Cập nhật mới

Khác Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh

Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 58: Trở lại quê hương


“Người hiền lành cũng sẽ phản kháng nếu bị ức hiếp;

Gỗ đàn hương cũng sẽ bùng cháy nếu bị cọ xát.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1277 – tức năm Đinh Sửu, Âm Hỏa theo lịch Tạng – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ mười bốn, nhà Nguyên.

Bát Tư Ba bốn mươi ba tuổi, Chân Kim ba mươi tư tuổi.

Trên đường đi, Chân Kim tỏ ra rất mực kính trọng, hết lòng săn sóc Bát Tư Ba.

Còn đối với tôi, cậu ta giữ đúng lời hứa, lịch sự, phải phép, không khi nào thất lễ.

Sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, đời sống sung túc, đủ đầy, có người hầu kẻ hạ và chưa bao giờ phải vất vả trên chặng đường gian lao, điệp trùng thế này nhưng cậu ta không hề than vãn.

Dù địa hình núi cao đã khiến cậu ta bị đau đầu, chóng mặt nhưng cậu ta vẫn cắn răng chịu đựng.

Lòng quyết tâm và sự bền bỉ của Chân Kim khiến tôi thực sự khâm phục.

Từ Lâm Thao về Sakya, chúng tôi đã di chuyển rất chậm vì sức khỏe của Bát Tư Ba không cho phép đi nhanh.

Bởi vậy, đến tháng 6 năm 1275, chúng tôi mới đi được nửa chặng đường.

Đúng lúc này, chúng tôi nhận được thư của bản khâm Sangtrum mới kế nhiệm.

Bát Tư Ba đã nổi trận lôi đình sau khi đọc thư.

Trong suốt bảy, tám năm giữ chức bản khâm Sakya, Kunga Zangpo đã rất biết cách mua chuộc lòng người.

Hắn hào phóng chia đất đai đoạt được từ các giáo phái khác cho những người lập công.

Người ta dần quên đi xuất thân của Kunga Zangpo và ngày càng ủng hộ, tôn sùng hắn, nhất là thế hệ thanh niên của phái Sakya và đội quân võ tăng do đích thân Kunga Zangpo thành lập.

Khi lá thư phế bỏ chức vụ bản khâm của Kunga Zangpo về đến Sakya, hắn đã cúi đầu, trao đại ấn bản khâm cho Sangtrum rồi trở về vùng đất phong Khanochang của mình.

Nhưng hắn không hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh của Bát Tư Ba vì hắn không chỉ mang theo vợ con.

Hơn ba, bốn nghìn người rời bỏ Sakya, đi theo Kunga Zangpo.

Quá nửa số đó là các võ tăng đã tham gia vào vụ thảm sát phái Drikung và đây cũng là những thanh niên trai tráng thuộc thế hệ mới của Sakya.

Những người này đã được hưởng nhiều lợi lộc sau khi cướp phá Drikung, bọn họ sợ bị Bát Tư Ba trách tội nên đã ra đi cùng Kunga Zangpo.

Nhưng điều khiến Bát Tư Ba và tôi kinh hoàng hơn cả là: hắn đã đưa Dharma đi cùng vì thằng bé gào khóc thảm thiết, nằng nặc đòi đi theo gia đình hắn!

Vợ chồng Zhuoma đã nuôi dạy Dharma từ nhỏ nên từ lâu, thằng bé đã xem họ như cha mẹ ruột của mình.

Dharma và cô chị họ Jumodaban rất thân nhau nên chắc chắn không muốn xa nhau.

Thêm nữa, cả hai vị Lạt Ma Gungman và Kungtse, cháu trai của đại sư Ngũ Do Ba đã quá cố, vốn là thầy dạy Phật pháp của Dharma, đều đã theo Kunga Zangpo đi Khanochang.

Vậy là bạn bè, thầy giáo, người thân của Dharma đều đi Khanochang cả, một đứa trẻ chưa đầy mười tuổi như thằng bé, đâu còn muốn ở lại Sakya nữa.

Tuy Bát Tư Ba đã phế bỏ chức vị bản khâm của Kunga Zangpo nhưng hắn vẫn là con rể nhà họ Khon, Sangtrum không thể ngăn cản hắn đưa Dharma đi cùng.

- Chắc chắn Kunga Zangpo đã phát hiện ra điều gì.

Rất có thể sau khi thiêu cháy cả đền Drikung mà vẫn không thấy xác của Chung Dorje và tờ giấy bán thân đâu, hắn đã sinh nghi.

Nhân lúc chúng ta chưa về kịp, hắn đã đưa Dharma đi cùng, hòng uy hiếp chúng ta.

Lòng như lửa đốt, tôi đứng lên, đi đi lại lại trong căn phòng ở trạm nghỉ Chindu.

Bát Tư Ba vô cùng ân hận, cơn ho khan ập đến, chàng vừa đưa tay lên ôm ngực vừa than trách:

- Tất cả là lỗi của ta!

Chính ta đã đưa hắn lên vị trí bản khâm, cho hắn cơ hội để mua chuộc lòng người, tập hợp phe phái.

Lúc phế bỏ chức vị của hắn, ta lại mềm lòng nương tay, vì xem nhẹ sức ảnh hưởng của hắn ở Sakya.

Ta đã nhân nhượng, dung túng cho hắn, dẫn đến kết cục rối ren như bây giờ!

Sắc mặt chàng mỗi lúc một trắng bệch, tái xám, mồ hôi đầm đìa trên trán, những cơn ho dữ dội ào ạt kéo đến, chàng nôn ra máu rồi ngất đi.

Tôi vừa đau lòng vừa sợ hãi, vội vã áp môi mình lên môi chàng, truyền linh khí cho chàng.

Lúc lâu sau, sắc mặt của chàng mới dần hồi phục.

Trước lúc chàng tỉnh lại, tôi đã gắng gượng lê lết tấm thân mỏi mệt vì mất sức và linh khí đi mời Chân Kim đến và kể lại cho cậu ta nghe.

Chân Kim lo lắng nhìn người thầy đang hôn mê bất tỉnh trên giường, an ủi tôi:

- Tiểu Lam, em đừng quá lo lắng về sự an nguy của Dharma.

Kunga Zangpo nhất định sẽ bảo vệ nó.

Hắn thừa hiểu rằng, nếu Dharma có bất cứ sơ sẩy nào, tính mạng của hắn cũng sẽ bị đe dọa.

Nếu Dharma có chuyện gì, Phụ hoàng và ta sẽ bắt cả nhà hắn đền mạng.

Tôi ngồi xuống cạnh Bát Tư Ba, thấm mồ hôi cho chàng:

- Nhưng không lẽ cứ để mặc Dharma ở trong hắn ư?

Bát Tư Ba dần tỉnh lại, ánh mắt đờ đẫn nhìn Chân Kim, giọng chàng yếu ớt như gió thoảng:

- Phần đông võ tăng của Sakya đã theo hắn, thực lực của Sakya giảm sút nghiêm trọng.

Nếu không dựa vào viện trợ từ bên ngoài, chúng ta không thể đối phó với hắn!

Chân Kim bước lên một bước, đề nghị:

- Thưa thầy, chi bằng để ta gửi thư về báo tin phái Sakya xảy ra nội loạn với Phụ hoàng, xin Phụ hoàng phái quân đội đến.

Nếu Kunga Zangpo ngoan ngoãn giao nộp Dharma, chúng ta sẽ không phát động chiến tranh.

Nhưng nếu hắn ngoan cố phản kháng đến cùng, đại quân Mông Cổ sẽ phanh thây hắn ra trăm nghìn mảnh!

Bát Tư Ba thở gấp một hồi rồi mới ngẩng lên nhìn Chân Kim, giọng vô cùng yếu ớt:

- Hiện đang là lúc Bệ hạ cần tập trung sức mạnh quân sự, Thái tử điều động đại quân Mông Cổ đến Sakya giúp ta giải quyết việc nhà thế này, ta đâu dám nhận!

Chân Kim liếc nhìn tôi rồi tiếp tục thuyết phục Bát Tư Ba:

- Việc nhà của thượng sư cũng là việc quốc gia đại sự.

Điều động đại quân tới đây không chỉ để tiêu diệt bè lũ Kunga Zangpo mà còn đảm bảo để Dharma được thuận lợi kế thừa pháp thống của giáo phái Sakya.

Bát Tư Ba trầm ngâm một lát, nghiêng đầu thở dốc, vẻ mặt âu lo:

- Nhưng đại quân phải mất ít nhất hai năm mới đến được Sakya, không biết ta có thể gắng gượng đến lúc đó không.

Tim tôi thắt lại, tôi vội nắm chặt tay chàng:

- Chàng đừng lo, chắc chắn sẽ đợi được!

Chân Kim nhìn tôi lo lắng, nhưng tôi đã gật đầu quyết liệt để cậu ta yên tâm.

- Thưa thầy, ta sẽ hạ lênh cho đại quân tăng tốc để có thể đến được Sakya sau một năm rưỡi.

Trong thời gian chờ đợi, xin thầy hãy giảm tốc độ, đi thật chậm và phao tin rằng sức khỏe của thượng sư đang rất nguy kịch, e là không về kịp Sakya.

Kunga Zangpo đang nắm giữ Dharma trong tay, chắc chắn hắn sẽ hy vọng thượng sư sớm viên tịch để có thể lung lạc, khống chế Dharma được dễ dàng!

Tôi ngước nhìn người đàn ông chững chạc, chín chắn, khí độ phi phàm ấy, lòng không khỏi cảm phục.

Cậu ta quả là người kế nghiệp xứng đáng mà Hốt Tất Liệt đã dốc lòng bồi dưỡng.

Chỉ trong thời gian ngắn, cậu ta đã vạch ra một kế hoạch chu toàn và đó là kế sách hữu hiệu nhất lúc này.

Chúng tôi đã kết thúc hành trình trong vòng một năm rưỡi còn lại.

Không cần phải phao tin đồn, vì tình trạng sức khỏe thực tế của Bát Tư Ba đã leo lét như ngọn đèn trước gió, chàng phải dựa vào linh khí của tôi để vượt qua cửa tử.

Ngày 25 tháng 12 năm 1276, sau hai năm tám tháng lặn lội trên cung đường gian nan, hiểm trở, Bát Tư Ba trở lại quê hương Sakya trên miền núi tuyết quanh năm băng giá.

Ngôi đền Nam Sakya nguy nga, lộng lẫy, tọa lạc bên bờ Nam của dòng Trum-chu, nhìn sang phía bên kia của ngọn núi Benbo là đền Sakya.

Công trình kiến trúc đồ sộ kiểu thành trì chiếm toàn bộ dải sông Trum-chu bằng phẳng.

Bốn phía là những bức tường thành được xây đắp bằng bùn đất, quét vôi màu đỏ, xanh, trắng, vốn là những màu sắc đặc trưng của phái Sakya.

Bên ngoài tường thành còn có cả một công sự hình vuông bao xung quanh.

Công sự này là bờ tường cao, dày, bốn phía đều có chòi canh và bia bắn tên để đề phòng quân địch tấn công, ở chính giữa xây thêm một chòi gác kiên cố.

Công sự này giống hệt kiểu thành lũy của người Hán, bên ngoài còn đào hào sâu, cống nước ngầm, giống hệt những con sông bảo vệ thành phố ở đất Hán.

Toàn bộ công trình kiến trúc này chỉ có duy nhất một cổng chính ở phía đông, phía trên cổng là đài quan sát.

Cổng thành xây dựng kiểu cổng vòm, cuốn tò vò, rất sâu, hình chữ “T”, bên trong có cửa tò vò.

Phía trên vòm cổng khoan các lỗ nhỏ để nếu quân địch tấn công vào thành thì có thể ném đá hoặc những thứ khác qua lỗ này.

Tuy nói đền Nam Sakya là một ngôi đền nhưng kiến trúc của nó chẳng khác nào một thành trì được canh giữ cẩn mật.

Thành trì này vẫn đang trong giai đoạn thi công nhưng bố cục cơ bản đã thành hình, nơi ở của pháp vương, điện Lakhang đã được hoàn tất, vô cùng nguy nga, tráng lệ.

Phân nửa công trình đang phải tạm dừng, lý do là phần lớn nhân công đã bỏ đến Khanochang nên không thể thi công đồng loạt.

Ngắm nhìn Phật điện nguy nga, tráng lệ trước mắt, Chân Kim nhận xét:

- Đền Nam Sakya được xây dựng vô cùng kiên cố, vững chắc.

Ta vừa quan sát và nhận thấy, ngay cả những chi tiết nhỏ cũng đã được suy tính rất kĩ lưỡng, chu toàn.

Kunga Zangpo quả là một nhân tài!

Bản khâm Sangtrum tiếp tục bẩm báo, trong vòng nửa năm sau khi về Khanochang, Kunga Zangpo đã dốc toàn bộ số của cải mang theo để xây dựng trang viên Khanochang, tường bao của khu trang viên này được xây dựng vô cùng kiên cố, ngoài ra, hắn còn chiêu binh mãi mã khắp nơi.

Theo ước tính của Sangtrum, nếu cộng cả số võ tăng đã bỏ Sakya đi theo Kunga Zangpo thì hiện hắn đã có khoảng gần một vạn binh lính.

Quá lo lắng cho sự an nguy của Dharma nên tôi không kìm nổi lòng, vội nắm chặt tay áo Bát Tư Ba:

- Chúng ta hãy nghĩ cách đón Dharma về đây, được không?

Chàng là bác ruột của nó, bác ruột về Sakya, Kunga Zangpo phải đưa nó về thăm chàng chứ!

Sangtrum đáp:

- Hắn đã cử người đến đưa tin rằng, tuy pháp vương đã về Sakya nhưng năm mới sắp đến nên sẽ để Thế tử ăn Tết xong mới đưa về thăm hỏi pháp vương.

Lòng tôi như lửa đốt.

Hắn muốn bắt Dharma làm con tin, ngấm ngầm cảnh báo Bát Tư Ba không được manh động.

Bát Tư Ba bóp chặt tay tôi, chàng muốn tôi hết sức kiềm chế và bình tĩnh, quay sang nói với Sangtrum:

- Ta biết rồi, bản khâm cứ lui ra đi!

Sangtrum cung kính vái lạy Bát Tư Ba:

- Vẫn còn một việc nữa xin bẩm báo với pháp vương.

Con trai của ngài Yeshe, cậu Dani, hiện đang ở Sakya.

Thông tin này khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên, Bát Tư Ba hỏi:

- Dani về đây bằng cách nào?

Yeshe đã chết trong vụ phản loạn ở Vương phủ Vân Nam kia mà!

- Phu nhân của ngài Yeshe đã đưa con trai về Sakya hồi đầu năm nay.

Sangtrum liếc trộm Bát Tư Ba rồi rụt rè thưa:

- Phu nhân bảo rằng, dù sao cậu Dani cũng là con cháu nhà họ Khon, đưa cậu ấy về đây là để hoàn thành di nguyện của ngài Yeshe trước khi qua đời.

Cậu Dani đã về đến giáo phái, bà ấy không còn quan hệ gì với Sakya, nói xong, bà ấy liền bỏ đi.

Bát Tư Ba trầm ngâm một lát, hỏi:

- Dani mười sáu tuổi rồi phải không?

Sangtrum đáp:

- Vâng.

Dáng người cao lớn, rất giống ngài Yeshe.

Cậu ấy rất thông mình, lanh lợi, chỉ có điều tính khí hơi cục cằn, thô lỗ.

Bát Tư Ba mỏi mệt xua tay:

- Ta biết rồi, cứ để nó ở lại.

Các ngươi lui ra đi!

Trong phòng chỉ còn lại tôi và Chân Kim.

Bát Tư Ba chìa tay về phía tôi, giọng nói run rẩy:

- Lam Kha, chúng ta đi thăm Kháp Na nào!

Tôi sững sờ, miệng đắng chát, khẽ gật đầu.

Điện thờ nguy nga, tráng lệ là thế vậy mà bên trong lại tối tăm, ảm đạm, chỉ có vài ô cửa sổ trên cao rớt xuống vài sợi nắng mong manh.

Một tòa tháp hoàng kim cô đơn giữa gian thờ chính, ánh đèn dầu lập lòe chiếu sáng quanh tháp, soi tỏa sắc vàng lạnh lẽo.

Kể từ lúc bước vào điện thờ, ánh mắt tôi đã gắn chặt vào tòa tháp nguy nga ấy, trái tim quặn đau từng hồi.

- Kháp Na, em về thăm chàng đây.

Tôi đặt đóa tuyết liên hái trên đỉnh núi Benbo vào chiếc bát pha lê, đóa tuyết liên dập dờn trên mặt nước, đẹp thánh khiết.

Tôi đỡ lấy thân hình đang run rẩy vì xúc động của Bát Tư Ba, lồng tay vào bàn tay chàng, thủ thỉ:

- Kháp Na, chàng thấy không?

Em và Lâu Cát đang ở bên nhau, em rất hạnh phúc.

Em đã giữ lời hứa với chàng.

Chàng quay mặt đi, bờ vai rung động, hơi thở khó khăn, chàng đang gắng sức kìm nén những tiếng khóc.

Nước mắt lưng tròng, tôi sụt sịt:

- Con trai chúng ta đã mười tuổi rồi, em vẫn chưa được gặp con.

Nghe nói con giống chàng như đúc, chắc chắn là rất đẹp.

Tôi vuốt ve tòa tháp lạnh, áp má vào đó để cảm nhận cái giá buốt thấu tim gan, khẽ thì thào:

- Xin lỗi chàng vì em đã không ở bên con để được thấy con khôn lớn.

Những năm tháng sau này, em nhất định sẽ luôn ở bên chăm sóc, bảo vệ con trai và cháu chắt của chúng ta, đời đời kiếp kiếp, cho đến khi em trút hơi thở cuối cùng.

Bát Tư Ba cũng nước mắt vòng quanh, chàng lặng ngắm tòa tháp rồi chậm rãi nói:

- Lam Kha, có chuyện này ta vẫn giấu em.

Hôm đó, sau khi hỏa táng Kháp Na, ta lượm được một hạt Xá Lợi lấp lánh tựa ngọc lưu ly bảy màu, đó là viên ngọc kết tụ thể xác và linh hồn của Kháp Na.

Ta đã đặt viên ngọc Xá Lợi đó lên đỉnh tòa tháp.

Chàng quay lại nhìn tôi, gương mặt an nhiên, khóe môi nở nụ cười hồn hậu, ấm áp:

- Sau khi tiêu diệt xong đám bội phản, ta có thể yên tâm ra đi được rồi.

Tôi đặt tay lên miệng chàng, nước mắt giàn giụa, lắc đầu phản đối.

Chàng gỡ tay tôi xuống, nhìn tôi âu yếm:

- Lam Kha à, đừng tránh né thêm nữa, ta đã có sự chuẩn bị nên không hề sợ hãi.

Hãy nghe ta nói, khi ta vẫn còn đủ tỉnh táo để trò chuyện.

Chàng chỉ tay vào mảnh đất trống bên cạnh, vạch một vòng tròn.

- Em hãy xây một tòa tháp như thế này ngay bên cạnh tháp hoàng kim của Kháp Na.

Nếu sau khi hỏa táng, linh hồn và thể xác của ta cũng biến thành ngọc Xá Lợi, em hãy đặt Xá Lợi của ta và Kháp Na ở cạnh nhau.

Phần tro cốt còn lại hãy đặt vào trong tháp.

Hai anh em ta ở bên nhau, sẽ không còn cô đơn nữa…

Tôi khóc hết nước mắt, đứt từng khúc ruột khi thấy chàng bình tĩnh sắp xếp chuyện hậu sự của mình.

Chàng thở dài, bước lại, kéo tôi vào lòng, để tôi tựa lên bờ vai gầy guộc của chàng, khóc cho thỏa.

Ra khỏi linh tháp của Kháp Na, tôi đề nghị được đi thăm ngôi nhà gỗ của Dharma.

Vì sự an toàn của Dharma, Bát Tư Ba không cho phép đưa thằng bé ra khỏi căn nhà này.

Những đồ chơi trẻ con mà năm xưa tôi và Kháp Na chuẩn bị cho con trai, nay đã được xếp gọn, thay vào đó là hàng chồng những kinh văn được viết bằng thứ mực nấu chảy tử vàng [1] và lá bối diệp [2], xếp kín các bức tường.

Xem ra thằng bé này rất ham đọc sách.

Tôi mân mê từng đồ dùng của con, như thể làm vậy là có thể chạm vào thân hình bé nhỏ của con vậy.

Bát Tư Ba trầm ngâm nhìn ngắm tôi, ánh mắt sầu muộn.

[1] Những bộ kinh Phật thường được chép theo phương pháp này vào thời nhà Nguyên.

[2] Bối diệp (lá bối), còn gọi là Bối Đa La diệp.

Tiếng Phạn gọi là Pattra, dịch là “Diệp”, là một loại cây cọ - thực vật miền nhiệt đới, mọc nhiều tại các khu vực hướng Tây Nam Ấn Độ, Mianma và Nam Trung Quốc, lá dài mà dày, có thể dùng để ghi chép kinh văn.

Trong Chu Ái Liên Trúc Ký Du thứ mười bốn, quyển 2 có viết: “Bối diệp là một loại lá cây lớn tại Tây Thiên, sáng bóng và sạch sẽ, có thể dùng để viết kinh sách.”

Trước khi phát minh ra giấy, Ấn Độ thời cổ đã dùng lá Bối Đa La để ghi chép kinh điển Phật giáo và tư liệu văn hiến của cung đình.

Hiện nay, tại khu vực Nam Ấn Độ và Phật giáo Nam truyền, người ta vẫn tiếp tục sử dụng loại lá này.

Đêm Giao thừa, cả gia đình quây quần bên nhau cùng ăn bữa cơm đoàn viên.

Kể từ khi Bạch Lan Vương qua đời, đã rất lâu rồi phái Sakya không được đón một ngày náo nhiệt như thế.

Các em gái, em rể, cháu trai, cháu gái của Bát Tư Ba đều tới thăm hỏi, chúc tết pháp vương, chỉ trừ gia đình Zhuoma.

Trong bữa tiệc, Bát Tư Ba hồ hởi giới thiệu tôi với mọi người và yêu cầu họ gọi tôi là Lam phu nhân.

Ngay lập tức, họ xem tôi như là một nhân vật quan trọng, cần thiết phải kết thân.

Hôm đó, tôi đã gặp Dani.

Đúng như Sangtrum miêu tả, thằng bé giống hệt Yeshe.

Mười sáu tuổi mà cao lớn, vạm vỡ, chân tay chắc nịch, nhanh nhẹn.

Tuy dung mạo bình thường nhưng cơ thể săn chắc, cường tráng, sắc mặt hồng hào, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống.

Dani rất mực cung kính, lễ phép với Bát Tư Ba, gọi chàng rất thân mật: “bác cả”.

Nhưng Bát Tư Ba lạnh lùng đáp lại:

- Hãy gọi ta là pháp vương.

Mọi người đều tỏ ra kinh ngạc, Dani lúc thì đỏ mặt, lúc thì tái mặt, khuôn ngực phập phồng dữ dội.

Trước mặt nhiều người như vậy mà Bát Tư Ba chẳng chịu giữ thể diện cho Dani, không cho thằng bé gọi mình là bác.

Làm vậy, khác nào tuyên bố với mọi người trong giáo phái rằng, Dani không phải là cậu chủ là phái Sakya.

Không ai biết đã xảy ra chuyện gì nhưng người hầu của Dani lập tức dọn bát đũa của thằng bé đến một nơi cách xa trung tâm đại điện.

Dani bàng hoàng trước vẻ mặt hiếu kỳ của mọi người và tức tối nhìn Bát Tư Ba.

Bát Tư Ba yên lặng không nói, chiếu ánh mắt sắc lạnh về phía Dani.

Cậu bé lập tức cúi đầu, sợ hãi, ngồi vào một mâm cỗ ở góc xa.

Trong bữa tiệc cuối năm ấy, không ai mời rượu Dani.

Buổi tối, khi chỉ có tôi và Bát Tư Ba trong phòng, tôi giúp chàng cởi áo khoác, lựa lời nói:

- Dani còn nhỏ, tội lỗi của Yeshe không liên can đến thằng bé.

Chàng làm vậy có hơi quá không?

Bát Tư Ba nhắm mắt, mệt mỏi ngả lưng xuống đệm:

- Lam Kha, ta sẽ không trút tội lỗi của Yeshe lên đầu Dani, đó không phải hành vi tư thù cá nhân.

Sở dĩ ta phải làm vậy vì muốn tất cả những người ở Sakya này biết rằng, Dani chắc chắn không phải, tuyệt đối không phải là người kế thừa tương lai của giáo phái.

Những kẻ bợ đỡ nó sẽ không được bất cứ lợi lộc gì cả.

Nếu không làm thế, lỡ một ngày nào đó, có kẻ nuôi mưu đồ đưa Dani lên ngôi vị pháp vương, khi ấy Dani cơ trí, khôn ngoan, già dặn sẽ trở thành mối uy hiếp rất lớn đối với Dharma.

Tôi lặng yên không nói.

Trong lòng chàng lúc này, Dharma là tất cả.

Chàng muốn gạt phăng mọi trở ngại, dọn đường cho Dharma tiến bước, thậm chí chàng không màng phải mang tiếng ác.

Mong là ngày sau, cuộc đời của Dharma sẽ được bình yên, tiền đồ tươi sáng như chàng kỳ vọng.

Ăn Tết xong, sứ giả mà Bát Tư Ba cử đến Khanochang đón Dharma trở về, mang theo tin tức: Thế tử chỉ muốn ở lại Khanochang với gia đình nhà vợ, không muốn về Sakya.

Tôi hỏi đi hỏi lại, những lời này có phải do chính Thế tử nói ra hay không, sứ giả đã khẳng định chắc chắn.

Nhưng chúng tôi đều biết rằng có kẻ đã mớm lời.

Xem ra, lời hứa đưa Dharma về Sakya thăm bác sau Tết của Kunga Zangpo chỉ là kiếm cớ kéo dài thêm thời gian mà thôi.

Sứ giả còn mang theo một bức thư Kunga Zangpo gửi cho Bát Tư Ba.

Lời lẽ trong thư rất mực kính cẩn, khách sáo.

Hắn nói, Thế tử được vợ chồng hắn nuôi nấng từ nhỏ, từ lâu đã xem như con đẻ, không nỡ rời xa.

Nghe nói sức khỏe của pháp vương không được tốt, sau khi về Sakya lại có muôn việc phải lo toan nên e là khó có thể chăm sóc cho Dharma được chu đáo.

Hắn xin Bát Tư Ba hãy yên lòng, để Thế tử sống với vợ chồng hắn.

Hắn hứa sẽ hết lòng chăm lo cho Thế tử.

- Em sẽ đi đón con em về.

Tôi bật dậy, lao ra ngoài.

Tôi không thể để con trai mình trở thành con tin trong tay hắn.

Chân Kim vội đuổi theo, chắn trước mặt tôi:

- Tiểu Lam, đừng hành động lỗ mãng!

Senge cùng bảy mươi ngàn binh mã sắp đến Sakya, lúc này, em không nên bứt dây động rừng.

Tôi né tránh cậu ta, tiếp tục bước đi:

- Tôi phải cứu con trai ra khỏi đó, trước khi đại quân tấn công Khanochang.

Tôi có phép thuật, tôi có thể ra vào trang viên đó dễ dàng.

Chân Kim giữ chặt cánh tay tôi lại, nhìn tôi bằng ánh mắt sắc sảo:

- Em có phép thuật nhưng Dharma thì không.

Em làm thế nào để đưa cậu bé thoát khỏi trang viên được canh giữ vô cùng cẩn mật ấy?

Hơn nữa, cậu bé chưa gặp em bao giờ, sẽ không tin tưởng và ngoan ngoãn đi theo em đâu.

Bước chân tôi chậm lại, tôi khổ sở quay về.

Chân Kim nói đúng, tuy tôi có thể hóa phép lẻn vào Khanochang nhưng linh khí của tôi đã bị hao tổn quá nửa để duy trì sự sống cho Bát Tư Ba nên tôi không còn đủ sức để có thể hóa phép tàng hình cho thằng bé và đưa nó đi cùng, huống hồ nó sẽ chẳng bằng lòng đi theo tôi.

Chân Kim ra sức động viên:

- Ta biết em lo lắng cho sự an toàn của con trai.

Nhưng em phải kiên nhẫn.

Ta hứa sẽ đưa Dharma bình yên trở về.

Nước mắt tôi tuôn rơi, lòng dạ rối bời:

- Nhưng Dharma là quân cờ quan trọng nhất trong tay hắn, chắc chắn hắn sẽ chống cự đến cùng để giữ cho bằng được, huống hồ gươm đao vốn không có mắt, tôi làm sao mà yên lòng được khi Dharma mới chỉ là một đứa trẻ mười tuổi.

Bát Tư Ba lo lắng, chìa tay về phía tôi, gọi tôi lại:

- Lam Kha, ta có cách bắt Kunga Zangpo ngoan ngoãn đưa Dharma về đây.

Cả tôi và Chân Kim đều sững sờ.

Tôi chạy đến bên chàng:

- Chàng có cách gì?

Bát Tư Ba hổn hển một hồi rồi đáp:

- Ta đã suy tính kĩ càng và quyết định thông báo cho tất cả các giáo phái trên toàn đất Tạng, rằng phái Sakya sẽ tổ chức một pháp hội lớn nhất từ trước tới nay ở Chumig, tuyên bố quyền thừa kế pháp thống của Dharma.

Chân Kim hào hứng vỗ tay:

- Ý kiến của thầy rất sáng suốt!

Một sự kiện quan trọng như thế,Kunga Zangpo không thể không đưa Dharma đến dự.

Chỉ cần Dharma không có mặt ở Khanochang, ta sẽ lệnh cho Senge lập tức tấn công trang viên của Kunga Zangpo.

....

- Tháng 1 năm 1276, quân Nguyên tấn công Lâm An, Thái hậu và Đức vua Nam Tống đã dâng biểu xin hàng.

Chàng trai trẻ ngáp ngắn ngáp dài, xoa hai má để giữ cho mình được tỉnh táo, đồng thời xin lỗi:

- Xin lỗi, tôi hơi buồn ngủ.

Rồi cậu ta đột nhiên “a” lên một tiếng.

- Tóc cô…

Tôi đón lấy một lọn tóc, thấy quá nửa số sợi tóc đã biến thành màu trắng.

Tôi nhún vai, ơ hờ:

- Tôi nhiều tuổi rồi, có gì lạ đâu.

Rồi tôi ngó đồng hồ, đã ba rưỡi sáng.

Tôi nhìn chàng trai trẻ, động viên:

- Câu chuyện sắp kết thúc rồi, cậu có thể cố gắng thêm chút nữa không?

Thấy cậu ta gật đầu, tôi mới tiếp tục câu chuyện.

Hết chương 58.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 59: Cái ác đền tội


“Người hiền làm quan,

Muôn người bình an;

Tri thức mở mang,

Nơi nơi giàu sang.”

(Cách ngôn Sakya)

Tháng Giêng năm đó, Bát Tư Ba tổ chức một pháp hội lớn ở Rinmo, Chumig, với sự tham gia của đông đảo tăng nhân khắt đất Tạng.

Đây là pháp hội cuối cùng của Bát Tư Ba.

Chàng viết thư yêu cầu Kunga Zangpo đưa Dharma tới tham dự và thông báo rằng, chàng sẽ tuyên bố với mọi người ở Wusi về quyền thừa kế của Dharma.

Đó là một sự kiện vô cùng trọng đại nên sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, Kunga Zangpo quyết định đồng ý.

Hắn không đưa Dharma về Sakya mà một ngày trước khi diễn ra pháp hội, hắn đưa thằng bé đến thẳng Chumig.

Con cáo già Kunga Zangpo không tới tham dự mà cử ba ngàn võ tăng hộ tống vợ, con gái và Dharma đến Rinmo.

Đội hộ vệ hùng hậu ấy khiến các giáo phái khác đều cho rằng Bát Tư Ba đang muốn “giễu võ giương oai”, phô trương thanh thế.

Mãi đến buổi tối trước ngày khai mạc pháp hội, tức đêm tháng Giêng năm 1277, tôi mới được gặp cậu con trai mà tôi ngày đêm thương nhớ.

Zhouma dắt theo chú nhóc đến phòng nghỉ của Bát Tư Ba, để hai bác cháu nhận nhau.

Chiếc áo tăng ni màu đỏ sẫm rộng rãi ôm lấy thân hình bé nhỏ, gầy gò của thằng bé.

Nó đã mười tuổi rồi nhưng trông thấp bé như trẻ mới lên bảy, lên tám.

Gương mặt tuy còn non nớt nhưng các đường nét đều giống hệt Kháp Na, đôi mắt long lanh như sóng nước, lấp lánh như sao mai, hai vết sạm đỏ nổi bật trên đôi gò má.

Nếu thằng nhóc không cạo trọc đầu và vận y phục của người tu hành thì trông thằng bé chẳng khác nào một bé gái xinh xắn.

Bát Tư Ba bảo Zhouma lánh mặt rồi đưa mắt ra hiệu cho tôi.

Tôi lảo đảo lại gần con trai.

Thằng nhóc mỉm cười với tôi, đôi má lúm đồng tiền lấp ló bên khóe môi chúm chím, giống Kháp Na hồi nhỏ như hai giọt nước vậy.

Thằng nhóc cúi chào tôi, rất mực lễ phép, chỉn chu:

- Chào cô, cháu tên Dharmapala, cô cứ gọi cháu là Dharma cũng được.

Cô là ai?

Nước mắt tràn mi, đầu óc tôi quay cuồng, sao mà giống đến vậy.

Hồi tám tuổi, khi lần đầu gặp tôi, Kháp Na cũng nói y như vậy:

- Chào em, tên ta là Kháp Na Đa Cát, em có thể gọi ta là Kháp Na, như anh trai ta vậy.

Tôi run rẩy ngồi xuống trước mặt thằng bé, nghẹn ngào không thốt lên lời, ôm con trai vào lòng.

Nó mới nhỏ bé, gầy guộc làm sao?

Làn da sạm đen, sắc mặt yếu ớt, tình trạng sức khỏe của thằng bé khiến lòng tôi đau như cắt.

Giọng nói trong veo như nước suối vang lên bên tai tôi:

- Cô ơi, cô làm sao thế?

Tôi thổn thức:

- Ta... ta là...

Tôi ngắm nhìn thằng bé, muốn nói mà không sao thốt ra lời, đành cúi đầu, nuốt lệ, nói:

- Con hãy gọi ta là dì Lam.

Ánh mắt buồn thương u uẩn của Bát Tư Ba dõi theo chúng tôi từ nãy đến giờ, sau khi nghe những lời này của tôi, chàng thở dài ảo não.

Trong ngày pháp hội ở Chumig, thằng bé khoác áo cà sa màu đỏ sẫm, ngồi khoanh chân trên tòa thuyết phép rộng lớn.

Vẻ mặt điềm tĩnh, pháp tướng trang nghiêm, cất giọng rành rọt, thuyết giảng kinh Hỷ Kim Cang tục đệ nhị phẩm.

Nước mắt tôi cứ thế trào ra, năm xưa, khi ngài Ban Trí Đạt tổ chức pháp hội, Bát Tư Ba mới lên chín, cũng thuyết giảng cuốn kinh này.

Giọng nói trong trẻo, thanh thoát của thằng bé lanh lảnh cất lên, thu hút sự chú ý của đông đảo người nghe.

Những người trước đó tỏ ra xem thường, khinh bỉ giờ thì càng lúc càng gật đầu tấm tắc.

Cảnh tượng này giống hệt ba mươi năm về trước.

Cũng là đứa trẻ còn non nớt ấy, cũng là trí tuệ vượt trội ấy, trong thoáng chốc, hình ảnh của Bát Tư Ba và Dharma hòa quyện vào nhau, khiến tôi như đắm chìm trong ảo giác mơ hồ.

Thì ra, người nay đã khác xưa, đang từng ngày già cỗi, thời gian như bóng câu qua thềm, tháng năm như giấc mộng thoáng qua.

Pháp hội lần này diễn ra trong vòng mười bốn ngày, phân nửa số tăng nhân đất Tạng đã đến tham dự.

Chỉ riêng các nhà sư đã hơn bảy mươi nghìn người, nếu tính cả đám đông quần chúng, có lẽ phải tới hơn một trăm nghìn người.

Ở một nơi mà dân số toàn vùng chỉ chừng sáu trăm nghìn người như đất Tạng thì buổi pháp hội lần này có thể nói là đông đảo chưa từng có.

Bát Tư Ba thết đãi hơn vạn nhà sư một bữa cơm thịnh soạn, tặng cho mỗi vị một đồng tiền vàng và một bộ tam y [1], dù rất yếu, chàng vẫn đăng đàn thuyết pháp.

Bát Tư Ba đã hiến tặng cho lần pháp hội này hàng nghìn lạng vàng, bạc nén và vô số lụa là, gấm vóc, lúc mì, dầu bơ...

[1] Tam y là áo cà sa các nhà sư mặc khi tham dự pháp hội.

Thái tử Chân Kim được xem là vị khách tôn quý nhất của pháp hội, đại diện cho Hốt Tất Liệt, ban tặng cho mỗi vị tăng nhân ba đồng tiền vàng.

Kể từ khi Mông Cổ cai trị đất Tạng đến nay, chưa từng có một vương gia Mông Cổ nào đến vùng đất xa xôi này.

Bởi vậy, sự có mặt của Chân Kim, với tư cách là nhà thống trị tương lai của đế quốc Mông Cổ, mang lại niềm vinh dự khôn tả cho các tăng sĩ đất Tạng.

Mọi người đều hết lời ca tụng công đức của Chân Kim.

Vào ngày cuối cùng diễn ra pháp hội, Bát Tư Ba đã tuyên bố trước đông đảo quần chúng vùng Wusi rằng, cháu trai của chàng, Dharma sẽ là người kế thừa pháp thống của giáo phái và gia tộc họ Khon.

Chú bé loắt choắt khoác lên mình chiếc áo cà sa thêu kim tuyến lấp lánh, lộng lẫy, đội mũ ngũ sắc rộng thênh thang, ngồi xếp bằng trên đài sen, thần thái trang nghiêm, đĩnh đạc khi tiếp nhận nghi lễ vái lạy tôn vinh của tín đồ và quần chúng.

Tôi nhìn thấy rất rõ ràng, ánh mắt hình mũi tên chĩa thẳng vào Dharma từ một góc khuất trong Phật điện.

Đó là ánh mắt của Dani.

Cũng trong ngày hôm đó, khi mà Kunga Zangpo đang hả hê vì tin rằng mọi thứ vẫn nằm trong vòng kiểm soát của hắn, rằng một người đau yếu, bệnh tình nguy kịch như Bát Tư Ba chẳng thể làm gì được hắn thì Senge đã dẫn theo bảy mươi nghìn quân Mông Cổ, đột ngột ập vào Khanochang.

Sau khi theo Bát Tư Ba vào cung bái kiến Hốt Tất Liệt, tài năng, trí tuệ của Senge lập tức thuyết phục được Nhà vua và lúc này Senge đang giữ cương vị là sứ giả của Tổng chế viện.

Hốt Tất Liệt lệnh cho cậu ta dẫn theo bảy mươi nghìn quân Mông Cổ tiến vào đất Tạng, trợ giúp Bát Tư Ba tiêu diệt tên gian tặc Kunga Zangpo.

Dù tường bao của trang viên Khanochang có kiên cố cỡ nào, cũng không thể chống lại sức công phá mãnh liệt của hỏa pháo Mông Cổ.

Võ tăng của Khanochang có đông đảo chừng nào, cũng không thể địch nổi sức mạnh vô địch của kỵ binh Mông Cổ.

Do vậy, chưa đầy một ngày, cuộc chiến đã kết thúc.

Binh linh của Senge tóm được Kunga Zangpo ở cửa phía đông khi trang viên Khanochang khi hắn vờ cải trang thành Dugong để bỏ trốn.

Quân lính đã bắt trói hắn và đám người ủng hộ hắn, giải tất cả về Sakya.

- Kunga Zangpo, ngươi nói đi, ta và Kháp Na đối đãi với ngươi thế nào?

Bát Tư Ba gượng ngồi dậy, gương mặt chàng tái xám vì ốm yếu, bệnh tật nhưng vẫn trừng trừng nhìn Kunga Zangpo đang quỳ mọp dưới đất.

Đám áo quần trên người Kunga Zangpo xô lệch, nhàu nhĩ, trên gương mặt hắn xuất hiện nhiều vết thương, một bên má sưng húp.

Hắn không dám nhìn thẳng vào Bát Tư Ba mà cúi sát đầu xuống đất, lí nhí đáp:

- Công ơn của pháp vương và cậu chủ Kháp Na đối với tôi vô cùng to lớn.

Dù tôi có phải chết ngàn vạn lần cũng không báo đáp được ơn nghĩa của hai vị!

Đôi mắt Bát Tư Ba vằn vện những tia đỏ, chàng run lên vì giận dữ, trỏ thẳng vào mặt Kunga Zangpo:

- Vậy thì vì sao ngươi giết hại Kháp Na?

Kunga Zangpo vừa gào khóc thảm thiết vừa ra sức đập đầu xuống đất, máu tươi túa ra trên trán hắn:

- Tôi đâu có muốn!

Sao tôi có thể đang tâm hãm hại cậu chủ?

Cậu ấy là người tốt với tôi nhất trên đời này!

Tôi thật sự không muốn làm việc đó!

Tôi có một người vợ hiền, một đứa con ngoan, tôi muốn được sống yên ổn lắm chứ!

Nhưng Chung Dorje và Yeshe đã ép buộc tôi.

Nếu tôi không nhận lời, bọn chúng sẽ phơi bày thân phận thật sự của tôi, tôi sẽ mất tất cả, con gái tôi từ thân phận cô chủ sẽ trở thành nô lệ.

Tôi không thể không vì mẹ con họ.

Tôi ngồi yên bên Bát Tư Ba từ nãy giờ, không nhẫn nhịn nổi, lên tiếng:

- Nên ngươi đã vong ân bội nghĩa, gây ra việc tàn ác trời không dung đất không tha ấy!

Hắn nhìn tôi, hoang mang lo sợ, không dám cự lại, chỉ cúi đầu giảo biện:

- Kể từ ngày cậu chủ ra đi, không đêm nào tôi được yên giấc, những cơn ác mộng hành hạ, giày vò tôi hằng đêm.

Tôi sống đến bây giờ cũng chỉ để chuộc tội mà thôi.

Mấy năm qua, trên cương vị bản khâm, tôi đã lao động, cống hiến rất cần mẫn, chăm chỉ, hết mình vì giáo phái.

Trong suốt thời gian xây dựng công trình đền Nam Sakya, tôi đã giám sát đêm ngày để không xảy ra bất cứ sai sót nào.

Nhờ vậy mà chỉ trong vòng sáu năm, tôi đã hoàn thành công trình Phật điện đồ sộ, nguy nga như hiện nay.

Tôi còn giúp giáo phái chiếm cả vùng Ali rộng lớn, nâng phạm vi cai quản của Sakya lên gấp đôi so với trước đó.

Toàn bộ số đất đai này đều thuộc quyền sở hữu của phái Sakya, tôi không hề tư lợi.

Hắn rất khéo ăn khéo nói, khéo thuyết phục, hai mắt đỏ hoe, dập đầu thành khẩn.

- Tôi có tội với cậu chủ, tôi biết rằng dù tôi có làm gì cũng không thể chuộc được tội lỗi của mình nên mấy năm qua, tôi đã chăm chút cho Thế tử từng li từng tí, yêu thương hơn cả con ruột của mình, không để cậu bé phải chịu bất cứ thiệt thòi nào.

Từ lúc ra đời, Thế tử đã rất yếu, lại thường xuyên đau ốm.

Mỗi lần Thế tử ngã bệnh, tôi đều thức trắng đêm, tận tâm chăm lo, săn sóc.

Thực lòng mà nói, nếu tôi và Zhouma không hết lòng chăm sóc, phục dịch thì với sức khỏe yếu ớt của Thế tử, e là khó chống chọi được với số mệnh.

Những gì hắn nói đều là sự thực, nhưng dù vậy cũng không thể chuộc được tội lỗi của hắn.

Gương mặt trắng bệch của Bát Tư Ba phủ một màn sương ảm đạm.

- Nhưng ngươi đã giết người diệt khẩu, tàn sát toàn bộ phái Drikung.

Kunga Zangpo ngẩng lên, ánh mắt phẫn uất, nghiến răng nghiến lợi rủa xả:

- Tôi căm thù Chung Dorje.

Chính hắn đã hủy hoại cuộc đời tôi!

Tờ giấy bán thân còn nằm trong tay hắn thì tôi sẽ bị hắn điều khiển cả đời.

Tôi dẫn theo võ tăng Sakya tấn công Drikung, mục đích là để ép hắn giao nộp tờ giấy đó, cũng là để trả thù cho cậu chủ Kháp Na.

Tôi không định giết hại nhiều người, nhưng lão tặc Chung Dorje vô cùng gian ngoan, xảo quyệt, hắn muốn chống cự đến cùng.

Cuộc chiến nào cũng gây thương tổn, đã làm thì phải làm triệt để, tôi mới quyết định thiêu cháy đền Drikung, thiêu luôn tờ giấy bán thân đó.

Nhưng tôi không tìm thấy tờ giấy đâu, thi thể của Chung Dorje cũng biến mất.

Về sau, nhận được thư của pháp vương bãi bỏ chức vị bản khâm của tôi, tôi mới biết sự việc đã bị bại lộ.

Hắn khóc lóc thảm thiết, ngữ điệu thương tâm:

- Tôi đã sắp đặt mọi thứ: lôi kéo người của phái Sakya đi theo mình, mang theo của cải và cả Thế tử.

Nhưng tôi làm vậy cũng chỉ để tự vệ, tôi chưa bao giờ muốn đối đầu với Sakya.

Khi pháp vương trở về, với số lượng binh sĩ trong tay, tôi hoàn toàn đủ sức để bao vây tấn công Sakya, nhưng tôi chưa bao giờ có ý định làm vậy.

Những gì tôi nợ Sakya, tôi đều đã nghĩ đủ mọi cách để hoàn trả.

Chân Kim bực tức lên tiếng:

- Miệng lưỡi lanh lợi, nhanh nhảu lắm thay!

Nghe như thể tất cả chúng ta đều phải biết ơn ngươi vậy!

Khi chúng ta vừa tới Sakya, đúng là ngươi đủ sức vây khốn chúng ta.

Nhưng ngươi có dám làm vậy không?

Pháp vương Sakya là đế sư đương triều, còn ta đường đường là thái tử nhà Nguyên, ngươi đủ sức đối địch với cả triều đình Đại Nguyên hay sao?

Theo ta, ý đồ sâu xa của ngươi là chờ khi pháp vương viên tịch, sẽ lung lạc Dharma, biến Thế tử thành bù nhìn trong tay ngươi thì đúng hơn.

Kunga Zangpo co rúm người lại, rồi như sực nhớ ra điều gì, tiếp tục biện hộ:

- Nhưng tôi còn giúp cậu chủ trừ bỏ tên Yeshe thâm độc!

Cả tôi và Bát Tư Ba đều sững sờ, tôi liền tra hỏi:

- Ngươi đã giết Yeshe?

Hắn chết trong vụ phản loạn ở phủ Vân Nam Vương kia mà?

Kunga Zangpo đắc ý cười khẩy:

- Từ lâu tôi đã cử người đi Vân Nam, tìm cơ hội ám sát Yeshe, nhưng hắn rất giảo quyệt, hạn chế xuất đầu lộ diện nên người của tôi không ra tay được.

Chẳng ngờ ông trời đã giúp tôi, Vương phủ Vân Nam đột nhiên xảy ra phản loạn, người của tôi đã thừa dịp trà trộn vào bên trong và giết chết Yeshe.

Người ngoài không biết cứ tưởng hắn bị thiêu cháy.

Nhưng tôi chẳng mảy may xúc động trước việc làm của hắn:

- Yeshe cũng biết được thân phận thực sự của ngươi, ngươi giết hắn là để bịt miệng hắn.

Bát Tư Ba không đủ sức tiếp tục cuộc tra vấn nữa, chàng ngả người lên đệm nghỉ ngơi một lát rồi nói:

- Ngươi vì lợi ích cá nhân mà gây nên bao nghiệp chướng.

Sau khi chết đi, ngươi sẽ bị đày xuống tầng địa ngục thứ mười tám, linh hồn ngươi vĩnh viễn không được siêu thoát!

Kunga Zangpo run rẩy sợ hãi, cúi đầu khẩn cầu:

- Tôi phải đền mạng cho cậu chủ, chết đi bị đày xuống địa ngục cũng là đáng tội, nhưng xin đừng trừng phạt vợ và con gái tôi.

Zhouma là một phụ nữ tốt bụng, cô ấy không hề hay biết những chuyện này.

Tôi có lỗi với cô ấy.

Bát Tư Ba gật đầu:

- Ngươi đừng lo, Zhouma là em gái ta, phái Sakya sẽ chăm lo cho mẹ con muội ấy.

Senge lôi Kunga Zangpo ra ngoài.

Đêm đó, hắn đã thắt cổ tự vẫn bằng một vuông lụa trắng.

- Cảm ơn Lam phu nhân đã đến thăm người đàn bà tội lỗi này.

Hai mắt Zhouma sưng húp, đờ đẫn nhìn tôi.

Khay đồ ăn trước mặt cô ấy vẫn còn nguyên.

Tôi lấy làm thương hại, bèn an ủi:

- Zhouma, tội lỗi của Kunga Zangpo không liên quan đến cô.

Dù thế nào, cô vẫn là đại tiểu thư của phái Sakya.

Hai mẹ con co cứ yên tâm ở lại đây.

Cô ấy ngồi bệt trên nền đất, tựa tấm thân mòn mỏi vào tường, khóc nấc lên:

- Huynh ấy là người chồng mà tôi rất đỗi hãnh diện, tự hào.

Tuy xuất thân thấp kém nhưng huynh ấy rất thông minh, chăm chỉ.

Dù huynh ấy có gây ra lỗi lầm gì, đối với tôi và con gái, huynh ấy vẫn luôn là một người chồng tuyệt vời, một người cha mẫu mực.

Tôi không biết phải nói sao, đành tìm cách đổi đề tài:

- Cô cho người hầu đến tìm ta, hẳn là có chuyện muốn nói.

Zhouma bất ngờ quỳ sụp xuống trước mặt tôi, gào khóc thảm thiết:

- Lam phu nhân, cầu xin cô hãy chăm sóc con gái tôi, sai lầm của cha mẹ không nên trút lên đầu con trẻ.

Tôi vội vàng bước lại, kéo cô ấy lên:

- Cô có quyền chăm sóc cho con gái mình kia mà, Lâu Cát không hề hạn chế tự do của mẹ con cô.

- Tuy nó và Dharma rất thân nhau, Dharma thường bảo rằng sau này lớn lên sẽ cưới nó làm vợ nhưng tôi biết, Dharma không thể kết hôn với nó được nữa.

Cô ấy không chịu đứng lên, cứ nắm chặt gấu váy tôi, cầu xin khẩn thiết:

- Ngày sau, khi nó trưởng thành, cúi mong Lam phu nhân chọn cho nó một gia đình trung lưu tốt bụng, không nuôi dã tâm, không quá mẫn cán.

Tôi chỉ có mình nó, xin phu nhân giúp cho!

Tôi bỗng thấy chột dạ, cô ấy hình như đang nói lời trăng trối.

Tôi gật đầu ngay tức khắc:

- Cô đừng lo, tôi hứa với cô.

Mau đứng lên đi, nền nhà lạnh lắm!

Lúc này cô ấy mới bình tâm lại và chịu đứng lên.

Tôi động viên cô ấy ăn uống nhưng cô ấy chỉ gật đầu lấy lệ.

Rồi nhân lúc tôi không để ý, cô ấy xoay người nhanh như cắt, ra sức đập đầu vào bức tường bên cạnh.

Khi tôi kịp nhận ra thì thân thể cô ấy đã đổ xuống đất, một vệt máu dài còn nguyên trên bức tường màu trắng.

Tôi ôm cô ấy vào lòng, gào thét, hô hoán nhưng cô ấy đã tắt thở.

Tôi đau xót, lau vết máu trên trán cô ấy, khẽ thì thào, nức nở:

- Cô hãy yên lòng, tôi sẽ chăm lo cho Jumodaban.

Ngày sau, nếu Dharma thích nó, tôi sẽ sắp xếp cho hai đứa ở bên nhau.

Thi thể của Kunga Zangpo và Zhouma được quấn bọc vải trắng, thả trôi theo dòng nước xiết trên dòng sông Trum-chu, chớp mắt, đã không còn dấu vết.

Bát Tư Ba rất yếu, Dharma còn quá nhỏ, tôi không muốn họ phải chứng kiến cảnh tượng đau lòng này.

Vài người đến đưa tiễn, họ nhanh chóng tản mác mỗi người một hướng.

Bên bờ sông ngập đá sỏi chỉ còn lại tôi và Chân Kim.

Lúc này đã là đầu mùa xuân, băng tuyết đang tan dần.

Bầu trời xanh thăm thẳm, chim ưng sải cánh bay lượn, tôi hít vào lồng ngực luồng khí lạnh tê tái, ngẩng đầu ngắm nhìn bánh xe pháp luân đồ sộ trên đỉnh điện thờ Lakhang.

Đó là nơi ở của Bát Tư Ba.

- Ta lệnh cho Senge chỉ huy quân đội Mông Cổ xây dựng một gian điện của đền Nam Sakya, chẳng ngờ bọn họ lại thiết kế theo phong cách của người Hán.

Giọng nói trầm ấm của Chân Kim vang lên sau lưng tôi.

Tôi quay đầu lại, đã thấy cậu ta đứng bên cạnh, nhìn tôi đăm đắm.

Tôi né tránh ánh mắt rạo rực của cậu ta, rảo bước về phía điện thờ Lakhang.

- Họ không thông hiểu về phong cách kiến trúc của người Tạng, xây dựng theo kiểu kiến trúc của người Hán cũng hay mà.

- Tiểu Lam...

Cậu ta gọi tôi lại, rồi khẽ thở dài.

– Ta phải về Đại Đô.

Tim tôi đập rộn, tôi thẫn thờ nhìn cậu ta.

- Ta sẽ để lại một cánh quân làm nhiệm vụ bảo vệ Dharma, không kẻ nào được phép xâm phạm đến Thế tử.

Những kẻ đứng về phía Kunga Zangpo trong cuộc chiến vừa rồi, ta sẽ lưu đày tất đến Giang Nam xa xôi, suốt đời không được phép quay lại đất Tạng.

Tôi cúi đầu, hích mũi chân vào mấy viên đá nhỏ, khe khẽ đáp lại:

- Cảm ơn cậu, Chân Kim.

Cậu ta lại gần bên tôi, đôi mắt buồn ảo não:

- Hai năm tám tháng gian nan trên đường từ Lâm Thao đến Sakya, cộng thêm bốn tháng ở lại Sakya, tổng cộng, ta đã ở bên em ba năm.

Tình cảm ta dành cho em thế nào, ta tin là em hiểu.

Tôi quay mặt đi, hướng mắt về phía dòng nước chảy xiết:

- Chân Kim, tôi hiểu nhưng tôi còn con trai...

Cậu ta cúi đầu, buồn bực giẫm mạnh lên lớp tuyết trắng muốt:

- Tiểu Lam à, ta rất muốn ở lại với em vì ta tin rằng, sau khi đế sư qua đời, chắc chắn một ngày nào đó em sẽ chấp nhận tình cảm của ta.

Nhưng ta là thái tử một nước, gánh vác trên vai trọng trách nặng nề, ta không thể bỏ mặc tất cả.

Rồi cậu ta ngẩng lên, nhìn tôi tha thiết, ánh mắt như mặt trời giữa trưa:

- Trở về Đại Đô không có nghĩa ta từ bỏ em.

Chờ khi Dharma kế vị đế sư, Phụ hoàng chắc chắn sẽ cho vời cậu ấy đến Đại Đô, ta sẽ chờ em ở đó.

Tôi kinh ngạc:

- Nếu vậy sẽ phải chờ rất nhiều năm nữa...

Cậu ta ngắt lời tôi, giọng nói quyết liệt:

- Ta sẽ giữ lời hứa với em, sau khi về Đại Đô, sẽ không nạp thêm bất cứ thê thiếp nào nữa.

Tôi vừa bực mình vừa buồn cười:

- Dù cậu có làm vậy đi nữa, tôi cũng không yêu cậu.

- Yêu hay không là lựa chọn của em.

Cậu ta khẽ thở dài, nhưng giọng nói thì chắc nịch.

– Ta cũng có quyền giữ lời hứa của mình.

Tôi chỉ im lặng.

Ánh hoàng hôn đổ dài trên dáng hình cao lớn, vạm vỡ của cậu ta.

Cậu ta quay mặt vào vùng tối nên tôi không thấy rõ gương mặt, nhưng giọng nói trầm ấm, quyết liệt của Chân Kim khiến nhiều năm sau vẫn còn văng vẳng bên tai tôi.

Tháng 4 năm 1277, Chân Kim và Senge dẫn theo đại quân Mông Cổ rời Sakya, trở về Trung Nguyên.

Nội loạn đã được dẹp bỏ, đất Tạng khôi phục lại trật tự cũ.

Địa vị thống lĩnh đất Tạng của Bát Tư Ba được củng cố vững chắc chưa từng có.

Nhưng đây cũng là lúc, sinh mệnh của chàng chỉ còn đếm được từng ngày.

...

- Bắt đầu từ thời điểm này, trong vòng ba năm, Bát Tư Ba tập trung toàn bộ sức lực còn lại của chàng vào việc sưu tầm, chỉnh lý sách cổ và kinh văn Phật giáo bằng tiếng Tạng.

Sưu tầm được cuốn sách nào, chàng lập tức sai người chép lại.

Những năm qua, mỗi dịp đi lại giữa Trung Nguyên và đất Tạng, đến bất cứ đâu chàng cũng ra sức sưu tầm sách cổ của địa phương rồi sai người chép lại, lưu trữ trong kho sách ở Sakya.

Riêng với những kinh văn quan trọng, chàng sẵn sàng bỏ ra rất nhiều vàng khối, sai người nghiền nhỏ thành bột, trộn với mực để viết, làm vậy để lưu giữ kinh văn được lâu bền.

Có lần chàng đã bỏ ra hơn bốn nghìn lạng vàng để chép lại cuốn kinh Cam Châu Nhĩ(Ganggyur) thuộc bộ kinh Đại Tạng.

Niềm đam mê của Bát Tư Ba đã lan sang cả Chân Kim, nên ngay khi đặt chân đến Sakya, cậu ta lập tức đổ công sức và kinh phí vào việc chép lại kinh văn bằng bột vàng, sau đó đề nghị Bát Tư Ba ghi lời đề tặng.

Chàng trai trẻ tấm tắc ca ngợi:

- Bát Tư Ba muốn tận dụng chuỗi thời gian còn lại để gìn giữ những di sản văn hóa phong phú cho thế giới này.

Tôi gật đầu:

- Bát Tư Ba đánh giá rất cao việc chép lại các thư tịch và kinh văn cổ xưa, chàng có được sự hỗ trợ to lớn về mặt kinh phí từ triều đình nhà Nguyên, bởi vậy, đền Sakya đã trở thành một thư viện sách Tạng đồ sộ.

Nhiều Phật điện của ngôi đền này đều có những bức tường sách.

Những giá sách ngồn ngộn kinh văn xếp cao chất ngất, che kín những mảng tường cao vút trong điện thờ.

Chàng trai trẻ tò mò:

- Bây giờ còn đọc được những kinh văn quý giá đó nữa không?

Tôi lắc đầu rồi lại gật đầu:

- Đáng tiếc là đền Bắc Sakya đã bị hủy hoại hoàn toàn trong cuộc Cách mạng Văn hóa, những kinh văn trong ngôi đền này cũng theo đó mà tiêu tan.

Hiện chỉ còn đền Nam Sakya là lưu giữ được khoảng hơn hai mươi nghìn cuốn kinh tiếng Tạng.

Nhiều học giả cho rằng những pho sách tiếng Tạng trong đền Sakya có thể sánh ngang với kinh văn ở Đôn Hoàng.

Sakya được xem là Đôn Hoàng thứ hai.

Những tài sản quý giá này đều nhờ vào công đức của Bát Tư Ba.

Hết chương 59.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 60: Bát Tư Ba qua đời


“Kẻ ít học thường kiêu căng, ngạo mạn,

Người hiểu biết luôn khiêm nhường, điềm đạm;

Suối nhỏ cứ róc rách đêm ngày,

Biển lớn vẫn hiền hòa muôn thuở.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1280 – tức năm Canh Thìn, Dương Thiết theo lịch Tạng – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ mười bảy, nhà Nguyên.

Bát Tư Ba bốn mươi sáu tuổi, Dharmapala mười ba tuổi, Chân Kim ba mươi bảy tuổi.

- Drakpa Odzer vừa nói với em rằng, hôm nay Dharma học Đạo quả pháp rất nhanh.

Tôi gượng dậy kéo rèm cửa, mình mẩy nhức mỏi rã rời, căn phòng ấm cúng hơn nhờ nén nhang đất Tạng.

Ánh nắng mùa đông lọt vào qua ô cửa sổ, mang theo chút hơi ấm của sự sống, chiếu rọi thân hình héo hắt, gầy mòn của chàng.

Tôi ngồi dậy, thở dốc một hồi, bắt đầu bóp chân bóp tay cho chàng.

Mấy năm qua, chàng gầy rộc đi trông thấy, mỗi lần xoa bóp cho chàng, tôi đều cảm nhận rõ ràng làn da ngày một nhăn nheo và xương cốt ngày càng rệu rã của chàng.

Mỗi lúc như vậy, tôi lại không cầm được nước mắt.

Thực ra, Drakpa Odzer còn thông báo một tin tức quan trọng khác nữa, em trai thứ hai của Bát Tư Ba, người đã được chàng sắp xếp ở lại Đại Đô kế nhiệm chức vị đế sư, đã qua đời năm ngoái.

Tin tức đến bây giờ mới truyền về Sakya, nhưng tôi không dám nói với Bát Tư Ba.

Chàng không thể chịu đựng nổi một chấn động tinh thần nào nữa.

Tôi khẽ sụt sịt, gắng gượng nở một nụ cười thật tươi, vừa xoa bóp cho chàng vừa nói:

- Còn chuyện này nữa, Dharma và Jumodaban rất quấn nhau, nay Dharma đã mười ba tuổi, em thấy thằng bé không chỉ coi Jumodaban là chị gái đâu.

Tuy chàng đã hủy bỏ hôn ước của chúng nhưng nếu Dharma thật lòng thương Jumodaban, chi bằng hãy tác thành cho hai đứa.

Tôi khẽ ngừng lại để cơn đau nơi lồng ngực tạm lắng dịu rồi mới nghẹn ngào nói tiếp:

- Em không muốn bi kịch của Kháp Na tái diễn với con trai mình.

Hơi thở của chàng rất mong manh, một lúc lâu sau chàng mới cất giọng yếu ớt:

- Em là mẹ thằng bé, em hãy sắp xếp mọi chuyện cho Dharma.

Chàng ngừng lại, nghỉ ngơi một lát, gắng gượng nói tiếp:

- Em bảo Drakpa Odzer đưa Dani đến đây, ta cần gặp nó.

Gọi cả Sangtrum tới nữa.

Tôi ngạc nhiên, vì sao chàng muốn gặp Dani?

Ba năm qua, chàng không hề hỏi han đến thằng bé kia mà.

Tôi trùm khăn che kín đầu, giấu đi mái tóc và đôi mắt màu lam, đi tìm Drakpa Odzer và Sangtrum.

Chỉ đi lại như vậy thôi cũng khiến tôi mệt bở hơi tai, chân tay bủn rủn, mắt hoa đầu váng.

Tôi phải ngồi sụp xuống trước cửa phòng để nghỉ ngơi một lúc rồi mới đứng lên, bước vào khi Dani vừa tới.

Dani đã mười chín tuổi, cao lớn, lực lưỡng, tai to mặt lớn, giống hệt cha.

Thằng bé đến bên giường, khẽ gọi hai tiếng “bác cả”.

Bát Tư Ba đưa mắt ra hiệu cho tôi, tôi vội đỡ chàng ngồi dậy, giữ chàng tựa vào vai mình.

Bát Tư Ba nhấc cánh tay gầy guộc lên, run rẩy chỉ thẳng vào Dani, giọng chàng khản đặc nhưng quyết liệt:

- Quỳ xuống!

Dani giật mình, nó vừa gọi bác cả, ánh mắt sắc lạnh của Bát Tư Ba đã lập tức ném về phía nó khiến nó run bắn, quỳ mọp dưới đất.

Bát Tư Ba nghiêm khắc tra hỏi:

- Hôm qua ngươi đã làm gì, có biết tội không?

- Cháu có làm gì đâu.

Dani ngơ ngác, toàn thân run lên bần bật, một lúc sau mới sực nhớ ra:

- Ý bác là, hôm qua lúc chơi trò bịt mắt bắt dê, Dharma không cẩn thận đã bị va đầu vào tường phải không ạ?

Chuyện đó đám người hầu đã thông báo với chúng tôi.

Vì mải chơi, Dharma không cẩn thận mới đụng vào cột nhà, trán sưng lên.

Tuy thằng bé có khóc lóc nhưng vết thương không nghiêm trọng.

Bát Tư Ba gật đầu:

- Dani, ngươi biết tội rồi chứ?

Dani vội vàng lạy lục:

- Thưa bác, cháu sai rồi, cháu hứa sẽ cẩn thận hơn.

Hôm qua thầy giáo cũng đã trách mắng cháu, phạt cháu quỳ đọc kinh văn suốt hai canh giờ.

Bát Tư Ba bỏ ngoài tai những lời hối lỗi thành khẩn của Dani, quay sang nói với Sangtrum:

- Dharma là người kế thừa của phái Sakya, không được phép có bất cứ sơ sảy hay tổn thương nào.

Sangtrum, hãy ghi lại khẩu dụ của pháp vương Sakya.

Sangtrum ngồi trước bàn viết, trải rộng quyển giấy, cầm bút, kính cẩn lắng nghe.

Bát Tư Ba chậm rãi đọc từng chữ:

- Dani có hành vi phạm thượng, bắt đầu từ hôm nay sẽ bị đuổi khỏi Sakya, lưu đày đến Giang Nam.

Tất cả những người có mặt trong phòng khi đó đều kinh ngạc, Dani nắm chặt nắm đấm, nện thùm thụp xuống nền đất, máu loang lổ.

Nó gào lên phản đối:

- Thưa bác, cháu không phục!

Cháu và Dharma đều là cháu trai của bác, đều mồ côi cha mẹ, vì sao bị đối xử một trời một vực?

Kể từ khi về Sakya, cháu đã thận trọng trong mọi ứng xử, không gây ra bất cứ lỗi lầm nào.

Nhưng dù cháu có cố gắng bao nhiêu đi nữa, vẫn không được bác công nhận.

Cháu đã làm sai điều gì nào?

Vì sao bác lại căm ghét cháu như vậy?

Drakpa Odzer rụt rè can ngăn:

- Thưa thầy, Dani tuy mắc lỗi nhưng không đến mức phải chịu phạt như vậy.

Thầy đày cậu ấy đến vùng Giang Nam xa xôi, làm sao trở về quê hương được nữa?

Sangtrum cũng buông bút, quỳ xuống:

- Thưa thầy, xin thầy nghĩ lại.

Tôi quay sang nhìn chàng, khẽ gọi:

- Lâu Cát...

Chàng ngắt lời tôi, cương quyết:

- Ý ta đã quyết, không cần nhiều lời!

Bát Tư Ba nhắm mắt lại, giọng nói bình thản:

- Sangtrum, hãy chọn lấy một vài đệ tử, giải Dani đi Giang Nam ngay hôm nay.

Biết không thể xoay chuyển quyết định của Bát Tư Ba, Sangtrum đành cúi đầu nhận lệnh.

Drakpa Odzer muốn tiếp tục can ngăn nhưng tôi vội vàng đưa mắt ra hiệu, vì lúc này Bát Tư Ba đã từ từ đổ xuống giường.

Drakpa Odzer đắn đo hồi lâu, vẫn quyết định lên tiếng:

- Nếu ý thầy đã quyết, vậy xin cho phép đệ tử được đích thân áp giải cậu Dani đi Giang Nam.

Cậu ấy vẫn còn trẻ, chưa từng đến đất Hán, có đệ tử đi cùng, mọi thứ sẽ được thuận lợi, suôn sẻ.

Bát Tư Ba khép chặt hai mắt, mệt mỏi gật đầu.

Drakpa Odzer kéo Dani đứng dậy, Dani uất hận vùng vẫy, Sangtrum và Drakpa Odzer phải hợp sức lại mới khống chế được Dani và lôi ra ngoài.

Bàn tay Dani rướm máu, ánh mắt ngập tràn hận thù, vừa vùng vẫy vừa gào thét:

- Tôi sẽ quay lại, sẽ có ngày tôi đòi lại mọi thứ thuộc về tôi!

Tôi rùng mình kinh hãi, như thể vừa mới trông thấy Yeshe vậy.

Hắn cũng từng nói những lời đó với hai anh Bát Tư Ba.

Chẳng ngờ hơn mười năm sau, những lời nói đe dọa này lại được tuôn ra từ miệng con trai hắn, nó giống như một thứ lời nguyền nanh ác vang vọng khắp điện thờ.

Tôi nghẹn ngào, lắc đầu chua xót:

- Vì sao chàng phải nhẫn tâm với Dani như vậy?

Mấy năm qua nó chưa từng mắc lỗi lầm gì, tội lỗi của cha nó, không nên bắt nó gánh chịu mới phải.

- Với thân phận của mình, Dani hoàn toàn có quyền thừa kế Sakya, điều đó đồng nghĩa với việc, nó là một hiểm họa.

Trước khi rời xa cõi đời này, ta buộc lòng phải đuổi Dani, ta phải dọn đường cho tương lai của Dharma.

Chàng nghiêng đầu ho khan dữ dội, rồi thở dốc một hồi mới đủ sức nói tiếp.

– Ta phải đích thân làm việc này, nếu không tiếng xấu từ bia miệng thế gian sẽ đổ lên đầu Dharma.

- Vì Dharma, chàng bằng lòng hứng chịu mọi lời chỉ trích của người đời.

Tôi khóc nấc lên, vuốt ve gương mặt gầy guộc, hốc hác của chàng:

- Lâu Cát, vì sao chàng nhất định phải chất mọi gánh nặng lên vai mình?

Vì sao chàng phải sống khổ sở như vậy?

Hai mắt chàng khép chặt, dường như chàng không hề nghe thấy tiếng tôi nói.

Gò má xương xương, hai mắt trũng sâu, hơi thở mong manh đến nỗi chỉ cần bên ngoài vang lên tiếng động bất kỳ thì tôi sẽ không thể nghe được hơi thở của chàng.

Nước mắt tôi tuôn rơi, nhỏ xuống vùng ngực yếu ớt của chàng.

Tôi hiểu rằng chàng đã ở vào khoảnh khắc cuối cùng của chặng đường sinh mệnh, dầu cạn bấc tàn, ánh đèn loe lét.

Nhưng tôi không đành lòng chống mắt nhìn người tôi yêu rời xa tôi mãi mãi.

Tôi run rẩy áp sát vào bờ môi tái xám của chàng, dồn cho bằng hết chút linh khí cuối cùng trong cơ thể.

Nhưng tôi chưa kịp chạm vào môi chàng thì chàng đột nhiên mở mắt, nhìn tôi, ánh mắt sáng rực như thể thấu suốt tâm can tôi, đôi mắt ấy là nơi duy nhất còn dấu hiệu sự sống trên cơ thể chàng.

Chàng ra sức lắc đầu, lấy tay che mặt, ngăn cản bờ môi tôi:

- Lam Kha, đừng phí sức vì ta nữa.

Tôi lắc đầu phủ nhận:

- Em không...

- Đừng giấu ta nữa, mỗi lúc ta hôn mê em đều lén truyền linh khí cho ta.

Để đến bây giờ, em không còn đủ linh khí giấu đi mái tóc và đôi mắt màu lam của mình, em đi đâu, gặp ai đều phải trùm kín đầu.

Chàng thở dài buồn bã, nhìn tôi xót xa, khóe môi nở nụ cười ấm áp:

- Nhìn em kìa, mái tóc xơ xác, gương mặt tiều tụy, sức khỏe giảm sút.

Nếu tiếp tục như vậy, em sẽ bị đẩy trở lại nguyên hình đó.

Tôi lắc đầu, hít một hơi thật sau, tiếp tục ghé vào môi chàng:

- Chỉ cần giữ được chàng, em sẽ làm tất cả.

Chàng vẫn kiên trì lấy tay che mặt, tôi sốt ruột kéo tay chàng ra, chàng không đủ sức giằng co với tôi nhưng kiên quyết quay mặt đi.

- Lam Kha, nếu không nhờ vào linh khí của em, ta làm sao sống nổi đến bây giờ?

Nhưng ta đã hoàn tất mọi việc và giờ có thể thanh thản ra đi được rồi.

Tôi bật khóc thảm thiết:

- Đừng mà, chàng mới bốn mươi sáu tuổi, em không thể để chàng ra đi lúc này.

Em không muốn một mình cô đơn đối diện với những đêm dài bất tận...

- Em bất chấp tất cả để giữ ta lại, ta cũng chỉ có thể nằm liệt trên giường như một người đã chết.

Ta không muốn như vậy.

Bàn tay chàng run rẩy vuốt ve gương mặt tôi, nụ cười héo hắt trên môi.

– Em chẳng còn bao nhiêu linh khí để giữ ta lại nữa.

Hãy để ta ra đi.

Ta muốn được ra đi, vì ta mệt rồi...

Tôi tan nát cõi lòng, ngả vào ngực chàng, khóc cho nghiêng ngả đất trời.

Tôi không muốn từ bỏ nhưng tôi thực sự đã cạn linh khí.

Ba năm qua, tôi đã tiêu hao quá nhiều, đã đến cực hạn và bất cứ lúc nào cũng có thể bị đẩy trở lại nguyên hình.

Tôi cắn răng, nín khóc, lồng tay mình vào tay chàng, gắng gượng nở nụ cười rạng rỡ nhất.

- Vâng, em hứa sẽ để chàng ra đi.

Tôi không muốn bị đẩy trở lại nguyên hình trước lúc chàng rời xa thế gian này.

Vì chàng thích ngắm nhìn dung nhan của tôi.

Tôi muốn chàng được yên lòng khi ra đi.

Tôi cuống cuống lau nước mắt nhưng nước mắt như sóng vỗ bờ, cứ ào ạt tuôn chảy, không sao ngăn nổi.

Chàng run rẩy vuốt ve hai má tôi, giọng thoảng như gió nhẹ:

- Lam Kha, trước lúc ra đi, ta muốn được hôn em.

Tôi gật đầu tắp lự, nhưng mới ghét sát lại, chàng đã nghiêm mặt “cảnh cáo”:

- Ta chỉ muốn hôn em thôi, hãy nhớ, không được truyền linh khí cho ta.

Tôi vừa khóc vừa gật đầu, rồi sực nhớ ra rút vội khăn tay, chỉnh trang lại dung nhan, lau khô nước mắt, vuốt cho mượt mái tóc xác xơ, chỉnh cho cân viên ngọc Linh hồn cài trên đỉnh đầu, vuốt cho phẳng phiu các nếp váy và nở nụ cười thật tươi:

- Trông em thế nào, đẹp không?

Chàng nhìn tôi đắm đuối rồi gật đầu, ánh mắt như trôi về chốn xa xưa, bồi hồi nhớ lại:

- Đẹp lắm, lúc nào em cũng xinh đẹp như vậy.

Hôm đó, khi Kháp Na đưa em đến trước mặt ta, em như đóa phù dung khi hé nở, ánh mắt trong suốt như ngọc minh châu, thánh thiện không vương chút bụi trần.

Ta thầm nhủ, sao trên đời lại có thiếu nữ thuần khiết, xinh đẹp nhường vậy?

Tôi cúi xuống, khẽ hôn lên bờ môi tím tái của chàng, không mang theo nỗi bồn chồn muốn giữ chàng ở lại, không thừa dịp hôn chàng lén lút khi chàng đã ngủ say như lúc trước.

Nụ hôn dài miên man, mê đắm, dạt dào, tôi muốn lưu lại những khoảnh khắc tuyệt vời nhất của đời mình.

Không biết đã hôn chàng bao lâu, môi chàng dần ấm lại, chàng rên rỉ khe khẽ, ánh mắt mê ly, gương mặt thêm phần rạng rỡ:

- Lam Kha, ta không còn cảm giác đau đớn gì nữa, đến giờ ta mới biết nụ hôn ngọt ngào, tuyệt diệu nhường nào.

Nỗi buồn dâng ngập lòng, nước mắt chực trào ra.

Yêu tôi chừng ấy năm tháng, vậy mà chàng chỉ được hôn người yêu trước lúc ra đi.

Tình yêu ấy, với cả tôi và chàng, nghiệt ngã biết chừng nào!

Chàng mân mê chiếc vòng hình hoa sen trên cổ tay tôi, ánh mắt dừng lại nơi miếng ngọc Linh hôn trên đỉnh đầu tôi rồi từ từ khép mắt lại:

- Lam Kha, em còn rất nhiều năm tháng đợi chờ phía trước, cả ta và Kháp Na đều không yên lòng để em một mình đối diện với nỗi cô đơn dằng dặc ấy.

Bởi vậy, sau khi chết, ta không mong thành Phật, ta nguyện tiếp tục dấn thân nơi lục đạo luân hồi để mỗi kiếp lai sinh đều có thể cùng Kháp Na đi tìm em, ở bên em.

Giọng chàng nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt lịm, bàn tay thôi vuốt ve cổ tay tôi, từ từ đổ xuống, buông thõng bên mép giường.

Tôi ghì sát tai vào khuôn ngực chàng, không còn nghe thấy nhịp tim thân thuộc nữa.

Chàng đã kết thúc hành trình mỏi mệt của đời mình.

Ngày 22 tháng 11 năm 1280, Bát Tư Ba viên tịch tại điện thờ Lakhang trong đền Nam Sakya, hưởng thọ bốn mươi sáu tuổi.

Dharma kế thừa ngôi vị giáo chủ phái Sakya và đế sư của triều đình Đại Nguyên, đồng thời gánh vác trọng trách nối dõi tông đường dòng họ Khon.

Một giàn gỗ cao được dựng bên bờ sông Trum-chu, dưới chân núi Benbo.

Bát Tư Ba nằm đó, khép mắt an nhiên trên chiếc giường gỗ, trong bộ pháp y trang trọng nhất.

Áo cà sa lộng lẫy, rộng thênh thang ôm lấy thân hình héo hon của chàng.

Tất cả các tăng nhân đều đội mũ ngũ sắc sặc sỡ, xếp thành hàng chỉnh tề trên bờ sông lổn nhổn đá sỏi, lầm rầm tụng kinh siêu độ.

Tuyết trắng ràn rạt bay, thoáng chốc đã trút lên vai người một vạt trắng tinh khôi.

Sắc đỏ sẫm của áo tăng ni và sắc trắng tinh khiết của tuyết lạnh tạo nên sự tương phản nhức nhối.

Ai nấy đều đau buồn, thổn thức bước lên, dâng khăn lụa Ha đa và cúi đầu vái lạy Bát Tư Ba.

Sangtrum chuyển ngọn đuốc cho Dharma.

Dharma châm lửa vào đám cỏ khô xếp quanh chiếc giường gỗ.

Ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt, tiếng củi cháy lép bép, hệt như một khúc tráng ca bị thảm dội lên trời cao.

Lửa bập bùng soi sáng cả một trời tuyết đổ, gương mặt hiền từ của Bát Tư Ba chìm khuất trong sắc hồng rực rỡ.

Tôi giấu mình trong kiệu, tay nắm chặt rèm cửa sổ, âm thầm nức nở, siết chặt chiếc vòng trên cổ tay.

Tôi không còn đủ sức để ẩn đi mái tóc và đôi mắt màu lam của mình nữa.

Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị đẩy trở lại nguyên hình, bi kịch khi Kháp Na qua đời đã tái hiện.

Khi củi tàn lửa tắt, Dharma ngồi xuống, góp nhặt tro cốt của người đã khuất, Sangtrum đứng bên, che ô cho thằng bé.

Dharma đột nhiên thốt lên:

- Hạt Xá Lợi đẹp quá!

Giữa màn tuyết dày đặc, tôi nhìn thấy viên ngọc Xá Lợi lóng lánh, rực rỡ trên tay Dharma, viên ngọc chứa đựng sinh mạng của Bát Tư Ba.

Tất cả những người trong giáo phái Sakya nhất loạt quỳ xuống trước ngọc Xá Lợi, kêu khóc thương tâm, họ gào gọi pháp danh của pháp vương.

Viên ngọc Xá Lợi lấp lánh chiếu sáng bảy màu, lung linh huyền ảo, bao bọc lấy Dharma.

Theo di nguyện của Bát Tư Ba, tháp Xá Lợi của chàng được xây cất ngay bên cạnh Kháp Na.

Tháp Xá Lợi này được hoàn thành từ ba năm trước, kiến trúc giống hệt tháp hoàng kim của Kháp Na.

Dharma đặt tro cốt của Bát Tư Ba vào thân tháp, ngọc Xá Lợi đặt lên đỉnh tháp.

Giáo phái còn tổ chức một pháp hội truy điệu Bát Tư Ba kéo dài suốt bốn mươi chín ngày.

Mới mười ba tuổi nhưng Dharma đã sắp đặt và xử lý đâu ra đấy mọi việc.

Trải qua mất mát này thằng bé trưởng thành lên rất nhiều.

Đêm tịch mịch, tôi lẳng lặng tìm đến điện thờ, vắt kiệt chút linh khí cuối cùng, trèo lên linh tháp của Bát Tư Ba.

Tôi mở nắp đỉnh tòa tháp, lấy ra viên ngọc Xá Lợi, đặt vào lòng tay.

Ngọc Xá Lợi đột nhiên chiếu sáng rực rỡ, kỳ ảo.

Tôi mang theo ngọc Xá Lợi của Bát Tư Ba, trèo lên linh tháp của Kháp Na, làm theo di nguyện của chàng.

Tôi mở nắp đỉnh tòa tháp của Kháp Na, bên trong là một viên ngọc Xá Lợi nhỏ hơn.

Tôi lấy viên ngọc ra khỏi đỉnh tháp, ánh sáng màu trắng dịu dàng của ngọc Xá Lợi bao bọc lấy tôi.

Khi hai viên ngọc đặt cạnh nhau, ánh sáng lập tức hòa quyện, nhập lại thành một dải sáng rực rỡ màu sắc, chiếu thẳng lên viên ngọc Linh hồn trên đỉnh đầu tôi.

Ánh sáng tắt dần, ngọc Xá Lợi tan biến, tôi gỡ ngọc Linh hồn xuống và sững sờ trước vẻ đẹp kỳ ảo, sống động của nó.

Sự sống như đang chảy trôi trong viên ngọc ấy, trong chuỗi ánh sáng lung linh, huyền ảo, tôi như thấy được nụ cười rạng ngời của hai anh em họ.

Tôi áp viên ngọc vào ngực mình, nước mắt tuôi trào.

Ánh sáng dịu dàng tỏa ra từ viên ngọc quấn quýt lấy tôi, như đang khe khẽ an ủi.

Tôi đặt một nụ hôn nhẹ nhàng lên viên ngọc:

- Lâu Cát, Kháp Na, em sẽ chờ hai người, đời đời kiếp kiếp.

Giờ đây, khi mọi việc đã hoàn tất, ngoài con trai, tôi chẳng còn gì vướng bận.

Nhưng bi kịch thay, tôi không thể tiếp tục duy trì hình hài con người để ở bên che chở cho thằng bé.

Sau khi suy xét kĩ càng, tôi quyết định giấu Dharma.

Ngay từ lúc chào đời, mọi người đều nói với thằng bé rằng, thân phận của nó rất mực cao quý, cha nó là Bạch Lan Vương, mẹ là con gái của Vạn hộ hầu Shalu, tiền đồ của nó vô cùng rộng mở, sáng láng.

Làm sao nó có thể chấp nhận một người mẹ là yêu tinh như tôi?

Thôi thì, hãy để quá khứ tan theo Bát Tư Ba.

Nghĩ vậy nên khi không gắng gượng thêm được nữa, tôi đã đội khăn trùm kín đầu, gọi Dharma lại, nén lòng nói với con:

- Dharma, dì Lam phải rời khỏi Sakya.

Dharma sững sốt, nắm chặt lấy tay tôi, giọng nói khàn khàn của lứa tuổi dậy thì vang lên:

- Dì Lam, dì định đi đâu?

Thằng bé giống Kháp Na như đúc, lòng tôi nghẹn đắng, bàn tay run run vuốt ve mái tóc dài, đen bóng của nó.

- Dì có việc phải đi, không thể ở lại chăm sóc cho con được nữa.

Con hãy giữ gìn sức khỏe, sống thật vui vẻ và thực hiện di nguyện của bác cả con, phát triển giáo phái Sakya thật lớn mạnh, duy trì sự ổn định và thống nhất của đất Tạng.

- Dì đừng rời xa con.

Thằng bé sà vào lòng tôi, vòng tay qua eo tôi, siết chặt, giọng nói nghẹn ngào, nức nở.

– Con vừa chào đời đã mồ côi cha mẹ, cô chú nuôi nấng con từ nhỏ cũng đã qua đời, người bác đôn hậu lúc nào cũng chăm lo, dạy dỗ con cũng đã viên tịch.

Nếu bây giờ dì cũng bỏ con mà đi, con sẽ chẳng còn người thân nào cả!

Tôi ôm riết thân hình gầy gò của thằng bé, nước mắt tuôn rơi nhưng vẫn gượng cười:

- Ai bảo vậy, con vẫn còn người chị họ thân thiết kia mà.

Dharma, bác cả con đã nhận lời kết làm thông gia với Vương gia Mông Cổ Khởi Tất Thiếp Mộc Nhi ở Lương Châu, con gái ngài ấy tên là Bối Đan.

Trước khi qua đời, Vương Khởi Tất đã đưa Bối Đan đến Đại Đô, chờ ngày con đến đó, làm lễ thành thân với cô ấy.

Dharma tỏ ra bối rối, thằng bé rời tôi ra, cúi đầu lí nhí:

- Dì ơi, con nhất định phải cưới cô ấy ư?

Con chưa gặp cô ấy bao giờ, cô ấy là người Mông Cổ, còn con là người Tạng, làm sao chung sống với nhau được?

Tôi thở dài:

- Ta biết chứ, nhưng đó là quyết định của bác cả con, kết hôn với công chúa Mông Cổ sẽ có lợi cho giáo phái Sakya, con không thể từ chối.

Thấy thằng bé phụng phịu, giận dỗi, tôi dịu dàng an ủi:

- Dì biết con mong muốn điều gì.

Sau này khôn lớn, dì cho phép con cưới Jumodaban làm vợ.

Thằng bé phấn khích ngẩng đầu lên:

- Dì ơi, thật chứ ạ?

Con có thể lấy chị họ ư?

Thấy con sung sướng như vậy, tôi cũng vui lây.

Dù nó không thể chối bỏ cuộc hôn nhân chính trị đó, nhưng chí ít, nó cũng được lấy người nó yêu thương, không bi kịch như Kháp Na trước kia.

Chỉ hiềm nổi, hai người vợ với thân phân khác nhau, một người là công chúa Mông Cổ, một người là con gái của kẻ phạm tội, ngày sau ắt sẽ có sóng gió.

Nhưng những chuyện sau này, tôi chẳng thể giúp thằng bé.

Sức khỏe của tôi đang yếu dần, tôi hiểu rằng, đã đến lúc phải ra đi nên vội vã căn dặn:

- Còn một chuyện nữa con phải ghi nhớ.

Bác cả của con từng nuôi dưỡng một tiểu hồ ly màu lam rất xinh đẹp và thông minh, mấy năm trước tiểu hồ ly này đột nhiên biến mất.

Bác cả con rất cưng chiều tiểu hồ ly này nhưng đến nay vẫn không tìm thấy nó.

Nếu con tìm được, hãy giữ nó ở bên mình, đưa nó đến Trung Nguyên cùng con.

Tôi ngừng lại một lát, để cơn đau trong lồng ngực nguôi bớt, mới tiếp tục:

- Tên của tiểu hồ ly đó là Lam Kha Mai Đóa, con cứ gọi nó là Tiểu Lam cũng được.

Thằng bé trịnh trọng gật đầu.

Tôi kéo con vào lòng, hôn lên đỉnh đầu nó.

- Dì sẽ rất nhớ con, khi nào xong việc, dì sẽ đến tìm con.

Chiều hôm đó, tôi đội ô rời khỏi Sakya.

Buổi tối, Dharma tìm thấy tiểu hồ ly màu lam trước cửa nơi ở của Bát Tư Ba.

Thằng bé ôm tiểu hồ ly lên, reo hò hoan hỉ:

- Ngươi là Tiểu Lam phải không?

Sau này hãy ở bên ta nhé!

Tiểu hồ ly gật đầu, dụi đầu vào ngực thằng bé.

Hồ ly không dám cất tiếng vì không muốn thằng bé nhận ra giọng nói của mình.

Ngày Bát Tư Ba viên tịch, Sangtrum đã tìm cách nhanh nhất truyền tin đến Đại Đô.

Tháng 11 năm 1281, một năm sau khi Bát Tư Ba qua đời, ý chỉ của Hốt Tất Liệt mới đến được Sakya.

Hay tin quốc sư qua đời khi tuổi mới ngoại tứ tuần, Hốt Tất Liệt vô cùng sững sốt và đau buồn.

Nhà vua lệnh cho Dharma đưa tro cốt của Bát Tư Ba về Đại Đô an táng, đồng thời kế nhiệm chức vị đế sư triều Nguyên.

Trong thánh chỉ ban xuống, Hốt Tất Liệt đã phong tặng danh hiệu cho Bát Tư Ba là: “ Hoàng thiên chi hạ, nhất nhân chi thượng, khai giáo tuyên văn phụ trị, đại thánh trí đức, phổ giác chân trí, hộ quốc như ý, đại bảo pháp vương, Tây Thiên Phật tử, Đại Nguyên đế sư Pandita.”

Mười bốn tuổi, với tư cách pháp vương mới nhậm chức của phái Sakya, Dharma lên đường đến vùng đất Trung Nguyên xa xôi, cùng với người chị họ và tiểu hồ ly.

Sau một năm trời gian khổ, ngày 25 tháng 12 năm 1282, tức năm Chí Nguyên thứ mười chín, Dharma đặt chân đến đất Đại Đô phồn hoa đô hội, khi ấy thằng bé mới mười lăm tuổi.

Hốt Tất Liệt tổ chức nghi lễ nghênh đón tro cốt của Bát Tư Ba rất mực long trọng, sau đó trao ngọc ấn và quyền thống lĩnh tôn giáo cả nước cho đế sư Dharmapala mới kế nghiệm.

...

Tôi áp chặt viên ngọc Linh hồn vào ngực mình, hít thở sâu nhiều lần để lấy lại bình tĩnh, tiếp tục câu chuyện:

- Khi tro cốt của Bát Tư Ba được đưa đến Đại Đô, Hốt Tất Liệt đã lệnh cho Anigo xây một tháp Xá Lợi đẹp không gì sánh bằng cho đế sư của mình trong chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương.

Các đời đế sư sau đó đều ra sức cải tạo tu sửa mái vàng của tòa linh tháp ấy.

Nguyên Nhân Tông ban chiếu chỉ, lệnh cho các địa phương trong cả nước đúc tượng thờ Bát Tư Ba, giống hệt tượng thờ Khổng Tử trong truyền thống của người Hán.

- Nếu không ra đi quá sớm, Bát Tư Ba chắc chắn sẽ được nhiều người biết đến hơn nữa.

Chàng trai trẻ suy nghĩ mông lung rồi thở dài, lắc đầu:

- Giá như có thể bảo tồn tòa tháp Xá Lợi của Bát Tư Ba đến bây giờ thì tốt biết bao.

Tiếc thay, trong lịch sử Trung Quốc, mỗi lần thay vua đổi chúa, di tích lịch sử của đời vua trước đều không được lưu giữ trọn vẹn.

Ngôi chùa hoàng gia bề thế ấy cũng không thoát khỏi số phận hẩm hiu khi cuộc chiến tranh giữa nhà Minh và triều Nguyên diễn ra.

Tôi nghiêng đầu ho khan vài tiếng, lấy hơi, tiếp tục kể:

- Cuối đời nhà Nguyên, chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương, tháp Xá Lợi Bát Tư Ba và cả tháp Xá Lợi của Dharma đều bị hủy hoại.

Đến nay, chỉ còn lại bảo tọa kim cang của tòa tháp Xá Lợi của Bát Tư Ba.

Trên thân tháp vẫn còn nguyên toàn văn bức thư chúc Tết tựa đề “Lời chúc cát tường” mà Bát Tư Ba gửi cho Hốt Tất Liệt nhân dịp năm mới 1262.

Bức thư này đã được khắc nổi trên thân bảo tọa kim cang.

Về sau, vào thời Vua Thành Hóa, nhà Minh, người ta đã xây dựng một ngôi chùa có tên chùa Ngũ Tháp trên di chỉ ngôi chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương năm xưa.

Đó chính là ngôi chùa Ngũ Tháp bên bờ sông Cao Lương, ngoài cổng Tây Trực, thành phố Bắc Kinh ngày nay.

Hết chương 60.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 61: Tuyệt tự


"Đường học thuật lắm gian nan,

Trau dồi khổ luyện mới tường cổ kim;

Ham mê cuộc sống êm đềm,

Hân hoan cũng chỉ một niềm nhỏ nhoi."

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1283 - tức niên hiệu Chí Nguyên thứ hai mươi, nhà Nguyên.

Chân Kim bốn mươi tuổi, Dharmapala mười sáu tuổi.

- Chân Kim!

Người đàn ông cao lớn, lực lưỡng lập tức quay người lại, niềm hân hoan vụt tắt khi không thấy bóng người.

Cậu ta tiếp tục tìm kiếm, chỉ thấy một tiểu hồ ly đang ngồi thu chân dưới đất.

Chân Kim nhấc bổng tôi lên, ghì chặt vào lòng:

- Tiểu Lam, là em ư?

Em đến Đại Đô cùng với Dharma, sao cậu ta lại bảo rằng em đã trở về quê cũ?

Trong buổi lễ tiếp đón Dharma, Chân Kim không ngừng tìm kiếm.

Cậu ta đã gạn hỏi từng người một trong đoàn tùy tùng của Dharma.

Ở bữa tiệc tối, cậu ta không cầm lòng nổi, đã tìm gặp Dharma, hỏi han nhiều lần.

Được đáp rằng tôi không đến Đại Đô, vẻ thất vọng hiển hiện trên gương mặt cậu ta, rõ ràng đến mức thu hút cả sự chú ý của Hốt Tất Liệt.

Tôi lẳng lặng đi theo Chân Kim, mãi khi không có ai khác mới dám cất tiếng gọi.

Tôi thở dài ảo não:

- Tôi đã nói dối Dharma.

Tôi muốn đi theo con trai, nhưng lại không thể nói với nó rằng tiểu hồ ly chính là dì Lam của nó.

- Vì sao phải làm vậy?

Cậu ta nhấc tôi lên, ngó sang phải, sang trái rồi như chợt nghĩ ra điều gì, nhíu mày hỏi.

- Không lẽ, em không thể hóa thành người được nữa?

Tôi cười chua chát:

- Tôi phải trả giá vì đã kiên trì kéo dài sự sống của Bát Tư Ba.

Cậu ta sửng sốt:

- Em sẵn lòng làm vậy vì thầy ư?

Ta không biết nên ghen tỵ hay ngưỡng mộ nữa.

- Tôi tình nguyện mà!

Tôi lắc đầu buồn bã.

- Nhưng dù đã dốc cạn linh khí, tôi cũng chỉ có thể giữ chàng thêm ba năm.

- Tiểu Lam, sao em khờ quá vậy?

Đôi mắt cậu ta đỏ hoe, bàn tay dịu dàng vuốt ve bộ lông của tôi.

- Vậy phải mất bao lâu nữa em mới khôi phục được hình hài con người?

- Tôi không biết.

Tôi lắc đầu tuyệt vọng.

Lần trước, Bát Tư Ba phải giảm tuổi thọ để giúp tôi khôi phục được hình hài con người.

Lần này thì hết cách rồi.

Tôi mỉm cười tê tái, nhìn cậu ta:

- Có lẽ phải mất ba trăm năm tu luyện nữa.

Cậu ta hốt hoảng, lấy tay bịt miệng, ngăn không cho tôi nói tiếp:

- Tiểu Lam, em... em đừng nói dại!

Tôi điềm tĩnh đáp:

- Tôi không nói dại đâu.

Chân Kim, đây là sự thật.

E rằng, từ giờ đến cuối đời, cậu không còn được thấy tôi trong hình dáng con người nữa.

Chân Kim vẫn giữ lời hứa, ở Đại Đô chờ tôi, nhưng tôi chỉ biết thở dài:

- Đừng chờ tôi nữa.

Kiếp này, tôi khó lòng báo đáp tình cảm của cậu.

Cậu ta lắc đầu đau khổ, ôm tôi trên tay, đi đi lại lại trong phòng, tâm trạng rối bời:

- Tiểu Lam, đừng cự tuyệt ta sớm như vậy.

Ta sẽ nghĩ cách, ta sẽ có cách...

Tôi cười buồn:

- Cậu có thể làm gì được?

Dù là bậc đế vương tương lai đi nữa, có những việc cậu cũng đành lực bất tòng tâm.

Tôi không buồn phiền gì đâu, bao năm qua, tôi đã quen với hình hài hồ ly, chẳng có gì bất tiện cả.

Lần này khá hơn lần trước rất nhiều, vì chí ít tôi vẫn có thể trò chuyện, giữ được thính giác, khứu giác và vị giác nhạy bén của loài hồ ly.

Chỉ mệt nỗi, ngày nào tôi cũng phải khổ công tu luyện, từng chút, từng chút bù đắp lại linh khí đã mất.

Lòng thầm thở than, quá trình tu tập mới mòn mỏi, dằng dặc làm sao!

Chờ khi tôi lấy lại được hình dáng con người, có lẽ không chỉ Chân Kim mà ngay cả Dharma cũng đã rời xa thế giới này từ lâu.

Cậu ta tức tối nện nắm đấm vào tường:

- Ta là thái tử một nước mà không thể giúp gì cho người mình yêu.

Tôi không muốn tiếp tục chủ đề nặng nề này, liền nghiêm nghị nói với cậu ta:

- Chân Kim, tôi tìm cậu vì có việc muốn nhờ cậu.

Cậu ta vội hỏi:

- Em nói đi, bất luận là việc gì, ta sẽ giúp em.

- Trong buổi chầu hôm nay, Phụ hoàng của cậu đã định ngày thành hôn cho Dharma và Bối Đan, con gái của Khởi Tất Thiếp Mộc Nhi theo di nguyện của Bát Tư Ba.

Nhưng người mà Dharma yêu là Jumodaban, con gái của Kunga Zangpo.

Dharma đã đề đạt nguyện vọng với cha cậu nhưng Bệ hạ không chấp thuận vì cho rằng thân phận của Jumodaban thấp kém, cha nó lại từng phạm trọng tội nên nó không xứng đáng làm thê thiếp của Dharma.

Tôi không yên lòng khi thấy Dharma buồn bã, thất vọng nên mới cầu xin Chân Kim giúp đỡ.

- Tính cách của Dharma rất giống cha nó, đã yêu ai thì một lòng một dạ với người đó.

Tôi không muốn nó phải chịu đựng bi kịch giống như Kháp Na, cưới những người vợ mà nó không yêu.

Mong cậu giúp tôi lựa lời thuyết phục Bệ hạ, hãy nói rằng, hôn sự này đã được Bát Tư Ba chấp thuận khi còn ở Sakya, xin Bệ hạ tác thành cho đôi trẻ.

- Em đừng lo, chút chuyện nhỏ nhặt này, ta nhất định sẽ giúp em.

Ta sẽ thay thượng sư chăm lo cho Dharma.

Cậu ta ngừng lại một lát, nhìn tôi dò hỏi:

- Dharma không biết về thân thế của mình nên cậu ấy đã thỉnh cầu với Phụ hoàng hỗ trợ kinh phí để Vạn hộ hầu Shalu xây đền Shalu, em đừng buồn nhé!

Tôi thoáng sững sờ.

Hôm nay, khi Hốt Tất Liệt hỏi Dharma có nguyện vọng hay yêu cầu gì không, Dharma đã cầu xin Hốt Tất Liệt ban thưởng cho người bác Selangqe Vạn hộ hầu Shalu.

Dharma nói rằng, gia đình người bác luôn hết lòng quan tâm, săn sóc nó, Selangqe dự định xây dựng đền Shalu, mong nhận được sự hỗ trợ của Hốt Tất Liệt.

Hốt Tất Liệt hào phóng ban cho Selangqe một khoản kinh phí rất lớn để xây dựng đền Shalu.

Tôi mỉm cười:

- Tôi không để bụng chuyện đó đâu.

Dharma cần đến sự ủng hộ của Shalu.

Tôi chuyển đề tài, lo lắng hỏi:

- Chân Kim, vừa đến Đại Đô tôi đã nghe phong thanh những chuyện xảy ra với cậu trong triều đình.

Mấy năm qua, phủ Thái tử của Chân Kim luôn là nơi tề tựu đông đảo các nho sĩ người Hán học cao hiểu rộng.

Đối với họ, Chân Kim là niềm hy vọng của tương lai.

Thế nhưng, dù đã bốn mươi tuổi, Chân Kim vẫn chỉ là thái tử, Hốt Tất Liệt càng nhiều tuổi càng chuyên quyền, nhất quyết không chịu để Chân Kim nắm thực quyền điều hành đất nước.

Các nho sĩ dâng tấu đề nghị Hốt Tất Liệt cho Thái tử tham gia chính sự, Hốt Tất Liệt mới miễn cưỡng đồng ý.

Nhưng thực chất, Hốt Tất Liệt đang nghi kỵ, ngờ vực người con trai mà ông ta yêu mến nhất.

Biết được những chuyện này, tôi thấy lo lắng cho Chân Kim.

Chân Kim tỏ ra rất mực kiên định, chẳng hề lo sợ:

- Em muốn nhắc đến chuyện ta ra lệnh giết chết Ahama?

Tên gian thần ấy đã hãm hại biết bao trung thần.

Các đại thần người Hán mượn danh nghĩa của ta để tiêu diệt hắn, họ làm vậy cũng là hợp với lòng dân, tội hắn đáng chết!

Từ lâu Chân Kim đã không ưa gì tên quan Ahama, người được Hốt Tất Liệt rất mực tin dùng.

Ahama vì muốn thu gom tài sản cho Nhà vua mà đã hãm hại nhiều đại thần người Hán.

Thế là nhân dịp Chân Kim và Hốt Tất Liệt lên Thượng Đô tránh nóng, có người đã mạo danh Thái tử, giả truyền mệnh lệnh, cho gọi Ahama đến và giăng bẫy, giết chết hắn.

Hốt Tất Liệt muốn trả thù cho Ahama nhưng các đại thần trong triều đồng loạt dâng sớ vạch tội Ahama.

Sau khi điều tra và phát hiện ra, số tài sản mà Ahama vơ vét được còn nhiều hơn cả quốc khố, Hốt Tất Liệt mới nổi trận lôi đình, không những tịch thu tài sản của Ahama, tiêu diệt bè đảng của hắn, mà còn ra lệnh bật nắp quan tài của Ahama, cho xe ngựa vằm nát thi thể hắn.

Sự kiện đó xảy ra ngay trong năm đầu tiên Dharma đặt chân đến Đại Đô, vì việc này mà kinh thành của Hốt Tất Liệt chấn động, dân chúng xôn xao.

Chân Kim tỏ ra vô cùng hoan hỉ, cười vang hào sảng, vẻ mặt rạng rỡ, bộ râu quai nón rung rung theo tiếng cười:

- Tiểu Lam ơi, có phải em đang lo lắng cho ta không?

Đây là lần đầu tiên em quan tâm đến ta như vậy.

Cậu ta tung tôi lên không trung khiến tôi thót tim, còn cậu ta thì bật cười giòn giã, vỗ binh binh vào vòm ngực rắn chắc:

- Em đừng lo, ta đã bốn mươi tuổi, mấy tên gian thần tặc tử ấy chẳng thể gây khó dễ cho ta.

Nhưng lòng tôi vẫn canh cánh không yên.

Chân Kim dường như đã quá lạc quan, có thể cậu ta không sợ mấy tên gian thần kia nhưng trở ngại lớn nhất của cậu ta lại là người đứng đằng sau chỉ huy, nâng đỡ cho bọn chúng lộng hành Hốt Tất Liệt.

Nhưng đó là chuyện riêng của hai cha con họ, tôi không tiện can thiệp, chỉ căn dặn:

- Tóm lại, phàm việc gì cũng nên thận trọng.

Ngay tối hôm đó, Chân Kim đã đến gặp và thuyết phục cha mình Hốt Tất Liệt hạ chỉ ban hôn ước cho Dharma, cho phép Dharma cưới hai người vợ, Công chúa Mông Cổ Bối Đan và cô gái người Tạng Jumodaban.

Mùa xuân năm Dharma mười sáu tuổi, đèn hoa chăng kết rực rỡ khắp phủ Đế sư, khách khứa tấp nập, tiệc tùng náo nhiệt.

Tất cả các vương qia, quý tộc của Đại Đô đều đến chúc mừng, phủ Đế sư nô nức đón khách.

Hôm đó, trung tâm sự chú ý là chú rể Dharma trong bộ lễ phục trang trọng.

Tôi ẩn mình trên xà ngang, ngắm nhìn con trai không chán mắt.

Thằng bé khôi ngô, tuấn tú, gương mặt xinh đẹp như con gái, có điều nó gầy guộc và thấp bé hơn Kháp Na.

Bối Đan vận lễ phục cô dâu kiểu truyền thống Mông Cổ, đứng bên Dharma, trông cao hơn cả chú rể.

Bối Đan năm nay hai mươi tuổi, thân hình chắc nịch, mặt tròn, mắt nhỏ, giống hệt Mukaton thời trẻ.

Ngày thành hôn là lần đầu tiên Dharma và Bối Đan gặp nhau, cả hai nhìn nhau chớp nhoáng rồi lập tức quay mặt đi.

Bối Đan dành nhiều thiện cảm cho Dharma hơn là tình cảm thằng bé dành cho vị hôn thê của mình, vì chốc chốc cô bé lại liếc nhìn trộm Dharma.

Dharma cử hành hôn lễ với Bối Đan theo nghi thức Mông Cổ rồi cử hành hôn lễ với Jumodaban theo nghi thức của người Tạng.

Tuy hai người vợ có thân phận, địa vị khác nhau, Bối Đan là vợ cả, Jumodaban là vợ lẽ nhưng Dharma nghiêng nhiều về phía Jumodaban hơn.

Đêm tân hôn, Dharma ở lại với Jumodaban, để Bối Đan một mình cô lẻ.

Mấy tháng sau đám cưới, Dharma không hề bước chân vào phòng Bối Đan dù chỉ một lần, điều đó khiến Bối Đan bực tức.

Bối Đan nhiều lần cho người đến mời, nhưng đều bị Jumodaban ngăn cản.

Cuộc tranh chấp giữa hai người vợ của Dharma là không tránh khỏi.

Nhưng đúng lúc nó trở thành nỗi phiền muộn trong lòng Dharma thì tin vui đột ngột được truyền đi: Jumodaban đã mang thai!

Tôi náu mình trên chạc cây, niệm chú cho chiếc túi thần kỳ cất giấu hai báu vật của đời tôi là ngọc Linh hồn và vòng tay hình hoa sen hiện ra.

Tôi lấy viên ngọc Linh hồn, vuốt ve âu yếm, hướng mắt về phía tây nam, nở nụ cười hạnh phúc:

- Lâu Cát, Kháp Na, Sakya có người nối dõi rồi!

Kháp Na sắp lên chức ông nội!

Tôi hôn lên viên ngọc:

- Dharma còn rất trẻ, ngày sau nhất định sẽ sinh thêm nhiều con cháu nữa cho phái Sakya, hai người hãy yên lòng, em sẽ chăm sóc cho thằng bé.

Tuy tôi rất đỗi phấn chấn vì phái Sakya sắp có người nối dõi nhưng chuyện nhà của Dharma cũng khiến tôi đau đầu nhức óc.

Bối Đan yêu cầu Dharma không được gần gũi với Jumodaban vì lý do Jumodaban vừa mang thai.

Tục lệ của các gia đình quyền quý là như vậy, khi người vợ mang thai thì người chồng không được gần gũi vợ cho đến sau khi cô ấy sinh nở.

Người vợ, vì thế phải chủ động kén chọn vợ lẽ cho chồng.

Bởi vậy, yêu cầu của Bối Đan là chính đáng.

Nhưng mỗi lần Dharma đến phòng của Bối Đan thì Jumodaban lại lên cơn đau bụng một cách rất trùng hợp, nào là viện cớ thấy trong người khó chịu, nào là đứa bé trong bụng nhớ cha,... chỉ cho Dharma ở lại trong phòng của Bối Đan một lúc là phải lập tức rời khỏi đó, để rồi cả đêm không trở lại nữa.

Bối Đan tức giận, lên tiếng thóa mạ, chửi đổng, Jumodaban ngày càng gầy yếu, thường xuyên phải mời thầy thuốc bắt mạch, kê đơn nên Dharma càng ngày càng xa lánh Bối Đan.

Tôi muốn lựa lời khuyên can nhưng không biết khuyên ai, không biết phải khuyên thế nào.

Tôi hiểu Jumodaban, từ nhỏ con bé và Dharma đã gắn bó khắng khít, cùng nhau khôn lớn, cùng trải qua sóng gió, hoạn nạn.

Tình cảm sắt son, thanh mai trúc mã ấy, làm sao một cô công chúa ngoại tộc có thể xen vào được?

Nếu tôi là con bé, tôi cũng không thể chấp nhận chồng mình đến phòng của người phụ nữ khác.

Sự hẹp hòi, ích kỷ đàn bà ấy đều xuất phát từ chỗ con bé yêu thương Dharma sâu đậm.

Còn Bối Đan, con bé hơn Dharma bốn tuổi, cũng rất nóng lòng muốn sinh con.

Dharma lại dịu dàng, nho nhã, điển trai như vậy, Bối Đan sao có thể không yêu cho được?

Khúc mắc giữa ba người cứ rối như canh hẹ, chẳng thể tháo gỡ.

Mùa xuân năm thứ hai, Jumodaban sinh hạ một cậu con trai.

Đế sư trẻ tuổi Dharma vui mừng khôn xiết, đặt tên thằng bé là Devapala.

Mấy năm sau đó, Dharma bận rộn với trọng trách của một đế sư trong triều đình Hốt Tất Liệt, tổ chức các buổi lễ quán đỉnh cầu phúc cho hoàng thất nhà Nguyên và các ngày hội Phật giáo khác.

Bên cạnh đó, hằng ngày, Dharma vẫn đều đặn theo học Phật pháp nơi đại sư Dampa trong chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương.

Drakpa Odzer từ Giang Nam trở về, bẩm báo rằng, Dani đã thọ giới tại một ngôi đền Lạt Ma ở Hàng Châu, cậu ta được một số đệ tử Sakya chăm sóc.

Dani sống khép mình, không ai biết về thân thế thực sự của cậu ta.

Còn trong triều đình Hốt Tất Liệt, kể từ khi Nhà vua cho phép Chân Kim nắm quyền, sức ảnh hưởng của Thái tử ngày càng tăng cao.

Sau cái chết của Ahama, khát vọng chấp chính của Chân Kim ngày càng mãnh liệt.

Cậu ta đề xướng trị quốc theo đường lối của Nho giáo, đưa các cận thần người Hán của mình vào Trung thư tỉnh, phát triển Quốc tử giám, thuyết phục các quý tộc Mông Cổ học tập văn hóa của người Hán.

Với nỗ lực không mệt mỏi của Chân Kim, vương triều của Hốt Tất Liệt, trong một phạm vi nhỏ, đã xuất hiện mô hình trị quốc theo đường lối của Nho giao đúng như sự trông đợi của người Hán.

Nhưng thực hiện đường lối cai trị theo Nho giáo đồng nghĩa với việc phải giảm sưu thuế, giảm quân dịch.

Mà điều này thì hoàn toàn đi ngược với tham vọng vơ vét của cải của Hốt Tất Liệt.

Vì vậy, càng ngày Hốt Tất Liệt càng xét nét những việc làm của Chân Kim.

Sự bất đồng chính kiến về đường lối chính trị khiến cho tình cha con vốn rất khăng khít giữa họ ngày một rạn nứt.

Năm Dharma mười tám tuổi, Hốt Tất Liệt tiến hành cải tổ Trung thư tỉnh, điều động toàn bộ cận thần của Chân Kim đi nơi khác, kể từ đây, mâu thuẫn giữa hai cha con họ càng trở nên sâu sắc.

Đối với một người không hề nắm trong tay thực quyền như Chân Kim, hoàn cảnh của cậu ta mỗi lúc một nguy hiểm.

Chuyện nhà của Dharma cũng không mấy yên ổn.

Bối Đan và Jumodaban càng lúc càng ghét nhau ra mặt.

Bối Đan cậy mình thân phận cao quý hơn Jumodaban, Jumodaban ỷ mình sinh được con trai, được chồng yêu chiều nên cách phục trang, hành xử ngày càng lấn lướt quyền hành của người vợ cả.

Vậy là xảy ra tranh cãi liên miên khiến Dharma mệt mỏi không yên.

Tôi cũng muốn khuyên can nhưng có câu "việc quan dễ lo, việc nhà khó vẹn", huống hồ tôi đã mất gần hết linh khí, lại không thể mở lời trò chuyện, đành nhắm mắt làm ngơ trước cảnh nhà um xùm, ầm ĩ của Dharma.

Tôi vốn cho rằng, phụ nữ ghen tuông một chút cũng không sao.

Vả lại, bọn chúng còn trẻ, qua vài năm nữa, khi chúng đã trưởng thành và chín chắn hơn, những cuộc cãi vã như thế sẽ tự khắc mất đi.

Nhưng tôi đâu ngờ rằng, chính những tỵ hiềm nhỏ nhoi ấy đã nuôi lớn mầm họa sau này, khiến tôi, suốt mấy trăm năm sau, mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, vẫn khôn nguôi day dứt, ân hận.

Đầu thu năm 1285, Hốt Tất Liệt lệnh cho Dharma, khi ấy đã mười tám tuổi, trở về Sakya, tiếp tục củng cố chính quyền, thống nhất đất Tạng và chuẩn bị cho kế hoạch thiết lập nha Tuyên úy Wusi.

Jumodaban đòi đi cùng Dharma, Bối Đan cũng viện cớ muốn về thăm quê chồng.

Vì không muốn hai người vợ xảy ra tranh cãi, hơn nữa Deva còn nhỏ, Dharma quyết định không đưa ai đi cùng.

Trước lúc lên đường, tôi đến từ biệt Chân Kim.

Tôi vô cùng sững sốt khi bắt gặp gương mặt tiều tụy và hoảng sợ của Chân Kim.

Cậu ta gầy rộc đi, không còn nét hào hoa, đường bệ khi xưa nữa.

Tôi hốt hoảng:

- Chân Kim, đã xảy ra chuyện gì?

Cậu ta đưa mắt dò xét xung quanh như thể sắp có quân địch ập tới.

Sau khi xác định chắc chắn không có kẻ nào nghe lén, cậu ta mới thì thào với tôi trong nỗi sợ nơm nớp:

- Nghe nói, mấy hôm trước có đại thần người Hán nào đó dâng mật tấu, viết rằng, Bệ hạ tuổi đã cao nên nhường ngôi cho Hoàng thái tử.

- Sao kia?

Tôi thất kinh, lập tức nhận ra mức độ nghiêm trọng của sự việc.

- Kẻ nào to gán dám dâng tấu chương hỗn xược như vậy?

Hắn muốn hãm hại cậu ư?

- Không hẳn là cố tình hãm hại ta, vì triều đình Trung Nguyên vốn có truyền thống nhường lại ngôi báu.

Chân Kim vẫn còn rất tỉnh táo vì cậu ta không lớn tiếng thóa mạ kẻ dâng tấu chương đó, chỉ lắc đầu, ủ dột:

- Nhưng việc này không hợp với tục lệ của người Mông Cổ, người kế nhiệm ngôi vị Đại hãn phải được đại hội Kurultai bầu chọn sau khi Đại hãn tiền nhiệm qua đời.

Trước khi ngôi vị Đại hãn mới có chủ thì thái hậu có quyền nhiếp chính.

Thấy cậu ta phiền muộn, âu sầu, tôi gạn hỏi:

- Phụ hoàng của cậu phản ứng ra sao?

Chuyện này là nghiêm trọng hay nhẹ tựa lông hồng, tất cả đều do thái độ của Hốt Tất Liệt quyết định.

Tôi không ngờ, câu hỏi của tôi đã khiến Chân Kim sợ tới mức mồ hôi vã ra đầm đìa, giọng nói run rẩy:

- Phụ hoàng vô cùng phẫn nộ.

Gay go nhất là bè đảng của Ahama đã biết được chuyện này.

Bọn chúng dâng tấu yêu cầu làm sáng tỏ.

- Trời đất ơi, bọn chúng muốn thừa dịp hãm hại cậu đây mà!

Hố sâu ngăn cách giữa hai cha con Hốt Tất Liệt và Chân Kim càng khó lấp đầy sau những điều tiếng thế này.

Trong lịch sử, không hề hiếm chuyện cha con tàn sát lẫn nhau vì tranh giành ngôi vị!

- Phụ hoàng đã phê chuẩn bản tấu đó và lệnh cho Ngự sử đài phối hợp điều tra.

Toàn thân cậu ta run rẩy, vóc dáng cao lớn, lực lưỡng ngày nào bỗng trở nên hốc hác, héo mòn vì lo nghĩ.

- May mà đô sự Ngự sử đài là ngài Thượng Văn biết rõ việc này vô cùng nghiêm trọng, đã ra sức che đậy, để ngăn chặn những lời gièm pha không hay.

Nhưng nếu bè đảng của Ahama kiên quyết đòi điều tra đến cùng, e rằng tính mạng của cả nhà ta sẽ nguy mất!

Tôi không thể tin nổi, một người lạc quan, tự tin như Chân Kim lại trở nên yếu đuối như chim sợ cành cong, hồn bay phách lạc chỉ vì một bản tấu chương bí mật.

Tôi không biết phải an ủi cậu ta thế nào, đành an ủi bằng cách liếm láp gương mặt tiều tụy, râu ria lởm chởm của cậu ta.

- Chân Kim, đừng lo lắng, Mẫu hậu của cậu nhất định sẽ bảo vệ cậu.

Chân Kim thở dài:

- Mẫu hậu ngã bệnh rồi.

Ta không muốn người phải vì ta mà ưu phiền thêm nữa.

Tôi không khỏi ngạc nhiên.

Khabi ốm ư?

Nếu cô ấy thật sự có bệnh, chắc hẳn muốn viện cớ đau ốm để làm việc gì đó.

Triều đình đang trong cơn sóng gió là thế, cô ấy là hoàng hậu, không thể không biết chuyện.

Vì sao đúng lúc nguy cấp này, cô ấy lại ngã bệnh?

Tôi không kịp đến gặp Khabi vì phải theo Dharma lên đường về Sakya.

Tôi định lần tới về Đại Đô sẽ tìm cô ấy.

Lúc ra đi, gió bấc nổi lên, nền trời xám xịt, lòng người nhức nhối.

Tôi đâu ngờ rằng, chỉ mấy tháng ngắn ngủi sau đó, tôi đã mất đi tất cả người thân và bạn bè.

Mùa đông năm 1285, thời tiết vô cùng khắc nghiệt.

Đoàn người hộ tống Dharma về Sakya phải trải qua cuộc hành trình muôn vàn gian nan, giá rét cắt da cắt thịt.

Dharma vốn gầy yếu, chẳng thể kham nổi nỗi khóc nhọc ấy.

Thằng bé sốt cao liên miên, bệnh tình ngày một nghiêm trọng.

Nhưng vì không muốn trì hoãn nhiệm vụ Hốt Tất Liệt giao phó, thằng bé đã cắn răng, tiếp tục lên đường.

Đoàn chúng tôi vừa đến Dogans thì đột nhiên nhận được tin cấp báo từ Đại Đô.

Dharma đọc xong lá thư thì gào lên thảm thiết, hai mắt trợn ngược, ngã vật xuống.

Tôi lao đến lá thư, huyết quản như đông lại khi đọc hết dòng tin, đất trời như nghiêng ngả.

Điều tôi lo lắng nhất mà không có cách gì phòng bị đã xảy ra!

Sau khi Dharma rời khỏi Đại Đô, cuộc chiến không khoan nhượng tiếp tục diễn ra giữa Bối Đan và Jumodaban.

Bối Đan tìm được một "danh y", kê cho cô một đơn thuốc và bảo rằng có khả năng chữa bệnh vô sinh rất tốt.

Sau một thời gian dùng thuốc, Bối Đan truyền ngự y trong cung đến khám, và phát hiện ra mình đã hoàn toàn mất khả năng sinh nở.

Trong cơn phẫn uất, Bối Đan đã tóm được kẻ mệnh danh là thần y ấy và âm mưu của Jumodaban bị vỡ lở.

Để trả thù, Bối Đan không từ thử đoạn, tẩm thuốc độc vào đồ ăn cho Jumodaban, giết hại cả hai mẹ con Deva.

Lúc này, Bối Đan đã bị nhốt lại, chờ đế sư quay về xử trí.

Khi Dharma nhận được tin này thì hai mẹ con Jumodaban đã mất được hơn ba tháng, các đệ tử phái Sakya đã làm lễ hỏa táng cho cả hai.

Còn việc chôn cất họ ở đâu, phải xin chỉ thị của Dharma.

Hay tin, Drakpa Odzer và Dampa vội vã chạy đến đỡ Dharma lên.

Dampa ấn vào huyệt nhân trung của Dharma nhiều lần, thằng bé mới hồi tỉnh.

Dharma đờ đẫn một lúc lâu mới nhớ ra mọi việc, nước mắt như mưa, nó hét lên quằn quại:

- Về Đại Đô, về ngay lập tức!

...

Chàng trai trẻ nhìn đồng hồ:

- Đã bốn giờ sáng.

Cậu ta lại gần cửa sổ, xoa hai má, giữ cho mình được tỉnh táo rồi dõi mắt về phía những đỉnh núi sừng sững nơi đường chân trời xa tít.

- Sắp sáng rồi!

Tôi đăm đăm ngó theo bóng dáng cậu ta, cố kiềm chế nỗi xúc động, điềm tĩnh hỏi:

- Sắp kết thúc rồi, cậu muốn nghe tiếp chứ?

Cậu ta quay lại, quay ngược chiếc ghế tựa, ngồi xuống, mỉm cười:

- Phải nghe hết chứ, tôi hết buồn ngủ từ lâu rồi.

- Trước đây, các nhà sử học thường phê phán Ahama rất nghiêm khắc, thậm chí cuốn Lịch sử triều Nguyên đã liệt Ahama vào "Truyện về các gian thần".

Nhưng người đời sau không còn khắc khe như vậy nữa.

Tuy ông ta đã làm nhiều việc xấu nhưng sau khi chết, thi thể đã bị vằm nát, gia tộc bị liên lụy, trong khi nguyên nhân chính không phải do những việc ông ta đã làm.

Bởi vì người kế nghiệm vị trí của ông ta sau này như Lô Thế Vinh người Hán, Senge người Tạng đều chịu chung kết cục bị thảm như Ahama: cả nhà bị chém đầu, chín họ phải chịu tội.

Trong khi đó, những việc xấu của Lô Thế Vinh và Senge chỉ bằng một phần rất nhỏ so với Ahama.

Chàng trai trẻ trầm tư suy ngẫm:

- Nếu chỉ mình Ahama phải chịu kết cục như vậy, người ta có thể đổ lỗi cho nhân cách của ông ta.

Nhưng tất cả những người từng giữ chức tể tướng đều có kết cục bi thảm như vậy, có lẽ nguyên nhân chính nằm ở Hốt Tất Liệt.

Tôi gật đầu tán đồng:

- Cậu nói đúng lắm.

Nguyên nhân thực sự là người Mông Cổ có thói quen ban thưởng hậu hĩnh cho các tướng lĩnh của mình sau mỗi trận đánh.

Đây chính là lý do vì sao quân đội Mông Cổ tuy ít người nhưng ai nấy đều chiến đầu bất chấp tính mạng.

Hốt Tất Liệt vừa lập nước, bao nhiêu công thần đang chờ để được ban thưởng, ông ta kiếm đâu ra chừng ấy ngân lượng bây giờ?

Thế là, kẻ nào giúp ông ta vơ vét được nhiều của cải, ông ta sẽ trọng dụng người đó, bất kể hắn thuộc tộc người nào.

Nhưng cách thức vơ vét của cải ấy chắc chắn sẽ vấp phải sự phản đối của nhân dân và các nho sĩ người Hán.

Khi nỗi oán hận của người dân mỗi lúc một dâng cao, Hốt Tất Liệt bèn tìm cách giết đi một quân tốt thí mạng để xoa dịu lòng dân, sau đó lại tìm một kẻ khác giúp ông ta tiếp tục vơ vét của cải.

Chàng trai trẻ đưa ra nhận xét sắc sảo:

- Bởi vậy Hốt Tất Liệt mới là kẻ chủ mưu gây ra tội ác.

Tôi đau xót, thở dài:

- Chân Kim và Hốt Tất Liệt luôn bất đồng quan điểm về vấn đề này.

Mâu thuẫn giữa hai cha con họ càng lúc càng không thể cứu vãn, cuối cùng dẫn đến thảm kịch của Chân Kim.

Hết chương 61.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 62: Kết cục của từng người


“Kẻ yếu nếu dựa vào vĩ nhân,

Vẫn có thể thành công;

Hạt nước nếu hòa vào biển lớn,

Sẽ không bị cạn khô.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1286 – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ hai mươi ba, nhà Nguyên.

Chân Kim bốn mươi ba tuổi, Dharmapala mười chín tuổi.

Không thể đợi Dharma cùng về Đại Đô, vì quá nóng ruột, tôi đã lên đường đi trước.

Ngày 30 tháng 12 năm đó, tôi đã chạy hết tốc lực về Đại Đô bằng toàn bộ số linh khí ít ỏi vừa tích lũy được.

Khi tôi về đến nơi, Bối Đan đã bị nhốt trong phòng riêng của mình ở phủ Đế sư.

Nhờ thân phận cao quý, nó chỉ bị giam trong phòng, không được phép ra ngoài, còn sinh hoạt hằng này vẫn giữ nếp cũ, không có gì thay đổi.

Nó ngồi dưới nền đất lạnh, tựa lưng vào tường nhà, tóc tai rũ rượi, ánh mắt vô hồn, mùi hôi thối bốc lên từ đám áo quần lâu ngày không thay giặt.

Tôi gằn giọng, căm phẫn:

- Vì sao đứa bé mới ba tuổi mà ngươi cũng không chịu buông tha?

Nó mở mắt, đảo mấy vòng con ngươi mới nhận ra sự có mặt của tôi, gương mặt đờ đẫn không chút biểu cảm, khẽ nhún vai, ơ hờ:

- Ta gặp ảo giác chăng?

Hồ ly mà biết nói chuyện ư?

Tôi nhe nanh, dọa nạt:

- Ngươi chỉ cần trả lời ta, ngươi có yêu Dharma không?

Ngươi giết con trai nó, nó sẽ căm hận ngươi đến chết!

- Ta đâu có muốn giết Deva, ta chỉ hận mụ đàn bà người Tạng đó.

Ta đâu ngờ cô ta lại bón cho thằng bé ăn món bánh sữa ấy.

Gương mặt vô cảm của nó bất chợt suy sụp, nó ôm mặt khóc rưng rức.

– Ta chưa từng có ý định độc chiếm Dharma.

Ta chỉ cần chàng thi thoảng đến với ta là ta mãn nguyện lắm rồi.

Nhưng cô ta lại chỉ muốn giữ Dharma cho riêng mình, không cho chàng động vào người ta.

Cô ta ỷ mình là thanh mai trúc mã của chàng nên không coi ta ra gì, điều đó ta có thể nhẫn nhịn.

Nhưng vì sao cô ta lại cướp đi niềm hy vọng duy nhất của ta, khiến ta không thể sinh con?

Tôi muốn nguyền rủa, chửi bới nhưng không sao thốt nên lời khi nhìn thấy vẻ mặt tuyệt vọng của Bối Đan.

Tôi lắc đầu, gào khóc:

- Oan nghiệt, đúng là oan nghiệt!

Mukaton vì Kháp Na mà chết, giờ đây, cháu gái của cô ấy lại giết hại cháu trai của Kháp Na.

Phải chăng là báo ứng?

Ông trời bắt chúng tôi phải trả nợ cô ấy đúng không?

Trong cơn đau rụng rời, tôi chợt nghe thấy tiếng rên rỉ thống thiết của Bối Đan.

Quay lại nhìn, đã thấy máu đen ộc ra từ miệng nó.

Nó ôm bụng, nằm vật ra đất.

Tôi lập tức nhận ra mùi vị của cỏ đoạn trường.

Nó đã tự vẫn!

Bối Đan gắng gượng hé mắt, đăm đắm dõi theo một điểm bất định trong không trung, gương mặt thanh thản như vừa được giải thoát, trăng trối lời cuối cùng:

- Ta đã giết con trai của Dharma, ta có lỗi với chàng, ta sẽ đền tội bằng mạng sống của mình.

Gió bấc thét gào, ào ạt ùa vào căn phòng qua ô cửa sổ, thổi tung những cánh màn.

Bối Đan nằm rũ trên đất, hai mắt vẫn mở to nhưng hơi thở đã tắt lịm.

Tôi đứng đó, chứng kiến tất cả, toàn thân như đóng băng, không biết phải oán ai, hận ai, không biết còn kẻ nào vẫn sống để cho tôi oán hận nữa không.

Rất lâu sau, tôi mới bước lại, dùng chân trước vuốt mắt cho Bối Đan.

Món nợ của Kháp Na với Mukaton, món nợ của Bối Đan với Dharma đã trả hết.

Mọi hận thù sẽ theo gió trôi xa.

Sau khi Bối Đan ra đi, lẽ ra tôi phải lập tức trở về bên cạnh Dharma, nó gầy yếu là thế, lại bị cảm phong hàn, cộng với cơn chấn động thương tâm, làm sao nó chịu nổi, nhưng đúng lúc tôi chuẩn bị lên đường thì tin đồn Hoàng hậu lâm bệnh nặng lan truyền khắp kinh thành.

Tôi không tin đó là sự thật, đã chạy đến Cung điện của Khabi.

Tôi đinh ninh rằng cô ấy đang đóng giả, nhưng khi nhìn thấy mái tóc Khabi bạc trắng, thân hình cô ấy còm cõi, gầy mòn, tôi không khỏi sững sốt.

Chân Kim vẫn luôn túc trực bên mẹ, cần mẫn lau mồ hôi trên trán cho cô ấy.

Nhưng tình hình sức khỏe của Chân Kim cũng không khá hơn.

Mới hơn ba tháng không gặp, cậu ta đã chỉ còn da bọc xương, mới bốn mươi ba tuổi mà trông như người đã ngoài sáu mươi, nếp nhăn chồng chất, sức khỏe suy kiệt trầm trọng.

Trống ngực tôi đập thình thịch khi nhận thấy cái chết đang bao bọc lấy cậu ta, sống mũi cay sè vì xót xa.

Sự kiện “nhường ngôi” đã khiến Chân Kim sợ hãi rụng rời, e rằng cậu ta không còn sống được bao lâu nữa.

Nhận ra mùi hương của tôi, Khabi đột nhiên mở mắt, thấy tôi náu mình phía sau tấm màn, cô ấy khẽ gật đầu với tôi, sau đó lệnh cho tất cả ra ngoài.

Chân Kim không chịu rời khỏi đó, Khabi đã phải dùng đến mệnh lệnh, buộc người hầu của phủ Thái tử đưa Chân Kim về nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.

Khi chỉ còn lại hai chúng tôi, tôi đến bên cô ấy, cất giọng run run:

- Khabi, cô làm sao vậy?

Gương mặt già nua, nhăn nheo của cô ấy khiến người ta không khỏi xót xa cho một tuyệt sắc giai nhân ngày nào.

Cô ấy cất giọng khổ sở:

- Ta không còn sống được bao lâu nữa.

Tôi không tin nổi.

- Sao lại như vậy?

Cô là hồ ly thiêng, tuổi thọ của cô không thể ngắn ngủi như vậy.

Cô ấy cười chua chát:

- Ta sẽ sống rất thọ nếu ta không chống lại ý trời, ra sức thay đổi vận mệnh của Chân Kim.

Tôi thót tim:

- Thay đổi vận số của một người là làm trái ý trời.

Sao cô lại hồ đồ như vậy?

Công sức tu luyện bao năm của cô sẽ đổ xuống sông xuống biển, cả hồn phách của cô cũng tan thành mây khói.

- Ta biết rõ hậu quả, nhưng cô cũng làm mẹ, cô hiểu vì sao ta phải làm vậy, đúng không?

Cô ấy nghẹn ngào, ôm mặt khóc nức nở:

- Chân Kim cũng không sống được bao lâu nữa.

Lòng tôi thắt lại, tôi bật khóc:

- Cô có thể truyền linh khí để duy trì sự sống cho cậu ấy...

Cô ấy ngắt lời tôi, ánh mắt rực sáng long lanh trong khoảnh khắc hấp hối sau cùng:

- Cô chấp nhận tiêu hao quá nửa linh khí, thậm chí bị đẩy trở lại nguyên hình cũng chỉ có thể duy trì sự sống của Bát Tư Ba ba năm.

Ta không khờ như cô đâu, ta muốn được thấy Chân Kim lên ngôi, thực hiện hoài bão trị quốc bấy lâu nay của nó!

Tôi thấu hiểu nỗi lòng của cô ấy.

Suốt ba năm đánh vật với số phận để duy trì sự sống cho Bát Tư Ba, với ý nghĩ chàng có thể rời xa tôi bất cứ lúc nào, trái tim tôi như tan nát, rã rời.

Cảm giác tuyệt vọng, đau đớn ấy, tôi không biết phải chia sẻ cùng ai.

Tôi cũng không biết mình đã vượt qua bằng cách nào.

Khabi đột nhiên ủ rũ, sắc mặt thẫn thờ, lắc đầu cay đắng:

- Ta những tưởng có thể liều mạng giúp nó nhưng kết cục, không những không thay đổi được số mạng của nó, mà ngay cả bản thân cũng bị trời trừng phạt.

Trái mệnh trời thì không thể sống sót.

Tôi khóc ròng, hỏi cô ấy:

- Hãy nói với tôi, cô còn tâm nguyện gì chưa hoàn thành, tôi sẽ giúp cô.

- Tâm nguyện của ta...

Cô ấy thều thào, nhìn tôi không chớp mắt, rồi gật đầu chắc nịch.

– Đúng rồi, cô có thể giúp ta.

Vừ dứt lời, cô ấy lập tức xoay người lại, hóa phép trở lại nguyên hình, thành một hồ ly màu lam tạp chủng rất đẹp, cơ thể lớn gấp đôi tôi.

Cô ấy nhả ra một viên ngọc bảy màu lung linh, rực rỡ.

Viên ngọc trôi lửng lơ trước mặt cô ấy, linh khí dần tụ lại, đó là viên nội đan, viên ngọc bay vút lên đầu tôi, thâm nhập vào bên trong qua vết sẹo hình hoa sen trên trán.

Tôi kinh ngạc, vội đưa tay lên chạm vào vết sẹo nhưng chẳng thể lôi viên ngọc ra được nữa.

Tôi lo lắng, nạt nộ:

- Khabi, sao cô làm vậy?

Khabi đổ người xuống giường, bộ lông màu lam lập tức chuyển thành màu trắng, gương mặt cô ấy vằn vện những nếp nhăn.

Cô ấy khép mắt, giọng nói yếu ớt, già nua:

- Tiểu Lam à, hấp thụ nội đan của ta, cô có thể khôi phục hình dáng con người.

Ta xin cô, hãy đi gặp Chân Kim.

Nó sẽ rất vui mừng nếu được thấy cô.

Tôi vừa khóc vừa gật đầu:

- Được, tôi sẽ truyền linh khí của cô cho Chân Kim...

- Không cần đâu.

Không thực hiện được hoài bão trị quốc, nó quyết không chấp nhận cuộc sống sống mà như chết đó đâu.

Khabi thốt ra từng tiếng rất đỗi khó khăn.

– Chỉ cần cô chịu ở bên nó những ngày cuối cùng của cuộc đời nó, để nó ra đi thanh thản, không còn gì nuối tiếc là ta mãn nguyện lắm rồi.

Nguồn linh khí dồi dào lan tỏa trong cơ thể tôi, cảm giác quen thuộc ùa tới, tôi cúi đầu và nhận ra làn da trắng nõn, mái tóc màu lam óng ánh lúc xưa, tôi đã lấy lại hình hài con người.

Tôi ôm Khabi, nức nở:

- Khabi, cô bảo tôi tiếp tục sống chỉ để ở bên Chân Kim mấy ngày cuối đời thôi ư?

Họ ra đi cả rồi, cô cũng bỏ tôi mà đi, chỉ còn lại một mình trên cõi đời vô nghĩa này, tôi sống làm gì nữa!

- Tiểu Lam, đừng tuyệt vọng, hãy sống tiếp bằng nội đan của ta và chờ họ chuyển thế đầu thai.

Nếu trong lòng họ luôn nhớ đến cô, họ nhất định sẽ tới tìm cô.

Gương mặt hiền từ của cô ấy hướng về phía tôi, khóe môi nở nụ cười đôn hậu:

- Đừng buồn cho ta.

Nhờ thân phận của Khabi, ta đã được tận hưởng mọi vinh hoa, phú quý, buồn vui, yêu ghét của cuộc đời này.

Nay ta chỉ còn một việc sau cuối muốn cậy nhờ cô.

Hãy hóa phép tạo ra thi thể của ta.

Hôm nay, Hoàng hậu Khabi sẽ tạ thế...

Giọng nói của cô ấy yếu dần rồi tắt lịm, cơ thể cô ấy lạnh ngắt trong vòng tay tôi.

Tôi ngửa đầu lên trời, nước mắt giàn giụa, tôi đã mất đi người bạn tốt nhất trên đời. [1]

[1] Hoàng hậu Khabi qua đời năm 1281, để đảm bảo tính logic của cốt truyện, tác giả đã đẩy lùi mốc thời gian này thành năm năm sau

Cái chết của Khabi khiến Hốt Tất Liệt vô cùng đau buồn.

Khabi đã gắn bó với ngài hơn bốn mươi năm, luôn là hậu phương vững chắc của ngài.

Hốt Tất Liệt truy tôn Khabi là Hoàng hậu Chiêu Duệ Thuận Thánh, hạ lệnh ngày sau sẽ chôn cất cùng Nhà vua.

Chân Kim yêu mẹ sâu sắc, nên tin buồn này khiến cậu ta suy sụp.

Bởi vậy, tháng một năm 1286, Chân Kim qua đời ở Đại Đô, không kịp dự tang lễ của mẹ mình.

Nhận lời ủy thác của Khabi, tôi đã ở bên Chân Kim trong ba ngày cuối cùng của cuộc đời cậu ấy.

Chân Kim ra lệnh cho vợ con và toàn bộ người hầu rời khỏi phủ Thái tử, cả phủ đệ rộng lớn chỉ còn lại hai người.

Chúng tôi nắm tay nhau, nhìn nhau qua làn nước mắt, trong căn phòng ấm cúng.

- Mai nở đẹp quá, cậu có thấy thế không?

Tôi đẩy xe lăn gỗ, đưa Chân Kim ra vườn ngắm hoa mai nở rộ.

Chúng tôi dừng lại dưới một gốc mai đỏ thắm.

Tôi khoác áo choàng nhung, lại gần một khóm mai, ngắt một bông, đưa cho Chân Kim:

- Đẹp không?

Chân Kim ngồi trên xe lăn, sắc mặt vô cùng võ vàng, tiều tụy, khoác trên người nhiều lớp áo dày cộm, ánh mắt di chuyển chậm rãi từ khóm mai sang gương mặt tôi, rồi ngừng lại rất lâu:

- Tiểu Lam, em còn đẹp hơn cả hoa mai.

Ta thật hạnh phúc vì trước khi ra đi lại được thấy em trong hình dáng con người.

Tôi buồn bã cúi đầu, đặt hai tay lên bàn tay giá lạnh của cậu ấy:

- Đừng khờ như vậy, cậu còn rất nhiều tâm nguyện chưa hoàn thành, cậu nhất định sẽ vượt qua khó khăn này.

Cậu ấy đặt tay mình lên bàn tay tôi, nước mắt long lanh:

- Đừng giấu ta nữa.

Ta biết mình chỉ còn sống được một vài ngày nữa thôi.

Ta những muốn thay thượng sư chăm sóc em nhưng tiếc thay, khi em khôi phục được hình dáng con người, ta lại không còn bao nhiêu thời gian nữa.

Tôi ngồi xuống trước mặt cậu ấy, gác đầu lên cánh tay cậu ấy:

- Chân Kim, xin lỗi vì tôi đã không đền đáp được ân tình mà cậu dành cho tôi.

Bàn tay cậu ấy run run vuốt ve gương mặt tôi, nụ cười dịu dàng nở trên khóe môi:

- Ta không mong đợi em sẽ yêu ta.

Trước lúc ra đi, có em ở bên ta thế này, ta mãn nguyện lắm rồi.

Cậu ấy ngước nhìn bầu trời xanh bao la, đôi mắt mỏi mệt chất chứa niềm nuối tiếc:

- Điều khiến ta day dứt duy nhất là ta đã không thể thực hiện đường lối cai trị theo Nho giáo.

Người Mông Cổ chỉ có thể quản lý tốt quốc gia rộng lớn này bằng Nho giáo và phải hòa nhập với người Hán.

Nếu không, thế nước chẳng thể bền lâu.

Đáng tiếc thay, các hoàng đế triều Nguyên sau này tuy đều là cháu con của Chân Kim, nhưng không ai có được tầm nhìn xa và tài thao lược như cậu ấy, nên chưa đầy một trăm năm sau, người Mông Cổ đã bị đánh bật trở lại vùng sa mạc phía bắc, kết thúc sự thống trị của triều đình nhà Nguyên ở Trung Nguyên.

Tôi ngập ngừng một lát rồi quyết định bày tỏ lòng mình:

- Chân Kim, thời gian ít ỏi còn lại, cậu nên dành cho vợ và các con mình.

Họ rất quan tâm, lo lắng cho cậu, nhất là Khoát Khoát Chân.

Chắc chắn cô ấy cũng muốn được ở bên cậu trong khoảnh khắc thiêng liêng cuối cùng.

Chân Kim nghiêng đầu ho khan, ho cả ra máu.

Dù mệt mỏi tột độ, cậu ấy vẫn gắng gượng mỉm cười, gật đầu với tôi, bàn tay nắm chặt tay tôi dần buông lơi.

Tháng một năm 1286, Chân Kim qua đời.

Trong nỗi day dứt, ân hận tột cùng, Hốt Tất Liệt đã thẳng tay trừng trị bè lũ Ahama, những kẻ rắp tâm đòi điều tra vụ án “nhường ngôi”.

Hốt Tất Liệt còn lập con trai út của Chân Kim là Thiết Mộc Nhĩ làm Hoàng thái tôn.

Sau khi Hốt Tất Liệt qua đời, Thiết Mộc Nhĩ lên ngôi hoàng đế, hiệu là Nguyên Thành Tông.

Từ đó về sau, bất luận việc kế ngôi của triều Nguyên rối ren chừng nào, ngôi vị hoàng đế vẫn chỉ do cháu con của ba người con trai của Chân Kim luân phiên kế vị.

Triều Nguyên có tổng cộng mười vị hoàng đế đều là huyết mạch của Chân Kim.

Trong lịch sử Trung Quốc, Chân Kim là hoàng thái tử đặc biệt.

Cậu ấy thông minh, hiểu biết, nuôi hoài bão trị quốc lớn lao, từng là niềm hy vọng của các đại thần người Hán.

Tiếc thay, Chân Kim mất khi tuổi đời còn quá trẻ, khiến người đời sau không khỏi thương tiếc, xót xa.

Sau khi Chân Kim qua đời, triều Nguyên bắt đầu suy yếu.

Tôi hóa phép giấu đi mái tóc và đôi mắt màu lam, bước vào trạm nghỉ Qemin ở Dogans với tâm trạng vừa lo lắng vừa hồi hộp.

Vậy là tôi đã lấy lại được hình dáng con người, vậy là tôi có thể đường hoàng ở bên Dharma với thân phận của Lam phu nhân.

Và biết đâu, tôi sẽ có dịp nói cho thằng bé biết, tôi mới là mẹ ruột của nó.

Nhưng tôi đã rất đỗi sững sờ khi vừa bước vào cửa chính của trạm nghỉ.

Lá cờ tang màu đen bay trên cao, dựa vào cột cao và độ lớn của lá cờ, tôi biết đây chắc chắn là tang lễ của một nhân vật quan trọng.

Một dự cảm không lành dâng trong lòng tôi.

Những vuông lụa trắng treo khắp nơi trong trạm nghỉ, tất cả đều mặc tang phục.

Tôi hốt hoảng túm tay người đi bên cạnh:

- Cho ta biết, ai qua đời?

Người đó quay lại, râu ria lởm chởm, hai mắt sưng đỏ, thì ra là Drakpa Odzer.

Cậu ta kinh ngạc khi nhận ra tôi:

- Lam phu nhân về khi nào vậy?

Vì sao đã mấy năm mà dung mạo của phu nhân vẫn không hề thay đổi?

Tôi không buồn trả lời cậu ta, đặt tay lên ngực, hỏi dồn:

- Là ai?

Cậu ta nghẹn ngào hồi lâu mới bật khóc thảm thiết:

- Là... là pháp vương...

Tôi như bị vạn mũi tên đâm xuyên qua tim, máu huyết dâng lên cổ họng, phun trào ra miệng, thấm đẫm ngực áo.

Tôi bóp chặt cánh tay Drakpa Odzer, giọng nói lạc đi:

- Xảy ra khi nào?

- Pháp vương viên tịch lúc nửa đêm hôm qua.

Drakpa Odzer quỳ sụp xuống, dập đầu tới tấp, máu túa ra đầy trán, vừa gào khóc vừa bẩm báo:

- Bị cảm phong hàn nhưng pháp vương vẫn buộc chúng tôi tăng tốc trở về Đại Đô, ai khuyên can thế nào ngài cũng không nghe.

Giữa chốn thâm sơn cùng cốc, chẳng thể tìm được lương y.

Lúc đến trạm nghỉ, bệnh tình của pháp vương đã vô cùng nguy kịch, đến nửa đêm thì...

Tôi lảo đảo, bước chân như trên mây, mọi thứ xung quanh trở nên mờ nhạt, tôi lẩm bẩm trong vô thức:

- Pháp vương đang ở đâu?

Mau đưa ta đi gặp!

Drakpa Odzer dìu tôi vào phòng Dharma.

Dampa đang quỳ trước giường, cất giọng thê thiết:

- Đã thay xong y phục cho pháp vương.

Tôi lảo đảo lại gần, lúc nhìn thấy gương mặt trắng bệch của thằng bé, giống gương mặt của Kháp Na như hai giọt nước, tôi như muốn ngất đi.

Tôi đưa tay run rẩy vuốt ve gương mặt con trai, da thằng bé lạnh thấu xương, tôi bật lên tiếng kêu thương xé ruột:

- Con trai của ta, con trai của ta, nó mới mười chín tuổi, còn chưa hoàn thành tâm nguyện của cha và bác nó, nó còn rất nhiều việc phải làm, cơn cớ gì ông trời lại bắt nó ra đi sớm như vậy!

Số phận thật trớ trêu!

Nếu tôi không ở lại Đại Đô, tiễn đưa Chân Kim đi hết chặng đường cuối cùng của cuộc đời cậu ấy, mà sớm trở về với con trai tôi thì tôi đã có thể cứu được nó.

Nhưng giờ đây, khi hồn phách của nó đã tan, tôi chẳng làm gì được nữa!

Đây là ý trời ư?

Ông trời muốn dòng dõi của Bát Tư Ba phải tuyệt tự tuyệt tôn sao?

Tôi muốn khóc cho nghiêng ngả đất trời, khóc mãi cho tới khi đêm xuống, khi giọng đã khản đặc, mới quay ra hỏi:

- Pháp vương có trăng trối điều gì không?

Dampa lau nước mắt, đáp:

- Pháp vương để lại di chúc rằng: hỏa táng ngài, rồi đem tro cốt về Sakya, chôn cất cùng với vợ và con trai ngài.

Cổ họng đau rát, tôi gật đầu mệt mỏi:

- Ta sẽ đưa pháp vương về lại nơi chôn nhau cắt rốn của ngài!

Rồi tôi tỉ mỉ vuốt lại cho phẳng phiu từng nếp áo cà sa trên người con trai, ghé sát tai nó thì thào:

- Dharma, mẹ về với con đây, mẹ sẽ luôn ở bên con...

Nhưng nó không còn nghe thấy lời tôi nữa.

Vì sao tôi không nói cho nó biết từ sớm?

Vì sao tôi lại đắn đo nhiều như vậy?

Nếu tôi biết duyên phận mẹ con tôi ngắn ngủi thế này thì mười chín năm qua, tôi đã không lãng phí quá nửa thời gian mẹ con được bên nhau.

Trên giàn gỗ, hình ảnh Bát Tư Ba trong bộ y phục tăng ni màu sẫm đỏ năm nào chuyển thành hình ảnh Dharma.

Tôi châm ngọn đuốc vào đám cỏ và nhìn ngọn lửa cướp đi niềm kỳ vọng lớn nhất của ba chúng tôi.

Rồi tôi quỳ xuống, ngửa mặt lên trời, nước mắt lã chã, thấm ướt khăn áo.

Mùa thu năm 1286, tôi đưa tro cốt của Dharma trở lại Sakya.

Nửa năm sau, tro cốt của Jumodaban và Deva cũng về tới.

Trong gian điện xây cất linh tháp, đã có thêm một tòa tháp hoàng kim khác.

Điện thờ trống trãi, hoang vắng năm xưa, nay đã có tới ba tòa tháp, không gian bớt cô quạnh hơn.

Một tay nắm chặt viên ngọc Linh hồn, một tay siết chặt chiếc vòng tay hình hoa sen, tôi đứng giữa gian điện rộng lớn, chầm chậm cất bước.

Từ Kháp Na đến Bát Tư Ba rồi đến gia đình Dharma, từng người từng người một, hết vòng này đến vòng khác.

Nơi đây có tất cả người thân của tôi.

Kể từ ngày có được hình hài con người, tôi đã trải qua bao lần sinh ly tử biệt.

Giờ đây, khi người thân đều đã qua đời, bạn bè đều khuất bóng, tôi không còn gì để lưu luyến với nhân gian này.

Có tiếng bước chân vang lên trong gian điện, tôi nhận ra đó là Drakpa Odzer và Dampa.

Hai người bước vào, vái lạy tôi.

Drakpa Odzer đau buồn cất tiếng:

- Thưa phu nhân, vị trí đế sư hiện đang khuyết, Dharma lại không có con trai nối dõi, Bệ hạ lệnh cho tôi kế nhiệm chức vị này, vài hôm nữa tôi phải lên đường đến Đại Đô nhậm chức.

Tôi gật đầu trong vô thức.

Drakpa Odzer do dự hồi lâu mới lấy hết cam đảm góp ý:

- Thưa phu nhân, mất đi người thừa kế, địa vị của phái Sakya trong triều đình nhà Nguyên tất sẽ lung lay.

Chúng ta buộc lòng phải suy xét cho đại cục.

Tuy chuyện này rất khó nói nhưng vì tương lai của giáo phái, Drakpa Odzer buộc lòng phải lên tiếng.

Cậu ta ngừng lại một lát để chọn cách diễn đạt sao cho ổn thỏa:

- Giờ đây, phái Sakya chỉ còn một người thừa kế duy nhất.

Tôi ngẩng đầu:

- Dani ư?

Dampa bước lên một bước, quỳ xuống:

- Dani là người thừa kế duy nhất của phái Sakya.

Dù cậu ta và cha mình có gây ra bao tội lỗi thì đó đều là chuyện nội bộ của giáo phái, đối với người ngoài, cậu ta vẫn là hậu duệ, là huyết mạch của giáo phái chúng ta.

Tôi bật cười mỉa mai:

- Cậu muốn Dani trở về kế thừa ngôi vị pháp vương đúng không?

Drakpa Odzer cũng bước tới và quỳ xuống, cầu xin:

- Xin phu nhân hãy vì tương lai của giáo phái mà gạt bỏ mọi ân oán trước kia.

Tôi đưa mắt về phía tòa linh tháp cao nhất, đồ sộ nhất, cất giọng lạnh lùng:

- Bát Tư Ba đã ra lệnh đuổi Dani, vì thế cậu ta không thể kế thừa ngôi vị pháp vương.

Chúng ta không thể làm trái di mệnh của Bát Tư Ba.

Cả hai người đều sững sờ, vẻ mặt thất vọng.

Dampa định mở lời nhưng tôi đã ngăn cậu ta lại:

- Nhưng cậu nói phải, phái Sakya chỉ còn Dani là người kế thừa duy nhất...

Tôi hít thở sâu vài lần, đưa mắt về phía tòa linh tháp sau cùng:

- Hãy đón nó về Sakya, chọn cho nó vài thê thiếp, để nó sinh con trai kế nghiệp phái Sakya.

Hai người nhìn nhau, vui mừng, xúc động, cúi đầu thưa:

- Tạ ơn Lam phu nhân!

Phu nhân quả là người rộng lượng, sáng suốt!

Drakpa Odzer đề nghị:

- Tôi biết Dani ở đâu, tôi sẽ lập tức phái người đi đón cậu ấy.

Dampa gật đầu, hướng mắt về phía tôi, đề nghị:

- Trước khi pháp vương mới chào đời và đủ trưởng thành để gánh vác trọng trách, xin Lam phu nhân hãy đứng ra lo liệu công việc của giáo phái!

Tôi lắc đầu, cất giọng u buồn:

- Ngày mai ta sẽ rời khỏi đây.

Cả hai người cùng thốt lên kinh ngạc:

- Lam phu nhân...

Tôi ngắt lời họ, bước ra khỏi điện thờ, không quay đầu lại, chỉ lưu lại câu nói sau cùng này:

- Phái Sakya và ta đã không còn quan hệ gì nữa!

Về sau, Drakpa Odzer tới Đại Đô nhậm chức đế sư.

Cậu ta là người can đảm, trung thành nên rất được Hốt Tất Liệt tin dùng.

Drakpa Odzer có công lao rất lớn trong việc duy trì chức vị đế sư của dòng họ Khon trong suốt các đời vua nhà Nguyên.

Sau khi trở lại Sakya, Dani đã cưới bảy người vợ, sinh được mười hai người con trai.

Hai mươi tám năm sau khi Dani qua đời, con trai của Dani là Lotro Gyaltsen đã kế nhiệm vị trí đế sư.

Đây là hậu duệ dòng họ Khon đầu tiên kế nhiệm chức vị đế sư kể từ sau khi Dharmapala viên tịch.

Từ đó cho đến khi nhà Nguyên sụp đổ, tất cả các đời đế sư đều do con cháu nhà họ Khon đảm nhiệm.

Dampa trở thành nhân vật nổi tiếng dưới thời Hoàng đế Hốt Tất Liệt và Nguyên Thành Tông Thiết Mộc Nhĩ.

Sau khi viên tịch đã được truy phong làm quốc sư.

Mấy mươi năm sau đó, thực lực của phái Sakya càng ngày càng suy yếu.

Đám con cháu đông đúc của Dani chỉ lo tranh giành quyền lực.

Đế sư mới kế nhiệm Lotro Gyaltsen quyết định chia các anh chị em cùng cha khác mẹ của mình thành bốn Labrang: Khitu, Lakhang, Rinqinka và Duqu.

Sau đó, chia đều quyền lực và tước vị cho các con trai của bốn người vợ của mình.

Labrang Khitu thừa hưởng pháp tọa của đền Sakya, Labrang Lakhang thừa hưởng chức vị đế sư, Labrang Rinqinka và Labrang Khitu chia nhau quyền thừa kế pháp tọa của phái Sakya, Labrang Duqu thừa hưởng tước vị Bạch Lan Vương.

Dưới tòa pháp tọa tổng bộ của đền Sakya là các Labrang nhỏ, có chủ nhân của riêng mình, cứ thế cha truyền con nối.

Các Labrang có quyền cai quản thuộc dân, trang viên và thành lũy của riêng mình.

Những người này có cùng nguồn cội, tiên tổ nhưng trải nhiều đời, từ anh em ruột đến anh em họ, rồi anh em họ xa, cách nhau hàng mấy đời, sức gắn kết nội bộ cứ lỏng dần.

Tuy phái Sakya vẫn nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của triều Nguyên, các Labrang đều giữ những chức vị cao, vượt xa vị trí của mười ba vạn hộ hầu đất Wusi nhưng cách phân chia này đã làm suy yếu thực lực của giáo phái.

Đúng lúc đó, chỗ dựa vững chải nhất của phái Sakya là triều đình nhà Nguyên bắt đầu suy yếu, không thể tiếp tục hỗ trợ và nâng đỡ cho phái Sakya cả về kinh tế và quân sự như trước nữa.

Cuối thời nhà Nguyên, Vạn hộ hầu Phaktru vùng lên mạnh mẽ.

Đứng trước kẻ địch hung hãn, lớn mạnh, điểm yếu và sự chia rẽ trong nội bộ phái Sakya đã bộc lộ rõ nét.

Phái Sakya tan rã nhanh chóng.

Tôi quay về quê hương, vùng núi Côn Luân, dựng một căn nhà cỏ, sống đời ẩn dật.

Ba mươi năm sau, vào một đêm gió tuyết thét gào, tôi cứu được một chàng trai trẻ trên đường đi.

Buổi tối hôm đó, tôi kể cho chàng trai nghe toàn câu chuyện cuộc đời mình.

Câu chuyện kết thúc trước lúc gà gáy và tôi tháo viên ngọc Linh hồn đeo trên cổ, đưa cho chàng trai xem.

Người đó rơm rớm nước mắt khi ngắm nhìn viên ngọc rồi run rẩy đứng lên, kéo tôi vào lòng, siết chăt:

- Cuối cùng ta đã tìm được em...

Tôi áp tai mình vào bờ ngực chàng, lắng nghe tiếng trái tim chàng đập rộn ràng, nước mắt tuôn rơi, nụ cười nở trên môi:

- Cuối cùng em đã chờ được chàng...

Hết chương 62.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 63: Không phụ Như Lai không phụ nàng


Mùa đông năm 2020, tại một hẻm núi sâu, vắng người qua lại, trên dãy Côn Luân.

Tôi ngẩng lên nhìn qua khung cửa sổ, một dải màu đỏ rực đang hiện trên dãy núi phía xa, mây đen nhuốm vàng tươi làm nền cho màu xanh sẫm nơi đường chân trời.

Tôi đứng lên, chầm chậm cất bước về phía cửa sổ, tủm tỉm cười:

- Trời sáng rồi!

Quay đầu lại thấy chàng trai trẻ đang run rẩy, nhìn mình đăm đắm, đôi mắt ngấn nước, rưng rưng rồi tuôn trào, vỡ òa.

Tôi mỉm cười, ngóng đợi:

- Chàng nhớ ra rồi, phải không?

Người đó đứng lên, chao đảo, ấp úng:

- Ta… ta là… ta là…

Tôi tháo viên ngọc Linh hồn đeo trước ngực, ánh sáng bảy màu lấp lánh tỏa rạng, quầng sáng xoay nhiều vòng quanh chàng trai rồi đột ngột thâm nhập vào vùng ngực chàng, viên ngọc Linh hồn trên tay tôi lập tức biến mất.

Chàng trai đặt tay lên ngực, thở gấp, giọng chàng nức nở:

- Ta nhớ ra rồi, nhớ ra tất cả rồi.

Đây là kiếp luân hồi thứ bao nhiêu?

- Thứ mười lăm đó chàng.

Chàng run rẩy vuốt ve gương mặt tôi:

- Em vẫn chờ ở đây như mọi khi ư?

- Vâng.

Em không đi đâu hết, em chỉ ở đây chờ chàng, chờ được ở bên chàng.

Ngắn thì hai mươi năm, dài thì trăm năm.

Có lần nửa đêm chàng đã thiếp đi, lúc tỉnh lại, chẳng còn nhớ gì cả, rồi chàng từ biệt em và ra đi mãi mãi.

Từ đó em mới biết rằng, mỗi lần chàng đến tìm em, em phải kể hết toàn bộ câu chuyện trước khi trời sáng.

Nếu không, chàng sẽ không thể nhớ ra và em sẽ phải chờ kiếp sau nữa.

Tôi mỉm cười mãn nguyện.

– Nhưng tuổi thọ của em rất dài, em không ngại chờ đợi.

Lúc chàng không đến, em dành thời gian suy nghĩ xem nên kể câu chuyện theo cách nào thì hấp dẫn nhất để chàng không thấy tẻ nhạt mà thiếp đi giữa chừng…

Chàng siết chặt tôi thêm nữa, như thể chỉ cần khẽ buông lơi là tôi sẽ biến mất khỏi cuộc đời này.

Giọng chàng nghẹn ngào:

- Sau khi ta chết, em lại tiếp tục chờ đợi như vậy sao?

- Chàng nghĩ em sẽ trường sinh bất tử chắc?

Tôi phì cười, đập khẽ vào ngực chàng.

– Không đâu!

Đây là lần cuối cùng.

Em chỉ sống được mấy chục năm nữa thôi, chàng xem, tóc em đã bạc trắng cả rồi này.

Vả lại, ngọc Linh hồn sắp cạn linh khí, chàng cũng không thể đầu thai chuyển thế được nữa.

Chàng đẩy tôi ra xa một đoạn, đón lấy một lọn tóc của tôi, mái tóc màu lam mềm mượt như rong biển nay đã biến thành màu trắng toát.

Tôi bật cười khi nhìn vẻ mặt kinh ngạc xem lẫn xót xa của chàng:

- Chàng sao vậy?

Có phải chàng chê em già nua không?

Hay chàng đang nuối tiếc vì không thể đầu thai chuyển thế được nữa?

Chàng vội vã thanh minh:

- Làm gì có chuyện đó!

Dù dung mạo của em có thay đổi thế nào đi nữa, em vẫn mãi là bông hoa đẹp nhất trong lòng ta.

- Chàng nói đấy nhé!

Tôi nắm chặt tay chàng trong niềm hạnh phúc vô bờ.

– Đời người ngắn ngủi xiết bao, chúng ta hãy trân trọng từng khoảnh khắc bên nhau, để không phải tiếc nuối, cũng không mong cầu được chờ nhau hết kiếp này đến kiếp khác.

Chàng gật đầu cả quyết, lồng tay chàng vào tay tôi.

- Em nói đúng, chúng ta hãy sống thật vui vẻ, không chờ đợi kiếp sau, không nuối tiếc.

Ánh ban mai tràn vào căn phòng nhỏ, nắng vàng rực rỡ bao phủ lấy hai chúng tôi.

Chàng giơ cao đôi bàn tay siết chặt của chúng tôi, chiếc vòng tay hình hoa sen lấp lánh muôn sắc dưới ánh mặt trời.

Chúng tôi nhìn nhau và cười, bóng đôi lứa in trên tấm rèm lụa cửa sổ.

“Tự khủng đa tình tổn phạm hành, 

Nhập sơn hựu phạ ngộ khuynh thành。 

Thế gian an đắc song toàn pháp, 

Bất phụ như lai bất phụ khanh.”

HOÀN TOÀN VĂN.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Lời tâm sự của tác giả


Đôi lời tâm sự của tác giả về

ĐỨC PHẬT VÀ NÀNG: HOA SEN XANH

Tôi đã nghiền ngẫm cốt truyện Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh suốt bốn năm.

Đây là câu chuyện mà tôi rất thích.

Để viết nên cuốn tiểu thuyết này, tôi đã đọc, tìm hiểu và nghiên cứu rất nhiều tài liệu về Tây Tạng, về dân tộc Tạng và về triều Nguyên – Trung Quốc.

Sau khi cuốn sách ra đời, tôi nhận được không ít thư của bạn đọc bày tỏ những thắc mắc về cuốn truyện.

Vậy nhân đây, tôi xin được viết đôi dòng chia sẻ cùng các bạn:

1.

Vì sao Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh lại có đến hai nhân vật nam chính?

Sự thực là tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này.

Các tiểu thuyết “ngôn tình” được xem là “chính tông” thường chỉ có một nhân vật nam chính, vì các nhân vật nữ chính của chúng ta đều ước mong: “suốt đời suốt kiếp chỉ hai ta”.

Bản thân tôi cũng vậy.

Bởi vậy, lúc đầu tôi dự định để Kháp Na xuất hiện trong tiểu thuyết đúng như sự thực lịch sử: kết hôn với Kangtsoban và qua đời khi chưa thấy mặt con.

Nhưng nếu làm vậy thì thật tàn nhẫn với Kháp Na.

Khi tìm hiểu về cuộc đời Bát Tư Ba, tôi cứ hoài trăn trở: vấn đề nối dõi tông đường vô cùng quan trọng với phái Sakya, vậy thì vì sao mãi đến năm hai mươi chín tuổi, Kháp Na mới sinh hạ người con đầu?

Cách lý giải duy nhất là: cậu ấy không hạnh phúc, vì đó là cuộc hôn nhân chính trị thuần túy.

Và còn điều này nữa, rốt cuộc Kháp Na đã chết như thế nào?

Sử sách ghi chép rất mơ hồ.

Kháp Na qua đời khi mới hai mươi chín tuổi, lại chết một cách không rõ ràng, điều này cho thấy Tây Tạng vào thời kỳ đó phức tạp và hỗn loạn vô cùng.

Vì thế, tôi rất đỗi cảm thương cho Kháp Na.

Tôi càng viết càng thấy thích nhân vật này.

Nếu tôi nhất định phải tông trọng sự thật lịch sử, vậy thì tôi chỉ có thể mang lại cho cậu ấy chút hạnh phúc nhỏ nhoi hư cấu trong tiểu thuyết mà thôi.

2.

Vì sao trong truyện có rất ít tình tiết “yêu đương” của Bát Tư Ba?

Bát Tư Ba là nhân vật nam chính của Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh nhưng sử sách không ghi chép bất cứ chi tiết nào về sự tồn tại của “bóng hồng” trong cuộc đời ngài.

Vậy nên, kể chuyện tình yêu về ngài khó hơn Rajiva rất nhiều.

Nhưng nếu tôi chỉ viết về công đức và thành tựu chính trị của ngài, chắc chắn không ai buồn ngó tới cuốn tiểu thuyết này và tôi sẽ không thể đạt được mục đích: muốn ngày càng có nhiều người biết đến ngài.

Tôi vô cùng sùng bái ngài và vai trò lịch sử của ngài.

Tôi lại là người tôn trọng sự thật lịch sử nên không thể tùy tiện hư cấu chuyện ngài phá giới rồi kết hôn.

Chi tiết nụ hôn duy nhất vào thời khắc cuối cùng của cuộc đời Bát Tư Ba đã là giới hạn tối đa mà tôi cho phép mình được viết về chuyện tình ái của ngài.

Tôi cũng luôn dặn lòng rằng, tôi là “mẹ ruột”, tôi yêu tất cả các nhân vật của mình nên dù tôi nhất định phải tôn trọng lịch sử khi viết về Kháp Na và Bát Tư Ba, một người qua đời năm hai mươi chín tuổi, một người lìa thế năm bốn mươi sáu tuổi nhưng tôi cũng muốn họ được toại nguyện trước lúc ra đi.

3.

Vì sao nhân vật nữ chính lại là hồ ly?

Bạn đọc có thể không thích nhân vật nữ chính là một hồ ly, nhưng tôi xây dựng nhân vật này là có dụng ý riêng.

Bạn biết không, cả Tiểu Lam và Ngải Tình đều là những nhân vật hư cấu, họ giúp tôi kể chuyện về Bát Tư Ba và Kumarajiva.

Lần này, tôi không viết truyện vượt thời gian nữa mà sáng tạo ra nhân vật hồ ly có phép thuật.

Bởi vì tôi nghĩ rằng, không người phụ nữ nào trong số chúng ta có thể chịu đựng số phận nghiệt ngã như Tiểu Lam: người yêu qua đời, con trai và cháu trai mất sớm, tất cả người thân đều trở thành vật hy sinh của ván bài chính trị.

Số phận ấy quá ư bi thảm, nó khiến người ta tuyệt vọng.

Tôi muốn được sống dưới ánh dương rạng rỡ, cho dù số phận có trớ trêu dường nào đi nữa, tôi vẫn tin rằng, còn hy vọng là còn tương lai.

Thế nên, Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh mới có kết thúc như vậy, thế nên nhân vật nữ chính mới chờ đợi hết kiếp này đến kiếp khác, chờ cho đến khi niềm hy vọng của cô ấy trở thành hiện thực.

4.

Vì sao ở cuối mỗi chương truyện đều ngồn ngộn những kiến thức lịch sử?

Bát Tư Ba sống vào đầu thời nhà Nguyên, đây vốn là giai đoạn lịch sử được xem là “lạ lẫm” với phần đông người Trung Quốc nói riêng, bạn đọc khắp nơi nói chung.

Bát Tư Ba lại là một nhân vật chính trị, một người Tạng.

Tôi tin rằng, không nhiều người trong số chúng ta có thể phân biệt một cách rành rẽ các giáo lý và giáo phái của Phật giáo Tây Tạng, tôn giáo vốn hết sức phức tạp.

Bởi vậy, nhiệm vụ tất yếu của Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh là phải tập trung viết về lịch sử triều Nguyên và văn hóa đất Tạng.

Tôi hiểu rằng, đa phần bạn đọc ngày nay không mấy hứng thú với những tri thức lịch sử khô khan, cứng nhắc nên sau khi cân nhắc kĩ càng, tôi đã quyết định tách riêng một phần dữ kiện lịch sử, đặt vào cuối mỗi chương truyện, truyền tải đến bạn đọc thông qua cuộc đối thoại giữa Tiểu Lam và chàng trai trẻ.

Nếu bạn không thích đọc về lịch sử, bạn hoàn toàn có thể lướt qua phân đoạn này mà không hề ảnh hưởng đến phần nội dung chính của truyện.

Khi nào bạn đã thật sự yêu thích Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh, chắc chắn bạn sẽ đọc lại và nghiền ngẫm phần lịch sử đó.

Cũng giống như nhiều bạn say mê Đức Phật và nàng đã miệt mài tìm đọc kinh Phật và các sách lịch sử liên quan đến câu chuyện.

Và thế là, những điều tôi tâm huyết, những điều tôi muốn các bạn hiểu, sẽ như “mưa dầm thấm lâu”, dần lắng lại trong tim các bạn, có phải vậy không các bạn của tôi?

Cả Đức Phật và nàng và Đức Phật và nàng: Hoa sen xanh đều là những cuốn sách lịch sử khoác trên mình chiếc áo “ngôn tình”.

Tất nhiên, tôi biết rằng, phần lớn bạn đọc yêu mến hai cuốn tiểu thuyết này không phải vì những tri thức lịch sử và Phật pháp hàm chứa trong đó mà là câu chuyện tình yêu đẹp đẽ mà tôi sáng tác nên.

Nhưng nếu tôi chỉ viết truyện ký thông thường về Kumarajiva hay Bát Tư Ba, hẳn rằng sẽ không ai buồn đọc.

Vậy tôi phải làm sao để truyền tải thông điệp của mình, phải làm sao để ngày càng nhiều bạn đọc biết đến những nhân vật vĩ đại với những cống hiến to lớn trong lịch sử nhưng lại được rất ít người biết đến?

Tôi quyết định chọn cách thức thông dụng nhất: tiểu thuyết ngôn tình để thu hút bạn đọc.

Chỉ khi lôi cuốn được bạn đọc và câu chuyện, tôi mới có thể truyền tải những thông điệp mà tôi muốn truyền tải.

Bằng không, mọi nỗ lực của tôi sẽ chỉ là vô ích.

Và tôi tin rằng, dù bạn chỉ yêu thích phần “ngôn tình” của truyện, nhưng theo một cách rất tự nhiên, bằng một lẽ rất tự nhiên, bạn sẽ nhận được nhiều hơn thế từ cuốn sách của tôi.

Vậy là tôi đã thành công rồi, phải không các bạn?

Nữ nhà văn Chương Xuân Di, thường được các độc giả thân mật gọi là Tiểu Xuân, là tác giả của một trong những cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất Trung Quốc trong năm 2011 với số lượng lên đến 50.000 bản.

Với “Hoa sen xanh”, Chương Xuân Di đã dành ra 4 năm nghiên cứu tài liệu và đi khảo sát vùng Tây Tạng để lấy tư liệu.

HẾT.
 
Back
Top Bottom