Tôi kể các cháu nghe, chứ bây giờ người ta bảo “năm 1945” thì cứ tưởng xa lắc xa lơ, chứ với bà lúc ấy mới mười sáu tuổi đầu, cái tuổi còn ham chơi hơn ham ăn.
Thế mà ăn lại chẳng có.
Năm ấy, cái đói nó kinh khủng lắm.
Kinh khủng hơn cả bom đạn sau này.
Người chết đói nằm la liệt từ Hàng Bông, Hàng Đào, cho đến bờ hồ Hoàn Kiếm.
Có hôm mẹ tôi đi chợ về, bảo: “Con ơi, mẹ vừa thấy một bà cụ ngồi tựa cột đèn, mắt vẫn mở mà người đã cứng đơ rồi.”
Tôi nghe xong chỉ biết ôm bụng, vì bụng tôi nó réo sùng sục như có con mèo hoang đang cào cấu bên trong.
Nhà tôi ở ngõ Phất Lộc, phố Hàng Bông ngày trước gọi là “rue du Coton”.
Ngõ nhỏ xíu, chỉ vừa một người đẩy xe đạp lọt.
Nhà ba gian, tường đất, mái ngói rêu phong, hồi Pháp còn ở thì gọi là “nhà ống”, chứ thực ra chật như cái tổ chim.
Bốn mẹ con chen chúc ngủ trên cái phản gỗ lim, mỗi người một góc, gió lùa qua khe cửa vẫn lạnh toát.
Bố tôi mất sớm vì lao phổi, để lại mẹ tôi gánh hàng xáo, nuôi ba chị em tôi lớn lên bằng từng cân gạo mốc.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Hà Nội như cái nồi đang sôi mà bị ai đó nhấc vung.
Lính Nhật đi lại nghênh ngang, súng lê lăm lăm.
Chúng tôi đói sẵn rồi, giờ lại thêm lệnh tịch thu gạo.
Mẹ tôi khóc: “Trời ơi, còn gì mà tịch thu nữa, nhà mình còn có một đấu gạo mốc với nắm muối vừng!”
Thế mà vẫn phải sống.
Tôi vẫn phải ra hồ Hoàn Kiếm bán nước chè tươi kiếm thêm.
Mỗi sáng tôi dậy từ bốn giờ, nấu một ấm nước sôi, bỏ nắm chè khô vào, rồi bê ra góc đền Bà Kiệu ngồi.
Một bát chè tươi ngày thường năm xu, giờ lên một hào mà người ta vẫn kêu đắt.
Có hôm cả buổi chỉ bán được bảy bát, trừ tiền than, tiền chè, còn lại được ba xu, mua được… một lạng muối hạt.
Cái đói nó làm người ta thay đổi hẳn.
Chị hàng xóm nhà tôi, chị Hạnh, trước xinh lắm, da trắng như bông bưởi, giờ gầy trơ xương, mắt trũng sâu như hai cái giếng cạn.
Chị bảo: “Lan ơi, tao thèm một bát phở quá, thèm đến mức nằm mơ cũng thấy mùi hành mùi quẩy.”
Tôi cười: “Thôi chị ơi, mơ cũng đừng mơ, mơ xong tỉnh dậy càng đói thêm.”
Rồi đến tháng Tám.
Tháng Tám Hà Nội có mùi hoa sữa nồng nặc, dù đói đến mấy vẫn ngửi thấy.
Cái mùi ấy nó quyến rũ, nó làm người ta quên đói được vài giây.
Tôi vẫn bê ấm chè ra hồ bán như mọi ngày.
Hôm ấy là ngày 19, tôi nhớ rõ vì hôm trước mẹ tôi bảo: “Mai mùng 10 tháng Bảy âm lịch, giỗ cụ tổ, mà nhà mình chẳng có nổi bát cơm cúng.”
Tôi đang ngồi bên gốc cây sưa thì nghe tiếng loa từ phía Bắc Bộ phủ vang lên:
“Đồng bào nghe rõ đây!
Nhật đã đầu hàng Đồng minh vô điều kiện…”
Tôi ngẩng phắt lên.
Cả hồ Hoàn Kiếm như bừng tỉnh.
Người ta đổ ra đường, có người còn mặc mỗi cái quần đùi, có người ôm cả con chạy ra.
Tôi cũng chạy theo, ấm chè để quên luôn ở gốc cây.
Chân tôi nhỏ xíu mà chạy nhanh kinh khủng, như có ai đẩy sau lưng.
Phố Hàng Đào, Hàng Ngang đông kín người.
Tôi chen mãi mới lọt được vào quảng trường.
Trên nóc Bắc Bộ phủ, một lá cờ đỏ sao vàng năm cánh bay phấp phới.
Tôi chưa bao giờ thấy lá cờ đẹp đến thế.
Nó không phải cờ Nhật, không phải cờ Pháp, cũng không phải cờ vàng ba sọc đỏ của triều đình Huế.
Nó là cờ của mình.
Của người Việt mình.
Tôi đứng đó, mắt cay xè.
Không hiểu sao lại khóc.
Có lẽ vì đói quá lâu, giờ tự dưng thấy mình sắp được no.
Có lẽ vì từ bé đến giờ mới thấy người Việt mình làm chủ Hà Nội.
Đúng lúc ấy, có một đám lính Nhật say rượu, mặt đỏ gay, mắt long sòng sọc, đi ngược chiều.
Chúng nó cầm gậy, cầm súng lê, chửi bới om sòm bằng tiếng Nhật.
Dân mình né hết, chỉ còn tôi đứng ngây ra nhìn lá cờ.
Một thằng lính thấy tôi, nó cười nham nhở, giơ tay định túm tóc tôi kéo đi.
Tôi sợ đến mức đứng chết trân.
Đầu óc trống rỗng.
Chỉ kịp nghĩ: “Thôi chết rồi, mình sắp bị nó đâm chết giữa ngày độc lập.”
Thì bỗng có một bàn tay rắn chắc túm lấy cổ tay tôi, kéo mạnh về phía sau.
Một giọng nam trầm ấm vang lên ngay tai tôi:
“Em đứng đây làm gì?
Muốn chết à?
Lại đây!”
Tôi ngã vào lòng người ấy.
Mùi thuốc lào, mùi mồ hôi, mùi nắng gió phả vào mặt.
Tôi ngẩng lên, thấy một anh thanh niên chừng ngoài hai mươi, mặc áo nâu, quần lĩnh, đầu đội mũ cối, tay cầm khẩu súng trường cũ.
Mắt anh ấy sáng rực, sáng hơn cả ngôi sao trên lá cờ.
Anh đẩy tôi ra sau lưng mình, giơ tay chặn thằng lính Nhật.
Hai bên nói gì đó bằng thứ tiếng bập bẹ, tôi không hiểu.
Chỉ thấy thằng Nhật lùi lại, chửi thêm vài câu rồi bỏ đi cùng đồng bọn.
Cả quảng trường lại reo hò.
Tiếng loa vẫn vang lên:
“…Từ nay nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời…”
Tôi vẫn đứng sau lưng anh ấy, tim đập thình thịch.
Anh quay lại, cười toe toét:
“Em không sao chứ?
Sợ lắm hả mà mặt trắng bệch thế kia?”
Tôi lắc đầu nguầy nguậy, miệng lắp bắp: “Em… em cảm ơn anh…
Anh tên gì ạ?”
“Trần Đình.
Còn em?”
“Nguyễn Thị Lan…
Nhà em ở ngõ Phất Lộc.”
Anh cười, nụ cười làm cả Hà Nội sáng bừng: “Phất Lộc thì gần nhà anh.
Nhà anh ở Hàng Bông đây thôi.”
Rồi anh lấy trong túi áo ra một chiếc khăn mùi xoa trắng, thêu chữ “ĐÌNH” ở góc.
“Em lau mặt đi, mồ hôi đầy kìa.
Giữ lấy, mai mốt anh qua ngõ Phất Lộc tìm em trả.”
Tôi cầm chiếc khăn, tay run run.
Vải dù trắng, mềm, thơm mùi xà phòng mà từ Tết năm ngoái tôi mới lại ngửi thấy.
Đúng lúc ấy, cả quảng trường cùng cất tiếng hát:
“Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc…”
Anh Đình kéo tay tôi nhập vào đoàn người.
Chúng tôi hát, hát đến khản cả cổ.
Tôi hát mà nước mắt chảy dài, không biết vì vui hay vì đói nữa.
Chỉ biết bàn tay anh ấy nắm chặt tay tôi, ấm lắm, ấm hơn cả bát cơm mẹ nấu ngày còn bố.
Mãi sau này tôi mới biết, hôm ấy là lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đất Bắc Bộ phủ.
Cũng là lần đầu tiên tôi gặp người đàn ông sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời – qua hai cuộc chiến tranh, qua bao lần sinh ly tử biệt, qua những năm tháng mà chỉ nghĩ lại thôi đã thấy xót lòng.
Còn chiếc khăn mùi xoa thêu chữ “ĐÌNH” ấy, tôi vẫn giữ đến tận bây giờ.
Năm 2025 rồi, nó đã ngả màu vàng khè, sờn cả mép, nhưng tôi vẫn gói trong túi ni-lông, cất kỹ dưới đáy hòm.
Có hôm chắt nội hỏi:
“Bà ơi cái khăn rách này của ai mà bà quý thế?”
Tôi cười, vuốt tóc nó:
“Của ông nội mày ngày xưa cứu bà khỏi lính Nhật đấy.
Cũng là ngày đầu tiên bà biết thế nào là yêu.”
Các cháu ạ, tình yêu thời loạn nó lạ lắm.
Không hoa, không quà, không lời đường mật.
Chỉ một cái nắm tay giữa đám đông, một chiếc khăn mùi xoa dính chút máu ở cổ tay anh ấy bị lính Nhật làm xước, thế là đủ để theo nhau cả đời.
Mà cũng lạ, cái đói năm 1945 kinh khủng đến thế, vậy mà không ai trong chúng tôi quên được mùi hoa sữa tháng Tám.
Có lẽ vì đói quá lâu, nên khi hạnh phúc đến, nó mới nồng nàn đến vậy.