Khác Hậu cung Việt Nam qua các triều đại

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
128166590-256-k127887.jpg

Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
Tác giả: hoanonhy
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

xin chào các bạn^_^mình là Ôn Hy, đây là truyện đầu tiên mình viết, nó không hẵn là truyện đâu😅bởi vì ở đây mình sẽ chỉ giới thiệu các cấp bậc của phi tần trong hậu cung Việt Nam thời xưa thôi😅mình nghĩ hậu cung VN cũng khá hay và so với hậu cung Trung Quốc cũng không kém phần thú vị😊nên mong mọi người ủng hộ mình nhé🤗Ôn Hy xin chân thành cảm ơn mọi người😉



havan​
 
Có thể bạn cũng thích
  • [REUP] Hoàng Thượng Thay Tôi Đấu Trí Trong Hậu Cung
  • Thanh Cao Tông Kế Hoàng Hậu
  • HẬU CUNG NHƯ Ý TRUYỆN (nguyên tác)
  • Thường Châu Năm Ấy
  • Lưỡng Triều Hoàng Hậu
  • Hậu cung Chân Mãn Truyện
  • Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
    Các cấp bậc phi tần trong hậu cung nhà Lý


    Triều đại nhà Lý, vua Thái Tông ban chỉ dụ về cấp bậc hậu cung như sau:"Hoàng hậu và phi tần mười ba người, Ngự nữ mười tám người, Nhạc kỹ hơn trăm người".

    •Đứng đầu là Hoàng hậu

    -Nguyên Phi

    -Thần phi

    -Quý phi

    -Đức phi

    -Thục phi

    -Hiền phi

    -Thứ phi

    -Phu nhân: bậc phu nhân được ban hai mỹ từ làm huy hiệu

    Ví dụ như:" Thánh Tông có Ỷ Lan (倚蘭), Nhân Tông có Thần Anh (宸英), Thần Tông có Minh Bảo (明寶), Cảm Thánh (感聖), Phụng Thánh (奉聖), Huệ Tông có Thuận Trinh (順貞)".
     
    Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
    Triều Nguyễn


    Triều nhà Nguyễn thường không lập Hoàng hậu.

    Hầu hết vợ chính của các Hoàng đế từ Minh Mạng đến Khải Định đều chỉ là Hoàng quý phi hoặc Nhất giai phi.

    Theo quy định nhà Nguyễn, Hoàng quý phi ở trên bậc nhất giai, giúp Hoàng thái hậu cất đặt và chỉnh tề công việc nội cung, là danh hiệu tôn quý nhất nội cung nhà Nguyễn.

    Theo Nội các triều Nguyễn-Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, vào đầu thời Nguyễn, thứ bậc nội cung được quy định:

    ●Tam phi: Quý phi, Minh phi, Kính phi.

    ●Tam tu: Tu nghi, Tu dung, Tu viên. ●Cửu tần: Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần.

    ●Tam chiêu: Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên.

    ●Tam sung: Sung nghi, Sung dung, Sung viên.

    ●Lục chức: Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân.

    *Các danh hiệu không cố định mà thay đổi qua các triều Hoàng đế hoặc ngay trong cùng một triều.

    Như hai năm sau khi ban hành chế độ trên, năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Thánh Tổ lại có chỉ dụ thay đổi trong bậc ngũ giai như sau: "Nguyên trước định lệ cung giai, Lệ tần, An tần, Hòa tần cùng là bậc ngũ giai, nay đổi làm An tần, Hòa tần, Lệ tần".

    Cũng trong năm này, danh xưng của các phi tần trong chín bậc lại có sự thay đổi như sau:

    ●Hoàng quý phi .

    ●Quý phi, Đoan phi, Lệ phi làm bậc nhất hay Nhất giai phi.

    ●Thành phi, Tính phi, Thục phi làm bậc nhì hay Nhị giai phi.

    ●Quý tần, Lương tần, Đức tần làm bậc ba hay Tam giai tần.

    ●Huy tần, Ý tần, Nhu tần làm bậc bốn hay Tứ giai tần.

    ●Nhân tần, Nhã tần, Thuận tần làm bậc năm hay Ngũ giai tần.

    ●Lục giai Tiệp dư.

    ●Thất giai Quý nhân.

    ●Bát giai Mỹ nhân.

    ●Cửu giai Tài nhân.

    ●Tài nhân vị nhập giai.

    ●Cung nga, Thể nữ.

    Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Hiến Tổ lại cho đổi gọi Đoan phi làm Lương phi, vì chữ "Lương" đã được đưa lên tấn phong cho bậc nhất giai nên Lương tần ở tam giai được đổi thành Thụy tần.

    Quốc Sử quán ghi lại trong Đại Nam thực lục vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 3 (1850), Dực Tông xuống dụ "Định rõ thứ bậc ở nội cung".

    Theo tờ dụ này, "Về Hoàng quý phi trở lên, đã có lệ sẵn, còn từ phi tần trở xuống, thì chia làm các bậc với các danh xưng và mỹ từ như sau":

    ●Thuận phi, Thiện phi, Nhã phi làm bậc nhất hay Nhất giai phi.

    ●Cung phi, Cần phi( Đôn phi ), Chiêu phi( Mẫn phi ) làm bậc nhì hay Nhị giai phi.

    ●Khiêm tần, Thận tần, Nhân tần, Thái tần làm bậc ba hay Tam giai tần.

    ●Khoan tần, Giai tần, Tuệ tần, Giản tần làm bậc bốn hay Tứ giai tần.

    ●Tĩnh tần, Cẩn tần, Tín tần, Uyển tần làm bậc năm hay Ngũ giai tần.

    ●Tiệp dư làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư.

    ●Quý nhân làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân.

    ●Mỹ nhân làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân.

    ●Tài nhân làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân.

    ●Tài nhân vị nhập giai, còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu.

    ●Cung nga, Thể nữ, gọi chung là Cung nhân.

    Riêng hàng phi trong chín bậc ấy, đến tháng 12 năm Tự Đức thứ 14 (1862), Cần phi được đổi thành Đôn phi, và sau đó một tháng, Chiêu phi được đổi thành Mẫn phi.
     
    Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
    Các cấp bậc phi tần trong hậu cung nhà Lê Sơ


    Triều đại Lê sơ, Thánh Tông đặt ra chế độ nội cung:

    "Các Hoàng đế Lê sơ thường không lập Hoàng hậu, chỉ lấy bậc Quý phi đứng đầu trông nom công việc nội cung."

    ●Tam phi: Quý phi, Minh phi, Kính phi.

    ●Cửu tần:

    •Tam chiêu: Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên.

    •Tam tu: Tu nghi, Tu dung, Tu viên.

    •Tam sung: Sung nghi, Sung dung, Sung viên.

    ●Lục chức: Tiệp dư, Dung hoa, Tuyên vinh, Tài nhân, Lương nhân, Mỹ nhân.
     
    Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
    các phi tần nổi tiếng


    NHÀ TRẦN

    ●Tuyên Từ hoàng hậu

    -Tuyên Từ hoàng thái hậu ( ?

    - 14 tháng 9, 1318), là hoàng hậu thứ hai của Trần Nhân Tông.

    -Tại vị: 1308 - 1314

    -Tiền nhiệm: Khâm Từ Bảo Thánh hoàng thái hậu

    -Kế nhiệm: Bảo Từ Thuận Thánh hoàng thái hậu

    -Thông tin chung: Phu quân Trần Nhân Tông

    -Hậu duệ: Không rõ, rất có thể là Trần Quốc Chẩn

    -Tước hiệu: Hoàng thái hậu

    Thái hoàng thái hậu

    -Thụy hiệu: Tuyên Từ hoàng hậu

    -Hoàng tộc: Nhà Trần

    -Thân phụ: Trần Hưng Đạo

    -Mất: 14 tháng 9, 1318

    Thăng Long

    -An táng: Quy Đức lăng.

    -Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà là em gái của Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu, con gái thứ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

    Theo vai vế, bà là dì của Trần Anh Tông.

    ●Chiêu Từ hoàng thái hậu

    -Huy Tư Hoàng phi Trần thị của vua Trần Anh Tông

    -Sinh mẫu của vua Trần Minh Tông.

    -Thân phụ: Trần Bình Trọng.

    ●Minh Từ Hoàng thái phi

    -Anh Tư Nguyên phi của vua Trần Minh Tông

    -Sinh mẫu của vua Trần Hiến Tông và vua Trần Nghệ Tông, cô ruột của Hồ Quý Ly.

    -Em gái cùng mẹ với Hiến Từ hoàng hậu của vua Trần Minh Tông.

    ●Đôn Từ Hoàng thái phi

    -Sung viên của Trần Minh Tông

    -Sinh mẫu của vua Trần Duệ Tông

    -Em gái của Minh Từ Hoàng thái phi

    -Cô ruột của Hồ Quý Ly.

    ●Chế Thắng phu nhân

    -Chế Thắng phu nhân ( còn gọi Bà Bích Châu hay Cung phi Bích Châu, là một nhân vật truyền thuyết Việt Nam, tương truyền là một phi tần rất được sủng ái của Trần Duệ Tông.

    Khi Trần Duệ Tông mở chiến dịch vào Chiêm Thành, bà đã đi theo và qua đời do dâng mình cho vị thần biển.

    Không lâu sau cái chết của bà, Trần Duệ Tông cũng tử trận trong chiến dịch này.

    -Phu quân: Trần Duệ Tông

    -Tên đầy đủ: Nguyễn Thị Bích Châu

    -Hoàng tộc: nhà Trần

    -Thân phụ: Nguyễn Tướng Công

    -Sinh: 1356

    Nam Ðịnh

    -Mất: 1377

    Quy Nhơn

    -An táng: Cửa Khẩu, bến Kỳ La, huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan.

    ●Hoàng hậu Bạch Ngọc

    -Tên đầy đủ: Trần Thị Ngọc Hòa,

    -Hoàng phi của Trần Duệ Tông.

    -Mẹ của Huy Chân công chúa Trần Thị Ngọc Hiền-mẹ đẻ của con gái duy nhất của Lê Thái Tổ, Trang Từ công chúa.
     
    Hậu Cung Việt Nam Qua Các Triều Đại
    các phi tần nổi tiếng


    NHÀ LÊ

    ●Tuyên Từ thái hậu

    -Nguyễn Thị Anh ( 1422 – 4 tháng 10, 1459), hay là Thái Tông Nguyễn hoàng hậu, Tuyên Từ hoàng thái hậu hoặc Nguyễn Thần phi, là phi tần của hoàng đế Lê Thái Tông, mẹ đẻ của hoàng đế Lê Nhân Tông

    -Tại vị: 1442 - 1459

    -Tiền nhiệm: Không có

    Hoàng thái hậu tại vị đầu tiên

    -Kế nhiệm: Quang Thục hoàng thái hậu

    -Thông tin chung: Phu quân Lê Thái Tông

    -Hậu duệ: Lê Bang Cơ

    -Tên đầy đủ: Nguyễn Thị Anh

    -Tước hiệu: Thần phi

    Hoàng thái hậu

    -Tước vị: Thánh mẫu Hoàng thái hậu

    -Thụy hiệu: Tuyên Từ Nhân Ý Chiêu Túc hoàng thái hậu

    -Hoàng tộc: Nhà Lê sơ

    -Sinh: 1422

    Bố Vệ, Thanh Hóa

    -Mất: 4 tháng 10, 1459

    Đông Kinh

    -An táng: Hựu lăng

    Bà là vị Hoàng thái hậu tại vị đầu tiên, và cũng là Hoàng thái hậu duy nhất của triều đại nhà Hậu Lê thực hiện Thùy liêm thính chánh

    ●Quang Thục thái hậu

    -Ngô Thị Ngọc Dao ( 1421 - 26 tháng 2, 1496), còn gọi là Quang Thục thái hậu hay Thái Tông Ngô hoàng hậu, là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê.

    -Tại vị: 1460 - 1496

    -Tiền nhiệm: Tuyên Từ hoàng thái hậu

    -Kế nhiệm: Huy Gia hoàng thái hậu

    -Thông tin chung: Phu quân Lê Thái Tông

    -Hậu duệ: Lê Thánh Tông

    Thao Quốc Trưởng công chúa

    -Tên đầy đủ: Ngô Dao

    -Tước hiệu: Tiệp dư

    Sung viên

    Hoàng thái hậu

    -Tước vị: Thánh mẫu Hoàng thái hậu

    -Thụy hiệu: Quang Thục Trinh Huệ Khiêm Tiết Hòa Xung Nhân Thánh hoàng thái hậu

    -Hoàng tộc: Nhà Lê sơ

    -Thân phụ: Ngô Từ

    -Thân mẫu: Đinh Thị Ngọc Kế

    -Sinh: 1421

    Thanh Hóa

    -Mất: 26 tháng 2, 1496 (74–75 tuổi)

    Thừa Hoa điện, Đông Kinh

    -An táng: Hựu lăng

    *Xuất thân ( vô cùng hiển hách😨 )

    -Cụ cao tổ là Ngô Lỗ, một dòng họ lớn thời Trần, cụ bà là Đinh Thị Quỳnh Khôi, được ban tước Á Quận chúa, Đại hoàng bà cung Bảo Từ.

    -Cụ tằng tổ là Ngô Tây, được tặng Kiến Tường hầu, cụ bà là Đinh Thị Ngọc Luân, tặng Kiến Tường quận phu nhân.

    -Ông nội bà là Ngô Kinh, gia nô của Lê Khoáng và sau đó là Lê Lợi, mất trước khởi nghĩa Lam Sơn, sau được truy Thái phó, tước Hưng quốc công; cụ bà là Đinh Thị Mại được tặng Hưng Quốc phu nhân.

    -Cha bà là Ngô Từ, là gia nô của Lê Lợi, giữ vai trò cung cấp quân lương trong những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, khai quốc công thần nhà Hậu Lê.

    Sau được tặng Tuyên phủ sứ Thái từ Thiếu bảo Quan nội hầu, được tặng Chương Khánh công, gia tặng Ý Quốc công; mẹ bà là Đinh Thị Ngọc Kế, được tặng Ý Quốc thái phu nhân.

    -Bà ngoại họ Trần, húy là Ngọc Huy, là hậu duệ của một nhân vật nổi tiếng triều Trần là Tá Thánh Thái sư Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.
     
    Back
    Top Dưới