Cập nhật mới

Khác HÀO KHÍ ĐÔNG A

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
304612514-256-k231330.jpg

Hào Khí Đông A
Tác giả: ThnhKhang8
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Đế quốc Mông Cổ tàn bạo hiếu chiến có tham vọng trở thành bá chủ thế giới.

Để tiếp tục bành trướng xuống phía nam, Đại Việt trở thành mục tiêu xâm lược tiếp theo của chúng.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được nhà vua trao cho Thượng phương bảo kiếm, phong chức Tiết chế thống quốc binh sự thống lĩnh ba quân chống giặc ngoại xâm.

Tuy nhiên cũng chính vì sự việc này đã khơi dậy mối thù của thế hệ trước.

Lúc này Hưng Đạo vương một mặt phải tìm cách xóa bỏ hận thù, hàn gắn lại tình anh em trong hoàng tộc, một mặt phải chỉ huy quân Đại Việt đối đầu với binh đoàn xâm lăng mạnh nhất thế kỷ.



truyenhay​
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 1: Họ Trần tiến kinh


Triều Lý trị vì thiên hạ đến đời vua thứ bảy là Lý Cao Tông thì bắt đầu suy yếu.

Vua Lý Cao Tông sinh thời tính tình bê tha, chỉ thích tận hưởng thú vui thiên hạ, không lo việc nước.

Các trung thần như Đỗ Kính Tu, Đỗ Quảng tuy cố gắng hết lòng tận trung phò tá nhưng không đủ sức vực dậy cả một vương triều mọt ruỗng đang nghiêng ngã dữ dội.

Vua không có tài trị nước, triều đình toàn là lũ tham quan vô lại chỉ lo vơ vét của dân, đời sống bá tánh rơi vào cảnh đói khổ lầm than, giặc cướp nổi lên như ong, dân chúng nhiều nơi nổi dậy khởi nghĩa chống lại chính quyền.

Nổi bật nhất là loạn Quách Bộc.

Quách Bộc vốn là tướng quân triều đình, tướng dưới quyền Phạm Bỉnh Di.

Đầu tháng bảy năm Kỉ Tỵ (1209) Cao Tông tin lời vu cáo của bọn hoạn quan mà bắt nhốt Bỉnh Di, Quách Bộc nghe tin rất tức giận liền cho quân đánh vào Thăng Long ứng cứu chủ tướng, quân của Quách Bộc chiếm được kinh thành Thăng Long, vua Lý Cao Tông phải bỏ Thăng Long chạy ra vùng Quy Hóa Giang (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), thái tử Lý Long Sảm được Thượng phẩm Phụng ngự Đỗ Quảng và các tùy tòng hộ giá theo đường thủy chạy ra Hải Ấp (Thái Bình ngày nay), đến thôn Lưu Gia, trú ở nhà một người bạn học của Đỗ Quảng tên là Lê Mỵ.

Tại đây thái tử Sảm gặp được Trần Thị Dung, hai họ Lý - Trần được dịp bén duyên với nhau.

Mọi chuyện bắt đầu từ một đêm trăng rằm tháng bảy.

Sau buổi cỗ rằm thịnh soạn, thái tử Sảm và tùy tùng dong thuyền du ngoạn.

Thuyền đi được một đoạn thì đâu đó bỗng có tiếng hát cực kì trong trẻo của một thiếu nữ vẳng lên thu hút sự chú ý của mọi người trên thuyền.

Thái tử Sảm hiếu kì, lệnh cho các tay chèo lái thuyền đến gần nơi có tiếng hát xem thử.

Họ nhìn thấy một người con gái dáng vẻ thùy mị, tay cầm một giỏ cá đang say sưa vừa hát, vừa thả từng con cá chép xuống sông.

Hai cô gái đi cùng có vẻ là người hầu, nhìn thấy thuyền lạ đang đến liền báo với tiểu thư kia, cô gái lúc này ngừng hát, ngẩng nhìn thái tử.

Trăng sáng cả một vùng, thái tử nhìn thấy rất rõ ràng ngoại hình của tiểu thư ấy.

Tức thì thái tử Sảm ngây ngất rồi bất chợt thốt lên:

- Đúng là tiên ở giữa cõi trần!

Cả thuyền cười ồ.

Cô gái thấy thuyền lạ hầu hết là trai tráng đang dồn mắt về phía mình, một chàng trai trẻ nhất thuyền lại thốt lên "Tiên..." nàng thẹn thùng, hất vội mẻ cá còn lại xuống sông rồi chạy lên bờ, mấy cô hầu cũng vội vã chạy theo.

Thái tử ngẩn người ra, nhìn theo hình bóng của người đẹp.

Chẳng mấy chốc nàng cũng khuất dần, gương mặt thái tử hiện lên chút tiếc nuối.

Sau đêm rằm hôm ấy, tâm tưởng thái tử chỉ vương vấn đến người đẹp.

Thái tử nói với tùy tùng muốn dạo chơi phía cuối thôn, gần nơi đã thấy người đẹp để mong được gặp lại nàng.

Vừa ra đến đầu ngõ, thái tử đứng sững lại, mắt ngây ngất, người con gái khiến thái tử ngày đêm nhung nhớ đang khoan thai bước tới chỉ cách ngài vài bước chân.

Nàng thấy thái tử đang lúng túng nhìn mình như người mất hồn mà thẹn đỏ mặt, vội cúi đầu chào rồi quay người sang phía khác, cùng mấy cô hầu dắt nhau ra đầu thôn.

Thái tử ngoái nhìn theo bước đi của họ rồi buồn bã nói:

- Ta thấy mệt trong người, lâu nay đi bộ ít nên dễ mỏi chân.

Quay về thôi, hôm khác chúng ta đi.

Về nhà, kể từ khi đó thái tử ăn ngủ không ngon, lúc ăn chỉ thấm vài thìa, khi ngủ thì nằm trằn trọc mãi, vì hình ảnh người con gái ấy luôn luôn hiện lên trong đầu chàng.

Thái tử dần dần sinh bệnh, Đỗ Quảng và mọi người vô cùng lo lắng đi tìm thầy thuốc giỏi về chữa trị.

Khi thầy thuốc đến bắt mạch chẩn bệnh thì kết luận:

- Thiếu chủ là tương tư người đẹp nên buồn phiền mà thành bệnh.

Muốn chữa phải kết hợp cả hai biện pháp, vừa bổ dưỡng thể trạng, vừa giải tỏa tinh thần, mà giải tỏa tinh thần là chính.

Trước tiên phải làm sao cho thiếu chủ gặp lại được người đẹp ấy.

Đỗ Quảng cho người lui ra ngoài hết rồi vào buồng tỉ tê gạn hỏi thái tử.

Thái tử bày tỏ:

- Từ hôm ta gặp người con gái thả cá chép ở sông thì không lúc nào ta không mơ tưởng tới nàng.

Nàng đẹp đến mức khiến cho ta mê mệt.

Nàng giỏi đàn ca, biết cả kinh nghĩa khiến ta cảm mến.

Có được nàng làm vợ, sau này khi nối ngôi ta chắc chắn sẽ phong nàng làm hoàng hậu.

Đỗ Quảng nghe vậy trong lòng lo lắng, nếu không chữa được bệnh cho thái tử thì sẽ bị tru di tam tộc, ngặt nỗi nước nhà đang biến loạn, vua Lý Anh Tông phải trốn ở một nơi, còn thái tử chạy đến Lưu Gia Trang phải giữ kín nguồn gốc, thân phận để bảo toàn tính mạng, nếu như lộ ra nguồn gốc, thân phận thật sự thì có biết người ta bụng dạ thế nào, không chừng sẽ chết cả.

Nhưng muốn đưa người con gái ấy về cho thái tử thì phải nói rõ địa vị của người, nếu không nói rõ thân phận của ngài thì làm sao một gia đình giàu có lại chịu gả con gái của họ cho một anh chàng khách ngoại trú không rõ gốc tích, địa vị.

Thấy thái tử buồn rầu, cơ thể ngày càng suy nhược, Đỗ Quảng xót ruột, liền cùng với Lê Mỵ điều tra rõ nguồn gốc, thế gia của cô gái kia rồi mới bàn tính tiếp.

Nhờ có Lê Mỵ thông thạo vùng này mà việc điều tra của Đỗ Quảng nhanh chóng hoàn thành.

Cô gái mà thái tử ngày đêm mong nhớ mang họ Trần, tên là Thị Dung.

Gia thế nhà họ Trần quả nhiên không hề tầm thường, xuất thân ban đầu là nghề đánh cá, sau này trở nên giàu có, họ Trần mua ruộng đất, lập trang trại ở Hải Ấp, chiêu mộ binh lính và trở thành một dòng họ "phú gia địch quốc", thế lực hùng trướng cả một vùng ở địa phương.

Tổ tiên xa xưa của họ Trần là Trần Việt, vốn là một viên tướng dưới quyền Lý Thường Kiệt năm xưa.

Trong chiến dịch tấn công Khâm Châu và bao vây thành Ung Châu, Trần Việt được Lý Thường Kiệt tin cậy giao chỉ huy một hạm đội thủy quân tiên phong.

Chẳng may trong trận chiến Trần Việt trúng tên rơi xuống sông rồi bị nước cuốn trôi đi nên bị lạc với đại quân của Lý Thường Kiệt.

Trần Việt được một người đánh cá ở Quế Lâm, Quảng Tây (Trung Quốc) cứu sống rồi sau đó làm rể của gia đình này, ông có một người con trai đặt tên là Trần Kinh và sống ở đây đến cuối đời.

Sau này Trần Kinh tìm về quê hương Đại Việt ở làng Tức Mặc theo lời kể của cha để sinh cơ lập nghiệp, thờ cúng tổ tiên.

Cơ nghiệp họ Trần dần dần đi lên, Trần Kinh cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là Trần Hấp.

Sau khi Trần Kinh qua đời, Trần Hấp chuyển cả gia tộc đến Lưu Gia Trang sinh sống vì nhận thấy nơi này là một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, dân cư đông đúc, sẽ có nhiều tài lộc.

Họ Trần cứ thế ăn nên làm ra, đến đời Trần Lý đã trở thành một gia tộc có thế lực lớn mạnh nhất trong vùng.

Sau khi tìm hiểu rõ về các mặt, thấy rõ thôn Lưu Gia có rất nhiều anh tài, vật lực đặc sắc, xứng đáng trọng dụng vào cuộc trung hưng dẹp yên nghịch tặc nên Đỗ Quảng không chỉ tích cực tìm cách tác hợp cho thái tử và Trần Thị Dung mà còn xin thái tử đích thân viết hịch kêu gọi họ Trần khởi binh tương trợ dẹp loạn Quách Bộc.

Nhờ có Lê Mỵ và Phùng Tá Chu giúp đỡ nên Đỗ Quảng mau chóng gặp được Trần Lý - người đứng đầu họ Trần.

Trần Lý đồng ý hôn sự và nhận lời đem quân đến Thăng Long trợ giúp triều đình dẹp loạn.

Dòng tộc họ Trần xuất thân là dân làng chài đã vào chốn quan trường như thế.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 2: Chuyển giao triều đại


Năm 1210, không lâu sau khi loạn Quách Bộc được dẹp yên thì Trần Lý bị ám sát, người thừa kế gia tộc họ Trần là Trần Tự Khánh có công lớn với triều đình nên được phong đến chức Thái úy.

Trần Tự Khánh một mình lo việc nước thay thế vua Lý Huệ Tông vừa mới lên ngôi nhưng đột nhiên bệnh nặng, trong thời gian cầm quyền, Tự Khánh để cho người họ Trần nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, dần dần thế lực của họ Trần còn mạnh hơn hoàng tộc.

Tháng 12 năm Quý Mùi (1223), Trần Tự Khánh mất, người anh là Trần Thừa lên thay chức Thái úy, em họ là Trần Thủ Độ giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ.

Kể từ đây quyền hành trong triều hoàn toàn nằm trong tay họ Trần.

Con trai Trần Thừa là Trần Cảnh bấy giờ 7 tuổi được đưa vào cung hầu hạ vua Lý Chiêu Hoàng bằng tuổi, Lý Chiêu Hoàng thấy Cảnh làm ưa.

Hôm đó, nữ vương đã thức dậy từ lâu nghe tiếng Trần Cảnh gõ cửa thì giả vờ nằm lại giường, làm bộ như vừa mới dậy.

Nữ vương gọi với ra:

- Nhà ngươi vào đi.

Trần Cảnh bưng nước vào hầu, Chiêu Hoàng ném khăn, vẫy nước vào mặt Cảnh, có ý trêu chọc như mọi ngày.

Trần Cảnh làm theo lời dặn của người chú Trần Thủ Độ, vội chắp tay lạy:

- Bệ hạ tha tội cho thần.

Chiêu Hoàng khoái chí cười:

- Tha tội cho ngươi?

Hôm nay ngươi đã biết khôn rồi đó.

Lúc Chiêu Hoàng đi dạo ở vườn thượng uyển, Trần Cảnh theo hầu.

Cả hai đi một hồi lâu, Chiêu Hoàng thấy Trần Cảnh ít nói nên bày nhiều trò trêu ghẹo như nắm lấy tóc, đứng dẫm lên bóng của cậu.

Phải hầu hạ Chiêu Hoàng cả ngày trong cung, Trần Cảnh về phủ lúc mặt trời đã xuống núi.

Về đến phủ, Cảnh thấy Trần Thừa và Trần Thủ Độ đang bàn việc nước, cậu bước đến chào.

Trần Thừa trìu mến hỏi con trai:

- Trần Cảnh về rồi sao?

Trần Cảnh chưa kịp đáp thì Trần Thừa tiếp lời:

- Cha đang bàn chuyện hệ trọng với thúc thúc, con hãy lui ra chỗ khác đi.

Trần Thủ Độ đợi cho cháu mình đi khỏi đó rồi nói với Trần Thừa, giọng của ông vừa mừng vừa lo:

- Đại ca, khí số nhà Lý đã tận không thể cứu chữa, nay trời đã trao cơ hội cho chúng ta rồi.

Nhưng không biết đây là họa hay là phúc, đệ đang lo không biết cả họ ta sẽ trở thành hoàng tộc hay là bị giết.

Điều mà họ Trần mong ngóng bấy lâu nay đã xuất hiện, nhà Lý đã mục rỗng tận cùng rồi, đây là cơ hội ngàn năm có một để họ Trần dựng nghiệp đế vương trị vì thiên hạ.

Trần Thừa hỏi Trần Thủ Độ:

- Đệ đã có kế sách gì rồi đúng không?

Thủ Độ cười:

- Đệ vừa nghĩ ra một kế.

Chúng ta hãy tác hợp cho Trần Cảnh và Chiêu Hoàng thành vợ chồng rồi thông báo cho cả nước biết điều này, xưa nay vợ không thể đứng trên chồng, chúng ta phải dùng cái cớ này để đoạt lấy ngôi vị, tuyên bố cho toàn thiên hạ biết rằng Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngai hoàng đế cho Trần Cảnh con trai huynh, như vậy là nhà Trần lên thay nhà Lý một cách danh chính ngôn thuận, có thể tránh nạn binh đao.

Nếu như xảy ra chiến tranh thì cái lý vẫn thuộc về chúng ta.

Trần Thừa cẩn thận nhắc nhở:

- Văn thần võ tướng trong triều vẫn còn rất nhiều người trung thành với họ Lý, đệ phải hành sự thật cẩn thận, nếu không phải là bất đắc dĩ thì không được lạm sát, ta lo sinh biến.

Trần Thừa giao cho Trần Thủ Độ đi tập hợp mọi người trong gia tộc, tự ông đi gặp Trần Cảnh và chuẩn bị những việc cho buổi lễ kết tóc.

Nhận lệnh của anh, Trần Thủ Độ bắt tay vào công việc ngay, hai ngày sau Trần Thủ Độ đã cho tập hợp tất cả gia thuộc thân thích họ Trần vào cung cấm từ sáng sớm, lệnh đóng toàn bộ cửa thành và các cửa cung, sai người canh gác nghiêm ngặt không cho các quan vào chầu.

Trần Thủ Độ làm lễ kết tóc cho Chiêu Hoàng và Trần Cảnh trong hoàng cung, sau đó loan tin: "Bệ hạ đã có chồng rồi".

Triều đình nghe vậy đều nói đây là việc tốt, xin chọn ngày vào chầu.

Như vậy là những lần đùa giỡn của trẻ con giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh bỗng nhiên được Trần Thủ Độ thêu dệt trở thành câu chuyện tình yêu quân thần lãng mạn, Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng bấy giờ chỉ mới 7 tuổi bất ngờ được tác hợp trở thành đôi vợ chồng.

Điều này hóa ra chỉ là một nước cờ chính trị tranh giành thiên hạ trong êm thắm của hai họ Lý - Trần do Trần Thủ Độ một tay dựng lên.

Đến ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu, theo sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, vua Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng.

Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An, các quan quỳ lạy ở sân rồng, nữ vương lệnh cho quan tổng quản tuyên chỉ:

- Thuận thiên thừa vận hoàng đế chiếu viết, trẫm là Lý Chiêu Hoàng, hôm nay vì muốn thuận theo ý trời và con dân trăm họ nên đã ra chiếu chỉ này.

Từ xưa nước Nam Việt ta đã có đế vương trị vì thiên hạ, duy triều Lý ta vâng chịu mệnh trời có cả bốn biển, các tiên thánh truyền nối hơn 200 năm nhưng vì Thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước nghiêng nguy sai trẫm phải cố gượng lên ngôi, từ xưa đến nay chưa hề có việc này.

Khốn nỗi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong làm sao giữ được ngôi báu nặng nề?

Trẫm dậy sớm thức khuya chỉ sợ không gánh vác nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử để cùng nhau giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực rồi.

Kinh thi có nói "quân tử tìm bạn, tìm mãi không được, thức ngủ không nguôi, lâu thay, lâu thay".

Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy chỉ có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực thể là quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù cho là Hán Cao Tổ hay Đường Thái Tông cũng không hơn được.

Sớm hôm nghĩ từ lâu, nghiệm xem nên nhường lại ngôi báu để thuận theo ý trời, cho xứng lòng trẫm, mong tất cả đồng lòng hết sức cùng giúp vận nước hưởng phúc thái bình.

Vậy bố cáo cho toàn thiên hạ để mọi người đều biết.

Trần Thủ Độ hối thúc Trần Cảnh ngồi lên ngai vàng, Lý Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, nhiều lần khuyên mời Trần Cảnh lên ngôi vua.

Sau ba lần nhún nhường làm phép, Trần Cảnh đồng ý ngồi lên ngai vàng, chính thức trở thành Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Trần (1225 - 1400).

Vậy là triều Lý (1007 - 1225) đã chấm dứt với 218 năm trị vì đất nước, sự kiện khép lại là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Trần Cảnh lên ngôi vua, lấy hiệu là Trần Thái Tông, nhà vua vẫn giữ tên nước là Đại Việt, phong thưởng cho những người có công giúp họ Trần khai quốc, suy tôn Phụ quốc Thái úy Trần Thừa là Thái thượng hoàng, sắc phong cho vợ là Lý Thiên Hinh (Lý Chiêu Hoàng) là Chiêu Thánh Hoàng hậu, phong cho Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ giữ chức Thái sư, chức quan đứng đầu triều đình.

Kể từ khi Trần Thái Tông lên ngôi hoàng đế trị vì đất nước thay họ Lý, triều đình dần dần dẹp yên được giặc giã cướp bóc, chỉnh đốn kỉ cương, nhờ vậy mà thiên hạ thái bình, thịnh trị.

Chiêu Thánh hoàng hậu thấy cảnh đất nước ấm no phồn thịnh, nhiều lần bày tỏ sự hạnh phúc vì quyết định nhường ngôi của nàng ngày xưa là đúng đắn.

Cũng nhờ có Trần Thừa nhiếp chính việc trong, Thủ Độ nhiếp chính việc ngoài, mọi việc chu toàn nên nhà vua lúc này không phải lo bận triều chính, Chiêu Thánh có dịp được kề cạnh gần gũi với nhà vua ở hậu cung, cả hai đều cùng tuổi nhau, sống chung với nhau từ lúc bảy tuổi đến khi trưởng thành nên rất thân tình, cả hai quấn quít nhau không rời như hình với bóng.

Những chuyện đùa vui trẻ con ngày nào của hai người bất chợt biến họ trở thành vợ chồng của nhau, tưởng là gượng ép nhưng đến khi cả hai lớn lên, họ đã nảy nở tình yêu thật sự dành cho nhau.

Chiêu Thánh lớn lên dung mạo như hoa, phẩm hạnh như ngọc, dù có dung mạo và đức hạnh hơn người nhưng Chiêu Thánh rất khiêm từ, còn vua Trần Thái Tông lớn lên là một bậc minh quân, có học thức cao, thông tuệ nhiều điều, đặc biệt có tài ngoại giao chính trị, bên cạnh còn có nhiều người tài giỏi phò tá.

Chiêu Thánh thật cảm thấy hạnh phúc vì nàng đã chọn được một người chồng xứng đáng, hai người như chim phụng chim hoàng, mặn mà ân ái.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 3: Mâu thuẫn hoàng gia


Vợ họ Lý nhường ngôi hoàng đế cho chồng họ Trần, nhà Trần thay thế nhà Lý trong êm đềm nhưng thực chất đã có hàng ngàn người nằm xuống trong sự kiện chuyển giao triều đại này.

Thái sư Trần Thủ Độ cho quân lính truy sát tất cả những người trong hoàng tộc nhà Lý và các tướng lĩnh trung thành với họ Lý để trừ đi mối lo về sau, những người may mắn trốn thoát phải thay tên đổi họ, sống mai danh ẩn tích.

Đặc biệt có hoàng tử Lý Long Tường phải mang theo gia quyến trốn sang tận Cao Ly (Triều Tiên) mới thoát nạn.

Tiếp đó, Trần Thủ Độ tìm mọi cách loại bỏ những ảnh hưởng còn sót lại của nhà Lý.

Tuy rằng nhà Trần đã nắm ngôi báu nhưng trong dân chúng vẫn còn lắm kẻ nhớ tiếc triều cũ, vua Lý Huệ Tông lúc này đã xuất gia đi tu vô tình đi ra chợ, được dân chúng ra đón gặp và khóc thương.

Trần Thủ Độ chứng kiến được cảnh đó nên ép Lý Huệ Tông vào tu ở chùa Chân Giáo nằm sâu trong vòng hoàng cung để tách biệt vua cũ với dân chúng.

Không lâu sau thì Trần Thủ Độ bức tử vua Lý Huệ Tông.

Chiêu Thánh hay tin cha mình mất đau khổ khôn nguôi.

Trần Thủ Độ muốn xóa bỏ hoàn toàn họ Lý khỏi xã hội nên hạ lệnh xuống dân chúng, nếu có người nào mang họ Lý thì phải đổi họ lại thành họ Nguyễn, không ai được giữ họ Lý, ai trái lệnh sẽ bị chém.

Lấy lý do vì Trần Lý là vị tổ nghiệp của họ Trần, là phụ thân của thượng hoàng Trần Thái Tổ.

Nhưng thực ra điều này chẳng qua chỉ là cái cớ suông tai để xóa sổ họ Lý.

Tất cả chỉ vì bảo vệ ngai vàng cho Trần Thái Tông mà thái sư không từ thủ đoạn nào.

Mười hai năm trôi qua kể từ ngày Chiêu Thánh trở thành hoàng hậu của vua Trần Thái Tông, dù hai người đã có quãng thời gian dài ăn nằm cùng nhau nhưng đến nay hoàng hậu vẫn chưa sinh được thái tử để sau này vua Trần Thái Tông có người nối ngôi.

Vị thái tử Trịnh của nhà vua và hoàng hậu hạ sinh năm họ 14 tuổi đã chết non, kể từ đó về sau sức khỏe của hoàng hậu đột nhiên trở nên rất yếu, bệnh hoạn liên miên.

Điều này khiến thái sư Trần Thủ Độ và Linh Từ Quốc mẫu rất lo lắng, hai vợ chồng này bàn bạc với nhau, ép vua Trần Thái Tông phải lập Thuận Thiên công chúa đang có mang Trần Quốc Khang được ba tháng làm hoàng hậu thay thế Chiêu Thánh, định sau này đưa Trần Quốc Khang lên làm thái tử để nối ngôi vua, còn Chiêu Thánh thì bị giáng xuống làm công chúa.

Trần Thái Tông nghe tin báo như sét đánh ngang tai.

Nhà vua là đấng minh quân, hiểu thấu nhân nghĩa đạo lý, ngài không thể đối xử tệ bạc với Chiêu Thánh yêu quý của mình như thế.

Chính Lý Thiên Hinh ngày xưa đã trao cả thiên hạ cho ngài, mà nay chỉ vì hậu chưa sinh thái tử cho nhà vua thì nhà vua quay ra phế hậu, làm như vậy Thái Tông đành lòng sao?

Còn đối với Chiêu Thánh, không có gì chua xót hơn khi nàng bị chính mẹ ruột của mình cấu kết với cha dượng đối xử tệ bạc với mình.

Năm xưa khi Chiêu Thánh 6 tuổi, họ Trần được dịp nổi lên thao túng triều chính, Trần Thủ Độ đưa nàng một bước lên ngôi vua, thực tế chỉ là quân cờ chính trị không hơn không kém, sau đó ép gả nàng cho Trần Cảnh rồi ép nhường ngai vàng cho Cảnh, từ ngôi vua tụt xuống làm hoàng hậu, từ hoàng hậu tụt xuống làm công chúa.

Trời xanh thật éo le và đời thật tàn ác với Chiêu Thánh, nàng mất ngai vàng, mất cha, mất chồng, mất tất cả.

Tấn bi kịch của đời nàng do một tay Trần Thủ Độ dựng nên.

Nếu Thái Tổ Lý Công Uẩn có ở đây liệu ngài có thấu cho hậu duệ của mình không?

Thái Tông đến tìm Chiêu Thánh, nhìn thấy Chiêu Thánh đau khổ, Thái Tông lòng như tơ vò.

Nhà vua bước tới hỏi:

- Chiêu Thánh, trẫm nên làm thế nào?

Chiêu Thánh vái lạy rồi đáp:

- Tâu bệ hạ, thần thiếp mang tiếng làm mất ngôi nhà Lý, chuyện này sẽ bị hậu thế đàm tiếu mãi.

Thế sự đã đến nước này thần thiếp chỉ biết phó mặc cho trời xanh.

Thái Tông tức giận:

- Ông ta thật quá đáng.

Trẫm là thiên tử, ông ta dám vượt quyền hạn của thiên tử, trẫm sẽ hạ lệnh bắt giam ông ta vào ngục.

Chiêu Thánh ngân ngấn nước mắt:

- Đừng, bệ hạ đừng làm vậy.

Bệ hạ là minh chúa, ông ta là trung thần.

Nếu bệ hạ vì thần thiếp mà bắt ông ta vào ngục thì hai người sẽ hóa thành thù, sẽ không còn minh chúa hay trung thần nữa mà chỉ có thảm khốc.

Chiêu Thánh nói tiếp:

- Nay đã đến nông nỗi này, bệ hạ hãy quên thần thiếp đi, cứ nghĩ thần thiếp đã chết rồi.

Lời nói ấy của Chiêu Thánh như dao cứa vào tim Thái Tông.

Đời thật biết cách mỉa mai, thân là bậc chí tôn thiên hạ, quyền uy trên chục vạn người nhưng lại không thể bảo vệ được cho người mình yêu thương nhất.

Thói đời thường xem thường phận nữ nhi, nhưng nam nhân có ai thức thời được như Chiêu Thánh?

Nàng hiểu thấu từng nước cờ mà Trần Thủ Độ suy tính.

Chiêu Thánh xuôi theo quyết định của Trần Thủ Độ là vì thương chồng, sợ chồng bị liên lụy, nếu vì nàng mà Trần Cảnh trở mặt thành thù với Trần Thủ Độ, ngai vàng của Cảnh bị lung lay thì thà rằng Chiêu Thánh vì Cảnh mà chịu tủi nhục.

Sau ngày hôm ấy Chiêu Thánh bỏ đi tu.

Phải lìa bỏ Chiêu Thánh đối với Trần Thái Tông là điều đau đớn và phi lý.

Khó chấp nhận hơn nữa, người mà Trần Thái Tông phải lấy làm hoàng hậu chính là chị ruột của Chiêu Thánh, cũng là chị dâu của nhà vua.

Cướp cái thai trong bụng Thuận Thiên lọc lừa thiên hạ, đây là nguyên nhân khiến hoàng gia nhà Trần trở thành một mớ hỗn độn, quân thần, phu thê, huynh đệ, tỉ muội đảo lộn, với những cơn sóng ngầm nghiêm trọng trong hoàng tộc dẫn đến nạn đổ máu về sau.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 4: Cái đức của đấng Thiên tử


Đêm mồng 3 tháng 4 năm thứ 5 niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình, vua Trần Thái Tông cải trang thành dân thường, dẫn theo tả hữu bảy tám người lặng lẽ bỏ kinh thành lên Phù Vân Tự, núi Yên Tử, quyết chí xuống tóc nương nhờ cửa Phật từ bi để tránh điều vô luân, giữ tình huynh đệ và chung tình với Chiêu Thánh trong xa cách, yên tâm rửa sạch lòng phàm.

Trên đường đi, Thái Tông bày tỏ lòng mình cho tùy tòng biết, ai nấy nghe đều khóc sướt mướt.

Qua hai ngày trời trên đường trường vất vả, khi lặn lội suối sâu núi hiểm, lúc bỏ ngựa trèo non, đến ngày thứ ba mới lên đến đỉnh núi Yên Tử.

Sư trụ trì chùa Phù Vân và Thái Tông vốn là bạn cũ của nhau, bỗng dưng hôm nay thấy Thái Tông đến nơi này nên nhà sư hỏi thăm:

- Lão tăng ở nơi sơn dã đã lâu, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm trái cây, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi theo gió đến đây.

Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều gì mà đến chốn này?

Thái Tông đáp:

- Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, chơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ nương tựa, lại nghĩ đến sự nghiệp của đế vương thuở trước thay đổi bất thường, nên tìm đến núi này, chỉ muốn được thành Phật chứ không cầu gì khác.

Nhà sư mỉm cười đáp lại:

- Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm, nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức trở thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm ở ngoài.

Trụ trì cảm thấy băn khoăn vì lòng Thái Tông có nhiều nỗi khổ thầm kín không thể nói ra, hơn nữa ngài là vua một nước, đất nước không thể một ngày không có vua, vậy nên nhà sư kín đáo sai người về kinh thành báo tin cho thái sư Trần Thủ Độ biết.

Trần Thủ Độ ở Thăng Long như ngồi trên đống lửa vì nhà vua bí mật bỏ đi, khi nhóm sư tiểu chùa Phù Vân đến báo tin, thái sư vui mừng khôn xiết lập tức phóng ngựa dẫn theo bá quan văn võ lên Phù Vân Tử.

Con người tuy dưới vua nhưng vô cùng thao lược, có quyền nghiêng ngả cả thiên hạ nói với Trần Thái Tông với giọng đầy tôn kính:

- Bệ hạ đang đêm bỏ đi chơi núi không bảo thần một tiếng, thần hộ giá chậm trễ, xin bệ hạ khai ân!

Thái Tông nén giận đáp lời:

- Cả hai triều Lý, Trần không ai dám động đến ông.

Vậy mà ông lại sợ ta sao?

Trần Thủ Độ quyết đoán đáp:

- Hồi bệ hạ, nhà Lý đã suy, dẹp đi để dân đỡ khổ.

Nhà Trần thay thế để sông núi thái bình.

Nếu nhà Trần không khéo léo giữ ngôi báu, nghìn kẻ nhảy ra tranh giành ngai vàng chém giết lẫn nhau, giày xéo bách tính, dân tình chết chóc khổ ải.

Giặc Bắc nhân lúc loạn lạc tràn sang, nếu giang sơn xã tắc rơi vào tay ngoại bang thì trăm họ lầm than.

Thần lo sợ như vậy.

Thái Tông lắng nghe rồi đáp:

- Dẫu ít tuổi nhưng trẫm cũng hiểu đôi điều.

Ông không phải nói nữa.

Trần Thủ Độ rành rọt đáp ngay:

- Tâu bệ hạ, thần không thể không nói.

Thần biết việc làm này ngày hôm nay có trăm nghìn kẻ chê, muôn đời sau vẫn vậy.

Nhưng những chuyện thần làm đều không phải vì thần, những chuyện thần làm đều vì ngôi báu của bệ hạ.

- Tâu bệ hạ, thần không thể không nói.

Những việc thần làm đều không phải vì thần, những việc thần làm đều là vì ngôi báu của bệ hạ.

Thần biết việc làm này ngày hôm nay có trăm nghìn kẻ chê, muôn nghìn năm sau vẫn vậy.

Chỉ cần có một người khen là thần hả dạ lắm rồi.

Xin bệ hạ hồi triều.

Kinh thành không thể vắng vua.

Thái Tông nói rõ ý mình:

- Trẫm đương còn nhỏ dại, chưa cáng đáng nổi sứ mạng nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, bá quan hãy chọn người khác lên thay để khỏi nhục xã tắc.

Thủ Độ rành rẽ trả lời:

- Tâu bệ hạ, hoàng tộc không thiếu người tài nhưng chân mệnh thiên tử chỉ có một.

Hạng Vũ dẫu tài giỏi hơn Lưu Bang nhưng Hạng Vũ không có mệnh thiên tử.

- Nhưng ta không thể làm việc vô luân!

- Thái Tông ấm ức nói.

Thủ Độ nói:

- Suy nghĩ của bậc đế vương phải khác với dân.

Chiêu Thánh thể trạng không tốt, không thể sinh thái tử, nhường ngôi hoàng hậu cho Thuận Thiên để sau này ngôi rồng có người kế vị.

Em nhường ngôi hoàng hậu cho chị, nếu có loạn luân cũng là do ý trời.

Thái Tông trách móc:

- Còn Hoài vương thì sao?

Thủ Độ đáp:

- Anh nhường vợ cho em, thần dâng vợ cho vua vì ván cờ giang sơn để dòng tộc duy trì, nếu là thần, thần vui mừng lắm.

- Ông không sợ Hoài vương khởi binh, thiên hạ đại loạn sao?

Mắt Trần Thủ Độ long lên:

- Chống vua tội gì, Hoài vương phải tự biết hậu quả.

Trần Thái Tông dằn giọng:

- Đã cướp tỉ nương lại còn giết huynh trưởng, ông bắt ta làm những chuyện bất nghĩa, huynh đệ cốt nhục tương tàn, con người ông quả thật rất đáng sợ đó!

Trần Thủ Độ kìm nén, ứng đối được ngay:

- Tâu bệ hạ, Doanh Chính năm xưa giết Lã Bất Vi mới thành Tần Hoàng, Lý Thế Dân giết anh em sau đó mới hưng nghiệp triều Đường được.

Bậc đế vương khác người thường ở chỗ đó, làm chủ thiên hạ phải vậy.

Còn bất nghĩa ư?

Điều bất nghĩa nhất là không lo cho giang sơn vững bền, không thể làm cho thiên hạ thái bình thịnh trị.

Thái Tông đáp:

- Ông nên nhớ, thánh hiền không dạy ta bất nghĩa với anh.

Nhà vua nói rồi ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Trần Thủ Độ ngẩng mặt lên trời than:

- Thủ Độ ơi Thủ Độ!

Dù cho ngươi có tài trí ngang trời dọc đất nhưng mưu kế của ngươi không được dùng thì cũng vô dụng!

Ngươi nghĩ mình là con ngựa kéo cỗ xe giang sơn nhưng không chừng chỉ kéo họa vào thân và bị hậu thế nguyền rủa.

Trần Thủ Độ thất vọng muốn buông bỏ tất cả để sống một cuộc đời thường dân bình dị, trong đầu thầm nghĩ: "Cả đời ta sống hết lòng tận trung với triều đình này, nhưng có kẻ lại gọi ta là Lã Bất Vi, kẻ xem ta như Tào Tháo, chao ôi, giá mà Thủ Độ ta được một phần của hai vị ấy, nhưng ta ôm rơm làm gì để thêm răm bụng và bị đời sau đàm tiếu?".

Bất chợt nhìn thấy Lê Tần (hậu duệ của vua Lê Đại Hành) đang đứng gần đó, thái sư chợt nghĩ đến những chuyện trong quá khứ.

Năm xưa vua Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích sát hại, thái tử Đinh Toàn mới 9 tuổi lên ngôi, thái hậu Dương Vân Nga buông rèm nhiếp chính.

Bắc Tống nhân cơ hội Đại Cồ Việt đang lúc rối ren, phái Hầu Nhân Bảo đem quân xâm lược.

Trong hoàn cảnh đó, thái hậu họ Dương đã nhìn thấu phúc họa của dân của nước đang bày ra trước mắt, tình thế không cho bà lựa chọn khác.

Bỏ ngoài tai tất cả những lời dè bỉu, bêu riếu hướng về mình, nào là bất nghĩa, quẳng cơ nghiệp của nhà Đinh cho ngoại tộc, Dương thái hậu nhất quyết trao long bào cho Thập Đạo tướng quân (Lê Hoàn).

Nhờ Dương thái hậu sáng suốt, gửi gắm đại sự cho quan Thập Đạo mà nước nhà thoát được phen nguy khốn, nếu không làm vậy, liệu Đại Cồ Việt có đánh đuổi được quân Tống xâm lược?

Việc của Dương thái hậu làm trước kia chưa hề có, sau này chắc cũng chẳng có ai, nhưng an nguy sông núi chỉ trong chớp mắt, bà không quyết không được.

Đời thương, ghét, khen, chê, mặc kệ đời, phúc cho dân cho nước mới là quan trọng.

Bậc nhân giả phải nghĩ tới những điều thiên hạ chưa nghĩ tới, phải làm những việc vạn người không dám làm, miễn là việc làm ấy tạo phúc cho dân.

Nếu một người làm việc gì cũng sợ bị thiên hạ đàm tiếu thì người đó có bao giờ làm được việc lớn?

Thói thường, người người đều nghĩ theo cách cũ, đi theo lối mòn, làm lại những việc thời trước đã làm.

Thấy ai có ý lạ, cách làm mới là họ xét nét, dè bỉu.

Nào là thánh hiền không dạy, nào là cổ kim chưa có ai làm!

Nếu ai cũng e dè thì liệu sông núi có thể lớn lên, sáng ra không?

Hiểu được chân lý đó, mắt Trần Thủ Độ chớp chớp, lấy lại quyết tâm, ông bước đến nhà vua, cúi đầu đầy cung kính:

- Tâu bệ hạ, vì giang sơn nhà Trần, vì trăm họ trông ngóng, thần dẫu chết cũng không bỏ nước cờ đã lường tính.

Trần Thái Tông muốn được yên thân ở rừng núi:

- Ý trẫm đã quyết, các người về đi.

Yên Tử là nơi dành riêng cho trẫm.

Giọng Thủ Độ kiên quyết:

- Vua ở đâu triều đình ở đấy.

Tổng quan thái giám đâu, mau lo dựng cung điện trước chùa này.

Ta về kinh thành mang quốc ấn cùng bài vị tổ tiên lên đây ngay.

Sư trụ trì thấy thế liền tâu với Thái Tông:

- Bệ hạ nên gấp về kinh sư, chớ để hại núi rừng của đệ tử.

Thái Tông biết Trần Thủ Độ không nhượng bộ, sau một hồi suy nghĩ thấu đáo nhà vua mới chịu về Thăng Long.

Trong khi đó Trần Liễu nghe tin Thái Tông cướp vợ mình thì nổi trận lôi đình, y tụ tập binh mã ở sông Cái (sông Hồng) tạo phản.

Nhưng Trần Thủ Độ là con người đầy mưu lược sớm đã tiên liệu được chuyện này, ông đã bố trí sẵn mai phục ở Thăng Long chỉ đợi Trần Liễu sa lưới.

Quả nhiên Trần Liễu nhân lúc bá quan triều đình cùng theo nhà vua lên núi Yên Tử, nghĩ rằng kinh thành hiện đang phòng thủ lỏng lẻo nên lệnh cho vợ chồng tướng quân Trần Hiến - Lê Thị Đạt dẫn quân tấn công Thăng Long.

Khi quân của Trần Liễu xông vào Thăng Long thì bất ngờ bị quân triều đình bao vây ngược lại.

Sau trận này, quân tướng của Trần Liễu bị thiệt hại nặng nề.

Biết mình đã rơi vào tình cảnh thân cô thế yếu, Trần Liễu quyết định đầu hàng triều đình.

Thế nhưng chống vua là tội chết, lúc này cách duy nhất để Trần Liễu thoát chết là cầu cứu người em trai của mình, vua Trần Thái Tông.

Trần Liễu ngầm sai người hẹn với nhà vua đúng giờ hãy bơi thuyền ngự ra sông Cái, ông sẽ giả dạng làm người đánh cá để đến hàng.

Vua Trần Thái Tông là người nhân nghĩa và hết mực yêu thương anh mình nên đã bỏ qua hết thù hằn cũ và chấp nhận cho Trần Liễu đầu hàng.

Đúng giờ hẹn nhà vua cho bơi thuyền ra sông Cái, còn Trần Liễu chèo một chiếc thuyền độc mộc ra hàng, hai anh em gặp được nhau mừng lắm, ôm nhau khóc ròng.

Đúng lúc này Trần Thủ Độ kéo quân đến thẳng thuyền vua, rút gươm thét to: "Giết chết tên giặc Liễu".

Nhà vua vội vàng đẩy quan Thái sư ra xa, lấy thân mình che cho Liễu rồi phân trần:

- Hoài vương đến hàng đó thôi.

Trần Thủ Độ nhất quyết đòi giết Trần Liễu vì tội làm phản.

Thái Tông ấm ức nói:

- Ở Đại Việt này rốt cuộc là trẫm làm chủ hay ông làm chủ?

Trần Thủ Độ tức giận nhưng không dám làm bậy, đành ném thanh gươm xuống nước mà thét lên:

- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch của anh em nhà vua.

Mọi việc sau cùng được giải quyết êm đẹp, Trần Liễu theo Thái Tông về Thăng Long.

Trần Liễu được nhà vua ban cho vùng đất Ngũ Yên bao gồm Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang, Yên Phụ, Yên Dưỡng để làm Thái ấp, đồng thời phong tước Yên Sinh vương cho y cùng với nhiều bổng lộc khác.

Trần Liễu tuân theo lệnh vua dẫn theo gia quyến chuyển đến vùng đất Ngũ Yên sinh sống, riêng người con trai thứ tư của Liễu là Trần Quốc Tuấn được Thụy Bà công chúa nhận nuôi nên được vua Trần Thái Tông đồng ý cho ở lại Thăng Long.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 5: Nguyễn Hiền


Nhiều năm sau vụ việc ở hậu cung, vua Trần Thái Tông nay đã trưởng thành, nhà vua lúc này tự mình điều hành đất nước, Trần thái sư bây giờ không còn phải nhiếp chính như trước kia.

Nhà vua tỏ ra là một vị minh quân, quyết định mọi việc trong nước vô cùng sáng suốt, trong đó đặc biệt rất chú trọng đến giáo dục thi cử.

Khoa thi vào năm 1246 là khoa thi Thái học sinh đầu tiên do chính vua Trần Thái Tông cho mở, trong kì thi này sĩ tử ở mọi nơi nô nức kéo về Thăng Long dự thi, nếu thi đỗ Thái học sinh ngay lập tức sẽ được bổ nhiệm làm quan.

Nổi bật nhất trong kì thi này có Trần Quan Quang là người đạt điểm thi cao nhất trong số 44 người đỗ Thái học sinh.

Các sĩ tử thi đỗ sẽ được triều đình phong quan tiến chức, điều này khiến cho lòng dân háo hức.

Nhà vua định lệ cứ bảy năm khoa thi được mở một lần, kì thi tiếp theo sẽ được mở ngay vào năm sau (năm 1247).

Vì những kì thi trước đó các thí sinh thi đỗ chỉ được gọi chung là Thái học sinh chứ không được phân chia thứ bậc rõ ràng nên lần này vua Trần Thái Tông đã lập ra Tam khôi (gồm có Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) nhằm để vinh danh ba người có kết quả cao nhất khoa thi và ban thưởng xứng đáng cho họ.

Kết quả khoa thi rất thành công, triều đình lấy được 48 người đỗ Thái học sinh, trong đó có ba người đỗ cao nhất là Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Bảng nhãn Lê Văn Hưu và Thám hoa Đặng Ma La.

Nguyễn Hiền chỉ mới 13 tuổi đã đỗ Trạng nguyên, trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử thi cử Việt Nam, vì là Trạng nguyên đầu tiên của nhà Trần nên được gọi là Khai quốc Trạng nguyên.

Vua Trần Thái Tông nghe bảo Nguyễn Hiền chỉ mới 13 tuổi đã đỗ Trạng nguyên nên rất ngưỡng mộ tài năng của Nguyễn Hiền, nhà vua cho triệu Trạng vào hỏi:

- Nghe nói Trạng nguyên học hành chăm chỉ, lúc 11 tuổi đã nổi tiếng làu thông kinh sử và được mệnh danh là thần đồng, vậy Trạng nguyên học với ai?

Nguyễn Hiền đáp:

- Tâu bệ hạ, thần không phải là người sinh ra đã biết hết nhưng tự học là chính.

Gia đình cho thần theo học với một nhà sư, khi nào có chữ không biết thì thần mới hỏi thầy chùa.

Vua Trần Thái Tông cho rằng Nguyễn Hiền tuổi trẻ tài cao nên đã có thái độ ngông nghênh tự mãn, nhà vua không bằng lòng:

- Trạng nguyên đúng là nhân tài hiếm gặp, nhưng hiện tại tuổi của Trạng nguyên chưa thể làm quan được, vậy nên khanh hãy về quê nhà để học thêm lễ nghĩa, sau này hãy quay lại kinh thành, trẫm sẽ phong quan tiến chức.

Biết nhà vua không thích mình, Nguyễn Hiền đành chấp nhận theo thánh chỉ của vua mà về lại quê nhà ở xã Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay).

Khi Nguyễn Hiền trở về quê, tuy đỗ Trạng nguyên nhưng chưa được phong quan hay mũ áo gì, Trạng về quê phụng dưỡng mẹ, tiếp tục tự học và vẫn đi chân đất ra đồng chơi đùa như bao đứa trẻ khác.

Theo ý của vua Trần Thái Tông cho rằng Nguyễn Hiền tuổi trẻ tài cao nên sinh ra tự cao tự đại, thái độ ngông nghênh, nhưng chính xác mà nói lúc Nguyễn Hiền trả lời với nhà vua như vậy đã là "khiêm tốn" lắm rồi.

Nguyễn Hiền có cha tên là Nguyễn Bá Luân đã mất sớm, mẹ tên là Nguyễn Nhụ Nhân.

Nhà Nguyễn Hiền rất nghèo nên cậu không có tiền đi học, kinh tế gia đình càng khó khăn hơn khi cha cậu mất sớm.

Nguyễn Hiền phải phụng dưỡng mẹ và đi cày ruộng, chăn trâu để có tiền trang trải cuộc sống.

Thực chất là Nguyễn Hiền không theo học thầy nào cả.

Nhà của Nguyễn Hiền gần chùa Cảnh Tiên nên Trạng thi thoảng ra chùa chơi, gặp sư thầy mở lớp dạy học cho con nhà quyền quý trong vùng nên thừa dịp học lỏm.

Không có tiền mua giấy nên Trạng phải viết chữ ra lá chuối để học, ngày ngày Nguyễn Hiền kiên trì chăm chỉ, tự học mà thành tài.

Một thời gian sau, khi đang chăn trâu ngoài đồng cùng chúng bạn, Nguyễn Hiền và các bạn khéo léo nặn ra được một con voi bằng đất rất đẹp.

Lúc này trong đám trẻ có đứa bảo:

- Giá mà con voi này biết đi thì sẽ tuyệt hơn nữa.

Nguyễn Hiền thấy làm hay, ngẫm nghĩ một hồi rồi nhờ các bạn chia nhau đi tìm bắt giúp bốn con cua, hai con bướm còn sống, một con giun đất và một con đĩa đem về.

Nguyễn Hiền và các bạn đã dùng những thứ này để làm voi đất biết đi.

Dùng bốn con cua gắn vào chân voi để voi đi được, hai con bướm dùng làm tai voi để tai voi ve vẩy được, con giun đất làm đuôi, còn con đĩa để làm vòi.

Lũ trẻ làm xong voi đất biết đi thì vô cùng phấn khích.

Lúc này quan sứ nhà Trần phụng lệnh nhà vua đi tìm Nguyễn Hiền vô tình đi ngang qua đây, bắt gặp thấy bọn trẻ làm được con voi đất biết đi rất độc đáo, người trưởng thành còn chưa chắc nghĩ ra được vậy nên đứa trẻ làm ra được con voi đất biết đi này chắc chắn không phải là đứa trẻ bình thường.

Trạng nguyên cũng vừa trạc tuổi lũ trẻ ở đây nên quan sứ đoán Trạng nguyên chắc chắn là trong số đám trẻ này.

Nhưng sứ không biết mặt Trạng nên ra vế đố để thử tài, xem Trạng Hiền là ai:

- Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con, con ai con ấy?

Nguyễn Hiền nghe thấy nhanh chóng đáp lại:

- Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này!

Biết chắc người đáp câu đối vừa rồi là Nguyễn Hiền, quan sứ mừng lắm, tỏ vẻ trang trọng nói với Nguyễn Hiền:

- Đây chắc là Khai quốc Trạng nguyên.

Tôi đi tìm ngài mãi.

Nguyễn Hiền hờ hững đáp sứ giả:

- Ta đây đâu phải là Trạng nguyên nữa.

Quan sứ kể:

- Bẩm Trạng, vừa rồi có sứ thần Mông Cổ sang thăm nước ta, hắn đã đưa ra thử thách cho triều đình, thách đố triều đình hãy dùng sợi chỉ xâu qua con ốc, nhưng triều đình không ai làm được.

Vậy nên bệ hạ sai tôi đến đây để hỏi ý ngài.

Nguyễn Hiền chẳng thèm nói gì, quay sang bọn trẻ con tiếp tục vui đùa.

Thấy quan sứ đứng chờ đã xót ruột, trạng bèn xúi các bạn hát:

"Tích tịch tình tang

Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng

Bên thì lấy giấy mà bưng

Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang".

Quan sứ nghe vậy đã biết đây là câu trả lời triều đình cần, vội vàng từ biệt trạng, tức tốc quay về Thăng Long.

Bạn bè thấy Nguyễn Hiền buồn nên an ủi:

- Cần gì chức quan cao sang, ở làng ta là vui nhất.

Nguyễn Hiền buồn bã nói:

- Không giấu gì các bạn, tôi tuy ở quê nhà nhưng lòng vẫn luôn hướng về triều đình, mong là một ngày không xa sẽ được đứng ra giúp nước.

Không lâu sau, Đại Việt bị đế quốc Mông Cổ dòm ngó tính bề xâm chiếm.

Mông Cổ sai sứ đem thư sang triều đình Đại Việt thách đố lần nữa, trong thư chỉ có bốn câu chữ Hán:

"Lưỡng nhật bình đầu nhật,

Tứ sơn điên đảo sơn.

Nhị vương tranh nhất quốc,

Tứ khẩu tung hoành gian."

Bá quan triều đình không ai giải được câu đố lạ lẫm này, ngay cả những vị lão thành trong Quốc học viện cũng phải bó tay.

Nếu Đại Việt không giải ra thơ đố thì sẽ nhục cho quốc thể.

Vua Trần hết sức lo nghĩ, đành phải tiếp tục cầu cứu Nguyễn Hiền, nhà vua lệnh cho viên quan sứ lập tức phóng ngựa nước đại đến quê của Trạng đón Trạng về Thăng Long.

Nguyễn Hiền đang chơi đùa cùng các bạn thấy quan sứ đến thì liền bỏ về, sứ vội vàng đuổi theo rồi đưa thánh chỉ của nhà vua ra nói:

- Bẩm trạng nguyên, hoàng thượng và triều đình đang có chuyện cấp bách muốn nhờ ngài, xin Trạng nguyên đừng để bụng chuyện cũ mà hãy theo tôi về Thăng Long.

Nguyễn Hiền trả lời ngay:

- Ta không về!

Quan sứ nói:

- Trạng nguyên, triều đình đang rất cần ngài mà ngài lại dửng dưng ở đây, dám chống lại thánh chỉ vua ban ư?

Ngay cả hoàng thượng cũng đã xuống nước với ngài, ngài thật là không biết lễ nghĩa.

Nguyễn Hiền liền bảo:

- Ta đỗ đến Trạng nguyên mà ngươi lại bảo là ta không biết lễ nghĩa ư?

Chính nhà vua mới không biết lễ.

Rước ta mà không theo lễ rước của Trạng nguyên thì ta không về triều.

Quan sứ giải bày:

- Vì công việc gấp rút nên nhà vua đã bỏ quên điều này, xin Trạng thông cảm, đợi khi giải xong câu đố thì làm lễ rước Trạng cũng không muộn.

Nguyễn Hiền đáp:

- Vậy thì ta không về.

Quan sứ nói tiếp:

- Nơi này cách xa kinh thành phải hơn trăm dặm, nếu bây giờ tôi quay về Thăng Long gọi quân lính mang theo cờ quạt võng lọng đến đây rước ngài trở về triều thì chắc chắn phải mất hai ngày đường.

Nguyễn Hiền đáp:

- Nếu vậy thì triều đình chỉ cần nói với sứ thần Mông Cổ là Đại Việt không có ai giải được câu đố, vậy là xong.

Sứ giả hết cách đành phải quay về bẩm báo lại với vua Trần Thái Tông, nhà vua chiều theo ý của Nguyễn Hiền, sai quân lính mang theo cờ quạt võng lọng đến quê Nguyễn Hiền rước Trạng về kinh thành theo đúng lễ rước Trạng nguyên.

Lúc này Nguyễn Hiền mới chịu về Thăng Long.

Gặp được Trạng, vua mừng lắm, thấy Nguyễn Hiền mặc bộ đồ chăn trâu xốc xếch, lấm lem nên vua hối thúc Trạng nhanh nhanh thay y phục Trạng nguyên rồi vào triều bái kiến cho phải phép.

Nhưng Nguyễn Hiền một mực không chịu thay quan phục, vua Trần Thái Tông hết cách, đành cho gọi cậu vào triều bái kiến và gặp sứ giả với bộ đồ chăn trâu lấm lem.

Nhà vua đưa bài thơ đố cho Nguyễn Hiền.

Nguyễn Hiền nhìn vào trả lời ngay:

- Đây là chữ "điền". 田

Nhà vua lấy làm kinh ngạc khi tận mắt chứng kiến trí tuệ và bản lĩnh của Nguyễn Hiền, chỉ là một cậu nhóc 13 tuổi nhưng vừa nhìn vào đã tự tin nói ngay kết quả câu đố trong khi cả triều đình đều bó tay.

Nguyễn Hiền giải thích:

Lưỡng nhật bình đầu nhật, tức là hai mặt trời đầu bằng nhau, vậy nghĩa là có hai chữ "nhật". 日

Tứ sơn điên đảo sơn, tức là bốn hòn núi nghiêng ngả, vậy là trong này có bốn chữ "sơn". 山

Nhị vương tranh nhất quốc, là hai vua tranh một nước, có hai chữ "vương". 王

Tứ khẩu tung hoành gian, tức là bốn miệng ngang dọc trong khoảng đó, trong này có bốn chữ "khẩu". 口

Vậy ta có hai chữ nhật, bốn chữ sơn, hai chữ vương và bốn chữ khẩu, gộp các chữ này lại sẽ ra chữ "điền". 田

Nguyễn Hiền giải thích xong rồi quay sang hỏi sứ thần Mông Cổ bằng tiếng Tàu:

- Tôi đoán vậy có đúng không?

Sứ thần Mông Cổ kinh ngạc không tin vào mắt mình, một cậu nhóc 13 tuổi lại có thể giải được câu đố hóc búa.

Sứ thần hỏi:

- Này cậu nhóc, sao cậu có thể giải được câu đố này?

Nguyễn Hiền nhân cơ hội này lừa sứ giả:

- Câu đố này bình thường thôi, một đứa trẻ chăn trâu như tôi còn biết.

Vì tôi nghe nói ngài mang câu đố sang Đại Việt thách đố, nên tôi muốn thử sức giải đố, xem mình đã chăm chỉ học hành được tới đâu.

Nhà vua biết được ý nguyện của tôi nên cho tôi vào đây thử tài.

Sứ giả Mông Cổ nhìn kĩ Nguyễn Hiền, nghĩ thấy đúng thật chỉ là một cậu nhóc chăn trâu bình thường, quần áo lượm thượm, đi chân đất, mặt mũi lấm lem nên y tin sái cổ.

Lúc này vua Trần Thái Tông mới hiểu được dụng ý của Nguyễn Hiền.

Thế là Khai quốc Trạng nguyên Nguyễn Hiền đã cứu nguy cho thể diện quốc gia, nhà vua sau này rất yêu mến Nguyễn Hiền, giao cho ông nhiều trọng trách và phong cho ông làm Thượng thư Bộ công (tương đương với chức Bộ trưởng ngày nay).

Tài năng của Nguyễn Hiền trong thiên hạ thật khó ai sánh bằng, chỉ tiếc rằng vị Trạng nguyên ấy qua đời quá sớm khi mới vừa 21 tuổi.

Vua Trần Thái Tông thương tiếc truy phong ông là Đại vương Thành hoàng, cho xây dựng đình thờ Nguyễn Hiền ở 32 nơi.

Ngoài ra nhà vua còn cho đổi tên huyện Thượng Hiền thành Thượng Nguyên để kiêng tên húy của Nguyễn Hiền nhằm tỏ lòng tôn kính một thần đồng yểu mệnh.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 6: Thời niên thiếu của Trần Quốc Tuấn


Trần Quốc Tuấn đang đi dạo ở ngoài thành thì nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp bị đám người giang hồ trêu ghẹo giữa đường, nhìn bọn chúng rất hung tợn nên chẳng ai muốn dây dưa vào, như vậy là giữa thanh thiên bạch nhật nhưng không ai dám đến bênh vực cho cô thiếu nữ ấy.

Quốc Tuấn bất bình quát bọn chúng:

- Bọn trai tráng các ngươi đi trêu ghẹo cô gái này không biết nhục mặt nam nhân sao?

Bọn giang hồ ngang tàng:

- Không phải việc của ngươi, mau xéo đi, muốn ăn đòn hả?

Quốc Tuấn tiến đến dẫn cô thiếu nữ đi ra chỗ khác.

Đám giang hồ sượng mặt, lao vào tấn công chàng.

Tiếc cho chúng vì đã gây chuyện không đúng người, Quốc Tuấn võ công cao cường chỉ cần một đánh là hạ được một tên, bọn giang hồ bị đánh nằm la liệt giữa phố rồi hổ thẹn bỏ đi.

Dân chúng xung quanh chứng kiến cảnh này được dịp hả hê, sau đó họ nhanh chóng nhận ra chàng trai có dung mạo khôi ngô vừa mới hành hiệp trượng nghĩa này chính là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở phủ Thụy Bà công chúa.

Sở dĩ dân chúng dễ dàng nhận ra thân phận của Hưng Đạo vương là vì chàng thường xuyên nhiều lần ra tay nghĩa hiệp, giúp đỡ người dân trong kinh thành.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là con trai thứ tư của Yên Sinh vương Trần Liễu.

Chàng không theo cha về sống tại Thái ấp ở Ngũ Yên như các huynh đệ khác mà sống tại Thăng Long cùng cô ruột là Thụy Bà công chúa.

Lúc vua Trần Thái Tông cấp đất Ngũ Yên cho Trần Liễu thì Trần Quốc Tuấn chỉ mới 5 tuổi, Thụy Bà công chúa thương yêu Quốc Tuấn như con ruột, vì không nỡ để cho cháu còn nhỏ tuổi đã phải rời kinh thành đến nơi xa xôi nên bà xin vua cho Trần Quốc Tuấn được ở lại Thăng Long và nhận làm con nuôi.

Cũng nhờ có Quốc Tuấn sống chung hủ hỉ nên Thụy Bà cũng dần nguôi ngoai nỗi đau phu quân vừa mới qua đời.

Thời gian trôi qua Quốc Tuấn năm nay đã trở thành một nam nhi tuấn tú, thân thể cường tráng, giỏi văn lẫn võ, thông minh hơn người và được nhiều người mến mộ, những lần hành hiệp trượng nghĩa của cậu nổi tiếng khắp kinh thành Thăng Long, bất kì một nữ nhân nào ở Thăng Long cũng đều thầm có ước nguyện được trở thành người nâng khăn sửa túi cho Quốc Tuấn.

Trong khi đó giai nhân của Trần Quốc Tuấn là Thiên Thành công chúa, em gái út của vua Trần Thái Tông.

Quốc Tuấn và Thiên Thành đã thân thiết với nhau từ khi còn nhỏ, dần dần, đến khi lớn lên họ đã trao cho nhau tình cảm sâu đậm, quấn quít nhau không rời rồi nói lời yêu nhau, đôi trẻ yêu mến nồng nàn, trai tài gái sắc như một cặp trời sinh.

Thiên Thành công chúa rất được Trần Thái Tông yêu thương, cưng chiều.

Tuy ngày nào cũng bận bịu nhiều công vụ triều chính nhưng nhà vua không quên dành ra chút thời gian chăm sóc, quan tâm đến cô em gái út nhỏ tuổi.

Trong hoàng cung tù túng, ngột ngạt, biết Thiên Thành thích ra ngoài dạo chơi nên những lần Thái Tông đi giải quyết chính sự đều tranh thủ dẫn Thiên Thành đi theo.

Đặc biệt mỗi khi được cùng nhà vua đến duyệt binh tại Giảng Võ Đường thì trong lòng Thiên Thành lại vui mừng khôn xiết, vì nơi đó là nơi Trần Quốc Tuấn thao luyện binh sĩ.

Cũng do Quốc Tuấn không thể tự do thoải mái vào hoàng cung chơi đùa như khi còn nhỏ nên Thiên Thành luôn tìm cớ xin phép vua Trần Thái Tông sang phủ Thụy Bà để được gặp Quốc Tuấn.

Đôi tình nhân hạnh phúc không hề hay biết sóng gió sắp sửa ập đến với họ.

Năm 1251 Thiên Thành công chúa lúc bấy giờ 16 tuổi đã đến độ tuổi dựng vợ gả chồng nên vua Trần Thái Tông muốn tìm ý trung nhân cho em gái mình.

Quốc Tuấn dù rất yêu Thiên Thành nhưng chàng không dám thổ lộ tình cảm của mình cho nhà vua biết, vì Thiên Thành là nàng công chúa cao quý như ngọc, nâng trên tay sợ rớt, ngậm trong miệng sợ tan, Quốc Tuấn không dám trèo cao mà đứng ra hỏi cưới Thiên Thành.

Cuối cùng, vua xuống chiếu tuyên bố gả Thiên Thành công chúa cho Trung Thành vương, là con trai của Nhân Đạo vương, một vị vương gia trong họ Trần.

Vì Trần Thái Tông đã hứa gả Thiên Thành công chúa cho Trung Thành vương nên nhà vua cấm nàng không được sang phủ của Thụy Bà gặp Quốc Tuấn nữa, cớ sự này phá tan giấc mộng đôi lứa của hai người.

Vài ngày sau, nhà vua cho phép phủ Nhân Đạo vương trao sính lễ rồi đưa Thiên Thành về phủ trước, chỉ đợi đến ngày hôm sau là ngày rằm tháng hai sẽ làm lễ kết tóc, chính thức gả cho Trung Thành vương.

Thiên Thành hay tin, lòng nặng trĩu, ngậm ngùi tuân theo ý chỉ của Thái Tông, nàng dọn đến phủ Nhân Đạo vương ở vào tối ngày hôm đó.

Trần Thái Tông nhân hỉ sự của công chúa cho mở hội tiệc linh đình suốt bảy ngày bảy đêm ở kinh thành Thăng Long, cho bày các tranh về lễ kết tóc và những vật quý giá của triều đình để người trong thiên hạ được dịp chiêm ngưỡng, mở nhiều trò chơi náo nhiệt trong và ngoài cung để từ triều đình đến nhân gian cùng được tham dự chung vui .

Trong khi cả kinh thành đang tưng bừng với lễ hội thì ở hai vương phủ có hai trái tim cô đơn nghĩ về nhau.

Lòng Quốc Tuấn đau như cắt khi hay tin Thiên Thành đã được đưa đến phủ Nhân Đạo vương thành thân với con trai ngài ấy là Trung Thành vương, chỉ nghĩ đến việc sáng mai thôi là người con gái mình yêu thương sẽ trở thành vợ người khác khiến Trần Quốc Tuấn tâm tư đau nhói, chàng trằn trọc suốt đêm.

Vậy rồi Trần Quốc Tuấn đưa ra một quyết định táo bạo để bảo vệ tình yêu của mình, đó là đột nhập vào phủ Nhân Đạo vương để cướp công chúa Thiên Thành về.

Nghĩ là làm, trong đêm tối nhân lúc cả kinh thành đang say mê với lễ hội, Trần Quốc Tuấn leo tường đột nhập vào phủ Nhân Đạo vương, vượt qua đám lính canh rồi đi tìm phòng của công chúa.

Nhờ ánh sáng của đèn dầu trong phòng hắt ra, cuối cùng Quốc Tuấn cũng tìm được phòng của Thiên Thành.

Trái tim đau khổ của công chúa như muốn chết dần chết mòn thì lại được sống dậy lần nữa khi nàng thấy người thương xuất hiện.

Trong khi cả phủ Nhân Đạo vương vẫn chưa có ai hay biết, mọi người trong phủ đều đang say sưa với hội tiệc thì trong phòng công chúa, đôi trẻ đã gặp được nhau.

Vậy nhưng thoáng chốc Thiên Thành lại lo lắng nhiều hơn:

- Sao chàng lại đến đây?

Nhân lúc này chưa ai phát hiện chàng hãy mau về đi, nếu để họ biết được chàng vào đây thì họ sẽ không tha cho chàng đâu!

Vả lại nếu chàng không bị phát hiện thì ngày mai thiếp cũng sẽ trở thành vợ người khác.

Chàng đến đây đâu có ích gì, lại chuốc tội khi quân phạm thượng.

Mọi chuyện sẽ rất tệ vì cả hai có thể mất mạng nếu xử lí không khéo.

May là sau đó đôi uyên ương đã tìm được giải pháp trong hoàn cảnh hiểm nghèo, lúc này chỉ có Thụy Bà công chúa mới có thể cứu được họ.

Biết không thể đưa Thiên Thành trốn khỏi phủ Nhân Đạo vương an toàn, vả lại nếu cướp công chúa về thì sẽ lớn chuyện, có thể gây ra một thảm án đẫm máu, vậy là Quốc Tuấn đã bày mưu đi trước một bước, xúi thị nữ của Thiên Thành lén đi báo tin cho Thụy Bà để Thụy Bà tìm cách ứng cứu, còn hai người thì trốn yên trong phòng đợi người đến đưa họ ra khỏi phủ an toàn.

Thụy Bà nghe tin báo, lấy thân phận cao quý là chị gái của hoàng đế Thái Tông gấp rút vào cung diện kiến thánh thượng, than khóc với nhà vua:

- Thần không ngờ Quốc Tuấn to gan đang đêm dám lẻn vào chỗ của Thiên Thành.

Nhân Đạo vương đã bắt giữ hắn rồi, e là hắn sẽ bị giết mất.

Xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu.

Trần Thái Tông nghe tin bàng hoàng, vua đã nhận đủ lễ vật của Trung Thành vương và công chúa cũng đã được đưa đến phủ Nhân Đạo vương, mọi việc xong xuôi, ván đã đóng thuyền, chỉ chờ sáng mai là chính thức kết tóc se duyên cho công chúa, sao có thể để Quốc Tuấn to gan làm những chuyện vô pháp vô thiên đến như vậy.

Thụy Bà tiếp tục kiên trì van xin nhà vua.

Trần Thái Tông thương em gái, lại nghĩ đến cốt nhục của Yên Sinh vương nên cũng sốt ruột, vua sai nội thị cấp tốc đến phủ Nhân Đạo vương áp giải người về hoàng cung.

Vậy là đám nội thị xông vào tư dinh của Nhân Đạo vương đòi người, bấy giờ Nhân Đạo vương và mọi người trong phủ mới phát giác được cớ sự.

Nhân Đạo vương biết chuyện rất tức giận định trị tội Quốc Tuấn nhưng nội thị ngăn lại:

- Xin vương gia đao hạ lưu nhân, Hưng Đạo vương tư thông với công chúa đã phạm đại tội khi quân, Bệ hạ phái ti chức đến đây để áp giải Hưng Đạo vương và công chúa về cung để trị tội.

Nhân Đạo vương đồng ý giao người để nội thị áp giải Quốc Tuấn và công chúa về cung, đám nội thị mang tiếng là áp giải nhưng thực chất là hộ tống công chúa và Trần Quốc Tuấn rời khỏi phủ Nhân Đạo vương an toàn.

Chuyện đã rồi, mọi người đều biết nên Quốc Tuấn lúc này đành nói ra hết lòng mình, đôi trẻ cũng bày tỏ ước nguyện đôi lứa cho nhà vua biết.

Nhà vua bất đắc dĩ đồng ý gả Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn để cả hai được nên duyên vợ chồng.

Sáng hôm sau Thụy Bà đem 10 mâm vàng sống dâng lên vua Thái Tông làm lễ vật để đường đường chính chính hỏi cưới công chúa Thiên Thành cho Hưng Đạo vương, Thụy Bà năn nỉ nhà vua:

- Vì quá vội vàng nên không sắm được lễ vật, xin bệ hạ nhận cho.

Trần Thái Tông đáp:

- Chuyện cũng đã lỡ rồi, cứng nhắc với lệnh chỉ thêm tai tiếng, tốt nhất là tác thành cho chúng.

Còn về phía Trung Thành vương, nhà vua cắt 2000 mảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để đền lại lễ vật và tạ lỗi với cha con Nhân Đạo vương.

Mọi việc xong xuôi, Thụy Bà công chúa tạ lỗi với Thái Tông:

- Cớ sự này là do thần không biết dạy dỗ Quốc Tuấn, xin bệ hạ trị tội.

Thái Tông đáp:

- Hoàng tỷ không nên nghĩ ngợi nhiều, cũng là do trẫm đã không hiểu tâm tư của Thiên Thành nên mới xảy ra chuyện này.

Thụy Bà công chúa tiếp tục:

- Còn một việc nữa.

Thái Tông:

- Hoàng tỷ cứ nói.

Thụy Bà thú nhận:

- Ngày trước thần có nói với bệ hạ rằng Nhân Đạo vương đã bắt Quốc Tuấn, tội của thần là đã gạt bệ hạ.

Thái Tông cười:

- Không sao, trẫm không hề để bụng chuyện này.

Nhà vua nói tiếp:

- Không giấu hoàng tỷ, lúc hay tin Quốc Tuấn lẻn vào phủ Nhân Đạo vương tư thông với công chúa thì trẫm rất muốn trị tội hắn.

Nhờ có hoàng tỷ khuyên nhủ trẫm thì trẫm mới cho người đi cứu hắn.

Thật may mắn là Nhân Đạo vương đã không trị tội Quốc Tuấn, nếu Quốc Tuấn thật sự gặp chuyện, e là trẫm không thể ăn nói với Yên Sinh vương, an nguy lúc đó sẽ rất khó lường.

Bây giờ chắc là huynh ấy vẫn còn rất hận trẫm.

Cũng trong năm đó Yên Sinh vương Trần Liễu đột nhiên lâm bệnh nặng.

Quốc Tuấn đang ở Thái ấp Vạn Kiếp (nay là Hải Dương) nghe tin báo vội đến Ngũ Yên (Quảng Ninh ngày nay) thăm cha.

Trong những ngày cuối cùng tuy sức khỏe Trần Liễu đã yếu nhưng ông vẫn cố gắng gượng dậy, dẫn Quốc Tuấn đi duyệt binh.

Đến nơi, Trần Liễu hỏi Quốc Tuấn nhìn thấy quân đội của ông ta có nhận xét như thế nào.

Quốc Tuấn đáp:

- Thưa phụ thân, quân lính của phụ thân uy dũng chỉnh tề, theo hài nhi nghĩ họ đều là những dũng tướng năng chinh thiện chiến.

Trần Liễu hỏi:

- So với quân Thánh Dực của triều đình thì thế nào?

Quốc Tuấn khéo léo đáp:

- Thưa phụ thân, quân lính của phụ thân tuy dũng mãnh thiện chiến nhưng quân Thánh Dực cũng không tệ.

Trần Liễu gọi Trần Tử Đức lên rồi nói với Quốc Tuấn:

- Con có luyện võ đều đặn không?

Hãy đấu với người này cho cha xem.

Quốc Tuấn nghe theo, Trần Liễu nói tiếp:

- Con phải cẩn thận, không được coi thường Tử Đức, hắn chính là đại tướng giỏi nhất của cha.

Thế rồi hai người giao chiến với nhau gần cả trăm hiệp nhưng vẫn không phân thắng bại.

Trần Liễu thấy làm vậy rất hài lòng, tấm tắc khen ngợi, Liễu ngồi xem họ đánh nhau mỏi cả mắt nhưng cả hai người vẫn chưa mỏi tay, cuối cùng Trần Liễu cho dừng trận đấu.

Trần Tử Đức thấy Quốc Tuấn có võ công cao cường bèn ca ngợi:

- Nghe danh thiếu chủ đã lâu nhưng hôm nay mới được thỉnh giáo, Tử Đức khâm phục.

Quốc Tuấn khiêm tốn:

- Tử Đức quá lời, là nhờ các hạ đã nương tay.

Vậy rồi họ tạm biệt nhau tại đó.

Đến lúc ngồi trên xe ngựa đi về phủ, Trần Liễu mới hỏi Quốc Tuấn:

- Theo con thì võ công của Trần Tử Đức thế nào?

Quốc Tuấn đáp:

- Hài nhi nghĩ trong thiên hạ võ công của huynh ấy được xem là có rất ít đối thủ.

Trần Liễu hỏi:

- Con có muốn biết xuất thân của Tử Đức và các tướng sĩ ở đây không?

Quốc Tuấn thấy lạ bèn hỏi:

- Có gì đặc biệt sao?

Trần Liễu nói:

- Cha mẹ của Trần Tử Đức là Trần Hiến và Lê Thị Đạt, ngày xưa từng là thuộc hạ tâm phúc của cha.

Năm đó cha lệnh cho hai người họ dẫn quân tấn công vào thành Thăng Long nhưng thất bại, ngoại trừ cha được tha mạng sống sót, tất cả thuộc hạ dưới trướng đều bị sát hại.

Khi bị đày đến Ngũ Yên, cha đã đi tìm con cái của các thuộc hạ cũ về đây để thay họ chăm sóc nuôi dưỡng chúng khôn lớn, xem như là tạ lỗi với cha mẹ chúng.

Trong số này, Trần Tử Đức là đứa có tư chất phi thường nhất, có khiếu võ thuật và binh pháp từ nhỏ.

Hắn còn có một người em gái tên là Trần Ý Ninh, tuy phận nữ nhi nhưng rất mạnh mẽ, giỏi đao kiếm.

Bọn chúng đều là những tướng tài.

Trần Liễu nói tiếp:

- Quân lính của Ngũ Yên phần lớn là con cái của thuộc hạ cha ngày trước.

Cha đem chúng về nuôi dưỡng, cất công đi khắp nơi tìm các cao thủ võ lâm trong thiên hạ về đây dạy võ cho chúng, đào tạo chúng trở thành những chiến binh thực thụ.

Thế nên quân Ngũ Yên rất tinh nhuệ.

Theo ta nghĩ quân triều đình không có cửa.

Trần Liễu lại gọi Quốc Tuấn:

- Quốc Tuấn!

Mỗi binh lính Ngũ Yên đều có mối thâm thù với triều đình, tất cả bọn chúng đều có nguyện vọng muốn báo thù cho cha mẹ của mình.

Con phải ghi nhớ điều này, khi cha mất đội quân này sẽ phò tá cho con.

Sau đó Trần Liễu cầm tay Quốc Tuấn trăn trối:

- Cùng là họ Trần, mang huyết thống hoàng gia nhưng chúng ta mới là trưởng tộc, tài năng của con giỏi hơn hắn rất nhiều.

Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ, nếu không cha nằm dưới đất cũng không sao nhắm mắt được.

Quốc Tuấn thương cha mình, biết cha vẫn không quên thù cũ nên vâng lời cho qua chuyện.

Ngày hôm sau Trần Liễu qua đời, hưởng dương 40 tuổi.

Trần Liễu sau khi mất được vua Trần Thái Tông truy phong tước hiệu Khâm Minh Từ Thiện Đại vương.

Bàn về quân đội Ngũ Yên của Trần Liễu.

Vấn đề ở đây là liệu quân Ngũ Yên có thật sự tồn tại hay không?

Ta xét hai trường hợp.

1.

Có.

Vì Trần Liễu là Vương, được cấp điền trang riêng ở Ngũ Yên.

Theo quy chế thời Trần, hoàng gia có quyền chiêu mộ binh lính, xây dựng quân đội riêng.

Vì bị Thái Tông cướp vợ nên Trần Liễu căm hận, khi đến Ngũ Yên vẫn còn ý định trả thù, cướp ngôi, nên y đã chuẩn bị lực lượng chăng?

Điều khiến cho các nhà nghiên cứu băn khoăn là do năm xưa Trần Liễu đã tạo phản, vậy liệu Trần Thái Tông có cho Trần Liễu lập quân đội riêng như những vương hầu quý tộc khác hay không?

2.

Không.

Do Trần Liễu là người mang trọng tội, may mắn được vua tha mạng, nên chắc chắn những hành động của y phải có sự theo dõi sát sao của triều đình.

Gọi là "cấp cho đất Ngũ Yên" nhưng thực chất là đày Trần Liễu ra xa kinh thành.

Khó có thể chứng minh được sự tồn tại của quân Ngũ Yên là có thật hay không, vì cổ sử chính thống Việt Nam không đề cập đến, nhưng ta vẫn có cơ sở để tin rằng có "quân Ngũ Yên".

Còn việc sau khi các tướng sĩ của Trần Liễu bị triều đình sát hại thì liệu rằng Liễu có đem con cái của họ về Ngũ Yên nuôi dạy từ nhỏ hay không?

Có thể.

Theo GS.

Trần Đại Sĩ thì Trần Hiến là người đem quân tấn công phủ Thái sư Trần Thủ Độ theo lệnh Trần Liễu.

Nhưng rồi thất bại, Trần Liễu đầu hàng quân triều đình, sau đó toàn bộ binh lính của Liễu đều bị sát hại trong đó có vợ chồng Trần Hiến - Lê Thị Đạt.

Con của hai người đó là Trần Tử Đức và Trần Ý Ninh được Trần Liễu đem về nuôi dạy từ nhỏ.

Sau này, Trần Ý Ninh thành thân với hoàng tử Trần Nhật Duy, sinh ra Trần Quốc Toản.

Như vậy, có thể suy luận rằng: vì thương cho các tướng sĩ của mình bị giết nên Trần Liễu đã đem con cái của họ về nuôi.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 7: Đế quốc Mông Cổ


Vị trí của Mông Cổ nằm ở vùng cao nguyên Trung Á rộng lớn.

Ngày xa xưa Mông Cổ bị đế quốc Hung Nô cai trị, đầu thế kỉ XIII sau khi trải qua nhiều biến cố, vùng đất Mông Cổ không còn bị các quốc gia lớn mạnh ở gần bên cai trị nữa.

Đất nước Mông Cổ bấy giờ vẫn chưa thống nhất mà được chia thành nhiều bộ tộc, người đứng đầu các bộ tộc gọi là tộc trưởng.

Đây là thời kì hỗn loạn của người Mông Cổ, đã có hàng chục bộ tộc xuất hiện nhưng chỉ sau vài ngày hoặc vài tháng lại biến mất như sao buổi sớm.

Các bộ tộc lớn mạnh nhất ở vùng cao nguyên này là Mông Cổ (Mongol), Nãi Man (Naiman), Miệt Nhi Khất (Merkit), Duy Ngô Nhĩ (Uyghur), Đảng Hạng (Tangut), Tháp Tháp Nhi (Tatar), Khắc Liệt (Kerait) luôn tìm cách thôn tính lẫn nhau, làm cho Mông Cổ rơi vào tình cảnh chiến tranh loạn lạc.

Kĩ năng quân sự của các bộ tộc ngày càng tiến bộ, mỗi một người dân du mục ở thảo nguyên Mông Cổ đều là một chiến binh cừ khôi, có sở trường cưỡi ngựa bắn tên bách phát bách trúng nhờ sự rèn luyện khắc nghiệt và tinh thần chiến binh.

Tuy nhiên việc các bộ tộc bị chia rẽ sâu sắc, đất nước chia năm xẻ bảy khiến cho người Mông Cổ dù có tinh nhuệ thiện chiến vẫn bị nước Kim và Tây Hạ ở phía Nam đe dọa, lăm le muốn chiếm.

Đến năm 1206 Thiết Mộc Chân của tộc người Mông Cổ hoàn thành thống nhất các bộ tộc, những bộ tộc và liên minh hùng mạnh khác trước đó hoặc đã đầu hàng, hoặc là bị Thiết Mộc Chân và đội quân Mông Cổ của ông tiêu diệt.

Hội nghị Kurultai sau đó do các thủ lĩnh đứng đầu tộc Mông Cổ đã chọn Thiết Mộc Chân trở thành Đại Hãn vương Mông Cổ, thành lập ra nhà nước Đại Mông Cổ Quốc.

Thiết Mộc Chân tự xưng là Thành Cát Tư Hãn, trở thành chúa tể duy nhất thống trị toàn cõi cao nguyên này.

Ngoài đại tài quân sự, dưới trướng của Thành Cát Tư Hãn còn có những thuộc hạ tâm phúc và tài giỏi phò tá cho ông, trong đó nổi bật nhất là bốn võ tướng hộ giá cho Thành Cát Tư Hãn, được mệnh danh "tứ mãnh khuyển Mông Cổ" bao gồm: Bác Nhĩ Truật, Gia Luật Mễ, Mộc Hoa Lê và đặc biệt là Tốc Bất Đài, họ là những người có trái tim được làm bằng thép, không biết sợ hãi trước cái chết, chỉ luôn một lòng chiến đấu vì chủ tướng của mình, bốn mãnh tướng đó sau này đã góp công lớn giúp Thành Cát Tư Hãn chinh phục thế giới.

Sau khi lên ngôi Đại Hãn, Thành Cát Tư Hãn chú tâm tăng cường sức mạnh quân sự trước sự đe dọa của nước Kim và Tây Hạ từ bên ngoài.

Đến lúc quân đội Mông Cổ lớn mạnh, Thành Cát Tư Hãn lần lượt phát động chiến tranh với Tây Hạ và Kim.

Năm 1209 Tây Hạ chấp nhận trở thành nước chư hầu của Mông Cổ.

Năm 1213 kỵ binh Mông Cổ vượt Vạn Lý Trường Thành tấn công nước Kim, lãnh thổ phía bắc nước Kim bị sáp nhập vào Mông Cổ.

Đến năm 1215 Thành Cát Tư Hãn dẫn quân đánh thẳng vào kinh đô nước Kim ở Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc), nước Kim không đầu hàng mà chạy về Khai Phong.

Sau chiến dịch xâm lược nước Kim, Thành Cát Tư Hãn bắt đầu thực hiện kế hoạch bành trướng khắp thế giới.

Sau khi Tây Liêu bị tiêu diệt, Đại Mông Cổ Quốc bấy giờ đã tiến sát biên giới đế quốc Khwarezm, Thành Cát Tư Hãn muốn thương mại hàng hóa và xây dựng mối quan hệ đồng minh với đế quốc Khwarezm chứ không có ý định tấn công đế quốc này, một phần vì Mông Cổ thực sự cần kết giao đồng minh với một đế quốc mạnh mẽ vào thời điểm đó, một phần vì Mông Cổ đang bận giao tranh với nước Kim ở miền Đông Bắc Trung Quốc.

Để tỏ lòng thành, vị Đại Hãn phái một đoàn lạc đà gồm 500 người hồi giáo đến Khwarezm để thiết lập mối quan hệ chính thức, thế nhưng Khwarezm nghi ngờ thành ý của vị Đại Hãn và cho bắt giam đoàn lạc đà.

Việc Khwarezm nghi ngờ Mông Cổ phái gián điệp đến là điều bình thường, Thành Cát Tư Hãn hiểu ý nên phái thêm ba sứ giả (hai người Mông Cổ và một người hồi giáo) đến Khwarezm cầu hòa và đề nghị thả người, vua Khwarezm là Shah ra lệnh chém đầu tên sứ giả theo đạo hồi và cạo đầu hai sứ giả người Mông Cổ rồi đuổi về.

Đoàn lạc đà 500 người cũng bị xử tử, đây được xem là sự sỉ nhục nặng nề đối với Thành Cát Tư Hãn.

Dẫn đến chuyện đại quân Mông Cổ vượt dãy Thiên Sơn tấn công Khwarezm.

Chỉ trong vòng hai năm, đế quốc Khwarezm sụp đổ trước sức tấn công kinh hoàng của người Mông Cổ, vua Shah trốn thoát nhưng không lâu sau cũng qua đời vì quá sốc.

Đội quân Mông Cổ đã trả thù cho đoàn lạc đà một cách không thể tàn bạo hơn.

Đặc biệt là trong chiến dịch Khorasan, con rễ của Thành Cát Tư Hãn là Thoát Hốt Sát Nhi trúng tên tử trận, tướng Mông Cổ là Đà Lôi sau khi hạ được thành này đã lệnh cho quân tàn sát tất cả sinh vật sống trong thành kể cả chó mèo cũng không tha.

Cuộc hành quyết do vợ của Thoát Hốt Sát Nhi làm chủ trì cuộc giết chóc, trả thù cho chồng.

Sau khi lật đổ đế quốc Khwarezm và thôn tính Tây Liêu, lãnh thổ đế quốc Mông Cổ đã bao phủ toàn bộ vùng Trung Á.

Nước Kim đã chạy về phía Nam, Tây Hạ đã trở thành nước chư hầu nên không còn khả năng đe dọa đến biên giới Mông Cổ như trước nữa, Thành Cát Tư Hãn quyết định dưỡng binh một thời gian rồi tấn công sang Nam Á và châu Âu.

Trong hội nghị Kurultai, vị Đại Hãn lên kế hoạch chia quân làm hai hướng tấn công phía tây, một hướng do đích thân y làm chủ soái dẫn quân tấn công vào Afghanistan và bắc Ấn Độ, hướng quân còn lại do Tốc Bất Đài làm chủ soái, Bạt Đô làm phó soái tấn công Armenia và Azerbaijan, sau đó phá hủy Gruzia và cộng hòa Genova, tiến sát Biển Đen.

Hai cánh quân của Thành Cát Tư Hãn và Tốc Bất Đài đã đánh bại mọi đội quân mà họ gặp trên đường chinh phục vùng đất mới, đến năm 1225 hai cánh quân này gặp lại nhau ở Mông Cổ.

Trên đường trở về Mông Cổ, cánh quân của Tốc Bất Đài bị 8 vạn binh Rus Kiev (hiện nay bao gồm Nga, Ukraine, Belarus) chặn lại, Tốc Bất Đài cho sứ giả đến nghị hòa nhưng các sứ giả của ông phái đi đều bị xử trảm, nổi giận vì bị từ chối thành ý, Tốc Bất Đài ra lệnh tấn công Rus Kiev.

Quân đội Rus Kiev tuy đông nhưng kém phối hợp bởi sự thiếu đoàn kết của các vương công nên nhanh chóng thất bại.

Các vương công Rus Kiev không còn cách nào khác đành phải chấp nhận lời nghị hòa của Mông Cổ mà thực chất là Rus Kiev đã thất bại hoàn toàn và đầu hàng Mông Cổ.

Rus Kiev bại trận nhưng các vương công không bị tước đi quyền lực của họ, đổi lại Rus Kiev phải chịu thần phục và cống nạp cho Thành Cát Tư Hãn đều đặn.

Để phô trương thanh thế, Tốc Bất Đài đã cho đặt ván trên đầu các vương công để mở tiệc ăn mừng, trong đó có sáu vương công bị đè đến chết.

Thành Cát Tư Hãn là người rất tham vọng, tuy Rus Kiev đã chịu thần phục Mông Cổ, y lúc này đang bận giao tranh với nước Kim và Tây Hạ nhưng đã ngầm cho người do thám Rus Kiev để sau này dễ bề thôn tính hoàn toàn.

Đến khi Thành Cát Tư Hãn qua đời được hai năm thì Bạt Đô dẫn quân tấn công Rus Kiev, đế quốc Mông Cổ hoàn toàn chinh phục được vương quốc này vào năm 1240.

Trong chiến dịch tấn công đế quốc Khwarezm, nước chư hầu của Mông Cổ là Tây Hạ từ chối tham chiến, Thành Cát Tư Hãn thề nhất định sẽ trừng phạt họ.

Tây Hạ biết họ không thể tự mình chống lại Mông Cổ nên đã thành lập liên minh với nước Kim.

Thành Cát Tư Hãn bấy giờ nhận được tin tình báo liền chuẩn bị lực lượng tiêu diệt liên minh này.

Năm 1226 Thành Cát Tư Hãn xuất binh đánh Tây Hạ vì sự phản bội của nước này, Mông Cổ lần lượt chiếm phủ Tây Lương rồi vượt sông Hoàng Hà đang đóng băng, đánh thẳng vào kinh đô Tây Hạ ở Trung Hưng phủ, vua của Tây Hạ bấy giờ là Hạ Mạt Đế hẹn ngày nộp thành đầu hàng để tránh họa đồ sát.

Trước hạn nộp thành một ngày, Thành Cát Tư Hãn đột ngột qua đời không rõ nguyên nhân.

Người Mông Cổ cho rằng Tây Hạ đã đầu độc vị Đại Hãn của họ, quân Mông Cổ sau đó xông vào kinh thành điên cuồng chém giết, vua Hạ Mạt Đế và cả hoàng tộc Tây Hạ từng người một ngã xuống, bá tánh thường cũng chịu chung số phận không còn ai trong thành sống sót, cung thất và lăng viên đều bị đốt cháy, cảnh tượng dã man vô cùng.

Trước khi qua đời, Thành Cát Tư Hãn đã kịp phác thảo kế hoạch cho Đà Lôi đánh bại nước Kim:

- Trước mượn Nam Tống để diệt Kim, sau đó quay lại diệt Tống.

Không những thế, Thành Cát Tư Hãn còn chỉ cụ thể con đường xuất quân và việc thực hiện phương án tác chiến cho con cháu của mình như sau:

- Quân tinh nhuệ của Kim ở Đồng Quan, phía nam chiếm cứ Liên Sơn, phía bắc bị hạn chế bởi sông lớn, như thế khó đánh thắng nhanh.

Nhưng Tống và Kim có thù truyền kiếp, giả liên Tống thì đánh Kim sẽ dễ.

Bởi lúc này, nếu ta liên thủ với Tống thì Kim sẽ tỏ ra nóng vội, khi chiến tranh nổ ra thì nước Kim sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp tế, người ngựa mệt mỏi, ta sẽ đánh thắng.

Trong cuộc đời chinh chiến Thành Cát Tư Hãn đã trực tiếp tham gia 32 trận đánh lớn và 65 trận đánh nhỏ, ông và quân đội Mông Cổ đã thực hiện nhiều cuộc tàn sát đẫm máu.

Không chỉ tận diệt quân đội của đối thủ, Thành Cát Tư Hãn sẵn sàng tàn sát toàn bộ người dân trong một thành phố bao gồm cả phụ nữ và trẻ em nếu thành phố đó dám kháng cự lại quân đội của ông.

Tiếng hung bạo đã được loan truyền khắp châu Âu, kỵ binh Mông Cổ khét tiếng đến mức người ta than rằng: "Cỏ không mọc được dưới vó ngựa Hung Nô".

Theo ước tính của nhiều sử liệu ghi lại, Thành Cát Tư Hãn và đội quân của ông đã tàn sát hơn 40 triệu người ở những nơi mà họ xâm chiếm, ở các khu vực bị đế quốc Mông Cổ tấn công như Trung Á, Trung Đông và Đông Âu, người ta xem Thành Cát Tư Hãn như là hiện thân của sự tàn bạo.

Con thứ ba của Thành Cát Tư Hãn là Oa Khoát Đài được chỉ định trở thành người nối ngôi Đại Hãn.

Oa Khoát Đài làm theo di nguyện của cha, thành lập liên minh với nước Tống để cùng lật đổ triều Kim ở phía bắc Trung Quốc.

Năm 1234, nước Kim bị Mông Cổ và Nam Tống hội quân tiêu diệt.

Giống như Thành Cát Tư Hãn, Oa Khoát Đài Hãn vẫn tiếp tục thực hiện tham vọng bành trướng thế giới, việc đầu tiên ông làm là thiết lập sự kiểm soát vĩnh cửu đối với Khwarezm và chinh phục hoàn toàn Rus Kiev, sau đó là ép Cao Ly trở thành nước chư hầu.

Danh tướng Tốc Bất Đài sau đó đề xuất kế hoạch tấn công sâu vào lòng châu Âu, mục tiêu đầu tiên của Tốc Bất Đài là Hungary và Ba Lan.

Kế hoạch này được Oa Khoát Đài Hãn ủng hộ, vị Đại Hãn ra lệnh xâm chiếm toàn bộ châu Âu, tiến đến vùng Biển Lớn (Đại Tây Dương).

Rất nhanh, kỵ binh Mông Cổ do Tốc Bất Đài và Bạt Đô chỉ huy đã tiêu diệt hoàn toàn quân đội của hai quốc gia Hungary và Ba Lan chỉ vỏn vẹn trong vòng hai ngày.

Các quốc vương khác của châu Âu nghe tin này đều run sợ trước sức mạnh kinh khủng khó tin của đế quốc Mông Cổ.

Khắp Đông Âu hiện nay đã trở thành bình địa dưới vó ngựa Mông Cổ, thừa thắng xông lên, cuối năm 1241 Tốc Bất Đài cho quân tiến sát đến thành Vien (Áo) vào Tây Âu, chuẩn bị thôn tính các vương quốc nhỏ ở đây và đợi lệnh tấn công vào đế quốc La Mã.

Tuy nhiên Oa Khoát Đài Hãn đột ngột lâm bệnh băng hà, các tướng lĩnh Mông Cổ đang ở chiến trường châu Âu buộc lòng phải gấp rút quay về Mông Cổ để kịp tham dự hội nghị Kurultai chứng kiến Đại Hãn mới lên ngôi.

Vậy là kế hoạch tấn công Tây Âu bị hoãn vô thời hạn, cái chết của Hãn Oa Khoát Đài đã cứu nguy cho cả một nửa châu Âu và hàng triệu sinh mạng.

Con trai Oa Khoát Đài là Quý Do lên ngôi Đại Hãn, vị Đại Hãn mới lên ngôi đã mời Tốc Bất Đài chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Nam Tống năm 1246.

Ban đầu Mông Cổ và Nam Tống là đồng minh của nhau vì cả hai đều có chung một kẻ thù là nước Kim.

Tuy nhiên liên minh này đã tan rã vào năm 1234, trong khi quân Tống và Mông Cổ cùng hội quân tấn công nước Kim thì người Tống lại nhân cơ hội chiếm lấy Trường An và Khai Phong từ tay Mông Cổ.

Mông Cổ cử sứ giả đi đòi lại Trường An và Khai Phong thì bị người Tống giết.

Đại Hãn Mông Cổ lúc đó là Oa Khoát Đài tức giận chấm dứt liên minh với nhà Tống, tự mình dẫn quân đi đánh Nam Tống.

Rất nhanh quân Tống đã bị đánh lui về sông Trường Giang.

Lúc này quân Tống tuy đã suy yếu nhưng lực lượng vẫn còn khá đông, vả lại triều đình nhà Tống còn có sông Trường Giang rộng lớn bảo vệ, muốn tiêu diệt hoàn toàn nước Tống phải vượt qua sông Trường Giang, quân Mông Cổ chỉ giỏi đánh dã chiến trên đồng bằng chứ không thông thạo thủy chiến, vậy nên Oa Khoát Đài chỉ đánh chiếm được một phần Nam Tống đã tạm thời đình chiến, chờ cơ hội khác.

Ở giai đoạn sau đó, đội quân Mông Cổ chỉ tập trung xâm chiếm châu Âu cho đến khi Oa Khoát Đài băng hà, phải đến năm 1246 vị Đại Hãn thứ ba là Quý Do mới lên kế hoạch tái chiếm Nam Tống.

Tốc Bất Đài lãnh quân tấn công Nam Tống trong cùng năm 1246, chiến sự hai bên đang căng thẳng thì Quý Do Hãn bất ngờ băng hà vào năm 1248.

Tốc Bất Đài và quân đội của mình lại một lần nữa phải đình chiến với Nam Tống trở về Mông Cổ dự hội nghị Kurultai.

Vì lúc này Tốc Bất Đài đã 72 tuổi nên ông xin được trở về quê nhà sống phần đời còn lại.

Trước khi cáo lão hồi hương, Tốc Bất Đài có đề cử con trai của mình là Ngột Lương Hợp Thai và cháu trai là A Truật tiếp tục tham gia chiến dịch tiêu diệt Nam Tống, thay thế y phò tá cho vị Đại Hãn thứ tư của Mông Cổ là Mông Kha.

Quý Do Hãn qua đời, hội đồng Kurultai quyết định trao quyền Đại Hãn cho Mông Kha, hắn là con trai trưởng của vương tử Đà Lôi và là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn.

Sau khi lên ngôi Hãn, Mông Kha tiếp tục triển khai kế hoạch tiêu diệt nước Tống, y muốn giáp công nước Tống từ ba mặt: bắc, tây, nam.

Năm 1253, Mông Kha phái Ngột Lương Hợp Thai tiến quân xâm lược Đại Lý để mở đường tấn công vào phía tây nước Tống.

Thành Đại Lý nhanh chóng thất thủ trước sức mạnh của quân Mông Cổ, quốc vương Đại Lý là Đoàn Hưng Trí bị bắt sống, tin nước Đại Lý diệt vong làm chấn động triều đình Đại Việt.

Đại Lý là vương quốc tiếp giáp với lãnh thổ Đại Việt ở phía Tây Bắc, sau khi nước này bị Mông Cổ thâu tóm thì tức là lãnh thổ Đại Việt đã tiếp giáp với đế quốc Mông Cổ.

Tình hình khẩn cấp, chủ trại Quy Hóa là Hà Khuất chạy trạm cấp báo cho Thăng Long việc sứ giả Mông Cổ sắp sang và ý đồ xâm chiếm Đại Việt của Mông Cổ.

Khâm Thiên Đại Vương Trần Nhật Hiệu nghe tin Đại Lý thất thủ vô cùng lo lắng, viết thư gửi cho Thái Tông, hiến kế lập liên minh với Nam Tống chống lại Mông Cổ:

" Năm xưa Đoàn Thị cậy có võ công cái thế mà lấy được thiên hạ, thống trị Đại Lý.

Đã qua hơn 200 năm, tinh hoa võ công của Đoàn Thị Đại Lý cao thâm không biết đâu mà lường, hội tụ rồi truyền lại cho con cháu, hoàng gia Đại Lý nổi danh khắp trung nguyên, tung hoành khắp thiên hạ, nhân tài ngày xưa có Đoàn Chính Thuần, Đoàn Dự, Đoàn Trí Hưng, thiên hạ không ai không biết, đến nay hậu duệ của họ không hề tầm thường.

Đại Lý là một võ quốc hùng mạnh, chuyên đi chiến đấu.

Thế mà quân Mông Cổ chỉ mất chưa đầy một năm đã biến Đại Lý thành bình địa.

Thiên hạ mênh mông như Nam Tống mà không thể cản nổi tham vọng của Mông Cổ đủ thấy sức mạnh của chúng rất đáng sợ.

Hiện tại, Ngột Lương Hợp Thai vẫn còn cho đóng quân ở Đại Lý để chuẩn bị tấn công Nam Tống.

Nhưng theo thần nghĩ, mục tiêu tiếp theo của chúng sẽ là Đại Việt.

Nhiều khả năng Ngột Lương Hợp Thai sẽ tấn công Đại Việt trước rồi sau đó mới đánh vào sau lưng triều đình Tống Cao Tông để phối hợp với đại quân Mông Kha ở phía bắc nhằm tạo thế gọng kìm.

Xin bệ hạ hãy có sự chuẩn bị.

Nhớ năm xưa, Lưu Bị yếu thế hơn Tào Tháo nên phái Gia Cát Lượng đến gặp Tôn Quyền đề nghị kết thành liên minh để cùng nhau chống Tào, quân Tào hùng mạnh khiến cho Tôn Quyền giống như đang ngồi trên đống lửa, đồng ý kết liên minh với Lưu Bị ngay.

Ở trận Xích Bích, liên minh Tôn Lưu chỉ vỏn vẹn 5 vạn quân đã đánh cho 20 vạn quân của Tào Tháo thảm bại.

Đến khi Lưu Bị mạnh lên thì Tôn Quyền lại liên minh với Tào Tháo, hai mặt trước sau cùng nhau giáp công khiến Quan Công bại trận, mất luôn Kinh Châu.

Gương của Xích Bích và Kinh Châu vẫn còn đó, thần khẩn xin bệ hạ hãy học theo Ngô Vương ngày xưa, lập liên minh với Nam Tống, cả hai nước cùng nhau chống Mông Cổ".

Trước đó triều đình cũng đã nắm được phần nào thông tin của đội quân Mông Cổ và tình hình chuyển biến ở phương bắc thông qua lời kể của các thương nhân và người ở vùng biên giới Tống - Việt báo lại.

Tuy nhiên chỉ từ khi Đại Lý bị Mông Cổ thôn tính thì mối đe dọa mới thực sự rõ ràng.

Trần Thái Tông bấy giờ không có động thái liên minh với Nam Tống, nhưng đã hạ lệnh xuống các tướng ngày đêm tập trung thao lược quân sĩ, chỉnh đốn quân ngũ, tăng cường canh phòng biên giới, sẵn sàng chiến đấu bất kì lúc nào.

Vua Trần Thái Tông ban bố chính sách "ngụ binh ư nông".

Khi trong nước có cảnh chiến tranh thì triều đình cứ theo hộ khẩu gọi tất cả trai tráng vào lính.

Vào thời bình, họ được trở về quê làm ruộng.

Nhờ đó, việc tuyển quân rất nhanh chóng nhưng rất kỹ lưỡng, triều đình chỉ chọn những trai tráng khỏe mạnh.

Ngoài ra nhà vua còn cho phép các vương tông quý tộc quyền tự tuyển mộ binh lính và xây dựng quân đội cho riêng mình để tăng cường sức mạnh quân sự, đội quân này được gọi là đội quân gia nô.

Số quân gia nô cộng thêm quân triều đình tạo thành một lực lượng vô cùng hùng hậu, có thời điểm quân đội nhà Trần lên đến 20 vạn quân.

Các tướng lĩnh chỉ huy đều là những chiến tướng tinh thông võ nghệ, giàu kinh nghiệm thực chiến, tất cả bọn họ đều bắt buộc phải tập luyện và học tập chiến thuật ở Giảng Võ Đường.

Giảng Võ Đường được thành lập từ năm 1253, là lò dạy võ và nghệ thuật quân sự của triều đình.

Tại đây các tướng lĩnh học hỏi binh pháp và tập dàn quân đánh trận.

Nếu tập trận nhỏ thì bố trí trận ở hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm), nếu tập trận lớn thì dàn quân ở Đông Bộ Đầu trên sông Cái (sông Hồng).

Về vũ khí, quân nhà Trần còn có máy ném đá, hỏa khí bắn lửa bằng ống đồng và đặc biệt là tượng binh.

Tất cả đều đã sẵn sàng, triều đình, nhân dân Đại Việt và quân sĩ đều ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chủ động chờ giặc đến.

Đến năm 1257 Mông Kha làm lễ xuất binh, chia đại quân thành bốn cánh tấn công Nam Tống theo ba hướng tây, nam, bắc như y đã dự tính từ trước.

Mông Kha dẫn cánh quân thứ nhất, Hốt Tất Liệt dẫn cánh quân thứ hai, Tháp Sát Nhi dẫn cánh quân thứ ba và Ngột Lương Hợp Thai dẫn cánh quân thứ tư, bốn cánh quân rầm rộ lên đường.

Nhận lệnh của Đại Hãn Mông Kha, viên tướng Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân tấn công Đại Việt trước rồi mới tấn công nước Tống theo hướng nam.

Trần Thái Tông được tin cấp báo Ngột Lương Hợp Thai đã cho quân tiến sát đến biên giới, nhà vua tỏ ra buồn rầu vì không biết nên cử ai đi thương nghị với giặc, than rằng:

- Nếu Nguyễn Hiền có ở đây thì trẫm đã không phải lo lắng như vậy.

Nguyễn Quan Quang bước ra tâu:

- Hạ thần hổ thẹn không thể đem ra so bì với thượng thư được nhưng cũng muốn đến gặp tướng giặc thương nghị, xin bệ hạ chuẩn tấu.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 8: Thánh nhân lộ diện


Vua Trần Thái Tông nhìn Nguyễn Quan Quang thầm nghĩ:

- Nếu như năm xưa ta lập Tam khôi sớm hơn thì Quan Quang mới là Trạng nguyên Khai quốc chứ không phải Trạng Hiền.

Trần Thái Tông sau đó xuống chiếu sai Nguyễn Quan Quang làm sứ giả đến gặp Ngột Lương Hợp Thai.

Người Mông Cổ trước giờ rất xem trọng sứ giả nên khi tướng giặc nghe tin báo có sứ giả Đại Việt đến thăm, y đã đích thân ra đón tiếp Nguyễn Quan Quang.

Trên đường đi, nhân lúc đi qua ao bèo, Ngột Lương Hợp Thai vớt một cây bèo lên rồi nắm gọn trong tay bóp chặt, cây bèo nát vụn trong lòng bàn tay của hắn.

Tên tướng giặc sau đó lại chìa lòng bàn tay ra cho Nguyễn Quan Quang xem rồi cười lớn.

Hành động bóp nát cánh bèo của hắn chính là chê dân nước Việt bé nhỏ như những cánh bèo non, chỉ cần hắn hạ lệnh xuất quân là dễ dàng tiêu diệt, cũng giống như cánh bèo nát vụn kia.

Quan Quang hiểu được thâm ý của Ngột Lương Hợp Thai, ông chỉ mỉm cười rồi đưa cho Ngột Lương Hợp Thai một viên đá, nhờ hắn ném mạnh viên đá xuống ao bèo.

Viên đá rơi xuống ao làm cho bèo dạt ra, tạo thành một khoảng trống, nhưng sau đó những cánh bèo lại tụ kín mặt ao rất nhanh, không còn thấy dấu vết của viên đá to đâu nữa.

Ý nghĩa của điều này là nước Việt tuy nhỏ nhưng toàn dân bao giờ cũng đoàn kết để bảo vệ giang sơn, không một sức mạnh nào có thể khuất phục được tinh thần yêu nước và đoàn kết ấy.

Ngột Lương Hợp Thai sau đó lấy làm khâm phục tài ứng đối của Nguyễn Quan Quang, hắn cho mở tiệc tiếp đãi chu đáo.

Về đến Thăng Long Nguyễn Quan Quang đem mọi chuyện ở doanh trại quân Mông Cổ tâu lại với vua Trần Thái Tông, nhận thấy tình hình vô cùng căng thẳng, rõ ràng là không thể thương nghị được nữa, thời điểm hai bên quyết chiến chỉ còn là chuyện sớm muộn.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lúc này nổi lên như là ứng viên sáng giá nhất cho binh phù Tiết chế, năng lực và uy tín của Quốc Tuấn được các võ tướng triều đình đánh giá rất cao, thậm chí được coi là người đa mưu túc trí nhất trong hàng quan võ của hoàng gia lúc bấy giờ.

Trong quá trình nhà vua chọn người nắm binh quyền Tiết chế, Trần Quốc Tuấn được các tướng quân, trong đó có cả Lê Tần đi theo ủng hộ, họ mong vua Trần Thái Tông sẽ chọn Trần Quốc Tuấn làm Tiết chếvà đưa ra kế sách phá giặc.

Bản thân Thái Tông rất muốn tin dùng Trần Quốc Tuấn vì nhà vua biết rõ bản lĩnh của Hưng Đạo vương.

Hưng Đạo vương đã sớm thể hiện được tố chất thiên tài ngay từ khi còn nhỏ, học một biết mười, có năng khiếu cả về văn chương lẫn võ nghệ, 7 tuổi đã biết làm thơ, lớn hơn nữa thì cưỡi ngựa bắn cung đều giỏi.

Không chỉ giỏi văn chương và võ nghệ, Trần Quốc Tuấn còn rất chăm chú nghiên cứu các binh pháp của người xưa, đặc biệt thích xem binh pháp Tôn Tử và nghiên cứu những trận đánh nổi tiếng của những nhân vật được sử sách lưu truyền như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, sau đó rút ra cái hay, cái dở và tự phô diễn trận đồ rất linh hoạt.

Cha của Trần Quốc Tuấn là Yên Sinh vương Trần Liễu rất hi vọng vào tài năng của đứa con trai này về sau có thể thay ông đoạt ngôi vua của Trần Thái Tông để trả thù.

Trần Liễu thấy con sáng dạ đã không tiếc tiền bạc công sức tìm mời thầy giáo có tiếng ở khắp nơi về dạy cho Quốc Tuấn.

Nhờ được học cả văn lẫn võ với những bậc cao nhân trên khắp cả nước từ lúc nhỏ nên Quốc Tuấn đã sớm trở thành người đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ.

Còn một việc nữa, đối đầu với đế quốc Mông Cổ là chuyện không hề dễ dàng, vì vậy vua Trần Thái Tông mong muốn tận dụng tối đa sức mạnh của toàn dân tộc để chống giặc, nhà vua muốn kêu gọi thêm cả quân đội Ngũ Yên tham chiến.

Nhưng ngặt nỗi đội quân này không nghe theo lệnh triều đình mà chỉ nghe theo sự điều động của Trần Quốc Tuấn (nếu gọi là ngầm chống lại triều đình thì cũng không sai vì mối thù giết cha mẹ họ năm xưa).

Trần Thái Tông hiểu rằng nếu muốn điều động quân Ngũ Yên tham chiến thì chỉ có cách thông qua Trần Quốc Tuấn.

Thế nhưng một số hoàng thân nhà Trần mà đứng đầu là thái sư Trần Thủ Độ phản đối điều này, vì lo ngại Trần Quốc Tuấn nhân lúc loạn lạc mà tạo binh biến để cướp ngôi vua Trần Thái Tông.

Quân đội Ngũ Yên cũng không đáng tin, chỉ lo họ sẽ thừa cơ hội này trả thù cho cha mẹ.

Thật lòng mà nói, vua Trần Thái Tông vẫn lo ngại Quốc Tuấn và quân Ngũ Yên sẽ tạo phản.

Nhà vua đang lúc phân vân khó xử không biết phải làm sao cho đúng, chợt nghĩ đến Huệ Túc phu nhân, vua Trần Thái Tông ngay lập tức đến Phủ Huệ Túc nhờ bà hiến kế.

Về phần Huệ Túc phu nhân, câu chuyện bắt đầu như sau:

Quân Mông Cổ tiến đánh nước Tống (Trung Quốc), tháng giêng năm 1257 vị quan nước Tống tên là Hoàng Bính dẫn theo gia quyến gần 2000 người chạy sang Đại Việt xin được lập nghiệp, vì ông nhận thấy nhà Tống đã hết thời, giang sơn sớm muộn cũng rơi vào tay ngoại bang.

Còn ở đất Nam thì linh khí ngùn ngụt, là nơi có thể an thân.

Vua Trần Thái Tông sau đó đã đồng ý nhận lời cho gia quyến Hoàng Bính ở lại Đại Việt.

Để tỏ ý thần phục Đại Việt, Hoàng Bính đã xin cho con gái của mình là Hoàng Chu Linh làm thiếp của Trần Thái Tông.

Giống cha mình, Hoàng Chu Linh xem quẻ rất chính xác, về sau cô được rất nhiều người trong triều đình và hoàng tộc như vua Trần Thái Tông, Thái tử Trần Hoảng, Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duy ngưỡng mộ tài năng, bọn họ lúc nào cũng tấm tắc ca ngợi tài xem bói của Hoàng Chu Linh.

Khi mới đến Đại Việt, Hoàng Chu Linh đã thể hiện khả năng của mình trước mặt bá quan văn võ triều đình, nàng lần lượt xem quẻ cho nhiều người và quẻ bói của nàng là vô cùng chính xác.

Lúc đó vua Trần Thái Tông thấy Hoàng Chu Linh có bản lĩnh nên muốn thử tài, nhà vua bảo Trần Thủ Độ hãy giả dạng làm dân thường rồi vào điện Thiên An gặp nàng.

Nhà vua cho gọi hai cha con Hoàng Chu Linh đến, rồi chỉ vào Trần Thủ Độ bảo rằng:

- Hoàng cô nương, đây là lão Vũ Thủy vốn cùng quê với trẫm, vì lão có tài trồng hoa nên trẫm giao cho lão trông coi vườn thượng uyển.

Nhờ Hoàng cô nương xem lão còn sống được mấy năm nữa.

Lão Vũ Thủy (Trần Thủ Độ) cho biết mình sinh vào giờ Tỵ ngày mùng 6 tháng 6 tuổi Giáp Dần.

Sau khi bấm tay, Hoàng Chu Linh nói:

- À, lão tiên sinh đùa tiểu nữ đây, đến đấng chí tôn cũng thử tiểu nữ nữa.

Chu Linh tiếp lời:

- Cứ như tướng tiên sinh, dáng đi như diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu lân, tay vượn...thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người mà trên vạn vạn người.

Còn lá số tử vi, để tiểu nữ xem.

Chu Linh nói tiếp:

- Số với tướng đều giống nhau, nhưng nếu đúng tiên sinh là người làm vườn thì do tài tiểu nữ không tới.

Vua Trần Thái Tông thấy chuyện vui vui, ngài nói:

- Giả như số đó đúng là của lão Vũ Thủy, vậy cô nương thử đoán cho lão ít câu.

Hoàng Bính - cha của Hoàng Chu Linh từ nãy giờ im lặng lúc này mới lên tiếng nói với lão Vũ Thủy (Trần Thủ Độ):

- Thưa tiên sinh, giả như Linh nhi đoán đúng toàn bộ thân thế, sự nghiệp của tiên sinh, tiên sinh tính sao?

Lão Vũ Thủy (Thủ Độ) đáp:

- Thì tôi phải chiều cô ấy ba việc!

Hoàng Bính cũng cược:

- Còn nếu Linh Nhi đoán sai thì toàn gia chúng tôi xin trở về Tống.

Triều đình giật mình vì không ngờ Hoàng Bính dám cược lớn như vậy, Thái Tông định bảo Trần Thủ Độ bỏ cuộc nhưng Thái sư vẫn đánh cược tiếp.

Sau cùng Hoàng Chu Linh bói ra thân thế của Trần Thủ Độ:

- Cung quan của tiên sinh có liêm - trinh, thiên - tướng, thì tiên sinh là người có võ công cao thâm không biết đâu mà lường.

Danh tiếng bốn bể.

Nhưng tiểu nữ nói điều này xin tiên sinh đừng giận, tiếc rằng cung quan ngộ thiên - không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý.

Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ.

Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau tiên sinh còn bị dị nghị.

Nhưng dù ai dị nghị thì cũng chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh.

Còn đối với đất nước, quả thật tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.

Hoàng Chu Linh kết luận:

- Kể về uy quyền thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ.

Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ.

Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh thì tiên sinh chính là Thái sư Trần Thủ Độ.

Vua Trần Thái Tông cao hứng nói:

- Thái sư thua Hoàng cô nương rồi, ngài phải làm ba điều cho nàng ấy đi thôi.

Hoàng Chu Linh nói điều ước thứ nhất của mình là toàn gia được ở lại Đại Việt, hai điều còn lại sẽ nói sau.

Tháng 6/1257 Hoàng Chu Linh tiến cung, được gọi là Huệ Túc phu nhân.

Huệ Túc phu nhân là người rất thông hiểu thiên văn, tử vi, nên lần này nhà vua đến phủ Huệ Túc tìm bà hỏi về vận nước sắp tới.

Nhà vua hỏi Huệ Túc phu nhân:

- Quân Mông Cổ rất tinh nhuệ, không biết là trẫm nên hòa hay nên đánh.

Huệ Túc phu nhân đáp:

- Ngày trước cha thiếp sang Đại Việt đã từng nói nhà Tống đã hết thời, tử vi của nhiều quốc thích hoàng tộc nhà Tống rất xấu, lại chết cùng năm.

Nhìn về phương nam ánh sáng rất tỏ, linh khí của nước Nam đang ngùn ngụt, chắc phải có thánh nhân xuất hiện.

Cha thiếp vì vậy mới đem theo gia tộc đến đây núp bóng hoàng long.

Nay thiếp cũng đã xem vương số nhà Trần rất thịnh, nhìn thấy tướng mệnh của các thái tử, hoàng thân trong hoàng tộc đều rất tốt, nhiều người là anh hùng.

Theo thần thiếp thấy bệ hạ nên đánh.

Trần Thái Tông hỏi:

- Phu nhân thấy tướng mệnh của các thái tử rất tốt, vậy sự nghiệp của chúng như thế nào?

Huệ Túc phu nhân đáp:

- Nếu bệ hạ cho thiếp biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của họ, thiếp hợp với tử vi và tướng mệnh của họ thì có thể trả lời hết câu hỏi của bệ hạ.

Nhà vua lần lượt nói giờ, ngày, tháng, năm sinh của từng vị thái tử cho Huệ Túc phu nhân được biết.

Trước đây mỗi khi xem tử vi cho ai, Huệ Túc phu nhân chỉ cần bấm ngón tay là nói rõ được số mệnh, nhưng quẻ bói lần này liên quan đến vận mệnh giang sơn xã tắc nên bà rất cẩn thận cầm bút chấm lá số rất chi tiết cho từng người...

Huệ Túc xem xong tử vi cho các thái tử rồi nói:

- Thiếp xem tử vi cho các thái tử của bệ hạ thấy họ đều là những anh hùng xã tắc mai sau, sự nghiệp của Quang Khải, Nhật Duật mai này rực rỡ vô cùng.

Huệ Túc phu nhân nói về Thái tử Trần Hoảng:

- Mừng cho thái tử, năm xưa Thục chúa Lưu Bị nhờ có hai người em kết nghĩa là Quan Vũ, Trương Phi phò tá mà thành đại nghiệp.

Ngày nay thái tử có các em ruột nhất tâm nhất trí khuông phò, thực là trời đem ngôi vương ban cho thái tử.

Huệ Túc nói tiếp:

- Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo cho số mệnh của đệ tứ Trần Ích Tắc, thái tử là người thông minh nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi.

Trần Thái Tông nghe vậy có chút lo lắng cho Ích Tắc.

Một hồi sau nhà vua vào thẳng vấn đề chính, vờ hỏi Huệ Túc:

- Phu nhân mới mười sáu tuổi mà làu thông Bách gia, Chư tử, Cửu lương, Tam giáo, không biết có lời nào dạy cho quả nhân chăng?

Huệ Túc hiểu ý của Trần Thái Tông:

- Thiếp nghe Yên Sinh vương (Trần Liễu) trước khi quy tiên kể, dòng họ Đông A nhà ta trải qua ba đời, từ đời thứ tư mới phát đế vương.

Nhờ Linh Từ Quốc mẫu (Trần Thị Dung) mới lấy được thiên hạ.

Sau này Thái sư làm chuyện trái đạo, con không vì cha mà lấy thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.

- Thái sư đã làm chuyện không đúng, bệ hạ phải chuộc lại, Yên Sinh vương có phẫn hận khi lâm chung cũng không có gì là quá đáng.

Xưa kia Ngụy Võ Đế vì câu nói: "ta thà phụ người chứ không để người phụ ta" mà phải tốn không biết bao nhiêu sương máu cũng không thể khiến người đời chịu phục.

Thục chúa nhờ câu nói: "ta thà để người phụ ta chứ ta nhất quyết không phụ người" mà thu phục được Ngọa Long, Phượng Sồ, lấy được Tây Xuyên.

Nay bệ hạ lấy đó làm gương.

Xin bệ hạ hãy quên đi lời trăn trối của Yên Sinh vương mà trọng dụng các thế tử của người để chuộc lại lỗi lầm của Thái sư.

Thái Tông hỏi:

- Vậy nhờ phu nhân xem một quẻ cho Quốc Tuấn, khanh ấy sinh vào giờ Mùi, ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1232).

Huệ Túc phu nhân cũng lấy bút chấm lá số cẩn thận xem quẻ cho Trần Quốc Tuấn, bà kinh ngạc vì số tử vi của người này đúng là số thánh nhân, Huệ Túc đã từng xem tử vi cho rất nhiều người nhưng chưa có ai có số tử vi tốt như Quốc Tuấn, tử vi người này hoàn hảo đến khó tin, ngày xưa Hoàng Bính có nói nước Nam có thánh nhân giáng trần, ắt hẳn vị thánh nhân này là Trần Quốc Tuấn.

Bà tâu với Trần Thái Tông:

- Tuổi Nhâm Thìn thuộc mệnh thủy, cung mệnh lại nằm ở Hợi cũng là hành thủy, nơi lập mệnh là nơi chỗ đứng con người, cùng là hành thủy nên cuộc đời lúc nào cũng được thuận tiện, như vậy không bao giờ thất bại, cũng không bao giờ chết bất đắc kì tử.

Nếu trao binh quyền cho người này thì chỉ có thắng hoặc hòa chứ không bao giờ có bại.

Lời của Huệ Túc phu nhân khiến nhà vua thở dài nhẹ nhõm, trút bớt được gánh nặng.

Huệ Túc phu nhân nói tiếp:

- Tử vi, thất sát thủ mệnh được Hóa quyền, Văn khúc, Trường sinh phù tá thì đây là số của một bậc tể thần, làm nên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính.

Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân.

Như vậy thì bệ hạ còn trì nghi gì nữa mà không ban chỉ trao quyền Tiết chế cho vương, để vương kịp thời chuẩn bị phá giặc.

Thấy nhà vua vẫn còn bất an, Huệ Túc phu nhân nói tiếp điểm then chốt:

- Bệ hạ sợ trao binh quyền cho vương rồi vương cướp ngôi vua ư?

Nhất định không có.

Nếu như vương cướp ngôi thì muôn nghìn năm sau sử xanh còn chép vương là một gian thần tặc tử.

Trong khi số của vương là số đại anh hùng, đại thánh nhân thì nhất định không có việc vương cướp ngôi rồi.

Bàn về năm sinh của Hưng Đạo vương thì cổ sử chính thống Việt Nam không ghi chép ông sinh năm bao nhiêu.

Thông tin Hưng Đạo vương sinh năm 1232 được tác giả lấy từ tác phẩm Đông A Di Sự do Huệ Túc phu nhân, Tể tướng Đoàn Nhữ Hài và Tư đồ Trần Nguyên Đán (thời Trần) ghi chép.

Tác phẩm Đông A Di Sự đã được khai thác từ lâu nhưng các nhà sử học vẫn đang hoài nghi về độ đáng tin cậy của nó, nên hiện tại các nhà sử học chưa thể kết luận Hưng Đạo vương sinh năm nào.

Tuy vậy, ta vẫn có căn cứ để tin Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn sinh vào năm 1232.

Thứ nhất, tác phẩm Đông A Di Sự do Huệ Túc phu nhân, Đoàn Nhữ Hài và Trần Nguyên Đán ghi chép thì đã ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm sinh của Quốc Tuấn.

Tuy Đông A Di Sự có nhiều yếu tố truyền kỳ, hoang đường nhưng nếu đem so với các mốc thời gian trong lịch sử thì Quốc Tuấn sinh năm 1232 là hợp lý.

Ta xét hai trường hợp ghi đúng và ghi sai:

Ghi sai: Nếu Đông A Di Sự ghi sai ngày tháng năm sinh của Quốc Tuấn thì có lẽ là vì Huệ Túc muốn chọn cho Quốc Tuấn ngày giờ năm sinh đẹp, để ghi chép Quốc Tuấn là người có tướng số tốt, mục đích để làm tăng tính thuyết phục và tính ly kì cho tác phẩm của bà chăng?

Ghi đúng: Quốc Tuấn có công lớn với triều đình, sau này được vua ban tước Hưng Đạo đại vương, quyền hành trong triều chỉ đứng sau mỗi vua và thượng hoàng, vua Trần Anh Tông còn là cháu nội của Quốc Tuấn, nói tóm lại uy danh của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn rất lớn, liệu Huệ Túc có dám cố tình ghi sai sự thật?

Nếu cố tình ghi sai sự thật, sự việc bị phát giác thì đó là tội khi quân.

Vậy nên khả năng là Huệ Túc phu nhân đã ghi chép đúng ngày tháng năm sinh của Hưng Đạo đại vương.

Thứ hai, anh ruột của Trần Quốc Tuấn là Trần Tung.

Trần Tung sinh năm 1230, Trần Quốc Tuấn là em, sinh năm 1232 là hợp lý.

Vấn đề là liệu Trần Quốc Tuấn và Trần Tung có phải là một mẹ sinh ra?

Trần Liễu có hai người vợ là Trần Thị Nguyệt và công chúa Thuận Thiên (sau này là Thuận Thiên hoàng hậu).

Theo Trần triều thế phả hành trạng thì Thiên Đạo Quốc mẫu Trần Thị Nguyệt là mẹ ruột Trần Quốc Tuấn.

Trong khi sách Thượng sĩ hành trạng của vua Trần Nhân Tông có chép về thân thế Trần Tung là: "Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung là đệ nhất tử (con thứ nhất) của Khâm Minh Từ Thiện Vương (Trần Liễu)".

Vậy Trần Tung không phải là con trưởng của Trần Liễu.

Nếu Trần Tung không phải là con trưởng thì nghĩa là ông không phải do công chúa Thuận Thiên sinh ra, vì theo luật lệ của triều đình xưa, công chúa Thuận Thiên là người của hoàng gia nên được mặc định là hàng chính thất (vợ cả).

Vậy nên nếu Trần Tung do công chúa Thuận Thiên sinh ra thì ông phải được vua Trần Nhân Tông ghi là trưởng tử (con trưởng) chứ không phải là "đệ nhất tử".

Vậy nên ta có căn cứ để tin rằng Trần Tung và Trần Quốc Tuấn là anh em ruột do một mẹ sinh ra (bà Trần Thị Nguyệt), Trần Tung sinh năm 1230 là anh, Quốc Tuấn sinh năm 1232 là em.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 9: Hưng Đạo vương nhận binh phù Tiết chế


Vào buổi thiết triều tháng 8 năm 1257 (âm lịch), thái sư Trần Thủ Độ hiến kế cho vua Trần Thái Tông nên dàn quân ở những vị trí hiểm yếu, chủ động phòng bị trước đợi quân Mông Cổ đến đánh, sau đó cho gọt tóc tên sứ giả Mông Cổ rồi đuổi hắn về, để hạ nhục Mông Cổ, khiêu khích Ngột Lương Hợp Thai tiến quân.

Thái sư nói:

- Phàm khi ra quân mà tướng cáu giận dễ đưa ra quyết định sai lầm dẫn đến thất bại.

Trần Quốc Tuấn nghe vậy can ngăn:

- Tâu bệ hạ, thưa thái sư, kế sách này là đang đánh cược cho may rủi, chúng ta không thể mạo hiểm đánh bừa nước cờ như vậy được.

Quân Mông Cổ rất thiện chiến, Kim, Tây Hạ và cả Tống cũng bị chúng đánh thua tan tác.

Nếu như quân giặc không mắc sai lầm thì chúng ta phải làm sao?

Trần Khánh Dư tán thành:

- Không phải mạt tướng sợ bọn Mông Cổ, nhưng hai bên giao tranh không nên tổn hại sứ giả.

Mông Cổ lúc trước đã đón tiếp sứ giả của chúng ta rất chu đáo, ta không nên làm như vậy.

Vua Trần Thái Tông lắng nghe chi tiết ý kiến của triều thần về cuộc chiến sắp tới, nhà vua muốn cử một người làm Tiết chế quân mã để thống lĩnh toàn quân đánh giặc.

Vua nhìn mọi người một lượt rồi nói:

- Suốt mấy ngày qua, trẫm đã suy tính kĩ lưỡng.

Lại xét số tử vi, khấn các vị đại tiên phù hộ.

Nay trẫm quyết định!

Gần hai trăm người đứng chầu trên điện ai nấy cũng đều hồi hộp không một tiếng động.

Nhà vua bước đến trao kiếm cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn rồi tuyên bố:

- Kể từ lúc này, Hưng Đạo vương là Tiết chế toàn bộ binh mã Đại Việt.

Lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới phía bắc theo sự tiết chế của Quốc Tuấn.

Khi mang thanh kiếm này thì vương là trẫm.

Mọi mệnh lệnh vương ban ra đều là lệnh của trẫm.

Các võ tướng nhẹ nhõm, trong lòng hân hoan.

Nhưng một số hoàng thân cau mặt không hài lòng, trong đó có thái sư Trần Thủ Độ, tuy nhiên thái sư chỉ im lặng không nói gì.

Chuyện là vào trước buổi thiết triều một ngày, Huệ Túc phu nhân đã đề nghị Trần Thủ Độ phải thực hiện lời hứa thứ hai với bà, lời hứa thứ hai chính là khi nhà vua tuyên bố ai giữ chức tiết chế thì thái sư không được cản trở.

Huệ Túc phu nhân thừa dịp Trần Thủ Độ vào cung bái kiến vua Trần Thái Tông bèn cung kính trao một tờ "hoa tiên" cho quan thái sư:

- Tiểu nữ mới làm một bài thơ mừng tuổi thượng phụ, rất mong thượng phụ thu nhận.

Trần Thủ Độ nhận "hoa tiên", đợi đến lúc rời khỏi hoàng thành mới mở ra đọc, trong đó viết:

- Trước thượng phụ thua cuộc, có hứa làm giúp tiểu nữ ba việc.

Việc thứ nhất là cho gia quyến của tiểu nữ kiều ngụ ở Đại Việt.

Bây giờ tiểu nữ xin yêu cầu điều thứ nhì, mong thượng phụ thực hiện.

Đó là mai này hoàng thượng chỉ định ai lĩnh chức tiết chế thống quốc binh sự, xin thái sư đừng cản trở.

Trần Thủ Độ suy nghĩ kĩ, xét thấy Huệ Túc phu nhân là bậc kì tài, bói toán như thần, đến những uẩn khúc cá nhân cuộc đời của ông mà Huệ Túc còn biết rõ, như nắm trong lòng bàn tay.

Thế nên những điều Huệ Túc làm chắc chắn là bà đã suy xét rất kĩ lưỡng.

Thái sư yên tâm tin tưởng Huệ Túc phu nhân sẽ không nhầm lẫn nên đồng ý với vua Trần Thái Tông để cho Trần Quốc Tuấn nắm giữ quyền Tiết chế thống quốc binh sự, nếu Trần Quốc Tuấn dám thực hiện di chúc của cha mình thì Trần Thủ Độ vẫn có sự chuẩn bị.

Quan thái sư tán thành để Trần Quốc Tuấn làm tổng chỉ huy quân đội Đại Việt với hai điều kiện: quân Ngũ Yên phải tham gia chiến đấu cùng với quân triều đình và Trần Quốc Tuấn không được trực tiếp chỉ huy bất cứ đội quân nào trên chiến trường để đề phòng ông thừa cơ tạo binh biến.

Vậy là Trần Quốc Tuấn đã nhận binh quyền Tiết chế tổng chỉ huy quân đội Đại Việt khi mới 25 tuổi.

Sáng hôm sau trong buổi nghị triều ở điện Uy Viễn, vị tiết chế đứng trước mặt vua, các đại thần lão luyện và bá quan văn võ rành rẽ nêu lên quan điểm và kế sách phá giặc của mình:

- Phàm ra quân phải dựa vào ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Về nhân hòa chúng ta đã có, cả nước đang rất quyết tâm, chờ ngày phá giặc.

Về địa lợi, ưu điểm của quân Mông Cổ là kỵ binh xung trận phá thành.

Chính vì vậy chúng ta không nên thủ thành hay dàn quân đợi bọn chúng đến mà đánh, làm như vậy chắc chắn quân ta sẽ chuốc lấy thất bại.

Việc chúng ta cần làm chính là khai thác điểm yếu của kỵ binh Mông Cổ.

Kỵ binh Mông Cổ chỉ giỏi đánh ở thảo nguyên, đồng bằng, còn địa hình của Đại Việt chủ yếu là rừng núi sông ngòi, chúng ta dựa vào địa thế này để phòng thủ sẽ làm cho kỵ binh Mông Cổ mất đi tính cơ động, khi kỵ binh Mông Cổ không thể tự do tung hoành chiến đấu như ở thảo nguyên vì bị địa hình ngăn chặn, tốc độ tiến quân của chúng cũng sẽ chậm đi, quân ta sẽ có nhiều cơ hội tập kích bọn chúng.

Quân ta nên tập trung chiến thuật đánh du kích để giặc rơi vào thế bị động.

Các tướng quân ai nấy đều gật đầu đồng ý với quan điểm của Quốc Tuấn, ngài nói tiếp:

- Yếu tố còn lại là thiên thời, hiện tại chưa phải là thời cơ phá giặc.

Nếu bây giờ Mông Cổ xuất quân, hai bên khai chiến ngay trong khoảng tháng 9 đến tháng Chạp, ta sẽ thua.

Quân Mông Cổ dũng mãnh đã đành, khí hậu Đại Việt bây giờ là mùa lạnh sẽ có lợi cho bọn chúng.

Chúng ta nên tìm cách trì hoãn cuộc chiến, phải đợi đến tháng Giêng, trời vào mùa khô nóng bức, quân Mông Cổ ở xứ lạnh không thích nghi được với cái nóng của nước ta chắc chắn sẽ rối loạn, đây mới là cơ hội để chúng ta phá giặc.

Vua Trần Thái Tông hỏi:

- Theo khanh chúng ta có thể trì hoãn bằng cách nào?

Quốc Tuấn đáp:

- Tâu bệ hạ, người Mông Cổ rất coi trọng sứ giả, không có tin tức của sứ giả gửi về thì chúng sẽ không ngang nhiên động binh.

Vậy chúng ta hãy bí mật bắt giam sứ giả lại, để cho Ngột Lương Hợp Thai mỏi mắt trông ngóng.

Đến tháng 9 không thấy sứ về, y lại tiếp tục sai sứ sang nữa, ta cũng bắt giam.

Sang tháng 10 không thấy sứ về, y có thể sai sứ sang nữa, ta lại bắt giam.

Như vậy là ta đã có thể trì hoãn thời gian xuất quân của giặc, chỉ cần cầm cự thêm vài tháng, khí hậu trở thành ấm áp với ta nhưng nắng nóng với quân Mông Cổ.

Như vậy là ta đạt được thiên thời.

Vua Trần Thái Tông nghe theo kế này, khi Ngột Lương Hợp Thai phái đoàn sứ giả đến chiêu hàng, nhà vua cho tống giam chúng vào ngục.

Nhờ mưu kế của Quốc Tuấn mà Đại Việt đã trì hoãn được thời gian tiến quân của địch rất lâu, phải đến đầu năm 1258 sau khi Ngột Lương Hợp Thai đã phái tới 3 đoàn sứ giả đến Thăng Long dụ hàng vua Trần Thái Tông nhưng tất cả đều bạt vô âm tính thì hắn mới tiến quân.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 10: Hậu duệ Lê Đại Hành cứu vua


Ngột Lương Hợp Thai ba lần phái sứ giả đến Thăng Long dụ hàng vua Trần Thái Tông nhưng cả ba lần đều không có hồi âm, đợi mãi không được hắn ra lệnh xuất quân.

Đầu năm 1258 đại quân của Ngột Lương Hợp Thai gần 5 vạn binh mã chia làm ba đội, Triệt Triệt Đô chỉ huy quân tiên phong, con trai của Ngột Lương Hợp Thai là A Truật giữ trung quân, còn bản thân Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy quân chủ lực đi ở phía sau, lần lượt theo ngả sông Thao tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt.

Kinh thành Thăng Long nhanh chóng nhận được tin cấp báo từ biên giới gửi về nhưng không vội phái quân đội đi ngăn chặn.

Tuân theo kế hoạch ban đầu của Hưng Đạo vương, quân Đại Việt sẽ đợi giặc vào sâu trong lãnh thổ rồi mới đánh.

Vua Trần Thái Tông và các tướng đã chọn Bình Lệ Nguyên làm chiến trường, đây là một đồng bằng rộng lớn nằm giữa sông Thao và sông Cà Lồ có nhiều rạch cắt ngang như những chiến hào thiên nhiên, thuận lợi cho việc ẩn quân chống giặc cũng như rút lui khi cần thiết.

Triều đình muốn dựa vào địa hình bị chia cắt của nơi đây để dựng thành chiến hào thủy bộ ngăn chặn bước tiến kỵ binh Mông Cổ.

Vua Trần Thái Tông lệnh cho Trần Khánh Dư đi thuyền vận chuyển người, ngựa và voi chiến đổ bộ lên Bình Lệ Nguyên ngay trong đêm dàn trận.

Đích thân nhà vua dẫn theo sáu quân đoàn chủ lực là Thánh Dực, Thiên Thuộc, Thần Sách, Củng Thân, Chương Thánh và Thiên Vương, tổng cộng 8 vạn quân tham chiến.

Trần Tử Đức chỉ huy quân Ngũ Yên giấu thuyền ở bến Lãnh Mỹ có nhiệm vụ đón bộ binh nếu thế trận trên bờ bất lợi.

Để cho Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn cùng với quân đội gia nô ở lại bảo vệ Thăng Long, sẵn sàng di tản bá tánh trong kinh thành bất cứ lúc nào.

Mọi thứ chuẩn bị đã xong, chỉ chờ bọn Ngột Lương Hợp Thai đến đánh.

Ngày 17 tháng 1 năm 1258 (dương lịch), trận quyết chiến đầu tiên giữa Đại Việt và Mông Cổ bắt đầu.

Ngột Lương Hợp Thai sau khi hội quân với A Truật và Triệt Triệt Đô ở bên kia bờ sông đã lệnh cho quân Mông Cổ vượt sông đánh trực diện vào quân Trần.

Y là một tên tướng cáo già, đích thân dẫn quân chủ lực vượt sông tấn công trực diện nhưng thực chất mục đích của cánh quân này chỉ là thu hút sự chú ý, đánh lạc hướng quân đội nhà Trần.

Trước đó hắn đã phái A Truật dẫn quân vượt sông vòng ra phía sau lưng quân Đại Việt tập kích, còn Triệt Triệt Đô cũng được lệnh vượt sông, vòng ra phía sau lưng quân Đại Việt nhưng không đánh ngay mà phục kích sẵn ở phía bến Lãnh Mỹ chờ A Truật đánh vào hậu quân Đại Việt, quân Đại Việt trước sau đều bị Ngột Lương Hợp Thai và A Truật bao vây rối loạn thì bấy giờ Triệt Triệt Đô mới xông ra cướp thuyền chặn đường lui vua quân nhà Trần.

Mọi việc đều diễn ra đúng như dự tính của Ngột Lương Hợp Thai, ban đầu quân Đại Việt chiếm được thế thượng phong nhờ có tượng binh trợ chiến, quân Đại Việt đưa tượng binh ra đánh, dàn hình chữ "nhất" (一) che chắn cho bộ binh, đàn ngựa chiến Trung Á sợ voi chiến nên quay đầu bỏ chạy làm cho đội hình của giặc bị rối loạn.

Tuy nhiên quân Mông Cổ lại giàu kinh nghiệm chiến đấu nên không hề tỏ ra nao núng.

Bọn chúng nhanh chóng ổn định lại đội hình.

Là những cung thủ thiện xạ bách phát bách trúng, quân Mông Cổ đồng loạt nhắm vào mắt voi và quản tượng bắn tên, voi bị trúng tên lồng lên hoảng sợ, dẫm vào đội hình quân Đại Việt, giúp cho Mông Cổ lấy lại thế trận.

Lúc này đến lượt quân Đại Việt bị hỗn loạn, bầy voi chạy càn giẫm đạp xé nát các cánh quân khiến cho quản tượng không thể kiểm soát, quân Đại Việt chỉ có thể chạy tránh, thế trận nghiêng hẳn về quân Mông Cổ.

Kỵ binh Mông Cổ phát hiện vua Trần Thái Tông đang thân chinh nên tập trung đánh vào vị trí của ngài, hàng hàng lớp lớp kỵ binh nhắm thẳng vào vua Trần quyết giết bằng được.

Hỗn chiến ác liệt ngay chỗ của nhà vua, binh sĩ hộ vệ ai ai cũng cũng không thể rảnh tay, nhà vua chiến đấu một hồi nhìn quanh tả hữu không còn ai, chỉ còn lại duy nhất một mình Lê Tần dũng mãnh, ánh thương lóe lên như ánh chớp, tả xung hữu đột giữa vòng vây bảo vệ che chắn cho vua Trần Thái Tông.

Đám lính Mông Cổ xung quanh nhìn thấy Lê Tần uy dũng lạ thường như người trời phái xuống nên e ngại không dám xông vào.

Nhà vua chợt nghĩ: "cái uy dũng của người này không khác gì Thường Sơn Triệu Tử Long năm xưa".

Nhờ có Lê Tần hộ giá vua Trần Thái Tông, quân sĩ Đại Việt mới có thời gian xốc lại đội hình bảo vệ cho nhà vua.

Ở phía sau hậu quân Đại Việt, A Truật đang vượt sông chuẩn bị tập kích lại bất ngờ hay tin Triệt Triệt Đô phá vỡ kế hoạch.

Hắn đã đến bến Lãnh Mỹ trước nhưng vì háo thắng nên hối quân đánh ngay chứ không chờ quân của A Truật tập kích hậu quân Đại Việt rồi mới xông ra phối hợp, cướp thuyền theo mưu kế của Ngột Lương Hợp Thai.

A Truật buộc lòng phải chi viện cho Triệt Triệt Đô nhằm đảm bảo kế hoạch cắt đường lui vua Trần thành công, vậy là "bứt dây động rừng".

Trần Thái Tông nghe tin báo trước sau đều có giặc, các tướng hăng hái đốc thúc nhà vua đánh đến cùng, vua Trần nghe theo tuốt gươm thề sống chết với giặc, Lê Tần vội can ngăn:

- Xin bệ hạ hãy cho rút quân để bảo toàn lực lượng, phải quay lại bến thuyền ngay, quân của Trần Tử Đức không thể cầm cự được lâu, bến thuyền mất thì chúng ta sẽ không có đường lui.

Bây giờ bệ hạ quyết dốc hết lực lượng ra đánh thì chẳng khác nào một con bạc vét hết đồng tiền cuối cùng quăng vào chiếu bạc, tai họa cháy túi là tất nhiên!

Nhà vua nghĩ phải, liền cho rút quân về bến Lãnh Mỹ.

Ngột Lương Hợp Thai thúc đại quân đuổi sát phía sau.

Một trận ác chiến xảy ra ở bến thuyền.

Quân chủ lực của nhà vua và quân Ngũ Yên liều chết chiến đấu mới giữ được thuyền, hộ tống nhà vua lên thuyền rút lui an toàn.

A Truật và Triệt Triệt Đô nhận thấy thuyền của nhà vua vẫn còn trong tầm bắn nên liên tục hối kỵ binh phi ngựa dọc theo bờ, bắn tên như mưa hòng giết chết vua Trần Thái Tông.

Trong tình thế nguy cấp, Lê Tần nhanh trí vớ tấm ván thuyền che cho nhà vua.

May mắn là Trần Thái Tông không bị tổn hại gì, đến khi chiến thuyền vượt ra khỏi tầm bắn, mọi người đều kinh hãi vì tấm ván chi chít tên cắm như lông nhím.

Vua tôi nhà Trần thoát hiểm trong gang tấc.

Lúc đó nếu như không có Lê Tần kịp hộ giá thì e là Thái Tông đã lâm nguy, nhà vua cảm phục trí dũng của Lê Tần mà luôn miệng khen ngợi là tướng giỏi.

Lê Tần lúc này đang giữ chức Ngự sử trung tướng, có xuất thân là thế gia hoàng tộc, hậu duệ của hoàng đế Lê Đại Hành.

Cha của Lê Tần là Thượng Vị hầu Lê Khâm, danh tướng đầu thời nhà Trần.

Trong những năm đầu nhà Trần mới thành lập, loạn lạc nổi lên khắp nơi, các sứ quân không phục vua Trần Thái Tông nên tự đứng ra lập quân đội chống phá, tranh giành thiên hạ với triều đình.

Đại tướng Lê Khâm theo dưới trướng thái sư Trần Thủ Độ, là người có công lớn trong những lần chinh chiến, bình định phản loạn, tiêu biểu nhất là chiến dịch đánh dẹp sứ quân Nguyễn Nộn.

Lê Khâm còn được Thái Tổ Trần Thừa khâm liệt vào hàng Khai quốc công thần.

Lê Tần sau này nối nghiệp võ của cha.

Với trí tuệ thông minh, bản tính kiên trì tập luyện và tinh thần cầu toàn, ham học hỏi, Lê Tần từ nhỏ đã được gọi là "hổ con", lớn lên ngày càng tài giỏi, trở thành một vị tướng hoàn mỹ, văn võ song toàn, về sau trở thành chiến tướng số một của vua Trần Thái Tông.

Nói về Lê Tần, ông là danh tướng ba đời của triều đại Đông A, danh tiếng uy chấn thiên hạ.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, tuy Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là người giữ chức Tiết chế thống đốc binh sự song chưa có thực quyền nên không để lại nhiều dấu ấn.

Còn Lê Tần, vai trò ban đầu của ông là tướng tiên phong nhưng càng về sau càng được nhà vua và thái sư Trần Thủ Độ đặc biệt tin dùng, luôn được đi theo nhà vua bàn những việc cơ mật rất ít người biết, thêm hai lần có công cứu giá nên khi xét đến công trạng thì Lê Tần đương nhiên là người có công to lớn nhất.

Khi bàn về Lê Tần, sử thần Ngô Sĩ Liên có viết về ông như sau:

- Lê Phụ Trần dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo Thái tử.

(Thái tử Trần Khâm tức vua Trần Nhân Tông là học trò của Lê Tần.

Nhờ có sự rèn giũa, dạy bảo tận tình của Lê Tần mà Trần Nhân Tông sau này mới trở thành một vị minh quân giỏi việc nước, văn võ song toàn).
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 11: Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long


Ở chiến trường Bình Lệ Nguyên quân Đại Việt dần thất thế, nhà vua nghe theo lời khuyên của Lê Tần cho rút quân về Thăng Long để bảo toàn quân số.

Tiết chế Trần Quốc Tuấn nhận định thời điểm bây giờ chưa phải là lúc thích hợp để quyết chiến với quân Mông Cổ vì chúng đang rất mạnh.

Nhưng nếu không chiến đấu thì làm sao bảo vệ được Thăng Long?

Tình thế cam go nan giải, bá quan vò đầu bứt tai nghĩ kế sách chống giặc nhưng vẫn mãi bế tắc.

Lê Tần bèn tâu với Thái Tông:

- Bẩm bệ hạ, mạt tướng mượn lại câu nói năm xưa của thái sư, vua ở đâu triều đình ở đó.

Thái Tông hỏi:

- Ý khanh là sao?

Lê Tần:

- Bẩm, thành trì cũng giống như chiếc áo vậy, ta có thể bỏ nó để đi đến nơi khác.

Quan trọng là bệ hạ được an toàn, vì bệ hạ an toàn thì sau này ta mới có cơ hội thắng.

Sở dĩ người Tống liên tục bại trận trước Mông Cổ là do họ chỉ khư khư giữ thành, Đại Lý cũng vậy.

Thay vì cầm cự từng tấc đất, từng thành trì chi bằng ta tạm lánh đi, đợi khi quân giặc suy yếu rồi mới phản công và giành thắng lợi.

Vua Trần Thái Tông nghe theo kế ấy, tạm thời bỏ thành Thăng Long rút về bến Đông Bộ Đầu, sau đó lui về lập đại bản doanh ở sông Thiên Mạc (Hưng Yên ngày nay) để tạm tránh quân địch, bảo toàn lực lượng.

Dân chúng cũng được huy động rút khỏi Thăng Long, tất cả những thứ dùng được phải được mang theo, không được để lại cho giặc bất cứ thứ gì.

Giữa tình hình khẩn cấp, vợ của Thái sư Trần Thủ Độ là bà Linh Từ đã đứng ra quán xuyến mọi việc, hỗ trợ hoàng gia và vợ con của các tướng rút lui an toàn.

Những thứ cần thiết cho kháng chiến lâu dài như gạo, muối, chăn mền, vũ khí đều được đem theo hết sức chu toàn.

Cả kinh thành Thăng Long gấp rút di tản.

Các thuộc tướng của Trần Quốc Tuấn là Trần Tử Đức, Bùi Thiệu Hoa và Trần Ý Ninh dẫn theo quân đội Ngũ Yên xung phong chặn giặc tại Phù Lỗ để triều đình và dân chúng trong thành Thăng Long có thời gian di tản đến nơi an toàn.

Quân Ngũ Yên phá cầu Phù Lỗ và lập phòng tuyến ở bờ nam để chặn giặc, mọi chuyện vừa xong thì đại quân của Ngột Lương Hợp Thai ập đến.

Cầu đã bị phá, quân giặc cũng không có thuyền bè vượt sông, nhưng Ngột Lương Hợp Thai là một viên tướng xuất sắc, thiện chiến và giàu kinh nghiệm, hắn vẫn tìm được cách giúp quân Mông Cổ qua sông thành công.

Ngột Lương Hợp Thai cho một nhóm quân đi ven bờ sông dò đường, nhóm quân này dùng cung tên bắn xuống nước, nếu chỗ nào nước sông cạn thì mũi tên sẽ không nổi lên mà bị cắm xuống đất, bọn chúng cưỡi ngựa đi theo những vị trí không có mũi tên nổi lên mà từ từ vượt sông.

Quân Mông Cổ vượt sông thành công thì chạm trán với Quân Ngũ Yên đang chờ sẵn trên bờ.

Trận ác chiến kéo dài đến mấy ngày.

Sốt ruột vì lo vua Trần chạy thoát, Ngột Lương Hợp Thai dốc toàn quân tấn công vào phòng tuyến sông Phù Lỗ nhưng đội quân Ngũ Yên vẫn vững vàng đẩy lui từng đợt tấn công của quân Mông Cổ.

Đội quân viễn chinh đầy tự hào của đế quốc Mông Cổ tung hoành ngang dọc, gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp nơi từ Á sang Âu nhưng bỗng nhiên lại bất lực hoàn toàn trước quân Ngũ Yên của Trần Tử Đức, bọn chúng không làm sao có thể phá được phòng tuyến Phù Lỗ để đuổi theo vua Trần Thái Tông.

Sau vài ngày cầm cự với giặc, quân Ngũ Yên trở nên đuối sức nên dần thất thủ.

Nhận thấy quân Mông Cổ đã tràn ngập khắp cả chiến lũy, tình thế vô cùng hiểm nghèo, Trần Tử Đức cho quân sĩ rút lui còn bản thân ở lại chặn hậu.

Ông anh dũng hy sinh thân mình, một mình ở lại chặn giặc để bảo vệ cho cấp dưới rút lui an toàn.

Phu nhân Bùi Thiệu Hoa rút lui hay tin chồng tử trận thì làm lễ tế chồng rồi tự vẫn chết theo phu quân.

Nhà vua cảm động, phong tặng cho Trần Tử Đức tước hiệu Phú Lương hầu, Đạo thụ Thái phó, Phụ quốc Thượng tướng quân, lại phong cho Bùi Thiệu Hoa là Trinh Nhất công chúa.

Về phần em gái của Trần Tử Đức là Trần Ý Ninh được sắc phong làm Vũ Thắng công chúa, gả cho hoàng tử của vua Trần Thái Tông là Vũ Uy vương Trần Nhật Duy, hai người họ sau này sinh ra Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản - người anh hùng xuất thiếu niên lập vô số chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, lưu danh muôn thuở.

Quay trở lại với tình hình chiến sự, quân Mông Cổ sau khi phá được phòng tuyến Phù Lỗ thì đã mất dấu vua Trần, chúng vào thành Thăng Long hí hửng mở tiệc ăn mừng.

Nhưng quân Mông Cổ cũng không thể vui sướng lâu ngày vì chúng đã dần nhận ra sự bất lợi của mình, Ngột Lương Hợp Thai ngày đêm hối thúc quân lính đi tìm bắt vua Trần Thái Tông về Thăng Long để nhanh chóng chiến thắng nhưng tìm khắp nơi cũng không thấy, trong khi khí hậu đang trở nên nóng nực oi bức, lương thảo mang theo đang dần cạn kiệt, trong kinh thành lại hoàn toàn trống không, không cướp bóc được thứ gì, quân lính Mông Cổ chán nản mất hết động lực chiến đấu, không còn hung hăng như lúc mới đến Đại Việt.

Vua Trần Thái Tông rất lo lắng vì tình hình chiến sự đang căng như dây đàn, Thăng Long đã rơi vào tay giặc, quân Mông Cổ thì ráo riết ngày đêm truy tìm nhà vua và triều đình, trong khi đó lực lượng của quân Đại Việt đã tổn thất rất nhiều trong trận Bình Lệ Nguyên và Phù Lỗ, nếu chẳng may quân Mông Cổ mà tìm ra nơi này thì quân Đại Việt biết chống đỡ làm sao?

Nhà vua bèn đến tìm người em trai của mình là Trần Nhật Hiệu để bàn đối sách.

Người này run sợ trước sức mạnh của quân Mông Cổ, ngày trước đã từng có lần dâng sớ khuyên nhà vua liên minh với nước Tống để chống lại Mông Cổ.

Lần này y vẫn khuyên nhà vua làm như vậy, có điều lần này y còn run sợ đến nỗi không thể nói nên lời khi nghe nhà vua nhắc đến "Mông Cổ", Trần Nhật Hiệu chỉ chấm tay xuống nước tay run run viết chữ: "nhập Tống" (nghĩa là khuyên nhà vua chạy sang Tống, nương nhờ nhà Tống để chống Mông Cổ).

Chán ngán với người em bạc nhược, vua Trần Thái Tông tìm đến thái sư Trần Thủ Độ.

Lời của thái sư nói đúng với những gì nhà vua đang mong chờ:

- Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác.

Vào lúc khó khăn thì thái sư Trần Thủ Độ luôn là điểm tựa vững chắc nhất cho nhà vua.

Thái Tông và Trần Thủ Độ cùng nhau mau chóng bắt tay vào thực hiện kế hoạch xây dựng lại sức mạnh cho quân Đại Việt, đợi thời cơ phản công.

Hai việc quan trọng nhất là lương thảo và binh khí để chiến đấu lâu dài, ở giai đoạn chiến tranh khó khăn, lương thảo và vũ khí thật sự là vấn đề nan giải đối với triều đình.

Thế nhưng dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.

Vấn đề lương thảo thì triều đình không cần phải bận tâm vì toàn dân cả nước đều đoàn kết, đồng lòng góp gạo nuôi quân.

Còn về phần vũ khí, dân chúng vận động lẫn nhau đi thu nhặt các vũ khí bị bỏ lại, rơi vãi trên chiến trường, đồng thời họ còn khẩn trương rèn giáo mác, vót mũi tên góp thêm cho triều đình.

Cả nước lúc này đồng lòng đánh giặc, mọi người ai cũng đóng góp sức lực theo hoàn cảnh của mình, nhà giàu đóng góp lương thực, vũ khí, còn người bình dân thì góp công xay lúa giã gạo, rèn đúc vũ khí.

Nhờ vậy mà quân Đại Việt nhanh chóng lấy lại sức mạnh.

Trong khi đó ở Thăng Long, quân Mông Cổ rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan vì bị trúng kế "vườn không nhà trống".

Chúng tìm bắt vua Trần Thái Tông mãi không được, ở lại thì không có lương thực nuôi quân vì lương thực mang theo đã cạn, cũng chẳng cướp bóc được gì, còn rút quân về cũng không được, tinh thần quân Mông Cổ đang chạm đáy vì chúng đã thật sự bị cô lập.

Khi quân Đại Việt còn đang đóng ở Thiên Mạc thì viên tướng trẻ Trần Khánh Dư đã tự thống lĩnh đội quân gia binh của mình liên tiếp xuất hiện ở gần đại doanh quân Mông Cổ, tổ chức những trận mai phục nhỏ, tiêu diệt những toán quân đi lẻ tẻ cướp bóc.

Con trai nuôi của vua Trần Thái Tông dũng mãnh mưu trí cùng với đội quân của mình đã làm cho quân Mông Cổ thêm phần hoang mang, càng cổ vũ cho tinh thần quân Đại Việt lên cao.

Thời cơ chiếm lại kinh thành Thăng Long, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi Đại Việt đã đến rất gần.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 12: Mừng ngày xuân đại thắng


Mọi việc bàn định và chuẩn bị đã xong, đoàn thủy quân Đại Việt nối tiếp nhau xuôi dòng sông Hồng tiến về Thăng Long.

Thái tử điện hạ Trần Hoảng 18 tuổi cũng được vua Trần Thái Tông dẫn theo cùng chỉ huy trận đánh này.

Rạng sáng ngày 29/01/1258 (nhằm ngày 24 tháng Chạp, năm 1257) thủy quân Đại Việt tắt hết đuốc, âm thầm chèo thuyền tiếp cận bến Đông Bộ Đầu, nơi quân Mông Cổ đóng đại bản doanh.

Ngay sau khi tiếp cận Đông Bộ Đầu thành công, quân Đại Việt bất thình lình thắp đuốc sáng rực một khúc sông, trống trận nổi lên, những làn mưa tên bất ngờ bắn tới tấp vào đại doanh quân Mông Cổ.

Chẳng mấy chốc hàng hàng lớp lớp quân Đại Việt đổ bộ lên bờ đánh sâu vào doanh trại địch.

Quân Mông Cổ bị tấn công bất ngờ vào nửa đêm nên bị tổn thất ở vòng ngoài và có phần hoảng loạn lúc đầu thì gấp gáp định thần, dàn đội hình chống đỡ, Ngột Lương Hợp Thai ra sức hô hào quân lính chiến đấu, chỉnh đốn hàng ngũ, kỵ binh Mông Cổ vội lên ngựa ùa ra kịch chiến với quân Đại Việt.

Nhưng lúc này quân Đại Việt đã tràn lên bờ với quân số áp đảo, lại có lợi thế về sĩ khí, quân no đánh quân đói nên trận tuyến Đại Việt hoàn toàn vượt trội so với quân địch.

Trần Thái Tông và thái tử Trần Hoảng ngự trên lâu thuyền chỉ huy trận đánh, Lê Tần cùng với Trần Khánh Dư dẫn quân chia làm nhiều mũi tấn công khiến cho quân Mông Cổ dồn quân phòng ngự ở hướng này thì lại bị hở ở hướng kia, do trời tối và lực lượng hai bên chênh lệch.

Trong trận chiến này Trần Khánh Dư đã có cơ hội thể hiện tố chất của một tướng quân tài ba trước mặt vua và thái tử.

Ông quan sát được sơ hở của giặc, đốc thúc quân đánh sâu vào lòng địch làm cho quân Mông Cổ tổn thất nặng nề, khí thế quân Đại Việt dâng cao ngút trời.

Ngột Lương Hợp Thai nhắm rằng thế trận đã được định đoạt, không thể chống cự được lâu nên y lập tức cho rút quân gấp về phía bắc, men theo sông Nhị, sông Thao chạy một mạch về Vân Nam (Trung Quốc).

Vậy là quân Mông Cổ chiếm đóng kinh thành Thăng Long chỉ được vỏn vẹn trong vòng 9 ngày.

Quân Mông Cổ đại bại, chỉ biết cắm đầu cắm cổ bỏ chạy thoát thân, trời chỉ vừa mới sáng mà bọn chúng đã chạy về đến gần biên giới.

May mắn cho Ngột Lương Hợp Thai và bọn lính lác của hắn là lúc đó triều đình nhà Trần đã không kịp bố trí quân mai phục, cũng vì thế mà bọn chúng chỉ gặp phải dân binh tập kích giữa đường, nếu đó là do quân đội triều đình chặn đánh thì e là quân giặc khó có lối về.

Khi chạy đến châu Quy Hóa (Yên Bái, Lào Cai hiện nay) giặc tưởng rằng đã thoát thân nhưng nào ngờ chủ trại Quy Hóa là Hà Bổng đã chỉ huy dân binh mai phục, chờ sẵn bọn chúng ở đây.

Quân Mông Cổ thấy dân binh xông ra đánh nhưng chúng lại không dám chống trả mà quay đầu bỏ chạy, cố chạy sang Vân Nam, chúng đói và mất hết ý chí chiến đấu, lại khiếp sợ đến nỗi không dám cướp bóc dọc đường.

Vì thế nên bị dân Đại Việt chế giễu, gọi là "giặc Phật".

Gần 5 vạn quân của đế quốc Mông Cổ hùng hậu kéo sang Đại Việt nhưng chưa đầy một tháng đã thất bại, chạy trốn không còn manh giáp.

Khi về đến Vân Nam hội quân với Hốt Tất Liệt, bấy giờ Ngột Lương Hợp Thai chỉ còn hơn 5000 binh sĩ.

Đại Hãn Mông Kha tức giận định chém đầu cha con Ngột Lương Hợp Thai vì tội làm mất mặt "thiên triều" nhưng nhờ có Hốt Tất Liệt can ngăn, dù gì hai cha con y cũng là hậu duệ của danh tướng Tốc Bất Đài - nhân vật khai quốc công thần của đế quốc Mông Cổ nên được tha mạng.

Tuy nhiên "tội sống khó tha", Ngột Lương Hợp Thai bị tước hết binh quyền, A Truật được giữ lại, về sau rất được Hốt Tất Liệt tin dùng.

A Truật chính là Đại tướng Tổng chỉ huy của quân đội Mông Cổ trong chiến dịch Tương Dương - Phàn Thành (1267 - 1273), đây là chiến dịch bước ngoặt dẫn đến sự diệt vong của nhà Tống.

Đại Việt đại thắng, triều đình trở về Thăng Long, dân chúng hào hứng chào đón đoàn quân nhà vua trở về.

Trước đây trong lúc gấp gáp di tản khỏi Thăng Long, chiếc ấn mật của vua bị lạc mất, đến hôm nay có ông lão đến Thăng Long dâng lại.

Thì ra ông lão đã nhặt được chiếc ấn từ lâu nhưng sợ quân Mông Cổ phát hiện mà cướp đi nên lão đã cất giấu rất kĩ, đợi đến khi quân nhà vua về đến Thăng Long, lão mới đến trao tận tay cho quan Chưởng Ấn.

Hay tin chiếc ấn vẫn còn, Thái Tông cả mừng, nhân đó vua sai quan Chưởng Ấn đi tìm chiếc ấn báu được cất giấu trên xà ngang ở nóc cung điện Đại Minh.

May thay, chiếc ấn báu vẫn còn nguyên ở đấy, nó đã thoát được bao lần lùng sục gắt gao và tàn phá ác liệt của quân Mông Cổ.

Việc tìm thấy cả ấn báu lẫn ấn mật khiến cho không chỉ triều đình vui mừng mà toàn thể dân chúng vô cùng hồ hởi, vì chiến thắng ngày hôm nay là một chiến thắng trọn vẹn.

Dịp Tết Nguyên Đán lại đến, cả nước hân hoan thưởng Tết trong niềm vui chiến thắng, đây thật sự là một trong những dịp Tết Nguyên Đán tuyệt vời nhất của dân tộc.

Vào đúng ngày mồng 1 Tết năm Mậu Ngọ, nhà vua cho tập hợp trăm quan vào chầu và định công ban thưởng, trong đó Lê Tần là người có công lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, được phong tước Bảo Văn hầu, thăng làm Ngự Sử, ông còn được nhà vua đặt tên là Lê Phụ Trần để ghi nhớ công lao phò vua giúp nước.

Chủ trại châu Quy Hóa là Hà Bổng được phong tước hầu, những người khác cũng đều được nhà vua tưởng thưởng tùy vào sức cống hiến trong cuộc chiến vừa qua.

Như vậy là trăm dân bình yên, nước nhà thái bình, thịnh trị.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 13: Chiêu Thánh làm con dâu họ Lê


Chiêu Thánh bỏ đi tu kể từ ngày biến cố hoàng gia xảy ra, thời gian thấm thoát trôi qua đã 21 năm, dù không còn là hoàng hậu của Thái Tông nữa nhưng Chiêu Thánh lúc nào cũng luôn dõi theo Trần Cảnh.

Mông Kha muốn dùng đất Đại Việt làm bàn đạp từ phía nam đánh sang nhà Tống, tin cấp báo Ngột Lương Hợp Thai dẫn một cánh quân lớn từ Vân Nam băng qua biên giới Đại Việt hướng thẳng tới Thăng Long, vua Trần Thái Tông thân chinh đánh giặc ở Bình Lệ Nguyên.

Trước thế giặc mạnh như cuồng phong, hàng vạn chiến sĩ Đại Việt ngã xuống, vua Trần núng thế phải bỏ cả Thăng Long mà chạy.

Nhận được tin ấy, Chiêu Thánh lo thót lòng.

Sáng ngày 29 tháng 1, hay tin vua cùng thái tử đang xuất binh đánh trận, Chiêu Thánh bồn chồn, hy vọng.

Phúc lớn cho nước Nam, trận Đông Bộ Đầu quân Đại Việt đại thắng, đuổi được giặc Mông Cổ về nước.

Ngày triều đình trở lại kinh thành, vua và thái tử vui mừng khôn xiết, họ được dân chúng chào đón reo hò.

Còn Chiêu Thánh chỉ đứng từ xa, đăm chiêu nhìn người đã từng là chồng bà.

Sau đó bà lại nhìn thái tử tuấn tú hiên ngang, Chiêu Thánh càng cảm thấy buồn tủi.

Giá như lúc còn là hoàng hậu của Thái Tông mà Chiêu Thánh may mắn được trời ban cho một hoàng nam thì ngôi vị thái tử ấy ắt hẳn đã thuộc về con bà.

Trớ trêu, éo le, tủi nhục, đau đớn ngày ngày gặm nhấm Chiêu Thánh.

Xuân đến, đó là xuân Mậu Ngọ năm 1258.

Sáng ngày 30 tháng Chạp, vua Trần Thái Tông đích thân đến chùa đưa Chiêu Thánh trở về hoàng cung.

Về đến cung, Chiêu Thánh không khỏi xúc động vì nghe người hầu nói lại: "Bệ hạ ngày nào cũng nhắc nhở bọn nô tì quét dọn phủ Chiêu Thánh cho sạch sẽ".

Có lẽ nhà vua chỉ mong một ngày Chiêu Thánh quay về.

Trong buổi thiết triều định công ban thưởng, vua xét công trạng Lê Tần có công đầu, ban thưởng rất hậu, được ban tên Lê Phụ Trần để ghi nhớ công lao, thưởng cho Chiêu Thánh công chúa.

Nghe đến đoạn này, bá quan triều đình không khỏi bàng hoàng.

Gả chồng cho vợ, biết là vô lí nhưng cả triều đình đều im lặng không ai dám bàn tán vì sợ phạm tội khi quân.

Còn Chiêu Thánh thì cửa đóng then gài, quỳ sụp xuống sàn khóc.

Chuyện đến tai Linh Từ Quốc mẫu, bà cảm thấy như có cục bông đang chặn lấy cổ họng mình.

Linh Từ thở dài hỏi Trần Thủ Độ:

- Sao bệ hạ không để Phật Kim được yên phận?

Sao tướng công không nói giúp một lời để bệ hạ rút lại chỉ dụ này?

Ánh mắt của Trần Thủ Độ đăm chiêu, thể hiện bao điều đang thức dậy trong đầu:

- Ngày trước ta lo Trần Cảnh không có thái tử nối ngôi nên bất đắc dĩ mới phải làm chuyện chẳng đừng, khối kẻ nguyền rủa ta lấn vua.

Nhưng nếu ta không làm vậy liệu bệ hạ có còn giữ được ngai vàng hay không?

Chẳng qua ta muốn thiên hạ thái bình, triều đình vững chải nên mới làm chuyện có lỗi với con cháu.

Nay bệ hạ đã ngoài bốn mươi, ta không cần phải lo nghĩ hộ Người.

Chẳng qua bệ hạ muốn bù đắp cho Chiêu Thánh nên mới ban chỉ dụ này, Phật Kim tái giá là phúc, ai ngăn là thất đức, ta ngăn là mắc tội.

Linh Từ Quốc mẫu lên kiệu đến cung Chiêu Thánh gặp con gái.

Đã hơn 20 năm rồi mẹ con họ mới gặp lại nhau.

Lúc Linh Từ tới chỗ con gái, Chiêu Thánh không sùi sụi nữa nhưng đôi mắt đầy màu mưa dông.

Thái sư phu nhân nhìn con ái ngại, nghĩ đi nghĩ lại, bà mới mở lời:

- Mẹ biết dù chuyện ấy đã qua hơn hai mươi năm nhưng con vẫn còn nặng tình với Trần Cảnh.

Nhưng việc đã rồi mà con vẫn cứ vương vấn thì chỉ thêm khổ.

Lúc hay tin bệ hạ ban chỉ dụ cho con tái giá, mẹ nghĩ là con cứ sống như vậy là hơn.

Nhưng ai rồi cũng già đi, con cũng không còn trẻ nữa, nếu có một người chia sẻ buồn vui khi về già cũng là điều đáng mừng.

Chiêu Thánh nhìn vào cõi vô định giây lát rồi cất giọng buồn trĩu:

- Giá như mẹ ở vào phận con thì mẹ sẽ hiểu.

Đế tụt xuống hậu, hậu giáng xuống công chúa.

Nay con lại được vua "ban" cho một người, vậy con là cái gì?

Linh Từ Quốc mẫu an ủi:

- Dẫu là lá ngọc cành vàng nhưng đã là đàn bà thì thua thiệt đủ điều.

Phận hoa chốn cung đình vẫn chỉ là chiếc lá, đành thuận theo ý trời.

Chiêu Thánh đáp lại:

- Thưa mẹ, con sẽ làm theo ý con...

Trần Thị Dung giật mình:

- Con dám kháng chỉ?

Chẳng lẽ con không biết kháng chỉ là tội gì?

Ánh mắt bất chấp hết thảy, Chiêu Thánh đáp:

- Mẹ ạ, hơn hai mươi năm nay con sống trong bẽ bàng, tủi hờn, cô quạnh.

Vậy có điều gì phải sợ nữa?

Một nỗi lo dâng lên trong lòng phu nhân thái sư:

- Con tuyệt đối không được làm vậy.

Mẹ chỉ ước ao trước khi tắt bóng không phải thở vắn than dài.

Nếu con làm theo ý con, tai họa giáng xuống thì mẹ sống làm sao được?

Lời chưa dứt, những giọt nước mắt già nua, lo âu của mẹ khiến Chiêu Thánh không thể cầm lòng, nàng ôm lấy mẹ, hai hàng lệ ngọc tuôn rơi.

Đến sáng hôm sau nhà vua cho gọi Chiêu Thánh và Lê Phụ Trần đến hỏi:

- Chiêu Thánh và Phụ Trần thấy thế nào việc ta lo cho hai người?

Phụ Trần cung kính:

- Tâu bệ hạ, thần tuân chỉ.

Nếu có trở ngại, trở ngại đó là ở phía công chúa.

Thái Tông hỏi Chiêu Thánh:

- Công chúa có băn khoăn gì hãy cứ nói, để trẫm biết cách lo liệu?

Chiêu Thánh buồn rầu nói:

- Tâu bệ hạ, thần đâu dám kháng chỉ.

Nhưng có điều này hạ thần xin được nói.

Trong lòng hạ thần chỉ có Trần Cảnh.

Kết hôn với Lê Phụ Trần là phận bề tôi phải làm theo ý vua.

Vua hỏi Phụ Trần:

Chiêu Thánh nói vậy tướng quân có phật lòng không?

- Đội ơn bệ hạ, thần phải cảm ơn Chiêu Thánh.

Hạ thần thành thân với công chúa là vinh hạnh lắm rồi.

Sau lễ tác hợp, Chiêu thánh làm gì, đi đâu, hạ thần vui lòng chiều theo ý công chúa.

Trần Thái Tông cảm kích quay sang nói với Chiêu Thánh:

- Chiêu Thánh yêu quý của ta, xin nàng hãy hiểu cho ta, làm vua có cái khổ của làm vua.

Trước đây vì ván cờ giang sơn, ta lo không có người nối ngôi nên mới phải nghe theo thái sư, làm chuyện lỗi đạo.

Ta vì xã tắc phải lìa xa Chiêu Thánh, Chiêu Thánhh hãy vì ta, trở thành một phu nhân tốt của Phụ Trần.

Ta tin rằng hậu thế sẽ không khắt khe với chúng ta.

Chiêu Thánh ứa lệ nói:

- Từ trước đến nay có lời nào của Trần Cảnh mà Chiêu Hoàng không nghe đâu.

Lần này Chiêu Hoàng càng phải nghe, vì lần này là chủ ý của Trần Cảnh gả chồng cho vợ, thế gian cổ kim có một!

Trần Cảnh như thế mới đúng là Trần Cảnh!

Vì thương Trần Cảnh khôn cùng, Chiêu Thánh đành nhắm mắt đưa chân nghe theo sự sắp xếp của Cảnh.

Mùa xuân năm sau, phu nhân Lê Phụ Trần khai hoa, sinh ra một người con trai đặt tên là Lê Tông, sau này được vua Trần Thánh Tông (thái tử Hoảng) nhận làm anh em, đổi tên thành Trần Bình Trọng, tước hiệu Bảo Nghĩa vương.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 14: Thế hệ thứ hai của triều đại Đông A


Sau khi đuổi giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi, đất nước tuy đã thái bình nhưng điều đó vẫn chưa phải là niềm an bình trọn vẹn.

Đại Hãn Mông Kha vẫn không từ bỏ ý định xâm lược Đại Việt bởi vì hắn nghĩ rằng thất bại của Ngột Lương Hợp Thai chỉ là một tai nạn hiếm gặp của quân đội Mông Cổ.

Vua Trần Thái Tông sớm đọc vị được điều này, phái Lê Phụ Trần làm Chánh sứ, Chu Bác Lãm làm Phó sứ mang cống vật sang Mông Cổ xin cầu hòa.

Đến nơi, Mông Kha bắt tội vua Trần Thái Tông đủ điều, y đổ thừa sở dĩ chiến tranh giữa Mông Cổ và Đại Việt nổ ra là do vua Trần đã không cho y mượn đường đánh Nam Tống và nhiều lần bắt giam sứ giả do Ngột Lương Hợp Thai phái đến Thăng Long.

Mông Kha vịn vào cớ này hạch sách Đại Việt phải tiến cống hàng năm cho hắn, may nhờ có tài ngoại giao của Lê Phụ Trần, cả hai bên định lệ cứ ba năm thì Đại Việt tiến cống phẩm một lần.

Lúc này Mông Kha đang tập trung binh lực tiêu diệt Nam Tống (Trung Quốc) nên y không mặn mà về ý định tiếp tục đem quân xâm lược Đại Việt.

Nhờ lẽ đó biên giới phía bắc của Đại Việt tạm thời được yên ổn.

Việc vua Trần Thái Tông có những chính sách ngoại giao mềm dẻo với Mông Cổ đã giúp cho Đại Việt có thêm thời gian để xây dựng đất nước và tăng cường sức mạnh quân đội.

Trong khoảng thời gian sau này, triều đình Đại Việt có nhiều thay đổi lớn.

Ngày 24 tháng 2 (âm lịch) năm 1258, vua Trần Thái Tông nhường ngôi vua cho Thái tử Trần Hoảng và lên làm Thái thượng hoàng.

Việc truyền ngôi sớm như thế là để phòng tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các hoàng tử, đồng thời giúp cho nhà vua trẻ tập tành việc cai trị đất nước dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ của Thái thượng hoàng.

Kể từ đây, vua cha truyền ngôi cho thái tử để làm thái thượng hoàng trở thành tục lệ của nhà Trần.

Thượng hoàng Trần Thái Tông lui về làng Tức Mặc (quê hương của họ Trần), cho đổi tên nơi này thành phủ Thiên Trường, xây dựng cung Trùng Quang để ngự ở đây giúp vua trẻ lo việc nước.

Các thái thượng hoàng đời sau cũng như thế.

Thái tử Hoảng lên ngôi vua năm 18 tuổi, lấy hiệu là Trần Thánh Tông.

Nhà vua tuy trẻ tuổi nhưng là bậc minh quân hiếm có, biết lấy nhân nghĩa trị nước, tôn trọng hiền sĩ, vua có khả năng văn võ song toàn.

Dù là đấng thiên tử nhưng Trần Thánh Tông sống rất giản dị, luôn gần gũi với anh em, bà con, thậm chí những người này còn có thể tự do ra vào hoàng cung chơi đùa, thơ từ xướng họa, sinh hoạt, ăn ngủ cùng với vua như anh em trong nhà, không có khoảng cách vua - tôi theo lẽ thường.

Chỉ khi cần giải quyết việc nước thì khi ấy mới phân ra rõ ràng vua - tôi.

Nhà vua không chỉ thành tâm thực hiện nguyên tắc này mà còn nghiêm dạy cho con cháu đời sau noi theo, nhờ vậy hoàng tộc nhà Trần rất gắn bó, thân tình.

Dưới thời vua Trần Thánh Tông trị vì đất nước, bá tánh no ấm, đủ ăn đủ mặc, trong nước thái bình, thịnh trị.

Chỉ lo ngại Mông Cổ thường xuyên có những hành động gây hấn với Đại Việt, chúng ép vua Trần Thánh Tông phải sang Mông Cổ chầu, thậm chí ép nhà vua lạy chiếu chỉ của hoàng đế Mông Cổ, ép Đại Việt phải cống nạp vàng bạc, ngọc quý, voi, ngà voi, sừng tê, trầm hương, đồi mồi, chén sứ, vải trắng,... hơn thế Mông Cổ còn muốn Đại Việt cống nạp người cho chúng, gồm nho sĩ, thầy thuốc có tài, người giỏi âm dương bói toán, các thợ lành nghề,... mỗi thứ ba người.

Về việc sang chầu Đại Hãn Mông Cổ, vua Trần Thánh Tông tìm nhiều lý do để không sang chầu, từ chối lạy chiếu của Đại Hãn Mông Cổ.

Nhà vua đồng ý cống vật đầy đủ cho Mông Cổ nhưng không cống người.

Mông Cổ được nước làm tới, ngày càng gia tăng yêu sách, vua Trần Thánh Tông một mặt nhượng bộ, một mặt bí mật chuẩn bị binh mã.

Suốt 21 năm trị vì trên ngai vàng, vua Trần Thánh Tông đối phó cực kì khôn khéo với Mông Cổ, nhà vua có sự nhượng bộ với chúng, nhờ vậy mà có thể giữ cho đất nước không phải lâm vào cảnh chiến tranh, giúp cho Đại Việt duy trì yên bình lâu dài.

Hoàng tử thứ ba của Thượng hoàng Trần Thái Tông là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải.

Trần Quang Khải là người văn võ song toàn đứng đầu triều đình, tài của Chiêu Minh vương đồng cân đồng lạng với Hưng Đạo vương.

Quang Khải lúc làm tướng võ, lúc làm tướng văn, giúp vương nghiệp nhà Trần.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhận xét uy danh của Quang Khải ngang với Quốc Tuấn.

Trần Quang Khải được vua Trần Thánh Tông cho tham gia vào việc triều chính bắt đầu từ năm 1261, khi mới 20 tuổi ông đã được phong đến chức Thái úy, chức quan bấy giờ của Quang Khải chỉ xếp sau mỗi Thái sư Trần Thủ Độ.

Đến năm 1271, Quang Khải được thăng lên chức Tướng quốc Thái úy, trở thành quan đại thần đứng đầu triều đình, nắm giữ việc nước, kể từ đây Quang Khải trở thành quan đầu triều suốt ba đời vua.

Đặc biệt là cuối năm 1282 vua Trần Nhân Tông thăng cho Trần Quang Khải đến chức quan cao cấp nhất của triều đình là Thượng tướng Thái sư, nắm giữ toàn bộ quyền quân sự lẫn hành chính, quyền hạn rất lớn chỉ sau vua và thái thượng hoàng.

Hoàng tử thứ tư của Thượng hoàng Trần Thái Tông là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc.

Trần Ích Tắc thông minh hiếu học, chí lớn từ nhỏ, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời.

Không chỉ học thuật, dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì Ích Tắc không thành thạo.

Nhờ sỡ hữu trí tuệ lanh lẹ, tư chất hiếm có nên Ích Tắc được Trần Thái Tông yêu mến nhất trong số các vị hoàng tử.

Ích Tắc là người ham đọc sách thánh hiền, học cao hiểu rộng, khi lớn lên đã cho mở lớp học bên cạnh phủ đệ của mình, tập hợp văn sĩ bốn phương về đây nhận họ làm môn đồ, cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài, tiêu biểu là Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu,... môn đồ của Ích Tắc có 20 người, đều được dùng cho đời.

Hoàng tử thứ sáu của Thượng hoàng Trần Thái Tông là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, người này là một trường hợp đặc biệt của thời đó.

Trần Nhật Duật có vẻ ngoài điềm đạm, mừng giận đều không biểu lộ trên khuôn mặt, dù cho có chuyện gì vẫn không thể khiến ông hoảng loạn.

Tên tuổi và sự nghiệp của Trần Nhật Duật gắn liền với giai đoạn vinh quang nhất của nhà Trần.

Ông nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như Thái úy Quốc công, Tá thánh Thái sư trong suốt bốn đời vua, không những có tài cầm quân và hành chính mà Trần Nhật Duật còn là một nhà ngoại giao tài ba nhờ khả năng ngoại ngữ đặc biệt.

Trần Nhật Duật không chỉ thông làu tiếng Hán mà còn nói được tiếng Chiêm Thành, tiếng Sách Ma Tích (Singapore ngày nay) và tiếng nói của các dân tộc thiểu số.

Không chỉ thông thạo ngoại ngữ của các nước láng giềng, Trần Nhật Duật còn có sở thích giao lưu với các nước này nên ông rất am hiểu văn hóa, phong tục tập quán của họ.

Có lần Nhật Duật tiếp sứ thần nhà Nguyên, ông nói tiếng Hán tốt đến mức sứ giả Nguyên không tin ông là người Đại Việt mà nghĩ ông là người Hán, ông phủ nhận nhưng sứ giả không tin, sứ giả còn khẳng định Nhật Duật là người Hán ở Chân Định (gần Bắc Kinh ngày nay) sang làm quan tại Đại Việt.

Khả năng ngoại ngữ của Trần Nhật Duật được vua Trần Nhân Tông thán phục ca ngợi:

- Chú Chiêu Văn có lẽ là kiếp sau của người phiên lạc nên giỏi tiếng các nước đó.

Ngày xưa người trong hoàng tộc am hiểu nhiều thứ tiếng, nói chuyện với người nước ngoài rành rẽ mà không cần người phiên dịch, hơn nữa còn có vốn hiểu biết và thích giao lưu văn hóa với nhiều nước như Trần Nhật Duật là trường hợp rất hiếm có.

Người tiếp theo là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, thiên tử nghĩa nam của Thượng hoàng Trần Thái Tông.

Ông là võ tướng giỏi đánh thủy chiến nhất triều Trần.

Trần Khánh Dư tham gia đủ cả ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông và trong cả ba lần đó ông đều là một trong những nhân tố chủ chốt.

Trần Khánh Dư là con trai của Thượng tướng Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, dòng dõi Trần Thủ Độ.

Nhờ có nhiều phẩm chất ưu tú nên Khánh Dư được vua Trần Thái Tông bồi dưỡng và nhận làm con nuôi, phong làm Phiêu Kỵ tướng quân (vào thời nhà Trần, nếu không phải là hoàng tử thì không được phong chức này, Trần Khánh Dư là thiên tử nghĩa nam của Trần Thái Tông nên là trường hợp ngoại lệ).

Chỉ tiếc rằng cuộc đời của Trần Khánh Dư có một vết nhơ.

Khi đã có được công danh địa vị, Trần Khánh Dư lại vướng phải vụ án thông dâm với Thiên Thụy công chúa đã có chồng là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Sự việc bị phát giác, Trần Khánh Dư thân là thiên tử nghĩa nam lại có hành vi thông dâm, một hành vi rất đáng bị lên án và xử phạt nghiêm minh của xã hội thời xưa.

Trên công đường xét xử, vua Trần Thánh Tông sợ phật ý Hưng Đạo vương nên đành xử tội Trần Khánh Dư chịu hình phạt bị đánh đến chết.

Nhưng trước đó Thánh Tông đã ngầm dặn lính đánh nương tay, chúc đầu gậy xuống, nhờ thế mà đánh qua 100 roi Trần Khánh Dư vẫn sống, thế nên được tha tội chết (luật pháp thời Trần quy định nếu bị đánh qua 100 roi mà không chết nghĩa là trời tha nên được miễn tội chết).

Sau đó Trần Khánh Dư bị tước hết địa vị gia sản, phải về quê (Chí Linh, Hải Dương) bán than kiếm sống.

Năm 1282 ở hội nghị Bình Than, Trần Khánh Dư được vua Trần Nhân Tông phục chức, phong làm Phó Đô tướng quân, từ đây ông tiếp tục được triều đình tin dùng.

Trần Khánh Dư là tướng bốn đời của nhà Trần và là một trong những vị tướng giỏi nhất của triều đại Đông A.

Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng là con trai của Lê Phụ Trần và Chiêu Thánh, tên thật là Lê Khâm.

Thông thường chỉ những con cháu hoàng thất mới được phong "vương" nhưng xuất thân của Lê Khâm có điều đặc biệt, ông là con của Chiêu Thánh và Lê Phụ Trần nên được đặt cách mang họ của vua, phong tước "vương" cũng là điều bình thường.

Thẳng thắn mà nói, nhà Trần mắc nợ Chiêu Thánh rất nhiều.

Trần Bình Trọng dũng mãnh hơn người, tính tình cương trực, thẳng thắn, vẻ bề ngoài của ông hơi bặm trợn, nghiêm nghị với quân sĩ.

Vua Trần Thánh Tông giao cho Trần Bình Trọng chỉ huy đội quân Thánh Dực Dũng Nghĩa, sở dĩ nhà vua sắp xếp cho Bình Trọng chỉ huy đội quân này là bởi vì chỉ mỗi mình ông mới có đủ uy dũng và biết cách khiến họ chịu quy phục.

Vốn dĩ các binh sĩ Thánh Dực Dũng Nghĩa là tập hợp của những người xuất thân từ giang hồ, những tử tù hoặc các tội phạm nguy hiểm nhất được vua tha mạng để sống cống hiến cho quốc gia.

Tuy nhiên, họ sống không phải để lập công chuộc tội mà là để thỏa chí tung hoành thiên hạ, vì đối với những kẻ đã từng chọc trời khuấy nước, không người thân thích, không ai đoái hoài như họ thì mạng sống chỉ có ý nghĩa khi được sống với dã tính điên cuồng trên chiến trường, vì đó mới chính là con người họ, chiến đấu trên chiến trường là ý nghĩa cuộc đời họ.

Đội quân Thánh Dực Dũng Nghĩa được đánh giá là đội quân tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt thời bấy giờ, vì xuất thân của họ đều là những tội phạm nguy hiểm có tiếng trong giới giang hồ, có sự ngang tàng, lì lợm và có sẵn kinh nghiệm thực chiến.

Tuy đội quân này không nằm trong biên chế chính thức của triều đình nhưng đặc biệt chuyên nghiệp vì được hưởng chế độ huấn luyện ngang với Cấm quân (quân bảo vệ kinh thành).

Thánh Dực Dũng Nghĩa sống rất nghĩa khí và trung thành với nhà vua, nhưng tính khí của họ thất thường, không hiểu lễ nghĩa, rất khó chế ngự.

Nhiệm vụ của đội quân này là xung trận tuyến đầu, đánh những trận quan trọng nhất, xuất hiện ở những nơi thập tử nhất sinh, nói ngắn gọn họ là "Cảm tử quân".

Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285 và năm 1288, đội quân này đóng vai trò quan trọng, góp công lớn vào chiến thắng của toàn quân dân Đại Việt, những trận đánh nổi tiếng của họ là trận Thiên Mạc, Tây Kết (1285) và Bạch Đằng (1288).

Chỉ tiếc họ không được sử sách đề cao.

Có thể nói, cấm quân triều đình và Thánh Dực Dũng Nghĩa là đôi cánh sức mạnh của quân đội nhà Trần, tuy nhiên một cánh là trắng, một cánh là đen.

Điều này có nghĩa nếu như Trần Bình Trọng có khả năng chỉ huy và khiến những con người này chịu phục tùng ông thì khí chất của ông không phải tầm thường.

Nhân vật nổi bật nhất trong thế hệ thứ hai của triều đại Đông A không ai khác chính là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Quân Nguyên Mông sợ Trần Quốc Tuấn đến nỗi không dám gọi tên thật của ông, chúng gọi ông một cách rất cung kính là An Nam Hưng Đạo vương.

Ngoài những nhân vật tiêu biểu ở trên cũng phải nhắc đến An Tư công chúa.

Nhờ có An Tư công chúa vì nước quên thân, chấp nhận hi sinh bản thân mình, đến doanh trại của tướng giặc làm thiếp của hắn, đồng thời thay thế vua Trần Nhân Tông bày tỏ thành ý muốn cầu hòa để triều đình có thời gian rút khỏi Thăng Long, từ đó tạo tiền đề để Đại Việt có cơ hội lật ngược thế cờ trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai.

Lần lượt Trần Thủ Độ mất, Trần Thái Tông băng hà, khi Lý Chiêu Hoàng qua đời cũng là lúc lịch sử không còn nhắc đến tên Lê Phụ Trần.

Thế hệ thứ nhất của nhà Trần chính thức khép lại tại đây, qua đó mở ra thời kì mới để thế hệ thứ hai xuất hiện, đó là thế hệ kiêu hùng nhất của triều đại Đông A.

So với các thế hệ khác của vương triều này thì thế hệ thứ hai là vượt trội nhất.

Tại thời điểm đó, Đại Việt đã may mắn sản sinh ra rất nhiều nhân tài cùng một lúc, như Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải.

Đặc biệt, những nhân vật trong hoàng gia không chỉ có công xây dựng đất nước và bảo vệ nền độc lập cho Đại Việt mà còn có công phát hiện ra những nhân tài và bồi dưỡng cho họ, từ đó tạo ra nền móng vững chắc cho đời sau.

Mặc dù nhà Trần có chính sách ưu tiên cho hoàng gia trong bộ máy quan lại, nhưng người ngoài tộc nếu có thực tài vẫn được trọng dụng và trở thành trụ cột triều đình, sự xuất hiện của những người tài giỏi như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu hay Mạc Đĩnh Chi phần là vì triều đại Đông A biết cách nhìn người và trọng dụng nhân tài.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 15: Mông Cổ gây hấn


Tuy thất bại trong lần xâm lược năm 1258 nhưng Mông Kha vẫn nuôi ý định thâu tóm Đại Việt để Đế quốc Mông Cổ bành trướng xuống phía Nam, nhưng đến năm 1259 hắn bị giết chết trong trận chiến với nước Tống.

Ngôi Hãn bỏ trống khiến hai em trai của Mông Kha là Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca tranh giành lẫn nhau, A Lý Bất Ca được hội đồng Kurultai ủng hộ trong khi Hốt Tất Liệt tự xưng hoàng đế Mông Cổ, đem quân tấn công A Lý Bất Ca, gây nên cảnh nồi da nấu thịt.

Tình hình nội bộ bất ổn nên Hốt Tất Liệt chưa thể tính đến chuyện xâm lược Đại Việt, hắn sai người đưa thư sang Đại Việt hứa hẹn sẽ không gây hấn nữa nếu Đại Việt tiến cống đầy đủ.

Vua Trần Thánh Tông nhượng bộ và đồng ý ba năm tiến cống cho Mông Cổ một lần để tránh chiến tranh.

Nhưng những yêu sách của Hốt Tất Liệt đưa ra ngày càng vô lý.

Hắn cử một viên quan gọi là Đạt Lỗ Hoa Xích sang giám sát mọi mặt của Đại Việt.

Để tình hình bớt căng thẳng, vua Trần Thánh Tông chấp thuận để viên quan này đến Thăng Long.

Tuy nhiên khi tên này đến Thăng Long thì luôn có người theo sát từng bước nên hắn không do thám được gì và cũng không thể can dự vào việc triều chính của Đại Việt.

Sau khi dẹp yên nội loạn và chính thức làm hoàng đế Mông Cổ, Hốt Tất Liệt lộ rõ dã tâm muốn thâu tóm Đại Việt.

Năm 1267, hắn gửi thư đòi vua Trần Thánh Tông phải thực hiện 6 điều: Phải sang Mông Cổ chầu; phải gửi con hoặc em sang làm con tin; phải nộp sổ kiểm kê dân số; phải cho người đi quân dịch cho Mông Cổ; phải nộp thuế; ép vua Trần Thánh Tông phải để cho viên quan Đạt Lỗ Hoa Xích thay quyền thống trị Đại Việt.

Với những đòi hỏi thái quá như vậy vua Trần Thánh Tông đương nhiên cự tuyệt.

Hốt Tất Liệt muốn lấy đó làm cớ xuất binh "chinh phạt", nhưng lúc này y vẫn đang giao tranh với nhà Tống nên không thể tiến đánh Đại Việt.

Đến năm 1271, Hốt Tất Liệt chiếm được phía Bắc nước Tống, đổi tên nước là Đại Nguyên, từ đây quân Mông Cổ gọi là quân Nguyên.

Hốt Tất Liệt viết chiếu thư đòi vua Trần Thánh Tông phải sang Bắc Kinh chầu và đòi tìm cột đồng Mã Viện (nhằm làm nhục Đại Việt).

Thánh Tông lấy cớ đang bệnh trong người nên không thể đi xa được, cột đồng Mã Viện đã bị thất lạc từ lâu nên không tìm được.

Tình hình ngoại giao của hai nước diễn ra như vậy trong nhiều năm.

Hốt Tất Liệt luôn nghĩ ra những hạch sách, bắt ép, tìm cớ xâm lược, còn Trần Thánh Tông khéo léo từ chối, nhượng bộ nhưng đôi khi cứng rắn với nhà Nguyên, không để cho chúng được nước làm tới.

Đến năm 1278, Trần Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm, tức vua Trần Nhân Tông.

Một năm sau đó xảy ra sự kiện quan trọng thay đổi cục diện trung nguyên và ảnh hưởng trực tiếp đến Đại Việt.

Triều Tống tận diệt trong trận thủy chiến Nhai Môn, nhà Nguyên hoàn toàn làm chủ Trung Hoa.

Sau khi tiêu diệt nhà Tống, Hốt Tất Liệt muốn tiếp tục nam tiến mở rộng đế quốc.

Đại Việt trở thành mục tiêu tiếp theo, y từ lâu đã xem Đại Việt là cái gai trong mắt, mối thù bao năm nhức nhối muốn nhổ bỏ từ lâu.

Nghe tin vua Trần Nhân Tông lên ngôi, nhà Nguyên sai Sài Thung sang Đại Việt hạch hỏi, âm mưu khơi màu chiến tranh.

Sài Thung cậy mình là "sứ giả thiên triều", vào đến Thăng Long tỏ thái độ ngang tàng, hống hách, cưỡi ngựa đi thẳng vào tận cung điện, quân sĩ cản lại thì bị hắn dùng roi ngựa quật chảy máu đầu.

Sài Thung được triều đình sắp xếp cho ở điện Tập Hiền, hắn nằm lì không chịu tiếp ai, kể cả thái sư Trần Quang Khải thay mặt nhà vua đến tiếp kiến, Sài Thung vẫn không chịu gặp mặt.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn muốn dò xét ý đồ của Sài Thung, ngài cắt tóc, mặc áo vải, cải trang thành nhà sư đến thăm hắn.

Sài Thung tưởng Hưng Đạo vương là một nhà sư phương bắc nên hắn mới ngồi dậy, sai người pha trà đón tiếp niềm nở.

Khi Sài Thung phát hiện nhà sư là do Hưng Đạo vương cải trang thành, hắn ra hiệu cho thuộc hạ vờ lỡ tay chọc mũi tên vào đầu Hưng Đạo vương đến chảy máu, thế nhưng sắc mặt của ông không hề thay đổi, Sài Thung lấy đó làm khâm phục, tiếp đón chu đáo, rồi khi Quốc Tuấn cáo từ, Sài Thung theo tiễn Quốc Tuấn đến tận cửa.

Trong buổi nghị triều, Sài Thung đưa chiếu thư của Hốt Tất Liệt cho vua Trần Nhân Tông, trong thư Hốt Tất Liệt trách cứ Nhân Tông sao dám tự lập mình làm vua mà không xin phép triều đình nhà Nguyên, rồi bắt nhà vua phải sang Bắc Kinh chầu, hoặc phải gửi con em sang làm con tin.

Trong thư, Hốt Tất Liệt còn đe dọa:

- Nếu ngươi không yên, cố ý kháng cự mệnh trẫm thì cứ sửa đắp thành lũy, sắm sửa giáp binh, sẵn sàng mà đợi.

Vua Trần Nhân Tông nén cơn giận, vẫn mềm mỏng nói với Sài Thung:

- Trẫm là người sinh ra trong cung cấm, không quen nắng gió, không đi xa được, nếu đi thì sợ chết ở dọc đường.

Sài Thung bắt bẻ:

- Vua Tống chỉ mới 10 tuổi và cũng sinh trong cung nhưng vẫn sang chầu vua Nguyên được đấy thôi!

Vua Trần Nhân Tông nói:

- Trẫm là vua một nước, là người nắm giữ vận mệnh quốc gia.

Nay lại vượt đèo lội suối, đi vào chốn rừng thiêng nước độc, chẳng may có điều bất trắc xảy ra thì nguy cho bá tánh.

Lâu nay hai nước có mối giao hảo bền chặt, nhờ ngài chuyển lời với chúa Nguyên miễn cho yêu cầu khó khăn này.

Sài Thung đáp lại:

- Thôi được!

Dẫu sao Ngài là vua một nước nên cũng có thể miễn cho Ngài.

Nhưng Ngài phải cho con hoặc em sang làm con tin.

Trần Nhân Tông khăng khăng từ chối:

- Tất cả hoàng thân quốc thích đều sinh trưởng chốn hoàng cung, không quen ra ngoài, trẫm e là những người ấy dù có sang được đến nơi cũng không thể sống nổi vì không hợp phong thổ xứ lạ.

Họ không thể đảm đương nổi trọng trách này.

Sài Thung thuyết phục vua Trần Nhân Tông sang Bắc Kinh chầu Nguyên chúa không được đành bỏ về nước.

Không ép vua Trần sang chầu được, Hốt Tất Liệt lại đưa ra yêu sách ép Đại Việt cống người vàng, hiền sĩ, thợ thuyền.

Để xoa dịu tình hình, vua Trần Nhân Tông phái người chú là Trần Di Ái thay mình đến Bắc Kinh chầu chúa Nguyên.

Trần Di Ái đến nơi được Hốt Tất Liệt ra sức chiêu hàng.

Y muốn lập một triều đình tay sai người Việt từ phái đoàn của Trần Di Ái, phong cho Di Ái làm An Nam quốc vương, những người đi theo Di Ái cũng được phong chức tước cao, như Lê Mục làm Hàn Lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư.

Những chức vụ này ở Đại Việt rất khó với tới, nên Trần Di Ái và tùy tùng của hắn đã xiêu lòng cúi đầu chấp thuận.

Có bộ máy tay sai bù nhìn ấy, Hốt Tất Liệt đắc ý nghĩ rằng hắn đã nắm được Đại Việt trong tay, gửi chiếu thư cho vua Trần Nhân Tông:

- Ngươi đã cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng, ta đã lập chú ngươi là Trần Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, cai trị dân chúng của ngươi.

Biết rằng không thể hòa hoãn được nữa, vua Trần Nhân Tông không còn nhượng bộ, nhà vua ban lệnh triệu tập Hưng Đạo vương và các tướng trở về Thăng Long để bàn kế sách chống giặc.

Dù bề ngoài tỏ ra nhún nhường Nguyên Mông nhưng triều đình Đại Việt đã âm thầm chuẩn bị binh mã từ sớm, chỉ lo lòng dân liệu có dám cùng triều đình bước vào cuộc chiến không cân sức này không?

Thượng hoàng Trần Thánh Tông tổ chức Hội nghị Diên Hồng, mời các bô lão khắp cả nước về đây để hỏi ý kiến các vị: "nên đánh hay nên hòa?"
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 16: Hội nghị Bình Than


Hốt Tất Liệt phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, phái Sài Thung dẫn theo 1000 kỵ binh đi theo hộ giá Trần Di Ái về Đại Việt thay Trần Nhân Tông lên làm vua.

Đoàn của Trần Di Ái và Sài Thung bị chặn đánh ở ải Nam Quan, Di Ái bị bắt, Sài Thung bị trúng tên chột một mắt phải quay về.

Vậy là ý đồ dựa vào Trần Di Ái để cai trị Đại Việt của Hốt Tất Liệt tan thành mây khói.

Cuối năm 1282 Hốt Tất Liệt dùng kế "mượn đường diệt Quắc" phái sứ giả sang Đại Việt mượn đường đi đánh Chiêm Thành và yêu cầu Đại Việt hỗ trợ lương thực.

Vua Trần Nhân Tông một mực từ chối, đoán được mưu kế của triều đình nhà Nguyên, biết rõ quân Nguyên tiến quân xâm lược Đại Việt chỉ còn là chuyện sớm muộn nên nhà vua bèn tìm đến thượng hoàng Trần Thánh Tông bàn bạc.

Nhân Tông:

- Thưa phụ hoàng, chúng ta không cho Hốt Tất Liệt mượn đường đánh Chiêm Thành, hắn vịn vào cớ đó để tấn công Đại Việt.

Trẫm đã ba lần cử sứ giả đến Đại Đô (kinh đô nhà Nguyên) thương lượng xin cầu hòa nhưng đều không thành, Thát Đát ngày càng lộng hành, cố tình gây chiến, ta gắng né tránh nhưng không thể né tránh được mãi.

Nếu đã như vậy trẫm muốn quyết chiến sinh tử với Thát Đát.

Vua Trần Nhân Tông nói tiếp:

- Mấy ngày trước trẫm nhận được tin từ biên giới Chiêm Thành báo về.

Hốt Tất Liệt đã bắt đầu động binh, hắn phái Toa Đô làm Nguyên soái thủy quân vượt biển tấn công Chiêm Thành.

Nếu như Chiêm Thành mà bị Thát Đát thôn tính thì hai phía bắc - nam của Đại Việt đều là địch, chúng ta xem như là miếng mồi đã nằm trong miệng của Hốt Tất Liệt.

Thượng hoàng Thánh Tông đáp lời:

- Lâu nay Hốt Tất Liệt luôn nhắm vào chúng ta!

"Môi hở răng lạnh", vậy nên bệ hạ hãy phái tinh binh đi chi viện cho Chiêm Thành trước.

- Còn về chuyện ta có nên đối đầu với Hốt Tất Liệt trực tiếp trên chiến trường hay không, Bệ hạ phải tự tin vào quyết định của chính mình trước đã.

Thân là vua, là kẻ đứng đầu thì phải là chỗ dựa cho bá tánh, dẫn dắt bá tánh.

Nếu như bệ hạ đã muốn đánh thì phải tỏ rõ quyết tâm để mọi người cùng nhìn về một hướng, vua tôi một lòng, cùng nhau chiến đấu.

Thượng hoàng nói tiếp:

- Bệ hạ cần nhanh chóng triệu tập các vương hầu và bá quan văn võ đến cùng nhau nghị bàn.

Hãy nhớ nghị bàn chiến lược đánh giặc với các tướng sĩ thôi chưa đủ, quan trọng là tinh thần chiến đấu của các tướng sĩ.

Tướng sĩ phải sẵn sàng xông pha, dám chiến đấu đến chết, không được sợ hãi trước sức mạnh của bọn ngoại xâm.

Vì run sợ trước giặc ngoại xâm sẽ dẫn đến chiến bại.

Nếu chiến bại thì chúng ta sẽ chết không có đất chôn thây, thậm chí là trong thành Thăng Long sẽ không còn một ai sống sót.

- Nay sứ Nguyên vẫn còn ở Thăng Long, bệ hạ nên chọn một địa điểm nghị sự khác thích hợp hơn.

Tất cả lời ta nói bệ hạ hiểu rõ rồi chứ?

Cuối cùng thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chọn bến Bình Than làm nơi tổ chức hội nghị.

Đây là hội nghị quân sự vô cùng quan trọng và cần thiết để thượng hoàng, vua và triều đình thảo luận và thống nhất phương án, quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước.

Mục đích của hội nghị Bình Than là bàn về hai vấn đề thiết yếu, một là xác định phương hướng chiến lược chống xâm lăng và hai là tổ chức bộ máy chỉ huy quân sự.

Chưa đến ngày diễn ra hội nghị nhưng triều đình đã xảy ra tranh luận vô cùng gay gắt, bá quan rối như tơ vò.

Vua Trần Nhân Tông bản lĩnh gan dạ chủ chiến, thế nhưng nhà vua trẻ tuổi phải chịu sức ép rất lớn từ phe chủ hòa do Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc cầm đầu, họ luôn tìm cơ hội khuyên nhủ nhà vua nên hàng quân Nguyên, chấp nhận làm nước chư hầu và chịu sự bảo hộ của Hốt Tất Liệt để đổi lấy thái bình, tránh chiến tranh tàn khốc cho Đại Việt

Nhân Tông muốn đánh nhưng triều đình không theo thì phải làm sao?

Một hôm nhân lúc đang nghị sự trong thư phòng của Nhân Tông, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc thẳng thắn đứng ra tâu với nhà vua:

- Thưa bệ hạ, có những lời này chỉ có thần dám nói, người khác sợ đắc tội với Người.

Nhân Tông:

- Hoàng thúc cứ nói, đừng sợ.

Ích Tắc trầm tư một hồi rồi nói:

- Nguyên Mông có trăm vạn binh mã, binh giáp đầy trời.

Về tướng, tướng sĩ Mông Cổ chinh chiến nhiều năm, dũng mãnh vô cùng, túc trí đa mưu, giỏi về thao lược, chưa kể chúng còn mới vừa thâu nạp thêm các danh tướng đến từ Tống và Tây Vực.

Như vậy quân Nguyên mạnh lại càng mạnh thêm.

Về binh, cuộc đời của binh sĩ Nguyên Mông là trên lưng ngựa chiến đấu, họ đã quen với chiến tranh, giao tranh trên chiến trường như cơm bữa, binh lính hăng hái xung phong ra trận.

Còn Đại Việt ta, thái bình đã lâu nên quân dân không quen chiến đấu.

Binh mã bộ, kỵ, thủy quân, quân của các vương hầu, nếu gom hết lại chưa đến 20 vạn.

Từ lúc Thái Tông hoàng đế sáng nghiệp đến nay đã được năm mươi bảy năm, cuộc chiến lớn nhất mà tướng sĩ Đại Việt đã từng trải qua đó là cuộc giao tranh với chính quân Mông Cổ hai mươi lăm năm về trước.

Tuy là năm đó quân ta đại thắng nhưng đó là khi ta có quân số đông gấp đôi quân giặc, hơn nữa nhờ lúc đó triều đình có Thái sư Trần Thủ Độ và Đại đô đốc Lê Phụ Trần dũng mãnh, túc trí đa mưu dẫn dắt quân ta chọn đúng thời cơ phản công nên mới lật ngược được tình thế.

Nay hai người đó không còn nữa, tướng sĩ biết tin vào ai đây?

Triều đình còn có ai có thể gánh nổi trọng trách này?

Hai mươi lăm năm trước tuy là Quốc Tuấn giữ chức Thống đốc binh sự nhưng mưu kế đều là nhờ Thái sư Trần Thủ Độ và Đại đô đốc Lê Phụ Trần nghĩ ra.

Bây giờ thế giặc mạnh hơn trước rất nhiều, nếu Hốt Tất Liệt không phái 5 vạn binh như năm xưa, mà phái 20 vạn, 30 vạn quân thì chúng ta đánh thế nào?

Nói tóm lại, binh sĩ Đại Việt ta không được đối đầu với quân Nguyên.

Nhân Tông nói:

- Hoàng thúc, Đại Việt địa thế hiểm trở, có rất nhiều rừng núi, trong khi quân Nguyên chỉ giỏi đánh ở đồng bằng.

Rừng núi có thể che chắn cho quân ta, chúng ta tập kích bất ngờ cũng có thể rút lui khi cần thiết.

Còn nữa, Nguyên Mông sử dụng cung tên và kỵ binh thành thạo nhất, vũ khí mạnh nhất của chúng chính là kỵ binh.

Nhưng kỵ binh chỉ thuận tiện giao tranh ở đồng bằng, nếu như phải giao tranh ở địa hình hiểm trở thì sức mạnh và tính cơ động của chúng đã bị hạn chế, cung tên cũng mất đi sự lợi hại khi bắn trong rừng.

Đó là chúng đã mất đi lợi thế.

Ích Tắc đáp:

- Đúng vậy, nhưng đó chỉ là những khó khăn rất nhỏ của bọn chúng.

Nguyên Mông có trăm vạn binh hùng tướng mạnh đã chinh phục được rất nhiều quốc gia trên thế giới, chỉ dựa vào địa hình hiểm trở, rừng núi ở Đại Việt không thể nào ngăn chặn được bọn chúng.

Toa Đô vâng lệnh của Hốt Tất Liệt đem thủy quân tấn công Chiêm Thành, thuyền chiến của bọn chúng chiều dài dài mấy chục thước, chiều ngang dài mấy thước, thuyền của thủy quân Đại Việt chỉ là thuyền nhỏ thì làm sao chống lại được thuyền của quân Nguyên?

Cả bộ binh, kỵ binh và thủy binh, chúng đều mạnh vượt trội hơn ta.

Ta không có cơ hội thắng.

Nhân Tông hỏi:

- Vậy ý của hoàng thúc như thế nào?

Ích Tắc thở dài đáp:

- Nếu chiến... thì nhân dân Đại Việt lầm than, nếu hòa... có thể bảo đảm an dân.

Xin bệ hạ, bá quan văn võ và bá tánh của Đại Việt chấp nhận quy hàng.

Sau đó xin Hốt Tất Liệt giao cho bệ hạ làm An Nam quốc vương, để cho bệ hạ cai quản Đại Việt như trước đây.

Tuy chúng ta quy hàng nhà Nguyên nhưng Đại Việt vẫn là của bệ hạ, mặc dù là quy hàng nhưng thực chất chỉ là dùng kế hoãn binh.

Ích Tắc nói xong có người tiếp lời:

- Bẩm bệ hạ, lời của Chiêu Quốc vương là phải.

Tránh chiến xin hàng, hợp ý trời, thuận lòng dân.

Bệ hạ đầu hàng Nguyên Mông có thể giúp cho bá tánh Đại Việt không phải chịu khổ.

Quyết tử... hậu quả thây chất thành núi, máu chảy thành sông.

Trần Nhân Tông nén giận, bảo họ lui về, đợi đến hội nghị Bình Than sẽ đưa ra quyết định là đánh hay hòa.

Nhà vua quan sát thấy Trần Nhật Duật đứng đó im lặng không nói gì, đợi đến khi bá quan lui ra hết nhà vua mới trách Nhật Duật để thử lòng ông:

- Tất cả bọn họ đều khuyên trẫm hàng, còn hoàng thúc thì im lặng không nói câu nào!

Nhật Duật đáp:

- Tâu bệ hạ, Chiêu Quốc vương và các văn thần vừa nãy chủ hàng là có lý do của bọn họ.

Nhìn từ góc độ của họ, đương nhiên phải nên quy hàng.

Bởi vì sau khi bọn họ quy hàng, bọn họ vẫn có thể có được cuộc sống bình yên như xưa, thậm chí Hốt Tất Liệt còn sẵn sàng lấy tước quan, bổng lộc ra chiêu dụ bọn họ.

Thậm chí là ngay cả thần, thần cũng có thể quy hàng.

Sau khi hạ thần quy hàng, hạ thần có thể từ bỏ hết chức quan để về quê quy ẩn, sống một cuộc sống bình dị của dân thường, hoặc bày ít văn thơ bút mực tại gia để mở một lớp học, sống ấm no đến cuối đời, không có vấn đề gì.

Nhưng thưa bệ hạ, văn võ bá quan của Đại Việt ai hàng thì hàng, nhưng thượng hoàng và bệ hạ nhất quyết không được quy hàng.

Nhân Tông hỏi:

- Tại sao phụ hoàng và trẫm không được hàng?

Nhật Duật đáp:

- Hốt Tất Liệt từ lâu đã xem bệ hạ và thượng hoàng như là cái gai trong mắt của hắn, bắt được hai người rồi thì y sẽ không dùng vàng bạc, châu báu, tước quan cao trọng để chiêu hàng, dụ dỗ như những người khác mà chắc chắn sẽ đem hai người ra chém đầu.

Vậy nên, bệ hạ chỉ có thể chiến đấu với Hốt Tất Liệt chứ không được quy hàng hắn.

Nhật Duật nói tiếp:

- Thái sư (tức Trần Quang Khải) đã đi đón quốc công (tức Trần Quốc Tuấn), chắc có lẽ sắp về đến Thăng Long rồi.

Bệ hạ hãy đợi hai người họ về rồi bàn tính tiếp.

Đêm đó, đã canh hai nhưng đèn trong thư phòng của Nhân Tông vẫn còn sáng, Thượng hoàng thấy thế nên vào gặp nhà vua.

Nhân Tông đang trầm tư suy nghĩ, thấy thượng hoàng bước vào liền hỏi:

- Phụ hoàng, đã canh hai rồi, sao người còn chưa ngủ?

Thánh Tông:

- Không phải con cũng chưa ngủ sao?

Lúc này đây không biết còn bao nhiêu người không ngủ được.

- Phụ hoàng nói phải.

Nhân Tông nói tiếp:

- Điều hài nhi lo bây giờ không chỉ là chiến hay hòa, mà còn có mối lo chia rẽ.

Văn võ bá quan một nửa chủ chiến, một nửa chủ hòa, thậm chí còn có kẻ khuyên hài nhi nên đầu hàng quân Nguyên để đảm bảo an dân.

Nếu chúng ta không tìm ra cách để văn võ bá quan triều đình có thể đồng tâm hiệp lực, chúng ta chưa đánh đã thua.

Thật hổ thẹn với Thái Tông hoàng đế!

Nói về chuyện Trần Quang Khải đi đón Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương đi đón thuyền của Hưng Đạo vương từ Vạn Kiếp trở về Thăng Long để chuẩn bị dự hội nghị Bình Than.

Quang Khải xin được lên thuyền đi nhờ về Thăng Long, nhân dịp này muốn xóa bỏ hiềm khích của hai người.

Số là hai ông có hiềm khích với nhau từ chuyện Trần Liễu tạo phản năm xưa, nhưng Hưng Đạo vương thật sự trong sạch, ngài không hề có ý đồ tạo phản như cha mình.

Hôm nay thế giặc đến gần, Quang Khải chủ động tìm cách giảng hòa với Quốc Tuấn, cùng nhau đồng tâm hiệp lực để ba quân vững tâm đánh giặc.

Hai ông cùng nhau đánh cờ đến tối trên thuyền, vui vẻ với nhau như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Biết trời lạnh Quang Khải ngại tắm, Hưng Đạo vương nấu nước thơm tắm cho Quang Khải:

- Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm.

Nói rồi ông cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho Quang Khải, Hưng Đạo vương nói đùa:

- Hôm nay được tắm cho thượng tướng.

Quang Khải cũng đùa lại rằng:

- Hôm nay được quốc công tắm cho.

Hai gia nô trung thành của Trần Hưng Đạo là Yết Kiêu, Dã Tượng thấy chủ nhân của mình và Trần Quang Khải đã gạt bỏ được hiềm khích, có thể hòa hợp với nhau như vậy trong lòng họ rất đỗi vui mừng.

Tháng 10/1282 hội nghị Bình Than được tổ chức, bá quan văn võ lúc đó tranh luận rất gay gắt về vấn đề nên hòa hay nên đánh.

Nếu như các võ tướng như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật quyết tâm chống giặc thì phe chủ hòa có Trần Ích Tắc đứng đầu, khuyên hai vua chiều theo những yêu sách của Hốt Tất Liệt, sau đó chấp nhận sự bảo hộ của Đại Nguyên để tránh cảnh chiến tranh.

Nhà vua đang chán ngán vì bàn luận mãi nhưng chẳng đâu vào đâu, vua nhìn ra bên ngoài thì bất chợt thấy một chiếc thuyền lớn chở than đi ngang, người bán than đội nón lá, mặc áo ngắn chèo thuyền có dáng vẻ rất giống Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư.

Nhà vua liền sai lính chèo thuyền đuổi theo gọi ông lão bán than đến để hỏi chuyện.

Lính đuổi theo đến cửa Đại Than thì kịp, gọi: "ông lái ơi, có lệnh vua gọi".

Lão bán than trả lời với lính rằng:

- Lão là người buôn bán, có việc gì mà vua gọi?

Lính về tâu lại với Nhân Tông, Nhân Tông khẳng định chắc chắn lão ấy là Trần Khánh Dư, vì dân thường không ai dám nói như vậy.

Vua lệnh cho nội thị phải đưa Khánh Dư đến gặp cho bằng được.

Gặp lại Khánh Dư, Nhân Tông mừng lắm, thấy Khánh Dư vất vả mưu sinh, ngài nghĩ thầm: "nam nhi đến thế là cùng cực".

Vậy rồi Nhân Tông phục chức cho Khánh Dư.

Trước kia Khánh Dư mắc tội thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Hưng Đạo vương, nhưng lần này Hưng Đạo vương bỏ qua lỗi lầm của Khánh Dư để đồng lòng cùng nhau lo việc nước.

Lại nói về Khánh Dư, niềm tin của vua Trần Nhân Tông đã được đặt đúng chỗ, trong khi bá quan cứ bàn đi tính lại, người thì khuyên vua nên tiến cống cho Hốt Tất Liệt thật hậu hĩnh để hoãn binh, người thì sợ chiến tranh nên muốn cho quân Nguyên mượn đường tấn công Chiêm Thành, người thì khuyên nhà vua nên quy hàng Hốt Tất Liệt, chấp nhận làm nước chư hầu của Đại Nguyên.

Còn Khánh Dư theo phe chủ chiến, cương quyết xin đem quân đi trấn giữ các nơi hiểm yếu, sẵn sàng chiến đấu với giặc.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đứng dậy phân tích rõ ràng điểm yếu của giặc cho bá quan văn võ:

" - Thưa chư vị bá quan văn võ, xin hãy nghe những lời ngu muội của Quốc Tuấn tôi.

Hốt Tất Liệt xuất binh đã phạm phải ba sai lầm tối kị của binh gia:

Thứ nhất là vấn đề lương thực, hậu cần.

Sở dĩ thông thường quân Nguyên muốn "đánh nhanh thắng nhanh" bởi vì điểm yếu chí tử của chúng là công tác hậu cần, vận chuyển lương thực.

Vậy nên chỉ cần kéo dài cuộc chiến, đợi khi thiếu lương thực, quân Nguyên sẽ tự khắc suy yếu.

Thứ hai, quân Nguyên từ phương bắc kéo xuống, không hợp thủy thổ, lâu ngày dễ sinh dịch bệnh.

Thứ ba, quân Nguyên thôn tính nước Tống khiến nhà Tống diệt vong.

Nay Hốt Tất Liệt lại đi chiêu mộ thêm rất nhiều tướng sĩ người Tống, hắn làm như vậy không khác gì tự lấy giáo đâm mình.

Lòng trung thành của các tướng sĩ nước Tống đối với quân Nguyên chắc chắn không đáng tin.

Theo bổn vương đoán, lần này quân Nguyên tiến quân sẽ điều động rất nhiều lính Tống tham chiến.

Vậy nên chúng ta cần khai thác điểm này, không chỉ giao tranh với chúng trên chiến trường mà còn phải đánh vào tâm lý quân địch, phải cho người Tống hiểu: "Kẻ thù của Đại Việt là quân Nguyên chứ không phải quân Tống.

Cả Đại Việt và người Tống đều có kẻ thù chung là giặc Nguyên Mông".

Hốt Tất Liệt chỉ cần phạm phải một trong ba sai lầm này cũng đủ chuốc lấy thất bại, đằng này hắn đã phạm phải ba sai lầm cùng một lúc, vậy nên lần này quân ta tất thắng".

Vua Trần Nhân Tông rất hài lòng với lập luận của Quốc Tuấn.

Quyết định phong cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế nhận trọng trách thống lĩnh toàn quân, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư cùng hợp lực với Trần Quốc Tuấn chỉ huy ba quân đánh giặc.

Trước đó, Nguyên soái thủy quân của Nguyên Mông là Toa Đô dẫn quân vượt biển tấn công Chiêm Thành, dự định thôn tính Chiêm Thành để làm bàn đạp đánh vào phía nam Đại Việt, phối hợp với đại quân từ Trung Quốc kéo xuống, cùng tạo thế gọng kìm, bao vây Đại Việt.

Triều đình Đại Việt nhận được tin báo, lo ngại "môi hở răng lạnh" nên đã phái 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện cho Chiêm Thành.

Trước sức kháng cự mạnh mẽ của Chiêm Thành, cánh thủy quân của Toa Đô bị sa lầy tại đây.

Tuy không thể thôn tính được Chiêm Thành như dự định nhưng Toa Đô vẫn đóng quân tại đây đợi lệnh Hốt Tất Liệt.

Y viết thư tâu với Hốt Tất Liệt:

- Giao Chỉ (tức Đại Việt) liền đất với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam (Trung Quốc), Xiêm (Thái Lan), Miến (Myanmar), địa thế thuận lợi cho quân ta nam tiến, nên lập tỉnh ngay trên đất ấy.

Khi tiến đánh Giao Chỉ, bệ hạ nên đóng quân trấn giữ tại ba đạo: Việt Lý (Quảng Trị ngày nay), Triều Châu (Trung Quốc), Tỳ Lan (Trung Quốc) để lấy lương ở đó cấp cho quân sĩ, tránh được việc vận tải đường biển mệt nhọc.

Kế sách ấy của Toa Đô được vua Nguyên tán thành.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 17: Hịch Tướng Sĩ


Thời điểm chiến tranh cận kề, nhằm để khích lệ tinh thần chiến đấu xả thân vì nước của ba quân mà Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp soạn ra bài Hịch Tướng Sĩ khuyên răn tì tướng.

Đại ý của bài hịch là khuyên binh sĩ chuyên tâm học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng chăm chỉ học tập trận pháp theo sách Binh Thư Yếu Lược nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, tận trung báo quốc.

Bài hịch có nội dung như sau:

Ta thường nghe Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.

Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có?

Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh cùng sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được!

Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ.

Thôi những chuyện xa ta không nói đến nữa.

Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây.

Vương Công Kiên là người thế nào?

Tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào?

Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đương trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu?

Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào?

Tì tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào?

Vậy mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan.

Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường.

Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng; giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn.

Thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi tai vạ về sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng.

Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.

Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì!

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn.

Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm.

Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước; hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai.

Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!

Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các ngươi cũng bị mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận.

Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng được không?

Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ câu "đặt mồi vào đống củi" là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm răn sợ.

Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên; khiến cho người người gỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai.

Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà tổ tông của các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm.

Lúc bấy giờ các người không muốn vui vẻ phỏng có được không?

Nay ta chọn binh pháp các nhà, làm một quyển gọi là "Binh thư yếu lược".

Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.

Vì sao vậy?

Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc.

Nếu vậy, rồi sau đây sau khi giặc giã dẹp yên muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào mà đứng trong trời đất nữa?

Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.

Bài hịch truyền ra khích lệ tinh thần tướng sĩ, tất cả binh lính ai nấy đều một lòng muốn giết giặc báo quốc.

Để tỏ lòng quyết tâm, các binh sĩ xăm lên tay mình hai chữ: "sát Thát" (giết quân Nguyên).

Vua tôi đồng tâm hiệp lực, khí thế quân Đại Việt lên cao ngút trời.

Hưng Đạo vương phân công các tướng chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu, bản thân Quốc Tuấn thống lĩnh đại quân đóng giữ ở cửa Nội Bàng chờ quân Nguyên đến.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 18: Hội nghị Diên Hồng


Tháng 12/1284, chúa Nguyên Hốt Tất Liệt phong cho hoàng tử thứ chín của y là Thoát Hoan làm Thống soái, đặt tước hiệu Trấn Nam vương, thống lĩnh 50 vạn đại quân, dẫn theo các thượng tướng dày dặn kinh nghiệm đã từng đánh thắng nhà Tống như A Lý Hải Nha, Lý Hằng, Ô Mã Nhi, Nạp Tốc Lạt Đinh đi theo giúp sức.

Đại quân Thoát Hoan xuất phát từ Vân Nam (Trung Quốc), tiến quân chia làm hai đường.

Một đường do Nạp Tốc Lạt Đinh dẫn đầu, đi theo hướng Vân Nam áp sát biên giới phía tây Đại Việt.

Cánh quân còn lại do Thoát Hoan chỉ huy, đi theo ngả Tư Minh (Trung Quốc) tiến đến gần biên giới Lạng Sơn đóng quân tại đây.

Thoát Hoan lại giở trò cũ, sai người đưa thư cho vua Trần Nhân Tông, y nói rằng chỉ muốn mượn đường đi đánh Chiêm Thành chứ không có ý đánh Đại Việt.

Trần Nhân Tông không lạ gì kế này, viết thư trả lời Thoát Hoan:

- Từ nước tôi đến Chiêm Thành thủy bộ đều không tiện.

Thấy không khuất phục được vua Trần Nhân Tông, Thoát Hoan sai A Lý Hải Nha đem thư đến hăm dọa Trần Quốc Tuấn:

- Bổn vương nắm trong tay 50 vạn hùng binh, nếu nhà ngươi không cho ta mượn đường, đừng trách ta phá tan bờ cõi Đại Việt.

Trần Quốc Tuấn không thèm trả lời, cũng không cần thiết giữ lễ cho đuổi thẳng A Lý.

Nguyên Mông khởi động chiến tranh.

Bấy giờ thế giặc lớn mạnh nên thượng hoàng Trần Thánh Tông lo ngại lòng dân lung lay, bèn cho triệu mời các vị bô lão từ khắp cả nước về Thăng Long ban yến ở điện Diên Hồng để hỏi ý kiến các vị về chủ trương nên đánh hay nên hòa.

Bấy giờ là đầu tháng 2 năm 1285, khí trời trở nên lạnh lẽo thế nhưng các bô lão từ khắp mọi miền đất nước không quản ngại đường xa cách trở, nô nức kéo về Thăng Long theo lời kêu gọi của thượng hoàng.

Thượng hoàng đứng trước mặt các vị bô lão râu tóc bạc phơ đại diện cho nhân dân cả nước, Ngài hỏi:

- Nên đánh hay nên hòa?

Các vị bô lão muôn người nhưng cùng hô vang một tiếng: "đánh".

Thượng hoàng hỏi thêm một lần nữa:

- Chúng ta là nước yếu, họ là nước mạnh, vậy thì chúng ta nên đánh hay nên hòa?

Các bô lão đồng thanh trả lời:

- Quyết chiến!

Quyết chiến!

- Nếu chiến tranh xảy ra tất có mất mát đau thương, các cụ có chấp nhận không?

Các bô lão vẫn đồng thanh trả lời:

- Hy sinh!

Hy sinh!

Những người chứng kiến giây phút này đều không khỏi nức lòng, ý chí quật cường của các bô lão tiếp thêm sức mạnh cho triều đình và toàn thể nhân dân Đại Việt chống giặc.

Chứng kiến các vị bô lão anh hùng dũng cảm, bá quan văn võ hạ quyết tâm sống chết vì non sông quốc tổ, còn những kẻ xin nhà vua cầu hòa tự cảm thấy hổ thẹn trong lòng.

Bàn về hội nghị Diên Hồng, sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét trong Đại Việt Sử Kí Toàn Thư rằng:

"Giặc Hồ vào cướp nước là nạn lớn nhất của đất nước.

Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi đến ban yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao?

Là vì Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng, để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi.

Đó là giữ được cái nghĩa xưa nuôi người già để xin lời hay vậy."

Thượng hoàng Trần Thánh Tông hơn người là ở điểm này, biết trưng cầu dân ý, tôn trọng ý dân.

Ngày thường các phụ lão là dân đen thân phận thấp hèn, tay bùn chân lấm, nay bỗng dưng được triều đình tín nhiệm, mời vào tận đại điện hoàng cung để bàn quốc gia đại sự, tinh thần các bô lão tất nhiên phấn chấn khác thường, lý nào lại sợ giặc?

Nhân dân càng căm phẫn kẻ thù, triều đình càng củng cố được nội lực mà đưa ra phương án tác chiến thích hợp.

Nếu toàn thể nhân dân đồng lòng chống giặc và trở thành hậu phương vững chắc của triều đình thì cơ hội chiến thắng càng cao.

Vì lẽ đó mà hội nghị Diên Hồng được tổ chức, để triều đình nhân dịp này vừa có thể thăm dò ý dân, vừa có thể đoàn kết lòng dân, làm công tác tư tưởng, củng cố mối quan hệ giữa triều đình và dân chúng.

Nếu cuộc chiến diễn ra bất lợi cho Đại Việt thì hội nghị Diên Hồng ngay từ đầu đã loại bỏ được sự đổ lỗi từ phía xã hội cho triều đình.

Khi thượng hoàng hỏi "Nếu chiến tranh xảy ra tất có mất mát đau thương, các cụ có chấp nhận không?" các bô lão đồng lòng chấp nhận hy sinh, sự hy sinh này là hy sinh vì non sông Đại Việt.

Dù cho sau này triều đình có bại trận trước thế giặc mạnh đi nữa chắc chắn triều đình vẫn sẽ được dân chúng tiếp tục tin tưởng đi theo ủng hộ, vì khi đất nước xảy ra chiến tranh thì triều đình không thể không dựa vào tài lực của dân chúng.

Các bô lão là tầng lớp có ảnh hưởng lớn nhất trong xã hội bấy giờ, khi đã "đả thông tư tưởng" sẽ trở thành những người đi tuyên truyền, phổ biến chủ trương chống ngoại xâm của triều đình một cách tự nguyện, lại rất hiệu quả, góp phần tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội.

Đó là lý do tại sao Nguyên Sử lại chép: "Quân Đại Việt càng đánh càng đông".

Thế thì tại sao Đại Việt có quân đông đến vậy?

Đó là do dân binh từ khắp nơi đổ về hỗ trợ cho quân triều đình.

Hội nghị Diên Hồng kết thúc không bao lâu thì Thoát Hoan dẫn quân tấn công biên giới Đại Việt.
 
Hào Khí Đông A
Câu chuyện 19: Trấn Nam vương Thống soái động binh


Tháng Chạp năm Giáp Thân (1284) Thống soái Thoát Hoan chia quân làm 6 hướng tấn công vào biên giới Đại Việt.

Những trận chiến ác liệt nổ ra.

Trước lực lượng áp đảo của quân Nguyên, quân Trần phải lui dần.

Sáu cánh quân Nguyên do Thoát Hoan và các tướng Bột La Đáp Nhĩ, Ô Mã Nhi, Lý Hằng, Tôn Hựu, Sát Tháp Nhi Đài chỉ huy nhanh chóng chiếm được các cứ điểm quan trọng của quân Trần.

Các cánh quân Đại Việt lui về tập trung giữ ải Chi Lăng (Lạng Sơn).

Tận dụng địa thể hiểm trở của ải Chi Lăng, Trần Quốc Tuấn áp dụng lại mưu kế của hoàng đế Lê Đại Hành đã từng sử dụng để đánh tan quân Tống xâm lược năm 981.

Hưng Đạo cho giấu quân trên những ngọn núi cao rồi cử Phạm Ngũ Lão dẫn quân ra đánh, vờ thua, dụ cho quân Nguyên đuổi theo để chúng rơi vào trận địa mai phục.

Nhưng quân Nguyên lại không trúng kế.

Vì nhận thấy địa thế xung quanh hiểm trở bất an, con đường trước mặt đều là núi cao rừng rậm, dễ dàng giấu quân mai phục, thế nên chúng không đuổi theo.

Phạm Ngũ Lão quay lưng lại không thấy quân Nguyên đâu nên lệnh cho binh sĩ quay lại tiếp tục khiêu chiến, giặc vẫn không trúng kế, chúng chỉ cho cung thủ bắn tên để đẩy lui quân Trần chứ không vội vã đuổi theo.

Thoát Hoan đã từng chinh chiến nhiều nơi, là một tên dày dặn kinh nghiệm trên chiến trường, hành quân rất cẩn trọng, hắn không dễ gì mắc mưu mà cho quân đuổi theo địch ở nơi có địa hình nguy hiểm như vậy.

Thoát Hoan phân vân vì nếu không qua được ải Chi Lăng thì không thể tiến vào lãnh thổ Đại Việt.

Lúc này Phó tướng của Thoát Hoan là Lý Hằng nhìn vào bản đồ hiến kế:

- Thống soái, tại sao không đi con đường thứ hai?

Thoát Hoan nói:

- Từ Chi Lăng vòng sang Bạch Hạc đường rất xa.

Nếu bây giờ đổi sang đi hướng Bạch Hạc sẽ mất nhiều thời gian, chưa kể trên đường đi còn bị mai phục.

Lý Hằng đáp:

- Không, ý mạt tướng không phải đi ngả Bạch Hạc.

Thoát Hoan ngạc nhiên hỏi:

- Ở đây còn con đường thứ hai tiến vào Đại Việt sao?

Lý Hằng đáp:

- Trong bản đồ không có nhưng ngoài bản đồ thì có.

Nếu thống soái lo ngại trên núi có phục binh thì xin ngài hãy chia cho mạt tướng một vạn tinh binh, mạt tướng chia quân ra mỗi đường 5000 binh lính tinh nhuệ đi vòng lên núi tập kích phía sau quân địch, mở đường cho quân ta.

Thoát Hoan đáp:

- Ở đây núi non hiểm trở, nếu như bị quân địch phát hiện bao vây sẽ rơi vào thế hiểm, một vạn binh của ngươi sẽ chết hết.

Lý Hằng:

- Không, bọn An Nam không thể ngờ quân ta dám đi vòng lên núi tập kích bọn chúng, nơi càng nguy hiểm càng không phải đề phòng.

Nếu ngài đồng ý cho mạt tướng 1 vạn tinh binh đi vòng lên núi tập kích quân Đại Việt thì nội trong ngày hôm nay mạt tướng sẽ lập chiến công.

Dù sao thì đại quân ta cũng không thể mạo hiểm đi vào con đường phía trước.

Thoát Hoan:

- Thôi được.

Lệnh cho ngươi và Tôn Hựu mỗi người lãnh 8000 binh, chia làm hai ngả lên núi tập kích phía sau lưng quân Đại Việt.

Các ngươi xuất phát lên đỉnh núi trước để mở đường, hai canh giờ sau ta sẽ thúc đại quân xông vào phá ải.

Chúng ta đồng loạt tấn công không cho quân Đại Việt có cơ hội hỗ trợ lẫn nhau.

Lúc này Trần Quốc Tuấn thấy Thoát Hoan dừng mãi chẳng chịu tiến quân nên sinh nghi:

- Dù quân ta liên tục khiêu khích nhưng Thoát Hoan vẫn không chịu tiến quân, ta e là hắn đã biết được chúng ta giấu quân trên núi.

Nếu suy đoán của ta là đúng thì hắn sẽ cử quân vòng lên núi tập kích quân ta.

Trần Bình Trọng lo lắng:

- Nếu như vậy thì quân ta nguy mất!

Nguyễn Khoái:

- Số quân mai phục trên núi toàn là quân tinh nhuệ của ta, sau này không thể thiếu họ.

Nếu như ngay trận đầu quân chủ lực đã bị bao vây, bị Thoát Hoan giết sạch thì về sau quân ta sẽ bại như núi đổ.

Xin tiết chế hãy cho mạt tướng mang quân chi viện!

Trần Quốc Tuấn:

- Bình Trọng và Nguyễn Khoái nghe lệnh!

Lệnh cho hai người dẫn thêm 3000 quân tức tốc lên đỉnh núi hỗ trợ cho quân ta.

Phải nhớ, Thoát Hoan chắc chắn mang trọng binh đi tập kích, gặp địch không thể chiến đấu, chỉ cần mở đường cho quân ta xuống núi là được.

Sau khi xuống núi các ngươi lập tức rút quân về ải Nội Bàng.

Dứt lời, Trần Hưng Đạo ra lệnh cho Phạm Ngũ Lão rút quân về ải Nội Bàng.

Phạm Ngũ Lão hỏi:

- Tiết chế, không lẽ để mất Chi Lăng dễ dàng vậy sao?

Quốc Tuấn đáp:

- Thoát Hoan biết được nơi đây có mai phục ắt hẳn đã phái binh lên núi tương kế tựu kế tập kích chúng ta.

Từ nãy giờ hắn không động binh là đang cố tình kéo dài thời gian cho quân của hắn lên đến đỉnh núi phá mai phục sau đó mới xua đại quân đánh vào đây.

Nếu như chúng đồng loạt tấn công, cắt đứt đường chi viện của ta thì quân ta không thể hỗ trợ cho nhau được.

Bảo toàn quân số là ưu tiên trên hết.

Ngươi mau nhanh chóng rút quân về Nội Bàng.

Như vậy là thế trận ở ải Chi Lăng đã sớm được định đoạt, quân Trần nhanh chóng rút quân về Nội Bàng, quân Nguyên dễ dàng chiếm được Chi Lăng, tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt.

Chẳng mấy chốc chúng đã đánh tới đại bản doanh Nội Bàng.

Toàn bộ lực lượng chủ chốt của quân Đại Việt đều đang đóng giữ tại đây, Thoát Hoan muốn đánh nhanh giết gọn, thúc toàn quân xông lên.

Hai quân giao tranh vô cùng khốc liệt.

Do lực lượng đôi bên quá chênh lệch nên quân Đại Việt nhanh chóng tan vỡ phải rút lui về Vạn Kiếp.

Lúc này các cánh quân Đại Việt hoàn toàn bị chia cắt với nhau, mạnh ai nấy rút, bản thân Trần Quốc Tuấn bị quân Nguyên truy kích, bấy giờ chỉ có một mình Dã Tượng hộ vệ cho Quốc công, không có quân cứu viện, tình thế vô cùng nguy cấp.

Quốc Tuấn nghĩ rằng cánh thủy quân đóng ở bãi Tân đã rút đi hết rồi, đến đấy cũng không còn thuyền để thoát thân nên nói với Dã Tượng rút theo đường núi về Vạn Kiếp.

Dã Tượng một mực khẳng định:

- Yết Kiêu chưa thấy Đại vương đến chắc chắn sẽ không đi một mình!

Hưng Đạo vương nghe theo Dã Tượng, cả hai đến bãi Tân thì thấy chỉ còn một mình Yết Kiêu vẫn còn neo thuyền ở đó đợi chủ nhân, Trần Hưng Đạo cảm động vì lòng trung thành của Yết Kiêu mà nói:

- Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh.

Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.

Nhờ có Yết Kiêu dũng cảm gan dạ đợi thuyền mà Trần Quốc Tuấn thoát được kiếp nạn.

Quốc công Tiết chế rút lui an toàn, khi kỵ binh của Thoát Hoan đuổi đến thì thuyền đã đi xa.

Hưng Đạo vương lui về phủ đệ Vạn Kiếp bày binh bố trận đón đánh giặc, mặt khác lại giao cho Trần Bình Trọng và Phạm Ngũ Lão đóng giữ ở vùng Lạng Giang cách đó không xa để ngăn chặn tốc độ tiến quân của Nguyên Mông.

Trong lúc hai bên đang giao tranh ác liệt thì Hưng Đạo vương sai người đến truyền lệnh cho Trần Bình Trọng và Phạm Ngũ Lão bỏ hết doanh trại, lui quân về Vạn Kiếp.

Trần Bình Trọng nghe vậy nổi giận:

- Nói bậy!

Tiết chế nghiêm lệnh chúng ta cố thủ ở đây 10 ngày, tại sao chưa đến 5 ngày lại bỏ trại lui quân?

Lính đưa tin bảo: "Tiết chế có nói nếu trái lệnh lui quân, chém không tha".

Trần Bình Trọng và Phạm Ngũ Lão bất đắc dĩ phải bỏ Lạng Giang lui quân về Vạn Kiếp hợp binh với Trần Hưng Đạo.

Lúc này tinh thần quân Trần hoang mang lo lắng vì Trần Hưng Đạo không cho quân sĩ đánh mà chỉ lui quân.

Một tôn thất nhà Trần là Trần Kiện ức chế nói:

- Thoát Hoan trong vòng 10 ngày đã phá hết các phòng tuyến ở biên giới của quân ta, tiến quân mấy trăm dặm.

Tiết chế ngồi đây không dám cho chúng ta đánh, gặp giặc thì chỉ biết lui quân, quân lệnh cũng không rõ ràng thống nhất, lúc lệnh ta đánh, ta chưa kịp đánh thì đã rút lui, còn nói gì đến giết giặc ngoại xâm bảo vệ Thăng Long!

Rõ ràng là Tiết chế không có kế đẩy lui quân giặc.

Những lời này của Trần Kiện làm rối lòng quân, chuyện đến tai Hưng Đạo vương.

Trần Kiện bị Hưng Đạo vương cách chức đuổi về Thăng Long.

Biết là nhiều binh tướng khác không dám lên tiếng chứ thực sự trong lòng họ cũng đang thầm nghĩ như Trần Kiện nên trong lúc họp bàn tướng sĩ thì Trần Bình Trọng nhân dịp đó hỏi Hưng Đạo vương:

- Bẩm Quốc công, quân Nguyên sắp sửa kéo đến đây, trận tiếp theo sẽ đánh như thế nào?

Trần Hưng Đạo:

- Lần này quân ta chỉ cần cố thủ 5 ngày.

Tất cả chư tướng nghe rõ, trong vòng 5 ngày vẫn cố thủ không được xuất binh ra đánh.

Sau 5 ngày này, nếu như quân Nguyên tấn công mạnh mẽ, chúng ta lại tiếp tục lùi quân về phòng tuyến sông Đuống.

Trần Bình Trọng đáp:

- Xin hỏi Quốc công, chúng ta cứ lùi rồi lùi, phải lùi cho tới khi nào?

Trần Hưng Đạo cười:

- Về chuyện này, tới lúc đó các ngươi sẽ tự hiểu.

Nguyễn Khoái nói:

- Khẩn xin Tiết chế khai ân, bây giờ hãy cho chúng tôi biết để an lòng quân.

Trần Hưng Đạo:

- Thôi được.

Ta nói cho các ngươi biết vậy.

Việc chúng ta nên làm bây giờ không phải là tử chiến với địch mà là tranh thủ tất cả thời gian dây dưa với chúng để chờ thiên thời.

Ta nói cho các ngươi biết, ta có 30 vạn đại quân đang trên đường tới đây giúp chúng ta phá giặc.

Việc của các ngươi là hãy kiên nhẫn chống chịu, chờ viện binh đến.

Các tướng nghe vậy ngạc nhiên hỏi:

- Đại Việt lấy đâu ra 30 vạn binh mã nữa?

Trần Hưng Đạo đáp:

- Ta đâu có nói 30 vạn binh mã đó là của Đại Việt.

Ý ta là sẽ có 30 vạn binh mã từ trên trời rơi xuống giúp chúng ta lấy thủ cấp Thoát Hoan treo trên thành Thăng Long.

Mọi người vẫn còn khó hiểu, Phạm Ngũ Lão hỏi:

- Chẳng lẽ Tiết chế đang muốn quân ta bảo toàn lực lượng, đợi khi mùa khô đến, thời tiết oi bức, quân giặc không hợp thủy thổ, người đói ngựa mệt, dịch bệnh hoành hành thì quân ta mới chớp thời cơ phản công?

Trần Hưng Đạo cười:

- Ngươi nói đúng nhưng chưa đủ.

Hưng Đạo vương nói tiếp:

- Chư vị tướng quân, quân của Thoát Hoan có đến 50 vạn cộng thêm cả cánh quân của Nạp Tốc Lạt Đinh ở phía tây, quân của Toa Đô đang đóng ở biển bắc Chiêm Thành.

Nếu đem so sánh binh tướng nhiều ít thì chúng ta mãi mãi không thể sánh bằng Thoát Hoan, nếu gom hết toàn bộ binh lực Đại Việt lại cũng không bằng một nửa quân Thát Đát.

Vậy nên lúc này chúng ta tuyệt đối không thể đánh một trận quyết sống chết với địch, mà chỉ có thể đánh cầm chân bọn chúng.

Quân Thát Đát đông nhưng điều đó lại làm hại bọn chúng.

Lương thực mang theo không thể nào nuôi hết được 50 vạn cái bụng trong thời gian dài, quân càng đông thì càng cần phải có nhiều lương thực nuôi quân.

Quân đói thì làm sao mà đánh?

Chỉ cần quân ta kéo dài thời gian, đợi đến khi lương thực mang theo của giặc đã cạn rồi thì quân ta mới nhân cơ hội đó phản công.

Hưng Đạo vương nói tiếp:

- Các vị tướng quân, các vị nhất định phải tin tưởng bổn vương.

Chỉ cần dây dưa với giặc, không được tử chiến, từ từ rồi sẽ thắng thôi, chắc chắn sẽ dồn Thoát Hoan vào chỗ chết.

Lúc này các tướng sĩ mới hiểu được ý đồ của Hưng Đạo vương và xốc lại tinh thần chiến đấu.

Trong khi đó tin chiến bại của Hưng Đạo vương liên tiếp báo về Thăng Long.

Chỉ trong vòng 10 ngày quân Nguyên đã lần lượt phá tan được các phòng tuyến của quân Đại Việt ở ải Khả Ly, Động Bản, Vĩnh Châu, Thiết Lược, Chi Lăng, Nội Bàng, chiếm được toàn bộ vùng biên giới Đại Việt và sắp sửa đánh vào Vạn Kiếp, tiến đến Thăng Long.

Vua Trần Nhân Tông và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải gấp rút đem quân đến Vạn Kiếp trợ chiến.

Để trấn an lòng quân, vua Trần Nhân Tông khích lệ tướng sĩ:

Cối Kê việc cũ người nên nhớ,

Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.
 
Back
Top Bottom