Cập nhật mới

Khác HÀO KHÍ ĐÔNG A

Hào Khí Đông A
Câu chuyện 20: Trận Vạn Kiếp


Quân Đại Việt thua trận liên tiếp, tất cả các cánh quân phải lui về phòng thủ tại Vạn Kiếp.

Vua Trần Nhân Tông và thượng tướng Trần Quang Khải đem quân đến Vạn Kiếp chi viện.

Vừa đến nơi, nhà vua cho vời Trần Hưng Đạo đến gặp, sắc mặt nghiêm trọng.

Nhà vua hỏi Trần Quốc Tuấn:

- Thế giặc mạnh như vậy hay là trẫm đầu hàng để cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than?

Quốc Tuấn khẳng khái tâu:

- Xin bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng.

Câu nói kiên định của Quốc Tuấn khiến Nhân Tông an lòng, nhà vua sai người đem đến một xấp tấu chương đưa Quốc Tuấn xem rồi nói:

- Quốc công, đây là tất cả tấu chương của những quan thần trong triều muốn hoán đổi khanh, họ tâu khanh không có đủ năng lực làm thống soái ba quân, lại có mưu đồ tạo phản.

Hôm nay trẫm đem đống tấu chương này trả hết lại cho khanh.

Quốc Tuấn thấy vậy không khỏi nghẹn ngào, thề với nhà vua:

- Bẩm bệ hạ, thần, Trần Quốc Tuấn xin thề sau này nhất định sẽ trả cho bệ hạ một chiến thắng, một chiến thắng làm kinh thiên động địa.

Sau đó vua tôi nhà Trần cùng nhau bàn bạc chiến sự, chỉnh đốn quân lực.

Nhà vua lệnh cho Quốc Tuấn ở lại giữ Vạn Kiếp, còn bản thân lui về sông Đuống đích thân đôn đốc quân sĩ dựng phòng tuyến tiếp theo.

Khi đại quân Thoát Hoan tiến đến Vạn Kiếp, biết được quân Đại Việt đang tập trung một lực lượng rất lớn tại đây, lại có thủy quân tham chiến nên Thoát Hoan cũng lập ra một đội thuyền chiến gồm 60 chiếc thuyền, với khoảng 1300 tên lính và giao cho Ô Mã Nhi - là một viên tướng có biệt tài thủy chiến làm Nguyên soái thủy quân chỉ huy quân thủy.

Thoát Hoan thống lĩnh đại quân bằng đường bộ, rầm rộ tấn công vào Vạn Kiếp.

Các viên tướng sừng sỏ của quân Nguyên là A Lý Hải Nha, Lý Hằng, Bột La Đáp Nhĩ, Tôn Hựu, Sát Tháp Nhi Đài và Khoan Triệt đều xung trận đầu, chia quân ra đánh; trong khi cánh thủy quân do Ô Mã Nhi, Nghệ Nhuận chỉ huy lần lượt tấn công vào các trại quân Trần ở Chí Linh, âm mưu lúc quân chủ lực trên bộ của Đại Việt thua rồi rút chạy bằng đường thủy thì Ô Mã Nhi đốc quân xông ra đánh chặn đường lui.

Điểm qua lực lượng bên phía Đại Việt, Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh tập trung phần lớn quân đội chủ lực tại đây, lại điều thêm cả tượng binh tham chiến nhằm khắc chế kỵ binh Nguyên Mông.

Những người chỉ huy trận này bên phía quân Trần là Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Bảo Nghĩa vương, Nhân Huệ vương và Phạm Ngũ Lão.

Ngoài ra "Ngũ Hổ tướng" dưới trướng Hưng Đạo vương cũng tham chiến.

Năm người đó lần lượt là:

1.

Yết Kiêu (Phạm Hữu Thế), có tài bơi lội và thủy chiến.

Vũ khí là hai cây rìu sắt.

Yết Kiêu được Hưng Đạo vương cử đi hỗ trợ cho Trần Khánh Dư bên cánh thủy quân đối đầu với Ô Mã Nhi.

2.

Dã Tượng, sức khỏe phi thường, có tài thuần phục và huấn luyện voi chiến.

Vũ khí của Dã Tượng là một cây chùy sắt.

Dã Tượng được Hưng Đạo vương giao cho chỉ huy đội tượng binh.

3.

Lư Cao Mang, võ công phi phàm, trên tay ông cầm một thanh đao to.

4.

Đại Hành, khí chất uy dũng, vũ khí là thanh xà mâu.

5.

Nguyễn Địa Lô, có biệt tài bắn cung bách phát bách trúng, được người đời ca tụng là "thần tiễn".

Thoát Hoan dẫn quân tấn công phòng tuyến Vạn Kiếp.

Hỗn chiến trong đám quân, A Lý Hải Nha sấn ngựa lao vào rất dũng mãnh, một mình hắn giết được rất nhiều quân lính Đại Việt.

Trần Quang Khải thấy vậy múa thương xông đến A Lý Hải Nha, hai người đánh nhau hơn năm mươi hiệp vẫn không phân thắng bại, Hưng Đạo vương lo một mình Quang Khải không thắng được A Lý Hải Nha nên xông vào trợ chiến.

Hai người liên thủ, bên tả bên hữu càng đánh càng hăng, A Lý Hải Nha núng thế phải tung hư chiêu rồi thừa cơ thoát khỏi vòng vây của hai người để thoát thân.

Trong khi đó, Lý Hằng, Sát Tháp Nhi Đài và Tôn Hựu chia quân ba hướng tấn công.

Các tướng nhà Trần chia quân chống đỡ.

Bên phía Thoát Hoan, hắn được các tướng sĩ tả hữu xung quanh bảo vệ.

Phạm Ngũ Lão nhìn thấy Thoát Hoan trong trận liền gọi Cao Mang và Đại Hành đến hỗ trợ, ba người xông đến toan giết chết tên chủ tướng giặc.

Bọn hộ vệ cho Thoát Hoan có Lưu Thế Anh, Khoan Triệt và bọn lính cận vệ xông đến.

Hai bên đánh nhau dữ dội, cứ nghĩ võ công của con trai Hốt Tất Liệt chỉ là tầm thường nhưng hóa ra hắn mới là cao thủ.

Ba thuộc hạ của Hưng Đạo vương bị bao vây, Nguyễn Địa Lô từ ngoài bắn tên vào đám quân lính Thoát Hoan mới giúp cho ba người kia phá vòng vây thoát ra được.

Dã Tượng chỉ huy tượng binh xông lên trợ chiến cho quân Đại Việt.

Từ trên voi, cung thủ bắn tên xuống như mưa tăng thêm uy lực cho tượng binh.

Quân Nguyên Mông hoảng loạn, trúng tên tử trận không ít.

Chúng dần dần bị đẩy lùi về phía sau, không có thời gian phái cung thủ bắn tên vào mắt voi và quản tượng do bị tượng binh nhà Trần bắn tên "phủ đầu" trước, bấy giờ Thoát Hoan mới nghĩ ra một cách vô cùng tàn nhẫn, hắn bắt quân lính người Tống xông lên đi trước mở đường dùng cung tên bắn trả Đại Việt, quân Nguyên dùng khiên chắn đi theo phía sau.

Vô số tướng sĩ người Tống bỏ mạng, thây chất thành đống.

Do quân Nguyên (chính xác là người Tống chết thay cho quân Nguyên) ồ ạt xông lên như biển người, chúng đông đến nỗi khiến cho cung thủ và tượng binh Đại Việt bị lúng túng mà vỡ trận, quản tượng và voi đều bị trúng tên.

Cuộc chiến giằng co suốt ba ngày khiến cả hai bên tổn thất nặng nề.

Do quân địch quá đông, nhắm chừng không thể giữ nổi Vạn Kiếp nên Quốc công Tiết chế lệnh rút quân theo đường thủy, lui về giữ Thăng Long.

Giữa đường Ô Mã Nhi và Nghệ Nhuận chỉ huy thủy quân Nguyên Mông xông ra chặn đường lui của quân Đại Việt nhưng thất bại, Nghệ Nhuận bị chém chết tại trận.

Đại quân Thoát Hoan không gặp nhiều khó khăn trên đường tiến đến Thăng Long.

Tuy hai bên có trận giao tranh ở phòng tuyến sông Đuống nhưng quân Trần nhanh chóng bại trận phải rút lui.

Thoát Hoan sai quân lính dựng cầu phao vượt sông, tiếp tục tiến quân.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 21: Hy sinh mất mát


Trên đường tiến đến Thăng Long, Thoát Hoan ra lệnh cho quân lính ra sức tàn phá làng mạc, cướp bóc lương thực, của cải của bá tánh.

Bắt được ai có chữ "sát Thát" trên tay thì chúng đều giết chết.

Quân Nguyên tiến đến bờ sông Hồng thì nhìn thấy ở bờ bên kia quân Đại Việt đã dựng lên một phòng tuyến bằng gỗ vô cùng vững chắc có thuyền chiến đậu san sát, Thoát Hoan không ra lệnh tấn công ngay mà cho quân đóng trại để dò xét động tĩnh.

Tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông sốt ruột muốn biết tình hình quân địch bên sông thế nào nên cử Đỗ Khắc Chung làm sứ giả sang trại giặc để thám thính binh tình.

Đỗ Khắc Chung lấy cớ là sứ giả đưa thư xin cầu hòa của vua Trần Nhân Tông để vượt sông, đến doanh trại của Ô Mã Nhi.

Tên tướng giặc xem thư xong thì lên giọng hạch hỏi:

- Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích hai chữ "sát Thát" tỏ ý khinh thường thiên triều, còn hòa cái gì?

Đỗ Khắc Chung vén tay áo cho Ô Mã Nhi xem rồi nói:

- Đấy là do lòng căm phẫn nên quân lính đã tự thích vào hai chữ ấy, chứ Quốc vương không biết được.

Nếu là lệnh bề trên, tôi là người hầu cận, sao lại không có?

Ô Mã Nhi lại vặn tiếp:

- Đại quân ở xa đến, sao quốc vương ngươi không đến tiếp kiến, lại còn dám kháng cự?

Thật đúng là bọ ngựa dám chống xe!

Khắc Chung đối đáp:

- Bức bách nhau quá, loài thú cũng phải cắn lại, huống gì là người.

Cứ như thế, Khắc Chung ứng đối rất rạch ròi, câu nào ra câu nấy, khiến cho Ô Mã Nhi không thể bắt bẻ, sau đó thì Đỗ Khắc Chung đường hoàng cáo từ ra về, khiến Ô Mã Nhi thán phục.

Khi Khắc Chung đi rồi, Ô Mã Nhi quay sang nói với tùy tùng:

- Chúng nó đang bị uy hiếp mà lời lẽ vẫn tự nhiên, không hạ chủ mình xuống, mà cũng không nịnh ta.

Nước này có những người như thế, chưa dễ đã chiếm được.

Ô Mã Nhi hữu dũng vô mưu không hiểu được ý đồ của Đỗ Khắc Chung sang doanh trại của hắn có mục đích là để thám thính, khi tùy tùng của y nhắc thì hắn mới nhận ra.

Ô Mã Nhi lật đật phái một đội quân đuổi theo bắt Đỗ Khắc Chung nhưng đã muộn.

Về đến kinh thành, Đỗ Khắc Chung đem những chuyện mắt thấy tai nghe ở doanh trại quân Nguyên kể lại cho vua và thượng hoàng biết.

Nhận thấy thế giặc còn mạnh, hai vua quyết định rút khỏi Thăng Long.

Để có thời gian rút lui, vua Trần Nhân Tông phái hai sứ giả là Trần Thang và Nguyễn Nhuệ đến trại Thoát Hoan cầu hòa, nhưng tên tướng giặc này không cần hạch hỏi lôi thôi mà bắt giam cả hai vị sứ giả, hắn đòi phải đích thân vua Trần Nhân Tông sang trại nghị hòa.

Thượng hoàng Thánh Tông nhận tin hồi báo rầu rĩ ôm đầu.

Từ lúc Thoát Hoan dẫn quân sang giày xéo bách tính Đại Việt, hai vua chưa một ngày được an giấc.

Thế giặc mạnh như cuồng phong, chỉ trong 10 ngày đã san bằng tất cả cửa quan, chiến lũy, hàng vạn chiến sĩ đã ngã xuống ở Nội Bàng, Vạn Kiếp, cha mẹ mất con, vợ mất chồng, con cái mất cha, bá tánh lầm than, dân chúng cơ cực, sinh linh đồ thán.

Giờ đây lũ giặc cướp nước đã đánh đến tận thành Thăng Long, thế nước nguy nan.

An Tư công chúa thấy huynh trưởng ngày đêm lao tâm khổ trí mà xót ruột bước đến hỏi:

- Thưa thượng hoàng, cớ sao chúng ta không thể rút lui ngay bây giờ?

Thánh Tông thở dài:

- Nếu bây giờ chúng ta ở lại Thăng Long thì quân Nguyên sẽ không phát động tấn công ngay, còn nếu chúng ta bỏ đi thì chắc chắn Thoát Hoan sẽ phái truy binh đuổi theo, đến lúc đó một trận quyết chiến là không thể tránh khỏi.

Vì lẽ đó mà ta cần phải hòa hoãn với Thoát Hoan, có như vậy triều đình mới có đủ thời gian rút lui an toàn.

An Tư bàn:

- Nhưng nếu chúng ta ở lại kinh thành thì đang bị giặc bao vây cô lập, sớm muộn gì Thoát Hoan cũng sẽ cho quân tấn công vào đây, đến lúc đó ta sẽ không còn đường lui, sợ là tất cả mọi người lành ít dữ nhiều, chi bằng thần có cách này muốn hỏi ý huynh trưởng, không biết có được không?

Thượng hoàng đáp:

- Công chúa nói ta nghe thử xem.

Lúc này An Tư nghẹn ngào rơi nước mắt không thành lời, nàng cảm thấy như có cục bông chặn lấy cổ họng mình:

- Nước nhà lâm nguy, thần là công chúa thì không thể đứng nhìn, chi bằng hãy để cho thần đến doanh trại Thoát Hoan làm thiếp của hắn, để hắn tin là ta muốn cầu hòa, kéo dài thời gian cho triều đình rút khỏi Thăng Long được an toàn.

Thế nước nghiêng nguy, An Tư hy sinh bản thân mình, gạt đi nước mắt rồi theo đoàn tùy tùng đến chốn xa lạ hầu hạ tên giặc cướp nước.

Kể từ đó không ai nhìn thấy nàng nữa, không rõ số phận của nàng khi đến doanh trại Thoát Hoan ra sao, Nguyên sử cũng không hề ghi chép gì về nàng.

Trong khi An Tư được đưa đến doanh trại Thoát Hoan thì triều đình nhà Trần tranh thủ triển khai rút lui.

Nhân lúc đêm tối quân Trần chia làm hai đường thủy bộ, người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc, một lực lượng rút lui bằng đường bộ, Hưng Đạo vương hộ giá hai vua đi bằng đường thủy.

Hai cánh quân gặp nhau tại phủ Thiên Trường (Nam Định).

Đến sáng hôm sau Thoát Hoan được tin báo Thăng Long chỉ còn là "vườn không nhà trống" y phát hiện mình đã bị lừa, tức tốc sai quân lính đóng bè, dựng cầu phao vượt sông, tiến vào Thăng Long lục soát, đốt phá và giết bất cứ ai bắt được trên đường.

Nhớ năm xưa, Ngột Lương Hợp Thai không tìm bắt được vua Trần Thái Tông ngay từ sớm, vì thế chiến tranh kéo dài lâu ngày lương thực cạn dần, quân lính sinh bệnh, đại quân yếu đi, quân Đại Việt nhân đó phản công, lật ngược tình thế, thất bại thảm hại, bản thân Ngột Lương Hợp Thai suýt rơi đầu vì làm mất uy nghiêm "thiên triều".

Không muốn đi vào vết xe đổ đó, Thoát Hoan hối thúc tướng sĩ chia ra đuổi theo quân Đại Việt bằng đường thủy lẫn đường bộ, quyết bắt cho bằng được vua Trần.

Đại tướng của Thoát Hoan là Khoan Triệt đụng độ quân của Trần Bình Trọng trấn giữ tại bãi Mạn Trò sông Thiên Mạc (Hưng Yên).

Khoan Triệt là viên tướng giàu kinh nghiệm trận mạc, rất có uy danh trong hàng ngũ tướng soái Nguyên Mông, đã chinh chiến nhiều nơi từ Âu sang Á, oai phong lẫm liệt.

Những trang bị hào nhoáng y mang trên người đều là chiến lợi phẩm cướp được ở chiến trường.

Cái mũ viền lông cáo xám là y đã cướp được từ một viên tướng người Hồi Hột, thanh gươm lưỡi cong là y thu được từ một trận đánh với người Ba Tư, lá đồng phủ gối y đang đeo vốn là của quốc vương nước Áo.

Nhìn thấy quân Thánh Dực Dũng Nghĩa với trang bị thô sơ đang đứng chặn trước mặt, Khoan Triệt ngạo nghễ cười khẩy xem thường.

Thế nhưng đến khi giao chiến, hắn bị quân Trần hành hạ cho thất điên bát đảo, tên tướng giặc đã từng đánh Âu dẹp Á bị thương nặng suýt mất mạng.

Hai bên chiến đấu ác liệt bảy ngày, đủ thời gian cho Nhân Tông và triều đình đến nơi trú ẩn an toàn.

Ghìm chân địch thành công, quân Thánh Dực Dũng Nghĩa định mở đường thoát thân thì có một cánh quân Nguyên cưỡi ngựa phi tới.

Đó là đội quân chủ lực của giặc do Tả thừa Đại tướng Lý Hằng - phó soái của Thoát Hoan chỉ huy kéo đến tiếp ứng cho Khoan Triệt.

Lý Hằng ỷ thế đông người, lệnh cho quân lính ồ ạt xông lên, Trần Bình Trọng và quân Thánh Dực Dũng Nghĩa không chịu khuất phục quyết chiến đến khi người cuối cùng ngả xuống.

Lý Hằng ấn tượng với sự dũng mãnh của Trần Bình Trọng, hắn không giết chết ông mà bắt giữ đem nộp cho Thoát Hoan.

Thoát Hoan nhận thấy Trần Bình Trọng có khí chất ngời ngời, anh dũng hơn người, chắc chắn là một viên tướng giỏi nên muốn chiêu nạp.

Hắn tự tay đến cởi trói cho Bình Trọng, lại sai người bày tiệc thiết đãi chu đáo, mon men dò hỏi việc nước, cố thuyết phục Bình Trọng để ông xiêu lòng.

Nhưng Bình Trọng chẳng thèm ăn, khi Thoát Hoan hỏi chuyện lại chẳng thèm trả lời.

Thoát Hoan dụ dỗ:

- Tướng quân khí chất hơn người, bổn vương lại yêu mến người tài, chỉ cần bổn vương nói giúp một tiếng thì Thái Tổ hoàng đế (tức Hốt Tất Liệt) chắc chắn sẽ cất nhắc cho tướng quân ngay.

Trần Bình Trọng ngoảnh mặt chỗ khác tỏ ý khinh thường.

Thoát Hoan lại nói tiếp:

- Thiên triều ta dùng binh đao lấy thiên hạ, có câu "vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì ở đó cỏ không mọc được", nước Đại Việt nhỏ bé như hạt tiêu, bổn vương thổi cái là bay, sớm muộn đại quân Nguyên Mông cũng biến nơi đây thành bình địa.

Trung nguyên có câu: "kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt", tướng quân cũng phải biết "chim khôn chọn cành mà đậu".

- Nay bổn vương có ý muốn thu nạp tướng quân, chỉ cần tướng quân nói cho ta biết vua Trần đang trốn ở đâu, ta cam đoan công đầu trong chuyến chinh phạt Đại Việt là của tướng quân.

Trần Bình Trọng không thèm nói nửa lời.

Thoát Hoan đem miếng mồi danh vọng ra dụ hàng tiếp:

- Nghe ta đi, hãy quy hàng ta, rồi ta sẽ cho ngươi làm vua đất Bắc.

Làm vua đất Bắc đó, biết bao nhiêu người thèm muốn!

Cha ta đã phong cho ta là vua đất Nam rồi thì ngươi làm vua đất Bắc, hai ta kết làm huynh đệ, tuyệt vời như vậy rồi, ngươi thấy sao?

Trần Bình Trọng quát:

- Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

Ta đã bị bắt thì chỉ có chết mà thôi, việc gì phải hỏi lôi thôi!

Cảm thấy không thể thuyết phục được Trần Bình Trọng, tên tướng giặc sai người chém đầu ông.

Trong khi đại quân của Thoát Hoan vừa chiếm được Thăng Long thì cánh quân của Nạp Tốc Lạt Đinh kéo xuống từ phía Vân Nam cũng đã tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt.

Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là người phụ trách phòng thủ mặt trận phía tây, có nhiệm vụ ngăn chặn cánh quân của Nạp Tốc Lạt Đinh.

Hai bên giao tranh kịch liệt ở Thu Vật (Yên Bái).

Hay tin Thoát Hoan đã chiếm được Thăng Long thì Nhật Duật cũng lệnh cho quân lính bỏ phòng tuyến, rút lui về Thiên Trường bằng đường thủy.

Trên đường đi, quân lính của Nhật Duật bị một toán quân Nguyên truy kích, quân Nguyên phi ngựa dọc hai bờ đuổi theo nhưng không truy kích kịch liệt.

" - Nếu mà truy kích thì phải chạy nhanh, còn đây chúng lại chạy từ từ.

Ắt hẳn có quân chặn phía trước".

Nhật Duật nói rồi phái người đi do thám, quả nhiên đúng là như vậy.

Chiêu Văn vương cho quân tấp thuyền vào bờ thoát theo đường núi, lúc này đám quân Nguyên phía sau gấp gáp đuổi theo thì đã muộn.

Nhờ Nhật Duật nhanh trí mà toàn quân đã thoát khỏi hiểm nguy.

Vậy là hai cánh quân của Thoát Hoan và Nạp Tốc Lạt Đinh đã gặp nhau tại Thăng Long.

Thoát Hoan nhận được tin báo quân Đại Việt đang đóng tại Thiên Trường, y ra lệnh cho 10 vạn quân đang đóng tại biển bắc Chiêm Thành do Toa Đô chỉ huy kéo ra Nghệ An để cùng phối hợp với đại quân Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống nhằm tạo thế gọng kìm bao vây quân Đại Việt.

Triều đình hay tin cử Chiêu Minh vương Trần Quang Khải dẫn quân ra Nghệ An chặn đánh Toa Đô.

Vì nếu để cho hai cánh quân của Thoát Hoan và Toa Đô gặp được nhau thì quân Trần sẽ gặp nguy.

Hai bên giao tranh dữ dội, nhưng thế giặc mạnh, liên tục thắng như chẻ tre.

Trần Quang Khải không cản nổi nên đành lui quân.

Tình thế ấy buộc thượng hoàng, vua và bá quan triều đình phải gấp gáp bàn định việc rút lui khỏi Thiên Trường.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 22: Thế cục giằng co


Tin chiến bại của Quang Khải khiến bá quan triều đình như ngồi trên đống lửa, nếu không cản được một trong hai cánh quân của Thoát Hoan hoặc Toa Đô thì sớm muộn phủ Thiên Trường cũng bị giặc bao vây.

Tình thế này buộc triều đình phải rút khỏi Thiên Trường để thoát khỏi gọng kìm quân Nguyên.

Cái khó là vừa phải đảm bảo an toàn cho hai vua và triều đình, vừa đưa được đại quân đến nơi an toàn nhưng lại phải hết sức bí mật để giặc không phát hiện.

Bàn đi tính lại thì cuối cùng nhà vua đồng ý thực hiện theo kế hoạch rút lui đầy táo bạo của Hưng Đạo vương.

Đó là đoàn thuyền xuất phát từ Thiên Trường đi theo cửa Ba Lạt (Nam Định) ra biển, rồi đi ngược lên phía bắc, len lỏi qua những vùng nước đầy đá ngầm đến cửa biển Quảng Yên (Quảng Ninh).

Sau đó chia làm hai hướng, một cánh quân lên bộ, đến căn cứ Đông Bắc của Hưng Đạo vương ở vùng rừng núi Đông Triều - Yên Tử trú ẩn.

Cánh quân này trú ẩn tại đây đợi lệnh hành động của Quốc Tuấn.

Sở dĩ cho đóng quân tại đây vì nơi này có vị trí chiến lược, có thể dễ dàng phối hợp với các cánh quân khác bất ngờ đánh vào Thăng Long và các cứ điểm quan trọng của giặc ở gần đó.

Cánh quân thủy làm nghi binh tiếp tục hộ tống thuyền ngự của hai vua, đoàn thuyền treo đầy đủ cờ xí, nghi trượng đi ngược lên Trà Cổ (vùng biển gần biên giới Trung Quốc) để đánh lạc hướng quân địch.

Trong khi đó Trần Hưng Đạo dẫn đầu đội quân bảo vệ hai vua dùng thuyền nhỏ men theo vùng biển Đồ Sơn để quay lại cửa Ba Lạt, đi ngược về Thanh Hóa.

"Con không vì cha mà lấy thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được".

Trên đường hộ tống hai vua, Hưng Đạo vương cầm trên tay một chiếc gậy chống, đầu bịt sắt.

Những người khác nhìn chằm chằm lo sợ Hưng Đạo vương nhớ đến di nguyện của Trần Liễu thừa cơ giết vua.

Vương hiểu ý liền tháo mũi sắt vứt đi, chỉ cầm gậy không, vì vậy không còn ai nghi ngờ lòng trung thành của Vương nữa.

Hưng Đạo vương được người đời tôn kính, gọi là Đức Thánh Trần không chỉ bởi tài năng mà còn vì nhân phẩm của ngài.

Về phía Thoát Hoan và Toa Đô, bọn chúng hội quân ở Trường Yên (Ninh Bình) rồi tìm đến phủ Thiên Trường, nhưng lúc này quân Trần đã biến mất không còn tăm hơi.

Tuy Thoát Hoan đã cho quân lùng sục khắp nơi nhưng không thấy bóng dáng quân Đại Việt, y đành lui quân về thành Thăng Long cho lập một loạt phòng tuyến dọc bờ sông Hồng để quan sát động tĩnh quân Trần.

Phòng tuyến của quân Nguyên có quy mô rất lớn, được đặt rải từ Thăng Long đến phủ Thiên Trường và ra tận biển.

Cứ cách 30 dặm đặt một trạm quân, mỗi trạm có 300 lính.

Để tiện liên lạc với nhau, Thoát Hoan còn đặt các trạm ngựa cánh nhau 60 dặm.

Giữa lúc triều đình và dân chúng đang căng mình đánh giặc thì lại có những kẻ đầu hàng vì mưu cầu lợi riêng.

Hoàng thúc Đại Việt là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc nhân dịp này lộ rõ tham vọng bá vương của hắn.

Năm xưa khi Thánh Tông còn tại vị, hắn từng âm thầm sai người đưa thư cho Hốt Tất Liệt, đề nghị Hốt Tất Liệt cử đại quân sang giúp hắn đoạt ngôi vua, toan tính trong ứng ngoại hợp.

Nhưng khi đó Hốt Tất Liệt đang bận giao tranh với người Tống nên không phái quân đi đánh Đại Việt được, Ích Tắc đành phải kiên nhẫn chờ đợi cơ hội khác.

Nay hắn cùng với Trần Kiện và Lê Trắc dẫn theo một vạn quân dưới trướng đến hàng Toa Đô.

Trần Kiện còn dấn sâu vào tội lỗi tình nguyện dẫn đường cho Toa Đô vào Thanh Hóa đánh Quang Khải, khiến quân Trần Quan Khải thiệt hại nặng nề.

Sau việc này, cả hai được Toa Đô ưu ái.

Toa Đô viết thư bẩm báo việc này cho Hốt Tất Liệt, Ích Tắc được giữ ở lại quân doanh, chờ khi thâu tóm được Đại Việt sẽ lên ngôi vua.

Còn Trần Kiện được Toa Đô phái quân hộ tống đến Đại Đô.

Bọn chúng chưa kịp ra khỏi lãnh thổ Đại Việt thì đã bị đội dân binh người Tày ở trại Ma Lục (Lạng Sơn) do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy cùng phối hợp với quân triều đình chặn đánh.

"Thần tiễn" Nguyễn Địa Lô bắn chết Trần Kiện, Lê Trắc mang theo xác chủ bỏ chạy rồi vùi sơ sài dưới một chân đèo, thế là xong đời tên phản quốc.

Ít lâu sau Thoát Hoan nhận được tin báo vua Trần Nhân Tông đang trú ẩn ở Thanh Hóa, y phái Ô Mã Nhi mang theo 60 chiến thuyền vào Thanh Hóa hỗ trợ Toa Đô bắt nhà vua.

Tuy nhiên Ô Mã Nhi và Toa Đô lại một lần nữa thất bại trong việc truy bắt vua Trần, bấy giờ quân Nguyên đã bắt đầu cảm thấy mệt mỏi.

Còn về phía Đại Việt, dân binh địa phương tự trang bị vũ trang có khi đánh lẻ, có khi kết hợp với quân triều đình đánh du kích làm tiêu hao sinh lực địch.

Quân Nguyên ở trên bộ thì bị tập kích bằng tên nỏ, ở dưới nước thì bị đục thuyền chìm nghỉm khiến bọn chúng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ.

Bấy giờ đã vào mùa hè, thời tiết bắt đầu trở nên oi bức, mưa rào, vì quân Nguyên là người xứ lạnh nên không hợp với thời tiết nhiệt đới của Đại Việt, khiến nhiều tên lăn ra bệnh.

Hơn nữa quân Nguyên còn đang rơi vào tình cảnh thiếu lương thực trầm trọng, số lương thực bọn chúng mang theo đã cạn, mà lại chẳng cướp bóc được nhiều ở Đại Việt, đúng như những điều mà Trần Quốc Tuấn tiên đoán từ trước lúc quân giặc đặt chân lên đất Đại Việt, quân Nguyên đang bắt đầu khốn đốn và rối loạn

Nhận thấy thời cơ phản công đã chín muồi, thượng hoàng Thánh Tông, vua Nhân Tông, Hưng Đạo vương và các tướng soái họp bàn với nhau, gấp rút đưa ra phương án tác chiến.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 23: Quân Trần phản công


Tháng 5 năm 1285 lợi dụng lúc quân giặc xuống sức vì thời tiết oi bức và thiếu lương thực, nhà Trần tổ chức tổng phản công.

Hưng Đạo vương triệu tập tướng soái, bày binh bố trận, phân công nhiệm vụ cho các tướng sĩ.

Hưng Đạo vương phân tích tình hình:

" - Quân Nguyên có hai trại lớn, một của Thoát Hoan, đang đóng ở Thăng Long, hắn còn cho dựng các phòng tuyến dọc sông Hồng, kéo dài từ Thăng Long đến Thiên Trường để thăm dò động tĩnh quân ta.

Cánh quân thứ hai do hai tên Toa Đô và Ô Mã Nhi cầm đầu, đang đóng quân tại phía bắc Thanh Hóa.

Quân ta sẽ tiêu diệt cánh quân của Thoát Hoan đóng ở Thăng Long và các phòng tuyến của hắn ở dọc sông Hồng trước, nếu Thoát Hoan bại trận phải rút lui thì cánh quân của Ô Mã Nhi và Toa Đô cũng tự khắc thất bại.

Đầu tiên phải cắt đường liên lạc của bọn Toa Đô và Ô Mã Nhi với cánh quân của Thoát Hoan.

Bí mật tấn công Thăng Long, bất ngờ đánh úp Thoát Hoan, đánh nhanh thắng nhanh không để cho Toa Đô và Ô Mã Nhi kịp chi viện cho Thoát Hoan.

Do phòng tuyến của Thoát Hoan rải dọc sông Hồng nên chúng ta sẽ chia quân làm hai hướng tấn công vào các phòng tuyến này".

Quốc Tuấn bày binh bố trận cho các tướng lĩnh:

- Lộ thứ nhất tấn công hai cứ điểm quan trọng của giặc ở Khoái Châu là Hàm Tử quan và Tây Kết, sau đó chiếm lấy bến Chương Dương rồi tiến vào Thăng Long.

- Chiêu Thành vương, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Toản nghe lệnh.

- Có.

- Lệnh cho các ngươi dẫn 5 vạn quân đánh chiếm Tây Kết.

- Rõ!

- Trần Nhật Duật, Triệu Trung nghe lệnh.

- Có.

- Lệnh hai ngài dẫn 1 vạn quân đánh chiếm Hàm Tử.

- Rõ!

- Chiêu Minh vương Trần Quang Khải.

- Có.

- Lệnh cho ngài thống lĩnh trọng binh đánh chiếm Chương Dương, sau đó tiến đến Thăng Long tiêu diệt hết bọn chúng.

- Rõ!

- Trần Quốc Tuấn nói tiếp:

- Hưng Ninh vương, Hưng Vũ vương, Hưng Hiến vương, Phạm Ngũ Lão nghe lệnh.

- Có.

- Các người cùng với bổn vương chỉ huy 100 chiến thuyền thủy quân tiến vào sông Hồng, tấn công các chốt tiền tiêu của giặc tại sông Hồng và sông Luộc, sau khi kiểm soát các phòng tuyến nhỏ lẻ dọc sông Hồng ở khu vực Thiên Trường thì tái chiếm Vạn Kiếp, đặt phục binh đợi Thoát Hoan ở đó.

- Rõ.

- Mọi người hãy chuẩn bị sẵn sàng, thời khắc tấn công mà tới lập tức có hiệu lệnh xuất phát.

- Tuân lệnh!

Chiến sự diễn ra theo đúng như dự liệu của Hưng Đạo vương, cánh quân do ngài chỉ huy đi bằng đường biển, xuất phát từ biển Trường Yên đi đến cửa biển Thiên Trường rồi tiến vào sông Hồng, bất thình lình xuất hiện tập kích vào các phòng tuyến của địch.

Trận đầu tiên là ở phòng tuyến A Lỗ, vạn hộ Lưu Thế Anh và 1 vạn quân đang trấn giữ tại đây bị tập kích bất ngờ nhanh chóng thua chạy về Thăng Long hội quân với Thoát Hoan.

Sau đó Trần Quốc Tuấn chia quân ra lần lượt hạ các đồn trại gần đó của giặc, Đại Việt lấy quân no đánh quân đói, lại tấn công bất ngờ nên chẳng mấy chốc giặc Nguyên thua chạy tan tác.

Cánh quân phía đông nhanh chóng làm chủ được hai vùng Thiên Trường và Vạn Kiếp.

Còn ở mặt trận phía tây, Chiêu Thành vương (không rõ tên), tướng Nguyễn Khoái và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chỉ huy quân tấn công Tây Kết.

Người dũng tướng thiếu niên tỏ ra vô cùng can đảm.

Khi toàn quân xông trận thì chàng luôn xung phong dẫn đầu, khí thế dũng mãnh hừng hực, Quốc Toản đi đến đâu giặc tan đến đó.

Tây Kết chẳng mấy chốc thất thủ.

Vì Trần Quốc Toản đã thể hiện vô cùng ấn tượng trong trận đánh ở Tây Kết nên chàng được Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chọn làm phó tướng trong trận đánh chiến lược ở cửa Hàm Tử.

Hàm Tử khi đó là một trong hai cứ điểm mạnh nhất của quân Nguyên do nhiều tướng lĩnh có cả bộ binh lẫn thủy binh, tất cả thuyền chiến của địch đều được tập trung ở đây.

Trần Nhật Duật ngả cờ im trống lặng lẽ tiến quân, bộ phận tiền quân do Triệu Trung dẫn đầu xuất phát trước.

Lúc này triều đình cần dùng đến các chiến thuyền được giấu trong dân từ những ngày lui quân chiến lược.

Lòng dân thật lớn lao như trời bể, không những không thiếu chiếc thuyền nào mà dân còn đóng thêm hàng trăm chiến thuyền xung cho triều đình.

Tại các đền chùa, nhân dân hăng hái sửa soạn tòng quân, khí giới quân nhu được chuẩn bị kĩ lưỡng, khí thế đánh giặc vô cùng sôi sục.

Ban đầu khi Chiêu Văn vương nhận mệnh lệnh tấn công Hàm Tử thì quân chỉ vỏn vẹn 1 vạn, nhưng khi đến Hàm Tử thì đội quân của ngài đã lên đến 5 vạn người, gần 400 chiến thuyền lớn nhỏ.

Chiêu Văn vương cảm kích lòng dân, vô cùng xúc động mà thốt lên:

- Bổn vương nhất định đại phá giặc ở khúc sông này, thề sống chết với chúng tại đây.

Nhật Duật vừa dứt lời, tiếng hô : "sát Thát" đồng thanh vang lên, vang dội cả một vùng rừng núi.

Trong các thuộc hạ của Trần Nhật Duật có một nhân vật xuất thân vô cùng đặc biệt là tướng Triệu Trung, vốn là Thái tử nước Tống sang nương nhờ Đại Việt, được Nhân Tông thu nhận và xếp vào hàng ngũ của Trần Nhật Duật.

Trước khí thế "Sát Thát" ngút trời, Triệu Trung xung phong dẫn quân đi trước mở đường.

Đoàn quân người Tống của Triệu Trung căm thù giặc Nguyên Mông thấu xương, ào ạt xông vào tấn công như vũ bão.

Quân Nguyên thấy cờ hiệu Tống thì thất kinh hồn vía, nghĩ rằng nước Tống đã phục quốc và liên minh với Đại Việt.

Bấy giờ trong hàng ngũ Nguyên Mông có rất nhiều quân lính là người Tống, khi nhìn thấy Triệu Trung và cờ hiệu Tống xuất hiện thì bọn họ số tự nguyện buông vũ khí đầu hàng, số khác tấn công ngược lại binh lính Thát Đát.

Đại Việt càng thắng thế, dân binh khắp nơi ùn ùn kéo đến chi viện.

Quân Nguyên khốn đốn kháng cự không được bao lâu thì hoàn toàn vỡ trận, cắm đầu cắm cổ chạy thoát thân về bến Chương Dương.

Sau trận chiến này Đại Việt tiêu diệt và bắt sống ước chừng 3 vạn tên, thu gần 200 chiến thuyền, binh khí được chất cao như ngọn đồi.

Chiến thắng Hàm Tử là dấu hiệu thất bại tất yếu của Thoát Hoan đang đóng ở Thăng Long.

Làm chủ được Hàm Tử quan, Chiêu Văn vương phái Trần Quốc Toản đi báo tin vui cho Thượng tướng.

Tại đây Trần Quốc Toản được Thượng tướng giữ lại làm cận vệ, tiến đánh bến Chương Dương.

Quân Nguyên đã mất Tây Kết và Hàm Tử, chỉ cần phá được Chương Dương thì quân Trần có thể tiến một mạch đến Thăng Long.

Chương Dương là cứ điểm quan trọng nhất của giặc, nó đóng vai trò là mắt xích quan trọng của tuyến phòng thủ phía nam sông Hồng và là lá chắn bảo vệ phía nam Thăng Long.

Nếu để mất Chương Dương thì Thăng Long sẽ hoàn toàn bị cô lập.

Thoát Hoan hay tin Chương Dương đang gặp nguy hiểm liền phái Sát Tháp Nhi Đài dẫn kỵ quân đến cứu nhưng trên đường lại bị trúng mai phục của Trần Quang Khải.

Trong khi quân Nguyên đóng ở Chương Dương cũng nhanh chóng bị tiêu diệt.

Quang Khải thừa thắng dẫn đại quân bao vây Thăng Long.

Quân Nguyên ở Thăng Long rút vào thành chống cự, Thoát Hoan ra trận hô hào chỉ huy binh sĩ chiến đấu.

Một trận ác chiến xảy ra, quân sĩ hai bên đều tổn thất nặng nề.

Quân triều đình gặp nhiều khó khăn vì quân Nguyên chống cự quyết liệt.

Lúc này dân binh khắp nơi đổ về Thăng Long tiếp ứng rồi mọi thứ trở nên bất lợi với quân Nguyên.

Nguyên sử chép: "Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, quan quân sớm tối đánh khốn đốn, thiếu thốn lương thực, khí giới đều hết".

Binh bại đã bày ra trước mắt không thể cứu vãn, Thoát Hoan cho quân đột phá vòng vây rút chạy về hướng Gia Lâm.

Hay tin Thăng Long đại thắng, thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông đang ở Thanh Hóa dẫn quân đoạt lại Trường Yên.

Các phòng tuyến còn lại của quân Nguyên đều bị tấn công, bọn giặc lớp chết, lớp hàng, số còn lại tìm đường chạy trốn chẳng còn tâm trí chiến đấu.

Quân Đại Việt dễ dàng giành chiến thắng trên mọi chiến trường.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 24: Phá cường địch, báo hoàng ân


Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản có xuất thân cao quý.

Chàng là cháu nội của Thái Tông hoàng đế, gọi thượng hoàng Thánh Tông bằng bác, anh họ là vua Trần Nhân Tông, cha là Vũ Uy vương Trần Nhật Duy, mẹ là Vũ Thắng công chúa Trần Ý Ninh - một danh tướng đương thời, bác của Quốc Toản là Phú Lương hầu Trần Tử Đức, một đại tướng uy dũng góp công lớn trong chiến thắng chống quân Mông Cổ xâm lược năm 1258.

Lúc Thái Tông hoàng đế còn tại vị, Mông Cổ mang quân xâm lược nước Tống (Trung Quốc).

Thái Tông lo rằng nếu nhà Tống thất bại thì Mông Cổ lại đem quân tấn công Đại Việt lần hai vì vậy đã phái Trần Nhật Duy và Trần Ý Ninh đem quân chi viện cho nhà Tống.

Trong khoảng thời gian này Trần Ý Ninh có mang Trần Quốc Toản.

Trần Quốc Toản được sinh ra trên đất Tống và ở nước Tống được một thời gian khá lâu, kết giao với nhiều hoàng tộc Tống trong đó có Thái tử Triệu Trung và Công chúa Triệu Hoa (sau là vợ của Quốc Toản) .

Vì có mối quan hệ bằng hữu thân thiết với Trần Quốc Toản nên khi nhà Tống bị quân Mông Cổ tiêu diệt thì Triệu Trung và Triệu Hoa dẫn theo thân thích sang Đại Việt nương nhờ nhà Trần.

Năm 1283, tình hình chính trị giữa Đại Việt và Nguyên Mông căng thẳng leo thang, Hốt Tất Liệt đòi mượn đường đi đánh Chiêm Thành, ngang nhiên đưa thư đe dọa nếu Nhân Tông không cho mượn đường thì y sẽ phát binh chinh phạt.

Thám quân cấp báo Toa Đô phục lệnh dẫn 10 vạn thủy quân tấn công Chiêm Thành, đe dọa biên giới phía nam.

Vua tôi nhà Trần gấp rút triệu tập hội nghị ở bến Bình Than để bá quan văn võ họp bàn chiến lược, hòa hay đánh.

Điều khiến người ta chú ý là có một thiếu niên mới 16 tuổi cũng đến xin được vào nghị sự.

Lính bên ngoài báo tin có Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản xin vào dự họp, vua Trần Nhân Tông thấy Quốc Toản còn nhỏ tuổi nên từ chối.

Quốc Toản nhất quyết đứng đợi từ sáng đến trưa để gặp nhà vua.

Khi cuộc họp dưới thuyền rồng tạm nghỉ, vua cùng các vương hầu ra ngoài mui thuyền, Quốc Toản nhân đó xô ngã lính canh, xăm xăm xuống bến, chạy đến trước mặt nhà vua, quỳ xuống tâu:

- Cho giặc mượn đường là mất nước, xin bệ hạ cho đánh.

Vua truyền cho Quốc Toản đứng dậy rồi ôn tồn bảo:

- Quốc Toản làm trái phép nước, lẽ ra phải trị tội.

Nhưng em còn trẻ mà đã biết lo cho bá tánh thiên hạ, ta có lời khen.

Nhân Tông nói rồi ban cho Trần Quốc Toản một quả cam để ghi nhận lòng trung thành của cậu.

Quốc Toản tạ ơn vua, chân bước lên bờ mà lòng còn ấm ức: "vua ban cho cam quý nhưng xem ta như trẻ con, vẫn không cho dự bàn việc nước".

Thân là vương hầu, Trần Quốc Toản trong lòng hổ thẹn uất ức, lại căm ghét bọn Nguyên Mông hống hách ngang tàng, cậu nghiến răng, hai bàn tay bóp chặt, quả cam đang cầm trên tay bị bóp bẹp lúc nào không hay.

Khi triều đình đánh giặc, Trần Quốc Toản huy động người thân thuộc và gia nô trong phủ đệ được ngàn người, đóng thuyền chiến, tự lập thành quân đội gia binh, lá cờ thêu sáu chữ vàng: "Phá cường địch báo hoàng ân".

Trên chiến trường, Trần Quốc Toản và đội quân của mình tung hoành ngang dọc, lập vô số chiến công.

Từ Tây Kết, Hàm Tử đến Chương Dương, Thăng Long, thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản đánh không thiếu trận nào, luôn xung phong đi đầu mở đường cho quân Trần, dũng mãnh thiện chiến khiến quân Nguyên khiếp sợ.

Trận Thăng Long quân Trần đại thắng, các tướng lĩnh khác nhập thành còn riêng Trần Quốc Toản vẫn xông pha trên chiến trường cùng các binh sĩ của mình, tiếp tục truy đuổi Thoát Hoan.

Về phần Thoát Hoan và đội quân của hắn.

Sau khi bị cánh quân của Trần Quang Khải đánh bại tại Thăng Long, Thoát Hoan dẫn quân chạy về Vạn Kiếp để dựa vào số quân ở đó, nhưng hắn không ngờ rằng Hưng Đạo vương đã sớm lấy được Vạn Kiếp.

Trên đường đi Thoát Hoan bị Hưng Ninh vương Trần Tung dẫn 2 vạn quân tấn công.

Đúng lúc Hoài Văn hầu từ Thăng Long kịp đuổi đến, quân Nguyên bị kẹp vào giữa, vất vả chống trả, hao binh tổn tướng nhanh chóng thua trận.

Giặc chạy về sông Như Nguyệt, đang lúc bắc cầu phao vượt sông thì Trần Quốc Toản đuổi đến, quân Nguyên rối loạn tranh nhau vượt sông, cầu phao không chịu nổi nên bị gãy, giặc rơi xuống sông chết đuối nhiều vô kể.

Nhưng Trần Quốc Toản vì quá say mê truy kích giặc mà không chú ý đến xung quanh, bị giặc bắn lén nên tử trận.

Tin Trần Quốc Toản hy sinh khiến vua và triều đình vô cùng đau xót.

Thương tiếc cho một anh hùng, vua Trần Nhân Tông thân hành viết bài văn tế cho người em họ:

Cờ đề sáu chữ giải hờn này

Lăn lóc muôn quân vẫn đánh say

Công thắng quân Nguyên đà chắc trước

Từ khi cam nát ở trong tay.

Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì nước hy sinh anh dũng ở tuổi 18.

Được vua ban tước hiệu Hoài Văn vương.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 25: Quân Nguyên đại bại


Giặc thua liểng xiểng cắm đầu cắm cổ bỏ chạy.

Đoạn đường từ Vạn Kiếp về đến biên giới thật sự rất gian truân đối với quân Nguyên.

Có lẽ ngày hôm đó chính là ngày kinh hoàng nhất trong cuộc đời chinh chiến của bọn chúng.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đích thân dẫn quân đuổi theo phía sau Thoát Hoan.

Quốc công Tiết chế đã sớm phái Phạm Ngũ Lão đem 3 vạn quân mai phục sẵn trong đám lau sậy rậm rạp ở ven sông gần Vạn Kiếp chờ bọn chúng chạy đến mà xông ra giết.

Quả nhiên Thoát Hoan và đám tàn binh của hắn thấy có quân Trần đuổi theo phía sau thì hối hả chạy về hướng có Phạm Ngũ Lão đang chờ sẵn.

Giặc rơi vào mai phục, quân Đại Việt xông ra đánh, thế mạnh như chẻ tre, Hưng Đạo vương và Phạm Ngũ Lão hai mặt giáp công, quân Nguyên bị ép xuống sông chết đuối nhiều vô kể.

Tiếc rằng lại để cho bọn Thoát Hoan và A Lý Hải Nha thoát được.

Thoát Hoan rút kinh nghiệm bị quân Đại Việt nhiều lần tập kích bất ngờ nên sai Lý Hằng đi chặn hậu.

Chạy đến trại Vĩnh Bình, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn đã cho quân mai phục ở đây từ trước, làn tên độc bắn ra như mưa khiến quân Nguyên lại bị tổn thất nặng nề.

Xui xẻo một mũi tên độc từ đâu bay đến cắm phập vào chân Lý Hằng khiến hắn ngã lăn xuống ngựa, được bọn lính cõng chạy một đoạn thì chết.

Thoát Hoan thấy vậy vô cùng kinh hãi, đang lúc hiểm nguy vô tình tìm được một ống đồng, hắn không thiết đếm xỉa đến thể diện, "Thái tử thiên triều" chui tọt vào ống đồng bắt quân lính khiêng chạy.

Giặc cứ nghĩ chạy về đến Tư Minh (Trung Quốc) là được an toàn.

Nhưng hai thế tử của Hưng Đạo vương là Hưng Hiến vương Trần Quốc Uy và Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn thừa thắng dẫn đại quân tràn sang biên giới truy đuổi nhằm tiêu diệt triệt để đạo quân xâm lược.

Quân Nguyên Mông tan tác chết như rạ, tướng giặc là Lý Quán trúng tên bỏ mạng.

Hưng Vũ vương và Hưng Hiến vương đuổi theo Thoát Hoan vào sâu trong đất Nguyên Mông mới thu quân về.

Nạp Tốc Lạp Đinh đóng quân ở phía tây Thăng Long nghe tin Thoát Hoan thất thủ thì cũng nhanh chóng rút lui.

Lo sợ nếu đi chung đường với Thoát Hoan sẽ bị quân Trần chặn đánh nên chúng chọn rút lui bằng con đường cũ khi chúng sang Đại Việt, tức là đi theo hướng tây bắc về Vân Nam (Trung Quốc).

Trên đường đi đám quân của Nạp Tốc Lạt Đinh vẫn bị tù trưởng Hà Đặc đón đánh, trong lúc truy kích Hà Đặc trúng mai phục mà hy sinh.

Em của Hà Đặc là Hà Chương lên thay, tiếp tục truy sát giặc đến tận biên giới.

Bấy giờ các cứ điểm quan trọng như Thăng Long, Vạn Kiếp, Thiên Trường, Trường Yên đều đã thuộc về quân Trần.

Giặc Nguyên Mông gần như bị quét sạch khỏi lãnh thổ Đại Việt, chỉ còn sót lại đám quân của Toa Đô và Ô Mã Nhi đang đóng ở Thanh Hóa.

Cuối tháng 6/1285, Toa Đô và Ô Mã Nhi không hề hay biết Thoát Hoan đã cao chạy xa bay, chúng từ Thanh Hóa quay về Thăng Long để hội quân với Thoát Hoan.

Tin này giúp cho thượng hoàng và nhà vua như mở cờ trong bụng.

Họ đang ngại phải hành quân đường xa, hơn nữa nếu tấn công trực diện vào doanh trại của giặc sẽ khiến quân tướng có nhiều thương vong, thế mà nay bọn chúng lại tự tìm đến.

Quân Nguyên từ Thanh Hóa muốn đến Thăng Long ắt hẳn phải đi qua cửa Hàm Tử, vua tôi nhà Trần thừa cơ hội này đã giăng sẵn một mẻ lưới để tóm gọn bọn chúng.

Thủy quân Nguyên Mông vừa tiến vào Hàm Tử thì bị quân Đại Việt vây chặt.

Đại chiến ở Hàm Tử quan kéo dài ba ngày, quân Nguyên chống trả phá vòng vây trong vô vọng, quân dân Đại Việt từ nhiều hướng kéo đến tiếp ứng, khí thế hừng hừng, hết tốp này đến tốp khác xông vào chiến đấu vô cùng quyết liệt.

Sức mạnh áp đảo của Đại Việt khiến quân Nguyên hoàn toàn tan rã, Toa Đô bị tướng Vũ Hải chém chết tại trận, các tên tướng sừng sỏ khác như Tổng quản Trương Hiển bị bắt, Tiểu Lý tự sát.

Quân Nguyên thảm thương tang tóc, toàn bộ 10 vạn thủy quân của Toa Đô chỉ hai tên thoát được là Ô Mã Nhi và Lưu Khuê.

Hai tên này nhân lúc không có ai chú ý thì nấp vào một chiếc thuyền nhỏ, đợi đến lúc trời tối cố thoát khỏi vòng vây, ra được một nhánh sông nhỏ vượt biển trốn về nước.

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông kéo dài 6 tháng kết thúc thắng lợi, vua và triều đình về lại Thăng Long trong niềm hân hoan chào đón của bá tánh.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 26: Nam tiến lần ba


Sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai, thượng Hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông thưởng công xứng đáng cho các binh tướng đã vào sinh ra tử bảo vệ đất nước.

Trong đó Hưng Đạo vương Trần Hưng Đạo, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải và Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là những người có công đầu.

Nhà vua cũng trị tội nghiêm khắc những kẻ tham sống sợ chết đầu hàng giặc, bán chúa cầu vinh.

Đối với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đã đầu hàng và chạy sang nhà Nguyên thì vua Trần cho gọi hắn một cách giễu cợt là Ả Trần, còn Trần Kiện tuy đã bị Nguyễn Địa Lô bắn chết nhưng vẫn bị mỉa mai, gọi là Mai Kiện.

Nguyên Thái Tổ Hốt Tất Liệt thấy Thoát Hoan dẫn tàn quân lếch thếch về nước thì nổi trận lôi đình.

Đường đường là "quân thiên triều" bách chiến bách thắng, từng san thành bình địa khắp từ Á sang Âu, đánh nam dẹp bắc, đạp cả thế giới dưới chân mà lại thất bại trước một vương quốc nhỏ bé?

Thoát Hoan được Nguyên Chúa cấp hơn sáu mươi vạn đại quân xuất chiến, đáng lý đủ sức thôn tính mọi nơi mà chúng đi qua, nhưng lại trở thành đám tàn quân nhu nhược không còn chút sĩ khí!

Thân là thái tử Đại Nguyên mà thất bại thảm hại, chui tọt vào ống đồng bắt quân sĩ khiêng về nước.

Con trai thoát thân một cách hèn nhát như vậy, chuyện này đến tai Hãn Quốc khác và các nước chư hầu thì mặt mũi Hốt Tất Liệt để đâu!

Không thể chấp nhận sự sỉ nhục này, Hốt Tất Liệt ban lệnh tạm dừng kế hoạch xâm lược quần đảo Nhật Bản, dồn hết binh lực ưu tiên nam tiến lần ba, quyết tâm nghiền nát Đại Việt.

Năm 1286, Nguyên chúa tiếp tục để cho Thoát Hoan làm Thống soái, tước hiệu Trấn Nam vương, phong A Lý Hải Nha làm Phó soái, An Nam Tả Thừa tướng, Ô Mã Nhi làm Tham tri Chính sự và phái thêm nhiều tên tướng sừng sỏ khác như Ái Lỗ, Trình Bằng Phi, Phàn Tiếp, A Bát Xích đi theo hỗ trợ Thoát Hoan.

Chuyến này Hốt Tất Liệt chuẩn bị quân lực rất kĩ lưỡng, đặc biệt là quân thủy.

Thủy quân phải ngày đêm thao luyện, sắm sửa lương thực, khí giới, cho đóng thêm 300 chiến thuyền, lại tuyển cả bọn cướp biển vào lực lượng thủy quân để gia tăng sự thiện chiến.

Kỳ nam chinh thứ ba này Hốt Tất Liệt muốn tiến quân sang Đại Việt bằng cả đường thủy và đường bộ, thế nên so với 10 vạn thủy quân của Toa Đô lần trước thì lần này thủy quân của nhà Nguyên tinh nhuệ hơn rất nhiều.

Để có cớ xâm lược Đại Việt, Hốt Tất Liệt gửi thư kể tội vua Trần không giúp đỡ nhà Nguyên trong cuộc chinh phạt Champa, giết Trần Di Ái và không nhận Đạt Lỗ Hoa Xích làm vua An Nam.

Vì lẽ đó mà Nguyên triều phong cho Trần Ích Tắc làm An Nam Quốc vương và sẽ cất quân sang An Nam với danh nghĩa hộ tống Trần Ích Tắc về nước, để Trần Ích Tắc thế chỗ vua Nhân Tông làm vua xứ An Nam.

Binh lực đã chuẩn bị xong, điều khiến Hốt Tất Liệt đau đầu nhất là vấn đề lương thực.

Hai lần xâm lược trước quân Nguyên bại trận đều do thiếu lương thực, vì vậy lần này hắn phải chuẩn bị thật nhiều lương thực để chiến đấu lâu dài với quân Đại Việt.

Nhưng nếu mang theo lương thực với số lượng lớn đồng nghĩa với việc phải kêu gọi thêm nhiều phu khuân vác thì sẽ tốn thêm nhiều miệng ăn, đó là chưa kể đến việc vận chuyển lương thực với số lượng lớn sẽ rất chậm chạp và dễ bị tấn công bất ngờ.

Vì vậy Hốt Tất Liệt quyết định vận chuyển lương thực đến Đại Việt bằng đường biển, chỉ cấp cho quân bộ một lượng lương thực ít ỏi đủ dùng, nếu hết lương thực thì quân bộ tự cướp bóc trên đường đi mà ăn.

Giữa năm 1286 tướng lĩnh cấp cao của địch là A Lý Hải Nha bệnh nặng mà chết khiến việc xâm lược Đại Việt bị đình trệ, thêm vào đó là những cuộc nổi dậy trong nước chống lại Hốt Tất Liệt xảy ra liên miên, quân đội phải phân tán lực lượng đi dẹp loạn nên mãi đến cuối năm 1287 quân Nguyên mới sang Đại Việt.

Giữa tháng 12 năm 1287 cướp biển Trương Văn Hổ có sở trường thủy chiến được phong chức Giao Chỉ hải thuyền Vạn hộ, dẫn đầu 70 thuyền áp tải lương thực từ châu Khâm, châu Liêm xuất phát theo đường biển xâm nhập Đại Việt qua cửa sông Bạch Đằng.

Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thống lĩnh quân thủy với 500 thuyền chiến đi trước bảo vệ cho thuyền lương.

Cánh quân thủy xuất phát trước quân bộ khoảng nửa tháng.

Ở trên bộ, quân Nguyên do Thoát Hoan thống lĩnh xuất phát từ châu Tư Minh (Trung Quốc) tiến vào biên giới Đại Việt.

Đến gần biên giới Đại Việt, y chia quân làm hai ngả đông - tây tấn công.

Bột Đa Hợp Đáp Nhĩ và Trình Bằng Phi dẫn 1 vạn quân đi ngả phía tây, công phá ải Chi Lăng.

A Bát Xích làm tướng tiên phong ở cánh phía đông, đi sau là Thoát Hoan và phó soái Áo Lỗ Xích dẫn quân rầm rộ tiến đến Vạn Kiếp.

Trong đám quân Nguyên có thêm bọn triều đình bù nhìn Trần Ích Tắc.

Vùng Vân Nam (biên giới phía tây Đại Việt) tướng nhà Nguyên là Hữu thừa Ái Lỗ cũng được lệnh dẫn quân đến Đại Việt phối hợp với Thoát Hoan.

Cánh quân này đi theo ngả sông Thao tiến vào Đại Việt.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 27: Trần Khánh Dư lập công bến Vân Đồn


Thám mã liên tục báo mọi động tĩnh của quân Nguyên về cho Thăng Long.

Nhân Tông hay tin Thoát Hoan dẫn quân thủy bộ hùng hổ tiến vào nước ta, trong lòng bất an bèn đến tìm Hưng Đạo vương hỏi về thế giặc lần này.

Hưng Đạo vương cân nhắc rồi ung dung trả lời:

- Tâu bệ hạ, lần trước đất nước ta thái bình lâu ngày, dân không quen chiến đấu nên mới có chuyện lắm kẻ ra hàng.

Nhưng nay đã khác, ta đã có kinh nghiệm đánh giặc, theo như thần thấy năm nay đánh giặc nhàn, ta phá được chúng là điều tất yếu.

Nhân Tông bàn:

- Thế giặc mạnh, ta có nên tuyển thêm binh lính hay không?

Hưng Đạo đáp:

- Tâu bệ hạ, theo thần là không cần thiết.

Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông.

Tháng 10 năm Đinh Hợi (1287), Hưng Đạo vương phân công các tướng dẫn binh đi trấn giữ những nơi hiểm yếu.

Cũng giống như lần trước, Trần Nhật Duật được lệnh trấn giữ ở ngã Bạch Hạc, sông Thao.

Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn.

Trần Hưng Đạo và các con chốt giữ ở Bắc Giang, Lạng Sơn còn Trần Quang Khải phòng thủ phía nam và bảo vệ hai vua ở Thăng Long.

Ở chiến trường Bắc Giang, Lạng Sơn, Hưng Đạo vương bày binh ở nhiều nơi, chủ động đánh kìm chân giặc sau đó rút lui để bảo toàn quân số, đồng thời làm chậm bước tiến của giặc chứ không quyết chiến sống còn với chúng.

Cánh quân của Trình Bằng Phi công phá ải Chi Lăng, đi qua Thích Trúc, địa thế nơi đây rất hiểm trở, có hai ngọn núi giao nhau, sườn núi hẹp, lại mọc đầy tre có gai nhọn rất khó vượt qua.

Quân Đại Việt tận dụng địa thế nguy hiểm đó mà bày sẵn trận địa mai phục, giặc bị trúng tên, đá lăn chết rất nhiều.

Nhưng Trình Bằng Phi cậy thế quân đông mà xua quân tiến tới.

Phải đánh đến 17 trận quân Nguyên mới vượt qua được ải này.

Cùng lúc đó A Bát Xích dẫn quân tiên phong giặc tấn công ải Khả Lợi tiến xuống phủ đệ Vạn Kiếp của Hưng Đạo vương.

Quân Đại Việt đóng tại đây đánh rồi lui, đại quân Thoát Hoan dễ dàng vượt qua ải này.

Hai cánh quân của Thoát Hoan và Trình Bằng Phi thuận lợi hội quân tại Vạn Kiếp chỉ trong vòng bốn ngày.

Ở ngã Bạch Hạc, cánh quân Nguyên do Ái Lỗ chỉ huy bị quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chốt chặn ở cửa sông Việt Trì chặn đánh quyết liệt.

Hai bên giao tranh gần 20 lần, vì quân Nguyên lúc này còn mạnh nên quân Đại Việt không thể ngăn được phải rút lui.

Hai tướng nhà Trần là Lê Thạch và Hà Anh không may sa vào tay giặc.

Khác với cánh quân của Hưng Đạo vương và Chiêu Văn vương trên bộ chỉ có nhiệm vụ là đánh cầm chừng với giặc, cánh quân thủy của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư có trọng trách phải tiêu diệt bằng được thủy quân của giặc do Ô Mã Nhi cầm đầu, không để cho hai quân thủy - bộ của giặc gặp nhau.

Do trận thủy chiến này rất quan trọng nên vua Trần Nhân Tông giao toàn bộ lực lượng thủy quân của Đại Việt cho Trần Khánh Dư chỉ huy.

Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp tiến vào cửa Vạn Ninh thì bị quân của Nhân Đức hầu Trần Da tập kích ở phía sau, Ô Mã Nhi đi đầu phải quay lại cứu hậu quân.

Đến vùng biển Vân Đồn, Phó tướng Trần Khánh Dư chỉ huy thủy quân Đại Việt chặn đánh quân Nguyên ở nhiều nơi nhưng không cản được bước tiến của địch, lại còn bị tổn thất nặng nề phải lui quân.

Ô Mã Nhi đắc thắng vượt qua cửa An Bang, theo đường sông Bạch Đằng tiến về Vạn Kiếp hợp binh với Thoát Hoan, bỏ mặc đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ đang chậm chạp phía sau.

Biết tin Trần Khánh Dư không hoàn thành trọng trách, thượng hoàng Trần Thánh Tông giận dữ sai người đi bắt Trần Khánh Dư về trị tội.

Đang lo lắng, Trần Khánh Dư suy nghĩ một hồi rồi chợt nhận ra điểm bất thường của giặc, bèn nói với trung sứ:

- Phải rồi!

Lúc giao chiến với Ô Mã Nhi ta không nhìn thấy bọn chúng chở theo lương thực trên thuyền.

Vậy có nghĩa thuyền lương của chúng đang đi phía sau.

Xin trung sứ hãy cho ta vài ba ngày để lập công chuộc tội rồi về chịu tội sau cũng chưa muộn.

Được trung sứ chấp thuận, Trần Khánh Dư chỉnh đốn lại quân ngũ và phục binh chờ đợi.

Quả nhiên vào đầu tháng 12 (âm lịch), đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ mới ì ạch tiến vào vùng biển Vân Đồn.

Trần Khánh Dư dẫn quân tập kích thuyền lương của giặc, mọi người ai nấy đều rất quyết tâm, cố sức đánh vì họ hiểu rằng chỉ có chiến thắng mới giúp chủ tướng của mình khỏi tội với triều đình.

Những chiếc thuyền chở đầy lương thực của giặc di chuyển nặng nề, lại không có quân hộ tống nên không thể chống đỡ được sức tấn công như vũ bão của quân Đại Việt, chúng nhanh chóng bị rối loạn đội hình sau đó vỡ trận thua chạy tan tác.

Bảy mươi chiếc thuyền lương của chúng, số bị chìm, số bị bắt, số còn lại ném gạo xuống sông để dễ bề thoát thân, có chiếc trôi dạt đến tận Chiêm Thành.

Trương Văn Hổ cũng "bỏ của chạy lấy người", trốn một mạch về Hải Nam.

Quân Đại Việt thu được một vài chiếc thuyền và rất nhiều lương thực của giặc.

Tin thắng trận của Trần Khánh Dư được báo về Thăng Long ngay lập tức.

Nhận thấy đây là một chiến thắng quan trọng mang yếu tố thay đổi cục diện cuộc chiến, thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông tha tội cho Trần Khánh Dư.

Thượng hoàng lại nói:

- Trước nay quân Nguyên chỉ cậy có nhiều lương thảo, khí giới.

Một khi lương thảo, khí giới không còn, quân Nguyên tất bại.

Nay ta đã phá được thuyền lương của chúng thì hãy báo tin này cho chúng biết để chúng không còn hung hăng.

Trong khi đó Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đang đóng quân ở Vạn Kiếp vẫn chưa hay biết thuyền lương đã bị mất.

Chỉ nghĩ là thuyền lương đến muộn nên bọn chúng đóng quân ở Vạn Kiếp gần một tháng đợi lương thực và xây dựng nơi đây trở thành một căn cứ quân sự vững chắc nhằm chiến đấu lâu dài với quân Đại Việt.

Để đề phòng quân Đại Việt lại dùng kế "vườn không nhà trống", chúng còn dựng sẵn trại gỗ ở núi Phả Lại và Chí Linh để làm nơi chứa lương thực, còn về cái ăn trước mắt thì Thoát Hoan sai bọn lính đi cướp thóc gạo của dân để dùng.

Thời gian này đám con cháu của Trần Ích Tắc ở Tư Minh được 5000 quân Nguyên hộ tống tiến vào Đại Việt.

Tưởng rằng Đại Việt đã bị Thoát Hoan chiếm nên những kẻ hàng giặc nghênh ngang, đắc ý như đi vào chốn không người.

Đến cửa Nội Bàng (Lạng Sơn) bọn chúng bị quân giữ ải vây đánh quyết liệt phải bỏ chạy.

Ở căn cứ Vạn Kiếp, Thoát Hoan chia quân thủy bộ tiến về Thăng Long.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 28: Vườn không nhà trống


Thoát Hoan giao cho Ô Mã Nhi chỉ huy thủy quân, A Bát Xích chỉ huy quân kỵ bộ, Phàn Tiếp mang quân hộ vệ cho y đi theo sông Đuống, rầm rộ tiến quân đến Thăng Long.

Phía bên Đại Việt, Hưng Đạo vương cho dựng các phòng tuyến ở cửa Đại Than (Bắc Ninh), sông Đuống để ngăn quân Nguyên, vừa đánh vừa lui.

Quân Nguyên dễ dàng vượt qua các phòng tuyến của quân Đại Việt tiến vào Thăng Long.

Cánh quân phía tây của Ái Lỗ chỉ huy cũng vừa kịp lúc kéo đến Thăng Long hội binh với Thoát Hoan.

Nhưng thành Thăng Long bây giờ chỉ còn là "vườn không nhà trống".

Thoát Hoan tức tốc phái Ô Mã Nhi đuổi theo vua Trần bằng đường thủy còn y dẫn bộ binh đuổi theo phía sau.

Nhớ lại thất bại nhục nhã lần trước, Ô Mã Nhi cay cú bắn tin đe dọa nhà vua: "Ngươi chạy lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước".

Nhưng hắn tìm mãi không được vua Trần, nhân lúc đi ngang qua Chiêu lăng của thượng hoàng Trần Thái Tông ở phủ Long Hưng (Thái Bình) hắn tức tối sai quân lính quật mộ lên, trên đường đi hễ bọn giặc thấy làng mạc là đốt phá, gặp ai thì giết người đó và cướp bóc không chừa thứ gì.

Truy đuổi vua Trần thất bại, Thoát Hoan và Ô Mã Nhi về lại Thăng Long.

Lúc này Thoát Hoan vẫn chưa hay biết thuyền lương đã bị đánh đắm, hắn sai Ô Mã Nhi đem chiến thuyền quay lại đón Trương Văn Hổ.

Hưng Đạo vương biết tin này muốn đích thân mang chiến thuyền đi đánh Ô Mã Nhi.

Yết Kiêu can ngăn:

- Đại vương, quá nguy hiểm!

Hay là để nô tài đi cho.

Ngài là chủ soái ba quân, không thể dễ dàng dấn thân vào nguy hiểm.

Hưng Đạo đáp:

- Hai năm trước bổn vương đã từng giao chiến với thủy quân của Toa Đô, nhưng đám đó chẳng qua cũng chỉ là quân ô hợp, chắp vá chứ không hề thông thạo thủy chiến.

Bây giờ thì khác, Hốt Tất Liệt đã tuyển chọn và đầu tư kĩ lưỡng cho thủy quân Nguyên trong suốt hai năm qua nên chắc chắn là lần này bọn chúng tinh nhuệ hơn rất nhiều.

Nếu ta không tận mắt nhìn thấy thì làm sao phá giặc?

Yết Kiêu đáp:

- Nô tài lo rằng giặc sẽ tập trung đánh vào thuyền chủ soái.

Hưng Đạo vương đáp:

- Đúng vậy.

Chúng ta vừa đánh vừa lui để chúng đuổi theo.

Nếu ta không giao chiến với giặc làm sao ta biết thủy quân của chúng có tinh nhuệ trong thực chiến hay không?

Nếu thuyền giặc không truy sát ta sao ta có thể biết được thuyền chiến đi nhanh hay chậm?

Thấm nước bao nhiêu?

Sao có thể thấy rõ khả năng lái thuyền của binh sĩ thủy quân giặc?

Cung nỏ hỏa lực thế nào?

Khi chúng giao chiến với chúng ta những thứ này sẽ lộ ra.

- Thất bại của Khánh Dư ở Vân Đồn một phần là do ông ấy không có cơ hội do thám thực lực của giặc từ trước để nghiệm ra điểm mạnh, điểm yếu của chúng, còn giặc lại cậy thế thuyền to người đông mà chiếm thế thượng phong.

Nên nhớ thủy quân của chúng mới vừa được huấn luyện, chưa quen thủy chiến.

Thuyền có thể đóng trong vài tháng, nhưng bản lĩnh thủy chiến phải được tích lũy qua thực chiến trong nhiều năm mới có được, chính vì vậy chắc chắn sẽ có điểm yếu.

Khi những điểm yếu của địch lộ ra, sau này ta có thể dễ dàng khắc chế chúng.

Nói rồi Hưng Đạo vương tự mình dẫn thủy quân đón đánh Ô Mã Nhi ở cửa Đại Bàng (Hải Phòng ngày nay).

Chiến thuyền Đại Việt nhỏ gọn, cơ động, từ nhiều hướng đánh tới, còn thuyền của quân Nguyên to lớn, nặng nề và chậm chạp nên chúng phải chống trả rất vất vả.

Vượt qua được cửa Đại Bàng là đến Đồ Sơn, chúng lại bị tập kích lần nữa.

Giặc tử thương nhiều và không thông thạo đường đi nên rất lâu sau mới đến được cửa An Bang rồi dừng chân đợi thuyền lương của Trương Văn Hổ tại đây.

Cùng lúc đó, vua Trần Nhân Tông cử Hưng Ninh vương Trần Tung (anh trai của Hưng Đạo vương) đến Thăng Long hẹn ngày ra hàng, quân Nguyên đang lúc mệt mỏi hay tin triều đình nhà Trần muốn đầu hàng thì vô cùng vui sướng.

Nhưng đó chẳng qua chỉ là kế trá hàng của nhà vua, mục đích làm cho chúng ngày đêm thấp thỏm mong đợi, mất hết nhuệ khí.

Quả nhiên đúng như dự liệu của nhà vua.

Thoát Hoan đợi thuyền lương mãi chẳng thấy, cũng chẳng có ai đến hàng, nhận thấy đóng quân ở Thăng Long lâu ngày sẽ không có lợi nên y bỏ Thăng Long quay về Vạn Kiếp (Thoát Hoan từng cho dựng một căn cứ vững chắc ở Vạn Kiếp để chiến đấu lâu dài).

Nhân Tông hay tin quân Nguyên quay về Vạn Kiếp thì nhanh chóng bố trí quân mai phục ở nhiều nơi suốt đoạn đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp để đón đánh chúng, giặc bị tấn công liên tục trên đường đi, phải nỗ lực lắm chúng mới đến được Vạn Kiếp.

Còn ở An Bang, Ô Mã Nhi cũng không khá khẩm gì.

Hắn cho quân lính đi tìm khắp nơi nhưng không thấy chiếc thuyền lương nào, mãi sau gặp lại bọn tàn binh của Trương Văn Hổ do vua Trần thả ra báo tin thì Ô Mã Nhi mới vỡ lẻ ra chuyện thuyền lương đã bị quân Đại Việt đánh chìm từ lâu.

Hốt hoảng vì sợ bị Thoát Hoan trị tội, hắn vội sai quân lính đi lùng sục khắp nơi để tìm bất cứ thứ gì ăn được rồi đến Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan.

Tin thuyền lương bị đánh chìm khiến tinh thần quân Nguyên sa sút thảm hại.

Cũng trong khoảng thời gian này những đội quân cảm tử của quân dân Đại Việt ngày đêm tập kích, quấy phá căn cứ Vạn Kiếp khiến cho giặc không lúc nào được nghỉ ngơi, vô cùng hoang mang.

Thoát Hoan tức giận định tung quân đánh một trận sống còn với Đại Việt, các tướng dưới trướng của y can ngăn: "Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn mà thuyền lương của Trương Văn Hổ lại không đến.

Vả lại, khí trời đã nóng nực, sợ lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên toàn quân mà về thì hơn".

Thoát Hoan cay đắng thừa nhận:

- Giao Chỉ rất khác so với những nơi khác.

Những vương quốc khác xây thành kiên cố, dựa vào thành cao hào sâu mà thủ thì bọn Giao Chỉ chỉ xem kinh thành như cái áo rách, muốn vứt thì vứt.

Đúng là một đất nước quỷ quái.

Đường đường là thái tử Đại Nguyên mà lại liên tục thất bại trước một đất nước nhỏ bé như hạt gạo.

Thoát Hoan chán nản, lệnh cho toàn quân rút về nước.

Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp dẫn thủy quân rút lui theo đường sông Bạch Đằng, Trình Bằng Phi dẫn quân kỵ đi men theo bờ hộ tống quân thủy.

Còn trên bộ, Thoát Hoan và Tịch Đô Nhi dẫn quân về nước theo hai ngả đông - tây như lúc tiến vào Đại Việt.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 29: Sông Bạch Đằng chôn xác quân Nguyên


Cánh kỵ binh do Trình Bằng Phi chỉ huy đi theo sau hộ tống cho thủy quân của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị quân dân nhà Trần phá cầu, xẻ đường không thể tiến lên được đành phải quay lại Vạn Kiếp đi chung với Thoát Hoan, bỏ mặc bọn Ô Mã Nhi.

Chẳng còn cách nào khác, chúng vẫn phải hối hả xuôi theo sông Bạch Đằng để nhanh chóng ra biển, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp không thể ngờ rằng Hưng Đạo vương đã lên kế hoạch tách Trình Bằng Phi ra và giăng sẵn thiên la địa võng ở lòng sông Bạch Đằng chờ chúng đến.

Tham vọng của Nguyên Thái Tổ là tạo ra đội thủy quân hùng mạnh thiện chiến để bành trướng đế quốc xuống phía nam.

Trong lần tiến đánh Đại Việt kỳ này, y đã tốn hai năm gầy công xây dựng đội thủy quân ưng ý, bỏ ra rất nhiều công sức vốn liếng đầu tư vào đấy.

Vì lẽ đó mà vua và các tướng nhà Trần khi bàn bạc kế hoạch tác chiến muốn cho tập trung toàn bộ các cánh quân chủ lực của Đại Việt đến sông Bạch Đằng quyết chiến một trận sống mái với địch, quyết dìm hết chiến thuyền của Ô Mã Nhi xuống lòng sông.

Ta phải giáng cho giặc một đòn đau thật sự để chúng không còn ý định xâm lược Đại Việt nữa.

Vận dụng mưu kế của Ngô Quyền năm xưa, Hưng Đạo vương cho quân vào rừng tìm những cây to, chắc và cứng như lim, táu chuốt thành những cọc nhọn, cao đến gần 3 m, đường kính gần 30 cm để đóng xuống lòng sông Bạch Đằng.

Lợi dụng mực thủy triều lên xuống của sông Bạch Đằng, những chiếc cọc được quân Đại Việt đóng xuống, khi thủy triều lên cao thì không thấy được bãi cọc còn khi thủy triều rút cạn bãi cọc chết người sẽ lộ ra làm vướng hoặc thậm chí là đâm thủng thuyền to của địch.

Khi đó quân Đại Việt nhân cơ hội địch đang hoảng loạn mà xông ra truy sát, chúng bị tấn công bất ngờ không thể chống trả thì quân Trần tất thắng.

Hưng Đạo vương cho đóng cọc ở khúc sông gần ngã ba sông Chanh, một chi lưu của sông Bạch Đằng đổ ra biển, đó là khúc sông rộng và gần cửa sông nên chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều.

Không bao lâu, bãi cọc nguy hiểm đã hình thành.

Hưng Đạo vương cho bố trí trận địa mai phục ở hai bờ sông và cho chuẩn bị nhiều chất đốt đưa lên những chiếc bè nhỏ, nhẹ giấu trong những luồng lạch gần đó để đánh hỏa công.

Mọi việc được quân dân Đại Việt chuẩn bị một cách khẩn trương nhưng cẩn trọng chu đáo.

Vấn đề lớn nhất là phải ép cho Ô Mã Nhi đi đúng con đường mà Hưng Đạo vương và các tướng đã vạch sẵn.

Trong lúc Hưng Đạo vương và thuộc hạ đang chuẩn bị trận địa đón giặc thì vua Trần Nhân Tông đích thân chỉ huy quân chặn đánh Ô Mã Nhi ở nhiều nhánh sông để dồn ép giặc phải đi vào con đường mà quân Đại Việt đã dày công bố trí mai phục.

Sáng sớm ngày 8 tháng 3 âm lịch vào khoảng 5 giờ sáng, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp tiến đến gần cửa sông Bạch Đằng.

Ngày hôm đó kỳ thủy triều lên cao nhất là khoảng từ nửa đêm cho đến sáng, thủy triều xuống thấp nhất là vào lúc giữa trưa.

Đúng như dự định, khi thuyền giặc đến là lúc thủy triều lên cao, bãi cọc được nước che lấp, khung cảnh hai bên bờ thật tĩnh lặng nên giặc di chuyển chậm lại.

Tướng nhà Trần là Nguyễn Khoái chỉ huy quân Thánh Dực Dũng Nghĩa xông ra khiêu chiến để kìm chân giặc.

Đến gần trưa nước triều dần rút thì Nguyễn Khoái vờ thua dụ cho quân Nguyên đuổi theo.

Cứ thế đoàn thuyền chiến của chúng dần dần tiến gần đến bãi cọc, trong lúc giặc đang hăng truy kích thì bất ngờ những bãi cọc từ dưới nước đồng loạt nhô lên, thuyền giặc lớp bị mắc kẹt, lớp bị đâm thủng chìm nghỉm, quân giặc rối loạn chưa kịp hoàn hồn thì một loạt trống lệnh vang lên, từng đoàn bè hỏa công của quân Đại Việt giấu ở những lạch sông gần đấy được thả trôi len lỏi vào giữa những chiếc thuyền giặc đang bị mắc kẹt.

Lửa gặp gió thuận bốc cháy dữ dội, thủy quân Đại Việt phục sẵn ở hai bờ sông đổ ra phối hợp với quân của Nguyễn Khoái ào ào xông lên thuyền giặc.

Một bên là lửa, một bên là quân Trần, xung quanh là sông không có đường chạy, đám lính Nguyên thất kinh hồn vía, giẫm đạp lên nhau nhảy xuống sông, chết đuối vô số.

Tên giặc nào bơi được vào bờ thì lập tức bị bộ binh Đại Việt truy kích.

Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông cũng mang quân đến tiếp ứng, cho cung thủ bắn tên như mưa vào đội hình địch khiến chúng không còn biết trốn chạy vào đâu, cứ co cụm một chỗ cho quân Trần đến tiêu diệt.

Trận chiến đến xế chiều thì kết thúc.

Toàn bộ đoàn thuyền chiến Nguyên Mông bị tiêu diệt, hai tên tướng sừng sỏ của giặc là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt.

Quân Đại Việt thu được 400 chiếc thuyền cùng những của cải mà quân giặc đã vơ vét cướp bóc định đem về nước.

Trong khi đó ở mặt trận phía tây trên bộ, Tịch Đô Nhi bị quân Đại Việt chặn đánh.

Tên này không thông thạo địa hình nên quay về Vạn Kiếp đi chung với Thoát Hoan.

Chúng về đến ải Nội Bàng thì bị quân Đại Việt phục kích, tùy tùng phải mở đường máu cho Thoát Hoan thoát thân, ngựa của hắn giẫm trên xác quân Nguyên mà chạy.

Trình Bằng Phi phải chỉ huy 3000 quân đi chặn hậu bảo vệ cho đại quân rút lui.

Nhưng suốt từ ải Nội Bàng đến biên giới, quân Đại Việt phối hợp với dân binh phục kích khắp nơi, quân Nguyên bị giết, bị bắt nhiều vô kể.

Tướng A Bát Xích bị trúng ba mũi tên độc, bọn thuộc hạ của hắn khiêng hắn đi được một đoạn thì chết.

Thoát Hoan thấy vậy mà sợ hãi, lần này không có sẵn ống đồng để chui như lần trước nên hắn bắt quân hộ vệ phải vây quanh mình, dùng khiên che kín khắp người mới thoát được.

Về đến Tư Minh nhìn đám tàn quân tả tơi, Thoát Hoan chán nản cho giải tán tất cả.

Sau đại thắng quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ ba, thượng hoàng Thánh Tông, vua Nhân Tông và triều đình về phủ Long Hưng - nơi đặt lăng mộ của Thái Tông Trần Cảnh để sửa sang lại phần mộ của ngài đã bị Ô Mã Nhi đào phá.

Quay lại Thăng Long, nhà vua cho tu sửa lại những cung điện và ban lệnh đại xá thiên hạ.

Ngoài ra, những người có công trong cuộc kháng chiến đều được ban thưởng xứng đáng, Vương Quốc công Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được phong là Đại vương Thượng quốc công.

Lần lượt, Trần Quang Khải được phong là Chiêu Minh Đại vương, Trần Nhật Duật được phong là Chiêu Văn Đại vương, Trần Khánh Dư được xóa tội và được vua ban giữ chức Đô Đốc Thủy quân, Đỗ Khắc Chung được vua ban họ Trần, Phạm Ngũ Lão được phong làm Chỉ huy Cấm quân, các thủ lĩnh người dân tộc đã từng đem dân binh ra hợp lực với triều đình đều được phong tước Hầu, các gia nô có công như Yết Kiêu, Dã Tượng đều được trọng thưởng và những người có thực lực thì sẽ được nhà vua cân nhắc trọng dụng nên sự nghiệp thăng tiến rất nhanh.

Nhà vua còn cho biên soạn ra sách Trung Hưng thực lục để ghi chép lại tên và chiến công của các chiến sĩ.

Lại cho dựng Gác Công Thần ở giữa kinh thành để lưu giữ sách Trung Hưng thực lục cho cả thiên hạ được thấy.

Hốt Tất Liệt ba lần nhận lấy thất bại nên hận Đại Việt đến mức điên cuồng.

Hắn trục xuất Thoát Hoan mãi mãi không cho về Đại Đô và nung náu ý định xâm lược Đại Việt lần thứ tư.

Lưu Quốc Kiệt Bạt Đô là tên tướng người Tống hàng Nguyên đã lập được vô số chiến công vang dội được Hốt Tất Liệt tin dùng, ban cho tên "Bạt Đô", hắn nghe tin quân Nguyên vừa nhận hai thất bại nặng nề ở Trảo Oa (Java) và Đại Việt bèn viết thư dâng Hốt Tất Liệt: "Trảo Oa là vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật nằm trong lòng bàn tay, thần xin vì bệ hạ mà chiếm lấy".

Hốt Tất Liệt đọc thư xong thấy thế liền ưng, phong cho Lưu Quốc Kiệt Bạt Đô làm Phiêu Kỵ Tướng quân thống lĩnh 5 vạn quân tiến đến Vân Nam, cùng với Trần Ích Tắc bàn bạc kế hoạch tiến quân xâm lược Đại Việt lần thứ tư.
 
Back
Top Bottom