Khác Đường Xưa Mây Trắng

Đường Xưa Mây Trắng
CHƯƠNG 40 : Bao Nhiêu Tấc Đất Bấy Nhiêu Tấc Vàng


Suddatta đi xem xét nhiều nơi nhưng chưa có nơi nào đẹp đẽ và thanh tịnh bằng khu lâm viên của thái tử Jeta nằm sát thủ đô Savatthi.

Chàng nghĩ nếu có được khu lâm viên này làm cơ sở lưu trú và hành đạo của Bụt và giáo đoàn thì đạo lý tỉnh thức sẽ được truyền bá sâu rộng trong vương quốc.

Suddatta tìm đến thái tử Jeta xin gặp.Hôm ấy trong dinh thự của thái tử có mặt một vị văn quan trong triều mà Suddatta cũng có quen biết.

Sau khi chào hỏi thái tử và vị văn quan, Suddatta trình bày ước muốn của mình và xin thái tử nhượng lại cho chàng khu vườn của thái tử để làm cơ sở tu học và hoằng pháp cho Bụt.Thái tử Jeta mới có hai mươi tuổi.

Khu vườn này là của vua Pasenadi ban cho chàng năm ngoái.Thái tử nhìn vị văn quan rồi nhìn Suddatta nói:– Khu vườn ấy là của phụ vương tôi cho tôi, và tôi quý nó như vàng.

Nếu ông có đủ vàng lá đem trải đầy khu vườn thì tôi sẽ nhường nó lại cho ông.Thái tử Jeta nói nửa đùa nửa thật nhưng thương gia trẻ tuổi lại không cho đó là chuyện đùa.

Chàng nói:– Được rồi, tôi sẽ theo điều kiện của thái tử đặt ra.

Sáng mai, tôi sẽ cho chở vàng tới.Thái tử Jeta giật mình:– Tôi nói đùa đó mà, tôi không bán khu vườn của tôi đâu.

Ông đừng chở vàng tới.Nhưng Suddatta vẫn nghiêm trang:– Thưa thái tử, ngài là một bậc vương giả, ngài đã nói ra lời nào thì chắc lời ấy không thể bị xóa bỏ.Rồi Suddatta quay sang hỏi vị văn quan đang ngồi uống nước với thái tử:– Thưa đại nhân, có phải đúng như vậy không?Vị văn quan gật đầu.

Ông ta xoay về phía thái tử Jeta:– Vị thương gia Anathapindika này nói đúng, thưa điện hạ, đã không ra giá thì thôi, một khi đã đưa giá cả thì ta không có quyền không bán.Thái tử Jeta đành nhượng bộ.

Tuy nhiên chàng hy vọng rằng Suddatta không có đủ vàng.

Thái tử chưa kịp nói gì thêm thì Suddatta đã đứng dậy chắp tay tạ ơn và cáo biệt.Ngay sáng hôm sau, chàng cho người chở vàng tới lót khu vườn.Thái tử Jeta chứng kiến cảnh tượng lót vàng này và rất lấy làm kinh ngạc.

Thái tử biết đây không phải là một chuyện mua bán tầm thường.

Không ai bỏ ra một số vàng lớn như thế để mà mua một khu vườn giải trí.

Bụt và giáo đoàn của người chắc chắn là những nhân vật lỗi lạc lắm cho nên người thương gia này mới phát tâm dũng mãnh như thế này được.

Nghĩ thế, thái tử tới gần Suddatta và hỏi thăm chàng về Bụt.

Mắt vị thương gia sáng lên.

Chàng kể cho thái tử nghe về con người của Bụt, về đại cương giáo lý của người và về giáo đoàn các vị khất sĩ.

Chàng lại hứa ngày mai sẽ đến mời thái tử đi thăm viếng đại đức Sariputta, một vị cao đệ của Bụt, hiện đang có mặt tại thủ đô.

Nghe Suddatta nói, thái tử Jeta cũng cảm thấy hứng khởi trong lòng.

Lúc bấy giờ người của Suddatta đã chở vàng được ba chuyến và đã lót được khoảng hai phần ba khu vườn.

Khi chiếc xe sắp đi chuyến thứ tư thì thái tử Jeta đưa tay ngăn lại.

Thái tử nói với Suddatta:– Thôi, ông lót từng ấy vàng đủ rồi.

Phần đất còn lại là phần tôi hiến tặng cho Bụt và giáo đoàn.

Tôi cũng muốn góp phần vào công trình lớn lao và đẹp đẽ của ông.

Tôi nói như thế này, ông nghe có được không nhé: cứ xem như là ông cúng đất, còn tôi thì cúng cây cho tu viện.

Sau này có ai hỏi thì ta có thể nói rằng tu viện này tên là "Vườn Anathapindika với cây của Jeta".

Ông chịu không?Suddatta rất hoan hỷ.

Chàng hân hoan thấy thái tử Jeta chịu đóng góp vào công cuộc hoằng pháp lớn lao này.Chiều hôm sau, chàng đến rước thái tử đi thăm đại đức Sariputta, để thái tử được thấy nhân cách của thầy và được nghe thuyết pháp.

Sau đó, cả ba người cùng đi đến khu vườn mà Suddatta vẫn gọi là Jetavana, dù chàng đã đứng tên làm địa chủ.

Suddatta hỏi ý kiến thầy Sariputta và thái tử Jeta về kế hoạch xây dựng cư xá, thiền đường, nhà giảng và phòng tắm.

Chàng muốn dựng một mái tam quan trước cổng tu viện trên khoảng đất của thái tử Jeta cúng dường để kỷ niệm và cũng để làm vui lòng thái tử.

Thầy Sariputta đã đưa ra nhiều chỉ dẫn rất quý báu về việc xây dựng cư xá, thiền đường, nhà giảng và phòng tắm, bởi vì thầy biết rất tường tận về những nhu yếu của các sinh hoạt tu viện.

Một nơi êm mát được chỉ định để làm am lá cho Bụt.

Những con đường được vạch ra, và những giếng nước được bắt đầu đào.

Suddatta khẩn khoản yêu cầu đại đức Sariputta cư trú ngay tại Jetavana để giúp chàng điều động công việc xây cất những tiện nghi tu viện.

Có những buổi sáng gia đình Suddatta mang thức ăn lên để cúng dường đại đức.

Vào những hôm này đại đức không đi khất thực, còn vào những buổi khác, đại đức thường mặc áo mang bát đi khất thực trang nghiêm trong thành phố.

Dân chúng thủ đô dần dần biết tới đại đức, và từ từ câu chuyện Suddatta lót vàng mua đất Jetavana đã được truyền đi khắp nơi.

Ai cũng biết rằng vị thương gia trẻ Anathapindika đã mua đất của thái tử và đang xây cất tu viện cho một giáo đoàn sẽ từ Magadha tới.

Thỉnh thoảng vào những buổi chiều, đại đức Sariputta thuyết pháp tại Jetavana và dân chúng thủ đô đã bắt đầu đi nghe khá đông, Bụt vẫn chưa tới mà đạo của Bụt đã được dân chúng hâm mộ.Bốn tháng sau, khi công cuộc xây cất đã gần hoàn tất, đại đức Sariputta lên đường trở về Rajagaha đón Bụt.Buổi sáng khi đại đức Sariputta về tới Vesali, thầy thấy bóng dáng rất nhiều chiếc áo vàng trong thành phố.

Hỏi ra thầy biết là Bụt và trên năm trăm vị khất sĩ đã tới Vesali trước đó mấy hôm.

Hiện Bụt đang cư trú trong Rừng Lớn.

Sariputta lập tức tìm về giảng đường thăm Bụt.

Bụt cho thầy biết là nữ cư sĩ Ambapali vừa mới tới thỉnh Bụt và giáo đoàn tới thọ trai ngày mai tại vườn xoài của bà.

Người hỏi thăm về cuộc hoằng hóa của thầy ở Savatthi.

Sau khi nghe Sariputta kể lại những gì đã xảy ra tại thủ đô vương quốc Kosala, Bụt cho thầy biết rằng hiện các đại đức Kondanna và Uruvela Kassapa đang hướng dẫn đại chúng tu học tại Trúc Lâm và tất cả các vị khất sĩ hành đạo trong vương quốc Magadha đã được Bụt thông báo nên y chỉ vào hai thầy ấy.Trong số năm trăm vị khất sĩ đi theo Bụt, hai trăm vị sẽ ở lại hành đạo tại tiểu bang Videha và tại Vesali, còn ba trăm vị sẽ theo Bụt qua Kosala.

Mọi việc đều đã được các thầy phụ tá sắp đặt chu đáo.

Bụt cho biết ngày mốt Bụt sẽ rời Vesali để lên đường đi Savatthi và người bảo thầy Sariputta cùng đi với người.Được cúng dường Bụt và giáo đoàn khất sĩ tại vườn xoài của mình, Ambapali rất lấy làm mãn nguyện.

Bà chỉ tiếc cậu con trai của bà là Jivaka đã không có ở nhà để thừa tiếp Bụt và giáo đoàn.

Cậu đang theo học ngành y khoa gần thủ đô Rajagaha.

Ngày hôm qua, sau khi tới thỉnh Bụt ra về, bà gặp một số các vương tử Licchavi ở giữa đường.

Các vị vương tử này là những người có quyền thế vào bậc nhất ở Vesali.

Họ đi trên những chiếc xe song mã trang sức cực kỳ lộng lẫy.

Họ đón đường bà.

Chiếc song mã của bà phải ngừng lại.

Họ hỏi bà đi đâu.

Ambapali trả lời bà vừa đi thỉnh Bụt và giáo đoàn ngày mai về dùng cơm trưa.

Các vị vương tử đề nghị bà hủy bỏ việc mời Bụt đi và chỉ nên mời họ.

Họ nói:– Nếu nàng chịu mời chúng tôi, chúng tôi sẽ trả giá bữa cơm ngày mai là một trăm ngàn đồng vàng.Theo ý các vị vương tử, mời các ông thầy tu thì chẳng có ích lợi và vui vẻ gì.

Ambapali trả lời:– Quý vị vương tử chưa biết Bụt nên mới nói như thế.

Tôi đã mời Bụt và giáo đoàn của người vào ngày mai rồi.

Quý vị vương tử có cho tôi cả thành Vesali cùng tất cả đất đai bao quanh thành, tôi cũng không đánh đổi bữa cơm ngày mai cho các vị, đừng nói là các vị trả cho tôi một trăm ngàn đồng vàng.

Thôi tôi xin phép quý vị được về nhà sớm để lo cho cuộc đón tiếp ngày mai.Các vương tử Licchavi bắt buộc phải tránh đường cho bà đi.

Ambapali đâu có biết rằng sau khi tránh đường cho bà đi, họ đã rủ nhau tìm đến Bụt để xem ông thầy tu này là ai mà Ambapali kính trọng đến thế.

Họ tìm đến Rừng Lớn.

Họ đậu xe ở ven rừng và đi bộ vào.Bụt biết đây là những thanh niên có nhiều hạt giống từ bi và trí tuệ.

Người mời họ ngồi và kể chuyện cho họ nghe.

Người kể cho họ nghe về thân thế và lịch trình tu đạo của người.

Rồi người nói về đạo lý diệt khổ, và lý tưởng giải thoát.

Người biết họ cũng thuộc về giai cấp Kshatriya, cũng thuộc về hoàng tộc như người.

Nhìn họ, người thấy hình ảnh của người ngày xưa.

Câu chuyện người nói vì thế rất có vẻ thân mật.Sau khi được nghe Bụt thuyết pháp, các vị vương tử Licchavi bừng tỉnh.

Họ thấy được họ.

Họ thấy sự hưởng thụ giàu sang và quyền bính không đủ để đem lại cho họ hạnh phúc.

Họ tìm thấy lý tưởng cho tuổi trẻ họ.

Tất cả đều xin nguyện làm học trò tại gia của Bụt.

Họ ngỏ lời thỉnh Bụt ngày mai đến thọ trai.

Bụt mỉm cười:– Ngày mai tôi đã được Ambapali mời rồi.Các vị vương tử cũng mỉm cười.

Họ nhớ lại cuộc đối đáp giữa họ và Ambapali trước đó.

Một vị nói:– Vậy thì chúng con xin thỉnh Bụt vào ngày mốt.Bụt mỉm cười chấp thuận.Tại lễ cúng dường tổ chức ở vườn xoài, Ambapali đã mời các thân hữu của bà đến để nghe Bụt thuyết pháp.

Một số các vương tử Licchavi cũng đã được mời tham dự buổi lễ này.Ngày hôm sau, Bụt với trên một trăm vị khất sĩ tới dự lễ trai tăng tại trú sở các vương tử Licchavi.

Bụt và các vị khất sĩ được đón tiếp rất long trọng.

Các thức ăn được cúng dường tuy là những thức ăn chay nhưng đều là những thức trân quý vào bậc nhất.

Các loại trái cây như mít, xoài, chuối và hồng táo đều đã được hái từ vườn cây của các vương tử.

Thọ trai xong, Bụt giảng cho mọi người nghe về giáo nghĩa duyên sinh và con đường của tám sự hành trì chân chính.

Bài giảng của người làm rung động tâm can của người nghe.

Mười hai vị vương tử đã cầu Bụt cho được xuất gia.

Bụt vui lòng chấp nhận họ.

Trong số những người được xuất gia hôm ấy có Otthaddha và Sunakhatta, hai vị vương có ảnh hưởng lớn trong bộ tộc Licchavi.Cuối buổi cúng dường, các vị vương tử trong bộ tộcLicchavi khẩn khoản thỉnh Bụt và giáo đoàn sang năm về an cư tại Vesali.

Họ hứa sẽ cất tu viện và giảng đường trong khu Rừng Lớn để có chỗ an cư cho Bụt và hàng trăm vị khất sĩ.

Bụt chấp thuận lời thỉnh cầu này.Sáng hôm sau, nữ cư sĩ Ambapali đến viếng Bụt rất sớm.Bà ngỏ ý muốn Bụt nhận vườn xoài của bà như một phẩm vật cúng dường của bà cho giáo đoàn khất sĩ.

Bụt nhận lời.Sau đó, Bụt cùng Sariputta và tăng đoàn lên đường đi về thủ đô Savatthi.
 
Đường Xưa Mây Trắng
CHƯƠNG 41 : Ai Có Thấy Mẹ Tôi Ở Đâu Không


Đường về Savatthi đối với đại đức Sariputta đã trở nên quen thuộc.

Trên con đường này thầy và cư sĩ Anathapindika đã gây được nhiều niềm tin nơi dân chúng đối với Bụt và giáo đoàn của người.

Lần này Bụt đi tới đâu là được dân chúng tiếp đón niềm nở tới đó.Trên tả ngạn con sông Aciravati, có nhiều khu rừng mát mẻ, nơi ấy Bụt và giáo đoàn khất sĩ có thể nghỉ ngơi mỗi tối.

Đoàn người chia làm ba nhóm, nhóm của Bụt đi đầu, có thầy Sariputta hướng dẫn, nhóm thứ hai do đại đức Assaji cầm đầu, nhóm thứ ba có đại đức Moggallana chăm sóc.Các đoàn khất sĩ đi rất trang nghiêm, khi khất thực cũng như lúc đi trên đường rất dài hay trên một bờ sông.

Dân chúng các thôn xóm ven sông thỉnh thoảng được nghe pháp thoại của Bụt.Ngày tới Savatthi, Bụt và giáo đoàn được hướng dẫn về thẳng Kỳ Viên tức là tu viện Jetavana.

Thấy trung tâm tu học được xây dựng và trang bị khéo léo và chu tất, Bụt nhìn Suddatta và ngỏ lời khen ngợi.

Suddatta rất sung sướng.

Chàng thưa với Bụt rằng đó cũng là nhờ ý kiến và công trình của đại đức Sariputta và thái tử Jeta.Chú tiểu Rahula, năm nay đã mười hai tuổi.

Theo nguyên tắc chú phải thân cận với đại đức Sariputta để học hỏi với thầy, nhưng sáu tháng nay vì thầy Sariputta vắng mặt cho nên chú đã được giao lại cho đại đức Moggallana.

Về tới tu viện Jetavana, chú lại được theo hầu thầy Sariputta như cũ.Hoàng thái tử Jeta và cư sĩ Suddatta thiết kế một lễ cúng dường ngay tại tu viện mới, ngay sau ngày giáo đoàn tới Savatthi.

Dân chúng quanh vùng được mời tới chiều hôm ấy để nghe Bụt thuyết pháp.

Đã nghe nói tới Bụt và giáo đoàn từ nhiều tháng rồi cho nên hôm ấy dân chúng thủ đô về tu viện rất đông.

Bụt đã nói về bốn sự thật và con đường tám sự hành trì chân chính.

Trong số những người ngồi nghe Bụt có cả hoàng hậu Mallika, phu nhân của quốc vương Pasenadi và công chúa Vajiri.

Hoàng hậu và công chúa đã tới do lời mời của thái tử Jeta.

Thái tử đã có lòng hâm mộ Bụt từ ngày biết đại đức Sariputta, và chàng đã nói nhiều về Bụt với mẹ và em gái.

Công chúa mới lên mười sáu.Nghe thuyết pháp xong, hoàng hậu và công chúa có cảm tình ngay với Bụt.

Cả hai người thấy tâm hồn như mở ra.

Cả hai đều muốn xin làm đệ tử Bụt, nhưng chưa dám.

Hoàng hậu tự nhủ là phải có sự đồng ý của vua mới có thể đến Bụt xin quy y.

Hoàng hậu Mallika biết thế nào trong tương lai vua Pasenadi cũng có cảm tình với Bụt, em gái của vua hiện giờ là chánh hậu của vua Bimbisara nước Magadha, đã quy y với Bụt từ ba năm nay.Trong số những người đến nghe Bụt thuyết pháp hôm ấy cũng có nhiều nhân vật quan trọng thuộc các giáo phái tôn giáo đang thịnh hành ở Savatthi.

Họ đến vì tò mò hơn là vì tìm học.

Có người nghe Bụt xong chợt thấy tâm hồn cởi mở.

Có người nghe Bụt xong thì thấy người là một thế lực tranh chấp đáng ngại, nhưng ai nấy đều công nhận rằng sự xuất hiện của Bụt tại thành Savatthi này là một biến cố rất trọng đại trong lịch sử tư tưởng và tôn giáo ở vương quốc Kosala.Hôm ấy sau khi lễ cúng dường và buổi thuyết pháp đã hoàn mãn, cư sĩ Suddatta trân trọng tới quỳ trước Bụt và bạch với người:– Con và gia đình con cùng tất cả các bạn hữu kính dâng tu viện Jetavana này lên cho Bụt và giáo đoàn.

Mong Bụt và giáo đoàn chấp nhận cho chúng con.Bụt nói:– Suddatta, công đức của quý vị thật to lớn.

Giáo đoàn khất sĩ nhờ có cơ sở này mà có nơi tránh mưa, tránh nắng, thú hoang, rắn rết và muỗi mòng.

Đây là một cơ sở tu học rất thuận lợi cho các vị khất sĩ đến từ bốn phương, trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Quý vị đã hết lòng hộ trì chánh pháp, tôi mong là quý vị sẽ giữ vững chí hướng trên con đường tu tập.Sáng hôm sau, Bụt và giáo đoàn khất sĩ ôm bát và đi vào thành khất thực.

Đại đức Sariputta đã chia các vị khất sĩ thành hai mươi đoàn khất thực, và mỗi đoàn mười lăm vị.

Sự có mặt của các chiếc áo vàng trong thành phố đã khiến cho dân chúng nói nhiều tới tu viện Jetavana.

Phong thái nghiêm trang và lặng lẽ của các vị khất sĩ đã làm cho dân chúng thủ đô mến phục tăng đoàn.Cứ mỗi bảy hôm thì lại có một buổi thuyết pháp tại tu viện Jetavana, những buổi thuyết pháp này do Bụt chủ trì.

Dân chúng đến dự rất đông.

Chỉ trong vòng mười hôm quốc vương Kosala là vua Pasenadi đã biết đến sự có mặt của Bụt.

Tuy bận rộn công việc triều chính, vua cũng đã có dịp ngồi nghe các vị cận thần nói về ngôi tu viện mới và về giáo đoàn khất sĩ từ vương quốc Magadha mới tới.Trong một bữa cơm hoàng gia, vua đem chuyện giáo đoàn của Bụt ra nói, hoàng hậu Mallika cho vua biết là thái tử Jeta có đóng góp vào việc xây dựng tu viện.

Vua cho đòi thái tử đến và hỏi về Bụt.

Thái tử Jeta thực lòng tâu vua về những gì mình nghe thấy.

Thái tử nói là nếu được vua cho phép, thái tử sẽ xin quy y làm học trò tại gia của Bụt.Vua Pasenadi không tin là một người trẻ tuổi như Bụt mà đã chứng đạt được quả vị giác ngộ và giải thoát cao tột như lời đồn đãi.

Theo lời thái tử thì Bụt chỉ mới có ba mươi chín tuổi.

Ba mươi chín tuổi là tuổi của vua.

Vua nghĩ đức độ của Bụt làm sao cao bằng đức độ của những bậc lãnh tụ tôn giáo lớn tuổi như Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Nigantha Nathaputta và Sanjana Belatthiputta.

Lòng vua nửa tin nửa ngờ.

Vua nghĩ thầm là khi nào có cơ hội vua sẽ tìm tới thăm Bụt để tìm hiểu trực tiếp con người mà cả hoàng hậu Mallika cả thái tử Jeta đều tỏ lòng cảm mến và kính phục.Mùa mưa sắp tới, Bụt quyết định sẽ cùng đại chúngan cư tại tu viện Jetavana, đã có kinh nghiệm từ những mùa kết hạ trước tại tu viện Trúc Lâm, năm nay các thầy phụ tá cho Bụt tổ chức mùa an cư rất dễ dàng và chu đáo.

Số người mới xuất gia tại Savatthi đã lên tới sáu mươi vị.

Suddatta đã đem tới cho tu viện rất nhiều bạn hữu, những người này rất sốt sắng trong việc tổ chức cúng dường và bảo trợ cho những sinh hoạt tu học tại tu viện.Một buổi chiều nọ, Bụt tiếp một người đàn ông còn trẻ nhưng mặt mũi bơ phờ.

Được Bụt hỏi thăm, người này nói là đứa con trai độc nhất của ông ta mới chết.

Suốt mấy ngày nay, ông ta cứ ra ngoài bãi tha ma, vừa khóc vừa kêu lên: "Con ơi, bây giờ con ở đâu?", ông ta không thiết gì đến ăn uống và ngủ nghỉ.

Bụt nói:– Đời là như thế đó, này ông bạn.

Hễ có thương là có khổ.Người đàn ông không chấp nhận lời của Bụt.

Ông ta phản đối.– Thầy nói sai rồi, thương không làm cho người ta khổ, thương chỉ đem lại cho người ta hạnh phúc và niềm vui mà thôi!Nói xong, người ấy bất mãn đứng dậy và bỏ đi, không cho Bụt có cơ hội giải thích thêm về lời người vừa nói.

Ông ta đi lang thang một hồi thì gặp một toán người đang xúm nhau đánh bạc.

Ông ta ngồi xuống tham dự và nhân tiện kể lại cho bọn người đó nghe về cuộc gặp gỡ vừa rồi với Bụt.

Những người đàn ông đang cờ bạc với nhau đều đồng ý với ông ta, cho rằng lời Bụt nói là sai.

"Thương làm sao mà lại đem tới sầu khổ và thất vọng cho được.

Thương chỉ đem tới hạnh phúc và niềm vui mà thôi!

Anh nói đúng đấy, ông sa môn Gotama nói sai rồi".Câu chuyện này được truyền ra và chẳng mấy chốc đã trở nên đề tài bàn tán sôi nổi của những giáo phái ở thủ đô Savatthi.

Nhiều vị lãnh tụ giáo phái cũng cho rằng Bụt có một quan niệm sai lầm về thương yêu, và rốt cuộc câu chuyện được truyền đến tai quốc vương Pasenadi.Chiều hôm ấy, trong bữa cơm gia đình, vua nói với hoàng hậu:– Cái vị sa môn mà người ta thường gọi là Bụt ấy có thể không phải là người giỏi.Hoàng hậu hỏi:– Tại sao hoàng thượng nói như vậy?

Ai đã chê sa môn Gotama?– Sáng nay ta có nghe các quan trong triều bàn tán về sa môn Gotama.

Họ nói rằng theo sa môn Gotama, càng thương nhiều thì càng lo lắng, sầu khổ và thất vọng nhiều mà thôi.Hoàng hậu Mallika tâu vua:– Nếu sa môn Gotama đã nói như thế thì chắc đó là sự thật.Vua Pasenadi không bằng lòng.

Vua nói:– Hoàng hậu đừng nên nói thế.

Mình phải biết suy xét chứ.

Đừng làm như một em bé hễ thầy giáo nói điều gì thì cứ cho ngay điều ấy là đúng.Hoàng hậu im lặng không nói gì.

Bà biết là vua chưa có cảm tình với Bụt.

Sáng hôm sau bà nhờ một người Bà la môn tâm phúc là Nalijangha tới viếng Bụt và hỏi xem có thật là người đã nói rằng "thương là nguồn gốc của lo lắng, sầu khổ và thất vọng" không?

Bà dặn là nếu Bụt có nói như thế thì hãy xin Bụt giải nghĩa thêm cho rõ ràng và phải ghi nhớ hết những điều người dạy để về thuật lại cho bà.Nalijangha tới thăm Bụt và được Bụt kể cho mấy câu chuyện chứng tỏ rằng thương là khổ.

Bụt nói:– Tại Savatthi này tôi nghe nói một người thiếu nữ vừa mất mẹ.

Cô ta đau khổ quá đến phát điên, cả ngày cứ đi ngoài đường gặp ai cũng hỏi: Ông có gặp mẹ tôi đâu không?

Bà có thấy mẹ tôi đâu không?

Cũng tại Savatthi, tôi lại mới nghe nói có hai thanh niên nam nữ yêu nhau, nhưng gia đình người con gái lại ép gả cô cho một chàng trai mà cô không yêu.

Do đó mà hai người yêu nhau phải rủ nhau tự tử, nghĩ rằng chỉ có cái chết mới kết hợp họ với nhau được.

Nội hai câu chuyện này cũng có thể chứng tỏ rằng thương là khổ.Nalijangha về thuật lại những câu chuyện ấy cho hoàng hậu Mallika nghe.Một hôm nhân lúc vua Pasenadi rảnh rỗi, hoàng hậu hỏi vua:– Bệ hạ nghĩ thế nào, công chúa Vajiri có phải là người bệ hạ thương yêu và cưng chiều nhất hay không?– Đúng như vậy, ta thương yêu và cưng chiều con gái ta nhất.– Vậy nếu có gì không may xảy ra cho công chúa Vajiri thì bệ hạ có lo lắng, sầu khổ và thất vọng không?Vua Pasenadi giật mình.

Vua thấy rằng trong cái thương, có những mầm mống của lo lắng, sầu khổ và thất vọng.

Vua tự nhiên mất hết an lạc.

Câu nói của Bụt chứa đựng một sự thật phũ phàng làm cho vua ngẩn ngơ.

Vua nói:– Hôm nào có dịp trẫm cũng sẽ đến thăm viếng sa môn Gotama.Nghe vua nói như thế, hoàng hậu rất vui mừng.

Bà tin rằng không được gặp Bụt thì thôi, chứ nếu được gặp Bụt thế nào vua cũng sẽ có cảm tình với Bụt.
 
Đường Xưa Mây Trắng
CHƯƠNG 42 : Không Hiểu Biết Thì Không Thể Thương Yêu


Vua Pasenadi đến thăm Bụt một mình, không có hoàng hậu và công chúa đi theo.

Vua cũng không đem theo vị văn quan hay võ quan nào.

Ngài để xe và thị vệ ngoài cổng tu viện Jetavana và đi bộ vào một mình.

Vua được Bụt tiếp trước chiếc am lá của người.

Sau khi an vị và trao đổi những lời thăm hỏi, vua hỏi Bụt một cách trực tiếp:– Sa môn Gotama, người ta thường ca ngợi ngài là Bụt, là đã đạt tới quả vị giác ngộ cao nhất.

Trẫm băn khoăn tự hỏi: tuổi của ngài còn nhỏ, năm tu của ngài cũng còn ít, thế mà tại sao ngài lại đạt tới thành quả đó được?

Trẫm đã nghe nói đến những vị đạo cao đức trọng như Puruna Kassapa, như Makkhali Gosala, như Nigantha Nathaputta, như Sanjaya Belatthiputta... những vị này là người tu lâu năm, tuổi tác đều lớn, tại sao họ không tự nhận họ là bậc giác ngộ hoàn toàn?

Lại còn những vị như Pakudha Kaccayana và Ajita Kesakambali nữa.

Ngài có nghe nói đến những vị ấy không?Bụt ôn tồn:– Đại vương, tôi có nghe nói tới các vị ấy và có vị tôi cũng đã từng được gặp.

Đại vương, sự tỉnh thức không tùy thuộc vào tuổi tác, và năm tháng không quyết định được sự có mặt của giác ngộ.

Đại vương, có những cái bé nhỏ mà ta không nên khinh thường: một vị vương tử bé, một con rắn con, một đốm lửa nhỏ và một nhà tu trẻ.

Vị vương tử tuy bé nhưng cũng có vương tính của một đức vua như bệ hạ bây giờ, một con rắn nhỏ có thể làm ta mất mạng trong chốc lát.

Một đốm lửa hồng có thể làm thiêu rụi một khu rừng hay một thành phố lớn và một nhà tu trẻ có thể đạt tới quả vị giác ngộ hoàn toàn.

Đại vương!

Người khôn ngoan không bao giờ khinh thường một vương tử bé, một con rắn nhỏ, một đốm lửa hồng và một nhà tu trẻ.Vua Pasenadi nhìn Bụt kinh ngạc.

Người ngồi trước mặt vua đã nói với vua những điều trên một cách điềm đạm.

Những điều Bụt nói không hàm chứa một hào ly mặc cảm nào.

Vua bắt đầu có đức tin nơi Bụt.

Vua hỏi Bụt về điều mà vua còn thắc mắc và chưa giải quyết được xong xuôi:– Sa môn Gotama, có người nói rằng ngài chủ trương không nên thương yêu, bởi vì càng thương nhiều thì càng lo lắng nhiều, càng thương nhiều thì càng sầu khổ nhiều, càng thương nhiều thì càng thất vọng nhiều.

Trẫm nghĩ rằng điều đó có thể đúng, nhưng lòng trẫm vẫn không yên.

Trẫm nghĩ nếu không có thương yêu thì cuộc đời sẽ khô khan và vô vị lắm.

Xin ngài giải giùm những nghi nan ấy cho trẫm.Bụt nhìn vua:– Đại vương, câu hỏi của ngài rất hay, và nhiều người sẽ được khai sáng nhờ câu hỏi này.

Tiếng thương yêu có nhiều nghĩa, ta phải xét cho kỹ về bản chất của từng loại thương yêu.

Cuộc đời cần đến sự thương yêu, nhưng không phải là thứ thương yêu dựa trên căn bản của dục vọng, của đam mê và vướng mắc, của phân biệt và kỳ thị.

Đại vương, có một thứ tình thương mà cuộc đời rất cần đến, đó là lòng từ bi.

Từ là maitri, còn bi là karuna.Đại vương, tình thương mà người đời thường nói tới là tình thương giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa những người cùng trong họ hàng, cùng thân tộc, cùng giai cấp hoặc cùng quốc gia.

Vì tình thương ấy còn dựa vào ý niệm "tôi" và "của tôi" cho nên bản chất của nó còn là sự vướng mắc và phân biệt.Người ta chỉ muốn thương cha của mình, thương mẹ của mình, thương chồng của mình, thương vợ của mình, thương con của mình, thương cháu của mình, thương họ hàng của mình, thương đất nước của mình, cho nên người ta còn vướng mắc và phân biệt.

Vướng mắc cho nên lo lắng về những bất trắc có thể xảy đến dù chúng chưa xảy đến, vướng mắc cho nên phải gánh chịu sầu đau và thất vọng mỗi khi có những bất trắc xảy đến.Phân biệt cho nên có thái độ nghi kỵ, hờ hững và ghét bỏ đối với những người mình không thương.

Vướng mắc và phân biệt đều là những nguyên nhân của khổ đau, khổ đau cho mình và cho người.Đại vương, thứ tình thương mà muôn loài đang khao khát là lòng từ bi.

Từ là thứ tình thương có thể đem đến an vui cho kẻ khác, bi là thứ tình thương có thể làm vơi đi những khổ đau của kẻ khác.

Từ và bi là thứ tình thương không có điều kiện, không bắt buộc và không đòi hỏi bất cứ một sự đền đáp nào.

Trong từ bi, người được thương không phải chỉ là cha ta, mẹ ta, vợ ta, chồng ta, con ta, huyết thống ta, giai cấp ta...

Kẻ được thương là tất cả mọi người và mọi loài.Trong từ và bi không có sự phân biệt ta và không ta, của ta và của không của ta.

Vì không phân biệt nên không có vướng mắc.

Từ và Bi chỉ đem lại niềm vui và làm giảm đi nỗi khổ; Từ và Bi không gây lo lắng sầu khổ và thất vọng.

Thiếu từ bi, cuộc đời sẽ khô khan, khổ đau và buồn chán như đại vương nói.

Có từ bi, cuộc đời sẽ có an lạc, hạnh phúc và tươi vui.

Đại vương, ngài là bậc nhân chủ cầm đầu của cả một nước, dân chúng vương quốc ngài sẽ được thấm nhuần ân đức ngài nếu ngài tu tập được tâm Từ và tâm Bi.Vua cúi đầu suy nghĩ một lúc.

Sau đó vua ngửng lên hỏi Bụt:– Trẫm có một gia đình để coi sóc, có một vương quốc phải chăm lo.

Nếu trẫm không thương yêu gia đình của trẫm và dân chúng trong vương quốc của trẫm thì làm sao trẫm có thể coi sóc và chăm lo cho họ được?

Xin Bụt soi sáng điểm này cho trẫm.– Cố nhiên là đại vương phải thương yêu gia đình hoàng gia và phải thương yêu dân chúng của vương quốc.

Nhưng tình thương yêu của đại vương có thể vượt khỏi phạm vi gia đình và vương quốc.

Đại vương thương yêu và chăm sóc cho các hoàng tử và công chúa.

Điều đó không ngăn cản việc đại vương có thể thương yêu và chăm sóc cho tất cả những người trẻ khác trong vương quốc như là thương yêu và chăm sóc chính con trai và con gái của đại vương.

Nếu đại vương làm được như vậy thì tình thương hạn hẹp trở thành tình thương rộng lớn, và đột nhiên tất cả những người trẻ tuổi trong vương quốc đều trở nên con trai và con gái của đại vương.

Đó đích thực là tâm từ bi.

Đây không phải là một điều quá lý tưởng.

Đây là một điều con người có thể thực hiện được, nhất là khi con người ấy có trong tay những phương tiện như đại vương.

Nếu đại vương phát được nguyện lớn thì đại vương chắc chắn có thể làm được điều này.– Nhưng còn những người trẻ tuổi trong các vương quốc khác?– Không có gì ngăn cản đại vương thương yêu những người trẻ tuổi trong các vương quốc khác như con trai và con gái của ngài, dù những người này không nằm trong vùng cai trị của đại vương.

Không phải vì thương yêu dân chúng của quốc gia mình mà mình không thể thương yêu dân chúng của các quốc gia khác.– Thương yêu như thế nào?

Họ có nằm dưới quyền cai trị của mình đâu?Bụt nhìn vua:– Sự giàu mạnh và an ổn của một quốc gia không phải được tạo nên bởi sự nghèo hèn và loạn lạc của những quốc gia khác.

Đại vương, nền hòa bình và thịnh vượng lâu dài của một quốc gia chỉ có thể được xây dựng trên sự hòa hiếu giữa các quốc gia và ý hướng về một nền thịnh vượng chung.

Nếu đại vương thực sự muốn cho vương quốc Kosala có hòa bình và những người trai trẻ trong vương quốc không phải xông pha nơi lửa đạn thì đại vương cũng phải giữ gìn làm sao cho các vương quốc kế cận cũng có hòa bình và để những trai trẻ các xứ đó cũng khỏi phải xông pha trong vòng lửa đạn.

Chính sách ngoại giao và kinh tế của đại vương phải thực sự đi theo con đường của tâm từ bi thì đại vương mới có thể làm được chuyện này.

Như vậy trong khi đại vương thương yêu và chăm sóc cho quốc gia Kosala, đại vương cũng chăm sóc cho các vương quốc khác như Magadha, Sasi, Videha, Sakya và Koliya.Đại vương, mới năm ngoái đây, sau khi về thăm gia đình và vương quốc Sakya, tôi và nhiều vị khất sĩ có tới du hóa ở Arannakutila, thuộc lãnh thổ của quý quốc, sát chân núi Hy Mã Lạp Sơn.

Ở đó tôi đã suy nghiệm về một chính sách trị nước căn cứ trên nguyên tắc bất bạo động.

Tôi thấy các vị quốc vương rất có thể cai trị nghiêm minh, đem lại an hòa và hạnh phúc của muôn dân mà không cần sử dụng đến những biện pháp bạo động như chinh phạt, xử tử, giam hãm, tù đày v.v...

Tôi đã nói những điều này với phụ vương tôi, vua Suddhodana.

Nhân tiện đây tôi cũng muốn xác định điều đó với đại vương.

Làm nhà chính trị giỏi, đại vương có thể trị nước mà không cần đến những phương thức bạo động, nếu ngài biết un đúc và nuôi dưỡng Từ Bi.Vua thốt lên:– Thật là kỳ diệu!

Thật là kỳ diệu!

Chưa bao giờ trẫm được nghe những lời giáo huấn mới lạ và sâu sắc như thế!

Ngài thật là một bậc tôn quý trên đời!

Những điều Bụt dạy, trẫm xin lĩnh giáo để về chiêm nghiệm, bởi vì trẫm biết những lời dạy ấy có những chiều sâu cần phải khám phá.

Bây giờ trẫm xin hỏi ngài một câu hỏi thật đơn giản.

Thói thường, thì tình thương của người đời bao giờ cũng ẩn chứa ý niệm phân biệt, và ít nhiều cũng mang tính chất đam mê và vướng mắc.

Theo Bụt thì thứ tình thương đó có thể gây nên lo lắng, sầu khổ, và thất vọng.

Vậy nếu không thương như thế thì ta phải thương làm sao?

Ví dụ như trẫm đây, trẫm phải thương con cái của trẫm như thế nào để tránh được những lo lắng, sầu khổ và thất vọng?– Không ai cấm cản chúng ta thương yêu, nhưng ta phải biết quán sát để thấy được bản chất của tình thương chúng ta.

Tình thương theo lẽ thì phải làm cho người được thương yêu có an lạc và hạnh phúc, nhưng nếu chỉ là đam mê, là ích kỷ, là ý chí chiếm hữu thì tình thương này không thực sự là tình thương, tình thương này không làm cho người được thương có an lạc và hạnh phúc.

Trái lại nó làm cho kẻ kia cảm thấy tù túng, lệ thuộc, mất hết tự do, mất hết phẩm cách của một con người có tự do.

Tình thương trong trường hợp này chỉ là một tù ngục.

Nếu người được thương không có hạnh phúc, nếu người ấy không chấp nhận cái nhà tù của sự chiếm hữu thì tình thương kia sẽ dần dần biến thành sự ghét bỏ và hận thù.Đại vương biết không, tại kinh đô Savatthi này cách đây chỉ có mười hôm, một chuyện thương tâm đã xảy ra chỉ vì tình thương không được thỏa mãn đã biến thành hận thù.

Có một bà mẹ cảm thấy mất mát khi đứa con trai duy nhất của bà đem lòng thương yêu một cô thiếu nữ và sau đó cưới cô ấy về làm vợ.

Bà mẹ kia thay vì thấy rằng mình có thêm một đứa con, lại cảm thấy rằng mình đã mất một đứa con, và cho rằng con trai mình đã phản bội tình thương của mình.

Nghĩ như thế, hận thù nảy sinh trong tâm bà.

Một hôm bà đã bỏ thuốc độc vào thức ăn, và cả con trai lẫn con dâu đều chết vì ngộ độc.

Đại vương!

Trong đạo lý giác ngộ, thương yêu phải đi đôi với hiểu biết, thương yêu chính là hiểu biết.

Nếu không hiểu biết thì không thể thương yêu, vợ chồng không hiểu nhau thì không thể thương nhau, anh em không hiểu nhau thì không thể thương nhau.

Muốn cho một người nào có hạnh phúc, mình phải tìm hiểu cho được những ước vọng và những khổ đau của chính người ấy.

Hiểu được rồi mình mới có thể làm mọi cách để cho người ấy bớt khổ đau và có hạnh phúc.

Như vậy mới gọi là tình thương chân thật, còn nếu mình chỉ muốn kẻ kia làm theo ý mình, và không biết gì đến những khổ đau và những nhu cầu chân thực của người ấy thì đó không phải là thương.

Đó chỉ là ước muốn chiếm hữu hoặc ước muốn thỏa mãn ý nguyện của mình, cho dù đó là ý nguyện muốn cho người kia sung sướng.Đại vương!

Dân chúng trong vương quốc Kosala có những đau khổ và những ước vọng của họ.

Nếu đại vương thực sự hiểu thấu những đau khổ và những ước vọng ấy thì đại vương sẽ thực sự thương yêu được họ.

Các quan chức trong triều cũng có những đau khổ và những ước vọng của họ.

Nếu đại vương thực sự thấu hiểu những đau khổ và ước vọng ấy, đại vương có thể làm cho họ sung sướng và họ sẽ suốt đời trung thành với đại vương.

Hoàng hậu, các thái tử và công chúa, mỗi người cũng đều có những đau khổ và những ước vọng của mình; nếu đại vương thực sự thấu hiểu được những đau khổ và những ước vọng ấy, đại vương cũng sẽ làm cho họ sung sướng, và khi mọi người được sung sướng và an lạc thì chính đại vương cũng sẽ được sung sướng và an lạc.

Đó là nghĩa thương yêu trong đạo lý tỉnh thức.Vua Pasenadi cảm thấy xúc động.

Chưa có một vị đạo sĩ hay một vị Bà la môn nào đã chiếu rọi ánh sáng vào các ngõ ngách tâm tư của vua và làm cho vua thấy hiểu được tâm mình một cách rõ ràng như thế.

Vị sa môn này, vua nghĩ, là một bảo vật quý giá khôn lường của vương quốc, xứng đáng làm thầy của ta.Vua cúi đầu suy nghĩ.

Một lát sau, vua ngửng mặt nhìn Bụt:– Trẫm cảm ơn ngài đã soi sáng nhiều cho trẫm, nhưng còn một điều này nữa, trẫm còn thắc mắc.

Ngài đã nói rằng tình thương có đam mê và vướng mắc thường có tác dụng gây khổ đau và thất vọng, trong khi thương theo đạo lý từ bi tuy không ích kỷ và không vụ lợi nhưng cũng vẫn đem lại khổ đau và thất vọng như thường.

Trẫm cũng thương dân, nhưng mỗi khi thấy dân chịu khổ đau vì những thiên tai như bão tố lụt lội, dịch lệ... thì trẫm vẫn cảm thấy khổ đau và thất vọng, mà trẫm nghĩ ngài cũng thế, mỗi khi thấy người khác khổ đau vì bệnh hoạn, chết chóc, ngài cũng không thể không khổ đau.– Câu hỏi của đại vương rất hay; nhờ câu hỏi này mà ngài có thể hiểu sâu thêm về bản chất của từ bi.

Trước hết, đại vương nên biết rằng những khổ đau do thứ tình thương có bản chất đam mê và vướng mắc đem lại thì nặng nề và to lớn gấp muôn vạn lần những khổ đau mà lòng từ bi đã làm phát khởi trong lòng ta.

Kế đó, đại vương phải phân biệt hai loại khổ đau: một loại khổ đau hoàn toàn vô ích và chỉ có công dụng tàn phá cơ thể và tâm hồn người, một loại khổ đau nuôi dưỡng được lòng từ bi, ý thức trách nhiệm và đưa tới ý chí hành động diệt khổ.

Thứ tình thương có bản chất đam mê và vướng mắc vì được nuôi dưỡng trong tham đắm và si mê nên chỉ có thể đem lại những phiền não khổ đau làm tàn phá con người, trong khi từ bi chỉ nuôi dưỡng xót thương cho hành động cứu khổ.

Đại vương!

Sự xót thương rất cần cho con người.

Đó là một niềm đau có ích.

Không biết xót thương thì con người không thể là con người, vì vậy những khổ đau do lòng xót thương đem lại là những khổ đau cần thiết và có lợi lớn.Sau nữa, đại vương nên biết là từ bi là hoa trái của sự hiểu biết.

Tu tập theo đạo lý tỉnh thức là để chứng ngộ được thực tướng của sự sống.

Thực tướng ấy là vô thường.

Mọi vật đều vô thường, vô ngã, vì vậy không vật nào là không có ngày phải tàn hoại.

Thấy được tự tính vô thường của vạn vật, người tu có một cái nhìn điềm đạm và trầm tĩnh, vì vậy những vô thường xảy đến không làm xáo động được tâm mình.

Cũng vì vậy niềm xót thương do lòng từ bi nuôi dưỡng không bao giờ có tính cách nặng nề và chua cay của những đau khổ thế tục.

Trái lại, niềm xót thương này còn đem đến sức mạnh cho người tu đạo.

Đại vương!

Hôm nay đại vương đã nghe khái quát về đạo lý giải thoát.

Một hôm khác, tôi sẽ giảng giải thêm cho đại vương về đạo lý này.Với tâm hồn tràn đầy sự biết ơn, quốc vương Pasenadi đứng dậy từ tạ Bụt.

Vua tự nhủ là một ngày nào đó vua sẽ xin Bụt nhận vua làm đệ tử.

Vua biết hoàng hậu Mallika, thái tử Jeta và công chúa Vajiri đều đã có cảm tình sâu đậm với Bụt, và vua nghĩ hôm nào cả gia đình hoàng gia sẽ đến xin quy y làm đệ tử cùng một lần.

Vua cũng biết là em gái mình, công chúa Kosaladevi, chánh hậu của quốc vương Bimbisara, cũng như chính quốc vương Bimbisara, em rể của mình, cũng đã từ lâu quy y Tam Bảo.Chiều hôm ấy, hoàng hậu Mallika và công chúa Vajiri đột nhiên thấy vua trở nên rất ngọt ngào và thầm lặng.

Hoàng hậu và công chúa biết đó là hiệu quả của cuộc gặp gỡ giữa vua và Bụt.

Tuy nhiên cả hai đều không đả động tới việc này.

Họ rất muốn vua kể lại cho họ nghe về cuộc gặp gỡ mà họ biết là rất kỳ thú ấy, nhưng cả hai người đều mặc nhiên đồng ý rằng họ phải đợi tới một dịp khác.
 
Back
Top Dưới