“Chi phí của vị công tử này, bản quân trả thay.”
Cẩn Nguyệt Tiên Quân vẫn giữ phong thái thanh lãnh tao nhã như thường, khiến cả quán nhỏ nơi thôn dã nghèo nàn này cũng như nhiễm thêm vài phần cao khiết.
Tiểu nhị càng không dám ngẩng đầu, rụt cổ nói:“Tiên quân ghé thăm khách điếm nhỏ này đã là vinh hạnh lớn lao, nào dám nhận bạc của tiên quân.”
“Ăn rồi thì trả tiền, vốn là lẽ thường.”
Nói rồi, Thẩm Quân nhàn nhạt liếc Lạc Dao một cái.
“Đúng đúng.”
Lạc Dao mặt dày phụ họa, tay vẫn tung hứng mấy viên đá giả bạc, làm như kẻ vừa rồi định quỵt tiền không phải cậu vậy.
Trong lòng cậu đã âm thầm tính toán lách cách như bàn tính gõ dồn, nhanh chóng cân nhắc trong các loại phù chú nên chọn loại nào, lại âm thầm ước lượng khoảng cách giữa mình và vị tiên quân áo trắng kia có đủ để một kiếm Dao Quang vào yết hầu hay không.
Ánh mắt cậu lặng lẽ đảo qua đám đệ tử của Khước Nguyệt Quán.
Quan sát dung mạo, cảm nhận linh tức, ba người đều là những đệ tử trẻ tuổi chưa từng trải.
Người đứng bên cạnh Thẩm Quân chính là chủ nhân Kính Minh Kiếm, hắn móc ra một túi tiền căng phồng, tiện tay ném lên quầy:“Tiền ăn của chúng ta cũng tính chung vào đây, khỏi cần thối lại.”
Tiểu nhị trong quán nhìn đến trợn tròn mắt, trông chẳng khác gì ruồi dính vào miếng thịt, vội vàng chạy tới tháo dây buộc, miệng cười đến sắp nứt cả mép:“Tiên quân mời vào phòng riêng, mời vào phòng riêng!
Rượu ngon thức ăn tốt lập tức dâng lên cho ngài!”
Vị đệ tử trẻ tuổi mỉm cười rạng rỡ, không chút kiêng dè dặn dò:“Nhớ lấy sốt mận ăn kèm ngỗng quay.”
“Cảnh Ninh.”
Người đứng bên cạnh Lạc Dao, một môn đồ khác của Khước Nguyệt Quán, giọng đầy bất đắc dĩ:“Trong quán có giới luật, cấm dùng đồ mặn và rượu.”
“Giờ đâu còn ở trong quán nữa.”
Hắn tiện tay đặt bội kiếm lên bàn, không nhẹ không nặng, phát ra tiếng động không nhỏ khiến Lạc Dao theo phản xạ liếc nhìn sang.
Chuôi kiếm được chạm trổ hoa văn tinh xảo, sang quý phức tạp, đủ thấy giá trị không hề thấp.
Nhưng thứ bắt mắt nhất vẫn là dòng kệ khắc bên trên.
Lúc này không có tà khí quấy nhiễu, cũng chẳng bị rừng rậm che khuất, Lạc Dao lướt mắt qua như chuồn chuồn chạm nước, mới nhìn rõ—ngoài kệ Bồ Đề, trên vỏ kiếm còn khắc thêm một dòng chữ nhỏ:
“Dược nhị âm công, lâu trần gian hứa.”
Câu này được chép trong “Năng Cải Trai Mạn Lục”, nhưng tách riêng ra lại có phần khó hiểu, đầu đuôi chẳng rõ.
Lạc Dao vô thức siết nhẹ đầu ngón tay, suy nghĩ hồi lâu vẫn không hiểu nổi, đến khi chợt nhận ra ánh mắt xung quanh, mới kéo thần trí trở lại.
Hóa ra là vị đệ tử trẻ tên Cảnh Ninh kia đang nhiệt tình vẫy tay với cậu:“Gọi ngươi thế nào vậy?
Ngươi với tiên quân là bằng hữu cũ à?
Có muốn ngồi cùng bọn ta không?
Ban nãy ngươi gọi món gì thế?
Hoành thánh ở đây có ngon không?”
Lạc Dao còn chưa kịp mở miệng thì một tràng câu hỏi đã ập xuống đầu, cậu ho khan một tiếng, hơi nâng giọng cắt ngang vị đệ tử Cảnh Ninh kia, lảng tránh trọng điểm mà nói:“Ta với tiên quân vốn không quen biết, chẳng qua tiên quân lòng rộng cứu giúp muôn người.”
Nói xong, cậu hạ mi, thuận mắt, diễn đến mức thành khẩn vô cùng:“Được gặp tiên quân một lần, quả là vinh hạnh ba đời của ta.
Chỉ là vận may cũng có hạn, chi bằng hẹn lần sau gặp lại…
ơ!”
Nhưng lời Lạc Dao còn chưa dứt đã bị Thẩm Quân ấn sau gáy, đẩy thẳng vào trong phòng riêng.
Theo một tiếng “rầm” khi cửa gỗ đóng lại, trong lòng cậu không khỏi dâng lên cảm giác như cừu non lọt vào miệng hổ, thầm nguyền rủa sau này nhất định phải đào mộ tổ tông mười chín đời của vị tiên quân này lên cho hả giận.
Cửa vừa khép lại, dáng vẻ tiên phong đạo cốt của Thẩm Quân lập tức tan biến—ít nhất trong mắt Lạc Dao là như vậy.
Cậu hoảng hốt giữ chặt bàn tay đang lôi kéo vạt áo mình, lắp bắp:“Tiên quân… ta không có hứng với nam nhân đâu.”
“Ngươi nghĩ cái gì vậy.”
Thẩm Quân liếc cậu một cái, rút ra từ trong vạt áo Lạc Dao một lá phù, nhét cho đệ tử bên cạnh, rồi lại sờ soạng từ trên xuống dưới mấy lượt mới chịu buông.
Y hất cằm, nói gọn lỏn:“Ngồi.”
Thẩm Quân khoanh tay trước ngực, nghiêng người tựa vào lan can cửa chạm trổ hoa văn.
Thế nhưng đệ tử của Khước Nguyệt Quán lại chẳng hề tỏ ra kinh ngạc trước hành động trái với phong thái tiên nhân đoan chính của y.
Lạc Dao không khỏi thầm mắng, xem ra dưới lớp vỏ ngoài kia, Thẩm Quân cũng chỉ là một kẻ ngụy quân tử đạo mạo mà thôi.
Chỉ là thần sắc lạnh lẽo của y vẫn không đổi.
Khi ngẩng mắt lên, ý lạnh lan tràn, liếc nhìn Lạc Dao mà nói:“Vừa rồi ta cũng xem như đưa than ngày tuyết, mang ấm áp lúc xuân.
Ơn nhỏ như giọt nước, lẽ ra phải báo đáp như suối trào, đúng không?”
Đúng cái quỷ.
Lạc Dao gãi gáy, môi khẽ hé, giả vờ ngơ ngác:“Tiên quân đúng là người có học, còn trong bụng ta thì chữ nghĩa ít ỏi, thật sự nghe không hiểu.”
Thẩm Quân cười lạnh:“Hiện tại ngươi tổng cộng nợ ta…
Cảnh Ninh, bao nhiêu bạc?”
Cảnh Ninh nghĩ bụng chút tiền này sao mà nhớ nổi, liền thuận miệng báo đại:“Mười ba nghìn lượng.”
Lạc Dao: “……”
Mười ba nghìn lượng bạc đủ để mua đứt mười quán ăn lớn như thế này rồi, có chút hiểu biết nào không vậy!
Vậy mà Thẩm Quân lại còn nghiêm túc gật đầu:“Mười ba nghìn lượng.”
“Hoặc trả lại cho ta, hoặc theo ta đi tìm người.”
Thẩm Quân tiến lên hai bước, từ trên cao nhìn xuống đánh giá cậu, “Ngươi tự chọn đi.”
Lạc Dao thầm nghĩ cái này mà gọi là lựa chọn sao?
Đột nhiên hiểu ra, thật ra chính mình mới là kẻ mang danh “tiên nhân” trong căn phòng này — dù sao từ trước đến nay số bạc cậu lừa gạt cộng lại cũng chỉ được vài chục lượng bạc.
Thấy giả ngu không còn tác dụng, sắc mặt cậu phức tạp, miễn cưỡng cong môi:“Tiên quân, ngài có biết trong giới tu chân có bao nhiêu quỷ tu không?”
Thẩm Quân khẽ nhướng mày, thản nhiên đáp:“Không rõ, nhưng không ít.”
Lạc Dao lại hỏi:“Trong số đó, người có danh tiếng vang dội thì có mấy ai?”
“Có thể xếp hạng trong cả hai đạo tiên ma, Đông Quỷ Đế Thần Đồ tu vi thâm hậu, Tây Quỷ Đế Chúc Âm công pháp vô song.
Chủ nhân Lục Như Kiếm là La Phù Tôn, tuổi trẻ đã thành danh.
Ngoài ra còn có Văn Hòa ở núi Ba Trủng, Chu Khất ở núi Tây Lương — đều là những kẻ chấp chưởng một phương quỷ tu.”
Lạc Dao nghe như đang thưởng tuồng hát, vỗ tay tán thưởng:“Đã vậy thì trong hàng quỷ tu cũng chẳng thiếu kẻ tài dị, cớ sao tiên quân lại cứ nhằm vào ta?”
Cậu vắt chân chữ ngũ, giọng đầy vẻ oán than, lười nhác tựa lưng vào ghế.
Không ngờ lại chẳng lập tức nhận được hồi đáp.
Thẩm Quân dường như bị câu hỏi ấy làm cho khựng lại trong thoáng chốc, nơi đáy mắt lướt qua một tia ý vị khó dò.
Phải một lúc sau mới tìm lại được giọng điệu thường ngày, thản nhiên đáp:“Chỉ là trùng hợp mà thôi.”
Nghe thấy ngoài cửa có tiếng bước chân dần tới gần, Thẩm Quân tiến lên ghế chủ vị, vén vạt áo mà ngồi xuống, dáng ngồi đoan chính nghiêm chỉnh:“Nếu việc thành, bản quân ắt sẽ trả thù lao cho ngươi.”
Lạc Dao: “Bao nhiêu?”
Thẩm Quân: “Ngươi quyết định.”
Khí độ hào sảng đến thế.
Lạc Dao thoáng lấy làm kinh ngạc, nghĩ rằng người mà Cẩn Nguyệt tiên quân muốn tìm hẳn phải vô cùng quan trọng.
Nói cho chuẩn là một kẻ đã chết nhưng lại cực kỳ quan trọng với y.
Tục ngữ có câu:"có tiền mua tiên cũng được", huống chi là có tiền để bắt đám quỷ tu làm trâu làm ngựa cũng chẳng sai.
Tâm tình của Lạc Dao đổi thay còn nhanh như mây bay gió cuốn—nửa chén trà trước còn muốn đào mộ tổ tiên nhà người ta, thế mà chớp mắt một cái đã coi vị tiên quân kia thành bậc chân nhân được cậu thỉnh về thờ phụng ngay trên bàn thờ nhà mình rồi!
“Đầu đuôi câu chuyện là như vậy đó.”
Lạc Dao gọi Nam Chi từ trong ngọc bội ra, tiện tay chỉ một vòng giới thiệu: “Vị đang gặm ngỗng quay kia là Cảnh Ninh, người đang ăn đậu hũ non là Cảnh Dục, còn vị bên phải không ăn không uống, mặt lạnh đến mức có thể dọa người ta nằm thẳng vào quan tài là Cảnh Kỳ.”
Cảnh Ninh phồng hai má dính đầy mỡ, nói lúng búng:“Lạc Dao, ngươi nói chuyện với không khí à?”
Lạc Dao cười âm trầm:“Đương nhiên là nói chuyện với quỷ rồi.”
Cảnh Dục đặt muỗng sứ đựng đậu hũ non xuống, mắt cong cong, mỉm cười:“Quỷ quân, hân hạnh gặp mặt.”
Lạc Dao hơi ngạc nhiên, giọng cao lên mấy phần:“Ngươi nhìn thấy nàng sao?”
Cảnh Dục khẽ lắc đầu, cười nhạt:“Dĩ nhiên là không.
Chỉ là gặp người thì nên giữ lễ, vốn là quy huấn của đạo quán ta.”
Cảnh Ninh “xì” một tiếng thật to, tỏ vẻ khinh thường, nhưng ngay sau đó đã bị Thẩm Quân búng nhẹ một cái lên trán, đau đến mức lẩm bẩm càu nhàu.
Thẩm Quân chép miệng, bật ra một tiếng “chậc” đầy vẻ ghét bỏ:“Ăn ít lại đi, không thì Kính Minh cũng chở không nổi ngươi đâu.”
Nói xong lại lướt mắt nhìn đĩa ngỗng quay, môi mỏng khẽ cong lên, ý cười rất đẹp nhưng lời nói thì chẳng dễ nghe chút nào:“Ta còn đang thắc mắc sao lớp da ngỗng quay này trông quen mắt đến vậy, hóa ra lại giống hệt một vị quỷ tu nào đó.”
Lạc Dao khẽ giật giật khóe mắt, tự nhắc mình đừng tỏ thái độ với vị tiên quân ngồi trước án, trong lòng cân nhắc vài nhịp rồi lập tức đổi sang vẻ niềm nở nịnh nọt: “Tiên quân nói rất phải.”
Vừa nói cậu vừa nhanh tay gắp cả đĩa ngỗng quay vào bát mình, lại cố ý thở dài thê lương: “Con ngỗng quay này chính là đường huynh thất lạc bao năm của ta, lâu ngày không gặp, đành để nó vào bụng ta đoàn tụ cho trọn tình thân vậy.”
Cảnh Ninh nhìn chằm chằm vào từng động tác của đối phương, cổ họng khô khốc nuốt nước miếng ừng ực.
Tiếc thay, vì e sợ uy nghiêm của tiên quân, hắn chỉ đành ngậm ngùi đặt đũa xuống với vẻ mặt thảm hại khôn cùng.
Còn Thẩm Quân thì hoàn toàn không để tâm đến giọng điệu trơn tru ấy, vẫn ung dung pha trà.Tráng chén, thả trà, đôi bàn tay ngọc ngà tựa búp măng, rót cao rồi hạ thấp, lại dùng nắp chén gạt nhẹ bọt trà, sau đó nhấp một ngụm.
Y buông hai chữ ngắn gọn: "Khó uống."
Trong lòng Lạc Dao lập tức khinh khỉnh, thẳng tay gạch bỏ bốn chữ “khí độ ung dung” trong thoại bản từng dùng để miêu tả Cẩn Nguyệt tiên quân, rồi vung bút viết thêm một chữ thật to: khó chiều.
Ăn uống no nê thêm một lượt, Lạc Dao mới nhớ đến chính sự, cậu ho khẽ một tiếng:“Cẩn Nguyệt tiên quân, muốn có được tin tức về người chết kia thì phải làm sao?
Ngài có manh mối gì không?
Nếu không, dù ta có cố hết sức, cũng chẳng khác nào mò kim đáy biển.”
Thẩm Quân nhấc mí mắt nhìn cậu một cái, đặt chén xuống, giọng điệu nhàn nhạt:“Đồ Sơn.”
Nam Chi đang lượn lờ quanh đĩa ngỗng quay cũng khựng lại, cùng Lạc Dao trao nhau một ánh mắt chần chừ.
Lạc Dao vẫn giữ vẻ bình thản:“Đồ Sơn?
Nghe nói nơi đó yêu quái hoành hành, từ lâu đã hoang vắng không người.
Nếu người kia có liên quan đến Đồ Sơn, e rằng đã chết từ rất lâu, cộng tuổi năm người chúng ta lại cũng chưa chắc sánh bằng.”
Thẩm Quân lắc đầu:“Đúng, mà cũng không đúng.”
Y đổ hết nước trà trong chén, úp ngược chén xuống bàn.
“Chuyến này đến Đồ Sơn là để tìm một món đồ trước.
Chỉ khi tìm được món đồ ấy, mới có cơ hội tìm ra người kia.”
Y đẩy chén trà về phía Lạc Dao.
Tiếng sứ cọ xát vào mặt gỗ phát ra âm thanh chói tai như lưỡi cưa sắc lạnh, mang theo hơi lạnh âm u, khiến cả căn phòng như rơi vào tiết tháng Chạp giá rét, đóng băng trong sự im lặng dằng dặc mà nặng nề.
Lạc Dao rủ mắt nhìn chằm chằm chén trà kia, không nói một lời.
Cậu nghiền ngẫm câu nói ấy trong đầu không biết bao nhiêu lần — Cơ duyên, quả là một từ đầy vi diệu.
Mọi thứ quả trên đời đều khởi từ Nhân, mọi sự báo ứng đều sinh từ Nghiệp.
Dư Già Sư Địa Luận cũng có câu:“Điều đã làm ắt không mất, điều chưa làm ắt không được.”
Vận mệnh quy về hư không, số phận nương theo thực tướng, tất thảy đều nằm trong càn khôn.
Bất kể là phàm nhân, người tu tiên, quỷ đạo hay yêu ma, cho dù lánh đời không xuất thế, chỉ cần còn tắm mình dưới nhật nguyệt, còn thuận theo thiên cơ, thì vẫn chỉ là một mắt xích nhân quả giữa dòng túc mệnh mênh mang.
Thế nhưng, người vị Cẩn Nguyệt tiên quân này muốn tìm lại là một người đã chết.
Một người đã thân tử hồn tiêu, nhân duyên nghiệp quả đều tan thành mây khói.
Dù là bước vào luân hồi hay hồn phi phách tán chẳng thể tìm về, thì cũng đã đoạn tuyệt nhân quả với kiếp trước.
Đó cũng là lý do vì sao Lạc Dao và Nam Chi đều cho rằng, tìm kiếm một người chết là chuyện gần như không thể nào làm được.
Nhưng một khi Thẩm Quân đã nhắc đến hai chữ "cơ duyên", điều đó đồng nghĩa với việc sự thâm sâu khó lường trong chuyện này còn phức tạp hơn những gì Lạc Dao nghĩ.
Im lặng hồi lâu, Lạc Dao mới như hoàn hồn, chậm rãi nhấc chén trà lên, giọng điệu lười nhác mà hỏi:“Ngài muốn tìm thứ pháp khí gì?”
Lúc này Thẩm Quân mới bất giác nhận ra, ban nãy sống lưng mình vẫn luôn căng cứng.
Y không rõ bản thân đang căng thẳng vì sợ tên quỷ tu nhỏ trước mắt này từ chối đi cùng, hay cơ thể đã nhanh hơn ý thức mà sớm nhận ra — khi cậu trầm mặt, sát khí tỏa ra có phần khiến người ta kiêng dè.
Dù là nguyên nhân nào, cũng khiến Thẩm Quân cảm thấy có chút hoang đường.
Nhưng cảm xúc ấy nhanh chóng bị y lặng lẽ dập tắt, thay bằng giọng nói thanh lãnh, lạnh nhạt mà không cho phép phản bác:“Trích Nguyệt Trản.”
Ngón tay đang vê chén trà của Lạc Dao chợt khựng lại.
Ba chữ này thốt ra từ miệng Thẩm Quân tựa như một giọt nước trượt dài theo vành chén, nhưng lại khiến tâm trí cậu dậy sóng cuồn cuộn như thủy triều dâng sông Tiền Đường.
Trong thoại bản tu chân giới từng miêu tả Trích Nguyệt Trản như sau:“Dáng tự sen nằm, sắc như nước huyền ngưng tụ; đêm rằm lúc cực âm, hứng lấy ánh nguyệt hoa, uống vào có thể thông linh âm dương.”
Nghe qua thì quả thật rất phù hợp với việc Cẩn Nguyệt Tiên Quân muốn tìm người đã chết.
Thế nhưng, đã là vật được ghi trong thoại bản thì cũng chỉ là lời đồn đại hư ảo.
Huống hồ, một vật chí âm như vậy vốn luôn được tôn làm thánh vật của Quỷ đạo, ấy thế mà cả quỷ tu như Lạc Dao lẫn linh hồn như Nam Chi đều chưa từng nghe nói có ai từng tận mắt thấy qua...
“Độ chân thực của lời đồn này, chẳng cần nghĩ cũng rõ.
Các ngươi thật sự tin sao?”
Lạc Dao xoay chén trong tay không ngừng, vành sứ trắng lay động như một quầng sáng.
Ánh sáng ấy phản chiếu trong đồng tử nhưng chẳng chạm tới đáy mắt, chỉ để lộ sự bất an đang dâng lên trong lòng.
“Bản quân đã nói rồi, đó là cơ duyên.”
Thẩm Quân dùng hai ngón tay khẽ lướt, chậm rãi lau đi vệt nước đọng trên mặt bàn.
Nước trà theo đầu ngón tay y vạch ra một đường dài, càng kéo xa càng nhạt, đến khi ngón tay chạm tới mép bàn thì dấu nước đã mờ đến gần như không còn nhìn thấy.
Đường nước ấy tựa như đang ngầm chỉ ra số mệnh cuối cùng của trời đất vạn vật — cho đến ngày thân vẫn đạo diệt, mọi ràng buộc nông sâu, dài ngắn, thoáng qua hay khắc cốt ghi tâm, cũng theo hồn phách tan rã mà tiêu tán sạch sẽ.
Năm tháng rồi sẽ chôn vùi hết thảy tiền trần chuyện cũ, ái hận si sân, mọi xoay vần của thế gian.
Bình phong chín lớp, gấm mây trải rộng, rốt cuộc non không vẫn chẳng có chi.
Lạc Dao bỗng thấy tim mình như bị kim châm nhẹ một cái, thầm nghĩ vị Cẩn Nguyệt Tiên Quân này e rằng có nhân quả khó dứt với người đã khuất kia, một đoạn duyên không muốn bị thời gian xóa nhòa.
Có điều...
Đến cả quê quán, tên họ, tuổi tác, diện mạo của đối phương đều chẳng rõ...
Đúng thật là một đoạn nhân quả kỳ lạ.
Lạc Dao lặng lẽ thở ra một hơi nặng nề trong lồng ngực: “Cũng được, vậy khi nào khởi hành?”
Rồi cậu chỉ về phía Cảnh Ninh: “Ba tiểu tử này cũng đi cùng sao?”
"Chúng ta chỉ thuận đường đi du ngoạn, huống hồ tu vi của ngươi chưa chắc đã bằng ta đâu!"
Cảnh Ninh không vui gõ gõ lên mặt bàn, làm thanh kiếm Kính Minh cũng rung rinh theo.
Cảnh Dục thì không mấy để ý đến cách xưng hô có phần mạo phạm của Lạc Dao:“Như lời Lạc công tử nói, Đồ Sơn đã bỏ hoang nhiều năm, hẳn không quá hung hiểm, công tử không cần lo lắng.”
Cảnh Kỳ chỉ liếc cậu một cái, hoàn toàn không có ý định đáp lời.
Còn Thẩm Quân thì phủi nhẹ vạt áo đứng dậy, trả lời câu hỏi đầu tiên của Lạc Dao:“Ngay bây giờ.”
—————
Bình phong chín lớp, gấm mây trải rộng, rốt cuộc non không vẫn chẳng có chi: Dù có bày biện lộng lẫy, phồn hoa đến đâu, thì cuối cùng vẫn chỉ là hư không, tất cả rồi cũng trở về sự trống vắng.