này, thực ra, cậu có quyết định điều động về dự trại sáng tác mỹ thuật từ lâu nhưng trung

đoàn chưa cho đi.

Trung đoàn khoán cho cậu làm xong chứng minh thư cho trung đoàn thì mới

được đi.

Cậu làm xong sớm ngày nào thì cậu được ra trại ở Hà Nội sớm ngày ấy.

Thế nhé !

Chẳng biết trong lòng nó lúc ấy là buồn, là lo hay là mừng.

Nó cuống quýt cảm ơn anh Chính, rồi chạy vội sang phòng trợ lý ban quân lực lấy giấy công tác (còn gọi là công lệnh hay giấy đi đường) và giấy giới thiệu với phòng quân lực.

Có hai cái giấy ấy, nó lại vội chạy sang ban hậu cần tạm ứng tiền công tác phí, lĩnh tem lương thực, một ít lương thực và thực phẩm.

Xong việc nó chạy vội về phòng chuẩn bị ba lô, quân tư trang, . . . .

Biết nó được về thăm nhà, chiều đó, nhiều anh em đến phòng nó chúc mừng, chia sẻ, động viên.

Một số đứa gần nhà còn gửi thư, gửi quà nhờ nó mang về hộ.

Chờ mọi người đi vãn, anh Chính gọi nó sang phòng anh, đưa nó một gói quà cùng một lá thư nhờ nó chuyển về quê cho vợ con anh.

Nó vui vẻ nhận và hứa sẽ đưa đến tận nơi.

Cơm chiều xong, nó chào mọi người rồi trèo lên ngồi sau xe máy anh Cường kỹ sư.

Anh Cường đèo nó ra tỉnh đoàn Gia Lai ở Pleeiku.

Nó chơi với nhiều bạn ở tỉnh đoàn và thân nhất với thằng Tình và cái Thắm, người Quảng Đà, trợ lý đoàn tỉnh.

Nó ngủ nhờ ở tỉnh đoàn để 3 giờ sáng mấy đứa đèo nó ra bến xe.

Từ bến xe Pleiku nó đi xe đò về Đà Nẵng.

Cảm giác sốt ruột và máy mắt của nó đã bớt đi nhiều, nó không hiểu tình hình thày nó ở quê ra sao.

Hy vọng mấy bức điện mà nó nhận được là điện giả.

Cái mũ lông cho thày cùng với cái khăn vuông len cho bu nó mua từ lâu đang để trong ba lô, hy vọng thày bu nó có cái diện tết.

Nó còn mua cho các chị gái mỗi người một khăn bông bay, anh trai thì mỗi người một mảnh tuýt-xi len, các cháu thì vài túi bóng bay đủ các màu sắc.

Nó mang về một cái quạt Hitachi cho thày bu dùng cho mát.

Sợ điện ở quê nó cũng yếu, nó còn tha theo cả một cái survolteur nặng trịch mà nó tự tay quấn.

Về tới Đà Nẵng, nó xuống chợ Hàn, bấy giờ đã cuối năm, đang giữa mùa đông, Trời đang mưa và lạnh.

Nó ngơ ngác với thành phố xa lạ.

Nó không biết đường đi trạm khách của trung đoàn ở phường Hòa Cường, huyện Núi Thành.

Đã khuya rồi, đường phố vắng ngắt.

Nhìn qua cửa các ngôi nhà ven đường, cảnh quây quần vui vẻ của các gia đình làm nó càng thấy nhớ nhà da diết.

Đi trong mưa, dưới ánh đèn le lói hắt ra từ trong các căn nhà làm nó nhớ tới hình ảnh người lữ khách không nhà, lang thang trong đêm mưa trong bài hát "Giọt Mưa Thu" (Đặng Thế Phong).

Chợt nó thấy một chiếc xích lô tiến về phía nó.

Bác xích lô đang trùm hụp áo mưa hối hả đạp xe về nhà sau một ngày vất vả.

Nó hỏi thăm đường thì ông ái ngại nhìn nó với ba lô ngất ngưởng, trĩu nặng.

Đường quá xa, trời thì khuya, ông không thể chở nó đi.

Bác xích lô chỉ đường cho nó tự đi.

Một mình nó, lủng củng đồ đạc lầm lũi bước trong đêm mưa, trên con đường ngoại ô, tối tăm, hàng chục cây số về để về trạm khách.

Hôm sau nó ra ga Đà nẵng để lấy vé tàu.

May mà nó có mấy bức điện và giấy công lệnh, nên sau một hồi nằn nì, khẩn khoản, nhà ga bán cho nó cái vé dự trữ (dành cho những trường hợp đặc biệt, đột xuất).

Ba ngày sau nó tới ga Hàng Cỏ sau mấy ngày mệt mỏi lên xe xuống tàu.

Nó gọi một chiếc xích lô đưa nó về phố Bùi Thị Xuân, nhà chị gái nó.

Đến nơi, nó vừa xuống xe, đang trả tiền thì có một xích lô khác cũng vừa tới.

Bước xuống xe là chị gái nó cùng mấy đứa cháu ở quê mới ra, trên đầu người nào cũng đội khăn tang.

Nó giật mình khuỵu xuống.

Thôi thế là hết !

Muộn quá mất rồi !

Chị nó ôm nó khóc hu hu :

- Thập ơi !

Em về muộn quá rồi.

Thày chết đã bốn hôm rồi.

Hôm qua cúng ba 3 ngày xong,

hôm nay anh chị và các cháu mới ra.

Nó khóc nấc lên.

Thế là nó mất bố rồi !

Nó không vào nhà chị nữa mà lập tức ngồi lên xích lô, nó đi ngay ra bến Nứa để mua vé ô tô về quê.

Vừa đi nó vừa ôm mặt khóc "như mưa như gió".

Xe ô tô Sặt có bến đỗ ngay cửa nhà nó.

Nó vác ba lô xuống, bước vào nhà.

Cả nhà đang để tang, thấy nó mọi người òa lên khóc nức nở.

Nó lại òa lên khóc theo.

Trên ban thờ khói hương nghi ngút nhưng tuyệt nhiên không thấy có ảnh thày.

Nó trách mọi người, khi cụ còn sống sao không chụp cho cụ bức ảnh làm ảnh thờ.

Anh chị em nó cũng ân hận.

Vì cuống quá nên quên mất cả việc chụp ảnh.

Nó lấy cái mũ lông ra, đặt lên ban thờ.

Sụt sùi nó khấn :

- Thày ơi !

Con mua cho thày cái mũ như ngày xưa thày vẫn ao ước.

Giờ con về,

mũ ở đây thì thày đã đi rồi !

Sao thày không chịu chờ đội mũ của con ?

Thày ơi !

Nó khóc rất nhiều, nhất là lúc ở một mình.

Nhìn lại những kỷ vật mà hồi còn sống thày nó hay sử dụng, nó càng thương nhớ và xót thày.

Mọi người kể lại, thày chờ nó lâu quá, thất vọng lắm, trong người đau đớn, ông mím miệng lại không chịu nuốt sâm.

Mọi người đành nói dối :

- Thày uống đi, thằng Thập nó về đến phố Nối rồi !

Thày nó lại mở mắt hỏi, lưỡi thày đã rụt lại, chỉ phát ra mấy tiếng "Âu ?

âu . . .".

Sau vài lần như thế, biết là bị lừa, Người ứa nước mắt, rồi ngẹo đầu gục xuống.

Thày đã ra đi trong day dứt và hối tiếc không được gặp thằng con út, thằng bé gày còm mà phải bị đày ải mãi ở nơi "rừng xanh núi đỏ".

Càng nghĩ nó càng thấy hận lão Nguyễn Đăng Đặng, tham mưu trưởng trung đoàn.

Hắn đã làm bố con nó không được gặp nhau lần cuối.

Thằng cha đó đúng là ích kỷ, độc ác, tàn nhẫn và gian hùng "Thà ta phụ người trước chứ không để người lừa ta", chẳng khác gì Tào Tháo.

"Thế Là Mợ Nó Đi Tây"

(Nguyễn Công Hoan, An Nam tạp chí số 43; 1932)

Ở nhà với bu, các anh các chị và các cháu được khoảng chục ngày thì nó lên Hà Nội chơi cho khuây khỏa.

Hơn nữa, nó rất mong được gặp Hợi sau bao tháng ngày xa cách.

Nó đã chuẩn bị một món quà cho Hợi khi nó phải đợi tàu ở Đà Nẵng 4 tiếng.

Nó lang thang trong thành phố, chọn cho Hợi một hộp trang điểm khảm trai nhỏ nhắn xinh xinh, có núm lên dây cót ở phía dưới.

Mỗi lần mở hộp ra, trên mặt gương ở giữa có một cô vũ nữ rất đẹp nhảy múa xoay tròn rất sinh động trong tiếng nhạc thánh thót tinh tinh tang tang . . . .

Nó cũng chọn mua cho nàng một đôi guốc gỗ có trang trí hoa văn màu nâu bằng bút điện, trông rất đẹp.

Trên đường đến nhà Hợi nó cứ tưởng tượng cảnh hai đứa gặp nhau.

Chắc hẳn, sự xuất hiện bất ngờ của nó sẽ làm cho Hợi ngỡ ngàng, bàng hoàng và rất có thể em sẽ ôm chầm lấy nó.

Hoặc, có thể trước đông người em còn ngượng ngập nhưng không cầm được nước mắt vì xúc động.

Chỉ cần nghĩ thế thôi, nó đã cảm thấy sung sướng lắm, "hạnh phúc đang trong tầm tay".

Khi nó bước vào nhà, cả nhà Hợi vui vẻ đón mừng nó.

Hợi chỉ gật đầu chào nó, có vẻ gì đó lạnh nhạt và lúng túng.

Đang hí hửng, nó chợt sụp buồn.

Nó linh cảm thấy có chuyện gì đó, không biết phải xử trí thế nào, bất giác nó muốn lặn luôn đi đâu đó mất tăm.

Tặng quà cho em xong, lấy lý do phải vào Bộ Tư Lệnh nộp báo cáo, nó vội vã rút lui và hẹn tối sẽ đến đón Hợi.

Ra đến ngoài đường, nó cảm thấy rối bời và hoang mang cực độ.

Bao nhiêu tình cảm cháy bỏng, khát khao của nó dành cho em, cơ hồ tan như mây khói.

Nó không biết suy nghĩ như thế nào cho phải.

Có lẽ chăng em không còn yêu nó.

Hay là, em đã có ai khác ?!

Tối hôm đó nó đến đầu đường nơi hẹn em hơi sớm một chút.

Nó chờ mãi, trong lòng rất bồn chồn và lo sợ.

Chẳng có nhẽ em chia tay nó bằng cách như thế này sao, tàn nhẫ quá !

Gần một tiếng đồng hồ đã trôi qua, mấy lần nó "dỗi" định bỏ về nhưng lại tự động viên mình phải kiên trì.

Lâu lắm, không biết bao lâu sau Hợi mới xuất hiện.

Nàng nói xin lỗi với lý do đang dở làm bài tập, mai phải nộp sớm.

Em nói như thế thì nó cũng chỉ biết cười mà đáp lại.

Nó đèo em đi lòng vòng một lúc rồi nó tạt vào bờ hồ Ha-le (hồ Thiền Quang).

Hợi chỉ cho nó một cái ghế giáp mặt hồ, gần đường, nơi ánh đèn sáng nhất.

Hai đứa ngồi xuống, mãi cũng không ai mở được lời.

Rồi câu chuyện cũng chỉ toàn là những câu hỏi đáp, gióng một, không có một chút gì đằm thắm như ngày nào.

Em có vẻ gượng gạo và lúng túng.

Nó dang tay, chực ôm hôn thì em né tránh.

Sau này nó càng hiểu hơn, khi tình yêu chỉ là một chiều thì người kia "tránh né" giỏi vô cùng.

Nó hỏi Hợi sao không viết thư cho nó, giọng đầy trách móc.

Tất cả những dấm dẳn tránh né của Hợi làm cho nó bực và hỏi thẳng :

- Em còn yêu anh nữa không ?

Hợi không nói gì, em mở ví lấy ra một lá thư của cô bạn thân đang học trên Vĩnh Phúc, đưa cho nó.

Nội dung bức thư có đoạn nói về Hợi và nó :"Hợi ơi !

Tớ biết cậu với Thập yêu nhau.

Nhưng đó chỉ là tình cảm bột phát đầu đời.

Không thể dẫn đến hôn nhân được đâu.

Hợi cứ nghĩ mà xem, một đằng Tuấn vừa đẹp trai, trắng trẻo, người Hà Nội gốc.

Nhà Tuấn lại làm nhựa, rất giàu có.

Tuấn cũng theo đuổi Hợi mấy năm nay rất nhiệt tình.

Một đằng, Thập là người nhà quê, không có hộ khẩu Hà Nội, người lại gày còm nhỏ bé.

Thập đi bộ đội, lính 5 đồng, nay đây, mai đó, tương lai vô định.

Mà phụ nữ chúng mình cũng chỉ có thì thôi, đợi chờ mãi sao được.

Tớ nói thế vì những gì tốt nhất cho Hợi.

Hợi hãy suy nghĩ cẩn thận.

Tùy Hợi quyết định thôi !"

Nó chết lặng như bị sét đánh.

Nó cảm thấy tự ái vì bị xúc phạm, nhưng nó vẫn cố kiềm chế, vớt vát, hỏi Hợi thêm một câu :

- Thế em quyết định thế nào ?

Nó đã chờ đợi một câu trả lời phũ phàng, nhưng nó không thể ngờ nó được nghe một câu trả lời thật đơn giản, gọn ghẽ và hiển nhiên :

- Ngày xưa trắng trẻo thư sinh còn yêu.

Bây giờ vừa gày vừa đen, em hết yêu rồi !

Nó đứng phắt dạy, lạnh lùng nói :

- Cám ơn em !

Nó dắt xe đạp xuống lòng đường, Hợi đứng dạy ngồi lên sau xe.

Cứ thế nó hùng hục đạp, không ai nói một câu.

Đến cửa nhà Hợi, nó bóp phanh khựng lại, Hợi nhảy xuống.

Nó quay xe đi và nói :

- Vĩnh biệt !

Hợi đứng nhìn theo, còn nó cắm đầu đạp xe đi . . . .

Thế là hết !

Ôi !

Đàn bà.

Bao giờ họ cũng đúng, gọn ghẽ, vừa đủ, chẳng thừa đến một sợi tơ . . . .

Vợ cả, vợ hai đều là vợ cả !

Cuộc đời thật trớ trêu, trong khi người con gái nó yêu đã "đi Tây" thì người nó không yêu lại rất nhiệt tình.

Đó là Cần.

Được tin nó ra, Cần vô cùng mừng rỡ.

Cần chăm sóc nó từng ly, từng tí.

Chẳng những Cần để dành cho nó nhiều bánh kẹo ngon và thuốc lá mà em còn mời nó đi ăn rất nhiều của ngon, món lạ ở Hà Nội.

Cần bán căng tin trong cơ quan bộ nên có nhiều điều kiện thuận lợi để vun vén, chăm bẵm cho nó.

Nhưng em càng chăm nó bao nhiêu, nó lại càng dửng dưng bấy nhiêu.

Nó càng dửng dưng thì em càng yêu nó, càng quan tâm bao bọc nó hơn.

Thậm chí em còn nhờ bạn bè tác động, nhất quyết phải chiếm được tình yêu của nó.

Nó bắt đầu thấy sợ và tìm cách tránh né.

Còn ít ngày nữa là Tết, nó hỏi thăm đường đến nhà anh Chính để đưa thư và quà.

Nhà anh Chính là một nếp nhà tranh nằm giữa một cái xóm nhỏ thanh bình, ẩn sau những bụi tre, cây ăn quả xanh um tùm.

Vợ anh Chính là một phụ nữ bé nhỏ, dịu dàng, "mỏng mày hay hạt".

Hai đứa con gái của anh Chính, đứa lớn mới 10 tuổi, đứa bé 6 tuổi.

Nó đưa thư và quà của anh Chính cho chị.

Chị đọc xong thư, trông chị rất buồn.

Rồi như không thể dằn lòng, hai mắt chị đỏ hoe và những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên má.

Giờ lâu, chị cất tiếng nói với nó :

- Anh Chính yêu cầu chị ký đơn ly dị cho anh đi lấy vợ.

Chị không đồng ý đâu.

Hôm nào em vào, cho chị và 2 cháu vào cùng với nhé !

Nó đã biết anh Chính có quan hệ với chị Mạo và chị Mạo đã có bầu.

Nhưng nó cũng không ngờ chuyện vợ chồng anh chị lại đến nước này.

Nó cảm thấy thương cho người vợ hiền của anh và hai đứa con còn nhỏ.

Nó không thể không nhận lời đưa chị và các cháu đi cùng vào đơn vị.

Cuộc đời thật là éo le lắm thay !

Thày nó mất ngày mồng sáu thàng Chạp, đến ngày Tết thì mới có hơn hai mươi ngày.

Công việc của nó ở Bộ Tư Lệnh đã xong.

Nó đã nhận đủ phôi chứng minh thư quân nhân, phim, giấy ảnh, mực và lô lăn tay.

Nó trở về quê ăn Tết trong một nỗi buồn vô hạn, bố thì mất, tình yêu cũng mất.

Nó chỉ muốn hết phép cho nhanh để trở về đơn vị vì không chịu nổi cảnh ảm đạm u ám đè nặng trong tâm hồn.

Đúng mồng 4 Tết nó chào bu và gia đình rồi ra đi.

Nó lên ga Hàng Cỏ đón vợ con anh Chính, bốn người mua vé tàu đi Đà Nẵng.

Tới Đà Nẵng nó cùng vợ con anh Chính lên xe đò đi Pleiku.

Tối mùng 8 Tết nó và vợ con anh Chính đã có mặt ở trung đoàn bộ.

Nó vào báo cáo với anh Chính là nó đã trả phép trước thời hạn và cũng báo với anh chính vợ con anh vào thăm.

Anh Chính ra đón vợ nhưng nghe chừng không hài lòng.

Chị và hai cháu được trung đoàn bố trí ở nhà khách của đơn vị, gần cổng vệ binh.

Nó được phép nghỉ một ngày trước khi lên đường đi công tác.

Nó chia quà Tết miền Bắc cho anh em rồi nhanh chóng chuẩn bị đồ đoàn cho chuyến đi công tác lẻ dài ngày.

Đi công tác lẻ

Anh Như gọi nó lên giao nhiệm vụ cho nó đi chụp ảnh, lăn tay làm chứng minh thư cho toàn bộ trung đoàn.

Anh Mật lái xe Gát 69 "đít vuông" (Gaz-69 hay là Com-măng-ca) đưa nó đi bắt đầu từ Quảng Bình, Quảng Trị, bám theo các tổ đường dây vào đến Ban Mê Thuật.

Nơi nào xe ô tô không đi được nó phải đi bộ.

Yêu cầu không được bỏ sót một đồng chí nào và làm càng nhanh càng tốt.

Nó hối hả chuẩn bị hành trang lên đường.

Ngoài chiếc máy ảnh, bộ lăn tay, quyển sổ để ghi tên tuổi và đặc điểm nhận dạng, nó phải mang quân tư trang cá nhân và một ít lương thực, thực phẩm.

Trung đoàn còn phát cho nó một khẩu k54 với hai cơ số đạn, dao găm, đèn pin, thuốc men, bản đồ và quyển sách hướng dẫn đi rừng, đề phòng bị lạc.

Sáng sớm, cùng xuất phát với nó và anh Mật còn có bác sỹ Hiệu bên bệnh xá trung đoàn, kết hợp đi xuống các đơn vị kiểm tra sức khỏe bộ đội.

Ngày đầu xuân cao nguyên, không khí rất trong lành và mát mẻ.

Anh Mật quê ở Cao Bằng, người dân tộc Nùng, da đen, người thấp đậm, tóc hơi quăn, môi thâm do sốt rét kinh niên.

Anh nhập ngũ trước nó vài năm, được biên chế vào đại đội xe thuộc ban hậu cần.

Anh chuyên lái chiếc gát 69 đã cũ nhưng được cái anh hiểu tính nết cái xe, "yêu xe như con, quý xăng như máu".

Anh Mật nói tiếng Kinh hơi "lơ lớ" nhưng tính vui vẻ, dí dỏm.

Tuy nó không thân với anh lắm nhưng rất quý anh bởi anh sống chân thành đúng tính chất người dân tộc.

Trên chiếc Gát 69, ngoài quân tư trang, đồ nghề của 3 anh em, còn mang thêm cả chiếu con, tăng, ủng, màn đề phòng ngủ đêm dọc đường do lỡ độ đường hoặc phải sửa xe.

Hai chiếc ghế dọc hai bên thành xe ở phía sau được lật lên để chất hai phuy xăng loại 100 lít để trữ xăng trên đường giữa các trạm rất xa nhau của trung đoàn.

Anh Mật đã nhiều lần đưa các thủ trưởng và cán bộ trung đoàn đi kiểm tra đường dây nên rất thành thạo đường đi, địa hình, vị trí các tổ và các điểm dừng chân hay trạm khách, trạm tiếp tế lương thực.

Chiếc xe từ Pleiku đi ngược ra hướng Kon Tum, Ngọc Hồi, Đắk Glei, tới Phước Mỹ thuộc Khâm Đức.

Xe chạy theo đường Trường Sơn cũ, con đường chiến lược "xẻ dọc Trường Sơn" từ Bắc vào Nam góp công lớn trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Tuy con đường đã bỏ lâu ngày nhưng vẫn còn khá tốt.

Lâu lâu mới gặp một đoạn đường xấu thì hơi vất vả một chút.

Xe Gát 69 gầm cao, thế mà có những đoạn đường, gầm xe va chạm lộc cộc trên những tảng đá to như mũ cối nằm lổm nhổm trên mặt đường.

Có những đoạn đường lầy lội, xe bị ba ti lê, bánh xe quay tít quấn tung bùn đất lên, đào thành hai cái rãnh sâu hoắm trên mặt đường.

Có những đoạn đường hẹp, một bên vách núi, một bên vực sâu, "đất mượn", xe có thể "dệ" bất cứ lúc nào và lao xuống vực sâu thăm thẳm.

Một người lái, hai người "xi nhan", xe nhích từng mét một, mà vẫn sợ thót tim.

Sau một tháng rưỡi trời vất vả, ba anh em đã làm việc và chụp ảnh cho khá nhiều tổ đường dây trên tuyến đã đi qua.

Hôm nay đến đây nó phải chia tay hai anh vì từ đoạn đường này ra tới A Lưới đường hỏng nghiêm trọng, chưa khắc phục được, không có phương tiện nào có thể đi qua.

Mặt khác, từ đây tới A Lưới, các tổ đường dây không nằm gần đường lớn.

Nếu có đi được bằng xe thì phải đi vòng vèo rất xa e là quá tốn kém, diệu vợi.

Anh Hiệu theo xe anh Mật về Đà Nẵng.

Từ đó anh sẽ đi tiếp khám sức khỏe cho anh em trạm khách.

Riêng nó thì quyết tâm đi bộ một mình qua các tổ đường dây để chụp ảnh cho nhanh.

Anh Mật hẹn nó, lúc nào đến A Lưới thì gọi điện cho anh ở trạm khách của trung đoàn ở Đà Nẵng, anh sẽ vào đón để đưa đi tiếp.

Trước khi chia tay, hai anh dốc túi, còn bao nhiêu lương khô, thuốc lá, các anh cho nó hết.

Anh Hiệu còn cho nó một "cơ số" thuốc cảm cúm, thuốc sốt rét và thuốc đi ngoài, . . . .

Tạm biệt các anh, nó xốc ba lô một mình rong ruổi gần 200 cây số đường rừng.

Sẽ không thể biết những gì đang đợi chờ nó trong chốn rừng sâu núi thẳm.

Nhưng không sao, lòng nó đã quyết, tất cả vì nhiệm vụ, và sau nữa tất cả vì trại sáng tác nghệ thuật ở Hà Nội đang vẫy gọi.

Nó hăm hở lên đường, đi xuyên rừng, thẳng qua Cha Vát, Ta Bhinh, A Roang, Ta Lai, qua Hương Lâm, Hương Phong, Phú Vinh, A Ngo để đến A Lưới.

Từ Phước Mỹ của Huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Đà nó phải đi bộ theo đường mòn, cứ nhìn đường dây thông tin thẳng tiến.

Đây là ngày đi bộ đầu tiên của nó.

May mắn làm sao, đêm hôm trước khi chia tay, anh em nó ngủ nhờ ở ủy ban xã Phước Tân, gặp cô Loan giao liên, người Quảng Đà.

Loan cũng biết mấy tổ đường dây thông tin ở Cha Vát và Ta Bhinh.

Hôm ấy Loan cũng có việc vào trong đó nên hẹn đi cùng nó.

Vậy là nó có bạn trên một đoạn đường dài, một người bạn "thổ công, thổ địa", nên rất yên tâm.

Hai anh em khởi hành từ sáng sớm, mang theo khá nhiều sắn luộc để ăn trưa.

Được cái "nghề nào ăn nghề ấy", là dân thông tin, nó đã liên lạc trước với tổ đường dây để đón nó vào buổi chiều tối.

Đó là tổ đường dây đầu tiên trên hành trình lội bộ của nó, tổ Cha Vat.

Ở tổ này có mấy đồng hương với nó, được tin, chúng nó rất mừng.

Thanh nữ tắm tiên

Mới cuối xuân mà miền tây Quảng Đà đã có gió Lào thổi tới, trời nóng hầm hập.

Cũng may là nó đi trong rừng già nên cũng tránh được cái nắng gay gắt vốn có của miền Trung.

Nó và Loan mải miết đi trên đường mòn của tổ đường dây.

Con đường nhỏ, ngoắt nghoéo khó đi, lúc leo đèo, lúc xuống dốc, mồ hôi nó vã ra như tắm.

Kể ra thì nó theo được em Loan giao liên là quá giỏi rồi.

Loan là chiến sỹ giao liên, đi rừng quen, lại tòng teng cái ba lô mỏng dính, còn nó thì đã lâu lâu không đi bộ, ba lô nặng, lại còn súng, còn dao găm, bi đông nước, đèn pin, máy ảnh, . . . . lủng cà lủng củng.

Nhiều lúc nó tưởng chừng sắp hết hơi, nó thở dồn dập, phì phò mà ngại không giám nhờ Loan mang đỡ ít đồ.

Dù gì nó cũng là bộ đội chủ lực, lại đường đường là một "đấng mày râu".

Hơn nữa, đồ của nó toàn những thứ quan trọng không thể giao cho Loan được.

Nó mới quen Loan, chưa hiểu cô là người thế nào.

Ở đơn vị, nó luôn được giáo dục phải cực kỳ cảnh giác với các cô gái, có thể họ hoạt động trong tổ chức "Thiên Nga Trắng" do địch cài lại, chuyên mê hoặc và bí mật thủ tiêu các chiến sỹ.

Có khi chúng dùng mỹ nhân kế làm "viên đạn bọc đường" cám dỗ bộ đội dẫn đến nhiều hậu quả nguy hiểm, . . . .

Hai người đi một mạch từ sáng sớm đến khi nó liếc nhìn chiếc đồng hồ Pôn-Zốt (Poliot – đồng hồ Liên Xô) mà bu nó tặng hồi mới nhập ngũ, thấy đã 12 giờ, nó mới bảo Loan dừng lại nghỉ.

Loan chọn một bờ suối mát, hai người nghỉ ăn trưa.

Cô bứt lá chuối rừng, lau sạch, lôi cơm nắm ra sắt từng lát, lại mở hai hộp Guy-gô đổ ra ít lạc rang mặn và ruốc cá.

Nó thì lôi sắn luộc ra và khui một hộp thịt.

Hai đứa sửa soạn cho một bữa ăn thịnh soạn, ngon lành.

Loan tỏ ra rất tự nhiên và thân mật, có phần hơi thái quá.

Trong khi đó, nó vẫn rất cảnh giác.

Nó vẫn để súng đeo ở xanh tuya mà không tháo ra, ba lô thì để sát bên cạnh người.

Trước khi ăn, Loan xuống suối rửa mặt, rửa tay chân, mang theo một cái khăn mặt ướt từ suối lên.

Ngồi trước mặt nó, Loan tự nhiên cởi cúc áo ngực, lùa tay vào lau người.

Mắt nó không làm sao mà cất ra khỏi đôi bầu vú vừa trắng nõn nà vừa căng nhưng nhức, day qua day lại dưới bàn tay Loan.

Quả thật nó rất thèm, lấy hết "sức bình sinh" nó đành quay mặt đi chỗ khác.

Trong lòng nó càng băn khoăn suy nghĩ và nghi ngại.

Ăn xong, Loan rủ nó :

- Nước trong và mát lắm, hai anh em mình xuống tắm đi anh Thập ơi ?

Nghe Loan nói thế, nó càng nghi ngờ tợn.

Nó vội nói :

- Em cứ tắm đi !

Anh nghỉ một lát.

Loan chọn một mô đá hơi khuất, cô cởi bỏ quần áo rồi nhào xuống nước.

Tiếng nước vỗ ì oạp trên da thịt người con gái, làn da trắng nõn, lang láng nước và nhập nhòa ánh nắng vàng cứ ẩn hiện thấp thoáng sau mỏm đá làm nó gai hết cả người.

Rừng vắng, chim hót líu lo, gió hiu hiu thổi, dưới kia, một người con gái khỏa thân trong làn nước mát mời gọi nó.

Cái đầu nó tưởng tượng ra mọi thứ mà một chàng trai trẻ đang ham muốn.

Nhưng nó đấu tranh tư tưởng và nó sợ, "Thiên Nga Trắng", ôi! là "Thiên Nga Trắng".

Nó không dám làm gì mà cũng chẳng dám động cựa.

Nó giả vờ ngủ, tay đặt vào bao súng.

Tắm xong, Loan mặc quần áo chỉnh tề rồi bảo nó :

- Nước mát lắm, anh xuống tắm đi !

Em trông đồ cho.

- Cảm ơn em !

Anh nghỉ thế là được rồi.

Thôi, mình đi tiếp đi, kẻo tối không đến nơi.

Hai đứa lại lên đường, Loan đi trước, nó đi sau, mải miết.

Khi hoàng hôn buông xuống cũng là lúc chúng đến được tổ đường dây Cha Vat.

Từ Cha vat đến Ta Bhinh

Cả 3 thằng ở tổ đường dây Cha Vat đều là đồng hương của nó.

Chúng đứng trên đồi đợi nó đã lâu nên khi Loan và nó đến chân đồi thì ba đứa nhìn thấy ngay.

Chúng khua chân, múa tay, hét um lên chào mừng nó.

Mừng quá, bao nhiêu mệt nhọc chừng như tiêu tan đâu hết, nó rảo chân leo nhanh lên đồi.

Tới nơi, chúng tíu tít bắt tay nhau, mấy đứa vừa hạ ba lô cho nó vừa tranh nhau hỏi chuyện và không quên đưa ánh mắt về phía Loan dò hỏi.

Nó sợ đồng đội hiểu lầm, vội giải thích ngay về Loan.

Mấy thằng hiểu ra, chào hỏi, bắt tay Loan rất vui vẻ.

Tổ đường dây Cha Vat nằm trên sườn của một quả đồi đất đá, ẩn mình sau mấy tảng đá to, xung quanh um tùm cây cối.

Ngôi nhà lá nhỏ nằm áp sát với sườn đồi, phía trước có một khoảnh sân nhỏ.

Cuối sân căng dây phơi quần áo và khăn mặt.

Phía ngoài dây phơi là mấy luống rau xanh và mấy khóm hoa.

Loan rửa ráy chân tay ở "vòi nước máy", còn nó chạy xuống khe suối tắm một trận đã đời.

Nó tắm xong, lên đến nơi thì đã thấy trong nhà có đèn sáng.

Ánh sáng tỏa ra từ một cáí đèn dầu làm bằng lọ thuốc có nắp kim loại.

Nắp lọ được đục một cái lỗ để luồn sợi bấc qua.

Dưới ánh đèn, nó thấy một mâm cỗ thịnh soạn được bày biện cẩn thận, thịt gà này, thịt dúi rừng nướng này, thịt dúi nấu rựa mận này, . . . .

Gà thì tổ có nuôi một đàn, còn dúi rừng thì anh em mới bẫy được.

Chà !

Lại còn có cả một chai rượu nữa.

Hỏi ra mới biết đó là rượu ngô mà anh em tự ủ men và nấu lấy.

Nhìn thấy loòng boong, nó hỏi :

- Kiếm đâu ra loòng bong thế này ?

- Biết tin cậu đến, hai thằng này nó phải đi mất hai ngày để kiếm đấy.

- Các cậu làm tớ cảm động quá, vãi cả "nước đái" rồi đây này.

Anh em ăn uống vui vẻ, no say tới khuya.

Rượu đã ngấm, đứa thì gõ bát, đứa thì gõ vung xoong, chúng say sưa hát tốp rồi hát đơn.

Loan cũng tham gia hát mấy bài, cô hát cũng khá hay.

Mãi rồi cuộc vui cũng đến lúc kết.

Chúng dành cho Loan ngủ riêng một mình một sạp nứa, bốn thằng chúng nó ngủ trên một cái sạp rộng hơn, ở phía đối diện.

Vừa mệt, vừa say, nó ngủ liền một mạch đến tận 7 giờ sáng hôm sau, các bạn lay, nó mới tỉnh.

Ăn sáng xong, nó căng phông bên hiên nhà, chuẩn bị máy ảnh và đồ lấy vân tay, trong khi mấy đứa vội vàng cắt sửa tóc cho nhau.

Chụp ảnh, lăn tay, ghi đặc điểm nhận dạng xong thì mới hơn 9 giờ.

Chơi thêm một lát với các bạn rồi nó tạm biệt để đi tiếp sang tổ Ta Bhinh.

Mỗi tổ trong rừng rậm chỉ cách nhau khoảng 15-20 cây số.

Nơi nào đường dễ đi thì các tổ có thể ở cách xa nhau đến 30-40 cây.

Vùng này là khu vực núi non hiểm trở nên các tổ chỉ cách nhau 15-18 cây.

Các tổ đường dây đã nhận được kế hoạch làm chứng minh thư quân nhân và có nhiệm vụ đưa đón nó.

Tổ nào xong thì có nhiệm vụ tiễn nó một nửa quãng đường đến tổ kế tiếp.

Tổ kế tiếp phải cử người đón nó trên nửa quãng đường còn lại.

Sáng hôm đó, thằng Đông đưa nó đi.

Loan lại là người đi trước, nó đi giữa và thằng Đông đi sau "cản hậu".

Ba đứa hành quân liên tục đến khoảng hơn 1 giờ chiều thì gặp thằng Huấn, tổ Ta Bhinh tới đón.

Mấy anh em nghỉ ngơi và nói chuyện một lúc thì chia tay Đông.

Ba người đi tiếp đến khoảng 2 giờ thì tới điểm chia tay với Loan.

Loan rẽ vào Trại Phục Hồi Nhân Phẩm, cách đường đi của nó không xa.

Đó là nơi quản lý giáo dục mấy trăm chị em làm "nghề" thời "Mỹ-Ngụy".

Trên đường đi, Huấn hỏi chuyện về Loan, nó vui vẻ kể lại chuyện, nhất là đoạn "tắm tiên".

Thằng Huấn chăm chú nghe đến đó thì cười lớn :

- Mày ngu bỏ mẹ !

Sợ chó gì ?

Chả phải tay tao.

Tiếc thật ! trông con nhỏ xinh

mà "khêu gợi", hấp dẫn quá !

Nói rồi, thằng Huấn "chẹp chẹp" miệng, còn nó chỉ biết cười, chẳng nói thêm được gì.

Quả thật, không phải không có lúc nó đã thấy tiêng tiếc.

Nó cứ tưởng chỉ là 15-18 cây số, ai dè, khi tới được tổ Ta Bhinh thì đã nhọ mặt người.

Đi suốt từ mười giờ sáng, trừ thời gian nghỉ, cứ cho là mỗi tiếng đi được bốn cây số đường rừng thì quãng đường cũng phải 25-26 cây số.

Rất có thể con số 15-18 cây là con số các thủ trưởng lấy compa đo trên bản đồ.

Đường đi thật, ngoằn nghoèo, dài hơn nhiều.

Một mình

Anh em tổ Ta Bhinh đón nó cũng tình nghĩa chẳng kém tổ Cha Vat.

Nhưng khi nó vừa tới nơi thì trời mưa tầm tã, không lúc nào ngớt.

Nước từ trên rừng núi cao đổ xuống ầm ầm khắp các con suối.

Nó không thể đi tiếp được và bị kẹt lại 4 ngày liền.

Chuyện không chỉ có vậy, sang ngày mưa thứ hai, cả tổ ba thằng, không ai bảo ai, lăn ra sốt rét.

Mấy thằng nằm rên hừ hừ, lúc sốt nóng, lúc sốt rét.

Có bao nhiêu chăn màn quần áo mang ra đắp hết mà bọn chúng vẫn rét run cầm cập.

Mấy đứa liên tục gọi :

- Thập ơi ! cho tao uống nước.

Vậy là nó bỗng dưng trở thành anh nuôi, vừa là y tá, vừa là hộ lý.

Nó lấy thuốc sốt rét anh Hiệu cho, đưa bọn bạn uống mà cũng không mấy giảm sốt.

Nó vừa buồn, vừa sốt ruột.

Ba thằng "thổ dân" chủ nhà thì nằm một chỗ, nó thơ thẩn một mình không có gì để làm, không có gì giải trí, buồn nẫu ruột.

Sang ngày thứ 5 thì mưa tạnh hẳn mà mấy đứa nghe chừng cũng đã đỡ hơn.

Nó dựng mấy đứa dậy để chụp ảnh, lăn tay, . . . .

Xong việc, nó chuẩn bị hành trang để đi tiếp sang tổ khác thì mấy đứa đều gàn :

- Mày chờ vài hôm nữa, chúng tao đỡ sốt, sẽ đưa mày sang A Rô (A Ro).

Đường càng vào sâu

càng hiểm trở và khó đi lắm, Mày lại còn phải vượt qua sông Boung mà không biết bơi

(sông Boung, bây giờ trên bản đồ ghi là sông Bung).

Không biết đường, không đi được đâu !

- Tao ở đây đã 5 ngày rồi, sốt ruột lắm rồi.

Chờ chúng mày hết sốt thì tao ốm luôn.

Cứ chỉ

đường cho tao và báo cho bọn bên A Rô đưa thuyền sang đón là được. – Nó quyết liệt nói.

- Nếu mày quyết thì tùy mày thôi !

Nhưng bọn tao áy náy vì không đưa được mày.

Đường khó

đi lắm, không khéo lạc.

- Không sợ đâu !

Tao biết rồi.

Cứ theo đường dây, đi kiểu gì chẳng đến.

- Ầy !

Không đơn giản thế đâu bố ạ.

Đường mòn nó đi vòng vèo có lúc mất dấu đường dây đấy.

– Huấn nói.

- Thôi đừng gàn nữa, xui xẻo lắm.

Cứ vẽ đường cho tao và bảo bọn A Rô chiều nay mang thuyền

sang đón.

Nói xong, nó phăng phăng thu xếp tư trang hành lý lên đường.

Thấy nó cương quyết quá, các bạn đành để nó đi.

Chúng ăn cơm sớm.

Nó cố gắng ních vài bát cho đầy bụng để còn đi đường xa.

Ăn xong, Thằng Huấn nhét đầy sắn vào hai cóc ba lô của nó.

Sắn của bọn này rất ngon, thứ sắn dẻo và rất ngọt.

Nó lục ba lô, còn 2 hộp thịt, 4 bánh lương khô, ít thuốc sốt rét, nó để lại cả cho các bạn.

- Thôi chúng mày mau chóng khỏi sốt nhé !

Tao đi đây.

Lúc đó đã là khoảng 10 giờ sáng.

Nếu nó đi nhanh mà không nghỉ thì có lẽ cũng kịp đến A Rô trước khi trời tối.

Theo lời dặn của các bạn, nó cứ bám đường mòn mà đi.

Đi được một chặng khá xa thì đường mòn bắt vào một con đường ô tô cũ đã bỏ hoang lâu ngày.

Nó cứ thế mà thẳng tiến.

Khoảng 2 giờ chiều, nắng đang gay gắt, nó chọn được một phiến đá khá phẳng nhô ra ở cửa một cái hang rộng, sấp bóng nắng.

Nó dừng lại lấy sắn ra ăn rồi uống nước.

Nó châm một điếu thuốc hút, cảm thấy rất khoan khoái.

Mồ hôi ướt đẫm áo, thế mà ngồi một lúc trên phiến đá, gió từ thung lũng lồng lộng thổi lên, áo nó gần như đã khô.

Nó đẩy dịch ba lô ra, hạ mũ cối xuống làm gối, ngả lưng một chút.

Rừng chiều yên ắng, cây cối im lìm, thỉnh thoảng vài đợt gió rung cây lá lao xao.

Đây đó có tiếng chim hót lảnh lót.

Nó thiu thiu ngủ lúc nào không biết.

Bất chợt tỉnh giấc, nó nhìn đồng hồ thì đã là gần 4 giờ.

Nó tự trách mình không có nghị lực, đường còn xa, ở rừng đêm xuống rất nhanh mà còn biết bao nhiêu đường đất, thế mà nó lại ngủ.

Nó nhỏm dậy, xốc ba lô lên vai rồi lại hối hả lên đường.

Nó cứ mải miết đi trên mặt lộ bỏ hoang, đi mãi, đi mãi.

Nó không thể nhận ra con đường mòn của tổ đường dây rẽ khỏi con lộ này từ chỗ nào, cứ thế nó tốc theo con đường mòn chạy dọc trên con lộ.

Nó không hề biết nó càng ngày càng rời xa con đường đi đến tổ đường dây A Rô.

Con gà ma

Đang cung cúc đi, bất chợt nó nhìn thấy phía trước có một con gà rừng đen trũi đang đủng đỉnh kiếm mồi trên đường.

Nó từ từ tiến lại phía con gà, định bụng khi đến đủ gần sẽ vồ lấy.

Nhưng con gà rất bạo dạn và khôn ngoan, không để cho nó lại gần.

Nó tiến đến từ từ thì chú gà cứ lững thững mà đi.

Nó lao đến nhanh thì chú gà cũng chạy nhanh, luôn giữ khoảng cách để cho nó không thể vồ được.

Nó thì không bắt được gà mà con gà cũng không thèm chạy.

Nó rút súng, vừa đi vừa mở chốt an toàn rồi ngắm.

Viên đạn nổ cày đất ngay sau đít con gà.

Con gà không thèm ngoái lại vẫn lững thững đi.

Nó nổ súng phát thứ hai, rồi phát thứ ba vẫn không trúng.

Lần này nó dừng hẳn lại, hai tay giương súng lên, nó nhằm con gà rồi nghoéo cò.

Viên đạn sượt qua, làm tung một nhúm lông và tóe một chút máu của con gà.

Bây giờ con gà mới hoảng hốt nhận ra nguy hiểm, chú co cẳng chạy vào đám cỏ tranh bên đường.

Con gà chạy nhưng nó vẫn nhìn thấy thấp thoáng.

Nó liền đuổi theo, truy kích đến cùng.

"Tao bắt được mày, tối nay sẽ liên hoan với các bạn".

Nghĩ vậy, nó thấy nó sắp được ba hoa, bốc phét về tài săn gà của nó với các bạn, nó càng quyết liệt đuổi theo.

Càng đi xa khỏi con đường, cỏ tranh ngày càng rậm rạp và cao, lại thêm dây leo nhằng nhịt chỗ này chỗ kia.

Nó cứ thế đuổi theo hút của chú gà, không biết đã được bao nhiêu đường đất.

Rồi nó không còn nhìn thấy dấu vết gì của con gà nữa.

Đó cũng là lúc nó nhận ra nó đã đi quá xa khỏi con đường.

Xung quanh nó, cỏ tranh dầy và cao vượt đầu người.

Nó không còn nhìn thấy gì ngoài cỏ tranh và cỏ tranh, bít bùng bao bọc bốn phía.

Nó tìm lại dấu chân của chính nó để tìm cách quay lại con đường lớn mà cũng không còn nhận ra đâu là dấu vết do nó để lại, đâu là sóng cỏ nghiêng ngả do gió.

Nó hoàn toàn mất phương hướng.

"Chết cha !

Mình đuổi theo con gà loằng ngoằng quá, bây giờ không còn nhận ra hướng nào là hướng quay lại con đường nữa.

Toi rồi !"

Nó quay qua quay lại , kiễng chân lên để nghiêng ngó mà không thấy gì ngoài bạt ngàn cỏ tranh và dây dại.

Nó bắt đầu hoang mang rồi dần dần hoảng loạn.

Sau này nó cứ nghĩ mãi về con gà đen đó.

Đúng là một con gà ma quái, đã không sợ người thì chớ, lại còn không thèm sợ cả súng nổ.

Thật là lạ lùng !

Chắc hẳn con gà là nơi trú ngụ của một vong hồn oan khuất từ ngày chiến tranh.

Hồn ma đó cứ lảng vảng trên con đường bom đạn ngày xưa để dụ dỗ người đi lạc và dẫn dắt vào cõi hư vô bất định.

Nó đã bị con gà ma dẫn lối, đưa đường ?!

Mãi rồi, nó cố trấn tĩnh để suy nghĩ xem có cách gì thoát được ra.

Nó biết nó đã đến gần con sông.

Nó căng tai lên để nghe tiếng nước chảy mà không nghe được vì bốn phát súng mà nó bắn âm vang vẳng đi vẳng lại trong rừng núi và làm cho tai nó bây giờ vẫn có tiếng u u . . . .

Giờ lâu, nó nhắm mắt lại, bịt tai một lúc rồi từ từ mở từng tai.

Nó căng hết thính lực xác định nơi phát ra âm thanh nước chảy.

Hình như tiếng nước chảy ở bên tay phải nhiều hơn, chả chắc chắn lắm.

Để kiểm tra, nó đứng nguyên tại chỗ, quay 180 độ, lại bịt tai nhắm mắt rồi lại mở một tai.

Lần này âm thanh đúng là bên tay trái nhiều hơn.

Cuối cùng, nó quay mặt về hướng đó, căng hai tai ra thì nó thấy đúng là tiếng nước chảy ở phía trước mặt.

Dần dần nó nghe rõ hơn tiếng rào rào, ì ì của nước chảy dưới sông.

Đồng hồ đã chỉ 5 giờ 30 chiều, nắng tàn đã sắp tắt hẳn, sương mờ nhè nhẹ bắt đầu dâng lên trong khe núi.

Nó phải gấp rút chạy đua với thời gian không thì tối đến nơi.

Trong lòng sợ hãi vì nó đã được báo trước khu vực này có hổ.

Không còn cách nào khác, nó cứ vạch cỏ tranh mà tiến thẳng về hướng dòng sông.

Mới đi được hơn chục mét, thì nó gặp con đường lớn bỏ hoang lâu năm, cỏ tranh trên mặt đường cũng ngút ngàn như những chỗ khác.

Nó đi cắt ngang mặt đường thì bất ngờ nó bị hẫng một phát, lăn lông lốc xuống một cái bờ vực. . . .

Không biết là nó đã bị lăn xuống bao xa.

May mà cỏ tranh dày đã nâng đỡ cho nó và càng may hơn khi nó lăn xuống một cái hố, "hự" một tiếng thì nó dừng lại.

Cái hố sâu chừng một mét đã cản nó lại.

Định thần lại, nó nhìn thấy một cành cây khô vắt ngang mặt hố.

Nó túm cành cây để đu lên thì cành cây gãy "rắc" một cái.

Nó đành túm chặt lấy đám cỏ tranh trên miệng hố, hai chân đạp hai bên, nó nhích lên từng tí một cho đến khi thoát khỏi cái hố.

Lên khỏi hố, nó ngồi thở dốc.

Nghỉ một lát, nó xác định lại phương hướng rồi tiếp tục xuống dốc để tới bờ sông.

Tiếng nước chảy nghe ngày càng gần làm cho nó cảm thấy phấn khởi.

Nó đã đi đúng hướng.

Đã bớt dốc hơn trước, nó bắt đầu chạy, cắm cổ mà chạy, đua với thời gian.

Nó ngã lên, ngã xuống, ngã sấp, ngã ngửa nhưng nó vẫn chạy.

Gai cào rách cả quần áo nó.

Hai bàn tay nó cũng bị gai và cỏ tranh cứa tóe máu.

Mặc kệ, nó vẫn phăm phăm lao xuống.

May mắn cho nó, khi trời nhá nhem thì cũng là lúc nó tới được bờ sông.

Nó nhìn thấy nước chảy cuồn cuộn ở một khúc sông hẹp và nó cũng tìm thấy một con đường mòn ven sông, hẳn là nhiều người vẫn đi lại hàng ngày.

Nó liền rảo bước đi theo đường mòn.

Được một đoạn thì tới một gốc cây cổ thụ.

Đó là một cây sung rừng đứng sừng sững ven sông, trái sung to như quả trứng gà, chín mọng, đỏ ối.

Dưới gốc sung có một phiến đá to, bằng phẳng.

Nó sung sướng ngồi lên phiến đá, ngả lưng tựa vào cây sung, tự thưởng cho thành công của mình.

Một mình trên sông nước ban đêm

Nó kiểm tra lại quân tư trang và khí tài máy móc.

Súng, dao găm, bi đông đeo trên người vẫn còn, máy ảnh, phim, bộ lăn tay còn nguyên, bật lửa, thuốc lá còn.

Khi sờ đến hai túi cóc hai bên thì ôi thôi, bao nhiêu sắn luộc đã rơi mất hết.

Hú hồn !

May mà không rơi súng.

Nếu rơi súng, mai nó phải quay lại để tìm thì thật là kinh hãi.

Mà nếu mất súng, chắc chắn nó sẽ bị kỷ luật nặng.

Nó đứng thẳng trên tảng đá hú to mấy lần để gọi đồng đội đi thuyền tới đón nó.

Tiếng hú vang dội, vọng đi vọng lại trong núi rừng.

Tuyệt nhiên, không có một tiếng trả lời.

Nó hú nhiều lần thì vẫn chỉ nghe tiếng vọng của chính nó.

Rồi thì rừng núi cũng nhanh chóng nuốt dần "tiếng hú gọi bầy" của nó.

Đêm đen trở lại tịch mịch với những tiếng động của rừng núi, sông suối đại ngàn, âm âm, u u bất diệt vốn có.

Mà, ở trong đó, con người luôn là một thứ nhỏ bé, đơn độc, . . . . quẫy đạp một cách vô vọng.

Vậy là nó đã lạc quá xa điểm hẹn với các đồng đội.

Không còn có thể trông chờ gì, nó phải tự xoay xở để lo cho mình.

Việc đầu tiên nó phải lo là bữa ăn tối.

Từ lúc 2 giờ chiều đến giờ với vài miếng sắn, bây giờ nó đã đói mềm.

Thôi thì, sung chín ngay trên cây, tạm làm thức ăn chống đói chả phải là quá tốt sao ?

Nó ôm cây sung leo lên, tới một cành cây to nhất, nó bò theo cành cây ra một cái chạc lớn và vững chãi.

Ngồi trên chạc cây, nó nhoài người ra với chùm quả sung đỏ mọng.

Tay nó vừa hay túm được chùm quả, nó cố vặn đứt cuống để lấy cả chùm.

Đang khi hí hửng vì "miếng ngon đã tới miệng", thì bất ngờ, không biết cơ man nào là kiến lửa, đang hút mật từ chùm quả chín, rần rần lao ra.

Những con kiến lửa "đại vương" to như đầu que diêm, cứ thế xông tới bám lấy nó, chạy vào tay áo, vào cổ, vào người, chui cả vào tóc nó, . . . . và dường như nhất loạt thiêu đốt nó, nhoi nhói khắp mọi nơi.

Nó cuống cuồng buông tay hái sung để phủi lũ kiến.

Bất đồ, mất thăng bằng, cả người nó lạng đi.

Nó rơi tự do từ độ cao khoảng 5 mét.

Giây phút đó, nếu nó kịp nghĩ là nó sắp rơi xuống tảng đá lớn ở bên dưới thì không biết nó có kịp nghĩ, rằng đầu nó sẽ đập trên đá như thế nào ?!

May là nó không kịp nghĩ gì và may hơn là nó không rơi vào tảng đá.

"Giời thương" đã đỡ nó bằng một đám cây lúp xúp rậm rạp, chỉ cách tảng đá không đầy một mét.

Nó lồm cồm bò dậy, sờ nắn khắp mọi chỗ thấy không bị thương ở đâu, . . . .

"Phù . . . . !

Phúc tổ bảy mươi đời !"

Nó nhảy khỏi bụi cây, cởi vội quần áo, khua khoắng loạn xạ để rũ kiến.

Khắp người nó, từ đầu cho đến thắt lưng, kiến cắn sưng vù, ngứa ngáy và đau rát.

Thoát khỏi đàn kiến nhưng nó hết mọi hy vọng kiếm được bữa ăn đêm nay.

Lấn bấn một hồi, nó đành quyết tâm tìm cách vượt sông tìm đường về tổ đường dây.

Ngặt một nỗi, dòng sông thì chảy siết mà nó lại không biết bơi.

Làm sao đây ?

Trời đã tối hẳn, trăng 16 đang lên, chiếu ánh sáng lờ mờ hư ảo xuống mặt nước nhóng nhánh, lốm đốm lóe sáng như ánh sao.

Rừng đêm yên tĩnh với những tiếng thì thầm, xào xạc của thú đi kiếm ăn đêm, tiếng rỉ rả của côn trùng.

Đâu đó là tiếng hoẵng kêu thảng thốt xa xăm, rồi chốc chốc lại vẳng lên tiếng khắc khoải của chim "bắt cô trói cột", . . . .

Cái bụng đói meo của nó bắt đầu réo, người nó sứt sẹo vì gai đâm, sưng vù vì kiến cắn.

Nhưng, trên hết tất cả các cảm giác nhục thể, nó cảm thấy trong lòng hoang vắng, trống trải và cô đơn.

Tự đâu đó làm nó trạnh nhớ đến những ngày trẻ thơ tươi đẹp ở quê nhà, nó nghĩ đến thày nó và nghĩ đến Hợi, . . . .

Một nỗi buồn da diết tràn ngập tâm can.

Rồi nó tự nhủ "Mình còn sướng chán !

Đã thấm gì so với sự ác liệt và gian khổ của các bậc đàn anh đi trước, thấm gì so với các đồng đội của nó đang sốt rét, cô đơn giữa rừng bấy lâu nay.

Dù gì, mình còn may mắn chán . . . . !"

Nó xốc ba lô lên vai, đi theo đường mòn men sông, hy vọng tìm được chỗ để mai có thể qua sông hay chí ít thì cũng tìm được chỗ ngủ qua đêm.

Càng đi, nó càng thấy con sông mở rộng ra và nước chảy ngày càng chậm hơn.

Đi được quãng dăm trăm mét, trước mặt nó hiện ra một cái vũng nhỏ ăn sâu vào bờ sông, nước tĩnh lặng không chảy.

Nó mừng rơn khi phát hiện ra trong vũng có một cái bè.

Đến gần hơn, nó thấy cái bè được buộc vào một sợi dây cáp lớn căng từ bờ bên này sang bờ bên kia.

Dưới ánh trăng, nhìn xuống sông, nước rất trong, nó nhìn thấy cả đá dưới đáy sông.

Quãng này nước nông, chắc có thể lội được nên người ta làm thành cái bến vượt để qua lại hàng ngày.

"Nhờ Giời, tốt quá rồi !

Mình phải vượt sông thôi."

Nó lội xuống nước kiểm tra bè.

Cái bè rất tốt.

Nó cởi ba lô, đặt lên bè rồi trèo lên.

Nó chưa kịp trèo lên hết thì chiếc bè đã chao nghiêng đi và chìm xuống.

Nó mất thăng bằng và ngã tùm xuống nước.

Thì ra cái bè này chỉ để chở đồ, người phải lội và đẩy bè sang.

"Gay đây !

Mình không biết bơi.

Nhỡ đâu khi ra xa, nước ngập đầu thì chắc là thành Nguyễn Trọng Thập liệt sỹ mất . . . .

Mà không qua sông, nhỡ đêm nay hay sáng mai mà có mưa thì nước sông sẽ dâng cao, phải chờ mấy ngày ở bờ bên này, chắc mình sẽ chết đói mất.

Mình qua được sông, may ra còn có cơ hội đồng đội đi tìm . . . ."

Đấu tranh tư tưởng một hồi, nó quyết định, thôi thì "Một liều, ba bảy cũng liều !".

Lôi từ trong ba lô ra một chiếc túi ni-lông (nylon) to chuyên dùng để vượt qua sông, nó cho tất cả ba lô, súng đạn, linh tinh mọi thứ vào trong, kể cả bộ quần áo đang mặc.

Nó chỉ còn đánh độc cái quần đùi.

Nó lấy hơi thổi hơi căng cái túi rồi buộc túm miệng túi lại, theo đúng bài bản huấn luyện vượt sông.

Cái túi đồ căng hơi biến thành một cái phao, nếu cần thiết có thể bám vào để khỏi chết đuối.

Cuối cùng, nó lấy sợi dây dù buộc chặt túi đồ vào bè.

Chừa lại một đoạn dây, nó vòng qua sợi dây cáp rồi buộc lại vào cái bè.

Vậy là cái bè đã được liên kết lỏng với sợi cáp để dễ dàng di chuyển theo sợi cáp mà không thể trôi khỏi sợi cáp.

Phải nói thêm là, trước khi cất dao vào túi đồ, theo đúng "bài bản", nó đã lên bờ kiếm một cây dóc dài.

Nó chặt cây dóc, róc hết mấu và vạt bớt ngọn, làm thành một cái gậy dài chừng 2,5 mét.

Cây gậy vừa để dò độ sâu của nước vừa làm thành cái chân thứ ba khi lội nước cho thêm chắc chắn và vững vàng.

Xong xuôi mọi việc, nó bắt đầu vượt sông.

Nó đẩy cái bè lên phía trước, nách trái kẹp chặt dây cáp, tay phải nó chống cây dóc xuống đáy sông, chân lùa nhẹ dưới nước, bước lên từng bước một.

Nó thấy cách này có vẻ ổn và bắt đầu bước tới.

Lòng sông toàn đá tảng trơn nhẫy, chiếc gậy chống quả là hữu hiệu, nó từ từ di chuyển theo dây cáp một cách chắc chắn.

Làn nước mát mơn man nhẹ chảy, gió hây hẩy lả lướt trên mặt sông làm nó tỉnh cả người.

Thận trọng từng bước chân, nó đẩy bè trôi nhẹ về phía trước.

Hai chân vẫn chạm đất, nước chỉ đến ngực nó, nhưng càng ra xa nước càng sâu và lạnh.

Nó vốn đã sợ nước, mắt nó chăm chăm nhìn thẳng theo sợi cáp, e rằng, nếu nó nhìn ngang với tầm mắt thấp, thấy dòng nước mênh mông nó sẽ hoảng sợ.

Ra đến giữa dòng, nước chảy mạnh, nó đưa chân bước lên thì bị nước đẩy choãi ngang theo dòng.

Nó rất sợ, nhưng rồi nó lựa theo dòng mà bước ngược theo chiều nước chảy, nước đẩy chân nó lại là vừa kịp lúc chạm tới đá.

Tốt rồi, cứ thế nó nhích từng tí một.

Tiến thêm một đoạn nữa thì chân nó bắt đầu chới với rồi không còn chạm tới đáy nữa.

Nó không di chuyển nữa, nách nó càng kẹp chặt lấy sợi cáp, tay phải thì khư khư chống cây gậy suống đáy nước.

Nó không biết phải làm gì mà cũng không biết nó đang chờ đợi điều gì.

Nó hoảng sợ thực sự, "Không có lẽ mày là liệt sỹ theo cách như thế này chứ ?!".

Thời gian nó chết cứng như vậy không biết là mấy giây hay mấy phút.

Nhưng rồi, nó thấy chẳng có gì xảy ra với nó cả.

Còn sợi cáp đây, còn cái bè và cái phao nổi đấy, chẳng thể chết được.

Nách trái vẫn kẹp vào dây cáp, nó đu nửa người lên bè.

Chiếc bè nghiêng đi nhưng do có thêm cái phao ba lô nên vẫn nổi.

Thấy có vẻ chiếc bè không bị chìm thêm, nó nằm im, vung sào từ từ đẩy bè đi.

Chiếc bè trôi đi thật, chân nó chơi vơi, quào quào trong nước.

Nó tiến thêm được một đoạn nữa khá xa thì ngón chân nó lại chạm vào đá.

"Ồi !"

Nó thở phào một tiếng rồi đứng trở lại trên đá.

Nó thấy nước chỉ ngập tới ngực, thế là thoát.

Bây giờ nó nghĩ ra cách di chuyển mới, nằm nửa người trên bè, chân khỏa nước, lấy sào đẩy đi.

Cách này làm nó đi nhanh hơn thật.

Nó càng tự tin, cứ thế đẩy bè đi.

Đã gần tới bờ bên kia, nó mạnh dạn thử đứng xuống thì nước chỉ còn đến bụng.

"Sống rồi !".

Nó thực sự từ cõi chết trở về.

Tiếng ma trong rừng đêm

Tới bờ, nó buộc lại bè vào dây cáp, khuân cái bọc nylon lên chỗ khô ráo.

Nó tháo nylon, lấy ba lô và đồ đạc ra, rồi nó mặc lại quần áo chỉnh tề.

Chiếc quần đùi ướt nó nhét vào túi cóc, thay quần mới.

Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, nhìn đồng hồ thì đã là 8 giờ 30.

Nó nhìn lại phía dòng sông, nước bàng bạc lấp lóa dưới ánh trăng.

Từ bên này sang bờ bên kia, ngược sáng nên thấy rất xa.

Thì ra là nó vượt sông Boung từ bờ đông sang bờ tây.

Nó tự thấy mình "vĩ đại thật", không biết bơi, "lạ cái lạ nước", một mình trong đêm mà đã vượt được qua sông.

Chuyện không thể quên !

Nó đeo ba lô rồi trèo lên bờ sông để quan sát suốt một lượt xem có thấy dấu tích đồng đội đi đón nó hay ít ra cũng là dấu tích có người ở quanh đâu đây.

Không hề có một "chớp lóe" nào để nó hy vọng.

Nó hú lên một hồi dài.

Tiếng hú vẳng đi vẳng lại âm âm a a . . . .

Không có tiếng trả lời.

Nó hú thêm vài lần và biết là đêm nay nó sẽ phải "sinh tồn" một mình trong rừng.

Súng đeo bên mình, tay trái nó cầm đèn pin, tay phải nó nắm chắc con dao găm.

Nó đi tìm chỗ ngủ qua đêm.

Nó tìm đến chân một quả đồi lớn trong rừng già có nhiều cây cối rậm rạp.

Lia đèn pin hết chỗ này qua chỗ khác để tìm một nơi khô ráo mà mắc võng.

Bất chợt nó nhận ra một cây to cổ thụ ngay gần đó, gốc cây lại rỗng.

Đến bên gốc cây, nó thấy trong hốc cây có vài tảng đá lớn xếp bằng phẳng, cao hơn nền đất đến năm chục phân.

Trên đá còn có lá cây khô phủ một lớp, thành một cái giường êm ái.

Để trèo lên giường còn có vài bậc đá kê rất cẩn thận.

"Ổn rồi !

Cảm ơn ai đó !".

Nó đặt ba lô xuống, soi đèn pin kiểm tra khắp một lượt cái hốc cây đề phòng có rắn rết.

Tốt thật, nếu Trời có mưa thì nằm đây cũng không bị ướt.

Nó cẩn thận xếp gọn ba lô vào trong cùng rồi chặt thêm các cành lá mới để trải thêm lên trên cho sạch.

Nó ngả lưng và rút thuốc ra hút.

Nằm một lúc, thấy chưa yên tâm, nó nhỏm dậy, chặt thêm vài cành cây to tấp vào cửa hang đề phòng thú dữ.

Lần này, nó đã yên tâm, vừa đặt lưng xuống thì cơn buồn ngủ ập đến.

Cho dù bụng nó rất đói, nhưng nó quá mệt, không thể cưỡng lại được cơn ngủ, nó đắm chìm ngay lập tức vào giấc ngủ mê mệt.

Nó ngủ say như chết một giấc dài, không biết là bao lâu, cho đến khi nó giật mình tỉnh giấc vì bị rét.

Sương nặng hạt như mưa phùn đã bao phủ kín xung quanh.

Khắp nơi vo ve tiếng muỗi, nhiều vô kể.

Bọn muỗi hôm nay được bữa no nê đang ca bài ca bât tận của chúng.

Nó định sẽ ngủ tiếp, thây kệ bọn muỗi, nhưng mắt nó cứ ráo hoảnh, không thể nào bắt được vào giấc ngủ.

Đột nhiên nó thấy hơi thở nong nóng.

"Mình sốt thì phải ?".

Nó mở cóc, lần tìm thuốc cảm cúm mà anh Hiệu đã cho nó, nhưng hỡi ôi, bao nhiêu thuốc và sắn đã rơi mất hết.

Nó thấy khát đắng cả cổ họng, lục tìm bi đông nước thì bi đông cũng rỗng không.

Nó chui ra khỏi hang, châm điếu thuốc hút.

Bỗng nhiên nó rùng mình.

Ngoài Trời gió lạnh, mưa lay phay.

Kiểu này khéo nó ốm mất.

Nó làm vài động tác thể dục, rồi chạy tại chỗ cho nóng người.

Chợt nó nghe thấy ở đâu xa lắm vọng lại tiếng người láo nháo, có cả tiếng cười, . . . .

Và, hình như có cả cả tiếng con gái hát nữa thì phải.

Nó giỏng tai nghe ngóng thì lại không thấy gì nữa.

Nó định xuống sông lấy nước uống thì lại nghe thấy tiếng cười văng vẳng, xa xăm, rờn rợn.

"Chẳng có nhẽ mình sốt đến mức mê sảng?

Hay là ma trơi đang trêu đùa mình ?

Đang đêm thế này gái nào mà cười khanh khách như thế !

Chả lẽ là ma thật ?!"

Nó trấn tĩnh lại, tự nhủ, làm gì có chuyện ma cỏ ở đây, mà mình thì rõ ràng là không mê.

Nó đứng im, lắng tai nghe kỹ.

Khi một cơn gió ùa tới, nó nghe thấy rõ hơn.

Đúng là tiếng người, tiếng con gái đang nói chuyện và cười đùa khanh khách.

Nó không nghe rõ lời vì quá xa, còn tiếng cười thì rất rõ.

Nó rất mừng.

Bây giờ chỉ cần xác định chính xác nơi có người là nó sẽ đi tới.

Khi đã xác định được hướng có người, nó khoác ba lô lên vai, một tay cầm đèn pin, một tay nó cầm dao găm.

Nhằm hướng có người, nó vạch cây rừng, chặt các cây nhỏ và cỏ gai xông bừa lên, cứ thế lao tới.

Nó không thể đi theo đường mòn vì biết đường mòn có dẫn đến chỗ có người hay không.

Cũng may là sườn đồi khá thoai thoải và cao dần lên.

Hồi lâu nó cũng lên được tới đỉnh đồi.

Từ đây nó có thể nhìn ra các hướng xung quanh.

Trước mặt nó là một thung lũng lớn.

Dưới ánh trăng đang tàn nó nhìn thấy một đốm lửa lớn đang bập bùng.

Rồi nó nhìn thấy có vài bóng người đang lúi húi đi lại xung quanh, nói cười râm ran.

Nó vạch cây bước vội xuống phía có ánh lửa.

Đến gần hơn, nó nhìn rõ bốn cô gái đang nấu cơm sớm.

Chắc là mấy cô đang nấu cơm cho đơn vị, có thể là đơn vị nữ thanh niên xung phong chăng ?

Thế thì may quá cho nó, nó đã trở về với người, không còn phải "sinh tồn" một mình trong rừng nữa.

Khi khoảng cách chẳng còn bao xa, nó cứ soi đèn pin chạy ào tới.

Đang đà chạy nhanh bỗng nó khựng lại.

Một họng súng đen ngòm đang chĩa thẳng vào mặt nó.

Một giọng con gái sắc lạnh quát :

- Ai !

Đứng lại !

Giơ tay lên !

Nó vội giơ 2 tay lên trời :

- Tôi là bộ đội thông tin đi lạc đường.

- Đơn vị nào ?

Nói mật khẩu mau !

- Tôi ở trung đoàn 136 Bộ Tư Lệnh Thông Tin, đi làm chứng minh thư cho bộ đội.

Hôm qua đi lạc trong rừng, ngủ ở bên bờ sông.

Tôi không biết mật khẩu.

Ba cô gái nhìn nhau, một cô ra lệnh :

- Thủy và Hoan lấy súng dong lên nhà trung đội trưởng.

Thực hư gì lên đó tính sau !

Cô gái tên Thủy, đang cầm xẻng, nói "Vâng !".

Cô gái tên Hoan, đang nấu cơm, với tay xách khẩu súng AK, mở chốt an toàn, dí vào lưng nó quát :

- Đi !

Nó cầm đèn pin đi trước, hai cô theo sau, trên con đường mòn khá rộng.

Đi được có một đoạn ngắn nó đã thấy lấp ló sau những lùm cây um tùm là mấy cái lán.

Giờ này chắc gần 5 giờ vì đã có vài người dậy sớm đang để tập thể dục.

Hai cô gái chỉ cho nó bước lên mấy bậc tam cấp, vào một căn nhà lá cao nhất nằm ở giữa khu lán.

Trước nhà có một một cái sân rộng và vài luống rau.

Trung đội trưởng cũng là nữ.

Chị cao dong dỏng, trắng trẻo, tóc hơi quăn, trạc 30 tuổi.

Chị vặn to ngọn đèn bão trên bàn và bảo :

- Thủy với Hoan cứ xuống làm tiếp đi !

Để đồng chí ấy lại đây cho tôi.

Trung đội trưởng tự giới thiệu tên Thu rồi ra hiệu cho nó ngồi xuống, tháo ba lô ra và yêu cầu nó kể về mình.

Nó kể sơ qua việc đang đi làm nhiệm vụ và bị lạc rồi nó đưa giấy công tác, chứng minh thư cho chị Thu.

Chị Thu tin nó.

Chị nói :

- Anh vào phòng thay quần áo đi !

Anh ướt hết rồi.

Mà hình như anh đang sốt thì phải, tôi thấy

mặt anh đỏ lắm.

Thay xong đồ anh sang phòng khách kia nằm nghỉ.

Tôi bảo các em mang đồ ăn lên.

Chị quay ra cửa gọi :

- Cô Tình ơi !

Chạy xuống bếp bảo Lụa nấu ngay cho một nồi cháo, cho thịt hộp vào,

mang lên đây nhé !

Cô tên Tình "vâng" một tiếng rõ to, nhìn chị Thu, nháy mắt một cách nhí nhảnh rồi chạy vụt đi.

Nó thay quần áo rồi ra đầu nhà rửa chân tay.

Chạm vào nước nó thấy gai hết cả người.

Đúng là nó đang sốt cao.

Nó vội quay vào nhà và nằm vật trên chiếc giường một có trải một cái chiếu mốc meo trong phòng khách, chắc lâu ngày không có người sử dụng.

Hơi thở nó nóng hầm hập, mắt nó lim dim rồi nó lịm ngay vào giấc ngủ.

Nó mở mắt ra vì có ai đó lay nó.

Nó thấy chị Thu và cô Tình đang đứng cạnh giường.

Trên chiếc ghế bên cạnh, một tô cháo to đang bốc hơi nghi ngút.

Đang ốm mà nó cũng không thể cưỡng lại được mùi thơm của thịt hộp.

Mà lại còn cả mùi hành nữa mới tuyệt chứ, cám dỗ quá !

Chị Thu và Tình ân cần giục nó "ăn đi cho tỉnh".

Trời ạ !

Chí Phèo này lại được cháo hành thì tuyệt cú mèo.

Nó xúc động như vừa được về trong vòng tay thân ái của gia đình.

Đang đói lả, nó húp lấy húp để như "thằng chết đói năm bốn lăm", vừa ăn nó vừa thổi, xì xà xì xụp.

Cháo trôi vào tới đâu, người nó tỉnh ra đến đó.

Nó đánh một hơi hết bát tô to tướng.

Tình lại múc thêm từ trong xoong cho nó ít nữa, nó lại chén hết bay.

Nó ăn xong, chị Thu dặn :

- Đồng chí cứ ngủ đi !

Chốc nữa y tá khám, cho thuốc.

Chúng tôi sẽ tìm cách liên lạc với đơn vị đồng chí.

- Vâng ảm ơn các chị !

Nó lại nằm vật xuống gường.

Lần này thì nó ngủ li bì, mê man trong cơn sốt.

Kinh động đến cả trung đoàn

Nó bị lay dậy vì y tá đến khám.

Uống thuốc xong, nó lại nằm lăn ra giường, cứ thế nó thiếp đi trong cơn sốt mê man.

Thỉnh thoảng nó thấy dường như có người đắp khăn ướt lên trán nó.

Nó không buồn mở mắt, phần thì do mệt, phần thì chẳng biết nói gì.

Nó được quan tâm săn sóc, làm nũng một chút thì có chết ai ?!

Ba ngày liền nó nằm sốt ly bì.

Y tá Tâm, chị Thu, cô Tình và mấy chị nuôi chăm nó lắm.

Nào thì cháo gà, cháo cá, thuốc ngày 2 bữa, tiêm ngày 2 lần.

Ừ, mà từ bé đến giờ, nó chưa bao giờ được chăm sóc tận tình như thế này.

Nó rất cảm kích trước tấm lòng của những chị em thanh niên xung phong.

Đến ngày thứ tư thì nó thấy đỡ hơn.

Nó ngồi dậy thì vẫn thấy người chao đảo.

Cháo nấu rất ngon mà miệng nó đắng ngắt chẳng muốn ăn.

Mọi người động viên mãi nó mới ăn hết một bát con cháo nóng.

Nó nghe tiếng chuông điện thoại reo bên phòng trung đội trưởng.

Tiếng chị Thu nhấc máy, trả lời :

- A lô !

Trung đội 4 xin nghe.

Rồi nó lại nghe chị Thu trả lời :

- Vâng !

Đúng rồi !

Đồng chí Thập, Nguyễn Trọng Thập, . . . .

Vâng ! . . . .

Vâng ! . . . .

Đã khá hơn rồi.

Vâng ! . . . .

Vâng !

Nó rất mừng vì biết đơn vị đã biết nó ở đây.

Nó chực hỏi thì đã thấy chị Thu từ ngoài bước vào.

Chị nói :

- Đã liên lạc được với đơn vị Thập.

Họ đang cho người đến đón.

- Vâng !

Cảm ơn chị !

Dù vẫn còn rất mệt nhưng nó rất vui.

Nó thu xếp quần áo, sắp lại đồ đoàn vào ba lô.

Rồi nó ra đầu nhà, vục khăn mặt vào thau nước.

Nó rửa mặt cho tỉnh táo.

Tự nhiên, nó thấy người khỏe hẳn ra và có vẻ như không còn lao đao như lúc trước.

Nó đã sẵn sàng lên đường.

Đã sang ngày thứ 5 nó chưa hút một hơi thuốc nào.

Thèm thuốc bã cả người, nó móc một điếu, châm lửa và rít một hơi dài.

Hơi thuốc làm nó lâng lâng nhưng rồi nó thấy chao đảo vì chóng mặt.

Tệ thật !

Hút đến hơi thứ 3, nó "ho sù sụ như ông cụ bẩy mươi".

Tiếc rẻ điếu thuốc, chờ hết cơn ho, nó lại hút tiếp cho đến hết.

Gần 10 giờ trưa thì hai đứa ở tổ đường dây A Rô tới nơi để đón nó.

Nhìn thấy hai thằng đồng hương, nó ứa nước mắt xúc động.

Hai thằng kia thì nhảy vào ôm chầm lấy nó, đấm thùm thụp.

Trong khi chúng nó đang mải mừng rỡ với nhau, thì từ lúc nào, chị Thu đã cho bưng lên một mâm cơm :

- Thôi thì, . . . . mời các anh ăn cơm, gọi là chia tay . . . .

Ba thằng nó hơi bất ngờ, nhưng được cái lính thì tự nhiên lắm (chúng nó vẫn bảo "lính tự nhiên như ruồi" mà), chẳng phải khách khí gì, chúng ngồi ngay vào mâm.

Chị Thu, y tá Tâm, cô Tình, cô Hoan, cô Lụa cùng ngồi vào.

Mọi người ăn uống, chuyện trò và cười đùa rất vui vẻ.

Cơm nước xong, ba thằng chào tạm biệt mọi người.

Riêng nó thấy rất bịn rịn.

Nó muốn nói điều gì đó để cảm ơn các chị em thanh niên xung phong đã đối xử rất tận tình và chu đáo đối với nó.

Nhưng nó vốn là đứa mau nước mắt, nếu nó nói gì đó trong lúc cảm động thì nó sẽ không thể cầm được.

Tần ngần một lúc, nó đề nghị mọi người ra sân chụp mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm.

Rồi nó xin địa chỉ hòm thư để còn liên lạc tiếp.

Sau khi chia tay thanh niên xung phong, ba thằng lên đường đến tổ A Rô.

Hai thằng bạn nó tranh hết phần mang vác ba lô, súng đạn nên nó được đi người không, nhẹ tênh.

Được mọi người đối xử tốt, lại đã khỏe trở lại, lòng nó trào dâng nó cảm xúc yêu thương mọi người và yêu đời phơi phới.

Trên đường đi, hai thằng kia nói nó mới biết chuyện rắc rối khi nó bị lạc.

Sau khi nhận tin từ Ta Bhinh, tổ A Rô cho một người đi đón nó ở bên này sông từ lúc 12 giờ trưa.

Chờ mãi đến 6 giờ chiều vẫn không thấy nó đâu.

Tưởng có chuyện thay đổi, cậu ta quay về gọi điện sang Ta Bhinh thì được biết nó đi khỏi đó từ lúc 10 giờ, chậm nhất thì chỉ 3 giờ chiều là tới bờ sông.

Vậy là "có chuyện" rồi !

Mọi người tá hỏa lên vội gọi điện báo về đại đội.

Đại đội lệnh xuống yêu cầu 2 tổ cử người đi tìm trong phạm vi 10 km xung quanh điểm hẹn.

Tìm mãi, đến đến khuya vẫn không thấy nó đâu.

Chiều hôm sau, đại đội cử thêm quân xuống đi vòng quanh khúc sông xem nó có chết đuối không, vẫn không thấy tăm hơi gì của nó.

Đến nước này thì đại đội đành phải báo cáo lên trung đoàn.

Một mặt, trung đoàn thúc hối đại đội nó phải tìm kiếm tiếp, trong khi trung đoàn vẫn phải báo cáo lên bộ tư lệnh vì nó mất tích mang theo toàn bộ danh sách trích ngang của cả trung đoàn.

Thôi thì đủ kiểu phỏng đoán, nào là nó chết đuối trên sông, nào thì nó bị phản động bắt cóc, nó bị cướp của giết người.

Hay có khi, thằng Thập đi qua Lào để tìm cách "vượt biên", . . . .

Chuyện nó đi lạc ai cũng thấy kinh.

Nó đi sai đường ngay từ đầu, hướng theo một con đường cụt bỏ hoang, cách tổ A Rô hơn 20 cây số.

Nó kể lại hành trình vượt sông Boung, hai thằng bạn "lắc đầu, lè lưỡi" kêu nó quá liều :

- Mày không biết bơi mà dám vượt sông một mình, mà lại qua sông ban đêm.

Liều quá !

Nhỡ trượt tay, tuột khỏi dây cáp hay là bị chuột rút thì toi rồi, Trời cũng chả cứu được !

Ở trạm khách Đà Nẵng

Nó đã khỏe hẳn và trở lại với nhiệm vụ đang bỏ dở.

Bây giờ nó không dám tự ý một mình đi từ tổ này sang tổ khác.

Mà các tổ cũng đưa đón nó cẩn thận, nhịp nhàng hơn.

Khoảng nửa tháng sau thì nó hoàn tất công việc dọc theo các tổ đường dây trên đường đến A Lưới và mai nó sẽ tới điểm cuối cùng ở A Lưới.

Nó gọi điện báo trước cho cho anh Mật.

Thật là may mắn, anh Mật đã từ Đà Nẵng đánh xe lên A Lưới chờ nó từ hôm qua.

Mà có khi không phải là may, mà là lão Mật này biết hết các tổ đường dây, có khi lão gọi điện dò la và biết được mai nó sẽ đến A Lưới nên lão đến đó trước một ngày.

Từ A Lưới, anh Mật lái xe đưa nó đi tiếp đến các tổ đường dây.

Trước khi đến điểm nào, nó đều gọi điện báo cho các tổ dặn họ không đi đâu và chuẩn bị trước đầu tóc, quần áo để chụp ảnh cho nghiêm chỉnh.

Đường từ A Lưới đến các tổ khá đẹp, thậm chí ô tô có thể vào tận sân của một số tổ.

Công việc trở nên rất thuận lợi.

Có ngày hai anh em nó làm xong được cho hai ba tổ.

Cứ thế, anh Mật và nó rong ruổi trên xe suốt lượt đường dây ra tới tận Quảng Bình.

Nó đã hoàn thành nhiệm vụ toàn bộ vùng phía bắc của trung đoàn.

Hai anh em nó trở về trạm khách trung đoàn ở Hòa Cường, Đà Nẵng.

Anh Mật tranh thủ bảo dưỡng xe còn nó gọi điện về trung đoàn báo cáo.

Trung đoàn động viên nó cố gắng và cũng nhắc nhở nó chuyện lạc đường làm ảnh hưởng không tốt đến đơn vị.

Nó được cho phép nghỉ ngơi ở Đà Nẵng mươi ngày.

Có thể trung đoàn thấy nó làm việc tốt mà cho nó nghỉ ngơi một chút.

Nhưng cũng có thể sẽ không có xe đưa nó đi làm tiếp vì ngay ngày hôm sau, nó thấy trung đoàn gọi điện cho anh Mật điều anh chở cán bộ trạm khách về Pleiku họp và sau đó đưa cán bộ trung đoàn đi công tác ra phía Bắc.

Trong khi nghỉ ngơi và chờ đợi ở Đà Nẵng, nó tranh thủ kiểm lại toàn bộ danh sách bộ đội trong sổ tay.

Từng tên người, đơn vị công tác, đặc điểm nhận dạng, . . . .

Mỗi cái phim chụp phải được đánh số theo đúng từng người.

Chỉ nhầm một số là tất cả sẽ "râu ông nọ cắm cằm bà kia" hết cả loạt.

Từng cuộn phim cũng phải đánh số, nhầm cuộn nọ với cuộn kia thì cũng bằng "công cốc" vì nó không thể nhớ mặt và họ tên của tất cả anh em của trung đoàn.

Sau khi kiểm lại nó thấy thật may mắn vì nó không đánh mất một cuộn phim nào, không để rơi một cái phôi chứng minh thư nào.

Sổ tay của nó cũng không mất và không bị nhòe nước ở chỗ nào.

Nó thở phào nhẹ nhõm, tự khen là "mình làm việc rất được !".

Nếu có sai nhầm gì, nó phải quay lại làm lần hai thì "toi đặc".

Muốn nhanh chóng hoàn thành công việc để sớm được ra trại sáng tác tại Hà Nội, nó không thể bỏ phí những ngày ngồi không ở Đà Nẵng.

Nghĩ vậy, nó vào thành phố mua mấy cái ngòi bút "lá tre", mấy cái quản bút và một lọ mực đen.

Nó mài ngòi bút hơi vẹt đi một chút để có "nét thanh, nét đậm".

Nó viết thử ra giấy, mài đi mài lại cho đến khi chữ viết nhìn thật ưng ý.

Cũng may, những ngày làm công tác đoàn ở huyện, nó đã phải viết giấy khen nhiều nên kiểu chữ "Giấy Khen" nó đã rất thạo.

Bây giờ, ngày hai buổi nó ngồi "gò lưng tôm" viết từng tờ chứng minh thư.

Việc này cũng phải rất cẩn thận vì không được phép tẩy xóa.

Viết sai thì không có cách gì mà chữa được, mà cũng không thể thay bằng tờ khác được vì mỗi cái phôi đã có dấu lăn tay của một người.

Cơm ngày hai bữa nó ăn ở bếp ăn trạm khách nên không phải lo.

Lúc nào mỏi lưng quá hoặc chán viết, nó cẩn thận cất tất cả mọi thứ, cái nào vào chỗ đó, rồi bỏ ra Hòa Cường chơi.

Có lúc hứng lên, nó đi chơi trong thành phố.

Chuyện "Ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai !"

Tưởng rằng nó chỉ ở Đà Nẵng mươi ngày rồi quay về trung đoàn đi làm tiếp chứng minh thư cho anh em ở phía nam và cả trung đoàn bộ nữa.

Ai dè nó ở đây rất lâu vì mãi xe của anh Mật vẫn chưa đi Hà Nội về để đưa nó đi tiếp.

Hòa Cường là một phường ngoại ô thành phố Đà Nẵng, nằm dọc trên đường Núi Thành chạy từ thành phố ra (có lẽ đường Núi Thành được đặt tên sau ngày giải phóng để ghi nhớ chiến công lần đầu đánh Mỹ, ngày 26/5/1965, ở Núi Thành, Quảng Nam).

Đó là một con đường nhựa nhỏ, cách trung tâm thành phố 5 km.

Hai bên đường là nhà dân, cái thò, cái thụt, cái lớn, cái bé, nhấp nhô không hàng lối.

Lác đác cũng có một vài hàng quán, còn lại chủ yếu là quang cảnh những dãy hàng rào cây đủ loại, xanh mát mắt.

Một số nhà trồng bông bụp (hoa dâm bụt), bông giấy (hoa giấy) đỏ, trắng rực rỡ vấn vít trên hàng rào, cổng nhà. (Ngày ấy Hòa Cường là một phố ngoại ô nhỏ hắt hiu, bây giờ Hòa Cường là một phường thuộc quận Hải Châu của thành phố Đà Nẵng.

Đường Núi Thành bây giờ cũng là một con đường lớn).

Ngay sát trạm khách trung đoàn, bên trái có một cửa hàng may nho nhỏ, rộng chừng chục mét vuông, mái lá, tường tôn.

Nhưng phía sau cửa hàng có một khoảng sân rất rộng, có thể đỗ được vài cái xe tải.

Qua cái sân đó là một ngôi nhà ngói 5 gian khang trang, sạch sẽ.

Đằng sau nhà là một vườn cây ăn trái xum xuê, dừa, sầu riêng, măng cụt, mận (roi), ổi, bom (táo), sa pô chê (hồng xiêm), . . . .

Ngoài hiên ngôi nhà có treo mấy cái lồng chim, suốt ngày chim hót véo von, lảnh lót.

Ở cái nhà đó, có một người bằng tuổi nó tên là Thủy – Vũ Tịnh Thủy.

Ở đây mới có mấy ngày nó đã quen với Thủy.

Anh bạn mới chơi ghi ta rất giỏi, lại làm thơ hay.

Có điều lạ là Thủy thường xuyên vắng nhà.

Sau này nó mới biết, Thủy bị bắt quân dịch năm 73 và hệ quả là bây giờ phải học tập cải tạo trên thành phố.

Tuy Thủy không bị giam nhưng phải tập trung học, thỉnh thoảng mới được về nhà.

Cái nhà này là nhà vợ Thủy, cu cậu "chui gậm chạn" đấy, may là cái "gậm" này khá rộng rãi.

Vợ Thủy là Nguyễn Thị Tíu, chính là cô thợ may trong cửa hàng nhỏ ngoài cổng.

Em ruột Tíu là cái Lễ, sinh năm 1957 (tuổi dậu), bấy giờ đã nghỉ học, phụ bán hàng cho má ngoài chợ Hàn.

Ba Lễ có một chiếc xe tải GMC hạng nặng.

Ông chạy xe chở thuê đủ các loại hàng hóa và vật liệu xây dựng.

Chiếc xe đi chở hàng, tối lại về đỗ trong sân nhà.

Lễ hơi ngăm đen, khỏe khoắn, mắt sâu, lông my cong trông cũng khá, nó chấm được 6 điểm nha !

Tính Lễ nhí nhảnh, lãng mạn, hát hay và yêu thơ.

Thỉnh thoảng thấy nó sang chơi, nghe chừng Lễ có vẻ thích.

Mà gia đình Lễ cũng quý nó nữa, thỉnh thoảng có gì ăn tươi, ba má lại sai Lễ gọi nó sang ăn cơm.

Nó cũng có cảm giác như được sống ở gia đình nên cũng vui.

Vợ chồng Thủy Tíu thấy vậy liền gán ghép nó với cái Lễ.

Hôm nào được nghỉ không phải phụ giúp má ngoài chợ, Lễ hay lấy xe Honda nam của ba, rủ nó đi chơi.

Hôm thì hai đứa ra Ngũ Hành Sơn, hôm thì đi biển Mỹ Khê, hôm thì vào trung tâm Đà Nẵng coi phim.

Ra bãi biển thì nó cũng thích nhưng nó không dám tắm, vì ngượng không dám thú nhận với Lễ là nó không biết bơi.

Hai đứa hay ngồi uống nước dừa, đuổi nhau quanh gốc cây hoặc nô đùa trên cát.

Hôm ở Ngũ Hành Sơn, Lễ tháo cặp tóc đưa cho nó để nó khắc tên hai đứa vào vách đá.

Trông hai đứa quấn quýt, ai cũng tưởng là chúng đã yêu nhau.

Nhưng thực tình không phải như vậy.

Chuyện này chẳng có ai có lỗi nhưng lý do là ở nơi nó.

Trong tâm tưởng của nó lại đã có một hình bóng khác.

Chuyện là, đối diện nhà Lễ, phía bên kia đường, cũng có một cửa hàng may.

Cô thợ may ở đó tên Hường là bạn của Lễ.

Éo le là nó lại thật sự thích Hường.

Chẳng gì thì Hường cũng xinh hơn hẳn Lễ, nếu có chấm, chí ít cũng phải 8 điểm.

Nó luôn tìm cách tiếp cận Hường hoặc hỏi dò Lễ về Hường.

Nhưng con gái vốn nhạy cảm lắm, Lễ linh cảm thấy ngay nên rất cảnh giác.

Mỗi khi nó nhắc tới Hường hoặc gợi ý đi chơi chung là Lễ lại gạt đi.

Nó hỏi gì về Hường thì hầu như Lễ đều không nói, không kể gì hết.

Thực ra, lúc dầu Hường cũng quý mến nó nhưng không biết vì sao, càng ngày Hường càng lảng tránh nó, mà cũng lảng tránh luôn cả Lễ.

Nó buồn và tức nhưng không nghĩ ra cách nào để gặp được Hường.

Hai cửa hàng may ở đối diện nhau, nhất cử nhất động gì của nó với cửa hàng bên kia là lập tức cả gia đình Lễ tìm cách khéo léo khống chế, ngăn cản nó.

Khoai chẳng ra khoai, ngô chẳng ra ngô !

Người cháu họ ở Tam Kỳ

Nó có một người cháu gái họ xa nhưng không đến nối "bắn ca-nông không tới" sống ở Tam kỳ.

Tuy là cháu nó nhưng cô này hơn nó gần hai chục tuổi.

Chồng cô là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm năm tư.

Khi đó ông đã có vợ và một đứa con trai còn lớn hơn cả tuổi nó.

Khi ông đi tập kết, ở nhà vợ ông bị chính quyền o ép, đến sau "Luật Mười Năm Chín", bà bị bắt tù và bị tra tấn cho đến chết.

Đứa con trai được bà con họ hàng cưu mang nuôi nấng.

Sau ngày giải phóng, ông viết thư cho họ hàng và biết được địa chỉ của con trai, lúc bấy giờ đang sống ở Đà Nẵng.

Nhận được thư ba, người con trai ra Bắc tìm về với cha.

Lúc ấy ông đã lấy vợ hai và có thêm hai đứa con, một gái, một trai.

Người vợ hai của ông chính là cháu họ của nó.

Năm 1976, cả nhà ông chuyển về quê Tam Kỳ và sống ở đó.

Trước ngày nhập ngũ, may là nó ghi lại hết các địa chỉ của họ hàng.

Không biết người cháu họ của nó nay có còn sống ở địa chỉ cũ không.

Bây giờ ở Đà Nẵng, nó rỗi việc, mà Tam Kỳ thì có xa là mấy.

Một hôm nó rủ Lễ đi tìm nhà người cháu họ, cũng gọi là cầu may thôi, thế mà lại tìm thấy ngay.

Từ đó, cứ thỉnh thoảng nó và Lễ lại đến chơi, có lần nó ở lại đó mấy ngày.

Hai vợ chồng người cháu dù hơn nó mấy chục tuổi nhưng vẫn giữ lễ, "một điều chú, hai điều cháu". mấy đứa con ông, thì nhất nhất gọi nó là ông, xưng cháu "ngon lành cành đào".

Cả nhà người cháu đều rất quý và tôn trọng nó.

Ngay cả người con riêng của ông, cũng coi nó như người ruột thịt.

Ngày cu cậu nhập ngũ, ông trẻ Nguyễn Trọng Thập cũng đến đưa tiễn, chẳng gì nó cũng là ông mà lại là lính cựu chứ bộ !

Lại nói, người cháu gái họ theo chồng về Tam Kỳ thì cũng xin được làm nhân viên bán bách hóa ở ngay thị xã.

Một tối, cô ngủ lại ở cửa hàng để trực đêm và nằm nghỉ trên mặt bàn.

Đang đêm, chiếc quạt trần đột nhiên rơi xuống đúng ngực cô làm cô chết ngay tại chỗ.

Thật là đen đủi và thảm quá !

Những năm gần đây, mấy lần nó có ý tìm lại nhà người cháu xấu sốt mà lâu ngày địa chỉ lại thất lạc, đường thì nó không còn nhớ.

Vả lại, Tam Kỳ bây giờ là thành phố, đã có quá nhiều đổi thay so với này đó.

Cho đến nay nó vẫn chưa tìm lại được.

Những năm 8X, 9X khó khăn đã làm tung tán các gia đình và họ mạc . . . .

Đi công tác Hà Nội

Anh Mật đi công tác Hà Nội gần 2 tháng sau mới quay lại Đà Nẵng.

Nó sang chào Lễ và gia đình.

Nó cũng không quên chào Hường nữa.

Nó trở về Pleiku cất toàn bộ những thứ đã làm được ở trung đoàn bộ.

Rồi nó lấy phôi chứng minh thư mới, phim mới, cùng anh Mật lên đường làm nốt nhiệm vụ ở các tổ phía nam của trung đoàn.

Khoảng 2 tháng sau công việc cũng xong.

Nó quay về trung đoàn làm nốt chứng minh thư cho bộ đội ở trung đoàn bộ.

Sau đó, nó tráng phim, in ảnh, dán ảnh vào chứng minh thư.

Công việc hoàn tất, nó cẩn thận đóng gói chứng minh thư của từng đại đội, ghi tên đơn vị ra ngoài và có "danh sách kèm theo".

Đầu tháng 9, công việc hoàn tất, nó mang toàn bộ "sản phẩm" lên ban quân lực báo cáo.

Thấy nó làm cẩn thận, có vẻ khoa học nên trung đoàn cũng chỉ kiểm tra bên ngoài và rà soát lại danh sách.

Rồi ban yêu cầu nó đóng gói toàn bộ mang về Bộ Tư Lệnh Thông Tin để xin chữ ký và dấu nổi của phòng quân lực.

Vậy là lần thứ 2 nó "phải" đi công tác một mình ra Hà Nội.

Ra tới Hà Nội, nó lập tức nộp toàn bộ chứng minh thư đã làm cho phòng quân lực.

Việc ở "cơ quan, ban bệ" bao giờ cũng "rất quan trọng", làm gì có chuyện người ta làm ngay hay làm nhanh cho.

Phòng quân lực hẹn nó một tháng sau quay lại mà lấy chứng minh thư mang về đơn vị.

Nó gọi điện báo cáo anh Chính ở ban quân lực trung đoàn (đồng hương của nó).

Anh Chính bảo nó "Cứ ở ngoài ấy mà chờ, bao giờ được thì mang vào.

Không đi đi lại lại làm gì cho mất công".

Nó mừng rơn.

Ít ra nó cũng có một tháng tha hồ mà chơi bời, vùng vẫy.

Cửu vạn đi buôn đường dài

Biết nó được ở Hà Nội một tháng, chị gái nó rủ nó đi buôn vào Sài Gòn.

Hai chị em tính rằng, nếu công an hay phòng thuế kiểm tra hàng hóa thì nó nhận là của nó.

Nó là bộ đội lại có giấy công tác nên họ sẽ không thể kiểm tra được.

Nó chỉ ngại kiểm soát quân sự, nhưng kiểm soát quân sự lại thường không đi cùng công an và phòng thuế.

Lúc ấy, chị nó sẽ nhận là hàng của chị.

Vậy là ổn.

Chị và nó chuẩn bị các mặt vừa hàng nhẹ vừa có lãi cao mà Sài Gòn đang cần.

Đó là thuốc sợi Lạng Sơn, thuốc cảm asperin, sufamite, thuốc sốt rét Quinin (ký-ninh) và tỏi khô.

Nó đi Lạng Sơn mua thuốc lá sợi.

Rồi nó về Sặt nhờ bố Khóa mua mấy thứ thuốc tây đó.

Tỏi thì nó về Hưng Yên quê nó, đến Ân Thi thì "vô thiên lủng".

Vốn mua hàng phần lớn là của chị, vốn của nó thì chẳng được bao nhiêu, mua được 2 lọ thuốc tây là hết.

Tóm lại, hàng hóa chủ yếu là của chị nó.

Sau khi đóng hàng được hai bao tải thuốc lá sợi và tỏi, hai túi du lịch đầy căng toàn thuốc tây, chị em nó thuê xích lô ra ga Hàng Cỏ, mua vé tàu vào Sài Gòn.

Ngày ấy, tàu Thống Nhất Bắc Nam chạy rất chậm, phải mất 4 đêm 3 ngày mới tới Sài Gòn.

Từ ga Hòa Hưng, hai chị em thuê xích lô chạy thẳng vào chợ Bến Thành.

Hàng vào chợ Bến Thành như muối bỏ bể, vèo một lúc là hết.

Mọi việc suôn sẻ, không bị hỏi han bắt bớ gì, hai chị em rất phấn khởi.

Bán hàng xong thu được tiền lãi kha khá.

Chị nó làm quen với chị Tám hỏi được ở nhờ trong một ngõ nhỏ gần chợ Bến Thành.

Hai chị em nó về đó trú chân chờ mua hàng cho chuyến đi ra.

Hàng hóa mang ra gồm rất nhiều bột ngọt, áo mông tơ ghi, quần bò, vải tuýt-si len, vải pho và một số mặt hàng khác nữa.

Trước khi ra, chị và nó lang thang đi sắm đồ dùng cho gia đình.

Chị nó chọn mua quà lần lượt cho mọi người, từ chồng cho đến 6 đứa con, ai cũng có nhiều quà và toàn đồ tốt, nào là quần áo, mũ mão đến đồ ăn, cặp sách, bút mực v,v. . . . .

Nó cứ hy vọng chị nó sẽ mua cho bu nó ở quê một cái gì đó hay là chị mua cho nó một thứ gì đó gọi là một chút ví như cái quần đùi chẳng hạn.

Nhưng tuyệt nhiên không thấy chị nó đả động gì đến điều đó.

Nó thoáng thấy buồn và nhận ra rằng, trong trái tim chị nó chỉ có chồng và con thôi.

Ở đó, bu nó và nó không có chỗ đứng.

Mà nói cho công bằng, nó phải làm tất cả những việc nặng nhọc, mang vác, bưng bê như "cửu vạn", che chắn bảo về hàng hóa và bảo vệ chị, vậy mà chẳng có giá trị nào hết.

Nó cũng biết người ta nói "anh em kiến giả nhất phận", đó là lẽ thường nên nó cũng chỉ hơi buồn và thất vọng chứ không có biểu hiện gì ra ngoài.

Trước khi ra tàu chị còn lân la hàng xóm gạ mua từ ti vi, quạt máy, đèn chùm, đèn tường với giá rất rẻ.

Một đống ngồn ngộn toàn là hàng hóa đồ đạc của chị, nó lại phải đóng gói, bê vác, chen lấn xếp đồ lên tàu, . . . . mà vẫn vui vẻ, không kêu ca một lời.

Chuyến đi buôn mang lại lãi lớn cho chị nên chị lại rủ nó đi chuyến thứ hai.

Nó hùng hục chuẩn bị hàng hóa mất 5 ngày trời rồi lại nai lưng làm cửu vạn mang vác hàng hóa cho chị.

Lần này nó cũng chỉ ké vào hai lọ thuốc tây như lần trước, cũng chẳng được lãi là bao.

Lần này hàng của chị cũng bán rất đắt ở chợ Bến Thành.

Bán xong hàng cho chị, nó mang hai lọ thuốc tây của nó đi bán.

Nó cảnh giác nên chỉ bán từng lọ một và giám sát chặt chẽ người mua hàng.

Nó đưa lọ thuốc cho một thanh niên bé nhỏ, gầy gò, nhanh nhẹn để anh ta xem hàng và mua.

Anh ta gỡ lớp xi ở nắp lọ ra, đổ thuốc vào lòng một chiếc mũ mềm và đếm thuốc.

Lọ thuốc 1000 viên mà đếm đi đếm lại chỉ có 700 viên.

Nó phát hoảng nhưng cũng nhanh, nó giằng lấy chiếc mũ thì thấy chiếc mũ có 2 lớp, anh chàng đã khéo léo cắt một đoạn chỉ may dài khoảng 5 phân gần chếch chếch về phía lưỡi trai.

Trong quá trình đếm hắn đã khéo léo lùa thuốc xuống lớp vải phía dưới.

Thực ra nó không hề phát hiện ra cú lừa đó, nhưng lọ thuốc nguyên 1000 viên chẳng thể nào sai được nên nó mới nghi ngờ và kiểm tra chiếc mũ.

Bán xong lọ thứ nhất, sang lọ thứ hai là thuốc quinin thì người mua kêu là thuốc giả, không mua.

Nó kiểm tra lại thì thấy vỏ, nắp, nhãn và viên thuốc vẫn "nguyên đai nguyên kiện".

Vậy là nó đã mua phải thuốc giả từ Sặt.

Sau khi về lại Sặt, nhờ bố Khóa đổi hộ, ông cũng không đổi được.

Vậy là nó mất cả lãi lẫn gốc.

Rời khỏi trung đoàn

Theo hẹn, sau một tháng, nó quay lại phòng quân lực thì toàn bộ chứng minh thư của trung đoàn nó đã được ký và đóng dấu.

Nó lên đường trở về Pleiku.

Về đến đơn vị, nó nhận được 2 tin tức quan trọng.

Một là, trung đoàn bộ có lệnh chuyển vào gần sân bay Cù Hanh để giao lại doanh trại cho đơn vị khác.

Hai là, nó có quyết định ra dự Trại Sáng Tác Mỹ Thuật tại cơ quan Bộ Tư Lệnh Thông Tin.

Thời điểm đó trại sáng tác đã hoạt động được gần một năm.

Như thế thời gian nó được ra trại để học chỉ còn lại 6 tháng.

Thôi thì "méo mó có hơn không", hãy cứ biết được ra cái đã, chuyện đến đâu hay đến đó.

Nhưng nó cũng chưa được đi ngay vì phải cùng đơn vị di chuyển đến nơi mới.

Nó cùng mọi người ở trung đoàn bộ đóng gói đồ đạc, chuyển ra xe cam-nhông (camion – từ tiếng Pháp), chở đến địa điểm mới.

Việc di chuyển mất một tuần.

Ở nơi mới, nó được phân một phòng nhỏ chừng hai chục mét vuông, gần ban tham mưu, dưới một gốc cây cổ thụ lớn.

Nó rất thích, xếp tất cả đồ đạc gọn gàng vào trong phòng.

Dưới gầm giường, nó cất những tấm mi-ca (mica) lớn dày cỡ một phân, chuyên để làm nhẫn, lược, . . . . ., các cuộn cảm để cuốn sú-von-tơ (survolter), mô tơ, đèn led, công tắc đảo mạch, . . . . mà nó đã kiếm được ở sân bay từ trước, cất giữ để dùng dần.

Còn một bộ sưu tầm trên một trăm cuốn Văn Nghệ Quân Đội nó sưu tầm được nhờ thằng Tiền, nó cho vào hòm gỗ để ở đầu giường.

Xong xuôi, nó buộc dây thép kỹ càng rồi khóa cửa phòng và nhờ đồng đội trông hộ.

Chắc nó chỉ đi từ 4 đến 6 tháng sẽ trở về .

Lúc đó, trung đoàn trưởng là trung tá Nguyễn Huy Văn được lệnh điều ra Bộ Tư Lệnh nhận nhiệm vụ mới.

Thủ trưởng Văn rất quý nó, ông thường gọi nó theo khi đi kiểm tra đường dây.

Nó làm nhiệm vụ chụp ảnh kỷ niệm cho thủ trưởng.

Thủ trưởng Văn đi khỏi trung đoàn nhưng về sau này nó còn có nhiều chuyện liên quan tình nghĩa với ông.

Hôm tiễn chân nó đi học, cả ban liên hoan chung. trước khi vào bữa, thủ trưởng ban đọc quyết định phong quân hàm hạ sỹ và quyết định tặng giấy khen cho nó vì đã có cố gắng trong công tác.

"Chắc là cũng do nó suýt chết khi bị lạc", nó nghĩ vậy.

Nó vui vẻ chuẩn bị lên đường nhưng cũng bùi ngùi lưu luyến chia tay đồng đội.

Tưởng rằng nó đi ít lâu lại trở về, ai ngờ đó là lần nó chia tay mãi mãi với trung đoàn thân yêu, với bạn bè đồng đội, với căn phòng mới, . . . .

Về sau này nó không còn có dịp trở lại.

Vật cũ người xưa không còn nữa.

Trung đoàn nó bị xóa phiên hiệu.

Mọi kỷ vật mà nó để lại ở trung đoàn không thể tìm lại được.

Nó rất tiếc, nhưng biết làm sao.

Ở Trại Sáng Tác Mỹ Thuật

Vào cuối năm 1978, nó được ra "Trại Sáng Tác".

Trại viên chỉ có chừng chục người có năng khiếu hội họa, từ các đơn vị cơ sở tập trung về.

Anh em ở nhờ trung đoàn 130 cùng đội nữ văn nghệ của Bộ Tư Lệnh.

Nó được phát giấy, bút mầu, cặp, bảng và giá vẽ, được làm quen với các bài hình họa, trang trí, tranh bố cục, tranh áp phích cổ động, . . . . .

Mặc dù không được học ở Sài Gòn và ra dự trại trễ gần một năm nhưng bài vẽ của nó hầu như không thua kém các bạn.

Thậm chí có một vài môn nó còn nhỉnh hơn tí ti.

Được thế là nó rất mừng rồi vì chút năng khiếu của nó cũng ví như cây hoa dại chưa được chăm sóc, vun trồng.

Phụ trách "Trại" bấy giờ là thiếu tá Ngô Hoàng Hương, "tuyên văn" của bộ tư lệnh.

Trực tiếp phụ trách giảng dạy của trại là các anh Đặng Trường Lưu, anh Xuân Hạnh, trợ giảng là anh Phạm Ngọc Liệu.

Lúc ấy, anh Lưu đã học trung cấp mỹ thuật, chuyên vẽ tranh cổ động.

Anh Xuân Hạnh học cao đẳng mỹ thuật, phụ trách chung về chuyên môn.

Anh Đặng Trường Lưu người lùn, trán hơi hói, ăn nói sắc sảo, sâu xa, luôn luôn châm biếm, mỉa mai.

Anh Lưu rất quý Phạm Bình Đính, có thể, trong chừng mực nào đó, Bình Đính là hiện thân của anh.

Anh Lưu không ưa anh Hạnh, không ưa anh Liệu.

Nó không hiểu tại sao anh Lưu lại rất ghét nó, có ý trù dập và hắt hủi nó, mặc dù nó chẳng làm gì có lỗi với anh.

Ngược lại, anh Xuân Hạnh và đặc biệt là anh Ngọc Liệu lại quý nó.

Hai anh ân cần và chân thành chỉ bảo dạy dỗ nó.

Tiếc cho anh Xuân Hạnh sống nghệ sỹ quá, giỏi chuyên môn nên hơi kiêu, sống buông thả, tự do, vô kỷ luật và rượu say suốt ngày.

Đôi khi say quá anh nôn ọe, phát ngôn linh tinh, tự làm giảm uy tín bản thân và uy tín nghệ sỹ.

Anh Liệu thì kín đáo, khiêm tốn, chân thành và lịch lãm.

Anh Liệu cũng học cao đẳng mỹ thuật ra.

Sau này anh là một họa sỹ khá có tên tuổi.

Lớp nó có Đào Trung Hòa, vừa đẹp trai, vừa vẽ khá nhất.

Sau đó đến Phạm Bình Đính.

Số còn lại làng nhàng kiểu như nó, hơn kém nhau một chút không đáng kể.

Nó đi "xem mắt"

Hàng tuần, cứ chiều thứ 7, nó đạp xe về thăm bu và các anh, các chị.

Chị Bính (vợ cả anh Bính) được thày bu nó cho mảnh đất ở ngõ Bưởi.

Chị bán đi được ít tiền, bu nó cho thêm vài chục ngàn, chị mua mảnh đất ở ngõ Rừng có căn nhà cấp 4.

Chị và hai cháu dọn về ở đó.

Mỗi lần nó về, bu thường gọi chị Bính ra nấu cơm, chờ chị Yến đi làm về cùng ăn.

Cả nhà vui vẻ và hạnh phúc.

Chị Yến đã sinh được một cháu gái đặt tên là Nga.

Bé Nga mới một tuổi, xinh như con búp bê.

Mỗi khi về chơi nó mua quà cho cháu, bế cháu đi chơi rong khắp phố.

Đến bữa bé Nga ngồi trong lòng nó, mút mát thức ăn nó đút cho.

Hai chú cháu đều rất vui.

Nó đã sang tuổi 25, kể cả tuổi mụ.

Ở quê nó lấy chồng lấy vợ rất sớm, con gái thường ở độ 17, con trai khoảng 20.

Bạn bè đồng trang lứa nó đã nhiều đứa lấy vợ và có 2 con.

Thấy nó vẫn lêu têu, chưa thành gia thất, bu nó liên tục nhắc nhở nó lấy vợ cho gia đình yên tâm.

Khổ một nỗi, ở trong làng, vai trong họ của nó rất cao vì nó là con út thứ 10, mà bố nó là trưởng họ, mẹ nó cũng lại là chị cả.

Các cô gái tầm tuổi mà nó có thể lấy làm vợ, chọn được cô nào vừa mắt, hỏi ra lại toàn là hàng cháu nó cả.

Do vậy, nếu nó lấy vợ làng là rất khó có "Đôi lứa xứng đôi" (*).

Lần nào nó về, bu nó cũng giục lấy vợ.

Giục mãi không được, bu nó cáu, quay ra mắng mỏ, rỉa rách nó.

Một sáng Chủ Nhật nọ, bu nó bắt nó đèo bu sang làng Lạc Đạo.

Bu đã "tăm" được ở đó một cô giáo viên cấp 2 mới ra trường.

Nó không muốn nhưng nể bu nên đành miễn cưỡng.

Hai bu con đèo nhau trên chiếc xe đạp, vừa đi vừa hỏi thăm đường vào nhà bà Nhậm, có cô con gái tên Phượng.

Chiếc xe đạp đi trên con đường liên xã, hai bên là bạt ngàn ruộng lúa.

Ngoằn nghoèo hơn chục cây số thì vượt qua đường tàu hỏa, tới một con mương thì lại rẽ theo bờ mương, hai bên là hai hàng phi lao cao và rợp bóng, gió lao xao vi vút.

Khi đã vào làng, lại phải đi qua một cái sân đình.

Ôi !

Con đường lấy vợ mới gian nan khúc khuỷu làm sao !

Hai bu con hỏi thăm tới một nhà có cái cổng mái vòm với cây dây leo hoa tím mọc xòa xuống từng nhánh.

Sau hai cảnh cửa gỗ là một khoảng sân lát gạch đỏ rộng rãi rồi tới một căn nhà cổ mái lợp ngói mũi, kiểu nhà bức bàn.

Toàn bộ khung gỗ, cửa và cột đều bằng lim, lên nước đen bóng.

Ở giữa kê một chiếc sập gụ sát với một chiếc tủ chè bóng nhoáng.

Ngước lên phía trên, nó thấy hoành phi, câu đối uy nghi, phía dưới là dường thờ lớn, trạm trổ công phu, sơn son thếp vàng.

Bên phải ngôi nhà có một cái nhà ngang 3 gian cũng lợp ngói ta.

Đầu hồi nhà là một giàn trầu không xanh um, có mấy ngọn trầu còn bám vào cây cau, leo lên mãi trên cao.

Cạnh đó là một đống rơm to, phía sau là một khoảng vườn có mấy mái gà đang bới đất kêu cúc cúc gọi con.

Toàn căn nhà toát lên vẻ giàu có, nề nếp và thanh bình.

(*) "Đôi Lứa Xứng Đôi" là chuyện "Chí Phèo" của Nam Cao.

Bà Nhậm người đậm, tóc bạc nhiều, nét cười hiền lành, phúc hậu.

Thấy mẹ con nó đến, bà mừng lắm, đon đả nói cười.

Mấy đứa trẻ con thập thụt ở cửa buồng cứ tò mò nhìn nó, tỏ ra rất háo hức và tinh nghịch.

Mẹ con nó được mời ngồi trên chiếc sập gụ.

Bà Nhậm gióng giả gọi :

- Phượng ơi !

Con ra pha nước mời bà với anh hộ bu.

Còn anh Hùng chị Cúc xuống bắt con gà bu nhốt

sẵn trong lồng, làm cơm ù lên nhé !

Có mấy tiếng dạ, vâng ở nhà sau một lúc thì Phượng bước ra.

Đó là một cô gái dong dỏng cao, da trắng, môi quả tim đỏ mọng.

Trông rõ là gái đi học ở tỉnh về, toát ra chất của cô giáo, lại có nét dịu dàng đẹp thuần khiết, phảng phất màu "quê kiểng".

Phượng bẽn lẽn chào mẹ nó, chào nó rồi ra giót nước mời.

Bu nó nhìn Phượng chằm chằm như đang đưa lên bàn cân đong đếm làm cho Phượng càng ngượng ngập, lúng túng.

Bu nó bảo Phượng ngồi cùng, bà hỏi chuyện gia đình ,chuyện dạy học và nhiều thứ khác.

Nó chẳng biết nói gì nên ra sân hút thuốc, xem xét, ngó nghiêng.

Một lúc lâu sau, bà Nhậm muốn tạo điều kiện cho hai đứa nói chuyện riêng nên gọi nó :

- Anh Thập ơi !

Bác nhờ cháu và em Phượng ra vười hái hộ ít quả mướp, rau đay, mùng tơi cho chị

Cúc nấu canh.

Tiện thể bác nhờ anh trèo cây hái ít ổi, ít khế và quả mít.

Nói xong, bà dúi vào tay Phượng chiếc rổ ra hiệu cho Phượng dẫn nó ra vườn.

Vườn nhà Phượng rất rộng và đẹp, có nhiều loại cây cây ăn quả, vài luống rau đay, húng, tía tô, . . . .

Nắng vàng loang lổ, gió nhè nhẹ lao xao cây lá.

Nó và Phượng hái mướp, hái rau, hái ổi, nhưng cả hai đứa đều ngượng ngập chẳng biết nói chuyện gì .

Mãi sau Phượng mới hỏi :

- Đơn vị anh đóng ở Hà Nội à ?

- Không, ở Pleiku cơ !

Anh chỉ ra Hà Nội học, mấy tháng nữa lại vào.

- Thế chắc ít được về lắm nhỉ ?

- Ừ !

Lính mà.

Đơn vị đi đâu mình ở đó sao mà biết trước được.

- Thế mà bu em bảo là . . . .

- Chắc bu em tưởng là anh ở Hà Nội chứ gì ?

Phượng không nói gì, nó cũng im lặng.

Nó nghĩ, câu trả lời của nó rất hay, Phượng sẽ hiểu ý mà không mất lòng.

- Sao anh không lấy vợ đi cho bác yên tâm ?

Phượng hỏi vậy, nó được dịp nói rõ hơn :

- Anh còn trẻ quá chưa có ý định lấy vợ.

Vả lại, vài tháng ở gần nhà rồi lại đi, tương lai chưa biết

thế nào.

Bu anh cứ ép vậy, anh nể bà chứ thực lòng anh chưa hề nghĩ đến chuyện gia đình.

Nghe nó nói thế, Phượng chỉ im lặng mà nó cũng không nói gì thêm nữa.

Lâu sau, Phượng nói :

- Thôi em vào làm cơm cùng anh chị Cúc đây.

Biết Phượng đã hiểu ý, chờ Phượng đi khuất, nó nhặt vài quả ổi, quả khế cho vào rổ rồi lững thững mang vào để ở bậc thềm.

Cơm nước xong, hai bu con nó xin phép về.

Bà Nhậm còn biếu bu nó quả mít làm quà.

Trên đường về, bu nó hỏi :

- Bu thấy cái Phượng cũng được đấy, anh thấy thế nào ?

- Con thấy bình thường, nhưng con còn trẻ, chưa muốn lấy vợ.

Chuyện nó với cô giáo Phượng coi như không xong.

Bu nó rất buồn nhưng cụ chưa chịu lùi bước.

Ở thị trấn Bần cách nhà nó 5 cây số về phía Hà Nội có một bà bạn bu nó, gia đình cũng giàu có và nề nếp.

Hai bà thân nhau từ ngày buôn bán dưới thời Pháp.

Ông bà cũng sinh được mười người con như nhà nó.

Cô con gái thứ bảy tên là Kim Tuyến, 22 tuổi vừa tốt nghiệp Cao Đẳng Ngân Hàng và được phân công công tác vào Đà Lạt.

Nhưng nếu đã lấy chồng thì được ở lại ngoài Bắc, không phải phân công đi xa nữa.

Cho nên mẹ Kim Tuyến mới nhắm nó làm con rể.

Bà liên tục nhắn gọi nó lên chơi và chăm chút cho nó rất cẩn thận như đối với đứa con trai.

Bà làm ruốc, đan găng tay, đan khăn len, áo len cho nó, . . . .

Bà luôn tìm cách cho nó với Kim Tuyến gặp nhau và có điều kiện ở riêng với nhau.

Buồn một nỗi nó lại không thích Kim Tuyến.

Lẽ thứ nhất là nó tự ti vì Kim Tuyến có học hành mà nó thì không.

Lẽ thứ hai là nó thấy việc xếp đặt này gần như cưới chạy để Kim Tuyến không phải đi xa chứ không phải vì tình cảm hay quý hóa gì nó, nó tự ái lắm chứ.

Kim Tuyến cũng khá xinh, hơi ngăm đen, tóc hơi xoăn và "đường nét" rất được.

Nhưng nó vẫn cố tình thờ ơ lảng tránh Kim Tuyến.

Hai tháng sau Kim Tuyến sang nhà chào nó và chào gia đình.

Nàng vào Đà Lạt nhận công tác.

Đi thực tế biên giới phía Bắc

Ngày 17/2/1979 Trung Quốc đưa quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc.

Đồng bào ở khu vực biên giới đã đi sơ tán vào sâu trong lãnh thổ.

Tất cả các phương tiện ô tô, tàu hỏa đều được sử dụng để đồng bào chạy giặc.

Bấy giờ, ga Hàng cỏ cũng như các bến xe ở Hà Nội chật ních đồng bào tản cư.

Những chuyến xe, chuyến tàu từ phía Bắc về đầy ních người, chen chúc, chật chội, thậm chí còn ngồi, nằm la liệt trên nóc tàu hỏa, bám vào cánh cửa toa, đu vào ô tô với lỉnh kỉnh tay nải, túi xách,. . . .

Chẳng những bến tàu, bến xe mà các hè phố lân cận cũng đầy ắp người tản cư, chen lấn xô đẩy, ngồi, nằm vạ vật.

Ngược lại, các chuyến tàu và xe đi lên phía Bắc hầu hết là bộ đội đủ các quân binh chủng.

Những cuộc hành quân bằng mọi phương tiện, hối hả lên trấn giữ biên ải.

Trước tình hình thực tế nóng bỏng trên chiến trường, Trại Sáng Tác Mỹ Thuật được lệnh lên tham gia ghi chép, lấy tài liệu thực tế chiến đấu của bộ đội.

Nó nằm trong một đoàn gồm 6 người do họa sỹ Đặng Trường Lưu làm trưởng đoàn, anh Bàng làm phó đoàn.

Bốn thành viên còn lại là thằng Hướng, thằng Bằng, thằng Hân và nó.

Nó được cử xuống kho khí tài tại Cổ Nhuế nhận súng.

Mỗi người được phát một khẩu AK, một lưỡi lê, hai cơ số đạn, bi đông, tăng, võng và những trang bị tối thiểu cho một chiến sỹ trước khi ra trận.

Nhưng nhiệm vụ của đoàn không phải trực tiếp tham gia chiến đấu, mà là lấy tư liệu về cuộc chiến, phục vụ cho triển lãm tranh bộ đội được mở vào cuối năm.

Ngoài vũ khí cần thiết, hành trang của chúng là cặp vẽ, giấy, bút, họa phẩm và máy ảnh.

Cùng đoàn nó còn có 5 thành viên trong Đội Tuyên Văn của binh chủng, đi "phục vụ bộ đội tại chiến hào".

Cả đoàn hành quân ra ga Hàng Cỏ để nhập vào một tiểu đoàn bộ binh cũng đang trên đường hành quân lên biên giới.

Lúc đó vào khoảng 2 giờ sáng.

Sân ga tấp nập toàn người là người, đồng bào từ trên biên giới về, đang chen chúc, đầu tóc rối bời, gương mặt thất thần, tay xách, nách mang, gọi nhau ơi ới.

Chúng xếp hàng cạnh đội hình của tiểu đoàn bộ binh, trật tự lần lượt lên tàu.

Đoàn của chúng được xếp ngồi trên cùng một toa.

Tất cả các thành viên khác trong đoàn ai cũng có người thân ra đưa tiễn, quấn quýt, rất bịn rịn.

Nó không có người tiễn, một mình lẳng lặng lên toa, hơi trạnh lòng và tủi thân một chút.

Dù chuyến đi này không phải là quá gay go khốc liệt nhưng cũng là chuyến đi nguy hiểm.

Nó có nhiều bạn bè ở Hà Nội nhưng không báo ai.

Trong khi đó, anh chị em ruột của nó thì đều biết.

Vậy mà chẳng ai để ý, đưa tiễn hay động viên nó một lời.

"Chín khúc ruột mềm" của nó là như vậy, biết làm sao.

Tàu dừng lại cách thị xã Lạng Sơn 15 cây số.

Tiểu đoàn bộ binh xuống tàu là hành quân đi ngay.

Đoàn của chúng thì co cụm lại một chỗ chờ đoàn trưởng liên lạc địa điểm đến.

Chúng sẽ phải hành quân leo dốc núi lên điểm chốt trên đỉnh núi.

Nhá nhem tối đoàn của chúng mới tới được chân núi nên phải rẽ vào bản của đồng bào người Nùng liên hệ nấu cơm và ngủ nhờ để sáng hôm sau đi tiếp.

Đồng bào vui vẻ cho mượn xoong nồi, bát đĩa, cho củi khô, nhưng yêu cầu nấu và ăn cơm ở ngoài nhà, trên một vuông đất trống.

Đến chuyện ngủ nhờ thì đồng bào chỉ đồng ý cho bộ đội nam vào ngủ trong nhà, bốn chị em nữ của đội văn nghệ không được phép ngủ trong nhà.

Xã đội trưởng giải thích cho anh chị em thông cảm vì đây là phong tục của đồng bào.

Ăn xong, trưởng đoàn quyết định, tất cả mọi người đều mắc võng ngủ ngoài rừng.

Võng 4 chị em ở trong, võng của anh em bao bọc vòng ngoài.

Không được đốt lửa.

Đêm đến, phía biên giới vẫn ùng oàng tiếng súng, lúc xa, lúc gần, lúc lớn, lúc nhỏ.

Dù sao khu bản này ở vẫn ở xa mặt trận nên lính tráng ngủ rất ngon lành.

Sáng hôm sau đoàn chia làm hai.

Đội văn nghệ do anh anh Bào phụ trách và 4 chị em tìm vào các cơ quan của d bộ hay e bộ ở chân núi.

Nhóm 5 người chúng nó thì bắt đầu leo núi.

Chúng đi theo đường mòn của bộ đội hành quân lên xuống chốt hàng ngày.

Đường leo dốc quanh co, dựng đứng, địa hình đất lẫn đá.

Càng lên cao, không khí càng lạnh hơn và sương mù càng dày đặc.

Những giọt sương nước li ti lang thang, nhảy múa, lững lờ.

Không khí ngày càng loãng mà nó lại cảm thấy hơi sương đặc quánh đến khó thở.

Ai nấy quần áo ướt sũng, một phần vì sương lạnh, một phần là mồ hôi túa ra, đổ hột, mặc dù trời đang rất rét.

Đến gần trưa thì chúng tới nơi.

Đó là điểm cao 610.

Khu vực điểm cao này do một đại độ bộ binh chốt giữ, rải rác trên nhiều cao điểm gần nhau.

Điểm mà nhóm của nó tới là điểm chốt của một trung đội phía trước, thường trực chiến đấu.

Hầm chỉ huy của trung đội được bố trí trong một hang đá nhỏ ở sườn núi phía sau, cách điểm chốt tiền tiêu khoảng 200 mét.

Ở trong hang, có bếp nấu cơm cho bộ độ, có bàn làm việc của trung đội và sạp ngủ.

Tất cả đều được ken bằng cây dóc (một loại cây giống như tre nhưng nhỏ hơn nhiều).

Trên đỉnh núi là một dải đất khá bằng phẳng, lác đác lô nhô vài tảng đá, cây cối thưa thớt, rất ít cây to, chủ yếu là cỏ gianh và cây lúp xúp.

Ở mỗi một chốt có các hầm chốt chữ "T" xuyên vào lòng núi đất.

Bên ngoài có 8 ụ súng và các giao thông hào nối thành hệ thống liên hoàn.

Trên một tảng đá cao nhất có đặt một đài quan sát.

Đứng trên đài quan sát nhìn qua thung lũng sang bên kia biên giới thấy quân Trung Quốc lập trại khá đông, lố nhố tắm giặt, ăn uống ở bờ suối.

Trên điểm cao đối diện, cũng có các cụm súng pháo chĩa sang phía bên này.

Lúc hai bên đang đánh nhau, lính của hai phía không dám đi lại thoải mái như bây giờ vì sợ pháo kích và sợ bị bắn tỉa.

Lúc này là lúc đang ngừng bắn nên không bên nào nổ súng.

Thỉnh thoảng đâu đó có súng nổ đì đoàng, không biết là bắn nhau hay bắn xúc vật lấy thịt ăn.

Trên đường đi lên chốt có xác vài con trâu, con bò.

Đó là những con vật được thả rông và bị lính ta dùng súng bắn tỉa bắn chết.

Chúng lăn lông lốc xuống chân núi.

Anh nuôi chạy xuống chỉ nhè vào đùi xẻ lấy vài chục cân thịt, gùi về, thái miếng to như nắm tay, ninh nhừ trong nồi quân dụng.

Phần còn lại của con vật bị bỏ cho tự thối rữa.

Phí quá !

Nó rất tiếc.

Ở trên chốt ban ngày chúng cùng nhau vẽ ký họa bộ đội, ụ súng, ụ pháo, các sinh hoạt trong lán, trong hầm.

Anh Lưu và thằng Hướng chỉ vẽ một ngày trên chốt, tối hôm đó hai người xuống lán của trung đội ngủ và ghi chép tiếp ở đó.

Còn ba đứa ở trên chốt, tối chúng được bố trí vào 3 chiếc hầm chữ "T" ngủ cùng lính chiến, mỗi hầm 2 người.

Căn hầm chữ "T" rộng khoảng 60cm, mỗi cánh của chữ "T" âm vào lòng đất sâu khoảng 1 mét, phần "cán" chữ "T" là cửa hầm ăn ra ngoài sâu khoảng 1 mét, dài 1 mét, rộng 80 phân.

Thực sự căn hầm chữ "T" rất chật chội khi có hai người cùng nằm ngủ.

Ba lô thì để trong cùng, hai người đều phải nằm nghiêng, không duỗi được chân.

Cả đêm cứ phải giữ nguyên tư thế như vậy vì nếu cụ cựa thì đất cát rơi xuống rào rào.

Tư thế ngủ gò bó này người mỏi nhừ, không khác gì tra tấn.

Lính chốt nhào vô hầm một tí đã thấy ngáy o o . . . .

Đêm đầu tiên, nó không quen nên mãi không ngủ được.

Nó nhẹ nhàng lách người chui ra cán chữ "T", châm thuốc ngồi hút.

Cảnh đêm tĩnh mịch trên chốt, thấy thương cho mảnh đất này bao năm không ngớt chiến tranh, nó ghi vào sổ tay :

Đêm trong hầm trên chốt Lạng Sơn ơi !

Sương gió lạnh lùa sâu vào chân tóc.

Hầm chữ "T" nằm nghiêng không nhúc nhích,

Giấc ngủ chập chờn nào có đến cho đâu.

Truồi ra ngoài hút thuốc để ngắm sao.

Thị xã Lạng Sơn phập phùng lửa cháy,

Cầu Kỳ Lừa dưới pháo bầy quằn quại,

Nhịp sắt khẳng khiu vươn mãi cánh tay gày.

Quân bành trướng đã tràn ngập qua đây,

Vò nát mảnh đất thiêng Phía Bắc.

Nàng Tô Thị ôm con đứng khóc,

Căm lũ giặc lại gây ra tang tóc.

Chiến trường phía Nam, máu ứa đã khô dần.

Nay bộ đội lại thêm lần ôm súng.

Trên chốt địa đầu Tổ Quốc ta đứng,

Giữ vững bến bờ, giữ yên biên giới quê hương.

Nhóm chúng nó ở trên điểm cao 610 ba ngày đêm, thu thập được nhiều tư liệu quý về người lính biên cương trên chốt.

Sau đó vài ngày nhóm xuống chân núi vẽ tiếp ở các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin, cao xạ, . . . .

Rồi nhóm được lệnh lấy tư liệu trong thị xã Lạng Sơn vì lúc ấy quân tàu đã rút khỏi đó.

Lần đầu tiên nó được tới thị xã Lạng Sơn.

Nó cảm nhận ngay được đây là một thị xã đẹp thơ mộng, có núi, có động, có rừng, có sông.

Quân Tàu tràn qua, trước khi rút đi, đã tàn phá tất cả.

Giờ đây thị xã là cảnh đổ nát, hoang tàn, không còn một ngôi nhà hay công trình nào nguyên vẹn.

Không còn người dân nào ở lại thị xã nên cảnh đổ nát càng thêm tiêu điều, chết chóc.

Nhóm chúng đi dọc theo các con phố vắng lặng.

Thỉnh thoảng chúng có gặp một vài người lính đeo băng đỏ, khoác AK làm nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ thị xã.

Sông Kỳ Cùng đang mùa nước cạn, trơ cả đáy.

Cầu Kỳ Lừa đã bị địch đánh sập, giơ lên những thanh thép đen nhẻm, quăn queo như những cánh tay ghẻ lở, gày guộc xiên lên nền trời xám xịt.

Dưới lòng sông, xác trâu bò, lợn gà chết trương phềnh, lập lờ trong các vũng nước còn xót lại.

Chợt nó nhìn thấy một cánh tay và một mái đầu lơ phơ tóc đang dập dềnh trong một vũng bùn đặc.

Tất cả đầu bốc mùi khăn khẳn, ruồi nhặng bâu đen, . . . .

Không khí sặc mùi xú uế, tang tóc.

Nhà cửa đổ nát, cây cối xác xơ, mặt đường bị cày xới, băm vằm, đồ đạc, xoong nồi, chăn màn, quần áo, giường tủ vương vãi khắp nơi.

Tất cả các cửa hàng cửa hiệu đều bị đập phá, kính nát vụn, vung vãi.

Đây đó, một vài ngôi nhà vẫn còn đang cháy âm ỉ, khói đen vẫn còn cuộn lên.

Một vài con chó, con mèo lạc chủ chạy vụt qua như những bóng ma, tru lên tiếng kêu ai oán.

Nhóm của chúng hối hả lấy máy ảnh, cặp vẽ ra ghi lại những hình ảnh đổ nát, tang thương đó.

Rất nhiều tư liệu sống động được thu thập.

Tối đến, chúng chọn một căn nhà còn "tương đối", rồi tìm xoong nồi ở loanh quanh đó mang về thổi cơm, nấu nước.

Trong khi chờ cơm, mấy đứa còn lượm được ô mai, cam thảo, rượu thuốc, rượu Lúa Mới vương vãi đây đó.

Chúng thắp vài cây nến rồi ngủ qua đêm để hôm sau lại tỏa ra đi vẽ tiếp các nơi.

Ở Lạng Sơn vài ngày rồi nhóm lại di chuyển lên Đồng Đăng.

Thị trấn Đồng Đăng cũng tan hoang, đổ nát và hoang vắng không khác gì Lạng Sơn.

Có một điều mà chúng thấy lạ, ở cả Lạng Sơn và Đồng Đăng.

Trên các bức tường ngoài phố và trong nhà, đâu đâu địch cũng viết khẩu hiệu bằng tiếng Việt "Chủ tịch Mao Trạch Đông muôn năm !", "Hồ Chí Minh muôn năm !", "Đả đảo tập đoàn Lê Duẩn !".

Trong một số nhà, chúng còn thấy ảnh Bác Hồ và ảnh Mao chủ tịch treo trang trọng bên cạnh nhau, còn ảnh TBT Lê Duẩn thì bị băm nát và bôi bẩn.

Mấy ngày ở đồng Đăng, có hôm chúng vào nghỉ đêm trong động Tam Thanh.

Đó là một cái động đá rất rộng và rất đẹp với nhiều nhũ đá đủ các hình thù rủ từ trên xuống.

Trong động vẫn còn nhiều đồ đạc, bếp nấu, vật dụng sinh hoạt của bà con trú ẩn trước đó còn vương lại.

Buổi cuối cùng ở Đồng Đăng, tình cờ chúng đi qua một dãy phố buôn bán thuốc.

Thôi thì đủ các loại đông dược quăng quật khắp nơi.

Chúng nó chỉ quan tâm đến mấy thứ chén được, cam thảo, hạt sen, quế chi, ô mai và nhất là táo tàu.

Chúng đua nhau nhét đầy các cóc ba lô.

Trong mấy cửa hiệu thuốc tây, chúng thấy la liệt các hộp ca-pốt (bao cao su) vứt lung tung.

Phần vì tò mò, phần vì nghịch, chúng cũng vơ một đống, nhét vào túi cóc.

Khi chúng rời Đồng Đăng, quay ra bến tàu để trở về Hà Nội thì cũng là sau mươi ngày quân Tàu đã rút.

Lác đác đã có đồng bào trở lại nhà để dọn dẹp trong đống đổ nát.

Sau một ngày hành quân bộ, chúng lên tàu về Hà Nội.

Chúng về đến đơn vị thì đã tầm 2 giờ sáng.

Trước khi đi ngủ, mấy thằng nghịch ngợm còn mang ca-pốt ra thổi.

Quả to thì như bóng bay, quả nhỏ thì trông như "cái kia", tất cả đều màu trắng.

Chúng buộc túm mấy quả một với nhau rồi treo dọc theo dây phơi quần áo và dây phơi khăn mặt bên nhà chị em nữ của đội văn nghệ.

Sớm hôm sau, chị em nhìn thấy bong bóng khắp nơi, hét ré lên, kéo nhau hết một lượt ra xem, rồi cười đùa rinh ríc, đấm lưng nhau thùm thụp.

Chúng nó tập trung hoàn thiện các bức vẽ sau chuyến đi thực tế thành các tranh ký họa chì, bút sắt, màu nước, bột màu, sơn dầu, . . . .

Những bức đó được chọn lọc và tổ chức trưng bày "Ký Họa Chiến Tranh" tại nhà văn hóa binh chủng.

Sau đó một số bức tranh đẹp của mỗi đứa còn được tham gia treo tại Phòng Thông Tin ở phố Tràng Tiền, đối diện rạp Công Nhân (sau này Hội Mỹ Thuật Hà Nội mới có riêng một phòng trưng bày, triển lãm tranh ở 16 Ngô Quyền).

Đi thực tế ở miền Nam

Ở trại sáng tác được ít lâu, bọn chúng lại được lệnh đi thực tế vào các tỉnh phía Nam.

Nhiệm vụ của bọn chúng là ký họa, chụp ảnh lấy tài liệu về các hoạt động của binh chủng thông tin, cảnh lao động và sinh hoạt của người dân, chuẩn bị cho các sáng tác để tham gia triển lãm mỹ thuật toàn quân vào năm sau.

Cả trại chia làm mấy nhóm, mỗi nhóm chọn một vùng để ghi chép.

Nhóm của nó gồm Phạm Bình Đính, Đào Trung Hòa và nó.

Chúng được cấp giấy công lệnh và "giấy giới thiệu" của binh chủng, cho phép chúng cỏ thể dừng chân, ăn nghỉ tại tất cả các đơn vị thông tin nào mà chúng đi qua.

Chúng còn được cấp tiền công tác phí, nhu yếu phẩm, họa phẩm, . . . .

Ngoài tư trang lính, chúng phải mang theo lỉnh kỉnh đủ thứ "đồ nghề", cặp vẽ, giấy, bút, màu, . . . .

Nó cũng mang theo máy ảnh để chụp nhanh những nơi không đủ thời gian ký họa.

Nhóm mấy đứa nó vào mấy tỉnh miền Trung Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn.

Trời đã vào thu mà miền trung vẫn rất nóng.

Chúng "lê la" khắp nơi trong cái nắng rát ong ong, nhoài người ra "ghi chép"các cảnh sinh hoạt, hoạt động của bộ đội, của nhân dân các xóm chài, đồng muối và phong cảnh, . . . .

Có hôm chúng nhận khẩu phần ăn cả ngày bằng mỳ tôm rồi đi lang thang trên các bãi biển của xóm chài mà vẽ phong cảnh, vẽ cảnh kéo lưới trên bờ biển, cảnh đồng muối bạc lấp lóa thiêu đốt trong nắng, cảnh đan lưới, xảm thuyền, . . . .

Những nơi chúng đi qua, bà con ai cũng quý.

Mỗi lần chúng ngồi vẽ, trẻ con trong xóm xúm lại xem, thì thào, xuýt xoa và đùa nhau chí chóe.

Buổi trưa chúng mắc võng nghỉ dưới tán dừa, lấy mỳ tôm ra nhờ dân làng nấu hộ vì chúng chẳng có nồi xoong hay củi lửa.

Thương tình mấy chú lính chỉ có mỳ không, nên bà con bao giờ cũng nấu mỳ cho chúng bằng nước dừa, có khi còn cho thêm mấy con tôm, con ngao.

Mỳ tôm, mỳ ngao ngon tuyệt !

Đi dọc miền trung đã được nhiều ngày, nhóm của nó nảy ra sáng kiến chuyển vùng lên Đà Lạt để thay đổi cảnh mà lại tránh được cái nóng đang gay gắt.

Xe ô tô đưa chúng vượt qua vùng đồng bằng, lên cao dần.

Cao nguyên Trung phần quen thuộc lại hiện ra trước mắt chúng, mênh mang, khoáng đạt và lộng gió.

Qua vài con đèo lớn nhỏ, hết một khúc cua lớn nhất thì tới Đà Lạt.

Đó là một thành phố cao nguyên nằm trong một vùng thung lũng lòng chảo lớn, một "thành phố trong rừng" với những cái tên thơ mộng "Thung Lũng Tình Yêu", "Hồ Than Thở", "Đồi Mộng Mơ", "Thác Datanla", "Thác Prenn", "Thung Lũng Vàng", "Cao Nguyên LangBiang" với câu chuyện tình chàng Lang dũng cảm và nàng Biang xinh đẹp, "Hồ Đankia", "Suối Vàng", "Suối Bạc", . . . .

Xe đưa chúng theo con đường quanh co, tiến dần vào trung tâm thành phố.

Hai bên đường là các biệt thự xinh đẹp ẩn mình trong những hàng cây thông cao vút, cây hoa dây quấn quýt đủ loại đua nhau nở, khoe sắc màu rực rỡ.

Đến trung tâm thành phố, chúng chuyển sang đi xe ngựa.

Từ đây, xe ngựa đưa chúng đến điểm dừng chân là một đơn vị thông tin nằm trong trung tâm Vật Lý Hạt Nhân, ở ven đô Đà Lạt.

Thời tiết của thành phố cao nguyên này rất kỳ lạ.

Một ngày có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

Sáng sớm, trời rất lạnh.

Đến khoảng tám, sương đã tan, tiết trời ấm áp, ẩm dìu dịu như mùa xuân.

Đến giữa trưa trời nắng gắt đúng như mùa hè.

Sau 3 giờ chiều, trời bắt đầu xe xe như tiết mùa thu, cho đến 6 giờ chiều thì lạnh hẳn.

Đêm đến thì trời rét căm căm, phải đốt lửa sưởi ấm như mùa đông.

Sau bữa sáng, chúng ra khỏi nhà đi vẽ, thường ních đủ thứ áo ấm.

Rồi chúng cứ cởi dần áo, đến trưa thì chỉ còn mặc độc áo cộc tay.

Tầm chiều, các đồ cởi ra lại được mặc dần trở lại cho tới khi về đến nhà thì đã đóng đủ lệ bộ chống rét như buổi sáng.

Xin đừng quên em !

Ngay từ lúc tới thành phố này, nó và Bình Đính đã nghĩ tới Kim Tuyến.

Chuyện của nó với Kim Tuyến thì nó đã kể với Bình Đính và Trung Hòa.

Giá mà ngày ấy, nó đồng ý lấy Kim Tuyến thì nàng đã không phải điều vào tận cái thành phố xa lắc xa lơ này.

Bình Đính cũng quen Kim tuyến từ ngày học chung trường cấp III của huyện.

Bây giờ chuyện đồng hương tìm nhau ở nơi xa quê, chắc hẳn mọi người đều vui.

Đà Lạt là một thành phố nhỏ nên chúng nó chẳng khó khăn gì tìm được Kim Tuyến.

Nàng đang làm ở ngân hàng thành phố Đà Lạt, nằm tại trung tâm và được phân một gian nhà tập thể trong khu biệt thự cổ gần đó.

Sau hai ngày làm việc trong đơn vị thông tin, hôm đó là cuối tuần, chúng liên lạc được với Kim Tuyến và rủ nàng đi chơi.

Kim Tuyến rủ thêm hai bạn gái trong cơ quan cùng đi.

Mới mấy tháng không gặp mà Kim Tuyến đã đổi khác rất nhiều.

Nó không còn thấy nàng ngăm ngăm, mà thật sự là Kim Tuyến rất trắng, phải nói là "đẹp nõn".

Trông Kim Tuyến sâu lắng hơn, đĩnh đạc hẳn, ra dáng con gái thành phố, "hương đồng gió nội bay đi ít nhiều".

Hẳn là cái không khí mát mẻ của cao nguyên và tư thế của nàng trong công việc đã làm cho nàng thay đổi rất nhanh.

Ba cô gái dẫn ba thằng chúng nó bằng Honda đi thăm thành phố, thăm nhà thờ Con Gà (nhà thờ lớn), dạo quanh Hồ Xuân Hương, chùa Quan Thế Âm, thăm ga xe lửa Đà Lạt, rồi ra hồ Than Thở, hồ Mê Linh, hồ Chiến Thắng, thung lũng Tình Yêu, đồi Mộng Mơ.

Cuối cùng quay trở lại phía tây ngắm cảnh thác Cam Ly.

Thằng Đính và Thằng Hòa đã biết chuyện hai đứa, bây giờ nhìn "đầu mày cuối mắt" của Kim Tuyến và nó, hai thằng tế nhị, lảng đi chỗ khác.

Nó chở Kim Tuyến ở phía sau, nghe dịu ngọt tiếng nàng giới thiệu với nó như một hướng dẫn viên du lịch thực thụ.

Cảnh sắc thiên nhiên đẹp, không khí mát mẻ, khoáng đạt, tiếng thẽ thọt của người con gái xinh đẹp ngay bên cạnh, không khỏi làm cho nó cảm thấy xốn xang, rung động.

Đến trưa thì hai đứa đi hết một vòng và dừng chân dưới một gốc thông rất lớn ngay gần thác Cam Ly.

Chúng bày đồ ăn trên tấm nylon, chả gì thì nó cũng góp được phong lương khô.

Hai đứa nghỉ ngơi nói chuyện một lúc lâu rồi Kim Tuyến đưa nó ra ngắm thác Cam Ly, nàng dẫn nó đi dọc theo con suối Cam Ly.

Nó trông thấy một vạt hoa tím rất đẹp bên bờ suối.

Kim tuyến bảo nó đấy là hoa lưu ly.

Hoa này được nhập từ phương tây về Đà Lạt đã hàng trăm năm nay và bây giờ trở thành một trong hai loài hoa đặc trưng của Đà Lạt, là hoa lưu ly và hoa mimosa.

Cả hai loài hoa này đều là hoa của tình yêu.

Hoa mimosa màu vàng óng ả, người ta còn gọi là "trinh nữ hoa vàng".

Hoa này có nguồn gốc từ Úc.

Chuyện kể rằng, Ngày xưa, ở vùng đất Australia tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có một đôi tình nhân yêu nhau say đắm, chàng là con của một người dân thường, có thân hình vạm vỡ, nước da đen bóng và một trí thông minh tuyệt vời.

Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, đẹp rực rỡ, đài các, yêu màu vàng và được Chúa ban cho một tấm lòng nhân hậu.

Họ đã trao nhau những nụ hôn say đắm và cả cuộc đời trên cảng biển Sydney thơ mộng.

Nhưng rồi, gia đình nàng lại ép gả cho một Công tước Hoàng gia.

Sau bao phen phản đối kịch liệt không thành, nàng đành chấp nhận lên xe hoa.

Chàng buồn phiền từ giã biển khơi, bỏ nghề chài lưới, lên một vùng núi cao hiểm trở làm nghề giữ rừng để quên đi mối tình tuyệt vọng.

Khi đặt chân đến nơi, thì một trận hỏa hoạn dữ dội xảy ra.

Một mình chàng bất chấp hiểm nguy đã cứu những cánh rừng xanh và những con Canguru tội nghiệp.

Và rồi, ngọn lửa quái ác kia đã làm chàng ngất xỉu và thiêu sống chàng.

Hay tin chàng trai bỏ thành phố biển lên ngàn, tìm chốn quên mối tình đầu dang dở, trong đêm tân hôn cô gái đã bỏ trốn để tìm người yêu.

Nhưng, hỡi ơi!

Gặp được thì nàng không còn tin vào mắt mình nữa khi nhìn thấy thân xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy.

Nàng quỳ xuống và gục chết bên người yêu.

Từ đó, trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng - nơi cặp tình nhân đã chết cho tình yêu xuất hiện một loài cây thân mộc, lá màu xanh biếc, lấp lánh hoa vàng thơm mát - Mimosa.

Hoa lưu ly có tên tây là "Xin đừng quên em !"

- forget me not.

Ngày xửa ngày xưa, vào một buổi sáng mùa xuân có một đôi tình nhân dắt nhau dạo chơi bên bờ một con suối có những bông hoa cánh tím mỏng manh rất đẹp mọc thành từng mảng dày.

Tất cả các bông hoa đều vươn mình về phía dòng nước, như thể muốn soi xem chúng kiều diễm đến mức độ nào.

Cô gái thấy chúng đẹp và lạ quá bèn nhoài người ra định hái mấy nhành tặng người yêu, lúc đó đang mải ngắm dòng thác đổ trên cao.

Không may cô bị trượt chân ngã, và chỉ trong nháy mắt, dòng suối đã cuốn mất bóng cô, chỉ còn để lại một nhành hoa gãy với lời vọng lại: "Xin đừng quên em !".

Từ đó, lời dặn của cô gái trở thành tên riêng của loài hoa này.

Lời kể chuyện của Kim Tuyến về hoa lưu ly như vận vào hai đứa.

Cũng dòng suối đây, cũng thác nước kia, cũng vạt hoa lưu ly tím, và cũng hai người bên nhau . . . .

Kim Tuyến mở chiếc khăn mùi xoa thơm ngát mùi hoa lan, bên trong là một cuốn sổ tay nhỏ màu đỏ.

Nàng nâng niu cuốn sổ rồi lật vài trang.

Ở đó có một bông hoa lưu ly được ép khô vẫn tươi rói sắc tím :

- Tặng anh cuốn sổ để anh ghi nhật ký và đây là bông hoa "Mong anh đừng quên Tuyến !"

Sau nhiều ngày làm việc, đến lúc chúng nó lên đường rời Đà Lạt, Kim Tuyến cùng hai người bạn ra tận bến xe tiễn biệt.

Nó thấy bùi ngùi và lưu luyến lắm nhưng chẳng biết nói gì.

Nó cầm và giữ tay nàng hơi lâu, mãi mới cất nên lời :

- Tuyến giữ gìn sức khỏe, anh đi nhé !

Sau này nó làm mất cuốn sổ đỏ và bông hoa "chia ly", kỷ vật mà Tuyến tặng nó, bên con suối mộng mơ, một thời trai trẻ.

Tới khi tuổi gần 60, về quê để mời đám cưới con nó, nó mới có dịp hỏi thăm Kim Tuyến.

Nàng ở Đà Lạt, lấy chồng là sỹ quan quân đội cùng quê, anh chồng đã nghỉ hưu.

Còn Kim Tuyến làm giám đốc ngân hàng trung tâm thành phố.

Được vài năm thì nàng chết do căn bệnh ung thư.

Nó chợt giật mình và thầm gọi : "Anh có lỗi với em rồi, Tuyến ơi !"

Trở lại sau cái ngày Chủ Nhật ngọt ngào đầy kỷ niệm với Kim Tuyến, chúng nó tiếp tục công việc ở Đà Lạt.

Một hôm ba thằng lên vẽ ở một quả đồi gần hồ Xuân Hương.

Đó là một quả đồi thấp với trảng cỏ xanh mướt trải rộng mênh mông, nằm cạnh hồ nước lung linh gợn sóng.

Mặt hồ in bóng những hàng thông, lấp lánh nắng vàng sóng sánh như kim sa.

Không khí dịu nhẹ, thanh tao, ngan ngát mùi hương hoa, thoang thoảng bay trong gió.

Phía xa xa là rừng thông dày và cao, vi vút reo trong gió, chấp chới trong nắng vàng.

Cảnh sắc thiên nhiên nên thơ và lãng mạn.

Mấy đứa đang cắm cúi trèo lên đồi thì bỗng nghe tiếng hát đồng thanh từ đâu đó rất gần "Cháu yêu chú bộ độ đánh Mỹ tài ghê, tàu bay Mỹ đến đây . . . ." .

Ba thằng giật mình tìm quanh.

Chúng thấy, dưới mấy gốc thông, một lớp mẫu giáo với những em bé xinh xắn, mũm mĩm đang vừa hát vừa nhìn về phía mấy đứa nó.

Thì ra, khi nhìn thấy ba chú bộ đội, ba cô giáo trẻ đã chỉ cho các cháu và bắt nhịp cho các cháu hát.

Nó thấy lâng lâng một niềm tự hào và phấn khởi.

Ba đứa liền đi về phía các cháu.

Chúng ngồi bệt xuống cỏ cùng các cháu và ba cô giáo và cùng hát tiếp bài hát.

Bài hát vừa hết, các cháu ùa ra ôm cổ chúng, ríu rít như đàn chim non.

Mấy chú lính rất vui, chúng giở cặp vẽ cho các cháu và cô giáo cùng xem.

Mỗi đứa chọn ra một bức, ký tặng 3 cô giáo.

Rồi chúng nó chụp ảnh chung với các cháu và ba cô giáo.

Ba thằng và ba cô giáo tíu tít trao đổi địa chỉ cho nhau.

Nó hẹn khi nào về tới Sài Gòn, làm ảnh xong sẽ gửi cho các cô và các cháu.

Chia tay các cháu lớp mẫu giáo, ba đứa đi tiếp vào vườn hoa của một ông già.

Ông là người nghiên cứu, lai ghép thành công nhiều giống hoa rất quý và được đưa vào trồng đại trà ở Đà Lạt.

Đặc biệt nó còn nghe nói về hoa hồng đen mà ông đang nghiên cứu, lai tạo sắp thành công.

Ba thằng nó vào đến vườn thì được chính ông già ngồi tiếp chuyện.

Một ông già quắc thước có bộ tóc và râu dài bạc trắng, trông như một ông tiên.

Bốn người ngồi xung quanh một bộ bàn ghế gỗ lũa dưới một gốc cây.

Phía trên đầu là một dàn hoa ti-gôn với những cánh hoa mỏng manh, tím hồng, li ti.

Ông mời chúng thưởng trà a-ti-sô thơm ngan ngát và say sưa nói chuyện với chúng nó về các giống hoa, những nét đẹp riêng của mỗi loài cũng như tính nết của mỗi loài hoa, . . . .

Khi chúng về, ông còn tặng mỗi thằng một nhúm hạt hoa giống để trồng thử.

Sau này , nó không có dịp gặp lại ông già nữa.

Sau đó khá lâu, nó nghe tin ông mất khi giống hoa hồng đen vẫn chưa thành.

Từ đó cũng không ai tiếp tục nghiên cứu công trình dang dở của ông.

Giống hồng đen chỉ còn là một truyền thuyết.

Về sau nó biết, ở Đà Lạt cũng có rất nhiều người say mê nghiên cứu hoa.

Trong đó người đầu tiên cần nói đến là anh Nguyễn Công Hóa.

Anh Hóa ở làng trồng hoa Vạn Thành, đã làm ra hoa hồng với đủ các màu sắc theo ý muốn, có cả hồng đen.

Nhưng đó chỉ là một giống hoa hồng thường mà hoa của nó được "nhuộm màu" theo ý muốn.

Hiện nay anh Hóa cũng nổi tiếng với hoa ướp.

Hoa ướp có thể để nhiều năm mà trông vẫn tươi như mới.

Hòn Ngọc Viễn Đông

Nhóm chúng nó rời Đà Lạt và tập trung tại Sài Gòn cùng các nhóm khác.

Cả Trại Sáng Tác tập trung về trạm khách của Bộ Tư Lệnh Thông Tin, nằm trên đường Cách Mạng Tháng Tám.

Đó là một biệt thự ba tầng nằm ngay mặt đường, gần vườn hoa Tao Đàn.

Trời nóng quá, mấy đứa quẳng vội ba lô, cặp vẽ, máy ảnh, . . . . trên giường rồi nhảy hết xuống tầng một để tắm.

Tắm xong nó trở lên phòng thì giật bắn mình khi nhìn thấy thằng Tân đang mở hộp tối của máy ảnh, rút phim ra xem.

Nó vội giằng lấy cuộn phim nhưng chết lặng người vì toàn bộ phim đã bị lộ sáng.

Bao nhiêu kiểu ảnh quý vừa là ảnh tư liệu vừa là ảnh kỷ niệm.

Biết ăn nói sao đây với Kim Tuyến, với ba cô giáo và các cháu học sinh mẫu giáo ở đồi Thông Đà Lạt, . . . .

Thằng Tân là người quản lý trạm khách nhưng là đồng đội của nó những ngày ở Pleiku.

Mà phim đã lộ sáng rồi thì có "ăn thịt" nó cũng chả lấy lại được.

Nó ngồi thần người ra, mặt nhăn nhúm, bất lực, không thể hé răng nói lên một lời.

Tuy rằng một cuộn phim quý chỉ là chuyện nhỏ nhưng vị cay đắng mà nó nhận được là : "Ở đời, có người luôn kỳ cọm làm việc, để rồi, người khác vô tình phá hỏng hết."

Nó đã hai lần đến Sài Gòn trước đó, nhưng là hai lần đi buôn cùng chị gái.

Hai lần đó, nó chỉ quanh quẩn ở chợ Bến Thành và vài ngóc ngách quanh đó, trong một trạng thái bận rộn, vội vàng, hối hả và lo lắng, mau mau chóng chóng, một hai ngày lại ngược ra Hà Nội.

Cho nên hai lần đó nó vẫn chưa biết Sài Gòn.

Sài Gòn là một thành phố rất lớn, dễ chừng lớn gấp chục lần Hà Nội với dân cư đông đúc, cuộc sống hối hả, tấp nập suốt ngày đêm.

Thành phố có rất nhiều đường phố đẹp, nhà cao tầng, cửa hàng, cửa hiệu, tiệm ăn tráng lệ.

Nhiều vườn hoa được thiết kế rất đẹp và chăm sóc cẩn thận.

Trên đường phố, ô tô, xe máy chạy nườm nượp và ít xe đạp, khác hẳn với cảnh đường phố Hà Nội, toàn xe đạp, ô tô xe máy rất ít.

Người Sài Gòn ăn mặc rất đẹp, đủ các loại mốt quần áo, váy đầm, chẳng bù cho Hà Nội lúc đó chủ yếu quần xẫm, áo trắng, đơn điệu một kiểu.

Nhìn đến các cửa hàng cửa hiệu, chúng nó càng choáng hơn, hoa mắt trước đủ các thứ hàng hóa, ô tô, xe máy, tủ lạnh, tivi, quạt điện, máy nọ, máy kia, rồi vải vóc, lụa là đủ các thứ, không thể biết và kể hết được.

Nó cũng đã được nghe nói Sài Gòn là "Hòn Ngọc Viễn Đông".

Bây giờ nó mới thấy Sài Gòn giàu có, to lớn và tráng lệ xứng với danh hiệu đó.

Sau khi ăn cơm chiều, tối hôm đó, mấy chú lính của trại sáng tác tản bộ dọc theo các phố.

Vừa xuống đến vỉa hè, cái đập vào tai mắt nó đầu tiên là dòng người và xe tấp nập như mắc cửi.

Nhìn ngược dòng xe chạy, thấy đèn pha ô tô xe máy dài mãi, hút tầm mắt.

Nhìn xuôi dòng xe cộ, đèn hậu đỏ của xe cộ cũng trải dài mãi tít xa.

Nhìn ra xung quanh, không biết bao nhiêu là các loại đèn chiếu sáng, đèn trang trí, đèn tín hiệu giao thông.

Tiếng rầm rầm của đủ các loại động cơ đang lướt trên đường phố làm cho chúng cảm thấy sợ hãi mà không dám thò chân xuống lòng đường.

Ở vườn Tao Đàn, có rất nhiều cây đẹp, rợp bóng.

Vài hàng nước mía bày ghế khắp trên vỉa hè.

Đây đó là mấy chiếc xe đẩy bán "sinh tố" với đủ các loại trái cây xoài, dưa hấu, đu đủ, cóc, . . . . .

Để ý kỹ một chút, nó thấy dưới các gốc cây, cột điện, có các cô gái đứng rải rác, tay cô nào cũng cầm một thứ gì đó, mảnh mưa, túi xách, khăn tay, . . . .

Khi chúng vừa bước chân tới vườn hoa thì đã có mấy đứa trẻ nhỏ ríu rít chào mời chúng nó bằng tiếng miền nam.

Mấy thằng chưa quen nên không hiểu bọn trẻ nói gì.

Thằng Tân phải phiên dịch lại :

- Mấy chú ơi !

Chơi gái không chú ?

Bây giờ nó mới nhìn khắp một lượt cái góc vườn hoa, dễ có đến dăm chục gái, già trẻ, lớn bé, đủ loại.

Chốc chốc lại có một chiếc xe máy tấp lại bên cạnh, lập tức vài ba gái chạy tới, mặc cả qua lại, thậm chí có gái còn kéo tay khách cho kiểm tra hàng.

Rồi một gái nhảy lên ngồi sau xe, chiếc xe lao vút vào trong dòng người đông đúc.

Đã biết ý, mấy thằng nó vội vàng đi sát ra phía đường để tránh.

Thế mà cũng chẳng thoát.

Mấy thằng vẫn bị mấy cô gái bao vây, mời chào rất tự nhiên.

Thằng Tân đã là thổ dân nên biết cách xử lý, hắn quát :

- Dẹp ra !

Đây là "người đơn vị".

Không có chơi bời gì đâu.

Nghe quát mấy cô gái mới vội tản ra.

Chả phải mấy gái sợ "người đơn vị" mà cái chính là thái độ của Tân rất rõ ràng.

Nhà quê ra tỉnh

Lần đi công tác trước ra Hà Nội, nó có vào chơi nhà Kiếm và được biết vợ chồng chị Trâm Anh, chị gái Kiếm, đã chuyển vào Sài Gòn, nó đã xin địa chỉ của chị.

Bây giờ, nó khoác ba lô, cầm địa chỉ của chị hỏi thăm đến đường Huỳnh Thúc Kháng.

Đây là lần đầu tiên, thực sự nó đi trên đường phố Sài Gòn.

Vừa đi nó vừa nhớn nhác nhìn ngó các ngôi nhà cao tầng san sát, các cửa hàng cửa hiệu sang trọng, dòng người và xe cộ tấp nập ngược xuôi trên đường.

Nó hoa mắt vì cảnh "phồn hoa đô hội" của thành phố và chóng mặt vì dòng người xe cứ vun vút, . . . .

Đến một đoạn, nó muốn sang đường mà không biết làm thế nào.

Nó mà bước vài bước xuống đường thì thể nào cũng bị xe đâm.

Mà cũng không thể làm thế được, mọi người sẽ "chửi" nó chết.

May có một cụ già mà một em bé đi bộ cùng chiều với nó.

Cụ già tận tình chỉ bảo cho nó, muốn sang đường phải ra ngã tư, nơi có đèn tín hiệu.

Khi nào đèn đỏ, xe cộ phải dừng lại, rồi đèn xanh cho người đi bộ nhấp nháy thúc giục thì mới đi bộ qua đường được.

Đến ngã tư, cụ già cũng qua đường nên nó đã học hỏi được cách sang đường của thành phố.

Nghĩ bụng :"Mình đúng là nhà quê ra tỉnh".

Vợ chồng chị Trâm Anh ở trong một biệt thự nhỏ ngay mặt đường Huỳnh Thúc Kháng.

Sau hàng rào và cổng sắt là sân vườn chừng bốn chục mét vuông có trồng ít cây cảnh.

Một gốc hoa giấy lớn, um tùm leo trên hàng rào sắt, dày đặc những búp hoa đỏ rực.

Nó bấm chuông, chờ một lát thì có người giúp việc ra mở cổng và dẫn nó vào phòng khách.

Phòng khách khá rộng, chừng ba chục mét vuông, có cầu thang ở giữa, dẫn lên tầng hai.

Một lát thì chị Trâm Anh từ trên gác xuống.

Chị mặc một chiếc váy mỏng, màu hồng có phần hơi điệu đà, cảnh vẻ.

Trông chị không khác trước là mấy, chỉ hơi già đi một chút nhưng đẹp, tươi tắn và nhanh nhẹn hơn.

Thấy nó, chị rất vồn vã, nhiệt tình.

Sau khi pha nước mát cho nó và hỏi thăm chuyện một hồi, chị giục nó vào nhà sau tắm giặt, chờ chồng chị về cùng ăn cơm.

Chồng chị Trâm Anh cũng là người Hà Nội.

Anh là phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng nên chuyển cả nhà vào Sài Gòn.

Vào đến nhà tắm, nó giật mình vì lạ.

Nhà tắm có lắp bồn tắm và có xí bệt, những thứ mà nó chưa được thạo lắm.

Nó cũng thấy lạ, là phòng tắm và phòng ăn ngay cạnh nhau, lại còn có cửa thông nhau, chỉ che khuất bằng một tấm ri-đô mỏng bằng nylon.

Lạ thật, bồn cầu ở đây mà phòng ăn lại ngay đấy, nó thấy ghê ghê và nghĩ: "Chắc hẳn, mình nhà quê quá !".

Nhìn thấy cuộc sống của chị Trâm Anh có vẻ sang trọng nó lại thầm ghen tị thay cho anh Bát nó.

Giá mà ngày ấy anh Bát lấy chị Trâm Anh ?!

Giá mà đây là nhà của chị và anh Bát nó . . . . !

Ở trạm khách được khoảng dăm ngày thì nhóm của nó tiếp tục đi thực tế vào sâu ở miền Tây.

Nhưng nó nhận được tin chị gái nó đang đánh một chuyến hàng lớn sắp vào tới thành phố.

Nó không đi theo nhóm mà ở lại giúp đỡ chị.

Hai thằng Đính và Hòa dồn tất cả tư liệu thu thập được, nhờ nó mang ra Bắc trước.

Ngày hôm sau, nó ra ga đón chị gái, giúp chị vận chuyển hàng đi bán.

Bán xong, nó lại giúp chị nhập hàng mới, đóng gói để đưa ra Bắc.

Trước khi lên tàu, chị nó dặn :

- Sắp đến rằm tháng tám, cậu ra sau, vốn ít, nên mua một ít đồ chơi trẻ con bằng nhựa, cao su

như con chút chít, con gà, con rắn, con chó, . . . mang ra đổ buôn cho các cửa hàng đồ chơi,

chắc là lãi lớn đấy !

Nó còn ở lại trạm khách một tuần để chờ nhóm của anh Lưu, của Hướng về tập trung.

Nó phải gom tranh vẽ của cả ba nhóm, đóng hộp mang ra Hà Nội trước.

Các mũi vẫn còn đi vẽ tiếp.

"Trúng quả đậm"

Nó và chị gái đã bàn nhau, nó sẽ ra Hà Nội sau chị đúng một tuần.

Nó đã mua được vé tàu theo đúng kế hoạch.

Chị nó hẹn sẽ đón nó ở ga Hàng Cỏ vào lúc nó xuống tàu Thống Nhất.

Lời chị gái nói với nó rất có lý, lúc bấy giờ đồ chơi trẻ con ở Hà Nội nghèo nàn và cổ điển lắm, mấy cái đèn ông sao, ông sư phết bằng giấy bóng kính, mấy cái mặt nạ và đầu sư tử bằng giấy bồi, . . . .

Đồ nhựa của miền nam vừa lạ vừa phong phú về hình thức.

Nghĩ vậy, có bao nhiêu vốn liếng nó dồn tất vào một mối, thậm chí vay thêm tiền bạn bè, đổ vào mua đồ chơi nhựa.

Bây giờ đồ đạc của nó, bản vẽ của cả ba nhóm, hàng buôn của nó đã đầy ứ, nó phải xoay xở để mang được hết.

Nào ngờ, trước khi nó đi, bạn bè, người quen xúm đến gửi đồ nhờ nó mang ra Bắc cho người thân.

Người thì gửi mì chính, người gửi quần bò, vải pho, áo mông-te-ghi, búp bê, . . . .

Một người gửi nó cái khung xe đạp, anh Hoàng anh trai thằng Khải còn gửi nó một đôi lốp xe Honda.

Đã quá nhiều đồ, nhưng nó cả nể, không thể từ chối một ai.

Nó loay hoay suốt một ngày trời đóng gói để có thể mang hết được số đồ đạc lỉnh kỉnh.

Những hàng nhẹ mà quý thì nó cho gọn vào hai cái túi du lịch xách tay.

Ba lô thì nó nhét đầy tư trang và các tư liệu vẽ của mấy nhóm, đầy lèn lên đến nóc, không thể nhét gì thêm.

Nhưng mà nóc ba lô vẫn phải buộc thêm cái khung xe đạp và con búp-bê.

Hai cái cặp vẽ của nó được làm thêm hai quai để có thể khoác lên hai vai.

Đôi lốp xe Honda, nó không biết làm thế nào, đành khoác vào cổ, đeo lủng lẳng ra trước ngực.

Còn lại hai túi hàng lớn đồ chơi trẻ con thì may mắn là người bán đưa ra tận ga cho nó, nhét vào gầm ghế và chiếm hết cả khoảng trống giữa hai hàng ghế, phè cả ra lối đi (hồi đó chỉ có loại ghế ngồi cứng).

Quá nhiều hàng hóa làm cho nó bấn lắm, vậy mà khi tàu chuyển bánh, mọi chuyện có vẻ ổn.

Cứ thế này, cố gắng mấy ngày nữa ra đến ga Hà Nội thì đã có chị và các cháu đón sẵn.

Đâu sẽ vào đấy.

Nó lại gặp thêm may mắn là người ngồi cạnh nó là một giáo viên người Bắc vào dạy học ở Sài Gòn.

Anh được đi phép, chỉ mang hai bộ quần áo và mấy cuốn sách.

Hai anh em nói chuyện, tâm đầu ý hợp lắm.

Anh cho nó mượn một cuốn tiểu thuyết, nó ngấu nghiến đọc để giết thời gian.

Cũng may mà có anh giáo người tốt, nó mới có thể tin cậy mà ngủ ngơi được một chút.

Những lúc đi ăn hay đi vệ sinh thì anh và nó thay nhau trông đồ.

Hai anh em có vẻ như một đôi bạn tâm giao vậy.

Các cụ bảo "Một chữ nên thày, một ngày nên nghĩa", kể cũng đúng thật.

Theo đúng kế hoạch thì tàu đến ga Hàng Cỏ lúc 12 giờ đêm.

Chị gái nó và mấy đứa cháu sẽ đón nó.

Nó rất sốt ruột vì tàu về trễ nhiều, không biết chị và các cháu có chờ nó không ?!

Tàu về đến ga thì đồng hồ đã chỉ 2 giờ 15 phút.

Trời rất lạnh và mưa khá nặng hạt.

Từ lúc tàu chạy chậm vào sân ga, nó đã thò cổ ra ngoài cửa sổ ngóng chị gái và các cháu đến đón.

Nhìn mãi vẫn chẳng thấy một ai.

Khách trên tầu đã xuống gần hết và đang làm thủ tục ra khỏi ga.

Nó bắt đầu cuống lên vì hàng hóa rất nhiều, nó không có cách gì mang hết.

Suy nghĩ mất một lúc, chẳng còn cách nào khác, nó đành phải tin vào anh thày giáo mới quen và nhờ anh giúp.

Anh giáo xuống sân ga trước, nó lần lần chuyển hàng hóa qua cửa sổ toa tàu.

Sau khi chuyển hai bao tải đồ chơi, hai bộ cặp vẽ, đôi lốp xe máy, khung xe đạp xuống trước.

Còn lại cái ba lô nó xốc lên vai, hai túi du lịch nó xách bằng hai tay.

Nó đi ra đầu toa để xuống sân.

Anh giáo vẫn đang đứng trông đồ chờ nó.

Nó dớn dác ngó quanh mà không thấy bóng dáng chị và các cháu nó đâu cả.

Nó đành nói khó nhờ thày giáo mang hộ nó những thứ nhẹ gồm hai túi du lịch, đôi lốp xe máy, và cái khung xe đạp.

Còn nó thì, lưng đeo ba lô, cổ quàng búp bê, hai vai khoác hai bộ cặp vẽ, hai tay nó kéo lê hai cái bao tải đồ chơi.

Miệng nó thì ngậm cái vé, nó đi theo sau anh giáo ra cửa kiểm soát.

Sân ga rất vắng vẻ, chỉ có khách xuống chuyến tàu đó, tất cả đều lầm lũi bước về một hướng, dưới ánh đèn vàng vọt trong làn mưa xiên xiên.

Hai cái bao tải quá nặng làm cho nó không thể đi nhanh như những người khác.

Nó cứ bị những người khác chen dần lên trên.

Lúc đó anh giáo đã len ra gần đến cửa mà nó thì cách một đoạn xa.

Nó vội gọi :

- Anh gì ơi !

Chờ em với.

Anh giáo ngoái cổ về phía nó, gật đầu và dừng lại.

. .

Anh giáo ngoái cổ về phía nó, gật đầu và dừng lại.

Nhưng bây giờ anh giáo đã vào đoạn hành lang hẹp mà hai bên có rào sắt.

Dòng người ở phía sau anh giáo cứ tự động đẩy anh lên, không thể dừng lại được.

Đúng lúc anh giáo được soát vé và thoát ra ngoài thì có ai đó giữ vai nó lại.

Nó ngoái lại và giật mình vì thấy sau nó là hai người lính "kiểm soát quân sự", nét mặt họ rất nghiêm khắc và kiên quyết.

Họ lập tức lôi nó và hàng hóa vào trong phòng thường trực.

Nó cuống quýt, nghển cổ tìm anh giáo nhưng không còn nhìn thấy anh đâu nữa.

Nó cố giải thích với hai người lính rằng nó còn nhiều đồ mà người khác đang xách hộ, cho nó đi lấy lại, nhưng Hai "kiểm soát quân sự" không tin.

Họ đẩy nó vào trong phòng, bắt ngồi chờ, bao giờ khách ra hết, sẽ giải quyết việc bộ đội đi buôn.

Nó bất lực, chẳng làm gì được và nó ngóng ra phía cửa để hy vọng anh giáo quay lại nhưng chẳng thấy anh giáo đâu.

Sau khi hành khách đã ra hết, nhà ga vắng vẻ, lặng ngắt như tờ.

Hai người "kiểm soát quân sự" mới yêu cầu nó xuất trình giấy tờ và tiến hành khám đồ của nó.

Nó đưa giấy công lệnh, chứng minh thư quân nhân, các cặp tranh vẽ.

Cuối cùng chỉ có đồ chơi nhựa là hàng hóa thì nó bảo là của người ta gửi.

Thấy cũng không có hàng cấm nên họ thả cho nó đi.

Nó vội khoác lại đồ đoàn lên người, kéo lê hai cái bao tải ra cửa ga.

Trong thâm tâm nó vẫn hy vọng anh giáo đang đứng đợi nó.

Nhưng không !

Phố phường lạnh ngắt, mưa gió tả tơi, lá vàng chao nghiêng xạc xào.

Nó lê đi trên đường, để mặc cho nước mưa hắt vào mặt, hòa cùng dòng nước mắt lăn dài trên má.

Rồi, nó đắng cay nhận ra rằng nó đã mất hết.

Nó thẫn thờ dừng lại bên đường, lẳng lặng đứng khóc . . . .

Có một bác xích lô đến mời, nó chất đồ lên xe, không mặc cả giá, nó nói như người mộng du :

- Số 6 Cao Bá Quát !

Sau khi trả tiền xích lô, nó lếch thếch leo lên tầng hai, người nó và đồ đạc đều ướt sũng.

Nó gõ cửa.

Anh rể nó ra mở cửa, giọng ngái ngủ :

- Thập đã về đây à ?

Nói xong, anh với cái điếu cày để trong ống bơ, vê thuốc hút một hơi.

Nó nhìn vào phía trong, thấy chị gái và các cháu đang vùi đầu trong chăn ấm, ngáy o o . . . .

Trong lòng bực tức, nó quay sang hỏi anh rể :

- Lúc 12 giờ, chị và các cháu có ra ga đón em không ?

- Không thấy chị nói gì cả.

Hôm nay lạnh, cả nhà đi ngủ từ lúc 9 giờ.

Nghe nói thế nó chết lặng người đi trong một nỗi buồn, đau đớn và tủi hờn.

"Chị ơi là chị !

Khi chị cần, khó mấy em cũng giúp chị bằng xong.

Vậy mà chị hẹn, lại không ra đón, làm em mất hết.

Chị giết em rồi !"

Nước mắt nó cứ tự dưng lăn xuống . . . .

Một lúc sau, nó đi xuống nhà.

Trên cái bàn ăn, nó thấy một cái mâm đậy lồng bàn.

Nó mở lồng bàn ra, bát đũa bẩn ngổn ngang cùng với xương gà, xương cá tùm lum, . . . . chẳng còn hạt cơm nào để phần cho nó.

Nó thay tạm quần áo rồi ngả lưng xuống tấm phản kê ngoài hiên.

Nhưng nó trằn trọc mãi với không biết bao nhiêu hình ảnh và ý nghĩ, mãi chẳng ngủ được.

Rồi nó thiếp đi lúc nào không hay.

Trời tang tảng sáng.

Đường cùng

Những ngày sau đó đối với nó thật sự là cực hình.

Hai bao tải đồ chơi nhựa nó mang bán cũng chỉ được hòa vốn.

Vốn này một phần là tiền vay của bạn bè.

Toàn bộ những đồ gửi của bạn bè, lốp xe máy, khung xe đạp, quần bò, áo mông-te-ghi, vải pho, vải tuýt-xy, mì chính, . . . .

đã mất hết.

Chả cần phải tính toán gì, nó bán chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ mà nó đang đi, bán mấy bộ quân phục, đôi giày và mũ cối mới được phát.

Cuối cùng, còn cái máy ảnh nó cũng đành bán nốt.

Được bao nhiêu tiền nó mua hàng để đền cho bạn bè nhưng vẫn không đủ.

Riêng đôi lốp Honda quá lớn tiền, nó chưa thể trả được, nó phải xuống nhà Khải trình bày hoàn cảnh, xin khất lại, trả sau.

Nó còn buồn một chuyện nghiêm trọng hơn, ấy là khi kể lại chuyện mất đồ, bạn bè, họ hàng chỉ ậm ừ, tỏ ra không tin.

Có người còn nói vọng cho nó nghe thấy: "Nó tha lấy của người thì thôi, ai lấy nổi của nó.

Toàn bịa chuyện."

Mọi người không tin nó, có ý xa lánh, dè bỉu, diễu cợt nó.

Phải !

Mất lòng tin là mất tất cả.

Nhớ lại chuyện cậu em nhà dì nó ở trong Nam ra mang theo nhiều đồ đạc, của nả làm rạng rỡ cả nhà đến nỗi bu nó phải "hực" lên mà mắng nó.

Bây giờ nó cũng "đi bê" (*) ra mà đồ lại để người khác "bê" mất, chắc hẳn bu nó cũng xấu mặt với làng xóm lắm.

Tất cả mọi chuyện dồn nó đến chỗ "hận".

Nó hận lắm và rắp tâm trả thù.

Tàu Bắc-Nam một ngày có hai chuyến rời ga Hàng Cỏ vào 1 giờ chiều và 6 giờ tối.

Nhiều ngày liền, nó ém dao găm trong người, lảng vảng quanh cửa vào ga để rình tóm lão thày giáo.

Mười ngày liền vẫn chẳng thấy anh ta đâu.

Nó chán nản dần rồi tặc lưỡi tự an ủi : "Thôi !

Của đi thay người."

Nhiều ngày nay nó không có phương tiện để đi, đi đâu cũng chỉ là cuốc bộ.

Không có cái xe đạp chẳng khác gì bị cùm chân, muốn làm việc nọ, việc kia cũng đành "bó chân".

Nhiều ngày rình ở ga Hàng Cỏ, không ngày nào là nó không nhìn thấy rất nhiều xe đạp đắt tiền Mifa, Favorite, Eska, . . . . mới cứng, dựng hớ hênh không khóa.

Nó theo dõi cẩn thận thấy xe chẳng có người trông mà chủ nhân thì đi rất xa.

Nó chỉ cần đến bên cạnh chiếc xe, dắt xe ra, ngồi lên và đạp đi là xong.

Thật là hấp dẫn.

Thực tình, lúc đầu nó cũng sợ và cảm thấy run nhưng sau nhiều ngày lặp lại nó không còn sợ nữa.

Nhưng nó phải đấu tranh tư tưởng, dằn vặt lắm.

Đột nhiên có một câu nói từ đâu đó vọng lên trong đầu nó: "Mày không thể là thằng ăn cắp !".

Ranh giới thật là mỏng manh.

Ở quê, may mắn có một người duy nhất cảm thông với nó.

Đó là chị dâu nó (gọi là chị Bính), vợ cả của anh Bính.

Mấy mẹ con chị Bính phải tự nuôi nhau nên cuộc sống khó khăn và kinh tế eo hẹp nhất trong số các anh chị em nó.

Nhưng Chị Bính tin câu chuyện mất đồ của nó và không thờ ơ, lãnh đạm như những người khác.

Thấy nó buồn, mất hết không còn gì trong tay, chị rất thương nó.

Một hôm, chị gọi nó vào phòng của chị.

Trước mặt nó là một chiếc xe đạp màu trắng mới, vừa hạ trên xà nhà xuống.

Chị bảo :

- Đây là chiếc xe chị dành dụm mua cho cháu Hoàng.

Nó chưa phải đi học xa, chưa dùng đến.

Chị cho chú mượn đi tạm.

Khi nào chú có tiền, mua được xe thì trả lại cho chị, cho cháu đi học.

Nó đỡ chiếc xe, nhìn chị dâu mà trong lòng rưng rưng cảm động.

Chị dâu nó thật tốt.

(*) Trong chiến tranh chống Mỹ, miền Bắc là chiến trường A, miền Nam là chiến trường B, Lào là chiến trường C, Campuchia là chiến trường K.

Từ miền Bắc vào miền nam gọi là đi B.

Sau năm 75, bộ đội từ miền Nam ra mang nhiều đồ nên cũng được gọi là "đi bê".

Từ đầu thu năm 1979, trại sáng tác thâm gia một số triển lãm nhỏ của Bộ Tư Lệnh đồng thời tham gia vẽ tranh cổ động phục vụ Bộ Tư Lệnh và các đơn vị thông tin ở Hà Nội và Hà Sơn Bình (lúc bấy giờ Hà Đông, Sơn Tây và Hòa Bình vẫn là một tỉnh sáp nhập).

Sau đợt đó, chúng nghe phong thanh, trại sáng tác mỹ thuật sắp bế mạc.

Ai ở đơn vị nào trở về đơn vị đó.

Đúng lúc đó thì trại mỹ thuật cũng nhận được lệnh di chuyển đến nơi khác để trả lại nhà cho e130 đang cần sử dụng.

Bộ Tư Lệnh liên hệ cho Trại sáng tác về ở nhờ trong một gian "nhà nguyện" bỏ không ở đằng sau đình Yên Phụ.

Chiều hôm đó nó đang cùng mọi người thu dọn đồ đạc để di chuyển đến chỗ mới, quãng 3 giờ chiều, cậu công vụ của thiếu tá Ngô Hoàng Hương chạy xuống gọi nó :

- Anh Thập !

Lên gặp thủ trưởng ngay nhá !

Thủ trưởng Hương là người trực tiếp phụ trách văn hóa văn nghệ.

Không biết có chuyện gì mà đột nhiên ông lại gọi nó lên, nó thấy hơi lo lo.

Lên đến nơi, nó gõ cửa, tiếng thủ trưởng Hương vọng ra :

- Cứ vào đi !

Nó đẩy cửa bước vào phòng thì giật mình khi nhìn thấy người ngồi bên cạnh thủ trưởng Hương lại là thượng tá Nguyễn Huy văn.

Nó dập gót, đứng nghiêm chào.

Thủ trưởng Văn cười và nói :

- Được rồi, được rồi !

Ông hiền từ nhìn nó và kéo ghế cho ngồi rồi ân cần hỏi nó về công việc, sức khỏe.

Nó báo cáo tình hình của nó từ ngày thủ trưởng rời khỏi trung đoàn về cục tác chiến.

Nó cũng báo cáo, Trại sáng tác sắp hoàn thành nhiệm vụ và nó sẽ về lại trung đoàn bây giờ đóng ở gần sân bay Cù Hanh, Pleiku.

- Được rồi, tốt !

Thế Thập muốn về làm ảnh và vẽ ở Cục Tác Chiến không ?

- Dạ !

Vâng !

Được thế thì tốt quá ạ ! – Nó mừng rỡ nói.

- Được !

Thập cứ về đi và chờ quyết định điều chuyển nhá !

- Vâng ạ !

Thủ trưởng dơ tay cho nó bắt.

Nó chào hai thủ trưởng rồi bước ra khỏi phòng, trong lòng như có trống rong, cờ mở và xúc động vì tình cảm mà thủ trưởng Văn dành cho nó.

Thủ trưởng dơ tay cho nó bắt.

Nó chào hai thủ trưởng rồi bước ra khỏi phòng, trong lòng như có trống rong, cờ mở và xúc động vì tình cảm mà thủ trưởng Văn dành cho nó.

Thủ trưởng Văn rời khỏi trung đoàn nó về làm phó phòng ở cục tác chiến, nó những tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại.

Vậy mà ông vẫn nhớ đến nó và tìm cách tạo điều kiện cho nó được chuyển về gần ông.

Nó biết ơn ông rất nhiều.

Trại sáng tác chuyển về đình Yên Phụ làm cho mấy đứa thích lắm.

Chúng được tự do thoải mái không phải gò vào khuôn khổ kỷ luật như lúc ở doanh trại của e130.

Thậm chí, ai có gia đình hay người thân ở Hà Nội có thể về nhà ngủ, ban ngày đến làm việc là được.

Chúng nó được tự do đi sớm về khuya, chẳng bị ai o ép, vô cùng thoải mái.

Chương trình bồi dưỡng học tập của chúng nó ở trại đã xong, chúng nó chỉ còn chờ ngày bế mạc.

Rất nhiều thời gian rảnh rỗi, mấy đứa tranh thủ nhận Pa-nô, áp phích, quảng cáo ở ngoài về vẽ kiếm thêm.

Bố Bình Đính có quen ông cửa hàng trưởng cửa hàng bách hóa Trâu Quỳ nên mấy thằng nó được nhận vẽ mấy bức pa-nô quảng cáo hàng hóa treo trong cửa hàng.

Bình Đính và nó xin phép trại sáng tác sang ở hẳn bên cửa hàng bách hóa Trâu Quỳ nửa tháng để vẽ.

Những bức vẽ của chúng rất đẹp nên khi vẽ xong, ngoài tiền công thanh toán hậu hĩnh, chúng còn được cho thêm thuốc lá, xà phòng, . . . .

Hết việc ở Trâu Quỳ, bố Bình Đính lại tìm việc cho mấy đứa vẽ rất nhiều tranh cho các lớp mẫu giáo.

Anh Bính nó thì nhận cho chúng nó các tranh bảo hộ và an toàn lao động trong các nhà máy ở Hà Nội.

Cũng có những lúc hết việc thì nó lại nhận việc của anh Khôi ở hàng Mã.

Bố con anh Khôi có cửa hàng quảng cáo rất đông khách.

Nó cứ vẽ được bức nào trả cho khách xong thì được nhận 60% tiền mà khách trả.

Kể ra thế cũng tốt lắm rồi.

Trong mấy tháng chờ đợi chúng nó vẽ rất nhiều và kiếm được bộn tiền.

Bẵng đi mấy tháng, nó không nhận được tin tức hay quyết định thuyên chuyển gì từ phía thủ trưởng Văn.

Thế rồi được tin, mươi ngày nữa, trại sáng tác sẽ bế mạc và mọi người sẽ trở về đơn vị cũ.

Nó càng nóng ruột hơn bao giờ hết, ra ngóng vào trông hàng ngày.

Nếu không có động tĩnh gì thì nó sẽ phải trở về Pleeiku.

Chờ đợi

Còn vài ngày trước khi trại sáng tác chia tay nhau thì nó nhận được quyết định điều động về Cục Tác Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu.

Nó quay về Bộ Tư Lệnh Thông Tin làm thủ tục, nhận giấy tờ chuyển công tác rồi nó chia tay mọi người đi nhận công tác mới.

Đó là một buổi sáng mùa đông năm 1979, nắng hanh hanh vàng chiếu qua hàng cây lớn trên đường Điện Biên Phủ.

Nó khoác ba lô nặng trĩu bước về phía một con đường đặc biệt, đường Nguyễn Tri Phương.

Con đường này có chiếc cổng sắt lớn thường xuyên đóng và có lính gác rất nghiêm mật, phía trên cổng có đề "Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam".

Trước đây, nó vẫn nghĩ, những ai qua lại cái cổng này là những người rất quan trọng và đặc biệt của quân đội.

Bây giờ nó sắp bước qua cái cổng đó, trong lòng không khỏi cảm thấy ngỡ ngàng và lạ lẫm.

Nó sắp vào "trong thành".

Nó tiến về phía bót gác, đưa giấy giới thiệu và quyết định chuyển công tác cho người lính vệ binh.

Nhận giấy tờ xong, người vệ binh yêu cầu nó đứng ra xa bót gác và chờ có người ra đón.

Anh ta gọi điện đi đâu đó, rồi lại đứng gác nghiêm chỉnh như bức tượng.

Một lúc sau, có một sỹ quan của cục tác chiến ra cổng để đón nó, dẫn nó sang "trạm khách 66".

Anh ta bảo nó :

- Đồng chí cứ ăn nghỉ tại đây hoặc xin nhận lương thực về nhà họ hàng ở Hà Nội cũng được.

Còn phải chờ cục bảo vệ cho người đi kiểm tra lý lịch lần cuối.

Nếu không có vấn đề gì,

đồng chí sẽ được vào khu A của Bộ Tổng Tham Mưu.

Nó cảm ơn người sỹ quan và xếp đồ vào phòng.

Rồi nó sang phòng hậu cần làm thủ tục chuyển lương thực và nhu yếu phẩm.

May là người sỹ quan đã nói với nó là thời gian chờ đợi thường "rất lâu đấy", chỉ ngồi chơi và đọc sách thì rất chán và mệt mỏi.

Nhưng đây chính là cơ hội tốt đối với nó.

Nó sẽ tận dụng thời gian này để kiếm thêm tiền.

Và, thời gian chờ đợi của nó đã kéo dài hơn ba tháng.

Phần lớn việc kiếm tiền của nó là vẽ quảng cáo cho cửa hàng anh Khôi.

Được cái nó rất chăm chỉ, mà tiền thì thực sự hấp dẫn, nhất là nó đang có ước mơ tậu một chiếc xe Honda 67.

Thời điểm đó, một chiếc xe tốt loại đó có giá khoảng một cây vàng, một chiếc xe "đi được" thì chỉ 3 đến 5 chỉ vàng là ngon rồi.

Nó mang việc làm thêm về và làm cả ngày cả đêm.

Quả là rất thuận lợi vì một mình nó một phòng, đến giờ ăn thì cứ việc xuống nhà ăn.

Vậy là sau một thời gian, nó đã gom được 4 chỉ vàng.

Đúng lúc đó thì bạn anh Khôi, nhà ở Hàng Thiếc lại muốn bán chiếc xe 67 còn khá.

Nó đến xem và rất thích.

Ngặt một nỗi là chủ xe nhất định đòi đủ 6 chỉ vàng.

Nó nì nèo mãi, cuối cùng cũng xuống được 5 chỉ rưỡi.

Hôm sau, Chủ Nhật, nó vội đạp xe về quê tìm cách xoay xở cho đủ tiền.

Sau khi nghe nó nói chuyện và vật nài, bu nó cho nó 4 thúng thóc cùng bộ cát-sét và đôi loa thùng mà nó mang về từ trước.

Nó trả chị dâu nó chiếc xe đạp và đi xe hàng ra Hà Nội.

Nó sắp có xe máy rồi mà.

Số tiền nó trả cho chủ xe là 4 chỉ rưỡi.

Gán thêm bộ cát-sét và đôi loa thùng trị giá 1 chỉ, thế là vừa đủ.

Nó mang chiếc xe máy về, trong lòng hãnh diện lắm vì đây là kết quả lao động miệt mài của nó trong suốt những tháng qua.

Nó chăm sóc, nâng niu chiếc xe rất cẩn thận, như một báu vật.

Trong thành

Rồi những ngày chờ đợi cũng qua đi.

Một hôm, người sỹ quan của cục tác chiến ra nhà khách đón nó.

Anh ấy bảo, nó đã qua đợt kiểm tra lý lịch và chính thức được vào làm việc tại C51, Cục Tác Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu.

Các cơ quan của Bộ Tổng Tham Mưu nằm toàn bộ trong thành cổ Hà Nội (một phần của Hoàng Thành Thăng Long xưa).

Thực sự thì nó cũng chỉ được phép đi lại trong phạm vi cơ quan mà nó làm việc.

Nhưng bây giờ nó đã là người "trong thành" rồi, nó cũng biết sơ qua cái thành cổ Hà Nội là như thế nào.

Bộ Tổng Tham Mưu có nhiều cơ quan khác nhau cùng làm việc trong thành, nằm trên một diện tích rất lớn, có lẽ đến nhiều héc-ta.

4 cửa chính ra vào, tạm gọi là 4 cửa thành.

Cửa Đông mở ra phố Lý Nam Đế và chạy thẳng ra phố Cửa Đông.

Cửa Nam nằm trên đường Nguyễn Tri Phương cắt với đường Điện Biên Phủ, phía trước mặt là vườn hoa Chi Lăng (tên cũ là vườn hoa Canh Nông, bây giờ là vườn Lê Nin).

Cửa Bắc chạy từ trong thành ra phố Phan Đình Phùng, hướng thẳng ra phố Cửa Bắc (thực ra Cửa Bắc của thành cổ nằm ngay gần đó).

Cửa Tây nằm trên đường Hoàng Diệu, (hướng thẳng ra khu khai quật Hoàng Thành Thăng Long hiện nay).

Ngay cạnh cửa nam trên đường Nguyễn Tri Phương còn có một cái cửa cuốn tò vò khá lớn dẫn vào khu A.

Trong khu A có các cơ quan C50, C51, C52, . . . .

Khu này là khu vực của các đơn vị quan trọng của Bộ Tổng.

Thực chất khu A nằm trên khu vực "Điện Kính Thiên" của thành cổ Hà Nội.

Điện này đã bị phá hủy từ lâu và người Pháp đã xây trên khu vực đó 3 tòa nhà 3 tầng kiên cố.

Rất may là lối dẫn lên thềm "Điện Kính Thiên" vẫn còn mười bậc cấp bằng đá và đôi rồng chầu bằng đá xanh tạo tác vào thế kỷ 15, thời nhà Lê (4 con rồng, nay chỉ còn 2).

Vì đường vào khu này phải đi qua chỗ rồng chầu nên mọi người thường gọi đùa khu vực đó là "Phủ Đầu Rồng".

Qua "Phủ Đầu Rồng" là một cái sân rộng dẫn tới "Lầu Công Chúa", rồi đến Cột Cờ.

Chỗ này là phạm vi của cơ quan C52 (nghe nói là cục tình báo ?!).

Phía ngoài cổng vòm còn có Cục Tổ Chức Động Viên.

Bên phải đường Nguyễn Tri Phương là các cơ quan Cục Tham Mưu, Hậu Cần, Kỹ Thuật, Chính Trị, . . . . và bếp ăn.

Trạm khách 66 nằm ngay sau C50.

Đây vừa là trạm khách vừa là căng tin chung của các cơ quan mà thường ngày, sau giờ làm việc, các "phóng văn lình" (lính văn phòng) hay ra đây xếp hàng mua bia hơi.

Những nhiệm vụ khả thi

Về Cục Tác Chiến nó được biên chế vào Phòng Sở Chỉ Huy.

Thời điểm đó, trưởng phòng là đại tá Nguyễn Văn Tâm, thủ trưởng Văn là phó phòng.

Nhiệm vụ thứ nhất của nó là quản lý và trình diễn các bản đồ tác chiến cỡ lớn, khoảng 6 đến 8 mét vuông.

Những bản đồ này được tổ đồ bản của cục vẽ cập nhật liên tục.

Các tấm bản đồ này dùng để các thủ trưởng trong Quân Ủy Trung Ương, Bộ Tổng Tham Mưu, . . . trao đổi với nhau trong các cuộc họp giao ban tác chiến.

Mỗi bản đồ được căng lên một khung cứng, có đường ray ở phía dưới và có thể điều khiển chạy ra chạy vào bằng động cơ điện.

Nhiệm vụ của nó khi các thủ trưởng họp là điều khiền cho đúng các bản đồ mà cuộc họp đang cần.

Nhiệm vụ thứ hai của nó là phải chụp lại toàn bộ các bản đồ đó, vừa để làm tài liệu lưu trữ đồng thời chuyển một bản thành phim dương bản để có thể trình chiếu bằng đèn chiếu khi mang đi xa đến các quân khu, quân đoàn.

Mỗi lần phải trình diễn bản đồ như vậy, nó phải mang theo máy đèn chiếu và phông màn.

Khi họp, thủ trưởng yêu cầu chiếu bản đồ nào, nó phải bấm để chiếu đúng bản đồ đó.

Những bản đồ tác chiến như vậy thuộc loại "Tuyệt Mật" nên nó phải quản lý rất chặt chẽ và cẩn thận.

Toàn bộ bản đồ dạng bản lớn hay dạng phim đều được nó đánh số cẩn thận và ghi chép nội dung vào một cuốn sổ quản lý, vừa để quản lý chặt đề phòng thất lạc vừa tiện cho sử dụng khi các thủ trưởng cần.

Nhiệm vụ thứ ba của nó là theo chân các thủ trưởng để làm ký sự ảnh.

Những lúc như vậy, mỗi vai nó khoác một máy ảnh, một máy để chụp phim đen trắng và một máy chụp phim màu.

Ký sự ảnh mà nó phải làm là những chuyến thăm và kiểm tra các đơn vị của các thủ trưởng Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Chu Huy mân, Phùng Thế Tài, và các thủ trưởng khác.

Những chuyến đi như vậy thường sử dụng máy bay trực thăng, họa hoằn lắm mới sử dụng ô tô.

Nó phải tong tả chạy theo các thủ trưởng mà ghi lại toàn bộ cảnh hoạt động của các thủ trưởng tại các đơn vị mà thủ trưởng đến thăm.

Thừa còn hơn thiếu, nhiều lúc nó cứ chụp lia lịa rồi sau đó về nhà mới lựa chọn và biên tập lại.

Nhiệm vụ thứ tư của nó cũng rất quan trọng và nhiều khi tưởng chừng như "bất khả thi".

Ấy là chụp ảnh đám cưới cho con của các thủ trưởng, chụp ảnh tang lễ cho các đám tang tứ thân phụ mẫu của các thủ trưởng.

Thậm chí, chụp ảnh các buổi sinh nhật của thủ trưởng hay một trong các người thân của thủ trưởng, . . . .

Một việc hiếu

Vào một đêm đông năm 1980, nó đang ngủ say thì trực ban đơn vị cho người xuống đánh thức, yêu cầu nó ăn mặc chỉnh tề rồi lên Phòng Sở Chỉ Huy ngay.

Khi nó lên đến nơi, đã thấy có đại tá Tâm, thượng tá Văn và một số sỹ quan của cục đã có mặt.

Thủ trưởng Tâm bảo nó :

- Bố thủ trưởng Tài mới mất, hiện quàn tại nhà lạnh bệnh viện 108.

Đồng chí lấy máy ảnh,

theo đoàn vào đó.

Nhiệm vụ của đồng chí là chụp chân dung cho cụ vì cụ chưa có ảnh.

Trong đêm nay, bằng mọi giá phải có ảnh khổ 30x40, lồng vào khung, đặt trên linh cữu

cụ để sáng ra các đoàn còn vào phúng viếng.

- Báo cáo thủ trưởng !

Rõ !

Nó lao vội lên tầng hai, lấy máy ảnh, lắp phim, rồi chạy xuống sân.

Ở đó một chiếc xe của đơn vị đang chờ.

Tới bệnh viện 108, nó thấy mỗi người một việc đang lo hậu sự cho cụ.

Nó đi về phía nhà lạnh và được một vệ binh chỉ chỗ cụ đang nằm.

Nó chắp tay vái cụ ba vái, rồi lầm rầm khấn xin phép cụ cho chụp ảnh.

Khi tấm vải trắng che mặt được lật ra, trước mắt nó là một cụ già tầm trên 80 tuổi, râu tóc bạc phơ, trông quắc thước và nghiêm nghị.

Hai mắt cụ đã được vuốt để nhắm lại nhưng miệng vẫn hơi bị há.

Mũi, miệng và tai được nhét đầy bông.

Nhìn thấy thế, nó biết là việc có được một bức ảnh đẹp sẽ rất khó khăn.

Nhưng nó vẫn phải chụp vì chẳng còn cách nào khác.

Cụ được đặt nằm trên băng-ca khá cao nên nó phải mượn một chiếc thang chữ A của viện.

Nó kê chiếc thang bên cạnh băng ca và trèo lên chụp.

Nó phải chụp 3 kiểu với tốc độ và khẩu độ sáng khác nhau.

Chụp ảnh xong, nó kéo lại tấm khăn trắng che mặt cụ.

Nó lại vái cụ ba vái nữa rồi chạy vội ra xe.

Vừa lúc đó nó thấy thủ trưởng Tài đang đi tới.

Không để cho nó kịp chào, thủ trưởng đã hỏi ngay nó về việc chụp ảnh.

Nó chỉ nói là nó không nhìn rõ răng vì bông che lấp hết.

Thủ trưởng bảo nó, răng cụ bình thường nhưng có một chiếc răng cửa bị gãy một nửa.

Xe đưa nó quay trở về cơ quan.

Lúc đó là 3 giờ sáng.

Nó vội vàng lên phòng ảnh, pha thuốc, cắt phim và tráng.

Nó phải hong phim gần một bóng đèn cho chóng khô.

Chọn cái phim đẹp nhất, nó lắp vào máy phóng Ô-mê-ga (máy Mỹ) và phóng cùng lúc ba bức ảnh khổ 30x40.

Nó phải phóng ba ảnh cùng lúc vì sau đó còn phải vẽ thêm mũi, mồm, tai, răng, có thể bị hỏng thì có cái khác vẽ ngay.

Nó dùng bút lông và mực tàu và bắt đầu vẽ tái tạo bộ răng, lỗ mũi, lỗ tai và cuối cùng là vẽ cho đôi mắt mở ra.

Rất may là nó có nghề vẽ, thêm nữa, cái ngón truyền thần hóa ra bây giờ rất có tác dụng.

Nếu nó chỉ biết chụp ảnh không thôi thì hôm nay nó đã phải chịu cứng, không làm gì được.

Sau hai tiếng rưỡi miệt mài làm việc, kết quả cuối cùng rất mỹ mãn.

Phải là người có nghề và tinh ý mới có thể nhận ra là ảnh được vẽ thêm.

Nó lấy một khung bằng khen có kính khá lớn, đem sơn đen và sấy khô rồi lồng ảnh của cụ vào.

Ảnh xong thì đã là 6 giờ sáng.

Nó xuống cửa văn phòng thì vừa kịp, có hai chiếc xe con đang chuẩn bị ra đám tang.

Nó ôm cả ảnh và máy ảnh, leo lên xe đi luôn.

Tới nhà tang lễ, nó trang trọng đặt ảnh cụ lên bàn khánh tiết, phía sau bát hương đang nghi ngút khói.

Thủ trưởng Khánh, thủ trưởng Tâm và mọi người trong gia đình xúm lại xem ảnh đều khen là giống và đẹp.

Còn thủ trưởng Tài thì bắt tay và cảm ơn nó.

Nó được phát một chiếc bánh mỳ để ăn tạm nhưng ăn chưa xong đã phải vào chụp ảnh các đoàn đến phúng viếng, liên tục như vậy trong hai ngày.

Sau đó nó còn phải chụp cảnh lễ truy điệu, cảnh đưa ra nghĩa trang, hạ huyệt, . . . .

Xong đám tang nó tưởng chừng như mệt đứt hơi.

Vậy mà vẫn chưa hết việc, thủ trưởng Tâm yêu cầu nó làm 5 bộ ảnh từ chục cuốn phim chụp để thủ trưởng Tài gửi cho các anh em ruột mang đi.

Nó phải in, phóng, phơi sấy và làm bóng hàng ngàn bức ảnh.

Hai ngày sau nó mới xong việc.

Nó mang ảnh lên phòng thủ trưởng Tài.

Thủ trưởng xem một tập, có vẻ rất hài lòng.

Thủ trưởng tặng nó một bao thuốc lá và nói :

- Đồng chí làm rất tốt !

Thay mặt gia đình, tôi xin cảm ơn!

Nó rất mệt nhưng vui vì hoàn thành một việc hiếu có ý nghĩa.

To be continued...
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 4: Ký ức một thời hoa lửa - Hồi ký của bác Lê Xuân Tường


KÝ ỨC TUỔI HAI MƯƠI - SUY NGHĨ VỀ MỘT THẾ HỆ

Lê Xuân Tường

Ai đó đã từng qua thị xã Quảng Trị và tới thăm di tích Thành Cổ sẽ thấy hình tượng cây thiên mệnh vươn lên trời cao với biểu tượng Thiên - Địa - Nhân, Âm Dương, Ngũ hành hoà quyện tại nơi đây với mái đình làng thân thương như nhắn nhủ vong linh của những con người vì Nước hiến thân khi tuổi đời còn rất trẻ sẽ sống mãi với tuổi mười tám, đôi mươi của mình.

Với những người lính sinh viên chúng tôi, cây thiên mệnh đó giống như ngọn bút lông - tượng trưng cho "kẻ sĩ Bắc Hà"- đang nhấn lên bầu trời xanh ngắt bản Anh hùng ca đầy bi tráng của Thành Cổ Quảng Trị.

81 ngày đêm - từ 28/6 đến 16/9/1972 - bám trụ giành giật với địch từng căn nhà, góc phố, từng tấc đất thiêng liêng của Thành Cổ để rồi một vạn bốn nghìn con người đã nằm lại nơi đây với mảnh đất đẫm máu và trộn đầy bom đạn, nằm lại với dòng Thạch Hãn lúc lành hiền êm ả, khi dữ dội nước ngập mênh mang.

Trong số những con người bất tử đó có Nguyễn Văn Thạc - sinh viên Toán Cơ 15 Đại học Tổng hợp, Nguyễn Kỳ Sơn - sinh viên khoa công trình Đại học Thuỷ lợi, Lê Văn Huỳnh - sinh viên Cầu đường 13 Đại học Xây dựng và biết bao sinh viên các trường đại học khác...

Tôi, Thạc và Như Anh cùng là học sinh trường cấp 3 Yên Hoà B, Hà Nội.

Tôi học khoá 1966-1969, trước Thạc 1 khóa và hơn Như Anh 2 khóa.

Thạc và Như Anh là 2 trong những học sinh suất sắc nhất của trường năm ấy nên ai cũng biết mặt biết tên.

Năm học cuối cùng của lớp 10B chúng tôi (1968-1969) học tại thôn Hậu, xã Dịch Vọng.

Lớp tôi và lớp 9B của Thạc học chung 1 lán sơ tán, lớp tôi học sáng, lớp Thạc học chiều.

Biết nhau qua các hoạt động thanh niên và những buổi lao động làm hầm phòng không và đắp luỹ cho lán học.

Cho đến nay đã hơn 36 năm trôi qua tôi vẫn hình dung cái lớp học sơ tán ấy, nằm dưới 1 lùm tre kề con đường làng lát gạch như bao ngôi làng khác của làng quê Bắc Bộ, cạnh ngôi nhà tranh của 1 người nông dân có 2 vợ mà cảnh đánh chửi nhau của vợ cả vợ lẽ diễn ra như cơm bữa.

Phía bên kia đường là rặng tre xanh dẫn ra cánh đồng lúa, những căn hầm kèo phòng không của chúng tôi núp dưới rặng tre đó.

Trường cấp 3 Yên Hoà B ngày ấy là trường gần Hà Nội nhất, bao gồm số học sinh trong nội thành sơ tán ở các vùng lân cận và học sinh ở Nghĩa Đô, Cổ Nhuế, Dịch Vọng...Lũ học sinh nội thành chúng tôi bao giờ cũng có vẻ "tự tin" và "sành điệu hơn" so với các bạn ở địa phương.

Thạc trong số học sinh địa phương đó.

Mặc dù là 1 người nổi tiếng ở trường nhưng ở Thạc bao giờ cũng toát ra vẻ rụt rè, khiêm nhường của 1 cậu học sinh ngoại thành.

Năm 1968 Mỹ ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 rồi ngừng ném bom miền Bắc chấp nhận ngồi vào bàn Hội nghị Paris, lũ học sinh nội thành chúng tôi là sướng nhất vì được về Hà Nội không phải sơ tán nữa.

Cứ hết giờ học chúng tôi ùa ra khỏi lớp, quá nửa lớp đi bộ ra Cầu Giấy để đi tầu điện về nội thành và bao giờ chúng tôi cũng gặp Thạc và mấy bạn cùng ở Cổ Nhuế nơi rặng bàng đầu xóm.

Ngược lại với vẻ rụt rè, khiêm nhường của Thạc, cô bé Như Anh năm ấy mới nhập trường nhưng đã rất tự tin khi đệm đàn ắc-coóc-đê-ông cho những buổi hội diễn của trường (ngày ấy cả trường chỉ có 3 người chơi được ắc-coóc là Phú lớp 10A, Ngà lớp 10B của tôi và Như Anh).

Phải có điểm xuất phát và gia thế như thế nào đó mới có điều kiện để học nhạc, có đàn và chơi đàn cũng như có điều kiện để có thể tiếp cận được những gì thuộc về nền văn minh nhân loại.

Vì thế Như Anh so với Thạc và với chúng tôi có nhiều thuận lợi hơn nên đã tạo cho cô bé 1 cái gì đó chững chạc hơn, tự tin hơn so với lứa tuổi của mình.

Thế rồi chẳng hiểu làm sao trong lễ sơ kết Học kỳ I tôi sơ ý làm bẹp cái đàn của Như Anh, cô bé cứ đứng giữa trời mưa mà khóc, không ai dỗ được.

Hoảng vì làm bẹp đàn thì ít nhưng sợ vì động chạm tới cô học sinh giỏi được các thầy cô cưng nhất trường thì nhiều, tôi chạy ra dắt tay Như Anh vào nhà lúng túng xin lỗi.

Thế rồi mọi chuyện qua đi với Như Anh còn tôi bị cô hiệu phó cho 1 trận "lên bờ xuống ruộng" vì chuyện với Như Anh thì ít nhưng vì chuyện khác thì nhiều....Cũng từ ngày ấy chúng tôi quen biết nhau, và hình như bóng dáng của cô bé đó đã ít nhiều đọng lại trong tâm tư của gã trẻ trai như tôi cho tới khi tôi vào Đại học Xây dựng sơ tán tại Vĩnh Phú.

Năm 1970 trường cấp 3 Yên Hoà B thân yêu của chúng tôi giải thể, mặc dù chỉ có tồn tại 4 năm thôi nhưng đã để lại cho chúng tôi biết bao nhiêu kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và bạn bè, về lứa tuổi học trò vô tư trong sáng.

Chính những kỷ niệm đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời bên cạnh những kýý ức về chiến tranh, về những đồng đội thân yêu trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Chỉ có khoá của tôi và Thạc là học trọn vẹn 3 năm cấp 3 tại trường.

Nghe nói đến năm lớp 10 Như Anh về học tại trường Phổ thông Công nghiệp Hoàn Kiếm.

Thời gian, khoảng cách và nhiều biến cố trong cuộc đời đã làm sợi dây liên hệ giữa chúng tôi bị đứt quãng cho tới khi tôi được biết Như Anh đã đi học tại Liên Xô và sau đó định cư tại Đức.

Một ngày cuối tháng tư năm 2005, trong không khí tưng bừng của 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước tôi đọc bài "Chuyện đời" bi tráng của chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc một thời đăng trên tờ An ninh thế giới, sững sờ khi ảnh của Thạc ngay ở trang nhất và lại là người đồng đội với tôi tại Quảng Trị đã hy sinh tại thôn Đầu Kênh (xã Triệu Long huyện Triệu Phong, Quảng Trị ) - mảnh đất đã gắn liền với tôi trong suốt mùa Hè đỏ lửa ấy.

Tôi cũng ngỡ rằng Thạc học giỏi như thế chắc chắn phải nằm trong số học sinh đi tu nghiệp ở nước ngoài giống Như Anh và giờ đây đã thành đạt và đang làm việc tại một chân trời nào đó.

Thạc đã hy sinh ngày 30/7/1972 - ngay ngày đầu tiên sau khi trung đoàn chúng tôi vượt sông Thạch Hãn đứng chân tại địa bàn Đông-Bắc thị xã Quảng Trị - cũng như bao anh em sinh viên khác tại mảnh đất đầy máu và nước mắt này..

Thạc vào Đại học Tổng hợp khoa Toán Cơ năm 1970, ngày 6/9/1971 cùng với hàng ngàn sinh viên của các trường Đại học khác, Thạc nhập ngũ và trở thành chiến sĩ thông tin 2 watt của tiểu đoàn 1, trung đoàn 101, sư đoàn 325 (D1-E101-F325) chiến đấu tại Quảng Trị.

Tôi nhập ngũ sau Thạc nhưng rồi lại được tăng cường về đại đội 3, cùng tiểu đoàn 1 với Thạc (C3-D1-E101) trung tuần tháng 8/1972 (sau khi Thạc đã hy sinh).

Không ngờ sau 30 năm được tin nhau thì bạn đã đi xa ...

Những dòng nhật ký của Thạc để lại đã nói hộ chúng tôi nhiều lắm.

Cám ơn bạn đã nói lên những buồn vui, ước vọng, những trăn trở kể cả những ấm ức trong cõi lòng...Chúng tôi là thế hệ sinh ra vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Có thể có những người như tôi và Như Anh sinh ra trong vùng tự do khi cha mẹ chúng tôi đã từ bỏ tất cả sản nghiệp để theo cách mạng đi kháng chiến ; còn Thạc và nhiều người khác có thể sinh ra trong vùng tạm chiếm nhưng tất cả thế hệ chúng tôi đều lớn lên trong cái nôi của chủ nghĩa xã hội được hưởng thụ một nền giáo dục tốt đẹp trong bối cảnh xã hội tuy còn nghèo nhưng ý thức của mỗi con người trong đó đều đặt nghĩa vụ và trách nhiệm lên trên cái tôi của mình.

Thế nhưng chúng tôi luôn luôn được coi là tầng lớp "tiểu tư sản", "tiểu thị dân"...để phân biệt với những con người xuất thân từ những thành phần cơ bản khác hoặc có cha mẹ giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước.

Điều đó thể hiện rất rõ khi khoá của chúng tôi là khoá cuối cùng không phải thi mà chỉ xét tuyển vào Đại học qua kết quả thi tốt nghiệp phổ thông và lý lịch.

Khoá của Thạc sau khi thi tốt nghiệp cũng không phải thi quốc gia như bây giờ mà chỉ kiểm tra văn hoá sau khi được phân bổ về các trường theo tiêu chí của Ban tuyển sinh.

Chính vì thế khoá của tôi có rất nhiều người học giỏi nhưng không trong diện đi nước ngoài mà học Sư phạm, Nông nghiệp và các trường Đại học trong nước như Hiệp lớp 10D là học sinh A1 nhưng được xếp vào Đại học Nông nghiệp (chỉ vì có bố là công chức lưu dụng).

Thạc và rất nhiều người cũng nằm trong hoàn cảnh ấy.

Những định kiến ấy tưởng như không tồn tại trong môi trường quân đội khi mà cả nước bước vào những năm cuối cùng của cuộc chiến, khi mà ở nông thôn và thành thị tất cả thanh niên đều ra trận, khi mỗi gia đình đều là những gia đình quân nhân và thế hệ sinh viên chúng tôi tạm gác lại những ước mơ dang dở, rời giảng đường cầm súng cùng cả nước ra trận.

Những năm đó nhất là những năm sau Mậu Thân khi sự tàn khốc của chiến tranh đã bước vào đỉnh điểm, nhiều gia đình ở hậu phương đã mang trên đầu vành khăn tang bởi người thân của mình đã hy sinh...Thế nhưng khi chúng tôi đã mang trên mình bộ quân phục mầu xanh của người chiến sĩ quân đội nhân dân thì cái chất "tiểu tư sản", "tiểu thị dân" vẫn đeo bám theo chúng tôi mọi nơi mọi lúc.

Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, những định kiến và cả những cái chết của đồng đội tưởng như làm chúng tôi ngã quỵỵ, nhưng không, chúng tôi biết đằng sau chúng tôi là Tổ quốc, là quê hương, là cha mẹ và những người thân thương nhất đang từng ngày khắc khoải chờ trông...và vượt lên trên tất cả chính là danh dự, lòng tự trọng, nghĩa vụ và ý thức trách nhiệm đối với xã hội của một thế hệ được giáo dục trong môi trường tốt đẹp của nhà trường và gia đình thời ấy.

Chính những nhận thức ấy đã giúp chúng tôi có đủ bản lĩnh và ý chí chiến đấu kiên cường, trụ vững trong 81 ngày đêm tại Thành Cổ Quảng Trị, nơi được xem là túi bom, là chiến trường đẫm máu nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Cái chất "tiểu tư sản" ấy đã được truyền từ thế hệ cha anh chúng tôi - những người lính của Trung đoàn Thủ đô, của trung đoàn Tây Tiến, của những chàng trai học sinh, sinh viên Hà Nội trong những "đoàn binh không mọc tóc" anh hùng, quả cảm làm bạt vía kinh hồn kẻ thù trong kháng chiến chống Pháp nhưng rất đỗi hào hoa, phong nhã, đầy chất lãng tử lại luôn "mơ về Hà Nội dáng kiều thơm"...Chúng tôi tự hào về cái chất ấy, nó thấm đượm lòng yêu Tổ quốc và tình cảm lãng mạn cách mạng qua những bản tình khúc Nga Xô-viết được hát lên giữa chặng đường hành quân vất vả hoặc giữa 2 đợt phản kích của quân thù.

Cái chất ấy còn thể hiện những suy nghĩ rất riêng tư qua những trang nhật ký viết vội sau 1 ngày hành quân hay dưới ánh sáng ma quái của pháo sáng địch dọi qua cửa hầm.

Hầu như chúng tôi ai cũng viết, viết về mình, viết về đồng đội, viết về những giấc mơ của ngày toàn thắng được trở về với Mẹ và những người thân yêu nhất...và cả những đắn đo, suy tính, dằn vặt, do dự khi bên mình là gian khổ, thiếu thốn, là khốc liệt của chiến tranh và cả những cái chết của đồng đội...Cái chất ấy còn thể hiện ở sự ham hiểu biết, tìm tòi những gì thu lượm được khi bước vào vùng mới giải phóng.

Đặc biệt thu hút chúng tôi hơn cả là những sách vở, tiểu thuyết thu được của phía bên kia.

"Cổ học tinh hoa", "Thương nhớ mười hai", "Bác sĩ Jivago", "Tội ác và trừng phạt", "Chùm nho nổi giận"...đã cuốn hút chúng tôi bởi những triết lý mới lạ cũng như số phận của con người...Có rất nhiều đồng đội của chúng tôi khi hy sinh đã để lại trong ba-lô của mình những cuốn Từ điển Anh, Pháp...cùng với lòng khát khao 1 ngày mai chiến thắng trở về lại tiếp tục những gì còn dang dở...Cái chất ấy đã giúp chúng tôi thêm lạc quan để chiến thắng tất cả.

Và đó là niềm kiêu hãnh, tự hào của cả thế hệ sinh viên-chiến sĩ trong những năm tháng hào hùng của cả dân tộc.

Với chúng tôi, những người lính - sinh viên thì Thành Cổ Quảng Trị là khúc dạo đầu bi tráng của Thiên anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Nghẹn ngào nhớ đến những người bạn đã nằm lại trên chiến trường Quảng Trị, không có quan tài chỉ được bọc trong tấm tăng võng lạnh lẽo, chôn vội vàng dưới làn bom đạn.

Nhớ đến những đồng đội đã ngã xuống không được toàn thây dưới những trận mưa bom, bão đạn của B52 và của đủ các loại pháo dàn, pháo bầy của địch...trong số họ không ít người là những sinh viên của các trường Đại học.

Dòng Thạch Hãn với biết bao địa danh đã trở thành bất tử: Thành Cổ, Nhan Biều, Tích Tường, Như Lệ, An Tiêm, Chợ Sãi, Cửa Việt... nó luôn chảy trong lòng chúng tôi như bao đời nay vẫn chảy nhưng ở đó có cái thiêng liêng hơn, cao quýý hơn vượt lên tất cả để trở thành khúc tráng ca bất diệt:

Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ,

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước,

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm . . .

(Thơ Lê Bá Dương)

Sau Thành Cổ Quảng Trị, chúng tôi những người lính "tiểu tư sản" đó đã cùng trung đoàn 101 và các đơn vị bạn đập nát cuộc hành quân lấn chiếm cảng Cửa Việt của lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép của địch giữ vững vùng giải phóng.

Từ dòng Thạch Hãn chúng tôi ngược lên Trường Sơn đánh xuống Tây Thừa Thiên qua Phú Lộc cắt ngang đường 1 và đúng 13 giờ ngày 25/3/1975 từ đỉnh Phú Văn Lâu lá cờ giải phóng của trung đoàn 101 - đứa con của mảnh đất cố đô - ngạo nghễ tung bay trên bầu trời Huế chính thức báo tin thành phố được hoàn toàn giải phóng.

Vượt đèo Hải Vân chúng tôi tiến đánh bán đảo Sơn Trà, giải phóng Đà Nẵng ; băng qua duyên hải miền Trung công phá phòng tuyến Phan Rang - Tháp Chàm, sân bay Thành Sơn ; rồi một ngày cuối tháng 4 năm 1975 tại Long Thành - Thành Tuy Hạ ta và địch giành giật nhau từng căn nhà, góc phố để mở đường vào Nhơn Trạch, tấn công căn cứ hải quân Cát Lái tiến về giải phóng Sài Gòn.

Trong những giờ phút chiến thắng huy hoàng của dân tộc biết bao đồng đội của chúng tôi ngã xuống, các Anh đã nằm lại từ Thành Cổ Quảng Trị bên dòng Thạch Hãn cho tới cửa ngõ Sài Gòn.

Trong khốc liệt của chiến tranh, giữa cái sống và cái chết bản chất con người được bộc lộ rõ nhất.

Cái cao thượng và sự đớn hèn song song tồn tại và cuối cùng trụ lại được chính là bản lĩnh của những con người coi danh dự và lòng tự trọng lớn hơn tất cả.

Có 1 nhân vật đến nay tôi vẫn nhớ : Anh ta tên là M. nguyên là bí thư chi đoàn của lớp C cùng ra đi từ trường Đại học Xây dựng với tôi.

Đây là 1 con người mẫu mực có thành phần cơ bản, anh ta hay diễn thuyết trên các diễn đàn, nói năng rất hùng hồn và rất hay lên lớp cho tôi và 1 số người khác về tác phong, nhận thức và rất nhiều thứ linh tinh khác...Nhưng khi chúng tôi bước vào trận đầu tại chợ Sãi, thì hành động của anh ta lại hoàn toàn ngược lại cái gì mà anh ta vốn có, là người đầu tiên tháo lui bỏ mặc đồng đội đang bị vây hãm.

Trước khi vượt sông sang bờ Bắc anh ta không quên vơ tất cả những quân tư trang, lương thực, thực phẩm của đồng đội để lại tại hậu cứ.

Nghe nói giờ đây anh ta đang nắm giữ trọng trách về xây dựng tại 1 tỉnh bạn...

Sau hơn 30 năm, khi mái đầu đã điểm bạc, thế hệ chúng tôi đã trưởng thành và có mặt khắp nẻo đường của đất nước.

Nhiều người đang giữ những trọng trách trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, có người thì trở thành những nhà khoa học, những doanh nhân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Nhưng không ít người còn vất vả trên con đường mưu sinh trong nền kinh tế thị trường đầy khắc nghiệt.

Cũng đã có người vượt qua được cái chết của chiến tranh nhưng lại không qua được những cơn bạo bệnh của số phận.

Cũng phải kể đến cả những người đã ngã ngựa trên con đường công danh sự nghiệp.

Tuy vậy chúng tôi còn may mắn nhiều lắm so với những người bạn mãi mãi nằm lại ở chiến trường.

Họ đã giành phần chết để chúng tôi được sống ngày hôm nay.

Cứ nghĩ đến điều này thôi, tự đáy lòng chúng tôi lại trào lên niềm đau xót không nguôi...

Giờ đây, trong trái tim chúng tôi - những người sinh viên - chiến sĩ khi ấy - vẫn nguyên vẹn những gương mặt rạng ngời của bạn bè, của đồng đội với nụ cười tươi rói của tuổi đôi mươi, các bạn vẫn trẻ mãi trong ký ức của chúng tôi và luôn "sống mãi trong lòng đất nước, nhân dân và đồng đội thân yêu".

Quảng Trị tháng 8, Hà Nội tháng 9/2005

L.X.T

Cựu Sinh viên-Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị 1972

NGƯỜI CHA GIÀ CỦA TRUNG ĐOÀNÔng là một người lính già - như ông vẫn nói với chúng tôi - là một vị chỉ huy quả cảm của trung đoàn 101 trong những thời khắc ác liệt nhất của cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc.

34 năm về trước, tại khu vực Chợ Sãi, An Tiêm, Nại Cửu...phía Đông Bắc thị xã Quảng Trị dưới sự chỉ huy của Ông, những gã lính trẻ chúng tôi xuất thân từ mọi tầng lớp và từ mọi miền quê khác nhau đã gồng mình trước mưa bom, bão đạn của B52, của đủ loại pháo bầy, pháo dàn từ hạm đội 7 Mỹ trong suốt Mùa hè đỏ lửa 1972, lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên giành đi giật lại từng mảnh đất thiêng liêng của thị xã, thành cổ Quảng Trị.

Cũng những ngày này cuối tháng 1 năm 1973 ấy, tại cao điểm 12 Nam Cửa Việt, khi xe tăng địch cùng lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến của chúng đã thọc sâu vào khu vực chỉ huy sở trung đoàn, Ông đã cùng các chiến sĩ vệ binh, thông tin của mình và các cán bộ chiến sĩ cơ quan trung đoàn bộ với tiểu liên AK và lựu đạn trong tay xông lên cản phá quân thù quyết tâm giữ vững Cửa Việt dù phải hy sinh đến người cuối cùng quyết không để cho địch chiếm được cảng.

Mùa xuân năm 1975, với cương vị tham mưu phó sư đoàn, Ông đã dẫn dắt chúng tôi ngược lên Trường Sơn đánh xuống Tây Thừa Thiên cắt ngang đường 1 tại Phú Lộc để tiến vào Huế cắm lên Phú Văn Lâu ngọn cờ giải phóng của trung đoàn 101 - đứa con của mảnh đất cố đô - lúc 13 giờ ngày 25/3/1975.

Vượt đèo Hải Vân, Ông cùng chúng tôi tiến đánh bán đảo Sơn Trà, giải phóng Đà Nẵng ; băng qua duyên hải miền Trung công phá phòng tuyến Phan Rang-Tháp Chàm, sân bay Thành Sơn.

Trong những ngày cuối tháng tư năm 1975 không thể nào quên ấy, dưới sự chỉ huy của Ông chúng tôi đã giành giật với địch từng căn nhà góc phố tại Long Thành - Thành Tuy Hạ để mở đường cho pháo tầm xa của ta vào Nhơn Trạch, đánh chiếm bến phà Cát Lái tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Với chiến sĩ, Ông là một con người bình dị, rất nhân từ nhưng không kém phần nghiêm khắc.

Cánh lính sinh viên Hà Nội chúng tôi vẫn thường mắc căn bệnh cao ngạo, ngang ngạnh, không phục và hay châm chọc những cán bộ chỉ huy có trình độ văn hoá thấp hơn mình nhưng lại mắc bệnh nói dai và hay áp đặt.

Chúng tôi đã truyền tụng nhau câu chuyện Ông đã gặp 1 số lính sinh viên và mắng thậm tệ những tật xấu đó và Ông cũng đã từng nói với những cán bộ cấp dưới:trong chiến công của trung đoàn năm 1972 thì lính sinh viên đóng góp 1 phần không nhỏ, chỉ huy họ không thể giống như những người lính khác...

Tôi cũng là 1 người lính sinh viên, tôi ra trận với cặp kính cận 3 đi-ốp.

Trong trận Chợ Sãi ngày 16/9/1972, C3 của tôi bị vây, tôi bị thương khi phá vây và lết về tới chốt của C6.

Tại đây, lính C6 cho rằng tôi là thám báo ngụy vì "chỉ có lính địch ra trận mới đeo kính", may mà đại đội trưởng của tôi bị thương nằm ở đó nhận ra.

Sau khi ra viện trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu, cho tới 1 hôm, đại đội trưởng gọi tôi lên đưa cho 1 đôi pin Con thỏ và nói rằng: từ tháng này trở đi tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của đồng chí được thêm 1 đôi pin đèn, đây là lệnh của trung đoàn trưởng.

Cầm đôi pin trong tay, tâm trạng tôi lúc ấy rất khó tả, thời đó chỉ có cán bộ trung đội trở lên mới có tiêu chuẩn pin đèn, mà tôi chỉ là 1 anh lính quèn mới được phong từ binh nhì lên binh nhất.

Khoảng cách giữa người lính với vị chỉ huy trung đoàn xa lắm thế mà Ông biết đến 1 người lính trong số hàng nghìn lính của Ông mắt bị cận đã phải vất vả như thế nào trong đêm tối nhất là những đêm mưa dai dẳng làm nhoè nhoẹt mắt kính của mùa mưa Quảng Trị để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Cái ơn đó theo tôi suốt cuộc đời cùng với ký ức của chiến tranh khốc liệt với những kỷ niệm không thể nào quên về những người đồng đội thân yêu.

Mới đầu năm ngoái thôi, sau lễ mừng Ông thượng thọ 80 tuổi, Ông còn gửi thư và quà cho mấy thằng lính C3 chúng tôi vì bận việc không về với Ông được:"...cho người lính già hỏi thăm và có chút quà tới con cháu những người lính trẻ ..." .

Và tháng 5/2005 vừa qua trong dịp công tác qua Hải Phòng, tôi tới thăm Ông sau hơn 30 năm.

Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp hầu chuyện Ông, tôi kể lại câu chuyện đôi pin năm nào, Ông không còn nhớ nữa.

Với Ông bây giờ là lính của mình hoàn cảnh gia đình ra sao, kinh tế thế nào, đã được mấy cháu gọi bằng ông...Ông vui khi biết có những thằng lính của mình giờ đã trưởng thành, Ông buồn vì quân của Ông còn quá nhiều thằng vất vả vì miếng cơm manh áo...

Nhắc đến những trận đánh ác liệt với bao người lính của mình ngã xuống, mắt Ông rưng rưng ngấn lệ.

Suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, Ông đã 4,5 lần nhắc lại câu hỏi: "...ngày ấy chúng mày chết nhiều quá, có oán bố không?

" Dường như câu hỏi đó day dứt trong lòng Ông như một món nợ của cả 1 thế hệ đã chiến đấu và hy sinh vì sự tồn vong của cả dân tộc.

Và cũng chỉ có ở những người chỉ huy như Ông nghĩ tới những người lính của mình với tấm lòng phụ tử mới có thể thốt lên những nỗi đau như vậy.

Tuy về nghỉ, nhưng Ông vẫn tập hợp tất cả những người lính cũ của trung đoàn ở mọi vùng quê khác nhau từ Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội, ra đến Quảng Ninh ...

để động viên giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn của ngày hôm nay cũng như ngày xưa Ông dẫn dắt chúng tôi xông lên tiêu diệt quân thù.

Đầu tháng 9/2005, trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trung đoàn 101 Cao Vân (5/9/1945-5/9/2005), thiếu vắng Ông, lòng chúng tôi se lại khi biết Ông không còn khoẻ nữa...

Thế nhưng trong cuộc hành quân MỘT THỜI HOA LỬA trở lại với Thành cổ Quảng Trị cuối tháng 10/2005, lũ lính chúng tôi rất vui khi thấy Ông vẫn có mặt trong hàng quân như năm nào Ông đưa trung đoàn từ Trường Sơn hùng vĩ vượt Bến Hải, băng qua Cam Lộ về Đông Hà, Ái Tử, chọc thủng màn bom pháo của địch dăng trên dòng Thạch Hãn, tấn công địch phía Đông Bắc thị xã, chia lửa với đồng đội đang chốt giữ trong thành cổ Quảng Trị.

Trở lại mảnh đất nơi Ông đã cùng chúng tôi chiến đấu, rưng rưng thắp nén nhang tưởng nhớ tới những người lính của mình nằm lại trên mảnh đất này chắc chắn từ trong xa thẳm của cõi lòng, Ông lại nấc lên: các con ơi, bố đây, bố lại về với chúng mày đây, dậy đi để bố điểm mặt nào...

Cho tới nay, sau hơn 33 năm mới lại có được 1 cuộc hành quân trở lại Quảng Trị lớn như vậy - đây là một cuộc hội ngộ của tâm linh - để thế hệ những người lính già còn sống hôm nay thăm lại mảnh đất đã thẫm đẫm bao máu xương và nước mắt của biết bao anh em đồng đội.

Trong số những người lính của Ông ra đi ở lứa tuổi 20 ấy có Nguyễn Văn Thạc (chiến sĩ thông tin 2 Watt của tiểu đoàn 1) và Nguyễn Kỳ Sơn (chiến sĩ của đại đội 10, tiểu đoàn 3) - là những người đã để lại cho đời hôm nay những trang viết cháy bỏng của MỘT THỜI HOA LỬA.

Thế mà hôm nay Ông đã rời xa chúng tôi.Trên đường ra Hải Phòng để tiễn biệt Ông, xem lại bức ký hoạ Lê Duy Ứng vẽ ông trong căn hầm chỉ huy tại cao điểm 12 cuối tháng 1/1973: Ông đang chỉ huy tác chiến qua điện thoại, nét cương quyết của người chỉ huy hằn trên khuôn mặt vào thời khắc ngàn cân treo trên sợi tóc ấy nhưng dáng vẻ lại rất ung dung, tự tại với tư thế chân co chân duỗi như 1 lão nông chi điền sau khi cầy xong thửa ruộng khoan khoái với điếu cầy trên tay...Lần này, Ông ra đi thực sự để trở lại những nơi ngày xưa ấy, nơi những người đồng đội, những người lính của Ông đang chờ đợi mà với tấm lòng nhân từ của mình Ông vẫn thường nhắc đến họ từ trong vô thức sâu thẳm của cõi lòng của một người lính già.

Cho tôi được dâng lên Ông bài viết nhỏ này như một nén nhang để tưởng nhớ tới một người lính già, một người chỉ huy quả cảm, một người cha già nhân hậu của trung đoàn.

Ông là Đại tá Bùi Đức Ngoan, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 101, sư đoàn 325 trong những năm 1972-1973 tại mặt trận cánh Đông Quảng Trị.

NGƯỢC DÒNG KÝ ỨCCuối tháng 7 năm 1972, tiểu đoàn 60 (d60) huấn luyện quân tăng cường của sư đoàn 304B (f304B) đang huấn luyện tại Tân Đức thuộc huyện Phú Bình, Bắc Thái được lệnh đi B.

Tạm biệt vùng đồi Tân Đức nắng cháy sau những ngày huấn luyện vất vả đã biến chúng tôi những chàng sinh viên trở nên những con người rắn rỏi hơn.

Nào là điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ, tập bắn súng, ném lựu đạn, đào công sự, chiến thuật, gác đêm, sinh hoạt chính trị, hội ý từ tổ 3 người cho đến tiểu đội cứ chín giờ tối phải đi ngủ, cho đến việc đi lấy củi, xin tre, lấy gạo, lấy than ... và cả những đêm thấp thỏm bật dậy vì báo động hành quân, tất tần tật đều phải trải qua, nhưng cái cực nhọc nhất lại là những đêm hành quân "rèn".

Đầu tiên ba-lô đất khoảng 20 kg đi bộ 10 km.

Được mấy ngày đầu lính tráng đã oằn cả người vì đau vai, vì rát lưng, nhiều thằng láu cá trên đường đổ bớt đất đi, nhưng khi về đến trại bị lộ vì cán bộ đứng đón từng thằng và nhấc ba-lô kiểm tra.

Sau đó mấy ngày trọng lượng đất tăng lên bằng cách đóng cho mỗi thằng một tảng đất vuông vức như đất hộ đê nặng khoảng 35 kg tương đương với trang bị đi B của một người lính, và khoảng cách đi xa cứ tăng dần lên 15 - 20 km/đêm với mọi địa hình.

Nhiều khi muốn phát khóc vì người đau ê ẩm, chân tay mỏi nhừ nhưng cứ phải tự động viên cắn răng chịu đựng mỗi khi bị cán bộ có ý coi thường mình là những kẻ dài lưng tốn vải, và nghĩ rằng đây chưa phải giới hạn của sự gian khổ mà những gì đang ở phía trước còn gấp trăm vạn lần.

Sau này khi chính thức trở thành người lính giải phóng mới thấy những ngày tháng luyện quân chưa thấm tháp vào đâu.

Chính những đêm hành quân "rèn" với ba-lô đất trên lưng ấy đã giúp chúng tôi rất nhiều trong những ngày trèo đèo, lội suối băng qua dải Trường Sơn để ra trận.

Trước khi lên đường khoảng một tuần đơn vị được tăng khẩu phần ăn, lính tráng kháo nhau ngày N sắp đến.

Không biết ai thông tin về Hà Nội mà nhanh thế, các gia đình ở Hà Nội thông báo cho nhau và tìm đến đơn vị để thăm con em mình.

Những ngày này, các gia đình của anh em bộ đội lên chơi khá đông nhưng hình như cán bộ đại đội cũng biết là sắp lên đường nên cũng thông cảm cho việc chấp hành giờ giấc của đơn vị.

Anh Thiện lên thăm mình được một đêm, hôm sau phải về ngay vì còn phải lên lớp.

Mẹ gửi cho mình nhiều thứ quá: đường, sữa, thuốc bổ, cả một con gà luộc sẵn và cặp kính để sơ-cua phòng khi kính đang dùng bị vỡ..., anh Thiện dúi cho một mẩu thuốc phiện (của học trò người dân tộc biếu thầy) phòng khi đi ngoài nhiều hoặc khi bị thương quá đau sẽ cần đến nó.

Đưa tiễn anh ra tới tận cầu Tân Đức, 2 anh em cứ im lặng chẳng nói được gì với nhau.

Anh đi rồi, trong lòng tôi mới thốt lên: nhà mình chỉ có 2 anh em trai, em đi lần này sẽ chưa biết ngày về.

Nhà chỉ còn anh để bố mẹ nương tựa khi về già.

Lấy vợ đi anh...Nhớ tới hôm nhận giấy báo nhập ngũ, đạp xe về nơi sơ tán để chào mẹ trước khi lên đường.

Những ngày đó Ni-xơn quay trở lại đánh phá miền Bắc, suốt ngày máy bay địch từ phía Hòa Bình gầm rú bay qua đầu để vào đánh phá Hà Nội.

Nơi mẹ sơ tán cùng cơ quan là Đanh Xuyên, huyện Ứng Hòa, Hà Tây.

Chị Châu, 2 cháu và bà ngoại cùng đi theo mẹ.

Ăn với cả nhà một bữa cơm, ngủ lại một tối.

Hôm sau tôi chào bà, chào mẹ, chào chị, ôm hôn 2 bé Hoàn và Mốc để ra Hà Nội lên trường nhập ngũ.

Mẹ tiễn tôi lên đê và nói: "Mày là con út, được chiều quen rồi.

Mẹ chỉ lo mày không chịu được khổ lại thêm tính ương ngạnh rồi bỏ về giữa chừng, thì khổ lắm con ạ.

Cố lên con nhé, mẹ sẽ cầu trời khấn phật phù hộ độ trì cho con tai qua nạn khỏi!

".

Ngày đó đã đến, khoảng 2 giờ chiều đơn vị báo động di chuyển.

Cả đại đội tập trung trước sân để phổ biến lệnh hành quân.

Phía ngoài hàng rào, lố nhố những gia đình bộ đội với xe cộ lỉnh kỉnh thấp thỏm chờ đợi.

Đại đội trưởng yêu cầu một số anh em có tên trong danh sách đứng ra khỏi hàng.

Về sau mới biết trong số này có những người được giữ lại làm khung cho đơn vị mới, một số làm công tác khác.

Trước đó gần một tháng đã có một số anh em được gọi sang Bộ tư lệnh thông tin và Bộ tư lệnh hải quân - tiểu đội tôi có anh Tuệ ở K12 Xây dựng và anh Châu ở K12 Cảng.

Dưới cái nắng tháng 7 gay gắt, cả đại đội lên đường theo hàng một, không ai nói một lời, tất cả hình như chung một tâm trạng của người ra đi không biết bao giờ trở lại.

Những anh em có gia đình đi theo được đi phía ngoài hàng cùng người nhà.

Những chiếc xe đạp đã trở thành xe chở ba-lô cho những anh em đuối sức.

Khu vực tập kết của sư đoàn tại xã Quyết Tiến (?), những căn lều dã chiến được dựng dưới tán rừng thông và bạch đàn.

Đây là nơi phát quân trang đi B.

Ngoài những thứ như ba-lô, mũ cối, màn đã có khi nhập ngũ, ở đây chúng tôi được cấp phát: 2 bộ Tô Châu mới, 2 quần lót, 2 áo cộc tay, 1 áo ấm đông xuân cộc tay, 2 khăn mặt, 2 mảnh gỗ nhỏ có tráng lân tinh để đi đêm, 1 bình tông, 1 xanh-tuya-rông, 2 bao tượng đựng gạo (mỗi bao đựng được 8 kg), 1 đôi giầy thấp cổ của Trung Quốc, 2 cuộn quai dép cao-su, 2 bánh lương khô Việt Nam, 2 lạng mì chính Trung Quốc, 1 hộp sữa bột nửa cân, 1 gói ruốc bông, 1 cân đường, 1 mảnh vải mưa to để đi mưa và khi cần có thể bọc ba-lô làm phao để vượt sông, 1 túi đựng lựu đạn kèm theo 1 quả lựu đạn bi mỏ vịt của Liên-Xô, cứ mỗi tổ 3 người có 1 dao găm và 1 bật lửa, mỗi tiểu đội 1 khẩu AK với 1 cơ số 90 viên đạn mang theo từ đơn vị.

Mỗi tiểu đội được trang bị 1 bộ nồi quân dụng gồm 1 nồi cơm mà chúng tôi gọi là nồi B12 và 2 nồi nhỏ có nắp được tạo thành những ngăn đựng thức ăn - cái nồi B12 này tôi được phân công mang nó chung thân cho tới khi về tới trung đoàn, kèm theo 2 cái muôi.

Những thứ còn lại sẽ được cấp phát ở những trạm tiếp theo.

Bữa cơm hôm đó ở trạm cấp phát của sư đoàn được nấu tập trung, tiểu đội chỉ việc đi lấy về ăn.

Tụi tôi đồng loạt tung hê hết các bát ăn cơm bằng sắt tráng men (lính gọi là bát B52) được trang bị khi nhập ngũ thay bằng những cái ca lắp ở đáy bình tông.

Những cái ca này thật tiện lợi vì ăn xong là lắp vào đáy bình tông cho vào bao đeo ở xanh-tuya-rông.

Chỉ bất tiện ở chỗ ăn bằng ca phải dùng cả đũa lẫn thìa.

Sau này vào trận mỗi thằng chúng tôi tự trang bị 1 cái thìa và 1 cái dĩa bằng i-nox của Mỹ.

Cho đến hôm nay hình ảnh dùng dĩa để xúc cơm, xiên thức ăn và nhất là dùng để đánh chặn trong nồi canh lõng bõng của lính vẫn đọng mãi trong tôi.

Trong bộ Tô Châu mới thay cho những bộ quân phục bằng vải Hung nặng chịch mầu vàng đất, anh em chúng tôi trông khỏe khoắn, đẹp đẽ và rắn rỏi hơn.

Tôi được cấp bổ sung 1 mũ cối mới vì trước đó mũ của tôi bị mất, nghi cho đám mấy thằng ở trường máy kéo.

Khi bị thương ở Quảng Trị chính cái mũ này đã đỡ cho tôi khi bị dính cối cá nhân M79.

3 mảnh nhỏ xuyên qua nóc mũ găm vào da đầu, còn mảnh lớn hơn xé thủng vành mũ ghăm vào xương bả vai.

Khi tôi ra Bắc điều trị đã gửi mũ về nhà để cho mẹ tôi cất giữ làm kỷ niệm.

Chiếc mũ này đã bay xuống sông Hồng khi tôi đi vác nứa kiếm tiền hè năm 1976.

Chúng tôi lên tầu ở ga Phổ Yên, nhưng đến chiều tầu mới chạy.

Tầu chạy như rùa bò, thời gian dừng còn nhiều hơn chạy.

Mãi đến tối khuya mới tới gần Yên Viên và phải xuống đi bộ vì lúc chiều địch đánh vào ga Yên Viên và cầu Đuống vừa bị đánh sập.

Thị trấn Yên Viên còn nghi ngút khói bom, nhà cửa, phố xá đổ xập, một vài chỗ những bóng người hối hả đào bới dưới ánh sáng vàng ệch của đèn bão bên những ngọn khói hương nghi ngút.

Vượt qua sông Đuống bằng cầu treo, cầu đung đưa một cách khủng khiếp, những tấm gỗ lát cầu khấp khểnh chỗ có chỗ không, sơ ý là rơi tòm xuống sông.

Bên trái phía hạ lưu, cái bóng cầu Đuống đen thẫm bắc qua sông bị trống một khoảng dưới ánh trăng mờ.

Qua khỏi cầu treo, chúng tôi ra đường 1, hình như hơi ấm của Hà Nội phía trước thúc chúng tôi rảo bước thật nhanh băng qua những đoạn đường lổn nhổn vì trận đánh bom ban chiều, đoàn quân như những con lạc đà chở nặng hối hả tiến về phía quầng sáng trước mặt: Hà Nội của chúng tôi vẫn sống, vẫn hắt lên bầu trời ánh sáng của niềm tin và hy vọng.

Có không ít người dân đã theo chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy người thân của mình trong hàng quân, và chính họ lại là những người đưa thư tận tình nhất.

Từng chồng thư của lính đã được họ chuyển ra bưu điện.

Một anh về trong nội thành nhận mang thư đến tận nhà, tôi viết vội mấy chữ vào tờ giấy:"Con đi B, đợi con ở cầu phao Bác Cổ" và ghi địa chỉ ở mặt sau để nhờ anh chuyển đến nhà.

Anh Được bị đuối sức phải ngồi lại nghỉ, khi đoàn quân đi hết tôi và anh Oanh dìu anh Được đi cuối cùng cùng với những người yếu sức khác.

Trong lòng nóng như lửa đốt vì không thể bỏ bạn mình để vượt lên trước được.

Sao lúc này lại khỏe như vậy, mang thêm ba-lô cùng 1 khẩu AK với đủ cơ số đạn của anh Được tôi cứ lao phăm phăm về phía trước hy vọng sẽ gặp được mẹ và những người thân ở bến phà.

Tốp đi cuối cùng chúng tôi đã tới cầu phao, nhưng cầu đã cắt vì nước sông lên to, phương tiện vượt sông lúc này chỉ có phà.

Phà tới bờ, tôi lao lên khỏi phà và vượt qua đê.

Dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn bên đường Trần Khánh Dư, mấy bóng người dáng vẻ bồn chồn như đang đợi ai, tôi nhận ra trong số đó cái bóng cao cao của bố tôi.

Chỉ kịp gọi "Bố" nước mắt tôi đã trào ra nghẹn lại.

Vừa lúc đó có tiếng gọi phía sau "Tường con ơi, mẹ đợi con mãi ở bến phà ...

".

Thì ra những gia đình lên thăm con em đã về Hà Nội thông báo cho nhau, người nọ báo cho người kia, mẹ Hòa ở Hai Bà Trưng đã chạy sang báo cho mẹ tôi biết.

Đơn vị qua phà và lên xe ở đầu dốc Bác Cổ, không thấy tôi, mẹ tôi hỏi mãi mới gặp được một cậu liên lạc cho biết tôi đi ở tốp sau cùng.

Cậu đó là Cao Minh Sơn - K16 Nước - làm liên lạc đại đội.

Sơn gặp mẹ tôi đang nhớn nhác tìm con, cậu ấy nói: "Bác giống mẹ cháu quá, mẹ cháu ở tận Hải Phòng lên chắc không kịp".

Sau này, khi vượt sông Thạch Hãn về đơn vị, tôi về c3, Sơn ở c1 cùng d1, e101, f325 chốt giữ khu vực Triệu Long, Triệu Thành ở phía đông bắc Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị.

Sơn đã hy sinh trong một đêm đầu tháng 9/1972 khi đưa cơm cho đồng đội ở trong chốt.

Đã bao năm trôi qua cho mãi đến bây giờ khi mẹ tôi đã xấp xỉ tuổi 90 bà chỉ nhớ mỗi thằng bé xinh trai người Hải Phòng và anh Được ở ngõ Nam Ngư trong số rất nhiều đồng đội của tôi.

Và sau này cứ mỗi lần chào mẹ để đi Quảng Trị, bà vẫn nhắc tôi cố gắng đi tìm 2 người đó về.

Sơn nằm ở đâu đó ở khu vực An Tiêm, Chợ Sãi ; còn anh Được hy sinh trong khi tập kích địch ở Tích Tường, Như Lệ đầu năm 1973.

Cho tới khi ký hiệp định Paris, 2 bên tiếp xúc nhau, lính địch cho biết trận đó có mấy anh chết trong đócó 1 anh trắng trẻo có răng khểnh ...- đó là anh Được.

Đã mấy lần chúng tôi cùng gia đình đi tìm các anh nhưng đều không có kết quả.

Một phần khi các anh hy sinh không một ai được biết; mặt khác nơi các anh hy sinh lại là vùng tranh chấp, sau này là vùng địch chiếm.

Tháng 7/2003, mấy anh em chúng tôi qua nhà Sơn thắp hương và đặt lên bàn thờ Kỷ niệm chương Quyết chiến bảo vệ Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị, hè 1972.

Quả thật vóc dáng và tuổi tác của mẹ Sơn rất giống mẹ tôi, ôm lấy bà mà tôi không sao cầm được nước mắt.

Đất nước chúng ta mất mát nhiều quá, cả một lứa trai ra đi mà rất ít người trở về, cái giá của ngày hôm nay không thể nào đong đếm được.

Xe chở đơn vị đi đã lâu, tốp chúng tôi phải đuổi kịp đơn vị ở Thường Tín.

Cả tốp cùng mấy gia đình đi bộ ra bến xe ở công viên Thống nhất để đi Thường Tín.

Hà Nội buổi sớm không khí thật trong lành, phố xá còn vắng teo, dân phố đi sơ tán cả.

Đi bên cạnh bố mẹ nghĩ rằng sẽ có nhiều chuyện để nói nhưng rồi có nói được đâu...thật là hạnh phúc lúc lên đường lại được gặp những người thân yêu nhất.

Giờ này nếu không có chiến tranh, lòng đường nhựa sẽ trở thành những sân bóng của các đội bóng phố tôi rất sôi động.

Từ Bác Cổ, ra Trần Hưng Đạo, xuyên qua Lê Văn Hưu, thẳng ra Nguyễn Du, men theo hồ Thuyền Quang rồi Trần Bình Trọng tới bến xe ở cổng công viên, những con đường quen thuộc với chúng tôi từ thủa thiếu thời sao hôm nay đẹp đến thế...Chúng tôi đi đây, hẹn ngày trở lại.

Chúng tôi lên xe khách, mẹ tôi ngẹn ngào nắm lấy tay tôi dường như muốn níu kéo tôi lại.

Bố mẹ ơi hãy về đi, bịn rịn qúa con làm sao mà đi được...!

Xe chuyển bánh theo đường 1.

Giáp Bát, Văn Điển giờ chỉ còn đống gạch vụn.

Tới Thường Tín đã thấy những bóng lính trong sắc phục Tô Châu mới toanh đang nhớn nhác bắt xe để về Hà Nội.

Thường Tín là trạm giao liên đầu tiên trong hệ thống đường dây chuyển quân vào Nam, từ đây bộ đội sẽ lên tầu hay ô-tô để đi vào.

Chúng tôi đóng quân trong nhà dân ở xã Liên Phương.

Ngôi nhà mà chúng tôi đóng quân là một ngôi nhà cổ khá bề thế, ba-lô ngổn ngang khắp nhà, anh em đang tranh thủ ngủ để lấy lại sức sau một đêm hành quân, hầu hết tụi Hà Nội tranh thủ về nhà, tôi ở lại vì đã gặp được bố mẹ, phần nữa anh Được vẫn còn mệt chưa lại sức.

Chính ngôi nhà này khi anh Minh đi B đã ở đây và sau khi tôi ra viện và từ Đoàn 869 nhập trạm trở về đơn vị cũng ở tại ngôi nhà này.

5 giờ chiều cả đơn vị lên xe, rất đông gia đình bộ đội đi tiễn, tôi biết bố mẹ tôi không thể đến đây được, dù sao cũng còn hơn những anh em ở tỉnh khác.

Còi xuất phát đã nổi lên, chợt bóng dáng thân quen của mẹ tôi đang te tái chạy tới, cả chị Châu và anh Văn nữa.

Khi biết tôi tập kết đi B ở Thường Tín, anh Văn lấy xe cơ quan chở mẹ tôi và chị Châu vào hy vọng sẽ gặp được anh Thắng.

2 anh em nhập ngũ cùng một đợt, Thắng ở d69 cùng f304B, không biết có đi B đợt này không ?

Xe chuyển bánh, nhiều bà mẹ lăn theo xe gọi tên con, nhưng mẹ và chị tôi chỉ đứng đó nhìn theo xe, một tay gạt nước mắt, tay kia vẫy vẫy theo...

Xe tăng tốc trên QL1, trời sáng trăng, cả xe im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ.

Ý nghĩ của tôi vẫn còn vương vấn ở phía sau nơi những người thân yêu của tôi ở đó.

Trước khi ra đi gặp được những người thân yêu nhất quả là một may mắn vô cùng.

Tại sao khi bố mẹ đưa mình ra bến xe ở công viên Thống nhất mà mình không tranh thủ lấy xe đạp phóng về nhìn lại ngõ Tức Mạc thân yêu của mình - nơi đầy ắp những ký ức của tuổi thơ.

Ôi cái ngõ nhỏ rợp bóng hoàng lan cổ thụ, với tán lá bàng, lá sấu mướt mát những trưa hè oi ả, và đỏ rực hoa gạo mỗi khi tháng 3 về... bên tai tôi dường như văng vẳng tiếng còi tầu hỏa vọng về từ ga Hàng cỏ xen lẫn tiếng leng keng của tầu điện mỗi sớm mai về...Vĩnh biệt ư ?

Không !

Chỉ tạm biệt thôi.

Hãy nghĩ tới ngày trở lại và nếu như điều xấu nhất xảy ra thì ta cũng sẽ trở về trong niềm nhớ thương của những người thân yêu nhất...

Chợt có tiếng hát từ xe trước vọng lại, trong xe có vài người hát theo rồi cả xe đều hát "...

Mẹ Việt Nam có hay chăng giờ này đàn con đã lên đường..."

Hết bài này đến bài khác cho đến gần Phủ Lý, tiểu đoàn trưởng Trần Ba lầm bầm : "Đ...má !

Không hát nữa để nghe máy bay...".

Phủ Lý chỉ còn một đống gạch vụn dưới ánh trăng mờ mờ.

Anh Oanh chỉ về phía phải: "Từ đây về làng anh chỉ non 1 cây số...".

Anh Oanh có người yêu cùng làng tên là Tuyến đang học trung cấp bưu điện truyền thanh.

Nếu không đi bộ đội, sang năm 2 người cùng ra trường và sẽ tổ chức cưới.

Tới một xóm nhỏ thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình chúng tôi xuống xe vào nghỉ tại nhà dân.

Ở trạm này chúng tôi được cấp phát tăng võng.

Võng là võng đôi bằng vải ga-bac-đin dầy, một nửa để nằm, nửa còn lại để đắp ; tăng bằng vải nhựa dầy.

Ông Viên - C phó - hướng dẫn cách mắc võng, mắc tăng kể cả cách có cọc phụ để phòng khi mưa...Nhiều thằng xé ngay 1 nửa cho nhẹ, nửa kia mang ra quán đổi thuốc lá.

Chiều tối ra xe để đi tiếp, lúc ấy có mấy thằng tranh thủ về nhà khi còn ở trạm Thường Tín cũng vừa đến kịp, thế là đủ hết, không một ai bị bỏ lại.

Quân tư trang lại nặng thêm vì có tăng, võng và mỗi thằng phải đóng đủ 2 bao tượng gạo.

Xe đi đường nào chắc không phải đường 1, đường khá tồi, ngồi trong xe chao đảo, đầu tiên xe chật cứng, thằng nào ngồi trên ba-lô thằng ấy chân không cựa được, đi được một lúc thì những thằng ngồi sau cùng duỗi được cả chân.

Lấy cớ là phải đeo cái nồi to nên tôi chọn phía sau cùng, mặc dù vị trí này xóc nhất ít thằng muốn ngồi nhưng được cái chân cẳng thoải mái và nhất là có sự cố gì thì phi ngay xuống được.

Không rõ trạm sau là đâu ?

Chắc chỉ đến Thanh Hóa là cùng !

Từ Gia Viễn chúng tôi tới trạm nghỉ tại Hoằng Trinh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

Từ đây xe chở chúng tôi đi tiếp và xuống sà-lan để vượt sông Mã ở phía thượng lưu Hàm Rồng, khi sà-lan ra đến giữa sông thì bị chết máy, nước sông chảy mạnh đẩy sà-lan về xuôi chỉ còn cách cầu vài cây số.

Phía hạ lưu sáng rực những quầng sáng của pháo sáng, của chớp bom và những vạch lửa của pháo cao xạ.

Cả đoàn nín thở lo lắng khi khoảng cách với quầng lửa ấy mỗi lúc một thu hẹp...Rồi tất cả thở phào nhẹ nhõm khi một chiếc ca-nô được tăng cường đuổi theo và dìu chúng tôi sang bờ bên kia.

Chúng tôi lại tiếp tục lên đường đuổi theo đoàn quân, vòng qua thị xã Thanh Hóa qua Triệu Sơn, Nông Cống, lên đường 15 ở Như Xuân, vượt dốc Bò lăn để vào đất Nghĩa Đàn, Nghệ An.

Đường qua dốc Bò lăn xấu khủng khiếp, trời mưa sập sùi, có lẽ đây là đoạn đường xấu nên phải dùng xe 3 cầu.

Nhiều chỗ xe nghiêng ngả tưởng chừng như muốn lật tới nơi, xe không có mui bạt nên cây rừng, lau lách, tre nứa ở hai bên đường thi nhau đập vào thành xe và đập vào mũ cối kêu côm cốp.

Vuốt vội những giọt nước mưa theo cây rừng táp vào mặt, không một ai nói lời nào, đây mới chỉ chặng gian nan đầu tiên, tất cả còn ở phía trước...

Tới khuya chúng tôi xuống xe, đây là đất Nghĩa Đàn, đoạn đường đầy bùn nhão nhoét, lính tráng thi nhau ngã oành oạch.

Hôm trước còn có ánh trăng, hôm nay tối thui vì mưa không biết đằng nào mà lần, chỉ biết cứ bám theo vệt lân tinh cài ở nắp ba-lô của người đi trước.

Với thằng tinh mắt trời tối đã là đáng sợ, còn với tôi - một thằng mù dở với cặp kính 3 đi-ốp - lại càng khó khăn hơn khi nước mưa làm nhòe mắt kính.

Chỉ còn bám sát người đằng trước mà đi, cho nên nhiều lúc đâm sầm vào nhau làm bạn mình ngã dũi ngã dụi nhất là những người còi cọc như ông Oanh.

Có tiếng lao xao kèm theo những mùi vị đặc biệt - sau này mới biết đó là mùi của bãi khách, chúng tôi được lệnh xuống ba-lô nghỉ đêm.

Lần sờ mãi mới mắc được tăng võng và cứ nguyên quần áo bẩn thỉu như thế thiếp đi không biết gì hết.

Chợt thấy lành lạnh sống lưng, bật dậy thấy võng của mình lõng bõng đầy nước, hất vội chỗ nước và lại nằm xuống, xung quanh tiếng kêu oai oái vì nước vào võng.

Mưa rơi lộp bộp lên mái tăng, trời đã mờ sáng.

Xung quanh tôi la liệt võng, mái tăng thằng nọ chĩa vào võng thằng kia nên nước vào võng là đúng thôi.

Lần đầu tiên mắc võng ngủ rừng cho nên lúng túng như vậy.

Xung quanh các gốc cây đều có cọc phụ để mắc võng của các đơn vị đi trước để lại, cọc nào cọc ấy đều lên nước bóng vì biết bao lượt quân ra quân vào nghỉ đêm tại đây.

Đêm trước mà sờ thấy cọc phụ thì đâu có bị cảnh nước chảy vào võng.

Bữa cơm đầu tiên trong rừng của tiểu đội thật đáng nhớ, quá nửa tiểu đội là sinh viên và người thành phố nên rất lúng túng khi chuẩn bị bữa cơm sáng.

Cũng may có Triệu và Tú xin nhận nấu cơm.

Triệu là người dân tộc Tày Bắc Thái cả ngày chẳng nói câu nào nhưng những việc như thế này cậu ta rất thạo, chỉ riêng đi kiếm được củi để nấu cơm khi trời đang mưa đã đủ kính nể rồi.

Tôi và anh Oanh đi lấy nước.

Chặt 1 cành cây làm đòn, 2 anh em lần xuống khe để lấy nước, tuy không xa nhưng dốc trơn, leo gần đến nơi ngã cái oạch đổ hết cả nước, lại phải quay xuống lần nữa.

Tú là người Đô Lương, Nghệ An đang học trường công nhân máy kéo, đây là 1 người khỏe mạnh, tháo vát, cậu ta sang Tăng - Thiết giáp ở Bãi Hà.

Còn Triệu hy sinh hôm mất Thành Cổ.

Hôm đó cả 1 ngày quần nhau với địch còn nhìn thấy nhau đến đêm khi phá vây rút ra không thấy cậu ta đâu nữa.

Năm 1973, không có tên của Triệu trong danh sách tù binh được trao trả.

Nghi vấn này mãi về sau vẫn còn nhắc đi nhắc lại.

Chính tôi khi trình bày với cán bộ trung đoàn trường hợp của cậu ấy: có thể bị thương nặng nằm tại một chỗ nào đó không ai biết và đã hy sinh.

Trường hợp anh Tạo B phó khi hy sinh, anh em đã để anh nằm tại góc ngôi trường đổ, đợi đến đêm sẽ tìm cách mang anh ra.

Còn cậu Lào, người cùng tiểu đội quê Nghệ An, cũng thế, bị thương nặng tôi cõng ra nhưng nửa đường gặp địch buộc phải đặt cậu ta trong 1 hố pháo để phá vây, rồi tôi cũng bị thương khi tỉnh dậy xung quanh không còn ai và không xác định được phương hướng.

Tôi cứ lết mãi lết mãi theo hướng AK nổ, cuối cùng gặp được đơn vị bạn.

Mấy chục năm đã qua tôi vẫn mường tượng lúc đặt cậu ta vào hố pháo bàn tay cậu ta níu chặt cánh tay tôi dường như muốn nói : Đừng bỏ em lại ...Cậu ta bị mảnh cối trúng vào cổ mất nhiều máu và không thể nói được.

Tôi phủ cỏ rác che cho Lào và ghé vào tai nói nhỏ: "Nằm yên đây, tụi tao phải phá vây rồi sẽ đưa mày ra..."

Cho đến nay tôi cũng không hề biết Lào quê ở huyện nào, xã nào để tìm đến gia đình thắp cho Lào 1 nén hương hối lỗi vì đã không thể mang Lào ra.

Với gia đình anh Tạo, sau bao năm đi tìm quê quán của anh, tình cờ bạn bè và vong linh anh mách bảo, tôi và Chiến đã tới quê anh ở thị xã Phúc Yên.

Âu cũng là nhẹ nhõm phần nào.

Nơi anh Tạo và Lào hy sinh cũng là nơi tôi bị thương là trường tiểu học Triệu Thành thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị.

Đây là một trạm khách lớn, xung quanh rất nhiều đơn vị có cả những đơn vị TNXP nữ.

Tiếng hỏi thăm nhau í ới, nhận đồng hương với nhau làm cho cánh rừng sôi động hẳn lên.

Chúng tôi lại được bổ sung thêm quân trang.

Lần này là 1 mũ tai bèo, 1 hộp túi cứu thương gồm bông băng, thuốc phòng độc, thuốc lọc nước, thuốc sốt rét, thuốc bổ, thuốc chống rắn cắn, kim chỉ, 1 hăng-gô Trung-quốc kèm theo 1 túi đựng, 1 túi trắng đựng cơm nắm hoặc lương khô, 2 đôi tất dài để chống vắt, 2 đôi tất ngắn.

Ông Viên với kinh nghiệm nhiều lần đưa quân vào Nam hướng dẫn cho chúng tôi cách đi dép cao-su có lồng tất để chống trơn trượt và mỗi thằng phải tìm chọn 1 cái gậy tốt để dùng khi hành quân bộ.

Ngoài tác dụng để chống khi hành quân, nó còn có tác dụng chống vào đáy ba-lô cho đỡ mỏi vai khi tạm dừng, đêm xuống dùng gậy để khua vào bụi rậm đuổi rắn, rết cả khi chẳng may bị trúng bom pháo dọc đường, lúc nhẩy xuống hố cá nhân thì nhớ thò gậy lên để đồng đội sẽ dễ dàng bới đất tìm ra...Trong đơn vị có những người khéo tay chạm trổ gậy rất đẹp, thậm chí có người còn tạo ra 1 cái điếu cầy ở đầu gậy rất tiện lợi mỗi khi cơn nghiền thuốc lào nổi lên.

Chiếc gậy có chạc của tôi chặt từ bãi khách Nghĩa Đàn này đã theo tôi tới tận Ái Tử, khi vượt sông Thạch Hãn lúng túng vì phao và vì pháo địch bắn dữ quá đành phải bỏ lại.

Rời Nghĩa Đàn chúng tôi lên xe đi tiếp.

Trời đã tạnh ráo, những chiếc xe tải quân sự chỉ có 1 ngọn đèn gầm duy nhất lắc lư đi trong đám bụi đường dầy đặc.

Từ đây đi đường 15 đi qua những vùng đồi núi đất đỏ của miền Tây Nghệ An.

Thỉnh thoảng xe phải dừng lại vì phát hiện máy bay đang lượn trên đầu.

Đột ngột chiếc xe đi trước dừng lại, một bóng người trên xe nhẩy xuống và lao vào mấy nếp nhà núp dưới một cánh rừng bạch đàn ven đường.

Xe chúng tôi cũng dừng lại.

Sau này mới biết chỗ này là Đô Lương, anh em có đề nghị với lái xe dừng lại ít phút để cho Dương Thanh - K16 Xây dựng - tạt qua nhà từ biệt mẹ.

Dương Thanh khi còn ở huấn luyện đã được chọn đi khám tuyển phi công nhưng không trúng tuyển.

Thanh về cùng d1 với tôi nhưng ở c2 và đã hy sinh tại khu vực An Tiêm - Chợ Sãi ngày 16/9/1972.

Cũng tại cung đường này, đêm 18/11/1972 chúng tôi rời trạm chuyển thương CT12A ở Nam Thanh ra Nghĩa Đàn.

Thời điểm đó sau khi bội ước không chấp nhận ký Hiệp định Paris ngày 26/10/1972, Ni-xơn mặc dù tạm ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20 lại tăng cường dùng B52 đánh phá quyết liệt phía nam vĩ tuyến 20.

Đêm đó hơn 10 xe chở thương binh theo trục đường 15 thì bị trúng bom B52.

Mỗi xe chở khoảng hơn hai chục thương binh, những anh em bị nặng nhất được nằm võng (mép võng được ghim lại để khỏi lăn ra), dưới sàn xe người nằm, người ngồi ngủ gà ngủ gật thì trời đất chớp lòe, chao đảo, xe nhẩy chồm chồm, cây cối đất đá đổ ập xuống xe như giông bão...Chốc lát trong ánh lửa của cây rừng bị cháy, những vạt rừng hai bên đường biến đi đâu mất thay vào đó là một bãi bom khổng lồ.

Thật là may mắn những loạt B52 này lại cắt ngang đường và xen vào giữa các xe.

Không một xe nào bị bom, có một vài xe bị bẹp mũi, bẹp nóc do đất đá, cây cối quăng vào.

Thương binh đều an toàn chỉ bị một phen hút chết mà thôi.

Hôm sau ở Nghĩa Đàn chúng tôi được biết đây là trận mở màn cho chiến dịch Sấm rền của địch đánh vào trục đường 15.

Chúng đã dùng 3 tốp B52 gồm 9 chiếc rải thảm khu vực Đô Lương, Tân Kỳ - chính là nơi chúng tôi đi qua.

Ngay trong đêm, xe của trạm Nam Đàn ra và của trạm Nghĩa Đàn vào chỉ để làm công tác thương binh tử sĩ vì với mật độ bom dầy đặc như thế chắc chắn sẽ không còn ai sống sót.

Quay lại chặng đường khi hành quân vào, chúng tôi dừng chân ở trạm Nam Đàn một ngày.

Ngôi nhà nơi tiểu đội tôi trú quân có 2 người phụ nữ và mấy đứa trẻ nhỏ.

Chiều, khi tập kết để đi anh em mới rỉ tai nhau thằng X. và thằng H.

ở trường công nhân máy kéo đã chui vào buồng ngủ của 2 chị em gia chủ ..., khi ra thấy mặt mũi phởn phơ lắm...

Chúng tôi đi dọc theo đê sông Lam, đây là nơi thị trấn Nam Đàn sơ tán về nên có vẻ đông đúc, những quán nhỏ le lói ánh đèn dầu phòng không ở bên đường.

Gió sông thổi về mát rượi, chẳng bù cho ban ngày nóng hầm hập.

Chính tại đoạn đê này khi tôi trên đường chuyển thương ra đã gặp mấy anh em cùng huấn luyện ở Tân Đức đã được giữ lại làm khung cho đợt quân sau.

Không biết họ sẽ vào Quảng Trị hay đi đâu ?

Sà-lan chở chúng tôi ngược sông Lam để theo dòng sông La vào đất Hà Tĩnh.

Đức Hòa là một xã của huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, chúng tôi nghỉ lại sau một đêm theo sà-lan từ Nam Đàn vào.

Vùng quê này là một vùng bán sơn địa với những vườn cọ và những nếp nhà lợp lá cọ xung quanh vách cũng được thưng bằng lá cọ có thể chống lên để hứng gió.

Kiểu nhà này rất nhiều cột chống nên lính tráng tha hồ mà mắc võng.

Tình cờ anh em chúng tôi phát hiện trong làng có một quán cà-phê khá độc đáo.

Mấy anh em rủ nhau ra quán để lấy lại hương vị cà-phê kể từ khi nhập ngũ.

Quán cà phê là một nếp nhà lá nép dưới tán mấy cây cọ, xung quanh quán là giàn hoa giấy, trong quán bàn ghế làm bằng tre, tủ quầy cũng được làm bằng tre, không gian được bài trí phù hợp cho một quán cà phê của một thị xã tỉnh lẻ nào đó chứng tỏ chủ nhân là một người có óc thẩm mỹ.

Ông chủ là một người đàn ông cỡ ngoài 50, đón chúng tôi vào.

Trong quán toàn quân nhà ta cả, chuyện nở như ngô rang, khói thuốc lá nghi ngút bên những phin cà-phê đặc sánh đang tí tách nhỏ giọt.

Khi biết chúng tôi là những lính sinh viên mà đa phần là dân Hà Nội nên chuyện cà-phê, chè cháo không phải là không sành sỏi, ông chủ liền giới thiệu các loại cà-phê mà ông ta có đặc biệt là cách dùng rượu rhum đun nóng để chế vào phin thay nước sôi ...

Đúng là lần đầu tiên mới nghe thấy kiểu cách pha này (bụng bảo dạ nếu được sống trở về thế nào tôi cũng phải hỏi bố tôi và nhất là bác tôi có kiểu pha cà-phê như thế không hay là ông nói phét).

Âu đó cũng là những kỷ niệm đáng nhớ trên đường hành quân.

Mấy tháng sau khi tôi nằm ở trạm chuyển thương cách đó một cánh đồng mà tôi đang tập tễnh nên không thể ghé qua quán được.

Cái đêm xe binh trạm chở chúng tôi từ Hà Tĩnh vào Quảng Bình xe bị máy bay săn đuổi trên đường, pháo sáng rực trời, xe chúng tôi tạt vào một nhánh đường ngang đầy bụi rậm.

Chúng tôi tạt nhanh ra xung quanh, tôi, anh Oanh và mấy người nữa chạy vào một khe hẹp thì bom đã dội trúng mặt đường nơi chúng tôi vừa rẽ vào.

Đất đá, mảnh bom bay rào rào, nhờ cái khe hẹp này cả xe đều an toàn.

Bom dứt, dưới ánh đèn dù sáng như ban ngày một dòng chữ hiện lên trên vách ta-luy: Hà Nội ơi!

Nhớ Hà Nội nhiều bằng đá cuội khảm vào đất đồi đỏ quạch.

Người lái xe cho biết đây là một đoạn đường tránh, trước đó mấy năm 1 đơn vị TNXP Hà Nội hầu hết là nữ có nhiệm vụ đảm bảo giao thông tại khu vực này, gần đấy có nơi yên nghỉ của khoảng 20 chị em.

Trong những tháng ngày gian khổ ác liệt nỗi nhớ Hà Nội trong các chị không bao giờ nguôi ngoai và đã để lại cho những lứa đàn em hôm nay dấu ấn bất diệt của cả một thế hệ người Hà Nội kiên trung nhưng không kém phần lãng mạn giữa đại ngàn Trường Sơn.

Gần sáng tới trạm nghỉ, sau một đêm thức trắng căng thẳng vì bị đánh chặn trên đường, mắc vội tăng võng và thiếp đi không biết gì hết.

Sáng ra mới biết do trận oanh kích đêm trước nên đoàn không đến được trạm chính nên phải nghỉ lại dọc đường.

Anh em lái xe mang giấu xe ở chỗ khác phòng khi địch phát hiện đánh vào khu vực trú quân của đoàn.

Cánh rừng này không có nhiều cây to nhưng lại nép dưới chân một núi đá, có một lạch nước trong vắt chảy qua, không gian ban ngày rất tĩnh lặng.

Bầu trời trong vắt, hầu như vắng tiếng rú rít của tụi cường kích, thỉnh thoảng những vệt khói trắng của B52 cắt ngang bầu trời.

Theo phổ biến của anh em lái xe một khi nhìn thấy vệt khói của chúng là an toàn, những vệt B52 thường xuất hiện từ phía Tây, khi thấy chúng lượn vòng nghĩa là chúng đã trút hết bom và quay trở về.

Khu vực này hình như địch chủ yếu đánh vào ban đêm thì phải.

Tranh thủ tắm táp, giặt giũ.

Trời nắng to, ba-lô quân tư trang được đem ra phơi phóng thơm phức, chẳng bù cho những ngày trước đó quần áo hôi sì, ẩm ướt do mồ hôi quyện với nước mưa và bùn đất.

Trong khi chờ cơm, đong đưa trên võng, chia nhau điếu thuốc mà cảm thấy sung sướng lạ.

Gần 20 ngày hành quân, hết đi xe lại đi bộ, liên tục ngày nghỉ đêm đi, đâu phải có những lúc thảnh thơi khoan khoái như lúc này.

Tranh thủ ghi vài dòng nhật ký, viết tiếp lá thư về nhà mà chặng trước bỏ dở ...

Chiều xuống, cả tiểu đoàn tập kết ở bìa rừng để tiếp tục đi nhưng không ngờ khi lên xe tiểu đội tôi phải ở lại một nửa vì một số xe bị hỏng phải nằm lại, dồn lên các xe còn lại cũng không hết.

Nhóm ở lại có 4,5 người trong đó có tôi và anh Oanh do chính trị viên phó tiểu đoàn phụ trách.

Thế là lại nằm lại một ngày nữa tại cánh rừng này.

Đây là đâu đất Hà Tĩnh hay Quảng Bình ?

Thêm một ngày thảnh thơi giữa cánh rừng vắng lặng chỉ có mấy anh em chờ đợi đêm xuống để đi tiếp.

Nằm khểnh trên võng ngắm trời ngắm đất, mỗi người một suy nghĩ không ai nói với ai chẳng bù cho hôm trước cả cánh rừng ồn ã tiếng trêu chọc, đùa nghịch của quân ta sau một đêm hành quân căng thẳng bị bắn phá dọc đường.

Những suy nghĩ về chặng đường đi vừa qua, những dự đoán những ngày sắp tới và cả những hình bóng của những người thân yêu đến với tôi trong giấc ngủ chập chờn...giá như lúc này được bay về Hà Nội nhỉ...Chợt dòng chữ khắc trên vách ta-luy của đơn vị nữ TNXP Hà Nội hiện lên trong tâm trí tôi khiến cho tôi bật dậy với sang đầu võng của anh Oanh để lấy con dao găm.

Hí hoáy với mũi nhọn của con dao, tôi châm lên vành sau của mũ cối dòng chữ HÀ NỘI ƠI !

NHỚ HÀ NỘI NHIỀU và lấy mấy viên B1 trắng miết vào những nốt châm đó.

Hàng chữ trắng nổi bật lên nền xanh lá cây thẫm làm cho tôi hài lòng và những tâm trạng trong lòng được vơi nhẹ đi rất nhiều...

Sau này khi tôi bị thương, một mảnh cối cá nhân M79 đã xuyên qua vành mũ và găm vào bả vai tôi.

Cái mảnh đạn đó đã chém thủng vào vị trí của chữ Ớ của từ NHỚ.

Cho đến bây giờ, mỗi khi chúng tôi gặp nhau đều có chung một nhận định rằng: sự sống luôn luôn mong manh trong những tháng ngày khốc liệt đó và sau chiến tranh được trở về với Mẹ, với Hà Nội quả là một sự vô lý không thể tưởng tượng nổi.

Khoảng 5 giờ chiều có một xe Vọt tiến đến đón mấy người chúng tôi đi tiếp.

Gần sáng xe tới tới một xóm nhỏ, ở đây đã có giao liên đợi sẵn và dẫn chúng tôi tiếp tục hành quân bộ để đuổi theo đơn vị.

Trời sáng dần, nhưng mây mù che lấp cả dãy núi phía Tây báo hiệu những trận mưa đang đến.

Đường băng qua những xóm làng thưa thớt, hầu như không có dân, vài ba ngôi nhà hầm ở ven đường vọng ra tiếng khóc của trẻ con chứng tỏ cuộc sống vẫn tồn tại nơi đất lửa này.

Hôm trước, chắc ông chính trị viên phó đã được biết trước kế hoạch nên bắt chúng tôi nấu thêm cơm chuẩn bị cho mỗi thằng 2 nắm cơm, nên hôm nay chúng tôi không mất thời gian nấu ăn để tranh thủ đuổi kịp đơn vị.

Qua một khúc sông bằng đò ngang, người lái đò cũng là bộ đội cho biết đây đã là đất Quảng Bình.

Mưa đã giăng ra trên dòng sông, được biết với thời tiết này địch chỉ có thể tọa độ mà thôi, và chúng cũng chỉ tập trung đánh vào ban đêm tại các trọng điểm giao thông.

Đã qua rồi thời máy bay địch săn lùng xe trên đường dưới thời Giôn-xơn, còn giờ đây Ni-xơn tập trung đánh những nút giao thông quan trọng như cầu, phà, ngầm...bằng những phương tiện hiện đại hơn như bom la-de, máy bay AC130 chuyên săn ô-tô bằng thiết bị hồng ngoại nên gây cho chúng ta nhiều tổn thất hơn.

Rồi chúng tôi gặp nền đường xe lửa xuyên Việt ngày xưa, đoạn đường sắt này men theo triền núi đi dọc theo một vùng bán sơn địa nhỏ hẹp, trời mưa sật sùi, mọi người cứ cắm cúi đi theo vệt đường tầu.

Trời về chiều, chúng tôi gặp đơn vị đang chuẩn bị hành quân, mọi người không nghĩ rằng chúng tôi sẽ đuổi kịp đơn vị.

Chúng tôi lên xe đi tiếp.

Trời mưa mỗi lúc một to, mùa này đang là mùa mưa bão ở miền Trung, chúng tôi xuống xe và hành quân tiếp.

Đường trơn như đổ mỡ, quân ta thi nhau ngã oành oạch.

Bây giờ mới thấy công dụng của việc đi bít-tất dài khi phải lội trong bùn đất.

Thằng nào chỉ đi dép mà không có tất thì biết nhau ngay, dép trơn tuột đến tận bẹn, trong khi đó đi tất sẽ tăng độ ma sát nên bước chân rất chắc chắn không hề trơn tuột.

Đi ngược lại với chúng tôi là một đoàn khá đông không mũ mãng, không ba-lô mà cũng chẳng có vải mưa thì ra đây là đoàn tù binh từ Quảng Trị được chuyển ra phía ngoài.

Rồi lại gặp một đoàn các em nhỏ miền Nam được ra Bắc học tập, nhiều em còn bé quá được các cô chú phụ trách cõng trên lưng.

Chúng tôi lên sà-lan để vượt sông.

Sà-lan đi dọc sông một quãng thì phía sau lưng chúng tôi nơi vừa đi qua bùng lên những quầng lửa lớn kèm theo những tiếng nổ rền rung chuyển mặt đất, B52 rồi !

Không hiểu số phận các em nhỏ và những tù binh sẽ ra sao ?

Chúng tôi lên bờ và chia nhau vào nhà dân để nghỉ.

Sáng ra, mới biết xóm nhỏ nơi chúng tôi đang ở thuộc xã Quảng Thuận, Quảng Trạch.

Trước mặt là sông Gianh trong màn mưa trắng cả bờ bên kia.

Chủ nhà chúng tôi chạc 40 tuổi, anh là bộ đội mới xuất ngũ về có 2 đứa con trai sinh đôi chừng 3,4 tuổi.

Anh cho biết trạm sau chúng tôi sẽ tới Cự Nẫm.

Trời tối hẳn chúng tôi lại xuống sà-lan dưới ánh sáng chập choạng của pháo sáng.

Bóng những vệt núi đen xẫm ở 2 bên bờ mỗi lúc một rõ hơn, chúng tôi đang ngược sông về phía thượng nguồn.

Quá nửa đêm chúng tôi lên bờ, trời đã tạnh hẳn.

Đây là Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch.

Chia nhau về nghỉ tại các nhà dân.

Nhà cửa ở đây cũng tuềnh toàng, mọi sinh hoạt của người dân đều ở dưới hầm.

Bao nhiêu đợt quân đã đi qua, họ để lại chi chít những dòng chữ trên vách, trên cửa, trên cột nhà cùng một nội dung thông báo cho những người đi sau hãy cảnh giác...Về sau này tôi mới biết đây chính là nơi xuất sứ của Truyện Bọ - một thể loại truyện mang tính trào lộng được truyền khẩu qua bao thế hệ những người lính trong cuộc trường chinh vĩ đại xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.

Chúng tôi lại được bổ sung lương thực, thực phẩm.

Ngoài thịt hộp ra lần này có thêm khoản thịt lợn ướp thính.

Đây là cách bảo quản thịt dân gian, nhưng có mùi khá nặng.

Tuy vậy khi nấu lên ăn cũng được, bao nhiêu ngày phải ăn thịt hộp rồi.

Vùng này bao bọc xung quanh là núi.

Con sông hôm qua chúng tôi đi là sông Son từ Trường Sơn chảy qua Phong Nha ra sông Gianh.

Những thông tin này mãi về sau khi tôi bị thương trên đường chuyển thương đã nghỉ tại đây 3 ngày mới có điều kiện tìm hiểu.

Hành quân trên đất Quảng Bình ngày ấy chủ yếu là đi bộ.

Có đoạn đi men theo đường xe lửa cũ, lúc vượt sông Long Đại ở một bến phà dã chiến phía thượng nguồn thì bị lũ muỗi, dĩn rừng và nhưng con bọ nhỏ li ti tấn công vào mặt, vào mũi, vào mắt, chui cả vào chân tóc, lỗ tai ... cái cảm giác khó chịu đó cho đến hôm nay sau 36 năm tôi vẫn mường tượng ra.

Có lần đi trong rừng vào ban ngày phải vượt qua một ngọn núi cao mà đêm trước chúng tôi dừng chân ở bên này.

Bãi khách đó là bãi mới chưa ai ở nên rất rậm rạp, ẩm thấp, phát những cây bụi nhỏ lấy chỗ mắc võng, dưới lớp lá cây mục lũ vắt nâu và vắt xanh ở đám tre, nứa và bụi le ngửi thấy hơi người nhao nhao ngóc đầu dậy nhẩy tanh tách vào đầu vào cổ.

Cảm giác buồn buồn, nhột nhột, ở lưng, ở nách đến khi sờ vào thì toàn là máu.

Sáng sớm rời bãi khách đáng nhớ đó bắt đầu leo dốc, 2 bên đường là từng đống chăn Nam Định và áo Đông Xuân lính ta bỏ lại bốc lên một thứ mùi khó tả.

Có những gốc cây tuy nhỏ nhưng lên nước bóng nhoáng vì tới đây ai cũng phải bám vào mà leo lên.

Rồi có cả một cây to nằm đổ ngang đường leo qua thì cũng khó chỉ có cách nằm xuống để trườn qua.

Tại mặt dưới thân cây đó cậu lính nào đó đã tinh nghịch dùng dao khắc tại vị trí nhậy cảm biểu tượng của người phụ nữ...Thở như kéo bễ, mồ hôi ướt đẫm, chân mỏi nhừ, hai vai ê ẩm...Có chỗ có một tảng đá chồi lên, trên đó có một vết lõm hình bàn chân bắt buộc thằng nào cũng phải đặt chân để vượt qua.

Biết bao nhiêu triệu lượt con người đã qua đây và đã để lại dấu ấn của một thời xẻ dọc Trường Sơn.

Chợt phía trước có tiếng reo: "Đến đỉnh rồi !" rồi tiếng hát của thằng Chiến vang lên: " ...Đoàn ta hằng mong muốn và ước mơ, bàn tay son sắt giương cao ngọn cờ.

Để ngàn đời bền vững Tổ quốc ta.

Trời cao muôn ngàn năm chói lòa ..."

Tốp quân phía dưới vẫn còn đang leo lầm bầm: " Thở còn chẳng ra hơi còn hát với hò ...".

Không biết đỉnh núi này cao bao nhiêu mét nhưng chỉ biết nó vươn hẳn lên cao so với xung quanh.

Trên đỉnh cao này là một khoảng bằng phẳng khá rộng, khô ráo mọc toàn cây to và thoải xuống sườn bên kia.

Nắng vàng rực rỡ, gió thổi ào ào, phía Đông là một biển mây trắng xen vào đó là những khoảng xanh đậm (không biết đấy có phải là biển không ?).

Chẳng thèm cởi ba-lô, chúng tôi khuỵu cả xuống thở lấy thở để.

Tựa lưng vào một gốc cây to nhai trệu trạo nắm cơm với ruốc bông mà cổ họng nghẹn lại vì mệt và háo nước.

Thằng Cẩn lấy ca nước pha một ít ruốc mặn và ít mỳ chính làm canh đưa cho tôi, nhấm thử một chút thấy ngang phè nhưng còn hơn.

Thằng Cẩn có cái lạ là hay ăn mì chính sống.

Khi ở huấn luyện nó luôn có trong túi một gói mì chính để khi mệt thì lôi ra nhấm nháp cho đỡ mệt.

Tôi thì chịu không tài nào nếm được thứ đó.

Một tiếng đồng hồ nghỉ tranh thủ nhắm mắt một chút để lấy lại sức, nhiều thằng lúi húi ghi chép gì đó, riêng Sơn lại viết thư cho em Diệp (cứ có thời gian là nó lại viết thư, đặc biệt là chỉ viết bằng bút chì gọt nhọn).

Ông Được có vẻ đã hồi sức sau chuyến leo dốc vừa rồi.

Quả thật chặng qua Quảng Bình là cực nhất vì chủ yếu đi bộ, sau lần ở Yên Viên ông ấy bị sửu cho đến bây giờ chưa bị lần nào.

Đường xuống núi thoai thoải hơn nhưng lại rất nguy hiểm vì chân cẳng bây giờ đã chồn chùng hẳn xuống, không cẩn thận lăn xuống vực như bỡn.

Lắm chỗ đường trơn buộc phải bệt mông mà trượt.

Cái đêm xe chở chúng tôi qua khu vực Đồng Hới dưới tầm pháo hạm đội 7 của địch, phía biển liên tục là các chớp lửa, tiếng rú của đạn pháo bay qua đầu tạo thành những tiếng nổ rung chuyển cách chỗ chúng tôi khoảng hơn 1 cây số.

May mà nó pháo kích ở đâu đó nếu như ở nơi chúng tôi đang đi thì không biết nấp vào đâu vì toàn là bình địa nham nhở hố bom, hố pháo.

Đêm hành quân trên đất Lệ Thủy trời mưa tầm tã, nhưng vẫn không ngớt những trận bom tọa độ.

Chúng tôi lầm lũi đội mưa đi dọc nền đường sắt, phía núi xa xa từng quầng lửa bùng lên trong đêm mưa.

Bỏ nền đường sắt chúng tôi băng qua cánh đồng trắng xóa vì ngập nước.

Cũng chẳng biết chỗ nào là bờ ruộng, chỗ nào là mương, là hố bom mà tránh.

Lính tráng thi nhau tháo đạn đứng dậy, đầu tiên còn ngã ít và cười với nhau về sau không còn sức để mà cười nữa, thay vào đó đủ loại của ngon vật lạ được tung ra.

Rút kinh nghiệm mấy trận hành quân trời mưa bị ngã văng kính, lần này tôi lấy 1 sợi dây chun quần cột chặt vào gọng kính để quàng qua đầu nên khi bị ngã kính không thể văng ra được.

Với cách này cả khi vào trận tôi chưa hề một lần nào rơi kính, chỉ sợ nhất khi trời mưa làm nhòe nhoẹt mắt kính.

Lúc dừng chân lấy sức không có chỗ để ba-lô nữa vì nước ngập trên đầu gối chỉ còn cách dùng gậy chống vào đáy ba-lô cho nhẹ bớt vai mà thôi.

Ông Trần Ba đi cùng tốp chúng tôi phải kêu lên: "Đ.má !

Lính tráng tụi bay tung hết ra thì lấy gì mà dùng.

Tao cho thu dung gom lại mang về nhà bán lại lấy tiền sài ...".

Đến một xóm nhỏ chúng tôi được lệnh nghỉ lại.

Thôi thì mạnh ai tự tìm chỗ ngả lưng.

Chẳng còn sức để tìm chỗ mắc võng nữa, tôi sờ soạng thấy một nền đất tương đối khô ráo cứ nguyên vải mưa ướt sượt trải ra đất, lấy võng phủ lên làm chiếu và trùm tăng kín mít bất chấp những giọt mưa theo giọt gianh táp vào.

Sáng ra, ngoài trời mưa đã ngớt, quần áo ướt sũng, hôi sì, may mà ba-lô còn khô ráo, nhưng chưa thể thay bộ khác được vì đêm nay lại phải đi tiếp.

Chỗ tôi ngủ đêm qua là đầu hồi một gian bếp liền với chuồng trâu.

Đây không phải là trạm khách mà chỉ là chỗ dừng chân trên đường.

Xóm nhỏ này dưới chân một quả đồi trồng toàn chuối.

Trong nhà có mấy bộ bàn ghế văn phòng chứng tỏ đây là nơi sơ tán của cơ quan nào đó.

Đi trên đất Quảng Bình bao giờ chúng tôi cũng đi cùng một đoàn cỡ vài chục người.

Họ là những lính tăng đi từ Vĩnh Yên được bổ sung cho chiến trường và đều là sinh viên các trường đại học nhập ngũ tháng 1/1972.

Cung cách hành quân của họ khác hẳn với đoàn chúng tôi, trong lúc chúng tôi đi theo đội hình từ đại đội cho đến từng trung đội, tiểu đội để tiện cho việc sinh hoạt trên đường, còn họ thì từng tốp vài ba người đi với nhau, có khi trên đường chỉ có 1 người.

Có lúc chúng tôi gặp 1 cái võng mắc ngay bên đường mòn, hoặc có lần thấy 1 cậu ngồi ngay vệ đường ôm ghi-ta hát ngêu ngao, hỏi ra cậu ta không theo kịp tốp trước, sợ lạc đành ngồi hát để đợi tốp sau.

Trang bị của họ cũng không như chúng tôi: 1 cái ba-lô lép kẹp may ra còn tăng võng để ngủ còn thì đã hóa giá để thành khói thuốc...người có mũ, người đầu trần chỉ đội mỗi cái khăn mặt.

Có 1 vài người mang AK báng gấp tôi đoán đó là những cán bộ khung đi cùng.

Chúng tôi trên đường hành quân nấu ăn theo tiểu đội còn họ mỗi người 1 hăng-gô ngồi ăn với nhau.

Sau này, trong số những người lính tăng đó tôi đã gặp Bình - nhà ở 38 Phan Bội Châu gần nhà tôi - là pháo thủ số 2 trên chiếc tăng T59 số hiệu 988 cùng phối thuộc tác chiến với chúng tôi ở Nam Cửa Việt.

Xe binh trạm chở chúng tôi rời Lệ Thủy, gần sáng dừng lại ở một vạt rừng thưa nham nhở những hố bom, hố pháo, chúng tôi theo giao liên lần theo vệt đường mòn tới 1 khúc suối cạn tạo thành 1 khe sâu có 1 cây gỗ to thẳng tắp bắc làm cầu dẫn đến 1 khu rừng già đại ngàn với những cây cổ thụ cao vút, dây leo chằng chịt.

Dưới tán lá rừng rậm rạp là sự sôi động của 1 trạm giao liên.

Sau gần một tháng hành quân khi bằng xe, khi bằng ca-nô và cả đi bộ nữa, chúng tôi đã đến Bãi Hà - trạm giao liên cuối cùng trên đất Bắc.

Bãi Hà nằm ở miền Tây Vĩnh Linh, gần thượng nguồn sông Bến Hải.

Đây là một khu rừng già thuộc đại ngàn Trường Sơn, những thân cây cổ thụ cao vút với dây leo chằng chịt.

Quân ra, quân vào nườm nượp, bộ đội, TNXP gặp nhau cười nói râm ran với đủ chất giọng từ mọi miền quê khác nhau...Tại đây chúng tôi được bổ sung vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm.

Chúng tôi đi nhận súng về cứ 3 khẩu 1 bó còn nguyên niêm được bọc mỡ bảo quản.

Anh Được, anh Oanh và tôi nhận 1 bó.

Phải mất 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới làm sạch mỡ của 3 khẩu AK.

Cùng 1 bó nhưng xuất sứ của 3 khẩu lại khác nhau: khẩu của anh Được là của Triều Tiên, anh Oanh là của Trung Quốc có lưỡi lê gập, còn khẩu AK47 của tôi là của Liên Xô sản xuất 1954 và số súng là IAG 4245.

Chuyện đi lấy nhu yếu phẩm cũng phải kể ra ở đây: sau khi đi lĩnh quân trang và nhu yếu phẩm về qua một khu vực có những dãy lán nửa nổi nửa chìm trong đó chất đầy những thùng to nhỏ khác nhau toàn chữ Trung Quốc, mấy thằng chúng tôi tạt nhanh vào hy vọng sẽ kiếm chác được những loại đặc chủng như bột trứng, đường ép khô, lương khô cao cấp BA70, BB70 hoặc 702 giành cho sĩ quan và lính đặc công (lính bộ binh chúng tôi chỉ có lương khô Việt Nam hoặc loại không chữ mà chúng tôi gọi là lương khô mù chữ) như lời lính cũ ở các binh trạm chỉ dẫn.

Mỗi thằng vơ vài ba thùng, về đến nơi mở ra thì những thùng nhỏ là bột trứng và đường ép khô (quá tuyệt), còn thùng to tôi mang về lại là mắm tôm khô.

Cả bọn cười muốn chết và định vứt đi, nhưng anh Được ngăn lại bắt chia nhau mang đi và rồi chính những gói mắm tôm khô này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong những bữa ăn kham khổ của những ngày giữ chốt ác liệt sau này.

Lại chia tay, đầu tiên là quân của trường công nhân máy kéo được điều về các đơn vị tăng - thiết giáp, trong tiểu đội có Tú, Xứng và 2 người nữa.

Tiếp đến anh Được, anh Oanh, Sơn, Cẩn, Mỹ và nhiều anh em cùng ĐHXD sang e95/f325.

Số còn lại quãng hơn 100 người được điều về e101/f325.

Sơn trắng, Chiến, Phùng, Tiến, M. và tôi lại được về cùng một tiểu đội.

Dưới tán cây rừng tăng võng mắc san sát, quân ra, quân vào hỏi thăm nhau í ới, có những giây phút cả khu rừng lặng đi khi có những đoàn thương binh đi qua, không ít trong số đó là những võng thương binh nặng.

2 đêm ngủ tại Bãi Hà, trời đất sáng rực vì pháo sáng và âm thanh như muốn vỡ ra vì tiếng rú rít của đủ loại máy bay đang tọa độ khu vực xung quanh tạo nên nhưng cơn rung chuyển như động đất.

Chính cái đêm cuối cùng ở đất Bắc ấy tôi đã thao thức không ngủ được vì ngày mai sẽ vào trận, vì phải chia tay nhau mỗi người về một đơn vị và rồi sẽ ra sao khi trận chiến chưa có hồi kết thúc.

Nhớ lời anh Được hẹn tới ngày trở về sẽ cùng nhau đi lang thang khắp phố phường Hà Nội để bù cho những chuỗi ngày xa cách và thưởng thức những món ăn do Mẹ làm.

Mẹ anh mất sớm nên anh rất thèm được bàn tay người Mẹ chăm sóc.

Nhớ tới anh Oanh chăm lo cho mình suốt dọc đường và tất cả những người bạn đã gắn bó với tôi suốt chặng đường hành quân từ Bắc vào.

Văng vẳng trong đêm tiếng đài của ai đó đang đưa tin máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội.

Gia đình giờ này ra sao, nhà mình gần ga liệu có bị bom không?

Bố, mẹ chắc vẫn đang ở nơi sơ tán, các cháu có đi cùng với bà không?

Rồi từ đài vang lên bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, chao ôi sao mà da diết đến thế.

Cám ơn nhạc sĩ, cám ơn ca sĩ Mỹ Bình đã cho chúng tôi được gặp lại những phố phường thân yêu của mình trước giờ xung trận.

Tim tôi thắt lại, nước mắt ứa ra với những kỷ niệm về Hà Nội, với những người thân yêu nhất đang hiện về.

Âm thanh và lời ca đó đưa tôi trở về với Hà Nội, về với Mẹ và những ngày xưa ấy.

Tạm biệt phố phường thân yêu, tạm biệt những kỷ niệm ngày xưa, hẹn ngày chúng tôi sẽ trở về...

Mấy cái võng xung quanh tôi hình như cũng không ngủ, nhiều tiếng giở mình xen lẫn với những tiếng thở dài đầy tâm trạng...

Khi ở Cự Nẫm chúng tôi đã biết mình sẽ đi Quảng Trị vì lúc đó chiến sự tại Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị đang vô cùng nóng bỏng.

Chúng tôi sẽ tăng cường cho các đơn vị bộ binh đang chiến đấu tại mặt trận thị xã Quảng Trị.

Cầu Bến Tắt bắc qua sông Bến Hải trên trục đường Hồ Chí Minh hôm nay, ngày xưa gọi là ngầm B trên trục đường 15, đây là đường cho xe vượt sông.

Năm 1973, sau khi ký Hiệp định Paris, đơn vị tôi đi khai thác gỗ về làm công sự, xe chở gỗ tập kết ở đây để đóng bè về Cửa Việt, 2 bên bờ cũn ngổn ngang những xác ô-tô, xe tăng của ta bị trúng bom pháo khi vượt sông.

Còn bến vượt của hành quân bộ ở chỗ nào nhỉ !

Không thể xác định vị trí, chỉ nhớ sáng hôm đó chúng tôi rời Bãi Hà theo giao liên ra khỏi rừng, qua những vạt rừng thưa, lúc xuyên qua những trảng lau lách, rồi men theo vệt bánh xe ô-tô tạt vào 1 vạt rừng.

Đường dẫn xuống 1 khe suối đi qua mấy ngôi mộ bên đường - đó là nơi yên nghỉ của mấy cô gái TNXP.

Chúng tôi vượt sông Bến Hải ở thượng nguồn, hai bên bờ những tán cây rừng xòa xuống mặt nước.

Dòng sông như một con suối, nước chỉ ngang đùi.

Qua hết sông cô giao liên mới nói: "Đây là sông Bến Hải, từ giờ trở đi các anh đã đặt chân lên đất miền Nam".

Sững người vì câu nói đó chúng tôi quay ngay lại dòng sông: thằng thì trầm mình, thằng thì vục mặt vào dòng nước mát lạnh đó, có thằng quỳ sụp dưới nước đầu hướng về bờ Bắc vái lấy vái để ... mỗi thằng một kiểu.

Từ Bắc vào đây qua bao sông, bao suối nhưng chỉ có ở đây thôi khi nhớ tới bài học thời ấu thơ về dòng sông giới tuyến như vết dao cứa vào lòng đất nước, đó làm chúng tôi xúc động như vậy.

Qua khỏi sông một quãng tôi thấy thầy Khôi dậy Toán của trường đi ngược lại.

Thầy trong tốp về e95/f325, nhưng dọc đường được gọi ra nhận nhiệm vụ khác.

Mong thầy không phải vào nơi hòn tên mũi đạn và được ở đơn vị nào phù hợp với tuổi tác và trình độ của thầy.

Đầu năm 1973, đoàn thương bệnh binh chúng tôi từ các quân y viện trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Tại Bãi Hà, khi người cán bộ quân lực của B5 ra làm thủ tục nhập trạm, tôi không ngờ đó lại là thầy Khôi.

Thầy trò gặp nhau mừng khôn xiết và thầy đã xin phép trưởng đoàn cho tôi được vào chỗ thầy một đêm.

Ngược theo một lạch nước nhỏ chừng 20 phút chúng tôi đến một lán nhỏ nép mình vào vách núi.

Tại đây thầy Khôi ở cùng với 2 người nữa: anh San và Thắng.

Thắng nhà ở phố Cao Bá Quát, còn anh San qua câu chuyện lại là học sinh của anh Thiện.

Anh San là sinh viên K13 Đại học Nông nghiệp 1 lớp Bảo vệ thực vật của anh Thiện.

Quả thực không ngờ trái đất lại bé nhỏ như vậy, quanh đi quẩn lại biết nhau cả.

Anh San nhập ngũ sau tôi và trên đường hành quân bị sốt rét ác tính phải nằm lại trạm thu dung.

Thầy Khôi đã đưa anh San về để giúp việc.

Đêm đó 4 chúng tôi hàn huyên rất lâu, mới chia tay nhau có mấy tháng thôi mà biết bao chuyện để kể.

Thì ra thầy Khôi đã giúp rất nhiều người khi ở thu dung về nhất là anh em người Hà Nội.

Trường hợp Thắng mỡ - thằng bạn thân của tôi - cũng thế, nó đã ở đây một thời gian và vừa xuống đại đội trinh sát cách đây ít ngày.

Tiếc quá không gặp được nó.

......

Đến suối La La, chúng tôi gặp tốp anh em về e95, tay bắt mặt mừng, hỏi thăm rối rít mặc dù mới chia tay nhau hôm qua.

Giờ họ lại đi trước, còn chúng tôi nghỉ lại.

Trời còn sớm, tranh thủ lúc đợi cơm, tôi và Sơn trắng lần ra khỏi khe suối nơi đơn vị trú quân.

Xung quanh là những vạt đồi cỏ tranh mênh mông, cách đấy không xa là một xác xe tăng cháy sém.

Trí tò mò khiến hai thằng chúng tôi tiến nhanh về phía đó mặc dù trên đầu là tiếng gầm rú của máy bay địch.

Chiếc xe tăng bị đạn vỡ toác bụng, tháp pháo xụp xuống cháy đen.

Nhìn hình dáng của nó tôi đã ngờ ngợ đó là tăng của ta, khi chui vào trong xe giữa đống kim loại gỉ sét tôi phát hiện một chiếc nồi quân dụng bằng nhôm và một chiếc rút quai dép - những thứ không thể thiếu được của quân ta...

Chúng tôi lặng người đi, không hiểu số phận của kíp xe này như thế nào trước sức công phá khủng khiếp của đạn pháo.

Cũng ngay gần đó một khẩu pháo tự hành phòng không 57 li nằm nghiêng bên miệng một hố bom lớn, 2 nòng pháo vẫn vươn lên cao một cách ngạo nghễ...

Đêm đầu tiên tại chiến trường, không thể mắc võng được vì ở đây chỉ toàn những bụi cây xen lẫn những hố bom, hố pháo.

Mấy thằng chúng tôi trải võng xuỗng những hố bom để tranh thủ ngủ sau một ngày hành quân căng thẳng dưới tầm oanh tạc của máy bay địch.

3 giờ sáng chúng tôi rời khe suối La La, trước mắt là những trảng đồi tranh cháy sém vì bom đạn và gió Lào.

Khu vực này chính là nơi đã diễn ra những trận đánh ác liệt của đợt 1 chiến dịch hồi tháng 3/1972, thêm nhiều xác xe tăng của cả ta và địch ngổn ngang hai bên đường.

Phía chân trời là những vầng lửa khói của B52...phải chăng đó là mặt trận Thị xã qua lời kể của những toán thương binh đi ngược lại.

Trời sáng, chúng tôi lội qua sông Cam Lộ.

Quãng sông này nước chỉ tới bụng, nước trong vắt chảy khá xiết nhìn rõ những tảng đá cuội dưới lòng sông.

Qua khỏi sông là thôn Quất Xá, đây là ngôi làng đầu tiên chúng tôi gặp trên đất Quảng Trị.

Nhà cửa tan hoang vì bom đạn nhưng không vì thế mà xóa hết vẻ trù phú của nó.

Những nếp nhà xây bằng gạch táp-lô (ngoài ta gọi là pa-panh), mái lợp tôn nhôm mỏng, xung quanh là vườn tược với nhiều cây trái.

Trước mặt nhà nào cũng có những bồn hoa cây cảnh và cây hương để cúng thần linh.

Đường làng rộng rãi vuông vức như bàn cờ, cứ một quãng lại có một giếng thơi trong vắt.

Dân làng hầu như đi hết để tránh bom đạn, chỉ lác đác bóng áo xanh bộ đội và mấy cô du kích bám trụ.

Tôi tranh thủ lúc nghỉ chạy tạt vào ngôi nhà gần đấy mặc dù đã được cảnh báo về những nguy hiểm do mìn và lựu đạn địch cài lại.

Trí tò mò muốn biết những gì khi bước chân vào vào vùng mới giải phóng.

Đồ đạc trong nhà gần như còn nguyên vẹn: quần áo, chăn màn, đồ gia dụng, dụng cụ sản xuất, ngoài vườn còn có 1 máy kéo cỡ nhỏ hiệu Kubota chứng tỏ gia chủ là lớp người trung lưu ở nông nhưng cũng chú trọng đến chuyện học hành của con cái qua những đống sách vở còn vương trên nền nhà.

Trong đống lộn xộn đó tôi nhặt lên một cuốn không còn bìa, phủi lớp đất bụi, lật nhanh tôi thấy đây là một cuốn sách viết theo những điển tích cổ ngắn gọn đầy tính triết lý, dậy cách cư xử ở đời mà chúng tôi chưa bao giờ được đọc họa chăng chỉ được biết qua các câu chuyện kể của bà nội khi còn ấu thơ.Trang cuối là tên sách: Cổ học tinh hoa và tác giả là Ôn như Nguyễn Văn Ngọc.

Tôi nhét vội cuốn sách vào túi cóc và chạy theo đơn vị.

Chẳng phải mình tôi mà nhiều thằng cũng đang thu thu giấu giấu những cuốn sách nhặt vội trong những ngôi nhà ven đường.

Ra đến đường 9, đội hình hành quân giãn cách 10-15 mét với cành cây trên đầu để ngụy trang.

Bầu trời xanh trong vắt bị rạch nát bởi những vệt khói của B52 và đủ các loại máy bay chiến đấu của địch.

Nhưng khó chịu nhất là thằng OV10 như gọng bừa đang vè vè trên đầu, thỉnh thoảng nó lao xuống bắn đạn khói chỉ điểm, vài phút sau lũ phản lực lao đến cắt bom.

Nhưng chúng lại không ngờ rằng hơn 100 con người chúng tôi giữa ban ngày đang hành quân bám theo đường 9.

Đường 9 trải bê-tông nhựa rất tốt, những hố bom pháo chi chít trên đường.

Dọc hai bên đường là những đồn bốt, những khu quân sự tan hoang.

Khu vực này ta giải phóng trong đợt 2 chiến dịch vào cuối tháng 4/1972.

Gần 1 tháng hành quân từ Bắc vào khi thì đi xe, khi thì đi bộ tưởng rằng đi trên đường nhựa sẽ ngon lành hơn đi đường rừng nào ngờ có mấy cây số thôi mà hai bắp chân đã ê ẩm không buồn nhấc nữa.

Cảm giác này khi trên đường Trường Sơn không hề có, phải chăng do nền đường bê-tông cứng nên dội vào hai bắp chân làm cho ta không thể chịu được.

Cứ lết lết đôi chân, thằng nào cũng thế, nhiều thằng lăn ra vệ đường mặc cho những bụi gai xấu hổ đâm vào người.

Thế rồi quá trưa chúng tôi cũng đến được Đông Hà.

Thị trấn nằm ở ngã ba đường 1 và đường 9 chỉ còn những đống gạch vụn.

Trận B52 lúc sớm đã dội vào đây, nhiều chỗ khói bom còn bốc nghi ngút.

Ngay ngã ba, một tháp canh cũ của Pháp còn sót lại, bên vệ đường mấy gốc phượng bị bom phạt xác xơ cụt lủn nhưng lạ thay vẫn còn sót lại vài bông phượng đỏ rực như thách thức bom đạn.

Thật kỳ lạ vào mùa này ở đây vẫn còn hoa phượng mà những cánh hoa lại lớn hơn những cánh hoa phượng ở Hà Nội.

Chúng tôi dừng chân tại thôn Điếu Ngao bên cạnh thị trấn nằm sát cảng Đông Hà với đường 1.

Tiểu đội tôi tạt vào một căn nhà sập một bên mái, sau khi nấu vội nồi cơm và canh ruốc, tôi và mấy người nữa lại lần mò tìm hiểu xung quanh.

Rất nhiều đồ nhựa trong nhà từ rổ rá, bàn ghế cho tới hoa quả trên bàn thờ cũng toàn bằng nhựa.

Ngồi xệp ở góc nhà, vừa nhai trệu trạo ca cơm với thịt hộp và canh suông mặn chát vì cho quá nhiều ruốc mặn vừa bới tung đống sách vở báo chí của gia chủ.

Chủ nhân của căn nhà này cũng là người ham đọc sách vì có nhiều loại sách báo.

Tôi cầm một cuốn sách đã sờn gáy giấy vàng ố, tên cuốn sách là Thương nhớ mười hai của tác giả Vũ Bằng.

Qua lời giới thiệu mới biết tác giả là một nhà báo Bắc kỳ di cư vào Nam năm 1954.

Lật nhanh từng trang thì đây là những dòng cảm xúc về 12 tháng thương nhớ của một con người lưu lạc xa xứ nhớ về cội nguồn ở phương Bắc xa xôi...Ngay trang đầu: Tháng giêng, mơ về trăng non rét ngọt với cái đau đáu của "mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội - là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh...".

Chao ôi đọc đến đây thôi nước mắt tôi như muốn trào ra: "Mẹ ơi, con của mẹ đây, giờ này con vẫn bình yên, ngày mai con sẽ vào trận.

Mẹ đừng khóc nữa, hãy đợi con về nhé.

Con nhất định sẽ trở về, và nước mắt của mẹ con ta hãy giành cho ngày ấy..."

Tại sao với một niềm nhớ thương da diết như thế mà tác giả nỡ lòng nào rời bỏ quê hương dứt áo ra đi...

Cho đến 30 năm sau tôi mới tìm thấy câu trả lời về thân phận của tác giả cuốn sách tuyệt vời ấy - nhà báo Vũ Bằng.

Chiều xuống đơn vị tiếp tục lên đường.

Mật độ bom pháo đã dầy đặc hơn, lúc này chúng tôi mới biết thế nào là bị pháo kích nhất là pháo từ hạm đội 7 Mỹ từ biển bắn vào.

Đã được phổ biến rồi, nghe "...chíu...chíu..."

- cứ đi; "...ú...ú...xoẹt...xoẹt..."

- cẩn thận đấy; còn "...xoẹt...xoẹt..."

- phải lăn ngay xuống đất vì như thế pháo đã dội ngay trên đầu mình.

Đường đi xuyên qua các xóm làng tan hoang vì bom pháo, có đoạn đi dọc theo sông (về sau mới biết đó là sông Hiếu là đoạn cuối của sông Cam Lộ chảy qua Đông Hà và gặp sông Thạch Hãn ở ngã ba Gia Độ), không xa lắm phía trước mặt và xung quanh khói đen mù mịt cùng với những chớp lửa của bom đạn che lấp cả ráng chiều chạng vạng.

Trời tối hẳn nhưng bầu trời sáng rực bởi đèn dù và những chớp lửa của bom pháo, hình như sự dữ dội của bom đạn càng tăng khi màn đêm buông xuống.

Lại chuẩn bị vượt sông - đây là điều đáng sợ nhất với tôi.

Có lệnh tạm dừng vì mật độ pháo và bom vẫn dầy đặc nơi bến vượt, anh em trong tiểu đội tranh thủ kiếm được mấy cây chuối cho mấy thằng bơi tồi trong đó có tôi...

Pháo địch vừa chuyển làn, lệnh xuống trong vòng nửa giờ đơn vị phải qua hết sông.

Lúc này các đơn vị trú trong các hầm hào ven sông ùa ra tranh thủ vượt sông dưới ánh sáng ma quái của đèn dù.

Con sông này không rộng lắm (sau này mới biết đó là sông Vĩnh Phước) lại có bè chuối nên qua sông được dễ dàng.

Chúng tôi tiếp tục đi và cảm thấy hình như khu chiến đang mỗi lúc một gần, xen lẫn tiếng nổ của bom pháo và tiếng rú rít của máy bay địch là những chuỗi dài lục bục.

Chúng tôi vểnh tai suy đoán đấy là tiếng đại liên - chắc chắn mặt trận đang ở phía đó.

Đường đi bị cầy xới bởi chi chít những hố bom, hố pháo, cây cối ngổn ngang...tất cả đều nát vụn.

Đây là đêm thứ hai kể từ lúc vượt Bến Hải.

Đây là đâu cũng không biết nữa và chúng tôi được lệnh tản ra tự tìm chỗ trú ẩn qua đêm.

Dưới ánh sáng như ban ngày của đèn dù chúng tôi tìm được nơi trú ẩn cũng không đến nỗi khó khăn lắm.

Chúng tôi phát hiện một cửa hầm dưới đống gạch vụn của một ngôi nhà khá bề thế, căn hầm khá rộng rãi, sạch sẽ được làm bằng những vòm cống bằng tôn dày mà chúng tôi đã thấy khi ở Cam Lộ.

Căn hầm này chứng tỏ đã có người ở đây.

Bốn thằng Sơn, Chiến, Phùng và tôi nhai trệu trạo lương khô và ngủ thiếp đi trong cái chao đảo, chớp lòe xung quanh.

Ánh sáng ùa vào cửa hầm làm tôi bừng tỉnh giấc, không gian buổi sáng tĩnh lặng không một tiếng bom, không một tiếng pháo, chắc giờ này chúng nó nghỉ ăn sáng thì phải !!!

Chỉ có tiếng ...u...u...i...i...của mấy thằng OV10 đang soi mói ở trên cao.

Bầu trời xanh ngắt chói chang ánh nắng, gió thổi lồng lộng khét lẹt mùi thuốc súng, Chiến đang lúi húi làm gì đó ngoài cửa hầm và bảo: đơn vị thông báo đây là Ái Tử, đêm nay sẽ vượt sông Thạch Hãn, bên kia sông là địch...Căn cứ Ái Tử là đây ư, từ khi còn ở ngoài Bắc chúng tôi đã biết qua báo chí về địa danh này.

Đây là căn cứ hậu cần tiền phương phía Bắc của vùng chiến thuật 1 của địch đồng thời là hậu cứ của Sư đoàn 3 bộ binh ngụy mang tên Bến Hải.

Căn cứ này lớn lắm có cả sân bay cho các loại máy bay vận tải loại lớn như C130, C141, đã bị ta chiếm từ tháng 4/1972.

Phía bên trái là hàng dãy nhà kho lớn, những ụ chứa máy bay chạy suốt về phía Nam, tất cả đều tan hoang, nhiều chỗ còn nghi ngút khói.

Chỗ chúng tôi đang dừng chân là khu vực dân cư nằm kề sát với căn cứ.

Lác đác có những bóng người khi ẩn khi hiện giữa các đống đổ nát.

Cách khoảng 300 mét là một trục đường bê-tông tôi đoán đó là quốc lộ 1, một tốp quân ta khoảng hai chục người đang giãn cách đội hình với những cành ngụy trang hối hả đi về phía Nam - phía đó có thể là Thị xã và Thành cổ mà chúng tôi được nghe qua những người lính gặp trên đường.

Sơn, Phùng ở đâu về tha theo mấy cây chuối non thay rau.

Chúng tôi bắc bếp nấu cơm ngay cửa hầm.

Bữa cơm nóng sốt có canh thịt hộp, ruốc bông và đặc biệt là món thân chuối làm nộm của thằng Phùng ngon đáo để vì mấy ngày nay có ngọn rau nào đâu.

Chúng tôi được lệnh chuẩn bị cả cơm nắm cho bữa chiều để sau khi vượt sông có cái mà ăn vì có thể không nấu được cơm.

Chia nhau hơi thuốc còn lại mang từ Bắc vào, mỗi thằng theo đuổi một suy nghĩ mung lung: nhớ nhà cộng them sự hồi hộp kèm theo sự sợ hãi cũng có vì biết đêm nay sẽ vượt sông vào trận...Sơn lôi đâu ra mấy cọng thuốc lá bọ, thái ra chia cho mỗi đứa một nhúm.

Lần đầu tiên hút thử loại thuốc này, chao ôi sao mà hôi thế, cảm giác cổ họng như bị chổi sể chọc vào, ho rũ rượi tức cả ngực, nước mắt, nước mũi trào cả ra...

Giữa trưa, mật độ bom pháo hình như cũng thưa hơn.

Sơn và Phùng chạy sang mấy hầm bên cạnh, tôi tranh thủ lôi sổ tay ghi vội vài dòng, còn Chiến nghênh ngáo ngoài cửa hầm ngắm trời ngắm đất.

Bỗng dưng nó gào lên với chất giọng tenor cao vút: "...những thành phố những đập chắn nước ngăn sông, những xóm làng biếc xinh, những tuyến đương dài xa của quê hương ta từ muôn nơi đang ngời soi lên từng trang sách nhắc ta đêm ngày..." lời ca bài Về đây với trường xây dựng của thầy Trương Hùng Cường giữa cái cháy bỏng của chiến tranh, cái nắng rát của gió Lào Quảng Trị đã khiến những gã lính tò te như tôi xốn xang nhớ về nơi xa ấy, về những gì mình đang làm dở và biết ngày nào mới trở lại trường xưa và khi ấy ai còn ai mất...Lời ca bỗng dưng ngưng bặt.

Một khuôn mặt đen sạm đầy bụi đất nhô ra trước cửa hầm: "Các ông là lính Xây dựng hả ?

Tôi cũng lính Xây dựng đây".

Nói đến đây anh ta lẳng vào hầm mấy túi cơm sấy và dặn: "Cẩn thận củi lửa nhé, thằng OV10 tinh lắm đấy" và thoắt biến đi giữa đống hoang tàn của căn cứ Ái Tử.

Bàng hoàng và xúc động vì giữa mảnh đất đầy bom đạn này những thằng lính sinh viên cùng trường nhận ra nhau qua bản Trường ca chứa chan hoài bão còn đang dang dở.

Không kịp hỏi anh ta tên là gì, là sinh viên khoa nào, khóa bao nhiêu, quê ở đâu và nhập ngũ khi nào nhưng chắc chắn anh là một người lính đã trải qua trận mạc qua vẻ phong trần và rất kiệm lời của mình.

Cám ơn anh - người bạn cùng trường chưa hề biết tên - đã dặn dò, chỉ bảo, quan tâm đến những thằng lính mới ngu ngơ như tôi.

Đã gần 40 năm trôi qua nhưng bóng hình con người ấy vẫn in sâu trong tâm trí tôi.

Anh còn hay đã mất ?

Nếu còn sống anh đang ở phương nào ?

Âm hưởng của bản Trường ca ngày ấy xen lẫn với giai điệu "...giờ này anh về đâu ?

Hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn..." mà chúng tôi vẫn hát cùng với nhau cho đến hôm nay để khắc sâu mãi mãi không bao giờ quên những ký ức bất diệt về những người đồng đội thân yêu.

Chiều tà, chúng tôi được lệnh hành quân về phía bờ sông.

Giờ này địch oanh kích dữ dội khu vực xung quanh chúng tôi.

Chỉ có một quãng thôi mà đã bốn, năm lần phải chúi đầu vào những hố pháo, hố bom và các đống gạch vụn ven đường.

Sông Thạch Hãn đây rồi, chúng tôi vừa nhẩy xuống những đoạn hào dọc theo sông thì chớp lòe ngay trên đầu, không hề nghe thấy tiếng nổ nhưng lồng ngực muốn vỡ ra và đất cát chùm kín lên người, mặt đất dưới chân rung chuyển, vách hào nơi chúng tôi phủ phục ép lại đẩy chúng tôi lên, khói đen, bụi đất che phủ hết thảy...Giũ hết đất cát phủ trên người, tôi thấy mình năm trơ trên mặt đất mặc dù trước đó là một đoạn hào sâu ngang ngực.

Anh em trong tiểu đội không ai việc gì, còn ở các tiểu đội khác tôi cũng không biết nữa.

Dòng sông chỗ chúng tôi không rộng lắm quãng 200 mét, bên này là dốc đứng, bên kia là bãi bồi.

Đạn pháo địch nổ dăng màn trên sông hết đợt này đến đợt khác.

Tôi đoán bên kia vẫn là vùng ta kiểm soát nên bom pháo địch mới bắn phá dữ dội như vậy.

Lại một đợt B52 nữa dội ngay bên kia sông, tiếp sau đó pháo địch lại cấp tập dọc theo sông, nhìn dòng sông bị nát vụn bởi hàng trăm quả pháo các loại, chúng bắn dầy đến nỗi nước sông như một màn nước dựng đứng liên tục bên bờ bên kia.

Tranh thủ khi pháo địch chuyển làn quân ta từ nơi ẩn nấp bên bờ ùa xuống nước.

Có nhiều đơn vị cùng vượt sông.

Vừa lóng ngóng bó phao vừa run vì pháo bắn ghê quá tôi tụi vội xuống nước.

Chẳng biết bọc phao kiểu gì mà khi chạm nước tôi đã bị lộn phộc và chìm nghỉm, chỗ này là bờ lở nên rất sâu, tuy vậy tôi vẫn túm được phao và cố đạp ngoi lên.

Hình như có ai đó đã túm được quai khẩu AK và kéo tôi lên khỏi mặt nước, cùng lúc ấy mặt sông dềnh lên cùng chớp sáng chói lòa.

Trúng pháo rồi!

Tôi cảm tưởng một bức tường nước đổ ập xuống đầu và không biết gì nữa.

Mở mắt ra tôi thấy mình lại nằm ở chỗ vừa xuất phát, cách mặt nước gần 2 mét, bên kia sông dưới ánh sáng như ban ngày của pháo sáng địch rất nhiều ba-lô, mũ cối... của đồng đội tôi nhấp nhô trên mặt sông bị băm nát, họ đã không kịp sang đến bên bờ bên kia...

Thì ra Chiến và Sơn đã quay lại và lôi tôi lên khỏi mặt nước khi phao bị chìm đúng lúc pháo địch dội vào nửa sông phía bên kia, sóng nước đã đẩy cả 3 thằng lên bờ trong khi những người sang đến bên kia đã bị trúng pháo địch.

Pháo địch ngừng bắn, hai thằng giúp tôi bó lại phao, Chiến lầm bầm: "Đ...biết đằng buộc phao thì chết là phải...".

Thằng Sơn nói: "Tao và mày phải lạy tạ nó vì cứu nó nên mình mới không bị dính pháo ở bên kia...".

Bơi độ 1/3 sông chân tôi đã chạm đất.

Lõm bõm lội nhanh vào bờ, bóng người lố nhố đang đợi chúng tôi bên bờ tre còn trơ gốc vì bom phạt, chẳng còn biết bao nhiêu người nữa nhưng tiểu đội tôi điểm lại vẫn còn đủ.

Đó là điều may mắn quá lớn cho chúng tôi để chuẩn bị cho chuỗi ngày chiến đấu đang đợi chờ ở phía trước.

Ngày đầu tiên chúng tôi vượt dòng Thạch Hãn để về trung đoàn là như thế đó.

Nơi chúng tôi vượt sông là bến vượt Trà Liên Tây để sang thôn Đầu Kênh thuộc xã Triệu Long, huyện Triệu Phong.

Đây là nơi trung đoàn 101 của chúng tôi đứng chân trong suốt Mùa Hè đỏ lửa 1972 tại Đông-Bắc Thị xã, Thành cổ Quảng Trị.

......

30/3/1972 chúng ta nổ súng tấn công phòng tuyến Bắc Quảng Trị từ Dốc Miếu, Cồn Tiên lên tới căn cứ 241 và 544 ở phía Tây.

27/4/1972 ta mở đợt 2 tấn công Đông Hà.

Mất Đông Hà, quân đội Sài Gòn bỏ Ái Tử và Thị xã Quảng Trị lui về Nam sông Mỹ Chánh.

Ngày 2/5/1972 ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Quân giải phóng tiến đánh Nam sông Mỹ Chánh nhưng không thành công trong khi QĐSG được sự yểm trợ tích cực của không quân và hải quân Mỹ, đã tiến hành phản kích nhằm chiếm lại những vùng đất đã mất.

Bắt đầu từ 28/6/1972 cho đến 16/9/1972 QĐSG được sự hỗ trợ tối đa của Mỹ tiến hành Chiến dịch Lam Sơn 1972 nhằm tái chiếm Thành Cổ Quảng Trị và những khu vực đã bị mất.

Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt và đẫm máu, 2 sư đoàn dù và thuỷ quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (với 320 xe tăng, xe bọc thép) đã liên tục tấn công trong 81 ngày đêm.

Địch đã tập trung vào đây mỗi ngày 150 - 170 lần máy bay phản lực, 70 - 90 lần máy bay B52 ném bom trải thảm, cứ 30 phút 1 đợt B-52, độ tàn phá bằng 8 quả bom nguyên tử đã thả ở Hiroshima, 12 - 16 tàu khu trục, tuần dương hạm và hàng chục tiểu đoàn pháo cỡ lớn kết hợp pháo hạm và pháo trên bộ nã liên tục vào khu vực Thành Cổ gần 30.000 quả/phút.

Chúng đã ném xuống đây 328.000 tấn bom đạn.

Đây là cuộc hành quân đẫm máu, cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại: từ bom phá, bom na-pan, bom lân tinh, bom bi, bom dù 7 tấn, bom điều khiển bằng la-de, đến các loại pháo chơm, pháo chụp, pháo khoan, chất độc hóa học và hơi ngạt.

Người ta đã ghi nhận được: đêm 4/7, pháo đài bay B-52 Mỹ đã ném 4.000 tấn bom, ngày 31/7, khoảng 2 vạn quả đại bác cỡ lớn từ 105 - 203mm đã rơi xuống vùng phụ cận và khu vực thị xã Quảng Trị.

Đây là một trong những trận chiến ác liệt bậc nhất trong Chiến dịch Xuân Hè 1972, một phần của Chiến tranh Việt Nam.

Trước cuộc tấn công cực kỳ dã man đó, quân và dân ta dù số lượng không đông song với ý chí quyết tâm cao độ, tinh thần chiến đấu kiên cường đã giành đi giật lại với địch từng tấc đất Thị xã và Thành Cổ mà có khi "mỗi mét vuông đất là cả một mét máu".

Sau 81 ngày đêm chiến đấu ngoan cường giành giật với địch từng tấc đất nhưng sức đã cùng, lực đã kiệt, đêm 15 rạng ngày 16/9/1972 chúng ta buộc phải rút về bên kia sông Thạch Hãn.

Hơn 16 ngàn chiến sĩ đã nằm lại bên những bức tường sụp đổ xạm đen khói đạn, thân thể của họ đã hòa vào dòng nước Thạch Hãn trôi về Cửa Việt để muôn đời sau còn văng vẳng những câu thơ xé ruột những người lính còn sống mỗi khi trở lại thăm lại mảnh đất này:

"Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Giữ yên bờ bãi mãi ngàn năm".

Tháng 5/1972 Sư đoàn 325 đưa trung đoàn 18 vào Quảng Trị và tham chiến tại khu vực Hải Lăng.

Khi địch phản kích nhằm chiếm lại những vùng đất đã mất, trung đoàn đã cùng các đơn vị bạn chiến đấu ngoan cường tại phía Đông Thị xã.

Trung tuần tháng 7/1972 Trung đoàn 95 vượt sông Thạch Hãn vào chấn giữ Thị xã và Thành cổ cùng Trung đoàn 48 của Sư 320B và các tiểu đoàn 3 và 8 của tỉnh đội Quảng Trị.

Cuối tháng 7 đến lượt Trung đoàn 101 của tôi cũng vượt sông vào chiến đấu tại khu vực Chợ Sãi, An Tiêm, Nại Cửu phía Đông Bắc Thị xã.

Sát cánh cùng chúng tôi ở cánh đông có các Trung đoàn 64 của Sư 320B và Trung đoàn 27.

Khi Thị xã và Thành cổ Quảng Trị bị mất, các đơn vị chốt giữ trong Thành rút về bờ Bắc Thạch Hãn thì tuyến chốt của chúng tôi ở cánh Đông vẫn được giữ vững cho tới khi chúng ta giải phóng hoàn toàn Quảng Trị ngày 19/3/1975.

Tuyến chốt này chạy từ sông Thạch Hãn tại Chợ Sải dọc theo sông Vĩnh Định qua An Tiêm, Nại Cửu, Bích La, An Lộng, Vân Hòa băng qua các trảng cát của Long Quang cho tới Thanh Hội ở mép biển có nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận chuyển quan trọng của chúng ta bằng đường biển qua Cửa Việt ngược lên Đông Hà.

Đêm ngày 1 rạng ngày 2/11/1972 địch tiến hành cuộc hành quân Sóng thần 9 nhằm chiếm lại những vùng đã mất, chúng bí mật cho 1 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến vượt sông tại khu vực Nhan Biều nhằm lập một đầu cầu cho việc tái chiếm khu vực phía Bắc sông Thạch Hãn.

Tại đây Trung đoàn 18 dựa vào trận địa phòng ngự vững chắc đã đánh một trận tuyệt đẹp tiêu diệt toàn bộ số quân địch đã vượt sông.

Trận Nhan Biều đã bẻ gãy hoàn toàn ý định chiếm lại vùng giải phóng của địch buộc chúng chấp nhận lấy sông Thạch Hãn làm ranh giới tạm thời tại khu vực Thị xã Quảng Trị.

Hiệp định Paris được ký kết và có hiệu lực từ ngày 28/1/1973.

Trước đó đêm 25/1 địch tiến hành cuộc hành quân Tăng-gô Citi âm mưu chiếm lại khu vực Nam Cửa Việt nhằm ngăn chặn con đường vận chuyển của ta từ biển qua Cửa Việt để lên Đông Hà và từ đó sẽ cắt ngang đường 1 ở khu vực Nam sông Bến Hải nhằm chiếm lại những vùng chúng đã mất trước ngày 30/3/1972.

Dưới sự yểm trợ của máy bay B52 và các máy bay chiến thuật cùng các pháo hạm của Hạm đội 7 Mỹ với hàng chục trận địa pháo từ Gia Đẳng, Hải Lăng liên tục bắn phá vào khu vực Nam Cửa Việt, địch dùng một lữ đoàn đặc nhiệm bao gồm lữ đoàn 147 TQLC với một thiết đoàn hơn 100 xe tăng và xe bọc thép từ Gia Đẳng, Tam Cát theo mép biển chọc sâu vào sau lưng tuyến chốt của chúng ta ở Long Quang và Thanh Hội.

Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt giữa các đơn vị chốt giữ của ta chống lại các đợt tấn công của lũ Trâu điên, Cọp biển.

Xe tăng thiết giáp của địch phát huy tác dụng trên những trảng cát phẳng mênh mông không hạn chế tầm nhìn, trong khi các ổ đề kháng của chúng ta hoàn toàn bị phơi mình giữa cát trắng không hề có vật che chắn.

Nhiều xạ thủ chống tăng buộc phải vùi mình trong cát để chiến đấu.

Cho tới 9 giờ sáng 28/1 hai bên ngừng chiến, lúc này địch chiếm được cảng Mỹ ở mép biển còn cảng ngụy nằm ở phía trong sông, ta và địch mỗi bên một nửa.

Quyết không cho địch cắt con đường vận chuyển của ta vào Đông Hà, sau khi được tăng cường các đơn vị bạn từ phía bờ Bắc, đêm 29/1 ta nổ súng phản kích địch giành lại những phần đất bị mất.

Đến ngày 31/1 toàn bộ lữ đoàn 147 TQLC và hơn 100 xe tăng thiết giáp của địch bị tiêu diệt buộc địch phải lui về vị trí xuất phát.

Trận Cửa Việt kết thúc, ý định của địch định tràn ngập lãnh thổ bị phá sản.

Tuyến phòng thủ cánh Đông của ta được giữ vững cho đến khi ta giải phóng hoàn toàn Quảng Trị ngày 19/3/1975.

Lóp ngóp lên tới bờ, một bóng người từ đâu nhô lên hét: "Chạy nhanh khỏi bến, quần áo mặc sau...", cứ nguyên quần cộc, cởi trần tay ôm bọc ba-lô, khoác vội khẩu súng tôi lao theo những bóng người chạy trước, nhờ ánh sáng của pháo sáng của máy bay và hỏa châu của địch bắn lên.

Chạy được khoảng 10 phút mặc cho nhiều lúc ngã dũi dụi do bị sụt xuống hố và cây cối đổ ngổn ngang quăng quật vào mặt, lúc này tốp người đi trước đã dừng lại, chúng tôi tranh thủ mặc quần áo và tiếp tục đi.

Dưới ánh sáng mờ ảo của pháo sáng tôi nhận ra đây là làng xóm bởi rất nhiều bụi tre, cây cối và những căn nhà đổ nát vì bom đạn.

Đường đi lúc xuyên qua làng, lúc băng qua cánh đồng lầy thụt ngập nước chi chít hố pháo, hố bom...Không biết bao lần phải úp mặt xuống đất vì pháo địch xoèn...xoẹt trên đầu, pháo nổ gần thì chớp sáng chói lòe không hề nghe tiếng nổ chỉ thấy ngực tức lại mắt mũi hoa lên cùng với bùn đất ụp vào đầu, pháo nổ xa thì chớp lửa đỏ rực, dưới chân đất rùng rùng chuyển động...Tốp người đi trước tản ra và mất hút trong những đống đổ nát của nhà cửa, tôi thì thào gọi:"Chiến, Sơn ơi !

Chúng mày đâu cả rồi...".

Không thấy tiếng trả lời nhưng một bàn tay ấn đầu tôi xuống: "Hầm đây, vào đi...".

Trút vội ba-lô tôi lom khom chui qua ngách cửa chỉ một người chui lọt, bên trong rộng đủ chỗ cho 3,4 người nằm.

Dưới ánh sáng leo lét khét lẹt của ngọn đèn được thắp trong một đĩa sứ tôi nhận ra trong hầm đã có hai người, đó là hai cậu còn trẻ quãng 18, 19 tuổi giọng đặc sệt Nghệ An đó là Lào và Bắc mới về đơn vị trước tôi một ngày.

Người đón tôi ở bến sông và đưa tôi vào hầm cũng còn trẻ, người nhỏ thó, tóc xù như một cái nơm.

Đó là Lương Thanh Phồm tiểu đội trưởng tiểu đội 3 quê Tiên Lữ, Hải Hưng.

Phồm giới thiệu sơ qua tình hình đơn vị: chúng tôi thuộc đại đội 3 (c3), tiểu đoàn 1 (d1), trung đoàn 101 (e101), sư đoàn 325(f325).

Tiểu đội có 5 người, Phồm ở hầm bên cạnh cùng cậu Bình cũng quê Nghệ An.

Từ đây vào chốt chưa đầy cây số đường chim bay nhưng Phồm vẫn yêu cầu 3 chúng tôi phải thay nhau gác phòng khi bị tập kích bất ngờ.

Đêm đầu tiên ngủ tại đơn vị trong tiếng nổ liên tục của bom pháo của địch.

Hình như càng khuya địch càng bắn phá dữ dội.

Hầm kèo đung đưa như đưa võng, có những lúc pháo địch nổ gần làm cho đất cát tung tóe hết vào trong hầm.

Có những khoảng khắc tĩnh lặng giữa 2 đợt oanh kích, ló đầu nhìn về phía trái nơi sáng rực như ban ngày vì pháo sáng của địch tôi đoán đó là Thị xã và Thành Cổ, tôi nghe rất rõ tiếng lục bục kéo dài của đại liên hoặc 12 ly 7.

Ánh sáng chiếu qua cửa hầm làm tôi choảng tỉnh dậy, không gian yên ắng vắng tiếng bom và pháo, Phồm và một cậu béo lùn (tôi đoán đó là Bình) đang hí húi bắc bếp nấu cơm trong góc nhà kề ngay miệng hầm.

Chúng tôi đang ở trong một ngôi nhà đã đổ sập dìa một ngôi làng tan hoang vì bom đạn.

Phía trước mặt là cánh đồng chi chít những hố bom, hố pháo.

Đập vào mắt tôi trên bức tường còn sót lại một dòng chữ ngay ngắn rất đẹp viết bằng than củi một câu tiếng Nga rất nổi tiếng: "Rôđina ili umeretr"- Tổ quốc hay là chết.

Rõ ràng ở đây đã có sự hiện diện của những người lính Bắc nào đó phải là sinh viên đại học mới có thể viết được những dòng tiếng Nga như vậy.

Được biết Phồm và số anh em Hải Hưng về đơn vị khi còn ở Hà Bắc, trong đơn vị có một số anh em đại học - như Phồm nói nhưng đến giờ bị thương vong chỉ còn lại mấy người mà thôi.

Bữa cơm đầu tiên tại đơn vị giữa không gian ngổn ngang đổ nát khét lẹt mùi thuốc súng, mỗi thằng một góc xúc vội thìa cơm với ruốc mặn chẳng có rau cỏ gì cả.

Thấy anh Tạo từ phía sau đi sang, anh đi hội ý ở bên đại đội về, ngồi thụp bên bếp kéo một hơi thuốc lào và cho biết sơ qua tình hình: đơn vị đang ở thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long, quận Triệu Phong.

Số quân chúng tôi từ d60/f304B bổ sung đêm qua rải khắp các đơn vị của e101.

Về c3 này có khoảng hơn chục người trong đó có Trình ba toác khi huấn luyện là cán bộ trung đội vào đây là trung đội trưởng trung đội 1 (b1) của tôi, anh Tạo cũng là cán bộ khung ở huấn luyện giờ là b phó b1, Tiến lớp Nước 15 ở tiểu đội 1 (a1), Chiến lớp Công trình 15 ở a2, Mẫn lớp Đường 15 ở b2 cùng với Phùng lớp Nước 15 và Triệu người dân tộc ở Việt Bắc, Sơn trắng lớp Cầu 15 ở a cối còn tôi ở a3.

Anh Tạo được phân công ở với a3 và nằm cùng hầm với Phồm và Bình.

Trong thời gian đang củng cố cứ đêm xuống chúng tôi có nhiệm vụ đi lấy gạo, thực phẩm, vũ khí, đạn dược từ bến sông hoặc đưa cơm và đạn dược cho các đơn vị đang ở trong chốt cũng như

đưa thương binh, liệt sĩ về phía sau.

Hầm của đại đội (c bộ) ngay phía sau hầm chúng tôi cách độ ba chục mét.

Được anh em cũ cho biết buổi sáng mật độ oanh kích của địch ít hơn ban đêm nên tranh thủ lên mặt đất thở hít không khí, tắm táp và củng cố lại hầm hố. c3 của tôi do thượng sĩ Nông Quốc Sủi người Tày Lạng Sơn là đại đội trưởng.

Trước đấy anh ở c4 hỏa lực của tiểu đoàn được điều sang vì ban chỉ huy c3 bị thương vong hết cả.

Chính trị viên trưởng (cv trưởng) cũng tên Trình là cán bộ khung của tốp quân Nghệ An vào trước tôi một ngày.

Ông Sủi nhìn thấy tôi đeo kính cười ha hả: "Thằng a3 thêm 1 thằng đui rồi, hôm trước có thằng Bắc điếc và thằng Bình lé nay lại có mày đeo kính...không biết rồi đánh chác ra sao đây...".

Thảm nào sáng nay lúc ngồi ăn cơm, hỏi chuyện thằng Bắc nhiều lúc nó không trả lời, khi nói nó phải nghiêng tai về phía người nói.

Còn thằng Bình đúng là đi xe máy solex (cách nói vui chỉ người mắt bị lác).

Hầm a cối của đại đội gần ngay hầm của c bộ, Tú a trưởng a cối người Đức Thọ, Hà Tĩnh dáng người nho nhã, trắng trẻo đang hướng dẫn Sơn và mấy người khác thao tác sử dụng cối 60 li - hỏa lực chính của đại đội.

Sau gần 1 tháng chiến đấu, a cối chỉ còn mỗi Tú, có 2 cối 60 ly thì một bị trúng đạn pháo của địch, khẩu cối còn lại của đại đội cũng bị thương do mảnh pháo chém vào thân nên khi bắn phải lựa chiều quả đạn.

Mấy ngày sau, a cối của Sơn vào chốt tăng cường hỏa lực cho c1 nên được thay bằng khẩu cối của c1 (a cối của c1 bị thương vong hết).

Tú nhập ngũ 6/9/1971, trước đó đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô về, anh có giọng hát rất hay nhất là nhạc vàng.

Anh hy sinh tháng 10/1972 lúc 24 tuổi.

29 năm sau chúng tôi tìm thấy mộ của anh tại NTLS xã Triệu Long và có gửi thư báo cho địa phương theo địa chỉ trên bia mộ nhưng không thấy hồi âm (?).

Vạt đất trước hầm c bộ có khoảng hơn chục ngôi mộ bị trận bom pháo đêm qua cầy xới lên, mấy người đang vun lại các ngôi mộ, chôn lại các tấm bia làm bằng tôn.

Đất ở đây tơi xốp có lẽ do bom đạn cầy đi xới lại nhiều lần.

Một cậu dáng bé loắt choắt, mắt to da đen sạm nhưng khuôn mặt lại rất láu lỉnh - đó là Thủy là liên lạc của c bộ.

Cậu ta quê Nam Hà là lính cũ đi từ Hà Bắc giống như Phồm.

Chúng tôi là đợt bổ sung thứ tư sau đợt quân Thái Bình, Quảng Ninh và Nghệ An.

Hiện tại sau khi bổ sung đại đội có chưa đầy 2 chục tay súng.

Sau gần 1 tháng chốt ở An Tiêm chống chọi với tụi Thủy quân lục chiến ngụy và bị thương vong nhiều.

Giờ được lui về phía sau để bổ sung quân số.

Thủy còn cho biết số thương vong của đại đội chủ yếu do bị bom pháo vòng ngoài, vào trận thì dính nhiều do cối cá nhân M79.

Sau này Thủy và tôi cùng bị thương, 2 anh em dìu nhau theo đường chuyển thương ra tới Nghệ An.

Phồm tiểu đội trưởng của tôi kém tôi 2 tuổi.

Một người ít nói nhưng nhanh nhẹn, hút thuốc lào liên tục cho biết số quân Hải Hưng hiện tại chỉ còn cậu ta và Thuận ở B2.

Người hy sinh, người bị thương đi viện, cả đại đội chỉ còn mấy tay súng.

Đấy là tình trạng chung của đơn vị sau khi ở chốt ra ngoài củng cố.

Tôi vẫn nhớ tới Phồm khi vào trận với vẻ mặt đanh lại tay lăm lăm lựu đạn đánh trả các đợt phản kích của địch nhưng luôn đưa mắt về phía chúng tôi với ánh mắt động viên.

Chính Phồm là chỗ dựa tinh thần cho tôi khi vào trận đầu vượt qua được nỗi sợ hãi khi xung quanh chỗ nào cũng thấy địch.

Năm 2007 tôi có về quê Phồm.

Nó giờ chẳng còn nhớ được gì, Quang ấm cho biết mấy năm trước Phồm là một tay bắt ba ba có hạng nhưng một lần không biết vì sao nó dùng dao tự thọc vào bụng mình...sau khi ở viện về nó chỉ ngồi một chỗ nhớ nhớ quên quên.

Nhắc tên tôi và Chiến nó vẫn nhớ: Chiến và Tường đều học đại học, Tường còn đeo kính...nhưng khi chỉ vào mình tôi hỏi:" Đây có phải Tường không?".

Nó lắc đầu quầy quậy:" Tường gầy và đeo kính...".

Nhìn bạn ngồi thu lu trong ngôi nhà nhỏ chỉ có 2 gian, tường vách vẫn để nguyên, chưa đủ tiền để trát tôi xót xa quá, vét hết số tiền trong túi được mấy trăm đưa cho vợ Phồm mà nghẹn lại không thể thốt lên lời...Ôi số phận những chiến binh quả cảm 30 năm sau cuộc chiến là như thế này đây !!!

Lào, Bình, Bắc quê Nghệ An (Diễn Châu và Quỳnh Lưu) đều chưa tham chiến vì vào trước chúng tôi có một ngày.

Hai cậu Bắc và Lào là dân đạo gốc, chính vì thế những đêm trong hầm mỗi khi pháo địch bắn dữ dội thì 2 thằng lại lầm rầm đọc kinh cầu nguyện.

Bắc nhà nghèo lắm bố mất sớm, khi đi bộ đội mẹ cho ăn no một bữa cơm không độn.

Lúc lên đường gia đình, họ hàng gom góp cho cậu ta ít tiền, Bắc không dám tiêu, hy vọng trước khi đi B được về phép sẽ đưa hết cho mẹ.

Nhưng rồi phép không được đi, số tiền Bắc mang theo vào đây không gửi về cho mẹ được làm cho cậu ta nhiều lúc ngồi trong hầm tần ngần với những đồng bạc trong tay...

Bắc tuy nặng tai nhưng được cái rất nhớ đường nhất là về ban đêm.

Đêm nào phải vào chốt đưa cơm và tải thương ra hoặc đi lấy lương thực, vũ khí ở bến sông có cậu ta thì rất yên tâm không bị lạc.

Đã có đêm đi lấy gạo về đến giữa đường bị pháo kích, chúng tôi chạy thục mạng, tôi lao vào một bụi tre gai lớn bị bật gốc, ba-lô gạo trên lưng vướng vào các tay tre ở thế tiến thoái lưỡng nan không tài nào ra được.

Khi về đến hầm không thấy tôi, Bắc cùng Lào quay trở lại đúng chỗ bị pháo kích và phải phát chặt đến gần 1 giờ đồng hồ mới lôi tôi ra được khỏi bụi tre gai.

Bắc hy sinh tháng 10 khi đi lấy đạn về bị pháo bắn nhưng do không nghe thấy tiếng rít xoẹt trên đầu để lăn xuống tránh, một mảnh pháo chém vào gáy cậu ta.

Còn Lào hy sinh khi đánh nhau ở Chợ Sải.

Mộ của Bắc ở NTLS Triệu Long, còn Lào thì không tìm thấy xác như tôi đã nói ở phần trên...

Thằng Phùng đi học lớp cứu thương không biết bao giờ về.

Hầm của Chiến dưới lùm tre te tua vì bom đạn nhưng lại gần giếng nước tiện cho sinh hoạt.

Chiến lôi ra một nồi thịt bò thơm nức, thì ra tiểu đội nó cải thiện bằng cách đi săn.

Ở đây bò, trâu vô chủ nên còn sót lại có thể săn bắn để cải thiện.

Thì ra cánh đồng trước mặt hầm của tôi có rất nhiều xác trâu bò chết do bom pháo địch mà có thể cũng do quân ta bắn để cải thiện.

Tôi và Chiến sẽ đi săn với nhau để có cái ăn và đồng thời tìm hiểu nơi mình đang ở để thỏa chí tò mò...

Cách hầm của Chiến khoảng hai chục mét là hầm của Tiến ở bên trong một khu vườn.

Giữa vườn là một ngôi nhà khá đẹp có hành lang chạy xung quanh.

Có lẽ đây là ngôi nhà còn khá nguyên vẹn vì mái chưa bị xập chỉ bị xô ngói.

Ngôi nhà này là nơi trú ngụ của hai bà cháu: bà cụ yếu không đi được phải nằm lại, cô cháu gái phải ở lại chăm sóc.

Họ ở dưới hầm ít khi lên khỏi mặt đất, anh em bộ đội thỉnh thoảng đưa gạo, ruốc cho họ.

Chuyện đi săn cải thiện cũng nên kể lại đây.

Buổi sáng khu vực chúng tôi đang ở tương đối yên tĩnh vì hầu như không có bom pháo của địch.

Phồm cho phép tôi đi kiếm thịt, rau để cải thiện bữa ăn và khuyên tôi về trước buổi trưa vì địch hay oanh kích vào giờ chiều đến suốt đêm.

Chiến và tôi mỗi thằng một khẩu AK, nai nịt đầy đủ dao lê, bình tông...một bao cát để đựng những thứ kiếm được.

Những xóm làng xung quanh vắng tanh không một bóng người ngay cả đến bộ đội cũng không thấy một ai.

Cây cối đổ ngổn ngang rậm rì, luồn lách qua rặng tre chúng tôi vào làng.

Ở đây có nhiều rau rền, mùng tơi, rau đay và cả rau muống trong những vạt ruộng nước dìa làng.

Vơ vội đám rau nhét vào đầy bao tôi bước bào 1 ngôi nhà mái tốc hết ngói, các vì kèo nghiêng ngả siêu vẹo nhưng còn giữ lại được 2 chái còn khá nguyên vẹn.

Đồ đạc tan hoang chẳng còn gì, tôi tìm trong đống giấy tờ, sách vở hy vọng kiếm được cuốn sách nào đó để đọc chơi nhưng không có chỉ toàn vở viết bài của học sinh cấp 1.

Trong bếp bị sập tôi phát hiện có 2 hộp dầu đậu nành (in chữ Việt) còn nguyên của Quân tiếp vụ.

Thế là có cái để nấu nướng và thắp đèn rồi.

Có tiếng AK nổ gần làm tôi giật thót ngồi sụp xuống chĩa súng về phía cửa.

Đấy là phát súng của Chiến bắn một con chó nhưng không trúng, con chó nhanh chân lủi vào bụi rậm.

Rồi chúng tôi cũng bắn được 2 con lợn choai choai trong 1 đàn có đến 5, 7 con.

Giống này đã sống hoang rồi nên nhanh lắm bắn được cũng vất vả.

Có hôm chúng tôi phát hiện có mấy con bò đang gặm cỏ ỏ bãi B52 gần đấy, nhưng do bom đạn và bị săn nhiều nên mấy con bò thấy thoáng có bóng người là chạy thục mạng.

Một lần sau khi bắn được một con chó đen khoảng 7, 8 cân, trên đường về thì bị B52, hết 1 loạt 2 thằng lao vào những hố bom còn nóng hổi thì những loạt tiếp theo rơi trúng chỗ trúng tôi vừa nằm.

Chậm chút nữa thôi là 2 thằng ăn đủ cả, thế mà khi nằm trong hố bom Chiến tiếc con chó còn thò tay lên kéo xuống hố trong khi khói bụi, mảnh bom và đất đá bay rào rào xung quanh.

Về tới nhà 2 thằng lấm lem toàn bùn đất.

Sau khi nấu nướng đem chia cho các hầm nhưng hầm đại đội không ăn mà còn bị ông Sủi mắng vì tội bắn chó đen là điềm không lành.

Còn chúng tôi vẫn cứ chén vì còn hơn nhai cơm với ruốc mặn và mắm tôm khô.

Tôi vừa đặt nồi thịt chó lên bếp để chuẩn bị cho bữa chiều thì nhoằng một cái một cơn lốc bốc tôi lên trong ánh chớp sáng lòa đất dưới chân như sụp xuống...khi mở mắt ra tôi đã thấy mình trong hầm tối đen, sờ soạng xung quang thấy có người nằm cạnh thì ra đấy là Bắc do tôi chạm phải cái dây đeo thánh giá đeo trước ngực.

Tôi giũ hết bụi đất ngồi dậy ngực tức không thể thở được.

Hầm chưa bị sập mà chỉ bị lấp hai cửa ra vào.

Moi cái xẻng để góc hầm tôi lấy hết sức moi đất để lấy không khí để thở.

Phía ngoài tiếng lục cục đào bới rồi thì Phồm, Bình, Lào cũng lôi tôi và Bắc ra khỏi hầm.

Hít một hơi đầy lồng ngực tôi nhìn quanh thấy ngay cách hầm tôi khoảng vài mét là một hố bom sâu hoắm, góc nhà nơi chúng tôi đặt bếp bay đi hết.

Nhìn sang phía đại đội thấy trống hoác không còn gì tôi hét lên: "C bộ bị rồi..."

Chúng tôi lao sang hầm đại đội đào bới lôi được mấy người mặt mày cháy sém ra khỏi hầm.

Chúng tôi đưa ông Sủi và ông Trình lên phẫu tiểu đoàn còn 2 người nữa tôi không còn nhớ tên đã chết, họ bị sức ép nặng người mềm nhũn như không còn xương cốt nữa.

Hầm a cối chỉ còn lại một hố bom toang hoác, may cho a cối vừa vào chốt tăng cường cho c1 đêm trước, nếu ở lại thì cũng chẳng còn ai.

Tôi chạy sang bên chỗ Chiến thì được biết hầm của Tiến ăn trọn một quả bom.

Chiến nhặt được khoảng một bát thịt lèo nhèo của Tiến và Sơn (người Nghệ An) chia làm 2 mộ chôn ngay cạnh hố bom mà 2 đứa đã hy sinh.

Tổn thất đầu tiên khi chúng tôi về đến đơn vị lớn quá.

Lúc đó khoảng 4 giờ chiều ngày 5/9/1972.

Ngay tối hôm đó chúng tôi được lệnh ra bến sông lấy gạo và súng đạn chuẩn bị vào chốt.

Gặp lại anh em cùng trường ở c1. c1 rất đông anh em chúng tôi, mừng vì gặp được Hùng bồ, Hùng côn, Hòa, Tân quẩy...Trận B52 lúc chiều cũng trúng vào khu vực của c1 và Cấn Văn Long K14X nhà ở Bà Triệu đã hy sinh.

Nếu như không có trận trận B52 này thì ngay đêm đó chúng tôi sẽ vào chốt vì mấy đêm trước khi đi đưa cơm cho c2 chúng tôi có đi cùng tốp cán bộ c và b đi trinh sát để nhận địa bàn.

Sau khi cả c bộ bị thương vong trên điều ông Nghĩ ở c6 về làm c trưởng và ông Trọng về làm cv phó phụ trách cv trưởng (chính trị viên đại đội).

Buổi trưa hôm sau đang hí húi ghi lại sự việc xảy ra hôm qua, tôi nghe thấy tiếng khàn khàn quen quen: "Các đồng chí ơi, đây có phải c3 không ?".

Tôi nhô ra khỏi cửa hầm thì ra là thằng Phùng.

Nó mếu máo: "Thằng Tiến chết thật rồi à...".

Tiến và Phùng học cùng lớp 15 Nước, nhà lại gần nhau, Phùng ở Nguyễn Trường Tộ, còn Tiến nhà ở Hàng Đậu.

Sau khi học xong lớp y tá trên trung đoàn, Phùng được giữ lại trên phẫu của tiểu đoàn.

Hôm qua khi chuyển thương binh về phẫu nó đã nghe tin Tiến hy sinh, hy vọng không phải Tiến bạn mình nào ngờ...

Đêm nào chúng tôi phải vào chốt đưa cơm thì ngay buổi chiều đã phải nấu cơm nắm thành nắm để nguội, sau lấy lá chuối hơ nóng gói cơm lại kèm theo ít ruốc mặn.

Bữa nào nhân tiện kiếm được thịt hay rau thì anh em trong chốt lại có chất tươi.

Bọc cơm nắm vào một tấm vải nhựa cắt từ bao gạo buộc chặt phòng khi bị nước nhét vào cái bòng làm bằng bao cát đeo lên vai hoặc cho vào ruột tượng gạo đeo chéo trên lưng cùng khẩu AK với 2 băng đạn buộc chéo và vài quả lựu đạn phòng khi chạm địch.

Thường thường tốp đưa cơm rời đơn vị lúc chạng vạng tối nếu xong xuôi thì khoảng 8,9 giờ tối đã về tới nhà nhưng có những lúc bị kẹt phải nằm lại tới nửa đêm thậm chí gần sáng mới về được.

Bóng tối đổ xuống là lúc địch oanh kích dữ dội, ra khỏi xóm men theo rặng duối, rặng tre đổ rạp chúng tôi ra đến con đường nhựa bị bom đạn cầy nát.

Sau này chúng tôi mới biết đây là đường 4 đi từ Thị xã Quảng Trị ra Cửa Việt.

Tôi đoán chừng đoạn này là một dãy phố vì những ngôi nhà xây bằng các viên gạch đúc (ngoài ta gọi là gạch pa-panh trong này gọi là viên táp-lô) đổ xập tan hoang với các cửa xếp cùng biển hiệu còn sót lại.

Ánh sáng của hỏa châu địch bắn lên rọi sáng cả một vùng chứng tỏ địch cách chỗ này không xa lắm.

Bên vệ đường là xác mấy chiếc thiết giáp của ta, vừa lúc đó tiếng hú xoẹt...xoẹt ngay trên đầu, tôi lao nhanh vào gầm chiếc thiết giáp thì một loạt pháo nổ ngay gần đấy, tiếng mảnh pháo đập vào vỏ xe nghe chát chúa, hú vía khi nhìn xung quanh không thằng nào bị sao cả.

Qua một cánh đồng lầy thụt vì ngập nước mưa chi chít hố pháo, hố bom, không biết thụt xuống hố bao nhiêu lần, cũng may nhờ ánh sáng của hỏa châu nên phát hiện ra những hố bom to như cái ao nếu không sẽ chìm nghỉm ở đó vì mình bơi quá giỏi.

Có những đoạn bị lầy thụt chúng tôi phải trườn như loài bò sát vì đất tơi do mật độ bom pháo dầy đặc trộn với nước mưa thành một thứ cháo đặc như hồ.

Đến một bãi đất còn sót lại những bụi dứa dại và ngổn ngang những tấm bia mộ bằng xi-măng, người dẫn đường khoát tay chỉ hướng các hầm chốt để đưa cơm và sẽ gặp nhau tại đây để về.

Tôi lom khom tụt xuống một đoạn hào thì thào gọi: "Ra lấy cơm..".

Một bóng người nhô ra: "Có rồi, đưa hộ lên chốt trên, đây toàn người bị thương...".

Đoạn hào đầy bùn bốc lên một mùi vị khó chịu đến buồn nôn, nhiều tiếng rên ở các ngách hầm thì ra đây là nơi tập kết thương binh, liệt sĩ để chuyển ra phía sau.

Một bóng người lao xuống hào nói: "Đưa cơm hả, chếch bên phải có mấy hầm chưa có cơm.

Cối cá nhân dữ lắm đấy...".

Đoạn hào chỉ có một đoạn, tôi trườn lên khỏi mặt đất, dưới ánh sáng hỏa châu được bắn liên tục sáng như ban ngày, những tia đỏ lừ phun từ phía bên phải bay trên đầu tôi, khẩu đại liên này chúng đặt ở một vị trí cao chắc bắn để cầm canh hay hù dọa thì phải...rồi những viên đạn đỏ lừ lừ tiếp đến là tiếng cóc khô khốc của cối cá nhân M79 liền ngay đó tiếng oành chát đanh tóe lửa xung quanh chỗ chúng tôi - đó là loại vũ khí đáng gờm của địch gây nhiều thương vong cho quân ta với độ chính xác khá cao.

Đây là khu vực ta và địch xen kẽ nhau rất khó đoán vị trí của nhau may nhờ có luồng đi của đạn mà đoán ra vị trí của địch cách chỗ tôi nằm trên dưới trăm mét.

Tim đập thình thình vì xung quanh mình liên tục bị cối cá nhân xoẹt qua đầu.

Chợt nghe thấy tiếng hét gằn giọng: "Ai!

Bắc...", tôi bật nhanh tiếng trả lời: "Đưa cơm!".

Lại giọng nói đó nhưng có vẻ nhẹ nhàng hơn: "Bắc...".

Chết cha rồi mật khẩu của đơn vị tôi vội kêu lên: "Bình...Bình...Bình đây..." (lúc này trung đoàn có mật danh là Bắc Bình).

Một bóng người nhô lên trước mắt tôi vài ba mét, tôi lăn nhanh về phía đó và lộn xuống một công sự cá nhân ngang đến cổ.

Người lính đứng đó kéo tay tôi đẩy về phía sau dúi tôi vào ngách hầm.

Tôi buông bọc cơm xuống đưa cho họ còn mình ngồi thở dốc, tim vẫn còn đập mạnh.

Số cơm nắm tôi mang theo họ phân phát cho mấy hầm gần đấy.

Hầm có 3 người, họ vào chốt được 3,4 ngày mà đã phải bổ sung 2 lần.

Hầm nằm dưới đống đổ nát của một căn nhà ngay kề sông Thạch Hãn.

Tuy gần sông nhưng việc lấy nước để uống là không thể vì bờ sông dốc lại bị khống chế bởi khẩu 12 ly 8 của địch đặt tại một căn nhà tầng sát bờ sông.

Vị trí này rất lợi hại vì chúng khống chế cả một đoạn sông ngăn cản đường vận chuyển của thuyền vận tải ngược sông vào Thị xã.

Tôi lom khom lần theo bức tường đổ nhìn xuống sông.

Dưới ánh sáng như ban ngày của hỏa châu địch, dòng sông như bị sôi lên bởi đủ các loại hỏa lực cả hai bên.

Chợt bên kia sông liên tục chớp lửa và một loạt tiếng nổ dội lên bên bờ bên này.

Người lính đứng cạnh tôi thở dài: "Xuồng chở thương binh của ta đang xuôi đấy, bên kia sông nổ súng để yểm trợ, nhưng không ăn thua chúng nó phản pháo ngay bây giờ...".

Liền lúc đó tiếng rú rít của pháo địch bay qua đầu chúng tôi dăng thành một màn lửa bên bờ bên kia, nhiều quả pháo rơi xuống sông tạo nên những cột nước trắng xóa.

Tiếng đại liên và 12 ly 8 của địch nổ dồn dập, luồng lửa đan chéo xuống sông cách không xa nơi chúng tôi nằm, dưới sông cách mép nước bên này một quãng ngắn một bóng đen dài đang từ từ trôi xuôi dưới làn đạn địch.

Bờ bên này là bờ lở nên bắt buộc thuyền vận tải đến đây phải đi men theo bên này để tránh mắc cạn.

Chiếc thuyền đầu tiên đến ngang khu vực của ta thì nổ máy lao nhanh về phía trước.

Chiếc thứ hai nặng nề trôi đến loạng choạng như không có người điều khiển kèm theo tiếng rên la của anh em thương binh.

Một loạt cối cá nhân nổ ngay bờ sông xung quanh hầm, chúng tôi chúi cả xuống để tránh, chừng 10 phút trôi qua khi tiếng M79 đã ngớt tôi nhô lên để nhìn xuống sông nhưng chẳng còn thấy bóng dáng con thuyền đâu nữa.

Dưới ánh sáng như ban ngày của hỏa châu địch thấp thoáng có những bóng đen nhấp nhô chới với trong sóng nước sôi sùng sục của đủ các loại đạn.

Nhìn những đồng đội của mình đang bị cái chết cướp đi mà đành chịu vì mép sông nằm trong tầm khống chế của địch.

Đơn vị bạn chốt ở đây gần sông mà không thể lấy được nước đành phải dùng nước trong các hố pháo, hố bom.

Hàng đêm có bao lượt thuyền vận tải vào Thành và khi ra chở thương binh đi qua khu vực Chợ Sãi này dưới làn đạn và có bao nhiêu chiếc không tới được bến...?

Vị trí này thật là hóc hiểm, là ngã ba của sông Vĩnh Định với sông Thạch Hãn, là tuyến vận tải quan trọng tiếp tế cho Thị xã và Thành Cổ.

Từ vị trí này địch khống chế cả một dải dài ven sông từ Thị xã cho tới khu vực Triệu Long do ta kiểm soát với chiều dài hơn 2 cây số.

Chính bởi lẽ đó ta và địch giành đi giật lại không biết bao nhiêu lần, cho tới khi mất Thành ta vẫn giữ nguyên tuyến chốt này cho đến 19/3/1975 là ngày ta giải phóng hoàn toàn Quảng Trị.

Sau này tại đây người ta xây dựng khu nhà tưởng niệm ông Lê Duẩn vì đây là quê ngoại của ông (làng Hậu Kiên).

Ngôi nhà tầng nơi mà địch sử dụng làm điểm cao khống chế các khu vực xung quanh đã bị đổ xuống sông trong vụ lụt lớn năm 1999.

Đêm 25/8/1972, ta tiến hành tập kích Chợ Sãi để giành lấy vị trí quan trọng này nhưng không thành.

Hơn 70 chiến sĩ của tiểu đoàn 2 hy sinh và không lấy được xác.

Cuối tháng 10/2005 trong dịp tổ chức lễ Một thời hoa lửa tại Thành Cổ, chúng tôi có đưa gia đình của Nguyễn Kỳ Sơn - nguyên sinh viên ĐH Thủy lợi - vào khu vực này để bốc một nắm đất tâm linh đưa về quê hương.

Cũng tại đây chúng tôi còn tìm ra một nền nhà sát bến sông còn sót lại mà tầng dưới có cửa thông ra sông.

Xung quanh tường và những tấm tôn vẫn còn lỗ chỗ vết đạn, thậm chí còn vết tích của một thanh dầm bê-tông có khắc dòng chữ Tiểu đoàn 8 TQLC (thủy quân lục chiến).

Chuyến đưa cơm đầu tiên vào chốt ngày ấy với hình bóng con thuyền chở thương binh bị trúng đạn trên sông với bóng những thương binh đang chới với rên la trên dòng sông cuộn sóng...vẫn ám ảnh trong tôi cho đến tận bây giờ.

Những trận mưa tầm tã do ảnh hưởng của những cơn bão làm cho nơi đóng quân như một túi bùn.

Hầm hào đầy nước, nước lưng hầm chữ A.

Ban ngày còn đỡ vì mật độ phi pháo ít, nên tranh thủ lên trên mặt đất nép dưới những mái tôn còn sót lại.

Đêm xuống buộc phải xuống hầm rồi thay nhau tát nước để có chỗ dựa lưng mà chợp mắt một chút.

Đêm 2/9 pháo địch bắn dữ quá như để chào mừng ngày Quốc khánh của ta, anh Tạo bò sang từng hầm đưa cho mỗi đứa 1 bao Trường Sơn đỏ móp mép nhưng chỉ có vỏ ngoài mà không có giấy nến bên trong (sau này mới biết kho giấy nến chống ẩm của nhà máy thuốc lá Thăng Long bị phá hủy hoàn toàn do bom Mỹ) và 2 cái kẹo Hải Châu ướt mẹp.

Tôi ngắm nghía bao thuốc lá và rút 1 điếu để hút nhưng thay vì 1 điếu mà tới 3 điếu được rút ra khỏi bao, hơi lạ, dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn thắp bằng dầu đậu nành tôi nhìn kỹ 3 điếu thuốc dính nhau bởi hai mảnh đạn mảnh dài khoảng gần 1cm găm vào.

Vỏ bao thuốc bị rách lại có vệt mầu nâu sẫm, phải chăng khi những bao thuốc này từ miền Bắc đến tay chúng tôi đã có đồng đội tôi bị thương trên đường vận chuyển...Ba anh em ngồi dựa lưng vào nhau trong căn hầm nước ngập đến hông thả hồn theo khói thuốc mà vơ vẩn theo đuổi những ý nghĩ khác nhau trong âm thanh rung chuyển của bom pháo địch.

Trời càng khuya và mưa mỗi lúc một to trong khi pháo địch vẫn bắn không ngớt, những tiếng nổ âm trong lòng đất khiến cho căn hầm rung chuyển như muốn sập.

Mẹ nó chứ !

Lợi dụng mưa bão chúng bắn pháo khoan để phá hầm trong lúc hầm hào đầy nước.

Bỗng nước từ hai cửa hầm ào ào đổ vào như thác khiến cho bên trong ngập tới bụng rồi ngực.

Tình huống này bắt buộc chúng tôi phải chui ra nếu không sẽ bị chết vì ngạt nước, vơ vội súng ống và quân tư trang chui ra, nước ở cửa ra mấp mé lỗ mũi khiến chúng tôi phải nín thở cho khỏi bị sặc nước.

Ba anh em chui ra khỏi hầm đành nép tạm vào góc nhà còn sót lại, lấy mấy tấm tôn rách phủ lên và vơ mấy bao cát chất trên hầm quây lại để trú thân.

Mệt qúa vì cả đêm chống chọi với nước, cả ba đều thiếp đi không biết gì hết.

Bỗng một tiếng ục rất lớn rung chuyển vạt đất chỗ chúng tôi đang nằm làm cho mảng tường còn sót lại đổ ập ra phía ngoài khiến cho mấy tấm tôn rách đè lên người...mặc cho số phận đến đâu thì đến các cụ mày ngủ đã!!!

Sáng ra mưa cũng đã ngớt, nhìn ra chẳng còn thấy hầm đâu nữa mà chỗ đó là bộ khung hầm kèo bị đội lên mặt đất vì một quả đạn khoan nổ ngay cạnh.

Số chúng tôi may thế, nếu không chui ra khỏi khi bị ngập nước thì với sức ép của quả đạn khoan thì chúng tôi sẽ chết vì sức ép, thân thể sẽ bị bầm dập không thể nhận dạng ra được.

Anh Tạo và mấy người ở các hầm xung quanh chạy sang và đều mừng cho chúng tôi thoát nạn.

Ông Nghĩ c trưởng cho b1 của tôi rời hầm vào khu vực giữa xóm nơi địa thế cao để phòng nước lên.

Chúng tôi lùi sâu vào trong xóm cách nơi cũ khoảng trăm mét.

Trên nền một ngôi nhà đã sập một bên mái, phần còn lại ngói lợp còn khá nguyên vẹn, trong góc nhà kề với nhà bếp là một căn hầm khá rộng rãi được làm bằng những tấm vòm cống bắng tôn dầy, một cửa ở trong nhà, còn cửa kia thông ra sân.

Hầm này chắc của gia chủ làm để tránh bom đạn nên làm khá cẩn thận: nền hầm được láng xi-măng có lát gỗ dán dầy để 5,6 người cùng ngủ, thậm chí 2 đầu hầm có 2 dầm ngang để có thể mắc được 3 cái võng.

Vòm tôn cao tới 1,2 mét nên rất thoải mái, 2 ngách cửa vào được chống bằng những dầm gỗ lớn và những cọc dây thép gai.

Mặc dù hầm gần như chìm và được đắp tới mét đất, nhưng chúng tôi vẫn gia cố thêm đất và bao cát.

Chúng tôi phát hiện những nhà bên có rất nhiều những bao cát, có bao đựng toàn hột củ ném (một loại củ họ nhà hành kiệu có mùi rất hăng), có bao đựng toàn bông gòn hoặc lá thuốc rê.

Chất những bao này lên xung quanh cửa lên xuống cũng tiện vì nhẹ dễ mang vác.

Nhưng trong số những bao đó người ta đựng ớt bột mà chúng tôi không biết, hôm sau một quả pháo nổ ngay trong vườn, mảnh pháo xé toang mấy bao cát chất ở cửa hầm, pháo thì không chết mà chúng tôi muốn chết vì bị sặc ớt bột cùng bông gòn.

Về sống trong căn hầm mới thoải mái hơn nhưng lại xa các hầm khác trong B và nhất là hầm của Chiến, nhưng được cái ở đây cũng có giếng nước ngay trong sân, xung quanh rau cỏ cũng có sẵn.

Tôi lần mò những ngôi nhà xung quanh nhặt nhạnh những thứ cần thiết như bút bi, bút chì, giấy vở, thậm chí có cả những quyển sổ tay rất đẹp chưa có chữ nào.

Một lần đi bắn được con gà nhưng phải vứt đi vì đạn AK làm con gà vỡ nát, giá như có khẩu AR15 để đi săn thì tốt biết bao, đạn cực nhanh không phá như đạn AK nhưng bù lại thu hoạch cũng khá khi trong một chái bếp của một ngôi nhà trong làng Phương Ngạn (theo giấy tờ nhặt được trong nhà) cách Đầu Kênh một cánh đồng tôi phát hiện một bao cát được lấp vội, lôi ra thì 1 đống đến gần chục hộp đồ Quân tiếp vụ (hàng hậu cần của địch) như dầu đậu nành, thịt pha gan, thịt băm, cá hộp...kèm theo mấy cái khui đồ hộp (Phồm và mấy cậu lính cũ đều có những cái này).

Nhìn thấy một dây xanh-tuya-rông nằm trong đống đất cát trộn vôi vữa, khi lôi lên tôi sung sướng khi nhìn thấy cả 1 bộ đồ trận của ngụy hầu như đầy đủ phủ đầy bụi đất: dao lê cực nhanh, bình tông bằng i-nox còn nguyên cả ca và vỏ bao bằng nỉ, mấy vỏ bao đựng băng đạn cực nhanh.

Đặc biệt khóa cài không phải bằng đồng mà bằng hợp kim nhôm sơn đen có dòng chữ DAVIS.

Lần trước khi đưa cơm vào chốt, mấy người lính cũ thấy xanh- tuya-rông của tôi mang từ Bắc vào vặn xoắn khi đeo nặng đã khuyên tôi thay bằng đồ của ngụy vì rất tốt tuy có nặng.

Phồm cũng có 1 bộ như vậy, nhất là ông Nghĩ còn có cả một túi đựng mìn Claymore đeo trên người.

Rửa sạch sẽ bộ xanh-tuya-rông, tôi thay những đồ của mình sang, tần ngần lựa chọn giữa 2 bình tông và quyết định lấy vỏ bình tông ngụy để đựng bình tông của ta vì nó gắn bó với tôi suốt chặng đường từ Bắc vào, tôi tiếc rẻ cái bình tông i-nox nên giữ lại trong ba-lô.

Phải thừa nhận con dao lê AR15 rất sắc, gọn và tiện dụng hơn lê AK rất nhiều.

Khi tháo bình tông ra để rửa thì có một cái thìa i-nox US có lỗ ở tay cầm cài sẵn trong vỏ bình tông.

Chiếc thìa US này đã theo tôi suốt bao nhiêu năm kể cả khi bị thương trên đường ra viện chỉ có duy nhất một bộ quần áo đẫm máu trên người nhưng túi quần sau có gài cái thìa, rồi những năm 80 nó cũng theo tôi sang Kampuchia làm chuyên gia giáo dục và bây giờ vợ tôi để nó trong tủ đựng bát đĩa, mỗi khi mở tủ ra nhìn thấy người bạn bằng i-nox này lòng lại chộn rộn lên những chuyện cũ không thể nào quên.

Sau hơn chục ngày ở hậu cứ kể từ khi vượt sông về đơn vị, một buổi chiều mưa tầm tã chúng tôi được lệnh ra bến sông để lấy đạn, nhưng lần này lại lấy toàn lựu đạn, những bánh thuốc nổ TNT, dây cháy chậm, ngòi nổ và nụ xòe cùng một số lượng đạn B40, B41.

Sáng hôm sau anh Tạo và Phồm hướng dẫn cách kết nối những bánh TNT loại 200g và 400g thành những quả thủ pháo.

Lệnh từ c bộ truyền xuống đêm nay sẽ đi tập kích địch tại khu vực An Tiêm, Chợ Sãi sau đó sẽ chốt lại.

Ba anh em trong hầm hối hả chuẩn bị cho lần vào trận này.

Bắc được ở lại trông hậu cứ, tiểu đội chỉ còn 4 người nhưng trang bị khá mạnh Lào giữ B40, Bình là khẩu trung liên RPK còn tôi và Phồm mang AK.

Theo lời khuyên của mấy người lính đơn vị bạn tôi gặp trong chốt khi đưa cơm, lần này vào chốt ngoài 2 băng đạn buộc chéo nhau lắp sẵn ở súng tôi còn mang trên người yếm đựng đạn AK trước ngực.

Tuy có nặng và nóng nhưng được cái dễ cơ động nhất là nó bảo vệ ngực cho mình khi bị đạn găm vào phía trước.

Trước khi vào trận tôi tranh thủ tắm rửa thay bộ quần áo đang mặc trên người bằng bộ đã giặt sạch để trong ba-lô để khi có làm sao sẽ được mặc bộ quần áo sạch sẽ trên người.

Đấy là một ý nghĩ lãng mạn lúc đó mà thôi vì chỉ trên đường vào chốt thôi thì người ngợm đã như trâu lầm toàn bùn đất.

Thấy Phồm chỉ có 2 băng đạn buộc chéo lắp vào súng như thế chỉ có 60 viên tôi hỏi: "Có 2 băng thôi à, nhỡ hết đạn thì lấy ở đâu".

Nó lầm bầm: "Bắn làm sao hết được, ở đây chỉ dùng B40, B41 và lựu đạn thôi, mà đạn AK có đầy trong các hầm chốt".

Nghe Phồm nói cũng phải vì quan sát trận địa những đêm đi đưa cơm thì thấy ta và địch toàn bám vào các vật cản là những nhà đổ...Anh Tạo mang sang 1 bao cát toàn lựu đạn Mỹ chia cho mấy anh em.

Cầm quả US trên tay, da láng bóng mầu xám tròn thu lu như quả ổi, mỏ vịt của nó cứng cáp và khoằm nên cài vào xanh-tuya-rông rất chắc chắn.

Tôi lấy 5 quả mỏ vịt US và 4 quả lựu đạn tấn công của ta, trong ruột tượng đeo qua lưng cũng có 5 trái thủ pháo.

Tôi cắt một đoạn dây võng làm lại quai cho cái bòng bằng túi bao cát để đeo trên lưng, trong đó có võng, vài bánh lương khô, cuốn nhật ký ghi chép suốt từ khi nhập ngũ đến giờ, cuốn sổ học tập của sinh viên mang đi từ trường để làm kỷ niệm.

Cơm đã nấu xong, mỗi thằng mang theo 2 nắm đeo bên hông.

Lĩnh thêm bông băng cá nhân để mang theo.

Đeo tất cả vào người nhảy thử vài cái, lại chỉnh, lại buộc cho đến khi mọi thứ không còn phát ra tiếng kêu lạch cạch nữa.

Theo anh em cũ thì nên đội mũ cối vì sẽ đỡ được vôi gạch nện vào đầu khi pháo nổ gần.

Cái mũ giải phóng tôi nhét luôn vào bòng nhỡ khi mất mũ cối còn có cái mà thay thế.

Đúng là tâm trạng vào trận đầu của lính mới: mang cái này đi, bỏ cái kia lại, không mang thì tiếc, mang lại nặng.

Trong khi anh em cũ lại đơn giản ngoài vũ khí, trang bị chiến đấu, cơm nắm, lương khô, võng, vải mưa và chỉ thêm có điếu cày và thuốc lào.

Thấy tôi có tới 5 băng AK (150 viên bao gồm 2 băng buộc chéo nhau lắp vào súng, 3 băng dự trữ ở yếm), Phồm bảo tôi bỏ bớt lại 1 băng ở yếm để mang theo điếu cày.

Chiếc điếu cày được làm từ ống hỏa châu bằng nhôm, nõ điếu được khoét từ một tay tre, khi hút thì sìn sịt nhưng còn hơn là không có điếu để hút.

Một số người tạo điếu từ hộp nhựa đựng thuốc sốt rét, cắm nõ ở trên nắp, lắp 1 vòi truyền huyết thanh để làm cần để hút.

Loại này gọn nên có thể nhét được vào túi ngực.

Phồm lưu ý chúng tôi khi dùng lựu đạn và thủ pháo của ta rất dễ bị lộ vì khi giật nụ xòe sẽ phát tiếng khá to cộng thêm tia lửa phụt ra của nụ xòe.

Trời vẫn mưa, chúng tôi tranh thủ ngủ để nửa đêm sẽ vào trận, anh Tạo sang ngủ bên hầm chúng tôi.

Anh liên tục rít thuốc lào, khiến tôi cũng trằn trọc không ngủ được.

Quê anh ở Phúc Yên, anh có một con trai chưa đầy năm.

Chắc lúc này anh đang nhớ tới gia đình, vợ con.

Những người có gia đình thường thường hay nặng lòng khi phải xa nhà để đi vào nơi trận mạc như thế này.

Chợt anh quay sang tôi nói:"Giờ này vợ con mình ở nhà chắc nghĩ rằng mình sướng lắm đấy nhỉ...!!!".

Tôi đang lơ mơ lầu bầu trả lời: "Ông chỉ vớ vẩn, sướng cái nỗi gì...ông ngủ đi để cho chúng tôi ngủ với...".

Anh Tạo nằm xuống giọng nói như nghẹn đi: "Những thằng chưa vợ như chúng mày là sướng nhất, không phải lo lắng gì...".

Trong giấc ngủ chập chờn đầy âu lo, trước khi vào trận đánh ai mà chẳng nghĩ, nghĩ về gia đình, về Mẹ, về những gì đang chờ đợi...còn cái chết ư tôi đã xác định ngay từ đêm vượt sông khi bị pháo địch chụp trên đầu và Chiến, Sơn đã lôi tôi lên bờ.

Nửa đêm cả đại đội tập trung ở sân c bộ dưới trời mưa to, mang tiếng đại đội nhưng chỉ là 2 trung đội với khoảng mười lăm tay súng.

Ông Nghĩ dẫn quân đi, ông Trọng và Trình ba toác ở nhà, cả Bắc điếc nữa.

Bắc đơn vị không cho đi vì nó không nghe được tiếng pháo rít trên đầu, nhiều lần đi với nó tôi phải kéo nó nằm xuống để tránh những quả pháo nổ gần.

Chính vì không nghe được mà nó đã hy sinh khi dính một mảnh pháo vào gáy lúc về gần đến hầm, trong một đêm đi tải gạo và đạn sau đó hơn 1 tháng.

Trinh sát dẫn chúng tôi ra đến lộ 4, vượt qua đống đổ nát của dẫy nhà ven đường nơi mấy cái xe thiết giáp bị cháy nhưng lần này không rẽ phải như những lần vào chốt đưa cơm mà chúng tôi cứ men theo lộ mà đi.

Nước mưa táp vào mặt làm nhòe nhoẹt mắt kính nhưng vẫn bám được đội hình nhờ ánh sáng của hỏa châu địch, qua một khoảng ruộng lầy thụt đến một rặng tre tan hoang, cậu trinh sát ra hiệu chúng tôi dừng lại rồi biến về phía trước.

4 chúng tôi cụm lại sau một gò mộ ngổn ngang những bia mộ xen lẫn các hố pháo, hố bom.

Chỗ chúng tôi liên tục bị những quả cối cá nhân nã vào, nhìn những quả đạn đỏ lừ lướt qua đầu nổ phía sau, quả thì nổ phía trước, phía bên cạnh.

Tôi lăn ngay vào một hố pháo gần đấy, hố sâu khoảng 50cm lại ngập nước, mỗi khi úp mặt để tránh thì coi như phải nín thở để khỏi sặc nước.

Chợt phát hiện bóng mấy người lố nhố ở đoạn hào gần đấy, tôi lao ngay xuống, Phồm, Bình và Lào đều ở đó.

Đây là khu vực chốt của c6 thuộc d2, họ có các đường hào dẫn tới các hầm chốt khá hoàn chỉnh.

Trong một ngách hào tôi thấy mấy bóng người nằm chồng chất lên nhau - đó là những anh em hy sinh đang chờ vận tải chuyển ra ngoài.

Ngồi bệt dưới hào, bùn nước ngang bụng mấy anh em tranh thủ chợp mắt một lúc trong lúc chờ trinh sát dẫn đi tiếp.

Một khoảng thời gian khá lâu chúng tôi bị dựng dậy để đi tiếp.

Qua dãy chốt của c6 chúng tôi lom khom tiến về phía trước giữa các đống nhà đổ nát, chợt một loạt tiếng nổ liên tục, rất đanh rất gần chỗ chúng tôi, chùm đạn đỏ lừ sát trên đầu chúng tôi lao vào khu vực chốt của c6.

Có một ổ đại liên của địch rất gần đây trong một căn nhà đổ nào đó.

Một đường hào cạn (có thể là đường tăng) cắt ngang thấp hẳn xuống so với xung quanh tới gần 1 mét rộng đến gần năm chục mét chi chít hố pháo.

Chúng tôi qua khỏi con hào đó tới một khu vực xung quanh rất nhiều dẫy nhà dài đổ nát, cả đại đội nép dưới chân những đống gạch vụn khi được biết đã đến nơi.

Hình như chúng tôi vào quá sâu thì phải vì căn cứ những luồng đạn đại liên cũng như tiếng nổ của M79 ở phía sau lưng chúng tôi.

Anh Tạo đi hội ý với đại đội bò về chỗ chúng tôi: "Các tiểu đội tản ra, tranh thủ đào công sự , trời sáng đến nơi rồi.

Cố gắng trụ lại chờ lệnh mới.

Làm một hơi thuốc rồi đi".

Tôi rút cái điếu cài ở yếm đạn đưa cho anh, mấy anh em chụm đầu trong một cái hố để hút thuốc, rất cẩn thận còn phải lấy vải mưa chùm lên cho khỏi phát sáng ra ngoài.

Theo Phồm bò ra cách đấy chưa đầy hai chục mét thì một chớp đỏ kèm theo tiếng oànhcủa M79.

Một bóng người đang dẫy dụa xung quanh là khói đạn khét lẹt.

Tôi và Phồm lao về phía đó.

Trời !

Anh Tạo từ cổ đến ngực bị nát bét đầm đìa máu.

Thường giữ chặt người anh, tay bịt lấy miệng không cho tiếng rên la phát ra vì địch đang ở rất gần ngay tại bên kia ngôi nhà đổ.

Bàng hoàng nhìn anh ưỡn người và đuối dần, chúng tôi vuốt mắt cho anh, đặt anh dựa vào đống gạch vụn và lấy vải mưa phủ cho anh.

"Anh Tạo ơi !

Em vẫn nhớ tới câu nói của anh đêm hôm trước khi anh không ngủ được nhớ tới gia đình.

Phải chăng đó là một điềm báo trước...".

Trời đã tạnh, chỗ chúng tôi nằm cạnh một vườn chuối xơ xác đổ ngổn ngang.

Đào vội mấy cái hố cá nhân dưới chân đống đổ nát của ngôi nhà.

Được cái đất ở đây mềm do mấy hôm mưa nên đào cũng dễ, tranh thủ lôi mấy cây chuối phủ lên làm nóc hầm.

Mỗi hố cá nhân cách nhau khoảng 5,7 mét để hỗ trợ lẫn nhau.

Trời sáng dần, tôi quan sát xung quanh nhận thấy chúng tôi đang nằm tại một khu trường học khá lớn bởi rất nhiều bàn ghế học sinh, bảng đen lẫn trong đống gạch vụn.

Ngay sau lưng chúng tôi, nơi anh Tạo nằm là một dãy lớp học.

Trước mặt, không xa lắm khoảng năm chục mét là một con sông nhỏ - sau này mới biết đây là sông Vĩnh Định chảy ra Thạch Hãn tại Chợ Sãi.

Vườn chuối khá rộng chạy từ dãy lớp học cho tới sát bờ sông.

Chếch về phía phải quãng độ 200 mét có một cây cầu sắt còn sót lại vài thanh dầm và lan can, có một nền đường khá cao chạy qua cầu dẫn tới một khu vực rất nhiều nhà cửa cây cối đổ nát.

Sau này tôi mới biết đây chính là cầu Sãi bắc qua sông Vĩnh Định trên trục đường 4 chạy từ QL1 chỗ cầu Ga bắc qua sông Thạch Hãn, qua Thị xã Quảng Trị để ra Cửa Việt.

Con đường này chạy qua thôn Đầu Kênh như tôi đã nói ở đoạn trên.

Hai đầu cầu sắt lố nhố những bóng áo rằn ri của địch.

Mấy khối nhà đổ xung quanh vọng ra tiếng gọi nhau thậm chí có cả tiếng còi thổi toét...toét.

Xung quanh toàn là địch và hình như chúng chưa phát hiện ra chúng tôi.

Có tiếng gầm rú của xe tăng địch từ phía cầu vọng lại - chính vì thế càng khẳng địch đoạn hào cạn mà đêm qua chúng tôi vượt qua chính là đường cơ động của xe tăng địch.

Có thể ở đây nằm sâu trong khu vực của địch nên hầu như không bị một quả pháo nào có chăng chỉ bị pháo của ta mà thôi, mà pháo của ta đâu có nhiều đạn để bắn.

Bỗng dưng hàng loạt cối M79 dồn dập nã vào đầu dãy lớp học, bị lộ rồi, tiếng đạn nổ chát chúa cùng mùi khói đạn khét lẹt.

Từ sau những khối nhà đổ phía đường tăng khoảng hơn hai chục tên lính lom khom xông vào hướng của b2 cách chỗ chúng tôi khoảng 4,5 chục mét.

Hai quả B40 nổ trúng đám lính, số còn lại tản ra có mấy thằng hướng về phía tiểu đội tôi.

Tim đập thình thịch, bụng thắt lại, hai tay run run vì lần đầu tiên trực diện nhìn thấy lính địch, tôi lẩy bẩy đưa khẩu AK hướng về phía thằng gần nhất, nòng súng cứ rung lên bần bật không thể nào ổn định được đầu ngắm.

Nhìn sang bên chỗ Phồm, nó lom khom trong hố mồm cắn chặt quai mũ tai bèo, hai tay hai quả lựu đạn, trước mặt để mấy quả thủ pháo và lựu đạn.

Dáng vẻ lì lợm của nó làm cho tôi yên tâm phần nào, nó nhìn sang tôi gật gật đầu như để động viên.

Bắt chước nó, tôi lôi mấy quả lựu đạn đặt trước mặt.

Khoảng cách với địch ngắn dần, thằng đi đầu cách tôi khoảng hai chục mét, nó quỳ xuống giương một khẩu súng nòng to ngắn về hướng dãy lớp học, một tiếng cạch đanh gọn rồi một chớp lửa đỏ cùng tiếng oành dội phía phải chúng tôi.

Đây là thằng xạ thủ M79 đây, nghĩ đến đây tôi rút chốt quả US và tung về phía trước, liên tiếp tôi tung thêm 2 quả lựu đạn tấn công nữa, liền sau đó chỗ Lào bùng lên một chớp lửa đỏ của B40, quả đạn nổ tung vào giữa đám lính địch đang xông lên phía b2.

Hàng loạt cối cá nhân nã liên tục vào chỗ chúng tôi, tôi chúi đầu trong công sự để tránh.

Bỗng có tiếng thình thịch kèm theo tiếng còi toét...toét, tôi bật dậy, ngay trước mặt tôi chưa đầy chục mét một bóng áo rằn ri đang lao đến tay cầm khẩu cực nhanh, nó há hốc mồm có lẽ không ngờ thấy đối phương từ dưới đất bật lên, tôi găm một loạt đạn vào tên lính cũng chẳng kịp bắn điểm xạ như đã được huấn luyện, đồng thời lăn ra khỏi hố lao sang một hố pháo ngập nước gần đấy.

Liên tiếp quét thêm vài loạt vào tụi lính khiến chúng phải lùi ra xa sau những dẫy nhà đổ.

Không ngờ Lào đang nằm trong hố pháo với vết thương ở cổ máu chảy ướt sũng cả vạt áo, nước trong hố cũng chuyển sang mầu hồng vì máu của Lào.

Tôi băng cho nó nhưng không làm sao cầm được máu, mấy cuộn băng thẫm đẫm máu, cũng chẳng nhớ là chặn động mạch ở đâu nữa.

Phồm cởi luôn áo của Lào quấn lấy chỗ bị thương ở cổ rồi lấy 1 cuộn băng buộc lại.

Chúng tôi kéo Lào về hầm, nó phều phào không ra tiếng ra hiệu cho uống nước.

Bình tông của tôi bị một mảnh đạn từ lúc nào chảy gần hết nước, còn bao nhiêu tôi cho Lào uống từng tí một, nó mất máu nhiều quá, cho uống nhiều lúc này sẽ chết mất...

Chúng tôi giờ chỉ còn 3 thằng, phía lớp học không biết còn ai không.

Định vứt nắp cơm đã nhão nhoét vì ngấm nước, nhưng Phồm ngăn lại và lấy dao gọt bỏ lớp vỏ ngoài.

Không ngờ miếng cơm lại ngon thế, vị ngòn ngọt của nắm cơm làm cho tôi tỉnh hẳn.

Lúc này Bình đang cảnh giới, tôi bò lại chỗ nó đưa nắm cơm nhưng nó đang gặm lương khô, nó vừa nhai giọng nghẹn lại: "Thằng Lào liệu có sao không anh, nó cùng quê với em...".

Nằm trong hố pháo ngập nước nơi Lào bị thương, vẫn còn mầu hồng hồng của máu, bên dưới là lớp nước bùn, trời nắng to, hơi nước bốc lên hầm hập, khát nước quá mà bình tông lại thủng, tôi đành lấy cái ca bình tông gạn lấy lớp nước ở trên để uống.

Mùi bùn lẫn máu tanh tanh, khăn khẳn như muốn lộn mửa, nhưng chỉ còn cách nhấp thật nhanh để cho đỡ cơn khát.

Khẩu B40 của Lào còn 4 quả, tôi còn mấy quả lựu đạn và thủ pháo, đạn AK còn nhiều.

Phồm ra hiệu cho chúng tôi lui về phía vườn chuối, ở đây có mấy đoạn rãnh và nhiều hố pháo có thể làm công sự nhưng phía bờ sông lại quá trống trải.

Từ bên kia sông vọng sang tiếng ì ầm của xe địch, thấp thoáng giữa những khu nhà đổ nát là bóng lính địch - sau này mới biết đấy là làng Cổ Thành nằm sát Thị xã.

Có một điều lạ cho đến bây giờ tôi chưa hiểu thực sự trận đánh hôm ấy.

Được phổ biến là đi tập kích vì mang rất nhiều lựu đạn và thủ pháo để đánh hầm.

Không biết có phải lạc đường hay không mà khi trinh sát đưa chúng tôi vào cũng chẳng cho biết đâu là hầm của địch để mà đánh rồi họ rút về, lúc đó đã gần sáng rồi chỉ còn cách trụ lại cho đến đêm.

Mà cũng lạ xung quanh toàn là địch nhưng khi buổi sáng chúng tôi chạm súng với những tốp lính đang chốt giữ các mục tiêu mà thôi.

Thực sự ác liệt phải đến buổi chiều hôm đó khi địch từ bên kia sông tràn sang tăng cường cho tụi bên này để đánh bật chúng tôi ra.

Từ quá trưa chúng tôi thấy nhiều xe GMC đổ quân, lại còn nghe thấy tiếng eo éo của con gái, rồi có cả xe sơn chữ thập đỏ ở tấm bạt bên hông xe.

Phía cầu, tiếng xe tăng địch gầm rú lúc to lúc nhỏ mà không phát hiện chúng ở đâu.

Nhìn thấy quân địch lố nhố bên kia sông cộng với tiếng gầm rú của các loại xe cộ của chúng lại khiến bụng tôi thót lại tạo thành cảm giác mót tiểu liên tục.

Có lẽ cổ nhân dậy cũng đúng sợ vãi cả ...

Phía đầu cầu bên này tôi thấy địch đang tập trung quân quãng chừng mấy chục tên, nhưng hình như hướng tiến công của chúng không phải ở đây mà dọc theo con lộ thì phải.

Chắc chắn ở hướng đó là quân ta căn cứ vào tiếng nổ đặc trưng của AK và B40, B41.

Từ đây ra đến chỗ quân ta cũng phải đến 3-400 mét.

Một loạt cối cá nhân nổ ngay gần chỗ tôi, tôi cảm giác mặt mũi rát ràn rạt, răng lợi tê như bị ai gõ vào.

Một cảm giác lạo xạo, mặn mặn trong mồm nhổ ra thấy máu và nửa cái răng cùng một vật xam xám như hạt ngô - thì ra đó là 1 mảnh cối làm bay nửa cái răng hàm trên của tôi.

Một mảnh nữa làm xước cánh mũi trái, may mà không bay mất mũi.

Lại một đợt tấn công nữa từ phía đường tăng, sau tiếng còi của tên chỉ huy tụi lính ào lên nhưng chúng bị khựng lại vì hỏa lực của ta từ phía lớp học quét sang.

Một mũi chừng chục tên tạt sang phía chúng tôi, thằng đầu tiên cao to chạy rất nhanh về phía tôi, nó lăm lăm 1 quả US, chỉ kịp hướng mũi súng về nó tôi kéo một loạt đạn, tiếng nó hự rất to và đổ vật xuống ngay cách mép công sự của tôi quãng 5,7 mét.

Quả lựu đạn của nó văng ra gần chỗ tôi, tôi chỉ kịp tụt xuống hố thì phát nổ.

Bùn đất văng tung tóe, tôi tung hú họa liên tiếp 2 quả thủ pháo về phía trước, lớp khói tan, trước mặt trận địa của chúng tôi địch để lại mấy xác chết.

Cái thằng gần tôi chưa chết hẳn nó rên la: "Long...Long ơi...cứu tao với...Đ.má...tao chết mất...Long...".

Địch đã lui về chỗ cũ, thay vào đó chúng liên tục dùng M79 nã vào trận địa của chúng tôi.

Một khẩu 12 ly 8 từ phía cầu bắn như vãi đạn, nhưng luồng đạn khá cao có lẽ chúng chưa xác định chính xác được mục tiêu.

Bất chợt trời đang nắng như thế thì mưa sập xuống, mưa như đổ nước, các hầm hố đầy ắp nước, những giọt nước mưa ngọt mát từ vành mũ chảy xuống bàn tay chụm lại xua tan cơn khát.

Nhưng mưa như thế này làm cho mắt kính nhòe nhoẹt bắn chác làm sao đây.

Tôi lui lại hầm nơi Lào nằm, Phồm cũng đang ở đây, nước trong hầm xâm xấp bụng, nước mưa vẫn tuôn qua nóc hầm làm bằng những thân cây chuối.

Lào vẫn còn thở nhưng rất khó khăn, chiếc áo quấn quanh cổ đẫm máu nhưng cũng đã đông lại.

Chúng tôi lấy vải mưa phủ lên cho nó khỏi bị nhiễm nước mưa.

Cũng chỉ còn cách như vậy để chờ đến đêm tìm cách đưa ra.

Có tiếng hú...hú... rất lạ và bên kia sông những quầng lửa kèm theo một loạt tiếng nổ liên tiếp, lính địch hoảng loạn chạy tung tóe, thì ra là DKB của ta kích vào đó nhưng cũng không nhiều lại bắn sâu vào phía trong.

Loạt DKB đó mà lui ra phía bờ sông thì sẽ hiệu quả hơn.

Mưa lại tạnh, bên kia sông thấy địch tập trung đông, rồi thấy mấy cái bóng con gái trong màu áo blu trắng đang léo xéo chạy ra chạy vào sau mấy căn nhà đổ sập.

Một ý nghĩ thoáng qua, tôi rê mũi AK về phía đó để nấc bắn phát một.

Một thằng lính trong bộ rằn ri chui ra cùng một đứa con gái.

Nó cầm một khẩu M79 chĩa sang bên chúng tôi tay kia chỉ chỏ, con bé ưỡn ẹo tay cầm khẩu súng của thằng lính đưa cho, thằng lính đứng sau lưng ôm lấy hông con bé, một tiếng cạch đồng thời tiếng quả đạn nổ ở phía vườn chuối bên này.

Không thể chấp nhận chuyện như thế, tôi chỉnh lại thước ngắm và xiết cò.

Chỉ một phát thôi, con bé bật ngửa ra phía sau, vạt áo blu trắng ở hông nó loang máu, thằng lính ngồi thụp xuống kéo con bé vào sau ngôi nhà đổ, khoảng cách từ chỗ tôi sang chỗ đó khoảng 150 mét.

Lúc đó sao bình tĩnh thế mà lại không mưa nên nhìn rất tốt.

Sau này nhiều khi nghĩ lại mình có ác quá không, nhưng khi nói chuyện với những anh em ở trong B dài thì trong đó họ ghét nhất pháo Mỹ, nhì pháo đĩ (pháo dàn, pháo bầy của Mỹ thì bắn nhiều với mật độ dầy và đủ loại, còn pháo do mấy con đĩ đú đởn bắn lung tung chẳng theo quy luật nào mà lần) thì nó rất xứng đáng được hưởng phát đạn đó.

Phía bờ sông súng nổ dồn dập, một tốp địch từ dưới sông nhô lên, chúng đã đặt một khẩu trung liên quét về phía chúng tôi.

Đạn M79, đạn trung liên xé nát những thân cây chuối quanh chúng tôi, chúng còn xa quá không thể dùng lựu đạn được, tôi cắm quả đạn vào khẩu B40 của Lào và đưa lên vai, run run hướng về phía bờ sông, địch từ dưới sông ùa lên, phía Bình và Phồm đã nổ súng hất địch trở lại.

Khoảng hai chục tên lính rằn ri nhô lên khỏi bờ sông, chúng có vẻ thiện chiến hơn bọn trước bởi thằng nào cũng khoác áo gi-lê chống đạn trên áo cài toàn lựu đạn, khoảng cách thu hẹp dần, đến tầm của B40 tôi nhổm dậy xiết cò, một tiếng ục làm tai tôi ù đặc, khói lửa đỏ chùm lên, tôi chỉ kịp lao theo sang hố bom bên cạnh thì mấy quả M79 liên tục nổ chát chúa vào chỗ tôi vừa nằm.

Cùng với quả B40 của tôi, bên phía lớp học cũng liên tiếp phóng mấy quả B40 phía đám địch, chúng dạt hết xuống sát sông.

Chợt phía phải chúng tôi địch bắn một loạt đạn cối nhưng tiếng nổ không to và liền sau đó những lớp khói vàng cuồn cuộn bốc lên, theo chiều gió tạt về phía chúng tôi.

Mắt mũi cay xè, cổ họng tắc lại, nước mắt giàn giụa, bụng thót như muốn ói ra...chúng tôi đã dính đạn hóa học của địch.

Trong túi cứu thương có một ống thuốc phòng độc nhưng có kịp lấy ra đâu, tôi úp mặt xuống hố nước cho đỡ cay mắt và lấy khăn mặt cài bên hông nhúng nước hố bom bịt chặt mũi mồm lại, dù sao cũng đỡ hơn chỉ có nước mắt vẫn còn ứa ra cay xè.

Một trận mưa nữa ập đến, chính trận mưa này đã tẩy sạch khu vực nhiễm độc của khói đạn hóa học.

Chúng tôi bỏ mũ, ngửa mặt lên cho nước mưa xối lên mặt, lên mũi, lên mắt cho sạch hết hơi độc bám vào, nước mưa theo miệng qua cổ họng xuống dạ dày là dịu đi cái rát, cái cay của hơi độc nhưng mùi vị hăng nồng của nó cũng không thể xua đi hết được.

Phải mấy tháng sau, cái cảm giác đó mới hết.

Trời tối sầm, những hạt mưa tát vào mặt lạnh lạnh có lẽ vì đói, vì rét, vì liên tục khô lại ướt và nhất là vì sợ khi chung quanh toàn là địch, liệu tối rút ra có được không ?

Phía cầu tiếng rú của xe tăng địch lại rộ lên, những loạt 12 ly 8 bắn rất căng vào khu lớp học của b2, từ các vị trí chốt của địch xung quanh khu trường học chúng liên tục dùng cối cá nhân bắn vào chỗ chúng tôi.

Chính vị trí của tiểu đội tôi gần bờ sông lại ít bị cối nhất.

Giờ xe tăng địch mà xuất hiện thì chỉ còn có 3 quả đạn, có thể đủ cầm cự chờ đến đêm xuống.

Khu vườn chuối chỗ chúng tôi nước ngập xâm xấp, qua màn mưa nặng hạt vuốt không kịp, mắt kính nhòe nhoẹt vì nước mưa cộng với mắt vẫn còn cay xè vì khói độc đã hạn chế tầm nhìn rất nhiều.

Phía sau tôi nghe tiếng ục của B40, quả đạn lướt trên đầu chúng tôi và nổ tung cách chỗ chúng tôi không xa, trong lúc đang lấy nước mưa xoa mắt, xoa mũ, xoa mặt cho hết hơi độc bám vào người thì địch đã từ dưới bờ sông lặng lẽ ùa lên chỗ chúng tôi, b2 phía sau phát hiện ra trước đã nổ súng chặn lại.

Lần này lợi dụng trời mưa địch tấn công từ 2 phía: từ bên kia vượt sông đánh vào chỗ vườn chuối bên cánh trái, phía cầu chúng dùng đại liên yểm trợ cho bọn từ đường tăng đánh trực diện còn bọn ở các chốt trong các khu nhà quanh đấy liên tục dùng M79 bắn vào trận địa của chúng tôi.

Tôi dùng AK lia vào toán địch gần nhất, nhưng chúng chỉ lui lại và tản ra sau mấy bức tường đổ.

Chúng quét cực nhanh liên tiếp về phía chúng tôi, từ phía trái tiếng Phồm hét: "Tường...B40", tôi vơ lấy khẩu B40 đã cắm sẵn quả đạn, chẳng kịp ngắm chỉ kịp chĩa mũi súng về đám lính đang núp sau bức tường đổ và xiết cò.

Quả đạn nổ tung nơi bức tường đổ nhưng vì quá gấp, tầm súng lại hơi thấp nên luồng lửa phụt về phía sau sát miệng hố bom làm cho hơi nóng hắt vào lưng nóng dẫy.

Những thằng lính còn lại chạy dạt ra phía bờ sông.

Địch tiếp tục đổ quân từ dưới sông lên nhưng lần này chúng ở khá xa, không tiến công chúng tôi mà lại đi theo hàng một lầm lũi theo vệt đường tăng tiến về khu vực sau trường học.

Chúng định làm gì ?

Vào thay chốt hay sao mà đứa nào cũng mang ba-lô sau lưng hoặc tăng cường quân để hôm sau tiếp tục phản kích.

Nhưng chắc chắn phía đó là quân ta.

Mưa vẫn tiếp tục, trời cũng đã nhập nhoạng, hỏa châu địch liên tiếp soi sáng cả khu vực.

Bây giờ cảm giác đói mới đến, nhai trệu trạo bánh lương khô mà miệng đắng ngắt vì hơi độc lúc ban chiều.

Người tôi bã ra có lẽ sự căng thẳng của một ngày đã làm cho cơ thể tôi muốn chùng xuống.

Trận đụng độ đầu tiên đến với tôi là như vậy.

Còn đêm nay thế nào và cả ngày mai nữa...

Trời tối hẳn, tôi trườn về phía trước nơi mấy tên địch nằm gần nhất, chính thằng này khi trúng đạn rên la gọi bạn rất to.

Nó nằm ngửa, mũ sắt lật sang bên, áo giáp của nó phanh ra, tôi kéo cái ba-lô ra khỏi người nó, trong ba-lô ngoài bộ quần áo rằn ri hôi rình tôi tìm thấy vài ba thứ lặt vặt như mấy bao thuốc Bastos Quân tiếp vụ, dao cạo râu cụp xòe, mũ nồi, mấy túi cơm sấy, thịt hộp...những thứ mà lính ta đều cần.

Thằng bên cạnh không có ba-lô nhưng túi ngực của nó có một cái bật lửa Zippo và một cuốn sổ tay bìa ni-lon.

Tôi nhét bật lửa và cuốn sổ vào túi áo ngực thì Phồm đi hội ý về cho biết ông Nghĩ c trưởng bị thương ngay từ sáng, một số hy sinh, cả đại đội còn chục tay súng đợi đêm xuống sẽ rút ra.

Ba anh em ngồi dựa vào nhau nhai trệu trạo cơm sấy trộn nước hố bom với thịt hộp vừa kiếm được, hít hà hơi thuốc lá một cách khoan khoái, Lào vẫn còn rên khe khẽ nó chẳng ăn được gì chỉ uống nước.

Phồm phân công tôi khi rút sẽ mang Lào theo.

Phía bên kia sông địch bắn pháo sáng rực trời kèm đủ các loại pháo hiệu xanh đỏ, sao chúng bắn lắm thế.

Sau này tôi mới biết địch ăn mừng vì đã chiếm được Thành Cổ - đấy là đêm 16/9/1972.

Xốc Lào lên lưng, chúng tôi lui lại phía lớp học.

Gặp Chiến, nó không bị sao, mừng quá.

Chỉ huy đại đội và trung đội không còn ai, chỉ còn lại mấy tiểu đội trưởng sẽ chỉ huy anh em tìm đường rút ra.

Liệt sĩ sẽ để lại để dẫn trinh sát vào mang ra.

Tiếng địch nói chuyện với nhau rất gần, chúng tôi sẽ từ khu trường học lách qua những căn nhà đổ rồi xuống đường tăng.

Tôi cõng Lào trên lưng trườn qua gần hết đường tăng thì tốp đi trước dừng lại.

Địch ở bên kia con đường trong các dãy nhà đổ ven đường.

Quyết định phải phá vây mà ra.

Tôi đặt Lào vào một cái hố pháo trên đường tăng, vơ vội ít cỏ rác phủ lên cho nó ghé vào tai nó thì thào: "Nằm yên ở đây, chúng tao phải phá vây rồi sẽ đưa mày ra".

Dường như nó không muốn rời tôi, bàn tay nó bấu vào cánh tay tôi như muốn nói: "Đừng bỏ em lại...".

Cái cảm giác bàn tay nó bấu vào tay tôi cứ tuột dần, tuột dần ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ.

Không mang được nó ra, tôi ân hận lắm nhưng liền sau đó tôi cũng bị thương.

Khu vực nầy là khu vực tranh chấp của hai bên và sau Hiệp định Paris 1973 do địch kiểm soát.

Không hiểu trong số những ngôi mộ chưa biết tên của NTLS xã Triệu Thành có mộ của Lào và của anh Tạo không ?

Lần nào đi Quảng Trị và trở lại nơi anh Tạo và Lào hy sinh giờ là trường tiểu học Triệu Thành, tôi không khỏi nghẹn ngào nhớ tới trận đánh đầu tiên đó với những người đồng đội đã hy sinh mà mình không thể mang họ ra được.

Cầu mong các anh sống khôn chết thiêng, ở nơi xa các anh hãy phù hộ độ trì cho gia đình, người thân có một cuộc sống an lành, phù hộ cho quốc thái dân an và đừng bao giờ để những thảm cảnh do chiến tranh gây ra như thế nữa...

Lên khỏi đường tăng, trong ánh sáng mờ ảo của hỏa châu, tôi phát hiện mấy đốm đỏ của thuốc lá cách không xa liền sau đó một tiếng la: "Ai !

Đ. má...".

Phía trước tôi là Chiến, nó bật dậy phóng luôn một quả B40 vào chỗ đó, luồng lửa quả đạn sẹt ngang qua người tôi làm tôi tối tăm mặt mũi, một chớp đạn nổ cách tôi không xa khiến tôi tê dại hết cả người và sau đấy không biết gì hết.

Tôi mở mắt, định thần một lúc nhớ lại những gì đã xảy ra.

Xung quanh tôi không còn ai cả, đồng đội đâu hết cả rồi, có ai làm sao không, sau khi thằng Chiến bắn quả B40, địch bắn một loạt M79 vào chỗ chúng tôi và tôi hứng trọn một quả.

Tay phải tôi tê cứng, ngón cái đẫm máu, chỗ nào cũng đau và thấy máu.

Chân trái cũng bị nên cử động rất khó khăn.

Hướng nào là hướng ta, hướng nào là hướng địch, tôi cũng không rõ nữa.

Dần dần tôi cũng định được hướng: phía bên trái nơi các loại pháo sáng, pháo hiệu bắn lên rực trời, chính diện là con đường chạy từ cầu xuống và đi chếch về phía phải - nơi đó chắc chắn sẽ có quân ta vì từ sáng địch tập trung đánh nhiều về phía đó, cũng từ phía đó tôi cũng đã nghe thấy tiếng nổ rất đặc trưng của đạn AK.

Tay phải bị thương không thể dùng súng được nữa, tay trái cầm súng, tôi dùng chân phải đẩy toàn thân xoay chếch về bên phải trườn đi.

Cứ thế tôi lết dọc theo đường tăng được một quãng, từ những ụ nhà đổ quanh đấy vọng ra tiếng nói cười của địch chợt làm tôi thót tim lại: địch phát hiện ra thì làm sao đây, toàn thân bị thương, bàn tay phải cầm súng cũng bị thương, cánh tay trái cũng bị nốt.

Địch mà túm được mình thì làm sao đây ?

Lính mới tò te biết gì mà khai !

Đòn thì mình làm sao mà chịu được, khai thì biết khai cái gì !

Chỉ có chọn cái chết khi lọt vào tay chúng mà thôi !

Tôi cắn răng chịu đau dùng tay trái lần tìm lựu đạn, sờ thấy còn 2 quả lựu đạn, tôi lấy ra một quả, quả lựu đạn này chính là quả được trang bị khi ở Bắc Thái.

Bóp chặt mỏ vịt của nó trong tay tôi đưa răng cắn vào vòng chốt an toàn định rút ra rồi lại thôi vì thấy chưa cần thiết.

Tôi cuốn 2 vòng quai khẩu AK vào cánh tay phải, bốn ngón tay còn lành nắm chặt lấy đầu ngắm.

Chọn cho mình được cách giải quyết phù hợp khi tình thế xấu nhất xảy ra, tôi đạp mạnh chân phải đẩy toàn thân tiếp tục lết dọc theo con đường tăng, nhiều lúc các vết thương đau qúa lại thêm sức lực phải dốc ra khiến tôi mệt quá lịm đi.

Hình như đường tăng bắt vào con lộ vì tôi không cảm thấy đất bùn nữa mà lại lổn nhổn đá củ đậu, dưới ánh sáng của hỏa châu tôi phát hiện bên trái không xa quãng ba chục mét những đốm đỏ lập lòe của thuốc lá, mấy thằng lính địch đang túm tụm với nhau sau bức tường đổ của một căn nhà ven đường.

Đợi cho đến khi ánh sáng hỏa châu của địch bớt đi tôi lết tiếp về hướng phải con đường, một hố bom lớn đào giữa đường tôi chúi mình xuống hố bom trườn sang bên kia đường nơi thấp thoáng những cây cối bị bom đạn phạt trụi.

Sang đến bên này đường tôi đến một khu đất nhấp nhô những mô đất to nhỏ xen lẫn những bụi cây xơ xác.

Một tiếng bụp ngay gần đấy ánh sáng quả hỏa châu địch bắn ngay gần chỗ tôi sáng rực như ban ngày, tiếng húng hắng vọng ra đâu đó cách tôi không xa, chết rồi mình nằm sát địch quá.

Bất chợt từ chỗ đó và những vị trí xung quanh đấy địch phóng liên tiếp nhiều quả M79 về phía nơi tôi dự đoán có quân ta, nhìn điểm nổ chỉ cách đó khoảng hơn trăm mét.

Tôi quan sát lại nơi tôi đang nằm giữa những mô đất mà hầm của địch lại xung quanh, chỉ còn cách lách vào giữa chúng mà đi.

Qua khỏi đám gò đất bất chợt tôi nín thở khi ngay trước mắt tôi một cái bóng sừng sững với cái đầu khum khum như đội mũ sắt chập chờn dưới ánh hỏa châu lấp ló sau một bụi cây.

Thế là hết, tôi ghé răng rút mạnh chốt quả lựu đạn và giữ chặt mỏ vịt.

Chỉ cần buông tay là sau 3 giây quả lựu đạn sẽ nổ tung và...Tôi nằm im nín thở nhìn về phía bóng tên địch nhưng mãi không thấy nó cựa quậy, mà cảnh giới kiểu đó thì nghe chừng dễ bị ăn đạn.

Tôi tạt sang phải trườn dần tránh xa chỗ tên lính đứng gác.

Báng súng của tôi chạm vào một vật cứng kêu đánh cộp, tôi thót cả người nhưng bóng tên lính vẫn bất di bất dịch, tôi thở phào vì phát hiện ngay cạnh tôi là một tấm bia mộ khá lớn đổ nghiêng mà báng súng của tôi đã va phải.

Tấm bia người ta đúc bằng bê tông, đầu bia khum khum giống hình mũ sắt.

Chính cái bóng như người đứng lấp ló trong bụi cây cũng là một tấm bia mộ.

Tôi trườn sát dưới chân tấm bia len giữa bụi cây thấp thì phát hiện một mảnh giấy gói lương khô trăng trắng của quân ta bỏ lại.

Giấy bọc lương khô vẫn kêu rọt...rẹt chưa bị ướt sương đêm chứng tỏ quân ta cũng vừa ở đây hoặc còn ở quanh đây.

Ý nghĩ đó làm tôi phấn chấn hẳn lên nhưng vẫn không quên trong tay mình còn quả lựu đạn đã rút chốt.

Lết qua một bãi trống xâm xấp nước, tôi gục mặt vào vũng nước để cho tỉnh táo và tiếp tục lết về phía trước.

Một tiếng gằn giọng ngay trước mặt: "Ai ?".

Nhận ra tiếng Bắc tôi vội trả lời: "Tôi ! c3 Trà Châu đây".

Sức mạnh ở đâu đến với tôi lúc đó, tay phải chống khẩu AK tôi đẩy người lao vào phía trước và lăn xuống một con hào.

Hai người lính giữ chặt tôi vặn hỏi Trà Châu là thế nào.

Thì ra khi chúng tôi vào trận trung đoàn đã đổi phiên hiệu từ Bắc Bình sang Trà Châu, anh em trong chốt vẫn dùng phiên hiệu cũ là Bắc Bình.

Chợt một cậu lật mũ tôi ra và hét: "Thám báo !

Chỉ có thám báo mới đeo kính" và một cậu cứ báng AK thúc vào ngực, vào bụng tôi, một cậu lột hết các thứ trên người tôi ra, thấy tôi bàn tay trái nắm chặt quả lựu đạn, cậu ta nói: "Buông tay ra, cái gì thế ?"

- Lựu đạn đã rút chốt rồi, cẩn thận đấy.

Tôi trả lời.

Anh ta một tay bóp chặt bàn tay trái nắm quả lựu đạn của tôi và tay kia bóp lấy mỏ vịt của quả lựu đạn và hét: "Bỏ tay ra !".

Quả lựu đạn được anh ta ném ra ngoài đã nổ tung.

Một người nữa từ ngách hầm xuất hiện.

Cậu lính đang thúc báng súng vào người tôi nói: "Anh Hồng !

Có một người của c3 nhưng lại đeo kính, tôi nghi là thám báo địch vì anh ta dùng mật danh không đúng".

Người tên là Hồng hỏi tôi: "c trưởng c3 tên là gì ?".

"Tên là Nghĩ !".

Ngay lúc đó một giọng nói ồm ồm quen quen hét lên: "Thám báo hả ?

Khử bỏ mẹ nó đi !".

Tôi gọi: "Anh Nghĩ ơi !

Tường đây...!"

Ông Nghĩ từ một ngách hầm nhô ra: " Tường hả !

Anh em đâu hết cả rồi..."..

- Lúc rút ra đụng địch, tan tác cả, tôi bị thương...họ bảo tôi là thám báo...

- Hồng ơi !

Thằng này là lính của tao, nó bị cận phải đeo kính...

Người lính thúc báng súng vào tôi đưa tôi vào hầm, băng bó các vết thương và đưa cho tôi một nắm cơm với ruốc.

Người tôi đau nhức, bải hoải hết cả người, lúc này mới biết mình còn sống.

Cậu lính cho biết đây là chốt của c6, người tên là Hồng là c trưởng và ông Nghĩ trước khi về c3 của tôi là c phó của c6, ông Nghĩ bị thương gẫy chân từ sáng, bò ra đến đây.

Cậu ta có vẻ ân hận khi thúc báng súng vào người tôi: "Lính địch ra trận cũng có thằng đeo kính, nhưng lính mình đeo kính thì ông là người tôi gặp đầu tiên..."

Đau đớn, mệt mỏi, tôi thiếp đi không biết gì nữa.

Một cảm giác chòng chành như đưa võng làm tôi bừng tỉnh, rồi tôi thấy mình bị giáng xuống đất khiến tôi tỉnh hẳn.

Tôi đang được cáng bằng võng băng qua cánh đồng lầy thụt, có những lúc đạn pháo rít trên đầu khiến 2 người khiêng cáng cùng tôi nằm phục trên lớp bùn, rồi khi cả người và cáng thụt xuống hố bom, rồi lại lóp ngóp kéo nhau lên...

Về đến phẫu của tiểu đoàn khi trời đã rạng sáng, thằng Phùng cho biết tôi là lính c3 đầu tiên được đưa ra.

Không biết số phận của anh em khác ra sao.

Sau khi băng bó lại các vết thương, Phùng pha cho tôi một cốc nước đường, tôi làm một tợp hết nhẵn và đòi uống nữa nhưng Phùng không cho, nó mếu máo: "Cho mày uống nữa để mày chết à !

Mày mất nhiều máu quá...!

Giờ phải chuyển đi phẫu trung đoàn...".

Trạm phẫu của trung đoàn nằm sát sông gần khu vực chúng tôi đến lấy gạo, lấy đạn.

Tại đây thương binh nằm la liệt trong các ngôi nhà đổ quanh đấy, các y tá , bác sĩ tíu tít kiểm tra vết thương và phân loại thương binh.

Ai nhẹ thì điều trị tại chỗ, nặng hơn lại được chuyển đi tiếp.

Người cán bộ quân lực trung đoàn viết Giấy chứng thương và nhét vào túi áo cho tôi, nói nhỏ nhẹ bằng giọng Nghệ - Tĩnh: "Cậu hãy giữ cẩn thận giấy này, nó rất cần cho cậu khi ra tới viện, mong cậu chóng bình phục và trở lại đơn vị".

Đúng là quả đất tròn, đầu năm 1973 anh ta đã ra tận Bắc Giang để đón chúng tôi sau khi anh em thương binh từ các Quân y viện tập trung tại hậu cứ Sư đoàn ở Song Mai (Việt Yên, Hà Bắc) để về đơn vị.

Anh ta tên là Bắc, chữ viết của anh trong tờ Chứng thương đẹp lắm.

Tôi đến giờ vẫn nhớ như in tờ Chứng thương đó, nó là giấy khống chỉ được viết trên một trang giấy kẻ ô li của học trò.

Loại vở này rất phổ biến khi chúng tôi nhặt được để làm giấy viết thư hay sổ sách ghi chép, giấy vở là loại giấy tốt, góc trái của có in hình hoa lá, mỗi trang lại một loại hoa lá khác nhau hoặc các con thú trong các phim hoạt hình rất đẹp.

Tất cả nội dung trong giấy được viết sẵn bằng tay - cũng là nét chữ của anh Bắc: dưới hình của bông hoa được viết làm 2 dòng Trung đoàn 101- Sư đoàn 325.

Chính giữa là hàng chữ Giấy chứng thương.

Rồi đến Họ tên - Ngày sinh - Quê quán - Đơn vị - Ngày nhập ngũ - Ngày bị thương - Nơi bị thương - Tình trạng vết thương - Khi cần báo tin cho ai - Địa chỉ.

Cuối hàng bên phải có ghi Ngày...tháng... năm 1972 - Thủ trưởng đơn vị: Nguyễn Văn Giảng và một con dấu tròn mầu đỏ, hàng chữ chạy ở vành ngoài Q.G.P.N.D.M.N.V.N (Quân Giải phóng nhân dân miền nam Việt Nam), Trung đoàn 101.

Chính giữa con dấu là biểu tượng của QGP với ngôi sao trên nền nửa đỏ nửa xanh.

Anh Bắc điền những thông tin của tôi vào tờ giấy viết sẵn và chỉ 2 cậu y tá đang lúi húi băng bó vết thương cho mấy thương binh ở gần đấy: 2 cậu ấy cũng là sinh viên ở Hà Nội đấy.

Sau khi trở về đơn vị tôi có dịp gặp lại 2 cậu y tá đó, một người tên là Bính nhà ở Lò Đúc còn người kia là Tuấn nhà ở Hai Bà Trưng.

Tuấn giờ là Bác sĩ Trưởng phòng Hành chính tổng hợp Bệnh viện Việt - Nhật, Hà Nội; còn Bính là Thiếu tướng Chính ủy Viện Quân y 175 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Cũng chính anh Bắc đã gặp tôi khi tập trung tại hậu cứ Sư đoàn cho biết anh vừa gửi thư báo công về địa phương thông báo tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3.

Đây là chiếc Huân chương đầu tiên mà tôi có trong trận chiến bảo vệ Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị.

Sau này khi tôi đang ở Quảng Trị, bố tôi đã viết thư vào báo tin ở nhà đã nhận được thư báo công nhưng không nhận được bằng Huân chương cũng như Huân chương !!!

Tình cờ cho tới năm 1999, khi ấy bố tôi đã về hưu và về làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường Cửa Nam (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), trong khi dọn dẹp trụ sở Ủy ban Nhân dân phường để chuẩn bị xây dựng trụ sở mới người ta phát hiện ra Bằng Huân chương Chiến công hạng 3 mang tên tôi do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tôn Đức Thắng ký tháng 12/1975 lẫn trong rất nhiều giấy tờ khác.

Bố tôi có kể lại khi cô văn thư có hỏi bố tôi: "Cụ ở ngõ Tức Mạc có biết ai là Lê Xuân Tường không ?

Cái bằng này không có số nhà...", bố tôi run run cầm cái bằng trong tay: "... của thằng con trai tôi, nó được thông báo từ năm 1973, giờ mới đến được tay tôi...".

Trong một lá thư gửi cho tôi khi vẫn còn ở Quảng Trị, bố tôi có viết: "...được địa phương thông báo con đã lập công và được tặng thưởng huân chương, nhưng đến giờ gia đình chưa nhận được bằng Huân chương của con.

Việc con còn sống đối với gia đình mình là hơn cả những tấm huân chương.

Ở ngõ nhà mình có mấy cậu trang lứa với con đều hy sinh tại Quảng Trị như cậu Nghĩa con cụ Toan ở nhà số 2, cậu Hùng con bà Nghé, cậu Giáp em bác sĩ Hồng cùng ở trong ngõ Bánh mì, cậu Chính nhà số 6 Yết Kiêu.

Việc con chỉ bị thương và lập được công đối với gia đình mình là một sự may mắn và rất hạnh phúc so với rất nhiều gia đình khác...mong con cố gắng hoàn thành nhiệm vụ và được trở về yên lành...".

Hành trình của một tấm Huân chương Chiến công đó đã phải trải qua 27 năm mới trở về với chủ nhân của nó, mặc dù sau này khi tôi ra quân đơn vị trao cho tôi 2 giấy chứng nhận Huân chương nữa nhưng câu chuyện của tấm huân chương đầu tiên cũng là một kỷ niệm đáng nhớ của một thời.

Tôi vẫn tâm niệm rằng tấm Huân chương nào cũng có mặt trái của nó, để có nó bao nhiêu bạn bè đồng đội của tôi đã phải ngã xuống, họ đã giành lấy cái chết để tôi được sống và tôi chỉ là người thay mặt họ nhận những tấm huân chương đó mà thôi.

Mấy năm gần đây có dịp gặp gỡ anh em ở trung đoàn tôi có hỏi thăm về anh Bắc và được tin anh đã hy sinh bên dòng Mê-kông cuối năm 1978 khi trung đoàn tôi từ đất Lào vượt sông Mê-kông tiến đánh quân Khơ-me đỏ ở phía Bắc Kam-pu-chia.

Bảo răng vàng, b trưởng của tôi lúc ở Quảng Trị năm 1974 cũng hy sinh trong đợt vượt sông năm đó.

Anh em vận tải võng chúng tôi cứ dọc theo bờ sông mà đi.

Nhiều đoạn phải lách qua những rặng tre xơ xác.

Hôm nay trời nắng to nhưng nước sông Thạch Hãn đỏ ngầu cuồn cuộn chảy, nước từ thượng nguồn đổ về cuốn theo rất nhiều cây cối và chắc chắn trong lòng nó là không ít thân xác đồng đội tôi...Nhiều đoạn đường bị sạt cuốn theo những bụi tre to khiến anh em tải thương phải đi vòng rất vất vả vì lội ruộng.

Anh em tải thương đưa tôi đến một xóm bên bờ sông, đoạn sông này rất rộng, phía bên kia lại có một nhánh sông đổ vào, sau này mới biết đây là làng Gia Độ, cũng là ngã ba nơi sông Hiếu là đoạn cuối của sông Cam Lộ chảy qua Đông Hà gặp Thạch Hãn ở đây để đổ ra biển tại Cửa Việt.

Đây là trạm phẫu tiền phương của mặt trận cánh Đông, hôm qua B52 đã dội bom vào đây gây tổn thất khá lớn.

Hầm phẫu được đào sâu hơn đầu người trên nóc căng vải nhựa che mưa, chưa kịp làm nóc.

Người bác sĩ nói với tôi: "Phẫu bị bom hôm qua nên thiếu thuốc tê, tôi tiêm cho đồng chí một ống để mổ ngón tay, còn chỗ khác nhẹ hơn đồng chí chịu đau nhé, thuốc tê còn giành cho những người khác...".

- Tôi chịu được, chỉ mong bác sĩ cố giữ ngón cái cho tôi, đừng tháo khớp, tôi mất ngón cái làm sao còn cầm bút đi học được...

- Ông là sinh viên trường nào ?

- Xây dựng.

- Tôi sẽ hết sức cố gắng, chỉ sợ nhiễm trùng khó giữ được lắm.

Mà mất ngón tay thì là sao có thể làm đồ án được...

Mảnh đạn găm vào khớp ngón cái tay phải của tôi, vì muốn giữ ngón cái cho tôi người bác sĩ đã mất khá nhiều thời gian.

Hai mảnh nằm ở bả vai, một mảnh nằm ở cơ đen-ta tay trái, một mảnh ở hông trái, hai mảnh đùi trái, một mảnh đùi phải, một mảnh vào trán, hai mảnh nhỏ xuyên qua mũ cối găm vào da đầu.

Một mảnh sạt qua mũi.

Ngó bộ dạng tôi băng bó kín mít chỉ lộ hai con mắt qua cặp kính cô hộ lý là du kích địa phương bón từng thìa sữa cho tôi nghịch ngợm trêu:"Eng mang kiếng như ri mà nỏ vỡ thì giỏi thiệt hè !".

Cô du kích đưa tôi vào một lán thương binh đào âm dưới lòng đất đưa cho tôi khoác một mảnh dù và mang bộ quần áo đẫm máu tôi đang mặc trên người để đi giặt.

Lán thương binh có khoảng hơn hai chục người với đủ kiểu thương tật.

Hầu hết anh em đều từ cánh Đông chuyển về.

Chúng tôi sẽ nằm tạm ở đây để đến chiều tối chuyển tiếp ra viện tuyến sau.

Trong giấc ngủ mê mệt sau những gì xảy ra, tôi nghe loáng thoáng một giọng lanh chanh quen thuộc ở phía ngoài lán.

Tôi không thể gọi được vì băng kín từ đầu đến mũi, nói cũng khó khăn.

Một khuôn mặt loắt choắt đen nhẻm ló qua lán: "Có Tường đeo kính ở đây không ?".

Đó là thằng Thủy con liên lạc đại đội.

- "Tao đây", tôi phều phào và giơ tay ra hiệu cho Thủy.

Thủy ôm bụng lom khom chui vào lán.

Nó cũng bị thương khi rút ra đụng phải địch.

Tình hình của đơn vị nó cũng không hơn gì tôi, khi về đến phẫu của trung đoàn nó được biết tôi đã ra.

Mừng vì hai thằng cùng đơn vị gặp nhau, sẽ nương tựa lẫn nhau trên đường đi viện.

Chiều tối thương binh rời Gia Độ xuống thuyền để chuyển ra viện ở Vĩnh Linh.

Đoàn chúng tôi đi bằng 3 thuyền máy với khoảng gần 50 thương binh.

Thương binh nặng nằm võng còn ai đi được cố gắng dìu nhau đi.

Tôi và Thủy dìu nhau xuống thuyền, Thủy bị một mảnh thấu bụng phải ra viện tuyến sau mới mổ được nhưng nó vẫn lom khom ôm bụng đi được.

Đoạn sông Thạch Hãn này khá rộng có lẽ gần về biển hơn, loáng loáng sóng hai bên mạn thuyền dưới ánh trăng thượng tuần và mờ ảo của đèn dù.

Thuyền lướt xuôi dòng cũng khá lâu rồi tạt mé trái, chúng tôi dìu nhau lên bờ.

Đoạn sông tiếp theo bị bom từ trường chưa thông thuyền được các đoàn thương binh buộc phải lên bờ để đi bằng đường bộ ra Vĩnh Linh.

Đây thuộc huyện Gio Linh, chúng tôi đi qua những trảng cát xâm xấp nước với một thứ cỏ lác.

Chẳng biết đi được bao xa rồi chúng tôi dừng chân tại mấy căn nhà âm đào sâu dưới đất.

Sáng ra mới biết xung quanh chúng tôi là cánh đồng cát ngập nước, nơi chúng tôi nghỉ là một gò cát cao hơn một chút có nhiều cây bụi mọc.

Các nhà hầm nửa nổi nửa chìm ẩn mình trong đám cây bụi.

Đây chính là một trạm trung chuyển thương binh nên có y tá kiểm tra lại các vết thương, có các cô du kích lo cơm nước.

Nằm nhà hầm nghe gió bên ngoài thổi ù ù, vẳng lại tiếng u...u...i...i của thằng OV10, tiếng bom đạn ở đâu xa vẳng tới chứng tỏ rằng đây đã ở sâu trong hậu phương của mình.

Chúng tôi lại lên đường, trước khi đi mỗi người được phát 2 gói lương khô 701 để ăn dọc đường.

Bữa cơm chiều các cô du kích cho ăn một bữa cơm với canh cá chua ngon quá.

Đã lâu lắm rồi mới lại được ăn một bữa cơm ngon như thế.

Quãng đường đêm nay vất vả quá, rất nhiều đoạn chúng tôi phải lội nước tới bụng, thương binh nặng nằm trên võng xũng nước, thương binh nhẹ hơn ngã xấp ngã ngửa.

Tiếng pháo từ hạm đội 7 rít qua đầu nổ ở sâu phía trong.

Tới những đoạn không bị ngập chúng tôi nằm lăn ra vì đau, vì mệt.

Thằng Thủy bữa chiều cơm ngon miệng ăn nhiều nên dạ dày phình ra cọ xát vào mảnh đạn nên kêu đau oai oái.

Chân tôi lội nước suốt đêm làm cho các vết thương ở chân, ở hông và ở đùi nhiễm trùng sưng tấy phát sốt và cứng hết cả người.

Vẫn phải đi tiếp, cố gắng đến viện chả nhẽ lại nằm lại.

Tôi bám vào Thủy để lết từng bước, mỗi lần mệt quá nó phải đỡ chân tôi để ngồi xuống.

Mấy chục con người lê lết rồi cũng đến được một con lạch nhỏ và ở đấy đã có thuyền đợi chúng tôi.

Ngồi trên thuyền nửa thân dưới cứng đờ không còn cảm giác gì tôi chợt nghĩ các vết thương bị nhiễm trùng có thể bị uốn ván vì lúc lội qua cánh đồng ngập nước cỏ thối, ý nghĩ bị uốn ván chắc chắn sẽ không qua khỏi khiến tôi ứa nước mắt khi nghĩ đến Mẹ: Mẹ ơi!

Con không trở về được với Mẹ rồi... rồi tôi lơ mơ thấy thuyền tới một khúc sông rộng hơn đó là sông Bến Hải.

Thuyền cập bờ, Thủy dìu tôi lên khỏi thuyền vất vả quá vì chân tôi tê cứng hết cả.

Rồi chúng tôi cũng đến nơi, tôi ngồi dựa vào vách một căn nhà hầm, bên trong la liệt thương binh.

Tôi tỉnh dậy vì bên tai tôi có tiếng la lớn: "Đau quá, mẹ ơi !

Con đau quá...Con nhớ mẹ quá...Con muốn về với mẹ để đi học...mẹ ơi...học...học...".

Tiếng kêu đuối dần rồi ngừng bặt.

Đó là người thương binh nằm cạnh tôi, anh là ai, tên là gì, quê ở đâu, đơn vị nào tôi không hề biết, chỉ biết trong giờ phút lâm chung anh chỉ có một ước muốn được trở về gặp lại Mẹ và tiếp tục sự nghiệp của mình.

Ôi những bà mẹ Việt Nam đã mang nặng đẻ đau và dâng hiến những đứa con dứt ruột của mình cho đất nước.

Chẳng có bà mẹ nào lại muốn nghe thấy tiếng con mình gọi trong giờ phút lâm chung đó...

Sáng ra, người ta đã đưa người thương binh mất đêm qua đi rồi.

Mấy người đi cùng anh ta trên đường ra viện cũng chẳng biết gì hơn, may ra chỉ có bên quân y mới biết mà thôi.

Đội điều trị 52 tại xã Vĩnh Thành, Vĩnh Linh nằm ẩn mình trong các khu vườn hồ tiêu của vùng đất đỏ ba-dan.

Quang cảnh viện tan hoang, nhiều nhà hầm cho thương binh bay hết mái vì hôm trước B52 rải thảm vào đây.

Khu vực bếp của Viện bị trúng bom nồi niêu xoong chảo bát đĩa cho thương binh chẳng còn gì cho nên cơm chỉ có thể đổ chung vào các tầu lá chuối ăn cùng ruốc mặn mà thôi.

May mà tôi có cái thìa US cài ở túi sau để dùng, nhiều anh em phải nắm thành nắm nhỏ để ăn.

Sau khi kiểm tra, băng bó lại các vết thương và không có hiện tượng bị uốn ván tôi lại được chuyển đi tiếp về Đội điều trị 48 ở xã Vĩnh Long cách đấy gần 2 chục cây số.

Đoàn chuyển thương đi giữa ban ngày mỗi người cầm một cành cây để che nắng và ngụy trang, băng qua những đồi hồ tiêu xanh mướt, những vườn mít lúc lỉu, nếu như được tạt ngang lúc này thì thế nào cũng phải kiếm quả mít cho đỡ cơn thèm.

Người dân ở đây đã dỡ nhà của mình để làm hầm và cuộc sống thường nhật là ở dưới lòng đất.

Chúng tôi gặp QL1 và cứ men theo đường mà đi, qua những đống gạch vụn của thị trấn Hồ Xá chúng tôi tạt vào một con đường nhỏ bên trái theo một con sông nhỏ tới một xóm nhỏ thuộc xã Vĩnh Long, Đội điều trị 48 nằm tại đây.

Thương binh chia về các nhà hầm của dân, ở đây là nơi dân từ Quảng Trị sơ tán ra, còn phụ nữ, người già và trẻ con ở đây lại ra Nghệ An chỉ có thanh niên và đàn ông bám trụ ở lại phục vụ chiến đấu.

Cái xóm nhỏ này nằm trên một bãi cát với những bụi trúc nhỏ mọc khắp nơi.

Ở đây tôi gặp Tân quẩy ở c1 học lớp 15 Máy, nó cũng ra đây từ hôm trước cùng với Thái Minh Hùng lớp 16 Thủy lợi, Hùng đeo băng kín một bên mắt không rõ có giữ được mắt không.

Ông Lâm 13 Xây dựng cũng đã hy sinh hôm 16/9 rồi.

Tôi lại gặp một cậu mang ba-lô có viết chữ Dương Thanh, c2 d1 e101 trên nắp ba-lô nhưng không phải là Thanh, cậu ta nói cùng ở c2, Dương Thanh hy sinh cùng Cường, Niên đều ở K16, Thắng 15 Kiến trúc...Nhớ lại cái đêm xe chở quân qua Đô Lương và anh em có yêu cầu cho Thanh chạy về nhà ở ngay ven đường để chào mẹ lần cuối...ai có thể nghĩ rằng đó cũng thực sự là lần cuối của Thanh.

Các lán thương binh của Đội điều trị 48 được đào âm dưới những lùm cây thấp trong một xóm nhỏ của xã Vĩnh Long từ đây có thể thấy quốc lộ 1 và thị trấn Hồ Xá hoang tàn cách không đầy 3 km.

Đêm xuống đoàn thương binh chúng tôi được phát mỗi người 2 phong lương khô 701 và tiếp tục lên đường.

Chúng tôi cứ bám theo nền đường xe lửa xuyên Việt hướng ra phía Bắc.

Người ta đã chọn con đường xe lửa đã bị bỏ hoang mấy chục năm nay thành một tuyến giao liên vô cùng quan trọng và lại bất ngờ với địch.

Đoạn từ Vĩnh Linh ra Quảng Bình chạy kẹp giữa đường 1 và đường 15.

Có những lúc chúng tôi đi giữa những chùm pháo sáng rực trời và những chớp lửa của máy bay và cả pháo biển của địch oanh kích vào 2 trục đường 1 và 15.

Đoàn thương binh cứ lầm lũi đi như thế, người bị nhẹ dìu người bị nặng hơn, không ít những thương binh bất động được các cô dân công hỏa tuyến tải bằng võng.

Trời đêm mát mẻ, trăng trung thu vằng vặc cảnh vật thật sự thanh bình nếu như không có những tiếng gầm rú của các loại máy bay và những chớp lửa cách đấy không xa.

Gần sáng chúng tôi tới nơi, đây là một xóm nhỏ nằm kề đường xe lửa.

Chúng tôi được đưa vào một căn nhà tranh núp dưới một rặng tre, chị chủ nhà đưa chúng tôi một manh chiếu trải dưới nền nhà.

Mặc dù mệt đi cả đêm nhưng tôi không thể ngủ ngon được vì chặng đường hơn 20 cây số khiến các vết thương ở đùi đau nhức, lại không thể nằm được các vết thương ở bả vai và bắp tay, duy nhất chỉ còn một cách dựa cột để ngủ gà ngủ gật.

Cạnh tôi thằng Thủy nằm co như một con tôm ngủ ngon lành.

Sáng ra có ai lay tôi: "Răng mà chú ngủ như ri?".

Thì ra chị chủ nhà thấy tôi dựa vào cột nhà gục đầu mà ngủ.

Tôi cho chị biết tôi bị thương không thể nằm được.

Hôm sau chị chủ nhà kiếm được ở đâu 1 cái ghế băng nhờ người cưa bớt chân cho thấp đưa về cho tôi nằm.

Chiếc ghế băng quả là chỗ ngủ tuyệt vời khi 2 bả vai bị thương được chìa ra ngoài mặt ghế nằm lọt vào giữa lưng, khi máy bay hoặc pháo kích xoẹt trên đầu thì chỉ cần nghiêng người là đã tiếp đất một cách an toàn.

Đây là Mỹ Thủy thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình, nằm ngay bên dòng Kiến Giang.

Đầu xóm là vết tích một cây cầu đường sắt bị sập còn trơ lại những trụ và 2 mố cầu được xây bằng đá hộc.

Trạm điều trị của Đội điều trị 43 đóng tại đây.

Chị chủ nhà là bí thư phụ nữ có chồng cũng là bộ đội đi B.

Những ngày ấy ở đây ban ngày rất yên tĩnh nhưng đêm xuống thì pháo sáng rực trời, đủ các loại máy bay Mỹ đang tọa độ trục đường 15 cách đấy không xa, lại cả những tiếng rú rít của pháo từ hạm đội 7 vọt qua đầu chúng tôi tạo ra những quầng lửa ở phía núi.

Có những lúc yên tĩnh giữa các đợt oanh kích của địch, 2 bên bờ lại vọng vang tiếng hò khoan man mác làm chạnh lòng chúng tôi - những thằng lính xa quê.

Gian nhà lá nơi chúng tôi ở chứa khoảng hơn chục thương binh, đủ các đơn vị tham chiến ở Quảng Trị.

Những câu chuyện không đầu, không cuối của đời lính, đủ các thể loại từ chuyện gia đình, chuyện học hành, yêu đương, chuyện chiến đấu được kể ra để giết thời gian.Tuyệt nhiên những chuyện bị thương như thế nào thì có hỏi thì mới nói có lẽ đó là chuyện đương nhiên và rất may mắn được thoát chết.

Đêm xuống tất cả đều phải xuống hầm, hầm không đủ cho từng ấy con người nên những người còn lại phải nằm võng hạ thật thấp hoặc nằm đất phòng khi bom pháo nổ gần còn có cơ may sống sót.

Tôi bị thương chi chít khắp người vì quá tham ăn cả quả cối cá nhân M79 mà không thèm chia cho thằng nào cả.

Khi được khiêng ra viện chẳng có quân trang gì ngoài 1 cái thìa US bằng i-nox (cái thìa này nay tôi vẫn còn giữ).

5 ngày ở đây đã sống mãi trong ký ức của tôi.

Từ Mỹ Thủy chúng tôi được chuyển tiếp tới trạm chuyển thương tại xã Hàm Ninh (huyện Quảng Ninh).

3 ngày nằm tại đây vì mưa lụt làm tắc đường.

Nước từ Trường Sơn đổ về ngập hết cả ruộng đồng, đường xá.

Trạm phải nhờ dân nấu cơm cho thương binh.

Nước ngập mênh mông không đi chợ được nên bà cụ chủ nhà đã cho chúng tôi ăn cơm với nước mắm cốt.

Được hai hôm thì nước mắm cốt cũng hết, chỉ còn bã.

Chúng tôi lấy bã mắm chưng lên để ăn.

Tôi bầy cho thằng Thủy đi kiếm thân cây chuối và hoa chuối để về ăn với mắm chưng (mình thì biết thân chuối và hoa chuối ăn ghém được nhưng loại chuối nào dùng để ăn thì chỉ có tụi ở nông thôn mới biết).

Thằng Thủy cùng 1 cậu ăn nữa ở cùng nhà xăng xái lội nước đi kiếm được 1 cây chuối kèm thêm mấy bắp hoa chuối cùng 1 buồng chuối xanh và thêm một ít cọng rau khoai.

Bữa đó sao mà ngon thế, khi ở Hà Nội thỉnh thoảng mẹ cho ăn một bữa mắm tép hay mắm tôm với rau ghém, còn ở đây bã mắm cá chưng lên cũng ngon tuyệt.

Mấy chục năm đã trôi qua sao mà nhớ đến thế.

Bà mẹ đó ngày ấy chạc tuổi mẹ tôi ở nhà, bà nuôi 3 đứa cháu, 2 người con trai ra trận, 2 cô con dâu đi dân công hỏa tuyến mỗi năm vài ba tháng còn cô con gái là TNXP ở đường dây 559.

Trời đã ngớt mưa, chúng tôi lên xe tiếp tục đi ra phía Bắc.

Đoàn xe lầm lũi, chao đảo qua những đoạn đường dầy đặc hố bom chở thương binh dưới ánh sáng của đèn dù.

Nhiều quãng chúng tôi phải dừng lại tản ra hai bên đường vì phía trước là những quầng lửa của bom đạn địch.

Xe dừng tại một xóm nhỏ, dưới ánh đèn dù chúng tôi thấy hàng chục người dân đang chìa lưng ra đón thương binh khi cửa thùng xe vừa bật mở.

Những tấm lưng còm của các bọ, các mạ của các chị, các em ghé vào để đón thương binh về nhà, hình ảnh đó cho đến nay khi viết lại những dòng này vẫn làm tôi xúc động đến nghẹn lòng.

Đây là thuộc xã Lộc Ninh nằm kề sân bay Đồng Hới.

Hàng đêm nhiều lượt xe chuyển thương binh về và đêm sau lại tiếp tục chuyển ra Bắc, không hiểu trong số thương binh đó có bao nhiêu người quê ở đây được trở về trong vòng tay người thân của mình ?

Mấy chục năm đã qua dự định đi một chuyến tìm lại con đường ngày xưa đã đi, những địa danh và con người đã từng đến, từng quen mà đến giờ vẫn chưa thực hiện được.

Một món nợ lòng quá lớn biết đến bao giờ mới trả được đây.

Tại trạm chuyển thương Cự Nẫm thương binh rất đông vì đây là nơi trung chuyển từ B dài ra, ở Lào sang và từ Quảng Trị.

Thương binh ở hết nhà dân, hàng ngày quân y của trạm đến từng nhà làm thuốc và thay băng, đến trưa cơm được anh chị nuôi đưa đến từng nhà.

Tôi và Thủy cùng mấy anh em khác ở trong một gia đình có tới mấy đứa trẻ nhỏ, đến bữa ăn là chúng mang bát (loại bát men B52 của bộ đội) ra xúc cơm một cách hồn nhiên và mang xuống hầm ăn.

Cơm thương binh cũng chỉ có thịt hộp, cá hộp và ruốc mặn, rau hầu như không có chúng tôi phải hái lá sắn hoặc lá ớt để nấu canh cải thiện thêm.

Tôi và Thủy vớ được 2 cái nong để làm chỗ ngủ đêm, nằm co con tôm thì đủ, duỗi chân thì nửa người ra ngoài.

Trong số thương binh ở cùng nhà với chúng tôi có một người tầm vóc to lớn, hầu như không nói câu nào, anh ta bị sốt rét rung đùng đùng.

Mãi sau mới biết anh ta là người dân tộc Hoa ở Quảng Ninh, tiếng Kinh chưa sõi chính vì thế lúc nào anh ta cũng im lặng không tham gia vào những câu chuyện tào lao của chúng tôi.

Đơn vị anh ta bổ sung cho f324 ở miền Tây Thừa Thiên, vừa vào đến nơi anh ta bị sốt rét ác tính nên được chuyển ra.

Một lần gặp mấy người lính trong một căn nhà ven đường, có một người trắng trẻo, thư sinh trông quen quen hình như đã gặp ở đâu...Hỏi ra anh ta cùng ở Hà Nội và nhà ở phố Thuốc Bắc là bạn của Uyên vợ anh Trung cùng số nhà với tôi, đó là Thế Anh - lính của e48/f320.

Cùng tốp đi với Thế Anh có Thường là lính trinh sát của c20/e24/f304 và Nha là giáo viên cấp 2 nhà ở phố Đội Cấn, lính của e165/f312.

Sau 3 ngày nằm tại trạm Cự Nẫm chúng tôi xuống sà-lan xuôi theo dòng sông Gianh để về trạm Quảng Hải (Quảng Trạch).

Thương binh chật cứng trong khoang sà-lan, trời mưa nặng hạt hắt những giọt nước mưa qua những ô cửa làm dịu bớt không khí ngột ngạt sặc mùi mồ hôi của lính trong khoang tầu.

Có tiếng lao xao ở phía ngoài khoang, dưới ánh sáng của đèn dù, qua những ô cửa sà-lan chúng tôi thấy một đoàn sà-lan đi ngược lại, trên đó lố nhố rất nhiều người.

Khi 2 đoàn tầu tiến gần sát nhau tiếng hỏi thăm nhau ơi ới, đó là đoàn tầu chở quân vào.

Họ sẽ đi đâu sau khi rời trạm Cự Nẫm để vào Quảng Trị, Tây Nguyên, Nam Bộ hay sang Lào?

Nước sông Gianh mùa này từ thượng nguồn đổ về đục ngầu, có những thân cây to của đại ngàn Trường Sơn trôi về.

Đêm xuống, nhìn về phía Tây ánh lên những chớp lửa của bom đạn địch.

Từ Quảng Hải chúng tôi được xe chuyển tiếp ra Kỳ Lâm (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).

Đến đây tôi và Thủy nhập vào nhóm của Thế Anh, Thường và Nha.

Trong mấy người chúng tôi, Thường là nhiều tuổi quân nhất đã tham gia Đường 9 - Nam Lào 1971 và tham gia từ đầu chiến dịch 1972 Quảng Trị, lại là lính trinh sát trung đoàn chuyên đi công tác lẻ nên rất tháo vát và nhiều trò láu cá, láu tôm.

Với vóc dáng dong dỏng, đẹp trai môi lúc nào cũng hồng cộng thêm cái miệng nói chuyện rất có duyên nên dọc đường rất vui nhất là nơi nào có nhiều lính nữ hoặc thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến.

Thường là người Kim Anh gần sân bay Đa Phúc nhưng tính cách lại mang nhiều dáng dấp của người thành phố.

Những câu chuyện dọc đường của Thường rất lôi cuốn chúng tôi trong những ngày ra Bắc.

Thế Anh là người nhiều tuổi nhất, trắng trẻo thư sinh, con của một họa sĩ ở phố Thuốc Bắc.

Là một người từng trải, mang phong thái của một nghệ sĩ nên Thế Anh là một người rất khéo léo trong giao tiếp.

Qua những câu chuyện của Thế Anh bộc bạch thì cuộc sống trước khi nhập ngũ của anh ta có nhiều cái không giống với chúng tôi.

Còn Nha, một "anh giáo khổ" - như Thế Anh hay đùa - lại rất hiền lành và chỉ biết cười khi mọi người trêu chọc nhau.

Nha ở phố Đội Cấn, giáo viên một trường cấp II ở ngoại thành.

Anh ta là người đang yêu cho nên hay tâm sự về người bạn gái của mình ở phố Hàng Bông.

Cô bạn gái của Nha cũng là một cô giáo.

Họ quen nhau khi cô bạn đi thực tập tại trường của Nha.

Vào những lúc chiều xuống tôi thường thấy Nha mang ảnh của người yêu ra với vẻ mặt thẫn thờ, lúc lại cười một mình...chúng tôi thường để Nha một mình cho tâm trí trở về với người bạn gái thân thương...

Những ngày này trên đường chuyển thương chộn rộn có tin giữa ta và Mỹ chuẩn bị ký hiệp định ngừng bắn.

Hội nghị Paris đến nay đã được hơn 4 năm rồi mà có kết quả gì đâu, ai cũng biết sự quyết định trên bàn hội nghị đều lệ thuộc vào mối tương quan lực lượng trên chiến trường.

Qua những câu chuyện của anh em thương binh tham gia từ đầu chiến dịch 1972, ta đã giành thế chủ động tấn công trên một loạt chiến trường từ Quảng Trị, Tây Nguyên cho đến An Lộc ở Đông Nam Bộ.

Nhưng rồi Mỹ tăng cường hỗ trợ tối đa cho quân ngụy bằng không quân, hải quân nên thế trận trên các chiến trường trở nên giằng co quyết liệt.

Ở những nơi khác thì không biết nhưng ở Quảng Trị chúng tôi đã phải phơi mình trước trước những trận mưa bom, bão đạn của không quân và hạm đội 7 của Mỹ chỉ để giữ một mảnh đất chưa đầy 4 cây số vuông - đó là Thị xã và Thành cổ Quảng Trị.

Cái mảnh đất này chỉ có ý nghĩa về mặt hành chính là tỉnh lỵ địa đầu của miền Nam.

Khi ta phá tan tuyến phòng thủ Đông Hà - Lai Phước ở đợt 2 chiến dịch cuối tháng 4/1972 địch đã bỏ Ái Tử rút về phía Nam sông Thạch Hãn nhưng rồi cũng bỏ ngỏ nốt Thị xã Quảng Trị rút chạy về nam sông Mỹ Chánh.

Các đơn vị của ta thừa thắng vượt sông Mỹ Chánh nhưng không thành công.

Quân ta không đủ lực để đánh tiếp vì hậu cần chiến dịch chưa vươn tới nơi: xe tăng không còn dầu, pháo hết đạn, lương thực cạn kiệt...

Địch hồi phục rất nhanh và tiến hành phản kích chúng ta bằng 3 mũi: đường bộ chúng vượt sông Mỹ Chánh theo QL 1 đánh lên, một mũi đánh theo hướng Tây Nam; đường biển chúng đổ quân sau lưng chúng ta ỏ ven biển Hải Lăng; đường không địch dùng trực thăng đổ quân một số điểm xung quanh Thị xã.

Các đơn vị của ta buộc phải ngừng tiến công để lui về giữ Thị xã.

Anh em ở f304 và 308 - là những đơn vị thọc sâu vào Mỹ Chánh - có kể rằng những ngày đó lính bộ binh mỗi ngày chỉ được 2 lạng gạo, pháo ta không đủ đạn để hỗ trợ, địch tràn lên phản kích đến nỗi pháo cao xạ phải hạ nòng để quét bộ binh nhưng rồi đạn hết lính pháo ta phải dùng AK chống trả bộ binh địch, cuối cùng đành bỏ pháo lại để rút, nhìn bầy cần cẩu bay của địch cẩu những khẩu pháo và xe tăng ta vào Huế mà đành chịu không làm gì được.

Cái mốc ngày 28/6 là ngày địch bắt đầu phản kích cho tới ngày 16/9 diễn ra trong 81 ngày đêm.

Đó chính là dấu ấn không thể nào quên trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cầm súng của chúng tôi và nó luôn luôn ám ảnh trong tôi cho tới tận bây giờ.

Trên đường ra Đức Thọ và Nghệ An dọc đường tuyến chúng tôi gặp những đơn vị bộ binh và cả những đoàn xe tăng, xe kéo pháo... tăng cường cho mặt trận.

Những người đi vào gặp anh em thương binh đi ra chia sẻ cho nhau những món quà mang theo từ hậu phương: thuốc lá, thuốc lào, phong kẹo lạc và cả những lá thư nhờ gửi hộ; còn chúng tôi chỉ chúc họ may mắn mà thôi.

Thật là cảm động khi những người bạn bè, đồng hương gặp nhau mà chẳng kịp chia sẻ gì nhiều.

Trên đê sông Lam khi chúng tôi vừa từ sà-lan lên bờ gặp một đơn vị quân tăng cường của f304B, đơn vị huấn luyện của tôi, có mấy anh em cùng huấn luyện với tôi hồi đó được giữ lại làm khung cho các đợt quân sau.

Sau khi qua sông Lam, xe chuyển thương chở chúng tôi tới trạm chuyển thương CT12A tại xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, Nghệ An ngay trong đêm.

Tại đây các thương binh được phân loại để đi các viện quân y, đoàn an dưỡng hay tiếp tục chuyển ra Bắc.

Thương binh đông quá, nằm ngồi la liệt, trong khi chờ đến lượt mình chúng tôi tình cờ gặp một anh làm tại trạm, anh tên là Đồng vốn là sinh viên Bách khoa nhập ngũ và được cử đi học tại Đại học Quân y hiện là sinh viên năm cuối và đang thực tập tại trạm CT12A.

Anh Đồng khi học BK có học cùng lớp với anh Cẩn bên 104 Trần Hưng Đạo - đối diện với ngõ nhà tôi.

Cùng là những sinh viên với nhau nên chúng tôi dễ cảm thông qua những câu chuyện bất chợt.

Rồi chúng tôi gặp Nhỏ là y tá của trạm, Nhỏ nhà ở Lý Nam Đế, là con gái của một sí quan cấp tá.

Anh Đồng và Nhỏ khuyên chúng tôi nên đi viện điều trị cho lành các vết thương rồi sau đó sẽ quay lại trạm, nếu có điều kiện sẽ gửi chúng tôi đi tiếp ra hậu phương.

Ở CT12A một đêm chúng tôi chia tay nhau: Nha đi Viện 4 ở Thanh Chương; Thủy về đoàn 200 ở Nghĩa Đàn; Thế Anh, Thường và tôi về đội điều trị 42 (ĐT42) tại Nam Đàn.

Chia tay với Thủy mà không thể nào quên người đồng đội thân thiết đã kề vai sát cánh với nhau khi chiến đấu cũng như cùng chia sẻ trên đường chuyển thương.

Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với nhau đến giờ tôi không bao giờ quên: Thủy nhỏ thó nhưng đã dìu tôi đi suốt từ Quảng Trị ra đến Quảng Bình; những lúc thèm thuốc quá, tôi lại cuốn băng đầy mặt và tay, nó kiếm được thuốc bọ vấn bằng giấy báo và thở vào mũi cho tôi đỡ nghiền; những lúc nó lôi tôi đi tắm dùng khăn mặt cọ rửa tránh những chỗ bị thương hết sức cẩn thận; rồi viết thư hộ tôi cho gia đình...Thủy là người hay nói chuyện, đi cùng nó rất vui vì cái tính láu tôm láu cá của nó.

Nó có trong túi hơn ba chục tấm ảnh của những anh em c3 hy sinh.

Mỗi khi có người hy sinh nó đều tìm cách lấy giấy tờ của họ để đưa cho đại đội làm thủ tục gửi về gia đình, người nào có ảnh thì nó giữ lại cho mình để làm kỷ niệm.

Phía sau ảnh Thủy đề tên và ngày hy sinh.

Nó nhận xét như một ông thầy tướng số rằng thần sắc của những thằng đã chết nhìn qua ảnh có cái gì đó không được tự nhiên, phải chăng đó là điềm báo trước.

Thủy có họ và đệm giống tôi, nó bảo là cứ về đến chợ Sa Châu của xã Giao Châu huyện Xuân Thủy hỏi ông Lâm bán phở ai cũng biết.

Cuối năm 1973, Thủy trở về đơn vị lúc ấy đang ở Cửa Việt, thời kỳ ấy dịp nào liên hoan ăn tươi như Tết, ngày 2/9 hay 22/12 nó lại được trổ tài thái thịt của con ông Lâm bán phở ở chợ Sa Châu, thịt do tay nó thái mỏng đến nỗi cấm thằng nào đứng gần đấy thở mạnh vì sẽ bay đi mất.

Tháng 2/1979 Trung Quốc đánh ta, từ Cao Bằng đang làm thợ mộc Thủy chạy về Hà Nội tìm đến tôi.

Mãi đến năm 2007 chúng tôi mới liên lạc được với nhau và tổ chức 1 chuyến vể Xuân Thủy thăm nó.

Nó ốm quá, người đen quắt lại nhưng vẫn láu lỉnh như ngày nào...

Chập tối xe chở chúng tôi rời CT12A để đi ĐT42.

Đi chừng hai chuc cây số chúng tôi xuống xe theo giao liên đến viện.

Lội qua một khe nước chúng tôi chập choạng trong bóng đêm theo bóng người đi trước, qua những vạt tre, cây cối tối om cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi.

Trong một căn nhà âm của viện chúng tôi được chia nhau về các lán khác nhau: tôi và Thường về cùng chỗ, còn Thế Anh sang lán khác.

Sáng ra mới biết chúng tôi ở trong 1 xóm nhỏ nép mình dưới chân 1 quả núi nhỏ giữa một vùng lúa xanh rờn.

Đội điều trị 42 (ĐT42) đóng tại đây thuộc xã Nam Khoa (?).

Các lán thương binh được đào dưới chân núi, mỗi lán khoảng gần hai chục người.

Tôi và Thường cùng ở chung 1 lán của khoa Ngoại, còn Thế Anh ở bên khoa Nội cách chỗ tôi mấy trăm mét và được ở trong nhà dân.

Xóm bên này lại thuộc xã Nam Mỹ (?).

Mới được một hôm thôi thằng Thường dẻo mỏ đã làm quen mấy em y tá của viện là Lan dáng người tròn trịa, phúc hậu quê ở Diễn Châu; là Đạo mồm mép thia lia quê ở Hương Khê (Hà Tĩnh); là em Mai xinh xẻo lúc nào cũng bẽn lẽn...

Các cô gái khu tư rất hồn nhiên lúc nào cũng thấy cười.

Sau giờ làm việc các cô kéo nhau tới các lán thương binh để đấu hót rất rôm rả.

Thằng Thường vẽ rất đẹp cho nên các em cứ xúm đến nhờ vẽ các mẫu hoa lá để thêu.

Cũng tại đây chúng tôi gặp gỡ 3 cô gái rất xinh đẹp là SV năm cuối của ĐH Quân y về thực tập.

Đó là chị Quyên-con gái 1 sĩ quan cao cấp, chị Duyên quê ở Lập Thạch (Vĩnh Phú) và chị Bích nhà ở Lò Đúc.

Quan hệ của chúng tôi bắt đầu bằng sự cảm thông của những SV gốc gác thành thị.

Tuy chỉ hơn chúng tôi 2,3 tuổi nhưng các chị cư xử với chúng tôi như những người chị từ việc cắt tóc hay nấu những món ăn cải thiện cho đến những chuyện vui chuyện buồn tại viện.

Là những người con gái thành thị có nếp sống kín đáo tế nhị nhưng có một lần đi xem phim buổi tối thấy chị em trong viện bá vai bá cổ anh em TB, chị Quyên có thốt lên:"Con gái ở đây hư quá" thế là hôm sau sấm sét đã dội lên đầu 3 cô gái tội nghiệp này, hết Chi đoàn rồi đến Đại hội quân nhân liên tục tối nào cũng bị kiểm điểm, phê phán vì coi thường quần chúng, có lối sống tiểu tư sản... .

Khu vực ĐT42 chỉ cách Kim Liên có 1 cánh đồng, suốt ngày ngoài 2 bữa cơm chúng tôi ở lán còn thì lang thang bên bảo tàng quê Bác.

Ỏ đây chúng tôi làm quen với anh Biên là họa sĩ và chị em Trâm, Oanh là nhân viên chụp ảnh của bảo tàng.

Thế Anh là con 1 họa sĩ và lại là tay chơi máy ảnh nên rất hợp chuyện với những người bạn mới này.

Đã bao nhiêu năm trôi qua tôi chưa một lần nào gặp lại những con người này.

Chị Duyên lại cùng quê Xuân Lôi, Lập Thạch với Lợi, y tá của c3.

Nghe nói sau này chị chuyển về làm BS tại BV Vĩnh Yên.

Cách đây hơn 10 năm tôi có qua quê Bác và có hỏi thăm anh Biên nhưng anh cũng đã mất trước đấy mấy năm.

Còn Trâm có mở 1 hiệu ảnh ở Vinh.

Oanh về lại thị trấn Đô Lương vì quê ở đó.

Tôi còn nhớ hiệu chụp ảnh của gia đình Trâm, Oanh là hiệu ảnh Tháng Tám.

Thấm thoắt đã bước sang tháng 11, trời bắt đầu se lạnh.

Hết lượt đợt thương binh này đến và và đi.

Các vết thương của tôi cũng đã lành, chỉ còn vết thương ở ngón tay cái tuy đã khô nhưng chạm vào vẫn còn đau và xám ngoét.

Theo bác sĩ điều trị vết thương này cần theo dõi thêm vì sợ viêm xương.

Thường xuất viện đầu tiên, hôm chia tay nó hẹn ngày gặp lại.

Tối hôm trước chúng tôi có 1 buổi liên hoan nhỏ với các chị Quyên, Duyên và Bích để chia tay với Thường.

Sáng hôm sau Thường đi sang CT12A để nhập trạm, ai ngờ ra đến đầu xóm đã gặp em Lan đứng đợi ở đấy.

Anh chị tần ngần tiễn biệt nhau.

Quả là cũng không ngờ anh chị có tình ý với nhau.

Em Lan giúi vào tay Thường chiếc ba-lô căng phồng chẳng biết trong đó có gì.

Lại nói thêm 3 thằng chúng tôi chỉ có Thế Anh là có ba-lô, Thường chỉ có cái túi mìn mo (claymore-mìn định hướng của Mỹ) trong đó có độc một mảnh chăn dù thám báo, còn tôi duy nhất có cái thìa dắt ở túi sau.

Tôi giục Lan quay về còn tôi và Thế Anh đưa Thường qua Kim Liên để chia tay với anh Biên và chị em Trâm ,Oanh.

Oanh lấy xe đạp đưa Thường đến Nam Thanh nơi trạm CT12A đóng quân.Cái thằng Thường này thế mà duyên ghê ở đâu cũng có các em chăm sóc nhiệt tình.

Sau này mới biết anh chị không đưa nhau về CT12A ngay mà còn về Đô Lương mấy hôm rồi mới quay lại.

Mãi đến sau chiến tranh khoảng tháng 8/1975 khi ấy tôi đã ra quân, tình cờ tôi gặp lại Lan ở Ga Hàng Cỏ để chờ tầu về Vinh.

Mời Lan vào nhà nghỉ để chiều lên tầu, tôi biết được em đã ra quân về làm tại một trạm thủy sản tại Diễn Yên, Diễn Châu gần nhà.

Lan cũng đã tìm đến nhà Thường ở Kim Anh.

Tôi không muốn gợi lại câu chuyện của họ vì biết rằng chẳng giúp được gì.

Đưa Lan lên chợ Đồng Xuân sắm đồ mà Lan có mua được gì đâu, hỏi gì cũng gật nhưng lại không mua...

Ôi những cuộc tình trên những nẻo đường chiến tranh là như thế sao ?

Mấy hôm nay nghe tin địch ngừng ném bom từ Thanh Hóa trở ra, ở đây ban ngày chỉ thỉnh thoảng thấy máy bay địch bay qua nhưng ban đêm thì chúng tọa độ những khu vực xung quanh cách đây không xa.

Có một điều khu vực Kim Liên cho đến lúc này không hề bị đánh phá, trong khi đó ngoài trục đường 46 cách đấy mấy cây số bom đạn địch đánh tơi bời.

Thế Anh cũng ra viện ra viện trước tôi, nó cũng lại về CT12A.

Mấy hôm sau tôi được xuất viện.

Chẳng có gì nặng vì quân trang không có gì ngoài bộ quân phục trên người mặc từ khi đánh nhau.

Viện cấp cho 1 giấy ra viện và 1 giấy cung cấp tài chính xác nhận tiêu chuẩn ăn tính đến ngày ra viện và 2 phong lương khô ăn đường, 1 hộp sữa bột, nửa cân đường.

Tất cả cho vào cái túi đựng hăng-gô xin của 1 cậu cùng lán.

Chị Duyên, Quyên và Bích giúi cho tôi 10 đồng và 2 phong lương khô 702 (loại của sĩ quan chắc của bố chị Quyên gửi cho).

Tờ Giấy ra viện nhỏ bằng lòng bàn tay với lời nhân xét: ý thức kỷ luật kém hay bỏ Viện đi chơi.

Chia tay với những người bạn ở ĐT42 và ở Bảo tàng Kim Liên để lên đường về CT12 tại Nam Thanh.

Mọi người khuyên tôi nên đi vào lúc chiều tà để tránh giờ máy bay hoạt động nhưng tôi chọn đi buổi sáng vì còn phải hỏi đường.

Về đến Nam Thanh hai chục cây số có ít đâu, trời mà tối thì biết hỏi ai vả lại mật độ oanh kích về đêm nhiều hơn ban ngày vì địch biết xe cộ của ta hoạt động về đêm, ban ngày mình còn chủ động tránh được.

Đường 46 từ Vinh lên Thanh Chương, Đô Lương rồi gặp đường 15.

Con đường vắng tanh không một bóng người, nham nhở những hố bom, cầu bị phá sập phải qua ngầm.

Đoạn đường này hình như ít xe chạy vì không thấy những vệt bánh xe hằn trên đường.

Ghé vào 1 quán nước được đào vào trong đồi, tôi bỏ lương khô ra để ăn, bà cụ bán nước đưa tôi bát chè tươi nóng đặc sánh hỏi:

- Chú đi mô ?

- Con về Nam Thanh.

Còn xa không mẹ ?

- Chừng chục cây nữa, chắc chú vừa ra viện.

- Sao mẹ biết ?

- Ở vùng này bộ đội đi một mình mà hỏi Nam Thanh chỉ có ở viện ra.

Nam Thanh nằm kề đường 46, đây là một vùng đồi núi bán sơn địa.

Quá trưa tôi đến nơi và xuất trình giấy tờ cho trạm.

Họ bố trí tôi vào nhà dân để nghỉ ngơi.

Tại đây ta sẽ đi đâu ?

Theo anh em TB cho biết về đến đây sau khi phân loại ai ổn định sẽ về Đoàn 200 ở Quỳ Hợp để an dưỡng sau đó về đơn vị, ai bị nặng hơn sẽ chuyển tiếp ra trạm CT12B ở Nghĩa Đàn rồi ra Bắc.

Lần này mà được ra Bắc thì sung sướng quá, chỉ cần được nhìn thấy Mẹ và những người thân xong rồi đi ngay là toại nguyện lắm rồi.

Thế là mình được ra Bắc rồi khi nghe tên mình được đọc trong danh sách những người đi CT12B để lên xe, mừng khôn xiết nghĩ tới ngày trở về với Mẹ và Hà Nội của tôi.

Mới chỉ có 5 tháng thôi mà cảm thấy thời gian như dài ra rất nhiều.

Biết bao sự việc, những vùng đất đã qua và những con người gặp gỡ trên đường làm cho những suy nghĩ của bản thân vỡ ra nhiều điều và nhất là không thể nào quên những đồng đội của mình vẫn còn lăn lộn trong lửa đạn.

Giờ này họ đang ở đâu ?

Còn ở ven thị xã Quảng Trị không ?

Thằng Sơn, thằng Chiến và những anh em khác có còn không ?

Cầu mong cho bom đạn chừa họ ra !

Ngẫm rằng dù sao mình còn may mắn rất nhiều, ăn cả quả trứng ngỗng chẳng thèm chia cho ai rồi cứ thế dong duổi ra Bắc nhẹ tênh tênh...Chả thế lính tráng mới nói ăn B2, ngủ B3, vào ra B4,B5.

Chập tối đoàn xe chở chúng tôi rời CT12A lên đường ra Bắc.

Đoàn xe khá đông quãng chục chiếc Hoàng Hà 3 cầu.

Mỗi xe hơn 2 chục thương binh cùng 5,6 võng của TB nặng.

Họ hầu hết cụt chân cụt tay, thậm chí xe của tôi có một cô gái cụt cả tứ chi.

Tội nghiệp quá...Những TB này được đặt trong võng treo ngang thành xe, 2 mép võng được ghim lại để cho người nằm trong khỏi lăn ra ngoài khi phải đi qua những đoạn đường xấu.

Dưới ánh trăng khi tỏ khi mờ đoàn xe lầm lũi, chao đảo vượt qua những cung đường chi chít hố bom để tiến ra phía Bắc.

Kể cũng lạ, đêm nay không gian im ắng một cách lạ thường, không một tiếng máy bay, không một ánh đèn dù, chỉ có tiếng rù rù của xe xen lẫn tiếng rên của anh em TB.

Chập chờn trong giấc ngủ gà ngủ vịt thì đột nhiên xung quanh sáng lòe mặt đất rung chuyển như bão táp cây cối đất đá đổ ập vào xe, chiếc xe như muốn tung lên...Tất cả kéo dài trong một khoảng thời gian không dài, tai chúng tôi ù đặc không nghe thấy gì hết, nhìn ra ngoài không thấy gì cả ngoài bụi đất trùm lên như một trận cuồng phong.

Đoàn xe chúng tôi nằm đúng vệt B52, lúc này tôi mới biết mình còn sống.

Xe vẫn vẫn lao chồm chồm vượt qua khu vực bị bom và dừng lại khi có người chặn lại.

Lái xe và người áp tải phải đập kính để chui ra vì nóc xe bị bẹp rúm không thể mở cửa được, cũng may xe của tôi không ai việc gì chỉ có mấy người bị đất đá đè lên.

Bên đường có 2,3 xe đi ngược lại, họ từ trạm CT12B Nghĩa Đàn vào để giải quyết hậu quả trận bom.

Cả đoàn xe chúng tôi có sao không cũng chẳng ai biết.

Gần sáng chúng tôi đến trạm và được bố trí nghỉ tại nhà dân.

Đây là xã Nghĩa Thuận, trạm đóng quân tại một nông trường cà-phê, anh chị chủ nhà của tôi là công nhân của nông trường cà-phê.

Khi đi ăn sáng chúng tôi mới biết trận bom đêm qua mở màn cho chiến dịch Sấm rền của Mỹ đánh vào trục đường 15 tại Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và Đô Lương .

Địch dùng 9 chiếc B52 đánh vào trục đường nơi chúng tôi đi qua cũng rất may 9 loạt bom đó đều cắt ngang đường và xen vào giữa các xe, không xe nào bị dính bom chỉ bị bẹp mũi móp đầu, ngay cả anh em TB chỉ bị một trận suýt chết.

Đấy là đêm 17 rạng ngày 18/11/1972.

Nơi trạm đóng quân là vùng đất đỏ ba-zan gặp trời mưa thì đất bết dính vô cùng.

Ở đây có những giếnh phun khá độc đáo.

Người ta xây giếng như một bể nước bằng đá ong cao chừng hơn 1 mét ngang dọc quãng độ 1,5 - 2 mét, bốn mặt là những ống bương dẫn nước ra.

Giếng đầy ăm ắp, trong vắt chảy suốt ngày đêm.

Tối tối chị em phụ nữ lưng trần quần kéo tới ngực ra tắm ở giếng rất đông vui.

Dưới bóng trăng mờ ảo soi qua rặng tre rặng bương, là những cô gái xõa tóc gội đầu như một bức tranh của 1 danh họa nào đó mà tôi đã được thưởng ngoạn.

Tại đây tôi gặp Hùng nhà ở ngõ Trung Phụng, Khâm Thiên, cậu ta là lính của e48/f320B bị thương trong Thành cổ.

Hùng còn trẻ lắm mới 18 tuổi, đang học lớp 10 thì đi bộ đội.

Hùng hiền lành cả ngày chả nói một câu, bàn tay phải bị mấy mảnh M79 cử động rất khó khăn.

Thế là ta lại có thêm một người bạn trên đường trở về quê Mẹ.

Cũng cùng nhà có một cậu bị điếc quê Hải Hưng ở e165/f312.

Đơn vị của cậu ta vừa đánh Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng về đến hậu cứ tại Nông Cống (Thanh Hóa) thì được lệnh vào Quảng Trị.

Có lẽ quen tác chiến ở chiến trường Lào rừng núi sang đến đây thì bị dính B52 ở gần Động Ông Do và cả e hầu như bị xóa sổ.

Ở trong nhà người công nhân nông trường cà-phê thì việc uống cà-phê là chuyện rất bình thường.

Anh chủ nhà pha cà-phê bằng 1 cái túi vải mời chúng tôi.

Cà-phê đặc sánh nhưng hơi có vị chua.

Ở đây người ta quen uống không đường (chắc là vì đường là của hiếm).

Ở CT12B 2 ngày chúng tôi lại tiếp tục lên đường, từ đây chúng tôi gặp rất nhiều xe vào, tiếng ới ới hỏi thăm quê khi chúng tôi gặp những đoàn xe chở quân vào.

Rồi trong đêm tối xuất hiện những ngọn đèn le lói ở 2 bên đường, đó là những ngọn đèn dầu ở nhà dân không phải che chắn phòng không chứng tỏ chúng tôi ra đến Thanh Hóa là vùng Mỹ tạm ngừng ném bom đợt này.

Những ánh đèn của sự sống đã làm tôi chộn rộn trong lòng khi khoảng cách về với thành phố thân yêu ngày càng ngắn lại.

Gần sáng chúng tôi đến CT12C, đây là một xóm nhỏ vùng đồi bán sơn địa Triệu Sơn.

Tôi không nhớ là làng xã nào vì thời gian đã nhòa dần nhưng dấu ấn của tôi là ở đây trồng rất nhiều cọ.

Khi chúng tôi tỉnh giấc sau 1 đêm hành quân đầy lo âu khi qua những trọng điểm mà cái chết luôn luôn rình rập, thấy anh chị chủ nhà đang dọn dẹp nhà cửa, chị chủ ra vườn hái những bông hoa trông giống những bông cúc nhỏ mầu vàng cắm vào lọ.

Tôi ngạc nhiên trước không khí rất thanh bình của gia đình chủ nhà (chả nhẽ họ đón tiếp ta, vô lý, đêm nào chẳng có xe chở TB đến và đi) và hỏi:

- Hôm nay anh chị có việc à ?

- Ơ các chú quên hôm nay là ngày 20/11 à !

Vợ chồng tôi là giáo viên cả, dọn dẹp để chút nữa bà con sang chơi.

Ôi chao, thế mà mình chẳng nhớ chút nào!

Nhà mình có tới 3 người làm nghề giáo cơ mà.

Nghĩ đến đây tôi hỏi chị chủ ở quanh đây có chợ búa gì không ?

Chỉ chỉ ra một vườn cọ cách nhà không xa, chợ làng đang họp ở đấy.

Tôi kéo Hùng và 2 cậu nữa cùng nhà và bảo: " Ra chợ xem có gì để ăn mừng ngày 20/11 vì chúng ta thằng nào cũng phải đi học..."

Người ta nói cái chợ là bộ mặt kinh tế của 1 vùng, quả thật đây là một vùng quê nghèo nên chợ búa gì chỉ lèo tèo vài con cá đang tuổi mẫu giáo, thịt lợn hầu như không có (có lẽ mặt hàng này là mặt hàng quản lý bán theo tem phiếu) mà chỉ có mấy mẹt thịt trâu xám ngoét, hoa quả chỉ thấy dăm nải chuối còi cọc...Cuối cùng chúng tôi thấy cuối chợ một hàng bún mắm tôm trông khá sạch sẽ ngon mắt.

4 thằng xụp xuống cứ thế dùng tay cầm những con bún chấm mắm tôm ăn rất ngon lành.

Chiều tối chúng tôi lại tiếp tục lên xe dong duổi ra Bắc.

Hai bên đường người xe đi lại khá đông.

Hàng quán 2 bên đường chong đèn đón khách, một vài cửa hàng phố thị sáng rực ánh đèn măng sông.

Không khí thật thanh bình, chẳng ai có thể ngờ được cách đấy không xa khi bước sang đất Nghệ lại là bom bom đạn mù trời.

Chúng tôi tới trạm CT14A ở Gia Khánh (?).

Gần chục anh em ngủ tại một gia đình có ngôi nhà ngói khá rộng rãi.

Tâm trạng ngày mai về đến nhà khiến cả bọn náo nức chuyện trò cả đêm, hút thuốc vặt lại thêm trời về đêm đã bắt đầu lạnh nhiều nên không ngủ được.

Đoàn chúng tôi sau khi rời CT12A ra đến Thanh Hóa lại ít di vì số anh em Thanh Hóa về Viện 111 hoặc về đoàn an dưỡng của tỉnh.

Ở trạm này người ta cũng phân loại luôn: ai về Hà Nội, Hà Tây, Vính Phú, Hòa Bình, Bắc Thái...sẽ đi tiếp về CT14B ở Thường Tín, còn các tỉnh như Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Hà và Ninh Bình ...sẽ ở lại để về các địa phương.

Cùng đi chúng tôi có 2 xe TB nặng nhưng hầu hết tới Thanh Hóa họ được chuyển về Viện 111.

Chúng tôi được thông báo sáng hôm sau sẽ lê đường về CT14B (Thường Tín)

Từ CT12A chúng tôi ra đường 1, không có gì để nói hết được niềm sung sướng khi về gần tới Hà Nội giữa ban ngày.

Trời của ta, đất của ta mà bao nhiêu ngày tháng qua chúng ta đã phải lấy đêm làm ngày.

Cảm giác này có lẽ chỉ có ở những đứa con từ miền đất lửa phương Nam vượt Trường Sơn để trở về Đất Mẹ.

Qua Phủ Lý tan hoang, thấp thoáng những bóng người đang bới tìm trong đống gạch vụn để tìm kiếm những gì còn sót lại của ngôi nhà thân yêu của mình...

CT12B đóng ở thôn Nhị Khê.

Chúng tôi vào nghỉ tại 1 ngôi nhà cổ khá bề thế với đủ hoành phi câu đối, sập gụ tủ chè...chứng tỏ gốc gác gia thế của chủ nhà.

Lúc này trời còn sớm, tôi rủ Hùng về nhà sáng mai vào sớm nhưng Hùng không về nên tôi về cùng mấy cậu nữa ở nhà bên cạnh.

Từ Nhị Khê ra đường 1 rất gần, đây chính là Quán Gánh.

Lên xe bus về Hà Nội trong trạng thái lâng lâng khó tả.

Tôi cảm giác tất cả mọi người trên xe đều nhìn mấy thằng chúng tôi.

Có thể vào thời điểm này những chàng trai khoác trên mình bộ quần áo Tô Châu, thằng đội mũ cối, thằng đội mũ tai bèo hình như đều mang dáng dấp của người thân của họ.

Một bà cụ chừng tuổi của Mẹ tôi hỏi nhỏ:

- Các chú ở chiến trường nào ra vậy ?

- Cháu ở Quảng Trị.

- Trời đất ạ !

Ở Quảng Trị mà các chú cũng về được ư ?

Tôi nghe nói bộ đội ta chết nhiều ở Quảng Trị lắm phải không chú ?

- ...Cũng có nhiều người như cháu chỉ bị thương thôi.

- Cháu tôi đi đầu năm mà đến nay cũng chưa thấy tin tức gì !

Xe bus dừng ở hồ Thuyền Quang, tôi bước xuống xe mà cảm thấy chếnh choáng phải vịn vào cây si trước cổng đảo Thanh Niên.

Ôi đất Mẹ yêu dấu con đã trở về , nửa năm trước cũng tại nơi đây con đã rời xa người mà không bao giờ nghĩ có ngày hôm nay...

Tôi vừa đi vừa chạy, quãng đường từ hồ Thuyền Quang về nhà đâu có xa thế mà sao lâu thế !

Con đường Trần Bình Trọng dài hun hút tưởng như vô tận, rẽ ra Trần Hưng Đạo, kia rồi chiếc đồng hồ trên nóc nhà ga với những chữ số La-mã ngay ngắn cuốn hút tôi suốt từ thời còn đi học, một đoàn tầu điện cũng sơn mầu ngụy trang loang lổ đang lenh keng chuyển bánh về Kim Liên, rồi Nhà hát Nhân dân - nơi gắn bó với tôi những trò chơi tinh nghịch thời nhỏ: đánh trận giả, mò mẫm thám hiểm những khu hầm đầy bí ẩn của nhà hát, rồi những buổi tập nghi thức đội,còn phải kể đến những đêm biểu diễn ở nhà hát mà chúng tôi không được vào vì không có vé, thế là trèo tường vòng ra đằng sau chui xuống sàn gỗ của khán đài rồi chui lên ở 1 chỗ nào đó...Qua phố Yết Kiêu, đến trước cổng nhà 95 tôi gặp Bà Tú - mẹ của Thiệp bạn thân tôi - bà kêu lên: " Mày về rồi ư !

Ông ơi thằng Tường nó về rồi đây này...Mày về nhà ngay đi cho bà ấy mừng, để tao bảo thằng Thiệp tối sang chơi...".

Ngõ Tức Mạc của tôi vẫn như trước khi tôi đi, đầu ngõ vẫn tổ phục vụ bán nước sôi và mấy hàng bán nước chè chén.

Dẫy hầm phòng không chạy dọc ngõ vẫn là chỗ để cho người ta trút bầu tâm sự một khi bí bách.

Trên đầu tôi vẫn tán sấu như xưa chỉ khác đã có nhiều lá vàng điểm xuyết, còn cây bàng trơ trụi những cành sần sùi chứa đựng những mầm xanh khi mùa xuân về.

Cái ngõ 16 của tôi đây rồi, vẫn cái cổng ngõ mà ông nội tôi xây từ năm 1920 với những mảng đắp nổi hình lá đề, cành nguyệt quế, chữ Thọ...mang phong cách kiến trúc của những năm đầu thế kỷ sao hôm nay với tôi thân thương lạ.

Cái tin tôi trở về sao mà đi nhanh thế, mấy người hàng xóm chạy ra: " Chú Tường về thật kìa ! ...Bà Châu ơi ra mà đón con...".

Bố tôi từ trong nhà chạy ra, như kim nén lại nỗi xúc động của người cha: " Con vào nhà đi, mẹ đi làm sắp về ..." .

Tôi đứng giữa nhà ngắm nhìn mọi đồ đạc dường như tất cả đã lâu lắm rồi.

Múc gầu nước giếng đổ ra cái chậu đồng từ thời bà nội còn sống, úp mặt vào làn nước trong mát đó mà cảm thấy khoan khoái vô cùng nhưng chợt nhói lên một cảm giác như khi chơi với trên dòng sông Thạch Hãn đang nổi sóng vì bom pháo của địch.

Có tiếng lao xao ngoài ngõ: "Bà ơi!

Chú Tường về đấy", tôi chạy ra đã thấy mẹ tôi đang lập cập dắt xe đạp vào, thấy tôi Bà đưa bàn tay sờ vào cánh mũi của tôi giọng nghẹn lại: " Con tôi không mất mũi thật rồi, lạy trời lạy phật mẹ thấy thư gửi về nhà chữ của người khác lại nói là bị vào mũi, mẹ lo lắm mất mũi thì con gái đứa nào nó lấy...".

Quây quần quanh mâm cơm ấm cúng, chỉ còn thiếu anh tôi bên trường chưa về, còn chị tôi chắc ngày mai bố tôi sẽ lên báo cho chị biết.

Cả nhà đã biết tin tôi qua Thường, nó về đến Hà Nội trước tôi độ 10 ngày.

Mẹ tôi có kể lại khi ở nơi cơ quan sơ tán, một hôm ông NKT (ngày ấy là Chủ nhiệm UBKHXH) là thủ trưởng của mẹ tôi bảo: tôi được tin hôm qua bộ đội mình rút khỏi Thành cổ Quảng trị, hôm nay có xe về HN cô theo xe về đi nghe ngóng có tin tức gì của cháu nó không...Về đến HN, bà chạy đến mấy gia đình như nhà Hòa, nhà An...nhưng chẳng thấy tin tức gì.

Rồi mấy người hàng xóm thì thầm nói rằng: đài địch đưa tin chúng đã chiếm được Thành cổ QT, trong những xác cộng quân để lại cùng với thẻ SV và Sổ học tập được xác định là SV các trường ĐH như Bách Khoa, Xây dựng, Kinh tế...thuộc một Sư đoàn Sinh viên thiện chiến của Bắc Việt...

Bà quay về nhà thẫn thờ nhớ đến con, lầm rầm cầu Trời khấn Phật cho con qua được cơn hoạn nạn.

Đêm ấy bà không ngủ được, một lúc bà thiếp đi và thấy tôi máu me đầm đìa chìa tay về phía bà mà không nói câu nào, choàng tỉnh dậy bà nhìn đồng hồ lúc đó là 11 giờ đêm ngày 17/9/1972.

Bà ghi vội vào cuốn lịch nhỏ: thấy Tường về .

Nắm chặt tay mẹ tôi, tôi nói rằng chính khoảnh khắc đó tôi đã tưởng sẽ không qua được khi lội nước trên cánh đồng Gio Linh và chỉ nhớ tới Mẹ mà thôi.

Phải chăng những người có máu mủ ruột rà lại có một mối liên hệ nào đó về tâm linh được gọi là thần giao cách càm chăng !!!

Sáng sớm hôm sau tôi bắt xe bus đi Quán Gánh để vào trạm.

Hùng cũng đang sốt ruột nhấp nhổm ngóng tôi vào.

Chúng tôi lên xe về Đoàn an dưỡng 869 của BTL Thủ đô.

Xe không có mui nên anh em chúng tôi thoải mái nghênh ngáo hai bên đường 1 về Hà Nội.

Dòng người trên QL1 những ngày này khá đông vui, không ít trong số họ chắc từ nơi sơ tán về với chiế xe đạp lỉnh kỉnh đồ đạc đang hướng về thành phố.

Văn Điển, Giáp Bát hoang tàn, đổ nát bởi những trận oanh kích của máy bay địch.

Khi qua công viên Thống nhất xe phải đi chậm lại đột nhiên có tiếng kêu : "Kìa anh Hùng kia kìa".

Hùng nhoai về phia tiếng kêu của một cô gái và hét lên: "Anh đây!

Mấy ôm nữa anh sẽ về..."

Thì ra cô em gái của Hùng có việc từ trong ngõ đi ra nhìn thấy anh trai của mình trên xe.

Hạnh phúc đến thật bất ngờ với những gia đình có người thân đi chiến trường trở về.

Vượt cầu phao Bác Cổ nhớ tới đêm hành quân vào Nam gặp được bố mẹ đón ở đây, trong lòng chợt nhói lên vì đêm qua khi Mẹ có hỏi thăm về thằng bé người Hải Phòng gặp ở đầu bến phà - đó là Cao Minh Sơn, lúc đó tôi biết tin Sơn đã hy sinh khi đưa cơm mà không tìm thấy xác.

Mẹ tôi lau nước mắt và nhắc tôi nên thu xếp ra Hải Phòng thăm gia đình Sơn, nhưng nào tôi có biết địa chỉ gia đình cậu ta ở đâu...

Qua cầu phao sông Đuống, xe chở chúng tôi theo QL 3 hướng về Đông Anh, dọc theo đê hàng đoàn xe tải quân sự đi ngược lại, nhiều chiếc hầu như còn mới tinh .

Tranh thủ khi địch đang ngừng bắn ở phía Bắc vĩ tuyến 20, hậu phương miền Bắc dồn sức người sức của cho chiến trường.

Đến trạm biến thế Đông Anh, xe chúng tôi rẽ trái và tới xã Cổ Dương nơi đóng quân của Đoàn an dưỡng 869.

Địa chỉ này không hề xa lại với tôi.

Trước khi ngập ngũ tôi học tại Khu C của Trường ĐHXD tại chợ Yên, xã Tiền Phong, huyên Yên Lãng, Vĩnh Phú cách Cổ Dương chừng 7 km.

Lúc đó thỉnh thoảng để cải thiện, SV chúng tôi thường đạp xe từ Khu C về Vân Trì để đổi quẩy về ăn.

Từ Vân Trì về Cổ Dương rất gần.

Xe đỗ ở nhà tiếp đón, anh em trong trại xúm lại tìm người quen họ nói với nhau: "Lại Quảng Trị đây...".

Quả thật mấy tháng nay hầu hết là các TB từ mặt trận Quảng Trị trở về đây.

Từng người chúng tôi lần lượt được gọi vào Ban quân lực để làm thủ tục.

Tại đây một trung úy và một thượng sĩ tiếp chúng tôi.

Một loạt câu hỏi được viên trung úy đặt ra phải trả lời: Họ tên - Ngày tháng năm sinh - Quê quán - Chỗ ở - Trình độ văn hóa - Đảng, đoàn - Tên cha mẹ - Đơn vị trước khi đi B - Đơn vị khi chiến đấu - Ngày đi chiến trường - Ngày bị thương - và đặc biệt họ hỏi đi hỏi lại những câu: Nơi bị thương thuộc xã, huyện, tỉnh nào - Khi bị thương ai biết - Lúc bị thương đêm hay ngày, lúc mấy giờ - Tư thế khi bị thương - Bị thương trong trường hợp nào do loại vũ khí nàogây ra - Sau khi bị thương đã điều trị ở đâu.

Những câu hỏi sau họ hỏi đi hỏi lại mấy lần !!!

Sau đó chúng ổn định chỗ nghỉ trong trạm tiếp đón và được cấp phát quân trang mới và chờ về các đội an dưỡng của đoàn.

Khoảng hơn 1 giờ chiều đang ngủ tôi bị lay dậy để lên gặp quân lực.

Lại những câu hỏi như ban sáng khiến tôi cảm thấy có cái gì đó mà mình chưa hiểu.

Đêm đầu tiên ngủ tại Đoàn trong tiếng ì ầm của máy bay bay đêm, ở đây theo đường chim bay cũng không xa sân bay Đa Phúc là mấy.

Bất chợt có tiếng rít của máy bay ngay trên đầu, phản xạ tự nhiên của một thằng lính khiến mấy thằng chúng tôi bật khỏi chỗ nằm lăn ngay xuống đất - một thói quen mỗi khi cảm nhận tiếng máy bay đich tọa độ trên đầu.

Rồi cũng dần quen và giấc ngủ đã đến với tôi.

Đang mơ màng thì ai đó gọi tôi dậy, lại tay thượng sĩ của Ban quân lực.

Cũng vẫn những câu hỏi xoáy vào việc tôi bị thương.

Lần này tôi cảm thấy bị xúc phạm thật sự: phải chăng người ta nghi ngờ việc tôi bị thương, mình có đầy đủ giấy tờ mà họ không tin ?

Tôi khùng lên: " Các ông nghi tôi tự thương ư ?

Giấy tờ của tôi có đầy đủ.

Nếu không tin các ông trả lại tôi về đơn vị..."

Tay thượng sĩ mặt lạnh tanh: đây là nhiệm vụ của chúng tôi, đề nghị đ/c thông cảm và tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc.

Lúc đó nhìn đồng hồ để trên bàn là 11 giờ 30.

Về đến giường nghĩ tới việc mình bị thẩm tra như là kẻ có tội, tôi uất quá mà không ngủ được.

Hay là 3 lần trả lời có gì không ổn ?

Chứng tỏ trong số những TB từ chiến trường trở về có lẫn một số người tự thương.

Quả thực vàng thau lẫn lộn.

Nhưng chỉ nghĩ đến nét mặt của mấy thằng quân lực là muốn táng cho chúng nó một trận.

Ngẫm đến câu thơ ca thán của Cao Bá Quát mà liên tưởng đến phận mình:

Con voi đánh trận đường xa,

Con mèo trong bếp ỉa đầy nồi rang.

Sáng hôm sau tôi cùng hơn chục người nữa có tên về d22.

Trong số người đi d22 không có Hùng nhưng có một số anh em về từ trước đang ở các đội cùng đi.

Xe lăn bánh ra khỏi đoàn thì gặp một xe đỗ ở cổng vào, đây chính là xe đưa tôi từ CT14B về hôm trước, tôi thoáng nhìn thấy Dũng ngựa K16 ở c2/d1 với tôi với cái tó đang tập tễnh đi vào.

Xe lại quay ra cầu Đuống nhưng không qua cầu mà xuôi theo đê đi về phía Phù Đổng.

Con đường đê đầy ổ gà làm cho xe cứ nhảy chồm chồm, lắc lư.

Cả bọn không thể ngồi được đành phải đứng vịn tay vào thành xe cho khỏi xóc.

Qua khỏi Phù Đổng chừng 3 cây số xe đưa chúng tôi rẽ xuống chân đê vào một khu nhà giống như một trại chăn nuôi với một dẫy nhà xây nhiều gian, bên kia cái sân rộng là 2,3 đãy nhà lá trống tuềnh.

Đây là d22 - một đơn vị thuộc Đoàn 869 - nằm tại xã Trung Mầu thuộc huyện Gia Lâm.

Trước đây d22 là đơn vị thu dung của BTL Thủ đô chuyên làm nhiệm cụ thu gom quân đảo, lạc ngũ để đưa lại vào chiến trường.

Sau này sát nhập về Đoàn 869 để phân bớt thương binh về và cũng là nơi tập trung các anh em chuẩn bị ra quân.

Nhưng cái tên thu dung vẫn đeo bám cho tới tận lúc này.

Có rất nhiều anh em đã nằm 2,3 năm ở đây.

Họ từ mọi chiến trường trở về tuổi quân tương đối nhiều nên có tư tưởng công thần, ngày 3 bữa ăn chẳng biết làm gì nên có rất nhiều chuyện mà ta hay nói nhàn cư vi bất thiện.

Họ giết thời giờ vào những trận tiến lên hay la cà ở những quán nước trong xóm.

Mặt khác cơ sở vật chất rất tồi tàn.

Khu trại chúng tôi ở đúng là 1 trại chăn nuôi của địa phương cho mượn và cải tạo làm bếp ăn và làm thêm mấy dãy nhà lợp nứa, vách đất.

Sau mấy ngày với cảm giác náo nức kèm theo tâm trạng có vẻ tự hào của một người từ chiến trường ác liệt trở về giờ cảm thấy mình bị hẫng hụt rất nhiều.

Ở đây tôi gặp được Thế Anh, nó về đây trước tôi mấy hôm, rồi cả Ngọ tây nữa, nó nằm đây từ tháng 10 sau khi bị thương ở trong Thành cổ.

Mấy cậu cùng đi rủ tôi chuồn về nhà ngay trong đêm đó.

Cả bọn ăn cơm tối xong gửi lại đồ đạc cho anh em cùng nhà rồi vai khoác ba-lô lộn trái và lên đường.

Chúng tôi lên đê và đi về phía cầu Đuống, bầu trời tối xẫm lùi xùi mấy hạt mưa, gió rét thổi ù ù, chúng tôi cứ lầm lũi đi không ai nói với ai 1 lời nào trong lòng đầy nỗi u uẩn.

Ra đến cầu Đuống chừng 8 giờ tối, chúng tôi qua cầu phao nhưng đành phải đi bộ tiếp về Hà Nội.

Về đến nhà khuya lắm rồi, bố tôi lập cập ra mở cửa và rất ngạc nhiên khi thấy tôi xuất hiện.

Tôi kể lại cho bố mẹ tôi tất cả những chuyện xảy ra vừa qua với những uất ức của một người mà lòng tự trọng bị tổn thương.

Những ngày tiếp theo ở nhà tâm trạng tôi cũng dần dần bình tĩnh lại.

Việc đầu tiên là đi thăm họ hàng và bạn bè quen biết.

Anh Minh - anh rể tôi - hồi tháng 5 nhập ngũ cùng tôi nhưng được hoãn lại cho tới tháng 9 lại đi, hiện đang huấn luyện tại Yên Tử.

Các cháu con chị tôi thời gian qua lăn lóc đi sơ tán theo bà ngoại ở Đanh Xuyên, Ứng Hòa, Hà Tây rồi lại về Hiệp Hòa, Hà Bắc....nhưng cũng may chúng cũng chịu được.

Cu Mốc trước khi tôi đi bộ đội đã phải nằm viện tới 6 tháng tưởng rằng không qua được nay cũng khỏe.

Một nách 2 con nhỏ lại còn đi dậy, chồng lại bộ đội nên chị tôi tất bật suốt ngày, một vài tuần lại đạp xe lên Yên Tử thăm chồng...Anh Thiện tôi vẫn dậy bên trường ĐH Nông nghiệp 1, hồi tháng 9 có giấy gọi nhập ngũ nhưng lúc đó ở nhà chưa nhận được giấy thông báo của trường ĐHXD v/v tôi đã nhập ngũ mà ở cương vị anh tôi không thể giải thích với tổ chức.

Được tin, mẹ tôi tức tốc đạp bốn chục cây số về HN bắt bạn anh tôi đưa lên khu C nơi tôi học ở Chợ Yên (Tiền Phong, Yên Lãng, Vĩnh Phú) để lấy giấy xác nhận tôi đã đi bộ đội.

Ở khu C không có dấu tròn của trường, bà lại đạp xe lên Hương Canh để lấy giấy có dấu tròn của trường để mang về.

Đúng ngày anh tôi lên xe về đơn vị, mẹ tôi đến gặp Hiệu bộ của ĐHNN 1 đưa giấy để anh tôi được hoãn lại: "Tôi có 2 thằng con, thằng em nó đi B giờ chưa có tin tức gì.

Nhà nước mới có lệnh động viên cục bộ chứ chưa có lệnh tổng động viên nên tôi còn 1 thằng hãy để nó ở lại".

Thế là anh tôi ở lại.

Viết đến những dòng này tôi chợt nghĩ đến Mẹ tôi, một người phụ nữ xuất thân từ 1 gia đình khá giả ở Hà Nội, lại là con gái duy nhất trong 1 gia đình đông con có gốc gác từ họ Hồ làng Quỳnh Đôi, Nghệ An nhưng phiêu bạt rời bỏ quê hương để kiếm sống.

Bà sinh ra ở Vân Nam, Trung Quốc khi ông ngoại tôi là công chức tại Sở hỏa xa Vân Nam của Pháp.

Bà theo bố tôi cũng xuất thân từ 1 gia đình công chức ăn lương Tây nhưng lại không theo nghề tổ là nghề làm thợ bạc ở Đình Công, Thanh trì, Hà Nội, hết ở Lạng Sơn (lúc đó bố tôi là thư ký Tòa sứ Lạng Sơn) rồi về Hà Nội.

Trong kháng chiến chống Pháp bà đã đưa cả gia đình từ bỏ gia sản của mình đưa mẹ chồng, mẹ đẻ, 2 cô em gái của chồng, 1 cậu em trai còn nhỏ cùng 2 đứa con thơ dại theo cơ quan chồng ra vùng tự do, hết Việt Bắc, Thái Bình rồi vào Thanh Hóa.

Bà kể lại chuyện khi tôi mới có 10 tháng tuổi, bà đã một mình địu tôi từ Thanh Hóa theo đường giao liên vượt vành đai trắng ra Hà Nội để đón anh chị tôi (lúc đó đã theo bà nội và bà ngoại tôi vào Hà Nội) ra đi học ở khu Học xá Nam Ninh, TQ.

Hòa bình lập lại, với đồng lương ít ỏi của bố tôi, bà đã tần tảo lo toan cho gia đình vượt qua những khó khăn về cơm, áo, gạo, tiền trong những năm khốn khó để chồng yên tâm công tác và nuôi 3 con đều vào đại học.

Tôi là con út được chiều lại ngỗ ngược từ bé, không ngày nào là không bị đòn vì tội đánh nhau với trẻ con xung quanh.

Tuy chiều con và thương con rất mực nhưng bà lại rất dữ đòn, có lần bà bắt anh chị tôi giữ chân tay để bà đánh, anh chị tôi thương em mà khóc xin tha cho tôi, trong khi đó tôi nghiến răng chịu đòn vì mình đánh thằng ấy là đúng vì hôm trước nó cậy lớn đánh tôi trước...

Những ký ức ngày xưa ấy làm sao mà có thể quên được khi cái bóng của mình thật là nhỏ nhoi bên bóng hình cao vời vợi của người Mẹ hiền.

Hà Nội những ngày này lại rục rịch vận động nhân dân đi sơ tán vì tình hình Hội nghị Paris không tiến triển được, Mỹ răn đe ném bom lại miền Bắc.

Nhiều việc tôi phải giải quyết như đưa bà ngoại tôi lên chỗ sơ tán của cơ quan cậu tôi ở Quốc Oai, cùng Thiệp đưa An nhập trường ở Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú.

Đi thăm gia đình mấy anh em ở Hà Nội như Hòa, An đen, anh Được.

Tôi đã bao lần dừng chân ở trước cửa nhà 53 Hàng Đậu mà đôi chân cứng cả lại mà không thể nhấc chân bước vào nhà, làm thế nào đây khi buộc phải báo cho gia đình biết tin Tiến đã hy sinh, chắc chắn người ta chưa gửi giấy báo tử về cho gia đình... giá như có một thằng nào đấy cùng ra với mình để mình có đủ dũng khí đến báo tin cho gia đình Tiến nhỉ.

Ở nhà đã 10 ngày chán quá, có lẽ lên đơn vị cho thay đổi không khí và cũng để cho khu phố khỏi dị nghị.

Đã có lần cụ Tỳ bên nhà 18 là tổ trưởng dân phố lập cập chống ba-toong sang bên nhà rào trước đón sau vì chuyện tôi về nhà mà chẳng có giấy tờ gì cả.

Tôi nói luôn với cụ: "Ai hỏi chuyện của cháu cụ cứ bảo nó ở bên Đoàn an dưỡng 869 về, cứ sang bên ấy mà hỏi, nó mà đảo ngũ thì làm sao nó lại dám mặc quân phục với sao mũ đầy đủ".

Tôi biết cụ cũng chỉ bị sức ép của mấy vị cán bộ khu phố mà thôi.

Cái tên 869 những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước như một cái gì đáng nể trọng nhưng cũng đầy tai tiếng: lính 869 mặc cốt bà Định ( áo rét đông xuân dài tay mầu cỏ úa mở khuy trước ngực) khoác bên ngoài quân phục (điều lệnh phải mặc bên trong) hoặc áo bông bộ đội (chỉ có ở bệnh viện quân y hay các đoàn an dưỡng), vai khoác ba-lô lộn trái đi từng tốp về Hà Nội, không 1 quân cảnh nào dám hỏi.

Thậm chí va chạm với công an cũng lính 869 hay từ tầu Thái Nguyên về với hàng bao tải chè qua mặt cả thuế vụ cũng 869, say rượu bét nhè quậy phá ở chợ Tó hay chợ Vân Trì cũng 869, còn chuyện giăng hàng ra chặn ô tô về Hà Nội là chuyện thường ngày ở trại...

Ngày nào tôi cũng nghe đài và đọc báo chí để theo dõi tình hình chiến sự nhất là ở Quảng Trị.

Lâu nay chiến sự khu vực thị xã QT ít nói đến chỉ nhắc nhiều đến vùng Nhan Biều và nhất là ở Tích Tường, Như Lệ.

Lúc ấy cũng chẳng biết khu vực đó là ở đâu và đơn vị mình hoạt động ở khu vực nào nữa.

Sang đơn vị lần này tôi đi đi xe bus đến Trâu Quỳ rồi lên đê sông Đuống, qua đò ngang sang Phù Đổng và băng cánh đồng thẳng tắp về Trung Mầu, đi theo tuyến đường này gần biết bao nhiêu.

Về đến đơn vị việc đầu tiên là bị gọi lên làm kiểm điểm, đoạn kết của bản kiểm điểm là vì nhớ Mẹ nên lần này xin chừa lần sau cứ thế.

Mấy vị cán bộ tức lắm lại thuyết trình tràng giang đại hải kiểu con tằm nhả ra tơ...Hồi ấy thằng nào bị làm kiểm điểm nhiều thế nào thứ hai đầu tuần phải lên đọc 10 lời thề của QĐNDVN.

Có lần mình lên đọc nhưng do tư tưởng tếu táo đọc lời thề thứ 9 thành: " Trong tình thương yêu giai cấp hết lòng thương yêu đồng đội, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau lúc thường như lúc có đường có sữa".

Cả đơn vị được một trận cười vỡ bụng.

Khoảng gần giữa tháng 12/1972, trên d bộ xuất hiện rất nhiều cán bộ lạ và có tin các đơn vị của B5 ra đón quân về.

Tôi và khoảng hơn năm chục người nữa là lính Quảng Trị có tên trong danh sách quay lại chiến trường, mặc dù chưa được khám thương.

Tin này làm chấn động cả đơn vị, chỗ nào cũng thấy lính tráng bàn tán việc đi hay ở.

Nhiều người lo thật sự.

Với tôi, tin này cũng làm tôi xao xuyến nhưng mình cũng đã xác định từ trước: đây chỉ là một chuyến đi phép dài mà thôi.

Đơn vị gọi tôi lên và chính thức thông báo tôi sẽ trở về đơn vị và việc khám thương sẽ do đơn vị cũ làm.

Tôi chỉ yêu cầu xin được về mấy ngày để từ biệt gia đình.

Ngay buổi chiều hôm đó tôi ra Trâu Quỳ và tới trường ĐHNN 1 để báo cho anh tôi biết.

Mẹ tôi nghe tin tôi trở lại chiến trường cũng buồn lắm, bà gắng gượng động vên tôi: Thôi con cứ đi đi, về được nhà lần này là tốt lắm rồi, Trời, Phật sẽ phù hộ cho con...

Từ bến xe Trâu Quỳ ra bến đò sang Phù Đổng lần này tôi hơi ngạc nhiên vì thấy xuất hiện rất nhiều lính ta trong trang phục áo bông 2 túi ngực của đoàn an dưỡng.

Sang khỏi đò thì mới biết mấy hôm tôi về nhà thì toàn bộ khu vực Cổ Dương phải sơ tán gấp về Phù Đổng vì khả năng Mỹ sẽ ném bom Hà Nội là rất lớn vì Hội nghị Paris đã đi vào bế tắc.

Không khí của d22 chộn rộn vì chuẩn bị cho đợt quân trở lại chiến trường.

Những người ra đi đợt này đều nhập ngũ 1971-1972 là quân số của các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 324, 325, 367, 351 và các đơn vị chiến đấu tại mặt trân Trị-Thiên.

Anh em còn lại hầu hết từ cánh B dài từ Quảng Nam trở vào, họ đã nằm ở đây đã lâu và cho biết từ khi thành lập đoàn tháng 8/1969 đến nay đây là lần đầu tiên đưa TB trở lại chiến trường, điều này chứng tỏ các đơn vị ở đó quân số thiếu hụt rất nhiều và rất cần những lính đã kinh qua chiến đấu.

Tôi bao giờ cũng rất kính nể những người lính từ các chiến trường B dài, hầu hết các anh đều trên 30 tuổi thậm chí có người ngoại 40 với nhiều năm lăn lộn khắp các chiến trường.

Với nước da xám ngoét vì sốt rét và vô vàn những câu chuyện lính ở những vùng sâu vùng xa tít tận đồng bằng sông Cửu Long hoặcÔng Cụ (mật danh chỉ vùng Cà Mau) hay những cánh rừng già đại ngàn của mảnh đất cao nguyên hùng vĩ.

Những câu chuyện đó cuốn hút chúng tôi, các anh coi chúng tôi như những người em út "...vừa rời vú mẹ đã phải lao vào cái chảo lửa khổng lồ..." nào là "...tuổi quân của chúng mày chưa bằng thời gian chúng tao bị hắc lào và sốt rét...".

So với các anh chúng tôi chưa là cái gì cả mà lại hơn các anh ở chỗ chỉ bị thương nhẹ thôi đã được ra Bắc hít thở bầu không khíchiến tranh và hòa bình.

Có những anh đi bộ đội từ khi thành lập đường dây 559 và hơn chục năm trời trông kho trong rừng thẳm chỉ làm bạn với một chú chó Lào, người anh sắt lại đen đúa như một già làng Tây Nguyên ; có anh cẳng chân nham nhở không ra hình thù gì thì ra một lần vượt sông Sài Gòn anh đã bị cá sấu tấn công, chống chọi với cá sấu trong khi xung quanh tầu tuần tiễu của địch vẫn đang lùng sục trên sông; còn cậu Long ở Lò Đúc trong khi đi lấy gạo bị trúng B52 cả mảng lưng bị lột sạch còn trơ phần xương sống mà chỉ có một lớp da mỏng như tờ pelure phủ lên và rất nhiều câu chuyện được chia sẻ với nhau giữa những người đi và người ở lại trong các quán nước ở xung quanh doanh trại.

Mùa đông năm 1972 sao mà lạnh thế, nhất là trong dãy nhà tuềnh toàng của d22, gió bấc ù ù lùa qua khe vách như những mũi kim châm vào da thịt.

Mỗi thằng 1 chăn Nam Định không đủ ấm, đơn vị lại cho mượn cả chăn dạ Mông Cổ cũng không ăn thua gì.

Hai ba thằng phải ngủ chung với nhau để chống rét.

Những tiếng nổ như sấm rền cùng những chớp lửa hắt qua khe vách làm cho chúng tôi bật dậy theo phản xạ của những thằng lính.

Lao vội ra sân nhìn xung quanh bùng lên những quầng lửa ở phía Yên Viên, phía bên kia sông, kèm theo đó phía Bắc Ninh là những luồng lửa xé màn đêm của các quả tên lửa, bầu trời mùa đông bị xé nát bởi những luồng lửa cao-xạ, chúng tôi lao ra dẫy hố cá nhân ở ngoài doanh trại, biết rằng những hố cá nhân này chẳng ăn thua gì nhưng còn hơn là phơi mình dưới những cơn lốc lửa.

Xa tít trên bầu trời đen kịt rất nhiều ánh đèn nhấp nháy nối đuôi nhau bay vào.

Đích thị B52 rồi, một cảm giác nghẹn lại khi nghĩ tới cái từ B52 này.

Kẻ thù đã đưa loại vũ khí khủng khiếp này ra tận đây, chúng muốn hủy diệt Hà Nội như đã từng hủy diệt Tokyo, Hirosima...trong thế chiến thứ 2.

Chợt có tiếng reo ồ lên : " Cháy rồi !

Cháy rồi !..."

Từ trên bầu trời đỏ rực phia Đông Anh một chùm lửa cháy ngùn ngụt lả tả lao xuống đất.

Một thằng đã bị đền tội, nếu chiếc này là B52 thì quả thực là tuyệt vời.

Trong chiến trường chỉ nhìn thấy chúng ngạo nghễ rải bom mà có được tận mắt thấy chúng bị cháy như ở đây đâu.

Nếu ai đã từng ở trong vệt B52 sẽ biết rằng mức độ tàn phá của nó khủng khiếp như thế nào nhất là ở một thành phố với mật độ dân cư đông đúc với số lượng lớn B52 nhiều như thế.

Thông thường ở QT mỗi tốp máy B52 gồm 3 chiếc oanh kích vào 1 tọa độ nào đó, chỉ có hôm 2/9/1972 trong một ngày khu vực chúng tôi phải chịu 27 lần/chiếc hay đêm 18/11 vừa rồi chúng tôi bị 3 tốp B52 cùng đánh trên trục đường 15 đã thấy khủng khiếp lắm rồi thế mà giờ đây sự khủng khiếp đó đang diễn ra ở đây tại thành phố thân yêu của tôi.

Đấy là đêm 18/12/1972, cái đêm mở đầu cho cuộc không kích tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh của Mỹ vào Hà Nội.

Gần sáng chúng tôi lại phải chạy ra hầm lần nữa, kinh nghiệm lần này vác theo cái chăn để chùm kín lên đầu khỏi rét và tranh thủ ngủ vì nếu còn nghe tiếng nổ nghĩa là mình vẫn con sống.

Sáng ra qua bản tin của đài TNVN thì việc Mỹ dùng B52 đánh Hà Nội là đúng và ta đã hạ được B52 trên bầu trời Hà Nội.

Nghĩ về những người thân mà nhấp nhổm muốn về quá, nhưng vừa mới ở nhà lên được 2,3 ngày trong khi việc quay trở về đơn vị chỉ có ngày một ngày hai mà thôi...

Những đêm sau đó hầu như chúng tôi đều ngủ ngoài trời, d22 lọt thỏm vào giữa những khu vực đánh phá của B52 như Yên Viên, Gia Lâm và các trận địa tên lửa và pháo phòng không.

Ban ngày hầu như yên tĩnh thỉnh thoảng mới có báo động .

Trưa ngày 22/12 sau khi được ăn tươi nhân dịp ngày thành lập QĐ tôi đang chìm trong giấc ngủ vì đêm nào cũng phải dậy mấy lần thì có người báo có gia đình lên thăm.

Tôi định sang nhà c bộ thì đã thấy mẹ cùng anh chị tôi đã ở ngay cửa nhà.

Sau ngày 18 hầu như Hà Nội đều đi hết chỉ còn rất ít người ở lại.

Mẹ tôi hiện đang ở HN, mấy hôm nay bà ở ngay tại cơ quan vì có hầm trú ẩn.

Bố tôi ở khu sơ tán của cơ quan.

Chị tôi cho các cháu đi sơ tán với bà nội, còn chị ở lại.

Khu tập thể Tôn Đản chỗ chị tôi được ngân hàng xây hầm trú ẩn khá liên cố nên cũng yên tâm.

Còn anh tôi vẫn bên trường.

Sốt ruột vì bom B52 tơi bời lại biết tin tôi trở lại chiến trường, cả nhà kéo sang thăm tôi.

Cho đến lúc này ngày giờ chúng tôi xuất phát cũng chưa hề biết nên chỉ còn động viên mẹ tôi và anh chị yên tâm trở về.

Tiễn mọi người ra cổng trại thì ngay lúc đó phía Hà Nội vọng đến tiếng cao-xạ cùng tiếng rít của máy máy bay bay thấp của địch.

Tin ga Hàng cỏ bị trúng bom trưa 22/12 rồi đêm đó BV Bạch Mai bị trúng bom B52 ...làm cho tôi nóng ruột quá.

Ga mà bị ném bom thì nhà tôi thế nào đây ?

Bình tĩnh lại thì lúc ấy mẹ và anh chị tôi vừa ở chỗ tôi về nên cũng yên tâm, còn nhà cửa thì sao, biết đâu 1 quả bom mồ côi lại lạc ra khỏi ga thì sao ?

Phải về ngay, kiểu gì cũng phải về, đây là lý do phải về !

Tôi về qua Tôn Đản mượn xe chị tôi để phóng về.

Ra đến Trần Hưng Đạo nhìn về phía ga, tôi như bị hẫng hụt vì nóc nhà ga với chiếc đồng hồ to tướng có những chữ số La-mã biến đi đâu mất mà ở đấy chỉ còn đống gạch vụn.

Phải nói rằng thằng phi công nào đánh cú này quá tuyệt vì hai bên nhà chờ của hành khách còn nguyên vẹn.

Nói dại chẳng may quả bom đó chệch ra phía nhà tôi độ 70 mét thôi thì không biết điều gì sẽ xảy ra...

Sức ép của bom làm cho các cánh cửa nhà tôi bung ra hết, đồ đạc lung tung hết cả.

Mẹ tôi đang ngồi nhặt nhạnh lại những bát đĩa còn lành, anh tôi đang thu dọn đống sách vở tài liệu bị tung tóe khắp nơi.

Nhà tôi cũng chẳng có gì đáng giá ngoài những bát đĩa cổ từ ngày xưa để lại cùng tủ sách quý của cả nhà.

Ban ngày tôi đạp xe qua những khu phố bị đánh bom như An Dương, BV Bạch Mai để biết tình hình.

Quả thực khung cảnh hoang tàn của 1 thành phố đông dân bị trúng bom hủy diệt khiến lòng ta đau nhói trước những con người vô tội bị giết hại.

Buổi tối chị tôi bắt tôi lên khu nhà chị ngủ lại vì ở đây có hầm trú ẩn.

Đêm đêm khi còi báo động rú lên cùng với những tiếng nổ rung trời của bom đạn và lưới lửa phòng không của ta, cả khu tập thể ngân hàng đều xuống hầm.

Tôi thì không chịu xuống vì cảm thấy mình như lạc lõng giữa những bà con ở đây.

Đã mấy lần khi có tiếng còi báo động ở Nhà hát lớn rú lên chị tôi chạy cuống hầm và giục tôi cùng đi nhưng tôi cứ nấn ná không chịu đi, chợt có tiếng đập cửa và tiếng gọi phia ngoài: "Anh Tường ơi !

Xuống hầm đi !

Nhanh lên !".

Đấy là tiếng của N - cô gái hàng xóm của chị tôi, đang là SV năm thứ nhất Cao đẳng SP Hà Nội - "Tôi không xuống đâu !

N xuống đi !

Mặc tôi, tôi quen rồi".

Tiếng cô gái cương quyết: "Anh không xuống hầm thì em cũng không xuống".

Đến nước này là phải xuống hầm rồi.

Trong hầm mọi người ngủ la ngủ liệt, thì ra mọi người đều chuẩn bị hết cả, N cũng có 1 chỗ đầy đủ cả chăn chiếu để ngủ đêm tại hầm.

Câu chuyện về cô gái đó tưởng như bị lãng quên trong muôn vàn cuộc gặp gỡ trên những nẻo đường chiến tranh nào ngờ nó lại được nhắc lại khi chiến tranh kết thúc và tôi trở về thăm chị gái và các cháu lại gặp cô gái hàng xóm đó nay đã trở thành 1 cô giáo dạy Toán của trường cấp 2 Yên Viên.

Một cô giáo trẻ nhưng rất cả tin vào những câu chuyện tếu táo của tôi và an ủi động viên tôi trước những khó khăn, khúc mắc khi trở về với đời thường.

Kể cũng lạ tôi và mấy đồng đội thân thiết, những thằng ngỗ ngược, ngang ngạnh ấy đều phải chọn cho mình 1 cô giáo chủ nhiệm để quản lý những thằng học trò to đầu nhưng rất cá biệt đó thì phải.

Trải qua những khó khăn vất vả đầy lo toan bộn bề của cuộc sống nhiều khi tưởng như không vượt qua khỏi, cô giáo trẻ ấy đã trở thành cảnh sát trưởng kiêm ma ma tổng quản của bố con tôi và đã cùng đi với tôi cho đến ngày hôm nay.

Đêm 26/12, sau khi tạm ngưng ném bom nhân dịp Noel, Nixon tập trung B52 đánh vào Hà Nội với mật độ dày đặc.

Cũng như những đêm trước khi báo động không thấy tôi xuống hầm, N lại lao lên nhà giục tôi xuống.

Đứng ngoài cửa hầm nhìn những chớp lửa liên tục hắt lên bầu trời chứng tỏ khoảng cách đến nơi bị dội bom đó không xa, nhiều lúc sóng xung kích ập đến làm cho bụi đất cuốn mù mịt.

Sáng 27/12 anh em tôi đưa nhau vào Nhân Chính để xem tình hình nhà cô tôi có làm sao không.

Qua phỗ Khâm Thiên mà không còn nhận ra con phố sầm uất ấy nữa, tất cả chỉ còn lại những đống gạch vụn.

Những xác người phủ chiếu nằm la liệt trong khói hương nghi ngút.

Tất cả đang hối hả lao vào đào bới tìm những người bị lấp dưới đống đổ nát.

Những xác người bị chết vì sức ép, bị sập hầm thâm đen không còn nhận dạng được nữa.

Tiếng khóc của người thân giữa khung cảnh tan hoang sao mà thê lương thế.

Là người đã mấy lần chui ra từ vệt bom B52 và chôn cất đồng đội nhưng ở đây trước những cảnh này tại thành phố quê hương đã khiến trong tôi trào lên mội nỗi uất hận.

Hậu quả của những trận B52 giữa 1 thành phố lớn hơn rất nhiều những trận B52 tại chiến trường làm cho bao người dân vô tội phải chết.

12 ngày đêm dùng B52 đánh bom Hà Nội đã phải chấm dứt.

Kẻ thù đã phải trả giá cho tội ác của chúng: hơn ba chục B52 đã phải phơi xác trên bầu trời Hà Nội.

Chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không buộc địch phải chấm dứt ném bom miền Bắc và tiếp tục ngồi vào bàn Hội nghị.

Mấy hôm nay tranh thủ ngừng bắn, ta tranh thủ đưa quân và hàng hóa vào chiến trường.

Mình chắc cũng phải lên đơn vị để đi thôi thì chị tôi qua một người dân đi đường mang thư của anh Minh báo rời Yên Tử để đi B và ngay đêm đó sẽ qua Hà Nội.

Hai chị em tôi đạp xe qua cầu phao Bác Cổ cứ theo đường 1 đi ngược về phía Yên Viên.

Thị trấn Gia Lâm đổ nát nhất là khu vực nhà máy xe lửa.

Qua nhà máy xe lửa 1 quãng gặp ngay 1 đơn vị bộ đội đang hành quân.

Hỏi ra họ đúng là đơn vị đã huấn luyện ở Yên Tử.

Anh Minh đi ở cuối hàng quân.

Vợ chồng anh chị tôi gặp nhau trước bao con mắt của các bạn đồng ngũ, họ mừng cho anh chị tôi và cũng tiếc nuối không gặp được người thân của mình trước khi đi.

Chị em tôi gặp viên sĩ quan chỉ huy đoàn quân đề nghị cho anh tôi tranh thủ về qua nhà rồi sẽ tiếp tục nhập đoàn.

Anh ta lưỡng lự chỉ lo anh tôi không đuổi kịp đơn vị.

Tôi phải giải thích: các anh phải nhập trạm Thường Tín, chiều tối mai mới xuất phát, gia đình tôi sẽ đưa anh tôi nhập trạm trưa mai, trạm giao liên Thường Tín với tôi quá quen thuộc vả lại tôi mới ở QT ra.

Có lẽ người sĩ quan thấy tôi rất nghiêm chỉnh trong bộ quân phục với quân hiệu đàng hoàng và ông ta lại quá biết anh tôi là người cao tuổi nhất đoàn quân (32 tuổi) nên đã đồng ý với lời dặn: trưa mai phải có mặt.

Sáng 27/12 anh em tôi đưa nhau vào Nhân Chính để xem tình hình nhà cô tôi có làm sao không.

Qua phỗ Khâm Thiên mà không còn nhận ra con phố sầm uất ấy nữa, tất cả chỉ còn lại những đống gạch vụn.

Những xác người phủ chiếu nằm la liệt trong khói hương nghi ngút.

Tất cả đang hối hả lao vào đào bới tìm những người bị lấp dưới đống đổ nát.

Những xác người bị chết vì sức ép, bị sập hầm thâm đen không còn nhận dạng được nữa.

Tiếng khóc của người thân giữa khung cảnh tan hoang sao mà thê lương thế.

Là người đã mấy lần chui ra từ vệt bom B52 và chôn cất đồng đội nhưng ở đây trước những cảnh này tại thành phố quê hương đã khiến trong tôi trào lên mội nỗi uất hận.

Hậu quả của những trận B52 giữa 1 thành phố lớn hơn rất nhiều những trận B52 tại chiến trường làm cho bao người dân vô tội phải chết.

12 ngày đêm dùng B52 đánh bom Hà Nội đã phải chấm dứt.

Kẻ thù đã phải trả giá cho tội ác của chúng: hơn ba chục B52 đã phải phơi xác trên bầu trời Hà Nội.

Chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không buộc địch phải chấm dứt ném bom miền Bắc và tiếp tục ngồi vào bàn Hội nghị.

Mấy hôm nay tranh thủ ngừng bắn, ta tranh thủ đưa quân và hàng hóa vào chiến trường.

Mình chắc cũng phải lên đơn vị để đi thôi thì chị tôi qua một người dân đi đường mang thư của anh Minh báo rời Yên Tử để đi B và ngay đêm đó sẽ qua Hà Nội.

Hai chị em tôi đạp xe qua cầu phao Bác Cổ cứ theo đường 1 đi ngược về phía Yên Viên.

Thị trấn Gia Lâm đổ nát nhất là khu vực nhà máy xe lửa.

Qua nhà máy xe lửa 1 quãng gặp ngay 1 đơn vị bộ đội đang hành quân.

Hỏi ra họ đúng là đơn vị đã huấn luyện ở Yên Tử.

Anh Minh đi ở cuối hàng quân.

Vợ chồng anh chị tôi gặp nhau trước bao con mắt của các bạn đồng ngũ, họ mừng cho anh chị tôi và cũng tiếc nuối không gặp được người thân của mình trước khi đi.

Chị em tôi gặp viên sĩ quan chỉ huy đoàn quân đề nghị cho anh tôi tranh thủ về qua nhà rồi sẽ tiếp tục nhập đoàn.

Anh ta lưỡng lự chỉ lo anh tôi không đuổi kịp đơn vị.

Tôi phải giải thích: các anh phải nhập trạm Thường Tín, chiều tối mai mới xuất phát, gia đình tôi sẽ đưa anh tôi nhập trạm trưa mai, trạm giao liên Thường Tín với tôi quá quen thuộc vả lại tôi mới ở QT ra.

Có lẽ người sĩ quan thấy tôi rất nghiêm chỉnh trong bộ quân phục với quân hiệu đàng hoàng và ông ta lại quá biết anh tôi là người cao tuổi nhất đoàn quân (32 tuổi) nên đã đồng ý với lời dặn: trưa mai phải có mặt.

Chỉ có hơn chục tiếng đồng hồ là anh rể tôi phải đi, không được gặp bố mẹ và 2 con trước khi đi anh rất buồn.

Tôi đã định cùng anh tôi đạp xe ngay trong đêm về Thiên Thai (Gia Lương, Hà Bắc) để cho anh gặp mẹ và các cháu nhưng quãng đường quá xa, đường xấu, đêm tối rét mướt nên đành phải ở lại.

Xã Liên Phương nơi trạm T1 giao liên đóng quân, căn nhà mà tiểu đội anh tôi ở chính là căn nhà mà khi chúng tôi nhập trạm hồi tháng 7.

Anh em cùng đơn vị với anh tôi đều quê ở Hải Phòng và Quảng Ninh, Hải Hưng họ hầu hết là công nhân, cán bộ của các mỏ than, của các xí nghiệp cơ quan đóng tại Quảng Ninh.

Nhớ hồi tháng 4/1972 khi tôi nhận được tin anh tôi nhập ngũ và lúc ấy chị tôi cùng 2 cháu đang ở ngoài đó, tôi đã phải ra Uông Bí rồi vào Mẫu Sơn nơi Liên đoàn địa chất của anh tôi ở để đón chị và các cháu về Hà Nội.

Anh tôi tốt nghiệp Tổng hợp Lý năm 1965 về công tác tại Liên đoàn 2 địa chất tại Quảng Ninh.

Là kỹ sư địa vật lý chuyên về karota, dùng phóng xạ co-bal để thăm dò trữ lượng qua lỗ khoan.

Trong buổi tiễn đưa tại cơ quan hôm ấy, người kỹ sư Nga chuyên gia về karota bày tỏ rất tiếc khi anh tôi lên đường nhập ngũ trong khi người thay thế chưa thể đảm đương được công việc.

Có lẽ chính vì lý do đó mà anh tôi đã được lui lại đến đợt tháng 9/1972.

Chiều tối anh tôi lên đường, không ngờ chị em tôi ra tiễn anh lần này cũng là lần anh ra đi mãi mãi.

Đầu năm 1974 khi tôi đang ở Nam Cửa Việt thì nhận được thư của anh tôi gửi từ Bình Long, lá thư nhầu nhĩ vì phải trải qua một chặng đường dài.

Anh viết từ tháng 9/1973, anh ở sư đoàn 9 miền Đông Nam Bộ, anh đã nhận được thư của chị tôi cho biết số hòm thư của tôi.

Đầu năm 1975 chị tôi nhận được thư của 1 người bạn cùng đơn vị lại cùng cơ quan cũ báo tin anh tôi đã hy sinh khi đang điều trị sốt rét tại bệnh xá của đơn vị.

Theo lá thư của người bạn đã chứng kiến giờ phút cuối cùng của anh tôi: người ta truyền nước cho anh tôi nhưng để tốc độ truyền quá nhanh khiến cho người bệnh bị sốc vì nước ngập tim, trong khi lượng máu của người bệnh không còn nhiều...Cuối năm 1975 chị tôi vào TP Hồ Chí Minh được bạn bè của anh tôi đưa đến nơi anh hy sinh.

Đấy là 1 khu rừng nơi đặt bệnh xá của Sư đoàn 9 ở huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước bây giờ.

Đến tháng 8/1990 tôi cùng chị tôi vào đưa anh tôi về Hà Nội, khi ấy mộ anh tôi đã được di dời về NTLS của huyện Bình Long nằm ngay cạnh quốc lộ 13 cách Sài Gòn hơn bẩy chục cây số.

Ngày ấy chưa có chủ trương đưa các LS về quê nhà nên gia đình tôi phải đưa anh về quê tôi ở Định Công ngay gần mộ của ông bà nội, quê của anh mãi tận Hà Tĩnh mà ở đó chẳng còn ai.

Cho tới năm 2003 một lần nữa mộ anh tôi lại được di dời về NTLS của Thành phố đặt tại xã Tây Tựu, Từ Liêm.

Anh tôi nằm đó xung quanh là những đồng đội của nhiều thế hệ Liệt sĩ.

Ước nguyện đó đã làm cho anh tôi toại nguyện vì một lần sau khi đưa anh về quê chị gái tôi có năm mơ thấy anh: về đây tuy được gần vợ gần con nhưng buồn lắm vì xung quanh toàn người lạ, không có đồng đội.

Anh tôi nằm cùng khu với chị Trâm - người bạn học cùng trường Chu Văn An ngày xưa, phía trước mặt là mộ của Thạc.

Cũng tại NTLS này có nhiều mộ của đồng đội tôi như mộ của Tiến (c3/d1), của anh Lâm (c1/d1) là những người bạn cùng ra đi từ ĐHXD mà chúng tôi đã đưa về, rồi mộ của Phạm Vũ Hồng (c12/d3) và Hoàng Tích Minh nữa...

Sau khi đưa anh Minh tôi quay sang đơn vị, lúc này mới biết đơn vị đã đưa những anh em trở lại đơn vị lên đường cách đấy mấy hôm.

Tôi và một số anh em khác lên muộn phải lên gặp d bộ giải trình việc không quay về đơn vị.

Lại kiểm điểm, lại hứa hẹn, lại cam đoan rồi về ...

Ông d trưởng nói: riêng các anh về 325 sẽ có người của đơn vị về tận nơi đón đi.

Những ngày này hương vị xuân 1973 đang dần dần đến, trời vẫn mưa rét nhưng không khí của hòa bình đang đến gần, đài Tiếng nói Việt nam liên tục phát bài hát Đường chúng ta đi rất là náo nức.

Hồi cuối tháng 10 vừa qua cũng thế đấy, sau rồi lại tiếp tục đánh nhau, còn lần này chắc là hòa bình đến nơi rồi vì con bài B52 của Mỹ chắc là con bài cuối cùng của chúng.

Thế rồi niềm vui chợt vỡ òa lên khi tin Hiệp định Paris đã được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và thực hiện hòa hợp dân tộc ở miền Nam...Sung sướng quá, không biết giờ này đơn vị tôi đang ở đâu ?

Đồng đội tôi ai còn ai mất ?

Khu vực Chợ Sãi, An Tiêm, Nại Cửu ra sao thuộc về ta hay địch...

Trong đoàn người đi đón giao thừa xung quanh Bờ Hồ, thấp thoáng trong đám đông đủ mầu sắc là những sắc áo Tô Châu của những người lính như tôi.

Tôi cảm nhận rất nhiều ánh mắt nhìn theo như muốn tìm thấy ở chúng tôi hình bóng của người thân mình đang ở chiến trường xa.

Có lẽ tôi là một trong những người hạnh phúc nhất khi được đón xuân trong thời khắc một nửa đất nước lại có hòa bình trở lại.

Mới chỉ hôm qua thôi qua đài báo đưa tin chiến sự tại Cửa Việt mới chấm dứt.

Ta đã giành lại quyền kiểm soát cảng Cửa Việt khi QĐSG lấn chiếm lợi dụng khi HĐ Paris vừa có hiệu lực.

Bối cảnh này liệu có lặp lại như sau HĐ Genève 1954 không ?

Thời gian sẽ kéo dài bao lâu ?...

Câu hỏi đó vượt qua khả năng trả lời của tôi có lẽ chỉ để giành cho các nhà chính trị mà thôi...

Chúng tôi rời d22 để trở lại hậu cứ của sư đoàn tại Bắc Giang.

Dẫn chúng tôi đi là anh Bắc, trợ lý quân lực của e101 chính là người đã làm thủ tục cho tôi đi viện tại phẫu trung đoàn hồi tháng 9 năm ngoái.

Tốp chúng tôi từ 869 đi có 3 người, 2 cậu kia là lính của d3 quê ở Gia Lâm.

Không khí sau Tết không còn lạnh lắm, chúng tôi băng cánh đồng ra đường 1 để bắt xe đi Bắc Giang.

Đoạn đường chúng tôi đi phải băng qua mấy vệt bom B52 hồi tháng trước, trên mặt ruộng vẫn còn chi chít những hố bom.

Không khí đầu xuân của làng quê thật là thanh bình nếu như không hiện hữu nhưng gì còn lại của chiến tranh.

Chúng tôi đến 1 xóm nhỏ nằm ven sông Thương, bên kia là nhà máy phân đạm Hà Bắc.

Từ xóm này ra cầu Bắc Giang chưa đầy 3 cây số.

Đây là xóm Đồng thuộc xã Song Mai, huyện Việt Yên, Hà Bắc.

Song Mai là hậu cứ của sư bộ 325 trước khi đi B đầu năm ngoái.

Hiện tại có 1 bộ phận nhỏ quản lý hậu cứ cũng như thu dung quân từ các tỉnh để đưa về lại đơn vị.

Ông bà cụ chủ nhà nơi tôi ở năm ấy chừng 60 tuổi có 2 cô con gái, chị lớn tên là Lự là phó chủ tịch xã, cô em tên là Vân là bí thư chi đoàn của thôn.

Chồng chị Lự cũng là bộ đội đi B, 2 người có 1 cậu con trai chừng 5 tuổi.

Đây là 1 xóm nghèo, thanh niên hầu như đi bộ đội nên mọi công việc đồng áng đều đổ lên vai phụ nữ và người già.

Ông cụ chủ nhà vẫn phải đưa trâu đi cầy.

Tình cảm dân làng đối với chúng tôi rất mộc mạc chân tình khi biết chúng tôi là những thương binh tập trung để trở về đơn vị.

Mấy ngày sau đó các đoàn thu dung từ các tỉnh Bắc Thái, Hải Phòng, Hải Hưng ...cũng lục tục tập trung về xóm Đồng này.

Đại bộ phận là từ các trại an dưỡng của các tỉnh nhưng cũng có một số anh em đảo lạc ngũ được thu gom để cùng đi.

Ngày 3 bữa cơm chẳng còn việc gì làm bọn tôi lại lang thang khắp nơi để giết thời gian.

Từ chỗ đóng quân leo tắt qua sườn 1 quả núi thấp chúng tôi ra đến cây số 8 trên trục đường từ Bắc Giang đi Nhã Nam.

Người ta quen gọi cây số 8 vì đây là nơi dân thị xã Bắc Giang sơ tán về rất đông vui nhộn nhịp.

Chủ nhật ở đây rất vui, bộ đội của các đơn vị đóng gần đấy la cà ở các quán xá.

Có 1 quán nước của 1 cô chủ xinh đẹp rất đông khách bộ đội lui tới.

Chúng tôi gọi là quán của marie Thọ, trong khi anh em xà vào quán thì thu hút tôi lại là 1 quầy sách báo ngay gần đấy.

Hầu như báo chí đều của mấy ngày trước nhưng được cái mua rẻ (tôi còn nhớ báo Nhân dân hay Quân đội nhân dân hàng ngày giá là 7 xu, nhưng vì báo cũ nên tôi chỉ mua có 5 xu bằng 1 chén nước chè).

Thích nhất là vớ được những cuốn Văn nghệ Quân đội giá 4 hào, mặc dù có thể số tạp chí này đã phát hành từ mấy tháng trước nhưng ông bán báo dứt khoát không hạ giá mà giữ nguyên giá bìa.

Chỉ có mấy tuần nằm ở xóm Đồng mà tôi cũng đã gom được hơn chục cuốn VNQĐ cùng 1 lô báo chí.

Trong số những người trở lại đơn vị có Lê Thanh Sơn ở c8/d5/e95 quê Hải Phòng nguyên là SV K15 Toán ĐH bách khoa; Chung d5/e95 quê Thái Nguyên là SV ĐH kinh tế kế hoạch.

Sơn sau này là 4//, cục phó cục nhà trường và là Chủ tịch Hội Cựu SV-CS Thành cổ Quảng Trị và Chung hiện là Cục phó Cục dự trữ quốc gia.

Tôi cũng gặp Đồng cùng c3 với tôi, cậu ta quê Thái Nguyên vốn là học sinh trung cấp lâm nghiệp ở Quảng Ninh bị thương ra trước tôi.

Sau này Đồng thi vào ĐHBK TP Hồ Chí Minh và lập nghiệp tại đây.

Còn phải kể đến Nết ở c20/e101 cùng huấn luyện ở d60/f304 với tôi, Đăng c4/d1 quê ở Thúy Lĩnh, Thanh Trì...

Trước khi đi chúng tôi được cấp phát bổ sung tăng, võng, xanh-tuya-rông và bình tông nước, đây là những trang bị chiến đấu được trang bị trước khi đi B.

Chúng tôi rời xóm Đồng vào 1 buổi sáng nắng ấm, bà con trong xóm bịn rịn chia tay chúng tôi.

Nhớ mãi tình cảm của người dân xóm nghèo giành cho chúng tôi và vùng quê này chính là xuất sứ của bài ca "Tấm áo mẹ vá năm xưa" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.

2 xe ca chở chúng tôi ra đường 1 và xuôi về Hà Nội, đã nói trước với trưởng đoàn nên khi đến trước Ga Hàng Cỏ tôi xuống xe và chạy nhanh về nhà.

Thật không ngờ hôm nay có cả bố mẹ tôi và cả bà ngoại nữa.

Bà tôi năm nay đã ngoài 80 nhưng vẫn đi bộ từ Nguyễn Công Trứ đến thăm con cháu.

Bà ơi !

Hãy đợi cháu về nhé, chắc ngày đó chẳng còn lâu nữa đâu !

Ở trạm giao liên T1 tại xã Liên Phương, Thường Tín tôi lại được bố trí vào ở ngôi nhà cổ mà hồi tháng 7 năm ngoái đi B đã ở và cũng là ngôi nhà anh Minh ở hồi đầu năm để đi B.

Lần này chúng tôi đi bằng tầu hỏa vào Vinh, đoàn chúng tôi cùng đi với 1 tiểu đoàn quân tăng cường của Hà Bắc, họ nhập ngũ tháng 12/1972 và huấn luyện ở Mai Sưu.

Trên đường 1 cùng trực chỉ hướng Nam với chúng tôi là những đoàn xe tải chở hàng, có cả những xe chở quân.

Quân trên tầu, quân đi xe mỗi khi đường sắt cà đường bộ chạy sát nhau đều í ới gọi nhau hỏi thăm quê quán và đích đến của nhau: họ B dài, chúng tôi B ngắn.

Chúng tôi nghỉ tại trạm giao liên tại 1 xã thuộc huyện Hưng Nguyên, gần TP Vinh để hôm sau lại đi tiếp bằng xe tải quân sự.

Vinh đang hồi sinh trên đóng tro tàn của chiến tranh, đâu cũng thấy tranh, tre, nứa, lá để dựng lại nhà cửa trên những nền nhà đã bị bom Mỹ san phẳng.

Qua cầu phao Bến Thủy, chúng tôi vào đất Hà Tĩnh.

Cuộc sống thanh bình đang dần dần trở lại về với mảnh đất miền Trung nghèo khó nhưng rất nên thơ này.

Chiều tà chúng tôi dừng ở trạm Kỳ Anh để sáng mai vượt đèo Ngang.

Cảnh sắc đèo Ngang là núi, là rừng vươn mình ra phía Đông như muốn níu kéo khoảng xanh vô tận của biển cả vào lòng mình.

Thật là tuyệt đẹp.

Nắng xuân trải dài hòa quyện mầu xanh của núi rừng với mầu thạch bích của đại dương khiến cho lòng mình xốn xang trước phong cảnh sơn thủy hữu tình này.

Đây là lần đầu tiên tôi được dong duổi qua dải đất miền trung dọc theo đường 1 giữa ban ngày như thế này.

Phải nói rằng sau đó mấy chục năm tôi qua đây rất nhiều nhưng cảm giác không được như lần đầu tiên này có lẽ đó là cảm giác tuyệt vời nhất mà sau này chỉ có núi đâu còn những vạt rừng hoang sơ như ngày xưa nữa...

Qua đèo Ngang là đến đất Quảng Trạch, Quảng Bình là những đồi cát trắng nham nhở những hố bom, hố pháo với những vạt phi lao tơi tả bởi bom đạn kẻ thù.

Chúng tôi nghỉ tại trạm Ba Đồn ở bắc sông Gianh trong 1 xóm nhỏ không xa đường 1.

Xóm nhỏ này chắc dân mới trở về dựng những ngôi nhà tạm trên những vạt cát trắng, nhà cửa tuềnh toàng, mái lợp lá gồi 4 vách nhà cũng bằng lá gồi được dựng lên để đón gió.

Hàng trăm xe xếp hàng chờ qua phà Gianh, nhưng xe chở quân được ưu tiên qua trước.

Sang đến bờ Nam chúng tôi gặp 1 đoàn xe ca treo cờ giải phóng và băng khẩu hiệu đi ngược lại đó là đoàn xe chở những tù binh của ta được trao trả ở sông Thạch Hãn.

Những người chiến thắng trở về này gầy gò, xanh xao trong bộ quần áo mới vẫy tay chào chúng tôi, nhìn họ tôi chợt nhớ tới trận đánh Chợ Sãi hôm đó: liệu có ai trong số anh em cùng đơn vị bị địch bắt không, nếu có liệu họ có mặt trong đợt trao trả lần này không ?

Thị xã Đồng Hới bị bom đạn san phẳng, từ xa đã nhìn thấy tháp chuông nhà thờ còn sót lại, đó chính là nhà thờ Tam tòa.

36 năm sau vào dịp 27/7 2009, đoàn cựu SV-CS Thàng cổ QT trên đường từ QT ra, đi qua khu vực nhà thờ này đúng lúc có sự kiện giáo dân ở đây bị kích động chiếm nhà thờ.

Các lực lượng an ninh làm nhiệm vụ ra chặn xe của chúng tôi bắt đi đường vòng không cho đi ngang qua nhà thờ nhưng nhờ có băng rôn đỏ ở mũi xe: Cựu Sinh viên-Chiến sĩ trở về với Thành cổ Quảng Trị nên được phép đi qua.

Chúng tôi rời đường 1 để lên đường 15.

Qua cầu phao Long Đại mà chúng tôi vẫn gọi là Long Đầu bởi đây chính là trọng điểm bắn phá của địch trên trục đường 15.

Con đường chiến lược đầy ổ voi, ổ trâu đang ở cuối mùa khô bụi một cách khủng khiếp, có những lúc xe 3 cầu bị chúi vào những hố bụi đất ngập gần hết bánh xe.

Cứ lắc lư, nẩy lên nẩy xuống dưới cái nắng gay gắt của miền Trung cuối cùng chúng tôi dừng lại tại một ngã tư và tất cả xuống xe.

Đến một vạt rừng cao-su chúng tôi được lệnh dừng tại đây.

Vạt rừng cao-su này thuộc Nông trường Quyết thắng của khu vực Bãi Hà.

Cảm giác ban đầu được nghỉ lại trong 1 cánh rừng cao-su đẹp như thế này tưởng là rất dễ chịu dưới cái nắng đầu mùa nào ngờ lại rất oi ả, khó chịu vô cùng, không hiểu tại sao lại như vậy.

Sau này mới biết đặc thù ở những rừng cao-su không khí rất nặng nề, đậm đặc.

Buổi chiều 1 cán bộ của trạm khách ra làm việc với trưởng đoàn, nào ngờ đó là thầy Khôi dạy Toán của trường ĐHXD cùng nhập ngũ với tôi.

Đêm đó tôi ngủ lại chỗ thầy Khôi (tôi đã nói ở đoạn đầu của bài viết này).

Chúng tôi được xe chở ra trạm Hồ Xá, từ đây các đơn vị của 325 sẽ đón về.

Cái đêm ở Hồ xá đã xảy ra một chuyện không lấy gì làm hay ho cho lắm.

Đêm ấy có chiếu phim, anh em trong đoàn rủ nhau đi xem nhưng tôi không đi vì đang viết dở thư gửi về nhà.

Sau khi xem phim về tôi biết đêm trước xẩy ra 1 vụ lộn xộn đánh nhau ở bãi chiếu phim giữa bộ đội với nhau.

Sáng hôm sau chúng tôi được lệnh tập trung toàn đoàn để đọc danh sách của từng trung đoàn, một việc rất bình thường.

Đột nhiên phía hàng quân của e18 xuất hiện 1 tốp bộ đội nai nịt gọn ghẽ với đầy đủ súng ống.

Người chỉ huy đọc tên 3 người ra đứng ngoài hàng, đồng thời 6 người lính với súng ống nói ở trên tiến đến khống chế 3 người trong đoàn chúng tôi.

Người chỉ huy đọc lệnh bắt giữ những người này vì đã gây rối trong đêm chiếu bóng hôm trước.

Thực ra bất cứ một đêm chiếu phim nào mà chẳng lộn xộn vì lính tráng chòng ghẹo chị em địa phương nhưng ở đây quân ta đánh lộn với đơn vị cạo xạ đóng gần đó, nghiêm trọng hơn cậu Cần (e18, quê Thái Nguyên) đã cướp súng của vệ binh và bắn chỉ thiên, ông Hồng (tôi tạm đặt tên vì không còn nhớ nữa) là b phó và là phó đoàn vì bênh lính mình mà bị vạ lây.

Sau này nghe tin họ bị trả về sư đoàn giam 1 thời gian rồi bị loại ngũ trả về địa phương.

Tốp về e101 chúng tôi được 1 cậu truyền đạt của c18 đưa về.

Cả tốp có gần chục người hành quân vào Hiền Lương.

Sông Bến Hải đây rồi, cầu Hiền Lương bị đổ xụp vì bom Mỹ từ 1967.

Nối đôi bờ sông là chiếc cầu phao dã chiến của công binh, 2 đầu cầu là 2 cột cờ cao vút bằng thép được dựng lại: bờ bắc là cờ Tổ quốc, bờ Nam là cờ Giải phóng.

Người qua cầu rất đông và chủ yếu lại là bộ đội.

Chúng tôi bước xuống cầu phao, người lính mang quân hàm xanh của Công an vũ trang đứng gác ở đầu cầu phía Bắc yêu cầu chúng tôi tháo hết quân hiệu ngôi sao đỏ trên mũ trước khi sang đến bờ Nam để tránh sự soi mói của Ủy ban quốc tế đang làm nhiệm vụ giám sát.

Đi vào khu phi quân sự mới thấy sự ngẫu nhiên của thiên nhiên được chọn khi con người với mục đích chính trị lấy vĩ tuyến 17 có dòng Bến Hải để làm ranh giới giữa 2 miền Nam Bắc theo HĐ Genève 1954: phía Bắc khu phi quân sự là 1 dẫy đồi cao chạy từ Cửa Tùng qua Vĩnh Thành, ngược lên Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy với cao điểm 74 như bức thành phía Bắc; tương tự như thế ở phía Nam khu phi quân sự cũng là 1 bức thành từ cao điểm 31 Bắc Cửa Việt chạy qua Dốc Miếu lên Cồn Tiên rồi 241, 544 - đây chính là nơi hàng rào điện tử Măc Namara chạy qua.

Khắp nơi ngổn ngang xác xe tăng, trọng pháo và những chiến cụ còn lại sau đợt tấn công cuối tháng 3 năm ngoái.

Cây cối đã hồi sinh trên những hố bom, hố pháo, trên những công sự lở loét chất đầy bao cát và dây thép gai...Dốc Miếu là căn cứ pháo binh rất mạnh nằm trên hệ thống hàng rào điện tử Măc Namara đã bị chúng ta nghiền nát ngay trong ngày mở màn chiến dịch giải phóng Quảng Trị 30/3/1972.

Qua khỏi Dốc Miếu chúng tôi đến chợ Hà Thượng họp ngay ven đường 1.

Chợ cũng lèo tèo không có nhiều hàng hóa mà chỉ có hàng nông sản.

Ở đây bầy bán 1 loại củ to như bình tích có mầu tía, lá rất giống với lá trầu không, cậu truyền đạt chọn mua một củ nói rằng để nấu canh ăn bữa trưa.

Từ chợ Hà Thượng chúng tôi rẽ trái băng qua những đồi cát trơ trụi không 1 bóng cây.

Một xóm nhỏ ở ngay ven đường, chúng tôi nấu nhờ cơm ở 1 nhà dân trong xóm.

Củ khoai tía nấu canh với mì chính ăn lạ miệng rất ngon, tuy không có thịt hay xương nhưng nồi canh rất ngậy và béo.

Bà con ở đây mới từ Vĩnh Linh trở về, dựng lại túp nhà bằng những vật liệu nhặt được như tôn, gỗ dán, cọc hàng rào dây thép gai và những mảnh bao cát được khâu lại để che chắn cái nắng gió của mảnh đất này.

Chúng tôi được biết đơn vị từ cuối tháng 10 đã rút ra Bắc Quảng Trị để củng cố sau đó lại tiếp tục sang bờ Nam Cửa Việt chiến đấu.

Trận chiến đấu giành lại cảng Cửa Việt ngay hôm ký HĐ Paris chính là của trung đoàn tôi cùng 1 số đơn vị bạn.

Chúng tôi nghỉ đêm tại thôn Nhị Thượng, hồi tháng 11 năm ngoái sau khi rút khỏi khu vực Chợ Sãi, An Tiêm, Nại Cửu e101 về đóng ở đây để củng cố trong thời gian ngắn sau đó lại tiếp tục vượt sang bờ Nam Cửa Việt cho đến tận bây giờ.

Khung cảnh xung quanh toàn là những trảng cát không 1 bóng cây, xen lẫn là những khoảng đất trũng mọc toàn giống cỏ lác, phía trước sừng sững cao điểm 31- một quả đồi cũng toàn cát vươn lên giữa biển cát mênh mông.

Nhìn những cánh đồng cỏ lác úa vàng vì giờ là mùa khô không còn ngập nước như ngày nào theo đường chuyển thương ra Bắc chợt nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra trong quãng thời gian ngắn ngủi vừa qua và mường tượng tới quãng đường trước mặt đang chờ đợi tôi.

Dưới cái nắng đầu mùa rực rỡ, gió từ biển thổi vào lồng lộng cuốn theo những bụi cát mù trời.

Trước chúng tôi là mắt sông Cửa Việt với mặt nước xanh biếc và phẳng lặng.

Từ bờ này sang bờ bên kia khá rộng phải đến gần 800 mét.

Dọc bờ sông không 1 bóng người, gần đấy chúng tôi thấy có 1 chiếc xuồng cao-su buộc vào 1 sợi cáp vắt sang bờ bên kia.

Chúng tôi ngồi trên xuồng cao-su và kéo dây cáp để sang bờ Nam.

Sang đến bờ Nam đã thấy thấp thoáng những mái nhà lợp tôn sáng loáng dưới ánh sáng mặt trời giữa biển cát mênh mông.

Đã nhìn thấy những ngôi nhà bị bom đạn phá hủy, một vết tích của 1 nhà thờ còn sót lại.

Hỏi ra đây là thôn Tường Vân của xã Triệu Vân.

Từ bến sông chúng tôi theo người dẫn đường về e bộ.

Những gì còn sót lại của trận chiến bảo vệ cảng Cửa Việt dường như còn nóng hổi: xác xe tăng M48, M41,M113 nằm ngổn ngang dọc theo mép biển, có những chiếc hầu như còn nguyên vẹn.

Những công sự bao cát của địch ngổn ngang khắp nơi với vỏ lon bia, vỏ đồ hộp, túi cơm sấy, vỏ súng M72 và các loại thùng đạn....

Từ trên đồi cát cảm nhận của tôi với vùng đất mới này là chỗ nào cũng cắm cờ giải phóng, phía cảng Mỹ 1 cột cờ cao lồng lộng một lá cờ nửa đỏ nửa xanh khổ lớn tung bay giữa biển cát trắng xóa và mầu xanh biếc của biển và trời Cửa Việt.

Không xa về hướng Nam những dãy cờ giải phóng chạy dài chênh chếch về phía Tây Nam xen lẫn với những lá cờ vàng ba sọc của địch - đấy chính là tuyến giáp ranh giữa ta và địch theo HĐ Paris.

Chúng tôi tạt vào một nhà âm giữa những cồn cát, đây là quân lực của trung đoàn.

Người cán bộ quân lực đón chúng tôi cho biết tốp về 101 không dính dáng gì về chuyện xảy ra ở Hồ Xá hôm trước.

Chia tay Nết về c20 và 2 cậu về d3; tốp về d1 còn 2 người ở c2, 2 người c3, 1 ở c4 lại đi tiếp.

Có một cán bộ của d1 lên họp và chúng tôi theo anh ta về tiểu đoàn.

Tiểu đoàn 1 đóng ở thôn Lệ Xuyên, ngay cạnh một lạch nước lợ trong vắt.

Nơi tiểu đoàn bộ đóng cũng đã thấy những nếp nhà lợp tôn của dân trở về dựng tạm trên nền nhà cũ.

Người trợ lý quân lực của d nhìn thấy tôi đọc luôn cả họ lẫn tên và những thông tin trên trích ngang.

Còn những anh em khác anh ta chỉ hỏi tên và tra sổ.

Thấy tôi ngạc nhiên vì đây là lần đầu mới gặp anh ta mà anh lại biết tôi rõ thế.

Anh ta cười bảo: " Riêng việc ông đeo kính đi đánh nhau là chúng tôi biết ông là ai rồi ".

Thế đấy việc nhớ tên của cán bộ quân lực thì đây là nghề nghiệp của họ, ngoài ra họ còn phải biết những đặc điểm riêng nữa, thật là bái phục.

Từ d bộ 1 tôi được chỉ đường vể đại đội.

Ra khỏi xóm gặp đường 4 được đổ bê- tông xi măng rất dầy trên nền cát mà pháo và bom đào những hố rất lớn trên mặt đường khiến cho những tảng bê-tông chồng chất lên nhau, tôi đi về phia cảng chừng 1 cây số thấy bên phải nhấp nhô mấy gò cát cao với một cái lều bạt dã chiến giữa được dựng giứ một đám cỏ dại hiếm hoi ở nơi cát trắng này - đấy chính là 4 mỏm là tên lính tráng đặt tên còn trên bản đồ có tên là điểm cao 5,2 - đó là nơi c3 của tôi chốt giữ.

Người đầu tiên tôi gặp là Trình ba toác - cái tên từ khi còn huấn luyện.

Trình trước là giáo viên cấp 2 quê Lập Thạch, Vĩnh Phú, khi ở huấn luyện là b phó, vào đến đây là b trưởng, giờ là c phó.

Trình cho tôi biết số người cũ chẳng còn mấy: mấy thằng cùng trường như Chiến, Sơn ra học Đại học kỹ thuật quân sự, số anh em chiến đấu với nhau người thì hy sinh, người bị thương đi viện.

Thằng M.

đảo ngũ ngay cái hôm vào trận, nó là cái thằng khi huấn luyện ngoài Bắc luôn luôn tỏ ra mình là một người cấp tiến, cứ leo lẻo cái mồm, phát ngôn như 1 chính trị viên thực thụ lại còn lên mặt phê phán tôi và mấy người khác về tội phát biểu không có lập trường.

Khi về cùng c3 nó ở b2, tôi ở b1, mãi cho tới đêm vào trận tôi mới thấy mặt nó khi nó bắt tay tôi động viên: "Cố gắng nhé".

Chuyện đi hay ở là chuyện của nó nhưng nó đừng có vơ vét hết quân tư trang của anh em để chuồn.

Về sau tôi mới biết khi nó ra đến Gio Linh, Cam Lộ gì đó thì bị bắt đưa về một đơn vị vận tải.

Cho tới năm 1975 khi tôi về trường thì nó đã về trường từ lúc nào, nó có đến hỏi thăm tôi sau đó mất dạng.

Nghe nói nó bây giờ đang giữ một trọng trách về xây dựng hay giao thông gì đó ở một tỉnh gần Hà Nội.

Trận đó Triệu mất tích hiện đang ở diện nghi vấn.

Bắc "điếc" chết rồi, nó đi tải đạn về gần hầm không nghe tiếng xoẹt của pháo, nếu như thằng Th. kéo nó vào ngay thì cũng chưa chắc đã chết.

1 mảnh pháo phạt vào gáy, tội quá.

Nhớ đến nó tôi nhớ tới những lúc nó tần ngần giở những tờ bạc không kịp gửi về cho mẹ và khi nó cứ lầm bầm đọc kinh mỗi khi pháo địch dội trên hầm.

Tôi nhìn thấy cái ba-lô của tôi ở góc hầm, Trình đang dùng nó.

Những ngày chiến đấu anh em thường lấy những quân trang của những người đi viện để dùng.

Tôi hy vọng những cuốn sách của tôi nhặt được vẫn còn nhưng chẳng còn gì ngoài cái ba-lô vẫn đề tên tôi trên nắp.

Đổi cho Trình cái ba-lô mang từ Bắc vào, tôi lấy lại cái ba-lô cũ, với nó tôi cảm nhận tất cả những gì từ khi nhập ngũ.

Nếu ai có dịp qua nhà tôi, tôi sẽ cho các bạn xem cái ba-lô thủng lõ chỗ vì mảnh pháo đó cùng những gì tôi còn giữ lại cho đến bây giờ như như hăng-gô, bình tông, xanh-tuya-rông, dao găm...những đồ này sau này mới có.

Nhưng quý nhất là chiếc ba-lô suốt từ khi nhập ngũ 27/5/1972; cái thìa US, cái mở đồ hộp và bật lửa Zippo là những chiến lợi phẩm vẫn nóng hổi của trận chiến cho đến bây giờ.

Đơn vị hầu như toàn những người mới là quân bổ sung từ Thanh Hóa, Hải Phòng, Nam Hà.

Tôi lại về a3, tiểu đội hầu như người mới cả.

Cảm giác trên đường trở lại đơn vị nao nức bao nhiêu thì khi về đến đơn vị lại buồn bấy nhiêu.

Cánh Đông tạm thời ngưng tiếng súng, sự chia sẻ đồng cảm nhau trước cái chết tạm thời lui ra thay thế vào đó là mối quan hệ đồng hương, bè phái mà xuất phát từ những ý nghĩ địa phương, cục bộ của một số cán bộ.

Ông Tr. giờ là cv trưởng, trong thời gian đánh nhau đã có lúc sợ quá đến nỗi đi vệ sinh ngay trong hầm và sai liên lạc đem đổ.

Giờ ông ta huênh hoang khoác lác trước những đồng hương là lính mới bổ sung về những ngày đánh nhau ở ven Thành Cổ mà không một chút ngượng mồm.

Mà hình như ông ta rất dị ứng với tôi khi biết tôi nắm rất rõ cái sự tích ống cóng đó.

Biết tôi bơi tồi nhưng ông ta vẫn cử tôi đi theo bè chở vật liệu từ Ái Tử hoặc chở gỗ từ thượng nguồn Bến Hải về Cửa Việt.

Mỗi lần đi như thế anh em giúp tôi rất nhiều nhất là khi đi bè tôi thường được vác ba lô lương thực, thực phẩm đi ven sông để chuẩn bị chỗ ăn nghỉ cho anh em.

Đơn vị hầu như toàn những người mới là quân bổ sung từ Thanh Hóa, Hải Phòng, Nam Hà.

Tôi lại về a3, tiểu đội hầu như người mới cả.

A trưởng là Hảo quê Nghĩa Hưng, Nam Hà đồng hương với ông Khảm c trưởng.

Cậu ta thuộc quân U38 của Nam Hà tăng cường cho đơn vị sau trận Cửa Việt.

Tiểu đoàn này ngoài những tân binh còn có 1 số anh em lính cũ trong diện thu dung.

Số quân Hà Nội ngoài tôi còn có 2 người nữa là D. và S. cũng là diện thu dung trở về.

Số người đã tham chiến ở An Tiêm, Chợ Sãi, Nại Cửu bị thương trở về cũng không còn nhiều.

Có một điều đặc biệt số quân Hải Phòng khá đông nhưng lại tập hợp lại theo kiểu bè đảng khống chế những anh em khác.

Ngay ngày đầu tiên trở về tốp quân HP này đã cho người gây sự với tôi theo kiểu dằn mặt lính cũ.

Hôm đó sau buổi tập trung cả c, thằng C.

ở b2 cố tình huých tôi, khi tôi hỏi: "Sao vậy ?" liền đó 2, 3 thằng xông vào dùng mũ cối đập tôi, tôi né tránh được, nhưng sau đó phải chịu trận vì 1 thằng xông lại ôm lấy tôi.

Trước tình thế đó tôi quẫy ra được và quay ngay mũi khẩu AK ở trên vai lên đạn chĩa vào chúng nó và quát:"Muốn chơi nhau thì 1 chọi 1,còn chơi hội đồng tao cũng chơi !

Chết tao cũng chẳng sợ nói gì mấy thằng hèn".

Chúng nó lui ra ngoài, và lảng ra khi mấy vị cán bộ c xuất hiện.

Bản lĩnh được tôi luyện khi sinh ra và lớn lên ở khu ga Hàng Cỏ khiến tôi không ngán mọi sự va chạm nào nhưng tâm trạng rất buồn vì mối quan hệ đồng đội như vậy, cán bộ của đơn vị hình như né tránh những chuyện như thế.

Buổi chiều, tôi lên thẳng hầm c bộ và thẳng thừng tuyên bố: sẽ không chịu trách nhiệm những gì sẽ xảy ra một khi chuyện sáng nay lặp lại.

Các ông ấy bảo tôi về và sẽ xem xét giải quyết, nhưng rồi chuyện đó cũng bèo dạt mây trôi không thấy quay trở lại.

Cuối tháng 1/1973, sau Hiệp định Paris ta đập tan tham vọng chiếm lại cảng Cửa Việt của địch, tiêu diệt lữ đoàn đặc nhiệm 147 TQLC với hơn 100 xe tăng và xe bọc thép của chúng, đẩy chúng về vị trí cũ trước khi Hiệp định được ký kết, khu vực Nam Cửa Việt tạm thời im tiếng súng.

Trung đoàn chúng tôi chấn giữ một dải cát trắng từ Lệ Xuyên, Long Quang, Thanh Hội ra tới cảng.

Những ngày này đơn vị phải làm nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc với địch, sẵn sàng chiến đấu tại tuyến giáp ranh đồng thời phải xây dựng tuyến phòng thủ Nam Cửa Việt để bảo vệ tuyến vận tải huyết mạch từ biển qua Cửa Việt để ngược lên cảng Đông Hà.

Khu vực Nam Cửa Việt chỉ có những cồn cát trắng đến nhức mắt, xây dựng công sự chiến đấu ở đây cực kỳ vất vả vì luôn luôn bị gió cát vùi lấp.

Chúng tôi phải thay phiên nhau cử người ra Ái Tử để khai thác vật liệu như ghi sân bay, cột điện gỗ thông, vỏ thùng phuy, bao cát, cọc dây thép gai, dây thép gai, lưới chống B40, gỗ dán...và tất tần tật những gì có thể lấy được ở cái dạ dày này cho xuống bè để xuôi về Cửa Việt.

Ngày ấy ở Cửa Việt với những cồn cát nóng bỏng dân cư thưa thớt, suốt từ 7 giờ sáng cho tới 4 giờ chiều chỉ có một thứ gió từ miền Tây thổi về, gió thổi phần phật nhiều lúc như bão cuốn theo những luồng cát bỏng rát lấp đầy các công sự hầm hào.

Muốn ăn được bát cơm không bị trộn cát chỉ còn mỗi 2 cách: thứ nhất là chui xuống hầm, thứ hai là chui vào màn.

Gió cát dữ dội đến nỗi sau một vụ mưa các công sự được làm bằng ghi sắt gỉ vàng nhưng chỉ có vài ngày những tấm ghi được cát đánh sạch bong.

Có những đợt gió mạnh làm cho những cồn cát di chuyển nhiều khi lấp hết cả hầm hào công sự.

Nắng nóng, gió cát và bọ chét là 3 đặc sản thứ thiệt mà lính cánh Đông được hưởng miễn phí, thằng nào thằng ấy cũng đen cháy, chân tay toàn những vết thâm tím do bọ chét cắn, thằng nào giữ da thì chân tay lở loét.

Nhớ lại dịp đoàn Văn công hải quân vào biểu diễn phục vụ các đơn vị tại Nam Cửa Việt, nhìn những diễn viên múa với những vết bọ chét cắn để lại trên thân thể sao mà ái ngại đến thế.

Tuy đóng quân trên vùng cát trắng nhưng nước ngọt lại không đến nỗi thiếu, mỗi tiểu đội đào 2 giếng nước sâu chừng 1 mét là có nước dùng.

Nước ngọt, trong và mát cứ múc hết lại đầy.

Những giếng này chúng tôi phải quây bằng bao cát được đào dưới chân những đụn cát.

Từ 4 giờ chiều trở đi là gió từ biển thổi vào mát rượi, thời gian này có thể rời công sự để hít thở không khí trong lành.

Bữa cơm thiếu rau vì chẳng có giống rau nào chịu được cái nóng và gió cát.

Có những gò cát mọc những đám cây dại trong đó có một loại cây lá chua, chúng tôi hái về nấu canh với thịt hộp lõng bõng.

Ngoài ra có một món thay rau đó là xương rồng bà.

Loại xương rồng này bẹt có gai nhọn, phải tước hết vỏ, ngâm cho hết nhựa trong nước vôi loãng, sau đó đem phơi khô như phơi củ cải.

Ngon thì chẳng ngon lành gì nhưng đánh lừa được cảm giác thiếu rau.

Mấy chục năm sau qua đài, báo cho biết vùng Ninh Thuận, Bình Thuận có những thời kỳ dài không mưa, khô hạn đến nỗi cỏ cũng không mọc được, người dân ở đây phải đốt xương rồng để cho cừu ăn thay cỏ.

Họ không thể biết rằng đã có những người lính đã lấy xương rồng để thay rau trong những năm tháng gian khó của cả dân tộc.

Đi công tác lẻ dễ chịu hơn ở nhà nhiều, chính vì thế được cử ra Ái Tử để lấy vật liệu là sung sướng lắm rồi.

Rồi những chuyến đi ra tận thượng nguồn của Bến Hải để khai thác gỗ đưa về.

Làm cái nghề sơn tràng vất vả lắm nhất là trong tay chỉ có dao tông nhưng được cái thoải mái không họp hành, không kiểm điểm...Lúc đó Ái Tử và nhất là Đông Hà như là hậu phương vì có dân, có chợ búa, hàng quán.

Đông Hà ngày ấy vui lắm, trên bến dưới thuyền và những đoàn công tác dân chính từ Bắc vào đều dừng chân ở đây.

Ái Tử và Đông Hà là nơi dễ gặp gỡ của bạn bè từ các đơn vị khác nhau.

Từ Nam Cửa Việt để ra Ái Tử chúng tôi ngược đường 4 ra đến Đại Hào đi xuyên qua các làng xóm đang hồi sinh trở lại của các xã Triệu Đại, Triệu Thuận, Triệu Long rồi vượt sông sang thôn Trà Liên Tây.

Mỗi chuyến đi lấy vật liệu như thế thường kéo dài 1 tuần.

Nghỉ tại nhà dân, ăn uống thì nấu lấy mà ăn.

Nhiều khi gửi gạo để ăn cùng với dân.

Dân từ Vĩnh Linh trở về dựng tạm lại nhà trên nền cũ đã bị xập, nhưng được cái cũng dễ kiếm vật liệu để dựng lại chỗ trú mưa, trú nắng.

Thôn Trà Liên Tây nằm ven sông Thạch Hãn.

Buổi trưa ở đây nắng như lò lửa thiêu đốt nhất là dưới những mái tôn hầm hập, làng xóm cây cối bị bom đạn phạt trụi cả duy chỉ còn những rặng tre ven sông là tránh được cái nóng.

Mà cũng lạ chính những rặng tre lại rất nhanh chóng hồi sinh sau những trận mưa bom bão đạn.

Một buổi trưa tháng 5/1973, tôi vác một bó cọc dây thép gai trên đường từ sân bay về nơi tập kết vật liệu khai thác được tại bờ sông, khi đi ngang qua đoạn cuối của sân bay gặp một đơn vị bộ đội đang tập các động tác luồn qua các hàng rào dây thép gai.

Họ là lính trinh sát qua trang phục được khâu thêm những sợi vải để buộc lá, cỏ ngụy trang và những khẩu AK báng gấp.

Chợt một giọng thất thanh: " Có mìn !" khiến những người đang đứng xung quanh để thị phạm đều nằm ngay xuống đất.

Một giọng nói miền Nam cất lên như hát: "Các em cứ yên tâm !

Đã có anh đây".

Một người chững tuổi có lẽ chỉ huy tốp trinh sát đó bò tới bên cạnh người lính đang nằm phủ phục phát hiện ra quả mìn còn sót lại, với động tác thành thục, người chỉ huy đã tháo được kíp của một quả mìn sát thương bộ binh.

Trong tốp trinh sát đó tôi nhận ra An đen.

An học lớp Cảng 15 nhập ngũ cùng chúng tôi nhà ở Hàng Thiếc.

Rất vui khi gặp lại nhau kể từ khi rời Ái Tử để vượt sông về trung đoàn.

An về c17 công binh của trung đoàn cùng với Long 15 Cầu đường, Đức 13 Vật liệu, Đức 15 Cảng, Động cận 15 Xây dựng, Vượng 15 Công trình, Tuấn 15 cầu, Ngự 14 Cầu, Thé 15 Thủy lợi...

Tháng 11/1972 An đen và Hùng côn ở c1 được rút lên Sư đoàn làm lính trinh sát.

Hiện tại An đang ở c20 trinh sát của Sư đóng ở Trà Liên Tây gần bến tập kết vật liệu của chúng tôi, còn Hùng côn hiện đang ở a12 trinh sát kỹ thuật của Sư đóng tại Tân Vĩnh cách hơn chục cây số.

An cho biết số anh em về c17 có Tuấn, Ngự và Thé hy sinh; Long, Vượng, Đức 15 Cảng ra học ở Đại học Kỹ thuật quân sự cùng đợt với Chiến, Sơn ở c tôi, Phùng c1 và Nghĩa ở thông tin tiểu đoàn.

An hẹn với tôi sẽ đi thăm Hùng côn ở trên Sư bộ.

Mấy hôm sau vào một sáng chủ nhật tôi xin nghỉ và sang nơi đóng quân của c20 trinh sát rủ An đi thăm Hùng côn.

Từ bờ sông tôi rẽ xuống một ngôi nhà khá lớn ẩn mình dưới rặng tre bên sông đây là nơi c20 trinh sát đóng quân.

Ở góc sân có một người lính gầy nhỏ mặc một cái quần soọc ca-na-đa (quần đùi) thùng thình của lính với một cái áo cộc tay bạc phếch đang lúi húi đục đẽo một mảnh ghi đường băng sân bay bằng nhôm, trước mặt anh ta là một bức tranh với mầu đỏ của ngọn lửa bao trùm lên hình tượng 3 người chiến sĩ: một người đang giương khẩu B40, người thứ hai một tay chống AK, tay kia đỡ đồng đội bị thương, người bị thương đầu quấn băng ngồi dựa vào bạn tay lăm lăm quả lựu đạn, xung quanh họ là những bức tường đổ xạm đen khói đạn của Thành Cổ.

Bên dưới nhóm chiến sĩ đó là dòng chữ LỬA LŨY THÀNH được cách điệu bằng những ngọn lửa rực cháy.

Bức phác thảo với ngọn lửa rực cháy làm tôi xúc động đến gai người, có thể tôi chưa đủ trình độ để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật nhưng ở góc độ của một người lính đã cùng đồng đội chiến đấu trong những thời điểm máu lửa nhất thì bức phác thảo này hoàn toàn đạt đến sự chân thực mô tả cuộc chiến đấu ác liệt bảo vệ Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị, Hè 1972.

Người lính trinh sát gầy gò, nhỏ bé đó là Quách Ngọc Lâm, sinh viên Mỹ thuật công nghiệp nhà ở Lê Văn Hưu, Hà Nội.

Anh vốn lính Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 95 đã từng chốt giữ Thành Cổ trong những ngày ác liệt nhất và chỉ có những con người đã từng chiến đấu, đã cận kề với cái chết vì Thành Cổ mới có thể xúc cảm được thế nào là LỬA LŨY THÀNH.

Gặp gỡ với Lâm chỉ chưa đầy 10 phút rồi phải chia tay để lên Sư đoàn tìm Hùng côn nhưng hình ảnh LỬA LŨY THÀNH vẫn ám ảnh mãi trong tôi suốt mấy chục năm cho đến tận 28 năm sau.

Món quà kỷ niệm cho BCH huyện đội Triệu Phong trong chuyến về thăm lại chiến trường năm 2001 phải thật là ý nghĩa được đặt ra dựa trên hình ảnh của LỬA LŨY THÀNH năm xưa.

Nghĩ tới đó tôi bàn với Hùng côn đi tìm Lâm, thật là may khi Hùng cho biết sau khi giải phóng đã một lần đến nhà Lâm ở Lê Văn Hưu, còn lâu nay thì không biết...

Sau từng ấy năm tôi không chắc đã tìm thấy Lâm nhưng chúng tôi vẫn đến Lê Văn Hưu để tìm và thật không ngờ sau khi hỏi thăm thì người ra đón chúng tôi chính là Lâm.

10 phút biết nhau ở Trà Liên Tây cách đây 28 năm nếu như gặp nhau ở đâu đó thì không thể nào nhận ra Lâm, giờ đây Lâm với vóc dáng vẫn thanh mảnh nhưng lại đậm chất nghệ sĩ với mái tóc xoăn bồng bềnh và hàng ria mép thật là lãng tử.

Trở lại câu chuyện LỬA LŨY THÀNH năm nào Lâm vẫn còn nhớ và cũng không ngờ còn có một người nữa là tôi đã giữ được hình ảnh đó trong tâm thức của mình.

Bản khắc trên tấm nhôm sau này Lâm đem tặng cho Hồ Tú Bảo, một lính trinh sát nổi tiếng của Sư đoàn nguyên là sinh viên Toán ĐH Sư Phạm, sau này trở thành một giáo sư của Viện khoa học công nghệ tiên tiến tại Nhật, một nhà khoa học nổi tiếng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Trước đề nghị của chúng tôi Lâm đã phục dựng lại tinh thần của LỬA LŨY THÀNH là hình tượng nhóm chiến sĩ trên nền lá cờ giải phóng nửa xanh nửa đỏ tung bay trong chớp lửa của đạn nổ: cô du kích AK trong tay xốc tới tóc dài bay về phía sau, người chiến sĩ đội mũ tai bèo đang giương khẩu B40, phía dưới một chiến sĩ đang ôm bạn mình bị thương, người bị thương đầu quấn băng một tay chỉ về phía trước còn tay kia nắm chặt quả lựu đạn, phía trước là một bức tường Thành đổ.

Bên dưới nhóm chiến sĩ là dòng chữ Quảng Trị Mùa hè đỏ lửa 1972.

Viền phía trên có dòng chữ Cựu Chiến binh Sinh Viên Đại học Xây dựng - Sư đoàn Ái Tử (sau chiến dịch Quảng Trị Sư đoàn 325 mang tên Ái Tử, Trung đoàn 101 mang tên Triệu Phong, Trung đoàn 95 là Thành Quảng, Trung đoàn 18 là Nhan Biều và trung đoàn pháo binh 84 là Gio Cam); viền phía dưới là dòng chữ Kính tặng huyện đội Triệu Phong.

Ý tưởng thể hiện hình tượng trên được làm bằng chất liệu gốm sứ Bát Tràng mang một ý nghĩa xâu xa huyền thoại Thành Cổ Quảng Trị là Đất và Lửa.

Trước ngày đi một tuần, tôi và Hùng côn đèo nhau sang Bát Tràng để mang đĩa về nào ngờ trên con đường đê đầy ổ gà đã xảy ra sụ cố: chiếc đĩa gốm đường kính 60 cm được đặt trong một cái bị cói quàng qua vai đã bị đứt quai rơi xuống đất khiến đĩa bị vỡ làm nhiều mảnh.

Lặng người nhìn thành quả với bao tâm huyết chỉ còn lại những mảnh vỡ mà thời gian không cho phép chúng tôi làm lại, Lâm đề xuất làm lại bằng chất liệu mâm đồng khắc bằng a-xit ăn mòn.

Trong 3 ngày tác phẩm được hoàn thành nhờ những người thợ làm biển quảng cáo ở cùng số nhà với Lâm.

Hiện tại chiếc mâm đồng đường kính 60 cm tặng Huyện đội Triệu Phong nằm trang trọng trong phòng truyền thống của Huyện đội.

Sau chuyến đi đó những thành viên trong đoàn được tặng 1 đĩa đồng với biểu tượng được thu nhỏ đường kính 10 cm để Kỷ niệm ngày trở lại chiến trường xưa.

Chúng tôi nói đùa với nhau là nó giống như một miếng hộ tâm bằng đồng của những chiến binh thời xưa đeo trước ngực, với dải dây nửa xanh nửa đỏ cộng với mầu vàng của của đồng là hình tượng của lá cờ giải phóng như một tấm huy chương trước ngực.

Chính biểu tượng này xuất phát từ LỬA LŨY THÀNH mà anh em chúng tôi đã chọn làm lô-gô cho CỰU CHIẾN BINH - SINH VIÊN ĐẠI HỌC XÂY DỰNG.

Như tôi đã nói Ái Tử, Đông Hà ngày ấy như là hậu phương, là nơi bạn bè, đồng đội dễ gặp gỡ nhau.

Ở Ái Tử ngoài An đen tôi gặp được Động cận ở c17 cùng trung đoàn cũng đi lấy vật liệu, Ngọ tây ở d6/e95 và một số anh em ở e95 và e18 đã cùng tôi trở về đơn vị từ hậu cứ Sư đoàn ở Song Mai, Hà Bắc vào.

Chia tay với Lâm, tôi và An đen lên Sư bộ để thăm Hùng côn.

Theo đường 1 ra đến gần cầu Lai Phước rẽ trái lúc theo vệt đường tăng, lúc theo vệt bánh xe tải băng qua những vùng đồi thấp lúp xúp cây bụi chừng hơn chục cây số chúng tôi tới một thung lũng ven sông có rừng cây tái sinh, đây là Tân Vĩnh - Sư bộ của 325 đóng tại đây.

Qua mấy trạm gác chúng tôi lên chỗ Hùng côn trên một quả đồi thấp.

Từ đây có thể quan sát một đoạn sông Vĩnh Phước trong xanh lượn quanh những rừng cây thấp lấp ló những nhà hầm của các cơ quan Sư đoàn.

Hùng côn từ c1 được điều lên Sư cùng với An đen tháng 11/1972 khi ở Nam Cửa Việt.

Ở c20 trinh sát một thời gian, Hùng được điều lên a12 trực thuộc Ban 2 (Ban quân báo của Sư), đây là tiểu đội trinh sát kỹ thuật làm nhiệm vụ dùng các thiết bị thông tin liên lạc thu được của địch để thu nhận tin tức từ phía địch để thông báo cho cơ quan Tham mưu của Sư đoàn được biết các hoạt động của địch.

Hùng vẫn gầy gò như hồi còn gặp nhau ở Đầu Kênh, da dẻ có vẻ trắng hơn.

Anh em a12 hầu hết là sinh viên của các trường đại học, một môi trường công tác dễ thông cảm lẫn nhau.

Sau này khi tôi chuyển về học tại ĐH Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội tôi có gặp Duyên bên khoa Anh cùng ở a12 với Hùng.

Đi lấy vật liệu ở Ái Tử về, Trìng ba toác đưa cho tôi lá thư của Thái Hồng Sơn ( Sơn trắng) gửi vào cho Trình.

Nó chưa biết tôi đã trở về đơn vị.

Thư nó viết về trường ĐHKTQS và về cuộc duyệt binh mừng chiến thắng 1/5/1973 tại Hà Nội: đáng nhẽ trong hàng quân duyệt binh đó phải có mặt những thằng lính đã vào sinh ra tử để có ngày chiến thắng hôm nay...Cầm lá thư của Sơn trong tay mà tôi bồi hồi nhớ lại lúc vượt sông Thạch Hãn nó và thằng Chiến đã cứu tôi khỏi chìm xuống dòng sông đang sôi lên sùng sục...

Tháng 6/1973 đang ở khu vực 4 mỏm chúng tôi được lệnh chốt giữ tuyến Vân Hòa - An Lộng nằm dọc theo sông Vĩnh định.

Đây là khu vực trực tiếp tiếp xúc với địch, thuộc xã Triệu Hòa.

Trước khi vào chốt chúng tôi tập kết ở thôn An Lộng mấy hôm để là công tác chuẩn bị.

Khu vực chốt này chúng tôi sẽ nhận bàn giao từ e27.

Tôi, Bình trố và Bình lác ở tại 1 gia đình chỉ có 2 ông bà già ngoài 50 nhưng vẫn còn khỏe mạnh, các con cụ đều theo quốc gia, còn các cụ ở lại với giải phóng và sơ tán ra Vĩnh Linh.

Căn nhà tạm này quây bằng những viên táp-lô sót lại của căn nhà cũ, lợp bằng cỏ gianh và những tấm tôn không còn lành lặn được dựng trên 1 nền nhà khá bề thế.

Cái nóng hầm hập với gió Lào làm cho người như bị vắt kiệt, làng xóm hồi sinh lại nhưng còn rất thiếu những tán cây xanh để làm dịu bớt cái nóng khủng khiếp này.

Từ đây ra tuyến chốt chỉ có chưa đầy 500 m theo đường chim bay.

8 giờ tối đại đội được lệnh hành quân vào chốt, trước đó cán bộ từ a trở lên đã vào nhận vị trí của mình.

Ra khỏi xóm, chúng tôi theo đường hào dẫn ra vị trí chốt giữ, tất cả phải di chuyển dưới hào để giữ bí mật.

Cả đại đội chốt giữ với chiều dài khoảng 500 m, b1 của tôi nằm lui phía sau làm nhiệm vụ cơ động cho đại đội, còn 2 b kia ở phía trước trực diện với tụi TQLC, 2 bên cách nhau 1 hàng rào dây thép gai do địch dựng lên.

Địch bố trí theo cụm với công sự bằng những bao cát phủ bạt.

Chỗ b3 là 1 căn nhà hòa hợp được dựng lên để 2 bên tiếp xúc.

Đại đội lập 1 tổ có nhiệm vụ tiếp xúc với địch, những người không có nhiệm vụ không được lai vãng tới khu vực đó, mà phải chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Mọi sự đi lại trong khu vực đóng quân đều dưới giao thông hào.

Tiểu đội tôi nằm cách nhà hòa hợp chừng 300 mét trong 1 căn nhà âm có đủ hầm chữ A và các ụ chiến đấu, phía trước mặt là cánh đồng với nước ngập trắng xóa, hàng rào dây thép gai do địch dựng lên chạy ngang trước ụ súng tiền tiêu của tiểu đội chừng mấy chục mét.

Tiếp đến là khu đất cao của làng Bích La và các công sự của địch.

Chỗ chúng tôi không gần địch như ở b3 mà khoảng cách tới gần 200 mét.

Cánh đồng trước mặt chắc chắn đầy mìn do 2 bên cùng cài.

Lính địch bên kia hàng rào thằng nào thằng ấy cởi trần trùng trục, nghễu nghện đi lại, nếu như đánh nhau chắc chắn chúng sẽ không thể trở tay kịp với quân ta.

Phía sau bọn này là như thế nào chúng tôi cũng không biết được, nhưng chắc chắn 1 điều toàn bộ tuyến chốt của chúng tôi đã nằm sẵn trong tọa độ bắn pháo của chúng một khi xảy ra chiến sự.

Công việc hàng ngày ở chốt thật buồn tẻ, 5 thằng thay nhau gác liên tục 24/24.

Những thằng không phải gác thì kiếm rau, bắt cua và nhất là đặt bẫy bắt chuột.

Thằng Hảo toét (mắt nó lúc nào cũng như thằng bị đau mắt hấp háy) có biệt tài làm bẫy chuột.

Làng mạc hoang tàn nên chuột nhiều vô kể.

Hôm nào cũng vậy sau 1 đêm cũng phải có tới hơn chục con chuột bị sập bẫy.

Thôi thì đủ món: luộc, rán, kho tầu...mà gia vị chỉ độc một loại hột ném và sả.

May mà còn có thịt chuột để ăn.

Nhưng giống chuột này đâu có sợ người, con nào con ấy bằng cổ tay, ngủ buổi trưa là bò lên gặm ngón chân.

Có một lần tiểu đoàn trưởng Dương nửa đêm đi kiểm tra các chốt, ông đến khu vực chốt của chúng tôi không ngờ vấp phải bẫy sập bị 2 hòn táp-lô đè vào chân, may mà không gẫy.

Thủ trưởng đau quá chửi toáng lên: ...Sao chúng mày không đặt ở hàng rào để thám báo mò sang là dính đòn có hơn không...

Chuột nhiều thì thì rắn cũng nhiều.

Xung quanh trận địa là cỏ tranh mọc rất nhiều, chúng tôi nhìn thấy đủ loại rắn bò trong các vạt cỏ tranh để lùng chuột, thôi thì đủ loại con đen trũi, con khoanh vàng, khoanh đỏ...ghê cả người.

Tôi là một thằng rất sợ rắn nhưng vẫn phải nhìn thấy chúng hàng ngày.

Có những lúc ngủ trưa trong nhà âm thấy bụi vào mặt nhìn lên mái nhà thấy 1 chú rắn đen sì mắt thao láo luồn dưới mái tranh chắc để tìm chuột.

Có lần đêm đi gác về chui vào màn để ngủ lại thấy cái đình màn chũng xuống bèn lấy bật lửa soi thì thấy một chú khá to đang nằm cuộn khoanh trên đình màn.

Ngồi trong màn hãi quá nhưng chẳng còn cách nào khác là dùng hai tay hất cái đám đen sì đó như hất quả bóng chuyền đi đâu thì đi.

Còn loại rắn lục xanh lét rất thích nằm ở dép cao-su có lẽ ở dép có mồ hôi chân có vị mặn mòi của muối thì phải.

Cho nên trước khi đi ngủ phải cho dép vào màn để tránh cái chuyện giẫm phải các vị ấy...

Đây là vùng đất thịt không phải là cát, dưới cái nắng khủng khiếp cua ở ruộng nhoi hết cả lên mặt ruộng, lính tráng chỉ có việc chộp lấy cho vào bao cát.

Giống cua đồng ở đây bà con địa phương gọi là con đam, không ai ăn cả chỉ có quân ta xài.

Cua thì to. mầu nâu đen trông rất dữ dằn với 2 càng rất to.

Bắt cua về giã trong mũ sắt và nấu canh nhưng đăc biệt khi nấu xong thịt cua không đóng thành vầng như cua ở ngoài ta.

Không biết đó là giống cua hay vì nấu canh không đủ vị...

Ở khu vực này rau cỏ không đến nỗi hiếm như ở vùng cát.

Các loại rau mọc hoang khá nhiều như rau dền, rau mồng tơi, rau đay...Đơn vị bạn bàn giao lại những vạt rau muống họ trồng ở các hố bom.

Có một câu chuyện nghĩ lại rất đỗi bình thường về việc đi hái rau và sau đó trên báo QĐND 1 loạt phóng sự viết về tuyến giáp ranh QT trong đó có bài Bó rau trên trận địa chốt.

Phóng viên viết về mình mà khi đọc chỉ có mỗi tên của mình mà cứ tưởng viết về ai.

Số là thế này: lần ấy tôi được cử đi hái rau, hôm ấy phải đi xa 1 chút vì xung quanh đó anh em ta hái hết cả.

Tuyến hào của ta dẫn về phía sau đi ven làng, đoạn đó lại sát hàng rào dây thép gai vả địch cách xa tới 2,3 trăm mét.

Đang lúi húi hái rau dưới 1 hố bom đầy nước thì thấy đám rau muốngchuyển động từ từ về phía hàng rào cách đó khoảng chục mét.

Những ngọn rau muống trên đất ta vươn qua hàng rào sang vạt ruộng nước bên đất địch.

Tôi thoáng thấy bóng người đang thụp trong đám cỏ lác.

Phản ứng của tôi lúc đó rút nhanh quả lựu đạn ở xanh-tuya rông và quát : "Ai !".

Bóng người vụt đứng dậy ấp úng "Em...em ...là lao công đào binh ...xin các anh ít rau..."

Đó là 1 thằng lính ngụy tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm, mặt mũ đen nhẻm mặc 1 bộ quần áo tả tơi không có tay áo.

Thắng lính cho biết nó là lính lao công đào binh bị đưa ra tuyến trước phục dịch bọn TQLC: đào hầm, nấu ăn, vận tải.

Bọn chỉ huy bắt thằng này đi hái rau, nó biết khu vực này có gài mìn nên chỉ hái những ngọn rau vươn sát bờ ruộng bên đó.

Nó dùng 1 sợi dây có móc như móc câu lăng vào đám rau muống và kéo vào để hái.

Tôi quát : "Rau chúng tao trồng tại sao mày hái mà không xin, có muốn ăn đạn không ?" .

Nhưng thực ra tôi có súng đâu, chỉ có mấy quả lựu đạn ở dây lưng mà thôi.

Câu chuyện chỉ có thế nhưng tôi đã báo cáo lại đơn vị biết tình hình phòng khi chỗ đó địch đã gỡ mìn để tìm cách lấn sang đất ta...Ngay hôm sau đơn vị đã bố trí 1 tổ 3 người chốt đêm ở đó.

Nhân có mấy phóng viên về viết bài, chuyện của tôi được đăng lên báo là tôi đi hái rau gặp địch hái trộm rau nhưng rồi lại cho chúng nó rau mà mình đã hái được, và tuyên truyền cho chúng nó về chính sách của Mặt trận...

Hệ thống trận địa chốt của chúng tôi được bàn giao từ e27 rất hoàn chỉnh từ giao thông hào đến những ụ súng cùng các nhà âm và các hầm chữ A hoàn toàn bị xụp lở sau những trận mưa đầu mùa.

Nước sông Vĩnh Định dâng cao tràn hết vào trong cánh đồng.

Các b khác ở chỗ đất cao không sao, chúng tôi ở dìa làng nơi đất thấp, nửa đêm nước tràn hết cả vào nhà âm, mấy anh em bắt buộc phải dỡ mái tranh để chui ra.

Sáng ra xung quanh mênh mông là nước, nước ngập hết cả hàng rào dây thép gai, bên phía địch chúng phải lùi sâu vào làng nơi đất cao hơn.

Chúng tôi không được phép rút lên chỗ cao mà phải đóng bè chuối để hết vũ khí trên bè và trụ lại trên nóc nhà chờ nước rút.

Đến giờ ăn 1 thằng bám bè chuối chở cơm từ bếp của trung đội ra để có cái ăn.

Bây giờ ngẫm lại việc chốt giữ ngày ấy vẫn còn rùng mình vì rắn bơi tung tăng xung quanh bè chuối.

Nước rút sau 1 tuần, lại xoay trần ra củng cố lại trận địa như làm mới.

Đám bụi cây xấu hổ rất lớn trước cửa nhà âm của tiểu đội bị nước cuốn trôi lộ ra 1 bộ hài cốt của quân ta.

Người chiến sĩ đó hy sinh trong tư thế ngồi, khẩu AK để bên hông, xương đùi phải bị gẫy.

Chiếc mũ tai bèo vẫn úp trên xương sọ chỉ còn lại lớp lót ni-lông chống nước, bộ quân phục chỉ còn lại phần túi trên nắp có thêu chữ SƠN và 1 gói mì chính còn nguyên vẹn cùng 1 cây bút Trường Sơn.

Khu vực này cũng là khu vực ta và địch giành đi giật lại cho nên khả năng người chiến sĩ này đã bị thương gẫy xương đùi không thể quay về đơn vị mà mắc kẹt lại và hy sinh.

Chúng tôi khâm liệm SƠN và chôn cất anh ở chỗ đất cao ngay trục đường về làng.

Trên bia mộ có khắc dòng chữ Liệt sĩ SƠN, ngày tìm thấy hài cốt ...tháng 8/1973.

Tôi được lệnh tập trung lên trung đoàn để đi khai thác gỗ ở miền Tây.

Ra khỏi đơn vị để thay đổi không khí là thích rồi mặc dù biết làm công việc sơn tràng là vất vả lắm.

Đoàn đi khai thác gỗ khoảng gần ba chục con người, mỗi đại đội cử 1 người, đi lên miền Tây bằng chiếc xe GMC thu được trong trận Cửa Việt.Chúng tôi rời Triệu Đại nơi e bộ đóng quân qua phà Đại Áng để sang bên Triệu Giang ra đường 1.

Cứ theo đường 9 rồi rẽ vào Cam Lộ, xe chở chúng tôi lội qua ngầm B Bến Hải (có phải bây giờ gọi là Bến Tắt không ?).

Qua khỏi ngầm, xe cứ ngược dòng Bến Hải mà đi, bên đường là những cánh rừng đại ngàn của Trường Sơn.

Quá trưa chúng tôi dừng xe bên đường, ở đây có một bãi đất bẳng phẳng ngay cạnh 1 dòng suối nhỏ, chúng tôi dựng nhà bạt, dựng bếp, và dựng cọc mắc võng.

Dụng cụ khai thác gỗ chỉ có 1 ít dao tông còn chủ yếu là dao găm.

Gỗ khai thác phải có chu vi tối thiểu là 30 cm.

Những ngày đầu chưa quen chật vật lắm mỗi ngày mới hạ được 2 cây.

Tay phồng rát như phải bỏng.

Sáng sáng từng tốp vào rừng chặt cây, phải chọn những cây có kích thước ưng ý và tương đối thẳng, chặt xong còn phải vác ra ven đường để có xe chở về ngầm B để đóng bè về Cửa Việt.

Công việc khai thác gỗ rất vất vả, sáng ra vào rừng muỗi rừng bu lại đốt, tôi thấy rằng khi nào xung quanh cổ những nốt muỗi đốt dầy lên tạo thành những cục, khi cổ và gáy mình đã dầy lên thì muỗi không đốt nữa vì con muỗi sau không bao giờ châm vào cái nốt u cục của con muỗi trước.

Lại còn vắt nữa, ở đây chỉ có giống vắt nâu núp dưới lớp lá mục, mỗi khi có người chúng ngoi từ dưới đất lên.

Nắng lên thì chúng cũng chui hết xuống lớp lá mục.

Cánh rừng này nằm sát bên đường nên chúng tôi hay gặp bom bi lắm, phải hết sức cẩn thận thôi.

Dần dần đi chặt gỗ lại phải đi xa hơn vì ven đường cây có kích cỡ như quy định cũng chẳng còn nữa.

Cứ 1 tuần xe từ trung đoàn lên chở lương thực, thực phẩm và bổ sung dao tông thay cho dao găm và chuyển gỗ ra ngầm B để đóng bè trở về Cửa Việt.

Một lần đang nghỉ trưa có 2 người lính xuất hiện ở khu lều bạt của chúng tôi.

Họ là những người lính biên phòng đi tuần tra.

Người đeo súng ngắn quê ở Dương Xá, Gia Lâm tên là Thanh (cứ tạm gọi như vậy vì lâu quá không nhớ tên), anh ta đi Công an vũ trang từ 1963, gần mười năm nay đóng quân ở vùng này.

Tôi không tưởng tượng được vào thời điểm này mà trang bị của họ vẫn còn trang bị của những năm 60: quân phục bằng vải Nam Định bạc trắng, mũ giống mũ cối nhưng làm bằng rút và người chiến sĩ đi cùng khoác một khẩu K50 từ thời Điện Biên.

Họ bám trụ ở đây bao nhiêu năm ở biên giới đói mặt với bom đạn nhưng trang bị của họ vô cùng thiếu thốn.

Để có thực phẩm họ phải đi tận Hồ Xá để mua thực phẩm chủ yếu là cá khô và bí đỏ.

Tôi lấy trong ba-lô máy phong đường ép khô và túi bột trứng đưa cho anh Thanh gọi là chút quà đồng hương Hà Nội (mấy thứ này là của mấy người lính lái xe chở hàng chúng tôi gặp mấy hôm trước).

Con đường chạy qua chỗ chúng tôi thỉnh thoảng cũng có xe đi, không hiểu những xe này tại sao không đi đường 1 để vào Đông Hà và ngược lên đường 9 để vào sâu hơn.

Có những đêm phía ngoài đường là những đoàn xe chở nặng phủ bạt kín mít, chắc là hàng gì bí mật lắm mới đi đường này.

Chủ nhật được nghỉ tôi và mấy người nữa đi lang thang để tìm hiểu khu vực xung quanh.

Có một khu kho dã chiến còn xót lại với những hòm gỗ đã bị mối ăn hết chỉ còn trơ lại những bọc giấy dầu-đó là những khẩu súng còn nguyên mỡ niêm.

Gần đấy là vết tích của 1 xe chở tên lửa bị trúng bom đổ vật xuống vực, quả đạn vẫn còn nhưng biến dạng và phần đuôi bị bay đi mất, không xa là một xe chỉ huy cũng bị trúng bom nằm bên vệ đường.

Tôi cũng lần mò tới khu vực có trạm gác biên phòng ở thượng nguồn Bến Hải.

Con đường tới sát sông rẽ trái thì về ngầm B còn rẽ phải tới trạm biên phòng.

Ở đây có 1 bản Vân Kiều khoảng hơn chục nóc nhà.

Ngầm qua sông có 1 ba-ri-e chặn lại, 1 trạm gác của biên phòng ngay đầu dốc qua sang bên kia.

Hôm đó anh Thanh phải về đồn nên tôi không tiện hỏi bên kia là đâu, và đây có phải khu vực biên giới không ?

Chả nhẽ đây là khu vực Cù Bai giáp với Lào.

Từ chỗ nhà bạt về xã Vĩnh Thủy để mua rau phải mất hơn nửa ngày đường.

Đây là khu dân cư gần chúng tôi nhất.

Ở Vính Thủy chúng tôi thường mua mướp và đu đủ.

Giống mướp ở đây lại có những sống chạy dọc theo thân, ăn cũng ngon và để lâu được vì quả cứng vận chuyển đường xa không bị nẫu.

Thấm thoắt ở rừng đã gần 2 tháng, các đơn vị khác họ đã cho người lên thay nhưng c tôi chưa thấy ai lên để về.

Rồi thì cũng có người lên thay thật, c tôi 2 người là anh Dung cv phó lên làm trưởng đoàn thay ông trưởng đoàn cũ và cậu Tân ở b2 lên thay tôi.

Ở nhà có nhiều sự kiện quá: đơn vị rút ra nằm ở Vân Hòa phía sau chốt rồi về Lệ Xuyên.

Một đơn vị của tỉnh đội vào thay chúng tôi.

Thằng C. (cái thằng HP gây sự với tôi) bị quân pháp về bắt vì có ý định vượt rào sang bên kia.

Chuyện này có thật hay không thì chỉ có chỉ huy cấp e mới biết nhưng thực ra sau lưng thằng C. là thằng Tr, thằng này khôn ngoan hơn toàn làm cái việc chỉ đạo đằng sau.

Lần này nó không sao mà chỉ bị điều về a của tôi.

Tôi theo xe chở gỗ về ngầm B rồi bắt xe về Đông Hà.

Ông trưởng đoàn cũ - là trợ lý hậu cần của e - cùng đi muốn ở lại chơi Đông Hà nên tôi cũng ở lại, không ngờ đến chiều xuồng máy về Cửa Việt không còn nữa mà tối đến nơi rồi 2 anh em đành phải ở lại.

Đông Hà về đêm khá là vui, hàng quán cũng khá sầm uất, nhân dân đi sơ tán đã về, những đoàn cán bộ dân sự vào xây dựng vùng mới giải phóng.

Tôi rẽ vào hiệu sách Đông Hà, cũng khá nhiều sách,đập vào mắt tôi là cuốn tiểu thuyết Chiến sĩ của Nguyễn Khải.

Móc trong túi ra còn mấy đồng bạc lẻ đắn đo có nên mua không, mua thì chẳng đủ tiền đi xuồng về nhà, không mua thì tiếc.

Quyết định mua còn ngày mai nếu như ông trưởng đoàn cho mình đi ké xuồng về thì đi còn không ta đi bộ hơn 2 chục cây chứ mấy.

Ông trưởng đoàn có bạn đóng quân ở Đông Hà hẹn tôi sáng hôm sau gặp nhau tại cổng chợ để về.

Tôi phát hiện ở gần cổng chợ có những dãy bàn bằng xi măng không biết người ta bán gì nhưng cũng sạch sẽ và lấy đó làm chỗ nghỉ đêm.

Cứ cho là những bàn này người ta ban ngày bán thịt bò, thịt heo đi thì ban đêm bán thịt người vậy.

Ngay tại chỗ này có một ngọn đèn điện đủ để đọc sách, thế là còn nửa phong lương khô thay cho bữa tối, tôi dở những trang sách đầu tiên và đọc nghiến ngấu.

Câu chuyện đưa tôi về chiến dịch đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971 với người chiến sĩ xe tăng bị thương ra viện và trở về đơn vị.

Đang đọc dở thì đến giờ tắt điện, tôi trải võng và chụp màn để ngủ.

Muỗi Đông Hà cũng ghê, cứ lăn xả vào đốt xuyên qua màn.

Sáng ra ông trưởng đoàn ra tìm tôi để về, tôi cho ông ta biết tôi không đủ tiền để đi xuồng về đơn vị vì chót mua cuốn sách.

Ông ấy buông 1 câu: "Mày chỉ phí tiền".

Nhưng thấy tôi xác định đi bộ về nhà ông ấy đành phải cho tôi đi cùng về bằng xuồng máy.

Sau này về nói chuyện thì ra ông ấy có thời gian ngắn về làm b trưởng của c tôi sau khi tôi bị thương đi viện.

Chúng tôi lại về Lệ Xuyên.

C bộ và b2, b3 đóng quân trong xóm, còn b1 của tôi ra chốt ở 1 gò cát, trên bản đồ là điểm cao 2,5.

Vị trí này cách thôn Lệ Xuyên chừng vài trăm mét.

Tại đây bao quát 1 vùng khá rộng: phía đông là tuyến chốt Thanh Hội cách 1 trảng cát rộng chừng 2 cây số, phía đông-nam là tuyến Long Quang rồi Vân Hòa, An Lộng.

Nếu không có những hàng cờ của 2 bên cắm làm ranh giới thì chỉ thấy mênh mông một mầu cát trắng.

Nhà ở của các tiểu đội được làm như những lô-cốt bằng ghi sân bay và các bao cát, có đường hào dẫn ra các ụ chiến đấu.

Ngày nào cũng phải vét cát trong các công sự nếu không chỉ 1 ngày là cát lấp đầy.

Tháng 11 là cao điểm của mùa mưa Quảng Trị, nó cứ rả rich suốt ngày, buồn đến thối ruột.

Năm đó ở Quảng Trị lại rét sớm, cộng với trời mưa, nước sông tràn vào đồng, từ a nọ đến a kia là lội nước, có việc phải vào trong làng là lội nước đến bụng.

Gò cát nơi chúng tôi ở mọc lúp xúp những cây bụi xen lẫn những bụi mẫu đơn được trồng ở các ngôi mộ của dân.

Có một loài hoa trắng muốt tinh khiết, cánh mỏng manh như cách bướm trên đậu đám lá xanh rì, chúng tôi thường hái về cắm trong nhà cho vui mắt.

Cũng có những bụi mẫu đơn với những tia đỏ le lói ở những ngôi mộ.

Ở đây rất nhiều hố bom to, cái nào cũng đầy ăm ắp nước.

Tôi đã 1 lần gác đêm trong 1 đêm mưa không thể nhìn thấy gì hết xung quanh đen kịt và bị tụt xuống 1 hố bom đầy nước.

Nước hố bom đến cổ, tìm mọi cách để leo lên mà không thể được vì thành hố bom rất dốc, cát lại trôi.

Cứ lụi hụi leo lên rồi lại bị tụt xuống, mắt kính nhòe nhoẹt vì nước mưa không thể nhìn thấy gì và đánh liều phải nổ 3 phát AK báo động.

Cả tiểu đội bị đánh thức xách súng chạy ra công sự, không thấy tôi đâu mà các chốt gác của 2 a kia yên ắng không có gì mọi người đổ đi tìm thấy tôi đang lóp ngóp dưới hố bom và kéo được tôi lên.

Sau lần đó tôi được chuyên gác ca cuối cùng và câu chuyện đó đã được báo cáo lên trên, ngay tháng đó nhu yếu phẩm của tôi có thêm 1 đôi pin đèn.

Ông Khảm c trưởng nói với tôi: thủ trưởng Ngoan quyết định hàng tháng cho cậu thêm 1 đôi pin đèn.

Tôi đã gửi gắm lòng mình trong bài viết Người cha già của Trung đoàn để nhớ tới tấm lòng yêu thương nhân hậu của trung đoàn trưởng Bùi Đức Ngoan.

Quang ấm giờ vể làm a trưởng a3 của tôi, cái thằng này nghịch ngầm lắm.

Một lần vào buổi trưa đang ngủ chúng tôi chợt nghe tiếng hú...hụ... rất lạ, bật dậy lao ra cửa hầm thấy thằng Quang tay cầm đôi pin của tôi mặt thuỗn ra.

Hố bom trước nhà sôi ùng..ục và phát ra tiếng hú, từ dưới hố bom 1 quả H12 không có đầu chỉ còn phần thân đang lách lên khỏi hố bom.

Xung quanh gò cát chúng tôi đóng quân có một số quả H12 không bắn được do gẫy cánh đuôi hoặc không có đầu mà đơn vị pháo vứt lại, thằng Quang dùng dây điện thoại đấu vào dây điểm hỏa của quả đạn và lấy pin kích hoạt.

Quả đạn cũng may không có đầu nên không bay lên được nhưng nó bò như một con rắn rồi rúc xuống hố bom đầy nước rồi lại trườn lên cho tới khi tới của hầm chúng tôi thì cháy hết liều phóng và dừng lại.

Thật là hú vía nếu như nó rúc vào hầm chúng tôi thì không biết điều gì sẽ xảy ra.

Mấy chục năm sau gặp lại nó lại nhắc câu chuyện không thể nào quên này.

Môt lần tôi có việc phải vào c bộ, băng qua bãi cát ngập nước để vào làng, dìa làng có 1 chiếc tăng đang chốt ở đây, một cậu lính tăng đang bổ củi.

Nhìn nhau thấy quen quá, tôi hỏi:

- Ông hình như nhà ở gần Ga Hàng Cỏ thì phải ?

- Tôi ở 38 Phan Bội Châu.

- Tôi ở bên Tức Mạc, gần nhà ông chả thế trông ông quen quá !

Đó là Bình béo, pháo 2 của chiếc T59 số 988.

Bình là SV ĐH nông nghiệp đi lính tháng 12/1971 vào chiến trường cùng thời gian với tôi.

Chính là tốp lính tăng chúng tôi đã gặp ở Quảng Bình.

Sau trận Cửa Việt c tăng của Bình mới sang bờ Nam để chốt giữ cùng các đơn vị bb của chúng tôi.

Thế đấy mọi nẻo đường đều dẫn tới Rôma, và Quảng Trị chính là Rôma của lứa trai chúng tôi thời ấy.

Gần Tết 1974 chúng tôi rời gò cát chuyển vào thôn Lệ Xuyên.

Đơn vị đang xây dựng nề nếp: nào ăn bếp đại đội, xây dựng hội trường, mỗi tiểu đội 1 nhà, mỗi trung đội có sân chung để sinh hoạt, làm các loại học cụ để huấn luyện và cắt tóc 3 phân, rồi tăng gia...Nói chung không khoái lắm vì kiểu chính quy huyện độinày.

Ở chốt thích hơn tuy vất vả vì phải trực chiến nhưng được cái tự do mà tự do thì thằng nào chẳng thích.

Từ khi rút ra khỏi Vân Hòa, An Lộng đơn vị đã bị cắt 3 tháng lương thực để tự túc: trồng sắn ở Dốc Miếu, về Lệ Xuyên thì trồng khoai.

Mỗi đầu người mỗi tháng phải nộp 10 cân rau, không đủ định mức, đến bữa ăn đều bị nhắc nhở: ăn vào tiêu chuẩn của người khác mà vùng cát trồng rau quả là 1 sự thách thức.

Những luống rau được tắm tưới bằng mồ hôi của lính tráng và có một chuyện cũng cần nhắc lại để không bao giờ quên những năm tháng đó, số là rau trồng trên cát phải được tắm tưới bằng phân gio cho nên một quy định bất thành văn là đi đâu cần giải quyết thì phải về nhà, thằng a trưởng phát hiện đưa nào đi bậy là nócắt ngay.

Còn chuyện nhà vệ sinh của các tiểu đội lúc nào cũng sach sẽ không có hàng tồn kho.

Có lần ở b bạn ồn ã vì chuyện kho hàng của 1 a bị a khácxúc mất ... thế đấy tất cả chỉ vì sự muôn hình muôn vẻ của sự sống.

Bữa sáng làm mấy củ khoai, 2 bữa trưa và chiều mỗi thằng được khoảng 2 lưng cơm còn lại là khoai.

Khoai thu hoạch về thái ra phơi khô trộn với cơm.

Khi ăn phải nhai từ từ vì khoai khô phơi lẫn cát mặc dù đã đãi rửa nhiều lần nhưng vẫn bị ghê răng vì cát.

Mùa mưa khoai khô bị mốc cho lợn ăn, lợn còn chê nhưng quân ta vẫn phải ăn vì vứt đi thì lấy gì mà xơi.

Khoai trồng ở cát củ chỉ bằng chuôi dao vì có ngọn khoai nào non thì lính vặt trộm sach để cải thiện.

Tiểu đội tôi làm nhà ngay sau xe tăng của Bình béo.

Trong kế hoach tác chiến được phổ biến nếu như xảy ra chiến sự thì chúng tôi có nhiệm vụ phối thuộc với chiếc tăng 988 này.

Trưởng xe là b trưởng Gấm quê Thanh Hóa, người đậm chắc rất kiệm lời, anh rất xốc vác trong công việc được anh em rất kính nể.

Thấy chúng tôi sinh hoạt thiếu thốn hơn cánh tăng anh Gấm thỉnh thoảng bảo Bình mang sang chúng tôi lúc hộp bột đậu, khi vài phong lương khô 702 hoặc gói cà-phê...

Đài là lái xe người Hà Tây đang học Cao đẳng sư phạm thì nhập ngũ vào lính tăng, cậu này gầy gò nhưng lại là 1 tay lái cừ, cũng phải kể tới Tú Bình cũng là người Thanh Hóa, đây là 1 anh chàng có đầy đủ những nét đặc trưng của 1 người xứ Thanh: ăn to, nói lớn, hay tranh cãi đến cùng trên tất cả mọi lĩnh vực...

Đầu 1975 chúng tôi rời Nam Cửa Việt rút về Cam Lộ để chuẩn bị cho chiến dịch 1975, đơn vị tăng này đi sau chúng tôi và họ cũng tiến sâu vào phía Nam.

Sau này Dũng bạc bên c1 có gặp Bình ở Sơn Trà.

Về sau tôi có hỏi Bình và 1 số anh em bên tăng-thiết giáp về chiếc xe 988 này nhưng không ai biết gì về số phận của nó.

Năm 1984 trong 1 lần tiễn đưa quân tình nguyện của ta từ KPC về nước, lúc đó tôi đang là chuyên gia giáo dục VN tại KPC có mặt tại cảng Phnôm-pênh, nhìn thấy chiếc xe tăng T59 với số hiệu thân quen 988 đang xuống tầu há mồm để về nước.

Cảm xúc lúc đó trào dâng trong tôi đã đưa tôi ngược thời gian trở lại nơi cát trắng cháy bỏng của Nam Cửa Việt hơn 10 năm về trước...

Đại đội thêm 1 nhân vật HN từ c4 về đó là P. nhà ở Thịnh Hào.

Người ta tách P. từ 1 nhóm Hà Nội bên c4 vì nhóm này có những tai tiếng.

P. là một xạ thủ cối 82 có nhiều chiến tích.

Theo anh em c4 kể lại cuối tháng 7/1972 địch dùng trực thăng đổ quân ở khu vực Hà My, P.

đã dùng cối 82 bắn ứng ứng dụng không chân, không bệ bằng 3 quả đạn bắn cháy 1 trực thăng địch khi nó vừa bốc lên khỏi mặt đất.

Sau khi bắn xong nòng cối thụt xuống ruộng, P. bỏ súng lại vàmúc 1 nòng cối khác của đơn vị bạn về trình đại đội.

Chuyện vỡ lở P. không những không được khen thưởng mà còn bị kỷ luật.

4 thằng Hà Nội chúng tôi là D, S và tôi ở 3 b khác nhau còn P ở a10 với khẩu cối 60.

Hàng ngày bao nhiêu công việc chúng tôi chẳng có dịp ngồi nói chuyện với nhau chỉ sau bữa cơm chiều hoặc sau những phiên gác đêm cùng ca thì mới chia sẻ được với nhau.

Tôi không có phốt như mấy cậu kia nhưng luôn luôn bị coi là hay lý sự, châm chọc cán bộ...nhưng vấn đề chính là ở chỗ mấy vị lãnh đạo của c với tôi quá biết nhau trong những tháng ngày còn đánh nhau.

Chỉ có một đôi lần gặp nhau sau phiên gác đêm thế mà ở c kháo nhau mấy thằng HN bàn cách tút vì Tết sắp đến.

Thằng Tr sau vụ thằng C bị quân pháp đưa đi, được điều về a của tôi.

Mọi người thừa biết rằng trước đây nó mới là thằng cầm đầu mọi sự nhưng biết giấu mình.

Về cùng tiểu đội nó bộc bạch với tôi nhiều chuyện trước kia thậm chí phải thừa nhận trận va chạm hôm tôi mới về nó đứng ngoài xui giục tụi đàn em, lại không ngờ tôi phản ứng nhanh như vậy.

Thì ra bất kỳ lính cũ nào khi về đến đơn vị chúng nó đều tìm cách gây sự.

Sau này tôi không nghe thấy bất cứ tin tức gì của nó nữa.

Chúng tôi đón Tết 1974 tại Lệ Xuyên, trong không khí thanh bình của cánh Đông, lúc này đơn vị đã chuyển hòm thư từ JA01 (hòm thư của các đơn vị B5) sang hòm thư TM01 (hòm thư của QK Trị-Thiên).

Lính tráng kháo nhau từ chế độ B ngắn sang B dài khả năng sẽ tiếp tục đi sâu vào phía trong, nhất là đợt quân trang cuối năm 1973 được trang cấp quân phục giải phóng (chất liệu vẫn là vải Tô châu nhưng áo có có cầu vai, nắp túi áo bằng không nhọn như quân trang trước đây), quân trang loại này tôi đã thấy một số anh em có tham gia duyệt binh nhân dịp kỷ niệm thành lập Chính phủ CM lâm thời ngày 6/6/1973 tại Cam Lộ.

Anh em ĐHXD ở đơn vị chỉ còn mấy người, c1 có Dũng bạc K16 (nhà Hàng Bạc); Hòa K15 nhà Hai Bà Trưng; Vương Cường K13 quê Đô Lương, Nghệ An; Hùng K16 quê Thanh Hóa.

D bộ có Tam từ c1 chuyển lên thông tin 2w.

Thằng Động cận K15 nhà Hàng Gà và thằng Đức K13 nhà ở Nam Bộ bên c17 cũng đã ra quân trước Tết.

Ngày Tết đi thăm anh em, an ủi động viên nhau.

Quả thực thời kỳ còn ác liệt nếu có gặp nhau chỉ hỏi: "Mày còn sống à !" cũng không một lời an ủi nhau như bây giờ.

Qua những câu chuyện với nhau tôi cảm thấy một số người hình như không muốn cho đơn vị biết mình là sinh viên...Không hiểu lý do gì phải chăng họ sợ bị phân biệt đối xử chăng ?

Từ bờ Bắc Thạch Hãn xe ô tô muốn sang bên này phải qua phà Đại Áng và chỉ đến được Triệu Đại, xe con cùng lắm đến được Triệu Hòa hoặc chợ Thuận.

Những xã như Triệu Trạch, Triệu Vân, Triệu Phước hoặc ra cảng không có đường xe vì cầu cống đều bị phá sập mặc dù đường 4 ra cảng xe vẫn có thể đi được.

Tiểu đoàn tôi được lệnh đi làm đường để thông xe từ Triệu Thuận về Cửa Việt.

Tôi được điều lên d bộ cùng với Tam làm công việc hướng dẫn kỹ thuật (nghe có vẻ ghê lắm), theo dõi tiến độ và nghiệm thu khối lượng công việc của các đại đội, làm báo cáo cho d.

Lúc này d bộ 1 đóng ở Lệ Xuyên Tây.

Điều kiện sinh hoạt của cơ quan d bộ tươm tất hơn ở dưới đại đội.

Tổ kỹ thuật sinh hoạt với a thông tin 2w của Tam, hàng ngày 2 thằng đi suốt tuyến làm đường để lấy số liệu hoặc hướng dẫn các đơn vị làm đúng quy định.

Đầu tiên từ cầu Bồ Bản ra tới khu vực c1 ở cao điểm 5,2.

Cầu sắt bắc qua sông Bồ Bản đã bị phá sập, chúng tôi phải làm ngầm cho xe qua.

Đá làm ngầm không có phải phá những ngôi nhà bị bom, pháo để lấy táp lô, gạch làm ngầm.

Con ngầm đã hình thành sau 2 tuần cật lực nhưng cũng chỉ có thể qua vào lúc nước cạn còn khi mưa to hay có lũ thì không thể qua được.

Hoàn thành xong đoạn từ Bồ Bản ra cảng chúng tôi, chuyển ra đoạn từ cầu Đại Lộc ra đến Bến phà Đại Áng.

Đoạn này đã có đường xe nhưng chỉ là đường liên xã, liên thôn chưa được nâng cấp cho nên 1 b của c3 phải ra khu vực bên kia đường 1 để nổ mìn lấy đất cấp phối về rải lên mặt đường, tỉnh điều cho mấy xe ben hàng ngày chở cấp phối từ nơi khai thác bên kia đường 1 thuộc xã Triệu Giang qua phà Đại Áng để tới khu vực làm đường.

Ban chỉ huy công trường dưới sự chỉ huy của dv trưởng Thao cùng 1 tổ thông tin hữu tuyến và tổ kỹ thuật được tăng cường thêm anh Trình ở a 2w của Tam.

Hàng ngày tôi và anh Trình bám đường với các c chiều về báo cáo cho Tam ở d bộ để tổng hợp.

Thượng úy Thao quê Quảng Bình chừng 30 tuổi dáng người nho nhã của 1 cán bộ chính trị.

Ông là người sống có chuẩn mực nhưng có vẻ khó gần ngược lại với tính cách của d trưởng Dương.

Thủ trưởng Dương hy sinh tại Long Thành trong những ngày cuối cùng của chiến tranh.

Ông đã đi cùng chúng tôi từ ven thành cổ Quảng Trị cho tới cửa ngõ Sài Gòn.

Nhớ tới ông là nhớ tới người chỉ huy luôn bám sát và cùng chia sẻ với chiến sĩ trong những năm tháng tại Quảng Trị.

Năm 2005 trong dịp đưa đoàn làm phim Có tuổi 20 thành sóng nước về khu vực d1 tác chiến để lấy cảnh quay về nơi Nguyễn Văn Thạc hy sinh, chúng tôi dừng chân ở Đồng Hới và hôm đó Duẩn ( Duẩn bây giờ lấy tên là Lý Hoài Xuân - nhà thơ của tỉnh) y tá của c tôi quê Quảng Bình có dẫn tôi tới thăm thủ trưởng Thao.

Ông về nghỉ hưu cũng đã lâu sau khi ở KPC về, ông lấy em gái của Lê Duy Ứng.

Hai ông bà sống trong 1 căn nhà nhỏ đơn sơ ven Đồng Hới gần đường HCM.

Biết chuyện buồn của thủ trưởng khi ở KPC, tôi không dám hỏi han nhiều chỉ nhắc tới những ngày ở Quảng Trị mà thôi.

Từ Đại Hào làng mạc đã xanh mướt trở lại.

Sự sống hồi sinh nhanh chóng không ai có thể nghĩ rằng cách đây mới hơn 1 năm bom đạn đã san phẳng nơi này.

Dân tình đã trở về dựng lại ngôi nhà tạm trên nền nhà cũ.

Bộ đội về đóng tại nhà dân nên cuộc sống có vẻ sống động hơn.

Chợ Thuận đông vui hơn mỗi khi chủ nhật quân ta được dịp lang thang chơi chợ.

Chúng tôi chuyển về Dương Lệ Văn, ông Tương d phó thay cho ông Thao phụ trách chỉ huy công trường.

Gia đình tôi ở nằm ngay ngã ba đường rẽ xuống phà.

Trong nhà có 1 thầy giáo ngoài Bắc vào dạy tại trường của xã.

Ông bà cụ chủ nhà vẫn còn khỏe mạnh, cậu con trai tên là Ngạn là du kích xã, cô em gái tên là Dung đang học cấp 2.

Thầy giáo Mạnh quê ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, đã có gia đình.

Ba người chúng tôi là người Bắc trạc tuổi nhau lại gốc gác trí thức nên dễ gần gụi thông cảm nhau.

Anh Trình là người Yên Thành, Nghệ An, vốn là dân ĐH Kinh tế công tác tại Ủy ban kế hoạch tỉnh Nghệ An, dáng người nhỏ thó, nói chuyện rất dí dỏm suốt ngày hút thuốc lào sòng sọc.

Những câu chuyện của chúng tôi về những gì trải qua, về quê hương và về công việc trước đây bao giờ cũng là chủ đề thu hút anh em Ngạn, Dung và vợ chồng ông bà chủ nhà.

Ông bà còn có 2 người con đi lính Sài Gòn chưa có tin tức gì.

Có những lúc chúng tôi đùa: " Nếu như các con của mạ chiếm lại được Quảng Trị và đánh ra Triệu Thuận này thì mạ sẽ làm gì khi chúng con đang ở đây ?

".

Bà cụ nói luôn: " Các eng ở đây cũng là con của mạ, mạ sẽ ngăn 2 bên không đánh nhau nữa vì tất cả đều là con của mạ cả ".

Câu nói của bà mẹ Quảng Trị không bao giờ tôi có thể quên mặc dù đã gần 40 năm đã qua.

Sau 3 tháng làm đường cả đơn vị bắt tay xây dựng thao trường mẫu tại khu vực cầu Bồ Bản.

Ở đây đã sẵn có 1 lô cốt và tháp canh bảo vệ cầu, chúng tôi phải xây dựng 1 thao trường để huấn luyện đánh công sự vững chắc với đầy đủ cả giao thông hào, ụ chiến đấu, lô cốt bát úp, hàng rào dây thép gai đủ kiểu: bùng nhùng, cũi lợn, dàn mướp...

Thằng S.và P.

được phát huy tay nghề công nhân của chúng nó, các học cụ được gò bằng tôn thu lượm từ Ái Tử về qua bàn tay tài hoa của chúng nó giúp đơn vị rất nhiều trong huấn luyện như lô cốt bát úp, các loại mìn, mô hình xe tăng, pháo cối...

Năm trước, các sư đoàn tham chiến tại mặt trận Quảng trị rút ra Bắc thành lập Quân đoàn 1 là các sư đoàn bộ binh 308, 312, 320B, sư 367 phòng không, lữ 202 tăng-thiết giáp, lữ pháo binh 45...thì tháng 5/1974 tin tức về việc thành lập Quân đoàn 2 lan xuống đến đơn vị chúng tôi cùng với việc từ hòm thư TM 01 chuyển sang TM 10.

Lính tráng bảo nhau từ tít mù 1 sang tít mù 10 là sắp có chuyện đây.

Đơn vị hành quân diễn tập liên miên đang từ cánh Đông hành quân lật cánh sang cánh Tây.

Những cuộc hành quân diễn tập này chủ yếu là triển khai các phương án chiến dấu từ d cho đến e.

Đang từ miền đất cát đào công sự như như là dế chũi sang đến vùng Lai Phước ở phía Tây đường 1 đào công sự trên vùng đất đồi tóe máu tay.

Quân đoàn 2 có 3 sư đoàn bộ binh thì sư đoàn 304 đang ở Cùa đã vào Thượng Đức từ hồi tháng 3, gặp nhiều tổn thất sau khi đụng với tụi lính dù ở đây hiện tại vẫn nằm tại miền Tây Quảng Đà; sư 324 vẫn hoạt động ở miền tây Thừa Thiên; ở Quảng Trị chỉ còn sư đoàn của chúng tôi.

Tuyến hành lang giáp ranh ở cánh Đông từ Chợ Sãi qua An Tiêm, Nại Cửu, qua An Lộng, Vân Hòa ra tới Long Quang, Thanh Hội vào thời điểm này đã bàn giao cho bộ đội địa phương.

Toàn bộ e101 lui về phía sau làm lực lượng cơ động càng làm cho chúng tôi biết đều gì đến sẽ phải đến.

Cuối năm 1974, trung đoàn tôi chia tay với cánh đông Quảng Trị nơi đã để lại nhiều dấu ấn của những tháng ngày chiến đấu ven thị xã và những dải cát trắng Nam Cửa Việt khô cháy để lên Cam Lộ.

Mặt trận phía trước đang chờ đón chúng tôi - những đứa con của sư đoàn Bình Trị Thiên, sau lưng chúng tôi vẫn còn đó nỗi đau của một Thị xã - Thành cổ Quảng Trị , của Chợ Sải, An Tiêm, Nại Cửu...với biết bao đồng đội thân yêu đã nằm lại trên mảnh đất này.

Chúng tôi thề sẽ quay trở lại để trả lại món nợ này.

Hình ảnh một lứa trai đi B ngày ấy với ba-lô con cóc trĩu nặng trên lưng, trước ngực là khẩu AK, dáng người đang lao về phía trước, trong tay là chiếc gậy Trường Sơn, đầu đội mũ cối hoặc mũ tai bèo, tóc tai bê bết mồ hôi hòa lẫn nước mưa, xanh-tuya-rông bên hông với bình tông, dao găm, túi cứu thương, quần Tô Châu xắn đến đầu gối, chân mang tất dài xỏ dép đúc Trung Quốc luôn luôn đọng lại trong thế hệ chúng tôi như một tượng đài bất diệt.

Trong túi áo ngực của tôi là những thứ bất ly thân: 1 mảnh giấy Trích ngang có viết tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, khi cần báo cho ông (bà) tại địa chỉ...với mảnh giấy nhỏ này nếu như anh ngã xuống thì đồng đội sẽ căn cứ vào đó để báo về gia đình và khắc bia cho anh, còn mảnh giấy sẽ được bỏ vào 1 lọ péniciline hoặc lọ thuốc sốt rét chôn theo người - gọi là bia chìm; 1 bút máy Trường Sơn với 1 cuốn lịch Nhân dân bìa ni-lon trên đó ghi tóm tắt những gì xảy ra trong ngày, một vài ngày nếu rảnh rỗi lôi nhật ký trong ba-lô ra viết chi tiết hơn; một ít tiền Bắc còn lại và mẩu thuốc phiện anh Thiện đưa, tất cả được gói trong túi mì chính.

Trong ba-lô còn có cuốn sổ học tập của trường mang theo để làm kỷ niệm, khi vào trận tôi đã nhét nó vào bòng mang theo, cái bòng đó đã để lại nơii đánh nhau và có thể địch đã thu được và đưa tin về những SV của Bắc Việt đã bỏ xác tại trận.

Việc mang theo cuốn sổ học tập vào trận cũng không phải riêng tôi, sau này có hỏi lại thì rất nhiều đã mang theo nó trong người.

Ngoài ra còn có 1 lọ nhựa đựng mực để dùng dần (về sau mất hết cả mực và rơi mất bút nhưng được cái đơn vị hoạt động ở đồng bằng nên bút chì và bút bi kiếm cũng dễ).

Nhưng khi đã trở thành một người lính chiến thực thụ thì trang bị đã gọn gàng hơn: ba-lô để hậu cứ, trên lưng có đeo một cái bòng làm bằng bao cát của Mỹ trong để vài phong lương khô, võng, tăng để khi hy sinh đồng đội sẽ bọc mình bằng võng, tăng phủ bên ngoài và bó bằng dây võng dĩ nhiên bên trong phải có bia chìm (như đã nói ở trên) ; nếu may mắn chỉ bị thương thì mình sẽ được đồng đội đưa ra phía sau bằng võng.

Phải tìm cách trang bị cho mình một số đồ trận của Mỹ tuy có nặng nhưng bền và rất tiện dụng như xanh-tuya-rông Mỹ không bị vặn khi đeo nặng như của ta.

Những trang bị của Mỹ được cài trên xanh-tuy-rông bằng nẹp rất chặt nhưng lại có thể tháo lắp 1 cách dễ dàng.

Còn các trang bị của chúng ta tuy có nhẹ nhưng chỉ làm đai lồng vào xanh-tuya-rông, muốn lấy cái ở trong phải tháo những cái ở ngoài, mặt khác có cái dở khi vận động nhất là khi phải bò, phải trườn những thứ đồ đó dồn hết trước bụng.

Kiếm 1 bình tông bằng i-nox của Mỹ và nhất là vỏ bình tông có lớp nỉ có thể giữ ấm khi pha trà.

Bên hông ngoài túi thuốc được đựng trong bao đạn cực nhanh Mỹ còn có thêm vài cuộn băng cá nhân, chúng tôi còn phải có 1 con dao găm bằng lê AK (sau được thay bằng lê của AR15 của Mỹ sắc hơn), 1 túi lựu đạn (được lựu đạn mỏ vịt là tốt nhất), 1 túi đựng lương khô hoặc cơm nắm trong đó có 1 cái thìa hoặc dĩa US bằng i-nox, túi ngực 1 bên để cuốn lịch và tờ Trích ngang, túi bên kia là bật lửa (tôi còn giữ 1 cái Zippo chiến lợi phẩm), mấy viên đá dự trữ, 1 cái khui đồ hộp, 1 gói thuốc lào.

Nếu phải mang AK thì chỉ cần 2 băng buộc chéo nhau lắp sẵn vào súng, 1 băng gài vào túi quần sau là có thể sử dụng trong 1, 2 ngày.

Về sau tôi dùng bao xe đựng đạn dạng yếm, tuy có nặng và nóng nhưng chính bao xe kiểu này như áo giáp chống được mảnh đạn găm vào ngực.

Đánh nhau ở đây, ta và địch giành giật nhau từng góc nhà căn phố nên việc sử dụng lựu đạn và B40, B41 rất có hiệu quả vì thế khi vào chốt chúng tôi thường mang rất nhiều lựu đạn và đạn B40, B41.

Lại nói đến cái khui đồ hộp, cũng là của Mỹ nó rất có ích khi ta và địch chỉ cách nhau 1 bờ tường đổ, mọi động tĩnh của nhau đều dễ bị phát hiện, lúc đó muốn mở đồ hộp thì chỉ dùng cái khui sẽ mở được rất nhẹ nhàng.

Hành quân cơ động chiến đấu còn vất vả hơn rất nhiều so với khi đi B là quân bổ sung vì ngoài quân tư trang thằng nào cũng phải mang theo cơ số đạn dự trữ cho các đơn vị hỏa lực như cối 82, DK, B40, B41, 12 ly 7...còn phải kể đến việc khiêng lợn của đơn vị nữa ...

Cho đến nay đã gần 40 năm khi mái tóc trên đầu không còn xanh nữa, nhưng những ký ức trong những ngày ở Quảng Trị vẫn vẹn nguyên trong tôi như mới ngày hôm qua.

Điểm lại những khuôn mặt đồng đội cùng tôi ra đi từ Tân Đức ngày ấy và cùng về e101/f325 giờ này thiếu vắng anh Tạo, anh Lâm, anh Long, Tiến, Triệu, Tuấn, Cao Minh Sơn... và nhiều người lắm không thể nào nhớ hết được.

Các anh mãi mãi nằm lại mảnh đất này, thân thể của các anh đã hóa thân thành sóng nước, thành cát trắng, thành gió Lào hắt lửa, thành dai dẳng của mùa mưa Quảng Trị.

Đồng đội tôi trong chiến dịch 72,

Xương thịt nhiều hơn đất đai Thành cổ.

Bao người lính ra đi không về nữa

Để đất này mãi mãi mầu xanh.

Thế hệ chúng tôi, kể cả những người đã xông pha trận mạc hay những người ở lại hậu phương đều giống nhau, là hay nhìn về quá khứ.

Không biết tại sao và cũng không ai cố lý giải vì sao lại thế...Nhưng chắc chắn một điều khi nhìn về qua khứ, bên cạnh sự yên tĩnh trong tâm hồn giữa bộn bề cuộc sống thì lúc nào chúng tôi cũng cảm thấy mình còn may mắn rất nhiều so với những người bạn đã nằm lại tại chiến trường với mãi mãi tuổi hai mươi, điều đó càng thôi thúc chúng tôi được giải tỏa, được chia sẻ với nhau khi mái đầu mỗi lúc một bạc thêm.

Cho đến bây giờ chiến tranh đã đi vào quá khứ và có thể có nhiều đánh giá khác nhau nhưng tôi cho rằng bất cứ ở giai đoạn nào của lịch sử thì Độc lập, Tự do và Thống nhất đất nước bao giờ cũng phải là Tuyên ngôn đầu tiên của bất cứ chính thể nào một khi đang nắm vận mệnh của một dân tộc.

Không lẽ gì trong những thời khắc nóng bỏng như thế chúng ta lại là kẻ đứng ngoài cuộc.

Tôi cũng muốn nhắc lại ở đây lời của một đồng đội đã cùng chúng tôi sống và chiến đấu trong những tháng ngày không thể nào quên đó, anh đã nói hộ chúng tôi tất cả:"Không ai lựa chọn chiến tranh, nhưng chiến tranh lại chọn thế hệ chúng tôi để thử nghiệm phẩm chất làm người...Không ai lựa chọn sự gian khổ, nhưng gian khổ thiếu thốn lại làm bật dậy giá trị tinh thần cao quý, làm nên sức mạnh chiến thắng...và không ai lựa chọn cái chết, nhưng sự sống thật là quý giá giữa chảo lửa khổng lồ, chúng ta đã chấp nhận cái chết bằng cách ngẩng cao đầu và nếu có ra đi thì thật là thanh thản...".

Đấy chính là nhân cách của chúng tôi khi hòa vào dòng chảy của dân tộc trước những thử thách cam go để tồn tại hay không tồn tại và chúng tôi tự hào đã làm được cái mà cả thế hệ chúng tôi đã làm trong những năm tháng đầy máu và nước mắt nhưng rất đỗi vẻ vang vì sự tồn vong của dân tộc và đất nước thân yêu.

CHUYỆN VỀ MỘT NGƯỜI ANH (1)

Ngày 27/5/1972 những SV ĐH xây dựng chúng tôi bước sang một cuộc đời mới - cuộc đời của những người lính.

Xe của trường chở chúng tôi rời khu C tại chợ Yên, xã Tiền Phong, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú qua Thường Lệ, Mê Linh, Thanh Tước ra QL2 và ngược về phía Vĩnh Yên.

Qua cầu Bình Xuyên chúng tôi rẽ tay trái vài ba cây số đến xã Đạo Đức thuộc huyện Bình Xuyên, chúng tôi xuống xe.

Không hiểu hôm đó giao quân kiểu gì mà tốp chúng tôi từ khu C cứ vất vưởng vì chưa được giao quân, cơm nước không có mà ăn lăn lóc hết quán nước này đến bụi tre kia ngồi tránh nắng.

Bụng đói mà chợ búa ở đây lèo tèo chẳng có gì mà ăn.

Mãi tới xế chiều mới giao quân, tôi được đưa vào 1 nhà dân để nghỉ, ở đây đã có một vài anh em dến từ hôm trước.

Sinh viên của ĐHXD ở Hương Canh cũng đã giao nhận từ hôm trước.

Nhà tôi ở có anh Oanh K12C (cầu đường), Khoa râu K13C, Tú trường công nhân máy kéo và tôi.

Tôi được biên chế vào a3/b1/c1/d60/f304B.

Đây là 1 đơn vị huấn luyện quân tăng cường đóng ở Phú Bình, Bắc Thái.

Tiểu đội trưởng của tôi tên là Sơn, vóc người chắc đậm quê Nghệ An.

Sơn nhập ngũ trước chúng tôi, đợt tháng 12/1971 từ trường trung cấp mỏ địa chất.

Tiểu đội phó là anh Nguyễn Trần Được K13C.

Tiểu đội tôi có 12 người: Sơn a trưởng, anh Được a phó, anh Tuệ K12X, anh Châu K12 Cảng, anh Oanh K12C, Mỹ 13X, Khoa 13C, anh Ba giáo viên khoa Thông gió, Mẫn 15C, Tú và Xứng cùng ở trường công nhân máy kéo và tôi.

Ở Đạo Đức hai hôm chúng tôi nhận quân trang gồm 1 bộ quần áo dài bằng vải Nam Định, 2 bộ đồ lót, 1 cái màn xô xanh, 1 đôi dép đúc Trung Quốc và 1 tấm vải nhựa che mưa, những gì còn lại như ba-lô, mũ cứng... về đơn vị phát tiếp.

Buổi chiều ngày thứ 2 cả đơn vị xúng xính trong trang phục mới tập trung tại sân kho của HTX để nhận cờ tiểu đoàn Bùi Ngọc Dương do Ban giám hiệu trao tặng và rời Đạo Đức hành quân ra ga Hương Canh để lên tầu.

Cái đêm hành quân ra ga Hương Canh để đợi tầu lên Thái Nguyên thật là ấn tượng.

Cứ một thằng lính là có đến 4, 5 người đi tiễn.

Hương Canh là nơi trường ĐHXD đóng (bao gồm hiệu bộ và các khóa từ 12 cho đến 13 và 1 số lớp của khóa 14 của các khoa, còn từ 14 đến 16 vẫn ở khu C Chợ Yên).

Cả trường ra tiễn và không ít người từ khu C đạp xe lên.

Còn phải kể tới các trường trung cấp mỏ - địa chất và trường công nhân máy kéo gần đó, người ở lại ra tiễn người ra đi.

Những anh em ở trường ĐH Tài chính ở Phúc Yên, rổi trường ĐH Công nghiệp nhẹ ở Việt Trì chắc ở xa quá nên không có mặt trong số những người đi tiễn đêm đó.

Thật là 1 cảnh tượng không thể nào quên trước khi lên đường.

Mấy đứa chúng tôi ở khu C không có bạn bè ra tiễn nên rúc vào 1 chỗ hút thuốc vặt chờ lúc tầu và trông đồ cho hội Hương Canh tản mát khắp nơi.

Cách chỗ chúng tôi không xa bên hàng cây ven đường sắt những đôi bạn yêu nhau quyến luyến chia tay nhau trong những tiếng nấc nghẹn ngào bị át đi bởi tiếng gọi tìm nhau ơi ới...

Tôi được phân công đeo 1 cái nồi, không ít người bị dính nhọ nồi trong khi chen vai thích cánh để tìm bạn.

Không biết cái ga xép Hương Canh đó đã lần nào được chứng kiến cảnh người đi người ở đông khủng khiếp như đêm hôm ấy chưa.

Nửa đêm, chúng tôi lên tầu, dưới ánh trăng hạ tuần qua cửa sổ của con tầu những cánh tay chìa ra tạm biệt và có thể vĩnh biệt lắm chứ thì hàng ngàn cánh tay bên dưới lưu luyến vẫy theo, không ít những cô gái nhoai theo đoàn tầu đưa người yêu đi, bạn bè phải ghìm giữ lại.

Tôi không có một người bạn nào trong số đó, nhưng trong lòng mình cũng xốn xang nao lòng trước cảnh chia ly như thế.

Tầu đang chuyển bánh từ từ bỗng khựng lại không biết vì sao mãi một lúc mới lại chạy.

Sau này mới biết B. học lớp 14CH yêu B.

12 C, được tin người yêu lên tầu ở Hương Canh quá muộn, cô ta mượn 1 cái xe đạp đạp từ khu C trong đêm lên Hương Canh để gặp người yêu, không ngờ tầu đã chuyển bánh, cô ta đã lao ra đường sắt giang tay để ngăn đoàn tầu lại để gặp B.

Sức mạnh tình yêu thật là phi thường khiến cho cô gái đã can đảm như thế.

Sáng sớm tầu dừng ở ga Phổ Yên sau 1 đêm chạy như rùa bò.

Cả tiểu đoàn bắt đầu hành quân bộ.

Một tiểu đoàn phải đến 600 quân bắt đầu chặng đi bộ dưới cái nắng tháng 5 khủng khiếp.

Không mũ nên đủ kiểu che nắng: người dùng khăn mặt quấn lên đầu, người dùng cành lá che nắng, kẻ tạt xuống bên đường ngắt lá khoai nưỡc hoặc 1 lá sen phủ lên đầu, còn tôi nhặt được 1 cái nón rách ở hàng rào bên đường để có cái đội chống nắng.

Ba-lô chưa có quân trang chỉ có mỗi cái màn và 1 bộ đồ trên người nên cũng đơn giản: lấy vải nhựa bọc tư trang cá nhân lại và kiếm sợi dây buộc lại đeo toòng teng trên người.

Còn tôi được phân công mang 1 cái nồi quân dụng nên tư trang cho hết vào nồi đậy vung lại dùng dây cột chặt nắp nồi lại và buộc dây vào 2 quai nồi để đeo trên lưng, cũng tiện.

Đầu tiên đội hình hành quân hàng 1 được cây số đầu bắt đầu loạc choạc mạnh ai nấy đi, mệt thì ngồi nghỉ.

Cán bộ khung chạy ngược chạy xuôi đôn đốc cũng chẳng ăn thua, lính tráng lết bết trên đường dưới trời nắng như thiêu.

Ngẫm lại quang cảnh cuộc hành quân hôm ấy có lẽ chẳng ai nghĩ rằng đó là 1 đội quân ngoài bộ quân phục trên người.

Cũng còn may được cấp dép đúc dể đi nếu không với những dép nhựa lê mang đi thì không thể đi mấy chục cây số như vậy.

Con đường từ Phổ Yên sang Phú Bình là vùng bán sơn địa với những quả đồi thấp, nhiều đồi trồng thông, bạch đàn trông rất đẹp.

Xóm làng hai bên đường thưa thớt.

Buổi trưa chúng tôi nghỉ tại 1 xóm nhỏ bên sông Cầu để nấu ăn.

Bữa cơm dã ngoại đầu tiên của đời lính được triển khai tại nhà dân theo từng tiểu đội.

Ăn xong chúng tôi nằm vật dưới bụi tre để nghỉ trưa, thỉnh thoảng vài ngọn gió hiếm hoi từ sông xua đi cái oi nồng làm dịu bớt cái mệt mỏi đầu tiên trong đời lính.

Đang chìm trong giấc ngủ mê mệt thì tiếng còi tập hợp rúc lên.

Ông Viên b trưởng phổ biến chuẩn bị vượt sông.

Ông ấy cho biết: đây cũng là 1 nội dung huấn luyện cho nên mọi người được cấp 1 miếng vải mưa vừa che mưa vừa để gói tư trang làm phao vượt sông.

À ra như vậy, khi nhận quân trang có miếng vải mưa ai cũng cho là thừa vì ba-lô thì chưa có mà đã cấp vải mưa trong khi trời tháng 5 nắng như đổ lửa.

Sơn hỏi: "Trong tiểu đội những ai không biết bơi?", tôi và anh Được đứng ra ngoài hàng.

Sơn hướng dẫn các gói phao bơi và cho tôi và anh Được bơi ở giữa cả tiểu đội bơi xung quanh để kèm.

Nước sông Cầu đoạn này trong vắt chảy rất êm đềm.

Thì thụp trong dòng nước và mấy lần chìm nghỉm nhưng nhờ có đám phao của tiểu đội và nhất là anh Tuệ kèm sát nên lại ngoi lên được.

Lên tới bờ, mệt nhoài vì căng thẳng nhưng lại sảng khoái vì từ hôm nhập ngũ đến hôm nay mới có trận tắm thoái mái như thế này.

Chúng tôi lại hành quân tiếp, cứ như thế mạnh ai nấy đi không theo 1 hàng lối nào cả.

Mệt quá thì đến chỗ có bóng mát thì nằm vật xuống để lấy lại sức.

Hết những dãy đồi thông, bach đàn là những cánh đồng lúa đang vụ gặt.

Đặc biệt là hệ thống mương máng sông đào chằng chịt với những âu thuyền, cửa cống bằng đá hộc, chứng tỏ công trình thủy lợi này đã có từ rất lâu.

Anh Châu là dân thủy lợi cho biết đây chính là hệ thống thủy lợi được xây dựng dưới thời Pháp thuộc mà một trong tác giả của công trình này là Hoàng thân Xu-pha-nu-vông.

Chiều tà chúng tôi rời bờ kênh rẽ trái hướng về dẫy đồi thông, 1 quán nước dưới gốc cây đa cổ thụ bóng mát của nó che phủ một khoảng rất rộng, đứng đây tầm mắt mở tới rất xa với những cánh đồng lúa và những dòng kênh thẳng tắp.

Chúng tôi ngồi nghỉ uống nước, bà cụ bán nước múc cho chúng tôi những bát chè xanh và nói: "Các chú sắp đến rồi đó, hết dãy đồi thông trước mặt là đến nơi".

Đây là xã Tân Đức thuộc huyện Phú Bình.

Phía trước mặt là đất Tân Yên, Hà Bắc.

Hơn ba chục năm sau, trong dịp về Nhã Nam viếng mẹ của Hiền phệ mấy đứa chúng tôi tranh thủ lên Tân Đưc để thăm lại chốn xưa.

Cây đa vẫn còn đó nhưng dưới gốc đa đã là 1 phố thị sầm uất với nhiều cửa hàng từ quán bia ,ăn nhậu tới quán làm đầu, bán hàng tạp hóa, xưởng sửa chữa máy nông nghiệp, rồi sứa chữa TV, thậm chí có cả quán karaoke với thấp thóang bóng những cô gái mắt xanh mỏ đỏ.

Cái gọi là văn minh đô thị đã đổ bộ về một vùng đất hẻo lánh xưa kia nơi đã để lại trong lòng chúng tôi 1 khoảng không gian êm đềm để chuẩn bị bước vào một cuộc chiến ác liệt với nhiều người không bao giờ trờ về nữa.

Chúng tôi qua 1 đồi thông, dưới chân đồi là mấy dãy nhà lợp nứa đó là c2, ở c này là số anh em K16, một số K13 và một số giáo viên của trường, ngoài ra còn anh em của các trường khác.

Đi tiếp hơn 1 cây số chúng tôi đến nơi đóng quân, đây thuộc xóm Quẫn của xã Tân Đức, trước mặt là 1 hồ nước, cả đại đội gồm dãy nhà lợp nứa: 1 dãy của c bộ, 1 đãy là nhà bếp và hội tường kiêm nhà ăn còn 4 dãy còn lại là của 4 b.

Tất cả quay vào 1 sân chung chung quanh là đồi trọc chỉ có những đám cỏ thanh hao và cỏ guột khô xác.

Dãy nhà của các b chắc vừa làm xong mới chỉ có khung nhà, cửa giả chưa có, giường chiếu cũng không.

Đêm đầu tiên chúng tôi phải trải vải mưa thay chiếu để ngủ sau 1 ngày hành quân qua hơn 40 cây số dể về đơn vị.

Sáng hôm sau cả đơn vị bắt tay vào đào giao thông hào phòng khi bị ném bom, 1 số được cử làm sạp ngủ.

Tôi và một số người được cử đi đào công sự.

Đất đồi rắn đanh chỉ có xẻng con bộ binh nên việc đào hào rất vất vả.

Chưa bao giờ phải như thế này, hai bàn tay phỏng rộp tứa máu.

Những anh em xuất phát từ nhà nông với công việc này không quá khó khăn với họ, còn những người như tôi quả là vượt quá khả năng của mình.

Hết cán bộ c rồi b nhìn chúng tôi chỉ biết lắc đầu...

3 ngày thì đoạn hào nông choèn đến đầu gối rồi cũng xong nếu như không có sự trợ giúp của anh em khác.

Sạp ngủ cũng xong, rồi được phát tiếp quân trang: mũ cối TQ, ba-lô TQ (chính là cái ba-lô hiện nay tôi còn giữ), 1 bộ quần áo bằng vải Hung nặng chịch, hai người 1 cái chiếu.

Đầu tiên tôi nằm cạnh Khoa râu, người nó lông lá phát khiếp, khi ngủ lông chân nó cọ xát vào người tôi không thể chịu được.

Đùn đẩy mãi tôi được nằm chung màn với anh Tuệ.

Vì sạp không đủ cho mỗi người 1 chiếu nên phải ngủ ghép.

Cạnh tôi là anh Được nằm chung màn với thằng Khoa râu.

Đơn vị đóng quân ngay bên một hồ nước, chiều nào lính tráng cũng thì thụp tắm giặt ở hồ nước này.

Doanh trại cách mấy xóm nhà dân chừng 3, 400 mét.

Buổi trưa hay sau giờ sinh hoạt buổi tối chúng tôi thường trốn trại vào trong dân làm điếu thuốc hay ấm trà.

Lần trở lại sau này như đã nói ở trên, xe chúng tôi phải đõ ở vạt đồi bạch đàn ngày xưa nơi tập bắn súng và làm bếp Hoàng Cầm vì không đi tiếp được.

Chúng tôi dừng chân đầu xóm bên hồ.

Cái hồ ngày xưa trong mắt chúng tôi hồi ấy trông khá lớn giờ hình như nhỏ lại và được trồng rất nhiều sen.

Mấy cụ già thấy chúng tôi chỉ chỉ trỏ trỏ hỏi:

- Các chú có phải là bộ đội ông Bát không?

- Sao cụ lại biết?

- Ở cái xóm heo hút này nếu như có người lạ vào đây chỉ có bộ đội ngày xưa vào thăm cảnh cũ thôi.

Cụ chỉ cho tôi khu đất doanh trại cũ ngày xưa, các đơn vị trước đó đều đóng trong nhà dân đến đợt chúng tôi thì ra ở doang trại.

Chính tay cụ và 1 số người trong xóm đã dựng lên những doanh trại này.

Ông Bát là chính trị viên tiểu đoàn chúng tôi, còn ông Trần Ba người miền Nam là tiểu đoàn trưởng.

Khung huấn luyện của chúng tôi thuộc f304B của QK Việt Bắc, mỗi đợt 15 tiểu đoàn.

Trước đó khung d của tôi là d45 đi đợt 12/1971 gồm các trường Bưu điện truyền thanh, tài chính, sư phạm 2, sư phạm Việt Bắc...Đến đợt chúng tôi khung d45 lấy tên là d60.

Những gì của cuộc đời 1 tân binh chắc mọi người đã trải qua và thấu hiểu.

Cái đáng nhớ nhất là việc rèn các chế độ nội vụ: mọi sự phải thật nghiêm túc, bài bản thống nhất từ những việc nhỏ nhất.

Đây là điều khó thích ứng nhất vì chúng ta đã quen tự do rồi.

Tôi là 1 thằng hay cãi và nhiều khi phản ứng bột phát nên hay để lại cho cán bộ khung những ấn tượng không hay.

Ví dụ đi lấy củi về tiểu đội nào xếp riêng tiểu đội ấy để đánh giá nhận xét.

Tôi thường chọn 1 cây tương đối để vác cho dễ, về nhà để bên cạnh những bó củi bó gọn ghẽ rất chuyên nghiệp, củi của mình bị phê bình vì không được như người khác nhất là câu cửa miệng của cán bộ khung:"Người khác làm được tại sao đ/c làm không làm được như họ".

Tôi phản ứng:"Bảo đi lấy củi miễn là có củi về đun là được, các ông có quy định phải như thế nào không?"

Đại loại những chuyện va vấp như vậy.

Những lúc như thế, anh Tuệ lại rỉ rả với tôi:"Em không hề sai, nhưng họ cũng có lý của họ vì thứ nhất họ có quyền nói và thứ hai họ còn bị cấp trên hạch nữa.

Cần kiên nhẫn một chút và cái quan trọng nhất là làm gì cũng phải lưu ý đừng để người ta có cớ bắt bẻ mình..."

Anh Tuệ có dáng người cao rất thể thao nhà ở Giáp Lục, Thanh Trì, Hà Nội.

Anh hay kể chuyện về bà mẹ - một bà giáo trường làng - mặc dù các con đã khôn lớn nhưng bà luôn luôn theo dõi từng bước đi của các con.

Tôi đã được anh Tuệ đọc cho nghe những đoạn thư bà gửi cho anh.

Những dòng thư rất nồng ấm của một người mẹ vẫn coi con trai đã lớn như những đứa học trò nhỏ của mình.

Mà quả thực dưới con mắt của các bà mẹ thì chúng ta chỉ luôn luôn là nhữngđứa trẻ to đầu như chưa biết khôn.

Anh Tuệ rất lo cho tôi và anh Được không biết bơi, nên ngày nào anh cũng bắt chúng tôi tập bơi.

Nhưng có lẽ khoản này tôi lại là một kẻ vừa ngu vừa dốt, học mãi chỉ học được mỗi một kiểu bơi của họ nhà cẩu mà thôi.

Vào những lúc nhàn rỗi sau bữa cơm chiều hoặc trước giờ đi ngủ, mấy anh em tôi thêm cả anh Châu thường ra vệ đồi nhìn xuống hồ nước hát những bài ca quen thuộc của thời SV.

Anh Châu là người Hải Phòng học lớp 12 Cảng, trước đây là công nhân được đi học, khi đi bộ đội anh mang theo cây ghi-ta.

Anh chơi đàn hay lắm lại thêm giọng ca của anh Tuệ làm cho những phút mệt nhọc sau một ngày tập luyện vất vả dường như tan biến đi.

Dần dần cứ những lúc rỗi rãi không cứ mấy người chúng tôi mà nhiều anh em ở các b khác cũng tụ lại đàn hát.

Chắc các bạn biết ngày ấy lứa SV các trường kỹ thuật như BK, XD, GT... rất tài hoa nhất là các khoản hát hò và cả cưa gái thì cũng giỏi giang lắm.

Trong số những con người ấy có B. mà có cô bạn gái dám ngăn tầu lại là 1 tay ắc-cóoc có hạng của trường ĐHXD, anh Châu là 1 trong những cây ghi-ta cự phách ở trường, rồi một loạt những giọng ca nổi tiếng của trường như MC, PC, Th... của trường nữa.

Chả thế 1 lần đoàn tuyên văn của sư đoàn về biểu diễn cho tiểu đoàn các tiết mục của đoàn đã bị mờ nhạt trước những tiết mục của các tân binh là các SV.

Về sau này khi ông Th. về c17/e95/f325, sau HĐ Paris được kéo lên Ban tuyên huấn của sư đoàn 325 phụ trách đội văn nghệ khá nổi tiếng ở khu vực Quảng Trị.

Phong trào hát hò của lính tráng đã làm cho c bộ phải bố trí 1 buổi truyền thanh vào buổi tối trước khi đi ngủ bằng cái đài Lido.

Sau bản tin mà nhạc hiệu là bản nhạc Quê em miền trung du là chương trình ca nhạc thôi thì đủ các bài hát của thời SV, nhất là những bài ca của những người lính Xô-viết trong những năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại như Kachiusa, Thời thanh niên sôi nổi, Cuộc sống ơi ta mến yêu người, Tình Bạn, Giờ này anh ở đâu...đã được hát lên và những bài hát đó đã cùng chúng tôi ra trận.

Anh Tuệ có một bài tủ là Qui sera!

Sera và 1 trích đoạn trong vở nhạc kich Masa, mỗi khi anh hát với giọng buồn buồn đầy tâm trạng tôi cũng chắc anh có một tâm sự nào đó...

Với tôi anh coi như 1 đứa em ngang ngạnh.

Anh hay kể cho tôi 1 số câu chuyện bằng những câu dẫn chứng mang tính triết lý đại loại như:"Nếu như không tránh được những cuộc chiến đấu thì hãy chiến thắng bằng bất kỳ giá nào..." hoặc là "Trên những nẻo đường cuộc sống hành lý cần mang theo lòng kiên nhẫn và tính chịu đựng...".

Anh Châu lại là một con người rất nghệ sĩ với vẻ mặt lãng tử cùng hàng râu mép lởm chởm.

Cái đàn ghi-ta không lúc nào rời anh ngay cả lúc hành quân rèn với tảng đất nặng gần bốn chục cân trên lưng.

Phải nói rằng tiếng đàn của anh rất điêu luyện nhưng giọng hát của anh lại ngược lại rất khê nồng.

Anh nổi tiếng đại đội vì một lần được cử đi khiêng máy chiếu phim, anh lên thẳng c bộ để mượn dây để khiêng máy.

Ông c phó quát:

- Tại sao anh lại hỏi tôi, phải khắc phục chứ.

- Khắc phục là như thế nào khác gì anh bắt chúng tôi giơ nắm đấm xông lên lô cốt địch đang nã đạn...Tại sao khi nhập ngũ các anh không phổ biến mang theo dây để khiêng máy...

Đến nước này thì c phó phải chịu chỉ còn cách bắt anh Châu đứng nghiêm giữa sân cả buổi chiều vì không tuân lệnh lại còn cãi.

Sống với nhau chừng gần 1 tháng thì anh Tuệ và anh Châu cùng một số anh em khác được về Bộ tư lệnh hải quân.

Trước khi đi anh Tuệ dặn dò tôi rất nhiều và có lẽ sau này ít nhiều tôi cũng có ảnh hưởng bởi cách sống của anh.

Anh Tuệ không còn nữa, sau chiến tranh tôi có tìm anh nhưng được biết quãng năm 1976, 1977 gì đó anh từ Hải Phòng phi xe máy về Hà Nội vì ngày hôm sau là ngày anh cưới vợ, đến cầu Lai Vu, đường xấu, đêm tối, trời lại rét anh đã ngã xuống 1 hố sâu trên đường và anh đã ra đi mãi mãi.

Còn anh Châu tôi cũng bặt tin cho đến bây giờ.

Anh Ba có lẽ là người lớn tuổi nhất trong số các anh cùng nhập ngũ với chúng tôi.

Năm ấy anh đã 32 tuổi tức là ở cái giới hạn của tuổi nhập ngũ.

Anh là giáo viên khoa Thông gió đã có gia đình với 2 cháu nhỏ.

Nghe anh em các khóa trước là học sinh của anh nói về căn bệnh thấp khớp kinh niên của anh, mỗi khi bước vào mùa đông là đầu gối anh sưng tấy lên và chỉ có ngồi 1 chỗ.

Thế mà không hiểu sao khi ở huấn luyện cứ quần quật suốt ngày hết lăn lê bò toài lại hành quân rèn, ngày Chủ nhật là đi lấy củi, lấy gạo...

Nhiều lúc chúng tôi còn thấy mệt mỏi đau nhừ cả ngươì nhưng anh vẫn cố gắng rất nhiều.

Tôi thường hỏi han anh có đau chân không để báo cho đơn vị nhưng anh trả lời: "Tớ vẫn chịu được, chân không hề sưng".

Quả thực cũng không hiểu nữa, có lẽ cường độ lao động như vậy lại là 1 sự rèn luyện để xua đi mọi bệnh tật.

Những buổi chiều khi chúng tôi ra dệ đồi hóng mát và hát hò thì anh ở trong nhà viết lách thư từ gì đó cho vợ con.

Những người đã có gia đình bao giờ cũng thế, họ luôn để một khoảng lặng cho những người thân yêu của mình mà những thằng trẻ trai như tôi chưa thể hiểu được.

Chục năm sau khi làm chuyên gia giáo dục tại Kampuchia tôi mới thấm thía sự xa cách vợ con nhất là khi chia tay đứa con đầu lòng mới có mấy ngày tuổi để khi trở về cháu đã hơn 2 tuổi miệng bi bô gọi: "Bố ơi!" nhưng dứt khoát không theo ...

Khi chúng tôi lên đường đi B, anh Ba nằm trong số anh em được về BTL thông tin.

Sau này được biết anh về e134 thông tin đóng ở khu vực Láng.

Một số anh em khác sau khi huấn luyện xong thông tin đã được tăng cường cho QK 5 và Trung ương Cục tại B2.

Còn 2 anh Oanh và Được ở cùng tôi cho tới khi đến Bãi Hà mới chia tay nhau.

Anh Oanh quê ở Phủ Lý xã Châu Khê hay Châu Sơn gì đó đã lâu nên cũng bị lãng quên.

Anh học K12C, người đen, nhỏ thó, ít nói nhưng lại hay tâm sự chuyện riêng tư với tôi.

Người yêu anh cùng làng đang học trung cấp bưu điện tên là Tuyến.

Hai anh chị dự định đến cuối năm sẽ tổ chức, nhưng mọi việc đã phải gác lại.

Cùng 1 tổ 3 người, đi đâu tôi và anh cũng đi với nhau suốt cả lúc huấn luyện cho tới khi hành quân vào Nam.

Anh Oanh là người rất chịu khó và khéo tay nên những lúc phải làm những dụng cụ như đẽo lựu đạn, làm học cụ để huấn luyện...hay lúc bó củi rồi xâu vào đòn để gánh về đều có bàn tay anh giúp tôi.

Tôi là 1 thằng rất vụng về, ăn no vác nặng nên rất lúng túng khi phải làm những gì đòi hỏi phải khéo léo may mà có anh.

Khi ở nhà tuy là dân thành phố nhưng cả ngõ Tức Mạc của tôi đều phải dùng nước máy công cộng vì hồi ấy rất hiếm nhà có vòi nước riêng, chính vì thế ngay từ khi học lớp 5 tôi đã phải gánh nước về để nhà dùng.

Những năm chiến tranh đi sơ tán ở nông thôn tôi cũng phải gánh nước cho cả nhà nên chuyện gánh nặng với tôi không là gì.

Tôi gánh được cả 2 vai và giở vai rất điệu nghệ mà không phải trai thành phố nào cũng làm được.

Sau này khi đi gặt giúp dân ở QT tôi chỉ nhận chân gánh lúa từ đồng về làng vì tập mãi mà không biết bó lúa hay đập lúa không biết hất sau khi đập xong.

Các bạn thấy thế nào, cái thằng như tôi như thế đấy

Chặng hành quân vào Nam, tôi sợ nhất là đến phiên thổi cơm vì biết mình vụng về, may mà có anh Oanh và Tú cùng tổ.

Tôi bao giờ cũng làm chân đi lấy nước và dọn dẹp.

Tú thổi cơm khéo lắm, chưa bao giờ bị cơm sống hay khê ngay cả khi trời mưa.

Tôi và anh Oanh chia tay nhau ở Bãi Hà, anh về d17 công binh của sư đoàn.

Có lần anh về cánh đông công tác có tìm đến tôi nhưng lần ấy tôi đang ở miền Tây khai thác gỗ.

Năm 1977 khi tôi đi thực tập ở Thanh Liêm, Hà Nam tôi đã lần tìm đến làng anh.

Cái làng ấy nằm ven dòng sông Đáy, quãng này dòng sông tương đối rộng, nước trong xanh với những rặng tre hai bên bờ rất đẹp.

Không may cho tôi hôm ấy nhà anh không có ai ở nhà.

Hỏi thăm hàng xóm thì biết vợ chồng anh đang làm việc ở Hải Phòng.

Bạn bè có dịp ra HP cũng kể cho tôi anh công tác ở Sở XD Hải Phòng.

Đơn vị đi B, anh Được làm a trưởng, anh Oanh làm a phó.

A trưởng khung là Sơn ở lại tiếp tục huấn luyện đợt quân mới.

B trưởng Viên lên c phó, Trình ba toáctừ d69 về làm b trưởng, Sĩ a trưởng a 2 lên làm b phó của b tôi.

Những cán bộ khung này sẽ đưa chúng tôi vào Nam.

Chúng tôi đi B vào một ngày cuối tháng 7/1972 (có lẽ là ngày 27/7 thì phải).

Chặng đường hành quân đi B tôi đã nói đến trong phần đầu của Ngược dòng ký ức.

Anh Được, anh Oanh chia tay tôi ở Bãi Hà.

Anh Oanh về d17 công binh của f325, anh Được cùng 9 người nữa về c17 công binh/e95/f325.

Chúng tôi về e101/f325 ở cánh Đông Quảng Trị.

Anh Được hy sinh ngày 18/1/1973 chỉ trước khi HĐ Paris có hiệu lực có 10 ngày.

Lê Cường và anh em c17 có kể lại hôm đó anh Được cùng 3 người khác (2 bộ binh, 1 trinh sát) sang đồi Chè bên Tích Tường để tìm vị trí phóng bom thì bị lộ, cả 4 người hy sinh.

Sau khi ký HĐ hai bên có tiếp xúc với nhau và lính địch cho biết có 4 xác quân ta để lại trong đó có 1 người trắng trẻo và có răng khểnh - đó là anh Được.

Sau khi tôi trở lại đơn vị và nhận được tin anh hy sinh qua thư của bố tôi.

Mãi đến khi trở về trường học gặp lại anh em bên c17/e95 mới biết đầy đủ tình tiết những anh em hy sinh bên đó. c17/e95 có 10 người chúng tôi về thì 3 hy sinh đó là anh Được, Huỳnh và Sản ở K14X.

K13C về đấy có 3 là Được, Huỳnh và Lê Cường thì chỉ còn Cường trở về.

Nói chung số SV ĐHXD chúng tôi về e95 chủ yếu là về các đại đội trực thuộc nên hy sinh không nhiều (cho đến giờ mới là 3 ở c17, còn ở các c18 thông tin, c20 trinh sát và c25 vận tải không có - có thể về các đơn vị không nhiều).

Sản hy sinh khi vượt sông sang bên bờ Tích Tường - Như Lệ.

Cách đây mấy năm chúng tôi tìm thấy mộ của Sản ở NTLS Hải Phú và gia đình đã đưa Sản về Quế Võ, Bắc Ninh.

Khi phường Cửa Nam khánh thành bia tưởng niệm các LS của phường tại chùa Chân Tiên (phố Lê Duẩn), bố tôi lúc đó là chủ tịch mặt trận tổ quốc phường Cửa Nam không thấy tên anh Được nằm trong danh sách các LS đã bảo tôi: "Con và các bạn đi tìm gia đình anh Được giờ ở đâu để hỏi xem nơi ở mới người ta có đưa tên tên anh vào bia LS không?"..

Còn mẹ tôi trong lòng bà vẫn là hình ảnh anh Được và Cao Minh Sơn vào cái ngày chúng tôi đi B, bà chỉ dặn tôi mỗi lần đi Quảng Trị: "Nhớ tìm anh Được và thằng bé xinh trai ở Hải Phòng về".

Ở 38 ngõ Nam Ngư là nhà anh Đỗ Bảo Lâm K13X, anh ở c1/d1/e101/f325 và đã hy sinh ngày 16/9/1972 tại An Tiêm (xã Triệu Thành, Triệu Phong).

Anh cũng như các anh em hy sinh tại đây sau khi được người dân phát hiện và được quy tập về NTLS nhưng không có tên trên bia mộ.

Sau này Ninh Viết Lập - đồng đội và là bạn học cùng lớp - đã quay trở lại NTLS Triệu Thành, với cách cắm trứng như cách làm ở 1 số vùng đi tìm mộ bị mất, Lập đã xác định được ngôi mộ của anh Lâm.

Sau đó gia đình đã đưa anh Lâm về nằm tại NTLS Tây Tựu, Hà Nội.

Qua 1 người em của anh Lâm lại là bạn của em trai anh Được, chúng tôi liên lạc được với anh Thực - em trai út của anh Được.

Anh Thực cho biết khi ông cụ thân sinh mất trong số giấy tờ để lại không hề tìm thấy những giấy tờ chứng nhận liệt sĩ của anh Được...

Anh Được như tôi nói ở trên có người yêu tên là O. học cùng lớp.

Trước khi đi B, O.

đã lên thăm anh và họ đã dâng hiến cho nhau...O.mang trong mình giọt máu của anh Được, nhưng sau khi anh Được hy sinh một thời gian O.lấy chồng cũng là bộ đội.

Khi O. mắc trọng bệnh, bạn bè học với nhau có đến thăm và biết O. có 2 con gái mà cháu lớn sinh năm 1973.

O. không qua khỏi, sau khi sang cát cho O., người chồng đưa vợ và 2 đứa con về quê.

Sau khi biết câu chuyện này, chúng tôi giao cho H. là người học cùng O. (H. cũng ở c17 và học K14C) phải tìm cách bắt liên lạc những bạn bè cũ để hỏi cho ra quê của người chồng của O.

Biết đâu đấy đứa con gái lớn của O. lại là giọt máu của anh Được thì sao?

Nếu đúng vậy thì đồng đội phải có trách nhiệm với cháu và nhất là phải trả lại thân phận cho cháu.

Gặp anh Thực, chúng tôi cũng kể lại câu chuyện trên cho Thực được biết.

Anh Thực cho biết thời gian anh Được đi B và sau này O. có hay đến nhà.

Sau đó rồi không thấy đến có thể đã đi lấy chồng...Còn chuyện kia thì cũng không biết....

Anh Thực là phó giám đốc nhà máy cơ khí Nam Hồng bên Đông Anh, công việc của một PGĐ kỹ thuật của nhà máy cũng rất bận cho mãi tới đầu tháng 8/2006 anh mới thu xếp cùng chúng tôi vào Quảng Trị.

Chuyến đi này chúng tôi không hy vọng tìm được thông tin vể mộ anh Được nhưng việc đưa em trai anh Được trở lại khu vực anh đã hy sinh biết đâu đấy lại có những thông tin mới về anh qua con đường tâm linh.

Đoàn chúng tôi gồm có anh Thực, Lê Cường, Hùng côn và tôi đi tầu đêm vào Đông Hà.

Đến nhà khách của Thành cổ mấy anh em ở Quảng Trị như Khư, Bình K8 đã đợi sẵn ở đấy và cả Chiến đang làm công trình ở Đà Nẵng cũng đã ra để cùng đi.

Chúng tôi đi bằng xe máy dọc sông qua Như Lệ đến Tích Tường, đây chính là dải đất hẹp nằm bờ Nam Thạch Hãn nơi những trận huyết chiến không kém phần ác liệt của e95 sau khi rút khỏi Thành cổ.

Cường dẫn chúng tôi lần theo bờ sông nơi có con lạch đối diện với bến Thượng Phước mà c17 phải đưa xuồng cao-su qua sông, rồi đến chân đồi Chè.

Tại đây sau giải phóng địa phương đã quy tập được rất nhiều anh em mình đã hy sinh đưa vào NTLS Hải Phú, khả năng anh Được nằm trong số đó.

Chúng tôi cũng hỏi thông tin về những anh em mình hy sinh mà địch đã gom lại để chôn nhưng không một ai biết chuyện này, có thể thời gian đã qúa lâu...Ở c17 với nhau nhưng anh Được lại ở b chiến đấu với nhiệm vụ đi phóng bom, cài mìn, còn Cường lại ở b bảo đảm chuyên chở xuồng qua lại sông, nên cụ thể nơi anh Được hy sinh chỗ nào cũng không rõ.

Nhưng chắc chắc chắn không thể ở sâu được vì quân ta chỉ bám trụ ven bờ sông mà thôi.

Sau một ngày kiếm tìm tại Tích Tường-Như Lệ không có kết quả, chúng tôi về thị xã để nghỉ ngơi để hôm sau vào NTLS Hải Phú.

Đây là 1 NTLS cấp xã nhưng có tới hơn 3000 mộ LS, hầu hết là chưa biết tên của đủ các đơn vị tham chiến tại Quảng Trị.

Tại đây Cường tìm thấy mộ của Chuyên, người bị thương nặng cùng chiếc xuồng cao-su với Huỳnh nhưng ra tới viện thì hy sinh.

Sau đó 1 tháng chúng tôi có đưa gia đình vào để đưa Chuyên về quê.

Hôm ấy lại đúng vào ngày 16/9 - ngày mất Thành cổ.

Tại NTLS huyện Hải Lăng, chúng tôi gặp vợ chồng ông bà quản trang.

Ông vốn là cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT của huyện khi về hưu đã xin ra làm quản trang.

Tại đây anh Thực cắm trứng ở đài chính thì trứng đậu, nièm hy vọng nhen nhóm trong mấy anh em chúng tôi, nhưng khi cắm trứng ở 1 số mộ khác lại cũng đậu.

Không hiẻu ra sao, ông quản trang khẳng định mấy ngôi mộ đó quy tập từ xã Hải Trường về chứ không phải từ Hải Lệ.

Việc đi tìm anh Được không thành công nhưng chúng tôi xác định đây mới là lần đầu và anh Thực đã được chúng tôi đưa đi thăm rất nhiều NTLS từ Hải Phú vào Hải Lăng, về Hải Thượng xuống Triệu Phong, ra Cửa Việt đến Ái Tử...biết đến một vùng đất thẫm đẫm máu xương của biết bao chiến sĩ trong đó có anh trai mình.

Sau chuyến đi đó anh Thực có hẹn chúng tôi đến năm tới sẽ lại đi tiếp, nhưng không ngờ rằng đây chính là lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng anh Thực đi với chúng tôi.

Một tai nạn khủng khiếp đã xẩy ra ngay cổng nhà máy cơ khí Nam Hồng - nơi anh công tác - khi một chiếc xe chở phôi thép đâm vào anh.

Mọi dự định của anh đành phải dừng lại.

Thật là đau xót quá anh Thực ơi.

Đấy, câu chuyện về những người anh là như thế đấy.

Các anh mỗi người một vẻ, dù chỉ ở bên nhau với quãng thời gian rẩt ngắn nhưng những việc làm, suy nghĩ, hành động của các anh đã ít nhiều ảnh hưởng đến suy nghĩ và cách hành xử của tôi.

Tôi cho rằng có được ngày hôm nay là vì có ngày hôm qua mà ở đó chúng tôi đã sống, chiến đấu và trưởng thành bên nhau với tình người bất diệt.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 5: Hồi ký


CON MA XÓ VÙNG CAO (1)Nguyễn Như Thìn

Ở Yên Sở được vài ngày, đám tân binh K15 toán cơ Đại học Tổng hợp chúng tôi được biên chế thành mấy tiểu đội.

Tiểu đội tôi gồm Lăng, Thạc, Đinh Minh và mấy bạn khác.

Lăng, Thạc chẳng nói làm gì, là những bạn ưa hoạt động ai cũng biết.

Riêng Đinh Minh, thú thực tôi không rành lắm.

Cũng một phần vì tôi ở ngoại trú.

Đinh Minh người thấp nhỏ, da ngăm đen, nổi bật trên khuôn mặt hơi khắc khổ là cái mũi khoằm, đôi mắt sâu nhưng đặc biệt sáng.

Giọng nói của hắn thì rất lạ không phân biệt được vùng miền.

Chẳng hiểu sao, trông hắn lúc nào cũng khó đăm đăm, có lẽ vì thế sau này mang biệt danh "Minh già".

Vào một đêm trung tuần tháng 9 năm 71, chúng tôi được lệnh hành quân, rồi lên tầu, đến sáng thì có mặt ở Bắc Giang.

Là nghe thằng Lăng nói thế, chứ tôi đã bao giờ lên Bắc Giang đâu.

Chỗ này Lăng rành lắm, quê nó mà.

Suốt một đêm chập chờn, tưởng được nghỉ ngơi, ai dè tiếp tục hành quân, lần này thì phương tiện bằng "căng hải".

Cũng vui, phong cảnh đẹp, là dân thành phố mấy khi được ngắm cảnh núi rừng, cái gì cũng lạ và đẹp.

Hai bên đường sim mua mọc lút đầu.

Thỉnh thoảng ngắt một quả sim cuối mùa bỏ vào miệng cũng thú vị.

Mà gọi là đường chứ thực ra toàn lối mòn trâu kéo gỗ.

Lên dốc, lại xuống dốc, một tiếng sau chẳng còn thấy vui đâu, hết chịu nổi.

Tháng chín gì mà nắng thế, đứa nào đứa ấy há hốc mồm.

Không biết bao giờ mới tới nơi.

Mà sao, chẳng có một đoạn bằng phẳng nào cả.

Thật khốn khổ cho hai cái đầu gối.

Cứ muốn long ra.

Mồ hôi nhễ nhại.

Cứ lết bết như thế mãi gần trưa, chúng tôi cũng tới được một bản heo hút chừng hơn chục nóc nhà.

Tôi, Đinh Minh và mấy bạn khác được phân vào nghỉ trong một ngôi nhà tuềnh toàng bốn bề phên che.

Trong nhà có độc một cái giường cũ kỹ, kiểu dáng kỳ lạ, có lẽ gia chủ tự chế tạo.

Đón chúng tôi là một người đàn ông chạc ba mươi, mặc bộ quần áo chàm đặc trưng của người miền núi, nói tiếng Kinh lơ lớ.

Sau lưng ông ta là ba cặp mắt thao láo, trên ba khuôn mặt lem nhem, có lẽ chẳng rửa ráy bao giờ.

Ba đứa trẻ, thằng lớn chừng lên mười.

Hai đứa sau, một trai, một gái.

Chẳng biết chúng mấy tuổi rất khó đoán.

Cái mặt thì cứng nhưng người loắt choắt, ăn mặc mát mẻ.

Nếu ghép trang phục của cả hai đứa lại, may ra được một bộ gần đúng nghĩa là quần áo.

Sau mấy phút ban đầu sợ sệt, chúng bạo dần lên khi chúng tôi vẫy lại gần.

Chúng sờ vào chiếc mũ cứng có ngôi sao lấp lánh lấy làm thích thú thú lắm.

Với vẻ mặt nghiêm khắc, lại gần lũ trẻ ông chủ tuôn ra một tràng tiếng dân tộc rất lạ tai.

Chúng sợ hãi nép vào xó nhà.

Tôi đang ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì thì Đinh Minh nói nhỏ: Ông chủ cấm bọn trẻ không được sờ vào đồ đạc của bộ đội, đứa nào không nghe ông đánh đòn.

Vô cùng ngạc nhiên vì Đinh Minh lại có thể hiểu được thứ ngôn ngữ hiếm hoi ấy.

Tôi hỏi lại:

- Sao ông biết ?

Bằng một giọng từ tốn Minh nói:

- Tôi sinh ra ở Thái Lan, gia đình tôi là Việt kiều, chủ nhà dân tộc gì tôi không biết, nhưng tôi có thể hiểu gần hết ông nói gì.

Ồ thì ra thế.

Tôi nói với ông chủ, cứ để chúng chơi tự nhiên, không có gì phải ngại.

Từ sáng đến giờ chẳng được cái gì vào bụng, đói cồn cào, chúng tôi vội vàng bắc bếp nấu cơm.

Ngồi gõ bát chờ cơm chín sao mà sốt ruột thế.

Có lẽ vùng cao không khí loãng, nước lâu sôi.

Chốc chốc tôi lại mở vung ra xem, thành thử, đã lâu càng thêm lâu.

Cái mũi thằng Minh già càng khoằm xuống, chắc hắn bực với tôi lắm, nhưng không nói gì, tính nó thế.

Cuối cùng thì cũng được ăn.

Vừa xới cơm ra, chưa kịp đụng đũa thì lũ trẻ xúm lại.

Ô tình huống thật bất ngờ.

Bỗng một tràng liên thanh tiếng dân tộc vang lên, ông chủ đứng dậy mặt dữ dằn.

Bọn trẻ ngơ ngác, đứa nhỏ mếu máo nói gì đó.

Có vẻ dịu giọng hơn, ông nói thêm mấy câu ngắt nhịp như điểm xạ.

- Họ nói gì thế Minh ?

Tôi hỏi

Minh dịch lại đại khái: cấm lũ trẻ không được lại chỗ chúng tôi ăn.

Con bé kêu đói, ông chủ dỗ, nhà hết gạo từ mấy hôm nay, chờ mẹ chúng xuống ông bà vay, ngày mai sẽ về sẽ có cơm ăn...Chúng tôi xới vội cho mỗi đứa lưng bát kèm chút thức ăn.

Mắt chúng sáng lên vồ lấy ăn ngấu nghiến.

Ông chủ bực bội bỏ xuống dưới nhà.

Người ta nói miền sơn cước chiều xuống rất mau.

Mà đúng thật, vừa cơm trưa xong nghỉ một chút mặt trời đã len lén trốn sau dãy núi chếch hông nhà.

Không gian thật tĩnh mịch, chẳng thấy bóng dáng bố con ông chủ đâu nữa.

Sáng hôm sau chúng tôi lại được lệnh hành quân ngược trở ra.

Ái ngại cho hoàn cảnh gia chủ, chúng tôi bớt mỗi đứa một ít gạo.

Gom được một túi nhỏ, "Minh già" đưa cho ông chủ và nói: "Đừng chờ mẹ chúng ở ông bà về nữa, hãy nấu cho bọn trẻ ăn, chúng đói lắm rồi."

Rất đỗi ngạc nhiên, người đàn ông lắp bắp: "Bộ đội...mày tốt quá...giỏi quá, như ma xó nhà tao, cái gì cũng biết'...

Tôi thoáng thấy đôi mắt của con "ma xó" Minh già hơi long lanh.

Sau ba tháng huấn luyện tân binh, hai tiểu đoàn sinh viên xẻ đàn tan nghé, chia nhau về các binh chủng.

Ma xui, quỷ khiến, thế nào mà tôi và "Minh già" lại về cùng tiểu đội 12 ly 7, đại đội 12 trợ chiến, thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 101 sư 325.

Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 8 năm 72, tiểu đội tôi phối thuộc với một đại đội bộ binh trong đội hình của tiểu đoàn tập kích vào một vị trí của địch ven thành cổ Quảng Trị.

Súng nổ liên hồi, đạn đỏ rực trời.

Suốt đêm chúng tôi đào công sự bắn máy bay, chuẩn bị đánh địch phản kích.

Gần sáng tiếng súng thưa dần.

Đại đội bộ binh bị thiệt hại nặng nề, đã rút lui chẳng kịp báo cho tiểu đội phối thuộc.

Chúng tôi nằm trơ lại trên một mảnh ruộng trống trải, trước mặt là một bụi dứa dại lưa thưa.

Thấp thoáng bóng mũ sắt và áo rằn ri, tiếng chửi rủa, tiếng xích xe tăng nghiến rung mặt đất.

Địch rất gần.

Thỉnh thoảng một loạt AR15 lại rộ lên xen lẫn tiếng cối cá nhân điểm khuyết.

Giờ biết làm sao đây?

Tiểu đội 12 người có độc một khẩu AK và vài quả lựu đạn, 1 khẩu 12 ly 7 nặng tạ rưỡi.

Đằng sau thì trống trải.

Địch chỉ dấn lên một chút nữa là chúng tôi đi đứt.

Anh Thành, tiểu đội trưởng, nguyên sinh viên trường Nông nghiệp, mặt xám đen đầy lo lắng.

Chỉ còn cách nằm yên, hy vọng địch không phát hiện ra, đến tối sẽ rút.

Chưa bao giờ tôi thấy thời gian lại trôi đi chậm thế.

Mặt trời cứ đứng ỳ ra chẳng nhúc nhích chút nào.

Sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi, cơn buồn ngủ lại kéo tới.

Cứ mươi phút đầu tôi lại đập vào thành hào.

Lấy ít dầu con hổ bôi vào mắt cay xè cũng chỉ được một lúc.

Vớ được một cuốn truyện chưởng Kim Dung tôi đọc cho đỡ buồn ngủ và quên đi tình cảnh khốn khổ này.

Nhưng cũng chỉ được mấy trang, là cuốn sách rời khỏi tay lúc nào không hay.Cứ thế, chúng tôi giữ được bí mật đến trưa thì một sự cố bất ngờ xảy ra.

Một tên lính ngụy xách một khẩu M79 bắn đại một phát về phía tiểu đội, trúng ngay vào nơi ẩn nấp của một chiến sĩ.

Mảnh đạn xé rách cánh tay, máu chảy ròng ròng, phản xạ tư nhiên, cậu lính trẻ kêu lên thất thanh chạy bổ về hầm pháo.

Thế là hết.

Chúng tôi đã bị lộ.

Chỉ ít phút sau, các loại đạn thi nhau trút xuống.

Hai chiến sĩ hy sinh ngay tại chỗ.

Không còn gì để mất nữa, chỉ vào hầm pháo anh Thành gào lên: "Thìn bắn thu hút hỏa lực đich cho anh em rút chạy".

"Ôi...thế là toi rồi...Mình trở thành bia đỡ đạn cho cả tiểu đội.

Phen này thì hết đường về quê mẹ"...Nhưng lại nghĩ " Một băng đạn với tốc độ liên thanh, có lẽ mình chỉ chạy sau anh em vài phút", tôi tự an ủi.

Như một cái máy, tôi nhảy vào hầm pháo xả một tràng về hướng địch.

Tiếng súng đanh giòn, khói nồng nặc.

Có lẽ quá bất ngờ, địch bỗng ngưng tiếng súng.

Nhưng rồi chúng đáp trả ngay.

Xung quanh khói đạn dày đặc.

Nhanh lên, nhanh lên, hết băng đạn đi.

Khẩu 12 ly 7 rung lên, giật mạnh, rất khó bắn, đổ nghiêng mấy lần (vì súng để ở tư thế bắn máy bay).

Rồi băng đạn cũng hết, rút chốt liên kết vô hiệu súng, tôi nhảy ra ngoài cắm đầu chạy.

Chừng được dăm bước, bỗng tôi sực nhớ đến "Minh già".

Hắn cùng với "Tân vịt" nằm cách hầm pháo chừng hai chục thước, từ sáng đến giờ chẳng thấy liên lạc gì với tiểu đội.

Không lẽ mặc kệ hắn?...Không được, tôi phải quay lại.

Lao vào hầm nơi hắn nấp, hai thằng, "Tân vịt" và "Minh già" đang thi nhau kéo gỗ.

Cái mũi khoằm của hắn, cái mũi đáng ghét đang rung lên.

Chẳng phí thời gian để ngắm cái mũi của hắn, tôi túm cẳng hai đứa giật mạnh và hét lên: Chạy mau.

Chẳng hiểu mô tê gì, chúng bật dậy như hai cái lò xo lao theo tôi.

Trên mảnh ruộng trống trơn, đạn găm dưới chân, bên phải , bên trái, bụi bốc mù.

Như cinéma, chẳng hiểu sao, vào cái giây phút ấy mà tôi vẫn còn ý nghĩ quái gở thế.

Chúng tôi chạy đến bờ tre, may mắn có một chiêc hầm, rúc vào đấy, thế là thoát.

Bình thường tôi yếu lắm, chạy một chốc là thở dốc vậy mà hôm ấy có lẽ tôi phải đạt tốc độ của vận đông viên cấp quốc gia.

Mấy đêm sau chúng tôi mới quay trở lại trận địa cũ, đem xác đồng đội hy sinh về chôn cất.

Sau trận ấy ít ngày, Đinh Minh được điều về đơn vị khác.

Nghe đâu năm 73 hắn được ra Bắc học Đại học kỹ thuật quân sự gì đó, không rõ lắm.

Dịp họp mặt nhân kỷ niệm 35 năm lớp toán cơ K15, tôi chẳng thấy cái mũi khoằm đâu.

Lần này, kỷ niệm 40 năm, không hiểu con "Ma xó vùng cao" có biết đường về gặp gỡ bạn bè không?

Nếu hắn về, dứt khoát tôi phải bắt hắn đãi một chầu bia trả ơn tôi cứu mạng trong thời khắc mà chính mạng tôi cũng mong manh như sợi tóc.

Hết

CHUYỆN CŨ NHỚ LẠILê Việtgiảng viên trường Đại học KTQD,

nguyên chiến sĩ c4-d12-e58-f308

Khi cầm bút viết những dòng này thì cuộc chiến khốc liệt ở Quảng Trị đã lùi xa được 34 năm, trong quãng thời gian đó cứ mỗi khi nhớ đến hai tiếng Quảng Trị hoặc có dịp gặp lại các đồng đội cũ thì bao nhiêu ký ức kỷ niệm về cuộc chiến ấy lại hiện về.

Cũng có lúc chẳng hiểu làm sao bâng quơ tôi lại vẩn vơ nghĩ về những gì mình đã trải qua, đã được chứng kiến ở chiến trường Quảng Trị rồi tôi tự mình bị cuốn hút vào những kỷ niệm ấy.

Những hình ảnh, kỷ niệm đã qua như một cuốn phim quay chậm ngược thời gian lần lượt đưa tôi trở về với quá khứ, và rồi cũng có lúc như lẩn thẩn tự mình đặt ra câu hỏi: Không biết có thật mình còn sống không nhỉ ?

Mình may mắn đến thế cơ à ?

Có thật thế không ?...Xin kể lại với bạn những ký ức mà có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi.

Đơn vị chúng tôi là tiểu đoàn pháo cao-xạ 37 ly thuộc trung đoàn 58, sư đoàn 308.

Chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ một tiểu đoàn lựu pháo 122 ly mà tiểu đoàn này lại có nhiệm vụ chi viện cho bộ binh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng.

Trận địa lựu pháo ở đâu thì trận địa cao-xạ cũng nằm gần đó để đánh trả máy bay địch.

Đêm 30/3/1972 tiếng súng mở màn chiến dịch Quảng Trị bắt đầu thì ngày 1/4/1972 đơn vị tôi được lệnh hành quân từ Bãi Hà vào Quảng Trị.

Chiến dịch mới mở nên khí thế rất nhộn nhịp.

Xe pháo của đơn vị tôi hành quân theo những con đường mà công binh mới mở còn nồng lên mùi nhựa cây, lá cây bị trầy xước, dập nát, rồi mùi đất bị xới lên do máy ủi vừa làm xong.

Trên đường hành quân chúng tôi gặp những đoàn dài bộ binh đi theo hàng một sát bên đường, đa số họ cũng trẻ như chúng tôi ; với khẩu AK trước ngực, vai đeo ba-lô con cóc cắm đầy lá nguỵ trang.

Rồi những đoàn dân công hoả tuyến có cả con gái, chủ yếu là họ mang vác hàng hoá ra chiến trường như thuốc men, thực phẩm...Chúng tôi cũng gặp những xe tải lớn gọi là đại xa chở những hòm đạn lớn cho các trận địa lựu pháo và pháo nòng dài.

Thế rồi chúng tôi cũng bắt gặp cả những xe kéo lựu pháo, pháo nòng dài và hết sức ngạc nhiên khi lần đầu tiên thấy những tốp nhỏ xe tăng, mỗi tốp 5-6 chiếc, tháp pháo quay ngược cắm đầy lá nguỵ trang, thành xe có buộc mấy chú lợn được nhốt trong rọ để làm thực phẩm sau này.

Tiếng gầm của những chiếc xe tăng vang vọng cả một vùng rừng núi càng làm cho đường ra trận trở nên náo nhiệt, nhộn nhịp khác thường và rồi trước đây toàn giấu quân trong rừng sâu, trước cảnh tượng này đã láng máng hiểu rằng có một cái gì lớn lao đang sắp xảy ra, đang chờ đón chúng tôi.

Khoảng 5,6 giờ chiều, đoàn xe pháo chúng tôi dừng lại và được trên thông báo chuẩn bị vượt sông Bến Hải.

Bến Hải, 2 tiếng lúc này bỗng mang lại cho chúng tôi những xúc cảm kỳ lạ.

Bến Hải trong sách vở từ lâu ai cũng biết là ranh giới Bắc-Nam và còn khó hình dung lắm  Nhưng lần này thì chúng tôi sắp nhìn thấy nó và sẽ vượt qua nó để sang bên kia.

Qua sông là chúng tôi đã xa hẳn miền Bắc, đã bỏ lại quê hương phía sau để tới một vùng đất hoàn toàn xa lại và cứ lởn vởn câu hỏi không biết cái gì sẽ xảy ra ở phía trước ?

Một cảm giác nhớ nhung, luyến tiếc, thấp thỏm...cứ thế pha trộn vào nhau.

Chúng tôi phải dừng lại để chờ khá lâu vì chỉ chỉ có một chỗ duy nhất vượt sông cho những phương tiện cơ giới.

Cả đoàn xe gồm xe pháo, xe tăng, xe lội nước đều chờ để đến lượt, lúc đó mặt trận mới mở, đường vận chuyển chưa bị địch phát hiện nên không trung hoàn toàn im ắng, không một tiếng máy bay địch.

Sông Bến Hải thực tế không như tôi tưởng tượng ra.

Ở thượng nguồn và vào mùa khô nó rất hẹp và nông, lòng sông chỉ rộng chừng 30 m - 40 m và nước đến ngang lưng, 2 bên bờ toàn cát và sỏi.

Lúc vượt sông, trừ lái xe còn tất cả đều phải xuống lội bộ để đề phòng tai nạn.

Tới bờ bên kia, theo một ý thích do tôi tự nghĩ mà bây giờ nghĩ lại mới thấy mình còn ngồ ngộ trẻ con, tôi nhặt lấy một viên sỏi cho vào túi áo để giữ lại làm kỷ niệm.

Lứa chúng tôi nhập ngũ khi còn trẻ lắm, là những sinh viên năm thứ nhất, thứ hai của nhiều trường đại học, sống nặng về sách vở và những ý nghĩ bay bổng tận đâu đâu và nhiều lúc còn tỏ ra ngô nghê lắm.

Chả thế từ lúc vào bộ đội tôi cứ có ý nghĩ rằng mỗi vùng đất mình đặt chân tới, mỗi sự kiện xảy ra với mình, mình phải cố tìm ra một cái gì đó để giữ làm kỷ niệm.

Những vật kỷ niệm mà tôi giữ lại ngày đó có khá nhiều thứ, đó là điếu thuốc lá mà một cô gái đã mời tôi trong buổi lễ kết nghĩa giữa chi đoàn đơn vị và chi đoàn địa phương nơi tôi đóng quân.

Đó là cái nút gỗ mà tôi tình cờ mà tôi nhặt được trong một lần đơn vị đi bắn đạn thật, thấy hay hay cũng giữ lại.

Đó là chiếc bàn chải trên có khắc ngày tháng ghi nhớ ngày tôi đi lấy nứa ở Thanh Hoá khi xe đi qua ngầm Bến Nhạ bị đổ chổng 4 bánh lên trời may cả đoàn thoát chết.

Và lần này đây một viên sỏi ở bờ sông Bến Hải, đáng giữ lại lắm chứ  Nhưng rất tiếc là những thứ đó đã thất lạc, chỉ những kỷ niệm về chúng là còn.

Sang tới bên kia sông Bến Hải, chúng tôi bắt đầu nhận thấy nhiều điều khác lạ hẳn bờ Bắc.

Phía Tây Quảng Trị, phần giáp với rừng già là những gò đồi thấp mọc toàn cỏ tranh xen lẫn những bụi cây nhỏ hoặc cây lúp xúp.

Tới khoảng 10 giờ đêm, sau một ngày hành quân các khẩu đội đều giấu xe pháo vào các bụi cây nhỏ ven đường mới mở và đào hầm để ngủ qua đêm.

Lệnh của trên là từ lúc này trở đi không được ngủ trên mặt đất để tránh thương vong, nhưng suốt đêm đó chúng tôi không sao ngủ được vì thỉnh thoảng một vài tiếng nổ to như sấm lại vang lên, không khí xung quanh như bị dồn ép lại làm chúng tôi kinh hãi.

Thì ra đó là tiếng nổ đầu nòng của pháo nòng dài 130 ly bắn vào Đông Hà, lúc đó Dốc Miếu, Cồn Tiên đã được giải phóng và ta đang tiến công giải phóng Đông Hà.

Đêm đầu tiên bên kia Bến Hải đã cho chúng tôi cảm giác đến gần hơn với lửa đạn nơi chiến trường, điều mà trước đó chúng tôi chưa thể hình dung ra nổi.

Sau một đêm nghỉ ngơi, trưa hôm sau chúng tôi tiếp tục hành quân nhằm hướng thị xã Đông Hà.

Lúc này địch đã dùng máy bay oanh tạc vòng ngoài để chặn bước tiến của quân ta.

Ngày trước hồi còn nhỏ khi đi học hay ở nhà lúc thành phố Hà Nội kéo còi báo động là tất cả phải xuống hầm, chỉ nghe tiếng ùng oàng của súng nổ, khi nào còi báo yên lại ra khỏi hầm nên chẳng biết điều gì xảy ra cả.

Bây giờ hành quân giữa ban ngày chúng tôi được chứng kiến tận mắt từng tốp máy bay của không quân Mỹ oanh tạc mục tiêu và chúng làm đúng bài bản chúng tôi đã được học, chiếc nào cũng chọn hướng mặt trời tăng độ cao và bổ nhào, cắt bom, từng cột khói bom dựng lên, sau đó là những tiếng nổ vọng tới.

Cùng ngày hôm đó từ xa chúng tôi được chứng kiến cảnh máy bay B52 ném bom theo kiểu rải thảm.

Đó là cảnh từng cột khói bom đen kịt và đậm đặc lần lượt phụt lên cuồn cuộn từ mặt đất, rồi sau một lúc những tiếng nổ liên hồi như sấm vọng đến và khói bom lan rộng ra như một đám mây đen trước cơn mưa to che kín cả một vùng trời.

Trên đường vào Đông Hà cũng có lúc chúng tôi bắt gặp những chiếc xe Vọt tiến (một loại xe tải của Trung-quốc) cắm đầy lá nguỵ trang chạy ngược ra.

Tò mò nhìn vào sau xe thì thấy ngổn ngang người nằm, người ngồi.

Người thì cuốn băng trắng ở đầu, ở chân, ở tay, người thì mặt mũi bê bết máu.

Nhìn cảnh tượng ấy chúng tôi đoán ngay là xe chở thương binh và như vậy chúng tôi đã đến rất gần mặt trận rồi và hiểu rằng cái ranh giới giữa cái sống và cái chết đang dần đến, cái cảm giác nặng nề đầu tiên xen lẫn chút sợ hãi nơi chiến trường bắt đầu ập tới.

Sau 3, 4 ngày vào tới Quảng Trị, đại đội cao-xạ chúng tôi được trên giao nhiệm vụ mới là bảo vệ cầu Trúc Khê.

Đây là cây cầu trên quốc lộ 1 cách Quán Ngang vài cây số nằm trên đường tiến quân của quân ta vào Đông Hà.

Trận địa của chúng tôi nằm trên một gò cát trắng rìa làng cạnh quốc lộ 1 và cách cầu khoảng 500 m.

Hai ngày đầu ở đây không có gì chứng tỏ đây là chiến trường vì dân cư của mấy làng quanh đó đã bỏ đi hết, ít tiếng bom đạn, có lúc còn im ắng hoàn toàn, chỉ có chiếc OV10 thỉnh thoảng đảo qua đảo lại.

Nhưng đến ngày hôm sau, đó là ngày 7/4/1972 trận đánh đầu tiên để lại thương vong cho đại đội tôi là một trận đánh khó quên.

Khoảng giữa trưa ngày hôm đó, chiếc OV10 cứ lượn đi lượn lại quanh khu vực cầu, thấy hiện tượng khác thường cả đơn vị đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Quả nhiên một lúc sau mấy chiếc F4 kéo đến và chúng tôi thấy một tiếng nổ bụp, đó là tiếng nổ của pháo khói do chiếc OV10 bắn ra chỉ điểm mục tiêu cho F4 đánh phá cầu.

Nhận ra mục tiêu, mấy chiếc F4 chọn hướng mặt trời, tăng độ cao rồi bổ nhào.

Đại đội tôi tập trung hoả lực của cả 4 khẩu đội bắn chiếc đầu tiên và cả 4 khẩu đều thông báo đã bắt được mục tiêu.

Trong đơn vị tôi là trắc thủ đo xa có nhiệm vụ dùng máy đo xa để đo khoảng cách từ mục tiêu đến trận địa.

Lúc đó tôi cũng đã bắt được mục tiêu và đo được cự ly khoảng 4.000 m, tức thì đồng loạt cả 4 khẩu đội nổ súng, những chùm đạn vun vút lao lên, nhưng vì đây là loạt đạn đầu tiên và hơn nữa đơn vị tôi chưa nhiều kinh nghiệm trân mạc nên đạn còn cách xa mục tiêu nhiều lắm.

Chiếc F4 vẫn bổ nhào và cắt được bom.

Tuy nhiên sau loạt đạn đó, trận địa chúng tôi đã bị lộ và lập tức bị tấn công.

Lại một chiếc F4 tăng độ cao và bổ nhào, trong máy đo xa tôi thấy chiếc F4 đang lao thẳng xuống trận địa, sau vài giây 2 quả bom được tách ra khỏi bụng máy bay.

Một loạt đạn nữa lại tung lên nhưng ngay sau đó là một tiếng nổ chát chúa, nhức óc làm rung chuyển cả trận địa, không khí xung quanh bị ép lại, khói bom mù mịt, trận địa đã bị trúng bom.

Sau khi ném trúng trận địa, mấy chiếc F4 quần đảo một lúc ném thêm vài quả bom nữa vào khu vực cầu rồi chuồn thẳng.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị đánh vào trận địa.

Trận ấy đơn vị tôi hy sinh 3 người, bị thương hơn chục người.

Ba người hy sinh là các anh Thanh, Tự, Thảo trong đó anh Thanh là trẻ nhất, anh là sinh viên năm thứ 2 khoa Sinh đại học tổng hợp, cùng nhập ngũ với tôi.

Mấy ngày sau chúng tôi được lệnh rút ra nhưng trong đêm rút lui đó chúng tôi còn bị pháo hạm từ ngoài biển tới tấp bắn vào, may mà không bị thương vong gì.

Sau khi từ cầu Trúc Khê rút ra chúng tôi lại về trận địa cũ để bảo vệ lựu pháo và ngày 16/4/1972 là ngày tôi cũng không thể quên được vì đây là ngày tổn thất nặng nề nhất của đơn vị tôi.

Hôm đó trời Quảng Trị trong veo, mới sáng ra mà trời đã nắng gắt, cái kiểu nắng chỉ có ở dải đất miền Trung này.

Trận địa chúng tôi nằm ở một vạt đồi cỏ tranh, thứ cỏ có cạnh rất sắc chạm vào là xước da chảy máu và đặt trận địa ở đây rất dễ bị lộ vì thân cỏ tranh rất mỏng, chỉ đi qua một vài lần hoặc chạm vật gì vào là cỏ rạp xuống và OV10 ở trên cao rất dễ phát hiện ra.

Dưới cái nắng chói chang và hầm hập như thế, chúng tôi vẫn phải bám trận địa và cảnh giới trên không.

Tới tầm khoảng giữa trưa chúng tôi thấy xuất hiện một chiếc OV10 cứ lượn đi lượn lai quanh khu vực trận địa.

Một lúc sau một tốp F4 kéo đến và mọi người đoán chắc chúng đã phát hiện ra đơn vị tôi.

Rồi một tiếng bụp quen thuộc vang lên, chiếc OV10 đã bắn một quả pháo khói vào khu vực trận địa, ngay lập tức có 2 anh ở gần đó mang xẻng đào đất để dập quả pháo đó, nhưng dập chưa xong thì lại tiếp tiếng bụp thứ 2, chiếc OV10 tiếp tục bắn quả nữa.

Ngay sau quả pháo khói thứ 2, mấy chiếc F4 liên tục bổ nhào cắt bom vào trận địa.

Ngay loạt bom đầu tiên một quả bom đã rơi trúng công sự của khẩu đội 4 làm toàn bộ 6 người hy sinh.

Lúc đó tôi đang đứng dưới công sự cá nhân thì thấy anh Định là C trưởng chạy sang thông báo toàn bộ khẩu đội 4 đã hy sinh và động viên chúng tôi chiến đấu trả thù cho khẩu đội 4, tôi có ngờ đâu đây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh Định.

Trận đánh tạm dừng mấy phút thì một tốp F4 khác lại kéo đến liên tiếp tấn công vào trận địa chúng tôi, lần này chúng dùng cả bom phá, bom bi.

Một quả bom phá rơi trúng chỉ huy sở nơi có hầm thông tin, hầm cá nhân của C trưởng và chính trị viên.

Anh Chương chính trị viên và anh Định C trưởng đã hy sinh ngay sau loạt bom đó.

Lúc này toàn bộ trận địa bị tê liệt, mất sức chiến đấu và bắt đầu khắc phục hậu quả.

Trong tâm trí tôi đến bây giờ vẫn còn in đậm hình ảnh không thể nào quên khi đi qua khu vực khẩu đội 4.

Đó là cảnh tượng một khẩu pháo 37 ly nặng hơn 2 tấn bị bom ném trúng hất lên hẳn bờ công sự, ám đen khói bom.

Thi thể của các anh trong khẩu đội bị xé nát ra từng mảnh và có những mảnh còn dắt vào khẩu pháo.

Mùi khét lẹt của bom, mùi thi thể, mùi của nhựa cây lúp xúp, mùi của đất bị cầy tung...tất cả quện lại thành một thứ mùi khó tả mà chỉ có ai ở chiến trường mới tưởng tượng ra nổi  Cũng không hiểu sao mà nhanh thế một bầy quạ từ đâu kéo đến, chúng đậu đen trên khẩu pháo và bụi cây nhỏ gần đấy để tìm kiếm mùi tanh của xác chết.

Khẩu đội 4 có 6 người gồm anh Mâu (khẩu đội trưởng) và anh Ngô Quang Ngọc cùng quê Gia Lâm, anh Thường người dân tộc Thổ quê Thái Nguyên, anh Chí quê Vĩnh Phú, anh Nguyễn Văn Đống sinh viên năm thứ 2 khoa Hoá là người có biệt tài cắt tóc rất đẹp và anh Thẩm Quang Oánh đã tốt nghiệp khoa Lý nhà ở phố Cửa Đông, Hà Nội.

Trong số họ chị có anh Mâu và anh Thường là có vợ con.

Viết tới đây tôi chợt liên tưởng tới thông tin rằng hàng vạn liệt sĩ của chúng ta vẫn chưa tìm thấy phần mộ.

Vâng  Thế thì các anh trong khẩu đội 4 kia có bao giờ tìm thấy phần mộ ?

Thế mới hiểu thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh.

Sau này trong một lần vào thăm chùa Chân Tiên trên phố Bà Triệu, Hà Nội tình cờ tôi đọc thấy tên anh Thẩm Quang Oánh được khắc trên Bia các liệt sĩ của phường Vân Hồ.

Phải chăng đó cũng là chút an ủi với anh.

Thiệt hại ngày hôm đó là nặng nhất trong toàn bộ chiến dịch đối với đơn vị tôi.

Hôm đó chúng tôi bị hy sinh 9 người, ngoài 6 người trên còn 3 người khác ở sở chỉ huy bị trúng bom.

Đó là anh Nguyễn Hữu Định C trưởng quê Nho Quan, Ninh Bình ; anh Nguyễn Văn Chương chính trị viên nhà ở phố Lò Sũ Hà Nội và anh Vũ Sĩ Lâm sinh viên năm thứ 3 khoa Hoá nhà ở Phố Huế, Hà Nội.

Riêng 3 anh này vẫn còn thi thể.

Do thiệt hại quá nặng nề, đại đội tôi mất sức chiến đấu hoàn toàn và phải chờ tới đầu tháng 5/1972 sau khi ta giải phóng Đông Hà đơn vị tôi mới được tăng cường bổ sung người và xe pháo để tiếp tục tham gia chến dịch.

Sau này tới tháng 11/1972 chúng tôi mới được lệnh rút ra Bắc, có lúc chúng tôi đã vượt Động Ông Do tiến sát sông Mỹ Chánh, đã mấy lần bị B52 ném bom rải thảm, cuộc sống cực kỳ gian khổ, vất vả, đầy nguy hiểm và lúc nào cũng cập kề cái chết, thế nhưng chúng tôi đã vượt qua và những gì xảy ra với chúng tôi trong 2 tuần đầu tiên đặt chân vào Quảng Trị là những điều không bao giờ quên được.

Bây giờ ngồi hồi tưởng những ngày ở Quảng Trị tôi vẫn thường tự hỏi tại sao ngày ấy mình lại có thể chịu đựng được đến như vậy ?

Tôi thuộc lớp người sinh ra lúc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc và hoàn toàn trưởng thành trong lòng chế độ mới, được tiếp thu một nền giáo dục mới.

Phải chăng vì thế mà ý thức về trách nhiệm công dân đã thấm vào lớp thanh niên ngày ấy trong đó có tôi.

Đầu những năm 70 thế kỷ trước ở vào cái độ tuổi 18, 20 lúc bấy giờ vấn đề lý tưởng, mục đích với tôi vẫn là một cái gì xa xôi, trừu tượng nhưng tôi chỉ nghĩ một điều đơn giản là nước mình đang có chiến tranh, bao nhiêu người phải đi bộ đội, rồi sẽ có lúc mình cũng phải đi bộ đội, phải đi B (tức là vào Nam chiến đấu).

Nhiều người quanh mình đã làm như vậy, mình không thể trốn tránh và cũng không dám trốn tránh, dù sao lúc ấy vẫn là trẻ con mà, ai bảo gì thì làm vậy, ai bảo gì cũng nghe.

Có lẽ chính vì thế mà mình đã chịu đựng được những gian khổ trong chiến trường và cả những năm trong quân ngũ sau này.

Chuyện cũ nhớ lại là như thế đấy, ký ức chiến tranh là như thế đấy các bạn ạ  Câu chuyện mà tôi vừa kể không biết có ai đọc nó không nhỉ ?

Nhưng viết xong những điều này tôi thấy yên tâm và tinh thần thoải mái vì dù sao những kỷ niệm trong đầu bao lâu nay đã được viết ra.

Bài viết như một nén hương xin được thắp cho các đồng đội của tôi đã hy sinh trong chiến dịch Quảng Trị.

Xin cám ơn các anh đã hy sinh thay cho tôi và trong đời thường hôm nay có lúc gặp chuyện không vui thì các anh lại trở thành nguồn động viên an ủi tôi trong cuộc sống.

Hết.

KHÁNH "VOI"Đầu tháng 12 năm 71 hai tiểu đoàn sinh viên 5, 6 chia nhỏ bổ sung về các quân

binh chủng.

Còn lại một số anh em chưa vể đâu phấp phỏng chờ đợi, đoán già, đoán non đơn vị mình sẽ được điều về.

Trong cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Thạc ngày 6-12 có ghi lại thời điểm đó.

Hắn chê tôi sợ vào hỏa lực trợ chiến phải mang vác nặng gù lưng.

Hắn chê tôi sợ chết muốn vào binh chủng tăng thiết giáp vì có vỏ thép dày che chở.

Ôi, sợ chết âu cũng là lẽ thường tình của những thằng lính trẻ, 18 đôi mươi chúng tôi, chửa biết cái chi chi, chết thì tiếc lắm.

Song, cả tôi và hắn đều nhầm.

Sau này, tôi nhận ra có thứ còn đáng sợ hơn cái

chết.

Đó là sự đầy đoạ về thân xác.

Người ta thường nói, " ghét của nào trời trao của ấy".

Cuối cùng tôi lại được

điều về tiểu đội 12 ly 7, đại đội 12 trợ chiến thuộc trung đoàn 101 sư đòan bộ binh 325.

Một tiểu đội 12,7 ly biên chế từ 10 đến 12 người.

Trừ A trưởng mang kính ngắm và một khẩu AK, còn lại chia thành 3 tổ có nhiệm vụ mang ba phần chính của súng.

Tổ 1 mang thân súng nặng 33 kg và một thùng đạn khoảng 10 kg.

Tổ 2 mang chân súng nặng 34 kg và một thùng đạn.

Tổ 3 mang bệ súng nặng khoảng 21 kg một hộp tiếp đạn và một thùng đạn cũng nặng chừng ấy.

Khi hành quân, thân và chân súng được hai cặp khiêng bằng hai chiếc đòn tre dài nặng chình trịch.

Bệ súng hình thù kỳ dị đầy góc cạnh được một người vác .

Những cạnh sắc như băm từng thớ thịt.

Hơn ba chục cân có vẻ không quá nặng.

Nhưng xin thưa, hành quân cả ngày trời dưới cái nắng miền trung, cộng với tư trang khoảng 30 cân nữa thì lừa cũng phải chào thua.

Khi khiêng súng, người đi sau còn đỡ chứ người đằng trước thật khốn khổ.

Sức nặng của balo và súng phía sau cứ kéo ngửa người ra.

Trèo đèo lội suối, rồi trong rừng rậm, súng móc bên này mắc bên kia tiến cũng chẳng được mà lùi cũng không xong.

Hồi còn đi học, ngoài cái tên bố mẹ đặt cho, tôi còn mang thêm biệt danh các bạn tặng là "còm", vì cân nặng cả bì chỉ có hơn 40 kg.

Khiêng súng bị phồng, rồi loét, hai vai, mãi không lành.

Mỗi lần hành quân mang vác, đối với tôi không khác gì hành xác.

Đêm ấy, bên cánh rừng ở Cự Nẫm Quảng Bình, nhận quân trang đi B balo hơn

40 cân, tôi phải đẩy lên ngôi mộ hoang, luồn hai vai vào hai quai mới gượng đứng lên được.

Vậy mà lại đến phiên khiêng súng.

Cố gắng bước dược chừng 50 chục mét thì ngã chúi xuống, nửa quì nửa ngồi, tôi ôm mặt khóc.

Y tá Cận chạy lại, mở túi thuốc lấy ra một vốc vitamin B1 bảo tôi uống.

Nghi ngờ về khả năng tăng lực của nắm B1 ấy, song tôi cũng tống đại vào mồn nhai trệu trạo.

Thực tình lúc ấy tôi chỉ muốn chết quách đi cho rồi .

Họặc giả có một quả pháo biển lạc vào giải thoát cho tôi thì âu cũng là số phận.

May thay trong tổ tôi còn có Khánh "voi".

Trong số các anh em quê Phủ Cừ,

Hải Hưng, Khánh "voi" nổi bật vì dáng cao to như cây chuối hột trong vườn toàn chuối tiêu.

Nghe nói nhà hắn nghèo lắm, ăn uống kham khổ, vậy mà hắn lại có một thân hình khá lý tưởng.

Cao trên một mét bẩy lăm.

Bắp thịt săn chắc.

Đôi vai gấu hơi xuôi, hai hàm răng trắng đều, nước da sáng hơn că lũ bạch diện thư sinh chúng tôi.

Hắn ghé vai đỡ tôi dậy, rút chiếc đòn khiêng ra quẳng sang một bên, đặt thân súng nặng như cùm lên vai, lầm lũi bước tiếp.

Tôi vớ lấy chiếc đòn khiêng cố bám theo.

Cuộc hành quân 5 ngày không thể nào quên, từ tây Quảng Bình theo dãy Trường Sơn qua giới tuyến 17 vào Quảng Trị tham chiến.

Lính rơi rớt dọc đường.

Không còn ra đội hình gì nữa, các đơn vị trộn lẫn vào nhau.

Tiểu đội tôi đến nơi tập kết đầy đủ, có lẽ nhờ một phần bởi Khánh "voi".

Sau trận đầu, đêm 23 ngày 24 tháng tám năm 72 , tiểu đội bị thiệt hại nặng nề ,

thương vong non một nửa, tạm bị trưng dụng làm lính vận tải.

Làm gì cũng được, miễn là không phải khiêng súng.

Nhưng tôi lại nhầm.

Gọi là vận tải cho oai chứ thực ra là gùi gạo, đạn.

Mấy chục cân trên vai chẳng khác gì khiêng 12ly7.

Trên một cung đường chừng 4, 5 cây số trống trải, phải luôn vận động thật nhanh qua những tọa độ chết người của pháo bầy và máy bay cường kích.

Vô phúc dính B 52 thì coi như chấm hết.

Vậy mà với Khánh "voi" dường như chẳng hề hấn gì.

Bao giờ hắn cũng về trước tôi cả tiếng đồng hồ, chui tọt vào hầm không ra ngoài.

"Trên mặt đất không có lợi" , hắn bảo tôi thế.

Biết vậy mà đành vậy."

Trên mặt đất không có lợi"...

Một tuần sau, tiểu đội lại nhận khẩu súng khác, chế tạo tại Liên Xô, nòng xoắn, tản nhiệt tốt hơn, nhưng cũng nặng hơn khẩu trước khoảng chục ký.

Ngay đêm ấy lại vào chốt.

Tâm trạng mọi người khá nặng nề .

Nõi ám ảnh trận trước không thể bỗng chốc mà quên ngay được.

Tiểu đội chốt trong một vườn chuối nhỏ lá xác xơ.

Giũa vườn hiện lờ mờ một ngôi nhà, thực ra là phế tích của một ngôi nhà tan hoang.

Phía trước là một bụi tre rách bươm.

Nghe đâu trước bụi tre là lính đại đội 9 bộ binh.

Chúng tôi vội vàng đào hầm trú ẩn, công sự pháo và một đoạn hào chừng 4 mét nối hầm trú ẩn với hầm pháo.

Gần sáng công việc cũng tạm xong.

Trong khung cảnh chết chóc như vậy, mà vẫn thấy một tiếng gà lạc lõng, cô đơn, gáy yếu ớt báo hiệu một ngày mới băt đầu.

A trưởng Thành phân công người đứng cảnh giới dưới hào cách hầm trú ẩn khoảng một mét, còn lại tạm nghỉ.

Rồi cũng đến phiên tôi đứng gác Trận địa hai bên thật yên tĩnh.

Tôi nghe rõ cả tiếng con chim sâu bay chúi vào bụi cây trước mặt.

Thì ra nó bị mù từ bao giờ.

Chừng một tiếng sau, Khánh"Voi" đổi gác.

Đôi vai gấu của nó cố nghiêng, lách ngườì cho vừa đoạn hào vừa hẹp vừa nông.

Tôi chui vào hầm, chợp mắt một lúc.

Bỗng một tiếng nổ vang phía cửa hầm.

Minh "già"kêu thất thanh ]'Khánh chết rồi "[/i].Giật mình nhìn ra, một cảnh tượng thật hãi hùng.

Khánh "voi" đang từ từ ngồi xuống, lưng tựa vách hào, đôi tay buông xuôi.

Cái đầu nó bay đâu mất.

Phía trên cổ, giữa một mớ xương vụn, máu ồng ộc tuôn ra ngập một đoạn hào.

Trên vai Khánh, một mảng da đầu còn nguyên tóc vắt ngang, như khoác một chiếc khăn nửa đen nửa đỏ.

Cả tiểu đội chết lặng.

Mặt Minh "già" thường ngày vốn đen thế, mà lúc đó trắng

bệch, đôi mắt thất thần.

Sau ít phút trấn tĩnh, tôi quyết định ra ngòai.

Để tránh vũng máu, tôi nắm hai cổ chân Khánh, làm động tác như đu xà kép dướn người nhoài ra .

Bên mép hào, một hố vát hình nón vừa bị khoét còn vương vài mảnh gang vụn.

Cối 81, Khánh chết vì một quả đạn cối của địch bắn vu vơ.

Phía đối diện, một tấm gỗ ép dựng bên gốc chuối bê bết máu và óc.

Giá mà Khánh thấp hơn một chút, giá mà Khánh đổi gác chậm hơn một chút thì cái thằng đang ngồi kia chính là tôi.

Mãi đến khuya mới có hai lính vận tải tiểu đoàn đến mang Khánh đi.Trăng thượng

tuần tháng cô hồn trút ánh sáng vàng vọt xuống vườn chuối.

Trên ngực Khánh, nắp chiếc bút máy Pilot mạ vàng, mới nhặt được hôm qua, "để viết thư", hắn nói thế, cứ lấp lánh thứ ánh sáng ma quái.

Nhiều năm sau, ánh sáng ma quái ấy cứ ám ảnh tôi trong những đêm mất ngủ vì

bệnh tật.

Hình ảnh Khánh "voi" với đôi vai gấu lại chập chờn hiện về.

Giá mà hắn thấp hơn một chút, giá mà hắn đổi gác chậm một chút.

"Ở trên mặt đất không có lợi".

Biết vậy mà đành vậy./.

Ô CON GÁI NUÔI CỦA TIỂU ĐOÀN (1)Những ngày tháng 7 năm 1972 đất trời khu vực thị xã Quảng Trị như một chảo lửa khổng lồ.

Cuộc hành quân Lam Sơn 72 của địch nhằm tái chiếm lại những vùng chúng đã bị mất đang ở những ngày quyết liệt.

Các đơn vị ta chốt giữ trong thị xã và Thành cổ Quảng Trị đang phải hứng chịu những gì khốc liệt nhất mà kẻ thù đang dội xuống nơi đây có lẽ chỉ còn thiếu bom nguyên tử.

Đoạn sông Thạch Hãn sang bên thị xã sôi lên sung sục, đủ các loại hỏa lực của địch từ B52, máy bay chiến thuật, pháo từ hạm đội 7 và từ các trận địa pháo đủ loại dội vào đây tạo nên những màn nước giăng trên dòng sông còn phải kể đến những luồng 12 ly 8 và đại liên của địch quét trên sông hòng ngăn chặn sự chi viện của ta từ bờ Bắc bên Nhan Biều, Xuân An.

Đại đội 3, tiểu đoàn 14 cối 120 ly của sư đoàn 325 bám trụ bên bờ Bắc thuộc thôn Xuân An, xã Triệu Thượng để chi viện cho quân ta ở bên Thị xã.

Chưa đầy một tháng trận địa của các anh đứng chân tại đây nhưng đã tổn thất nhiều vì hỏa lực của địch.

Sự chi viện của các anh cũng hạn chế rất nhiều vì đạn dược có hạn, trang bị hỏng hóc không bổ sung kịp và quân số thương vong nhiều, bắn được vài quả là địch phản pháo lại 1 cách dữ dội.

Một đêm cuối tháng 7, tổ tuần tra do b trưởng Quýnh (người Hải Dương) phụ trách, đang cảnh giới phía bờ sông, chợt có tiếng lạch cạch va chạm của vỏ đồ hộp thu hút sự chú ý của các anh, dưới ánh sáng của pháo sáng địch, trong đống đổ nát của những căn nhà bị bom pháo phá hủy, các anh phát hiện ngay gần đấy 1 bóng đen nhỏ tụt vào đống đổ nát của căn nhà bị sập.

Cái gì nhỉ ?

Địch chăng ?

Không thể là người được vì bóng đen đó rất nhỏ, hay là một con chó còn sót lại trong bom đạn mù trời này !!!...

Sau khi được báo cáo, anh Mai (c trưởng) và anh Sáng (cv trưởng) quyết định đêm hôm sau phải tìm cách xác định bóng đen đó có phải là chó hay con vật gì ?

Ngay khi màn đêm buông xuống, Quýnh và mấy người nữa lại bò ra khu vực mà hôm trước các anh phát hiện ra bóng đen.

Mật độ pháo kích của địch rất dầy đặc vì chúng biết hàng đêm chúng ta tiếp tế lương thực, đạn dược và bổ sung quân qua bến vượt Nhan Biều và Xuân An này.

Chờ mãi không thấy động tĩnh gì, mọi người chúi trong những căn hầm thay nhau ngủ và cử người cảnh giới.

Gần sáng khi mật độ pháo kích đã bớt đi, giữa các trận oanh kích dữ dội, khoảng không gian đặc quánh mùi khói đạn bỗng như yên ắng lạ thường...

Chợt ngay gần đấy tiếng động của vỏ đồ hộp vọng đến.

Người lính cảnh giới đá chân ra hiệu cho Quýnh hướng về nơi phát ra tiếng động.

Một bóng đen nhỏ như một con chó thò đầu qua đống gạch đổ, con vật này khác chó ở chỗ chó thì gục đầu xuống để liếm láp vỏ đồ hộp, còn nó lại ngửa đầu lên để mút mát vỏ đồ hộp được cầm bằng chi trước...Người rồi chứ không phải là chó mà đây là 1 đứa trẻ còn sót lại trong những trận bom pháo vừa qua.

Các anh tiến sát đến chỗ đứa trẻ, nghe động nó thụt rất nhanh vào đống đổ nát mất dạng.

Quyết phải bắt cho bằng được đứa bé, các anh khẳng định nó dứt khoát phải ra khỏi chỗ trú để kiếm ăn khi ngớt tiếng pháo kích.

Gần sáng khi pháo địch vừa ngớt, các anh áp sát nơi trú ẩn của đứa bé.

Khi nó vừa thò ra khỏi đống gạch, bằng động tác chuẩn xác, một người chụp lấy đứa bé đồng thời bịt miệng không để cho nó kêu vì bên kia sông là địch.

Dưới ánh sáng leo lét khói mù của ngọn đèn thắp bằng dầu đậu nành trong hầm của đại đội, một đứa con gái quãng chừng 2 tuổi chưa biết nói, chưa biết đi, người đen nhẻm lấm láp toàn bùn đất, cóc cách toàn những nốt ghẻ lở toàn thân, đứa bé chỉ ọ...

ẹ ... trong vòng tay những người lính đã đón nó về, có lẽ đã bao nhiêu ngày nó tồn tại như một con vật hoang dã và chẳng còn đủ sức để khóc nữa.

Anh em đoán chắc cha mẹ nó đã chết vì bom pháo và nó đã sống sót cho đến ngày hôm nay.

Anh Mai giao đứa trẻ cho y tá đại đội chăm sóc và chữa trị ghẻ lở cho nó.

Với bàn tay vụng về thô ráp của những người lính pháo đã cắt may cho cháu bé những bộ quần áo từ những vỏ chăn cắt ra.

Anh Mai c trưởng đã đặt tên cháu là Xuân An và lấy họ Hồ của mình để làm họ cho cháu - Hồ Xuân An.

Bé Xuân An lớn lên trong vòng tay chăm sóc của những người bố nuôi của c3 dưới những trận oanh kích dữ dội của địch.

Cháu đã chập chững những bước đi đầu tiên và bập bẹ gọi bố..bố... mỗi khi có người tạt vào hầm quân y thăm cháu...

Cuối năm 1974 các đơn vị của Sư đoàn 325 lần lượt bàn giao tuyến chốt chạy từ Đá Đứng, Tích Tường, Như Lệ về Nhan Biều, Xuân An qua Chợ Sãi, An Tiêm, Vân Hòa, An Lộng ra tới Long Quang, Thanh Hội sát mép biển cho các đơn vị địa phương để lui lên Cam Lộ chuẩn bị cho những chiến dịch mới.

Những tiểu đoàn trợ chiến của sư cũng rục rịch chuyển quân, d14 cối 120 ly cũng nằm trong số những đơn vị như thế.

Trước tình hình mới, lãnh đạo tiểu đoàn chỉ đạo các đại đội gấp rút làm công tác bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn.

Với bé Xuân An gắn bó với c3 hơn một năm nay, cũng không thể mang theo đơn vị được, cái khó là tình cảm của cháu với các bố c3 vô cùng sâu nặng.

Cháu đã chạy đi chạy lại tung tăng giữa các hầm pháo, bi bô nói cười, bập bẹ hát và vỗ tay theo nhịp mỗi khi nghe các bố hát...Chẳng còn cách nào khác, D bộ 14 quyết định cho c3 trao Xuân An cho du kích địa phương.

Eng (anh) Chim và o Diệp được xã trao trách nhiệm chăm sóc cháu.

Ngày chia tay với các bố c3 nhìn cánh tay bé nhỏ chới với trước hàng quân trong tiếng khóc gọi bố...bố ơi... của Xuân An đã làm cho những người lính c3 phải gạt nước mắt bước đi không dám ngoái đầu nhìn lại...

Trong cơn lốc ào ạt của chiến dịch Xuân 1975, gót chân của những người lính c3/d14 trong đội hình của Sư 325 từ Quảng Trị vượt Trường Sơn thọc xuống cắt đường 1 tại Phú Lộc, tiến vào giải phóng Huế rồi cùng đội hình của Sư đoàn tiến đánh Đà Nẵng, băng qua duyên hải miền Trung, hỗ trợ e101 và e18 giải phóng Phan Rang, Phan Thiết...Trong chiến dịch Hồ Chí Minh các anh đã yểm trợ tích cực cho các đơn vị bộ binh tiến đánh Long Thành, Thành Tuy Hạ và hỗ trợ cho các đơn vị pháo binh cơ giới của Sư đoàn và Quân đoàn đưa pháo hạng nặng vào Nhơn Trạch để chế áp kẻ thù tại Tân Sơn Nhất...

Khi Sư đoàn vượt sông Đồng Nai, hỏa lực của d14 cùng các đơn vị bạn đã chế áp kẻ địch bên căn cứ Cát Lái hỗ trợ tích cực cho Sư đoàn đánh chiếm BTL Hải quân ngụy, giải phóng quận 2 và 9 góp phần vào chiến công của chung của dân tộc, đưa chúng ta đến đích cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước.

Chiến tranh kết thúc, những người lính trở về với đời thường, biết bao những lo toan của cuộc sống đè nặng lên vai họ nhưng trong tâm khảm của họ không bao giờ quên những ký ức gian khổ, đầy máu và nước mắt nơi mà rất nhiều đồng đội của họ không bao giờ trở về.

Năm tháng trôi qua khi mái tóc của những CCB mỗi lúc bạc thêm thì những câu chuyện của quá khứ không những nguôi ngoai đi mà hình như càng thôi thúc họ chắp nối để tìm lại những gì mà một thời tuổi trẻ đã sống và chiến đấu.

Đại đội trưởng Mai và chính trị viên Sáng là những cán bộ quê miền Nam sau khi giải phóng đã chia tay đơn vị để nhận nhiệm vụ mới.

Anh Mai được điều về các đơn vị làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và FULRO tại Tây nguyên.

Anh Sáng được cử đi học và về công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân Lâm Đồng.

Có một sự trùng hợp là hai anh sau khi nghỉ hưu đều đưa vợ con lên Đà Lạt sinh sống.

Trong tâm khảm của các anh luôn đau đáu một nỗi niềm về cháu Xuân An, sau mấy chục năm đằng đẵng, các anh muốn đi tìm cháu ngặt một nỗi không có điều kiện và không có thông tin gì về cháu.

Cao Huy Trang, quê Hưng Yên, cùng một số anh em c3/d14 sau một thời gian tìm kiếm và kết nối với nhau trong nhóm các CCB Sư đoàn 325 của tỉnh Hưng Yên.

Hoạt động của nhóm các anh là trở lại chiến trường cũ tìm kiếm và xác định mộ phần các bạn đồng đội đã hy sinh để đưa về quê hương.

Các anh cũng đã kết nối liên lạc được với c trưởng Hồ Mai và cv trưởng Nguyễn Đình Sáng đang ở Đà Lạt.

Một trong những nguyện vọng của 2 vị chỉ huy cũ là phải tìm ra bằng được bé Xuân An

Những chuyến đi về Quảng Trị, các anh trở lại Xuân An để tìm bé Xuân An nhưng chỉ được 2 du kích cũ là eng Chim và o Diệp cho biết sau năm 1975 bà con Xuân An lục tục trở về quê cũ, trong số họ không có ai là người thân của bé Xuân An.

Bé Xuân An được du kích địa phương trao cho mệ (bà) Nữ làm con nuôi.

Năm 1978 nhiều gia đình ở thôn Xuân An đi xây dựng kinh tế mới tại Nam Bộ trong đó có gia đình mệ Nữ.

Từ đó mọi thông tin về bé Xuân An đều dừng lại ở thời gian này.

Năm 2008, ông Trang cùng vợ chồng ông Nguyễn Văn Cường (nguyên là liên lạc của ông Mai và ông Sáng), Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên lên Đà Lạt thăm ông Mai và ông Sáng.

Trong câu chuyện gặp lại sau mấy chục năm các ông có nói đến việc phải đi tìm Xuân An.

Thông tin mà ông Mai biết là Xuân An đang làm công nhân cao-su ở Đồng Nai.

Sau đó mấy ngày ông Trang cùng ông Mai và con trai ông Mai tên là Thủy xuống Đồng Nai để tìm.

Suốt 2 ngày trời cả ba người đi hết các công ty cao-su của Tổng công ty cao-su Đồng Nai mà không tìm thấy Xuân An.

Tình cờ vào khoảng tháng 4/2010 những thông tin về Xuân An lại được sáng tỏ khi anh Lý Văn Tuấn là con trai bà Nữ sau mấy chục năm quay trở lại thăm quê, lúc này anh đang là giáo viên tiểu học tại Bà Rịa - Vũng Tầu.

Tuấn là trang lứa với Chim quãng chừng 55 tuổi.

Bạn bè gặp gỡ nhau sau bao năm xa cách, qua câu chuyện thì bé Xuân An ngày xưa được bà Nữ đặt tên là Tuyết và mang họ của chồng bà Nữ - Lý Thị Tuyết.

Bé Xuân An nay đã là bà mẹ của 5 đứa con sinh sống tại ấp 4B, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa - Vũng Tầu.

Nhận được tin về Xuân An (Tuyết), ông Trang đã báo cáo lại cho nhóm CCB của c3/d14/f325 của Hưng Yên, ông Nguyễn văn Cường, Bí thư tỉnh ủy và ông Vũ Văn Toàn (e95/f325), Trưởng ban tuyên giáo tỉnh quyết định cử ông Trang vào BR - VT để tìm Xuân An.

Một ngày tháng 7/2010 vợ chồng ông Trang đánh xe lên Đà Lạt để đón ông Mai và ông Sáng ra BR-VT.

Họ đến Xuyên Mộc để đến xã Tân Lâm và tìm đến ấp 4B, nơi Xuân An đang sinh sống.

Cuộc hội ngộ điễn ra vô cùng cảm động khi cả cái ấp nghèo ấy kéo đến nhà cô Tuyết để chứng kiến những giây phút cảm động của những người lính già đầu bạc sau bao năm ròng đã tìm thấy cô con gái nuôi của mình.

Theo gia đình mẹ nuôi vào BR-VT làm công nhân cao-su, Tuyết kết hôn với Lê Đỗ Thành sinh năm 1964 quê tại xã Triệu Độ cùng huyện Triệu Phong, QT.

Hoàn cảnh của những người đi xây dựng vùng kinh tế mới vô cùng vất vả đã khiến họ đồng cảm cùng xây dựng cuộc sống gia đình.

Hai vợ chồng có 5 mặt, con đứa lớn đang học đại học, đứa bé nhất mới lên 10, cuộc sống không dư giả gì với nghề cạo mủ cao-su.

Ngày 6/3/2011, anh em CCB f325 thu xếp cho Tuyết ra thăm Yên Mỹ, Hưng Yên quê hương của những bố nuôi c3/d14, những người đã cứu sống, che chở, chăm sóc cô trong những ngày chiến tranh và chính họ lại là những người đã lăn lội bao nhiêu năm tìm lại cô để có ngày hội ngộ hôm nay.

Mấy hôm sau, tại TP Hưng Yên, anh em CCB đã tổ chức tiếp đón Tuyết.

Tại đây nhiều người lính Quảng Trị năm xưa, nay đã trở thành những cán bộ chủ chốt của tỉnh như ông Cường - Bí thư tỉnh ủy ; ông Toàn - Trưởng ban Tuyên giáo của tỉnh và nhiều CCB khác đã nồng hậu đón tiếp cháu.

Niềm vui vỡ òa xen lẫn những giọt nước nước mắt nhạt nhòa trên những khuôn mặt pha sương của những người lính già khi bé Xuân An ngày xưa, cô Tuyết ngày nay - đứa con nuôi của tiểu đoàn 14 lưu lạc bao năm đã trở về trong vòng tay của những người bố nuôi như năm nào cô được che chở trong lòng những người lính giải phóng bên dòng Thạch Hãn mịt mù khói lửa.

Nếu như 2 vị chỉ huy cũ của c14 là Hồ Mai và Nguyễn Đình Sáng được chứng kiến cuộc hội nghộ này thì hạnh phúc thật là lớn lao.

Thật tình cờ, Tuyết ra bắc đúng dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Sư đoàn 325, cháu đã gặp gỡ những CCB của Sư đoàn 325 tại Lục Ngạn, Bắc Giang nơi Sư 325 đóng quân.

Chúng tôi đã gặp cháu và những đồng đội c3/d14 quê Hưng Yên trong không khí náo nức của những thế hệ chiến sĩ Sư đoàn từ mọi miền đất nước về dự lễ.

Tôi viết bài này qua câu truyện của Cao Huy Trang và các CCB c3/d14 trong dư âm của tháng 3, cái mốc thời gian mà bất kỳ CCB nào của Sư đoàn 325 đều mãi mãi khắc ghi:

- 11/3/1951 thành lập Đại đoàn 325 (nay là Sư đoàn) - Bình Trị Thiên - bằng chiến thắng Thanh Hương, Mỹ Xuyên tiêu diệt 2 binh đoàn cơ động của Pháp.

- 10/3/1975, e95 nổ súng tấn công Ban Mê Thuột mở màn chiến dịch Tây Nguyên, khởi đầu cho Chiến dịch Xuân 1975 đại thắng.

- 21/3/1975, Sư đoàn (thiếu e95 đang ở Tây Nguyên) nổ súng cắt đường 1 tại Phú Lộc (nam Huế) bắt đầu Chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng.

- 25/3/1975, e101 cắm lá cờ giải phóng lên cột cờ Phú Văn Lâu.

- 29/3/1975, e18 sau khi đập tan tuyến phòng ngự của địch trên đèo Hải Vân đã tiến công bán đảo Sơn Trà, giải phóng cảng Đà Nẵng, kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng toàn thắng.///

BÁU VẬT CỦA CUỘC ĐỜINguyễn Như Thìn Đúng là "chim sa cá nhảy" đen quá, tại con chim mù sa vào bụi cây hay sao mà tiểu đội ra quân lần thứ hai, ngay ngày đầu đã mất luôn "cây chuối hột" Khánh "Voi".

Để giải đen, anh Thành quyết định rời trận địa sang trái, cách trận địa cũ chừng 50 mét.

Lợi dụng hai hầm trú ẩn của đơn vị nào bỏ lại, chúng tôi hối hả đào công sự.

Lần này, không ai bảo ai, đào rõ sâu.

Đến tầm trưa, một tốp F4 bay đến.

Chúng lượn một vòng rồi chiếc đầu bổ nhào.

Tiếng bom rít thật khủng khiếp.

Tôi chỉ mới quen với tiếng đạn pháo và xác định điểm rơi khá chuẩn xác, nhưng với bom, đây là lần đầu.

Cộng hưởng với tiếng gầm rú của động cơ, như khoan vào óc, ruột gan như thắt lại.

Hai quả bom trùi trũi lao xuống, ½ thân rồi ¼ thân.

Hai tiếng nổ đinh tai dường như cùng một lúc, cách công sự chừng vài chục mét, đất đá rơi rào rào.

Chiếc thứ hai vòng lại chúc đầu , anh Thành vội kéo tôi vào hầm pháo.

Một quả bom, từ dưới bụng máy bay bung ra.

Lần này hình chiếu của nó như quả bưởi, to dần từng tíc tắc.

Chân tôi díu lại, như muốn chạy mà không được.Tôi nghe thấy văng vẳng một tiếng hô " ...Bổ nhào ..bắn".

Binh tĩnh lại, đưa máy bay vào kính ngắm số không, tôi xiết một tràng dài.

Một ánh chớp loé lên bên trái trận địa, kèm theo một tiếng nổ lộng óc, xô tôi dúi vào vách công sự.

Chiếc máy bay chẳng hề hấn gì, bay lên, mất hút vào bầu trời.

Vậy mà, anh Thành vẫn khẳng định, nó đã dính đạn, bằng chứng là không dám quay trở lại.

Tôi cho rằng, nó đã hết bom, chẳng qua anh muốn động viên tôi mà thôi.

Hứng chí hơn, anh tuyên bố, từ nay tôi sẽ là tiểu đội trưởng, còn anh là trung đội trưởng tự phong, thay anh Châu đã hy sinh.

Làm A trưởng cũng hay, đỡ phải khiêng súng, nhưng cả tiểu đội còn có 5 mống không ghé vai cùng anh em thì ai mang, tôi chợt buồn.

Nhưng nõi buồn của tôi cũng sớm được giải toả.

Mấy đêm sau, liên lạc đại đội dẫn đến ba lính mới bổ sung.

Một, tên là Thắng nhà ở Hà Nội ; một, tên Chính, Thái Bình còn lại là Định, Quảng Ninh.

Trời tối đen như mực, dưới ánh sáng nhập nhoạng của hoả châu, tôi chỉ kip thấy lờ mờ ba khuôn mặt.

Sáng hôm sau, Chính biến mất để lại khẩu AK.

Thắng người chắc, đậm, hứa hẹn một thợ khiêng súng tốt.

Nhà hắn ở ngõ Thanh Miến, con ngõ nhỏ cong như một dấu ngoặc đơn, nối phố Nguyễn Thái học với Văn Miếu.

Thằng Định, chân tay quyềnh quàng, da ngăm đen, dáng dấp khoẻ mạnh.

Tự dưng tôi thấy rất buồn cười, ngắm hai thằng lính mới, mà như mộ phu đi Tân thế giới không bằng.

Thằng Định, quê hắn ở tít mãi biên giới Việt Trung.

Làng hắn có đến 80% là người Hoa.

Có lẽ tiếp xúc với người Hoa nhiều nên giọng hắn cũng lơ lớ như mấy ông Tầu bán lạc rang phố Hàng Giày.

Hầm chữ A, ba thằng nằm trở đầu đuôi chật cứng, chân tay thằng Định như thừa thãi.

Thỉnh thoảng hắn lại rên lên: "Xịt ra một chút nào" thật buồn cười .

Vì thế tôi gọi hắn là Định "xịt".

Định "xịt" có một thói quen khá lạ lùng.

Thỉnh thoảng hắn móc trong balo, một chếc gương honda gấy ra soi, ngày không dưói chục bận rất ngứa mắt.

Tôi bảo hắn : "Vứt mẹ nó đi, mày định gọi máy bay đến à".

Hắn lẳng lặng cất gương đi, nhưng chỉ được vài ngày, đâu lại vào đấy.

Một lần trực chiến, hắn ngắm khẩu 12,7 ly rất kỹ và rụt rè nói:

- Lúc nào có dịp anh cho em bắn nhé!

- Bắn máy bay thì phải học còn bắn bộ binh thì dễ thôi, như bắn AK vậy.

Tôi bảo hắn , đai khái thế.

Chúng tôi lại chuyển chốt ra sát bờ sông Thạch Hãn, giá súng bắn bộ binh.

Nghe trinh sát nói, cứ ngược theo bờ sông là Thành Cổ, nơi có tiếng súng vọng về không ngớt, suốt đêm ngày.

Mặt trận phía đông chúng tôi, không có gì lạ, ngoại trừ vài trận đấu súng lẻ tẻ.

Có lẽ do thời tiết.

Những cơn mưa đầu mùa trút xuống liên miên.

Nước từ thượng nguồn đổ về đục như máu.

Mà có khi lẫn máu thật.

Đêm đêm, tôi nghe thấy tiếng lạch xạch của xuồng máy chở thương binh từ Thành Cổ xuôi ra, nhiều chiếc dính phải bom từ trường, không đến được trạm phẫu tiền phương.

Vào một chiều tạnh ráo hiếm hoi, phía trước pháo sáng bắn lên rực trời, chẳng hiểu chuyện gì.

Hôm sau mới biết, Thành Cổ đã bị mất.

Từ đấy thấy vắng dần tiếng xuồng lạch xạch xuôi dòng.

Nằm trong hầm, nghe mưa rơi mà buồn thấu ruột.

May có thằng Định "xịt" hay chuyện.

Hắn kể chuyện làng, chuỵện xóm, chuyện nhà, chuyện cửa với những phong tục khá lạ kỳ.

Nhưng kể mãi cũng hết chuyện, đôi khi thấy hắn thừ người ra, lại móc gương soi.

Có lẽ cu cậu nhớ nhà.

Một bận tôi nảy ra một ý nghĩ tinh quái, hỏi hắn:

- Này, năm nay mày bao nhiêu tuổi rồi?

Hỏi thực, đã bao giờ mày thấy cái ấy của phụ nữ chưa?

Đừng ngượng cứ kể đại ra đi.

Hắn đỏ mặt, thẫn thờ một lúc rồi nói:

- Nhưng anh cũng phải kể chuyện của anh cho em nghe.

Tôi cứ ừ bừa vì hy vọng sẽ được nghe một câu chuyện thật nhảm nhí.

- Em, tháng tới là vừa tròn mười chín tuổi.

Đã một lần được thấy cái ấy...

Hắn kể:

"...Hồi còn ở quê, em có thằng bạn thân hàng xóm, nó có một cô em gái rất xinh.

Cũng vào cữ này năm ngoái, tháng ngâu, mưa cả ngày, chẳng đi đâu được.

Em sang nhà nó chơi.

Hai thằng nằm trong buồng tán chuyện tào lao, ngủ quên lúc nào không hay.

Bỗng em nghe thấy một tiếng động mạnh ngoài cưả, giật mình, tỉnh dậy.

Thằng bạn đi đằng nào mất, hoá ra cô em nó đi chợ về, quần áo ướt sũng.

Ngỡ nhà không có ai, cô ấy ra bể nước dội ào mấy gáo , rồi vào buồng cởi tung quần áo lau người.

Em nằm im như chết, nín thở mà tim cứ đập thình thịch.

Lần đầu tiên em được thấy một thân hình trắng như thế.

Hai bầu ngực căng tròn.

Em liếc xuống phía dưới, thú thực, chỉ thấy như một nắm thuốc lào.

Cô ấy lại đầu giường lấy quần áo, bất ngờ phát hiện ra em, kêu thất thanh, ôm vội đống quần áo chạy bổ ra ngoài.

Em ngượng quá, lồm cồm bò ra khỏi giường lủi một mạch về nhà.

Kể từ đấy mỗi bận gặp em là cô ấy lại đỏ mặt chạy vụt đi.

Nhiều lần em muốn gặp xin lỗi mà không được, cô ấy cứ tránh mặt...

Rồi cũng đến cái ngày em đi bộ đội.

Cô ấy không tránh nữa, cùng thằng anh trai đi tiễn em.

Lúc lên ô tô, bất ngờ cô ấy níu lấy balo của em khóc tức tưởi.

Thằng bạn ngạc nhiên nhìn hai đứa.

Em hết sức bối rối.

Cô ấy dúi vào tay em một gói nhỏ.

Lên xe mở ra là một chiếc khăn tay ..."

Tôi thán phục nói:

- Truyện tình của mày hay thật đấy.

Hắn trả lời:

- Nhưng chúng em đã nói được gì với nhau đâu.

- Cần quái gì phải nói.

Nó yêu mày rồi

Tôi nói tiếp.

- Hồi vào trong này, em viết liền mấy lá thư về mà chẳng thấy cô ấy trả lời.

- Mày cứ chuyển đơn vị xoành xoạch thì làm sao mà nhận được.

Tôi an ủi hắn.

- Thế còn chuyện của anh.

Hắn hỏi.

- Chuyện của tao chẳng có gì.

Hồi ở Đầu Kênh, tao có chôn cất một gia đình bị trúng bom.

Chị chủ nhà áo thì còn, mà quần bay đâu mất.

Tao cứ thấy ghê ghê.

Căn cước của chị ghi tên Huệ.

Có đôi hoa tai tao chôn cả.

Tôi kể.

- Chuyện anh kinh bỏ mẹ, toàn chết chóc.

Hắn nói thế.

Đầu tháng 11 chúng tôi được lệnh bàn giao chốt cho đơn vị khác.

Một đêm mưa bão, tiểu đoàn vượt sông Cửa Việt sang bờ bắc.

Sông rộng thật.

Bơi giỏi như tôi mà hàng tiếng mới dìu được súng sang tới bờ.

Thỉnh thoảng một quả trái phá rít qua đầu.

Pháo sáng chập chờn như ma đùa trên bầu trời.

Sau mấy tuần nghỉ ngơi, bổ sung quân, chúng tôi lại được lệnh vượt sông sang bờ nam tham chiến.

Gói ghém súng đạn quân trang cho tiểu đội xong, chuẩn bị xuống nước thì bất ngờ chính trị viên đại đội gọi tôi lên.

Anh bảo, bàn giao tiểu đội cho A phó, còn tôi nhận nhiệm vụ mới.

Chuyện quái gì thế nhỉ?

Nghĩ mãi không ra.

Hoá ra, tôi được đi an dưỡng ở tuyến sau nửa tháng.

Làng an dưỡng cách Quán Ngang, chừng 3 km.

Ngày ngày, từng tốp B52 ném bom miền Bắc trở về.

Không biết ngoài ấy ra sao, lại thấy nhớ nhà cồn cào.

Tôi có làm quen với mấy lính sinh viên trường Xây Dựng.

Trong đó có Dũng C1, nhà ở phố Hàng Bạc.

Cùng tâm trạng, hai đứa sớm thân nhau.

Một sớm, gặp Bảo tiểu đội cối 82 đi lấy gạo.

Trông thấy tôi, hắn gọi thất thanh: " Anh Thìn ơi, tiểu đội anh hy sinh gần hết rồi".

Tôi choáng váng.

"Thế còn ai".

Tôi hỏi.

Hắn nói, không được rõ vì ở tuyền khác.

Ruột gan như lửa đốt.

Rồi cũng đến ngày trở về.

Liên lạc tiểu đoàn dẫn tôi ra chốt.

Chỉ một dải cát dài bên trái thấp thoáng bóng phi lao, "Kia là Tám Cát" hắn nói.

Đến một đoạn hào bị pháo cày nham nhở, tôi thấy bệ của khẩu 12,7 ly quen thuộc bị vặn quăn hình số tám.

Đón tôi ở cửa hầm là Bình "Méo"bàn chân băng trắng xoá và Hùng ngơ ngơ điếc vì tiếng nổ.

Chúng kể lại .

- Trận Tám Cát diễn ra thật ác liệt.

Pháo địch bắn suốt đêm, sáng ra bộ binh bám theo xe tăng ủi liền mấy chốt của ta.

Bên này khẩu 12,7 ly phát huy tầm xa, bắn chéo vào đội hình của địch.

Chúng chết khá nhiều.

Chiếc xe tăng quay nòng pháo lại, bắn liền hai phát.

Phát đầu trúng cửa hầm, anh Tẹo toang bụng.

Phát thứ hai hất tung khẩu 12,7, Định đang bắn sang một bên.

Thằng Định bị ..."

- Tao hiểu rồi.

Tôi khoát tay ra hiệu, đừng kể nữa.

Một cơn gió từ biển thốc vào khiến tôi thấy lành lạnh sống lưng.

Lần trứơc là Khánh "Voi", lần này là Định "Xịt".

"Chúng mày chết cho tao sống Định ơi.

Bắn bộ binh không dễ đâu...khó nhất là cơ động.

Không đại khái được.

Tao đã nói dối mày...

Nếu không đi nghỉ hai tuần thì xạ thủ số một chính là tao".

Nhớ lại truyện tình đẹp như truyền thuyết nó kể cho tôi bên bờ Thạch Hãn lại thấy quặn lòng.

Ước gì, những lá thư tỏ tình của mày không tới được nàng "Tiên Dung" miền sơn cước, Định ơi.

Em vừa tròn mười chín.

Đã một lần nhìn thấy ...Báu vật của cuộc đời .

GÀ HOA MƠ CÁNH TIÊNNguyễn Như Thìn "Truyện của anh kinh bỏ mẹ, toàn chết chóc.."

Thằng Định bảo tôi thế.

Đáng ra tôi, còn kể tiếp anh Tẹo, hy sinh ra sao hay thằng Ngọ chết cháy trước cửa ngõ Phan Rang năm 75 thế nào, nhưng thôi tôi kể chuyện sống vậy.

Một mầm sống hẳn hoi .

Hồi ấy tiểu đội tôi được bổ sung một lính mới, quê Thái Bình, tên Toản.

Anh khá đẹp trai, tóc lúc nào cũng chải ngược ra sau, nom rất điệu.

Khi anh cười, hai mắt tít lại, miệng ngoác tận mang tai, phô hai hàm răng... không được trắng.

Nó vàng, xỉn, lại không đều, trông như đứa trẻ lên năm bị sún vậy.

Vì thế, tôi gọi anh là Toản "Sún".

Anh Toản đã có vợ con đàng hoàng, anh hơn chúng tôi chừng vài tuổi. ( Có lần nghe thằng Mộc kể lại, anh hận tôi lắm, vì ngần này tuổi rồi mà vẫn bị tôi gán cho cái tên là "Sún") Thực tình, tôi rất ân hận muốn sửa sai, mà không được.

Là bởi, cái tên ấy quá quen thuộc với tiểu đội mất rồi, như mũi tên đã buông khỏi dây cung, làm sao giữ lại được nữa.

Anh Toản cũng hay chuyện.

Lúc hứng chí anh kể chuyện vợ chồng cho lũ trai tơ.

Chúng tôi cứ há hốc mồm ra nghe.

"...

Chúng mày biết không?

Con vợ tao, cái khoản ấy nó máu lắm.

Cái lần tiễn tao đi bộ đội, chỗ khuất người, nó túm lấy cái ấy của tao bảo, giá anh để lại cho em cái này thì tốt quá.

Tao nóng bừng cả người.

Mãi đến khi xe sắp chạy mới hạ hoả".

Mà anh Toản máu cũng không kém.

Có bận ra cửa hàng mua bán, sờ tấm vải lụa đen, nhớ đến vợ, mặt anh lại đần thối ra, đứng chết trân hàng nửa tiếng đồng hồ.

Tôi bực quá, thây kệ anh bỏ về.

Chả trách hồi năm 73 sau Hiệp Định Pari, đóng chốt giáp ranh, một lần bên kia hàng rào, một thằng lính Sài Gòn chửi :" Đ mẹ Việt cộng thèm l ... chết nửa đại đội ".

Số là, bên địch hôm ấy, thấy thấp thoáng bóng áo dài xanh, đỏ, lính mình tò mò ngó xem.

Lại nói hồi đóng chốt giáp ranh ven biển.

Có một lần bão to, tấm tôn lợp trên mái lán không chịu nổi sức gió bay vèo, chém một nhát ngang mặt anh Toản.

Chúng tôi vội vàng khiêng anh đi cấp cứu phẫu trung đoàn.

Nửa tháng sau anh về, một con rết dài cỡ gang tay vắt ngang mặt, nom rất gớm ghiếc.

Có lẽ Chí Phèo cũng phải tôn anh làm đại ca.

Sẹo trên mặt Chí, chỉ bởi mảnh chai, mảnh sành, sánh làm sao được với tôn hoa Cửa Việt.

Dạo ấy, sau hiệp đinh Paris, mặt trận phía đông khá yên bình, đơn vi tổ chức anh em liên hoan văn nghệ cho đời sồng tinh thần thêm vui vẻ.

Là dân Thái Bình nổi tiếng hát chèo, anh Toản trổ tài khiến chúng tôi phục sát đất.

Anh hát hay, múa cũng dẻo.

Tiết mục của anh được chọn đi thi cấp tiểu đoàn.

Cần phải tập thêm.

Nhưng tập ở đâu ?

Giữa lán mà múa may quay cuồng thì cũng lố.

Một lần thằng Tác và Tân "vịt", bắt gặp anh đang biểu diễn trong... nhà vệ sinh.

Chuyện là, dạo ấy, hậu cần cũng khá.

Mỗi tháng mỗi lính được cấp một tập giấy năm hào hai để viết thư.

Tôi viết đủ thứ còn chẳng hết nữa là Tân "Vịt".

Hắn chẳng viết bao giờ.

Hỏi tại sao hắn nói ngại.

Hắn sử dụng luôn tập giấy làm cái việc cần thiết mỗi buổi sáng.

Thằng Tác tiếc lắm, thế là, mỗi sáng, hắn đón Tân"Vịt" gần nhà vệ sinh, tay cầm tập giấy báo cũ cắt vuông vức hẳn hoi, gạ đổi cho Tân "Vịt".

Có bận giở chứng, thằng Tân không đổi, hai đứa đôi co, chính là hôm chúng bắt gặp anh Toản đang biểu diễn.

Tôi vội lôi hai đứa ra xa, kẻo anh ngượng không tập tiếp.

Mấy hôm sau, anh nhận được thư nhà, buồn rười rượi, chẳng hát hò gì nữa.

Hỏi gì cũng không nói.

Tôi tỉ tê mãi, anh mới kể:"Con vợ tao ở nhà lăng nhăng với thằng hàng xóm.

Mẹ chồng nàng dâu lủng củng không ai giải quyết được, nhắn tao về"

Một lần, nhân trực ban, tôi báo cáo với chính trị viên đại đội chuyện nhà anh Toản:"Gay lắm, độ này anh ấy làm sao ấy, múa hát như điên trong nhà vệ sinh, không cho ai vào.

Không tin anh hỏi thằng Tân mà xem.

Anh xem thế nào, xin tiểu đoàn cho anh ấy về phép..."

Hai tuần sau anh Toản được về phép thật.

Hết phép, anh về đơn vị rất đúng hạn, mặt mũi phởn phơ, tay xách theo đôi gà làm giống, gà hoa mơ cánh tiên, tuyệt đẹp.

Tôi hỏi anh, giải quyết chuyện gia đình thế nào.

Anh cười: "Trông thấy cái mặt tao, cả anh, cả ả lậy như tế sao, hứa đến chết cũng không dám ăn vụng.

Chi bộ thôn, thanh niên, phụ nữ, coi tao như anh hùng.

Bắt tao kể truyện chiến đấu.

Rồi cái sẹo thế nào.

Tao chẳng dám nói bị tôn chém, cứ phét lác lung tung.

Còn vợ tao, thôi thì tha cho nó.

Nói thực nhé, mình mà có điều kiện thì cũng ăn vụng chẳng kém ai"

Đầu năm 74, chúng tôi chuyển quân về Triệu Độ.

Đôi gà anh Toản mang về, lớn nhanh như thổi, chẳng mấy chốc, trước lán tiểu đội, có hẳn một đàn gà.

Mà đến lạ, đi đâu quanh thôn cũng gặp, gà hoa mơ cánh tiên.

Giống của anh tốt thật.

Tháng đầu mới về thôn, chưa làm được lán, chúng tôi phải chia nhau ở nhờ nhà dân.

Tôi anh Toản, Tân " Vịt" ở nhờ một gia đình.

Anh chị chủ không còn trẻ, lấy nhau gần chục năm không có con.

Chị chủ trông tràn đầy nhựa sống, còn anh chủ ngược lại, rất thiếu sinh lực.

Chị chăm sóc chúng tôi thật chu đáo, đặc biệt với anh Toản, có lẽ vì anh hát hay chăng?.

Mấy tháng sau, nghe nói, chị có tin vui.

Khỏi phải nói, anh chị vô cùng sung sướng.

Tôi nghi ngờ anh Toản là tác giả của tác phẩm ấy.

Có lần trực chiến, chỉ có tôi với anh, nửa đùa, nửa thật, tôi trêu.

Anh vội mắng át đi"..vớ vẩn...".

Nhưng có lúc lại nói: "mất gì của bọ"

Cuối năm chị chủ nhà, sinh đựơc một thằng cu bụ bẫm.

Cả thôn chúc mừng.

Còn chúng tôi, lên miền tây đón tết và chuẩn bị chiến dịch xuân hè năm 75.

Thế mà, thoắt một cái đã hơn 30 năm.

Tháng 10 năm 2005 tổng công ty VIETTEL, tài trợ cho các anh em từng chiến đấu ở Quảng Tri về thăm lại chiến trường xưa.

Không bỏ lỡ cơ hội, tôi trở về Triệu Độ.

Cảnh vật thay đổi rất nhiều.

Tìm về ngôi nhà xưa, không còn nữa.

Hỏi chị hàng xóm, chị kể: " Quãng mươi năm trước cũng có một chú bộ đội có cái sẹo to về chơi, chẳng hiểu sao, sau đó vợ chồng con cái bán hết nhà cửa, dắt díu nhau vào Nam làm ăn, từ đấy bặt tin tức".

Hỏi đến anh con trai, chị mau miệng : " Anh ấy đẹp trai lắm, chẳng giống ông chủ chút nào.

Phải cái răng hơi xấu"

Ôi !

Đích thị là Toản con rồi.

Lại một con gà trống hoa mơ cánh tiên...

Mấy lời cuối truyện.

Để không làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng tư của các nhân vật trong truyện, tôi đã thay tên, địa danh.

Tuy nhiên, khó tránh khỏi liên tưởng, " nếu có điều gì sơ xuất xin hãy lượng thứ"

ANH LÍNH LẠC LOÀINguyễn Như Thìn Lần đầu tiên hắn xuất hiện trước tiểu đội, quần ống thấp ống cao, như mới đi bừa về.

Người hắn toát lên một mùi ngai ngái cuả bùn đất, cái mùi ấy, theo hắn suốt cả đời binh nghiệp, chẳng hề phai.

Có thể nói hắn không đẹp trai, ấy là cách nói giản nói tránh.

Đôi mắt to, nhưng không phải mắt bồ câu.

Miệng hắn luôn phô ra hai tiểu đội răng rất mất trật tự, cái đứng nghiêm, cái nghỉ, cái ngồi.

Đôi vai hẹp ngự trên bộ ngực lép, dưới nữa là cái bụng eo quá mức cần thiết.

Nhưng ngược lại, hắn sở hữu một cặp mông nở nang khiến nhiều chị em phải ghen tỵ.

Có lẽ bao chất bổ trong người đều dồn cả vào đấy.

Khi hắn mặc quân phục, áo bỏ trong quần, nom như con bọ ngựa đang múa gươm.

Mà cái áo thì khó bảo, lúc thụng ra như chiếc váy ngắn, khi thì tóp lại, bó sát tấm thân không đầy đặn, khiến hắn thẳng tưng như cây bút chì.

Chiếc thắt lưng Liên Xô thít gần được hai vòng bụng.

Mà chiếc thắt lưng, là nỗi khốn khổ.

Nghe hướng dẫn mãi mới biết sử dụng.

Những ngày đầu, cần giải quyết việc riêng tư, hắn đỏ mặt kéo, càng kéo càng chặt, tý nữa thì vãi ra quần.

"Giá có đoạn dây làm dải rút thì tiện", hắn bảo thế.

Nhưng giữa hàng quân mà lại có anh lính lạc loài dùng dải rút thì ai mà chấp nhận được.

Thôi chẳng muốn nói đến cách ăn mặc, đi đứng của hắn nữa.

Chán lắm !

Muốn ra sao thì ra.

Nhưng có việc, không thể, ra sao cũng được.

Ấy là luyện tập kỹ năng chiến đấu của người lính.

Hơn nữa, lại là lính 12 ly 7 trợ chiến.

Cái bảng bắn máy bay, nhồi vào đầu hắn tai này thì lòi sang tai kia.

Khi bắn đạn thật, bài bắn bộ binh, đạn toàn vọt lên trời, còn bắn máy bay, đạn lại găm xuống đất.

Bó tay!

Thôi để hắn chuyên "xạ thủ số 4" vậy.

Nghĩa là, chuyên khuân vác đạn.

Được cái hắn khiêng vác khỏe, chẳng thấy phàn nàn gì.

Nhưng cái ba-lô của hắn, rất nghịch mắt, lúc nào cũng gấp rưỡi đồng đội.

Chẳng hiểu hắn đựng cái quái gì.

Trông như cái bướu khổng lồ của con lạc đà châu Phi, khiến hắn rất khó đổi vai khi khiêng súng đạn.

Có lần tiểu đội phải ra nghị quyết kiểm tra hành chính.

Thôi thì trăm thứ bà rằn.

Một quyển từ điển Nga-Việt của một lính sinh viên nào vứt lại vì quá nặng.

Bốn năm tập giấy trắng.

Tập được phát, tập đổi, tập xin.

Mấy gói đường sữa được cấp từ hồi mới đi B.

Hai bộ quần áo còn mới tinh, một bộ còn rung rúc.

Rồi những chiếc vỏ lon, hộp đẹp mắt chẳng hiểu đã đựng những gì trước khi trở thành bộ sưu tập của hắn...vân vân và v.v...Có lẽ phải thanh lý bớt thôi cho dù hắn phản đối kịch liệt "...

để khi nào có dịp gửi về quê..." hắn giải thích thế.

Còn quái dịp nào nữa, đánh nhau bỏ mẹ, người còn chẳng tiếc nữa là mấy thứ linh tinh.

Nhẹ người còn để tránh mũi tên hòn đạn.

Nhưng, ngay cả mũi tên hòn đạn hắn cũng không buồn tránh.

Kỳ lạ thật! hắn cứ ngẩn ngơ, thơ thẩn chuyện ruộng vườn.

Trận đầu tiên, đào công sự trên mảnh ruộng trống trơn, hắn cứ ngắm nghía, bóp bóp, ngửi ngửi cục đất lẩm bẩm,"ruộng này cấy hai vụ là ăn chắc".

Mặc cho tiểu đội đang lo lắng, căng thẳng, vì rơi vào tình huống sống còn.

Ở vườn chuối, thấy mấy cây rau dền "cổ thụ" lá to cỡ bàn tay, thân như gốc tre hắn suýt xoa.

Ngoài mình mà có giống dền này, tớ chỉ trồng một vườn là có cả tạ rau.

Sốt ruột hơn, thấy bao lúa bị vung vãi vì bom, hắn vốc một vốc những hạt thóc dài chẳng hiểu giống lúa gì nhét ngay vào ba-lô.

Dường như hắn đang lên kế hoạch thời hậu chiến.

Mỗi người một cách nghĩ, thôi kệ vậy.

Nhưng bực nhất là khi, chẳng còn gì để ăn, bom đạn ác liệt, đành phải hậu cần tự túc.

Có con bê bị thương do B52, may vớ được, đem thịt, hắn lậy như tế sao:" Tao xin chúng mày.. nó còn nhỏ quá ...để nó sống".

Tình huống bi hài như sắp đem thân nhân của hắn ra pháp trường.

Hắn chẳng chịu hiểu, làm sao con bê có thể sống được vài ngày khi mà trên mảnh đất này, mảnh gang của bom, đạn còn nhiều hơn là cỏ.

Cứ ngơ ngơ như bò đội nón thì làm sao mà tồn tại được.

Ấy thế mà, hắn vẫn tồn tại.

Dường như bom đạn cứ tránh hắn.

Trận đầu rút lui, giữa đồng không mông quạnh, đạn như vãi trấu hắn chẳng việc gì.

Trận Tám Cát hai phần ba tiểu đội thương vong hắn chẳng làm sao.

Hai trận liền giữ chốt trên doi cát.

Không một mét vuông nào tránh khỏi bom đạn cày xới, hắn cứ, chạy đi, chạy lại, tiếp đạn, như con thoi cho cỗ máy dệt ra toàn khói lửa.

Mặt hắn ám đầy thuốc súng, đen nhẻm như móc dưới ruộng lên, nhưng quái lạ, hắn vẫn phảng phất ngai ngái mùi bùn đất.

Trận Cửa Việt, ngày 27 tháng một năm 73, một ngày trước khi Hiệp Đinh Pa-ri có hiệu lực, B52 trần suốt ngày không theo quy luật.

Bom nổ, bên trái một quả, bên phải một quả, hầm hắn ở giữa.

Chiều, tối, rồi đêm, xe tăng ta, xe tăng địch, lính ta lính địch, pháo ta pháo địch trộn lẫn vào nhau.

Một khoảng bờ biển chạy dài gần một km chỉ thấy lửa địa ngục.

Những ánh chớp và tiếng nổ của thần sấm sét giáng xuống liên hồi.

Sáng ra, trên mặt biển cuộn sóng, mặt trời từ từ, nhô lên, chiếu những tia sáng đầu tiên.

Quang cảnh chiến trường hiện dần như trên một màn ảnh vĩ đại mà không một đạo diễn tài ba nào có thể dàn dựng nổi.

Xác của những chiếc thiết giáp 23 ly, những chiếc xe tăng, của cả hai bên, có cái vẫn dựng lên những cột khói nghi ngút, nằm rải rác.

Xa xa, bên mép nước, có tới cả trăm chiếc xe tăng của địch đang co cụm lại.

Hắn chạy ra xem.

Quá tầm gọi lại, nhìn đôi chân trần như bay trên cát mà thót cả ruột gan.

Mìn cần chống tăng giăng như mạ cấy.

Vậy mà hắn vẫn lành lặn trở về, xách theo một khẩu M79 gẫy thước ngắm, tòong teng như xách một cái điếu cày.

Năm 74, giữ chốt giáp ranh, kệ cho đồng đội căng mắt dõi nhìn mặt đất và bầu trời, vớ được đoạn tre, chẻ lạt, hắn đan.

Chẳng hiểu hắn đan gì?

Hóa ra, hắn đan một cái sàng.

Hắn xúc cát sàng sàng, sẩy sẩy, gạn gạn, nhặt nhặt như dân đãi vàng.

Rồi hắn nhúm được một dúm ... một dúm sái thuốc lào.

Cho vào điếu, kéo một hơi, hắn ngây ngất ngắm thành quả lao động của cả một ngày đang tan thành mây khói.

Nhưng chiến sự chẳng cho hắn ngồi sàng cát mãi.

Năm 75, cùng đại quân, hắn đánh ngược ra Huế.

Đánh xuôi Đà Nẵng.

Ngồi trên xe hẳn hoi, hắn cứ lướt mỗi ngày một vài tỉnh.

Bình, Phú, Khánh Hòa.

Tràn vào Phan Rang, bất ngờ như lũ cuốn.

Mấy tên cảnh sát Sài Gòn tay vẫn còn cầm tách café.

Đêm tiếp quản Phan Thiết không một bóng người trên đừơng phố.

Rồi Long Thành, Nhân Trạch, Cát Lái, Đồng Nai.

Đồng đội hắn rơi rụng khá nhiều.

Nhưng hắn vẫn không sao.

Trưa 30 tháng 4, quần ống thấp ống cao, hắn bước vào dinh Độc Lập.

Những mảnh rời ký ức - Hồi ký Lixeta

Ngày 29 tháng 3 năm 1975- Sau khi tiến công giải phóng Đà nẵng, đại đội 4 xe tăng chúng tôi được giao nhiệm vụ chiếm lĩnh khu vực Thương cảng Bạch đằng và Bảo tàng cổ vật Chăm để bảo vệ trung tâm thành phố.

Ba ngày sau, tình hình đã ổn định chúng tôi bàn giao lại nhiệm vụ cho Ban quân quản và tập trung về căn cứ sư đoàn 3 nguỵ tại Khánh sơn để làm công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân thần tốc vào phía Nam tham gia chiến đấu giải phóng các tỉnh còn lại.

Vừa về đến Khánh sơn pháo hai Vũ Xuân Trực của xe tôi được điều đi làm pháo thủ xe khác, chúng tôi được thông báo là sẽ được bổ sung một pháo hai mới trong một vài ngày tới.

Sáng hôm sau, khi tôi đang chúi đầu vào buồng truyền động kiểm tra các thông số kỹ thuật của động cơ và các cụm máy thì trung đội trưởng Mai hồng Trị gọi trưởng xe tôi ra nhận pháo hai mới.

Tôi thò đầu ra tò mò tự đánh giá về thành viên mới của xe mình và thầm đoán xem liệu hắn ta có thể hoà nhập vào cái tập thể nhỏ bé 380 đã từng gắn bó mấy năm nay của chúng tôi không?.

Đối với lính xe tăng bọn tôi điều đó là cực kỳ quan trọng bởi mỗi thành viên tuy có chức trách nhiệm vụ khác nhau nhưng đều là một bộ phận không thể tách rời của kíp xe, chả thế có một nhà thơ đã từng viết "năm anh em trên một chiếc xe tăng, như năm bông hoa nở cùng một cội, như năm ngón tay trên một bàn tay".

Thực tình lúc đó tôi hơi thất vọng vì trước mắt tôi là một thân hình khá lẻo khoẻo, một khuôn mặt trắng trẻo hiền lành và đôi bàn tay mỏng mảnh rất thư sinh, sau lưng là một chiếc ba-lô lép kẹp và trên vai lại vác theo một cây đàn ghi ta đã cũ; nếu so với những tiêu chuẩn thông thường thì Nguyễn Kim Duyệt- pháo hai mới của xe tôi không đạt cho lắm.

Nhìn chung, đã là lính xe tăng đều phải khoẻ vì thao tác cũng như điều kiện làm việc của ai cũng hết sức nặng nhọc, song riêng với pháo hai tiêu chuẩn sức khoẻ là cần thiết nhất.

Các bạn hãy hình dung- trong một không gian chật hẹp đụng đâu cũng là thép của buồng chiến đấu xe tăng- anh bạn pháo hai của chúng ta cần phải có sức khoẻ như thế nào mới xoay trở được để tống những viên đạn nặng trên ba chục cân vào buồng đạn với tốc độ bắn trung bình 3 đến 4 phát mỗi phút, lại còn phải nạp đạn đại liên, phải đội cửa lên bắn 12ly7, bắn AK, ném lựu đạn ... mỗi khi cần thiết.

Thực tế ở đại đội tôi hồi đánh cứ điểm Tà Lương pháo hai Bùi văn Đạt nạp đến quả đạn thứ 16 thì ngất xỉu.

Thế mà Duyệt lại thư sinh quá, trắng trẻo quá và có vẻ gì đó hơi nữ tính trên khuôn mặt cũng như trong giọng nói nhỏ nhẹ của mình.

Nhưng ngay sau đó Duyệt đã làm cho chúng tôi tạm yên lòng bằng những thao tác gọn gàng chính xác khi lau chùi, bảo dưỡng khẩu đại liên và sắp xếp lại các trang bị trong buồng chiến đấu.

Trước những con mắt còn đầy vẻ dò xét của chúng tôi Duyệt lẳng lặng làm những công việc thuộc phạm vi chức trách của mình với một sự thành thạo và cẩn trọng rất tự tin.

Và một điều bất ngờ nữa đến- chiều hôm đó - vẫn với những thứ thực phẩm mà chúng tôi đã ngán đến tận cổ, chỉ thêm một nắm rau tập tàng Duyệt đã cho chúng tôi được ăn một bữa cơm ngon lành như khi còn ở nhà vậy.

Buổi tối hôm đó, trên tháp pháo chúng tôi ngồi tâm sự và nghe Duyệt đàn .

Đến lúc ấy chúng tôi mới được biết thêm: Duyệt vốn là dân Hà nội, đang học Đại học năm thứ hai thì nhập ngũ và cũng đã tham gia chiến đấu trên cương vị pháo hai ở Quảng Trị hơn một năm rồi, vì vậy tôi tự nhủ "Tay này cũng được đây."

Ngày 10 tháng 4 năm 1975 đại đội tôi bắt đầu cuộc hành quân "Thần tốc" về phương nam.

Trong hành quân chiến đấu của xe tăng thì vất vả nhất là lái xe, còn các thành viên khác thì cũng đỡ căng thẳng hơn.

Đối với pháo hai công việc chủ yếu là chăm lo việc hậu cần, cơm nước cho cả xe Duyệt đã hoàn thành một cách xuất sắc, với đôi tay khéo léo và năng khiếu về nội trợ cộng thêm bản tính cần cù. chăm chỉ chúng tôi thường xuyên được ăn ngon, ăn nóng.

Bản thân tôi là lái xe vất vả nhất nên cũng được Duyệt chăm sóc một cách đặc biệt hơn.

Các chặng nghỉ dài khi nấu cơm Duyệt đun thêm một bi-đông nước sôi và treo vào buồng động lực, vì vậy mỗi khi nghỉ ngắn, xe mới chỉ dừng vài phút sau là tôi đã có một ca sữa nóng ngon lành để lại sức.

Và dù chỉ mới ít ngày cùng sống với nhau Duyệt đã chiếm được cảm tình rất sâu sắc của Luông, Thọ và tôi.

Vì đã là sinh viên "hụt" nên tôi và Duyệt dễ gần gũi với nhau hơn, ở những chỗ nghỉ dài hay chờ khắc phục cầu, đường chúng tôi hay mắc võng cạnh nhau nằm tâm sự.

Tính Duyệt hiền lành, ít nói, cứ thủ thỉ như con gái nhưng nhiều khi cũng dí dỏm ra phết.

Là con thứ tư trong một gia đình khá giả, Duyệt được tiếp thu một nền giáo dục khá toàn diện theo nề nếp một gia đình Hà nội gốc, có bốn anh em thì Duyệt và người anh thứ hai đã tham gia quân ngũ.

Những ngày chiến đấu trên chiến trường miền Nam Duyệt không có một ước mơ nào hơn là sau chiến tranh được quay về trường tiếp tục học tập để thực hiện những hoài bão của mình.

Sau hơn chục ngày hành quân chúng tôi đã đến vị trí tập kết ở Long khánh, từ đây vào Sài gòn chỉ còn khoảng 70 km và chúng tôi biết rằng mình sắp được tham gia trận đánh cuối cùng.

Tối 26.4.1075- sau khi đi nhận nhiệm vụ về- Trưởng xe Nguyễn Đình Luông gọi cả 4 chúng tôi lại và với một vẻ mặt quan trọng anh thì thầm: "Chiến dịch giải phóng Sài gòn đã chính thức được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh và sẽ bắt đầu trong một vài ngày tới, cả đại đội mình sẽ nằm trong đội hình thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc lập".

Giở cái bản đồ du lịch to bằng tờ giấy học sinh anh chỉ: "Cứ đi qua cầu Sài gòn, đến ngã tư thứ bảy thì rẽ trái là đến Dinh.

Nhiệm vụ của từng người thế nào thì đã rõ cả rồi, bây giờ phải chuẩn bị cho thật tốt để không xảy ra bất cứ điều gì đáng tiếc trong chiến đấu.".

Anh còn bảo chúng tôi chỉ cắm lá cờ cũ, còn lá cờ mới cất trong tháp pháo để dành cắm trên nóc Dinh Độc lập.

Ngay sau đó chúng tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị.

Biết rằng trận chiến đấu sắp tới sẽ vô cùng ác liệt, kẻ thù sẽ chống trả điên cuồng bằng tất cả sức mạnh còn lại nên ngoài cơ số đạn theo xe chúng tôi còn nhận thêm mười viên đạn xuyên nưã.

Buồng chiến đấu vốn đã chật hẹp nên để xếp thêm số đạn đó chúng tôi phải bỏ hết tư trang và tất cả những gì không cần thiết ra ngoài, ba cái ba-lô của Luông, Thọ và tôi đã được buộc gọn gàng sau tháp pháo, còn Duyệt vẫn lúi húi tìm cách nhét cái ba-lô của mình vào một góc buồng chiến đấu.

Trưởng xe Luông lẩm bẩm: "Mày làm cái gì mà cứ loay hoay mãi thế, nhanh lên còn làm việc khác".

Vốn thẳng ruột ngựa pháo thủ Trương Đức Thọ quát tướng lên: "Đời lính có cái quái gì mà cứ giấu giấu giếm giếm như giấu vàng ấy.

Đem buộc ra ngoài tháp pháo như bọn tao ấy".

Nó còn lẩm bẩm nói với tôi: "Chẳng biết nó nhặt nhạnh được nhữg gì mà cất kỹ thế?".

Quả thật, nếu có máu tham hoặc không sợ kỷ luật chiến trường thì trong các chiến dịch giải phóng Huế và Đà nẵng chúng tôi cũng "nhặt" được khối thứ có giá trị.

Những vì đã hiểu hơn về Duyệt tôi gàn: "Thôi!

Mặc kệ nó.

Miễn là không ảnh hưởng đến thao tác là được".

Còn Duyệt vẫn như mọi ngày- lẳng lặng tháo hẳn mấy viên đạn ra, nhét cái ba-lô của mình sâu vào sát vành tháp pháo rồi cố định đạn lại như cũ.

Bọn Thọ, Luông có vẻ vẫn không thoải mái cho lắm nhưng thấy không ảnh hưởng gì nên cũng thôi.

Chiều 27.4 xe tôi được lệnh lên đường làm nhiệm vụ tăng cường cho đại đội 5 và sáng 28.4 bắt đầu tham chiến ở căn cứ Nước Trong.

Có thể nói đây là chốt chặn cuối cùng trên cánh cửa phía Đông tiến vào Sài gòn nên địch chống trả rất quyết liệt.

Xe tăng chúng tôi cùng bộ binh phải giành giật với chúng từng khoảnh rừng cao su một và thương vong của ta ở đây cũng khá nhiều.

Đúng như tôi linh cảm từ ngày đầu Duyệt về xe, Duyệt đã chứng tỏ mình là một pháo hai có hạng và đầy bản lĩnh.

Với những thao tác chính xác, nhanh gọn chỉ vài giây sau khẩu lệnh của Trưởng xe Luông một viên đạn pháo đã được nạp vào buồng đạn để pháo thủ Thọ sẵn sàng nhả đạn.

Được các đồng chí bộ binh chỉ mục tiêu, chúng tôi đã diệt được khá nhiều mục tiêu ở tiền duyên phòng ngự cuả địch.

Tuy nhiên, do địch còn quá mạnh, các xe của đại đội 5- đơn vị mà xe tôi đến tăng viện hoặc bị thương vong, hoặc hết đạn đã quay về phía sau để bổ sung- nên đến gần trưa chúng tôi được lệnh ở lại cùng bộ binh giữ vững trận địa, chờ lực lượng phía sau lên tiếp tục tiến công.

Thấy gần đó có một hõm đất trũng, trưởng xe Luông lệnh cho tôi đưa xe xuống để lợi dụng địa hình địa vật bảo toàn lực lượng.

Tôi vừa tăng ga cho xe chạy được vài mét thì bỗng dưng thấy tất cả tối sầm lại, tôi ngất đi không biết bao lâu.

Khi tỉnh lại thì thấy pháo thủ Thọ ngồi ngay phía sau lưng đang vỗ vào vai tôi hổn hển: "Xe trúng đạn rồi, Luông và Duyệt bị thương nặng lắm".

Tôi nhoài người ra phía sau ngửa cổ nhìn lên; trên ghế trưởng xe trưởng xe Luông nằm bất động ôm lấy cái đài vô tuyến điện; bên buồng pháo hai Duyệt ngồi tựa lưng vào buồng động lực, nửa người bên trái từ thái dương xuống đến đùi tơi tả, đầm đìa máu; quay thử pháo thấy bị kẹt cứng, khẩu đại liên bên pháo bẹp rúm ró, klhẩu cao xạ 12ly7 trên cửa pháo hai bay đi đâu mất.

Biết rằng không còn khả năng chiến đấu, tôi và Thọ bàn nhau quay về phía sau để cấp cứu thương binh.

Về đến bệnh xá tiền phương sư đoàn 304 chúng tôi đưa Luông và Duyệt xuống cấp cứu.

Đến lúc này tôi mới biết: một quả đạn pháo cỡ lớn đã bắn trúng tháp pháo xe tôi ngay trên buồng pháo hai, viên đạn nổ ngay trên nóc quạt thông gió làm thủng một lỗ đút lọt nắm tay, toàn bộ mảnh đạn và mảnh quạt gió chụp xuống buồng chiến đấu xe tôi và pháo hai Duyệt là người hứng chịu nhiều nhất.

Sức nổ mạnh của quả đạn cũng hất tung khẩu cao xạ 12ly7 nặng gần 1tạ cố định trên cửa pháo hai và toàn bộ những gì chúng tôi cố định ở ngoài tháp pháo.

Tại nơi cấp cứu, trưởng xe Luông nằm thiêm thiếp mê man, có điều lạ quả đạn nổ chỉ cách anh chưa đầy một mét, cái đài vô tuyến điện phía trong anh thủng lỗ chỗ mà gần như không có mảnh đạn nào trúng người anh, chắc là anh chỉ bị sức ép và chấn thương do va đập vào vành tháp pháo.

Còn Duyệt máu me đã được lau đi, cả một nửa người tơi tả vì mảnh đạn nhưng lại rất tỉnh, Duyệt nắm tay tôi thều thào: " Quê ơi, tao đau lắm.

Chắc tao không sống được" .

Kinh nghiệm chiến trường làm tôi thấy lo vì những ai bị thương nặng mà tỉnh táo thường khó qua khỏi, song lúc này tôi không dám nghĩ đến điều đó mà chỉ biết động viên Duyệt yên tâm điều trị để chóng về với xe.

Nhớ lại cả xe từ hôm qua đến giờ chưa ăn cái gì, tôi bảo Thọ đi xin cho Duyệt cốc sữa.

Vừa bón cho Duyệt từng thìa sữa nhỏ tôi vừa thủ thỉ chuyện trò, nhắc lại những câu chuyện mà hai chúng tôi đã từng nói với nhau những lúc dừng chân trên đường hành quân.

Ăn gần hết cốc sữa thì Duyệt thiu thiu như ngủ.

Lúc này đồng chí trợ lý chính sách của lữ đoàn cũng đã có mặt, anh truyền đạt lệnh của trên là bàn giao thương binh ở lại đây, còn chúng tôi phải trở về vị trí tập kết ngay để khôi phục xe chuẩn bị chiến đấu tiếp.

Tôi và Thọ lên xe lấy tư trang để lại cho Duyệt.

Moi cái ba- lô nặng trịch từ vành tháp pháo ra Thọ lẩm bẩm: "Chẳng hiểu nó có cái gì mà nặng thế.

Mà lại còn ấn vào tận vành tháp pháo nữa chứ".

Vừa nói nó vừa lật cái nắp ba-lô lên.

Cả hai chúng tôi cùng lặng người đi: trong cái ba-lô cũ kỹ, mà có lúc chúng tôi đã từng nghĩ là những của quý Duyệt nhặt nhạnh từ Huế và Đà nẵng chỉ có bộ quần áo cũ, cái võng và một bó sách!

Lật qua vài quyển sách tôi thấy toàn sách học tiếng Anh, tiếng Pháp và từ điển Anh- Việt, Việt- Anh, Pháp- Việt....

Nhớ lại những lời tâm sự của Duyệt mắt tôi rơm rớm nước, còn Thọ trầm ngâm: "Thế mà có lúc mình đã nghĩ oan cho nó.

Bây giờ phải xin lỗi nó mới được".

Mang cái ba- lô vào chỗ Duyệt chúng tôi thấy Duyệt vẫn nằm thiêm thiếp như đang ngủ.

Đồng chí quân y sĩ ngồi bên ra hiệu cho chúng tôi im lặng.

Tôi hỏi nhỏ: "Liệu bạn tôi có qua khỏi không?".

Anh chỉ trả lời chung chung: "Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng, các đồng chí cứ yên tâm".

Thời gian không cho phép chúng tôi ở lại lâu hơn, chúng tôi bàn giao cái ba- lô của Duyệt cho đồng chí trợ lý chính sách rồi quay ra xe.

Pháo thủ Thọ cứ bần thần không yên, tôi biết nó đang áy náy vì chưa kịp nói lời xin lỗi với Duyệt.

Không biết làm cách nào hơn tôi động viên Thọ: "Thôi!

Ta cứ về đơn vị cái đã, chắc rằng ít hôm nữa anh Luông với Duyệt sẽ khỏi và về với xe mình, lúc đó nói chuyện với nó cũng được".

Nhưng không còn kịp nữa rồi, ngay tối hôm đó chúng tôi được tin Duyệt đã hy sinh sau khi chúng tôi đi khỏi chừng hai tiếng.

Cả hai chúng tôi lặng người đi và lao vào sửa chữa xe pháo để ngày mai tiếp tục đi chiến đấu .

Không nói với nhau lời nào nhưng tôi biết cả Thọ và tôi mãi mãi sẽ trĩu nặng trong lòng nỗi day dứt vì một lời xin lỗi không bao giờ kịp nói.

Ghi chú:Nguyễn Kim Duyệt- nhà ở số 39- Đại la, Hà nội; là sinh viên khoá 15 Đại họcnông nghiệp 1 Hà nội; đang học năm thứ hai thì nhập ngũ.

Hiện mộ phần đã đượcquy tập về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Long thành, Đồng nai.

TUẤN MÃ "SỨT MÔI"

Xin nói ngay rằng đó không phải là tên một con ngựa mà là tên cánh lái xe đại đội 4 đặt cho chiếc xe tăng kiểu T59 số hiệu 380 của tôi.

Xuất xứ cái tên đó chính là từ bài báo tường của tôi- trong đó tôi đã ví chiếc xe tăng của mình như một con tuấn mã và những người lính xe tăng cưỡi trên mình nó tung hoành ngang dọc như những tráng sĩ giúp nước, cứu dân ngày xưa.

Thế nhưng do chiếc xe 380 của tôi lại có một ngoại hình không được "ngon lành" cho lắm: chả là trong một lần cứu kéo nhau, xe 380 của tôi bị chiếc xe sau chồm lên, cả một băng xích chà xát rách tả tơi lá chắn bùn sau và làm bẹp dúm cửa xả; để tiếp tục hành quân chúng tôi phải dùng đục sắt đục một lỗ toang hoác cho khí xả động cơ thoát được ra ngoài, vì thế tiếng nổ động cơ không còn giòn vang và chắc nịch như trước mà cứ "phập phà phập phì" như tiềng người bị sứt môi.

Chính vì vậy sau khi có bài báo tường của tôi cánh lái xe trong đại đội ngồi bình luận và nhất trí thêm hai từ "sứt môi" vào làm phụ danh để phân biệt cho rõ xe 380 với các xe khác.

Tuy có hơi tự ái song tôi luôn tự hào về con "tuấn mã sứt môi" của mình.

Trước hết, đại đội có 8 xe có số nằm trong khoảng từ 380 đến 390 nên đương nhiên nó là anh cả, là số một.

Hồi đó chúng tôi chưa có khái niệm về "số đẹp, số xấu" như người ta đang đua nhau chọn cho xe máy, ô tô bây giờ; mà nếu biết thì chắc cũng chẳng ai tin vì "con xe" có số đẹp nhất, tận "9 nước" là con 388 thì đã hứng trọn một quả bom B52 nằm phơi bụng ở giữa sân bay Alưới rồi.

Thứ hai, 380 là xe duy nhất trong tiểu đoàn được trang bị một cái cẩu để phục vụ sửa chữa dã ngoại.

Tất nhiên, đó chỉ là một cái cẩu ứng dụng, chỉ gồm một cái thang lúc bình thường tháo ra cố định cạnh xe, lúc nào dùng thì lắp vào đầu xe rồi níu cáp vào tháp pháo và một cái pa- lăng kéo tay.

Tuy đơn giản vậy song cũng đắc dụng ra trò: những ngày sau Hiệp định Pa ri tôi cùng con "tuấn mã sứt môi" của mình rong ruổi đi phục vụ trung tu, tiểu tu cho cả tiểu đoàn.

Cũng nhờ những chuyến đi phục vụ sửa chữa đó tay nghề của tôi vững lên rất nhiều.

Bình thường, để điều khiển một cái xe tăng với trọng lượng hơn ba chục tấn cho thật chính xác đã là khó; đằng này lại còn treo lủng lẳng ở đầu xe khi thì cái hộp số 3 tạ, khi thì cái động cơ trên 1 tấn sẽ còn khó hơn nhiều; đã thế lại còn phải tiến lên, lùi lại, sang phải, sang trái vài xăng-ti-mét một để đặt vào xe cho đúng như in; lại còn phải êm, phải nhẹ vì nếu không sẽ làm văng vật cẩu va vào những cụm máy khác.

Nhờ thế tay lái của tôi trở nên điêu luyện; theo ngôn ngữ bây giờ có thể được xếp vào hàng "tay lái lụa", không thua kém mấy so với các "bậc đàn anh" trong đại đội như Nguyễn Văn Tập, Lữ Văn Hoả....

Không chỉ có vậy mà những ngày đi phục vụ đó trình độ kỹ thuật và sửa chữa hư hỏng của tôi cũng được nâng lên rất nhiều.

Tôi có thể kể vanh vách thứ tự động tác tháo lắp động cơ, hộp số, rồi các thông số kỹ thuật tôi cũng thuộc làu...

Với kiến thức đó những khi không phải đi công tác tôi dồn sức chăm lo cho con tuấn mã của mình.

Tất cả các thông số đều ở mức tối ưu.

Tất cả các hành trình, giãn cách đều được điều chỉnh ở trị số tốt nhất.

Tất cả các khớp nối, các điểm làm nhờn thường xuyên no dầu mỡ.

Cái két mát dầu bị bùn đất văng lên không còn tác dụng làm mát do mất lá chắn bùn sau được tôi tháo ra đem ngâm dưới suối mấy ngày rồi lấy que thông từng tý một lại thông thoáng như xưa.

Lá chắn bùn sau cũng được hàn vá bởi mấy tấm tôn thùng phuy.

Riêng cái cửa xả thì đành để vậy vì không đủ điều kiện khôi phục như cũ.

Vì vậy nó vẫn bị gọi là "sứt môi"...

Có thể nói con tuấn mã của tôi bên ngoài tuy có hơi xấu xí nhưng máy móc của nó thật tuyệt vời, thậm chí còn "trên cả tuyệt vời".

Về lý thuyết lực kéo cần lái xe T59 là 35 đến 50 ki-lô-gam song cần lái xe tôi chỉ hơn 30 một chút; điều chỉnh xích thì bình thường cả kíp xe phải xúm vào, riêng xe tôi khi cần chỉ 2 người quay cứ vèo vèo...

Chiến mã thì như vậy còn các "kỵ mã" cũng không đến nỗi nào.

Trưởng xe Nguyễn Đình Luông người Thanh hoá có dáng dấp của một đô vật, anh đã tốt nghiệp Trường trung cấp thể thao của tỉnh, nhập ngũ vào bộ đội xe tăng được chọn đi học Trưởng xe và đã có thâm niên trưởng xe mấy năm nên sử dụng điện đài, vũ khí rất thành thạo.

Pháo thủ Trương Đức Thọ người Vũ thư, Thái bình là người có nhiều biệt hiệu nhất trong đại đội: nào là "Thọ F" để phân biệt với Thọ L lái xe, "Thọ kỳ đà" vì hắn có màu da loang lổ lang ben, rồi Thọ "điếc", Thọ "ngơ" vì nhiều khi ai gọi hoặc nói gì mà hắn không muốn nghe là hắn lờ đi coi như không nge thấy, cứ "ngơ ngơ" như bò đội nón v.v..

Bọn tôi thì biết chắc hắn không hề điếc vì trong xe thì thầm gì với nhau hắn nghe được hết, nhất là những buổi tập bắn, tập chiến thuật thực hành liên lạc qua máy nói trong xe hắn ta có bỏ qua khẩu lệnh nào đâu.

Được cái hắn cũng là người chịu khó mày mò, học hỏi nên tính toán phần tử bắn và thao tác vũ khí rất nhanh.

Pháo hai Vũ Xuân Trực người Lập thạch, Vĩnh phúc tính tình đúng như cái tên- rất cương trực, nóng nảy; với dáng vóc thấp đậm rất phù hợp với "nghề nghiệp" pháo hai.

Còn tôi- vốn là dân chuyên Toán, rất có khiếu về kỹ thuật và như đã nói ở trên- nhờ được rèn giũa nhiều nên tay nghề cũng khá, cái hầm xe 380 nằm trên sườn dốc lại phải chuyển hướng gần 90 độ mới vào được nhưng nhiều khi không cần chỉ huy tôi vẫn một mình lùi vào mà xe vẫn cân như được đặt chính giữa hầm.

So với các xe trong đại đội thì xe tôi có tuổi bình quân trẻ nhất và có thể nói cũng khoẻ nhất, làm cái gì cũng cứ băng băng.

Nhưng riêng về khoản tình cảm chắc là kém nhất: trong 4 anh em chỉ có pháo thủ Thọ là có "tý tình vắt vai" với một cô thôn nữ cùng quê, còn Luông, Trực và tôi vẫn chưa hề biết mùi vị tình yêu nó như thế nào?.

Có lẽ vì thế mà bao nhiêu tình cảm chỉ còn biết dồn cho nhau và dồn cho con "tuấn mã sứt môi" thương mến.

Hầm xe ngay sau nhà nên cứ rỗi lúc nào cả bọn lại lên xe, lúc thì làm cái này, lúc làm cái khác, cũng có khi ngồi tán dóc, trêu chọc nhau cười nghiêng ngả.

Đấy!

Đại loại về cái xe tôi nó thế!

ĐÊM PHÁO HOA ĐẸP NHẤT TRONG ĐỜI

Bắn pháo hoa vào dịp trọng đại như Tết Nguyên đán, lễ mừng quốc khánh hay lễ mừng chiến thắng đã trở thành thông lệ và khá quen thuộc với người dân cả nước.

Tuy nhiên, cách đây hơn 30 năm, những ai có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh tối 30 tháng tư năm 1975, chắc sẽ không quên, tại khu vực bến cảng Sài Gòn đã có một màn pháo hoa mừng chiến thắng khá đặc biệt.

Có một điều thú vị: Tác giả màn pháo hoa ấy chính là cán bộ, chiến sĩ đại đội 4 xe tăng của lữ đoàn 203-những người đã húc cổng, cắm cờ tại Dinh Độc Lập buổi trưa hôm ấy.

14 giờ ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi tình hình ở Dinh Độc Lập đã trở lại bình thường, đại đội 4 của tôi được giao nhiệm vụ chiếm giữ cảng Sài Gòn và kiểm soát tình hình đi lại trên sông.

Ngay sau khi nhận lệnh, đại đội trưởng Bùi Quang Thận lập tức tập hợp đội hình, phổ biến nhiệm vụ tổ chức cho đại đội tăng cơ động về phía cảng.

Lúc này quảng trường trước cửa Dinh Độc Lập và các con đường xung quanh đều đông nghẹt người.

Có thể nói gần như tất cả nam, phụ, lão, ấu của thành phố đã đổ về đây để chứng kiến giờ phút trọng đại của dân tộc.

Từ trong sân dinh đi ra, xe của chúng tôi phải bò từng tí một vì bà con cứ xúm xít xung quanh vẫy chào, chụp ảnh, tặng hoa.

Phải mất một lúc lâu chúng tôi mới qua khỏi đám đông và nhanh chóng tăng tốc độ.

Chừng hai mươi phút sau, chúng tôi đã đến con đường trước cổng cảng (tôi cũng không nhớ tên đường đó là gì).

Một khung cảnh cực kỳ hỗn loạn diễn ra trước mắt: hai cánh cổng ra vào cảng mở toang, hàng đoàn người đang ùn ùn khuân hàng từ cảng ra ngoài.

Người thì súc vải, người thì thùng rượu, người thì tay xách nách mang đủ các thứ lỉnh kỉnh...

Họ đang hôi của!

Mấy chiến sĩ bộ binh ngồi trên xe giương súng AK lên trời bắn chỉ thiên nhưng hình như không có tác dụng gì.

Mọi người chỉ có vẻ vội vã hơn mà thôi.

Xe chúng tôi vẫn nhích chậm chạp vì quá đông người.

Mãi một lúc sau xe đầu tiên mới vào được cổng cảng và nổ một phát pháo lên trời.

Tiếng trọng pháo nổ giữa thành phố nghe thật khủng khiếp và ngay lập tức có tác dụng.

Tất cả mọi người xung quanh vội vã nằm ẹp xuống đất và tản đi.

Cảng bỗng vắng tanh.

Ngay sau khi vào cảng, chúng tôi cho xe tiến sát ra mép cầu cảng.

Những khẩu pháo 100mm hướng xuống mặt sông đầy uy lực.

Trên cầu cảng rải rác còn vài chiếc xe du lịch đổ ngổn ngang.

Chắc là của những người giàu hay quan chức di tản bỏ lại.

Dưới sông chỉ có một tàu vận tải loại nhỏ đang neo tại cầu tàu.

Chúng tôi yêu cầu những người còn đang ở trong cảng ra ngoài hết rồi đóng cổng lại.

Chỉ mất khoảng mười phút, đại đội tôi đã hoàn toàn làm chủ cảng Sài Gòn.

Ít phút sau, hai chiếc tàu kiểu sà lan tự hành chạy từ phía hạ lưu lên.

Chúng tôi vẫy nhẹ tay, hai chiếc tàu đã lập tức bẻ lái cặp sát vào cầu cảng.

Những người chủ tàu lên bờ trình báo: "Tàu của họ là tàu dân sự nhưng bị chính quyền ngụy trưng dụng đi phục vụ chuyển quân.

Tuy nhiên, trưa nay lính tráng đã bỏ chạy hết nên bây giờ họ đang trên đường về nhà".

Khi hỏi: "Tại sao trên tàu nhiều súng như vậy?" họ cho biết: "Lính Việt Nam cộng hòa khi tan rã đã bỏ lại tất cả súng ống, đạn dược và cả quần áo nữa".

Sau khi kiểm tra các loại giấy tờ thấy đúng như họ nói, chúng tôi đồng ý sẽ cho họ về nhà nhưng yêu cầu họ phải đưa tất cả các loại vũ khí dưới tàu lên bờ.

Nhìn thấy hai hòm pháo sáng còn nguyên để trong góc ca-bin tôi yêu cầu đưa lên bằng hết.

Một trong những thứ mà tôi quan tâm nhất lúc này là pháo sáng Mỹ.

Những quả pháo sáng có vỏ là một ống nhôm gần bằng cổ chân, một đầu là hạt nổ, một đầu là nắp đậy được dán kín bởi băng keo.

Với kết cấu như vậy dù có ngâm nước cả tháng nó vẫn không hề gì.

Khi sử dụng chỉ việc bóc băng keo ra, lồng cái nắp vào đáy ống và dập mạnh xuống đất.

Thế là một quả pháo sáng sẽ vọt lên.

Nhờ có dù nên pháo sáng sẽ lơ lửng trên không chừng vài ba phút, soi tỏ một diện tích khá rộng.

Hôm trước, khi tiến đánh Ngã ba Thái Lan dưới Long Thành bắt được một chiếc M113 còn nguyên vẹn, tôi cũng đã thu giữ một hòm pháo sáng đưa sang xe mình.

Cũng chẳng có ý định rõ rệt dùng để làm gì mà chỉ là cái ý thích "nghịch ngợm" của một chàng trai mười chín, đôi mươi mà thôi.

Tôi đã là "thủ kho" pháo sáng.

Lúc này thì tôi có trong tay những ba hòm.

Đợi một lúc nữa không có tàu nào qua lại, anh Thận phân công lái xe tăng ở lại cảnh giới, còn lại đi nấu cơm và thu dọn khu vực kho.

Cả một dãy mười cái kho rộng mênh mông cửa mở toang.

Hàng hóa đã bị những người hôi của khuân đi khá nhiều nhưng còn "bát ngát".

Thôi thì đủ thứ thượng vàng, hạ cám, có những kiện hàng to như cả gian nhà, nhỏ thì cái bát, đôi đũa đều có nhưng có lẽ nhiều nhất là vải vóc.

Vì đã được giáo dục rất kỹ về kỷ luật chiến lợi phẩm nên chúng tôi chỉ xin phép nhặt mỗi xe mấy thứ lặt vặt, một ít đồ ăn uống và ít vải để lau xe.

Thấy đống rượu và mực khô xếp cao chất ngất, mấy anh lớn tuổi xin phép khuân vài thùng về xe.

Sau mấy ngày toàn lương khô, nước lã, bữa cơm đầu tiên ngày chiến thắng có đồ hộp Mỹ, lại được ăn bằng bát sứ và đũa son trên cầu tàu lộng gió.

Bữa ăn thật ngon lành.

Tôi bỗng se sắt nhớ anh em mới đây thôi còn chia bánh lương khô bên suối nay đang nằm lại bìa rừng.

Cơm nước xong, chúng tôi kéo nhau ra sát mép cầu cảng ngồi.

Ở đó có một đống gỗ súc vứt ngổn ngang.

Gần hai chục anh em kẻ đứng, người ngồi trên súc gỗ điểm lại tên những người ngã xuống suốt chặng đường từ ngoài Bắc vào tới đây, nhắc chuyện quê hương và nhớ những người thân ở quê đang ngóng đợi.

Ai cũng nghĩ chỉ ít ngày nữa là mình sẽ được về quê.

Chiều ngày hoà bình đầu tiên trên bến cảng thật bình yên.

Mặt sông, những dề lục bình trôi lững lờ.

Gió thổi mát rượi xua tan hết những mệt nhọc của hơn một tháng trời ròng rã chiến đấu từ Huế vào đến Sài Gòn.

Hai anh trung đội trưởng Trị và Tráng thì thầm gì đó với đại đội trưởng Thận rồi chạy ù đi, chúng tôi chỉ thấy đại đội trưởng gật đầu và tủm tỉm cười.

Một lúc sau đã thấy hai anh khệ nệ đem về hai chai rượu Na-pô-lê-ông và mấy con mực nướng (đã xin phép).

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy những con mực to như vậy-con nào con nấy phải bằng cái quạt nan.

Trung đội trưởng Trị mở nút chai rượu rót đầy vào cái bát đưa cho đại đội trưởng.

Mùi rượu thơm lan tỏa.

Anh Thận nâng cao bát rượu và nói:

- Nào, bây giờ đại đội ta sẽ uống rượu mừng chiến thắng!

Nói rồi anh ngửa cổ uống một ngụm, bát rượu được chuyển sang cho chính trị viên Toàn, đại đội phó Phượng rồi lần lượt đến chúng tôi.

Tôi cũng làm một ngụm to, bị sặc ho khù khụ.

Mặc dù vậy chúng tôi đều thấy lâng lâng, không hiểu vì men rượu hay vì niềm vui chiến thắng.

Chiều xuống dần.

Mặt trời đã lặn hẳn.

Hoàng hôn Sài Gòn tím thẫm trông thật lạ.

Chợt nhớ đến ba hòm pháo sáng ở xe tôi đề xuất:

- "Đại trưởng" ơi!

Mình bắn pháo sáng mừng chiến thắng nhé!

Anh Thận tỉnh như sáo:

- Có pháo sáng à?

Tôi đáp:

- Xe em có ba hòm.

Tổng cộng là một trăm hai mươi quả.

Đại đội trưởng Thận mừng rỡ:

- Thế thì đem ra đây!

Bao nhiêu năm mới có ngày hôm nay, không mừng sao được.

Ai nấy háo hức tự cho mình cái quyền được tôn vinh ngày trọng đại này.

Tôi gọi pháo thủ Thọ cùng về xe khuân pháo sáng đến.

Ba hòm pháo sáng được khui ra, tôi chia cho mỗi người mấy quả.

Anh Thận bảo:

- Tất cả mở nắp ra!

Đợi lệnh của tớ mới được đập nhé!

Lúc này anh như trẻ lại hàng chục tuổi, tôi đã từng phụt pháo sáng, nhưng sao lúc này tim cứ rộn ràng đập.

Cả thành phố sẽ hướng về đây.

Đợi mọi người sẵn sàng anh Thận mới hô:

- Hai, ba!

Gần hai chục cánh tay cùng dập mạnh xuống.

Chỉ nghe những tiếng "vút", "vút" rồi gần hai chục quả pháo sáng nở bừng trên bầu trời tím thẫm.

Một góc Sài Gòn bừng sáng, mặt nước sông lung linh phản chiếu lên càng làm cho chùm ánh sáng thêm huyền ảo.

Chúng tôi sung sướng ngước nhìn và reo hò đến vỡ họng.

Anh Thận giục chuẩn bị rồi hô tiếp.

Lại một loạt nữa được bắn lên.

Loạt trước chưa tắt hẳn được loạt sau tiếp sức ánh sáng càng rực rỡ.

Chợt ai đó lên tiếng:

- Bắn thế này thì nhanh hết lắm!

Có lẽ phải bắn từ từ thôi.

Đại đội trưởng Thận đồng ý:

- Bây giờ ngồi thành vòng tròn.

Bắt đầu từ tớ rồi lần lượt từng người nhé.

Nào bắt đầu!

Nói rồi anh dập mạnh tay xuống.

Chỉ thấy những tiếng vút, vút nối nhau.

Trên bầu trời tím thẫm những quả pháo sáng lần lượt bừng nở, quả này vừa tắt đã có quả khác bắn lên.

Cả một góc Sài Gòn bừng sáng, chúng tôi reo hò đến khản cổ.

Đó đây một vài quả pháo sáng được bắn lên như phụ họa cùng bữa tiệc pháo sáng của chúng tôi.

Buổi bắn pháo sáng của đại đội tôi kéo dài đến gần ba mươi phút.

Bầu trời khu vực cảng Sài Gòn như ban ngày và ngập trong tiếng reo hò của mấy chục lồng ngực trẻ.

Cho đến giờ, đã ba mươi mấy năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên cái vùng ánh sáng lung linh, huyền ảo ấy.

Đã từng chứng kiến nhiều cuộc bắn pháo hoa ở nhiều nơi, nhưng với lính đại đội 4 và tôi, đêm pháo sáng mừng Đại thắng trên bến cảng Sài Gòn 30 tháng 4 năm 1975 là đêm pháo hoa đẹp nhất.

Xin nói thêm với các bạn: câu chuyện này đã được đăng báo QDND và một số báo khác đăng lại dịp 30.4 năm ngoái.

Tuy nhiên, có một chi tiết xin được bổ sung thêm:không phải bọn mình hết pháo sáng nên dừng bắn mà thực ra là cơ quan quân quảnở khu vực đó cho người vào yêu cầu dừng bắn.

Tuy vậy bọn mình cũng đã tiêu thụđược hơn trăm quả và cũng đã tạo được một màn pháo hoa khá ấn tượng rồi.

Có lẽđó là màn pháo hoa "độc nhất vô nhị" đấy, các bạn nhỉ?

-----

Sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi lữ đoàn 203 được lệnh rút ra Long Bình củng cố đơn vị.

Ngày 21 tháng 7 năm 1975 tôi nhận quyết định đi học tại Trường sĩ quan Thiết giáp.

Ra đến trường, sau mấy tháng tham gia lao động xây dựng cơ sở vật chất đến tháng 3 năm 1976 khoá II đào tạo sĩ quan chỉ huy Tăng Thiết giáp của chúng tôi mới chính thức khai giảng, tôi được biên chế về Lớp IIĐH1, đại đội đào tạo thuộc Tiểu đoàn Hai của nhà trường.

Vốn là một chiến sĩ lái xe tăng có thâm niên hơn 3 năm lại đã trải qua chiến đấu nên việc học tập của tôi khá thuận lợi, ngoài ra tôi còn tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao của đơn vị.

Với năng khiếu sẵn có của mình tôi được chọn vào đội tuyển bóng đá và bóng ném của nhà trường để tham gia các giải đấu của Binh chủng và khu vực.

Trong Chương trình đào tạo sĩ quan có nội dung tham quan các Viện bảo tàng Lịch sử, Viện Bảo tàng Quân đội và một số cơ sở sản xuất ở Hà Nội.

Đang tuổi trẻ, vừa lớn lên đi bộ đội ngay nay được về Thủ đô tham quan ai cũng háo hức nhưng tôi và một vài đồng chí nữa không được đi vì bận tham gia Giải bóng đá của Binh chủng.

Sau ba ngày tham quan về cả đại đội ai cũng phấn khởi, những câu chuyện xung quanh chuyến tham quan cứ "nổ như ngô rang", mấy tên không được đi cứ há hốc mồm ngồi nghe chuyện mà thèm thuồng và ao ước.

Bỗng Vương Văn Hiên- một đồng đội cùng từ 203 ra học sĩ quan chỉ vào tôi:

- Này!

Quê (bộ đội xe tăng chúng tôi vẫn hay gọi nhau như thế) là vinh dự nhất đấy nhé!

Tôi cứ nghĩ hắn nói về việc được tham gia đội bóng của nhà trường nên gắt gỏng:

- Đá bóng chứ có gì đâu mà vinh với dự!

Hiên trợn mắt:

- Không phải!

Cả đại đội này chỉ mình quê là có ảnh ở Bảo tàng Quân đội mà lại không vinh dự à?

Tôi cảnh giác nghĩ rằng bọn hắn đang cho mình "ăn quả lừa":

- Nói tào lao!

Mình làm gì mà lại có ảnh ở đấy được.

Đến lúc này Nguyễn Lưu Du (hiện là Chánh văn phòng Học viện Lục quân) mới gặng tôi:

- Quê có tham gia chiến đấu giải phóng Đà Nẵng không?

Đúng là đại đội tôi có tham gia đánh Đà Nẵng ngày 29 tháng 3 năm 1975 nên tôi trả lời ngay:

- Có chứ!

Cả bọn ồ lên:

- Thế thì đúng rồi!

Mặc dù chỉ thò có mỗi cái mặt lên thôi nhưng đúng là "quê" rồi.

Vương Văn Hiên còn nói rõ thêm:

- Lúc đầu tớ cũng chưa tin lắm nhưng rồi gọi cả bọn lại xem, càng nhìn càng thấy giống.

Tớ cũng biết đại đội ấy có đánh Đà Nẵng nên khẳng định ngay đúng là quê rồi.

Có đúng không các "quê" ?.

Cả bọn đồng thanh hưởng ứng:

- Đúng rồi đấy!

Hôm nào về đấy mà xem!

Tôi vẫn "bán tín, bán nghi" nhưng cũng thấy "sương sướng" trong bụng và nghĩ thầm: "thế nào cũng phải về xem có đúng không".

Đã định như thế nhưng rồi mãi đến nghỉ Hè năm 1977 tôi mới về thăm Bảo tàng Quân đội được.

Vừa bước chân vào khu trưng bày hiện vật bảo tàng tôi đã thấy người run lên khi nhìn thấy chiếc xe tăng 843 sừng sững ngay trước cửa (hồi ấy xe 843 còn để ở ngoài)- đây chính là xe của đại đội trưởng Bùi Quang Thận và khi lái xe Lữ Văn Hoả phục viên tháng 6 năm 1975 tôi đã thay Hoả lái xe này cho đến ngày đi học.

Tôi bước nhanh vào khu vực trưng bày về cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 và người tôi lại một lần nữa run lên trước bức ảnh "Xe tăng ta tiến vào giải phóng Đà Nẵng".

Bức ảnh khá to, mỗi chiều phải hơn 1 mét, trên ảnh là 4 chiếc xe tăng xếp thành hàng dọc đang hùng dũng tiến giữa phố phường Đà Nẵng, trong đó xe tôi là xe đi đầu.

Tôi khẳng định điều đó vì nhìn rõ trưởng xe Nguyễn Đình Luông đứng hẳn lên trên cửa trưởng xe và khuôn mặt anh thì không lẫn vào đâu được.

Các bạn tôi đã nói đúng: mặc dù ngồi ở ghế lái xe chỉ thò chưa hết khuôn mặt lên nhưng tấm ảnh được chụp rất nét và vẫn có thể nhận ra đó là gương mặt của tôi.

Tôi chợt nhớ ra tất cả.

Ngày 18 tháng 3 năm 1975 từ vị trí trú quân ở Bắc sân bay A- Lưới (Tây Huế) đại đội tôi nhận lệnh đi chiến đấu.

Sau hơn hai ngày hành quân chúng tôi đã có mặt tại Động Truồi và phối thuộc cho bộ binh đánh chiếm cứ điểm Núi Bông.

Ngày 25 tháng 3 chúng tôi tiến công đánh chiếm Huế và truy kích địch ra cửa Thuận An, sau đó được lệnh chốt giữ tại đó.

Một giờ sáng ngày 29 tháng 3 chúng tôi được lệnh cấp tốc lên đường đi đánh Đà Nẵng.

Ngay lập tức đại đội tôi xuất phát và cơ động với tốc độ cao theo Quốc lộ 1.

Tầm 9 giờ sáng chúng tôi đã đến Lăng Cô, phía trước đã nhìn thấy đèo Hải Vân sừng sững và ai cũng nghĩ rằng chẳng mấy chốc mình sẽ có mặt tại Đà Nẵng để giải phóng thành phố lớn nhất miền Trung này.

Nhưng thật không may: khi địch rút quân chúng đã kịp phá cầu Thừa Lưu nên chúng tôi đành nằm lại chờ công binh khắc phục.

Đến quá trưa ngầm vẫn chưa làm xong, chúng tôi liều cho xe tăng bò qua cây cầu đường sắt trên thượng lưu và nhanh chóng vượt đèo Hải Vân vào đánh chiếm Đà Nẵng.

Tuy nhiên do phải nằm chờ quá lâu nên khi chúng tôi đến Đà Nẵng đã gần tối, một số đơn vị của ta đã đánh chiếm các vị trí quan trọng từ chiều.

Đại đội tôi được lệnh đánh chiếm và chốt giữ Thương cảng Bạch Đằng- một vị trí quan trọng án ngữ toàn bộ hoạt động đi lại trên Sông Hàn và là đơn vị xe tăng duy nhất nằm ở nội đô thành phố Đà Nẵng trong những ngày đầu giải phóng.

Chúng tôi được biết Đà Nẵng là một thành phố khá phức tạp, tính từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng đến lúc đó là hơn một trăm năm thì thành phố này chỉ được sống dưới chế độ dân chủ cộng hoà có mấy chục ngày hồi Cách mạng tháng Tám; đây cũng là mảnh đất đầu tiên trên đất nước ta bị những đơn vị chiến đấu của quân đội Mỹ đặt chân lên và ngay cả Tết Mậu Thân 1968 ta tiến công đồng loạt hàng chục thành phố, thị xã nhưng cũng không vào được thành phố này.

Đến nay mặc dù đã được giải phóng nhưng tình hình cũng còn rất căng thẳng, hàng chục ngàn quân lính, công chức nguỵ quyền vẫn còn ở lại và chưa biết họ sẽ có những phản ứng gì.

Vì vậy nhiệm vụ của đại đội tôi là rất quan trọng.

Sáng hôm 30 tháng 3 trời đột nhiên đổ mưa, một cơn mưa rào đến và đi đều rất đột ngột.

Tầm 8 giờ sáng mưa tạnh, đại đội tôi được lệnh đi vào trung tâm thành phố.

Chúng tôi đoán rằng mục đích chính là để thị uy biểu dương sức mạnh nhằm trấn áp những mưu đồ chống đối ngay từ khi còn trong trứng.

Toàn đại đội (thực ra lúc đó chỉ có 4 xe: 380, 381, 386 và 390) xếp thành một hàng dọc; khi đi vào trung tâm thành phố thì xe 386 của đại đội trưởng Thận đi đầu, xe 380 của tôi đi cuối; khi đi từ trung tâm thành phố ra thì xe tôi lại đi đầu và xe anh Thận đi sau cùng.

Thành phố ngày đầu giải phóng nhưng vắng như "chùa Bà Đanh", người dân không có sự vồ vập với Quân giải phóng như ở Huế, hình như họ còn chờ đợi, nghe ngóng thêm rồi mới tỏ thái độ.

Lúc về đến gần Bảo tàng Cổ vật Chàm tôi có thấy một người đứng bên hè phố giương máy ảnh lên chụp nhưng rồi cũng không để ý đến nữa.

Chắc chắn tấm ảnh này đã được chụp lúc đó.

Khi khẳng định chắc chắn đó là ảnh của đại đội mình và xe mình tôi rất muốn xin một tấm làm kỷ niệm nhưng hỏi người hướng dẫn ở Bảo tàng thì chỉ được biết những thông tin rất sơ lược về nguồn gốc bức ảnh và cũng không biết tác giả là ai, ở đâu nên tôi đành chịu.

Một hôm tình cờ thấy ở trang bìa một cuốn tạp chí có in bức ảnh đó tôi đành cắt lấy và giữ làm kỷ niệm của riêng mình.

Đến khi Bảo tàng Tăng Thiết giáp được thành lập tôi lại thấy có treo bức ảnh này.

Tôi đã kể lại cho đồng chí giám đốc và anh chị em nhân viên bảo tàng nghe về xuất xứ của bức ảnh và nguyện vọng không thực hiện được của mình.

Sau khi xác minh đúng là sự thật đồng chí Việt đã tặng tôi một phiên bản của bức ảnh và hiện vẫn được gia đình tôi treo ở một vị trí trang trọng trong nhà.

Cho đến nay tôi vẫn chưa biết tên tác giả bức ảnh này là ai nhưng tôi luôn biết ơn anh vì đã giúp tôi lưu giữ lại một khoảnh khắc trên con đường chiến đấu của mình.

Xin kính chúc anh luôn mạnh khoẻ và có nhiều tấm ảnh đẹp cho đời.

Nóichung, đó cũng là một may mắn phải không các quê.

Chỉ tiếc không nhìn rõ mặtcho lắm.

----

Đà nẵng đã giải phóng được mấy ngày, đại đội tôi vẫn nằm lại quanh khu vực Bảo tàng cổ vật Chàm.

Tình hình thành phố đã khá yên ổn, nhịp sống đã trở lại tương đối bình thường nên bọn tôi cũng đỡ căng thẳng hơn và bắt đầu được phép đi thăm thú thành phố- một thành phố vô cùng xa lạ đối với những người lính miền Bắc chúng tôi.

Thế là cái ba lô vùi sâu trong góc tháp pháo được dịp lộn ra, và những bộ quần áo mới nhất còn "thơm mùi chính phủ" được bóc tem đem ra chưng diện.

Cả những đôi quân hàm binh nhất, binh nhì cũng được nâng niu cài lên ve áo.

Những đôi quân hàm gần như còn mới tinh vì từ khi nhập ngũ cánh lính xe tăng chúng tôi gần như suốt ngày đêm lấm lem trong bộ quần áo công tác sặc mùi dầu mỡ lăn lộn ngoài baĩ tập, riêng tôi đôi quân hàm mới chỉ được dùng đúng một lần cái hôm đi chụp ảnh để gửi về nhà,

Trang phục chỉnh tề rồi, vai khoác AK, cứ từng nhóm hai, ba người chúng tôi đi dạo phố.

Thực ra cũng chẳng dám đi xa, chỉ loanh quanh vài dãy phố quanh đấy, trong khi đó tai cứ phải dỏng lên nghe ngóng tình hình.

Nhưng có một điều không bình thường là chẳng hiểu sao mọi người nhìn chúng tôi với một cái nhìn rất lạ, họ nem nép lánh xa mỗi khi chúng tôi gần tới rồi xì xào với nhau điều gì đó, nếu không thể tránh được thì cúi chào rất lễ phép.

Tệ hơn nữa, bọn tôi đều làng nhàng hăm hai, hăm ba tuổi mà họ cứ một điều ông, hai điều ông, khác hẳn với thái độ mà chúng tôi đã biết mấy ngày trước đó.

Bởi vì từ hôm vào giải phóng Đà nẵng đến nay đại đội tôi vẫn chốt giữ xung quanh khu vực này, mấy ngày đó bà con đến tìm hiểu, thăm hỏi rất đông và mỗi chiến sĩ của đại đội tôi đều trở thành một "tuyên truyền viên bất đắc dĩ", phải giải đáp hàng nghìn câu hỏi của bà con về đủ thứ trên đời.

Qua mấy ngày tiếp xúc đó bà con đã bớt nghi ngại và tỏ ra khá thân thiện với chúng tôi.

Thế mà hôm nay tình hình lại khác hẳn.

Thấy vậy, chúng tôi quyết định quay về.

Về đến chỗ đỗ xe cũng thấy khang khác, bác chủ nhà mà mấy hôm nay xe tôi vẫn xin nước nấu cơm, vẫn vào nhà uống nước cũng tỏ ra khúm núm và xa lạ thế nào ấy.

Chúng tôi quyết tâm phải làm rõ vấn đề nên đi thẳng vào nhà, bác chủ nhà chắp tay khúm núm " Mời các ông vào xơi nước".

Quái lạ, từ hôm vào đây đến giờ cả nhà bác vẫn gọi chúng tôi là các anh Giải phóng kia mà, sao hôm nay lại trịnh trọng thế.

Chưa biết vào đề ra sao lại thấy bác xuýt xoa " Nhiều tướng thế này Giải phóng làm gì chả thắng.

Mà sao toàn tướng trẻ vậy."

Mắt thì cứ như dán vào ve áo bọn tôi.

Chúng tôi ngớ ra nhìn nhau và chợt hiểu- đôi quân hàm binh nhất, binh nhì với ngôi sao bạc trên nền phù hiệu đỏ tươi trông quá giống- mà lại còn oách hơn- quân hàm của tướng một sao, hai sao quân nguỵ, vì vậy bà con tưởng lầm chúng tôi đều là tướng và điều đó giải thích tại sao họ có thái độ kỳ lạ vừa rồi.

Các quê có công nhận phù cấp hiệu kết hợp binh nhất,binh nhì của mình "rất oách" không?

----

những năm chiến tranh còn ác liệt hầu hết đồng bào bỏ bản làng ở dưới thấp hoặc gần đường tuyến để lên núi cao sinh sống, lúc ấy để vào bản quân ta có khi phải mất nửa ngày đi bộ.

Nhưng chỉ sau hiệp định Pa- ri ít ngày là họ lại trở về chốn cũ ngay.

Như mình đã nói, bà con rất rạch ròi: "Mình không đổi với bộ đội đâu!

Có giúp nhau thì giúp thôi".

Tuy nhiên, cái "thước đo" của đồng bào thì cũng muôn hình vạn trạng- có vẻ như theo nhu cầu tức thời của họ mà thôi.

Vì vậy nhiều lúc chết cười đi được: có thằng mang cái áo Tô Châu còn "thơm mùi chính phủ" vào thì chỉ được bà con giúp "nhõn" con gà con bằng nắm tay, không cả bằng một cái gương soi con con lấy ra từ hộp dao cạo;D

Nhưng có một thứ có hiệu suất rất cao mà bọn mình tình cờ phát hiện được.

Số là trong một lần đi phép anh Trị quê Thanh Hóa có đến nhà mấy đồng hương TNXP đang đóng ở gần đấy để thăm hỏi.

Khi trả phép anh có mang quà gia đình gửi vào cho chị em nhưng không may, đơn vị đó đã chuyển ra ngoài rồi.

Gói quà để lăn lóc mãi không có người nhận nên cả hội bàn nhau mở ra xem thử, may ra có tý mà "ca cóng" (cải thiện).

Nhưng thật không may, trong đó chỉ có một gói bồ- kết và 2 cái... xu- chiêng.

Các quê tre trẻ bây giờ không biết chứ cái của nợ này ngày ấy nó "hoành tráng" lắm.

Nó được may chần bằng nhiều lớp vải và cái đỉnh núi thì nhọn hoắt, cứng như được gò bằng tôn ấy, mà càng cứng thì càng tốt.

Thất vọng, mấy tên đang định vứt đi thì một tên có sáng kiến: "Cứ đem vào bản xem sao, biết đâu lại kiếm được gùi sắn về mà ca cóng".

Nhưng thật không ngờ!

Vừa nhìn thấy cái "của nợ" này em Kan P. mừng như bắt được vàng và ra lệnh cho người nhà bắt cho các anh hai con gà "hết lớn" (nghĩa là to đến mức không thể lớn được nữa- từ của đồng bào đấy).

Sau này tìm hiểu bọn mình mới biết bà con ở đây vẫn thiên về mẫu quyền, người có tiếng nói quyết định trong gia đình là người phụ nữ.

Tuy nhiên, có lẽ ở dân tộc Pa- Kô này có điều đặc biệt là những cô con gái lớn là người quan trọng nhất trong nhà và mọi người nhất nhất phải tuân theo.

Vì thế, những gì liên quan đến cuộc sống của cô con gái này sẽ có giá trị cao nhất.

Biết thế nhưng đến lúc ấy lại chẳng có gì để đổi nữa.

Chẳng lẽ lại nhắn về ngoài Bắc báo gia đình gửi cho mấy cái ấy!

Nhưng đấy là thời bọn mình thôi.

Còn bây giờ chắc chịem trong ấy toàn xài hàng Thái xịn ấy chứ!

---

Khu vực trú quân mới của tiểu đoàn xe tăng 408 nằm ở phía Bắc sân bay A- Lưới, cách sân bay chừng 5 cây số.

Đó là một dãy đồi thấp tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cách đường 14 khoảng 40 phút đi bộ.

Từ đường 14 đi vào gặp trước hết là đại đội Ba, đi sâu chừng nửa cây có một ngã ba, đi thẳng thì lên tiểu đoàn bộ, rẽ trái là về đại đội Bốn.

Toàn tiểu đoàn hình thành thế chân vạc, mỗi đại đội cách nhau chừng cây rưỡi, hai cây số.

Tiểu đoàn bộ và đại đội Ba dùng chung nước của một con suối lớn bắt nguồn từ dãy A- Bia, còn đại đội Bốn dùng nước của một con suối nhỏ phía sau quả đồi.

Con đường vào tiểu đoàn lúc đầu chỉ là đường mòn của bà con dân tộc, hai bên là bạt ngàn lau lách, xe tăng cứ bám theo đường mòn đi đi lại lại mấy lần thành một con đường khá rộng rãi.

Về đến vị trí trú quân mới công việc đầu tiên vẫn là làm hầm người, hầm xe- cái điệp khúc muôn thuở của lính chiến trường khi đến một nơi ở mới.

Tuy nhiên các yêu cầu lần này cũng khác trước: hầm hào phải được xây dựng cơ bản, vững chắc hơn, đối với hầm xe còn phải làm lán che mưa nắng, ngoài ra yêu cầu về mặt thời gian cũng đỡ căng thẳng hơn, dẫu sao cũng đã có hoà bình rồi, khả năng không quân nguỵ với tới đây hầu như không có.

Vì vậy Ban chỉ huy đại đội quyết định để từng trung đội tập trung làm xong cho xe này mới làm đến xe khác.

Cũng may, đã sang mùa khô, lính tráng mắc võng ở đâu cũng ngủ được.

Để thực hiện công việc đúng tiến độ thời gian mỗi trung đội được chia làm ba tổ: một tổ đào hầm, một tổ đi lấy gỗ dựng lán và một tổ cắt tranh.

Kể ra thì công việc cũng không khó khăn gì lắm: gỗ ngay sau nhà, tranh thì phải đi xa hơn một chút mới dài và đẹp.

Đến lúc này tay nghề của Phong "dại gái" mới được thể hiện rõ nhất, cậu được cử làm tổ trưởng tổ mộc của trung đội Hai, gỗ chặt về cứ để đấy, một mình cậu đo đo, đạc đạc, cắt mộng, khoét ngoàm, cây to làm cột, cây nhỏ làm kèo, đòn tay, đống nào xếp ra đống ấy đến lúc lắp vào cứ vừa như in.

Bên trung đội Một tình hình có vẻ khó khăn hơn vì không có thợ cả, tổ thợ mộc cứ cãi nhau ỏm tỏi cả lên nhưng đến lúc lắp vào lại không khớp, cứ phải chỉnh đi chỉnh lại mãi.

Thế rồi đâu cũng vào đấy cả, quãng nửa tháng sau thì bảy cái xe tăng đã nằm gọn trong lán, Đề còn bắt các xe xuống suối khuân đá về để lát hai băng xích nữa chứ.

Nhìn hệ thống lán xe của đại đội ai cũng phải khen: "có kém gì khu xe chính quy ngoài Bắc đâu!".

Đang túi bụi với hầm với lán thì biên chế của đại đội có những thay đổi rất quan trọng: chính trị viên Quản Đức Đán và đại đội phó kỹ thuật Nguyễn Văn Đề có lệnh trở về trung đoàn nhận nhiệm vụ khác, chính trị viên phó Vũ Đăng Toàn và trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn Lê Phượng lên thay.

Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Nam được bổ nhiệm chính trị viên phó, Lê Xuân Tự thay anh làm trung đội trưởng trung đội Hai, vị trí trung đội phó trung đội Một do Mai Hồng Trị đảm nhiệm.

Lái xe Thái được điều về làm trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn, kỹ thuật viên Tuyết và pháo thủ Lê Tiến Hùng cũng được điều về trung đoàn nhận nhiệm vụ khác, người lên thay Tuyết làm kỹ thuật viên là Phùng Đình Liên, lái xe 380 thay Liên là Trang.

Pháo thủ Độ "híp" và pháo hai Đạt do sức khoẻ yếu được đưa ra Bắc điều trị.

Để thay thế các vị trí bị "khuyết" đại đội Bốn được bổ sung một số thành viên kíp xe từ đại đội Ba sang, đó là: lái xe Lê Tiến Thọ, pháo thủ Nguyễn Văn Bùi, pháo hai Phạm Văn Chỉnh.

Buổi chia tay số anh em chuyển đi diễn ra thật cảm động, dẫu sao họ cũng đã gắn bó với nhau hơn một năm trời, đã chia sẻ cùng nhau mọi thứ- kể cả cái sống và cái chết.

Bữa liên hoan chia tay chỉ khá hơn bữa cơm thường hàng ngày một chút, chẳng có rượu cũng chẳng có hoa nhưng đậm đà tình cảm.

Khô khan như chính trị viên Đán, rắn rỏi như đại đội phó Đề cũng rơm rớm nước mắt, còn Đạt thì khóc thật sự.

Thay mặt cho số anh em được điều động đi Đán phát biểu:

- Bản thân tôi đã có hơn chục tuổi quân, đã qua nhiều đơn vị nhưng những ngày tháng sống ở "xê Bốn" là những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Chắc là tôi sẽ không sống và hoàn thành nhiệm vụ được nếu không có sự yêu thương đùm bọc, sự giúp đỡ nhiệt tình của anh em toàn đại đội ta.

Trước lúc ra đi không biết nói gì hơn, chỉ biết thay mặt toàn thể số anh em phải xa đơn vị đợt này chúc các đồng chí ở lại luôn mạnh khoẻ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Còn tất cả những gì không phải xin anh em bỏ quá cho!

Tất cả mọi người lặng đi, có gì mà không phải.

Tính từngày rời miền Bắc mới có một năm mà ai cũng tưởng đã sống với nhau hàng thế kỷ,chỉ thầm chúc các anh ra ngoài ấy có cuộc sống tốt đẹp, dễ dàng hơn so vớinhững ngày qua.

Như vậy, sau khi về đến A Lưới đã có 6 cán bộ, chiến sĩ rời khỏi đại đội 4 đi nhận nhiệm vụ mới.

Số phận 6 anh em này cũng khác nhau nhưng rất may không có ai hy sinh.

- Chính trị viên Quản Đức Đán về lữ đoàn bộ một thời gian rồi ra Bắc, sức khỏe anh vốn yếu nên sau này ra quân hơi sớm.

Cách đây gần chục năm anh đã mất vì bệnh gan- chắc là có liên quan đến những tháng năm sốt rét ở chiến trường.

- Đại phó kỹ thuật Nguyễn Văn Đề tiếp tục làm công tác kỹ thuật trong các đơn vị xe tăng và sau này về hưu (trung tá hay thiếu tá gì đó).

- Pháo hai Bùi Văn Đạt do yếu sức khỏe nên ra quân sớm, pháo thủ Hoàng Văn Độ (Độ híp) về công tác ở Trường HSQXT2 cho đến khi về hưu.

Kỹ thuật viên Tuyết thì không rõ sau này thế nào.

- Pháo thủ Lê Tiến Hùng- còn gọi là Hùng Xuyến (vì có người yêu là Xuyến) sau này trở thành trung đội trưởng của đại đội 3, tiểu đoàn 1.

Xe của anh chính là chiếc xe đầu tiên vượt qua cầu SG tiến vào nội đô.

Tuy nhiên, khi đến cầu Thị Nghè thì bị trúng đạn, xe cháy, Hùng và một chiến sĩ trong xe bị thương.

Vết thương khá nặng tưởng không thể có con Nhưng thật may chuyện ấy đã không xảy ra.

Hiện anh đang công tác tại NM Giấy Bãi Bằng.

Và tiếp theo là những công việc ở vị trí trú quân mới tại A Lưới:

Công việc tiếp theo sau khi hoàn thành hầm xe, lán xe là xây dựng doanh trại.

Họp chi bộ chính trị viên Vũ Đăng Toàn nêu vấn đề:

- Hoà bình rồi cũng phải cho bộ đội ăn ở đàng hoàng hơn, chứ ngủ võng ngủ hầm mãi thì khổ quá; rồi phải tăng gia sản xuất lấy rau, lấy thịt bổ sung vào tiêu chuẩn ăn, lính xe tăng mà 5,6 lạng gạo một ngày thì đánh nhau sao nổi.

Rồi còn hoạt động văn hoá văn nghệ, xây dựng nề nếp chính quy và huấn luyện nâng cao trình độ bộ đội cũng bắt đầu phải tính đến.

Hội nghị chi bộ hoàn toàn nhất trí sẽ tiến hành xây dựng doanh trại trước, đồng thời cho tranh thủ phát một ít rẫy để kịp mùa vụ và bàn biện pháp thực hiện thật cụ thể để đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật và thời gian.

Ban chỉ huy đại đội kéo nhau đi xác định cụ thể vị trí từng ngôi nhà: nhà ban chỉ huy đại đội ở trung tâm thẳng cổng ra vào, hai bên là nhà ở của hai trung đội, phía bên trong gần nguồn nước là nhà bộ phận "xê bộ", nhà ăn và nhà bếp, một cơ số đạn mới nhận về được chia làm hai kho để khuất trong rừng.

Để đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật đại đội thành lập một tổ kỹ thuật do Phong "dại gái" làm tổ trưởng chịu trách nhiệm thiết kế, đục đẽo và dựng nhà, các lực lượng khai thác vật liệu do các trung đội tự đảm nhiệm theo yêu cầu của tổ kỹ thuật.

Được phụ trách tổ kỹ thuật Phong hãnh diện lắm, nhưng phải công nhận tay nghề cậu ta rất khá, mọi người ai cũng bảo: "tay nghề thế ở ngoài Bắc có thể đi kiếm cơm thiên hạ được rồi".

Khác với hồi làm lán xe chủ yếu là chặt ngoàm và buộc, lần này Phong yêu cầu: "nhà phải làm tám mái, trên thì dốc mới thoát nước được nhanh và đỡ hỏng tranh; hai bên hiên thì làm mái vẩy vừa đẹp vừa sáng nhà; vách thì ken bằng sặt đảm bảo vừa đẹp vừa bền vừa thoáng".

Căn nhà đầu tiên được dựng lên là nhà bếp và nhà ăn, đại đội trưởng Thận bảo:

- Cứ phải lo cho chắc cái bụng đã.

Căn nhà bốn gian, gian đầu làm bếp, còn ba gian làm nhà ăn được dựng ngay bên con suối bốn mùa róc rách, cũng đủ cả cột cái, cột quân, cột hiên, kèo chính, kèo vẩy, khung cửa chính, cửa sổ...

Tất cả đã đục đẽo sẵn nên chỉ một buổi là dựng xong, tranh đã được bộ phận phụ trách về cái lợp cắt về phơi và đã đánh thành từng phên xếp ngay bên cạnh.

Lợp xong nhà đến làm vách, sặt đã được bộ phận khai thác mang về, mấy anh em đang còn sốt không làm được việc nặng chỉ việc chẻ ra và ken vào các khuôn đã được lắp sẵn.

Lúc này bộ phận dựng nhà lại chuyển sang nhà khác.

Cứ thế, nhà đại đội, nhà hai trung đội, nhà "xê bộ" lần lượt được dựng lên.

Nhà đại đội ba gian, hai gian đầu được ngăn ra thành bốn phòng riêng cho các thủ trưởng, ở giữa có một gian làm phòng họp.

Nhà các trung đội làm bốn gian, gian đầu ngăn ra cho hai cán bộ trung đội, ba gian còn lại là nơi nghỉ của bộ đội gồm mấy chiếc giường được ghép bằng tre.

Ròng rã gần một tháng thì cơ ngơi của đại đội đã hoàn chỉnh, ban chỉ huy đại đội thở phào nhẹ nhõm, chính trị viên Toàn hỉ hả:

- Công nhận bộ đội mình cũng tài thật, cái gì làm cũng được.

Chả trách người ta gọi quân đội là trường đại học tổng hợp.

Còn đại đội trưởng Thận chỉ im lặng, không biết anh đang tính toán những gì trong đầu.

Nhà dựng xong thì mấy cái rẫy đã phát dạo trước cũng đã khô, mấy chuyên gia về nương rẫy như Định, Phong, Thành đều cho rằng đã đến lúc đốt, ban chỉ huy đại đội nhất trí và giao việc này cho Định phụ trách, riêng Phượng vẫn băn khoăn:

- Các ông đốt thế nào thì đốt đừng để nó lan vào lán xe là được.

Ngày đốt rẫy, sau khi xem hướng gió Định bắt mọi người phải bắt đầu châm lửa từ phía cuối gió, mấy tướng người đồng bằng cự thì hắn nhăn răng cười:

- Các cậu không biết, nếu đốt xuôi gió thì trời đất này, cây khô thế này lửa chỉ cháy ào ào bên trên thôi, mai đi phát lại ốm xác.

Còn nếu đốt ngược gió lửa mới cháy âm ỉ, đảm bảo mai ra chỉ có tro và tro thôi.

Quả đúng như vậy, giữa thời tiết mùa khô oi ả mà ngọn lửa cháy rất từ tốn, cháy đến đâu sạch đến đấy, ngay cả những chỗ phát rối cây còn tươi hoặc mầm lau lách mới nhú lên cũng cháy bằng hết.

Sau một ngày lúc âm ỉ, lúc bùng lên réo ù ù, nổ đôm đốp hai cái rẫy đã hình thành.

Chỉ thấy một lớp tro dày phủ trên mặt đất, xắn nhẹ xẻng xuống là một lớp đất đỏ ba dan tơi vụn ra như đã được đổ ải, đó đây những thân cây lớn không cháy hết nằm rải rác được quân ta khiêng ra xếp thành hàng rào chắn thú rừng quanh rẫy.

Ban chỉ huy đại đội quyết định cái rẫy ngoài cổng vào rộng hơn một mẫu sẽ để trồng sắn, trồng ngô; còn cái rẫy nằm ở phía sau nhà ăn, cạnh con suối nhỏ hơn thì để trồng rau.

Nhìn cái rẫy trồng sắn rộng mênh mông mấy tay nhà nông chính hiệu như Tập, Thanh, Nghị đều phàn nàn:

- Rộng thế này thì cuốc bao giờ cho hết!

Lại vẫn Định phải giải thích:

- Không phải cày cuốc gì hết!

Cứ như cách của đồng bào mà làm chứ cày cuốc lên rồi đánh luống như các ông thì chỉ một mùa mưa là trôi hết màu.

Thế là lại phải tập huấn về phương pháp trồng sắn: cứ hai người một lối, người đi trước cầm cuốc cuốc một nhát lật đất lên thành hốc, người đi sau bê một rổ hom sắn thả hom vào hốc rồi dùng chân lấp lại.

Còn trồng ngô thì bỏ túi một ít hạt giống, tay cầm cái cọc nhọn đầu, chọc một nhát lại bỏ một hai hạt ngô xuống lỗ rồi lấy chân lấp lại.

Bán tín bán nghi chẳng biết rồi nó có sống được hay không nhưng cứ làm.

Mấy tên còn chép miệng: "cứ làm đi, không lên được thì trồng lại; nước sông công lính mà".

Bên rẫy rau thì buộc phải làm cẩn thận hơn, các gốc cây được đánh đi hết, đất được cuốc lên rồi đánh luống cẩn thận, trên quân khu đã cấp về mấy túi hạt rau muống và rau cải trắng Trung Quốc.

Rẫy được chia làm ba phần cho hai trung đội và "xê bộ", từ nay sẽ quy định chỉ tiêu tăng gia rau hàng tháng đối với từng bộ phận.

Ai cũng hí hửng vì từ nay sẽ đỡ cái đận luồn rừng đi cải thiện, mà thực ra mấy tháng nay rau rừng ở xung quanh đơn vị cũng đã cạn cả rồi.

Thế rồi như có một phép màu, chỉ sau một tuần trong những cái hốc vẫn sạm màu tro bụi ấy đã lấm tấm những chấm xanh của mầm sắn, mầm ngô, những cái mầm thật mập thật khoẻ trông sướng con mắt.

Chẳng chăm bón, chẳng nước tưới mà nó lớn nhanh như thổi, vừa hôm trước hôm sau ra đã thấy khác rồi.

Đến lúc này mọi người mới công nhận đất rẫy mới tốt thật, chả trách gì đồng bào các dân tộc rẻo cao lại thích du canh du cư.

Bên rẫy rau những hạt rau muống, rau cải cũng đã nẩy mầm, các vỏ thùng lương khô nay được cải tiến thành ô- doa tưới rau khá tiện: chỉ cần đục thủng cái nắp thùng làm gương sen, lấy đầy nước vào rồi đậy nắp chặt dốc ngược lên là sẽ có mưa nhân tạo ngay.

Đất rẫy mới đầy màu mỡ, người tích cực chăm chút lại gặp thời tiết thuận lợi cả rẫy rau lớn nhanh như thổi.

Một số thứ quân trang không dùng đến cũng được anh emđem đi dân vận để đổi lấy mấy mái gà.

Lúc đầu quân ta không biết cứ thật thàđòi "đổi", bà con dân tộc Pa-kô, Tà-ôi nhất quyết không chịu đành phải vềkhông.

Mãi sau mới biết phải nói là: "bộ đội giúp đồng bào cái áo, còn đồng bàogiúp bộ đội cái gì đó" mới được việc.

Hay thật!

Thế là cạnh nhà mỗi trung độicó thêm cái chuồng gà, những chú gà của đồng bào trước nay chỉ chuyên tự kiếmăn nay được chăm chút trông màu mỡ hơn hẳn.

Sau ngày hiệp định Pa- ri được ký kết, công tác tiếp vận từ Bắc vào đã thuận lợi hơn nhiều.

Xe ô tô có thể chạy cả ban ngày nên tốc độ cũng như lưu lượng hàng vận chuyển được tăng cao vì thế tiêu chuẩn bộ đội được bảo đảm.

Các rẫy tăng gia cũng đã bắt đầu cho sản phẩm nên đời sống bộ đội đã được nâng lên rõ rệt.

Cái đói, cái rét đã bị đẩy lùi nhưng chính trị viên Toàn cảm thấy hình như vẫn thiếu một cái gì đó, có lẽ đó là không khí của đơn vị còn trầm lắng quá chăng?.

Anh bàn với đại đội trưởng Thận và hai người đi đến quyết định phải có biện pháp để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của bộ đội.

Công việc đầu tiên được chọn là phải làm sân bóng.

Khoảng đất trống trước cửa nhà trung đội Một được chi đoàn thanh niên phát động mấy buổi lao động xã hội chủ nghĩa đã được phát quang, đánh gốc và san lấp đã hình thành một sân bóng chuyền, chiều chiều tiếng hò hét, tiếng đập bóng đã làm huyên náo cả một góc rừng.

Đến bây giờ mới hé lộ bóng dáng của những ngôi sao: đại đội trưởng Thận té ra cũng là một cây đập có hạng, anh đập không mạnh nhưng "khôn bóng" nên hiệu quả rất cao, Sáu Bùi hoá ra không chỉ ăn khoẻ mà còn là một cây tiến công chủ lực với những cú đập búa bổ, cậu ta vênh vang: "nếu đấu bóng chuyền theo kíp xe thì xe 386 sẽ nhất binh chủng".

Có lẽ thế thật vì xe ấy cả Chỉnh híp và Thọ đen đều chơi được.

Sau sân bóng chuyền đến sân bóng đá.

Mất hơn một tuần lao động ngoài giờ cái sân bóng đá mới hình thành, tuy mỗi bề chỉ ba bốn chục mét nhưng cũng có thể đá "gôn tôm" được.

Vừa mới làm xong sân bóng đá đã hút hết cả người, đại đội trưởng Thận hoá ra là một tiền đạo cánh có tốc độ rất nhanh và đôi chân khéo với những đường đi bóng cực kỳ lắt léo.

Còn Trang thì khỏi nói, cậu được dịp thể hiện sở trường của mình và trung đội Một của cậu thường là đội thắng.

Ra sân bóng chuyền giờ chỉ lèo tèo vài mống nên đại đội lại phải lên lịch quy định ngày thì chơi bóng chuyền, ngày thì chơi bóng đá.

Không chỉ đại đội Bốn làm sân bóng mà đại đội Ba rồi tiểu đoàn bộ cũng làm nhưng chỉ làm được sân bóng chuyền.

Hoá ra đội bóng của họ cũng chẳng yếu: trên tiểu đoàn thì có tiểu đoàn phó Phạm Ngọc Bảng là cây đập chủ công, còn bên đại đội Ba thì Hải "xoăn" là linh hồn của đội.

Các trận đấu trong tiểu đoàn diễn ra thường rất căng thẳng, thắng bại chỉ được quyết định bởi những tỷ số hết sức sít sao.

Cả tiểu đoàn chỉ có hơn trăm người nhưng đội tuyển bóng chuyền cũng đã có tên tuổi trong khu vực, trong các trận giao hữu hay giải đấu chính thức đội bóng chuyền của tiểu đoàn xe tăng 408 đã thi đấu hoàn toàn ngang ngửa với các trung đoàn công binh, cao xạ và chỉ chịu thua đội bóng của sư đoàn 324.

Tiểu đoàn về vị trí này được mấy tháng thì một bản của bà con dân tộc Pa- kô cũng về định cư ngay bên cạnh.

Đó chính là bản A- lê- nốc- quê hương của hai người anh hùng Hồ Vai và Kan Lịch.

Nghe bà con nói chuyện mới biết: ngày xưa họ cũng đã từng ở đây, nhưng vì chiến tranh phải chạy tít lên núi cao, bây giờ hoà bình rồi lại về đây ở cho đỡ khổ cái chân.

Nhìn những gương mặt đen đúa, những thân hình tiều tuỵ, những hàm răng bị cà không còn răng cửa, những đứa bé bụng ỏng đít vòn... không ai không cảm thấy mủi lòng nhưng có lẽ không mấy ai biết cũng chính những con người ấy đã một lòng một dạ theo cách mạng.

Họ sẵn sàng ăn sắn, ăn lá cây quanh năm để dành gạo cho bộ đội và chỉ một bản nhỏ mấy chục nóc nhà này mà có đến hai người anh hùng.

Trong cái bản nhỏ ấy cũng có hai cô gái khá xinh, đó là Kan Hường và Kan Pia.

Kan Hường người thanh mảnh, có khuôn mặt khá đẹp và chắc là đã tiếp xúc nhiều với bộ đội, thanh niên xung phong nên ăn diện như người Kinh.

Còn Kan Pia đậm người, cô vẫn ăn mặc theo lối của đồng bào, khuôn mặt không xinh như Kan Hường nhưng toát lên vẻ hồn nhiên và chất phác.

Đã hàng năm trời không được ở với dân, không thấy bóng con gái nên lính ta khoái lắm, cứ rỗi rãi lại mò ra bản và dập dìu nhất vẫn là hai túp lều của Kan Pia, Kan Hường.

Pháo thủ Phong dạo này chịu khó lắm, hết giờ làm việc lại thấy cậu một mình lỉnh ra cái lán xe 387 nằm khuất nẻo sau đồi đục đục, đẽo đẽo.

Ai hỏi làm gì cậu ta cũng chỉ nhăn răng cười trừ.

Độ một tuần sau thì đã nhận ra bóng dáng một chiếc giường gỗ.

Phải công nhận Phong khéo tay, chỉ độc con dao quắm với cái tuốc- nơ- vít sắt mài sắc mà cậu ta đã biến mấy mảnh gỗ đã xẻ sẵn từ hồi làm nhà thành một chiếc giường như được bào đục hẳn hoi.

Phong còn xin y tá Tảo ít qui- nin về hoà nước quét cho cái giường màu vàng ươm trông thật thích mắt.

Mọi người cùng bàn tán: "thằng này sao chơi trội thế, cả đại đội nằm giường tre ghép mà nó lại định nằm giường gỗ à?".

Nhưng rồi một hôm cái giường biến mất, những người quan tâm đến sự kiện này hỏi Phong chẳng trả lời mà cứ tủm tỉm cười.

Sự việc chỉ được sáng tỏ sau hôm chủ nhật quân ta vào bản phát hiện ra: chiếc giường vàng choé mà Phong đã lao tâm khổ tứ suốt nửa tháng trời đang hiện diện ở một vị trí trang trọng trong nhà Kan Pia.

Ai cũng bảo: "Đúng là Phong dại gái", riêng Phong vẫn chẳng hé răng điều gì nhưng ra chiều mãn nguyện lắm.

Không biết có ai gợi ý hay không mà một hôm trung đội trưởng trung đội Hai Lê Xuân Tự nói nhỏ với chính trị viên Toàn:

- Trong khu uỷ có mấy cô hát dân ca Huế hay lắm, mình đóng quân ở đây mà không biết hát dân ca xứ này thì cũng không hay, sắp tới tiểu đoàn tổ chức hội diễn văn nghệ, nếu biết hát dân ca ta cũng sẽ có món "độc chiêu".

Hay là ta mời họ về dậy cho anh em mình mấy buổi.

Gì chứ sáng kiến này được chấp thuận ngay và thế là Tự được cử làm "đại sứ" đi liên hệ.

Ngày hai "em" Thu Sen và Thu Lượng cùng với mấy anh trên khu uỷ về đại đội dạy hát dân ca trở thành một ngày trọng đại đối với đại đội Bốn.

Dẫu nước da vẫn còn tái mét sau những trận sốt rừng hai cô gái Huế vẫn là trọng tâm chú ý của mấy chục cặp mắt sáng như đèn ô tô mở hết cỡ.

Có gì lạ đâu, trừ mấy cô gái dân tộc ngoài bản A- lê- nốc thì hơn một năm rồi đây là lần đầu tiên họ được gặp con gái, được nghe tiếng nói tiếng cười con gái mà lại là gái Huế chính hiệu.

Lẽ ra chỉ một số hạt nhân văn nghệ được lên học hát nhưng rồi tên nào cũng kiếm cớ để ngồi há hốc mồm ra nghe thì ít mà nhìn là chính, Tráng và Tự thì như bắt được của, cứ lăng xa lăng xăng chăm chút cho các em từng ly từng tý.

Thì ra các điệu "lý" hay "hò" của dân ca Huế cũng không khó hát cho lắm.

Chỉ hai buổi được hướng dẫn mà lưng vốn của anh em trong đại đội cũng đã có gần chục điệu hò, điệu lý như "Hò giã gạo", "Lý mười thương", "Lý con sáo", "Lý ngựa ô"....

Vốn sáng ý nên Trang nhập tâm ngay và chỉ sau hai ngày thụ giáo cậu đã thuộc lòng các làn điệu.

Trang còn nhận ra một điều là các điệu hò, điệu lý chủ yếu dựa trên nền thơ lục bát và thế là cậu nảy ra ý định sáng tác một vở ca kịch dựa theo dân ca Huế.

Nghĩ là làm, cứ rỗi rãi Trang lại ngồi hý húi ghi chép, gạch xoá.

Một tuần sau vở ca kịch mang tên "Đường dây ai nối" của cậu đã ra đời.

Đại để câu chuyện như sau: đường dây điện thoại giữa tiểu đoàn bộ và đại đội Bốn bị đứt không liên lạc được, cả hai bên đều cử chiến sĩ đi nối dây.

Đúng lúc đó có hai bố con đồng bào Pa- kô đi rẫy về qua, người bố thì bảo kệ họ, cô con gái thì quyết tâm nối giúp, sau khi tranh luận một lúc thì ông bố cũng đồng ý.

Họ nối dây xong thì cũng bỏ đi luôn, hai anh lính thông tin hai đầu chạy lại gặp nhau nhưng không thấy đứt chỗ nào.

Câu chuyện bây giờ quay sang một góc độ khác là tìm xem ai là người nối dây.

Thực ra nội dung của nó không có gì đặc biệt, tình tiết cũng đơn giản... nhưng cái đặc sắc của nó là được diễn tả bằng dân ca Huế nên Toàn, Nam, Tự đều rất tâm đắc và quyết định sẽ dàn dựng để tham gia Hội diễn văn nghệ của tiểu đoàn sắp tới.

Và đúng là trong Hội diễn đợt đó vở ca kịch "Đường dâyai nối" đã giành giải đặc biệt.

Quản lý Minh đã đảm nhiệm một cách xuất sắc vaicô con gái, mỗi tội giọng hát giả tiếng con gái chưa đạt lắm.

Hợp "vâu" trongvai ông già Pa- kô cũng được, giống hệt cả ngoại hình lẫn giọng nói.

Còn haivai chiến sĩ do Tự và Nghị đóng thì không còn gì phải nói nữa, người xem chỉhơi có ý kiến chiến sĩ Tự điệu quá.

Sau hội diễn tiểu đoàn cũng quyết định sẽnâng cấp vở này và sẽ đưa đi hội diễn cấp trên nếu có dịp.

---

Chè Thu Sen

Những ai đã từng chiến đấu ở mặt trận Trị Thiên Huế những năm 71-72 chắc đã từng biết đến và vẫn nhớ món chè này.

Đó chẳng phải đặc sản gì song nó đáng nhớ bởi hoàn cảnh ra đời của nó khá đặc biệt.

Hồi ấy, Khu uỷ Trị Thiên có một đoàn văn công xung kích.

Gọi là đoàn cho oai chứ thực ra chỉ có khoảng chục người, vừa làm công việc chuyên môn của cơ quan Khu uỷ vừa kiêm nhiệm diễn viên.

Trong đoàn có 2 nữ diễn viên là Thu Sen và Thu Lượng.

Đó là hai cô gái Huế xinh đẹp và thuỳ mị, như hai bông hoa đẹp giữa rừng và là trung tâm chú ý của tất cả các chàng lính trẻ của quân khu.

Giữa thời chiến tranh bom đạn bời bời, thiếu thốn đủ thứ, nhưng có lẽ cái thiếu thốn nhất với cánh lính trẻ là tình cảm, là tiếng nói, là bóng dáng yêu kiều của các nàng thiếu nữ.

Vì vậy, mỗi khi đoàn đi đến đâu thì ở đó như ngày hội, từ quan đến lính giành tất cả những gì tốt nhất để chăm sóc cho đoàn, đặc biệt là cho hai kiều nữ xinh đẹp kia.

Mùa mưa năm 1972, đoàn đến biểu diễn ở đơn vị X..

Sau buổi diễn, thủ trưởng đơn vị chiêu đãi đoàn một nồi chè thập cẩm, nghĩa là loại chè tổng hợp, được nấu bằng đỗ xanh, bột lương khô và tất nhiên là phải có đường kính trắng.

Lúc bấy giờ, thế cũng là sang lắm rồi và có khi đã phải huy động từ kho dự trữ chiến lược ra chứ chẳng chơi.

Dưới ánh lửa nhập nhoà của mấy ngọn đèn bão, cả chủ và khách đều xì xụp, vừa thổi, vừa húp, vừa trò chuyện như pháo rang, chả mấy chốc nồi chè đã vơi đi quá nửa.

Bỗng người ngồi đầu nồi khoắng khoắng cái muôi một lát rồi giơ lên một vật gì đó từ dưới nồi chè.

Câu chuyện tạm ngắt quãng và mọi người đều chú mục vào đó.

Vật lạ được đưa lại gần ngọn đèn bão thì Thu Sen kêu "ối" lên một tiếng và vụt chạy ra giữa trời mưa.

Đó là một chiếc quần lót nữ.

Thì ra, sau khi vượt chặng đường dài dưới trời mưa Tây Huế, trang phục cả đoàn đều ướt sũng và sau khi thay trang phục biểu diễn quần áo ướt phải đem hong trong bếp cho khô.

Mùa mưa ở đây là thế, mưa trắng trời trắng đất hàng tuần, hàng tháng luôn, quần áo ướt không còn cách nào khác phải đem hong trong bếp.

Và một cơn gió tinh nghịch nào đó đã làm cái việc không ai muốn đó.

Và cũng từ đó, món chè Thu Sen ra đời.

Gọi vui thếthôi, chứ các chàng lính trẻ vẫn yêu chiều thần tượng của mình lắm.

Thu Sen saumột thời gian im hơi lặng tiếng, khi hiểu rõ tấm lòng mọi người lại bước lênsàn diễn và đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng những người chiến sĩ giảiphóng của chiến trường Trị Thiên Huế.

Vẻ đẹp của người con gái Huế ấy đã lọtvào mắt xanh của một cán bộ cấp trung đoàn (hình như trung đoàn PX thìphải ) và sau này họ thành vợ chồng.

Ôngchồng sau này cũng trở thành một cán bộ cấp cao rất nổi tiếng nhưng rất khôngmay phải ra đi trong một vụ tai nạn.

----

Chính trị viên tiểu đoàn Phạm Công Đính đi công tác ngoài Bắc vào mang theo thằng cháu ruột là Phạm Văn Huấn đưa về đại đội 4.

Đại trưởng Thận bố trí cho nó lái xe 381 của trung đội trưởng trung đội Một.

Được vài hôm thì mọi người đều biết Huấn đang theo học lái xe cấp 2 tại đoàn 10 nhưng gặp chú ra cứ đòi đi theo vào chiến trường tham gia chiến đấu.

Câu chuyện loang ra, cả tiểu đoàn xôn xao hẳn lên và coi chú cháu ông Đính như một tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Lúc này tiểu đoàn 4 đã nằm ở đây được hơn năm, mọi thứ đã đi vào ổn định.

Nhà cửa, hầm xe, lán xe, vườn rẫy, sân bóng...

đều đâu vào đấy cả.

Sinh hoạt của bộ đội cũng đỡ gian khổ hơn, lời ca tiếng hát cũng ngày một nhiều hơn.

Bỗng dưng ở trung đội Một lại sinh chuyện.

Chiếc đồng hồ Pôn- jốt mới toanh của trung đội phó Trị bỗng dưng không cánh mà bay.

Sau một số buổi sinh hoạt, điều tra cũng không có tăm hơi gì cả.

Đến lúc này mới phát hiện ra, trước đó đã có hiện tượng mất cắp vặt trong trung đội nhưng vì nó quá nhỏ bé nên chẳng ai kêu.

Không tìm được thủ phạm, không khí trong trung đội trở nên vô cùng nặng nề, nghi kỵ lẫn nhau.

Lại xấu hổ với các đơn vị bạn nữa chứ!

Đã thế, sáng hôm ấy đàn gà của trung đội lại thiếu mất con gà mái tơ nặng gần 2 kí đang chuẩn bị nhảy ổ đẻ.

Con gà màu trắng bạc đẹp lắm, ai cũng hy vọng đàn con của nó cũng sẽ đẹp và mau lớn như nó.

Thế mà lại mất!

Tìm mãi chẳng thấy trung đội phó Trị quát tướng lên:

- Hôm qua cậu nào đóng cửa chuồng gà?

Có kiểm tra không?

Lữ Văn Hỏa lên tiếng ngay:

- Báo cáo, tôi ạ!

Lúc sẩm tối qua tôi đóng cửa chuồng, con gà trắng lúc ấy đã có trong chuồng rồi.

Hỏa là người thật thà, chín chắn nên anh đã nói ai cũng tin là đúng.

Trị nhăn nhó:

- Thế thì nó đi đâu được nhỉ?

Chuồng thì còn nguyên, đêm qua cũng không nghe thấy động tĩnh gì!

Thôi, cứ đi làm xe đi đã!

Mọi việc tính sau.

Ra lán xe 386 Hỏa vẫy Trang:

- Này Trang, chú mày có thấy chuyện con gà có gì lạ không?

Trang nhíu mày:

- Công nhận là có chuyện bất thường!

Chồn, cáo thì không phải rồi.

Chuồng trại còn nguyên.

Vậy thì con gì bắt được nó nhỉ?

Hỏa kéo Trang:

- Đi xuống đây với tớ!

Hai anh em lò dò xuống sau khu vực nhà bếp.

Hỏa xăm xăm tiến lại cái hố rác, anh mở nắp ra rồi lấy một đoạn cây bươi bươi mấy cái.

Dưới ánh sáng lờ mờ dưới hố hiện ra một đám lông gà và xương gà.

Chẳng quản bản thỉu anh quỳ xuống túm mớ lông gà và xương gà lôi lên.

Đúng là lông con gà trắng vừa mất tích.

Điều đó còn được khẳng định khi những đầu xương còn dính máu đỏ tươi.

Hỏa khẳng định:

- Chắc chắn có thằng nào ăn vụng đêm qua rồi!- Hai anh em gói mớ lông, xương gà về báo cáo trung đội trưởng.

Nhìn thấy mớ phế thải còn lại của con gà mái tơ Trị sôi cả máu trong người, anh hết lời chửi thằng ăn bẩn rồi mở sổ gắc ra tra.

Người đầu tiên được gọi lên gặp là Thọ F gác phiên 3- 4 giờ (đến 4 giờ gọi người dậy nấu cơm sáng).

Vừa thấy Thọ đến Trị đã nghiêm mặt:

- Đồng chí báo cáo tình hình phiên gác của mình xem có vấn đề gì không?

Thọ ngẩn người:

- Báo cáo!

Đêm qua tôi có gác đâu ạ?

Trị chìa cuốn sổ cắt gác:

- Thế tên ai đây?

Thọ lắc đầu:

- Đúng là có tên nhưng tôi không thấy ai gọi cả!

Người gác trước phiên Thọ là Huấn.

Trị cho gọi ngay lên để đối chứng:

- Đồng chí cho biết tại sao không gọi đồng chí Thọ dậy gác:

Huấn trả lời rất trôi chảy:

- Dạ!

Tôi thấy hôm qua quê Thọ tôi hơi mệt nên tiện thể gác luôn.

Thêm vài câu qua lại nữa Huấn vẫn trả lời rất mạch lạc nên trị bắt đầu bí.

Không biết để ý từ lúc nào Hỏa nắm luôn bàn tay Huấn và nâng lên.

Huấn cố rụt lại nhưng không được.

Mội con mắt chú mục vào bàn tay hằn: xung quanh các kẽ móng tay vẫn còn dính máu.

Hỏa dằn giọng:

- Máu gì đây?

Máu con gà trắng phải không?

Thêm một chứng cứ nữa do quản lý Minh cung cấp: lúc Huấn gọi nó dậy nấu cơm thì bếp vẫn còn nóng.

Đến lúc này thì Huấn phải công nhận chính nó đã xơi con gà trong ca gác đêm qua.

Thêm một buổi họp nữa hắn đã phải ra nhà vệ sinh lấy cái đồng hồ về trả cho trung đội phó Trị.

Hắn cũng công nhận chính mình là thủ phạm những vụ trộm lặt vặt trong trung đội suốt thời gian qua.

Thế là mặt sau của tấm gương đã rõ.

Người xấu hổ nhất không ai khác ngoài chính trị viên Đính.

Rõ ràng, con gà này sạch nhưng cái thằng ăn nó lại là "ăn bẩn" phải không các quê

Nhưng kể ra nó cũng "giỏi" thật- một mình mànó xơi hết sạch con gà gần 2 ký, chỉ để lại có xương và một ít phế thải mà thôi

---

Thấm thoắt mà về vị trí mới đã gần nửa năm, nhà cửa, lán xe đã tương đối hoàn chỉnh, ngoài rẫy tăng gia sắn ngô đã lên đến ngang ngực, rau cũng đã cho thu hoạch lứa đầu.

Cuộc sống ở đây đã có cái gì đó mang dáng dấp thời bình trừ vấn đề trực chiến vẫn được tăng cường.

Giữa lúc đó có khá nhiều tin vui: tiểu đoàn từ nay sẽ không trực thuộc quân khu Trị Thiên nữa mà trở về với đội hình của trung đoàn xe tăng 203.

Lại được trở về trong đội hình binh chủng dù sao cũng thấy "ấm áp" hơn, tiêu chuẩn chế độ chiến sĩ xe tăng được bảo đảm hơn và quan trọng hơn cả là đã bắt đầu thực hiện chế độ đi phép, đi học.

Người đầu tiên của đại đội được đi phép là trung đội trưởng Đậu Minh Tiến- ông cụ thân sinh ra anh bị ốm nặng.

Hôm tiễn anh đi phép trong tâm khảm ai cũng thầm mong rồi đến lượt mình, dù mới xa miền Bắc hơn một năm nhưng ai cũng thấy như là đã xa hàng thế kỷ.

Sau khi đã hoàn chỉnh được doanh trại và các rẫy tăng gia thì công việc tiếp theo cần tập trung là làm kỹ thuật.

Chắc ý định của trên còn lâu mới dùng đến xe tăng ở chiến trường này nên trung đoàn hạ lệnh phải tổ chức niêm xe ngắn hạn.

Thế là trừ chiếc 380 "sứt môi" do có lắp cẩu phải đi phục vụ sửa chữa còn lại tất cả phải niêm.

Thực ra đó cũng là những công việc thường xuyên của lính tráng một binh chủng kỹ thuật nên ai cũng tích cực lắm, riêng cái vụ rửa xích là nặng nhọc nhất và ai cũng ớn.

Để rửa xích phải đánh xe ra khỏi hầm rồi cắt xích ra thành từng đoạn ngắn khiêng xuống suối ngâm và cậy cho bằng hết đất đá ra, sau đó để khô lấy dầu thải bôi vào trông đen bóng như xích mới, chặt lau lách về đặt lên rồi nối lại xong mới cho xe vào hầm như cũ.

Mỗi băng xích là 82 miếng, mỗi xe là 194 miếng, mỗi miếng 12 cân tổng cộng là gần 3 tấn xích một xe.

Băng xích được cắt ra mỗi đoạn 5-6 miếng khiêng xuống suối, lính tăng vốn khoẻ nên nếu bình thường sẽ chẳng vấn đề gì nhưng đằng này tên nào cũng đã qua sốt rét vài bận nên đưa được một đoạn xích xuống suối thằng nào thằng ấy thở cả ra đằng tai.

Đại đội quyết định sẽ tập trung cả trung đội làm dứt điểm cho từng xe.

Mới sốt rét dậy Trang và Thọ "đen" được ưu tiên ngồi cậy đất và rửa xích.

Một cái tuốc- nơ- vít sắt để cậy, một cái bàn chải tự tạo bằng tre để cọ hai anh em cứ tẩn mẩn vừa làm vừa nói chuyện suốt ngày.

Việc cọ rửa ở mặt mắt xích thì khá dễ dàng, riêng cậy đất trong vú xích ra thì không đơn giản tý nào.

Sau hàng nghìn cây số đất đá được lèn chặt vào trong hốc lõm của vú xích muốn cậy ra phải dùng búa đóng vào tuốc- nơ- vít.

Đang lẩn mẩn cậy đất Trang vụt nhổm dậy, Thọ cứ tưởng có con gì cắn nhưng không phải, cậu ta đứng ngây mặt ra rồi tần ngần nói:

- Phí quá!

Tại sao lại phải cậy nó đi chứ!

Thọ ngạc nhiên:

- Thì phải cậy hết đất đá ra mới niêm được chứ!

Trang vẫn bần thần:

- Cậu có thấy không?

Trong mỗi cái vú xích nhỏ nhoi này có dấu ấn của khắp mọi miền đất nước đấy.

Thọ ngồi im ngẫm nghĩ, cậu thấy Trang có lý: quả thật, từ khi xuất xưởng đến nay mới có người cậy đất đá ra nên trong mỗi cái vú xích này chắc chắn có đất đai của tất cả các vùng quê mà những chiếc xe tăng này đã đi qua, không chừng lại còn đất đá của nước bạn nữa ấy chứ.

Thọ reo lên:

- Hay!

Dấu ấn mọi miền đất nước ở trong một cái vú xích!

Nhưng nói thì nói vậy chúng vẫn phải kỳ cạch cậy và rửa cho bằng sạch.

Trong bảy chiếc xe của đại đội thì sáu cái đã được niêm hoàn chỉnh nằm trong lán trông như xe mới, riêng cái 380 của Trang vẫn "cóc cáy" vì có lắp cẩu tự tạo nên phải để làm nhiệm vụ phục vụ sửa chữa trong phạm vi tiểu đoàn .

Hôm nay, xe 380 nhận nhiệm vụ đi lên chỗ xe 388 bị lật để khảo sát tìm cách khắc phục.

Đã lâu mới ra đường tuyến, đường đã được nâng cấp lên nhiều lại được chạy ban ngày Trang điều khiển chiếc 380 lướt nhanh như như một con chiến mã đang hồi sung sức xuôi đường 14 về phía Nam sân bay A- Lưới.

Đại đội phó kỹ thuật Phượng và tổ thợ do Độ "còi" dẫn đầu ngồi tất trên tháp pháo ung dung ngắm cảnh vì Trang xử lý giảm xóc tốt lắm, chưa đầy một tiếng sau xe đã đến chỗ chiếc xe 388 xấu số.

Đây rồi, đã hơn một năm trôi qua, chiếc xe 388 vẫn nằm như một con rùa tuyệt vọng bị lật ngửa lên.

Sau một mùa mưa lau lách đã mọc dày xung quanh xe, cái hố bom oan nghiệt vẫn toang hoác ngay bên cạnh.

Độ chỉ tay về phía một cái gốc cây cụt cách đó vài chục mét:

- Mộ của chúng nó để ở chỗ kia kìa!

Mấy anh em đứng lặng nhìn về hướng tay Độ chỉ, chờ cho cơn xúc động lắng xuống Phượng bảo:

- Làm đi các cậu!

Trước hết phải phát quang xung quanh, sau đó lôi nó dậy rồi mới làm tiếp những cái khác được.

Lau lách nhanh chóng được phát quang, Trang cho xe lùi vào sát xe 388, nó đề nghị nối hai cáp và sẽ kéo ngang cho xe lật lại, mọi người đều đồng ý vì kéo như thế sẽ có lợi nhất về lực.

Cứ tưởng rất khó khăn nhưng hoá ra việc kéo lật xe 388 lại khá dễ dàng, nhờ chọn vị trí có lợi nhất về lực nên chỉ sau một cú giật của 380 cái 388 đã chuyển mình và từ từ dựng đứng lên rồi úp sấp lại trong tiếng vỗ tay của tổ thợ.

Nhưng thật đáng tiếc, chắc là do bị bom hất lên cao rồi quật xuống nên các cụm máy của xe 388 đã bị lệch tâm rất nặng mà khả năng của tiểu đoàn không thể khắc phục được nên Phượng quyết định sẽ tháo tất cả những gì có thể tháo được đem về làm khí tài dự trữ.

Lúc tổ thợ đang làm việc thì Phượng và Trang lò mò đến chỗ cái gốc cây cụt ngọn, chẳng còn gì hết ngoài một bãi đất nham nhở những hố bom và lau lách.

Hơn một năm đã qua, biết bao trận không kích của B52 và máy bay các loại đã dội xuống chỗ này, tưởng rằng bốn đồng đội của các anh đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây nào ngờ cũng không được yên ổn.

Móc bao thuốc lá còn một điếu cuối cùng Trang châm lửa rít một hơi rồi cắm xuống miệng hố bom thay cho nén hương thắp cho bốn người đồng đội.

Đứng lặng một hồi hai anh em quay về xe, chẳng ai nóivới ai một câu nào

Đúng là "khoai đất lạ, mạ đất quen", mới có mấy tháng mà cái rẫy sắn đã tốt um, cây nào cây ấy đã cao ngập đầu, củ đã bằng ngón chân cái.

Nhưng thật xót xa- một góc rẫy đã bị bọn lợn rừng về hỏi thăm, chúng dũi tung lên từng đám.

Tức một nỗi nữa là mỗi gốc chúng lại chỉ ăn qua loa những phần ngon nhất còn thì bỏ lại đấy.

Máu đi săn trong Cát lại nổi lên, tối tối cậu lừ lừ vác súng lỉnh lên rẫy, có ai hỏi đi đâu cũng không chịu trả lời- hình như những người đi săn có một tín điều như thế thì phải.

Cho đến một hôm, vào tầm ba giờ sáng một loạt đạn liên thanh từ rẫy sắn bỗng rộ lên đánh thức mọi người dậy, trung đội Hai ở gần rẫy nhất nhanh chân chạy lên, cả bọn hí hửng khiêng về con lợn gần một tạ.

Cát vác súng đi sau có vẻ tự hào lắm.

Dưới ánh sáng bập bùng của mấy ngọn đuốc dầu đi- ê- den con lợn béo múp nằm bất động như một bao gạo, bỗng ai đó kêu lên:

- Hình như lợn nhà chứ không phải lợn rừng?

Quả thật, con lợn này chẳng có dáng dấp gì của lợn rừng, lông nó mềm mại và mượt mà như vẫn thường xuyên được chăm sóc, tắm gội, người nó thì bầu bĩnh, múp míp chứ không săn chắc và thon dài như lợn rừng.

Xấn vào giữa vạch mép lợn ra nhìn không thấy cái răng nanh nào, trung đội trưởng Tự hốt hoảng:

- Đúng là lợn nhà rồi!

Ban chỉ huy đại đội cũng đã có mặt, quản lý Minh thì bảo:

- Em trông con này y như con lợn của tiểu đoàn ấy!

- Có đúng thế không?- Đại phó Phượng gặng.

- Em cũng không chắc lắm nhưng thấy giông giống.

Thế là một quyết định được đưa ra, cứ để đấy sáng mai xem sao.

Sáng hôm sau, trực ban đại đội gọi điện cho "dê bộ" và "xê Ba" thông báo: có con lợn bị trúng "bẫy súng" ở rẫy sắn của "xê Bốn", đề nghị các đơn vị kiểm tra xem có phải lợn của mình không.

Ngay lập tức trợ lý hậu cần của tiểu đoàn có mặt, anh ta nhăn nhó:

- Thế này thì các ông giết tôi rồi!

Cái Tết này cả tiểu đoàn trông vào con lợn này đấy!

Bây giờ thì biết làm sao đây?

- Rẫy sắn của bọn tôi bị lợn rừng phá bung bét thế kia, săn mãi chẳng được chúng tôi buộc phải gài bẫy súng chứ để thế mãi ai chịu được.

Các ông chuồng trại không cẩn thận để nó sổng ra đi linh tinh vấp bẫy thì các ông phải chịu thôi- Tự liến thoắng tranh luận.

Nghe ra thì Tự cũng có lý nên tiểu đoàn cũng chẳng làm gì được, vui nhất là anh em chiến sĩ toàn tiểu đoàn- tự nhiên được bữa thịt tươi.

Chỉ riêng Cát là tẽn tò, cậu ta ủ ê mất mấy ngày trời và cũng từ bỏ luôn cái máu đi săn.

Rẫy vẫn bị phá, trung đội phó Định xót ruột quá mà động viên mãi Cát không chịu tiếp tục đi săn, bực mình anh xách súng ra kiểm tra chỗ hàng rào vây quanh rẫy bị lợn phá đổ để ngày mai cho làm lại.

Trời mới chạng vạng, nghĩ rằng giờ này lợn vẫn chưa ra nên Định vẫn khoác súng ở vai, lần theo dấu chân của lũ lợn anh tiến dần đến chỗ hàng rào đổ.

Bỗng một tiếng "hộc" hằn học vang lên ngay bên cạnh.

Định quay đầu lại: cách anh chừng chục bước chân là một con lợn rừng to tướng đang lừ lừ nhìn anh như muốn ăn tươi nuốt sống, hai cái răng nanh trắng ởn bằng quả chuối rừng nhe ra thật dữ tợn.

Không biết do cái gì hay bản năng sống còn thúc đẩy mà Định tuột khẩu AK ra khỏi vai và mở khoá an toàn nhanh thế.

Không cần ngắm Định kéo luôn cả băng đạn về phía con lợn, nó vẫn hộc lên lao về phía Định và chỉ đổ vật xuống khi còn cách anh ba bước chân.

Định ngồi thụp xuống, chân tay bủn rủn, mãi sau mới thận trọng tiến lại gần con vật hung hãn kia- con lợn đã chết, hai phát đạn của anh đã bắn trúng đầu nó.

Nghe tiếng súng cả đại đội kéo ra, ai cũng vui mừng vì "thủ phạm" vẫn phá rẫy đã bị bắn hạ, và còn vui mừng hơn vì sẽ được mấy bữa ăn tươi.

Con lợn được khiêng về, móc vào cân thấy nó nặng hơn một tạ.

Định vẫn còn run: "may mà bắn trúng nó ngay từ phát đầu tiên chứ nếu chỉ bắn bị thương hay không trúng thì mình toi rồi".

Qua chuyện này thì lại phải tin vào "số má"thôi .

Thợ săn Cát chịu khó lắm, mỗituần phải vác súng đi vài đêm.

Mà đã đi thì cũng rất "thần bí": khôngnói cho ai biết mình đi đâu, lỡ có gặp ai đó thì lẩn vào bụi để không phải chàohỏi v.v... nhưng rồi chiến tích cũng chẳng có gì đặc biệt (trừ một lần may mắnbắn được con báo ở đường 12, thịt hôi rình).

Còn bphó Định thì thật sự khôngphải là một người ham săn bắn, tay súng cũng chẳng có gì xuất sắc cả.

Thế màlại bắn được con lợn rừng nặng hàng tạ.

Còn ở bên đại đội 3 (cùng tiểu đoàn) cócậu nghe tiếng con hoẵng "tác" gần hầm liền vác AK ra làm một băngrồi đi ngủ.

Gần trưa hôm sau loăng quăng đi ra phía đó thấy một con hoẵng đãchết.

Thật tiếc, cái dạ cỏ của nó bị vỡ ngấm vào thịt nên ăn chán phèo.

Thế thìcó phải đúng là có số không

---

xin kể thêm một chút chuyện đi săn hồi đó nhé!

Các quê có tin rằng có những anh bộ đội mà từ lúc vào chiến trường cho đến lúc hòa bình năm 1975 mà nhiệm vụ chỉ là đi săn hay chưa Có đấy!

Và mình thì đã được gặp rồi .

Hồi bọn mình ở A Lưới có gần một trung đoàn pháo cao xạ- đó là trung đoàn 28 của đoàn 559.

Chỗ đứng chân của họ ngay gần đường tuyến, cạnh con sông A Sáp, phải mất chừng 20 phút đi bộ nữa mới vào đến chỗ bọn mình.

Khi bọn mình vừa làm xong nhà cửa thì có một chàng tên là Tống ở e28 đến xin "ở nhờ" để đi làm nhiệm vụ cho đơn vị, có giấy giới thiệu hẳn hoi.

Một vài hôm sau thì anh em trong đại đội mới biết Tống quê Tuyên Quang và nhiệm vụ của chàng ta là "đi săn".

Không biết lý do tại sao Tống lại chọn đại đội mình để tá túc vì thực ra để đi sâu vào rừng thì cũng chẳng gần hơn được bao nhiêu.

Có lẽ là vì đại đội mình có một số quê ở Tuyên Quang thì phải.

Phải công nhận Tống là một tay thiện xạ, một sát thủ của các loại thú rừng.

Trong thời kỳ ở trọ chỗ bọn mình hầu như tuần nào Tống cũng kiếm được một con gì đó, thường là nai hoặc lợn rừng để cung cấp cho trung đoàn.

Đại đội mình vì cho ở nhờ và thường đi khiêng giúp thú về nên cũng thường xuyên được ăn ké.

Ở với nhau lâu lâu rồi Tống mới "bật mí": "Từ ngày vào chiến trường năm 69 đến lúc bấy giờ chỉ có mỗi nhiệm vụ đi săn mà thôi".

Kể cũng hay, các quê nhể!

Còn trong tiểu đoàn mình cũng có một tay thiện xạ- đó là anh Phạm Ngọc Chu, chính trị viên phó c3.

Bố này người Nam Hà nhưng không hiểu sao bắn tốt thế.

Cứ một mình một khẩu CKC luồn rừng, những con nai bác ấy bắn được đạn đều trúng vào đầu, ngay giữa hai mắt ấy.

Còn một tay thợ săn nữa cũng nổi tiếng không kém- đólà bt Phùng, người Nghệ An.

Bác này chịu khó lắm- cũng y như Cát ấy nhưng hàngchục lần đi cũng chẳng kiếm được con nào cho ra hồn.

Một hôm bác ấy vác súngđi, cũng rất chi là bí hiểm như mọi lần.

Đến nửa đêm ở nhà cứ nghe tiếng súngnổ gióng một.

Không hiểu có chuyện gì anh em bảo nhau đi xem, lại còn mang cảđòn khiêng.

Ra đến nơi thấy bác ấy đang dùng cây sặt chọc một con cu- ly (giốngkhỉ, nhỏ bằng nắm tay) trên chạc cây cho nó rơi xuống.

Té ra, khi bác ấy soiđèn, con cu- ly bắt đèn.

Bác ấy bắn mãi nhưng vãn không trúng.

Điên tiết, bácchặt béng một cây sặt trèo lên chọc cho nó kỳ rơi xuống thì thôi.

Từ lần ấy bácquyét cạch đến già- không bao giờ đi săn nữa

----

BUỔI ĐẦU LÀM QUEN VỚI CHIẾN MÃ THÉP

Ấy!

Được vào binh chủng TG rồi nhưng vẫn lo ngay ngáy không biết mình sẽ được học cái gì.

Phải qua Tết dương lịch 1972 tôi mới biết được đi học lái tăng!

Ôi!

Thật không gì vui bằng.

Cả huyện 43 tên thì có 6 được đi học lái tăng là tôi, Đức (tên này sau lái cái K63- 85 vào dinh ĐL thường xuyên lên phim ấy), Thu (sau này thuộc d512 của 203 cũng vào SG ngày 30.4.75), Ký, Sơn, Hiệu.

Nói thêm với các quê về tình hình tuyển quân năm 71.

Có lẽ đó là năm mà số lượng tuyển quân cao vào loại nhất của cuộc KCCMCN, chắc là để chuẩn bị cho TTC 1972.

Năm đó có 4 đợt tuyển quân.

Đợt 1 ngay sau Tết NĐ.

Đợt 2 là vào tháng 5- ngay trước ngày thi TN của bọn tôi.

Đợt 3- mặc dù nước lụt ngập ngang trời song vẫn có một đợt, đợt này cũng gọi nhiều SV nhất.

Và đợt 4 là tháng 12.

Đợt tháng 12 này cũng đông.

Hôm 05.12 tôi còn đi tiễn mấy thằng bạn cùng lớp nhập ngũ.

Đến 08.12 chỉ có mỗi con bạn (con ông Chủ tịch huyện) đi tiễn tôi.

Bản thân nó thì 15.12 cũng lên đường vào làm lính thông tin của qc PK-KQ ở sân bay Bạch Mai- không biết chị Hà có biết không, nó tên là Nguyễn thị Vân Hồng, năm 1977 về học ĐH Ngoại ngữ.

Thế là 6 thằng tôi cõng ba- lô về cHL ở thôn Đồng Oanh gần chân Núi Đinh của Vĩnh Phú.

Ấn tượng đầu tiên: Sướng!

Không chỉ vì ước mơ thành hiện thực mà còn cả vì bữa ăn trưa hôm đó.

Đang ăn 0,68đ, về đây được ăn 1,00đ- cứ như liên hoan ấy .

Đó là cHL của e202.

Khác với BB, các thành phần TX, PT, LX đều phải được HL chuyên môn riêng rồi mới đưa về đơn vị chiến đấu để HL chiến thuật. cHL này gồm 4 b: 2b HL lái xe, 1 b HL trưởng xe và 1 b HL pháo thủ, mỗi b khoảng 30 người.

Tiểu đội tôi có 10 tên, tiểu đội trưởng kiêm trợ giáo là Mai Văn Tao- người Thanh Hóa.

Tiểu đội phó là Thuyết- người Vĩnh Phú.

Mỗi bác phụ trách 5 tên và 1 cái xe, đồng thời làm trợ giáo (thầy giáo thực hành) luôn.

Đồng chí tiểu đội trưởng của tôi có giai thoại cũng hay.

Một hôm bác ấy trực ban, có điện thoại ở trên xuống hỏi: "Ai đấy?".

Bác ấy cộc lốc: "Tao đây!".

Trên hỏi đi hỏi lại bác ấy vẫn gióng một: "Tao đây!

Nói gì thì nói đi!".

Thế là đầu bên kia dập máy.

Ngay sau đó một cán bộ BTL xuống điều tra "thằng láo toét nào dám xưng tao với quyền tư lệnh BC".

Nhưng rồi bác ấy được trắng án vì bác ấy đúng là "Tao"- chắc cụ thân sinh ra bác ấy cũng có ý định đặt tên con như ông nội chị Cả Hà

Sau bữa cơm trưa như liên hoan mấy thằng tôi mới lò dò lên bãi đỗ xe để xem.

Nhưng vì xe nào xe nấy trùm bạt kín nên hơi chán.

Đúng lúc đó một đoàn xe T34 mới tinh (nguyên màu sơn mới và chưa có số) chạy từ phía Núi Đinh về.

Bọn tôi phấn khởi vẫy tay thật lực.

Mấy xe đầu vẫn chạy thẳng, riêng xe cuối cùng dừng lại.

Xe nhỏ ga.

Từ trong cửa lái xe một cái mặt nhem nhuốc nhưng rất hiền lành thò ra nhoẻn miệng cười: "Gì thế, các chú?".

Thế là bọn này nhao nhao: "Bọn em mới về!

Cho bọn em lên xe nhé!".

Vừa thấy cái đầu gật nhẹ một phát là bọn tôi đùn đít nhau trèo lên và chui vào buồng chiến đấu.

Gớm!

Cái buồng chiến đấu hẹp vanh vanh, bốn bề đụng đâu cũng sắt thép.

Tôi bị va đầu một phát vào đuôi pháo.

Ấn tượng thứ hai: "Chật".

Cả bọn vừa vào hết, anh lái xe quay lại: "Bám cho chắc vào nhé!".

Vừa dứt lời anh ấy đã cho xe chạy.

Bọn này sướng quá hò hét ầm ĩ.

Nhưng xe tăng dần tốc độ và chao ơi là xóc.

Cứ như xóc cua ấy.

May mà anh ấy đã nhắc bám chắc nên cũng chỉ bị va nhè nhẹ.

Tất cả tâm trí của cả bọn lúc này chỉ còn tập trung vào bám cho thật chắc vào tất cả những chỗ nào có thể bám được để đỡ bị bươu đầu.

Ấn tượng thứ ba: "Xóc".

Xe vẫn lao ầm ầm.

Tiếng máy nổ lúc rống lên ầm ầm, lúc dịu đi đôi chút tùy theo chân ga của anh lái xe.

Bọn tôi hét vào tai nhau mà vẫn chẳng nghe thấy gì.

Trong bóng tối mờ mờ chỉ nhìn thấy mấy hàm răng trắng bóng.

Ấn tượng thứ tư: "Ồn".

Cái ụ lắp súng đại liên bên ghế lái phụ đã bị tháo ra nên trống hông hốc (ụ này bình thường lắp khẩu đại liên, nhưng đây là xe HL nên tháo ra để trợ giáo ngồi đấy còn nhìn đường).

Chắc là do quạt gió của động cơ ở phía sau hút nên gió thổi vào đấy ào ào cuốn theo cả một luồng bụi.

Một lúc sau thì về đến bãi xe của đại đội.

Xe dừng.

Bọn tôi chui ra.

Thằng nọ nhìn thằng kia bật cười: đầu tóc, quần áo nhuốm một màu đỏ quạch.

Ấn tượng thứ năm: "Bụi".

Biết chắc rằng sẽ mệt đấy nhưng mấy thằng vẫn cười toetoét.

Có lẽ cái ấn tượng thứ nhất nó bao trùm lên tất cả.

Nghe mấy thằng bàntán sướng với khổ, tiểu đội trưởng Tao cười hềnh hệch: "Cứ đợi đấy rồi sẽbiết!"

Còn đây là những nội dung mà một lái xe phải học:

Theo đúng chương trình bọn tôi sẽ được học thực hành lái tổng cộng 18 giờ máy nổ (các quê nên nhớ một cái động cơ chỉ có 500 giờ bảo hiểm thôi đới).

Sau khi học lý thuyết về cấu tạo, nguyên lý làm việc các thiết bị và quy tắc lái sẽ lần lượt phải trải qua các bài lái:

- Lái cắt xích: Mục đích làm quen với động tác khởi động xe, sử dụng các bàn đạp, cần lái, cần số... như kiểu kê bánh xe ô tô lên để tập lái ấy.

- Lái cơ bản: xe bắt đầu được chạy trên đường bằng, thực hiện các thao tác biến số, căn đường, chuyển hướng, dừng xe, khởi xe v.v...

- Lái phân đoạn chướng ngại vật- Vì là xe chiến đấu, có khả năng việt dã cao nên trong HL phải tập lái qua các chướng ngại vật.

Hồi ấy chúng tôi phải tập lái qua mấy loại CNV sau: vách đứng, vách hụt, sống trâu, chữ Z, cầu vệt bằng, cầu vệt nghiêng.

Lái phân đoạn vật cản là tập cho nhuần nhuyễn động tác vượt qua từng VC một.

- Lái dốc: có cả dốc lên, dốc xuống, dốc nghiêng.

Trên các dốc lại phải tập dừng xe và khởi xe nữa.

- Lái tổng hợp chướng ngại vật: sau khi thành thục động tác qua từng vật cản và dốc rồi thì sẽ được lái một vòng qua tất cả các CNV trên.

Đây là bài lái khó khăn nhất và khi thi cũng sẽ thi bài này (sau khi hoàn thành bài thi lý thuyết).

- Lái hành quân: sẽ tổ chức hành quân trên một đoạn đường mới lạ và dài hơn, chừng vài chục km.

Mỗi tên được lái khoảng 5-6 km.

- Lái bắn, lái trong đội hình chiến đấu- bắt đầu có tý hơi hướng chiến thuật.

- Lái cứu kéo: cho xe xuống bãi lầy rồi tìm cách đưa nó lên bằng tự cứu hoặc kéo nhau v.v...

Tất cả các bài lái trên đều thực hiện cả ngày và đêm.

Sau khi học hết các bài sẽ thi TN- gọi là thi "đạt cấp" vì nếu qua được sẽ được cấp bằng "lái xe cấp 1".

Thi xong rồi có thể được "chuyển K".

Nghĩa là được học loại xe khác.

Còn gọi là chuyển K vì theo kiểu xe lính xe tăng chỉ phân ra làm 3 loại: T34 là K2, các loại T54 là K1, các loại xe bơi là K3 (PT76 là K3a, K63-85 là K3b).

Ngoài ra còn phải học và thực hành bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa các hư hỏng thông thường.

Tổng thời gian một khóa huấn luyện ít nhất phải 3- 4 tháng (hiện nay các Trường HSQ đang huấn luyện 4,5 tháng).

Để phục vụ cho HL bọn tôi được phát mỗi tên 01 bộ quần áo "công tác".

Không biết năm ấy là viện trợ của nước nào- hình như của Hung- ga- ry thì phải.

Vải thì dày và cứng như vải bò, còn bộ nào bộ nấy đều dài và rộng cực kỳ.

Tôi thì còn đỡ chứ mấy thằng nhỏ con phải xắn lên 2,3 gấu mới vừa.

Thời gian lại gấp không đi sửa được nên phải nhờ bà con đính cho vài mũi mặc tạm, trông đến bật cười.

Thôn Đồng Oanh mà bọn tôi ở hồi ấy toàn là dân Nam Hà lên khai hoang quãng đầu những năm 60.

Gần như cả thôn theo đạo nhưng lại không có nhà thờ.

Tuy nhiên nhà nào cũng có bàn thờ Chúa ở trong nhà.

Và như các quê biết, các cô thiếu nữ bên đạo có một cái gì đó thật mê hoặc, nhất là đôi mắt .

Mặc dù là bà con đi đạo nhưng rất thương, rất quý bộ đội.

Tôi và thằng Điểm (Thanh Miện), thằng Ngọt (Kinh Môn)được phân công ở nhà cụ Tư Túc.

Hai cụ có một anh con trai tên Tuất đã đi bộđội, đang ở chiến trường.

Anh đã có vợ là chị Kim nhưng chưa có con.

Chị Kim chiều chúng tôi lắm, có củ khoai củ sắngì cũng để phần.

Nhà còn hai đứa con gái là cái Trung, cái Thành và một trai útlà thằng Chiến.

Chẳng hiểu thế nào mà ba đứa này "quấn" bọn tôi lắm.

Đi tập vềlà chúng nó xúm lại, đứa thì trèo lên cổ, đứa thì ngồi lên lòng... bắt kể chuyệnquê nhà các anh thế nào.

Sau hơn chục năm về gặp lại hai cô em đã con bồng, conmang.

Tôi bảo: "giờ có thích kiệu thì trèo lên đây".

Cả nhà cứ cười rũ ra

Dạy lý thuyết cho bọn tôi chủ yếu là thày Phiệt, nghe đâu thày đã là lái xe cấp 2 (hồi đó lái xe TTG phân ra thành 4 cấp: cấp 1, cấp 2, cấp 3 và "Kỹ sư lái"- theo kiểu Trung quốc).

Phải công nhận thày dạy dễ hiểu, ngôn ngữ rất công nông, giải thích mọi cái đâu ra đấy.

Học lý thuyết xong thì ra ngay xe để đối chiếu và thực hành.

Vì vậy chúng tôi tiếp thu rất nhanh.

Sau mấy buổi học lý thuyết, nắm được sơ sơ các bộ phận bọn tôi được lên xe thực hành tập lái.

Dẫu đã được học về cấu tạo, đã được chui vào xe, đã được nghe tiếng máy nổ... nhưng đến lúc được tự tay ấn vào cái nút khởi động tôi vẫn thấy hồi hộp không sao tả được.

Có lẽ vì hồi hộp quá nên khi chiếc động cơ hơn 500 mã lực vừa gầm lên tôi đã giật mình buông cả tay lẫn chân ga.

Thế là động cơ im tịt luôn.

Tôi hơi sợ nhưng anh Tao nhỏ nhẹ: "Cứ bình tĩnh!

Làm lại lần nữa xem nào!".

Lần này thì tôi đã thành công.

Tiếng máy nổ rồ lên nhưng tôi không giật mình rụt chân ra nữa.

Tôi giữ chân ga ổn định một lát thì at Tao ra hiệu tăng ga, giảm ga.

Tôi tăng hết chân ga, đồng hồ vòng quay nhanh chóng vọt lên trên 2000 vòng/ phút, tiếng máy thì giòn giã thúc giục.

Tiếp đó tôi lại giảm ga, vòng quay máy nổ nhanh chóng lùi về dưới 1000, tiếng máy trầm trầm, ấm áp.

At Tao tiếp tục ra hiệu giảm ga.

Tôi hiểu anh muốn tôi cho máy nổ làm việc ở vòng quay ổn định thấp nhất.

Tôi nhẹ nhàng nâng bàn chân lên từng tý một.

Tiếng máy nổ giảm dần rồi có vẻ rời rạc như sắp chết đến nơi.

Tôi vội vàng nhấn nhẹ mũi bàn chân xuống, máy lại nổ đều đều.

Cứ thế làm đi làm lại vài lần cho đến khi cái cổ chân điều khiển chân ga thật thuần thục.

Đến lúc đó thì at Tao giơ một ngón tay ra- đó là ký hiệu "vào số 1".

Tôi đạp ly hợp rồi kéo cần số.

Tiếng các bánh răng va vào nhau nghe ghê cả tai mà số thì vẫn không vào được.

Bỗng tôi thấy bàn chân anh Tao luồn xuống chỗ chân ga nâng chân tôi lên.

Tiếng máy nhỏ dần và "khậc" một cái.

Thế là tôi đã vào được số.

Sau này mới biết, do trọng tải lớn nên ly hợp của xe tăng là ma sát thép với thép, nó không cắt được động lực triệt để như ô tô nên khi vào số phải sử dụng chân ga thật linh hoạt, phải giảm vòng quay xuống dưới mức ổn định thấp nhất mới dễ vào số.

Lúc đó mình mím môi mím lợi kéo cần số nhưng chân lại cũng ấn mạnh xuống chân ga nên không thể nào vào đwọc.

Nhưng quả thật là cái hộp số K2 (T34) vẫn là nỗi kinh hoàng của lính lái xe.

Sau này ở trung đội tôi có thằng còn vặn gẫy cả cần số mà không vào được số đấy.

Vào được số mấy lần rồi tôi cảm thấy tự tin hơn nhiều và lần lượt sử dụng các thiết bị khác trong buồng lái.

Kết thúc buổi buổi tập thực hành đầu tiên tôi được thày Tao cho điểm "khá".

Các buổi học tiếp theo chúng tôi thực hiện đúng chương trình và tiến bộ rất nhanh, đồng thời cũng bổ sung thêm một số "ấn tượng" nữa.

Xe T34 mà bọn tôi học là xe thế hệ 1, thuộc loại "cổ lỗ sỹ" nên các thiết bị của nó khá thô sơ, không hề có trợ lực nên cực kỳ nặng nề.

Ngoài cái cần số như đã kể trên thì đôi cần lái cũng khó chịu không kém.

Trước hết là nặng- cỡ độ 40- 50 kg.

Nặng đấy nhưng chuyển hướng chưa chắc đã "ăn".

Mắm môi, mắm lợi, dùng cả hai tay kéo rồi mà có khi xe vẫn tồng tộc lao thẳng không chịu chuyển hướng, nhất là khi xuống dốc thì cần lái lại càng không ăn.

Sau này mới biết phải kết hợp cả chân ga nữa thì mới được- nghĩa là trước khi kéo cần lái phải hơi giảm ga, thấy có dấu hiệu chuỷen hướng mới tăng ga lên.

Phải mất mấy buổi nữa cái xe tăng mới ngoan ngoãn theo sự điều khiển của tôi, nhưng kéo cần lái thì vẫn cứ phải mắm môi, mắm lợi mới được.

Các bàn đạp ly hợp, bàn đạp hãm cũng vậy.

Tên nào hơi thấp một tý thì cứ phải căng cả người ra mà đạp mới được.

Chính vì vậy, chỉ sau một hai buổi tập bọn tôi đã thấy ê ẩm cả người.

Và ấn tượng tiếp theo là "nặng nhọc".

Cũng vì là xe thế hệ cũ nên yêu cầu về bảo dưỡng chăm sóc rất cao: cứ xuất xe ra bãi là về phải bảo dưỡng rồi.

Nào là bổ sung dầu, nước.

Nào là điều chỉnh xích.

Nào là làm nhờn 4 điểm v.v...

Mà đụng vào đâu cũng sắt thép, dầu mỡ, lại nóng nữa.

Vì vậy, bộ quần áo công tác đã nhanh chóng biến thành một thứ "mo nang" cứng quèo quèo và thật sự là "hôi như cú" .

Cả bọn chỉ mong đến ngày chủ nhật để giặt giũ.

Thế cho nên ấn tượng tiếp theo là "bẩn" và"nóng".

Trích BT một tý nhé:

"...Vừa tỷ mỷ lau chùi từng bộ phận Hòa vừa tỷ tê nói chuyện với Thắng:

- Này Thắng!

Sao cậu có bộ quần áo công tác mới thế?.

Mắt vẫn không ngừng săm soi từng mảnh xích Thắng vui vẻ trả lời:

- Ôi trời!

Mới mẻ gì!

Sau hôm thi đạt cấp xong em đem ngâm một ngày dưới ao, rồi giặt mất hẳn nửa bánh xà phòng mới được như thế này đấy!

Hôm nay mặc vào thấy sướng cả người.

- Thế đã bị hắc lào chưa?- Hòa hạ giọng.

Thắng nhìn trước nhìn sau rồi mới trả lời vẻ bí mật:

- Sao anh biết?

Đúng là em bị rồi, một mảng to ở bụng đây này, giờ vẫn chưa khỏi.

- Được rồi, để tớ chữa cho- Hướng về xe bên cạnh Hòa cao giọng- Này, bên ấy có cồn i- ốt không đấy...

Thắng vội đứng thẳng lên:

- Chết!

Anh nói nho nhỏ chứ!

Hòa nhăn răng cười:

- Có quái gì mà xấu hổ.

Lính xe tăng không bị hắc lào mới là lạ chứ bị là chuyện bình thường.

Cậu cứ đi hỏi mà xem, một trăm thằng thì bị cả trăm.

Thắng gật đầu công nhận:

- Đúng thật!

Hồi học lái xe tiểu đội em có mười thằng thì cả mười đều bị.

Thế các anh chữa bằng cách nào?

Hòa cười cợt:

- Có gì đâu, cứ lấy nước điếu bôi vào là khỏi hết.

Vẫn lắng tai nghe câu chuyện của hai thành viên Nhã tủm tỉm cười một mình.

Đúng là cái "ải hắc lào" thì gần như trăm phần trăm lính xe tăng phải trải qua.

Hồi mới nhập ngũ anh cũng đã khốn khổ vì nó.

Có gì đâu, mỗi năm được phát một bộ quần áo công tác.

Chỉ sau vài lần rúc buồng truyền động bảo dưỡng xe đã ngấm đầy dầu mỡ, rồi mồ hôi, rồi bắt bụi... nên mới vài tuần đã dày cộp như mo nang và tỏa đủ các thứ mùi.

Chả thế chị em phụ nữ quanh doanh trại 92 có câu ca: "Hoài đời mà lấy lính tăng, Đi ba cây số còn hăng mùi dầu".

Quần áo như thế mà ngày nào cũng phải khoác vào thì đúng như Hòa nói: "không hắc lào mới là lạ".

Biết như vậy nên các thủ trưởng binh chủng rất quan tâm đến căn bệnh này.

Bộ tư lệnh đã chỉ đạo cho ban quân y nghiên cứu kết hợp cả đông tây y để điều trị nên kết quả rất tốt.

Tuy nhiên đối với số lính mới, da thịt còn non tơ, cường độ huấn luyện lại cao nên thường vẫn mắc.

Anh em lại xấu hổ nên hay giấu, bệnh vì thế càng dai dẳng."

Nhưng dù cho những vất vả, những ấn tượng "khônghay ho lắm" ngày một nhiều thêm- tôi và đa số các đồng đội vẫn hăng sayhọc tập và vẫn hết sức quý yêu những con chiến mã của mình.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 6: Hồi ký bác lethaitho - Phần 1


Tổ tam tam

Thọ..

Thọ..dậy đi, dậy đi..

Nghe tiếng thì thào của thằng Minh, tôi nhè nhẹ vén màn ( mùng ) trở dậy.

Nhẹ nhàng và rón rén, tôi cuộn chiếc chăn chiên cho nó giống như hình người đang nằm ngủ, giắt màn cẩn thận, mặc vội bộ quần áo K74 rồi cùng với thằng Minh bước ra ngoài sân.

Trời vẫn còn tối lắm, Tôi và thằng Minh luồn qua hàng rào của Trung đoàn bộ rồi trượt xuống ven con suối nhỏ đi thẳng về phía chiêc cầu Bê tông trên đường quốc lộ 21 từ Xuân Mai đi Sơn tây.

Ngay chân cầu, thằng Long " thần sầu " đã đứng đợi hai đứa chúng tôi từ lúc nào rồi chẳng biết nữa.

Cả ba thằng chúng tôi lùi lũi thẳng hướng Thị trấn Xuân mai rảo bước.

Đằng đông, trời đã dần hửng sáng.

Chiều qua, lúc ăn cơm chiều, ba thằng chúng tôi đã nhất trí với nhau là sáng sớm hôm nay sẽ té về Hà nội.

Chẳng là cách đây ba hôm, toàn trung đoàn đã có lệnh cấm trại.

Đợt này chắc là đi rồi, cách đây hơn 10 ngày, trung đoàn 36 - Trung đoàn Bắc Bắc của F308 - đã xuất quân đợt 1 nhưng toàn là lính cũ thôi, lính 74,75, 76 chứ bọn lính mới 77 chúng tôi thì chưa thấy ai động đến.

Nhưng đến đợt này, chắc chắn chúng tôi không thể thoát được.

Ba thằng bàn nhau " chuồn ", không phải chúng tôi có ý định đảo ngũ đâu mà chẳng qua là muốn đảo qua nhà thăm bố mẹ, anh em trước khi dấn thân vào cuộc chiến, một cuộc chiến mà chúng tôi không lường hết được những gì đang chờ đợi chúng tôi ở phía trước.

Đến Xuân mai, trời đã sáng hẳn.

Không kịp ăn sáng, mà làm gì có tiền mà ăn sáng.

Ba chúng tôi rẽ vội về đường quốc lộ số 6.

Cứ loáng quáng ở đây, mấy thằng vệ binh sư đoàn nó bắt được thì có mà công cốc.

Đi mới được khoảng gần 1 cây số, phía sau chúng tôi xuất hiện một chiếc xe tải.

A..xe dân sự chúng mày ạ.

Thằng Minh hí hửng kêu lên.

Bọn tôi vẫy rối vẫy rít.

Chiếc xe từ từ dừng lại.

Anh lái xe thò đầu ra hỏi :

- Mấy ông đi về đâu?

- Anh cho bọn em về Hà nội với.

- Xe tôi không về Hà nội đâu, chỉ về đến Hà đông thôi.

- Thế cũng tốt quá rồi.

Thằng Long " thần sầu " từ nãy đến giờ mới thốt ra rồi leo tót lên thùng xe.

Xe chạy khá nhanh vì đường cũng vắng.

Khoảng gần 10 giờ sáng, chúng tôi đã về đến Hà đông.

Chúng tôi chia tay bác tài, không quên nói lời cảm ơn và đi thẳng tới bến xe Hà đông.

Ba đứa chúng tôi đi xe bus tuyến Hà đông - Bờ hồ.

Về đến nơi đã gần 11 giờ trưa, ba thằng hẹn nhau đúng 2 giờ chiều có mặt tại nhà của tôi ( Phố Lê Thái Tổ ) để cùng nhau lên đơn vị.

Thằng Minh thì về nhà ở Nguyễn Hữu Huân, thằng Long về nhà ở Phố Hàng Hòm.

Tôi về đến nhà khi cả nhà đã ăn xong cơm trưa.

Mẹ tôi bảo thằng em đun lại món bò xốt vang để tôi ăn với bánh mỳ.

Cơm nước xong xuôi, tôi ngồi nói chuyện với Bố mẹ tôi về chuyến đi sắp tới của chúng tôi.

Ai cũng cảm nhận thấy được mối hiểm nguy ẩn chứa trong chuyến đi ấy mà chẳng ai dám nói thẳng ra.

Hai thằng em trai của tôi vẫn còn quá bé nhỏ ( thằng lớn 14, thằng nhỏ 12 ) để hiểu thấu đáo những gì mà anh chúng nó sắp phải trải qua.

Chúng vẫn hồn nhiên, vui vẻ ngồi nghe, thỉnh thoảng lại tranh giành nhau chí choé.

Thời gian trôi đi thật nhanh, những giờ phút bên gia đình thân yêu chẳng mấy chốc đã cạn.

Long, Minh đã tới thật đúng hẹn, tôi chia tay gia đình.

Mẹ tôi khi ấy đã rất yếu, bệnh tim của Mẹ tôi đã tới thời kỳ tăng nặng nhưng Mẹ tôi vẫn cố gắng tiễn tôi ra đến cổng.

Bàn tay Mẹ tôi nắm chặt tay tôi như không muốn buông rời.

Cố gắng rút tay ra khỏi bàn tay của Mẹ, tôi quay đầu bước đi mà không dám quay lại nhìn Mẹ lần cuối.

Nước mắt nhạt nhoà....Ai mà biết được liệu tôi có còn được gặp lại Mẹ tôi lần nào nữa hay không?

Chúng tôi " bò " lên đến đơn vị vào khoảng hơn 5 giờ chiều.

Ba thằng chúng tôi ngồi bệt trên bãi cỏ trước cổng vào trung đoàn bộ.

Mỗi đứa miên man suy nghĩ mỗi hướng, bỗng thằng Minh lên tiếng :

- Này chúng mày, chuyến đi này tao thấy " lành ít, dữ nhiều " đấy.

Thôi mỗi thằng hãy ghi vào sổ tay những địa chỉ cần báo tin của nhau đi.

Nếu trong ba chúng ta, thằng nào không may hy sinh trước, thằng còn sống phải có nhiệm vụ viết thư báo tin cho gia đình, người thân.

Phải ghi nhớ nơi chôn cất để sau này gia đình còn biết chỗ mà vào thăm.

Ghi chép xong, nào có nhiều nhặn gì đâu.

Tôi chỉ có địa chỉ gia đình, thằng Long cũng vậy, riêng thằng Minh có tới hai địa chỉ, ngoài gia đình ra nó còn thêm địa chỉ của cô bạn gái thân - Cô gái tên lả Minh Nguyệt - Trăng sáng - thằng Minh gọi tên cô gái như vậy, chúng tôi bước chân vào cổng Trung đoàn, thằng nào cũng chắc chắn nhận một án kỷ luật vì tội đào ngũ.

May thay, buổi tối hôm đó chẳng có một án kỷ luật nào được đơn vị đưa ra ngoài sự nhắc nhở nhẹ nhàng của chính trị viên C18 thông tin.

Sáng sớm hôm sau, ban chính trị E36 gọi tôi lên gặp.

Phen này thì " chết chắc ' rồi.

Tôi thầm nghĩ như vậy.

Nhưng không, đồng chí trợ lý ban chính trị trung đoàn vui vẻ pha trà mời tôi uống rồi nói:

- Sắp tới, Trung đoàn sẽ tổ chức buổi lễ xuất quân cho các đồng chí vào trong kia.

Ban chính trị đã quyết định chọn em thay mặt cho toàn bộ anh em chiến sỹ thuộc Trung đoàn ta và hai trung đoàn bạn là 102 và 88 đọc lời tuyên thệ trước Bộ tư lệnh sư đoàn trước khi đi làm nhiệm vụ mới.

Em về chuẩn bị sẵn ra giấy để hôm này phát biểu cho mạch lạc.

Thế là từ lúc đó, chúng tôi cứ cuốn vào công việc.

Nào nhận quân trang bổ xung, nào trả lại quân trang không sự dụng đến.

Sau này chúng tôi mới biết bộ phận quân nhu của E36 thật là láo toét.

Những chiếc chăn chiên ( len tái sinh dệt lại ấy mà ) đã cấp phát cho tụi lính mới chúng tôi là thuộc quân trang niên hạn 5 năm, cấp vĩnh viễn.

Thế mà họ lại ra lệnh thu lại với lý do : Vào trong kia, khí hậu nóng không dùng tới nên họ thu lại, vào trong kia, đơn vị mới sẽ cấp đồ mới phù hợp hơn.

Bi đông, tăng... ( không có võng đâu nhé ) đầy đủ.

Chiều ngày 16.05.1978, những chiếc xe Zin 151, 157 đến đón bọn chúng tôi đỗ chật sân bóng của tiểu đoàn 2.

Tôi nói thêm cho rõ là tổ " Tam Tam " chúng tôi thuộc biên chế của C18 thông tin - E36 - F308.

Khi huấn luyện tân binh, Minh và Long thuộc D1 còn tôi thuộc D2.

Kết thúc huấn luyện chiến sỹ mới, chúng tôi được " nhặt " lên C20 trinh sát.

Huấn luyện ở C20 xong lại bổ xung về C18 thông tin.

Mới có mấy tháng đời quân ngũ mà sao tôi chuyển lắm đơn vị thế không biết.

Nhờ có chút ít kiến thức vật lý học thời phổ thông, tôi được C18 thông tin cho làm trợ giảng về điện và dòng điện cho bọn lính thông tin mới toé toè toe khi học sử dung máy 2W - P 105.

Thế mới có chuyện là tôi được cử thay mặt anh em ra đi làm nhiệm vụ mới đọc lời hứa trước Bộ TL sư đoàn chứ.

Tất cả sự chuẩn bị được hoàn tất vào sáng 17.05.4978.

Đúng 2 giờ chiều ngày 17.05, tất cả chúng tôi tập trung đông đủ tại sân bóng của D2.

Sau lời giới thiệu của chính uỷ Trung đoàn, tôi thay mặt anh em lên hứa hẹn đại ý là Ri rỉ rì ri cái gì cũng hoàn thành tốt, xứng đáng với danh hiệu sư đoàn quân tiên phong anh hùng.

Tôi lên gân rất máu rằng đã đi là đến, đã đến là đánh thắng, không sợ khó khăn gian khổ hy sinh.

Các bạn bây giờ thông cảm cho cái thằng tôi, vừa thôi mài đít trên ghế nhà trường, trong đầu vẫn còn thấm đẫm hình ảnh của Paven Coocsaghin, của Nguyễn văn Trỗi, Nghuyễn Viết Xuân... thì điều đó cũng chẳng có gì là lạ.

Tư lệnh kiêm chính uỷ sư đoàn, đại tá Mai Thuận lên phát biểu căn dặn trước đoàn quân, ông nói rằng bọn chúng tôi vào trong kia không phải tất cả đều đi chiến đấu, có đồng chí sẽ đi làm nhiệm vụ kinh tế.. như trồng cỏ, đi chăn bò, vắt sữa...

Chắc ông sợ nói thật rằng chúng tôi phải đi chiến đấu thì tỷ lệ " lính chuồn chuồn " sẽ cao lên chăng???

15g30, Tất cả lên xe

Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ lên tàu tại ga Thường tín tức là xe đến Hà đông sẽ rẽ phải đi qua Văn điển xuống ga Thường tín.

Chán thật, mấy thằng lính Hà nội lại không được thấy thủ đô lần cuối rồi

Và mưa, mưa... cả đoàn xe lầm lũi đi trong mưa mịt mù trắng xoá.

Có lẽ ông trời cũng thương cảm cho hơn 900 thằng lính chúng tôi chăng?

Bóng đêm đã dần buông.

Về đến thị xã Hà đông, trời ngớt mưa.

Đoàn xe vẫn lao thẳng.

- Ôi trời, không rẽ phải à?

Cả đám lính tiểu đội tôi ồ lên sung sướng.

Về Hà nội rồi, về ga Hàng cỏ rồi !!!

Không còn nghi ngờ gì nữa, tuyến hành quân đã có sự thay đổi.

Thay vì xuống ga Thường tín nay đổi lại thành ra ga Hàng cỏ để lên tàu.

Đám lính Hà nội sung sướng hò reo ầm ĩ.

Đoàn xe lướt qua phố phường, đây rồi khu CN Cao Xà Lá là đây.

Những vũng nước mưa còn đọng lại trên đường phản chiếu ánh sáng điện lấp loá trước cổng nhà máy.

Mấy con chuột cống chạy đi, chạy lại kiếm ăn và cắn nhau kêu chí choé.

Xe đi đến đường Tây sơn, thằng Minh thì thầm với tôi :

- Nhà Nguyệt ở đây đấy.

Nó chỉ tay sang bên phải, dãy nhà hai tầng mái ngói có những cây bàng đứng im lìm, cô quạnh.

Bỗng nhiên, có rất nhiều rất nhiều những chiếc phong bì bay lấp loá trong ánh đèn đường vàng vọt khi mờ khi tỏ.

Thư, thư nhiều quá các bạn ạ.

Thì ra lũ lính tráng trên xe tung thư xuống mặt đường.

Mấy hôm vừa rồi cấm trại, chúng nó tranh thủ viết thư về cho người thân, bây giờ chúng đem ra tung xuống đường phố.

Cả đoàn xe lính hét lên ầm ĩ :

- Bà con ơi, cô bác anh chị ơi.

Chúng tôi là Bộ đội trên đường đi chiến đấu.

Mong bà con nhặt và bỏ vào thùng thư giúp chúng tôi với.

Thế là người dân đi đưòng ùa nhau nhặt.

Người đang đi xe đạp trên đường dừng xe nhặt, người dân trong nhà cũng lao ra nhặt, người già nhặt, trẻ em cũng tranh nhau nhặt.

Cảnh tượng ấy thật vô cùng ý nghiã và xúc động.

Những bàn tay cầm đầy phong bì thư của chúng tôi còn đưa lên vẫy vẫy mãi không thôi.

Dân Hà nội của tôi đó, những người thân yêu của tôi đó.

Xin chào nhé Hà nội ơi.

Chúng tôi nguyện sẽ không làm hổ danh Thủ đô yêu dấu.

Khoảng 7 giờ tối, đoàn xe từ từ rẽ vào đường Trần hưng Đạo và dừng hẳn trước quảng trường Nhà hát nhân dân ( Cung Văn hoá Hữu nghị bây giờ ).

- Tất cả các đồng chí ở nguyên trên xe, không có lệnh, không đồng chí nào được xuống.

Tiếng ông cán bộ dẫn quân đi oang oang ra lệnh.

Trên xe, chúng tôi ồn ào bàn tán.

Bỗng có thằng la lớn :

- Bà con cô bác ơi, chúng tôi là lính Hà nội đang trên đường hành quân đi chiến đấu.

Nhờ bà con cô bác báo giúp cho gia đình chúng tôi với.

Thế là có bao nhiêu người dân gần đó, những người bán hàng lặt vặt trước cổng nhà hát, những đôi tình nhân đang đèo nhau đi " bát phố ", tất cả, tất cả đều xúm lại vây quanh đoàn xe quân sự của chúng tôi.

Tiếng nhắn nhủ, tiếng gọi nhau ầm ĩ cả một góc phố.

Tôi nhìn thấy một đôi anh chị đèo nhau trên chiếc xe Phượng hoàng ghé lại gần. tôi hét tướng lên :

- Anh chị ơi, cho em nhờ tí chút.

Họ dừng lại và nghe tôi nói :

- Em nhờ anh chị giúp em tới báo cho gia đình em ở ngay Phố Lê Thái Tổ, gần hiệu kem Bốn mùa.

Nhanh lên anh chị nhé.

Bọn em dừng chân ở đây không lâu đâu.

Hai người nhanh chóng phóng xe vút đi.

Tôi yên tâm chờ đợi.

Thằng Minh, thằng Long không biết có nhờ được ai không nhỉ?

Trong lúc cuống quýt, ồn ào tôi cũng chẳng có tâm trạng nào mà để ý đến chúng nó.

Một lúc sau, tôi nhìn thấy Bố tôi đi cùng thằng em út đi xe đạp tới.

Tôi mừng rỡ vẫy gọi rối rít.

Đúng lúc ấy có lệnh xuống xe để vào ga lên tàu.

Tôi tập trung toàn tiểu đội ( à, trước khi hành quân, tôi được tạm cử làm A trưởng để duy trì kỷ luật hành quân ) theo bước của toàn đơn vị đi ra ga Hàng cỏ.

Bố và em trai tôi cũng dắt xe theo sau, vừa đi vừa thì thào nói chuyện.

Thằng em tôi vừa theo Bố tôi đi Quảng ninh về, nó đội trên đầu chiếc mũ cói đan rộng vành, mặt đen nhẻm cứ nhìn anh mà chẳng biết nói gì, cứ nắm chặt lấy tay anh lắc lắc.

Bố tôi căn dặn nhiều điều, nào giữ gìn sức khoẻ, nào vào đến nơi phải viết thư ngay về cho Bố mẹ, nào phải nhanh nhẹn, bình tĩnh vv ..và vv.

Chẳng gì ông cụ cũng là lính Điện biên năm xưa nên có vẻ bình tĩnh lắm.

Nhưng tôi biết, dưới cái vẻ bình tĩnh và can trường ấy là một nỗi lo đến thắt ruột cho cái tính mạng của thằng con trai cả vừa mới tròn 19 hoa niên.

- Đại đội hàng dọc, trung đội hàng dọc.

Tất cả theo thứ tự.... theo tôi.

Tiếng cán bộ dẫn quân vang lên dứt khoát.

Đã đến giờ chia tay rồi, cả đoàn quân rùng rùng chuyển động.

Tôi vội nắm chặt tay Bố và em mà chẳng nói lên lời rồi chạy lên đứng đầu tiểu đội.

Nước mắt nhạt nhoà...

Tôi vốn là người rất hay xúc động nhất là trước những cảnh chia ly.

Chúng tôi vào ga, cả sân ga đông đặc người và người.

Bố mẹ, anh chị em, người yêu, rồi thì bạn gái, bạn trai... lúc bấy giờ tôi mới thấy mình ngốc vô cùng.

Nhưng Bố và em tôi đã về rồi.

Tôi nhìn ra ngoài cổng ga với vẻ đầy luyến tiếc.

Lúc này, tôi mới sực nhớ đến thằng Minh, thằng Long.

Chẳng hiểu chúng nó có ai ra tiễn không nhỉ?

Tôi quay ra hỏi thằng Minh.

Nó im lặng không trả lời tôi.

Tôi chợt hiểu ra và cùng im lặng mà không dám hỏi gì thêm nữa.

Hoàn cảnh thằng Minh ra sao, tôi còn lạ gì.

Bố mẹ nó bỏ nhau từ mấy năm nay rồi, ông anh trai là thương binh hạng ba chống Mỹ.

Nó đâu phải là diện đi bộ đội đợt này, nhưng vì hoàn cảnh đáng buồn của gia đình, chán đời nó xung phong đi lính.

Bây giờ nào có ai ra với nó đây !!!

Chúng tôi lên tàu ngồi lặng lẽ.

Dưới sân ga ồn ào kẻ đi người lại.

Từng nhóm, từng nhóm quây quần với gia đình, bạn bè trò chuyện.

Trời lại đổ mưa, cơn mưa đầu hạ trút xuống rào rào.

Theo lịch, tàu 8 giờ là chuyển bánh vậy mà bây giờ đã hơn 10 giờ rồi.

Trong tôi bỗng xuất hiện một suy nghĩ trở nên nhỏ nhen đáng ghét, tôi chỉ muốn tàu chạy ngay bây giờ để nhanh chóng chấm dứt cái cảnh hàn huyên ầm ĩ đang diễn ra trước mắt tôi.

Để cho tất cả bọn nó cũng " bằng phân " với ba đứa chúng tôi.

Tàu chạy, thế là xong.

Hết chia tay, hết vui cười, hết cả khóc lóc...

Mãi đến 10g30 đêm .. ..Tu..tu..tu ....sịch..sịch..sịch.

Con tàu phì một hơi dài rồi lầm lũi băng trong đêm mưa gió.

Các chú lính sau một buổi chiều vừa hành quân, vừa trải qua quá nhiểu xúc cảm của buổi chia tay bây giờ đã bắt đầu thấm mệt.

Đó đây, nhiều chú đã ngủ ngà ngủ gật mặc cho tiếng bánh sắt rít ầm ĩ trên đường ray.

Có thằng lấy tấm nilon trải ngay ra trên sàn tàu giữa lối đi đánh ngay một giấc.

Cả đoàn tàu quân sự toàn lính " sợ gì bố con thằng nào " !!!?

Ba thằng chúng tôi vẫn chưa ngủ, cái xúc cảm của cuộc chia tay vẫn còn rất mạnh mẽ làm chúng tôi chẳng thể nào nhắm mắt được.

Kịch kịch...kịch kịch...kịch kịch, tiếng bánh xe lăn trên đường ray vẫn vọng tới đều đều như cố ru chúng tôi chìm vào giấc ngủ.

Khoảng 12 giờ đêm ngày 20.05, chúng tôi đến ga Biên hoà.

Tất cả chúng tôi được lệnh xuống tàu.

Thành phố Biên hoà đã chìm trong giấc ngủ, phố phường im ắng, chỉ còn tiếng những bước chân hối hả của đoàn bộ đội chúng tôi hành quân trong đêm.

Hơn một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã tới cổng trạm giao liên Long bình.

Mệt mỏi rã rời, chẳng ai bảo ai chúng tôi ngả ba lô nằm ngổn ngang ngay trên con đường dẫn vào cổng trạm.

Bọn vệ binh gác cổng nhất định không mở cổng cho chúng tôi vào bên trong vì chưa có lệnh.

Ngủ cái đã.

Lũ chúng tôi gối đầu bằng chiếc ba lô, đánh thẳng cẳng một giấc đến sáng.

Trời đã sáng bảnh, sau khi cán bộ dẫn quân làm xong thủ tục, chúng tôi lục tục đổ quân vào binh trạm.

Chao ôi, sao mà lớn đến vậy.

Cái tổng kho Long bình mà tôi từng nghe nói bây giờ hiển hiện ngay trước mắt tôi.

Hàng rào giây thép gai có đến hàng chục lớp.

Nào bùng nhùng, nào cũi chó, cũi lợn, nào hàng rào B40 tầng tầng lớp lớp.

Tôi chợt nghĩ đến những chiến tích vang dội của bộ đội đặc công năm trước đã từng tung hoành trên cái mảnh đất mà tôi đang đứng.

Đang ngơ ngác nhìn ngắm và hồi tưởng, tôi giật mình khi thằng Long vỗ vào vai :

- Này, vào nhận chỗ ở rồi đi tắm giặt một cái cho nó tỉnh người.

Thằng Long " thần sầu " đã nhanh chóng hỏi thăm được nơi có giếng nước.

Tôi và Minh lẽo đẽo đi theo nó vào nhận phòng ở.

Những căn nhà lợp tôn trống hoếch trống hoác, gió thổi ù ù mang theo đầy bụi cát.

Cái giếng nằm ngay bên phải cổng trạm.

Giếng to dễ sợ.

Có lẽ chưa bao giờ tôi nhìn thấy cái giếng nào to đến thế.

Thành giếng làm bằng những tấm tôn cong cong của Mỹ, có lẽ nó được tận dụng từ những tấm tôn dùng để lợp vòm cho nhà chứa máy bay thì phải.

Vậy mà phải dùng đến ba bốn tấm mới quây hết được chiếc thành giếng.

Bộ đội chen chân đầy xung quanh thành giếng để tắm giặt.

Cũng may mà ở trên thành giếng buộc cố định rất nhiều gầu múc nước nên chúng tôi tắm giặt rất nhanh.

Chỉ tội nước giếng đục như nước sữa, chẳng biết là nước sạch hay bẩn.

Tắm xong, tôi và Minh đi lang thang trên những con đường chạy ngang dọc trong binh trạm.

Một vài chiếc xe chở khách của binh trạm đang chất đồ lên nóc xe, mấy đồng chí bộ đội chắc được đi phép ra Bắc đang tranh thủ chằng buộc lại con búp bê trên nóc ba lô.

Tôi thầm ước ao không biết đến bao giờ mình cũng được như họ.

Buổi trưa, trong binh trạm nóng kinh người. cả cái tổng kho rộng mênh mông mà chẳng có lấy một bóng cây xanh nào.

Cái nóng từ trên mái tôn hắt xuống, cái nóng từ dưới đất hắt lên, cái nóng theo gió thổi qua những ô cửa sổ không cánh.

Nóng không thể ngủ được, nóng đến nhược cả người.

Sáng sớm hôm sau, sau khi ăn xong bữa sáng tôi rủ Long và Minh đi ra ngoài chơi.

Ba thằng chúng tôi theo sự chỉ dẫn của mấy ông lính ở trong binh trạm, lần theo lối " cửa mở " chui rào thoát được ra ngoài. ( " cửa mở " là từ ngữ chỉ những lối mòn xuyên qua các lớp hàng rào kẽm gai, bãi mìn do lính tráng muốn ra ngoài tự mở lấy ).

Ngã ba Tam hiệp lèo tèo vài ba quán xá, nhiều nhất là nước mía đá, nhưng chiếc xe đẩy bán nước mía giăng hàng bán ở khắp nơi.

Tôi mua ba bịch nước mía đá cho ba đứa.

Chà chà, ngọt và mát lịm.

Lần đầu tiên tôi được uống nước mía như thế này.

Lúc ấy, ở ngoài Bắc làm gì đã có.

Và bánh mỳ kẹt thịt, những chiếc bánh nhỏ thôi nhưng nóng giòn và thơm ngon vô cùng.

Ba đưa chúng tôi cái gì cũng ăn, cũng thử.

Ngon và lạ miệng, ở ngoài Bắc đang phải ăn bo bo, cơm độn.

Vào đây sẵn tiền của gia đình vừa " tắc tế " ba chúng tôi tự cho phép mình xả láng đôi chút trước khi bước vào cái tương lai mà chẳng thằng nào đoán định trước được.

Tôi nhìn thấy những chiếc xe lam, xe ô tô loại Daihatsu nhỏ chở khách, trên thành xe đề tuyến Tam hiệp - Sài gòn.

Không phải suy nghĩ gì lâu la, tôi nhanh chóng ra quyết định: Lên xe.

Chỉ khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã có mặt tại Ngã tư Hàng Xanh.

Sài gòn đây rồi, thành phố Hồ chí Minh đây rồi.

Ba chúng tôi lang thang đi bộ, tôi tạt vào bưu điện Hàng Xanh gửi một bức điện về báo cho gia đình là tôi đã vào đến nơi an toàn.

Thằng Minh, thằng Long chẳng thấy chúng nó gửi thư từ hay điện đóm gì cả.

Thậm chí, chúng nó còn đứng ở ngoài chờ tôi mà chẳng thèm vào.

Thôi kệ chúng mày.

Sở thú, đại sứ quán Mỹ, dinh độc lập .. chúng tôi cứ lang thang đi bộ, ngắm nghía ngước nhìn, trông chẳng khác gì " bò đội nón ".

Rồi buổi trưa, cũng lại chễm chệ vào một nhà hàng, tôi nhớ không nhầm thì nó ở góc đường Đồng khởi và Sương Nguyệt Ánh bây giờ.

Cũng khăn dải bàn trắng muốt, cũng ghế dựa đàng hoàng như ai.

- Cho xin ba tô hủ tiếu .

Tôi dõng dạc gọi.

Cũng lại lần đầu tiên được ăn hủ tiếu.

Là lạ, ngon ngon.

Vèo một cái, ba tô hủ tiếu chui tọt vào ba cái dạ dày đang sôi lên sùng sục vì đói.

Chẳng bõ bèn gì nhưng chẳng nhẽ lại gọi mỗi thằng thêm... ba bát nữa.

Ngượng chết.

Ba chú bộ đội, sao tiết chỉnh tề, quân hàm " chuẩn tướng " lại tiếp tục lang thang cho đến nửa buổi chiều rồi quay về ngã ba Tam Hiệp.

Với tinh thần tiến công liên tục như lời hứa trước Bộ tư lệnh sư đoàn bữa trước, vừa nhìn thấy quán có tấm biển đề : " A, xin mời Cầy tơ bảy món " ở ngay xế cổng binh trạm.

Tôi liền cùng hai chiến hữu lập tức xung phong.

Ra khỏi quán, trời đã nhập nhoạng tối.

Chúng tôi " chân nam đá chân siêu " loạng choạng trở về căn cứ.

Ngày hôm sau, 23.05.1978. vừa ăn sáng xong chúng tôi đã thấy một đoàn xe ca sơn vàng đỏ tím xanh tiến vào binh trạm.

Binh trạm thông báo cho đoàn tân binh chúng tôi hôm nay sẽ về đơn vị mới, tất cả không được đi đâu.

Đang định rủ rê chúng nó " đột rào " ra ngoài để đi Sè goòng lần nữa Thế là phèo !

Trong túi tôi vẫn còn hơn 40 đồng nữa ( Ngày ấy, 40 đồng là to đấy các bạn ạ.

Lương trung uý chỉ có 75 đồng thôi ).

Cả ngày hôm qua, cả ba thằng mới tiêu hết có hơn 30 đồng.

Chúng tôi chuẩn bị ba lô, quân tư trang sẵn sàng để lên đường.

Buổi sáng các sư đoàn 7, 341 lấy quân trước.

Cuộc chia tay diễn ra vô cùng bịn rịn, cảm động.

Giữa tân binh với nhau, giữa tân binh với cán bộ khung F308 dẫn quân đi.

Xin chào các anh nhé, các anh trở lại xứ Bắc quê hương thân yêu, còn chúng tôi, những người ở lại chưa biết sẽ có những gì chờ đợi ở phía trước.

Trong khu vực doanh trại vang lên tiếng hát : " Chúng tôi, người chiến sỹ sư đoàn tự hào thay hai tiếng Tiên phong, đâu có ngại ngùng chi gian khó...."

Những cái bắt tay, những cái ôm... tôi với anh dù đã quen hay vẫn còn lạ nhưng không sao, chúng ta đều là lính của Quân Tiên phong cả mà.

Chúng tôi tranh thủ bắt chuyện làm quen với anh em đến nhận quân.

Thôi thì đủ các thứ chuyện về cuộc chiến đang ngày đêm diễn ra tại chiến hào biên giới.

Nào là vào đấy chúng mày phải hết sức cẩn thận, có thằng đi đái đêm cũng vấp phải mìn lá, cụt cẳng dễ như chơi.

Nào chuyện lính có kinh nghiệm chiến đấu thì đã giải quyết cho ra quân hết rồi, còn lại toàn bọn ú a ú ớ như chúng mày vào trận cứ lơ ngơ như " bò đội nón ".

Bắn B40, B41 xong lại cứ nhìn loanh quanh để tìm nhặt cắt tút vv.. và vv.

Có những chuyện thật, nhưng cũng có những chuyên mà chúng tôi biết chắc là các bố bịa ra để " doạ " chúng tôi.

Tôi chẳng thấy ông nào ở trại chăn nuôi bò hay nông trường trồng lúa đến nhận chúng tôi về để đi vắt sữa hoặc đi cày cả.

Tất cả sẽ phải rồi sẽ phải lao ra mặt trận.

Hết rồi nhé Thọ ơi, Minh ơi, Long ơi đừng có tơ tưởng hão huyền nữa.

Sau bữa cơm trưa vội vàng, lũ tân binh còn lại tập trung nghe đọc danh sách.

Thằng về E1, thằng về E2, thằng về E3.

Lại chia tay, lại bịn dịn.

Khoảng hơn 2 giờ chiều, chúng tôi lên xe để về đơn vị mới.

Ngồi trên xe, tôi ngắm nhìn cảnh vật làng quê miền nam qua ô cửa sổ.

Những luỹ tre làng ở miền bắc quê tôi được thay bằng những hàng dừa xanh ngăn ngắt.

Cũng trời xanh mây trắng, cũng những cánh đồng lúa xanh mát êm đềm.

Xa xa, chóp núi Bà Đen màu xanh sám loáng ẩn hiện trông giống hệt chiếc bát B52 úp ngược.

Đất nước thật thanh bình và đẹp.

Những người nông dân đang làm đồng ven lộ nhìn thấy đoàn xe của chúng tôi, họ ngẩng mặt lên nhìn rồi lại cúi xuống chăm chú làm việc, cũng đôi khi có những cánh tay đưa lên vẫy vẫy.

Liệu rằng có ai trong số họ biết chúng tôi đang đi đâu không nhỉ?

Nghĩ đến cái cảnh đất nước thanh bình, phong cảnh tươi đẹp vô cùng mà mình thì đang lao vào chỗ chết, tôi thấy dâng lên một cảm giác nghèn nghẹn, một chút chát đắng trong lòng, thật chẳng thích thú chút nào.

Xe vẫn chạy, đoạn đường từ thị trấn Trảng Bàng trở đi, đường bắt đầu xóc kinh khủng.

Lính tráng ngủ ngà ngật, không khí trên xe nóng nực và ngột ngạt vô cùng.

Tôi vẫn không hề chợp mắt.

Tôi nhớ nhà, nhớ Hà nội thân yêu của tôi, nơi mà bây giờ đã cách xa gần hai nghìn cây số.

Cái khoảng cách đơn thuần vật lý ấy sao đối với tôi nó xa xôi đến vậy.

Mới ngày nào, tôi và bọn cùng lớp còn chốn học để ra bãi cát sông Hồng đùa nghịch, sang tận bờ đê bên Gia lâm xem máy bay cất hạ cánh...

Thế mà bây giờ, mỗi đứa mỗi nơi, tất cả đã cách xa, xa lắm rồi.

Nhớ ngày mới bước vào quân ngũ, tôi vẫn hồn nhiên viết rằng :

" Ba năm lính không dài đâu em nhé

Nó trôi qua như giấc ngủ trưa hè

Mặt hồ Tây chưa kịp thay ngọn sóng

Anh đã về, cô bé có tin không?

"

Nhưng có lẽ, vào lúc này đây cái niềm tin hồn nhiên ấy đã bắt đầu lung lay, bắt đầu thay đổi.

Có lẽ cuộc chiến đấu đang chờ đợi tôi ở phía trước không thể nào kết thúc trong ngày một ngày hai.

Xung đột biên giới , ai mà biết nó kéo dài đến bao giờ?

Hơn 5 giờ chiều, chúng tôi đã đến nơi.

Tôi cũng không hiểu mình đang ở đâu .

Một xóm nhỏ bé vắng vẻ, không một bóng người dân.

Đó đây, chỉ thấy toàn lính là lính.

Tôi, Minh, Long được hướng dẫn vào tạm trú trong một ngôi nhà gạch, mái ngói, sàn lát gạch hoa bóng lộn.

Mùi ẩm thấp sực lên chứng tỏ đã từ lâu nhà không hề có người ở.

Trong nhà không có một chút đồ đạc nào ngoài chiếc bàn thờ ở chính giữa.

Thằng Minh lên tiếng :

- Chắc dân ở đây chạy hết rồi chúng mày ạ.

Tôi và thằng Long đi quanh nhà xem xét.

Ngước nhìn lên phía trên bàn thờ, một bức tranh rất lớn vẽ một con mắt toả ánh hào quang rực rỡ lồng trong khung kính, treo trang nghiêm ở giữa.

Bức tường bên tay phải có một tấm bằng dạng như huân chương, trong đó có ghi : Đại đạo tam kỳ phổ độ và địa danh nơi chúng tôi đang đứng chân ( tôi đoán như vậy ).

Xã Tân Thuận ( hay Tam thuận tôi nhớ không chắc lắm ), huyện Bến Cầu, Tỉnh Tây Ninh.

À, thì ra chúng tôi đang ở đây.

Thằng Long xem xét chăm chú một bức tranh treo trên tường rồi bảo :

- Này, Đạo này thờ cả Tôn Ngộ Không chúng mày ạ.

Một bức tranh thờ cỡ nhỏ, vẽ rất nhiều nhân vật.

Từ Đức Phật thích ca mâu ni, Phật Bà quan Âm... và có cả Tề thiên đại thánh đang vung cây gậy như ý.

Có lẽ đúng như thằng Long nói.

Thằng Long nhanh chóng tìm được cái giếng, nước trong và mát.

Cái thằng này cứ củ lẩn cù lần cả ngày chẳng nói lấy một câu, nhưng được cái rất chu đáo.

Trong khi tôi và thằng Minh cứ lang thang xem xét vớ vẩn thì nó lo mượn chổi ở tận đâu mang về quét dọn nhà sạch sẽ.

Giăng mắc dây phơi quần áo cho chúng tôi cần thận.

Đúng là Long " thần sầu ".

- Thôi, tất cả đi tắm giặt đi.

Thằng Long ra lệnh.

Tất nhiên là " tuân chỉ " rồi.

Tắm táp xong xuôi, cái mệt nhọc phần nào đã trôi bớt đi theo dòng nước mát.

Chúng tôi dải chiếu nằm kềnh ra giữa nền đá hoa mát rượi

Một anh lính cũ sang gọi chúng tôi đi ăn cơm chiều.

Bữa cơm đầu tiên trong đời lính chiến thật không nuốt nổi.

Cơm thì vừa hôi, vừa vàng khè, thức ăn chẳng có gì ngoài đĩa rau muống luộc vừa sống, vừa già.

Thêm một đĩa nhỏ là đĩa tép rang mặt chát.

Vừa trải qua một ngày mệt mỏi, cộng thêm nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ bạn bè do vậy tôi không thể nào ăn hết được bát cơm.

Ăn cơm xong, trời vừa tối.

Chúng tôi trở về căn nhà trú quân, trong nhà vo ve đầy muỗi.

Mặc dù ở đây không phải là Đồng Tháp Mười " muỗi nhiều như trấu vãi, đỉa nhiều như bánh canh " mà Nguyễn Sáng đã từng mô tả trong các truyện ngắn của mình, nhưng đối với chúng tôi, những thằng lính Hà nội mới chân ướt chân ráo vào đây đã là quá khủng khiếp.

Giặc đâu chưa thấy nhưng chúng tôi đã phải chiến đấu với bọn giặc muỗi khốn kiếp này cái đã.

Một anh lính cũ thấy chúng tôi loay ha loay hoay mắc màn khi trời mới vừa tắt nắng, liền phì cười :

- Sao tụi bây đi ngủ sớm " dậy " ?

- Chúng em thấy muỗi nhiều quá nên tìm cách mắc màn thôi chứ ngủ nghê nỗi gì.

Thằng Minh mau mắn trả lời.

Anh liền bày cho chúng tôi ra ngoài vườn vơ một búi rơm và bẻ thêm một ít lá tươi, tất cả được đặt ngay trên vỉa hè ngôi nhà, cạnh chiếc cửa ra vào rồi đốt.

Một làn khói đặc quoánh bốc lên xua đuổi những đàn muỗi hung hãn ra xa.

Anh em ngồi vui vẻ trò chuyện trong cái làn khói mờ mịt ấy.

Đêm ấy, chúng tôi ngủ rất ngon giấc mặc dù thỉnh thoảng trong đêm khuya, tôi vẫn vẳng nghe tiếng pháo ì ùng từ tận đâu vọng lại.

Bữa trưa hôm ấy, ngoài những món " truyền thống ", trong mâm cơm đơn vị còn xuất hiện món " gà đồng ".

Thịt chuột ấy mà.

Lúc gần trưa, một bà má từ ở đâu mang đến cho chúng tôi một rổ chuột, con nào con ấy béo tròn to bằng cổ tay.

Bà xếp đều những con chuột lên bãi cỏ ven đường, vơ một nắm rơm phủ lên rồi thui, bà lật qua, lật lại những con chuột và thui cho đều.

Tôi chăm chú đứng nhìn bà má làm nhưng trong lòng thì sợ phát khiếp.

Tôi vốn sợ chuột từ bé.

Cứ nhìn thấy chuột là hồn vía tôi bay đi đâu hết cả.

Má mang số chuột vừa thui ra cầu ao trước nhà.

Soạt..soạt.. má lột da con chuột rất nhanh, cả rá chuột bây giờ con nào con ấy trắng phau phau.

Đầu, đuôi, chân, cẳng bỏ hết, rạch bụng, bỏ ruột.

Chà chà..bây giờ trông cũng hấp dẫn đấy chứ nhỉ.

Má chặt thịt chuột ra thành những miếng đều nhau bằng ba đầu ngón tay.

Hành khô, mắm muối, bột ngọt, hạt tiêu bắc nêm vào ướp cho ngấm.

Nào, bắc chảo lên tụi bây.

Tôi giúp Má " nổi lửa lên em ", thịt chuột được rán hơi vàng rồi cho vào một cái xoong, Má đổ vào một ít nước nước cốt dừa và nước dừa rồi bảo tôi đun liu riu nhỏ lửa.

Chả gì lúc còn ở nhà, nhà tôi chỉ có ba anh em trai, mẹ tôi lại ốm yếu nên việc chợ búa, bếp núc tất cả đều ở một tay tôi nên chuyện nấu ăn tôi cũng chẳng ngô ngọng gì lắm.

Mùi xoong thịt chuột khía nước dừa bốc lên thơm ngào ngạt điếc cả mũi.

A lê, tiến lên !

Tất cả xúm xít lại, rượu vào và Zô..zô...zô....

Món này mà nhậu với rượu đế chắc cũng đã lắm đây.

Bà má hiền hậu nhìn chúng tôi.

Một anh lính cũ bảo tôi :

- Chú mày biết không, ở đây thịt chuột phải 7 đồng một ký, trong khi đó thịt bò ngon chỉ có 5 đồng thôi.

Bả quý chúng mày lắm mới đem cho và làm cho chúng mày nếm thử đó.

Tôi ngồi ăn cũng hô hào zô ..zô nhấm nháp chút rượu, tôi vốn không uống được là bao, nhưng tôi không hề động đũa đến món thịt chuột hấp dẫn kia mặc dù biết rằng rất là ngon đấy.

Lúc giúp má làm bếp, tôi đã mấy lần suýt chết sặc vì nuốt nước miếng.

Thằng Minh, thằng Long thì cứ chén tì tì , xít xoa ra chiều thích thú.

Buổi chiều, ba thằng chúng tôi lang thang ra đầu xóm.

Thì ra đây là nơi trú quân của một trạm quân y , tôi chẳng biết là của đơn vị nào, những chiếc xe " Đốt " chở thương binh từ chiến tuyến về thỉnh thoảng lại rú còi ầm ĩ.

Người ta khiêng thương binh xuống xong, chiếc xe lại quay đầu phóng đi ngay nghe chừng vội vã.

Chúng tôi hiểu rằng, chiến sự xảy ra rất gần đây, rất khốc liệt và chúng tôi chắc cũng sắp tham gia vào những sự kiện khốc liệt ấy.

Hai ngày tiếp theo đó, toàn bộ tụi lính mới tò te chúng tôi tập trung lại để học chính trị và nghe về truyền thống của Quân đoàn, sư đoàn và nhất là truyền thống anh dũng của trung đoàn 1, trung đoàn mang tên Bình giã ( Cái vụ này nhờ Trungsy1 nhắc lại tôi mới nhớ ra.

Chứ tôi cứ lẫn lộn giữa Đồng xoài với Bình giã mà chẳng biết trung đoàn nào là trung đoàn của mình - Cảm ơn Trungsy1 nhé ), cái địa danh nhắc tới trận đánh thử lửa đầu tiên giữa lực lượng viễn chinh tinh nhuệ của quân đội Mỹ với Chủ lực của quân giải phóng miền nam Việt nam.

Ngồi nghe mà thằng Minh càu nhàu với tôi :

- Sốt ruột, cứ làm như có mỗi trung đoàn này anh hùng.

Lão này mà nghe truyền thống trung đoàn 36 của mình chắc là phải vãi đái !

Thì ra, trong tâm tưởng của nó, nỗi nhớ về trung đoàn cũ vẫn bao trùm tất cả.

Cũng phải thôi, mới có hai ba ngày, làm sao đơn vị mới có thể gắn bó với chúng tôi như đơn vị cũ – Trung đoàn Bắc Bắc thân yêu của chúng tôi được.

Ngày hôm sau 27.05.1978, sau bữa cơm trưa, chúng tôi được lệnh chuẩn bị sẵn sàng để lên đường.

Tụi lính mới chúng tôi tập trung lại nghe quân lực trung đoàn đọc danh sách phân chia tân binh về từng tiểu đoàn, từng đại đội.

Thế là lại chia tay.

Thằng Long về hoả lực C14 DK82 của D3, tôi và thằng Minh cùng về C11 – D3.

Hai thằng mừng rú lên.

Thế là " tổ tam tam " của chúng tôi đã chia thành hai mũi, nhưng vẫn còn may là cùng trong đội hình chiến đấu của tiểu đoàn 3.

Chúng tôi, vai mang ba lô theo sự hướng dẫn của cán bộ tiểu đoàn về đơn vị mới.

Tiểu đoàn 3 hiện đang trú quân ở một xóm nhỏ giữa cánh đồng, cách không xa trung đoàn là bao.

Có lẽ đây chỉ là nơi trú quân tạm thời để nghỉ ngơi và bổ xung quân số sau những trận chiến ác liệt và hao binh tổn tướng.

Chúng tôi đến một căn nhà nhỏ - căn nhà của ban chỉ huy tiểu đoàn.

Giữa cái sân nho nhỏ là một đống vũ khí bộ binh cũ rích.

Một đồng chí cán bộ tiểu đoàn nói với chúng tôi :

- Đây là vũ khí trang bị tạm thời cho các đồng chí, mỗi đồng chí, tuỳ theo khả năng sử dụng của mình hãy chọn lấy một khẩu rồi sau đó về luôn đơn vị của mình như đã được biên chế.

Tôi chọn đi chọn lại, cuối cùng nhặt lấy một khấu AK47 còn tương đối tàm tạm.

Thằng Minh cũng vậy, nó cũng tự trang bị một khẩu AK như tôi.

Từ khi về đến tiểu đoàn, tôi không còn nhìn thấy thằng Long đâu nữa.

Thằng Minh vừa kiếm ở đâu được một chiếc mũ sắt của lính nguỵ cũ, nó liền đội ngay lên đầu, nhe nhởn cười với tôi :

- Đội thứ này còn tốt chán so với cái mũ cối đểu của mày.

Mũ này mảnh đạn văng vào chắc chẳng ăn thua gì đâu.

Lũ lính mới về bổ xung vào cho C11 chỉ khoảng 9, 10 đứa.

Tôi với Minh về cùng một B.

Lại được cùng hầm với mày rồi Minh ơi.

Tôi thầm nghĩ như vậy.

Đại đội 11 trú quân trong một ngôi nhà nhỏ.

Không, phải gọi là lều thì đúng hơn.

Ba bề bốn bên trống hoác.

Trong nhà chẳng có ai ngoài một bà má đang đun nấu nồi gì đó dưới bếp.

Bên cạnh nhà, một con bò đang ung dung nằm nhai trệu trạo dưới gốc cây Bông gòn lúc lỉu những quả là quả.

Thỉnh thoảng, một cơn gió nhẹ thổi tới, những bông gòn được gió đưa đi bay vật vờ, thư thái.

Đại đội 11 lúc ấy có chừng hai chục mạng, cả cán bộ lẫn chiến sỹ, cộng với chúng tôi mới bổ xung là thành khoảng ba chục.

Tốp lính cũ đón chúng tôi cũng không lấy gì làm nồng nhiệt lắm.

Có lẽ họ đã quá quen với những lần bổ xung như thế này rồi chăng. (

Sau này tôi mới biết, trong năm 1978, đơn vị được bổ xung 12 đợt tất cả.

Vậy mà chỉ qua vài trận, con số của đại đội chỉ còn đếm trên đầu ngón tay ).

Những người lính cũ, kẻ đứng, người ngồi đang kể chuyện gì cho nhau nghe mà cười nói rất rôm rả, chẳng tỏ ra cần để ý đến lũ chúng tôi.

Tôi bắt đầu có cái cảm giác khó chịu cho cái thái độ " bất lịch sự " của những người đồng đội mới này.

Lúc ấy, có hai anh lính cũ khiêng về đặt ở giữa sân một cái hòm gỗ dài và vô số những thùng đạn.

Tốp lính cũ lúc đó mới xúm vào cùng chúng tôi dùng dao mở thùng đạn.

Chúng tôi được phát mỗi người 150 viên đạn AK, những viên đạn vàng óng sáng lóng lánh như được mạ vàng, trông thật đẹp mắt.

Chẳng bù cho hồi còn ở ngoài 308, tôi được phân công đi lên kho Lương Sơn nhận đạn về phục vụ bắn đạn thât.

Tôi thó được 10 viên AK mà cứ phải dấu dấu diếm diếm mãi để dùng bắn linh tinh hồi tập huấn trinh sát ở Đà Bắc – Hoà Bình, tí nữa còn bị ăn một án kỷ luật.

Tốp lính cũ bật chiếc thùng gồ dài dài ra.

Chao ôi, một khẩu RPD Trung quốc mới cứng cựa, khẩu súng được bọc trong một lớp giấy tẩm dầu, trong quét đầy mỡ " bò ".

Một anh đi mượn bà má một chiếc nồi to rồi đun lấy một nồi nước sôi.

Họ tháo tung khẩu trung liên rồi rửa kỹ từng bộ phận bằng nước sôi có hoà lẫn xà bông.

Đến lúc lắp lại khẩu súng, tôi thấy họ cứ lúng ta lúng túng không lắp nổi hai má thép trượt trong ổ quy lát, tôi liền nhanh nhẩu :

- Các anh để em lắp giúp cho.

Ở ngoài bắc, em toàn sử dụng loại RPD này mà.

Chỉ trong nháy mắt, tôi đã lắp xong khẩu súng.

Roát..tạch...roát...tạch.

Khẩu súng đã hoạt động trơn tru.

Ôi, sau này tôi mới biết là tôi " dại ".

Một anh, chắc là cán bộ đại đội thấy vậy liền nói :

- Hay lắm thằng em, anh giao luôn cho thằng em giữ khẩu này.

Còn khẩu AK, em đưa đây để anh cho người mang trả về cho tiểu đoàn.

Thế là " toi ", thay vì tôi mang cơ số đạn 150 viên, bây giờ tôi đã phải mang thêm 150 viên nữa vì cơ số của RPD là 3 hộp đạn, mỗi hộp 100 viên.

Trong mỗi hộp có 4 dây tiếp đạn, mỗi dây 25 viên.

Cả đạn cả súng có lẽ phải hơn mười ki lô có lẻ.

Trong khi chúng nó chỉ nhoáng một cái đã lắp xong đạn vào băng, còn tôi thì hì hục mãi mới xong vì dây tiếp đạn còn mới cứng, ấn đạn vào dây đau cả mấy đầu ngón tay.

Có tiếng bà má gọi :

- Này mấy con, ra ăn mỗi đứa bát chè má vừa nấu rồi còn lên đường chứ.

Ơ, thế không ở đây nữa à, lại còn đi đâu nữa đây.

Tôi thầm nghĩ.

Không phải tôi sợ gì việc phải đi chiến đấu, nhưng tôi nghĩ rằng ít nhất phải cho chúng tôi từ từ làm quen đơn vị, làm quen đồng đội, làm quen.....làm quen...đủ thứ, rồi mới đưa chúng tôi vào trận chứ.

Mới chân ướt chân ráo thế này thì... quả là một cú sốc!

Nồi chè bà má chiêu đãi chúng tôi trước khi ra trận chắc hẳn là ngon lắm.

Nhưng nào tôi có húp được tí nào đâu.

Mồm miệng nhạt thênh thếch, cái cảm giác buồn buồn, chan chán.

Một chút lo lo, một chút nhơ nhớ gia đình, quê hương, thật là khó tả.

Nào, chúng ta lên đường ra trận.

Chúng tôi hành quân theo hàng một ra đến lộ, mấy cái xe Reo quân sự đã đợi sẵn ở đó.

Cả tiểu đoàn lên xe nhằm biên giới thẳng tiến.

Xe đi đến một ngôi chùa nhỏ ven đường thì dừng lại.

Chính trị viên đại đội ( người Hải phòng - tôi quên mất tên rồi ) nói lớn :

- Đây là " cứ ba lô " của đại đội ta tại Mộc Bài, các đồng chí tân binh đưa hết đồ đạc, tư trang không cần thiết xuống xe để cất vào " cứ ".

Mỗi đồng chí chỉ nên mang theo những thứ thật cần thiết như : Mùng, khăn mặt, bàn trải đánh răng, quần áo lót và một bộ quần áo dài.

Còn những thứ khác không cần thiết thì để lại.

Tôi và thằng Minh nhanh chóng thống nhất bỏ nốt bộ quần áo dài ở lại, Chỉ mặc duy nhất một bộ trên người cho nó nhẹ.

Tôi cố đem theo thêm một quyển sổ tay ghi chép, một cái bút Trung quốc và mấy chiếc phong bì để viết thư.

Đoàn xe lao nhanh.

Biên giới là đây ư, một dải bờ đê mới đắp, bên trên trồng chi chít những cây tre gai chạy dài tít tắp.

Mấy cái nhà đổ vỡ tan hoang, nơi đây chắc trước là nhà của đồn biên phòng.

Bên kia biên giới, những cánh đồng mênh mông không một bóng người, những cây Thốt lốt mọc men theo bờ ruộng, in bóng u buồn trên nền trời mây giăng xám xịt.

Chiều đang dần buông, không khí vắng lặng hoang tàn, lạnh lẽo.

Xe chạy khoảng vài chục phút thì dừng lại.

Tôi nhẩm tính xe mới chạy được khoảng chục cây số là cùng.

- Tất cả xuống xe.

Xe chỉ chở các đồng chí đến đây.

Còn từ đây trở đi, các đồng chí hành quân bộ.

Anh Hành – Lê Đại Hành ( tức Hành " chéc " ) - chính trị viên tiểu đoàn lên tiếng.

Chúng tôi xuống xe.

Đường hãy còn tốt sao không chở anh em đi một đoạn nữa, đến lúc nào đường không đi được nữa thì thôi.

Tôi thầm thắc mắc.

Như thấu hiểu suy nghĩ của tôi, một anh lính cũ ( sau tôi mới biết đấy là B trưởng B tôi – Anh Nhạn, Nhạn Khùng ) nói để tôi hay :

- Thật ra xe có thể đi đến tận " cứ " anh nuôi, nhưng đù má mấy thằng lái xe D29 này nó sợ bị Miên nó phụt DK nên bắt anh em mình xuống đây đấy.

À, thì ra là vậy.

Có nghĩa là chúng tôi đã rất gần địch rồi.

Chúng tôi đi khoảng một lúc là tới cứ anh nuôi của đại đội.

Một căn nhà ở ngay ven lộ 1, chúng tôi tạt vào hạ súng xuống ngồi nghỉ.

Mới có một đoạn đường mà sao tôi đã thấy oải vì khẩu súng quá nặng.

Khi còn huấn luyện, tôi cũng giữ khẩu này nhưng chỉ giữ để lau chùi bảo quản thôi làm gì có đạn.

Còn bây giờ chỉ thêm 3 cơ số đạn nữa thôi mà sao nó nặng thế không biết.

Chúng tôi được anh nuôi chia cơm, cơm nóng ăn với tép rang ( lại tép rang – Tôi sợ tép rang từ hồi ấy cho đến tận bây giờ ) và mỗi thằng hai nắm cơm vắt cùng một gói tép ( lại tép ), tiêu chuẩn để ăn cho đến chiều hôm sau.

Ăn xong, chúng tôi ngồi nghỉ trên những khúc gỗ tròn nằm rải rác xung quanh ngôi nhà.

Bỗng Ùng...ùng..ùng.... vu...vu...vu..

Tôi và thằng Minh nhanh như cắt, ôm súng lao cắm đầu vào cửa hầm chữ A ngay bên cạnh chỗ ngồi.

Trong hầm đầy bùn và nước lõm bõm.

Ầm...ầm...ầm tiếng pháo nổ từ phía rất xa vọng lại.

Tiếng cười rộn lên khắp nơi.

Tốp lính cũ đang cười ngả cười nghiêng.

Anh Nhạn " khùng " B trưởng vội giải thích cho chúng tôi :

- Chúng mày phải lắng nghe để phân biệt, tiếng ùng..ùng đấy là tiếng nổ đầu nòng của cối 82 ly, còn tiếng vu...vu.. là tiếng đạn nó bay trên đầu mình, vậy là nó sẽ rơi ở rất xa chỗ mình đứng.

Lúc nào mày nghe thấy nó xẹt...xẹt chói tai thì phải lăn ngay xuống, dù đấy là rãnh nước hay hố nước.

Nó sẽ lao xuống và nổ ngay bên cạnh mình đấy.

Đù má, may thì mình sống, không may thì mình dính.

Chúng mày lao vào hầm như lúc nãy là...đù má.. không kịp đâu.

Thỉnh thoảng, trong câu nói của anh cứ kèm hai tiếng " đù má ".Nhưng tôi vẫn nhìn anh với tấm lòng biết ơn.

Bài học đầu tiên của chúng tôi trên chiến trường thật sống động và dễ nhớ.

Giáo cụ trực quan là quả pháo nhằm bắn thẳng vào chúng tôi, kết quả bài học là mạng sống của chúng tôi.

Làm gì mà chẳng dễ thuộc.

Anh còn hướng dẫn chúng tôi từ cách mắc tăng võng như thế nào vừa chắc chắn nhưng vừa dễ tháo khi cần mà lại không bị nước mưa hắt vào khi mưa to.

Tôi biết những lời dặn dò của anh là sự đúc kết xương máu của biết bao thế hệ những người lính chiến chúng tôi.

Anh nói : " Trên chiến trường, chúng mày nhanh 1/10 giây là chúng mày thắng, chúng mày chậm 1/10 giây là " đù má " chúng mày phải trả bằng mạng sống.

Hãy nhớ lấy điều đó ".

Nhưng anh ơi, học thì thuộc đấy nhưng hành thì thật là khó.

Nào ai biết thế nào là nhanh, thế nào là chậm đây.

Lúc biết ra thì tất cả đã là quá muộn rồi.

Anh đưa cho tôi và thằng Minh mỗi đứa một cái túi mìn Claymo còn khá mới để đựng những đồ lặt vặt.

Thằng Minh bây giờ ngoài khẩu AK còn có nhiệm vụ mang thêm quả Claymo nữa.

Trời tối hẳn, chúng tôi bắt đầu di chuyển.

Lúc đầu, cả tiểu đoàn còn di chuyển ngay trên mặt lộ.

Đi được khoảng hơn 1 cây số, chúng tôi bắt đầu rẽ trái xuống đi men theo ven lộ.

Hôm nay đã là hạ tuần rồi, trăng mọc rất muộn vả lại cũng nhiều mây nên trời tối đen.

Tôi quan sát xung quanh mà chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy bóng những cây thốt lốt đen thui in bóng lên nền trời mờ ảo.

Thỉnh thoảng, lệnh từ phía trên truyền xuống thì thào..im lặng...im lặng hoặc ...đi thấp xuống, cúi thấp xuống.

Nghe lệnh đi thấp xuống, tôi lom lưng thấp xuống nhưng chỉ một đoạn ngắn lưng tôi đã mỏi nhừ.

Khẩu RPD bây giờ mới tỏ rõ cho tôi biết sức nặng của nó, cái hộp tiếp đạn dự phòng cứ lách cách đập vào chiếc Xanh tuya lông làm hông tôi càng mau mỏi.

Mình thật là ngu.

Tôi lầm bẩm.

Bỗng một bàn tay ấn vào vai tôi :

- Đi thấp xuống chú em, nó nhìn thấy nó cho một tràng mười hai ly tám bây giờ.

Tôi cố nhìn xung quanh.

Có thấy chó gì đâu, tối mù thế này ngay cả người bên cạnh còn chẳng nhìn rõ nữa là địch ở mãi tít tận đâu đâu.

Tôi thầm nghĩ.

Ngay lúc đó, cùng...cùng...cùng...cùng....Những cục lửa đỏ lừ to bằng nắm tay bay vèo vèo trên mặt lộ.

Bỏ mẹ, nó nhìn thấy mình rồi à !!!?

Khẩu 12.8 ly của địch đặt ngay trên mặt lộ từ tít phía trên bắn xối xả một lúc rồi im bặt.

Anh Nhạn thì thào :

- Nó bắn hú hoạ đấy em ạ.

Em chuẩn bị cùng anh vượt lộ nhé.

Kiểm tra lại xem đã chắc chắn tất cả chưa?

Tôi xem lại súng đạn, tư trang.

Trong lồng ngực, tim tôi đập thình thịnh, hơi thở gấp gáp.

Không, chẳng phải tôi sợ đâu nhưng tôi hồi hộp quá.

Lần đầu tiên trong đời, tôi phải đi trước một mũi súng cứ rình rập để bắn mình.

Đừng cười, cứ thử đi rồi sẽ biết.

Nó bắn mình thật chứ đâu phải trò đánh trận giả ngoài Bờ hồ thời còn mặc quần thủng đít mà cười.

Cùng...cùng...cùng..loạt đạn vừa dứt, anh Nhạn kéo tôi chạy băng qua mặt lộ rồi anh lại chạy lộn lại phía bên kia.

Cứ như vậy, những anh lính cựu binh lần lượt hướng dẫn chúng tôi băng qua mặt lộ một cách an toàn.

Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Thì ra cũng không có gì ghê gớm lắm nhỉ.

Chúng tôi đi men theo bên phải lộ rồi băng qua một khu vườn đào lộn hột ( đấy là sáng hôm sau tôi mới biết ).

Trung đội tôi tới chiếm lĩnh một khu vườn rậm rạp.

Một đơn vị của E209 - F7 được lệnh rút về tuyến sau bàn giao trận địa lại cho chúng tôi.

Chúng tôi ổn định lại đội hình, phân công nhau các hướng phải phụ trách.

Tôi và thằng Minh được phân công gác một mũi.

Tôi gác từ tối đến nửa đêm, thằng Minh gác từ nửa đêm đến sáng.

Chao ôi, nhớ lại ngày còn đang huấn luyện ngoài 308.

Cả đại đội mới có một vọng gác.

Lần lượt từ trung đội nọ sang trung đội kia, mỗi trung đội gần 30 thằng.

Tính ra cả 6, 7 tháng huấn luyện tôi mới phải gác có 3, 4 lần.

Mỗi lần 1 tiếng đồng hồ mà đã thấy ngại.

Đã có lần trời rét quá, trong phiên gác tôi tìm cái ổ rơm chuyên dùng để ủ thùng nước nóng cho đại đội uống, ngủ một mạch.

Đến khi B trưởng thấy quá giờ mà chẳng thấy tôi gọi đổi gác, ra kiểm tra thấy tôi vẫn ôm súng nằm ngủ ngon lành.

Kết quả là sáng hôm sau nhận một án kỷ luật là đào một hố chứa rác ngay đầu nhà đại đội.

Bàn tay phồng rộp vì đào trên đất đá ong.

Vậy mà bây giờ, đêm nào cũng phải gác mà lại chỉ có hai thằng một đêm.

Mà mấy ông lính cũ lại cứ nằm ngủ chỏng dái trong hầm.

Điên máu thật.

Đúng là ma cũ bắt nạt ma mới.

- Thằng em gác đến nửa đêm, lúc nào thấy chòm Tua rua lên đến đỉnh đầu thì vào gọi thằng Minh ra thay gác.

Nhớ là chỉ bấm vào chân nó thôi, đừng gọi ầm lên nhé.

Dặn dò xong chúng tôi, anh Vinh " heo " chui ngay vào hầm ngủ.

Chòm sao Tua rua, cái chòm sao cong cong hình giống như cái dải đất hình chữ S Việt nam ta đó, sao lúc này nó bò lên chậm chạp đến như vậy.

Ngồi gác mà tôi cứ ngắm nhìn lên bầu trời.

Nó xoay xoay nhích dần lên một cách chậm chạp vô cùng.

Xung quanh tôi chỉ còn tiếng vo ve của đàn muỗi khổng lồ háu đói, tiếng côn trùng kêu rên rỉ , ộp oạp từ ngoài cánh đồng vọng vào.

Vừa sốt ruột ngắm chòm Tua rua, tai tôi lại phải căng ra để nghe tiếng côn trùng rỉ rả.

Lúc nãy, anh Nhạn đã dặn chúng tôi là nếu thấy côn trùng đang kêu mà bỗng im bặt thì phải gọi các anh dậy ngay.

Có thể bọn trinh sát Miên nó bò vào tập kích đấy.

Đầu óc tôi căng lên như sợi dây đàn.

Thỉnh thoảng lại có chú chuột đồng chạy đâm bổ vào chỗ tôi ngồi.

Chao ơi là sợ.

Kiểu này ngày mai mình phải khâu cái khăn mặt lại thành cái mũ chùm vào đầu để chống muỗi mới được, kẻo sau mấy hôm thì sốt rét là cái chắc.

Cái bọn muỗi này xoa thuốc chống muỗi cũng chẳng ăn thua gì.

Các bạn hãy hình dung người lính như tôi ngồi gác đêm ra sao nhé.

Đầu đội chiếc mũ cối, dưới là chiếc khăn mặt bông màu xanh lá được khâu lại, trùm lên phủ từ trên đầu xuống kín gáy, chỉ hở mỗi đôi mắt.

Chân đi đôi giầy lính cao cổ, tất ( vớ ) kéo cao chùm ra ngoài ống quần.

Tất cả chỉ để chống muỗi.

Phần da thịt nào hở ra ngoài không trùm kín được thì xoa thuốc chống muỗi của Mỹ.

Rồi thì cuối cùng, đêm gác đầu tiên trên chiến tuyến cũng đã trôi qua một cách yên bình.

Mấy ngày hôm sau, chúng tôi khi thì kiểm tra sửa sang lại công sự, khi thì ngồi tán tào lao.

Các anh lính cũ đã nhìn chúng tôi bằng ánh mắt thân thiện.

Các anh tận tình chỉ bảo tỉ mỉ cho chúng tôi từng tí một.

Sáu tháng huấn luyện có lẽ chẳng có tác dụng sát sườn bằng những cuộc nói chuyện tào lao xung quanh ấm trà Blao và gói thuốc rê lúc này.

Thằng Minh ngồi tỷ mẩn khắc tên Minh Nguyệt bằng tiếng Trung Quốc lên quả da láng M26.

Cái thằng đến là tài hoa.

Chơi đàn ghita cũng được, hát cũng được, vẽ vời cũng không đến nỗi nào.

Nó được thừa hưởng cái gien tài hoa của Bố nó, hoạ sỹ Quang Mộng Goòng.

Dáng cao cao, trắng trẻo, nếu không có chiến tranh thằng này mà đi cua gái thì khối em " chết " với nó.

Khắc xong nó thầm thì với tôi : " Quả này tao sẽ dùng để chia đôi với tụi nó.

Chúng nó không bao giờ bắt sống được thằng Minh này".

Có lẽ những câu chuyện bên bàn trà về sự dã man của lính Pôn Pốt đối với tù binh đối phương khi rơi vào tay chúng đã tác động đến thằng Minh.

Nó lau chùi quả M26 đến là cẩn thận.

Chắc nó lo rằng khi cần sử dụng đến mà quả lựu đạn này lại không nổ chăng?

Các bữa ăn buổi sáng và buổi trưa vẫn diễn ra như thưòng lệ, cơm nắm và tép rang.

Riêng buổi chiều, anh nuôi mang trực tiếp....tép rang và cơm nóng lên trận địa.

Ôi, cái món tép chết tiệt ấy.

Vừa mặn chát, sạn ngấm sạn ngầm lại còn có mùi tanh tanh, thum thủm.

Thật khó mà nuốt được.

Tôi thuộc vào cái loại " phàm phu tục tử " mà cũng thấy chối.

Được cái, đơn vị đang hoạt động tĩnh tại, các anh em trong các B cũng rất chịu khó cải thiện.

Nào thì rau tập tàng nấu canh, vài ngọn lá ớt, vài ngọn rau dền, mùng tơi, vài ngọn rau muống mọc hoang và cả cái thứ rau gì lá hơi tim tím, nhơn nhớt hình giống như ba ngón tay xoè ăn chua chua, ngọt ngọt như có mì chính mà tôi quên mất tên ( Nấu canh cá thì tuyệt vời - Ở Việt nam tôi không thấy có ), thế là được một nồi canh hoàn hảo, nào thì ớt xanh bằm trộn bột canh và ....thịt chuột đồng.

Anh B phó họ Quách ( tôi quên mất tên ) người dân tộc Mường – Hoà Bình làm bẫy bắt chuột rất nghề.

Chỉ một vài đoạn lõi dây dù, vài thanh tre là có được ngay dăm cái bẫy.

Bỏ một ít hạt cơm vào cái hốc khoét ở bờ ruộng là sáng hôm sau, tôi đã thấy 2 ống đựng đạn DK82 đầy nhóc toàn chuột.

Sợ xanh mắt !!!

Những bữa ăn như vậy, tôi thường chuồn sang B bên cạnh ngồi ăn với chúng nó để khỏi phải thưởng thức cái món thịt chuột dù rằng rất ngon lành kia.

Thỉnh thoảng, anh Nhạn lại kiếm ở đâu mang về cho chúng tôi một vài mầm ngọn cây dừa.

Ngọt và ngon ra phết.

Ăn ngon hơn khoai lang sống rất nhiều.

Lại nói một chút về nơi chúng tôi đứng chân.

B tôi chiếm giữ một vị trí ở đầu phum, ngay phía sau lưng là một con đường nhỏ nối phum với lộ 1 dài chừng 100 m, chếch sang bên trái, phía sau con đường là nơi đặt khẩu DK 82 của C14 thằng Long ngay cạnh vườn trồng đào lột hột.

Phía trước băng qua một cánh đồng hẹp rộng chừng 250 mét là phum Ang Kunh địch đang chiếm giữ.

Bên tay phải là chốt của B1 trong cùng đại đội.

B của tôi nằm ngoài cùng, hơi chếch phía trên so với khẩu DK của C14.

Chếch bên tay phải là một khoảng rừng tràm thấp nhưng rất rậm rạp.

Bọn địch thường lợi dụng khu rừng tràm này để lẻn vào tập kích đơn vị tôi.

Chốt của tôi, thằng Minh, anh Nhạn là một khu vườn nhỏ nằm ngoài cùng.

Trên chốt có hai cái hầm, một hầm chữ Z là hầm chiến đấu, một hầm thùng dùng để ngủ.

Trên nóc hầm thùng có lát bằng ba tấm gỗ tốt, dày khoảng 15 phân to như chiếc phản.

Mặt gỗ bóng nhãy.

Chiều nào yên tĩnh, tôi và thằng Minh cũng leo lên nóc hầm nằm gác chân lên nhau nói chuyện chơi.

Chuyện gia đình, chuyện quê hương, bạn bè, chuyện về " Trăng sáng " của nó.

Nó cứ nhớ mãi hình ảnh đôi chân trắng nõn của nàng khi đi gánh nước.

Trắng nõn...trắng sáng...trắng lấp lánh chập chờn khi ẩn khi hiện trong dòng hồi tưởng.

Rồi nó kể nó làm quen với cô nàng ra sao, chuyện tình của nó với cô nàng đến đâu rồi...

Còn tôi, tôi cứ nằm trên tấm phản, vừa nghe chuyện của nó, vừa ngắm nhìn những đàn ngỗng trời bay miệt mài lên hướng bắc.

Ôi, giá mà mình được là con ngỗng này nhỉ.

Chắc chỉ một hai hôm sau là mình có thể chao cánh bay lượn trên bầu trời Hà nội thân thuộc rồi.

Cứ như vậy...

Hôm nào rảnh, chúng tôi lại chuồn sang khẩu đội DK 82 của thằng Long chơi.

Sang đó để ngồi nghe chuyện do một anh lính 74 người Thanh hoá kể, thôi thì đủ các chuyện.

Từ " Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang ", rồi chuyện Tam quốc... ( Mà sao anh ấy lại có thể thuộc làu làu đến như vậy nhỉ? ).

Khi thì tán chuyện tào lao đủ thứ trên đời.

Thằng Long vẫn cứ như vậy, vẫn ù lì như thường lệ.

Nó ngồi trong hầm chăm chú đọc sách mặc kệ mọi chuyện ầm ào diễn ra xung quanh.

Nó đọc những gì mà chăm chú đến vậy?

Thưa các bạn, nó đang nghiền nào tiếng Anh, toán, lý ,hoá ...

Nó bảo với tôi rằng nó phải ôn kẻo lại quên mất.

Sau khi ra quân, nó sẽ tiếp tục thi vào Bách khoa.

Ôi, ông bạn " Thần sầu " của tôi ơi, ông mơ mộng quá, hâm quá mất rồi.

Nhưng rồi sau đó một tuần, trong trận đánh tấn công đầu tiên, dưới sức nặng của những quả DK 82 nó phải mang vác, nó mới hiểu ra rằng có lẽ những quyển sách toán , lý, hoá ...kia phải ném xuống vệ đường.

Có chăng chỉ giữ lại quyển nào có giấy tốt tốt, mềm mềm để phục vụ cho công đoạn cuối cùng trong hệ ...tiêu hoá. ( Lúc ấy, chưa thằng nào trong chúng tôi nghiện thuốc lá, thuốc rê ).

Chiều ngày 15.06.1978, chúng tôi tập trung lên quan sát sở đại đội nghe bổ biến về chiến dịch tấn công sẽ diễn ra ngày mai.

Chúng tôi sẽ phải đánh chiếm mục tiêu là ngã ba Chi Phu.

Đội hình tiến công sẽ được xe tăng T54 và M41 yểm trợ, pháo quân đoàn, pháo sư đoàn chi viện bằng 155 mm và 105 mm.

Tôi thấy thái độ của anh Nhạn tỏ ra rất vui.

Anh bảo chúng tôi:

- Ngày mai đánh chắc cũng nhàn thôi, đù má ( lại đù má ) chúng mày đừng lo.

Chúng tôi được phát bổ xung đạn dược, lương khô và mỗi thằng tiêu chuẩn được một hộp thịt gà - Hà lan hẳn hoi, nặng 800gr.

Bên ngoài có đề " hàng viện trợ cho nhân dân Việt nam trong cơn bão số...

".

Có lẽ chúng tôi may mắn được hưởng ké đây mà.

Buổi chiều hôm ấy, bữa cơm thật là tươm tất.

Có canh rau tập tàng, có đọt dừa xào với...nước thịt gà hộp, có thịt gà hộp đã ướp thêm chút gia vị, bột ngọt, có bát bột canh trộn ớt bằm nhuyễn.

Tất nhiên không thể quên cảm ơn các anh nuôi đã mang cho các B một vài lít chất cay.

Cứ chén xả phanh đi, ngày mai rồi hãy tính.

Đã có mỗi thằng mấy phong lương khô 701 rồi, sợ gì đói.

Bữa ăn thật quá đã.

Ăn xong, có trà Blao, thuốc lá Đà lạt.

Chỉ cần cạy quả mìn Claymo ra, véo một ít thuốc nổ bằng đầu ngón tay dẻo như kẹo kéo là chúng tôi đủ nấu nước uống cho cả bọn.

Ngọn lửa xanh lè, nóng rừng rực.

5 giờ sáng hôm sau, chúng tôi băng qua mấy thửa ruộng trước mặt, bí mật tiền nhập, chiếm lĩnh vị trí tấn công.

Tiến đến sát bờ tre phía ngoài phum Ang Kunh trước mặt, thằng Minh, anh Nhạn giá chặt 2 quả Claymo xuống đất, rồi dòng dây điện về chỗ chúng tôi.

Tôi cũng giá khẩu RPD nhằm thẳng vào ô cửa sổ của căn nhà sàn lợp ngói.

Oàng...oàng....oàng...

Pháo quân đoàn, sư đoàn đã đồng loạt nổ.

Những ánh lửa chớp lên nhang nháng.

Ùng ..oàng..ùng...oàng tiếng DK82 của B thằng Long đang quất từng quả đĩnh đạc.

Anh Nhạn, thằng Minh cũng bấm 2 quả Claymo, thực ra tôi đã nhìn thấy thằng địch nào đâu mà hai ông ấy vẫn cứ bấm.

Chắc cho nó nhẹ để còn xung phong.

Tôi nhằm thẳng ô cửa sổ kéo từng điểm xạ ngắn.

Anh Nhạn nhìn tôi gật gù ra chiều ưng ý lắm.

Liếc sang cạnh, thằng Minh mặt lấm tấm mồ hôi đang mím mồm, mím lợi điểm xạ hai viên một.

Chà, bài học " sâu tay cò, không lo tắc cú " bây giờ mới mang ra sử dụng đây, Tôi thầm nghĩ.

Phía bên tay trái, trên lộ 1, những chiếc xe tăng T54 và M41 lừ lừ hành tiến, thỉnh thoảng lại giật lên một cái, chớp lửa đầu nòng loé lên rồi tôi mới nghe thấy một tiếng...

Oành !

- Đù má, lên tụi bay.

Anh Nhạn tay xách khẩu M79 vọt lên phía trước.

Thằng Minh tiến sát theo sau.

Tôi lễ mễ ôm khẩu súng " khốn nạn " của tôi lao lên, vừa chạy tôi vừa quét túi bụi.

Bắn bừa đi cho nó nhẹ bớt.

Tiếp cận được tới bờ một con kênh đào, tôi dừng lại để thay hộp tiếp đạn.

Thế là hết 100 viên.

Bọn địch không chịu nổi trước sức tấn công mãnh liệt của chúng tôi đã bắt đầu rút chạy.

Chúng chạy toé ra cánh đồng phía bên tay phải.

Những bóng người mặc quần áo đen chạy bán sống bán chết.

Thằng mang theo vũ khí, thằng chạy tay không.

Chắc là bên cánh trái, với sự có mặt của xe tăng, chúng không dám rút theo phía bên ấy.

Chúng không ngờ rằng bên này lại có chúng tôi đang nằm phục đóng lõng.

Cả B tôi đồng loạt nổ súng, tiếng cóc..cóc.. oành .. oành của khẩu M79 của anh Nhạn rung lên như tiếng trống, tiếng AK của thằng Minh, tiếng RPD của tôi hoà nhịp hệt như một dàn hoà tấu khi khoan, khi nhặt.

Vừa bắn, tôi lại phải vừa để ý nhặt từng dây tiếp đạn rơi ra.

Không nhặt thì tí nữa lấy gì mà lắp đạn.

Sao cái loại súng này thiết kế dở thế không biết !!!

Chúng tôi lao dọc theo bờ kênh, tiến một đoạn ngắn, tôi nhìn thấy một thắng lính Pôn Pốt, nằm ngay trong lòng kênh cạn nước thở phì phò.

Một đoạn ruột chắc dính mảnh xé rách bụng lòi ra ngoài.

Tôi bỗng thấy thương cảm, đi đến gần định lấy ra cuộn bằng Mỹ để băng giúp cho nó.

Thằng Minh gọi giật giọng :

- Thọ, để đấy tao băng cho nó cho.

Tôi vừa ngoảnh lại thì tằng tằng...tằng tằng.

Cả bốn viên AK đã găm vào ngực tên lính.

Thằng Miên mắt trợn ngược lên, đầu nghẹo sang một bên.

Nó đã về với nước chúa.

Thằng Minh lầu bầu :

- Đằng nào mà nó chẳng chết, lòi ruột gan ra rồi.

Mày băng cho nó, thế tí nữa mày bị thì lấy c..ra mà băng à?

Nó mắng tôi xối xả.

Dù thế nào, trong tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng.

Đến gần trưa, chúng tôi đã tiến được chừng khoảng 1 cây số và nhập vào đội hình chiến đấu của tiểu đoàn.

Vác trên vai khẩu súng, tôi lững thững đi theo sau mấy cái T54 đang hành tiến.

Cạnh đấy, thằng Long mặt mày đen nhẻm khói súng vừa đi vừa cười nhăn nhó, quả DK 82 trên vai chắc là nặng lắm đấy.

Ba lô sách của nó đã biến đi đâu mất, thay vào đó là cái túi mìn Claymo mỏng mảnh.

Có thế chứ, đã sáng mắt ra chưa " con ".

Giữa trận mạc tùm lum khói súng thế này còn bày đặt học với cả hành.

Đúng là " cả ngố ".

Anh Nhạn nhay nháy mắt cười, nói với chúng tôi :

- Đù má, tao đã bảo mà.

Chúng mày thấy không, trận này đánh nhàn lắm mà.

Ngã ba Chi phu vẫn còn cách xa chừng hai, ba cây số.

Chúng tôi không đánh thẳng theo trục lộ mà lại rẽ sang phía tay trái đánh sang Phum Prey Ko Ki.

Phía trước, cách chừng 200 m là mấy dãy nhà ngói dài, xem chừng giống như một khu trường học cũ.

Cặp bên trái khu trường là một con kênh khô cạn chạy dọc thẳng tắp.

Phía trước khu trường, bên cạnh chiếc ao nhỏ, những bụi chuối mọc xanh mướt mát.

Chúng tôi vọt lên chạy phía trước những chiếc xe tăng, bỗng thằng Minh lấy báng súng gõ gõ vào thằng chiếc T54, anh lính phụ trách khẩu 12 ly 8 cúi xuống gào lên :

- Cái gì vậy ông?

Theo hướng tay chỉ của thằng Minh, một khẩu 12 ly 8 của địch đặt trên ô cửa sổ ngôi nhà sàn mái ngói phía xa đang khạc lửa mãnh liệt vào đội hình chúng tôi.

Anh lính xe tăng gật đầu rồi tụt vào xe.

Chiếc xe dừng lại, chiếc nòng pháo, từ từ quay o o lấy hướng xạ kích.

Oàng.... một nửa ngôi nhà mái đỏ biến mất.

Quá chính xác !

Với khoảng cách gần một cây số mà T54 bắn, phải nói là " thôi rồi Lượm ơi ".

Khẩu 12 ly 8 của địch đã bị tiêu diệt, chúng tôi ào lên tiến sát bờ ao, nơi có mấy cây chuối mọc.

- " Chà, mệt.

Nghỉ cái đã chúng mày".

Anh Nhạn " Khùng " bảo nhỏ chúng tôi.

Chúng tôi nằm lăn ra cạnh bờ ao và khát nước.

Suốt mấy tiếng đồng hồ chiến đấu dưới trời nắng chói chang, chiếc bi đông đầy nước từ sáng đến giờ đã không còn một giọt.

Tôi lấy dao găm xả luôn cây chuối nhỏ mọc ngay trước mặt.

Móc lấy phần lõi cho luôn vào mồm nhai.

Chát thế không biết.

Thằng Minh nhai thấy chát quá liền phun ra phì phì.

Nó tháo chiếc mũ sắt vục ngay một mũ nước ao, cái thứ nước đục ngầu, tanh tanh, ngờn ngợn đất đưa ngay lên mồm tu ừng ực.

Thôi thì theo nó vậy, tôi cũng làm một hơi.

Ngọt, mát và đã khát quá.

Thằng nào đói, đã có lương khô.

Ăn lương khô 701, uống nước ao tù, làm gì mà chẳng no bụng !!!

Nghe chừng đã đỡ đói và mệt, theo lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi tiếp tục đánh chiếm ngôi trường ( cứ cho là như vậy, có bố ông giời biết là khu nhà ấy là nhà gì ? ) phía trước.

Trung đội tôi tản ra, men theo những tán cây trong vườn bí mật tiếp cận sát dãy nhà .

Tôi và Minh, men theo hành lang, đến một cái của sổ không có cánh cửa.

Thằng Minh ra hiệu cho tôi luồn sang bên trái, nó ép sát người bên phải.

Cả hai cùng rút chốt hai quả M26.

Một..hai..ba, hai tiếng nổ bùng lên phía trong lớp học, thằng Minh nhanh như cắt chống tay vào bậu cửa sổ, tung người lao vào phía trong bắn loạn xạ.

Tôi lạch bạch ôm súng nhảy vào theo nó.

Khói tan, chẳng có thằng mẹ nào chết cả.

Nhưng vì cái động tác như phim Liên xô rất gây ấn tượng của nó mà sau trận này, nó được đề nghị thưởng huân chương chiến công hạng ba còn tôi được bằng khen đấy.

Trong chiến đấu, thằng Minh là một chiến sỹ rất dũng cảm, thông minh nhưng pha đôi chút lãng tử, liều lĩnh của chàng trai Hà thành.

Nó cứ học ở đâu đó, trên phim, trong sách truyện rồi áp dụng vào thực tế.

Chúng tôi lao ra phía cửa sổ đằng sau, lính Pôn Pốt chạy đen cánh đồng phía sau.

Chúng tôi nằm xuống bãi đất phía sau trường, khẩu RPD trong tay tôi nổ rung lên bần bật.

Do tầm bắn quá thấp, tôi không thấy thằng địch nào ngã cả.

Tôi hét lên :

- Minh ơi, súng thấp tầm quá.

Thằng Minh liền quay ngay lại, nó vớ ngay hai cái càng khẩu RPD của tôi, quỳ cạnh một gốc cây bên cạnh và đưa càng súng của tôi lên vai.

Lại một kiểu của Bế Văn Đàn rồi.

Mặc kệ, tôi siết cò.

Những tràng đạn dài của chúng tôi đã quét hết toán lính địch đang chạy trên cánh đồng, hắt chúng xuống con kênh chạy dài bên cạnh.

Anh Vinh " heo " đang đứng bên cạnh gốc cây bỗng kếu ối một cái.

Một viên đạn của địch bắn trúng cái mông béo tròn của anh, máu phun ra thành vòi.

Anh Nhạn băng bó cho anh Vinh xong, bộ phận vận tải liền chuyển anh Vinh về tuyến sau.

Những chiếc xe tăng sau khi húc đổ ngôi trường, chồm lên hướng ra thẳng ngoài cánh đồng.

Tiếng súng dần thưa thớt.

Khung cảnh buổi chiều trên chiến trường thật khó quên.

Những ngôi nhà sàn gỗ bốc cháy ngùn ngụt, nổ lốp đốp, khói bốc lên đen đặc một góc trời.

Đó đây, những xác giặc nằm rải rác.

Bộ đội sau gần một ngày chiến đấu liên tục đã gần như kiệt sức, tranh thủ nằm nghỉ ngay trên mặt ruộng.

Những chiếc xe tăng gầm gầm gừ gừ chạy tới chạy lui.

Thỉnh thoảng lại oàng ..oàng bắn vào những ngôi nhà sàn còn sót ở phía xa xa.

Tôi vừa nghỉ, vừa tranh thủ lắp nốt những viên đạn cuối cùng trong cơ số mang theo vào hộp tiếp đạn.

Đến gần tối, chúng tôi vào tiếp quản phum Prey Ko Ki ( tên những phum này có được là do bản đồ của Trungsy1 và Tuaans cung cấp, xin cảm tạ hai bạn - rất mong các bạn theo sát để giúp tôi nhé ), cách Chi phu chừng 2, 3 ki lô mét về hướng đông nam.

Quan sát sở đại đội đóng bên tay phải con lộ nhỏ đi lên sẽ gặp lộ 1 tại ngã ba Chi Phu.

B tôi chốt ngoài rìa phum, bên tay phải đại đội.

Anh Nhạn phân công tôi và Minh ra hẳn ngoài cánh đồng, đào hầm lập chốt tiền tiêu ngoài đó, cách con đường nhỏ khoảng 50m.

Vừa mệt, vừa đói.

Làm sao mà đào được hầm đây.

Tôi và thằng Minh đi tháo những cánh cửa sổ của những ngôi nhà còn nguyên vẹn, đem về lát ngang trên rãnh dẫn nước vào ruộng, dải ni lon đi mưa xuống, căng tấm tăng lên thành một cái lều nhỏ.

Súng ống để bên cạnh.

Cơm nước xong xuôi, hai thằng nằm thẳng cẳng trên chốt.

Quá ngon !!!

Tới gần nửa đêm, cơn mưa ập đến xối xả, nước mưa rơi trên mái tăng cứ rào rào như gõ trống, phía dưới gầm lều, nước chảy mạnh thành dòng.

Hai thằng chúng tôi cứ thu lu trong lều, lúc đầu còn cảnh giác thay nhau căng mắt ra theo rõi xung quanh.

Đến lúc mệt quá rồi thì .... kệ mẹ địch.

Các bố chúng mày phải ngủ cái đã.

Sống chết có số.

Thế là hai thằng cứ nằm ôm nhau ngủ giữa đồng không mông quạnh, đánh thẳng một giấc đến khi trời sáng.

Sáng hôm sau, có lệnh dừng củng cố tại chỗ.

Tôi và Minh đi lang thang xem những ngôi nhà nằm trong khu vực đóng quân của đại đội.

Trong một ngôi nhà, tôi nhặt được một con dao găm lưỡi dao cong cong, chuôi sừng có nạm bạc rất sắc và đẹp.

Trong khi lang thang, thỉnh thoảng bọn địch từ phía đầu phum mạn Chi phu phát hiện thấy bọn tôi lại bắn 12 ly 8, hàng loạt tiếng nổ chát chúa cùng.. cùng.. cùng, cùng ...cùng ...cùng.

Cóc sợ !!!

Có lẽ trải qua trận chiến đấu như ngày hôm qua, thì tiếng cùng...cùng vớ vẩn của khẩu 12 ly 8 không còn gây.....sao xuyến cho hai thằng tôi nữa.

Buổi chiều 17.06, chúng tôi nhận được thư nhà do anh nuôi mang tới.

Nào thư của Bố mẹ, thư của các em tôi, thư của các bạn...

Thằng Minh mặt mày hớn hở.

Nó nhận được thư của Minh Nguyệt – Trăng Sáng.

" Anh Minh mến nhớ " - lần đầu tiên Nguyệt gọi tao bằng anh đấy, nó vui vẻ khoe với tôi.

Chúng tôi ngồi trên ngôi nhà sàn đổ nát, cùng chung nhau đọc những cánh thư nhà.

Buồn vui lẫn lộn.

Sau hai ngày dừng lại nghỉ ngơi, củng cố đơn vị.

Rạng sáng ngày 19.06, trung đoàn chúng tôi tổ chức đánh chiếm ngã ba Chi phu.

Vào khoảng 3 giờ sáng chúng tôi bắt đầu hành quân, đến hơn 4 giờ sáng tiểu đoàn 3 bí mật tiếp cận mục tiêu, hướng tấn công của tiểu đoàn 3 là hướng đông nam, phía bên tay trái ngã ba Chi phu.

Qua mấy đêm mưa liên tục, nước ngập đầy các thửa ruộng mà mấy bữa trước còn khô nứt nẻ.

Kiểu này T54 khó mà đánh hành tiến cùng với bộ binh đây.

Tôi thoáng nghĩ.

Dù mới tham gia chiến đấu nhưng tôi đã có được cái cảm giác " ấm sườn " mỗi khi nghĩ đến có xe tăng cùng tham gia trận đánh.

Vững tin lắm, yên tâm lắm các bạn ạ.

Bò vào sát vị trí được phân công, theo lệnh của anh Nhạn, mỗi đứa chúng tôi đào một cái hầm, nói là hầm cho oai chứ nó chỉ to hơn cái ổ gà đẻ tí chút.

Nhờ có mưa, đất mềm nên chỉ sau mấy phút hai đứa chúng tôi đã dũi xong hai cái....ổ.

Nước ngấm vào rất nhanh, phút chốc hai cái ổ đã ngập đầy nước.

Thằng Minh lăn xuống nằm rồi thì thầm với tôi : " Như là hồ bơi Quảng bá mày ạ ".

Cái thằng, lúc nào nó cũng tếu táo được.

Có lẽ nó cố tình như vậy để quên đi nỗi buồn của gia đình nó chăng?

Cha là một hoạ sỹ tài hoa, mẹ là nghệ sỹ đoàn cải lương Chuông vàng.

Ông bà chia tay để lại cho nó nỗi buồn khôn tả, rồi cô bạn gái của nó – Trăng Sáng kia nữa, nó ngỏ lời mà chưa được đáp lại.

Tất cả điều ấy đều đọng lại trong đôi mắt của nó, tôi biết rõ như vậy.

Có thể cũng vì những điều ấy mà trong chiến đấu, nó bao giờ cũng lao lên phía trước.

Mạnh mẽ, dứt khoát đôi chút liều lĩnh bất chấp những hiểm nguy đang đe doạ bản thân mình.

Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những dòng này, những hành động đầy quả cảm, máu lửa và kiêu hùng của thằng Minh, người đồng đội, đồng hương thân yêu vẫn hiện lên rõ nét trong tâm chí của tôi hơn bao giờ hết.

5g30 !

Tiếng pháo chi viện của quân đoàn, sư đoàn đã phát hoả.

Vi..u u ..

Oành.. oành..

Những ánh lửa loé lên như chớp giật, những đám lửa bùng cháy như muốn xé rách bầu trời vừa tảng sáng.

Tiếng súng các cỡ nổ dồn dập.

Này, chết mẹ mày đi này, này chết cụ mày đi này.... vừa lẩm bẩm trong mồm, tôi vừa xiết cò súng.

Từng tràng đạn nổ dài hoà nhịp với tất cả.

Trong tôi, mọi suy nghĩ vớ vẩn về cái chết, về quê hương, gia đình, bạn bè lúc trước khi nổ súng bỗng biến đâu hết cả.

Pháo chi viện vừa ngưng bắn.

Xung pho..o..ong!

Tôi sách súng vượt qua mấy bụi cây Mắc cỡ, ào lên chiếm ngay mô đất sát cạnh ngã ba.

Bọn địch dựa vào hệ thống hầm hào phòng ngự, chống đỡ quyết liệt.

Tiếng DK75, DK82 của địch nổ chát chúa, mấy chiếc tăng T54 không thể tiến lên được.

Mùa mưa đã đến, T54 chỉ còn mỗi con đường độc đạo là lộ 1, nên không thể tạo thế bao vây chia cắt quân địch.

Chúng tôi giành nhau với địch từng mét đất trong ngã ba.

Đến quá trưa, địch – ta chia nhau mỗi bên giữ một nửa thị trấn Chi Phu.

đại đội chúng tôi chiếm được một khu nhà sàn ngay sát bên trái lộ 1.

Chúng tôi nhanh chóng đào hầm, triển khai kế hoạch chiến đấu phòng ngự giữ chốt.

Những bữa ăn lương khô + nước ao tù của mấy ngày qua, lúc này đã bắt đầu phát huy tác dụng với tôi.

Bụng tôi đau quặn.

Tôi cứ xì xoẹt suốt, không biết là bao nhiêu lần.

Người choáng váng, mệt bã.

Tôi vốn có bộ máy tiêu hoá cực kém ( theo " gia truyền " của gia đình bên nội ), nên cứ ăn hơi lạ bụng là biết tay nhau ngay.

Thằng Minh lo lắng ra mặt, nó trèo lên cây ổi ngay cạnh hầm, hái mấy bút ổi non đưa cho tôi nhai, nuốt.

Sang ngày hôm sau, cái bụng tôi êm dần.

Thời gian chốt tại Chi phu của đại đội tôi không hề êm ả như lần chốt trước.

Địch – ta cùng chung nhau một nơi, chỉ cách nhau có một khoảng trống nhỏ rộng chừng hơn 100 mét.

Phía trước hầm của B tôi là một rặng le dày, bên một gốc cây Me cổ thụ, trước rặng le là một cái giếng xây, vài ruộng rau muống đã cằn.

Qua mấy ruộng rau đã là bên địch.

Bên phải ruộng, sát lộ 1 là những bầu sen chạy dài lên phía trước.

Sáng nào cũng vậy, lũ M113 gắn DK 75, DK 82, pháo 105 mm của địch nằm bên kia sông Bang Kougne phía cầu Tà Yên cũng ùng oành nhả đạn vào chốt của chúng tôi từ sáng đến trưa thì mới dứt.

Bọn lính bộ binh địch thì hò hét trô..trô..trô nhặng xị.

Chúng tôi bình tĩnh đợi địch đến gần rồi đồng loạt nổ súng hất ngược bọn chúng ra xa.

Cứ như vậy, ngày nào cũng giống ngày nào, kéo dài hết cả tuần.

Xế trưa ngày 22.06, Anh B phó họ Quách tên Um hay Sum rất khó nhớ, lên sát gốc cây Me để quan sát tình hình địch, một quả cối 82 nổ bất thình lình ngay trên ngọn, mảnh văng tứ tung.

Anh gục xuống tại chỗ, anh Truyền – y tá đại đội băng lên kéo anh vào nấp sau bức tường đổ.

Chúng tôi xé áo của anh ra, một dòng máu đỏ tươi dịn ra ngay sát dưới vú trái.

Anh đã tắt thở.

- Đứt cuống tim chúng mày ạ.

Anh Truyền thở dài phán.

Cũng mảnh quả cối đó, thằng Minh dính ngay một mảnh vào ngón tay ở bàn tay phải.

- " Nhẹ thôi ", trúng mánh rồi.

Nó nhe răng cười với tôi và giao hẹn

- Tao đi viện vài ngày rồi lại về với mày.

Thế là còn lại chỉ mình tao.

Tôi thầm nghĩ.

Xung quanh vẫn còn biết bao đồng đội nhưng tôi vẫn không tránh được cái cảm giác trống trải khẽ len vào tôi.

Có nó ở bên cạnh chia sẻ, tôi yên tâm biết bao.

.Mấy hôm nay, chiều nào trời cũng mưa rất to.

Những hạt mưa quất thẳng vào tôi ràn rạt.

Hạt mưa rơi xuống nòng súng bốc hơi xèo xèo, nghi ngút.

Tôi đang thẳng tay quất những loạt đạn thẳng căng vào bọn khốn khiếp.

Bỗng xoạch.. tiếng súng tắt đột ngột.

Khẩu RPD của tôi câm như hến.

Hết đạn rồi à?

Không phải, dây tiếp đạn vẫn còn thòng ra những viên đạn vàng choé.

Tôi kéo quy lát lên đạn.

Quy lát bó chặt cứng không nhúc nhít.

Bọn địch thấy tiếng trung liên im bặt liền hò hét xông lên.

Chết mẹ rồi Thọ ơi.

Giữa lúc như thế này mà lại dở chứng tắc súng thì " thôi rồi Lượm ơi ".

Tôi hét lên :

- Anh Nhạn, súng em bị tắc rồi.

Anh Nhạn hô khẩu đội đại liên 3 càng Kô li cốp bắn yểm trợ rồi nhào sang hầm tôi.

Tôi mở ốp khoá nòng, tháo băng đạn ra.

Viên đạn kẹt cứng trong ổ chứa.

Hai anh em mắm môi, mắm lợi kéo khoá nòng.

Vẫn không được.

- Mày mang súng chạy về quan sát sở đại đội, bảo bọn nó sửa cho.

Đù má, mưa gió thế này, mấy hôm đ... chịu lau súng nên cho mày chết.

Tôi chui ra khỏi hầm, chạy băng về hầm đại đội trong tiếng đạn rít vèo vèo bên tai.

Anh Bình " trắng " ( để phân biệt với một anh cũng tên là Bình – B trưởng B3 người Đông Anh – Hà nội ) B trưởng B1, vừa lên quyền đại đội trưởng C11 thay đại đội trưởng kiêm chính trị viên bị thương trong trận chiếm Chi phu hôm 19.06 thấy tôi liền hỏi :

- Sao vậy thằng em?

Tôi phân trần trong hơi thở gấp :

- Em đang bắn, súng bỗng nhiên bị tắc.

- Tại thằng em quá lười, không chịu lau chùi bảo quản phải không?

Anh ôn tồn nói.

Tôi gật đầu.

Đánh nhau liên miên, tôi thấy súng còn mới toanh, cứ bóp cò là nổ, cần gì phải lau với cả chùi.

Ai ngờ nó lại tắc tị giữa lúc như thế này.

Một bài học thấm thía.

Trong lúc ngồi chờ cho quân khí khắc phục khẩu súng.

Anh Bình, anh Truyền y tá pha " bồi dưỡng " cho tôi một cốc bột sữa trứng, tiêu chuẩn của cán bộ đại đội.

Đúng là " đường sữa phát từ trên phát xuống, cuốc xẻng phát từ dưới phát lên ".

Lính tráng phía dưới chúng tôi nào có biết bột trứng, bột sữa nó mặn ngọt như thế nào đâu.

Anh Truyền vỗ vai tôi với giọng rất " chính trị viên :

- Ở dưới này, nghe RPD của em nổ, bọn anh yên tâm lắm.

Rất đĩnh đạc.

Của đáng tội, tôi nghe cũng " phổng cả mũi ".

Tất cả những cốc sữa trứng, ngụm trà, điếu thuốc và những lời động viên có cánh ( mấy hôm ở chốt, tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc ) nhằm mục đích động viên tôi, tôi biết vậy.

Lại nói một chút về anh Truyền y tá.

Anh Truyền chỉ là y tá đại đội nhưng rất có uy tín trong các lớp cán bộ của C11.

Khi bố trí đội hình tấn công hay phòng ngự, ý kiến tham gia của anh rất có trọng lượng, thậm chí có khi là quyết định bởi bề dày tham gia chiến đấu của anh.

Đại trưởng, đại phó, chính trị viên thi nhau hy sinh, bị thương còn anh vẫn cứ vẫn yên vị.

Chính nhờ " sống lâu " như thế nên anh đã trở thành " lão làng " trong việc chỉ đạo tác chiến của đơn vị tôi.

Anh tỏ ra bao dung với tôi khi lần gặp nhau đầu tiên, tôi đã " anh anh, tôi tôi " với anh khi biết anh là y tá.

Đến bây giờ tôi mới hiểu anh.

Súng đã sửa xong, tôi vác súng lao cắm cổ về vị trí chiến đấu quen thuộc.

Tiếng súng lại nổ giòn đĩnh đạc.

Trong lúc tôi chạy về sửa vũ khí, một quả DK82 đã " hốt " gọn tổ đại liên của đại đội.

Ba thằng, hai chết tại chỗ một bị thương rất nặng.

Thằng Ước " lác " - dân Nghệ an cùng đoàn với tôi đang nằm thở khò khè, nặng nhọc, mắt vẫn " lác lộn " toàn lòng trắng.

Anh Nhạn lật người nó lên xem rồi phán :

- Đù má, nó sắp chết rồi.

Thằng Ước bỗng cố ngẩng đầu lên :

- E..e.m....em..chư...chư..a ..ch..ết..đ...âu.C..á..c..anh..c..ứ..u..em với.

Đang lo lắng, thương cảm, tôi vẫn phải phì cười.

Cái thằng này sao mà nó lác đến vậy.

Hai lòng đen mắt nó cứ chập ríu vào với nhau.

Vậy mà lại được điều vào tổ đại liên.

Chẳng biết bắn chác ra sao?

" Một thằng bảo an nhìn hoá ra ba thằng bình định ".

Chúng tôi vẫn trêu đùa nó như vậy.

Vậy mà bây giờ.......

Liên lạc đại đội báo cho tôi biết, tôi phải về quan sát sở đại đội ngay.

Về đến nơi, anh Bình, anh Truyền pha nước mời tôi và nói :

- Chắc em đã biết, tổ đại liên vừa bị xoá.

Bọn anh đã cân nhắc kỹ, trong đại đội không ai có thể sử dụng khẩu đại liên này hơn em cả.

Nghe tiếng điểm xạ của em, bọn anh tin rằng khẩu đại liên sẽ phát huy tốt tác dụng nếu rơi vào tay em.

Bốc phét, lại chiến thuật " động viên " vớ vẩn.

Nhưng tôi biết, đằng sau những lời ngọt ngào ấy là mệnh lệnh chiến đấu.

Tôi không nhận mà được với các ông ấy à?

Đồng thời, anh Bình cũng thông báo tôi được nâng quân hàm, từ binh nhì lên binh nhất.

Trinh sát tiểu đoàn thông báo có ít nhất hơn 40 tên ngục ngã trước mũi súng của đại đội tôi.

Tôi trở về bàn giao lại khẩu RPD để sang nắm tổ đại liên.

Binh nhất Lê thái Thọ.

Có tôi !

Và ..kình..kình...kình.. tiếng đại liên của tôi lại vang lên ròn rã, góp phần đánh bật mũi tấn công của mấy thằng Pốt chó đểu.

Rạng sáng ngày 25 .06 ( ngày sinh nhật lần thứ 19 của tôi ).Tiểu đoàn 3 của chúng tôi được lệnh rút về phía sau để nghỉ ngơi và củng cố.

Trận địa phòng ngự Chi Phu được giao lại cho D1 đảm trách.

Bàn giao trận địa xong, chúng tôi rút theo lộ 1 về tuyến sau, Gọi là tuyến sau nhưng thực chất cũng chỉ cách tiền duyên chừng hơn 1 cây số.

Thôi thế cũng " ấm " chán.

Nơi chúng tôi nghỉ ngơi chính là " cứ " anh nuôi của đại đội, một ngôi nhà sàn nằm nép mình bên phải lộ 1.

Ngay trên mặt lộ bên cạnh cứ, hai khẩu 105 mm và hai khẩu cối 106,7 mm của quân đoàn hay sư đoàn suốt ngày đêm ầm ầm nhả đạn.

Chúng tôi tranh thủ tắm giặt, ngủ nghê sau một tuần chiến đấu căng thẳng.

Cả đại đội " nồng nỗng " ào ra thửa ruộng phía sau cứ.

Nước ruộng trong văn vắt.

Nào chạy nhảy, cười đùa té nước ầm ĩ cả một góc đồng.

Nào cho tao xin tí xà phòng...

Mày quê ở Phú thọ à?

Thôi, kỳ cho tao cái lưng.

Chiếc dép cao su chở thành vật dùng để kỳ cọ rất hiệu quả, ghét cứ bay đi hàng mảng ( vì cả tuần có tắm giặt gì đâu ), chỉ còn lại những tấm lưng, phản ngực đỏ au, sạch sẽ, mỡ màng.

Quần áo phơi đầy trên những bụi cây lúp xúp.

Chúng tôi nhanh chóng tạm quên ngay những ngày máu lửa, bi thương vừa trải.

" Mưa lúc nào, mát mặt lúc đó " – Lính mà em.

Lại có thư, thằng nào ít cũng phải có dăm ba lá.

Tòng teng nằm trên cánh võng ( lúc này, lũ lính mới chúng tôi vừa được nhận quân trang bổ xung ), quần đùi áo may ô thoải mái, thằng thì đọc thư, thằng viết thư, thằng nghêu ngao hát hò vui vẻ.

Nằm chán, tôi lại đi lên mặt lộ xem mấy khẩu pháo của ta bắn.

Hay thật, tôi nhìn rất rõ quả đạn 105 mm bay ra khỏi nòng.

Cõ lẽ gia tốc lúc ban đầu còn nhỏ nên đạn bay rất chậm, nhìn rõ mồn một.

Dưới bếp, mấy anh nuôi đang hồ hôi, mồ kê nhễ nhại trổ tài nấu nướng bồi dưỡng cho mấy thằng thoát chết trở về.

Bữa ăn có gì nhỉ?

Dưa leo, rau sống, bánh tráng, thịt heo luộc, thịt rang mặn, cơm canh đủ cả, thuốc rê thì hàng táp.

Tất nhiên là không thể thiếu được can rượu trong vắt như mắt mèo.

Bao nhiêu phụ cấp toàn đơn vị đều do anh nuôi giữ hộ cả.

Ngoài tiền mua thuốc rê, vở viết Cogido ( dùng để cuốn thuốc là chủ yếu ) và mấy thứ lặt vặt để gửi lên trên chốt, còn lại đổ tất vào những cuộc nhậu này cả.

Gạo tiền của thằng đã chết, của thằng đã bị thương đi viện.

Mặc kệ, đã có nhà nước lo.

Bây giờ phải lo cho những thằng còn lại, cho nó xả láng mấy hôm.

Nay sống, mai ngẻo biết thế nào được.

Trong bữa nhậu, anh Bình – quyền C trưởng nói thủng thẳng :

- Tao nói trước, bọn D1 nó chẳng giữ được lâu đâu.

Chúng mày cứ chuẩn bị tinh thần sẵn sàng, nó mà bục chốt là tụi mình phải lên lấy lại đó.

Mỗi một đơn vị đều có những cái " dớp " mà khó có thể giải thích rõ ràng rành mạch bằng lời được.

Tiểu đoàn 1 của trung đoàn tôi chốt chặn rất kém.

Cũng những con người ấy, vũ khí trang bị ấy, thế mà cứ động chốt là lại bị " bung ".

Mà chốt đã bị " bung " đơn vị nào phải đánh chiếm lại rất khổ.

Máu phải đổ ra nhiều hơn so với đánh chiếm lần đầu.

Cả bàn nhậu lặng đi một lúc.

Anh Truyền y tá ôn tồn :

- Mày nói làm gì cho anh em nó mất vui.

Lúc nào trên bảo đánh thì ta đánh.

Việc của chúng ta là đánh.

Lo trước làm gì cho mệt xác.

Chỉ ngày hôm sau, sau bữa nhậu buổi chiều chúng tôi được lệnh lên đường.

Có lẽ nào lời nói của Anh Bình " trắng " đã thành sự thật.

Nhưng thật ra không hẳn như vậy.

Buổi trưa hôm ấy, một xe Zep chở tốp cán bộ tham mưu quân đoàn đi qua nơi nghỉ ngơi của chúng tôi lao lên chốt Chi phu.

Người lái xe cứ rõi theo đường dây thông tin hữu tuyến rải ven đường mà đi.

Mải nói chuyện, anh lái xe và mọi người không để ý đến đường dây hữu tuyến đã hết từ lúc nào.

Bỗng phía trước mặt xuất hiện một thằng lính Pốt cầm khẩu B40 lao ra chặn đường.

Bỏ mẹ rồi, thì ra xe đã vượt qua tuyến tiền duyên lúc nào không biết.

Chiếc xe quay đầu định tháo lui.

Không kịp nữa rồi.

Ùng...oàng... hai tiếng nổ gần như chập vào một.

Toàn bộ tốp cán bộ tham mưu quân đoàn chẳng thoát một ai.

Lo rằng, trong tốp cán bộ có ai đó bị thương và bị địch bắt sống, kế hoạch dự định tấn công đánh chiếm nốt Chi Phu và phát triển lên chiếm cầu Tà yên sẽ bị lộ.

Cấp trên ra lệnh cho Trung đoàn 1 cùng với các đơn vị bạn lập tức lên đường đánh chiếm các mục tiêu như kế hoạch đã dự tính.

Chỉ có thời gian là thay đổi.

Ngày N - ...

Bữa nhậu vừa kết thúc.

Đại đội chúng tôi lại lên đường, Tôi lại trở về với B của anh Nhạn với khẩu RPD quen thuộc.

Vài anh lính còn đang trong trạng thái lơ mơ.

Đi trên bờ ruộng mà thỉnh thoảng lại loạng choạng bổ nhào xuống ruộng lõm bõm nước.

Tiếng cưòi vẫn rộ lên....

Chúng tôi lại nhằm hướng nam, nơi có con lộ nhỏ không tên vừa đánh bữa trước.

Trời tối, chúng tôi tập trung tại một căn nhà nhỏ ở phum Prey Ko ki.

Sau khi chính trị viên tiểu đoàn phổ biến nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị.

Anh đứng trên một mô đất cao nói với chúng tôi :

- Đợt chiến đấu sắp tới sẽ diễn ra rất quyết liệt, tính bất ngờ có thể không còn nữa.

Nhưng tôi xin hứa với các đồng chí, các đồng chí cứ yên tâm chiến đấu.

Nếu đồng chí nào chẳng may hy sinh, chúng tôi dù rằng phải hy sinh thêm ba bốn đồng chí nữa để mang xác các đồng chí về, chúng tôi cũng quyết không để các liệt sỹ nằm lại trận địa.

Trong chiến đấu đối với người lính, cái sợ nhất có lẽ là bị đồng đội bỏ rơi mình nằm trong tay địch, dù còn sống hay đã chết.

Nghe chính trị viên nói vậy, chúng tôi cũng yên lòng phần nào.

Do kết quả của những bữa ăn xả láng vừa qua, bụng tôi lại có vấn đề.

Thật chết vì cái mồm.

Nguời mệt rã rời.

Đêm ấy, tôi ngồi gác để cho anh Nhạn và thằng Màu ( người Tam đảo Vĩnh phúc - lính mới tò te được bổ xung vào B tôi thay thằng Minh ) ngủ trước.

Đang gác, người tôi bỗng lạnh run, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, chân tay run lẩy bẩy.

Bỏ mẹ, sốt rét rồi.

Từ chỗ tôi ngồi gác vào đến hầm thùng, nơi Anh Nhạn đang nằm chỉ có khoảng chưa đến chục mét mà tôi bò mãi mới đến nơi.

Tôi thì thào báo cáo với anh Nhạn.

Anh Nhạn ra gác thay cho tôi và bảo tôi vào hầm nằm.

Thằng Màu lấy hết màn, tăng, nilon đắp lên người tôi, lấy 2 viên Quinin cho tôi uống.

Vẫn run lập cập.

Thằng Màu liền đè cả người nó lên người tôi cho ấm.

Ôi, cái tình đồng đội sao mà ấm áp thế, đáng quý thế.

Màu ơi, bây giờ em ở đâu?

Sáng hôm sau, người tôi ê ẩm rã rời, các khớp xương như muốn long ra từng đoạn.

Cơn sốt đã dứt nhưng tôi vô cùng mệt.

Tôi liền báo cáo với anh Nhạn xin phép cho tôi được về cứ anh nuôi nghỉ ngơi ít ngày cho lại sức.

Anh Nhạn trầm ngâm một lát rồi động viên tôi :

- Thọ ạ, nếu B mình còn nhiều người thì anh sẽ đồng ý cho em về cứ ngay.

Nhưng em xem, cả B bây giờ còn có 3 anh em.

Nếu em về nghỉ thì còn mỗi anh và thằng Màu ú a ú ớ, nó chưa đánh đấm bao giờ....

Thôi, em cố gắng một chút nhé.

Em đưa khẩu RPD cho anh, còn em em cầm lấy khẩu M79 này cho nhẹ.

Lần đầu tiên tôi thấy anh nhẹ nhàng đến vậy, tịnh không thấy một tiếng đù má, đù cha trong câu nói của anh.

Tôi lặng lẽ cầm lấy khẩu M79 và dây đạn anh đưa.

Tôi còn biết nói gì nữa.

Trung đội đã hao tổn qúa nhiều trong suốt những trận đánh vừa qua.

Mỗi người còn lại phải cố ráng lên một chút vậy.

Chúng tôi không ngờ rằng, trận đánh chiếm Chi phu lần này lại nhàn đến vậy.

Khi tiểu đoàn 3 lên đến nơi, các đơn vị bạn đã giải quyết xong.

Chúng tôi thong thả hành quân hướng về cầu Tà yên.

Người mệt mỏi rã rời sau trận sốt rét, tôi đi rất chậm và nghỉ liên tục.

Mãi đến trưa, chúng tôi mới lên đến nơi.

Do anh nuôi không thể đưa cơm lên kịp, chúng tôi dừng chân bên một căn nhà nhỏ cạnh cầu Tà yên để nấu cơm ăn trưa.

Khoảng 2 g chiều, chúng tôi rẽ xuống con đường nhỏ bên tay trái hướng về phum Prey khlok.

Chiều tà thê lương, vắng lặng không một tiếng súng.

Không gian quánh đặc mùi tử khí.

Chốc chốc, chúng tôi lại bắt gặp những xác người ( địch hay dân nhỉ? ), xác trâu bò hoặc vừa chết, hoặc chết đã lâu bốc mùi sặc sụa.

Vòng vèo mãi đến lúc trời tối mịt, chúng tôi mới tới được Prey Ampil.

Mệt rã rời, cả trung đội ( mà cũng chỉ còn có 3 mống ) chui vào một căn lều sát ngay bên đường.

Chẳng kịp mắc võng, tôi lăn ra đất ngủ một mạch.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi mới nhận ra cả bọn nằm ngủ ngay trong chuồng bò, phân vẫn còn đầy trên mặt đất.

Chúng tôi thay nhau đi đào hầm, xác định vị trí xạ kích...

Buổi chiều, sang C14 tìm thằng Long xem nó có ổn không?

Hơn nửa tháng, đánh liên miên cũng chẳng kịp để ý đến nhau nữa.

Đang đi, bỗng thấy tiếng gọi Thọ ơi í ới.

Hoá ra bọn thằng Chương bên C12 ( hay C13 nhỉ??? ) ở phố Ngõ Trạm.

Chúng nó vừa bắn chết mấy con Trâu.

Thấy tôi, chúng nó gọi vào để ăn thịt Trâu luộc chấm với muối ớt.

Anh em xa lâu ngày nay gặp lại, tay bắt mặt mừng, vui quá thể.

- Sao chúng mày không xào thịt lên ăn có phải ngon hơn không?

Tôi hỏi.

- Làm gì có mỡ, mắm muối.

Thôi cứ luộc lên, mỗi thằng một tảng.

Thịt nhiều vô kể.

Cả mấy con trâu, chúng nó chỉ xẻo lấy có mấy cái đùi sau và tim, gan.

Còn thì vứt tất.

Thật phí của giời.

Hôm sau, chúng tôi nghỉ ngơi và bổ xung thêm trang bị, tôi nhận khẩu B40, còn khẩu RPD giao lại cho thằng Màu.

Tôi hướng dẫn cho Màu cách tháo lắp, cách sử dụng khẩu súng.

Thằng Màu thủ thỉ kể cho tôi về gia đình, về bản thân nó.

Đang ở nhà chăn trâu, nó phải đi bộ đội.

Huấn luyện chỉ hơn một tháng đã phải lên đường vào đây.

Nó chưa được bắn một phát súng nào.

Nó bảo tôi :

- Anh ơi, lúc nào các anh " chạy ", anh nhớ bảo em với nhé !

- Yên tâm đi, nhưng sao mà phải " chạy "?

Tôi lên giọng " lính cựu ".

- Thì em nghe thấy mấy anh bảo, thỉnh thoảng mình vẫn bị Miên nó đánh cho chạy " re kèn " mà !

Tôi bảo nó mang súng ra ngoài hầm phía sau, lúc nào nghe thấy tiếng súng bọn Miên bắn thì cho nó bắn thoải mái.

Lúc nào nghe tiếng súng mà nó hết thấy sợ thì thôi.

Đến khoảng nửa đêm hôm ấy, đại đội chúng tôi được trinh sát trung đoàn dẫn đi đánh phối thuộc với trung đoàn 2.

Đêm tối như hũ nút, tôi cứ bì bõm bước thấp bước cao theo sát anh Nhạn đi phía trước.

Cứ có lệnh nghỉ tại chỗ là tôi đặt ịch giá đạn xuống đất, không thèm tháo nó ra khỏi vai và tranh thủ nhắm mắt.

Buồn ngủ quá trời.

Chúng tôi đi theo một bờ đê của con sông chạy về thị xã Svayrieng.

Đang vừa đi, vừa ngủ gà gật bỗng..Ùm.

Tôi phi cả người xuống sông.

Thằng Màu vội vàng kéo tôi lên.

Xung quanh, chúng nó cứ bịt mồm cười khùng khục.

Trinh sát trung đoàn không bắt được liên lạc với trung đoàn 2, chúng tôi lại quay về vị trí cũ.

Đêm hôm sau cũng vẫn như vậy, chúng tôi cứ ra đi lúc nửa đêm và về lúc gần sáng.

Sáng hôm sau, anh Nhạn càu nhàu tôi :

- Đi đột ban đêm mà giày của mày cứ lép nha lép nhép, lộ bố nó mất.

- Nhưng nước nó cứ tràn vào giày của em, đi nặng chình chịch.

Tôi cãi.

- Đù má, mày ngu lắm.

Lấy dao chặt ngay cái mũi giày đi " con ạ ".

Nước có vào, chỉ cần chống mũi giày lên là ra hết.

Lại một bài học bổ ích cho tôi.

Tôi và thằng Màu lập tức thực thi " mệnh lệnh ".

Chiều ngày 06.07.1978, trời mưa tầm tã.

Trung đoàn tôi được lệnh đánh lên chiếm khu nhà tôn nằm ở dải đất cao nhô lên phía trước phum Prey Ampil.

Vừa lên được khoảng hơn trăm mét, bọn địch đã phát hiện thấy chúng tôi.

DK, B40, B41 đạn nhọn của chúng bắn xối xả vào đội hình của ta.

Không thể lên được.

Sau hơn một tiếng nằm úp mũ lên, che mặt ngủ giữa trời mưa, chúng tôi được lệnh rút về vị trí cũ.

Chiều hôm sau, hội nghị quân chính đại đội được tổ chức.

Anh Han " đen " người Thanh hoá – Lính 74, nguyên B trưởng cối 82 bên C14 được điều về thay anh Bình " trắng ", vừa bị thương hôm trước làm đại đội trưởng.

Anh Han người to cao và đen, nói năng mạnh mẽ, dứt khoát chứ không nhỏ nhẹ như anh Bình.

Hội nghị trình bày phương án tác chiến của ngày mai.

Ngày mai, chúng tôi sẽ vẫn đánh lên khu nhà tôn phía trước.

Nhưng phương án có sự thay đổi.

Bên tay phải chúng tôi, trung đoàn 2 đảm trách, khu vực giữa là trung đoàn 3, bên tay trái là trung đoàn Vàm cỏ.

Trung đoàn tôi là dự bị của sư đoàn, tiểu đoàn 3 là dự bị của trung đoàn, còn C11 của tôi là dự bị của tiểu đoàn.

Trợ chiến gồm có 4 chiếc M113 của lữ 22, pháo 155 của quân đoàn 300 quả, 2 khẩu 105mm, 2 khẩu 85 mm nòng dài, 2 khẩu 37 mm của sư đoàn hạ nòng bắn thẳng.

Quá chuẩn !!!

Thế thì chúng mày có mà nát như tương.

Đại đội tôi lại là dự bị của dự bị của dự bị.

Ba lần dự bị thì chỉ có mà ngồi chơi xơi nước.

Tôi sung sướng thầm nghĩ.

5g30 sáng ngày 08.07.1978, tiếng pháo quân đoàn, sư đoàn đồng loạt nổ.

Tôi ngồi thu lu cùng đồng đội trên luỹ đất mọc toàn cây le, nhìn thấy toàn cảnh của trận chiến.

Còn hay hơn cả xem phim " Giải phóng " của Liên xô.

Ùng..

ùng..

ùng Oàng.. oàng... oàng pháo ta nện dữ dội.

Tiếng 105 ly âm âm nặng nề, tiếng 85mm thì thẳng căng đanh sắc, tiếng 37 ly dồn dập.

Những chớp lửa nhằng nhằng giật bay mái tôn, khói bốc lên cuồn cuộn.

Chà chà, quá sướng, quá hay, quá đã !!!.

Phát này thì chúng mày phải nát như tương Bần.

Pháo vừa chuyển làn, xe M113 lừ lừ tiến sau bộ binh của trung đoàn Vàm cỏ, hai trung đoàn 2 và 3 bộ đội cũng bắt đầu xung phong thoắt ẩn thoắt hiện sau những cây Thốt lốt.

Nhưng sao thế kia.

Một M113 bị DK của địch bắn cho tung xích.

Bộ đội lao lên rồi ngã xuống.

Ôi, sao " bị " nhiều thế kia, ngã nhiều quá.

Các đơn vị vận tải lao lên khiêng, vác thương binh tử sĩ về tuyến sau.

Đang mải chăm chú xem " phim ", tôi bỗng nghe tiếng thông tin 2W đứng cạnh tôi :

- 919001, 919001...

Thôi bỏ mẹ rồi ! mã 919001 là ký hiệu của đại đội tôi.

Chắc có khó khăn nên đơn vị dự bị phải vào trận rồi.

Mà cái trò đánh đã không thắng thì dự bị phải lao vào chỗ đang khó khăn nhất.

Dĩ nhiên !!!

Tôi xốc giá đạn lên vai, tay sách thêm một quả B40.

Anh Han dẫn chúng tôi lao ra hướng của trung đoàn 3.

Tuyến tiến công vướng toàn sình lầy.

Chúng tôi cứ phải lao men theo bờ ruộng.

Thảo nào mà bộ đội bị thương vong nhiều như vậy.

Bọn địch cứ nhằm bộ đội ta đang di chuyển rất chậm do vướng sình mà bắn.

Lại ngã rồi, lại ngã rồi....

Tôi lao lên nhằm thẳng phía trước.

Ùng..oành.

Tôi nổ súng.

Tai tôi ù đặc.

Nhớ lời anh Nhạn dặn, tôi làm luôn phát nữa.

Thông tai rồi.

Bắn B40, B41 khi vào trận là cứ phải làm liền hai phát để thông tai.

Rút kinh nghiệm đã được chứng kiến, tôi không chạy theo bờ ruộng vì sợ bị địch bắn tỉa, ba chúng tôi lội ào xuống sình chạy tản ra.

Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu..

đạn đại liên của địch xiên vèo vèo trước mặt.

Tôi lấy quả đạn thằng Màu đang cầm cắm ngay vào nòng, nhìn thấy ổ đại liên của địch đang nhả đạn, tôi bóp cò.

Ùng ..oàng.

Trượt mẹ nó rồi !

Tôi nằm chúi đầu xuống ven bờ ruộng.

Phập.. phập.. phập.. chíu.. chíu.. chíu..

đạn đại liên của địch cày ngay trước mặt tôi.

Chắc thằng này đã nhìn thấy tôi rồi.

Không thể di chuyển đi đâu được vì xung quanh toàn sình lầy.

Nằm đây chắc chết quá.

Tôi thầm nghĩ vậy.

Lại phập.. phập.. chíu.. chíu..

Cằm tôi bỗng giật lên.

Thôi bỏ mẹ, dính rồi, máu chảy đỏ ngực áo.

- Anh Nhạn, em dính rồi.

Tôi vừa nhỏm dậy định rút thêm một quả đạn thì ... bụp !

Tôi thấy toàn thân tê dại.

Một viên đại liên nữa của địch phá nát bàn tay phải của tôi.

Tôi hét :

- Anh Nhạn, em lại bị viên nữa.

- Nằm im đấy, tao sẽ sang băng cho.

Đù má, sao trận này dính nhiều thế này.

Anh Han C trưởng thấy tôi bị thương liền chồm sang, vớ ngay khẩu B40 của tôi lắp đạn và bóp cò...Ùng.... oàng.

Tiếng đại liên địch im bặt.

Quá đau, tôi thò tay còn lại rút con dao găm chiếm lợi phẩm mà tôi rất quý, cắt tất cả dây đeo giá đạn, bỏ luôn cả túi mìn Claymo trong đó có sổ sách, đồ dùng cá nhân...., cả con dao quý báu của tôi nữa.

Vứt , vứt hết.

Tôi nghe tiếng anh Nhạn hét ầm lên :

- Đù má thằng Han nhé, mày làm cháy hết người ông rồi.

Thì ra, trong khi đang loay hoay để bò sang chỗ tôi, anh Nhạn đã bò ngay sau khẩu B40 đúng lúc anh Han nổ súng tiếp.

Cả quầng lửa chùm lên lưng anh Nhạn.

Anh Han hét :

- Chửi con c..., mày và thằng Thọ băng bó xong cố chạy về tuyến sau đi.

Nằm đây đợi vận tải thì có mà toi cả nút.

Anh Nhạn lao đi, cái áo đã bay đi cả mảng để trần ra tấm lưng đỏ như tôm luộc, da lợt từng đám trông dễ sợ.

Tôi tê dại cả nửa người, nhưng nằm đây thì chết là cái chắc.

Tôi cố gắng vùng dậy, cứ theo bờ ruộng chạy về.

Bọn địch chắc nhìn thấy tôi liền bắn theo chiu chíu.Vừa nhìn thấy hầm cối 60 của đại đội, tôi phi cả người lao xuống.

Bọn ở cối 60 giúp tôi băng lại vết thương ở cằm và ở tay.

Một viên sượt qua xé rách cằm, một viên xuyên qua lòng bàn tay phải làm toác lòng bàn tay và cổ tay tôi.

May rồi, nếu viên ở cằm mà dịch lên chút nữa thì có mà....đi buôn hoa quả sớm.

Hoá ra, ở đời chết cũng không phải dễ.

Ngồi ở hầm cối của đại đội, tôi chứng kiến trận đánh tiếp tục.

Bộ đội ta vẫn không thể nào tiến lên được.

Đù má, phải mang bọn trinh sát ra mà chém đầu.

Ai lại vạch hướng tấn công toàn vào bãi sình thế này, chết là phải.

Tôi lầm bầm.

Ở hầm bên cạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 1 - Trung tá Ba C....

- đứng theo dõi trận đánh cùng mấy vị chắc là sĩ quan tham mưu.

Ông buồn bã :

- Sao dính nhiều thế này.

Tao thương mấy thằng lính chết trẻ quá.........

Hai chiếc M113 còn lại đang dỉn dỉn bò về theo đường lộ.

Một sĩ quan tham mưu bảo tôi :

- Thôi, thằng em ra lộ, bảo mấy thằng M113 nó cho về phẫu trung đoàn.

Chắc đơn vị sắp rút rồi.

Thế là thua, thua đau đớn.

Tôi cứ tưởng rằng trận đánh này sẽ vô cùng nhàn nhã.

Binh hùng tướng mạnh thế kia mà.

Ngờ đâu lại tan tác đến vậy.

Tôi chán chường, đau đớn ( cả thể xác lẫn tinh thần ) loạng choạng ra lộ.

Mấy lính trên xe kéo tôi lên chiếc M113 chạy thẳng về trạm phẫu trung đoàn tại Ang Tamok.

Lúc đó là 11g ngày 08.07.1978.

Tại trạm phẫu trung đoàn, thương binh nằm la liệt khắp nơi.

Tiếng kêu la, tiếng rên rỉ, những khuôn mặt méo đi vì đau đớn, cánh tay tôi giờ đã sưng vù to như bắp chuối làm phồng căng cả tay áo K74.

Tôi ngồi dựa lưng vào cột nhà sàn nhìn ngó xung quanh.

Trận đánh này trung đoàn chắc thiệt hại nặng.

Hoá ra, trận nào mình chuẩn bị tinh thần để vào trận ác liệt thì lại nhàn, trận nào mình tưởng nhàn như đi chợ thì lại bị đánh đến " biêu đầu mẻ trán ".

Thương binh được phân loại ngay.

Trọng thương – trung thương – khinh thương.

Bộ phận phẫu chủ yếu là phân loại thương binh, băng bó và phát quần áo cho anh em nào quá rách, cho anh em ăn tạm bát cháo để lấy lại sức.

Những chiếc xe tải chở thương đi lại tấp nập.

Tôi được băng bó sơ qua, phân loại là trung thương rồi quẳng lên một chiếc xe chở về phẫu của sư đoàn đóng tại Chi Phu.

Tại phẫu Chi Phu, bác sỹ Cường - người Hà nội cùng khối 68, tiểu khu Hàng Trống với tôi ( thấy bác sỹ bảo vậy – hay cũng là một cách động viên đây ) trực tiếp chăm sóc vết thương cho tôi.

Nhìn vết thương đầy bùn đất, bác sỹ bảo :

- Để tránh bị nhiễm vi trùng uốn ván, tốt nhất là em để anh cắt bàn tay đi cho an toàn.

- Ấy anh ơi, anh mà cắt cụt tay em thì em còn làm ăn được gì?

Tôi nghĩ đến bàn tay viết lách nay cụt lủn.

Chán chẳng buồn chết.

- Anh cố gắng giữ cho em.

Tôi nài nỉ.

Bác sỹ không nói gì, anh cắt lọc rồi đổ ôxy già vào rửa vết thương.

Anh đổ vào vết thương của tôi 1 lọ Penicelin bột rồi khâu túm lại.

- Anh chỉ sơ cứu tạm thế này, chiều về Sài gòn, các bác sỹ ở đấy sẽ sử lý tiếp nhé.

Chiếc ô tô tải thương của sư đoàn chở tiếp chúng tôi về Mộc bài thì dừng lại.

Các Má, các chị ở đấy xúm lại đỡ bọn thương binh chúng tôi xuống xe.

Nào nước mía, nào bánh ú, bánh mì....

Nhưng tôi thì không uống nổi, nuốt nổi.

Phần thì đau, phần thì sợ uống vào sẽ loãng máu mà chết.

Chiếc máy bay HU1A phành phạch đến đón chúng tôi.

Quả này có khi được về thẳng viện 108 cũng nên, Tôi thầm nghĩ vơ vẩn.

Lên máy bay, do rung lắc mạnh.

Một thương binh trong số bọn tôi bị thương vào đầu, ộc máu ra....

Từ thương binh anh đã chuyển sang... từ trần.

Tôi nằm thiếp đi trong cơn đau đớn và mệt mỏi.

Sân bay Tân Sơn Nhất buổi chiều nóng giẫy.

Hơi nóng phả từ đường băng bốc lên ngột ngạt.

Chiếc HU1A từ từ tắt máy, những chiếc xe cứu thương đợi sẵn từ bao giờ nhanh chóng áp sát.

Mấy cô y tá trẻ măng, mặc áo bờ lu trắng toát nhẹ nhàng chuyển chúng tôi từ máy bay xuống xe.

Đồng chí liệt sỹ được " ưu tiên " một mình một xe, còn chúng tôi cứ ba, bốn thằng một xe cùng y tá lao nhanh về viện, vừa đi xe vừa hú còi inh ỏi.

Chúng tôi đến viện 115 ( đường Nguyễn tri Phương thì phải ) và nhanh chóng được đưa ngay vào phòng cấp cứu.

Sau khi cắt lọc lại, vết thương của tôi được khâu vá và định vị lại phần xương mỏm chân quay bị vỡ.

Rất may là không phải cắt cụt.

Mừng hết biết !!!.

Ngày hôm sau, tại phòng bệnh trên tầng hai, tôi nằm cùng với một lính của F341, vết thương thấu phổi và gãy tay trái.

Lúc nói chuyện tôi được biết nó cũng là người Hà nội, nhà trên đường Tây sơn – đối diện gò Đống đa.

Ngày mai, nó có tên trong danh sách đi A, sẽ lên máy bay ra điều trị tại viện 103 trong Hà đông.

May quá.

Tôi liền nhắn gửi nó báo tin cho gia đình biết tình hình của tôi.

Đến bây giờ, tôi và gia đình cũng không nhớ được cậu bạn mới quen ấy tên là gì? số nhà bao nhiêu đường Tây sơn.

Thật là ân hận.

Chỉ biết rằng, chỉ 3, 4 ngày hôm sau, gia đình tôi đã biết tin về tôi.

Phòng bệnh tôi nằm điều trị rất đông thương binh, phải đến 50 giường, chia làm hai dãy.

Thương binh đủ các loại, từ các mặt trận gửi về.

Sáng sáng đó đây vang lên tiếng ..tá bô... tá bô..

ầm ĩ. ( lẽ ra phải gọi : Y tá ơi, cho tôi xin cái bô ).

Cả phòng chỉ có hai em y tá phục vụ, làm sao có thể kịp đưa ...bô cho các " bố " được.

Mà chỉ chậm một chút là các " bố " bĩnh ngay ra giường.

Thật quá quắt.

Đã vậy, mấy ông thương binh nặng lại còn chơi khăm.

Họ bố trí cho hai thằng ở hai đầu cùng nhau gọi bô, chưa xong cho hai thằng đầu, thằng ở giữa phòng lại gọi.

Cứ thế.. cứ thế.. họ hành hạ hai cô bé đến là tội.

Phục vụ tôi là cô y tá tên Mai - người Sài gòn, nói năng nhỏ nhẹ không biết cáu bao giờ.

Mặc cho các thương binh cáu gắt, giận dỗi, Mai vẫn nhẹ nhàng làm tốt công việc theo chức trách.

Nào đưa thương binh đi tắm, nào đi xem tivi, nào mắc mùng...

Tôi vô cùng biết ơn và cảm phục cô y tá ngày ấy.

Tôi biết ơn bác sỹ Chín ( tôi không biết tên mà chỉ thấy mọi người gọi theo thứ ), người bác sỹ của QL VNCH đã nhiệt tình chăm sóc vết thương cho tôi.

Tôi cũng nhớ mãi cái cách tiêm của bác sỹ, trông sợ vô cùng.

Bác sỹ cầm xi lanh trên tay, phi đánh phập một cái vào bắp tay rồi bơm thuốc nhưng lại chẳng gây đau cho thương binh chúng tôi.

Tôi nằm cùng với một cậu ở F7, cậu ta bị thương vào ổ bụng.

Hai thằng chúng tôi cứ thay nhau, hôm nay mày báo ăn cháo sữa thì tao báo ăn cháo thịt, ngày mai lại ngược lại.

Cháo thịt thì mỗi xuất nửa chậu nhôm, cháo sữa thì một ngày một hộp " Ông Thọ ".

Hai chúng tôi ăn chung một xuất cháo thịt vẫn không hết.

Sữa thì cuối tuần gom lại ra ngoài bán 7 đồng một hộp.

Tiền tiêu thoải mái luôn.

Tôi nhờ nó viết thư cho ông anh rể của tôi lúc ấy cũng đang là bộ đội ở QK9.

Từ ngày gửi thư, chiều nào tôi cũng ra cổng viện mong ngóng anh.

Mong hoài mà chẳng thấy tăm hơi.

Buồn thật !!!!

Vết thương của tôi cũng liền miệng nhanh chóng, tôi được chuyển về Quân y viện 4 của quân đoàn tại căn cứ Sóng Thần – Bình dương.

Cuối tháng 7.1978, tôi ra viện về đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Lại vòng vèo Sóng thần, Đồng dù, Trảng lớn.

Lần này tôi đi một mình với phương tiện tự túc.

Cuối cùng, bước chân của tôi đã dừng tại cứ ba lô của đại đội tại Mộc bài.

Trong cứ cũng toàn thương binh.

Tôi dừng tại cứ một ngày, đến ngày 27.07.1978 thì tôi quyết định đi bộ lên chốt, lúc ấy trung đoàn tôi vẫn ở Nam Prasaut đóng tại Prey tayung còn tiểu đoàn 3 chốt tại Phum Prey Chamna.

Chẳng mấy chốc tôi đã đến Ba vét, chỉ huy sở sư đoàn 9 đang trú tại đây.

Mệt ! tôi ghé vào nghỉ chân tại dãy nhà đầu tiên.

Đây là dãy nhà của phòng Hậu cần sư đoàn.

Thấy tôi, một thương binh còn đang băng cuốn kín tay, mấy anh trong ban quân nhu sư đoàn mời tôi vào ngồi nghỉ, uống nước.

Hôm đó đúng ngày 27.07, ngày TBLS nên trên bàn còn có bánh kẹo, bia " con cọp "...

Tôi đang ngồi nói chuyện, một chiếc xe " Đốt - hồng thập tự " dừng lại đỗ ngay ven đường.

Anh lái xe bước vào xin ngụm nước.

Chắc đã quen nhau, mấy lính quân nhu hỏi :

- Xe chở gì vậy anh ?

- À, chở một tử sỹ của C11, D3, E1.

Anh lái xe trả lời.

Nghe đến vậy, tôi giật thót người.

Đúng đại đội tôi rồi.

Tôi thoáng nghĩ đến thằng Minh.

Lúc này, chắc nó đã ra viện.

Mình nặng như thế mà còn đi viện chưa đến một tháng mà vết thương của nó thì ....

Nghĩ đến đó, tôi hỏi anh lái xe :

- Anh ơi, cho em hỏi một chút.

Liệt sỹ tên là gì vậy anh?

- Long !

Lê Phú Long – Hà nội.

Bị lĩnh trọn một quả AT tăng vào rạng sáng nay.

Trời ơi, ( anh lái xe chắc nhầm đơn vị.

C14 thành C11 ).

Long ơi, mày đã bị rồi sao?

Tôi chạy vội ra xe, chiếc xe " đốt " cũng thấp.

Tôi nhìn vào xe.

Thằng Long nằm đó, mắt nhắm nghiền, một mảng ngực và cánh tay trái bay đi đâu mất.

Máu, máu đông lại đen đặc.

Long ơi, thế là Tổ Tam tam của chúng mình đã mất đi một thành viên, thế là cái lời nhắn nhủ trên bãi cỏ trước cổng E36 đã một phần biến thành hiện thực, thế là hết những mộng mơ về cổng trường đại học của mày.. thế là... thế là... hết Long ơi.

Chiếc xe chở Long đi rồi, tôi vẫn còn thần thờ nhìn theo... những đám bụi cuốn theo bánh xe chạy....mờ dần...mờ dần rồi khuất hẳn, nước mắt tôi giàn giụa.

Không còn bụng dạ nào để tiếp tục ngồi uống nước, tôi lập tức tiếp tục lên đường, bước chân bây giờ trở nên nặng nề.

Những hình ảnh của thằng Long cứ bán riết lấy tôi lên đến tận nơi tiểu đoàn đứng chân.

Người đầu tiên tôi gặp là thằng Hoan – N.

C.

Hoan ở phố HT.

Nó cùng C14 với thằng Long, nhưng thằng Hoan làm liên lạc cho đại đội.

Tôi hỏi han tình hình về cái chết của thằng Long, nó cứ u a ú ớ.

Cái thằng này cho đến bây giờ cũng vậy, cứ động nói đến những năm tháng khói lửa ngày xưa là nó có vẻ chẳng mặn mà.

Hắn chỉ thích nói đến việc xây dựng kinh tế gia đình, làm ăn, buôn bán.

Mặc dù bây giờ vẫn đang đeo quân hàm trung tá hay thượng tá gì đó.

Buồn hết sức cho những người đồng đội chóng quên quá khứ như vậy. ( Hoan à, nếu mày có đọc những dòng này, mày đừng giận tao nhé.

Điều đó cũng lý giải tại sao tao ít ghé qua nhà mày.

Bởi gặp mày, tao cũng chẳng biết nói chuyện gì cả - thứ lỗi nhé Hoan ).

Tôi nhanh chóng hỏi đường về C11, đại đội thân yêu của tôi, nơi mà thằng Minh đang làm tôi lo lắng đến cháy ruột gan.

C11 của tôi kia rồi.

Đại đội nằm bên một khoảng đất tương đối rộng.

Hầm quan sát sở đại đội nằm ngay cạnh ven đường.

Băng qua khoảng đất rộng là hầm tiên tiêu của thằng Minh.

Nhìn thấy tôi, thằng Minh chạy lại ôm chầm lấy tôi toe toét cười :

- Mày về rồi đấy à?

Thế vết thương có nặng lắm không?

Mày " bị " mà tao chẳng biết mày nằm ở đâu để đến chơi....

Nó hỏi tôi một thôi, một hồi làm tôi chẳng kịp trả lời.

- Thôi, mày về hầm tao nhé.

Thằng Minh phán.

Nó chẳng cần biết tôi có được đại đội phân về với nó nữa hay không.

Nó cứ làm như nó là...đại đội trưởng không bằng.

Nó rủ tôi ra chỗ bốn cây Thốt lốt mọc thẳng thành một hàng, giải ni lon ra rồi hai thằng nằm nói chuyện.

Chuyện nó đi viện ra sao? nó bỏ đi chơi Sài gòn như thế nào ? chuyện "oánh đấm " vừa qua ai còn, ai mất?

Chuyện nó mới nhận được thư Trăng sáng.

Nó khoe :

- Nàng đã " chấp nhận " lời tỏ tình của tao rồi.

Thằng Minh nói giọng đầy phấn chấn.

Trong thời gian tôi đi viện, đại đội có nhiều đổi thay.

Thằng Màu cũng bị thương rồi, trong đơn vị xuất hiện toàn chiến sỹ mới.

Cán bộ chỉ huy cũng mới.

Nó bây giờ chuyển sang bắn B41...

Tôi thông báo cho nó vụ thằng Long bị " dính ", nó lặng người trầm ngâm.

Đến bây giờ nó mới được biết.

Thằng Minh có vẻ rắn rỏi và trưởng thành lên rất nhiều, nằm nói chuyện với tôi, nghe 12.8 ly của địch nổ toang toác mà tôi thấy nó hầu như chẳng để ý gì đến.

Còn tôi cứ giật mình thon thót.

Bạn không biết chứ, gần một tháng được nằm nơi hoà bình, phố phường đô hội, cơm có người bưng, nước có người rót, tắm có người kỳ lưng.. con người ta chóng " hư " quá.

Những phản xạ có được nhờ trải qua trận mạc bỗng biến đâu mất cả.

Giờ đây, nghe tiếng đạn nổ đầu nòng cũng đã giật bắn mình.

Trong sâu thẳm, le lói trong tôi một nỗi sợ mơ hồ.

Chán thật !!!

Đến cuối giờ chiều, đại đội gọi tôi lên.

Đại đội trưởng ( mới ) thông báo cho tôi biết : Theo thông báo của tiểu đoàn, do vết thương của tôi chưa ổn định nên tiểu đoàn quyết định tôi sẽ về tập trung tại trung đoàn để đi an dưỡng một thời gian.

Khi nào vết thương bình phục hoàn toàn sẽ trở về đơn vị.

Tôi vừa mừng vừa buồn lẫn lộn.

Tôi lại sắp xa thằng Minh rồi, đến bao giờ mới gặp lại nó đây.

Chiều tà, tôi lên đường trở lại chỉ huy sở trung đoàn.

Thằng Minh tiễn tôi đến tận quan sát sở tiểu đoàn.

Tôi và nó dặn dò nhau đủ thứ.

Với vẻ tần ngần, nó lấy ví, chiếc ví nhựa màu xanh có in hình một cô gái nghiêng đầu cười nhay nháy mắt quen thuộc.

Nó rút ra đưa cho tôi một tấm ảnh chân dung.

Tấm chân dung chụp nó nhìn nghiêng, mặc quân phục sao, tiết đang hoàng hồi ở Xuân Mai.

- Tao tặng mày tấm ảnh này, mày cầm lấy làm kỷ niệm Thọ nhé.

Giọng thằng Minh nghe chừng xúc động.

Tôi chưa từng thấy nó như thế bao giờ.

- Mày thật vớ vẩn.

Tao chỉ đi an dưỡng một thời gian rồi tao lại trở về với mày thôi mà.

Tôi gạt đi.

Tôi đã từng chứng kiến những " linh cảm ", những " kiêng cữ " vô cùng chính xác nhưng vô cùng khó giải thích của những người lính chiến chúng tôi.

Tôi lo sợ rằng, hành động của Minh như thế này có lẽ báo trước một điều gì đó chăng?

- Mày cứ cầm lấy cho tao vui.

Nếu khi mày trở lại đơn vị, mình còn gặp lại nhau thì tao sẽ xin lại.

Thằng Minh nói dứt khoát.

Thế là đúng rồi.

Thằng Minh chắc đã có những linh cảm rất rõ ràng nên nó mới hành động như thế.

Tôi nhận tấm ảnh từ tay Minh mà trong lòng buồn rười rượi.

Tôi linh cảm rõ ràng lần gặp nhau này của chúng tôi là lần cuối cùng.

- Mày ở lại nhớ cẩn thận nhé, Minh nhé.

Tôi xúc động dặn dò.

- Cứ yên tâm đi.

Nó toét miệng cười rạng rỡ.

Nó muốn làm tôi vui đây.

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt tôi trào ra.

- Thôi, mày đi đi.

Nó đẩy tôi ra rồi quay đầu rảo bước.

Tôi đứng nhìn theo cái dáng cao gầy của nó mãi cho đến khi bóng nó khuất sau rặng le ven đường.

Tôi trở về trung đoàn trong những bước đi nặng nề.

Quãng đường không xa mà sao cảm thấy như là vô tận.

Sáng hôm sau, nhập vào đoàn thương binh của trung đoàn, chúng tôi lại cuốc bộ về Bến Cầu, nơi đại đội an dưỡng Trung đoàn đứng chân.

Về đến cứ Ba lô Mộc bài, tôi nghỉ lại ở đó mấy ngày.

Vừa về đến Mộc bài buổi sáng thì buổi chiều, Bố tôi lặn lội vào thăm tôi.

Ôi, cha con gặp nhau mừng rỡ.

Thì ra, cậu bạn cùng nằm với tôi ở viện 115 đã báo tin tôi bị thương.

Cả gia đình vô cùng lo lắng.

Bố tôi bố trí sắp xếp công việc xong, liền đi ngay vào thăm tôi.

Ông cứ lang thang khắp mọi nơi tôi đã từng đi qua.

Viện 115, viện QĐ4.

Đồng dù, Trảng lớn...

Đến đâu người ta cũng bảo tôi vừa ở đây nhưng đã đi rồi.

Cứ thế, bước chân tìm con của Bố tôi cuối cùng dừng lại tại cứ ba lô của đại đội - Cứ Mộc Bài.

Tôi và các anh trong cứ bố trí cho bố tôi một chỗ nằm trong ngôi chùa đổ nát.

Ăn uống thì chẳng có gì chỉ có cơm, rau, tép và.... thịt chuột.

Bố tôi sợ hãi ra mặt.

- Chà lính tráng ăn ở tạm bợ quá con ạ.

Hồi ở Điện biên, khó khăn gian khổ thế nhưng cũng không đến nỗi như các con bây giờ.

Bố tôi than phiền.

Đã thế, mấy ông thương binh đại đội lại còn kể với bố tôi chuyện rằng tháng trước mấy thằng trinh sát Miên bò vào giết chết cả chục thương binh ở trạm phẫu ngay bên kia đường, nào là chuyện ở đây, cách biên giói có chưa đầy trăm mét, Miên vẫn ì oàng tập kích suốt....

Sợ quá, hai hôm sau ông đòi tôi đưa về thành phố Hồ chí Minh ngay.

Tôi đưa ngay ông về thành phố, vả lại tôi cũng không thích ông ở đây lâu làm gì.

Ở nhà Mẹ tôi đang ốm yếu, rất cần có ông ở bên cạnh.

Tôi trở về cứ đại đội, lấy Ba lô của thằng Long bên cứ C14 gần đó mang ra bưu điện Gò dầu Hạ để gửi về cho gia đình nó những di vật cuối cùng.

Tôi phải hoàn thành cái lời hứa của Tổ Tam tam trước lúc lên đường.

Xong xuôi, tôi " nhập tịch " vào đại đội an dưỡng K24.

Ngày 15.08.1978, đang chuẩn bị ăn cơm chiều.

Tôi có khách.

Thằng Thọ, cũng tên là Thọ - Thọ " con " người Hà tĩnh, lính mới của C11 cùng B với tôi và Minh đến gặp tôi :

- Anh Minh hy sinh rồi anh Thọ ạ.

Ngay câu đầu tiên, Thọ " con " thông báo.

Tôi bàng hoàng cả người.

Minh ơi, lẽ nào mày cũng đã ra đi.

Tôi không thể cầm nổi nước mắt.

Cái thằng Minh, thằng bạn thân nhất của tôi lẽ nào nó đã hy sinh.

Lẽ nào cái Tổ Tam Tam thân yêu của chúng tôi chỉ còn lại bơ vơ một mình tôi sao?

Tôi lặng người ngồi nghe Thọ " con " thuật lại diễn biến cuộc chiến đấu cuối cùng của Minh.

Ngày 11.08.1978, vừa sáng ra bọn địch đã tổ chức tấn công vào chốt của tiểu đoàn 3.

Có sự yểm trợ của M113, bọn địch hung hãn lao vào tấn công các chốt của đại đội.

Thằng Minh dũng cảm cùng với anh em đẩy lùi được nhiều đợt tấn công của địch.

Khoảng 11 giờ trưa, chúng tổ chức tấn công lần nữa.

Tiếng súng địch nổ toang toác khắp nơi.

DK 82, DK 75 của chúng bắn như vãi đạn.

Thằng Minh thấy xe M113 nó vượt qua cánh đồng trống trước mặt lao vào, nó vọt ra khỏi hầm vác B41 nện liên tiếp mấy trái.

Khói súng toả ra mù mịt.

Một sơ xuất chết người đã xảy ra.

Sau khi bắn xong mấy trái B41, thằng Minh đã không di chuyển ngang.

Chỗ đứng bắn bị lộ, bọn địch tập trung DK quất tới tấp vào chỗ Minh đang đứng.

Một mảnh đạn cắm thẳng vào trán nó.

Minh gục xuống.

Anh em trong B lao ra kéo nó vào hầm.

Một lúc sau, Minh tỉnh lại, mở mắt và bảo :

- Em lấy giúp anh cái ví.

Trong lúc nhào ra khỏi hầm để bắn, nó đánh rơi mất chiếc ví ở cạnh hầm.

Thằng Thọ " con " nhặt chiếc ví đưa lại cho Minh.

Nó từ từ mở ví ra.

Đây ảnh gia đình nó lúc còn đông đủ, đây là ảnh Minh Nguyệt – Trăng sáng thân yêu của nó, đây những lá thư của Minh Nguyệt mà nó vừa nhận được.

Minh từ từ xem lại tất cả rồi cất vào ví.

Nó khó nhọc nói :

- Em cầm lấy chiếc ví này rồi đưa về cho anh Thọ.

Minh nói xong, nó nôn ra vài lần rồi nhắm mắt.

Cuộc chiến đấu càng về trưa càng trở lên khốc liệt.

Các đại đội 13, 12 rồi đến đại đội 11 của tiểu đoàn 3 lần lượt bị đánh bật khỏi chốt.

Do áp lực rất mạnh của địch.

Thi hài của Minh cùng với ba chiến sỹ nữa của C11 vẫn nằm lại trên trận địa.

Minh ơi, thế là cái " linh cảm " khủng khiếp của mày đã trở thành sự thật.

Thế là không bao giờ tao còn được nhìn thấy mày nữa.

Minh, Long hai thành viên của cái Tổ Tam Tam thân thuộc đã vĩnh viễn nằm xuống.

Chúng mày đã chiến đấu một cách anh dũng.

Chúng mày đã nằm xuống đầy vinh quang.

Chúng mày không hổ danh là những chàng trai Hà thành sống, chết đầy kiêu hãnh.

Minh ơi, Long ơi hãy yên nghỉ nhé.

Vĩnh biệt chúng mày, hai người bạn thân yêu.

Vĩ thanh :

Minh hy sinh đúng vào ngày bà mẹ của Minh – Bà Lý Nguyệt Liên vào đến Trảng lớn thăm con.

Sau hai lần đi đi lại lại mà không được gặp được con ( vì sư đoàn cố giấu ).

Cuối cùng ông Hai Đỏ - Thiếu tá phụ trách căn cứ sư đoàn, đành phải thông báo cho bà mẹ của Minh.

Được tin, tôi cũng về Trảng lớn để gặp Bà mà không gặp vì Bà đã trở về Thành phố Hồ Chí Minh – Tôi đã về Thành phố Hồ Chí Minh để gặp Bà trong một đêm mưa như trút tại một căn nhà nhỏ gần cầu Công Lý – Theo đúng những gì chúng tôi đã cùng hứa với nhau, tôi mang cho Bà chiếc ba lô đựng những di vật cuối cùng của Minh.

May mắn làm sao mà cũng kỳ lạ làm sao, bức ảnh Minh tặng tôi là di ảnh cuối cùng mà gia đình Minh có được về nó.

Tôi – Lê Thái Thọ, nguyên chiến sỹ C11, D3, E1, F9 viết những dòng hồi ức này như một nén hương tưởng niệm, xin kính dâng lên hương hồn hai người bạn tôi đã nằm xuống trên mảnh đât phía nam cầu Prasaut , thuộc tỉnh PrayVeng CPC – Quang Minh ( 62 Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội ) và Lê Phú Long ( 25 Hàng Hòm, Hà nội ) và biết bao liệt sỹ khác.

Ngoài Lê Phú Long đã có mộ chí đàng hoàng, còn Liệt sỹ Quang Minh, cho đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 6: Hồi ký bác lethaitho - Phần 2


Tôi nằm mấy tháng an dưỡng tại đại đội an dưỡng của Trung đoàn tại Bến Cầu, Tây Ninh.

Thực tế chỉ có an mà không có dưỡng.

Tức là chỉ có nghỉ ngơi còn ăn uống thì cực vô cùng ( kém xa hồi còn đang tác chiến ).

Thương binh lúc nào cũng đói, đói đến quằn ruột.

B tôi ( cũng chia thành các B như bình thường ) nằm tại một túp lều ( nó chỉ là nơi nhốt cặp bò của chủ nhà đã đi sơ tán ) của chú Tư cạnh rìa làng.

Cách nhà đại đội chừng 200m.

Ăn uống chỉ có 2 bữa ăn chính là trưa và tối.

Hàng ngày thương binh chia nhau đi cắm câu, tát cá để cải thiện.

Tối tối lại thêm nghề đi soi ếch.

Nhưng mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng đói vẫn hoàn toàn đói.

Một đêm mưa to gió lớn ( mà sao kỳ vậy, các bài viết của tôi hay rơi vào những đoạn có thời tiết xấu tệ ).

Cả B quá đói mà chẳng biết làm gì để có cái cho vào bụng.

Tôi nảy ra ý định đi bắt trộm gà.

Lập tức toàn bộ " cán bộ chiến sỹ " đều hưởng ứng nhiệt liệt.

Nhà chú Tư ( chủ nhà cho chúng tôi ở nhờ ) đều đã đi sơ tán hết vì ở đó rất gần đường biên ( cách khoảng 400 mét ), chú có để lại 1 cặp bò ngủ cùng chúng tôi - Giường chúng tôi kê gọn một đầu, phía cuối giường là chỗ ngủ của 2 con bò - ngoài ra còn có mấy con gà thả rông.

Tôi và anh Tâm ( cùng C11 với tôi - người Thanh hoá ) được phân công đi bắt gà, còn anh Cảnh cụt ( người Đông anh - HN ) được phân công sang anh nuôi đại đội xin gạo.

Tôi đi ra ngoài vườn.

Lũ gà nhà chú Tư toàn ngủ đậu trên các cành cây.

Tôi khe khẽ luồn tay vào bụng con gà mái to nhất đang ngủ ngà ngủ gật.

Con gà chỉ kêu nho nhỏ, vả lại trời đang mưa to nên có kêu tôi cũng không sợ gì.

Qu..o..á ..c , con gà đã bị tôi vặn ngéo cổ.

Anh Cảnh cụt nhờ tài ăn nói nên cũng xin được một mũ cối gạo.

Lông, lòng ruột tất cả được cho vào túi nilon dấn chìm xuống ruộng lúa cạnh nhà.

Cơm nóng, thịt gà rang...

ôi sao mà ngon đến vậy.

Chỉ có 4 anh em mà chơi hết cả nồi cơm to tướng ( một mũ cối gạo chứ đâu có ít ).

Chỉ khổ chú Tư, sáng hôm sau phát hiện mất con gà cứ đi tìm khắp xóm.

Mấy anh em chúng tôi cũng hè nhau toả đi tìm giúp chú.

He he....

Tìm mãi chẳng thấy !!!?

Cả lũ liên an ủi chú Tư : Có lẽ hôm qua, trời mưa sấm chớp ầm ầm nên có lẽ nó sợ nên chạy đi đâu đó mất tiêu rồi chú ạ.

Có lẽ trong đời lính của tôi, không có thời gian nào trôi đi vô vị như những ngày nằm tại đại đội an dưỡng này.

Suốt ngày chỉ nghĩ đến ăn mà cũng không xong.

Cái đói lúc nào cũng thường trực trong dạ dày.

Đói đến mức không thể đi đâu chơi được, ngày chỉ nằm chờ hai bữa cơm như cơm phát chẩn.

Cả tháng chỉ có ngày lĩnh nhu yếu phẩm và phụ cấp là mặt mũi lũ thương binh chúng tôi mới tươi lên đôi chút.

Có tiền, tôi và thằng Dụ ( Thanh hoá ) lập tức phải san sẻ cho những bà bán hủ tiếu ngoài thị trấn Gò Dầu ngay.

Để lâu cũng không được, mất ngay !

Vì đói quá nên trong đại đội an dưỡng xuất hiện nhiều vụ lấy cắp quân tư trang của nhau.

Tối nằm ngủ, tôi phải gối đầu mình lên chiếc ba lô, nhưng không thể lại được với các " Bố " nhà ta.

Toàn cỡ ...trinh sát đặc công cấp....Bộ cả.

Chúng nó chỉ rình lúc mình trở mình là...xong.

Thế là lại trở về với nhất bộ quần áo mặc.... cả ngày.

Trên đơn vị, cả sư đoàn vừa tháo chạy sau một đợt tấn công của Pôn Pốt tại cầu Prasaut.

Cả sư đoàn về đóng hết xung quanh Chi phu - phía đông cầu Tà yên.

Đơn vị nghỉ ngơi, bổ xung trang bị, quân số.

Tháng 11.1978, nghe tin trên cứ Trảng lớn có đợt lính mới bổ xung về toàn lính Hà nội.

Tôi liền nhảy xe đò về Trảng lớn tìm bạn và đồng hương Hà nội để hóng chuyện về quê hương.

Chẳng có ai quen mặt nhưng cũng thoả được phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương.

Rất nhiều lính Hà, lại Hoàn kiếm đàng hoàng nhé.

Sau 2 ngày, tôi trở về Tà beng ( À, bây giờ tôi nhớ ra rồi.

Xóm ấy có tên là Tà Beng ).

Cả đại đội vắng tanh như chùa Bà đanh.

Hỏi những người còn lại, họ cho tôi biết cả đại đội lên D32 an dưỡng tại Trảng lớn để khám sức khoẻ và đi A.

Ôi, đi A - Chữ A đơn giản mà sao có sức hấp dẫn lũ thương binh chúng tôi lúc ấy đến thế.

Đi A - là về quê hương, là về với gia đình thân thuộc, là sự sống, là hoà bình...

đi A là tất cả với chúng tôi lúc đó.

Tôi lập tức nhảy xe quay lại Trảng lớn.

D32 an dưỡng của F9 nằm gọn ở một góc căn cứ Trảng Lớn, bên cạnh đại đội " thu dung ".

Cả D bao gồm 5,6 dãy nhà tôn.

Mái lợp tôn, tường cũng bằng tôn, gường nằm bằng sắt..."

ấm " đáo để.

Mặc dù tháng 11, 12 ngoài Miền Bắc đang rét cắt da, cắt thịt thì lũ chúng tôi đang bị hầm đến chảy mỡ trong những cái...lò tôn này.

Thương binh thằng cụt tay, thằng cụt chân, thằng sọ não...

đều chỉ " đánh " mỗi chiếc quần đùi, còn thì trần trùng trục hết.

Ăn uống có khá hơn khi còn nằm dưới an dưỡng trung đoàn.

Đại khái bữa ăn còn có tí rau, tí thịt mặc dù phần ngon thì cũng chẳng đến lượt thương binh, " Gà teo cơ, canh rau toàn quốc, nước chấm đại dương ".

Thương binh ăn đủ ngày 3 bữa.

Ăn xong là trà lá, cờ quạt... ( Cờ quạt chứ không phải là cờ bạc đâu nhé ) và...bắt rệp.

Chao ôi, tôi chưa thấy ở đâu nhiều rệp như ở D32 này.

Hôm nào nắng to, chúng tôi mang giát giường ra phơi.

Từng đoàn quân họ nhà rệp lũ lượt kéo nhau từ những khe kẽ giát giường ra vì ánh mặt trời thiêu đốt.

Chúng tôi không dám giết chúng bằng tay vì quá hôi.

Một mảnh báo cuộn lại rồi đốt là xong.

Rệp nổ lép bép như thóc rang.

Thương binh tại D32 này có phong trào thi đua rất sôi nổi.

Đó là " treo tay " - Khẩu hiệu " chịu khó treo tay, có ngày ra Bắc " được thực hiện tương đối triệt để.

Thằng cụt, thằng bị đạn nó phang trúng tay thì treo đã đành.

Nhưng có những thằng bị mảnh M79 nó xiên, sẹo chỉ to bằng nốt ghẻ ruồi cũng rất " nhiệt tình, chịu khó " treo tay.

Phải nói là một sự kiên trì ghê gớm, sự kiên trì khủng khiếp.

Cánh tay bị dính ( dù chỉ rất nhẹ thôi ) được dùng một dải băng cứu thương treo cố định trước ngực.

Cánh tay đó nằm cố định, không tham gia bất cứ hoạt động gì.

Dần dần qua thời gian dài, nó teo lại.

Chỉ còn da bọc xương, trông phát khiếp.

Bác sỹ giám định y khoa nhìn thấy đã muốn ...đuổi ra Bắc rồi.

Cánh tay như vậy còn " đánh đấm " gì nữa !!!?

Vậy là thành công.. thành công...

đại thành công rồi.

Mời anh đóng vai chính bộ phim ....

đường về quê Mẹ.

Sướng !!!!

Rồi thì cũng đến ngày giám định y khoa, thương binh sau khi giám định xong được phân loại.

Ai yếu sức khoẻ thì ra bắc, ai còn đủ sức khoẻ thì lên đường trở lại đơn vị.

Tôi khám đạt thương binh loại 1 ( cũ ), không đủ tiêu chuẩn đi A nên chuẩn bị sẵn sàng trở về đơn vị.

Được thôi, đây đâu có ngán gì !!!

Một buổi sáng, cán bộ đại đội gọi tôi lên giao nhiệm vụ :

- Các anh bên phòng chính trị của sư đoàn có sang xin em về ban chính sách sư đoàn.

Ý em thế nào ?

- Dạ thưa, sang bên ấy làm công việc gì ạ?

Tôi hỏi.

- Thì lo cất bốc hài cốt liệt sỹ chứ làm gì nữa.

- Vậy thì cho em về đơn vị chiến đấu.

Tôi trả lời.

Tôi nghĩ đến cảnh phải đi đào mộ, bốc xương bốc cốt mà rùng mình.

Tôi vốn sợ ma lắm do vậy chẳng thà đi đánh nhau còn dễ chịu hơn.

Anh cán bộ phòng 2 ( phòng chính trị ) không nói gì và ra về.

Tôi đã xác định tư tưởng sẽ trở về trung đoàn tiếp tục tham gia chiến đấu.

Mấy hôm sau, đại đội lại gọi tôi lên.

Một sỹ quan đeo quân hàm thiếu uý tiếp tôi.

Anh tự giới thiệu là Bùi Xuân Hùng - thiếu uý trợ lý phòng hậu cần sư đoàn.

Anh hỏi tôi về trình độ văn hoá, quá trình công tác và có ý muốn xin tôi về phòng làm văn thư, thống kê.

Văn thư, thống kê à?

OK !

Tôi đồng ý ngay lắp tự.

Ngay sáng hôm ấy, tôi làm thủ tục và khoác ba lô theo anh Hùng về phòng Hậu cần sư đoàn.

Phòng hậu cần sư đoàn nằm ngay cạnh đường băng sân bay Trảng lớn.

Tôi được sắp xếp nơi ăn, chốn nghỉ khá là tươm tất.

Ăn uống thì tự nấu lấy theo từng ban.

Ở hậu cứ này, chỉ còn tôi, anh Hùng và thằng Nghĩa.

Tất cả phòng chủ yếu nằm trên tiền phương hết.

Bình thường, bữa ăn cũng chẳng có gì nhưng thỉnh thoảng anh Hùng lại đi ra chợ mua đồ ăn tươi về thế là... nhậu.

Bia 33 con cọp thì " tạm ứng " ngay kho hậu cần.

Cuộc sống có vẻ ngon lành, êm đềm.

Nhưng, cái số tôi không thể ngồi yên một chỗ được.

Nó cứ luôn nhấp nhổm, bứt dứt khó chịu.

Cả ngày chẳng làm cái gì, chỉ chăm chăm đun nước, nấu ăn chán chết đi được.

Công việc của thằng lính nhân viên thống kê, kế hoạch cũng giúp cho tôi hay được " bát ngát " đi đây đi đó.

Khi thì Phú giáo ( Bình dương ), khi thì Sóng thần ( QĐ4 ).

Sư đoàn có một nông trường ở tại Phú giáo.

Tôi thỉnh thoảng đi xuống lấy số liệu vớ vẩn về tăng gia sản xuất, nhận các yêu cầu về cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu...

Một lần tôi đi xuống bằng xe Reo, gần đến nông trường thì xe bị mất phanh ( mất thắng ).

Chú Bảy lái xe ( lái xe của QLVNCH cũ ) liền bảo tôi đi mua cho chú xị rượu.

Chết mẹ !

Ông này không sửa nổi xe nên bảo tôi mua rượu về nhậu suông đây.

Tôi vừa đi mua, vừa lầm bầm.

Tôi mua rượu về, chú Bảy liền đổ xị rượu vào thay cho dầu phanh.

Xe tiếp tục lên đường.

Hoá ra, khi " bí " rượu có thể thay cho dầu phanh được.

Một lần, cả lũ nhân viên của phòng hậu cần chúng tôi được cử đi nhận dầu Diesel tại căn cứ Sóng thần.

D29 có nhiều xe bồn loại 4000 lít, 6000 lít nhưng chỉ có 1 chiếc 11.000 lít là chiếc xe cũ của Mỹ.

Chúng tôi lên từ chiều hôm trước.

Sáng hôm sau làm thủ tục nhận 11.000 lít dầu.

Máy bơm không có, mấy thằng thay nhau bơm tay từ sáng đến quá trưa mới đủ số lượng.

Cánh tay thằng nào, thằng ấy mỏi rã rời.

Khoảng 3,4 chiều xe mới ra đến xa lộ Đại hàn.

Anh lái xe gạ :

- Làm trận " cầy tơ bảy món " chứ chúng mày?

Đang đói và mệt, nghe đến nhậu mắt thằng nào thằng ấy rạng rỡ như " những ánh sao đêm ".

Nhưng tiền thì tất cả đều " trên răng dưới... cát tút " lấy đâu ra tiền mà nhậu với chả nhẹt.

Anh lái xe vừa nói vừa cười :

- Mấy thằng ngố, cứ nhậu thả dàn đi.

Tao đảm bảo ngày mai sẽ giao đủ, thậm chí còn giao dư 11000 lít dầu.

Nói thực hiện ngay đi đôi với làm.

Anh gọi chủ quán xách " can " tháo luôn 5,6 can đầy.

Cả lũ nhậu nhẹt mệt nghỉ.

Sau khi ăn uống đã đời.

Anh cho xe chạy một đoạn chừng vài chục cây số.

Đến khu rừng cao su ven đường thì dừng xe.

- Thôi, đêm nay chúng ta nghỉ tại đây.

Chúng tôi nằm ngủ ngổn ngang ngay trên đường quốc lộ.

Nằm cạnh anh lái xe, anh giải thích để tôi yên tâm:

- Cả ngày phơi nắng, xe dầu này nó nở ra cả trăm lít.

Mình có bán tí chút cũng chẳng " nhằm nhò " gì.

Bây giờ đừng về sư đoàn vội.

Về sớm, sáng mai giao hàng dầu nó hao.

Ngày mai mình chạy về đến nhà vào tầm quá trưa, dầu nó lại nở ra.

Giao có dư luôn.

Bài học đầu tiên của ngành " hậu cần " với tôi là như vậy.

Quả nhiên, chiều hôm sau chúng tôi giao hàng đầy đủ.

Dầu không thiếu một giọt.

Tóm lại khi nhận xăng dầu thì phải nhận hàng từ sáng sớm, giao hàng thì phải giao buổi chiều.

Rồi thì những tháng ngày vô vị nằm tại cứ Trảng lớn cũng đã trôi qua.

Ngày Chủ nhật 17.06.1979 tôi được lệnh đi tiền phương.

Lâu lắm rồi bây giờ mới lại được cầm khẩu súng trên tay, dù chỉ là khẩu AK nhỏ bé.

Một chút bồi hồi, một chút lạ lẫm.

Xe D29 đón chúng tôi, trên xe toàn là cán bộ chiến sỹ của các phòng ban và lính D29 lên tiền phương.

Các anh chắc đi đi về về nhiều lần nên không thấy lạ chứ còn tôi thì có đôi chút hồi hộp.

Hôm qua tôi đã đi mua sắm cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết, tất cả cho hết vào chiếc thùng gỗ đựng đạn B40.

Đúng là lính sư đoàn đi chiến trường cũng khác với lính trận.

Lính trận càng gọn nhẹ bao nhiêu thì lính " kiểng " càng kềnh càng bấy nhiêu.

Thử xem trong thùng gỗ B40 mang theo những gì?

- Quần áo dài, quần áo lót : 2, 3 bộ ( lính chốt chỉ có nhất bộ ).

- Xà bông thơm, xà bông giặt ( quá xa xỉ với lính chốt )

- Giấy viết vài tập, bút bi vài chiếc..

- Nilon, tăng võng...đầy đủ.

và nhiều thứ khác.

Trên xe các anh cũng toàn mang thùng gỗ, thùng tôn chứ rất ít người mang ba lô.

Xe chạy qua nhưng địa danh mang bao kỷ niệm đối với tôi.

Mộc bài, ba vét... kia rồi ngã tư Rừng Sở, Chi Phu, cầu Tà Yên những địa danh thấm máu biết bao đồng đội.

Nhìn hai chiếc T54 bị bắn cháy, màu đỏ gạch cua nằm gục nòng bên cạnh cầu Prasaut tôi chợt nhớ đến câu chuyện " đổi hai xe lấy một mã " vang khắp sư đoàn của Trung đoàn trưởng trung đoàn tôi vài tháng trước.

Đường xóc kinh khủng mãi đến tối mịt, chúng tôi mới đến PhnomPenh.

Xe nghỉ lại tại một căn nhà nhỏ hai tầng rất đẹp cạnh cầu " Sập ".

PhnomPenh đã hồi sinh, điện nước đầy đủ.

Ban đêm, thành phố hoàn toàn yên tĩnh.

Tôi mắc mùng trên ban công lầu hai để ngủ.

Đêm an toàn nhưng phải cái rất nhiều muỗi.

Xe chạy theo lộ 5 hướng thị xã Congpongchnang thẳng tiến.

Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những chiếc xe quân sự cháy đen nằm chỏng chơ ven đường.

Đoạn dốc gần ngã tư rừng dừa, có tới 5, 6 chiếc T54, T59 của ta cháy đen thui.

Đến ngã tư rừng dừa, chúng tôi tạm dừng chân nghỉ uống nước.

Đây là hậu cứ cũ của D29.

Trong căn nhà ven đường, loáng thoáng vài ba anh bộ đội ngồi đung đưa trên cánh võng.

Một anh dáng người đậm chắc đang nằm ngủ trên chiếc võng màu xanh " sĩ lâm " lạ mắt.

Một anh cán bộ trong đoàn chúng tôi đến bên cạnh đập đập vào thành võng.

Người đang nằm trên võng vung tay nhảy bật dậy đứng thế thủ.

Nhận rõ anh cán bộ vừa đánh thức mình, người kia cười ha hả và nói một tràng tiếng Miên.

Lúc ấy, qua giới thiệu, tôi mới được biết đó là thằng cha tiểu đoàn trưởng D10 Quân đội CM CPC - Khi đó, các sư đoàn của ta đều phải có nghĩa vụ xây dựng 01 tiểu đoàn cho bạn gọi là " tiểu đoàn dân vận ".

Thằng cha này rất giỏi võ nghệ.

Trông mặt thấy ghét.

Mặt vuông, góc cạnh, tóc xoăn...phải nói là đàn ông Campuchia nhiều cha rất đẹp trai, công bằng mà nói là ăn đứt anh em mình chỉ tội da đen và tóc xoăn tít thôi.

Gặp thằng cha này ở ngoài mặt trận, chắc nó lãnh đủ ...cả băng.

Xe chạy đến thị xã vào lúc quá trưa.

Một thị xã nhỏ đẹp nằm nép mình ven bờ tonlesap.

Chạy miết luôn qua thị xã không dừng lại.

Đi khoảng vài cây số, chiếc xe rẽ vào con đường lát bê tông chạy êm ru.

Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn nằm xung quanh khu vực sân bay Kampongchhnang.

Đây là một sân bay quân sự lớn do Trung quốc giúp PônPốt xây dựng đang trong thời kỳ hoàn thiện.

Đường băng chạy dọc theo hướng bắc - nam.

Toàn bộ khu vực phía nam của sân bay tựa vào dãy núi cao chừng 200 mét.

Phía đông là khu vực trú quân của 3 phòng ( Tham mưu - Chính trị - Hậu cần ).

Phòng tham mưu ăn ở khang trang nhất nằm ngay ngoài cùng ( chắc khu này là dành cho phi công và chỉ huy sân bay ), kế đến là phòng hậu cần, gần cạnh đường băng là phòng chính trị.

D29 ở ngay đầu đường băng.

Lính có câu : " Ăn hậu cần, nằm tham mưu, lên sao chính trị " chẳng sai tẹo nào.

Phía tây đường băng là các đơn vị trực thuộc lần lượt D10 ( dân vận - sau một thời gian thì giải tán), D26 ( thông tin ), D27 ( trinh sát ).

Sát đường băng phía đông cạnh đài chỉ huy là trại tù binh.

Tôi về phòng hậu cần, do thiếu tá ( sau đó lên trung tá ) Nguyễn Do ( Mười Do ) làm trưởng phòng.

Công việc ở tại tiền phương này chẳng có gì cố định.

Khi thì xuống các trung đoàn lấy số liệu tiện xe chở luôn mấy tử sĩ về sư, khi thì đi chốt của phòng ở các điểm chốt như ngoài thị xã, trên thị trấn Pôlây, Cô cháp, Tà lia, chùa Lông chó.... ( mà tôi cũng chẳng biết tại sao chúng tôi đặt tên là chùa Lông chó nữa ).

Nhiệm vụ quan trọng nữa là tổ chức, kết hợp cùng với dân đánh cá trên sông Tônlêsap và biển hồ để cung cấp thực phẩm cho bộ đội.

Do có những chốt như vậy, việc chúng tôi chạm và đấu súng với Pốt là chuyện đương nhiên.

Hóa ra làm lính " kiểng " trên sư cũng chẳng an toàn lắm.

Sau khi nghỉ ngơi mấy ngày, tôi được lệnh cùng với một xe của D29 chở đạn và gạo lên tiếp tế cho chốt Pôlây.

Cùng đi với tôi có Đức ( tức Đức cối ), Tâm cả hai đều là dân Thanh Hoá.

Chúng tôi chuẩn bị súng ống, đạn dược đầy đủ.

Con đường lộ 5 từ sân bay lên Pô lây thật vắng vẻ, ít xe cộ qua lại.

Tất cả cầu cống trên đường đều có chốt của F15.

Xe chạy không nhanh lắm vì đường rất xấu.

Anh lái xe bảo chúng tôi phải giao hàng nhanh để còn về sớm, cứ quá 2 giờ chiều vẫn còn lang thang trên đường dễ bị " phục " lắm.

Chúng tôi lên tới thị trấn, xe rẽ phải vào một con đường nhỏ hướng ra phía Biển Hồ.

Đường hẹp và khó đi, xe len lỏi luồn lách qua những rặng cây loà xoà.

Một ngôi chùa nhỏ nằm ngay ven đường, đứng trên thùng xe, tôi nhìn thấy trong gian chính ngôi chùa chứa đầy ắp sọ người.

Tôi thoáng nghĩ đây chỉ mới là một thị trấn nhỏ mà số người chết dưới chế độ Pôn Pốt còn nhiều như thế này, nếu cả đất nước CPC thì số lượng người chết còn khủng khiếp tới đâu !!!?

Xe đi tới khu vực Biển hồ, chốt của đơn vị tôi nằm ngay trên sông.

Tôi giương AK bắn ba phát súng báo hiệu là xe chúng tôi đã tới.

Một lát sau, một chiếc xuồng ra đón chúng tôi.

Anh em trong chốt đã cho cả người ra canh giữ xe ô tô cẩn thận.

Chúng tôi chuyển súng đạn, gạo, nhu yếu phẩm xuống xuồng và cùng đi ra chốt.

Chốt trên sông - một trận địa chốt hoàn toàn mới và lạ đối với tôi.

Đó là hai, ba chiếc nhà bè được ghép lại.

Nhà làm bằng gỗ, mái lợp tôn.

Nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát.

Cả chốt ước chừng một trung đội " cứng ".

Ở đây, hoàn toàn bất ngờ tôi gặp lại Lợi " Bọ " người cùng huấn luyện ở ngoài 308 với tôi, hiện nay phụ trách tại đây.

Chốt trang bị hoả lực mạnh : một 12.8 ly, một cối 60, một RPD, một B40 và còn lại là AK, AR15... anh em toàn bộ là thương binh nhưng chưa được xếp hạng thương tật hoặc xếp hạng rồi nhưng chưa đủ điều kiện ra Bắc.

Lợi, Vân, Sơn, Mạnh Đạt.... toàn những lính đã từng chinh chiến cả.

Sau bữa cơm trưa rất thịnh soạn gồm các món toàn làm từ cá tươi ( bọn ở chốt này không bao giờ phải lo đến thực phẩm ), Mạnh Đạt ( Thái lọ ) nguyên lính thông tin hữu tuyến của E2 vui vẻ giới thiệu với tôi về chốt của chúng nó qua mấy câu thơ tự viết :

" Chúng tôi ở trên sông

Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước

Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được

Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong

Chúng tôi ở trên sông

Nơi có những chiều thuyền về đầy cá

Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má

Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam

Khi mây lặng trời êm

Chiếc Ca nô nhẹ lướt

Có những lúc sông giận mình mấy lượt

Là khi mây đen giăng đầy trời

.....

Toàn con trai nhưng rất yêu nhau

Đứa nào cũng đòi lên cạn

Nhưng chẳng bù cho mùa hạn

Đi mấy lần đã ngại đau chân..........

"

Chẳng là chốt cách thị trấn Pô lây rất xa, nếu mùa nước nổi thì còn có xuồng đưa đến sát thị trấn.

Mùa khô, nước rút ra xa, muốn đi chơi Pôlây phải " cuốc bộ " xái cẳng.

Sau khi chuyển, bàn giao xong hàng hoá, chúng tôi nhanh chóng lên đường trở về.

Phải khẩn trương, kẻo về muộn sẽ không được an toàn trên đường.

Xe qua một chiếc cầu ngoài thị trấn một đoạn, một anh lính của F15 xin đi nhờ xe.

Qua câu chuyện góp vui, chúng tôi được biết anh được đi phép nên đang tìm cách quá giang về Việt nam.

Biết chúng tôi chỉ về đến thị xã nhưng anh vẫn xin đi.

Được đoạn nào, hay đoạn đó.

Chiếc xe Gát chầm chậm chạy như rùa bò lên chiếc dốc Rừng xanh nằm khoảng giữa hai chiếc cầu từ Phum Tuol Roko đến Phum W.

Thnna Keo, mấy thằng ngồi trên xe đang cười ngả cười nghiêng khi nghe tôi kể chuyện tiếu lâm...

Vừa lên đỉnh dốc, bỗng toác.. toác... toác tiếng súng AK, AR15 nổ xung quanh như xé vải.

Địch phục kích !!!

Tôi xoay người lại nép mình vào góc thành xe, giương súng bắn trả.

Cậu lính của F15 từ ghế băng cuối xe lao về phía tôi chúi đầu xuống như tránh đạn.

Đức " cối ", Tâm cũng bò ra sàn xe vừa tránh đạn vừa ... bắn lên trời.

Anh lái xe tăng tốc miết bàn đạp ga phóng như điên như dại.

Bắn hết đạn, tôi quanh sang thằng Đức hét :

- Đưa tao một băng !

- Băng bằng sắt, băng bằng sắt...

Thằng Đức vừa trả lời lạc giọng, vừa lấy tay vỗ vỗ vào băng đạn.

Thì ra, tôi hét nó đưa cho tôi băng đạn, trong lúc cuống cuồng nó lại tưởng tôi bảo nó đưa cho tôi cuộn băng cứu thương nên mới có sự nhầm lẫn như vậy.

Đến chiếc cầu sắt gần Phum W, Thnna Keo, chiếc xe dừng lại vì có chốt của F15 ở đó.

Thôi chết rồi, tôi lại bị thương rồi.

Máu phun ra ướt sũng chiếc áo lính tôi đang mặc.

Nhưng sao tôi không có cảm giác đau gì nhỉ !!!?

Tôi ngoái nhìn lại phía sau.

Cậu lính của F15 đi nhờ đã dính một viên xiên qua thái dương, gục đầu lên vai tôi và chết tại chỗ.

Thằng Tâm thì dính một viên vào ngực bên phải đang nằm thở khò khè.

Tôi nhờ mấy anh em của F15 nhanh chóng băng bó cho Tâm và chúng tôi cho xe chạy nhanh về thẳng D33 nằm ngoài thị xã.

Bàn giao thương binh tử sỹ xong, xe chúng tôi chạy về Sân bay.

Lúc ấy mới khoảng 5.30 chiều.

Những tháng ngày cuối năm 1979 sang đầu 1980, nhiệm vụ chủ yếu của tụi lính chúng tôi vẫn là đi áp tải đạn, gạo, quân nhu cho các đơn vị ở tuyến trước.

Tiện chuyến xe thì lại nhận liệt sỹ chở về.

Những tuyến đuờng từ Sân bay đi xuống ga Bamnak ( chỉ huy sở E2 - của Trungsy1 ) hay theo lộ 27 xuống ga Romeas ( chỉ huy sở E1 ) là những tuyến đường " chết chóc ".

Thằng nào ở trong danh sách phải đi áp tải là coi như...

đi vào cửa tử.

Hai bên đường toàn rừng Khộp xen lẫn cỏ tranh.

Vắng lặng...vắng ngắt ... cả một đoạn dài mấy chục cây số mà cấm thấy bóng dáng chiếc xe ô tô nào cùng đi cho...đỡ sợ.

Bác tài xế thì cắm đầu chạy, không nói không rằng, mặt mũi căng thẳng.

Cánh cửa cabin xe bên phía tay lái bao giờ cũng chỉ khép hờ hờ.

Cứ nghe Oành... là bác phi cả người ra khỏi xe mà không cần biết tiếng nổ ấy là gì.

Lính tráng chốt một chỗ còn yên tâm.

Nếu nó đánh vào cũng nổ súng trước, cũng còn chỗ ẩn nấp.

Đằng này xe là một mục tiêu rõ ràng và duy nhất.

Trên xe chỉ có mỗi khẩu AK hay AR15 đánh đấm cái giề !!!?

Nhiều khi thoáng thấy bóng người lại căng thẳng hơn vì không phân biệt nổi đây là dân hay là địch???

Địch hay là " du kích "

Tôi dám cá một ăn mười rằng nếu cho các bạn chọn giữa làm lính chiến dưới đơn vị chiến đấu với làm lính áp tải phòng Hậu cần thì bạn sẽ chọn PHƯƠNG ÁN 1.

Tuần nào cũng mang bản thân mình ra làm mục tiêu di động vài lần thì cái cảm giác ấy rất là...Yomost.

Tốp người đang ngồi trên xe bò lăn bánh lộc cộc trước mặt là ...

địch đấy !

Ồ, không có lẽ là dân đi làm rẫy..

Không, không phải dân đâu..

địch đấy.

Trong đầu cứ luôn căng ra để ra câu hỏi và tự trả lời.

Trả lời sai là... tiêu.

Và nhiều anh lính trong đơn vị đã trả lời sai !!!

Tôi cũng có vài lần trả lời sai nên trên người lại thêm vài ba cái sẹo nữa.

He ..he..he ..Ơn trời, số tôi đẻ ra đã tên là ..Thọ.

Năm 1980, lính tráng bên K bắt đầu rơi vào tình cảnh thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng.

Chúng tôi ở Hậu cần sư đoàn mà cũng đã bắt đầu phải ăn độn...đậu xanh.

Lúc đầu cũng dễ ăn.

Mình cứ nghĩ là giống như ngày tết, Mẹ có nấu đậu xanh để gói bánh chưng, bánh tét mà mình thó được một nắm.

Đậm đậm, bùi bùi... ngon đáo để.

Nhưng đến khi phải ăn trừ bữa bằng đậu xanh thì ...

ớn luôn.

Cũng may mà thời gian thiếu thốn ấy kéo dài không lâu.

Để tăng thêm thức ăn cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng gần sư đoàn.

Phòng Hậu cần đã hợp tác với dân Khơme sống ven sông Tonlesap tổ chức đánh bắt cá.

Dòng sông Tonlesap và Biển hồ quả là một vựa cá khổng lồ.

Mùa mưa, Biển hồ dâng nước tràn lên khắp các cánh rừng ven hồ.

Lũ cá thi nhau sinh sôi trong các cánh rừng ngập nước đầy ắp thức ăn.

Chúng lớn nhanh như thổi.

Đến mùa khô, Biển Hồ thu nhỏ lại chỉ còn 1/10 diện tích.

Cá từ các cánh rừng đổ về Biển Hồ và các lạch sông.

Cá tra, cá lóc trắng, lóc đen, cá hô, cá chẻm, cá chày, cá trôi... trên là trời dưới là cá.

Bộ đội lập các chốt đóng ở những vị trí ngã ba các rạch sông bảo vệ địa bàn đánh bắt cá cho dân.

Ăn chia theo tỷ lệ 40/60, bộ đội lấy 40 %.

Trung bình mỗi tháng, chúng tôi được chia khoảng 250 tấn cá.

Cá tươi cấp thẳng cho các đơn vị, cá mang về đổ ra sân bay phơi làm cá khô, làm nước mắm....

Cả đường băng sân bay Congpôngchnang ngập toàn cá lá cá.

Vậy, người dân Khme họ đánh bắt cá như thế nảo?

Câu cá, quăng lưới...

Không, sai hết.

Họ dùng búa gỗ đóng những cây gỗ lớn xuống lòng sông.

Cứ cách 5 mét đóng một cọc, đóng ngập xuống đáy lòng sông, phần trên còn nhô lên mặt nước khoảng 4,5 mét.

Dùng một loại dây rừng gọi là dây Trại ( càng ngấm nước càng dai ) đan kết hợp với tre tạo thành những tấm phên lớn chặn xuống lòng sông.

Cả dòng sông được ngăn lại chỉ hở ra 1, 2 cửa gọi là cửa đáy.

Ở đó họ quây lưới và... xúc cá.

Cá nhiều đến nỗi cứ một hai tiếng, nếu xúc không kịp thì phải xả đáy lưới ra một lần để xả cá xuống hạ lưu, kẻo cá dồn về làm rách đáy.

Xúc đầy những ca nô loại lớn lại chạy vào bờ đổ lên xe của D29 chạy về sân bay.

Cả đêm, chúng tôi cứ rầm rập chở cá về lên kế hoạch cung cấp cho các đơn vị, không chia hết thì đổ ra sân bay làm nước mắm và phơi khô.

Cá chỉ đổ về nhiều vào các đêm từ mùng 8 âm lịch đến hết ngày 15 âm lịch là bắt đầu ít dần và chỉ đổ về đêm chứ ban ngày thì không có.

Lũ chúng tôi khi đó bữa ăn chỉ toàn cá là cá.

Cá nướng, cá kho, nấu canh chua, nấu cháo cá...

Thằng nào trực nhật thì quả là khố nạn vì ... cá.

Một hôm, phiên tôi trực nhật.

Thằng Đạt " Thái lọ " nó đi áp tải cá mang về bắt tôi phải làm một con cá Hô nặng chừng 30 kg.

Vẩy cá Hô to bằng ba ngón tay, cứng như đá.

Tay tôi bị thương cầm dao không chắc nên không thể nào mổ được con cá.

Cuối cùng, tôi phải bảo thằng Thanh - đồng hương Thanh trì - nó làm giúp, trầy trật mãi hai đứa mới làm được con cá cho anh em ăn.

Tôi " căm " thằng Đạt lắm.

Tôi chờ đến phiên thằng Đạt trực nhật, tôi và thằng Thanh đi lấy về hai bao tải toàn cá rô đuôi hồng ( một loại cá rất ngon nhưng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay ) về bắt thằng Đạt làm.

Làm suốt từ sáng đến trưa vẫn chưa hết số cá tôi và thằng Thanh mang về.

Thằng Đạt ngồi dưới bếp khóc hu hu.... ( Anh em đã ra " sắc lệnh " thằng nào trực nhật phải làm hết những thứ mà anh em đi " cải thiện " được ) vừa khóc vừa chửi là hai thằng chó khố nạn... nó thù tao đây mà....

Cá nhiều quá, chúng tôi liền nghĩ đến việc đào hố, đổ cá xuống để ngâm làm nước tưới rau tăng gia.

Rau muống, đậu đũa, bí xanh bí đỏ... cứ tốt ù ù nhờ được tưới thứ nước ngâm cá ấy.

Phòng Hậu cần tổ chức chăn nuôi heo, nuôi vịt.

Chúng tôi cũng làm một chiếc chuồng nuôi mấy con heo.

Chẳng biết giống má như thế nào mà trông đàn heo như đàn heo rừng.

Con nào cũng vằn vện vàng vàng đen đen nhưng lớn nhanh như thổi.

Heo ăn cám nấu với cá và rau mà.

Thấy chúng tôi nuôi heo mau lớn, đại úy Ba Vinh - phó chủ nhiệm phòng Hậu cần cũng nuôi một chú.

Heo của thủ trưởng cũng lớn rất mau.

Muỗi thì nhiều, sợ nó đốt con heo yêu quý.

Ông ba Vinh lấy luôn màn tuyn để mắc trong chuồng cho heo ngủ.

Chúng tôi nhìn thấy phát ghét.

Lính tráng chẳng có mùng để ngủ, đây heo của thủ trưởng lại có màn tuyn xịn để dùng.

Một đêm, trong lũ chúng tôi, có thằng ( bây giờ tôi vẫn không biết là thằng nào? ) bò vào chuồng heo của thủ trưởng Ba Vinh, nổi lửa đốt chiếc màn tuyn vẫn đang mắc cho heo ngủ.

Lửa cháy bùng bùng...

Thủ trưởng hô tụi lính ra dập lửa.

Than ôi, dập xong lửa thì chú heo của thủ trưởng cũng bị bỏng rộp, da cháy loang lổ.

Thủ trưởng nhìn thấy chú heo như vậy liền ra sức cứu chữa bằng cách lấy mật ong bôi lên các vết bỏng.

Báo hại cho chú heo, thấy mật ngọt, lũ kiến rừng bâu vào đốt cho kêu eng éc suốt đêm.

Sang ngày thứ ba, cảm thấy không thể kéo dài được, thủ trưởng nhờ đến bọn tôi cứu chữa chú heo tội nghiệp kia bằng ... dao, bằng thớt.

Lâu lắm, chúng tôi mới được bữa thịt lợn tươi ngon đến vậy.

Tháng 6/1980, sư đoàn tổ chức phát thẻ Đảng viên đợt đầu tiên.

Trong số được phát thẻ đợt này có chuẩn úy Lập - chúng tôi thường gọi là anh Năm Lập - người Thái Bình - đi lính từ năm 1966/67 nhưng chẳng hiểu sao đến lúc này vẫn mang quân hàm chuẩn úy.

Anh Năm Lập ở cùng với hạ sỹ Vi Văn Tởm người dân tộc Thổ - Thanh Hóa.

Cả hai người phụ trách trông coi kho lúa chiến lợi phẩm do sư đoàn thu được của địch hồi đánh vào Âm leng.

Kho lúa nằm ngay chân núi cạnh phòng Tham mưu sư đoàn.

Ngày 09/06/1980 anh nhận được quyết định phục viên về quê với vợ con.

Thôi mừng ơi là mừng.

Vốn là một tay thiện xạ nổi tiếng trong khối các cơ quan trong BTL sư đoàn, anh Năm Lập thường hay đi săn đêm.

Chúng tôi ở nhà, cứ nghe tiếng súng nổ là chuẩn bị sẵn đòn khênh, dây thừng để đi khiêng thú về.

Hầu như ít khi anh phải về tay không.

Nhưng anh chưa về với chị được ngay vì phải đến ngày 15/06 thì đảng ủy sư đoàn mới phát thẻ đảng viên.

Anh quyết định ở lại chờ nhận thẻ Đảng.

Mấy chục năm còn ở đuợc nữa là chỉ còn có vài ngày !!!

Vả lại không nhận thẻ Đảng bây giờ, khi trở về địa phương lại lằng nhà lằng nhằng chẳng biết đến bao giờ mới nhận được thẻ Đảng.

Ngày 15/06, sau khi dự lễ nhận thẻ Đảng đợt đầu tiên.

Anh mừng vui và tuyên bố sẽ vào rừng kiếm con gì về nhậu một bữa để chia tay với anh em chúng tôi.

Tối hôm đó vừa đi một lúc, chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng bắn báo hiệu của anh.

Chúng tôi đi và khiêng về một con Mễn.

Vậy là nhậu tơi bời.

Thịt Mễn mềm, ngọt ngon không thể nào tả đuợc.

Con Mễn này đang có thai.

Anh Năm Lập bèn lấy ngay cả bọc bào thai của nó cho vào nồi cháo đang sôi sùng sục.

Nồi cháo hầm xương Mễn nay lại thêm bọc bào thai nên thơm ngon và sánh vô cùng.

Ngọt, ngon và bổ hết sảy.

Sau khi nhận thẻ Đảng xong, anh Năm Lập cũng chưa thể về Việt nam ngay được vì chưa có xe về nước.

Thời gian này, tình hình xăng dầu gặp nhiều khó khăn.

Phòng Hậu cần chúng tôi được lệnh hạn chế cấp lệnh cho các chuyến xe về nước.

Ngày trước, khi xăng dầu còn xông xênh chỉ cần sư đoàn có một thi hài liệt sỹ là chúng tôi cũng cấp lệnh một chuyến xe chở liệt sỹ về Việt nam.

Nay tình hình có khó khăn, sư đoàn lệnh phải chờ mỗi xe chở đủ 4 liệt sỹ mới được cấp lệnh điều động xe.

Mà những ngày này, liệt sỹ chưa... chết đủ nên chưa có xe về nước. ( Xin lỗi, tôi không biết dùng từ gì chính xác hơn từ chờ...chết cho đủ ) .

Ngày 16/06 anh Năm Lập lại đi săn.

Lần này anh cũng nhanh chóng hạ được một con heo rừng.

Chúng tôi lại nhậu và lần này con heo lại có...bầu.

Trong dạ con của con heo là một bọc 5 chiếc bào thai heo bé tí xíu.

Bạn đã ăn bào thai heo rán bao giờ chưa?

Ngon tuyệt vời, nhất là đối với những con... sâu rượu.

Đến ngày 18/06, chúng tôi được nhận nhu yếu phẩm hàng tháng.

Xà bông, đường, thuốc lá, bánh kẹo...

Nhân dịp nhận nhu yếu phẩm, anh Năm lại bảo đi kiếm cái gì về nhậu chơi.

Nếu săn được sẽ bảo thằng Tởm xuống gọi chúng tôi lên để nhậu.

Nhưng hôm đó chúng tôi chẳng thấy ai gọi lên kho lúa để nhậu cả.

Chắc hôm nay anh Năm về không rồi.

Chiều hôm sau, 19/06 thằng Tởm hớt hải chạy xuống báo cho chúng tôi biết : Cả đêm qua, anh Năm đi săn không thấy về.

Hóa ra đêm qua khi thấy anh Năm không về, thằng Tởm một mình một súng đã vào rừng đi tìm anh Năm.

Thỉnh thoảng nó lại bắn mấy viên đạn lửa vạch đường để báo cho anh Năm nhưng chẳng thấy gì.

Sáng nay, nó lại một mình vào rừng tìm tiếp cũng chẳng thấy nên bây giờ mới xuống báo cho chúng tôi.

Phòng tham Mưu liền điều vệ binh sư đoàn, D27 trinh sát kết hợp cúng chúng tôi vào rừng tìm anh Năm.

Đến tận chiều ngày hôm sau 20/06, chúng tôi mới tìm thấy anh Năm Lập nằm vắt người trên con đường mòn dành cho xe bò đi trong rừng cách sư đoàn bộ chừng hơn ba cây số.

Anh Năm đã dính phải lựu đạn gài, người nằm úp sấp.

Súng và tư trang cá nhân không còn gì.

Mới có hai ngày mà người anh Năm đã trương lên bốc mùi nồng nặc.

Anh lại bị Kỳ đà nó gặm nham nhở cả mặt mũi, chân tay trông rất sợ.

Tôi, Tởm và Chung " Mập " khiêng anh Năm về mà lòng đau đớn vô cùng.

Thật thương cho anh, anh ra đi mà không được hưởng quyền lợi gì cả.

Anh đã bị cắt quân số từ ngày mùng 9/06 lại chết trong hoàn cảnh như vậy nên vợ con chẳng được hưởng tiêu chuẩn Liệt sỹ.

Tôi là người được cử ra để cùng với tổ khám nghiệm tử thi lập biên bản.

Thật kỳ lạ, trong hòm đạn B40 đựng tư trang cá nhân.

Chúng tôi thấy anh đang viết dở dang khoảng 10 lá thư.

Thư cho vợ, thư cho con gái, con trai, thư cho bố mẹ nuôi, thư cho ban bè.... nhưng tất cả đều viết dở, không có lá nào viết trọn vẹn.

Tất cả đều đề ngày 18/06/1980.

Anh Năm Lập về nước ngay ngày hôm sau, trên xe đã có đủ 4 thi hài liệt sỹ.

Giữa năm 1980, anh Bảy Việt - chủ nhiệm hậu cần E2 về phụ trách đơn vị tôi.

Đại uý Phạm quốc Việt là một chỉ huy thông cảm và hiểu lính vô cùng.

Anh có dáng người thấp, hơi đậm, đầu hói lơ thơ vài sợi tóc ( bọn tôi toàn gọi trộm là Việt " hói " ).

Nghe anh em đồn rằng : mỗi sợi tóc trên chiếc đầu hói của đại uý Bảy Việt rụng xuống đất là ở đó có một cây vàng ( 10 chỉ đó ) mọc lên.

Việc kiện toàn lại đơn vị được thực hiện ngay sau khi anh Việt về nắm quyền chỉ huy.

Tất cả các sỹ quan trợ lý đều được đưa ra các chốt để nằm cùng với anh em.

Trước đây, các chốt đều do các hạ sỹ quan chỉ huy ( mà cao nhất là trung sỹ ), nay thì Thượng uý Hai Thí đi chốt Pô lây, trung uý Ba Vui chốt ở ngoài thị xã Congpongchnang.

Các chốt ở Tà lia, Cô tráp, chùa Lông chó...

đều được tăng cường thêm quân số và vũ khí trang bị.

Các sỹ quan trợ lý nằm lì ở cứ Trảng lớn và Đồng dù đều được gọi lên tiền phương hết.

Anh em lính tráng mừng ra mặt vì đời sống các chốt được quan tâm đúng mức.

Súng đạn, phương tiện được tăng cường để đảm bảo tuần tra, đánh địch trên sông.

Để có thêm xuồng máy phục vụ công tác đánh địch trên sông, đơn vị tôi nhất trí cử Trung uý Ba Vui và tôi về Phnompenh liên hệ với Bộ Thuỷ sản Campuchia để xin thêm 02 chiếc máy Bobo.

Hai anh em mang theo giấy giới thiệu của Phòng Hậu cần F9 đi làm việc.

Đến Phnompenh, hai anh em đến Bộ thuỷ sản CPC để xin máy.

Ở đó, người ta giải thích rằng việc xin máy Bobo này bộ Thuỷ sản không có quyền cấp mà việc duyệt cấp máy thuỷ cho bộ đội phải do Bộ quốc phòng CPC phụ trách.

Người ta hướng dẫn chúng tôi sang chỗ ông Pensovan để làm việc.

Thời điểm đó, Pensovan đang chức vụ cao ngút trời.

Tổng bí thư Đảng NDCM Campuchia, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng kiêm bộ trưởng bộ quốc phòng.

Ôi dào, sang thì sang sợ chó gì !!!

Hai anh em đi bộ sang Bộ quốc phòng CPC lúc đó đóng ở cạnh sở chỉ huy tiền phương QĐ4.

Vòng trạm gác, người ta yêu cầu xuất trình giấy tờ.

Hai anh em, ngoài tờ giấy giới thiệu của phòng Hậu cần F9 gửi bộ Thủy sản thì chẳng có thứ giấy tờ gì nữa.

Họ yêu cầu để súng đạn ngoài trạm gác cổng và cho vào phòng khách ngồi chờ.

Một cô gái Khme xinh như mộng, mặc quân phục ra pha trà mời chúng tôi uống và nói chúng tôi đợi một chút rồi bộ trưởng sẽ ra tiếp.

Một lát sau, ông Pensovan ra tiếp chúng tôi.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày về việc đi xin máy về phục vụ chiến đấu, Ông ôn tồn bảo ( tất nhiên là cuộc nói chuyện toàn bằng tiếng....

Việt ):

- Về việc này, chúng tôi sẵn sàng cấp cho các đồng chí ngay để phục vụ công tác.

Nhưng để cho tiện việc theo dõi về sau, các đồng chí nên sang gặp đồng chí Sáu Nam nhờ đồng chí ấy cho mấy chữ sang đây, tôi sẽ cấp ngay.

He ... he... he thế là thành công rồi, hai anh em tí tớn khoát súng sang tiền phương Bộ Quốc phòng của ta.

Đang trình bày với anh lính cảnh vệ ngoài vọng gác, bỗng thấy một ông đeo quân hàm thượng tá đầu hói hất hàm hỏi :

- Hai đồng chí đi đâu thế này ?

Lại mất công trình bày từ đầu cho ông thượng tá phe ta nghe rõ ngọn ngành câu chuyện đi xin máy của hai anh em.

Nghe xong, ông thượng tá trợn mắt :

- Hai đồng chí liều thật, chẳng biết phép tắc, nghi lễ ra sao?

Hai ông lính quèn mà dám lên tận Bộ Quốc phòng người ta để gặp Bộ trưởng !!!

May mà hai đồng chí gặp tôi ở đây chứ lại vào gặp đồng chí Sáu Nam thì tôi nghĩ thủ trưởng đồng chí, người ký giấy giới thiệu chắc chắn sẽ ... rớt sao và bị kỷ luật.

Ôi trời, nghe ông thượng tá nói mà hai anh em sợ run như dẽ.

Anh em rón rén xin phép ông thượng tá rồi... chuồn thẳng.

Hoá ra Pensovan đã có ý định nhờ tay Ông Sáu Nam trị chúng tôi về tội lếu láo mà chúng tôi ngu ngơ không hề nghĩ tới.

Hú vía......

Mùa khô 1980, nước non trở nên thiếu trầm trọng.

Mỗi lần tắm giặt mấy thằng lại xin thiếu tá Ba Hoành - Trưởng ban kỹ thuật công trình một chiếc xe giải phóng hoặc " vọt tiến " chở anh em lên chiếc hồ phía đầu sân bay để tắm giặt, nước hồ thì đục ngầu, bẩn dễ sợ.

Nước ở mấy cái giếng chỉ đủ để phục vụ nhu cầu ăn uống... khổ quá trời.

Ông Mười Do - Trung tá trưởng phòng ra lệnh cho mấy anh em chúng tôi phải xây một chiếc bể nước thật to để đựng nước mưa.

Gạch thì có sẵn ở ngay sân bay, toàn một loại gạch đúc bằng xi măng vuông thành sắc cạnh.

Chỉ thiếu mỗi xi măng.

Nghe nói dưới ga Romea - nơi Trung đoàn 1 đứng chân có rất nhiều kho xi măng.

Lập tức một xe Hồng hà chở lính tráng với đầy đủ súng đạn lên đường.

Chúng tôi bốc lên đầy một xe xi măng đủ để xây bể nước cho cả các phòng ban trên sư.

Có gạch, có xi măng chúng tôi bắt tay vào xây bể dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của anh Nguyễn hữu Tình - Hạ sỹ già nhất đơn vị.

Lính 78 đi bộ đội khi đã 30 tuổi.

Tôi không biết xây nhưng cũng bị " động viên " vào đội xây bể.

Chiếc bể được xây rất to, đựng được khoảng 20 m3 nước nằm ngay đâu hồi của dãy nhà tôi ở.

Anh em vừa làm, vừa tán chuyện lếu láo, vui vẻ.

Tính tôi hay tếu táo, trêu trọc mọi người.

Tôi vừa xây, vừa " mắng " thằng Ninh " mường " ( Nó là dân Hà tây nên anh em chúng tôi gọi nó như vậy ) :

- Đù má, mày xây kiểu gì mà cái thành bể trông cứ như " eo " ông Mười Do thế này.

Chẳng là thủ trưởng Mười Do có cái bụng rất " vĩ đại " như chị em có bầu được 7,8 tháng mà cái thành bể chỗ thằng Ninh " mường " xây cũng cong cong như vậy.

Tôi đâu có ngờ rằng thằng công vụ của ông Mười Do đang ngôi trên bậu của sổ nghe thấy tôi nói vậy, nó liền " bẩm báo " cho xếp của nó biết.

Thôi rồi lượm ơi !!!

Đời tôi thế là ra cái .. tóp.

Ông này trước lính Miền nam tập kết, học ở trường Lục quân Sơn tây.

Chắc nhiều lần chốn trường về Hà nội bát phố bị đám thanh niên Hà thành cho ăn đòn vì tội nghênh ngang, đi chợ Đồng xuân thì bị móc ví nên căm lính Hà nội lắm.

Nay lại nghe thằng công vụ nói vậy nên càng muốn " ăn tươi nuốt sống " tôi.

Khổ cái thân tôi, nào có phải tôi có ác ý gì đâu.

Chỉ tại cái mồm tôi hay tếu táo, đùa cợt mà mang vạ.

Sau tôi nghe anh Mười Nhạc nói với tôi :

- Mày nói chi mà ổng " hận " mày lắm đó.

Ổng nói là còn Mười Do thì thằng Thọ đừng bao giờ mong lên cấp, lên chức.

Đừng bao giờ nghĩ chuyện ra quân hay đi phép.

Chao ôi là ngao ngán.

Mà ổng làm thế thật.

Tròn ba tuổi quân, đánh nhau cũng chai cả tay nhưng tôi vẫn mang quân hàm binh nhất - phụ cấp cả thâm niên 17 riên không hơn không kém.

Anh em lục tục được đi phép về thăm gia đình, nhiều thằng vào sau tôi nhiều cũng vẫn được đi nhưng cứ nhìn thấy tên tôi trong danh sách đề nghị là ổng gạt.

Mẹ kiếp !

đời chó má thật.

Trong khi Mẹ tôi đang ốm rất nặng, không biết sống chết lúc nào, muốn được về nhìn mặt Mẹ lần cuối cũng không xong.

Trong khi mấy ông sỹ quan có gia đình ở T.P Hồ chí Minh thì cứ vù một cái lại tót về, xe đơn vị đưa đón tận nơi.

Hỏi không hận sao đượcCó chuyện trung uý bác sỹ của D33 ( bệnh xá sư đoàn ) quê Hải hưng tôi quên mất tên rồi.

Anh có điện báo của gia đình gửi vào :

- Bố chết, về ngay.

Cầm bức điện, anh cầm lên thủ trưởng xin đi phép.

Thủ trưởng động viên anh nên vượt qua đau thương, đằng nào thì bố... cũng chết rồi ráng ở lại phục vụ công tác.

Đơn vị đang bước vào chiến dịch nên thương binh về nhiều.. vv... và ...vv.

Anh sang bên ban tôi ngồi uống trà và ..chửi đổng :

- Mẹ chúng nó chứ, chúng nó vợ ỉa không ra cũng về, mà mình thì bố chết chúng nó cũng không giải quyết.

Ngày mai tao nhờ chính chúng nó về Việt nam điện hộ tao trả lời gia đình tao mấy chữ.

- Thế anh điện nội dung như thế nào? chúng tôi nhao nhao hỏi.

- Chôn ngay kẻo thối.

Anh trả lời tưng tửng.

Đầu năm 1981 sau tết Âm lịch Tân Dậu, trong lúc thủ trưởng Mười Do lên đường đi học Học viện Hậu cần ngoài bắc mấy tháng.

Thiếu tá Tư Thu ( Dân Hàn Thuyên - Hà nội ) lên giữ chức quyền trưởng phòng HC cho gọi tôi lên và nói :

- Chú em có muốn đi phép mấy tháng không?

Tôi muốn nhảy lên vì sung sướng lắp bắp :

- Có chứ, có chứ.

Thế anh cho em đi mấy tháng?

Đối với anh Tư, bọn chúng tôi có thể vui vẻ thân mật nói năng bỗ bã được.

Anh Tư cười và bảo tôi :

- Theo quy định, chú mày chỉ được nghỉ phép một tháng nhưng tao cho mày ở nhà 3, 4 tháng tuỳ ở mày.

Cho mày và thằng Thanh ( dân Thanh Trì - lính 78 ) đi luôn đợt này cho có bạn có bè.

Vậy là tôi " mồm huýt sáo vang " về thông báo cho thằng Thanh biết và chuẩn bị lên đường.

Tôi ra ngoài thị xã Congpongchnang nhờ mấy thằng ngoài chốt mua được một thùng đại liên mật ong rừng về làm quà cho Mẹ, mua mấy mảnh vải Tê tơ rông, vài tút Samit về cho Bố và mấy đưa em.

Bạn bè đồng đội trong đơn vị đứa ở Vĩnh phú, đứa Hà tây, đứa Hải phòng đều viết thư và gửi quà về gia đình và nhắn nhủ " nhớ phải đến thăm nhà tao đấy ".

Ok, tôi ừ hết.

Tôi và Thanh lên đường về cố hương với ba lô con cóc lặc lè trên vai mà chẳng thấy chút nặng nhọc nào, lòng vui phơi phới.

Xe đơn vị đưa chúng tôi về căn cứ Trảng lớn - Tây ninh.

Ở đấy, nghỉ một hai hôm, hai chúng tôi đưa về trạm giao liên Long bình để nhập vào đoàn cán bộ, chiến sỹ đi ra bắc.

Trạm Long bình đây.

Cảnh vật vẫn như xưa, vẫn chiếc giếng nước khổng lồ và những dãy nhà gió thổi ù ù suốt ngày đêm.

Chính cái nơi này mấy năm trước tôi, Minh và Long còn ao ước đến ngày nào được nhập trạm trở về quê Bắc.

Nay tổ Tam Tam chỉ còn mình tôi trên cõi đời này được trở về sứ Bắc.

Hai người bạn, người đồng chí đồng đội thân thương đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường ác liệt.

Và còn biết bao nhiêu người lính trẻ trong cái đoàn quân hơn 900 người năm ấy không có được cái may mắn như tôi hôm nay.

Ôi, chiến tranh !

Mi đã nuốt biết bao nhiêu mạng người vào cái dạ dày khổng lồ của mi rồi hả???

Chúng tôi nhanh chóng được cấp vé tàu và hướng dẫn nhập trạm 99 ( quân khu Thủ đô ) khi trả phép.

Con tàu đưa chúng tôi về quê hương.

Trên tàu, rất ít bộ đội chẳng giống như chuyến tàu quân sự đưa chúng tôi ra đi năm nào.

Những người dân trên tàu tranh thủ buôn bán ngay trên tàu.

Qua ga nào bán gạo rẻ họ mua gạo, ga bán miến rẻ họ mua miến.

Hàng hoá chất đầy trong toa cứ ngồn ngộn.

Qua ga Mương mán thấy dân họ mua nhiều Miến dong, Tôi và Thanh cũng làm mua vài " vác " Miến để buôn lấy tí tiền tiêu vặt.

Con tàu từ từ trườn qua đèo Hải vân.

Cái không khí lạnh miền bắc quen thuộc bắt đầu tràn vào khoang tàu.

Bao nhiêu năm, bây giờ tôi mới được hưởng lại cái cảm giác lành lạnh, gai gai người thân thuộc mà cứ ngỡ rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại.

Càng ra phía Bắc, cái lạnh càng dữ dội.

Hai chúng tôi vẫn cứ phong phanh bộ quân phục hè, mặt mũi hai thằng cứ tái dần như miếng thịt trâu chết.

Vinh, Thanh hoá, Nam định... và kia rồi Hà nội.

Hà nội đây rồi !

Hai chúng tôi ngó qua cửa sổ ngắm nhìn công viên Thống nhất khi tàu chạy ngang qua.

Cảm giác bồi hồi thật khó tả, ruột gan cứ nhộn nhạo.

Tàu dừng bánh tại ga Hàng cỏ, hai thằng nhìn đống miến dong mà phì cười ngao ngán.

Lẽ ra khi đến Thanh hoá, Nam định lúc con buôn tràn lên tàu gạ bán thì phải bán quách nó đi có phải bây giờ nhẹ tênh không nhưng thằng Thanh lại muốn về Hà nội bán chắc có lãi hơn.

" Mua tận gốc, bán tận ngọn " thằng Thanh nói giọng rất có nghề.

Tại ga Hà nội, bọn con buôn cũng tràn lên đòi mua nhưng chúng nó chỉ trả giá bằng đúng giá bọn tôi mua tại trong kia, thế mới tức.

Cuối cùng, để cho nhẹ gánh Tôi bảo Thanh bán mẹ nó đi cho rồi.

Thế là công cốc chẳng lãi được xu nào mà mệt cả người vì khuân với vác.

Hai thằng lững thững ra khởi ga.

Xích lô nhao đến.

Tôi bảo Thanh :

- Thôi, bọn mình đi bộ cho khoẻ.

Bộ đội mà ngồi xích lô kiểm soát QS nó túm được rách việc lắm.

Mày về nhà tao nghỉ ngơi rồi tao sẽ lấy xe đạp đèo mày về nhà.

Hai thằng cuốc một mạch về đến bờ hồ.

Nhà tôi đây rồi nhưng cái cổng lớn ngày tôi đi vẫn còn, nay Intimex nó đã chiếm dụng và xây bịt vào mất.

Nhà tôi đi đường nào nhỉ?

Hai thằng đặt ba lô xuống chiếc ghế đá trước cửa ngồi nghỉ chân.

Hồ Hoàn kiếm vẫn như xưa, chỉ khác nỗi cảnh đó đây mọc lên mấy chiếc hầm trú ẩn, lô cốt ở góc hồ.

Dấu tích của cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm trước còn sót lại.

Chân tay đã đỡ mỏi, đầu óc đã đã hồi hộp.

Tôi và Thanh khoác ba lô lên vai bước qua đường xanh rì bóng Sấu để về nhà.

Vừa mới bước đến vì hè bên này, chú Tỵ người hàng xóm nhận ngay ra tôi, chú quăng chiếc xe đạp và chạy vào chiếc ngõ nhỏ hét ầm lên : Ông bà Hào ơi, thằng Thọ nó về đây này !

Thằng Thọ nó về này !

Cả cái ngõ nhỏ xôn xao, phút chốc đã đông đặc người dân trong " xóm ".

Một lũ trẻ lộc ngộc cứ cuống quýt ôm lấy tôi.

Trong đám trẻ này đứa nào là thằng Dũng, thằng Giang em tôi?

Đứa nào cũng luôn miệng em đây, em đây.

Tôi không thể nhận ra đứa nào hết, mới có mấy năm mà đứa nào cũng cao lớn lộc ngộc, đầu tóc bù xù dài lết bết ( hồi ấy thanh niên vẫn còn mốt để tóc dài ).

Bố mẹ tôi đây rồi !

Cả hai cụ đều gầy vêu vao nhất là Mẹ tôi.

Mẹ mừng rỡ ôm lấy tôi, bàn tay cứ vuốt ve khuôm mặt tôi, Mẹ thì thầm :

- Mẹ tưởng không bao giờ còn được gặp con nữa.

Nước mắt mẹ chảy dài trên khuôn mặt gày yếu, xanh mướt.Tôi giới thiệu Thanh với cả nhà.

Thằng Giang bây giờ đã cao trông ra dáng thanh niên lắm rồi, mái tóc để dài xoăn tít ôm lấy khuôn mặt gầy nhẳng trông lại càng gầy hơn.

Tôi nhìn quanh nhà, ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi.

Vẫn mái nhà bán mái lụp xụp khi xưa.

Một mâm cơm thịnh soạn đã dọn sẵn từ bao giờ.

Hóa ra hôm nay nhà tôi có khách.

Ông anh con bác ruột tôi từ Đà nẵng ra chơi.

Ngồi hàn huyên một lúc thì thằng Dũng em tôi đi đón ông chú ruột tôi cũng về đến nhà.

Chú tôi và em Dũng ôm lấy tôi mừng rỡ, chú cứ nhắc đi nhắc lại : Niềm vui hôm nay thật bất ngờ, rất bất ngờ.

Ôi sau bao năm gặp lại mà tôi thấy ai cũng gày gò, mặt mũi xanh sám đi.

Chắc mấy năm nay, cuộc sống ngoài này vô cùng thiếu thốn, cực khổ.

Cơm nước xong xuôi, em Dũng xung phong đèo xe đạp đưa Thanh về nhà dưới Thanh trì.

Tôi hẹn Thanh sẽ xuống nhà chơi sau vài hôm nữa.

Trong thời gian nghỉ phép tôi tranh thủ đi khắp nơi để đến thăm và đưa quà cho các gia đình bè bạn, đồng đội cùng đơn vị.

Đến đâu tôi cũng được tiếp đón thân tình, họ coi tôi như con em của họ nay đã trở về vậy.

Miền bắc những tháng năm này đang oằn mình chịu đựng sự thiếu thốn.

Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu hàng hóa tiêu dùng.

Đi đến đâu tôi cũng chỉ thấy những khuôn mặt gầy gò, xanh xám ốm yếu.

Quần áo ít khi nhìn thấy lành lặn.

Thấm thoắt hai tháng đã trôi qua, tôi bắt đầu cảm thấy ... chán ở nhà.

Tôi nhớ đơn vị, nhớ đồng đội.

Cái cảnh ở nhà cứ hết ra lại vào không có việc gì làm, ăn không ngồi rồi thật vô vị.

Tôi bàn với Thanh đi trả phép sớm.

Trong tâm trạng cũng như tôi, Thanh nhanh chóng đồng ý.

Chúng tôi ra trạm 99 ( đối diện ga Hàng cỏ ) trình giấy và xin nhập trạm.

Hai hôm sau chúng tôi lên đường trở lại đơn vị.

Vào đến đơn vị, người chúng tôi chạm mặt đầu tiên là.... thủ trưởng Mười Do.

Ông đang chăm chút cho mấy cây Đậu bắp đang xanh um trổ hoa kết trái.

Nhìn thấy chúng tôi khoác ba lô vào cổng, ông cười nửa miệng, khuôn mặt to béo đầy rỗ hoa gần như ...méo lại :

- Ừ..hừ....

Mầy mà cũng đi phép hả Thọ?

Tôi cười ..cũng như mếu :

- Vâng !

Mời thủ trưởng tối sang ban em uống chút trà bắc quê hương.

Tôi lẩm bẩm sao mình xui thế, vừa vào đã chạm mặt lão già này rồi.

Anh em trong đơn vị thấy chúng tôi vào ùa đến hỏi han, chuyện trò vui vẻ.

Thuốc sợi Lạng sơn vàng ươm thơm ngào ngạt, trà Thái nguyên được mở ra.

Anh em từ quan đến lính quây quần bên ấm trà chuyện nổ như ngô rang.

Nào chuyện nhà chuyện cửa, chuyện phố phường, chuyện quê hương.

Trong thời gian hai tháng tôi cũng đã cố đi đến nhiều nhà bạn bè trong đơn vị nên cũng có nhiều chuyện để kể, mang quà của gia đình cho chúng nó... các câu chuyện cứ kéo dài mãi đến nửa đêm.

Sáng hôm sau, anh Bảy Việt bảo tôi và Thanh :

- Tao thấy chúng mày gầy đi nhiều đấy, chắc Miền bắc đói ăn nên chúng mày vào sớm chứ gì?

Nghỉ thêm một hai hôm nữa, hai đứa chúng mày áp tải mấy bè cá đi Phnompenh bán nhé.

Mấy hôm sau, chúng tôi ra thị xã xuống bè đi Phnompenh.

Ở đơn vị, thằng nào được đi Phnompenh áp tải cá thì sướng như vua con.

Sáng dậy có trà, cà phê ( loại cafe tan của Mỹ ) uống, ăn sáng thì bánh bao, xôi dừa.

Trưa, tối đến thì có cá đầy bè muốn ăn con nào thì ăn, chán cá thì có thịt heo, thịt vịt, rau xanh ê hề...

Tối thay nhau đi bát phố vì tiền tiêu cũng rủng rỉnh.

Cơm nước có người nấu phục vụ.

Công việc là ghi chép xem hàng ngày bán được bao nhiêu tấn cá, bảo vệ không cho dân bán cá trộm qua mặt mình.

Công việc chỉ có vậy.

Thời gian kéo dài chừng một tháng đến một tháng rưỡi.

Hết cá, chúng tôi lại quay trở về căn cứ sư đoàn ở sân bay.

Cuối năm 1981. sư đoàn 9 nhận lệnh lật cánh sang lộ 6 - Stung, Siêm riệp.

Tất cả các phòng ban của cơ quan sư đoàn bộ đều lục tục xuống tàu tại cảng CPChnang.

Mỗi đơn vị để lại một ít lính tráng để trông coi cứ đợi bàn giao cho đơn vị bạn.

Riêng các chốt của phòng hậu cần vẫn ở lại bảo vệ dân đánh cá để có cái mà cải thiện cho sư đoàn.

Thằng Thanh trố ở lại tại sân bay trông " cứ " để đợi bàn giao.

Ban ngày nằm nghêu ngao vớ vẩn cùng một thằng nữa tôi quên mất tên.

Ban đêm, hai cu cậu ra dân mượn xe bò đánh vào doanh trại gỡ ngói ( ngói lợp vẫn còn mới lắm ), gỡ vì kèo, xà gồ... mang ra bán cho dân K lấy tiền.

Gì chứ những mánh kiếm tiền thì Thanh trố thuộc loại cáo già.

Sau này hắn kể với tôi là hắn gỡ hết bốn dãy nhà của phòng 3, rồi ăn sang cả khu phòng 2 thì bọn lính đơn vị khác mới đến nhận địa bàn.

Tôi và một anh em khác như Tàm, Hiển cào cào, Thượng uý Hai Thí... nằm trong danh sách đi Stung.

Con tàu đưa chúng tôi sang CP Thơm xuất phát từ sáng ở CPChnang đi dọc theo dòng sông Sen, đến quá chiều thì tới CP Thơm.

Mấy thằng chúng tôi đổ bộ vào ngôi chùa lớn ngay sát bờ sông.

Nơi ăn chốn nghỉ là hành lang rộng mênh mông, sạch sẽ của ngôi chùa.

Sắp xếp xong xuôi, chúng tôi cùng nhau đi ra sông tắm, tiện thể mua ít thức ăn chuẩn bị bữa cơm chiều.

Dòng sông không rộng lắm lại nông, chúng tôi bơi qua bên kia sông chơi và để mua thực phẩm.

Giá cả đắt hơn ở CPChnang.

8 Riel một kg rau cải, 3.5 - 4.0 Riel một kg cá trắng.

Thôi đành ăn cá vậy, chúng tôi chẳng có nhiều tiền để ăn rau.

Chúng tôi lang thang đi xem phố xá.

Cạnh bờ sông, một chuồng nuôi cá sấu được rào chắc chắn bằng hàng rào sắt xung quanh.

Nghe những người dân bảo rằng ngày xưa, dưới thời Pôn pốt lũ cá sấu này toàn được nuôi bằng thịt trẻ em.

Thỉnh thoảng, chúng cứ quoăng vào chuồng sấu vài đứa trẻ.

Thế là xong một bữa.

Chúng tôi trở về " doanh trại " chùa.

Mượn nồi niêu của dân, của các vị sư sãi để nấu ăn với lời căn dặn là nấu xong phải rửa thật sạch sẽ, đừng để những mùi " trần tục " bám vào.

Các vị sư sãi trong chùa chỉ ăn một bữa vào lúc chính ngọ do đi khất thực mà có.

Khi họ ăn xong, nhân dân hay bộ đội nếu đói có thể vào lấy đồ thừa của họ mà dùng ( Tất nhiên là vẫn ngon lành, sạch sẽ ).

Buổi tối tiếng ê a...AK...DK...M79...12 ly 8... của kinh kệ của sư sãi vang lên trong khung cảnh tĩnh mịch, buồn buồn của không gian chùa rộng lớn.

Chúng tôi vào chùa xem họ cầu khấn rất thoải mái...

Ngày hôm sau, hàng loạt lều bạt dã chiến được dựng lên bên bờ sông Sen ngay cạnh chiếc chuồng nuôi cá sấu.

Chúng tôi trở về trú trong những cái lều bạt để đợi ô tô sư đoàn đến đón đưa lên Stung.

Stung, một thị trấn ven lộ 6 rợp bóng xoài.

Các phòng ban sư đoàn đều trú tạm trong nhà dân.

Mấy thằng chúng tôi được phân về ở trong nhà của đôi vợ chồng dân K tuổi đã tam tứ tuần.

Ông chồng suốt ngày đi vắng còn bà vợ ở nhà thỉnh thoảnh lại giã một nồi " cốm " mang tiếp tế cho thằng con chắc là lính Pốt vẫn ở trong rừng.

Bà vợ thấy tôi suốt ngày nằm nhà, chẳng hay đi chơi bèn lân la trò chuyện.

Có lần bà ta hỏi giọng tỉnh bơ : Bòng Thọ, Chuây Camphuchia Vietnam hao ây?

Tôi nhe răng ra cười trừ.... mặt đỏ gay mà không biết trả lời ra sao.

Tết năm ấy, chúng tôi đón tết Nhâm tuất tại thị trấn Stung trong cái lạnh ghê người.

Năm ấy sao lại lạnh dữ thế.

Mỗi đứa chúng tôi chỉ có mong manh một mảnh khăn dù làm chăn, lại phải ngủ ngoài hiên nhà.

Gió thổi ù ù, mấy thằng nằm ôm nhau theo kiểu úp thìa mà vẫn không bớt lạnh.

Trong nhà, vợ chồng thằng cha chủ nhà dưới chiếu, trên chăn ấm áp nên đâm rửng mỡ.

Rúc rích mèo chuột rung cả ngôi nhà sàn ọp ẹp làm chúng tôi càng thêm khó ngủ.

Tết nhất đã qua, phòng hậu cần giao cho bọn tôi đi xây dựng căn cứ mới cách Stung khoảng 10 km về phía CP Thơm.

Đây là một khu rừng Khộp ngay sát đường lộ 6.

Bọn tôi đóng quân tạm trong vườn xoài của dân.

Những ngày đầu, chúng tôi dựng lều bạt dã chiến để ở, đào hầm hào để sẵn sàng chiến đấu.

Ông Hai Thí mặc dù đã 47 - 48 tuổi nhưng vẫn đào đất rất hăng.

Những bắt thịt ở tay chân ông cuồn cuộn, gân guốc.

Bụng, ngực ông đầy những đám lông soăn tít.

Chúng tôi vẫn nói đùa gọi ông là người tiền sử, có " lông từ cần cổ xuống tận cuống đít ".

Ông dùng xẻng phá một góc bụi tre gai để làm hầm chiến đấu, nhìn cái hầm đâm đầu vào bụi tre, tôi thầm cười không hiểu hướng xạ kích mà ông định làm sẽ nhằm vào đâu đây mà không dám nói.

Thôi kệ ông ấy, việc mình là ông đào đất thì mình xúc đất đổ ra ngoài.

Chỉ có xúc đất đổ ra ngoài mà ba thằng chúng tôi đã mệt nhoài, chẳng theo kịp nổi ông.

Tôi và Tàm bỏ đi làm một chiếc bếp dã chiến.

Cơm ăn chẳng có gì ngoài cá khô và bát canh rau cải thiện.

Xong xuôi nơi ăn chốn ở, tôi và ông Hai Thí thường vác súng đi săn bắn, đánh cá để cải thiện.

Mất mấy quả M26 mà chẳng được con cá nào.

Chiếc hồ sen rất lớn ngay gần nơi đóng quân vậy mà chẳng có chút cá nào.

Ông Hai Thí còn có biệt tài bẫy gà rừng, chỉ với một ít sợi dây dù, vài cành tre nhỏ là thỉnh thoảng chúng tôi lại được cải thiện bằng mấy chú gà rừng ông bẫy được.

Thơm ngon vô cùng. ( Đoạn tiếp theo tôi đã kể với các bạn về việc thằng Hiển làm cháy lều bạt, còn tôi bắn chó của dân rồi - ở đây tôi không nhắc lại nữa )

Sau khi nhận án kỷ luật " nâng lên hạ xuống " chỉ trong 5 phút.

Tôi, Tàm và Hiển cào cào lĩnh án ...đi chốt tại khúc sông phía trong chốt Cô Cháp.

Chiếc xuồng lớn chở Tôi, Tàm, Hiển cùng một khẩu 12 ly 8, một B40, một RPD và 2 khẩu AK cúng đạn gạo, mắm muối ( không có thực phẩm ), xoong nồi... hướng về phía Biển Hồ.

Khúc sông Tonlesap đoạn đổ ra Biển hồ chia thành hàng trăm nhánh lớn nhỏ như một mê hồn trận không biết đâu mà lần.

Ngay sát bờ sông là những cánh rừng Tràm xanh rì mọc um tùm, dây leo chằng chịt.

Thỉnh thoảng chúng tôi gặp đôi ba chiếc xuồng của dân đánh cá qua lại.

Chúng tôi đi qua chốt Tà lia.

Ở đấy có Thanh, Quân, Đào lé chốt ngay dòng sông lớn.

Thấy xuồng chúng tôi chạy qua, chúng nó đưa tay vẫy vẫy.

Chúng tôi ghé vào và được chúng nó cho một chiếc xuồng ba lá nhỏ xinh với đầy đủ mái chèo.

Sống ở vùng toàn sông nước này mà không có xuồng thì kể như bó chặt tay chân lại.

Chúng nó ném cho chúng tôi vài ba con cá để ăn ngay trong buổi chiều, con nào con ấy vẫn còn giẫy đành đạch nặng chừng 2 kg.

Ngay đối diện chốt Tà lia, có một nhánh sông nhỏ dẫn vào sâu trong khu rừng rậm rạp.

Chúng tôi men theo nhánh sông đến một ngã ba nối với một dòng sông lớn khác thì dừng lại.

Được mấy người dân tốt bụng giúp sức, chẳng bao lâu một cái lán nhỏ được dựng lên làm nơi ở cho chúng tôi ngay trên bãi đất rìa ngã ba sông.

Xung quanh là nước, đằng sau là rừng.

Địa thế chốt thật nguy hiểm cho chúng tôi.

Nếu chúng nó từ những cánh rừng sau lưng đánh hất ra thì không hiểu chúng tôi biết chạy đằng nào?

Lán dựng xong, những người dân đưa chúng tôi lên đây chào tạm biệt ( hay vĩnh biệt nhỉ? ) để ra về.

Ba thằng hì hục lắp súng, lắp đạn sắp xếp nơi ăn ngủ và phân công nhau các hướng phụ trách khi lâm trận.

Đánh nhau cũng đã được mấy năm, cũng ít nhiều trải qua các cảm giác khác nhau trong chiến đấu nhưng chưa bao giờ tôi có cái cảm giác " lạnh lưng " như ở chốt này.

Một vùng sông nước, rừng rậm bao la trước mặt, sau lưng vậy mà chỉ có 3 thằng lính trơ trọi trên cái rìa sông mỏng dính như lưỡi mèo.

Tôi bần thần đứng suy nghĩ và đưa ra các tình huống khi xảy ra chiến sự.

Địch dùng xuồng có gắn máy đánh vỗ mặt vào chốt hay nó đánh tập hậu từ khu rừng sau lưng? hay cả hai?

Nếu cả hai hướng thì....

Tôi chẳng thèm nghĩ tiếp nữa.

- Đi vơ củi nấu cơm tụi mày.

Tôi hô thằng Hiển và Tàm.

Mỗi thằng một tay, chẳng mấy chốc cơm nước đã xong xuôi.

Ở chốt này, thực phẩm, thức ăn không đáng ngại.

Chỉ cần khẩu AK.

Bòm ! thế là cá rán, cá nấu canh chua, cá kho đầy đủ.

Chỉ ngại duy nhất là nước ăn.

Sống giữa vùng sông nước mênh mông mà lại thiếu nước.

Nước sông đục ngầu và tanh ngòm toàn mùi cá.

Để tam thời có nước nấu nướng, chúng tôi đã phải dùng phèn chua ( chuẩn bị sẵn ở " nhà " ) để đánh.

Tuy có hơi chát nhưng vẫn còn hơn là dùng ngay nước sông.

Chiếc lán chúng tôi ở có chiều ngang chừng 3 mét, chiều dài chừng 4 - 4.5 mét, trên lợp lá Thốt lốt, xung quanh trống hoếch trống hoác.

Có một cái sàn cách mặt đất chừng 70 - 80 phân, sàn làm bằng cành cây có rải một lớp đăng ( dùng đánh bắt cá ) cho êm.

Cơm nước xong, trời chưa tối mà muỗi đã nhiều như vãi trấu.

Đánh hơi thấy mùi thịt người, chúng xông vào đốt như bầy thiêu thân.

Chúng tôi vội vã lên sạp mắc mùng rồi chui vào nằm nói chuyện phiếm mặc dù ánh mặt trời vẫn chưa tắt hẳn.

Trời tối dần, xung quanh bóng đêm bắt đầu dần buông.

Khu rừng Tràm phía sau lán lào xào trong tiếng gió thổi ào ào.

Mặt sông rộng nên gió thổi càng dữ.

Trong tiếng gầm gào của thiên nhiên, chúng tôi chẳng nghe được những tiếng động xung quanh.

Thế này thì địch vào đến tận nơi tôi nằm, tôi cũng chẳng thể phát hiện ra.

Tôi bảo thằng Hiển nằm bên cạnh :

- Đêm phải tổ chức gác thôi mày ạ.

Tao thấy ớn lắm.

- Đ.M, Bây giờ mà ra ngoài gác thì chết vì Miên đâu chẳng thấy mà chết ngay vì muỗi đốt đã.

Thằng Tàm thủng thẳng trả lời.

Thằng Tàm nguyên là lính chiến, đã ít nhiều trải qua chiến đấu nên chuyện sống chết đối với nó dù sao đã từng chứng kiến.

Còn thẳng Hiển cào cào nguyên là lính trồng sắn của sư đoàn tại nông trường Phú giáo ( Bình Dương ) đã đánh đấm trận nào đâu, kinh nghiệm chẳng có nên tôi cũng hơi ngài ngại.

Mả cha nó, bọn ngoài chốt Tà lia đã được ở ngoài ngã ba sông lớn, hoả lực mạnh, quân số đông ( chúng nó có tận 4, 5 thằng lận ) mà lính thì toàn thương binh, đánh đấm có sỏi trong đầu.

Còn chốt của mình đã ẻo về quân số lại yếu về kinh nghiệm cho nên cảm thấy lạnh sườn cũng phải.

Nghe theo thằng Tàm tham mưu, cả ba đứa liều chết nằm lì trong mùng, ôm súng ngủ một mạch đến sáng.

Sáng hôm sau, thằng Tàm bảo chúng tôi đắp ụ cho khẩu 12ly8.

Khẩu 12.8 được giá ngay cạnh lều có tầm xạ kích cả hướng mặt sông và rừng phía sau lưng.

Khẩu RPD sẽ phụ trách hướng sau lưng chếch bên tay phải.Thế bố trí đội hình thế là tạm ổn.

Thằng Tàm lại nêu " sáng kiến " đào giếng lấy nước ăn.

Từ chiều hôm ấy đến suốt cả ngày hôm sau, chúng tôi hì hụi đào giếng.

Giếng sâu tới cả 4 mét mà chẳng có tí nước nào mặc dù nằm ngay cạnh bờ sông !

Thế mới lạ.

Công toi vô ích, mệt cả người.

Lại đành dùng nước sông đánh phèn vậy.

Xác định với nhau rằng nếu địch vào, đánh không nổi thì chạy.

Chạy bằng cách nào?

Mấy thằng ngồi uống trà nghe Radio ( có một cái Radio, các chốt thay nhau mỗi chốt được giữ một tuần ) nhưng bàn tính rất sôi nổi.

Có lẽ còn hơn bọn tác chiến tiểu đoàn, trung đoàn chuẩn bị vào chiến dịch.

Trước mắt, tất cả phải chèo xuồng thật giỏi.

Thế là nghị quyết " chèo xuồng " ra đời.

Ban ngày, mấy thằng thay nhau tung tăng tập tành.

Ban đầu, cái xuồng nó chẳng theo ý mình cứ quay ngang quay dọc như chong chóng.

" Không thày đố mày làm nên ", các cụ đã dạy thế.

Thằng Tàm, Tôi và thằng Hiển nhảy ra mấy khẩu súng.

Cùng...cùng...cùng...

Tằng ...tằng ... tằng...

Tiếng 12ly8, tiếng RPD, tiếng AK nổ giòn giã...

Chỉ một lúc sau, chiếc xuồng chở bọn thằng Quân cụt, Đào lé, Thanh trố với súng ống đầy đủ lướt sóng băng tới.

Cả lũ chúng tôi nhe răng ra cười.

- Mẹ khỉ. chúng tao ngoài kia tưởng chúng mày bị úp nên vội vào chi viện.

Có chuyện gì vậy ?

Đào lé ( Thanh Hoá ) văng tục tùm lum.

Mà cái thằng này đến lạ.

Mắt nó lé đến híp cả lại mà sao vẫn trúng tuyển đi bộ đội nhỉ???

Nghe chúng tôi " trình bày ", cả lũ hiểu ra và nhiệt tình dạy bảo.

Thằng Quân cụt chèo xuồng thiện nghệ, chân nó cũng vung vẩy, đá đá rất điệu, cả thân mình cũng uốn éo theo nhịp tay.

Nhìn nó chèo xuồng, khăn Cà ma cuốn vai ai mà bảo nó là Công tóp Việt nam?

Nhờ các " thày " tận tình chỉ bảo, chỉ mấy hôm sau cả ba chúng tôi đã có thể ngược xuôi khắp khu vực.

Tối đến, khi thì thằng Thanh, khi thì Quân cụt, Đào lé... chèo xuồng vào với chúng tôi để ... ngủ và tán phét.

Có chúng nó qua lại, bọn tôi cũng bớt đi nỗi sợ hãi.

Một buổi tối, vào khoảng 8 - 9 giờ, Tôi nằm ngoài cùng bỗng nghe thấy tiếng mái chèo khua róc rách lẫn trong tiếng gió thổi ù ù.

Có địch tập kích !

Cả ba thằng ôm súng lăn nhanh ra khỏi lán.

Tôi lao về khẩu 12.8, thằng Tàm ôm lấy khẩu RPD, thằng Hiển cào cào lập cập cầm khẩu AK nằm lăn ra bên cạnh ụ 12.8.

Phía hạ lưu, hai ba chiếc xuồng nhỏ lố nhố bóng người từ từ tiến đến gần.

Tôi khéo khoá nòng khẩu 12.8...

Roạt...

Tiếng la thất thanh:

- Ấy ấy... bọn tao... bọn tao ..đừng bắn...

đừng bắn.

Hoá ra ngoài chốt Tà lia, chúng nó đi bảo vệ dân Việt kiều vào đánh cá trộm trong khu vực chúng tôi quản lý.

Tý nữa thì ăn đòn cả nút.

Hôm sau, thằng Thanh trố ra bật mí với chúng tôi :

- Ở chốt này kiếm được nhiều tiền lắm chúng mày ạ!

Cứ cho dân Việt kiều vào khu vực mình bảo vệ để nó đánh cá.

Cho một hai thằng cầm súng đi bảo vệ, ăn chia tứ - lục.

Mình 6 nó 4.

Mỗi đêm làm vài tạ cá lóc ( cá trắng dính lưới thì lại thả ra không lấy vì rẻ tiền - 1.5 - 2.0 riel một kí, cá đen ( lóc, lóc bông ) 4 - 5 riel một kí ).

Tiền tiêu thoải mái, cải thiện ăn uống mệt nghỉ.

Thảo nào, ngoài chốt chúng nó hút toàn Samit, In tẹc, ba con một, ăn uống thì thịt heo, thịt vịt, dưa leo đầy đủ....

Còn chốt mình quanh đi canh cá, quẩn lại cá kho, cá nướng...phát ớn luôn.

Nghe kinh nghiệm từ thằng Thanh truyền lại, lập tức chúng tôi thực hiện liền.

Chốt tôi nhất trí cử thằng Tàm đi nhờ xuồng dân về thị xã CP Chnang móc nối với dân Việt kiều từ miền tây sang đánh cá.

Hôm sau, thằng Tàm đã dẫn lên một gia đình Việt kiều, người chồng thứ tư nên chúng tôi gọi là anh chị Tư.

Anh chồng khoảng 26 - 27 còn người vợ chắc chừng trên hai chục, Gia đình họ có hai đứa con, một đứa mới sinh chừng vài tháng.

Cả hai đứa con đều ở lại trên một chiếc xuống lớn nằm ngoài thị xã - đối diện với khu nhà chúng tôi trú quân.

Còn hai vợ chồng cùng nhau vào khu vực sông rạch chúng tôi quản lý để đánh cá.

Tỷ lệ ăn chia nhanh chóng được thống nhất.

Hàng ngày, chúng tôi thay nhau cử người đi bảo vệ, anh chồng giăng lưới bắt cá trong các luồng lạch vắng vẻ khắp các cánh rừng ven cửa Biển hồ.

Thỉnh thoảng, chị vợ lại ở lại lán của chúng tôi cơm cơm nước nước, còn anh chồng một mình cặm cụi kiếm ăn.

Kể từ khi có vợ chồng anh Tư, cuộc sống của chốt bọn tôi trở nên sinh động.

Từ trước chỉ có ba thằng đực rựa, nay đã có bóng người con gái ra ra vào vào.

Chị Tư đun nước pha trà, đôi khi nấu cơm cho cả bọn tôi ăn luôn thể.

Vui ra phết!

Nghe hai vợ chồng anh chị Tư xưng hô với nhau, bọn tôi cứ cười vật vã.

Chị Tư gọi chồng bằng anh xưng tui, còn anh Tư gọi vợ bằng mày xưng tao !

Ngồi uống trà tán láo tôi liền bảo hai vợ chồng :

- Này, anh chị Tư.

Vợ chồng " đầu gối tay ấp " sao anh lại gọi vợ bằng mày tao như vậy, tôi nghe hổng có vô.

Thế ngày xưa khi hai người yêu nhau cũng gọi nhau như vậy à?

Anh Tư cười ha hả :

- Yêu đương gì mấy ông ơi, Ba má kêu lấy vợ thì lấy vợ chứ có biết yêu đương nỗi gì.

Gọi riết thành quen rồi.

Mà dân miền tây tụi em toàn gọi nhau như vậy không hà.

Tôi nói bây giờ sống phải khác đi, gọi anh em cho nó có tình nghĩa.

Anh Tư nghe vậy vừa cười, vừa gọi vợ :

- Em ơi, châm cho anh ấm trà.

Nói xong anh cười ha hả ra chiều vừa thích chí vừa ngượng miệng lắm lắm.

Cứ hai ba ngày, cá lóc đầy ghe là anh Tư cùng một trong ba đứa chúng tôi vọt về thị xã cân, bán cá chia nhau.

Khi kéo ghe lên chốt, chúng tôi lại sắm bột ngọt, thuốc lá, me nắm, rau cỏ thịt thà... và cả gạo ngon nữa.

Gạo đơn vị cấp phát vừa hôi, vừa mốc vứt mẹ nó đi cho rồi.

Cuộc sống lên hương trông thấy.

Thỉnh thoảng, khi vào rừng chúng tôi còn phát hiện những tổ ong rừng, nhiều tổ to gần bằng nửa chiếc chiếu đơn.

Chúng tôi nhờ dân ( hay bắt dân nhỉ? ) trèo lên lấy tổ, vắt lấy mật.

Đầu lán là 3 chiếc can 25 lít treo lủng lẳng lúc nào cũng đầy ắp mật ong rừng ngọt ngào, thơm ngát.

Thừa mật ong, chúng tôi nhờ mua gạo nếp về nấu chè.

Nồi chè đặc sánh, ngọt đến xít họng.

Có một ngày chủ nhật, thằng Thanh trố chèo xuồng sang chốt của bọn tôi chơi.

Nghe Radio phát buổi ca nhạc " theo yêu cầu thính giả ", thằng Thanh ma giáo nhờ tôi viết thư " tình " ( thằng này văn hoá có lớp 7 trường làng, đang học dở thì...cô giáo chết ).

Cứ lấy tên và địa chỉ em nào nghe ngon lành một chút là gửi thư tình....

" Theo yêu cầu của bạn....Thu Hương, sinh viên lớp... trường đại học sư phạm Vinh...

" thế là nó túm lấy địa chỉ nhờ tôi viết mấy trang tán tỉnh ba lăng nhăng.

Vậy mà khoảng một hai tháng sau nó cũng được hồi âm.

Cô nàng gửi ảnh cho nó đàng hoàng và cũng xin ảnh của nó để biết mặt.

Thằng này chuyên có những trò tếu táo.

Nghe " em " xin ảnh, nó cắt luôn cái hình quảng cáo kem đánh răng Hynos có in hình thằng da đen nhe răng cười và gửi lại cho nàng.

Thế là mất đứt liên lạc.

Thằng Thanh nằm kể tôi nghe về quê hương Yên sở của nó, nó cứ ước ao ngày mai yên hàn sẽ về quê làm ao nuôi cá.

Thỉnh thoảng sẽ trở về quê nội tận Thái nguyên buôn về Hà nội vài ba lô chè " móc câu " là tiền tiêu thoải mái.

Nó bảo tôi sau này tôi lấy vợ, mỗi mâm cỗ cưới của mày tao mua cho một con cá chép là cực sang rồi, chè Thái mày khỏi lo đi.

Của nhà trồng được mà!

Tối tối, chúng tôi vẫn lên " giường " khi mặt trời chưa đi ngủ để tránh muỗi.

Lên " giường " sớm, trời nóng bức mà nằm trong mùng thì làm sao ngủ được?

Thế là nảy sinh ra chuyện.

Thằng Tàm ra một quy định là mỗi thằng phải kể một câu chuyện " yêu đương " của bản thân, đến 9 giờ thì tắt " đài ".

Đến lượt thằng nào mà không kể được, nó sẽ thò chân sang nhấc mùngcủa thằng ấy lên.

Chỉ trong chốt lát, muỗi mẹ muỗi con sẽ tràn vào đầy trong mùng là ...hết ngủ.

Nghe thấy hình thức " kỷ luật " như thế, chẳng thằng nào dám ho he.

Để làm gương, nó sẽ là ngưởi mở đầu.

Rồi một ngày tháng 4 năm 1982, thủ trường phòng HC - trung tá Mười Do xuống kiểm tra đơn vị.

Sau khi làm việc với anh Sáu Ngân, tôi và mấy thằng nhận lệnh trở lại Stung.

Chiếc xe giải phóng của D29 chở chúng tôi ( đâu khoảng 4, 5 đứa tất cả ) cùng với thủ trưởng lắc lư trên con đường dài tít tắp, xóc kinh hồn.

Những địa danh đã trở nên quen thuộc như phà Nếch đăm, ngã ba Scun, CP Thơm... và kia căn cứ sư đoàn kia rồi.

Quang cảnh đã khác xưa rất nhiều, những dãy nhà lá mọc lên trên những khu rừng xưa kia còn hoang vắng.

Doanh trại các đơn vị, phòng ban được tổ chức ngăn nắp, gọn gàng.

Tôi trở về ban mà cảm thấy cái gì cũng mới, cái gì cũng là lạ.

Có lẽ những tháng ngày nằm chốt, được tự do tung tẩy đã tạo thành thói quen, nay phải gò mình vào kỷ luật nên tôi cảm thấy lạ và bức bối.

Một ngày đầu tháng 6/1982, hôm ấy tôi phải nằm gác điện thoại ở ngôi nhà trực ban của phòng.

Khoảng gần 6 giờ sáng, tiếng chuông điện thoại reo lên cành cạch.

Tôi ể oải cầm lấy ống nghe :

- A lô, phòng hậu cần nghe đây.

- A lô, phòng hậu cần F9 đấy hả?

Tôi trên mặt trận 479 đây.

- Dạ, có tôi đang nghe ạ.

- Đồng chí báo cho đồng chí phụ trách phòng HC, đồng chí Mười Do thủ trưởng phòng HC F9 đã hy sinh sáng nay tại bệnh viện của mặt trận.

Tôi la lớn :

- Rõ !

Lúc ấy chưa đến giờ báo thức, tôi vội chạy ba chân bốn cẳng lên nhà của anh Tư Thu - thiếu tá phó phòng.

Tôi gõ cửa dồn rập :

- Anh Tư, anh Tư...

Anh Tư ra mở cửa và hỏi :

- Cái gì vậy chú mày?

- Thủ trưởng Mười Do hy sinh rồi, điện của mặt trận vừa báo về anh Tư ạ.

Nói thật lòng, tin thủ trưởng hy sinh mà trong tôi cảm thấy vừa trút đi được một gánh nặng.

Rồi đây tôi sẽ được phục viên, được chuyển ngành như tôi mong muốn.

Anh Tư xem chừng đọc được ý nghĩ của tôi, anh bảo :

- Liều liệu cái thần hồn, đi báo tin thủ trưởng hy sinh mà mặt mày trông tươi hơn hớn thế kia à?

Thôi, về phòng trực ban đi.

Tôi chạy như bay về căn nhà trực ban mà trong lòng cứ khấp kha khấp khởi.

Chiều hôm ấy, một chiếc máy bay trực thăng phành phành bay qua đầu chúng tôi, anh Tư Thu ngước nhìn theo và bảo tôi :

- Máy bay chở anh Mười về nước đấy.

Thế là cũng xong một đời người.

Hóa ra lời nói " độc " của ông Mười đã trở thành sự thật.

Hai hôm sau khi anh Mười chết, anh Tư gọi tôi lên bảo tôi :

- Chú mày lên phòng TM , trên ấy đang tổ chức khám sức khỏe cho quân nhân ra quân đợt này.

Chú mày phục viên hay đi lao động nước ngoài?

Dạo ấy, những người lính ra quân như bọn tôi được ưu tiên đi lao động ở các nước Đông Âu, nếu đi sẽ về Quân đoàn để tập trung học chính trị trước khi lên đường.

Tôi chẳng còn bụng dạ nào để đi nữa, tôi chỉ muốn chạy như bay về thăm Mẹ mà thôi.

Tôi đề nghị anh Tư cho tôi chuyển ngành về ngành Ngoại thương Hà nội, nơi tôi đã có quyết định tiếp nhận từ khi tôi về phép.

Ngày 6/6/1982, tôi rời Stung lên xe về nước.

Ngày 8/06/1982, chiếc xe chở tôi lao qua cửa khẩu biên giới Mộc bài.

Tôi đã chắp tay lạy chín vái thề rằng không bao giờ tôi trở lại mảnh đất này nữa.

Mảnh đất đã lấy đi của tôi tuổi trẻ, sức lực và biết bao bạn bè, đồng đội.

Ngày 15/06/1982, tôi trở về đến Hà nội.

Thanh không hy sinh mà chết sau khi đã về quê hương, sứ sở Yên sở, Thanh trì..

Sau khi ra quân năm 1982, Thanh không về quê mà đi lao động nước ngoài theo tiêu chuẩn của đơn vị.

Hắn được đi Nga nhưng bị đi đày tận Arkhangelsk, một thành phố phía cực bắc Liên xô ( cũ ) quanh năm lạnh thấu xương, tiền lương không đủ mua thuốc lá hút cho dỡ lạnh.

Sau mấy năm, hết hạn lao động, hắn về nước và đến thông báo cho tôi biết là hắn sắp ...lấy vợ.

Cô người yêu là một cô gái Hà nội cùng là công nhân lao động ở bên ấy.

Sau khi lấy nhau, hai vợ chồng có được một cậu con trai nhưng đời sống thì khá vất vả.

Ông chồng thì công ăn việc làm bấp bênh, nay làm thợ chỗ nọ, mai hết việc chạy sang làm thợ chỗ kia.

Cô vợ thì cũng vậy, đành ở nhà phụ chồng bằng việc chạy chợ bán cá.

Nó đâm ra chán đời, suốt ngày rượu chè.

Một buổi tối đi làm về ( làm thuê một công ty tư nhân ở dốc Minh khai ) bị ô tô cán chết.

Thằng lái xe sau khi đâm chết người đã chạy mất tiêu không truy tìm được tung tích.

Thanh là thương binh nên cũng may là địa phương có quan tâm cấp cho một mảnh đất hơn 40m2 để làm nhà.

Chẳng biết sau khi nó chết, tiêu chuẩn ấy vợ con có được hưởng không vì khi đó mới đang làm hồ sơ.

Chú Mười Do - ( Bây giờ ổng chết rồi nên gọi vậy cho thân mật, mặc dù ổng chẳng ưa gì hạ sỹ nầy ) hy sinh vào khoảng ngày mùng 1, mùng 2 tháng 6/1982 ( lâu quá rồi nên không nhớ chính xác ).

Buổi sáng sớm hôm ấy, chú Mười phải lên mặt trận 479 ở Siêm riệp họp nên ổng dậy rất sớm.

Anh Dũng " ét " lái xe riêng cho thủ trưởng chuẩn bị chiếc Jep lùn quen thuộc từ chiều hôm trước.

Khoảng 5g sáng, cả hai thày trò lên đường.

Đến 6 - 6.30 thì tôi đã nhận được điện báo của mặt trận rằng chú Mười đã hy sinh trên đường đi từ Stung lên SRiệp.

Trường hợp cụ thể ra sao thì tôi không nắm rõ.

Chú Mười Do năm đó khoảng 53 - 54 tuổi, chưa có vợ con gì ( chính thức ).

Nhưng về sau tôi được biết là Tỉnh hội phụ nữ tỉnh Tây ninh ( đơn vị kết nghĩa với sư đoàn 9 ) có mai mối cho chú một cô ở trong tỉnh hội.

Hai người đã gặp mặt nhau vài lần nhưng chưa có thời gian tổ chức đám cưới.

Chắc là cô chú cũng có dự định chuẩn bị báo cáo tổ chức và tiến hành thủ tục đám cưới.

Nhưng đột nhiên chú bị hy sinh, nên việc hôn nhân không thành.

Không may là cô kia lại đang có bầu, chú hy sinh nhưng về mặt tổ chức, luật pháp cô chú chưa phải là vợ chồng nên cô và đứa con không được hưởng chút gì về mặt chính sách.

Thật đáng thương.

Đến bây giờ, mỗi khi nghĩ về đời lính, nghĩ về đơn vị cũ, tôi chẳng còn giận gì chú nữa mà chỉ thương cho một người lính cống hiến cả cuộc đời từ trẻ đến lúc nhắm mắt cho quân đội, cho cách mạng nhưng lại chẳng được may mắn cho cuộc sống riêng tư.

Từ ngày ra quân tới giờ, và có lẽ suốt cuộc đời, tôi mang trong người một cảm giác mắc nợ.

Sau hơn bốn năm quân ngủ, tôi lành lặng trở về.

Vì tôi hên?

Đúng!

Nhưng đúng hơn nữa là vì trong chốn hòn tên mũi đạn, cái chết là đương nhiên, đạn tránh người chứ người sau tránh đạn, tôi được lành lặng trở về là nhờ có bao thằng lính trẻ khác đui, què thay tôi, vì có bao thằng lính trẻ khác chết thay tôi.

Má tôi không phải khóc con vì đã có bao bà mẹ khác khóc thay má tôi.

Cái ơn nầy lớn lắm, suốt đời không trả được.

Chuyện bên lề:

- Chuyện 1: nghe bác lethaito kể chuyện cá tui tuổi cho phận tui quá.F tui cũng có hẳn 1C ở biển hố làm công tác cải thiện cho tòan F nhưng thiệt tình là cả E tui chưa bao giờ thấy con cá hoặc miếng khô nào,khổ thiệt.năm 80 cũng có nghe nói các MT khác thiếu gạo riêng các F chiến đấu MT 479 thì vô tư.D phó chính trị cũa chúng tôi phổ biến như thế.Thực đơn muôn thở cũa tụi tui là 2 lon thịt xay(hàng viện trợ made in hà lan) hòa cùng nước muối làm màu bằng nước gạo rang, rau muốn luộc,nước canh là nước luộc rau và mì chính theo định lượng ,bấy nhiêu đó là bữa ăn cũa 40 con người.Dòng suối mongco boray chúng tôi ném bộc phá mải cá cũng trốn hết, muốn đánh có cá phải lần lên tận đầu nguồn tiếp giáp với biên giới xa hơn chục km, mà phải đi cả 1c, trang bị đầy đủ,căng ra mà bão vệ mấy người đánh bắt cá, rầm rộ như thế nhưng thu họach chẳn được bao nhiêu,được vài chục ký là mừng lắm rồi.Lâu lâu tổ chức 1 lần như thế, rối cũng phải ngưng, chúng tôi đành phải nhịn thèm vì nếu mà bị địch phục, tổn thất vài em là D trưởng bị rớt sao như không.Rừng khộp mùa khô cũng không dể kiếm được con mang, con mển nào, lâu lâu độp được con cheo là mừng húm.Súng nổ đì dùng hòai có con thú nào dám ỡ gần cho mà bắn, hở các bác.Có 1hôm D phổ biến xuống các B là mổi B cữ ra 3 đ/c súng đạn đầy đũ đi gùi thị voi??? chúng tôi đi tất cả 15 người, địa điểm là C21 trinh sát E96, thằng c21 nầy nó nằm hơi xa Ebộ 96 từ chổ chúng tôi cuốc bô cũng phải mất 1 buổi cứng mới đến nơi.Ra đi từ sáng sớm khỏang 1h trưa thì chúng tôi tới nơi, cả bọn ngồi nghĩ ăn cơm vắt uống nước, xong thì anh khanh Btruởng cũa tôi mới đến hầm BCH C và xin được nhận thịt,bác C trưởng niềm nở mời anh khanh và chúngtôi uống nước, sau 1 hồi thăm hỏi qua lại bác ấy đột ngột hỏi là đi nhận thịt voi có đem theo búa và đục sắt không, tôi và A khanh ngớ người chẳng hiểu gì sất còn bác ấy và mấy anh c21 cười sặc sụa làm chúng tôi càng thêm ngơ ngác.Thì ra là như thế nầy: khuya đêm hôm trước có 1 con voi dẩm phải mìn tăng cũa các bác ấy gài, vì mấy hôm nay nghe tiếng chúng nó kêu rất gần, cả đàn gần chục con, nên các bác đem mìn tăng ra gài hy vọng kiếm 1 con cải thiện.Con voi nầy cừ thiệt từ nơi mìn nổ nó lếch đi được hơn 2km rồi mới chết, đến chổ xác voi chết các bác ấyhết hồn vì tưởng nó nhỏ chỉ khòang 1,2 tấn là cùng ai ngờ nó to cở 5,6 tấn, phải dùng búa xẽng, đục đá mới tốc lớp da nó lên , lấy thịt phải đục xương mất cả buổi, thịt nhiều quá ăn không hết nên BCH mới điện báo cho E thông báo cho các D khác xuống ăn phụ.Mượn dụng cụ, chúng tôi ra hiện trường, xác con voi chỉ còn cái đầu và phần thân mà phần thân chỉ còn thịt nằm phía dưới , bên trên chỉ còn trơ xương sườn và gân, cái vòi và 4 cái chân mất tiêu không thấy.Chúng tôi tiến hành đục tiếp, rất nhiều đơn vị đến lấy nên cũng vui, mỗi người 1 tay nên chẳng mấy hồi phá bõ được mười cái xương sườn mấy chục người hè nhau kéo bỏ bộ lòng thối um, rồi mới chia nhau khu vực đục lấy thịt.Chúng tôi lấy 15 balô thịt đầy, mổi cái cũng phải trên 20kg.Trong khi xã hơi chúng tôi đốt lữa lên nướng mạnh ai nấy ăn, ăn cho đã thèm, thịt voi nướng chấm muối hầm sao mà nó ngon lạ lùng( thực ra nó nhạt thết hà các bác ạ mà lại nhão nửa chứ so với thịt nai,cheo,mển thua xa lắc).Nhìn chúng tôi vừa ăn vừa khen 1 bác lính c21 người thanh hóa( bác nầy sau mới biết la người dan tộc quê ở hoằng hóa thì phải) nhìn chúng tôi cười cười nheo mắt nói :cũa ngon người ta ăn hết rồi mà không biết.Thì ra con voi có mấy món ngon nhất là vòi ,và 4cái dựng cũa nó, hầm nó lên cho mềm ăn ngon tuyệt, theo tôi tính mấy món đó cũng phải có hơn 100 cân...hic hic mấy bác c21 chả mời tụi nầy 1 bát, nhưng cũng rất là cám ơn các bác ấy đãchiêu đải tụi nầy 1 bữa thịt ngon nhất trong đời.Chúng tôi lên đường về đơn vị, chắccác bạn của tôi cũng đang chờ có 1 bữa ăn ngon.../

- Chuyện 2: Nghe bác kể chuyện anh bác sỹ mà em nhớ anh Tuyển C phó chính trị - quê Nam định .

Anh này tướng nhỏ con giống em mà đánh nhau rất gan lì , sống rất hoà đồng nên anh em ai cũng thương .

Do thương lính nên thường cãi nhau với các ông D để bảo vệ quyền lợi cho anh em .

Thế là bị đì mấy năm không cho đi phép mặc dù anh Tuyển có bà mẹ già yếu sống một mình không ai chăm sóc .Nhớ có 1 lần D phân công tụi em phục trong rừng cách phum 500m chờ các đơn vị khác lùa địch vào chạy vào phum .

Trận này là trận lớn có sự tham gia của F 302 , E6 cơ động của MT và các D địa bàn .

Trời tờ mờ sáng anh Tuyển cắt rừng dẫn anh em đi trúng phóc điểm đón lõng , đội hình nằm phục ở 1 bờ đập cách phum 500m .

Lúc này có 2 thằng dân K từ phum mò ra rừng thế là mình phải bắt lại nhưng không may 1 thằng chạy thoát về phum nên anh Tuyển quyết định đánh phum trước vì đã bị lộ .

Vào phum không phát hiện địch nên em bàn với anh Tuyển là rút ra bờ dập lại vì mình đã nằm sai vị trí qui định thế nào cũng bị kỷ luật ( em tính chơi ăn gian cấp trên ) .

Vừa ra tới bờ đập thì các đơn vị bắt đầu nổ súng .

Địch từ các hướng trong rừng chạy ra đen ngòm cả trảng nhìn phát ham .

Nhưng sui cho bọn em nó lại không thèm chạy vào cái phum mà tụi em phục .

Thế là trên đường về Dtrưởng ĐM anh Tuyển liên tục vì bị trên cho rằng chỉ huy lính kém làm địch phát hiện .

Nhìn anh Tuyển mặc quần đùi , mặt mũi toàn sình đất lầm lũi bước bên cạnh nghe chửi mà thấy thương quá .

Ông kia được thể càng chửi dữ .

Anh Tuyển mắt đỏ ngầu móc K54 ra lên đạn và quát ĐM hôm nay tao cùng chết với mầy , mọi người hết hồn nhảy vào tước súng .

Tay kia khiếp quá lủi mất .

Thế là thù càng chất lên thù nên khi mẹ anh bệnh nặng cũng không cho đi phép ( ông C trưởng và C phó quân sự đi phép chưa sang ) anh Tuyển uất quá nên sinh bệnh tâm thần .

Đến lúc này mới được đưa về nước .

Mấy tháng sau tụi em cũng rút quân nên cũng không biết anh ấy ra sao .

- Chuyện 3: Lại nói chuyện lựu đạn.

Dạo đánh bọn ZM41 bên sông Sê-Công, chúng tôi được một đơn vị phòng không 23ly của mặt trận đi phối thuộc.

Đây là loại pháo phòng không nhỏ nhất có ô-tô kéo, súng 2 nòng.

Tụi pháo thủ 23 ly triển khai trận địa ở bìa rừng ven sông, còn bọn lo hậu cần của chúng nó thì ở ngay cạnh chỗ trú quân của C tôi.

Trong bọn 23 ly có thằng Thắng đen, đồng hương Hà Nội.

Nhà nó ở cạnh chùa Hưng Ký, đường Minh Khai, gần chợ Mơ.

Lúc còn ở nhà, ngoài buổi học, nó hay ra sông Hồng kiếm ăn.

Câu được cá sông là cũng thuộc loại giỏi lắm.

Nhưng nó còn kiếm ăn nhiều kiểu khác.

Có tối, nó ra bến phà Đen bốc vác thuê chuối xanh cho những thuyền buôn.

Từ thuyền lên bờ khoảng năm chục mét, công vác mỗi buống chuối là 2 xu.

Thời đó giá một que kem cốm là một hào.

Bốc vác chừng hai tiếng là đủ tiền kéo nhau đi ăn kem.

Mỗi tội các hiệu kem ngon toàn ở xa: Hồng vân, Long Vân, Bốn mùa đều quanh Bờ Hồ.

Lúc ấy chưa có kem 35 Tràng tiền.

Góc đường Phùng Hưng với Hàng Bông có hiệu kem Cẩm Bình cũng rất ngon.

Thắng đen còn có kiểu kiếm ăn "quái" khác, nhanh ra tiền hơn.

Ấy là khi có những thuyền (hay bè) nứa từ mạn ngược về, neo đậu gần bến phà.

Vào đêm tối đen, Thắng cùng vài đứa khỏe mạnh bơi lội tốt, bơi vòng từ xa rồi tiếp cận thuyền.

Chúng nó lặng lẽ gỡ một hai bó nứa rồi thả nhẹ xuống sông.

Mỗi bó nứa đóng bè thường độ dăm chục cây.

Chỉ cần gỡ trộm hai bó, kéo xuôi sông dăm trăm mét rồi lôi lên bờ bán cho dân buôn là có khá tiền.

Bọn pháo 23 ly thuộc quyền Mặt trận, thường đóng quân tít phía sau nên có điều kiện cải thiện.

Thắng đen cũng thích cái trò ném cá cải thiện ở suối.

Khi đi phối thuộc với bộ binh chúng tôi, tôi và nó nhận đồng hương rồi cứ bám riết lấy nhau trò chuyện lúc ở khu cứ.

Bộ binh chúng tôi có cà phê bột tự gia công, nhưng không có đường để pha.

Thằng Thắng thấy thế tặng hẳn tôi một hộp đường to, loại nửa cân đóng viên vuông vuông làm từ củ cải đường của Liên-xô.

Cánh Phòng không sang thế, chẳng bù cho chúng tôi, vài tháng mới có một lần phát đường, mỗi suất một bát ăn cơm.

Loại đường củ cải ăn lộp xộp, không ngọt bằng đường cát của ta, nhưng không hề gì, có được là quý lắm rồi.

Cả lũ hối hả pha cà phê rồi cùng nhau uống, hút thuốc rê và tán chuyện rôm rả.

Tôi nghĩ, bạn kỷ niệm cho hộp đường, không lẽ mình không có gì tặng lại.

Tôi lân la gợi chuyện thằng Thắng, không ngờ gãi đúng chỗ ngứa của nó.

Thắng bảo lính pháo chúng nó rất thích dù, loại dù hàng ấy, chứ không phải dù pháo sáng vừa bé vừa mỏng toẹt đâu.

Chuyện quá đơn giản.

Bên kia sông, chúng tôi đánh nhau với bọn Thái, chúng nó thả dù tiếp tế rơi tứ tung.

Cả ta và địch đều hành quân bộ, nên những cái dù được cuộn lại rồi vất bỏ quanh hầm, không ai hơi sức đâu mà lấy.

Mỗi cái dù hàng tở ra to như mái cái rạp xiếc lưu động, nặng cả chục cân.

Chúng tôi cũng chỉ cắt mỗi thằng vài múi, khâu lấy mỗi đứa cái chăn đắp 3 lớp là đã hoành tráng lắm rồi.

Thằng Thắng nghe kể mắt sáng lên, tỏ vẻ thèm.

Mày yên tâm đi.

Hôm sau tôi rủ hai thằng cùng tiểu đội bơi qua sông, đến trận địa cũ tha về đem tặng cho cánh 23 ly sáu chiếc dù.

Chúng nó sướng mê tơi.

Tôi còn tặng riêng cho thằng Thắng hai múi dù lụa, loại dù hàng của sĩ quan, hiếm hơn.

Mỗi múi dù to vừa đúng bằng cái võng của lính ta, dai và bền.

Khâu thành võng, dùng luôn dây dù của nó, khi vo lại nhét vừa cái túi cóc con, tha hồ gọn.

Ngồi vơ vẩn, tôi thấy thằng Thắng có một quả lựu đạn M26.

Chúng mày có bộ binh bảo vệ, đánh đấm gì mà phải dùng lựu đạn, tôi hỏi.

Đánh đấm gì đâu, để hôm nào về cứ đem ném cá ấy mà, Thắng bảo vậy.

Tôi táy máy cầm lên xem.

Sao lại có mỗi chấm đỏ thế này.

Tôi vặn luôn phần củ của quả lựu đạn ra xem.

Trên cái vỏ kíp chỉ có mỗi một khoanh khắc chìm.

Bỏ mẹ, đây là lựu đạn tức thì.

Loại này không có giây cháy chậm, chỉ dùng để gài bẫy.

Tôi bảo Thắng:

- Ai lại cho mày quả lựu đạn thế này.

Quả này mà mày đem ném cá thì nó sẽ nổ ngay trên tay, mày chết trước chứ không phải cá.

Thằng Thắng xanh mặt, lắp bắp nói nó nhặt được.

Tôi bảo vứt mẹ nó đi, để tao cho mày quả khác.

Rồi tôi lấy quả lựu đạn của tôi, vặn củ ra chỉ cho nó xem hai cái khoanh khắc chìm.

- Loại có 2 khoanh thế này mới là loại bình thường, mày hiểu chưa.

Thắng nghệt ra, nhưng thấy vẻ mặt hơi tần ngần của nó, tôi biết nó chưa hoàn toàn tin.

Tôi kéo nó ra rừng khôộc cách xa đơn vị.

Tôi buộc quả lựu đạn của nó vào một gốc cây gần một khe suối cạn, buộc một sợi dây dù vào cái khong chốt, uốn thẳng cái chốt rồi kéo dây ra suối.

Tôi và Thắng núp dưới suối, rồi tôi kéo mạnh sợi dây.

Ngay lập tức, một tiếng nổ vang trời, đất cát rào rào.

Chúng tôi lên chỗ gốc cây kiểm tra, cả cái gốc cây bị xé toác.

- Mày đã tin chưa,- tôi bảo Thắng.- Nó nổ ngay chứ đâu còn chờ vài giây cho mày quăng xuống suối nữa.

Thằng Thắng rụt cổ, lè lưỡi.

Bây giờ thì phải tin bạn một trăm phần trăm rồi.

Chắc tim nó cũng phải đập nhanh thêm mấy nhịp.

Về tới chỗ trú quân, tôi lấy hai quả M26 khác đưa cho nó.

Lúc đang đánh nhau thì dễ kiếm, chứ về hẳn hậu cứ làm công tác cùi cõng rồi thì lại cũng không sẵn.

Nữa tháng sau, chúng tôi chuyển địa bàn.

Tôi chia tay, rồi từ đó cũng không gặp lại Thắng nữa.

- Chuyện 4: Thằng Quí lính 87 dân quận tư , tướng cao dong dỏng , mặt nhìn như tây lai , nói chung là rất ư đẹp trai .

Tốt nghiệp lớp 12 rồi mới đi lính nên được cho học lớp y tá .

Vì cùng là lính Sài Gòn lại cùng trình độ nên rất thân nhau . lần đó hoạt động hướng bắc phum Đôn Em lại bị lạc rừng từ sáng đến 3 giờ chiều mới mò vào được phum Đôn Em , may mắn là đụng địch nên sau khi vào được phum lính ta tha hồ phá , dừa , thốt nốt được hái xuống uống no căng bụng vì khát quá .

Uống no nê thì được lệnh hành quân về 1 phum nhỏ ở hướng tây d8ẻ nghỉ đêm .

Khoảng gần 6 giờ khi gần d8ến phum thì đụng địch đánh khoảng 1 2 phút địch rút chạy , thằng Hùng cóc ( cái thằng vá xe ở lề đường em đã kể ) cao hứng vác PRC 25 đứng trên gò mối ưởn ngực chửi theo chây me à Pốt bên kia táng trả 1 trái B làm nó té từ trên gò mối xuống thằng Quí y tá đứng dưới gò mối dính 1 mảnh vào đùi máu tuôn xối xả , thằng Đở cũng là y Tá chạy tới garô vết thương rồi cáng nó vào phum , vào tới phum nó nói vết thương không sao đừng garô vì như vậy sẽ bị cưa chân là tàn đời , không hiểu thằng Đở xử lý như thế nào mà khi bàn giao cho đơn vị bạn cáng nó ra tuyến sau thì nó tắt thở trên đường đi . mấy ngày hôm sau tụi em rút ra theo con đường đó thì thấy có nhang cắm ở ven đường sinh nghi hỏi dân thì họ nói bộ đội VN cáng tới đó thì chết .

Thằng Đở khóc nói tại nó thương bạn đâm ra hại bạn với lại tại thằng Quí uống nước dừa nhiều quá khó cầm máu .

Đấy các bác thấy nổi sợ cụt giò ám ảnh bọn em như thế nào .
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 7: Chuyện thường ngày của lính


Phó tiến sỹ thì làm được giề?

Đợt nhập ngũ đầu tháng 9 năm ấy của bọn tớ toàn là dân tốt nghiệp từ đại học trở lên ở các trường trong và ngoài nước, mà có hộ khẩu ở Hà nội.

Việc đầu tiên trong đời lính là phải khai lý lịch, trong đó có mục chuyên môn, học vấn.

Cán bộ khung của bọn tớ hồi ấy (cấp c và đặc biệt là cấp b) phần lớn là lính chống Mỹ, được đào tạo bổ túc trong Trường sỹ quan lục quân 2 ở Bình Dương trong gần 2 năm, nên văn hóa thực của thực của các anh đó phần lớn chưa hết cấp 3.

Vì thế phải quản lý hội cứng đầu cứng cổ như bọn tớ, các bố ấy cũng có phần nơi tay.

Và việc phân công biên chế trong c của bọn tớ thì cán bộ khung thường là dựa vào chuyên môn của từng thằng.

Và chuyện gì phải đến đã đến.

C trưởng ra lệnh tập chung toàn đơn vị để phân chia về các phân đội.

C trưởng dõng dạc hô:

-Đồng chí Cương!?

-Có.!!

Thằng Cương "cốm" phồng bộ ngực lép cố hiên ngang đáp lại (thằng này gầy và có 1 túi cốm can xi mang theo để ăn chống thiếu chất, nên được anh em đặt cho biệt danh là Cương "cốm")

C trưởng hùng hồn phân công:

-Xét về chuyên môn, đồng chí là phó tiến sỹ -sinh vật học, có liên quan đến vật sống, nên nay phân công làm ...trợ lý y tá đại đội.

Lũ cứng cổ bọn tớ chỉ còn biết ???

Cũng có lúc phải đi tạm lánh

Rồi thì cũng qua thời huấn luyện tân binh.

Tạm biệt phố Cò, phố Lả của đất Sơn Tây, tớ được phân về Hải quân.

Nhà ở của đơn vị được bố trí gần như theo hàng dọc, mặt trước nhà hướng ra biển để hóng gió mát.

Gần sát cổng vào là nhà bộ phận vệ binh, tiếp theo là khu kho hậu cần và nhà ăn, tới là nhà của cánh mặc "áo chit gấu" bọn tớ, sau cùng là nhà của các "bóng hồng trong áo lính".

Theo cách bố trí nhà như vậy thì vào các buổi trưa hè, khi có kẻng cơm trưa, là các cô bé tóc bím 2 bên, lại đi nhờ dọc hàng hiên của nhà "áo chít gấu" để tránh nắng trên đường lên nhà ăn.

Thế rồi một dạo, tớ thấy các cô bé xinh xinh đó không đi nhờ qua hàng hiên trước nhà nữa, mà đi hẳn qua sân bóng chuyền bằng xi măng nóng ngốt người.

Dáng đi thì cứ như cua bò ngang, mặt các cô quay hết ra biển.

Lấy làm lạ, trong buổi sinh hoạt Đoàn (tớ phụ trách Đoàn mà lị), tớ mới hỏi lý do.

Các cô bé rúm lại, đùn đẩy nhau, cuối cùng, một cô người Thủy Nguyên bạo dạn nhất bọn mới đáp rằng: anh nhìn vào phòng bố Hạnh khắc biết.

Ở đây cũng nên chú thích 1 tý: bố Hạnh là lính chống Pháp, đại úy chuyên nghiệp, phụ trách xăng xe.

Do có tuổi quân cao nhất đơn vị nên bố Hạnh hay tự cho phép mình có đặc quyền là lơi lỏng trong chấp hành điều lệnh nội vụ.

Bố Hạnh thường ăn cơm sớm và khi có kẻng báo cơm thì bố ấy đã đang ngáy rồi.

Còn đang ở tuổi hăng máu, hôm sau tớ đi kiểm tra phòng bố Hạnh và bật ngửa người, thảo nào các cô bé ấy cứ rúm người khi đi qua.

Thì ra là mùa hè, cửa phòng mở toang đón gió biển, nên cái quần cụt số 1 không thể che được khẩu Bô pho 40 nằm giữa 2 cẳng chân xe điếu của bố ta.

Dĩ độ trị độc.

Hôm sau, đợi bố Hạnh đang thổi sáo miệng, tớ tước lấy một sợi dây mồi (trước khi vứt cáp neo tầu sang cho tầu bạn hoặc vứt cáp lên bờ để neo vào ma ní, lính thủy phải ném trước sang 1 sợi dây mềm, dây đó gọi là dây mồi.

Dây này nổi tiếng về mềm và dai, thường hay bị lính cắt trộm để tặng "phỏm" đan túi, đây sẽ là đề tài của một câu chuyện khác).

Một đầu dây mồi tớ buộc vào cái chổi quyét nhà, đầu dây mồi còn lại tớ buộc vào 2 bánh xe của khẩu bô pho của bố Hạnh.

Kẻng báo báo thức vang lên, bố Hạnh mở mắt ra liền càu nhàu: bố thằng nào giám đặt cái chổi bẩn lên bụng ông thế này và bố Hạnh lấy hết sức bình sinh dể ném cái chổi ra sân...

Nghe anh em kể lại là chỉ thấy bố Hạnh kêu đánh ắc một tiếng rồi vật xuống.

Còn tớ thì phải đi tạm lánh dưới tầu 1 tăng, không dám lên bờ.

Tuy nhiên, sau vụ đó thì không ai còn bị rám má hồng cả.

Chuyện đánh cá của lính biển.

Thú thực với các bác, lính thủy hầu như chẳng tự túc được cá để ăn đâu.

Thứ nhất là xăng dầu cấp cho tầu rất ngặt nghèo, không thể tự dưng nổi hứng nhổ neo đưa tầu ra khơi để đánh cá được.

Tiếp nữa là chẳng ai trang bị lưới đánh cá cho tầu cả, quân pháp nó biết thì vỡ mặt.

Hải quân có 1 lữ, là lữ 128 làm nhiệm vụ đánh cá, làm nước mắm, v.v.. và v.v...

Nhưng đời em ở lính, chưa được xơi con cá nào của lữ 128 ấy cả.

Lính thủy mà bắt được cá cũng chỉ là tình cờ, may rủi mà thôi.

Tùy thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh cụ thể.

Cái tầu PCF mà em kể với các bác ấy, nhờ có 2 dàn đèn pha cực mạnh mà đôi khi bọn em cũng vớ được khối cá mực.

Chuyện là thế này.

Để câu cá mực, ngư dân thường chọn những hôm tối trời, ít trăng.

Tức là đầu tháng hoặc cuối tháng ấy.

Họ mới mang thuyền ra biển.

Đêm tối trời, các thuyền câu cá mực bật đèn lên, các chú cá mực thấy ánh sáng là lao đến kiếm mồi và tìm bạn.

Vì thế các tầu câu cá mực thường hay đi sát vào nhau, để tầu này tỏa sáng cho tầu kia.

Vì càng sáng, cá mực càng đến nhiều.

Vì thế, đây là lúc tình đoàn kết được thể hiện rõ nhất, không muốn cũng không được.

Các bác nào đi nghỉ mát ở biển, cứ thấy từng hàng đèn rực sáng của các tầu ngoài phía biển như là 1 phố nổi ấy, đấy chính là các tầu câu cá mực đấy.

Vì thế, mỗi khi con PCF của em được lệnh ra khơi vào những hôm không trăng, anh em thường mang trộm dây câu.

Bố bảo cũng không dám vác cần, trển mà biết thì cứ gọi là sao gạch rơi lả tả.

Khuất nẻo 1 tý, tàu bật 2 dàn đèn lên coi như sục sạo tìm mục tiêu.

Sau đó thuyền trưởng nhắm tịt mắt, coi như không biết lính tráng làm gì.

Lính thì 2 tay 2 dây câu, mồi là bất cứ thì gì có thể kiếm được.

Vào những hôm trời tối đen như mực thì là trúng quả cá mực nhất.

Giật lên cứ gọi là tanh tách.

Nhưng cũng chả giám giật nhiều.

Chỉ cỡ độ một cái xô tôn 40 lít của Liên Xô là phải cuốn gói.

Bật cái bếp dầu lên, nhúng mấy con mực tươi vào nồi nước sôi, nhắm với chai Ngũ gia bì, nghe gió phần phật bên tai, quả là cũng tưởng mình đang ở trển vậy.

Lúc về cảng cũng phải rất thận trọng, cái xô cá mực ấy cũng phải len lén mang lên.

Giúi cho mấy cô bé chị nuôi cũng phải thì thào: ai hỏi nhớ là phải nói là mua rẻ được ở ngoài chợ nhé.

Lính trong đơn vị, bữa trưa hôm sau cứ ngậm tăm ăn cơm với mực sào và không thằng nào dám hé răng với quan trên cả.

Với kinh nghiệm của lính thủy, em xin hầu các bác 1 lời là: chớ ăn mực hoặc cua biển vào dịp trăng sáng.

Lúc trăng sáng đó, lũ cua, mực còn mải mê tình tự, nên thịt của chúng rất óp.

Khi đại trưởng ...êu

Tớ chơi thân với cậu Hải, đại trưởng A72 - f 365.

Đại đội này đóng trên đồi cao, còn doanh trại của bọn tớ ở chân đồi, sát mép biển.

Gần nhau nên thường qua lại chơi với nhau nên lính của 2 bên đều biết mặt.

Thời ấy, cậu Hải chưa có vợ, mà đơn vị tớ thì lại nhiều chiến sỹ nữ, nên chuyện tán tỉnh của cậu ấy là điều dễ hiểu.

Thời nào chả thế, đã là đi cưa cẩm thì con người ta, ai cũng muốn mặc bộ quần áo phẳng phiu một chút.

Mà thời ấy thì đào đâu ra bàn là.

Ai mà có "đầu đội áp xuất, chân đi bàn là" thì cứ gọi là vênh ngược.

Còn oai hơn các cậu vác BMW 525 đi tán người yêu bây giờ.

Mà đã là bàn là thì phải là loại "hoa râu-dây sọc đen đỏ", khác đi một tý là không có giá, tỷ như xe Mipha mà không phải là mầu xanh ngọc thì cứ gọi là mất nửa tiền.

Quay lại chuyện làm thế nào để có bộ cánh phẳng phiu.

Lắm mẹo như tớ thì cũng nghĩ ra cách là: gấp phẳng quần áo, bỏ vào trong tờ báo cũ gập đôi, rồi đặt 2 quyển "Lê Nin toàn tập" (loại sách được Liên Xô phát không thời 8X) lên trên.

Chờ đủ 24 tiếng đồng hồ hẵng đem ra mặc.

Kể cũng tạm.

Tớ sẽ đưa mẹo này vào mục "mẹo nhỏ dọc đường hành quân" mới được.

Còn cậu Hải đại trưởng bạn tớ lại có cách khác.

Một hôm, vào một buổi chiều hè nóng thắt ngực, tớ lên C 11 tên lửa vác vai A 72 của cậu Hải để bàn việc giao lưu văn nghệ.

Vào phòng cậu Hải, không thấy đại trưởng đâu, chỉ thấy một cậu chiến sỹ (không nhớ tên, chỉ nhớ là quê ở Con Cuông-Nghệ An) béo đen nhất đại đội đang mặc quần đùi ngồi thu lu trên giường.

Tớ bèn vặn hỏi: cả đại đội đi lấy củi từ sáng, sao giờ này cậu vẫn ngồi nhà.

Cậu ta mếo máo: Em cũng đang lao động từ sáng đến giờ đấy chứ, anh nhìn thì thấy.

Tớ nhìn kỹ thì thấy cậu chàng đang ngồi lên trên 2 cái chăn bông, dưới 2 cái chăn bông là một gói giấy báo.

Tớ bèn thắc mắc hỏi; cậu làm cái quái giề thế ?

Anh chàng béo đen mếu máo: em đang là quần cho đại trưởng tối đi chơi!!

Tớ ....

Chức trách gì sướng nhất trong đời lính

Các bác thử bình xem chức trách gì là sướng nhất trong đời lính xem nhé.

Tớ thì bình cho bọn chiếu bóng lưu động của ban chính trị.

Các bác thử nhớ lại mà xem.

Thời 8x đấy, cứ thấy cái bóng xe gát 66 buộc 4 cái cọc tre dũi vào đến cổng đơn vị thì chẳng cứ quan lính của đơn vị mình, mà cả anh em ở các đơn vị xung quanh, thậm trí dân quanh vùng, cũng thấy phấn khởi hẳn.

Thường thì giờ thể thao buổi chiều sẽ được bãi bỏ, anh em có thêm thời gian tắm giặt và đặc biệt là được ăn cơm chiều sớm.

Suốt từ khi con gát 66 đến, anh em chỉ có mỗi 1 topic để buôn là tối nay sẽ được xem phim gì.

Món ăn khai vị cố hữu sẽ là 1 cuốn phim của thời sự trung ương hoặc điện ảnh quân đội, cái này thì ai cũng biết nên không cần bàn tán nhiều.

Cái đỉnh của đỉnh là phim giề cơ.

Mà hồi đó phim đâu có nhiều nhặn gì.

Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có: Tháng tư chỉ có 30 ngày, hay: Mùa hè nóng bỏng ở Ca Bun, v.v.. và v.v...

Thế nhưng mà cũng vui ra phết.

Việc buôn của anh em còn kéo dài đến khuya.

Thường là xem phim xong, lính ta còn kiếm nồi cháo khuy để kéo dài thêm sự sung sướng.

Nhưng đấy là chuyện của anh em ở tại đơn vị.

Bọn chiếu bóng mới là người của cõi trên.

Đi đến đâu, bọn nó cũng được thủ trưởng đơn vị tiếp đãi.

Nghèo nhất thì bọn chúng cũng có một cỗ riêng với thủ trưởng.

Thực đơn đãi khách mà tớ được biết là: 1 đĩa trứng rán, cá kho rán lại (bếp đại táo của anh em thì cá kho là cá kho, còn của đội chiếu bóng thì phải rán lại thêm cho sang trọng), một chai rượu thuốc Ngũ gia bì.

Nhớ đến đây tớ vẫn còn phải nuốt nước bọt.

Và hơn hết, chẳng có đơn vị nào nỡ thu tiền ăn, phiếu gạo của hội ấy cả

Các bác xem bọn nó có đúng là ở cõi tiên không.

Chức trách gì hay bị lính ghét trong đời quân ngũ

Ở trên, em đã nhờ các bác bình xem: chức trách gì là sướng nhất trong đời lính.

Nay em xin cùng các bác bàn xem: chức trách gì hay bị lính ghét trong đời quân ngũ.

Có lần trên mạng, các bác cựu binh như CaoSon, Puma, v.v.. có nói rằng: ghét nhất là vệ binh.

Em thì cũng bình cho vệ binh cái tình cảm đó.

Lại nói về chuyện xem chiếu bóng.

Có lần đội chiếu bóng của tướng Sùng Lãm- đặc khu Quảng Ninh, đến đơn vị em chiếu bóng giao lưu và chiêu đãi.

Hôm đó chiếu liền 2 tập phim "Giải phóng", phim mầu, chiến đấu trong thế chiến 2 của Liên Xô.

Đỉnh của đỉnh nên dân trong vùng cũng nô nức kéo đến xem đông lắm.

Tối hôm đó em lại đeo băng "trực ban" mới đau chứ.

Ngồi thu lu trong phòng trực mà hồn vía cứ hóng hết ra nghe tiếng thuyết minh ngoài bãi chiếu, bụng rất lấy làm phiền muộn.

Đúng lúc ấy có điện thoại gọi em ra cổng vì hình như có to tiếng giữa dân với vệ binh.

Em bèn "cân đai bối tử" rồi đi ra.

Hóa ra là các cô gái vùng đất mỏ đang đòi gập chỉ huy để khiếu kiện.

Em mời cả 3 cô vào nhà trực ban để tìm hiểu tình hình.

Gái Quảng Ninh vốn nổi tiếng về ghê gớm và đanh đá (như cô ca sỹ Hồ Quỳnh Huơng bây giờ cũng là gái Quảng đấy), các cô tranh nhau mở máy õng ẹo.

Mãi em mới hiểu được là: trong lúc dẹp trật tự để cho dân vào xem, có chú vệ binh, khi đẩy các cô ấy ra đã chạm vào các quả thủ pháo của các cô ấy, chẳng biết vô tình hay hữu ý.

Thôi thì cũng phải xử lý để cho đẹp tình quân dân, vả lại cũng muốn cho các chú vệ binh bớt đi một chút kiêu binh.

Tớ bèn điện xuống nhà ăn để hỏi xem sáng hôm sau bộ đội ăn gì.

Sau khi biết, tớ bèn lấy quyền trực chỉ huy ra lệnh: thôi dẹp.

Xuất bột mì, mai cho toàn đơn vị ăn nắp hầm.

Sau rốt, tớ bảo cậu vệ binh gây ra tai nạn: để phạt cậu, bây giờ cậu xuống nhà ăn, thay nuôi quân nhào và nặn bánh bao cho đơn vị.

Đến nửa đêm, tớ đi kiểm tra gác và tạt vào chỗ chú vệ binh khốn khổ ấy.

Tớ hỏi: chán nắn thủ pháo gái Quảng chưa? :🙂Cậu ấy mếo máo: thôi, từ nay em xin tự ...thiến.

Thực ra, chức trách đã làm cho anh em vệ binh luôn bị soi thôi.

Dám đùa cả.....thượng tướng

Thời bấy giờ, toàn quân chỉ có 2 công trình là đỉnh nhất của mọi thời đại, do CCCP viện trợ.

Đó là trường bắn TB-1 ở Cấm Sơn và quân cảng M-72 ở Hà Tu-QN chỗ tớ.

Còn Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga thì mãi sau này mới có.

Cụ Phùng Thế Tài, khi đó là thượng tướng-phó tổng tham mưu trưởng-phụ trách trách khối quân- binh chủng, nên hay ghé vào đơn vị tớ là việc bình thường.

Qua giai thoại, cụ Tài là xếp cực kỳ nóng tính.

Nhưng tớ lại không nghĩ thế.

Tớ đã có 2 lần được tháp tùng thủ trưởng đơn vị tớ lên tận nhà con Rồng ở trong Thành để báo cáo về tình hình xây dựng ở đơn vị.

Lên đến nơi, xếp của tớ giập chân và lập bô: báo cáo đồng chí thượng tướng PTT....., tôi: ..tá Trần Xuân V.., ....trưởng.... có mặt theo lệnh triệu tập của đồng chí.

Thượng tướng ngẩng lên nhưng lại chỉ vào tớ: cậu này ngồi xuống chỗ kia, trong ấm có chè xanh đấy.

Tớ... choáng.

Tongue Có lẽ do tớ là cấp dưới tít tìn tịt nên cụ ấy không thèm đếm xỉa đến chăng?

Quay lại chuyện cụ Tài xuống đơn vị tớ.

Biết sở thích của cụ Tài là thịt chó, nên lần nào cụ xuống vi hành, đơn vị tớ cũng khoản đãi thịt chó.

Có lần, xếp Cường, lúc đó là đại tá 3 sao, bí thư của cụ Tài, gọi tớ.

Baoleo này, các cậu hay chiêu đãi món chó, nhưng cậu có biết: thế nào là con chó ngon không?

Tớ bèn bótay.com.

Xếp Cường mới giảng giải: con chó ngon là con chó có tiếng sủa chua chua, nhất thiết phải là con mới đi tơ lần đầu, hiểu chửa?

Roll Eyes Cậu hiểu rồi thì lần sau nhớ tìm đúng loại đấy, nghe chửa.

Tớ dập gót: rõ õ...

Lần sau, cụ Tài xuống, biết trước 1 ngày, nhưng tớ đã quần khắp khu Hoành Mô mà vẫn không tìm được con chó nào đúng như chỉ thị.

Túng thì phải tính.

Tớ bèn ra chỉ dụ cho cậu Ngòi-người Thái Bình, là lính công vụ của Ban: thôi, mày đem con chó của ban đưa nộp cho bố Chuyền (Thượng úy chuyên nghiệp về nấu ăn) để bố ấy chuẩn bị cơm trưa đi.

Cry

Đến bữa trưa, cơm chiêu đãi khách được dọn lên nhà ăn khu C.

Một phần thịt chó được bớt lại cho ban tớ, vì đã có công ốp nộp con chó.

Tất nhiên là bọn tớ chưa ăn vì đang còn phải túc trực tiếp đoàn.

Được 1 lúc, xếp Cường-bí thư của cụ Tài ra gọi tớ: baoleo này, còn thịt chó không?

Đoàn hôm nay hơi đông mà sắp hết đồ nhắm rồi.

Tớ cũng có phần hơi tiếc chỗ thịt chó để giành cho anh em trong ban nên bẩm xếp: báo cáo thủ trưởng, con chó có tiếng sủa chua chua, mới đi tơ được đúng 1 lần thì em đã dọn lên rồi.

Bây giờ chỉ còn thịt của con chó đã đi tơ rất rất nhiều lần rồi thôi ạ.

Grin

Xếp Cường quát: nước này thì còn câu nệ cóc giề chuyện đời tư của chó nữa, cứ mang lên.

Tớ???

Tờ lệnh đầu tiên

Giây phút đầu tiên thuộc về đời lính, có lẽ là khi cầm tờ lệnh nhập ngũ trên tay.

Tớ còn nhớ là vào buổi sáng sớm một ngày tháng 9 ấy, bọn tớ được tập chung ở cổng công viên Lê Nin.

Khi tớ đến thì xe ca "Ba Đình" nhận quân đã đến rồi.

Nghe lệnh hô: "lên đường" thì tớ là người đầu tiên leo lên xe, ngồi ở ghế đầu phía trước.

Vợ tớ đến bây giờ vẫn còn nhắc lại: mọi người đều cố nán lại để chia tay bịn rịn, thế mà cái ông hâm ấy leo tót luôn lên xe, mắt nhìn thẳng.

Thực ra hồi ấy biên giới đang căng lắm.

Mình thì nghĩ: đằng nào cũng đi rồi, cố gắng giải quyết cái biên giới ấy thật nhanh, rồi sẽ lại về làm việc khác, hoặc chí ít ra thì mình cũng đỡ được cho tổ quốc 1 viên đạn!

Angry .

Thế mà cái cố ấy cũng ngốn mất của mình chục năm trời.

Hoàn cảnh của mình đúng chính xác như lời một câu hát: "nghe đài báo gió mùa đông bắc, em thương anh nơi chiến hào gập rét.

Còn anh thương em, đồng quê giá rét, chân lội dưới bùn, em có lạnh không ?"

Bây giờ vợ tớ ốm nằm bất động đã hơn 1 năm rồi.

Tớ hàng ngày chăm vợ và vẫn động viên bà ấy rằng: ngày trước tôi leo lên xe đi ngay để mong sớm hoàn thành nhiệm vụ, bà tần tảo 1 mình chăm lo gia đình, thay tôi đi biền biệt.

Bây giờ bà hoàn toàn có quyền nghỉ ngơi để tôi chăm lại bà rồi.

Nguyên tắc của tài vụ

Lính thường xuyên than phiền với nhau: trong đầu tụi tài vụ toàn là bánh xe hay sao ấy, cứng ngắc như cái đồng hồ cũ.

Hơn 20 năm rồi mà tớ vẫn còn hình dung ra cậu Thái, người Nghệ An, trưởng ban tài vụ đơn vị tớ.

Bất cứ cái gì đem lên thanh toán, cu cậu cũng phán một câu cũ rích: "đối chiếu cái đã".

Rồi thì gập người, một tay giở quyển hướng dẫn danh mục của Bộ, một tay rà rà cái bản kê của cánh ta.

Angry

Sau rốt, hoặc là với nụ cười của địa chủ được mùa, cha ấy ngẩng bộ mặt đã giãn nở hết cỡ lên hô to: tháo đạn, đứng dậy - không có trong danh mục.

Hoặc là thở hắt ra, thều thào với bộ mặt của kẻ đưa đám: thôi được, tớ thua.

Chính vì tính máy móc của cánh tài vụ, nên mới có chuyện thứ thì được mua nhiều, tiêu không hết.

Thứ thì lần chẳng ra.

Lính trẻ thì ai mà chẳng thích chơi bóng chuyền.

Khổ nỗi sân thì bằng bê tông, sức lính ăn 24 kg gạo/tháng (bọn tớ ăn theo tiêu chuẩn tầu loại 1) khỏe như cá ngựa.

Thẳng tay đập bóng thì quả bóng nào bền lắm cũng chỉ được 2 tuần.

Thế nhưng bóng không bao giờ thiếu mới tài.

Chẳng qua là đối chiếu với cái danh mục chết tiệt của cậu Thái, thì ban doanh trại cũng được mua bóng, vì nó thuộc vào dạng "cơ sở vật chất".

Ban quân y cũng mua vì nó thuộc dạng "phục vụ sức khỏe cho bộ đội".

Ban chính trị thì không phải giải thích, ai cũng biết là nó có tên trong "phục vụ đời sống tinh thần cho chiến sỹ".

Không kể đoàn thanh niên, vì nó phục vụ cho "phong trào đoàn" hay ban hậu cần, bóng thuộc danh mục "phải trang - cấp cho đại đội".

Túm lại, bóng thì cứ vô tư.

Tuy nhiên, có khối thứ thì phiền hà hơn bao giờ hết.

Tỷ như làm cái giếng nước, đến gập cậu "đối chiếu cái đã" là phải đủ 4 thằng trưởng ban "cân đai bối tử" để khênh cái mẩu giấy kê khai bé bằng bàn tay.

Angry Vì ban doanh trại chỉ được quyết toán cái lòng giếng với cái cần tre, vì nó thuộc danh mục "xây dựng cơ bản", ban hậu cần thì được quyết toán cái dây buộc thõng từ cái cần tre xuống, vì nó thuộc "dụng cụ mang vác", ban quân y thì phụ trách cái gầu, mà được buộc vào cái đầu còn lại của cái dây trứ danh kia, vì nó thuộc mục "dụng cụ đựng nước sạch cho bộ đội".

Còn cái cọc tre để treo gầu thì thuộc ban chính trị, nó có tên là "làm đẹp cho doanh trại".

Híc.

Roll Eyes Roll Eyes Roll Eyes

Hỡi bác Dongadoan và Hoa Cúc, các bác có dễ thở với cánh tài vụ bây giờ không?

Lại chuyện quân trang

Hôm đấy ( hè 1984), mình về Cục lĩnh vật tư cho đơn vị.

Để tiết kiệm nên mình lĩnh luôn nhiệm vụ lĩnh hộ quân trang cho tân binh thay cho cậu Cường – Ban quân trang -quân nhu.

Xong việc của mình ở Cát Bi, mình lên tổng kho quân chủng, phía sau cảng Hải phòng để lĩnh quân trang.

Khi xem tờ kê của mình, bố Tại (ai ở Hải quân hồi 1979-1990 đều không thể quyên thiếu tá Tại, chỉ huy trưởng cụm kho Hải Phòng.

Năm 1985, bố Tại làm nhà ở Thái Bình, trên mặt tiền phía trước nhà đã đắp nổi 2 sao 2 vạch, mặc giù lúc ấy bố Tại mới thiếu tá.

Bố Tại giải thích là đắp sẵn như thế để khi nào tao về, chắc chắn sẽ được đúng như nguyện ước) quát mình luôn: baoleo, mày nghĩ đâu ra cái bảng kê này đấy.

Mình tự hào trả lời là: bố ơi, số liệu này là con lấy trong sách của Liện xô đấy.

Sách đấy dậy rằng: trong đơn vị Việt Nam, tỷ lệ số đo quần áo 1/2/3/4 tương ứng là 5% - 15% - 75% và 5%.

Bố Tại cáu tiết: mày nhớ rằng tân binh nữ của mày là gái Cát Hải đấy nhé.

Mày mà tin sách vở thì kệ bố mày.

Huh Huh Huh

Mình chẳng lấy gì làm buồn và cứ theo sách, lĩnh phụ tùng cho nữ tân binh về.

Và thế là tai họa giáng xuống.

Suốt một tuần liền, mình suốt ngày bị nữ tân binh quây: anh ơi, phía sau em cài khuy không tới, anh đền cho em một đoạn dây mồi để nối đi.

Báo hại là trong cái tuần đen đủi ấy, tớ bị hụt mất hơn trăm mét dây mồi.

Chả hiểu chị em nó dùng để nối dây quang treo thật hay nó đan túi nữa.

Nhung nhờ cái tai nạn ấy mà tớ biết được câu ca: "Gái Cát Hải- củ cải Thủy Nguyên" để chỉ cái sự phì nhiêu của cái vòng một và cái quân trang số ba chết tiệt ấy.

Những đêm ít ngủ

Lại nói tiếp chuyện về lớp tân binh nữ trên kia.

Được lữ trưởng đánh giá là thằng có tâm hồn nhất lữ đoàn (trai Hà lội gốc, đọc được "Bông Hồng vàng" của Pau tốp xơ ki bằng nguyên bản tiếng Nga, bla, bla...), tớ được phân công phụ trách hội hồng hiếc đó.

Và thế là: tai nạn nối tiếp tai nạn.

Thoạt tiên là toi 1 tháng phụ cấp vì bị anh em đè ra bắt khao.

Anh em tưởng tưởng ra cảnh: tháng 9 nắng rám quả hồng mà lại có thằng cha được ngồi ghế, bên tả thì có 1 em mời bát nước gạo rang, bên hữu thì có em khâu hộ cái yếm bò của áo lính thủy là tiết đã sôi lên sung sục.

Và tiết của tớ còn sôi hơn khi nghĩ thế mà không phải thế.

Angry

Tiếp theo đó là chuỗi ngày bị đau thần kinh vì luôn luôn phải nghiến răng và lên gồng.

Các bác thử tính xem.

Là cái thằng phụ trách thì đương nhiên là phải đi đốc gác đêm.

Đêm mùa hè sóng biển rì rầm, từng con sóng va vào gềnh đá, làm bắn lên bạt ngàn tia hoa lân tinh.

Tô điểm thêm cho vườn hoa sóng biển là những vì sao băng đang rơi chéo phía chân trời.

Lẫn trong gió biển là mùi hương hoa lan đất xa xa rồi thật gần.

Gần đến mức chỉ nhìn cặp môi cũng đoán ra tiếng: "em ở đây cơ mà, anh ơi".

Gía như là tiếng hô " báo cáo thủ trưởng, có tôi" thì đời quân ngũ đơn giản biết bao nhiêu.

Trời ạ, đây lại là tiếng thì thầm "anh ơi" của những thiếu nữ mới gần 18 trăng tròn.

Nó có sức nóng làm tan chảy câu căn vặn về mật khẩu của anh chàng mẫn cán.

Nó làm anh chàng gương mẫu cóng người khi đôi tay mát rượi chỉnh lại hộ chàng mấy ngôi sao trên vai.

Và theo bản năng cách mạng Roll Eyes , anh chàng bất hạnh chỉ còn biết giơ 2 tay lên trời.

Làm sao khác được các bác ơi.

Trong cái ánh sáng mờ ảo của các vì sao rơi đấy, chỉ cần một tiếng "khoạc khoạc" của chính ủy đi thanh tra các ông kiểm tra, mà lúc đó tay chân mình lại không để đúng điều lệnh, thì "thôi rồi Lượm ơi".

Nhẹ thì cũng 1 hạt ra đi không hẹn ngày tái ngộ.

Cái đau thần kinh ấy nó còn để lại di chứng đến bây giờ, các bác ạ.

Hơn 20 năm xa quân ngũ rồi, đêm nằm ngủ thỉnh thoảng bà vợ già của tớ lại tra hỏi: sao ông cứ hay chắt chắt lưỡi thế.

Các bác ạ, đấy là lúc tớ chợt nhớ về một vùng biển vắng, nơi đã từng có chiếc kẹp tóc sáng lấp lánh trong ánh lửa lân tinh.

Và tớ đang tự hỏi: nếu lúc ấy mình hạ tay xuống thì thế giới này có đi đâu mất không nhỉ.

Khêu gợi ở lính?

Trong giờ sinh hoạt ở đơn vị, lính ta thường rất ngại phát biểu ý kiến.

Vì thế, chính ủy thường xuyên phải khơi ngòi cho các cuộc thảo luận.

Câu cửa miêng của chính ủy bao giờ cũng là: " bây giờ tôi khêu gợi Roll Eyes các đồng chí...phát biểu về vấn đề A".

Được một lúc chính ủy lại tiếp tục: " bây giờ tôi lại tiếp tục khêu gợi Roll Eyes các đồng chí .....về vấn đề B", vân vân và vân vân.

Vì vậy, trong lính tồn tại một định nghĩa: " chính ủy là một ông thường xuyên hay khêu gợi".

Khẩu lệnh của lính bao giờ cũng phải ngắn gọn.

Vì thế, định nghĩa trên sau này được rút gọn thành: " chính ủy là ông khêu gợi". !

Câu này ấn tượng đến tận sau khi tớ đã ra quân, về với đời thường từ lâu.

Khi ở nhà tắm cho thằng cu nhà tớ.

Mặc cho cu cậu cái áo, chưa kịp mặc quần là cu cậu gào toáng lên: con không thích "chính ủy", con không thích hở chờ... ym, con không thích "chính ủy"

Chiếc quân hiệu và ngôi sao trên khóa thắt lưng.

Những năm kháng chiến chống M..., hải quân vùng 1 cũng có nhiều chiến sỹ hy sinh trong các cuộc đánh trả máy bay giặc.

Đặc biệt trong trận đầu đánh máy bay M... ngày 05/08/1964, hải quân Việt Nam có hai tấm gương sáng chói là anh Đặng Đình Lống và anh Ngô Huy Hoàng, pháo thủ tháp pháo mũi 40 ly trên hai tầu tuần tiễu 79 tấn khác nhau.

Cả hai anh đều hy sinh trong trận này.

Sau trận đánh, các anh được đưa về an nghỉ ở Khe Chè, bên cạnh quân cảng Cái Lân, đất của đơn vị tớ.

Năm 1984, quân chủng tổ chức quy tập lại mộ liệt sỹ, các anh được chuyển đi.

Lúc này tớ được tham dự nên xin kể lại một chút hồi ức về các anh.

Trước hết, xin nói qua một chút về tháp pháo mũi.

Đối với hải quân tất cả các nước và đối với tất cả các loại tầu chiến đấu, tháp pháo mũi hay còn gọi là tháp pháo 1 là tháp pháo có tầm quan trọng bậc nhất.

Lý do là ở vị trí đó, pháo có phạm vi xạ giới rộng nhất, gần đạt 360 độ (trừ việc quay nòng bắn vào đài chỉ huy).

Vì thế, từ khẩu đội trưởng đến pháo thủ thành viên của tháp pháo mũi đều là những người ưu tú nhất của con tầu.

Đại khái các bác cứ hình dung: thành viên tháp pháo mũi giống như lớp chọn trong nhà trường ấy.

Đỉnh của đỉnh.

Cả anh Lống và anh Hoàng đều là pháo thủ của tháp pháo mũi, đủ biết là trong lúc bình thường, các anh cũng là những người xuất sắc, nói gì đến trong chiến đấu.

Vì tớ và anh Hoàng đều là đồng hương Hà Nội phố, nên xin kể về anh Hoàng trước.

Anh Hoàng là con trai của Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, một trưởng lão trong làng kiến trúc sư từ thời Tây mà bác nào học "kiến" chắc đều biết.

Anh Hoàng là anh trai của diễn viên điện ảnh Thanh Tú, nổi tiếng với vai nữ bác sỹ trong phim "Tiền tuyến gọi" hay vai người yêu trong phim "Vùng trời".

Nói như thế để thấy rằng với vị thế của 1 gia đình dòng dõi, anh Hoàng hoàn toàn có thể nấp vào một chỗ nào đấy bình yên.

Nhưng không, người con trai Hà Nội hào hoa ấy đã tình nguyện vào Hải quân, mà lại vào vị trí của tháp pháo mũi.

Trận ngày 05/08/1964 diễn ra.

Lúc đó các tầu hải quân của ta còn đang neo trong quân cảng.

Khi máy bay giặc đến, tầu của ta vừa bắn trả, vừa cơ động ra khỏi cửa Lục (phà Bãi Cháy bây giờ) để ra vịnh Hạ Long, nơi có vùng nước rộng hơn để dễ cơ động.

Khi ra khỏi cửa Lục thì anh Hoàng đã bị thương rồi.

Một mảnh bom cắm vào bụng làm ruột lòi ra.

Anh Hoàng đã lột áo buộc ngang bụng, nghiến răng tiếp tục nạp đạn cho khẩu đội.

Khi tầu ra đến vịnh, tầu anh Hoàng cùng 2 tầu 79 tấn khác hợp thành một biên đội bắn mãnh liệt.

Lúc này, ba tầu 79 tấn của ta có số nòng pháo gần tương đương toàn bộ số nòng pháo cao xạ của mặt trận Điện Biên Phủ (ĐBP là 24 nòng 37 ly, còn 3 tầu là 18 nòng từ 20 đến 40 ly).

Hỏa lực mạnh của hải quân làm phi công M... khiếp vía, không dám coi thường và bọn chúng tập chung hỏa lực để đánh phá các tầu của ta.

Lúc này, anh Hoàng bị thương lần thứ hai.

Một loạt đạn 20 ly của máy bay giặc đã bắn trúng tầu và anh Hoàng bị gẫy chân, khụy xuống.

Nén đau, anh Hoàng đã tháo thắt lưng hải quân, tự buộc mình vào tháp pháo cho khỏi ngã và ấn tiếp băng đạn cuối cùng cho đồng đội rồi mới chịu ngã xuống.

Năm 84, lúc bốc mộ anh Hoàng, bọn tớ còn tìm thấy chiếc quân hiệu và chiếc khóa thắt lưng của anh Hoàng còn sáng chói.

Tớ đã đặt lại chiếc quân hiệu vào chỗ nằm mới của anh, hy vọng ngôi sao sáng ấy sẽ tiếp tục dẫn đường cho anh.

Còn chiếc khóa thắt lưng, cũng có ngôi sao, nhưng được khắc chìm vào mặt khóa, tớ giữ lại.

Định bụng sẽ mang về, tìm cái dây thắt lưng nào vừa, sẽ thay vào để dùng nó.

Hơi sến một tý nhưng lúc đó tớ coi anh Hoàng là thần tượng và muốn học theo anh.

Tiếc rằng thắt lưng của thời anh Hoàng to bản hơn thời của tớ nên không dùng được.

Sau này, khi tớ ra quân, tớ đã tặng lại cho cậu Vang-trưởng ban chính trị.

Hy vọng là đơn vị tớ vẫn còn kỷ vật này.

Đi lính

Đúng là có chuyện quân cảnh hoặc là bị bắt buộc thi hành nhiệm vụ.

Thế mới là đời.

Cuộc sống thì lúc nào cũng có muôn vàn khuôn mặt, nhưng chuyện vào lính thời sau 75 không phải ai cũng có tâm trạng bị cưỡng bức.

Hôm nay tớ hoàn toàn không muốn nói đến chuyện "lý tưởng" hay "nghĩa vụ cao đẹp" mà công tác tuyên truyền của "ban tư tưởng, văn hóa TW đảng (hoặc đoàn TN)" đang ra sức cổ súy.

Cá nhân tớ cũng không tiêu hóa được sự tuyên truyền khô cứng của các bố ấy.

Tớ chỉ muốn nói rằng, tuyệt đại đa số các bác vào lính sau 75 mà có tham gia các diễn đàn về quân sử như diễn đàn quansuvn.net này, đều không phải vào lính là do bị dí súng vào lưng.

Tớ cũng đã nói ở trên, tớ cũng không cho rằng các bác ấy hăng hái tình nguyện lên đường là do "có ngọn lửa cách mạng rực cháy –thôi thúc trong tâm hồn".

"Thịt da ai cũng là người", cá nhân con người ai mà chẳng muốn sung sướng, an nhàn.

Tuy nhiên, đã làm thằng đàn ông thì nên có một chút "kiêu bạc" trong người.

Nói ngắn gọn thì thế này: có mấy anh em trong nhà, trời thì mưa mà mẹ thì đang cần ít củi để nhóm bếp.

Ai mà chẳng muốn đùn đẩy cho thằng khác để mình rúc vào ổ rơm đánh phỏm.

Đó là lúc có một thằng tự nguyện vùng chạy ra sân để lấy củi cho mẹ.

Đừng nói rằng nó làm thế là vì bị ông anh dọa giơ quả đấm hay có tình yêu thương nhường nhịn bao la.

Đời không phải lúc nào cũng cần giương những cái to tát ấy ra.

Đó là cái chất "kiêu bạc".

Khi có đánh nhau ở biên giới phía Nam, phía Bắc, nhiều thằng tìm đủ lý do để "tụt- tạt".

Tớ thì c.. vào cái trò mèo ấy.

Đơn giản nghĩ rằng: mẹ mình nghèo, anh em thằng nào cũng cố cấu véo thì mẹ sống được bao năm.

Cái chất "kiêu bạc" là thế đấy.

Mặc giù vào lính với cá nhân tớ là một ngã rẽ của cuộc đời, vĩnh viến chấm dứt những mộng ước của một thằng kỹ sư bằng đỏ.

Nhưng nếu bây giờ, thời gian có quay trở lại cái thời còn ùng oàng đấy, tớ cũng vẫn lao vào.

Vladivoxtoc

Thời 8x, quan hệ giữa VN-LX nói chung và Hạm đội Thái bình dương LX-Hải quân VN nói riêng là đặc biệt hảo hảo.

Một năm 2 lần, quân chủng Hải quân đều có các chuyến đi học tập ngắn ngày ở căn cứ bạn.

Đợt 1 vào khoảng tháng 3 và đợt 2 vào khoảng tháng 9 hàng năm.

Được đi tây là 1 sự kiện quá "khủng" đối với lính.

Ngoài việc được học tập vũ khí hoặc phương thức quản lý mới, anh em đều coi rằng đây là 1 dịp để "đại đại tu" hậu phương của mình.

Tuy nhiên, thằng nào bị rơi vào đợt 2 thì coi như là đi "từ móm đến móm".

Thoặt đầu tớ cũng không hiểu tại sao.

Nhưng đến lượt tớ, rơi đúng vào đợt 2, do cụ Xuân là phó đô đốc về chính trị làm trưởng đoàn, được cụ Xuân giảng giải, tớ mới hiểu.

Thì ra là đi vào đợt 2, mà lên đường vào tháng 10 là "toi".

Theo thứ tự thì sẽ có những lễ trọng sau: cách mạng tháng 10 (17-11), thành lập QĐ ta (22-12), Noen (25-12), tết tây (01-01), tết ta(x-02), thành lập Đảng ta (03-02), ngày các lực lượng vũ trang và hải quân liên xô (23-02).

Tất cả những lễ trọng đấy, đoàn ta đều tổ chức liên hoan mời bạn.

Và lẽ đương nhiên là kinh phí sẽ do các thảo dân góp.

Thế cho nên bàn là hay nồi áp xuất cứ thế mà bốc hơi ra đi chứ còn gì nữa.

Vì thế mới có câu chuyện thế này:

Gần hết đợt thực tập, đại úy I-van mới rỉ tai thằng em cộng: tao đã biết vì sao các tối thứ bẩy, trong các buổi khiêu vũ ở câu lạc bộ sỹ quan, có bao nhiêu là các nàng quân nhân xinh đẹp hoặc con các xếp, mà chú mày cứ như nhìn thấy những bức vách rồi nhé.

Cấm có mua hoa hồng tặng các ẻm để làm quen bao giờ (giời ạ, cái bàn là 7 rúp mà mang được về thì sẽ có 2 chỉ rưỡi vàng bốn con chín.

Còn hoa hồng ở Vladivoxtoc là 5 rúp/bông.

Chẳng cần phải siết kỷ luật, có mà súng bắn ngang tai, lính ta cũng nhắm mắt làm ngơ với các bóng hồng!) Angry

Thằng em thật thà hỏi lại ông anh I-van: thế mày biết giề?

Ông anh I-van cả cười: chúng mày có thuốc uống cai gái.

Roll Eyes

Thằng em ngỡ ngàng: thế là thế nào?

Ông anh: bữa ăn nào, chúng mày chẳng mỗi đứa có 1 cái lọ con.

Lừa lúc thằng khác không để ý, là đứa nào đứa ấy khẽ búng vào bát ăn của mình mấy cái.

Roll Eyes

Thì ra nó là lọ mỳ chính, giời ạ.

Grin

Mai Châu "mùi" em thơm nếp xôi

Bây giờ đang là tháng ba của lịch mặt trăng.

Mới trở về Hà Nội sau đợt công tác ở các vùng xa nên mùi hương hoa bưởi vẫn còn in đậm trong trí nhớ.

Mùi hương hoa bưởi thật bình dị nhưng lại quá đỗi nồng nàn.

Nó như kéo thời gian quay lùi trở lại những tháng ngày còn máu và hoa của cuộc đời.

Thời mà Chanel 5, Kenzo chưa có trong từ điển của lính.

Chỉ có hương thơm thoang thoảng trong làn gió biển như của lúa đang ngậm sữa trên cánh đồng nếp thơm, tỏa ra từ trung đội tân binh nữ sắp 18 trăng tròn.

Thời đấy có anh lính hải quân chỉ biết nghiến răng và nhắm mắt để ngấm 2 câu thơ của Quang Dũng là:

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùi em thơm nếp xôi

Hỡi các bác lính già và các em trai trẻ đang yêu, hãy nhớ về cô gái của thủa mười tám đôi mươi ấy, có đúng là mùi em thơm nếp xôi không.

Cụ Quang Dũng thật là tài hoa, cụ đã gọi tên được thật chính xác hương thơm trinh nguyên của người thiếu nữ, làm đắm say lòng người chiến binh.

Chỉ tiếc rằng đến thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, Quang Dũng bị ban Tư Tưởng vụt ghê quá nên đã phải sửa 2 câu thơ chứ danh trên kia (bản in chính thức đã kiểm duyệt) thành:

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa Angry Angry Angry em thơm nếp xôi

Nhưng, những chàng lính kiêu bạt vẫn nhớ được câu thơ gốc, và hàng ngày sống với trung đội tân binh nữ sắp 18 trăng tròn vẫn phải nghiến răng, thầm thì:

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùi em thơm nếp xôi

Bây giờ, sáng sáng đến văn phòng, ấn mình vào cầu thang máy là lại phải bật ra đi cầu thang bộ, bởi vì Kenzo chen lẫn với Chanel 5 và Acquadi Gio chỉ thổi ta bật ra xa, chứ không thể làm ta say lừ đừ như mùi em thơm nếp xôi.

Ngủ ấm

Lính ta đi công tác ở các vùng đồng bào Thái như Mai Châu, Lai Châu, Hà Tuyên chắc hẳn ít nhất đã có một lần được mời "ngủ ấm" với một kiều nữ Thái trắng trinh nguyên.

Cảm xúc ngất ngây sau đêm "ngủ ấm" đó, hẳn là còn theo ta cho đến khi ta đã bước sang bên kia chân dốc của cuộc đời, để bật ra thành những âm thanh chắt lưỡi, gieo vào trong những đêm trắng thinh không.

Thực ra, ta không thể tự mình chọn lấy một em Thái trắng xinh như Kiều để mời ngủ ấm êm.

Mà chính là cô gái ấy và bố của nàng sẽ chọn ta.

Lý do để được chọn thì vẫn đang còn nhiều cách lý giải.

Có thể bố của nàng nhận thấy rằng ta là người tốt, hoặc vân vân và vân vân.

Túm lại, khi bạn đã được chọn, bố của nàng sẽ thết bạn một bữa tối tuyệt trần.

Không thể thiếu 1 "típ" xôi thơm, ăn với cá suối bọc lá chuối nướng, chấm với "mắc khén" rừng.

Và ....diệu, diệu và diệu.

Trong bữa ăn, nếu ta chợt nhớ ra và hỏi "pò, mạ" về cô nàng xinh đẹp mới mang đĩa rêu suối nướng đâu rồi mà không ăn cùng, thì sẽ được "pò" nhắc nhở: diệu đi, diệu đi, rồi sẽ được gập.

Bữa tối rồi cũng sẽ tàn, khi mà trí khôn, lưỡi và mắt của ta đã lạc mỗi thứ đi một nơi, thì đấy là lúc ta được nghe "pò" ra một mệnh lệnh không thể nào êm tai hơn: em gái con đã nằm sẵn trong chăn đệm hoa bông lau suốt cả tối rồi.

Bây giờ con vào chỗ em nó nằm, mà ngủ đi.

Ngủ ngon nhé, giữ sức mai còn hành quân.

Vâng, ta sẽ mãi vẫn còn có thể hành quân.

Mỗi khi cổ khô rát, tai ù, đôi vai ê ẩm bởi đôi quai ba lô, ta sẽ lại nhớ về đêm "ngủ ấm" ấy.

Quyên làm sao được, đêm mùa đông giá lạnh, ta chui vào trong chăn đệm ấm êm, đã được cô bé Thái trắng yêu kiều nằm sẵn trước, sưởi ấm chăn đệm sẵn cho ta suốt cả buổi tối, để ta hầu diệu "pò".

Mùi em thơm nếp xôi sẽ vấn vương, quấn quýt mãi trong giấc ngủ say nồng của chàng lính trẻ.

Ngày mai đã lại hành quân, xa bản, xa em rồi.

"Mầu xanh" của lính

Theo tớ, đời lính là những trang đẹp nhất của cuộc đời.

Không hẳn vì đó là thời gian của kiêu bạt, oai hùng chen lẫn với gian lao, mất mát của con người.

Mà đó còn là thời ta còn trẻ, mọi thứ đều như đều nằm trong tầm với của ta, kiểu như "cấp tướng cũng chỉ hơn cấp binh nhì của ta 3 cái viền vàng".

Grin

Và vì ta còn trẻ, mắt còn trong veo như 2 giọt sương mai.

Nếu như họa vô đơn chí mà gập phải cặp mắt sâu như làn thu thủy của các cô bé tân binh thì thôi rồi Lượm ơi.

Tim thì muốn rụng theo lời Bác dậy là: cán bộ là phải thương yêu chiến sỹ.

Nhưng đầu thì luôn có cái cần phanh của kỷ luật nhà binh mà cặp mắt của ông chính ủy như hai cái tay phanh luôn bóp cứng.

Chẳng biết các bác Dongadoan, Cao Sơn, Trung sỹ và các bác khác liều mình như thế nào, chứ baoleo cứ phải nghiến răng và lên gồng nên chẳng có cái vắt vai nào đáng kể cả.

Nói vậy thôi chứ "màu xanh" vẫn có cái lý riêng và một cách thể hiện riêng của nó.

Trong cái đống hồ sơ chưa đến hạn giải mật của mình, tớ nhớ thấy một đoạn là: Gần đến ngày ra quân, cô bé ấy đã chép vào sổ tay cho mình mấy câu văn vần mà tớ còn ngấm 1 đoạn như thế này:

........

Ngày mai, anh sẽ lại về với vòng tay thiết tha (của người khác, chứ khôngphải của em-thế mới đau chứ)

Em sẽ đến sau cùng-Lặng soi trong mắt người xưa ấy

Lời không nói là lời ở lại

Và mọi điều, theo gió cuốn sẽ bay xa.......

Hỡi cô bé mắt nai bên mép sóng vùng 1 năm xưa, bây giờ giù em đã là một mệnh phụ phu nhân quyền quý ở vùng Vườn Đào hay là một người mẹ tần tảo đang gỡ hầu trên gềnh đá Cát Hải, hãy nhớ về những năm 8x với những đợt song bạc đầu chùm lên con tầu PCF năm xưa,

....

Nơi mình đã sống một thời rất đẹp

Túi ít tiền nhưng trán ngập ước mơ

Nơi một thời ta tập tọng làm thơ

Chợt bối rối bởi cái nhìn là lạ

Nơi hè đến bỗng hóa thành nỗi nhớ

Nơi một thời ta thầm gọi tên em....

Thủng bụng, lòi ruột

Tớ cũng không hiểu tại sao mà sau 75, Hải quân bọn tớ có xe "Giép lùn" là nhiều nhất so với quân binh chủng khác.

Từ vùng 1 đến vùng 5, chỗ nào có hải quân cỡ "dê" trở lên, là ở đó có "Giép lùn".

Mấy thằng "đầu binh, cuối cán" bọn tớ cũng có 1 chiếc.

Chiếc "Giép lùn" của bọn tớ cứ như là con "Drim già" bây giờ ấy, bất cứ cậu nào có công chuyện gì phải ra khỏi doanh trại là đều ngự lên con xế này.

Đặc điểm của xe này là dễ lái, có bộ khung để căng bạt nóc vô cùng cứng và vững chãi, lăn vài vòng cũng không hề hấn gì.

Thế cho nên mới có chuyện thế này.

Hồi đó lữ 147 lính thủy đánh bộ đóng ở Quảng Yên.

Hè 84, lữ đó báo động hành quân để tham gia tập trận với hải quân Liên xô, chiến dịch đó gọi là HN 84.

Trước khi đi, hội hậu cần bên đó tiến hành thanh lý các chú lợn tăng gia.

Cậu Cường, thượng úy quân nhu chỗ tớ có thằng bạn nối khố đồng cấp chức bên lữ 147 nên biết tin này.

Chỗ tớ có nhiều rượu rắn biển nên cậu Cường hiệp đồng với cậu bạn bên lữ 147 là: bên này thò nhiều chai rượu rắn biển, bên kia thò ra cỗ lòng béo theo đúng nghĩa đen.

May là hôm trước tớ với cậu Cường cùng có việc về báo cáo với Cục ở Cát Bi, nên con "Giép lùn" và bọn tớ đã ngủ đêm ở trạm 74 Hải Phòng rồi.

Hôm sau quãng gần 4 giờ sáng, bọn tớ đã đổi hàng hai chiều xong với tụi quân nhu 147 và bon thẳng về đơn vị.

Các bác hay đi chơi ra vịnh Hạ long chắc còn nhớ đoạn đường từ Quảng Yên về Bãi Cháy, lúc đi qua chỗ chắn tầu một lúc sẽ gập 1 đoạn đường chạy gần biển, phia đường giáp biển có một bãi trống sú vẹt dài cỡ nửa cây số.

Hồi 8x, mặt đường chỗ đó khá cao so với bãi sú và đoạn đường đó khá nhiều cua gấp.

Câu chuyện này xảy ra ở đoạn đường đó.

Trời còn tối đen, cũng phần vì mệt nên tớ ngồi ghế trước ngủ thiếp đi, yên trí phía sau đã có cậu Cường ngồi trông hàng.

Bỗng nhiên nghe thấy rầm rầm và thấy người mình đảo lộn như rang lạc.

Lúc hoàn hồn và định thần trở lại thì tớ thấy mình đang nằm dưới bãi sú vẹt.

Còn con Giép lùn thì đang chổng bốn vó lên trời cách chỗ tớ nằm khoảng 6, 7 mét.

Cậu lái xe đang ngồi thiền như mất hồn bên cạnh tớ còn cậu Cường thì không thấy đâu.

Tớ hỏi chuyện gì xẩy ra thế, thì cậu lái xe mới mếu máo rằng: anh ơi, xe lộn mấy vòng xuống đây, không biết anh Cường sống chết thế nào.

Lúc ấy tớ nghe thấy tiếng rên khẽ ở chỗ xe đổ, nên cậu lái xe và tớ chạy bổ đến.

Lờ mờ nhận ra cậu Cường đang nằm dưới chiếc xe và đóng xô chậu.

Do cái bộ gọng của con Giép lùn khá cao nên tớ và cậu lái xe đưa cậu Cường ra ngoài không khó lắm.

Ra đến ngoài xe, cậu Cường thều thào: baoleo ơi, tao sắp chết rồi, máu ra nhiều quá và lòi cả ruột ra đây này.

Tớ khẽ chạm tay vào bụng thì thấy đúng thật, có cái gì đó bầy nhầy và dính, ướt đẫm cả tay.

Phản ứng của lính trong những lúc như thế này là khá nhanh.

Tớ hô cậu lái xe, để 2 thầy trò lật xe trở lên, vứt mẹ nó tất cả hàng hóa lại, lấy cái chậu úp vào bụng cậu Cường che lên phần ruột bị lòi ra, lấy cái màn tuyn 2 thằng nằm đêm trước quấn chặt cái chậu và phần bụng của cậu Cường lại, cấp tốc quay xe về trạm quân y lữ 147.

Trên đường đi, cậu Cường thều thào có ý trăng trối: baoleo này, tao còn ít tiền với bộ quân phục mới lĩnh, có gì mày đưa về cho nhà tao (nói rất thật là lúc đó cậu Cường không hề căn dặn 1 điều gì liên quan đến công tác Đảng công tác chính trị như trong tiểu thuyết cả).

Tớ gạt đi, thôi mày cứ nằm yên giữ sức, sống chết có số, cứ yên tâm, có khi mày còn sống thọ hơn tao ấy chứ.

Thằng Cường nằm yên, thở khẽ cho đễn khi vào đến trạm phẫu.

Chuyện không có gì đặc biệt cho đến 30 phút sau, cậu Cường bẽn lẽn bước ra khỏi phòng phẫu.

Thì ra, lúc xe lộn vài vòng, cái thùng tiết và chậu lòng lợn đổ ào vào người cu cậu, lại bị các cạnh xô chậu nện vào người khá đau, nên anh chàng cứ ngỡ mình bị thủng bụng thật.

Báo hại là sau đấy hàng tuần, tớ vẫn phải khai rằng: lúc sắp lâm chung, thằng Cường vẫn di chúc lại với chính ủy là: chúc đơn vị ở lại đạt nhiều thắng lợi.

Ngày Hải quân Việt Nam

Hôm nay (07 tháng 5) là ngày thành lập quân chủng Hải quân của bọn tớ.

Xin ôn lại cùng các bác 2 tập quán của lính hải quân.

Đập chai sâm panh

Mỗi khi hạ thủy một con tầu, các bác lại thấy có một quý bà kiêu xa (nhất thiết phải là quý bà) đập vỡ một chai sâm panh vào thành tầu.

Đó là phong tục có từ thời rất xưa, khi mà chưa có vô tuyến, điện đài.

Thời ấy, mỗi khi gập hiểm nguy, lính thủy chỉ còn có cách viết mấy dòng ly biệt, đút vào trong lòng một chai rượu đã uống đến giọt cuối cùng và thả trôi chiếc chai đó xuống đại dương.

Hy vọng đến một năm nào đó, sóng đại dương sẽ đánh giạt chiếc chai này vào một bờ cát vàng đầy nắng, và sẽ có người nhặt được chiếc chai này để mang về cho cô bé yêu thương của hải quân, cô bé sẽ đọc được dòng chữ: sóng vẫn còn và biển mãi vẫn còn, như tình mãi vẫn còn dành cho em.

Đó là vì sao, khi hạ thủy, phải là quý bà đập vỡ vỏ chai, ý muốn rằng: con tầu này và thủy thủ đoàn của con tầu này, mãi mãi không bao giờ phải dùng đến chiếc vỏ chai để chuyển đi thông tin cuối cùng.

Hỡi các chính khách, các chính trị gia, khi hạ thủy tầu, nhớ tránh xa và chớ có cố giật lấy việc việc đập vỏ chai để được quay phim.

Thả hoa xuống biển

Những ngày này hoặc thỉnh thoảng trên TV, các bác lại thấy lính hải quân tập chung bên mạn phải tầu, thả 1 vòng hoa xuống biển, giơ tay chào và mắt giõi theo vòng hoa từ từ trôi xa.

Đấy là cách lính thủy nhớ về những đồng đội đã mãi mãi ra đi.

Tập tục này bắt nguồn từ điều lệnh tầu hải quân của tất cả các nước, có lẽ có từ trước thời cụ Cô lông đi vòng quanh thế giới: khi có thủy thủy thủ đoàn hy sinh, nếu thấy không có khả năng mang đồng đội về đất mẹ, hãy mặc cho ANH bộ đồ đẹp nhất, đặt ANH vào miếng vải buồm tầu và thả trôi vào lòng đại dương.

Đó cũng là lý do tại sao, hải quân luôn có bộ quân phục đẹp nhất trong mọi quân binh chủng.

Không hẳn vì lính thủy luôn lãng mạn và kiêu đẹp như đại dương.

Mà còn là vì: khi đã hy sinh, không như bộ binh hay không quân, còn có vó ngựa bọc thây để sau này người thân còn thấy hình hài.

Lính thủy khi đã hy sinh, thì chỉ còn như những đám mây trôi lang thang vô định trên bầu trời, mãi mãi người thân chẳng bao giờ còn có thể nhìn thấy được, tìm thấy được hình hài.

Vòng hoa hãy trôi xa, và hàng ngày nhận những con sóng vỗ vào mạn tầu, lính hải quân vẫn như được nhận những vòng tay ôm ấp của ANH, người đã lướt mãi vào lòng đại dương xa xăm.

Quân trang của lính kiểng.

Hồi ức của bác lethaitho về chiếc hòm đựng quân tư trang thay cho ba lô của lính cơ quan bộ làm cho baoleo chợt nhớ ra hàng loạt kỷ niệm về tư trang của lính kiểng.

Qủa đúng là sau này về đóng quân ở căn cứ lữ, chiếc ba lô hầu như mất dấu thật.

Đi công tác về cục hay quân chủng, thì lính kiểng thằng nào cũng có chiếc cặp bảo mật mầu đen và chiếc xắc cốt Liên xô bằng da nâu bóng.

Quần áo được nhét vào cặp bảo mật.

Khăn mặt, bàn chải răng và vài thứ linh tinh khác như phong lương khô hay một nhúm đường gói trong túi giấy bóng (hồi đó chưa gọi là túi ni lông) thì được nhét trong xắc cốt.

Còn tài liệu thật, thậm trí là mật thì được để hờ hững trong chiếc cặp 3 giây, quăng đại vào băng sau con xe Giép.

Angry

Những lúc phải xuống xe để qua phà, thì chỉ lo xách cái cặp bảo mật đựng bộ quân phục cũ rích và lo đeo cái xà cột chứa mấy cái lăng nhăng cho oách, chứ chẳng thằng nào chăm lo cái cặp 3 giây đựng tài liệu mật cả.

Có lẽ sỹ quan phía bên kia cũng thế nên tình báo của ta hay lấy được thông tin mật chăng ?

Grin

Ở đơn vị, ban nào cũng phải có vài cái hòm để đựng tài liệu.

Được cái đà ấy, thằng nào cũng kéo đến gạ gẫm ban doanh trại: baoleo này, cấp cho bộ phận tớ thêm N cái hòm.

Biết thừa là nó lại lấy để làm hòm đựng đồ cá nhân thay ba lô rồi, nhưng tính mình hay cả nể nên cũng cho qua.

Bản thân mình cũng chẳng lấy gì làm gương mẫu cho lắm.

Nhằm lúc chặt hạ mấy cây long não, tớ cũng tự thưởng cho mình và mấy thằng cánh hẩu chiếc hòm bằng gỗ long não.

Tốt hết ý.

Đồ đạc đựng trong đó vừa thơm, vừa không lo mối mọt, vì chằng có con côn trùng nào thích gậm cái thứ gỗ cay xè ấy.

Có một chuyện hài xung quanh cái thùng gỗ ấy.

Cậu Chính-người Hà Tĩnh nổi tiếng ki bo.

Đợt ấy được đi tranh thủ về thăm nhà.

Cu chàng thửa 2 cái hòm, 9 giờ đêm hôm trước, mang xe đạp vào phòng ngủ, chằng buộc 2 cái thùng cẩn thận vào xe đạp để sang sớm hôm sau, lúc báo thức 5h30 là có thể đạp xe thẳng ra bến xe, bắt xe khách về nhà.

Nhưng chàng ki bo tính kỹ không bằng quy luật tự nhiên.

Sáng hôm sau, kẻng vừa gõ, cu chàng dắt xe đâm bổ ra cửa.

Kịch.

Không lọt.

Grin

Hóa ra hai cái thùng buộc 2 bên to hơn kích thước cửa phòng ra vào.

Báo hại cu chàng, vừa tháo hì hục tháo ra, buộc vào, vừa làu bàu chửi rủa cánh doanh trại bọn tớ.

Còn cánh tớ có câu chuyện nhớ đến hàng tháng sau.

Gác đêm

Thời binh nhì, chẳng ai thoát được nạn gác đêm.

Đêm khuya thanh vắng, sợ ma là chuyện muôn thủa, nhưng còn có cái đáng sợ hơn.

Đó là không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu quan trọng.

Mà trang bị thì có gì?.

Nhõn khẩu AK không đạn.

Thậm trí còn được dặn là không được kéo quy lát hoặc bóp cò khan.

Vì làm như thế, kẻ xấu nó biết là súng không đạn, nó nhẩy xổ vào cướp súng thì có mà rũ xương với quân pháp.

Anh Phàn, đại trưởng đầu tiên trong đời lính bọn tớ là người Nam Hà, lính chống Mỹ, bản chất nông dân, khá tốt tính.

Đại trưởng tư vấn cho bọn tân binh chúng tớ là: các cậu nên nuôi 1 con lợn, đợi đến khi mãn hạn tẩy não, trước khi đeo lon về đơn vị mới, ngả ra mà làm bữa liên hoan.

Cả bọn lấy làm: chí phải.

Nói là làm, hôm sau mấy thằng vào nhà dân mua được con lợn giống cỡ đâu như 20 cân hơi.

Kể từ hôm đó, con lợn trở thành vật gia bảo, là tài sản quý giá, là mục tiêu quan trọng nhất cần phải bảo vệ của đại đội tân binh, đóng quân trên 1 quả đồi cằn cỗi gần phố Lả của đất Sơn Tây.

Điều lệnh canh gác đối với cánh tân binh tạch tạch xè như bọn tớ thì chỉ cần đọc qua 1 lần là thuộc như cháo chảy.

Cả bọn đều nhớ rõ lời ê a của đại trưởng: Việc canh gác có ngay từ khi hình thành quân đội trên thế giới, và sẽ tồn tại vĩnh cửu cho đến khi không còn quân đội tồn tại.

Đều như như bánh răng đồng hồ và chính xác như kim giây, kim phút.

Cứ 2 tiếng là 1 phiên.

Khi bàn giao ca gác là phải bàn giao cả mục tiêu phải bảo vệ.

Rõ chửa.

Mà như đã nói, trên cái quả đồi khô cằn ấy có cái cóc gì đâu, ngoài mấy cái lán tranh, vách liếp trống hơ, trống hoác, chứa lũ tân binh đầu bò đầu bướu bọn tớ mà ai cũng ngại nhận.

Vậy là chỉ còn có mỗi con lợn gia bảo là mục tiêu quan trọng tối thượng cần bảo vệ mà thôi.

Mà cũng chẳng cần phải ai nhắc nhở, thằng nào cũng lo mất con lợn.

Mất thì đi đứt bữa tươi đánh chén, được mong đợi nhất kể từ khi khoác bộ áo lính lên người.

Thế là cứ 2 tiếng 1 lần, thằng gác trước bàn giao cho thằng gác sau (có ghi sổ đàng hoàng) là: Lợn vẫn còn.

Shocked

Hai thằng bàn giao cho nhau bằng cách lấy cái sào dài chọc vào chuồng lợn cho đến khi nghe thấy tiếng kêu eng éc mới thôi.

Đêm cũng như ngày, nắng cũng như mưa, 2 tiếng 1 lần, chính xác và vĩnh cửu, con lợn lại thảm thiết rú lên từng hồi dài.

Rồi thì cũng đến ngày liên hoan.

Cả bọn hăm hở phá chuồng, bắt lợn.

Hy vọng sẽ tóm được chú ỉn ngót tạ.

Vì canh gác kỹ thế cơ mà.

Hỡi ôi, năm thằng chỉ túm ra được 1 con lợn cỡ to bằng một quả bí xanh, không hơn không kém.

Những cái đầu nóng nhất đã hình dung ra câu chuyện trinh thám An nam là ta bị bọn gián điệp nó lừa.

Nhưng cũng còn có thằng tỉnh táo hơn.

Đó là thằng An (bây giờ-06/2008, đã là anh An-phó giáo sư-tiến sỹ-viện phó viện Mắt trung ương) phân tích rằng: thế còn là may đấy.

Suốt ba tháng ròng, cứ 2 tiếng/1 lần lại bị chọc vật nhọn vào người để kêu gào.

Không được ăn, ngủ thì đến thép cũng phát bệnh thần kinh suy nhược, chứ nói gì đến lợn.

Đồng đội một thủa

Cách đây ít lâu, mình có dịp đi qua phà Tân Đệ, con phà nối liền hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.

Đó là một buổi trưa hè nóng rát.

Cái nóng mùa hè của miền Bắc cộng thêm với độ ẩm cao luôn làm cho con người cảm thấy bức bối, khó chịu.

Không giống như cái nóng ở phương Nam hay ở K.

Những nơi đó tuy không có mùa đông, nhưng bù lại độ ẩm không cao, nên người không có cảm giác lúc nào cũng đẫm mồ hôi, vì thế cũng còn dễ chịu hơn cái nóng miền Bắc.

Cái buổi trưa hè nóng ngốt người ấy, phàm là những ai không có việc tối cần thì chẳng dại gì lại thò mặt ra đường.

Nhất là lại tự phơi mình như cá khô trên con phà bằng sắt tây cũ rỉ ấy.

Chuyến phà ấy cũng khá vắng người.

Có mỗi chiếc việt dã của mình và vài bác nông dân tranh thủ chạy chợ nhân lúc nông nhàn.

Mặc kệ cậu lái xe ngồi thu lu trong cái hộp diêm sắt sơn diêm dúa bóng lộn ấy, tớ lững thững ra phía sau đuôi phà, nhằm hóng hơi nước mát do sóng đuôi của con phà tạo ra.

Vừa hay có một ông xe thồ cuối cùng đang hộc tốc, gò lưng đẩy 1 xe đạp thồ chất đầy hai sọt dưa lê, cuống quýt lao xuống cho khỏi nhỡ phà.

Động lòng chắc ẩn, tớ nhẩy xuống, đẩy giúp 1 tay cho cái xe đạp thồ ấy lên kịp phà.

Xong xuôi, ông xe thồ chở dưa lê ấy quay ra định cám ơn mình.

Bỗng nhiên, ông ta sững người lại, rồi lao đến chụp lấy tay mình:

- Thủ trưởng, em đây, Ngòi đây.

Trời, mày đấy ư ?.

Thằng em Ngòi, công vụ của ban Doanh trại đấy ư.

Mày tàn tạ thế này rồi cơ à?

Thằng em Ngòi dường như không còn để ý đến ai.

Nó cứ túm lấy tay mình mà lắc mãi:

- Thủ trưởng....

Ôi, bao nhiêu hờn giận, ấm ức, bất mãn kể từ khi ra quân.

Luôn có mặc cảm như bị bỏ quyên, thậm trí suất học ngoại ngữ trong giờ hành chính cũng bị gạt ra rìa.

Chẳng có ai còn để ý đến thằng lính đã từng ưỡn ngực oai phong trước sóng gió đại dương, mà chỉ còn ganh nhau xem: hôm qua ông cốp ấy hắt hơi, thằng c.. kia nó đã mang quà gì đến trước ta.

Thế thôi.

Cứ ấm ức, giận hờn, rồi giũ áo, từ quan.

Về hẳn làm phó thường dân loại 3 với đời.

Lòng đã như khép lại một thời áo lính.

Ai ngờ, hôm ấy, trên con phà sắt tây nóng bỏng, còn có 1 ông nông dân lắc mãi tay mình với đầy tình cảm mến thương: thủ trưởng....

Mấy từ đồng đội đó nó như làm làm tan chảy những giận hờn, ấm ức bấy lâu.

Nó như nhắc nhở rằng: đã có thời ta từng khoác bộ áo lính lên vai, là kiêu bạc, là đáng giá với đời, là nặng sâu nghĩa tình một thủa, đồng đội ơi.

Thằng Ngòi gần như cố nhét cả sọt dưa lê vào xe của mình: thủ trưởng mang về mà tẩm bổ, thủ trưởng lúc nào cũng làm việc "chí lão", chóng hại người lắm.

Mặc xác ánh mắt hình viên đạn của cậu lái xe khi nhìn đống dưa lê, cậu lái xe hết làu bàu cậu Ngòi, lại đưa mắt nhìn mình ra điều nhắc nhở: xếp ơi, các gentlement cổ cồn đeo cà vạt, có xe phanh đánh kít, mở của xe đánh kịch, gót giầy bước ra đánh cộp, có xơi hoa quả thì phải là kiwi, nhấm nháp gooseberry, xoàng thì cũng phải là American peach.

Có ai còn dám cầm cái quả dưa lê gớm giếc này nữa, thuốc sâu nó dây vào tay thì có mà toi mùi Baldessarini !

Mặc xác nó, mình đã lấy hơn 2 chục quả dưa của thằng Ngòi, sau khi đã gần như là dùng vũ lực để ấn vào túi nó chút tiền công tác còm mang theo cơ số của mình.

Ngòi ơi, hôm nay, vô tuyến nó đang nói rằng: lợn đang bị dịch tai xanh.

Nhưng kệ bố nó, hôm nay tao sẽ vẫn ra chợ, mua lấy cái chân giò.

Biết đâu, nhờ thế mà mày vẫn bán được lứa lợn của nhà mày, đặng dồn ít tiền mà trát nốt cái nhà xây giở đã lâu.

Ngòi ơi, đồng đội một thủa, chú cũng tàn tạ lắm rồi, phải giữ gìn sức khỏe nhé.

BẮN BIA

Nhân đọc câu truyện thi bắn để đoạt giải là cái màn-đặng đổi con chó của bác Trungsỹ, chợt nhớ rằng, bắn bia đúng cũng là chuyện thường ngày của lính.

Lâu rồi nên 1 vài chi tiết không còn nhớ rõ, mong được các bác đính chính.

Thời cuối 7x- đầu 8x, chỉ trừ đơn vị huấn luyện tân binh lính mới tò te, thì ở các đơn vị không còn bài bắn bia (chẳng nhớ là số mấy) đầu ruồi đội đít điểm đen, tính điểm vòng 10 nữa.

Hai mùa bắn súng đều là bài tổng hợp như bác Trungsỹ đã kể.

Tớ còn nhớ là bắn 3 bia.

Bia đầu là nằm bắn không bệ tỳ, cự ly 200 mét, bia mẹ con (mô phỏng ổ súng máy của địch, gồm thằng xạ thủ và tiếp đạn của đối phương).

Sau đó vận động lên bắn bia nửa người, giống như bia của lính tân binh, nhưng không có các vòng tròn tính điểm (bia này mô phỏng bộ binh địch nhô nửa người ra khỏi công sự).

Tư thế bắn là quỳ bắn.

Cự ly 120 mét (hay 100 m?).

Tiếp tục vận động lên bắn bia cuối cùng, bia số 7 hình chữ Z loằng ngoằng (bia này mô phỏng bộ binh địch bung ra khỏi công sự, bỏ chạy Grin Grin Grin).

Tư thế đứng bắn, cự ly 70 mét (hay 50 m???).

Cả 3 bia đều không tính điểm, cứ rách áo là ăn tiền.

Mỗi người được phát 2 băng đạn, mỗi băng chứa 6 viên.

Bắn đạt loại thượng thừa là chỉ dùng 1 băng, 6 viên.

Tư thế nằm bắn không bệ tỳ là điểm xạ 2 phát, rách áo bia mẹ con.

Tiếp theo vận động lên gần 100 mét nữa, quỳ bắn bia nửa người.

Cũng điểm xạ 2 phát, rách áo ăn tiền.

Cuối cùng là vận động lên tiếp 50 mét nữa, bắn bia chữ Z.

Điểm xạ nốt 2 viên cuối cùng ở tư thế đứng bắn, rách áo ăn tiền.

Tuy nhiên, an toàn và theo sách là dùng hết 1 băng 6 viên ở tư thế nằm bắn, nhắm vào bia mẹ con.

Vì ở cự ly 200 mét, tư thế nằm bắn không bệ tỳ, mục tiêu nhỏ nên cũng khá là xương.

Bắn phải được từ 2 loạt trở lên.

Đạt tức là tằng tằng, tằng tằng, tằng tằng, hoặc tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, hoặc là tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng.

Tắc bọp phát đầu hay phát giữa đều bị trừ điểm.

Còn băng 6 viên thứ 2, là thay băng sau khi nằm bắn xong, vận động lên bắn bia thứ 2, bắn 2 loạt.

Vận động lên bắn tiếp bia cuối cùng thì cũng là loạt cuối cùng.

Lúc ấy, bia to tổ bố, bắn trượt khó hơn bắn trúng.

Tớ thì bao giờ cũng dùng biện pháp an toàn, bia mẹ con dùng nguyên băng cho chắc.

Tuy bắn khá nhiều, nhưng cũng không dám bốc phét là không bị tắc cú bao giờ.

Tắc cú thường bị rơi vào lúc kéo cò lần đầu tiên ở tư thế nằm bắn.

Sau này, bắn súng trên biển thì khá hơn.

Do không bị trừ điểm ở khâu bắn tắc bọp hay bắn đổ rác (kéo nguyên cả băng).

Nên tâm lý đỡ bị ức chế.

Chỉ còn lo căn các đợt sóng.

Khi tầu lên đỉnh đợt con sóng thứ nhất là phải ước lượng và giá súng cho vừa tầm và hướng.

Khi tầu leo lên đỉnh con sóng thứ 2 là phải nhanh chóng gim được mục tiêu và xả rồi.

An toàn nhất là kéo cò từ khi tầu sắp leo lên đến đỉnh sóng, giữ cò cho đến khi tầu leo qua đỉnh sóng một tý chút rồi ngừng.

Theo vệt nước mà điều chỉnh súng cho chạm mục tiêu.

Tầu đã chúi gần chạm chân sóng mà còn kéo cò thì chỉ có nước ăn đá đít.

Do hoàn cảnh như thế, nên trên tầu chủ yếu là súng liên thanh (pháo cũng là 37 hay bô pho, đều bắn được điểm xạ dài hay điểm xạ thùng).

Pháo thần công, bắn phát 1 như các cụ thời xưa, trúng mục tiêu cũng hên xui lắm.

Chuyện cảm tình

Cảm giác về những cô gái K của tôi là...chẳng có gì.

Thật đấy !

Gần 5 năm ở bên đấy nhưng mình chẳng có cái nhìn nào gọi là đắm đuối.

Những cô gái K đen quá trời nên không thích thú.

Trong mắt mình chỉ có những cô gái Việt da trắng như trứng gà bóc, tóc dài óng ả mình mới mê mệt.

Mỗi lần về công tác ở Việt nam, qua cửa khẩu Mộc bài là mình đã có cảm giác cái khí giời mình hít vào lồng ngực cũng thơm lành hơn, trong trẻo hơn cái không khí tanh nồng mùi cá, mùi mắm Bò hóc lởm vởn suốt từ Phnompenh đến thị xã Congpongchnang.

Một lần đi công tác với đại uý Mười Nhạc, ông đưa tôi về thăm gia đình ông ở một làng nhỏ ngay sát cầu Mù U ( Bình Minh -Vĩnh long ) trên đường từ Thành phố xuống Cần thơ.

Cả nhà má Tám ( chị ruột Đại uý Mười Nhạc ) vô cùng quý tôi.

Bả có người con gái tên Lý năm đó tròn 16 tuổi, đẹp như trăng rằm.

Da trắng, tóc dài đang học nghề thợ may.

Bà Tám nói với tôi :

- Nếu thằng Hai ưng tao gả con Tám Lý cho mầy.

Tao cho hai tụi bây vài công đất, một cặp trâu và lúa gạo đủ ăn trong hai năm.

Tụi bây làm được bao nhiêu hưởng bấy nhiêu làm của để dành.

Bay ưng không?

Tôi thầm nghĩ từ bé đến giờ toàn cày đường nhựa.

Bây giờ lấy đít trâu làm thước ngắm e rằng không ổn.

Vẫn biết bà Tám nói vậy là rất quý mình nhưng đành lắc đầu nói khéo :

- Bọn lính tụi con rày sống mai chết biết thế nào mà vợ với con.

Dính vào chỉ khổ người ở nhà.

Bà Tám quý tôi ra mặt.

Mỗi khi đi chợ về bà bao giờ cũng mua bánh ú làm quà cho tôi.

Bà làm bánh xèo cho tôi ăn, nấu canh chua cá lóc với bông Điên diển, cọng hoa Súng ngon hết biết.

Trong khi ông Mười Nhạc thì cố sức vun vào, ông quảng cáo tôi như quảng cáo minh tinh màn bạc nào thì ngoan, nào thì hiền, nào thì hiểu biết, sống có tình nghĩa..vv..và...vv.

Tôi nhìn Tám Lý thì trong bụng cũng ưng ý lắm nhưng ngại nỗi chẳng biết...đi cày nên đành nuốt nước miếng vào trong bụng.

Đấy là người con gái duy nhất mà tôi có cảm tình trong suốt thời gian trong lính.

Nhớ ngày còn huấn luyện tại E36/F308 có nhiều chuyện bây giờ nghĩ lại vẫn cười...ra nước mắt.

Ngày đó ăn sáng thì mỗi thằng được phát một cục mì luộc to bằng cái nắp chuông xe đạp ngày xưa.

Hôm nào anh nuôi nó làm cẩn thận thì còn dễ nuốt, hôm nào nó luộc vụng thì nhão be nhão bét, không thành cháo mà cũng chẳng thành cục.

Không ăn thì đói mà ăn vào thì chỉ muốn ói ra.

Đêm hôm trước anh nuôi nặn mì thành cục để thành hàng dãy trên giá cho nó nở.

Ban đêm, lính tân bình gác thấy đói bụng liền mò xuống bếp dùng que tre vót nhọn xiên liền một lúc 78 cục về hí húi luộc cho nhau ăn.

Không bắt được thằng nào nên hôm sau báo động toàn tiểu đoàn, đứng dưới nắng để nghe chính trị viên diễn thuyết suốt 2 tiếng đồng hồ về quân phong, quân kỷ của người quân nhân cách mạng.

Cũng vì đói nên lính xuống nhà ăn là a la xô xuống mấy chảo nấu cơm để lượm cháy tranh của lợn.

Mấy thằng anh nuôi tức quá nên cứ chia cơm xong là đổ nước vo gạo vào chảo để mấy con lợn của tiểu đoàn còn có cái ăn.

Để tránh phải ra thao trường, nhiều mánh dùng để cáo bệnh ra đời.

Ông Thắng già cùng đi một đợt với tôi ( gọi là là già vì năm đó anh ấy đã 29/30 tuổi rồi - Vợ vừa đẻ con gái được 3 ngày thì lên đường ) cáo bệnh bằng cách bôi nhựa xương rồng vào bìu chim.

Nó xưng to tướng lên phải đi QYV 103 mất mấy tháng, thế là thoát không phải đi chiến trường.

Cái nạn khoán nộp phân phục vụ tăng gia rau xanh cũng lắm chuyện cười.

Ngày chủ nhật là ngày nghỉ nhưng đợn vị cũng không cho nghỉ hoàn toàn.

Mỗi thằng muốn nghỉ phải nộp 30 kg phân bắc ( phân người ) hoặc 50 kg phân chuồng ( phân gia súc ) hoặc 100 kg phân xanh.

Đứa nào xong sớm thì nghỉ sớm.

Thế là xảy ra nạn ăn cắp....cứt.

Nhiều đứa muốn nghỉ sớm nên đã đi xin, lấy trộm... từ chiều hôm trước để sáng mai chủ nhật cân sớm để nghỉ sớm.

Dấu dấu diếm diếm không khéo bị lộ ra là đêm hôm ấy mất ngay lập tức.

Hố xí của đại đội nào, đại đội ấy phải giữ như giữ nhà tổ.

Hố xí lúc nào cũng sạch bong.

Lắm khi đang ngồi ..dị hoá, nhìn xuống lỗ thấy có cái xẻng đang thò ra hứng.

Bình xét các danh hiệu vinh dự

Bản tự kiểm điểm bản thân sau 1 năm phấn đấu, công tác và rèn luyện thì em đã nộp cho Chi hội rồi như đã báo cáo với các bác ở trên.

Thế nhưng, việc xét các danh hiệu vinh dự nó lại không nằm ở chỗ ấy.

Mấu chốt là ở cuộc họp trù bị thi đua của các cụ trong Ban chấp hành cơ.

Do em có chân loong toong trong tiểu ban thi đua-tuyên truyền, nên biết khối truyện thâm cung bí sử.

Đại loại là thế này.

Một cụ sẽ xướng tên

-thế cái tay baoleo xét thế nào nhẩy.

-Ồ ồ, không được.

Cụ đại tá đánh trận Hồng Cúm bao giờ cũng nghiêm khắc.

Cụ phân tích:

-tay này chả làm ăn gì cả.

Ngay như tháng cao điểm an toàn giao thông mà chiều chiều, tầm 4 giờ cấm có thấy mặt, để hua hua cây gậy tre sơn xanh sơn đỏ chỗ ngã tư bao giờ cả.

Tay này hỏng.

-Khoan đã...

Cụ Ph., trung tướng-anh hùng quân đội-chính uỷ quân chủng, với vẻ trầm mặc chuyên nghiệp của người lâu năm làm công tác Đảng-công tác chính trị, giảng giải:

-tôi lại có ý khác.

Giáo dục là cứ phải lấy động viên, khen thưởng làm trọng.

Cứ cho baoleo cái tiên tiến.

Sang năm cu cậu có danh hiệu rồi thì sẽ phấn đấu để bảo vệ cái danh hiệu đó.

Há chẳng phải hay ư?

Các cụ khác đều lấy thế làm phải.

Baoleo em lại càng lấy thế làm phải.

Được khen ai chẳng thích!

Grin

Năm sau, vẫn trong căn phòng đó, vẫn nội dung cuộc họp đó, chỉ có những người điều hành là thay đổi ít nhiều.

-Này, năm ngoái tôi thấy có dư luận là phần thưởng toàn rơi vào lãnh đạo đấy.

Cụ D., thiếu tướng- tác huấn, vẫn giữ được tác phong nhanh nhẹn nghề nghiệp, mở đầu.

-Khớ khớ..

Cụ Th., trung tướng-tư lệnh quân chủng (nhưng không có danh hiệu anh hùng đi kèm.

Cụ còn tráng kiệu lắm.

Vẫn tự tay lái con Hi-Lander mầu đen, mỗi lần gióng xe để lùi vào cổng vẫn rú ga, phả khói đen vào cửa nhà tớ cỡ 5 phút, vì cổng nhà xếp hơi chéo so với đường), luôn xuề xoà:

-Thì người ta vẫn bảo là "quan thi đua" chứ có phải là "chiến sỹ thi đua" đâu.

Tôi thấy năm nay ta phải làm khác đi.

Cụ H thì bao giờ chẳng được xét trong Trung ương Hội, còn ông với tôi thì trên Thành.

Ông này thì trên Quận.

Còn tay U. thì Phường không cho nó thì cho ai.

Chả nhẽ ở chi hội lại cũng mấy vị này à.

- Hay.

Cụ đại tá chánh thanh tra vỗ đùi.

-Tôi sẽ làm thêm cái báo cáo nữa cho phường.

Rằng ta đã xây dựng được hội viên trơn, chân trắng thành điển hình.

Mà cái chương trình này là ngoài các kế hoạch đã đăng ký với phường đấy nhé.

Cái công tác này là phát sinh trong thực tiễn công tác của chi hội ta.

Gì chứ, với cái phát sinh mới này thì chi hội ta nắm chắc cờ thi đua năm nay.

Ăn đứt chi hội tay T.

Lái vũ trụ thì đã làm sao.

Mới về, thẻ còn chưa được nhận mà cứ hoắng.

Thôi, ta quyết cho cậu baoleo cái thi đua cấp chi hội nhé.

Nhưng các bác ơi, sự đời chẳng có cái gì cứ hanh thông, trơn tuột như thế sất.

Năm nay em đã đoán được kết quả thi đua của em từ đầu năm.

Trong buổi họp đầu xuân, cụ chủ tịch đã trầm ngâm:

-Năm nay chỗ ta có nhiều cụ yếu quá, sợ đi mất.

Nên có gì ta nên nhường cho các cụ ấy tất.

Cho các cụ ấy thêm ấm lòng trước khi vững bước chinh biên.

Thế cho nên năm nay, cho giù sáng nào lúc 6 giờ em cũng ra thổi còi hoét hoét ở chợ để dẹp mấy bà bán rau, chờ đến 4 giờ chiều để ra vung vẩy cái que tre ở ngã tư, và tối tối, tầm 9 giờ lại húng hoắc ho khan trong các ngõ ngách để dọa trộm, thì kết quả nó vẫn sẽ cứ thế.

-Cậu baoleo này cứ để phấn đấu rèn luyện thêm 1 thời gian.

Sự nghiệp của cậu ấy còn dài.

Ta không nên nóng vội.

Chưa họp trù bị nhưng em đã mường tượng ra câu kết của cụ chủ tịch sẽ là như thế.

Hỡi các bác đang phấn đấu vào Hội hoặc chưa vào Hội như các bác Trung sỹ và Hạ sỹ quý yêu.

Các bác hãy vào đi.

Để ta được sống lại thời mặc áo lính tuổi 20.

Phập phồng chờ đợi kết quả bình xét thi đua.

Thần bí hơn chờ kết quả quay số mở thưởng.

Hồi hộp lắm, cơ tim co bóp nhiều lắm.

Đọc báo ở đại đội

Nghe chú em fanruot_mu kể về chuyện đọc báo vào các buổi sáng ở đại đội, hàng loạt kỷ niệm xưa lại ùa về.

Qủa đúng quân đội là cái máy vĩnh cửu, ngàn năm không thay đổi.

Thời tớ có đọc báo buổi sáng, sau 2 chục năm, đến thời chú em fanruot_mu đi bộ đội, lại vẫn: buổi sáng bắt đầu bằng đọc báo.

Nhưng không biết còn cái trò phiên dịch không?

Thời của bọn tớ, bao giờ cán bộ đai đội cũng phải làm công tác dịch tiếng Việt ở báo, ra tiếng phổ thông để quảng đại quần chúng có thể hiểu được, đặng dễ quán triệt.

Đại loại thế này:

Sau khi 1 cậu tốt giọng đã ê a xong rằng:

-cuộc viếng thăm của ....ta, tại Liên bang L..

đã thành công tốt đẹp, thấm đượm tình hữu nghị đặc biệt, thắm tình đoàn kết chiến đấu anh em....

Thì 1 cậu trực ban chỉ huy hôm ấy phải nhẩy ngay lên bục mà giảng giải rằng:

-thắng to rồi.

Các cụ nhà ta đã xin được 1 mớ Mig, T.., ship xiếc rồi.

Tha hồ mà dùng nhé.

Nhưng chớ có CCCP đấy nhá, thằng nào mà "của chùa cứ phá" thì cứ liệu hồn.

Còn nếu mà ê a có đoạn:

-Cuộc hội đàm tại các nước 1 răng, 1 rắc (Iran, Iraq) đã kết thúc tốt đẹp, trên tinh thần hữu nghị..

Thì lại phải dịch thế này:

-Ta đã xin nó cho khất việc trả nợ tiền mua dầu hồi đánh Mỹ, nó chưa thuận lắm nhưng đã ừ hữ, bảo là còn cân nhắc.

Hôm nào mà đọc phải cái tin về cuộc họp giữa anh sản xuất dép tông mầu gan gà và mình mà có đoạn:

-Hai bên đã kết thúc cuộc hội đàm trên tinh thần tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau..

Thì lại phải cắt nghĩa:

-Nó nói, nó nghe.

Mình nói, mình nghe.

Nhưng còn được cái tốt là nó sẽ về xin ý kiến của Băng K.., còn mình thì sẽ còn phải thỉnh thị đường lối ở K5-Hồ Tây.

Còn sau khi gập anh bạn phương bắc mà thế này thì ban căng rồi:

-hai bên đã tiến hành trao đổi thẳng thắn.

Nhân dịp này chúng ta nhắc lại quan điểm a, vấn đề b, chủ trương c...

Lúc này thì đích thân xếp trưởng phải lên quán triệt:

-gay go rồi.

Các cụ nhà mình và nó đã đấm bàn và mẹc xà lù với nhau rồi.

Chắc vài hôm nữa sẽ có lệnh hạ tầu rời ụ xuống nước và tiến hành lắp lôi.

Thôi, giải tán về chuẩn bị.

Tình yêu của lính

Xin bác Trung sỹ và các bác cựu khác thể tất cho cô Thoáng và các em sau này về: cái sự nhớ không chuẩn- các áng cổ văn về tình cảm lứa đôi.

Thể tất bởi lẽ: cái nhu cầu tự nhiên của lứa đôi, cũng mới chỉ được "trển" cởi trói mới vài năm gần đây, chứ đã nhiều nhặn gì, mà bắt các em ấy thấu hiểu được cái sự "run rẩy" trong trái tim của người tráng sỹ miền viễn biên!!!

Em còn nhớ, các đấng chính uỷ bề trên vẫn căn dặn: mày thấy cứ cái gì dính dáng đến "chim xa tổ-lá xa cành" thì chém thẳng tay cho anh.!

Chính bởi vậy, thời chống Mỹ, có đắm say lắm thì cũng phải đợi cho đến khi: "Hôm nay trên đường, em ra chiến trường.." thì mới dám: "dừng chân tranh thủ, viết thư thăm anh".

Mà có dám nói gì đâu.

Toàn những là: "vụ mùa đẹp lắm..." vân vân và vân vân.

Mãi mới đến cái đoạn chủ chốt: "Còn em thì..." thì đã lại bị ông chính uỷ e hèm làm cho giật mình đánh thoách 1 cái: "ơ, em còn lên đường... hẹn ngày chiến thắng....".

Có cố lắm thì cũng chỉ dám bầy tỏ như ở chữ ký của bác Hạ sỹ Thọ: "ngày và đêm xuất kích, chờ nghe tiếng pháo...."

Thì mới dám chót dại mà mơ màng: "ngôi sao như mắt em.."

Chiến thắng rồi, thống nhất đất nước rồi, những tưởng sẽ được thoả chí tang bồng hơn.

Nhưng chớ vội.

Các chính uỷ vẫn còn đang hăng lắm.

Tuy nhiên, lớp chiến binh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc cũng hăng hơn.

Nhưng hăng hơn thì cũng chỉ dám rón rén, chờ đến khi có đủ điều kiện "cần" là: "mặt trận bình yên, anh lính về thăm phố" và thoả mãn điều kiện "đủ" là: "cô gái vừa tan ca".

Lúc đó mới dám dấm dúi ở tít tận: "cao-cao" và tận: "trong cửa sổ" thì mới có: "hai người-thơm nhau".

Chả như bây giờ.

Nơi tôn nghiêm như đại hội tổng kết của các cụ CCB, mà cái cô ca sỹ Minh Thu mặc như thể không mặc gì cứ xấn vào mời các cụ: "hầu mi nao, tạt mi nao" (hold me now, touch me now).

Lips sealed

Hầu với tạt gì nữa.

Lips sealed

Khi tên lửa sừng sững canh trời thì cứ: khoan-chờ thời cơ-kìm chế-kiên trì.!

Angry

Bây giờ thì ngư lôi đã rỉ sét, luôn ở tình trạng gãy gập, ":hầu" với "tạt" mà làm gì.

Đọc tâm tư của lính

Nghe chú fanruot_mu kể về quan hệ giữa cán bộ với chiến sỹ, mình thấy cứ hãi hãi.

Có thể có những chuyện đó, nhưng chắc chỉ có lúc, có nơi trong 1 vài đơn vị huấn luyện thôi.

Chứ ở đâu cũng thế, thì có mà....chết lính!

Về đơn vị cố định rồi, thì lính và quan cũng thường hiểu nhau lắm.

Anh cán nào mà chẳng phải hiểu: thần thiêng nhờ bộ hạ.

Mà sau này, mỗi khi có đợt anh em sắp ra quân, anh em thường hay tìm hiểu; sao đại trưởng tài thế, hồi anh em mới về đơn vị, thủ trưởng biết ngay là ai mới có người yêu, ai có vợ rồi.

Thực ra có biết xem bói cóc gì đâu, tất cả là do đọc được tâm lý mà thôi.

Khi mới về đơn vị mới, tân binh nào chẳng hay nhận được thư nhà.

Vì thế, cứ theo bì thư mà đoán tâm tình thôi.

Ví dụ như:

-Phong bì đề: em gái phương xa..., gửi anh xyz: đích thị là cô cậu mới cảm nhau hôm chia tay lên đưòng nhập ngũ, kịch kim thì mới chỉ có 1 cái nắm tay vội vàng.

-Em gái..., mến gửi anh abc: đôi này cũng mới chỉ đi chơi với nhau lớt phớt vài buổi.

- Mộng X, Mơ Y..., thương gửi anh def: đôi này mới vào giai đoạn thắm thiết đây.

-Người gửi: Cu Bi, Chó Cún...., người nhận: mno: thằng cu này nhận được thư vợ, chắc là lại chuyện thằng cu sài đẹn hay con gái ho khan đây.

Cứ thế, cán bộ nhìn bì thư là biết tâm tình.

Chẳng biết các cháu 8x, 9x bây giờ, bọn nó còn thể hiện tình cảm như thế không.

Yết kiến Võ Đại tướng

Là người dân Việt Nam, đặc biệt là với những người đã từng khoác áo lính, Võ Đại tướng luôn là thần tượng, bậc minh quân và là một danh tướng được hết mực kính yêu.

Có nhà thơ lính, hình như là Hữu Thỉnh, đã viết về ông, baoleo không nhớ chính xác, đại loại thế này:

Nếu sau này không còn hoa

Thì chúng con-những người từng khoác áo lính

Sẽ kết vòng lá nguỵ trang-làm bó hoa dâng Người

Chắc hẳn rất nhiều người mong muốn được gập gỡ và trò chuyện với Võ Đại tướng.

Ngay như ông cụ thân sinh của baoleo, lính chống Pháp, nhập ngũ từ năm 46, đến khi mất vẫn chưa toại nguyện là được trò chuyện với vị chỉ huy của mình thời Điện Biên.

Bản thân baoleo, những năm cuối của quân ngũ, đóng quân ở đoàn 22 Hạ Long, nơi có quả đồi được gọi là đồi cụ Giáp vì cụ hay đến ở.

Thế nhưng suốt đời quân ngũ của baoleo, cụ Giáp không quay lại chỗ đó nữa, vì thế baoleo không có vinh hạnh được phục vụ cụ.

Rồi ra quân, rồi về với đời thường làm phó thường dân.

Hy vọng được gập vị tướng lừng danh chỉ còn là ước muốn hão huyền.

Thế nhưng số phận luôn có những ngã rẽ bất ngờ.

Những năm 2000-2002, tổ chức quốc tế nơi baoleo làm việc, có dự án nghiên cứu cải tạo các hồ chứa nước nhỏ ở các tỉnh miền núi phia bắc.

Những năm đó, baoleo đánh võng Tây Bắc nhiều, ngang với cỡ "phượt đại gia" Cao Sơn.

Trong các tỉnh Tây Bắc, Điện Biên có khá nhiều hồ chứa nhỏ cần cải tạo, mà nhiều hồ lại liên quan dến di tích chiến thắng Điện Biên.

Thế là bọn tớ mới nẩy ra ý định xin được yết kiến Võ Đại tướng để xin ý kiến.

Baoleo được phân công chủ trì vụ này.

Và thế là bắt đầu: Gập ghềnh con đường tìm cách đăng ký gập Võ Đại tướng.

Gập gềnh con đường tìm cách đăng ký gập Đại tướng

Vốn là người tuân thủ: "sống và làm việc theo pháp luật", nên baoleo cứ "thẳng mực tầu" mà làm.

Nghĩ mình bây giờ thuộc "tổ chức nước ngoài", baoleo cho rằng: đăng ký gập Cụ là phải qua Cục Đối ngoại-Bộ Quốc phòng.

Nghĩ sao, làm vậy.

Baoleo tìm cách liên lạc với Cục Đối ngoại.

Sau rất nhiều căn vặn, trình bầy rằng thì- là -mà (cái gì của Quân đội cũng là MẬT hết), baoleo cũng có được cái hẹn với Cục.

Sau khi nghe trình bày 1 thôi, 1 hồi, tay trung tá ngồi ở văn phòng Cục mới thở hắt ra: Cụ Giáp bây giờ về hưu roài, Quân đội không chịu trách nhiệm gì nữa (bố láo thế Angry), ông tìm cửa khác đi.

Thế là lại từ đầu.

Quân đội không quản Cụ nữa, thì chắc là Trung Ương Đảng quản.

Nghĩ vậy baoleo lần đến Văn phòng BCH TW Đảng ở Nguyễn Cảnh Chân.

Cũng lại 1 hồi trình bầy và kính thưa, ông Châm trực Văn phòng thương tình phán: ờ, cụ ấy thuộc diện lão thành, nói ở đây quản cũng đúng, nhưng ở đây chỉ có trách nhiệm chuyển báo chí, thư từ cho cụ 1 tháng đôi lần thôi, bên đó có gì cứ viết công văn cho cụ, ở đây chuyển cho.

Khi nào có kết quả sẽ báo.

Thế là lại về.

Sau vài lần đến gặng hỏi kết quả, cái tay Châm ấy mới xì ra: ở đây không có trách nhiệm xếp lịch cho các cụ lão thành.

Tìm cửa khác đê.

Angry

Thế là lại công cốc.

Trong cơn buồn vì thất bại, bản chất lính binh nhì của baoleo trỗi dậy.

Baoleo cho rằng: các cơ quan do quan liêu mà từ chối, thì ta xông thẳng vào dinh của Cụ xem sao.

Liều mình vì chẳng có gì để mất, chọn 1 ngày đẹp trời, baoleo cân đai áo mão, xe cắm cờ quốc tế, baoleo lao thẳng vào dinh của Cụ.

Không còn bảo vệ, nhưng nhà Cụ vẫn còn đủ tam bộ do quân đội cung cấp gồm; cậu cảnh vệ, cậu công vụ, cậu quân y sỹ.

Cậu bảo vệ lừ mắt: đi đâu.

Tớ cũng lạnh như tiền mà rằng: cho gập bí thư của đại tướng. (Mở ngoặc cái: chỉ là dân trong nghề như mình-cựu lính đoàn 22-thì mới biết danh xưng của thư ký là bí thư).

Biết va phải đội rắn, cậu ấy cho tớ vào phòng khách chính giữa nhà ngồi chờ (sau này mới biết: khách vãng lai thì ngồi gian chính, khách có hẹn trước thì ngồi ở nhà ngang, khách thân tình thì..tớ không biết).

Được 1 lúc, cụ Huân "già", đại tá, bí thư thân tín của cụ Giáp vào.

Tớ bèn vất mẹ nó cái mác "tổ chức nước ngoài" đi, mà cứ thật tình kể lể.

Rằng cháu từng là lính ở đâu..

ở đâu, nay làm ở.....

Do có việc xyz, cháu và mấy anh bạn nước ngoài muốn xin gập đại tướng để thế lọ, thế chai.

Cụ Huân "già" (người tóc bạc vẫn đứng sau Đại tướng trong các ảnh chụp) thủng chuyện, bèn phúc từ: ờ nhưng dạo này Đại tướng không được khoẻ, và bận lắm.

Nhưng ta sẽ nhận giúp cháu-cựu lính của Đại tướng ngày xưa.

Tớ chẳng còn gì để rằng thì là mà.

Tiếp đó, cụ Huân "già" cho gọi đại tá Huân "trẻ", có mác là trợ lý vào nghe trình bày và xếp lịch.

Tớ nhẩy chân sáo ra về và chờ đợi.

Sau cái ngày đại cát, gập được cụ Huân "già" bí thư, tớ còn đến dinh cụ Giáp đâu như 1 hoặc 2 lần nữa.

Lúc thì gập cụ Huân "già", lúc thì gập ông Huân "trẻ", để nắn chỉnh mục đích cuộc gập và tìm hiểu bọn tớ là ai.

Sau cùng, ông Huân "trẻ" chốt lại: thôi, thế là ổn roài, chú mày cứ về chờ điện của "văn phòng Đại tướng".

Rồi công việc và sự mưu sinh ở đời cứ cuốn tớ ra khỏi Hà Nội.

Một hôm, vào dịp nghỉ lễ 30/4/2004, lúc ấy tớ đang ở biên giới Tây Nam, làm tiền khả thi cho dự án các cầu nông thôn biên giới, thì nhận được điện của "văn phòng Đại tướng".

Cụ Huân "già" thông báo: ô kia, Đại tướng đã nhận lời cho cháu yết kiến, sáng 2/5 nhé.

Tớ tức khắc vất mẹ nó cái tiền khả thi ấy lại, tức tốc bay ra Hà Nội.

Mấy thằng nước ngoài trước hăng là thế, nay biết tin sẽ được chính thức yết kiến Đại tướng thì ngây ra như phỗng vì hãi.

Các cu cậu sợ co vòi vì chưa bao giờ nghĩ là sẽ được gập danh tướng thế giới.

Tiếp đến là cả bọn tranh nhau đi.

Tớ thấy không ổn bèn comment: chúng mày cử đại diện thôi, đấy là dinh thự thâm nghiêm của Bộ Quốc phòng, không lộn xộn được.

Chốt lại là 1 thằng trẻ nhất, có nhiều cống hiến và tớ sẽ vào chầu triều.

Sáng 2/5, đúng 9:15 theo như được hẹn, bọn tớ đến dinh của Cụ.

Lần này đích thân ông Huân "trẻ" ra cửa đón (cụ Huân "già" hôm đó nghỉ).

Ông Huân "trẻ" dẫn cả bọn xuống nhà ngang, cạnh toà biệt thự chính.

Ngôi nhà ngang này rộng khoảng 3 gian, để trống không có vách ngăn.

Bốn bức tường kín đặc các bức trướng của cơ man tổ chức, cá nhân chúc tụng Đại tướng nhân các loại dịp.

Ở gian hồi, có kê 1 cái bàn to như bàn họp giao ban tiểu đoàn, mấy cái ghế đơn sơ, trên mặt bàn không có trưng bày gì hết.

Ông Huân "trẻ" giảng giải: tí nữa Đại tướng xuống, Đại tướng sẽ ngồi chỗ này, các cậu ngồi chỗ này, còn bọn tớ ngồi chỗ này.

Cái "bọn tớ" của ông Huân "trẻ" bao gồm: đại tá Huân, thiếu uý quân y sỹ, cậu công vụ mũ đeo sao nhưng vai không đeo quân hàm, anh Võ Điện Biên-con trai đại tướng và 2 ông nữa mình không biết vì chưa được gập bao giờ.

Anh Biên bật máy ghi âm, một ông lạ hoắc bật máy ghi âm thứ 2, một ông lạ cầm máy ảnh chọn góc, đại tá Huân cũng cầm máy ảnh, anh Biên cũng cầm máy ảnh, còn cậu quân y sỹ cầm máy ảnh bọn tớ nhờ.

Sau khi an vị, ông Huân "trẻ" thông báo: các cậu chỉ có 10 phút, các cậu là đoàn đầu tiên, sau các cậu còn nhiều đoàn lắm.

Bây giờ để tớ đi mời Đại tướng.

Đại tướng xuất hiện, dáng Cụ đi chậm rãi nhưng còn vững chãi lắm.

Nhìn thấy bọn tớ, Cụ hồ hởi ngay: chào các bạn.

Đại tướng bắt tay bọn tớ, bàn tay Đại tướng nóng ấm, bàn tay của típ người sống nặng về tình.

Ông Huân "trẻ" đỡ lời:

Báo cáo Đại tướng, đây là...

đến để.... như đã báo cáo trước với đại tướng ạh.

Đại tướng hiền từ: wel,..

Bọn tớ kính thăm sức khoẻ Đại tướng và nói vắn tắt công việc đang làm.

Đại tướng khoan dung: được như vậy là tốt lắm.

Đúng lúc ấy, anh Biên -con trai Đại tướng ra hiệu: hết giờ.

Angry

Đại tướng ngạc nhiên: nhanh quá nhỉ.

Bọn tớ liền vất mẹ nó việc bẩm báo cái công việc chết dẫm ấy lại, nó chỉ là cái cớ.

Còn mục đính chính là có dịp yết kiến Đại tướng tận mắt, được dịp kính chúc Đại tướng khoẻ.

Thằng cu kia và tớ tranh nhau mở máy.

Thằng cu kia bập bẹ tiếng Pháp, tớ vất ngay cái tiếng Anh giả cầy đi.

Hai thằng tranh nhau kể nỗi niềm ngưỡng mộ đại tướng từ khi còn mặc quần thủng đít.

Đại tướng rất hiền từ, ân cần hỏi thăm sức khoẻ và gia cảnh thằng cu kia, động viên nó học tiếng Việt.

Còn tớ được Đại tướng ban cho nụ cười khoan dung khi biết cả nhà tớ: bố tớ, tớ, em trai tớ đều là lính của Cụ.

Ông Huyên "trẻ" ra hiệu, anh Biên xua tay, nhưng bọn tớ giả điếc, Đại tướng chưa đuổi, tớ còn lỳ.

Cuối cùng, Đại tướng đúng dậy: thôi, tạm biệt các bạn.

Khi nào có thời gian, cứ ghé lại thăm mình.

Bọn tớ bẩm vâng.

Nhưng biết đến bao giờ.

Thuộc ngữ trong lính

Trong quân ngũ, có những ngôn từ mà em chẳng bao giờ thấy xuất hiện trong đời thường.

Tỷ dụ như: quán triệt, đứng trên mặt, nâng quan điểm, v.v....

Mong các bác bổ xung thêm cho phong phú ngôn ngữ lính.

Em xin dẫn vài ví dụ;

Đứng trên mặt....

Trong lính, đặc biệt là trong thời huấn luyện tân binh, việc được nghe giáo huấn trước khi dùng bữa trưa và bữa tối là chuyện thường ngày của lính.

Thường là thế này:

Tay trực ban nội vụ hô: .....đội- 6 hàng ngang- tập hợp!

Sau khi các chú tân binh hợp cạ cùng mâm đã xếp xong mỗi mâm 6 thành 1 hàng ngang rồi.

Tay trực ban bắt đầu diễn thuyết: "đứng trên mặt" quan điểm giai cấp vô sản, đồng chí A tự tiện tóp ống quần là không được.

Hoặc là: "đứng trên mặt" quan điểm luyến ái cách mạng, đồng chí B đá lông nheo với cô X bán bánh rán là không được.

Vân vân và vân vân.

Nhưng cũng có hôm thứ 7, bức xúc về công tác vệ sinh, vị trực ban hăng tiết: "đứng trên mặt" hố xí vệ sinh mà xét, tổ tam tam của đồng chí C làm chưa sạch.

Thôi- thường bước vào ăn cơm- Hàng thứ nhất-tiến.

Hàng thứ...

Nâng quan điểm.

Câu dọa mà lính sợ nhất và cũng là câu cửa miệng của cán bộ bao giờ cũng là: cậu muốn tớ nâng quan điểm hả, hoặc ban ơn: tớ mà nâng quan điểm là cậu chết đấy nhé.

Thế nâng quan điểm là như thế nào.

Ví dụ về tầu lá chuối có thể làm tan vỡ hoà bình thế giới nhé:

Chẳng là binh nhì D, chót dại vơ 1 tầu lá chuối ngoài ý muốn chủ quan Grin của chủ nhà dân để che mưa.

Ông thủ trưởng-phụ trách về chính trị của a, của b quá lắm là của c sẽ nâng quan điểm thế này:

- Cậu lấy trộm tầu lá chuối, như vậy là làm sứt mẻ tình quân-dân.

Mà tình quân dân bị sứt mẻ, ắt xẩy ra xung đột.

- Mà đã xẩy ra xung đột, thì đã là chuyển từ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân thành mâu thuẫn đối kháng giai cấp roài.

Lúc ấy, bọn đế quốc và phản động quốc tế sẽ nhân cơ hội đó mà nhẩy vào.

- Mà ta thì lại là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, lẽ nào khối Vác Xô Vi ngồi yên.

- Thế là khối Na To và Vác choảng nhau.

Mà đã choảng nhau đến mức ấy thì bom nguyên tử có ai xá gì.

Hoà bình của toàn nhân loại bỗng chốc tiêu tan.

- Mà nguyên nhân thì do đâu, do mỗi cái việc cậu lấy trộm tầu lá chuối của dân.

Nghe đến đấy thì cứng rắn như xếp d (phạm huý-tự kiểm duyệt) Grin cũng phải nhũn như con chi chi, để rồi tự nguyện cuốc đất thay cho cả đại đội chứ chả chơi.

Quán triệt.

Quán triệt được dùng mọi lúc, mọi nơi.

Tỷ như:

-Cậu đã quán triệt anh em ngày mai xuống đánh xoong chảo giúp anh nuôi chưa?

Dạ, em đã quán triệt hết rồi.

Hoặc,

-Cái máy phát điện này tuy hết xăng, nhưng cậu vẫn phải chạy máy để lấy điện đọc báo, cậu đã quán triệt chưa?

Dạ, em xin quán triệt.

Thậm trí trước khi về phép,

-Lần này về nhớ đẻ thằng cu, quán triệt thế nhé.

Đôi khi họp đơn vị, vị đáng kính hắng giọng:

- Hôm nay quán triệt tới các đồng chí rằng: tình hình thế giới chưa có biến động lớn.

Quán triệt thế để các đồng chí quán triệt.

Khi nào có quán triệt mới, sẽ quán triệt tiếp.

Các đồng chí đã quán triệt cả chưa?

Ở đơn vị tớ, từ quán triệt còn được nâng lên 1 tầm cao mới, đó là: thấu triệt.

Mà đến bây h, về làm dân ba chục năm rồi, tớ vẫn chưa thủng thấu đáo: quán triệt nghĩa là giề.

Đạo diễn

Lính lác góp hay sửa sai với thủ trưởng một việc chi đó, liền bị phán: "Đồng chí đạo diễn tôi đấy à?"

Chuyện bên lề:

- Chuyện 1: Lội sông

Chuyện xảy ra ở một con sông, vào những năm chống Mỹ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Rất tiếc tôi không còn nhớ tên con sông này, vì sông ở đây thì bạt ngàn chằng chịt, mà chúng tôi từ miền Bắc vào, cũng chỉ đi qua con sống này có một lần.

Đoàn tân binh quê ở Thái Bình chúng tôi, hầu hết con rất trẻ chỉ từ 18- 20 tuổi, vừa rời ghế nhà trường, nhập ngũ, huấn luyện vài tháng rồi đi B ngay, chưa được tiếp xúc với người miền Nam bao giờ.

Đến Trường Sơn, đoàn chúng tôi một số được bổ sung xuống vùng đồng bằng sông Cưủ Long.

Một đêm, vào cuối tháng, trời tối đen như mực, đoàn phải vượt qua những vùng gần đồn địch, để đi sâu xuống vùng đồng bằng.

Các đồng chí giao liên dẫn đường và người địa phương, rất nhiệt tình, còn rất trẻ, thông thạo địa bàn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm.

Lệnh từ đầu hàng truyền xuống: "Chuẩn bị lội sông!"

Vì bảo đảm im lặng, lệnh chỉ được rỉ tai nhau cho đến hất hàng quân.

Chung tôi thì thầm với nhau.

"Lội" thì có gì ghê gớm vậy.

Khi đến bờ sông, trời quá tối, chỉ là một màn đêm dày đặc, người nọ nối tiếp người kia xuống sông, không phát ra một tiếng động vì rất gần địch.

Do dòng sông hình chảo, lúc đầu nông, sau cứ sâu dần, sâu dần, ra đến giữa thì quá sâu, chúng tôi không còn thời gian chuẩn bị nữa, thế là cứ dìm mình xuống nước.

Là con em của vùng sông nước đồng bằng Bắc Bộ, cho nên chúng tôi cũng bơi được sang bên kia sông, nhưng quần áo, ba lô, súng đạn, lương thực, thực phẩm thì ướt hết.

Đến nơi tập kết, sáng sớm hôm sau họp rút kinh nghiệm cho chặng đường tiếp theo:

Các đồng chí giao liên phát biểu:

Đề nghị kỷ luật các đồng chí tân binh, vì đã truyền lệnh chuẩn bị "lội" sông mà anh em không chuẩn bị gì cả, không lấy bọc ni lông và phương tiện lội sông, chủ quan ảnh hưởng đến tiến độ hành quân và tí nữa là tổn thất không đáng có.

Các chiến sĩ tân binh phát biểu:

Đề nghị kỷ luật các đồng chí giao liên vì không nắm chắc địa bàn, sông sâu như thế mà chỉ thông báo là "lội" sông.

Chúng tôi nghĩ sông đã cạn hết nước.

May mà chúng tôi là con em của sông nước "bơi" được qua sông, nếu không là bỏ mình ở dòng sông đó rồi, hoặc làm lộ mục tiêu cho địch.

Lúc ấy mọi người mới vỡ lẽ và nhìn nhau cười chảy nước mắt.

Grin Chữ "lội" ở miền Nam có nghĩa là "bơi" ở miền Bắc.

Còn chứ "lội" ở miền Bắc hiểu là chỉ đi qua chỗ nước sâu trên dưới đầu gối.

- Chuyện 2: Sau khi chuyển khỏi fB13, tớ về một đơn vị vận tải biển.

Thời gian ở đơn vị này tớ đi khắp nước, ra cả TS, sang cả K, cũng gặp lắm chuyện bi hài nhưng đấy lại là chuyện khác Grin

Lại nói, tớ vác ba lô về đơn vị mới sau khi nằm viện 105 ba tháng vì bị sốt rét.

Mới ra viện, lại được ông bà già tẩm bổ nên tớ béo trắng nhìn cũng tạm được (chứ không kinh như bây giờ Grin).

Cái đơn vị tớ về nhận công tác cũng ối lính nữ: nuôi quân, cơ yếu, thông tin, hành chính, văn thư...dễ có đến trung đội ấy.

Mà chết cái lại đa phần là lính nghĩa vụ.

Lính nghĩa vụ thì 9h tối CN là phải điểm danh, cái việc tập hợp lính để điểm danh là của trực ban nội vụ Lữ đoàn.

Tớ về đơn vị mới được 1 tháng thì dính quả trực ban ngày CN.

Trong 1 tháng ấy tớ chưa kịp biết tên em nào, cơ bản là tại tớ nhát gái và cũng không được dẻo mỏ như Cao Sơn - viết đến đoạn này mà ghen tị với lão quá đi!

Grin

À, quên mất cái đoạn là hồi ấy cả Lữ đoàn có nhõn cái tivi, mà tối CN lại là tối có phim truyện, hồi ấy đang ầm ĩ về cái phim Nô tì Isaura hay Người giàu cũng khóc nhỉ, chả nhớ nữa, nhưng tóm lại là phim thuộc dạng hot.

Tối CN, các cô lính tập trung ráo trên hội trường để xem phim, bàn cãi, buôn dưa, thương cô kia, thích anh này cứ gọi là chí chóe!

Grin

Từ trước đến khi tớ trực ban, việc điểm danh chỉ là lấy lệ nên các cô nàng cũng chỉ chấp hành lấy lệ, tâm trí còn để cả trên hội trường cơ.

Tối hôm ấy, đúng 9h kém 5 tớ quân phục chỉnh tề, cầm còi dạo 1 vòng sân.

Kim đồng hồ chỉ đúng 9h, tớ mới rít 1 hồi còi dài dằng dặc như còi tàu ga Hàng Cỏ.

Chờ nhá, đến 5, 6 phút sau mới thấy lục tục, vừa đi vừa nói chuyện, xô đẩy, cấu chí nhau một dây các cô, các chú lính kéo nhau từ trên tầng 2 xuống.

Hô tập hợp xong tớ mới nhìn 4 hàng quân, úi giời ơi, các chú còn đỡ chứ các cô thì...cô thì áo quân phục quần hoa, cô thì quần áo quân phục nhưng đi dép lê, có cô còn dũng cảm hơn óanh nguyên cả bộ...lửng Grin

Vốn đã bực vì phải chờ, lại còn nguyên cái cứng nhắc của chú thiếu úy trẻ măng, thêm nóng máu vì 3 tháng nằm viện bẹp như con gián (chuyên bị các em trường trung cấp QY lấy ra làm đề tài thực tâp) nên tớ mới nghĩ ra cái trò thế này.

Cả cái danh sách chiến sĩ khoảng trên 50 cô chú, tớ điểm danh các chú trước, hết là cho các chú về.

Để riêng cái đám má hồng lại (còn khoảng hơn hai chục), tớ mới đọc tên từng em một.

- Binh nhất Nguyễn Hồng A

- Có.

- Đồng chí ra khỏi hàng!

Chờ cô bé ra khỏi hàng tớ mới nhìn một lượt từ đầu xuống chân, cô này mũ không có, áo quân phục, quần hoa hả?

- Đồng chí ăn mặc sai tác phong.

Tôi cho đồng chí về nhà ở chỉnh đốn lại trang phục, sau đó quay lại đây để báo cáo.

Hì, cứ em này về ăn mặc, đội mũ, quân hàm nghiêm chỉnh ra, kiểm tra xong tớ mới cho em khác về.

Cứ lần lượt thế hết hơn 20 cô, tớ ghi tên mình vào kỷ lục của Lữ đoàn dưới mục Buổi điểm danh dài nhất trong lịch sử.

Grin

Lạ nhé, lúc đầu các cô nàng còn rúc rích, thì thầm sau cái cô đầu tiên thì im phăng phắc đứng nghiêm cho muỗi đốt, có cô khẽ gãi là liền bị các cô bên cạnh suỵt cho 1 cái và lườm rách khóe mắt Wink

Sau cái tối CN đáng nhớ ấy, các cô bé chuẩn bị điểm danh là ăn mặc cứ như sắp đi chụp ảnh minh họa cho Điều lệnh quản lý bộ đội vậy!

Tớ thì biết tên tuốt tuột các em, biết cô này xinh, cô kia kháu, cô nọ mũm mĩm, cô kia mảnh mai...

Grin Đổi lại, tớ bị các em chuyển từ tò mò (ma mới mà) sang ghét thậm tệ Angry sau lưng mình các cô bé toàn gọi bằng "lão".

Grin

Nói thế thôi, cũng có cô bị ấn tượng về cái vụ đó, sau lại càng tò mò muốn tìm hiểu mình hơn và, và...cô ả cũng bị mình "tìm hiểu" lại Grin nhưng đấy thì lại là chuyện khác mất rồi!

Chuyện 3: Người chiến sĩ bốn lần truy điệu - vẫn sống!

Giá như năm ngoái không có chuyện một đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh Hải quân tìm về làng chài Cửa Vạn (TP Hạ Long- Quảng Ninh) để gặp một đồng đội cũ, thì cả cái làng chài trôi nổi trên cửa biển cách đất liền ngót 30 cây số này chẳng ai biết làng mình có một chiến sĩ của "Đoàn tàu không số", anh hùng, người đã 4 lần truy điệu sống trước giờ xuất phát chở hàng vào Nam theo "Đường Hồ Chí MInh trên biển".

Người chiến sĩ ấy là anh Nguyễn Tài Lộc, 57 tuổi, ngư dân của làng chài Cửa Vạn bây giờ...

Quê gốc ở Cốc Thành - Vụ Bản (Nam Định) nhưng sinh ra và lớn lên ở "bán đảo" Hùng Thắng (Hòn Gai- Quảng Ninh) nên Nguyễn Tài Lộc thông thạo sông nước từ hồi còn bé.

Ngày 2- 2- 1964, chàng trai 20 tuổi Nguyễn Tài Lộc tình nguyện đi bộ đội và trở thành chiến sĩ hải quân thuộc Lữ đoàn 125.

Sau một thời gian huấn luyện, anh cùng 16 tân binh khác được điều về "Đoàn tàu không số" tiếp tục huấn luyện và học tập, chuẩn bị cho những chuyến đi âm thầm, quả cảm...

Để giữ bí mật, trước khi lên đường, tất cả chiến sĩ cảm tử trên tàu đều không được về thăm nhà, thăm hỏi, chia tay người thân, không được tiếp xúc với bên ngoài.

Tất cả giấy tờ, tài liệu liên quan đến cá nhân và đơn vị đều phải để lại cho tổ chức, không được mang lên tàu.

Trước giờ xuất phát, đơn vị tổ chức lễ truy điệu cho tất cả thuỷ thủ.

Các chiến sĩ được quan triệt: Không để người và hàng rơi vào tay địch.

Không để lộ bí mật con đường vận tải chiến lược.

Thuốc nổ được gài ở các khoang, các vị trí quan trọng để khi bất trắc có thể phải huỷ tàu để xoá dấu vết.

Anh Lộc nhớ lại: "Chuyến đầu tiên, lênh đênh trên biển 42 ngày, con tàu "không số" mang theo 400 tấn vũ khí cùng 17 chiến sĩ cảm tử tuổi đời mới đôi mươi.

Bao nhiêu chặng kiểm soát địch, tàu ta đều mưu trí vượt qua hết để cập bến an toàn trong sự phấn khởi, vui mừng của chiến sĩ đồng bào Bến Tre.

Rồi chuyến thứ hai (10- 1964), thứ ba (10- 1966) cũng được thực hiện suôn se.

Lúc này địch đã lờ mờ biết được ta có một đường vận chuyển vũ khí mới.

Chúng tăng cường tuần tra trên mọi con đường, trong đó có con đường trên biển.

Trước chuyến đi thứ tư (7- 1967), đã có những đồng đội của Lộc trong "Đoàn tàu không số" hy sinh.

Nhưng sự mất mát ấy không làm lung lay tin thần chiến sĩ, ngược laị, họ càng quyết tâm hơn.

400 tấn vũ khí đã được đưa lên tàu và các anh đã được truy điệu lần thứ tư.

Tàu nhổ neo, xuất bến theo đúng hành trình...

Khi tàu tiến vào vùng biển Quảng Ngãi thì gặp sóng to, gió lớn không thể đi tiếp được.

Thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng lệnh cho tàu dạt vào Bình Sơn- Sơn Tịnh để tránh gió và con tàu đã bị địch phát hiện.

Hàng chục tàu chiến, máy bay địch vây quần, bu chặt chiếc tàu của các anh.

Thuyền trưởng Thắng ra lệnh cho các chiến sĩ phải rời khỏi tàu, chỉ để lại tổ cảm tử gồm thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng, chính trị viên Vũ Đức Tuấn và pháo thủ, thượng sỹ Nguyễn Tài Lộc.

Nguyễn Tài Lộc nhớ như in giây phút đó: "Chúng tôi nhìn nhau, ánh mắt như nói lời vĩnh biệt.

Một chiếc tàu cao tốc của địch lao nhanh về hướng tàu chúng tôi.

Quanh người tôi lúc đó có cả súng B40, DKZ82 và DKZ75.

Đợi tàu địch vào gần, tôi nổ súng làm tàu địch nổ tung.

Cac tàu khác lập tức co cụm lại.

Lợi dụng cơ hội này, thuyền trưởng ra lệnh cho cả ba người cùng rời tàu..."

Lộc cùng anh em bơi vào bờ thì cũng là lúc nghe sau lưng mình một tiếng nổ long trời, con tàu với trên 400 tấn vũ khí của ta nổ tung.

Lộc bị cột sóng và sức ép của khối thuốc hàng trăm tấn trên tàu hất lên cao rồi rơi vào một khoảng không vô tận.

Rất may, các chiến sĩ giải phóng Quảng Ngãi chờ đón vũ khí đã kịp thời tiếp ứng, cứu các anh và đưa về căn cứ điều trị.

Sau chuyến đi này, sức khoẻ của Nguyễn Tài Lộc không đảm bảo để thực hiện những chuyến đi tiếp theo.

Chỉ huy đồng ý cho anh xuất ngũ và đi điều dưỡng 3 năm.

Trở về với vùng biển Quảng Ninh, anh lấy vợ, sinh con và tiếp tục chài lưới.

Không có đất, người chiến sĩ cảm tử năm xưa chỉ có con thuyền nhỏ vừa là ngôi nhà che mưa, che nắng, vừa là phương tiện đánh bắt cá.

Ngoài việc chài lưới, Nguyễn Tài Lộc còn là chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh và là thành viên Ban an ninh làng chài Cửa Vạn..

- Chuyện 4: Lại nói về lính thời bình và công tác giáo dục trính chị tư tưởng!

Em xin góp vui hai chuyện:

1/ Năm 2004, em đi tàu từ Hải Phòng về Hà Nội, khi ấy sắp Tết, 27 thì phải, chuyến em đi là chuyến 7h tối, tàu vắng ngơ vắng ngắt!

Ngồi buồn buồn em mới đi dọc toa xem có cạ để buôn dưa không Grin

May quá, thấy một cậu lính - chắc là nghĩa vụ - trẻ măng đang ngồi nhìn qua cửa sổ!

Nhìn sắc phục ve hiệu - lính tên lửa phòng không.

Gì chứ nhìn thấy bộ đội hay gặp cựu binh là khoái roài!

Cheesy

Ghé vào buôn bán, Ku em cho biết : Quê Hải Dương, sinh 1984 ( 8x nhá ) về phép rồi, giờ lên đơn vị trực Tết, đóng ở Thuỵ Phương.

Hai anh em nói chuyện một lúc thì rôm rả lắm, khà khà!

Hồi năm 2004, Iraq vừa bị hấp diêm tơi tả xong.

Trong câu chuyện, em hỏi cậu lính và cậu ấy trả lời, vui, vô tư và cực kỳ đơn giản :

- Giờ mà Mỹ tẩn thì có sợ không ?

- Sợ chứ .. hì hì

- Thế có dám bám trận địa mà đánh không ?

- ơ, có chứ

- Không sợ chết à ?

- Sợ chứ!

Chết thì ai chả sợ

- Thế sao vẫn dám đánh hả em ?

- ơ!

Thế mình không đánh thì ai đánh, nó mà vào thì bố mẹ mình đánh à ?

Vậy đấy, em không dám nhận xét là kiêu bạc hay không, nhưng em nghĩ cái câu trả lời vô tư, đơn giản như lẽ sống ấy nó luôn chảy trong huyết quản mỗi con người, nhất là đàn ông con zai.

Hầu hết những chương trình, nội dung giáo dục trính chị tư tưởng lại dường như quá cao siêu, chẳng gần gũi giản đơn như thế.

2/ Em làm công tác Đoàn, một số lần tổ chức cho anh em đoàn viên - trong đó có cả đoàn viên rất trẻ - đi thăm chốt, thăm biên giới hoặc đoàn công tác đi lên những vùng đó Nghe qua thì bản thân em cũng thấy nó hơi " hình thức" một tí, trong bụng cũng nghĩ là mấy em 8x cuối này - kính Police, áo Guccci, thắt lưng YSL ...

đi cho nó có hứng thú với có kỷ luật cơ quan.

Thế nhưng, khi đến những địa danh như : cột mốc đầu tiên - km0, cột mốc cực Bắc, cực Đông, ngã ba Đông dương ...

Có không ít những " hàng hiệu " trầm ngâm, một mình ra sờ tay, thậm chí em đã không tin ở mắt mình : Một chú 86, pull, jean ngon lành, lén chờ lúc anh em không để ý, cúi xuống hôn lên cột mốc biên giới!

Tất nhiên, những cậu như trên không nhiều - ít lắm - nhưng vẫn có đấy các Bác ạ

- Chuyện 5: Tình quân dân

Cái tình tiền tuyến hậu phương nghe có vẻ xa xôi và như là chỉ có ở thời kháng chiến chống Mỹ.

Đến năm em đi lính thì hình ảnh người lính cụ Hồ đã xấu lắm trong con mắt mọi người.

Năm 89, em ở biên giới về bắt xe thẳng đến nhà cậu bạn đã hy sinh.

Giờ em không nhớ làng xóm thế nào, nhưng hồi đó em xuống xe ở ngã ba Xuân mai rồi đi bộ.

Em cũng không ngờ là phải đi bộ xa và ngoắt ngoéo thế, vừa đi vừa hỏi đường.

Khoảng 6h chiều, lúc ấy nắng cũng bắt đầu tắt, trời chạng vạng tối, em lại tạt vào một nhà dân để hỏi đường và xin ngụm nước mưa.

Chủ nhà là một người phụ nữ khoảng ngoài 40 tuổi.

Cô ấy bảo: "Từ đây đến chỗ chú hỏi còn phải đi bộ chừng 2 tiếng nữa đấy.

Đến bữa rồi, chú ở lại ăn cơm đã rồi hãy đi".

Bữa cơm hôm ấy chỉ có một ít tép kho, dưa cà, canh rau muống.

Bọn trẻ nhà cô chủ nhà cứ động đũa vào đĩa tép là bị cô ấy gạt ra rồi cẩn thận hơn, cô ấy đổ cả đĩa tép vào bát em cho bọn trẻ khỏi hấp háy.

Tất nhiên em làm sao mà ăn nổi trong hoàn cảnh như thế.

Một bữa cơm ăn chực nhà dân, nếu thời chống Mỹ thì là chuyện vặt, nhưng thời 8X của anh em mình, thì thật là quí hoá.

Nhất là anh em mình đã từng bị nhân dân ném đá khi xe đi qua bắt đầu từ địa phận Hàm yên.

- chuyện 6: chuyện bố lên thăm con mà bị gọi đi gác là có thật 100%,tôi dám khẳng định như thế vì nó xãy ra ở trung đội tân binh cũa tôi vào tháng 1/79.Năm đó sư đòan huấn luyện tân binh 477 QK7 đóng tại phú mỹ Bà Rịa vũng tàu.nhận tân binh quê ở long an,tây ninh,TPHCM.Cán bộ khung từ cấp AT trở lên đều là các bác người bắc, ở B tôi có thằng bạn tên Khương quê ở Thũ thừa Long an là con nhà khá giã, nhà có mấy lò đường kết tinh thủ công.Nó nhập ngũ mà như công tử vậy đó tuần nào ông bà già cũng lên thăm và tiếp tế cho nên nó chảnh lắm không ăn cơm ở bếp đại táo(nói cơm chi óach chứ thực ra chỉ có cao lương, bột mì và nước muối mà thôi).chiều thứ 6 là ông già nó lên ở tới sáng thứ 2 về tiểu đòan có nhà khách nhưng ông không chịu ngủ ông năn nỉ anh Bt cho ông ngũ chung với thằng Khuơng.B tân binh nên quân số đông tới mấy chục, ca gác bắt đầu lúc 9h-5h sáng mổi ca 1 người gác có súng nhưng không có đạn nhiệm vụ gác tuấn tra chung quanh nhà cũa B mà thôi,tuổi trẻ 18-19 nên sức ăn sức ngủ dử lắm.Đêm đó thằng Khương gác từ 1h-2h thằng Ân quê Cần giuộc long an gác trước từ 12h-1h, sau khi ngó trời, ngắm sao càycanh giờ ,nó mò vào giường kêu thằng Khương dậy đổi gác, thay gì kêu thằng K dậy rồi bàn giao gác đúng điều lệnh thì nó chỉ thò tay vô mùng nắm lấy chân thằng K mà giựt giựt miệng kêu ê..ê K dậy gác mầy( không ngờ nó nắm nhằm chân ông già) ông già ngạc nhiên hỏi lại'' bộ tôi cũng gác nữa sao..'' thằng Ân nghe thế quát lại'' bộ mầy là ông nội tao à mà không gác'', nói xong nó dựng khẩu súng ở mép giường rồi te te đi ngủ.Ông cụ tính kêu thằng K dậy nhưng thấy con ngũ say quá nên không kêu, phần ông nghĩ chắc mình ngủ trong B nên phải gác đây, ông lọ mọ cấm cây súng ra đầu hồi nhà ngồi mà không dám nhúc nhích, còn cây súng thì ông dựng sát vách nhà chứ không dám ôm...đêm hôm đó may cho ông là khỏang 4h có anh BT đi kiểm tra gác gặp ông đang gác hỏi rỏ sự tình.

BT húyt còi báo động tòan B thức dậy tập hợp,sạt cho 1 trận ,cho tới giờ kẻng đánhbáo thứcthể dục mới thôi, bọn tôi cứ ôm bụng mà cười.Buổi trưa tới giờ nghỉ ông già mới thủng thẳng nói rằng'' bác già rồi ngũ không bao nhiêu bác sẳn sàng gác cho các cháu ngũ nhưng các cháu canh sao cày, sao vua gì mà dở ẹt, kêu bác dậy gác lúc 1h gì mà bác ngó đồng hồ mới có 11h50' hà''.Chuyện nầy chúng tôi lưu truyền mải cho tới lúc sang tới bên K

- Chuyện 7: Là lính thì ai cũng biết cái quần đùi dây rút .

Cái quần này tụi em rất ghét vì mỗi lần có nhu cầu phải mở rồi thắt , nhất là khi tắm ướt hoặc bị Tào Tháo rượt thì chỉ muốn chưởi thề.

Sang K cũng được phát loại quần này .

Đứa nào có tiền thì mua quần khác mặt , không tiền thì phải chịu mặc nó vì dù sao cũng đỡ hơn là để thằng nhỏ long nhong trong cái quần ngoài vốn đã rộng thùng thình .

Ôi cái cảm giác khi thằng cha xung phong thằng con cũng lon ton chạy theo khiếp lắm các bác ạ .

Đó là chưa kể những lúc đang nghiêm chỉnh với cô gái đẹp nào đó thì nó nổi hứng cười theo , lúc đó phải ngồi thụp xuống tìm cọng cỏ ráy lỗ tai ..Trăm thứ phức tạp nên không thể không mặc nó .

Chính vì vậy dù ghét nó nhưng vẫn rất cần vậy mà thỉnh thoảng phơi đồ vẫn bị mất mới đau chứ .

Lính thì không lấy đồ của nhau , dân thì lấy cái của nợ này làm gì ?

Bọn em cứ thắc mắc mãi cho đến 1 hôm thì bí mật được giải đáp ...

Lần đó sau khi tác chiến trong rừng cả tuần lễ thì D cho phép các C được vào phum tắm rửa nghỉ ngơi để sáng hôm sau hành quân tiếp .

C bọn em được chỉ định vào 1 phum nhỏ giữa rừng .

Buổi sáng sau khi vận d0ộng vào phum xong không có nổ súng , các B đang bố trí đội hình thì địch ngoài rừng tập kích thế là phải tổ chức đánh trả và truy kích khoảng 3 h chiều mới được nghỉ ngơi tắm rửa giặt đồ ...

Chiều tối lệnh của C triển khai 4 h sáng hôm sẽ đánh phum salát cách đó khoảng 5 cây .

Nghe vậy ai cũng mừng vì biết ngày hôm sau không phải ngủ rừng .Em và thằng Thắng chọn 1 căn nhà nhỏ nhưng sạch sẽ vì không có nuôi trâu bò để ngủ .

Trong nhà chỉ có 1 bà già và 1 cô con gái nhìn cũng khá sạch sẽ ( hehe hồi đó nhìn con gái K thấy ai cũng đẹp , giờ nhớ lại ..ngủ giậc mình hoài ..) Gần 4 giờ sáng tất cả mọi người thức dậy chuẩn bị súng và gom quần áo phơi hồi chiều hôm qua thì thằng Thắng hớt hải hỏi em có thấy cái quần đùi của nó không ?

Thôi rồi lượm ơi phen này mày khơ luôn tồ tê (= trần như nhộng ) rồi con , hồi đầu hôm mày đi đâu sao không chịu ở nhà canh quần ?

Cu cậu khai thiệt hắn chui vào nhà 1 bà goá chơi ai dè bả bắt lại ngủ luôn không cho về .

Tới giờ hành quân rồi nên em cũng quên luôn chuyện cái quần của nó .

Do cự ly gần và có dân dẫn đường nên trời hửng sáng là tụi em đã ở cách phum khoảng 500m .

Phum này 3 phía là rừng 1 phía còn lại là 1 bàu nước khá lớn nên địch thường tập trung về đây .

Chỉ có 1 con đường bò độc đạo dẫn vào phum .

Kế hoạch của mình là tiếp cận men theo bàu nước và từ hướng đó vận động đánh vào phum .

Một B đóng lõng theo đường bò .

Lúc này người dẫn đường ra hiệu có địch ở bàu nước nên các B vội triển khai đội hình bao vây bàu nước .

Mình chưa kịp nổ súng thì B đón lõng ở đường bò bị bọn cảnh giới phát hiện nổ súng trước .

Bọn địch đang ngủ ở ven bàu bật dậy nổ súng loạn xạ và rút vào trong phum bắn trả quyết liệt .

Nổ súng khoản 15 phút thì tụi em vào được bên trong và tiếp tục đánh hất chúng ra bìa rừng .Vài căn nhà trong phum trúng cối 60 và B bốc cháy , dân chạy tán loạn .

Lúc này bọn em cũng mạnh ai nấy xong vào nhà sục sạo tìm địch chả còn đội hình gì cả .

Em xong vào 1 căn nhà xem có địch núp ở trong đó không thì thì thấy 1 cậu lính 87 đang chỉa súng vào 1 cô gái la hét dữ dội .

Em hỏi thì cu ấy nói anh biết tiếng kêu nó tụt xà rông ra cho em .

Lúc này cô gái túm xà rông vọt xuống cầu thang .

Cu cậu vội đuổi theo ngăn lại kiên quyết bắt cô gái tụt xà rông và ..ối trời ơi cái quần đùi của thằng Thắng , lúc đó tự nhiên em nhớ cái mặt mếu xệch của thằng Thắng và bò ra cười , cu cậu lính mới thì há mồm ngơ ngác còn cô kia tranh thủ trốn mất .

Cậu ta chờ em cười xong hỏi anh cười cái gì ? em thấy nó giấu cái gì trong quần đấy .

Đang cười em chợt tỉnh ,thôi bỏ mẹ rồi con này mình mới ngủ ở nhà nó đêm qua sao bây giờ nó ở đây chắc là địch ngầm rồi.

Hai anh em vội rượt theo nhưng đã muộn .

Sau này phía Bạn báo là bọn địch tập kích hôm trước có mấy thằng bị thương rút về nằm ở salát .

Con này là y tá của chúng nên đêm hôm đó nó lẻn sang phum salát để tiêm thuốc cho bọn bị thương và khi đi , nó tiện tay vơ luôn cái quần .

Nó không ngờ là mình sẽ đánh salát vào sáng sớm nên bị kẹt lại và chính nhờ cái quần này nên nó thoát chết vì nó giấu hộp kim tiêm ở trỏng .

Thảo nào khi ở nhà nó không thấy có trâu bò gì cả mà nhà lại rất sạch sẽ do nó được địch trả tiền rất hậu nên không cần làm nông như các nhà khác.

- Chuyện 8: Đối với người lính thì tình đồng đội thiêng liêng lắm các bác ợ.

Có gì cũng chia sẽ cho nhau kể cả chuyện tình cảm .

Hồi đó tụi em đóng ở phum đầmlay somlắp 1 thời gian dài nên tình nghĩa quân dân như cá với nước Grin .

Bọn em tăng cường samaki với chị em phụ nữ K .

Ở K thì chức Hội trưởng phụ nữ to hơn cả chủ tịch .

Vì vậy cứ phải gắn bó với chị em thôi nếu muốn cải thiện đời sống .

Ngặt một nổi chị em ở đây không được muợc mà như ở đồng bằng .

Cả phum chỉ có 2 chị em gái gọi là tương đối , tuy nhiên ông già của các cô gái thì quản lý quá chặt .

Dân K ở nhà sàn nhưng không có cửa , con gái chưa chồng ngủ ở trong buồn có màn che cho kính đáo .

Cứ tối đến sau khi 2 cô con gái vào buồn ngủ thì ông già lăm le bà khịa (cây rựa ) ngay cầu thang .

Thằng nào lạng quạng là ổng chém .

Bọn em nằm dưới nhà sàn mà tức anh ách .

Một hôm đang ngủ thì thằng Ba lát gọi dậy họp .

Tưởng có kế hoạch tác chiến nên 5 thằng trong A ngồi ngay ngắn chờ nó triển khai .

Thằng Ba lát nói tụi mầy cởi áo ra hết đi rồi ngồi chờ tao , nói xong nó tiến đến vị trí buồn của các cô gái và gỏ vào tấm ván sàn 3 cái rồi dùng tay đẩy tấm ván sàn lên .

Bọn em nín thở theo dõi vì thấy thằng này quá liều .

Nó thò tay lên làm cái gì đó 1 hồi rồi quay sang cởi cái áo Pốt cho 1 thằng mặc vào và bắt phải gài khuy cổ tay áo .

Thằng này tiếp tục thò tay vào thế thằng Ba .

À lúc này thì đã hiểu nó chơi trò trinh sát địa hình đây .

Tới phiên em lúc đó run lắm vì sợ bị phát hiện nhưng cũng bấm bụng đưa tay lên vì sợ tụi nó cười mình nhác .

Bàn tay vừa thò qua tấm ván thì đụng cái gì đó nóng hổi chưa kịp thu tay về thì bị 1 bàn tay khác giữ chặt lấy ấn vào chổ thịt nóng hổi đấy .

Quá bất ngờ em phá lên cười , bàn tay bí mật lập tức đóng tấm ván sàn lại .

Cả bọn vội phóng lên võng đắp chăn kín mít giả vờ ngủ .

Sáng ra thằng Ba chửi um sùm .

Thì ra nó đã cưa được cô chị và đã qui ước với nhau khi nghe gỏ 3 cái thì cô chị hé tấm ván sàn ra .

Còn anh kia thì sẽ mặt áo Pốt gài cổ tay để cô này nhận ra ám hiệu .

Sau khi bàn tay của thằng Ba đi du lịch mõi rồi mà cô kia chưa mõi nên nó phải gọi bọn em chi viện .

Thằng Ba hy sinh sau đó vài tháng do trúng miển ATITAN , hổng biết nó có cơm cháo được gì chưa .

Nhớ Năm 87 chốt đường 68 cho đoàn xe từ VN qua thăm F 302 .

Thấy các má các chị trên xe vẫy gọi thằng nào cũng khóc quá chừng vì lâu lắm rồi mới nghe được giọng con gái VN , khóc vì tủi thân chả được ai thăm hỏi , khóc vì xấu hổ bời mặt mũi lấm lem bùn đất ( đang tranh thủ tát cá cải thiện ) quần áo tả tơi .

Mấy ngày sau thằng nào cũng xin đi chốt để chờ đoàn quay về .

- Chuyện 9: Ban chỉ huy tiểu đoàn kính gởi các c11 , 12 , 13 cử cán bộ về D bộ nhận tân binh khi đi nhớ chuẩn bị kỷ , thông tin các C đầu giờ mở máy liên lạc .

Đó là đoạn mã tân binh tụi tôi nghe được khi đang tập trung tại B tt chờ phân về các C .

Lúc đó khoản 3 giờ chiều , đoàn xe chở chúng tôi xuống đơn vị mới vội vã quay về thị xã Xiêm rệp .

Đơn vị của chúng tôi là D56 - hoạt động trên địa bàn huyện Cao Lanh - D bộ đứng chân tại phum sensóc nằm cạnh con lộ 68 nối từ ngã ba Cao lanh - đường 6 lên biên giới Thái .

4 h , các C cử người về tới D bộ nhận quân .

Hơn chục thằng bọn tôi được giữ lại D bộ để bổ sung cho các B tt , trinh sát và hoả lực .

Cả bọn kéo nhau ra cái giếng gần dường lộ tắm .

Địa hình ở phum này rất trống trãi xung quanh toàn ruộng vừa mới gặt xong còn trơ gốc rạ .

Nhìn xa xa bên kia đường là rừng kéo dài giáp với tỉnh battam bang .

Đang tắm thì bổng nghe bùng...bình giật mình nhìn lên thì thấy trên mặt lộ cách chổ tụi tôi khoản 1 km lửa nháng lập loè , tiếng B xen lẫn tiếng AK.

Cả bọn vội vã xách quần chạy vào phum .

Các anh lính cũ hét lên bị phục rồi ôm súng vọt ra hướng súng nổ .

Từ nhỏ đến lớn chỉ thấy đánh nhau trong phim bây giờ là đánh nhau thật nên cả bọn hý hửng chạy theo ra bìa phum coi .

Bọn địch đứng trên lộ lố nhố .

Lính mình trong phum dàn hàng ngang vận động ra vừa chạy vừa bắn .

Bọn địch bắn trả ác liệt .

Đạn các loại của 2 bên đan vào nhau , khói mù mịt .

Đang đứng xem bổng mấy trái B rơi vào bìa phum gần chổ đám tân binh đứng miểng văng rào rào,đạn nhọn làm rớt các nhánh cây me xuống đầu .

Chết mẹ , tưởng nó bắn không tới mình , cả bọn chạy tán loạn tìm chổ núp .

Thì ra chổ tụi tôi đang đứng là cạnh cây me cổ thụ có cây ăng ten nên địch nó nhắm vào đó táng vào .

Trước mặt tụi tôi là cây cối 82 , DKZ cũng đang nhả đạn nên chúng dồn hết hoả lực quất vào phum làm đám tân binh hưởng sái .

Lúc này lính mình cũng bị tụi nó bắn rát quá chưa vận động lên chiếm mặt lộ được .

Cũng may là 1 B của C 11 đang trên đường dẫn lính mới về C bộ đóng ở phum cụ riềng bên kia lộ 68 cách D bộ khoảng 1km vận động cặp lộ đánh vào sau lưng bọn địch .

Bị kẹp giữa và bị cối 8 , DKZ của B hoả lực dập quá nên tụi nó rút lui .

Trời đã sụp tối .

Anh Dũng trinh sát mặt quần tà lỏn người máu me không đi qua chổ đám lính mới ngồi co ro nói chết 1 thằng , mấy đứa chuẩn bị tối gác xác nhé .

Người chết là anh Thành bên chuyên gia , chỉ còn 1 tháng là ra quân vậy mà ...

Tụi tôi cũng không được thấy mặt anh vì sau khi tắm rửa sạch sẽ anh được quấn vào nylon đặt nằm trên 1 cái bàn chờ sáng hôm sau đưa về sân bay Xiêm riệp.

Mấy hôm sau mới nghe kể lại bọn địch hôm trước là tụi E 52 Pốt - biết có xe chở tân binh nên tụi nó tính phục kích .

Tuy nhiên do sợ lực lượng chốt đường của C11 nên tụi nó không dám đánh sớm .

Lính chốt khi thấy xe chở tân binh đi qua chủ quan về sớm để gặp lính mới tìm đồng hương ( theo qui định phải chốt đến khi trời tối hẳn mới được về ) .

Lúc đó ông chủ tịch huyện đi với anh Hoan là chuyên gia D bộ đội K về D bộ họp bàn kế hoạch tác chiến cho ngày hôm sau .

Họp xong ông này chở anh Hoan , anh Thành -liên lạc trên 1 chiếc honda 90 về thị trấn Cao lanh thì đụng bọn địch đang vận động ra .

Ông chủ tịch mặc civin nên nhanh trí vứt khẩu k54 xuống ruộng .

Anh Hoan và Thành thì vừa nổ súng bắn trả vừa men theo đường lộ rút về hướng D bộ .

Hai người bắn che cho nhau được 1 đoạn thì anh Thành trúng 1 viên AK trong tư thế khom lưng .

Viên đạn cày dọc theo sống lưng và đến bả vai trai thì đổi hướng trổ ngay tim làm anh Thành hy sinh tại chổ .

Bọn địch lên mặt đường tra hỏi thì tưởng ông chủ tịch là xe ôm chở 2 anh kia nên chúng tha , không giết .

Kế hoạch phục kích xe không thành nên chúng chuyển sang đánh D bộ .

Đêm đó tôi và thằng Nghĩa gác chung 1 ca .

Thằng này sợ ma nên ngồi ở xa và không dám đến gần thấp nhang cho anh Thành .

Tôi tức quá kêu nó đi ngủ để tôi gác 1 mình .

Nhìn liệt sĩ nằm lạnh lẽo trong bao nylon bị cuộn từng khoanh mà lòng cảm thấy ngao ngán quá .

Mới có ngày đầu tiên mà như vậy rồi thì hổng biết được mấy tháng nửa mình cũng sẽ chui vào tấm nylon đó cho người ta xiết từng khoanh trên thân thể ?

- Chuyện 10: Bắn bài 3 ( ban đêm ) : Bia mẹ con.

Cơm chiều xong, cả đại đội chuẩn bị súng ống, đạn dược, bia hình mẹ con và không thể thiếu những chiếc ống bơ sữa bò đã khoét lỗ có chế thêm chiếc cửa sổ di động kéo lên kéo xuống bằng dây thun, đặt trong ống bơ một chiếc đèn dầu con con.

Tất cả hành quân ... vào núi - phía sân bay Hoà lạc.

Đến nơi khoảng 8 giờ tối, lính tráng lục tục tìm chỗ... ngả lưng.

Thằng nào bắn thì bắn, còn thằng nào chưa bắn hoặc đã bắn xong thì ... ngủ.

Bài 3 ban đêm bắn có bệ tì, khoảng cách 75m.

Mỗi thằng được phát 6 viên, bắn làm 3 điểm xạ mỗi điểm xạ 2 viên, rách áo ăn tiền.

Thằng canh bia trèo qua thung lũng trước mặt, chui vào hố cá nhân đã đào sẵn, ngồi ôm chân bia và... kéo dây chun để tạo ánh sáng lập loè như khẩu đại liên địch đang nhả đạn.

Mỗi lần có khoảng 5,6 thằng vào bệ bắn nên một tối bắn phải đến 10 giờ đêm mới kết thúc.

Thao trường ầm ầm tiếng súng, vậy mà có thằng vẫn ngủ quên cả lối về, đến sáng hôm sau mới lững thững sách súng trở về đơn vị.... và tự động sách xẻng đi...

đào hố rác ( kỷ luật mà )

Đợt bắn ban đêm ở tiểu đoàn tôi - D2 E36 F308 có chuyện " động trời " là có bố tân binh ngủ quên tại bãi bắn, đến khi nghe lệnh tập hợp quay về doanh trại, mắt nhắm, mắt mở bỏ quên khẩu AK tại bãi bắn.

Hôm sau đơn vị mới phát hiện ra mất súng.

Ầm ĩ thôi rồi !!!

Nào kiểm điểm, nào quân pháp F về làm việc.... thằng bé tí nữa bị tước quân tịch.

May sao có mấy chú bé chăn bò, hôm sau nhặt được khẩu súng bèn nộp cho huyện đội.

Họ báo cho đơn vị nên tội cũng đỡ hơn.

Hạ sỹ đểu

Đầu năm 1982, toàn sư đoàn lật cánh từ bên lộ 5 ( Congpongchnang ) sang lộ 6 ( CongpongThom - Xiêm riệp ).

Phòng hậu cần F9 cử một tốp cán bộ chiến sỹ sang Stung xây dựng căn cứ mới.

Địa bàn hoàn toàn mới nên nhà cửa hầu như không có gì ( không khanh trang như bên sân bay Congpongchnang ) phải dựng mới từ đầu.

Tốp chúng tôi có 3 lính 1 quan.

Ông thượng uý Hai Thí cầm đầu, còn lính có tôi, Hiển " cào cào " và thằng Tàm người Hải phòng.

Chúng tôi được phân công hàng ngày vào rừng chặt gỗ để dựng nhà.

Lúc đầu chưa có nhà thì ở tạm trong lều bạt dựng ngay trong vườn xoài của nhà dân.

Địa bàn mới, xa sư đoàn nên việc cung cấp thực phẩm rất khó khăn hầu như chỉ được cung cấp muối ít cá khô và gạo.

ăn uống cực kỳ gian khổ.

Hàng ngày, ông hai Thí thì đi đặt bẫy gà rừng, câu cá.

Tôi đi bắn chim cu gáy trong rừng.

Thằng Hiển và Tàm ở " nhà " nấu cơm và đào hầm dựng chốt phòng địch tập kích.

Mới được hai ba hôm.

Một buổi sáng tôi đi vào rừng săn bắn cùng ông Hai Thí, khi về cũng được mấy con chim cu, mấy con gà rừng do ông Hai Thí đặt bẫy được.

Về đến nơi, chẳng thấy " nhà " đâu, chỉ thấy thằng Hiển mặt mày đen nhẻm đầy bụi khói.

Hỏi ra mới biết, ở nhà chẳng có cái ăn nên thằng Hiển tìm cách cải thiện.

Nhìn thấy tổ kiến đen to tướng làm tổ trên ngọn cây xoài, thằng Hiển bèn lấy giẻ tẩm dầu buộc vào cái sào để đốt và bắt tổ kiến lấy trứng kiến nấu canh.

Mải ngửa cổ đốt tổ kiến nên Hiển ta không để ý tàn lửa rơi xuống cháy lém vào mái lều bạt, chỉ trong nháy mắt, chiếc lều bạt bốc cháy thành tro.

Cu cậu chỉ kịp lao vào cứu súng đạn, thùng lựu đạn và mấy chiếc ba lô của anh em rồi đứng trơ mắt ếch ...nhìn.

Chiều hôm ấy, lệnh của đại uý Năm Chất kỷ luật được đưa ra - Thằng Hiển phải đền lều cho đơn vị trừ vào phụ cấp hàng tháng.

Còn hình thức kỷ luật sẽ chờ phòng HC ban ra sau.

Chúng tôi lại được ban doanh trại cấp lều khác.

Ông Hai Thí trở về sư đoàn báo cáo tình hình xây dựng doanh trại.

Ở lại chỉ còn 3 thằng lính cu cu.

" Đói ăn vụng, túng làm liều ".

Gà chim thì ngày một hiếm.

Ba thằng bàn nhau bắn con chó của ông trưởng phum để cải thiện.

Hàng ngày, con chó vẫn sang khu vườn chúng tôi đóng quân để kiếm ăn.

Bữa cơm chiều ăn xong, tôi để dành một ít cá khô trong khẩu phần ăn ít ỏi làm mồi nhử.

Tôi bẻ cá khô ra thành nhưng mẩu nhỏ, rắc từ chỗ chúng tôi ngồi ăn vào đến sát chiếc giường tôi vẫn nằm.

Xong xuôi, tôi lên đạn khẩu K63 và nằm lên giường chờ đợi.

Y như dự đoán, con chó quen mui sang ăn mấy hạt cơm thưa rơi vãi, thấy mấy mẩu khô nướng liền ăn và tiến dần vào lều tôi nằm.

Mấy thằng hồi hộp và nghĩ đến viễn cảnh nồi thịt chó thơm nức mũi đang đợi.

Con chó tiến sát đầu gường tôi, nó vẫn cắm cúi nhặt nhạnh những mẩu cá khô nướng thơm phức.

Tôi kề khẩu súng sát trán con chó và bóp cò.

Đoàng, đoàng !!!

Đan mạch con chó.

Tôi những tưởng rằng đầu con chó phải vỡ toác và nó sẽ chết mà không kịp kêu tiếng nào.

Nào ngờ, khẩu K63 dài quá nên tôi chỉ dí sát mà không ngắm được vì ở tư thế nằm.

Viên đạn chỉ xuyên phía trên sống mũi con chó, nó vùng chạy về hướng nhà ông trưởng phum và kêu ăng ẳng thảm thiết.

Chết tôi rồi !!!

Phía nhà ông trưởng phum ầm lên tiếng the thé của mụ vợ trưởng phum : Chuây me công top Vn banh ngọp xì ke khnhum.

Chuây me công top Vn banh ngọp xì ke khnhum.

Nhà ông trưởng phum lại là ngôi nhà rộng rãi và đẹp nên thủ trưởng Năm Chất đang ở tại đó.

Quả này tôi toi là cái chắc.

Hôm sau, thằng Tàm bảo tôi chuẩn bị tinh thần sang gặp ông Năm Chất.

Chiều hôm sau, tôi bị gọi sang gặp ông Năm Chất và có cả ông trưởng phum ngồi dự.

Tôi liền bịa ra rằng : Tôi đang bị ốm nằm trong lều, tôi nghe có tiếng loạt soạt mấy bụi cây ở phía sau lều.

Nghĩ rằng có thể địch nó bò vào tập kích, không kịp gọi đồng đội.

Tôi liền vớ lấy súng và nổ súng ngay.

Ai ngờ hoá ra con chó.

Sau khi phân tích một hồi, án kỷ luật được đưa ra giống như thằng Hiển " cào cào " mấy hôm trước.

Đền chó cho dân và chờ kỷ luật của phòng HC đưa ra sau.

Thế là chó thì không được ăn ( sau này thằng Nhuận - lính Hà nội cho tôi biết là mụ vợ bán con chó cho bọn D công binh của sư đoàn ) mà lại phải đền 1 bộ quân phục vải Ốt pho mới lĩnh và chờ án kỷ luật.

Tôi, Hiển, Tàm đều bị gọi quay trở về Congpongchnang để đi chốt.

Một buổi tối sinh hoạt đơn vị.

Đại uý Sáu Ngân ( về thay anh Việt đi học học viện hậu cần ngoài bắc ) công bố quyết định nâng quân hàm cho mấy anh em.

Đến lượt tôi, ông Sáu Ngân đọc :

- Xét đức tài quân nhân...

- Xét đề nghị của đơn vị

Thủ trưởng phòng Hậu cần F9 phong quân hàm đ/c Lê Thái Thọ từ binh nhất lên hạ sỹ.

Quyết định này được thi hành kể từ ngày ký.

Đọc xong quyết định phong quân hàm cho tôi, đại uý Sau Ngân lôi ra một quyết định khác và đọc luôn:

- Xét đức tài quân nhân...

- Xét đề nghị kỷ luật của đơn vị

Thủ trưởng phòng Hậu cần F9 thi hành kỷ luật giáng quân hàm đ/c Lê Thái Thọ từ hạ sỹ xuống binh nhất.

Quyết định này được thi hành kể từ ngày ký.

Thế là tôi mang quân hàm hạ sỹ chưa đầy 5 phút.

He.. he..

Hạ sỹ đểu là như vậy

- Chuyện 11: Thằng Nhuận bác nói ngày xưa lính đại đội 11 d6e2.

Hồi đó nó lên làm lính sư đoàn à lão Thọ?

Con chó cộc ấy tên BaTô !

- Chuyện 12: Em là lính thời bình nên tất nhiên ko có chuyện chiến đấu để kể như các bác Cựu chiến binh ở đây được.

Nhưng thôi dù sao thì em cũng đã từng là lính, em xin post mấy chuyện rất lính, rất đời của em và đồng đội lên đây để hầu các bác.

Rất mong các bác hưởng ứng Kiss

Em bắt đầu nhập ngũ ngày 22/2/2000, đóng quân tại Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 2 - Sư đoàn 395 - QK3 (Chí Linh - Hải Dương).

Đợt đấy bọn em tất cả có 114 tân binh Ngô Quyền - Hải Phòng cộng với 12 tân binh Tiên Lãng - Hải Phòng được biên chế về Đại đội 6 - Tiểu đoàn 2.

Trước khi về đây đóng quân bọn em được các cán bộ Quận đội Ngô Quyền giới thiệu Trung đoàn 2 là đơn vị điểm của toàn quân, là E chủ lực của Sư đoàn và Quân khu nên nề nếp, chính quy và kỷ luật rất nghiêm khắc.

Nghe xong là cũng hình dung được phần nào cuộc sống của mình sắp tới trong Quân đội nó như thế nào rồi.

Nhưng mà kệ, thanh niên mà đến đâu thì đến, mới cả đã chấp nhận đi rồi thì bây giờ có gì đều phải chịu, chống đối làm sao được.

"Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội" dòng chữ đỏ chói này ở đầu hồi doanh trại đã nói lên tất cả.

Lính mới tò te nên bọn em cái gì cũng bỡ ngỡ.

Toàn thằng vừa học xong phổ thông thi trượt Đại học, cùng lắm thì có vài thằng đi làm được 1,2 năm nên vốn sống ít lắm.

Vào Quân đội nhìn cái gì cũng lạ, cái gì cũng mới mẻ.

Ấn tượng đầu tiên của bọn em đó cơm bộ đội.

Ko thể tả được nó như nào nữa.

Đại đội bọn em lúc ấy tân binh 100% là lính Ngô Quyền - Hải Phòng (trừ 12 thằng Tiên Lãng ra) nên ăn uống ở nhà cũng có phần sướng và đa phần là khảnh ăn nên cái hôm đầu tiên lên nhà ăn Tiểu đoàn, tức là bữa cơm đầu tiên của đời lính mà ko thằng nào nuốt nổi.

Có thằng ko ăn được còn ngồi khóc tu tu như trẻ con.

Ai đời ở nhà cơm trắng thịt nạc rau ngon nó quen rồi, mà ở nhà bố mẹ phải nịnh chán mới ăn, vào đây nhìn cơm thì đen xì như nấu bằng gạo lợn, 3 miếng thịt mỡ dầy khục toàn bì (ko fải mỏng đâu nhé, mỏng thì còn dễ ăn chán ) cộng thêm 1 miếng đậu phụ kho cũng đen xì luôn, thêm vài lát rau bắp cải luộc nữa là đủ 1 suất cơm của lính.

Cứ 6 thằng ngồi 1 bàn, mỗi thằng 1 suất là 1 đĩa inox gồm thịt, rau, đậu + 1 nồi cơm, 1 nồi canh, 1 bát mắm chung, "ăn ko nói, đói ko kêu" đó là slogan của bọn em.

Ăn xong bát đũa của ai người đó tự rửa, xoong đựng cơm canh, bát đựng mắm do trực ban trực nhật của đại đội rửa.

Gần nửa tháng đầu tiên, ko quen cơm đơn vị, lại vẫn còn tiền mang theo cộng với lương thực dự trữ từ nhà + tắc tế của gia đình nên hầu hết bọn em đều bỏ cơm đơn vị.

Lên nhà ăn chỉ để lấy vì thôi chứ nuốt làm sao nổi cái thứ cơm mà lợn nhìn thấy còn lắc đầu bỏ đi ý.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại : "đất nước ta còn nghèo, Quân đội ta cũng còn nghèo.

Quân đội lo cho các đồng chí được như này là cả một sự cố gắng rồi.

Và đây là các đồng chí đi bộ đội chứ ko phải đi an dưỡng nên ko nên đòi hỏi nhiều nữa.

Quân đội đã tính rất khoa học, với số tiền 5.300 đ/ngày/đ/c lính bộ binh là đủ cung cấp năng lượng để các đồng chí học tập, lao động trong 1 ngày rồi..."

- trích lời chú Khanh, Chính trị viên tiểu đoàn trong buổi sinh hoạt với đại đội 6 lính mới bọn em.

Đúng thật là ko thể tả được, ở thời giá năm 2000, với 5.300 đ bao gồm tất cả : gạo, thịt, rau, đậu, mì chình, mắm muối, than, củi, bật lửa để lo cho bọn em ăn no (ko ngon) mà vẫn còn bớt xén, xà xẻo được thì quả là quá giỏi (đúng là với Quân đội thì ko có gì là ko thể ).

Cơm bộ đội, mỗi thằng một suất, bọn em ăn giống như trong ảnh nhưng trừ miếng giò đi nhé.

Rau thì ko xanh và đậu cũng ko ngon như kia, thịt thì nhiều mỡ và dày hơn nhiều

Trong thời gian này bọn em ko ăn cơm đơn vị nên các bộ máy kiếm tiền trong Quân đội bắt đầu phát huy hết tác dụng.

Bọn em lại được coi là lính nhà giàu nữa lên các bác ý càng làm mạnh.

Cả tiểu đoàn hồi đó có hơn 150 tân binh (gồm 114 thằng C6 bọn em và 40 thằng Cát Bà, Cát Hải ở Đại đội Cool mà sáng nào căngtin cũng bán hết veo hơn 500 cái bánh rán đường, lính cũ tiền đâu mà ăn, cơm cho lành.

Cơm tiểu đoàn thì ko nuốt được, mì tôm mà nhai khô mãi cũng chối (nước nóng đâu mà pha) nên còn gì ngon hơn là vài cái bánh rán đường buổi sáng, ngọt mồm vững dạ để tí còn ra thao trường lăn lê bò toài ngắm bắn hoặc đỡ ngáp ngắn ngáp dài khi nghe những bài giảng về Chính trị khô khốc, buồn ngủ

Cơm đơn vị tuy là có thịt, có cá nhưng đa số bọn em đều thấy thiếu chất tươi.

Thằng nào cũng cảm thấy thèm thịt và rượu.

Đang trong thời gian tân binh bị cấm trại nên ko thằng nào được ra ngoài kể cả ngày nghỉ, giờ nghỉ, ra thao trường thì cũng ko tạt té được vào đâu nên muốn mua gì lại phải nhờ tiểu đội trưởng.

Mà công nhận mấy ông at' lính cũ này năng động thật, cứ đưa 100K để mua thịt bò xào hoặc chân giò luộc (hồi đó là 2 món tủ để nhậu của lính) và rượu thì thế nào các ông ý cũng chỉ mua mất 50K còn đâu bỏ túi 50K.

Đấy là sau này ra chính quy rồi, bọn em có điều kiện ra ngoài ăn uống mới biết chứ lúc ý chỉ gật gù khen ngon thôi chứ nghĩ quái gì đến đắt rẻ hay ăn bớt đâu, đạn đang nhiều mà.

Lại nói chuyện ăn tiền của lính thì ko đâu như trong đơn vị, bọn em bị lừa mãi mà ko biết.

Số là hồi đó mỗi đơn vị cấp Đại đội hoặc tương đương được biên chế 1 TV 21'' nhưng ko có đầu Video (ngày ý chưa có đầu đĩa như bây giờ).

Mà lính thì các bác biết rồi đấy, xa nhà, nhớ người bạn bè,người yêu, sách báo thì ko có (có nhưng toàn QĐND, Nhân Dân cả Tiền Phong mà toàn chỉ huy Đại đội giữ có mượn được quái đâu mà đọc) nên khi chỉ huy Đại đội đề xuất việc đóng tiền mua đầu Video về xem thì tất cả đều nhất loạt hưởng ứng.

Thế là mỗi thằng đóng 5.000 VNĐ, vị chi tất cả là được đâu gần 600K ý.

Mà thời đó 1 cái đầu Video 600K là ngon lành cành đào rồi, HiFi Stereo cứ gọi là ầm ầm.

Hai hôm sau thì có đầu Video để xem thật, rất hoành tráng nhé.

Từ đấy cứ tối thứ 7, CN sau thời gian sinh hoạt Đại đội là cả bọn lại chúi đầu vào xem băng chưởng (mỗi tháng mỗi thằng mất thêm 1K tiền thuê băng).

Mãi về sau bọn em mới được biết hồi đó cái đầu băng ý là từ đời lính ra quân năm trước để lại, mấy ông chỉ huy Đại đội cất vào kho rồi bọn em lên thì lôi ra bán cho bọn em lấy tiền chia nhau.

Ko biết nói như nào nữa.

Điều đó còn áp dụng cả với gương soi, lược chải đầu, kéo cắt tóc, doa tưới nước......... nói chung cứ cái gì ra tiền là các bố ý cất đi rồi bán lại cho bọn em.

Kinh chưa?

Sau màn chào hỏi về ăn uống, đến cái ớn tiếp theo của bọn em là gác đêm.

"Đi buôn thì phải tính, đi lính thì phải gác" ko biết câu nói trên đã được lưu truyền từ bao giờ nhưng công nhận gác đêm thật sự là 1 ác mộng.

Ở nhà ngủ cả đêm ngon giấc, nhỡ có ai quấy rầy 1 tí thì cáu nhặng xị cả lên nhưng ở đây nhé, 2,3 h đêm đang ngủ ngon có thằng nó vào đập đập gọi dậy đổi gác mồm thì làu bàu nhưng vẫn phải dậy, tuổi gì mà dám bỏ gác.

Đã thế là còn phải nhớ trong đầu mật khẩu nữa chứ, ví dụ hỏi là Nam Sách phải trả lời là Thanh Miện mới đúng mật khẩu, trả lời sai mật khẩu tức là ko phải người đơn vị, là địch nên phải bắt ngay.

Gác mà ko nhớ mật khẩu sĩ quan đi kiểm tra gác hỏi ko nói được thì kỷ luật cho mút chỉ luôn.

Quanh cái chuyện canh gác và mật khẩu này cũng lắm cái buồn cười.

Đêm đấy ca gác từ 23h - 0h là của thằng Khanh thọt và Cường mế (nhà ở cùng phường Vạn Mỹ với em và cùng tiểu đội với em luôn) thì anh Chí quản lý bếp đi chơi về khuya.

Mấy ông nhà bếp là chuyên gia lôi thôi luộm thuộm trong tác phong và cũng ko nhớ mật khẩu là gì luôn.

Thằng Cường mế quán triệt rất rõ tinh thần canh gác, cảnh giác cao độ quát hỏi mật khẩu anh Chí lúng túng chả biết trả lời làm sao cứ lí nhí :" Anh Chí bếp đây".

Anh Chí bếp nào, bọn tân binh mới lên đến sĩ quan Đại đội còn chưa thuộc hết tên chứ bếp biếc gì, ko trả lời được là bắt.

Thế là 2 thằng lao vào túm chặt lấy anh (lúc ý gác tay ko chưa có súng) , anh Chí tuy to con nhưng chỉ dám phản ứng yếu ớt và ko dám nói to vì đi chơi về muộn còn làm ầm lên nữa chỉ huy Tiểu đoàn bắt được thì chết toi (Trung đội bọn em ở gần D bộ mà) thế là cứ lí nhí thanh minh thanh nga mãi.

Ko thanh minh thanh nga gì hết, gô cổ giải lên cho chỉ huy Đại đôi xử lý.

Thấy thái độ 2 thằng lính kiên quyết quá, chắc là ko lung lay được thế là anh Chí bảo thôi gọi thằng Dũng Trung đội trưởng mày dậy nó xác nhận nhé.

Ùh thì gọi, lừa bọn ông thì mày chết.

Mắt nhắm mắt mở chạy ra anh Dũng lùn bt' Trung đội em (người Vĩnh Bảo - Hải Phòng), sau khi biết rõ sự việc thì xua tay bảo thôi để anh Chí về đi, lần sau nhìn thấy anh ý đi chơi về muộn thì kệ nhé, đừng bắt.

Hôm sau lên nhà ăn, tuy ko nhớ mặt 2 thằng hôm qua bắt mình nhưng anh Chí biết là quân B4 nên cứ đứng ở bàn ăn B4 soi, động tí là gắt ầm lên mới sợ chứ.

Vẫn chuyện gác, đằng sau Đại đội em có 1 cái suối rất sâu, mùa mưa thì tràn trề nước và rộng như sông, nước rất trong và mát nên bộ đội sau giờ học tập sinh hoạt toàn ra đây tắm giặt, bơi lội đã đời.

Nhưng đợt bọn em nhập ngũ là đang mùa khô nên suối cạn, chỉ có một ít nước ở dưới dòng chảy nên có thể lội sang bờ bên kia dễ dàng.

Vì bờ suối bên kia là dân ở và có đường đi vào làng chơi nên mấy ông at' lính cũ thường xuyên rủ nhau lội qua suối vào làng tán gái.

Đêm hôm đó tầm 2h là ca gác của em và thằng Minh ngố, em gác ở dưới bờ suối còn Minh ngố gác trên nhà Trung đội cách đó chừng 50 m.

Đang đứng gà gật (gác ko được ngồi, hồi đầu tiên quán triệt lệnh này ghê lắm) thì tự yên dưới suối có tiếng lội bì bõm, em giật mình chĩa súng về phía lòng suối (lúc đó gác được trang bị súng và đạn rồi nhưng ko được lắp đạn vào súng cũng như ko được bắn trong bất cứ trường hợp nào, sĩ quan kiểm tra mà bắt được vi phạm này thì vỡ mồm, lên đạn cho oai chứ có bắn được đâu) thì thấy xuất hiện 3 bóng người đang lò dò đi lên.

Em lia đèn pin và quát to :" Ai đấy, đứng yên ko tôi bắn" cốt để doạ tinh thần mấy người kia và đánh động cho thằng Minh ngố chạy ra trợ giúp.

Một người trong đám kia lên tiếng anh đây, anh Cường tiểu trưởng B5 đây.

Em soi rõ đèn pin vào mặt ông này thì đúng là ông Cường toọc (người dân tộc Mường Hòa Bình nên bọn em gọi là toọc) at' bên 5 thật, ông ý với ông Tuấn còi, Cường chéc đều là at' rủ nhau vào dân tán gái giờ mới về.

Thế mà em tưởng ai, thôi anh về đi, lần sau nói trước nhé ko em làm ầm lên là anh bị kỷ luật đấy.

Sau vụ đấy mỗi lần đi chơi về qua vọng gác em là thế nào các ông ý cũng dúi cho bọn em mấy điếu thuốc để hút đêm cho đỡ lạnh, bù lại thì các ông ý cứ đi lại tự nhiên mà ko sợ bị cán bộ Đại đội biết.

Chuyện gác đêm thì còn dài lắm, kể cả ngày cũng ko hết chuyện, sau này em sẽ kể tiếp lồng vào những chuyện tập luyện của bọn em luôn.

Ok các bác

Còn nhiều điều bỡ ngỡ, mới lại cần phải khám phá nữa đối với tân binh bọn em.

Việc gấp chăn màn nội vụ như nào cho vuông đét như viên gạch cũng là cái mà bọn em thắc mắc và phải làm cho bằng được.

Ngày nhập ngũ là Quân đội vẫn đang trong chế độ mùa đông, bọn em sử dụng chăn bông nên việc gấp chăn vì thế mà khó hơn.

Hôm đầu tiên học cách gấp chăn, bọn em chúi đầu vào xem Tiểu đội trưởng làm mẫu trực quan.

Từ cách gấp màn như nào, gấp chăn ra sao, kéo góc chăn như nào, vuốt mép ra sao cho thật thẳng.

Nhìn tay anh at' nhịp nhàng thì có vẻ dễ ăn lắm nhưng đến khi làm thì lóng nga lóng ngóng.

Ở nhà bừa bãi nó quen rồi, ngủ dậy xong có bao giờ gấp chăn màn đâu toàn vo viên rồi ném xuống góc giường.

Bây giờ tự dưng phải gấp cái đống vo tròn ý vuông đét như viên gạch ba banh thì quả là hơi bất khả thi.

Nhưng cái khó ló cái khôn, bọn em nghĩ ra 1 cách là cắt 1 miếng bìa carton kích thước nhỏ hơn cái chăn lúc gấp vào 1 tí rồi lồng vào sau khi gấp.

Cứ gọi là vuông đét nhé, nhưng về sau kiểm tra cán bộ Đại đội bắt được dẹp hết.

Thế là lại khối thằng trưa ko được ngủ bê chăn màn lên cửa Đại đội tập gấp chăn vì cái tội gấp chăn ko vuông (cái này thì đến lính cũ vẫn bị mới lạ chứ).

Chỉ sướng mấy ông at', chăn có méo mó tí thì cũng chả ai để ý nên buổi trưa các ông ý cứ thoải mái tung chăn ra đắp ngủ ngon lành.

Còn tân binh bọn em thì mút chỉ, đầu giờ chiều có đúng 15' để chuẩn bị đi thao trường mà còn phải gấp lại đống chăn màn ý thì có mà nản chết.

Thằng nào liều lắm thì chỉ dám bỏ ra gối đầu rồi chiều vuốt lại tí cho thẳng thôi chứ tân binh bọn em bố bảo dám gỡ ra mà đắp.

Được nghỉ ngơi 1 tuần, gọi là nghỉ huấn luyện thôi (vì đầu tháng 3 bọn em mới bắt đầu huấn luyện tân binh) chứ mọi sinh hoạt nề nếp vẫn diễn ra bình thường.

Bọn em bắt đầu được làm quen với cuộc sống bộ đội bằng việc thực hiện nề nếp tác phong: 10 chế độ trong ngày, 3 chế độ trong tuần, tuần tra canh gác, tập điều lệnh đội ngũ, lễ tiết tác phong, chào hỏi, học chức trách quân nhân, chức trách chiến sĩ, 10 lời thề, 12 điều kỷ luật, tăng gia sản xuất.......

Và cũng làm quen luôn với những xích mích rất đời thường trong cuộc sống tập thể của toàn những thằng đực rựa cứng đầu với nhau, với những kỷ luật thép của Quân đội mà trước đó bọn em chỉ được nghe người lớn kể lại.

Chưa huấn luyện chính thức nên ngoài những giờ tập điều lệnh đội ngũ, nghe giảng về Chính trị ra bọn em phải tập trung vào tăng gia sản xuất.

Tiểu đoàn có 1 ao thả cá rất to và sâu nhưng hiện đang là mùa khô nên cạn đến đáy, khô nẻ nứt chân chim.

Nhiệm vụ của Đại đội em được giao là phải cải tạo lại bờ kè ao đã sụt lở để chuẩn bị mùa mưa có nước thả cá.

Thực ra công việc ko có gì là nặng nhọc, nhưng là việc của tập thể, thằng làm thằng ko nên sinh ra tị nạnh nhau.

Ăn uống thì ko ra sao, lại ức chế nhiều cái với cuộc sống mới này nên chỉ vài câu nói khích đểu nhau mà ông Đức già (Vạn Mỹ) và ông Mạnh chó (Máy Chai) - 2 ông tân binh già nhất Đại đội - đã lao vào choảng nhau.

May hôm ý anh em cũng can nhanh và cán bộ Trung đội cũng can thiệp kịp thời chứ nếu ko với cái đống cuốc xẻng đó thì ko biết hậu quả sẽ như thế nào.

Hôm đấy cũng là lần đầu tiên bọn em biết thế nào là kỷ luật Quân đội, nó chả nằm trong phạm vi xử lý nào trong Điều lệnh quản lý bộ đội do BQP biên soạn ra cả.

Mà đây là cách kỷ luật riêng của Cán bộ Trung đội, rất nhẹ nhàng nhưng ko kém nghiêm khắc khiến lính phải suy nghĩ rất nhiều trước khi muốn vi phạm kỷ luật.

Hôm đó lao động xong về, Đức già và Mạnh chó bị gọi lên trước hàng quân rồi đứng ôm lấy nhau vỗ vỗ vào vai nhau rồi nói :"Tôi và đồng chí là đồng đội, phải biết yêu thương nhau, ko được đánh chửi nhau" lặp đi lặp lại 30 lần như thế.

Ôm nhau xong Trung đội trưởng hỏi thế bây giờ các đồng chí có còn thích đánh nhau nữa ko?

Cả 2 đồng thanh trả lời là ko.

Thế là Trung đội trưởng Dũng lùn cho 1 bài thuyết về chính trị, về tình đồng chí trong Quân đội, tình đồng hương quê quán......

Từ đấy Đức già với Mạnh chó ko những ko đánh nhau nữa mà còn trở thành bạn thân của nhau mới chết chứ.

Lúc ở nhà chuẩn bị nhập ngũ thì bọn em thằng nào cũng biết là vào bộ đội sẽ được sử dụng súng.

Nhưng ở nhà thì mấy thằng đã biết súng nó thế nào đâu, toàn nhìn trên TV, cùng lắm là có thằng được sờ mó tí chút vào khẩu súng CKC thật lúc học GDQP hồi cấp 3.

Nói chung là bọn em rất háo hức với súng, thằng nào cũng mong nhanh nhanh được biên chế súng để thoả chí tò mò, mà càng súng to thì càng tốt.

Thế mà 1 tuần giời trôi qua cũng chưa thằng nào được sờ mó vào khẩu súng, gác cũng tay ko luôn.

Cứ mỗi lần lính cũ C7 gác bếp đi qua là thế nào bọn em cũng kéo vào bằng được để xem khẩu AK 47 thật nó như thế nào.

Còn lên đạn bắn toanh toách nghe chừng thích thú lắm.

Hôm bắt đầu biên chế súng đúng là một ngày hội, Trung đội trưởng căn cứ vào thể hình, thể lực của từng người để biên chế.

Thằng nào nhanh nhẹn hoạt bát thì được biên chế súng chống tăng B 41.

Thằng nào người to thể hình đẹp thì vác trung liên RPD với 3 hộp đạn.

Còn lại là AK 47 hết.

Ngoài số súng được biên chế thì mỗi thằng được phát thêm 2 quả lựu đạn gang giáo luyện, cuốc hoặc xẻng bộ binh, bao xe, túi lựu đan nữa.

Tại hồi ý tân binh nên Trung đội biên chế gần như đủ.

Mỗi tiểu đội 9 - 12 người, mỗi tiểu đội biên chế 1 khẩu B 41, 1 trung liên RPD còn lại là AK 47.

B 41 và Trung liên RPD thì Ok, nhưng AK lại thiếu trầm trọng nên tiểu đội nào cũng có thằng ko có súng.

Thằng nào được biên chế súng thì sướng rên lên, lên đạn bóp cò rồi chĩa vào nhau bắn toang toác nghe chừng thích thú lắm, Trung đội trưởng và tiểu đội trưởng phải quát tháo mãi mới thôi.

Còn thằng nào trót ko được phát súng thì ấm ức phát khóc lên (sau này mới biết đấy là 1 điều may mắn).

Thằng nào được biên chế súng nào giữ súng ý, có số má đàng hoàng, cất đúng vị trí trong tủ súng, tự lau chùi bảo quản.

Cán bộ đi kiểm tra tủ súng mà súng ông nào tôm luộc thì ra vấn đề luôn, kỷ luật từ Trung đội trưởng trở xuống.

Cái vấn đề quản lý, bảo quản vũ khí trang bị trong đơn vị nghiêm lắm, ko thể lơ mơ được.

Quân khí kiểm tra hàng ngày hàng tuần luôn, thất thoát 1 khẩu súng thì khối bố sĩ quan rụng sao.

Hồi đầu biên chế háo hức bao nhiêu thì đến lúc ra huấn luyện ngao ngán bấy nhiêu.

Huấn luyện đã mệt rồi lúc đi về lại phải vác theo 1 khẩu súng nữa thì thằng nào chả chán.

AK thì còn đỡ vì dù sao vẫn còn nhẹ, mấy ông B 41 cả RPD mới chối chứ, lúc ý thì coi đống súng ống của mình là đống sắt vụn ko hơn, nhưng quăng đi thì ko quăng được.

Thế mới nghiệm ra mấy thằng ko được biên chế súng hoá ra may mắn.

Đời có phải có lúc ko được hưởng cái gì cũng thiệt thòi đâu.

Bây giờ mới biết là nhất các bố ko có súng rồi đấy.

Thời gian chờ huấn luyện trôi đi chậm quá, sau 1 ngày học tập hoặc lao động tăng gia, buổi tối sau khi sinh hoạt Đại đội xong bọn em chả biết làm gì bèn lấy cờ bạc để giết thời gian.

Phần vì tiền còn nhiều, lại toàn thanh niên phố ham mê cờ bạc, ko khí cờ bạc hồi Tết vẫn còn vương vấn nên thích là chiều.

Thế là cả Đại đội biến thành 1 sòng bạc khổng lồ.

Đủ các ngón nghề cờ bạc được bày ra: xóc đĩa, chắn cạ, ù ạc, lặn 3 cây........ thậm chí là cả gọi số cũng là 1 món ưa thích.

Ko khí sát phạt nhau náo nhiệt cả Đại đội.

Từ đó cũng có thằng trở thành triệu phú VNĐ, ngược lại có thằng trở lên tay trắng.

Chỉ huy Đại đội ko phải ko biết việc cờ bạc này nhưng lờ đi, sau cái lờ đi đó là cả 1 kế hoạch sau này bọn em mới biết.

Đến gần ngày huấn luyện, ko khí sát phạt lúc ý cũng lên đến cao trào rồi.

Tiền đã chảy hết vào túi 1 số thắng đít sát gấc.

Còn 1 hôm nữa là bắt đầu ra quân huấn luyện tân binh, bọn em quyết định đánh một trận to rồi nghỉ.

Thằng nào vét làng thì vét, thằng nào trắng tay thì trắng tay luôn.

Tối hôm đó bọn B5, B6 tụ hết ở B4 em rồi lập 1 bàn xóc đĩa hoành tráng.

Cắt cử canh tây cân hồ đàng hoàng.

Đang đến hồi gay cấn, tiền làng ra mặt cũng khá nhiều thì bất ngờ BCH Đại đội xuất hiện.

Tất cả chạy ồ lên như ong vỡ tổ, BCH cũng chuẩn bị từ trước rồi nên ko thèm đuổi mà túm ngay thằng Hà bươu (B6 - người Đông Khê) đang xóc cái.

Lệnh được ban ra ngay tại chỗ, có bao nhiêu tiền trong người bỏ ra, thu gom tất cả tiền dưới chiếu lại rồi lập biên bản gửi lên trên đề nghị kỷ luật, ghi rõ là phạt giam đàng hoàng nhé, ghê chưa.

Hôm đó Hà bươu được 1 phen vãi đái ra quần, tiền thu được của nó là 3 triệu, tiền dưới chiếu là ~ 2 triệu nữa, BCH quyết định tịch thu nộp lên trên.

Rồi chả biết có nộp lên trên ko nhưng vụ ý sau lần ý cũng ko thấy truy cứu nữa.

Hà bươu cũng chả bị kỷ luật cũng như điều tra về những thằng đánh bạc hôm đó.

Chắc các bố BCH Đại đội ăn đủ rồi nên ỉm đi cũng nên, ~ 5 triệu chứ ít àh?

Ngày 1/3 Trung đoàn tổ chức "Lễ ra quân Huấn luyện giai đoạn 1 năm 2000".

Lính mới bắt đầu vào "Huấn luyện tân binh" còn lính cũ thì "Huấn luyện chiến sĩ năm thứ 2".

Bọn em đội ngũ chỉnh tề, quần áo tác phong nghiêm chỉnh, quần hàm cầu vai đỏ chói, thắt lưng to, mũ Kê - pi đầy đủ, nhìn thằng nào cũng chững chạc hẳn lên (ko bù cho mấy hôm trước cán bộ Đại đội toàn mắng bọn em nhìn các đồng chí lôi thôi như dân quân tự vệ ý).

Lễ ra quân đơn giản nhưng cũng ko kém phần long trọng.

Về phần tổ chức của đơn vị thì ko có gì phải phàn nàn cả.

Chào cờ, hát Quốc ca, đơn vị chỉ huy đọc diễn văn, ra chỉ lệnh bắt đầu mùa huấn luyện, tuyên thệ chiến sĩ mới, hôn Quốc kỳ, duyệt đội ngũ, diễu binh, diễu hành đâu ra đấy, mỗi cái phần lãnh đạo địa phương các đồng chí tân binh đọc diễn văn mới sốt ruột.

Tại đợt đấy Trung đoàn làm lễ ra quân gộp cho Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 ngay trong đơn vị em, Trung đoàn bộ và Tiểu đoàn 1 cách đó 4Km thì làm riêng nên ngoài lính Hải Phòng Tiểu đoàn 2 bọn em ra còn có thêm lính Hà Tây vs lính Hưng Yên của Tiểu đoàn 3 nữa (d3 toàn bộ lính mới hết).

Phần Hải Phòng thì đơn giản rồi, chỉ có mỗi lính quận Ngô Quyền, huyện Cát Hải và huyện Tiên Lãng nên thủ tục nhanh lắm.

Lãnh đạo địa phương lên động viên anh em yên tâm công tác, thực hiện tốt nghĩa vụ trở về địa phương rồi trao quà cho anh em và đơn vị là bế mạc, ko nặng về phần trình bày.

Còn 2 tỉnh Hà Tây về Hưng Yên thì ôi thôi, mỗi ông tân binh ở 1 huyện, mỗi lãnh đạo huyện lên lại làm 1 bài diễn văn dài lê thê tưởng như ko có hồi kết, mà toàn những vấn đề chả liên quan gì đến bộ đội mới hài chứ.

Thôi thì tình hình thời tiết ở địa phương mưa nắng thất thường, vụ đông xuân này lúa má thế nào, GDP của huyện ra sao, phân đạm trong kho có đủ bón cho ruộng trũng ko, các đ/c nhập ngũ ở đây còn ở nhà dân quân tự vệ của huyện vẫn chăm chỉ tập luyện..vân..vân và..vân....vân.... nói chung là dông dài ko thể tả được.

Lem nhem thì thôi rồi

Kết thúc lễ ra quân cũng là lúc bọn em bắt đầu lao vào những ngày luyện tập vất vả ngoài thao trường và những buổi học chính trị khô không khốc ở đơn vị.

Tập ngoài thao trường thì có đủ các khoa mục: bắn súng AK bài 1 (nằm bắn, đứng bắn, quỳ bắn, lấy đường ngắm chuẩn, ngắm trúng ngắm chụm....), ném lựu đạn, đánh thuốc nổ, chiến thuật từng người và tổ, kỹ thuật dò gỡ mìn, đào hầm cá nhân, lăn lê bò toài, đi khom chạy khom,lợi dụng địa hình địa vật, tháo lắp súng....

Nói chung tất cả các khoa mục bọn em đều phải học hết, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào 3 món tủ là AK bài 1, thuốc nổ và ném lựu đạn vì đây là những môn bọn em sẽ phải kiểm tra để kết thúc huấn luyện.

Mà các bác biết rồi đấy, ở đâu cũng có bệnh thành tích và có lẽ Quân đội bệnh thành tích là nặng nhất vì nó liên quan đến sao vạch của Sĩ quan nên 3 món chính này bọn em bị hành kinh lắm, ko thể lơ mơ được

Mỗi buổi ra thao trường, tuy có mệt nhưng được coi là 1 ngày hội của tân binh bọn em.

Lính Hải Phòng toàn thằng hiếu động nghịch ngợm nhưng được cái cũng thông minh, học hành đâu ra đấy.

Lấy đường ngắm chuẩn, ngắm trúng ngắm chụm, yếu lĩnh động tác bóp cò cứ gọi là ngon ơ, chính chú Quất Tham mưu trưởng Trung đoàn kiểm tra đường ngắm chuẩn của bọn em xong còn phải khen lính Hải Phòng ngắm tốt, cán bộ từ B, C, D cứ gọi là mát hết cả mặt.

Nhưng đến khi giải lao thì thôi rồi, thằng nào văn vở tí thì lân la nói chuyện với cán bộ Trung đội, Đại đội, 1 là khoe thành tích hồi còn ở nhà để lấy số (mà đa số cái này là toàn chém gió), 2 là nịnh nọt tí để sau này dễ thở hơn trong sinh hoạt ở đơn vị.

Còn lại là bày ra các trò để nghịch, thằng thì giương lê lên rồi làm động tác đâm đối phương như thật, thằng thì lên đạn rồi chĩa súng vào đồng đội bắt giơ tay lên như kiểu bắt địch ý.

Nghịch dại đến thế là cùng, đâm cái lê ý quá tay 1 tí thì chắc có thằng thành về nhà bằng hướng song song với mặt đất quá.

Quán triệt mãi ko được về sau Đại đội dẹp bằng cách tháo hết lê ra cất vào kho, còn thằng nào thích chĩa súng vào đồng đội thì chạy 10 vòng quanh thao trường.

Kinh ngay, từ ấy là chừa cái kiểu chĩa súng vào nhau.

Tiết mục thi kéo co giữa các Trung đội với nhau trong giờ giải lao, phần thưởng chỉ là 1 bao thuốc lá ko đủ chia hết 1 vòng Trung đội nhưng chơi máu lắm.

Cỗ vũ cũng hăng hò hét vang 1 góc thao trường luôn.

Mà món này bọn B5 chuyên gia chơi ăn gian, chúng nó chuyên có bọn CĐV đứng ở đằng sau kéo cùng nên toàn 10 kéo 12,13 nên bảo làm sao chúng nó lần nào cũng thắng.

Sau này bọn em biết tẩy nên cho 1 thằng đứng canh ở đằng sau nên các bố cháu thua suốt.

Thua tâm phục khẩu phục luôn .

Lại chuyện canh gác.

Bắt đầu vào huấn luyện tân binh cường độ lao động tăng lên nhiều nên nhu cầu ngủ nghỉ của bọn em cũng vì đó mà phải nâng lên theo.

Suy ra thì tinh thần cảnh giác trong canh gác cũng lơ là hơn.

Tất nhiên ko dám bỏ gác nhưng chuyện ôm súng ngồi ngủ cũng đã xuất hiện nhiều, lắm thằng còn ôm súng ngủ quên xuyên luôn sang ca gác tiếp làm sáng hôm sau thằng kia tỉnh dậy cứ ngơ ngác ko biết tại sao đêm qua mình ko bị gọi dậy.

Và rồi cái gì đến cũng phải đến.

Bắt đầu huấn luyện được 1 tuần, đêm hôm đó ca gác từ 2 - 3h là của thằng Minh đen và Tư phích (Máy Chai - tiểu đội 3).

Hai thằng bảo nhau mỗi thằng 1 khẩu súng, thằng bờ suối, thằng nhà Trung đội ôm súng ngồi ngủ.

Đen cho 2 thằng nó (và cũng đen cho cả Trung đội em luôn) là hôm đấy anh Đạt kều Đại đội trưởng (sinh năm 74, tốt nghiệp Trường sĩ quan Lục quân 2, 1 trong 2 Trung uý Đại đội trưởng của Sư đoàn, lại là Đại đội trưởng trẻ nhất nữa chứ) đi chơi về khuya đi kiểm tra gác bắt được.

Đây cũng là lần đầu tiên trong đời em biết thế nào là "Báo động".

Sau một hồi còi dài của Trung đội trưởng Dũng lùn và tiếng hô :"Trung đội 4 báo động" là bọn em tỉnh dậy rồi ra sân Đại đội tập trung.

Lúc ý thằng nào cũng mắt nhắm mắt mở, quần áo mũ mão xộc xệch chạy ra thì đã thấy Tư phích cả Minh đen đứng nghiêm chỉnh ở sân Đại đội rồi, mặt mũi cúi gằm nghe chừng ân hận và biết lỗi lắm.

Đại trưởng Đạt kều chửi um lên 1 hồi rồi bắt Dũng lùn cho bọn em về chỉnh đốn lại lễ tiết tác phong rồi lên tập trung làm việc tiếp.

Chỉnh đốn xong, súng ống trang bị đầy đủ, tập trung lại ct'' Đạt kều ra tình huống :" Trung đội 4 trong khi tổ chức canh gác đã lơ là mất cảnh giác, địch lợi dụng đột nhập bắn chết 2 đồng chí canh gác và cướp đi 2 khẩu súng AK.

Hiện tại kẻ địch đang nấp tại vị trí kẻng Tiểu đoàn.

Yêu cầu cán bộ chiến sĩ B4 vận động ngay đến vị trí kẻng Tiểu đoàn, tiếp cận bắt sống hoặc tiêu diệt địch để thu hồi vũ khí đã mất cũng như trả thù cho đ/c đồng đội".

Bt'' Dũng lùn vừa hô "vận động" thì ct'' Đạt kều lại ra tiếp tình huống :" đich đã phát hiện ra đội hình vận động của B4 và đang dùng hoả lực của 2 khẩu AK cướp được bắn thẳng vào đội hình".

Bọn em chưa kịp chạy và cũng chả hiểu gì cả thì Dũng lùn hô :"trung đội nằm xuống, bò".

Thế là thôi bao nhiêu kiến thức về món bò buổi chiều được dịp thực hành luôn. (Em cũng phải nói qua 1 chút, từ chỗ sân Đại đội em sang đến bên kẻng Tiểu đoàn phải băng qua 1 cái sân bóng rộng, vị chi là khoảng 100m gì ý.

Nói thế cho các bác dễ tưởng tượng).

Đội hình Trung đội bắt đầu lổm ngổm như cua giữa sân Tiểu đoàn.

Tí Đạt kều lại địch bắn bên phải, Dũng lùn hô theo ôm súng lăn sang trái, Đạt kều địch bắn bên trái, Dũng lùn hô ôm súng lăn sang phải, Đạt kều địch bắn thẳng vào đội hình, Dũng lùn hô bỏ súng sang một bên úp mặt xuống đất.

Cứ thế bò 1 đoạn lại lặp đi lặp lại như thế, nguời bọn em bắt đầu bê bết mồ hôi và đất.

Có khoảng 100m mà phải tầm 30 mới bò sang đến nơi Vừa đến nơi, chưa kịp mừng thì tình huống mới lại được đưa ra là địch đã lợi dụng địa hình địa vật để chạy về sân Đại đội khống chế Chính trị viên.

Ối Yàng ơi, thế này là thế nào?

Lại một tua ý như tua trước diễn ra và có vẻ khó nhọc hơn vì đã thấm mệt, Tiếng Đan Mạch đã lác đác xuất hiện, càng về gần sân Đại đội càng có tần suất dày hơn.

Trong đầu thằng nào lúc này cũng nghĩ ko biết kịch bản tiếp theo sẽ là gì đây.

Tiếp phát nữa chắc là vỡ mồm luôn.

Rất may bò về đến sân Đại đội thì được cắt tình huống.

Cả Trung đội đứng xếp hàng xem 2 đ/c canh gác bị địch bắn chết viết bản kiểm điểm.

Chờ 2 thằng hi sinh viết bản kiểm điểm xong, đọc to lên cho tất cả cùng nghe rồi Đạt kều cho Dũng lùn cho bộ đội về quán triệt rồi cho ngủ nghỉ.

Về Trung đội đứng nghe Dũng lùn giảng đạo 20'' nữa rồi được nghỉ.

Nhưng phải mặc yên quần áo vừa lăn lê đi ngủ chứ ko được thay ra.

Ức chế, tiếng Đan Mạch vang lên 1 hồi, thằng Nhã đao (Vạn Mỹ) định xông vào choảng 2 thằng kia thì Dũng lùn chạy sang quát chúng mày thích bò nữa ko thì bảo tao thì mới vãn hồi được trật tự.

Chỉ khổ thân 2 thằng Bé xồm, Phong đỏ (Máy Chai) vừa bỏ lổm ngổm xong chưa kịp ngủ lại phải đổi gác luôn (đã đen thì cái đèn nó cũng........... ).

Sau vụ ý bọn em học được thêm một bài về "lấy tập thể rèn cá nhân" của Quân đội và cũng biết thêm thế nào là kỷ luật thép.

Thấm thía vô cùng.

Thời gian huấn luyện cứ thế chầm chậm trôi qua, ngày nào cũng như ngày nào đều đều như vắt chanh.

Sáng lăn lộn thao trường, chiều tập trung học Chính trị, hết giờ học tập thì tăng gia sản xuất, thể dục thể thao.

Sau khoảng 1 tháng bọn em thằng nào cũng rắn rỏi hẳn lên.

Mà lên cân ầm ầm nhé, thằng nào cũng béo đen trùi trũi.

Làn da xanh mai mái của bọn thư sinh hồi mới nhập ngũ đã biến mất, thay vào đó là màu da đen ròn nhuộm nắng gió thao trường đầy khoẻ mạnh.

Tác phong Quân đội, lời ăn tiếng nói cũng vì thế mà chững chạc hẳn, gặp cán bộ ở đâu là đứng nghiêm hô :"Em chào thủ trưởng" to, dõng dạc.

Ko bù cho hồi đầu mới lên bọn em gặp chú Khanh Chính trị viên Tiểu đoàn cứ giương mắt lên nhìn để chú ý hỏi hôm nay bếp Tiểu đoàn cho các đ/c ăn canh hến àh, bọn em còn thật thà trả lời là ko chú ạh, bọn cháu từ hôm lên đến nay đã được ăn bữa canh hến nào đâu.

Sặc sụa.

Đến là ngố, sau này nghĩ lại em vẫn thấy buồn cười đấy

Một tháng trôi qua, hầu hết tân binh bọn em đã quen với nề nếp tác phong sinh hoạt của đơn vị.

Tất nhiên là còn nhiều cái chưa thể quen ngay được nhưng cũng phải thích nghi dần mà sống thôi.

Quan trọng là bọn em ko còn dám bỏ cơm đơn vị nữa kể cả những thành phần khảnh ăn nhất.

Cơm bây giờ là nguồn năng lượng quan trọng nhất.

Vì đạn đã cạn kiệt, tắc tế gia đình dù nhiều thế nào thì nhiều cũng chỉ 1 bữa là hết (mưa phi trường mà ).

Ko ăn thì sức đâu mà học tập công tác, ko ngon cũng phải cố mà nuốt.

Nuốt trôi lấy sức mai ra thao trường còn chạy.

Cũng trong thời gian này bọn em bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn, giữa lính với lính, lính với Tiểu đội trưởng, lính với Trung đội trưởng.

Cũng chỉ là những vụn vặt đời thường, sự cứng ngắc trong chỉ huy của cán bộ, với một tập thể toàn đực rựa cứng đầu như bọn em thì sự va chạm là chuyện tất yếu phải xảy ra.

Tần suất xô xát, lao vào choảng nhau ngay trước mắt cán bộ đã xảy ra khá nhiều.

Đôi khi cũng chỉ vì câu nói đùa quá trớn, câu tranh luận trái chiều của 2 thằng ko đồng quan điểm, tranh nhau cái xô nước tắm hoặc khoảng vườn tăng gia có thằng phải tưới nhiều hơn là bọn em lại sẵn sàng lao vào dã nhau.

Đúng là trong một cuộc sống đầy khó khăn, nhiều kìm kẹp, bức xúc bị dồn nén thì tất cả những cái đầu được coi là lạnh nhất cũng âm ỉ rồi sẵn sàng bùng cháy lên bất kỳ lúc nào.

Ko ngày nào Đại đội ko xảy ra đánh nhau, kỷ luật xong về lại đánh nhau tiếp, cứ triền miên như thế.

Nhưng cũng may là chưa có vụ nào đổ máu cả, âu đấy cũng là một điều may mắn cho bọn em cũng như cho cả cán bộ các cấp.

(Em ngày ý tuy nhỏ con nhưng cũng hăng cái trò đánh đấm này lắm.

Phần vì vẫn còn máu yêng hùng đàn anh từ nhà mang lên, lại thêm phần cuộc sống tập thể nhiều ức chế, nhiều cái chướng tai gai mắt mà em đã từng sút thằng Sơn bù toọc ở Máy Tơ và thằng Lương hoả lực quê Tiên Lãng lên bờ xuống ruộng.

Sau 2 vụ ý em cũng bị kỷ luật bết , bị cắt cả phép tân binh luôn vì tội tái phạm nguy hiểm.

Có thời gian em sẽ kể cho các bác nghe kỹ về vụ này sau.

Cũng hoành tránh lắm ý)

Lính Hải Phòng tuy thỉnh thoảng hay đánh nhau, nhưng ngược lại cực kỳ đoàn kết.

Ở các đơn vị bộ đội thì thường thường có truyền thống bất thành văn là "ma cũ bắt nạt ma mới".

Tiểu đoàn 2 bọn em cũng ko là ngoại lệ, đấy cũng do các anh lính cũ ko tự lượng sức mình và cũng chưa hiểu chất lính Hải Phòng thế nào.

Ngày thứ 2 lên nhà ăn, tức là buổi trưa hôm sau ngày nhập ngũ ý.

Do dãy bàn ăn Trung đội 4 em được bố trí sát với dãy bàn ăn lính cũ Đại đội 7, ko biết thằng Quyến ghẻ (Máy Chai) có nỡ nói gì phạm thượng ko mà 1 anh lính cũ thẳng tay cầm bát mắm hất vào người nó.

Con giời Quyến ghẻ cũng ko phải vừa, nó cầm ngay bát ăn cơm ốp thẳng vào mặt anh lính cũ kia rồi hô ầm lên :"bọn lính cũ đánh em các anh ơi".

Trong khi anh lính cũ kia vẫn ôm mặt ngơ ngác ko hiểu chuyện gì xảy ra thì bọn em bỏ hết cơm lại, tay cầm bát phi thẳng vào đám lính Đại 7 đang ngồi ăn ở bên cạnh.

Em nhớ có vài thằng còn nhanh tay vác theo cả chậu cơm chậu canh nhảy sang.

Lúc này ko biết dũng khí của mấy anh lính cũ biến đi đâu hết, chắc ko ngờ phản ứng của bọn em lại dữ dội vậy nên ông nào ông ý mặt tái chạy giàn té vội.

Mấy ông chậm chận ăn luôn chậu cơm, canh ụp vào đầu, cơm chan canh ướt từ đầu đến chân.

Vừa chạy đuổi bọn em vừa ném bát vèo vèo, may lúc ý là bát nhựa nên đám lính cũ kia cũng ko hề hấn gì, và bọn em cũng ném theo phản xạ thôi chứ biết thừa có ném trúng cũng chả sao.

Vụ ý một số thằng trong Đại đội hung hăng nhất bị chỉ huy Tiểu đoàn bắt được phải chịu kỷ luật còn đâu bọn em bình an vô sự hết.

Cũng từ đấy lính cũ choáng bọn em 1 vành luôn, ko dám công khai gây sự.

Vì đúng ra tuy quân số họ đông hơn, cũng cùng quê với nhau nhưng thiếu tinh thần đoàn kết, khi đánh nhau yếu thế 1 chút là mạnh thằng nào thằng ý chạy, hơi đâu mà chiến đấu nữa.

Nhưng mấy ông này tiểu nhân, ko dám gây sự công khai thì "bay thấp đánh lén" .

Thằng Điền hà mã (An Đà - b6) đi vệ sinh một mình bị 5 anh lính cũ đại 7 phục kích ở vườn chuối dã vêu cả mõm (muốn đi ra nhà vệ sinh Tiểu đoàn phải đi qua khu nhà đại 7).

Nó chạy được về hô anh em, thế là lại tay gậy tay cuốc xẻng lên đường.

Quay lại vườn chuối thì 5 anh lính cũ đã biến mất, cả bọn quyết định lao thẳng vào khu nhà Đại 7 để tìm thủ phạm và thống nhất với nhau nếu ko tìm được thì phang bất cứ 1 thằng nào Đại 7, thích ra sao thì ra.

Cũng may hôm đó chỉ huy 2 Đại đội và chỉ huy Tiểu đoàn phát hiện can thiệp sớm chứ ko biết hậu quả sẽ ra sao.

Sau vụ đấy thì mấy bác lính cũ cạch hẳn, yên phận thôi chứ dại gì dây dưa với mấy thằng trẻ con hiếu chiến ý, lơ mơ có ngày nó dã cho úp mặt xuống sàn lúc nào ko biết.

Đang là thời gian tân binh nên gia đình bọn em lên thăm và tắc tế thường xuyên.

Cứ thứ 7, CN là người nhà lên thăm đông như hội, xe máy để kín 1 góc sân Đại đội (đơn vị em cách Hải Phòng ~ 70Km, giao thông thuận tiện vì có trục Quốc lộ 18B nên người nhà toàn bon xe máy lên).

Tuần nào Tiểu đội nào cũng có người nhà thăm, tại hồi ý đơn vị biên chế mỗi phường vào 1 Tiểu đội cho dễ quản lý, nhà bọn em lại ở gần nhau nên có ai lên nhà kia lại gửi quà.

Mỗi lần thăm nuôi như thế bọn em thành 1 ngày hội, đồ ăn thức nhắm cứ gọi là ê hề luôn, bánh kẹo thuốc lá tha hồ xoã, thức ăn khô dự trữ lại được bổ sung (nhưng ko bao giờ tồn tại quá 1 ngày ).

Đợt này bà già cũng lên thăm em 2 lần nhưng toàn vào ngày thường mới buồn cười chứ nên cứ phải chờ em đi thao trường về mới được gặp, chán thế.

Lần đầu lúc em nhập ngũ được khoảng 1 tháng, lên tắc tế cho ít đồ, ít tiền và báo tin buồn là bác anh trai bà già em vừa mất.

Gặp bà già mừng quá nhưng khi nghe tin kia suýt nữa thì khóc, còn trách bà già là sao ko báo tin sớm.

Mà trách thì trách thế thôi chứ có báo tin thì em cũng chả về được.

Lần thứ 2 là lúc em sắp hết tân binh, nhớ em quá nên lên thăm.

Bà già cứ sợ em khổ sở thiếu thốn vất vả gầy yếu nên mang nên bao nhiêu đồ lên cho em.

Bà già cũng trách là sao ít viết thư gọi điện về nhà thế, ko có tin gì làm nhà lo.

Úi rời, viết gì bây giờ hả mẹ, mẹ cứ yên tâm con trên này khoẻ lắm.

Lại có anh em nên ko sao đâu, có gì thì đã có anh em rồi mà.

Hết tân binh con về phép cho mẹ tha hồ chăm nhé. (Các bác thấy mẹ em tuyệt vời chưa?

Em thương mẹ em lắm ý, ko dám làm gì để mẹ buồn đâu )

Buổi hành quân rèn luyện đầu tiên của bọn em gắn với 1 chuyện buồn.

Hôm đấy sau khi tập trung đơn vị xong.

Ba lô vũ khí trang bị nai nịt gọn gàng (lúc đó là lính mới nên bọn em được ưu tiên, chỉ đeo balô đựng chăn màn, quần áo và vũ khí cá nhân thôi chứ ko phải xoong, nồi, gạo củi lỉnh kỉnh như sau này) xếp hàng thẳng tắp ở sân Tiểu đoàn.

Trước khi tổ chức hành quân chú Hùng đen Tiểu đoàn trưởng đọc to tên 14 thằng tân binh Đại đội 6 rồi gọi lên đứng trước hàng quân.

Em ko nhớ hết tên nhưng chỉ nhớ là ko có thằng nào ở Trung đội 4 em cả.

Tiểu đoàn trưởng tuyên bố :"14 đ/c tân binh này của Đại đội 6 có người nhà xin cho các đ/c ấy về công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố Hải Phòng.

Thay mặt BCH Tiểu đoàn xin chúc các đồng chí về nhận công tác ở đơn vị mới mạnh khoẻ, luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bây giờ các đ/c Đại đội 6 nghỉ giải lao 15' để chia tay đồng đội.

Khi nào tôi ra hiệu lệnh thì tập trung để tổ chức hành quân".

14 thằng có tên thì ngơ ngác, thắc mắc nhà mình làm gì có người quen làm to ở Sư đoàn, Quân khu đâu mà xin được nhỉ.

Mà nếu có xin thì bố mẹ chúng nó cũng phải báo tin chứ, chả lẽ bố mẹ chúng nó còn giữ bí mật với cả chúng nó àh.

Có thấy nhà thằng nào nói năng gì đâu.

Hay là gặp may chó ngáp phải ruồi.

Ruồi gì mà đến 14 chú, thôi mặc kệ, cứ được về gần nhà là sướng đã.

Thế là anh em tổ chức chia tay chia chân bịn rịn lắm, thuốc lá đồ ăn còn dấu trong ba lô bây giờ bỏ ra xoã hết.

Thôi mày về đấy sướng thỉnh thoảng lên thăm anh em bọn tao tí cho vui.

Khi nào tao về phép thì anh em mình gặp nhau.

Xe Trung đoàn vào đón bọn về, chào nhau phát nữa rồi chúng nó lên xe, bọn em bắt đầu lên đường hành quân.

Hành quân rèn luyện nên cũng ko phải đi xa lắm, chỉ đi vòng quanh mấy làng xung quanh đơn vị đóng quân, ước lượng khoảng 7,8 km.

Mang vác cũng nhẹ nhưng vì là lần đầu tiên phải đi bộ xa như thế nên thằng nào thằng ý mồm mũi tranh nhau thở.

Hai bàn chân tê cứng, rát rạt bên trong giày.

Mồ hôi tuôn ra ướt hết áo K82, vai đau rát đỏ tấy lên vì đeo ba lô.

Mấy ông tiểu đội trưởng thì cứ phăm phăm bước, mặt tỉnh bơ chả có gì là mệt mỏi cả, thi thoảng lại thúc lính như đúng rồi ý, bảo chưa ăn thua gì đâu các em ạh, cứ chờ đấy rồi biết.

Về đến tiểu đoàn là đã gần trưa, tập trung nghe Tiểu đoàn trưởng quán triệt, nhận xét, rút kinh nghiệm buổi hành quân: còn nhiều đ/c tỏ ra mệt mỏi ko theo kịp tốc độ hành quân của Tiểu đoàn, đội hình hành quân còn xộc xệch, cự ly cách xa nhau, tụt tạt nhiều.....

Nhưng nói chung như thế là đạt yêu cầu, buổi hành quân này mục đích giúp bọn em làm quen dần với việc hành quân dã ngoại mang vác nặng, một đặc trưng rất riêng của lính bộ binh: đoàn quân đi bộ.

Và sau đấy Tiểu đoàn trưởng cũng bật mí luôn, số 14 tân binh buổi sáng là bị đơn vị trả lại cho Bộ chỉ huy Quân sự thành phố Hải Phòng vì ko đủ chất lượng.

Tất cả số này đều nghiện Heroin nặng, đây là đơn vị Quân đội chứ ko phải trại cai nghiện.

Té ra là thế, văn bộ đội các bác thấy sợ ko?

Nói như đúng rồi ý, chuyển công tác về Bộ CHQS HP mới kinh, cuối cùng té ngửa ra các bố cháu bị đuổi về.

Đúng là khi nào chưa nhìn thấy tận mắt, chưa sờ tận tay thì ko tin mấy bố chỉ huy này được (sau này bọn em còn nhiều dịp được kiểm chứng).

Bọn 14 thằng bị về đợt đấy sau này em ko có cơ hội gặp lại thằng nào cả, nhưng nghe bọn nó đồn là thằng nào cũng nghiện nặng, hình như có thằng die nữa.

Tại hồi ý ở nhà khám nghĩa vụ địa phương người ta làm qua loa lắm, nhìn thấy ngon ngon là được, chả thử máu thử miếc gì cả.

Thế mới có chuyện đại đội em có 2 thằng Dũng cò và Thịnh con Trung đội 6 chưa đủ 40 kg, người bé tí, bộ K82 số 3 quần áo mặc phải xắn lên vào gấu mới hết dài, và 1 Long mù Trung đội em bị quáng gà nặng, ban ngày mắt nó cũng kém, nhìn cái gì cũng phải dí sát mắt vào mới thấy, toàn bị bọn em trêu là mù dở mà vẫn phải đi bộ đội.

Hết người rồi hay sao mà phải tuyển những ông đó chứ.

Ở nhà thì khám qua loa nhưng lên đơn vị Quân y khám lại kỹ lắm, đo chiều cao cân nặng, đo huyết áp, thử sức kéo kỹ lắm, pháo phiếc cũng phải xem kỹ ko sợ mấy ông lính phố chơi bời mang giang mai, lậu liếc vào đơn vị thì chết.

Và quan trọng là thằng nào cũng phải thử máu đàng hoàng.

Chuyện 14 thằng bị đuổi về âu cũng được coi là chuyện ko được vui, buồn cho truyền thống thành phố Cảng.

Năm 200 là kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Trung đoàn (25/5/1975 - 25/5/2000), Trung đoàn tổ chức xây dựng lại doanh trại và cơ sở vật chất.

Cả Trung đoàn biến thành một công trường khổng lồ.

Mỗi đơn vị 1 chân 1 tay góp phần vào cái việc xây dựng đó, và tất nhiên bọn em cũng ko được đứng ngoài.

Cứ 1 tuần 1 lần bọn em phải ra Trung đoàn đào đất san lấp mặt bằng, cào cả cái đồi thấp đi để làm sân bóng.

Toàn sức người hết, ko có bóng dáng của 1 cái máy xúc máy ủi nào cả.

Đúng là "nước sông, công lính", với bộ đội thì ko có gì là ko thể cả.

Thời gian này hành quân rèn luyện tối thứ 6, thay vì đi quanh đơn vị như mọi khi bọn em được lệnh vác ba lô ko ra Trung đoàn tải gạch.

Quy định mỗi thằng gùi 10 viên.

Đây là số gạch Tiểu đoàn xin được Trung đoàn nhưng Trung đoàn ko cho xe chở mà bắt phải để lính gùi về, kết hợp hành quân rèn luyện luôn.

Thằng nào cũng chấp hành nghiêm chỉnh vì biết nếu ko đủ số lượng bị kỷ luật thì toi, lính mới thằng nào chả rét kỷ luật.

Thế mà có thằng dám ăn gan hùm, Hiệp dái trong (Vạn Mỹ - tiểu đội 1, bọn em gọi nó là dái trong vì đi tắm toàn mặc quần dài) lấy đúng có 6 viên.

Nó lý sự sức nó chỉ đeo được thế thôi.

Ko có sức thì tí về nộp gạch xin chỉ huy 1 câu đã sao, này đi đường anh em è cổ ra còn nó thì tháo cả ba lô ra xong rồi xách 1 tay nghe chừng ta đây được nhẹ lắm.

Đen cho nó là hành động ý bị Đại đội trưởng bắt gặp.

Àh kinh, lại thích văn vở hả, được rồi tí về sẽ biết.

Nộp gạch xong, các đơn vị khác được về ngủ nghỉ còn Trung đội 4 phải đứng lại để chứng kiến Đại đội kỷ luật Hiệp dái trong.

Lại một hình thức "lấy tập thể rèn cá nhân".

Hình thức kỷ luật của Hiệp dái trong là đổi 4 viên gạch còn thiếu lấy 40 xô phân lấy ở wc Tiểu đoàn đổ vào hố tăng gia của Đại đội, thi hành ngay trong đêm,ko phải tường trình, kiểm điểm sinh hoạt gì hết, khi nào đủ 40 xô thì nghỉ.

Ko thể tưởng tượng nổi, cả Trung đội 4 từ Dũng lùn trở xuống xếp thành hàng ngay sau thùng wc để xem thằng Hiệp dái trong thi hành kỷ luật.

Mùi bốc phân bốc lên nồng nặc nhưng bọn em ko thằng nào được bịt mũi vì phải đứng nghiêm.

Vừa thồ gạch về mệt, lại bị 1 pha tra tấn như này nên thằng nào cũng ức, đứng nghiêm mà nghiến răng kèn kẹt và thầm chửi rủa thằng Hiệp dái trong.

Vì mày mà bọn bố mày phải khổ thế này, 😡) này tí về Trung đội thì bọn bố cho mày biết tay.

Còn Hiệp dái trong thì cứ cần mẫn 2 xô 1 xẻng lấy phân rồi xách ra đổ vào hố ở vườn tăng gia.

Khoảng 1 tiếng sau thì nó hoàn thành công việc, xong xuôi Trung đội giải tán về ngủ.

Ngủ ngay thế nào được, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, mùi phân ám đầy vào người, tắm rửa đã chứ.

Thằng Hiệp dái trong cũng khôn, nó biết hậu quả sẽ xảy ra nếu tí về Trung đội nên nó chủ động xin lỗi anh em trước:"vì tao mà anh em bị liên nên tao thành thật xin lỗi anh em, tại tự yên hôm nay tao ngu quá, bỏ qua cho tao nhé".

Thanh niên là thế đấy, rõ ràng lúc trước vừa điên lên muốn dạy cho nó 1 bài học, nhưng sau khi nghe được 1 câu xin lỗi chân thành thì tự yên tất cả đều dịu lại, như nhau cả nên thông cảm cho nhau dễ lắm.

Anh em bảo ko có gì đâu, mày thay quần áo tắm rửa rồi ngủ đi, muộn rồi.

Từ sau đợt đấy Hiệp dái trong có thêm biệt hiệu là "Ali33 và 40 xô cứt".

Bây giờ mỗi lần gặp nhau là bọn em lại nhắc lại chuyện ý rồi cười ầm lên.

Tân binh nên bọn em cũng chăm viết thư lắm, nhận thư cũng nhiều.

Mỗi ngày Đại đội nhận gần trăm lá thư.

Hầu như thằng nào cũng có,thậm chí có thằng 1 ngày nhận được chục lá thư.

Sinh hoạt Đại đội chỉ nhăm nhăm đến lúc xong để phát thư, thằng nào thằng ý ngồi há hốc mồm hồi hộp chờ đợi đến tên mình.

Thằng nào có thư thì vui ra mặt rồi vác vào 1 góc khuất ngồi đọc.

Đọc thư thằng thì cười như nắc nẻ, thằng thì cứ âm thần mặt ko biểu lộ cảm xúc, còn thằng tự yên ôm mặt khóc tu tu.

Đến là lạ.

Ko biết các bác như nào chứ thời bọn em ít khi đọc thư của nhau lắm.

Vì theo quan niệm đấy có phải người ta viết cho mình đâu mà đọc làm gì, có đọc cũng chả cảm nhận được gì, mới cả thư thằng nào chả có nên đọc ké làm gì.

Chỉ có bức thư nào thật đặc biệt, thật buồn cười mới bỏ ra đọc to lên cho cả bọn cùng nghe và cùng cười.

Viết thư thì mọi lúc mọi nơi luôn, thậm chí còn tranh thủ cả lúc gác để viết thư.

Thằng thì viết liền 1 lèo,nghĩ gì viết đó.

Thằng thì nháp nhiếc cẩn thận, đọc xong ngon lành rồi mới nắn nót viết lại để gửi.

Lời lẽ trong thư cũng đa dạng, phong phú luôn.

Đọc xong thì cứ gọi là cười đến vài ngày.

Nhớ có thằng ông Mạnh chó, ông mà đánh nhau với Đức già hôm làm ao đấy, mới học chưa hết lớp 5 (thế mà được đi bộ đội) tái mù chữ mỗi lần viết thư là phải nhờ.

Chỉ khổ thằng viết hộ cứ phải ngồi nghe ông ý lẩm nhẩm rồi viết lại.

Cũng vì ít học nên văn phong buồn cười lắm, ngô nga ngô nghê nhưng nhất định ko cho thằng viết hộ chỉnh sửa, ko biết người yêu ông ý đọc xong có bò lăn ra cười ko?

Đây cũng là thời gian mà bọn em bị người yêu đá nhiều nhất.

Vài hôm lại có thằng khoe bị người yêu bỏ.

Nhận được thư người yêu nói lời chia tay, nhiều thằng phát khùng lên uất ức, lơ ngơ như thằng mất hồn hàng tuần giời.

Nhưng hầu hết là vui vẻ đón nhận vì biết thừa kiểu gì chả xảy ra, muộn hay sớm thôi.

Cười khẩy 1 cái là xong.

"Ba năm đi Đức em chờ, 2 năm đi lính em lờ anh ngay" câu nói chí lý thế ko biết.

Ở nhà yêu nhau là thế, thậm chí lắm thằng còn đc #$#@%#$^^ chán chê rồi ý chứ.

Hôm tiễn anh lên đường bịn rịn lắm, khóc như mưa như gió, anh đi nhanh rồi về với em, em chờ.

Chờ gì, chưa hết tân binh đã xong việc rồi còn chờ gì nữa.

Thôi thì đủ các lý do trên trời dưới biển, em yêu anh lắm nhưng thực sự là xa anh em ko thể chịu được, anh tha lỗi cho em nhé.

Thôi xin lỗi các em đi, anh vừa đi xong thì ở nhà em cũng kịp ngã vòng tay thằng khác rồi còn đâu.

Thời gian đâu yêu anh nữa mà ko bỏ.

Nghỉ ngay cái việc nguỵ biện đó đi nào các em.

Cuối tháng 4/2000, đây là thời điểm vất vả nhất của giai đoạn huấn luyện tân binh.

Ban ngày lăn lộn thao trường luyện tập, về đơn vị học chính trị rồi đêm gác lồi mắt.

Tuy mệt nhưng thằng nào cũng rắn rỏi, chững chạc lên nhiều.

Và lạ cái, tuy vất vả như thế, ăn uống thì kham khổ nhưng thằng nào cũng tăng cân ầm ầm.

Ít thì 4,5 cân, nhiều thì 7,8 cân, cá biệt có thằng tăng đến 12 cân.

Gầy như em mà còn tăng 1 phát từ 49 cân lúc mới vào lên 57 cân móc hàm trong thời điểm này, mặt mũi phì ra.

Lý do tăng cân là vì bọn em được ăn ngủ, tập luyện, sinh hoạt điều độ, ngày nào cũng đều đều như vắt chanh.

Và quan trọng là tư tưởng thoải mái, chả phải nghĩ gì nhiều lắm, tâm hồn lúc nào cũng phơi phới.

Chứ như ở nhà ăn uống thì khỏi nói rồi, nhưng toàn thức đêm thức hôm, sinh hoạt linh tinh, đầu óc lúc nào cũng suy nghĩ cách quay được màu để chơi bời thì ko gầy mới là chuyện lạ.

Trong giai đoạn huấn luyện này (kể cả sau này ra chính quy nữa vẫn thế) đó là tập điều lệnh đội ngũ.

Thời tiết ở Chí Linh - Hải Dương cực kỳ khắc nghiệt, mùa đông thì lạnh thấu xương, mùa hè thì ôi thôi, nóng như đổ lửa.

Thời điểm này bắt đầu bước vào hè nhưng ở đây nắng đã cực kỳ gay gắt, nhiệt độ lúc nào cũng xấp xỉ 36oC nên tập điều lệnh đội ngũ đúng là một ác mộng.

Tập đi thì còn đỡ vì dù sao cũng được vận động còn tập đứng thì quả là ko còn gì để nói nữa.

Nhất là với mấy chú đứng đầu hàng, đứng nghiêm ko nhúc nhích, mồ hôi rỏ ròng ròng cũng ko được lau.

Mấy hôm đầu tiên tập đứng thì Tiểu đoàn còn mở nhạc cho nghe nên cũng đỡ (toàn mấy bài bọn em thích nghe như: Vì nhân dân quên mình, Bác vẫn cùng các cháu hành quân, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây........).

Vài hôm sau ko biết nghĩ gì mà Tiểu đoàn cho chú Dũng Tiểu đoàn phó Quân sự vác tài liệu Chính trị ra đọc cho bọn em nghe.

Đứng đã mệt rồi lại còn phải nghe chú ý tụng toàn: Lịch sử Đảng, sự ra đời của Quân đội, truyền thống đơn vị, Luật hôn nhân gia đình.......... mà phát nản lên.

Mấy thằng đầu hàng khuôn dung ko còn tươi tỉnh được nữa, mặt bắt đầu nhăn như cái bị rách nhưng vẫn cố phải chịu.

Khổ thân thằng Tuyến vị (Đông Khê - B6) cái tội cao to, ảnh đẹp phải đứng ngay hàng đầu.

Đang đứng thì làm cái rầm 1 phát, ngả cắm đầu xuống đất ngất xỉu luôn phải bê lên Quân y.

Hoá ra bố cháu béo, đứng nắng nhiều quá ko chịu nổi nên ngất xỉu.

Đấy, ai bảo cứ to cao là có lợi nào, chỉ sướng cho bọn chéc bọn em cứ ở dưới tha hồ mà đổi chân, quẹt mồ hôi thoải mái.

Tuy ko được ngồi nhưng còn đỡ hơn bọn ở đầu hàng nhiều.

Tập đi cũng vất vả nhưng còn đỡ hơn tập đứng nhiều.

Chỉ khổ hồi đầu mới tập, chỉ huy căng dây cho tập đánh tay, giơ bàn chân cách mặt đất 20cm (động tác đi nghiêm) mà thấy ớn.

Rồi tập chậm các cử động đều, đi nghiêm, đổi chân........

Đến khi tập đi thật thì đỡ hơn nhiều, tiếng nhạc rộn rã kích thích thần kinh lắm nên mặc dù rất mệt thì thằng nào cũng phấn chấn đi cho thật đẹp.

Anh Đạt kều Đại trưởng em đi điều lệnh cực đẹp, lại có phương pháp duy trì tập rất hay nên lính cũng đỡ mệt và chán.

Với phương châm "ít nhưng chất lượng" nên bọn em ko cần tập nhiều, chỉ cần đi khoảng 3 vòng sân Tiểu đoàn thật mượt là được nghỉ giải lao, còn nếu ko đẹp thì xin lỗi nhé, mời các đồng chí cứ đi đi, ko giải lao giải liếc gì hết

Thời gian cao điểm nhất của đợt tập điều lệnh đội ngũ là đầu tháng 5/2000 vì phải luyện tập gấp để phục vụ cho 25/5 kỷ niệm 25 năm ngày thành lập đơn vị.

Tập vất vả qúa nên đã xuất hiện nhiều tình trạng trốn tập, lẩn tập bằng cách báo ốm.

Bọn em gọi đây là "ốm điều lệnh".

Cứ sáng ra nhận kế hoạch xong nhìn Trực ban Đại đội dẫn mười mấy "bệnh nhân" của Đại đội lên Quân y Tiểu đoàn mà thấy nản.

Thôi thì đủ các loại bệnh trên đời: đau chân, đau mắt, đau bụng, ho sốt......... lý do đau ốm thì nhiều vô kể luôn.

Ốm thật thì ít, mà ốm giả thì nhiều, hoặc cũng chỉ hắt hơi, ngâm ngẩm đau bụng cái cũng báo ốm lên Quân y để được nghỉ tập.

Lên Quân y, y sĩ sẽ phân loại bệnh rồi khám sau đó thằng nào ốm nhẹ thì trả về đơn vị học tập công tác bình thường (lúc nào cũng phải hầu hết số này, cùng lắm thì có 2 thằng ốm thật thôi).

Còn thằng nào ốm thật thì phát thuốc cho uống ngay tại chỗ, nhẹ thì cho về Đại đội nghỉ ngơi, nặng thì nằm Quân y theo dõi.

Rồi có 1 lần thằng Kiệt lẩn (Đằng Giang - B6) một tay dặt dẹo có tiếng ở đơn vị kêu đau bụng dữ dội.

Lên Quân y Tiểu đoàn anh Đức Y sĩ quá quen với văn của thằng này rồi nên tiêm cho nó 1 mũi rồi hỏi nó đã đỡ đau chưa?

Nó kêu em đỡ rồi ạh.

Àh kinh, thằng này ghê, tao tiêm nước cất cho mày mà mày cũng khỏi àh, dậy về đơn vị tập điều lệnh ngay ko tao báo cáo chỉ huy cho mày kỷ luật mút chỉ bây giờ.

Kiệt lẩn sái quá, biết ko qua mặt được Quân y nên cum cúp té về Đại đội tập điều lệnh với anh em nghiêm chỉnh ko dám văn nữa (câu chuyện này giống của bác nào kể rồi ý nhỉ, nhưng ko phải em ăn cắp bản quyền của bác đâu nhé mà là chuyện của em 100% đấy.

Đúng là bộ đội ở đâu cũng giống nhau các bác nhỉ, đủ kiểu văn vở luôn nên các bố Quân y cũng phải cao tay hơn để dẹp )

Em quên ko kể cho bác chuyện lĩnh phụ cấp.

28/2 bọn em được lĩnh tháng phụ cấp đầu tiên của đời lình.

Phụ cấp binh nhì lúc ý là được 56.400 đ + thêm 10.000 đ tiền khu vực nữa (tiền hít bụi) là bọn em được nhận 66.400 đ.

Tháng đó chưa phải mua nhu yếu phẩm nên được nhận đủ 66.400 đ.

Số tiền nhỏ nhoi đó chả có chút giá trị gì so với mấy trăm nghìn hay hơn triệu đang đầy túi bọn em.

Thế là tổ chức giải quyết đống phụ cấp kia nhanh nhất là bằng cách gọi số.

Gọi 1 phát hết luôn, thua thì thôi thắng thì ra thả xóc đĩa để nhân đôi giải thưởng.

Lúc còn rủng rỉnh thì thế đấy, coi phụ cấp ko ra gì, như rác.

Nhưng thời điểm đầu tháng 5/2000 thì bết thật rồi.

Tiền mang theo đã hết, gia đình tắc tế lên cũng có hạn.

Hồi đầu thì thằng nào cũng thuốc lá thơm, cứ phải là Vina, Hải Phòng, Marllboro.... mới hút.

Nhìn Tiểu trưởng với lính cũ hút Du lịch, Sapa, Bông Sen khét lẹt thì tỏ ý coi thường lắm.

Nhưng bây giờ mới thấm thía, tiền hết, thuốc thơm cũng hết lính mới nhà ta bắt đầu chén đến các loại thuốc cấp thấp kia.

Lúc trước chê nó khét, nóng thế mà giờ vã hút ngon thế.

Rồi đến lúc Du lịch, Sapa, Bông Sen cũng ko còn mà hút, vã tung lên rồi đi tìm thuốc hút.Tiền ko còn mua thì đi xin, xin ko được thì đi bắt tóp, đúng là cái giống nghiện thuốc nó khổ thế đấy.

Đến hôm cuối tháng được lĩnh phụ cấp đúng là 1 ngày hội lớn.

Lần này số tiền ít ỏi đó được quý trọng rồi, dành để mua thuốc lá hút dần.

Hấp lên như lần trước để treo mõm cả tháng àh.

Ko dại

Bên cạnh công tác huấn luyện thì tăng gia sản xuất là một món ko thể thiếu của bộ đội.

Cũng xin nói thêm, tiểu đoàn 2 bọn em khi ấy là tiểu đoàn điểm của toàn Quân khu về tăng gia sản xuất nên việc này càng được đẩy mạnh hơn.

Đi thao trường về, lau chùi bảo quản vũ khí trang bị xong là tất cả xách cuốc xẻng, xô thùng gàu chậu ra vườn tăng gia.

Vườn tăng gia Tiểu đoàn nằm ngay sát cổng ra vào, tương đối rộng, được chia ô đánh luống vuông vắn cẩn thận, ở giữa vườn tăng gia là 1 cái mương nhỏ được bê tông hoá để cung cấp nước tưới.

Vườn được chia thành nhiều lô, mỗi lô trồng một loại rau quả khác nhau.

Thôi thì đủ hết, rau muống, đậu đỗ, bắp cải, su hào, bí đao, bí đỏ....... bên rìa vườn là 2 hàng na và đu đủ thẳng tắp chạy dài.

Bác nào nhìn vào đây chắc chắn sẽ nghĩ đây là 1 vườn ra rạch năng suất cao ở đâu đó chứ ko phải là vườn tăng gia của một đơn vị Quân đội.

Trong vườn, tất cả các loại ra đều xanh mướt, nhìn rất chi là ngon mắt.

Nhưng rau đó chỉ để ngắm cho đẹp chứ ko phải để ăn, mất công trồng ra, chăm sóc cho nó thật đẹp để các đơn vị bạn về tham quan, học tập thôi.

Trừ khi nào nó quá già rồi, có cháu chắt gọi bằng cụ rồi thì mới cắt nhập xuống bếp để trồng lứa khác kịp phục vụ đoàn thăm quan sau.

Cả cái ao đợt lâu bọn em kè lại cũng thế, đã bắt đầu có mưa, nước trong ao mênh mông như hồ, Tiểu đoàn tổ chức thả cá và trồng 1 giàn mướp ở trên mặt ao.

Chiều chiều ra tưới rau nhìn cá nổi lên ăn trắng ao, bên trên là những quả mướp to ngon trĩu xuống mà thắt hết cả ruột.

Tự yên thấy tủi thân vì thành quả lao động thì ko được hưởng, toàn phải ăn cái loại rau vừa chat vừa già có cuộng nhập ở ngoài.

Rồi hàng tháng nghe Quản lý bếp báo cáo tháng này đơn vị đã tự túc được bao nhiêu kg rau xanh, bao nhiêu kg thực phẩm mà thắt hết cả ruột.

Nào có được ăn cọng rau, con cá nào đâu mà báo cáo như đúng rồi thế.

Mướp thì cứ xanh trĩu xuống để cho đẹp, đến khi nào già có xơ héo úa rồi thì mới đi thuyền ra cắt rồi ném vào hố tăng gia.

Phí chưa

Bên cạnh việc huấn luyện thì sinh hoạt văn hoá tinh thần, văn nghệ văn gừng đàn ca sáo nhị là 1 hoạt động ko thể thiếu của bộ đội.

Cứ nửa tháng 1 lần Tiểu đoàn lại tổ chức Liên hoan văn nghệ.

Toàn tiết mục cây nhà lá vườn cộng với 1 số tiết mục của cơ sở Đoàn kết nghĩa thế mà cũng hoành tráng ra phết nhé.

Công nhận bộ đội giỏi thật, ko có gì là ko làm được cả, nhất là cái khoản văn nghệ văn gừng này thì lại càng phê.

Đơn vị nào cũng có vài hạt nhân văn nghệ để mỗi lần tổ chức liên hoan lại trưng ra phục vụ anh em.

Đại 6 em lúc ý hạt nhân thì nhiều vô đối luôn, 2 cây ghi ta là Tuấn già và Quang bẩy (Cát Bi - b5).

Phải nói luôn đây là 2 tay ghi ta được đào tạo bài bản đấy nhé, chứ ko phải nghiệp dư như mấy ông ôm đàn gảy tưng tưng rồi nói là biết đánh đàn đâu.

Ghi ta thì còn có thêm thằng Tín còi (Vạn Mỹ - b4), thằng này chơi cũng siêu nhưng thiên về cổ điển.

Nghe nó dạo Romane De Amour, Love Story, thư gửi Ê li zơ, Hotel California....... thì chỉ có là ngất trên giàn quất.

Rồi các giọng nam cao, nam trung, nam trầm: Nhật Tuấn, Hùng đen, Minh đen, Khanh thọt........ khàn đục giọng thuốc lào, đầy đủ lệ bộ luôn.

Đặc biệt có thằng Nam đại uý (Cát Bi - b5) có tiết mục thổi sáo, ngâm thơ, bài tủ của nó là Núi Đôi của Vũ Cao.

Sau một đoạn sáo réo rắt là nó đọc :"Bảy năm về trước em mười bảy, Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng, Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa, Bữa thì em tới bữa anh sang......" rồi dừng lại thổi thêm 1 đoạn sáo nữa và lại tiếp tục :"Lối ta đi giữa hai sườn núi, Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi, Em vẫn đùa anh sao khéo thế, Núi chồng, núi vợ đứng song đôi....".

Lần đầu tiên nghe nó ngâm bài này mà thằng nào cũng chảy nước mắt, nhất là đoạn nói về cô gái bị hi sinh ý :"Mới đến đầu ao tin sét đánh, Giặc giết em rồi, dưới gốc thông, Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa, Em sống trung thành, chết thủy chung.....".

Sau này nghe quen nên cũng đỡ đi nhiều, nhưng cảm giác nao nao thì vẫn thế.

Chắc là do giọng ngâm thơ truyền cảm của nó, lại thêm tiếng sáo da diết nữa nên mới đi vào lòng người đến vậy.

Ngoài ra đội ngũ vũ công, múa phụ hoạ thì nhiều vô kể.

Cứ đến cuối buổi biểu diễn là nhao hết lên sân khấu dậm dật, lắc lư như lên đồng, chả theo điệu nhạc nào hết.

Đơn vị bạn người ta giải tán gần hết rồi mà mấy bố Đại 6 vẫn say sưa thể hiện, đến khi có còi tập hợp mới thôi

Trước buổi biểu diễn khoảng 3,4 ngày là đội văn nghệ của từng Đại đội tập trung tập dượt.

Sau đó là 1 buổi tổng duyệt toàn Tiểu đoàn, lắp ghép tiết mục với cơ sở Đoàn kết nghĩa.

Đêm biểu diễn, sân khấu là sân của Tiểu đoàn bộ, âm thanh ánh sáng đầy đủ, MC đàng hoàng (thường thường là Chính trị viên phó Đại đội 6 Nguyễn Thanh Vân và 1 cô giáo Tiểu học ở cơ sở Đoàn kết nghĩa).

Bộ đội được ăn cơm sớm trước 30', đến giờ biểu diễn trừ canh gác, vệ binh còn lại toàn Tiểu đoàn lễ tiết tác phong đầy đủ tập trung dưới "khán đài" để theo dõi và cổ vũ các diễn viên quần chúng nhà ta biểu diễn.

Sau mỗi tiết mục là những tràng vỗ tay, tiếng huýt sáo, tiếng hô bis bis dài tưởng như bất tận.

Diễn viên quần chúng thôi nhưng khán giả thì rất chi là chuyên nghiệp, băng rôn biểu ngữ được chăng lên, hoa được chuẩn bị sẵn.

Đến mỗi tiết mục của gà nhà xong là các khán giả ruột thi nhau lên tặng hoa diễn viên.

Tất nhiên số hoa này đều được cắt trộm tại vườn hoa của Đại đội.

Thằng nào nhỡ chậm chân, hoặc hôm đó liên lạc Đại đội biết thóp trông kỹ quá ko cắt trộm được thì ra bờ suối bứt cỏ bó lại để tặng (lính ta có chịu lùi trước bất cứ khó khăn nào đâu ).

Hồi đầu tổ chức văn nghệ có các cô giáo của Đoàn kết nghĩa, thằng nào cũng háo vì lâu ngày ko gặp con gái nên cứ nhao hết lên, tranh nhau tặng hoa.

Nhưng về sau vì quen mắt, hết sức thu hút rồi, mới cả thật sự là mấy cô giáo này cũng hơi cá sấu tí nên lính nhà ta lờ lớ lơ đi luôn.

Sau này thỉnh thoảng cũng có Văn công của QK về đơn vị biểu diễn phục vụ anh em, tuy chuyên nghiệp hơn hẳn, diễn viên nữ cũng mê ly hơn mấy cô giáo kia nhiều nhưng so ra thì ko khí vẫn ko thể náo nhiệt như những buổi văn nghệ tự biên tự diễn của bọn em được.

Nghĩ lại cũng một phần có những buổi văn nghệ ý, một món ăn tinh thần nhiều ý nghĩa mới giúp bọn em vượt qua được những tháng ngày nghĩa vụ nhàm chán, khô ko khốc đó

Thấm thoát cũng sắp hết tân binh đến nơi, Trung đoàn tổ chức 25 năm thành lập đơn vị xong là bọn em tập trung vào ôn luyện những khoa mục đã học để chuẩn bị kiểm tra kết thúc huấn luyện.

Thời gian luyện tập cũng sít sao hơn, khoa mục nào cũng phải cố gắng luyện tập cho thành thục.

Tập trung nhất là 3 món tủ:bắn súng AK bài 1, ném lựu đạn xa trúng hướng và đánh thuốc nổ.

Bắn súng thì ok rồi vì khi kiểm tra đường ngắm thì ngon ơ, yếu lĩnh động tác bóp cò cũng ổn, chỉ ko biết lúc bắn thật thì như nào thôi.

Vì thật bao giờ chả khác tập.

Ném lựu đạn thì lại càng ngon hơn, toàn thằng tay to như chân, chân to như tờ báo Nhân Dân, gì chứ khoảng 35 m là vô tư.

Cá biệt có thằng Bình béo (Đổng Quốc Bình - Hoả lực) thường xuyên ném qua bia luôn.

Chỉ có món uýnh thuốc nổ là hơi run run 1 tí.

Tại vì bọn em tập toàn bằng bộc phá ống đẽo bằng gỗ, đường kính 15 cm, dài 1,2 m.

Đợt đầu tập thì tập chay, đến gần ngày kiểm tra mỗi lần tập cán bộ lại buộc vào đuôi bộc phá 1 nụ xoè và 1 đoạn dây cháy chậm để bọn em tập giật cho quen.

Vì cái nụ xoè này giật sai động tác là đứt ngay.

Cái vụ điểm hoả này thì muỗi thôi, thằng nào giật chả xì khói, cái mà bọn em thắc mắc nhất là vụ khối thuốc nổ để bọn em kiểm tra nó sẽ to bằng đâu?

Có to bằng cái bộc phá ống mà bọn em đang tập đây ko?

Nếu to bằng đây thật, giật xong ko chạy kịp nó nổ cho banh xác ra àh.

Đem thắc mắc hỏi Tiểu đội trưởng thì chỉ nhận được những nụ cười bí hiểm.

Hỏi anh Dũng lùn trung đội trưởng thì anh ý bảo cũng phải to gần bằng đấy đấy, kèm theo câu trả lời bao giờ cũng là 1 nụ cười rất khó hiểu.

Thế là đã run nay càng run hơn.

Quả này thì die con rồi mẹ ơi, hu hu.

Nó to như kia thì chạy làm sao kịp đây.

Đến hôm kiểm tra thì mới té ngửa ra là các bố nhà ta chỉ tung tin đồn nhảm rung doạ lính mới thôi.

"Khối thuốc nổ" to đùng ở đây chỉ là 1 mẩu TNT bé tí chưa bằng bao diêm buộc sẵn kíp, dây cháy chậm, nụ xoè đính kèm ở đuôi quả bộc phá ống bằng gỗ.

Sức công phá của chỗ thuốc nổ ý chưa chắc đã bằng quả pháo đùng mà hồi chưa cấm pháo bọn em hay làm để đốt, tiếng nổ chắc chắn cũng ko to bằng luôn.

Có thế thôi mà mấy bố cán bộ cứ làm anh em hồi hộp, run mãi.

Tưởng thế nào chứ, cứ như này thì muỗi đê.

Thấy bọn em ko biết gì cứ chém gió như đúng rồi ý, cứ gọi là phát rét lên

(Mà mấy ông Tiểu đội trưởng này chém gió cũng ghê thật đấy, hồi mới lên hỏi cái gì các ông ý cũng thổi phồng lên, làm như vấn đề nó quan trọng lắm ý ko bằng.

Cái gì cũng thế này này, thế kia kìa, ghê rợn lắm.

Sau này quen dần rồi thì mới thấy sự thật ko phải vậy, nó cũng bình thường như cân đường hộp sữa trong đống nhu yếu phẩm được lĩnh hàng tháng thôi.

Các ông ý đi trước thấy loè được cứ loè, may mà bọn em cũng nhanh trí nên ko loè được lâu )

Lại nói chuyện nhu yếu phẩm, mỗi tháng bọn em được phát 1 gói xà phòng giặt, 1/2 kg đường, 1 tuýp kem đánh răng, 2 cuộn giấy vệ sinh, có tháng thì có thêm 1 hộp sữa Ông Thọ nữa.

Số nhu yếu phẩm này sẽ được trừ vào tiền phụ cấp hàng tháng.

Mà đắt kinh khủng, ko phải nói dối các bác chứ ít nhất cũng phải đắt gấp rưỡi bên ngoài, dã man luôn.

Hồi đầu thì số nhu yếu phẩm này để dùng dần vì dù sao nó cũng là nhu cầu tối thiểu của mình.

Tháng nào có sữa thì lên C bộ mượn cái chậu rửa mặt vác lên bếp xin một chậu nước nóng, đục sữa đổ vào pha rồi mỗi thằng làm 1 bát.

Hết thì lại xoay vòng đổi tập, đến khi hết sữa thì lấy đường pha nước uống.

Về sau bết quá, cứ nhận nhu yếu phẩm xong là gom hết vào vác ra dân đổi rượu với mì tôm trứng.

Tất nhiên thì giá cực kỳ mùn củi rồi, chưa bằng 1/2 giá thị trường lúc bấy giờ.

Đến lúc cần dùng đến thì chạy đi xin loạn hết cả lên.

Hết rồi, ko có tiền mua ko đi xin thì cướp ở đâu ra mà dùng bây giờ. (

Sau này còn rất nhiều chuyện về mang đồ ra dân đổi rượu như này nữa cơ, rất ly kỳ và hấp dẫn nhưng các bác cứ bình tĩnh, hết tân binh em sẽ kể).

Rồi cũng đến ngày kiểm tra kết thúc huấn luyện tân binh, tuần đầu tiên của tháng 6/2000.

Đây là lúc tổng kết lại thành quả của 3 tháng vất vả lăn lộn ngoài thao trường đánh vật với từng khoa mục huấn luyện và cố nhồi nhét vào đầu những mớ chính trị khô cứng, khó nhai (cố nhồi thôi chứ có thằng nào hiểu gì đâu).

Bắt đầu kiểm tra từ điều lệnh đội ngũ, võ tay ko, kỹ thuật băng bó cứu thương, tính năng, tác dụng, cấu tạo, cách tháo lắp súng bộ binh, kỹ thuật khắc phục vật cản, rà phá bom mìn.......... rồi chính trị chính em, có nghĩa là tất tần tật những gì mà bọn em đã được học qua.

Nói chung là mấy môn đấy đều ok hết, gì chứ chỉ tiêu 100% đạt yêu cầu trong đó có 70% khá và giỏi thì thừa sức đạt được.

Bốn ngày là bọn em giải quyết xong hết.

3 ngày cuối thì kiểm tra bắn súng, ném lựu đạn và đánh thuốc nổ, 3 món chính của huấn luyện tân binh (các đời lính trước vẫn gọi là tân binh 3 tiếng nổ).

Riêng bắn súng là bọn em háo hức nhất, phần vì lần đầu được biết bắn đạn thật như thế nào, phần nữa thằng nào cũng muốn rinh 10 ngày phép Trung đoàn thưởng nếu kết quả đạt 3 điểm 10.

Buổi kiểm tra bắn súng bọn em phải dậy sớm trước 1 tiếng, cơm nước chuẩn bị xong xuôi là hành quân ra trường bắn Hố Sen cách đơn vị ~ 8km.

Đây thực ra là 1 thung lũng nhỏ, xung quanh được bao bọc bởi những dãy đồi thấp, hướng bắn chính là 1 quả núi cao, em thấy sĩ quan gọi là điểm cao 92.

Đây là thao trường bắn đạn thật của Trung đoàn, có thể bắn được các loại súng cối từ 100 ly trở xuống, súng phòng không 12 ly 7, DKZ 82, DKZ 75, B41 (B40) và các loại súng Bộ binh khác với đủ các loại bia: cố định, di động, ẩn hiện.

Ở đây cũng có 1 bãi để ném lựu đạn thật bằng phẳng và rộng rãi.

Hành quân ra đến bãi bắn trời cũng đã sáng rõ, các đơn vị tân binh khác cùng kiểm tra bắn trong hôm nay đã có mặt đầy đủ, tinh thần có vẻ phấn khởi lắm.

Các đơn vị đảm bảo cho buổi bắn kiểm tra lại lần cuối cùng công tác chuẩn bị, súng ống, đạn dược, bia bảng, lực lượng báo bia.... mọi thứ đã sẵn sàng.

Tất cả xếp hàng nghe chú Hùng đen Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 hạ Khoa mục, hạ Khoa mục xong đơn vị nào về đơn vị đấy xếp hàng ngồi đợi đến lượt mình bắn, mỗi lượt bắn là 10 thằng.

Tiểu đoàn 2 bọn em bắn sau tân binh của Tiểu đoàn 1, ngồi đợi mà trống ngực đập thình thịch, học thì kỹ rồi nhưng đã được bắn bao giờ đâu mà ko hồi hộp.

Lượt bắn đầu tiên vào bệ bắn, mỗi thằng bắn có 1 sĩ quan dẫn bắn tay cầm cờ đuôi nheo.

Tiếng anh Long (Đại đội trưởng C7 - D3) chỉ huy bắn hô to, dõng dạc trên loa cầm tay:"mục tiêu số 4, cự ly 100m, thước ngắm 3, đạn 3 viên, thời gian ko hạn chế, nằm chuẩn bị bắn".

Tất cả nằm xuống lấy hộp tiếp đạn trong bao xe chuẩn bị sẵn ra lắp vào súng, lên đạn rồi đóng khoá an toàn giương súng chờ lệnh.

Động tác này đã được tập đi tập lại đến thành thục ở nhà rồi, nhưng đây là bắn thật, chắc do run quá nên nhìn loạt bắn đầu tiên này thực hành lóng ngóng lắm.

Tiếng chỉ huy bắn lại dõng dạc vang lên:"mở khoá an toàn nấc phát một, bia mất an toàn, bắn".

Sĩ quan dẫn bắn lấy chân dậm lên mông từng thằng 1 đề phòng nẩy mông lên trong khi bắn.

Từng tiếng nổ đanh gọn vang lên toành... toành... toành cộng thêm tiếng chíu chíu của đạn xé gió làm bọn chuẩn bị hơi giật mình.

Bắn xong loạt đầu, dẫn bắn giơ cờ lên báo cho chỉ huy bắn là đã xong, tiếng hô lại vang lên dứt khoát:"tháo hộp tiếp đạn, đóng khoá an toàn, đặt súng tại bệ, đứng dậy", tất cả làm theo khẩu lệnh rồi đứng dậy lùi về phía sau.

"Bia an toàn, báo bia", loạt đầu tiên bắn cũng ổn, toàn 10 - 9 - 8, 10 - 8 - 8.......

Loạt bắn đầu rút về phía sau để loạt sau chuẩn bị vào bệ bắn.

Cứ thế lặp đi lặp lại, loạt trước xong về đến loạt sau lên, tiếng bàn luận, tiếng tiếc rẻ xôn xao hoà cùng tiếng nổ toành...toành...chíu...chíu... vang lên ko dứt.

Vì cũng đã quen với tiếng nổ rồi lên bọn em ko còn giật mình nữa mà còn tỏ ra thích là khác.

Đến lượt em vào bắn là tầm 9h30', lúc ý trời đã khá nắng, cảm giác hồi hộp cộng với nắng nóng làm em túa mồ hôi ướt đẫm áo.

Nhưng khi vào bắn thì vẫn bình tĩnh làm các động tác theo sự chỉ huy một cách thuần thục.

Khó khăn đôi chút khi lấy đường ngắm là do trời nắng quá, đất bốc hơi, cự ly có 100m thôi nhưng sao bia nó khoè thế.

Ko có gì, vận dụng kiến thức đã được học, em nhắm nhẹ mắt khoảng 3 giây rồi mở ra, có tác dụng ngay, mục tiêu bia số 4 hiện lên rõ nét.

Lấy đường ngắm xong, đầu ruồi chạm đít điểm đen, em từ từ tăng cò, toành ....

Lấy lại đường ngắm rồi em tiếp tục tăng cò, toành.... toành....., ba viên đạn chỉ nổ cách nhau chừng 15 giây.

Các bệ bên cạnh cũng lần lượt nổ súng.

Công nhận lần đầu tiên bắn súng thích thật, tiếng đạn nổ rất gần, báng súng giật thúc nhẹ vào vai tạo cảm giác hơi tức tức nhưng rất lạ, mùi khói súng khét lẹt.

Bắn xong đứng dậy chờ báo bia còn hồi hộp hơn cả lúc chuẩn bị bắn, ko biết mình được bao nhiêu điểm đây, có trúng ko hay tìm chim hết, mà 30đ thì quá đẹp.

Hồi hộp nhìn báo bia cầm gậy chỉ điểm chỉ vào giữa bia, phất cờ hô: 10.

Tiếp tục giữ nguyên gậy, quay cờ 3 vòng trên đầu phất xuống hô 10.

Sướng rồi, 2 con 10 rồi, thêm phát nữa là ngon thôi blah.. blah.....

Cố lên.

Nhưng cái gì thế kia, gậy di chuyển ra ngoài xa tâm 1 tí rồi, cờ phất mạnh sang phải: 8.

28 điểm, thế là ko được gắn hoa vàng lên ngực, ko có 10 ngày phép rồi, thôi thế cũng được, 28đ là ghê rồi còn gì nữa.

Ko bù cho thằng Khanh thọt bệ bên cạnh, anh báo bia săm soi cái bia 1 lúc, lắc đầu rồi giơ cờ và gậy qua đầu vắt chéo nhau gõ cái cạch 1 phát: tìm chim.

Cả cái bia to như thế mà ko dính 1 viên đạn nào mới sợ chứ.

Khổ thân thằng bé cứ thờ người ra, mặt buồn xiu, nó là thằng đầu tiên bắn trượt cả 3 viên ko vào bia.

Về chỗ, lại tiếp tục bàn tán, lại nghe tiếng súng nổ toành...toành..toành... chíu..chíu...chíu ...

Lần lượt, lần lượt cứ số 3 ra số 4 vào như thế đến tầm 11h trưa là bắn xong.

Tất cả tập trung nghe thông báo kết quả, rút kinh nghiệm bắn.

Kết quả thì đúng như dự đoán, chỉ tiêu 100% đạt yêu cầu trong đó có 70% khá và giỏi của các đơn vị đề ra hầu hết đều hoàn thành.

Chỉ tiếc cả buổi bắn có đúng 2 thằng bắn được 3 điểm 10 là thằng tân binh người Hà Tây Tiểu đoàn 3 và thằng Dương Thỉnh (An Đà - b6, c6).

Ngực mỗi thằng được cài 1 bông hoa vàng (loại hoa bằng giấy mà các đơn vị làm sẵn ở nhà, 30đ thì hoa vàng, 25 - 29đ thì hoa đỏ, còn dưới 25đ thì cài hoa cúc) mặt vênh lên mà thấy ghét, cậu bắn nhanh tí thôi ko cũng 30đ như mày rồi đấy.

Thế là đã xong 1 món khoai, kết quả thế là tạm chấp nhận được, mà bắn súng cũng bình thường nhỉ, làm gì mà khó và đáng sợ lắm.

Thế mà mấy bố Tiểu đội trưởng cứ nói như đúng rồi ý, nào là bắn ko cẩn thận báng súng nó giật cho vỡ vai, năm ngoái có thằng bắn bị báng súng giật sợ quá đái ướt cả bệ.....

Thôi xin lỗi các bố đi, giờ thì ko tin lời các bố nói nữa rồi, chém gió thì cũng vừa phải thôi chứ, cứ như là gà lắm ý, sắp thành sói hết cả rồi đấy.

Thu dọn vũ khí trang bị rồi hành quân về đơn vị, cơm nước xong chiều bon ra thao trường ôn bài ném lựu đạn để sáng mai lại ra Hố Sen kiểm tra ném thật.

Tập thì ít mà bàn tán về buổi bắn súng lúc sáng thì nhiều.

Thằng nào cũng tiếc rẻ, bảo bình tĩnh ngắm kỹ tí nữa thì có khi kết quả sẽ khác đi rồi.

Và cùng thống nhất với nhau là bắn súng ko có gì khó cả, nếu bây giờ có 3 chục băng đạn cũng bắn hết luôn chứ ko phải 3 viên.

Rồi lại bàn đến ngày mai ném lựu đạn sẽ thế nào, chắc cũng đơn giản thôi.

Có kinh nghiệm vụ bắn súng rồi nên hi vọng là ngày mai sẽ làm được tốt hơn.

Sáng hôm sau lại bon ra thao trường Hố Sen sớm.

Lại tập trung nghe quán triệt, hạ Khoa mục xong về vị trí chờ đợi.

Lần ném lựu đạn này khác với bắn súng vì chỉ mỗi lần chỉ 1 thằng ném thôi, và phải vận động từ chỗ chuẩn bị đến bãi ném rất xa, tầm ~ 150m dốc thoải 45 độ.

Tập trung tại chỗ vị trí chuẩn bị, nghe đọc đến tên thì cùng sĩ quan dẫn ném vận động lên bãi ném.

Chạy lên đến nơi mồm mũi tranh nhau thở.

Tại đây sẽ được Quân khí Trung đoàn phát 1 quả lựu đạn mỏ vịt Việt Nam rồi vận động đến vị trí ném. (Bãi ném lựu đạn ở đây cũng bố trí giống hệt như thao trường trong đơn vị, có nghĩa là cũng chia ô tính cự ly và cắm cờ dẫn hướng, cuối bãi cắm 1 bia số 6, chỉ khác cái là ở đây, tại vị trí ném có đắp thêm 1 ụ đất cao để khi ném xong ngồi xuống tránh mảnh, 2 bên là 2 cái hố sâu đề phòng nếu có sự cố thằng nào run quá ném ngay xuống chân thì sĩ quan dẫn ném sẽ đá lựu đạn xuống đấy rồi ấn người ném cùng nằm xuống tránh sát thương).

Tay phải cầm lựu đạn, tay trái cầm súng, ngón trỏ của tay trái xỏ sẵn vào khuy của mỏ vịt chờ lệnh.

Sĩ quan dẫn bắn hô :"điểm hoả" là rút chốt, tay vẫn giữ chặt mỏ vịt.

"Ném" là lấy hết sức ném lựu đạn đi thật xa và theo đúng hướng cờ đã dẫn.

Vẫn còn ngáo ngơ thì sĩ quan dẫn ném cầm gáy ấn và hô ngồi xuống.

Một tiếng nổ "rầm" đanh kèm theo 1 đụn khói hình phễu bốc lên, khói bụi mù mịt.

Thế là xong, đạt yêu cầu.

Ném xong xách súng vận động về phía sau để thằng khác vào vị trí ném.

Đã xong 2 khoa mục khó, bây giờ chỉ còn lại món cuối cùng là đánh thuốc nổ.

Trái với mọi phỏng đoán cũng như thêu dệt lúc trước thì món này lại đơn giản hơn rất nhiều.

Dưới mức tưởng tượng luôn.

Cái "khối thuốc nổ" mà Trung đội trưởng Dũng lùn bảo "to gần bằng thật" là 1 mẩu TNT bé tí, kích thước chưa bằng bao diêm buộc sẵn kíp, dây cháy chậm, nụ xoè đính kèm vào đuôi quả bộc phá ống bằng gỗ ngày thường vẫn dùng để tập.

Cái này cũng do quân khí Tiểu đoàn chuẩn bị sẵn chứ bọn em ko phải làm (cho các ông làm lóng ngóng nó nổ luôn trên tay thì quá đẹp, ko bõ).

Lần này ko phải ra Hố Sen nữa mà kiểm tra ngay ở thao trường học chiến thuật của Tiểu đoàn.

Mỗi thằng ôm 1 quả, cũng từng thằng 1 chạy theo Trung đội trưởng dẫn lên hàng rào bùng nhùng ngoài cửa mở.

Trung đội trưởng hô khẩu lệnh :"hàng rào bùng nhùng, hướng cửa mở, đặt bộc phá" là nhanh tay luồn quả bộc phá ống vào đám thép gai bùng nhùng theo như đã tập.

"Điểm hoả", tiếng hô vừa dứt là cầm đuôi nụ xoè kéo thẳng về phía sau.

Nghe tiếng dây cháy chậm xì xì là tháo súng quay người chạy, vừa nằm xuống là Rầm.

Xong.

Cả đại đội thằng nào cũng làm ngon ơ, chỉ có mỗi thằng Mạnh chó (Máy Chai - b4) lóng ngóng kiểu gì mà đứt cả đoạn dây thép của nụ xoè -------> bộc phá ko nổ.

Nhưng ko sao, xuê xoa đi, vẫn 100% đạt yêu cầu hết.

Thế là những ngày huấn luyện tân binh đã kết thúc, bọn em lại chuẩn bị bước vào một cuộc sống mới trong quân ngũ với nhiều khó khăn vất vả hơn.

Nhưng ko vấn đề gì, đã là bộ đội thì đâu chả là chiến trường.

Khó khăn vất vả thế nào cũng có thể vượt qua được hết

Kết thúc huấn luyện tân binh, trước mắt đơn vị em chưa có gì xáo trộn, quân số Trung đội nào vẫn thuộc Trung đội đó.

Nghỉ huấn luyện, toàn tiểu đoàn bước vào đợt lao động giúp dân kết hợp xây dựng cơ sở vật chất cho đơn vị.

Cán bộ gọi là đi "dân vận" nhưng lính bọn em gọi trắng phớ ra là đi làm kinh tế.

Việc làm do đơn vị tự liên hệ với dân, do năm nào cũng đều đều như thế, nói chung là có mối hết rồi nên việc làm tìm cũng rất đơn giản, chỉ sợ lính ko có sức mà làm thôi.

Mỗi thằng ra dân lao động sẽ được trả công 6.000 đ/ngày, được chủ nhà nuôi cơm 2 bữa, chủ nhà ăn gì thì bộ đội ăn nấy nhưng thường là ngon hơn cơm đơn vị.

Tất nhiên số tiền công đó sẽ do chỉ huy đơn vị thu, và tiền ăn 2 bữa đó cũng "được" đơn vị cắt luôn.

Công việc ngoài dân thường là gặt lúa, nhổ lạc, hái vải, đào ao, vào rừng chặt củi đốt than hoa (loại than các bác vẫn dùng để nướng mực ý ).

Riêng bọn vào rừng đốt than này thì công được cao hơn, nhưng phải ở trong rừng hàng tuần mới được ra.

Việc này cũng chỉ có lính cũ và tân binh Đại 8 (Cát Bà - Cát Hải) mới được đi làm thôi, cho lính Đại 6 vào rừng để chúng nó làm loạn àh.

Ra ngoài dân thì làm vất vả hơn ở đơn vị, nhưng được cái thoải mái hơn rất nhiều, đang bị kìm kẹp tự yên được tự do bay nhảy nên thằng nào cũng muốn bon đi làm.

Nhưng ko phải thằng nào cũng được đi làm đâu, việc tuy nhiều nhưng chỉ huy Đại đội chỉ cho mỗi Trung đội 5 thằng đi làm do 1 Tiểu đội trưởng chỉ huy, số lính này hầu như cũng toàn thằng ưu tú của Trung đội cả.

Riêng tiểu đội Hoả lực toàn dân Tiên Lãng nên được đi làm hết, vì đội này ngoan, dễ bảo và dễ quản lý hơn lính Hải Phòng bọn em.

Quân số còn lại của Đại đội ở nhà tăng gia, sản xuất, một bộ phận khéo tay hay làm được trung dụng để sửa chữa, làm mới bia bảng, mô hình học cụ để chuẩn bị cho Huấn luyện Giai đoạn 2.

Cuộc sống đang vào thời điểm "nông nhàn" nên cũng sinh ra lắm bệnh nhiều tật

Cũng phải nói qua về dân ở đây cho các bác nắm được.

Đơn vị em đứng chân trên địa bàn xã Hoàng Hoa Thám - Chí Linh - Hải Dương.

Diện tích tự nhiên của xã rất rộng, có khi phải rộng gần bằng quận Ngô Quyền bọn em.

Địa hình của xã chủ yếu là rừng, núi, đồi và sông suối, dân cư thưa thớt, sống rải rác, chỉ tập trung đông ở 1 vùng nhất định còn sâu sâu 1 chút thì mỗi nóc nhà ở cách rất xa nhau, có khi phải đi vài trăm mét mới có 1 nhà.

Dân ở đây chủ yếu là dân tộc Hoa, dân tộc Khmer (toàn dân K chạy loạn nạn diệt chủng của Pol Pot hồi cuối 7X được Nhà nước ta bố trí cho ở đây ), dân tộc Kinh thì rất hiếm.

Họ sống hiền lành, chịu khó làm việc, tiết kiệm và........ rất ghét bộ đội.

Điều này cũng dễ hiểu, các địa phương khác vài năm mới gặp bộ đội về làng 1 lần nên họ rất quý và thương bộ đội (nhìn bộ đội gày gò,hành quân vất vả, ăn uống thiếu thốn dân ko thương mới lạ ).

Còn dân ở đây tiếp xúc với bộ đội đến gần 20 năm nay rồi, thứ nhất là họ đã quá quen mắt, thứ 2 nữa và quan trọng hơn là lớp bộ đội nào đóng quân ở đây cũng gây ra điều gì đó có hại cho dân như trộm cắp của dân, phá rừng của dân, say rượu đánh nhau với dân.... và đáng trách nhất là cho các cô con gái của dân 1 chú bộ đội con rồi té mất ko sủi tăm Kể cũng lạ, mặc dù rất ghét bộ đội, lại bị bố mẹ cấm ko cho quan hệ với bộ đội, nhưng ko biết có phải các em ý thích cánh lính nhà ta đẹp trai, dẻo mồm hay ko mà năm nào cũng có vài em ôm bụng vào đơn vị ăn vạ.

Chỉ huy nào người ta giải quyết cái chuyện ý, rõ ràng thủ phạm là người của đơn vị, nhưng ra quân rồi thì đơn vị cũng chả có cách gì mà truy cứu cả, có thì cũng chả ai người ta làm, dại gì đi mua dây buộc mình.

Còn tại ngũ còn lôi ra kỷ luật tội vi phạm kỷ luật dân vận còn được, đây là ra quân rồi, ko thuộc quyền quản lý của đơn vị nữa nên coi như đơn vị ko có trách nhiệm gì hết, ai bảo thích uống nước đường của nó, ngu thì chết, kêu gì Có chăng thì cũng chỉ giúp đỡ cho cô gái kia biết cái địa chỉ ở quê của thủ phạm để cô và gia đình tự về mà bắt đền thôi.

Nhưng có mà dám, lơ ngơ kéo về đấy nó lại chối bay chối biến rồi dã cho 1 trận thì đẹp mặt.

Nên đa phần các cô gái bị dính trấu của các chú bộ đội, lu loa chán lên ko được thì âm thầm chịu đựng, hi vọng 1 ngày thằng kia ân hận, nghĩ lại rồi trở lại đây theo như lời hứa.

Nhưng tất cả đều mút chỉ hết, về quê vợ đẹp con khôn rồi thằng nào dạ quay lại cái nơi khỉ ho cò gáy này làm gì nữa.

Ông nào có lòng trắc ẩn thì may ra còn nhớ đến ở xó rừng nào đó mình còn có 1 "vợ" và 1 con, ko biết bây giờ chúng nó sống chết như nào.

Chỉ thế thôi, chứ quay lại đấy sống thì chắc chắn là ko có đâu.

Nhưng cũng có nhiều chú bộ đội yêu gái ở đây thật.

Nổi bật là trường hợp của anh Tú trinh sát người Hòa Bình.

Yêu 1 cô gái ở thôn Hố Giải, khi ra quân thì cưới nhau, bố mẹ vợ cho 1 đồi vải to tướng.

Hai vợ chồng quyết định sống ở đây luôn vì quê của anh Tú cũng nghèo lắm, chỉ thi thoảng nhớ quê thì 2 anh chị đưa nhau về thăm bố mẹ họ hàng.

Chịu khó cày cuốc nên bây giờ họ cũng có 1 cơ ngơi kha khá.

Cũng đã có bát ăn bát để, thi thoảng bọn em đi rừng toàn tạt vào đấy chơi nói phét, anh ý đón tiếp thoải mái lắm, dù gì cũng là cảnh lính chung đơn vị với nhau mà.

Nhưng những trường hợp lấy vợ ở đây như anh Tú là khá hiếm, toàn xã chỉ đếm được trên đầu ngón tay có mấy người còn lại đa số sau khi sung sướng xong là các bố lính nhà ta cao chạy, xa bay một đi ko trở lại đem theo lời hứa chờ anh về đưa bố mẹ lên nói chuyện với bố mẹ em.

Gương to tày liếp đày ra đấy rồi nhưng năm nào cũng có trường hợp này xảy ra, đến là lạ.

Ngoài quân số đi lao động trong dân ra, số ở lại đơn vị bọn em hầu như chả phải làm gì.

Suốt ngày chỉ ăn mới chăm sóc vườn rau, ao cá.

Những thằng làm bia bảng, học cụ thì cứ cần mẫn cưa bào, đục khoét, sơn sửa thế thôi.

Đang là thời ký quá độ nên chế độ của đơn vị cũng lỏng lẻo hơn.

Cán bộ đang mải dẫn quân đi làm kinh tế, cán bộ trực chỉ huy thì lười phó mặc hết cho sự tự giác của lính.

"Nhàn cư vi bất thiện", nhàn rỗi quá thì sinh hư, bọn em bắt đầu bày ra trò nghịch phá.

Đầu tiên là trốn ra dân uống rượu, thằng nào còn tiền phụ cấp, tiền găm lại được từ hồi tân binh thì bỏ hết ra nhậu.

Thằng nào nhiều thì còn khoảng 2,3 chục nghìn thôi, nhưng góp tất cả vào cũng được khôi khối, ra dân là đủ một bữa rượu thịt no nê rồi.

Ngày nào cũng thế, cứ làm xong công việc Đại đội giao, mắt trước mắt sau là từng thằng từng thằng nháy nhau nhảy tường ra dân uống rượu.

Hết tiền thì cắm ký, áo mưa, áo bông, áo K82, giầy dép, nhu yếu phẩm được phát ko dùng đến..... tất tần tật những gì quy được là quy thành rượu luôn Mỗi lần về là lần ngật ngưỡng vừa đi vừa hò hét ầm ĩ cả lên, có lần vệ binh đuổi chạy toán loạn.

Ba thằng vệ binh to cao vây 3 phía đuổi mà ko bắt được thằng nào.

Chúng nó hậm hực về báo cáo Tiểu đoàn, chỉ huy Tiểu đoàn gọi chỉ huy Đại đội lên quán triệt, chỉ huy Đại đội lại gọi bọn em lên doạ nhưng rồi cuối cùng đâu lại vào đấy, sợ quái gì chứ, lính ta mà buồn thì rượu là nhất, vui thì rượu cũng là nhất, chỉ huy chả là cái đinh gì.

Mà công nhận lính bọn em ghét vệ binh thế ko biết.

Cái hồi mới lên mới sợ chứ, vệ binh Tiểu đoàn có 3 thằng, thằng Dương mặt sẹo, thằng Khoa cù lần người Nam Định, thằng Hà trố người Hòa Bình, thằng nào cũng tay to như chân, chân to như tờ báo Nhân Dân, chúng nó cũng là lính như mình thôi nhưng có tí chức trách là thay mặt Chỉ huy duy trì, kiểm tra lễ tiết tác phong, kỷ luật của đơn vị nên có vẻ lên mặt với tân binh lắm.

Mỗi lần đi thao trường qua cổng là chúng nó bắt Trung đội đứng lại săm soi từng tí một để bắt lỗi, còn bắt kéo cả ống quần lên để kiểm tra xem có đi tất ko.

Mỗi lần có việc gì đi ra ngoài, đi cùng với Tiểu trưởng hoặc Trung đội trưởng hẳn hoi mà chúng nó cũng hạch sách chán rồi mới cho đi.

Nói chung là bọn em cay bọn vệ binh này lắm, bàn nhau rình có cơ hội chúng nó hở ra là dã, dã bết luôn thì thôi.

Một lần bọn em đi thao trường về, bọn vệ binh bắt xếp hàng ở cổng đơn vị để kiểm tra tác phong.

Cả đơn vị đều ngon nhưng chúng nó vẫn săm soi từng tí một để bắt lỗi, bọn em đã nóng mắt rồi.

Soi mãi cuối cùng cũng phải ra lỗi, thằng Tín còi (Vạn Mỹ - b4) đeo quân hàm dã chiến bằng cái kẹp tóc của con gái (theo quy định là phải có móc nhôm, ko được kẹp) thằng Khoa vệ binh cầm giật rồi ném bịch phát xuống đất.

Àh kinh, mấy 😡) này giãy chết rồi, bọn bố mày nhịn mày hơi nhiều rồi đấy, hôm nay mày ko biết điều còn trêu bọn bố mày àh.

Cả Trung đội vất hết bia bảng xuống đất, tháo súng quay ngược báng rồi lao vào đám vệ binh.

Mấy con giời lúc nãy to mồm thế nhưng bây giờ nhìn như mấy con tép sợ vãi đái quay đầu bỏ chạy.

Bọn em hùng hổ đuổi theo quyết phải cho bọn này 1 bài học, Trung đội trưởng Dũng lùn cuống hết cả lên hét ầm gọi bọn em quay lại rồi thổi còi thu quân.

Bọn vệ binh kia cũng khôn chạy thẳng vào nhà chỉ huy Tiểu đoàn để tránh đòn.

Biết là xông vào cũng ko làm gì được chúng nó nữa lên bọn em bảo nhau quay lại đội hình Trung đội.

Sau lần bị dã hụt đó bọn vệ binh cũng tởn đi nhiều, ko dám hung hăng như trước nữa.

Đấy là vệ binh Tiểu đoàn, còn bọn vệ binh Trung đoàn mới ghê cơ.

Ban ngày chúng nó đeo băng đỏ có chữ Kiểm soát Quân sự, tay cầm dùi cui gỗ đi tuần quanh đơn vị.

Ông lính nào ra ngoài ko có phép, lễ tiết tác phong ko đầy đủ là chúng nó bắt ngay, bọn nào mà trốn ra ngoài uống rượu chúng nó bắt được thì thôi rồi, dẫn ra nhốt boong - ke Trung đoàn luôn Lần trốn đi uống rượu hôm đó bọn em cũng đụng vệ binh Trung đoàn, 7 thằng ngồi uống cũng khá nhiều rồi, đã có thằng tây tây thì 3 thằng vệ binh Trung đoàn ập vào.

Nó quát hỏi lính đơn vị nào đây, em bảo lính Tiểu đoàn 2, bọn nó bảo ai cho các đ/c vi phạm kỷ luật như này, đứng hết dậy về Tiểu đoàn.

Bố mày đéo về đấy, chúng mày làm gì được nào, bọn em nhao lên nảy lại.

Bọn vệ binh này cũng ko vừa liền giơ dùi cui lên định quật, thằng Khanh thọt thì bị một thằng to con túm cổ áo lôi đi.

Chúng mày lại giãy chết rồi, cả bọn rút chai đập vỡ đít lao vào bọn vệ binh.

Lúc ý phê pha rồi biết gì đâu, lại đang ghét bọn vệ binh nữa nên thích là chiến thôi.

Thấy bọn em làm dữ quá, bọn kia mặt tái mét, bỏ vội Khanh thọt ra và té.

Bọn em đuổi theo ra đến cửa quán thì quay lại và cũng té luôn.

Chạy về đơn vị được 1 lúc thì thấy bọn vệ binh vừa bị đánh hụt kia vào báo cáo Tiểu đoàn.

Tiểu đoàn báo động để bọn nó nhận mặt.

Xếp hàng ra mà thằng nào cũng run, mặt mũi đỏ gay, mồm thằng nào cũng nồng nặc mùi rượu.

Bây giờ nó mà phát hiện ra thì no đòn.

Nhưng chắc do diễn biến nhanh quá nên bọn vệ binh kia ko nhớ mặt hay sao ý.

Săm soi chán ko nhận được ra thằng nào bọn kia báo cáo chỉ huy Tiểu đoàn là ko có.

Chỉ khổ cho bọn Trung đội 5 hôm đấy cũng trốn ra ngoài uống rượu ở quán khác, ko đụng vệ binh nhưng ko kịp về báo động nên phải chịu kỷ luật thay bọn em.

Chỉ huy Tiểu đoàn cứ khăng khăng cho rằng bọn nó chính là đám lính đã đánh vệ binh.

Thương chúng nó lắm nhưng biết sao được bây giờ, ngu gì mà bọn tao đứng lên nhận cho chúng mày bây giờ, thôi để hôm nào bọn tao mời chúng mày bữa rượu tạ lỗi vậy

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, những ngày nghỉ ngơi ăn chơi phè phỡn cưỡi ngựa xem hoa sau huấn luyện đã trôi qua 1 cách nhanh chóng.

Chỉ sau hơn khoảng 1 tuần ở lại đơn vị tăng gia sản xuất thì Đại đội nhận được việc đào 1 cái ao trên đồi để dân trữ nước tưới vải vào mùa khô.

Thế là chúng em lại phải tất bật lên đường, mỗi Trung đội cắt ra 10 thằng làm.

Chỗ đào ao là 1 đồi vải của dân trong thôn Hố Sếu cách đơn vị khoảng 4km.

Thôn này nằm sâu trong núi và hơi tách biệt hơn so với dân các thôn khác trong xã.

Đường đi quanh co và hẹp, chủ yếu là đường mòn nhưng có xe máy thì bon vẫn vô tư, tất nhiên là phải loại xe Minks mới tải nổi chứ loại Wave Tầu cả Dream Thái thì chắc chịu.

Sáng dậy sớm bon đi làm, trưa nấu cơm ăn luôn tại đấy, vạ vật tí chiều làm tiếp, tối làm xong về đơn vị nghỉ ngơi mai lại lên đường.

Cái ao bọn em đang đào vốn trước nó 1 mảnh ruộng trồng lúa nước ở ngay dưới chân đồi vải, bây giờ chủ nhà muốn cải tạo thành cái ao để trữ nước tưới vải vào mùa khô.

Hôm đầu tiên đào thì tưởng ngon ăn, vì bên trên là đất ruộng, đất ướt xốp nên chỉ lấy kéo cắt đất xén nhẹ cái là có tảng to.

Vèo cái 1 ngày Đại đội đã bóc hết lớp đất của mặt trên, nhưng sâu xuống dưới sau lớp đất mặt mới là cả 1 vấn đề.

Vì đây là đất đồi nên bên dưới toàn đá gan gà, có tảng to gần bằng nửa cái chiếu đơn bộ đội.

Chỉ tiêu độ sâu của ao là 2,5m, gặp ngay đống đá cứng đầu nên cả Đại đội đánh vật vài ngày mà vẫn ko sâu thêm được bao nhiêu.

Vật dụng để làm việc thì chả có gì, trang bị sơ sài, mỗi Trung đội được biên chế 1 kéo cắt đất, 1 xà beng, 1 cuốc, 1 xẻng to mượn của dân còn lại là toàn cuốc xẻng bộ binh.

Loại cuốc xẻng bộ binh này bé tí ti, mang đi cho nó đẹp thôi chứ làm được gì.

Đã khó khăn rồi bây giờ đồ làm cũng ko được đảm bảo nên thằng nào thằng ý nản ra mặt.

Ở nhà đã phải làm việc như này bao giờ đâu, chơi còn ko thành thân thì làm được gì, giờ bị đày ải như này, khó khăn một tí là cả lũ bảo nhau be rầm lên.

Chỉ huy Đại đội nghe thấy đấy nhưng điếc lòi ra, trình bày lên phường, chỉ tiêu giao đến tận tay rồi, làm đi, xong sớm nghỉ sớm, xong muộn nghỉ đúng giờ, ko xong thì làm bằng xong thì thôi.

Thế là lại bảo nhau lụi cụi đào tiếp, thôi thì ko đc nhiều thì được ít, cứ chịu khó đào rồi nó cũng phải xong, kiểu gì cũng phải đào, có trốn được đâu, làm nhanh xong sớm nghỉ sớm.

Khổ cái thời điểm này đúng là lúc đang diễn ra Euro 2000, đơn vị chỉ cho xem 1 trận khai mạc giữa Bỉ và Thuỵ Điển vào lúc tối, còn các trận về đêm là cấm tiệt.

Làm gì có chuyện nửa đêm vác TV ra sân mở bóng đá cho các ông hò hét, ngủ sớm đi đêm còn gác, sáng mai dậy sớm mà đi đào ao.

Mà các bác biết rồi đấy, bộ đội toàn đực rựa nên có đến khoảng 70% quân số là hâm mộ bóng đá.

Với 1 sự kiện bóng đá lớn 4 năm mới có 1 lần như Euro này mà phải bỏ qua thì quá là đáng tiếc.

Nhưng cái khó ko bó được cái khôn, bộ đội thì cái gì chả nghĩ ra được.

Đêm, cứ đến giờ bóng đá là bấm nhau dậy bon ra sân xem, chỉ cần mua mấy gói mì tôm cộng chai rượu là xem thoải mái.

Thằng nào ngủ cứ ngủ, thằng nào gác cứ gác, thằng nào xem cứ xem, đến giờ thì về đổi gác.

Cũng vì đang trong thời gian làm dân vận, quân số tản mát, tác phong, kỷ luật đơn vị duy trì lỏng lẻo nên bọn em cứ trốn đi thoải mái.

Chỉ khổ xem bóng đá ko được hô to vì nhà dân ở đây hầu như toàn nằm gần nhà chỉ huy Tiểu đoàn, cứ hét ầm lên "vào" mới "goalllllll...." nhiều mấy chú ý bắt được thì toi cơm.

Nhưng hô to khi xem bóng đá là 1 phản xạ có điều kiện rồi, biết hô to là nguy hiểm nhưng mỗi khi có pha bóng hay cả bọn tự nhiên lại hét ầm lên mới chết chứ, rồi giật mình đưa tay lên tự bịt miệng, nhìn buồn cười lắm.

Vừa xem mỗi thằng vừa làm 1 gói mì tôm trứng, cả bọn mút hết chai rượu, xem xong trận phê pha về ngủ là vừa.

Đêm xem bóng đá mất ngủ, sáng dậy mặt thằng nào cũng cay xè, đỏ quạch, quầng mắt thâm đen, người mệt rũ ra nhưng nào có được nghỉ, bon đi mà đào ao nhé.

Xem bóng đá xong thích ngủ nghỉ thì về nhà, đây là Quân đội thì làm gì có chế độ đấy.

Thất thểu lê đến chỗ làm, nhìn đống đá dưới đáy ao mà thắt hết cả ruột, nản thì thôi rồi.

Nhưng việc thì phải làm thôi, trốn đi đâu bây giờ.

Lại tay cuốc tay xẻng tay xà beng chọc đá rồi bê từng hòn một kè luôn xung quanh bờ ao.

Quần áo thằng nào cũng bê bết bùn đất, chân tay xước xát bật máu.

Lúc đầu làm còn hăng hăng tí, nhưng đến tầm 9h30' bắt đầu đói mềm ra là thôi, thằng nào cũng lờ đà lờ đờ, chán ko muốn làm chỉ muốn nghỉ ăn cơm luôn.

Toàn thanh niên sức dài vai rộng mà sáng được ăn chưa đầy bát rưỡi cơm con con với tí thịt, tí rau rồi bắt đi đào đá như này bố thằng nào chịu nổi, ép người quá đáng.

Lờ vờ làm đến giờ nghỉ ăn cơm thằng nào cũng phấn khởi, tranh thủ nạp năng lượng để chiều còn chiến đấu với đống đá kia tiếp ko sức đâu.

Đi làm ở đây thì chỉ huy Đại đội cắt gạo, thịt, rau theo tiêu chuẩn ở bếp Tiểu đoàn vào đây nhờ bếp chủ nhà nấu cho bộ đội ăn.

Đúng tiêu chuẩn có khác, lại tự nấu nên ngon và nhiều hơn hẳn cơm đơn vị.

Thế mới biết bọn bếp nó ăn bớt của bộ đội tởm như nào, thảo nào thằng "nhọ đít" nào cũng béo tròn ra, ăn hết của anh em rồi, ko béo mới là lạ ý.

Vật vã với cái ao ý khoảng 1 tuần rồi cũng hoàn thành, tất cả cùng thở phào nhẹ nhõm.

Chỉ huy được lấy tiền công của chủ nhà đút túi, lính thì thoát nợ đày ải, chủ nhà có cái ao to vật vã để chứa nước, tất cả đều khoan khoái cười phe phé như địa chủ được mùa ý.

Tân binh năm nay khác mọi năm ở chỗ là bọn em ko được về phép.

Mọi năm cứ huấn luyện xong là đơn vị giải quyết cho 100% tân binh về tranh thủ 1 tuần thăm gia đình.

Nhưng năm nay ko hiểu sao lại ko thế, mà đơn vị chỉ cho về từng đợt, từng đợt một.

Mỗi đợt khoảng được hơn chục thằng.

Đầu tiên là những thằng kiểm tra bắn súng AK đạt kết quả tốt (riêng Dương thỉnh 10 ngày vì đạt 3 điểm 10) ngoan ngoãn, hiền lành, dễ bảo, luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, chưa vi phạm kỷ luật lần nào.

Cứ đợt trước về lên trả phép lại đến đợt sau về, từng đợt từng đợt nhỏ giọt như thế cho nên chờ mãi ko đến lân mình.

Mấy tháng xa nhà, sống trong môi trường kìm kẹp, tập luyện lao động vất vả, ăn uống kham khổ, sinh hoạt thiếu thốn nên thằng nào cũng mong được về nhà.

Về để bố mẹ chăm sóc, để tự do bay nhảy thoả chí sau những ngày phải sống trong sự mất tự do, một tuần thôi là cũng quý lắm rồi.

Nhưng ước mơ nhỏ nhoi ý của bọn em cũng ko được thể thực hiện được vì sự cứng nhắc của chỉ huy đơn vị.

Điều đó gây nên sự ức chế lớn cho tất cả những thằng ko được về.

Tư tưởng dao động, đã nảy sinh nhiều suy nghĩ bất mãn.

Cùng nhập ngũ 1 ngày với nó, cũng ăn ở, sinh hoạt, luyện tập như nó, nó được về còn mình phải ở lại.

Tất cả như 1 cái lò xo đang bị ép chặt hết cỡ chỉ chờ ngày ko chịu nổi nữa thì bung ra.

Ùh thôi vậy, ko được chỉ huy cắt phép thì tự mình cắt phép cho mình vậy, cũng là phép cả có khác gì nhau đâu.

Thế là tình trạng đào ngũ diễn ra thường xuyên và liên tục.

Tất cả những biện pháp răn đe, giáo dục, ngăn chặn của chỉ huy đơn vị đều ko có hiệu quả.

Ngày nào Đại đội cũng có quân số đào ngũ, tình trạng này bên tân binh Đại đội 8 cũng diễn ra liên miên, hiền như bọn nó còn đào ngũ hàng loạt thì nói gì đến bọn em.

Từ đầu chỉ huy Đại đội còn dấu nhẹm đi vì sợ mất thành tích, nhưng vì quân số đào ngũ đông quá nên chẳng mấy chốc chuyện này đến tai chỉ huy Trung đoàn.

Chỉ huy Tiểu đoàn đến Đại đội bị xạc cho 1 trận tơi bời rồi điều Trợ lý Quân lực cùng chỉ huy Đại đội về Hải Phòng phối hợp với Ban Chỉ huy Quân sự quận Ngô Quyền và huyện Cát Hải bắt quân đào ngũ lên kỷ luật.

Trên đơn vị thì chỉ huy thét lác ác lắm, doạ là Trung đoàn biết chuyện rồi nên sẽ kỷ luật nặng những đồng chí nào cố tình đào ngũ, sẽ bị phạt giam, ghi vào lý lịch quân nhân, báo về cơ quan Quân sự địa phương, sau khi ra quân sẽ bị giữ lại lao động cải tạo...vân vân và vân vân...

Nói chung cứ doạ được gì để lính sợ là doạ, nhưng doạ là việc của chỉ huy, còn đào ngũ là việc của lính.

Thằng bị bắt lên còn chưa kịp cải tạo xong thì thằng khác đã về, vệ binh Tiểu đoàn, Trung đoàn tăng cường tuần tra canh gác chống đào ngũ mà vẫn ko có hiệu quả.

Đã gọi là trốn rồi thì bắt làm sao được.

Sống trong tình trạng đó tư tưởng em cũng dao động lắm.

Nhớ nhà, nhớ bạn bè, những thằng bên cạnh đào ngũ về lên, tuy bị kỷ luật mà thằng nào thằng ý mặt tươi rõi như hoa, kể chuyện râm ran làm em chỉ muốn vất lại hết tất cả để phi về với mẹ thôi.

Nhưng em chưa dám đào ngũ về mà vẫn mong manh đợi tờ giấy phép của đơn vị (em ko thuộc diện được xét giải quyết phép vì vi phạm kỷ luật đánh nhau nhiều lần trong đơn vị).

Ko phải vì em sợ bị kỷ luật nọ kia mà em ko thích để ông bà già buồn.

Bà già thì ko nói, nhưng ông già trước cũng là bộ đội, sĩ quan chỉ huy hẳn hoi nên trước khi đi ông già đã dặn là có khổ mấy cũng phải chịu để rèn thành người và nhất là đừng có đào ngũ để làm xấu mặt tao.

Bức xúc lắm cái vụ về phép này rồi mà ko làm gì được, có mấy lần em cũng định tặc lưỡi theo chúng nó té về nhưng nghĩ đến cảnh ông già biết là đào ngũ rồi quát tháo đuổi đi em lại thôi.

Đùng 1 cái thì thằng bạn và thằng em em lên thăm, chúng nó về quê ở Cẩm Giàng - Hải Dương cúng, tiện đường đi qua chỗ em chơi rồi rủ em về quê chúng nó chơi luôn.

Em lên báo cáo chỉ huy Đại đội là có người nhà lên thăm và xin phép ra ngoài chơi.

Đại trưởng Đạt kều duyệt cho em đi đến 2h là phải có mặt ở đơn vị.

Đẹp rồi, 3 thằng 1 xe máy phi một mạch về Cẩm Giàng.

Ăn uống no say phè phỡn xong thì cũng quá 2h từ lâu rồi, bây giờ về đơn vị trình bày thế nào đây.

Thằng em em nó bảo thôi bon mẹ nó về Hải Phòng mà chơi anh ạh, đằng nào cũng bị kỷ luật rồi.

Ùh, có lý, thôi kệ mẹ nó đến đâu thì đến, bon về nhà đã, ko về bây giờ thì lúc nào về, chờ phép thì chắc đến Tết Ma rốc mất.

Mới đi có gần 4 tháng về mà nhìn Hải Phòng thấy khác thế (thực ra chả khác tí gì đâu nhưng từ rừng về phố nên nó bị ngợp thế đấy).

Về nhà mới biết em thay đổi nhiều so với hồi trước khi đi bộ đội.

Ai gặp cũng khen rắn rỏi, lời ăn tiếng nói chững chạc hẳn lên.

Tất nhiên ai hỏi cũng phải nói là cháu được về phép, ko dám nói là trốn, để người ta biết là đảo ngũ thì ê lắm.

Ông già em thì trái với dự đoán, ko gay gắt lắm, vẫn niềm nở đãi đằng thằng còn zai cho bõ những tháng ngày thiếu thốn, vất vả trong bộ đội.

Nhưng sâu trong suy nghĩ em đoán ông già cũng ko thích chuyện em đào ngũ.

Ông già em bảo bộ đội chúng mày bây giờ ăn thua gì, đi lính sướng như tiên, bố ngày xưa ăn ko đủ no, đánh nhau suốt ngày hòn tên mũi đạn sống chết cách nhau trong gang tấc mà có dám kêu ca đâu.

Thôi ăn uống chơi bời đi rồi mấy hôm lên đơn vị mà chịu kỷ luật, ở nhà lâu đơn vị cho người về gô cổ xách lên thì nhục lắm.

Em ở nhà chơi 1 tuần, bằng đúng số ngày phép, tận hưởng cái không khí gia đình, bay nhảy với bạn bè rồi tạm biệt Hải Phòng trở lại đơn vị.

Cũng may cho em, em lên đơn vị đúng lúc Đại trưởng Đạt kều đang làm danh sách quân số đào ngũ báo lên Tiểu đoàn để chỉ huy Tiểu đoàn báo cáo chỉ huy Trung đoàn (thế mới biết Đại đội dấu giỏi, em về 1 tuần rồi mà đến Tiểu đoàn cũng ko biết).

Nếu chậm 1 ngày nữa thôi là Quân lực Trung đoàn sẽ về tận nhà bắt lên.

Cầm gói quà bà già chuẩn bị sẵn là bao thuốc Hải Phòng, lạng chè Thái Nguyên, gói bánh quy kèm 100.000 đ lên trình diện Đại trưởng, anh ý nhận quà xong, quát 1 thôi 1 hồi, bảo muốn về ko lên đề đạt nguỵên vọng tôi giải quyết cho, tại sao phải trốn thế cho nó khổ ra, lại ảnh hưởng đến thành tích chung của đơn vị, thôi về Trung đội đi tối tổ chức sinh hoạt kiểm điểm để kỷ luật.

Ko biết có phải em biết cách nhận lỗi bằng gói quà kia ko mà việc sinh hoạt kiểm điểm em trước Trung đội diễn ra rất đơn giản, hình thức phải chịu là lấy 30 xô phân và gác 3 đêm mỗi đêm 2 ca.

Mấy thằng trốn trước em mấy hôm, lên muộn bị Quân lực về bắt, sống dở chết dở vì kỷ luật.

Đơn vị sinh hoạt lên sinh hoạt xuống khổ sở vì chúng nó.

Thế mới thấy em may như nào, hú hồn, muộn tí nữa thôi là chung số phận với chúng nó.

Và cũng thấy rằng, ở đâu cũng thế thôi, bộ máy được bôi trơn thì chạy rất trơn tru.

Ngu dại ko nghĩ ra thì chỉ có to đầu lên thôi.

Mọi hoạt động của đơn vị em vẫn được duy trì đều đều theo thời gian mặc cho mọi biến động xoay quanh.

Thằng nào về phép vẫn về phép, thằng nào ko chờ được đến ngày phép đào ngũ vẫn đào ngũ bình thường, kỷ luật bây giờ là cái đinh rỉ gì đâu.

Sau đấy thì đơn vị cũng có 1 sự xáo trộn nhỏ.

Đại đội được sắp xếp lại và kiện toàn về mặt quân số.

Lính của Trung đội nọ sẽ chuyển sang sống ở Trung đội kia, xem kẽ các phường với nhau để tránh tình trạng chia bè phái gây mất đoàn kết nội bộ, lúc ý bọn em gọi là bị tách quẫy.

Em được biên chế về Trung đội 6, Trung đội trưởng là anh Hiệp cò.

Anh Hiệp cò quê ở Thanh Hà - Hải Dương, sinh năm 76, tốt nghiệp Trường sĩ quan Lục quân 1 Sơn Tây - Hà Tây (bây giờ là Hà Nội ), ra trường đã công tác được 1 năm và hiện đeo quân hàm Thiếu uý.

Bọn em gọi anh ý là Hiệp cò vì anh ý gầy lại có thân hình dong dỏng cao và dáng đi vắt vẻo trông rất buồn cười.

Tính anh Hiệp cò rất vui tính, hòa đồng, tuy là Trung đội trưởng Trung đội 6 nhưng anh đã tiếp xúc với hầu hết tân binh bọn em, và đặc biệt thằng nào anh cũng nhớ tên nhớ mặt.

Mỗi lần ra thao trường, nếu buổi học đó do anh ý duy trì thì vui phải biết, chỉ tập 1 chút thôi, với phương châm "ít nhưng chất lượng" rồi anh cho cả bọn nghỉ giải lao, ngồi quây tròn lại nghe anh kể chuyện.

Công nhận anh Hiệp cò này giảng bài hay, diễn đạt rất lưu loát ko cần giáo án, dễ hiểu và gắn luôn với thực tế nên bọn em tiếp thu rất nhanh.

Anh cũng rất có duyên kể chuyện nhé, mọi câu chuyện của anh chỉ xoay quanh chuyện yêu đương, thời đi học, SV trong trường QS.... nhưng cực kỳ cuốn hút vì lối kể chuyện của anh ý, rất hấp dẫn.

Nhiều chi tiết bọn em biết rõ ràng 100% là anh ý bốc phét nhưng vẫn thấy sướng, há hốc mồm ra mà nghe.

Anh ý kể, ko biết chúng mày như nào chứ hồi xưa tao đi học sướng lắm, gái theo đông như tiết canh nhé, tranh nhau lai tao đi học, cuối cùng tao phải xếp lịch cho chúng nó mỗi con lai tao đi một ngày, đứa lai đi đứa lai về, sợ chưa?

Còn thầy cô giáo dạy tao đến kỳ 1 lớp 12 thì hết sạch kiến thức ko còn gì để dạy nữa vì tao tiếp thu nhanh quá tí nữa thì cho tao nghỉ cả kỳ 2 luôn.

Hồi học trong trường QS cũng thế, thầy giáo nói qua 1 lần là tao nhớ, lần sau thầy giáo chỉ cần mở mồm ra là tao đã biết ông ý định nói gì rồi, tao đọc lại vanh vách luôn... vân..vân.. và..vân..vân..

Nói chung là bố cháu giỏi thật nhưng chém gió cũng hơi ghê, thằng nào ngồi gần cứ gọi là lạnh hết cả toát, thế mà vẫn thích nghe mới lạ chứ.

Nhưng bọn em vẫn phục nhất là cái kho kiến thức quân sự của anh ý, công nhận là quá đỉnh.

Ko cần sách vở, ko cần giáo án, cứ hỏi bất cứ vấn đề gì liên quan đến kiến thức quân sự thông thường là anh ý có thể trả lời vanh vách luôn như kiểu đang đọc sách ý.

Ví dụ hỏi anh ý về súng tiểu liên AK anh ý sẽ nói luôn tính năng, tác dụng, cấu tạo, cách tháo lắp thông thường của nó luôn.

Bên cạnh đó anh còn đá thêm 1 chút kiến thức ngoài lề nhưng còn thú vị gấp nhiều lần cái kiến thức quân sự kia là súng AK hiện giờ có bao nhiêu phiên bản, đang được trang bị cho bao nhiêu Quân đội trên Thế giới.

Hỏi về lựu đạn thì sau 1 lô 1 lốc câu trả lời thế nào cũng phải kèm thêm câu chuyện là ngày trước đánh Tàu, bộ đội ta cầm lựu đạn ném nó nó liền nhặt rồi ném lại, đúng lúc lựu đạn nổ bộ đội ta tránh ko kịp nên thương vong rất nhiều.

Suy nghĩ mãi ko biết cách nào để khắc phục tình hình vì biết kiếm đâu ra người để cùng 1 lúc ném nhiều quả để cho quân Tàu ko nhặt ném lại kịp.

Cuối cùng 1 phương pháp cực kỳ đơn giản và hiệu quả đã ra đời đó là kẹp 10 quả lựu đạn vào giữa 2 thanh tre rồi chờ quân Tầu xung phong là ném cả thanh tre kẹp lựu đạn đó vào đội hình địch.

Với phát pháo dàn đó thì quân Tàu chịu cứng ko kịp trở tay chết như ngả rạ luôn.

Anh ý cũng thường xuyên chia sẻ với bọn em những kiến thức về máy bay, tàu bò, xe tăng, thiết giáp, tàu chiến của cả ta lẫn địch nghe mà sướng hết cả lỗ tai

Em chuyển sang Trung đội 6 là lúc anh Hiệp đang đi Hội thao Trung đội trưởng giỏi toàn QK (anh Đạt cũng đi cùng đợt này nhưng là thi Đại đội trưởng giỏi) chỉ có anh Thám (Hà Nam) Trung sĩ Trung đội phó ở nhà chỉ huy.

Vừa chân ướt chân ráo vác balô sang, chưa kịp hoàn hồn em đã bị anh Thám dí ngay cho khẩu RPD.

Khẩu này lúc trước biên chế của thằng Thùy Zin, hiện giờ nó vẫn ở Tiểu đội em nhưng súng lại được sang tên cho em, thế mới hay chứ, mà em thì bé nhỏ gầy gò, có cao to như thằng Thùy Zin đâu, bị đì tập 1 rồi đây.

Em cũng để ý mấy thằng B4, B5 chuyển sang thằng nào cũng được anh Thám ưu ái cho cầm súng to,mỗi thằng Quyến ghẻ ở Tiểu đội 9 được vác điếu cày B40 vì lý do... tủ súng hết B41.

Thôi kệ, súng gì mà chả vác được, cứ phải ổn định để tiếp tục sống cái đã, mọi chuyện tính sau

Sau đợt sắp xếp lại quân số, đơn vị có 1 đợt cho tân binh đi học Tiểu đội trưởng bộ binh, theo như anh Lập Chính trị viên Đại đội phổ biến thì đối tượng được đi học đợt này sẽ gồm những đồng chí có trình độ văn hoá hết lớp 12, có lập trường tư tưởng vững vàng, có thành tích tốt trong thời gian huấn luyện tân binh.

Nhưng riêng vụ này thì bọn em được nhồi đủ rồi, ưu tú quái gì chứ, chỉ có những thằng cứng đầu khó bảo chỉ huy Đại đội bó tay thì mới bị làm vật tế thần thôi.

Thích quậy phá hả, cho chúng mày về Tiểu đoàn 16 trực thuộc Sư đoàn mà quậy nhé, để các anh ở đấy các anh ý rèn cho.

Quậy mấy thì cũng được ra ngô ra khoai ngay thôi.

Thế cho nên những thằng chuyên quậy phá như em lo phát rét lên.

Tự yên bị đẩy đi bây giờ thì mút chỉ ko biết bao giờ mới được về với má đây, thêm 1 năm nghe có vẻ đơn giản đấy nhưng thật ra thì phức tạp lắm ý.

Mới có 4 tháng mà em đã ngấy đến cổ rồi còn thêm 1 năm nữa thì chắc die mất thôi

Cuối cùng thì danh sách đi học Tiểu đội trưởng bộ binh đợt này cũng được chốt, có tất cả 12 thằng, trong đó..... ko có em, quý nhân phù trợ rồi Thế mà trước lúc chốt danh sách thằng Thiệp liên lạc thối mồm cứ khẳng định như đinh đóng cột là em đã có tên rồi làm ko ăn ko ngủ được mấy hôm liền.

Hôm đọc ko có tên mà suýt nhẩy cẫng lên vì mừng.

Đi học đợt này phường Vạn Mỹ có thằng Hiệp dái trong , gọi là được đi vì nó tình nguyện xin đi chứ ko bị bắt buộc.

Nó bảo sợ gì, đi cho biết,thêm 1 năm chứ bao nhiêu, ở nhà cũng ăn bám chỉ gia đình đi cho Quân đội nuôi.

Nó còn viết thư về cho gia đình bảo con đi học đợt này để được phục vụ lâu dài trong Quân đội, con phải đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc (chết cười với nó đoạn này ).

To mồm là thế nhưng sau khi chốt danh sách xong nó bắt đầu rét, bao nhiêu nhuệ khí trước đó đã biến đi đâu hết.

Trước lúc lên đường 1 hôm, nó bắt đầu giở chứng và quyết định biến.

Đêm ý giời mưa to mà nó cũng đội mưa thuê xe ôm phi thẳng về Hải Phòng Đến sáng hôm sau, đến giờ tập trung lên đường chỉ huy Tiểu đoàn mới tá hoả ra là ko có mặt nó nhưng quá muộn nên đành chấp nhận báo cáo với Quân lực là nó đào ngũ.

Sau đợt đấy về nó cũng biệt tăm biệt tích luôn, mãi qua Tết mới lù lù vác xác lên báo cáo quân số rồi........ tiếp tục đào ngũ.

Lần học Tiểu trưởng này cũng có 1 trường hợp đặc biệt là thằng Thiệp liên lạc Đại đội, thằng này quê Tiên Lãng, quân số thuộc Tiểu đội Hỏa lực Đại đội thi trượt Đại học nên xung phong đi bộ đội.

Nhìn nó sáng sủa, sạch sẽ, tư chất thông minh, tính tình ngoan ngoãn, dễ bảo chỉ huy Đại đội nhấc nó lên làm liên lạc.

Cả đời tân binh ko biết thao trường là gì, ko biết bắn 1 viên đạn nhưng tự dưng đợt này lại tình nguyện xung phong đi học Tiểu đội trưởng.

Chỉ huy Đại đội tiếc nó ngoan ngoãn, được việc muốn giữ lại thì nó viết đơn rồi mang hẳn lên Chỉ huy Tiểu đoàn trình bày nguyện vọng, ko còn cách nào khác nên Đại đội phải duyệt cho nó đi.

Sau đợt đấy 1 tuần là đến lượt đi học Khẩu đội trưởng Hoả lực, Tiểu đội trưởng thông tin, báo vụ......

Quân số Đại đội đã có nhiều xáo trộn.

Cả chỉ huy cấp Trung đội cũng mỏng đi nhiều.

Anh Đạt kều Đại trưởng, anh Hiệp Trung trưởng Trung 6 đi Hội thao Quân khu, anh Vân chính trị viên phó sang tăng cường cho Đại đội 11 Tiểu đoàn 3, anh Dũng lùn Trung trưởng Trung 4 đi làm đạo diễn Diễn tập bắn đạn thật cho Đại đội 5, 7, trực chỉ huy Đại đội chỉ có mỗi anh Lập Chính trị viên, cán bộ Trung đội thì còn anh Thông Trung trưởng Trung 5.

Cán bộ đông đủ còn ko quản nổi, nay thiếu trầm trọng như thế nên bọn em càng được thể tha hồ vi phạm kỷ luật.

Đào ngũ, trốn ra dân uống rượu, đánh nhau... diễn ra liên miên.

Vụ việc đình đám nhất là 3 thằng Minh đen, Bé xồm, Khánh mì (B5 - Máy Chai) rủ nhau đào ngũ về rồi lang thang vào vườn hoa chéo (vườn hoa Nguyễn Bỉnh Khiêm) cướp tiền của học sinh bị CA phường Minh Khai bắt rồi giao cho Quân pháp Quân khu xử lý.

Vụ đấy xôn xao cả Sư đoàn, chỗ nào cũng bàn tán rôm rả rồi thêm thắt nọ kia, nhưng đâu cũng công nhận là lính Đại 6 - Hải Phòng ghê gớm thật.

Nổi tiếng từ quậy phá, đánh nhau, vi phạm kỷ luật, đào ngũ rồi bây giờ còn đến cả tiết mục cướp nữa thì chịu rồi.

Vụ đấy cả chỉ huy lẫn bọn em đều đoán chắc kiểu gì chúng nó cũng bị phạt tù, ko thì chí ít cũng bị tước Quân tịch đuổi về địa phương, kỷ luật Quân đội vẫn nổi tiếng là nghiêm minh mà.

Nhưng trái với phỏng đoán của mọi người, sau khi nghiên cứu hồ sơ, thấy ko đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Quân pháp QK chỉ giam chúng nó mấy ngày rồi trả về cho Sư đoàn xử lý.

Sư đoàn cũng chỉ phạt giam, cải tạo 20 ngày rồi trả về cho Trung đoàn xử lý tiếp.

Hôm xe Trung đoàn chở chúng nó vào Tiểu đoàn để đọc lệnh phạt giam, nhìn chúng nó mà từ chỉ huy đến lính ai cũng thương, tuy có tội thật nhưng vẫn là anh em đồng chí với mình cả.

3 thằng bị còng tay chung với nhau, quần áo nhếch nhác, đầu tóc bù xù và phải đi chân đất.

Trung đoàn quyết định phạt giam chúng nó thêm 2 lệnh nữa, tức là 15 ngày.

Thôi thế cũng là may rồi, còn hơn là tù tội hoặc bị tước Quân tịch đuổi về địa phương còn khổ hơn nhiều

Bây giờ đang là giữa tháng 7, sau đợt tân binh chuyển đi học Tiểu đội trưởng Bộ binh, Khẩu đội trưởng Hoả lực, thông tin. trinh sát, báo vụ, quân khí.....

Đại đội kiện toàn và ổn định lại quân số.

Đơn vị cho dừng lại công tác dân vận, tập trung quân số để củng cố thao trường bãi tập, làm mới sửa chữa và hoàn thiện lại bia bảng mô hình học cụ chuẩn bị cho huấn luyện giai đoạn 2 năm 2000.

Trung đội 6 em có nhiệm vụ thồ gạch xin được ở Trung đoàn hồi tân binh ra thao trường để cho bọn Trung đội 5 xây xe tăng, lô cốt.

Chỉ tiêu mỗi ngày một thằng thồ 20 viên.

Còn Trung đội 4 và Hoả lực thì có nhiệm vụ sửa chữa và đào mới lại giao thông hào.

Một bộ phận còn lại của Đại đội khéo tay hay làm thì ở nhà sửa chữa, làm mới mô hình học cụ, (đội hình này có từ ngày đầu đi làm dân vận và duy trì đến bây giờ).

Công việc cũng ko có gì vất vả lắm, nhưng vì đang được bay nhảy ngoài dân nay lại phải bó gối trong đơn vị rồi lặp đi lặp lại những công việc nhàm chán này nên thằng nào cũng thấy chối.

Bọn em chỉ ước sao những ngày dân vận cứ kéo dài, kéo dài mãi cho hết những ngày làm nghĩa vụ thì thôi.

Đang là mùa mưa nên việc sửa chữa, xây mới thao trường cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Tiêu chuẩn 20 viên gạch/1 ngày bọn em chia ra làm 2 lần mỗi lần 10 viên cho vào balô thồ.

Đoạn đường từ đơn vị ra thao trường chỉ khoảng gần 2 km, nếu trời nắng thì ko sao nhưng hôm nào vô phúc đi nửa đường gặp mưa thì quả là ác mộng.

Đường đất đỏ mưa xuống là tha hồ lầy lội trơn trượt, số gạch chỉ trong balô ngấm đẫy nước mưa cũng nặng thêm cả chục kg.

Đấy là chưa tính đến thao trường phải leo tiếp một đoạn dốc nữa mới đến nơi tập kết gạch, trời mưa dốc trơn đi ko cẩn thận là ngã ngay.

Trung đội 5 thợ xây cũng ko khá hơn là mấy, vất vả đánh vữa, bê gạch xây xong đâu đấy rồi mưa xuống trôi vèo cái hết, thế là lại phải thu dọn xây lại từ đầu.

Mưa to cũng làm giao thông hào của bọn Trung đội 4 và bộ phận hoả lực sạt lở gần hết.

Sau mỗi cơn mưa nhìn chúng nó lại lội bì bõm đào lại những chỗ bị sạt lở, người ướt đẫm nước mưa và bê bết bùn đất mà thấy thương quá.

Trời càng ngày càng mưa to và nhiều, ko biết ông giời lấy đâu ra lắm nước thế mà đổ xuống đất hết ngày này qua ngày khác, con suối đằng sau đơn vị đã dâng lên thành sông.

Nước từ trên núi đổ xuống ầm ầm, vườn tăng gia, sân bóng tiểu đoàn, đường đi lối lại ngập chìm trong nước.

Xung quanh đơn vị mênh mông biển nước.

Mưa làm cho mọi hoạt động của đơn vị trở nên đình trệ, ngày ngày bọn em chỉ việc ngồi bó gối 1 chỗ học ôn chính trị, đây là 1 cách để giết thời gian chứ thực sự có vào đầu được chút nào đâu.

Ngồi ôm vở ngủ gật xong ngắm mưa chán rồi đến giờ lại đi ăn cơm.

Mưa buồn, rỗi rãi ko có việc gì làm cũng chả trốn ra ngoài dân uống rượu được, sau giờ ôn chính trị là bọn em lại tụ tập bài bạc sát phạt nhau.

Ko có tiền nên bọn em chỉ chơi hội ghi điểm rồi xuống căng tin nợ đến phụ cấp trả.

Rỗi rãi nữa thì lấy sổ ra viết nhật ký.

Gọi là nhật ký cho oai thôi chứ có thằng nào viết được cái gì tử tế đâu, toàn những bài thơ ngô nghê, nhăng cuội truyền hết từ đời lính này sang đời lính khác, đến đời bọn em thì chắc cũng biến tấu đi khá nhiều, chép vào sổ rồi khi nào buồn buồn lôi ra đọc cũng thấy đỡ.

Những bài thơ đó ko biết do ai sáng tác, sáng tác vào thời gian nào nhưng hầu như đều thể hiện rất rõ về cuộc sống của lính và cực sến, nhiều khi cũng cả vô nghĩa nữa, ví dụ như : năm năm đi Đức em chờ, hai năm đi lính em lờ anh ngay hoặc sờ hai túi đằng trước, nắn hai túi đằng sau, cả bốn túi như nhau, ko có đồng nào cả, tiêu cực hơn chút thì có Vành cối tàu che khuất đời trai trẻ, đôi dẹp rọ dẫm nát tuổi thanh xuân ...vân..vân.. và... vân.. vân....

Mưa tạnh, mọi hoạt động của đơn vị lại trở lại bình thường.

Đơn vị lại tiếp tục triển khai những công việc còn dang dở do ảnh hưởng của trời mưa.

Vì mưa ngập nhiều nên cỏ của sân bóng tiểu đoàn bị chết gần hết, chỉ huy tiểu đoàn quyết định giao cho lính Đại 6 bọn em trồng lại số cỏ đã chết này.

Nhiệm vụ của mỗi thằng 1 ngày là trồng hoàn chỉnh 2 m vuông cỏ.

Cỏ xung quanh Tiểu đoàn thì ko thiếu, nhưng cũng do ảnh hưởng của đợt mưa vừa rồi mà còn rất ít.

Thế là bọn em phải đi xa để đánh cỏ về trồng.

Tiểu đội em ra dân mượn cái xe trâu để đi lấy cho nhàn.

Xe trâu to vật vã, phải 2 thằng đằng trước cầm càng kéo còn lại ở đằng sau đẩy.

Đi đến đâu có cỏ là dừng lại đánh rồi cho lên xe kéo đi tiếp, khi ngám đủ số cỏ cho cả tiểu đội thì kéo xe trồng.

Đất vừa mưa vẫn còn ẩm ướt nên cỏ trồng xong lên xanh mơn mởn.

Chỉ 1 thời gian ngắn sau sân bóng đã có một thảm cỏ mượt mà, đẹp mắt.

Tranh thủ thời gian đi lấy cỏ bọn em thường xuyên tạt té vào nhà bố Lẩn uống rượu.

Bố Lẩn này là một nhân vật tương đối nổi tiếng với bộ đội đóng quân ở đây, cũng phải tới vài đời lính rồi chứ chả ít.

Bố Lẩn năm đó khoảng hơn 70 tuổi, cao to, da dẻ hồng hào, tiếng nói sang sảng nhưng mỗi tội bị chột mất một mắt, nếu ko bị mất một pha thì chắc chắn bố Lẩn phải đẹp lão lắm ý.

Bố Lẩn có người con trai bên Úc nên kinh tế cũng tương đối khá giả, bán hàng cho bộ đội chủ yếu chỉ là vui thôi chứ lờ lãi được bao nhiêu, thôi thì tuổi già động chân động tay tí cho nó đỡ buồn chán.

Tiếp xúc với bộ đội nhiều nên tính bố Lẩn cũng rất "bộ đội", nhất là kiểu ăn nói của bố thì bậy như lính bọn em cũng ko thể đua nổi, bao giờ cái vấn đề #%$%$#%^ cũng là chủ đề chính trong mọi câu chuyện của bố và "cái ý ý" lúc nào cũng như được dính vào mồm bố ý.

Rượu và đồ ăn của bố cũng bình thường thôi, nhưng cái đặc biệt nhất ở quán bố đó là "đặc sản" film ......

Hehe.

Nắm bắt được tâm lý mấy chú bộ đội xa nhà, thiếu thốn nhiều cái, là đàn ông nữa nên thằng nào cũng khoái cái món ý nên ngoài rượu và đồ ăn thức nhắm ra bố Lẩn còn phục vụ anh em thêm món film.... nữa.

Đây chính là lý do lúc nào quán của bố cũng đông khách là bộ đội.

Cứ có khách là bố Lẩn đóng chặt cửa quán, khách vừa uống rượu vừa thưởng thức "đặc sản" và cùng chủ quán "bình luận" những chi tiết trên film.

Ăn uống xong thường thường khách cắm lại bộ quần áo K82, đôi giày cao cổ hoặc cái áo mưa bộ đội vì làm gì có tiền mặt, bố Lẩn ghi tên, số tiền nợ và đồ cắm lại vào một miếng bìa cắt ra từ bao thuốc lá mà bố gọi là "cáp" rồi đưa cho khách, khi nào có tiền chuộc đồ thì cứ mang cái "cáp" đó vào là xong (nhưng thường thường là đứt luôn vì bộ đội lấy đâu ra tiền chuộc).

Chỉ huy Tiểu đoàn cũng biết rõ quán của bố Lẩn này và đã nhiều lần kết hợp với chính quyền xã kiểm tra, bắt quả tang bố Lẩn tổ chức chiếu film .... cho bộ đội xem.

Nhưng lần nào cũng chỉ phạt cảnh cáo, thu đầu máy 1 tuần rồi trả lại (bố Lẩn có người quen làm ở xã mà) nên dẹp mãi cái "tụ điểm" nhức nhối này mà ko được.

Chỉ khổ cho chú lính nào bị bắt khi đang xem film, uống rượu ở đấy về đơn vị thế nào cũng bị kỷ luật lên bờ xuống ruộng.

Gần cuối tháng 7, thời gian huấn luyện giai đoạn 2 đã cận kề, mọi công tác chuẩn bị thao trường, bãi tập, bia bảng, mô hình học cụ đã hoàn tất, tất cả đang rất sẵn sàng.

Thời gian này chỉ huy Tiểu đoàn cũng "chịu khó" tổ chức cho đơn vị báo động chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu nhiều hơn, mục đích để rèn luyện lại tác phong của bộ đội vốn đã nhom nhem đi nhiều sau đợt làm dân vận.

Ngoài buổi hành quân rèn luyện mang vác nặng thường kỳ vào tối thứ 6 bọn em còn dính nhiều buổi báo động đột xuất khác.

Báo động cấp Tiểu đoàn thì 2,3 đêm 1 lần, còn báo động Đại đội thì hầu như đêm nào cũng dính 1 quẹt.

Báo động đêm hồi tân binh bọn em dính nhiều rồi, nhưng ko làm sao có thể quen được, lúc nào bị báo động cũng thấy chối.

Đêm đang ngủ tự yên bị lôi dậy, gói buộc balô chăn chiếu vũ khí trang bị nồi niêu xoong chảo rồi hành quân đi bộ khoảng gần chục km thì ko chối mới là lạ.

Hầu như những buổi báo động rèn luyện này đều được báo trước nên đêm ngủ thấp thỏm ko ngon giấc, quần áo lúc nào cũng mặc sẵn để chỉ cần có còi báo động là bật dậy, xỏ giầy gói ghém balô chăn màn, lấy vũ khí trang bị xong là phi ra sân tập trung được ngay.

Đợt này chỉ huy Tiểu đoàn cũng thường xuyên báo động để kiểm tra quân tư trang của bộ đội.

Sau đợt làm dân vận số quân tư trang của bọn em đã vơi đi khá nhiều, những trận rượu ngoài dân chính là thủ phạm.

Nhiều thằng bết đến mức chỉ còn đúng 1 bộ K 82 mặc trên người, còn đâu áo bông, áo mưa, áo thu đông, giầy cao cổ đã cắm ký hết từ lâu rồi.

Báo động kiểm tra quân tư trang thằng nào thiếu gì hậu cần tiểu đoàn bổ sung cái đó rồi trừ phụ cấp sau, tất nhiên là với giá cực kỳ cắt cổ.

Hôm nào trời nắng ngồi giữa sân tiểu đoàn bỏ quân tư trang ra kiểm tra thì còn ném cho nhau mượn đồ được, thường thường là trót lọt.

Có thằng còn ma mãnh cắt đôi cái áo mưa ra gấp vào để kiểm tra, cách đơn giản như thế nhưng vẫn che mắt được chỉ huy.

Nhưng hôm nào báo động trời mưa thì hết vẹo, thằng nào ko có áo mưa mặc trên người là biết ngay.

Ko lần nào kiểm tra là ko có thằng thiếu, lại bổ sung, bổ sung xong lại thiếu, cứ lặp đi lặp lại mãi như thế tưởng ko bao giờ có hồi kết.

Việc tuần tra canh gác trong đơn vị cũng được xiết chặt hơn, mỗi Trung đội phải tổ chức 2 vọng gác 1 đêm.

Quân số hồi tân binh đông nên dù gác 2 vọng thì 2 đêm bọn em mới phải gác 1 lần, nhưng bây giờ chính quy, quân số Trung đội vơi đi rất nhiều do đi học, lên Trung đoàn làm liên lạc rồi công tác Đại đội, công tác tiểu đoàn, thiếu quân số nên bọn em đêm nào cũng phải gác (chỉ sướng mấy ông Tiểu đội trưởng ăn no rồi lại nằm khoèy, đêm ngủ ko vẫy tai một mạch đến sáng ko phải gác giếc gì hết).

Chỉ huy đơn vị cũng thường xuyên đi kiểm tra gác hơn nên dù mệt, muốn ngủ lắm nhưng ko thằng nào dám bỏ gác.

Báo động thường xuyên đã chối lắm rồi bây giờ bỏ gác bị chỉ huy bắt được lại bị báo động đơn vị nữa thì khổ lắm, thôi chịu khó gác là tốt nhất.

Có một chuyện về gác đêm trong thời gian này làm em nhớ mãi.

Trung đội 6 em có nhiệm vụ gác bếp và nhà ăn, đêm hôm đó là ca gác của em và thằng Tuất chó (Đông Khê).

Thằng Tuất chó gác bếp còn em gác trên nhà ăn.

Trời mưa to, đoán chắc chỉ huy tiểu đoàn sẽ ngại ko đi kiểm tra nên em rủ thằng Tuất chó bỏ gác đi ngủ nhưng nó dát ko chịu bảo mày ngủ thì đi mà ngủ còn tao ko bỏ gác đâu.

Thuyết phục nó chán ko được em vào nhà ăn lấy ghế xếp thành 1 dẫy dài rồi ôm súng nằm lên ngủ ngon lành.

Trời bên ngoài mưa càng lúc càng to nên em ngủ càng ngon hơn vì chắc mẩm chả chỉ huy tiểu đoàn nào giờ này thức dậy đội mưa đi kiểm tra đâu mà phải sợ, chỉ có thằng bôn ngố Tuất chó kia mới sợ thôi, sợ thì cho mày gác, tao ngủ.

Ai ngờ nửa đêm anh Cường trợ lý tham mưu tiểu đoàn đi kiểm tra gác như thường lệ.

Kiểm tra vọng gác của Tuất chó xong xuôi ngon lành đâu đấy, đến lượt vọng của em thì thấy em đang ôm súng ngủ, anh Cường tham mưu định lấy súng của em dấu đi thì em giật mình tỉnh giấc.

Đang ngái ngủ, bị giật mình em tưởng thằng Tuất chó gọi em dậy về đổi gác em còn lèm bèm chửi mấy câu.

Đến khi nghe tiếng anh Cường tham mưu hỏi đ/c chửi ai đấy thì em giật nảy mình, sống lưng lạnh toát và tỉnh hẳn ngủ.

Trong đầu em lúc đó nghĩ thôi quả này xong rồi, mưa gió thế này mà ông ý cũng rỗi hơi đi kiểm tra gác cơ àh, bây giờ mà báo động đơn vị là chết.

Nhưng em cũng nhanh trí, biết tính anh Cường tham mưu này quan cách, chỉ thích được gọi là Thủ trưởng chứ ko thích gọi là anh, mặc dù chỉ hơn bọn em mấy tuổi.

Em bèn năn nỉ ỉ ôi bảo thôi cho em xin thủ trưởng, em biết lỗi rồi mong thủ trưởng bỏ qua cho em chứ bây giờ thủ trưởng báo động đơn vị thì em chết mất, em xin hứa sẽ ko bao giờ tái phạm nữa.

Có kết quả ngay, sau một hồi thuyết giáo em về công tác tuần tra canh gác trong đơn vị và tầm quan trọng của nó anh Cường tham mưu tha cho em, ko quên nhắc nhở phải canh gác cho cẩn thận, tuyệt đối ko được bỏ gác nữa.

Hú hồn.

Lúc về đổi gác thằng Tuất chó nó kể lúc nó bị anh Cường tham mưu kiểm tra gác xong nó muốn báo cho em biết để em dậy nhưng ko có cách nào.

Nó tưởng quả này thế nào cũng bị báo động rồi, mưa gió sấm chớp ầm ầm thế này mà phải vác balô ra sân thì đẹp lắm, nó cứ thắc mắc mãi em làm như nào mà thuyết phục được anh Cường tham mưu bỏ qua.

Có bí quyết cả đấy, cái này nó liên quan đến vấn đề trình độ bạn ạh

Ngày 1/8 bọn em bắt đầu bước vào huấn luyện giai đoạn 2 năm 2000 bằng một buổi lễ ra quân tương đối đơn giản.

Giai đoạn huấn luyện 2 này biên chế của cán bộ Đại đội cũng có một số thay đổi nhỏ.

Anh Hiệp cò trung đội trưởng trung đội 6 sau khi đi hội thao về chuyển sang trung đội 4 làm trung đội trưởng thay cho anh Dũng lùn đi học chuyển loại chính trị, trung đội 6 do anh Thám trung đội phó chỉ huy, trung đội 5 vẫn là anh Thông cổ lọ, cán bộ Đại đội thì có anh Định thượng uý đại đội phó quân sự đi học hoàn thiện ở trường Lục quân, anh Vân chính trị viên phó đi tăng cường cho đại đội 11 - tiểu đoàn 3 cũng vừa về.

Bộ khung cán bộ của đại đội nói chung là đã ổn.

Vào huấn luyện nên bọn em ko còn được tự do như lúc làm dân vận nữa, kỷ luật đơn vị đã được siết chặt, lễ tiết tác phong, nề nếp sinh hoạt, nội vụ vệ sinh cũng phải nghiêm chỉnh hơn.

Việc thực hiện chế độ ngày tuần cũng được chỉ huy đại đội duy trì chặt chẽ.

Bây giờ đang là chế độ mùa hè nên 5h bọn em báo thức.

Sau hồi kẻng báo thức của trực ban tiểu đoàn thì tất cả trung đội đều phải thức giấc và chạy ngay ra sân xếp hàng, trung đội trưởng hô mồi :"Trung đội ...." lính ở dưới hô to :"Xong.

Xong.

Xong".

Cả tiểu đoàn vang ầm lên tiếng :"Xong.

Xong.

Xong".

Mục đích của việc hô to này được chỉ huy đơn vị giải thích là do đêm này ngủ khí huyết trong người ngưng trệ, lúc ngủ dậy hô to như thế để cho thoát hết khi độc trong người ra ngoài.

Công nhận là lúc hô xong bọn em cảm thấy tỉnh ngủ hẳn luôn.

Hồi tân binh đơn vị đề ra thi đua xem trung đội nào báo thức sớm nhất, nếu trung đội nào nào thường xuyên báo thức sau cùng sẽ bị phạt rèn luyện tác phong, bọn em sợ ko dậy nhanh được nên toàn để thằng gác ca cuối gọi trung đội dậy trước tầm 3 phút chờ có kẻng bào thức là chạy ra luôn.

Nhưng bây giờ thì quen rồi nên ko cần nữa.

Báo thức xong bọn em tập trung đại đội để tập 4 bài tập thể dục buổi sáng.

Hôm nào ko tập thể dục thì thay vào đó là chạy marathon khoảng 4km vừa đi vừa về, vừa chạy vừa hô một..... hai..... ba........ bốn....... rất khí thế.

Tập thể dục xong bọn em về gấp chăn màn, nội vụ, quét doạn phòng ốc, doanh trại, làm vệ sinh cá nhân, đánh răng rửa mặt rồi 6h tập trung ăn sáng.

Cơm sáng thì hơi ít, mỗi thằng chỉ được khoảng bát rưỡi và hai miếng thịt nhỏ nhỏ, xinh xinh ăn với canh rau muống băm nhỏ, thằng nào ăn nhanh vét nồi thì cũng thêm được chừng lưng bát nữa.

Cơm gạo đen chan với canh rau muống cũng đen luôn nhưng thằng nào cũng cố nuốt để lấy sức tí ra thao trường lăn lộn, chế độ bánh rán đường như hồi tân binh hết từ lâu rồi, ko ăn thì làm gì có sức mà chiến đấu chứ.

Cơm nước xong bọn em về nghỉ ngơi vài phút, sau đó thay quần áo, lấy vũ khí, chuẩn bị bia bảng, mô hình học cụ rồi tập trung đi thao trường.

Thao trường học chiến thuật cách đơn vị tầm gần 2 km, đây là đồi chè nhà ông Linh - bí thư Đảng uỷ xã cho đơn vị mượn nên bọn em quen mồm gọi là đồi ông Linh.

Đi thao trường, súng theo biên chế của thằng nào thằng ấy mang, còn bia bảng học cụ phân công cho từng thằng cầm, em lúc này được biên chế súng RPD lên ko phải cầm gì cả.

Nói chung bia bảng thì cũng toàn đồ nhẹ, cầm thêm 1 cái bia cũng ko nặng thêm bao nhiêu, chỉ khổ cho thằng nào bị khiêng hàng rào bùng nhùng với bộc phá khối thôi.

Một hàng rào bùng nhùng có khung bằng sắt quấn dây thép gai cũng phải nặng tầm hơn 30 kg, lúc mang ra thao trường phải xỏ cây vào để hai thằng khiêng, lúc đi nó cứ nhún nhảy nên rất đau vai.

Thằng nào bị phân công khiêng quả bùng nhùng này cũng lắc đầu lè lưỡi.

Còn bộc phá khối thì làm bằng gỗ đặc, nặng sơ sơ tầm 10kg, thằng nào bị ôm bộc phá nhiều cũng chối lắm.

Mà lắm thằng cũng ma lanh, cứ đến lúc tập trung để phân công nhiệm vụ thì chúng nó lẩn đi vệ sinh, chờ phân công xong mới về, lúc đó thì ko còn gì để cầm nữa rồi.

Nhưng chỉ huy đơn vị cũng đâu phải là những tay mơ, thằng nào thường xuyên vắng mặt kiểu đó sẽ bị nằm vào tầm ngắm và chắc chắc thằng đó sẽ phải khiêng hàng rào hoặc ôm bộc phá khối nhiều nhất.

Chỉ huy làm thế anh em lính cũng hả hê, cho đáng đời cái bọn hay lẩn, quả dừa việc cho anh em.

Đi tập ngoài thao trường tuy có mệt nhưng được cái rất vui.

Bộ đội tập trung đứng nghe chỉ huy giảng chiến thuật, trời nắng như đổ lửa mồ hôi thằng nào cũng ròng ròng, nhễ nhại.

Chỉ huy bên trên giảng thì kệ, bên dưới lính vẫn tranh thủ nấp vào lưng nhau tránh nắng.

Cũng có điều buồn cười thế này, học chiến thuật thì mỗi hôm một cán bộ đại đội giảng, bọn em đứng xếp hàng vẫn thế, hướng trước mặt vẫn thế nhưng chỉ huy mỗi hôm lại chỉ hướng một kiểu.

Hôm nào Hiệp cò giảng thì anh ấy chỉ tay về hướng cột điện bảo đấy là hướng bắc, các hướng còn lại các đồng chí tự xác định.

Hôm sau đến lượt anh Thông cổ lọ giảng thì lại chỉ về hướng ngược lại bảo đấy là hướng bắc.

Thế là loạn hết cả lên, bọn em chả biết hướng bắc là hướng nào cả.

Mà công nhận anh Thông cổ lọ này cũng dốt thật, tốt nghiệp trường Sĩ quan lục quân 2, cũng đã có 2 năm thâm niên công tác mà kiến thức quân sự bập bà bập bõm.

Giảng bài toàn học thuộc theo giáo án nên lúc nói bọn em chả hiểu gì, nếu có hiểu mà hỏi lại là tịt luôn ko biết giải thích ra sao.

Chỉ khổ thân mỗi lần có chỉ huy tiểu đoàn và trung đoàn đi kiểm tra thao trường, đúng hôm anh Thông đứng lớp thì thôi rồi, bố cháu cứ đứng ở trên mà run bắn lên rồi nói liên tha liên thiên, đến chào báo cáo chỉ huy còn sai thì làm gì được nữa.

Chỉ huy cũng chỉ còn nước cười trừ rồi khoát tay cho qua, anh Thông này dốt nổi tiếng trung đoàn rồi, chỉ huy còn lạ gì nữa đâu.

Đến lúc tập mới đểu, mỗi lượt tập vừa chạy vừa hô xung phong mồm mũi tranh nhau thở, chỉ huy hô bắn là thằng nào dùng AK hô "tạch, tạch, tạch.....", RPD hô "tằng, tằng, tằng" còn B40, B41 thì "ùng, oànggggg" buồn cười như trẻ con chơi trò đánh trận giả ngày xưa ý.

Bình thường chỉ tập 1 lần là nghỉ giải lao, nhưng hôm nào chỉ huy có chuyện gì bực mình, hoặc bọn em tập ko nghiêm túc là phải chạy lên chạy xuống vài lần mới được nghỉ.

Sướng nhất là bọn quân xanh chỉ việc ngồi một chỗ quay mõ tạo giả tiếng súng địch bắn ko phải chạy.

Trời nắng to, lúc tập xong nghỉ giải lao phát là bọn em nhảy ngay xuống hào, vào lô cốt hoặc ngồi dưới tán chè hút thuốc tán phét.

Đây là đồi chè nên lắm lúc bọn em cũng tranh thủ hái ít lá non nhét đầy bao xe để tối về xuống bếp xin nước nóng hãm uống cho mát.

Mà cái giống chè xanh này cũng lạ, đi thao trường thường thường bọn em lười chả bao giờ mang bình tông nước đi nên hầu như thằng nào tập xong cũng khát.

Chạy xuống chân đồi xin nước thì ngại, mới cả uống nhiều tí chạy tiếp bụng nó óc ách khó chịu lắm, đấy là chưa nói nhiều thằng bụng yếu ních đẫy nước giếng về tiêu chảy vài hôm nên bọn em cứ hái vài ba lá chè xanh non cho vào miệng nhai xong nhấm nhấm, từ đầu cảm giác nó đắng nghét nhưng chỉ cần chép miệng vài lần là thấy ngọt lừ, và lúc ấy cảm giác khát cũng tan biến đi đâu hết ấy.

Nghỉ giải lao nhai lá chè hút thuốc chém gió chán bọn em làm thêm vài quẹt nữa rồi thu quân, dọn dẹp bia bảng vật chất bon về đơn vị nghỉ trưa.

Đi thao trường về, lau chùi qua súng ống cất vào tủ, cất bia bảng học cụ lên kho đại đội xong bọn em phi ngay ra bể nước tiểu đoàn tắm.

Đang là mùa mưa, con suối đằng sau đơn vị mênh mông tràn trề nước, trời đang nóng thế này thằng nào cũng chỉ muốn nhảy ngay xuống quẫy đạp lặn ngụp cho thoả thích nhưng vì bị chỉ huy đại đội cấm, sợ chuột rút và cảm đột ngột nên cả bọn đành phải kéo nhau ra bể.

Bể nước tiểu đoàn là nước được bơm trực tiếp từ suối lên để phục vụ nhu cầu tắm giặt và vệ sinh cá nhân của bộ đội, còn nước ăn thì lấy ở giếng tiểu đoàn chứa vào bể to trên bếp (thời gian này trung đoàn đang xây cho tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3 một máy lọc nước công suất 400m3/ngày nhưng chưa hoàn thành, mãi đến cuối năm mới được đưa vào sử dụng).

Đang nóng, dội vài gáo nước vào người thấy mát lạnh, thằng nào cũng sảng khoái hẳn lên.

Có thằng nghịch còn nhảy cả xuống để lặn chui qua lỗ thông giữa hai ngăn bể.

Vô phúc cho thằng nào vừa nhảy xuống mà chỉ huy đại đội hoặc tiểu đoàn đi qua bắt gặp thì thôi đẹp, lại kỷ luật lấy phân mút chỉ luôn.

Xô thùng gàu chậu có sao đồng chí ko dùng mà lại nhảy xuống làm ảnh hưởng đến vệ sinh chung, phải xử lý kỷ luật để đồng chí rút kinh nghiệm.

Thằng Thịnh con (Cát Bi - b6) đã phải 1 mình thau bể một tuần liền chỉ vì đua đòi nhảy xuống lặn bị anh Đạt kều đại trưởng bắt được.

Thằng Hưng tòng (Lạc Viên - b5) đầu têu trèo lên kịp thì lại ko việc gì.

Tắm xong, mát mẻ từ đầu đến chân bọn em tập trung đi ăn cơm trưa.

Thời điểm này chế độ của bọn em vẫn giống như hồi tân binh tức là 5.300đ/ngày nhưng khẩu phần ăn lại khá hơn hẳn hồi tân binh???!!!

Ngoài rau, thịt, đậu như hồi tân binh ra, khẩu phần ăn hàng ngày còn có thêm chậu canh mồng tơi nấu hến, canh rau đay nấu cua đồng và thỉnh thoảng mỗi thằng lại có thêm 1/2 quả trứng gà luộc.

Đi tập về mệt, tắm rửa mát mẻ, cơm ngon (cũng do ăn quen) nên thằng cũng ních đẫy tễ, ko thấy còn hiện tượng chê cơm như hồi tân binh nữa, đĩa thằng nào cũng sạch bong, sáng bóng luôn.

Nhưng hôm nào bếp tiểu đoàn cho ăn cá kho (thường là mỗi tuần một lần) thì quá đẹp, gần như 2/3 quân số đơn vị bỏ cơm.

Cá rô phi to hơn 2 đầu ngón tay tí, làm ruột, chặt vây xong cho vào rổ xúc qua nước rồi đổ hết vào vạc, đổ xâm xấp nước, cho muối thêm vài viên kẹo đắng cộng với ít chay khô và đun sôi lên, mấy thằng nhọ đít nó kho cá cho bọn em ăn như thế đấy.

Lúc xúc ra đĩa mỗi thằng 2 con, cá kho gì mà trắng ởn, đuôi và vẩy còn nguyên, mùi cá bốc lên tanh ngòm, chỉ cần nhìn đã thấy ớn rồi chứ nói gì đụng đũa nữa.

Chỉ khổ tiểu đội nào phải trực ban, trực nhật vào đúng buổi ăn cá thì quá đen, rửa bát đĩa xong phải lấy cả xà phòng để rửa nhà ăn để khử mùi tanh.

Mỗi tháng đến ngày sinh hoạt giá trị văn hoá tinh thần bọn em lại ý kiến vụ cá mú này (chủ yếu là thôi dẹp đi ko cần ăn cá nữa) nhưng chỉ huy tiểu đoàn chỉ trả lời chung chung là để đấy để xem xét, nghiên cứu, còn chỉ huy trung đoàn nói là ko được vì phải có cá, có chất tanh mới đảm bảo dinh dưỡng cho các đồng chí (nghe xong suýt ngất).

Đã được quán triệt rõ rồi "ăn ko nói, đói ko kêu" thì cứ thế mà thực hiện thôi, ý kiến ý cò gì nữa.

Cơm nước ních căng mề xong là bọn em về ngủ trưa lấy sức chiều chiến đấu.

Trời nóng lại ko có quạt nên bọn em luôn tranh nhau những giường ở gần cửa sổ để hứng gió trời mà chợp mắt (mùa này gió Chí Linh thổi vù vù, mát lạnh luôn) có khi 2,3 thằng chui vào chung một giường (mát đâu ko thấy chỉ thấy chật chội khó chịu, có khi nóng hơn ý).

Chủ nhân của chiếc giường mát lạnh này nếu đi ăn cơm hoặc đi đâu về muộn là mất chủ quyền luôn, ko làm sao đuổi được "kẻ cướp đất" đi để giành lại giường nên đành chui vào đúng giường của "kẻ cướp" đó mà ngả lưng.

Buổi trưa này cũng là "thời gian đẹp" của bọn gấp chăn xấu với bọn bị kỷ luật.

Anh em người ta được ngủ còn mình phải vác chăn chiếu ra sân đại đội tập gấp.

Trời nắng chang chang, ngồi giữa sân đại đội để tập gấp chăn thì nản rồi.

Cùng lính tráng với nhau nên cảnh này là bình thường, nhưng hôm nào đơn vị có khách thấy lạ cứ đứng xem bọn này đang làm gì mà lạ thế thì ko biết úp mặt vào đâu mà tránh.

Nhưng cũng phải thế thì chúng nó mới chừa được, ai đời anh em người ta gấp chăn vuông vắn, căng dây thẳng hàng đẹp mắt như thế mà chỉ vì mấy thằng cẩu thả gấp chăn nhăn nhúm như cái bánh mì để trung đội bị trừ điểm thi đua.

Cả bọn lười lau phản nằm buổi trưa này cũng "ôm phản lao ra biển" luôn.

Tại theo quy định về nội vụ vệ sinh của đơn vị là phản nằm lúc nào cũng phải sạch sẽ, ko được có cát và bụi bẩn.

Trực ban đại đội đi kiểm tra thi đua mà sờ phản thằng nào có bụi bẩn với cát thì xin mời trưa vác phản ra suối mà rửa cho sạch nhé.

Em là thằng chăm lau phản lắm, phần vì tính em nó sạch sẽ, phần vì sợ bị kỷ luật nên sáng nào cũng lấy giẻ nước lau phản thật kỹ.

Nhưng một lần vì phải trực nhật mải quét sân em quên ko lau kiểm tra bị phản bẩn thế là buổi trưa phải đi rửa phản, ức chế.

Bọn vi phạm kỷ luật bị phạt cải tạo buổi trưa này cũng "quá đẹp" luôn, cơm nước xong về là tập trung hết lên sân đại đội để chỉ huy giao việc, tùy mức độ vi phạm nặng nhẹ mà sẽ có công việc cụ thể.

Thằng nào vi phạm nặng nặng tí thì vác thùng ra wc lấy phân hoặc cuốc xới vườn rau tăng gia của đại đội, thằng nào nhẹ hơn chút thì nhặt cỏ vườn hoa và múc đầy bể nước đại đội.

Nhưng bọn được làm như này còn sướng chán, vì làm xong nhanh là được nghỉ, những thằng ko phải làm mà phải đứng mới choáng.

Cứ giờ nghỉ trưa là tự giác ăn mặc đầy đủ tác phong lên bảng tin đại đội đứng đến giờ báo thức thì về trung đội học tập công tác bình thường, buổi tối điểm danh xong đến giờ đi ngủ lại tiếp tục lên đứng.

Thằng nào bị đứng kiểu này giỏi lắm chỉ ba hôm là vãi đ.... ko chịu nổi đành phải xin chỉ huy cho đi làm để cải tạo.

Quả đứng này cũng có nhiều chuyện hài cười ra nước mắt.

Em nhớ nhất là vụ ông Tuấn đen người Nam Định trên bếp.

Mấy ông nhọ đít này tác phong lem nhem dân quân du kích nổi tiếng từ lâu rồi.

Hôm đấy đang là giờ bọn em tập điều lệnh đội ngũ, ông Tuấn đen ko biết đi đâu về đầu trần, quần áo xộc xệch, chân quèn quẹt dép lê, tay vung vẩy que kem vừa đi vừa mút.

Đen cho bố cháu là đúng lúc ý gặp ngay chú Hùng tiểu đoàn trưởng.

Thế là thôi, hẳn một tuần liền Tuấn đen nhà ta ko phải làm bếp cứ đến giờ hành chính là lễ tiết tác phong đầy đủ lên cột cờ tiểu đoàn đứng, mỗi tay cầm 5 cái kem do tiểu đoàn mua rồi trừ phụ cấp.

Bọn em tập điều lệnh đội ngũ mỗi lần đi qua cột cờ tiểu đoàn lại đánh mặt sang chào ông Tuấn đen đang đứng nghiêm ở đấy với chục que kem chảy nước ròng ròng mà ko thằng nào nhịn được cười.

Tuấn đen chắc cũng xấu hổ nên cứ cúi gằm mặt xuống đất, sau vụ này chắc bố cháu tởn đến già, mỗi lần nghĩ đến kem thế nào mà chả ướt hết đũng.

Còn chuyện đứng của thằng Sơn trọc (Lạc Viên - b5 sau ra quân thì chuyển nhà lên Hà Nội) cũng buồn cười ko kém.

Ko biết vì lý do gì mà nó dám đấm anh Thông cổ lọ trung đội trưởng trung đội 5 đến tím cả mắt.

Vì tội này mà con giời bị kỷ luật cứ buổi trưa, buổi tối sau giờ hành chính là quần áo tác phong chỉnh tề vác cái biển Chức trách chiến sĩ trước ngực lên đứng ở bảng tin đại đội.

Thằng nào đi qua nhìn nó cũng ôm miệng cười khùng khục, con giời xấu hổ lại đưa cái biển lên che mặt, đến khổ.

Hết giờ nghỉ trưa, 1h45' báo thức đơn vị, bọn em có 15' để gấp chăn màn, quét dọn doanh trại, làm vệ sinh cá nhân, chuẩn bị vũ khí trang bị để 2h lại ra thao trường tập.

Hôm nào ko đi thao trường thì ở đơn vị để học chính trị.

Bọn em học chính trị theo đội hình đại đội do chính trị viên giảng, cũng bàn ghế bút sách đầy đủ.

Những bài học chính trị chủ yếu là về lịch sử Đảng, hoàn cảnh ra đời của Quân đội, chủ nghĩa Mác Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, điều lệnh quản lý bộ đội, bộ luật hình sự, luật hôn nhân gia đình...........

Nói chung là toàn món khô cứng khoai tây ninh khó gặm đối với bọn em.

Chính trị viên cứ việc thao thao bất tuyệt, còn hiểu hay ko là việc của bọn em, trên cứ giảng dưới vẫn dấm dúi thuốc lá truyền tay nhau.

Đợt đấy chính trị viên đại đội em là anh Lập người dân tộc Mường - Hòa Bình tốt nghiệp Học viện chính trị quân sự.

Anh Lập giảng chính trị tương đối hay, vừa giảng bài anh vừa kể những câu chuyện liên quan đến bài giảng đó làm ví dụ minh hoạ.

Hay thì có hay nhưng hầu hết bọn em ko có hứng thú học hành gì cả, thà ra thao trường lăn lộn có mệt tí nhưng thoải mái chân tay, đằng này cứ ngồi một chỗ mà nhồi óc kiểu này thì buồn ngủ lắm.

Có hiểu cái quái gì đâu mà thích học chứ.

Anh Lập chính trị viên đại đội là một người kín đáo, khó gần, chỉ trừ lúc giảng bài hoặc sinh hoạt đại đội anh mới nói còn lại lúc nào anh ý cũng lầm lì, ít nói đôi mắt luôn gườm gườm, thường xuất hiện rất bất ngờ như chui từ dưới đất chui lên và rất thâm tính.

Chính vì thế bọn em thường gọi anh ý là Lập ma.

Thằng Bản già (Máy Chai - b4) thường xuyên bị anh Lập xử lý kỷ luật vì nó đang nằm trong tầm soi nên nó căm lắm, ngồi ở đâu nó cũng nói xấu và chửi sau lưng.

Một lần nó đang be ầm lên là thằng ch...

Lập thế này, thằng ch...

Lập thế kia, bố mày sợ đ... gì, cứ ép người quá đáng nhiều bố mày bật lại lúc ấy đừng kêu thì đúng lúc đấy anh Lập lù lù xuất hiện.

Bọn ngồi cùng đang chém gió với Bản già rét run lên rồi lảng nhanh ra chỗ khác, có thằng còn nháy mắt ra hiệu nhưng Bản già ko hiểu vẫn tỉnh bơ tiếp tục nổ.

Anh Lập cứ đứng yên nghe thằng Bản già chửi mình.

Thằng Bản già to mồm một lúc chắc cũng thấy lạnh gáy nên quay mặt lại, nhìn thấy anh Lập mặt nó trắng bệch cắt ko còn giọt máu, em đoán chắc 100% giây phút đó kiểu gì nó cũng phải són ra quần.

Anh Lập ko nói gì, lẳng lặng đi về nhà chỉ huy và tuýt còi báo động đại đội.

Báo hại cho bọn em hôm ấy chỉ vì thằng Bản già mà phải hành quân rèn luyện ngoài kế hoạch hơn chục cây số, cũng thấy cáu nhưng ko ai nỡ trách nó vì thằng nào chả ôm cái tưng tức giống nó.

Nếu hôm đấy nó ko bị bắt gặp nói xấu anh Lập thì ko sớm thì muộn cũng sẽ có thằng khác thay thế nó thôi, cả đại đội có thằng nào ưa anh Lập đâu.

Chuyện xin lỗi lợn thì thế này, số là trung đội em ở gần bếp, chỉ cách vài bước chân thôi nên hôm nào học chính trị hoặc điều lệnh ở đơn vị là bọn em hay mò xuống bếp ăn vụng cháy.

Cái loại cháy nồi gang quân dụng vàng rộm giòn tan bóc cả tang ra mà chấm với nước thịt thì chỉ có tuyệt cú mèo.

Nhưng oái oăm loại cháy này lại dùng để nuôi lợn, lính tráng ko có suất ở đây.

Nhưng kệ, bọn em vẫn tự nhiên như ruồi, cứ đến giờ cơm chín là phi ngay xuống bếp bóc tảng cháy đang nóng hổi trên nồi rồi tiện tay làm luôn bát nước thịt nữa vác về trung đội là khỏi cần ăn trưa luôn.

Bọn nhà bếp chúng nó cũng hóm, cứ xuống muộn là chúng nó cho ngay xô nước vào nồi là bọn em nhịn, sau vài lần bị doạ đánh vì cái tội ấy chúng nó ko dám đổ nước nhưng giở trò báo chỉ huy tiểu đoàn.

Chỉ huy tiểu đoàn báo xuống đại đội, chỉ huy đại đội ko nói gì mà âm thầm chõm bọn em.

Hôm đó là giờ nghỉ giải lao sau buổi tập điều lệnh đội ngũ, quen miếng bọn em phi xuống bếp làm một tảng cháy to với một bát nước thịt đầy mang về trung đội.

Cả bọn đang nhồm nhoàm cháy giòn một cách ngon lành thì anh Quyết đại phó quân sự bất ngờ xuất hiện (thời gian này em chuyển sang c 10 - d3 rồi).

Bọn em giật mình nhưng cũng kịp dấu tảng cháy với bát nước thịt rồi chạy ra sân, thằng Sơn trọc (lại nó) đang phùng mang trợn mắt cố nuốt nốt miếng cháy ko kịp phi tang bị bắt ngay tại trận.

Hôm đó cả Trung đội quần áo tác phong chỉnh tề xếp hàng trước cửa chuồng lợn, Sơn trọc tay cầm tảng cháy to mồm lặp đi lặp lại câu :"cho tôi xin lỗi lợn, nếu ai cũng như tôi thì lợn chết đói".

Ối rời ơi, cả bọn đứng dưới buồn cười mà ko thằng nào dám cười cứ bụm chặt miệng lại.

Chỉ huy đại đội tưởng sau lần ấy bọn em sợ cơ nhưng chết cái nết ko chừa, xin lỗi lợn hàng nghìn lần nữa thì cũng chả cản được cái sự quyến rũ của cái thứ cháy vàng giòn nồi gang quân dụng chấm với nước thịt kho kia

4h45' là hết giờ học tập công tác buổi chiều, đi thao trường về lau chùi bảo quản vũ khí trang bị xong bọn em tập trung nghe phổ biến kế hoạch tăng gia sản xuất.

Vườn tăng gia đại đội nhỏ, trồng ít rau nên chỉ cần một trung đội làm là đủ, quân số còn lại ra vườn tăng gia tiểu đoàn.

Vườn tăng gia tiểu đoàn là vườn mẫu, vườn điểm của toàn quân nên bố trí rất đẹp mắt, chủ yếu phục vụ nhu cầu kiểm tra của cấp trên, tham quan học tập mô hình tăng gia của các đơn vị bạn là chính.

Vườn là một khoảng đất rộng chừng 7500 m2 (đấy là em ước lượng thế vì nó là hình chữ nhật mỗi cạnh có độ dài ~ 50 x 150 m) được chia ô đánh luống đàng hoàng, ở chính giữa, chia đôi vườn ra làm hai phần bằng nhau là một mương nước đã được bê tông hoá phục vụ nước tưới cho cả vườn.

Mỗi lô của vườn trồng một loại rau nhưng phần nhiều là rau muống, rau đay và rau mồng tơi, mỗi lô có một hố tăng gia để chứa phân bón.

Xung quanh vườn là những hàng na mắt, đu đủ, vải, nhãn trồng thẳng tắp.

Lô cuối cùng sát tường rào tiểu đoàn cho trồng các giàn đỗ leo: đỗ ván, đỗ cove, đỗ đũa...

Trung đội 6 em được giao nhiệm vụ chăm sóc giàn đỗ này.

Được sự chăm sóc tưới bón cẩn thận của bọn em, giàn nào giàn ý cũng xanh mướt mắt và sai trĩu quả.

Vì đây là vườn tăng gia trồng làm mẫu nên đỗ sai trĩu xuống cũng ko được thu hoạch, chỉ để cho đẹp, khi nào già héo thì vặt bỏ vất vào hố tăng gia làm phân xanh.

Bọn em bảo nhau cứ để thế này thì hơi phí, thành quả lao động của mình mà ko được hưởng thì bất công quá.

Thế là thỉnh thoảng buổi chiều tăng gia bọn em mỗi thằng lại vặt đầy túi quần, túi áo K82 toàn đỗ là đỗ rồi nhảy tường ra ngoài uống rượu.

Công mình trồng ra rồi chăm bón thì tội gì ko ăn, để nó héo rũ rồi vất đi có phải nó phí ra ko.

Bên cạnh vườn rau tăng gia tiểu đoàn chỉ cách một đoạn tường rào thấp là hai quán rượu.

Một là của chị Hẹn vợ anh Đức quân y tiểu đoàn 3.

Uống rượu ở đây thì tương đối yên tâm vì dù sao chỉ huy tiểu đoàn hay vệ binh cũng nể mặt anh Đức nên ko làm căng.

Nhưng vì quán hơi bé, đồ nhậu ít mà lại bán đắt nên chả bao giờ bọn em vào đó, thỉnh thoảng nhỡ nhàng thì chỉ đứng ở bên này gọi với sang mua bao thuốc thôi.

Quán còn lại có cái tên rất kêu là "Trúc Sơn quán" nghe cứ như là một quán sang trọng nào đó ở thành phố ý chứ ko phải là cái quán rượu ở chỗ khỉ ho cò gáy chỉ phục vụ mỗi cho bộ đội.

Chủ "Trúc Sơn quán" là chị Sợi, năm đó khoảng hơn 30t, trắng trẻo dễ nhìn và quan trọng là chưa có chồng nên lính bọn em rất khoái ra đây uống rượu.

Quán rộng rãi, đồ ăn thức nhắm nhiều, giá cả phải chăng, thái độ phục vụ nhiệt tình, nhậu xong lại có cả tiết mục Karaoke cỏ để nghêu ngao cộng với cô chủ quán phơi phới thế kia thì tội gì mà ko vào nhỉ.

Mấy anh sĩ quan trẻ chưa vợ cũng hay ra đây lắm nên bọn em đụng nhau đôm đốp, nhưng mà kệ, việc ai người ý làm thôi, quan tâm làm gì.

Cũng chính vì có mấy anh sĩ quan này nên mấy thằng vệ binh tiểu đoàn cũng ít soi vào đây hơn.

Mang đỗ ra rồi mua thêm khoảng nửa cân thịt ba chỉ, xào nấu ngon lành xong là cứ việc yên tâm gác chân lên ghế uống rượu ko sợ bố con thằng nào nhòm ngó cả.

Hết giờ tăng gia sản xuất là đến giờ thể dục thể thao.

Trong các môn thể thao thì bóng đá vẫn là môn yêu thích nhất của bộ đội.

Cứ tăng gia về xong là bọn em nhanh nhanh chóng chóng xỏ giày ra sân thi đấu.

Luyện tập ngoài thao trường, về nhà lại phải cuốc đất to tay nhưng khi vào sân rồi thì thằng nào cũng chạy hùng hục ko biết mệt là gì.

Quân số đá bóng bao giờ cũng đông, chia làm ba bốn đội vẫn chưa hết nên vừa đá được một tí chưa kịp toát mồ hôi là thằng bên ngoài đã hò hét đòi thay rồi.

Ko chịu thay nó cứ đứng ngoài lèo nhèo cũng chẳng còn tâm trí tập trung mà đá nữa nên thôi tốt nhất là số 3 ra số 4 vào cho lành.

Thằng nào ko biết đá bóng thì đi tập tạ, đu xà.

Bọn này mới gọi là khỏe thật sự, thằng nào thằng đấy ngực nở, cơ bắp cuồn cuộn.

Tạ nặng 25 - 30 cân mà chúng nó vớt hàng chục cái ko biết mệt.

Xà đơn đánh đùa cũng phải được cỡ 30 cái trở lên.

Thỉnh thoảng em cũng bon chen giật thử mấy phát xà đơn nhưng cố lắm cũng chỉ được 5 cái là cùng, còn tạ thì chịu ko vớt nổi 1 cái luôn.

Tập như thế thảo nào bọn nó thằng nào tay cũng to như chân, chân to như tờ báo Nhân Dân, nói dại chứ nhỡ nó đấm mình một phát chắc nằm liệt mấy hôm luôn.

6h là đến giờ ăn cơm chiều, bọn em lại tập trung lóc cóc bát đũa lên nhà ăn.

Ăn cơm xong về đơn vị tổ chức sinh hoạt tổ ba người.

Gọi là sinh hoạt cho oai chứ chủ yếu là ngồi tán phét, hút thuốc lá chém gió cho xuôi cơm.

7h tất cả tập trung lên sân đại đội xem thời sự, đọc báo nghe tin.

Hồi ở nhà chả thằng nào chịu ngó ngàng tới cái TV bao giờ, chưa tối đã tếch đi chơi rồi thì ti vi ti viếc gì nữa chứ, có chăng đêm về xem trận đá bóng thôi.

Nhưng vào bộ đội phải xem TV theo chế độ lại thấy thích, được biết thêm nhiều tin tức thời sự trong nước và quốc tế.

Hết giờ thời sự là đến tiết mục đọc báo, nghe tin.

Báo phát về đầu mối đại đội bọn em toàn báo Nhân Dân, QĐND và Tiền Phong, hàng tháng được thêm quyển Văn Nghệ Quân Đội nữa nhưng lính bọn em tuổi gì mà được đọc.

Người đọc báo (bọn em hay gọi là đài) thường là anh Lập chính trị viên đại đội.

Sau phần tin tức chính trị thời sự trong nước và quốc tế, nghị quyết của Đảng, phần điểm tin hoạt động của toàn quân ở báo Nhân Dân và QĐND là đến mục Sau luỹ tre làng, kết bạn bốn phương, truyện cười... của báo Tiền Phong.

Bọn em thích nhất những mục này vì nó phù hợp với tâm lý của bộ đội hơn, anh Lập lầm lì thế mà khi đọc báo hay pha trò ra phết, anh ý rất hay xuyên tạc nội dung câu chuyện và thay tên của bọn em vào thay cho tên nhân vật, thằng nào nghe đọc đến tên mình từ đầu còn ngáo ngơ, nhưng sau hiểu ra thì phá lên cười.

Nói xin lỗi các bác chứ, hôm nào báo có mục viết về chuyện hiếp dâm thì cả đại đội vui như hội.

Tin ở báo thì ko có gì đâu, chỉ ngắn gọn thôi nhưng dưới giọng đọc biến tấu và thêm thắp tình tiết của anh Lập thì nó thú vị lên rất nhiều.

Anh ý sáng tác ra một đoạn dài, thay tên thủ phạm thành tên một thằng trong đại đội và thay địa chỉ thành phiên hiệu đơn vị.

Bọn em bên dưới vừa nghe đọc vừa rũ rượi ra cười khoái chí.

Lính hay sĩ quan gì thì cũng vậy thôi, đều là đàn ông như nhau cả, bị gò bó lâu ngày ko được tiếp xúc với chị em nên vấn đề nhạy cảm đó thường rất được thông cảm.

Chỉ cần một mồi lửa nhỏ nhỏ thế thôi là cũng đã đủ làm cháy lên cái khát khao rất bình thường, rất đàn ông đó của lính rồi (các bác đọc đoạn này xin hết sức thông cảm cho lính bọn em nhé, nhất là các bác nữ, các bác phải trải qua Quân đội rồi mới hiểu được bọn em lúc ý như thế nào).

Sau giờ đọc báo nghe tin là đến giờ sinh hoạt đại đội.

Buổi sinh hoạt bình thường kéo dài khoảng 30', chủ yếu vẫn là tổng kết tình hình trong ngày, phổ biến kế hoạch ngày mai cho bộ đội và nghe chỉ huy đại đội quán triệt một số vấn đề trong học tập, công tác hay duy trì chế độ của đơn vị .

Hôm nào có việc gì quan trọng thì thời gian sinh hoạt sẽ kéo dài hơn thường lệ một chút.

Sinh hoạt đại đội xong bọn em lại về trung đội sinh hoạt tiếp, sau đó điểm danh, điểm quân số, đúng 9h30' mắc màn lên giường tắt đèn đi ngủ.

Đến giờ ngủ rồi thì trừ bộ phận canh gác còn lại thì giường ai người nấy nằm, ko ngủ cũng phải lên giường chứ ko được đi lại linh tinh.

Giày dép cũng phải để đúng nơi quy định, giày để trên giá, dép dưới nền nhà thành một đôi song song chứ ko được mỗi nơi một chiếc.

Nếu để sai quy định đêm chỉ huy đại đội đi kiểm tra thì hôm sau chịu khó lên kho đại đội mà tìm giày dép bị thu.

Sau một ngày học tập công tác vất vả, đến giờ ngủ thằng nào ngủ cũng say, đêm nào ko phải gác và ko dính quẹt báo động nào thì ngủ ngon lành ko vẫy tai một mạch đến sáng.

5h sáng hôm sau kẻng báo thức lại vang lên báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

"Lao động của người lính là loại lao động đặc biệt.

Vậy nên môi trường quân đội cũng phải là môi trường đặc biệt với những hình phạt đặc thù.

Phải chấp nhận thôi!

Thằng Tây nó cũng phạt lính như thế đấy, còn kỳ quái hơn nữa kia...

Bây giờ nhớ lại chỉ thấy buồn cười, không thấy tức...

Quân đội không cho phép cái Tôi xuất hiện!

Đã là một thành viên của đơn vị hãy làm theo mệnh lệnh, dù vô lý vẫn phải chấp hành.

Ông văn chương xạc xào tri thức ở nhà, bay bổng phiêu diêu, đầy quyền con người cũng chỉ thể hiện ở nhà thôi nhé!

Vào lính hả?

Nghiêm!

Tiến thẳng 30 bước!

Có cái ao cũng phải tiến thôi!

Đấy chính là kỷ luật quân nhân mà nước nào cũng mong đạt tới.

Quan trọng nhất đối với một người lính hoặc một cuộc chiến - đó là Chiến thắng.

Cuộc chiến nó tự rèn người.

Quân đội không dạy chi tiết phải bỏ đầu mẩu thuốc lá vào thùng, không được nhổ bậy trên đường phố, bê các cô váy ngắn đặt nâng niu lên xe bus còn mình thì đi bộ...Chỉ Rèn thôi, không Giáo đâu..."

- trích lời của bác Trungsy1.

Đúng như lời bác Trungsy1 nói, các hình thức kỷ luật của cán bộ với lính mục đích chủ yếu là răn đe nhiều hơn giáo dục các bác ạh.

"Lấy tập thể rèn cá nhân" mà các bác, cán bộ chỉ huy nhà ta nghĩ ra được nhiều hình thức kỷ luật hay và độc đáo lắm, em đoán chắc thế nào các bác từng qua Quân đội đã chả đôi lần được thưởng thức.

Đầu tiên là chuyện "xin lỗi lợn".

Chuyện "xin lỗi lợn" thì thế này, số là trung đội em ở gần bếp, chỉ cách vài bước chân thôi nên hôm nào học chính trị hoặc điều lệnh ở đơn vị là bọn em hay mò xuống bếp ăn vụng cháy.

Cái loại cháy nồi gang quân dụng vàng rộm giòn tan bóc cả tảng ra mà chấm với nước thịt thì chỉ có tuyệt cú mèo.

Nhưng oái oăm loại cháy này nhà bếp lại chỉ dùng để nuôi lợn, lính tráng ko có suất ở đây.

Nhưng kệ, bọn em vẫn tự nhiên như ruồi, cứ đến giờ cơm chín là phi ngay xuống bếp bóc tảng cháy đang nóng hổi trên nồi rồi tiện tay làm luôn bát nước thịt nữa vác về trung đội là khỏi cần ăn trưa luôn.

Bọn nhà bếp chúng nó cũng hóm, cứ xuống muộn một tí chúng nó cho ngay xô nước vào nồi là bọn em nhịn, sau vài lần bị doạ đánh vì cái tội ấy nên chúng nó ko dám đổ nước nữa nhưng giở trò báo chỉ huy tiểu đoàn.

Chỉ huy tiểu đoàn báo xuống đại đội, chỉ huy đại đội ko nói gì mà âm thầm chõm bọn em.

Hôm đó là giờ nghỉ giải lao sau buổi tập điều lệnh đội ngũ, quen miếng bọn em phi xuống bếp làm một tảng cháy to với một bát nước thịt đầy mang về trung đội.

Cả bọn đang nhồm nhoàm cháy giòn một cách ngon lành thì anh Quyết đại phó quân sự bất ngờ xuất hiện (thời gian này em chuyển sang c 10 - d3).

Bọn em giật mình nhưng cũng kịp dấu tảng cháy với bát nước thịt vào gầm giường rồi chạy ngay ra sân, thằng Sơn trọc (lại thằng đen đủi này) đang phùng mang trợn mắt cố nuốt nốt miếng cháy ko kịp phi tang bị bắt ngay tại trận.

Hôm đó cả trung đội quần áo tác phong chỉnh tề đứng xếp hàng trước cửa chuồng lợn, Sơn trọc tay cầm tảng cháy to mồm lặp đi lặp lại câu :"cho tôi xin lỗi lợn, nếu ai cũng như tôi thì lợn chết đói".

Ối rời ơi, cả bọn đứng dưới buồn cười mà ko thằng nào dám cười cứ bụm chặt miệng lại.

Chỉ huy đại đội tưởng sau lần ấy bọn em sợ cơ nhưng chết cái nết ko chừa, xin lỗi lợn hàng nghìn lần nữa thì cũng chả cản được cái sự quyến rũ của cái thứ cháy vàng giòn nồi gang quân dụng chấm với nước thịt kho kia.

Tiếp nữa là chuyện xúc miệng vì chửi bậy và nhổ nước bọt.

Hôm đó là buổi học chính trị, trong lúc giải lao ngồi chém gió, thằng Minh ngố cùng tiểu đội em hồi tân binh đang lúc cao hứng ầm ầm nói tiếng Đan Mạch thì anh Đạt kều đại trưởng đi qua nhắc nhở.

Nhưng ko biết thằng này nó ăn gì, nghĩ gì mà tự yên làm toẹt phát bãi nước bọt trước mặt anh Đạt.

Thôi xong rồi, trời sập cũng ko khủng khiếp bằng lúc này nhé.

Anh Đạt kều tổ chức báo động đại đội xong bắt Minh ngố múc đầy năm thùng nước (loại thùng tăng gia dùng để tưới rau) rồi dùng bát múc từng bát một xúc miệng, khi nào xúc miệng hết xong năm thùng nước này thì thôi.

Khổ thân thằng bé nhăn mặt nhăn mũi uống từng ngụm nước, phùng má ùng ục, nhổ ra xong lại tiếp tục vục bát vào thùng tăng gia múc nước cho vào miệng.

Đến gần hết thùng thứ ba thì nó chịu thua, nó ấp úng xin anh Đạt tha.

Tính anh Đạt quan cách cứng rắn nhất định ko tha, mày trót dẫm chân vào tổ kiến lửa rồi thì cố chịu hậu quả đi.

Cố gắng xúc miệng hết năm thùng nước cũng là lúc thằng Minh ngố kiệt sức, hai mắt đỏ ngàu lên long sòng sọc, chân tay run lẩy bẩy.

Anh Đạt bảo lần này tôi tha, nếu lần sau bắt được ai chửi bậy nữa sẽ bắt xúc miệng hết hai mươi thùng như thế cho nhớ chứ ko phải năm thùng như hôm nay đâu.

Bắt con người ta xúc miệng hết năm thùng nước đến gần ngất rồi bảo tha mới sợ chứ. (Bác nào ko tin xúc miệng bằng nước nhiều khó chịu cứ thử làm liền lúc hai lít là biết ngay thôi)

Sang năm thứ hai quân số đại đội 6 lính Ngô Quyền - Hải Phòng được điều chuyển sang tiểu đoàn 3 bên cạnh.

Đợt đấy chỉ huy tiểu đoàn 3 mới được bổ sung chú Uý - đại uý từ tiểu đoàn 7 - trung đoàn 8 - sư đoàn 395 Tiền Hải, Thái Bình về làm phó tiểu đoàn trưởng quân sự.

Chú Uý này nổi tiếng khét lẹt với lính từ hồi làm đại trưởng ở trung đoàn 8 rồi nhưng hiện tại thì bọn em vẫn chưa coi là cái đinh gì hết.

Sau buổi sinh hoạt tiểu đoàn ra mắt tiểu đoàn phó quân sự mới xong là chú Uý "mõm chó" (em thành thật các bác vì đã gọi như thế nhưng 1/ Bọn em quá ghét chú ý vì cách đối xử với lính, 2/ Răng chú ý bị vâu nặng nên bọn em đặt cho chú ý biệt danh Uý "mõm chó" để phản ánh đúng cục diện) tổ chức ra oai với bọn em ngay.

Bình thường buổi sáng ra đánh răng rửa mặt lính đại 10 bọn em toàn xuống bể bếp cho gần và sạch sẽ thoải mái.

Bọn nhọ đít tuy rất khó chịu nhưng ko tuổi gì ý kiến rồi nên chúng nó lại báo chỉ huy tiểu đoàn.

Chú Uý cấm tiệt lính đại đội ko được xuống bếp đánh răng rửa mặt buổi sáng nữa, ai vi phạm sẽ bị xử lý thật nặng nhưng bọn em điếc lòi ra, coi như ko nghe thấy gì hết.

Sáng sáng vẫn tay bát, tay bàn chải khăn mặt xuống bếp cho nhanh.

Rồi điều gì đến cũng phải đến, chú Uý bất thình lình xuất hiện khi bọn em đang tay bàn chải, tay bát ngồi chỗm chệ trên thành bể bếp đánh răng.

Cả bọn ko thằng nào bảo thằng nào đứng dậy ù té chạy.

Thằng Hưng sứt với thằng Cương táo mải mê quá ko biết sự có mặt của chú Uý cứ thản nhiên tiếp tục nên bị bắt ngay tại trận.

Ko kịp rửa mặt, mồm vẫn còn nguyên bọt trắng của kem đánh răng hai thằng bị chú Uý điệu lên bảng tin tiểu đoàn đứng, tay vẫn cầm bát, bàn chải đánh răng và khăn mặt.

Đòn dằn mặt của chú Uý với bọn em là thế đấy, tuy chưa có gì ghê gớm lắm nhưng cũng làm bọn em hơi chột.

Từ ngày có chú Uý về làm tiểu đoàn phó quân sự, công tác tăng gia sản xuất của tiểu đoàn sôi nổi hẳn lên.

Khối lượng công việc của mỗi đại đội được giao nhiều gấp hai gấp ba lần lúc trước.

Thời gian nghỉ ngơi và thể dục thể thao của bọn em đã bị thời gian cho việc cuốc đất, tưới rau ăn lẹm vào khá nhiều, thằng nào cũng kêu ca phàn nàn.

Chú Uý này là mẫu người của công việc, chỉ huy lính rất thực tế chứ ko nặng về phần trình bày và hình thức nên khả năng diễn thuyết rất kém.

Những buổi sinh hoạt tiểu đoàn do chú Uý duy trì thường kết thúc khá sớm vì ngoài công việc với chuyện xử lý kỷ luật ra chú ý chả biết nói gì với lính nữa.

Nhưng trông thế thôi chứ chú Uý của bọn em cũng quan cách ra phết đấy.

Từ lính đến sĩ quan gặp chú ý là phải đứng nghiêm rồi hô :"em chào thủ trưởng" thật to.

Một buổi chiều chú Uý ra vườn tăng gia kiểm tra các đơn vị, tất cả đều chào chú ý, riêng thằng Ánh gà rớ (Hà Tây - b6) ko những ko chào còn đứng trơ mắt ra nhìn cứ như lạ lắm ý.

Chú Uý hỏi nó giọng rất văn địa phương :"ơ thế trưa nay bếp tiểu đoàn cho đồng chí ăn canh hến àh?".

Của đáng tội trưa nay bọn em đúng là được ăn canh hến thật, thằng gà rớ kia ko hiểu ẩn ý câu hỏi xóc óc của chú Uý nên thật thà trả lời :"vâng ạh, trưa nay bọn cháu được ăn canh hến".

Úi rời cái thằng đầu đất này, mày thích ăn canh hến àh, về ngay bảng tin tiểu đoàn đứng vì cái tội nhìn thấy thủ trưởng ko chào.

Đứng đến mà gào lên với cái bảng tin :"em chào thủ trưởng" to vào cho nhớ, lần sau nhìn thấy thủ trưởng là phải chào từ xa nếu ko muốn đứng bảng tin nữa nghe chưa.

Đợt này quân số đào ngũ của tiểu đoàn khá đông, các hình thức kỷ luật thông thường như phạt gác, lấy phân, đứng bảng tin, cuốc vườn tăng gia... chưa đủ sức răn đe và làm gương cho thằng khác ko vi phạm.

Chú Uý thu gon tất cả đống này lại (quân số biên chế chắc phải được một trung đội bộ binh) do chú ý trực tiếp duy trì, cứ ngoài giờ hành chính (trưa và đêm) là tập trung hết lên bếp tiểu đoàn lấy sỉ than dồn thành một đống rồi lấy vôi củ về trộn thành vữa để đóng gạch babanh.

Từ đầu mỗi thằng được khoán đóng 10 viên/ngày, xong sớm nghỉ sớm, ko xong báo động đại đội dậy đứng chờ khi nào đóng xong thì thôi.

Vì chỉ có 10 viên chúng nó ăn ngọt nên được nghỉ sớm.

Chú Uý thấy ko ổn, bọn này kỷ luật thế cũng như ko rồi bèn tăng khối lượng từ 10 viên lên 20 viên/ngày/thằng, tức là lượng việc tăng lên gấp đôi luôn.

20 viên gạch nếu đóng một lèo thì cũng nhanh thôi, nhưng do thiếu khuôn, hai ba thằng chung một cái làm luân phiên nên nó mới lâu thế.

Bọn đào ngũ bị kỷ luật này đã bắt đầu méo mặt nhưng vẫn cố gắng hoàn thành thế mà chú Uý có vẻ vẫn chưa hài lòng hay sao ý.

Chú ý bảo phải cho bọn này làm việc quần quật suốt ngày ko có thời gian nghỉ ngơi nữa để đỡ nghĩ đến chuyện đào ngũ nên vài hôm sau số lượng đã tăng lên 25 viên/ngày.

Bét nhè chè thiu luôn, chúng mày cứ coi thường chú Uý đê bây giờ thì sáng mắt ra chưa?

Cường độ và tần suất lao động liên tục tăng lên, đống vữa sỉ than vơi đi nhanh chóng còn đống gạch babanh thì càng ngày càng đầy thêm, thằng nào thằng ý ức chế nổ đom đóm mắt, vừa làm vừa luôn mồm lẩm bẩm chửi chú Uý nhưng chưa thằng nào dám công khai chống đối vì chúng nó đủ thông minh để hiểu hậu quả xảy ra sẽ như thế nào.

Trở lại với đại đội 6 - tiểu đoàn 2 tháng 8 năm 2000.

Đang thực hiện chế độ tuần làm việc 40h nên thứ bảy và chủ nhật bọn em được nghỉ.

Gọi là được nghỉ nhưng chỉ là nghỉ huấn luyện ko phải ra thao trường thôi còn mọi chế độ khác vẫn được duy trì đầy đủ.

Hai ngày cuối tuần này chỉ huy thường bố trí cho bọn em vào rừng lấy vật chất về để xây dựng đơn vị, cụ thể là gỗ, tre, dóc, nứa...

Thằng nào được phân công đi rừng thì sướng nhảy cẫng lên vì đi rừng tuy có mệt một tí nhưng được cái thoải mái, tha hồ rảnh chân tạt té vào dân rượu chè.

Mỗi lần đi rừng một trung đội có khoảng sáu bảy thằng được tổ chức thành một đội do tiểu đội trưởng phụ trách dẫn đi.

Nhiệm vụ của mỗi thằng phải lấy một cây gỗ dài ba mét, đường kính mười lăm phân.

Ở đơn vị ko có sẵn dao nên mỗi lần đi rừng lại phải tổ chức vào dân mượn, chủ yếu cũng là do quan hệ của tiểu đội trưởng chứ lính bọn em vào chả ai dám cho mượn cả, nhất là lính Hải Phòng nữa thì càng mút chỉ.

Em nhớ có lần vào một nhà dân gần đơn vị, vừa cất mồm lên định hỏi mượn con dao thì thằng con chủ nhà đã lên tiếng trước :"bố em bảo ko cho thằng bộ đội nào mượn cái gì hết !!!".

Cả bọn nghe xong sái quá lượn mất, từ ấy muốn vào dân mượn cái gì toàn nhờ tiểu đội trưởng chứ ko thằng nào mặt đủ độ dày để dám vào nữa.

Dao đi rừng của dân là loại dao quắm, nhìn như con dao rựa bình thường nhưng cán nó to và dài hơn, đầu hơn quắp lại có mấu khoằm để phát dây leo, quan trọng là lưỡi rất sắc, loại dao này dùng để chặt cây thì quá tuyệt, chỉ cần vài nhát là cây đổ.

Đường từ đơn vị vào rừng tương đối xa, cả đi cả về tầm khoảng 15km và phải leo trèo qua rất nhiều đèo dốc.

Buổi sáng sau khi chỉ huy đại đội phân công công việc xong, tiểu đội trưởng phụ trách nhóm đi rừng xuống bếp cắt cơm sau đó dẫn cả nhóm ra dân mượn dao rồi thẳng hướng rừng trực chỉ.

Gọi là tiểu đội trưởng dẫn đi cho oai thôi, mỗi lần đầu tiên là anh ý dẫn bọn em vào tận rừng chỗ có gỗ để chặt, những lần sau chỉ dẫn đến chân dốc là bố cháu lượn vào dân tán gái, kệ mịe chúng mày tự đi lên rừng thích làm gì thì làm miễn là có gỗ vác về là được.

Đường lên rừng vừa xa vừa quanh co, dốc thì cao, chỗ thấp có nhiều gỗ chặt được thì lính trước chặt hết rồi hoặc dân họ quản lý kinh quá nên phễu.

Muốn chặt được gỗ đúng tiêu chuẩn thì phải leo thật cao, trèo được lên đến đỉnh chỗ có gỗ để chặt thì mồm mũi tranh nhau thở, mệt đứt cả hơi.

Mà ko phải đến đấy rồi là có gỗ cho các bố chặt ngay đâu, còn phải loanh quanh tìm chán mới có cây ưng ý.

Rừng ở đây nhiều dây leo và gai, lối đi vào toàn là lối mòn của dân đi săn bắn, lấy củi hoặc đào củ mài vì thế tương đối khó đi.

Những lần đầu đi ko có kinh nghiệm nên thằng nào về cũng quần áo bị gai cào rách bươm, chân tay toe toét máu.

Những lần sau rút kinh nghiệm đi rừng thì cứ rằn ri mà mặc (loại K tám hôi chỉ cần 2 lần đi rừng gai nó cào cho là chỉ có cho quân khí lau súng thôi, rách như tổ đỉa ko mặc nổi, sao cái loại vải ý nó mủn thế ko biết) đầu đội mũ cối rồi cắm đầu mà đi, vải rằn ri bền, bóng nên gai cứ trơn tuột ko cào vào được cứ thế bon ầm ầm, mỗi tội là nóng hơn rất nhiều so với áo K82.

Thằng đi đầu cầm dao quắm phát dây leo mở đường, bọn đi sau dùng tay gạt hết sang hai bên để lấy lối đi.

Mà công nhận bọn dây leo này nó mọc rất nhanh, lần trước đi phát quang rồi, chỉ tuần sau quay lại thôi nó đã bịt kín lối, đấy là chưa kể dân mỗi lần đi rừng họ lại phát quang tiếp rồi đấy.

Chặt được gỗ xong thường là đã xế trưa, mỗi thằng vác một cây rồi xuống chân dốc vào dân ăn cơm.

Lúc đi tiểu đội trưởng mang số gạo và thức ăn tiêu chuẩn của cả nhóm cắt dưới bếp tiểu đoàn vào nhờ một nhà dân quen nấu hộ, sau khi lấy gỗ xong bon xuống là tổ chức rượu, phê pha xong đi đâu chơi thì đi tối mịt mới vác gỗ về đơn vị nộp.

Lúc leo lên đã mệt rồi lúc xuống còn chối hơn, trên vai vác một cây gỗ vừa dài vừa to, lại xuống dốc nữa nên rất khó đi, hai đầu gối như muốn khuỵu hẳn xuống.

Cứ leo một đoạn là cả bọn lại hò nhau nghỉ giải lao, đứng dậy vác cây lên vai là lại muốn ngồi xuống luôn.

Đến lúc chối quá ko vác được, gặp đoạn dốc đứng là cả bọn bỏ gỗ xuống lăn cho rơi tự do xuống chân dốc, làm thế cũng đỡ đi được phần nào mệt mỏi.

Chả bù cho mấy em gái dân tộc ở đây, chân to như bắp chuối đi rừng lấy củi toàn làm một bó to đùng hơn cả người rồi vác phăm phăm xuống dốc ko cần nghỉ, mấy anh bộ đội nhìn thấy mà méo hết cả mặt, ko dám đua sợ xòe.

Đã thế vừa đi lại vừa phải tránh chủ rừng và kiểm lâm nữa mới nản chứ.

Tuy đây là rừng tự nhiên nhưng được chính quyền giao cho dân quản lý và khai thác, mỗi lần đi rừng là bọn em phải trốn tránh vòng vượt như tránh tà.

Nhưng nói chung là chỉ tránh kiểm lâm là chính thôi vì nếu bắt được là họ thu gỗ ngay ko xin xỏ được, còn lực lượng CAX thì đơn giản hơn nhiều.

Cứ thứ bảy, CN nắm bắt được quy luật đi rừng của bộ đội là CAX cho một lực lượng khoảng 2 người chốt ở cửa rừng, bộ đội vác cây đi qua mỗi lượt thu 2000 đ, ko có tiền thì để cây lại xin xỏ vô ích.

Em nhớ có lần thằng Hưng sứt bị kỷ luật đi chặt cây một mình vác qua ko có tiền nộp phải để lại đôi giày vải đi chân đất vác cây về đơn vị vì nếu hôm đấy ko có cây thì kỷ luật mút chỉ luôn (vụ này em cũng dính, để em kể chi tiết sau).

Còn nếu ko bị kỷ luật bình thường cứ để cây lại về báo mất để chỉ huy vào xin rồi quay lại lại vác về thôi.

Đấy là CAX, còn gặp kiểm lâm thì quá đẹp, mỗi lần đi tuần tra họ thường đi khoảng 5 người có trang bị súng ống đầy đủ.

Bắt được bộ đội là họ thu cây ngay rồi thả người vì họ ko có quyền bắt người.

Nhưng nhiều khi có trường hợp chống đối họ cũng làm căng giữ lại rồi báo chỉ huy đơn vị đến chuộc người về.

Chống đối cũng đúng thôi, vì các bác xem nhé, hì hục leo trèo mãi mới chặt được cây gỗ, vác về gần đến đơn vị rồi, chỉ còn cách vài trăm mét mà bị bắt nghĩ có cay ko chứ.

Lúc đó chỉ mong làm sao chạy thật nhanh về đến đơn vị là thoát nhưng hầu như là bị bắt hết.

Họ đông, lại đi xe máy, mình chạy bộ trên vai vác cái cây to tổ bố thế, sức kiệt rồi lại trên đường bằng thế họ chả cần đuổi cũng tự phải đứng lại mà bị bắt thôi.

Thường thường bị kiểm lâm bắt thì coi như là mất vì xin làm sao được, lúc đó ức chế quá chỉ chửi bới ầm ĩ, tiếng Đan Mạch văng ra ầm ầm cho bõ tức rồi về đơn vị chịu kỷ luật thôi chứ biết làm sao bây giờ.

Mới lại kể cũng lạ, mấy bố chỉ huy luôn mồm quán triệt lính phải làm tốt công tác dân vận, ko được lấy bất cứ cái gì của dân nhưng vẫn bắt lính phải vào rừng chặt trộm gỗ của dân vác về đơn vị là thế nào.

Như kiểu các bố ý bảo các đồng chí ko được lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân, phải để cái đó lại rồi bê hẳn đầu máy khâu đi ý.

Nhớ lắm lần CAX và kiểm lâm họ bắt bộ đội, các bố chỉ huy vào xin xỏ rồi hứa như đúng rồi ý sẽ quán triệt lính lần sau ko tái phạm, lại còn bảo ko sai lính đi chặt cây của dân, chỉ sai lính vào rừng kiếm cành củi khô về nhập xuống bếp làm chất đốt thôi, đây là do các đồng chí ý tự phát.

Thôi xin các bố, các bố ko sai thì bọn tôi dại quái gì phải khổ thế, cành khô củi khô kiếm đâu chả được.

Ko vác về cho các bố cây gỗ to các bố lại chả kỷ luật cho to đầu lên ý chứ lại.

Toàn văn vở thôi,bao nhiêu đổ hết vào đầu lính, các bố ý cầm đầu nhưng vô tội.

Quá đẹp.

Có lần bọn em lười đi rừng xa bèn rủ nhau bơi sang bên kia suối mò vào rừng trồng của dân chặt trộm bạch đàn và keo tai tượng.

Chặt ở đây vừa gần, vừa nhanh, cây lại đẹp nhưng cũng hơi nguy hiểm.

Nếu chẳng may chủ rừng người ta phát hiện bắt được báo về đơn vị thì kỷ luật đẹp luôn, đấy là chưa nói đến chuyện xô xát có thể xảy ra vì dân người ta xót của, công sức trồng trọt, chăm bón bao nhiêu năm của người ta ý chứ ít àh.

Vào được rừng rồi, chọn một góc khuất nhất, cắt cử 2 thằng canh tây còn lại nhanh chóng chọn những cây cao thẳng đẹp nhất và ra tay.

Chỉ sau vài nhát chặt là đã hạ xong một chú bạch đàn thẳng tắp.

Lại nhanh chóng vác gỗ luồn rừng ra bờ suối thật nhanh, ném cây xuống suối rồi bơi dìu sang bờ bên kia về đơn vị là coi như thoát.

Nhưng sự đời nó cũng có nhiều cái thật oái oăm mà ko biết kêu với ai được.

Ai đời mấy thằng hớn hở vác cây ngon, thẳng tắp về nộp thì chỉ huy sa sầm mặt mày vào bảo ai cho các đồng chí chặt trộm cây của dân, đấy là tài sản của dân nếu họ phát hiện ra bảo lên Trung đoàn thì chúng tôi biết ăn nói thế nào, các đồng chí đã vi phạm kỷ luật dân vận nên phải kỷ luật.

Thế là thôi, mỗi thằng một cây vác lên vai đứng xếp hàng ở bảng tin đại đội.

Ức chế, ko hoàn thành nhiệm vụ cũng kỷ luật, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc cũng kỷ luật, mọi giá trị đảo lộn hết cả, chả biết đường nào mà lần.

Cả bọn ko thằng nào ăn ớt mà cảm thấy cay đến tận óc nhưng ko biết kêu ai được nên cứ âm thầm mà tẩm bổ thôi, rút kinh nghiệm lần sau vậy.

Hồi đầu đi rừng bọn em được cắt cơm mang đi để tự nấu, nhưng sau này vì ra dân nấu nhờ rồi rượu chè be bét, nhom nhem lôi thôi quá nên chỉ huy tiểu đoàn cấm tiệt (các chú ý bảo làm thế là mất hình tượng anh bộ đội cụ Hồ trong mắt dân, suýt sặc).

Đi rừng ở đâu thì đi nhưng phải về đơn vị ăn cơm, suất cơm sẽ được nhà bếp và trực ban trực nhật phần đầy đủ.

Vãi nản, bon được lên rừng chặt xong gỗ vác xuống chân dốc đã gần chiều rồi, lại còn sức mà bon được về đơn vị nữa thì khỏi ăn cơm nhé.

Thế là bọn em tự cung tự cấp luôn.

Khi nào nhiều tiền thì đi rừng là cả một ngày hội, chặt xong gỗ vác xuống là tổ chức ngả bàn đèn, rượu thịt bày ra anh em ta cùng nhắm.

Hiểu nhau chán chê, no say rồi thì kiếm quán Karaoke cỏ nào đó nghêu ngao cho dã rượu, tối muộn vác gỗ về đơn vị nộp, tiện thể tránh CAX với kiểm lâm luôn.

Đến lúc hết tiền rồi đi rừng thằng nào còn áo bông, áo mưa quần đùi áo lót giầy dép chưa dùng đến thì vác đi, mấy khoản này cộng lại cũng được một bữa ăn tươi xôm xôm cho cả bọn.

Rồi cũng phải đến thời điểm bết, tiền hết, đồ hết ko còn gì để cắm ký, chặt cây xong vất đấy rồi cả bọn kéo nhau lên nương sắn của dân nhổ trộm về nướng ăn.

Sắn của dân ở đây trồng bạt ngàn luôn, củ to, chùm nào cũng nhiều, chỉ cần nhổ vài cây là cả bọn ăn bại.

Được cái sắn ở đây rất bở chứ ko sượng, đào một cái hố nhỏ cho hết sắn vừa nhổ xuống, bẻ ít củi khô cho lên trên, đốt lửa một lúc rồi lấy que cời sắn lên là có một bữa trưa bễ nhễ.

Mỗi thằng chén ba củ rồi uống thêm vài ngụm nước suối nữa là no căng bụng, đủ sức vác cây gỗ to này xuống dốc về đơn vị.

Sau này ra quân mỗi lần ôn lại kỷ niệm chuyện ăn sắn trừ bữa này em vẫn thấy lạ, ăn nhiều như thế, có thằng đói quá còn chén cả sắn sống mà tịnh ko có thằng nào say sắn hết.

Ăn xong nghỉ ngơi tẹo là thằng nào thằng ý phăm phăm xuống dốc, buồn cười thế chứ lại.

Đấy là đi lấy gỗ, còn đi lấy dóc thì vất vả hơn nhiều vì phải đi xa hơn, leo cao hơn và vác nặng hơn.

Cái giống dóc này ưa cao, lại ko mọc tập trung như tre nứa mà tản mát mỗi chỗ một vài cây nên chặt đủ cơ số 15 cây/lần cũng tương đối mệt.

Phải leo thật cao, tìm thật kỹ mới có dóc để chặt.

Chặt xong rồi cũng phải biết bó buộc thế nào để vác về mà nó ko bị bung ra.

Vác dóc cũng khó hơn vác gỗ vì nó nhiều cây nhỏ bó lại với nhau, lúc đè lên vai đi cảm thấy rất đau, 15 cây dóc cũng nặng gấp rưỡi một cây gỗ luôn.

Thằng nào bị phân công đi lấy dóc cũng lắc đầu lè lưỡi nghe chừng chối lắm, nhưng nhiệm vụ giao rồi thì cố gắng mà hoàn thành thôi.

Sau này dóc lấy về nhiều chưa làm gì toàn vất đống đấy, bọn em toàn văn vở vác trộm rồi lại đem về nộp.

Vụ này cũng nhiều chuyện cười ra nước mắt em sẽ kể sau nhé.

- Bây giờ thanh niên sống hiện đại quá.

Bình đẳng giới và bình đẳng mọi thứ.

Tự nhiên quá thành ra có "vàng" mà đôi khi cũng không biết.

Nhưng chính trong cái phong cách hiện đại đó mà nhiều khi người ta mất tự nhiên và xấu hổ.

Nói chuyện gì hơi có nhiều nghĩa một chút là lại hiểu bóng gió sang chuyện giới tính.

Ngày trước kiêng kỵ nhiều thứ, nhưng nhiều khi hoàn cảnh lại khiến cho người ta cảm thấy bình thường và tự nhiên.

Xin được kể vài chuyện.

Chuyện thứ nhất:

Hồi năm 1968, 1969 ở mặt trận Trị Thiên, bộ đội chủ lực nhà ta mặc quần đùi nhiều hơn mặc quần dài.

Số là khi đó ở rừng, nhưng hầu như đêm nào cũng phải xuống đồng bằng vùng giáp ranh để nhận gạo và thực phẩm tiếp tế.

Núi rừng miền Trung dốc nên lắm sông nhiều suối.

Một chặng đường đi cùi gạo nhiều khi phải đi hai ngày, vượt hàng chục sông suối.

Lúc nào cũng mặc quần dài thì ướt át và dính khó chịu vô cùng vì cùi gạo đạn nặng, cứ cởi quần ra rồi lại mặc vào liên tục rất bất tiện.

Mà để nguyên vượt suối thì khi qua suối xong, quần chưa kịp khô đã phải lội tiếp suối khác.

Thế nên mặc quần đùi là tiện nhất.

Khi vượt sông thì không gì tiện bằng cởi hết quần áo ra bọc vào ni-lon rồi cứ thế "thiên nhiên" mà ôm bọc đồ lội sông.

Lúc đầu toàn lính tráng đàn ông cả thì không sao.

Ai chả giống ai.

Mà quả thực lúc đó mệt mỏi, ai cũng muốn vượt sông suối nhanh để tránh pháo bắn cầm canh của bọn Ngụy chẳng may rót tới, còn hơi đâu mà nhìn ngang ngó dọc.

Nhưng sau Mậu Thân 1968, trong Trung đoàn có nhiều chị em cùng góp sức.

Họ là các nữ du kích từ các xã ven thành Huế phải thoát ly lên rừng do bị lộ sau Chiến dịch Tổng tấn công, sau 26 ngày đêm cùng Quân Giải phóng chiếm giữ thành Huế.

Các o du kích bạo dạn và tự nhiên gấp nhiều lần bộ đội.

Lúc đầu cùng vượt sông, họ né dịch ra khúc sông khác.

Nhưng nhiều con sông chỉ có một chỗ vượt, vả lại vượt sông toàn vào ban đêm, nên dần dà chị em cũng lội chung với lính.

Họ không cởi hết, nhưng cũng chỉ mặc đồ lót.

Dạo đó ven sông ngay sát cửa rừng còn có một khu lán tạm cho bộ đội nghỉ sau khi vượt sông, vì khi đã vào rừng thì đợi đến sáng đi tiếp cũng được.

Mỗi lán chỉ là một dãy sạp dài có thể nằm được hai ba chục người.

Thế là sau khi qua sông, tới lán, hạ cái gùi gạo xuống là mỗi người chen vào một chỗ nằm, tranh thủ ngủ.

Chị em du kích cũng chẳng nề hà gì, chỗ nào còn trống là chen vào nằm.

Sáng ra nhìn nhau thấy quần áo sơ sài, mới vội khuơ Đông, quờ Tây kiếm cái mặc vào.

Vậy mà có lẽ cái sự thông cảm của tình đồng chí, tình giai cấp trong lúc gian khổ đã lấn át tất cả nên rồi ai cũng cảm thấy bình thường.

Lúc đó cũng chẳng ai có ý nghĩ và nhất là hành động vẩn đục.

Chúng tôi cứ sống và chiến đấu như thế suốt mùa mưa mà không xảy ra chuyện gì.

Sau này khi chuyển địa bàn sang chiến trường khác, trong lúc rỗi chúng tôi mới có dịp moi lại chuyện đó ra để tán gẫu với nhau.

Rồi chợt nhận ra là chẳng ai biết tên cụ thể của một o du kích nào.

Chuyện thứ hai: Cũng là ở chiến trường Trị Thiên.

Bộ đội đóng quân trong rừng, nhưng xung quanh vùng vẫn có một số bản người dân tộc.

Khác với các bản làng tít trong Tây Nguyên thường trồng cây gạo hay cây Kơ-nia ở đầu bản, ở vùng này lại trồng dừa, nhưng ở mãi ngoài nương.

Đồng bào dân tộc rất hiếu khách, họ sẵn sàng cho các tốp lính đi lẻ vài trái dừa ngày nắng.

Phiền một nỗi cây dừa rất cao, mà lính tráng hầu như không biết trèo dừa.

Vì thế nhiều khi đồng bào cho đấy mà đành chịu không hái được.

Về sau chúng tôi phát hiện ra các cô gái dân tộc trèo dừa rất giỏi.

Thế là phải tán.

Tán xong rồi thì chỉ còn việc ngồi chờ mà chuẩn bị bổ dừa.

Một lần nhóm chúng tôi tán xin được một cô gái mấy quả dừa.

Quá nhiệt tình (và cũng háu ăn nữa), chúng tôi theo cô ra sát gốc dừa chờ đón "chiến lợi phẩm".

Cô gái lấy ra 1 đoạn dây thừng bện bằng dây lông beo (loại dây rừng này rất bền, chuyên dùng bện dây buộc, khắp rừng Trường Sơn chỗ nào cũng có) quấn 1 vòng to quanh cây dừa, vặn xoắn lại rồi cho chân vào túc tắc trèo lên.

Ba thằng lính nhà ta đứng ngửa cổ lên nhìn.

Đầu tiên là nhìn chùm dừa trên cây cao.

Mà thực ra cũng định nhìn chùm dừa là chính thôi.

Thế quái nào khi cô gái leo lên được độ 3 mét, thì cả ba thằng lại nhìn vào cô gái.

Người dân tộc mặc váy ngắn, áo thì cũn cỡn, may lắm chỉ dài độ ba chục phân, lại có thói quen không mặc "nội y", nên khi ngửa cổ lính tráng nhà ta nhìn thấy đủ cả dừa thật lẫn dừa giả và ... vân vân.

Cả 3 thằng chợt đỏ mặt chưa biết làm thế nào.

Thằng Dũng chắc định cười nhưng lại muốn nén nên hắt từ trong cổ họng ra một tiếng "hục" to tướng.

Bất chợt cô gái tụt nhanh xuống gần như chỉ trong chớp mắt rồi túm lấy chúng tôi kêu:

- Bộ đội nhìn thấy gì rồi phải không?

- Khô ..ông, khô ...ông.

Chúng tôi không nhìn thấy gì cả.

- Cả ba thằng tôi luống cuống.

- Có thật không nhìn thấy gì không.

Bộ đội phải nói thật đi.

- Cô gái lại gặng, giọng căng thẳng.

- Thâ ..ật, thâ ..

ật.

Thật mà.

Chúng tôi không nhìn thấy gì đâu.

- Thằng Dũng vội gân cổ lắp bắp chối.

Tim đập chân run.

Chúng tôi hoảng thật sự.

Nhớ lại tháng trước bên Đại đội bạn, có một thằng nhìn trộm gái bản tắm suối bị bắt quả tang.

Thế là cán bộ Đại đội phải trực tiếp dẫn đến già bản xin lỗi và nộp phạt nửa cân muối theo đúng lệ làng.

Khi đó chúng tôi cũng rất thiếu thốn nên nửa cân muối không phải là chuyện nhỏ.

Nay ba thằng tôi mà nhận tội nhìn thấy cái gì, bị phạt mất vài cân muối của đơn vị thì có đem bắn chúng tôi cũng không oan.

Cô gái vẫn nhìn chúng tôi dò xét, trong khi cả ba thằng mím môi, nín thở, mắt nhìn xuống đất.

May sao cô gái cất giọng:

-Thôi các anh lùi ra xa đằng kia đi, để em hái dừa cho.

Chúng tôi lùi thật xa, khe khẽ thở phào rồi ngồi xuống đất, mặt cúi gằm.

Cô gái lại trèo lên cây dừa và hái cho chúng tôi 3 trái.

Chúng tôi nhận dừa, cảm ơn cô với lòng biết ơn như trẻ nhỏ được mẹ đi chợ mua quà về.

Hú vía.

Chúng tôi đi xa rồi mà vẫn còn run.

Chuyện này cũng không thể kể được với ai, cũng không dám đem ra bàn tán.

Chỉ đến khi đã vào sâu trong B3 rồi, đôi lúc chúng tôi mới dám ôn lại.

- Tôi cũng kể góp với các bác câu chuyện về dân vận.Hồi đó đơn vị tôi đóng ở Cầu ngần cách HG hơn 30 cây, thời đó thuốc men thì hiếm lắm mà đồng bào dân tộc làm gì có để chữa bệnh mà dân ở dó rát hay bị như mình nói giờ là thần kinh tọa ý.Có lần một gia đình ở cách chỗ bọn tôi đóng quân khoảng 5 cây đến nhờ bọn tôi vào xem bệnh cho vợ anh ta.Tôi đi cùng anh Vinh y sĩ người Phúc yên vào khám thì đươc gia đình nói là đã nhờ thầy cúng chữa cho lấy ở trong mông với đùi hàng nắm đá rồi mà vẫn không khỏi nên nhờ bộ đội giúp.

Bọn tôi mang kim châm cứu ra châm và cho uống thuốc giảm đau gia đinh mưng lắm mang thuốc lá Điện biên mời hai anh em thì bác Vinh lại không nghiện thuốc còn tôi thì khoái anh thuốc lào hơn nên từ chối.Thấy thế ông bố mới bảo anh chồng là bộ đội nó không hút thuốc châm hai đầu đâu nó hút thuốc châm một đầu thôi.Hôm sau hai anh em vẫn phải vào chữa tiếp thì đã thấy anh chồng mua mấy điếu Thạp luông mang ra mời mà tội nghiêp quá anh Vinh mới nói là tụi này không nghiện thuốc gia đình không phải mua đâu.

Cứ châm cứu một tuần là khỏi bọn tôi không vào nữa cho đến một hôm đi chơi về anh em trong đơn vị bảo là có ông dân tộc vào đơn vị cám ơn đã chữa khỏi bệnh cho con ông ta và biếu cho bọn tôi một cái thủ lợn mà tôi nhìn nó bé tý nên không dám ăn chỉ lấy cân thịt trâu còn thủ lợn thi cho cậu lính người Yên bái.Tôi không biết nên cư làu bàu ''Cho thịt trâu là dược rồi sao còn phải cho thủ lợn sữa ăn làm sao được'' Cậu lính kia mới bảo là anh không biết chứ gia đình người ta cúng ma đấy quý nhất là cái thủ họ mới đem ra biếu đấy là phong tục của đồng bào mán''Đến bây giờ tôi mới biết đấy là giống lợn lửng của dân tộc to nhất cỡ chỉ 10 cân thôi nhưng ngày dó nhìn cái thủ lợn chẳng cạo lông họ để cả con lợn cúng xong chặt phăng cái đầu đem ra cho mình còn nguyên lông lá mà kinh.

- Chuyện 13: Dạo ấy (cuối 9X) tại 1 khu vực huấn luyện của đặc công có 1 C được gửi huấn luyện "ké" trong vài tháng.

Tuy gọi là C nhưng chỉ có độ gần 30 người, ở khu vực riêng, ăn khu vực riêng theo tiêu chuẩn riêng khá hơn một chút (cỡ bằng cái ảnh trên Grin).

Chính vì thế khiến cho cánh chủ nhà cũng phát sinh bất mãn.

Hôm đấy đến phiên C này gác đêm.

Theo quy định thì đơn vị nào gác sẽ cung cấp mật khẩu cho BCH, và BCH sẽ cung cấp mật khẩu này cho người được ra ngoài.

Những bất mãn tích tụ được C trưởng của 1C chủ nhà nghĩ ra cách chơi cho đám ăn nhờ ở đậu mà "chảnh" một vố.

Đó là buổi đêm sẽ đi kiểm tra gác khu vực, nếu chú gác nào có tí sơ sểnh là chết ngay (ở đây thường gác mỗi chốt 2 người, và thường là tranh thủ 1 chú ngủ 1 chú gác).

Hôm đấy tầm 3h sáng, C trưởng lọ mọ dậy cầm đèn, vẫy liên lạc đi.

Đến chốt gác nọ, tiếng lên quy-lát đánh "rốp" một cái và tiếng hô "đứng lại, mật khẩu?".

Anh C trưởng chưng hửng "mật khẩu éo gì!

Tao D...

C trưởng C 3 đây!".

Thế là "bụp", 1 báng súng vào bụng và tiếp theo là loạt khống chế "đối tượng" đúng kỹ thuật, chú thứ nhất chụp 1 cánh tay kéo lên, chú thứ hai quét ngang ống đồng cho "đối tượng" ngã sấp xuống để chú thứ nhất dùng đây trói, và chĩa súng khống chế luôn đối tượng thứ 2.

Sau khi trói cả 2 rồi thì chốt gác báo động cho BCH và vệ binh.

Lúc BCH đến nơi thấy mặt anh C trưởng đầy đất ngồi im không dám nói câu nào (vì sợ ăn báng súng), không nhịn được cười.

Về sau vụ này cũng không phổ biến rộng, nhưng lính C nào cũng biết, thành ra cứ khi nào C "khách" gác thì yên tâm ko chú nào dám ra ngoài cả và đám C "khách" cũng yên tâm chú gác- chú ngủ.

- Cách đây 5 năm rồi, ngày ấy mới nhập trường ĐH thì đã có lệnh lên đường " nhập ngũ " luôn & ngay !

Nhà trường còn chưa phân lớp, tất cả hùm bà làng chả ai quen ai cả.

Nhưng chính điều đó lại tạo cho chúng cháu quen nhau, gần gũi hơn mà không có giới hạn (tức là phân biệt lớp nào, lớp nào ).

Cái ngày nhận được lệnh " tổng động viên " là 1 buổi sáng mùa thu như này, sáng sớm ra toàn các " cậu ấm, cô chiêu " mà phải dậy rõ sớm, trường cho xe đến đón lên Mai Lĩnh - Hà Tây (là khu để các trường ĐH của HN học Giáo dục quốc phòng ở đó ).Đứa nào cũng háo hức lắm, nhất là những đứa " yêu " lính từ thuở lên 3 như cháu.

Ngày đầu tiên, các thầy giáo ở đó chỉ tập trung quân rồi nhắc nhở,nói sơ qua về các cấp bậc trong quân đội, rồi phân chia quân phục, phân chia nhiệm vụ & " bổ nhiệm " chức vụ cho các đồng chí có tên tuổi.

Ngày đó, cháu nổi tiếng được biết đến là đứa thi đỗ ĐH với điểm cũng khá là cao nên được bầu làm tiểu đội trường, " chỉ huy " 12 thằng zời đánh thánh vật, nghịch còn hơn cả quỷ sứ.

Phải nói là không thể tả hết được cảm xúc của bọn cháu lúc đó, bởi vì mới rời xa vòng tay ba mẹ nên có đứa còn khóc tu tu cứ đòi về, có đứa " háo sắc " thì cứ nhao nhao lên truy tìm dấu vết xem thầy bao nhiêu tuổi, tình trạng hôn nhân thế nào? ........lần đầu tiên khoác lên mình bộ quân phục của lính thấy thích lắm, mỗi tội hơi dày & nóng (nhưng được cái che nắng tốt ) hihi Sáng sớm 5h đã có kẻng dậy tập thể dục, mắt nhắm mắt mở, chưa kể những lần báo động cứ gọi là vắt chân lên đầu mà chạy chỉ vì quần áo, giày dép chưa chuẩn bị kịp.

Lần thứ 2, cháu bảo cả bọn trong phòng mặc sẵn quần áo sẵn sàng khi đi ngủ (nhưng không thắt lưng ) để sáng ra báo động mới nhanh được.5h30 tập thể dục, được cái tiểu đội cháu rất ngoan, thằng nào xếp hàng mà không thẳng là cháu ra cháu uýnh cho 1 phát là thẳng luôn.

Đến 6h mỗi đứa cầm 1 cái bát, cũng xếp hàng thật thẳng rồi đi ăn cơm.Cháu cũng biết được là quân đội " ăn không nói, đói không kêu " thế nên cháu chẳng cần nói nhiều, chỉ mỗi câu : Các đồng chí ăn nhanh lên, không nói chuyện nữa.

Thế là chúng nó im thin thít như thịt nấu đông.

6h30 vào học, đi học cũng phải xếp hàng lại còn phải hát nữa chứ ( đứa nào cũng buồn cười nhưng mà phải " nhịn " ) vì sợ bị kỷ luật.Buổi học đầu tiên chỉ là lý thuyết, nhưng mà còn lâu đứa nào mới ngủ gật & nói chuyện được nha.

Thầy mà nhìn thấy thì đời tan nát luôn.À hồi ấy có 1 thằng không chịu học, ngồi viết thư cho bạn gái (cháu đọc trộm được mỗi dòng như này ) : Em ơi trăng đêm nay sáng quá Grin.

Hí hoáy, tí toáy thế nào thầy tóm được, thầy cầm luôn quyển vở phang vô đầu (thật là dã man con ngan già ) !

Hậu quả là thằng đấy cuối ngày học phải đi dọn nhà vệ sinh của 2 khu (nam & nữ ) cùng với 1 vài thằng khác nữa.Cho chết cái thằng dám nói xạo, giữa trưa mà bày đặt " trăng đêm nay sáng quá ".

11h tan học, cũng phải xếp hàng về tận phòng nghỉ, rửa mặt mũi chân tay, nghỉ ngơi 1 lát rồi 11h30 đi ăn cơm (lịch trình ăn cơm cũng như sáng ).

Nói thật cơm lính không bao giờ no, bọn cháu toàn phải ăn linh tinh ở ngoài như là sữa chua, kẹo, bánh.......12h bắt đầu vào giờ nghỉ trưa, sau tiếng kẻng là ai về giường người ấy, chỉ có nằm im & nằm im.Có cả đội trực ban đi tuần từng phòng một, 1 vài đứa đã bắt đầu cảm thấy khó chịu với cái kiểu " tự do trong khuôn khổ " rồi đấy !13h bắt đầu báo thức, 13h15 lên lớp để 13h30 bắt đầu học.Buồn ngủ lắm nhưng cũng phải dậy,buổi chiều học thực hành luôn với súng CKC.Buồn cười quá, tập mới chả tành !

Bắn súng thì chân cứ co quắp lên (nhẽ ra phải thẳng tuột ), trong khi người ta phải nín thở bóp cò thì mình thở gấp như đúng rùi.Mà không phải 1 đứa như thế đâu, hầu hết là như vậy.

Nhưng được cái trước đó cháu cũng được thấy các chú bộ đội trong tư thế đó rồi, nên được thầy khen " dáng chuẩn " & sau đó thì giúp thầy đi chỉnh lại tư thế cho các đồng chí khác,mấy thằng nhăn nhở bị cháu sút cho 1 phát là cấm có nói được gì luôn (lơ mơ cháu ghi luôn vào sổ, cuối tuần trừ hạnh kiểm là các con zời sợ chết khiếp )

Sau khi kết thúc giờ học chiều là 16h30 là đến giỡ tăng gia rồi.Cũng coi như đây là 1 sự " giải thoát " rất chi là thú vị.Những việc ban đầu tưởng chừng như đơn giản là nhổ cỏ, dọn dẹp cho sạch khuôn viên để chuẩn bị trồng rau, thế nhưng khối đứa còn làm không nên hồn.

Bởi vì ở nhà sướng hơn tiên, đâu có phải làm cái gì đâu, chỉ có ăn & học.Nhưng riêng cháu thì khác nhé, 1 đứa biết nấu cơm từ khi 7 - 8 tuổi ( mặc dù nhà không có chó gà lợn gì ) nhưng cũng rất thành thạo trong việc này.Lấy đó làm niềm vui, chính vì thế nên cháu làm loáng 1 phát là xong để có thời gian rảnh đi " chỉ huy " những đứa khác.

Thời gian tăng gia chỉ có 45 phút thôi, lúc làm xong đứa nào cũng toát hết mồ hôi hột, thế mới biết thế nào là giá trị của 2 từ lao động.Sau khi tắm giặt xong, lại chuẩn bị đi ăn cơm, đến 19h là giờ phải ngồi xem chương trình thời sự, sau đấy là tiết mục đọc báo & sinh hoạt được duy trì không khác trong quân đội là mấy.Phải khẳng định rằng có khi còn nghiêm hơn cả quân đội ấy chứ.

21h điểm danh xong tất cả phải tắt đèn đi ngủ luôn, trời thì nóng như thế nói thật là không thể ngủ được đâu ạ (bức xúc quá mà thật sự là không biết phải làm thế nào ).

Lại nói về báo động, ngay trong đêm đầu tiên (mặc dù đã được thông báo trước đêm nay 2h báo động di chuyển ) vậy mà nửa đêm nửa hôm có kẻng báo động tất cả vẫn giật mình như ai, ra sân tập hợp xong thì được nghe lệnh chạy 2 vòng quanh sân rồi chạy về.

Gớm khổ lắm cơ, đêm hôm tôi om om như thế, không biết đường nào mà lần, cả bọn chạy chậm còn hơn cả rùa, có đứa buồn ngủ quá còn ngã lăn quay ra thế là mấy đứa sau cũng bị " cuốn theo chiều gió ".

Rồi tất cả cũng quen với thời gian biểu của mỗi ngày như thế, ai cũng biết rằng chỉ có cách để tự điều chỉnh mình cho phù hợp với quy định & môi trường sống của lính.Có rất nhiều kỷ niệm, nhưng có lẽ nhớ nhất vẫn là những giờ giải lao xong là lại văn nghệ văn gừng, cháu nói thật là biết mình hát chả ra gì cháu đã ngồi im rồi thế mà còn bị đẩy lên sân khấu.Đang hát tự dưng xúc động đậy quá nên quên cả lời bài : Hành khúc ngày & đêm !

Thế là có 1 thằng nó phi lên sân khấu nó hát chen vào : Pháo anh trên đồi cao nã vào đầu giặc Mỹ (gớm chửa, cứ làm như mỗi pháo mình to ấy ) !

Sau khi thằng đó nhảy lên sân khấu, cháu bực mình quá nhảy xuống luôn (ghét cái thái độ ).

Buổi tối hôm ấy mất điện toàn khu, thế quái nào nó lại mò sang tìm cháu.Cháu phi vào sau cánh cửa trốn.Nó hỏi :

- Ấy ơi tên gì đấy?

- Tớ tên Mẹ

Thế là từ đấy đi đâu nó cũng kêu : Mẹ ơi !

Ra tớ bảo cái này (láo toét thế cơ chứ ).Quen miệng rồi, lúc đang học thầy gọi cháu lên bắn.

Cháu ko để ý vì đang nhắc nhở các đồng chí trong tiểu đội trật tự.Bất ngờ nó gọi :

- Đến lượt Mẹ kìa

Các tiểu đội khác mắt tròn mắt dẹt quay ra nhìn, thầy giáo vừa buồn cười vừa tức cái thái độ nó không nghiêm túc.Cái thằng rõ là nghịch, cứ lấy súng chĩa vào nhau làm cháu bị kỷ luật theo kiểu " vạ lây " vì không biết quản quân của mình, tức chết đi được.

Đêm đầu tiên ngủ tại đơn vị cũng là lần đầu có cảm giác được ngủ giường tầng nó như thế nào, chật chội & nóng bức, đêm thì có thói quen trở mình liên tục chỉ sợ lăn xuống đất hic hic

Ngày nghỉ không hiểu sao thầy cứ tìm mình để chia sẻ rất nhiều chuyện, đôi khi mình cảm thấy ngại, thật sự là như vậy.Bởi vì có biết bao con mắt nhìn vào, rồi chưa kể chúng nó dị nghị này nọ.

Uh thì bản chất mình như nào thì vẫn vậy, đôi khi cũng phải đạp lên dư luận mà sống chứ không phải là tồn tại.Thầy bảo từ ngày gặp em đã cho thầy suy nghĩ khác về con gái, về thế hệ 8X.Mình hỏi khác thế nào ạ?Thầy chỉ cười mà im lặng.

1 tháng huấn luyện thật ngắn, nó trôi đi thật nhanh.

Ngày hội thao, lúc ra thao trường để bắn mỗi mình là nữ.Tụi con trai mắt tròn mắt dẹt nhìn mình, nhìn gì mà nhìn?Sau đó là đến cái vụ thi sơ cứu vết thương giả như là có 1 vài đồng chí bị thương & cần được sơ cứu trước khi chuyển lên trạm quân y.

Mình làm tốt, thao tác rất nhanh, kết quả mang về cho tiểu đội là loại giỏi, có tiếng xì xèo : Thế mới là tiểu đội trưởng chứ !

Đêm cuối cùng, liên hoan văn nghệ vui quá, lẽ ra chỉ hát hò ca khúc cách mạng thôi, ai dè có thêm cả rock nữa, trời ơi phấn khích quá mình kéo thằng "con " lên nhảy hehe thằng bé trông thế mà nhảy đẹp phết, vô tình 2 đứa thành 1 đôi trên sân khấu & tiếng vang đến mãi sau này trong các hoạt động của đoàn trường, của những đêm lửa trại ở lớp.

Ôi giá mà thời gian kéo dài hơn, giá mà mình được sống trong cuộc sống đời thường của lính nhiều hơn....

- các bác cho em góp tý chuyện về cái khoản thuốc lá ạh . nãy giờ em đọc topic này mà cừoi lăn, hồi bọn em ở lính cũng thế ạh. chúng nó thì đủ trò đủ chuyện về cái tội nghiện ngập. lúc mới nhập ngũ , thằng nào trong túi cũng rủng rỉnh tiền ( vì bố mẹ nghe nói lính khổ dúi cho tý . người thân nào cung dúi cho tý) tha hồ zet vói captan, chừng tháng sau cạn túi . hỏi xin mẹ hiền thì đâu pải như bây giờ dùng cái alo mà xin. thế là cứ căn me thằng nào móc gói thuốc ra là sà tới. miệng tủm tỉm cười , tay thò vào gói thuốc lá xin điếu. ban đầu nó cho , về sau nó hãi vì gói thuốc bỏ ra. quay 1 vòng là còn cái vỏ kô, thế là nó chơi kiểu , nếu ko có ai xin thì no cầm bao thuốc đàng hoàng hút và cất vào balô . còn nó mà thấy có tia mắt thèm thuồng của thằng nào thì no vò bao thuốc lại rồi vất xuống gầm giường làm như hết rồi. tý nữa kô có ai no cầm len cất vào balô. có hôm em nhìn thấy , bực bội vì chủ nghĩa cá nhân trong tập thể QĐ, em bàn với may thằng kia, hễ thấy nó vất xuống gầm giường mà kô vất vào giỏ rác là ok. vậy là bọn em đc 1 bữa cười bể bụng vì nó mắc cỡ mà ko nói ra đc

- hối bọn em đi k công tác học thêm đc 1 chiêu nữa về tinh thần tiết kiệm . lúc gặp lại đồng hương o trên đất bạn . mấy hương ấy đãi đằng anh em phủ phê ( theo cách gọi của lính mặt trận) thuốc lá rùm đo (có cán) rồi 7/1 rồi bó củi . trà loại 1 ria 1 gói. uống hôi như có bọ xít , ( nhưng đây là món hàng cuối cùng bạn em đổi đc bằng 1 cái quần xàlỏn , loại có giải rút tất nhiên là chưa mặc và 1 cái áo k82 ) Shocked lúc cả bọn ngồi quây quần với nhau uống nước và hphun khói, em thấy mấy bác lính cũ kia cứ hút gần xong lại dụi đi rồi bỏ vào cái ống nhựa đựng liều phóng của b41 treo ở góc nhà, em ngĩ bụng các bác này sạch sẽ vệ sinh. mấy hôm sau em lai tới , tình cờ thấy máy bác ấy lúi húi ngồi nhặt mấy con dế nhủi ra rồi quấn lại bằng giấy báo mà hút. tự dưng tụi em thấy nghen họng . thế là ngày hôm sau gom tất tần tật được gần chục cái võng và tấm tăng của quân nhu cho mượn.

2 thằng em đi bộ từ BTL mặt trận 4 ra chợ xiêm riệp bán sạch mua thuốc lá và tửc xara về mời anh em. mà cái bọn chợ trời bên k nó cũng ác thật , nó trả em 100 ria 1 cái võng dù. em đòi nó 120 ( năm 87) no kô mua . em mang chỗ khác nó trả 80 . quay trở lai no cung chỉ mua 80 thế mới điên . cuối cùng cũng pải bán cho nó . mang tiền về mua thuốc lá đãi anh em. giờ nhiớ lại mấy điếu thuôc hút ngày ấy sao nó ngon vậy.

- MAY LÀ CÁI TAI BÒ

Dạo đó đơn vị bộ đội chúng tôi đóng quân ở Quảng Bình.

Trong hoạt động, thỉnh thoảng đơn vị cũng được giao lưu với chi đoàn dân quân địa phương.

Chủ yếu là văn hóa văn nghệ, hát hò và đối đáp.

Cũng là để củng cố tình quân dân thôi.

Lính tráng thì toàn nam, còn chi đoàn dân quân chỉ toàn nữ, vì nam giới ở địa phương tới tuổi cũng tòng quân hết cả rồi.

Quen nhau, rồi biết tên các o dân quân, nên đôi khi vào tối thứ bảy chúng tôi cũng được qua lại nhà dân chơi.

Thực ra chỉ là đi từ nhà này qua nhà khác trong thôn, vì lúc đó chúng tôi vẫn đóng quân nhờ nhà dân.

Quản lý đại đội Nguyễn Thiết của chúng tôi là một tay cực kỳ lém và rất nhanh trí trong ứng xử tình huống.

Khá đẹp trai và thích hoạt động văn hóa văn nghệ nên tiếng tăm của anh lan khắp các chi đoàn dân quân trong xã.

Một lần vào tối thứ bảy được nghỉ sinh hoạt, anh rủ tôi đi đánh lẻ, thực chất cũng là đi tán vớ tán vẩn thôi mà.

Hai chúng tôi thong dong thẳng tiến đến nhà o Đào, phó bí thư chi đoàn thôn Trung.

O Đào cũng có tiếng là lém lỉnh và lúng liếng.

Lúc chúng tôi đến nơi thì trong nhà o đã có dăm o nữa đang cùng ngồi tán chuyện.

Hai chúng tôi nhập cuộc.

Chuyện trò qua lại rôm rả xoay quanh quan điểm tình bạn, tình quân dân ...

Khi vãn chuyện, bỗng o Đào nói với anh Thiết:

- Nghe tiếng anh giỏi đoán chuyện trên trời dưới bể, em đố hai anh câu đố ni nghe.

Anh Thiết hào hứng hưởng ứng.

O Đào hắng giọng đọc luôn:

"Bằng cái lá mít

Chi chít những lông

Chỗ lõm chỗ phồng

Lại ngoe nguẩy được."

Tôi thấy anh Thiết hơi đỏ mặt.

Lặng im, rồi anh ghé sang tôi: "Thế nào?".

Tôi cũng nhún vai, chịu không nghĩ ra.

Anh Thiết là người nhanh nhẹn cơ mà, sao lại phải bàn với tôi.

Bỗng anh Thiết mím môi, rồi lên giọng:

- Tôi biết thừa câu đố của o rồi.

Nhưng tôi đố o câu này trước nhá.

Rồi anh đọc nhanh:

"Vừa bằng cái cổ tay.

Mọc ngay trên cái của chị"

Tôi hơi sững người.

Có vẻ là bậy bạ rồi đây.

Các o dân quân trân người ngạc nhiên.

O Đào cũng đỏ mặt:

- Ư!

Em đang đố vui cơ mà.

Sao anh lại nói vậy.

- Thế o thử nói câu đố của o là gì nào.

- Anh Thiết gân cổ lên.

- Em đố là cái tai bò.

- Thì ...

đúng rồi.

Vì thế anh mới đố lại em cái sừng bò.

Cái sừng bò chả mọc phía trên cái tai bò là gì.

Anh cũng đố vui mà.

- Anh Thiết kêu lên sung sướng.

- Nhưng sao lại gọi em là chị?

- Thì để cho nó vần thôi mà.

Ngơ ngác một tí, rồi cả hai bên cùng cười vui vẻ.

Quấy quá thêm lúc nữa, chúng tôi ra về.

Dọc đường, tôi bảo anh Thiết: "Anh đoán giỏi thật đấy".

- Giỏi cái quái gì.

Tao cũng có đoán ra đâu.

- Anh Thiết phân trần.- Tao đã nghĩ là nó đố bậy, nhưng tao sợ không dám nói cái sự bậy ấy trước, nên đành nói liều.

Nếu nó nói bậy thật thì mình cũng là nói bậy, sợ quái gì.

Nhưng cũng may là nó đố cái tai bò, nên mình được thể lên nước.

Nếu nó mà đố là cái tai lợn thì chết mất ngáp còn gì.

Hai chúng tôi cười vang.

Song cũng từ đó anh Thiết cảnh giác, không dám khoe tài cùng các o dân quân nữa.

- Em đã từng kể cho các bác nghe cái vụ bác TS1 phân công em bắn B40 khi mới vào đơn vị (QSVN), nhưng em cũng cóc có sợ gì cái chuyện ù tai khi bắn, vì em có lợi thế là có hàm răng "hô".

Nói "hô" cho nó lịch sự thôi, chứ cả làng em ai cũng "vẩu", còn em do độ "vênh" có ít hơn tí chút nên gọi là "vổ".

Em cũng cóc ngại gì cái chuyện mình "vổ" đâu, vì đằng nào cha mẹ sinh ra mình cũng "vổ" rồi.

Nhưng có chuyện này trong lính:

Số là lúc ra tuyến trước đánh nhau thì thôi, chứ lúc về hậu cứ làm nhiệm vụ cùi cõng dài ngày (thường là vào mùa mưa) thì thế nào cũng có nhiều buổi học chính trị.

Nội dung thì cũng chỉ quanh đi quẩn lại "ta thắng lớn, địch thua to..." chủ yếu là để cho lính khỏi sao lãng nhiệm vụ chiến đấu mà thôi.

Thường thường là CTV đi nghe ở trên rồi về nói lại, hay dở thế nào cũng là anh em một nhà nên không có gì phải phàn nàn.

Dưng mà đợt ấy, Trung đoàn lại cho một tay trợ lý chính trị của E về giảng chính trị.

Đợt học 3 ngày, ngồi hội trường nhà tre tự dựng trong rừng hẳn hoi.

Được 3 ngày ngồi nhà không phải cùi cõng vất vả dưới trời mưa, thì học cái gì mà chẳng được.

Thế nhưng lão trợ lý chính trị có cái tên Khiêu "phỏng" này lại ra vẻ ta đây mới khó chịu chứ.

Sở dĩ có cái biệt danh "phỏng" vì lúc nói chuyện, bao giờ lão cũng kết thúc bằng từ "phỏng", cứ như đòi hỏi người ta phải đồng tình ấy.

Lão Khiêu "phỏng" bày đặt gọi hắn là "Giảng viên", khi có ý kiến phải báo cáo thế này, thế khác...Trong hội trường ai ngủ gật hay mất trật tự sẽ bị đuổi ra ngoài...

Chúng em quyết định chọc hắn một vố.

Một lần hắn đang thao thao bất tuyệt, phía dưới hội trường bỗng cười ầm lên.

Lão Khiêu 'phỏng" nhìn xuống quát:

- Đồng chí nào cười đấy, đứng dậy.

Tất cả vẫn ngồi im.

Lão nhìn lại rồi trỏ thẳng vào mặt em, ngồi ngay ngoài hàng ghế ngoài, lúc đó mồm vẫn đang há:

- Đồng chí kia đứng dậy.

Ừ thì đứng dậy.

Mồm em vẫn hơi há.

- Đồng chí tên là gì.

Tại sao lại cười.

- Báo cáo đ/c Giảng viên, tôi không cười.

- Không cười là thế nào, đồng chí vẫn đang cười đấy thôi.

Đ/c ra ngay khỏi lớp.

Đã lên đến cao trào rồi đây.

Lúc bấy em mới thủng thẳng:

- Báo cáo đồng chí giảng viên, tôi không cười và tôi không phải đi đâu cả.

Đấy là do tôi răng "vổ", mồm lúc náo cũng há ra như có vẻ cười thôi chứ bài giảng của đồng chí có gì đâu mà phải cười.

Cả lớp lại một phen bùng lên cười vì lời nói của em.

Lần này là cả lớp chứ không phải riêng ai.

Phải mất một hồi lâu lão Khiêu "phỏng" mới ổn định được trật tự.

Em ung dung ngồi xuông, nét mặt thản nhiên, ra chiều đang sắn sàng học tiếp chính trị.

Tội quái gì mà ra khỏi lớp khi trời đang mưa?

- Câu cá suối

Trong ba lô đã ém sẵn dây cước, lưỡi câu các cỡ thì không nói làm gì.

Nhưng một chiều mưa rừng lũ suối, mồm lại nhạt thèm chút chất tanh nấu chua thì biết làm thế nào?

Thì đi câu cá suối!

Rất hay như sau đây:

Lên BCH lân la, xin (hoặc thó) của thằng quản lý đại đội, bác quân lực tiểu đoàn vài cái ghim giấy.

Mang về hơ lửa cho nóng đỏ, duỗi thẳng ra.

Lấy sống dao găm trần đoạn đầu cho hơi dẹt.

Dùng lưỡi dao đột ngạnh trong đoạn dẹt đó, sau đó mài thật nhọn mũi.

Mượn thằng quân y đại đội cái "panh" uốn đoạn ghim thành hình cái lưỡi câu theo cỡ mong muốn.

Nhớ là đoạn mũi hơi vẹo so với thân cho lưỡi câu dễ đóng cá.

Chặt đuôi, đập dẹt nốt đoạn cuống lấy chỗ bám để buộc dây câu.

Cái lưỡi câu đã thành hình, mỗi tội mác thép do gia nhiệt nên hơi non.

Giờ thì phải tôi thép cho cứng lại.

Lại tiếp tục hơ cho hơi đỏ lưỡi trên lửa bấc đèn.

Xin nhớ là hơi đỏ thôi đấy!

Đỏ rực lên thì có mà ăn mày!

Lưỡi câu giòn, không dẻo, bẻ nhẹ là gẫy.

Vứt đi!

Hơi đỏ rồi, dùng "panh" gắp cái đồ thủ công chế tác đó nhúng thật nhanh vào cái chôn chén đựng dầu lau súng.

Xèo...!

Lấy tay gại gại kiểm tra.

Bén rồi đây!

Thế xong lưỡi!

Thế dây câu đâu?

Dây võng dù lính chiến thiếu gì?

Lấy một đoạn thải, tước tháo từng sợi dây dù mảnh, nối lại.

Dây dù Mỹ rất dai.

Một sợi chỉ dù Mỹ nhỏ tí cũng đủ lôi lên con cá cỡ 0.8kg nếu dòng khéo.

Buộc dây, nối dây dù vào lưỡi câu để câu - đương nhiên rồi!

Cách buộc không nói trong bài viết này được!

Chỉ có thể thị phạm được thôi!

Buộc vụng, nối vụng, cá sổng mất thì vừa tiếc, vừa bị những thằng ngồi chồm hỗm trên bờ xem chửi cho vuốt mặt không kịp.

Không bao giờ nên chấp cái loại vừa được ăn vừa được nói đó!

Grin Mình câu thì nó nấu!

Huề!

Tóm lại, tâm phải sạch, lòng phải thành, tinh thần phải thanh thản...

Suối mùa lũ nước xiết, lưu tốc lớn.

Trừ câu cá măng suối mồi gián đất, mồi chuồn chuồn hay mồi dế nổi, còn các loại ăn chìm tầng đáy cát cuộn thì phải kẹp chì nặng vào gần mồi cho mau chìm.

Chì ở đâu?

Hỏi có vẻ thừa phải không các bác?

Vài cái đầu đạn AK tháo ra, bỏ vỏ đồng bọc bên ngoài, vất cái lõi thép đi là đủ chì kẹp cho hai cái cần câu.

Cần câu thì đầy rẫy, phải không ạ?

Không có cần thì cái ống thịt hộp hay sữa ông Thọ quấn dây vào cũng xong.

Còn mỗi việc chọn chỗ câu và loại cá muốn câu thôi...

-

Các bác đã nghe nói về bùa yêu chưa ?

X in kể với các 1chuyện có thật mà tôi đã chứng kiến ;

ở bản Ba phiêng ,ngay chân đồi chỗ tiểu đoàn tôi đóng quân ( D bộ D1 E4 F337 ) có em tên Thời

5 ăn 5 thua với cái chị gì bạn anh Trí ấy...

Tự nhiên 1 hôm vác bụng lên tiểu đoàn , đúng lúc tiểu đoàn đang sinh hoạt .

Sau đó em khai ra chủ nhân của cái bụng ấy là ai ,em còn kể tỉ mỉ là ...mấy lần ,ở đâu ...

Và đòi cưới .

Sau đó tiểu đoàn goi anh Hạnh B trưởng 12 ly 7 lên để 3 mặt 1 nhời ,anh Hạnh nhận ...

Và có nói là trót dại ...

Không hiểu vì thông cảm hay tình cờ , sau đó độ 1 tháng ( lúc này anh Hạnh đã cưới ) , anh Hạnh được cử đi học ở Băc Thái .

Nhưng chỉ độ 1 tuần sau đã thấy đảo ngũ và từ đấy về ở hẳn với em Thời .

Anh Hạnh có tâm sự với nhiều người là ;anh ấy đã nhiều lần muốn bỏ em Thời nhưng chỉ độ vài ngày là nhớ không thể chịu được nên lại phải quay về ...

Năm 97 tôi về VN và có ghé thăm anh Ninh D trưởng, anh ấy bảo ; có nhớ chuyện thằng Hạnh 12 ly 7 không ?

Tôi bảo có .

Sau đó anh ấy kể là ; Anh Hạnh vẫn ở đó , đơn vị nghĩ anh ấy bị bùa nên muốn giúp và đã mấy lần tạo điều kiện để anh Hạnh xa em Thời nhưng cuối cùng anh ấy lại trở về với em Thời .

Anh Ninh bảo ; bây giờ thằng Hạnh nó như Bố bản ấy .

Cùng A tôi có thằng Thịnh "thổ " , nó bảo ; bùa là có thật nhưng không phải người dân tộc nào cũng biết bùa .

Anh Hạnh bây giờ vẫn ở bản Ba Phiêng , từ ngã tư Đồng Đăng theo quốc lộ 1 ( hướng Cao Bằng ) độ 1 đến 2 km ,bên trái đường .

Từ ngã tư đi lên , đây là bản đầu tiên .

Tôi còn biết 2 mẩu chuyện nữa nhưng đều nghe kể lại , những nhân vật trong chuyện tôi đều biết .

Nếu các bác thích thì lần sau tôi sẽ kể .

Ở K có chuyện như thế không các bác CCB bên K ?

- Em có chuyện này kể cho các bác nghe vui giữa thao trường ( Nếu sai địa chỉ nhờ amin cho vào diện ''tái định cư ' : Thằng nọ trực thông tin E .

Có điện từ D lên .

Nó nghe xong hỏi :

-Thủ trưởng tên gì để em vào sổ ạ ?

-Tớ tên Hộ .

Cậu tên gì mà cẩn thận thế !

- Dạ em tên Ấm!

Khoảng ba mươi phút sau , phòng chỉ huy E .

Có tiếng quát :

- Thằng nào trực máy ?

- E...em !

Bốp !

Bốp ! hai cái tát cho thằng vừa xưng em .

Nó ôm mặt chẳng biết tại sao mà Không dám kêu .

Sau , mọi người mới rõ , thằng trực máy têm Ấm nói giọng Ba Vì .

Anh cán bộ D tên Hộ nghĩ lính xỏ xiên , tức quá chạy lên tát thằng trực máy .

Lúc này , thằng khác đã thay thằng Ấm và lĩnh hai cái tát .

Chuyện này , E họp kỷ luật anh cán bộ D vì lỗi quân phiệt ngay tại E bộ .

Cũng may , anh này tuy nóng tính nhưng thương và hay bênh lính nay lại được lính thương và bênh lại nên chỉ bi xử '' huề ''.

Chuyện thứ 2 ; Năm 90 tôi về VN vì tai nạn xe máy , vỡ chắn bùn nên cậu bạn ( trước đi lính cùng ) đưa ra phố Yên Bái để hàn .

Tại đây tôi hàn xe ở cửa hàng của 1 cậu cũng đi lính cùng đợt nhưng tôi không quen ( là ban của bạn tôi ) .

Cậu kia có 1 cậu em bị điên , tôi có hỏi thì đươc biết ; cậu ta đi lính đóng ở Hoàng Liên Sơn , sau khi xuất ngũ về vài ngày thì bị như vậy .

Lần sau vào năm 97 , tôi cũng bị 1 va chạm xe máy nhỏ ,vỡ yếm .

Nhớ đến chỗ lần trước tôi lại mang đến để hàn .

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy em cậu hàn xe đã hết điên.

Tôi hỏi chuyện thì được biết ; tình cờ có 1 ông trước là CTV đại đội cậu em đến sửa xe và nhận ra lính cũ của mình .

Sau khi được nghe kể , ông CTV bảo ; có lẽ là bị bùa , bởi ông ấy có biết trong lúc tại ngũ câu kia có yêu 1 cô người dân tộc gần đơn vị .

Sau lúc cậu ấy xuất ngũ gia đình cô gái kia có vào đơn vị hỏi mấy lần nhưng không ai nói địa chỉ của cậu ấy cả .

Ông CTV hứa sẽ giúp vì thấy cậu kia ông ấy thương quá ( cậu điên ấy suốt ngày gào thét , bẩn thỉu ,xé quần xé áo ... ) Gia đình phải làm cái xích to tướng xích ở cạnh chỗ sửa xe .

độ 1 tuần sau ,ông CTV quay lại và cùng mấy người trong gia đình đưa cậu ấy lên gặp gia đình kia .

Vì cô gái kia đã lấy chồng nên họ đã giải bùa .

Sau 1 tuần ,lúc trở về thì cậu ấy đã trở lại bình thường như ngày xưa .

Hiện tại đã lấy vợ và có con .

Có thể chuyện cậu điên này bác nguyen dinh thang ở gần đấy cũng biết .

Chuyện thứ 3 ; 1 cậu lính HN đi cùng đợt tôi ở ( D2E4 , cùng chỗ Thắng " ghẻ " ) .

Hôm bọn tôi ra trung đoàn nhận quyết định xuất ngũ , thấy 1 cậu ra tiễn , tôi có hỏi thì mấy cậu cùng đơn vị bảo cậu ấy bị bùa , đã lấy vợ dân tộc .

Mọi người còn kể ; từ khi quan hệ với cô kia , cậu ấy chưa bao giờ đi đâu chơi xa cả , thậm chí đơn vị cho đi tranh thủ cũng không đi .

Thậm chí mọi người còn kể ; cậu ấy còn biết là mình bị bùa mà không làm gì được cả ...

- Nói chuyện huấn luyện chút !

Ngày 24.10.77, chúng tôi lên đường nhập ngũ.

Địa điểm tập trung là xã Mễ trì ( cạnh cột phát sóng Mễ trì của Đài TNVN ).

Ngày ấy chưa có đường cao tốc Láng - Hoà lạc bây giờ nên chúng tôi phải đi vào Thanh xuân, men theo cạnh trường Đại học Ngoại ngữ để đi vào.

Ngày giao quân đúng là một ngày hội.

Bố Mẹ, bạn bè, anh em đi tiễn chân đông như trảy hội.

Từng nhóm, từng nhóm quây quần gia đình, anh em bè bạn.

Chúng tôi tập trung tại một cái sân rộng như sân kho HTX.

Việc bàn giao quân koé dài từ sang đến trưa mới kết thúc.

Ngày ấy, chúng tôi chưa được cấp phát ngay quân trang nên lính tráng vẫn có gì mặc ấy, chẳng có chút nào để gọi là lính cả.

Không hiểu vì có chút trục trặc nào đó nên chúng tôi phải ở tại Mễ trì 3 ngày.Trưa hôm ấy, bữa cơm lính đầu tiên trong đời thật đáng nhớ.

Cũng mâm cơm 6, chậu cơm vừa đen, vừa hôi, vừa sạn.

Thức ăn chỉ chút thịt lợn được thái mỏng dính, và một chậu canh rau muống mà ngọn nào ngọn ấy dài đến gần nửa mét, nước canh đen sì như nước cống.

Chẳng thằng nào nuốt nổi.

Mễ trì là một xã chuyên nghề làm cốm.

Chúng tôi nhập ngũ giữa mùa cốm nên hầu như chẳng thằng nào cần tới cơm đơn vị.

Lính mới được phân ra ở nhờ trong nhà dân.

Nhà nào cũng luộc lúa non, thậm thình giã cốm.

Hương cốm toả ra thơm ngát khắp làng.Chúng tôi thỉnh thoảng cũng xin chủ nhà đứng giã thử.

Chỉ một vài chục chày mà đã thấy oải.

Vậy mà có những em gái, những chú bé con đứng giã hết cối này đến cối khác mà chẳng thấy mệt.

Vừa rời nhà, trong túi còn rủng rỉnh nên lũ chúng tôi suốt ngày tìm cách cải thiện.

Trong 3 ngày ở Mễ Trì, không biết bao nhiêu mạng ...chó đã chết vì chúng tôi.

Sang ngày thứ 2, thấy chúng tôi có vẻ ..nhàn cư vi bất thiện, đơn vị tổ chức báo động tập hành quân dã ngoại.

Cả lũ cứ loanh quanh hết bờ ruộng nọ đến bờ mương kia.

Cả một đoàn người lếch thếch, quần áo nhuôm nhoam chẳng ra cái thể thống gì.

Chiều tối ngày thứ ba, chúng tôi lên xe trở về đơn vị.

Xe cứ theo QL 6 chạy băng băng nhưng tôi chẳng biết nó chạy đi tận đâu.

Đi qua Trúc sơn trời đã tối hẳn, vẳng nghe trên loa truyền thanh ven đường đang tường thuật trực tiếp trận bóng đá Quốc tế giữa Trung quốc và Việt nam.

Xe đi mãi, đi mãi.

Có lẽ đến khoảng 10 giờ đêm thì xe dừng bánh.

Xung quanh tối mịt mùng, gió thì hun hút thổi.

Mới tháng 10 sao mà tôi cảm thấy lạnh đến vậy.

Anh em xuống xe mò mẫm trông đêm tối.

Đây là đâu nhỉ?

Chúng tôi lao xao hỏi lẫn nhau?

Tôi cúi người sát mặt đất để nhìn, căng mắt mãi mới nhận thấy xa xa có vài dãy nhà nằm trên một bãi đất trống tếch trống toác.

Mãi rồi cũng có bóng người đi ra, ánh đèn pin chiếu loang loáng.

Chúng tôi được đọc tên theo danh sách và đi theo mấy anh lính đi vào mấy dãy nhà nhận chỗ ngủ.

Tôi chẳng biết đây là đâu, nhìn về phía Hà nội chỉ còn là một quầng sáng mờ nhạt.

Chỗ ngủ của chúng tôi là những dẫy giường 2 tầng bằng sắt.

Không chăn màn, không chiếu.

Chúng tôi nằm lăn ra trên những tấm ván gỗ co ro chịu rét, chịu đói.

Sáng hôm sau, sau khi vệ sinh cá nhân xong tôi mới nhận thấy cả doanh trại hầu như chẳng còn thằng lính nào.

Tất cả chúng nó đã chuồn hết trong đêm, chỉ còn lác đác vài thằng mỗi đại đội.

Hồi ấy tôi ngơ ngáo và dát lắm nên chẳng dám chuồn.

Phải đến gần một tuần sau, các đơn vị mới tập trung đủ quân và bắt tay vào học tập, huấn luyện.

Những buổi đầu tiên trong quân ngũ sao mà buồn chán và dài lê thê.

Suốt ngày chỉ thấy học chính trị, học truyền thống và tập đi mốt hai mốt.

Phải gần một tháng sau chúng tôi mới được dự lễ ....gì nhỉ?

Buổi lễ có duyệt đội ngũ và ...hôn quân kỳ trên tận sư đoàn ở thị trấn Xuân Mai.

Bước đầu tiên để rèn lũ lính mới chúng tôi là khoa mục...vác đá ong để xây doanh trại.

Chà chà !

Nặng ơi là nặng.

Mỗi viên đá ong nặng có dễ đến hai ba chục ký chứ chẳng chơi.

Công trường khai thác đá nằm phía trên cầu Vai réo, cách chỗ chúng tôi chừng 2,3 cây số.

Mỗi buổi sáng, toàn đại đội chạy tập thể dục xuống công trường và lúc về vác mỗi thằng một viên.

Chạy đến nơi đã bở cả hơi tai, hí húi chọn đi chọn lại để tìm viên nhỏ nhất rồi vác chạy về, mệt ơi là mệt.

Mười một chế độ trong ngày, suốt từ 5 giờ sáng đến 9.30 giờ tối hôm nào cũng kín mít, trừ mỗi ngày chủ nhật.

Mà nào có được nghỉ ngon lành đâu.

Tối hôm trước, sinh hoạt trung đội, B trưởng đã nhắc :

- Ngày mai, mỗi đồng chí nộp hoặc 100 kg phân xanh hoặc 50 kg phân chuồng hoặc 30 kg phân bắc để tăng gia.

Xong sớm nghỉ sớm.

Nói thì đơn giản nhưng để đạt được mức ấy thì tôi bở cả hơi tai.

Phân xanh thì chặt mãi cũng hết, muốn lấy được nhiều chỉ còn cách là lên rừng cách đơn vị 5, 7 cây số.

Phân chuồng thì đâu có nhiều, trâu bò có ị ra bãi nào thì dân cắm que đánh dấu hết cả.

Vào dân xin mãi cũng ngượng, lúc đầu dân còn cho, sau họ chẳng cho nữa.

Phân bắc thì ....

Hố xí đại đội nào, đại đội ấy giữ còn hơn giữ mả tổ.

Nào rấp cành tre gai chống lấy cắp, nào phân công trực nhật canh gác.

Vậy mà vẫn bị mất cắp như thường.

Vậy là được bãi nào phải thu luôn bãi ấy.

Lắm hôm, đang ngồi phía trên, ngó xuống đã thấy có cái xẻng thập thò hứng phía dưới rồi.

Rồi nhiều trò ranh mãnh được giở ra.

Phân chuồng, phân bắc lấy về trộn thêm với đất cho đựơc nhiều.

Cán bộ A, B đâu có kiểm tra, cân kẹo gì?

Cứ thấy mang về sọt to, sọt nhỏ là ...OK.

Bố bảo chúng nó cũng không dám đến gần mà cân với kẹo.

Xin dân mãi rồi cũng không đủ vì mấy bản Mường dân thưa thớt, lấy phân đâu mà phục vụ cho cả Trung đoàn bộ đội đang ...đói ấy.

Ngay bên kia đường quốc lộ 21 là trại chăn nuôi của sư đoàn.

Một cái trại toàn nuôi trâu, bò, dê nhiều.....phân vô kể.

Lính tráng nhìn sang đấy toàn với ánh mắt ...thèm thuồng.

Tôi và thằng Hộ ( người Nghệ an ) đánh liều sang đấy để...ăn cắp.

Một buổi sáng chủ nhật như thường lệ.

Mới 4 giờ sáng, hai đứa đã cắp nách hai chiếc bao tải rách bò sang trai chăn nuôi.

Không cuốc, không xẻng hai thằng bò vào chuồng bò ra sức dùng tay vơ thật lực phân trâu bò để tống vào hai chiếc bao tải.

Thật không may, đang bốc lấy bốc để thì bị mấy anh lính bên trại tóm được.

Phen này hai thằng ăn chắc phát kỷ luật.

May sao, sau khi hỏi han tình hình, lý do....

ăn cắp phân.

Các anh ấy thương tình tha cho.

Sau khi rửa ráy sạch sẽ, uống hết một ấm trà nóng lại còn khuyến mại hai thằng, mỗi thằng một bao tải đầy... phân.

Sướng!

Lần đầu tiên vào ngày chủ nhật mà tôi lại được đi chơi sớm thế.

Xong xuôi công việc mới chưa đầy 7 giờ sáng.

Ba tháng huấn luyện, ngoài tăng gia rau xanh như rau muống, su hào, cải bắp chúng tôi còn phải đi nhổ mạ, cấy lúa, trồng khoai, trồng sắn.

Mùa đông năm ấy rất lạnh.

Đơn vị sợ đưa trâu bò xuống ruộng cày bừa sẽ bị chết rét, các cán bộ liền nảy ra sáng kiến đưa tụi lính mới chúng tôi xuống ruộng đạp bùn thay cho trâu bò.

Những hôm rét như vậy, nếu được phân công trực nhật thì quả là may mắn.

Trực nhật phải gánh cơm ra tận ruộng phục vụ anh em.

Tuy phải gánh xa nhưng so với lội ruộng thì hẳn vẫn còn may chán.

Thời gian huấn luyện trôi đi sao mà lâu thế.

Thỉnh thoảng lại xảy ra chuyện lính đảo ngũ.

Nhớ mãi chuyện thằng Đ ở tiểu đoàn 1.

Nó đảo ngũ liên tục, thời gian huấn luyện nó ở nhà nhiều hơn ở đơn vị.

Vệ binh cứ về tận nhà ( dân Hà nội ) bắt lên được vài hôm nay thấy biến mất.

Thế rồi một buổi sáng, cả trung đoàn tập trung ở sân bóng của D2 theo lệnh.

Hàng ngũ các đơn vị chỉnh tề, thẳng tắp.

Vệ binh trung đoàn hàng ngũ chỉnh tề súng tuốt lê sáng quắc.

Sau động tác chào cờ, vệ binh dẫn Đ vào đứng dưới cờ.

Sau khi nghe đồng chí trung đoàn phó đọc quyết định kỷ luật tước quân tịch đối với Đ, hai chiến sỹ vệ binh lên lột mũ, lột quân hàm của Đ, họ còn xé rách luôn hai túi áo ngực ( để làm gì nhỉ?

Huh ) và cho lên xe áp giải trả về địa phương.

Bây giờ Đ ở nhà mở tiệm sửa xe máy, vợ con đàng hoàng.

Cả lũ lính chúng tôi đứng nhìn mà sợ xanh mắt mèo.

Nhưng hiện tượng đảo ngũ chỉ có giảm chứ không hết hẳn, nhất là bọn người dân tộc Thái, Mường quê xứ Nghệ.

Cứ nhớ nhà, nhớ vợ là nó chuồn.

Bị bắt lên đơn vị, chúng nó tự nhận một xuất đào hố rác hoặc mấy tạ phân tăng gia mà chẳng nhằm nhò gì hết.

Những thằng bị kỷ luật thường phải đeo một cái bảng trên đề dòng chữ " ai cũng như tôi thì mất nước " và đứng chịu trận ngay trước cửa nhà ăn tiểu đoàn mấy ngày.

Mỗi buổi chiều sau giờ huấn luyện về, cả đơn vị ùa ra như ong vỡ tổ.

Chỗ này xuống mấy mảnh vườn tăng gia, chỗ kia xong việc rủ nhau ra sân bóng đá, bóng chuyền.

Mấy thằng tranh thủ tắm giặt ùm ùm ngoài giếng nước.

Phải nhận rằng quân đội ta có truyền thống tăng gia rất giỏi.

Đất Xuân Mai toàn đất đá ong đầy sỏi đá vậy mà rau cỏ cứ tốt xanh um lên.

Những bẹ cải cứ vồng lên to tướng, su hào củ nào củ ấy cứ to như những chiếc bát B52.

Với định mức phân chuống phân bắc phân xanh như vậy, cây cối như được trồng trên đống phân làm gì mà chẳng xanh tốt.

Không kể bọn lính xứ Nghệ, mấy thằng " nông dân " quen cày đường nhựa như chúng tôi cũng quần sắn móng lợn ra sức tưới bón.

Thật đúng là :

" Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành...phân ( à quên cơm )!

"

Sống chung với anh em xứ Nghệ. chúng tôi cũng dân quen với những từ địa phương của họ.

Nào thì xẻng thì gọi là vên. gầu nước thì gọi là đài, rồi mô tê răng rứa...

Rất nhanh chóng, chúng tôi tỏ ra thân nhau.

Đâu phải người dân xứ Nghệ ai cũng là..cá gỗ cả đâu.

Có những anh em xứ Nghệ chơi còn ngon hơn cả mấy ông lính Hà thành.

Cái mảnh đất cằn khô xứ ấy lại nảy sinh những con người cực kỳ tài hoa.

Nào thơ ca hò vè, nào đẽo gọt đan lát...

Những vòng lá nguỵ trang, lựu đạn huấn luyện của tôi đều một tay thằng Hộ làm cho cả.

Chỉ có mỗi nết ăn là chúng tôi không chịu được tụi nó.

Chúng nó ăn khoẻ và nhanh lắm nên chúng tôi cứ phải " chọn cạ " để đi ăn cùng nhau.

Mấy lão SQ biết được cái mánh chia rẽ ấy lập tức bắt chúng tôi xé lẻ và ghép ăn cùng với bọn nó cho đoàn kết nhưng chỉ được vài hôm rồi đâu lại đóng đấy.

Thấm thoắt thời gian huấn luyện đã gần kết thúc.

Các đại đội chuẩn bị vào giai đoạn bắn đạn thật kiểm tra.

Chúng tôi phải bắn đạn thật hơi bị nhiều.

Bài 1, bài 2, bài 3 rồi ném lựu đạn thật.

Ngày đầu tiên bắn bài 1, nhiều thằng té đái ra quần vì sợ.

Hồi ấy, bệnh thành tích chưa xuất hiện nhiều nên chúng tôi cứ bắn vố tư và chấm điểm cũng vô tư.

Cả đại đội chỉ có đâu một hai thằng đạt 30 điểm còn lại toàn 26,27,28 là nhiều.

Đứa nào 30 điểm mới được thưởng phép.

Mặc dù hết sức cố gắng để giật lấy mấy ngày phép nhưng tôi chỉ đạt có 28 điểm.

Thế là phèo!

Còn nhớ C trưởng C6 của tôi là thiếu uý Tịnh ( chúng tôi gọi là Tịnh " keo khòng " vì mặt lão quắt như hai ngón tay chéo ) mặt lúc nào cũng quàu quạu, khó đăm đăm.

Chính trị viên đại đội thì lại khác hẳn một trời một vực.

Anh Vóc trung uý chính trị viên, dáng ngườì thô vừa to, vừa đen nhưng lại cực kỳ tâm lý và thương lính.Anh hứa với tôi là đến ngày Noel sẽ cho tôi về tranh thủ mấy ngày để đi chơi với cô bạn gái vì tôi là thằng " nghiêm chỉnh ", chưa bao giờ vi phạm kỷ luật hay đảo ngũ gì cả.

Tôi cứ khấp khởi mừng thầm chờ mong ngày ấy đến gần.

Nhưng số tôi mới đen làm sao?

Gần đến ngày Noel, khoảng 21,22 thì anh Vóc được lệnh đi Liên xô học tại học viện bên ấy.

Tôi buồn ra mặt vì thấy lời hứa của anh đối với tôi chắc khó mà được thực hiện.

Biết vậy, anh an ủi tôi :

- Em cứ yên tâm, anh đã trao đổi với anh Tịnh rồi.

Anh Tịnh có hứa với anh sẽ lưu tâm việc đó.

Tôi nhẹ nhõm thở phào.

Cái viễn cảnh đêm Noel được đi sóng đôi bên người bạn gái học cùng lớp lại le lói trong tôi.

Như sự đời đâu đơn giản như tôi nghĩ.

Sau khi anh Vóc rời đơn vị, lão Tịnh cứ lờ đi chuyện đi tranh thủ của tôi.

Ngày 23.12, chỉ ngày mai là đến ngày Noel, tôi cứ quanh quẩn trên ban chỉ huy đại đội và thầm mong lão Tịnh nhớ ra và cho phép tôi đi tranh thủ.

Lão biết nhưng cú lờ đi, tôi liền đánh liều vào gặp và nhắc đến lời hứa bữa trước của anh Vóc.

Lão nghiêm mặt và dằn giọng :

- Anh Vóc đã đi học rồi và tôi không chịu trách nhiệm về việc cho đồng chí đi tranh thủ.

Thế là hết hy vọng!

Ngày 24.12 cứ dần trôi qua trong nỗi thất vọng tràn trề của tôi.

Tối hôm ấy, ra ngồi ven đường quốc lộ 21 nhìn về Hà nội, tôi buồn và nhớ nhà vô cùng.

Chắc giờ này, quanh Bờ hồ đã đông vui, náo nhiệt lắm rồi.

Trong cái dòng người đông đúc kia có " người ấy " của tôi không nhỉ?

Và có lúc nào đó " người ấy " có nhớ chút nào đến tôi, một người lính đang ngồi buồn bã, thất vọng vì không được về để gặp người ta không?

Đêm Noel qua đi trong nỗi buồn vô tận.

Tưởng chừng tôi có thể khóc lên được vì tức, vì nhớ, vì buồn nhưng tôi vẫn không dám đảo ngũ.

Hồi ấy tôi sống vẫn còn " sách vở " lắm.

Sợ mang tiếng với gia đình, với bạn bè và sợ...kỷ luật!

Grin.

Nhưng việc lão Tịnh " keo khòng " không giữ lời hứa cho tôi đi tranh thủ mấy ngày đã làm tôi thay đổi.

Trong công tác tôi không còn say xưa như trước nữa.

Tôi chán cái công việc làm công vụ trên ban chỉ huy đại đội nên xin xuống làm lính dưới trung đội 1.

Dưới ấy vất vả nhưng có anh có em, cái chính là tôi không muốn ngày ngày ráp mặt với lão Tịnh nữa.

Hàng ngày tôi lại cùng anh em lao động, huấn luyện.

Ngày còn làm công vụ, việc báo động chiến đấu hay di chuyển tôi chẳng bao giờ phải tham gia cú việc ngủ tít, nay thì lĩnh đủ.

Đơn vị tôi tuần nào cũng có chuyện phải đi ...xem tivi.

Chẳng là cả trung đoàn chỉ có 1 cái tivi đặt trên BCH trung đoàn.

Hàng tuần các đơn vị thay nhau hành quân lên xem sau bữa cơm chiều.

Chiếc tivi Nep tuyn đen trắng được ban chính trị E đặt ra giữa bãi cỏ trên trung đoàn bộ.

Bộ đội phải quần áo, hàng ngũ chỉnh tề đi từ dưới tiểu đoàn lên trung đoàn ngồi xem.

Sẵn nỗi chán đời, tôi luôn chốn tránh những buổi đi xem như vậy để được ở nhà một mình với ngọn đèn dầu nho nhỏ trải hồn mình với những lá thư, nhưng dòng nhật ký.

Rồi ngay cả những buổi tối cô đơn như vậỵ cũng bị lão Tịnh quấy phá.

Hắn bắt tôi phải...đi xem tivi!!!

Tôi ức muốn nổ con mắt mà không làm gì được.

Kết thúc huấn luyện, bộ đội bắt đầu được chia về các đơn vị khác.

Lớp đi học sỹ quan, hạ sỹ quan.

Lớp thì chuyển về các đơn vị trực thuộc.

Lão Tịnh gọi tôi lên hỏi tôi có muốn đi học sỹ quan hay không?

Tôi lắc đầu từ chối.

Tôi đếch thèm sự quan tâm của lão và cái chính là tôi không xác định sẽ ở lại phục vụ quân đội lâu dài.

Tôi nghĩ sẽ cố gắng thực hiện nốt nghĩa vụ ( chắc chỉ độ 2, 3 năm ) rồi tôi sẽ trở về với mái trường Y, ước mơ của tôi, nguyện vọng của đời tôi.

Ngày đang học phổ thông, khi thấy Mẹ tôi bị mắc bệnh tim, sức khoẻ của mẹ tôi cứ kém dần thì tôi quyết tâm thi vào trường Y để sau này trở thành bác sỹ chuyên khoa tim mạch về chữa bệnh cho Mẹ.

Trong trung đoàn Bắc Bắc này, tiểu đoàn 3 là tiểu đoàn tập trung nhiều lính ba láp, ba gai nhất.

Trung đoàn liền lọc những phần tử cứng đầu cứng cổ nhất về tiểu đoàn và điều tiểu đoàn 3 lên khai thác đá, mở đường trên tân xứ Thầm Luông, Đà bắc, Hà sơn Bình.

Không ai ngờ rằng sự trừng phạt của trung đoàn đối với những quân nhân vô kỷ luật lại trở thành phần thưởng vô giá cho chúng nó sau này.

Tôi được điều lên đại đội 21 trinh sát trung đoàn mấy ngày sau đó.

Vâng!

Tôi được điều lên C21 trinh sát.

Vừa mới kết thúc mấy tháng lăn lê bò toài, nay chúng tôi lại tiếp tục bước vào bò toài lăn lê.Đại đội trinh sát huấn luyện dữ lắm.

Khẩu phẩn ăn từ 7.7 hào một ngày tăng lên 1.2 đồng khi bước vào huấn luyện chuyên môn. ( nhưng bữa ăn thì chẳng thấy thay đổi gì mấy ).

Cục mì luộc ngày xưa nay được thay bằng bo bo hầm.

Cha mẹ ơi, ăn bo bo cứ như mình ăn rơm.

Sáng một bát, trưa chiều ngoài cơm thì phải kèm 1 bát bo bo luộc.

Ăn xong rồi lại trả cho Trung đoàn hết, mình chẳng giữ lại chút gì!

Grin Ngày nghỉ, chúng tôi thay nhau đi cắt cỏ gianh về lợp doanh trại.

Mấy thằng lính xứ Nghệ nó chỉ vèo một cái là được 2 bó gianh to tướng và về tắm giặt nghỉ ngơi.

Tôi thì cứ loay ha loay hoay mãi đến tận trưa mà chỉ được mấy cọng gianh.

Bó cho gọn vào cũng chẳng biết bó vì lại không biết chẻ lạt.

Cả buổi sáng mà tôi mới cắt được mấy bó gianh to hơn bó...mạ một chút.

Mang về đến đơn vị, chính trị viên ra kiểm tra cũng chỉ phì cười vì nhìn thấy thằng tôi mồ hôi nhễ nhại, quần áo lấm lem chứng tỏ đã lao động..cật lực nhưng chẳng qua không quen lao động nên kết quả chỉ có vậy.

Chúng tôi luyện tập được khoảng gần một tháng thì C trinh sát tổ chức đi hành quân dã ngoại.

Tôi được cử vào tổ tiền trạm đi trước một ngày do anh Toán H2 làm tổ trưởng. Mấy anh em nhận súng đạn, thực phẩm gạo nước và lên đường.

Chúng tôi vạch một tuyến đường hành quân từ Phú Mãn ( nơi E36 đang đứng chân ) lên tận Đà bắc - Hoà bình.

Đơn vị đã ra lệnh chúng tôi không được đi theo tuyến quốc lộ mà phải đi xuyên rừng, xuyên núi.

Chúng tôi nhằm thẳng dãy núi phía sau đơn vị mà tiến.

Trên đường đi, anh Toán hướng dẫn cho tôi cách đánh dấu cho đơn vị hành quân phía sau.

Từ việc bẻ cành lá dấp đường đến dùng dao găm đánh dấu trên thân cây...

Ngày đầu tiên, chúng tôi dừng chân ở một bản Mường nhỏ gần thị trấn Lương Sơn.

Chúng tôi nhanh chóng đi gặp trưởng bản để nhờ các Bố, các Mế cho phép đơn vị nghỉ lại tại bản.

Đúng thật là tình " quân dân cá nước ".

Các Bố Mế rất vui vẻ chỉ cho chúng tôi từng nhà và giới thiệu chúng tôi.

Tất cả đều vui vẻ thu xếp gọn gàng nhà mình để dành chỗ cho bộ đội nghỉ chân.

Mỗi nhà cho chúng tôi nghỉ chân từ 3 đến 5 người.

Ngày hôm sau, sau khi đón đại đội đến nơi và bàn giao địa bàn, chúng tôi lại tất tả lên đường.

Ba lô súng đạn thực phẩm trên vai khá là nặng nhưng anh Toán nhất định không cho chúng tôi vẫy xe ô tô đi nhờ.

Anh bắt chúng tôi lội bộ.

Cứ đi khoảng hai tiếng chúng tôi mới được nghỉ vài phút.

Cứ như vậy, đến hơn 4 giờ chiều chúng tôi mới đến được phố Trăm - Hoà bình.

Chúng tôi lại đi vào nhà dân liên hệ cho đơn vị hành quân phía sau có chỗ trú quân.

Cứ như vậy chúng tôi hành quân qua Hoà bình - Chợ Bờ - dốc Sung - Oi Luông..

Tuyên đường chúng tôi vạch ra có những ngọn dốc cao vút.

Đi từ sáng đến trưa, ngoảnh lại vẫn thấy chỗ xuất phát buổi sáng mà chỉ cần ném viên đá là tới.

Ngày ấy chưa có công trình thuỷ điện Hoà bình nên thị trấn Chợ Bờ còn hoang vu và đẹp lắm.

Những khối đá nhọn hoắt nhấp nhô giữa dòng sông chảy xiết.

Nước sông Đà trong xanh, mát lạnh.

Giữa tháng hai nên tiết trời vẫn lạnh lắm, chúng tôi xuống sông tắm mà lạnh run lên như cầy sấy.

Tôi ghé vào bưu điện chợ Bờ gửi về Hà nội mấy lá thư cho người thân, bạn bè.

Khi đơn vị lên đến Chợ Bờ thì chúng tôi lại tiếp tục hành quân.

Đích hành quân của chúng tôi là một bản Mường nhỏ nằm nép mình bên dòng sông Đà lạnh lẽo.

Chúng tôi trú tại một nhà bà Mế già phúc hậu.

Ngôi nhà nằm ngay ven bờ sông.

Bà mế già tính tình thật hiền hoà, phúc hậu.

Ngôi nhà sàn có những cột gỗ to tướng, lên nước bóng loáng.

Sáng hôm sau, mế dậy rất sớm đõ một chõ xôi sắn to.

Gạo nếp nương, sắn tươi duôi thành sợi trộn lẫn rồi đồ chín.

Trước khi bắc xuống, mế phi hành hoa thơm nức rồi rưới lên trên.

Khi chúng tôi ngủ dậy, vệ sinh sáng xong, mế gọi chúng tôi ra ăn.

Chẳng khách khí, ba chúng tôi làm một bữa no căng bụng rồi tất cả đi khắp bản để chuẩn bị chỗ trú quân cho đại đội sẽ hành quân tới vào buổi chiều.

Ở nơi đây, người dân đối xử thật tốt với bộ đội.

Có lẽ nơi đèo heo hút gió này ít có bộ đội hành quân qua bởi vậy, cái nghĩa tình quân dân vẫn còn đậm đà lắm.

Nhà nào cũng xung phong nhận bộ đội đến ở.

Chúng tôi tìm một căn nhà sàn to và đẹp giành cho BCH đại đội còn tiểu đội tôi ở ngay nhà của bà mế tốt bụng.

Đơn vị hành quân đến, toả ngay vào những ngôi nhà đã được phân.

Sáng hôm sau, cả C bắt tay vào tổng vệ sinh cho dân bản.

Đường đi lối lại ngập ngụa toàn phân trâu bò, lợn gà vì ở đây vẫn có phong tục chăn nuôi thả rông.

Chúng tôi vận động bà con làm chuồng nhốt trâu bò riêng, không nhốt ngay dưới gầm nhà sàn để cho vệ sinh.

Chúng tôi phải vào rừng chặt tre về dựng chuồng trâu bò, lợn giúp dân.

Chỉ sau 1 tuần, làng bản đã phong quanh, sạch sẽ.

Chúng tôi bước vào luyện tập.

Nào đóng bè mảng vượt sông, nào trèo đèo lội suối... kết hợp luôn là mỗi ngày phải chặt cho đơn vị 40 cây luồng trên rừng về tập kết ngay con suối dưới chân bản.

Mấy thằng xuất thân từ nông dân thì làm công việc cứ ngon ơ.

Chúng nó chặt, kéo luồng ào ào rồi đóng thành bè mảng xuôi theo dòng suối về bản.

Khoán cả ngày thì chúng chỉ làm đến trưa đã xong.

Có thằng còn chặt thành một đống, mỗi ngày đóng bè mang về đúng 40 cây cho nhanh rồi được nghỉ.

Khốn nạn cái thân tôi, kì cà kì cạch cả ngày trong rừng ngày đầu tiên tôi chỉ chặt được 18 cây.

Không biết trẻ nứa non làm lạt buộc bè, tôi đành chặt mấy sợi dây rừng để đóng bè.

Bè chúng nó thì vừa chắc vừa đúng là cái bè nên trôi theo dòng nước rất dễ.

Còn tôi, chiếc bè tôi đóng cứ tròn ung ủng.

Khi kéo xuống nước nó cứ lăn tròn, ngồi cưỡi trên bè mà mấy lần tôi uống no nước.

Tận hơn 5 giờ chiều, tôi mới mò được về đến bản khi tất cả chúng nó đã tắm giặt xong xuôi và đang đi tán mấy cô giáo người kinh ở ngôi trường cấp 1, 2 bên cạnh.

Chính trị viên nhìn tôi về chỉ biết...lắc đầu.

Ngày qua ngày, chúng tôi đóng quân ở đây đã được gần một tháng.

Nhớ mãi những bữa ăn hồi đó, quanh đi quẩn lại chỉ có đủ đủ xanh sào, rau xanh hiếm vô cùng.

Muốn mua đu đủ, anh nuôi đại đội phải mượn dân bản những chiếc thuyện độc mộc, theo dòng sông Đà đi chợ Suối Rút ở rất xa.

Ăn mãi đu đủ, chúng tôi cảm thấy ruột sót như bào.

Rau tàu bay, ngọn rau dền cơm, dền gai, lạc tiên ..đều được chúng tôi săn tìm cải thiện.

Được cái, tại bản Oi luông này, chó rất rẻ.

Đầu tiên là 1 đồng một cân hơi, sau này chúng tôi mua nhiều thì dân tăng lên tới 1.50 đồng.

Tuần nào chúng tôi cũng thịt chó.

Dân bản không ăn thịt chó vì họ kiêng nên chúng tôi phải tổ chức thịt và nấu tận dưới bờ suối ngoài đầu bản.

Bây giờ có lẽ cái bản mường thanh bình, hiền hoà, đáng yêu ấy đã nằm sâu dưới tận lòng hồ thuỷ điện.

Cái ngôi nhà tôi ở, ngoài bà mế hoá ra còn có cô con gái mế tên là Đinh thị Hương đang học sư phạm 10 + 3 ngoài Hoà bình.

Ngày thứ bảy, cô bé về thăm gia đình làm cho không khí ngôi nhà trở nên vui vẻ, khác lạ.

Mấy thằng lính trẻ tranh nhau xuống suối vác nước lên đổ vào nhưng cái ang lớn để cho ...em dùng.

Mỗi ống bương nước gồm ba đốt, vác được một ống từ dưới suối lên tới nhà là mồm tai thi nhau thở.

Tôi rủ em Hương sáng Chủ nhật lên nương nhổ sắn về cho Mế.

Vai đeo khẩu AK lưng đeo gùi, tôi cùng em Hương lên nương sắn cách nhà chừng vài cây số leo dốc.

Lúc đi toàn lên dốc, chẳng có gì trong gùi nhưng tôi thở ra cả đằng tai.

Phía trước tôi, cái bóng nhỏ bé nhanh nhẹn của Hương cứ thoăn thoắt bước, bắp chân trắng như ngó sen.

Hương thật là đẹp ở tuổi 18.

khuôn mặt em đỏ hồng lấm tấm mồ hôi trông lại càng xinh.

Trong khi tôi thì phì phò mồm mũi thi nhau thở thì Hương vẫn cười và cất tiếng hát lanh lảnh :

" Ủn ti no mà chăng về khớm khợm

Đời khổ quá, em phải lên nương đào khảnh..về eng ủn ăn..."

Lên đến nương sắn, đàn khỉ đang nhổ trộm sắn thấy thoáng có bóng người liền tháo chạy rào rào trên các tán cây.

Tôi sẵn có được chục viên đạn ăn trộm từ khi đi lấy đạn về phục vụ bắn đạn thật ở kho quân khí Lương sơn liền đi loanh quang tìm cách bắn khỉ.

Bọn này quả là khôn ranh như...khỉ.

Bắn mấy viên mà tôi chẳng hạ được một chú nào vì khoảng cách quá xa.

Trên đường về, dù nặng nhưng vì đi xuống dốc nên không vất vả lắm.

Trên đường vui chuyện trò nên chẳng mấy chốc chúng tôi đã về đến nhà với hai gùi sắn nặng.

Đang quen việc, quen người, quen cảnh chúng tôi nhận được điện của sư đoàn hành quân trở lại bến Đúng - TX Hoà bình.

Ngày đại đội chia tay với bản Oi luông, các bố mế các em ủn đứng xếp hàng thành dãy dài dọc theo con đường hành quân của đại đội.

Nước mắt chảy dài trên má của các mế, các em.

Mấy cô giáo trường cấp 1,2 cũng ra tiễn chân chúng tôi với lời nhắn nhủ đừng quên bản Oi luông nhé!

Quên sao được bản làng với những nếp nhà sàn nép mình ven núi, quên sao được những đêm ngày luồn rừng lội suối luyện tập, quên sao được những buổi tối ngồi bên bếp lửa bập bùng vừa nướng sắn khoai, vừa tập tành hút thuốc lào bằng điếu ục.

Bản làng bây giờ đã đổi thay so với ngày đầu chúng tôi đến.

Đường xá trong bản phong quang hơn, sạch sẽ hơn.

Đàn trâu bò đã được nuôi riêng cách xa hẳn nhà ở, không còn cái tiếng sừng trâu lộp cộp va vào cột nhà lúc đêm xuống.

Tôi cũng tạm biệt Mế và gửi lời qua mế tới em Hương hôm đó vắng nhà.

Tạm biệt nhé chúng tôi lên đường.

Về đến phà Đúng, tôi và ba thằng nữa nhận lệnh trở về C18 thông tin trung đoàn để học 2W.

Mấy thằng hành quân dọc đường 6 về Xuân mai dưới sự chỉ huy của thằng Lợi " bọ " là lính cùng đợt với chúng tôi.

Suốt từ khi nhập ngũ đến bây giờ, tôi chưa một lần về thăm nhà.

Tôi gạ thằng Lợi :

- Mày cho tao đi tranh thủ hai ngày.

Tao muốn về thăm nhà.

Dù thằng Lợi là lính như tôi nhưng trước khi đi, đại trưởng C21 đã giao cho nó " lãnh đạo " nhóm nên tôi tôn trọng và xin phép nó rất đàng hoàng.

Nó ngần ngừ rồi lắc đầu :

- Tao rất muốn cho mày đi nhưng mày thông cảm là tao cũng như mày, chẳng có quyền gì cả.

May nên trở lại trung đoàn rồi xin phép về Hà nội sau.

- Tao biết vậy, nhưng mẹ tao đang ốm.

Mày không cho thì tao cũng cứ về.

Mày về lựa lời mà báo cáo với đơn vị.

Ngày kia tao lên sớm.

Tôi nhớ nhà, nhớ người mẹ đang ốm đau bệnh nặng.

Tôi nhớ cô bạn gái thủa còn đi học mà tôi đang thầm yêu, trộm nhớ.

Vậy là vừa đến Xuân mai, tôi nhảy lên xe khách về thẳng Hà đông.

Đây là lần đâu tiên tôi tuột xích.

Về đến nhà lúc trời đã gần tối.

Nhà tôi đông nghịt người!

Thôi chết tôi rồi, chắc nhà tôi có chuyện rồi.

Mẹ tôi sức khoẻ rất yếu nên trong tôi đã thoáng nghĩ đến những điều tồi tệ đã xảy ra.

Tôi chạy như lao vào nhà.

Không phải như tôi nghĩ mà do nhà tôi đang có khách.

Vợ chồng bác ruột tôi cùng các anh chị ở Đà nẵng ra chơi Hà nội.

Nghe các bác ra chơi, họ hàng loanh quanh tại Hà nội kéo đến chia vui, thăm hỏi nên nhà tôi mới đông đến vậy.

Thật hú vía!

Mọi người thấy tôi về nên cuộc vui càng thêm phần nồng mặn.

Câu chuyện chuyển chủ đề mà tôi thành trung tâm.

Ai cũng khen sau mấy tháng ăn cơm bộ đội, trông tôi rắn rỏi trưởng thành hơn so với hồi còn ở nhà.

Đây là lần đầu tiên tôi trở về nhà kể từ ngày nhập ngũ.

Tôi giấu nhẹm việc tôi đào ngũ mà trí trá rằng tôi được đơn vị cho đi tranh thủ mấy ngày.

Ngồi ăn cơm, tiếp chuyện mọi người nhưng trong lòng tôi cứ nhấp nha nhấp nhổm, ăn cũng chẳng thấy ngon.

Tôi nóng lòng muốn sang nhà cô bạn gái mà mấy tháng rồi tôi không được gặp mặt.

Cơm nước xong xuôi, ngồi uống nước nói chuyện với gia đình một lúc, tôi xin phép cả nhà cho tôi đi chơi.

Quá cảm thông với thời gian eo hẹp của người lính nên ai cũng vui vẻ cả.

Mượn chiếc xe đạp Favoritte của Bố, tôi tót ngay đến nhà cô bạn gái.

Chỉ mười mấy phút sau, chúng tôi đã sóng đôi đi bên nhau.

Cô bạn đi trên chiếc Phượng hoàng màu xanh cánh chả.

Từ ngày thân quen nhau đến giờ, chưa khi nào chúng tôi đi chung xe.

Cứ mỗi đứa mỗi xe lượn lờ khắp phố nọ đến phố kia vừa đi vừa chuyện trò.

Ngày ấy, lớp trẻ không có thói quên rủ nhau vào ngồi quán xá.

Phần vì chẳng có tiền, phần vì quán xá không có nhiều như bây giờ.

Cô bạn kể tôi nghe chuyện học hành của những ngày đầu trên giảng đường đại học.

Tôi thì kể về những tháng ngày sống trong quân ngũ, về nỗi nhớ....Hà nội.

Vâng, cái điều quan trọng nhất là nhớ cô bạn thì tôi lại chẳng dám nói ra.

Hà nội ban đêm thật đẹp, những con phố vắng dài hun hút.

Chúng tôi đi, đi mãi rồi cũng đến lúc chia tay với lời hẹn ngày mai gặp lại.

Ngày kia, tôi lại trở về đơn vị rồi.

Lời muốn nói đã không được nói ra.

Tôi sợ mình sẽ nhận được cái lắc đầu, cái ánh mắt chối từ từ phía người bạn gái.

Để có được những phút giây đi bên nhau thế này, tôi đã bỏ bao công sức để có được.

Nay nếu bị từ chối thì...

Tôi không dám nghĩ tiếp nữa.

Hãy cứ để tình cảm của chúng tôi tiếp tục thử thách thêm một thời gian khi tôi cảm thấy đủ độ chín, chắc lúc đó, tôi nói ra cũng chưa muộn.

Dục tốc bất đạt!

Nhớ lời người xưa đã dạy.

Ngày xửa ngày xưa....

Ngày ấy, tôi đang học lớp 9 ( hệ 10 năm ).

Vào đầu năm học, lũ chúng tôi bước vào tuần học quân sự.

Cả khối 8,9 tập trung tại công viên Thống nhất ( sau đổi tên thành công viên Lê nin ) để tập đi mốt hai mốt, tập lăn lê bò toài...

Mặc dù mệt nhọc tấm thân nhưng rõ là vui.

Bỗng dưng cả lớp được tạm rời xa với những công thức toán học cứng nhắc, những bài học dài lê thê mệt mỏi trong cái nóng nực vào tiết cuối hè đầu thu.

Cả lũ vừa tập vừa cười đùa vang cả một góc công viên.

Đến khoa mục cứu thương, anh sỹ quan hướng dẫn ( giáo viên quân sự ) chỉ định tôi làm người chiến sỹ bị thương trong một trận đánh.

Nào có khó khăn gì, chỉ việc nằm lăn ra đất để chờ đội cứu thương đến băng bó mà thôi.

Tôi lim dim cặp mắt vì ánh nắng mùa thu vàng ánh như mật rót trên đầu xiên qua kẽ lá nằm chờ đợi.

Có tiếng con gái lao xao bên cạnh, tôi bừng mở mắt ra.

Chao ôi !

Đập vào mắt tôi là một đôi mắt mở to tròn, hàng mi cong vút...

Vâng !

đến tận bây giờ cái cảm giác như điện giật vẫn còn trọn vẹn trong tôi.

Tim tôi đập thình thịch.

Một mái tóc dài óng ả, một khuôn mặt trái soan trắng trẻo đang đỏ bừng vì nắng nóng, lấm tấm mấy giọt mồ hôi đang ghé sát vào để băng bó cái vết thương giả định trên ngực tôi.

Mấy lọn tóc dài cứ chạm khẽ vào mặt tôi làm tôi thấy nhột nhột, buồn buồn...

Tim tôi gần như ngừng đập.

Sao lại có cô " bác sỹ " xinh đẹp đến vậy chứ.

Tôi vẫn nằm im để nàng " băng bó " vết thương.

Khuôn ngực no tròn của nàng cứ phập phồng theo nhịp thở, thời gian như ngừng trôi.

Tôi cứ mong cho nàng không thuộc cái bài học băng bó để kéo dài mãi cái khoảng khắc diệu kỳ đang diễn ra.

Nhưng tại hại thay, nàng rất thuộc bài.

Trong chốt lát, tôi đã bị quăng lên chiếc cáng để cho mấy thằng " mặt giặc " trong lớp khiêng đi trong tiếng cười như nắc nẻ.

Tôi choàng tỉnh cơn mê vội vã nhảy ra khỏi chiếc cáng thương và chạy lộn lại chỗ cũ.

Tôi đảo mắt láo liên tìm nàng.

Kia rồi ! nàng đang đứng bên cạnh các bạn của nàng.

Mái tóc dài chảy xuống tận kheo chân, buộc chiếc nơ màu tím hờ hững sau gáy.

Sao lại có những mái tóc dài và mượt óng đến vậy.

Khuôn mặt trái soan cứ hồng lên trong sắc nắng.

Cặp môi đỏ thắm như được bôi son.

Mỗi khi nàng cười lại khoe chiếc răng khểnh trắng muốt.

Thân hình mền mại trong chiếc áo bờ lu trắng sao thu hút tôi đến vậy

Kể từ hôm ấy, tôi bắt đầu để ý đến cô bạn ấy.

Tôi chưa biết tên cô bạn ấy tên gì? học lớp nào?

Nhưng trong tôi bắt đầu vạch ra một kế hoạch tìm hiểu kỹ lưỡng tất cả những thông tin về cô ấy.

Thế là mỗi buổi chiều tan lớp, tôi thường chùng chình cố tình nán lại để rõi mắt tìm kiếm cô bé đó.

Cô ấy học lớp 8H, dưới tôi một lớp.

Rồi thì tôi cũng biết được cô gái ấy tên là K.A, nhà của cô ấy ở đâu? biết được bố mẹ cô ấy làm gì?

Mẹ cô ấy là bác sỹ tại một bệnh viện có tiếng ở Hà nội.

Thảo nào mà cô ấy đóng vai bác sỹ giỏi thế!!!

Rồi tôi cũng biết cô ấy là lớp phó, chuyên giữ sổ đầu bài....

Nhưng vốn tính rút rát, tôi không thể tìm ra cách để làm quen được với cô gái ấy mà chỉ mang trong mình một hình bóng để nhớ để thương.

Kể cả khi tôi được nhà trường giao cho cái " chức vụ " cán sự toán của khối 9, thường xuyên sinh hoạt, họp hành trong cái tổ cán sự chung mà cô ấy là một thánh viên của khối 8.

Mồm miệng tôi cứ bí rì rì mỗi khi nhìn thấy cô ấy.

Kết quả sau cả năm học, tôi vẫn dẫm chân tại chỗ ngoài mấy thông tin vớ vẫn về gia đình và cá nhân nàng.

Trong lớp tôi, tôi rất thân với một cô bạn gái tên L.

Có chuyện gì chúng tôi cũng kể cho nhau nghe, kể cả chuyện tôi thầm yêu trộm nhớ cô bé K.A ở dưới khối 8 kia nữa.

L rất chăm chú nghe và thông cảm cho tình cảm của tôi.

Liên đồng ý làm " cố vấn ái tình ", làm " bà mối " cho tôi.

Thế rồi, một xì căng đan đã xảy ra.

Trong kỳ thi tốt nghiệp hết cấp 3, giám thị phòng thi của L đã phát hiện trong ngăn bàn của Liên có một cái phong bì dán kín.

Họ nghi nghờ rằng L đã mang tài liệu vào phòng thi.

Mặc dù đã ra sức thanh minh rằng đây là một lá thư riêng, nhưng họ vẫn nhất định lập biên bản nếu L không chứng minh được đấy không phải là tài liệu có liên quan đến môn thi hôm ấy.

Cực chẳng đã, L phải mở phong bì cho giám thị xem.

Hoá ra đấy là lá thư L viết gửi cho K.A tỏ tình...hộ tôi.

Câu chuyện nhanh chóng lan ra khắp trường.

May mà thời gian ngồi trên ghế nhà trường cũng vừa hết kẻo không thì tôi không còn lỗ nẻ mà chui vì mắc cỡ.

Chẳng qua vì sốt ruột cho cái tính rút rát của tôi, L đã viết một lá thư rất dài để nói cho K.A biết được rằng ở cái lớp ý, lớp nọ có một anh chàng đang mê bạn đến mất cả ăn, mất cả ngủ..vv.. và vv...

Ai ngờ rằng câu chuyện ấy nó lại vỡ ra một cách tệ hại.

Rồi chúng tôi ra trường, mỗi đứa mỗi nơi.

Tôi và L lại lò mò đến nhà cô giáo bí thư đoàn trường để xin lại cái phong bì có lá thư quái quỷ kia.

Đến nhà cô, tôi mới được nghe cô bí thư đoàn kể cho nghe về K.A tường tận.

Hoá ra cô bé đã có người yêu, đó là một cậu học cùng lớp, nhà ở phố H B rất giàu có.

Tôi lủi thủi ra về mà trong lòng trống rỗng.

Tôi chẳng buồn khổ như tôi vẫn tưởng.

Và đến giờ phút này, K.A vẫn không biết tôi là ai.

Thi đại học xong, tôi và mấy bạn trong BCH đoàn trường tham gia một chuyến đi " phủ xanh đồi núi trọc " tận trên Yên bái, chỗ nhà máy thuỷ điện Thác bà.

Một tháng đầu tiên xa nhà, xa gia đình sống trong không khí tập thể cùng bè bạn.

Cả đoàn chúng tôi toàn là cán bộ đoàn các trường cấp 3 của Hà nội nên sống, sinh hoạt, lao động rất vui vẻ, hăng hái.

" Bà mối " của tôi cũng tham gia chuyến đi ấy.

Càng sống gần " bà mối ", tôi lại càng cảm thấy " Bà mối " mới chính là người tôi cảm mến, người tôi.... mến yêu.

Thời gian thấm thoát qua nhanh.

Đã đến ngày tôi lên đường nhập ngũ.

Trong cái đám bạn bè đến nhà đưa tiễn, tôi chỉ chăm chăm mong chờ sự có mặt của " bà mối " mà thôi.

Sáng 24.10.1977, L đến tiễn tôi lên đường với một cây viết Trung quốc, một quyển sổ tay dày bìa màu đỏ làm quà kỷ niệm.

Suốt gần sáu bảy tháng huấn luyện, những lá thư đi thư lại giữa tôi và " bà mối " liên tục diễn ra.

Với bản tính dát như cáy ngày, tôi cũng quanh đi quẩn lại chỉ mấy dòng hỏi thăm....sức khoẻ và những chuyện đời lính quân trường.

Vâng!

Chính cái tư tưởng " dục tốc bất đạt " ấy mà tôi cứ ngần ngại mỗi khi định thốt lên lời " chốt chặn " trong hai buổi tối loanh quanh khắp phố phường Hà nội trong chuyến " về phép " đó.

Chiều hôm sau nữa, thằng em con ông chú đèo tôi bằng xe đạp lên đơn vị.

Trong ba lô, yên vị một hộp sữa " Thống nhất ", mấy chiếc khăn, áo may ô do cô bạn mua tặng.

Tình trạng " chiến tranh " vẫn chưa có gì thay đổi sau hai ngày xảy ra chiến sự.

Mỗi bên vẫn giữ nguyên phần đất của mình.

Vừa lên đến đơn vị, tôi đã thấy ông C trưởng C18 thông tin ngắm nhìn tôi với " đôi mắt mang hình viên đạn ".

Tối hôm đó, C trưởng C18 gọi tôi lên BCH đại đội.

Sau một hồi mắng mỏ, diễn thuyết...ông yêu cầu tôi viết bản kiểm điểm.

Tôi rất thành khẩn nhận khuyết điểm và cũng trình bày rõ lý do vì sao tôi đào ngũ.

Ông C trưởng thì hùng hổ đòi kỷ luật tôi thật nặng, ông chính trị viên thì nhẹ nhàng phân tích.

Cuối cùng tôi " được " nhận kỷ luật với hình thức....phê bình ( không kèm theo hạn mức phân, gio gì cả Grin ).

Tôi hiểu là có sự giơ cao đánh khẽ ở đây.

Chúng tôi lao vào học chuyên môn của máy thông tin 2W - P105, học bảng mật mã...

Đang học dở dang thì chúng tôi lên đường.

Ngày tôi lên đường vào nam chiến đấu, cái đêm mưa tầm tã ngoài ga Hàng cỏ người tôi mong gặp chia tay trước khi bước vào cuộc chiến đấu sinh tử năm đó chính là " bà mối ".

Tôi cũng đã nhờ người báo tin rằng tôi đang ở ngoài ga nhưng báo hại cho tôi là tối hôm ấy L phải sinh hoạt chi đoàn ở trường ( Trường ĐH sư phạm ) tận trong Cầu giấy.

Cái cảm giác lẻ loi không người đưa đón ( mặc dù đã có Bố và em trai ra tiễn đưa ) cứ theo tôi mãi.

Cái lí do không ra tiễn tôi, mãi mấy năm sau khi hai đứa yêu nhau rồi tôi mới được biết.

Rồi bức điện tôi đánh về ở bưu điện ngã tư Hàng xanh cũng là gửi về cho Bà mối của tôi.

Chúng tôi trao đi đổi lại cho nhau hàng trăm lá thư.

Mỗi lần được nghỉ giữa hai đợt đánh lớn, anh nuôi đại đội lại mang cho tôi hàng sấp thư của L.

Có lẽ không tuần nào chúng tôi không viết cho nhau.

Nhưng tuyệt nhiên chẳng có một chữ " YÊU " nào trong những chồng thư dày cộp ấy cả.

Tôi vẫn nhớ thư của L bao gìơ cũng bắt đầu cộc lốc bằng chữ : Thọ !

Còn tôi thì thường bằng những thán từ vòng vèo để nhắn nhủ tấm tình của mình.

Nào là : L mến nhớ, L xa nhớ, L thân nhớ.... nhưng mỗi một từ quan trọng nhất là " YÊU " thì lại lẩn tránh như trạch.

Trải qua bốn, năm năm, tình cảm của chúng tôi vẫn : " tình trong như đã mặt ngoài còn e..".

Khi tôi bị thương nằm ở Sài gòn, nhờ người viết thư báo tin cho L mà trong tôi cứ thầm mong ước khi nhận được tin, L sẽ vào thăm tôi.

Cái viễn cảnh có L ở bên trong những tháng ngày điều trị vết thương sao mà hấp dẫn tôi đến vậy.

Tôi sẽ...tôi sẽ... biết bao những dự định " liều mạng " mà tôi vạch ra nhưng không xảy ra mặc dù chiều nào tôi cũng ra trước cổng bệnh viện và thầm mong điều diệu kỳ sẽ tới.

Đợt về phép năm 1981 tôi đành đánh liều ...mở miệng.

L e dè đón nhận tình yêu của thằng lính.

Lúc ấy tôi cũng được L cho tôi biết rằng L đã viết thư chủ động nói lên tình yêu của L với tôi nhưng tôi không nhận được vì tôi đã trên đường đi phép. (

Sau này trở lại đơn vị, tôi đã nhận được lá thư tỏ tình ấy của L - Mặc dù lá thư đã bị bọn trong đơn vị bóc trước ).

Ngày tôi trả phép, chúng tôi vụng về trao nhau nụ hôn đầu đời và hứa với nhau sẽ cùng nhau đi tận cuối cuộc đời.

Tôi lại lao vào cuộc chiến đầy máu lửa nhưng trong lòng vui phơi phới vì tôi đã có L bên cạnh.

Những lá thư sau này đã tràn đầy nỗi nhớ thương, nỗi giận hờn thường có của những đôi tình nhân đang thủa yêu nhau.

Rồi ngày trở về cũng đã tới, tôi hạnh phúc vô cùng vì được trở về với quê hương.

Nơi ấy có người Mẹ bệnh tật đang mỏi mòn chờ đợi, nơi có người con gái, Bà mối của tôi đang đêm ngày mong ngóng.

Tôi trở về được mấy tháng thì Mẹ tôi qua đời.

Buồn vì nỗi đau mất mẹ, tôi đâm ra lẩn thẩn trong việc lựa chọn bước đi.

Tôi cắn răng chia tay với người tôi yêu vì những lý do rất vớ vẩn, trẻ con.

Cuộc sống cứ cuốn tôi đi cho đến nay, khi tuổi đã lớn.

Ngồi nhớ lại chuyện ngày xưa bỗng thấy cuộc đời sao buồn tệ.

Có bao cái sai lầm trong cuộc đời, sai lầm nào là lớn nhất đây???

Một tình yêu đẹp.

Tôi cho là như vậy.

Kỷ niệm còn lại giữa hai đứa chỉ là nhưng nụ hôn trong sáng nhưng nó ám ảnh tôi đến tận bây giờ.

Những chuyện này tôi luôn nhớ và giấu kín trong lòng.

Đến bây giờ, tuổi đã xế chiều.

Câu chuyện xưa đã trở thành quá khứ, một quá khứ có cả mùi thuốc súng lẫn hương bưởi, hương chanh trên mái tóc người bạn gái ngày nào.

Tôi kể chuyện này ở đây cũng giống như bao lần tôi chia sẻ cùng đồng đội khi xưa từng điếu thuốc, từng bức thư nhà mới nhận.

Vậy thôi!

- Trong cuộc đời quân ngũ của tôi có lẽ ngoài thời gian ùng oàng đáng nhớ ở HG thì thời gian huấn luyện cũng có rất nhiều kỷ niệm.

Lần đầu tiên đi rừng lấy củi mỗi người chỉ phải lấy 30kg củi thôi, ái dà quá bình thường ở nhà mình vẫn vác một bao xi măng 50kg có vẫn đề gì đâu.

Thế là chúng tôi hung hăng lao lên đồi nghĩ rằng độ một tiếng sau là về đến đơn vị nhưng khi lên đến nửa quả đồi đã thấy có người ngồi thở hắt ra cá biệt có cậu ngồi khóc hu hu.

Thôi thế là anh nào cũng vớ tạm một cây gỗ mỡ gỗ bồ đề vác xuống có lẽ chỉ khoảng 15kg thôi.

5g30 sáng đã phải dậy chạy tại chỗ cứ thình thịch mồm hét to 1-2-3-4 rung cả núi rừng, nhưng buồn nhất là khi chiều xuống phải ngồi ba người một góc sinh hoạt tổ ba ba.

Ở nhà có mẹ có cha ở đây có tổ ba ba chúng mình, ba anh em ngồi nhìn hoàng hôn xuống khí lạnh và âm u vì xung quanh toàn núi đá lòng buồn nẫu cả ruột,các cán bộ luôn động viên ba năm là giấc ngủ trưa thôi mà.

Mình thì cứ ngồi đếm hôm nay là mấy hôm mà nghĩ đến ba năm là mồ hôi toát hết cả ra sau này mới thấy đúng là giấc ngủ trưa thôi thật.

- Chỗ ngủ của chúng tôi là những dẫy giường 2 tầng bằng sắt.

Không chăn màn, không chiếu.

Chúng tôi nằm lăn ra trên những tấm ván gỗ co ro chịu rét, chịu đói.

Sáng hôm sau, sau khi vệ sinh cá nhân xong tôi mới nhận thấy cả doanh trại hầu như chẳng còn thằng lính nào.

Tất cả chúng nó đã chuồn hết trong đêm, chỉ còn lác đác vài thằng mỗi đại đội.

Hồi ấy tôi ngơ ngáo và dát lắm nên chẳng dám chuồn.

Phải đến gần một tuần sau, các đơn vị mới tập trung đủ quân và bắt tay vào học tập, huấn luyện.

Những buổi đầu tiên trong quân ngũ sao mà buồn chán và dài lê thê.

Suốt ngày chỉ thấy học chính trị, học truyền thống và tập đi mốt hai mốt.

Phải gần một tháng sau chúng tôi mới được dự lễ ....gì nhỉ?

Buổi lễ có duyệt đội ngũ và ...hôn quân kỳ trên tận sư đoàn ở thị trấn Xuân Mai.

@ối dời!

Sao cũng là lính,mà cũng là lính Hà........lội,mừ sao các bác sướng thế.Tụi em nhập ngũ trong một khung trời đông thật ảm đạm.

Chiếc commangca 67 cũ rích,bạt xe bạc trắng mốc,chở 6 thằng len lỏi giũa những làn xe đạp ngược xuôi,như xa vào màng nhện .Dòng người xe cứ hối hả trôi về các ngả,như không có ai để ý đến sự khác thường của những chiếc xe,chở đầy những chàng trai của phố phường Hà Nội,đang rời phố xá thân yêu,lên đến chân cầu Long Biên tùng đoàn xe từ các ngả đổ về trên xe chở đầy những chàng trai vượt qua cầu thẳng hướng Gia Lâm.

Đúng là ngày hội.Khi chúng tôi đến nơi đã có những đơn vị bắt đầu nhận quân,một bên là người đưa tiễn và một bên là những chàng trai đã hóa thân vào sắc lính,những cánh tay giơ lên vẫy vẫy từ cả hai phía,tiếng dặn dò ơi ới....có cả những dòng nước mắt ấp áp lăn trên gò má của những bà mẹ thương con lần đầu xa nhà và những cô gái phải tạm biệt người yêu.....v...v..

Hôm đó nhiều đơn vị về nhận quân lắm,đủ các binh chủng,nhưng phần lớn là các đơn vị ở phía Bắc.qua buổi trưa mới đến đơn vi nhận chúng tôi.Cũng nhận quân trang và được cấp một chiếc bánh mỳ không người lái cho bữa trưa và một chiếc cho bữa tối.sau bữa ăn nhẹ lệnh tập trung,thành nhiều hàng ngang trước sân của một làng nào đó ở Gia Lâm ?

Phải có cán bộ nhận quân đi đến tận nơi nhắc nhở cái đám lính mới .Rồi cái hàng lính mới đó,mới được đẹp như con rắn đang đang trườn trên cánh đồng Lại Mật.

Nghe quán triệt song,cũng là lúc trời vừa tối,cả đoàn lính mới đó hành quân theo hàng dọc rời làng ,theo đường tàu 01hàng hành quân đến gần Ga tàu tất cả tản sang một bên ngồi theo hàng không được nói chuyện ( sau này nghĩ lại,các bố đi nhận quân tài thật rèn lính theo kiểu rèn vợ....từ thủa bơ vơ....) khoảng 21 giờ ( 9 giờ tối ) đoàn tàu từ Hà Nội đến tiếng phanh nghiến ken két,đầu máy hơi nước thở phì phì thấp thoáng bóng kiểm soát quân sự chỉ dẫn các đơn vị lên tàu...con tàu nặng nề lăn bánh,mỗi người mỗi cảm xúc nhưng có lẽ đã thấm mệt do cả ngày chờ đợi vật vã và vì trời tối nên không có ai hứng thú nhìn ra màn đêm tối đen đậm.đám lính mới lục tục lôi nốt khẩu phần được cấp từ buổi chiều ra ăn,ngoài đám lính quen biết nhau từ trước khi nhập ngũ còn chuyện trò chút ít,số còn lại đã lăn ra ngủ,đủ tư Thế,thân hình khẽ lắc lư theo nhịp lăn của đoàn tàu.Sáng hôm sau chúng tôi tới một ga tàu nằm dưới thung lung,xung quanh bao boc bởi những quả núi đá trắng mốc lầm lỳ như thách đố.Đó la ga Đồng Mỏ,chúng tôi được tập trung thành hàng dọc và bắt đầu hành quân tiếp,khoảng nửa tiếng sau vào tới chân núi đá bên phải Thị trấn.Được nghỉ giải lao,xe quân lương của đơn vị phát khẩu phần ăn,thấy xe quân lương của đơn vị đến phát khẩu phần ăn tất cả chúng tôi đều mừng chắc sắp về tới đơn vị rồi ai cũng vui.nghỉ khoảng 15 phút chúng tôi tiếp tục hành quân,hỏi còn đi bao lâu nữa,còn xa không.Các cán bộ nhận quân không trả lời,hỏi nữa vẫn thế,chán rồi không ai hỏi nữa lầm lũi đi,người sau bước theo chân người trước.Bắt đầu leo núi,con đường đá lổn nhổn uốn éo lượn quanh,dốc gập mặt chỉ nhìn thấy cặp giò của người đi trước,đi qua biết bao quả núi,nương dẫy,làng bản đến 9 - 10 giờ tối chúng tôi về tới đơn vị không kịp rửa ráy chân tay mặt mũi ( sông chỉ cách 30 mét mà không ai biết cán bộ không nói chắc sợ lính đi về mệt đi ra đó vào buổi tối mà đông quá không quản nổi),cứ 5 thằng một khay cơm với mấy cọng rau muống mấy lát thịt heo ăn gấu ăn nghiến,hai hôm mới được ăn cơm kiểu gì cũng ngon.thêm 30 phút quán triệt giới thiệu rồi cũng được tự do.Hơn 30 thằng nằm chung 01 chiếc sạp làm bằng cây vầu ( le) trẻ đôi đập dập ghép lại thành giường do lính cũ làm sau hai ngày hành quân mệt nhọc,được nằm ngủ đã là thiên đường,nhưng đến ngày Thứ hai thì lại khác,cứ một người chằn trọc không ngủ được là ảnh hưởng đến những người còn lại vì tiếng kêu ọt ẹt của sạp cây và vì quá chật nên cứ một người xoay là cả sạp phải xoay theo cùng đổi hướng nằm.

Tụi em đến giờ này mới chỉ biết hun mui Kỳ Đà thui...

Tiểu đoàn Đào ngũ 01

Năm ấy .....!

Khi tiếng pháo của quân TQ nổ ì ùng trên đỉnh 400 Lộc Bình Lạng Sơn vừa ngớt đi.Chúng tôi được gọi về trường Hạ sỹ quan sư đoàn tham gia khóa huấn luyện at.Đang nằm chốt tù túng nay được xuôi,chẳng ai từ chối.Khi về tới tiểu đoàn huấn luyện HSQ.Từ cái ăn,cái mặc,đi đứng đều được rèn rua một cách công phu.Khốn nỗi,chúng tôi là lính vừa từ trên chốt quay về,cái gì cũng thiếu.Quần thì 02 thằng chung nhau 03 cái...khi lên chốt,không biết sống chết ra sao lính ta bàn nhau bán hết quân trang như có thể,để cải thiện.khi về học HSQ không thể nào đáp ứng được với yêu cầu huấn luyện.Tôi được anh em tín nhiệm,cử ra thương thuyết với trung đội,rồi đại đội,cuối cùng là tiểu đoàn cho về nhà xin gia đình tiền mua lại quân trang để đảm bảo cho công tác huấn luyện của đơn vị.Tiểu đoàn trưởng trả lời,sẽ xin ý kiến của sư đoàn...Chờ mấy tuần không có hồi âm của cán bộ tiểu đoàn,lác đác đã có một số anh em tự cắt phép.gần một tháng trời,tiểu đoàn khất lần,khất lượt.Chúng tôi nghĩ là không có cơ hội gì.Đúng lúc đó đơn vị cho các trung đội đi lao động dã ngoại 03 ngày.Đêm đó những kẻ cầm đầu tụ tập kín tại nhà trung đội 02 hỏa lực của trường HSQ.hạ quyết tâm tự giải quyết phép,vạc ra hướng đi,tập kết và quan trọng nhất là lúc lên tàu ( có tàu khách và tàu hàng) đi như thế nào không bị bắt.ngày hôm sau,buổi tối khi vừa đến nơi công tác tôi để đồ đạc lại nahờ anh Chìu trung úy trung đội trưởng của tôi chông,tôi nói với anh để tôi đi tìm những anh em chưa tới và chuồn luôn ( anh Chìu đã biết kế hoạch của chúng tôi vì vậy tôi nói chỉ là lấy lệ cho có) tôi chạy miệng mũi tranh nhau thở vì theo thỏa thuận chúng tôi chỉ tách từng người trên đường đi,khi đến nơi ai sẽ đi như thế nào và số còn lại những ai phải chạy trog đêm cho kịp tàu.Tôi chạy được khoảng 03 km thì gặp Tho biết nhau từ ở nhà,đi thêm mấy cây nữa gặp một nhóm ba bốn người.chúng tôi đên ga Đồng mỏ đã khuya không còn tàu khách,chỉ còn 01 chuyến tàu chở than duy nhất chạy qua không đỗ.chúng tôi nói khó và ôn nghèo kể khổ với bác bẻ ghi bố trí cho tàu dừng lại vài phút.và cái giờ ấy cũng đến khi tàu chầm chậm vào ga,lính ta từ các ngóc ngách xung phong,nhanh gọn và chính xác hơn những kỹ năng vận động học tù thời tân binh hay vừa mới học bổ xung ở trường Hạ Sỹ Quan,vèo ..tôi đã nằm ngọn trên đống than đen,đoàn tầu vẫn sình xịch chuyển bánh.Thế là thoát....

Tiểu đoàn Đào ngũ 02

buổi trưa hôm sau chúng tôi về tới ga Gia Lâm.từ đầu tóc cho tới quần áo nhuộm một màu đen bạc của than.chỉ nhìn thấy hai hốc mắt đục ngầu,mệt mỏi.việc đầu tiên là tản ra thật nhanh,đề phòng kiểm soát quân sự.Hai đứa tôi lững thững đi ra đường đón xe về Hà Nội.hai bên đường hoa quả bày bán ken kín vỉ hè,đầu hè nhiều dưa hấu,chỗ nào cũng dưa hấu.Thấy chúng tôi đi qua hàng dưa mấy chị bán dưa đua nhau chào mời dưa đi chú ơi nào đâu có tiền mà mua,từ đêm qua đến giờ này chưa có một miếng gì cho vào bụng,cái đói hình như đã quên đi nhưng cái khát thì không thể nào chịu đươc,nhất là khi đi qua những hàng dưa hấu,cái mùi vị của quả dưa hấu nó thơm ngon kỳ lạ ngọt dịu.thèm lắm nhưng vì không có tiền chúng tôi lắc đầu quầy quậy bỏ đi.đi được một quãng ra xa những xe hàng dong đó được khoảng 20mét.có một anh xe thồ đầy dưa lê đuổi theo cứ cố gắng gọi các chú ơi sợ phải nghe lời mời mọc níu kéo mua hàng chúng tôi,cố gắng đi thật nhanh không ngoái đầu nhìn lại,như không nghe thấy gì.Xịch trước mặt chúng tôi là một xe thồ trở đầy dưa lê và người đàn ông tuổi ngoài 30 trên mình đóng nguyên bộ quần áo tô châu cả cái mũ cứng cũng của TQ,tuy đã bạc màu nhưng vẫn còn nguyên màu xanh lá cây rất đều,không loang lổ như quần áo của chúng tôi là lính đang tại ngũ.Các chú ở trên ấy về à câu đầu tiên anh ấy hỏi,ngại ngùng chúng tôi chỉ nhìn dè chừng chứ không đứa nào trả lời anh,anh dúi vào tay mỗi đứa một trái dưa và nói anh cũng đã từng là lính như các chú,cứ cầm đi anh không lấy tiền đâu đang nhùng nhằng giữa người cho và người phải nhận,đúng lúc ấy chiếc xe khách Hải Âu chạy tới,chúng tôi cảm ơn anh vì trái dưa lê của anh,một tay cầm trái dưa và một tay bám cửa đu xe....cũng ngại lắm khi nhận trái dưa của anh ấy.Chúng mình thì đói khát là tạm thời mà anh ấy chắc là rất chật vật để kiếm từng đồng để duy trì cuộc sống của cả gia đình trong cái thời buổi khó khăn ấy.thời ấy nhà nào chẳng đói cơm quanh năm độn,thức anh là rau lâu lâu mới có miếng thịt,khúc cá để cả nhà nhường nhau đến cuối bữa đứng dậy miếng thịt,khúc cá vẫn còn mà ai ai cũng hỉ hả là đã dược một bữa cơm ngon miệng.

Tiểu đoàn Đào ngũ 03

cái đêm mà chúng tôi tổ chức đào ngũ ấy,có một bộ phận phải ở lại công tác tại doanh trại.Bộ phận này khoảng hơn 20 người,anh em toàn là tân trí thức mới ra trường như Đại Học Ngoại Thương và Đại Học Xây Dựng v..v..vì còn sách vở lắm - lời bác Lethaitho cho nên anh em cũng không quyết tâm đào ngũ như chúng tôi.Nhưng không hiểu sao họ cũng đào ngũ.khi họ rời đơn vị được khoảng 10 km ở cây số 16 từ Lạng Sơn xuống thì bị xe của vệ binh sư đoàn đuổi theo bắt được.Tập hợp hành quân chạy bộ về tới sân vận đông của sư đoàn ở Ba Xã,bắt chạy thêm mấy chục vòng nữa mới cho dừng lại.Nghe các cấp cán bộ chửi rồi cho đi ngủ.Đêm đó cán bộ khung nghĩ anh em bị chạy bộ nhiều đã mệt nên đi ngủ không kiểm tra.Sáng sớm khi đánh kẻng báo thức ra sân tập thể dục không thấy ai ra,cán bộ trực ban lầu bầu vừa đi vừa chửi chạy xuống lán gọi anh em dậy thì...trời ơi...nhà không phòng trống...họ đã đi phép hết rồi..

Tiểu đoàn Đào ngũ 05

Ba Xã

Là một Thị trấn nhỏ thuộc Lạng Sơn ,nằm trên trục đường 279 giũa một thung lũng khoảng hơn 10 cây số vuông.Con đường dẫn vào sát chân núi đá ở đầu Thị trấn,la đường vào trường Hạ sỹ Quan,đi sâu vào khoảng 1 km.bên phải có mấy ngôi nhà sàn,bên trái là con đường thẳng tắp dài khoảng 300 là đường vào tiểu đoàn Hạ Sỹ Quan.Đi thẳng vào trong,liền bên tay phải là ao cá do lính vi phạm kỷ luật đào đã hoàn thiện và đang nuôi cá rộng khoảng 600 mét vuông .Ngày đầu mới về trường,chỉ huy các cấp cũng nói nhiều đến thành quả lao động của các loại vi phạm kỷ luật,đủ kiểu và mỗi loại vi phạm kỷ luật đều được tính tương ứng với khối lương đất đá được đào lên từ cái sườn đồi này,từ bờ tới mặt nước sâu khoảng 5 mét.về mùa khô nước sâu nhìn thấy đáy.Cán bộ Tiểu đoàn nhắc khéo,ao cá của Tiểu đoàn đã hoàn thành đơn vị đang phấn đấu xây dựng doanh trại bằng cấu trúc mới và kiên cố tức là nhà xây.Dự định Thứ 7 và chủ nhât hàng tuần các học viên phải tham gia lao động đóng gạch củng cố doang trại,bị vi phạm kỷ luật sẽ bị phạt rất nặng và hình thức kỷ luật cũng sẽ được chuyển đổi theo nhu cầu gạch cho xây dựng doanh trại.với số lượng hơn 200 học viên cùng đảo ngũ.....kế hoạch xây doanh trại mới của Tiểu đoàn Hạ Sỹ Quan đầy triển vọng...!...?

Tiểu đoàn đào ngũ 06

Trả phép

Đúng ngày ..x..chúng tôi phải có mặt đầy đủ ở Ba Xã,để giờ ..y...vào đơn vị.Cũng như hôm tự cắt phép,tất cả các thành viên đều phải tự làm chủ mọi phương tiện để đến điểm tập kết đúng giờ như đã thống nhất.

Giờ ..y..

đã đến,còn thiếu cậu Nguyễn Minh Hùng là một trong những thành viên tích cực của nhóm và mấy cậu nữa vẫn chưa có mặt.Đợi hơn 30 phút sau vẫn không thấy,chúng tôi đành tập hợp thành 02 hàng quân,như lính hành quân dã ngoại trở về doanh trại hàng ngũ chỉnh tề lặng lẽ bước.Cũng lo,không biết cái gì đang chờ mình và anh em,báo động tiểu đội,trung đội hay đại đội suốt đêm?

Cái này chắc có nhưng,theo trương trình huấn luyện thôi,bởi vì đây không phải là lính mới,mà là những học viên.Tăng số lượng gạch ,hoặc củi vào cuối tuần?Cái này cũng không khả thi,vậy thì cái gì?bởi nhiệm vụ huấn luyện HSQ là chính và cấp tốc để bổ xung cho các đơn vị chiến đấu,mà thời gian huấn luyện còn ít chắc chắn phải học bù để đuổi kịp trương trình.vậy sẽ là cái gì đây?

Đang miên man suy nghĩ,đến cổng đơn vị lúc nào không hay,người đầu tiên gặp là Sơn vịt C trưởng C 1 đại đội bộ binh học viên ( Sơn vịt - cái tên không hiểu ai đã đặt cho,lính sau cứ theo lính trước mà gọi,gọi lén với nhau thôi) chân sắn móng lợn,áo ba lỗ đã ngả màu cháo lòng để trong quần,cái thân gầy nhách,tay cầm quốc đang sới luống rau muống.Khuôn mặt nhỏ,ngỡ ngàng,hai con ngươi nhỏ như hạt nhãn nhìn đám lính trân trân trong chốc lát.Sơn vịt không trả lời những câu chào của đám lính,không nói gì vác quốc quay đít đi.Hai hàng quân lặng lẽ đi vào giữa sân tiểu đoàn,xếp thành nhiều hàng ngang.Bên góc phái sân, trong khung cửa gỗ,tiểu đoàn trưởng thiếu tá Nguyễn Xuân Thu chắp hai tay sau lưng sững sờ đứng nhìn....giường như lúc này,cánh cán bộ khung từ a,b đến c,d đã nhận thấy sự xuất hiện của chúng tôi,có người thì mặt khó đăm đăm,có người thì tỏ vẻ giận dữ....nhưng cũng có một số người kín đáo hỏi thăm tình hình đi đứng như thế nào.

Ngh....i...êm.....Bên phải.....thẳng!

Ngắn ngọn,đanh,dứt khoát và đủ nghe trước mặt chúng tôi là tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Thu.Cả hàng quân nhích qua nhích lại chút xíu rồi thẳng tắp.giọng thiếu tá Thu đều dứt khoát,không chửi.Thường anh tự hỏi,ngừng một lát rồi phân tích rồi trả lời hay kết luận...

Báo cáo Thủ trưởng em có mặt!thằng Hùng và 3 đứa khác,thằng trời đánh giờ này chúng nó mới tới,lại còn báo cáo em.Đồ ngu,giờ phút này mà còn báo cáo...

Em !phải thật điều lệnh - Tình tiết giảm nhẹ tội khi tuyên án là căn cứ vào lúc này.

Kệ mấy dứa đứng đó,Thiếu tá Thu tiếp tục giảng giải và chúng tôi cứ đứng .Mệt,bao giờ mới được nghỉ đây,sau một ngày một đêm tàu xe cuốc bộ về với đơn vị,thèm được nghỉ lắm...sau hơn một tiếng nói,phân tích rồi tự trả lời,hình như cũng cảm thấy đã đủ chúng tôi được giải tán về đơn vị của mình.Thằng Hùng và 3 dua nữa bây giờ mới đến lượt,chúng nó nghe nói không lâu.Chắc Tiểu đoàn trưởng đã mệt nên tha cho chúng nó.Bắt cả 04 thằng đứng thành hàng ngang dưới cột cờ,thằng nuôi quân đem lên cái nồi đen thui đựng nửa nồi cơm trắng thoang thoảng hơi còn bốc lên đeo vào cổ thằng Hùng theo lệnh tiểu đoàn.Trong cái khung cảnh nhá nhem của buổi tối ấy tôi vẫn nhìn thấy thân hình sừng sững của nó,đứng như bất chấp cả bầu trời đang chuyển cơn mưa,nó tủm tỉm cười.

- Góp chuyện cùng các bác ; Đợt tôi nhập ngũ , không hiểu sao rất đông thành phần bất hảo , tiền án , tiền sự đầy mình ,thành phần nhập ngũ lần thứ 2 , thứ 3 cũng không hiếm .Thí dụ có ông 27 tuổi 4 tiền án và tiền sự thì không nhớ là bao nhiêu, ông này tên Khải " đầu to " , nổi tiếng ở HN lúc ấy .

Có câu thơ về ông này " rung chuông đầu Vọng , gõ kẻng đầu mơ ai ai cũng biết Khải " đầu to " ).Ông Hảo ở chợ giời 25 tuổi 2 tiền án , đi lính cũng lần thứ 3 , đợt cuối là tháng 2/83 cùng đợt với bác Thắng ,Thằng Hưng bạn tôi 1 tiền án cũng đi lính lần này là lần thứ 3 vì vậy ngoài gia đình thì người đi tiễn cũng toàn những tay bất hảo .

Nói vậy chắc các bác cũng biết nó lộn xộn đến mức nào .

Lúc tập trung ở Yên Thường ( Đông Anh ) , mấy trận đánh nhau liên tục ,nào là vác dao đuổi chém nhau loạn cả lên , nào là hội đi tiễn xông vào vườn mía của dân bẻ mía , mấy trai làng ra bị vác dao đuổi chém chạy loạn cả lên .

Nhận quân trang xong , chúng tôi được dẫn sang 1 vườn hoa ở Yên Viên .

Tại đây được phát bánh mì và thịt hộp , đại diện của các phường lên nhận cho phường mình .

Dĩ nhiên là các tay đầu gấu tự nhận là đại diện .

Sau đó thì ....

-" Hỏi cái đ... gì ...

đánh bỏ m... mày bây giờ "

Có thằng thì lẳng lặng bỏ đi , có thằng thì cũng không vừa , thế là lại đánh nhau ...

Sau đó thì hành quân vào ga chờ tàu .

Độ 10 giờ đêm thì tàu đến , tất cả được lệnh lên tàu .

Lệnh lên tàu được phát ra cũng là lúc lính mình , thằng thì ăn không trả tiền , thằng thì cướp cả hộp thuốc lá bỏ chạy ...

Lúc đầu là lác đác , sau thì rộ lên ...

Thằng Cồ Việt Mạn ở Vân Hồ ngồi cùng quán nước với tôi lúc ấy nhân lúc bà bán quán không để ý cũng cầm luôn cái điếu cày chạy lên tàu .

Mỗi toa tàu chứa khoảng 200 thằng nên chật như nêm , lúc tàu chuyển bánh thì lại bắt đầu cãi , chửi nhau và lại...

đánh nhau vì chỗ ngồi .

Chả hiểu cán bộ nhận quân ngồi ở đâu mà toa tôi ngồi chả thấy ông nào cả !

Có lẽ bác Cao Sơn lúc nhập ngũ bị dân ném đá là vì " đổ vỏ " của những đợt lính thế này đấy !

- Vì tàu chạy đêm nên sau đó thì lính mình cũng ngủ hết .

Đang ngủ ngon thì thấy nhốn nháo cả tàu , thì ra đã đến Đồng Mỏ .

Vì tàu phải đỗ ở đây để lấy than ,lấy nước và lắp thêm 1 đầu máy để đẩy nên phải độ 5 tiếng sau mới chạy tiếp .

Trời lúc này đã tảng sáng , chúng tôi phải xuống tàu và được tự do đi lại nhưng không được đi xa cho đến lúc có lệnh lên tàu .

Cạnh sân ga là 1 cái chợ toàn hàng ăn , thế là lính mình ùa vào đấy để ăn nhậu .

Dân bán hàng ăn trong chợ mời chào đon đả , có lẽ họ rất vui vì hàng ăn nào cũng đông nghịt khách , lính tráng gọi đồ ăn không cần nghĩ .

Chắc không ai nghĩ tai họa sắp ập xuống đầu họ , có lẽ tai họa này chưa bao giờ xảy ra nên họ không mảy may đề phòng ...

Ăn uống xong tôi và thằng Cường , Hưng bạn tôi sang ngồi uống trà .

Đa số lính mình vẫn đang ngồi uống rượu , nhiều thằng đã say bét nhè ...

Đúng lúc ấy thì có lệnh lên tàu , thế là cái cảnh tượng đã xảy ra ở Yên Viên lại tái diễn , lần này nghiêm trọng hơn lần trước vì thằng nào cũng có rượu .Nói chung là lần này có cái gì cướp cái ấy , có thằng còn cướp cả hộp tiền ...

Bà hàng nước chỗ tôi ngồi vội van xin chúng tôi ;

- Bác xin các cháu ! bác không lấy tiền nước , các cháu tha cho bác ....

Thực tình lúc ấy tôi cũng không phải loại ngoan ngoãn gì nhưng tôi quyết không bao giờ làm cái việc thất đức ấy .

Cả 3 đứa tôi không ai bảo ai , tự động đứng ở quán để giúp bà bán hàng không bị cướp .

Nếu không có bọn tôi nói thì chắc cái quán ấy cũng cùng chung số phận với các quán khác ...

Tới lúc đã êm , bọn tôi trả tiền nước để đi thì bà bán quán nhất định không lấy , đúng lúc ấy thì phải hơn chục thanh niên tay dao tay gậy xông vào chúng tôi ...

Sau đó thì bỏ đi sau lời giải thích của bà bán hàng ... ( sau này hay đi lại qua đấy , tôi được biết là cứ có tàu chở quân qua đấy là dân bán hàng đóng cửa quán ,không bán hàng , thanh niên thì giáo mác ,gậy gộc chuẩn bị sẵn ).

Lúc đang hỗn loạn thì ông Tố D trưởng cầm loa gào thét mà không ăn thua , ông ấy rút cả súng ra bắn chỉ thiên mấy phát lên trời mà cũng không ăn thua .

Rồi thì tất cả cũng lên tàu .

Lúc này thì lại chửi nhau tranh chỗ ở cửa tàu ...

Khi còn cách ga độ 2km , tàu chạy chậm để vào ga .

2 bên đường tàu là bộ đội đang làm đường rất đông ( sau này mới biết đấy là E công binh 533 ) , trong đó có rất nhiều nữ .

Thế là

lính mình rộ lên trêu đủ các kiểu cả vui cả tục ...

Mấy cô bộ đội "cái " này toàn dân Hải Phòng nên không phải là vừa , đầu tiên thì trêu lại , sau thì cứ đá to bằng nắm đấm ném lên tàu không thương tiếc .

Bị bất ngờ cộng với tàu đông quá không tránh kịp nên mấy chú bị trúng đầu , máu me be bét .

Thằng đứng cạnh tôi bị 1 phát trúng mặt , 0 chảy máu nhưng lăn ra bất tỉnh nhân sự mất mấy phút ...

Tàu vào ga thấy vệ binh đứng đầy ở sân ga .

Bộ đội tập trung theo từng C và do C trưởng dẫn vào đơn vị ( Quán Hồ ) cách thị xã 5km .

Cả phường tôi ở A2 B1 C3 .

Mỗi B ở chung 1 nhà , B tôi có 25 thằng phường tôi + lính nhà máy đẻ (dệt 8/3 ) và 1 số của phường Bùi Thị Xuân .

B1 nằm sát đỉnh đồi , trước cửa B có 1 cái sân nhỏ .

Lúc này đã chiều tà , cộng thêm cảnh đồi núi hiu quạnh , gần như tất cả tập trung ra cái sân nhỏ ấy , thằng nào thằng nấy mặt cũng thừ ra .

Chắc lúc ấy ai cũng vậy ; nhớ nhà ...

Đúng lúc ấy thằng Nam " đồng cô " hát 1 bài hát gì đấy theo giai điệu của 1 bài nhạc vàng mà tôi không biết tên " Từ Lạng Sơn , biên thư về thăm xóm làng , sắt son gửi qua mấy đèo , thương mẹ già sớm tối cô đơn ..."

Lời bài hát hợp cảnh + thêm giai điệu rất buồn và qua giọng hát của thằng Nam " đồng cô " ( thằng này bây giờ là diễn viên cải lương ) .

Tất cả những cái đó cộng lại ...

Thế là đã có những thằng không chịu nổi và bật khóc !

Chắc lúc này không ai có thể ngờ được rằng ; trong số những thằng đang khóc kia chỉ mấy tiếng trước đã gây ra những việc tày đình và thất đức như thế .

Thế là tôi đã chính thức trở thành anh binh nhì A2 B1 C3 D8 huấn luyện của F337 .

B1 ở chung 1 nhà , có 2 tiểu đội ;A1 và A2 .

A1 do anh Dự A trưởng , A2 của tôi do Hùng " sớm nắng chiều mưa " quê Thuận Thành , Hà Bắc làm A trưởng .

Cái tên này là sau này bọn tôi đặt .

Đêm hôm đó , do mệt nên ai ngủ cũng ngon .

Đang ngon giấc thì kẻng báo thức , trời vẫn còn tối um um .

Nhiều thằng vẫn quen thói ở nhà , chưa chịu dậy ngay , thế là 1 phát ...

Cả chăn , cả người xuống đất .

Thằng Hùng "sớm nắng chiều mưa " chửi bới loạn cả lên .

Tôi gọi là thằng vì thằng này rất mất dạy , không làm ai phục cả .

Cả C xuống sân tập thể dục .

Khoái nhất là đoạn cuối , thằng sau đấm lưng cho thằng trước và ngược lại .

Hôm đó ăn sáng như thế nào thì không nhớ nữa .

Lúc lên nhà , thấy thằng Nam "đồng cô " đi đái , cả bọn đổ xô vào xem ... làm thằng này không dám đái nữa , sau mót quá không chịu được , nó mặc kệ ...

Có 2 thằng vào xem xong cả hội đổ xô ra hỏi ...

Thì ra cũng chả có gì khác , chỉ có 1 điều khác là ... thằng ấy bé lắm thế mà "Xấu dây tốt củ "

Nhiệm vụ đầu tiên trong quân ngũ là cắt gianh , mỗi người 1 gánh .

Ở tiểu đội , ngoài Cường bạn chơi với tôi từ ở nhà thì tôi chơi với anh Khang 27 tuổi nhà ở Vân Hồ 3 và mấy thằng đàn em ông ấy là Long , Mạn , Tuấn , Cường "cụt " .

Cũng vì hội này lúc ở Yên Viên định trấn hết thịt hộp và bánh mì của anh em nên suýt đánh nhau , sau đấy thì chơi với nhau .

Thằng Mạn bảo nhìn thấy sau nhà đầy gianh , anh Khang bảo đấy không phải gianh mà là cỏ xước ( loại này cao gần bằng đầu người , lá sắc như dao cạo ) .

Tôi nghĩ ra bảo ;

- Anh em mình đi chơi , lúc về cứ cắt cỏ ấy , nếu hỏi thì bảo không biết , tưởng đấy là cỏ gianh.

Thấy có lý nên cả hội đồng tình .

Sau đó thì bọn tôi đi chơi , cả thằng Hưng " Hán " bạn tôi ở B2 cũng nhập bọn ,

Cả bọn leo qua đồi ra đường cái , ở đấy có 1 quán nước mà lúc vào đơn vị bọn tôi nhìn thấy .

Chủ quán là 1 ông già , bọn tôi gọi là Giàng A Páo ( ngày trước cứ nghĩ người dân tộc thì phải tên đại loại như thế ) cho dù ông ấy nói thế nào bọn tôi vẫn gọi như thế , sau dần cũng quen , ông ấy cũng chấp nhận cái tên ấy .

Gần trưa thì cả bọn kéo về .

Giờ ăn trưa ; Cả C xếp thành mấy hàng trước nhà ăn , sau đó trực ban cứ cắt 6 thằng 1 vào nhận cơm và ngồi thành 1 mâm .

Bữa cơm đầu tiên trong quân ngũ của tôi chỉ có cơm và 1 xoong nước màu nâu nâu ( nước muối với gạo rang ) , thứ nước này mà bác Lê Đức Thọ gọi trong bài thơ Điểm Tựa là " nước chấm đại dương " .

Bát thì được phát từ lúc nhận quân trang , đũa thì không có , thế là đua nhau bẻ cành cây , hàng rào làm đũa ...

Và lại đánh nhau vì tranh ăn , nhiều thằng chưa quen lối sống tập thể , va chạm xã hội quá ít , có lẽ ở nhà được nuông chiều như " ông tướng " nên ăn uống không nhìn ai cả , thế là cả xoong nước giội từ đầu xuông , cả cái bát vào mặt ...

Thôi thì đủ kiểu .

Thế là ...

Tất cả ra sân đứng , không thằng nào được ăn nữa ..

Phải 2, 3 ngày sau mới hết chuyện đánh nhau trong giờ ăn .

Chiều hôm ấy , bọn tôi mang nộp mỗi thằng 2 bó cỏ xước , trực ban và mấy thằng nhà bếp chửi ầm lên nhưng không làm gì được cả .

Bọn nó dẫn chúng tôi ra đống cỏ gianh và chỉ ...

Ông Khang buột miệng ; " lạ đ... gì mà phải chỉ " mấy thằng bếp nghe thấy càng điên mà không làm gì được .

Tối đến tất cả xuống hội trường ( nhà ăn ) học chính trị .

Phải nói không biết bao nhiêu buổi học chính trị đã tham gia nhưng chả nhớ được gì hết , ngoài câu , " TQ là kẻ thù trực tiếp , Mỹ là kẻ thù lâu dài " .

Vì đợt này toàn thành phần bất hảo nên bắt đầu sinh ra hiện tượng đầu gấu (Đại bàng ) như trong tù .

Tôi nhớ có lần xuống B3 chơi , thấy ông Khải "đầu to " nằm trên sạp , xung quanh gần chục cái chăn bông ( quân trang dùng chung của cả B ) , mấy thằng khác thì chạy quanh phục dịch , chả khác gì trong tù .

Tôi quen 2 thằng là Thắng "Sự " và Thanh "gà " ở B này .

đúng lúc xuống chơi ông Khải đang bắt cả B tập trung quần áo lót lại mang đi bán ...

Tôi biết ông này nên nhờ vậy mà sau đó 2 thằng cũng được 1 cái chăn bông để đắp và không phải nộp cái gì để bán cả .

Ở B tôi thằng Bình ở Bùi Thị Xuân với mấy thằng nữa và thằng Quang "Túc " ở chợ giời ( thằng này rất giỏi võ ) cũng có ý định làm đầu gấu , có lẽ bọn nó bỏ ý định sau cái lần nó sai thằng Minh "bao xe "ở Nguyễn Công Trứ sang lấy cai điếu cày của bọn tôi , bị tôi cho cả 1 chiếc giày vào mặt và anh Khang tuyên bố ;Bố mày không thích thì thôi , bố đố thằng nào dám đấy .

Đêm nào thằng Hùng "sớm nắng ..." cũng hành anh em , đêm nào nó cũng báo động , A2 của anh Dự thì rất dễ sống , chả báo động bao giờ .

Đến nỗi anh Chỉ B trưởng còn phải bảo nó ;

- Mày hành chúng nó vừa vừa thôi...

Nó trả lời :" Mấy thằng HN này phải hành thế nó mới biết sợ ...

" Đoạn nói chuyện này do thằng Nam " đồng cô " kể lại ( thằng này được chọn làm liên lạc trung đội ).

Từ hồi còn ở nhà , đã nghe mấy thằng bạn nói ," Thời huấn luyện , thằng nào không đảo ngũ thì thiệt "

Vì vậy tôi đã nung nấu ý định đảo ngũ ngay từ khi bước chân vào đơn vị .

Vậy là cả bọn bàn nhau đảo ngũ , suy đi tính lại thấy chỉ sau giờ cơm chiều là chuẩn nhất .

Hôm đó là ngày 15/9/83 , tức là 5 ngày sau khi nhập ngũ .Trước khi đi bọn tôi có nói cho mấy ông ở dệt mùng 8/3 biết để gửi thư . mấy ông này quí bọn tôi lắm vì bọn tôi thấy các ông ấy hiền lành nên hay bênh ( mấy ông này toàn lớn tuổi ).

Thế là còn bao nhiêu tiền các ông ấy giúi cho bọn tôi hết , các ông ấy còn dặn dò đủ điều , cứ như sắp ra trận không bằng , tuy vậy cũng rất cảm động ...

Cơm chiều xong , cả bọn bắt đầu xuất phát .

Tất cả có 9 thằng ; A Khang " khướt " , Cường "cụt " ,Long "tréc " , Cồ Việt Mạn , Thắng "sự " , Thanh "gà " , Hưng " hán " , Cường " bò " và tôi ( nhắc tất cả tên để biết đâu có thằng nào đọc được lại tham gia vào đây cho vui ) .

Nếu đi đường cái sẽ chỉ mất 5 km là tới ga nhưng khó thoát được vệ binh ( 3 trạm ) vì chúng tôi mang theo cả ba lô .

Vì vậy cả bọn quyết định đi theo đường tàu .

Bọn tôi nghĩ đơn giản là ngày xưa tàu liên vận chạy sang TQ , nên nếu đi ngược lại thế nào cũng ra được ga Lạng Sơn .

Nhận định này là đúng , chỉ tội là không lường trước được là quãng đường lại dài gần gấp 3 lần ( 10 đến 15 km ) và rất nguy hiểm .

Để đánh lừa mọi người , cả bọn đi theo 1 hàng dọc , anh Khang ( 27 tuổi ) đi bên ngoài như chỉ huy .

Trời bắt đầu tối , cả bọn cứ lầm lũi đi .

Thỉnh thoảng dọc đường cũng gặp lính mình đi chơi , ai cũng tưởng bọn tôi bị tập báo động .

Càng đi càng hun hút ....

2 bên đường toàn rừng , chả thấy bản làng nào cả , có thằng đã bắt đầu sợ .

Có thằng còn bảo " hay là đi ngược hướng , sang TQ thì bỏ mẹ ..."

Cũng có ý kiến này nọ nhưng cuối cùng cả bọn vẫn đi tiếp ...

Đang mệt !

Thì ...

đoàng ..đoàng ...

2 phát súng chỉ thiên .

Sau đó thì gần chục người có súng , từ tứ phía tiến đến vây lấy chúng tôi .

Thì ra là dân quân , sau khi biết là bộ đội , họ bảo đã theo chúng tôi khá lâu , họ còn bảo may mà chưa bắn ...

Anh Khang bảo bọn tôi tập " báo động di chuyển " .

Qua những người dân quân này , cả bọn biết được chỉ còn độ 2 km nữa là tới ga Lạng Sơn .

Cả bọn tới ga thì đã là buổi đêm ,sân ga vắng tanh .

Quá mệt , cả bọn vứt ba lô xuống nằm ngả ngốn .

Vừa đặt lưng xuống thì 1 ánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt kèm theo 1 câu hỏi khá gắt của ông nhân viên nhà ga ;

- Các anh đi đâu mà đêm hôm thế này ?

Anh Khang trả lời theo kịch bản cũ " báo động di chuyển " , ông ta lại hỏi ;

- Các anh ở đơn vị nào ?

Đang mệt lại bị hỏi nhiều , cộng với ánh đèn pin cứ soi thẳng vào mặt , tôi bực quá quát lại ;

- Đơn vị bộ đội chứ còn đơn vị nào nữa , hỏi đ.... gì mà hỏi lắm thế ...

Vừa nghe xong , ông ta xẵng giọng ;

- Các anh tưởng các anh là bộ đội thì không ai làm gì được các anh hả ....

để tôi đi gọi kiểm soát quân sự .... ( sau này mới biết ông này cảnh giác vì sợ thám báo TQ đóng giả bộ đội )

Nói xong ông ta quay ngoắt vào nhà ga !

Thế là chẳng thằng nào bảo thằng nào cả , tất cả ...

Chạy .

Được 1 quãng khá xa , cả bọn chui vào 1 cái vườn ngồi thở .

Vừa đặt đít xuống thì mấy con chó liền lao ra sủa ầm ỹ , lại chạy ...

Đến lúc cả bọn đã hoàn hồn lại thì phát hiện thiếu thằng Cường "cụt " .

Tàu từ Lạng Sơn về HN ngày chỉ có 1 chuyến , xuất phát lúc 8, 9 giờ sáng .

Vì thằng Mạn và thằng Long còn quần áo dân sự nên cử 2 thằng này ngồi ở sân ga trông ba lô ( ba lô được phủ bằng ny lông ) , số còn lại chờ tàu xuất phát thì mới từ chỗ nấp chạy ra tàu .

Vẫn không thấy thằng Cường " cụt " đâu , thì ra lúc buổi đêm lúc cả bọn chạy ,nó mệt quá nên không chạy được , tìm 1 toa tàu trống nấp vào đấy .

Sáng ra thấy nhiều vệ binh quá nên trở về đơn vị .

Từ chỗ nấp bọn tôi nhìn thấy vệ binh bắt thằng Mạn và thằng Long , thế là xác định về không có quân tư trang .

Đúng lúc tàu rú còi chuẩn bị xuất phát thì thấy 2 thằng tay xách nách mang đi ra sân ga . mấy thằng lúc ấy bất chấp vệ binh nhảy xuống tàu mang giúp chúng nó .

Thì ra 2 thằng bị vệ binh thu hết tiền ( hơn 2 trăm đồng ) rồi thả và bảo về đơn vị lấy xác nhận của thủ trưởng mang ra thì sẽ trả ( thực ra đây là 1 hình thức trấn lột ) .

Tàu chuyển bánh ...

Ôi Hà Nội , mới có mấy ngày mà nhớ Hà Nội biết bao ....

Lên đến tàu rồi chúng tôi lại để thằng Long và thằng Mạn ngồi trông ba lô , còn chúng tôi chia nhỏ nhau ra để đễ trốn .

Đến ga Bắc Thủy ( sau Lạng Sơn 2 ga ) thấy mấy tốp vệ binh lên tàu , tôi và anh Khang vội xuống tàu và trèo lên 1 toa tàu chở đá nấp ở đó .

Ai ngờ bị phát hiện , 2 anh em vội trèo lên nóc tàu , cuối cùng vẫn bị bắt .

Trong túi anh Khang còn 1 trăm , anh ấy đưa cho 2 thằng VB , cầm tiền xong nó còn khám người ...

Nhưng cúa đáng tội cả 2 anh em đã hết sạch tiền .

Trước lúc thả chúng tôi 1 thằng còn hỏi bọn tôi quê ở đâu ...

Sau đó nó nói ; " tôi cũng ở HN , tôi ở Trương Định " nghe nó nói xong điên hết cả người , đồng hương mà thế đấy .

Cũng may chỉ tôi và anh Khang bị bắt mấy thằng kia trốn được hết .

Qua Đồng Mỏ , thấy an toàn , cả bọn tụ tập lại 1 chỗ , thằng Long Và Mạn cũng thay quần áo bộ đội mặc cho nó oai ...

1 bà buôn hoa quả hỏi bọn tôi ;

- Mấy thằng lính mới !

Có quần áo gì bán không ? bác mua về cho mấy thằng con trai bác mặc ."

Anh Khang nói đùa ;

- Có mỗi quần đùi , mẹ có mua thì bọn con bán ngay !

Vậy là có mấy cái quần đùi mới , bà ấy mua hết .

Thấy bà ấy chê ít , anh Khang đùa ;

- Còn mỗi quần mặc rồi , mẹ có mua không ?

Tưởng nói đùa ai dè bà kia đồng ý mua thật .

Vì lúc nghỉ ở Đồng Mỏ , có bao nhiêu tiền đã ăn uống hết nên cả bọn đồng ý bán ngay .

Sau đó cả bọn thay nhau đi thay quần .

Không nhớ bán được bao nhiêu , nhưng nhớ nhất là sau đó hình như có rất nhiều ánh mắt nhìn vào ...

Vì chuyện mua bán xảy ra trong toa tàu , trước mặt bao nhiêu người .

- Tàu về đến ga Gia Lâm ( ngày trước tàu LS chỉ chạy và xuất phát từ Gia Lâm ) .

Cả bọn đi bộ ra cầu Long Biên ( chưa có cầu Chương Dương ) bám xe qua cầu .

Mặc dù mới xa HN 6 ngày mà cái cảm giác lúc đứng ở bên kia cầu nhìn về HN ( lúc này đã xẩm tối , HN đã lên đèn ) , nó thực là khó tả ...

Lâng lâng , bồn chồn , rạo rực ....

Cái cảm giác này lần nào ở đơn vị về cũng không thay đổi ...Đến phố Hàng Mã , cả bọn rủ nhau vào xem .

Lúc này sắp đến rằm trung thu , cả phố chật ních người , chỉ có 6 ngày xa HN mà sao thấy HN đẹp thế , con gái ai cũng mặc đẹp , ai cũng xinh , mọi người ai cũng tươi tắn , vui vẻ và hình như ai cũng quý mình , cười với mình ...

Tôi nói thật đấy !

Không phải lãng mạn đâu .

Sau này xa Việt Nam , mỗi lần về cái cảm giác này

đều lặp lại trong tôi .

....

Bán 8 cái mũ được 4 trăm đồng , cả bọn kéo nhau vào phở Nhất ở Bùi Thị Xuân ( quán này hồi đó rất nổi tiếng ) ăn nhậu .

Bà chủ quán thấy toàn bộ đội vào nên hỏi chuyện ...

Thế là ...

Bọn con ở trên chốt về ...

Nào là TQ bắn pháo hàng ngày ....

Nói chung là toàn nói phét .

Không biết bà chủ quán có tin không mà cứ suýt xoa thương mấy thằng bộ đội biên giới khổ quá và cuối cùng thì nhất định không lấy tiền .

Ăn uống xong cả bọn kéo nhau sang hàng nước bên cạnh , bà hàng nước cũng không lấy tiền ...

Vì tiền bạc còn xông xênh nên cả bọn thuê 3 cái xích lô để về mặc dù nhà không xa mấy ( thằng xa nhất là Lê Văn Hưu ) .

Trước khi về cả bọn quy định với nhau báo cáo với phụ huynh là đi khai thác gỗ làm doanh trại , anh A trưởng ( anh Khang ) cho về tranh thủ 15 ngày .

Hôm sau tôi , Cường và Hưng đến nhà mấy cô bạn gái chơi ở Trần xuân Soạn .

Bọn tôi đến đây đầu tiên vì để cảm ơn 1 cô bạn trong số đó .

Đấy là H , bọn tôi chơi với cả 2 chị em H .

Hôm tiễn 3 thằng bọn tôi , H tặng mỗi thằng 1 gói quà gồm khăn mặt , khăn mùi xoa ( cái nào cũng thêu tên từng thằng ) , bút ,phong bì ...

Lúc ở chỗ tập trung , sau khi nhận quân trang , bọn tôi vào nhà dân tắm nhờ ở giêng , H kỳ lưng cho từng thằng .

1 ngày sau khi lên đơn vị , thằng Cường lấy phong bì viết thư thì thấy có 1 trăm đồng ở trong , thế là tôi và Hưng cũng xem gói quà của mình , thì ra ngoài quà , H tặng mỗi thằng 1 trăm .

Phải nói người bạn này thực là tỉ mỉ và chu đáo ....

Nhắc tới cô bạn H này là vì mỗi khi có ai trong chúng tôi ( bọn tôi khoảng 2 chục thằng chơi rất thân với nhau ) nhập ngũ hoặc ở đơn vị về chơi đều được H đối xử , tiếp đãi rất chu đáo và tỉ mỉ và dĩ nhiên là ưu tiên hơn so với những người ở nhà .

Nói vậy để mong rằng nếu tất cả các cô gái đều tốt với lính như vậy thì hạnh phúc biết bao cho những người lính ...

Sau này H lấy chồng là sỹ quan QĐ , 1 người lính rất bình thường, bình thường như bao người lính khác ...

Vậy mà cứ tưởng ...

Cả bọn tôi thằng nào cũng tiếc ...

Sau đó thì đưa thư đến các gia đình anh em cùng đơn vị ...

Còn nhớ hôm đưa thư tới nhà A Bình ( dệt 8/3 ) , sau khi đọc thư xong vợ và mẹ A ấy cứ khóc lóc .

Thấy vậy bọn tôi bảo ; " bác và chị không phải lo , ở đơn vị chỉ tập luyện vất vả thôi , còn thì ăn no ngủ kỹ ...

Mẹ A ấy vừa khóc vừa nói ; Chắc thằng Bình dặn các cháu giấu gia đình chứ bác biết ...

Bên hàng xóm có 1 thằng nhập ngũ cùng anh Bình vừa về hôm trước kể ; ngày nào pháo TQ cũng bắn sang , ngày nào cũng có bộ đội chết vì pháo .

Nó còn kể ; Đơn vị đóng ở cách TQ có mấy trăm mét , nó còn nhìn thấy cả lính TQ ...

" .

Vợ anh Bình kể thêm là cái thằng hàng xóm ấy bắn đạn thật được 30 điểm nên được thưởng phép .

Nghe xong bọn tôi phải giải thích , phân tích từng tý ...

Cuối cùng gia đình A ấy mới tin là cái thằng hàng xóm " trời đánh " ấy ba hoa .

Đã tưởng cái chuyện " đi khai thác được A trưởng cho về tranh thủ ...

" đã trôi ...

Ai dè bố thằng Cường "bò " muốn đãi cơm " thủ trưởng " của con trai trước lúc quay trở lại đơn vị nên nhất định bắt thằng Cường phải mời " thủ trưởng " đến nhà ăn cơm .

Thế là A Khang " A trưởng " ,tôi , Hưng đến nhà Cường ăn cơm .

Trong bữa cơm , anh Khang được tiếp đồ ăn liên tục ...

Cả nhà thằng Cường ai cũng ....

" Mong anh chiếu cố cho em nó .....

"

Tới cuối bữa , tự nhiên thấy bố thằng Cường hỏi anh Khang rất nhiều ....

Sau đó thì ;

- Thằng mất dạy !

Cút ngay ra khỏi nhà tao , tao đã nghi ngay từ đầu rồi ....

Thì ra trong lúc đang ăn cơm , bạn gái của A thằng Cường đến chơi , chị này lại ở ngay gần nhà A Khang , thế là kể hết cho A thằng Cường ...

Anh biết thì dĩ nhiên là bố biết ....

Và ...

Chỉ khổ cho thằng Cường , cái ba lô được ném ra sân cùng 1 mệnh lệnh " lên đơn vị ngay !

" Cho dù cả nhà can thế nào cũng không được ...

Thằng Cường phải ôm ba lô đến nhà bạn ngủ nhờ chờ bọn tôi hôm sau cùng đi .

Tưởng thế là xong , ai dè cụ "khốt " ngay tối hôm đó sang cho nhà tôi biết ...

Vậy là cả tối hôm ấy bị đì ...

Hôm sau tôi , Hưng và Cường được đám bạn đưa sang Gia Lâm để đi tàu lên đơn vị ....

Cho tới lúc tàu xuất phát vẫn không thấy thằng Thanh "gà " và thằng Thắng " sự " đâu .

Vậy là sau đúng 15 ngày bọn tôi lại lên tàu lên đơn vị , chỉ khác là về 9 thằng mà đi chỉ 7 thằng ( lên đơn vị mới biết 2 thằng kia bị CA hộ tịch đì kinh quá cộng với sự nghi ngờ của gia đình nên đã lên đơn vị trước ) .

Hôm đó H cũng đi tiễn , vẫn tỉ mỉ chu đáo như lần trước ...

15 ngày ở nhà , tôi có đi xem phim riêng với H 1 lần ( không phải hẹn trước mà tình cờ anh trai H lỡ hẹn với người yêu nên cho vé và cũng tình cờ tôi đến chơi nên H rủ đi xem ) .

Lúc lên tới đơn vị tôi cũng định 1 lần " liều mình như chẳng có ...

" viết thư... cho H , viết xong rồi lại sợ ...

Xé đi .

...

Cả bọn lên 1 toa chở hàng ( toa không ) .

Toa này chỉ có 2 cửa 2 bên nên cả bọn ngồi trấn hết 2 bên cửa , ai định lên bọn tôi bảo " toa quân sự " ,tàu đêm , lại thấy toàn lính ngồi 2 bên, cộng với dạo ấy tàu Lạng Sơn rất hay có những toa tàu quân sự nên ai cũng tin .

Đến Bắc Giang có 1 nhân viên đường sắt phát hiện ra là chỉ có vài thằng lính ở trên toa nên định can thiệp để mấy nhóm buôn rượu lên toa nhưng bọn tôi không đồng ý .

Tay nhân viên này bực lắm mà không làm gì được nên đến Đồng Mỏ đã vào gọi vệ binh .

May mà bọn tôi phát hiện ra sớm nên chạy được hết .

....

Trưa hôm sau , cả bọn đi đường sau đồi vào tới đơn vị .

Một lúc sau thì tiểu đội tôi đi tập về , vừa nhìn thấy bọn tôi thằng Hùng " sớm nắng chiều mưa " đã đuổi xơi xơi ...

Cả bọn cứ lỳ ra đấy ...

Thằng Hùng bỏ xuống đại đội , 1 lúc sau ông Sợi C trưởng cùng mấy thằng bếp súng ống chỉnh tề lên đuổi hết cả bọn ra ngoài đơn vị ..

Cho dù bọn tôi xin thế nào , ông Sợi C trưởng nhất quyết đuổi ra khỏi đơn vị .

Thế là cả bọn kéo nhau ra quán ông " Giàng A Páo " ngồi .

Xẩm tối , cả bọn lại kéo nhau vào đơn vị , thằng nào về B thằng ấy .

Rồi cũng bị đuổi ra khỏi B .

Cả bọn bàn nhau ra sau nhà đại đội , dải ni lông , ngủ lỳ ở đấy .

Lại bị đuổi , nhưng lần này bọn tôi cứ lỳ ra , không chịu đi .

Cuối cùng thì ông Sợi bỏ vào nhà , vừa đi vừa lẩm bẩm điều gì đó ...

Ông Sợi chưa đi khuất bóng , thằng Hưng làm ngay 1 câu cải lương :

" Thôi thôi !

ông hãy im đi ! tôi chẳng muốn nghe những lời lẽ vu khống ngông cuồng ..."

Thế là !

Ngay lập tức :

_ Các đồng chí !

Dùng súng áp giải mấy thằng đảo ngũ này ra khỏi đơn vị cho tôi !

Cả đêm hôm ấy thằng Hưng bị chửi .

Thằng này ca cải lương rất hay nhưng thực là không đúng lúc , đúng chỗ .

May mà ông " Giàng A Páo " cho ngủ nhờ ở trong quán đêm ấy.

Hôm sau , cả bọn lại kéo nhau vào đơn vị .

Ông Sợi cho thằng liên lạc ra truyền đạt với chúng tôi : " tất cả phải về mời phụ huynh lên gặp đại đội " .

Lỳ thêm mấy hôm nữa , cuối cùng chả hiểu tại sao , ông Sợi nhận hết mấy thằng , riêng tôi , Cường và Mạn nhất định không nhận .

Bọn tôi đành quyết định về .

Ra tới đường cái thì thằng Mạn quyết định ở lại , không về nữa , thế hóa may cho nó , ngay hôm ấy nó được nhận .

Về tới HN , tôi không về nhà vì không muốn người nhà biết chuyện .

Ngay hôm sau bọn tôi lại trở lên đơn vị , chuyến đi này có cả bố thằng Cường .

Cũng nhờ bố thằng Cường xin hộ , cuối cùng ông Sợi nhận cả tôi .

Về tới A , thằng Hùng " sớm nắng , chiều mưa " nhìn bọn tôi hậm hực .

Bố thằng Cường mời thuốc , nó không thèm hút .

Đêm hôm ấy , nó báo động chiến đấu .

Thấy bố thằng Cường vẫn nằm , nó thừa biết là ai , nhưng vẫn cố tình giật chân ông già và chửi rất bậy với ông già .

Sau đó thì xin lỗi vì ... nhầm .

...

Và thế là cuộc sống quân ngũ đối với tôi mới thực sự bắt đầu .

Không biết trước đó đã huấn luyện những gì , chỉ biết rằng từ hôm trở lại đơn vị , suốt ngày toàn tập đội ngũ .Trời nắng tháng 10 , nhiệt độ trong bóng dâm 37,38 độ , không biết dưới ánh nắng mặt trời là bao nhiêu , chỉ biết rằng mặc càng nhiều càng tốt , che càng kín càng tốt .

Cái môn đội ngũ này thực sự là oải .

Đã thế , mấy thằng " quân khu thủ đô " tập riêng , " quân khu thủ đô " là do ông Sợi đặt cho mấy thằng đảo ngũ .

Thế là " một hầy , một hầy , một hây ..."

đi đều bước . tới chân đồi thì thay vì tập ở sân , tất cả " nhìn bên phải ...chào " tiến lên đồi ... ( cách đi duyệt binh ) .

Hôm nào trời mưa xong , ở bãi tập hình thành rất nhiều vũng nước .

Hôm đó thì cứ nhằm hướng vũng nước mà tiến .

Đến sát vũng nước là " nhìn bên phải ...chào " , thế là bẹp... bẹp... bẹp...

Bùn đất từ đầu đến chân , mặt mũi thằng nào cũng như ..

đặc công .

Thỉnh thoảng cũng tập nằm xạ kích .

Môn này là thích nhất vì thằng Hùng toàn ra gốc cây ngồi .

Cả A chỉ có 6 khẩu súng nên phải thay nhau tập .

Cái mũ sụp xuống là ngủ ( hồi ấy sao dễ ngủ thế ) . cứ bọn ngồi chờ canh cho bọn tập ngủ , thay phiên nhau .

Đêm gác thì đã có thằng Ngọc " đạo " .

Thằng này toàn nhận ca cuối , thế là tàu hỏa dồn toa .

Đêm nào nó cũng phải gác vài tiếng .

Nó thích thế , vì như vậy nó có nhiều thời gian để đọc kinh ( thằng này theo đạo thiên chúa ) mà không bị ai quấy rầy .

Chỉ khổ nhất buổi đêm , thằng Hùng như có thù với lính hay sao ấy Huh Đêm nào nó cũng báo động .

Nó bầy ra đủ trò .

Lính không bỏ gác , thế mà nó giấu cái lò xo súng và bắt đi tìm .

Thôi thì đủ kiểu .

Có lần đang đêm nó báo động , trên đường lên đỉnh đồi , thằng Mạn khe khẽ hát : " đoàn quân lặng im đi về biên giới ...

" , thằng Long thì lên qui lát .

Thế là lên tới đỉnh đồi nó bắt cứ thằng Long lên qui lát 1 lần thì thằng Mạn hát 1 câu " đoàn quân lặng im .." , cứ như là thằng đệm đàn ,thằng hát .

Bao giờ đủ 1 nghìn lần thì thôi .

Chỉ lên qui lát thôi mà thằng Long mồ hôi mồ kê đầm đìa .

Đêm ở LS rất lạnh nên đứng lâu vừa lạnh vừa mỏi , tôi buột miệng : " lạnh bỏ m ... mà hành con nhà người ta " .

Thế là nó nghe được , nó hỏi :

- đồng chí vừa nói gì ?

Đang tức thế là tôi nói thẳng :

- Tôi chưa thấy ở đâu báo động chiến đấu để nghe hát cả .

Nghe tôi nói xong , thế là nó được dịp ra lệnh :

- Các đ/c đào cho tôi 1 cái hố dài 5m , sâu 5m và rộng 5m !

Sau đó thì ai bổ cuốc thật sự thì nó cho về .

Còn lại tôi và mấy thằng bạn chỉ cầm cuốc chứ không đào . lần này tức quá nên cố tình nói để nó nghe được , Tôi lại lẩm bẩm :

- Đào hố to thế để chôn bố nó à !

Thế là nó sừng sộ tiến đến :

-Mày nói gì ?

Thấy mình tay cầm cái cuốc nên nó cũng chờn nên không dám làm gì .

Nó nói :

-Ai đào thì được về ngủ .

Mấy thằng kia buồn ngủ quá nên lúc ấy ngủ to hơn ...Bạn .

Thế là đào , chỉ chờ có thế , nó cho mấy thằng đó về ngủ .

Còn lại tôi với anh Khang , thằng Hùng bảo :

- Đào xong thì về ngủ !

Nói xong nó quay xuống , tôi với anh Khang cũng đi theo .

Bắt bọn tôi ở lại không được , nó cũng ở lại cùng .

Tôi nói với A Khang , cố tình để nó nghe được :

- Để xem thằng nào thức giỏi hơn thằng nào .

Nó biết không làm gì được nên một lúc sau đành phải :

- Thôi được !

Mai tôi sẽ nói chuyện .

- Em thì thuộc loại sinh sau đẻ muộn, chỉ đi lính thời bình 99-01 nhưng cũng có rất nhiều chuyện vui buồn trong quân đội cũng đáng nhớ và đáng suy ngẫm, chí ít là cho bản thân mình.

Em xin mạn phép được viết ra nhé.

Chuyện buồn thứ 1: Ngày ấy em là lính D T.tin 23 QK7, 2 tháng quân trường đóng ở Quang Trung, Q12. ngày ấy em là dân ăn chơi nghe nhạc rock để tóc dài tới vai, nay lại bị cầm chân 2 tháng, bực bội ngứa ngáy khó chịu vô cùng, đến ngày thứ 3 thì em chịu hết nổi, mò vào phòng B trưởng dụ khị: anh dẫn em đi ra ngoài tí, khuya nay em mời anh đi ăn uống tí chút nhé, nếu có vụ "gác tay gác chân" thì tốt quá, em sẽ lo tất.

B trưởng nhìn e cười, bảo: ừh, cứ ngủ đi, khuya nay sẽ có người tới lay dậy, em mừng húm, thế là đêm nay được sướng thỏa thuê rồi nhé.

Đêm đó, 11h có 1 thằng lính cũ tới lay em dậy bảo đi theo nó, em lật đật đi theo, ra đến cổng em gặp ông B trưởng, em vừa vui vẻ bước tới, lão bất ngờ thoi em 1 đấm vào bụng, đau điếng, thở không nổi em khụy xuống, lão tát thêm 1 cái nữa rồi bảo: Mày mới nhập ngũ mà đã tính lung tung àh?

Xong lão lại đá em thêm một cái nữa rồi nói: mày chừa nhé, quân đội không phải là chỗ mày muốn làm gì thì làm.

Nói xong lão bỏ đi, thằng lính cũ lại dẫn em về phòng.

Đó là bài học đầu tiên trong quân đội của em đó.

Grin

Chuyện vui thứ 1: Chắc có lẽ nhờ văn hay chữ tốt nên bài thi chính trị cuối khoá em được 9 điểm rưỡi là 1 trong 2 bài thi cao điểm nhất trong D lúc đó, (không có bài điểm 10), cộng thêm bắn AKA 3 viên được 28 điểm nên em được thưởng về phép 2 ngày, thật không thể tả nỗi niềm vui của em lúc đó, thế nhưng về thăm cha mẹ gia đình thì chỉ có nhõn nửa ngày, nửa ngày thì cho bạn bè thân thiết, còn lại 1 ngày thì em trút bầu tâm sự cho cô bạn gái.

Sau 2 tháng quân trường em được theo D điều về BTL QK7, đúng là ngay mặt trời có khác, chúng em hãnh diện lắm, sướng nhé: nơi ăn chốn ở khang trang, khang trang thôi chứ ăn uống thì cũng theo chế độ khẩu phần thôi, thể thao thì đủ cả: bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn, cầu lông.

đường nội bộ trong BTL QK thì khỏi nói, đẹp như nước ngoài vậy: rộng rãi, láng o, cây xanh rợp bóng, các khối nhà văn phòng, phòng ban trực thuộc bộ đều gần như không có hàng rào sắt mà là những hàng cây đều tăm tắp, nhưng khoái nhất là được tham gia chào cờ quân khu, được tận mắt thấy các bác lãnh đạo lúc bấy giờ: TL QK Ba Kiên -Ông Phan Trung Kiên, PTL Năm Bé-Nguyễn Văn Bé, Thiếu tướng Lê Thành Tâm-BTL Thành...

Sướng thì chỉ được ít phút nhưng để được ít phút đó thì chúng em lại thật khổ, cứ gần tới ngày chào cờ quân khu thì từ C trưởng cho tới thằng binh nhì như em cứ phải tập 1,2 ráo riết mệt cả người.

Em thì ghiền chơi cầu lông, nên chiều chiều hay đi lang thang qua cục Quân huấn, cục Kỹ thuật, phòng Cơ yếu kiếm người chơi, lâu lâu lại bị các bác bên ấy mắng lính tráng gì mà giờ này cầm vợt đi lang thang, Grin, nhưng các bác ý cũng chỉ mắng thế thôi chứ không méc Grin

Cuộc đời đi lính của em cũng có nhiều chuyện bất ngờ không thể ngờ tới, giống như chuyện em bị B trưởng đánh hồi còn 2 tháng quân trường mà e đã kể vậy.

Là vầy, cũng nhờ có giọng hót kha khá nên em được giải nhất đơn ca tiểu đoàn (ko biết nhờ hót hay hay là nhờ hay hót), nghĩ cũng buồn cười, văn nghệ quân đội mà, ban giám khảo có ai đâu, cũng là các ông C trưởng, D trưởng thôi, hát thì chỉ toàn bài ca ngợi quân đội, thế mà tinh thần thi đua hót và cổ vũ cũng hăng lắm.

Thi hót lên cấp trung đoàn thì em rớt Cheesy, nhưng bù lại được giữ trong ban nhạc của trung đoàn, nhờ thế mà lâu lâu khỏi phải trực ca thông tin, gác đêm, chỉ việc tập hót, lại được ăn ngon và lâu lâu thì tranh thủ lén dù dọt về nhà thăm ông bô bà bô.

Năm 2000, BQP hội thi văn nghệ toàn quân, các trung sư đoàn, phòng ban ở các QK ráo riết luyện tập thi thố để dành 1 suất đi HN, E23 của 3 nhờ tập kỹ và có bài bản vì có "thầy chuyên nghiệp" dạy nên qua vài vòng đấu cuối cùng cũng thắng E Gia Định được vinh dự đại diện QK7 ra HN thi, lúc đó em nghĩ ko biết mình có nằm mơ hay ko, 1 thằng lính quèn như em mà cũng được đại diện QK để ra HN, cũng nhờ chuyến đi này mà em được gặp một giám khảo nổi tiếng cả trong quân đội và trong làng nhạc nước nhà, đó là Ông An Thuyên, lâu quá em cũng ko nhớ cấp bậc ông là gì, hình như là đại tá thì phải.

Kể tiếp chuyện đi thi ở HN, điều đầu tiên là rớt Grin. cả đoàn buồn lắm, nhưng cũng an ủi vì mỗi thành viên của các đoàn bị rớt đều được tặng 1 bằng khen rõ to, đóng khung mạ vàng đàng hoàng nhé: họ tên chức vụ đơn vị...đạt giải A...đến giờ em cũng còn treo trên tường để làm kỉ niệm Grin

Đoàn em được chủ nhà cho ở nhờ tại hình như là học viện PKKQ thì phải, thời đấy hình như chưa tách ra PK với KQ. lại thêm 1 chuyện buồn nữa (hay là 1 bài học nữa?) mà em phải kể với các bác: lúc đầu mới ra HN thì em hăng máu lắm vì ông bô bà bô cho xiền hơi kha khá, cái máu cũ của em nó lại trỗi dậy trong người em (em xin thề với các bác là bây giờ thì e hết máu này rồi đấy nhé Grin), nói là làm, mới 12h trưa em rủ vài thằng trong đoàn đi cùng nhưng chẳng đứa nào chịu cả, thế là a lê hấp, 1 mình ên kêu taxi, bảo nó chở tới nhà hàng nào cũng được miễn là có gác tay gác chân, tới nơi ăn uống, gác tay gác chân đã đời tới lúc kêu tính tiền em muốn xỉu, hơn 2 triệu. em cũng xỉn rồi, vội làm dữ lên, ko trả tiền, cầm chai bia đòi ăn thua đủ, tụi mặt rô kéo tới gần 8 thằng đứng chật phòng, máu nóng em lúc đó đang cao lắm vội lạnh đi, chẳng phải vì sợ chúng nó đông mà bởi vì lúc đó em chợt nhớ ra mình đang đi lính, lại đại diện cho hình ảnh QK7, nếu làm liều lớn chuyện, tòi ra thì còn gì là mặt mũi của đơn vị của quân khu? thế là em đành ngậm bồ hòn rút ruột đưa cho chúng nó 2T Grin

Mấy ngày sau thì vui lắm, đoàn được đi chơi thăm thú khắp nơi trong HN, Hạ Long, đền Hùng ở Phú Thọ rồi mới lên tàu về lại SG.

À, tí quên, lúc đi thì ngon lành lắm, đi giường nằm phòng lạnh, chẳng hiểu sao lúc về lại cho chúng em đi ngồi cứng, 3 mươi mấy tiếng đồng hồ trên tàu, đứa nào đứa nấy muốn gẫy cả lưng.

À, lại tí quên, lúc ở HN, chúng e đi chợ Đồng Xuân, e thì lười đi nên khi đến chợ thì em lủi đi tìm quán nước, có 1 quán gần chợ, cô chủ xinh lắm chỉ mỗi tội là hơi nặng ký, e đoán khoảng ngoài 70kg, hỏi thăm em thì em khoe rằng em có đi đóng phim, hỏi phim gì em bảo phim Vũ Điệu Con Cò, e nghe muốn chết vì nhịn cười, tính bảo tướng em nên đóng phim vũ điệu con voi thì hợp hơn nhưng ko dám nói ngộ nhỡ em nóng lên lấy thịt đè người chắc e chết Grin, mà đúng là ghét của nào trời trao của ấy, gấu mẹ nhà e giờ cũng tròm trèm ngoài 60kg, nhưng e yêu lắm cơ

Trở lại chuyện thường ngày của lính, lính tráng thông tin chúng e ghét nhất là tụi cảnh vệ 108 vì chúng nó cũng hay có cơn lắm, lúc vui chúng nó cho tụi e ra ngoài, lúc buồn thì còn lâu, năn nỉ chúng nó mãi cũng ko ăn thua, cá ăn kiến cũng có ngày kiến ăn cá, lính cảnh vệ 108 đa phần là dân các tỉnh ở xa V.Tàu, Đ.Nai, LA..., tụi nó lại hay có nhu cầu đt về quê thăm người yêu thăm mẹ hiền, mà thời đó muốn gọi ra ngoài thì phải nhờ TĐ chúng e bấm số hộ (bi giờ ko biết còn cái cảnh này ko?), thế là có dịp trả thù, chúng năn nỉ mãi nhưng e và thằng Hồng thằng bạn thân nhất dứt khoát ko cho, tụi nó biết lý do nên cũng sợ, từ đó về sau cả hai bên đều dĩ hoà vi quí, mày cho tao gọi thì tao cho mày ra Grin, nhưng chỉ vài đứa trong B em là được đặc quyền này thôi, chứ tụi thông tin 2W thì còn lâu chúng nó mới cho ra ngoài cổng.

Cái khó ló cái khôn, có một chuyện cười có thật: xin mãi mà ko ra ngoài được, tụi 2W bèn bày kế, giả bộ như mới chơi bóng đá xong, đi gần gần cái cổng trại, lúc tụi gác cổng ko để ý, chúng nó vội ném trái banh ra ngoài cổng, xong một thằng chạy tới xin chạy ra nhặt bóng, chẳng lẽ ko cho, thế là vù, nó nhặt bóng xong nó chạy mất tiêu về nhà

- NGƯỜI CHỊ XÓM NHỎ

Cho tới bây giờ, dù đã lập gia đình nhưng sao mỗi lần trời đổ mưa sùi sụt là tôi lại bồn chồn, nhớ nhung khắc khoải hình bóng một người con gái.

Nàng đi vào hồn tôi từ những ngày tôi vẫn còn là một thanh niên trẻ, đang tập tểnh tham gia hoạt động cách mạng!

Tôi không làm sao quên được, cái đêm mưa sụt sùi mà tôi rải truyền đơn trong chiến dịch chống đôn quân, bắt lính mùa khô năm bảy mươi lăm, trong một con hẻm vốn có rất nhiều thanh niên trốn quân dịch, vừa lúc tờ truyền đơn cuối cùng vừa rời khỏi tay tôi cùng lúc một họng súng lạnh ngắt chỉa vào màng tang tôi, kèm với tiếng rít nồng nặc mùi bia: "Hết chạy nghe con!

Mẹ mày, dám rải truyền đơn trên đầu của ông nội mày hả?" tôi ngoái cổ lại thì bị hắn - một tên cảnh sát ngụy to béo - dộng một bá súng "Ru-lô" vô đầu "Đứng im, nhúc nhích tao bắn bỏ mẹ!"

Hắn lần tay vào túi quần chắc tìm cái còng số 8, nhanh như chớp tôi thúc ngược cùi chỏ vào mạng sườn hắn, tóm lấy cánh tay cầm súng của hắn, dùng hết sức bình sinh, quật hắn ngã nằm dài dưới đất bằng một đòn vai "Ippon-seoi-nage" của Nhu Đạo.

Hắn lồm cồm ngồi dậy, đưa súng lên trời và nổ hai phát chỉ thiên, tôi và thằng bạn cùng đi với tôi có nhiệm vụ cảnh giới,( không biết nó cảnh giới ra làm sao mà tên cảnh sát tới sát bên nó cũng ...không biết!) Hai thằng chia hai ngã cắm đầu chạy bán xới!

Tôi chạy thục mạng, không biết chạy đi đâu một lúc sau lạc vào một xóm nhỏ, nhà cửa xập xệ, tuềnh toàng...Đang ngơ ngác tìm đường thì một cánh tay từ sau cánh cửa dừng bằng giấy "Cạc-tông" thò ra, nắm lấy cánh thay tôi lôi tuột vào trong!

Hốt hoảng vì tưởng bị đám "Nhăn răng tự vận" phát hiện nên xoay người dùng cạnh bàn tay "chặt" một cú "shu-tô" hiểm hóc, một tiếng la đau đớn của phụ nữ vang lên.

Tôi "đình thủ" và nhìn thấy một chị dáng gầy gầy, mắt xanh, môi đỏ đang nhăn nhó vì đau.

Chị hét nhỏ vào tai tôi "Bộ muốn chết hả?

Vô đây mau lên tụi nó tới bây giờ!"

Tôi hết đường chạy rồi vì tôi vừa nhìn lại mình chạy vào con hẻm...cụt!

Đành theo chị gái vô nhà, không phải gọi bằng cái chòi hay cái gì đấy đại khái hơn vì đây không phải là một cái nhà!

Nó nhỏ xíu, ẩm thấp và thoảng mùi thuốc lá Ru by quân tiếp vụ rẻ tiền.

Tôi nghĩ thây kệ, cứ tạm ẩn núp vào đây đã..vừa theo chị gái chui vào nhà, chị liền đẩy tôi lên cái giường đôi, lấy cái mền nhà binh nhăn nhúm trùm lên người tôi từ đầu tới chân không chừa một chổ thở!

Tôi rùng mình vì cái mền đầy những mùi thuốc lá, vừa lúc đó có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, tiếng súng lên "quy lát" rốp rốp thị uy, một tốp chắc là đông lắm "Nhân dân tự vệ" nòng cốt và cảnh sát!

Tôi nằm im, hé mí mền nhìn ra lắng nghe động tĩnh, có tiếng hỏi hách dịch:

- Cô có thấy một thằng nhỏ nhỏ, mặc áo trắng chạy vô đây không?

- Không, em đang ngủ nghe tiếng chân mấy anh chạy vô đây nên mở cửa ra coi thôi mà!- tiếng chị gái

- Mới này mà ngủ?

Chắc hồi khuya "đi" nhiều lắm hả em?

Một tiếng hỏi cợt nhã và những tràng cười khả ố rộ lên.

- Đâu có, mấy bữa nay mấy anh bố ráp dữ quá, có ai dám vô đây đâu!

Ế thấy mẹ!

Một tên thò đầu vô nhà, hất hàm:

- Ai nằm trên giường vậy?

Phải thằng đó hôn?

- Đâu có, thằng em của em dưới quê lên chơi tính xin em ít tiền...Nó bị sốt, hình như là "đậu mùa"!

Chờ mai em đưa nó vô nhà thương thí khám đỡ!

Nghe nói tới "đậu mùa" vài tên thụt lùi ra sau, chị gái nhanh nhẹn nhét vào tay tên nhân dân tự vệ một gói " Cho anh phát súng tim anh nát" (Capstan) và vài tờ giấy bạc.

Hắn nhanh nhẹn nhét vào túi quần rồi khoát tay: " Đi tụi bây ơi!

Đây là hẻm cụt rồi, nó không ngu gì chạy vô đây đâu!"

Rồi quay lại, vuốt má chị, giọng khả ố: "Tối mai, anh tới chờ anh nhen!"

Cả bọn lục tục kéo đi, vừa đi vừa chửi thề inh ỏi cả con hẻm, chờ thật im ắng tôi tốc mền ngồi dậy bấy giờ chị mới bật ngọn đèn bóng "cà na" màu vàng, nhỏ xíu sáng yếu ớt tôi nhìn thấy cổ tay của chị hằn một vết đỏ bầm - hậu quả của cú "shu-to" vừa rồi.

Tôi xin lỗi chị, chị chỉ cười cười với con mắt có đuôi "Không sao đâu em!"

Rồi chị nhìn tôi từ đầu tới chân "Chà, còn nhỏ mà dám làm Việt cộng hả?

Gan quá trời vậy?

Ê, xích lại đây chút coi...Công nhận, Việt cộng mà trắng tươi hà, đẹp trai ghê đi!"

Tôi dợm bước ra cửa, chị liền cản lại " Tụi nó còn đầy ngoài đó, bây giờ mà "cậu" ra là nó "lượm" liền!

Chờ sáng đi, tôi gửi thằng bảy "xích lô" nó đưa đi!

"Chị tên gì?" tôi hỏi, "tên Mai, còn cậu?".Tôi cố tìm cho mình một cái tên "Em a...tên..Việt!"

Rồi chị hỏi tôi "cậu đói không? chị nấu mì tôm cậu ăn đỡ nghen!" tôi chỉ biết lẵng lặng gật đầu vì quả tình tôi đói thiệt!

Chị nhóm lửa trong cái "rề-sô" nhỏ làm bằng ống vỏ đạn pháo binh Mỹ, bắc lên đó cái ấm nước cũng nhỏ xíu.

Lúi húi một lúc chị đem ra cho tôi một tô mì tôm nóng hổi, "ăn đỡ đi, mấy hôm ế khách chị cũng ăn mì thay cơm mà!"

Vừa ăn, tôi vừa quan sát chị Mai, phải công nhận chị đẹp não nùng dưới ánh đèn "cà na", dáng gầy gầy – tuýp người lý tưởng cho mấy ông nhạc sĩ sáng tác đây – mái tóc chị dài, đen óng ã dưới ánh đèn, chị có đôi mắt thật buồn, một nốt ruồi mọc ngay giữa cằm, duyên duyên...Tôi hỏi một câu – mà tới bây giờ tôi không thể tha thứ cho mình – "Chị làm nghề gì?".

Làm "Đĩ" - chị đáp cộc lốc, vẻ không vui biết mình lở lời tôi nín thinh luôn, không dám hé miệng.

Ăn xong, chị đem lại cho tôi một ca nước lạnh, uống tới đâu mát tới đó.

Tôi lại bồn chồn ra cửa nghiêng ngó, chị biết ý "Không về được đâu cưng!

Tôi nay ngủ tạm ở đây đi, mai chị nhờ thằng bảy nó chở đi cho!"

"Ngủ đây?"

Tôi tròn mắt hỏi chị, "ngủ đâu?".

"Thì ngủ chung với chị" "trên cái giường đó à?"

"Chứ cậu định ngủ khách sạn chắc!"

"Sao được" "Sao lại không?

Bộ hồi đó tới giờ chưa ngủ với gái à?"; "Chưa hề, tôi thề với chị...!"

Chị cưòi rũ rượi "Thôi đi ông tướng ơi!

Bộ tính nằm dưới đất à?

Hay là cho chị nằm dưới đất đây?

Mắc cỡ cái gì không biết nữa!

Thôi, đi ngủ, mệt quá rồi" Chị lấy quạt xua muỗi, buông cái mùng đã giăng sẵn xuống chui vô tấn mí rồi gọi tôi vào ngủ!

Tôi ngần ngừ "Thôi, em ngồi đây chờ sáng cũng được!"

Chị lôi tôi vào mùng "Ngồi ngoài đó, muỗi nó cắn chịu không nổi đâu!

Sĩ diện hoài..."

Chị đẩy tôi vào trong, chị nằm chắn phía ngoài, tôi đành nằm xuống nhắm mắt cố ngủ, chợt nhớ ra tôi hỏi chị: "Khi nảy, nằm trong mền em thấy chị đưa cho thằng "Nhăn răng tự vận" đó tiền hả?

Bao nhiêu vậy chị?".

"Có bao nhiêu đâu, chỉ có gói thuốc "Capstan" với bốn tờ Trần Hưng Đạo (500 đồng ngụy, mệnh giá khá lớn lúc bấy giờ) thôi em!

Hơi đâu mà lo, ở đây nhờ tụi nó chịu ăn nên mấy đứa trốn lính, trốn quân dịch mới có đất sống!

Với lại, đây là xóm lao động ít có ai để ý lắm.

Lâu lâu có đợt tụi nó mới ruồng bố một lần cho có lệ và để...ăn tiền!"

Lần đầu tiên nằm chung với người khác phái, không phải là mẹ mình tôi không tài nào ngủ được, con thằn lằn chắt lưỡi mấy lần tôi đều đếm được!

Mùi hương da thịt con gái cứ thoang thoảng vào mũi, một lúc sau chị xoay qua, ôm tôi vào lòng, gối đầu tôi lên cánh tay chị và rủ rỉ kể cho tôi nghe chuyện của chị.

Chị quê ở BT, vì lính ruồng bố, đốt nhà không còn chổ ở nên chị mới rời quê hương qua Mỹ Tho kiếm sống.

Bị một mụ "tào kê" gạt bán mất đời con gái của chị, và chị cứ phải lao đầu vào kiếp ăn sương không có lối thoát.

Tôi nghe chị kể mà ngậm ngùi, chị đẹp như vậy mà "trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen", khổ cho chị!

Tôi thề với lòng và với chị, sau này nếu miền Nam giải phóng, tôi sẽ đi tìm chị để đền ơn giúp đỡ hôm nay!

Chị cưòi, nụ cười có chiếc răng khểnh duyên duyên "thiệt hôn đó?

Đừng có nói dóc chị nghen!"

Sáng hôm sau, chị gửi tôi cho một anh "thương phế binh" ngụy, hành nghề xích lô với sáu miếng miễng lựu đạn nằm trong phổi, trở trời là ho khù khụ.

Anh ta chở tôi ra bến xe, tôi đón xe về nhà ngoại tôi, tạm thời nằm im chờ chỉ thị mới.

Đại thắng mùa Xuân, tôi cứ bị cuốn hút vào các công tác trăm thứ bà rằn, chợt nhớ đến chị Mai, tôi trở lại xóm nhỏ năm nào tìm chị.

Thì được tin, chị đã về quê sau ngày giải phóng ít lâu.

Bà cô nhà kế bên cho tôi hay, sau giải phóng chị không còn làm...nữa, mà mượn vốn xoay sở bán xôi, ngày nào chị cũng ra sân ngóng đợi tôi, đợi đến mõi mòn phải theo người dì về quê tận BT xa xôi.

Tôi rất buồn vì không tìm được chị Mai, nhưng tôi vẫn cầu mong cho chị có được một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi quê nhà.

Tôi vẫn tự trách mình sao không đi tìm chị sớm hơn!

Càng buồn hơn, khi bà cô hàng xóm đưa cho tôi lá thư của chị Mai, viết vội vàng với hàng chữ nghiêng nghiêng "Việt yêu mến của chị!" trong thư chị cho biết chị ...yêu tôi!

Chờ tôi trở lại đã quá mõi mòn!

Cuối thư, chị làm tặng tôi bài thơ mà tới bây giờ tôi vẫn nhớ:

Lối về quê chị xa xôi lắm!

Cách mấy dòng sông,

mấy chuyến đò

Em ạ, từ đây còn gặp gỡ?

Xứ dừa xa lắm bạn lòng ơi!

Không biết bây giờ chị Mai tôi đang ở đâu?

Có còn nhớ đến tôi không?

Chứ tôi thì suốt đời tôi không bao giờ quên được chị.

Một người chị đã cứu giúp tôi trong cơn nguy khốn.

Trái đất vẫn tròn, có ngày mình sẽ gặp nhau thôi, chị Mai ơi!

Mỹ Tho, cuối mùa mưa

- Sau Tết 1979 độ 1 tháng thì tòan bộ F Bảy Giải Tán (778) chuyển cứ từ Long Giao lên rừng Bổ Túc, đóng tại 1 trại cải tạo SQ chế độ cũ.

Do chiến tranh, tòan bộ số SQ đã chuyển đi đâu cả (ra Bắc?) nên trại bị bỏ hoang một thời gian dài, mọi thứ hoang tàn.

Chúng tôi phải nghỉ học và tập trung xây dựng doanh trại.

Cũng nhờ vậy mà một thằng học sinh như tôi học được lắm điều từ anh em vốn gốc nông dân.

Vừa ồn định xong chổ ăn ở chưa bao lâu thì có tin tham mưu con là tòan bộ F sẽ lại chuyển cứ, lần nầy là đi sâu vào đất K.

Thậm chí nguồn tin còn khẳn định là ngày 15.04 nữa.

Thế là lính ta cứ tụm năm tụm ba mà bàn tán, phán đóan.

Và ... cũng từ đâu đó có lời rủ rê trốn về TP chơi đôi ba ngày trước khi sang K.

Lại tụm năm tụm ba bàn tính kế họach chuồn về chơi như đi mấy ngày, hồm nào đi, hôm nào trở lên v.v.

Ba giờ sáng ngày 1.4 tôi và gần 30 tay khác lặng lẽ ôm ba lô chuồn về.

Mùng vẫn để nguyên, vẫn tấn như đang ngủ.

Một đòan quân lặng lẽ (miệng không cần ngậm thẻ mà cứ im thin thít) xuyên rừng đi về hướng thị xã Tây Ninh.

Sau hai giờ cuốc bộ, trời vừa hửng sáng là tới Đồng Ban.

Đội ngủ đã rời rạc lắm rồi vì mệt, khát, đói thì ...

Đùng...

Đùng...

Đùng... ba phát K54 xé bầu không khí ban mai, Kế tiếp là tiếng xe Jeep lao hết tốc lực đến, tiếng la giận dữ "Đưng lại, đứng lại.

Anh nào chạy, tôi bắn!" của thiếu úy Quyết C trưởng.

Tôi ngóai đầu lại thấy chiếc xe xong tới bất chấp đường xá đầy ổ gà, ổ voi làm bụi bay lên mù trời.

Ngài C trưởng không ngồi mà đứng thằng người, một ta vịn kính chắn gió, một tay giơ khậu K54 cao quá đầu, ngón trỏ vẫn móc vào vòng cò ... trông hệt như phim Mỹ thứ thiệt.

Hết hơi, mấy nhuệ khí cà đòan chúng tôi dừng lại, ngôi bệt xuống xụi lơ.

Chiếc xe chạy trờ tới quá tên đi đầu thì dừng lại cái két.

Thiếu úy Quyết nhảy xuống, tay vẫn lăm lăm cây súng như sẳn sàng nhả đạn (tức quá mà, dù biết thưa là chúng tôi chẳng còn sức đâu mà chạy trốn, mà cũng không muốn trốn vì đâu có ý định đào ngũ luôn đâu?).

Ông chửi liên tù tì một hồi (nhưng vẫn đúng theo điều lệnh – không có tiếng Đan Mạch, bác Thọ à).

Hai tay B trưởng đi theo cũng lăm lăm súng chỉa vào đòan chúng tôi nhưng nhẹ nhàng khuyên đừng bỏ chạy vì Sư cho phép bắn!

Vậy là tan giấc mộng về thăm mẹ trước khi sang K!

Tòan bộ lội bộ trở về cứ.

Cũng đọan đường đó, khi đi thì mất có 2 giờ, khi về mất gần 4 giờ.

Những ngày tiếp theo là những cuộc kiểm điểm cấp A, cấp B, cấp C, cấp D – xa luân chiến!

Triền miên suốt gần tháng trời để truy xem ai đầu têu.

Nào có ra.

Thượng úy Cầu.

D trưởng, người xứ Nghệ.

Có lúc ông tức quá, chửi thẳng chúng tôi mà cứ như càm lăm.

Ông cho rằng đây là nỗi nhục của đơn vị, trong lịch sử QĐ ta chưa bao giờ có trường hợp đào ngũ đông và có tổ chức như vậy.

Của đáng tội.

Mãi cho đến bây giờ, đám bỏ về chúng tôi cũng không biết ai là người đưa ra "sáng kiến" nầy, ai là người đã phối hợp mọi người bỏ về, thậm chí không nhớ ai đánh thực mình và mình có đánh thức ai trong đêm đó?

Tất nhiên các ông cứ quy và ép chúng tôi nhận là 2 anh Lai và anh ... (tự nhiên tôi quên mất tên) tổ chức vì 2 anh lớn tuổi nhất đám.

Chúng tôi không chịu vì thật sự chẳng biết ai "đầu độc" mình.

Cứ tin rỉ tai rồi xách nhau đi thôi Nhưng cứ nhắc lại mỗi khi được tụ tập với nhau là cười hả hê và gọi "Sự kiện lông trời lở đất 1.4".

Mấy năm đầu sau khi ra quân thậm chí còn họp mặt chè chén kỷ niệm ngày 1.4.

- Tôi xin hầu các bác câu chuyện về những ngày đợi quyết dịnh ra quân để thay đổi không khí nhé.

Tháng 4-1986 lứa đi cùng đợt với tôi đã ra quân gần hết rồi lúc đó ở đơn vị tôi đã trở thành cựu binh già nhưng mà tuổi thì lại vẫn trẻ.

Suốt ngày cứ lang thang sang E bộ chơi bên quân lực ngóng xem danh sách ra quân đợt tới có mình không, cầm vàng còn để vàng rơi, tay cầm quyết định đời đời ấm no, câu ca đấy xuất phát từ các bác lính Thanh hóa nhập ngũ năm 79 ca suốt ngày khi mong ngóng quyết định.

Tôi thì mong được về lắm để củng cố lại nền kinh tế đang rất ọp ẹp vủa gia đình.

Tôi cứ nghĩ đơn giản là khi về sẽ áp dụng chính xác khẩu phần ăn như bộ đội thì nhanh giầu đây, nghĩa là gầm giường lúc nào cũng phải có buồng chuối xanh trong chạn thì cá khô và nước mắm mình ăn như vậy mãi có sao đâu nhỉ.

Sau này tôi về cũng áp dụng chính sách đấy với thằng em tôi nhưng nó cứ đòi độn thêm thịt ba chỉ và ốc nhồi với đậu phụ nên lỗ quá thành ra chính sách đó của tôi bị phá sản

Tháng 7-86 tôi được mật báo là có tên trong danh sách ra quân đợt tới vào khoảng tháng 10-86, thôi chết rồi thế thì phải chuẩn bị thôi.

Tôi lên kế hoạch hơn cả hồi nhận giấy báo nhập ngũ, đầu tiên đề nghị đơn vị phong quân hàm lên hết bậc cho nó oách vì dù sao thượng sỹ sẽ phải hơn trung sỹ chứ nhỉ.

Đại trưởng bảo là được thế còn yêu cầu gì nữa không em, ái dà được voi rồi tôi lại cố đòi thêm Hai Bà Trưng nữa là liệu anh có kết nạp em vào Đảng được không.

Nói thật với các bác là hồi này phong trào đi xuất khẩu lao động ở nhà nhiều quá nên tôi cố vào Đảng để khi về cơ quan sẽ được ưu tiên đi.

Giầu đi Đức kiến thức đi Nga xa hoa thì đi Tiệp tôi đã tìm hiểu trước rồi mà.

Đáp lại lòng mong mỏi của tôi khi đặt vấn đề đó là một tràng cười không dứt được mày mà đòi vào Đảng à buồn cười quá sẽ không bao giờ được đâu sao mày không phấn đấu từ mấy năm trước mà bây giờ lại muốn vào Đảng thôi xin cái khác đi em ơi.

Thôi đành xin cái khác vậy nhưng tôi cũng không biết xin gì nghĩ mãi mà bỏ qua thì tiếc vậy thì xin anh cho em đi viện sư đoàn để chữa bệnh vậy may ra bệnh mình khỏi được thì tốt vô cùng.

Cái này đối với đơn vị thì không vấn đề ngay ngày mai em sẽ có giấy đi viện sư đoàn.

Hôm sau tôi có giấy chuyển viện từ viện E lên viện F, được quá rồi vào viện xong tôi gặp ngay mấy anh bạn học y tá cùng vẫn đang ở viện của sư đoàn.

Anh em lâu ngày mới gặp nên chuyện trò suốt và cứ ngồi tổng kết xem khóa của mình mấy thằng bị hy sinh rồi.

Ăn uống thì không thành vấn đề bọn tớ sẽ tẩm bổ cho cậu, ngày nào cũng vậy ăn cùng các bạn và chúng nó cũng chịu khó cải thiện nấu các món cho tôi ăn cảm động lắm các bác à.

Chúng nó chăm tôi như chăm em bé ấy nhưng thuốc men thì cũng không có gì nên bệnh của tôi vẫn vậy.

Được đâu nửa tháng thì anh Diên người Nghệ Tĩnh cũng là y tá học cùng trường bảo tôi là mai có đợt chuyển viện 93 của QK em có muốn đi anh làm giấy chuyển viện cho.

Tôi nghĩ mình sắp về rồi đi viện QK một lần cho biết.

Không ngờ một quyết định muốn biết viện QK như thế nào của tôi đã khiến tôi khi ra quân về bị hàng xóm cứ nghĩ là tôi đóng quân ở HG nên nghiện thuốc phiện rồi.
 
Hồi Ký Chiến Tranh - Một Thời Máu Và Hoa (Phần 1)
Kỳ 8: Hồi ký bác 6971


Dồn lại từ ba cuốn nhật ký viết bằng chì, thuốc tím, thuốc đỏ.

Bằng ngôn ngữ được mã hóa như một thứ chữ Nôm-là tính, chữ đã phai nhòe, loang lổ sau gần bốn mươi năm, để hôm nay, tời ngang, tời dọc thành hai mươi câu chuyện về tuổi đôi mươi.

Về 1.111 ngày, đêm kể từ ngày 6/9/1971 về những người sinh viên gác bút cầm súng, về những chiến sỹ trinh sát "xê hai mươi", về chiến trường Quảng Trị, về một thời, một thế hệ chưa quá xa.

1.

Quên mình hay Khúc mở đầu

Đời lính chiến, nói cho to tát, chứ với không ít trong số chúng tôi, thế hệ chúng tôi, chỉ là ngắn ngủi vài năm mặc áo lính.

Nhiều chục năm trước và sau lính là đâu đó dưới mái trường, giảng đường, cánh đồng, xưởng máy, xứ mình, xứ người, ...

Vương một chút lính, dẫu chỉ đôi ngày, một đêm hành quân lằn vết quai ba-lô trên bả vai gầy, một mảng cháy thơm đáy nồi quân dụng, ùng oàng bom đạn gần xa, cũng xin được một chiện son "lính chiến", đã như bỏ một dúm muối vào cốc nước đường, ngang ngang, dăng dẳng, chẳng thể gạn mặn để lấy riêng ra vị ngọt ngào.

Ngồi với nhau, lang thang, chìm nổi chuyện gì rồi cũng lại lắng về chuyện "nước sông, công lính", miên man, vô tận, nao nao gợn buồn, rân rấn mi mắt, nhưng lẫn chút tự hào và hàm ơn số phận.

Những câu hỏi cũ sờn: "Bọn mày có nhờ hồi ở ..., cái lần ở ..., trận ở ..., có nhớ thằng này, thằng kia không?".

Nhớ chứ, quên sao được!

Sẹo còn mờ đi chứ kỷ niệm thời "lính chiến" thì quên sao được.

Là ước muốn như vậy, chứ thời gian mài thì tượng nhân sư còn mòn nữa là trí nhớ.

Mười rồi hai mươi, ba mươi, thoắt đã ba nhăm năm kể từ những năm ấy.

Lãng đãng đã quên, nhoè.

Gặp nhau, đã hoa lau trên đầu, lác đác đã chuyện buồn, chuyện hiếu.

Nhân chứng, chẳng thể thêm, người còn, người mất, chỉ theo một chiều, vơi vợi đi thôi.

Vội kể, vội tìm, vội hỏi.

Ba mươi nhăm năm, đủ xa để rơi rụng những vụn vặt, vân vi theo bụi phong trần, để có thể du di, xân xiu đôi chút nhầm lẫn mà không ai bắt bẻ đúng sai, nhưng lại không quá xa để đến nỗi hờ hững, thành chuyện cổ tích, chuyện người xưa, vô tình, vô cảm.

Cũng may, thời ấy có nhiều người lính ghi nhật ký, những sử gia nghiệp dư không lương.

Buổi tối viết chuyện buổi trưa, nóng hổi, người đi trong hàng quân viết về chính mình, về người đi ngay trước, ngay sau, sát sạt.

Thế mà nhìn lại chữ mình, đọc lại văn mình hơn ba nhăm năm về trước, là lạ, ngường ngượng, thương mà phục, phục mà thương.

Nhiều khi nhật ký còn mà người thì không.

Rồi quyển mất, quyển còn, lưu lạc, tha phương, còn được mấy mươi.

Có lẩn thẩn không khi mình quên chính mình.

Nghe đồng đội nhắc lại kỷ niệm về mình, mình đọc lại nhật ký của mình mà ngỡ ngàng.

Ý nghĩ, tình cảm, câu văn thời ấy, bây giờ, dù vẫn là cùng một hệ gen, nhưng sao khác nhau nhiều thế, đôi chỗ khác đến khó hiểu, đến bực mình.

Nhật ký viết lại, như mang bức hình trắng đen mấy mươi năm trước, đã nhợt nhạt, loang lổ nhưng vô giá để truyền thần lại bằng bút màu, bằng photoshop.

Đặt hai bức hình bên nhau, đâu phải để so sánh, khen chê một cách khập khễnh, bất công mà chỉ để gật gật, lắc lắc, ngẫm về con người, về đất nước, về thời gian.

Nhớ một tối cuối năm trước, trong một căn phòng trọ nhỏ, ấm cúng ở Yokohama bên bờ vịnh Tokyo, bên nồi lẩu nấm, tôi là khách, chủ là 2 nghiên cứu sinh kinh tế rất hiếu khách.

Chủ hỏi khách: "Có phải thời các anh, các chị, nhật ký như là một cách đăng đàn, viết nhằm cho người khác đọc mình?

Thấy chị Thuỳ Trâm viết cho bạn chị đọc".

Phải mà cũng không.

Có đăng đàn thì cũng là lính bộc bạch với nhau hay lính với cha mẹ, với người yêu của lính.

Có thể có chút lên gân, gọt rũa, che khó, giấu khổ, chứ đâu đăng đàn mưa nói thành nắng, đói thành no, yêu thành ghét được.

Sau lớp vỏ mỏng như hoa văn nếu có ấy vẫn là sự thực sần sùi, dày dạn, chắc nịch của "đời lính chiến", không thể nhầm lẫn, xuyên tạc, không cần bóp nặn, thêm thắt.

Dù không ai cấm, nhưng lính làm thơ, viết nhật ký thường bị xem là uỷ mị, hâm hâm, nên thường giấu giếm đồng đội, nhất là cấp trên hay chính trị viên.

Tôi cũng vậy.

Viết nhật ký là viết trộm, viết đêm hôm, bên bờ suối, trên võng, trong màn, viết dưới hầm và cả dưới ánh sáng hoả châu của địch.

Thanh thản, rỗi rãi, ngày viết một lần, vài dòng, cao hứng, xông xênh thì hai, ba lần, có khi cả vài trang, viết cả những ý nghĩ vu vơ, nhưng nhiều khi lại quá sẻn lời, kiệm chữ, chỉ thấy mấy gạch đầu dòng cô đọng.

Bận bịu, căng thẳng, cam go, cố gạn thời gian, dăm ngày viết một lần, đặc sánh.

Lần bị thương nằm bất động trong quân y viện 43 ở Cam Lộ, thèm viết lắm mà không viết được, viết được mấy dòng rồi đành bỏ dở, để đến khi khỏe, viết bù, dồn 3 tháng, đầy ắp, nhật ký đã thành hồi ký.

11.11.71

Ông mặt trời đỏ lừm lựm chìm dần xuống triền Tam Đảo.

Hoàng hôn về chầm chậm trong rừng bạch đàn.

Thế là hết buổi chiều nghe giảng chính trị.

Trong trí nhớ vẫn tâm niệm một điều lí thú: Năm tháng qua đi, con người sống và trở nên nhiều tuổi hơn chứ chưa hẳn là già đi.

Mỗi ngày ghi nhật kí một lần vẫn thấy chưa đủ, vẫn thấy có bao điều cần ghi.

Viết nhật kí cần mẫn như ông thợ rèn mài dao, mài mãi vào xấp lịch, mài mỏng nó đi.

-Xóm Mạc. (Q.1, Tr.65)

2.8.1973

Miền Đông- Chợ vùng giải phóng- Buổi chiều nhìn về Miền Tây xa xăm và hùng vĩ- Giấc mơ và sự nặng nợ, nặng tơ của mình với "CTC" - Dĩ vãng và cuốn sổ bìa đỏ vẫn thoi thóp sống - Tuân và những chuyện lôi thôi hồi còn ở 108 - Tuổi trẻ (16-25) và những đặc trưng của nó, những đặc trưng có tính chất công thức và những đặc trưng có tính chất táo bạo, lập dị - Cả một ước mơ hão huyền khi "Trở Về" và một sự bực tức, một cơn gió nóng, một tiếng trực thăng của giặc, một "Ông mả to" ven đường 4, -....

Một ngày là một trang những hỗn độn của lí trí và vật chất.

Maria đã nói với Pie về anh mình - Anđrây Bonconski - rằng: "Sự yên lặng sẽ giết chết anh tôi".

-Đại Hào. (Q.2-Tr.69)

Đêm Giao thừa (22.1.74)

Lại viết sau nhiều đêm, nhiều ngày muốn viết mà không viết được.

Hai chục ngày mà đủ sự việc, đủ ý nghĩ để kéo giãn ra đủ cho hai chục tháng, hai chục năm.

Những điều muốn viết ...

Đành bỏ dở vì ánh sáng và đầu óc.

- Quân y viện 43 -Cam Lộ. (Q.2-Tr.97)

11/4/74

Những gì đã xẩy ra ở những trang cuối này?

Sao lại có vẻ uể oải, gián đoạn và bí hiểm thế?

Ngày 6.1, chúng tôi chụp ảnh kỉ niệm.

Sáng ấy, cả toán lên ô tô đi.

Đi-Đi vào sau lưng địch.

Những sự khủng khiếp xảy ra vào 10:15.

Ngạc, chiến sỹ quân báo trẻ mà ta rất mến và nuông chiều đã hy sinh.

Bảo, Minh, anh Ngơi, Nguyệt, Anh Tài, ..

đều bị trọng thương.

Đầu tôi bị vỡ mảng nhỏ, 2 mắt đều bị, cả chân trái nữa.

Còn sống.

Ông Đại tá chính uỷ khóc khi nghe tin bộ phận A74 bị.

Ngày 30.3.1974, tôi trở về với đơn vị, với những chiến sỹ quân báo mà tôi bao giờ cũng mến yêu.

Những ngày ở quân y viện buồn tẻ và hèn hạ, kém cỏi.

Ngày 2.4, một anh ở ban cán bộ trường ĐHKTQS đến tìm tôi theo sự giới thiệu của ĐHTH.

Hôm nay theo ông ta ra Bắc.

Tôi sung sướng đọc lại cuốn sổ này.

Đầy ắp những vui buồn.

Có lẽ đây là những ngày chinh chiến, bão bùng nhất của đời tôi.

Không phải 20 tháng với cái nghĩa sòng phẳng của thời gian mà là 20 tháng với vô vàn biến cố sâu sắc tưởng như đủ trải ra cho cả 20 năm.-Đông Hà. (Q.2-Tr.99)

Một chiều hè, đầu tháng Sáu, Bảy Hai, khi đang học trinh sát binh địa ở Ba Vì, tôi ngờ ngợ phát hiện có dấu hiệu ai đó đã lục ba-lô và đọc trộm nhật ký của mình.

Đồng đội, chỉ là tò mò thôi.

Nhưng cả lũ lính trẻ cùng tắm truồng với nhau bên suối không ngượng, chứ bị xem trộm nhật ký thì vừa ngượng vừa ấm ức, tức tưởi, đến đỏ mặt, dào nước mắt.

Từ đấy tôi nặn ra thứ mật mã của riêng mình, cho riêng việc viết nhật ký.

Không quân cơ, tuyệt mật mà chỉ là sợi chỉ buộc chân voi, chân ngựa, để không e ngại, ngượng ngùng, để mình với chính mình, để được thật là mình hơn.

(Nhật ký mã hóa)

Lúc đầu cũng chỉ mã hoá chơi chơi, đơn giản, sau thấy có hứng, cứ phức tạp thêm.

Một thứ "Chữ Nôm La-tinh" ra đời, nhằng nhịt đan xen đủ loại quy tắc, ký hiệu, tiếng Nga, tiếng Tàu, tiếng lóng.

Ban đầu lủng củng, lẫn lộn, sau quen dần, thì cũng như là một ngoại ngữ, rồi cũng viết thạo, đọc dễ, nhoay nhoáy.

Bẵng đi, đã hơn ba chục năm, bây giờ đọc lại, chỉ còn hiểu lõm bõm.

Dở cười, dở khóc.

Có theo quy tắc mật mã chuẩn nào đâu.

Lại phải lần lần như khảo cổ chữ người xưa trên bãi đá Sa Pa.

Một tuần, hai tuần, nửa tháng, mãi rồi cũng tường minh vì dù sao vẫn là những chuyện của chính mình, chỉ ẩn khuất, lãng đãng đâu đó trong trí nhớ, tìm là thấy.

Thời kỳ lính chiến, khó khăn, thiếu thốn cả đến bút mực.

Ban đầu tôi viết nhật ký bằng bút máy Trường Sơn, mực Cửu Long xanh đen, hết mực, thay bằng thuốc đỏ, thuốc tím, luôn luôn có trong túi cứu thương, hết nữa thì dùng đến bút chì.

Tiếc là thời đó chưa có bút bi!

Nhưng cũng còn may, nghiệp vụ trinh sát binh địa của tôi buộc phải luôn có vài cây chì đen 2B trong túi cóc ba-lô.

(Nhật ký viết bằng bút chì và thuốc đỏ)

Quyển nhật ký khi còn ở ngoài Bắc, viết dài dòng, nhiều chỗ dông dài, những yêu, những ghét, hờn dỗi, ngông nghênh.

Quyển sau, thời kỳ ác liệt ở Quảng Trị, viết gọn gàng, sẻn so, chắt chiu, cô đọng, đã thấy sống, thấy chết.

Quyển sau nữa, khi Quảng Trị và bom đạn đã ở xa, thấy trầm lặng, suy tư, thăm thẳm nỗi "nhớ rừng".

2."

Kẻ thù buộc ta ôm cây súng!"

Cuối năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt và quyết định.

Ta và địch đều dốc lực.

Miền Bắc tổng động viên, huy động nhập ngũ cả sinh viên và giảng viên, lực lượng vẫn được xem là vốn để dành cho tương lai của nước nhà.

Phải có hôm nay mới có ngày mai.

Đó là ngày6/9/1971 lịch sử.

Nhiều nghìn sinh viên, giảng viên đã rời giảng đường, nhập ngũ.

Những người ngày ấy ra đi, sau còn sống trở về, lập nên "Hội Sáu Chín Bảy Mốt – 6/9/71".

Có cả những đàn anh đi trước, như anh Phạm Tiến Duật, lính Sáu Tư, những đàn em đi sau, như bạn Lê Xuân Tường, lính Bảy Hai, cũng xin bằng được một "Suất Bảy Mốt".

Hội lính tráng, có quyền lợi, bổng lộc gì đâu mà "suất", mà xin, cứ đầu tháng Chín, sau Quốc khánh ít ngày, nhớ ới nhau một câu, thế thôi, là lại có dịp nhâm nhi vui buồn, dưng dưng, ăm ắp kỷ niệm lính.

"Bạn ơi!

Chuẩn bị xong chưa?

Khoác ba-lô ta cùng đi" (Q.1-Tr.3)

Lời bài hát quen thuộc thời đó được trích lại ở ngay trang đầu cuốn nhật ký thứ nhất, như một lời tựa, cô đọng, thúc giục.

Nhưng thực sự đâu cần chuẩn bị.

Miền Bắc, miền Nam, đã sôi sục từ đầu những năm 60, sau máy chém 10/59, rồi thảm sát Phú Lợi, chiến thắng Ấp Bắc, Núi Thành, sự kiện 5/8/1964, chiến thắng Khe Sanh, ...

Cả dân tộc, lúc nào cũng chuẩn bị xong, cũng sẵn sàng, khoác ba-lô là đi.

Năm ấy, tôi đang nghỉ hè ở quê thì nhận được giấy báo lên trường tập trung.

Biết chắc là sẽ "đi bộ đội".

Thế là chào Thầy Mợ và em gái, không mời mọc, cỗ bàn liên hoan, cũng không bịn rịn nước mắt, tôi xuôi Hà Nội.

Mùa hè năm đó có lũ lớn, đê sông Hồng vỡ ở Cống Thôn, quê tôi lũ tràn bờ thuỷ lợi, mênh mông nước.

Bé Lê, học sau tôi 2 lớp, trốn mẹ tiễn đưa tôi hơn hai chục cây số theo quốc lộ 2 trên chiếc xe Phượng Hoàng xích hộp.

Đến quãng đường ngập nước đâu đó gần Xuân Canh, 2 đứa chia nhau trái na cuối vụ rồi chia tay, em tần ngần quay về còn tôi đi vòng vèo tiếp lên đê ven Đuống, về Hà Nội.

Lên văn phòng khoa, thấy có tên mình trong danh sách 17 người của lớp Lý 1 (lớp B1), thế là đi.

"Tiền tuyến gọi", như tên một bộ phim nổi tiếng thời đó.

Chỉ cần đủ sức khoẻ, không phải diện chính sách, không phải con một, trúng tuyển là đi.

Không ồn ào, hô hét, chỉ thoáng bịn rịn, bâng khuâng.

"Nghĩa vụ quân sự", không cần huyết thư xin đi, cũng không có đơn xin ở lại.

Thật sự tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở.

"Giấy báo nhập ngũ" -

Ngày ấy là: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ...

Ủy ban hành chính xã ...

Sinh viên Đại học tổng hợp được biên chế gọn vào 2 đại đội.

Sinh viên các khoa Lý, Sinh, Sử vào đại đội 23 (c23), các khoa Toán, Hoá, Văn và các thầy vào c24, sinh viên Đại học Nông nghiệp vào c22, cùng thuộc tiểu đoàn 6 (d6), trung đoàn 101 (e101), sư đoàn 325 (f325).

Trường cấp III Bến Tre thị xã Phúc Yên của tôi khoá Bảy Mươi được 3 đứa vào Đại học Tổng hợp, Phạm Nguyên Bảng lớp Văn, Nguyễn Vinh Lan lớp Hoá và tôi lớp Lý, thì cả 3 lại cùng nhập ngũ đợt này.

Lớp Lý 1 đi 17 người, tách 2 đứa, Hùng "cóc" và Khiết đi công an vũ trang, còn thì về cả c23, phân vào 2 trung đội.

Bình "răng vàng", Chính "nẹp", Khoa, Kính và Phúc về b2, còn 10 đứa: Dũng, Hạnh, Hiệc, Hùng, Minh, Phải, Phú, Sơn, Tốn, và tôi về b3.

Tôi được phân về tiểu đội 8, tiểu đội lại chia thành 4 tổ tam-tam.

Tổ của tôi có Lê Minh, Xích Hạnh và tôi.

Tôi được cử làm tổ trưởng, chức bé như chân kiến nhưng là "chức" đầu tiên trong đời.

Những ngày đầu đóng quân ở Sở Thượng, một làng ven đô thoang thoảng vị tanh của một làng cá ven sông Hồng và bồng bềnh những ao bèo tây ngợp hoa, mỗi cánh hoa như chiếc lông đuôi công, có đính một mặt trời tím biếc, nhỏ xíu xịu.

Tổ tôi được phân ở nhà chị Dịu.

Nhà có 4 người, toàn là phụ nữ, mẹ chị, chị và 2 em gái.

Lần đầu tôi thực sự hiểu thế nào là tình Quân – Dân – Cá - Nước.

Tuổi ăn, tuổi ngủ mà bữa cơm lính đầu tiên, đêm lính đầu tiên, tôi đã trằn troài, nhớ lại đề văn luyện thi học sinh giỏi từ hồi lớp 7, lớp cuối cấp II thời đó: "Đêm đầu tiên bé Tý ở nhà Nghị Quế".

6/9/71

Ôi cuộc đời và thời gian.

Có ai biết trong đầu Tài đang nghĩ gì?

Ngoài kia, nghe cuộc đời trăn trở, bịn rịn trên khoé mắt đỏ hoe của bạn bè !!

Xe đưa mình đi.

Từ nay là bộ đội rồi.

Thấy trong lòng mình xốn xang, rạo rực vô vàn ý nghĩ khi nuốt miếng cơm đầu tiên của đời bộ đội.

Đêm nằm nhớ lại cái đề văn của thầy Dục: "Đêm đầu tiên bé Tý ở nhà nghị Quế"!

- Sở Thượng. (Q1-Tr.8 )

Thử thách đầu tiên là lần đi lấy gạo ở Ba Hàng.

Cán bộ khuyến khích mượn quang gánh của dân, gánh được nhiều và dễ hơn so với địu bằng ba-lô.

Mỗi đứa chỉ toòng teng hai chục cân gạo mà cả lũ "dài lưng tốn vải" bò lê, bò càng ra mấy cây số đường.

Tôi còn đỡ, vì thời ở quê đã từng kẽo kẹt gánh phân, gánh mạ ra đồng, đi lấy củi trong Tam Đảo, chứ Chính "nẹp", dân thị xã Vĩnh Yên, thân hình lòng khòng như que củi, lần đầu tiên trong đời đặt chiếc đòn gánh tre lên xương bả vai, đau rát như ai cắn, phải lót hẳn chiếc khăn mặt lên chỗ vai đặt đòn gánh vẫn không chịu nổi.

Đã là gánh thì phải một tay đặt lên đỡ hờ trên đòn gánh, tay kia vung vảy nhịp nhàng, đỡ nặng.

Nhưng Chính lại dùng cả 2 tay nâng đòn gánh lên ngang tai, gánh bằng tay, lắc lư, bùng biêng như người cử tạ, mặt mũi đỏ găng, nom ngồ ngộ, thương thương.

Được 3 tuần, cả đơn vị được lệnh hành quân rời Sở Thượng, nhưng chưa rõ đi đâu.

Tạm biệt Sở Thượng, nơi tôi đã nhận 5 đồng "lương" đầu tiên trong đời mà lính thường gọi là "phụ cấp binh nhì".

Rời khỏi Sở Thượng, chúng tôi hành quân về phía ga Văn Điển.

Đoàn quân có dừng lại nghỉ bên bờ một nhánh sông nhỏ, không biết sông Tô Lịch, sông Nhuệ hay sông Đáy, để chờ lên tàu quân sự.

Đó là đêm 11/8 âm lịch, gần trung thu.

Trời đẹp, mảnh trăng non thượng tuần lặn sớm, để lại vòm trời ngút ngàn sao, trông như một ruộng mạ mênh mông, vô bờ, ai mới quải ban chiều, không đều tay, mạ chưa kịp ngồi, mống mạ còn li ti trắng.

Không gian cuối thu ngạt ngào, thơm thảo mùi lúa ngậm đòng lẫn với mùi mồ hôi và quần áo mới của lính trẻ.

Tốp lính c24 phía trước, nghe rõ giọng Hoàng Nhuận Cầm, khoa văn, say sưa, nghiêng ngả hát.

Tiếng ghi-ta bập bùng lẫn với nhịp thìa gõ lanh canh vào vung nồi quân dụng, nghe không hẳn vui, không hẳn buồn, rất lính.

Chuyến tàu quân sự lùi lũi chạy từ phía Hà Nội xuống.

Vậy là sẽ đi vào phương Nam.

Nhưng khi bộ đội đã lên chật toa, thật bất ngờ, tàu lại chạy ngược về phía ga Hà Nội, qua cầu Long Biên, chạy lên phía Bắc.

Tàu chạy tuyến Thái Nguyên, suốt đêm, trưa hôm sau đỗ lại giữa đường, ven rừng, không thấy cột ghi, không thấy nhà ga, chỉ bạt ngàn những rừng mỡ song sóng dưới nắng trưa.

Lính xuống tàu, hành quân qua những vạt đồi với những địa danh chưa một lần nghe thấy: Mỏ Trạng, Cầu Gồ, Nhã Nam.

C23 đóng quân ở xóm Mạc, trên mấy quả đồi gần nhau, nhìn chếch sang dinh cụ Đề Thám, rất gần.

Yên Thế đang giữa mùa hoa ké, chớm sang mùa hoa dẻ.

Đắp thao trường, nhận súng AK, tập gói bộc phá, tập ném lựu đạn thật, rồi xạ kích bài I, bài II, bia chữ A, bia thằng còm.

Đời tân binh, tuần tự.

29/9

Xin chào Sở Thượng.

Sở Thượng thắm thiết tình người.

Sở Thượng đầm ấm, trù phú của hạ du.

Sở Thượng có bờ đê và gió nhẹ, tanh nồng mùi của sông nước Nhị Hà.

Sở Thượng có thứ hoa sen Nhật bản ngắm say lòng người.

Sở Thượng thân yêu, con người và cảnh vật!

Cảnh hành quân bắt đầu.

Đi dưới vòm sao rộng rãi và ngút ngát những đồng lúa.

Ráng đỏ cuối cùng ở chân mây đã lịm đi.

Lũ tôi cùng thời gian đi vào đêm.

Gió xôn xao, rặng dừa thiêm thiếp ngủ.

Lại làng rồi lại 1 làng nữa.

Còng lưng xuống cho dễ đi.

Bám sát nhau nhé.

Lại nhớ nhà rồi à?

Hò lên đi.

Lại vui rồi.

Lại đi thôi.

Qua Hà thành.

Điện lờ mờ, bịn rịn, cây im lìm lưu luyến.

Kìa Parabol cổng trường Bách khoa úp xuống mặt đường.

Kìa liễu công viên.

Kìa tất cả của hạ du ...

Đêm rỉ rả côn trùng và lao xao âm điệu tự nhiên ... (Q.1-Tr.13)

30/9

Nắng gắt.

Gắt ghê gớm.

Mồ hôi vã ra.

Núi đồi rồi.

Những tình cảm mãnh liệt bỗng lai láng lên.

"Chiều hành quân qua những đồi hoa sim - Những đồi hoa sim màu tím hoa sim"

Rạo rực trong cảm xúc.

Nghỉ lại ở 1 gia đình người dân tộc.

Đây là đỉnh đồi.

Tắm suối. (Q.1-Tr.13)

30/9

Lại xuyên đêm mà đi.

Rả rích mưa rơi.

Hơi nhớ nhà. (Q.1-Tr13)

1/10

Ngày đầu tháng.

Ở gia đình một bác nông dân đông con.

Đây gần đồng bằng hơn, mặc dù nhà ở lưng đồi.

Những ngày vất vả nhất bắt đầu. (Q.1-Tr.14)

5.10

Những công việc thực sự của một người lính.

Đắp thao trường.

Lại nói tục một câu với bạn bè rồi.

Đáng hổ thẹn quá.

Những rung động sâu sa, những cảm xúc xốn xang, kì lạ ... khi nhận khẩu AK.

Một chặng đường mới.

Một chặng đời mới.

Súng ơi, còn duyên nợ với ngươi nhiều. (Q.1-Tr17)

1/11

Ngày đầu tiên của tháng sinh nhật đến như mọi ngày thường.

Biến cố đặc biệt nhất là Tài bắt đầu được người ta cho làm quen với dư âm của chiến trường.

Mình chạy lên như mọi người.

Giật nụ xoè.

Ném.

Lặng đi, không biết gì nữa.

Nổ!

Thấy khói đen và mùi thuốc khét lẹt.

Giữ lại cái dây nụ xoè làm kỷ niệm.

Tối, trăng tỏ, trong sáng và mát dịu.

Hôm nay đến lượt mình gác đêm đây- X.

Mạc (Q.1-Tr.46)

4/11

Đi bắn xạ kích.

Đồi dẻ trắng ngà những tán hoa.

Kết quả bi đát của đợt tập và bắn đạn thật.

Gửi thư cho Lô và Bố Mẹ (Q.1-Tr49)

15.11

Nào, ghi gì cho ngày hôm nay nào?

Hôm nay, mình không ghi nhật kí vào lúc cuối của một ngày, khi đồng hồ báo lịch nhích sang một ngày mới.

Bây giờ là 3 giờ chiều.

Buổi chiều ở đồi xóm Mạc thơm thơm mùi nắng.

Cả đại đội đi hành quân rồi.

Mình không ngờ cái điều khủng khiếp ấy lại đến được với mình.

Vừa sợ, vừa lo, vừa buồn.

Hai tiếng trước, mình đeo gần 30 kg chạy từ đồi xóm Mạc sang đại đội.

Tới nơi tập trung để đi hành quân, mình đứng vào hàng, đặt ba lô xuống.

Và thế là không biết gì nữa.

Chỉ thấy tiếng người xì xầm ..., chỉ biết đi, nằm ... như một cái máy.

Bây giờ anh y tá vừa dìu mình về nhà.

Anh kể lại: ở hàng quân, mình ngã lăn ra đất, rồi lại lồm cồm bò dậy.

Lảo đảo, loạng choạng.

Mắt chắc là không nhìn thấy gì nữa.

Mặt tái mét.

Anh em đổ xô lại.

Họ kêu mình ở lại, nghỉ, đừng đi.

Mình nói lắp bắp như một người không hồn:

- Được, tôi đi được.

Đừng báo cáo, tôi đi được.

Rồi chóng mặt, rồi nôn, rồi không biết gì.

Họ tiêm, họ cởi quần áo, họ đắp khăn, ...

Cứ thế lịm đi hơn 1 giờ.

Mình bị cảm, mình bị ngất.

Cái xác thịt kiêu căng ấy đổ xuống cùng với sự chủ quan của nó.

Giờ này mình mới thấm thía, mới hiểu sâu sắc những lời dặn dò mà bao giờ mình cũng cho là công thức và vô nghĩa.

Giờ này mình mới hiểu được cái phần xác tồn tại bên cạnh phần hồn của mỗi con người.

Giờ này mình mới thấy rõ sự chín chắn của những người lớn tuổi và cái nông nổi chủ quan của mình.

Trước mắt chờn vờn bao nhiêu gương mặt.

Đầu vẫn nhức ong ong.

Mình nằm xuống và mong ngủ được.

Ngoài kia, cuộc sống náo nức, rạo rực đang đợi mày, gọi mày, bỏ xa mày và đe doạ mày.

Xóm Mạc (Q.1-Tr.

77)

16.11

Không phải nghỉ để viết mà là bệnh tật bắt mình nghỉ.

Nằm nghe, nghe dư âm lẻ loi, tách bạch, rền rĩ, dai dẳng của bên ngoài.

Tiếng con mái mơ, tiếng con chào mào, tiếng bầy trẻ nhỏ, ...

Tất cả dìu dịu đi vào ý nghĩ.

Đúng vào buổi sáng không đi tập vì ốm, mình nằm nhớ đến Bà Ngoại và thấy thấm thía câu nói của L.

Tolstôi : "Tôi chỉ thấy trên đời có 2 điều Ác thực sự.

Đó là Hối hận và Bệnh tật.

Còn điều Thiện chẳng qua chỉ là không có 2 điều Ác này". (Q.10Tr.78)

21.11

Hôm nay, được ngắm con sông Thương.

Đẹp mê hồn.

Mới thấy lần đầu mà đã say đắm.

Con sông với mặt nước trong như mắt yêu đời, tha thiết và nên thơ làm sao.

"Sao tên sông lại là Thương,

Để cho lòng anh nhớ.,

Người xưa bảo:

Đây đôi dòng lệ nhỏ

Những suối buồn tới gửi mênh mang

Đò về Nhã Nam,

Đò qua Phủ Lạng

Mưa chiều nắng rạng, đã bao năm

Nỗi đau cũ thật không cùng

Sông cũng thành nước mắt". (Q.1-Tr.83)

22.11

Hôm qua gặp lại ở Bố Hạ bao nhiêu là người thân.

Toàn là người cùng làng.

Có Trường, bạn cùng xóm, cùng lớp i-tờ, cùng chăn trâu, cùng cày bừa nhọc nhằn, vất vả khi còn ở quê.

Gặp Kỳ, bạn học ngây ngô cũ.

Đêm nay sẽ bắn xạ kích bài 2.

Hôm qua Tố khổ và Phát động căm thù.

Công việc của người lính cứ thuận gió, thuận buồm như là được sắp đặt sẵn vậy.

-Đồi Dẻ. (Q.1-Tr.84)

Tôi còn nhớ một kỷ niệm bắng nhắng đáng ăn đòn lần đi xin tre làm hội trường đại đội.

Tiêu chuẩn, mỗi người xin một cây.

Hôm đầu chỉ xin quanh xóm đã đủ.

Lính mách nhau: Viết sẵn mấy tờ "Chứng nhận gia đình đã góp tre cho bộ đội", khi xin chỉ việc hỏi tên chủ nhà, điền vào.

Người xin, người cho đều vui.

Xóm nhỏ, hơn chục nóc nhà, chỉ mấy hôm sau mỗi nhà đã có dăm tờ chứng nhận, lính đành phải đi xin ở các xóm xa.

Tiểu đội trưởng Thành của chúng tôi ở nhà cô giáo Ngọ.

Chúng tôi chưa kịp xin tre nhà cô thì đã thấy một tập giấy chứng nhận đặt trên bàn thờ.

Chắc lính các trung đội khác nhanh chân hơn.

Nhìn luỹ tre nhà cô còn dày lắm, tôi và Lê Minh bàn kế lười.

Nhà cô giáo chỉ có 2 người, cô giáo và bố cô.

Ông cụ mê cờ lắm, rảnh ra lúc nào là rủ bộ đội "làm ván cho vui".

Sáng ấy, tôi giả bộ tranh thủ làm mấy ván cờ với cụ trước khi đi xin tre.

Ván đầu cụ thua.

Ván sau thua nhanh hơn.

Ván thứ 3, đang lúc thế cờ của cụ áp đảo tôi thì như tình cờ, Minh xuất hiện gọi tôi đi xin tre kẻo muộn.

Tôi xin phép dừng để tối đánh tiếp.

Cờ đang bốc, cụ không cho tôi đứng lên.

Rồi chính cụ ra chỉ tay cho 2 đứa tôi chặt phăng 2 cây tre đực dài sượt ngay đầu lũy nhà mình, một cho tôi, một cho Minh.

Đủ chưa?

Bây giờ thì pháo mã đến tối cũng được.

Mấy ván sau và cho đến tận trưa, thế cờ của cụ mạnh như chặt tre.

Tôi thua liền liền.

Cả già, cả trẻ đều vui.

Viết lại kỷ niệm này, xin được xem như một thẻ hương tạ lỗi của 2 đứa trẻ hư là tôi và Minh tới cụ ở nơi vĩnh hằng.

Sau gần 3 tháng huấn luyện tân binh ở đất cụ Đề, cuối tháng 11, chúng tôi rời đất Yên Thế, quê hương cụ Đề Thám, hành quân qua một vùng ngập lụt ven sông Cầu, xuôi về Ngọc Kim Long, Quế Võ.

25.11

Tuổi lính không đếm bằng tháng ngày, không đếm bằng bình minh hay hoàng hôn mà đếm bằng bước chân đi và đếm bằng những xóm thôn, làng mạc mình đã qua.

Lại giã từ xóm Mạc, nơi đồi núi trung du, xứ sở của hoa dẻ, để tiếp tục đi.

3 giờ sáng dậy hì hục xếp ba-lô, ăn cơm.

Khi không gian còn lờ mờ, xóm Mạc còn yên ả trong đêm, cả lũ lại đi.

Xin chào tất cả.

Chào xóm Mạc.

Xóm Mạc có bé Điểm sụt sùi, bịn rịn buổi sớm đưa lũ tôi đi.

Qua những đồi dẻ, cả đội hình dài tít tắp của tiểu đoàn như con trăn trườn về xuôi.

Qua làng, qua xóm, qua quốc lộ.

Ôi, đường tàu, ôi, tàu kìa.

Tất cả như đã bẵng xa hàng năm rồi.

Cả lũ bồi hồi, ngơ ngác.

Anh lính chiến là như vậy đấy.

Giờ nghỉ lại đây, một xóm vùng lụt.

Bẩn ôi là bẩn.

Mệt ôi là mệt.

Giấc ngủ chập chờn. (Q.1-Tr.92)

26.11

Dậy từ 2 giờ sáng để nấu cơm.

Lại đi.

Đi miết mải.

Bỏ lại thị trấn Sen Hồ sau lưng.

Sớm nay thấm mệt.

Ba lô cóc đè rát trên lưng.

Cả lưng và người nhừ nhẫn, ê ẩm.

Bữa nay được đi trên quốc lộ 1.

Đường nhích dần về thủ đô, nhích dần về Phương Nam.

Qua Đáp Cầu, nhìn thấy sông Cầu.

Có phải con sông Cầu năm năm vào mùa nước vẫn dâng lũ lên tới tận cầu Treo làng mình?

Hôm nay đi ít.

Nghỉ lại ở gia đình một anh nông dân vừa bị thuỷ tề làm khốn khổ.

Cái đói, cái rét, và hơn cả là cái đau đớn, dằn vặt ở bên trong những người dân cần mẫn, tần tảo ấy.

Nhìn nồi cháo bẹ với ốc và rau cải mà ruột đau như xé.

Họ sống vất vả lắm.

Chiều tối, cùng Hùng đi dạo chơi ngoài đồng.

Rồi vào một gia đình ông lang giàu có chưa từng thấy. (Q.1-Tr.95)

27.11

Đã là ngày thứ 3.

Sớm nay đi từ 5h, thấy thoải mái.

Mê mải ngắm ông mặt trời nổi dần lên từ chân mây xa.

Ngắm mặt nước vùng lụt rộng mênh mang.

Trưa nắng quá.

Đến nơi tập kết rồi.

Ở nhà một người đàn bà goá, có 4 đứa con trai.

Những đứa trẻ lam lũ.

Ngọc Kim Long (Q.1-Tr.

96)

Kể từ Quế Võ, đã đến độ đủ lông, đủ cánh, lác đác lính bắt đầu "tách đàn, chia tổ".

Nay một nhóm đi thiết giáp, mai một nhóm đi pháo phòng không.

Quân số đại đội cứ ngày một vơi dần, chỉ còn non nửa.

28.11

Mình xung phòng đi nấu bếp – Vì chẳng có ai đi.

Giờ cả tiểu đội đi sinh hoạt.

Mình là anh nuôi nên được ở nhà.

Hôm nay họ xôn xao (không biết là lần thứ bao nhiêu) về việc biên chế.

Mình tự nghĩ: Cứ cho là những khả năng xấu nhất sẽ đến với mình.

Ngọc Kim Long (Q.1-Tr.98)

1.12

Ngày đầu của tháng cuối năm.

41 đồng đội chuyển sang Phòng không.

Giờ chia tay của người lính với nhau không bịn rịn, lưu luyến mà lại nao nao, nôn nóng.

Nhớ lại cây gạo ở luỹ làng.

Mùa quả gạo chín, những quả gạo nở nứt ra những múi bông gạo trắng mịn.

Hạt gạo có bông theo gió trời bay mãi xa xa.

Mỗi hạt một phương trời.

Mùa giống mới náo nức bắt đầu.

Hôm nay đi có Hoàng Kim Kính (Kính hâm) và Bùi Nguyên Hạnh.

Kính, Hạnh đi rồi, buổi chiều cùng Tốn đi chơi ở thị trấn Phả Lại.

Đây là đất Hải Dương.

Thị trấn nhỏ như hình ảnh mà văn học thường viết: Một cái phố xép đổ ra bờ sông.

Dẫu sao cũng có vẻ phố phường.

Lần đầu tiên được biết kiểu phố xá như Phả Lại (Q.1-Tr 104)

Hồi ở Nhã Nam, chúng tôi ở mấy xóm thôn vùng đồi, heo hút, trước đó chưa hề có bộ đội đóng quân.

Nhưng về Quế Võ, chúng tôi ở đúng nơi có một đơn vị vừa xong huấn luyện, mới lên đường vào B.

Chúng tôi đổi hòm thư mới (hòm thư là địa chỉ theo cách gọi của quân đội, gồm một dãy số), thực ra là lấy ngay hòm thư của đơn vị trước, vừa đi.

Tôi viết thư báo ngay hòm thư mới về nhà và tuần sau đã nhận được thư nhà, anh tôi gửi, và một thư nữa, gửi tên tôi, nhưng viết sai họ, Trần Tài, không thấy tên và địa chỉ người gửi.

Tôi hồi hộp bóc xem.

Thì ra không phải thư cho tôi.

Những dòng thư của một người vợ trẻ, ở quê, viết cho chồng.

Phần đầu thư chị khoe chuyện quan hệ mẹ chồng nàng dâu đã càng ngày càng êm thấm, không còn như khi anh vẫn ở nhà, còn phần sau bức thư là những dòng nồng nàn, đặc sánh tình vợ chồng mà tôi chưa trải qua nên không hiểu hết, nhưng nhớ mang máng là mộc mạc, trong sáng, cao thượng và hy sinh lắm.

Tình cảm điển hình của các cặp vợ chồng thời chiến xa cách nhau.

Người vợ ao ước có giọt máu của chồng để lại, trước khi anh đi B.

Cuối thư người vợ nhắn, chị đã tính lịch kỹ càng, hẹn thứ bảy, 11/12, gần trưa, anh ra đón chị ở Đông Du.

Chắc anh Trần Tài thuộc đơn vị đã đóng quân ở Ngọc Kim Long ngay trước khi chúng tôi đến thế chân.

Thư không có địa chỉ người gửi, tôi chẳng có cách nào báo cho chị biết, chồng chị, người trùng tên với tôi, đã vào chiến trường rồi.

Tôi ấp ủ kế hoạch thứ bảy, 11/12, sẽ tìm cách trốn ra Đông Du gặp chị, dù chưa biết mặt, ít nhất cũng tránh cho chị cảnh bơ vơ, mỏi mắt chờ chồng đón.

6.12

Tối qua nhận được 2 thư.

Thư của anh Phong.

Gia đình vẫn bình thường.

Và thư nhầm của Trần Tài (trùng tên và địa chỉ hòm thư).

Vợ Trần Tài than vãn về nỗi khổ đau âm ỉ của mình khi xa chồng và nỗi buồn vì không hiểu sao lấy nhau đã hơn 1 năm rồi mà vẫn chưa có con.

-Ngọc Kim Long (Q.1-Tr.109)

Ngày 7/12, tôi cũng được gọi lên ban chỉ huy đại đội, gặp 2 cán bộ tuyển quân.

Nghe nói là họ tuyển trinh sát cho trung đoàn.

Sướng đến run cả người.

Hỏi gì, nói nấy, vâng dạ trôi chảy, ngoan ngoãn.

Nhưng chưa có hồi âm về chuyện trinh sát thì ngay tối ấy, tôi và một số chiến sỹ, cũng nhận lệnh "tách đàn".

Tạm biệt a8, tạm biệt c23.

Cánh tân binh từ lớp Lý 1 có Kính và Hạnh đi phòng không không quân đợt trước, lần này đi tiếp 7 người nữa, nghe nói đi hoả lực, cũng rời khỏi 325, còn lại 6 người ở c23.

Chẳng biết đi hơn hay ở lại hơn, nhưng thế là phải xa nhau.

Sau này được biết, đợt chúng tôi là đợt cuối cùng của lính Sáu Chín Bảy Mốt rời khỏi f325.

Số còn lại được biên chế vào các đơn vị của e101.

Sáu người còn lại của lớp Lý 1 về c18 thông tin (Chính, Khoa, Phúc, Tốn) và c14 hoả lực (Hùng, Phải).

Thế là nhỡ nhàng ý định ra Đông Du để báo tin cho vợ của người lính trùng tên với mình.

Chúng tôi hành quân về tận Quán Rãnh, Việt Yên, rất xa Đông Du.

Đành chịu.

Cầu cho anh Trần Tài đã trở về bình yên sau chiến tranh và anh chị đã con đàn cháu đống.

7.12

Sớm cùng Đặng Hùng ra cánh đồng Cầu Tự bắt cua.

Cái trò trẻ con ấy mà giờ sao thấy lý thú, hấp dẫn làm vậy.

Bắt mê mải tới trưa.

Đầu ngón tay bị càng cua băm xây xát.

Được gần đầy giỏ.

Nồi canh riêu cua vàng ngậy.

Buổi chiều thoắt qua như chiếc bóng.

2 trung uý ở trung đoàn gọi mình lên, ngồi đối diện nói chuyện.

Mình không ngờ là họ đang chọn mình đi trinh sát.

Tối, bây giờ, mình vừa nhận được lệnh đi.

Bổ sung vào đơn vị hoả lực.

Gian khổ đây.

Một nấc đời mới bắt đầu.

Thế là đã qua đi 3 tháng lẻ 1 ngày rồi.

Những gì đang chờ đợi mình đây?

Mình thấy thấm thía là ở trong quân đội con người luôn luôn động và may nhiều hơn khôn.

Xin chào C23 nhé.

Nơi bắt đầu giở những trang trắng đầu tiên của đời lính chiến, nơi có những con đường mơ ước (thênh thang) bị cụt và lại bắt đầu những ngả đường ước mơ mới mẻ.

Chào tạm biệt những người lính chiến cùng đơn vị đầu tiên. (Q.1-Tr.114)

8.12

Đêm qua, đã nằm xuống rồi mới lại hay tin Đặng Hùng không được đi lần này.

Mình vùng dậy và ôm chăn màn chạy sang nhà Hùng.

Cơn gió lạnh đầu mùa kéo về tê tái, rít trên đốc nhà, đu cong những bụi tre.

Nằm tâm sự với Hùng.

Hôm nay ngày chẵn.

Sớm dậy lại chia tay.

Cái cảnh cơm bữa của bộ đội.

Nhưng bữa nay là mình đi.

Xa Hùng và Tốn rồi.

Lính với nhau biết hứa hẹn điều gì?

Trở về chốn cũ gặp nhau?

ừ, thì cứ ước mong giản dị như vậy đi.

Ôm hôn Hùng và Tốn 2 lần vẫn thấy chưa đủ.

Biết đâu được có những gì đợi chờ lũ trẻ này.

Biết đâu lại chẳng được ôm hôn nhau như thế này lần nữa?

Và biết đâu vô vàn điều không ngờ tới nữa (Q.1-Tr.116)

Rời c23, chúng tôi kéo quân ngược lên phố Thắng.

Đơn vị mới là d10, nghe cán bộ chỉ huy nói là tiểu đoàn cơ động trực thuộc bộ.

Trước mắt được lêu têu thêm mấy tuần chờ đợi.

Ngày ngày, lính d10 học chính trị, huy động đi đóng phim thời sự, đóng cảnh lính hành quân thành hàng tít tắp dọc bờ sông Thương, sông Cầu, tối đánh cờ và tán dóc.

Ngong ngóng chờ lệnh điều chuyển của bộ.

Nghe cũng oai oai.

Coi như hết thời "lính mới tò te".

9.12

Lần ngược con đường bữa trước đã đi.

Lại Nội Roi, Thị Cầu, Sen Hồ, ...

Giờ dừng lại ở Việt Yên.

Những điều mới mẻ đang đợi chờ.

-Việt Yên (Q.1-Tr.117).

14.12.71

Họ biên chế mình vào cái đơn vị kì lạ này.

Tất cả đều ngơ ngác như rơi vào một hành tinh xa lạ nào đấy.

Tất cả lơ đễnh, phó thác như những quân sừng trong bàn cờ.

Kẻ nói đây là đơn vị cơ động, người lại nói là đơn vị hoàn chỉnh.

Ai mà đoán biết được những gì sắp tới, nhất là đối với người lính chiến.

Chỉ biết rằng đã qua đi 3 tháng huấn luyện, 3 tháng "vỡ lòng" vất vả mà tế nhị, "tức cười" của đời lính.

Giờ cả tiểu đoàn trực thuộc bộ.

Không còn thuộc cái tổ 325 cũ nữa.

Kể từ 25.11, tất cả những trật tự, khuôn khổ chặt chẽ,khắt khe bị phá vỡ.

Đời lính nhàn rỗi, thoải mái như đang ngao du vậy.

Chỉquanh co với bữa cơm hàng ngày. (Q.1-Tr.119)

3.

Chuyện Lớp dự khoá bay

Đang những ngày lửng lơ, ngơ ngác ở d10 thì tối 20/12, tôi và khoảng hơn hai chục đứa được báo chiều hôm sau lên đại đội nhận lệnh.

Chắc là tách chuyển đi đâu đó.

Chưa rõ hay dở ra sao.

Hôm sau chúng tôi nhận lệnh lên tiểu đoàn nhưng yêu cầu không mang theo ba-lô.

Bộ đội tập trung ở một sân kho hợp tác xã.

Thấy có một chiếc ô-tô nhà binh là lạ.

Một sỹ quan đeo quân hàm cánh én bạc đứng ra phổ biến cho chúng tôi: Các đồng chí được lựa chọn tham dự tuyển phi công.

Bất ngờ quá.

Quan trọng nhất là phải qua vòng khám sức khoẻ, ai lọt vòng này thì sang tiếp vòng rà soát lý lịch.

Mấy y bác sỹ quân y nghe nghe, đo đo, hỏi hỏi.

Cũng mới chỉ nhang nhác như khám nghĩa vụ quân sự, có kỹ hơn một chút chứ chưa thấy có vẻ gì là khám tuyển phi công.

Thế mà khám cả một buổi chiều, đại đội chỉ trúng được 2 người.

Mà chẳng hiểu sao lẻo khẻo như tôi lại được là một trong hai người, còn người thứ hai lại chính là Lê Minh, hai thằng vốn cùng tổ tam-tam, người hin hin, mảnh khảnh như nhau.

Cứ như đùa.

Chắc tuyển phi công vận tải hay trực thăng.

Kể cả ở các đơn vị khác, khám cả nghìn lính mà nghe nói chỉ tuyển được mấy người.

20.12.1971

Lại một biến cố mới nữa.

Sau một ngày làm anh nuôi vất vả, buổi tối đang ngồi đánh cờ thì Hiệc đến báo tin: 13:30 ngày mai (21.12.1971) lên đại đội nhận lệnh mới.

Lại đi.

Đi hoài.

Đi mãi.

Đi đâu?

Và ở đấy có gì?

Ai mà lường trước được.

Lại giã từ, lại chia tay.

Đi và đi nữa.

Anh bộ đội Cụ Hồ cơ mà.

-Việt Yên. (Q.1-Tr.122)

Đang sửng sốt và hân hoan vì bất ngờ trúng tuyển phi công, tôi lại nhận thêm một bất ngờ nữa: Có gia đình lên thăm.

Thế là tôi được đón Tết quân đội đầu tiên với cả 2 niềm vui ngất ngây ấy.

21.12.1971

Kể từ khi xa cuốn nhật kí bìa đỏ, mình cũng xa luôn cả Bố, Mẹ và vô vàn người thân khác nữa.

Từ đó , sự vất vả, cảnh gian lao bắt đầu đổ lên đầu mình.

Và hơn cả là sự "tra tấn" của những nỗi nhớ nhung mỗi khi rỗi rãi hay vất vả.

8 giờ tối, khi đang luộc dở 30 chiếc bánh bao cuối cùng ở bếp đại đội thì anh Dụ, chủ nhà, tất tưởi đến báo tin có gia đình đến.

Mặc dù đã hẹn trước và có chuẩn bị, song vẫn thấy quá đột ngột.

Có những khi, niềm vui sướng đến nhẹ nhàng, ngọt ngào, êm ả như vậy đấy.

Gặp lại Thầy, Mợ kính yêu và anh Phong.

Mẹ nhìn mình ngỡ ngàng và cảm động.

Nói chuyện làng, chuyện xóm, chuyện gia đình.

Thế là một ngày có đến 2 điều bất ngờ lớn: Khám sức khoẻ đạt, mình trở thành 1 trong 2 kẻ may mắn nhất của 118 người trong đại đội được trúng tuyển phi công - Và gia đình đến chơi. (Q.1-Tr.123)

23.12

Đưa Bố Mẹ về.

Tiễn mãi mà không muốn về. (Q.1-Tr.124)

Sau tết quân đội một ngày, Minh và tôi cùng với 8 người trúng tuyển từ các đơn vị khác của f325 được bộ tư lệnh không quân lôi thẳng từ Hà Bắc về Bạch Mai, trụ sở của Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân.

Tại đây gặp thêm 5 người từ các sư đoàn khác, gộp chung 15 người thành một đơn vị, không biên chế theo tiểu đội, trung đội, mà tạm gọi chung là "Lớp Dự khoá bay".

23.12..1971

Giờ lại được ngồi ở mảnh đất Đông đô, chốn phồn vinh với hàng ngàn năm văn vật này để viết nhật kí.

Suốt mấy chục trang nhậy kí, ghi nhận lại bao nhiêu thăng trầm của đời Tài kể từ khi trở thành anh bộ đội, đây là trang độc đắc đầu tiên được ghi dưới ánh điện vàng của Thăng Long.

Thủa "xưa" ấy, mãi tận những trang đầu của cuốn sổ này, chiếc Hải Âu của Hà Nội đã đưa đi từ giảng đường tất cả những gì ngỡ ngàng, hồi hộp đợi chờ của một kẻ vừa được đưa vào một cuộc đời mới lạ.

Còn bây giờ, 3 giờ chiều hôm nay, chiếc BA 9690 của binh chủng Không quân lại đưa "kẻ ấy" về theo đường cũ, nhưng chẳng còn là những ngơ ngác xưa nữa, mà là đưa về Hà Nội tất cả sự ngạc nhiên của những hạnh phúc, những may mắn đến đột nhiên, không bao giờ nghĩ đến.

Lại Hà Thành xôn xao xe và người.

Lại Đông Đô rầm rì người và xe.

Vẫn một thứ dư âm gần gụi ấy- Bạch Mai. (Q.1-Tr.126)

Cuộc sống những ngày đầu ở Lớp dự khoá bay khác xa thời tân binh ở Hà Bắc.

Được nhấc lên "trung táo, chín hào", không phải "đại táo, sáu hào chín", tối thứ bảy được tắm rửa sạch sẽ bằng nước máy, quân phục, đầu tóc chỉnh tề, xếp hàng đôi, rồng rắn qua đường Tàu Bay, sang hội trường Cục chính trị quân chủng, ngồi những hàng ghế dành cho binh nhì ở tít phía sau, xem chương trình ti-vi, khi ấy mới là phát thử nghiệm, đen trắng.

Ngày nghỉ được khuyến khích lên thư viện đọc sách hay ra phòng thể thao chơi bóng bàn.

Đời lính lên tiên, ngất ngây, như mơ.

Phụ trách Lớp dự khoá bay là 2 sỹ quan.

Đại uý Gác, thật sự như một linh mục, mẫu mực, nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc, trông coi "phần hồn", còn "phần xác" do một bác sỹ quân y, nhắc nhở ăn uống, ngủ nghỉ điều độ.

Bắt đầu từ ngày 27/12 là khám sức khoẻ vòng II.

Hàng ngày xe chở lính Dự khoá bay từ Bạch Mai đi hết đường Tàu Bay, thẳng qua Đại La, ngoặt xuống phía Đuôi Cá rồi rẽ trái vào làng Hoàng Mai, qua mấy cánh đồng đến Bệnh viện quân chủng phòng không không quân.

Chỉ khám buổi sáng, trưa xe lại chở về Bạch Mai, chiều nghỉ ngơi, đọc báo, tối nghe thông báo sáng sau ai sẽ đi khám tiếp, ai không đi thì ở nhà dọn cỏ, tưới cây, sửa sang doanh trại, coi như hết lượt.

Đợt khám kéo dài 5 ngày liền, cũng đúng là 5 ngày cuối cùng của năm 1971.

Khám rất kỹ, không sơ sài như hôm ở Hà Bắc, nhất là mắt và thần kinh.

Ngoài đo đạc và phân tích bằng máy móc, tôi nhớ có 2 phép thử giống như trò chơi trên ti-vi ngày nay.

Phép thử thứ nhất để kiểm tra mắt.

Bọn tôi được đưa một nửa tờ giấy "phê-đúp 5 hào 2", trên đó kẻ ô, chia 5 hàng, 5 cột, các ô được đánh số từ 1 đến 25, nhưng sắp xếp lộn xộn, ngẫu nhiên.

Phải dò nhanh để chỉ ra lần lượt các con số theo đúng thứ tự từ 1 đến 25, càng nhanh càng tốt.

Không khó, nhưng vừa phải nhanh mắt tìm, vừa phải nhanh tay chỉ.

Cuống là chính.

Hết khoảng 10 đến 20 giây là đạt.

Phép thử trí nhớ được thực hiện cũng với một tờ giấy tương tự, cũng với một bảng, nhưng là 3 hàng, 4 cột, mỗi ô có 1 số 2 chữ số, không số nào giống số nào.

Mỗi người được nhìn vào bảng đúng 30 giây, sau đó úp bảng xuống, phải nhớ và ghi lại 12 con số trên bảng.

Cố nhớ đúng và viết lại được ít nhất 8 số là đạt.

Đến ngày khám thứ ba, chúng tôi được đưa tới một chiếc xe chuyên dụng gồm ca-bin nối liền với một khoang kín, có cánh cửa dày, nặng, trên gắn la liệt van khí, đồng hồ, giả làm máy bay, đầu là xe zil-3 cầu, thân lại là mic-17.

Bác sỹ mở cửa "máy bay", cho từng tốp 2-3 "phi công" vào, chụp mũ có micro và tai nghe lên đầu.

Cửa được đóng lại, chốt vặn ken két.

Rồi tiếng động cơ (ô-tô) ầm ầm.

Cảm giác nghiêm trang như đang bay thật.

Nhưng nhìn qua ô cửa sổ kính hình tròn to bằng quả bưởi thấy rặng xà cừ vẫn đứng yên dưới sân.

Giả vờ bay thôi.

Nghe bác sỹ hỏi qua micro: "Thế nào, lên 5 cây, 10 cây rồi đấy, có buốt tai không?

Nếu thấy khó chịu thì nhớ chụp mặt nạ ôxy vào ngay".

Sau cùng bác sỹ cho mấy con toán, trình độ thấp thì hỏi bản cửu chương, "bảy lần bảy là mấy?", trình độ cao thì "Trăm trâu, trăm cỏ, trâu đứng ăn năm, trâu nằm ăn ba, lụ khụ trâu già, ba con một bó.

Hỏi mấy trâu, mấy cỏ?

"

Ngày khám đầu tiên bị rớt 4 người, ngày thứ hai rớt 1.

Tôi trụ sang được ngày thứ tư, qua gần hết các phòng khám, cả mắt, cả thần kinh và "ca-bin bay", đến được phòng quay li tâm để khám tiền đình.

Tôi còn nhớ, chiếc ghế quay ở phòng khám tiền đình cũng bình thường như chiếc ghế quay ở hiệu cắt tóc ngay đầu phố huyện quê tôi.

Ngồi lên, bác sỹ quay nhẹ nhàng, không nhanh lắm, 3 vòng rồi đột ngột dừng lại.

Thêm lần nữa, nhắm mắt lại, lại 3 vòng, dừng, mở mắt ra, nhìn thẳng vào mặt bác sỹ.

Rồi một lần cuối, cúi đầu xuống, nhắm mắt lại, quay ngược chiều, dừng lại, ngửng đầu lên, mở mắt ra, lại nhìn mặt bác sỹ.

Tôi cố tỏ ra bình thường, nhưng thấy mặt ông bác sỹ méo mó, xiên xẹo và giật giật, còn người tôi thì dúi dụi về phía trước, tôi phải cố ghì chặt vào tay vịn ghế, gồng lại để không lộn người ra khỏi ghế.

Tôi nôn thốc nôn tháo và lờ mờ thấy ông bác sỹ lắc đầu, chỉ tôi ra xe nằm đợi.

Tôi hiểu, thế là "rụng", thế là hết lượt.

Hôm sau, đúng vào ngày cuối năm, ngày khám cuối cùng, tôi nhập hội ở nhà dọn cỏ, tưới cây.

27.12

Ngày đi khám thứ nhất.

4 người bị loại.

Còn lại 11 người. (Q.1-Tr.127)

28.12

Buổi sớm đi khám, gặp ở Ngã Tư Vọng đoàn tàu chở lính vô Nam.

Thấy những bàn tay lưu luyến vẫy lại hậu phương.

Thêm một người nữa rớt. (Q.1-Tr.127)

29.12.

Xe lại chở đi khám.

Mệt nhừ. (Q.1-Tr.127)

30.12

Đến mét thứ 99 của chiếc cột cao 100m thì mình bị tụt.

Đến phòng cuối cùng, phòng quay li tâm, thử cơ quan tiền đình thì mình bị loại.

Sức chịu đựng đã đạt đến giá trị max mà nó có thể đạt được.

Đúng với những tiên đoán của mình.

Thôi, thế là khả năng lái "Mích" đã có thể với tới rồi mà lại trôi đi mất.

Lại sự khốn khổ của những ngày chờ đợi. (Q.1-Tr.128)

Hết vòng II, "rụng" mất 6 đứa, tôi là đứa rụng sau cùng.

Mấy ngày sau, bọn "rụng" về lại đại táo, vừa gọn một mâm.

Những ngày tiếp theo chỉ mong sớm được điều đi đâu thì đi.

Đi quét dọn đường băng, về ra đa, tên lửa hay về lại bộ binh, d10, đâu cũng được.

Trước khi ngã ngũ đi đâu, về đâu, cả bọn đại táo được xông xênh hơn nửa tháng, đi thăm bảo tàng quân đội ở gần cột cờ Hà Nội, khi đó chủ yếu chỉ trưng bày các hiện vật thời Điện Biên, rồi vi vu lên đâu đó mạn Ba La, Bông Đỏ dỡ sắn, sang Gia Lâm dọn doanh trại cũ, ra Ngã Tư Sở chơi, uống bia si-rô, 2 hào bia hơi trộn 1 hào si-rô, ăn bánh ngọt sừng bò và ngơ ngẩn ngắm tàu điện leng keng chạy về hướng trường cũ (Hà Đông).

Tối 5/1, đại uý Gác công bố danh sách chính thức của tiểu đội dự khoá bay, gồm 9 người.

Thế là rõ ai đỗ, ai trượt.

Số đỗ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ, vì thời gian sống cùng quá ngắn, trong đó có một sinh viên sư phạm toán, tên Trung hay Chung, trắng trẻo, thư sinh, quê đâu đó phía Giáp Bát.

Trong 6 người rớt, có 3 đứa là lính "Sáu Chín Bảy Mốt": Lê Minh, tôi và một người nhập ngũ từ khoa toán đại học sư phạm Hà Nội, tên Hồ Tú Bảo.

Ba người còn lại, Đức (Sán Dìu), Cần và Chiêu nhập ngũ từ quê.

Rủi mà may, vẫn có Lê Minh bên cạnh.

Chụp ảnh kỷ niệm Dự khóa bay với Lê Minh (Phải)

(Ảnh đen trắng, tô màu)

1.1.1972

Xờ Nôvưm Gôtđơm!

Ngày đầu năm, dông cả năm đây.

Cả ngày chơi bóng, chơi cờ, câu cá, ...

Ngày tết rộng rãi và thoải mái.

Buổi chiều, ngồi viết thư gửi về cho Bố Mẹ.

Buổi tối, trở lại Hội trường Cục Chính trị để xem vô tuyến truyền hình.

Một ngày kết thúc bằng 90 phút gác đêm.

Ông trăng ngày rằm đăm chiêu, tư lự trên mây và lung linh đùa giỡn dưới nước.

Ngày đầu năm thanh thản chìm vào trong những giấc mộng thần tiên. (Q.1-Tr.131)

6.1

Tối qua, đại uý Gác đã chính thức biên chế tiểu đội dự khoá bay đầu tiên.

Còn mình, một trong những kẻ rủi ro vì sức khoẻ, sẽ làm gì đây?

-Giờ gác. (Q.1-Tr.133)

8.1

Thứ 7 rồi.

Nhanh nhỉ.

Hôm nay rời Hà nội, đi dỡ sắn ở Hà Tây.

Ô tô đưa đi từ sáng sớm.

Qua Đại học Tổng hợp Hà nội, qua Hà Đông, ... tới núi đồi.

Gặp trên đường gần 30 xe Zil 3 cầu cắm cờ mặt trận giải phóng chở đầy bộ đội chạy vô hướng nam.

Nay đang "mùa ra trận".

Dỡ sắn trên đồi.

Ngắm cảnh đẹp đơn sơ, bình dị, tự nhiên của xóm lá, nhà sàn và rặng cau trong lũng. (Q.1-Tr.133)

16.1

Đi xem triển lãm quân đội. (Q.1-Tr.135)

17.1

Chiều, nhận được lệnh mới.

Thế là lại giã từ Hà Nội, giã từ lớp dự khoá bay.

Lại trở về đời lính bộ binh.

Chiều được tự do đi chơi.

Về Đại học Tổng hợp, gặp lại bao nhiêu là bạn bè. (Q.1-Tr.135)

Ở không quân được tròn 1 tháng.

Ngày 22/1, xe đưa 6 đứa "phi công hụt" rời Bạch Mai.

Xe BA 9690 chạy qua cầu Long Biên, ngược đường cũ.

Chắc là lên phố Thắng, trả về d10, bộ binh.

4.

Xê Hai Mươi

Chúng tôi từ không quân quay về f325 thì d10 sinh viên đã được điều chuyển sang f308 rồi, giờ đóng ở đâu, Bắc hay Nam, không rõ.

F325 cũng vừa chuyển từ chức năng sư đoàn huấn luyện quân tăng cường để bổ sung cho các sư đoàn khác sang thành sư đoàn cơ động, vì vậy, sư đoàn phải biên chế và thành lập mới nhiều đại đội, tiểu đoàn trực thuộc, như công binh, hoả lực, vệ binh, thông tin, đặc công, trinh sát, quân y, vận tải, ...

để thành một sư đoàn cơ động hoàn chỉnh.

Cả nhóm 6 "phi công hụt" được biên chế vào đại đội trinh sát (c20), khi đó mới hơn 1 tháng tuổi.

Cán bộ ban quân lực giải thích: "Trượt phi công mà đỗ trinh sát thì lý tưởng quá rồi còn gì".

Chẳng rõ là ông ta khen hay chê nhưng với 3 đứa sinh viên, gốc d10, ít nhiều có chút thất vọng và buồn, dù sao vẫn ao ước được về "tiểu đoàn sinh viên" hơn.

Riêng tôi thì nản đến rã rượi.

22.1.1972:

Sa xuống hố.

Sâu thăm thẳm và tối mù mịt.

- Ngày về c20. (Q.1-Tr.136)

Đại đội trinh sát sư đoàn 325 được thành lập ngay khi sư đoàn chuyển từ huấn luyện sang cơ động.

Cán bộ đại đội đủ bộ theo biên chế, trưởng phó 4 người.

Đại đội trưởng là trung uý Nguyễn Đức Hiền, người cao, gầy, quê Hà Bắc.

Nghe anh em kháo nhau anh là một trinh sát dù kỳ cựu, được học hành bài bản về trinh sát, có rất nhiều tài lẻ.

Ba người còn lại đều gốc miền Nam.

Chính trị viên trưởng là anh Khâm, quê Phú Yên, nét thư sinh, trí thức, hiểu biết rộng và tỏ ra dễ gần với bọn tôi.

Chính trị viên phó là anh Ánh, đại đội phó là anh Thời, cả 2 nghe nói đều gốc biệt động Quảng Nam, Bình Định, nhưng sao thấy chân chất, mộc mạc, thẳng thắn đến lạ kỳ.

Lính c20 chủ yếu nhập ngũ từ nông thôn, quê Hải Hưng, vùng Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu, tuổi sàn sàn 17-18, ít hơn bọn lính sinh viên chúng tôi khoảng 1-2 tuổi.

Về c20, mấy đứa phi công hụt được phân tản ra, không ai cùng tiểu đội vớ ai.

Ba đứa sinh viên bọn tôi: Lê Minh được điều về a2, tôi về a8, còn Hồ Bảo, bị phát hiện chữ đẹp, ngậm ngùi lên làm liên lạc đại đội.

Hôm sau, thấy Hồ Bảo thì thầm tin mật: Trong đại đội còn có 3 sinh viên khác.

Đó là 2 y tá Tất, Việt, cũng "dân Sáu Chín Bảy Mốt", vốn sinh viên đại học Y Hà Nội, và anh Thắng, đi từ trường đại học nông nghiệp, làm quản lý đại đội.

Ba cựu binh "6.9.71", cựu binh "Dự khóa bay" ngày ấy về Xê 20, và Đại tá Nguyễn Việt, nguyên phó tham mưu trưởng F325, nguyên tư lệnh chỉ huy lực lượng bảo vệ thành cổ hè 1972

(Ảnh chụp 12/1/2005, nhân ngày trao kỷ niệm chương "Quyết chiến thị xã Quảng Trị - Hè 1972")

Tôi được "phong" tiểu đội phó, cao hơn chức tổ trưởng tổ tam-tam một bậc, từ chân kiến lên thành thân kiến!

Được hơn một tuần thì anh Độ, tiểu đội trưởng, phải đi công tác.

Tôi thay anh quản a8, một việc quá quá sức tôi.

Được cái anh em trong a đều thuần, thuần lắm.

Họ không biết tôi là sinh viên, nhưng cũng có chút nể cái tiếng "phi công hụt".

Tiểu đội êm ấm như gia đình, như anh em.

Mấy ngày sau, tôi phát hiện ngay chính trong tiểu đội tôi cũng có một sinh viên, trật tuổi tôi, tên là Đỗ Triệu.

Tiểu đội tôi ở xóm Đồng, a2 của Lê Minh ở xóm Bùi, chẳng nhớ xã gì, thuộc huyện Việt Yên, nằm gần bờ sông Thương, đối diện bờ bên kia là Nhà máy phân đạm Hà Bắc.

Chúng tôi tập các bài nghiệp vụ trinh sát, tiềm nhập, đột nhập.

Được cái tiện, lấy ngay làng xóm, nhà dân làm thao trường, không cần đào đắp thao trường như hồi huấn luyện tân binh ở Tân Yên.

Người dân Đồng Bùi sáng trưa theo tiếng kẻng hợp tác xã, đều đặn ngày 2 buổi ra đồng, cổng cửa chỉ khép hờ, không nhà nào có chó, không nhà nào có khoá.

Gầm giường các nhà đầy khoai lang, gác bếp lủng lẳng những túm bắp ngô để giống cho vụ sau, đất đai màu mỡ, những cánh đồng xanh mướt mượt, bạt ngàn rau hành, đậu đỗ, tràn ngập cảm giác Nghiêu Thuấn, no ấm, thanh bình.

Tôi còn nhớ, có một lần ở Đồng Bùi, trong khi tập bài bí mật đột nhập, tôi đã đứng ngẩn ngơ rất lâu trong một căn nhà tường đất, mái rạ, nhỏ và đơn sơ, đồ đạc sơ sài, chủ nhà đi vắng.

Trên một cây cột gỗ có treo một bức chân dung khổ to, tự họa, một người thanh niên mặc áo comple đen, thắt caravat, với dòng chữ tiếng Nga: Ia-Sờtuđent (Tôi là sinh viên).

Một cảm giác khó tả.

Trinh sát không hẳn là lính cậu, không được hưởng trung táo như Lớp dự khoá bay, nhưng cũng được ưu ái "bảy hào mốt", tức là nhỉnh hơn 2 xu so với lính thường đại táo.

Chẳng hiểu do 2 xu nghiệp vụ ấy hay do tài xoay xở của cán bộ chỉ huy, của anh Thắng quản lý, hay do phì nhiêu màu mỡ của đất Việt Yên mà bữa ăn ở c20 khá hơn hẳn thời c23 và d10, chẳng kém gì "trung táo - chín hào" hồi Lớp dự khoá bay.

Tết sắp đến, còn thấy cả mấy chú lợn béo rụt cổ nhốt nhờ ở chuồng lợn hợp tác xã.

Thấy anh nuôi, tiếp phẩm rục rịch gạo nếp, lá bánh, miến, mộc nhĩ....

Hứa hẹn "Tết lính" đầu tiên không đến nỗi nào.

Đã thấy nguôi ngoai nỗi luyến tiếc "tiểu đoàn sinh viên".

Tết đã rất gần.

Sáng 25 tháng chạp, bất ngờ đơn vị nhận lệnh di chuyển.

Đại uý Tân, trưởng ban trinh sát sư đoàn (Ban 2) xuống tận nơi phát lệnh.

Đơn vị tập trung ở sân kho hợp tác xã.

Uy nghi và trang nghiêm lắm.

Không phải dã ngoại hay tập tành như những lần trước mà sẽ đi thật, đi rất xa.

Vì mọi thứ cho tết đã chuẩn bị khá đầy đủ, chu đáo, bây giờ đành phải hối hả thịt lợn, gói giò, bó măng, bó miến, chia gạo đỗ về các tiểu đội, nhồi vào các ba-lô.

Kịp thì tới nơi đóng quân mới ăn tết, không thì tết trên đường, cứ như chuyện hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn.

Riêng với tôi còn gặp 2 điều rắc rối.

Một là tôi đã trót gửi thư về nhà, chỉ đường chi tiết, hẹn Thầy Mợ tôi tết này lên xóm Đồng thăm tôi, có thể sau tết tôi sẽ đi xa.

Hai là anh Độ không kịp lên nên tôi vẫn phải quản tiểu đội thay anh, chẳng nặng nhọc gì nhưng lo cho anh Độ, nhỡ đơn vị đi thẳng vào chiến trường thì sao.

Về sau, kết cục cả 2 chuyện đều buồn.

Thầy Mợ tôi, đã ngót nghét 70 tuổi, lỉnh kỉnh bánh trái, bỏ cả tết nhất, lặn lội đêm hôm, chen chúc tàu xe ngày tết, từ Hương Canh xuôi Yên Viên rồi đổi tàu, ngược Bắc Giang, lẽo đẽo cuốc bộ thêm non chục cây số từ ga Bắc Giang, khấp khởi sáng mùng 2 tết hỏi thăm lên đến xóm Đồng.

Làng xóm đang thanh bình đón tết, nhưng tịnh không còn thấy một bóng áo xanh bộ đội.

Anh chị chủ nhà an ủi, mời Thầy Mợ tôi ở lại chơi.

Lòng dạ đâu mà chơi.

Qua loa khoanh bánh, chia hết tay nải quà cho các cháu, rồi hai cụ thờ thẫn ra về.

Còn chuyện anh Độ, sau này tôi mới biết lần ấy anh Độ đi thẩm tra lý lịch, đại đội linh động cho anh rẽ về nhà ít ngày, tranh thủ cưới vợ.

Không ngờ có lệnh chuyển quân quá gấp, trăng mật chưa đủ tròn, chưa đủ ngọt, nhận tin, anh vội lên đơn vị, nhưng cũng không kịp.

Theo đường giao liên, mãi cuối 4/1972 anh mới vào đến đơn vị ở Hà Tĩnh thì tôi lại quay ra Sơn Tây học binh địa mất rồi, không gặp nhau.

Chỉ chục ngày ngắn ngủi bên nhau để rồi xa nhau, không ngờ lại là vĩnh viễn.

Mãi cuối 1973, ở Quảng Trị, tôi có dịp đến Như Lệ, khu cao điểm 15, quanh quanh nơi anh đã hy sinh khoảng 1 năm trước đó, nhưng không biết mộ anh ở đâu, thuộc bên mình hay bên địch.

Rưng rưng, bồi hồi.

11.8.1973

Như Lệ là nơi yên nghỉ của Anh Độ.

Tôi vẫn luôn coi anh là một "Tấm lòng vàng" - "Một tấm lòng vàng bất hạnh".

Có thể nguyên nhân cái chết của anh như Tuấn Anh kể, có thể như Hội kể hoặc như Đọ kể.

Nhưng dẫu sao chăng nữa cũng không thể vớt vát được.

Có những sự sai sót trả nợ được và cả những sự sai sót không tính thành giá để trả được.

-Cao điểm 15. (Q.2-Tr.71)

Chỉ có hơn một ngày để chuẩn bị, mờ sáng 11/2, thứ sáu, 27 tết, chúng tôi tạm biệt xóm Đồng, xóm Bùi, hành quân dọc theo bờ sông Thương, tập kết ở sân ga Bắc Giang.

Trên sân ga đã thấy nhiều đơn vị khác, lỉnh kỉnh xoong, nồi, măng, miến, giò, ... lẫn với súng đạn, quân trang.

Xa xa, tôi nhìn thấy các cán bộ lãnh đạo sư đoàn, đều mặc áo măng-tô bằng dạ xám, đồ viện trợ của Liên xô, đi đi lại lại trên sân ga, nom như cảnh thường thấy trong những phim thời Xô-viết đánh phát xít Đức.

Đại trưởng Hiền thì thầm chỉ cho chúng tôi: Kia là thượng tá, sư trưởng "Ba Kích", chiến sỹ cách mạng từ thời Đội du kích Ba Tơ, đứng bên cạnh là chính uỷ Công Trang, người đậm, thấp, lính f325 từ thời Điện Biên.

Còn nữa, sư phó, tham mưu trưởng, tham mưu phó, rồi trưởng ban này, ban kia, ...

Thời tân binh, lính binh nhì bọn tôi lên gặp đến cán bộ đại đội, một sao, một gạch đã thấy "rét", bây giờ được đứng gần, nhìn tận mắt tư lệnh và chính uỷ sư đoàn, sao gạch loang loáng trên ve áo, thấy ren rén, run run pha lẫn rạo rực, phấn chấn.

Tàu đưa chúng tôi đi về phương Nam.

Không hiểu vì lí do gì mà tàu có dừng lại khoảng nửa tiếng ở ga Hàng Cỏ.

Có lẽ là lấy nước, thêm than hay tránh tàu khác chứ chắc không phải là vì một lý do tình cảm hay lãng mạn kiểu dân sự.

Khi đó phía sau ga Hàng Cỏ là tường rào, sau rào là nhà dân, chưa mở ga Trần Quý Cáp.

Tàu đỗ ở một đường ray tận cùng phía sau, sát rào, cách biệt hẳn với khu vực hành khách.

Cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên như tôi được phép xuống sân ga, đi nhận phần ăn, phần uống cho anh em.

Quân cảnh khoác AK, đeo băng đỏ "chốt" ở 2 phía đầu và cuối tàu.

Thấy có mấy đồng đội, không rõ đơn vị nào, nhưng chắc là lính Hà Nội, tình cờ hay bố trí gặp được người nhà, quân cảnh cho gặp nhau, đứng bịn rịn ngay ở bậc lên xuống toa, nhìn mà thèm, mà ghen.

Cách xa mấy đường ray, về phía đường Nam Bộ, có một đoàn tàu khách.

Hành khách đứng chen chúc trên các toa tàu vốn là toa chở hàng, cửa mở ở giữa sườn toa, không có bậc lên xuống.

Ai nấy đùm đùm, bọc bọc những gói hàng tiêu chuẩn tết với bánh pháo tết bọc giấy điều, nom ngợp không khí tết thời chiến.

Loáng thoáng có những bàn tay vẫy vẫy, biết đâu có con em mình bên ấy.

Bên này, lính căng mắt nhìn.

Ai cũng nghĩ là vẫy mình!

Khi đầu tàu phía Khâm Thiên kéo còi hu hu, thấy quân cảnh ai nấy đã ú ụ những chồng thư trên tay, những bức thư lính viết vội viết vàng nhờ chuyển về cho người thân, nhiều lá không tem, không cả phong bì.

Tháng 2/1972, miền Bắc chưa bị đánh bom trở lại.

Suốt dọc đường từ Bắc Giang, qua Bắc Ninh, Hà Nội, rồi Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An cho đến Hà Tĩnh, đoàn chúng tôi, khoảng trên dưới nghìn người của khối sư bộ f325, hành quân hiên ngang, khí thế hừng hực.

Tàu xe phất phới cờ sao vàng, nền nửa xanh nửa đỏ.

Lính hồ hởi, say mê hát.

Đây là thời điểm ta chuẩn bị mở chiến dịch lớn ở Quảng Trị.

F325 được điều động vào Hà Tĩnh, Quảng Bình, sát với Quảng Trị, dù mới chỉ có khối sư bộ, còn các trung đoàn vẫn ở Hà Bắc.

Nhiệm vụ chính của sư đoàn là trấn giữ tuyến sau, phòng địch đánh tập hậu khi ta mở chiến dịch Quảng Trị, đồng thời cũng là lực lượng dự bị cho chiến dịch.

Nhưng mãi sau này mới biết nhiệm vụ và ý nghĩa là như vậy, chứ khi đó chỉ cảm thấy mình đang nhích gần hơn vào chiến trường, còn tò mò chưa biết sẽ "B ngắn" hay "B dài".

11.2.1972

Nặng quá quá.

Chưa bao giờ cơ thể bé bỏng này phải chịu đựng tới vậy.

Bặm môi mà đi.

Thôn xóm xôn xao, rộn rã ngày tết đến.

Nghĩ mà muốn khóc.

Tủi quá.

Nhắm mắt mà đi.

Tới Bắc Giang, lên tàu.

Tàu đi.

Đi hoài.

Đi dọc theo kim địa bàn.

Đi vô phương Nam.

Qua Hà Thành tất tả ngày cuối năm.

Qua Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hoá.

Tàu xuyên đêm đi vô xứ Nghệ.

Xứ Nghệ "non xanh nước biếc" là đây.

Tàu mệt mỏi, phả khói phì phì rồi dừng lại ga Vinh.

Hơn 20 giờ đi tàu.

Lại cắm cổ mà đi.

Đất khu Tư, người khu Tư là đây!

-Vinh. (Q.1-Tr.137)

Nhưng rồi những hưng phấn "trùng trùng quân đi như thác" của tôi đã bị sựng lại sau khi qua Bến Thuỷ.

Sững sờ đầu tiên là sự cố ngôn ngữ ở một xóm nhỏ thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Chị chủ nhà vừa dứt khoát không cho các chú bộ đội mang ba-lô vào trong nhà, vừa trầm bổng những gì mà cả tiểu đội toàn lính Bắc không ai hiểu.

Tôi phải chạy lên đại đội cầu cứu Lục, a trưởng, quê miền Trung, xuống phiên dịch và "giải vây".

Thì ra câu chuyện là thế này: Tiểu đội tôi chia ra ở nhờ 2 nhà dân, nhưng nấu nướng, ăn uống thì chỉ tập trung ở một nhà.

Như vậy, theo lệ thường trẻ con của gia đình nơi bộ đội nấu cơm sẽ được phần bát cơm của mấy chú bộ đội khi đến bữa còn nhà kia thì không, họ thắc mắc.

Thế thì đơn giản quá.

Rồi cả đêm hành quân.

Chập tối được đi xe nhưng tôi thì say rã rượi.

Nửa đêm đến sáng gùi bộ quá nặng, tôi đã bi quan cảm thấy mình sẽ bị rớt lại, không theo nổi đơn vị, may có Lê Minh quay lại động viên, vác đỡ bao gạo.

Rồi sáng sau cũng đến được nơi tập kết, một xóm nhỏ heo hút của xã Kỳ Lạc, miền Tây huyện Kỳ Anh.

Đó là sáng 14/2/1972, sáng 30 tết.

Tết đầu tiên xa nhà.

Không thấy Tết đâu, chỉ thấy leo teo mấy mái tranh xơ xướp, mốc trắng, bốn bề âm u núi rừng và suối, tịnh không một tiếng pháo nổ, không một bóng áo mới trẻ thơ, không ai đi mừng tuổi, chúc tết.

Sáng đầu năm, mùng một tết, mà bữa ăn chủ nhà chỉ có một đĩa thịt lợn luộc, thịt thái mỏng, xếp vơi vơi.

Tôi nhìn chủ nhà, mẹ Khánh, nhường phần mình cho đứa con trai bị tật ở chân mà thấy nghẹn thắt ở ngực.

Dân vùng này nghèo khổ quá.

Đã thế, tôi còn phát hiện mình đã đánh rơi mất 1 quả lựu đạn, chắc là lúc say xe.

Tội mất quân trang, vũ khí là nặng lắm.

Hôm sau, tôi sang gặp và bàn với Minh, 2 đứa chung 3 quả, như ảo thuật, kiểm tra quân trang 2 đứa vẫn đủ cả, may không có lần nào cả 2 trung đội kiểm tra quân trang cùng một lúc.

14.2.1972

Ngồi một mình bên bờ con suối xanh trong.

Con suối xứ Hà Tĩnh nhớ ai mà thẩn thơ.

Rừng núi buồn chi mà khóc nên suối.

Tắm suối và những mong rũ gột sạch được tất cả những bụi bặm của đời.

Chưa có khi nào buồn như bây giờ.

Chiều 30 tết đến với anh lính trẻ dửng dưng và tẻ nhạt.

Nỗi nhớ đong không xuể, nỗi buồn chảy không ngơi.

Nhớ.

Nhớ tất cả.

Nhớ những gì của gia đình, của quê hương, của năm tháng đã qua, một nỗi nhớ day dứt, sâu nặng.

Bốn bề là núi Hoành Sơn cao cao và xanh rì, bí hiểm.

Một năm đáng ghi nhớ trong đời.

-Kỳ Anh. (Q.1-Tr.138)

Rồi cũng quen dần.

Vất vả thì vẫn vất vả, vất vả hơn, nhưng háo hức.

Ngày nào cũng mới.

Cứ vỡ dần những hoang tưởng tuổi ấu thơ.

Đâu có thấy Trường Sơn với cao nguyên đất đỏ như hoa mười giờ, đâu có gặp những bác gác rừng hiền hậu, nhân từ, mẫn cán đứng chào đón và nhắc nhở ở mỗi cửa rừng, đâu có nghe cười nói râm ran của các chú lùn khai mỏ trong ngôi lán nhỏ heo hút rừng sâu.

Cảnh vật lạ, ngôn ngữ còn lạ hơn.

Nghe mấy o gái sin sít giọng Kỳ Anh: "Mô núi, mô sông, mô nỏ chộ – Mô rào, mô rú, chộ mô mô" mà đâu có nhận ra là thơ tiếng Việt, một câu thơ như viết cho chính tâm trạng của mình: "Đâu núi, đâu sông, đâu có thấy - Đâu rừng, đâu suối, thấy gì đâu!".

Cuộc sống có chất lính hơn, thật hơn, gần chiến trường hơn.

Được dọc ngang Hoành Sơn vùng giáp ranh Hà Tĩnh - Quảng Bình, nơi người xưa xem là chốn "Hoành Sơn nhất đái - Vạn đại dung thân".

Thấy những vạt đồi tím lịm dâu rừng vô chủ.

Trên những dãy mộ chí của nghĩa trang thanh niên xung phong bên đường 21 đọc thấy nhạt nhoà những tên người, tên quê.

Tên người thì ngờ ngợ nhưng tên quê lại quen, quen lắm.

Hàng Dầu, Hàng Bột, Nam Bộ, Cót, Canh, toàn quê Hà Nội.

Sinh trước tôi đôi ba năm, nhưng tuổi các anh chị đã chẳng còn được cộng dọc theo năm tháng nữa, mãi mãi mười tám, đôi mươi kể từ những trận bom Sáu Bảy, Sáu Tám ác liệt.

Ngẩn ngơ trong ánh chiều, một búp bê nhựa nhỏ như chiếc bật lửa, lấm lem, bạc nắng, cô đơn tựa lưng đợi vô vọng dưới chân một mộ chí khắc nguệch ngoạc: Mai Hà, Ngọc Hà, Hà Nội.

Đại đội tổ chức đi dã ngoại về phía đông, phía biển.

Từ trên cao điểm nhìn thấy biển mờ xanh qua ống nhòm, đã ngửi thấy hơi biển đằm đặm trong gió.

Sinh ra ở một làng quê trung du, nơi điệp điệp núi đồi, sim mua, chưa một lần thấy biển, đến biển nên biển làm tôi ngộp thở ngay khi còn mờ xa.

Hay nhỉ, miền Trung, núi khoả chân xuống biển.

Chúng tôi dừng chân ở xóm Mười Chín tháng Năm, thuộc xã Quảng Đông, Quảng Trạch, ngay dưới chân đèo Ngang.

Đại đội tổ chức tập bơi vũ trang ngay trên biển.

Về sau mới biết, mục đích chính của đợtt dã ngoại không chỉ là học bơi mà còn nhằm chữa ghẻ và hắc lào cho gần 1/3 số chiến sỹ trong đại đội.

Một công đôi việc.

Không biết đấy là sáng kiến của y tá Tất Việt hay của chỉ huy đơn vị, nhưng sau đợt dã ngoại ở gần cửa sông Ròn ấy thì đơn vị không còn ai bị bệnh ngoài da nữa.

17/2

Nhận lệnh đi công tác.

Miết mải đi trên Hoành Sơn xanh rì cây cỏ.

Qua núi, qua suối, qua rừng.

Đã vô tới Quảng Bình.

Quảng Bình đất lửa.

Quảng Bình ác liệt.

Lại nghe tiếng F4H rì rì trên đầu.

Giai đoạn ác liệt bắt đầu - Đất đỏ. (Q.1-Tr.139)

18/2

Có gì thanh cảnh hơn thế này.

Mắc võng trên đồi cao mà nằm, mà ghi nhật ký.

Hôm nay, lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy biển qua ống nhòm.

Biển biếc xa xa, mờ ảo trước mắt (8 km).

Lòng rộn lên một thứ cảm giác khó tả.

Nằm trên cao điểm, chao võng, nghe tiếng bom ầm ầm xa xa và nghe gió cây rì rào êm ả.

-Đồi không tên. (Q.1-Tr.140)

5/3

Đã 4 năm, hôm nay mới lại nom thấy cái dáng ngạo nghễ, hung hăng của những "thần sấm" Mỹ.

Chúng rú và chao cánh trên đầu.

Sự tồn tại và sự diệt vong cách nhau một bức liếp tranh.

-Cao điểm. (Q.1-Tr.140)

11.3

Có những đọt gió man mát, có mùi vị mằn mặn và tanh tưởi, tràn qua những dải đồi sim lúp xúp và đến cái xứ Kì Anh này.

Chúng tôi đi ngược chiều những đợt gió say người đó.

Đi từ sáng sớm.

Mang đi 12 ngày gạo.

Vất vả đây.

Cũng hôm nay, chúng tôi đã khai giấy tờ để chuẩn bị vào B. (Q.1-Tr.141)

12.3

Lần đầu của cuộc đời được sờ thấy, ngó thấy biển.

Ôi, người mẹ của thanh bình.

Được bơi trên nước mặn của nơi cửa sông Ròn.

Trong tâm hồn lao xao, xốn xang những xúc cảm trong sáng.

Biển.

Biển ầm ì sóng và một màu xanh sòng phẳng, hiền hoà.

Biển âm âm một thứ âm thanh diệu kì, quyến rũ và say mê.

Thế là trong kiến thức đã lấp được một lỗ trống lớn.

Đã biết biển.

Biển và những rặng dương, dải cát Quảng Bình bình dị, say lòng Tài.

-Quảng Đông. (Q.1-Tr.142)

13.3

"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà - Cỏ cây chen đá, lá chen hoa".

Câu thơ người xưa dẫn Tài mê mải đi nơi phong cảnh hữu tình này.

Đẹp thật!

-Cao điểm 234. (Q.1.Tr.142)

22.3

Tắm biển.

Khuôn mặt Biển gợn những làn sóng như những nếp nhăn của con người sớm già dặn, chững chạc, cứng cáp, từng trải.

-Xóm 19.5 (Q.1-Tr.144)

(Hai trang nhật ký Hoành Sơn, nét chì đã mờ dần theo năm tháng)

Tháng Tư Bảy Hai, quân ta đã tràn qua Đông Hà, đang dồn ép thị xã Quảng Trị.

Địch cay cú đánh chặn ta từ ngoài Quảng Bình, Hà Tĩnh bằng bom đủ loại.

Đang những ngày sôi nổi và nóng bỏng ở Hoành Sơn thì ngày 8/4, tôi được báo chuẩn bị, ngày hôm sau quay ra Sơn Tây học nghiệp vụ trinh sát.

Cùng đi với tôi lại có cả Lê Minh, hai đứa cứ như đôi Sam, kì thế.

Đáng tiếc không có Hồ Bảo, bạn mới kể từ sau Lớp dự khoá bay.

Hôm sau, Lê Minh và tôi bịn rịn chia tay Hồ Bảo ở ven đồi, thật sự rưng rưng, yếu đuối.

Cả 3 không biết những gì ở phía tương lai.

Anh Độ vẫn chưa vào.

Theo lệnh đại đội, tôi bàn giao cho Đỗ Triệu phụ trách tiểu đội.

Lại rất gấp, mọi việc phải xong trong một ngày.

Đêm ấy, đêm cuối cùng ở Hà Tĩnh, hôm sau tôi lên đường ra Bắc, tình cờ phiên gác của tôi ngay sau của Triệu.

Chúng tôi bàn giao gác và nấn ná đứng dưới mái tranh thấp lè tè của nhà mẹ Khánh.

Triệu ngập ngừng:

- Mai anh Tài ra Bắc, còn tôi và anh em chắc chuẩn bị vào, chẳng biết bao giờ gặp lại.

Tôi muốn hỏi anh một điều, xin anh nói thật.

Có đúng anh cũng là sinh viên không?

Hôm ở bờ suối, tôi đã nhìn thấy anh cất chiếc thẻ màu vàng vào cuốn sổ trong ba-lô.

Đúng là thẻ sinh viên.

Sao anh lại giấu tôi?

Ngay từ những ngày đầu về a8, tôi đã giấu kín gốc tích sinh viên của tôi.

Nói đúng hơn là không bao giờ tôi nói đến điều đó, nhất là với Triệu.

Triệu là sinh viên trường đại học Lâm nghiệp, dáng người đậm, chắc, quê vùng Đông Bắc.

Triệu lấy vợ sớm ở quê và đã có một cậu con trai.

Triệu kể: "Một lần, tôi đánh con, thế là bố tôi đánh tôi.

Cả 2 đều lần đầu trong đời đánh con!

Tôi hứa đấy là lần cuối".

Mới sống cùng tiểu đội với nhau được hơn 2 tháng, nhưng tôi thầm mến Triệu và nghĩ là Triệu cũng vậy.

Sau này, khi học xong nghiệp vụ binh địa ở Sơn Tây, trở vào Quảng Trị, tôi bàng hoàng, rụng rời khi nghe tin Triệu đã hy sinh ở Đông Hà trong mùa hè Bảy Hai nóng bỏng của Quảng Trị.

Chắc chắn Triệu không bao giờ đánh con nữa!

Nhưng có một chút tự an ủi mình là đêm giao gác ấy tôi đã không giấu gì Triệu, đã nói hết với Triệu những gì tôi nghĩ về người sinh viên mặc áo lính.

10.4.1973

Vào lúc đầu của một ngày, nhớ đến Triệu.

Triệu và quãng đời chung dè sẻn giữa tôi và Triệu.

Triệu và những điều Triệu nói với mọi người về Tôi.

Triệu và Tôi - Những tính toán ngây ngô, hồn nhiên, trong mát mà non nớt của cả 2 đứa.

Ở với nhau ngắn ngủi, vội vã, thờ ơ nhưng sống trong nhau sâu sắc, lâu bền, chắc chắn, thắm thiết.

Những câu chuyện sau này mọi người kể về Triệu càng kiên cố thêm những ấn tượng tốt lành của tôi về Triệu, về cả 2 đứa.

Khi đã thực sự đi qua quãng đời ấy rồi, ngồi để ghi nhận nó vào dĩ vãng mới cảm thấy rõ rệt những gì nhỏ nhen, vô nghĩa và những gì vĩ đại.

Cái vô nghĩa mà con người không sao thoát ra nổi.

Vì trăm vạn điều vô nghĩa ấy mà cuộc sống lại trở nên có nghĩa.

Bỏ những điều vô nghĩa ấy là tội thờ ơ với đời.

"Đời coi ta như một đứa con hoang, nhưng ta vẫn phải coi đời như một người mẹ thảo".

Chỉ có thể phấn đấu để mỗi việc làm bớt vô nghĩa, tầm phào.

Đời ghi nhận lại quãng đời êm đềm ấy và cả người bạnđời đã khuất ấy vào trong dĩ vãng như là một kỷ niệm đẹp, một niềm tự hào.-Đông Định. (Q.2-Tr.47)

Khi về C20 tôi làm liên lạc đại đội một mạch đến trước lúc vào đánh nhau ở QT, nên cũng hay đi cùng đại trưởng.

Rạng sáng 29 Tết 1972, đơn vị đến Kỳ Sơn (Kỳ Anh), thì sáng 30 Tết trinh sát được lệnh đi tìm và đặt đài quan sát chống địch đổ bộ.

Đại trưởng dẫn mấy người chúng tôi đi thực địa và đêm đó nằm trên Hoành Sơn đón giao thừa.

Vào QT, C20 chia nhiều nhóm, tôi là a trưởng dẫn tiểu đội vào tham gia bảo vệ thị xã với hai đài quan sát ở bờ sông làng Nhan Biều nhìn sang thành và ở đầu cầu QT.

Từ đó tôi không gặp anh Hiền.

Hôm qua mới biết tin anh đã mất khá sớm, ngay sau 1975, thấy buồn và thật nhớ những ngày ấy đi cùng anh Hiền.

Xin gửi một bài thơ về chuyến đi ấy như một nén hương tưởng nhớ anh Hiền, người đại trưởng đầu của C20.

--

Bữa cơm chiều ba mươi Tết

Không hẹn trước mà rồi gặp nhau

Sáu người đi đặt đài quan sát

Dừng lại nấu bữa cơm chiều Tết

Dưới chân Hoành Sơn bồng bềnh mây bay

Các anh là lính thông tin theo đặt đường dây

Trinh sát chúng tôi đi tìm cao điểm

Đơn vị bước vào những ngày dã chiến

Nên bữa cơm này đơn giản thế thôi

Xoong canh cải còn nghi ngút hơi

Không có muối ta cho ruốc vậy

Cơm nấu vội mà ngon thế đấy

Ngất nghểu một nồi thật cao

Ngồi vào ăn không biết hết tên nhau

Vẫn vui chuyện về mùa xuân xứ sở

Ngày mai ngày mai khi màu xanh hé nở

Cánh rừng này chỉ còn những người đi tìm tài nguyên

Sau những ngày hành quân liên miên

Ta nghỉ lại ven rừng nấu bữa cơm chiều ba mươi Tết

Đi đánh Mỹ có những ngày sống đẹp

Vượt qua một gian lao hiểu hạnh phúc hơn nhiều

Hoành Sơn, Chiều 30 Tết Âm lịch 1972.

5.

Chuyện Lớp binh địa

Sư đoàn 325 cử 9 trinh sát ra Cục 2 học nghiệp vụ trinh sát, gồm 3 trinh sát của a12 (Duyên, Nghiêm, Phi) ra học trinh sát ảnh, 3 trinh sát của trung đoàn 18 (Thái, Nhuần, Tân) và 3 trinh sát sư đoàn (Minh, Khoa và tôi) ra học trinh sát binh địa.

Ban 2 phân công Duyên làm trưởng toán, tôi là phó.

Cả bọn hồ hởi leo lên thùng xe tải, tạm biệt Hoành Sơn, Hà Tĩnh, Quảng Bình, quay ngược ra Bắc.

9.4:

Tạm xa đất Quảng Trạch, Kì Anh này đúng vào lúc bắt đầu một giai đoạn khốc liệt.

Những sự khiêu khích của đối phương đã bắt đầu từ 4 ngày trước đây.

Xe chở tấm lòng sung sướng ngược về với khu 3 -Thanh Hoá. (Q.1-Tr.145)

Cả bọn được tranh thủ về phép mấy ngày.

Hối hả, 2 đứa ngược Thái Nguyên, 4 đứa về Vĩnh Phúc, Khoa về Hải Hưng, Duyên đi Nam Hà, chỉ mỗi Lê Minh là nhà ở Hà Nội.

Hẹn nhau sau 3 ngày có mặt ở Ba Vành, dưới chân núi Ba Vì, đại bản doanh của trinh sát bộ tổng tham mưu.

Tôi về Hương Canh nhưng chỉ gặp Mợ và em Tuyết.

Dù chưa phải là từ chiến trường về nhưng đã thấy xúc động, sung sướng lắm.

Người đến thăm hỏi chật nhà.

Ai cũng hỏi có gặp người thân của mình trong ấy không, cứ như chiến trường là một làng, vào đấy ai cũng gặp nhau, ai cũng biết nhau.

Khắp nơi đang hối hả sơ tán, chuẩn bị cho những trận chiến đấu căng thẳng cả ở tiền phương và hậu phương.

Tôi chỉ ở nhà được vài ngày rồi lên đơn vị ở Sơn Tây.

May là ngay chủ nhật sau đó, đơn vị cho nghỉ tự do, tôi vội vã xin đi nhờ xe về Hà Nội.

Suốt chặng đường Sơn Tây – Hà Nội, đâu đâu, ngoài đường, trong mỗi gia đình, người già, con trẻ, đều thấy hối hả không khí "thời chiến", chứ chẳng riêng gì lính.

10.4

Đã qua đi hơn 7 tháng rồi, hôm nay con mới lại được ngồi ở trên miểng đất yêu dấu này mà ghi cho đời mình.

Ôi, đất, cảnh, con người của Hương Canh.

Con đi một nửa ngàn km về đây để được nhìn người mẹ yêu dấu của con khóc vì sung sướng.

Tình cảm của anh lính chỉ là thế đấy.

Buồn vì không gặp Bố.

Mắc võng giữa 2 cột nhà chứ không phải là 2 cây rừng của Hoành Sơn nữa.

Thao thức mãi.

- Hương Canh. (Q.1-Tr.146)

23.4

Đường về Thăng Long nườm nượp một chiều xe và người đi ngược ra.

Đường phố Gia Lâm lèo tèo vài bóng người hớt hải.

Có một cái gì đấy không rõ rệt, không dứt khoát, nhưng nhìn vào đấy có thể hiểu rằng: Hãy dè chừng, đối phương sẽ gặp phải sự trừng trị đích đáng của đất này.

Sự khốc liệt lại bắt đầu.

Những nước cờ mới.

Gặp Thầy, anh Thức, chị Thiện và bé Nhung.

Thầy đã già đi quá nhiều.

Một sự lo lắng mơ hồ thoáng đến và mình phải vội vã xua nó đi ngay.

Bé Nhung, cháu gái yêu dấu của chú.

Mong muôn điều tốt lành hãy đến với cháu.

-Lộc Hà (Q.1-Tr.149)

(Cửa hàng kem Long Vân-Hồng Vân, chuyến tàu điện Hà Đông về, những con người mặc vỏ áo bông, những chiếc xe đạp không chở người hay hàng đằng sau, những dòng khẩu hiệu chống Mỹ, ...

- Một góc Hà Nội Bảy Hai -Ảnh minh họa)

Sau khi tập trung, 3 đứa học trinh sát ảnh được tách theo lớp ảnh, còn 6 đứa học binh địa về cùng một tiểu đội của lớp binh địa, thuộc d74, Cục 2.

Tiểu đội trưởng của chúng tôi ở lớp binh địa tên Bơn, hơn tôi chừng 2 – 3 tuổi, quê Hải Phòng, hiền khô, thủ thỉ, nhường nhịn.

Bọn tôi hay vòi vĩnh: "Anh Bơn ơi, lương khô đê!", "A trưởng ơi, đổi áo phin gần như mới, chưa vá miếng nào lấy áo Tô Châu cũ nào!".

Quý nhau lắm.

Những đứa như Lê Minh và tôi, đã từng oài người cảnh "đầu binh cuối cán" thì ngấm, hiểu và thương a trưởng vô cùng.

Trung đội trưởng, thượng sỹ Đức, người Thanh Hoá, nom mộc mạc như chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp nhưng vẽ cảnh đồ rất suya, cảnh đồ khu vực gần thị xã Hà Đông mà nom giống như tranh thuỷ mặc của Tàu.

Phụ trách lớp học là thiếu uý Thông, người miền Trung, tối ngày soi anh em từ cách đánh răng đến cách xỏ quai dép cao su.

Cùng về học binh địa còn có trinh sát của các sư đoàn khác trong toàn quân.

Tôi nhớ trong cùng tiểu đội có Doanh, trắng trẻo, thư sinh, quê Hải Phòng, nhớ mang máng như trước khi nhập ngũ là sinh viên Hàng hải.

Doanh chơi thân với bọn 325 chúng tôi.

Học binh địa, nôm na là học về các loại "binh đồ", gồm bản đồ, sơ đồ, cảnh đồ, thiết đồ và sa bàn.

Học ý nghĩa, cách sử dụng, khai thác thông tin từng loại, đối chiếu với thực tế, rồi sau nữa là học cách vẽ mỗi loại, cách đắp sa bàn.

Yêu cầu tối thiểu với một trinh sát binh địa là bịt mắt thả xuống một địa hình hoàn toàn xa lạ, nhưng chỉ với chiếc bản đồ và địa bàn trong tay, là mở mắt ra, chỉ gióng mấy đường giao hội là chấm được ngay điểm mình đang đứng là toạ độ nào trên bản đồ.

Tôi rất mê một môn học phụ trong binh địa.

Đó là nhận biết phương vị qua sao trời.

Tôi vốn mê sao từ khi còn nhỏ, sống ở quê.

Thật "may mắn" là thủa ấy hầu như chưa có điện, sao trở nên gần gũi, ban ngày là mặt trời, ban đêm là sao, đôi khi có trăng.

Bây giờ tôi vẫn giữ được lòng đam mê sao, nhưng hoạ hoằn, năm đôi ba lần, đi đâu đó xa khỏi thành phố nhoè nhoẹt ánh điện, mới lại có dịp ngắm sao.

Mỗi học viên binh địa tự kiếm một chiếc giá vẽ, bằng gỗ dán, rộng gấp đôi chiếc bảng i-tờ, nhỏ xinh, cũng cắp nách như học sinh, hành quân thì kẹp lên chốc ba-lô.

Binh địa chỉ dùng bút chì, không bao giờ dùng mực.

Chì đen Hồng Hà, HB thì xông xênh, nhưng 2B thì dè sẻn, quý như lương khô A72.

Mấy tháng học binh địa, ôm bản đồ, la bàn, cắt phương vị bừa ngang, bừa dọc đất Sơn Tây, suốt từ Ba Vì, Ba Vành đến bờ sông Hồng, lui về Tùng Thiện, Thạch Thất, rồi chếch sang Hoà Lạc.

Tuy không phải chiến trường, chỉ quân xanh, quân đỏ, lô-cốt, lỗ châu mai Ba Vành từ thời Pháp còn lại, thế mà cũng một lần chết hụt, lần chết hụt đầu tiên trong đời.

Đó là sáng 8/5/1972, chúng tôi hành quân từ Đồng Mô ra một khu doanh trại mới, gần Tùng Thiện.

Mới hạ ba-lô, chưa kịp nhận doanh trại thì ầm ầm bom nổ tối tăm trời đất.

Khói bụi mù mịt quanh quả đồi chúng tôi mới đến, cả bên trận địa tên lửa phía đồi bên cạnh và đơn vị cơ giới Q51 ở làng bên.

Tôi vừa chạy, vừa lăn, vừa bò xuống chân đồi, ẹp mình xuống bờ ruộng và tận mắt chứng kiến một chiến sỹ của đơn vị tên lửa ngã gục xuống giao thông hào.

Ngay khi dứt bom, đại đội ra lệnh các nhóm tự tổ chức hành quân ngược về Ba Vành, tập kết ở xóm Bơn, một xóm Mường dưới chân Ba, toạ độ xyz.

Đường về đi qua ven làng, nơi đơn vị cơ giới Q51 đóng quân, thấy còn khét lẹt mùi bom, nháo nhác người chạy tìm người.

Đây là lần đầu tiên tôi bị gần với cái chết, nhìn thấy cái chết nên cảm xúc khá dữ dội.

8.5

Anh cả của em!

Em biết ghi gì và nói gì với anh về tất cả những gì xảy ra cách đây 3 giờ.

Lần đầu tiên trong đời, anh ạ.

9 giờ kém 5, Giặc Mỹ đổ xuống miểng đất vô tội này không biết bao nhiêu là bom đạn và thảm hoạ.

Trước mắt em là bóng một đồng đội gục xuống bờ hào.

Rồi bom đạn, ..

Hai bên cạnh đều bốc cháy.

Lửa và khói cuộn lên.

Cứ như thế trong 25 phút.

Sự tồn tại dũng cảm của tổ quốc này mãi mãi là một sự kiện vĩ đại -Phi trường. (Q.1-Tr.151)

Những ngày học binh địa ở d74, Sơn Tây, mùa hè Bảy Hai, cũng chính là những ngày cả nước nóng bỏng.

Nóng bỏng Quảng Trị, nóng bỏng cả hậu phương miền Bắc, bom đạn lan ngược mãi lên tận Tây Bắc, sát biên giới.

10.5

Những nước cờ quyết định và táo bạo của những thế lực đối lập nhau.

Tình hình của cuộc chiến có những đổi thay lớn lao.

Cục diện chiến trường thay đổi.

Sự thất bại và những nước cờ liều ngu xuẩn của đối phương.

Sự kiên trì của ta.

Tình hình Quảng Trị gieo vào lòng ta những gì phấn chấn và lạc quan.

Chắc chắn sẽ còn khốc liệt hơn nữa.

Chúng đã đánh phá tới Yên Bái.

16 kẻ cướp đền tội. ((Q.1-Tr.152)

18.5

Tụi kẻ cướp đã cắn được một miếng hiểm.

Cầu Hàm Rồng, cái cuống họng gan góc ấy đã bị cắt đứt.

Nhớ lại hình ảnh của đoạn cầu dũng cảm ấy mà mình đã đi qua hôm 10.4.-Xóm Bơn. (Q.1-Tr.153)

30.5

Buổi sáng, thiếu tá Điện, phái viên của cục tình báo, nói với bọn mình: Hãy đừng vác mặt trở về nhìn những người thân thuộc khi mà nhiệm vụ chưa làm tròn.

Đi, đi hẳn đi.

Chập tối, nhận được thư K.

Người bạn chiến đấu ấy nhắc nhở mình bao nhiêu điều tốt lành của thủa nhỏ qua rồi.

Dĩ vãng êm ái của chung thật là quí giá.

Khuê còn cho biết cuối 7.72 K sẽ vào.

Minh cũng nhận được thư.

Qua thư Minh được biết sư đoàn mình đã lên đường vào B dài rồi.

Mình sẽ vào sau.

X.

Bơn. (Q.1-Tr.155)

31.5

Lại hết một tháng nữa rồi.

Hôm nay, những con quỉ trời lại lấc láo bay vào.

Hôm nay là ngày đầu của đợt giã ngoại thứ nhất.

Lại hành quân, lại đắm đuối chìm vào biển sao mênh mông.

Đồng Mồ. (Q.1-Tr.156)

22.6

Suy nghĩ về Tội ác và Trừng phạt.

Những tên cướp trời bay lấc láo và hăm dọa gieo cái chết vào bất cứ một sinh mạng vô tội nào.

Xóm Bơn. (Q.1-Tr.161)

2.7.1972

Mấy ngày diễn tập thử đã quá ư là vất vả.

Chẳng còn bao lâu nữa sẽ rời hậu phương để nhích dần tới lò lửa rừng rực đang đợi chờ.

Xóm Bơn. (Q.1-Tr.162)

Gần hết khoá học có 2-3 đợt dã ngoại tổng hợp, có đợt tập đột nhập đào hầm bí mật trong nhà máy nước thị xã Sơn Tây, đợt đột nhập vẽ sơ đồ huyện đội Thạch Thất.

Mỗi lần như vậy, bộ đội địa phương hay dân quân tự vệ được báo trước, vào vai quân xanh, háo hức săn tìm cánh trinh sát, bắt giải về "đồn" nhận thưởng.

Tôi còn nhớ chút kỷ niệm về lần dã ngoại ở Thạch Thất.

Lần ấy, sau khi nhận nhiệm vụ và tìm hiểu kỹ trên bản đồ, chúng tôi quyết định "ém quân" ở một xóm nhỏ, cách huyện lỵ chừng 2-3 cây số.

Ban ngày tìm cách tiệm y, tiếp cận huyện lỵ để sơ bộ định hướng, ban đêm đột nhập vẽ sơ đồ chi tiết khu huyện đội.

May mắn là sáng ấy có phiên chợ ở huyện lỵ mà quanh đấy là cả rừng các đơn vị bộ đội nên lính và anh nuôi đi chợ cũng nhiều, dễ trà trộn.

Nhưng kẹt nhất là chỉ có một cây cầu duy nhất để vào huyện lỵ, đầu bên kia cầu có quân xanh chốt.

Có nhóm may mắn lọt qua cầu, có nhóm bị quân xanh tóm, có nhóm cười xòe, chạy bổ lùi.

Mấy anh nuôi đơn vị khác sửng cồ chứng minh mình là "anh nuôi xịn", trinh sát, trinh seo gì đâu.

Nhóm tôi không chọn con đường qua cầu.

Xem kỹ trên bản đồ thấy vòng lên phía phải cầu khoảng vài cây số có một bến đò.

Chúng tôi chọn lối này.

Trên đò có 2 đứa bọn tôi, một nhóm trinh sát khác nữa và mấy người dân.

Đến giữa sông đã nhác thấy bóng 2 chú quân xanh thập thò sau gốc đa trên bến.

Toi rồi.

Chúng tôi hội ý chớp nhoáng.

Đến bờ, tôi lên đầu tiên, xăng xở vác chiếc xe đạp của một chị khách trên đò, vừa leo lên dốc đê, vừa quay nhìn đợi chị, như chồng đợi vợ.

Anh bạn cùng nhóm đi sát tôi, vừa đi vừa phân trần, như năn nỉ, nhờ vả tôi điều gì đó.

Đến chỗ 2 quân xanh, tôi chủ động xin khi họ chưa kịp hỏi gì: "Đồng chí này là bạn cùng quê, về nghỉ phép, chuẩn bị đi B, không phải là lính trinh sát đâu".

"Biết rồi, ai hỏi mà xưng, đồng chí cứ đi đi, còn đồng chí lày đứng nại!"

Thế là họ đẩy xe đạp của tôi lên hướng đê, còn bạn tôi bị giữ lại.

Tôi giả vờ lắc đầu, không nói gì thêm, thản nhiên dắt xe lên hẳn trên đê, bỏ lại người "bạn cùng quê".

Qua rồi, ngoái lại thấy đồng đội và nhóm trinh sát kia xin xỏ một lúc rồi cũng phải lên đò quay ngược về, mỗi mình tôi thoát.

Cả ngày lang thang trong thị trấn.

Tối khuya, không khó khăn lắm, tôi đã tiềm nhập được vào một căn phòng rất rộng, không khoá, trong toàn bàn ghế và tủ, chắc là hội trường huyện đội.

Bên phòng đối diện thấy có một người mặc quân phục nghiêm chỉnh, ngồi lúi húi sổ sách bên ngọn đèn dầu.

Vô tình tôi vấp phải chiếc ghế gây nên tiếng động nhỏ.

Thì cũng coi như tiếng động của lũ chuột đuổi nhau trong phòng thôi.

Nhưng tôi thấy anh ta thong thả đứng dậy, tay hua hua chiếc đèn 3 pin, đi thẳng sang hội trường.

Tôi nhẹ nhàng chui ẹp dưới gầm chiếc bàn cuối phòng.

Việc đầu tiên anh ta làm là bình tĩnh chốt cửa lại, rồi dõng dạc: "Mấy bố trinh sát đâu rồi, ra đi!".

Tìm được tôi trong ngổn ngang bàn ghế kể cũng không dễ, mà khéo léo thì tôi cũng có thể lẻn ra ngoài được, nhưng sợ nhất là anh ta chẳng tìm nữa mà lại quay ra, bấm khoá cửa lại thì chỉ còn nước dỡ mái ngói mới thoát ra được.

Thì ra anh ta được báo trước nên đã mở cửa sẵn bẫy tôi.

Lần này thì chính tôi bị mắc bẫy, chứ không bẫy được quân xanh như ban sáng ở bến đò.

Câu chuyện kết thúc bằng cái bắt tay kiểu lính và nụ cười ngượng nghịu của tôi.

Mãi đến tận ngày bế mạc, chúng tôi mới gặp lại nhómtrinh sát ảnh.

Cả toán trinh sát 325 đều đạt kết quả tốt.

Chào tạm biệt SơnTây, "Thủ đô lính".

6.

Đường ra trận mùa này đẹp lắm!

Khoá học nghiệp vụ trinh sát ở Sơn Tây kết thúc gần giữa tháng 8/1972, đúng vào thời điểm Quảng Trị đang nóng bỏng nhất.

Đi đâu trên đất Bắc cũng nghe nói 2 từ Thành cổ Quảng Trị.

Cả nước hướng về Quảng Trị, chung nhịp thở với Quảng Trị.

Toán trinh sát f325 nhận bằng tốt nghiệp, được về phép 2 tuần, hẹn nhau chủ nhật 20/8 tập trung ở Hà Nội, tại nhà Lê Minh, 60 phố Sơn Tây, để theo đường giao liên trở về đơn vị.

Ngày nhập ngũ không liên hoan, nhưng trước ngày "Tài đi B", Thầy tôi lại quyết định "thịt lợn" liên hoan.

Ngày ấy, thịt một con lợn là chuyện hệ trọng, rắc rối lắm, chứ không đơn giản như bây giờ.

Phải làm giấy báo cho đội, báo cho hợp tác xã, rồi thịt ra phải bán thịt cho "Thực phẩm" (phòng chức năng của huyện, phụ trách việc thu mua thực phẩm của dân rồi bán theo tiêu chuẩn tem phiếu cho cán bộ), chỉ giữ lại 2 lá mỡ và bộ lòng.

Tôi rời Hương Canh, về Hà Nội sớm 2 ngày, tranh thủ qua thăm anh chị và cháu ở Yên Viên.

Theo kế hoạch, ngày 20/8 tập trung, ngày 22/8 khởi hành.

18.8

Lớn lên ở đây và đây cũng là nơi bắt đầu của những chuyến đi.

Thức trắng đêm ở Hương Canh và Yên Viên. (Q.2-Tr.5)

Bút tích nhật ký của thầy tôi với các mốc thời gian: Thịt lợn/Bình (anh cả) tìm Tài/Tài tập trung (Hà Nội)/Tuyết (em gái tôi) thi vào 8/Tài đi B

Đầu tuần sau, Duyên và tôi đi tiền trạm, mang giấy giới thiệu của Cục 2 lên thẳng bộ quốc phòng hỏi đường về sư đoàn.

Toà nhà Bộ Quốc phòng màu đỏ nâu, đứng uy nghiêm, lạnh lùng, cổ kính góc ngã tư Phan Đình Phùng - Hoàng Diệu.

Vị trung uý thường trực ngồi vuông vức trên ghế, đọc giấy giới thiệu của Cục 2 rồi không hỏi nửa câu, lạnh lùng nói: "F325 của các đồng chí đang ở Quảng Trị.

Các đồng chí tự tổ chức đi, khẩn trương lên.

Vào đến Kỳ Anh sẽ có trạm thu nhận của sư đoàn.

Trinh sát, toàn tốt nghiệp khá giỏi thế này cần gì giao liên".

Không còn đoán già, đoán non nữa, chính f325 của chúng tôi đang chiến đấu ở Quảng Trị.

Chúng tôi tụ tập ở nhà Lê Minh, bàn bạc và quyết định, mua được vé xe ngày nào sẽ đi ngày ấy.

Trong thời gian chờ đợi, mấy đứa về nhà họ hàng ở Hà Nội, còn lại ở ngay nhà Lê Minh, coi như trạm giao liên gia đình, không đứa nào được về quê nữa.

Đường tàu vào Nam đã bị bom đạn cắt đứt từ đầu hè, chỉ còn trông vào xe khách, nhưng cũng rất hiếm.

Cũng may, nhờ bác Lê Giới, bố của Lê Minh, là cán bộ cao cấp trong ngành giao thông nên cuối cùng bọn tôi cũng có được 9 chiếc vé xe khách Hà Nội - Vinh.

Đoạn từ Vinh vào Kỳ Anh lo sau, cùng lắm là hành quân bộ.

Duyên phụ trách chung, tôi phụ trách hậu cần, quân lương.

Dự tính cùng lắm 1 tuần thì đến được đơn vị, nên cũng không quá lo lắng.

Dù vậy, tôi vẫn phòng xa mua 300 chiếc bánh xốp loại 3 hào ở chiếc xe lưu động của mậu dịch trên bờ hồ Thuyền Quang.

Mỗi chiếc to gần bằng miệng chiếc bát B52, dày non mu bàn tay, nhưng 100 chiếc đùm vào áo mưa lính cũng chềnh ềnh to bằng 2 chiếc ba-lô cóc.

Chiều chủ nhật sau quốc khánh, 3/9, xe xuất phát từ bờ hồ Thuyền Quang.

Chúng tôi quê xa, không ai có người tiễn.

Mẹ và các em Lê Minh ra tiễn chung.

Trên xe chỉ có 9 lính, còn toàn là dân thường và cán bộ đi công tác.

Chiếc xe khách vỏ Ba-Đình, ruột IFA chuyển bánh chạy theo phố Trần Nhân Tông rồi ngoặt trái, xuôi đường Nam Bộ đi về phương Nam.

3.9.1972:

Bây giờ đi là đi chứ đâu phải chuyện "say đi". (Q.2-Tr.5)

Đầu 9/1972 đang là giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến tranh mà trọng tâm là thị xã Quảng Trị.

Địch quyết tâm bật ta ra khỏi thị xã Quảng Trị để lấy lợi thế trên bàn thương lượng Pa-ri.

Chịu trách nhiệm chính chốt giữ thị xã lại chính là sư đoàn 325 non trẻ của chúng tôi.

Để ngăn chặn mọi sự hỗ trợ của hậu phương cho Quảng Trị, máy bay Mỹ tăng cường bắn phá ác liệt suốt ngày đêm, chặn các ngả đường từ Bắc vào.

Xe chúng tôi đi suôn sẻ được đúng 1 ngày, nhích về phía chiến trường được khoảng 50-60 cây số.

Đến một cây cầu đâu đó khỏi thị xã Phủ Lý thì đường bị bom địch cắt đứt, xe phải tạt vào làng xóm ven đường chờ mất 1 ngày.

Hôm sau đường thông, lại đi, lại tắc, lại chờ thông đường.

Mới được khoảng 100 cây số, chưa hết đất Ninh Bình, mà đã hết đứt gần 1 tuần.

Sốt ruột đã đành nhưng bắt đầu có vấn đề về quân lương vì chúng tôi chỉ tính dự trữ đủ cho nhiều nhất là 1 tuần.

Thế mà đà này chắc còn lâu mới đến được trạm tiếp nhận của sư đoàn.

Lính vào chiến trường hầu như không ai mang theo tiền.

Tôi có tờ 5 đồng, nhưng là 5 đồng của tháng lương binh nhì đầu tiên nhận từ hồi ở Sở Thượng, trên đó tôi đã viết nắn nót và dè sẻn hơn chục địa danh đã qua: Thượng Đình, Sở Thượng, Xóm Mạc, Ngọc Kim Long, Quán Rãnh, Bạch Mai, Kỳ Lạc, Đèo Ngang, Ba Vành, xóm Bơn, Hoà Lạc, Thạch Thất.

Tôi quyết không tiêu, để giữ làm kỷ niệm, thầm mong điền các địa danh chỉ hết 1 mặt tờ tiền, sang mặt sau cầu mong được điền lại chữ Thượng Đình là nơi ngày 6/9/1971 đã ra đi.

Tôi quản quân lương nên càng lo.

Anh em đồng ý xén bớt khẩu phần.

Số bánh xốp những ngày đầu chỉ để ăn chơi chơi, nay phải quản chặt để sung vào thành khẩu phần chính.

Lên xe, xuống xe, bánh đã vỡ vụn, thì cho vụn luôn, bóp ra, lấy bát B52 đong thành suất, vừa tiện, vừa công bằng, một bữa mỗi người một gạt miệng bát bột bánh xốp, cũng kéo thêm được 3-4 bữa.

Kết hợp với nguồn khoai sắn từ dân vận, cố cầm cự.

Tối 6/9, một năm ngày nhập ngũ, Duyên, Minh và tôi, 3 đứa rủ nhau ra ngồi quán nước ven đường.

Mấy chén nước chè với mấy viên kẹo dồi, lang thang ngược về dĩ vãng mới một năm chưa xa rồi phiêu diêu tưởng tượng một năm sau, không biết xa hay gần.

Đến được đâu đó cuối Ninh Bình, đầu Thanh Hoá thì gần như dẫm chân tại chỗ.

Phần vì đường tắc, phần vì bác tài-xế cứ nấn ná, chỉ suốt ngày quyến luyến, thân mật với một cô hành khách trên xe.

Mọi người xì xào: kiểu này thì đến Tết chưa chắc vào đến Vinh.

Chúng tôi hội ý và quyết định bỏ xe khách, chuyển sang hành quân bộ.

Cả đoàn cặm cụi đếm từng huyện, hết Quảng Xương sang Tĩnh Gia, qua Quỳnh Lưu, vào Diễn Châu.

Cầu Hang, cầu Hổ, cầu Giát,...

đều bị bom đánh sập ban ngày, ban đêm công binh khắc phục tạm.

Lại đánh, lại nối, ít nhất là đảm bảo giao thông cho người đi bộ.

Nhớ đêm qua cầu Hang, cầu Hổ, chúng tôi phải bò trên những nhịp cầu đã bị gục xuống sông, quãng nổi, quãng chìm, gập ghềnh, chênh vênh để vượt sang bờ nam.

Chúng tôi qua Tĩnh Gia, huyện cuối cùng của đất Thanh, sang Quỳnh Lưu, huyện đầu của xứ Nghệ, vào một đêm trăng thượng tuần mảnh mai, mùng 3 hay 4 tháng 8 âm lịch.

"Đường vô xứ Nghệ quanh quanh".

Đoạn này, quốc lộ Một chạy bám theo sườn núi.

Cả bọn nhóm 2, nhóm 3 cặm cụi đi trong phần đường khuất ánh trăng do bóng núi đổ xuống.

Không thấy "non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ", chỉ thấy ánh trăng bàng bạc trên cao, xa xa phía trước.

Càng đi vào đêm, trăng càng xuống thấp, bóng núi càng dâng cao, loang rộng.

Tôi chìm vào cảm giác hoang sơ, bé bỏng, thần thoại.

Cả bọn dừng chân nghỉ đúng cột phân cách 2 tỉnh Thanh Hoá - Nghệ An.

Nhích thêm được một tỉnh nữa.

Hết đất Thanh rồi tiếp sang xứ Nghệ, chúng tôi đi hiên ngang trên quốc quốc lộ Một, hôm đi ngày, hôm đi đêm.

Thời điểm đầu 9/1972, quốc lộ Một bị bom Mỹ cắt vụn, đứt đoạn, vì vậy, rầm rập người xe trên đường mòn Trường Sơn nhưng quốc lộ Một lại vắng tanh.

9 chiến sỹ trinh sát f325 với 9 chiếc ba-lô cóc, 9 khẩu AK báng gấp, 1 máy ảnh, cặm cụi đi vào hướng Quảng Trị.

Lác đác chúng tôi gặp những người lính đi lẻ hay thành tốp 2 – 3 người, ngược hướng với chúng tôi.

Người thì ba-lô lép bẹp trên lưng, người thì xệch xoạc túi mìn Claymo bên vai hay nhếch nhác bao cát Mỹ trên tay, mệt mỏi, rã rượi, vừa đi vừa lấm lét nhìn về phía trước.

Đi ngược chiều nhau nhưng chúng tôi chỉ nhìn thấy họ ở xa xa phía trước, không lần nào xáp mặt, không lần nào chào hỏi nhau vì họ đều tạt xuống bên đường, tránh bọn tôi.

Có lẽ họ tưởng chúng tôi là quân cảnh.

Tôi chợt nhớ tới một câu có tính triết lý của Huygô trong Những người khốn khổ, đoạn nói về Giăng Van Giăng ở tù ra: "Người nghèo đi không có thói quen ngoảnh nhìn về phía sau".

Lính thì giàu với ai?

Đúng thật, không hề thấy những người lính bỏ ngũ đi ngược chiều với chúng tôi ngoái cổ lại.

Phía sau của họ là phía trước của chúng tôi, nơi Cổ thành Quảng Trị đang những ngày kiên cường tử thủ.

10.9

Những tốp lính nhếch nhác lê dài trên lộ 1, trốn về nơi thanh bình hơn.

Mùi khăm khẳm của thịt người thối ở hố bom bên cầu vào lúc hửng sáng.

Thoát khỏi Thanh Hoá.

-Quỳnh Lưu. (Q.2-Tr.7)

Dọc đường vào, đâu đó không nhớ thuộc đất Thanh hay xứ Nghệ, trên lưng chừng những dải núi đất, quân dân đã vạt cỏ, xếp đá hay quét vôi thành hàng chữ in trắng nổi bật trên nền xanh của núi đồi và da trời: "Tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược", sừng sững như một pa-nô thiên nhiên, ta từ chục cây số xa hay địch bay mãi trên trời cao vẫn đọc được.

Đi trên quốc lộ 1, phần đất Quỳnh Lưu, Diễn Châu, có cảm giác như thanh bình hơn Thanh Hoá.

Đêm qua núi Mộ Dạ (Dạ Sơn), dù mệt cả bọn vẫn không tiếc đường, tiếc sức, rẽ lên thăm đền thờ Thục Phán An Dương Vương ngay bên đường.

Đền nằm trên đỉnh quả đồi tạo nên hình hình con công, đồi là thân công, ngôi đền là cái đầu công, nên gọi là đền Công, tiếng địa phương gọi là đền Cuông.

Từ chân đồi nhìn lên đền Cuông, ánh trăng chiếu sáng ngôi đền, mờ mờ, ảo ảo như phủ khói sương, lung linh truyền thuyết Mỵ Châu, Trọng Thuỷ.

Trong đêm trăng mờ, từ trên đền không nhìn được thấy biển, không nghe tiếng sóng vỗ, nhưng gió đã thoảng vị mặn.

Khoảng đoán biển không xa, nơi thần Kim Quy hiện lên mách bảo An Dương Vương: "Địch ở sau lưng mà nhà vua không biết!"

Sao chuyện xưa mà cũng oan nghiệt thế!

Liệu có đoạn nào trên chặng đường chúng tôi vừa đi, vết chân chúng tôi trùng lên vết vó ngựa của cha con Thục Phán?

Có còn sót lại đâu đó những chiếc lông ngỗng si tình của người xưa?

Tôi nhớ hôm qua Diễn Châu, đoàn dừng chân nghỉ đêm ở Diễn Thịnh.

Đất lạc đang mùa thu hoạch lạc, ngập sân, ngập hè là lạc.

Lần đầu tôi thấy người ta bóc lạc bằng cối máy, đạp bằng chân, thứ cối ở quê tôi chỉ để giã gạo, giã bột.

Thật ngạc nhiên, chày máy giã phầm phập thế mà chỉ vỡ vỏ chứ nhân lạc không vỡ.

Sáng ra, khi chia tay gia đình, tôi mới biết hôm trước nữa mình đã quên chiếc bi-đông ở Quỳnh Lưu.

Bác chủ nhà thấy vậy vội chạy vào buồng mang ra cho tôi một chiếc bi-đông, cũng bi-đông lính, bi-đông Trung quốc, mới tinh, dù tôi từ chối thế nào cũng không được.

"Có phải của nhà mô.

Cũng là của mấy chú đoàn khác bỏ quên.

Bộ đội đi B mà không có bi-đông đánh Mỹ răng được!".

Qua Nghệ An sang Hà Tĩnh, chúng tôi rời quốc lộ 1, rẽ lên đường 15 vì đích đến của chúng tôi là miền tây Kỳ Anh.

Qua Nghi Xuân, Đồng Lộc, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Cẩm Xuyên vào Kỳ Anh.

Chỉ đi đêm, vì đêm mới hy vọng gặp xe đi nhờ.

Một đêm, cả lũ ngủ thiếp đi ngay trên mặt đường.

Đằng nào xe đến cũng phải dừng lại, khỏi phải vẫy, càng dễ xin đi nhờ.

Một đêm khác, đâu đó thuộc Can Lộc, Hà Tĩnh, trăng gần rằm, trong veo, chúng tôi đi nhờ được xe tải, nhưng đường mới bị bom đánh tắc.

Điểm tắc là cống Mười Chín, một trong những trọng điểm mà cánh giao liên quen gọi là cống "Mì Chính", vì có lần địch đánh trúng xe chở mì chính, làm tung toé mì chính ra trắng cả mặt ruộng.

Chờ cả tiếng sốt ruột, chúng tôi xuống xe, men theo đoàn xe đi về phía trước.

Ngạc nhiên, đoàn xe không phải là 5 xe, 10 xe mà là cả hàng trăm xe, toàn là xe tải, ăm ắp chở hàng, chở quân.

Tất cả tắt máy, căng thẳng, lính lái ngồi trong ca-bin, bộ đội trên thùng xe, ai nấy căng tai lắng nghe hướng dẫn của thanh niên xung phong và canh chừng tiếng máy bay giặc.

Và ngạc nhiên hơn nữa là cả trăm xe chiều vào nhưng không có một xe nào chiều ra.

Cứ như một chiều máu chảy.

Tôi thấy rạo rực, mình cũng là một trong những bạch cầu, hồng cầu li ti trong mạch máu sục sôi, căng tràn, đêm đêm hừng hực chảy dồn về phía có tiếng súng.

Qua được cống Mì Chính là đến ngã ba Đồng Lộc.

Một lần khác vẫy được xe dừng lại, lái xe thò đầu ra: Xe chở lợn, hôi lắm, đi không?

Có, hôi còn hơn đi bộ.

Lớp nhớp một đêm lính đứng chung với lợn trên xe, hôm sau tắm suối nửa ngày vẫn hôi.

Sau đúng 16 ngày long đong, lận đận nhưng không kém thi vị, trưa 18/9, toán trinh sát cũng đến được tiểu đoàn thu dung (d27) của sư đoàn ở Kỳ Tây, Kỳ Anh.

Thật tiếc là cuộc hành quân hơn nửa tháng đầy ắp những kỷ niệm thú vị ấy được ghi lại trong nhật ký quá sơ sài.

Cứ ngày nối ngày, đêm nối đêm, huyện nối huyện, tỉnh nối tỉnh, mặc máy bay và bom đạn, cứ thế thẳng hướng ra chiến trường.

Có rảnh rang lúc nào đâu mà nhật ký!

Chỉ 4 lần ghi: 3/9 - Ngày xuất phát; 8/9 – Tắc đường, rỗi rãi; 10/9: Hết đất Thanh, sang Nghệ và 18/9: Tới trạm thu dung.

Còn đọng trong trí nhớ thì nhiều, đủ để viết vài quyển, vài trăm trang, nhưng lủng củng, nhòe nhòe, lẫn lộn.

8.9

Tắc đường và những câu chuyện triết lí khi rỗi rãi:

Người ta lo lắng về một sự biến đổi tư tưởng, biến đổi quan niệm.

Điều đó không phải là không thể xảy ra.

Thật là kinh khủng!

Một ngày kia người ta sẽ cảm thấy say mê rất tự nhiên những cái mà bây giờ rất coi thường.

Người ta bình tĩnh bao biện cho lối sống tầm thường lúc ấy.

Còn tình yêu, còn quan niệm về hạnh phúc, về thể xác và về hứng thú được nuôi con và dạy con.

Những suy nghĩ về chiến tranh.

Người ta thiết tha với cuộc sống không phải vì họ sợ cái chết mà là vì họ sợ cái không sống! (Q.2-Tr.

6)

18.9

Đến được nơi.

Một kỳ công vĩ đại.

-Trạm thu dung củasư đoàn. (Q.2-Tr.7)�

Nhiệm vụ tiểu đoàn thu dung d27 là đón các chiến sỹ, sỹ quan đi công tác, đi phép, đi viện về, kể cả ốm đau, thoái ngũ, lạc ngũ, ... rồi sau đó tổ chức thành đoàn đưa lên tuyến trước.

Quãng ngày chúng tôi ở d27 không dài, chỉ như một thoáng giải lao, thế nhưng cũng có không ít những kỷ niệm "bắng nhắng", khó quên, nhất là đối với Lê Minh và tôi.

Chúng tôi được d27 cho truy lĩnh phụ cấp tháng 8 và tạm ứng luôn cả tháng 9.

Đây sẽ là lần nhận phụ cấp cuối cùng, những đồng tiền Cụ Hồ cuối cùng.

Tháng sau là quân giải phóng rồi, không có phụ cấp nữa.

Tôi và Minh rủ nhau trốn đi xả láng một bữa, bù cho những ngày ăn bánh xốp và khoai thay cơm.

Hai đứa vào một nhà dân ở Kỳ Sơn, mua một chú ngan tơ, hết 2 đồng 8 hào, trả tròn thành 3 đồng, nhà chủ làm thịt, luộc luôn, còn thêm cho 2 chú mo nếp mới.

Hai đứa vác ngan luộc và cơm nếp ra bờ suối "ăn vụng".

Đói con mắt chứ no cái bụng, chỉ ăn được hết 2 cái đùi và một bên lườn.

Một hôm khác, hai đứa lang thang đồi đồi, suối suối, chợt phát hiện ra một trạm quân lương với 2 cái nhà bạt chất đầy những dãy thùng lương khô màu xanh và 2 chiến sỹ coi kho đang say mê xe pháo mã.

Hai thằng trinh sát nổi máu nghề nghiệp.

Minh vào làm quen, lúc đầu chầu rìa, sau đó chấp 2 lính coi kho một bên, Minh một bên.

Bàn cờ đã được khéo léo xoay dần sao cho 2 người lính gác kho quay lưng về phía nhà bạt thứ 2 để tôi dễ dàng tiềm nhập, nhẹ nhàng xách 2 thùng lương khô xuống phía suối.

Cũng là nghịch ngợm và đói con mắt thôi, chứ rồi 2 đứa cũng chỉ ăn hết 1 phong, đút túi vài phong, còn bỏ lại ngay bên lối đi xuống suối lấy nước cả thùng dở và thùng nguyên chưa mở.

Cũng đã có một niềm vui nhỏ nhoi và bất ngờ là tôi gặp lại Hùng "con", giường tầng trên, tầng dưới hồi ở lớp Lý 1, sau lại cùng b3-c23, xa nhau từ sau lần đi bắt cua ở Cầu Tự, Quế Võ.

Hồi chúng tôi về d10 thì Hùng ở lại e101, sau được phân vào hoả lực trung đoàn, tham gia Quảng Trị, bị sốt rét nặng, vừa đi điều trị về, da còn bây bấy xanh.

19.9

Ôi, Hùng con bằng xương, bằng thịt. (Q.2-Tr.7)

2.10

Vẫn là Hùng con khi xưa mà sao bây giờ ngang ngạnh là vậy.

Tài không nói là một sự thay đổi xấu đi hay là tốt lên mà chỉ biết là Tài không muốn như thế. (Q.2-Tr.8 )

Rồi lại chia tay nhau, tôi vào trước, chắc rồi sẽ gặp nhau trong ấy.

Hơn nửa năm sau, tôi nhận được thư Hùng, một lá thư lính gửi từ tả ngạn sang hữu ngạn sông Thạch Hãn, chỉ cách vài cây số mà qua tay 5 người và mất 4 tháng.

9.6.73

Nhận được thư Hùng con, mừng quá đỗi.

Thư viết từ tháng 3 và chuyển qua tay 5 người (hững hờ) mới đến.

ước ao được gặp nhau một chút thì hay quá đa.

-Trà Liên. (Q.2-Tr.63)

Cũng những ngày ở Kỳ Anh, tôi gặp một chuyện buồn đến bực bội vào trưa 22/9 ở Kỳ Tây.

Cậu con trai chủ nhà, chỉ có cậu ta, lục túi áo tôi mắc ở đầu võng lấy mất tờ 5 đồng là tháng lương binh nhì đầu tiên của tôi.

Với tôi, nó có còn là tiền đâu, nó là nhật ký, là bảo vật rồi.

Vừa tiếc, vừa uất ức đến phải thốt lên chửi.

22.9 Sản phẩm của sự chủ quan và lòng cả tin.

Đồ khốn nạn.

-Kì Tây.(Q.2-Tr.7)

Trong thời gian chờ đợi, tiểu đoàn tổ chức cho anh em tăng gia, chăn nuôi và sinh hoạt chính trị.

Đợt ấy ở d27 chỉ có 9 đứa trinh sát là chưa dính Quảng Trị, nom non choẹt, mơn mởn, khác hẳn với các cựu binh da xạm màu khói lửa, hoặc xanh xao sốt rét.

Còn có một sự phân biệt nữa mà chỉ ở "thu dung" mới có, đó là sự phân biệt dành cho những người lính "B quay", những kẻ đào ngũ, thoái ngũ.

Một ranh giới nặng nề nhưng không tường minh, thường chỉ thể hiện rõ rệt nhất khi lính nghe kẻng anh nuôi, rủ nhau ngồi thành mâm.

Lảng lảng, những người lính B quay hay ngồi với nhau, tồi tội.

Thường cứ tập trung được khoảng 20-25 người thì d27 tổ chức một chuyến đưa anh em lên tuyến trước.

Lần này mới được 14-15 người kể cả 9 trinh sát nhưng d27 nhận được lệnh sư đoàn yêu cầu tổ chức đưa ngay nhóm trinh sát vào, mặt trận đang cần gấp.

Thế là sáng 14/10, sau gần 1 tháng "giải lao" ở tiểu đoàn thu dung, chúng tôi lại ba-lô lên đường, đi tiếp vào Quảng Trị.

Giao liên cho biết theo kế hoạch đoàn sẽ đến nơi vào ngày 1/11, tức là mất hơn nửa tháng.

Xuất quân từ Kỳ Anh, huyện cuối phía nam của Hà Tĩnh, giáp với Quảng Bình.

Đi hết đất Quảng Bình sang Vĩnh Linh hay còn gọi là Quảng Trị Bắc rồi vượt Bến Hải.

Xa nữa là Gio Linh, Cam Lộ gì đó, tôi chưa có bản đồ nên chưa biết chính xác.

14.10

Ngày đầu của cuộc hành quân, nắng dữ dội.

Lại qua những xóm thôn cũ, những xóm thôn 6 tháng về trước.

Ai mất, ai còn?

6 tháng đã qua đi.

Lòng nao nao nhớ tới đồng đội.

Chưa nhận được một một tin gì về cái tổ cũ ấy.

Nỗi nhớ và sự hồi hộp.

Đi, và lại đi, đi vào nơi có tiếng súng rền vang.

-Kì Lạc. (Q.2-Tr.10)

17.10

Đi sâu vào địa phận Quảng Bình.

Giữa 2 dải núi xoải dài ra đại dương là một khoảng đồng bằng có vẻ trù phú và thanh bình.

-Quảng Lưu. (Q.2-Tr.11)

18.10

Sông Ranh, ranh giới của mấy chục năm thủa xưa huynh đệ tương tàn.

Qua Ranh vào Bố Trạch, qua Bố Trạch dần vào Bến Hải - Ranh giới của thủa nay.-Hạ Trạch.(Q.2-Tr.11)

19.10

Đỉnh cao của sự ác liệt.

Nơi mỏng manh nhất của ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Buổi sớm qua Khe Sắn được chứng kiến bao nhiêu điều mới lạ.

Bãi bom B52, rồi F4 bổ nhào, bom nổ trên mặt đường và cả bom B52 réo nổ.

Chiến tranh là vậy.-Vạn Trạch. (Q.2-Tr.11)

Quảng Bình là nối tiếp những tam giác đồng bằng mà một cạnh là bờ biển còn 2 cạnh kia là các dải núi chạy xiên từ phía Lào sang, hình dung như những cặp xương sườn bắt đầu từ cột sống Trường Sơn, ôm toả xuống Biển Đông.

Đường giao liên không vượt hẳn lên núi non miền Tây, cũng không xuôi hẳn xuống đồng bằng miền Đông.

Cứ lên xuống, lên xuống, cắt ngang những dải xương sườn núi.

Tính sao cho ngày đi trên đồi núi, tối xuống được đồng bằng, vào nhà dân ngủ.

Lại huyện tiếp huyện, Kỳ Anh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh rồi sang Lệ Thuỷ, vào Vĩnh Linh.

Hôm vượt qua Khe Sắn (Vạn Trạch - Bố Trạch), lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt bãi bom B52 đất còn tơi mới và nghe tiếng F4 bổ nhào, bom réo rin rít trước khi chạm đất nổ, cách nơi nấp không xa.

Đã thấy bình tĩnh hơn so với trận bom Tùng Thiện, Sơn Tây hồi tháng 5.

Rồi một đêm ở Lệ Thuỷ, dừng chân nghỉ ở một xóm nhỏ, nơi mọi người dân già trẻ đều phải ngủ hầm.

Mấy đứa chúng tôi được chủ nhà dành cho 1 căn hầm trâu, bên dưới là mẹ con nhà trâu, bên trên, sát mái tranh là chỗ mắc võng của bọn tôi.

Hôi nhưng an toàn.

Mặc tiếng trâu phì phò, báng sừng đuổi muỗi suốt đêm, lính trẻ vẫn chao võng, ngủ ngon lành sau một ngày hành quân mệt mỏi.

Có động tĩnh gì thì tụt ngay xuống lưng trâu rồi tuồn xuống đất, nằm nép vào mép hầm hay lần theo giao thông hào để đến khu hầm của gia đình.

Một hôm, chúng tôi hành quân qua một trảng đất hoang rất rộng ở cuối huyện Quảng Ninh.

Nghe giao liên truyền lệnh xuống: "Chú ý có bom nổ chậm trên đường, đi thưa ra, cách nhau trên 10 mét, chú ý nhìn xuống chân".

Tôi đi gần cuối đoàn.

Đi một quãng ngắn nhìn thấy bên đường có cây cọc tre cài tấm bảng bằng cót: "Bom nổ chậm", một dấu đầu lâu xương gạch chéo nguệch ngoạc và mũi tên chỉ chếch xuống vệ đường.

Nhìn theo mũi tên thấy một chú bom, đen sì, khá to, rúc đầu hở đuôi trên nền đất còn tơi mới.

Nín thở đi qua, nhưng theo bản năng, chân ai cũng cứ xẹo xẹo về phía trái, tránh quả bom nằm ở sát phía phải lối đi.

Bãi Hà thuộc miền tây Vĩnh Linh, là điểm dừng chân cuối cùng trên đất Bắc, trước khi vượt sông Bến Hải.

Tên Bãi Hà nghe quen quen, như chỉ quanh quanh đâu đây là Hà Nội, nhưng chỉ thấy núi rừng âm u, không có sông bãi, không có dân, chỉ có cây rừng, chim rừng và lính.

Đêm ngủ võng ở rừng Bãi Hà là đêm cuối cùng trên đất Bắc.

Những năm trước, khi vượt Bến Hải bộ đội ta phải huỷ bỏ mọi giấy tờ trước khi vượt tuyến.

Bây giờ thoải mái.

Sau 3/1972, bờ Nam cũng của ta rồi.

Dù vậy, tôi vẫn kiểm lại ba-lô.

Quý nhất là tờ 5 đồng "hành ký lính" thì đã bị con nhà chủ lấy mất hôm ở Hà Tĩnh rồi, trong ba-lô chỉ còn cuốn nhật ký mới viết được đến trang 14 và quyển giáo trình Tiếng Anh của Vũ Tá Lâm.

Tôi ghi vội mấy dòng để tạm biệt đất Bắc.

28.10

Cuộc hành quân quyết định từ Tân Thuỷ vào khu C.

Có lẽ đây là trạm nghỉ cuối cùng của đất Bắc.

Cả ngày đi trong cái xứ sở chỉ còn tồn tại chim thú và người lính.

Rừng âm u.

Bom đạn.

Đã thấy lờ mờ chân dung rùng rợn của chiến tranh.

Gặp trên lộ 15 những người lính cáng nhau đi.

Cái sống mỏng manh.

-Bãi Hà. (Q.2-Tr.12)

31.10

Ngày cuối của tháng.

Có lẽ hôm nay sẽ vượt tuyến.

Trước khi khởi hành gặp một điều rủi ro: Minh bị mất cuốn nhật kí.

Thật là bực mình.

Vào khoảng 8 giờ, mình chính thức vượt qua Bến Hải vào miền Nam.

Đau xót nhìn những mảng da của tự nhiên bị chất độc Mỹ tàn phá.

Buổi chiều gặp những người thân xưa kia.

Bao nhiêu là những sự thay đổi.

Kẻ sống, kẻ chết, người đi, người ở.

Hay tin AKhâm đã đi.

AKhâm có trí tuệ và một sự hiểu biết tương đối rộng rãi.

Hậu cứ ở một khu rừng non, lặng lẽ.

-Cam Lộ. (Q.2-Tr.13)

Ngày 31/10/1972, cả toán vượt qua Bến Hải trên một quãng ngầm không sâu, nước đến ngực, không có cầu, không có thuyền.

Một chút ngỡ ngàng.

"Đôi bên bờ Hiền Lương ..." là đây ư?

Con sông chia cắt 2 miền hoàn toàn không giống như tưởng tượng, không như trong phim "Chung một dòng sông".

Sang bờ Nam, thấy vẫn những lối mòn, những vạt cây lúp xúp, chẳng khác gì bên bờ Bắc.

Hơn nửa năm về trước đây là phần đất của đối phương, là những địa danh nổi tiếng: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cam Lộ, Gio Linh, ...

Đầu buổi chiều, cả toán hành quân an toàn đến trạm đón tiếp tiền phương của sư đoàn.

Chưa kịp nghỉ ngơi, định thần, định hướng thì số trinh sát được tách ra và dẫn đi ngay.

Chúng tôi được đưa thẳng về Ban 2, cách không xa trạm đón tiếp.

Ban 2 đóng ở một khu đồi thấp với những lùm cây không cao lắm, lơ thơ lá, nằm giữa những vạt cỏ tranh rộng.

Hầm chữ A và nhà âm đào dưới những lùm cây cao hơn đầu người.

Sáng sớm, những vạt cỏ tranh màu xanh lá cây quen thuộc của hôm trước bỗng biến mất, thay vào đó là một biển cỏ tranh xanh nhạt, đều màu nhưng lóng lánh.

Thì ra sương đêm đã láng trên mỗi chiếc lá cỏ tranh một lớp nước mỏng, như một lớp voan, bọc lấy mỗi cọng cỏ.

Phải đợi nắng lên, sương bay hết, mới trả lại màu cỏ tranh xanh rờn, lượn sóng.

Mọi người gọi khu vực này là suối La La, mặc dù tôi chưa nhìn thấy suối và cũng chưa kịp định hình xem suối ở phía nào.

Mênh mông đồi, xa xa 3 phía có núi.

Mọi người chỉ cho tôi những cao điểm đã từng nổi tiếng hồi ta đánh chiếm Quảng Trị: 241, 544, ...

Lưng chừng sườn cao điểm 544 còn cả một tấm vá nâu đỏ, chắc là hố bom, hoắm sâu như vết thương rỉ máu của đất.

Trập trùng xa về phía dãy Voi Mẹt là Khe Sanh, Tà Cơn, Nam Lào, những địa danh nổi tiếng cả nước từ những năm 68-70.

Những cao điểm ở Quảng Trị trông rất kỳ, như núi trọc, không có rừng, nhưng lại chới với những cành cây, thân cây khẳng khiu, trụi lá in lên phông trời, dấu tích của những khu rừng đã bị chất độc bóc hết lá, chỉ còn xương cây khô.

Tôi chỉ tìm thấy trong nhật ký một dòng viết ngắn ngủi duy nhất về hoá chất diệt cỏ: "31/10: Đau xót nhìn những mảng da của tự nhiên bị chất độc Mỹ tàn phá".

Thương cho đất, cho cây chứ đâu có biết để thương cho mình, cho Người.

Mãi sau này, bây giờ, khi người ta biết đến và nói nhiều về di chứng của chất độc màu da cam mới thấy rờn rợn, giật mình.

Những người lính trở về hồi hộp chờ nhìn những đứa con ra đời đầy đủ, bình thường, để thở phào, chứ khi đó vẫn uống nước dưới hố bom, vẫn tắm suối, vẫn ăn rau má, rau tàu bay, sống với rừng trụi lá, vẫn lạc quan yêu đời để chiến đấu cho đến ngày chiến thắng.

Sư bộ chắc cũng đóng quanh La La.

Không gian trong những lùm cây non yên ả, vắng vẻ, có cả tiếng chim líc ríc, nhưng dưới các căn hầm của Ban 2 và a12 thấy gấp gáp, căng thẳng.

Điện báo đi, báo về, tin khẩn, tin mật.

Anh em vừa đi vừa chạy gằn theo giao thông hào nối giữa mấy căn hầm a12 và Ban 2.

Tôi chưa kịp nhập cuộc nên thấy tò mò lắm, nhưng nguyên tắc của lính trinh sát nên không dám hỏi.

Cũng chưa có bản đồ trong tay nên không biết mình đang ở đâu, địch ở xa hay gần.

Tổng cộng lại, kể cả thời gian dừng chân ít ngày ởtiểu đoàn thu dung, chúng tôi đã mất kém 3 ngày là tròn 2 tháng để đi, chủ yếulà hành quân bộ, xuất phát từ bờ hồ Thuyền Quang, trung tâm Hà Nội, để đến bờsông Cam Lộ, nghe nói chỉ cách chiến tuyến chừng chục cây số.

Một cuộc hành quân khá đặc biệt từ thủ đô thẳngra mặt trận với ngồn ngộn kỷ niệm và đáng để nhớ.

7.

Những câu chuyện Ái Tử

Về đến Ban 2, sau khi báo cáo qua loa về tình hình mấy tháng ra học nghiệp vụ, 3 trinh sát e18 được dẫn ngay về trung đoàn, 3 trinh sát ảnh về lại tiểu đội trinh sát kỹ thuật (a12), ở liền với Ban, chỉ còn 3 đứa c20 chưa thấy được phân công, tạm về a12 đợi.

Không khí ở Ban 2 và a12 hối hả, căng thẳng, như là đang gấp rút chuẩn bị cho một trận đánh lớn.

Chưa về c20, mà cũng chưa biết c20 ở đâu, xa hay gần, nhưng qua anh em a12 cũng biết đã có rất nhiều thay đổi trong nửa năm qua.

Riêng a8 của tôi mất 3 người, anh Độ, Triệu và em Hiếu, toàn những người tôi vô cùng yêu quí.

Bảo "liên lạc" đã lên a trưởng, nghe nói trưởng thành, cứng cáp lên nhiều lắm.

Sau 2 ngày nghỉ, ngày thứ 3 thấy Ban 2 cho người đưa Lê Minh và Khoa về c20, riêng tôi ở lại.

Càng bồn chồn, nóng ruột.

Đi đâu hay ở lại ban?

Thêm một ngày hoang mang.

Hôm sau, trưởng ban Tân cho gọi tôi lên.

Ông không đeo quân hàm, nom già đi nhiều so với hồi ở Hà Bắc, hôm xuống phát lệnh hành quân cho c20.

Ông gọi tôi bằng anh chứ không bằng đồng chí và giao mệnh lệnh rất ngắn gọn: "Anh hãy đi lên tuyến trên, ở đấy đang cần sự có mặt của anh".

Nhìn nét mặt nghiêm và lạnh của ông, tôi không dám hỏi gì thêm, nhưng sung sướng nhất là tôi đã có việc và được ông cấp cho một mảnh bản đồ Quảng Trị, tỷ lệ 1:100.000, của Mỹ.

Bản đồ là súng của người chiến sỹ trinh sát binh địa.

1/11

Lại "sinh nguyệt" rồi.

Sớm nay gặp lại đại uý Tân (Trưởng Ban 2).

Ông ta già đi nhiều.

Không khí ở Ban 2 có vẻ gấp gáp.

Những tình huống nóng hổi luôn được báo về.

Nơi này cách đối phương chắc là không xa lắm.

-Bộ tư lệnh F. (Q.2-Tr.14)

4.11.1972

"Anh hãy đi lên tuyến trên, ở đấy đang cần sự có mặt của anh".

Ông lão già nói những chuyện khô khan và khách sáo với mình.

Đi thôi!

Không phải là chuyện thích đi hay là không thích đi mà là lệnh.

Đi vào phương Nam.

-Ban 2. (Q.2-Tr.14)

Ngay sáng hôm sau, 5/11, Thắng "con" từ hậu cứ c20 lên Ban 2 đón tôi.

Bấy giờ tôi mới chính thức biết nơi tôi sẽ đến là Ái Tử.

Suốt dọc đường đi, với tôi cái gì cũng lạ, cũng ngơ ngác, cái gì cũng phải hỏi.

Bắt đầu là Đường 9 nổi tiếng.

Chúng tôi đi cắt qua nó.

Tôi ren rén sờ tay xuống mặt đường nhựa.

Rồi qua những vùng đồi lúp xúp.

Đến bờ sông Lai Phước, lần đầu tiên tôi nghe tiếng nổ của pháo tăng tầm.

Tiếng nổ tăng tốc oàng ngay trên đầu, đạn đã qua đầu bay tiếp, mấy giây sau sẽ nghe tiếng đề-pa từ tận hạm đội ngoài khơi và cuối cùng là tiếng nổ của đạn tiếp đất ở phía ngược lại, sâu trong đất mình.

Bến đò Lai Phước nằm ở quãng sông với 2 vách núi cao 2 bờ.

Không có giao liên, không có người trông coi, chỉ có một con mảng nhỏ buộc vào một sợi cáp căng ngang sông.

Lính ngồi lên mảng rồi tự lần lần tay theo cáp, dong mảng qua sông.

May thì gặp khi mảng đang ở bên mình, không thì đợi, nhiều lắm là mươi phút thế nào cũng có lính ở bên kia sang.

Kéo mạnh tay, nhanh nhanh để tránh mấy thằng OV10 và L19 lúc nào cũng ỉ ọt trên cao tít.

Qua sông, từ trên đồi cao nhìn xa xa, cách khoảng 4-5 cây số, thấy loáng thoáng những cụm khói màu xám, lơ lửng trườn về phía đồi núi.

Thắng bảo: đó là thị xã, là Cổ Thành, là địch.

Đường đi qua 2 quả đồi còn vương vãi ba-lô, dép, quân trang trên miệng hơn chục hố bom kéo thành vệt.

Thắng kể: tháng trước, lính mình bên C sang, cứ quen như bên ấy, đằng thằng cả đại đội rồng rắn thành hàng, bám sát nhau vừa hành quân vừa trò chuyện trong đêm, chắc có cây nhiệt đới ở ven đường thu được tín hiệu đoàn hành quân, báo cho B52 căn toạ độ rải bom, ta bị nặng quá.

Chúng tôi có dừng lại nghỉ chân ở một khu hầm ven suối, Thắng giới thiệu là khu A, hậu cứ của c20.

Tôi dò bản đồ thấy ghi địa danh Cao Hy.

Vì lệnh Ban 2 yêu cầu tôi phải ra Ái Tử gấp, hơn nữa đại đội lên tuyến trước và đi công tác hết, hầu như không còn ai ở hậu cứ, nên 2 đứa chỉ nghỉ ít phút, kịp uống nước ở một căn hầm âm sát bờ suối, chuyện trò với 2 cậu lính mới về c20, chỉ biết Thắng, không biết tôi, rồi đi ngay.

Gần trưa, hai đứa đến được Ái Tử.

Nhìn sang thành cổ, tận mắt, xúc động đến mất bình tĩnh.

5.11

Đây chính là đường 9.

-Khu A. (Q.2-Tr.15)

6.11

Sự dã man đến ngu xuẩn của con người.

Thành Cổ hoang tàn.

Ôi, QuảngTrị.

Máu ương và đổ nát.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.15)

Ái Tử là tên làng, một làng nhỏ nằm giữa Đông Hà và thị xã Quảng Trị, nhưng sát về phía thị xã.

Đây chính là nơi Nguyễn Hoàng đã dừng chân khi chạy từ Bắc vào để rồi tạo dựng nên cơ nghiệp "Chúa Nguyễn đàng trong".

Tên Ái Tử đẹp.

Ban đầu tôi băn khoăn một cách lãng mạn nghĩ không hiểu Ái Tử là "Yêu cái Chết" hay "Tình yêu bị chết".

Mãi hơn nửa năm sau, khi tình cờ nghe câu hát ru: "Mẹ yêu con ra ngồi cầu Ái Tử –Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu" tôi mới biết Ái Tử nghĩa là "Thương Con".

Hay!

Nhưng Ái Tử không nổi tiếng vì tên, vì nghĩa "Yêu chết" hay "Thương con" mà là vì Ái Tử nóng bỏng của mùa hè Bảy Hai cùng với Thành Cổ.

Trước đó, Ái Tử là sở chỉ huy sư đoàn 3 của ngụy, vì thế gọi là "Căn cứ Ái Tử" .

13.11.1972:

Ôi, Ái Tử là Tình yêu cái chết hay là Sự chết của tình yêu!

-Ái Tử. (Q.2-Tr.17)

2.7.1973

À, ra thế!

Không phải là "Sự chết của tình yêu" hay "Tình yêu cái chết" mà là "Yêu Con".

Nhầm lẫn thú vị là ở chữ Tử.

"Mẹ yêu con ra ngồi cầu Ái Tử - Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu".

-Ven Ái Tử. (Q.2-Tr.59)

Giữa Ái Tử và cổ thành Quảng Trị là làng Nhan Biều và dòng Thạch Hãn.

Thời kỳ 81 ngày đêm giữ Cổ Thành, c20 đặt một đài quan sát tiền tiêu ở Nhan Biều.

Các nhóm trinh sát ngày vượt sông sang thị xã nắm tình hình chiến sự, tối lại về đài.

Sau khi ta rút khỏi thị xã, đài được dịch lên Ái Tử, nằm trên sườn cao điểm 20, thuộc căn cứ Ái Tử cũ.

Hiện tại đài có 7 chiến sỹ trinh sát, chưa kể tôi.

Đài rất quan trọng nên đích thân đại đội trưởng Hiền phụ trách đài này.

Phía gần là nhánh sông Vĩnh Định, đổ ra Thạch Hãn.

Xa hơn, phía trái là Cổ Thành Quảng Trị, phía phải là Nhan Biều, giữa là bến cát và dòng Thạch Hãn

Anh em trên đài chia làm 4 hầm.

Căn hầm chính vốn của lính sư đoàn 3 ngụy, rộng đủ trải 4 chiếc chiếu đơn, được xây dựng kiên cố, vững chãi, có mái vòm bằng tôn cuốn, ngoài chất mấy lớp bao cát dày dặn.

Đây là nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của anh em ở đài.

Phía cuối hầm, lính ta phát triển thêm một nhánh hầm chữ A sâu bên trong làm nơi ngủ.

Từ hầm chính có thể quan sát được toàn cảnh cả 2 phía ta và địch.

3 hầm còn lại nhỏ, hầm chữ A, do lính ta đào.

Lần đầu tiên tôi được tận mắt thấy cảnh hoang tàn thật sự của chiến tranh, cả phía bên ta: Ái Tử, Nhan Biều, Tích Tường, Như Lệ, cả phía bên địch: Cổ Thành, La Vang, Tri Bưu và xa mãi tận động Ông Do.

Hoang tàn, tơi tả.

Xúc động tột cùng.

Gặp lại đại trưởng Hiền.

Thời ở Hà Bắc, Hà Tĩnh, tôi biết về đại trưởng qua giai thoại, đồn đại là chính.

Anh như con báo trong bách thú, hiền lành nhưng tiềm tàng.

Gặp lại anh ở Ái Tử như gặp con báo đã về rừng.

Tôi được 1 ngày để tìm hiểu binh địa khu vực Ái Tử và Nhan Biều, cả trên bản đồ và thực địa.

Cùng ở đài có 3-4 lính cũ thời xóm Đồng: Tiến lớn (A trưởng), Tiến con, Kha và Thắng.

Còn lại là lính bổ sung các đợt sau này, nên tôi không biết họ, họ cũng không biết tôi.

Mọi người đều đã dạn dày qua mùa hè Bảy Hai, nên tôi rất kính phục, hỏi han được nhiều điều, phần lớn là những bài học sống chết.

Tôi cùng hầm với Tiến con, người gầy cao, cởi mở.

Hầm nhỏ, không có nhà âm, kề ngay bãi tăng.

Có khoảng 20 chiếc xe tăng Mỹ, cả M41 và M48, nhiều chiếc còn mới, địch bỏ lại khi tháo chạy khỏi Quảng Trị hồi đầu hè.

Không biết bên ta có kịp lái được chiếc nào đi không, nhưng số còn lại, mặc dù mới nhưng đều bị bom đánh tanh bành.

Tôi tha thẩn chui vào trong các tháp tăng, cái sấp, cái ngửa, tò mò lục lọi, tìm kiếm.

Sau 1 ngày nghỉ ngơi, làm quen, tối 7/11, anh Hiền giao nhiệm vụ trinh sát binh địa đầu tiên cho tôi.

Sau 81 ngày đêm giữ thị xã, từ 16/9, ta lui về tổ chức phòng thủ bên tả ngạn sông Thạch Hãn.

Lính vẫn quen gọi bên ta, bên tả ngạn là bờ bắc, bên địch, hữu ngạn là bờ nam nhưng thực ra là bờ tây và bờ đông vì quãng này dòng Thạch Hãn chảy theo hướng Nam-Bắc.

Hai bên tranh thủ ổn định tuyến phòng thủ dựa trên ranh giới tự nhiên là dòng Thạch Hãn.

Đêm 1/11, tức là trước khi tôi đến Ái Tử 4 ngày, địch bắn pháo dữ dội vào Nhan Biều và các khu vực phụ cận rồi nhân đó tổ chức cho 3 đội thám báo và 2 đại đội thuộc d6, lữ 369 Thuỷ quân lục chiến bí mật vượt sông sang ta, đoạn đối diện với Thành Cổ, phía bên ta là một bãi cát thoải, cắm chốt đầu cầu để phản công, âm mưu chiếm lại Ái Tử, Đông Hà.

Ta kịp thời phát hiện ngay trong đêm, nhưng chốt ta mỏng, địch chủ động lại áp đảo về quân số và hoả lực, nên ta không đánh bật được ngay trong đêm đó và cả ngày hôm sau.

Chúng đã cắm được chốt đầu cầu bên bờ bắc, nhanh chóng triển khai đội hình và tiếp tục bổ sung quân trong đêm 2/11.

Chúng muốn bằng mọi giá giữ được chốt đầu cầu ở bờ bắc.

Ta huy động hoả lực đánh chặn ngay từ bên kia sông, súng phun lửa quét khống chế mặt sông và điều quân, chủ yếu của d8, e18, kịp thời nhổ chốt của địch ở bờ Bắc.

Đến chiều 3/11 thì trận đánh hoàn toàn kết thúc, địch bị bật khỏi bờ bắc, bỏ lại hơn trăm xác chết, bị bắt sống 1 tên.

Trận đánh không lớn, chỉ cấp tiểu đoàn, kéo dài 2 đêm, 2 ngày, nhưng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với cả 2 bên.

Địch thăm dò, nắn gân trực diện đầy hung hăng và tham vọng.

Ta cảnh báo đanh thép.

Chỉ ngạc nhiên là cho đến tận bây giờ vẫn ít ai biết và nhắc đến trận đánh quan trọng, có ý nghĩa lịch sử ấy.

Với bên kia, đó là một trận thua, một nỗi đau không muốn gợi lại, nhưng với bên này, là chiến thắng, đáng tự hào nói đến.

Cũng có thể chiến thắng Nhan Biều năm ấy đã bị mờ nhạt bởi sừng sững 81 ngày đêm của "Mùa hè đỏ lửa" ngay trước đó.

Thì ra trận đánh diễn ra đúng vào những hôm tôi mới vào đến sư bộ.

Thảo nào mấy hôm đó thấy không khí Ban 2 căng thẳng, gấp gáp.

Nhiệm vụ của tôi lần này là tìm hiểu và vẽ lại sơ đồ triển khai quân của địch khi chúng đột nhập sang bờ Bắc và diễn biến trận đánh Nhan Biều để cấp trên nghiên cứu.

Ông Tân nóiđại trưởng Hiền đang chờ tôi ở tuyến trước là phải.

Tôi vào thật đúng lúc.

8.11

Bắt tay vào cuộc.

Cùng Thắng xuống bờ sông.

Phải bò, bò thật sự.

Không còn là chuyện đùa bỡn nữa.

Sông Thạch Hãn êm đềm.

Đôi bờ tịch mịch, yên ả.

Một sự vắng vẻ rùng rợn.

Những con thú lặng lẽ chờ mồi.

Một con chó, một con mèo sáng nay tôi gặp ở cái xứ hoang tàn này sao cũng thấy xao xuyến lòng tôi đến thế.

Một thứ mùi rờn rợn.

Người lính xấu số nào đó đã hy sinh. (Q.2-Tr.16)

Anh Hiền cử Thắng dẫn tôi xuống Nhan Biều, cách cao điểm 20 chỉ khoảng hơn cây số.

Hai bên sông Thạch Hãn, đoạn thị xã, trong tầm súng bắn thẳng của bộ binh, khoảng 1 cây số, ta nhìn thấy ta, địch nhìn thấy địch, bố trí lực lượng khá dày, nhưng 2 bên hoàn toàn không nhìn thấy nhau, hở lưng nhưng kín mặt.

Sau những ụ đất, bờ ruộng, bức tường, rặng cây kia là đối phương, bố trí dày đặc.

Xa hơn thì lính 2 bên đi lại thoải mái, miễn là phân tán, đừng đi thành nhóm, thành đoàn, ngứa mắt đối phương.

Thắng và tôi đi hiên ngang từ Ái Tử xuống, nhưng đến Nhan Biều, nhất là từ quãng vượt qua quốc lộ 1, thì bắt đầu lom khom, nửa đi, nửa chạy.

Làng xóm xác xơ, hoang tàn, đổ nát, không còn lấy một mái nhà, một tán cây xanh nào.

Chỉ đây đó những bức tường nham nhở, loáng thoáng những chú mèo hoang gầy xác xơ, thoắt ẩn, thoắt hiện và một hai khuôn mặt người già méo mó, vô hồn thấp thoáng ở cửa những căn hầm kèo chữ A chất dày ú ụ bao cát Mỹ.

Chúng tôi khom khom đi theo giao thông hào đến chốt tiền tiêu của c7-d8-e18.

Trong căn hầm tranh tối, tranh sáng ngay bờ sông có 2 người lính bộ binh chốt giữ với 1 khẩu súng phun lửa chĩa chếch xuống dòng sông.

Họ là những người đã trực tiếp tham gia trận chiến đấu trước đó chưa đầy tuần lễ.

Cuộc chiến còn nóng hổi cả trên 2 gương mặt non choẹt và những mẩu chuyện kể lập cập, đứt quãng.

Góc hầm thấy chất nhiều lon thịt hộp và túi gạo sấy Mỹ, chắc là chiến lợi phẩm.

Nhìn qua lỗ quan sát nhỏ ở vách hầm, thấy bên kia sông, bờ Nam, vắng lặng, thanh bình.

Mấy con chó hoang cụp đuôi, lóp bụng, lấm lét chạy dưới bãi cát sát mép nước phía bên ta.

Hai người lính chỉ cho tôi khu vực Dinh tỉnh trưởng nổi tiếng ở phía bên kia sông.

Tôi đã nghe nhiều chuyện đến khó tin về nó, nơi đặt chỉ huy sở của ta trong chiến dịch hơn 80 ngày đêm chiến đấu bảo vệ thị xã.

Tôi căng mắt nhìn nhưng chẳng thấy gì rõ rệt.

Cũng chỉ thấy một dải vách sông nham nhở gạch vụn và cây cỏ xơ xướp như mọi chỗ khác.

Vẫn thấy có những con cá nhỏ vô tư búng nước trên mặt sông lăn tăn.

Nhưng đâu đó sau những ụ đất kia, bờ cây kia là những con mắt, họng súng đang chăm chăm soi, nhăm nhăm rình, sẵn sàng loé lửa, và dưới làn nước là thuỷ lôi, dưới cát là mìn.

Qua 2 người lính bộ binh c7, tôi biết trận đánh đã diễn ra trên dải đất nằm về phía trái, đoạn giữa thôn, xuôi theo chiều sông chảy.

Tôi nói Thắng ở lại hầm, để mình tôi bò ra khu trận địa.

Tôi định không mang theo súng mà chỉ cần quyển sổ với cây bút chì và chiếc la bàn cho gọn, nhưng 2 người lính bộ binh khuyên tôi nên mang theo, biết đâu vẫn còn sót tàn binh hay thám báo.

Họ còn dặn tôi cả mật khẩu, phòng khi gặp chốt ta, c6 và c5, ở đầu làng phía bên kia.

Tôi theo giao thông hào, quãng thì lom khom, quãng thì bò, lựa theo những vệt chân đi còn mới để tránh mìn.

Càng xa hầm càng thấy không khí nặng mùi, khăm khẳm, khó chịu.

Các xác chết của địch đã được bộ binh ta thu dọn, chôn cất, nhưng làm sao hết được những phần vương vãi.

Tôi phát hiện những cụm công sự cá nhân, đất đào còn mới, nông toèn hoen.

Nhìn kiểu hầm tạm bợ biết ngay là của bọn lính cậu, Thuỷ quân lục chiến.

Bên các miệng hố vẫn la liệt vỏ đạn AR15, M79, súng chống tăng M72, vỏ bao gạo sấy và vỏ lon thịt hộp.

Tôi còn thu được một chiếc ba-lô nằm khuất trong một lùm cỏ rậm.

Thận trọng mở ra xem, thấy có vẻ ai đó đã lục trước rồi.

Trên quai ba-lô mờ mờ dòng chữ màu nâu, có vẻ như viết bằng máu: "Tám Hiếu - Đại úy thuỷ quân lục chiến - Sát Cộng".

Trong ba-lô và các túi cóc lộn xộn đồ quân trang, đồ sinh hoạt.

Tôi bỏ hết ra, chỉ lấy chiếc ba-lô dù, mấy túi gạo sấy, lon thịt hộp và một cuốn tạp chí hay truyện gì đó.

Trận địa của địch triển khai kéo dài trên dải đất khoảng 500-700m, xuôi theo bờ sông, nơi sâu nhất lấn vào đất ta khoảng 300m.

Chúng cũng đã kịp triển khai thành 4 cụm, có lớp trước, lớp sau.

Trên bãi cát dài sát mép nước, phía bên ta, vẫn còn mấy chiếc cột, loằng ngoằng mấy sợi cáp, chắc địch căng qua sông để thuyền và lính định vị bám sang sông.

Về đến hầm ở Ái Tử, buổi tối tôi mới mở "chiến lợi phẩm" ra xem kỹ.

Hoá ra trong túi cóc ba-lô còn có một chiếc bàn cạo râu USA kiểu "cụp xoè".

Nhưng tò mò và hấp dẫn nhất với tôi vẫn là cuốn sách.

Đó là một cuốn tạp chí của quân đội ngụy, kiểu như Văn nghệ quân đội ngoài Bắc.

Nhiều nội dung nhăng nhít, nhạt nhẽo, không ấn tượng, tôi quên ngay.

Nhưng có một truyện ngắn khó quên, truyện về mối tình của một thiếu nữ Sài Gòn với một người lính Cộng hoà với mấy câu mở đầu rất dễ thương: "Tôi đã đi qua thời con gái.

Khi đã là đàn bà, gặp Nhơn, tôi mới biết yêu.

Tình yêu của tôi là trái chín".

Một mối tình lãng mạn, không có nhiều trắc trở nhân duyên mà chỉ có rào cản của chiến tranh.

Cô giáo Sài Gòn sấp sấp, ngửa ngửa, năm năm, tháng tháng theo bước chân nay đây mai đó của người lính Cộng hoà.

Truyện chưa kết, còn kỳ sau.

Tôi thích giọng văn Nam Bộ, khi đó còn rất xa lạ với tôi.

Thứ văn phóng khoáng, tự nhiên như chuyện tán gẫu, như dẫn người đọc đến trước một vùng cỏ hoang sơ, không có bờ, chưa có lối mòn, không áp đặt, định hướng.

Câu văn đơn giản, như con cá, hạt lúa, giọng văn thì thầm, như lời người khác giới nói với nhau.

Tình yêu, trái chín là chuyện tự nhiên, Bắc cũng như Nam.

Cũng để lại chút bâng khuâng, ngẩn ngơ.

Sau tôi đốt cuốn tạp chí đó đi, vì nói vậy chứ dẫu sao cũng là sách của ngụy, nhưng chiếc ba-lô dù của Tám Hiếu còn theo tôi ra Bắc và chiếc bàn cạo râu thì sau đó cả chục năm tôi mới dùng đến và đôi khi tôi vẫn tò mò tự hỏi, không biết số phận Tám Hiếu cũng như đoạn kết truyện cô giáo Sài Gòn và người lính Cộng Hòa, tên Nhơn, ra sao.

Hôm sau, 9/11, Anh Hiền cho người chuyển gấp bản sơ đồ tôi vẽ về Ban 2.

Ngay sau đó 2 ngày, 11/11, anh Hiền lại giao cho tôi nhiệm vụ mới.

Lần này là vẽ cảnh đồ chứ không phải sơ đồ, cảnh đồ cầu Quảng Trị.

Nôm na thì cảnh đồ là chụp ảnh bằng bút chì.

Anh Hiền cho Tiến lớn dẫn tôi đi.

Cũng hiên ngang từ Ái Tử rồi lom khom chạy kể từ đoạn quốc lộ 1, hết Nhan Biều ngược lên An Đôn.

Tôi đã ít nhiều từng trải hơn, dù mới chưa đầy 1 tuần.

Tôi men theo giao thông hào của chốt bộ binh ven sông, tìm một chỗ dễ quan sát nhưng kín và an toàn để vẽ.

Nhớ chỉ được nhìn bằng mắt thường, không dùng ống nhòm, đề phòng phản chiếu ánh sáng trên mắt kính, địch dễ phát hiện.

Mấy cậu lính bộ binh trên chốt cảnh báo tôi phải hết sức coi chừng vì quanh khu cầu địch rất hay "đòm" sang, thường là bắn chơi chơi, hú họa vào các bụi cây thấy động đậy ven bờ bên kia, có khi chỉ là chim, chuột hay gió đùa với lá.

Thì lính ta cũng thế.

Từ Bắc vào, qua Đông Hà, quốc lộ 1 và đường sắt tách xa nhau, thành một vòng cung, để rồi lại gặp nhau tại cầu thị xã Quảng Trị.

Hai cây cầu đường bộ và đường sắt nằm kề nhau, cách nhau chỉ vài chục mét.

Cầu đường bộ mới bị đánh sập trong chiến dịch Quảng Trị, còn cầu đường sắt chắc là bị sập từ thời chống Pháp.

Khi ở lớp binh địa d74, tôi quen vẽ cảnh đồ với nền phông phía sau là những rặng tre, rặng nào cũng giống rặng nào, cong cong, vồng vồng, chung cho cảnh trung du Ba Vì.

Lần này, ở tâm cảnh là 2 cây cầu, một đầu rục xuống sông, một đầu gối lên bờ nam, còn phông cảnh phía sau nham nhở, đổ nát, nổi lên cao nhất là dãy xương nhà của trường Bồ Đề phía xa xa, không còn dáng dấp của một thân cây, cụm lá nào.

Nét chì run rẩy, gẫy đứt, gập gục, dị dạng.

Nhận lệnh thì vẽ thôi chứ thực tình tôi không rõ lắm về ý nghĩa quân sự của bức cảnh đồ với 2 cây cầu đổ.

Tò mò hỏi thì Anh Hiền giải thích: "Mấy bọ trên sư bộ cãi nhau, lão bảo 2 cầu, lão bảo 1 cầu.

Chỉ xem bản đồ thì còn tranh cãi.

Bản đồ chiến lược, chiến dịch (1:100.000, 1:500.000) thì vẽ 1 cầu, bản đồ chiến thuật (1:50.000, 1:25.000), chi tiết hơn thì là 2 cầu.

Có xuống chó đâu mà biết 1 hay 2.

Cứ trinh sát đâu, trinh sát đâu?".

Sau này, nghe mấy anh trên Ban giải thích: Sau trận địch tập kích Nhan Biều không thành, có ý kiến đề xuất ta nên chủ động cho công binh phá sập hẳn 2 cây cầu, đề phòng địch tận dụng tấn công sang bờ bắc.

Trước khi quyết định, sư đoàn yêu cầu Ban 2 báo cáo về thực trạng 2 cây cầu lúc đó.

Ngay tuần đầu thấy mình hợp việc, được việc, cũng phấn chấn, nhưng tôi cũng dính một lần chết hụt.

Đó chính là hôm tôi và Tiến trở về cao điểm 20 sau khi vẽ cảnh đồ cầu.

Qua Nhan Biều, khom khom vượt qua quốc lộ 1, tôi và Tiến thũng thẵng đi.

Đến một khoảng đất phẳng và trống, giữa có một chiếc hầm rất to, dày dặn, vững chãi, không có lính ở, 2 đứa rẽ vào nghỉ, mang gạo sấy và thịt hộp cánh bộ binh dưới chốt vừa "kỷ niệm" ra ăn.

Ngồi chưa nóng chỗ thì nghe có tiếng pháo nổ, túc tắc quả một.

Tôi nghĩ, trong hầm kiên cố, pháo vu vơ, kệ nó.

Nhưng đến quả thứ 5, thứ 6 gì đó thì Tiến phát hiện ra là chỉ nghe toàn tiếng pháo khoan, mà càng quả sau càng nhích gần về hầm.

Thôi chết rồi, nó chỉnh pháo nhằm vào hầm mình rồi.

Pháo nổ, pháo chơm mà không vào hầm thì toi, chứ pháo khoan thì ngược lại, càng trong hầm càng chết.

Tiến ra lệnh bỏ hầm, không kịp ăn, ôm đồ chạy.

Về đài, kể lại chuyện, Anh Hiền cười: "Khá, hầm lù lù như vậy, 2 thằng súng báng gấp nghênh ngang, trêu tức bọn trinh sát pháo trên đồi La Vang.

Chui vào đấy cho nó "khoan" thì bằng "bia sống" cho chứ còn gì!".

Tôi run run ghi bốn con số Một vào nhật ký (11/11).

Sau này, khi ra khỏi quân đội, xem lại nhật ký, tôi giật mình khi tình cờ phát hiện ra mình đã sống đúng 1.111 ngày trong quân ngũ và chợt nhớ đến bốn con số Một ghi trong nhật ký từ Bảy Hai ở Ái Tử.

11/11:

Bốn con số 1 là sự may hay rủi.

Hút chết.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.16)

Sau hai lần chết hụt ở Sơn Tây và Khe Sắn (Quảng Bình), chỉ riêng với Ái Tử tôi đã có thêm vài lần nữa ơn trời thoát chết, trong đó có 3 lần với đạn pháo và 1 lần với B52.

Ái Tử, nhất là khu vực cao điểm 20, rất gần chiến tuyến, nên thường chỉ có đạn cối hoặc pháo tầm gần, hãn hữu mới có máy bay chiến thuật bổ nhào ném bom chứ chưa khi nào bị máy bay chiến lược B52 rải thảm.

Trận bom B52 hôm 4/12 là một ngoại lệ, bất ngờ.

Hôm ấy, khoảng 3-4 giờ chiều, tôi thủng thẳng đi từ Nhan Biều lên, dừng lại ít phút làm ván cờ với Bình và mấy trinh sát pháo ở chiếc hầm kề bên một chiếc con-ten-nơ rỗng.

Mấy trinh sát khác đang tắm giặt trong lòng một hố bom sâu, nước trong xanh.

Chia tay Bình, tôi đi vòng qua mấy hố bom cũ để về đài.

Mới đi được khoảng 20-30m thì bom ập xuống.

Tôi nằm ẹp ngay trên mặt đất.

Tối tăm mặt mũi.

Bom nổ rất gần nên chỉ nghe bịch, bịch.

Mấy quả nổ quanh tôi giã choét mấy khung nhà tôn của căn cứ ngụy cũ.

Sau tiếng quả "bom lạc" cuối cùng là cơn mưa của mảnh đạn, mảnh gỗ, tôn, sắt, đất cát.

Chúng múa vù vù trên đầu, để rồi rơi lịch bịch quanh mình.

Tôi vội nhỏm dậy, ngồi thu lu bó gối để giảm nhỏ hơn phần thân thể hứng đòn, hồi hộp nghe đất cát gõ lọc cọc trên mũ cối.

Trận ấy, một quả bom rơi trúng hầm của trinh sát pháo, bốc cả chiếc công-ten-nơ hất xuống chân đồi.

Bình, bạn cờ tướng mới quen của tôi bị hy sinh.

Thì ra đêm trước, tranh thủ trời mưa to, ta đưa mấy xe tăng vào hầm ém sát quốc lộ 1, ngay ven Nhan Biều, chắc thám báo bên thị xã nhận ra tiếng tăng trong đêm nên hôm sau gọi B52 đào bới sát ngay Nhan Biều, Ái Tử.

Về đến hầm, tôi nói với anh Hiền: Cánh trinh sát pháo bị bom, mình cho người sang xem sao.

Anh Hiền bảo: Không được, ngay sau B52 địch rất dễ có pháo kích, nhất là nơi địch ta nhìn nhau rất rõ thế này.

Không hiểu vì sao trận B52 đó chúng tôi không được Ban 2 báo trước.

Nhưng sau đó 4 ngày, chúng tôi lại nhận được "Báo động B52" khu vực Ái Tử, nhưng không báo chính xác giờ.

Về sau thì quen, chứ lần ấy, lần đầu có cảm giác ngồi thi gan, đợi "B52 huỷ diệt", nhất là chỉ 4 ngày sau lần chết hụt bom B52, tôi phải cố giấu cảm giác thật, vì quanh mình, mọi người trong đài thật sự thản nhiên, có thể vì đã quá quen.

Lần báo động ấy, B52 không đánh Ái Tử.

4.12

Lại 1 cái mốc mới.

Hai phút nhanh là sự sống và năm phút chậm lại là cái chết.

Tôi nhớ lại dòng chữ ghi trong truyền đơn: Hung thần B52 đe dọa các chiến binh Bắc Việt.

Cái chết của Bình.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.21)

7.12: .

...

Báo động B52.

Cả ngày nơm nớp.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.22)

Đài có 5-6 người, trừ Anh Hiền, Tiến lớn và tôi là bậc "lão làng", được đặc cách, còn lại lân nhau làm anh nuôi.

Mỗi ngày cắt một trinh sát chuyên quan sát và đếm số bom pháo địch bắn sang bên ta để báo cáo về ban, số còn lại ngồi trong hầm, hoặc giã "tiến lên", thứ tổ tôm đánh nhọ nồi bôi râu của lính, hoặc xin cánh thông tin cho nghe nhờ đài tiếng nói Việt nam trên máy thông tin 2w, tiếng thì thầm, lẹt xẹt như ga-len.

Anh Hiền không dự tiến lên, cũng không cấm nhưng luôn nhắc: "Ngồi san hầm ra, thằng chết còn có thằng chôn".

Lính chẳng sợ.

Chiến trường ác liệt thật, nhưng kỳ diệu đến khó tinlà ngày nào cũng vẫn có chỗ cho một nốt lặng thần tiên, một lát chiều tà mongmanh, mỏng mảnh, yên bình, khi khói màu hung hung của bom đạn loãng dần, tanvào sương khói màu lam tự nhiên của hoàng hôn và cổ tích.

Cứ như phút giải lao,ngừng bắn, tuyệt không bom, không pháo suốt miền Đông, Cửa Việt, qua Cổ thànhlên miền Tây, động Ông Do.

Lính ta chui ra khỏi hầm, vươn vai, xốc quân phục,không chút ngượng ngùng đứng ngay đầu hầm, hướng sang phía đối phương, giảiquyết bức xúc, nom rất khiêu khích, rồi hối hả người đi hái rau, câu cá, sănmèo, người xuống hố bom tắm, chỉ chú ý nhìn kẻo vấp bom bi và đạn cối cá nhân(M79) nhan nhản trên mặt đất.

Bên kia, phía Long Hưng, La Vang, cũng thấy lốnhố lính ngụy trên nền trời loang lổ màu xám chì.

Bùi ngùi giây phút hoàng hônthanh bình ngắn ngủi cho đến khi lọp bọp tiếng pháo sáng bên kia báo vàođêm.

Tôi còn xuống Nhan Biều đôi ba lần nữa, chủ yếu là đi "tăng gia".

Trong làng, ngoài lính chốt ra cũng còn vài người dân, phần lớn là người già, trừ o Hồng, nhỏ nhắn, chuyện trò dễ thương, kẹt lại với 2 đứa con nhỏ.

Lính trẻ, tuổi đàn em, rất thích ghé hầm o Hồng, trêu đùa hai đứa trẻ.

Trinh sát chúng tôi thường hay ghé qua căn hầm của một mụ già ở giữa xóm ("mụ" là tiếng Quảng Trị, chỉ người phụ nữ cao tuổi, không hàm ý xấu).

Ban đêm, quanh căn hầm của mụ mèo hoang về nhiều vô kể.

Mụ chẳng có gì nuôi chúng.

Vì thế, mỗi lần qua, mụ lại cho chúng tôi lủng lẳng xách về 2-3 chú mèo đựng trong vỏ bao cát, để mấy chú về trên căn cứ nuôi cho đỡ buồn.

Với chúng tôi, kể cũng đỡ buồn thật, nhưng không phải do nuôi mèo mà là do món bún mèo.

Cứ ngâm 3-4 cân gạo Trung Quốc vào thùng đạn đại liên, khoảng 3-4 ngày thì lấy ra, hong khô rồi giã, chày bằng lựu đạn mỏ vịt Mỹ bỏ ngòi nổ đi, cối là mũ sắt Mỹ, khuôn bóp bún chế từ lỗ thở của mặt nạ phòng độc Trung Quốc, dãy lỗ to phía trong cho sợi bún như chiếc đũa, dãy lỗ nhỏ vòng ngoài lại chuốt ra những sợi bún mảnh như que tăm, thành bún ông lẫn với bún cháu, bún mẹ lẫn với bún con.

Ăn mãi thịt hộp, lương khô, bữa nào cải thiện bún mèo với canh rau dền gai, coi như đặc táo, nghe tươi và rôm rả lắm.

Một đêm cuối tháng 11, Anh Hiền sang hầm tôi, theo sau là Hồ Bảo.

Từ buổi chia tay ở Hà Tĩnh, Lê Minh và tôi ra Bắc học binh địa, Hồ Bảo ở lại, bây giờ mới gặp lại nhau, mừng lắm.

Chỉ nghe nói Hồ Bảo đã trưởng thành và vững chãi rất nhiều.

Anh Hiền về hầm, còn lại 2 đứa, tưởng sẽ thâu đêm chuyện cũ, chuyện mới, nào ngờ Hồ Bảo phải đi ngay.

Đêm ấy, Bảo cùng 2 chiến sỹ đặc công nhận lệnh vượt Thạch Hãn sang thị xã trinh sát địch.

Sao lại mạo hiểm chọn vị trí dày đặc quân và mìn này để trinh sát?

Tôi thoáng nhớ đến đợt phản công thăm dò qua sông của Thuỷ quân lục chiến hồi đầu tháng.

Chuẩn bị cho một trận như vậy nhưng là từ phía mình chăng?

Chiếm lại thị xã chăng?

Bảo trịnh trọng đưa tôi một gói vuông viêng bọc bằng túi ni-long bao gạo: "Tài giữ cho mình những kỷ vật này, nếu có gì ..., Tài chuyển gói này về cho mẹ mình, H5- A9 Nguyễn Công Trứ".

Đột ngột, sững sờ, thiêng liêng.

Hồ Bảo chủ động mở bên trong cho tôi xem qua.

Lâu rồi, không nhớ hết trong gói có những gì, nhưng ấn tượng nhất là một cuốn sổ, hình như sổ thơ, trong có một bông hoa đã ép khô.

Hồ Bảo tần ngần, nâng niu bông hoa.

Tài có biết hoa gì không?

Không!

Một loài hoa chỉ có ở phương Nam thôi.

Hoa đã khô, màu vàng nâu, nhỏ như hoa mận, hoa đào.

Tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy loài hoa này, nhưng ngầm biết vì sao Hồ Bảo nâng niu nó.

Hoa mang tên một người em bạn của Hồ Bảo, hiện cô đang học ở một thành phố xa xôi ở Châu Âu.

Tôi có nghe Lê Minh kể loáng thoáng về tình cảm của Hồ Bảo với cô gái.

Đẹp, nên thơ và mẫu mực như trong tiểu thuyết.

Hồ Bảo đọc cho nghe vài đoạn thư gửi về từ xứ tuyết.

Nghìn trùng mới đến được chiến hào.

Tôi nhớ có một lá thư viết dưới gốc sồi cổ thụ, trong giờ nghỉ trưa, khi "đi khoai tây" ở nông trang.

Tự hào tưởng tượng Quảng Trị như Stalingrat thời chiến tranh vệ quốc bên Nga, Hồ Bảo như một chiến sỹ hồng quân Liên Xô, anh là "Người hùng", của chung cả nhóm nữ lưu học sinh.

Tôi nói với Bảo về tích "cây sồi và công tước Bonconsiki" mà cô gái nhắc đến trong thư.

Tối hẳn thì Bảo đi.

Mãi đến sáng sau, tôi chỉ nghe nói 2 người lính đặc công đã về, nhưng không thấy Bảo.

Suốt đêm cũng không nghe tiếng súng.

Tôi bàng hoàng.

Sao mọi chuyện lại có thể dễ và nhẹ như đùa vậy.

Nhưng khuya hôm sau thì Bảo về.

Giời ạ, tưởng hy sinh rồi.

Đêm trước, Bảo cùng 2 chiến sỹ đặc công vượt sông sang thị xã.

Bảo bơi trước.

Qua khoảng giữa sông, Bảo quay lại không thấy 2 người lính đặc công đâu.

Bảo quyết định bơi sang trước.

Đến bờ bên kia, Bảo chờ mãi đến tận gần sáng vẫn không thấy 2 đồng đội sang.

Về cũng dở.

Bảo quyết định tìm chỗ trụ lại bên địch để trinh sát.

Bảo đã ngụy trang và nằm lại một ngày trên một ụ đất cao.

Gần địch, xa ta.

Nắng nóng, căng thẳng.

Nghe rõ quanh mình tiếng chuyện trò, sinh hoạt của lính ngụy.

Sau này, Bảo được đi báo cáo điển hình Hội nghị thanh niên quyết thắng sư đoàn, rồi báo cáo điển hình quân khu và nhận Huân chương chiến công về một ngày đêm thật sự căng thẳng và dũng cảm đó.

Dư âm của những xúc động và căng thẳng từ câu chuyện lãng mạn của Bảo với những cô gái nghiên cứu sinh xa xôi và cuộc vượt sông Thạch Hãn sang thị xã Quảng Trị đêm cuối năm Bảy Hai ấy còn đọng lại trong tôi tới nhiều ngày sau.

23.11

Nghĩ mãi về Hồ Tú Bảo và lối sống của Bảo.

Có phải là mẫu không?

-Ái Tử. (Q.2-Tr.17)

10.12

Dũng cảm vượt qua lòng tự ái ích kỷ và tầm thường để nói rằng: "Tôi thật sự ước ao có 1 người yêu như vậy".

Những cô gái ở đất Nga xa vời vợi mà tôi chưa 1 lần gặp mặt đã đến trong tôi từ khi nào không hay.

Tôi mê những tâm hồn đa cảm.

Hôm nay thấy gần gũi hơn với Bảo.

Qua một đêm khó ngủ.

Những ý nghĩ miên man về những điều cũng miên man -Ái Tử. (Q.2-Tr.22)

Cũng trong những ngày ác liệt cuối Bảy Hai ở Ái Tử, tôi nhận được tin về Lô, Dương Văn Lô, một người bạn chơi với tôi từ khi học lớp 5, rồi cùng học với nhau 6 năm, tới hết lớp 10, và thất lạc tin nhau đã hơn 1 năm.

Làng Lô mãi xa trong chân Tam Đảo.

Hết lớp 10, Lô không đỗ đại học, ở nhà, lấy vợ sớm rồi nhập ngũ khi tôi còn đang học năm thứ nhất.

Lô tin tôi, chuyện gì cũng hỏi tôi, cũng nghe tôi, trừ chuyện lấy vợ sớm là Lô giấu tôi.

Khi tôi mới nhập ngũ, Lô không biết, vẫn gửi thư về trường cho tôi.

Lô kể nhiều về bom đạn ác liệt ở chiến trường.

Trong một lá thư, Lô nói bạn bè cùng làng có mấy đứa đào ngũ.

Lô cũng lung lay.

Lô hỏi ý tôi.

Ngay hôm sau tôi viết thư trả lời Lô.

Chắc chắn câu trả lời là: Đừng, đừng!

Mãi sau này, rất sau này, tôi mới phần nào hiểu được tình cảm của những người lính trẻ đã có vợ trước khi ra trận.

Sau lá thư trả lời Lô, chúng tôi mất tin nhau, hơn một năm, cho đến khi nhận được tin Lô qua một người đồng hương, một tin buồn.

Không, không phải tin buồn Lô đào ngũ mà là Lô mới hy sinh trong một lần đi gùi gạo, đâu đó trên miền Tây Quảng Trị.

Lá thư với lời khuyên "đừng!" của tôi có đến tay Lô không, chắc chỉ Lô biết?

Một người bạn như bao người bạn khác, một cái chết như bao cái chết khác, nhưng lại như là một "hội chứng" rất riêng tư của tôi, một món nợ mơ hồ nhưng cứ nhớ đến là lại nghẹn thắt ở ngực và thấy mọi thứ trước mắt mờ nhoè đi.

3.11.71

Buổi tối, nhận được thư của Lô gửi về trường, Hiền gửi lên đơn vị cho.

Thư của Lô kể về nỗi bất hạnh, rủi ro đến với Lô.

Thư Lô tâm sự về cuộc đời.

Cuộc đời!

Ý của Lô) là một chuỗi những tan vỡ, đổ nát của vô vàn ước vọng.

Cuộc đời với thừa thãi tất cả những ý nghĩa chua xót của nó.

Thư Lô kể về gia đình.

Những người thân của Lô nhủ Lô đào ngũ.

Không giận Lô, không ghét Lô mà chỉ thấy mến Lô và hơn cả là thương Lô.

Chỉ căm giận nơi mà Lô đứng để coi đời.

Cái góc cạnh rủi ro, hẩm hiu mà Lô đứng soi cho Lô rõ một góc trái tối tăm, riêng của đời. (Q.1-Tr.48)

4.11.71

Đi bắn xạ kích.

Đồi dẻ trắng ngà những tán hoa.

Kết quả bi đát của đợt tập và bắn đạn thật.

Gửi thư cho Lô và Bố Mẹ. (Q.1-Tr.49)

11.12.72

Hoà bình đã đến trong tầm tay.

Lô chết rồi ư.

Kỷ niệm sống lại xót xa.-Ái Tử. (Q.2-Tr.23)

Sau 81 ngày đêm giữ thị xã rồi trận địch nống sang bờ Bắc nhưng thất bại thảm hại, Nhan Biều, Ái Tử cũng dần dần bớt căng thẳng.

Địch phải từ bỏ hẳn ý định nhòm ngó Bắc Thạch Hãn cho đến tận 1975, ta tràn qua giải phóng hoàn toàn Quảng Trị.

Ngày 15/12, Ban 2 gọi Anh Hiền về nhận nhiệm vụ mới.

Ba ngày sau, tôi cũng được gọi về C20.

Thế là chấm dứt gần 1 tháng rưỡi với Nhan Biều, Ái Tử, những tháng ngày đùa bỡn với sống chết không bao giờ quên.

15/12

Ngày lẻ, rỗi rãi.

"Nhàn cư vi bày vẽ", ngày nào cũng giửo trò làm bún, cái cảnh hì huịm tất bật thấy cũng vui vui.

Lại thấy nao nao nhớ một cái gì không rõ rệt.

Anh Hiền về Ban.

Còn lại 7 người.

Ái Tử (Q.2-Tr.24)

18.12

Nhận lệnh về tuyến sau.

Tạm biệt khoảng đất khốc liệt ven thành Quảng Trị.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.24)

8.

Phục bắt thám báo ở Phương Thúy

Đại đội trinh sát sư đoàn thường chỉ có chừng non nửa quân số ở hậu cứ ở gần Ban 2, gần sư bộ, còn lại hoặc đi công tác lẻ, hoặc nằm ở các đài quan sát.

Tôi từ đài Ái Tử về hậu cứ, khi đó đóng ở Cao Hy, thì đại đội trưởng Hiền đã chuyển đi trung đoàn 2 (e95).

Trung uý Đinh Ngọc Ngơi, trước là trợ lý Ban 2, về thay.

Gặp lại cả Lê Minh, Hồ Bảo.

Mừng quá.

Ở Ái Tử, tuyến trước, nhìn thấy địch trước mắt, trong tầm đạn, lúc nào đi đứng cũng phải lom khom, căng thẳng theo một cách.

Về tuyến sau, xa địch, được đi thẳng lưng nhưng lại căng thẳng theo cách khác, không kém, thậm chí hơn.

Tuyến trước chỉ có cối địch bắn như trẻ con trêu chọc, ném đá, chửi nhau.

Tuyến sau, pháo biển, pháo tăng tầm, phản lực bổ nhào và nhất là B52 rải thảm, không đùa được.

Nhưng tình cờ, những ngày cuối tháng 12, khi tôi rời Ái Tử về tuyến sau, cũng là lúc địch tập trung B52 đánh Hà Nội.

Trận tập kích trên không đáng xấu hổ của Mỹ.

Quảng Trị những ngày này không còn những vạt khói bom B52.

Riêng ngày 25, Noel, ngày ngừng bắn, Cam Lộ thật sự thanh bình.

Tôi gặp trên đường Chín nhiều tốp bộ đội đi như dạo chơi, gặp cả những sỹ quan đứng tuổi đi cùng các cậu liên lạc trẻ măng, tận tụy.

Họ là chỉ huy các đơn vị, ngày thường không thấy bóng dáng họ đâu.

Thật éo le, trong những ngày thanh bình ít ỏi ấy những người lính tiền phương lại đăm đắm lo cho người thân của mình ở hậu phương.

Tôi cũng vậy.

Lo cho Hương Canh, liệu có bình yên.

Làng tôi làng gốm, chuốt vại, nặn tiểu, có trận địa, doanh trại, nhà máy gì đâu, thế mà trước đó cũng đã chịu 2 trái bom và một lần F4 cháy rơi ngay cổng Vam, chết oan 2 người dân lành.

Một đêm khác máy bay Mỹ cháy rơi ở đâu không rõ, nhưng dù và viên phi công đã chết lại rơi thụp xuống Hủng Giếng, dân quân làng nhốn nháo cả đêm.

Tôi lo lắng hôm trước thì ngay hôm sau, đêm 26/12 định mệnh, người Hà Nội mãi mãi nhớ, bom B52 tàn sát hàng trăm dân lành ở Khâm Thiên.

25.12

Ngày thanh bình.

Thanh bình rõ rệt nhất.

Cảm giác lâng lâng như tìm ra một ốc đảo.

Viết thư về cho Cha Mẹ.

Chiến tranh đã đến với Hương Canh yêu dấu của ta chưa?

Ta ước mơ được làm một ngọn gió để bồng bềnh theo những bông mây trắng thanh bình kia.

- Ngày ngưng bắn.

Cam Lộ. (Q.2-Tr.26)

31.12.1972

Năm trước nữa, mình đã ghi vào nhật kí: "Ngày cuối năm mỏng dính trên lốc lịch ...".

Khi ấy là mùa đông năm 1970.

Còn mùa đông 1972 phải ghi là: Tiếng bom và pháo của đôi bên hối hả tiễn một năm vào dĩ vãng.

B52 kẻ những vệt trắng trên làn da trời xanh thắm thặm.

Niềm hy vọng 72 sẽ là dấu chấm hết, đặt sau 2 chữ Chiến tranh, giờ đã trở thành hão huyền.

Ngày cuối năm, lại miết mải đi vào Ái Tử.

-Ái Tử. (Q.2-Tr.26)

Thời kỳ căng thẳng, tiểu đội trinh sát kỹ thuật (a12) ở trên sư bộ cùng Ban 2, không sinh hoạt với c20.

Một trong những nhiệm vụ chính của a12 là thu thập thông tin đối phương, chủ yếu nhờ các phương tiện kỹ thuật thông tin, kết hợp với kỹ thuật giải mã và kiến thức tiếng Anh.

Ở a12 có mấy trinh sát rất giỏi tiếng Anh: Anh Tỉnh vừa tốt nghiệp, các anh Vinh, Thân học năm cuối Đại học ngoại thương, anh Duyên năm cuối Đại học sư phạm ngoại ngữ.

Giai đoạn đầu, địch thường chủ quan, không thèm mã hoá các nội dung trao đổi qua vô tuyến giữa hạm đội Mỹ ngoài khơi và các căn cứ trong đất liền, giữa Mỹ và ngụy, giữa cấp chiến lược và chiến thuật, cứ "Xì xồ, yes, no, OK" liến thoắng.

Các thông tin mật ta khai thác được thì tôi không được biết, nhưng thiết thực nhất với chúng tôi hồi đó là thông tin về các toạ độ có khả năng địch sẽ rải bom B52 trong ngày.

Ngày 10/1, Ban 2 nhận được thông tin từ a12, địch tổ chức thám báo vượt sông sang trinh sát ta trên miền tây, thuộc địa phận e95, toạ độ xyz.

Ban 2 yêu cầu c20 khẩn trương tổ chức phục bắt.

Toán "thám báo phục bắt thám báo" do anh Thêm, trung đội trưởng mới lên đại đội phó làm trưởng nhóm, tôi là phó, phụ trách binh địa, cùng với 1 trinh sát võ thuật, Hùng "Côn" và 2 trinh sát thông tin.

Sau khi nhận lệnh, tôi xem xét kỹ bản đồ và thống nhất với anh Thêm về địa điểm mai phục.

Ngày 12/1 chúng tôi xuất quân về miền Tây.

12.1.1973

Động Ông Do đỏ lòm màu máu.

Đêm trên ấy nhằng nhằng ánh chớp của pháo.

Ban đêm, dưới ánh sáng hoả châu thấy rõ cái vòm lưng nhẫn nại, trơ trụi của "Ông lão Do" in lên da trời phương nam. – Phương Thuý. (Q.2-Tr.28)

Chúng tôi chọn vị trí phục kích trên đoạn sông có cái tên rất thơ - Phương Thuý, bên này là chốt của ta, bên kia, đối diện cũng là chốt ta, nhưng ngược xuôi và phía sau không xa đều là chốt địch.

Nếu thám báo địch muốn luồn sâu vào sau lưng ta, chắc chắn chúng sẽ chọn đoạn ngầm yết hầu ta dễ sơ hở này của Thạch Hãn để vượt sông.

Khu vực Tích Tường, Như Lệ, Phương Thúy trên miền Tây

Sau khi liên hệ và hợp đồng chặt chẽ với bộ binh e95 đang chốt tại chỗ, toán chúng tôi được nhường 2 hầm, mỗi hầm đủ cho 3 người.

Tôi chung hầm với 2 trinh sát thông tin (đáng tiếc tôi không còn nhớ tên).

Công việc ban ngày là đánh tiến lên với bộ binh và ngủ bù, đêm đến xuất quân đi phục.

Riêng tôi có nhiệm vụ hoàn thiện sơ đồ bố phòng ta địch quanh vùng Phương Thuý.

Phía ta, vùng này không còn dân, chỉ có chốt bộ đội và ngút ngàn cỏ tranh.

Anh Thêm cho Hùng hộ tống tôi.

Chúng tôi bắt đầu vẽ phần bờ bắc sông Thạch Hãn trước.

Hàng ngày, khoảng 10 giờ đêm nhóm đi mai phục nai nịt gọn gàng ra điểm phục kích.

Nhóm đi phục đêm có 3 người, do anh Thêm phụ trách, riêng tôi và 2 lính thông tin được ở lại hầm.

Mỗi người đào một hố cá nhân, cách nhau chừng 10 mét, liên lạc với nhau bằng dây võng, giật giật.

Anh em kêu: vừa rét, vừa muỗi.

Trưa 14/1, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời, tình cờ tôi được chứng kiến một trận đọ súng của bộ binh ta và địch.

Chẳng hề giống như tôi hằng tưởng tượng, cũng chẳng giống các cảnh trên phim.

Đang ăn cơm trong nhà âm, chúng tôi nghe có tiếng súng bộ binh đì đùm phía bên sông, cách chỗ tôi khoảng 500-600m.

Ai đó nói: Bộ binh đánh nhau rồi!

Tôi thật sự rạo rực, lúng túng xen lẫn tò mò, vội vớ khẩu AK báng gấp và chiếc ống nhòm rồi lom khom chạy theo giao thông hào ra sát bờ sông.

Tôi căng mắt nhìn.

Bên kia sông, thấy loáng thoáng bóng 2 chiến sỹ ta, chạy chạy, nấp nấp sau những lùm cây lúp xúp.

Không nhìn rõ các anh bắn, nhưng nghe tiếng AK pằng pằng, nhịp đôi, tách bạch, bình tĩnh.

Tôi phục lắm, đúng là tiếng súng của cựu binh.

Cũng chẳng thấy địch đâu, nhưng nghe tiếng cối cá nhân của địch lụp bụp kèm theo vài đám khói bụi màu nâu.

Cánh trinh sát bọn tôi, đứa thì nháo nhác, đứa thì tò mò, chứ mấy lính bộ binh bên này sông vẫn bình thản, nhẩn nha mang vỏ thùng lương khô xuống sông xách nước.

Khoảng 10 phút sau, tất cả lại yên ắng.

Sau hai đêm thức trắng phục kích, vừa lạnh vừa muỗi mà chưa gặp thám báo địch, anh Thêm điện về xin ý kiến, Ban 2 ra lệnh phục thêm một đêm nữa, đêm 15/1, một đêm không bao giờ quên.

Đêm cuối cùng, nhóm đi mai phục xuất kích sớm.

Còn lại hầm bọn tôi, 3 đứa cắt nhau gác như thường lệ, hai trinh sát thông tin gác phiên đầu và cuối, tôi gác phiên giữa, khoảng 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng.

Căn hầm gồm một nhánh chữ A kiên cố nối vuông góc với một khoảng hầm vuông, rộng bằng chiếc chiếu, sâu đến ngang thắt lưng, mái lợp và ngụy trang cỏ tranh sơ sài, gọi là nhà âm.

Hầm chữ A để ngủ, hẹp nhưng co quắp vẫn đủ vì đằng nào cũng chỉ 2 đứa ngủ, còn 1 đứa phải ngồi gác.

Nhà âm là nơi để ba-lô, bát đũa, ... ban ngày là nơi ngồi chơi, ăn cơm, đánh bài, ban đêm là chỗ ngồi gác, có động tĩnh gì thì tụt vào hầm.

Tôi nhận giao gác xong, đang nghĩ bâng quơ về trận đọ súng ngắn ngủi trưa hôm trước thì thấy một quả pháo sáng do máy bay thả, sáng loá, soi rõ đến từng ngọn cỏ.

Bầu trời Quảng Trị, nhất là miền Tây và những đêm tối trời, không có trăng, từ chập tối đến sáng, hiếm khi nào không có pháo sáng.

Chủ yếu là pháo sáng do bộ binh địch giật cầm canh.

Khi nổ và phát sáng, mỗi quả có một miếng dù trắng rộng bằng chiếc lá sen, đủ cho pháo sáng treo lơ lửng trên không khoảng 1-2 phút, rọi sáng khu gần chiến tuyến.

Pháo sáng do máy bay thả thì hôm có, hôm không, thả sâu sang đất ta, mỗi quả được treo bằng một chiếc dù gồm 2 dải dù trắng ghép thành hình chữ thập, dài rộng vài mét, lơ lửng trên không được vài phút, sáng trắng như đèn măng-sông, toả sáng một vùng cả vài cây số .

Tôi lụi cụi lên khỏi nhà âm, nhìn theo chiếc dù pháo sáng lơ lửng không xa, định vị chính xác để sáng sau ra nhặt dù.

Chiếc dù pháo sáng bay chênh chếch về phía tây rồi lấp sau mấy lùm cây đầu hầm.

Tôi phải rời nhà âm, men men bờ đất để nhìn bám theo.

Xa hầm khoảng 20m, vừa lúc chiếc dù pháo sáng lịm dần và rơi gần đến đất, phía mấy quả đồi cỏ tranh phía tây, thì chợt thấy loé sáng như chớp và tiếng nổ rách nhọn của pháo, rất gần.

Tôi ngã chúi chụi xuống bờ đất.

Chắc chỉ khoảng 2 hay 3 tiếng nổ, không phải pháo bầy, chỉ là pháo vu vơ cầm canh, tâm lý, nhằm hạn chế hoạt động của đối phương trong đêm.

Quả pháo sáng cũng đã tắt, trời lại tối đen.

Tôi cũng không định thần được pháo đã nổ chỗ nào, chỉ biết quanh quanh gần, mùi khét lẹt.

Tôi lần trở về hầm, chân tay vẫn run run thì chao ôi, một quả đạn pháo vừa rồi đã nổ đúng giữa căn hầm âm, nơi cách đó vài phút tôi vừa ngồi gác.

Ba-lô, mũ cối, bi-đông, bát, nồi, ... tả tơi, tan nát.

Hai trinh sát thông tin trong hầm bị mảnh pháo tạt xiên vào.

Họ đang tự băng bó cho nhau và cùng ngạc nhiên, mừng rỡ khi thấy tôi vẫn còn sống.

May là cả 2 đều nằm quay chân ra nhà âm nên chỉ bị thương ở chân.

Mặc dù thấy cả 2 người vẫn tỉnh táo nhưng nhìn thấy máu me đầm đìa nên tôi ríu cả chân tay.

Tiếng là lính chiến nhưng quả thực tôi chưa nhìn thấy máu người bao giờ.

Tôi vội chạy sang phía hầm bộ binh, nhờ cứu viện.

May là nhóm đi phục kích cũng vừa về, vừa ta, vừa bạn, băng bó, cứu chữa, thêm bộ binh hỗ trợ cáng ngay 2 trinh sát thông tin đi trạm phẫu tiểu đoàn, đến gần sáng thì tạm ổn.

Sáng hôm sau, 16/1, chúng tôi thu dọn, rời Phương Thuý, đi 6 về 4, trở về hậu cứ.

Tôi bỏ lại nhà âm chiếc mũ cối và chiếc bi-đông rách nát, vương vãi mấy mảnh ống quần rách bươm và những vụn bông băng.

Bàng hoàng, nao nao trút một tiếng thở dài "Ui chao!" vào nhật ký.

15.1.1973:

Hút chết!

Lại một lần hút chết.

Lần này tử thần lần đến quá gần.

Hai người cùng hầm đều bị, trừ mình.

Phương Thúy (Q.2-Tr.28)

16.1.1973:

Ui chao!

-Phương Thuý. (Q.2-Tr.28)

9.

Đài trinh sát trên cao điểm 108

Đúng 10 ngày sau "Ui chao, Phương Thuý", chúng tôi được Ban 2 thông báo: "Hiệp định ngưng bắn 4 bên" đã được ký kết.

Những người lính đã khắc khoải mong chờ ngày này từ cuối tháng 10 năm trước, khi Hiệp định lẽ ra đã được ký nếu phía địch không lật lọng và ảo tưởng vào quả đấm B52.

Tám giờ sáng 28/1/1973, Hiệp định sẽ chính thức có hiệu lực.

Đêm 27 rạng sáng 28/1, vào cái khoảng khắc mà người ta thường gọi một cách văn hoa là "trước lúc bình minh", tôi đang ở một căn hầm ven suối của hậu cứ ở Cao Hy, nghe đạn pháo râm ran bốn bề.

Đạn lửa căng dây lên trời.

Có cảm tưởng như 2 bên bắn cho hết đạn đi, bắn kẻo từ hôm sau sẽ không được bắn nữa, bắn để tiễn thời bom đạn, bắn đón hoà bình.

Cảm thấy như đã vĩnh viễn kết thúc những tháng năm bom đạn nặng nề.

Những dòng nhật ký rạo rực, ngất ngây sẽ ít phải mã hoá hơn.

Đã trộm nghĩ đến quê hương, ngày về.

27/1/1973

Có lẽ đây là đêm cuối cùng còn đầy đủ dư âm của bom pháo.

Đêm cuối tháng nhờ nhờ thứ ánh sáng của những ngọn đèn sao thắp ở mãi tận một nơi xa vời, không đủ soi rõ một vật gì.

Không gian và ý nghĩ đứt vụn ra trong tiếng dội vội vã của bom đạn.

Rõ rệt nhất trong ý nghĩ là nỗi đau lòng khi nhớ lại chú Hiếu & anh Độ, những linh hồn bất hạnh, nằm xuống trước lúc bình minh.

Kỷ niệm trở về đầy ắp trong tôi.

Đau đớn và thương tiếc.

Năm tháng đã gắn chúng tôi lại trong một thứ tình cảm đồng đội, chân chất, mộc mạc.

Nhớ quá! – Cao Hy. (Q.2-Tr.)

28.1.1973

Đêm qua còn kịp nghe trận bom B52 cuối cùng (có lẽ là cuối cùng).

Sớm, không ngủ được.

Khoảng 2 giờ đã nôn nao, trằn trọc.

Bao nhiêu thứ tình cảm xốn xang, xao động trong tâm hồn.

Nằm nghe tiếng pháo của 2 bên cấp tập.

Tưởng tượng 4 lá cờ lớn đang tung bay.

Một cái gì lâng lâng, lao xao tràn đến.

7 giờ kém 20, một chiếc OV "mù" hai thân rì rì chao qua đầu một lần cuối.

Nhưng không phải là thứ tiếng rền rĩ, khó chịu như xưa nữa.

Pháo nổ rộn rã.

Những người lính sung sướng bắn rộn núi rừng.

7 giờ kém 5.

Trời Quảng Trị trở nên mát mẻ trong cơn mưa lạc mùa.

Khoảng 8 giờ 30.

Thanh bình, yên ả.

Chúng ta đã chiến thắng kẻ thù như vậy?

Nghĩ về Hương Canh.

-Quảng Trị. (Q.2-Tr.)

Những ngày say sưa hoà bình không kéo dài.

Sư đoàn thông báo: Nhanh chóng xác định, chúng ta sẽ bước vào một cuộc chiến đấu mới, lâu dài, phức tạp, không kém gian khổ và ác liệt.

Riêng với tôi, kể từ ngày quay ra Bắc học binh địa, hầu như chẳng còn dính gì với a8 thân yêu của thời Hà Bắc, Hà Tĩnh.

Hết binh địa Sơn Tây, vào Quảng Trị thì biệt phái ngay Ái Tử với các a khác, b khác, rồi phục bắt thám báo Phương Thuý cũng vậy, chưa lần nào có dịp ngó ngàng đến "gia đình a8".

Đã có rất nhiều thay đổi, mất mát.

Chỉ một mùa hè Bảy Hai, a8 của tôi đã mất 3 người, 3 đồng đội thân yêu.

Đỗ Triệu hy sinh khi mới vào Đông Hà vì trúng một miểng đạn pháo chỉ bằng hạt ngô, xuyên qua bụng.

Em Hiếu hy sinh trên đài quan sát vì trúng bom khi đang ngồi chuẩn bị ăn cơm.

Anh Độ bị mìn hay cối cá nhân trong một đêm trinh sát tiền duyên ở Như Lệ, đâu đó ngay trước hay sau khi tôi vào Ái Tử.

Tôi nhận quyết định chính thức về lại a8, làm a trưởng thay anh Độ.

A8 đâu còn như xưa, người mất, người còn, người cũ, người mới.

Tiểu đội chia thành 2 nhóm.

Nhóm ở hậu cứ có Quế và Tuấn Anh.

Số còn lại, 5 người, do a phó Lạp chỉ huy đang ở đài quan sát trên cao điểm 108, cách Cao Hy chừng 3 cây số.

Sau 3 ngày ở hậu cứ, ngày 31/1, tôi nhận lệnh sáng sau rời Cao Hy lên cao điểm 108, thay cho Lạp về hậu cứ.

Tôi biết lên đài thì buồn hiu và chẳng cần gì nhiều đến nghiệp vụ binh địa của tôi.

Dù sao, quân lệnh là quân lệnh, lại khoác ba lô đi, cứ coi như được đại đội quan tâm cho đi an dưỡng.

1.1.1973

Lại nghe âm thanh của người bạn yêu dấu ấy.

Sao mà say "hắn" đến thế.

Mấy ngày xa, buổi sớm mai không được nghe cái âm thanh gần gụi ấy mà thấy nhớ da diết.

Ngày mai xa "ngươi" rồi.

Hỡi con chim trong khóm cây đầu hầm có giọng hót say hồn, quen thuộc mà chưa lần nào ta nom thấy.

- Khu A. (Q.2-Tr.)

1.2.1973

"Y chu choa, nguy thay, than ôi,

Đường lên Thục khó như đường lên trời!"

Từ nay sẽ gắn bó với cái "đầu hói" cao 108m này.

-CĐ 108. (Q.2-Tr.)

Cao điểm 108 là tên gọi theo bình độ trên bản đồ.

Nó là điểm cao nhất trong bán kính chục cây số tính từ thị xã Quảng Trị, thuận tiện để bao quát toàn bộ chiến trường Quảng Trị.

Lối lên cao điểm dốc đứng.

Trên cao điểm có đài quan sát của c20 và một đài quan sát pháo binh.

Mỗi đài có 2 hầm.

Trên đài quan sát chỉ còn Ghi là lính cũ thời xóm Đồng, Hà Bắc, còn lại là 3 chiến sỹ mới: Lâm, Loan và Chỉ.

Ghi vẫn như xưa, "Biết Tuốt" của a8 đấy.

Quách Lâm, con trai phố Huế, hoa tay 10 ngón, thích vẽ và giỏi vẽ.

Loan trắng trẻo, ỏn ẻn nhưng nghịch ngầm.

Em út Chỉ, quê miền Trung, chân chỉ như tên, mộc mạc như ruộng lúa, luống khoai.

Cả 3 chiến sỹ là mới với c20, là mới với tôi, nhưng đều đã từng sinh tử với Quảng Trị, được lựa chọn từ các trung đoàn, điều lên bổ sung cho c20.

Nhiệm vụ của chúng tôi trên đài thật đơn giản và nhạt nhẽo: đếm pháo địch bắn sang ta, bao nhiêu quả, tọa độ nào, tổng hợp báo cáo về Ban, tuần 1 lần.

Hiệp định rồi nhưng vẫn chẳng ngày nào ngưng tiếng súng nên luôn có việc để làm.

Ngay trước hôm tôi lên đài, sáng 31/1, thấy pháo mịt mù phía Cửa Việt, có vẻ cả pháo ta, cả pháo địch, nhiều đếm không xuể, thôi áng chừng 1973 quả.

Chẳng biết trong các bản tin của Đài tiếng nói Việt Nam: "Tuần qua địch đã vi phạm Hiệp định n lần, bắn m quả đạn pháo sang vùng giải phóng ..." có phần đóng góp thông tin của chúng tôi hay không.

Với tôi, dù sao, những ngày trên "chóp 108" cũng là những ngày xả hơi sau Ái Tử, sau Phương Thuý.

Chúng tôi đã đón một cái "Tết Hoà bình" đơn sơ nhưng đáng nhớ ở trên cao điểm này.

3.2.1973

Đêm vẫn nghe tiếng ầm ì gần xa của súng và ánh sáng của hoả châu.

Bước vào một giai đoạn mới mà hướng đi của cả cuộc đời phụ thuộc vào nó.-108. (Q.2-Tr.)

Giao thừa!

Cả đến thuốc tím cũng không còn nữa!

Viết bằng bút chì vậy.

"Mùa đông còn hết em ơi,

Mà con én đã gọi người sang xuân"

Đã lâu lắm rồi mới lại dám dè dặt ghi vào nhật kí: Có một niềm vui thật sự đến trong tâm hồn.

Cuộc đời là thật sự của mình rồi. ......

Không rõ mùa đông đi hay mùa xuân về mà lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ.

Đêm trừ tịch rạo rực theo những dây đạn lửa nối nhau bay vào vô tận, náo nức theo tiếng súng nổ rộn rã.

Mùa xuân về bâng khuâng trên miền đồi núi vừa trở lại thanh bình, còn rỗ nhằng rỗ nhịt những vệt bom B52.

Rau má vội vã đội đất bom, "hồi sinh" xanh thắm thiết.

Xuân mới về nao nao sống lại trong kí ức những gì "vang bóng một thời" của cái thủa xa xưa nhiều mộng mị, say sưa đã thuộc về dĩ vãng.

Xuân đến nghiêm trang trong sự biết ơn và thương tiếc Trung Hiếu và anh Độ, bạn Triệu - Những người đã ra đi trước lúc bình minh.

Đầu năm, ngồi ghi thư về quê hương.

Mùa xuân "HS".

-Cao điểm 108. (Q.2-Tr.)

10.2.1973

Chập tối lại đánh nhau dữ dội ở vùng Như Lệ, Tân Mỹ.

Nom đạn lửa hai bên bắn lên cũng biết là ác chiến.

Bắt đầu một giai đoạn mới.

Giai đoạn củng cố tổ chức và nếp sống tế nhị cho tiểu đội và Giai đoạn Anh văn cấp tốc.

Cả 2 đều là cần thiết, bổ ích nhưng sẽ tốn không phải là ít nỗ lực mà cũng chỉ có bây giờ là lúc thuận tiện nhất để tiến hành và thu lượm những vấn đề ấy.-CĐ 108. (Q.2-Tr.)

11.2

Đến chết đi được vì tiếng con chim Cu gầm ghì gáy nhỏ, gáy to nghe xa xa, gần gần vào lúc nửa buổi và tiếng nỉ non, dền dĩ, dai dẳng của loài chim Đa đa vào lúc cuối của ngày.

Đến là tai hại vì cái thứ "tâm lí chiến tự nhiên" ấy.

Trong tiếng pháo xa xa, ồn ào vẫn vẳng về dư âm êm đềm "Cu, cù, cu" và "Bắt con tép kho cà", nghe êm đềm, yên ả mà lại xối vào sâu xa.

-Đài 108. (Q.2-Tr.)

"Hiệp định" rồi nên trên đài cũng nhàn chứ trước Hiệp định cũng ác liệt chẳng kém gì ở chốt.

Chon von trên "đỉnh hói", bom pháo hỏi thăm luôn.

Tôi thường được nghe mọi người trên đài say sưa kể lại một kỷ niệm thú vị mới xảy ra ngay trước Hiệp định.

Lần đó Ban 2 thông báo cho c20: 1 giờ chiều hôm sau có B52 rải đúng toạ độ xyz gồm 108 và lân cận.

Nhận được thông báo chỉ có nghĩa là đề phòng, chuẩn bị tinh thần, chứ không có nghĩa là "sơ tán".

Lần đó, sư đoàn yêu cầu đài quan sát của c20 không được rời vị trí!

Hôm sau, lính trinh sát trên cao điểm bảo nhau còn gì ngon mang ra ăn.

Lính thì ngon nhất nếu có chỉ là lương khô, thịt hộp, kém ngon hơn thì rau má, rau tàu bay đầy quanh hầm.

Liên hoan, xả láng xong, lính chia 2 hầm, ngồi quật "tá lả" với nhau, chờ B52 đến "tá lả" mình.

Đúng 1 giờ chiều, B52 rải thảm thật, nhưng chỉ 1-2 quả tạt sườn phía đông cao điểm, không dính hầm nào, còn chủ yếu quét thành vệt theo các đồi thấp phía đông-bắc.

Thở phào xong lại thở dài, có gì ngon đã dốc ra ăn cố ăn kiết, phí thế.

Lầm bầm chửi mấy cha trinh sát kỹ thuật a12, hại mình.

Bây giờ nghe chuyện cũ đôi khi thấy khó hiểu đến bực bội.

Sao ta lại biết giờ và nơi địch ném bom B52?

Sao đã biết thế mà không bảo nhau tạm lánh đi, hèn nhát gì đâu, hết bom lại về?

Thì cũng như lần nín thở đi qua quả bom nổ chậm ở Lệ Thuỷ, Quảng Bình hôm hành quân vào Quảng Trị.

Bãi cỏ hoang rộng mênh mông, sao không đi vòng, đi tránh xa quả bom nổ chậm mà cứ sấn theo con đường sát sạt với quả bom, với cái chết?

Thực ra lính không bao giờ có những câu hỏi như vậy.

Chiến tranh có những lý riêng của nó, có cách hành xử riêng của nó, ngặt nghèo, chặt chẽ.

Ý chí hay kỷ luật sắt là một cách lý giải, nhưng rõ ràng không thể nháo nhào, hỗn loạn trốn chạy nguy hiểm được.

Nói theo kiểu lính: không ai chạy tránh bom đạn được, chỉ có bom đạn nó tránh mình.

Đấy là gốc của những câu chuyện lính thì thầm kể với nhau về thần chết vác sổ đi tìm những người sợ chết.

Nghe vô lý mà thật.

Phần lớn thời gian trên cao điểm là rảnh rỗi.

Tôi bày cho Chỉ làm bún như hồi ở Ái Tử.

Lại lấy tất chân và mặt nạ phòng độc Trung Quốc làm khuôn, lựu đạn mỏ vịt và mũ sắt làm chày và cối, gạo Trung Quốc ngâm vào thùng đạn đại liên USA.

Chỉ học nhanh, làm rất khéo.

Cánh trinh sát pháo tròn mắt xem Chỉ khéo léo vắt bún, nhưng bảo học để tự làm thì cánh ấy lắc đầu.

Thôi, xin góp gạo, đến bữa vác mũ sắt sang nhận phần, ít cũng được.

Thú của Quách Lâm là vẽ.

Tôi cũng gọi là biết vẽ từ khi học binh địa, nhưng chỉ vẽ lô-cốt, cầu cống, bình độ, đường xá, ... chứ vẽ người thì chịu, còn Quách Lâm vẽ có khiếu, gia truyền nghiêm chỉnh.

Hết cảnh đồi, căn cứ, xe tăng cháy thì quay ra vẽ "Thằng Chỉ gác".

Cựu binh Ghi hay lọ mọ xuống núi, gần bữa ăn thì về, quẳng uỵch xuống đất, khi thì xâu cá, lúc đùm rau, có lần khệ nệ cả một thùng lương khô A72 còn nguyên niêm phong.

Nó còn tính chuyện đi bắt ong rừng về nuôi lấy mật.

Nghịch lắm, nhất quỷ, nhì ma, thứ ba thằng Ghi.

Việc nặng nhọc nhất trên cao điểm là xuống suối lấy nước, nhưng cũng là việc thú vị nhất so với cả ngày ngồi buồn tẻ trong 2 căn hầm trên đỉnh cao điểm.

Thường xuống suối lấy nước thì kết hợp luôn hái rau tàu bay, rau má, bắt cua suối hay chí ít cũng là tranh thủ tắm giặt.

Một buổi chiều (13/2/1973), đến lân tôi xuống suối lấy nước như mọi lần.

Đang ì ạch xách 2 thùng lương khô đầy nước lên tới lưng dốc thì bỗng đâu nghe rèn rẹt 1 quả pháo tăng tầm từ hạm đội bắn vào, đất đá, cây cỏ tung toé bên khe suối.

Thêm một hai quả nữa nổ xa hơn xuống dưới thung lũng.

Thế mà tôi quăng mất cả 2 thùng nước, rách cả ống quần, tím dập một bên ống khau.

Hết pháo, mấy đứa trên đài chạy bổ xuống đón tôi, hoàn hồn, lại cười: "Đếm mấy quả pháo vừa rồi chưa?"

13.2

Đã đi được 3-4 trang nhật kí kể từ ngày ngừng bắn thế mà lại phải ghi cho cái ngày nguyên tố này hai chữ "Hút chết".

Cái trò pháo biển tăng tầm kể cũng bậy, chẳng quả nào ra quả nào mà gây rặt những bất ngờ.

Buổi chiều lại phạm một tội ác.

Sao lại ngoan cố đến vậy.

Hãy ghi một lần nữa: "Tội ác và trừng phạt".

-108. (Q.2-Tr.)

Đài 108 chỉ có mấy người, lại gần hậu cứ nên không được trang bị vô tuyến.

Chúng tôi liên lạc với đại đội bằng hữu tuyến nhờ chiếc điện thoại Trung Quốc, loại quay "maniven", không dùng pin.

Mỗi lần sử dụng phải có 2 người, một người quay "maniven" để sinh ra điện còn người kia nghe và nói.

Ngày 23/2 tôi nhận được điện báo có ông Ngọc lên đài.

Tôi đã nghe kể nhiểu về ông nhưng chưa bao giờ gặp nên cũng hồi hộp.

Sáng sớm, tôi xuống chân núi đón ông.

Tôi không còn nhớ ông Ngọc là thiếu tá hay trung tá, nhưng là phụ trách phòng 2 của mặt trận B5.

Lần ấy ông đi thị sát khu vực Ái Tử, ven thành.

Tôi rất nhớ ông vì ông gầy đến dị thường.

Tôi thật sự bất ngờ khi ông cầm lấy cây bút chì trên tay tôi và lia mấy nét chì binh địa sơ đồ vùng ven thành, nom thật sự điêu luyện và đáng phục.

Lần này tôi xuống Ái Tử trong một cảm giác hoàn toàn khác so với lần đầu, hồi cuối Bảy Hai.

Đã chinh chiến, dạn dày hơn nhiều, nhưng vẫn thấy một cảm giác lâng lâng, rạo rực dù mới xa Ái Tử không lâu.

Đang xuân, đã thấy rau má và rau tàu bay phốp pháp nhoi lên trên miệng những hố bom.

Ngay tối đi thị sát khu vực Ái Tử về, tôi nhận được lệnh c20 cho cả đài rút về hậu cứ.

Ngày 24/2/1973, chúng tôi "liên hoan" một bữa bún và lương khô 72, tạm biệt những người bạn trinh sát pháo binh láng giềng, tạm biệt 108 mà tôi hay đùa là đầu hói 108.

Ba tuần ngắn ngủi, êm đềm, như một nốt lặng đơn trong bản hoà tấu hối hả, dồn dập những nốt ba, nốt kép.

23.2.1973

Trở lại thăm vùng ven thành.

Đất của bom đạn và máu.

Vẫn cái xác thằng thám báo nằm ở vệ đường.

Tối, nhận lệnh rời khỏi "chóp".

Giai đoạn êm đềm, ngắnngủi chấm dứt.

-CĐ 108. (Q.2-Tr.)

10 Những câu chuyện miền Đông

Kể từ sau Hiệp định Bảy Ba, đã không còn bom giội, nhưng tiếng súng bộ binh vẫn chưa thực sự ngưng trên chiến tuyến.

Lính bộ binh nếu không phải chốt sát địch đã nhúc nhắc rời hầm kèo chữ A để lên nhà âm cho rộng rãi, thoáng đãng hơn.

Lính cậu C20 còn "vương giả" hơn hẳn, rời bỏ cả hầm chữ A, cả nhà âm ở Cao Hy, kéo quân về Quất Xá, một làng nhỏ trù phú ven đường 9, đầu làng tới cuối làng lêu đêu những thân cau cao, thẳng đuốt đuột.

Được ở chung với dân, lại được ngủ giường, trải chiếu ni-long hoa sặc sỡ, nghe bọ mạ kể chuyện thời "Cộng hoà", đùa với con trẻ và làm duyên làm dáng với mấy o du kích, như chưa hề có bom đạn, chiến tranh.

Tôi được gọi từ cao điểm 108 về Quất Xá để chuẩn bị cho khá nhiều công việc liên quan tới binh địa.

Trước mắt là chuẩn bị tiền trạm, chọn chỗ thích hợp cho đơn vị di chuyển lên ở sát chiến tuyến hơn.

Tôi vác bản đồ bám đường 9, xuôi sông Hiếu, cầu Đuồi, hướng về Đông Hà, rồi ngược sông Thạch Hãn, bám quốc lộ 1, đi về phía Nhan Biều, Ái Tử.

Đang dở dang đợt tiền trạm, nhấp nhỉnh dò trên bản đồ, háo hức nghĩ đến Đông Hà thì tôi lại bị gọi ngược về đại đội nhận lệnh gấp.

Cũng ngẩn ngơ tiếc.

Nhưng sau khi nhận nhiệm vụ chi tiết của đợt công tác mới thì nỗi vui sướng tưởng như nghẹt thở.

Tôi sẽ có một chuyến thị sát đầy hứa hẹn về miền Đông với một sứ mệnh lịch sử và quan trọng.

2.3.1973

Người ta xếp vào bản nhạc thời gian của mình, kể từ ngày rời 108, rặt là những nốt móc kép và móc ba, chứ không thấy mặt một dấu lặng nào.

-Bờ sông Hiếu.

3.3.1973

Ngày lẻ của tháng lẻ trong năm lẻ.

Nhận lệnh chuẩn bị đi công tác vào tuyến trước.

Có lẽ 5.3 sẽ đi.

-Bờ sông Hiếu.

Sau khi rút khỏi thị xã Quảng Trị (16/9/1972), ta dần dần từng bước bố trí lại lực lượng để ổn định bố phòng trên toàn bộ chiến tuyến.

Cho đến ngày ký kết Hiệp định Bảy Ba, chỉ tính đoạn từ mép biển vào đến bờ sông Thạch Hãn, chỉ khoảng chừng 3-4 cây số chim bay, hơn 10 cây số chiến tiến, mà ta phải tập trung tới 4 trung đoàn, trong đó có 2 trung đoàn của f320, một trung đoàn độc lập và 1 trung đoàn của f325.

Hiệp định đã ký được hơn 1 tháng, trên có chủ trương nhanh chóng bố trí lại lực lượng cho hợp lý, rút 2 trung đoàn của f320 ra, giao cho f325 ổn định bố phòng và thống nhất chỉ huy trên toàn chiến tuyến.

Một thực trạng éo le đang tồn tại trên chiến tuyến là theo Hiệp định, kể từ 8 giờ sáng ngày 28/1/1973, ngày Hiệp định có hiệu lực, nơi nào có cắm cờ của bên nào thì thuộc về bên đó, "cong ăn cong, thẳng ăn thẳng".

Khi đánh nhau, đâu có phải cứ phía trước là địch, phía sau là đồng đội.

Vì thế, khi 2 bên đồng loạt bung cờ lên, ta địch cài răng lược, thậm chí loang lổ da báo.

Ở những mặt trận sâu hơn về phía nam, tuỳ theo tương quan lực lượng mà sau Hiệp định hai bên vẫn dùng súng đạn "sửa bản đồ", ta tố cáo địch "nống", địch lại kêu ta "lấn chiếm".

Nhiệm vụ cụ thể của đợt công tác của chúng tôi về miền Đông là thị sát và xác định thực trạng bố phòng ta-địch trên toàn bộ chiến tuyến sau khi ký kết Hiệp định hơn 1 tháng, chuẩn bị cho các kế hoạch lâu dài, trước mắt là chuẩn bị chuyển giao, bố trí lại lực lượng.

Trưởng nhóm công tác là anh Phi, chính trị viên trưởng đại đội, một người cao lớn, to béo, trắng trẻo, quê Thái Bình, tôi là phó, thêm 2 chiến sỹ "hộ tống", trong đó có 1 trinh sát thông tin mang theo 1 máy 2 wat.

Chúng tôi hăm hở đi như chạy trên đường 9.

Đây rồi, Đông Hà ước ao!

Có cảm tưởng nhộn nhịp, sầm uất chẳng kém gì Hà Nội.

Có phố xá, dù vẫn ngổn ngang, đổ nát, có hàng ăn, quán phở, góc chợ Đông Hà, dù mới lác đác, lèo tèo.

Có nhộn nhịp, ồn ào, nhưng chủ yếu chỉ là màu xanh áo lính, dân còn thưa thớt lắm.

Chúng tôi chỉ có một thoáng trưa với Đông Hà rồi dốc xuống Cửa Việt luôn.

Nói đến bộ đội Cụ Hồ, đánh Pháp, đánh Mỹ, là nghĩ đến núi rừng Việt Bắc, Trường Sơn, mấy khi lính biết đồng bằng, biết biển.

Hiếm lắm.

Vì thế được về đồng bằng, đến tận biển sau những tháng ngày núi rừng, thấy bồng bềnh, lâng lâng.

Với riêng tôi, không hiểu vì sao, cứ thấy biển là run lên, cuồng lên.

5.3.1973

"Tính tang, tính tình, miền Đông gian lao và anh dũng.

Tính tang, tính tình, hăng hái chiến đấu chống quân thù".

Say mê, hồ hởi đi về Cửa Việt.

Hạ du phì nhiêu là của ta rồi.

Đông Hà vui hơn cả trí tưởng tượng.

Cả lũ ngơ ngác như ngố rừng vậy.

Biển và sóng.

Không phải là Mẹ hiền mà là Cha già (nhẫn nại và khô khan).

Không phải là xanh mà là xám.

Cát vô tận và trắng một màu sòng phẳng.

ở cát như cảnh du bạt trong sa mạc.

Có ở với cát mới hiểu được về cát.

Toàn là những hiểu biết mới.

Pháo dũi xuống cát hoen hoen như cái cối lăn thuốc bắc.

Miểng hắn dỉ, đỏ cạch nom như rỗ trên da cát trắng mịn.

-Chỉ huy sở Trung đoàn 101- Tường Vân.

Chỉ huy sở trung đoàn 101 đóng ở làng Tường Vân.

Được trở về với chính trung đoàn thời tân binh Sở Thượng, Nhã Nam, thích lắm.

Bây giờ e101 nằm trong biên chế hoàn chỉnh của sư đoàn với tên gọi là Trung đoàn 1, gồm 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3, không có tiểu đoàn 5 và 6 như hồi còn là sư huấn luyện tăng cường ở Hà Bắc nữa.

Bây giờ các tiểu đoàn 4, 5 và 6 là của trung đoàn 2 (e95) còn các tiểu đoàn 7, 8 và 9 là thuộc trung đoàn 3 (e18).

Dù vậy, lính vẫn quen tên gọi gốc là e101, e95 và e18 hơn là tên mới: Trung đoàn 1, 2 và 3.

Ở trung đoàn bộ 101, tôi tranh thủ hỏi thăm, may mắn tìm gặp lại và được ngủ một đêm với Tốn và Chính, bạn cùng lớp Lý B1, cùng c23 xưa, giờ ở c18 (thông tin) của e101.

Cánh c23 ở lại e101 hy sinh mất Phải, lớp Lý B1, cánh c24 mất Thạc, lớp Toán A1, đều hy sinh trong những ngày e101 cố thủ cánh Đông cổ thành.

Đêm cát Tường Vân thức trắng, phần vì bâng khuâng hoài niệm, phần vì loay hoay với bọ chét.

Giống côn trùng hiếu khách của xứ cát, li ti như vừng đen, lẩn trong cát, nhảy choăn choắt vào võng, đốt ngứa phát điên, phát rồ.

Hôm sau tôi bắt đầu chấm bằng chì đen lên bản đồ điểm khởi đầu của chiến tuyến trên mép nước biển Đông.

Tôi bị sốc ngay từ điểm này.

Trên bãi cát trắng vẫn còn hừng hực không khí trận chiến ác liệt trước đó mới 1 tháng.

Bao nhiêu điều bỡ ngỡ, mới lạ đối với tôi, nhất là những gì liên quan tới đối phương.

Trinh sát cần phải nắm.

Nghiến ngấu hỏi, nghiến ngấu ghi chép như phóng viên mặt trận.

Nhận thức được tầm quan trọng của quân cảng Cửa Việt, ngay trước ngày ngưng bắn, trước giờ ngưng bắn, địch tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất rắp tâm chớp nhoáng tái chiếm quân cảng Cửa Việt, nằm sâu khoảng 7-8 cây số về phía ta.

Phía địch khi đó là sư đoàn Thuỷ quân lục chiến, thường gọi là lính mũ nồi xanh.

Sư đoàn có 3 lữ đoàn, đánh số bằng 9 con số tự nhiên, ghép 3 số theo quy tắc các số liên tiếp cách nhau 3 đơn vị, lần lượt là lữ 147, lữ 258 và lữ 369.

Mỗi lữ có 3 tiểu đoàn, cả sư đoàn có 9 tiểu đoàn, đánh số từ 1 đến 9, nhưng mỗi tiểu đoàn còn có một biệt danh riêng: Quái điểu, Trâu điên, Sói biển, Kình ngư, Hắc long, Thần ưng, Hùm xám, Ó biển, Mãnh hổ, toàn tên những hung thần, thú dữ chứ không lấy địa danh, sông núi, danh nhân như binh đoàn Hương Giang, trung đoàn Trần Cao Vân của bên ta.

Để thực hiện chiến dịch đánh chiếm Cửa Việt trước giờ ngưng bắn, địch thành lập lữ đoàn đặc nhiệm mang tên Tăng-gô, gồm d2, d4, bổ sung một phần quân của d5 và d9, những đơn vị thiện chiến nhất của Thuỷ quân lục chiến, với sự trợ giúp của tàu chiến hạm đội 7 ngoài khơi và cả trăm xe tăng M41, M48 của 2 thiết đoàn Chiến Xa, Kỵ Binh.

Trong đêm tối trời 27/1, đêm ngay trước ngừng bắn, thay vì hồi hộp, háo hức đón đợi bình minh hoà bình, chúng đã đồng loạt tấn công các chốt ta từ An Lộng, đến Long Quang, Thanh Hội, hướng thẳng đến Cửa Việt.

Thật là dã man!

Bắt đầu là những cơn mưa bom và pháo, tiếp sau là xe tăng và lính "Trâu Điên", "Kình ngư", "Mãnh Hổ" ào ạt tràn sang ta.

Phía ta là e48, e64 của f320 ở phía An Lộng, Long Quang và e101 của f325 giữ Gia Đẳng, Tường Vân, Thanh Hội, sát biển.

Ta và địch giằng co từng công sự, từng mét cát.

Địch chủ động, bất ngờ và tập trung lực lượng nên đã lấn được khá xa dọc theo mép biển vào đất ta.

Vào thời điểm Hiệp định được tính là có hiệu lực, vài nhóm Thuỷ quân lục chiến đã chiếm được một số vị trí của quân cảng Cửa Việt.

Hiệp định có hiệu lực từ 8 giờ sáng 28/1, nhưng chiến sự quanh Cửa Việt còn kéo dài thêm mấy ngày sau.

Đòn dứt điểm của ta giáng xuống "Tăng-gô" của Thuỷ quân lục chiến là vào sáng sớm 31/1.

Pháo 122, 130 ly và H12 đồng loạt dội lửa xuống các cụm chốt lấn chiếm, tạm bợ, bơ vơ của Thuỷ quân lục chiến men bờ biển.

Sau gần 1 tiếng pháo kích, bộ binh ta tràn lên truy quét, đồng thời một bộ phận khác chốt chặn không cho địch tháo chạy về phía nam.

Đến khoảng 10 giờ sáng ta chủ động ngừng súng cho địch thu dọn tử sỹ và chừa cửa cho tàn quân địch tháo chạy về Thanh Hội, trả lại ranh giới trước đêm 27/1.

Tôi bồi hồi nghe anh em e101 kể lại trận chiến xảy ra mới hơn 1 tháng trước đây, ngay trên dải cát tôi đang đứng và tranh thủ ghi chép các thông tin về đối phương.

Xác xe tăng địch còn chình ình, la liệt trên bãi cát.

Quần áo tô-châu bạc phếch của lính mình phơi lật phật ngay trên nòng pháo tăng M41, M48.

Một trong những chiếc M48 bị ta bắt sống đã được mặt trận B5 tặng chủ tịch Phidel của Cu-Ba khi ông đến thăm Quảng Trị nửa năm sau đó.

Thật tình cờ và may mắn, ngay trước hôm chúng tôi đến Thanh Hội, ngày 5/3, lính tăng ta vừa bắn hạ một chiếc tàu biệt kích địch cách bờ không xa.

Thuỷ triều xuống, xác con tàu biệt kích còn kềnh cang, nửa nổi, nửa chìm sát bờ.

Tôi đứng bâng khuâng rất lâu trên bãi cát đầu chiến tuyến, nhìn pháo địch đang thì thùm, quả toé nước, quả bung bụi cát, như trẻ con chơi đáo, chơi quay, cố kiết phi tang con tàu đã rã rượi, nát bươm.

6.3.1973

Một tên cướp biển đền tội.

Pháo địch thổi tung lên những lùm bụi cát nâu và trắng hòng phi tang tên kẻ cướp.

-Tường Vân.

Đêm ngủ với Tốn.

Vẫn cái vẻ vững chãi, già dặn, chắcchắn như xưa.

Tuổi hay là cá tính.

Nhớ Đại học tổng hợp.

-Tường Vân.

Điểm đầu tiên của chiến tuyến bắt đầu từ những hầm chốt của bộ binh e101 trên bãi cát trắng làng Thanh Hội.

Đây là điểm cực bắc của ranh giới địch - ta, không chỉ tính cho mặt trận Quảng Trị mà cho toàn mặt trận miền Nam sau Hiệp định Bảy Ba.

Đã biết bao hy sinh trong gần 20 năm trời để thay con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17 bằng chiến tuyến mới, nhích sâu hơn về phía nam, khẳng định những vùng giải phóng rộng lớn mà nơi tôi đứng, Thanh Hội, chính là điểm bắt đầu.

Từ Cửa Tùng theo bờ biển Đông về phía nam, qua Cửa Việt, đến Thanh Hội, chỉ hơn 10 cây số bờ cát nhưng là biết bao gian khổ, hy sinh, gắn với những địa danh, những mốc thời gian: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, đường Chín-Nam Lào, Quảng Trị-Bảy Hai.

Kể từ đây, chỗ tôi đứng, điểm tôi hạ bút chì trên bản đồ, không biết đường chia ta-địch ấy còn kéo dài bao nhiêu nghìn cây số nữa, vòng lên Trường Sơn, Tây Nguyên, rồi xuống mãi cực nam, bưng biền.

Miền Đông, Triệu Phong, cát trắng loá mắt.

Cát cũng như nước, mênh mông, vô định, lấy đâu làm điểm mốc.

Địch đã kịp dựng hàng rào, cột sắt, căng dây thép gai để phân cách chiến tuyến.

Sau thất bại Tăng-gô, địch "bằng lòng" với hiện trạng, dựng rào sợ ta "lấn chiếm".

Hiển nhiên là có la liệt mìn dưới những trảng cát trắng mịn tưởng như vô tư ấy.

Chúng tôi đi theo chỉ dẫn chặt chẽ tới từng bước chân của các đồng nghiệp trung đoàn và lính chốt.

Thật sự thú vị khi thấy nhiều chỗ cờ mặt trận sao vàng nửa xanh nửa đỏ của ta được cắm "nhờ" trên cột rào thép gai của ngụy và còn lãng mạn hơn khi đôi chỗ cờ mặt trận của ta và cờ tam tài 3 sọc vàng của ngụy được buộc trên cùng một cột rào, bay chung theo một làn gió biển.

Tôi thật sự xúc động.

Trên miền Tây, núi rừng, như Phương Thuý bữa nào, dù có Hiệp định thì cũng chưa chắc 2 bên nhìn thấy mặt nhau.

Nhưng trên các bãi cát Triệu Phong thì khác hẳn, ta địch gần nhau, lồ lộ, nhìn rõ từng nốt ruồi của nhau.

Sau ít ngày lính tráng tự do, phía ta quy định, chỉ cán bộ đại đội trở lên mới được phép giao tiếp với địch, phía địch cũng chỉ cho sỹ quan tâm lý chiến được phép tiếp xúc với "Cộng sản".

Quy định này có vẻ vì lý do "quân cơ" thì ít, mà chủ yếu để tránh chuyện lính trẻ 2 bên rào lời qua tiếng lại, bồng bột quá đà dễ thay lời bằng súng đạn.

Tôi chỉ là a trưởng quèn, nhưng lại ở cấp sư đoàn.

"Lính tiểu đoàn hơn quan đại đội", nên coi như nằm ngoài quy định, tôi được phép giao tiếp thoải mái với đối phương.

Tôi có nói chuyện vài lần với phía ngụy.

Còn ghi lại trong nhật ký và đáng nhớ là câu chuyện bên cọc rào trên chốt vùng giáp ranh e101 và e64 của ta với một sỹ quan ngụy, tự nhận là thám báo, tên Buông.

Thám báo với thám báo, tôi nhớ đến câu tục ngữ Anh: "Đừng hỏi thì khỏi phải nghe lời nói dối" và cố ý lái cho câu chuyện không có dáng dấp khai thác hay tuyên truyền.

Chỉ những chuyện con người với nhau mà chủ yếu là tôi tò mò hỏi về sự học hành trong Nam và kể về sự học hành ngoài Bắc.

Thì ra sự học của hai miền thời ấy khác nhau nhiều.

Buông khoe vừa đỗ tú tài thì vào lính.

Vẫn biết tú tài là hết phổ thông, nhưng với tôi lúc đó, quả thật khái niệm "tú tài", "cậu tú", nghe như chuyện xưa, thoáng chút cao xa.

Tôi chưa nhìn thấy "tú" bao giờ, lớn lên chỉ nghe người lớn nói một cách tự hào: Làng mình xưa có 2 tú, tú Mùi, tú Sen, nhưng đều theo Tây vào Nam năm Năm Tư.

Khi "tú Buông" biết tôi đã học hết năm thứ nhất đại học, ngành Vật Lý, chuyện trò hai bên sòng phẳng, cởi mở hơn.

7.3

Một ngày lịch sử xảy ra trong một giai đoạn đáng nhớ.

Hai chế độ ở hai bên của một lớp rào bùng nhùng, sơ sài, vô nghĩa.

Cờ cắm chung trên những cọc rào.

Những người thù nhau nhìn nhau bình thản, tự nhiên.

Thật là kì lạ.

Tiếp xúc với Buông, thám báo của VNCH.

Có biết bao nhiêu điều cần ghi nhớ về cuộc nói chuyện ấy.

Rồi nữa, lại nói chuyện với bọn TQLC của C2-D9-L147.

Những suy nghĩ sâu sắc về lí tưởng của con người.

-Chỉ huy sở Trung đoàn 64.

Chính trị viên bên ta hay sỹ quan tâm lý chiến bên địch là một chuyện, họ nói có bài bản, chặt chẽ, có sức thuyết phục, có bẫy, có chốt.

Còn binh lính 2 bên sát rào lại là chuyện khác.

Tào lao, tò mò chuyện phong tục, nắng mưa, que diêm, điếu thuốc, bữa cơm, toe toét cười, không nhằm phải trái, thắng thua.

Vì vậy, phía ngụy có chủ trương thường xuyên thay quân chốt, hoán đổi tuyến trước, tuyến sau.

Bọn mới lên chốt sát rào hừng hực, cảnh giác, căng thẳng, nòng súng đằng đằng hướng sang phía bắc.

Được ít ngày, quen dần, chùng bớt thì lại chuyển về tuyến sau hay chuyển đi chốt khác.

Đúng là chuyện nhà binh.

Tính từ mép nước Thanh Hội, bắt đầu là các chốt của e101 thuộc sư đoàn chúng tôi, tiếp sau là các chốt của 3 trung đoàn thuộc các sư đoàn bạn.

Chúng tôi không được kéo một mạch theo chiến tuyến mà phải đi zic-zắc.

Đầu tiên phải đến trung đoàn bộ liên hệ, rồi xuống tiểu đoàn, xuống đại đội, cuối cùng mới đến chốt tiền tiêu đầu tiên của trung đoàn.

Đi dọc chiến tuyến, chốt tiếp chốt, cho đến hết địa phận trung đoàn này thì lại rời chiến tuyến để vào chỉ huy sở trung đoàn tiếp sau.

Lại liên hệ từ trên xuống, rồi lại quay ra chiến tuyến đi tiếp từ phần đã dừng hôm trước.

Trên thực tế cũng như trên bản đồ, chiến tuyến không thể đứt đoạn.

Phía ta, tính từ mép nước, sau e101 là e64 rồi e48, cùng của f320, qua sông Vĩnh Định, lên vùng Bích La, sát sông Thạch Hãn là các chốt của e27 bộ đội địa phương Quảng Trị.

Phía bên kia chiến tuyến, ngoài sát biển là các tiểu đoàn của lữ 258, phía trong là d9 rồi d2 của lữ 147, đều của sư đoàn Thuỷ quân lục chiến.

Tôi ghi nhận nhiều sự khác nhau suốt dọc tuyến.

Sự khác nhau về địa hình của Triệu Phong, từ mênh mông cát trắng vùng ven biển, qua sông Vĩnh Định rồi lộ 4, vào san sát ruộng đồng, làng xóm bên trong.

Sự khác nhau về dân cư, nơi ven biển thưa thớt, ngư dân sống xa chốt, đến mấy làng vùng An Lộng theo đạo Thiên chúa, thỉnh thoảng vẫn có người vượt chốt vào nam, về Bố Liễu, Bích La là làng xóm, chợ búa, trù phú, đông đúc, đêm trăng nghe rộn tiếng trống cà rình như thời "hoà bình mới lập lại" ở ngoài Bắc.

Khoảng nửa năm sau, cuối tháng Chín, tôi lại có dịp trở lại An Lộng và đã có một kỷ niệm nho nhỏ, vui vui.

Lần ấy, anh Ngơi tin tưởng giao cho tôi tờ giấy giới thiệu của sư đoàn: "Trung uý Đinh Ngọc Ngơi, đại đội trưởng trinh sát sư đoàn, đi chuẩn bị địa hình dã ngoại cho đơn vị" và bảo tôi chọn lấy một "cậu liên lạc" tháp tùng.

Tôi chọn An đi cùng, vừa thân, vừa thuộc miền Đông, mặc dù An không phải quân a8.

An và Hùng là 2 lính gốc e101, bổ sung lên c20 sau mùa hè Bảy Hai.

Cả 2 là dân Hà Nội "gốc", Hùng trắng trẻo, nhẹ nhàng, thư sinh, nhà ở Đặng Trần Côn, vì thế có biệt danh Hùng Côn, còn An đen và gầy, nhà ở Hàng Thiếc.

Cả 2 đều là sinh viên xây dựng, nhập ngũ đợt 27/5/1972, cứ như 2 nhân vật Gân Bò và Dây Thép trong truyện Bí mật lâu đài rắn lông chim, nom rất cọc cạch nhưng lại rất thân nhau.

Nhóm 6/9/71 coi Hùng và An là "Những người bạn của nhóm".

Tôi giải thích rõ nhiệm vụ để An vào vai cho chuẩn.

Đi đường thì mày-tao, tôi đeo AK, An vác ruột tượng gạo, tỵ nạnh thì đổi lại, nhưng đến nơi nào cần trình giấy giới thiệu liên hệ thì An vào vai liên lạc, phải thầu cả ba-lô, súng đạn, cả gạo, lo cơm nước, mắc màn, còn tôi thì chững chạc trong vai đại trưởng trinh sát sư đoàn, sắc-cốt bên hông, tênh tênh.

Trở lại e101 thì suôn sẻ, trung đoàn cũ của cả 2 đứa, không cần cả đến giấy giới thiệu.

Nhưng đêm về ngủ An Lộng, đúng xóm nhỏ nơi tôi đã dừng chân nghỉ trong đợt đi thị sát chiến tuyến, thì gặp chuyện rắc rối.

Ông thôn trưởng đọc giấy giới thiệu rồi xoi xía tôi từ đầu đến chân: Trung úy thám báo chi mà non chợt.

Nghi lắm.

Thế là tôi và An bị bắt, hay nói đúng ra là bị tạm giam lỏng, chờ điều tra.

Tôi cố thanh minh với ông trưởng thôn rằng tôi nói giọng bắc, rằng hồi tháng 3 đã từng ngủ ở chính thôn này, nhưng ông hỏi ngủ nhà ai, xóm nào thì đáng tiếc tôi không nhớ.

Đành bảo An mắc võng cho "đại trưởng" ngủ sớm.

Tôi nằm trên võng vờ ngủ, nghĩ thật dại, chuyện chỉ như đùa mà không khéo rách việc, còn An ngồi huyên thiên xích đế với chủ nhà: Biệt động từ hồi thiếu niên đấy, khét tiếng đấy, không non chợt đâu!

Đêm đó, đêm hạ tuần tháng 8 âm lịch, du kích phát hiện có một nhóm người trong thôn chạy qua chốt sang ngụy.

Suốt đêm du kích ra vào nhà thôn trưởng báo cáo, xin ý kiến.

May quá, tôi nhìn qua màn và nhận ra o du kích mà hồi tháng 3 chúng tôi đã nghỉ ở đúng nhà o.

Thế là được o du kích giải oan, thoát nạn.

Hôm sau lại quân dân vui vẻ, nhưng ông thôn trưởng vẫn thì thầm với An: "Trẻ quá, hé!".

21.9

Lại qua Chợ Sải, Bích La, Hà Mi.

Và lại về ngủ nơi xóm nhỏ An Lộng.

Đêm trước, 15 người của xóm này đã vượt chốt sang với ngụy.

Giữ được dân quả là khó.

Biết được tấm lòng họ ở đâu?

-An Lộng.

Một trong những nhiệm vụ của tôi trong đợt công tác 3/1973 là nhận xét về bố phòng đôi bên, kể cả tinh thần, thái độ, khí thế.

Chốt mỗi trung đoàn có dấu ấn riêng, nơi thì bề thế, hiên ngang, nơi khác lại kín đáo, chặt chẽ.

Có chốt bám sát chiến tuyến, khăn mặt phơi trên chính dây thép gai của hàng rào, nơi khác lại lùi xa, thủ thế, chốt cách xa nhau cả tầm đạn bắn.

Ta - địch, có nơi bên cương bên nhu, có nơi cương cả, căng như dây mí đàn ghi-ta.

8.3

Mật độ bố phòng ở vùng của D2-L147 có vẻ dày đặc, cả về quân số lẫn chiến xa và hoả lực.

Chốt ta có nơi còn quá xa hàng rào.

Địch ở vùng gần sông rất nhượng bộ.

Một cuộc sống mới đang phôi thai ngay sau chiến tuyếnkhông xa.

Có lẽ đây là tái cảnh của quê ta hồi 1955.

-Chỉ huy sở Trung đoàn 48,Lệ Xuyên Đông

Ấn tượng nhất là các chốt e48.

Trung đoàn này đã nổi tiếng cứng từ thời giữ thành cùng với e95 của f325 và e88 của f308.

Tiếp chúng tôi ở trung đoàn bộ là một "viên" trung uý, người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, tên Kiếm, phụ trách trinh sát trung đoàn.

Anh ta giới thiệu tình hình trên chốt vùng e48.

Đúng như tên, sắc lạnh, sắt ra miếng, đầy tự tin pha chút "kiêu binh".

Xuống chốt thì thấy rõ thế áp đảo, đàn anh của lính "Sùng Lãm" (Tướng Sùng Lãm là tư lệnh trưởng sư đoàn 320B).

Bên địch cũng vậy, nhìn chốt, không cần nhìn quân phục cũng biết đâu là Thuỷ quân lục chiến, lính Trâu điên, Mãnh Hổ, Kình Ngư, Cọp Biển, ngang tàng, kiêu căng, đâu là lính địa phương quân, rón rén, nhụn nhịn.

Tình huống da báo đầu tiên tôi gặp là ở gần Lệ Xuyên Đông, trên vùng chốt giáp ranh giữa e64 và e48 của ta, phía địch là d2, lữ 147, Thuỷ quân lục chiến.

Hàng rào thép gai chạy từ bờ biển vào, đoạn cong đoạn thẳng trên bãi cát mênh mông, phân cách rạch ròi ta-địch, bỗng đến đây để ngỏ một đoạn khoảng 2-3m không rào, thành một cái cổng với một lối đi thông vào một xóm nhỏ tít sâu phía địch.

Lác đác vài cây cờ giải phóng nằm đổ xiên xẹo dọc theo lối đi độc đạo ấy.

Anh em trên chốt cho biết khi 2 bên bung cờ lên, bất ngờ thấy mãi sâu trong lòng địch lại có cờ xanh đỏ, sao vàng của ta.

Đúng là một tình huống da báo, bất ngờ cho cả 2 bên.

Nhóm bộ đội địa phương trụ trong đó như một "ốc đảo".

Sau đó, hai bên đã đạt thoả thuận, địch cho ta mở một "cây cầu trên cát", đánh dấu bằng 2 dãy cờ, nối với "ốc đảo".

Ta đi từ "ốc đảo" về "đất liền" thoải mái, nhưng từ "đất liền" ra "ốc đảo" địch không cho ta được mang theo vũ khí hay đồ tiếp tế.

Sau ít ngày tính toán kỹ, trên cho phép ta rút ra để bảo toàn lực lượng.

Hôm tôi đến, ta vừa rút ra hết, nhưng vẫn còn lác đác vài cây cờ trên cát còn lối cổng vào đã được rấp tạm bằng cành cây.

Giá như đến sớm vài hôm, tôi sẽ có được cảm giác đặc biệt khi đi trên con đường cát hẹp giữa 2 hàng cờ ấy.

Đến bờ đông sông Vĩnh Định, đâu đó gần Long Quang, chúng tôi còn gặp một "ốc đảo" nữa, nhưng lại là "ốc đảo" của địch.

Khoảng một tiểu đội Thuỷ quân lục chiến chốt giữ một khu vườn, um tùm cây và 1-2 nóc nhà, bao quanh 3 bề trên đất là chốt của ta, còn một bề là sông Vĩnh Định.

Thực ra chốt Thuỷ quân lục chiến này không thật sự cô lập vì bờ tây là chốt địch nên quãng sông Vĩnh Định này cũng coi như da báo.

Địch được phép từ bên kia sông bơi thuyền sang chốt cô lập.

Khác với "ốc đảo" ở Lệ Xuyên Đông, ở đây ranh giới không thể rạch ròi bằng một dãy cờ tam tài cắm trên mặt sông Vĩnh Định được và phía ta không cấm địch tiếp tế cho ốc đảo.

Vì vậy, mỗi lần chèo thuyền qua, chúng vẫn không quên báo cho phía ta biết: "Loa, loa, loa, cho ghe qua tiếp tế, nghe".

Anh em kể lại: Đôi khi ngụy bên bờ đông, cùng đơn vị với bọn chốt cô lập, vẫn nhờ anh em ta chuyển nhu yếu phẩm để tiếp tế cho chốt cô lập, cách nhau chừng 100m, đỡ phải đi thuyền, vòng vèo.

Thậm chí chúng còn xin đi nhờ qua đất ta cho tiện, nhưng ta không cho phép.

Hôm tôi đến, anh em bộ binh dẫn ra tận bờ sông, bên trái là chiến tuyến chính, bên phải là chốt cô lập của địch.

Nghe giọng Nam Bộ lìu tìu trong chốt hỏi vọng ra: "Guan hả?" (Quan hả?), tôi nhại lại "Guan đây, Ngô Guan Trửng đây" (Tướng Ngô Quang Trưởng khi đó đang là tư lệnh quân đoàn 1 của ngụy).

Trên bản đồ, tôi đã chấm một chấm đậm để ghi chú về điểm chốt nửa da báo, nửa răng lược này.

Ít lâu sau ta địch thoả thuận đổi chốt này lấy một chốt khác phía bên sông cho "liền bờ".

Chiến tuyến ở Quảng Trị ngay sau hiệp định Bảy Ba

10.3

Về với đoàn Sông Lô nổi tiếng.

Vẫn như ở bộ tư lệnh các trung đoàn 101, 64, 48, ở đây đồng chí tham mưu phó trung đoàn 27 cũng rất nhiệt tình với mình.

Có vẻ thuận buồm xuôi gió.

Vùng của E95 trên miền Tây mấy hôm nay đánh nhau dữ dội.

Chắc là chúng nống.

Nhà chủ: máy bay tàu rọ Mỹ gây thù với ông già.

-Bộ tư lệnh Trung đoàn 27, Xóm Rào.

Hồi còn nằm "đếm bom, đếm pháo" ở đài Ái Tử và 108, thấy pháo chớp loé, lờ mờ khói xa xa hướng Đông, anh em cựu binh hay bảo: "Lại pháo Chốt Một".

Pháo gần thị xã, Chốt Một, pháo mờ xa phía biển, cũng Chốt Một.

Tôi thắc mắc, sao Chốt Một gì mà rộng thế?

Cũng có thể "Chốt Một" chỉ là một cái tên tượng trưng, như kiểu "Chốt thép", thể hiện sự kiên cường hay ác liệt.

Lần này, qua e48, về Bích La Nam, địa phận của đoàn Sông Lô nổi tiếng, tôi mới biết "Chốt Một" là có thật và có cơ hội để tận mắt thấy Chốt Một, nhưng vẫn không rõ vì sao có tên này.

Sông Lô là tên của trung đoàn 27 nổi tiếng của bộ đội địa phương Quảng Trị.

Trung đoàn trưởng (Ông Minh Tâm) mới rời trung đoàn chuyển lên làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng sư đoàn 325 của chúng tôi.

Tối trước, ở trung đoàn bộ, cán bộ trung đoàn đã lưu ý chúng tôi về trường hợp Chốt Một.

Sáng hôm sau, xuống đến đại đội, anh em yêu cầu cụ thể hơn: "Các thủ trưởng để K54 và AK báng gấp lại đại đội, chỉ đeo AK thường của anh em bộ binh ra chốt, đỡ gây chú ý".

Tên Chốt Một nổi tiếng từ thời 81 ngày đêm giữ thị xã.

Chốt Một giờ là một khu ruộng mà lính khoẻ tay có thể ném đá từ bờ này vượt sang bờ kia, nằm ở địa thế hơi trũng, lô nhô mấy nóc hầm chốt, ba bề rưỡi là địch, chỉ còn một lối duy nhất của ta để đi vào chốt.

Sáng chúng tôi ra Chốt Một, thấy mấy chú lính ngụy tỳ AR15 trên đùi, đứng chống nạnh ngang tàng trên cao, tò mò nhìn.

Thật ngạc nhiên, địa thế bất lợi như vậy mà anh em ta trụ vững, địch không tài nào nhổ được Chốt Một, kể cả trước và sau Hiệp định Bảy Ba.

Rời Chốt Một, tôi ngoái lại nhìn.

Chốt Một bé bỏng mà gan góc, khổng lồ, như Chốt Nghìn, Chốt Triệu chứ đâu là Chốt Một.

Chốt Một nằm trên cánh đồng giữa Bích La Nam và Bích La Trung.

Mấy làng Bích La, có làng thuộc ta, Bích La Thượng, Bích La Nam, có làng thuộc địch – Bích La Đông, còn Bích La Trung, nửa ta, nửa địch.

Mới ngưng bắn không lâu, Bích La Nam, phía ta, làng xóm xác xơ, tiêu điều, đổ nát vì bom đạn địch, nhưng Bích La Đông, phía địch, vẫn thấy cây cối mướt xanh.

Thế mới biết bom đạn bên nào nhiều hơn bên nào.

Dù vậy, đêm đến, vẫn nghe tiếng cười đùa, hò hát vui vẻ của thiếu niên, du kích Bích La Nam với các chú bộ đội giải phóng.

Chẳng thể nghĩ rằng bên kia cánh đồng là địch.

11.3.1973:

Quê anh Duẩn vẫn xanh rì.

"Chốt Một" làm mình quá đỗi kinh ngạc.

Ra chuyện đó kó thiệt.

Đúng là một ngôi sao sáng.

Bích La Nam làm sống lại trong mình cái thủa thiếu thời đã xa vời vợi.

-Bích La Nam.

Trong những ngày làm việc với đoàn Sông Lô, từ 10/3, đến 14/3, chúng tôi ở xóm Rào, Đầu Kênh.

Chiều 11/3, đúng 1 tuần từ hôm rời Quất Xá, toán trinh sát c20 chúng tôi chạm đích tới bờ sông Thạch Hãn, đoạn giữa Bích La Nam và An Tiêm, coi như hết địa phận của 4 trung đoàn nối tiếp nhau 101, 64, 48 và 27, tính từ mép nước Thanh Hội.

Bên kia sông là địa phận trung đoàn 18.

Mọi người nghỉ xả hơi 3 ngày để tôi hoàn thiện sơ đồ và viết báo cáo về bố phòng ta-địch toàn tuyến miền Đông Quảng Trị sau hiệp định Bảy Ba.

Chúng tôi chia ra ở nhờ 2 nhà dân.

Tôi và Thành ở một nhà.

Chủ nhà tôi ở là 2 ông bà già, nghe du kích thông báo là có cậu con trai đang đi lính ngụy.

Ông lão suốt ngày cởi trần, người như được tẩm mùi thuốc rê, vẻ lạnh lùng, khó gần.

Tôi tò mò gợi chuyện nhưng chỉ nhận được những câu trả lời dè dặt, miễn cưỡng, ngoại trừ câu chuyện ông kể hôm mới đến về vụ máy bay tàu rọ Mỹ bắn chết một người con trai của ông mà sau đó gợi hỏi thế nào, ông cũng lảng tránh.

Bà mẹ cũng ít nói, nhưng đôi mắt như nói hộ nhiều điều thăm thẳm trong nội tâm.

Mẹ thường ngồi trên võng, chăm chú nhìn tôi say sưa vẽ.

Trưa nóng, bà còn ngồi quạt cho tôi.

Không biết có phải tôi có nét gì giống người con trai của mẹ không.

Thật là éo le và ái ngại, tôi với người con trai mẹ, mỗi người ở một phía của chiến tuyến.

Đầu Kênh cũng chính là nơi Thạc, lớp toán A1, đã hy sinh hơn nửa năm trước.

Bây giờ Đầu Kênh thuộc phần của ta, hoàn toàn thanh bình.

Thành và tôi trốn anh Phi ra buông một chú lựu đạn mỏ vịt xuống một hố bom to giữa khu ruộng trũng trên cánh đồng giữa Đầu Kênh và Bích La Nam.

Thật bất ngờ, cá chết nổi gần kín mặt hố bom.

Được một túi bao cát đầy, phần lớn là cá quả.

Chúng tôi liên hoan cùng chủ nhà, kết thúc giai đoạn 1 của đợt công tác, rẽ về đại đội nghỉ ít ngày trước khi đi tiếp lên miền Tây, vùng của các trung đoàn 18 và 95.

Với riêng tôi, chuyến công tác Miền Đông ngắn ngủi, tất bật nhưng thật sự tuyệt trần và mãn nguyện.

10.3

...

Nhà chủ: máy bay tàu rọ Mỹ gây thù với ông già.

-Bộ tư lệnh Trung đoàn 27, Xóm Rào.

12.3.1973

Chấm dứt giai đoạn 1 của đợt công tác.

Một bữa cá chí lí.

-X.

Rào.

14.3.1973

Những điều ngó chừng như khờ khạo của ông lão về chế độ miền Bắc.

Họ đang lần chần làm cái bước "lột xác" để đổi đời mới.

Bà lão - nếu chưa phải là một định nghĩa bằng xương bằng thịt về khía cạnh tình cảm của một Bà Mẹ, thì ít ra cũng đủ để lòng ta tôn là Mẹ.

Suy nghĩ như vậy, mần như vầy và cả khóc như vậy, sống như vậy ...

đều vì không biết làm gì khác được.

Một điều chắc chắn là Mẹ thù cuộc chiến tranh này lắmrồi.

Chờ mong con về.

Đừng đi lính nữa.

-Đầu Kênh.

11.

Chuyện Lớp binh địa làng Trà

Tôi trở về Quất Xá mang theo đầy ắp những ấn tượng rạo rực miền Đông, đến nỗi cả tuần sau vẫn không hoà nhập được với cuộc sống thanh bình ở Cam Lộ.

Đơn vị đang huấn luyện nghiệp vụ "nghe trộm điện thoại", nhưng anh em cán bộ biết đây chỉ là tranh thủ lấp chỗ trống trước khi có những thay đổi lớn, ít nhất là về vị trí đóng quân.

Ít ngày sau, toàn bộ đơn vị di chuyển theo hướng nhích lên tuyến trước, về phía thị xã Quảng Trị.

Mặc dù trước đợt đi miền Đông, chính tôi tham gia trong nhóm đi tiền trạm chọn vị trí đóng quân cho đơn vị, nhưng sau khi đi miền Đông về, tôi không được biết gì về chuyện đó nữa.

Chắc quanh quanh đường 9 hay xuống hẳn Đông Hà, nhưng chắc chắn là sẽ ở ven sông Hiếu hay Thạch Hãn, ở với dân chứ không ở rừng rú nữa.

Rời Quất Xá, chúng tôi đi theo con đường đất kẹp giữa đường 9 và sông Hiếu (sông Cam Lộ), xuôi theo chiều sông chảy và dừng chân ở Đông Định.

Mấy tháng trước còn hầm hố, ba-lô cơ động, ngụy trang, đi đêm, đi hôm, lần này đại đội đã lỉnh kỉnh tre gỗ, bếp núc, thậm chí cả mấy chú lợn, cứ như "cơ quan dân sự" chuyển trụ sở.

Lính hành quân bộ, đồ nặng cho đóng bè, thả xuôi theo sông Hiếu.

Ở Đông Định khoảng 1 tuần, chưa ấm chỗ, đại đội lại đi tiếp, qua hẳn thị xã Đông Hà, theo quốc lộ 1 hướng thẳng về thị xã Quảng Trị.

Định cho trinh sát, mà là trinh sát sư đoàn, trinh sát cấp chiến dịch, lên thay chốt bộ binh à?

Đi từ sáng tinh mơ, đến tận tối mịt mới hạ ba-lô ở một làng gồm nhiều xóm nhỏ, hình dung như một chiếc lá liễu mảnh mai, thả nép theo bờ bắc sông Thạch Hãn.

Theo bản đồ, đây là làng Trà Liên Tây, phía thượng nguồn, đầu làng là Tả Kiên, Trung Kiên, phía hạ nguồn, cuối làng là Hói Bái, qua bên kia là Đại áng.

Trà Liên Tây, lại một cái tên rất thơ, như bao tên khác của Quảng Trị mà tôi đã qua: Phương Thuý, Như Lệ, Ái Tử.

Tôi mở bản đồ xem, hoá ra chênh chếch bên kia sông chính là Đầu Kênh, nơi 2 tuần trước chúng tôi đã kết thúc đợt công tác thị sát miền Đông.

Thế thì cách địch không xa lắm, khoảng vài cây số ngược lên theo sông là các chốt tiền tiêu của e27, vùng Bích La Nam, chợ Sải.

Chiến tranh có vẻ sẽ không kết thúc một sớm một chiều.

Đơn vị ổn định chỗ ở, số ở nhà dân, số ở các nhà vô chủ.

Đại đội cho anh em ra sân bay Ái Tử ngay đầu làng Tả Kiên, gỡ những tấm ghi nhôm lát đường băng, thả xuôi theo sông về dựng hội trường đại đội.

Bếp ăn và chuồng lợn của đại đội dựng ngay sát sông.

Anh nuôi có thể qua đò sang sông đi chợ Đại Hào, chợ vùng giải phóng, mua rau, mua cá, thậm chí có cả thịt lợn mà không cần tem phiếu.

B3 ở ngay thôn đầu làng, phía gần thị xã.

Ban đầu a8 của tôi chia ra ở 2 nhà dân, sau chuyển ra ở chung một căn nhà vô chủ, rộng rãi.

Đầu nhà có sẵn một căn hầm chữ A to, rộng, đủ trải 2 chiếu đơn, nhưng nhớp nháp bùn đất vì đã từ lâu không ai dùng đến.

Làng vốn đã rất thưa, giữa các nhà là những khoảng ruộng, nhiều gia đình hoặc sơ tán ra Quảng Bình, hoặc "chạy vô", bỏ lại nhà hoang nên càng thưa.

Làng xóm đã có vẻ bề ngoài thanh bình, không bom đạn, nhưng dưới mỗi mái nhà vẫn là những cuộc đời, những số phận éo le, đầy uẩn khúc.

Chênh chếch nhà chúng tôi ở là gia đình chị Thiết, nhà nghèo xác xơ, một người mẹ với ba đứa con thơ trong túp lều lợp tôn rách, lụp xụp.

Đàn ông duy nhất trong nhà mới 6-7 tuổi, nom thật ái ngại.

Kề phía sau nhà chúng tôi ở là nhà một người đàn ông hơn chúng tôi gần chục tuổi.

Ông ta ở lại một mình, vợ con chạy vào Huế.

Ai vô tình hỏi ông về vợ con, ông ta lấp lửng: "Chạy giặc rồi", nghe tức anh ách.

Đơn vị quay ra ổn định chỗ ở, tổ chức huấn luyện, phát động phong trào tăng gia, trồng rau muống và nuôi lợn, nuôi gà.

Cũng kỳ, huấn luyện, chăn nuôi cứ như hồi ở Hà Bắc, Sơn Tây, hay là sinh hoạt của một cơ quan dân sự nào đó, trong khi cách địch chỉ một tầm đạn cối và đêm đêm vẫn thấy chớp pháo loé sáng và tiếng ì ùng trên miền Tây, mạn Tích Tường, Như Lệ.

C20 những ngày ở Trà Liên Tây

5 thành viên nhóm 6.9.71 ở c20: Hàng sau cùng, tính từ phía phải: NTTài (1) HT Bảo(2), LMinh (3), Y tá Việt (8 ) và y tá Tất (9).

Hồ Bảo lên trung đội trưởng, phụ trách b3, thành thủ trưởng trực tiếp của tôi, cũng khoái.

Bảo ngủ với a7 nhưng lại ăn với a8 của tôi.

Họp đại đội, gặp nhau, Lê Minh nháy nháy mắt, cả 3 thằng "phi công hụt" cười xoè.

Bảo cũng kiêm luôn bí thư liên chi đoàn, sắng sởi tổ chức đêm "kết đoàn quân dân", hò hát vui vẻ thâu đêm với du kích Trà Liên, rồi còn tổ chức cả thi đấu cờ tướng nữa.

1.5

Mặc dù đã tự hứa: "Không đánh cờ nữa", nhưng hôm nay lại vi phạm.

Đấu cờ toàn đại đội.

Chiếm được cái tiếng nhất cờ toàn đại đội mà đến là đau đầu và bực mình.

Ghi, Quế kiếm đâu được chiếc lưới quét.

Tối tối anh em phân công nhau ra Hói Bái "tăng gia" (hói theo tiếng Quảng Trị là một nhánh sông nhỏ, sông cụt hay kênh dẫn nước), quét khoảng 1 tiếng là xách về 1 bao cát đầy, cả kí tôm tươi.

Năng suất gấp mấy nuôi lợn, chỉ sợ quét phải bom bi thì oan gia.

Tiếng lành đồn xa, sau này "Bọ Luyến" trên Ban 2 còn nhắn a8 mang lưới quét lên cho Ban mượn ít ngày, cải thiện bữa ăn tươi chứ trên Ban khô khan lắm.

Cuối tháng Năm, Lê Minh và tôi được huy động lên sư bộ phục vụ hội nghị tổng kết chiến dịch Quảng Trị.

Hai đứa còng lưng phóng một chiếc bản đồ mặt trận Quảng Trị to đùng, ghép bằng 16 tờ giấy Tờ-rô-ki (giấy A0 bây giờ).

Hôm diễn ra hội nghị tổng kết chiến dịch, tôi được phân công cầm một chiếc gậy trúc dài, đứng nép bên cánh gà, trong khi vị tư lệnh trưởng diễn thuyết, chỉ trỏ trên chiếc bản đồ to treo chính giữa phông.

Run lắm.

Lần đầu trong đời nom thấy tướng, được đứng gần tướng, được chạm tay vào tay tướng – mà là Tướng thật.

22.5.1973

Cố tìm ra một dáng dấp về hình thức hay cách diễn thuyết, lập luận hoặc ít ra cũng phải là một cố tật nhỏ nào đấy của ông ta nhưng không thành công.

Có một ý niệm dù chưa chắc chắn lắm là ông ta bám rất chặt và rất bền vào chủ đề của câu chuyện, không để nó lan man theo kiểu cóc nhảy.

Chẳng hạn như cả buổi sớm ấy ông chỉ nói về 2 điểm: Tinh thần trách nhiệm và tính chặt chẽ của kỷ luật quân đội Xô Viết.

Chỉ thế thôi.

Và những dẫn chứng mà vị phó tư lệnh ấy đưa ra cũng gọn gàng trong cái bố cục chặt chẽ ấy của ông.

Ông nói chậm, đều nên đóng vai trò lớn trong việc quyến rũ người nghe là ở nơi nội dung sự việc chứ không phải là nghệ thuật diễn thuyết.

Còn ông tư lệnh trưởng quân khu thì chẳng có gì đặc sắc cả.

Thậm chí mình nghĩ về ông rất chung chung.

-Bộ tư lệnh sư đoàn.

Đầu tháng 6, Ban 2 giao cho 4 trinh sát đã từng ra học binh địa ở d74 là Lê Minh và tôi ở c20 cùng với Tân, Nhuần ở e18, mở lớp đào tạo nghiệp vụ trinh sát binh địa cho anh em trinh sát của cả 3 trung đoàn và trinh sát sư đoàn.

Tôi được phân công phụ trách chung, gọi đùa là hiệu trưởng.

Lớp binh địa vẫn nghe chung kẻng, ăn chung bếp, sinh hoạt chung với c20, nhưng tôi và Lê Minh vẫn phải tạm thời "cắt biên chế", giao tiểu đội lại cho tiểu đội phó để "biệt phái" hẳn sang lớp binh địa.

Lớp binh địa gồm 24 học viên được cử từ 3 trung đoàn về và 12 học viên của c20 sư đoàn, trong đó có Quách Lâm của a8, tổng cộng cả 4 "thầy" nữa là chẵn 40, sinh hoạt như trung đội thứ tư của c20.

Lớp học khai giảng ngày 5/6/1973, dự định kéo dài khoảng 2 tháng.

5.6

Một giai đoạn công tác mới.

Một gánh nặng trách nhiệm mới.

-Lớp binh địa.

"B binh địa" đóng ở thôn cuối làng, phía Đại áng, ngược với phía b3.

Lê Minh và tôi, 2 thầy giáo ở một nhà, chủ là hai ông bà đã rất già, trên dưới 70, thấy gọi là "Cha Cò, Mụ Miến".

Bà lão bị thương một bên chân, không rõ vì bom đạn bên nào, phải chống nạng.

Ông bà lụi cụi thương nhau, con cháu "chạy vô" hết rồi.

Lại cái cảnh éo le như đã gặp 2 tháng trước ở xóm Rào, Đầu Kênh.

Căn nhà lợp tôn sơ sài, trống trải, quay mặt ra hướng sông.

Hai già, hai trẻ sống tình cảm như ruột thịt.

Chúng tôi tránh hỏi sâu về chuyện con cái.

Không biết trong số "chạy vô" ấy có ai đang cầm súng hướng về phía chúng tôi không.

Riêng tôi, cứ nhìn Cha Cò là lại rân rấn nhớ Thầy tôi ngoài Bắc, cũng tuổi xế chiều, cũng hút thuốc cuốn, người cũng cao cao, cũng dìm nỗi nhớ con trong lòng.

Cha Cò ngồi gõ gõ những ngón tay xương xẩu, dăn deo lên mép chiếc phản gỗ, dẫn tôi đi lang thang theo những câu chuyện vô đề, phiêu bạt, đầy chất thơ của xứ Quảng, xảy ra từ những thủa chưa có tôi trên đời.

Chốc chốc, lưng chừng chuyện, Cha Cò chợt lặng im, mắt thoát trần, xa xăm, buông một câu: "Dui dữ!" (vui dữ) mà chỉ mình ông hiểu.

Mặc dù là "hiệu trưởng, hiệu phó" rồi chứ đùa đâu, nhưng Lê Minh và tôi vẫn rúc rích như thời Sở Thượng, Nhã Nam, Xóm Bơn.

14.6

Những câu chuyện huyền hoặc về một ngày "Thiên lôi giáng", về một "Con người, con thuốc", về một "nửa linh hồn" là nạn nhân của một quãng đời "loang toàng" nào đấy cũng khiến cho mình khoai khoái.

Cả những câu chuyện về sự giằng co trong "ái tình" của Ông Cha-Bà Mụ ấy nữa.

Rồi câu chuyện về sự tích thói quen gõ tay, ...

Nghe mãi không chán.

Cứ như hư, như thực vậy.

-Trà Liên.

4.7

Những người sống cô đơn hiu quạnh sau chiến tranh thường là một kho vô tận những câu chuyện muốn nói khi có một người lạ tới.

Điều đó cũng dễ hiểu thôi.-Trà Liên.

Mặc dù đã "biệt phái" sang "B binh địa", nhưng cả Lê Minh và tôi vẫn còn nhiều việc liên quan tới tiểu đội, vẫn phải tham gia các công tác đột xuất của đại đội, nhất là các công việc liên quan tới nghiệp vụ binh địa.

Lê Minh đi một đợt công tác dài ngày miền Đông, còn tôi có mấy ngày "trốn" lớp binh địa để dẫn đoàn cán bộ Cục 2 và d74 vào nghiên cứu chiến trường.

Lại có dịp sống lại những ngày Lớp binh địa, với xóm Bơn, Ba Vì, Tùng Thiện, Thạch Thất, Sơn Tây.

29.7

Lâu lắm mới lại gặp những trinh sát kì cựu của D74-D84 và Cục 2.

Đi địa hình với phái đoàn nghiên cứu của Cục trong 1 ngày.

Say mê nghiệp vụ trinh sát táo bạo này hơn.

Nhận được qua anh Hào một số tin về những bạn bè cũ ở D74.

Anh Nho, phó phòng trinh sát của bộ tổng tham mưu nóivề thời sự.

Hãy đề phòng một sự giãn nở ý chí.

Hiệp định là biện pháp hoà hoãnchiến lược, chuẩn bị cho những giai đoạn quyết định bằng mọi biện pháp mà chủyếu là vũ lực.

Trước mắt là cuộc chạy đua về kinh tế.

Đích đến là "lòng tin củadân" và chạy bù 10 năm tụt lùi.

Nhận định về việc làm của 2 bên thể hiện sự nỗlực vẫn lớn và bình tĩnh.

Phải chủ động và cảnh giác.

-Trà Liên.

Tôi ở Quảng Trị tính theo năm là 3, nhưng tính theo mùa thì thực ra chỉ có 1 mùa hè, trọn một mùa hè Bảy Ba, thời kỳ lớp binh địa.

Mùa hè ấy, "Mùa hè đỏ lửa + 1", Quảng Trị, cái "thắt lưng" miền Trung này hết mưa tràn lại nắng gắt.

Ngưng ngưng bom đạn, lũ xối xả miền Trung và nắng nóng với gió Lào rát rạt trên đất Quảng Trị đang còn hoang tàn, sơ sài cũng trở nên dữ dội, ác liệt, nhất là với những người vốn sinh ra và lớn lên trên đất Bắc.

Lũ Thạch Hãn như điên khùng.

Nắng Ái Tử như nung đốt làm bốc lên mùi hăng hắc của hắc ín và nhựa thông từ những cây cột điện cháy dở.

Gió miền cát như cuồng loạn.

Những căn nhà thì lụp xụp, nửa nhà, nửa lều, be bằng tôn gỉ.

Có lẽ hè Bảy Ba là mùa hè dữ dội nhất mà tôi được nếm trải trong đời, nóng cả không gian, nóng cả những số phận éo le, những cuộc đời mới hồi sinh, liêu xiêu, vật vã như vừa chui ở đám cháy ra.

Đến câu hát ru xứ này cũng không thấy chao chao cánh cò mà chỉ nghe như xiên xiết nước chảy, da diết tình mẫu tử, phu thê.

Có phải vì vậy không mà những dòng nhật ký hè Bảy Ba, hè Trà Liên Tây như mang một hơi thở riêng.

Hối hả cơn lũ tháng Bảy, tuần nắng, tuần gió, nhọc nhằn mái lều tôn của ba mẹ con, mẩu chuyện ở bãi chiếu phim làng Trà, những thiếu phụ cô đơn,...

Không biết rồi đây có ai tình cờ đọc và nhận ra mình trong những dòng nhật ký đau đến thắt ruột của chú bộ đội giải phóng hai mươi mốt tuổi ngày xưa không.

7 và 8.7.1973:

"Nước cả mênh mông ngập Hạ Bì" -Tam quốc.

Mưa hối hả mà lại lâu.

Lâu mà hối hả là nhiều nước lắm.

Nước xối xả rồi lại lặng, lặng một ít lấy hơi để rồi lại xối xả.

Xối xả, lặng, xối xả, ..., xối xả mãi không thôi.

Nước dồn về hạ lưu.

Dưới ấy cũng mưa, không dồn kịp ra biển.

Nước ùa ngang vào một khoảng đồng, một xóm trũng được be bởi một đoạn bờ mỏng manh, hờ hững.

Mưa, vẫn mưa.

Những xóm trũng, mảng đồng đã no nê rồi.

Nước từ mây xuống, nước chảy xuôi, chảy ngang rồi chảy ngược.

Ngớt mưa là gió.

Gió táp xuống mặt nước thành sóng nên không còn nhận ra nước có chảy hay không.

Chỉ thấy nước cứ dềnh lên.

Lên nhanh hơn cả khi có mưa và nhìn thấy nước chảy.

Nước như đùn từ dưới lên, từ giữa ra.

Nước nở ra, trương lên.

Nước liếm dần cây cối, đất đai.

Bây giờ mặt nước rộng rãi và sòng phẳng.

Cửa nhà, xóm làng rúm lại, sẻn so, co cúm.

Nước ngầu lên màu nâu sánh.

Như máu của đất.

Cơn mưa đưa mình về với con sông Cánh ở quê.

Con sông mà ta mến như một người bạn thân ngay cả khi nó tàn ác nhất.

Đêm qua đi bắt ếch chằm.

Lạnh và mệt.

- Trà Liên.

17.7

Hết tuần nắng là tới tuần gió.

Gió rú lên hệt như kẻ ăn phải nấm cười.

Gió cuồng loạn, vô duyên!

-Q.Trị

24.7

Gió dữ quá.

Gió và thứ tiếng rên rỉ, ỉ ọt, leng queng của gỗ, tôn rách với thứ mùi tai tái, hăng hắc của căn cứ gợi lại không nguôi giai đoạn ác liệt của cuối 1972, cũng ở Ái Tử này.

Thằng bé được là "Eng" thì trời cho cái đức tính thiệt là "Eng".

Rộng rãi.

Chín chắn.

Kiên nghị.

Khéo léo và nhanh nhẹn, ... mặc dù mới nhỏ, tuổi đếm còn hụt trên đầu ngón của 2 bàn tay.

Còn thằng nhỏ là "Tam" thì "Tam" đủ nghĩa chữ "Tam" thì thôi.

Tủn mủn, hẹp hòi, chộp choạp, vụng về, ù ì quá đáng.

Cả cái dáng người cũng rõ "Eng", rõ "út".

Má bọn hắn khiến cho lòng mình lao xao.

Chị biết dành cho đứa con của chồng trước (xấu số) tình thương cần thiết để bù đắp vào phần trống trải mà nó bị thua thiệt vì "không cha".

Và nghiêm nghị nhưng vẫn âu yếm đối với đứa nhỏ có vẻ "hư hỏng" từ bé.

Ba hắn còn nhưng ở xa.

Ở xa mà gần như đã quên "người hầu" và đứa con "thêm" nên coi như thằng nhỏ cũng "không cha" nốt.

Nó không cha, Anh nó cũng không cha.

Và không cần nói cũng hiểu là má chúng không chồng!

Tôi chẳng hiểu là trong trường hợp ấy, người đàn bà sẽ ghét đậm hay thương đậm đối với giới "có râu", chỉ biết là tôi thì thương chị và đứa con lớn quá.- Ái Tử.

9.9

Mẩu chuyện ở bãi xem phim:

- Cháu ở mô??

- Cháu ở xóm Giếng.

- Răng cháu đòi về?

- Cháu buồn ngủ lắm.

- Mơi cháu có đi học không?

- Không.

- Răng rứa?

- Cháu không được đi học.

- Răng cháu không đi học?

- Cháu phải trự trâu.

- Cháu ở với ai?

- ở với Ông và Mệ

- Ba Má mô?

- Chạy vô rồi!

- Bỏ cháu ở lại à?

- Dạ!, ..

Chú ở mô?

Trà Liên

15.4.1973

Cái cảnh của chị Thiết, chị Sáu, chị Càng, chị Tuyết, ...

đã trở thành quá phổ biến.

Ai có ý thức với đời mà chẳng thấy nỗi đau xé ruột ấy.

- Trà Liên Tây.

Khoảng giữa khoá học, có một chuyện đáng tiếc đã xảy ra.

Lần đó, cả 3 thầy, Minh, Tân và Nhuần đi công tác, một mình tôi dẫn lớp binh địa đi dã ngoại phía ven Ái Tử.

Chiều ấy, tôi dẫn anh em đi thực địa vẽ.

Nhóm nào vẽ xong thì tự về.

Tôi về với những nhóm cuối cùng.

Gần về đến nơi đóng quân, bỗng tôi nghe một tiếng nổ lớn, rất gần, như là một quả bom tấn đã nổ, mảnh kim loại và bụi đất vung viêng mù mịt.

Ai nấy nằm giạt xuống ven đường, không rõ bom hay pháo, bắn từ đâu.

Ngay sau đấy, chúng tôi điều tra được nguồn gốc của tiếng nổ kinh hoàng ấy.

Thì ra một nhóm học viên binh địa trên đường về đã nghịch ngợm đốt những ống thuốc phóng lăn lóc bên đường.

Thuốc cháy lan theo cỏ khô tới kích nổ một đống khoảng mấy chục quả đạn pháo 175 ly của địch chất cạnh đó.

May mà không học viên nào bị thương.

Hôm sau, tôi được lệnh về gấp gặp đại đội trưởng.

Ông cho tôi biết, sư phó Tâm vừa gọi ông lên về vụ C20 gây nổ, làm bị thương một người lính của đơn vị bộ binh ở gần đó và yêu cầu tôi tìm cho ra thủ phạm.

Tôi cho cả lớp kéo về Trà Liên, tạm thời ngưng học để giải quyết cho xong vụ này.

Gần 40 người, không ai tự nhận là thủ phạm.

Đại trưởng và tôi yêu cầu mỗi người phải viết bản tường trình về buổi học đó: Từ thực địa về đi với ai, thấy ai đi trước, ai đi sau, khi về ngang bãi pháo đã thấy có lửa đốt chưa?

Sau khi xem xét kỹ và khoanh vùng, chúng tôi yêu cầu một số đối tượng viết lại tường trình, thậm chí viết lại vài lần vừa để tìm sự bất nhất trong lời khai, vừa gây căng thẳng cho đối tượng.

Thật là một chuyện „dở hơi", nghiệp vụ để đối phó với địch lại phải dùng để đối phó với đồng đội.

Cuối cùng cũng tìm ra được người gây ra vụ nổ, là một học viên của c20-e101.

Chỉ có điều bất ngờ là học viên này bình thường ở lớp rất hiền.

Thê thôi, quân lệnh như sơn, phải tìm cho ra, chứ rồi cũng "giơ cao đánh nhẹ", chỉ nhắc nhở, phê bình chú không kỷ luật hay ghi lý lịch quân nhân gì.

25.7

Ngày chính phương.

Hút chết.

Cả một khối hơn 20 quả pháo 175 ly cùng gầm lên, bung ra.

Mà mình lại là kẻ đi gần khối nổ ấy.

Mảnh vù viu, viu xoẹt, xoẹt bịch, ...

Bực mình vì lính tráng vô tổ chức, nghịch ngợm.

Chẳng còn muốn nỗ lực, tận tình gì nữa.

Lính nghịch như quỷ, nhưng có lẽ so ra còn thua xa thủa thiếu thời của mình

Lớp binh địa bế mạc vào 30/8, kéo dài hơn dự kiến gần 1 tháng.

Số học viên từ các trung đoàn được nhắc nhở, động viên, khuyến khích về trung đoàn tổ chức các lớp nghiệp vụ binh địa cho trinh sát các tiểu đoàn.

Giáo viên chúng tôi cũng thấy phấn khởi.

Chia tay học viên rồi lại liên hoan tiễn Tân, Nhuần về trung đoàn 18, bồi hồi, râm ran những kỷ niệm thời d74 ở Sơn Tây và cuộc trường chinh từ bờ hồ Thuyền Quang vào Cam Lộ hồi cuối Bảy Hai.

Đâu có ngờ, đối với tôi đấy cũng là lần vĩnh biệt Tân.

12.

Ấn tượng Miền Tây

Sau đợt công tác thị sát toàn bộ chiến tuyến Miền Đông thật sự hấp dẫn hồi tháng Ba, bẵng đi mãi tới tận tháng 8, sau khi bế mạc Lớp binh địa, tôi mới nhận được lệnh đi thị sát và hoàn thành sơ đồ phần tiếp theo của chiến tuyến: Miền Tây.

Nhiệm vụ của tôi lần này cũng gần giống như lần đi miền Đông hồi tháng 3, vẽ sơ đồ và tìm hiểu tình hình bố phòng cả 2 bên trên toàn bộ chiến tuyến Miền Tây.

Khác với miền Đông, toàn bộ chiến tuyến Miền Tây chỉ do e95 và e18 của sư đoàn chúng tôi chốt giữ, không có các sư đoàn bạn, nên không phải liên hệ phiền phức, nhưng Miền Tây luôn nóng bỏng, nhất là giai đoạn đầu sau ngày ký Hiệp định, chẳng có ngày nào ngưng tiếng súng.

Chốt của ta và địch trên miền Tây thường rất xa nhau, hầu như 2 bên không tiếp xúc với nhau.

Nhóm công tác chỉ có 2 trinh sát, tôi và Thìn, lính bổ sung từ e95, rất thông thuộc miền Tây.

Tên Thìn thì chắc chắn là sinh Nhâm Thìn, Năm Hai, cùng tuổi với tôi rồi.

Con trai Khâm Thiên mà hiền như bột, vạm vỡ như lực điền.

Lần này đơn giản hơn lần đi miền Đông hồi tháng Ba vì chỉ đi trong phạm vi sư đoàn.

Tôi lại có dịp trở lại khu vực phục bắt thám báo với lần chết hụt đêm 15/1.

Mới 8 tháng mà quang cảnh đã thay đổi quá nhiều.

Cuối hạ, đầu thu, bom đạn ngưng chưa lâu nhưng cây cối đã kịp mướt xanh trên những giao thông hào, nhà âm, hầm chữ A, bếp Hoàng Cầm.

Quân ta chủ yếu dồn lên cắm chốt sát chiến tuyến.

Tôi quyết định không đi tiếp từ hướng Chợ Sải, qua Nhan Biều lên Miền Tây mà đi theo hướng ngược lại, lên hẳn cực tây, rồi xuôi theo chiều chảy của Thạch Hãn hướng xuống thị xã.

Phần chiến tuyến "cực Tây" của f325 bắt đầu từ các chốt ở khu vực cao điểm 52 và 59.

Xa hơn lên miền Tây là động Ông Do rồi vào Khe Trai, Thừa Thiên là thuộc các sư đoàn bạn, f324 và f304.

10.8

Miền Tây.

Trở lại với mảnh đất "Phương Thuý, 15-1".

Một sự đổi thay quá lớn lao.

Một màu xanh sòng phẳng, thanh bình.

Ở vùng 52-59, mình ở cao hơn địch.

Hai bên có thể nhìn rõ từng chiếc răng vàng của nhau.

Đồi Đại liên, đồi Xe đổ, Xe cháy, .. là của mình.

Địch cho nữ lên chốt với lính (có thể là vợ con).

Lại ở rừng.

Thấy nao nao nhớ một cuộc sống đã qua rồi, có thể là Ái Tử, khu B, khu A, 108 hay trên đường giao liên.

Đời bộ đội là vậy đấy.

-Cao điểm 52.

Đối diện với e95, ngay sau 81 ngày đêm thị xã là sư đoàn Dù, sau Hiệp định thay dần bằng sư đoàn bộ binh số 1.

Nhìn tổng thể, địa hình và bố phòng vùng e95 phần bên bờ nam sông Thạch Hãn gồm 2 phần nối với nhau bằng một dải chốt hẹp, giống như một quả tạ.

Vùng chốt phía xa thị xã gồm các cao điểm 52, 59, 15, 29, trong đó quan trọng nhất, ta địch giành đi giật lại từng căn hầm, là cao điểm 29.

Như Lệ, nghe tên tưởng như yếu đuối, mỏng mảnh, lại chính là phần tay cầm của quả tạ, chốt ta phải nép sát bờ sông, một dải rất hẹp để nối sang Đồi Chè.

Bắt đầu từ Như Lệ, qua Thị xã cho về tận mép biển Thanh Hội, phía địch là sư đoàn Thuỷ quân lục chiến.

Qua Đồi Chè, chốt ta lại nới rộng ra trên bãi mít của làng Tích Tường.

Hết Tích Tường là phần thị xã, phía ta là e18 nhưng chỉ bên bờ bắc, phía địch là Thuỷ quân lục chiến bên bờ nam sông Thạch Hãn.

Sơ đồ chiến tuyến Miền Tây sau Hiệp định Bảy Ba (Xin phép dùng minh họa của ttnl)

Như Lệ còn có một ý nghĩa đặc biệt với riêng tôi.

Đây là nơi yên nghỉ của anh Độ.

Nao nao buồn.

11.8

Đi túc tắc một mình quanh những dải đồi tranh vô tư của vùng chiến tuyến.

Cách đây không lâu, vùng này còn là nơi máu xương.

Đất dưới hố bom nứt ra như mai rùa, rồi khô và bửng lên như mảnh to của bom.

Chốt ở vùng cao điểm 15 khá quan trọng.

Sau khi quá sơ hở mất đi 4 mỏm lân cận, cao điểm 15 trở thành vị trí xung yếu nhất của cả vùng này.

Ở rừng, ngủ võng, muỗi, ...

Một sự cảm thông thật sự sâu sắc với bộ binh.

Hãy lấy họ làm chuẩn để an ủi mình. –CĐ 15.

11.8.1973

Như Lệ là nơi yên nghỉ của Anh Độ.

Tôi vẫn luôn coi anh là một "Tấm lòng vàng".

"Một tấm lòng vàng bất hạnh".

Có thể nguyên nhân cái chết của anh như Tuấn Anh kể, có thể như Hội kể hoặc như Đọ kể.

Nhưng dẫu sao chăng nữa cũng không thể vớt vát được.

Có những sự sai sót trả nợ được và cả những sự sai sót không tính thành giá để trả được.

-Cao điểm 15.

Tháng Ba, miền Đông, đầy ắp háo hức, mới mẻ, hấp dẫn, còn tháng Tám, miền Tây, nghiêng mình khâm phục, kính nể những người lính e95 trên chốt.

Ai đã ở Quảng Trị những ngày tháng sau Hiệp định Bảy Ba đều nhắc tới cao điểm 29, bến vượt Như Lệ, bãi mít Tích Tường như là một "Thành Cổ thứ 2", đầy kính phục.

Trong các giấy tờ gửi sư đoàn 325 liên quan tới việc thực hiện Hiệp định, phía địch đều hằn học viết: "Gửi sư đoàn Bắc sông Thạch Hãn", như muốn thể hiện quyết tâm đánh bật các chốt của ta sang bờ Bắc.

Nếu miền Đông, Bích La Nam, chợ Sải có "Chốt Một" của trung đoàn Sông Lô anh hùng, thì miền Tây có cả một dải "Chốt Một" của e95 kiên cường.

12.8

Vùng cao điểm 29 quả là đúng với tiếng tăm nổi tiếng của nó.

Bám lấy sườn đồi mà chốt.

Mặc dù vậy, thế của ta vẫn rất vững.

Mãi trung tuần 7/73, ở đây vẫn đánh nhau.

Như Lệ và Tân Mỹ đã xanh rì.

Nói chung cả vùng này chịu ảnh hưởng lớn của cao điểm 29 và Khu Làng An.

Chuối và tre là một bình phong tốt.

Cuối Như Lệ có chốt ta phải đi men bờ sông.

Từ chỗ đó đến Đồi Chè là cả một khu chốt bất lợi, yếu thế.

Quanh khu này, quân hai bên đều đông.

-Chân Đồi Chè.

13.8

Bãi Mít của Tích Tường làm cho ý nghĩ của mình quặn lại, tê tái.

Mỗi thân cây nham nhở sẹo là một trang nhật ký chiến tranh.

Vùng Tích Tường rất khó phát hiện bố phòng của địch.

Vị trí chốt tạo thành cụm đối nhau, xen giữa những khoảng trống bí hiểm.

Từ sườn đông-bắc Đồi Chè trở về Thành Cổ là địa phận của Thủy quân lục chiến (có lẽ là d9, lữ đoàn 369), còn về hướng Khe Trai là của e51 Bộ binh.

Bọn thuỷ quân lục chiến tỏ rõ tính chất kiêu binh của chúng.

Lười, chơi bời, ít chú ýý đến nhà cửa, hầm hào.

Bọn này đã đau đòn ở Nam Cửa Việt hồi 31/1/73.

-Trà Liên.

Tích Tường là làng mít, bạt ngàn là mít.

Nếu không có chiến tranh chắc phải là một địa danh nổi tiếng về mít.

Nhưng tội nghiệp thay, cây to, cây nhỏ, cây nào cũng què cụt, thân cây nham nhở sẹo, mảnh pháo vẫn ghim đầy trên thân gỗ.

Không còn một cây nào lành lặn.

Vẫn còn ác liệt, dưới gốc cây vẫn là họng súng, bãi mìn 2 bên, nhưng đã ngơi ngơi bom pháo, mít đã xoè chồi xanh, gai mít non nây nẩy, đã nghe tiếng chim hót mỏng mảnh.

Tôi chỉ có 5 ngày ở miền Tây, đủ để đi không nghỉ dọc chiến tuyến từ cực Tây về đến Xuân An, đối diện thị xã.

Đã 1 năm kể từ "Mùa hè đỏ lửa", nhìn qua sông Thạch Hãn sang Cổ thành Quảng Trị, cây cỏ đã làm dịu bớt cảnh tiêu điều, đổ nát nhưng tôi vẫn phải buông một dấu chấm than:

14.8: Thành Quảng Trị!

-Xuân An.

Đoạn tiếp theo, chiến tuyến là chính con sông Thạch Hãn, không có gì đáng nói và cũng đã quá quen thuộc với tôi, từ hồi cuối Bảy Hai, khi tôi còn ở Ái Tử.

Ghép với chiến tuyến miền Đông hồi tháng 3, coi như tôi đã hoàn thành trọn vẹn sơ đồ bố phòng toàn bộ chiến tuyến Quảng Trị.

Tháng Ba – Miền Đông, tháng Tám – Miền Tây, tháng Chín, tháng Mười lại Miền Đông để rồi cuối năm lại lên Miền Tây.

Trinh sát cầm tinh con ngựa, trinh sát binh địa còn hơn, lúc nào cũng như ngựa cuồng chân.

16.9

Ngày này năm trước ta mất thành QTrị.

Một cuộc rút lui để đảm bảo cho thắng lợi chiến lược.

Thật là đau lòng, một sự đau lòng thật sự khi nghe tin ông Angenđê đã bị giết.

Một tổn thất lớn lao.

Bờ Sông Thạch Hãn.

30.9

Đã gần 2 năm rồi mới lại tắm biển.

Trước biển ta quá bé bỏng, nhỏ nhoi.

Có lẽ lúc nào ta tự thấy mình "đủ rồi" thì hãy nghĩ đến Biển.

Cửa Việt là Panama của miền giải phóng.

Dân miền này sắt son với cách mạng.

Họ không chạy vào không phải vì họ không vào được mà vì họ không thể rời bỏ cuộc sống như hơn một năm qua đã sống.

Họ khác hẳn những người dân theo đạo ở miền Bích La, An Lộng.

Biển cả còn hơn cả tôn giáo.

Chặt chẽ nhưng thoải mái, rộng rãi.

Những cuộc đời như chị Lý chẳng trong sáng đó sao ?

Miền Cửa Việt dễ làm ăn cho trinh sát nhưng khó nói chuyện tấn công với quy mô nhỏ và chính diện.

-Cửa Việt.

Ngồi trên bãi cát rộng triền miên này mà ghi những ýnghĩ lủng củng.

Mặt cát nhăn lên những gợn sâu.

Một ngày không xa nó sẽ hằn lêntrán mình.

Cát phẳng, dễ dãi nhưng cũng vô vàn điều bí ẩn.

- Long Quang.

13.

Những chuyện lính tráng

Tôi ở trong quân ngũ không lâu, lẹt bẹt đến chức a trưởng, nắm trong tay khoảng chục người.

To nhất thì thời làm "hiệu trưởng" binh địa, cũng chỉ bốn chục quân, mà cũng ngắn thôi, chỉ vài tháng.

Như vậy gọi là "đầu binh, cuối cán", chẳng ra quan, chẳng ra lính, cứ coi như lính với lính đi cho dễ gần.

Thế mà cũng không ít lần phải bối rối, bất lực, thậm chí bực bội.

9.2.1973

Bực mình với 1 chiến sỹ của mình.

Nhưng tại sao mình không thể rời bỏ những cái gia trưởng, tầm phào, vặt vãnh, nhỏ nhen, hẹp hòi ấy đi mà tìm lấy cái cao thượng, hào hiệp, độ lượng với những người dưới mình.

Cái cố tật ấy đến là dở.

-CĐ 108.

Thời kỳ sau lớp binh địa, Minh và tôi trở về với tiểu đội thân yêu của mình.

Đơn vị tiếp tục tinh giản, ổn định biên chế và tập trung huấn luyện nghiệp vụ.

Một số trinh sát cũ phải chuyển đi, một số lính đặc công (c23) hoặc bộ binh chọn lọc kỹ từ các đơn vị được lấy về thay.

Nghe thì có lý, nhưng con người chứ có phải máy móc vô hồn đâu mà chọn cái mới để tốt hơn cái cũ, và thực lòng tôi chẳng muốn tý nào.

Chỉ trong thời gian nửa năm, tôi lần lượt phải rứt ruột chia tay 2 em út của tiểu đội.

Loan nghịch ngầm, hay cãi cán bộ trung đội, đại đội, Chỉ ngoan, nhưng hiền và chậm chạp quá.

Cả 2 em phải lần lượt rời c20.

Loan có quyết định đi trước, nhưng lại được hoãn để thử thách, nhưng rồi cuối năm vẫn phải ra đi.

Thế là số lính Bảy Ba bổ sung ở Quảng Trị chỉ còn Quách Lâm trụ lại được với a8.

Tiểu đội vẫn chủ yếu là các cựu binh gốc Hải Hưng từ thời Hà Bắc: Lạp, Ghi, Quế và Tuấn Anh.

Tôi với Tuấn Anh hay thủ thỉ với nhau như anh em ruột.

22..6.73

Loan đi khỏi A của tôi.

Đến một nơi khác.

Nơi ấy không có tôi, không có những người như ở đây.

Tôi tránh không chia tay với Loan, bởi cái lẽ rất giản dị: Tôi rất thương Loan.

ừ thì bướng đấy, lấc cấc đấy, ngang ngạnh và bồng bột đấy, nhưng chỉ làm tôi thương Loan chứ không ghét.

Thương vì Loan nghèo, nghèo về vốn sống, về sự hiểu biết và từng trải.

Vốn sống nhỏ nhoi của Loan không đủ cho Loan "xài".

Bao nhiêu mũi nhọn chĩa về Loan.

Nhiều lần tôi cố đỡ bớt cho Loan.

Nhưng không làm sao khác được.

Tôi cố đẩy Loan lên cho kịp với tầm chung, nhưng Loan lại nỗ lực ngược lại.

Ngẫu lực bắt Loan quay tròn và văng vào một cối xay khác.

ở đấy có những gì đợi chờ Loan?

Tôi buộc lòng phải đồng ý để người ta đẩy Loan đi.

Buộc lòng phải dứt đi một đồng đội mà ta coi như em trai.

Ta bất lương.

Ta tàn nhẫn.

Ghi vội khi Loan đang ngủ.

Khi ngủ con người lại càng lương thiện hơn, tội nghiệp hơn.

Khi nào tỉnh dậy thì đi nhé.

Hãy đi vào nơi mới ấy bằng một thằng Loan mới.

-Trà Liên.

29.6

Lại một con chim ngoan, hiền, lìa tổ.

Súyt khóc.

Thương Chỉ quá quá.

-Trà Liên

11.12

T vừa nhận được tin một chiến sỹ của tiểu đội T sắp phải xa T.

T viết những dòng này trước khi viết thư gửi lại cho "con chim non" ấy. ...

Dù chỉ là dính líu mà T vẫn thấy mình mắc tội.

Lại "đẩy" em đi đâu?

T cảm thấy rõ rệt một trách nhiệm vô hình gắn T với Loan.

Phải là người nâng đỡ, che chở cho Loan mới phải.

Bây giờ T cảm thấy mình luôn là nạn nhân của sự hối hận, mặc dù công bằng mà nói, T cũng đã nhân đạo rất nhiều và từ lâu rồi.

Sau này, khi đã trút áo lính, tôi cũng lại lẹt bẹt, lớp phó, trưởng đơn vị nghiên cứu sinh Việt nam tại một ký túc xá Nga, trưởng phòng thí nghiệm.

Cung "quan trường" trong lá số tử vi của tôi hẹp lắm, chỉ muôn thủa "đầu binh, cuối cán", trong tay trên dưới chục người, chưa bao giờ hơn.

Rồi cũng yêu thương, cũng ghét bỏ, nhưng chưa một lần nào gặp lại thứ tình cảm kiểu "lính tráng" như thủa ấy.

Tình cờ tôi còn gặp biết bao chuyện thú vị khác, cũng là chuyện lính tráng, nhưng là chuyện lính ta với lính địch.

Từ mùa hè Bảy Ba, nhiều lính ngụy vượt chiến tuyến, chạy sang đầu hàng ta, phần lớn là lính trung đoàn 51, sư đoàn 1 bộ binh ngụy trên miền Tây, vùng Tích Tường Như Lệ, đối diện với e95 của f325.

Họ là những người lính chốt "sát rào", vì cũng chỉ có những người lính "sát rào" mới biết đường để vượt qua những bãi mìn dày đặc, ít nhất là ở phía bên họ, có khi do chính tay họ gài.

Họ thường bí mật liên hệ trước với lính ta, hẹn ngày giờ địa điểm sang hàng.

Sau khi chạy sang ta, lính chốt chuyển họ lên đại đội, đại đội chuyển lên tiểu đoàn, rồi trung đoàn, sư đoàn.

Trước khi giải tiếp lên Mặt trận, hàng binh được đưa về c20 để thẩm định sơ bộ lời khai và tranh thủ khai thác tin tức.

Chẳng hiểu vì sao tôi lại được Ban 2 và c20 chọn chuyên trách chuyện hàng binh, dù chẳng liên quan gì tới nghiệp vụ binh địa của tôi.

Anh em trong đơn vị gọi đùa tôi là "Cán bộ Bình định", một chức danh của phía ngụy để chỉ các sỹ quan Cộng hoà được cử đi "bình định nông thôn".

Trước và sau khi "hỏi cung", các hàng binh chuyển từ các trung đoàn về tạm sinh hoạt cùng a8 của tôi.

Một điều tưởng đơn giản nhưng hoá ra rắc rối.

Phải nhận thức hàng binh là những người anh em lầm đường lạc lối, tự nguyện trở về, nhưng cũng phải đề phòng có trà trộn những kẻ "trá hàng".

Coi như anh em trong một nhà, nhưng lại phải dè chừng, phải kín đáo.

Có nhiều kỷ niệm khó quên về những ngày sống chung với hàng binh.

Họ đều quê ở mãi sâu trong đồng bằng sông Cửu Long, nơi tôi chưa một lần đặt chân tới, nơi hồi còn học cấp 3, tôi thường nghe cô Chi giảng "Đồng bằng sông Cửu Long, phải gạt cá mới thấy nước".

Trong số đó, tôi nhớ nhất một người tên Sang, gầy, cao, da sạm nắng gió, gốc nông dân, mộc mạc.

Sang quê Bến Tre, lính trung đoàn 51, sư đoàn 1 bộ binh.

Tôi thích thú "tra hỏi" Sang về quê hương Bến Tre, về xứ dừa.

Chính Sang cũng không rõ vì sao tôi quan tâm và tỏ ra biết khá nhiều về quê hương anh.

Tôi quê Vĩnh Phúc.

Thời chống Mỹ, có phong trào kết nghĩa Bắc – Nam, mỗi tỉnh miền Bắc kết nghĩa với một hay vài tỉnh miền Nam.

Vĩnh Phúc kết nghĩa với Bến Tre, Hà Nội với Huế-Sài Gòn, Phú Thọ với Long xuyên - Châu Đốc – Sa Đéc.

Bây giờ, không phải ai cũng biết sự tích tên trường phổ thông cấp 3 Bến Tre ở thị xã Phúc Yên, rạp chiếu phim Long Châu Sa ở thành phố Việt Trì hay hiệu sách Hà Nội – Huế - Sài Gòn ở góc phố Đinh Tiên Hoàng - Hoàn Kiếm của Hà Nội.

Đã có một lần, khi cùng ngồi trên xe khách chạy dọc Bắc Nam, tôi nghe cô gái ngồi ghế trước tôi tò mò hỏi chồng về phong trào kết nghĩa Bắc – Nam hồi chiến tranh: Anh ơi, thế kết nghĩa là liên doanh à?

Thậm chí, một thời, người ta đã thay tên trường cấp III Bến Tre bằng tên mới, cấp III Phúc Yên.

Tiếc lắm.

Sao nỡ làm như vậy với lịch sử.

Nhưng gần đây, người ta đã trả lại tên trường là Bến Tre rồi.

Tôi kể cho Sang nghe chuyện hồi còn học lớp 8, tôi là học sinh trường mang tên quê anh, trường Bến Tre.

Trường phát động phong trào tìm hiểu Bến Tre và viết "Thư gửi Bến Tre".

Thư của tôi được chọn đọc trên đài truyền thanh huyện.

Tôi còn nhớ một đoạn ngắn, bắt đầu bằng 4 câu thơ Xuân Diệu:

"Lạ thay tình với đất quê hương

Chưa tới chưa thăm mà đã nhớ

Ai hay dải đất mấy năm trường

Đêm ngủ hồn tôi bay tới đó"

"Xin cho em một lần được khoả tay trên dòng Hàm Luông, theo ghe đò mấy anh chị du kích đồng khởi về thăm Mỏ Cày, Giồng Trôm, quê thầy Đồ Chiểu, rồi ngược dòng Cổ Chiên về Chợ Lách, Cai Lậy, dọc ngang 3 cù lao miệt dừa cho thỏa".

Sang kêu: "Nghe mùi mẫn quá, anh Tài!

Nhưng ngược Cổ Chiên hổng có dề được Chợ Lách!".

Thì viết dựa theo sách, đọc nghe cho xuôi tai, cho hay để được đọc trên đài, chứ cả người viết lẫn người nghe đâu có biết sông nào ngược xuôi về đâu mãi tận xứ Bến Tre.

Hôm chuyển Sang lên mặt trận, Sang tặng tôi chiếc thẻ lính bằng i-nốc, nhỏ xinh xinh bằng nửa quân bài tam cúc, với sợi dây đeo cổ kết bằng những hạt i-nốc tròn, nhỏ như hạt tiêu.

Sang ngậm ngùi: "Mai mốt chắc ngoài mình thắng.

Còn sống gắng dô Bến Tre, tìm gặp nhau cho đã, anh Tài ha!".

Bây giờ thống nhất rồi, tôi còn sống.

Sang ở đâu, có lành lặn, bình yên?

Đất nước mình mênh mông, muốn tìm Sang cũng khó.

Tôi đã 2 lần qua phà Rạch Mưỡu về tận Bến Tre để được ngất ngây rượu Phú Lễ và đắng ngăn ngắt mật cá kèo sông Hàm Luông.

Tới đâu cũng hỏi tìm tên Sang, Sang lính ngụy sư 1.

Đất ba cù lao nhiều người tên Sang, nhưng vẫn chưa thấy người mình muốn tìm.

Có một dịp tình cờ tôi quen thân với Phan Thu Thảo, cô sinh viên luật, mặt tròn, mắt tròn, thưa "dạ" ngọt dịu như nước dừa, đặc nét Nam Bộ, dễ thương.

Thảo kể tôi nghe những chuyện thời thơ ấu ở ba cù lao xứ dừa, nơi ban ngày là đất, là dân của chính phủ, ban đêm lại của giải phóng, về cái chết eos le của người Cậu là du kích.

Còn tôi kể Thảo nghe chuyện hàng binh để hỏi em có tình cờ biết ai tên Sang, lính ngụy cũ, người quê Bến Tre.

Em cười: "Tên Sang thì Bến Tre nhìu, chỉ lính mà đa sầu, đa cảm như anh thì xứ dừa hổng có ai nơi!".

Một lần khác, thấy một cậu hàng binh đeo lủng lẳng đến 3 chiếc đồng hồ "Thuỷ quân lục chiến".

Sao giàu thế, bay?

Cậu ta trả lời rất sỹ: Lính Cộng hoà cha nào chả phòng thân như vầy, anh!

Sạo, cả c20 hơn 100 người mà chỉ 3 người có đồng hồ đeo tay, loại pol-jot của Liên Xô.

Đúng dịp a8 nhận sữa, tiêu chuẩn bồi dưỡng lính trinh sát của mấy tháng, mỗi người được dăm ba lon sữa Thống nhất đã quá hạn.

Cậu ta tò mò: Bao lâu được phát 1 lần vầy, mấy anh?

Tôi được dịp lên mặt: Tuần 1 lần!

Hết lại lĩnh.

Khổ nỗi, hết tuần vẫn chưa có lệnh giải cậu ta đi.

Cậu ta còn nằm lại a8 tới cả tháng nữa.

Cậu ta không dám thắc mắc, sao tuần này chưa thấy mấy ảnh nhận sữa, nhưng tự tôi thấy cũng hơi kẹt.

Thì cũng là sỹ của lính thôi, xấu xa, dối trá gì đâu.

Mấy hôm sau lại có thêm 2 hàng binh nữa được giải đến, hoá ra cả 3 đứa vốn cùng 1 trung đội.

Hai cậu sang sau thi nhau tố cáo cậu sang trước: Bay đi gua hết cả đồng hồ của mấy thằng, chúng la bay thấy mồ!

Tôi cười, độ lượng: Lần sau, sạo cũng phải chừa chỗ để ký tên nghe.

Thế thôi, lính đứa nào chả "sỹ", nhất là với đối phương.

Thường thì sau khi khai thác thông tin, đại đội bố trí anh em giải hàng binh lên trạm tiếp nhận của mặt trận.

Lần ấy, hàng binh không phải là lính quèn mà là một sỹ quan cấp đại đội, nên tôi phải trực tiếp giải lên mặt trận.

Tôi chọn Ghi đi cùng.

Chúng tôi xuất phát từ Trà Liên rất sớm.

Lúc đầu tuân thủ đúng quy tắc giải hàng binh: tôi đi trước, hàng binh đi giữa, Ghi lăm lăm AK đi sau cùng, dong nhau đi trên quốc lộ 1, như đi quay phim.

Nắng lên, thấm mệt.

Qua khỏi cầu Ái Tử, quãng có chiếc xe M113 cháy dụi nằm giữa đường thì mưa ập xuống, càng mệt hơn.

Thôi chuyển đi ngang hàng, che chung áo mưa, chuyện trò cho đỡ căng thẳng.

Cậu hàng binh vác bao gạo và 3 bi-đông nước, Ghi quàng súng qua vai, treo lên lưng cho đỡ mỏi tay.

Qua Đông Hà, cả 3 rẽ vào chợ, vừa chơi chợ, vừa ăn trưa.

Cũng chẳng ai nhận ra trong 3 chúng tôi có một người là lính nguỵ sang hàng ta.

Đến nơi đã sâm sẩm tối, Trạm tiếp nhận hàng binh vừa mới chuyển khỏi Gio Cam lên Cam Lộ từ 2 ngày trước.

Tôi quyết định đi tìm chỗ nghỉ tạm qua đêm, hôm sau đi tiếp về Cam Lộ.

Thận trọng, tôi tìm đến trưởng thôn, liên hệ nhờ hỗ trợ.

Ông chỉ hứa tạo thuận lợi chỗ ngủ, ngay tại nhà ông, còn chuyện trông coi hàng binh trong đêm thì ông lắc đầu, mấy chú tự lo.

Lụi hụi cơm nước.

Tối ngủ, Ghi và tôi, võng 2 đứa 2 bên, kẹp võng hàng binh ở giữa, súng nằm cùng võng với tôi.

Ngủ nhưng phải canh chừng động tĩnh, từng mắt lân nhau nghủ thôi, đừng ngủ liền cả 2 mắt.

Cả ngày đi, dính nắng, dính mưa, thấm mệt, đặt lưng xuống đã nghe cậu hàng binh và Ghi ngáy đều đều, tôi thì cứ xoay mình trong võng, vừa lạnh, vừa lo, lo cứu cuốn nhật ký cả ngày bị dầm mưa ướt nhoè nhoẹt, lo thức coi hàng binh.

8.11

Cố gắng gìn giữ mãi mà không đặng.

Khôn ba năm dại một giờ.

Chỉ một giờ chót dại mà cuốn sổ bị ướt đầm.

Ân hận.

Đưa hàng binh sang tới trạm.

Một ngày mưa ác liệt.

Cặm cụi đi trong gió và mưa.

Đêm dừng lại ngủ ở một xóm nhỏ thuộc Gio Linh.

Một đêm ngủ chưa từng chịu.

Hầu như không ngủ được.

Lạnh.

Lo lắng.

Mông lung trong những ý nghĩ thiên về lãng mạn.

Sáng ra lại đi.

Mỏi mệt quá.

Hao hao giống cảnh phim nào mình đã xem.

Có thể là "Hai người lính", cũng có thể là "Người thứ 41" và những sự co kéo qua lại giữa nhân tính và giai cấp tính.

Tôi còn nhớ một kỷ niệm bi hài, liên quan tới một "hàng binh" đặc biệt.

Trưa hôm đó, khi xuống bếp ăn đại đội, chúng tôi thấy một thông báo rất "giật gân" ở bảng tin: "Bộ binh vừa bắt được một thám báo, đào tạo và huấn luyện ở Mỹ về".

Cả đại đội sôi nổi.

Sộp thế!

Chắc lại có việc cho mình đây, tôi chuẩn bị sẵn sàng.

Anh Ngơi bảo tôi: Cậu chuẩn bị sẵn đi, chờ anh Vũ rồi cùng xuống thẳng đơn vị bộ binh nơi bắt được thám báo.

Chắc cánh bộ binh đang tranh thủ khai thác nóng ngay tại chỗ.

Tôi háo hức đợi.

Cả buổi chiều vẫn không thấy anh Vũ xuống.

Đến tối thì anh Ngơi báo tin: Bộ binh họ xử lý xong rồi.

Tra hỏi gì thám báo cũng chỉ một mực: "Thám báo học Mỹ về, phải giải hẳn ra Hà Nội, chỉ khai với cấp cao".

Hỏi vũ khí, điện đài đâu mà chỉ có tay không.

Cậu ta chỉ ra mấy hố bom ngập nước.

Lính chốt mò ngang, mò dọc, hết hố nhỏ sang hố to, chẳng thấy điện đài đâu.

Lính ta sôi tiết, nhân lúc vắng cán bộ chỉ huy liền nọc ra tẩn cho một trận, này thì thám báo này, này thì học ở Mỹ này.

Muốn đến đâu thì đến.

Hoá ra thám báo ở Mỹ về mà kém chịu đòn, đau đến thânlà thông thốc khai ngay: "Em là lính mình, em là lính mình, trong Thừa Thiênra, xin thề!

Nhớ nhà quá, em khai nhăng cuội để được giải thẳng ra hẳn Hà Nội.Chịu kỷ luật rồi em hứa lại xin vàongay, xin thề".

14.

Nhóm trinh sát luồn sâu A74

Chiến tranh vẫn âm ỉ, rình rập.

C20 tranh thủ triển khai huấn luyện.

Đại đội cử người ra Cục 2 học thêm về nghiệp vụ trinh sát võ thuật, trở về mở lớp huấn luyện, quăng quật nhau huỳnh huỵch ngoài bãi tha ma đầu thôn, gần hói Bái.

Đã gần 1 năm sau Hiệp định, chẳng ra chiến tranh, cũng chẳng ra hoà bình ngay trên đất Quảng Trị.

Công việc thì càng ngày càng có vẻ buồn tẻ hơn, ít nhất là với tôi.

Đầu tháng 12, tôi vinh dự được đi dự "Đại Hội Thanh niên Quyết thắng" của các đơn vị trực thuộc sư đoàn.

Mới từ đại hội về c20, còn đang buồn vì không có việc thì ngày 7/12, đại đội gọi tôi lên nhận nhiệm vụ mới.

Lên nhà ban chỉ huy đại đội, thấy có cả Hồ Bảo (trung đội trưởng), Lục (tiểu đội phó), Anh Tài (tổ trưởng), Minh (liên lạc) và Nguyệt (thông tin trinh sát).

Mấy anh trong ban lãnh đạo đại đội cũng có mặt.

Nhìn lực lượng và nét mặt lãnh đạo, tôi đoán có việc hệ trọng.

Anh Ngơi phổ biến nghiêm nghị và ngắn gọn: "Sư đoàn lệnh cho c20 triển khai phương án diễn tập luồn sâu.

Mục đích để nắm vững các kỹ thuật trinh sát cần thiết, chuẩn bị tổ chức luồn sâu vào hậu phương địch.

Đây là nhiệm vụ quan trọng và vinh dự, là mũi đột phá đầu tiên chích sâu vào hậu phương địch, đúng theo vai trò, chức năng của trinh sát.

Lãnh đạo đơn vị lựa chọn, Ban 2 và sư đoàn đồng ý cho thành lập nhóm "diễn tập luồn sâu", gồm 6 đồng chí.

Đồng chí Bảo là nhóm trưởng, phụ trách chung, đồng chí Tài là phó, phụ trách binh địa.

Đã rất gấp.

Bắt đầu từ hôm nay, nhóm luyện tập theo chương trình riêng, do Ban 2 và đích thân đại đội trưởng chỉ đạo".

7.12

Hãy đi vào sau lưng địch.

Những bí hiểm đang thúc gọi.

Trà Liên, ngày nhận phương án Diễn tập luồn sâu.

Nhiệm vụ luồn sâu liên quan nhiều đến kỹ thuật binh địa và ngụy trang.

Chúng tôi tiến hành diễn tập dưới dạng các đợt "luồn sâu" ngay trên đất mình.

Thông thường, anh Ngơi chọn và cho biết toạ độ xuất phát và toạ độ tập kết, cách nhau chừng 10-15 cây số, quanh quanh vùng Ái Tử, từ bờ sông Lai Phước tới bờ sông Thạch Hãn.

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi xem xét kỹ trên bản đồ, hội ý và lựa chọn đường đi.

Chập tối hoặc tối khuya xuất phát, thường đi suốt đêm, gần sáng đến nơi, chọn vị trí, đào hầm và ngụy trang.

Cũng may, những đợt tập căng thẳng nhất (10-20/12/1973) lại rơi vào cuối tháng (16-26/11 âm lịch), nên nửa đêm về sáng có trăng.

Có 2 điều chúng tôi phải đặc biệt lưu ý.

Một là sẽ phải cắt phương vị đi xuyên rừng, xuyên đồi trong đêm trên vùng đất Quảng Trị la liệt bom bi, mìn và đầu đạn M79 chưa nổ, chờ nổ.

Hai là phải lựa chọn đường đi để trong đêm không bị chạm trán, thậm chí ăn đạn lính gác của các đơn vị khác.

Sáng sớm, một toán quân xanh của c20 sẽ đến sục sạo quanh toạ độ tập kết, nơi chúng tôi phải đào hầm hay chui rúc trong bờ bụi, réo gọi hú hoạ: "Thủ trưởng Bảo, thủ trưởng Tài ơi, nhìn thấy rồi mà, ra đi!".

Nếu không bị lộ, chúng tôi chỉ ra khỏi chỗ ẩn náu khi có hiệu lệnh còi.

Yêu cầu phải hạn chế tối đa đi trên đường mòn, nhất là cầu cống.

Dù chọn tối ưu đến đâu thì việc đường đi cắt sông, cắt suối là không thể tránh khỏi.

Một đêm ít ra phải bơi qua sông vài lần.

Quân trang, súng ống gói vào phao bơi, trần truồng lội xuống sông bơi vào những đêm khuya tháng Một, tháng Chạp, dù là Quảng Trị không lạnh cắt da, cắt thịt như ngoài Bắc, nhưng cái lạnh của nước sông sâu cuối đông đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy gai gai.

Đã uống nước mắm mà vẫn nghe rõ tiếng răng lập cập của cả mình và đồng đội.

Ngồi nấp trong bụi rậm tránh quân xanh, vẫn còn ghi được nhật ký, nhưng thấy như còn khổ hơn cả khi còn bom đạn ác liệt:

11-14/12

Có lẽ hàm số "Đời" lấy những giá trị "Min" ở thời điểm 12, 13, 14-12 của đối số "Tê".

-Bờ bụi.

Một lần khác nhóm xuất phát từ phía đồi, gần Xê-Kim-Tát, điểm tập kết là một cánh đồng ven Thạch Hãn, gần gần Đại áng, khoảng giữa Trà Liên Tây và Đông Hà.

Không rõ có phải tôi cắt phương vị sai không, nhưng càng đi càng thấy nước, mênh mang, loang loáng dưới ánh trăng mờ.

Chúng tôi bám nhau lội bì bõm.

Quá nửa đêm, căn theo phương vị là phải đến nơi rồi, nhưng bốn bề vẫn là nước.

Chúng tôi đứng chơ vơ trên một khu mộ.

Nao núng, hoang mang.

Tôi khẳng định đã đến đúng toạ độ.

Nhưng không thể đào hầm trên mộ được, đành quây quanh mộ ngủ gà ngủ gật đợi sáng.

Thì ra anh Ngơi cũng chỉ "quan liêu" ra bài trên bản đồ, chọn một cánh đồng địa hình bằng phẳng, không ngờ rằng khi đó cánh đồng đang mênh mang nước.

Trong khoảng thời gian 2 tuần từ khi nhận "phương án luồn sâu", chúng tôi thực hiện được 3-4 lần diễn tập, lần sau khó hơn, khổ hơn, phức tạp hơn lần trước.

Câu của miệng của lính là: Thao trường đổ mồ hôi cho chiến trường đỡ đổ máu.

Vẫn biết thế, nhưng ngán tập lắm rồi.

Sau đợt diễn tập cuối cùng, nhóm được thông báo "mật": ngày 27/12 sẽ "xuất kích".

Mọi thứ luôn trong tư thế sẵn sàng.

Nhưng rồi vì một lý do nào đó, giờ G đã thay đổi.

Lại thêm những ngày phấp phỏng chờ đợi.

Tôi tranh thủ viết thư về cho gia đình, một lá thư chúc tết, đằm tình cảm, nhưng bóng gió xa xôi đến trường hợp sau đó rất lâu sẽ có thể không có thư nữa.

Và không ngờ điều bóng gió đó lại đúng.

29.12

Lại xếp tiếp một ngày nữa - ngày thứ 2- vào trong xấp những ngày đợi chờ, hồi hộp.

Phương án luồn sâu lẽ ra theo kế hoạch phải được mở khoá từ 27.12.

Có gì khó khăn ư ?

Sao lại thay đổi, sao lại ngừng lại ?

Viết thư mừng xuân về cho gia đình.

Cảm thấy bức thư vừa rồi rất thoải mái mà nhân hiếu, mà diễn đạt được nhiều điều.

Tuần lễ Văn học thu được nhiều thắng lợi.

Bây giờ dành mấy ngày ngắn ngủi này để thanh thản đón chào 1974.

Đêm qua rất tiếc vì quên không dậy đón xem sao chổi Côhutếch, điềm của thời đại.

Đơn vị bâng khuâng trong những công việc lung tung, chờ đợi.

Thời gian và công việc như chỉ là lấp chỗ trống.

Nôn nao.

Cái nguồn sáng phía trước hư hư, ảo ảo.

-Trà Liên.

3.1.1974

Thời gian bị băm vụn ra và dồn dập.

Lúc nào cũng nhìn thấy cả một kho việc tồn tại.

Luồn sâu, chia tay với Tuấn Anh, chuẩn bị vật chất, chia tay trước với Việt, xem kỹ phần bản đồ, tăng gia, viết mấy bức thư, đọc ngấu nghiến tác phẩm Ôtenlô và định ghi vài dòng cảm nghĩ về vở kịch vào nhật ký, ...

Cứ tất bật liên tục như dã tràng.

Bây giờ là buổi chiều, ngồi sau ngôi nhà đổ.

-Trà Liên.

Tôi không ngờ những dòng nhật ký viết sau ngôi nhà đổ chiều 3/1 lại là những dòng nhật ký trọn vẹn cuối cùng được viết trên đất Quảng Trị.

Bao nhiêu sự kiện dồn dập đã xảy ra sau đó nhưng tôi không còn ghi lại được nữa, ngay cả khi cố gượng viết vào đêm giao thừa ở Quân y viện 43.

Phải mãi đến tận 11/4, khi đã nhận quyết định tạm biệt f325, tôi mới lại viết tiếp được, nhưng không còn là nhật ký nữa mà đã thành hồi ký.

Đêm Giao thừa (22.1.74):

Lại viết sau nhiều đêm, nhiều ngày muốn viết mà không viết được.

Hai chục ngày mà đủ sự việc, đủ ý nghĩ để kéo giãn ra đủ cho hai chục tháng, hai chục năm.

Những điều muốn viết ...

Đành bỏ dở vì ánh sáng và đầu óc.

-Quân y viện 43 -Cam Lộ.

11/4/74

Những gì đã xẩy ra ở những trang cuối này?

Sao lại có vẻ uể oải, gián đoạn và bí hiểm thế?

Ngày 5/1/1974, Anh Ngơi và Hồ Bảo lên Sư bộ nhận lệnh.

Chiều về, nhóm "Luồn sâu" họp khẩn cấp nghe phổ biến:

1.

Tư lệnh trưởng sư đoàn, ông Duy Sơn, chính thức giao nhiệm vụ và đặt mật danh cho nhóm trinh sát là A74, do Hồ Bảo là trưởng nhóm, tôi là phó, anh Ngơi trực tiếp theo dõi, chỉ đạo;

2.

Sáng 7/1 được ấn định là giờ xuất kích của A74, xe ô-tô của sư đoàn sẽ đưa đến một vị trí trên chiến tuyến miền Tây;

3.

Nhiệm vụ chi tiết sẽ được anh Ngơi phổ biến tại điểm xuất phát trên miền Tây.

Tôi cũng hơi bực.

Đến tận giờ này, sát nút rồi mà tôi, người chịu trách nhiệm chính về binh địa, vẫn chưa biết sẽ luồn sâu vào khu vực nào.

Đành cứ "cày suông" trên bản đồ, đến nát các toạ độ phía địch trên miền Tây.

Chúng tôi còn một ngày để hoàn tất mọi việc, nhưng phải đảm bảo bí mật tuyệt đối, thậm chí cả với lãnh đạo, trừ anh Ngơi.

Sáng 6.1 nhóm chụp ảnh kỷ niệm cùng với anh Ngơi và mấy chiến sỹ dự bị.

Ảnh chụp nhóm A74 trước khi xuất kích

(Tính từ bên trái) Nhóm A74 gồm 7 người: Anh Tài- Tổ trưởng (1), Lục-Tiểu đội phó (3), Nguyệt- Thông tin (6), Chinh - trinh sát e95 (7), Tiến Tài - A trưởng, phó toán (8 ), Minh - Liên lạc (9) và Hồ Bảo-B trưởng, trưởng toán (10).

Cùng đi: Đại đội trưởng Đinh Ngọc Ngơi (5), Tất- Y tá (11)

Để không gây chú ý của dân làng, sáng 7.1, đại đội cử 4 nhóm đồng thời xuất kích đi công tác xa, theo 4 hướng khác nhau, đều ba-lô, súng ống, nom nhang nhác như nhau.

Riêng nhóm A74 sau khi đi khỏi làng Trà Liên, ra quốc lộ 1 có ô-tô chờ đón, 3 nhóm còn lại hành quân bộ, dã ngoại đâu đó, tối quay về đơn vị.

Tham gia A74, ngaòi 6 người của c20 còn có chiến sỹ trinh sát Chinh của e95, vừa tốt nghiệp lớp binh địa mấy thàng trước và là đại diện cho trinh sát Miền Tây.

Đi cùng chúng tôi còn có đại đội trưởng Đinh Ngọc Ngơi, anh Xích, trợ lý Ban 2 và một vài chiến sỹ, hoặc có vai trò dự bị, hoặc để hỗ trợ, đó là các trinh sát Hoạch, Ngạc, trinh sát thông tin Thứ và y tá Tất.

Theo lộ trình, xe ngược quốc lộ 1 về Đông Hà, rồi theo lộ 9 lên Cam Lộ, rẽ trái vào Cùa, leo đèo vào Ba Lòng, từ đó hành quân bộ lên chiến tuyến.

Qua khỏi Cùa, chúng tôi nghỉ lại 1 đêm trên một bãi rộng ven suối để rà soát một lần cuối.

Mấy đứa tranh thủ tắm.

Tôi nhớ con suối nhỏ rất trong và nhiều cá bống.

Đêm đó là rằm tháng chạp, trăng tròn nhưng nhạt và có tán.

Chập tối mấy đứa xin phép anh Ngơi quay ra Cùa xem văn công quân khu, nhưng chẳng hiểu sao buổi biểu diễn lại bị hoãn.

Gần sáng trời trở mưa.

Với tôi, ngày nghỉ bên suối như một nốt lặng, lắng dịu hết bao hồi hộp, háo hức, bồn chồn lo lắng.

Sáng sớm 8/1, lẽ ra xe xuất kích rất sớm, nhưng anh Ngơi phát hiện lái xe không mang lốp dự phòng.

Xe phải quay về c25 (đại đội vận tải) lấy lốp.

Ngạc xung phong đi theo xe.

Cơm nước xong, xe cũng vừa trở lại.

Khoảng 9 giờ, trời mát mẻ, xe chuyển bánh, leo dốc vào Ba Lòng.

Đêm trước trời mưa, đường hẹp, dốc cao khá trơn.

Anh Ngơi ngồi ca-bin với lái xe còn bọn tôi đứng trên thùng xe không mui.

Tôi và Bảo đứng ở phía trước, bên phải xe.

Bảo đứng ngay bên trái tôi, gần như giữa xe.

Thỉnh thoảng anh Ngơi ngồi trong ca-bin lại ngoái đầu qua cửa xe trao đổi với tôi và Bảo về tên các cao điểm đang qua.

Khi xe lên đèo, phía tôi đứng, bên phải, là vách núi cao.

Qua đỉnh đèo, phía tôi lại là vực sâu thẳm.

Cả Bảo và tôi đều đã lăn lộn với Quảng Trị khá nhiều, hết miền Đông lại miền Tây, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi cùng đi với nhau.

Hai đứa đang huyên thiên thì thấy chiếc xe của chúng tôi bị trơn, tườn ra mép đường.

ầm, ầm, ầm.

Cây cối, đất đá.

Xe lật lăn xuống vực sâu hoắm hút.

Quay cuồng, chới với.

Ngay sau đó tôi không nhìn được gì nữa.

Sờ soạng quanh người thấy đất đá, cây cỏ.

Mình đã văng ra ngoài xe.

Sờ lên mặt thấy ướt nhầy, mùi tanh và vị mặn của máu lẫn với đất đá và lá cây.

Hết tiếng đổ vỡ đến tiếng í ới, rên rỉ.

Tiếng những đồng đội của tôi, tiếng người lạ, tiếng ai đó rất gần tôi: Ngạc hy sinh rồi, bị vỡ ngực.

Càng sau càng có tiếng nhiều người, cả tiếng con gái, giọng Quảng Trị.

Chúng tôi lần lượt được khiêng hoặc dìu lên mặt đường.

Tôi đã nhận ra có giọng của anh Ngơi, Bảo, Anh Tài, Minh, Nguyệt, lái xe, ...

Mười ba người, hy sinh mất một, trinh sát Ngạc, quê Nghệ An, mới 17 tuổi, trẻ quá, thương quá.

Anh Ngơi ra lệnh cho 2 trinh sát thông tin, dù cũng bị thương, cố gắng liên lạc ngay với Ban 2 để báo cáo.

Mãi mới liên lạc được.

Việc băng bó, sơ cứu rất khẩn trương.

Sau đó chúng tôi được gửi nhờ xe tải chuyển đến trạm y tế gần nhất.

Tôi không còn nhìn được gì nữa, nhưng thấy xe toàn leo xuống dốc, hơn nữa lại là đoàn xe zin-3 cầu, chở đầy thuốc nổ, thì đoán xe đang đi tiếp vào thung lũng Ba Lòng chứ không phải quay ra Cùa.

Xe chạy chừng nửa tiếng thì dừng lại.

Trạm phẫu tiền phương, không rõ là của bộ đội hay của địa phương, có vẻ như ít người và ở gần sông.

Tôi tự đi được, không phải cáng, nhưng phải có người dắt vào trạm.

Tôi còn nhớ đến tận bây giờ giọng Quảng Trị của o y tá dỗ dành tôi: "Gắng uống sữa rồi Thuận rửa mắt cho anh sáng mà coi, cảnh Ba Lòng đẹp, con gái Ba Lòng dễ thương lắm nè".

Qua đó tôi biết chị tên Thuận, nghe cái tên thật hiền, nhưng không hề biết mặt, không hình dung ra mặt, ra tuổi, chỉ đoán chị để tóc dài vì thấy những sợi tóc của chị lướt nhè nhẹ trên da mặt tôi.

Chưa rõ tình trạng thương tật của mọi người, trừ tin Ngạc hy sinh.

Tôi nghe lào phào bên tai, nghe như giọng Hồ Bảo, hình như Bảo thông báo về tình trạng thương tật của mọi người hay hỏi tôi có sao không, nhưng nghe không thật rõ.

Có vẻ Bảo bị nặng hơn tôi.

Sau khi "tin dữ" về đến bộ tư lệnh sư đoàn, ngay chiều đó 2 xe cứu thương của d24 (tiểu đoàn quân y sư đoàn) được điều vào Ba lòng, đưa chúng tôi ra quân y viện 43 ở Cam Lộ.

Qua Cùa, xe đi chậm, tôi không nhìn được gì nhưng nghe tiếng dân lào xào bên đường: "Lấn chiếm đó!".

Tức nghẹn cổ.

11/4/74

...

Ngày 6.1, chúng tôi chụp ảnh kỉ niệm.

Sáng sau, cả toán lên ô-tô đi.

Đi-Đi vào sau lưng địch.

Những sự khủng khiếp xảy ra vào 10:15.

Ngạc, chiến sỹ quân báo trẻ mà ta rất mến và nuông chiều đã hy sinh.

Bảo, Minh, anh Ngơi, Nguyệt, Anh Tài, ..

đều bị trọng thương.

Đầu tôi bị vỡ mảng nhỏ, 2 mắt đều bị, cả chân trái nữa.

Còn sống.

Ông Đại tá chính uỷ khóc khi nghe tin bộ phận A74 bị.

(Ngày 01/01/2010, SauChinBayMot, TichTuongNhuLe và anh Trần Quyết Thắng (lính SV 8/1970) lần đầu tiên gặp lại anh Đinh Ngọc Ngơi tại nhà anh ở thành phố Ninh Bình, sau hơn 36 năm.

Ngày 20/8/2010, SauChinBayMot, TraLienTay và TichTuongNhuLe lại về thăm anh Ngơi.

Anh Ngơi nhớ rất nhiều chuyện xê 20.

Chuyện anh nhớ về hôm 8/1/74 được kể lại . . .

Lúc xe đổ, anh cũng bị thương rất nặng.

Anh nói với Tất và Chinh hãy bắn súng và lên đường gọi đơn vị bạn cấp cứu.

Anh cũng bảo Tất lấy thuốc cấp cứu cho anh em.

Tất nói thuốc tiêm vỡ hết rồi, chỉ còn thuốc viên thôi.

Nguyệt và Thứ thông tin đều bị thương .

Nguyệt không thể đánh điện được nữa còn Thứ bị thương vào tay phải.

Anh Ngơi động viên Thứ phát điện bằng tay trái.

Thứ nói nếu điện ngắn thì có thể đánh được.

Anh Ngơi đã gửi được bức điện báo cáo tình hình với tư lệnh sư đoàn. . .

Chuyệncười ra nước mắt là hôm đó cơm khê.

Lái xe thấy cơm khê không ăn.

Xe đang leolên đỉnh 365 dưới là dòng sông Ba Lòng uốn khúc quanh quanh, non xanh, nướcbiếc.

Tinh thần phấn chấn mọi người nổi hứng hát một bài hát về Quảng Trị, " Aiđã tới miền quê em Quảng Trị thừa Thiên, . . . .

Sông Ba Lòng bay bổng lời ca,qua đường chín . . .", bác TraLienTay lại hát thành " Sông Ba Lòng bay bổngđoàn xe . . . !? . .

- bác TraLienTay : Có lẽ đúng hơn là xe bay xuống vực 🙂

Lên tới một đỉnh khi xuống phải vòng trái lái xe cua hơi rộng, ra ngoài vệt các bánh xe khác chừng mấy chục cm, và phần đất mượn vệ đường bên phải bỗng từ từ lở ra, xe từ từ nghiêng, lật sang phải và lăn xuống vực.

Mọi sự xảy ra không quá nhanh không quá chậm, đủ để Tất và Chinh đứng bên trái thùng xe kịp nhảy ra, đủ để tôi kịp nhìn rõ và nhớ mảng đất dưới bánh xe lở ra và xe nghiêng, lật nhào.

Về sau mọi người đo thấy xe lăn quãng 30 mét.

May là xe cũ không có mái che ở thùng xe nên sau khi lật tụi tôi, ngoài Tất và Chinh, rơi ra lăn theo (xe nặng lăn trước).

Chỗ đó dốc hơi đứng nên bị lăn và rơi xa, chỉ dừng lại khi đến một chỗ thoai thoải.

Tôi tỉnh lại khá nhanh.

Xung quanh khói bụi mù mịt.

Chỉ thấy anh Ngơi nằm bên cạnh và xe gấy thành hai phần gần bên cạnh, đúng hơn cabin gãy và rơi nằm cách khung xe một đoạn.

Anh Ngơi cho biết Ngạc hy sinh, anh em bị thương hết.

Thấy rất đau ở cằm, sờ thấy máu chảy nhiều, tôi chỉ kịp hỏi em bị thương ở đây hả rồi lại lơ mơ.

Lát sau chợt tỉnh khi có người hì hụi khiêng lên mặt đường.

Khát quá, tôi xin một ngụm nước.

Uống và vẫn kịp nghe thấy hai người đó nói với nhau, "thằng này tỉnh thế này chắc không sống được".

Vẫn kịp nghĩ sẽ sống chứ rồi lại thiếp đi.

Lúc tỉnh lúc mê, loáng thoáng nhận ra lúc được đưa đến trạm phẫu, lúc đưa lên bàn mổ thì rừng đã gần hết nắng.

Cú rơi và lăn xuống vực cũng ác.

Tôi bị đập gãy đôi hàm dưới, và cái cằm dưới bị đẩy mạnh ra sau, làm gãy lồi cầu hai khớp hàm dưới (cái khớp gần thái dương làm cho hàm dưới quay và chuyển động, tiếc là phần này bên trong, máu me nhiều quá các bác sĩ trạm xá Ba Lòng không phát hiện ra).

Bữa đó tôi mặc một chiếc quần Tô Châu mới giặt một lần, va đập thế nào mà hai ống quần bay mất, vùng háng bị rách sâu gần 10cm, còn hai đầu gối bị dập giãn gân chằng, hơn tháng trời chỉ nằm và sau chống nạng hai tháng liền mới bắt đầu tập tễnh.

Bác sĩ kéo cằm dưới lại, tháo các đoạn dây đồng nhỏ buộc mái bếp luồn quá các khe răng ở hai hàm để cố định chỗ gãy.

Một đoạn nhôm ở chiếu xong cũ được gò thành hình khum khum như cái muôi, đệm bông băng rồi úp phía dưới cằm, khoét hai đầu để buộc băng vòng qua đầu.

Thật sáng tạo!

Đến lúc họ bỏ hết quần để xử chỗ rách ở háng, đaunhưng vẫn láng máng nhớ lời mấy cô y tá: "Vẫn còn nguyên không sao đâuanh, trông cũng được đấy" ...

Sau đó tôi được chuyển đến một bệnh viện nào đó phía sau.

Quãng chục ngày sau đó rất đau, đau quằn quại suốt ngày.

Chập tối cô y tá đếm tiêm cho một phát, thế là cơn đau mất đi, người nhè nhẹ chìm vào giấc ngủ.

Đến khi tỉnh lại và cơn đau lại đến thì đang trong đêm đành nằm chịu trận.

Quãng 3-4 ngày như vậy.

Rồi một chiều không thấy cô y tá đến tiêm đành cắn răng đau chịu đau.

Hôm sau hỏi chỉ thấy cười (sau này bà chị bác sĩ của tôi bảo các bác sĩ đã tiêm cho morphine, nhưng chỉ vậy thôi vì nếu không sẽ nằm tiếp trong trại cai nghiện).

Ít hôm sau tôi được chuyển ra Bắc.

Vì đúng dịp Tết nên phải nằm lại 2 tuần ở một bệnh viện quân đội nào đó ở Quảng Bình.

Sau đó được chuyển tới 108, vào khoa phẫu thuật chỉnh hình (PTCH).

Bà chị tôi cũng là bác sĩ 108 nên gia đình được biết tin.

Dài một chút vì lúc đó trưởng khoa PTCH 108 là GS Nguyễn Huy Phan, một người rất nổi tiếng.

Đây là tuyến cuối của bv quân đội, nên các bệnh nhân đều hết sức nặng.

Hầu hết đều kiểu mất toàn bộ hàm dưới, mất nửa mặt bên, mất mũi và mồm, ...

Việc làm lại mặt, mũi, ... cần đến hàng năm trời.

B/s Phan tuy chỉnh hình mặt là chính, nhưng cũng có dịp chữa cho đâu đó gần hai chuc ca bị mảnh pháo ... làm mất cái TTNL vừa hỏi.

B/s Phan làm luận án TSKH về đề tài này, và có nhiều phát kiến nghe nói rất hay.

Có lẽ chẳng ở đâu các bác sĩ trên thế giới có cơ hội làm nghiên cứu mấy thứu này.

Khi tôi ở đấy hơn một tháng thì không có ai đang điềutrị các vụ này.

Chỉ một anh ở Phú Thọ, đã được tạo máy mới, cho về nhà với lờidặn tuyệt đối không được làm gì khác ngoài việc đi giải.

Không may đ/c nàykhông tuân thủ, nên bị hỏng phải quay lai 108. )

15.

Những ngày quân y viện 43

Từ trạm phẫu tiền phương Ba Lòng, chúng tôi được 2 xe cứu thương của sư đoàn đưa về quân y viện 43, bệnh viện chính của mặt trận Bình Trị Thiên, nằm không xa Quất Xá (Cam Lộ).

Tôi được chuyển ngay vào phòng phẫu thuật, bác sỹ xem qua rồi nói không khẩn cấp lắm, xử lý lại rồi tiêm thuốc an thần, chuyển qua hậu phẫu cho ngủ để lại sức.

Hôm sau hay hôm sau nữa không rõ, tôi tỉnh dậy, thấy mình như một người lính lạc ngũ.

Quanh tôi im ắng, thi thoảng mới có tiếng chân người đi lại nhẹ nhàng.

Tôi cất tiếng hỏi về đồng đội, về những trinh sát cùng bị thương.

Thấy một giọng nữ Hà Tĩnh hay Quảng Bình trả lời vỗ về: "Chắc anh là mới thôi" (Tiếng Hà Tĩnh chắc là mình: Mình anh là mới thôi).

Không hỏi được gì hơn.

Không biết tình hình mọi người ra sao, nặng hay nhẹ, chuyển đi đâu hết rồi.

Tôi nằm hậu phẫu khoảng 3-4 ngày, căn phòng nhỏ, mái lá, nền đất, vách nứa, trên mình tôi chỉ phủ một tấm vỏ chăn, không quần, không áo.

Mọi sinh hoạt đều nhờ tay 3 o y tá mà tôi chưa biết mặt, chỉ nghe gọi, nghe xưng tên O Nhương, O Thuỷ, O Kim.

Hồi hộp nhất với tôi là hôm bác sỹ cho mở băng mắt.

Sau khi thấm cồn, bóc băng buốt nhói, tôi thấy trước mắt mình òa sáng.

Thế là còn nhìn được, có mù thì cũng không mù hẳn.

Bác sỹ nói cả hai con ngươi vẫn nguyên vẹn, nhưng bị vạt mất hẳn 2 mảng lông mày che nắng che mưa và bị một vết rách sâu, sát mí mắt phải.

Nom qua gương thấy kỳ lắm, xấu lắm.

Tôi hỏi về vết thương của mình.

Bác sỹ nói: "Xấu trai nhưng không sao, vết ở chân cũng nhẹ, chỉ lo vết trên đầu, có vẻ nặng".

Ít ngày sau, tình trạng đã khá hơn, tôi được rời hậu phẫu.

Bây giờ mới biết mặt 3 o y tá.

Nhương thấp béo nhưng thoăn thoắt, chuyện trò tởi mởi, Kim gầy tong teo, dáng thư sinh, còn Thuỷ như vận động viên cử tạ, cao lớn.

Cả 3 đều còn rất trẻ, chắc kém tôi 1-2 tuổi, quê Hà Tĩnh, đáng tiếc không rõ xã nào, huyện nào.

C20 cử người lên thăm, mang cả thư ngoài bắc gửi vào, cả nhu yếu phẩm lên.

Đỡ cảm giác cô đơn, lạc lõng, nhưng quan trọng hơn là qua đó tôi biết tình hình nhóm A74.

Anh Ngơi ngồi ca-bin, lộn theo xe mấy vòng xuống vực, bị tổn thương cột sống.

Bảo bị vỡ xương hàm dưới.

Minh liên lạc bị gẫy 1 chân.

Anh Tài cũng bị vết thương ở cột sống.

Mấy người còn lại bị nhẹ hơn.

Những người bị nặng đã chuyển ra Bắc, Bảo đã ra hẳn Hà Nội, số bị nhẹ hơn về bệnh viện sư đoàn, chỉ một mình tôi, nửa vời, nằm viện 43.

Điều trị ở chiến trường đơn giản, nặng thì chuyển ra Bắc, vừa và nhẹ thì chủ yếu là nghỉ ngơi, lấy sức để trở lại chiến tuyến.

Các vết thương của tôi hồi phục nhanh, nhất là vết thương ở hai bên mắt.

Vết trên đầu có vể ổn, nhưng nếu quay về học đại học thì coi chừng.

Riêng vết ở xương ống chân trái tưởng xoàng lại dai dẳng.

Hàng tháng vẫn phải đi nạng, da non không mọc, nước vàng vẫn chảy ra, không khô.

Có lẽ buồn nhất trong những ngày ở quân y viện 43 chính là dịp Tết.

Cô đơn, nhớ nhà, nhớ đơn vị.

Đêm giao thừa tôi đành ngồi khuây khoả, thở than với Nhật ký, nhưng rồi cũng dở dang.

Bệnh nhân nằm viện 43 chủ yếu từ miền Tây ra, lính f324 và f304, đánh nhau vùng Khe Trai và sâu hơn nữa, trong A Sầu, A Lưới, Bạch Mã, Thừa Thiên.

Gần như không thấy ai của f325, trừ tôi.

Bệnh tình và tình huống bị thương muôn hình muôn vẻ.

Tôi thích câu chuyện hồn nhiên, vô tư của một cậu lính trẻ f324.

Cậu ta bị một viên đạn tiểu liên cực nhanh AR15 của địch bắn xuyên từ miệng ra sau gáy mà lạ thay hàm răng vẫn phẳng phiu, đều tăm tắp, không mảy may sứt mẻ.

May mà đạn AR15 không phá chứ phải AK thì lối đạn ra ở sau gáy phải toác như cái bát.

Anh em đùa: Ai bảo há mồm hô xung phong!

Cậu ta gân cổ thanh minh: "Há mồm thở chứ ai hô xung phong làm gì, có hâm à!".

Hàng ngày, y tá dùng chiếc que nhỏ, thon dài như nan hoa xe đạp, đầu cuốn bông, thông từ miệng ra sau gáy, kéo đi kéo lại để rửa vết thương cho cậu, nom như thợ rèn kéo bễ, người ngoài nhìn hãi lắm.

Thế nhưng cậu ta suốt ngày cười, nom vô tư và thật dễ thương.

Ổn ổn, khô khô là quay vào Thừa Thiên thôi.

Một cậu lính khác không hiểu vì sao lại bị mắc chiếc tăm tre trong dạ dày.

Nghe đơn giản, tưởng dễ giải quyết, thế mà phải chuyển ra Đồng Hới.

"Ngon" ơ!

Nhưng có lẽ trường hợp một cậu lính trẻ f324 kể sau đây là éo le và tức cười nhất.

Không hiểu sao một trong 2 "quả giống" của cậu lọt chuồng, "thoái ngũ" lên khoang bụng, thỉnh thoảng mới "về chuồng", gây những cơn đau đớn ở vùng bụng dưới.

Bác sỹ bảo, trường hợp này dễ ợt, chỉ cần rình khi nào "con giống" về chuồng thì hàn cửa chuồng lại, là xong.

Nhớ mãi 2 kỷ niệm về cậu ấy.

Một lần, cả bọn đang ngồi chơi tiến lên trong lán thì thấy y tá dẫn vào 2 nữ quân y.

Y tá giới thiệu đây là 2 bác sỹ trẻ, từ Hà Nội vào thực tập.

Chẳng trách xinh xẻo và trắng trẻo thế.

Hỏi han qua loa các trường hợp, đến cậu lính có "trứng thoái ngũ", cô bác sỹ trẻ bất ngờ yêu cầu cậu cho kiểm tra thực tế ngay tại trận.

Cả bọn không nhịn được, cứ ục ục cười trong cổ, trong khi 2 cô bác sỹ nghiêm mặt, tỉnh bơ, khám.

Một lần khác, lính cũng đang húm lại đánh tiến lên, cậu ta bất chợt sờ bụng rồi bỏ bài, nằm ngay đơ xuống chiếu và ra hiệu cho mọi người lên báo bác sỹ ngay: Nó về chuồng rồi!

Huỳnh huỵch cáng cậu ta lên phòng phẫu.

Khoảng nửa tiếng sau đã thấy cậu ta về.

Có lẽ tiểu phẫu nên cũng nhanh, chỉ cần khâu tịt cái cổng hậu là xong.

Tò mò xúm vào hỏi chuyện, cậu ta bảo: bác sỹ thay chưa xong quần áo thì "trứng" nó lại biến đâu mất, thế là bị mắng oan.

Có lẽ đối với tôi không còn gì buồn tẻ, vô vị hơn là những ngày nằm quân y viện, còn tệ hơn cả thời kỳ ở tiểu đoàn thu dung cuối Bảy Hai.

Lính nằm viện ngày ngày nhận thuốc, khám bệnh, đánh bài, trêu y tá và tán dóc.

Cùng lán với tôi có một thương binh tên Dũng, quê Phú Thọ, thấy gọi là Dũng Thái, chắc gia đình hồi cư từ Thái Lan về những năm 60.

Dũng hát rất hay, phần lớn là những bài tôi chưa nghe thấy bao giờ, về thảo nguyên bao la "nhịp nhàng trên yên, vượt qua thảo nguyên, tôi thấy mây xanh in bóng sông xanh..." và đại dương mênh mông "nghe mái chèo vang xa, không biết đâu là bờ, hạnh phúc sẽ đến với người, anh chàng đánh cá ơi".

Đang thời của những ca khúc hào hùng âm vang Trường Sơn thì thảo nguyên và sóng biển nghe là lạ, xa xa.

Cứ nghe giọng trầm trầm của Dũng quyện trong tiếng ghi-ta rủ rê, ru ngủ lời một bài hát Nga thời sau Chiến tranh vệ quốc là tôi lại thấy bải hoải: "Đêm hè về ánh trăng vàng chiếu khắp thôn làng.

Chiến trường xa không còn tiếng súng vang hờn oán.

Giờ anh đi về đâu, hỡi người bạn cũ cùng trung đoàn?

Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình, xin mời bạn đừng ngại ngần về xóm quê tôi.

Miền Đông quê phì nhiêu, nông trường tiếng máy cày êm đềm ...".

Ở viện, ai nấy khao khát về đơn vị thì ít, ngong ngóng được ra Bắc thì nhiều.

Tôi cũng không ít lần băn khoăn, liệu mình có được ra Bắc.

Họa hoằn tôi được nghe vài câu chuyện chiến đấu hay hay, hấp dẫn.

Nhưng cũng chính những câu chuyện này càng làm tăng cảm giác xa xôi hơn với bom đạn, chiến trường.

Những người lính trên chiến hào có mấy khi kể về chiến tranh, về chính mình.

Họ thường chỉ kể khi chiến tranh đã qua đi, xa về không gian hay thời gian.

Cứ kéo dài cảnh này chắc tôi sẽ quên c20, quên A74 mất thôi.

11/4/74 : ...

Những ngày ở quân y viện buồn tẻ và hèn hạ, kém cỏi.

Sau Hiệp định Bảy Ba ít lâu, Đông Hà, hay nói chính xác hơn là Cam Lộ, được chọn làm nơi đặt đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.

Một khu vực biệt lập gồm những dãy nhà tôn gọn gàng, xinh xắn, quanh nhà có lối đi, cây cảnh mang từ Hà Nội vào, được dựng lên sát bên bờ sông Hiếu làm trụ sở Chính phủ Lâm thời, cách viện 43 không xa.

Những ngày khoẻ khoắn, tôi chống nạng lò dò ra "Khu Chính phủ lâm thời", đi ven ven ngoài rào để được đờ đẫn cảm giác Hà thành.

Họa hoằn có hôm còn thấy cả ánh điện.

Đâu đó, khoảng giữa 2/1974, ngay trước hay sau tết âm lịch, có đoàn Văn công Công an vũ trang vào biểu diễn phục vụ Chính phủ cách mạng lâm thời và đồng bào khu giải phóng.

Anh em trong các lán của viện háo hức từ chiều.

Đến tối, buổi biểu diễn mới bắt đầu được màn đồng ca thì có tiếng pháo địch nổ.

Pháo tăng tầm từ hạm đội bắn vào, đùng đoàng vài quả cách nơi biểu diễn gần cây số, nhưng cũng đủ làm quân dân nháo nhác và hỏng cả buổi vui.

Tôi nhớ lâu chuyện này vì đó là lần cuối cùng tôi nghethấy tiếng nổ của đạn pháo đối phương, pháo vi phạm hiệp định, một thứ âm thanhtrước đó như là "cơm bữa" và chắc là sẽ vĩnh viễn trở thành ký ức kể từ tối hômđó.

16.

Chuyện lớp dự bị C185, Đại học KTQS

Cuối tháng 3/1974, các vết thương tiến triển tốt, tôi được ra viện với tờ chứng thương trong tay, trở về c20.

"Những ngày ở quân y viện buồn tẻ và hèn hạ, kém cỏi" với lờ mờ chút ảo giác "ra Bắc" trở nên lạc lõng như một cơn mưa lạc mùa.

Trở lại với C20, đơn vị đã chuyển lên phía Trường Phước, trên miền Tây, bên bờ bắc Thạch Hãn, cách sông khoảng 1-2 cây số, không còn ở Trà Liên nữa.

Lại ở rừng, ở đồi, nhưng là lán trại mái vách đều bằng cỏ tranh, không còn phải chui hầm nữa.

Tiếc những tháng ngày Trà Liên sôi động nhưng êm đềm, đằm kỷ niệm quân dân.

Nhớ cha Cò, mụ Miến.

11/4/74 : ...

Ngày 30.3.1974, tôi trở về với đơn vị, với những chiến sỹ quân báo mà tôi bao giờ cũng mến yêu.

Tôi phát khóc được vì tình cảm của đơn vị với tôi.

Về lại c20, về lại a8 sau gần 3 tháng nằm viện, không tả nổi mừng vui.

Gặp lại Lê Minh, buồn xen vui.

Hai đứa nhắc nhiều đến Hồ Bảo, giờ đây đang ở ngoài Bắc.

Lần này là lần thứ hai Minh và tôi xa Bảo, nhưng lần trước 2 đứa ra Bắc học binh địa, Bảo vào Nam, còn lần này thì ngược lại, Bảo đã ra Hà Nội, 2 đưa tôi ở lại Quảng Trị.

Đại đội vẫn "giữ chỗ" a trưởng a8 cho tôi!

A8 ở tách xa khỏi đại đội với một nhiệm vụ rất "ất ơ".

Một tiểu đoàn bộ binh của ta vừa chuyển đi, đơn vị mới chưa đến tiếp quản.

A8 nhận bàn giao địa bàn, hầm lán của đơn vị bộ binh cũ, chờ bàn giao lại cho đơn vị mới.

Địa bàn sát sông, bên kia sông vẫn là ta, nhưng qua chốt ta, không xa đã là địch.

Trong khi chờ đơn vị mới đến nhận bàn giao địa hình, 6-7 đứa của a8 phải nghi binh thành cả tiểu đoàn mấy trăm người để địch không phát hiện việc đổi quân, tạm trống vị trí.

Hàng ngày, kể cả đêm, anh em cắt cử nhau đến vị trí đóng quân của các đại đội cũ đánh kẻng và đốt lửa sao cho ngày càng nhiều khói càng tốt, đêm thì ánh lửa bập bùng, như mẹo nghi binh của Khổng Minh trong Tam Quốc.

Công việc này cũng buồn, nhưng dù sao vẫn hơn hồi ở viện 43.

Anh em trong tiểu đội nuôi rất nhiều gà, có cả 2 đàn gà mới nở và một chú cún con.

Hao hao cuộc sống gia đình dù không có phụ nữ và con trẻ.

C20 sau vụ A74 cũng bị xệch xoạc một thời gian ngắn.

Mất đại trưởng – Trụ cột chính của đại đội, mất một trung đội trưởng chủ chốt, một tiểu đội trưởng, một tiểu đội phó, một tổ trưởng, một liên lạc, một trinh sát thông tin và trinh sát trẻ Ngạc, trường hợp hy sinh duy nhất kể từ sau hiệp định Bảy Ba.

Sư đoàn giúp c20 sắp xếp lại và bổ sung cán bộ, nhanh chóng bình phục "vết thương", chuẩn bị cho những nhiệm vụ mới.

Đã bàn đến thành lập B74 để thực hiện nhiệm vụ luồn sâu mà A74 đã khởi động nhưng bị dở chừng.

Tôi không biết mình có còn được tham gia không.

Một cảm giác rã rượi, bất lực và buồn như con thú sắp bị đàn bỏ rơi.

Về c20 được đúng 1 tháng, đang ngày ngày thả gà, dạy chó, đánh kẻng và đốt khói nghi binh thì ngày 1/4 có lệnh triệu tôi lên Ban 2.

Hồi hộp, chưa rõ chuyện gì.

Lên đến ban, đầu tiên là mấy câu hỏi han của các anh trên Ban về vụ tai nạn A74 ở Ba Lòng, về tình hình thương tật của tôi, sau đó các anh bảo tôi về a12 nghỉ, sáng sau ra nhà khách sư đoàn, có cán bộ ngoài Bắc vào gặp.

Vẫn bồn chồn chưa rõ chuyện gì.

Buổi tối ngồi với anh em a12, nghe bàn tán: Hình như quân pháp về điều tra "vụ A74".

Trách nhiệm thuộc về ai, rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho "B74".

Tôi gân cổ cãi, đỏ rựng cả vết thương trên 2 bờ mắt hãy còn nham nhở sẹo.

Tai nạn là tai nạn, trách nhiệm gì!

Mọi người cười: Giỏi thì mai cãi quân pháp!

Sáng sau tôi sang nhà khách sư đoàn.

Có một sỹ quan đã đứng tuổi đang chờ tôi.

Ông đeo lon thượng uý.

Đúng là sỹ quan ngoài Bắc vào thật, trong chiến trường đâu có ai đeo quân hàm.

Chẳng nhẽ hệ trọng thế ư?

Ông tự giới thiệu ngắn gọn: Tôi tên Bình, rồi chuyển sang hỏi tôi về chuyến đi công tác hồi đầu năm (A74) và tình hình sức khoẻ sau khi ra viện.

Câu hỏi chung chung, chưa thấy có vẻ gì là điều tra.

Dù vậy, tôi hết sức tỉnh táo và nhăm nhăm trả lời theo định hướng: vụ A74 là một tai nạn, không ai có lỗi cả, chỉ có công thôi.

Ông Bình vẫn thủng thẳng: Thôi, khoẻ là mừng rồi.

Và bất ngờ ông bảo tôi: "Vừa rồi, trước khi vào đây, tôi có qua nhà đồng chí.

Bà cụ khoẻ còn ông cụ ... không được khoẻ lắm".

Tôi giật mình.

Thầy Mợ tôi thì liên quan gì tới vụ A74, tới cái ông Bình này?

Khó hiểu.

Tôi bần thần.

Ông Bình vỗ vỗ vai tôi: "Tôi từ Ban cán bộ trường Đại học kỹ thuật quân sự vào.

Nhiệm vụ của tôi là vào đón một số anh em sinh viên đã trưởng thành qua chiến đấu, đưa ra đào tạo về kỹ thuật, phục vụ mục đích phát triển lâu dài của quân đội".

Thật không?

Thế mà cứ tưởng là quân pháp về điều tra vụ A74.

Thì ra, ông Bình vào Quảng Trị, đến f325 với một danh sách các sinh viên mặc áo lính đã qua thẩm định lý lịch kỹ càng, cả ở trường cũ, cả ở địa phương.

Việc còn lại là tìm gặp tận mặt từng người.

Tôi là một trong số những người có tên trong danh sách ấy, may mắn còn sống và đang còn tại ngũ tại f325.

Bây giờ vấn đề lại hoàn toàn khác.

Không chỉ mình tôi, một số sinh viên khi gác bút nghiên lên đường nhập ngũ cũng chỉ xem việc này là "nghĩa vụ quân sự", mong sớm đến ngày hoàn thành để trở về trường tiếp tục đèn sách chứ không xem binh nghiệp là cả đời mình.

Theo học đại học quân sự là in dấu ấn binh nghiệp lên cả cuộc đời, "phục vụ mục đích phát triển lâu dài của quân đội" – như ông Bình nói.

Biết tôi băn khoăn, ông Bình bảo: "Đồng chí được tổ chức lựa chọn, một vinh dự chứ không phải là bắt buộc.

Cứ suy nghĩ rồi quyết định.

Đi hay không là quyền đồng chí.

Tôi còn ở nhà khách vài ngày nữa.

Nếu quyết định đi học, phục vụ lâu dài trong quân đội, đồng chí báo cho tôi qua Ban 2, chậm nhất là sáng thứ 2, ngày 8/4, để còn làm thủ tục, kịp sáng 11/4 lên đường ra Bắc".

Tôi cám ơn thượng uý Bình, đem theo tâm trạng tơ vò về c20.

So với những quyết định điều động sang d10, về dự khoá bay, vào c20, ra d74, thì quyết định lần này gây cho tôi nhiều đắn đo hơn cả.

Những lần trước dù sao cũng là nhận quyết định, nhận lệnh, "quân lệnh như sơn".

Lần này là ngã ba, rẽ lối nào, có cả quyền mình và lại liên quan tới cả cuộc đời mai sau.

Tối khuya, tôi cùng Lê Minh đi dạo ngoài đồi tranh.

Tôi kể câu chuyện ông Bình và khả năng ra Bắc.

Cả 2 đắn đo, do dự, nghiêng phải, nghiêng trái.

Cuối cùng Minh khuyên tôi: "Chiến tranh sẽ kết thúc, chúng mình sẽ có cơ hội về trường nếu còn sống, nhưng chưa thể biết đến bao giờ điều đó mới đến.

Học đại học kỹ thuật quân sự là suốt đời bộ đội, nhưng là bộ đội kỹ thuật, có khác gì về học khoa Lý đâu.

Nhận lời đi, ít nhất cũng được về thăm Bố Mẹ".

Ý cuối cùng của Lê Minh đã hoàn toàn thuyết phục tôi, nhất là khi tôi mới biết Cha tôi đang rất yếu.

Thứ bảy, chủ nhật tôi thu xếp đồ đạc, quân trang.

Lính có của cải gì đâu, nhất là khi rời chiến trường, gọn lắm, nhẹ lắm.

Quý nhất là cuốn nhật ký chiến trường thì đã gần hết trang lại bị dính mưa, loang lổ, nhoè nhoẹt từ hôm giải hàng binh sang Gio Linh.

Chiếc rút dép đã mòn vẹt.

Thêm mấy kỷ vật lặt vặt, vừa là chiến lợi phẩm, vừa là kỷ niệm chiến trường: chiếc chăn thám báo Mỹ, mấy dải dù pháo sáng, chiếc ba-lô dù và bàn cạo cụp xoè của Tám Hiếu, mấy con tem "đồ nho" của phía Sài Gòn.

Đáng giá nhất là tấm bản đồ Quảng Trị đã sờn mép, nhằng nhịt dấu chì thì đã bị thất lạc trên đèo Ba Lòng hôm 8/1/74.

Không kịp tạt qua Trà Liên chia tay Cha Cò, Mụ Miến và mấy nhà dân thân quen.

Bịn rịn, quyến luyến nhất vẫn là dành cho a8.

Quê mình Hương Canh, "Ai về mua vại Hương Canh", làng trung du với những bức tường nhà xây bằng tiểu sành.

Hỏi nhà "Cụ Giáo", người lớn tuổi trong làng ai cũng biết.

Ra Bắc nhớ tìm a trưởng nhé!

Ở nhà khách sư đoàn đã có 2 người từ các trung đoàn lên.

Tôi ngỡ ngàng, sung sướng vì một trong 2 người lại là Phạm Chính, Chính "nẹp", dân Lý 1, lính cũ c23, lính 6/9/71, từ e101 lên, vốn cùng quê với tôi.

Người còn lại từ e95 lên, vốn sinh viên xây dựng, lính 5/72, tên là Văn Đình Ưng.

Ông Bình vui vẻ: "Đủ bộ ba kết nghĩa vườn đào rồi".

Sáng 14/4/1974, chúng tôi lên xe ra Bắc, để lại sau lưng biết bao kỷ niệm của những tháng năm "chinh chiến, bão bùng".

Chúng tôi đến sông Bến Hải khi nắng đã gần đứng bóng.

Cầu Hiền Lương bị bom địch cắt gẫy vẫn chưa kịp bắc lại.

Chúng tôi qua sông Bến Hải trên cây cầu mới, hình như là cầu phao, do công binh lắp, cách không xa cầu Hiền Lương cũ.

Lại được nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng thân yêu bên bờBắc.

Đất đai đã kịp hồi xanh màu cỏ nhưng chưa kịp liền những vết sẹo bom chichít ngập đầy nước.

Đâu đó trên thượng nguồn là Bãi Hà, nơi cách đây hơn 1 nămtôi cũng vượt con sông này mà chưa định được ngày trở lại.

Bâng khuâng Bến Hải,Thạch Hãn, những con sông xứ Quảng Trị, một thời như những vết cắt, chia đôi bờBắc – Nam.

11/4/74

...

Ngày 2.4, một anh ở ban cán bộ trường Đại học kỹ thuật quân sự đến tìm tôi theo sự giới thiệu của Đại học tổng hợp.

Hôm nay theo ông ta ra Bắc.

Tình cờ gặp lại Chính.

May quá.

Toán ra Bắc gồm 3 người.

Tài, Chính (2 bộ xương) và 1 nhân vật thuộc e95, có vẻ sâu sắc và phúc hậu, cả khắc khổ nữa.

Chia tay!

Tôi sung sướng đọc lại cuốn sổ này.

Đầy ắp những vui buồn.

Có lẽ đây là những ngày chinh chiến, bão bùng nhất của đời tôi.

Không phải 20 tháng với cái nghĩa sòng phẳng của thời gian mà là 20 tháng với vô vàn biến cố sâu sắc tưởng như đủ trải ra cho cả 20 năm.

-Đông Hà (Q2.

Trang cuối).

Những dòng nhật ký chia tay c20, tạm biệt Quảng Trị cũng vừa vặn tới trang cuối cuốn nhật ký lính thứ hai, viết từ ngày rời Hương Canh, về Hà Nội rồi hành quân vào Nam.

Tôi bùi ngùi, nâng niu, cất nhật ký vào ba-lô và lấy cuốn sổ được tặng hôm dự Hội nghị Thanh niên Quyết thắng ra.

Qua Bến Hải, ra Bắc, sang sổ mới.

14/4/74

Tạm biệt Phương Nam nhé!

Đằng sau lưng - Bên kia sông - là những kỷ niệm đầy máu và nước mắt.

Ta chôn vùi nhiều thứ ở đấy.

Bờ sông Bến Hải, kỷ niệm trở về đầy ắp, nặng trĩu.

Nhớ Minh và các chiến hữu khác.

Cười mà mắt nặng nước.

- Bắc (Q.3-Trang đầu tiên).

Ra tới thị trấn Hồ Xá, nghỉ ăn trưa, ông Bình bất ngờ nói: "Bây giờ tớ phải quay lại Quảng Trị.

Còn các cậu, mỗi người được về phép 1 tuần, sau đó tập trung tại ban cán bộ trường đại học quân sự ở Vĩnh Yên, gặp đại uý Hùng.

Chúc bình an và học giỏi.

Cho gửi lời thăm hỏi tới gia đình.

Thế nào hoà bình cũng gặp nhau".

Chúng tôi thật sự sững sờ, cả về nội dung cũng như cách chuyển xưng hô tôi – đồng chí thành cậu – tớ.

Ba đứa bịn rịn, rưng rưng chia tay ông Bình, đoán rằng ông còn quay lại đón thêm những chiến sỹ sinh viên của các sư đoàn khác.

Mãi sau này, ba đứa chúng tôi gặp lại "sư phụ" Bình một cách rất tình cờ, sau khi đã thất lạc ông trong mịt mùng những năm tháng bom đạn Bảy Tư, Bảy Nhăm, rồi vật lộn bát cơm manh áo mưu sinh thời kỳ vất vả sau chiến tranh.

Chao ôi, khóc, cười, thời gian.

Thì ra lần ấy ông Bình giấu bọn tôi.

Không phải ông quay vào đón thêm các sinh viên như đã đón 3 chúng tôi.

Ông nhận lệnh quay vào tăng cường cho chính f325.

Gỡ quân hàm cất vào ba-lô, ông rong ruổi theo f325 rượt địch suốt dọc chiều dài đất nước, đến tận Xuân Lộc rồi Sài Gòn, 30/4.

Sau Bảy Nhăm, ông về lại bộ phận tổ chức Đại học Kỹ thuật quân sự rồi sau về hưu, điền viên nơi quê nhà Ninh Bình cùng vợ con.

Cho đến một tối đầu hè 2004, đang xem tivi, ông thấy giới thiệu người giao lưu trên chương trình "Hỏi đáp về thi đại học" tên là Văn Đình Ưng, phó văn phòng bộ Đại học.

Tên quen quá, có phải Văn Đình Ưng f325, từ Quảng Trị ra học Đại học Kỹ thuật quân sự đấy không?

Đâu còn dáng dấp cậu lính e95 tái mét nước da sốt rét năm xưa.

Ông viết thư hỏi thẳng đài truyền hình.

Họ không trả lời câu hỏi của ông, biết đâu mà trả lời, nhưng họ gửi cho ông số điện thoại của ông Ưng.

Thế là khoảng một tháng sau có buổi hội tụ ở Vĩnh Yên, bộ ba "vườn đào" với "Sư phụ" Bình, chủ nhật 13/6/2004, sau đúng 30 năm 2 tháng kể từ buổi chia tay ở Hồ Xá.

Hội ngộ ở Vĩnh Yên ngày 13/6/2004, sau 30 năm 2 tháng thất lạc

Từ phải: Vợ chồng Chính, "sư phụ" Bình, 6971 và Văn Đình Ưng

Cảnh hội ngộ của lính như chúng tôi gặp lại ông Bình nghe ly kỳ nhưng đâu có hiếm hoi ở đất nước đã mấy chục năm loạn lạc.

Cuộc gặp lại đại trưởng Ngơi cũng tình cờ như vậy.

Chúng tôi, nhất là Hồ Bảo và tôi, đã cố dò hỏi.

Chẳng ai biết gì về ông sau vụ A74 ở Ba Lòng.

Chỉ biết ông bị chấn thương cột sống, khá nặng.

Chắc điều trị, an dưỡng rồi phục viên về quê, đâu đó ở Ninh Bình.

Khoảng 1997-1998, Duyên (a12), giờ là cán bộ giảng dạy trường Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, đang tất bật mùa tuyển sinh, một hôm tình cờ nhìn thấy ở bến xe một ông già lưng khòng khòng, có lẽ từ quê lên, đưa con hay cháu đi thi đại học.

Sao nom dáng quen lắm.

Duyên đến gần: Có phải bác là bác Ngơi?

Ôi, đúng rồi, anh Ngơi, đại trưởng Ngơi.

Hai tuần sau đó, chúng tôi có cuộc tụ tập vui vẻ ở nhà Duyên trong khu tập thể Đại học ngoại ngữ Hà Nội.

Anh Ngơi lụi cụi tha từ Ninh Bình ra một tải ốc nhồi Bích Động, Hoa Lư.

Lại râm ran chuyện Ban 2, chuyện c20, chuyện người mất, người còn.

Đã lắm.

Thế rồi, đáng tiếc, sau tối vui vẻ đó, chúng tôi chưakịp tổ chức về Bích Động quê anh thì anh lại mất tích.

Chúng tôi không thể nàotìm được anh nữa.

Đến tận buổi gặp mặt lịch sử lần đầu tiên của các cựu trinhsát C20 hồi 9/2009, chúng tôi lại phải ra lời hiệu triệu: Các nhóm trinh sátbủa theo các hướng tìm A.

Ngơi.

Đến khoảng tháng 11 thì A.

Khâm tìm được.

Thìra, sau cuộc gặp nói trên, A.

Ngơi bị tai biến não tương đối nặng.

Mọi thứ bịquên hết.

Nhờ sự chăm sóc tận tình của gia đình và bệnh viện, gần đây anh đãbình phục.

Sáng 1.1.2010, Thắng "quản" với TTNL và 6971 về Ninh Bìnhthăm anh.

Mừng lắm lắm.

Trở lại chuyện bộ 3 chúng tôi.

Sau khi rời Hồ Xá, đến Thanh Hoá thì Ưng xuống, rẽ về thăm nhà, Chính và tôi về thẳng ga Hàng Cỏ (Hà Nội), rồi cả 2 ngược ngay tàu về Vĩnh Phúc.

Tôi xuống ga Hương Canh, Chính xuống ga Vĩnh Yên, sau tôi một ga.

Về đến Hương Canh khoảng 9-10 giờ sáng.

Nhà tôi cách ga chừng 2 cây số.

Trên đường làng, từ ga về nhà, gặp nhiều người làng, ờ à, chỉ trỏ.

Phúc đức, con cái nhà ai sống trở về kìa!

Tôi khoác ba-lô, vết thương chân trái vẫn hơi đau, hớt hải, đi như chạy, bật cổng lao vào sân.

Thầy tôi ngồi trên chiếc tràng kỷ tre trước hiên nhà.

Người già yếu quá!

Mợ tôi lụi cụi rau cỏ dưới vườn.

Lưng đã còng!

Nhạt nhòa nước mắt.

Vui mà buồn, buồn mà vui, tôi về nhà tháng Tư, lúa chiêm đang đòng, đến tháng Mười, lúa mùa lại về đòng, thì Thầy tôi đi!

Lên trường, chúng tôi được phân vào Lớp dự bị của khoa cơ bản (c185).

Cùng lớp còn có nhiều lính từ các đơn vị khác, nhưng chỉ có 3 chúng tôi là từ chiến trường về, người còn khét lẹt mùi thuốc súng.

Phần lớn trước khi nhập ngũ đều đã là sinh viên, chỉ vài người mới tốt nghiệp lớp 10 (lớp 12 bây giờ).

Tất cả coi như bằng nhau, cùng ôn thi vào đại học.

Lớp dự khoá không ở khu trường chính ngay chân dốc Láp (thị xã Vĩnh Yên) mà ở sâu trong mấy khu đồi bạch đàn Tam Lộng, dưới chân núi Trống, chỉ cách nhà tôi 3-4 cây số.

3/5/74 :

Ba đứa mang về đây sắc thái riêng của Phương Nam.

-Tam Lộng (Q.3, Tr.n)

Lại được đèn sách, ôn thi.

Thấy sướng lắm dù đầu óc đâu còn được như xưa.

Trầy trật, cay cú suốt đêm với mấy bài toán khó như đánh đố của thầy Đông.

Nhìn mấy cậu lính trẻ, Nhất, Thanh, Biên, Phiệt, mới hết lớp mười, mơm mởn, phới phới mà thèm.

Lại thêm cồn cào trong sâu thẳm là nỗi "nhớ rừng".

Nhớ Lê Minh, Khuê, Hồ Bảo, nhớ a8, cha Cò, mụ Miến, Trà Liên.

Nhận thư Minh từ Quảng Trị, thư Bảo từ trại an dưỡng ở Hải Hưng.

Thì ra giống nhau, "Ta nhớ Mình, Mình nhớ Ta".

Trích thư Lê Minh:

"...

Mặc dù chúng mình nhớ tất cả nhưng M vẫn muốn nhắc lại.

Từ những ngày đầu gắn bó, đó là những đêm gác.

Cho đến nay mình vẫn thích cái trò câu công cống lý thú và gây những tiếng cười khoái trá bất ngờ – Mùa hoa dẻ và hoa ké.

Buổi tối ở quán bia Ngã Tư Sở gặp một anh bạn cùng khoa, năm thứ tư – Bia và bánh sừng bò.

Những ngày buồn như bị bỏ rơi của những ngày đầu về Xê mình, chỉ gặp nhau những tối thứ 7 hoặc những tối mọi người đi xem.

Mình nhớ mãi chuyện 3 quả lựu đạn mà chia đôi mỗi người vẫn có 2 quả trong những lần kiểm tra vũ khí.

Những ngày rách rưới nghịch ngợm ở xóm Bơn, buổi tập tiện y ở Thạch Thất - Rồi trên đường vào, lang thang - Đêm ở bến phà Ghép, ăn dừa, thức thâu đêm và hát nghêu ngao.

Buổi hoàng hôn ở Quỳnh Lưu mà Tài đã nói với mình về màu tím mung lung, mờ ảo ở chân trời, bụi tím bủa xuống không gian, lắng đọng ở những dãy núi xa - và nhiều, nhiều nữa, chuyện thùng lương khô và những ngày ông trùm của "bình định" -

- Nhớ, nhớ tất cả và ở mỗi kỷ niệm nhỏ ấy Minh lại thấy mình vẫn đang sống như vậy mặc dù chỉ trong ý nghĩ.

Minh nghiệm rằng những người bạn rồi cũng phải xa nhau nhưng ai mà ngờ được, chẳng ai tiên tri được sự xa nhau bất ngờ của tụi mình.

Cũng như trước đây 1 năm chẳng ai dám đoán trước một sự gì chắc chắn của 1 năm sau.

Còn Minh lúc ấy cũng nghĩ rằng có lẽ chúng mình cũng không được ở gần nhau vì những nguyên nhân gì đó.

Thế là ba năm rồi!

Mà cũng mới chỉ ba năm sao M nghĩ thấy thay đổi nhiều quá, M thấy nhiều sự việc quá hơn ba năm thường và có những sự chịu đựng, chờ mong làm cho mình thấy nó dài quá! ...".

"Cùa, Quảng Trị ngày 17/10 - Tài thân yêu!

Đã lâu không nhận được thư Tài.

Hôm rồi Tất ra ngoài này không gặp, nghe nói Tài đi viện.

Thế nào thế, tình hình sức khoẻ lủng củng thế - Có gì thì viết thư cho M biết đi chứ.

Những thư M nhận được của Tài, Tài chưa nói gì rõ ràng lắm - Cả sức khoẻ lẫn tình hình học hành - Mấy lá thư Tài đều nói không nhận đựơc thư M - Sao thế nhỉ?

M viết thư cho Tài lần này là lần thứ 6 đấy - Thôi không sao.

Bây giờ nói sơ qua vài thứ Tài nghe.

Tình hình toàn tuyến từ bấy đến giờ không có gì khác và nói chung là im lặng.

Thời gian tháng 7, 8 mình có cải thiện một số điểm nhỏ (không ăn thua gì).

Đợt Xê mình có đi bên kia, cũng là chuẩn bị một điểm lớn nhưng tình hình này thì còn lâu.

M đi đợt trước và đã về hồi đầu tháng 7 sau đó lại tiếp tục đợt khác (M không tham gia).

Lần cuối cùng của đợt ấy có Sơn (trọc) và một bê trưởng (Tài chắc không biết) ... trước lúc bình minh.

M cũng được nghe kể lại sự việc thôi.

Nói chuyện Xê mình thì vẫn ở đấy, tập tành có căng hơn, hết mùa nắng cháy ở đây đã vất vả, bây giờ mùa mưa cũng khổ, đi tập ướt thuột luột hết.

Mấy ông lãnh tụ toàn mới và không hợp khẩu vị lắm.

Anh Dụ bây giờ lên Ban, anh Thêm chuyển đi.

Lính tráng dạo này lớn hơn hẳn so với dạo trước rồi thành ra cũng khó bảo ban.

Còn làng Trà lâu nay M cũng không ghé qua.Đã lâu, mụ Miến, cha Cò nhận được thư Tài: "Tài viết vui zữ, nhưng mạ cũng vui được xí rứa thôi!".

Nghĩ cũng tội.

Ông cụ ốm luôn và yếu hơn trước, bà cụ khá hơn.

Thôn xóm dạo này khá rồi, vụ trước thừa thóc, thi nhau bán cho nhà nước, làm ăn đã ổn định, đáng phấn khởi.

Bà con hỏi thăm chú Tài luôn.

Mọi chuyện bí mật thế rồi mà vẫn lộ, họ biết nhưng lơ mơ nên cũng phải nói khéo họ mới tin".

Trích thư Hồ Bảo:

"Tài ạ, Tài có nhớ tối hôm nay không?

6 tháng rồi, cái tối này là tối trước khi xuống vực đấy.

Lúc này khoảng sau khi về Cùa xem văn công hụt, đường về đã có dấu hiệu của sự không may mà có đứa nào nghĩ tới đâu nhỉ.

Hôm sau cứ ung dung như thường.

Sao lúc ấy mình cứ thấy nhởn nhơ vậy.

Có ai ngờ được những bước ngoặt lớn của đời mình đâu.

Cả cái đêm "nhóm" lang thang trên sông Thạch Hãn mình cứ nghĩ rằng một năm sau chưa thể có gì thay đổi, chưa tan đâu.

Ngốc thật.

Những ngày chúng mình sống với nhau thật nhiều kỷ niệm không bao giờ quên được.

Có lẽ đấy là những ngày "chinh chiến" duy nhất của mình, rồi đây chẳng còn nữa.

Nhớ lắm Tài ạ.

Những ngày ấy thật hay, nghĩ lại nhớ lại mình sao thấy vẫn rất gần, xao xuyến, vui, ân hận vì nhiều cái làm chưa tốt, không nhìn rõ mình.

Nghĩ đến bọn nó, Minh, Tất, Việt ...

đang lặn lội, bụi bờ mà thương và lo quá, thấy thật vô lý vì mình đã xa vời".

Ôn thi được khoảng 1 tháng thì vết thương sọ não của tôi cựa quậy, cứ phải đi viện triền miên, hết bệnh xá trường lại quân y viện 109.

Bác sỹ Phương, trưởng trạm y tế của trường, quyết định gửi tôi đi khám lại tổng thể các vết thương bằng phương tiện hiện đại hơn.

Tôi được gửi hẳn về bệnh viện 108 ở Hà Nội để chụp và khám lại phần sọ não.

Kết quả xác định là vết thương ở đầu bị rạn xương sọ, gây ảnh hưởng đến não.

Tôi phục mấy ông bác sỹ viện 43 hồi còn ở Quảng Trị, chẳng cần chụp gì, chỉ mắt trần mà đã tiên đoán những tiềm ẩn của vết thương đầu của tôi.

Hết một đợt điều trị và khám bệnh, trở về đơn vị thấy đồng đội đã nước rút được mấy "cua" rồi, cũng lo.

Nhưng chỉ mấy hôm sau, thấy ban cán bộ gọi tôi lên.

Đại uý Hùng yêu cầu tôi gặp bác sỹ Phương, chủ nhiệm bệnh xá trường để chính thức làm thủ tục giám định lại sức khoẻ, nhất là phần thương tật.

Tôi được bác sỹ Phương phụ trách bệnh xá trường gửi đến hội đồng giám định thương tật của đoàn an dưỡng 222 ở Yên Lạc, Vĩnh Phúc.

Đoàn an dưỡng hẹn mấy tuần sau sẽ có đợt giám định thương tật.

Tôi chuẩn bị sẵn giấy tờ, gồm giấy chứng thương, bệnh án của quân y viện 43 ở chiến trường và các kết quả khám và điều trị ở quân y viện 108 và 109.

Hôm xác định thương tật, hội đồng xem hồ sơ, hỏi tôi vài câu rồi hội ý và đánh giá tôi mất 35% sức khoẻ, có lẽ chủ yếu là do vết thương sọ não và mắt, xếp thương tật loại 2/8 vĩnh viễn.

Hội đồng hỏi tôi: Có ý kiến gì không.

Thật quá bất ngờ đối với tôi.

Tôi cũng chưa hề tìm hiểu trước ý nghĩa những con số thương tật 35%, loại 2/8, nhưng có vẻ như thế là hết thời "lính chiến".

Trở lại đơn vị, gặp lại cảm giác lạc lõng, bơ vơ như bị bỏ rơi giống như hồi mới rời quân y viện 43 về c20.

Mọi người đang hối hả, say mê những ngày ôn cuối cùng trước kỳ thi, còn tôi lơ lửng chờ quyết định, hoặc trở vào Quảng Trị, hoặc về các đoàn an dưỡng, hoặc về trường cũ.

Giữa tháng 9, thiếu tá Vọng, trưởng ban cán bộ gọi tôi lên.

Ông vỗ mặt tôi bằng câu hỏi: Đồng chí đeo cái gì trên cổ thế?

Thưa thủ trưởng, kỷ niệm chiến trường ạ.

Cái gì thế?

Thưa thủ trưởng, cái thẻ lính ạ.

Của ta hay của địch?

Dạ, của hàng binh địch tặng ạ.

Thôi, kỷ niệm thì cất đi, ai lại đeo thẻ lính của ngụy thế.

Rồi ông hỏi: Nhớ 325 không?

Tôi cười.

Tôi cũng đã chuẩn bị tinh thần trở lại Quảng Trị, dù khả năng đó không nhiều.

Mấy ngày sau, thứ tư, ngày 25/9/1974, tôi nhận quyết định chuyển ngành, rời khỏi quân ngũ.

Trên quyết định ghi ngày 23/9.

Tôi lần đếm theo nhật ký.

Đúng 1.111 ngày mặc áo lính, được phong cấp 2 lần, lần đầu vượt cấp từ binh nhì bỏ qua binh nhất lên hạ sỹ, lần sau hạ sỹ lên trung sỹ, phụ cấp cao nhất 17 đồng/tháng, chức vụ cao nhất là tiểu đội trưởng, 3 lần là học viên (Lớp dự khoá bay, Lớp binh địa và cuối cùng là Lớp dự bị Đại học kỹ thuật quân sự), đến khi rời quân ngũ cũng vẫn đeo quân hàm học viên, không có ngôi sao nào.

25.9

Người ta trao cho mình chiếc chìa khoá.

Còn mùi khét của TNT, mùi tanh của máu và mặn mặn của nước mắt.

Ôi chiếc chìa khoá mà bao lâu ta chỉ dám thầm mơ ước, giờ mới là sự thực.

Những ngả đường mới mở ra.

Những vấn đề lớn, nhỏ phải định lại.

Cuộc sống lăn những bước náo nức, bồi hồi.

Phút này nhớ Minh nhiều nhất. – Vĩnh Yên. (Q.3-Tr.n)

Lẽ ra việc được trở lại trường Đại học Tổng hợp tiếp tục học tập phải là chuyện vui, trở về đàng hoàng, vinh quang sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Nhưng cũng có những lý do để gợn buồn.

Buồn đến hối hận là khi nghe tin tôi rời quân ngũ, Thầy tôi đã sững sờ.

Người buồn lắm.

Quân đội là trường học lớn nhất, tốt nhất để học thành người.

Sao con lại rời bỏ cơ hội đó?

Thầy tôi đang ốm nặng.

Lẽ ra tôi phải giấu Người chuyện về trường.

Tôi rời quân ngũ được 1 tháng, mới về trường làm xong thủ tục và đang học những buổi đầu tiên thì sáng 28/10/1974, Thầy tôi ra đi.

Chắc chắn Người có mang theo nỗi buồn chưa lắng hết về tôi.

Cũng như câu chuyện với các liệt sỹ Dương Văn Lô, Đỗ Triệu, day dứt với những người đã khuất thật chẳng dễ gì nguôi ngoai.

Thử thách căng thẳng đầu tiên khi trở lại cuộc đời sinh viên là phải quyết định học bám đuổi luôn năm thứ 2, khi đó mới bắt đầu năm học mới, để tiết kiệm thời gian, hay học lại năm thứ nhất cùng các sinh viên mới vào trường, để chắc chắn không bị bì bẹt.

Tôi quyết định liều theo năm thứ hai.

Bù lại những sa sút đáng kể về trí tuệ và sự mất tập trung vì nỗi "nhớ rừng" là khát khao học đến khó tả.

Thèm học, đôi khi học lén lút như nhân vật chính trong chuyện Tình yêu cuộc sống của Jaclondon giấu bành mì dưới đệm giường.

Còn đọng lại đầy ắp trong nhật ký những ngày đầu trở lại trường không phải là về những cố gắng trong học tập mà là nỗi "nhớ rừng".

Ngồi ở giảng đường Thượng Đình mà tâm trí đang rong ruổi theo 325 trong Quảng Trị, nhất là sang đầu năm Bảy Nhăm.

21.3.1975

Sửng sốt.

Cổ thành bỏ trống.

Plâycu, Công Tum cũng vậy.

Huế huyên náo.

Mình không ngờ mọi chuyện lại như vậy.

Tất cả như trong mơ.

Sao lại thế nhỉ?

Mấy ngày này tâm hồn xôn xao, rộn rạo.

-Thượng Đình

26.3.1975

Chiến sự sải những bước dài kỳ diệu.

Bến Hải kéo dài tới bờ Hương Giang.

Cửa Hội bấp bênh, coi như của ta.

Một dải từ phá Tam Giang tới đèo Hải Vân.

Tuyệt quá.

Cái máu của người lính chiến sôi lên.

- Thượng Đình.

30.4.1975

Kinh ngạc tới bàng hoàng.

Chấm dứt những năm tháng căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh.

Đất nước và con người hồi sinh.

Sau hoan hỉ, tưng bừng, choáng ngợp pháo hoa khải hoàn là góc khuất của người lính, là hội chứng nhớ rừng.

1.5.1975

Pháo hoa tưng bừng, rực rỡ.

Nhớ những trái hoả châu soi mói ở động Ông Do.

27.5.1975

Nhớ Lê Minh quá.

Sao bẵng tin lâu thế?

Cái gì đã xẩy ra ở phương Nam xa xôi ấy?

Nhớ Trà Liên, xóm nhỏ phương Nam mà mình quen thân, gắn bó.

Bây giờ ra sao rồi?

Tháng 6, mùa lũ, nước Thạch Hãn có ngập mênh mang nữa không?

Bé Thương đã lên lớp 3 chưa?- HN.

31.5.1975

Ngày cuối của tháng đầy xúc động.

Bảo đến.

Thư Tất gởi từ Biên Hoà ra.

Sau năm tháng không biết tin gì về c20, giờ đầy những tin sửng sốt.

F mình chiếm Đà Nẵng đầu tiên.

Tiến thẳng vào Sài Gòn.

F mình phụ trách hướng Đông-Bắc.

C20 luôn là người tiên phong.

Đau đớn vì Dân hy sinh.

Dân chất phác và điều chính là biết kiềm chế mình.

Những kỷ niệm với Dân.

Minh bị xây xát nhẹ.

Rùng mình.

Cùng Bảo nhắc lại những kỷ niệm gắn bó ở c20.

Ở Bảo,có một thứ tình cảm đặc biệt. – HN

17.

Gót chân Asin - Khúc riêng tư thứ nhất

Thế hệ trẻ những năm chống Pháp rồi chống Mỹ rất quen với cụm từ "Theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc".

Từ ruộng đồng, nhà máy, mái trường, mỗi người từ mỗi ngả, theo lối đi chung dẫn vào quân ngũ.

Điệp điệp, trùng trùng.

Thầy Mợ tôi được 4 người con trai và một con gái út.

Bốn anh em trai tình cờ đều theo một con đường giống nhau, gác bút nghiên, nhập ngũ.

Trong gian nhà chính treo trịnh trọng một "Bảng Vàng danh dự", có chữ ký chủ tịch Hồ Chí Minh, ghi tên Nguyễn Chiển, chú tôi, và Nguyễn Phẩm Bình, Nguyễn Phong, là anh cả và anh hai của tôi, tham gia kháng chiến chống Pháp, bên dưới là 2 "Bảng Gia đình vẻ vang", có chữ ký thủ tướng Phạm Văn Đồng, ghi tên Nguyễn Mạnh Thức, anh trên tôi, và tôi, là bộ đội chống Mỹ.

Chỉ trong khoảng 20 năm, tản cư, tòng quân thời chống Pháp thành sơ tán, nhập ngũ thời chống Mỹ, chỉ khác về ngôn từ nhưng cùng là kháng chiến, hai cuộc kháng chiến, cuộc này nối cuộc kia, thế hệ trước đến thế hệ sau, không chút tỵ nạnh, thản nhiên như sinh ra là để như vậy, chung cho mọi gia đình.

Với sinh viên gốc "nhà quê" như bọn tôi, trước đó đã một lần phải hoà nhập "đổi đời", rời làng quê lên thành phố.

Đang tuổi mới lớn, học ăn, học nói, không ít ngỡ ngàng.

Nhiều trong số đó không dễ gì để quen ngay với cuộc sống tập thể, cuộc sống sinh viên, nơi phố phường, đô thị.

Tôi lớn lên ở một làng quê trung du, dưới chân Tam Đảo.

Chục năm phổ thông, trường làng, nhàng nhàng quãng nửa trên của lớp.

Lớp 7, học với Nguyễn Quý Nam, lớp 10 học với Thái Huy Chí, những học sinh rất giỏi của Hà Nội sơ tán về, thì mới thấy mình chỉ là nhỉnh nhỉnh trong luỹ tre làng, chứ thấm tháp gì với mênh mông đại ngàn.

Khoá Bảy Mươi chúng tôi là khoá đầu tiên phải thi tuyển vào đại học, những khoá trước chỉ xét học bạ, điểm tốt nghiệp hoặc kiểm tra vào trường.

Tôi ghi 3 nguyện vọng đại học, theo thứ tự ưu tiên là: Tổng hợp văn, Tổng hợp toán và Bách khoa điện!

Một theo lời khuyên của cô Chi, dạy văn, một theo thầy Thiết, dạy toán, còn nguyện vọng cuối cùng là theo lời khuyên của các anh tôi.

Năm ấy, thí sinh được chia làm 2 khối A và B.

Khối A thi Toán Lý Hóa, khối B thi Toán Văn Địa.

Quyết định cuối cùng về nguyện vọng không phải là thí sinh hay gia đình mà là nhà trường, chủ yếu dựa vào ý kiến của giáo viên chủ nhiệm lớp.

Thầy Ngô Huy Thiết, chủ nhiệm lớp tôi, dạy toán, xếp tôi vào khối A, hướng vào Tổng hợp toán.

Giá như cô Chi, dạy văn, mà là chủ nhiệm lớp, chắc cô sẽ xếp tôi vào khối B, và có thể con tàu tôi đã lăn theo những đường ray khác.

Kỳ thi tuyển sinh năm ấy nổi tiếng với 5 bài toán khó, sau này nghe đồn là do chính giáo sư bộ trưởng Tạ Quang Bửu ra đề.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ 2 trong số 5 bài toán đó.

Bài 1: Giải phương trình 3x + 4x = 5x, và bài thứ 5: Chứng minh rằng không tồn tại đa diện có số lẻ mặt mà mỗi mặt là một đa giác có số lẻ góc.

Riêng bài 1 ai cũng biết nghiệm là 2, thế mà sau này nghe nói cả miền Bắc chỉ có một người giải được, dù không đúng đáp án.

Bạn ấy giải bằng biện luận đồ thị, trong khi đáp án phải là khẳng định 2 đúng là nghiệm rồi chứng minh không tồn tại nghiệm khác lớn hay nhỏ hơn 2.

Bây giờ thì dễ chứ trình độ phổ thông những năm Sáu Mươi, Bảy Mươi, toán thế là khó lắm rồi.

Tôi đỗ Đại học Tổng hợp Hà Nội, không Văn, không Toán mà là Vật Lý!

Chẳng đúng nguyện vọng nào trong số 3 nguyện vọng mình đăng ký.

Rời lưng trâu và lũy tre, tôi mang theo lời Thầy Mợ tôi dặn: Gắng cho bằng chúng bạn.

Sao lại bằng mà không hơn.

Lên Hà Nội học, cũng ngỡ ngàng, ngô ngọng, vụng dại, va vấp đến xấu hổ.

Bắt đầu được lưng lưng tự tin, bớt quê mùa thì lại từ biệt ký túc xá, nhập ngũ.

Hai anh trai tôi, những người đã gác bút, cầm súng trước tôi, từ thời Biên Giới, Điện Biên, khuyên thật cô đọng: "Quân đội không có chỗ cho lối sống tiểu tư sản như sinh viên được đâu!"

Tôi nhớ, Thầy tôi nói thành phần gia đình nhà mình nhớ khai là "Tiểu tư sản viên chức".

Đã Tiểu tư sản lại còn Viên chức.

Rắc rối.

Sao không là bần nông, cố nông, trung nông như bạn bè quanh tôi?

Thầy tôi có giải thích cặn kẽ nhưng tôi chỉ lơ mơ hiểu, Tiểu tư sản viên chức là không tốt, không xấu, tương đương như trung nông.

Thì cũng như cả làng gọi Bố Mẹ, riêng anh em tôi lại gọi Thầy Mợ, đều là người sinh ra mình.

Bây giờ là lúc phải "gột" hay ít ra là giấu kín cái chất tiểu tư sản, chất thư sinh đi.

Quân đội là trường học lớn nhất để học thành người– Như Thầy tôi luôn nhắc.

11.9/71

Có biết bao nhiêu là suy nghĩ sâu sắc khi mặc bộ quần áo bộ đội vào người.

Hôm qua còn là sinh viên, hôm nay đã là anh lính.

Tuổi 19, rời giảng đường, ra trận.

Tâm trạng của tôi khi đó chắc là đồng cảm với Grinhop, nhân vật chính trong truyện ngắn "Con gái viên đại uý" của Puskin, vì còn thấy ngay trang đầu cuốn nhật ký thứ 2 là một đoạn trích viết bằng bút chì, nguyên văn bằng tiếng Nga cổ, như một lời đề tựa, một lời thú nhận chân thực.

"Con gái viên đại úy" ...

Tôi đắm mình trong những ý nghĩ miên man, nặng về u sầu.

Cuộc sống nơi biên đồn chẳng có gì hấp dẫn tôi.

Tôi cố hình dung về đại úy Mirônốp, thủ trưởng tương lai của tôi.

Chắc đó là một ông già quàu quạu, không biết gì hơn ngoài bổn phận của mình và sẵn sàng phạt tôi ăn bánh mỳ chay với nước lã dù chỉ mắc một lỗi chẳng đáng gì.

- A.C.

Puskin.

Những ngày đầu tân binh, toàn lính sinh viên sống với nhau, chỉ huy đơn vị phần lớn văn hoá chỉ hết cấp II, nhưng cảm thông nhau, hiểu nhau nên ào ào, vui vẻ.

Sau này, khi đã "ra ràng, chia tổ", lính gốc sinh viên như tôi cũng hoà nhập nhanh với anh em trong đơn vị, thường là từ làng quê hay khu phố đi, nhưng chúng tôi vẫn giữ một góc kín đáo cho riêng mình và đã có không ít rắc rối với cái gót chân Asin ấy.

Ba-lô vốn đã chật cứng quân trang còn cộm thêm mấy cuốn sách, lẵng nhẵng cây đàn ghi-ta, nắn nót dòng chữ Nga "Rô-đi-na" trên vành mũ cứng, phút mơ màng tư lự bên suối, mấy câu thơ vô đề uỷ mị, ...

Quân đội không cấm, nhưng vẫn gợn.

Bọn tôi còn có một kỷ niệm lãng mạn, đặc "tiểu tư sản".

Đó là ngày 6/9/1973, kỷ niệm tròn 2 năm đời lính.

Khi ấy c20 đang ở Trà Liên Tây, một làng nhỏ trải dài theo bờ bắc Thạch Hãn, cách thị xã Quảng Trị dăm ba cây số.

Sau Hiệp định nên cũng dễ thở hơn.

"Nhóm Sáu Chín Bảy Mốt" ở c20 vẫn đủ 5 người như hồi đầu ở Việt Yên: 3 phi công hụt Minh-Bảo-Tài và 2 y tá Việt-Tất.

Trong cùng đại đội, nhưng các "nhóm viên" không ở cùng nhau nên phải thu xếp mãi mới bí mật họp bàn, thống nhất được phương án, quy mô tổ chức kỷ niệm 2 năm ngày nhập ngũ.

Các quyết định cuối cùng được cả nhóm thống nhất là:

1.

Tổ chức lễ kỷ niệm thật thân mật và long trọng, mang đậm dấu ấn "sinh viên", nhưng phải đảm bảo tuyệt đối "kín đáo và tế nhị", nhất là với cán bộ đại đội và anh em trong đơn vị vì họ đều không phải là sinh viên.

2.

Ngoài 4 thành viên của Nhóm Sáu Chín, có mời cả các lính sinh viên ở c20, gọi là "Bạn của Nhóm", gồm Thắng quản lý và An "còi", ngoài ra còn có Hùng "xây dựng", vốn ở c20 nay đã chuyển lên a12.

Nhóm giao cho Hồ Bảo lo chuyện mời.

3.

Vật chất cho buổi lễ dựa vào nguồn "khô" tích trong ba-lô các thành viên, đi chợ Đại Hào bổ sung thêm chút "tươi", có thể trông chờ thêm ở kho "nhu yếu phẩm" của Thắng quản lý.

Hai y tá Tất và Việt cùng sinh hoạt Xê-bộ với Thắng quản lý, lo vụ "Thắng vận".

4.

Nơi tổ chức là một con thuyền mượn của một nhà dân ven sông.

Nhớ mượn con thuyền có mui để đề phòng mưa.

Rất may đang là tuần trăng.

Dự định sẽ thả thuyền lênh đênh trên dòng Thạch Hãn.

Việc này giao cho Lê Minh và tôi.

5.

Về thời gian: ngay sau khi tan buổi sinh hoạt tối của đại đội về, khoảng 9 giờ tối, tổ chức đúng Sáu-Chín, tối thứ năm.

Đêm đó trăng mờ, trước trung thu vài hôm.

Mọi chuyện đã diễn ra như kế hoạch, nhưng cũng đã xảy ra 2 trục trặc nhỏ nhưng hay hay và đáng nhớ.

Trục trặc thứ nhất liên quan tới nhiệm vụ Bảo nhận mời Hùng a12.

Có ai lên a12 thì nhắn một câu là xong, nhưng Hồ Bảo, vốn dân chuyên toán Đại học sư phạm, lại đa tài hội hoạ, văn thơ, đã thảo một tờ thiếp mời trang trọng, bìa trang trí tao nhã, xanh đỏ, chim cò, vẽ màu nước hẳn hoi, đặt trong chiếc phong bì tự cắt, nhỏ như quân bài tú-lơ-khơ xinh xinh, "như thật", trong đó khách mời được yêu cầu giải 1 bài toán mà đáp số chính là thời gian (giờ G, ngày X, tháng Y) đêm hội.

Tôi và Bảo đều không ngờ, Hùng vẫn giữ được tờ thiếp đó đến tận bây giờ.

Bạn Hùng thân mến!

Nhân kỷ niệm ngày "Hai năm đi bộ đội", chúng tôi thân ái mời bạn tới dự buổi họp mặt thân mật với chúng tôi vào giờ G ngày X tháng Y năm 1973 tại thôn Trà Liên Tây.

Chúng tôi rất mong bạn có mặt.

Ghi chú: 4x-y=15; G trong khoảng 19 đến 22h.

Chào thân ái!

Gọi là toán vui vui thôi, chứ đáp số "SáuChín" thì ai chả biết, ngày Sáu, tháng Chín, cần gì giải.

Thế mà rồi loay hoay thế nào, ngày tháng không nhầm, nhưng Hùng lại nhầm giờ, 19 giờ thành 9 giờ và lọ mọ, sốt sắng đến từ sáng sớm.

Nhỡ nhàng, chờ thì lâu, ở lại đợi thì phải điện về Ban, xin phép.

Phong bì và thiếp mời dự lễ kỷ niệm 6.9.71, tổ chức tối 6.9.1973 trên sông Thạch Hãn, sát ngay chốt địch

Trục trặc thứ 2 trầm trọng hơn.

Khi chủ khách đã xuống thuyền đông đủ, việc đầu tiên cần quyết định là để thuyền tự trôi xuôi Thạch Hãn về phía Cửa Việt, nửa thời gian sau thì chèo ngược về bến làng Trà, hay là ngược lại, đầu buổi sung sức chèo ngược dòng về phía thị xã Quảng Trị để nửa sau thả cho thuyền trôi về bến, bế mạc.

Phương án sau nghe hợp lý hơn.

Cả nhóm và khách vừa chuyện trò (thì thào thôi), vừa liên hoan, vui vẻ.

Mọi người lân nhau chèo nhẹ nhàng, gọi là đưa đẩy nhịp chèo thôi, cốt sao cho "du thuyền" ra khỏi khu đóng quân của đại đội.

Không ngờ, sau khoảng 2 tiếng vui tay chèo, lênh đênh, khoảng hơn 11 giờ, ai đó chợt nhìn lên bờ Nam, thấy đã sát Nại Cửu, An Tiêm, Chợ Sải, trên bờ đông lô nhô bóng cờ in trên nền trời, có vẻ cờ tam tài của địch.

Hút chết.

Chỉ cần vui tay mấy nhịp chèo nữa không ăn đạn cối cá nhân M79 của địch thì cũng ăn B40 của lính chốt hay thuỷ lôi của đặc công nước K5 bên mình.

Vội vã quay mũi thuyền, quá nửa đêm trôi về đến bến làng Trà.

6.9.1973

Đêm "thứ hai năm" của đời lính.

Khó mà tả được chính xác tâm trạng lúc này.

Mọi việc đều nặng nghĩa lí cả.

Hồi tưởng vẫn là việc làm có ý nghĩa tế nhị hơn cả.

Đêm này, năm trước đang ở đất Thanh, qua Phà Giát.

Tối kỷ niệm được tổ chức với qui mô lớn mà lại êm đềm và cả tế nhị nữa.

Các thân hữu lênh đênh trên thuyền giữa dòng Thạch Hãn từ 9 giờ đêm đến tận 1:30 của ngày hôm tiếp.

Những ngày này bao giờ cũng đầy ắp nhớ nhung.

-TràLiên

Nói tới sinh viên mặc áo lính, tôi nhớ nhất câu chuyện tối nào với đồng đội quá cố Đỗ Triệu ở Hà Tĩnh trước đêm tôi ra Bắc học binh địa.

Chúng tôi nói nhiều về chính đề tài "lính sinh viên".

Trước đó, tôi biết Triệu là sinh viên, nhưng Triệu thì mới chỉ nghi tôi cũng gốc sinh viên.

Triệu nói tới lối sống "kiểu sinh viên" của tôi, điều mà các anh tôi và cán bộ chính trị đại đội sau này gọi là "chất tiểu tư sản".

26.2.1973

Mối dây nối giữa mình và Omega có vẻ như ngày càng căng lên.

Có lẽ còn căng nữa.

Vì mình, vì Omega, hay vì một lí do khách quan nào khác?

Có thể là Omega có định kiến với mình về những vấn đề tương tự như có lần Đỗ Triệu đã nói.

Điều đó ít nhiều cũng có và vẫn còn ở mình.

Cần phải khắt khe với lối sống và nếp nghĩ của mình hơn nữa.-Bờ sông Hiếu.

Ai đấy, nếu không nói là tất cả lính sinh viên, nghĩ quân ngũ chỉ là nghĩa vụ, một nhiệm vụ nhất thời, làm cho tốt, chăm chăm chờ ngày hoàn thành để trở về tiếp tục học tập, thì sẽ còn phải trăn trở nhiều.

Giản đơn thì lo khi về đã rơi rụng hết kiến thức, còn học được không.

Sâu xa hơn thì sợ nếu phấn đấu tốt trong quân đội sẽ bị giữ lại, "sao gạch" đến trọn đời.

Không nói cũng biết, những dòng nhật ký dưới đây chắc chắn phải được mã hoá kỹ càng.

30.3.1973

Vẫn cái chuyện cực kì phức tạp ấy.

Biết xử lí làm sao bây giờ?

Sự phấn đấu và khả năng để rời khỏi quân đội.

Bài toán khó giải nhất kể từ khi phải và biết giải những bài toán về đời.

-Đông Định.

Lâu lâu lại thấy tự nhắc nhở mình:

17.9

Khoa học là ngày mai.

Nếu gặp lại trong nhật ký bao nhiêu điều, bao nhiêu chuyện rắc rối, khấp khểnh giữa tôi và một vài cán bộ chỉ huy, thường là chính trị viên, thì cũng gặp ngần ấy chuyện đẹp đẽ, cảm động về nhiều cán bộ chỉ huy khác mà tôi gặp trong quân ngũ.

Người cán bộ chỉ huy quân đội đầu tiên để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi là trung đội trưởng thời tân binh, thượng sỹ Tặng, một nông dân mặc áo lính thực thụ, giản dị, nhân hậu, cần mẫn.

Điều đầu tiên làm tôi chú ý tới anh là cái tính dễ đỏ mặt.

Lính sinh viên bọn tôi quý anh, đôi khi trêu đùa chứ không bướng bỉnh, cãi cọ nhưng rất dễ làm anh đỏ mặt.

Giai đoạn trước khi chia tay nhau, tôi thường được ở chung với anh.

Chúng tôi hay thủ thỉ những câu chuyện đồng áng, mùa màng.

Anh chia xẻ với tôi cả những chuyện rất riêng tư.

5.12

Đêm qua nằm tâm sự với anh Tặng.

Sớm nay anh đi bắt một chiến sỹ đào ngũ.

Anh nói chuyện về Ni, cô thôn nữ bữa nào mình gặp đi gánh phân.

Ni có chồng rồi.

Chồng Ni đang chiến đấu ở chiến trường.

Đã 6 năm rồi, Ni sống lặng lẽ, âm thầm chờ mong người chồng từ chốn khói lửa trở về.

6 năm xa.

6 năm chịu đựng.

6 năm không một tin tức gì.

6 năm, đêm nằm trăn trở nghe thời gian cấn dần tuổi xuân đi.

Năm tháng nặng nề, dai dẳng, tàn ác.

Anh Tặng kể về vợ chồng anh: "Vợ tao hâm lắm.

Tao chúa ghét cái tính làm đỏm của nó.

Nó bắt tao đủ thứ.

Tao may bộ quần áo nâu rộng thùng thình.

Nó biết.

Nó len lén mang đi chữa lại.

Thế đã xong đâu.

Nó lại kì cục đi mua vải kaki may một bộ phăng mới tinh.

Nó lại còn thửa một chiếc nón 13đ và ngồi thêu thêu thùa thùa mấy tối được cái quai.

Bực cả mình.

Nó kêu mình đi bộ đội, bộ đội làm cho chồng nó già đi.

Được ngày phép về, nó đi vay vay mượn mượn được ít thế là bày vẽ đủ thứ.

Nào gà, nào vịt, ...

Bực mình tao bảo: Lần sau tao không về nữa đâu.

Nó im.

Tao nghĩ thương thương, lại cười.

Nghĩ lại ngày mới lấy nhau, suốt ngày 2 vợ chồng chỉ cười.

Cứ tới bữa cơm, tao nhìn nó, nó nhìn tao, thế là 2 đứa lại nghĩ đến những chuyện buồn cười đêm trước, mặt lại chín ửng như cà chua chín, thế là cười, nó bỏ ra sân.

Hết cười lại vào.

ấy thế mà nó thương con đáo để, ...".

Mình thiêm thiếp ngủ mất khi nào không hay. – Ngọc Kim Long

Sau thời tân binh, nhất là thời kỳ là trinh sát sư đoàn, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với các thủ trưởng cấp cao hơn.

Sàn sạt trên lời nói và mẫu mực trong cử chỉ, họ là những ông thầy nhưng không phải trên bục giảng mà là trên chiến hào.

Sức thuyết phục không phải do ngôn từ trau chuốt, sang sảng mà chính là từ những vết sẹo và mảnh đạn trên cơ thể họ.

Tôi tìm thấy nhiều khoảng khắc thiêng liêng, kính trọng như vậy trong nhật ký khi viết về đại uý Gác của Lớp dự khoá bay, thiếu tá Điện ở Cục 2, "cọp Hớn" hay sư trưởng Duy Sơn của f325.

31.12.1971

Tối, đại uý Gác đến giáo huấn về tư tưởng và lối sống:

Ở đây đòi hỏi có những sự lột xác lớn trong thế giới quan và nhân sinh quan.

Hãy rèn luyện đức tính kiên trì, cần mẫn, bền bỉ, dai dẳng và nghiêm chỉnh, cẩn thận, cộng với sự sáng tạo, tìm tòi, linh hoạt của một người làm công tác kỹ thuật để chiến đấu.

Khắt khe với mình từ cách ăn mặc, cách đi dép, cách đội mũ, cách nói năng, ...

Khắt khe để làm vốn.

Xác định ý chí và quyết tâm.

Nó sẽ là cái trục của cả guồng máy vĩ đại.

Phải từ bỏ những mối quan hệ mang tính "tình yêu lứa đôi".

Trả lại cho khoa học và tổ quốc những phần tình yêu ấy.

Cuối cùng, đại uý chúc và mong muốn lớp trẻ này sẽ trưởng thành cứng cáp.

-Bạch Mai.

30.5.1972

Buổi sáng, thiếu tá Điện, phái viên của Cục tình báo, nói với bọn mình: Hãy đừng vác mặt trở về nhìn những người thân thuộc khi mà nhiệm vụ chưa làm tròn.

Đi, đi hẳn đi.

-Xóm Bơn

28.4.1973

Vầng trán căng lồi như nhấc ra được.

Còn đôi tay hiếu động thì vất vả với những điều ông ta diễn tả.

Khi ông ấýy nói: "Hãy đừng nghĩ đến chuyện ra Bắc khi mà nước nhà chưa thống nhất", thì ai nấy đều cảm thấy ông ta nói về chính mình.

Cho đến tận buổi tối, khi ông ta bắt tay mình, mình vẫn cảm thấy như ông ta biết tận ngọn nguồn mọi băn khoăn của mình.

Mình khẽ nói: Chào Sư trưởng ạ!

Rồi thở phào.

-Trà Liên

20.5.1973

Những giai thoại thì như vậy rồi, nhưng còn con người bằng xương bằng thịt và cuộc sống tự nhiên với ý nghĩ và việc làm thì cứ nhìn đấy.

Chính ông ta đấy, con người có biệt danh "Cọp Hớn" đấy.

Kể cũng hay.

Có những tầm vóc ấy cho đời thì mới cắt nghĩa nổi cuộc chiến.

Cứ nghĩ mãi về "Cọp Hớn".

-Ban tác chiến sư đoàn.

22.5.1973

Cố tìm ra một dáng dấp về hình thức hay cách diễn thuyết, lập luận hoặc ít ra cũng phải là một cố tật nhỏ nào đấy của ông ta nhưng không thành công.

Có một ý niệm dù chưa chắc chắn lắm là ông ta bám rất chặt và rất bền vào chủ đề của câu chuyện, không để nó lan man theo kiểu cóc nhảy.

Chẳng hạn như cả buổi sớm ấy ông chỉ nói về 2 điểm: Tinh thần trách nhiệm và tính chặt chẽ của kỷ luật quân đội Nga.

Chỉ thế thôi.

Và những dẫn chứng mà vị Phó tư lệnh mặt trận ấy đưa ra cũng gọn gàng trong cái bố cục chặt chẽ ấy của ông.

Ông nói chậm, đều nên đóng vai trò lớn trong việc hấp dẫn người nghe là ở nơi nội dung sự việc chứ không phải là nghệ thuật diễn thuyết.

-Bộ tư lệnh sư đoàn.

Tôi có rất ít dịp trở lại những nơi mình đã từng qua thời còn là lính.

Tôi có vài lần gặp lại Chính uỷ Nguyễn Công Trang, tham mưu phó Nguyễn Việt, đều đã tuổi bát tuần, nhưng chưa có dịp nào gặp lại ai trong số những người khác được nhắc tới ở trên.

Chỉ có một lần, gần đây thôi, không nhớ rõ là dịp 60 năm thành lập quân đội (2004) hay 30 năm thống nhất đất nước (2005), tôi có thấy sư trưởng Duy Sơn trên tivi, đeo quân hàm trung tướng.

Hình như ông đã về hưu.

Kể ra gặp lại thì cũng thích, như những lần gặp ông Trang, ông Việt, đã lắm.

Nhưng nghĩ lại, có khi không gặp vẫn hơn.

Tôi cũng kỳ kỳ, thường ngại gặp lại những thần tượng của mình.

Nhỡ đâu, háo hức nhưng khi gặp thì chẳng còn được giống như mình nhớ.

18.

Tuổi đôi mươi hay Khúc riêng tư thứ hai

Tôi tròn 19 tuổi (24/11/1971) khi mới mang quân phục được 2 tháng 18 ngày.

Nếu không thùng thình trong bộ quân phục màu xanh lá cây, chắc gì trong ngày sinh nhật tôi đã chép những đoạn văn nặng nề, răn dạy của Tolstoi và Gorki về tuổi 19 vào nhật ký.

Ngay cả như vậy, thì tuổi 19 của tôi vẫn mơn mởn, dịu ngọt.

Có chăng chút cứng cáp, góc cạnh thì cũng chỉ là tự cảnh báo, mơ hồ, về những gì ở phía trước.

24/11/71

"Thế ra bây giờ đã không còn có thể đùa cợt với cuộc sống, bây giờ mình đã lớn, bây giờ mình phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm hay mình nói" Liev Tônstôi.

Đúng là "không còn có thể đùa cợt với cuộc sống".

Giờ cuộc sống đã là do mình, của mình rồi.

Mình định đoạt lấy một phần lớn những sự thăng trầm của đời mình.

Sớm dậy, lòng lâng lâng, thư thái, bồi hồi.

Một sự may mắn đầu tiên: nhận được thư Khuê.

Người bạn đời thân thiết đã hơn 70 ngày không biết tin.

Báo hiệu một điều gì đây.

Chắc là số phận còn cho mình nối mối duyên nợ với khoa học.

Ngồi 30 phút để nhớ lại những chuyện cũ giữa mình và Khuê.

Ôi!

Dĩ vãng êm đềm như thơ.

Sau khi ra đình nghe chính trị viên nói về việc dời xóm Mạc, mình về và thực hiện ý định.

Buổi sáng đẹp trời, mình cùng Đặng Hùng, người bạn thân nhất ở đây, ra đồi dẻ.

Hai đứa nằm tâm sự.

Hai đứa mừng ngày này bằng trái đu đủ mua của dân và phong lương khô dành dụm từ hơn một tháng trước.

Trái cây ngọt và phong lương khô bùi.

Nằm giữa đồi dẻ, ngửa mặt ngắm da trời xanh thẳm thặm, xanh như ước, như mơ.

Thế ra đời lính cũng còn lãng mạn chán.

Trưa ngủ muộn.

Giấc ngủ đến lần chần như bắt ép.

Tỉnh dậy khi thời gian đã nhích sang chiều.

Buổi chiều liên hoan với gia đình bác Kính.

Bữa cơm kéo dài, 5 người (Mình, Tố, bác Kính, Mẹ bác và Thể - cô gái mảnh khảnh, hồn nhiên) thôi khi đêm đã về.

Đêm.

Đi gác.

Không gác ở nhà mà lại ra cánh đồng rạ để ngồi.

Đồng tháng 10, khi có cơn mưa thaỏng qua nên mát mẻ và rộng rãi.

Giờ đã gần sáng, ngồi ghi vội mấy dòng để đi ngủ.

Đã qua đi một ngày.

Mùa thu qua đi hay mùa đông trở về?

Hoa ké hồng hồng thắm thiết nở ở vìa rừng, ở ven lũng giờ đã tắt lịm.

Đang là mùa hoa dẻ nở, vàng, bung xung, no ấm.

Rồi những mùa hoa gì nữa?

Tuổi 19 nghĩ gì mà xốn xang, náo nức làm vậy?

Hôm nay là ngày vui lớn - Sinh nhật.

Đã qua đi 19 năm rồi.

Cái thủa thiếu thời chạy xa dần như cái bóng lúc ngày tà.

Hết học sinh, hết sinh viên.

Giờ là anh lính chiến.

Hôm nay thấy hôm qua dại dột.

Hôm mai lại thấy hôm nay khờ khạo, ....

Ngày hôm sau Sống hơn ngày hôm trước.

Đi miết mải trên đường đời để nuôi mơ ước ấy ! (?)

Sinh nhật, con gửi về Mẹ Cha trăm ngàn mến yêu của con.

Gửi về anh chị và các cháu của mình niềm tin vô tận.

Gửi về Khuê, những bạn gần, bạn xa những tình cảm tốt lành.

Tuổi 19: "Này Lecxây, mày không phải là cái mề đay, mày không thể lủng lẳng mãi trên cổ tao, mày hãy đi vào đời mà kiếm sống.

Và thế là tôi bước vào đời" M.

Gorki.

Còn mình.

Mình đi vào cuộc đời đa dạng bằng một chân của mình và sức xô đẩy của "tất cả".

-Xóm Mạc.

Tôi rủ Hùng ra đồi dẻ, kỷ niệm sinh nhật bằng một phong lương khô và 1 trái đu đủ.

Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời tôi có ý thức về sinh nhật và tổ chức mừng sinh nhật.

Bảy Hai, sau một năm, một năm thật sự đời lính, thấy chân dung mình qua nhật ký đã hoàn toàn khác.

Đó là sinh nhật 20 tuổi, lần sinh nhật đầu tiên ở chiến trường.

Tôi giấu mọi người trong đài, âm thầm cùng nhật ký đón sinh nhật trong căn hầm chữ A chật chội trên cao điểm 20 của căn cứ Ái Tử, ngay trong tầm đạn bắn thẳng của địch.

Dư âm 81 ngày đêm Cổ Thành và trận phản công của Thuỷ quân lục chiến sang Nhan Biều trước đó mới 20 ngày hãy còn nóng hổi.

Những dòng nhật ký tuổi 20 khi ấy không thơm thảo, ngọt ngào, không màu mè, ồn ào mà chỉ thấy âm sâm buồn.

24/11/1972

"Nhiều nhỉ ư em, mấy tuổi rồi?

Hai mươi, ừ nhỉ, tháng năm trôi!

Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến, Gió lộng đường khơi, rộng đất trời"Tố Hữu.

Một năm nữa qua đi.

Lại nghe 1 lá vàng nữa lao xao rụng.

Lần kỷ niệm thứ 20 Tài vẫn là Lính.

Tài chuẩn bị chu tất cho ngày này từ cách đây một tháng.

Lần thứ 20 của cuộc đời.

Lần thứ 2 của đời Lính.

Lần thứ nhất ở chiến trường.

Lại một lần nữa kỷ niệm ngày này khi không gần Cha Mẹ.

Thêm 12 tháng là thêm mấy lần hút chết, thêm mấy lần phạm tội ác, thêm sự gian giảo và kiến thức âm đi.

-Ái Tử

Suốt thời thơ ấu, cha mẹ nuôi cho ăn học, còn tôi miết mải bám theo các thần tượng.

Khác với nhiều bạn bè, các thần tượng của tôi không từ lịch sử hay Tam Quốc, Thuỷ Hử quay về, cũng không có tên nước ngoài dài dòng, đa âm.

Thần tượng sống cùng tôi, trên tôi, ngang tôi, không quá cao, không quá xa, chạy theo được, gặp được, hỏi han, chuyện trò được.

Dường như tôi không thể sống không có thần tượng, nhưng lúc nào cũng chỉ có một, một thần tượng thôi, như một hình với một bóng.

Nhưng bắt đầu cuộc đời quân ngũ cũng đúng đến tuổi muốn vùng vẫy, bứt khỏi chính mình, như là muốn "nhảy qua bóng của mình".

26.8.1973

Tại sao những cái mà hôm qua mình coi là lí tưởng, là mẫu thì hôm nay lại thấy nó tầm thường và thậm chí còn ngộ nghĩnh nữa.

Có phải đấy là qui luật không?

Mình lớn lên hay mẫu bé đi, hay là mình ngông cuồng, tự phụ.

Những năm 63-65, mẫu ấy là Rô, 68-71 là Zim, cuối 71- cuối 72 là Bêta, Còn bây giờ thì những mẫu ấy đều lạc hậu cả.

Họ vẫn sống cả, vẫn bình thường như xưa.

-Trà Liên.

Sinh nhật lần thứ 3 trong quân ngũ, tôi tròn 21 tuổi.

Đã thấy trầm tĩnh hơn.

Do thời gian hay do ngồn ngộn sự kiện?

Nhưng lại thấy dấu hiệu sốt ruột, không rõ là về chiến tranh hay về tương lai của chính mình?

Và nghĩ về cha mẹ nhiều hơn, nhân bản, hiếu thảo hơn.

24/11/1973

Ngày kỉ niệm lần này vẫn đến theo cái chu kỳ tính bằng những gốc ngón tay mà sao T thấy nó thanh thản, điềm đạm lạ thường.

Một ngày nắng sau một chuỗi ngày mưa.

Qua một mảng mây xơ xướp, tướp ra như nơi vai áo cũ thường đeo súng của người lính, thấy những sợi nắng chảy ra từ đấy.

Cũng hao hao như ngày này của 2 năm về trước, khi ngồi dưới tán dẻ và cũng có những hoa nắng lung linh trong ý nghĩ và trên trang giấy.

Những bông nắng vẫn của thái dương kính yêu, chuốt qua lá rừng và hôm nay chuốt qua mây.

Thế mà là cả 2 năm qua đi (mất đi thì đúng hơn).

...

Lần này lại mất mát đi, rơi rụng đi nhiều hơn.

Bất Lực.

Vớt vát lại một phần dù là nhỏ nhoi thôi đó là việc Khuê tìm đến với mình theo đúng hẹn.

Lại được nằm bên nhau 1 đêm.

Trong muôn vàn mối tơ nối từ dĩ vãng tới chỗ này, có sợi tơ thắm thiết, bền chặt của T và K.

Hãy vượt lên tất cả nhé.

Lần thứ tư con kỷ niệm ngày này khi xa Cha Mẹ.

Bây giờ, cái nghĩa lí lớn lao nhất, sâu sắc nhất đối với đời con là "Bố Mẹ".

Nó là nhịp đập của tim con, gắn bó, ân nghĩa và thường xuyên.

Vẫn cứ phải dành một ít ở cuối trang để nhớ về những trang bỏ ngỏ trong cuốn sổ đỏ.

Chẳng biết ghi thế nào về chuyện ấy cả.

- Trà Liên.

Khi đó, tôi cũng chưa biết rằng đấy sẽ là lần sinhnhật cuối cùng của tôi trong quân ngũ.

Tôi có những "Tuần lễ Vàng", tự mình đặt ra cho chính mình, như là: Tuần lễ văn học, Tuần lễ Anh văn, Tuần lễ thuỳ mị, Tuần lễ tiểu đội, Tuần lễ sức khoẻ, Tuần lễ thư từ, tình cảm, ...

Dường như có bao nhiêu việc cần làm để hoàn thiện mình, để làm tốt cho đồng đội của mình thì có ngần ấy thứ "Tuần lễ vàng" tương ứng.

Một "Tuần lễ vàng" là bảy ngày miết mải, chân tu, mong đạt chính quả hay chí ít cũng đạt được một điều gì đó.

Thử hỏi, một tuần, chỉ một tuần thôi thì làm được gì?

Chúng như dấu ấn của một thời hung hăng "dế mèn" của tuổi mới lớn, những tưởng có thể giũa trái đất thành hình lập phương được.

Trong các tuần lễ vàng, có đến 3-4 lần lặp lại Tuần lễ tiếng Anh, có lẽ vì học ngoại ngữ là cách tận dụng thời gian "nhàn rỗi" tốt nhất.

Tôi học Nga văn năm lớp 5, bẵng đi lớp 6, lớp 7 không học ngoại ngữ, đến 3 năm cuối lại học Trung văn.

Hết 3 năm tụng "Tam tự kinh" ở cấp III: "Chim chích mà đậu cành tre, thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm chính là chữ Đức", lên đại học, năm đầu, tôi lại chuyển sang học ngôn ngữ của Lê-nin: "I a chính thực là Tôi, Tưi: Anh, Ôn: Nó, Ghe-rôi: Anh hùng".

Thời ấy, hình như ở bậc phổ thông không dạy ngoại ngữ nào khác ngoài ngôn ngữ của 2 anh cả XHCN.

Vào bộ đội, như nhiều bạn bè sinh viên thời ấy, tôi tha cuốn Tiếng Anh của tác giả Vũ Tá Lâm trong ba-lô, vào Trung, ra Bắc, vào Nam, suốt nửa chiều dài đất nước, có lẽ chỉ là theo "mốt".

Tự học một ngoại ngữ mới mà đặt đích từng tuần thì thật là hung hăng, tham lam, không tưởng.

12.10.73

Chiến dịch tấn công vào pháo đài "E" bắt đầu.

Đấy là niềm hổ thẹn của mình.

Bây giờ phải gầy dựng lại niềm tự hào.

Nơi ấy ẩn náu một trong những kẻ thù chính.

Phải đánh, đánh kiên quyết.

Giai đoạn đầu sẽ chấm dứt vào 20.10.

20.10.73

Chấm dứt đợt 1 của đợt "phản công".

Mới chỉ mon men và nhen nhóm lại.

Pháo đài vẫn sừng sững, vẫn lì lợm, khiêu khích và cả đe dọa nữa.

Chen lẫn những tuần lễ E (Tiếng Anh) là Tuần lễ Sức khoẻ, Tuần lễ Việc công, Tuần lễ Văn học...

Đến bây giờ tôi cũng chẳng nhớ nổi cội nguồn từ đâu mà có những tuần lễ ấy.

Chúng chẳng theo bài bản trật tự nào cả.

Chẳng rõ là tự đặt ra, theo hứng, hay là theo những bức xúc của đời thường.

Mà cũng chẳng ai biết, chẳng ai giúp, chẳng ai kiểm tra, đôn đốc, nghiệm thu.

Chỉ có mình và nhật ký, đá bóng là mình, thổi còi cũng vẫn là mình.

Đọc lại thấy có nhiều Tuần lễ vàng khác nhau.

Nhiều tham vọng, nhưng chắc chẳng được là bao.

Có chăng tỵ teo, được ghi lại trong nhật ký, thì đó là thuộc về những tuần lễ Văn học.

Tôi nhớ rõ, ở Đông Hà có một hiệu sách, mở rất sớm ngay sau Hiệp định Bảy Ba, nằm ngay trung tâm thị xã, gần chiếc lô cốt cao ngất.

Sách được chở từ Hà Nội vào.

Hầu như chỉ có sách chính trị và một ít sách văn học, chủ yếu là văn học Nga và Pháp.

Về văn học, đó đúng là những thứ tôi nghiện, dù phần lớn đã đọc rồi.

Vẫn Tolstoi, Puskin, Gogol, Tuocghenhep, Guy de Mopatsang, Banzac, Huygo, nhưng đọc ở chiến trường khác hẳn khi đọc ở nhà trường.

Tôi nhớ, có một cuốn sách mà thời học sinh, sinh viên, không khi nào tôi đọc được hết, nhưng không hiểu sao ở Quảng Trị tôi lại mê nó đến thế: Kịch Sexpia.

22.11.73

Tuần lễ Sức Khoẻ tạm dừng để có được một khoảng thanh thản trước sinh nhật.

Mình đã ít nhiều cảm thấy lo ngại khi định mở đợt tấn công tiếp vào pháo đài E.

Công tác bê bối quá làm cho những kế hoạch của mình còi cọc, rời rạc.

Tháng tới sẽ càng hối hả hơn..

Hôm nay thư về cho Cha, anh Bình và Tồ.

Cũng bình thường.

Sáng nay Ghi, Lạp đi công tác.

Mình có ý định dành hẳn một trang viết về Lạp mà chưa viết được.

Pi lại tìm đến với mình.

Phát tự ái lên được..

-TL Tây

25.11.73

Tuần lễ "Việc Công" được chú trọng xếp ngay sau sinh nhật.

Có vẻ như trong thời gian thực hiện những đợt diễn tập luồn sâu và chờ đợi triển khai A74 vào tháng 12/1973, tôi không được khoẻ.

Thấy liên tục mấy lần "Tuần lễ sức khoẻ" và lo sức khoẻ ảnh hưởng đến đợt công tác địch hậu sắp tới.

Mà thực ra cũng chẳng nhớ mình đã làm những gì để hưởng ứng "Tuần lễ sức khỏe".

5.12

Lại tiếp tục tuần lễ "Sức Khoẻ".

-Trà Liên

10.12

Sức khoẻ ở mức báo động.

Hãy đừng để cho những lo lắng về sức khoẻ lọt ra ngoài.

T.Liên.

15.12

Bây giờ lại phải phân vân quyết định Tuần lễ Văn học hay Tuần lễ Thuỳ mị trước.

Hai cái đều cấp thiết và đều nảy ra trong một khoảng trống của bụi rậm.

Chấm đứt đợt gian khổ thứ nhất.

Tuần lễ Văn bắt đầu trước.

- Trà Liên.

29.12

...

Tuần lễ Văn học thu được nhiều thắng lợi.

Bây giờ dành mấy ngày ngắn ngủi này để thanh thản đón chào 1974. ...-T.Liên.

Sau này, khi đã trút áo lính, trở về đời thường, đôi khi tôi vẫn duy trì những "Tuần lễ vàng", như một thói quen từ thời còn là lính.

Nhưng cái ngưỡng "Tuần lễ" ngắn ngủn chỉ hợp với thời lính chiến, bom đạn, bỗng đi, bỗng ở, bỗng sống, bỗng chết, đâu có hợp với thời bình.

Bây giờ cái ngưỡng "tuần lễ" ấy được nới thành tháng, thành năm, thành dăm năm, có khi cả chục năm.

Tuổi tác tăng dần, sức trẻ giảm dần, những "Tuần lễ vàng" cũng thưa dần, đuội dần đi.

Rồi cũng không còn là vàng nữa mà thành bạc, thành đồng, thành gốm.

Kỳ ôn thi nước rút, mấy tháng chăng tơ hồng, năm sửa sang nhà cửa, mấy năm lo học vị, học hàm, vài năm kèm con lớn, đỡ con bé vào chuyên, dăm năm yoga.

Cũng lần đạt, lần không, lần thắng, lần thua, nham nhở.

19.

Chuyện tình cảm hay Khúc riêng tư thứ ba

Thanh thản khoác ba-lô lên vai, hăm hở tự hành quân từ bờ hồ Thuyền Quang, giữa thủ đô Hà Nội, vào đến tận chiến trường Quảng Trị, nơi ác liệt nhất, vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến, tự đặt ra những ràng buộc khắc kỷ, cứng nhắc để rèn mình từng tuần và khuôn mặt thì cố gân lên thành góc, thành cạnh như một "Ông cụ non", ...

Nhưng tất cả vẫn không thể giấu được nét yếu đuối của một đứa trẻ gốc nông thôn, mới lớn, mới xa mẹ như tôi.

Thầy tôi là nhà giáo cũ, một hương sư nghiêm khắc, vô thần nhưng mộ Đảng đến khó tin.

Ông tận tụy nâng niu bát hương của mấy đời tổng sư từ thượng nguồn gia phả, không cao sang, quyền quý, nhưng thanh liêm, trọng tự, vị tự.

Anh em tôi gọi Bố là Thầy, Mẹ là Mợ, nghe lạc lõng ở chốn quê, nhưng ngầm tự hào như một chứng chỉ gia phong.

Thầy tôi rồi các anh tôi truyền "quyển" cho tôi: "Nam nhi cốt ở Cầm-Kỳ-Thi-Họa".

Lương Thầy tôi được 56 đồng, nghỉ hưu từ năm Sáu Nhăm, còn 42 đồng, lĩnh theo quý thành 126 đồng.

Nhưng tôi và em gái không được "ăn" theo bố để có lương, có tem phiếu mà lại "ăn" theo mẹ, chật vật ky cóp, nhặt nhạnh công điểm nhà nông.

Vì thế Mợ thủ thỉ với tôi và em Tuyết: "Nghe Thầy, nghe các anh, nhưng cũng phải có Công Điểm nữa".

Tôi hiểu lời Mợ tôi như một khảo dị thời hợp tác xã của câu vè xưa "Nhất Sỹ, nhì Nông - Hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sỹ".

Mợ tôi thì ít chữ, cả đời như chỉ biết mỗi một chuyện cổ tích, kể đi kể lại cho anh em tôi mà chỉ vẻn vẹn 3 câu, nhưng nhớ đời:

"Ngày xửa, ngày xưa (không biết có phải thời bà ngoại tôi), hạt thóc to, vỏ trấu làm thuyền, người ngồi lên được, thóc chín tự đi từ đồng về nhà.

Con người không biết nâng niu, trân trọng nên thóc tủi rồi thóc giận.

Bây giờ Người phải nhọc nhằn một nắng hai sương mới có được những hạt thóc còm, chui lọt mắt sàng".

Tôi thích và tin chuyện này lắm.

Thì vẫn thấy trẻ con thả những vốc trấu li ti như kiến vàng trôi sông, như nuối tiếc những chiếc thuyền vỏ trấu to như con trâu của chuyện xưa đấy thôi.

Giận ai nỡ để chạnh lòng hạt thóc.

Rồi tôi cũng lướt đủ Cầm, Kỳ, Thi, Họa, nhưng chỉ gọi là, đến "hết mù chữ", nhưng chăn trâu, bắt cua, mót lúa, tát vét thì thực sự, ngay từ khi chỏm đầu mới vượt vai bừa, tát nước, cày bừa, nhổ mạ thì từ khi trên mặt chớm sùi trứng cá.

Chăn trâu 2 điểm rưỡi một ngày, nhổ mạ 10 bó 1 điểm, bừa đơn ăn gian thành bừa kép 9 điểm một lượt, một sào.

Cuối vụ dồn 10 điểm 1 công, mỗi công năm mất mùa được non một lạng thành hai cân thóc dở khô, dở ướt, thuận mưa vừa nắng có năm được những hơn 3 cân thóc mỗi công.

Cót thóc góc nhà, một chẳng thành hai, nhưng lúc giáp hạt đỡ cho Mợ tôi không phải điểm chỉ vào đơn vay thóc nghĩa thương của hợp tác xã.

Trái với kỳ vọng của Thầy tôi, tôi là đứa bé nghịch ngợm đến ngỗ ngược ngay từ tuổi còn quệt mũi xanh nhờn bóng loáng hai ống tay áo nâu.

Mợ tôi là chiếc gối bông gạo mềm mại, là dải lụa tơ tằm, vân vi, lắng dịu những phàn nàn, bực bội của Thầy tôi về tôi, che chắn, hứng chịu những bắt đền, mắng vốn của người làng về tôi.

Thầy Mợ tôi, mỗi người yêu con theo cách của mình.

Tình hình chẳng khác mấy ngay cả khi tôi đã đi học đại học.

Mợ tôi mừng ngang, mừng dọc chứ Thầy tôi vui vẻ, tự hào về tôi thì ít mà nghiêm nghị nhìn tôi, ái ngại thì nhiều.

Quân đội đã cho tôi cái nhìn khác về mọi chuyện, nhưng trước nhất là về người cha, người thầy quá nghiêm khắc của mình.

Tôi nhớ, tôi đã mong chờ bức thư đầu tiên của gia đình gửi cho tôi đến mức cồn cào.

Thời gian đầu cứ chuyển địa điểm và hòm thư liên tục, mãi hơn 1 tháng kể từ khi xa nhà tôi mới nhận được bức thư đầu tiên của thầy tôi.

Và tôi đã rạo rực, ngất ngây uống những dòng thư khô bỏng như nắng hè của Thầy tôi.

21.10

Thư đến với chúng bạn làm lòng mình đau nhói.

Nhói rồi lại âm ỉ. (Q.1-Tr.26)

27.10.71

Lúc cuối của ngày lẻ, cơn gió lành mang thư của gia đình đến với mình.

Cái xúc cảm ngất ngây ấy biết tả như thế nào.

Đây là lá thư đầu tiên nhận được kể từ khi mặc áo lính.

Vẫn nét chữ và lời thư nghiêm nghị, khắc khổ của cha già, vẫn những lời dặn dò quá công thức mà phút này quí giá quá.

Nơi gần gụi nhất, đầm ấm nhất, thắm thiết mà giản dị nhất vẫn là gia đình mình.

Buổi tối đi hành quân thật.

Mưa li ri ngoài trời.

Khắp những nơi đi qua thấy những đoàn lính khác cũng hành quân. (Q.1-Tr.42)

Tôi biết, trận lũ Bảy Mốt đã tàn phá mùa màng quê tôi ghê gớm.

Công điểm cuối vụ chắc sẽ thấp, giáp hạt Mợ tôi lại phải làm đơn xin vay thóc nghĩa thương của Hợp-tác-xã.

Thế nhưng trong thư Thầy tôi lại vụng về giấu tôi, chỉ thấy kể những tin vui, tin mừng, phấn khởi.

Hơn chục năm sau chiến tranh, khi tôi đang sống ở nước ngoài, và ngay cả bây giờ, khi chiến tranh đã rất xa, tôi vẫn giữ được nguyên vẹn một kỷ niệm vừa siêu thực, khó hiểu, lại vừa giản dị, đời thường về Thầy tôi.

Kỷ niệm hư hư, thực thực nhưng rất đẹp ấy là bắt nguồn chỉ từ một dòng thư tôi nhận được khi còn đang ở Quảng Trị.

Biliaevo, 1986

Có biết bao chiều mưa khó quên.

Nhưng không rõ vì sao, cứ gặp cơn mưa hè, buổi chiều, là trong đầu mình hiện rõ mồn một cái chiều hè mưa và nắng ấy.

Không bao giờ lẫn sang một khoảng không, thời gian khác.

Chiều ấy đã lâu rồi.

Hương Canh đang mùa gặt.

Mẹ mình vắng nhà.

Cơn mưa ập đến nhanh.

Cha ở nhà.

Người đã già lắm rồi.

Người lập cập thu rơm ở sân lại trước khi ào mưa xuống.

Trước mắt mình hiện rất rõ, rõ cả màu, cả mùi, cả âm thanh.

Một kỷ niệm kỳ lạ.

Khi đó, mình đang là lính, ở xa nhà.

Và tất cả chỉ là tuởng tượng từ mấy dòng thư ngắn ngủi: "Rẽ qua thăm gia đình Tài, đúng lúc trời đổ mưa.

Chỉ gặp Bố Tài ở nhà, đang dọn rơm".

Đã bao năm mà không phai mờ.

Một hoàn cảnh chưa hề gặp mà không thể nào quên. (Q.6-Tr.18)

Đôi khi, tôi cứ ngớ ngẩn tự dằn vặt mình, nếu không làlính chắc gì tôi đã "yếu đuối" như vậy, nhất là với Thầy tôi.

Những năm máy bay Mỹ bắn phá ác liệt Miền Bắc, hồi đó gọi là "chiến tranh phá hoại", các cơ quan ở thành phố phải sơ tán về nông thôn.

Tôi nhớ, quê Bình Xuyên của tôi có 3 cơ quan trung ương sơ tán từ Hà Nội về: Bộ giao thông sơ tán về Bá Hiến, Tổng Cục Đường sắt về Nội Phật và một hay vài khoa nào đó của Bệnh viện Việt Đức về Bảo Đức.

Con cái cán bộ sơ tán theo cha mẹ, về ở chung nhà với chúng tôi, học chung trường, chung lớp với học sinh nông thôn chúng tôi.

Những năm tháng gian khổ, đùm bọc ấy thật đẹp.

Tôi có khá nhiều bạn thân là học sinh "sơ tán", năm lớp 7 là Hoàng Kim Nhị, nhà ở Đội Cấn, bây giờ chẳng biết ở đâu, còn năm lớp 8 là Hồ Kim, nhà ở Khâm Thiên và Trần Trọng Khuê, nhà ở Phan Huy Ích, Hà Nội.

Tình bạn của tôi và Khuê tương đối đặc biệt, trải dài suốt cả những năm chiến tranh.

Tôi quen Khuê hồi 7/1967, trong một đêm trăng, khi 2 đứa cùng dự kỳ thi tuyển vào lớp 8 chuyên toán Vĩnh Phúc.

Tôi không đỗ còn Khuê đỗ nhưng lại không theo học vì hoàn cảnh gia đình.

Năm sau 2 đứa lại tình cờ cùng học một lớp, lớp 8D, trường cấp III Bến Tre.

Cùng chơi thân trong một nhóm còn có Nguyễn Quý Đạt, nhà ở Trần Quốc Toản, cũng sơ tán lên quê tôi.

Từ trái: Nguyễn Quý Đạt, Trần Trọng Khuê và 6971 (1968)

Tôi thân với Khuê, ban đầu là do cả 2 cùng mê toán, nhưng sau thì chính là vì cảm phục Khuê.

Do hoàn cảnh, 5 anh em Khuê phải tự thu xếp cả sinh hoạt và học hành ở nơi sơ tán, xóm nhỏ Đê Hến nghèo xác xơ, heo hút.

Mới 15 tuổi, nhưng Khuê là anh cả nên vất vả hơn các em.

Hàng ngày Khuê phải mài đôi dép cao su cuốc bộ từ nơi sơ tán, xã Bá Hiến, qua Hữu Bằng, Nội Phật rồi Hương Canh, để đến trường ở Mộ Đạo, gần chục cây số đường trung du, đất đỏ đầu ruồi.

Một lần đi, lại một lần về, xa gấp ba phần đường của tôi.

Thay cha mẹ, lo cho bữa cơm, giấc ngủ và học hành của Bình, Vân, Tuyết, Yến, 4 đứa em thơ ở nơi heo hút núi rừng, vậy mà Khuê vẫn học giỏi, vẫn là tổ trưởng.

Hết lớp 8, Khuê và các em về Hà Nội, nhưng chúng tôi vẫn duy trì tình bạn khăng khít.

Khuê thường gửi báo Toán học tuổi trẻ lên quê cho tôi.

Cuối lớp 10 (3/1970), Khuê nhập ngũ, tôi trốn học, từ Vĩnh Phúc về Hà Nội tiễn Khuê.

Tôi và cô bạn gái cùng lớp của Khuê bịn rịn vẫy theo Khuê khi xe rời khu đội Ba Đình trên phố Lê Hồng Phong.

Chẳng biết bao giờ gặp lại.

"Tất cả mọi con đường đều hướng ra tiền phương".

Hơn một năm sau tôi cũng nhập ngũ.

Khi đã cùng là bộ đội, tôi càng hay nhớ tới Khuê, nhớ tới bạn bè thời thơ ấu.

18.11.1971

Đi gác đêm với Lê Minh.

Gác từ 2:30 đến 3:45.

Đêm êm ả của mùa đông nhắc mình một cái gì đã xa xăm lắm rồi.

Trong lòng gợn lên một thứ tình cảm gì khó tả.

Thứ tình cảm thường đến khi con người gặp một cái gì hao hao giống như một kỷ niệm.

Cái gì thế nhỉ?

Ồ, Khuê đến kìa.

Khuê không mặc quân phục mà Khuê mặc cái vỏ áo bông xanh bình dị.

Khuê đội mũ lá.

Khuê vừa ngủ, vừa cười.

Không phải.

Hai đứa vẫn thức đấy chứ.

Đúng rồi, 2 đứa ngồi trên xe bò gạo, ngồi ở ga Hương Canh, đợi trời sáng.

Sao lâu sáng thế nhỉ?

Lạnh quá.

Từ đây về Phúc Yên còn xa.

Lại sắp sửa một ngày học mới.

ơ kìa, Khuê đâu rồi?

Ai kia nhỉ?

à, cô gái ở Tân Phong bữa nào hát bài "Gởi về Quảng Trị".

Còn ai nữa đấy, còn ai ngồi ở cuối toa tàu.

Đúng Dũng rồi, ...

Tất cả, tất cả đều như hôm nay, đều như bây giờ, đều như thanh bình cả.

Một niềm vui sướng ngọt ngào, dịu dàng, êm đềm thường có khi người ta lần tưởng lại quá khứ.

Thế rồi tháng 4/1972, sau 2 năm không gặp nhau, hầu như không có tin của nhau, tôi lại tình cờ gặp Khuê ở Ba Vì, khi tôi từ Hoành Sơn ra học trinh sát binh địa ở tiểu đoàn 74, cục quân báo, còn Khuê đang là cán bộ khung của một đơn vị huấn luyện thuộc trung đoàn Thủ đô.

Hai đứa nhận ra nhau trong màu xanh áo lính, trên một đoạn đường đồi, khi 2 đoàn quân đi ngược chiều nhau.

Thật là ngạc nhiên, hiếm hoi, tình cờ và có cả sự run rủi, may mắn.

14.4.1972

Gặp Khuê!

Cái xác suất rất nhỏ ấy lại có thể xảy ra thật.

Khuê mến yêu, chúng ta đều là bộ đội cả rồi!

Đi chơi với Khuê một buổi sáng.

-Ba Vì.

Rồi cả 2 lại rong ruổi bước chân lính, qua bao sống chết và không hẹn mà gặp lại nhau ở Quảng Trị.

Tôi cứ nghĩ Khuê đi "B dài", đâu đó sâu trong bưng biền Nam Bộ.

Thế rồi bất ngờ, hơn một năm sau, hè Bảy Ba, tôi nhận được một tin nhắn rất ngộ: "Có phải Tài ở c20 là Tài Hương Canh không?

Nếu phải thì Khuê đang ở c4, d5, e95, f325".

Thật không?

Còn sống à?

Cùng sư đoàn à?

Lính e95 của Thành Cổ Hè Bảy Hai à?

Tôi vội vã thu xếp để xuống e95 ngay.

18.6.1973

Niềm vui đến không gõ cửa.

Đột ngột bằng một mẩu tin nhắn hờ hững.

Mừng vui tưởng đến đứt ruột.

Vẫn còn, vẫn còn một điểm tựa vững chãi ấy, tin cẩn ấy để ta tựa.

Mối duyên nợ của T với K là mối duyên nợ giữa T và cuộc đời, trong đó lớn lao hơn cả là cha mẹ, bạn bè, tình yêu nước và yêu khoa học.

Chúng ta viết chữ hoa đầu dòng từ cái đêm trăng say mê Toán đặc biệt.

Rồi vun vén, gầy dựng, đeo đuổi cho tới năm thứ 7 (1973) và dài nữa, mãi.

Nhớ K như nhớ năm tháng của đời T.

-Trà Liên.

23.6.1973:

Chu trời, Khuê!

Chiến tranh còn để cho lại cho T một khoảng đời để sống.

Khoảng đời ấy là Khuê.

Khuê vẫn còn!

Niềm vui đến ngọt ngào, thơm thảo.

Mộc mạc, say mê như thủa nào còn chập chững, mới mẻ.

Nghe Khuê kể lại xấp thời gian vừa qua đi mà thấy rùng rợn rồi lại sung sướng.

Sau những thăng trầm lớn trong đời tư mỗi đứa, chúng ta tìm được đến với nhau vẫn với cái đậm đà, nồng hậu như xưa.

Đến thung lũng vắng vẻ này, kê dép ngồi tránh nắng và gió Lào trong bụi gai phát vội vã (vì thèm nói chuyện ngay), ăn miếng cơm quá bữa, dẫn nhau lên đồi tranh cao, mắc võng ngoài trời, chung hai thân cây, chung cả vòm sao rộng rãi, xôn xao, hàn huyên tri kỷ tới tận phiên gác thứ 3, thứ 4 mới thiếp đi trong rạo rực.

Rửa mặt nơi con suối đục ngầu, phải khoát vội để lớp màng mở ra vội vã một khoảng nước dễ chịu hơn.

Rồi lại chia tay nhau khi một ngày mới bê bối việc cần phải làm lại đến.

Đứng nhìn nhau khi đã đi qua hẳn ngọn đồi thứ 3 mới lừng khừng quay về.

Vẫn thèm thuồng.

Còn bao nhiêu là tâm sự nữa.

Chiến tranh đã làm cho Khuê khác đi nhiều.

Có một lúc nào đấy hình ảnh trong câu chuyện của Nam Cao vụt đến rồi đi ngay, đi hẳn.

T lo lắng rất nhiều về K.

Nỗi lo lắng to lớn nhưng hơi mơ hồ và bất lực.

Cố gắng vậy, K nhé.

Chúng ta phải kiên nhẫn để tiến đến cái đích chung mà chúng ta vẫn ao ước ấy.

T có tội vì đã có một lúc nào đấy nao núng.

-Trên đường về.

Từ khi nào không rõ, chúng tôi thề ước dành cả cuộcđời cho khoa học.

Không phải là sâu xa, cao vọng, hướng đến những chân trờikhoa học rộng mở, mà cũng không cụ thể, rành rẽ, toán, lý hay hoá, kỹ sư hay bác học.

Chỉ mơhồ, theo khoa học đến cùng.

Có sao đâu, những điều thiêng liêng, cao cả thườnglà mơ hồ.

Và cả 2 đã đi qua những năm tháng chiến tranh và trở về chính mộtphần là nhờ cái nguồn sáng mơ hồ nhưng thiêng liêng ấy.

Trong cả 3 cuốn nhật ký thấy nhiều lần nhắc đến hai cái tên viết tắt CH và S.

Hai chị em ruột.

CH học trên tôi một cấp, hơn tôi 4-5 tuổi, khi còn ở nhà, không chấp tuổi, chơi thân nhau như bạn bè, chẳng giấu nhau chuyện gì.

Còn S học với tôi 2 năm ở phổ thông, chơi với nhau vì cùng yêu thích môn văn, năm lớp 7 cùng đi thi học sinh giỏi văn của huyện rồi của tỉnh.

Khi tôi đi xa, những lá thư của CH gửi cho tôi bao giờ cũng đầy ắp những lời dặn dò, coi như tôi còn bé bỏng lắm.

Hai chị em thường gửi cho tôi những tin tức về quê hương làng xóm, nhưng biết cách làm mềm đi những gai góc, xù xì, khó khổ, để rồi nhận lại từ tôi những câu chuyện lính nóng hổi đã được thi vị hoá.

14.11

Nhận được thư CH.

Chị lo cho mình, lo nhiều.

Chị căn dặn mình giữ sức khoẻ tốt.

"Tập, ngủ và nhớ chị".

Thế thôi ư?

Làm sao chiều chị đựoc khi kỷ niệm giữa em và Khuê mỗi sớm mỗi chiều nhắc nhở em.

Cha mẹ, người thân, bạn bè, đằm đậm trong tâm, nhưng tuổi đôi mươi, thế vẫn là thiêu thiếu.

Thiếu tình yêu lứa đôi.

Bạn bè cùng lứa cứ đùa: "Mày là thằng yêu sớm".

Tự khi nào mà sớm, mà muộn?

Cấp II, cấp III, đại học hay khi đã là lính?

Tình yêu, như con sóng, ngọn gió, đâu có bờ, có bậc, đâu có hứng được, đong được để biết đã có hay chưa, có từ lúc nào.

Liu diu, lăn tăn, ngộ nhận thành "mối tình đầu", nhưng trắc trở, gập ghềnh là chối bỏ, xem như vẫn phẳng lặng, thờ ơ, bạn bè thôi, đâu đã có gì.

Ngày xưa ấy, cũng đã đã có cuốn nhật ký giảng đường bìa đỏ viết dở gửi lại, em giữ cho anh, như một sợi tơ hờ, rồi cũng chia tay, khăn mùi xoa thêu, tiễn đưa, thư từ, quằn quại, hờn dỗi, nhưng để rồi cứ bồng bềnh, khi thực, khi ảo.

15.10.1971

Cả buổi trưa cần mẫn, cần mẫn làm mâm tre.

Buổi chiều ngồi câu cá.

Lại nhớ tới những người thân của mình.

Rồi mình tự hỏi mình: Mình có người yêu chưa nhỉ?

ờ!

Đã bao giờ nghĩ đến một câu trả lời dứt khoát đâu.

Nói là có rồi cũng được và nói là dang dở hay nói là "hai bàn tay trắng" cũng được.

Kì lạ thật!

Ngồi giở những vật kỷ niệm để nhớ.

-Xóm Mạc

Tôi mang theo trong ba-lô rong ruổi chinh chiến chút vương vấn, dùng dằng trong tâm tưởng về bé Lê, học sau tôi 2 lớp, ngày nào trốn mẹ tiễn tôi nhập ngũ.

Tôi vô cớ giận em mỗi lần thấy đồng đội nhận được thư bạn gái mà không nhận ra lỗi cả ở phía mình, lỗi là ở kẻ thứ 3: Chiến tranh, để rồi không ít lần tự mình làm khổ mình mỗi dịp sinh nhật em.

Bây giờ đã qua rồi, tít tắp mù khơi rồi, thành như người dưng nước lã rồi thì dễ nói, dễ nhận vào, dễ chối ra hơn.

Nhưng phán xét thì đừng.

Thật là vô duyên khi bây giờ phán đúng sai về tình yêu thiên thần của những ngày tháng ấy.

27.11.1972

...Tu là cõi phúc, tình là dây oan.

-Ái Tử.

10.2.1973

Mưa nhỏ, nghĩ vẩn vơ về một miền xa xăm nào đấy của dĩ vãng và thấy nao nao buồn.

Quyết định lấy ngày

16.2 sắp tới làm ngày kỷ niệm cái khoảng đời êm đềm kể từ lần cùng Tẩm đi thi học sinh giỏi toán về cho tới .... (khó mà diễn tả được).

Hãy cố vượt khỏi những định kiến của người đời, vượt khỏi sự tự ái ích kỷ.

16.2.1973

Tôi cứ luôn tâm niệm rằng Hãy quên Em đi, hãy quên hẳn cái tình yêu đầu đời ấy đi, mà chưa sao thực hiện được.

Em là kỷ niệm êm đềm của đời tôi .

"Ngày Hải Âu" - Quảng Trị.

14.4.1973

....

Treo hắn vào trước mắt chưa chắc lúc nào ta cũng nhìn thấy hắn, nhưng đã đính hắn vào tâm hồn rồi thì khó có lúc nào không có hắn ở trước mắt.

-Trà Liên Tây.

Tình yêu của người lính, của người yêu của lính, đâu phải chỉ "Chàng mơ chinh chiến, thiếp mơ bóng chàng".

Chiến tranh, bom đạn có cách yêu, cách ghét rất riêng.

Ai nỡ từ chối tình yêu của người lính trước lúc ra đi, dù chưa chắc có ngày họ trở về.

Ai nỡ đón nhận tình yêu của người ở lại khi chắc gì mình đã về.

Người đi, người ở đều cư sử tưởng như là nhân đạo, cao thượng, vị tha, nhưng thời gian lại nhìn điều đó như là một sự hoang phí xót xa, nhất là khi chiến tranh đã qua đi, qua đi vĩnh viễn, người đợi vẫn đợi mà người đi không bao giờ về nữa, hay ngược lại người ra đi đã trở về mà người ở nhà đã "nhỡ bước sang ngang".

Những năm sau chiến tranh, khi thì được nghe kể, khi được chứng kiến, kể cả chính mình là nhân chứng của nhiều câu chuyện éo le, thương tâm về những mối tình thời chiến, thường là những "Mối tình đầu".

Đâu phải cứ hết bom đạn, hết đợi chờ, gặp lại nhau là thành vợ, thành chồng cho thoả những ngày yêu xa cách, bom đạn.

Đâu phải ngày ấy ra đi, tránh ràng buộc nhau bởi một lời ước hẹn, để rồi khi về, "sáo đã qua sông", mà không day dứt, quằn quại những tháng năm vất vưởng, thậm chí đơn côi dằng dẵng cả phần đời còn lại.

Với người lính, tình ruột thịt, tình đồng đội, tìnhbạn, tình quân dân, tình yêu, vừa như quả đào tiên, quả nhân sâm, thiêng liêng,siêu thực, cao xa, nhưng cũng cụ thể, bình dị, đời thường, như tấm, như gạo,nuôi cho ta sống qua những tháng ngày ác liệt của chiến tranh và bom đạn.

20.

Hoài cổ hay Khúc kết

Tôi bắt đầu viết nhật ký từ đầu năm học lớp 9 (1968), kể từ sau khi có lớp học viết văn của Hội nhà văn, không biết có phải là một khoá nào đó của trường viết văn Nguyễn Du, tình cờ về "thực tế" một tháng ở "Hợp tác xã nông nghiệp cao cấp Tiên Hường", làng tôi.

Anh Hiển là một học viên lớp viết văn, người Tày, quê Cao Bằng, dáng người đậm, tóc xoăn tít, được phân ở với gia đình tôi, cuối xóm Giữa, giữa làng.

Quanh trong xóm có nhà văn Nguyễn Khắc Phê ở nhà bác Chuôm Đào, đang ngổn ngang "Đường qua làng Hà", tiểu thuyết về chiến tranh phá hoại, nhà thơ Vương Anh ở nhà bà Hảo Hạng, đang ngất ngây "Tình còn, tình chiêng", tập thơ về người Mường.

Thầy Nguyên Hồng là hiệu trưởng ở nhà bà Loan Tiệp, xóm Bầu, gần cây đa rễ rủ leo heo, học viên gọi là "Cây đa thầy Hồng", vừa vì gần nhà thầy, vừa vì liên tưởng hóm hỉnh chùm rễ đa với chòm râu lơ phơ của thầy Hồng.

Các thầy cô Nguyễn Kiên, Anh Thơ, ... khi đi, khi về, Hà Nội - Hương Canh.

Tôi bị anh nhà văn người Tày "bỏ bùa văn" khi nào không hay.

Tuổi "hồng vệ binh" ấy dễ "bắt lửa" thật.

Bắt đầu là tỷ tê ngấm những câu chuyện Cao Bằng, những giai thoại Tày Nùng huyền ảo của anh Hiển.

Cao Bằng là trên cao nhưng bằng phẳng (!), Thin Tốc, tiếng Tày là đá rơi, đọc thành Tĩnh Túc, ...

Rồi trốn học ngây người nấp sau cột đình Tiên để nghe ông Xuân Sanh bình thơ ông, trừu tượng như toán học, ngạc nhiên thấy ông Xuân Diệu đỏ mặt dị ứng với ngâm thơ, nhại giọng ngâm thơ của cô Tuyết rè rè trên đài tiếng nói Việt Nam, rón rén xem cụ Nguyễn Tuân thủng thẳng, ngất ngư bầu rượu trắng bên mình, nguyện cả đời không bao giờ uống rượu mùi, thứ rượu hồng hồng màu máu, và loi choi chạy trước đưa đường cho ông Nguyễn Đình Thi đi thăm nhà các học viên quanh trong mấy xóm Nội, xóm Bầu, xóm Giữa.

Chưa thấy đâu văn nổi như phao, nhưng đã thấy đấy toán chìm lằm lặm so với năm lớp 8.

Tôi viết những dòng nhật ký đầu tiên trong đời vào cuốn sổ mà trang đầu là 2 câu thơ lưu niệm của anh Hiển viết cho tôi khi lớp viết văn bế mạc: "Một tháng trôi qua đà mấy chốc/ Người cày Ba Xá, kẻ về Cao".

"Về Cao" là anh về Cao Bằng, quê anh, chắc thế.

Nhưng còn "Ba Xá" có phải là Tam Canh, tên xã tôi hồi đó, nơi sáng sáng tôi "cày" ở lớp, ở trường, chiều về lẽo đẽo dong trâu cày vỡ, cày ải trên đồng Mong, đồng Mả không?

Giá như bây giờ thì tôi chẳng ngượng ngùng, giấu dốt làm gì mà cứ hỏi thẳng anh: "Anh Hiển ơi, thế "Cày Ba Xá" nghĩa là thế nào, hả anh?"

Những dòng nhật ký đầu tiên chỉ thấy mây trời, hoa bướm, nắn nót, điệu vợi, đẹp vỏ mà rỗng ruột, có vẻ như chủ yếu để tập viết văn, đoạn đầu của giấc mơ và ảo tưởng mai sau thành những Nguyễn Tuân, Tô Hoài.

Sang trang nhật ký lính thấy khác hẳn, đã có xương xẩu, xù xì, đắn đo, sống chết, trang này, liệu còn có trang sau?

Trở về sau chiến tranh, nhật ký như gương soi.

Đứng tuổi, xế chiều, nhật ký như liệu pháp chống bệnh quên của người già (Alzheimer).

8/11/1973: ...

Đi miết.

Cố lắm mới nhích được tới giữa đôộng cát.

Vẫn miên man là cát.

Đôộng cát gợn lên vô vàn nếp nhăn ưu tư.

Đằng sau là những vệt chân nối dài về xa tít, ghi lại quãng đường mình vừa đi.

Vẫn nhìn rõ, vẫn đọc được tất cả.

Những bước sải dài hồ hởi của những phút hăm hở, sôi nổi; Những bước ngắn ngủn, lần chần của những phút đắn đo, do dự (định hướng đi); Những bước hằn sâu, thấm thía của những phút bước một, chầm chậm, vững chãi mà cực nhọc, những bước lờ mờ, nông cạn của những khi vội vã, dễ dàng, những bước quanh co, lắt léo của những khi gặp gai góc, lầy lội, những bước thẳng hướng, đơn giản của những khi dễ dãi, phẳng phiu...

Tất cả sinh động như một tấm gương lớn soi đời, chân chất, thực thà như nhật ký.

Giá như lúc nào ta cũng soi thấy ta, đọc thấy ta trong dĩ vãng thì chắc là bóng ta trong tương lai sẽ gọn gàng, sạch sẽ hơn.

-Ngày áp giải hàng binh ra Gio Cam, Gio Linh (Q.2-Tr.n)

Nói về nhật ký và hoài cổ, tôi nhớ và tâm đắc một kỷ niệm sau chiến tranh chừng chục năm, khi tôi mới ngoài 30 tuổi.

Một đêm đông mênh mông tuyết, tôi ngồi nhâm nhi ly trà với bác T, không nhớ tên thật của bác là Tuấn, Tiến hay Thành, làm bảo vệ ở sứ quán ta tại Liên Xô.

Cách nhau hơn 1 giáp tuổi, nhưng cả 2 đều đã từng là "Bộ đội Cụ Hồ".

Câu chuyện bồng bềnh, lúc lãng đãng thả về dĩ vãng, hoài cổ, với ông là chiến dịch Thu Đông, Biên giới, lính Lê-dương, súng trung liên Đui-Sết, máy bay Bà già, với tôi là Quảng Trị, Ái Tử, lính Thủy quân lục chiến, súng B40, máy bay B52, chung với cả 2 là đời lính chiến, lúc lại trệt vào bờ với những chuyện lao động Việt Nam ở "Mát", chuyện nồi hầm, bàn là, chuyện tem phiếu, con cái, có lúc lảng sang chuyện người, chuyện Gor-ba-chốp, chuyện Pe-re-strôi-ka.

"Ông T chừng 50 tuổi.

Ông không phải là trí thức xét về học vị, nghề nghiệp, cả đến dáng dấp, giao tiếp.

Mới nói chuyện với ông một lần.

Dễ chịu.

Hơi lúng túng.

Ông là bạn chiến đấu trong những năm Năm mươi cùng với ông Khoan.

Câu chuyện xoay quanh bài hồi ký của ông Trần Độ và những ký ức chiến tranh ở vùng trung du.

Cái áp đảo của ông trong câu chuyện không phải là kho kiến thức đồ sộ (có thể đặc, có thể rỗng), cũng không phải là duyên nói chuyện hay là tính chân thực.

Cái mà mình mê là Tình yêu đơn sơ của ông với dĩ vãng.

Trạng thái hoài cổ mà không sầu.

Ông T nói với mình: "Lúc đầu, tôi cứ lần chần.

Cuộc sống của mình cũng như cuộc sống bao người.

Điều mình thấy cũng có biết bao người khác thấy.

Nó lặp lại, chỉ khác đi đôi chút, theo cả không gian và thời gian.

Điều mà tôi nghĩ, tôi làm lúc tôi 30 tuổi là lạ lẫm đối với đứa con 7 tuổi của tôi lúc đó.

Nhưng khi nó 30 tuổi, đến lân nó cũng sẽ nghĩ như tôi.

Thế nhưng tôi đã nhầm.

Bây giờ, đã ngoài 50, tôi biết mình nhầm, nhầm lắm.

Không bao giờ gặp lại dĩ vãng.

Bây giờ, người với người đâu có như xưa.

Tôi cứ tiếc là mình đã lần chần.

Dù vậy, giờ vẫn không muộn.

Đã gần chục năm nay, tôi đều đặn viết hồi ký.

Viết cho ai?

Viết để cho con cái tôi chúng nó đọc trộm.

Đọc trộm của cha thì không có lỗi gì cả.

Tôi cũng chẳng hiểu có ích gì cho chúng nó không, hay là lại có hại.

Nhưng cứ nghĩ: chúng nó không biết ngày xưa, thời chúng tôi, người với người cư sử ra sao, có như ngày nay không, thì tôi muốn viết lắm". (Q.6-Tr.20).

Thời kỳ sau chiến tranh không xa, chừng chục năm, mọi người đều khổ, khổ lắm, khổ quá.

Tôi như người đạp xe lên dốc cao, không dám dừng chân đạp, không dám ngoái cổ nhìn lại sau lưng.

Chới với, dừng chắc đổ, chắc ngã, chắc quỵ mất.

Trong những cơn suy sụp tinh thần, có lúc tôi đã nản: Hãy để cho người chết khiêng người chết!

Và tôi gói ghém 3 cuốn nhật ký cùng với chiếc bàn cạo râu cụp xoè của thời kỳ bom đạn vào chiếc chăn dù thám báo Mỹ, cất mãi sâu trong góc tủ gỗ.

Lúc đói, chỉ cầu hạt thóc thật to, vỏ trấu làm thuyền, người ngồi lên được, thóc chín tự đi từ đồng về nhà, như trong chuyện cổ tích của Mợ tôi.

Đỡ đói, bớt khổ, khi mát mặt, đã có thể thanh thản để nghĩ rộng, nghĩ xa hơn bát cơm, manh áo thì trên tóc đã hoa lau, trên da mu bàn tay đã nhằng nhịt, nhăn nheo những dấu sao vân vi, đồi mồi.

"Ngũ thập tri thiên mệnh", đọc lại nhật ký, quái lạ, thấy cuộc sống những ngày chinh chiến ác liệt sao mà thanh thản, vô tư, thấy gian khổ, thử thách thời lính chiến thật sự là một ân huệ.

Ơn Xê Hai Mươi, chính nơi ngay ngày đầu tôi thấy mình như "Sa xuống hố, sâu thăm thẳm và tối mù mịt" ấy lại đã cho tôi nên phận, nên người.

Ơn Quảng Trị, nơi ngơi ngơi bom đạn lại đến nắng nóng, gió Lào và lũ lụt, đã cho tôi cái gốc để nghiền ngẫm sự sướng khổ trên đời.

Thôn Hoàng Năm, 30/4 – 30/6/2006.

Chuyện ghi thêm:

Với bộ binh, tiểu đội đúng là gia đình.

A8 ở đại đội trinh sát f325 những năm ấy đúng là một gia đình chứ không chỉ là ví von nữa.

Tôi như ông bố trẻ, Lạp như bà mẹ già.

Tôi ào ào, qua loa, thoang thoáng, bao quát, Lạp tất tả, săn se, lặn lội, bù trì.

Lũ "trẻ con" nhà tôi, đứa hiền thảo, đứa nghịch ngợm, thương lắm.

Người già nhất trong nhà 21 tuổi, đứa con nít nhất là 17.

Lính ta, ai ai cũng biết: Tiểu đội bộ binh được chia nhỏ thành các nhóm 3 người, gọi là tổ Tam Tam, có 1 tổ trưởng, còn lại là 2 tổ viên, không có tổ phó.

Tiểu đội đầy đủ, 12 lính, thì chia được thành 4 tổ Tam Tam.

Trong chiến đấu, ít khi tiểu đội đủ 12, do vậy tiểu đội có khi chỉ có 2-3 tổ Tam Tam, mà tổ có khi cũng không đủ Tam mà chỉ là Nhị.

Tôi cũng không rõ tại sao tên tổ lại có tới 2 chữ Tam?

Một nét đặc thù của cánh trinh sát chúng tôi là sự hình thành các nhóm trinh sát nhỏ để thực thi một nhiệm vụ nào đó.

Các nhóm này được lựa chọn trong phạm vi trung đội, nhưng thường là phạm vi đại đội.

Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể, chỉ huy đơn vị lựa chọn và chỉ định danh sách.

Vì thế trong một nhóm chỉ gồm vài người nhưng có khi không ai cùng tiểu đội, vì một tiểu đội không thể đủ hết các "chuyên môn, nghiệp vụ" để tự thành một nhóm công tác.

Thường thì các nhóm lớn bao giờ cũng phải có 1 anh thông tin trinh sát để liên lạc về hậu cứ, một anh binh địa để mò đường.

Tuy cùng tiểu đội nhưng cũng chỉ thi thoảng mới có dịp đi công tác cùng nhau.

Do vậy, nói chung lính trinh sát dễ chơi, kiểu nào cũng chơi, không kén bạn lắm.

Cũng chính vì thế, tổ Tam Tam của cánh trinh sát chúng tôi thường chỉ có ý nghĩa khi về hậu cứ, hoặc giai đoạn nào có vẻ bình bình một chút, còn bình thường, tiểu độ bị xé lẻ, tổ Tam Tam cũng bị xé lẻ, đi theo các nhóm.

Mùa hè Bảy Hai, tiểu đội tôi mất 3 người.

Kể từ đó, lúc thêm, lúc bớt, nhưng tiểu đội Tám của tôi chưa bao giờ vượt con số Tám, chỉ đủ hai tổ Tam Tam đầy, còn một tổ vơi.

Anh Độ, a trưởng, mất ở Như Lệ, tôi lên a trưởng thay anh, Lạp lên a phó thay tôi.

Cái cảm giác thay thế vị trí một ai đó, rồi đây còn lặp lại trong đời nhiều lần, nhưng cảm giác lên thay một người chỉ huy mới ngã xuống, sao mà chống chếnh, bơ vơ, còn hơn cả cảm giác người con trai cả còn non nớt mà phải miễn cưỡng thành "huynh thế phụ".

A trưởng, a phó thường cũng kiêm luôn tổ trưởng tổ TamTam.

Tổ của tôi chỉ có 2 người, tổ của Lạp có Ghi và Quế.

Sắp xếp anh em trong tiểu đội thành các tổ Tam tam là chuyện nội bộ, hình như do tiểu đội trưởng quyết.

Cũng chẳng theo nguyên tắc, quy định nào cả.

May thì mỗi tổ êm ấm, tiểu đội ấm êm.

Tôi chẳng nhớ việc chia tổ tam tam ở a8 của tôi hồi ấy có lịch sử như thế nào, nhưng bây giờ nghĩ lại thấy hình như tôi đã chọn phần nạc về mình, để xương cho Lạp.

Cứng đầu nhất trong a phải nói là Ghi.

Nó chẳng ra mặt chống ai nhưng cứ tưng tửng, tưng tửng mà chúa nghịch ngầm.

Ghét thì chẳng ghét nhưng cứ phải cầm chừng.

Đã thế nó lại biết rất nhiều chiêu oái oăm.

Nó chẳng cần mồi chài, lôi kéo gì mà thằng Quế cứ hề hề nghe theo nó.

Nó chống ai thì thằng Quế cũng chống, nó nghe ai thì thằng Quế cũng nghe.

Thông thường tổ trưởng tổ tam tam có nhỉnh nhỉnh hơn 2 người còn lại.

Khi cùng nhập ngũ một đợt thì nhỉnh hay không có khi dựa theo tuổi tác, có khi là tuổi đảng, tuổi đoàn, có khi là trình độ văn hóa.

Có tiểu đội trưởng chọn lính ngoan ngoan, dễ bảo làm tổ trưởng, có tiểu đội trưởng lại chọn đứa cứng đầu, có cá tính, để nó còn bảo được tổ viên của mình.

Xét về mặt nào thì Lạp cũng đều nhỉnh hơn 2 thằng kia, được chọn làm tổ trưởng là xứng đáng.

Thậm chí Lạp còn có thân hình mập mạp hơn hẳn.

Hồi ấy bọn tôi chỉ xân xiu 49-52 kí, nhưng Lạp cân vội cân vàng lúc nào cũng 59-60.

To béo thế, nhưng Lạp lại bị đau dạ dày hay bệnh gì đó về tiêu hóa, nên không được khỏe lắm.

Bệnh tiêu hóa cộng với 2 thằng tổ viên nghịch ngợm chống lại mình thì lấy đâu ra vui.

Tả như thế thì làm tổ trưởng của 2 đứa như Ghi và Quế khác gì cực hình.

Nhưng sự thực lại không hẳn như vậy.

Cũng khó hiểu.

Cắt cử, phân công gì cũng thấy thằng Ghi nó trề môi ra cãi, rồi thằng Quế vào hùa, thế mà rồi chẳng có việc nào qua tay nó mà không ổn, kể cả những việc nguy hiểm, chết như bỡn.

Nhớ hồi ở Trà Liên, có trưa tôi nằm trên võng, thấy thằng Ghi hì hụi, lục cục nghịch ngợm gì đó ngay đầu võng.

Làm gì đấy?

Châc, tăng gia tý.

Tôi nhỏm dậy xem nó định tăng gia cái gì.

Thấy nó đang lụi hụi đục phá quả đạn B40.

Làm gì đấy mày?

À để chiều ra hố bom cải thiện, em thấy cá nhiều lắm.

Nổ chết đấy.

Sợ gì, có kíp đâu mà nổ.

Thôi đi, nổ chết cả lũ đấy.

Thủ trưởng cứ yên tâm đi.

Rồi nó cứ tiếp tục xoẹt xoẹt, kịch kịch.

Tôi chẳng còn bụng dạ nào mà thiu thiu trên võng được nữa, nói căng thì lại sợ nó chê nhát chết, đành lấy tờ giấy lộn trong túi cóc ra, vò loạt xoạt, loạt xoạt rồi vờ đi ra gốc chuối xa xa cuối vườn, ngồi đợi đến lúc nó làm xong mới vào.

Hồi bé, tôi vốn bị xem là đứa trẻ nghịch ngợm.

Nghịch nổi hẳn hoi chứ không phải nghịch ngầm.

Làng quê trung du rộng rãi, phong phú, khoáng đạt, thời hợp tác xá lỏng lẻo, ăn vờ, làm vờ, học hành ở lớp thì bài vở mỏng mai, học ít, chơi nhiều...

Có quá nhiều cửa, nhiểu thời gian để nghịch ngợm.

Nhẹ thì quả táo, quả ổi, quả khế nhà láng giềng, hơn nữa thì rủ nhau tháo cống ao cá hợp tác xã, thiệt hại vô bờ, nghịch hư một chút thì đêm đêm tối trời đi dọa ma mấy cô giáo trẻ gốc Hà Nội.

Nhưng có lẽ nhớ nhất vẫn là trò tiêm bằng nọc kiến cống.

Bọn tôi bắt những con kiến cống mòng, đen nhánh, chạy loe xoe trên bờ đê.

Chọn những con kiến thợ, nhỏ nhưng chạy nhanh.

Ngắt đôi con kiến ở chỗ vòng 2 của chúng.

Phần đầu với mấy cặp chân và đôi râu ngoe nguẩy thì phóng thích, chỉ giữ lại phần từ eo trở xuống, được một vốc nhỏ nom như vốc gạo nếp cẩm.

Cứ chiều nào nghe vọng từ phía chợ Cánh tiếng loa phát thanh: "Hôm nay đội chiếu bóng lưu động số 187 chúng tôi về phục vụ bà con xã viên bộ phim chiến đấu phản gián của Liên Xô" là bọn tôi lại hăm hở đi bắt kiến.

Con đỉa bị cắt đôi, cắt ba, thậm chí băm vụn ra thì nó lại hóa thành 2, thành ba, thành cả một đàn đỉa mới chứ chúng không chết.

Con kiến cống bị cắt đôi thì phần đầu với bộ chân vẫn hua hua đôi râu sờ soạng phần eo còn chảy máu trắng rồi lê về tổ, và cũng sẽ hóa thân thành thức ăn cho đồng bọn, còn phần từ eo xuống, trong chứa nọc độc và một chiếc kim tiêm thì rất lạ, không ra sống, cũng không ra chết.

Cho cả vốc đít kiến nom như vốc gạo nếp cẩm ấy vào mồm ngậm vô tư, đừng sợ, nhưng nhai thì hơi béo béo, ngậy ngậy, giống như ăn nhộng sống, mùi hăng hắc.

Tối đến ở bãi xem phim, mọi người kê gạch, kê dép ngồi chen chúc, lộn xộn, chẳng ai nhường ai, chứ đâu có ghế ngay ngắn như trong rạp bây giờ.

Khu bọn trẻ đàn trâu chúng tôi ngồi, thi thoảng lại thấy ré lên như bị ong đốt, nhốn nháo một góc chợ.

Phụ nữ mặc quần phíp đen thì hay bị đốt ở mông, nam giới mặc quần kaki dày, ống loe thì lại hay bị đốt ở cổ, ngay sau gáy.

Nhói một phát, buốt âm ỉ.

Có gì đâu, nhẹ nhàng gí cái đít kiến vào sát vải hay sát da, bóp nhẹ một cái như là nhấn cò súng bắn tỉa, tức khắc đối tác giật nảy lên như bị trúng đạn Gruganov.

Đèn pin lia ngang dọc để tìm, không thấy kiến đâu, hay là muỗi, hay là ong?

Gãi như điên một lúc rồi thế nào cũng vỗi vỗi, phủi phủi và kiếm chỗ khác ngồi.

Tay nào gan lỳ thì đến phát thứ 2 cũng phải nhổ rễ.

Nếu một buổi chiếu phim không dùng hết số nọc kiến, có thể để dành cho lần sau, vài lần sau.

Thế nào trong 1 tháng cũng có ít nhất một lần chiếc xe bò chở cái máy chiếu phim, cái loa méo sẹo méo sọ với 2 chiếc cọc phông bằng tre lăn lọc cọc về chợ làng.

Thằng Ghi lớn lên ở vùng chiêm trũng, nó nghịch theo kiểu chiêm trũng.

Tôi chưa bao giờ ngồi so đo với nó xem ai đai đen, ai đai đỏ về đẳng cấp nghịch, nhưng nghe chuyện ong của nó thì xểu nước dãi.

Trước khi mặc áo lính, nó đã từng lăn lộn với ong.

Quê nó là đất nhãn, hoa nhãn.

Ong cần mẫn đi hút mật nhà khác mang về chai nhà nó, đáng hoàng chứ không trộm cắp gì.

Những chai mật ong nâu đậy nút lá chuối khô xếp thành dãy ở xó bếp.

Ong được huấn luyện bu trên mũi nó, dọn mụn trứng cá cho nó, vỗ cánh ri ri như nói chuyện tâm tình, vô tư, nhưng lại sẵn sàng cảm tử tấn công người nào chủ nó ghét.

Nó dạy ong như dạy chó, mà chó nhà nó có cắn ai thì còn phải đền, chứ ong nhà nó đốt ai mặt béo ú lên mà chẳng thể kết tội là ong nhà thằng Ghi.

Đấy là chuyện rất xưa của tôi và nó, chứ đến thời Quảng Trị thì ...

Lần đầu tiên tôi đi công tác cùng với Ghi ở Quảng Trị là vào khoảng ngay trước hiệp định Bảy Ba.

Lần ấy hai đứa có nhiệm vụ đi từ hậu cứ Cao Hy, dưới chân cao điểm 108, vào Ái Tử, không nhớ để làm gì, hình như đi lấy tin hay truyền tin gì đấy.

Quãng đường khoảng 4-5 cây số đường đồi.

Không biết cánh bộ binh hành quân đội hình đông người thì có phải đi đường nào vòng vèo, kín đáo không, chứ trinh sát đi lẻ thì cứ cắt đường ngắn nhất mà đi.

Phần lớn quãng đường đi đều trên đồi cao, quang đãng, chỉ có cây cỏ lúp xúp, không có cây cao, rừng rậm.

Bom và pháo thì không biết đâu mà lường nên cho qua.

Sợ nhất chỉ là mấy quả bom bi hay mìn sót lại dưới đất, vấp vào là toi.

Thằng Ghi thuộc dạng ít chuyện.

Chỉ đôi khi mới nghe nó thủ thỉ, còn thì mình nói nó nghe, thế thôi.

Trên đường đồi, lại là xứ bom đạn nữa nên hai đứa cũng chỉ lũi cũi đi, chẳng chuyện trò gì, nhanh đến nơi để còn chui xuống hầm, xong việc về hậu cứ cho nhanh.

Dù vậy, lúc thì nó rẽ trái, lúc thì nó rẽ phải, lúc thì thấy có bãi rau tàu bay hay rau má non mượt bên hố bom, giựt một bó, lúc thì ngắm nghía xem dưới hố bom này liệu có cá không, cho quả mỏ vịt có bõ không, lúc thì lại dò theo mấy con ong xem tổ nó quanh đâu đây, biết đâu lại được đõ mật.

Tôi cứ phải luôn mồm giục nó.

Đến đâu đó quãng sát bờ sông Lai Phước, bất thần có chiếc phản lực không biết từ hướng nào bay đến, rú rít ngay trên đầu chúng tôi rồi bổ xiên xuống dải rừng ven sông.

Cả hai đứa bị bất ngờ nên không kịp đối phó gì, mà đằng nào thì nó cũng qua đầu rồi nên đành đứng ngẩn ra xem.

Nhìn rõ chiếc phản lực phóng mỗi một quả tên lửa xuống cánh rừng ven sông, cách chỗ bọn tôi chừng 1 cây số, rồi ngóc đầu biến mất về phía Tây.

Chỉ nghe tiếng phịch mà không thấy tiếng nổ hay lửa khói gì.

Tôi bảo: "Chắc là tên lửa xịt hay bom nổ chậm".

Thằng Ghi tủm tỉm cười: "Cây nhiệt đới đấy bố ạ.

Để em xuống gấp cánh anten của nó lại, nhân thể kiếm mấy quả pin Mỹ.

Hay anh em mình xuống hò hét nghi binh cho nó bị mắc lừa, tưởng có căn cứ sư đoàn, gọi B52 rải thảm".

Tôi phải nghiêm mặt, lắc đầu nó mới thôi.

Đi trên đường cắt đồi được cái quang đãng và ngắn, lại được ngắm cảnh nữa, nhưng phải cái nắng.

Nắng Quảng Trị thì thôi rồi, mới giữa buổi mà đã rát rạt như giữa trưa.

Đến một ngã ba trơ trụi, nó vẫy tay chỉ cho tôi: Thủ trưởng xem này.

Bên lề đường là dấu vết một người lính ngụy đã chết, chắc là từ hồi đầu chiến dịch, xương cốt vung vãi đâu hết, chỉ còn lại lác đác vài mẩu vụn với bộ quần áo dằn di đã tã ra và chiếc xanhtuyalong với 1 bi đông nhựa.

Tôi đứng bần thần một chút rồi giục đi, nhưng nó còn giơ chiếc bi đông lên sát mặt tôi, lắc lắc và bảo: "Vẫn đầy, thủ trưởng bảo là rượu hay sirô nào?

Để mở ra xem nhé" Tôi thì lạnh cả người: Thôi đi đi mày, quỷ sứ!

Buổi chiều, xong việc, chúng tôi về sớm để đỡ phải đi đêm.

Trên đầu, có thằng OV-10 cứ rền rĩ như đi bừa, nghe dai dẳng khó chịu.

Vẫn biết bọn này có thiết bị quan sát rất tốt, nhưng có nhìn thấy 2 đứa đeo AK báng gấp và địa bàn 5 tác dụng, biết là lính trinh sát thì cũng chẳng bõ căn tọa độ gọi máy bay phản lực đến ném bom.

Vì thế OV-10 cứ lượn, bọn tôi cứ đi, việc ai nấy làm, chỉ khi nào đến lối rẽ về hậu cứ thì phải chú ý kẻo lộ.

Vẫn như lúc sáng đi, thằng Ghi nó cứ lượn phải, lượn trái rồi có lúc tôi chẳng còn nhìn thấy nó đâu.

Bất thần tôi nhìn thấy ở phía bên kia sườn đồi nơi vừa đi qua có đám khói cuộn lên.

Chiếc OV-10 rì rì từ phía Động Ông Do phát hiện ra, bay lại ngay, lượn lên lượn xuống.

Thôi chết rồi, thằng này lại trêu thằng OV-10 đây mà.

Đúng thật, tôi thấy xa xa, thằng Ghi đang vừa chạy vừa che tay lên trán, nhìn lên trời.

Chắc nó đang nhử thằng OV-10 bắn đạn khói chỉ điểm cho phản lực đến cắt bom.

Tôi cũng tò mò đứng ngắm trò nghi binh tinh quái của thằng Ghi.

Chiếc OV-10 lượn lên lượn xuống, nhưng chưa thấy nó bắn pháo khói như mọi lần.

Bất ngờ chiếc OV-10 lượn xuống rất thấp và chao cánh xả một loạt đại liên, rượt theo thằng Ghi, như để cảnh cáo rồi bỏ đi.

Hú vía, may mà không trúng.

Tôi vừa hồi hộp, lo lắng, vừa bực bội đợi thằng Ghi đến.

Nó chẳng tỏ vẻ hớt hải hay sợ sệt gì mà còn tưng tửng: "Định lừa con giời nhưng nó xỏ mình, suýt chết, văng mất cả túi rau".

Chứ còn gì nữa - Tôi gắt nó.

Đấy, tổ viên của Lạp thế đấy.

Nhiều người nghĩ đến ác liệt Quảng Trị là chỉ nghĩ đến "81 ngày đêm giữ thành cổ".

Thực ra, thời kỳ 81 ngày đêm là thời kỳ ác liệt trên toàn mặt trận, trong đó cổ thành là điểm nóng nhất, còn thời kỳ sau đó, nhìn tổng thể mặt trận đã bình yên hơn, nhưng tính từng điểm một thì vẫn có nơi rất ác liệt, căng thẳng, nhất là giai đoạn trước Hiệp định Bảy Ba.

Nhưng anh nào căng thẳng cứ căng thẳng, ác liệt cứ ác liệt, còn tuyến sau, không còn bom rải thảm, bom tọa độ với pháo tầm xa nữa, các thủ trưởng cho lính ta quay ra huấn luyện và tăng gia.

Một phần chuyện huấn luyện và diễn tập của lính trinh sát đã được bác TTNL mô tả sinh động qua "Chuyện làng Quất Xá".

Không biết sách dụng binh của Tôn Tử có dạy không chứ điều kỵ nhất trong quân đội là để lính nhàn rỗi, nhàn cư vi bất thiện.

Huấn luyện để nâng cao nghiệp vụ, còn tăng gia để cải thiện cuộc sống.

Ở quy mô tiểu đội, việc tăng gia thời ấy cụ thể là trồng rau muống.

Không phải giống rau muống nước thả bè hay rau muống cạn trồng bằng ngọn rau già mà là rau muống trồng bằng hạt.

Sau này thì giống rau muống trồng bằng hạt cũng trở nên phổ biến, hình như là rau gốc Trung Quốc.

Rau đễ trồng, lớn nhanh, nhưng ăn không ngon, hình như bây giờ không ai trồng nữa.

Phần lớn ruộng vườn Trà Liên bỏ hoang, tha hồ trồng.

Dân làng Trà lác mắt phục mấy chú bộ đội trồng rau muống, tài quá hí.

Lúc chiến đấu thì lính gốc đường phố hay gốc đồng chiêm chẳng khác nhau mấy, nhưng khi bình bình, tổ chức tăng gia thì rõ ngô rõ khoai.

Hồi ấy đại đội trinh sát sư đoàn (Xê 20) đóng quân ở làng Trà Liên Tây.

Sinh hoạt không ra thời bình, không ra thời chiến.

Nấu ăn quy về một bếp đại đội, nhưng các tiểu đội cử người lên nhận cơm về chứ không ăn tập trung cả đại đội.

Chẳng biết các tiểu đội khác thế nào, chứ a8 của tôi rất hay có thêm món "cải thiện" thêm vào.

Dễ cải thiện nhất là khi cắt rau muống nộp lên đại đội, trích lại phần ngọn non để luộc, phần thân rau già đem "đóng thuế nông".

Rau nộp tính theo cân, ai cũng cố để đến gần ra hoa mới cắt, đã thế lại bớt ngọn non lại thì phần nộp lấy đâu ra ngon.

Thế rồi một hôm thằng Ghi đề xuất: Không nên tập trung cả tiểu đội vào rau muống, mà phải tìm thêm hướng tăng gia khác để cải thiện.

Tôi thấy ý cũng hay nhưng chẳng nghĩ ra được hướng gì.

Tổ trưởng Lâm chỉ biết mỗi vẽ ký họa, cũng không hiến được kế gì.

Tuấn Anh dò trước: Nuôi ong á?

Còn tổ trưởng Lạp thì bảo: Nó lại nghĩ ra được cái gì rồi đấy mà.

Thì hãy biết thế.

Mấy hôm sau, thấy Ghi bảo tôi cử người theo nó có việc hệ trọng, cho mục đích cải thiện.

Cũng thấy gợn gợn, nhưng biết tính nó, có hỏi nó cũng chẳng nói, có ngăn nó cũng chẳng đừng, chỉ còn biết dặn đừng làm gì bậy bạ, kiểu như cưa đạn B40 để đánh cá.

Nó bảo" Thủ trưởng yên tâm".

Ba đứa chúng nó đi từ sẩm tối, tay không, mà mãi không thấy đứa nào về.

Rất khuya, mới thấy 3 đứa về, chuyện râm ran từ đầu ngõ.

Hai đứa khiêng gì khệ nệ, quảng uỵch xuống góc hè, tưởng săn được con hoẵng hay con nai con, nhưng hóa ra 2 đứa khiêng một bộ lưới quét, toàn dây dợ với phao, chì, ..., còn thằng Ghi thũng thẵng một túi bao cát Mỹ trong đó mở ra có đến hơn ký tôm tươi.

Mắt những con tôm càng biếc tím dưới ánh đèn pin, càng đạp phành phạch.

Người ngợm đứa nào đứa nấy còn ướt sũng nhưng mặt tươi rói rói như tôm.

Tôi và mấy đứa ở nhà tròn cả mắt ra nhìn.

Thì ra mấy hôm trước thằng Ghi nó tăm thấy một chiếc lưới quét phủ trên nóc hầm chữ A ở kề bếp một ngôi nhà vô chủ mãi xóm ngoài sát sông, phía Đại Áng.

Chắc chủ nhà trước kia sống bằng nghề chài lưới khi dòng Thạch Hãn còn thanh bình, yên ả.

Bây giờ chắc họ chạy vô Nam hay ra Bắc rồi, bỏ lại nghề chài và ngôi nhà hoang leo heo, lụm dụm.

Nghề chài lưới có mấy ai giàu.

Mà giá như tôi hay ai khác nhìn thấy cái đống lưới tưởng như mục nát vô dụng ấy chưa chắc đã liên tưởng được đến những con tôm càng tuơi tươi roi rói kia.

Cừ thật, thằng giặc Ghi ấy cứ như con ma xó, được việc.

Hôm đầu huy động 3 đứa chỉ định đi khiêng lưới về, nhưng Ghi nóng ruột muốn trình làng luôn.

Chắc chủ lưới ngày xưa phải có con thuyền nan nữa vì sông nước Thạch Hãn quãng Trà Liên Tây cũng khá mêng mang.

Nhưng thằng Ghi đã tính rồi.

Một là không có thuyền, sao mà tính chuyện quét Thạch Hãn được.

Ấy là chưa kể quãng ấy cách thành không xa, bom đạn, thủy lôi, ... biết được có những gì ở dưới đáy sông mà đùa.

Hai là phía sông gần đại đội, lại ong ve, rách việc.

Nó đã ngắm sẵn quãng sông cạn khuất nẻo phía sau làng, lại gần với khu ở của a8, dân Trà Liên gọi là Hói Bái.

Quãng nửa ruộng, nửa sông này sâu chỉ đến thắt lưng.

Ngày ấy, hai bên bờ Hói Bái đều bỏ hoang.

Phía bờ hướng đông, mãi xa mới lèo tèo mấy nhà xóm ngoài, còn bờ bên kia là ruộng bỏ hoang kéo dài tít tắp lên tận cầu Lai Phước.

Tôi chỉ biết thằng Ghi thạo về ong, chứ đâu có biết nó lại cả thạo cá và sát cá nữa.

Cái lưới quét dài chừng 20m, nặng khoảng 40-50 kí.

Ở quê tôi, cũng có lưới quét, nhưng là kiểu khác hẳn.

Lưới quê tôi có lớp phao ở phía trên, còn ở mép phía dưới kẹp chì và có một dãy túi nhỏ, mỗi túi dài rộng chừng 1 gang tay để hứng cá, tôm.

Sông Cánh quê tôi hin hin, hai người kéo lưới đi hai bên bờ sông.

Thế mới gọi là lưới quét chứ.

Lưới ở Trà liên cũng có phao ở mép trên, mép dưới cũng kẹp chì nhưng không có hàng túi nhỏ mà kết thuôn dần thành một cái túi lớn, nom như một chiếc vợt khổng lồ.

Hai người cầm 2 đầu lưới, một người cầm phần cuối cái túi.

Những ngày đầu, chẳng cần quét hết chiều rộng Hói mà chỉ cần quét nửa chiều rộng Hói rồi tấp vào bờ là đã xủng xiểng túi, chủ yếu là tôm, hãn hữu có cả cá và ếch.

Kể từ hôm có lưới quét, bữa ăn tiểu đội tươi gấp bội.

Bữa cơm vui đùa rôm rả.

Tôi phải kìm chứ mấy đứa cứ tối đến là ngong ngóng đi lưới tôm.

Những hôm phải sinh hoạt trung đội, đại đội, đứa nào cũng năn nỉ, cho em ở nhà đi lưới.

Tệ thật, chúng nó thích đi lưới hơn đi sinh hoạt chính trị.

Nếu không lẩn được 2-3 đứa ở nhà đi lưới thì tan họp về, dù đã 9-10 giờ, mấy đứa vẫn xin đi.

Vừa có tôm ăn, lại vừa nghịch nước, tắm mát, chẳng cần cắt cử, đứa nào cũng háo hức, tỵ nạnh xin đi lưới.

Mọi chuyện tưởng cứ xuôi chèo mát mái thế cho đến một hôm.

...

Thường thì sau khi khai thác thông tin, đại đội bố trí anh em giải hàng binh lên trạm tiếp nhận của mặt trận.

Lần ấy, hàng binh không phải là lính quèn mà là một sỹ quan cấp đại đội, nên tôi phải trực tiếp giải lên mặt trận.

Tôi chọn Ghi đi cùng.

Chúng tôi xuất phát từ Trà Liên rất sớm.

Lúc đầu tuân thủ đúng quy tắc giải hàng binh: tôi đi trước, hàng binh đi giữa, Ghi lăm lăm AK đi sau cùng, dong nhau đi trên quốc lộ 1, như đi quay phim.

Nắng lên, thấm mệt.

Qua khỏi cầu Ái Tử, quãng có chiếc xe M113 cháy dụi nằm giữa đường thì mưa ập xuống, càng mệt hơn.

Thôi chuyển đi ngang hàng, che chung áo mưa, chuyện trò cho đỡ căng thẳng.

Cậu hàng binh vác bao gạo và 3 bi-đông nước, Ghi quàng súng qua vai, treo lên lưng cho đỡ mỏi tay.

Qua Đông Hà, cả 3 rẽ vào chợ, vừa chơi chợ, vừa ăn trưa.

Cũng chẳng ai nhận ra trong 3 chúng tôi có một người là lính nguỵ sang hàng ta.

Đến nơi đã sâm sẩm tối, Trạm tiếp nhận hàng binh vừa mới chuyển khỏi Gio Cam lên Cam Lộ từ 2 ngày trước.

Tôi quyết định đi tìm chỗ nghỉ tạm qua đêm, hôm sau đi tiếp về Cam Lộ.

Thận trọng, tôi tìm đến trưởng thôn, liên hệ nhờ hỗ trợ.

Ông chỉ hứa tạo thuận lợi chỗ ngủ, ngay tại nhà ông, còn chuyện trông coi hàng binh trong đêm thì ông lắc đầu, mấy chú tự lo.

Lụi hụi cơm nước.

Tối ngủ, Ghi và tôi, võng 2 đứa 2 bên, kẹp võng hàng binh ở giữa, súng nằm cùng võng với tôi.

Ngủ nhưng phải canh chừng động tĩnh, từng mắt lân nhau nghủ thôi, đừng ngủ liền cả 2 mắt.

Cả ngày đi, dính nắng, dính mưa, thấm mệt, đặt lưng xuống đã nghe cậu hàng binh và Ghi ngáy đều đều, tôi thì cứ xoay mình trong võng, vừa lạnh, vừa lo, lo cứu cuốn nhật ký cả ngày bị dầm mưa ướt nhoè nhoẹt, lo thức coi hàng binh.

8.11

Cố gắng gìn giữ mãi mà không đặng.

Khôn ba năm dại một giờ.

Chỉ một giờ chót dại mà cuốn sổ bị ướt đầm.

Ân hận.

Đưa hàng binh sang tới trạm.

Một ngày mưa ác liệt.

Cặm cụi đi trong gió và mưa.

Đêm dừng lại ngủ ở một xóm nhỏ thuộc Gio Linh.

Một đêm ngủ chưa từng chịu.

Hầu như không ngủ được.

Lạnh.

Lo lắng.

Mông lung trong những ý nghĩ thiên về lãng mạn.

Sáng ra lại đi.

Mỏi mệt quá.

Hao hao giống cảnh phim nào mình đã xem.

Có thể là "Hai người lính", cũng có thể là "Người thứ 41" và những sự co kéo qua lại giữa nhân tính và giai cấp tính.

Sau sự cố đáng tiếc làm nhòe nhoẹt cuốn Nhật Ký (Q2) rồi qua cái đêm giống như trong phim "Hai người lính" rất khó quên ấy, tôi và Ghi còn phải lòng vòng giải hàng binh lên trại tiếp nhận hàng binh mới mãi tận gần Cùa.

Khi về, hai đứa còn liệng qua Đông Hà, ăn vụng bát phở rồi lê về đến Trà Liên khi trời đã sâm sẩm tối.

Hình như đã có điều gì đó khác thường xẩy ra khi tôi đi vắng.

Tôi chưa kịp nhận ra là điều gì thì đã nghe thằng Ghi quát tháo mấy đứa ở nhà: Ở đâu, ở đâu hả mấy con giời?

Cái gì thế?

Cái gì ở đâu?

Chưa rõ ngô khoai gì đã thấy thằng Ghi lôi xình xịch thằng Loan ra ngoài ngõ, chạy khuất về phía Hói Bái.

Thì ra tối hôm trước, khi chúng tôi rét run ở Gio Cam thì ở nhà trời cũng mưa.

Không hiểu sao chính những hôm mưa là những hôm tôm cá đi ăn nhiều.

Cứ hôm nào trời mưa là y như hôm ấy thế nào cũng nặng túi, cả tôm cả cá.

Vắng tôi và Ghi, nhưng mấy đứa ở nhà vẫn cắt cử nhau đi lưới tôm.

Mẻ lưới hôm ấy cũng căng phồng.

Khi tấp lưới vào bờ, thằng Chỉ hí hửng, le te vác rổ lại cho thằng Loan lộn túi thì bất ngờ thấy thằng Loan hất bung cả cái túi lưới căng phồng sang bên và chạy thốc lên bờ, cứ như là trong túi lưới có rắn độc hay lựu đạn, bom bi.

Theo phản xạ, thằng Chỉ cũng quăng cả rổ chạy theo, còn mỗi thằng Quế tần ngần, ngơ ngác đi giật lùi lên bờ, giẫm cả lên lưới: Cái gì, cái gì đấy?

Thằng Loan đã chạy tít xa.

Chỉ nghe nó kêu hớt hải: Xương người! xương người, chạy thôi, cầm hộ tao quần áo với.

Và nó chạy thật, chạy hẳn về nhà, bỏ cả lưới, bỏ cả đồng đội.

Hai thằng Chỉ và Quế thấy thế cũng dớn dác bỏ về.

Nghe thủng chuyện, tôi bắt thằng Quế dẫn tôi đuổi theo thằng Ghi và Loan ra nơi đã xẩy ra câu chuyện quét được Xương người tối hôm trước.

Chỉ và tôi chạy tắt theo theo lối qua vườn nhà chị Thiết ra phía sau làng Trà.

Chỉ bảo tôi: Thủ trưởng ơi, hai thằng dễ đấm nhau lắm.

Thấy thế, tôi giục Chỉ chạy nhanh.

Ra khỏi vìa làng, chúng tôi đã nhận ra phía xa xa, trên phông trời đang ngả màu gio bếp loáng thoáng 2 cái đầu nhấp nhô, nhấp nhổm.

Tôi cứ hét áng chừng lên để đánh tiếng cho 2 đứa nhận ra tiếng tôi: "Này, nà...ày ày, hai đứa, hai đứa..."

Chạy đến được chỗ 2 đứa Ghi và Loan đang đứng thì sự thể may mới chỉ đến đoạn quát nhau chứ chưa đến đoạn đấm.

Thằng Ghi bắt thằng Loan khẳng định chuyện đêm trước đúng là xẩy ra quãng bờ này, còn thằng Loan thì vừa ầm ừ, vừa loay hoay tìm xem có còn thấy chiếc quần Tô Châu rách tối hôm trước bỏ lại trên bờ không.

Trên thực địa không còn gì, không thấy quần Tô Châu mà cũng không thấy lưới vét với cả xương người đâu.

Thằng Ghi lại quát nhặng: Có đúng chỗ này không hả con giời, Loan?

Bốn đứa chúng tôi soi đèn pin dò như dò mìn, nhưng đúng là không thấy dấu vết gì.

Chúng tôi quyết định ra về trong thất vọng thì bỗng thấy thằng Chỉ reo lên: Mang đèn soi lại đây, có cái chi này.

Chúng tôi mừng rỡ quay lại.

Nó chỉ xuống chỗ bờ đất còn lõng bõng nước vừa thải từ người nó ra.

Láo lếu.

Nhưng đúng là trên bờ đất bùn có một đống vừa vụn cây gỗ mục, vừa cỏ rác linh tinh, cùng với một đôi giày cao cổ, kiểu của lính ngụy.

Nom cũng có vẻ như là những thứ thường thu được trong túi lưới cùng với tôm cá.

Chúng tôi đoán, chắc ai đó đã đổ những thứ này từ túi lưới ra để lấy lưới.

Thế còn bộ xương?

Nếu tử tế thì họ đem chôn rồi, không thì lại quẳng xuống hói.

Thủy táng cũng là một nghi lễ linh thiêng.

Bàn luận mãi rồi cũng chẳng đi đến đâu, còn cái chính là chiếc lưới vét thì vô vọng rồi.

Thằng Loan cứ tần ngần cầm chiếc giày ngụy trên tay cứ như đấy là phần còn lại của chiếc quần Tô Châu rách mà nó đã mất.

Thằng Ghi tỉa: "Xương người đấy à, hả con giời?".

Tôi quyết định dừng cuộc truy tìm.

Cả bọn ỉu xìu đi về phía những bờ tre làng Trà.

Đã tưởng thế là hết thời lưới tôm, nào ngờ thằng Ghi nó vẫn không chịu khuất phục, nó vẫn ngấm ngầm trinh sát.

Cuối cùng thì nó cũng tìm ra.

Tìm ra cả lưới, cả chiếc quần rách và chiếc rổ nhựa sâu lòng vẫn thường dùng đựng tôm.

Một người dân xóm dưới khi thả trâu ven hói nhìn thấy những thứ trên, lại nghĩ rằng ai đó kéo lưới bị chết đuối hay tai nạn gì đó.

Người này lội mò quanh một quãng không thấy gì, bèn thu nhặt các thứ mang về nhà.

Anh còn dự định mang chiếc quần rách lên nộp đơn vị Hai mươi.

Hỏi anh đã xử lý bộ xương trong túi lưới ra sao.

Anh bảo: "Có chi mô!

Thấy chắc cái lưới với đôi giày lủng thôi".

Mọi thứ anh trao cả lại, chỉ có tôm thì nấu mất rồi, nhưng chưa ăn hết.

Lấy lại được lưới, cũng mừng, nhưng mất mát lớn nhất với tiểu đội tôi là kể từ đó chuyện chiếc lưới tôm của a8 bị lộ ra trung đội, rồi đại đội và cuối cùng còn lên cả bàn Hai trên sư bộ.

Chiếc lưới tôm bỗng thành của chung, các đơn vị đăng ký sử dụng lưới sao cho hiệu quả.

Kín bảy ngày trong tuần.

A8 cũng phải xếp hàng.

Thằng Ghi cú chuyện này lắm, nhất là những lần bắn Hai nhắn mạng lưới lên cho bạn mượn, nó cứ tưng tửng: "Thôi bảo con giời Loan gánh lưới lên Bàn.

Thế này thà mình kéo rồi mang tôm lên nộp cho bạn còn nhẹ hơn".

Thằng Ghi dỡn thằng Loan thế thôi, chứ những đứa xốc vác và hay việc như nó thường ít khi để bụng lâu cái gì.

Thù vặt, thù lâu thường chỉ là mấy tay nói nhiều, làm ít.

Mà xét cho đến cùng, lỗi để chiếc lưới quét, nguồn sinh sống bí mật của A8, bị "quốc hữu hoá" cũng không hẳn là do nó.

Nhập nhoạng đêm hôm ngoài cánh đồng hoang ở cái xứ ma nhiều hơn người thủa ấy thì rờ phải đôi giày TQLC trong túi lưới quét, thần hồn nát thần tính, tưởng là xương người, bỏ cả quần để chạy, cũng là điều dễ tha thứ, nhất là khi mới ở tuổi 17-18.

Dù sao thì chiếc lưới quét ở làng Trà hồi Bảy Ba cũng đã để lại những kỷ niệm đáng nhớ về những đêm lọ mọ, bì bõm, lấm lem ven hói Bái và những bữa cơm chiều rủng rỉnh với những đĩa tôm rang đỏ au, rôm rả chuyện sống chết.

Rồi chiến tranh không để cho chúng tôi kéo dài những tháng ngày êm đềm ở Làng Trà bên dòng Thạch Hãn.

Đại đội theo binh đoàn dịch dần vào Thừa Thiên, Tây Huế, rồi tuốt tuột vào Nha Trang, Bà Rịa, Sài Gòn, không thể tha theo chiếc lưới vét nặng mấy chục ký, lùng nhùng những phao, chì, dây dợ.

Tạm biệt Trà Liên Tây, vĩnh biệt lưới quét.

Câu chuyện chiếc lưới tôm thủa ấy đã theo tôi suốt mấy chục năm qua với một trăn trở đời thường: Làm sao để những người dưng nước lã lại có thể chụm lại sống như một gia đình?

Mỗi gia đình cũng có vui, có buồn, có cười, có khóc, có hay có dở, ... nhưng họ là những người ruột thịt và cư sử với nhau theo tình ruột thịt.

Tiểu đội tôi hồi ấy là như thế.

Và rồi trượt theo cuộc đời, tôi cũng còn nhiều lần đóng vai trò "tiểu đội trưởng", thậm chí đến cả bây giờ.

Quản một lớp sinh viên đại học, một đơn vị nghiên cứu sinh ở nước ngoài, một tổ chuyên môn, một phòng thí nghiệm, nho nhỏ như gia đình.

Và luôn ao ước được coi nhau thật sự như trong một gia đình.

Nhưng chẳng bao giờ còn đạt được trừ A8 thủa ấy.

Do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt và thiếu thốn đã xích ta lại gần nhau, che chở, đùm bọc nhau, do tuổi thơ vô tư, chưa có gia đình với bộn bề lo toan ích kỷ, hay do cái gì khác mà thời ấy như vậy mà sau này thì khó thế.

Món tôm hói Bái làm tôi nhớ lại một món đặc sản khác.

Hồi ấy là đầu năm Bảy Hai, khi chúng tôi mới thần tốc hành quân từ Bắc Giang vào Hà Tĩnh.

Đơn vị đóng quân ở một vùng toàn những địa danh bắt đầu bằng chữ Kỳ: Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Lâm, Kỳ Lạc, ...

Kỳ thật!

Nghe tên thôi đã thấy một vùng rừng núi âm sâm buồn, heo hút nghèo.

Đơn vị mua được một con trâu gầy, không nhớ dịp gì, tổ chức giết thịt.

Đại đội yêu cầu mỗi tiểu đội cử một chiến sỹ tháo vát, khoẻ mạnh lên giúp anh nuôi thịt trâu.

Bếp đại đội, nơi sẽ thịt trâu, nằm bên bờ con suối nước chảy xiết, không biết có phải tên là Kỳ Suối không?

Khi đã cắt cử xong, tôi cứ thấy mấy đứa trong tiểu đội thì thầm, bàn bạc rồi đứa này xin rút, đứa khác xung phong đi thay.

Vẫn biết ưu tiên cắt cử ai thì người đó thế nào cũng được thì thụt miếng tiết hay mẩu gân trâu luộc, tôi nghĩ vậy.

Chiều đi tập về, tôi thấy mấy đứa trong tiểu đội nói cười rôm rả dưới bếp nhà chủ.

Thì ra ngoài phần được đại đội chia, chúng nó còn "du kích" được mấy đoạn lòng trâu và cả một mảng da trâu to gần bằng cái mặt bàn.

Quái lạ, làm sao mà chúng nó qua mắt được "Thắng quản lý", tinh như cú ấy, để "du kích" được nhiều thực phẩm thế?

Tôi vặn hỏi đứa nào đầu têu, mấy đứa đùn đẩy nhau rồi cũng đến khai thật: Hóa ra chúng nó đã hợp đồng nhau, khi làm lòng trâu, cứ lặng lẽ thả cả lòng, cả da theo suối, phía dưới hạ lưu đã có đứa đón, theo cách bộ đội ta chuyển gạo trên Trường Sơn.

Mà có phải mình A8 nghĩ ra mưu ấy đâu.

Mấy đứa được phân công đón lòng trâu cùng gặp nhau ở một quãng bờ suối phía dưới bếp đại đội không xa.

Nhưng như thế thì làm sao biết được cái "bè lòng trâu" đang trôi đến kia là do ai thả.

Cuối cùng mấy đứa đành thống nhất nhau: đón được bao nhiêu, gộp lại, chia đều.

Thế thì có khác gì chia nhau công khai ở đại đội, cần gì phải "du kích"!

Lần ấy được bữa lòng và sách trâu luộc túy lúy dù không có rượu.

Thấy cá suối bu lấy những miếng lòng trâu trôi trên suối để rỉa, mấy đứa còn về nhà lấy tăng nilong ra hớt được khá nhiều cá.

Lòng trâu, sách trâu, cá suối đem luộc cả lên, chấm muối, còn da trâu được làm lông sạch sẽ, luộc xong cắt ra thành những miếng nhỏ, cỡ bìa cuốn sách, để ăn dành, cũng được tới mấy tuần.

Bữa tối, lấy một miếng bì trâu, thái nhỏ ra, rang mặn ăn rất chạy cơm.

Khi đi tập ngoài thao trường, tôi luôn để một miếng bì trâu trong hộp đựng ống nhòm.

Nếu hôm nào tiểu đội tách riêng, lúc giải lao lấy ra truyền tay nhau như kiểu truyền tay nhau chiếc điếu cày, mỗi anh em tự dùng răng giằng lấy một miếng, rồi chuyển cho người tiếp sau, nhai bùi bùi, ngậy ngậy.

Chỉ tiếc, về sau không thấy đại đội mua trâu về thịt nữa.

Cũng như bao đồng đội những thế hệ cầm súng khác nhau, rất nhiều người sau chiến tranh phải nhờ "Như chưa hề có cuộc chia ly" của Thu Uyên để tìm lại nhau, tôi cũng thế.

Mãi gần đây tôi mới gặp lại Tuấn Anh và Ghi, và mới biết tin về Quế, nghe lơ mơ tin về Loan, về Cá, gặp em trai liệt sỹ Hiếu, rồi cách đây 1-2 tháng mới nhận được tin của Lạp.

Vẫn còn mấy đứa nữa của A8 chưa biết tin.

Gặp lại Tuấn Anh và Ghi trong buổi gặp mặt CCB Xê 20 ở HN (13/9/2009).

Em Tuấn Anh gầy gò khi xưa, giờ mập mạp, đã lên Ông.

Em vẫn rất nhớ tôi, quý tôi, nhắc nhiều kỷ niệm về thời ấy.

Nhà em vẫn ở Hưng Yên, nhưng đôi khi em lên Hòa Bình sống và làm nương rẫy trên "trang trại bất đắc dỹ" với con trai, con dâu.

Chỉ lạ, Ghi nó không nhận ra tôi.

Nhắc tên, nhắc tiểu đội, nhắc kỷ niệm Quảng Trị, chuyện ong, chuyện lòng trâu, lưới quét... chẳng thấy nó nói gì.

Mặt lạnh như người dưng, trong khi tôi vẫn kè kè, khư khư một núi kỷ niệm sâu sắc, kể cả nhật ký về nó.

Sao thế nhỉ?

Quế không lên dự buổi gặp mặt.

Nó vẫn sống ở quê, nhưng sa vào rượu, nghe nói cuộc sống cả vật chất và tinh thần lụn đụn lắm.

CCB Xê 20 họp mặt ở quê cũng không ai báo nó.

Lên HN lại càng không, nó lên rồi bê tha nhếch nhác thì xấu hổ chung cả lính Hưng Yên.

Nghe nói thế tôi cứ thấy nghèn nghẹn.

Giận thì ít mà thương thì nhiều.

Bụng bảo dạ, sang năm tôi sẽ tự mò về nhà nó.

Bỏ nó thế sao đang...

Có quanh năm bận thì phút này, phút VTV1 đang chương trình "Nối vòng tay lớn", cũng thấy vơi vơi việc, ngồi nhân nha nhớ đến những chuyện xa, chuyện gần đã qua.

Có để bụng chuyện gì mấy mươi năm thì đến khi gần một giáp tuổi, cũng thấy nó teo đi và để lại khoảng rộng bao dung mênh mang trong lòng người lính già.

Những chuyện ngày xưa, ...

Theo những gì tôi được chứng kiến thì đất nước mình liên miên chiến tranh.

Đaphần những ký ức sâu đậm là dính với chiến tranh.

Tưởng như không có chiếntranh thì không có gì để nhớ, để kể!

Không tính chuyện cổ tích, hay những chuyện đã được viết thành sách, thì nhữngchuyện xưa nhất mà tôi được nghe kể là về thời Giặc Cờ Đen - Lưu Vĩnh Phúc, tứclà trước cả Kháng chiến chống Pháp.

Làng tôi, Hương Canh, theo triều đình, kiêncường chống lại giặc, nhưng không đặng, bị Giặc Cờ Đen tràn vào làng, đâu đóvào năm Giáp Thân (1884).

Đàn ông trong làng bị tàn sát.

Dấu tích còn lại làngày Giỗ trận, gần như cả làng Hương Canh dính Giỗ Trận, trong đó có Cụ sinh raÔng Nội tôi.

Nơi diễn ra cuộc tàn sát là một quãng đường làng ngắn và rộng, nối giữa 2 ngôiđình (Đình Hương Canh và đình Ngọc Canh).

Lưu truyền lại là sau vụ thảm sát củaGiặc Cờ Đen, máu người ở quãng đường này lội đến bắp chân!

Và kể từ đó, hàngnăm làng xảy ra rất nhiều vụ hỏa hoạn quanh quãng đường này.

Sau này, có mộtthầy địa lý phán rằng: Vì máu thấm xuống đất quá nhiều, nên hàng năm Con Hỏaphát lên.

Dân làng muốn yên lành, phải làm gì đó để yểm Con Hỏa xuống.

Từ đóhàng năm, cứ vào dịp sau Tết, làng Hương Canh có tục Đánh Đòn.

Trai tráng 2làng vác 2 chiếc Đòn làm bằng 2 cây tre dài, đầu mỗi cây tre còn buộc thêm mộtkhoảng tre ngắn bằng chiếc đòn gánh.

Chọn vài trai tráng khỏe mạnh, vác Đònđánh nhau, dân làng đứng hai bên đường làng hò hét cổ vũ.

Đòn tre rất nặng vàkhó vác, khó nâng, khó đập.

Chủ yếu là đập xuống đường làng chứ cả người chơicũng như người xem chưa có ai bị dính Đòn bao giờ.

Tục Đánh Đòn ở Hương Canh không còn nữa, nhưng quãng đường làng khoảng gần vàitrăm mét nơi tương truyền có Con Hỏa ấy thì ngày nay vẫn gọi là Dãy ĐánhĐòn.

Khi chắp nhặt những mảnh rời ít ỏi của ký ức ngày xưa còn đọng lại, tôi mới phát hiện ra những khoảng trống kiến thức mà sách vở hay google cũng chưa chắc gì giúp được.

Đấy là đoạn lịch sử Bắc Bộ, hay nói sát hơn là lịch sử Trung du Bắc Bộ sau khi Tổng đốc Hoàng Diệu thất thủ Hà Thành.

Sau khi chiếm được Hà Nội, giặc Pháp có đánh chiếm các tỉnh khác như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, ... không?

Chúng có gặp sự kháng cự nào không?

Ai kháng cự lại Pháp?

Cuộc chiến có kéo dài không?

Thiếu những tư liệu tổng thể về giai đoạn ấy, rất khó để xâu chuỗi hợp lý và chính xác những giai thoại và di tích còn lại của vùng Trung du quê tôi: "Quê em miền trung du - Chiều nay vắng bóng cờ - Giặc tràn lên cướp phá - ..."

Hương Canh (làng tôi) được xem là một điểm "chốt" lợi hại từ thời nhà Trần chống quân Nguyên.

Đến Thời chống Pháp cũng vậy.

Chỉ khác nhau là thời chống Nguyên thì quân ta chốt cản một cánh quân Nguyên từ Vân Nam xuống, còn thời chống Pháp thì quân Pháp chốt cản quân ta từ Việt Bắc, Tây Bắc về.

Khi tôi còn nhỏ, làng có 2 bốt, gọi là bốt Đen và bốt Đỏ.

Không thấy biểu hiện gì bề ngoài liên quan tới Đen hay Đỏ.

Chỉ thấy người lớn bảo bốt Đen là của lính Khố Đen (?), bốt Đỏ là của lính khố Đỏ (?).

Bốt Đỏ ngày ấy chỉ còn là một khoảng tường hào, bỏ hoang, còn Bốt Đen thì vẫn nhà ngang, nhà dọc, chòi gác 2 tầng, hầm hào, lô cốt, nhà xe, ụ súng, ...

Bốt Đỏ ở xóm tôi, ngay sát nhà tôi.

Bọn trẻ chúng tôi thường "lên Bốt Đỏ" bới si-nhan (chẳng biết từ đâu ra cái tên này!).

Đấy là những viên thuốc phóng, màu đen, nhỉnh hơn viên đá lửa một chút, không hiểu từ loại đạn gì.

Cho si-nhan đầy vào trong ống tiêm rỗng, thường là ống Philatốp, rồi đốt.

Khi sinhan cháy, khói phụt ra phía sau, ống tiêm vụt vòng vèo lên phía trước.

Nếu khéo kê, ống tiêm còn bay vút lên như tên lửa.

Tệ hại nhất là khi ống tiêm phụt khói bay vào cây rơm, cả bọn cuống cuồng hô nhau dập.

Những năm 6X, có thời bốt Đen trở thành trường cấp I của làng.

Tôi cũng đã học năm lớp 4 ở đấy.

Sau gần 50 năm, bây giờ bốt Đỏ không còn dấu tích gì, nó nằm lọt vào khu vườn của một nhà dân, nhưng bốt Đen thì không biết vô tình hay cố ý vẫn còn giữ lại được chòi gác 2 tầng cũ kỹ.

Chỉ có điều, ngày xưa nó là tầng 2 duy nhất và cao nhất làng thì nay nó lọt thỏm giữa vô vàn nhà 3-4 tầng, mái tum.

Khi tôi lớn lên, trong lứa bạn bè ở làng có 2 ngườicon lai "da đen", người con trai tên Na, con gái tên Hảo.

Cả 2 bạnđều to khỏe khác thường, và mẹ của 2 người đều không lấy "Tây".

Khôngbiết đấy là sản phẩm của tình yêu không biên giới, không màu da hay là một sựcưỡng bức.

Ngược lại, trong làng cũng có một người lấy Tây hẳn hoi, tên là Kim,sau gọi là cụ Kim Tây, nhưng lại không có con.

Dù vậy dấu tích của mối tình"thực dân" này là một căn nhà đặc kiểu Pháp.

Căn nhà này kề tường vớiBốt Đỏ.

Trên cổng căn nhà có tượng một con sư tử, nhà cao, lợp ngói tây (ngóiHưng Ký), phía trước có đắp con số 1935, chắc là năm xây xong, phía dưới có hầmđể rượu, phía trước có tiền sảnh và 2 lối lên.

Căn nhà này sau đó qua tay mộtvài chủ và tình cờ bây giờ lại thuộc sở hữu của gia đình tôi, nay chị dâu vàcác cháu tôi ở.

Một dấu ấn đậm nét của thời kỳ tiền khởi nghĩa ở vùng quê tôi là những địa chủ trung du.

Địa chủ theo nghĩa đen chỉ là người chủ đất, nhưng tiêu chí "địa chủ" được nêu ra trong thời cải cách ruộng đất phải là những người sở hữu nhiều đất đai và sử dụng đất đai ấy để bóc lột nông dân, mang lại giàu có cho mình.

Địa chủ có khi là quan lại, có khi chỉ là dân.

Làng nào cũng có địa chủ, ít nhất là Một.

Có địa chủ to, địa chủ nhỏ, có kẻ ác, có kẻ lành.

Trung du nổi tiếng về những địa chủ "bự", gọi là các Đại địa chủ, nếu có kém thì chỉ kém các địa chủ trong Nam, hình như gọi là các chủ đồn điền.

Kề ngay với làng Hương Canh là một vùng đồng quê bằng phẳng, kéo dài ra phía bờ sông Hồng, là sở hữu của một Đại địa chủ, gọi là Bá Soạn.

Ông này vốn quê ở đâu đó dưới xuôi, lên lập nghiệp ở trung du, ban đầu chỉ là một ấp nhỏ, gọi là Ấp Bá Soạn.

Thủ đoạn "lấn điền" của Bá Soạn khi muốn chiếm một thửa ruộng nào đó là là mua hết các thửa ruộng xung quanh, bắt bí một người chủ thửa ruộng bị cô lập phải bán cho ông ta với giá rẻ như cho vì không còn lối vào ruộng nhà mình.

Cứ theo cách ấy, ruộng Bá Soạn liếm sang đến sát lũy tre Hương Canh.

Nghe kể lại thì khi con gái Bá Soạn chết ở bên Pháp, ông cho thuê máy bay chở thi hài về Gia Lâm, rồi hàng đoàn xe ô tô chạy mù trời đưa tang về ấp.

Khi tôi còn nhỏ, trường tổ chức cho đi thăm quan kho thóc Bá Soạn và nghe thầy cô giải thích: Năm 45, Việt Minh tổ chức cướp kho thóc Nhật ở ấp Bá Soạn này.

Khi đến thăm, kho thóc Nhật ngày nào đã trở thành sân kho Hợp Tác Xã.

Không biết Bá Soạn có làm tay sai cho Nhật không mà lại gọi là kho thóc Nhật ở ấp Bá Soạn?

Xa hơn một chút lên phía Tây Bắc Hương Canh, khu vực Vĩnh Yên, là lãnh địa của một Đại địa chủ khác, tên là Đỗ Đình Đạo.

Ông này không những là địa chủ nổi tiếng mà còn là một nhân vật chủ chốt của VN Quốc Dân Đảng.

Vợ ông là nhà văn Thụy An, một cây bút khá nổi thời Nhân Văn Giai Phẩm.

Sau này nghe đồn đại nhiều chuyện về mối quan hệ vợ chồng này.

Trong truyện cũng như trong phim vừa chiếu trên VTV1, ông Kim Ngọc "khoán hộ" khi nhỏ từng đi ở, làm thuê cho nhà Đỗ Đình Đạo.

Những ngày làm thuê cực nhọc cho Đỗ Đình Đạo là tiền đề cho những suy nghĩ táo bạo sau này khi Ô là Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc về quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân.

Đỗ Đình Đạo có cả quân đội riêng, nhiều ít không rõ,cũng có thể là một bộ phận nào đó của VN Quốc dân đảng, nên sau tiền khởinghĩa, Việt Minh đã phải điều cả một tiểu đoàn, do ông Hoàng Sâm chỉ huy, từThái nguyên về tiêu diệt.

Hương Canh được xem là một làng quê trung du, nhưng là cuối trung du, đầu châu thổ sông Hồng.

Sau làng là thoai thoải đồi núi, đất đá ong Tam Đảo, nhưng phía trước làng lại là đồng lúa phẳng phiu trải đến tận sông Hồng, qua Sơn Tây.

Hương Canh chỉ cách Hà Nội 30-40 km, chính vì vậy, sau khi Pháp chiếm Hà Nội, lần 1 rồi lần 2, ... thì Hương Canh cứ nổi chìm theo Hà Nội, khi thì "thuộc Pháp", khi khác lại "Tự do", có lúc lại vào tay Việt Minh.

Lần đầu không biết vào năm nào, nhưng lần cuối cùng Pháp chiếm Hương Canh thì là năm 1949.

Dấu ấn của những lần Pháp chiếm Hương Canh là bốt Đen, bốt Đỏ, là ngôi nhà do một người mũi lõ bỏ tiền xây năm 1935, lợp ngói Hưng Ký, có tượng con sư tử trên cổng, ngóng đầu về phía Pari, quê ông ta.

Di tích sống của lần Pháp chiếm HC lần cuối cùng là hai người con lai: Anh Na, chị Hảo, sinh khoảng 1950-1953.

Tôi thấy buốt ruột khi thời gian và vòng quay cuộc sống cứ gặm hết dần những dấu ấn của một thời.

Thấy hiu hiu buồn và bất lực.

Rất tình cờ ngôi nhà chính của gia đình tôi nằm sát với bốt Đỏ và ngôi nhà Kim Tây với tượng con sử tử.

Khi Pháp chiếm Hương Canh, gia đình tôi tản cư ra vùng Tự do (Lập Thạch).

Ngôi nhà cổ kính vừa là nhà thờ, vừa là trường dạy chữ nho của ông tôi bị biến thành một phần của bốt Đỏ, bao gồm nhà cho lính ở, nhà kho, nhà bếp, trạm gác, ...

Chúng xây chặn ngay trước cửa nhà tôi một bức tường dài, tách nhà ra khỏi sân vườn và trổ phía tường sau thành 2 cửa thông sang bốt Đỏ, với 2 giao thông hào xây nửa chìm nửa nổi kiên cố.

Bức tường bao bọc mặt trước nhà tôi được xây bằng xi măng chứ không phải bằng vôi cát hay đất ngào với mật và cũng không xây bằng gạch thoi như những bức tường khác, mà xây bằng gạch lát nhà, hình vuông và rất mỏng.

Cứ mỗi lớp gạch mỏng 2-3cm lai tới một lớp xi măng xanh biếc, dày gần gấp đôi.

Nói cách khác, bức tường quái dị này chủ yếu là xi măng, như một dạng bê tông, rất dày.

Ở tầm ngang mặt có trổ rất nhiều lỗ châu mai, hẹp phía trong nhà, loe nhìn ra phía ngoài sân và vườn.

Tôi đã hỏi nhiều lần, nhiều người, nhưng tất cả đều nói: chưa bao giờ có giao tranh ở quanh bốt Đỏ.

Như vậy là những chiếc lỗ châu mai quanh nhà tôi chưa bao giờ khạc ra lửa.

Nhưng không hiểu vì sao trong vườn nhà tôi thì vô khối đạn và vỏ đạn, chủ yếu là đạn súng trường và đạn súng lục, có cả đầu đạn đum-đum.

Ngay học cấp I, tôi và em gái thường thu nhặt trong vườn, có khi được cả rổ, vừa để dọn đất trồng rau, vừa để đổi cho mấy cô đi rao "Ai đồng nát, cát tút đổi kẹo nào?"

để được mấy tăm kẹo mạ, mút chùn chụt.

Hòa bình lập lại, từ vùng Tự do trở về, cha mẹ tôi chật vật hàng năm mới gỡ bỏ dần được từng đoạn của bức tường bê tông dài này.

Phải thuê người lấy búa tạ quai thật lực.

Chỉ vỡ gạch chứ phần xi măng (made in France) thì rắn như thép.

Đầu tiên phải bịt cái giao thông hào phía sau đi sang bốt Đỏ rồi cố khoét lấy một lối thoát để đi ra sân.

Năm 1955, nhà tôi mất một con trâu vì bị trúng mìn ở ngay sân nhà.

Phần cuối cùng của bức tường với một chiếc lỗ châu maiday nhất còn lại mãi sau này, sang thế kỷ 21.

Một hôm, các cháu tôi a lô, xin phépdỡ nó đi để tiện sinh hoạt.

Dù nuối tiếc nhưng chẳng có cớ gì giữ lại, tôi đànhnói các cháu gắng cho chiếc lỗ châu mai sống thêm đến chủ nhật (24/8/2008), tôithu xếp từ Hà Nội về, ngậm ngùi lần cuối để vĩnh biệt "Châu Mai - BốtĐỏ".

Ngay cả bây giờ, việc đập phá bức tường "bê tông cổ" ấycũng không dễ dàng gì, trong khi những phần tường khác do ông bà tôi xây bằnggạch thoi và vôi cát thì bở bùng bục, lấy tay cạy ra được

Chuyện Tây càn làng, lấy Tây, con Tây, đồn bốt Tây thì ở đâu không nói, chứ trung du quê tôi thì là "chuyện thường", làng nào cũng có.

Nhưng chuyện tôi kể dưới đây chắc là hy hữu, một câu chuyện made in Hương Canh.

Cố nhà thơ Tố Hữu viết trong bài Việt Bắc: Ai về mua vại Hương Canh.

Thực ra HC ít làm vại mà chủ yếu là làm tiểu, tiểu sành.

Nhưng tiểu vừa khó gieo vần lục bát hơn vại, mà chẳng nhẽ lại hỏi: Ai về mua tiểu Hương Canh, thì ghê chết lên được.

Tiểu là đồ hậu-hậu sự, mỗi đời người nhiều nhất chỉ là 1 suất.

Tiểu nặn bằng đất thó, lấy từ thùng đấu lên, nung cho đến khi thành sành, màu nâu hay tím, gõ nghe côông côông như chuông là được.

Nung vại thì non lửa một chút, vại mới sang màu gấc chín, gọi là sành non, cũng dùng được, vại nung quá lửa, tím biếc, méo mó, dị dạng, vẫn dùng được, chỉ tội kém giá đi.

Nhưng tiểu thì không, đời người chỉ một suất, tiểu phải hoàn hảo, đủ già, vuông viêng, kém chất lượng thì cho không cũng ế.

Vì đòi hỏi cao như vậy, nên tiểu ra lò cứ 10 cái được 6-7 là mừng lắm rồi.

Tiểu xếp đáy lò dễ bị già lửa, cái méo, cái vênh, cái thì co lại chỉ đủ cho cốt hài nhi.

Tiểu ở nóc lò thì thiếu lửa, nhưng đã dỡ ra thì không thể cho vào mẻ sau nung tiếp được.

Non, già đều loại bỏ hết.

Năm này qua năm khác, đời ông qua đời cháu, số tiểu phế phẩm có cả vài chục ngàn hay hơn.

Cái khó ló cái khôn.

Tổ tiên người HC có sáng kiến dùng tiểu phế phẩm làm gạch xây tường.

Những viên gạch vừa to, vừa nhẹ vì rỗng ruột được xây tường bếp, tường bao, cả tường nhà ở, nhà thờ.

Khi xây tường tiểu, người ta bỏ nắp tiểu đi, cứ chồng lớp này lên lớp khác, có khi không cả cần vữa nữa.

Đôi khi, người ta xoay một chiếc tiểu nằm nghiêng ra, thế là được ngay một chiếc hộc, để diêm, đèn, chai lọ, linh tinh, rất tiện.

Đầu thế kỷ trước, khi HC chưa nhiều nhà như bây giờ, nghe nói gần hết tường ở HC là tường tiểu.

Khi Pháp chiếm HC, không biết lính ta hay lính Tây, kháo nhau rằng, người HC hay giấu của trong tiểu tường.

Những bức tường bếp, tường bao thường không trát, nên mỗi viên tiểu có 4 lỗ thông, mỗi phía 2 lỗ, nhưng nhỏ chỉ vừa ngón tay, nhìn vào trong lại tối om, không biết có của hay không.

Những bức tường nhà ở thì có trát một lớp vữa bên ngoài.

Thế là gần như tất cả tiểu tường có năm sinh trước thời điểm Pháp chiếm HC đều bị đập ra một lỗ nhỏ bằng bàn tay, đủ để kẻ tham kiểm tra xem có của gì giấu ở bên trong tiểu không.

Vì sành rất giòn nên nhiều chiếc tiểu khi bị đập thì vỡ bung luôn.

Khi tôi còn nhỏ, trong làng còn rất nhiều bức tường mà mỗi chiếc tiểu có 4 lỗ nhỏ và 1 lỗ to như vậy.

Sau rồi mất dần, mất dần.

Gần đây, tôi về làng cố tìm lại một vài bức tường của thời ấy để chớp chiếc ảnh cho đời sau, nhưng chưa tìm thấy.

Bây giờ làng thành thị trấn, san sát nhà tầng, lại nới rộng mênh mông mãi ra ngoài đồng, khó tìm lắm.

Chỉ tìm được những đoạn tường tiểu xây thời Hợp tác xã, thời mà chẳng ai có của để giấu nên cũng chẳng ai rồi hơi đi đập tiểu tìm của nữa.

Một đoạn tường tiểu, phần lớn là tiểu non lửa, xây thời Hợp Tác Xã

Bây giờ ở HC không ai xây tường tiểu nữa, đơn giản vìkhông còn lò tiểu.

Phố HC cũng có bày bán tiểu, khắc chữ Hương Canh hẳn hoi,nhưng là chở từ bên Sơn Tây sang.

Có một thời, cách đây chừng chục năm, HC nổivề ngói, lên TV vì ngói.

Dấu ấn của thời ấy lại là những bức tường ngói, nomcũng kỳ kỳ, nhưng không gây cho khách lạ cảm giác gai gai, lạnh lạnh như khingồi tựa lưng vào bức tường tiểu.

Hồi còn nhỏ, tôi vẫn thích nghe người già kể lịch sử làng và rồi đọng lại trong tôi 2 mốc lịch sử cận đại đáng nhớ là năm Bốn Chín - Pháp chiếm Hương Canh lần cuối và năm Bốn Nhăm - Vỡ đê và nạn đói lịch sử.

Chuyện nạn đói Bốn Nhăm thì sách vở nói tới nhiều rồi, vì chẳng riêng gì Hương Canh.

Khi học Trích giảng văn học ở phổ thông, tôi cũng viết theo vào bài Tập làm văn: "Căm thù phát xít Nhật bắt dân làng em nhổ lúa trồng đay gây nên nạn đói khủng khiếp năm 1945", nhưng thực sự trong lòng chưa tâm phục khẩu phục, vì chưa thấy nói có nhà ai trong làng chết đói năm ấy.

Chỉ nghe kể người dưới xuôi lên chết đói la liệt ngoài chợ Cánh.

Nhưng chuyện nạn lụt do vỡ đê thì tôi tin là có nhưng lại khó tin về mức độ khủng khiếp của nó.

Hương Canh là làng trung du, nền đất làng cao so vớiquanh vùng, thế mà lụt năm ấy nước ngập đến mái nhà.

Đình làng cất trên khoảng đất cao ráo mà cònngập đến lưng cột.

Khi nước rút đi, một người nào đấy trong làng đã có côngkhắc trên cột đình mức nước lụt năm ấy để con cháu muôn đời sau hình dung được.Chính vì thế mà tôi tin điều khó tin ấy.

Nhưng cũng vì thế mà tôi cứ băn khoăn:Thế thì nạn đói Bốn Nhăm là do vỡ đê chứ đâu do Nhật, ít nhất là đối với làngtôi.

Lụt thế thì đay hay lúa cũng trắng tay thôi.

Đi theo cách mạng

Bây giờ người ta hay nói: Theo cơ chế thị trường để hàm ý thích ứng với cái mới, còn thời thơ ấu của bọn tôi thì thường nghe cụm từ: Đi theo cách mạng.

Nghe mãi cách mạng hay thị trường thì rồi cũng quen tai, xuôi tai chứ không phải ai cũng hiểu thấu đáo, nhất là thế hệ hậu sinh khi nghe và nói "đi theo cách mạng".

Tôi xin kể lại câu chuyện một trí thức thời Pháp đi theo cách mạng mà tôi biết rõ và đã gây tò mò, khó hiểu suốt một thời với tôi.

Mặc dù không phải là chuyện lính, nhưng chia sẻ để cùng hiểu sâu thêm về cố nhân, về những biến cố của đất nước, của dân tộc.

Ông cụ sinh những năm đầu thế kỷ trước và theo học một trong những khóa đầu của trường Nam Sư phạm Hà Nội.

Trường này nằm ở cuối phố Cửa Bắc, ngày ấy là phố Đỗ Hữu Vị, mang tên một phi công anh hùng (đối với chính phủ Pháp) đã tham gia thế chiến I.

Ra trường, cụ đi dạy ở nhiều nơi dưới xuôi rồi chuyển lên Sapa.

Ngày ấy thày giáo ở dưới xuôi được điều lên dạy Sapa chứ không phải tự nguyện, lên dạy đôi ba năm, hết hạn lại về xuôi, rất nghiêm và công bằng.

Tôi hay được nghe kể những chuyện hay hay về thời cụ dạy học ở Sapa.

Khi ấy Sapa còn rất mới, rất nhỏ, có 2 trường tiểu học, một trường công và một trường tư.

Trường công to hơn, nhưng cũng chỉ có vài lớp, với 2-3 giáo viên.

Ngôi nhà của bang tá Nguyễn Tài Minh (thân sinh của bác sỹ châm cứu nổi tiếng Nguyễn Tài Thu) nằm ở giữa phố Cầu Mây (hình như khi ấy gọi là phố Khách) vừa là lớp học, vừa là nơi ở của thầy giáo và gia đình thày.

Ông cụ dạy liền 3 lớp, lớp nhỏ nhất là đồng ấu, mỗi lớp khoảng gần chục học sinh, cùng ngồi trong một gian nhà dài, vừa học chữ quốc ngữ, vừa học chữ của mẫu quốc – Tiếng Pháp.

Tôi nhớ mãi một nhận xét của cụ: Ở Sapa hồi đó, có nhiều người không biết nói tiếng Tây mà vẫn đua đòi mặc quần Tây.

Cụ kể Pháp cũng khuyến khích người dân đi học.

Có những phiên chợ Cốc Lếu (ngoài Lao Cai), người ta chặn ở lối vào chợ, bắt đọc mấy dòng chữ quốc ngữ viết trên bảng: "Còn trời, còn nước, còn non - Còn sông Cốc Lếu ta còn đi chơi".

Đọc được cho vào chợ, không thì quay về.

Người biết chữ, đọc được thì ít, nhưng người ta bảo cho nhau biết và học thuộc nên rất ít người bị quay về.

Nhưng rồi quan chức cũng biết và thay đổi nội dung câu viết trên.

Nhiều người vẫn thản nhiên đọc: " Còn trời ...".

Hết hạn 3 năm, ông cụ chuyển về xuôi.

Thế rồi cáchmạng - 1945.

Ông cụ bảo: Cách mạng haykhông cách mạng thì người thày vẫn là người thày.

Chắc Cách mạng rồi thì cũngphải có nhiều thay đổi chứ, nhưng tôi quên không hỏi kỹ, chỉ có ấn tượng cụ cấmcon cái, học sinh cũ không bao giờ được nói tiếng Pháp trước mặt cụ.

Năm Bốn Nhăm với quá nhiều biến cố lớn: Vỡ đê sông Hồng, nạn đói khùng khiếp và Cách mạng thành công.

Cờ đỏ sao vàng mới lật phật bay ở sân trường được 3-4 năm, trò còn chưa nguôi háo hức, thầy chưa kịp định thần xem Cách mạng vuông hay tròn thì đã thấy quân Pháp trở lại.

Cách mạng khi ấy mới là những ngày đầu non trẻ nên hầu như chẳng có đánh nhau.

Súng mooc-chiê (chắc là cối mấy mươi đấy) của Pháp bắn đến gần làng nào thì dân làng ấy dáo dác chạy ngược lên núi.

Cũng chỉ đì đùng vài quả, dọa là chính, chẳng ai trúng đạn.

Ngày ấy người ta không gọi những người lính xì-xồ bố- cu là Pháp mà gọi là là Tây.

Tây đen, tây trắng, lính lê dương, lính khố xanh, khố đỏ, gọi chung là giặc.

Vài người liều gan hay già cả ở lì lại trong làng hay chỉ chạy ra đến rìa làng hay sang làng bên cạnh.

Khoảng 1/3 làng chạy xa hẳn lên các xã, huyện miền núi, gọi là tản cư ra vùng Tự do.

Làng nào bị giặc chiếm gọi là làng tề.

Khi nghe đạn mooc-chiê nổ ngoài quốc lộ 2, cụ giáo cùng vợ con gồng gánh theo dân làng chạy giặc.

Cũng chưa định tâm, định hướng chạy bao lâu, bao xa.

Đêm đến, nghe im ắng, nhiều người lại liều quay về làng, có người vì tiếc của, có người về ở với giặc, gọi là về tề.

Trí thức vốn không liều gan bằng nông dân, lại thêmtính cẩn thận, suy xét nên cứ phải nghe ngóng đã.

Thế rồi mooc-chiê lại nới xahơn.

Lại chạy xa hơn, xa hơn nữa.

Đến tận vùng có chính quyền cách mạng khámạnh, gọi là chiến khu.

Đến đây thì chẳng nghĩ đến chuyền về tề làm gì nữa.

Mọingười đều thế.

Thế là tự nhiên mà thành "Đi theo cách mạng".

Hưng yên ký sự

Đầu năm 1972, Tichtuongnhule, Tralientay và tôi được điều về Xê20, tưởng cũng như ở những đơn vị bộ đội đã từng qua, 9 người thì 10 làng, nhưng hóa ra 80-90% lính trong đơn vị đều là Hưng Yên.

Những địa danh lúc đầu nghe rất lạ, rồi nghe quân mình nhắc mãi mà thành quen: Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mỹ, Kim Động, Văn Giang, ...

Sau chiến tranh, tôi cũng chưa có dịp nào tìm về Hưng Yên.

Có chăng thì là ngồi trên xe, trên tàu, theo đường về Hải Phòng, Đồ Sơn, thấy eo éo Tương Bần, Phố Nối đây.

Kể thế cũng là tệ, đâu có xa xôi, cách trở gì, mà để đến gần 40 năm mới về quê nhau.

Thế rồi năm ngoái, dịp 30/4, anh em Xê 20 quê Văn Giang họp mặt thường niên, alô, mời mấy anh trên Hà Nội về quê chia chén rượu nhạt với anh em.

Tralientay mới ở Nhật bổn về, TTNL và tôi ở Hà Nội, thêm một thằng em ở Sài gòn ra, ngày lễ, đường tắc lê tắc lệt, mới sang khỏi cầu Thanh Trì, hỏi thăm một người đi xe máy, đèo 2 sọt hàng rỗng, chắc chở rau lên Hà Nội bán.

Anh chàng tận tình hỏi: thế về Văn Giang thì các bác về xã nào?

Nói xã rồi thì lại hỏi thôn, nói thôn rồi thì hỏi luôn các bác hỏi về nhà ai.

Về nhà ông Dõi (cựu tiếp phẩm Xê 20).

Ối giời, thế thì các bác theo em, Ông Dõi là anh rể em.

May quá, đỡ hẳn 30 cây số mò mẫm.

Hóa ra anh em Xê-20 ở Văn Giang tổ chức gặp mặt truyền thống đều đặn đã 14-15 năm rồi.

Thế thì cánh Xê 20 Hà nội cứ mà xách dép.

Văn Giang về Xê-20 có 9 người, thì sau chiến tranh về được 8.

Quảng Trị mà thế là hên lắm rồi.

Gặp mặt còn có cả em trai của liệt sỹ Hiếu, dù ở huyện khác nhưng cứ chỗ nào nghe nói có gặp mặt các anh Xê 20 là lại đến để dò hỏi tin tức về mộ anh mình.

Ở Văn Giang mọi người uống thứ rượu màu vàng xanh,tưởng rượu chanh nên hơi ngại ngại.

Hóa ra đấy là đặc sản, càng uống, càngngấm, càng nhớ được nhiều những chuyện thời mới 18-20 tuổi, xa vời vợi, hỏiđược nhiều tin tức, về người này, người kia.

Lại gần đến 30/4 rồi.

Đầu tuần, lại nghe anh em Văn Giang alô, mời mấy anh trên Hà Nội về với bọn em.

Có chứ, chắc chắn sẽ về.

Hôm nào, ở nhà ai?

Cứ đến nhà Dõi sẽ có người đón à?

Lần này chỉ có TichTuongNhuLe và tôi.

Sáng chủ nhật, 24/4, hai đứa hẹn nhau rồi cùng ngồi ăn sáng trên đường Xã Đàn.

Nhà hàng bún đông khách, 2 đứa phải chờ khá lâu.

Trong lúc chờ, TichTuongNhuLe kể lại cho tôi nghe chuyện hôm đầu tuần đi làm ảnh truyền thần cho liệt sỹ Lê Xuân Sự để đưa về bàn thờ ở nhà Sự.

Liệt sỹ Sự để lại trên đời này duy nhất một bức ảnh, nhưng là ảnh chung trong bức ảnh gần 100 người của Xê 20 ở làng Trà Liên Tây năm 1973.

Người trong cuộc thì nhìn bức ảnh mờ tịt cũng nhận ra nhau ngay, không thể nhầm, nhưng người dưng thì nom ảnh thấy lờ mờ, ai cũng như ai.

TTNL tận tụy, kỳ công tìm cho được hàng truyền thần có mác có mỏ ở phố Hàng Đường, HN, rồi phải năn nỉ, nói khó họ mới nhận làm.

Hôm đến nhận ảnh để mang về Hưng Yên, TTNL thấy thất vọng vì bức ảnh chẳng được giống lắm.

Giống làm sao được.

Mình là đồng đội sống chết với nhau, hình ảnh đã ăn sâu trong ký ức, chẳng cần ảnh cũng vẽ lại được nếu có chút năng khiếu hội họa chứ trách gì ông họa sỹ người dưng, vô hồn với bức ảnh đen trắng đã 37 năm, độ phân giải chắc chỉ vài trăm picxel.

Khi nghe TTNL nói về người trong ảnh (liệt sỹ Sự), bà vợ ông họa sỹ tỏ ra cảm động về tấm lòng của những người đồng đội đối với nhau.

Bà ngập ngừng, xúc động: "Các bác đúng là ... các bác", rồi gọi ông chồng ra sửa lại đôi nét theo yêu cầu của TTNL.

Một chút ở gò má, một chút ở khóe miệng, ở lông mày.

Nom cũng khá hơn.

Thôi thế cũng được rồi.

TTNL hỏi tiền công để trả.

Người vợ ông họa sỹ truyền thần nói: "Thôi người ta thì nhà em vẫn lấy 800 (ngàn) một ảnh, chứ của bác thì ..."

Bà ấy dừng một chút như để cân nhắc trước khi chốt.

Lại nói chuyện truyền thần.

"Trường hợp của các bác thì đúng ra là nhà em không lấy tiền các bác, nhưng thôi chúng em xin các bác 500 ngàn gọi là tiền giấy, tiền chì" - Tôi trả lời như vậy khi TTNL hóm hỉnh hỏi tôi: "Thế T đoán là bà ấy chốt bao nhiêu?"

Sau câu trả lời ngây thơ của tôi, TTNL buông một câu: "Chín trăm".

Tôi cười, không phải cười phá lên mà cũng không phải cười gượng.

Ngẫm thấy cũng phải: Cái ảnh thường, có ảnh gốc rõ ràng, có khi lại kèm thêm cả nguyên mẫu comple caravat sống sờ sờ ngồi bên mà còn 800 thì ảnh người đã khuất 37 năm về trước phải vô giá mới phải.

Dù sao thì từ nay đã có ảnh liệt sỹ Lê Xuân Sự bên cạnh ảnh anh trai Lê Xuân Công trên bàn thờ gia đình.

Lần này hai đứa về Văn Giang theo cầu Vĩnh Tuy.

Năm trước 4 đứa về Văn Giang, đi trên cầu Thanh Trì nhìn sang thấy cầu Vĩnh Tuy đang còn dang dở, hối hả hoàn thiện trước 1.000 năm TL.

Đến thẳng nhà Dõi gần như không phải hỏi thăm.

Mọi người ngồi tạm trong căn phòng nửa nhà, nửa xưởng, vải, bạt ngổn ngang.

Mấy cô cậu, chẳng biết thợ hay con cháu trong nhà, đang lạch xạch cắt cắt, may may, không rõ may túi hay ba lô.

Tôi vỗ vai Dõi: "Này, cậu vẫn mặc cái áo năm ngoáià?".

Dõi cười cởi mở: "Bác nom giống thế thôi".

Tôi liền rút trong túi ra chiếcảnh năm trước chụp ở nhà Dõi.

Vợ chồng Dõi đứng cạnh nhau.

Đúng là vẫn cái áomàu nhờ nhợ tím năm trước.

Dõi phân trần: "Bác nói đúng mà lại là sai.

Là vì từkhi ra quân tới giờ, gần 40 năm, em mới mua áo 2 hay 3 lần.

Cứ hơn chục năm muamột lần, mỗi lần mua hơn chục cái giống nhau".

Tôi trợn tròn mắt.

Dõi mộc mạc kể: "Em rất kỹ về ăn mặc.

Cái áo cái quần mặc vào người phải thật sự vừa ý.

Có khi đi lùng cả chục lần chẳng gặp được cái áo vừa hợp màu, lại vừa người.

Vì thế, thấy được là bao nhiêu tiền em cũng không tiếc, mà đã mua là cả chục luôn.

Được cái mấy chục năm nay em chẳng béo lên hay gầy đi, mặc hết chục áo là gần chục năm mà vẫn thấy vừa như in".

Thì ra thế.

Năm sau, vài năm sau nữa có về Văn Giang thì Dõi vẫn diện cái áo màu nhờ nhợ tím như năm ngoái, nhưng thực ra là áo mới đấy.

Tôi bảo Dõi: "Thắng quản lý không chọn cậu làm tiếp phẩm cho đại đội thì còn chọn ai nữa?"

Năm nay mọi người gặp nhau ở nhà Tuế, cách làng Dõi khoảng 2-3km.

Ngoài số anh em Văn Giang năm trước gặp ở nhà Dõi có thêm mấy người nữa, trong đó có anh Sơn.

Anh là cán bộ khung của Xê 20 ngay từ những ngày thành lập đơn vị ở Hà Bắc cho đến thời kỳ Bảy Ba ở Trà Liên Tây thì chuyển đi đơn vị khác.

Khi ở Xê 20, A Sơn là Bê trưởng b3, là thủ trưởng trực tiếp của tôi, vì thế mặc dù đã gần 40 năm chưa gặp lại, nhưng gặp là nhận ra ngay.

Ngày ấy, A Sơn thường được phân công dạy võ thuật cho lính trinh sát.

Suốt buổi gặp mặt, A Sơn vẫn giữ thói quen "cầm trịch" của thủ trưởng nhưng lại nói đi nói lại đến 4-5 lần: "Có gì thời ấy không phải thì các đồng chí bỏ qua nhé".

Ai đấy "phạm thượng" cắt lời A Sơn với giọng rượu nhè nhè: "Không đồng chí nữa".

Cả bọn cười.

Không đồng chí thì "Anh em".

Nhưng A Sơn lại cứ liên tục nhầm: "Anh em sư 320 chúng mình ...", phải "bập, bập" xin lỗi liên tục.

Tôi mách anh: "Bác hay nhầm tên sư 325 của mình thành tên sư khác.

Em bảo tốt nhất bác đừng gọi tên 320 hay 325 mà gọi là Sư mình, thì không bao giờ sợ sai".

A Sơn cười khà khà, lấy ngón tay xỉa xỉa về phía tôi.

Vẫn như lần trước, chủ nhà đãi bọn tôi thứ rượu màuvàng xanh nom như rượu chanh nhưng uống rất lịm.

Và cũng như năm trước, Đăng(a9) vẫn to mồm nhất: "Nào, chuẩn bị, tớ hô nhé".

Mọi người đưa chén, cốc, lylên chuẩn bị pháo giàn "zô – zô – zô" thì bỗng thấy một ai đấy ra hiệu "bé mồmthôi"và bỗng thấy Đăng chuyển sang thì thầm tắc cú "zô" mỗi một lần thôi vàthấy mọi người thấp giọng hẳn đi.

Hình như có chuyện gì đấy.

Rồi mọi người cũng nâng cốc và thì thầm giọng cổ "Zô ô", như hồi nào đi luồn sâu địch hậu, "nấu không khói, nói không tiếng".

Lúc sau tôi quay sang hỏi Dõi, sao mọi người phải nói khẽ.

Dõi bảo: "Tuế mới lên Ông được 3 ngày.

Cháu bé nằm trong buồng.

Đã bảo ông ấy cho chuyển sang nhà khác, nhưng ông ấy bảo: xếp hàng mãi mới đến lân, chuyển là chuyển thế nào?".

À, ra thế.

Đến khi chuyển sang uống nước chè thì mọi người bàn bạc về chuyện các huyện theo gương Văn Giang, thành lập các "tiểu đội" đồng ngũ Xê 20 theo các huyện của Hưng Yên.

Các tiểu đội gộp lại thành "trung đội" Xê 20 Hưng Yên.

Mỗi năm cả trung đội gặp mặt 1-2 lần, năm nay ở tiểu đội Khoái Châu, năm sau ở tiểu đội Ân Thi, năm sau nữa ở Kim Động, ...

Vỗ tay.

Với tôi, lần này về Hưng Yên nhận được thêm thông tin về Loan và Nguyệt.

Loan là lính A8 của tôi, còn Nguyệt là thông tin trinh sát, cùng bị thương với tôi ở thung lũng Ba Lòng năm 1974.

Hóa ra cả 2 đều là dân Hưng Yên.

Thế thì tôi còn nợ đất nhãn lồng này rất nhiều.

Đến hồi chia tay thì bỗng rộ lên: "Các anh rẽ sang nhà em tý, 2 bác rẽ sang thăm nhà em tý, ngay đây mà, mấy khi".

Cũng nể, nhưng biết nhận lời ai.

Cuối cùng TTNL và tôi quyết định nhận lời Tiến.

Tiến năn nỉ: "Về em đi, anh TTNL hứa với em lâu lắm rồi đấy.

Gần đây thôi, khoảng 2 km.

Nhân thể anh 6971 về thăm Loan.

Nhà nó cách nhà em đúng nửa cây số."

Nghe thấy hợp lý, TTNL muốn về nhà Tiến từ lâu rồi, còn tôi thì chuyện gặp lại Loan chỉ là trong mơ.

Chúng tôi rời nhà Tuế, theo Tiến dẫn về nhà Loan.

Đi vòng vòng 2-3km, qua mấy cánh đồng mới thấy Tiến bảo: Hết địa phận xã thằng Tuế.

Lại cua cua, lượn lượn thêm 3 xã rõ dài nữa mới qua quê Tiến, rồi mấy quãng đê dài, những rặng nhãn trạt hoa và vài cánh đồng ướp mùi lúa non mới đến đầu xã của Loan.

Không phải là "đúng nửa cây số" mà là nửa chục cây số, đi qua địa phận 3 huyện: Văn Giang – Yên Mỹ - Khoái Châu.

Hoặc ở quê ước lượng cây số không chính xác, kiểu mấy con dao quăng, hoặc vì lòng hiếu khách mà nói xa thành gần.

Được.

Đến trước một ngôi nhà không có cổng, Tiến bảo: "Nhànó đây", rồi cua ngoặt xe vào sân, con chó xoắn xuýt vẫy đuôi chứ không sủa.Tôi xuống xe từ ngoài ngõ.

Hồi hộp.

Thằng Loan ngày xưa má hồng, ngực trắng vàcăng chẳng ai bảo là ngực con trai, bây giờ ra sao đây?

Có sốt ruột đến cồn cào muốn biết gặp lại Loan hôm nay ra sao thì cũng xin kiên nhẫn theo tôi ngược lên gần 40 năm về trước, khi tôi 20 còn Út Loan 19.

Đấy là cuối Bảy Hai, Xê 20 được bổ sung quân, nhưng không phải lính mới mà là các cựu binh ưu tú, chọn lọc từ các đơn vị trong sư đoàn.

Sở dĩ phải bổ sung quân một phần để bù đắp những chiến sỹ trinh sát đã hy sinh qua mùa hè Bảy Hai ác liệt, một phần vì chủ trương thay máu của lãnh đạo đơn vị.

Quảng Trị Bảy Hai cướp mất của chúng tôi A Độ, bạn Triệu và em Hiếu.

Đợt ấy, A8 của tôi được bổ sung 4 người: Lâm "họa sỹ", Bảo "con", Út "Loan" và Chỉ.

Chuyện về mỗi người ấy đều đáng vài trăm trang.

Phần này xin hãy chỉ nói về Út Loan.

Út không phải là con út như ngoài Bắc hiểu mà Út theo tiếng Quảng Trị, là em gái, cô gái.

Tên thì là Loan, da thì trắng nõn trắng nà, mắt bồ câu, ngực phây phây, nây nẩy, chẳng Út thì là gì.

Nhưng riêng cách nói ngang phè của Loan thì không thể Út mà phải là Eng, Eng xịn. (Eng tiếng QT là anh).

Tôi không nhớ trước đó Loan đã ở đơn vị nào, nhưng chắc chắn phải là một tấm gương sáng mới được chọn lên Xê 20.

Về với tiểu đội tôi vào cuối Bảy Hai, Út Loan lăn lộn với bọn tôi Cao Hy, rồi đài quan sát 108, rồi lưới quét Trà Liên Tây, ... cho đến cuối Bảy Ba, với lủng củng bao nhiêu chuyện trắc trở, vui buồn nhưng là một phần không thể thiếu trong ký ức của tôi về thủa ấy.

Xin được bắt đầu câu chuyện Út Loan bằng đoạn nhật Ký của A trưởng:

"22.6.1973: Loan đi khỏi A của tôi.

Đến một nơi khác.

Nơi ấy không có tôi, không có những người như ở đây.

Tôi tránh không chia tay với Loan, bởi cái lẽ rất giản dị: Tôi rất thương Loan.

Ừ thì bướng đấy, lấc cấc đấy, ngang ngạnh và bồng bột đấy, nhưng chỉ làm tôi thương Loan chứ không ghét.

Thương vì Loan nghèo, nghèo về vốn sống, về sự hiểu biết và từng trải.

Vốn sống nhỏ nhoi của Loan không đủ cho Loan "xài".

Bao nhiêu mũi nhọn chĩa về Loan.

Nhiều lần tôi cố đỡ bớt cho Loan, nhưng không làm sao khác được.

Tôi cố đẩy Loan lên cho kịp với tầm chung, nhưng Loan lại nỗ lực quay ngược lại.

Ngẫu lực bắt Loan quay tròn và văng vào một cối xay khác.

Ở đấy có những gì đợi chờ Loan?

Tôi buộc lòng phải để người ta đẩy Loan đi.

Buộc lòng phải dứt đi một đồng đội mà ta coi như em trai.

Ta bất lương.

Ta tàn nhẫn.

Ghi vội khi Loan đang ngủ.

Khi nào ngủ con người lạicàng lương thiện hơn, tội nghiệp hơn.

Khi nào tỉnh dậy thì đi nhé.

Hãy đi vàonới mới ấy bằng một thằng Loan mới – Trà Liên Tây."

Nhật ký thì là thật rồi, thật 100%, nhưng cô đọng quá.

Chỉ mấy dòng cảm xúc bút chì bồng bột của cậu a trưởng 21 tuổi về một cậu lính trẻ hơn 1 tuổi, bồng bột hơn mình một chút thì chưa đủ để hình dung sự thể trọn vẹn thế nào mà Loan phải ra đi.

Xin được dựng lại câu chuyện theo hồi ức.

Hè Bảy Ba, ở làng Trà, có một lần chính trị viên tổ chức cho cả đơn vị đi xem phim "Anh Trỗi", dựng theo tác phẩm "Sống Như Anh".

Xem song, mấy tối sau các trung đội, tiểu đội thảo luận và viết "thu hoạch" về tấm gương yêu nước quên mình của anh Trỗi.

Trong phim có cảnh sáng sớm sau đêm bị bắt vì đặt mìn trên cầu Công Lý, cảnh sát giải anh Trỗi về khám nhà.

Khi mới nhìn thấy người vợ trẻ đang đứng rửa mặt ở sân, anh Trỗi chủ động nói to: "Quyên, anh bị bắt!".

Thế mà một cậu lính trinh sát lếu láo nào đó của Xê 20 xuyên tạc giọng Nam bộ thành: "Guyên, ăn dẩm phải cức".

Câu nói xuyên tạc lan rất nhanh trong Xê kèm theo những trận cười no nê, và lọt đến tai chính trị viên.

Ông bắt đầu khoanh vùng để tìm ra thủ phạm.

Loan không bị dính vào vụ "dẩm phải cức" ấy nhưng cũng bị khoanh vào vùng nghi vấn.

Cộng cộng mấy nghi án, dù tôi hết sức bênh vực thì cuối cùng Loan cũng nằm vào diện phải thay máu, nói theo ngôn ngữ hồi ấy là "xuống bộ binh".

Đầu 6/73, tôi nhận quyết định tạm trao tiểu đội lại cho Lạp, a phó, để chuyển sang làm "hiệu trưởng" lớp binh địa.

TTNL cũng vậy.

Hai đứa chuyển về cuối làng, ở nhà Cha Cò Mụ Miến.

Tối 21/6/73, thấy các thủ trưởng đơn vị gọi tôi lên.

Tôi được thông báo cho biết, sáng hôm sau sẽ có lệnh điều chuyển Loan đi nhận nhiệm vụ mới ở đơn vị khác và yêu cầu tôi không được để cho Loan biết trước.

Tôi ngỡ ngàng.

Không rõ điều gì đã xẩy ra trong 2-3 tuần qua, kể từ khi tôi rời A sang lớp Binh địa.

Mặc dù tôi thanh minh rồi phản đối nhưng đã là quân lệnh thì chỉ có việc tuân theo.

Thế là Út Loan của tôi phải "xuống bộ binh" rồi.

Tối ấy tôi không ngủ ờ nhà Cha Cò mà về A8 ngủ.

Một buổi tối vui hờ với anh em trong dằn vặt, dối trá.

Theo kế hoạch, sáng 22/6 tôi phải vượt sông Thạch Hãn sang Bích La, Đại Hào chuẩn bị địa hình cho lớp binh địa.

Tôi dậy rất sớm, lặng lẽ đứng nhìn Loan đang ngủ say, rồi quay về nhà cha Cò, quơ bút chì viết vội mấy dòng nhật ký trên, xong lấy bản đồ, địa bàn, cho vào túi mìn Claymo, bơi qua sông Thạch Hãn.

Đọc lại nhật ký tôi mới giật mình: Hóa ra ngày 22/6 tôi qhi nhật ký đến 2 lần với 2 cái mốc đáng nhớ: Chia tay Loan về bộ binh và lần đầu tiên nhìn thấy Thủy tề rất gần.

Sau khi khảo sát địa hình, tôi lại bơi ngược về Trà Liên, nhưng ở quãng sông vắng mãi cuối làng.

Đây là quãng sông lạ, tôi chưa tắm hay bơi bao giờ.

Khi sang đến gần bờ phía Trà Liên Tây, tôi bị lọt vào vùng sông dày đặc rong.

Càng bơi rong càng dày, quấn cứng lấy chân.

Đuối sức và tuyệt vọng tôi lần lượt dìm ướt rồi bỏ buông cả dép, cả quần áo, mũ cối, cố trườn ngửa lên mặt sông đầy rong, ngoặc quai túi mìn claymo qua vai, để chiếc túi trong có bản đồ, la bàn lên bụng, rã rời vẫy vẫy chân tay, đờ đẫn thở.

Tôi nằm buông xuôi tuyệt vọng như vậy không rõ bao lâu thì chợt thấy đầu kịch vào bãi cát như có một phép màu.

Sống rồi.

Trưa về, tôi buông mấy dòng sặc mùi ông cụ non vào nhật ký:

"22.6: Hãy coi chừng.

Mày chưa phải là Cái rốn của vũ trụ đâu.

Có vô vàn những thế lực khác sẵn sàng nhận chìm mày như trưa nay. – Thạch Hãn Giang."

Sau lần chết hụt buổi trưa, buổi tối tôi lại về A8 ởđầu làng, vừa để hỏi hạn, san sẻ và thanh minh với anh em chuyện Loan "xuống bộbinh", vừa để kể về vụ suýt chết đuối ở bãi rong phía cuối làng.

Đấy là tối thứSáu, tối cuối tuần.

Nhưng lạ thay, chưa vào đến nhà tôi đã nghe tiếng Út Loan,đúng là tiếng nó.

Mấy đứa đang quật Tiến lên, thắng thua, hò hét inh ỏi.

Tôi soi kỹ trong nhật ký và lục lọi trong ký ức nhưng không thấy thông tin nào về việc vì sao lần ấy Loan không phải "xuống bộ binh", chỉ tìm thấy một đoạn nhật ký viết sau đó gần 1 tháng, không có tên Loan trong đoạn này, nhưng có gì đó gần gần với vụ việc của Loan:

"20.7 Nếu như hắn không làm vừa ý anh một lần đầu trong nhiệm vụ thì đừng vì thế mà "bỏ két" hắn ta.

Bỏ vào "két", hắn ta sẽ mốc lên, gỉ ra rồi rữa mất.

Mà chắc gì anh đã tìm thấy một "hắn" khác như ý hơn.

Phải làm tận bờ, sát góc.

Được mới thôi.

Hỏng, làm nữa, làm lại, làm đến được thì thôi.

Được là được việc và được cả người.

Đừng bỏ rơi hắn.

Chọn người là dễ đi đến "kiêu binh".

Phải rèn người mới phải.

- Trà Liên".

Sở dỹ ở đại đội trinh sát sư đoàn có câu chuyện cảm động về liệt sỹ Sự ở A2 của Tichtuongnhule, cũng như câu chuyện éo le về Út Loan ở A8 của tôi là vì tính đặc thù của đơn vị trinh sát.

Thực ra Xê 20 cũng là bộ binh thôi, nhưng nghiệp vụ trinh sát có những yêu cầu nhất định.

Do vậy mới có chuyện tuyển chọn lính mới về, thải lính cũ đi, chứ đơn vị bộ binh chiến đấu thì đâu có như vậy được, đã cùng đơn vị rồi thì đi với nhau đến cùng chứ.

A trưởng với lính thì như ruột thịt, ngoan hư gì cũng tựa vào nhau mà sống, mà chiến, chẳng nỡ đuổi đứa con hư sang hàng xóm mà cũng chẳng hớn hở đón đứa con ngoan nhà khác về nhà mình nuôi.

Trung đội trưởng xa hơn, chính trị viên đại đội thì còn xa nữa, chuyển đi, nhận về mà ít băn khoăn, dằn vặt.

Trái ý thì điều chuyển, đỡ bận tâm, lấy đứa mới về, dẫu gì cùng dễ bảo, ít nhất là giai đoạn đầu.

Có phải chỉ huy nào cũng được học sách dụng binh của Tôn tử đâu.

Tôi níu Loan lại với A8, với Xê 20 được tới cuối năm, vui buồn nham nhở một mùa hè Bảy Ba rát rạt nắng gió và mênh mang mưa lũ ở làng Trà, những đêm lấm lem bì bõm kéo lưới quét ở Hói Bái, những ngày bập bềnh lũ quét Thạch Hãn vớt củi, đêm mưa dò dẫm trên đồng làng bắt ếch chằm, chọc bắt lũ chuột chạy lũ trên ngọn tre, lên sân bay Ái tử dỡ ghi đường băng về ghép giường, đủ đói no, sướng khổ.

Để rồi việc gì phải đến, cũng sẽ đến – Loan vẫn bị "xuống bộ binh".

Tôi lại tìm thấy một đoạn ngắn trong nhật ký cuối năm với duy nhất một chữ Loan:

"11.12.73: Khuê thân mến!

T vừa nhận được tin một chiến sỹ của tiểu đội T sắp phải xa T.

T viết những dòng này trước khi viết thư gửi lại cho "con chim non" ấy. ...

Dù chỉ là dính líu mà T vẫn thấy mình mắc tội.

Lại "đẩy" em đi đâu?

T cảm thấy rõ rệt một trách nhiệm vô hình gắn T với Loan.

Phải là người nâng đỡ, che chở cho Loan mới phải.

Bây giờ T cảm thấy mình luôn là nạn nhân của sự hối hận, mặc dù công bằng mà nói, T cũng đã nhân đạo rất nhiều và từ lâu rồi.".

Không nhớ lần ấy chỉ huy đơn vị đã vin cớ gì để chuyển em "xuống bộ binh".

Và không biết em đã "văng" vào cái cối xay nào, rồi em ra sao ở đấy, có bị nghiền nát không, có may mắn trở về sau chiến tranh không?

Chữ Loan duy nhất trong đoạn nhật ký trên cũng là chữ Loan cuối cùng trong tất cả bộ sưu tập nhật ký của tôi.

Cứ thế bẵng đi cho đến chiều 23/4/2011.

TTNL và tôi đứng chờ ngoài ngõ.

Tiến vào nhà, chỉ nửa phút sau quay ra.

Cùng đi với Tiến là một người đàn ông.

Tôi là người chủ động nên dù người ra cùng Tiến có khác với tưởng tượng bao nhiêu chăng nữa thì cũng biết chắc chắn đấy là nó, là Út Loan.

Loan là người bị động, cậu đứng ngừng giây lát ngay đầu hè, ngây người nhìn 2 chúng tôi.

Tôi không biết Loan nghĩ gì, cảm xúc ra sao, có nhận ra tôi không.

Có thể Loan nhận ra tôi vì thấy 1 trong trong 2 người khách Hà Nội đứng lau nước mắt.

Loan thay đổi quá nhiều, đã thành một lão nông thựcthụ, nhưng nét mặt và ánh mắt, giọng nói nhát gừng, thũng thẵng thì vẫn là ÚtLoan xưa.

Dồn trong tôi biết bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu thắc mắc, tò mò về Loan kể từ khi tôi viết thư gửi lại cho em để chạy trốn buổi chia tay đầy oan khúc cuối Bảy Ba.

Thực tình, bây giờ ngồi chỉnh tề đối diện Loan trong ngôi nhà tuềnh toàng ở xóm quê xứ Khoái, tôi thấy ngường ngượng khi nghĩ ngày xưa mình đã thản nhiên coi mình là anh, coi người đàn ông giờ đã luống tuổi, điềm đạm này là em, là "con chim nhỏ", để kẻ cả bao che, nâng đỡ, dìu dắt.

Cứ bạ đâu hỏi đấy, rồi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Loan chậm rãi kể, lúc xưng em, lúc xưng tôi: "Lấn ấy ở Trà Liên là em bị oan.

Cả đơn vị đi giã ngoại, em với mấy đứa được cắt cử ở lại coi doanh trại.

Mỗi tiểu đội cử một người ở lại, người tiểu đội nào coi đồ đạc nhà cửa cho tiểu đội ấy.

Cơm chiều, 3 thằng gác nhà của 3 tiểu đội B3 rủ nhau ăn chung một nhà, tán phét cho đỡ buồn.

Khi về nhà thì thấy khẩu AK-báng gấp không cánh mà bay.

Thời ấy dù ở nhà dân nhưng sơ sài, tin nhau, chẳng nhà nào có khóa cổng, khóa cửa.

Mất vũ khí thì toi, hoáng lên đi tìm.

Chưa kịp định thần tìm ở đâu, nghi cho ai, báo cho ai thì thấy T ở C-bộ báo tất cả anh em còn ở nhà lên C-bộ tập trung.

Thế là vỡ ra thành chuyện to: Thằng Loan A8 để mất súng AK".

Kể đến đây thì tôi lơ mơ nhớ ra rồi.

Đúng là hồi ấy Loan bị quy tội vô kỷ luật, để mất vũ khí.

Tôi cũng bị hành lây.

Nhưng thực ra là khi 3 đứa Loan đang ăn cơm tối rồi nhi nha chuyện gẫu thì đúng lúc y tá T thay mặt đại đội đi kiểm tra tình hình mấy đứa ở các a.

Đến A8 không thấy ai ở nhà.

T liền lặng lẽ xách khẩu AK báng gấp của Loan về C-bộ, cất đi, chắc là nửa đùa, nửa thật, cốt để cảnh cáo, nhắc nhở.

Rồi chuyện đùa thành thật, bé xé thành to, nhất là với Loan, người đã từ lâu nằm trong danh sách dự bị, nhấp nhểnh "xuống bộ binh" mấy lần rồi.

Lần này thì chính trị viên có lý do chính đáng.

Loan chẳng biết cãi vào đâu.

Tôi thì đắng cay liên đới, vì nhiều lần đã cố bao che cho Loan.

Trong lòng cũng hối hận vì lần ấy đã cắt cử Loan ở nhà.

Loan chậm rãi: "Ừ thì tôi bị đi.

Nhưng lão T cũng bị đại trưởng Ngơi trị cho một trận về tội gây hoang mang, đơn vị đang giã ngoại phải rút kế hoạch về sớm vì tưởng là mất súng thật".

Tôi hỏi: "Bây giờ còn thù lão T không?" .

Vẫn thủng thẳng: "Lão ấy chế-ết rồi, thù gì".

Cả tôi và TTNL phì cười: "Mày bậy nào, tháng trước T mới ở Vũng Tàu ra, cả bọn còn ngồi nhậu ba ba ở bán đảo Linh Đàm, gần nhà Thắng quản".

Loan tưng tửng nói sang chuyện khác, chẳng cãi một lời, chẳng hỏi thăm một lời.

Thế đấy.

Tôi chợt nghĩ vớ vẩn: liệu năm nay, năm sau, ... có một lần nào đó Xê 20 gặp mặt nhau mà Loan gặp y tá T thì sẽ ra sao?

-Thế rồi làm sao nữa?

- Về vệ binh sư đoàn.

-Tưởng xuống bộ binh?

Về vệ binh chẳng hóa sướng hơn,chắc gáo hơn ở trinh sát à? – Sướng khổ gì đâu, vệ binh chưa được tháng lại bịtai bay vạ gió, lại bị cú oan, số tôi nó chó thế, hết oan này đến oan khác, oanhơn.

Tôi thấy cũng khó hiểu, sao lính "Trinh sát" lại thải xuống "Vệ binh", vì vệ binh là lực lượng cũng được lựa chọn kỹ càng, sống sát cùng các chỉ huy sư đoàn với nhiệm vụ bảo vệ bộ tư lệnh sư đoàn.

Nhưng thôi để lần sau hỏi Loan hay lúc nào đó hỏi Trung, vốn là liên lạc của Xê 20, sau lên làm liên lạc cho sư trưởng Minh Tâm rồi chuyển sang "điếu đóm" cho ông Cao Văn Khánh, chắc sành về vệ binh.

Loan kể tiếp: Về C23 (Vệ binh) chưa ấm chỗ thì lại xảy ra sự cố.

Lần ấy chính ủy Trang phàn nàn bên vệ binh làm sao mà mấy ngày gần đây trưa nào dưới bến sông cũng ùm ùm, lính vệ binh bơi, tắm, đùa nghịch, mất trật tự, nước sông thì vẩn đục, có khi trôi nổi cả nhiều thứ bẩn thỉu.

Chẳng là vì doanh trại của C23 nằm cách không xa với hầm chính ủy, cùng ở bờ sông (Lai Phước), nhưng vệ binh ở phía đầu nguồn, chính ủy ở phía dưới.

Thế là vệ binh phải tức tốc họp lên, họp xuống.

Chẳng ai tự giác nhận, chẳng thể tìm ra nguyên nhân.

Thôi đúng rồi, trước kia có sao đâu.

Chính ủy bảo mới gần đây, mà mới gần đây thì chỉ có thay đổi duy nhất là mấy cậu trinh sát mới chuyển về vệ binh.

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba trinh sát, đích thị rồi.

Tôi hỏi: Oan nhỉ!

Lần này thì xuông bộ binh hẳn chứ? – Đâu.

Vệ binh trả về trinh sát.

Loan về lại trinh sát thật, nhưng không phải Xê 20 sư đoàn mà là trinh sát trung đoàn.

Loan về với trinh sát e95.

C20 của e95 thì rất gần gũi với Xê 20 sư đoàn.

TTNL hỏi: Thế là về chỗ "Bọ Hiền" à?

Thế có biết Hổ, có biết Chinh không? – "Vâng, bọ Hiền, Chinh, Hổ.

Hổ mới chết".

Thế là lại có nhiều chuyện về nghiệp trinh sát để chia sẻ.

Loan nhoài người đẩy cánh cửa kính lùa của chiếc tủ chè, lấy ra tấm ảnh khổ lớn, ép plastic, đặt trang trọng giữa tủ: "Gặp mặt trinh sát 95 đây, năm ngoái".

Khi tôi phụ trách lớp binh địa ở Trà Liên năm 1973, có tới 8 học viên từ trinh sát 95.

Tôi cố nhìn kỹ nhưng chẳng nhận ra ai, kể cả Loan.

TTNL xem rồi cười: "Lão nào già khụ nhất đứng đây?".

Tôi đón lại tấm ảnh xem.

Ừ, người già nhất, hom hem nhất đứng ở phía trái, hàng sau, nhìn kỹ thì nhận ra ngay là Út Loan.

Tôi lăn tăn, giá mà có bức ảnh vẫn gồm những người nàynhưng chụp vào 37-38 năm trước thì chắc chắn người trắng nhất, trẻ nhất phải làÚt Loan.

Chuyện kể buồn buồn của Loan chiều chủ nhật 24/4/2011 về cuộc sống sauquân ngũ cứ gỡ dần những băn khoăn, thắc mắc của tôi, vì sao Loan lại già đinhanh hơn mọi người.

Tôi không biết bắt tử vi, nên không biết sao gì năm nào chiếu Loan mà em khổ sở, long đong, oan trái nhiều thế.

Nhưng rồi về đến trinh sát 95 thì Loan như đã gặp sao hộ mệnh.

Bằng chứng là Loan rất hồ hởi, tự hào kể về những tháng ngày chinh chiến với C20-E95 cho đến khi im tiếng súng.

Thế là qua bao nhiêu trắc trở thì phần lớn cuộc đời quân ngũ của em cũng là gắn với nghiệp trinh sát.

Loan cũng như tôi, may mắn trở về sau chiến tranh, dù không lành lặn.

Chiến tranh tưởng chỉ như một giấc mơ đôi ba năm, tỉnh dậy là đời thường, sân vườn, mùa màng, con cái.

Tưởng như thế cho đến khi đứa con thứ 3 của Loan ra đời, năm Chín Mốt.

Cháu bị di chứng chất độc da cam từ bố.

Thương con, nhọc nhằn, lặn lội, vất vả lắm.

Quá tải.

Vợ Loan lâm bệnh, ra đi.

Loan trụ được đã là giỏi, làm sao mà không già trước tuổi được.

Hỏi về cuộc sống, về sức khỏe của Loan, em lấy ra cho bọn tôi xem bộ hồ sơ giám định di chứng chất độc da cam.

Khám mãi, cả chục năm vẫn không được.

Con bị nhiễm chứ bố không.

Gần đây mới có chủ trương lưu tâm đúng mức khi giám định những trường hợp cựu chiến binh có con đã là nạn nhân chất độc da cam.

Hồ sơ ghi dày đặc bệnh.

Tưởng như nhìn người cũng biết, cần gì khám.

Em bị mất 73% sức khỏe.

Chắc đợt tới sẽ được hưởng chế độ, đâu đó gần 2tr/tháng.

Cũng đã Năm mươi tám tuổi rồi.Thôi muộn cũng hơn không.

Loan đi bước nữa và đã có cậu con trai đến tuổi đi học.

Dù sao câu chuyện cũng có hậu.

Chia tay Loan, tôi nắm tay đứa lớn dị tật.

Bé nằm trêngiường, cười cười nhưng như vô tri, vô giác.

Thương lắm.

Tôi vội đưa mấy đồngcho vợ Loan nhờ mua quà cho cháu.

Muốn nói mấy lời chia sẻ mà giọng cứ lạc đi.Chúng tôi đứng chụp chung một bức ảnh trước nhà Loan.

Nhà đang có vợ chồng Loanvà bé trai 20 tuổi với 3 khách là 6, để chụp tự động mà chỉ có 5 người vàoảnh!

Bùi ngùi chia tay Loan, chúng tôi quay về nhà Tiến.

Hưng Yên đúng là xứ nhãn.

Bờ sông, bờ mương, những lối đi lớn đều có những cây nhãn cổ thụ.

Năm nay nhãn chạt hoa.

Tôi nhớ mang máng, hình như năm nào nhãn sai là năm đó mưa nhiều, nước lớn.

Tôi tò mò hỏi Tiến: Thế nhãn ấy là thuộc sở hữu của ai?

Tiến bảo: Gốc nhãn trong đất nhà nào thì của nhà ấy, còn ở ngoài đường, trên đê, ... thì của thôn, của xã.

Thôn xã đấu thầu, ai nhận cây nào thì trông coi cây ấy, thu hoạch rồi đóng cho thôn cho xã ít tiền.

Cây nào ít hoa thì bỏ kệ.

Thấy cũng hay hay.

Vào nhà Tiến thoáng thấy có vẻ khang trang, mát mặt hơn nhà Loan.

Tiến trồng cây cảnh, xếp la liệt trong sân, nhưng không phải để chơi.

Hưng Yên là đất nhãn từ xa xưa, bây giờ còn thêm là đất quất và cây cảnh.

Tôi nhớ Tichtuongnhule kể trên Quân Sử chuyện hết chiến tranh gặp Tiến thồ rau lên Hà Nội bán.

Đất nước ơi, những người lính, người dân của Người thế đấy.

Tôi và TTNL gần như chẳng bao giờ dùng đến kỹ năng binh địa trong cuộc sống sau chiến tranh.

Những người như Tiến cũng chẳng bao giờ dùng đến các kỹ năng trinh sát nữa.

Tiến kể chuyện nhà.

Cũng nhiều éo le lắm.

Nhưng Tiến kể cứ như sự việc nó phải như vậy, cần cù và yên phận.

Tiến lấy cho chúng tôi xem hồ sơ thương tật giữ từ hồi Quảng Trị, mấy tờ giấy cuộn tròn để trong chiếc ống nhựa.

Tôi ngờ ngợ "tủ tài liệu" của Tiến.

Tiến bảo: Ống đựng thuốc phóng em giữ từ ngày ấy đấy.

Bên trong, giấy đã chuyển màu vàng, chữ đã mờ.

Cũng lăn lộn đi khám nhưng chẳng được xếp thương binh.

Tạm biệt Hưng Yên.

Còn nhiều nợ với đất nhãn lắm, thếnào cũng quay lại.

Những chuyện xưa

Chuyện kể dưới đây là vào khoảng năm Sáu Tám, tức là đã hơn 40 năm rồi.

Gọi là xưa sợ hơi non.

Một vùng ký ức đã nham nhở bỗng lờ mờ hiện về khi đọc mấy tin tức ồn ào về Biển Đông.

Khi ấy tôi đang học đầu cấp III.

Miền Nam lúc đó đang hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, hết chiến thắng này đến chiến thắng khác: Ấp Bắc, Núi Thành, Gian-xơn-si-ty, ...

Chịu không nhớ nổi thứ tự.

Năm ấy còn có Mậu Thân, tưởng như suýt Giải phóng.

Sở dĩ không còn đọng lại rành rẽ chiến sự miền Nam khi ấy, phần vì đang là trẻ con, sau nữa là vì khi ấy chiến tranh đánh phá ở miền Bắc cũng ác liệt, trực tiếp chứng kiến, nên dễ nhớ hơn.

Năm ấy có một đơn vị GPQ Trung quốc đến đóng ở quê tôi.

Chỉ khoảng hơn một trung đội.

Họ không ở trong dân mà ở mấy khu nhà vốn là công sở cấp huyện, nhưng cơ quan đã sơ tán.

Một nhóm ở khu nhà vốn của là cửa hàng Thực phẩm huyện, một nhóm khác ở khu nhà của bệnh xá huyện.

Ai nấy đều luôn cầm trên tay hay đút túi ngực những chiếc sổ bìa nilon màu đỏ, đủ các kích cỡ, dày mỏng khác nhau, có ảnh Mao Chủ Tịch và rất nhiều chữ TQ, gọi là Mao Tuyển, còn trên ngực áo đeo huy hiệu rất to, có hình nổi của Mao Chủ Tịch, cũng đỏ rực.

Tình cờ năm ấy tôi học Trung Văn.

Vốn tiếng Tàu chưa phong phú, nhưng cũng đủ để lân la làm quen với Bát Lộ Quân, vừa vì trăm thứ tò mò, vừa để xin Mao Tuyển và huy hiệu Mao chủ tịch.

Huy hiệu thì để chơi, còn Mao tuyển thì bóc lấy bìa nilon làm ví chứ đâu có đọc được.

Một tò mò nữa là: người ta truyền nhau rằng quân TQ giết lợn chỉ ăn thịt, lòng gan đem chôn.

Tôi lẽo đẽo theo họ cả tuần để do thám nhưng không sơ múi được gì.

Chiều nào tôi cũng đứng chầu rìa xem anh nuôi Tàu cán bánh gối để có dịp ti toe mấy câu lơ lớ Tàu.

Bộ phận quân TQ đóng ở làng tôi không nhiều, lại chẳng thấy tập tành hay làm gì, chỉ thấy họp hành và quanh mấy bữa ăn.

Nhưng cách làng tôi không xa là 2 đơn vị đông hơn.

Có vẻ như bộ phận chỉ huy đóng ở làng tôi, còn 2 đơn vị "chiến đấu" thì đóng ở 2 xã bên cạnh.

Đơn vị ở Sơn Lôi, cách làng tôi khoảng 6-7km, đóng quân trên đồi.

Họ thành lập một trận địa pháo phòng không, nhưng cũng chỉ có mấy khẩu 12 ly 7 thôi, chịu trách nhiệm bảo vệ cầu đường sắt Thịnh Kỷ.

Mỗi lần có máy bay Mỹ bay qua, dù không nhăm nhe gì cầu Thịnh Kỷ thì họ cũng bắn như điên.

Hồi ấy bọn tôi thán phục lắm.

Chẳng biết có trúng chiếc nào không.

Có trúng thì cũng tính cho thành tích dân quân Sơn Lôi.

Và rồi một lần nào đó cây cầu Thịnh Kỷ cũng vẫn bị bom Mỹ đánh sập, chẳng biết quân TQ có bị thương vong gì không.

Cầu đổ, những người lính TQ quay ra giúp ta làm một đoạn đường sắt "tăng-bo", chạy vòng xuống cánh đồng, bắc một cây cầu tạm.

Đơn vị TQ khác đóng ở Hương Sơn, cũng cách xã tôi6-7km.

Họ đóng quân trong sườn núi Trống, tách biệt hẳn khỏi dân, quân dân takhông được bén mảng.

Thấy họ đào sâu vào lòng núi.

Sự úp mở ấy dấy lên nhiềutin đồn rất khác nhau: Họ đào hầm chứa vũ khí, chứa máy bay, chứa xe tăng, hayhọ đào kho báu giấu từ thời Triệu Đà, hay họ khai thác vàng trong lòng núi mangvề nước, ...

Bây giờ căn hầm ấy thuộc trang trại của một người bạn tôi.

Nó bịbỏ không.

Tôi vào xem thấy đó là một căn hầm rất to, đổ thành bê tông chắcchắn, đủ chứa quân cho cả một trung đoàn.

Cũng vẫn chưa rõ căn hầm để làm gì

(Chuyện bên lề:

6971 kể có dạo được làm chuyên gia về tù binh lam tôi nhớ tới 3 chuyện liên quan tới tù binh.

Chuyện 1, xảy ra ở Quảng Trị :

Ngày ấy làm lính thối tai chai đít nên ngoài việc chuyên môn cũng bị thối tai với các chuyên linh tinh của đối tác bên VNCH, có lần nghe được 2 thằng chúng nó hết việc, khuya rồi nên chúng nó lang thang nói chuyên tào lao cho khuây khỏa.

Một thằng kể cho thằng kia nghe:

" Có đơn vị bộ đội Việt Cộng đóng quân trong rừng, bếp ăn đặt gần suối.

Anh nuôi làm nhiệm vụ nấu ăn rất chăm chỉ hàng ngày.

Một thời gian anh thấy buồn chán vì thấy đồng đội được ra trận chiến đấu lập công còn anh thì chỉ quanh quẩn với nồi niêu và con suối.

Anh trình bày nguyên vọng được ra trận và hứa quyết tâm diệt được nhiều địch và bắt được cả tù binh.

Cán bộ động viên anh tiếp tục làm anh nuôi ít ngày nữa, sắp tới có thay quân sẽ giải quyết nguyện vọng của anh.

Anh phấn khởi lắm.

Bỗng một hôm, mọi người trên khu vực bếp ăn nghe tiếng anh vọng lên rất to từ dưới suối:

- Các đồng chí ơi, tôi bắt được tù binh, bắt được tham báo địch.

+ Giải nó lên đây.

- Tôi giải nó không đi mà chúng nó còn đang lôi tôi đi, các đồng chí ơơiii

+......

Chuyện 2, xảy ra ở Đà Nẵng

Sau khi cánh quân đánh biên từ tây Thừa Thiên, những điểm cao 847, 660 ào xuống giải phóng Phú Lộc, chặn địch rút theo đường bộ vào Đà Nẵng và chặn rút đường biển qua cửa Tư Hiền, Đầm Hai, chúng tôi vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng.

Đơn vị nhỏ chúng tôi dừng chân tại thôn Liên Chiểu, ngay dưới chân đèo, có đường sắt chạy từ trong hầm núi ra.

Ít ngày nghỉ quân, dưỡng sức ở ĐN để tiếp tục hành tiến qua mấy tỉnh miền Trung đã giải phóng.

Từ đây cánh quân 325 cứ thẳng đường 1 mà tiến, đánh trung lộ từ Phan Rang đi...

Một hôm, ngày 2/4/75, buổi sáng cắt tóc rồi mấy thằng đi tắm giặt tại bể nước trong kho xăng Liên Chiểu gần nhà.

Khi gần xong thì nhìn thấy 4 thằng tàn quân ngụy tay không đang thất thểu từ phía hầm đường tàu đi đến.

Chúng tôi giữ lại hỏi và áp giải về đơn vị.

Chúng là lính d2 E54 Sư 1 ngụy.

Mấy ngày trước bọn này tháo chạy từ La Sơn vào đây, đã 4 ngày ẩn nấp trên núi, nay đói quá và thấy hết hi vọng nên phải mò ra đầu hàng.

4 thằng quê Quảng Ngãi, Huế và Quảng Trị, có 1 thằng cấp thiếu úy.

Bốn thằng tóc bờm xờm, mặt mày hốc hác, quần áo rách bươm, có 1 thằng mặc quần đùi, thằng thì còn giày, thằng thì chân đất trông thật thảm hại.

Thấy chúng tội nghiệp, bọn tôi cho chúng lương khô.

Giải về đơn vị thì các thủ trưởng bảo giải chúng đến trại tù binh của Sư đoàn.

Thế có dại mua việc vào nguời không chứ !

Thủ trưởng giao tôi và Hùng côn giải đi.

Hai thằng dẫn chúng đến bên kia cầu Nam Ô nhưng không tìm thấy trại của Sư nên phải quay lại giao cho trại của E101.

Loanh quanh mất gần hết cả buổi chiều.

Trong 4 thằng, tôi thấy có 1 thằng trông tội nghiệp nhất, người hom hem.

Hắn nói 35 tuổi, tên là Phong ở 11 Võ Tánh, Huế, có 5 con.

Hắn hỏi tên mình, nói là để biết khi gặp lại, mời mình sau này có dịp qua Huế thì tạt chơi.

Bẵng đi với đêm ngày cuốn theo cuộc chiến ai mà nhớ những lời xã giao như thế.

Ấy thế mà khi trên đường ra Bắc trở lại trường đại học, khi dừng lại ở Huế tôi bỗng nhiên nhớ tới lời mời của anh chàng này.

Chẳng là đoàn lính SV chúng tôi dừng lại Trạm ở xã Thủy Tân, Hương Thủy cách TP Huế vài ba chục cây số gì đó.

Chúng tôi chờ xe của Tram để đi tiếp nên tranh thủ lần lượt từng tốp đi chơi Huế.

Hôm đấy là ngày 6/7/75 tôi và Tich Tường Như Lệ đi, mang theo máy ảnh của Duyên, TSKT ảnh, còn 8 pô cánh đi trước để giành cho 2 thằng.

Hai thằng không 1 xu dính túi nhưng cũng vào đến Huế vì đi nhờ xe đò của dân.

Nhớ tới lời mời của thằng hàng binh Huế tôi ngĩ nếu tiện thì tạt đến gặp nó cũng hay.

Tôi rủ TTNL đi, nhưng khi tìm đến phố ấy thì không thấy số nhà ấy.

Hai thằng nhìn nhau cười : " hay là nó nói sạo " !

Cũng chẳng thấy cáu bực gì vì cũng là đi dạo chơi ấy mà.

Hai thằng đi loanh quanh, chụp ảnh tại cột cờ Phú Văn Lâu, vào thành nội có chụp kỉ niệm với các cháu trường cấp 1 Trần Cao Vân và Trần Quốc Toản; rồi lang thang chup ảnh cả ở cầu Tràng Tiền và chợ Đông Ba.

Nhớ mãi là dến giữa trưa thì hai thằng ở trong chợ Đông Ba, chẳng có xu nào nên hai thằng lên gác 2 ngồi nghỉ.

Trên tầng 2 bỏ không, chợ chỉ họp tầng dưới.

Hai thằng đói meo bụng mà chẳng có gì ăn.

Đã thế lại có mấy cháu bán hàng rong đến mời hai chú mua hàng.

Hai thằng bảo các chú không có tiền, chúng nó không tin và vẫn quanh quẩn ở đấy chơi và nói chuyện.

Chắc chúng nó cũng muốn nghỉ giải lao cùng 2 chú bộ đội.Thấy mấy cháu ngoan, hai thằng lục lọi trong người được cái huy hiệu gì ấy ( hay là phù hiệu quân giải phóng thì phải, TTNL ? ) rồi tặng các cháu.

Chúng nó thích lắm, cảm ơn rất lễ phép.

Nghỉ ngơi đỡ mệt và vui vì mấy đứa trẻ nghèo nhưng ngoan, xế chiều hai thằng ôm cái bụng lép kẹp lững thững ra ngoài đường đi nhờ xe dân từng chặng để về Trạm.

Không gặp lại thằng hàng binh Huế có khi lại hay, vì có gặp - nó 35 tuổi mà đã 5 con thì dễ gia cảnh nheo nhóc lại chẳng cám cảnh thương cảm lắm sao ?

Hai thằng lính trinh sát Sư đoàn mấy tháng trước từtrên rừng cùng cánh quân đánh xuống giải phóng Huế trưa nay bị đói giữa chợĐông Ba.

Một kỉ niệm vui của lính – 36 năm đã trôi qua !

Chuyện ngày xưa

Tôi nhớ cách đây không lâu, "Đấu trường 100" trên VTV3 ra câu hỏi (câu thứ nhất): Ai là người lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong chiến dịch Biên giới Thu-Đông: Trần Cừ - La Văn Cầu - Phan Đình Giót - Bế Văn Đàn?

Người ngồi trên ghế nóng là một bạn nam, trẻ măng, giọng Nam Bộ.

Bạn ấy ngần ngừ một lúc rồi chọn đáp án Trần Cừ.

Cả nhà tôi đều thốt lên: "Dốt đến thế nữa!".

Ai mà chả biết là Phan Đình Giót (lúc uống rượu hay nhắc đến tên anh: Phan Đình Rót).

Bất ngờ khi công bố đáp án, 98 người sai, chỉ có 3 người đoán đúng, đó là 2 người chơi và chính người ngồi trên ghế nóng!

MC hỏi: Vì sao bạn chọn đáp án Trần Cừ?

- "Em hổng biết ai nên cứ chọn bừa".

Cho đến giờ, "Đấu trường 100" vẫn giữ con số kỷ lục ấy: Một câu hỏi loại được tới 98 người chơi - Chắc cũng như tôi, mọi người đều chọn PDG.

Một hôm khác, tôi hỏi đùa con tôi: Con có biết bác La Văn Cầu bị mất tay trái hay tay phải không?

Vợ tôi chặn luôn: Bác ấy chết rồi nó mới ra đời thì làm sao nó biết được!

Nghe vợ chặn vậy, tôi mới thũng thẵng: "Thế Hai mẹ con có biết cái ông sáng nay xách xô lấy đất trồng cây cảnh ngay trước cửa nhà mình là ai không?".

Cả hai mẹ con khẳng định có thấy, nhưng đều không biết là ai, nom lạ lắm, chắc ở khu tập thể Xunhasaba (Xuất nhập sách báo) bên cạnh.

Tôi được dịp cười đắc ý: "Bác La Văn Cầu đấy, không thấy bác ấy chỉ có một tay trái thôi à?".

Thực ra tôi cũng không giỏi hơn vợ con là mấy, bụp một cái hỏi thì cũng chẳng biết bác La Văn Cầu sống ở đâu, còn hay mất, mà chỉ là tình cờ hôm 27/7 năm vừa rồi, họp mặt TB gia đình LS, thấy cán bộ thôn Hoàng 5 (Cổ nhuế - Từ Liêm) giới thiệu: "Hôm nay xin trân trọng giới thiệu sự có mặt một thương binh đặc biệt - Anh hùng La Văn Cầu.

Bác mới chuyển về đây sinh hoạt cùng thôn ta.".

Nhiều người, trong đó có tôi sửng sốt, ngạc nhiên.

Hóa ra, 2 bác mới chuyển về ở với con cháu từ ít tháng nay.

Nhà chếch ngay cửa nhà tôi, nhưng đi ngõ đằng trước.

Hôm 30/4, tôi sang thăm bác.

Bác đã 81 tuổi nhưng vẫn khỏe.

Trong chuyện trò, bác rất hay nói câu: "Thời bộ đội cụ Hồ chúng tôi".

Tôi cũng thoáng chạnh lòng.

Thời tôi và cả thời sau này, mãi sau này thì vẫn cứ là Bộ đội Cụ Hồ chứ có là bộ đội gì khác đâu.

Nhưng ngồi nhân nha nghe bác Cầu tâm sự thì thấy bác ấy cũng có cái lý đúng của mình.

Nhân nói chuyện bác Cầu, thế hệ bác Cầu, tôi lại muốn kể một chuyện khác, cũng nóng hổi.

Chả là cứ đến mùa hè thì tôi hay đi bơi.

Bể bơi buổi sáng có rất nhiều cụ già.

Các cụ bơi thì ít, lại chậm, bơi kiểu quê, đầu ngóc cao như kiểu trâu bơi, chỉ được cái chuyện ngày xưa là râm ran.

Cao tuổi nhất bể bơi năm nay là cụ Tân, năm nay cũng 81 tuổi.

Tóc cụ đã bạc hết.

Cụ rất cởi mở, cứ rỉ rả kể từ chuyện tổ tam tam đến chuyện nhà, chuyện cửa.

Qua chuyện mới biết tôi với cụ hóa ra lại cùng đơn vị, đó là tiểu đoàn trinh sát d74.

Chỉ có điều cụ ở đơn vị này từ khi nó còn là D426, tiều đòn độc lập của Liên khu Việt Bắc, khi tôi sắp ra đời.

Khi kể chuyện, cụ cũng hay nhắc đến cụm từ "Bộ đội Cụ Hồ".

Cụ Tân kể: Tết nhất, cục 2 (Cục quân báo) vẫn nhớ đến các cựu trinh sát thời bộ đội cụ Hồ, năm nào cũng có cái thiếp chúc têt.

Lặng một lúc, cụ lại bảo: "Một cậu lính của tôi sau này chuyển ra làm xây dựng.

Nó bảo em chẳng được thiếp thiếc gì, cứ mỗi năm cơ quan cũ cho vài triệu mừng tuổi."

Tôi cứ thắc mắc, không biết từ đâu ra cái cụm từ Bộđội Cụ Hồ.

Và liệu như bọn tôi, thường tự nhận là Bộ đội đánh Mỹ, có được nhậnlà Bộ đội cụ Hồ không?

NHỮNG NGHỊCH LÝ CỦA THỜI GIAN VỚI NGHỊCH LÝ BỞI SỐ MỆNH

Năm Hà nội đang bị ném bom, tôi theo cơ quan bố tôi sơ tán lên vùng bãi sông Cà lồ - huyện Yên lạc.

Nhà chúng tôi đươc bố trí ở nhà dân, chủ nhà là một ông già, có người con trai duy nhất, đã có vợ và 3 con.

Chú ấy chăm chỉ -lo công việc, được tín nhiệm là đội trưởng sản xuất trong hợp tác xã.

Qua câu chuyện mà ông chủ nhà kể tôi biết thêm là ngày trước Ông đi buôn bè, sống cũng giang hồ và có một ít của nên bị gán "thành phần" vì thế mà chú ấy dù có cố gắng nhưng không được kết nạp Đảng.

Nếu chỉ thế thì cũng không ảnh hưởng gì cho dù cho lúc đó chiến tranh, khó khăn thì vẫn còn gắng được.

Một lần chú ấy phê bình cán bộ HTX ( chú ấy thẳng tính), cuộc hop căng thẳng đến khuya.

Bẵng đi tháng sau, đi học về tôi thấy ông cụ ngồi suy tư, hút thuốc lào nhiều.

Hỏi thì được biết chú " bị " goi đi bộ đội ( đi nghĩa vụ như ta đấy).

Bố tôi ngồi cả đêm tâm sự với ông cụ và chú ấy, thấy chú ấy chỉ thở dài còn ông cụ thì lo 5 miệng ăn dựa vào lao động chính ấy giờ thì phải làm sao?

Tôi cứ nghĩ vẩn vơ " Còn thanh niên Sao lại gọi ông có 3 con vào bộ đội cho khổ cả nhà "?

- chưa hiểu được ông già chú đã bị thành kiến nay chú giám phê bình lãnh đạo thì " đáng ghét" - cho đi bộ đội.

Tôi cảm thấy thương thương

Chú ấy đi, tôi cũng chuyển theo cơ quan bố tôi sang Hà tây.

Một năm sau, có người qua thăm Yên lạc về kể lại cho bố tôi, chú ấy đi chiến trường được 6 tháng thì hy sinh - đã có giấy báo tử.

Chú ấy không muốn đi lính và cũng không muốn là liệt sỹ - nhưng được cả hai- Rõ là nghịch lý

So với các Bác thì " Chú ấy " hơn , có cả hai loại giấy_ giấy gọi đi và giấy báo về - .

May là các Bácmới có 1 loại giấy nên khoe vớinhau ghê nhỉ? .

Và tôi cũng thế

Những nghịch lý của thời gian (3)

Tôi không biết ví chiếc xe đạp ngày xưa (những năm 6X) với tài sản gì bây giờ.

Ipod-6, SH hay BMW?

Chắc với các bác thành phố thì xe đạp là "chuyện vặt", chứ với "trẻ con nhà quê" như tôi thì xe đạp là "trong mơ".

Nói thế chứ, tôi thấy các bạn Hà Nội (con em thuộc Bộ Giao Thông, Tổng Cục đường sắt và Bệnh viện Việt Đức) sơ tán về quê tôi cũng rất hiếm người có xe đạp, đi học cũng cuốc bộ nhòe.

Thầy tôi (tôi gọi bố là Thầy) có 1 chiếc xe giữ từ thời Pháp, nâng niu lắm.

Như tôi đã kể, Thầy tôi treo xe lên mỗi khi đi đâu về, để đỡ hại xăm lốp, lại không sợ đổ.

Có hai sợi thừng mắc từ mãi tít trên kèo nhà xuống, dưới cùng là 2 cái móc sắt có bọc vải rách, một móc vào ghi-đông, một móc vào pọoc-ba-ga, xe treo đung đưa như đánh võng.

Đấy là chiếc xe nam, hiệu Stecling (hay sterlinh).

Xe nam có cái gióng ngang rất tiện dụng.

Khi đi dạy học, Thầy tôi mở đôi chiếc cặp da, rồi gập treo vào cái gióng này, rất gọn.

Đôi khi tôi được theo Thầy tôi đến trường, thì cái gióng ấy là chiếc ghế, chỉ tội chiếc ghế chỉ như gióng mía gầy ấy ngồi một lúc là tê cứng cả 2 bên mông khẳng khiu, nên cứ phải day day mông liên tục.

Một chi tiết nữa tôi còn nhớ được về chiếc stecling này là trên gióng đứng có 2 cái mấu nhọn, để Thầy tôi gác chiếc bơm tay.

Về sau này, chẳng ai dại gì gác bơm tay vào gióng xe nữa, mất ngay.

Chán thế.

Thời ấy, nam đi xe nam, nữ đi xe nữ chứ không à uôm như bây giờ.

Cả nam và nữ, khi lên xe không có kiểu ngồi sẵn lên yên rồi đạp đi như bây giờ.

Nữ thì chân trái đưgs trụ, chân phải đặt lên pedan bên phải, rồi nhấc chân trái lên, chuyển chân phải làm trụ, vừa nhấn cho xe đi, vừa nhích mông lên yên.

Nam thì ngược lại, đặt chân lên pedan bên trái, lấy chân này làm trụ, đứng lên cho xe lăn bánh, đồng thời gập người xuống quăng chân phải về phía sau sang bên pedan phải, nom giống như vận động viên nhảy cao làm động tác vượt xà.

Động tác ngày gọi là nhảy pinhông (?), khá khó.

Cũng chính vì động tác nhảy pinhông này mà người được đèo, không được ngồi trước lên poọc-ba-ga, nếu không sẽ bị ăn quả lên gối vào đầu.

Xe đạp thời ấy phải có đăng ký, như là xe máy >50cc bây giờ.

Tôi nhớ xe nhà tôi có số đăg ký AH044.

Sau này, để cho phụ nữ trong nhà cũng có thể đi được, thầy tôi đã cho chuyển xe nam stecling thành xe nữ, đổi 1 gióng ngang thành 2 gióng chéo.

Việc đổi giới tính xe cũng như việc sơn đổi màu xe khá phức tạp, phải làm đơn lên tận ty công an tỉnh, đi đi lại lại mất cả tháng.

Mặc dù nhà có xe, nhưng vì nhà đông người, toàn đối tượng ưu tiên, nên tôi không không được mon men.

Năm cấp 3, tôi đi học cách nhà 12 cây số, cứ sáng sớm tinh mơ, khoảng 4 -5 giờ dậy, cuốc đến trường là vừa sáng, tan học gần trưa, lê về đến nhà là giữa chiều, đói mõm.

Thèm xe đạp lắm.

Có năm may mắn, tôi "liên kết" được với một người bạn cùng làng, bạn ấy có xe, nhận đèo tôi, bù lại tôi làm bài tập toán cho bạn ấy.

Cũng có mấy tháng đầu năm lớp 10C được cô bé xinh xinh, hảo tâm lớp 8A cho đèo đến trường, được mấy buổi thì bị lộ, mẹ cô bé cấm cửa!

Đi bộ đội về, học đến tận năm cuối, tôi mới được sở hữu 1 chiếc xe đạp Thống nhất đời đầu, nghe nói tuyp là của Pháp.

Có một thời hay xẩy ra tệ nạn mất nắp chuông.

Vì thế lại phải sinh ra một cái đai, gọi là cái giữ nắp chuông.

Khốn khổ!

Xe đạp là cả một gia tài.

Phải nâng niu, chăm sóc chu đáo.

Lốp mòn thì đi đắp.

Có khi đắp 1 lần, lại mòn, tanh vẫn tốt, đắp lần nữa.

Tôi từng lụi hụi, tỷ mẩn cả ngày chủ nhật để đột từng mắt xích, lộn trong ra ngoài, đi thêm được vài tháng.

Có những lần may mắn, chiếu cố tiêu chuẩn thương binh, tôi được mua khi thì 10 viên bi, khi thì 5 chiếc nan hoa.

Tôi có một kỷ niệm thú vị về xe đạp thời đóng quân ở Quế Võ.

Khi ấy đơn vị vừa qua huấn luyện, lính chờphân bổ đi các đơn vị, do vậy quản lý cũng có phần lỏng lẻo.

Lính Hà hay trốnvề Hà Nội, ít thì 1 ngày, liều thì 2-3 ngày.

Tôi nhát gan nên chỉ dám mượn xeđạp bác chủ nhà, đạp ra Bắc Ninh chơi, sáng đi, tối về.

Hôm ấy ham chơi, tối vềhơi muộn.

Chẳng may, khi về qua Phố Mới thì xe bị đứt xích.

Đường còn xa, tiền thì hết, dắt thì ốm.

Thếmà rồi cái khó ló cái khôn, tôi cũng đã nghĩ ra một cách rất đơn giản để thoátnạn ngon lành.

Có bác nào đoán được cách ấy không?

Đường thì còn xa, tiền trong túi thì mỏng, chưakể đường xá hồi ấy rất ít hiệu chữa xe.

Đành dắt bộ.

Dắt một lúc lại ngồi lênyên lấy chân đủn xuống mặt đường cho lăn từng quãng ngắn.

Quế Võ là đồng bằngnên cũng chẳng mong gì có dốc mà thả trôi.

Ló khó cái khôn.

Tôi nghĩ: cái xíchxe là một vòng khép kín, căng giữa líp xe và đĩa xe, có tác dụng truyền lực từđĩa xuống líp.

Khi đi, thực ra chỉ có nửa trên của xích chịu lực căng, còn nửadưới hoàn toàn không chịu lực.

Thế thì đơn giản.

Tôi rút lấy một sợi dây giày,nối cái xích đứt lại và lắp vào xe sao cho phần nối nằm ở phía dưới, phần chỉtreo chứ không chịu lực.

Ngồi lên xe rồi đạp, sao cho nút nối chạy từ đĩa vềgần đến líp thì lại đạp ngược.

Cứ đạp xuôi nửa vòng lại đạp ngược nửa vòng.

Xebon bon, ngon ơ.

(Kính bác 6971 ạ :

Xe đạp những năm 50, 60 của thế kỷ trước đối với dân thành phố là một tài sản lớn đấy; thậm chí có thể đổi được cả nhà ở.

Tôi còn nhớ Gia đình tôi chỉ có một chiếc xe đạp có biển đăng ký CE 911 đã cũ khi cần tiền Bố tôi bán được 500đ ( khi đó căn nhà tôi ở mua chỉ có 300đ) săm lốp xe đạp, xích líp, thậm chí cả bi cũng phân phối và gắp thăm.

Lúc đó Việt Nam mới lắp ráp được xe đạp Thống nhất , đùi đĩa của Pháp, mayơ của Đức, hoặc Tiệp, xích líp của Trung Quốc, khung xe thì túyp của Pháp... lúc đó chưa có những nhà máy SX phụ tùng xe đạp, sau này mới có NM bi xích, líp Đông Anh, Nồi trục, pêđan Đống Đa, vành Xuân Hòa ...

Khi tôi ra công tác là lúc bố tôi về hưu, ông cụ được" cung cấp" một cái xe đạp Thống Nhất nam giá 298đ ( mua được 2 chỉvàng) tôi đã kẽo kẹt trên chiếc xe này hơn 15 năm, có những lúc xe hỏng xăm,lốp còn không đủ tiền để mua vì lương KS + phụ cấp được 73đ nhưng một chiếc lốpSao vàng " lòng vàng" những 150đ; nhịn ăn hai tháng chưa mua nổichiếc lốp xe đạp.

Cho đến bây giờ tôi vẫn noí với các cán bộ trẻ CQ tôi , lươngcác cháu bây giờ một tháng có thể mua được 2-3 xe đạp, thậm chí 01 xe máy, còncác chú ngày xưa chỉ nằm mơ cũng không dám nghi đến một chiếc xe đạp tốt chứđừng nói đến xe máy, hay ôtô./.)

Rừng Le

Trưa nay, trong mâm cỗ gia đình ở làng quê trung du, tình cờ cả 6 người mâm tôi ngồi đều là CCB - mâm CCB.

Tôi là trẻ nhất, kể cả tuổi mụ mới 60, đi B "nông" nhất, đến mỗi Quảng Trị.

5 người còn lại nhập ngũ 66-68, đều ở lì mãi tít Tây Ninh cho đến giải phóng.

Bây giờ cả 5 CCB cùng mâm với tôi đều là lão nông (trung nông trở xuống).

Rượu vào, chuyện ra, chuyện tào lao, nhớ gì, thích gì nói nấy, chứ chẳng ai sử dụng Internet bao giờ (trừ tôi).

Chuyện gì rồi cũng lắng về chuyện lính.

Nhân chuyện về Chất độc da cam, ban đầu là về chế độ chính sách, lan sang chuyện Mỹ trải chất độc mấy mươi năm trước.

Các anh bảo, 1961 là lần đầu tiên Mỹ thả chất độc xuống Miền Nam, chính là ở Tây Ninh, trải đi trải lại cả thảy 6 lần (?).

Tới sẽ kỷ niệm 50 năm thảm họa.

Chẳng biết đúng sai.

Câu chuyện hấp dẫn và lạ lẫm nhất đối với tôi là vềcây Le, rừng Le của miền Đông Nam Bộ.

Không biết Le hay Lẻ.

Lần đầu tiên tôinghe nói về cây Le với rất nhiều điều kỳ diệu đến khó tin.

Về đến Hà Nội, tôilùng sục ngay vào google, nhưng trắng tay, tra "rừng le" mà chỉ thấytoàn "lệ rưng rưng"!

Các bác ấy kể: Cây Le là cây duy nhất vô tư vớichất độc da cam.

Chất độc vặt trụi lá tháng trước, tháng sau lại nảy chồi, xanhhơn, dày hơn.

Cây Le giống cây Giang, không thành bụi như tre nứa, mà mọc lanra thành bãi.

Măng Le nuôi lính trong cứ như rau tàu bay ở ngoài Quảng Trị.

TánLe rất dày, vừa ngụy trang, vừa che mảnh đạn, mảnh bom.

Le mọc lằng nhằng trênmặt đất, tạo thành mảng, thành lưới.

Lính lấy cột chống lưới rễ Le lên, thànhhầm, thành công sự, tự nhiên, vững chãi, kín đáo.

Cũng vì cái kiểu bùng nhùngrễ Le ấy mà lính cơ giới địch rất ngán, xe tăng hay M113 vào bị rễ le quấnxích, bantilê chỉ có bỏ của chạy lấy người....

Gặp một bác cựu sư 2, đã từng lăn lộn suốt từ B5đến B2.

Bác ấy bảo: Đúng rồi, cây Le là họ tre trúc, nhưng thân nhỏ.

Hồi ởchiến trường thường phải đi lấy, mỗi người một vác, để lót đường cho xe cơ giớihay xe tăng đi.

Quảng Nam còn có đèo Le, toàn là Le.

Biết thêm được chút ít.Tôi lại vào google mò mẫm.

Đúng là có Đèo Le ở Quế Sơn, với món gà Đèo Le rấtnổi tiếng.

Tương truyền con đèo này rất cao và hiểm trở.

Leo được lên đến đèoai nấy đều "le" lưỡi thở nên gọi là Đèo Le, chứ quanh đấy không hề cócây Le như bác ấy CCB sư 2 kể.

Phải vào mãi trong Đông Nam Bộ mới có cây Le,rừng Le!

Những nghịch lý của thời gian (4)

Tuổi thơ gầy guộc của tôi gắn với Hợp Tác Xã, một khái niệm mà lớp trẻ bây giờ hay những người lớn tuổi nhưng lớn lên ở thành phố hay lớn lên ở phía nam bờ Bến Hải, hoặc là không hiểu nổi hoặc là hiểu không đúng.

Gọi cho đầy đủ thì phải là Hợp tác xã nông nghiệp, để phân biệt với Hợp tác xã thủ công, tiểu thủ công hay hợp tác xã mua bán, ....

ở xứ thành thị.

Hợp tác xã nông nghiệp là bước đi lên sau Tổ đổi công.

Nó là ngôi nhà chung của những người nông dân trong một thôn hay một làng.

Họ góp toàn bộ ruộng đất, trâu bò và các nông cụ như cày, bừa, gàu tát nước, ... vào HTX, thành tài sản chung, không giữ lại chút nào cho riêng mình, góp không phân biệt nhiều, ít, thậm chí không có gì để góp, để trở thành xã viên, như nhau.

Hãn hữu mới có gia đình không vào hợp tác xã và thường họ bị cô lập, trở nên lẻ loi, đơn độc và gặp không ít khó khăn.

Tôi lớn lên cùng với lòng tin ăm ắp và háo hức vào bức tranh màu hồng HTX.

Thầy tôi hay kể cho mọi người nghe về Nông trang, một dạng HTX hiện đại ở Liên Xô, nơi người ta làm ruộng bằng máy cày, máy bơm, máy gặt đập liên hợp, trâu bò nuôi chỉ để thịt, không biết cày bừa.

Bọn nhóc chúng tôi thì nghêu ngao hát: "Hà nội lắm xích lô - Quê tôi lắm xe thồ - Trung quốc có nhiều ô tô, Liến xô có nhiều máy cày, Tằng tằng, tằng tằng tăng tăng, tắng tăng tăng tằng tăng tăng" theo giai điệu của bài "Này bà Lý toét ơi, con tôi muốn lấy con bà, hai đứa nó cùng yêu nhau, sắm cho nó một cái giường.

Bà về bà bảo với ông, tối nay ra đình liên hoan.".

Thấy thế ông ngoại tôi bảo: "Rồi thì có cả máy ăn nữa, nhai không kịp thì nó đùn vào mũi ấy".

Hàm ý là người già thường không tin vào những điều viển vông.

HTX chia thành các đội sản xuất, mỗi xóm trong thôn thành một đội, nhưng không gọi theo tên xóm mà đánh số.

Ngoài ra, HTX làng tôi còn có một Đội Cải tiến.

Đội tập trung mấy người thợ mộc, mấy người thợ rèn trong làng.

Đội trưởng đội cải tiến là ông Kim tây, không phải thợ rèn, thợ mộc hay thợ gì, chỉ thấy mọi người trong làng thường xem ông là "Biết tuốt".

Nhà ông Kim tây sát vườn nhà tôi.

Xa xưa, ông cũng học Thầy tôi, nhưng tôi không biết ông Kim tây học đến lớp mấy, có bẳng cấp gì không.

Tôi nghe mọi người nói ông đang say mê chế tạo cái máy bơm bằng mấy cái ống tre, xếp xếp, lồng lồng vào nhau thế nào đó mà không cần xăng dầu, không cần sức người nhưng nước cứ chảy ngược từ ruộng thấp lên ruộng cao, thấy háo hức, tò mò và khâm phục lắm.

Đội cải tiến muôn năm, HTX muôn năm!

Ao ước lớn lên, học giỏi, xin về làm ở Đội cải tiến của ông Kim tây.

Hôm chính thức thử chiếc máy bơm, tôi trốn học để lăng xăng theo ông Kim và mấy bác trong tổ cải tiến ra thử ở đầm Lán rau ngay đầu làng.

Có cả ông Vinh Bách, chủ nhiệm HTX cũng ra xem.

Chẳng hiểu sao, hôm ấy loay hoay suốt buổi sáng mà máy bơm vẫn không chạy.

Nước chỉ tự chảy theo chiều từ ruộng cao xuống dưới đầm chứ một giọt cũng không tự chảy ngược từ đầm lên ruộng.

Đến gần trưa mọi người lại lụi hụi khiêng khiêng vác vác máy về sân kho.

Mỗi người được một nắm xôi lạc to bằng nắm tay.

Tôi cũng được chia, một nắm bé.

Nản quá.

Chuyện xa lắm rồi, mãi từ khi tôi mới học lớp 2-3, nên chẳng nhớ cấu tạo và nguyên lý của cái máy bơm cải tiến ấy nó như thế nào.

Con đường từ HTX lên Nông Trang và những ước ao li ti của tôi bị vỡ vụn vì bom đạn.

Chiến tranh phá hoại và tiếng súng phương Nam làm gián đoạn hết.

Tôi rời mái trường nhập ngũ, vào đì đùng mấy năm ở Quảng Trị, bị thương về học tiếp, nên cũng chẳng biết số phận cái máy bơm ấy ra sao.

Hồi là sinh viên, có lần nghỉ hè về quê, đứng chuyện trò bên này bên kia hàng rào, tôi hỏi ông Kim tây về chuyện chiếc máy bơm xưa.

Tôi bảo ông: "Hồi ấy vui, anh nhể.

Giá hồi ấy mà em học năm thứ 2 Tổng hợp lý như bây giờ thì em đã mách anh: Không thể chế tạo được động cơ vĩnh cửu đâu, định lý Cacnô khẳng định rồi, đỡ mất công, mất sức".

Ông Kim không nói gì, dửng dưng bắt sang chuyện khác.

Hè năm thứ 3, tôi lại có dịp chuyện trò với ông bên hàng rào.

Ông Kim hỏi tôi: Thế chú học cao thế thì có học tiếng Tây, tiếng Tàu gì không? – Có chứ ạ, học ghê ấy chứ. – Thế chú có học chữ La Tinh không?

Tôi linh cảm thấy ông đang thử tôi, nên khôn khéo và sỹ diện trả lời: "Bây giờ mọi người học tiếng Nga, tiếng của Lênin chứ ai còn học chữ La tinh hay chữ Đờ-Gôn như các anh ngày xưa nữa.

Bọn em chỉ học và dùng số La Mã thôi".

Tưởng thế là thắng, ai ngờ ông độp luôn: "À, thế chú viết cho tôi năm nay, năm 1976, bằng số La Mã xem nào".

Chết tôi rồi.

Chỉ nhớ hàng đơn vị, hàng chục, quanh quanh 3 chữ I, V và X, chứ hàng trăm, hàng nghìn thì chỉ mang máng, hình như là C, M hay L gì đấy.

Thôi đành liều, mà ông ấy thử mình chứ chắc gì ông ấy đã biết: "À, dễ thôi: Một thì là chữ I, Chín là IX, Bảy là VII, còn Sáu là VI.

Vị chi 1976 = IIXVIIVI".

Ông bật cười khẩy, buông một câu: "Ới ời, thế thì tôi chịu chú" rồi ông quay lưng lững thững đi vào phía sân nhà.

Những năm sau nữa, dịp nghỉ hè khi còn là sinh viên, dịp nghỉ phép khi đã đi làm, mỗi lần về quê, ông Kim tây còn hỏi tôi nhiều chuyện nữa, toàn là khó.

Làm thế nào tách dầu hỏa ra khỏi mazut, làm thế nào để đất ẩm lâu, làm thế nào cho cây cau ra quả dưới gốc như cây mít, làm thế nào cho lợn đẻ ra trứng để ấp như gà, ...

Như MC trên "đấu trường 100" hay nói: Kiến thức thì mênh mông, hiểu biết thì có hạn, tôi có phải "Biết tuốt" đâu mà thông tỏ hết.

Mấy năm lang thang học ở xứ người, nhớ đến ông Kimtây, tôi đã hình dung chắc chắn ngày về, ông sẽ khừ tôi nhiều câu xương xảu.Nhưng ngày về, tôi chỉ nghe được nhõn một câu, dễ ợt: "Trước lúc mất, bố cháucòn bảo cháu, bao giờ chú T nhà cụ Giáo về, nhớ nhắc bố hỏi xem bên Liên Xô cócòn Nông trang không?

".

Nam mô, a di đà!

Những nghịch lý của thời gian (5)

Trong cuốn nhật ký của tôi thời tuổi đôi mươi ở Quảng Trị, ở trang 22 thấy ghi một dòng, chỉ 2 câu vô chủ: "7/12/1972: Báo động B52.

Cả ngày nơm nớp.

-Ái Tử".

Đã quá cô đọng, lại được viết bằng mật mã tự tạo nên bẵng đi 34 năm, mãi đến năm 2006, khi lọ mọ lật lại xem, dò dẫm giải mã, tự mình còn thấy nghi ngờ, khó hiểu, nữa là người khác, huống chi con cháu mai sau.

Thời điểm ấy, ta đã rút khỏi Thành Cổ Quảng Trị được hơn 2 tháng (16/9/1972), sau đó địch vừa nống sang Nham Biều nhưng bị đánh lui (2/11/1972).

Đành mỗi bên yên vị một bờ.

Tôi mới từ Hà Nội vào, vượt Bến Hải hôm 30/10, được điều xuống Ái Tử hôm 5/11.

Đại đội trinh sát sư đoàn Xê 20 chúng tôi có một đài quan sát ở cao điểm 20 Ái Tử.

Gọi cao điểm là theo bản đồ, theo binh địa, nghĩa là bình độ 20 (m) chứ thực ra cũng chỉ là một doi đất nhoi nhoi rìa căn cứ Ái Tử.

Cao điểm 20 nằm cách cầu Quảng Trị cỡ hơn 1 cây số, nhưng ngày ấy quanh Thành Cổ QT, cả về 2 phía đều tan hoang vỡ vụn, nên từ CĐ 20 nhìn được xa mãi sang bên thành, phía địch.

Nhìn bằng mắt thường từ phía trái chỉ còn thấy Nhà in thị xã, rồi đến nhà thờ La Vang, cuối cùng là Động Ông Do.

Đấy là những gì còn sót lại, nhô lên trên đưỡng chân trời, dù không cái nào còn nguyên vẹn.

Nhìn bẳng ống nhòm của trinh sát thì còn thấy xe cộ và quân bên kia đi lại.

Khá gần chiến tuyến, nhưng CĐ20 lại không đủ gần như Nham Biều, An Đôn, nên vừa phải hứng cuối tầm các loại đạn chiến thuật như cối, pháo tầm gần, nhưng vẫn phải hứng chịu các loại vũ khí tầm chiến dịch, như pháo hạm đội, B52.

Những ngày cuối Bảy Hai ở Ái Tử, chúng tôi thường xuyên nhận được thông báo từ Ban 2 về các tọa độ quanh vùng và thời điểm có thể bị bom B52.

Thông tin này là do các đồng nghiệp ở A12 hoặc do trinh sát mặt trận báo về.

Điều đáng nói, đáng nhớ chính là khi căn trên bản đồ thì tọa độ được dự báo sẽ bị bom 52 lại bao trùm cả đài quan sát của mình, cả hầm của mình.

Ngày 7/12/1972 đã xảy ra một tình huống như vậy với chúng tôi.

Cứ thử dựng lại vài kịch bản dựa theo đầu bài với 7 từ "Báo động B52.

Cả ngày nơm nớp" trong nhật ký:

Kịch bản 1: Nhận được dự báo đồng thời với lệnh của cấp trên: "Không được rời đài bẳng bất kỳ mọi giá".

Toàn bộ đài quan sát (8 người, trong đó có đại trưởng Hiền) ai về hầm nấy, ngồi đợi bom và cầu khấn bình an.

Kịch bản 2: Nhận được thông báo, đại đội trưởng phân công mọi người chia nhau xuống Nham Biều, An Đôn nắm tình hình, nhằm tản người ra khỏi CĐ 20, chiều tối mới về đài.

Còn có thể có nhiều kịch bản nữa.

Tôi thì thiên về kịch bản 1, nhưng không phải ai về hầm nấy, đợi chịu trận mà là ai làm việc gì, cứ làm việc nấy, vẫn quan sát, cơm nước, điện đài, vẽ vời, quật tiến lên và tán róc, ...

Chỉ cần lưu ý, hạn chế lên khỏi hầm.

Rồi có thể không có bom B52, có thể có bom B52 nhưng không đúng vào CĐ20 hoặc đúng vào CĐ20, nhưng không trúng hầm nào của đài.

Dòng nhật ký được viết sau một ngày nơm nớp.

Liệu chính trong lúc nơm nớp kéo dài suốt cả ngày ấy người ta nghĩ gì?

Sao lúc ấy không viết để giết thời gian?

Có biết bao phỏng đoán, tưởng tượng, thắc mắc, cảm giác phi lý chỉ vì dòng nhật ký quá cô đọng và trí nhớ rất kém cỏi của tôi bây giờ.

Sau Ái Tử ít ngày, khi về đài quan sát trên cao điểm 108, chúng tôi cũng gặp một tình huống tương tự.

Lấn ấy chỉ có 1 kịch bản duy nhất: Lệnh trên không được dời đài.

Mọi người dốc đồ ăn dự trữ ra ăn xả láng, rồi ngồi đánh bài, chờ bom.

Đúng giờ G (13:00), bom B52 rú nổ đinh tai, nhưng may mắn không quả nào trúng khu vực đặt đài.

Dở hơi, thoát bom thì lại đến cháy thực phẩm, có bao nhiêu mang ra xài hết rồi, bây giờ thì phải cơm chay đến cuối tháng.

Khoảng 1 tháng sau, đêm 27, rạng 28/1/1973, chúng tôi còn quan sát được trận bom B52 nổ mãi mãi xa xa phía Xekimtat - Đấy là 1 trong những đợt bom B52 cuối cùng trên Đất Việt.

Chắc là ngày ấy cũng có một cái lý nào đó để mình sốngnhư vậy, đồng đội quanh mình sống như vậy, chứ chắc gì đã phi lý như bây giờphán xét lại đoán được cách ấy không?

(Chuyện bên lề:

- Trinh sát kỹ thuật khai thác tin oanh kích và pháo kích là trên mã tọa độ cụ thể, chứ không phải kiểu vùng x, vùng y .

Thời kỳ A12 làm tskt năm 72 ở QT, tin về "kích" chủ yếu là các tin tọa độ pháo kích (gà cồ gáy), cuối buổi chiều hay nhận được các tin này, tin pháo kích đêm từ biển vào, tin thông báo về tọa độ oanh kích thì ít.

Ban2 là đầu mối của SĐ về các tin TS, qua nhiều kênh, tin tại chỗ thì từ các C20, từ A12 và một kênh quan trọng là từ ngạch dọc cấp trên trực tiếp là Ban/Phòng QBMT là nơi vừa tự khai thác tin tskt đa dạng vừa có kênh tin kttb trực tiếp từ C.2.

Những tin "lớn" như cảnh báo B52 nhận trực tiếp qua kênh này, ngoài tin nếu có từ A12.

---

Tôi có ít kỷ niệm với các đồng đội A12 về các chuyện này.

Sau một tháng rưỡi bám hai đài quan sát ở Nhan Biều trông qua thị xã và đầu cầu QT, từ cuối tháng 7 đến 19.9.1972, bốn ngày sau khi mất thị xã, tiểu đội tôi được rút về phía sau.

Đến giữa tháng 10, tôi được lệnh xa tiểu đội đi công tác, té ra là bổ sung để phục vụ cho Ban trinh sát ở sở chỉ huy tiền phương sư đoàn.

Sở chỉ huy cơ bản sư đoàn đâu đó phía sau gần núi, sở chỉ huy tiền phương sư đoàn một vùng đồi lúp xúp trông xuống đồng bằng, đâu đó đoạn giữa đường 9 và Ái tử, cách Ái tử chừng một tiếng đi bộ.

Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn rất gọn nhẹ, mỗi ban chỉ có một hầm do công binh đào, cũng rộng rãi.

Ban trinh sát lúc ấy có một thủ trưởng trên Ban (thay đổi) và tôi, hầm ngay cạnh hầm Ban pháo binh do đại úy Bích phụ trách.

Công việc của tôi chỉ là một ngày vài lần nhận điện thoại từ A12 báo tin trong 1, 2, 3 ngày tới địch sẽ B52 hoặc đánh bom hoặc pháo kích ở tọa độ X nào tọa độ Y nào giờ Z nào.

Phải định các tọa độ ấy trên bản đồ, rồi tra xem đấy là khu vực của e nào hay đơn vị đặc biệt nào của sư đoàn (thông tin này A12 không được biết), rồi gọi điện hữu tuyến báo cho các đơn vị ở các tọa độ đó.

Cuộc sống lúc ấy khá nhàn nhã, ngoài thời gian đó là hái rau má về muối, luộc, ...

Một hôm sau khi nhận các tọa độ sẽ bị B52 lúc 10 giờ sáng trong hai ngày tới, tra đi tra lại mấy lần vẫn đúng là chỗ sở chi huy tiền phương (các bạn A12 cũng không biết sở chỉ huy tiền phương ở đâu).

Vội báo cho các ban.

Sáng sớm hai ngày sau, một số ban "sơ tán", như ban pháo binh láng giềng có thủ trưởng Bích đeo một ba-lô nặng ra đi.

Ban trinh sát vẫn ở lại.

May sao ngày đấy không có gì.

Xong đúng 10 giờ sáng hôm sau, khi những người sơ tán đã trở về, bất ngờ một trận B52 trút xuống cách khu vực sở chỉ huy chừng 200-300 mét, mặt đất chao đảo.

Sở chỉ huy tiền phương an toàn, nhưng mấy chiến sĩ đi tải gạo qua đó hy sinh.

Sau gần một tháng ở phía trước nối tin của A12 tới các trung đoàn, mặt trận lệnh cho sư đoàn tổ chức một nhóm trinh sát luyện tập vượt sông quanh khu vực thị xã để điều tra đưa quân sang đánh.

Tôi được triệu tập về tham gia nhóm này.

Tạm biệt A12 với các tin quý báu của các bạn.

Sau khi tiểu đội tôi xuống làm hai đài quan sát ở Nhan Biều và đầu cầu sắt QT cuối tháng 7.1972, quãng 10 ngày sau đó có lệnh mặt trận báo trinh sát bơi qua đầu cầu bên kia xác định xem ngay ở đấy là ta hay địch?

Tôi và một người nữa đi.

Phải đến đêm thứ hai mới qua được do hôm đầu tôi bị vướng rong cuốn suýt chết đuối.

Hôm sau quãng 9 giờ tối bơi qua, cách bờ chừng hai ba chục mét bọn tôi bị trận pháo rất gần, mảnh văng vun vút xung quanh, nên hết phao là nhào ngay lên bờ.

Đã có mấy người đón ngay ở bờ đưa vào hầm.

Thì ra đó quân 312.

Mấy anh đều lớn tuổi hơn, cho uống nước chè, cho biết tình hình quanh đầu cầu rồi tiễn về.

Tôi nhớ mãi một câu: "Đơn vị tôi đánh năm 6 năm ở Lào không thương vong nhiều bằng 2 tuần vừa qua vào QT".

Nghịch lý của thời gian (6)

Sau hè Bảy Hai, khi ta mất Thị xã Quảng Trị, bọn tôi trụ ở đài trinh sát trên cao điểm 20, Ái Tử.

Trên vạt đồi thoai thoải ven làng Ái Tử ấy có 3 nhóm, đều là những nhóm không trực tiếp chiến đấu và thuộc 3 đơn vị khác nhau.

Nhóm đông nhất là bọn tôi, đài trinh sát sư đoàn, khoảng 7-8 người, chia 3 hầm.

Nhóm trinh sát pháo (không biết có phải e84 không?) khoảng 4-5 người, chia 2 hầm, nằm chếch về phía Nham Biều.

Nhóm này biết chắc có Bình, tên bạn ấy có trong nhật ký của tôi, trang 21.

Tôi rất hay liệng sang chơi cờ tướng với nhóm TS pháo.

Tôi vẫn mê và chơi cò tướng cho tới tận bây giờ, còn Bình và nhóm TS pháo thì ván cờ thắng tôi chiều 4/12/1972 là ván cờ cuối cùng chơi trên dương thế.

Sau khi tôi chịu thua ván cuối, chào chia tay với Bình thì 4-5 phút sau, khi tôi và Kha còn chưa kịp về đến hầm của mình, thì bom B52 ập xuống.

Ngày ấy trở thành ngày giỗ chung của các anh bên đài TS pháo ở CĐ 20 Ái Tử.

Chếch về phía sau một chút, bên kia bãi tăng là hầm chỉ huy của một đơn vị bộ binh.

Hầm nằm trơ trên sườn đồi thoải trống trải, không cây cỏ.

Tôi chỉ nghe mấy đứa trong đài nói chứ tôi chưa bao giờ gặp ai trong nhóm này.

Nghe mấy đứa kể: "Đấy là hầm ông Cưu, thiếu tá, trung đoàn phó, và bọn vệ binh.

Hầm ông ấy rất sâu và kiên cố.

Ông ấy không bao giờ ló lên khỏi hầm đâu mà thấy được.

Tối tối, liên lạc mang cái thùng đạn đại liên đi "đổ bô" cho ông ấy."

Nếu đúng như mấy đứa kể thì quả là mấy bố chỉ huy bộ binh khôn ngoan, đào hầm trụ lại trên vạt đất hoàn toàn trống trải, bên La Vang nhìn sang rõ mồn một, rồi ban ngày nằm ỉm dưới hầm, ban đêm mới lên thì địch không thể nào ngờ.

Đến thám báo như tôi sống ngay kề mấy chục mét mà còn không biết nữa là.

Nghe thì biết vậy, chứ tôi cũng chẳng rồi hơi điều tra xem có đúng thế không hay là lính bịa, đấy là bộ chỉ huy tiền phương của trung đoàn nào, sao lại ít người thế?

Chiến trường ai có việc người ấy, ai biết việc người nấy.

Mà thực ra chiến trường có rất ít việc.

Việc đáng kể nhất, nhưng ít ai kể chính là việc trốn tránh thần chết.

Có sống mới mong chiến thắng được quân thù.

Hãi hùng nhất đối với Ái Tử nói riêng, QT nói chung chính là pháo khoan.

Loại pháo này thường giũi vào đêm, trước khi ngủ.

Ú ú ú, ụt ụt hụt.

Cứ như có người giật giật vào tay áo, tiếng nổ trầm, không vang, nghe như tiếng ma.

Qua được đêm, sáng ra, chui lên mặt đất cứ như nhận được thêm một suất sống mới.

Có lần, sáng ra, thò đầu lên cửa hầm, tôi thấy vết nổ mới của một quả pháo cách hầm khoảng chục mét, xung quanh còn vương vãi thân xác của một chú mèo, mảng da bụng với 2 dãy vú hồng hồng xơ xướp văng phơi lên lớp rào bùng nhùng.

Tội nghiệp.

Một lần khác, giữa đêm nghe pháo nổ cầm canh, quả gần, quả xa, bỗng chen vào một tiếng bom nổ đơn độc, khá gần, khó hiểu.

Sáng ra, tôi và Tiến "lính mổ" tò mò lên tìm xem quả bom đêm qua nổ ở đâu.

Thì ra đúng là có 1 quả bom nổ ngay gần bãi tăng, cách hầm chúng tôi khoảng 30-40m.

Chỗ ấy tôi biết, vốn có một quả bom điếc nằm chỏng chơ trên đất.

Chắc một quả pháo đêm qua tình cờ bắn đúng vào nó.

Nói chuyện trốn tránh thần chết, tôi lại nhớ một chuyện đọc từ hồi còn nhỏ, trong đó nói rằng: "Thần chết thường một tay cầm sổ, một tay cầm lưỡi hái, dượt tìm những kẻ trốn tránh ông, chứ những kẻ trêu trọc, đùa giỡn, chế giễu ông thì lại nhởn nhơ, vô tư".

Nhớ Bà ngoại tôi, khi ốm yếu, lê lệt, Bà hay chửi: "Cha bố thằng Giời già, sao không cho Bà chết đi, sống khổ thế này", tôi nghe vừa sợ, vừa ái ngại, vừa thương Bà vô kể.

Thế mà Ông Giời Già cứ tránh mặt Bà ngoại tôi mãi cho đến tận khi Bà hơn 80.

Ngẫm thấy cũng kỳ, rất nhiều người dặn dò trước, viết trước về cái chết của mình, nếu chẳng may xảy ra thì hãy thế này, thế kia.

Và rồi những điều dặn dò lo xa ấy đã trở thành hiện thực.

Như vậy, các cụ gọi là "nói gở".

Trở lại chuyện Ái Tử, bẵng đi tới cuối năm (72), một hôm tôi nhìn thấy có một nấm mồ mới không mộ chí, chôn nghuệch ngoạc ngay gần căn hầm của ông Cưu.

Mấy hôm gió mưa, nấm đất tẹt xuống chỉ còn lùm lùm như tổ mối, cảm giác như nhìn cả thấy lờ mờ chiếc tăng nylon đen dưới lớp đất đỏ.

Hỏi thì nghe lính bảo: "Ông Cưu đấy".

Tôi giật mình, thầm khấn người láng giềng chưa biết mặt phù hộ cho tôi, cho anh em chúng tôi.

Cái góc ven đồi Ái Tử thoai thoải hẹp ấy độc đất lắm, chỉ trong 2 tháng mà thấy phần chết nhiều hơn phần sống.

Chỉ sót một khe hở nhỏ may mắn và ưu ái dành cho đài TS Xê 20 bọn tôi.

Gần chục mạng lính mà không ai hề hấn gì cho đến tận hết cuộc chiến.

Cuối tháng 12, tôi được điều về đài 108, cách Ái Tử chứng 5-6km ở tuyến sau.

Rồi có một lần tôi tháp tùng ông Ngọc, trưởng ban trinh sát mặt trận B5, đi thị sát tuyến trước.

Tính cờ chúng tôi quay lại bãi tăng Ái Tử.

Tôi ngơ ngác nhìn.

Không còn thấy mộ ông Cưu đâu.

Lính đã chuyển ông về an táng phía sau cho đàng hoàng hơn, hay gió cát xứ Quảng đã ngụy trang cho nơi yên nghỉ của vị sỹ quan xấu số ấy, hay mưa lũ sông Thạch Hãn đã xi xoa, "cào bằng" để ông được bình dân, thanh thản như vạn vạn người lính vô danh khác đã ngã xuống và thân xác tan hòa vân vi vào đất đai xứ Quảng nghiệt ngã này.

Mấy mươi năm sau, mỗi dịp quay lại các nghĩa trang QT,tôi vẫn lặng lẽ lần tìm xem có mộ chí nào ghi tên "Cưu" hay "Kưu" không.

Những nghịch lý của thời gian (7)

Một trong những ấn tượng đọng lại sâu đậm về những năm đánh Mỹ chính là dòng người, dòng của Miền Bắc chi viện cho Miền Nam.

Cuồn cuộn, hối hả người và xe từ Bắc hướng vào Nam.

Có hẳn những binh đoàn chỉ lo việc đi và chuyên chở.

Có những cuộc đời binh nghiệp chỉ có đi và đi, không một lần nổ súng.

Đi cũng gian khổ, cũng thương vong, cũng hy sinh.

Trong ký ức đầy ắp về đời lính trinh sát trong tôi, ký ức về những chuyến đi của mình, của đồng đội, là một mảng lớn với nhiều ấn tượng.

Mùa xuân năm 72, ta chuẩn bị mở mặt trận tấn công Quảng Trị.

Lực lượng chủ chốt cho chiến dịch này là các sư đoàn thiện chiến của ta.

Sư 325 (không rõ C hay D) còn rất non trẻ, được điều từ Hà Bắc vào trấn giữ phía sau mặt trận Quảng Trị, vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, vừa để đỡ lưng cho các sư đoàn chủ lực bạn ở phía trước, vừa là lực lượng dự bị.

Cuộc chuyển quân của các đơn vị sư bộ f325 diễn ra ngay sát tết âm lịch, xuất phát từ ga Bắc Giang, giốc vào Vinh, rồi chuyển ô tô, đi bộ vào Kỳ Anh – Hà Tĩnh.

Cuộc hành quân thuận chiều từ Bắc vào Nam này diễn ra hồ hởi, hoành tráng như trong các bộ phim thời chiến tranh vệ quốc Xô Viết.

Tháng 4/72, khi F325 đang ở Đèo Ngang, cùng cả nước nức lòng đón những tin vui chiến thắng đến mức bất ngờ từ mặt trận Quảng Trị thì 9 lính trinh sát bọn tôi nhận lệnh ra Cục 2 ở Ba Vì tập huấn nghiệp vụ trinh sát ảnh và trinh sát binh địa.

Một chuyến đi ngược dòng lính, đi từ Nam ra Bắc.

Thời điểm ấy, ta đang thế thắng nhưng phía trước của cuộc chiến vẫn còn mơ hồ.

Mỹ mở rộng trở lại cuộc chiến tranh phá hoại ra ngoài vĩ tuyến 20, tình cờ cứ như chúng bám theo nhóm 9 lính trinh sát chúng tôi.

Trưa 9/4/1972 xe đưa chúng tôi qua cầu Hàm Rồng của xứ Thanh.

Ngày ấy người ta cứ truyền tai nhau kể về cây cầu bắc qua sông Mã này như là một huyền thoại của những năm tháng chiến tranh phá hoại, thực thực, hư hư giống như huyền thoại Tạ Đình Đề thời chống Pháp.

Sau này, khi học ở nước ngoài, tôi phải đi học triết.

Triết bẳng tiếng Việt đã khô như sỏi, nói gì đến triết xì- xồ.

Để cho qua môn học này, tôi thường ngồi trên bàn đầu, tỏ ra chăm chú nghe, dù không hiểu gì.

Một lần, bất thần tôi nghe ông giáo hỏi: "Có đúng vậy không, Nguyễn?".

Tôi chẳng hiểu ông đang nói gì, đành ngượng nghịu xin thầy nhắc lại đầy đủ câu hỏi.

Ông hỏi có phải ở Việt Nam có một cây cầu như yết hầu nối Bắc vào Nam, được xây giữa 2 quả núi có nam châm rất mạnh, do vậy bao nhiêu bom Mỹ ném đều rơi vào 2 quả núi chứ không thể trúng cầu?

Và điều ông giáo quan tâm thì lại là về một cô gái vác đạn bảo vệ cây cầu này.

Cô đã vác được số đạn nặng gấp 2 lần trọng lượng cơ thể?

Ông giáo muốn tìm dẫn chứng cho bài giảng về quan hệ vật chất và ý thức.

Tôi đáp "Vâng", chẳng biết có đúng ý thầy hay không.

Vậy là Cầu Hàm Rồng và các cô dân quân Nam Ngạn không chỉ là huyền thoại ở VN.

Chúng tôi ra Sơn Tây học được khoảng 1 tháng thì nghe tin Mỹ đã phá sập cầu Hàm Rồng, đâu đó đầu tháng 5/1972.

Thấy lo lo.

Cuối tháng 8/72, khi Miền Bắc căng lên như dây Mí đàn ghita, đâu đâu cũng chỉ một chủ đề: Thành Cổ Quảng Trị và Dinh tỉnh trưởng thì cũng là lức bế mạc khóa nghiệp vụ trinh sát binh địa và trinh sát ảnh.

Trở về đơn vị, nhưng đơn vị giờ ở đâu.

Chắc không còn ở Đèo Ngang nữa, nhưng B ngắn hay B dài.

Chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân đi tìm đơn vị.

Khi mấy đứa đến liên hệ tại trạm 66 của Bộ quốc phòngthì thật bất ngờ đến khó tin, nhân vật chính trong "huyền thoại" Thành cổ vàDinh tỉnh trưởng khốc liệt ấy lại chính là sư 325 của chúng tôi.

F325 đã vàđang trụ ở Quảng Trị, chính ở Cổ thành, chính ở Dinh Tỉnh trưởng.

Thì ra nhữnghuyền thoại bấy lâu vẫn nghe ấy chính là về các đồng đội của sư đoàn chúng tôi.Vì nhiểu lý do, trạm khuyến khích chúng tôi tự tổ chức đi vào chứ không chờ đợiđi theo đường giao liên.

Trinh sát, ngại gì!

Cuộc tự hành quân của 9 lính trinh sát sư 325 với 9 chiếc balô cóc, 9 khẩu AK báng gấp, lỉnh kỉnh máy ảnh, ống nhòm, địa bàn, bản đồ, bút chì, sách báo, ... từ bờ hồ Hale ở trung tâm Hà Thành vào đến Cam Lộ đã được kể một lần ở phần đầu "Nhật Ký viết lại" rồi.

Liệu có còn gì để kể lại, kể thêm trong phần "Những nghịch lý của thời gian"?

Đầu tháng 9/1972, Quảng Trị đang những ngày căng thẳng và hừng hực nhất.

Bên này quyết giữ - Bên kia quyết chiếm.

Chúng tôi cắm cúi đi vào nơi ấy.

Dòng người, dòng của từ miền Bắc hối hả chảy trên đường mòn HCM để chi viện cho Quảng Trị.

Nhưng con đường 1 sát biển, dễ đi đã bị cắt đứt ở các cây cầu, trở nên vẳng vẻ.

Nhóm trinh sát chúng tôi rất gọn nhẹ, lại chẳng bị ràng buộc gì, nên cứ ung dung thẳng tiến theo đường 1.

Càng đi sâu về phương Nam, càng cảm thấy hơi nóng chiến trường phả ra, và ngày càng gặp nhiều hơn những nhóm lính thoái ngũ đi ngược chiều.

Họ cũng khôn ngoan chọn đường 1 để đi như bọn tôi, nhưng không đi ung dung mà thất thểu, rã rượi.

Tôi cứ tò mò không biết rồi những người ấy đi đâu, về đâu, sau này cuộc sống ra sao, mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa bao giờ gặp một người lính nào ngày xưa đã thoái ngũ, cũng chưa bao giờ nghe kể về một người lính thoái ngũ cụ thể có tên có họ nào.

Nhớ lại, hồi đó mỗi sư đoàn có 1 tiểu đoàn mang số 27,con số to nhất trong một sư đoàn, với tên gọi: Tiểu đoàn Thu Dung.

Nghe như têncon gái, rất mềm.

Đơn vị đang chiến đấu ở phía trước thì Thu Dung ở phía sau.Những sỹ quan, chiến sỹ đi công tác, đi học tập, đi phép, ra viện, ... vào ThuDung để chờ về đơn vị.

Những người lính lạc ngũ cũng dạt vào Thu Dung.

Nhữngngười lính thoái ngũ không biết bị quân cảnh bắt hay tự mình cũng né vào ThuDung.

Nhóm trinh sát 9 đứa bọ tôi cũng ghé Thu Dung hơn 1 tuần, khi đó ở KỳAnh.

Những ngày ngắn ngủi ở Thu Dung khi Quảng Trị đang hừng hực để lại một cảmgiác rất phức tạp và khó tả.

Những nghịch lý của thời gian / 8

Thế hệ tôi, lớn lên cứ tuần tự và miết mải leo, theo bậc học thì "I-tờ", cấp I, cấp II, cấp III rồi đại học, cao hơn nữa là Phó Tiến sỹ thì hơi hiếm, còn theo bậc "Viên" thì Đội viên, Đoàn Viên, đến Đảng Viên là hết.

Thời ấy tất thảy chỉ có "Ba Viên", bây giờ mới sinh ra vô thiên lủng Viên, chỉ riêng chân Hội Viên tôi đã có 13.

Ấy là toàn bộ thang ngạch bậc học cũng như bậc phấn đấu, kể thì không nhiều bằng ngạch lính: Binh nhì – Binh nhất - .... – Đại tướng, ., những tận 17 bậc, nhưng đừng sốt ruột vì theo ngạch nào chăng nữa thì không phải ai cũng đến được những bậc cuối cùng.

Leo bậc học thì khó với thằng khó, dễ với thằng dễ.

Có đứa cứ tưng tửng mỗi năm một lớp, kể cả i-tờ là 11 lớp, hết 11 năm, rồi vào đại học, có khi gặp năm không phải thi tuyển mà chỉ xét hay kiểm tra thì nhẹ tênh.

Nhưng cũng có thằng đúp lên, đúp xuống, trước thấy cùng lớp với anh tôi, sau lại thấy cùng lớp với em gái tôi, quanh quanh thấy đã rẽ sang 10+2 hay 10+3 gì đấy.

Ra đời lại là chuyện khác, có đứa học cao ngất ngưởng mà rồi lại ở cái nhà thấp tè tè, để rồi ngước mắt nhìn thằng có mỗi 7+2 nó í ới mãi trên lưng trời.

Số phận mà.

Nhưng nói chung thì các cụ vẫn dạy, có học có hơn.

Nói về bậc "Viên" thì sau này mới sinh ra thêm cái "Phiếu bé ngoan", thành ra phải phấn đấu từ lúc ngồi bô, chứ hồi bọn tôi, thủa 5X-6X, nếu chưa qua bậc i-tờ thì tuổi thơ thật sự là tuổi thơ, tuổi thơ xịn, hoang dã, chí tử, chơi chết thôi.

Vào lớp 1 mới bắt đầu cuộc chạy theo "Ba Viên", không biết chạy được tới đâu và bao giờ đến.

Cũng như bậc học, có đứa cũng nhọc nhằn ngay từ cái Viên đầu tiên, nhưng nói chung có nhọc nhằn gì thì ai nấy đều qua được Hai Viên, chỉ Viên cuối cùng là khó, không phải ai cũng đến được.

Ví như tôi, bạn bè có đứa sang đến Viên thứ nhì thì tôi mới đến cái Viên thứ nhất, nó chuẩn bị Cảm tình Viên cuối thì tôi mới được vét lên Viên thứ nhì để kịp thi Đại học.

Sự học và sự phấn đấu có điểm giống nhau nhưng cũng cónhiều nét khác nhau.

Giống nhau là đều đòi hỏi mỗi người phải cố gắng còn đếnđược đâu thì không chỉ do mình quyết định, giống nhau là người bình thường aicũng muốn leo được càng cao càng tốt, cả 2 đường càng hay.

Giống nhau còn ở chỗđến được bậc thấp rồi mới tiếp bậc cao, có hết cấp I mới có thể lên cáp II, cólà Đoàn Viên mới hy vọng lên Đảng Viên.

Còn khác nhau thì nhiều.

Ví dụ, sự họcngày xưa thì kém giỏi gì đến gần Tam thập cũng thôi, bảy bồ cám tám bồ bèo rồi,ai nuôi mãi được, thôi kiếm việc mà làm, chứ sự tu dưỡng phấn đấu thành ĐảngViên thì lại không có giới hạn tuổi, không được phép mệt mỏi.

Khác nhau còn làsự học có khi cậy vào chút năng khiếu bẩm sinh, còn sự phấn đấu nhiều khi lạiđược "gia phả" nâng đỡ.

Hai cái sự này có lúc hỗ trợ nhau, đã họcgiỏi thì thì đạt các Viên sớm, nhưng cũng có lúc quay lựng lại với nhau, giỏisự này lại lẹt đẹt sự kia, cao bậc kia lại thấp bậc này. �

Thời gian Quàng khăn đỏ của tôi rất ngắn, vì mới được quàng vài tháng thì đã hết năm học, cũng là hết cấp trường làng.

Lên cấp II, trường huyện rồi, ai còn quàng khăn đỏ nữa đâu.

Đấy là cái Viên thứ nhất của đời tôi.

Rồi lại 6 năm sau, mãi đến đợt vét, trước khi làm hồ sơ thi đại học, tôi mới được Viên thứ nhì - Đoàn Viên.

Cứ cái đà như vậy, nên khi bước chân vào đại học, trong suốt năm thứ nhất, và chắc là cho đến tận ra trường, tôi không dám màng đến Viên thứ ba - Đảng Viên, Viên cao nhất của đời người.

Thực tình, học sinh phổ thông (tên hồi ấy gọi các sinh viên từ phổ thông lên để phân biệt với sinh viên là bộ đội về học và cán bộ đi học) được kết nạp khi học ĐH cũng là hiếm, phải là đứa "bôn" lắm.

Thôi thì học đã, chơi đã, yêu đã, ra trường hẵng hay.

Nhưng hết năm thứ nhất, 6971, tôi khoác áo lính lên người.

Một môi trường mới, thử thách mới, cách nhìn nhận mới, số phận mới, mới hết.

Lăn lê bò toài, trước thì thử, sau thì thật, hết chết hụt này đến chết hụt khác, nhởn nhơ sống cho đến Hiệp định Bảy Ba thì cơ hội để đạt Viên cuối cùng cũng đến rất tự nhiên.

C Viên phó người miền Nam được giao "dìu dắt" tôi.

Ông nhắc nhở tôi bớt tính "Tiểu tư sản" đi để thật sự xứng đáng.

Tôi chẳng dám vặn vẹo ông: "Thế nào, cái gì là TTS?" vì ông rất mộc mạc, chân thành, nổi tiếng gan góc, dũng cảm thời đánh Mỹ ở Bình Định, chứ về văn hóa thì mãi sau này mới thấy liên lạc đại đội (Tralientay) dạy ông toán cấp I và học ký tên.

Thôi, biết vậy.

Thế rồi ông hướng dẫn tôi làm những thủ tục cần thiết.

Quan trọng nhất là cái lý lịch.

Khác với ngoài Bắc, khác với thời bình, khác với bây giờ, ngày ấy ở chiến trường chỉ cần lý lịch tự khai, không cần xác nhận, không cần thẩm tra.

Thậm chí có cả trường hợp kết nạp ngay trên trận địa, không kịp viết lý lịch.

Khi tưởng đã gần kề cái mốc ngày đáng ghi nhớ trong đời thì C viên phó gặp tôi.

Ông bảo tôi: C viên trưởng nhận xét: Sao trong lý lịch đ/c lại khai Cha sinh 1904, vào đảng năm 1961, vậy là Cụ vào Đảng lúc đã 57 tuổi, đ/c có khai đúng không?

Có trung thực không?

Bực cả mình!

Thế mà rồi câu chuyện vào Đảng của cha tôi được kích bằng tính tự ái của tôi và thiên vị "tiểu tư sản" trong đầu vị C Viên trưởng đã trở thành chuyện lùng bùng cho đến khi bất ngờ tôi rời đơn vị, rời Quảng Trị nóng bỏng để ra Đại học KTQS vào đầu năm 1974.

Thế là nhỡ một lần đò!

Mới nghe thì chuyến lỡ đò thăng Viên năm ấy của tôi liên quan tới chuyện vào Đảng của cha tôi, nhưng thực ra đấy chỉ là cái cớ chứ nó ngấm ngầm, sâu xa từ những khấp khểnh vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính giai cấp giữa tôi và CV trưởng khi tôi mới vừa ngoài đôi mươi, còn CV trưởng hơn tôi vài tuổi.

Dù vậy, chuyện Cha tôi và Đảng cũng là một "nghịch lý của thời gian" đáng để bây giờ suy ngẫm.

Đối với Thầy tôi (Cha tôi), Đảng là tuyệt đối, là chuẩn mực, Lênin và Liên Xô là chân lý.

Đảng viên ngày ấy ở quê tôi còn ít lắm, đếm được.

Những người là Đảng viên ngày ấy cùng với Thầy tôi mà tôi còn nhớ được giờ đều đã ở bên kia, đều lưu trong ký ức những người còn sống như những người rất đáng trọng.

Ông Oanh, bí thư xã, ông Ngát, bí thư huyện, tìm đâu ra những người như thế nữa!

Vợ tôi có người bác ruột nhà ở giữa phố Hồ Xuân Hương (HN), giờ đã trên 90, ngất ngưởng cả tuổi đời, tuổi Đảng, kế cận thế hệ Thầy tôi.

Ông là Đại biểu quốc hội khóa I, còn sống như vậy đáng là "Bảo nhân".

Mới thứ tư tuần vừa rồi, nhân ngày giỗ tổ, tôi được ngồi cạnh ông.

Ông yếu lắm rồi, ngồi như Ông Bụt.

Như mọi lần, con cái, cháu chắt, dâu rể, nội ngoại ngồi mấy mâm, ồn ào.

Cỡ tuổi 60-70 vai con như tôi được xếp ngồi cùng mâm với Ông, trong đó có một thiếu tướng, một Việt kiều, một hai giám đốc và tôi.

Chuyện tào lao, vụ án này, vụ án kia, quan chức vị này, vị nọ, khóa trước, khóa sau, đảng viên, quần chúng, ...

Nghe chuyện chính trị thời nay, mặt ông buồn âm u.

Cô osin lườm mắt nhìn mấy thằng tôi đang hò nhau "Bắc cạn" và chấm chấm khăn giấy vào 2 hốc mắt ông.

Nước mắt chảy xuôi.

Nhớ khi mới về làm rể, những dịp thế này, con cái lắng nghe ông dạy bảo về đạo đức làm người, đạo đức cộng sản.

Ít năm sau đến cái đoạn con cái vừa nghe ông nói, vừa nói ý của chúng, đôi khi trái lè lè, ông cứ phải mắng phủ đi.

Bây giờ con cái nói, ông nghe, không nói lại được nữa.

Tôi biết ý, bảo mọi người: "Thôi chuyện chính trị, ta chuyển chuyện khác cho vui đi, các bác" và lẩn thẩn nghĩ: Ông ngồi với bọn tôi, chứ lui ra mấy mâm "choai choai" ngoài hè, sôi nổi đề tài game Đế Chế với cá độ Man xanh – Man đỏ, híc-híc he-he, có khi nghe không hiểu lại càng đỡ phải buồn.

Lại kể chuyện Thầy tôi và Đảng.

Khi tìm vợ cho các anh tôi, Mợ tôi (Mẹ tôi) chỉ lăn tăn: Tóc có dài không, răng có trắng và đều không, có biết sàng xảy, biết gánh không, ... trong khi Thầy tôi chỉ gọn một câu: Đã Đảng Viên chưa?

Đường hôn nhân của mấy anh tôi hết dần lại sàng như thế nên hết tập này đến tạp khác, dài kỳ cho đến khi hai Cụ sốt ruột xuống thang: Thôi thì miễn đừng có răng đen, đừng tóc phidê, không dính "thành phần", ưu tiên Cảm tình hay Đối tượng.

Bây giờ các anh tôi đã người âm, người dương, con cháu nghe kể chuyện xưa rũ ra cười.

Láo!

Về già, Thầy tôi vật vã bệnh tim.

Lương hưu 40 đồng 2 hào /tháng, lĩnh theo quý thành 120 đồng 6 hào.

Đấy là nguồn tiền duy nhất của cả gia đình tôi, gồm Thầy Mợ, tôi và em gái, còn lại trông vào thóc chia theo công điểm của Hợp tác xã.

Thừa thiếu Mợ tôi chi tiêu thế nào, Thầy tôi không biết, cả đời ông không giữ tiền, nên chẳng yêu cũng chẳng ghét cái thứ ấy, nhưng trước nhất cứ phải cắt riêng ra 2 khoản cho Đảng phí và mua tạp chí Học Tập (tiền thân của Tạp chí Cộng sản ngày nay), mỗi tháng 1 số.

Cứ thế nghiêm tăm tắp cho đến tận lần cuối cùng Mợ tôi truy lĩnh lương khi Thầy tôi mới mất.

Hè Bảy Hai, khi về phép qua nhà để vào Quảng Trị, Thầy tôi đưa tôi cuốn tạp chí Học Tập, số nào đó của năm 1971, đã được Thầy tôi bọc thêm lớp bìa ngoài bằng giấy vỏ bao xi măng, trong đó có bài viết mang tính chiến lược rất nổi tiếng thời ấy của Ông Lê Duẩn: "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới" và bộ chân dung Thất hay Cửu "Trụ triều đình", trong đó chân dung Cụ Hồ in khổ to nhất, ông Lê Duẩn khổ to thứ nhì, các vị còn lại (Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, ...) khổ ảnh bằng nhau.

Tôi hiểu đấy là lời dặn dò gan ruột của Thầy tôi: "Gắng chiến đấu và phấn đấu vào Đảng con nhé".

Mãi sau này, khi ôn thi chính trị ra trường, tôi vẫn mở bài của ông Duẩn trong quyển tạp chí này ra nghiền ngẫm.

Đến những năm 80, cuốn tạp chí và một số kỷ vật bằng giấy bị mối xông, nham nhở nên tôi đốt đi.

Cuối năm Bảy Tư, khi đang là học viên dự bị ĐH KTQS,tôi phải ngồi làm việc chẳng đừng được là sắp xếp các di vật của cha tôi: Mộtchiếc tủ gỗ chất gần kín là các chồng tạp chí Học Tập, trên cùng là huân huychương Kháng chiến và giấy tờ.

Huân huychương và giấy tờ tôi lựa chọn và giữ lại, còn chồng tạp chí tôi hóa vàng gửitheo Thầy tôi - Một đời người Sư Phạm, vào Đảng khi đã 57 tuổi để rồi Mộ Đảngđến khó hiểu.

Một đời người Sư Phạm, vào Đảng khi đã 57 tuổi để rồi Mộ Đảng đến khó hiểu.

Cùng theo tôi đi một mạch thẳng từ Nại Cửu (Quảng Trị) ra Dốc Láp (Vĩnh Yên) còn có cái phong bì "Hồ sơ cán bộ" niêm phong kín, trong đó có giấy tờ Cảm Tình - Đối tượng của tôi.

Chiếc phong bì có lẽ chưa kịp mở thì nó lại theo tôi, trút áo lính, về Thượng Đình (Hà Nội).

Lại đời sinh viên, nhưng hoàn toàn khác khi đời sinh viên khi chưa qua đời lính.

Thấm thía thế nào là Khát vọng về trường cũ.

Tôi gác hết mọi chuyện, thậm chí ngu dại, mất mát trong nhiều chuyện, chỉ để vùi đầu học như một thằng điên.

Hao hao giống như nhân vật trong chuyện "Tình yêu cuộc sống" của Jac London: Sau lần chết hụt vì đói thì lúc nào cũng nơm nớp sợ lại bị đói.

Học như chỉ sợ nhỡ lại không được học nữa.

Vẫn nhức nhối những vết thương trên cơ thể và trong tâm trí nhưng tôi cứ cắm nghiến răng, cúi rượt theo để đuổi kịp và vượt các cô cậu phổ thông K18.

Rồi những cố gắng cũng được đền đáp.

Ba năm làm lớp phó.

La liệt giấy khen, phần thưởng, danh hiệu cho lớp, cho mình.

Năm 1977, lớp Lý II đạt là 1 trong 49 "Tập thể học sinh Xã hội chủ nghĩa" của cả nước !

Bây giờ chắc chẳng ai còn nhớ tới cái danh hiệu cao quý ấy.

Và phần thưởng cao cả nhất dành cho riêng mình chính là cơ hội đạt Viên cuối cùng.

Lần này không thể lặp lại chuyện không trung thực khi khai Lý lịch như lần ở chiến trường.

Tổ trưởng Đảng, Mr.

Hữu (sau này làm đối ngoại ở ĐHQG) được giao đi thẩm tra lý lịch.

Về tận quê: Ai về mua tiểu Hương Canh.

Địa phương xác nhận: Thành phần cơ bản, Ông cụ 57 tuổi vẫn vào Đảng, bản thân qua chiến đấu, gương mẫu, ... tốt, tốt.

Cứ yên tâm hoàn thành luận án và thi tốt nghiệp.

Đợi kết nạp trước khi ra trường.

Đùng một cái, lại đùng một cái, kết quả luận án: 10, ngoại ngữ: 10, chính trị quốc gia: 5 trừ.

Thi về Các quy luật kinh tế cơ bản của CNXH (Chẳng bao giờ dùng đến nên bây giờ quên tiệt rồi).

Barem: Nêu quy luật là chính, dẫn chứng thêm sự vận dụng của Đảng ta để minh họa.

Làm bài: Quy luật là phụ, tán về vận dụng sáng tạo của Đảng ta là chính.

Cứ bám bài Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới của bác Duẩn trong tạp chí Học Tập mà phang cho đến chỗ dọc phách, kẻng thu bài.

Lạc đề .

May là cán bộ chuyển ngành nên được đỗ vớt.

Vớt luận văn, vớt ngoại ngữ thì bỏ qua, vẫn Viên được, chứ vớt chính trị, non chính trị thì ngang tội vượt đèn đỏ, tội Chuyên mà không Hồng.

Thế là lại lỡ một lần đò nữa"

Giữa những năm 80, 6971 lại địu giấy tờ Cảm tình, Đối tượng sang tận đất nước của Lênin.

Nước Nga vĩ đại!

Nước Nga của Puskin với "Những câu chuyện của ông lão Benkin" đọc một lần nhớ đến già.

Nước Nga với mùa lá vàng buông thả, bâng khuâng.

Nước Nga với ngọn lửa vĩnh cửu bên chân tường Điện Kremli, nơi có dòng chữ nhắc nhở: "Không cái gì bị lãng quên".

Nước Nga với quảng trường mang tên Đỏ nhưng lại toàn là đá màu Xám...

Nhưng đâu phải đến nước Nga chỉ để chiêm nghiệm, để khám phá, để thưởng thức những cám giác diệu kỳ đó.

Đến nước Nga để "Học-Học nữa-Học mãi" và để trốn tránh những năm 80 quằn quại của Giá-Lương-Tiền trong nước.

Lại 4 năm Đơn vị trưởng đơn vị Lưu học sinh Việt Nam, lại gương mẫu, lại gìn giữ, lại chuẩn bị một lúc nhận cả học vị và Viên cao.

Cái số mình là số gì?

Năm cuối, thầy giáo mắc ung thư.

Hàng tuần mang theo kết quả vào trong bệnh viện thăm thầy.

Nhìn con bệnh hành hạ thầy mà không nỡ giở tài liệu ra hỏi.

Thày khóc, trò khóc.

Trầy trật luận án vào những năm tháng nước Nga Xô Viết cũng đang vật vã.

Hình ảnh búa liềm đang lung lay và rạn vỡ từng mảnh.

Tượng Lênin bị dỡ bỏ ở nhiều nước Cộng Hòa.

Những người Bonsevich chân chính hoang mang, không biết Gorbachov đang chèo lái con tàu XôViết đi về đâu.

Cuối cùng luận án cũng xong xuôi, nhưng phải ra hạn 9 tháng.

Ngày bảo vệ, thầy nằm trong viện, nhắn gửi các thành viên hội đồng: "Nghiên cứu sinh là Vật Lý, các thầy Hóa học, xin các thầy đừng hỏi khó".

Thế rồi cũng xong cái học vị.

Quay ra cái Viên.

Sứ quán có quy định: Gia hạn tức là không hoàn thành nhiệm vụ, trừ 2 trường hợp: Thầy chết và cháy phòng thí nghiệm - Nếu là Đối tượng kết nạp thì ngừng, chuyển hồ sơ về trong nước.

Thầy mình ung thư giai đoạn cuối chứ chưa được là "Thầy chết".

Số nó thế, đâu có oan.

Thế là lại thêm một lần bâng khuâng nhìn theo một conđò nữa rời bến!

Tôi đã có may mắn được sống và học tập ở đất nước Búa liềm trong những thời khắc thật ấn tượng, đáng nhớ và để lại nhiều suy ngẫm, kể cả dấu ấn trong đời tôi.

Khi đến nước Nga vào năm 1984, khuôn mặt người dân Xô Viết hồ hởi, sung sướng, tự tin, khi họ đã tìm thấy người cầm lái mới: Gorbachov, sau một thời kỳ lê thê Breznhev, lóe sáng hy vọng nhưng ngắn ngủi Andropop và bơ phờ mệt mỏi, lo lắng Chernenco.

Lúc nào, ở đâu cũng nghe tiếng Gorbachov oang oang trên TV.

Bà giáo Nga bảo chúng tôi: "Chúng tao đã yên tâm có Tổng bí thư đến năm 2.000".

Mặc dù là SV ngoại quốc, chúng tôi cũng phải đi nghe giảng về perestroika (cải cách).

Tháng Năm 1985 rồi tháng Mười một năm 1987, chúng tôi hòa vào dòng người cuồn cuộn đi về Công viên Gorki rồi lại kéo đi như cuồng tín, ca hát và nhảy múa thâu đêm ở một quảng trường phía Đông Bắc thành phố để kỷ niệm 40 năm chiến thắng Phát xít Đức và 70 năm CM Tháng 10.

Thế đấy, Ra-xi-à, Ra-xí-à, Ra-xí-a-Rô-đin-na-mai-à (Nước Nga là tổ quốc của tôi).

Nhưng rồi cảm thấy như sắp có thay đổi lớn.

Nhớ một buổi chiều mênh mông tuyết, tôi thấy trên tường ở lối lên Metro Biliaevo có bức ảnh tranh cử của Yeltsin bị ai đó gạch sơn đen vào mặt.

Thế mà chẳng thấy ai bị bắt, chẳng thấy ai dỡ bỏ bức hình đi.

Tôi rời xứ thùy dương với cảm giác bâng khuâng cả về tình cảm với con người Nga đôn hậu, bâng khuâng cả về chính trị với những lung lay, rạn nứt của thành trì CNXH mà một thời ngưỡng mộ.

Thật bất ngờ, tôi về nước được hơn 1 năm thì thành trì Nước Nga Xô Viết vĩ đại sụp đổ.

Nói cho đúng thì chế độ Xô Viết đã sụp đổ, còn ước Nga trở thành nước Nga mới.

Đấy là 19/8/1991.

Yeltsin lên, cấm ĐCS Nga hoạt động.

Tôi ngơ ngác và lo lắng, làm sao mà Nước Nga như hồi 4-5 năm tôi ở đó, đất nước của những người CS, lại đến nông nỗi này.

Rồi nước Nga sẽ đi về đâu?

Một người làm khoa học tự nhiên thường ấu trĩ về chính trị như thế đấy.

Thôi, hãy để cho nước Nga đi con đường của họ.

Họ đã có Putin.

Xin trở về phố Bưởi với câu chuyện Viên Ba của tôi.

Hồ sơ cá nhân của tôi được chuyển từ ĐSQ Liên Xô (vẫnlà LX) về bộ ĐH, rồi từ đó về Viện Khoa học Công nghệ VN.

Về học vị thì ghi làPhó TS (bây giờ không còn học vị này nữa), nhưng không biết trong đó họ ghi thếnào về con đường trắc trở Viên ba của tôi, chỉ biết ông A (kí hiệu ABC theokiểu khoa học), bí thư chi bộ bảo tôi rằng: "Anh thu xếp đi học lớp Cảmtình-Đối tượng để kịp kết nạp đợt cuối năm.

Phải có cái đó mới cơ cấuđược".

Tôi buột miệng bảo ông: "Đang bận quá, thôi để lần sau đi.

Màtôi học mãi rồi ấy mà".

Khoảng tuần sau thấy ông A bảo tôi: "Anh viếtThu hoạch đi, mẫu đây này".

"Ơ kìa, tôi có đi dự đâu mà viết Thuhoạch".

"Thì biết anh bận không đi dự được mới bảo anh viết Thu hoạchthôi".

Tôi cũng thấy cảm động nhưng nó cứ có cảm giác thế nào ấy.

Tôi đànhầm ừ để tính sau.

Mấy hôm sau ông A đến lấy Thu hoạch.

Tôi xin lỗi, chưa viết.Bằng đi khoảng 1 tuần, thấy ông gõ của phòng, phiền quá.

Tôi nhăn nhó, chưa kịpgiãi bày thì thấy ông xòe tay đưa cho tôi tờ "Chứng nhận tham dự khóa họcCảm tình-Đối tượng".

Rõ ràng tên tôi, loại khá giỏi hẳn hoi.

Tôi ngẩn cảngười ra

Bẵng đi vài năm, tôi gặp lại ông A trong một buổi gặp mặt nhân ngày Quốc phòng toàn dân.

Thực ra chỉ là nhìn thấy ông.

Ông đã lên cao hơn với hàm thứ trưởng, ngồi trên hàng ghế đầu.

Buổi gặp mặt có khoảng hơn 100 người, hầu hết là CCB trong cơ quan, gồm gần 30 viện chuyên ngành, ngồi chật kín hội trường trừ hàng ghế đầu.

Chủ tịch Viện phát biểu ghi nhận vai trò CCB cả trong dĩ vãng cũng như hiện tại.

Ông tự hào nói viện của ông là cơ quan khoa học duy nhất trên thế giới có tới khoảng 10% là CCB.

Cuối cùng ông chúc Hội CCB ngày càng phát triển và vững mạnh, đóng góp vào sự phát triển của cơ quan và đất nước.

Sau đó là vài phát biểu được chuẩn bị trước của các CCB.

Chẳng hiểu sao, 6971 lại cao hứng bốc đồng đăng đàn.

Hơi bất ngờ cho ban tổ chức.

Bây giờ chẳng nhớ hôm đó đã nói những gì.

Hình như mở đầu là cám ơn sự quan tâm của lãnh đạo, rồi nói về nhận xét và lời chúc của Chủ tịch viện.

Hội CCB có một điều đặc biệt, chỉ ngày càng bớt đi chứ không thêm lên.

Có thể vững mạnh chứ không phát triển về số lượng, quy mô.

Con số 10% mà chủ tịch nói hôm nay, vài năm sau sẽ thành 7%, 3%, và rồi về Không, vì họ đều đã già và không bao giờ, mong là không bao giờ có thêm CCB nữa.

Hội CCB là một hiện tượng lịch sử.

Sau đó được đà, thấy mọi người chăm chú nghe, vỗ tay, 6971 huyên thuyên khá dài.

Những tâm tư, chia sẻ tự đáy lòng người lính chiến.

6971 nói: Rất cảm động khi nghe Chủ tịch chia sẻ với các CCB, nhưng nói là cảm động đến phát khóc thì không thể.

Thế mà gặp lại đồng đội cũ đang lam lũ, hom hem mãi nơi xó xỉnh nào đó thì lại không thể nào ngăn được nước mắt.

Thậm chí không gặp mà chỉ nhớ lại một người bạn bị rớt lại vì sốt rét khi hành quân là đã phải bỏ kính ra lau mắt.

Hội chứng Lính.

Nói khá dài mà không thấy ban tổ chức tỏ ý nhắc nhở gì.

Bây giờ có bảo nói lại thì cũng chịu.

Rồi về chỗ ngồi.

Vài người đến bắt tay.

Cuối buổi là ông A, ông xuống tận chỗ tôi bắt tay rồi nói: "Hôm nay mới biết ông.

Tôi phải lôi ông lên tuyên huấn thôi".

Tôi cười: "Cùng viện, cùng cầu thang mà hôm nay mới biết à?

Mà bác nói lên hay xuống tuyên huấn?

Cảm ơn, tuyên huấn thì phải có cái ấy như bác bảo hồi trước cứ.

Tôi đã có cái ấy đâu".

Ông ấy cười cười, gật gật: "Hả, hả ??" rồi rút điện thoại ra "Alo, alô, A đây, ai đấy?

Có chuyện gì thế".

Nghĩ bụng, ông ấy lo chuyện lớn, chuyện chính trị, chứ chắc gì nhớ chuyện cũ tẻo teo của tôi.

Ông A hơn tôi vài tuổi, chứ bí thư sau, ông B lại kém tôi dăm bảy tuổi.

B vừa là viện phó, vừa bí thư chi bộ, vừa kiêm luôn tổ trưởng tổ Đảng của mấy phòng chuyên môn, trong đó có phòng tôi.

Cái giống đã làm chuyên môn mà lại có chút khiếu chính trị là hay phải kiêm nhiều thứ lắm.

Một hôm, B vào phòng tôi, tay cầm tập tiền giấy dày, đủ loại.

Hồi ấy chưa có tiền xu và tiền polymơ mệnh giá cao.

- Khỏe chứ anh?

- Ồi, bình thường.

- Anh cho em thu Đảng phí quý này cái.

Tôi bảo: Thì ngồi làm chén nước đã, vội gì.

- Không anh thông cảm, để khi khác, em đang vội thật.

- Ừ thì vội, nhưng cậu phải xem tớ đóng từ tháng nào, còn tháng nào chưa đóng chứ.

- Vâng, có chứ.

Nhưng hôm nay em vội quá không mang sổ.

Thì vẫn cứ thu theo quý cho gọn ấy mà.

Tôi nhẹ nhàng bảo: "B ạ, tớ thì hơi khác đấy, cứ về xem sổ xong rồi tớ khắc đóng đầy đủ, nghiêm chỉnh".

B hơi bối rối, thật là rách việc, gặp phải tay không vừa rồi.

Nhưng dù sao cậu ấy cũng biết mình sai nguyên tắc, nên miễn cưỡng chào tôi, nước chẳng kịp uống, tay chẳng kịp bắt - Thôi được, thế thì mai em mang sổ lên anh nhé.

Nhưng rồi chỉ được ít phút đã thấy B quay trở lại, không cả gõ cửa.

Lần này trên tay có cả cuốn sổ.

B đứng trân trân ở cửa vào, tròn mắt nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên:

- Ơ, anh chưa Đảng à?

Sao lại thế được nhỉ?

Tôi cười.

Chắc soi gương thì thấy là một nụ cười gượng:

-Ừ, thì có sao đâu?

Tớ mà vào Đảng như mọi người thì vào từ khi cậu học lớp 7 cơ.

- Sao thế ạ?

- Thôi, chuyện dài lắm.

Coi như tớ đóng đủ rồi nhé.

B nắm tay tôi, lắc lắc: "Không được, không thểthế được".

....
 
Back
Top Bottom