Cập nhật mới

Khác Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh

Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 38: Cố hương


Người đức độ, nhân ái sống chan hòa với mọi người;

Động vật cùng loài, sống gắn kết thành bầy trên đồng cỏ.”

(Cách ngôn Sakya)

Khi chúng tôi rời khỏi trang viên Shalu, Kangtsoban gào khóc dữ dội, kiên quyết không cho Kháp Na lên xe ngựa.

Chủ nhà phải nhờ đến mấy tỳ nữ lực lưỡng mới có thể khống chế được cô nàng.

Jichoi sa sầm mặt mày, từ biệt qua quýt với hai anh em Bát Tư Ba.

Xem ra, với lợi thế huyết thống cao quý, gia đình giàu có, sung túc, Vạn hộ hầu Shalu đã rất tự tin về cuộc hôn nhân này.

Nếu tin tức truyền ra ngoài, chắc chắn bàn dân thiên hạ sẽ không khỏi kinh ngạc khi Bát Tư Ba khước từ thẳng thừng cuộc hôn nhân có lợi nhường ấy.

Chúng tôi lên đường, Bát Tư Ba, Kháp Na và tôi bắt đầu rơi vào trạng thái khó xử chưa từng thấy.

Bấy lâu nay, khi phép thuật ngày một cao, tôi rất thích hóa thành người, kể cả phải cải trang thành người hầu cũng không sao.

Nhưng hôm nay, tôi chẳng buồn hóa phép nữa, lẳng lặng làm một tiểu hồ ly kiệm lời.

Kháp Na và Bát Tư Ba cũng không ai bảo ai, đều lặng lẽ, ít nói.

Tháng 5 năm 1265, sau hành trình một năm tròn gian khổ, cuối cùng, hai anh em Bát Tư Ba cũng trở về quê hương Sakya mà họ đã cách biệt hai mươi mốt năm.

Tên gọi Sakya chứa rất nhiều ý nghĩa: là địa danh, tên ngôi đền, thậm chí là tên gọi của một gia tộc.

Cái tên Sakya đã đè nặng trên đôi vai gầy guộc của cả hai anh em nhiều năm qua, vậy mà họ lại chẳng có chút ấn tượng nào về hình thù của cố hương.

Sau một năm ròng vượt đèo núi, rốt cuộc tôi đã hiểu vì sao Bát Tư Ba muốn di dời thành trì của giáo phái.

Ngôi đền Sakya tọa lạc trên khu đồi phía nam của dãy núi Benbo, nằm bên bờ Bắc sông Trum-chu, xung quanh chỉ toàn núi cao, đồi trọc, đá sỏi cằn cỗi.

Xây đền trên núi vốn là kiến trúc truyền thống của Tây Tạng, đảm bảo độ an toàn, đề phòng bị tấn công.

Ngôi đền nằm trên độ cao bốn nghìn ba trăm mét so với mực nước biển, khí hậu giá buốt, cây cỏ thưa thớt.

Thảng hoặc trên các lũng sông, người dân nơi đây có thể trồng lúa mì thanh khoa và rau cải, điều kiện địa lý của vùng đất này có thể nói là kém nhất ở đất Tạng.

Nếu trong gia tộc Sakya không xuất hiện đại sư Ban Trí Đạt và Bát Tư Ba thì thật khó có thể thoát khỏi nghèo nàn để sánh ngang với các giáo phái lớn khác, càng không thể trở thành giáo phái thủ lĩnh của cả đất Tạng.

Ngôi đền là toàn bộ thành trì của giáo phái Sakya, quanh ngôi đền chỉ có vài hộ dân thưa thớt.

Sự kết hợp của ba màu: đỏ, trắng và xanh vốn là nét đặc trưng của phái Sakya xuất hiện và nổi bật ở mọi nơi.

Thứ màu sắc rực rỡ, bắt mắt ấy từ xa có thể quan sát dễ dàng.

Những năm qua, Bát Tư Ba không ngừng chuyển toàn bộ số bổng lộc có được do triều đình và quý tộc Mông Cổ ban thưởng về Sakya và lệnh cho bản khâm Shakya Zangpo tu sửa ngôi đền sao cho thật khang trang.

Thế nên, ngôi đền nhỏ bé trước kia, sau khi nhận được nguồn tài trợ dồi dào từ Bát Tư Ba, đã ngày một mở rộng, trở thành một quần thể kiến trúc tráng lệ trải dài khắp một vạt núi.

Người của giáo phái tề tựu đông đúc về đây, đứng chen chân trên khắp con đường dẫn từ núi Benbo về ngôi đền.

Mười mấy chiếc kèn dài Dungchen và kèn ốc loa rền vang, chấn động cả vùng núi.

Xe ngựa của Bát Tư Ba và Kháp Na được trang trí những dòng cờ phướn và hoa cánh bướm sặc sỡ.

Hàng ngũ nghênh đón đứng chờ từ rất sớm.

Xe ngựa chầm chậm tiến sát chân núi, đám đông dân chúng hai bên đường hò reo phấn khích khi Bát Tư Ba và Kháp Na vẫy tay chào họ.

Xe ngựa không thể đi tiếp vì núi cao dốc đứng, Bát Tư Ba và Kháp Na bèn xuống ngựa.

Hôm nay, họ ăn vận rất mực trang trọng.

Hai anh em ngước nhìn những bức tường kiên cố và những dãy nhà khang trang của ngôi đền bằng ánh mắt đầy háo hức.

Quê hương đang ở ngay trước mắt họ.

Hai người ngước nhìn đền đài, lầu các trên cao, không khỏi xúc động.

Bản khâm Shakya Zangpo bước đến, dâng khăn lụa Ha đa cho Bát Tư Ba.

Một phụ nữ chừng ba mươi tuổi, môi thắm má hồng bước đến trao khăn lụa cho Kháp Na.

Khi cậu còn đang băn khoăn, nhìn người phụ nữ chăm chú thì cô ấy chừng như không kìm nổi, nắm chặt tay Kháp Na:

– Kháp Na, em trai út của ta, ta là chị cả Zhuoma của đệ.

Thì ra đó là cô em gái chỉ kém Bát Tư Ba vài tháng tuổi, là con gái của dì ba.

Bát Tư Ba và Kháp Na vội vàng đáp lễ.

Zhuoma tươi cười đưa hai người đi giới thiệu với họ hàng, bè bạn.

Ba trong số năm người vợ của cha họ đã qua đời, chỉ còn lại dì ba và dì năm.

Dì ba là mẹ đẻ của Zhuoma, còn dì năm thì sinh ra Yeshe.

Còn có cả vợ chồng chị hai, vợ chồng chị ba, vợ chồng chị tư và hàng đàn các cháu trai, cháu gái.

Chỉ riêng việc nhớ tên từng người thôi cũng đủ hoa mắt chóng mặt.

Kháp Na đưa mắt nhìn hết lượt đám đông họ hàng thân thích, hỏi Zhuoma:

– Anh rể đâu rồi chị?

Nào ngờ Zhuoma nước mắt ngắn dài, buồn bã cúi đầu:

– Chàng mắc bệnh và qua đời mấy năm trước rồi.

Biết mình lỡ lời, Kháp Na vội xin lỗi.

– Không sao!

Hai người trở về từ đất Hán, còn đem theo bao nhiêu tráng sĩ thế này, chọn cho Zhuoma một người để nó đầu gối tay ấp nửa đời còn lại là được mà!

Giọng nói khàn khàn của một phụ nữ cất lên.

Thì ra đó là dì năm.

Bà ta chưa đến năm mươi tuổi, ngọc ngà, châu báu ngồn ngộn khắp người, chạc “ba châu” trên đỉnh đầu trĩu nặng, chỉ chực rơi xuống đất.

Bà ta gầy gò, nhỏ thó, làn da nhăn nheo nhưng gương mặt trang điểm kĩ càng vẫn giữ được nét xinh đẹp khi xưa.

Kháp Na chẳng buồn để ý đến bà ta.

Cậu quay đầu, theo Bát Tư Ba lên núi.

Hai anh em họ không bao giờ tha thứ cho bà ta.

Dì năm tuy xấu hổ nhưng không dám bỏ đi trước mặt mọi người.

Tiếng cười rúc tích lan trong đám đông, bà ta uất hận, vần vò chiếc khăn tay, như thể muốn vắt nó ra nước.

Núi cao, bậc dựng đứng, Kháp Na thở phì phò, trống ngực đập thình thịch.

Bước vào gian chính điện, tôi thấy ở giữa đặt một bức tượng Bồ Tát Văn Thù mạ vàng rất lớn, một bên đặt tượng thờ vị pháp vương đời thứ nhất Kunga Nyingpo và đời thứ hai Sonam Tsemo, một bên đặt tượng thờ pháp vương đời thứ ba Dragpa Gyaltsen và đời thứ tư Ban Trí Đạt.

Bốn vị pháp vương đầu đội mũ đỏ, thân khoác lễ phục, tay kết hình pháp ấn.

Hai anh em Bát Tư Ba vái lạy thành khẩn, dâng lên bảy bát nước thánh mang về từ hồ thiêng Yamdrok-tso và tự tay thay đèn dầu cho ban thờ Phật.

Nghỉ ngơi được một lát, Bát Tư Ba liền thúc giục Shakya Zangpo đưa chúng tôi đi tham quan ngôi đền.

Dù sắc mặt còn hơi nhợt nhạt vì mất sức, Kháp Na vẫn kiên trì đi cùng.

Chúng tôi đến từng Labrang[1] vái lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Kim Cương Thủ.

Sau đó, Shakya Zangpo đưa hai anh em họ đến một khu nhà vắng vẻ.

Thiết kế phòng ốc hoàn toàn không giống các Phật điện, vẻ xinh xắn, trang nhã khiến cho khu nhà khác biệt hoàn toàn khi đứng cạnh các gian thờ Phật.

[1] Labrang trong tiếng Tạng có nghĩa là Phật điện.

Tiếng cửa gỗ bật mở ken két, bụi bay mờ mịt.

Giữa phòng đặt một bức tượng Bồ Tát nho nhỏ, hai bên là những hố tròn, bên trên xếp những tấm đệm trải cũ mèm, nhàu nát.

Trên tường vốn có những bức bích họa được điêu khắc tinh xảo nhưng vì bụi phủ đã lâu nên sắc màu phai nhạt, thậm chí đôi chỗ còn bị tróc lở.

Chậu than lớn nguội ngắt trên nền đất, xỉ than và khói bụi trộn lẫn, như một minh chứng của tháng năm dằng dặc.

Bát Tư Ba đưa mắt nhìn quanh rồi bất chợt run rẩy:

– Đây là…

Giọng nói già nua của Shakya Zangpo cất lên:

– Pháp vương có thể vẫn nhớ, Bạch Lan Vương có lẽ là không.

Đây chính là nơi ở của mẫu thân hai vị.

Hai anh em ngài đều ra đời ở đây.

Kháp Na giật mình nhìn anh trai.

Bát Tư Ba, mắt ngấn nước, gật đầu với em trai.

Kháp Na bồi hồi bước về phía buồng ngủ, đẩy cánh cửa, đồ vật đầu tiên xuất hiện trước mắt cậu là những đồ chơi của trẻ nhỏ: chiếc nôi dành cho trẻ sơ sinh, thùng gỗ tập đứng, ngựa gỗ, ghế xích đu, xe đồ chơi…

Shakya Zangpo mở rộng cửa sổ để ánh nắng rực rỡ ùa vào căn phòng, chùm sáng nhảy múa trên những đồ dùng dành cho con nít đã phủ bụi thời gian, khiến cho chúng càng trở nên hư ảo.

Bát Tư Ba lại gần con ngựa gỗ, khẽ đung đưa, làm dậy lên một cơn sóng bụi.

Chàng khẽ nói:

– Kháp Na à, ta còn nhớ năm đệ ba tuổi, ta thường cho đệ cưỡi con ngựa gỗ này.

Khi ấy, đệ đã cười giòn tan, gương mặt ngây thơ, rất đỗi đáng yêu.

Mẹ ngồi bên cạnh, vừa xâu chuỗi hạt vừa mỉm cười nhìn hai anh em nô đùa.

Ta không bao giờ quên khoảng thời gian hạnh phúc, ngọt ngào ấy.

Kháp Na quay đầu lại hỏi Shakya Zangpo:

– Lúc đại ca ra đời thì sao?

Shakya Zangpo đến bên cạnh Bát Tư Ba, nhìn chàng với ánh mắt hiền từ, nhân hậu:

– Tôi còn nhớ, pháp vương là con đầu, lại là con trai nên khi ấy, đại sư Ban Trí Đạt và cha hai người mừng đến nỗi cả đêm không ngủ, cứ ngồi lặng lẽ bên cạnh, ngắm nhìn ngài, chẳng nỡ rời mắt, miệng không ngừng thốt lên: “Sakya có người nối dõi rồi!”.

Khi ấy, cha ngài đã ngoài năm mươi, đối với cha ngài nói riêng, với giáo phái nói chung, việc sinh con nối dõi là vô cùng quan trọng.

Chẳng ngờ sau đó, cha ngài lại có thêm ngần ấy người con.

Có điều, pháp vương từ nhỏ đã thông minh, sáng láng nên được cha rất mực thương yêu.

Chỉ tiếc rằng sau đó, cha ngài đã…!

Đại sư Shakya Zangpo năm nay đã ngoài sáu mươi, chuyện đau lòng năm xưa khiến ngài ủ dột lắc đầu, gương mặt già nua, buồn thương khắc khoải:

– Sau đó, mẫu thân của hai người cũng qua đời.

Đại sư Ban Trí Đạt vô cùng đau lòng, lại thương hai người trẻ dại, côi cút, đã đưa cả hai về nơi ở của mình để tiện chăm sóc, bảo vệ.

Trước khi hai người ăn bất cứ món gì, cũng phải có người nếm thử, không người lạ nào được phép lại gần.

Khi đại sư chuẩn bị lên đường đi Lương Châu, hai người còn rất nhỏ, đại sư vốn không định đưa hai người đi cùng vì chặng đường quá gian nan, hiểm trở.

Nhưng ngài lại chẳng yên lòng để hai người ở lại, sau khi suy xét cặn kẽ mọi bề, ngại đã hạ quyết tâm lớn.

Khi ra đi, đại sư biết rằng mình chẳng thể quay lại quê hương được nữa.

Ngay cả hai người, cũng phải mất hai mươi mốt năm mới hồi hương.

Nhắc lại chuyện xưa, hai anh em không khỏi xúc động, nước mắt lưng tròng.

Kháp Na lại gần chiếc nôi của trẻ sơ sinh, âu yếm vuốt ve:

– Đại ca, xin hãy cho người tu sửa lại căn phòng, đệ muốn ở lại nơi này.

Ngài Shakya Zangpo vội can ngăn:

– Nơi đây đã lâu không có ai ở, phòng ốc cũ nát.

Chúng tôi sẽ sắp xếp nơi ở tốt nhất cho Vương gia.

– Ta không cần nhà cao cửa rộng, cơm ngon áo đẹp, ta muốn ở đây, vì ta muốn được gần mẹ ta.

Kháp Na nhìn đăm đăm lòng bàn tay đầy bụi của mình, thở dài:

– Ta không còn nhớ chút gì về hình dáng của mẹ.

Bát Tư Ba quay lại, nhẹ nhàng nói với ngài Shakya Zangpo:

– Xin đại sư hãy chiều theo ý muốn của Kháp Na.

Sau khi nhận lệnh, Shakya Zangpo lập tức tập trung nhân lực, tiến hành trùng tu phòng ốc.

Bát Tư Ba bận bịu với công việc chính sự, còn Kháp Na thì cả ngày cùng đám thợ thu dọn căn phòng.

Cậu không muốn vứt bỏ bất cứ vật dụng gì, kỳ công lau dọn sạch sẽ rồi đặt vào chỗ cũ.

Dưới sự giám sát và đốc thúc của Shakya Zangpo, công việc trùng tu nơi ở của Kháp Na được tiến hành nhanh chóng, chưa đầy một tháng đã biến thành khu nhà tươm tất.

Từ đó về sau, Kháp Na quyết định sống trong căn phòng năm xưa của mẹ cậu.

Là người ham mê đọc sách, cậu đã đặt cho khu nhà của mình cái tên rất nho nhã: Lang Như Thư Lầu[2].

[2] Có nghĩa là: nhà sách Lang Như.

Lang Như vốn là tên một ngôi đình nổi tiếng trong Di Hòa Viên, ở Bắc Kinh, Trung Quốc. (DG)

Khi Kháp Na dồn toàn bộ tâm trí vào công việc trùng tu Lang Như Thư Lầu thì cũng là lúc Bát Tư Ba bận tối tăm mặt mũi.

Chàng muốn xây dựng một chính quyền thống nhất trên đất Tạng: chính quyền Sakya, điều mà kể từ khi vương triều Tufan sụp đổ đến nay, chưa từng xuất hiện trên đất Tạng.

Việc làm cần thiết đầu tiên mà chính quyền mới này phải thực hiện đó là: phân chia vạn hộ hầu của đất Tạng.

Lẽ dĩ nhiên, các giáo phái lớn và các đại lãnh chúa phải là một trong số các vạn hộ hầu, nhưng bên cạnh đó, Bát Tư Ba cũng muốn nâng đỡ một số thế lực mới, để kìm hãm các giáo phái vốn chiếm hữu những mảnh đất trù phú nhất và số lượng dân cư đông đúc nhất, đặc biệt là phái Drikung và Phaktru ở Tiền Tạng.

Đúng lúc đó, Thiên hộ đầu Yarseng thuộc phái Phaktru lặng lẽ đến Sakya.

Lúc này, phái Phaktru mới ra đời được chừng sáu mươi năm, do dòng họ Lang nổi tiếng vùng núi Sơn Nam sáng lập.

Tuy là giáo phái ra đời muộn nhất ở đất Tạng nhưng phái Phaktru có một nền tảng vô cùng vững chắc.

Vùng Sơn Nam vốn là cái nôi của vương triều Tufan, sở hữu những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ, rộng lớn nhất đất Tạng.

Gia tộc Lang đời đời kế thừa quyền cai quản vùng đất trù phú ấy.

Các pháp vương của giáo phái này đều là những người tài ba, lỗi lạc, hoài bão lớn lao.

Dưới sự nỗ lực không ngừng của các vị pháp vương từ đời thứ nhất đến đời thứ tám, phái Phaktru phát triển rất nhanh chóng, hiện đã xếp ngang hàng với phái Drikung ở La-ta về diện tích đất đai chiếm hữu.

Thiên hộ hầu Yarseng chịu sự cai quản của phái Phaktru, đất đai của thiên hộ hầu này chính là vùng lũng sông Yarlung – cái nôi của vương triều Tufan.

Gia tộc Yarseng lâu đời hơn của gia tộc Lang của phái Phaktru vì huyết thống của dòng họ này có thể tính từ thời đại Tufan.

Thiên hộ hầu Yarseng từ lâu đã rất bất mãn với thân phận của một thiên hộ hầu nhỏ bé mà phái Phaktru phong cho ông ta nên đã âm thầm đến Sakya ngay khi hay tin Bát Tư Ba trở về đất Tạng.

Điều này cũng hợp ý Bát Tư Ba vì chàng không hề muốn thế lực của phái Phaktru ngày một lớn mạnh và bành trướng.

Thiên hộ hầu Yarseng và Bát Tư Ba đã trao đổi rất lâu.

Ba ngày sau, Yarseng lặng lẽ rời Sakya.

Ngày mà Kháp Na dọn vào sống trong Lang Như Thư Lầu cũng là ngày mà Bát Tư Ba bước đầu hoàn thiện kế hoạch phân chia mười ba vạn hộ hầu và số lượng các cư dân Mid, cư dân Lad thuộc quyền sở hữu của các vạn hộ hầu này.

Ngắm nhìn Bát Tư Ba miệt mài viết lách bên bàn làm việc trong Phật điện Lakhang, tôi không khỏi lo lắng:

– Chàng thăng chức cho Thiên hộ hầu Yarseng thành vạn hộ hầu, lại cắt một mảnh đất lớn của phái Phaktru chia cho ông ta, chàng không sợ phái Phaktru tức giận sao?

Bát Tư Ba dừng bút, hàng mày xô lại:

– Chắc chắn họ sẽ tức giận.

Ngoài Phaktru, ta còn cắt nhiều hộ dân ở Nagarze của phái Drikung cho Vạn hộ hầu Yamdro.

Ta phải làm vậy để cân bằng số lượng các hộ dân thuộc quyền cai quản của mười ba vạn hộ hầu ở đất Tạng, vì sẽ không ổn nếu để thế lực của hai giáo phái này quá lớn mạnh.

– Và rồi sẽ có kẻ cười người khóc.

Tôi nhìn Bát Tư Ba mà lòng đầy lo âu.

– Vậy là từ nay, chàng sẽ phải đối đầu với mối hiềm khích của hai phái Drikung và Phaktru.

Bát Tư Ba khảng khái đáp:

– Dù biết sẽ kết mối thù hằn nhưng ta không thể làm khác.

Tuy phái Sakya được Đại hãn nâng đỡ nhưng thực lực của giáo phái chúng ta chẳng thể so sánh với Drikung và Phaktru.

Ta làm cho sức mạnh của họ giảm đi, cũng là vì lo nghĩ cho tương lai của giáo phái mình.

Trong lòng tôi cứ dấy lên cảm giác nơm nớp lo sợ, mi mắt giật liên tục, nhưng vẫn cố gượng cười:

– Mong là sẽ không xảy ra chuyện gì.

Bát Tư Ba đứng lên, chậm rãi bước đi trong Phật điện trong bóng chiều nhập nhoạng, lưng hơi còng xuống vì đã nhiều ngày miệt mài bên bàn làm việc.

Từ khi trở về đất Tạng, chàng có quá nhiều việc phải suy nghĩ, mỗi ngày chỉ ngủ chừng ba canh giờ, giấc ngủ lại chẳng sâu, rất dễ tỉnh giấc, ăn uống cũng không được ngon miệng nên ngày càng gầy.

Tuy mới ba mươi tuổi, gương mặt vẫn tuấn tú, điển trai như xưa nhưng trên vầng trán cao đã xuất hiện đôi ba nếp nhăn.

Lúc chàng mỉm cười, khóe mắt cũng xếp nếp những dấu vết của thời gian và sự lo toan mòn mỏi.

Lòng tôi bỗng chùng xuống khi ngắm nhìn dáng hình cao gầy, cô độc ấy.

Cũng giống như Kháp Na, tôi rất muốn chia sẻ mỗi vất vả với chàng, nhưng chẳng giúp được gì.

Tin tức về việc phân chia mười ba vạn hộ hầu truyền khắp vùng hậu Tạng, làm dấy lên sự phản kháng.

Năm Vạn hộ hầu Lalo, Laqiang, Chumig, Gyangtso và Shalu đã liên kết lại phản đối Bát Tư Ba cắt hàng nghìn hộ dân Lad của họ, chuyển thành cư dân Mid.

Riêng Vạn hộ hầu Shalu và Chumig, vì là hai vạn hộ hầu lớn nhất Hậu Tạng nên đã bị cắt ba nghìn hộ dân để chuyển thành những cư dân Mid, phải nộp thuế cho nhà nước.

Cả năm vạn hộ hầu đều lên tiếng chỉ trích và cho rằng quyền lợi của mình bị tổn hại nghiêm trọng.

Họ kiên quyết phản đối sự phân chia này.

Mùa thu năm đó, thời tiết Sakya đột ngột thay đổi, suốt mùa mưa gió dầm dề, cả vùng Sakya chìm trong bầu không khí âm u, ẩm thấp đến ngột ngạt.

Giữa lúc nước sôi lửa bỏng ấy, một nguồn tin quan trọng được truyền về Sakya: người đứng đầu cuộc chống đối chính là Vạn hộ hầu Shalu ngài Jichoi mà trước đó từng niềm nở tiếp đón Bát Tư Ba tại dinh cơ của mình.

Ông ta muốn trả thù vì chúng ta không chấp nhận cuộc hôn nhân đó.

Kháp Na mặt mày biến sắc, phẫn uất đập tay xuống mặt bàn.

Bát Tư Ba nghiêm nét mặt:

– Ta đã sớm dự liệu được tình huống này.

Không ai dễ chịu khi da thịt của mình bị cắt xén.

– Vậy huynh định xử lý ra sao?

Hiện mới chỉ có vùng Hậu Tạng gây rối loạn, nửa tháng sau, tin tức sẽ truyền đến vùng Tiền Tạng, khi đó, chắc chắn Drikung và Phaktru sẽ liên kết tất cả các giáo phái để chống lại Sakya.

Đến lúc đó, chúng ta sẽ chẳng thể làm gì ngoài việc gửi tấu chương xin Đại hãn điều quân đến đây.

– Đây là mâu thuẫn của nội bộ đất Tạng, chưa đến bước đường cùng, ta tuyệt đối không nhờ vả quân đội của người Mông Cổ.

Bát Tư Ba đăm chiêu suy nghĩ.

– Thế này vậy, ngày mai ta sẽ đi Chumig một chuyến.

Vạn hộ hầu Chumig là người hòa nhã nhất trong số năm vạn hộ hầu ở Hậu Tạng.

Ông ta lại có quan hệ rất tốt với giáo phái chúng ta.

Ta sẽ thử thuyết phục ông ta xem sao.

Kháp Na lo lắng lắc đầu:

– Lẽ nào phải đi thuyết phục từng người một?

Và dù đại ca có thuyết phục được cả bốn vạn hộ hầu đó đi nữa thì vẫn còn Vạn hộ hầu Shalu.

Ông ta là người đứng sau chỉ huy mọi chuyện, sức ảnh hưởng của ông ta ở Hậu Tạng rất lớn, không dễ dàng thuyết phục được ông ta đâu.

– Được người nào hay người đó.

Bát Tư Ba tỏ ra rất quyết tâm, chẳng chút nề hà.

Chàng vừa thu dọn giấy tờ trên bàn vừa nói với Kháp Na:

– Ngày mai đệ hãy đi cùng ta.

Kháp Na nhìn Bát Tư Ba chăm chăm, ậm ừ đáp lời.

Không ngờ, tối đó, Kháp Na bị cảm lạnh, ngày hôm sau thì sốt cao.

Ở nơi núi cao, băng giá này, một trận cảm thông thường cũng có thể lấy mạng người ta.

Thế nên, Bát Tư Ba đã để Kháp Na ở lại, đồng thời dặn dò người nhà phải mời thầy thuốc tốt nhất đến chữa bệnh cho Kháp Na rồi vội vã lên đường khi mới tờ mờ sáng.

Tôi bưng chén thuốc đến bên giường, gọi khẽ.

Sau khi Mukaton qua đời, Kháp Na mắc bệnh ho khan mãn tính.

Trở về vùng cao nguyên băng giá, sức khỏe cậu ấy ngày một yếu đi, cứ một thời gian lại ốm một trận.

Mấy năm qua, tôi gần như thuộc làu các vị thuốc mà Kháp Na uống nên cũng dễ chăm sóc cậu ấy.

Kháp Na chừng như rất mệt mỏi, xua tay:

– Tiểu Lam, không cần ở lại chăm sóc ta đâu, mau đi bảo vệ đại ca!

Tôi đặt chén thuốc xuống, kê cao gối giúp cậu ấy ngồi dậy:

– Nhưng Lâu Cát dặn tôi phải ở lại chăm sóc cậu.

– Ta chỉ bị cảm nhẹ, không sao đâu.

Ta rất lo cho sự an nguy của đại ca.

Huynh ấy gánh vác trọng trách lớn lao, lại vào thời điểm cam go này, rất dễ có kẻ sinh lòng muốn hãm hại huynh ấy.

Huynh ấy là rường cột của giáo phái, nếu huynh ấy có mệnh hệ gì, giáo phái chúng ta sẽ nguy mất.

Ta không muốn có bất cứ chuyện gì xảy ra với huynh ấy…

Cậu ấy phải dừng lại vì cơn ho ập đến, một lát sau, ánh mắt khẩn thiết hướng về phía tôi:

– Em hãy đi và bảo vệ huynh ấy, chỉ có như thế ta mới an lòng.

Lời nói của cậu ấy khiến tôi bất giác thấy lo cho sự an nguy của Bát Tư Ba nhưng tôi cũng không an tâm khi thấy Kháp Na nằm dài trên giường bệnh.

– Nhưng cậu cũng cần có người ở bên chăm sóc.

Cậu ấy bật cười khanh khách:

– Ta là con út của giáo phái, lại là một vương gia.

Chỉ cần ta gật đầu, sẽ có hàng dài những người muốn được chăm sóc cho ta.

Bỗng tôi nảy ra một ý định, vỗ tay đắc ý:

– Cứ làm vậy đi.

Sau đó, tôi cúi xuống, tìm kiếm bờ môi cậu ấy.

– Tiểu Lam!

Cậu ấy hốt hoảng nghiêng đầu sang bên, tránh né, lấy tay che mặt, hơi thở gấp gáp, giọng nói hổn hển:

– Em làm gì vậy?

Tôi ấm ức:

– Tôi chỉ định truyền linh khí cho cậu thôi mà.

Như thế, cậu sẽ nhanh chóng khỏi bệnh và chúng ta có thể lập tức lên đường, đuổi theo Lâu Cát.

– Không được!

Cậu ấy nghiêm giọng từ chối khiến tôi giật mình sợ hãi.

Phản ứng của cậu ấy quá gay gắt.

Thấy tôi nhìn với vẻ kinh ngạc, Kháp Na vội vàng giải thích:

– Ta không muốn em làm như vậy.

Vả lại, đại ca đã lên đường được một thời gian rồi, chắc chắn ta không thể đuổi kịp huynh ấy, nhưng em có thể sử dụng phép thuật để đuổi theo huynh ấy.

Ta sẽ ở lại đây, chịu khó dưỡng bệnh, chờ hai người trở về.

Cậu ấy nói cũng có lý, tôi liền gật đầu tán đồng:

– Nhưng giờ cậu phải hứa sẽ uống thuốc đúng giờ và giữ gìn sức khỏe.

Cậu ấy vội vã nhận lời:

– Ta biết rồi, em mau đi đi.

Tôi gật đầu, định biến hình để lên đường thì chợt nghe cậu ấy gọi khẽ:

– Tiểu Lam!

Tôi quay đầu lại, bắt gặp ánh mắt tha thiết của Kháp Na.

– Có chuyện gì vậy?

Cậu ấy lặng nhìn tôi một lát rồi mỉm cười dịu dàng:

– Không có gì, ta chỉ muốn gọi em một tiếng vậy thôi, em mau đi đi.

Trên đường đuổi theo Bát Tư Ba, tôi cứ băn khoăn mãi về nụ cười của Kháp Na.

Nụ cười đó rất đẹp, ánh mắt đó lấp lánh, trong veo.

Tôi ở bên cậu ấy đã lâu nên gần như thuộc làu từng cử chỉ, động tác và biểu cảm của cậu ấy.

Không hiểu sao, cảm giác bất an cứ cuồn cuộn trong lòng tôi.

Vì sao nụ cười tuyệt đẹp ấy lại chất chứa dư vị của nỗi bi ai, tuyệt vọng?

* * * * *

– Tuy chỉ tồn tại chừng một trăm năm vào triều nhà Nguyên và tan vỡ khi triều Nguyên sụp đổ nhưng chính quyền Sakya đã có ảnh hưởng rất lớn đến vùng Tây Tạng.

Tôi tập tễnh đến bên cửa sổ, ngước nhìn bầu trời đêm khi tuyết đã ngừng rơi, gió dữ đã thôi thét gào, nhưng chàng không thể giữ thân phận của môt quốc vương.

Chính quyền ấy có được nhờ triều Nguyên nên chỉ có thể phát huy hiệu lực khi được hoàng đế Mông Cổ thừa nhận.

Chàng trai trẻ gật đầu tán đồng:

– Hồi đi du lịch Tây Tạng, tôi đã đọc các tài liệu liên quan và biết rằng, Tây Tạng trở thành một phần không thể tách rời của Trung Quốc kể từ triều Nguyên, sau đó không còn bị chia năm xẻ bảy như trước nữa.

Tôi gật đầu:

– Đúng vậy.

Sau khi triều Nguyên sụp đổ, bất kể giáo phái nào ở Tây Tạng muốn xây dựng chính quyền địa phương đều phải được vương triều trung ương thừa nhận.

Thể chế chính trị này đã duy trì suốt hơn năm trăm năm kể từ thời đại của Bát Tư Ba cho đến thời nhà Thanh.

Chính vì vậy, chúng ta thường hiểu rằng, Tây Tạng trở thành một phần của các vương triều Trung Nguyên vào thời đại nhà Nguyên.

Chàng trai trẻ tổng kết:

– Bởi vậy, công lao của Bát Tư Ba đối với lịch sử và bản đồ Trung Quốc lớn hơn bất cứ nhà sư nào trước đó.

Tôi mỉm cười tán đồng:

– Cậu nói chí phải.

Hết chương 38.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 39: Pháp hội Chumig


Tri thức có ở khắp nơi,

Ngay cả trong lời nói của trẻ nhỏ;

Hương liệu có ở khắp nơi,

Ngay cả trong gan ruột của dã thú*

(Cách ngôn Sakya)

Vùng Chumig nằm ở bên này lưu vực sông Nyang Chu, tiếp giáp với lãnh thổ của Vạn hộ hầu Shalu, xếp thứ hai ở vùng Hậu Tạng về sự trù phú.

Bát Tư Ba đồng loạt cắt ba nghìn hộ dân Mid của Vạn hộ hầu Chumig và Vạn hộ hầu Shalu.

Nếu thuyết phục được vạn hộ hầu Chumig chấp nhận sự phân chia này thì Bát Tư Ba có thể giảm được phân nửa trợ lực ở vùng Hậu Tạng.

Vậy nên, chàng bước vào trang viên của Vạn hộ hầu Chumig với quyết tâm “nhất định phải thành công”.

Vạn hộ hầu Chumig ngài Duirang mới ba mươi tuổi, dáng vẻ nho nhã, thái độ ôn hoà, quả là người điềm đạm, mực thước.

Từ xa, chúng tôi đã thấy ngài đứng chờ bên đường.

Vừa trông thấy Bát Tư Ba, ngài tỏ ra hết sức mừng rỡ.

Ngài nói rằng lúc gửi thiệp mời đại sư Bát Tư Ba tham dự pháp hội ở Chumig, ngài không mảy may hy vọng đại sư sẽ tới.

Nào ngờ, đại sư chịu gác sang bên trăm công ngàn việc để đến đây, khiến gia tộc của ngài được nở mày nở mặt…

Lúc này Bát Tư Ba mới nhớ ra chuyện đó.

Khoảng một tháng trước, khi năm vạn hộ hầu liên kết phản đối kế hoạch phân chia đất đai và cư dân, Bát Tư Ba đã nhận được thiệp mời tham dự pháp hội Chumig của phái Kadampa.

Khi ấy, Bát Tư Ba đang bận bụi với một núi việc, chẳng có thời gian nên đã viết thư từ chối khéo léo.

Tính thời gian thì còn khoảng ba ngày nữa, pháp hội sẽ được tổ chức.

Bát Tư Ba quyết định tuỳ cơ ứng biến, chàng bảo rằng đột nhiên có thời gian rảnh rỗi nên muốn đến đây học hỏi giáo pháp của phái Kadampa.

Duirang rước Bát Tư Ba vào trang viên của mình, nơi ăn chốn ở sắp xếp vô cùng chu đáo, nhưng Bát Tư Ba chẳng lựa được lúc nào để trò chuyện riêng với ông ấy.

Duirang phát thiệp mời đến tất cả các bậc cao tăng nhân đại đức của giáo phái nên các tăng nhân cứ nườm nượp ra vào trang viên của ông ấy, khiến chủ nhà không có cả thời gian để ăn một bữa cơm yên ổn.

Duirang luôn chân luôn tay luôn miệng bố trí, sắp bày mọi việc cho ngày pháp hội.

Cứ thế, Bát Tư Ba chẳng có cơ hội nào để trao đổi riêng, chàng quyết định, nhân dịp này kết giao với các chi phái nhỏ của phái Kadampa, xây dựng mối quan hệ hoà hảo với các tu viện.

Người đặt nền móng đầu tiên cho phái Kadampa là vị cao tăng người thiên trúc, Atisha.

Hơn hai trăm năm trước, vương triều Guge ở vùng Ali đã mời đại sư Atisha đến đất Tạng truyền giáo và đại đệ tử của vị cao tăng này, ngài Dromtonpa, về sau đã lập ra giáo phái Kadampa.

Phái này tu theo tông pháp Hiển Tông, dòng tu này phát triển rất mạnh mẽ và được truyền bá rộng rãi.

So với các giáo phái Mật Tông khác như Sakya và Kagyu, phái Kadampa coi trọng việc tu tập và tuân thủ giới luật hơn là cai quản chính quyền địa phương.

Giáo phái này không chủ trương xây dựng thế lực chính trị lớn mạnh.

Bởi vậy, so với những người khác, Vạn hộ hầu Chumig là tín đồ Kadampa ôn hoà, nhã nhặn nhất.

Sau này, vào cuối thời nhà Minh, nhà sư Tsongkhapa của phái Kadampa đã sáng lập ra chi phái Hoàng giáo Gelug nên toàn bộ phái Kadampa đã sáp nhập vào phái Gelug.

Biết tin Bát Tư Ba cũng tới tham dự pháp hội Chumig, toàn bộ tăng sư của các tu viện lân cận lũ lượt đổ về Chumig để được tận mắt chứng kiến phong thái của bậc thánh nhân.

Trong ngày đầu tiên điễn ra pháp hội, đã có tới bảy mươi nghìn tăng nhân đến tham dự, đây là pháp hội tập trung đông người tham dự nhất trong lịch sử Tây Tạng.

Duirang vui mừng khôn xiết, nhiệt liệt cảm tạ Bát Tư Ba vì sự xuất hiện của chàng đã khiến cho pháp hội lần này có quy mô lớn đến vậy.

Trong suốt thời gian diễn ra pháp hội, Bát Tư Ba tỏ ra là một danh sư bình dị, dễ gần, khiêm tốn, không ngại học hỏi, không định kiến, không thiên vị, hào hứng tiếp thu giáo pháp của phái Kadampa.

Mỗi tối, Bát Tư Ba đều cùng các vị cao tăng của phái Kadampa ngồi thiền, tụng niệm kinh Phật và làm phép quán định cho rất nhiều người.

Điều đó khiến cho nhiều tăng nhân của phái Kadampa thay đổi cách nhìn về Bát Tư Ba, số người ca ngợi, ủng hộ chàng ngày một nhiều, ngay cả Duirang cũng dần tâm phục khẩu phục.

Tôi lén đến phòng của Duirang nghe trộm, vì tôi rất muốn biết ông ta có chấp thuận phục tùng Bát Tư Ba hay không.

Nhưng khi tới đó, tôi lại thấy một lão hoà thượng vóc dáng cao lớn đang bực tức, trách móc Duirang:

– Ngài xem, có người xuất gia nào như hắn không?

Đi đến đâu cũng mở cờ gióng trống, kéo theo cả một đám tuỳ tùng, quan viên, phục trang, cưỡi ngựa, dựng trại giống hệt người Mông Cổ.

Hắn còn nhớ mình là người Tạng nữa không?

Tôi nhận ra đó là đại sư Chomden Rigdrel trụ trì đền Narthang.

Trong số các tăng nhân của phái Kadampa, ông ta là người có định kiến với Bát Tư Ba hơn cả.

Những ngày qua, ông ta thường tỏ ra lạnh nhạt với Bát Tư Ba nhưng chàng vẫn khiêm tốn, nhún nhường.

Duirang không đồng tình với đánh giá của Chomden Rigdrel:

– Đại sư Chomden Rigdrel, hiện người Mông Cổ đang chiếm thế thượng phong, gót sắt của họ đã đạp bằng mọi chốn, ai dám không phục tùng họ?

Bát Tư Ba đã theo người Mông Cổ hơn hai mươi năm, lần này lại phụng lệnh Đại hãn Hốt Tất Liệt trở về đất Tạng, việc ngài ấy đi đến đâu có quan quân hộ tống đến đó là điều khó tránh khỏi.

Chomeden Rigdrel mỉa mai, châm biếm:

– Hắn làm quan to, mặc triều phục lộng lẫy của Mông Cổ thì không cần phải tuân thủ các giáo pháp của Phật Tổ nữa sao?

Hắn còn lưu tâm đến nỗi buồn vui của chúng sinh nữa không?

Duirang chắp tay sau lưng, chầm chậm cất bước trong phòng:

– Đại sư, ta chẳng bận tâm việc ngài ấy vận trang phục của người Mông Cổ.

Điều ta đang đắn đo là Chumig có nên tiếp tục chống lại mệnh lệnh của ngài ấy hay không?

Tất nhiên, ta hiểu rõ mục đích chuyến đi này của Bát Tư Ba.

Thực ra, ngài ấy hoàn toàn không thể dùng uy quyền của người Mông Cổ để ép buộc chúng ta phải chấp thuận.

Nhưng ta để ý thấy những ngày qua, dù không nhận được câu trả lời từ phía ta, ngài ấy vẫn nhẫn nại chờ đợi.

Với thân phận như vậy mà ngài ấy vẫn rộng lượng, khiêm nhường, quả là hiếm có.

Chả trách Đại hãn Mông Cổ xem trọng ngài ấy đến vậy.

Chomden Rigdrel tỏ ra tức tối:

– Ý của ngài là, ngài sẽ cúi đầu trước người Mông Cổ?

Duirang sa sầm nét mặt:

– Năm xưa, khi người Mông Cổ tấn công Wusi, các giáo phái ở đất Tạng đông đảo là thế, vì sao không hợp sức để chống trả?

Giờ đây, khi đất Tạng đã quy thuận Mông Cổ mấy mươi năm, một vạn hộ hầu nhỏ bé như ta sao dám đối địch với Bát Tư Ba?

Ngài ấy đã đích thân đến đây tỏ rõ thành ý, ta nghĩ rằng đã đến lúc phải nhún nhường.

– Nhưng Vạn hộ hầu Shalu…

Duirang ngắt lời Chomden Rigdrel, ánh mắt sắc lẹm:

– Tưởng rằng ta không biết sao?

Ông cũng có những toan tính của riêng mình.

Chumig không đời nào trở thành khiên chắn của Shalu.

Chomden Rigdrel quay mặt đi, hậm hực.

Tôi hớn hở ra về, định bụng sẽ báo tin vui cho Bát Tư Ba, rằng những cố gắng không mệt mỏi của chàng cuối cùng cũng đã có kết quả đáng mừng.

Về tới nơi, thấy chàng vẫn đang miệt mài bên bàn làm việc, một ý nghĩ tinh nghịch chợt lóe lên trong đầu, tôi muốn dọa chàng.

Thế là tôi liền hóa thành người, nhón bước lại gần, vỗ nhẹ vào vai chàng.

Nào ngờ, chàng hét lên một tiếng đau đớn, cánh tay đặt vội lên bờ vai mà tôi vừa chạm vào, giật mình quay lại, gương mặt co rúm vì chống chịu với cơn đau.

Trông thấy tôi, hai mắt chàng mở to, chàng lập tức lùi lại phía sau, giữ khoảng cách an toàn.

– Lâu Cát, chàng…chàng làm sao vậy?

Tôi bàng hoàng nhìn lại bàn tay mình, tôi vỗ rất nhẹ thôi mà, sao chàng lại phản ứng dữ dội như thể vừa bị giáng một đòn chí mạng vậy?

– Ta không sao.

Chàng khẽ thở dốc, buông thõng cánh tay vừa ôm lấy vai xuống, quay mặt đi.

– Ta tập trung cao độ để viết một bức thư quan trọng gửi Đại hãn thì em đến và làm ta giật mình.

Ai trong trường hợp này cũng sẽ phản ứng như vậy.

– Nhưng em chỉ vỗ nhẹ thôi mà, vì sao chàng lại đau đớn như vậy?

Chàng xoay khớp bả vai, khẽ nhíu mày, như thể đang gắng gượng chống chịu với cơn đau buốt:

– Chắc tại va chạm đột ngột nên gân cốt nơi bả vai hơi đau.

– Vậy ư?

Để em xem nào.

Tôi định lại gần nhưng chàng nhanh chóng lùi lại.

Tôi không biết phải làm sao, đành quay đi tìm lọ thuốc bôi, đưa cho chàng:

– Đây là thuốc bôi vết thương điều chế từ hoa tuyết liên trên núi Thiên Sơn, công hiệu lắm đó.

Chàng không chịu đón lấy mà ra hiệu cho tôi đặt lên bàn rồi cầm lọ thuốc lên, ngập ngừng nói:

– Em ra ngoài đi, ta không quen cởi y phục trước mặt người khác.

Hai má nóng bừng, tôi luống cuống rời khỏi phòng chàng.

Đêm đó, tôi không sao chợp mắt được, treo mình trên cành thông trong vườn nhà, buồn bực, bứt rứt không yên.

Tôi đã bứt rụng cả một vạt lá.

Vì sao khi tôi là hồ ly thì chàng cưng nựng, dịu dàng, còn khi tôi hóa phép thành người thì chàng lại muốn né tránh, không thích trò chuyện với riêng tôi, thậm chí cố tình gán ghép tôi với Kháp Na?

Tôi những muốn xích lại gần chàng, nhưng sau khi rời khỏi Đại Đô, khoảng cách giữa chúng tôi ngày càng xa.

Lúc tôi ở bên chàng, chàng buộc tôi hóa phép trở lại nguyên hình với lý do: không muốn người khác bắt gặp chàng ở cạnh một cô gái.

Nhưng cái cớ này rất khiên cưỡng, vì thính giác của tôi rất nhạy bén, nếu có người đến, chắc chắn tôi sẽ phát hiện ra từ sớm và lập tức trở lại nguyên hình.

Huống hồ, lúc trước tôi vẫn thường ở bên chàng trong hình hài một cô gái đó thôi.

Khi ấy, chàng không hề lo lắng về điều này.

Tôi từng rất vui sướng vì nghĩ rằng, tôi đã tu luyện thành công, nếu bây giờ chàng chạm vào tôi, tôi sẽ không bị đẩy lại nguyên hình như trước nữa.

Nhưng chàng đang dần xa lánh và không muốn chạm vào tôi.

Vây tôi khổ công tu luyện còn có ý nghĩa gì nữa?

Tôi cứ ngồi trên chạc cây, thẫn thờ, vẩn vơ suy nghĩ mãi, nhưng đầu óc đơn giản của loài hồ ly chẳng thể giúp tôi lý giải nổi vì sao quan hệ của chúng tôi đang từng bước đi từ chỗ thân mật đến chỗ xa cách như vậy.

Giá như Kháp Na ở đây thì tốt biết mấy, cậu ấy sẽ phân tích cho tôi hiểu, sẽ dịu dàng an ủi, động viên tôi.

Nụ cười hút hồn của cậu ấy sẽ giúp tôi quên hết mọi ưu phiền.

Nhớ đến Kháp Na, lòng tôi chợt thắt lại, không biết cậu ấy đã hết bệnh chưa, có còn ho khan nữa không?

Sau đó tôi nhận ra, tôi rất nhớ Kháp Na, nhớ quay quắt nụ cười trong sáng, đôi mắt long lanh của cậu ấy, nhớ mọi thứ về cậu ấy.

Mừng thay, mai là ngày cuối cùng của pháp hội Chumig, Duirang đã chịu thuần phục Bát Tư Ba, mọi việc kết thúc và tôi có thể nhanh chóng trở về Sakya.

Vào ngày cuối cùng của pháp hội, mấy trăm cao tăng tập trung trong đại điện của ngôi đền Chumig, cùng nhau thảo luận bộ kinh văn Sáu luận thuyết của phái Kadampa.

Trời đang vào độ giữa thu, nắng trưa chói chang, đại điện lại chật kín người, bầu không khí rất đỗi ngột ngạt, oi bức.

Các nhà sư ai nấy đều thả trần nửa vai để giảm bớt sức nóng.

Nhưng riêng Bát Tư Ba, dù mồ hôi đã lấm tấm trên trán, y phục của chàng vẫn rất mực chỉnh tề.

Chàng ngồi thiền trên đài cao giữa chính điện, pháp tướng trang nghiêm.

Trong lúc mọi người đang thảo luận rôm tả, Chomden Rigdrel đột nhiên đứng dậy, nói lớn:

– Đêm qua ta đã làm một bài thơ, muốn nhân đây đọc hầu các vị cao tăng đại đức.

Ý các vị ra sao?

Ai nấy đều háo hức cổ vũ Chomden Rigdrel.

Ông ta ném một ánh nhìn không mấy thiện cảm về phía Bát Tư Ba, thủng thẳng cất giọng:

– “Bóng mây nha sở che mờ giáo pháp của Phật Tổ

Chốn quan trường tước đoạt hạnh phúc của chúng sinh

Tăng nhân lấm lem thế tục, tham lam quyền tước

Không hiểu hết ba điều này, sao xứng là bậc thánh giả.”

Ông vừa dứt lời, cả đại điện lao xao bàn tán.

Ai cũng nhận ra bài thơ này dùng để châm biếm Bát Tư Ba, bởi vì “Bát Tư Ba” trong tiếng Tạng có nghĩa là “bậc thánh giả”.

Bát Tư Ba vẫn khép hờ đôi mắt, vẻ mặt bình thản, tĩnh tại như mọi khi, trầm ngâm không nói.

Chomden Rigdrel được nước lấn tới, khoát tay, cất giọng oang oang:

– Thiết lập nha sở, nuôi dã tâm thống trị toàn bộ vùng Wusi, phong quan phong tước cho các giáo phái lớn, ra khỏi cửa là mang theo đoàn tùy tùng đông đảo, phô trương thanh thế.

Kể từ khi vương triều Tufan sụp đổ cho đến nay, ở đất Tạng này chưa bao giờ xảy ra chuyện tương tự.

Nghiêm trọng hơn, người làm những việc này lại là một nhà sư mà lẽ ra phải toàn tâm toàn ý phụng sự Phật Tổ!

Ông ta nhìn thẳng vào Bát Tư Ba, ánh mắt đầy khinh miệt và khiêu khích.

– Tăng nhân mà không giũ sạch bụi trần, tĩnh tâm tu tập thì sao gọi là tăng nhân?

Chi bằng đi làm quan lớn, đi mà ôm chân bọn Mông Cổ!

Công khai khiêu khích như thế là cố ý gây khó dễ cho Bát Tư Ba.

Phản ứng của những người xung quanh rất khác nhau, có kẻ tán đồng, có người phản đối, có kẻ rắp tâm hóng chuyện vui.

Duirang sa sầm mặt mày, ghé tay nói nhỏ với người hầu cận, người đó lập tức nhận lệnh đi ngay.

Một lát sau, hàng chục nô bộc lực lưỡng xuất hiện ở cổng đền, chuẩn bị tiến về phía Chomden Rigdrel.

Bát Tư Ba đột nhiên đứng dậy, khoát tay ngăn họ lại rồi chậm rãi bước đến giữa đại điện, mỉm cười, cất giọng ôn hòa:

– Đại sư Chomden Rigdrel, ta cũng đang lúc cao hứng, muốn họa lại bài thơ của đại sư, mời các vị cùng thưởng thức, được không?

Cả đại điện lập tức chìm trong yên lặng, mọi ánh mắt đều dồn về vị quốc sư phong thái đĩnh đạc, dáng vẻ an nhiên, điềm tĩnh kia.

Chàng cất giọng ngâm thư thái:

– “Phật dạy rằng giáo pháp của người có lúc thịnh lúc suy

Hạnh phúc của chúng sinh được định bởi duyên nghiệp

Muốn giáo hóa phải tùy cơ ứng biến

Không hiểu hết ba điều này, sao xứng là bậc hiền nhân.”

Những tiếng bàn tán râm ran khắp đại điện, nhiều người tấm tắc khen ngợi.

Chỉ trong thời gian ngắn như vậy, Bát Tư Ba đã ứng đối rất nhịp nhàng, chuẩn mực và sâu sắc, thậm chí đã khéo léo gắn tên của Chomden Rigdrel vào bài thơ.

Trong tiếng Tạng, “Chomden Rigdrel” có nghĩa là nhà hiền triết một lòng hướng Phật.

Trí tuệ mẫn tiệp, thông tuệ, nhạy bén của Bát Tư Ba thật khiến người ta phải khâm phục, ngưỡng mộ.

Chomden Rigdrel hoàn toàn bất ngờ trước “đòn phản công” của Bát Tư Ba, vì chàng không dùng quyền lực để lấn áp mà đáp trả bằng thơ ca.

Ông ta cứ đứng ngây ra đó, trơ trơ như gỗ đá, không biết phải tiếp lời ra sao.

Bát Tư Ba đưa mắt khắp lượt tăng chúng, gương mặt cương nghị, ánh mắt kiên định.

– Tuy mang danh “bậc thánh giả” nhưng ta tự thẹn với lòng mình vì mấy năm qua đã dành nhiều tâm sức vào công việc chính sự mà sao nhãng việc tu tập và nghiên cứu kinh văn của các giáo phái.

Ta cảm thấy vô cùng may mắn vì nhân dịp này được học hỏi từ các vị cao tăng phái Kadampa nhiều kiến thức Phật giáo uyên thâm, quý báu.

Ta cũng vô cùng cảm phục công đức bao la của đại sư Chomden Rigdrel vì đại sư đã dày công biên soạn cuốn Đại Tạng kinh mục lục luận điển quảng thuyết, giúp truyền bá ngày càng rộng rãi hơn các giáo lý Phật pháp.

Có điều, ta e rằng đại sư bế quan tu tập nhiều năm nên chưa bắt được tình hình trước mắt của đất Tạng.

Những suy nghĩ và đường lối của đại sư sẽ khiến đất Tạng bị cô lập với thế giới bên ngoài.

Cách nghĩ đó tuy hay nhưng không thể áp dụng. – Giọng chàng trầm vang, mạnh mẽ, có sức lay động. – Trước kia, người Mông Cổ không tin theo Phật pháp, họ có tín ngưỡng riêng của họ, đó là tín ngưỡng Saman.

Nhưng kể từ thời đại của bác ta, với những nỗ lực phi thường, ngài Ban Trí Đạt đã thuyết phục được người Mông Cổ quy y Phật pháp, chấm dứt chiến tranh với đất Tạng.

Dù chúng ta và họ khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, nhưng Phật dạy rằng mọi chúng sinh đều bình đẳng.

Trang phục, lễ nghi không phải thứ quan trọng, quan trọng hơn cả là làm thế nào để chấm dứt tình trạng chia năm xẻ bảy đang diễn ra bao năm qua trên quê hương chúng ta!

Mọi người đều như vừa bừng tỉnh sau giấc mộng dài, ngay cả Chomden Rigdrel cũng cúi đầu xấu hổ.

Duirang nháy mắt ra hiệu cho các nô bộc lập tức rút lui.

Sau đó ông ấy bước tới, cung kính vái lạy Bát Tư Ba, thưa rằng:

– Thưa quốc sư, chúng tôi đây tầm nhìn hạn hẹp, kiến thức nông cạn, không có cái nhìn toàn vẹn về thế cục.

Nay được quốc sư ban lời vàng ngọc, mới chợt tỉnh ngộ, hiểu ra tất thảy.

Vạn hộ hầu Chumig nguyện tuân theo pháp chỉ của phái Sakya, bằng lòng cắt ba nghìn cư dân Mid.

Đến lúc này, gương mặt Bát Tư Ba mới rạng rỡ trở lại sau bao ngày tháng.

Gió mát xua tan mây đen trên bầu trời, ánh nắng rực rỡ chiếu qua khung cửa sổ đại điện, dát vàng cả không gian, phủ lên mình Bát Tư Ba vầng hào quang chói lọi.

Chàng nổi bật giữa vầng hào quang lấp lánh ấy, thần sắc trang nghiêm, phong thái bất phàm.

Tất cả những người có mặt trong đại điện lúc đó đều quỳ sụp xuống, dập đầu vái lạy trước cảnh tượng kỳ ảo, thần thánh ấy.

Hoàn thành nhiệm vụ ở Chumig, Bát Tư Ba lên xe ngựa, ra về trong tiếng hoan hô dậy sóng của Duirang và các tăng nhân phái Kadampa.

Chàng dự định đi tiếp về hướng nam, ghé thăm Vạn hộ hầu Gyangsto ở Nyadong, vùng cực nam của Hậu Tạng.

Tôi thầm thở dài, cứ ngỡ sẽ được về Sakya gặp Kháp Na, nào ngờ Bát Tư Ba lại muốn nhân tiện viếng thăm và thuyết phục hầu hết các vạn hộ hầu ở vùng Hậu Tạng, chỉ trừ Vạn hộ hầu Shalu.

Nếu cứ đà này, có lẽ phải đến mùa đông mới về được Sakya.

Nhưng tôi nhớ Kháp Na da diết nên dự định sẽ trốn về Sakya vài ngày sau khi đoàn chúng tôi đến Nyadong.

Nhưng khi chúng tôi chưa kịp đặt chân đến Nyadong thì một đội xe ngựa của Sakya đã đuổi theo và bắt kịp chúng tôi.

Dẫn đầu là Dampa, đệ tử của Bát Tư Ba mới thu nhận ở Chindu.

– Có chuyện gì? – Bát Tư Ba vừa đỡ lấy Dampa vừa gạn hỏi, vẻ mặt đầy lo lắng.

Dampa hổn hển:

– Thưa thầy, không cần phải đi thuyết phục từng vạn hộ hầu nữa, mời ngài về Sakya ngay.

Bạch Lan Vương…, Bạch Lan Vương…

Tôi thốt lên kinh hãi rồi vội che miệng, cũng may tiếng kêu của loài hồ ly rất nhỏ nên không gây chú ý.

– Kháp Na làm sao?

Dù hết sức bình tĩnh, giọng nói của Bát Tư Ba vẫn run lên vì xúc động.

Dampa vội vàng xua tay để xóa đi sự hiểu lầm của Bát Tư Ba, hớn hở báo tin:

– Xin thầy đừng lo lắng, là chuyện vui.

Bạch Lan Vương sắp kết hôn, vợ ngài là con gái của Vạn hộ hầu Shalu.

Cậu ta thở dốc rồi thông báo tin quan trọng nhất:

– Vạn hộ hầu Shalu đã đồng ý quy thuận phái Sakya, cùng bốn vạn hộ hầu khác.

Trái tim tôi như vừa bị vật nhọn đâm trúng, đầu óc hoàn toàn trống rỗng.

Bát Tư Ba túm chặt lấy cánh tay Dampa, sắc mặt nhợt nhạt:

– Sao lại có đám cưới này?

Jichoi nhân lúc ta đi vắng đã đến Sakya ư?

Dampa không khỏi kinh ngạc trước thái độ nghiêm trọng của Bát Tư Ba.

– Dạ thưa, không phải, Bạch Lan Vương đích thân đến trang viện Shalu cầu hôn.

– Nó đi Shalu ư?

Nó đang ốm kia mà!

Bát Tư Ba nghiêm mặt quát.

– Nói mau, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Dampa rất mực bối rối:

– Sau khi thầy rời khỏi Sakya, Bạch Lan Vương cũng lập tức lên đường.

Ngài chỉ đem theo người hầu cận thân thiết là Kunga Zangpo, nói rằng sẽ đến suối nước nóng trên ngọn đồi phía bắc của dãy núi Benbo để chữa bệnh, nên không ai băn khoăn gì cả.

Nhưng năm, sáu ngày sau không thấy Bạch Lan Vương quay về, bản khâm sốt ruột, sai người đến suối nước nóng tìm kiếm thì không thấy Vương gia đâu.

Sắc mặt của Bát Tư Ba càng lúc càng xấu đi, giọng nói chất chứa cơn phẫn nộ:

– Nó đã lén đến Shalu?

Dampa cúi đầu, tiếp tục bẩm báo:

– Bản khâm biết thầy bận việc lớn ở Chumig nên không dám cho người đến báo tin, chỉ sai gia nhân đi khắp nơi tìm kiếm.

Năm ngày sau, Kunga Sanpo đột nhiên trở về Sakya và mang theo tin vui này.

Vạn hộ hầu Shalu đã chọn ngày Hai mươi tám tháng này là ngày lành tháng tốt để tổ chức hôn lễ.

Được kết làm thông gia với Shalu nên tất cả những người trong giáo phái đều vui mừng khôn xiết.

Bản khâm đã sai người sắp xếp, bố trí mọi thứ để tổ chức một hôn lễ thật long trọng, nghênh đón Vương phi của Bạch Lan Vương về Sakya vào ngày Hai mươi tám tới, đồng thời lệnh cho đệ tử lập tức lên đường, đi đón thầy về Sakya.

Bát Tư Ba chao đảo:

– Kháp Na đang ở đâu?

– Bạch Lan Vương đang cùng đoàn rước dâu trên đường về Sakya, khoảng Hai mươi lăm là về tới nơi.

– Ngày Hai mươi tám ư?

Vậy là chỉ còn tám ngày nữa.

Gương mặt Bát Tư Ba lạnh băng, chàng quay lại hỏi người đánh xe:

– Nếu lập tức lên đường thì bao lâu mới về tới?

Phu xe thưa:

– Bẩm, nếu theo tuyến đường bình thường thì mất khoảng nửa tháng.

Bát Tư Ba xem xét lại đoàn người ngựa cồng kềnh của mình, lập tức hạ lệnh:

– Chia thành hai đoàn nhỏ, xếp tất cả những vật dụng cồng kềnh lên mấy cỗ xe ngựa, cho đi sau cùng đoàn tùy tùng.

Giảm tối đa trọng lượng cỗ xe của ta, ta chỉ cần Dampa đi theo là đủ.

Lập tức xuất phát, trong vòng tám ngày phải về đến Sakya!

Cỗ xe tăng tốc hết mức có thể, đường núi gập ghềnh, hiểm trở, xe xóc, người mệt, tôi nằm bò trên chiếc đệm lông cừu, lòng buồn se sắt.

– Lam Kha, sao thế?

Có phải xe ngựa xốc quá không?

Chàng nhấc tôi lên, đặt vào lòng mình, nhìn tôi lo lắng.

Tôi mệt mỏi, lờ đờ, giọng nói yếu ớt:

– Em đau đầu, chóng mặt khó chịu vô cùng.

Chàng hốt hoảng, siết chặt tôi hơn nữa:

– Ta sẽ ôm em thật chặt, như vậy em sẽ không thấy khó chịu nữa.

Tôi nhắm mắt lại, để mặc chàng chăm sóc, mặc chàng tỉ tê vỗ về, an ủi.

Chừng hơn một canh giờ sau, tôi bắt đầu khóc lóc:

– Em vẫn thấy khó chịu vô cùng.

Hình như có một cái dằm trong tim em, xe ngựa cứ nhảy lên một cái, dằm lại cắm sâu vào tim em, cứ thế, nó đâm nát tim em rồi.

Nước mắt tôi lăn dài trên má, thấm vào lớp áo tăng ni của chàng.

Tôi cào cào móng vuốt vào ngực mình, run rẩy:

– Em muốn nhổ cái dằm đó ra, nhưng em không tìm được nó, không tìm được nó!

Bát Tư Ba bối rối lau nước mắt cho tôi, lo lắng dỗ dành:

– Lam Kha, cho ta hay, em làm sao vậy?

– Em không biết nữa, em chưa bao giờ đau đớn, khó chịu thế này.

Rồi tôi hạ quyết tâm, ngẩng lên nói với chàng trong làn nước mắt:

– Em phải về trước đây, em phải đi tìm Kháp Na.

Bàn tay chàng đột nhiên siết chặt hơn, hai mắt khép hờ, lặng yên không nói.

Một lúc lâu sau, chàng mới hé mở cặp mắt mỏi mệt, gật đầu với tôi.

* * * * *

Nhắc lại cuộc chạm trán và đối đáp với Chomden Rigdrel, tuy Bát Tư Ba đã giành chiến thắng bằng trí tuệ sắc sảo của mình nhưng tôi vẫn than vắn thở dài:

– Tuy Bát Tư Ba có công lớn đối với việc thống nhất đất Tạng nhưng không thể tránh khỏi những lời dèm pha, chỉ trích của những nhà tu hành tuân thủ tuyệt đối giới luật của nhà Phật.

Chàng theo người Mông Cổ đã lâu nên cách ăn mặc, cách hành xử cũng giống hệt người Mông Cổ.

Trong con mắt của một số người Tạng bảo thủ thì chàng chẳng khác nào một người Mông Cổ mặc áo của người Tạng.

Chàng trai trẻ lên tiếng:

– Phái Sakya trở nên lớn mạnh, tất cả đều dựa vào thế lực của người Mông Cổ.

Bởi vậy, sự hưng thịnh hay suy yếu của giáo phái này gắn chặt với sự hưng thịnh và suy yếu của triều Nguyên.

Thật đúng với câu: Thành cũng nhờ Mông Cổ, bại cũng do Mông Cổ.

Tôi cười buồn:

– Bát Tư Ba xuất hành quả thật không giống một nhà sư.

Đoàn tùy tùng theo hầu chàng chính là tổ chức Labrang mà chàng lập ra cho riêng mình, phỏng theo cơ cấu cai quản thị vệ của các vương gia Mông Cổ.

Chàng có khoảng mười ba quan thị vệ lo liệu công việc cho mình, trong số đó có cả nhà sư và người thường.

Senge là một trong số họ.

Trong suốt những năm tháng mà uy danh của Bát Tư Ba lừng lẫy khắp nơi, những viên quan thị vệ này đi tới đâu cũng được kẻ khác vì nể.

Chàng trai trẻ bật cười:

– Thế mới nói, ngài chính là một chính khách mặc áo nhà sư.

– Nhưng chế độ Labrang mà Bát Tư Ba sáng lập ra cũng có ánh hưởng rất lớn đối với các thế hệ tiếp theo.

Vì các thủ lĩnh tôn giáo sau này đều học theo chàng, Labrang trở thành một tổ chức thị vệ mà bất cứ lãnh tụ tôn giáo nào trên đất Tạng cũng cần có.

Tổ chức này không chỉ kéo dài cho đến khi triều Nguyên bị diệt vong mà ngay cả trong thời nhà Minh, nhà Thanh, người ta vẫn có thể thấy bóng dáng của chính quyền Sakya trong cấu trúc tổ chức chính quyền của vùng Tây Tạng.

Hết chương 39.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 40: Cuộc hôn nhân chính trị


“Bậc thánh hiền mắc sai lầm nhỏ bé cũng ra sức sửa đổi,

Kẻ tiểu nhân dù tội nghiệt tày trời vẫn thờ ơ, bất cần;

Bánh sữa vương chút bụi bẩn cũng phải đổ bỏ,

Rượu ủ buộc phải rắc thêm bột men.”

(Cách ngôn Sakya)

Dòng sông Xiabuqu uốn lượn quanh cung đường gập ghềnh, khúc khuỷu.

Đoàn người ngựa rầm rập diễu qua.

Hơn mười cỗ xe ngựa chất ngất hòm xiểng, núi của hồi môn ấy của nhà gái khiến thiên hạ phải đỏ mắt.

Kháp Na cưỡi ngựa trắng phủ lụa đỏ, đi giữa cả rừng người, phía sau là xe hoa lộng lẫy, nổi bật.

Tháng Mười một, mùa đông đã về trên đất Tạng.

Kháp Na khoác áo choàng da báo, lối phục trang trang trọng càng làm nổi bật thân hình mảnh khảnh, nho nhã của cậu.

Mái tóc dài được bện xen kẽ với chuỗi hạt san hô và hổ phách, thành những lọn nhỏ thả lơ lửng trước ngực.

Vẻ điển trai hiếm có của chàng trai đất Tạng một lần nữa thu hút mọi ánh mắt và là đối tượng tung hô, ái mộ của đám đông các thiếu nữ xung quanh.

Nhưng lạ lùng thay, gương mặt của chàng trai đang cưỡi trên con tuấn mã là tâm điểm của sự chú ý ấy lại trắng bệch, nhợt nhạt đến dị thường.

So với lần gặp cuối cùng cách đó một tháng, tôi thấy cậu ấy hốc hác đi rất nhiều.

Vẻ mặt căng thẳng, đôi mắt thẫn thờ, vô hồn, chốc chốc cậu ấy lại nghiêng đầu ho khan dữ dội, gương mặt đỏ tía tái sau mỗi cơn ho, mỗi khi gió lạnh ào tới, sắc đỏ lịm dần, gương mặt trở nên trắng bệch, cậu ấy phải rút khăn thấm mồ hôi liên tục.

Khoảnh khắc gặp lại cậu ấy, trái tim tôi quặn thắt như bị một bàn tay vô hình vò xé.

Mới một tháng không gặp, sao cậu ấy tiều tụy nhường vậy?

Sao cậu ấy vẫn chưa khỏi bệnh?

Kunga Zangpo thúc ngựa tiến đến, bẩm báo:

– Cậu chủ, trời đã tối, phía trước có một thôn nhỏ gọi là Sedui, chúng ta hãy dừng chân nghỉ lại một đêm, ngày mai lên đường về Sakya.

Kháp Na gật đầu khó nhọc.

Kunga Zangpo nhận ra vẻ mệt mỏi của cậu chủ, bèn khuyên:

– Cậu cưỡi ngựa đường xa như vậy nên sẽ rất mất sức, chi bằng hãy vào trong xe ngựa nghỉ ngơi.

Kháp Na xua tay:

– Không sao, ta không mệt.

Kunga Zangpo còn muốn nài nỉ thêm đôi câu nhưng gương mặt xinh đẹp lấp ló ngoài cửa xe và tiếng cười hồn nhiên của Kangtsoban đã chặn đứng ý định của Kunga Zangpo:

– Chàng ơi, lại đây với em!

Kháp Na khách sáo đáp lại:

– Tiểu thư à, chúng ta vẫn chưa thành thân, không nên ngồi chung xe ngựa.

Gương mặt tươi cười, hoan hỉ của Kangtsoban lập tức biến thành vẻ ấm ức, giận dỗi, hai tay đập điên cuồng vào khung cửa, giậm chân bình bịch khiến cả cỗ xe ngựa rung lên:

– Không chịu đâu!

Cha bảo chàng là chồng ta, chàng phải nghe lời ta!

Anh trai cô dâu vội vã chạy lại khuyên nhủ em gái nhưng Kangtsoban một mực không chịu, gào khóc dữ hơn.

Đám đông hiếu kỳ chỉ trỏ, bàn tán xôn xao hai bên đường.

Selangqe đành muối mặt cầu xin Kháp Na:

– Em gái tôi tính tình ương bướng, xưa nay muốn thứ gì là phải đòi cho bằng được, bằng không sẽ gào khóc, la hét không dứt.

Thường ngày, cha tôi và tôi đều phải chiều theo ý nó.

Kháp Na ho vài tiếng rồi khẽ cau mày, nhưng cậu ấy vẫn xuống ngựa, bước về phía Kangtsoban:

– Huynh đừng lo, ta sẽ chiều theo cô ấy!

Kháp Na vén rèm cửa, ngồi vào xe ngựa của Kangtsoban.

Cô nàng vội vàng nắm chặt cánh tay cậu ấy, ngả người vào lòng cậu ấy, mặt tươi như hoa.

Tôi lặng lẽ bám theo đoàn rước dâu, lòng thắt lại khi chứng kiến cảnh tượng đó.

Hôm ấy, tôi không tìm được dịp nào để gặp riêng Kháp Na vì Kangtsoban cứ bám riết lấy cậu ấy, hễ Kháp Na rời khỏi tầm mắt là cô nàng lại gào khóc ầm ĩ.

Ngay cả lúc đi ngủ, Kháp Na cũng phải túc trực bên Kangtsoban.

Selangqe dường như phát sốt vì cô em gái khó bảo, còn Kháp Na vẫn nhẫn nại, hòa nhã, mặc dù những cơn ho dữ dội vẫn đeo bám cậu.

Jichoi chứng kiến tất cả, chốc chốc lại đưa tay áo lên chấm nước mắt, hết lời ca ngợi Kháp Na, tán tụng cậu ấy với tất cả những người trong đoàn đưa dâu rằng, Phật Tổ đã ban cho ông ta một chàng rể tuyệt vời, hiếm có.

Dù đã gần kiệt sức, Kháp Na vẫn chiều ý Kangtsoban, ngồi bên giường dỗ dành cô nàng ngủ, hệt như dỗ dành một đứa trẻ.

Cậu để mặc Kangtsoban nắm chặt bàn tay mình, khe khẽ hát ru:

– “Ầu ơ, ầu ơ, nhịp võng ru

Ngủ ngoan con yêu, tay mẹ đưa

Mai sau khôn lớn con hãy nhớ

Tình mẹ ngày đêm vẫn đợi chờ.”

Giọng hát trầm buồn, nghẹn ngào như khóc than quyến luyến, da diết.

Ánh mắt mơ màng hướng lên khoảng không mông lung, cậu ấy hát đi hát lại khúc ru êm ả, khóe môi chợt hé một nét cười nhạt nhòa.

Kangtsoban khẽ xoay người, thiếp đi.

Gương mặt Kangtsoban lúc ngủ trông rất dễ thương, đó là gương mặt thiếu nữ hồn nhiên, ngây thơ, vô tư lự.

Những đường cong quyến rũ trên cơ thể cô gái lấp ló dưới tấm chăn mỏng.

Tôi cứ dán mắt vào thân hình tuyệt mỹ đó mà cổ họng nghẹn đắng.

Kháp Na không rút cánh tay ra khỏi bàn tay nắm chặt của Kangtsoban, trái lại, cậu ấy ngồi yên bên giường rất lâu, ngắm nghía người vợ thứ ba của mình.

Cậu ấy bàng hoàng, sợ hãi trong hôn lễ đầu tiên, ấm ức, khó chịu trong hôn lễ thứ hai, và trong cuộc hôn nhân lần thứ ba này, cậu ấy trở nên thờ ơ, lãnh đạm.

Chao đèn đung đưa, dưới ánh nến nhập nhòa, gương mặt Kháp Na biểu lộ vẻ thương hại, cậu ấy nhè nhẹ vuốt gọn những lọn tóc rối của Kangtsoban.

Tôi nép mình trong góc khuất, cõi lòng tan nát khi chứng kiến những cử chỉ rất đỗi dịu dàng của cậu ấy dành cho Kangtsoban, toàn thân rã rời vì mỏi mệt và đau khổ.

Cậu ấy chưa từng thân mật với hai người vợ trước đó như thế.

Tôi cứ hồn nhiên cho rằng, trên cõi đời này, chỉ có tôi được thấy cậu ấy ân cần, dịu dàng, chỉ có tôi được nắm tay cậu ấy như thế, chỉ có tôi mới khiến cậu ấy mỉm cười.

Thì ra, không phải vậy.

Tôi thẫn thờ bước ra khỏi góc tối, muốn đến trước mặt và nói với cậu ấy rằng: “Kháp Na ơi!

Đừng mỉm cười với những người phụ nữ khác, vì tôi sẽ đau lòng lắm.”

Bỗng “cộc” một cái, đầu tôi va vào vách ngăn của chiếc tủ gỗ gắn trên tường đau điếng, mắt hoa lên, tôi chợt nhận ra thực tế trước mắt.

Tôi chìa cánh tay ra, không, không phải cánh tay mà là chân trước đầy lông lá.

Nước mắt rưng rưng, đúng rồi, tôi chỉ là một tiểu hồ ly, là thú cưng của anh em họ, tôi lấy tư cách gì mà buộc cậu ấy không được yêu chiều người vợ mà cậu ấy đã cưới hỏi đàng hoàng?

Hà cớ gì mà tôi buộc cậu ấy chỉ được phép cười với một con hồ ly?

Nghe thấy tiếng động, Kháp Na thoát khỏi bàn tay Kangtsoban, bước lại chiếc tủ tường để xem xét.

Tôi vội vã ẩn mình, cắn chặt môi, nín thở, gắng sức không phát ra tiếng động.

Tôi không muốn cậu ấy thấy tình cảnh bi đát của tôi lúc này, không muốn cậu ấy biết rằng tôi đang ghen đến cuồng điên.

Không phát hiện ra điều gì khác lạ, cậu ấy bèn lại gần cửa sổ, ngước nhìn vầng trăng tròn vành vạnh, chênh chếch trên những tán cây cao.

Trăng sáng lung linh, diễm lệ.

Ánh trăng tỏa mát dáng hình cao gầy, gương mặt dịu dàng của cậu ấy.

Tôi mê mải ngắm nhìn bóng dáng cô đơn, tịch liêu ấy, tâm hồn ngây ngất.

Ngôi đền Sakya được sơn quét, trang hoàng với ba gam màu: đỏ, trắng và xanh lam rực rỡ, vốn là màu sắc đặc trưng của giáo phái này.

Người ta chăng kết những dòng cờ phướn ngũ sắc khắp nơi bên trong và ngoài ngôi đền.

Sư tăng tấp nập lau dọn, bày biện, trang trí, những dải lụa đỏ được treo trên khắp các điện thờ.

Không khí đầu đông dường như bớt u tịch hơn nhờ những sắc màu rực rỡ, sống động này.

Nhà cửa sáng sủa, trang hoàng lộng lẫy, bắt mắt, bầu không khí vui tươi lan tỏa đến từng người.

Những ngày qua, khách khứa tấp nập kéo về Sakya tham dự đám cưới.

Họ là cao tăng của các ngôi đền, quan chức địa phương và vạn hộ hầu khắp đất Tạng.

Bản khâm Sakya Zangpo mệt bở hơi tai vì phải tiếp đón quan khách và sắp đặt mọi việc.

Viện cớ bệnh tình chưa thuyên giảm, cần tĩnh dưỡng, Kháp Na thờ ơ với mọi thứ.

Cậu ấy căn dặn người nhà rằng, ngoài Bát Tư Ba và Kunga Zangpo, không ai được phép bước vào Lang Như Thư Lầu, không ai được phép gây ồn ào, huyên náo quanh nơi ở của cậu ấy.

Đó là vùng trời riêng, cách biệt với thế giới mà cậu quyết tâm gây dựng.

Ở nơi đây, cậu ấy có thể trút bỏ mọi sự đời phiền não.

Một chén trà, một cuốn sách, bình yên thưởng thức, thư thái chiêm nghiệm, ngày tháng êm đềm trôi qua kẽ tay.

Phòng tân hôn của cậu và Kangtsoban được bố trí ở đầu bên kia của ngôi đền, đó là một ngôi lầu cao gồm ba tầng, trang nghiêm, đồ sộ, mái nhà dát vàng lấp lánh dưới ánh mặt trời, có thể thấy rõ từ rất xa.

Nhưng kể từ ngày về đến Sakya, Kháp Na rất ít ra khỏi Lang Như Thư Lầu, cũng rất ít khi chịu gặp cha và anh vợ.

Chỉ khi nào Kangtsoban làm mình làm mẩy đòi gặp cậu ấy bằng được, cậu ấy mới chịu rời Lang Như Thư Lầu để đến an ủi cô nàng.

Đến trước ngày cử hành hôn lễ, ánh trăng lạnh giá phủ lên khắp ngôi đền một sắc trắng tê tái.

Sự yên tĩnh của Lang Như Thư Lầu bị phá vỡ bởi tiếng gõ cửa thúc bách, dồn dập của Bát Tư Ba, chàng vừa cấp tốc trở về từ Chumig.

– Đại ca?

Sao huynh về sớm vậy?

Đệ tưởng huynh không kịp về dự hôn lễ của đệ.

Kháp Na còn thức.

Cậu ra mở cửa và đón anh trai vào phòng khách, rót cho anh trai một chén trà bơ nóng hổi.

Vẻ mặt Bát Tư Ba hết sức căng thẳng, nghiêm nghị.

– Hãy cho ta biết, đệ đang làm gì vậy?

Bát Tư Ba không đón lấy chén trà, trong mắt vằn vện những tia máu đỏ, nhìn xoáy vào Kháp Na, giọng nói nghiêm khắc đến đáng sợ.

Kháp Na đặt chén trà xuống bàn, cười trừ:

– Đệ cưới vợ mà!

Đàn ông độc thân cưới vợ thì có gì lạ đâu.

Đại ca cũng trông ngóng đệ cưới vợ kia mà!

Bát Tư Ba không kiềm chế nổi, gắt lên:

– Ta mong đệ cưới vợ, nhưng không phải cưới một người vợ ngớ ngẩn mà là người đệ yêu thương kia…

Kháp Na ngắt lời anh trai, giọng bình thản:

– Chắc huynh cũng biết rằng, cuộc hôn nhân này mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo phái.

Có thể huynh chẳng màng đến núi của hồi môn mà Vạn hộ hầu Shalu tặng cho con gái nhưng huynh không thể không quan tâm đến việc ông ta dẫn theo bốn vạn hộ hầu khác đến quy phục Sakya!

Điều này giúp ích rất lớn cho kế hoạch phân chia cư dân Mid của huynh.

Vùng Hậu Tạng ổn định thì huynh mới có thể dốc toàn tâm đối phó với thế lực của phái Phaktru và phái Drikung ở Tiền Tạng được chứ!

Bát Tư Ba mỏi mệt xua tay:

– Những việc chính sự đau đầu này, ta tự biết cách giải quyết, huống hồ, cục diện hiện nay cũng không xấu như đệ nghĩ.

Ta đã thuyết phục được Vạn họ hầu Chumig…

– Đại ca, đệ đã lấy được thứ mà huynh muốn có nhất.

Kháp Na thản nhiên ngắt lời anh trai, ánh mắt bình thản, phẳng lặng hệt một thầy tu đã trải qua nhiều năm thiền định.

– Bố vợ của đệ đã hứa sẽ cắt vùng Samdruptse, cách Shalu bốn mưới dặm, tặng cho phái Sakya để chúng ta xây dựng thành trì.

– Kháp Na!

Bát Tư Ba thốt lên kinh ngạc, giọng nói run run.

– Ta không muốn đệ hy sinh hạnh phúc của mình để đổi lấy những thứ này!

– Đại ca, đệ vốn chẳng ham hố, cũng chẳng đủ năng lực để xử lý các công việc chính sự, nhưng đệ không thể chống mắt nhìn huynh gồng mình gánh vác trọng trách, chẳng màng đến bản thân như thế.

Ánh mắt vốn tĩnh lặng của Kháp Na chợt dâng lên những làn sóng ấm áp.

Cậu ấy bước lại gần, nắm chặt bàn tay Bát Tư Ba, khóe môi nở nụ cười thê lương:

– Nếu có thể giúp được huynh, giúp được giáo phái thì đệ cưới ai cũng được, cưới bao nhiêu người cũng không vấn đề gì.

– Còn tình cảm của đệ dành cho Lam Kha thì sao?

Bát Tư Ba nghẹn ngào, ánh mắt long lanh.

– Đệ yêu cô ấy nhiều như vậy…

Lần đầu tiên sau bao ngày buồn nản, náu mình ủ rũ trên xà ngang của căn phòng, tôi giật mình ngẩng đầu khi nghe thấy những lời của Bát Tư Ba.

Kháp Na chừng như bối rối, vội vã lấp liếm:

– Đại ca, đệ đã nói rất nhiều lần rồi, không phải vậy!

– Đừng trốn tránh nữa!

Bát Tư Ba truy đuổi ánh mắt đang chạy trốn của Kháp Na.

– Đêm đó, đệ đã bất chấp nỗi mệt mỏi sau chặng đường dài, không từ nan giúp cô ấy hóa giải hậu quả của linh khí phản ngược…

Như có tiếng sét nổ vang trong đầu tôi, tim tôi loạn nhịp, như sắp nghẹt thở.

Dường như không còn lối thoát, Kháp Na đành phải đối diện.

Gương mặt cậu ấy bộc lộ vẻ phong lưu, phóng đãng tôi chưa từng thấy bao giờ, cậu ấy bật cười khúc khích:

– Kìa đại ca, đệ là đàn ông kia mà, gã đàn ông nào mà không ham muốn nữ sắc.

Ai có thể cưỡng lại được vẻ đẹp tuyệt sắc của Tiểu Lam kia chứ!

Thực ra, đệ muốn ra tay từ lâu rồi, nhưng đệ còn e ngại vì cô ấy có linh khí.

Lần đó đúng là dịp may trời cho, mỡ đến miệng mèo như thế, sao đệ có thể từ chối?

Bát Tư Ba xoay vai Kháp Na lại, nhìn thẳng vào ánh mắt lấp lánh của em trai:

– Thật ư?

Bạch Lan Vương là ai nào?

Với thân phận của đệ, muốn có phụ nữ dễ như trở bàn tay.

Một vương gia phóng túng sẵn sàng đánh đổi mười năm dương thọ lấy một đêm phong lưu ư?

Nếu không yêu sâu đậm, trên đời này, có người đàn ông nào bằng lòng đánh đổi như thế?

Tôi nhìn Kháp Na mà chết lặng, đầu óc quay cuồng, nhói buốt như bị châm kim.

Kháp Na chực biện bạch thì một cơn ho dữ dội ập đến.

Bát Tư Ba vội vã lại gần, vỗ nhẹ vào lưng em trai, nhấc chén trà bơ đưa cho cậu ấy.

Kháp Na ho khan một tràng dài rồi mới nguôi bớt, đón lấy chén trà, chầm chậm nhấp một ngụm đặng hồi sức, tiếp tục diễn vẻ mặt của kẻ ngang tàng, thở dài thườn thượt:

– Đại ca à, đêm đó đệ thực sự bị ham muốn nhục thể làm cho lóa mắt, mất hết cả tỉnh táo nên mới bất chấp hậu quả như thế.

Huynh biết không, ngay sau đó đệ đã hối hận, vì sau khi về đất Tạng, đệ đau ốm liên miên, đó là tội nợ của cái đêm phong lưu ấy.

Rõ ràng là không nên đụng đến loài hồ ly thiêng, đệ đang bị trời trừng phạt đây!

Sau này, đệ quyết không đụng vào cô ấy nữa, một lần trong đời là quá đủ, đệ không muốn tiếp tục đau ốm nữa!

Bát Tư Ba chẳng hề động lòng, ánh mắt trĩu buồn:

– Nếu đệ không muốn tiếp tục đau ốm thì vì sao đêm trước khi ta lên đường đi Chumig, đệ lại cố tình để mình bị cảm lạnh?

Kháp Na sững sờ, chén trà rơi xuống đất, vỡ choang.

– Huynh… sao huynh biết…

Cậu ấy ngừng lại, cúi đầu, làu bàu:

– Đám người hầu lại mách lẻo đây mà!

Bát Tư Ba thăm dò Kháp Na:

– Đệ cố tình giả ốm để đẩy ta và Lam Kha đi xa, như vậy đệ sẽ có thời gian để đến Shalu hỏi cưới.

Nhưng điều khiến ta băn khoăn là đệ chỉ bị cảm nhẹ, vậy mà vì sao đã hơn một tháng, bệnh tình chẳng những không thuyên giảm mà càng nghiêm trọng?

Kháp Na khẽ rùng mình, vội ngồi sụp xuống, vờ gom nhặt những mảnh vỡ của chén trà.

Trong lúc uống quýt, cậu ấy đã để một mảnh sành cứa vào tay, khẽ kêu lên.

Bát Tư Ba ngồi xuống cạnh em trai, nhấc bàn tay bị thương của Kháp Na lên kiểm tra.

Kháp Na đút ngón tay vào trong miệng, nói chữa:

– Đệ không sao.

Như sực nghĩ ra điều gì, Bát Tư Ba túm lấy cổ áo Kháp Na, căn vặn:

– Đệ cố ý để bệnh tình kéo dài đúng không?

Có phải đệ đã lén đổ thuốc đi?

Hay đệ cố tình tắm nước lạnh để tiếp tục bị cảm?

Kháp Na không trả lời, quay đi, che miệng ho một chặp.

Bát Tư Ba gào lên thảm thiết:

– Kháp Na, đệ đang làm gì thế này?

Đệ không muốn sống nữa sao?

Kháp Na ngẩng lên, vẻ phóng túng, lẳng lơ tan biến, ánh mắt nhuốm bi ai, nụ cười tê tái:

– Đệ phải lấy cớ đau ốm để không phải đụng vào cô dâu, để không bị huynh và bố vợ ép sinh con.

Bát Tư Ba đang định mở lời thì Kháp Na đã vội ngăn lại, nụ cười vẫn hiển hiện trên gương mặt cậu ấy, nhưng chẳng có lấy, dù chỉ một chút hơi ấm.

– Đại ca, xin đừng cố chấp nữa!

Đệ bằng lòng cưới bất cứ ai, đần độn, ngốc dại, ngớ ngẩn, xấu đẹp, già trẻ gì cũng được.

Đệ cưới mấy chục, mấy trăm người vợ cũng không sao.

Nhưng đệ tuyệt đối không sinh con để nối dõi tông đường theo ý nguyện của huynh đâu!

Bát Tư Ba bàng hoàng ngồi phịch xuống đất, kinh ngạc nhìn Kháp Na, lắc đầu đau khổ:

– Kháp Na, đệ…

– Nếu huynh đã biết thì đệ cũng không giấu nữa.

Phải, đệ yêu Tiểu Lam, đệ yêu cô ấy ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi cô ấy biến thành người.

Thậm chí, có thể là từ trước đó rất lâu.

Khi đệ biết cô ấy có thể tu luyện thành người, đệ đã thầm cầu mong, thầm trông đợi một ngày kia.

Lúc đó, đệ đã nghĩ rằng, dù cô ấy hóa thành người nào đi nữa, đệ cũng sẽ yêu cô ấy, bởi vì cô ấy là nguồn ấm duy nhất trong suốt quãng đời cô đơn, buồn tủi dằng dặc của đệ.

Lúc nhìn thấy cô ấy hóa thành thiếu nữ, con tim đệ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Đệ không tưởng tượng nổi cô ấy lại xinh đẹp và đáng yêu nhường vậy.

Cô ấy là khát vọng thầm kín tuyệt đẹp trong lòng đệ.

Làm sao đệ còn có thể trao gửi trái tim mình cho người con gái khác được?

Mỗi lúc được ngắm nhìn nụ cười trong trẻo, rạng rỡ, tươi tắn của cô ấy, mọi khổ sở, phiền não trong lòng đệ lại tan theo mây khói.

Đệ nâng niu, trân trọng từng khoảnh khắc cô ấy biến thành người và ở bên cạnh đệ, từng cử chỉ, hành động, từng ánh mắt, nụ cười của cô ấy, tất cả đều khắc sâu trong tim đệ.

Mỗi lúc hồi tưởng lại những thời khắc tuyệt vời ấy, đệ lại quên hết mọi u sầu, trong lòng chỉ còn ngập tràn niềm hạnh phúc.

Tôi run lên bần bật, nước mắt lã chã rơi.

Tôi đâu ngờ cậu ấy lại nặng tình với mình đến thế!

Cậu ấy chầm chậm đứng lên, lại gần khung cửa sổ, vầng trăng tròn vành vạnh, cô liêu giữa trời đêm, khóe môi uốn cong thành một nụ cười dịu dàng, tuyệt mỹ.

Nụ cười ấy ngọt ngào, ngập tràn yêu thương ấy, chỉ thuộc về tôi.

Nụ cười chất chứa mọi nỗi yêu thương, bao dung, che chở ấy chỉ dành cho tôi.

Vậy mà tôi, tôi đã quen với việc hưởng thụ quá dễ dãi nụ cười ấy, đã thờ ơ, chẳng thèm bận tâm truy xét những ẩn ý thấm sâu trong đó.

Giờ đây, khi nỗi niềm đã được bày tỏ, tôi chẳng thể trốn tránh được nữa, nụ cười ấy bỗng nhiên đè nặng trong lòng tôi, nó mang sức nặng của cả một trái núi.

Cậu ấy cứ cười mãi như thế, tâm tư chìm vào hồi ức, ánh mắt mềm mại như lụa, ngọt ngào, ấm áp.

Bát Tư Ba đứng lên, lại gần em trai, khẽ gọi:

– Kháp Na, đệ yêu cô ấy nhiều như vậy, đệ nên…

– Nhưng trong lòng cô ấy chỉ có huynh thôi.

Ước nguyện lớn nhất của cô ấy là được ở bên huynh.

Cậu ấy quay người lại, ánh mắt ảm đạm, gượng cười xót xa:

– Vì yêu cô ấy nên đệ muốn giúp cô ấy.

– Nhưng đêm đó, người ở bên cạnh cô ấy là đệ kia mà!

– Đệ đang muốn nói với huynh chuyện đó đây.

Kể từ cái đêm đó cho đến nay, chúng ta đều cố tình né tránh chủ đề này.

Nhưng đệ hiểu rằng, đệ phải giải thích rõ ràng, để xóa tan mọi vướng bận trong lòng huynh.

Cậu ấy nhìn thẳng vào Bát Tư Ba, cất giọng khẩn thiết.

– Đêm đó đệ buộc phải đi.

Huynh là rường cột của phái Sakya, tính mệnh của huynh quý giá hơn bất cứ ai, vì vậy, huynh không thể mất đi mười năm dương thọ.

Còn đệ, đệ vốn yếu ớt, cứ đau ốm triền miên thế này, cũng không biết còn sống được bao lâu nữa…

Bát Tư Ba sợ hãi ngắt lời em trai:

– Ta không cho phép đệ nói những lời này!

– Đại ca, đệ bằng lòng đánh đổi mười năm để lấy một đêm ngắn ngủi ấy.

Cuộc đời vô nghĩa của đệ chỉ cần có được một đêm tuyệt vời ấy, cũng đủ rồi.

Cậu ấy cười vang, nụ cười rạng rỡ, mê hồn:

– Đêm đó chẳng qua là bất đắc dĩ, cũng may Tiểu Lam không hay biết, đệ sẽ giấu kín bí mật đó suốt đời.

Người Tạng chúng ta bản tính phóng khoáng, không nặng nề chuyện đó.

Đệ mong huynh có thể quên đi, để đến với Tiểu Lam.

Ước nguyện lớn nhất của đệ bây giờ là Tiểu Lam sẽ sinh con cho huynh và nó sẽ là người thừa kế của giáo phái Sakya.

Hai hàng nước mắt chảy dài trên gương mặt Bát Tư Ba:

– Cô ấy là người đệ yêu thương nhất đời, sao ta có thể…

– Cả huynh và cô ấy đều là người đệ yêu thương nhất trên đời.

Kháp Na sửa lại câu nói của anh trai, nắm chặt tay Bát Tư Ba, nước mắt tuôn rơi, nhưng vẫn gắng gượng cười thật tươi:

– Chỉ cần hai người hạnh phúc, đệ cũng sẽ hạnh phúc.

Bát Tư Ba ôm chầm lấy em trai.

Hai anh em họ siết chặt vòng tay, nước mắt của người này thấm ướt vai áo người kia.

Ở trên cao, tôi cũng đang thổn thức, tim gan như bị vò xé.

Đêm đó, hai anh em họ không ngủ, họ ngồi sát bên nhau, tựa lưng vào tường trong căn phòng xếp đầy những kỷ vật thời thơ bé.

Bàn tay họ lật mở từng thứ đồ chơi con trẻ cũ kĩ.

Kháp Na không còn nhớ nên Bát Tư Ba phải kể chi tiết từng thứ một, chốc chốc, những tràng cười sảng khoái lại rộn lên.

Họ gác sang bên những chủ đề đau lòng, chỉ nhắc lại cho nhau nghe những kỷ niệm ấu thơ đẹp đẽ, mãi đến khi mặt trời ló rạng, những tia nắng ban mai đầu tiên chiếu qua khung cửa sổ.

Bát Tư Ba nhấc bộ lễ phục của chú rể đặt trên giường Kháp Na, cất giọng u buồn:

– Kháp Na, đến giờ rồi!

Kháp Na lẳng lặng khoác lễ phục lên người với sự giúp đỡ của anh trai.

Bát Tư Ba chải tóc cho Kháp Na, tỉ mỉ chăm chút những lọn tóc của em trai.

Kháp Na vừa cúi đầu vừa nói:

– Đại ca à, đệ còn một tâm nguyện nữa.

Đệ muốn Tiểu Lam ở bên đệ khi cử hành hôn lễ, liệu huynh có thể giúp đệ nói với cô ấy không?

Bàn tay Bát Tư Ba đột nhiên dừng lại, ánh mắt đầy băn khoăn.

Kháp Na vội vàng giải thích:

– Đệ không muốn giấu huynh, nhưng đệ nói ra, huynh chớ để bụng.

Đệ muốn Tiểu Lam cùng đệ cử hành hôn lễ.

Được vậy, đệ sẽ thỏa nguyện với ý nghĩ rằng, đệ được thành thân với cô ấy.

Bát Tư Ba lắc đầu:

– Kháp Na, đệ sai rồi, ta không để bụng chuyện đó.

Tám ngày trước, Lam Kha đã lên đường trở về Sakya, cô ấy bảo muốn gặp đệ.

Không lẽ những ngày qua hai người không ở cạnh nhau?

– Đệ không thấy cô ấy.

Kháp Na hoang mang, lo lắng, vội túm chặt cánh tay Bát Tư Ba.

– Không ở chỗ đệ, vậy thì cô ấy đã đi đâu?

Hay đã xảy ra chuyện gì với cô ấy?

– Đệ đừng sốt ruột, cô ấy có phép thuật, người thường chẳng làm gì được cô ấy.

Bát Tư Ba nghĩ ngợi một lát rồi căn dặn em trai:

– Đệ cứ lo chuẩn bị những việc cần làm.

Ta hứa sẽ đưa cô ấy đến chỗ đệ trước giờ cử hành hôn lễ.

Có tiếng gõ cửa, giọng nói cung kính của Kunga Zangpo vẳng tới:

– Thưa cậu chủ, lát nữa cậu sẽ cùng cô dâu đến lễ Phật ở các điện thờ lớn.

Kháp Na hờ hững đáp lời rồi quay sang cầu cứu Bát Tư Ba:

– Đại ca, huynh nhất định phải tìm được Tiểu Lam đó!

Bát Tư Ba chỉnh lại thắt lưng cho em trai, gật đầu cả quyết.

* * * * *

Chàng trai trẻ khẽ vươn vai rồi bàn tay đặt vào eo lưng, vừa xoa bóp vừa hỏi:

– Tôi từng đến ngôi đền Shalu ở Shigatse, thứ quý giá nhất ở đó là những bức bích họa được truyền lại từ triều Nguyên.

Đó có phải là nơi cư trú của Vạn hộ hầu Shalu ngày ấy không?

Tôi gật đầu:

– Đúng vậy.

Đền Shalu cách Shigatse hơn hai mươi kilômet, khi ấy nó có tên gọi là Chundui, trong tiếng Tạng có nghĩa là “cái chợ”, có thể thấy nơi đây chính là trung tâm trao đổi, mua bán của vùng Hậu Tạng.

Chỉ có điều, ngôi đền Shalu lừng danh mà ngày nay các cậu biết đến mới chỉ là một ngôi đền nhỏ bé thuộc phạm vi cai quản của một gia tộc vào thời điểm đó.

Vạn hộ hầu cư trú trong trang viên Shalu, sau hơn bảy trăm năm bãi bể nương dâu, ngôi đền Shalu được bảo tồn khá nguyên vẹn, còn trang viên Shalu thì đã tan vào cát bụi.

Chàng trai trẻ nhớ lại:

– Tôi nhớ rằng, ngôi đền Shalu đã từng rất nổi tiếng nhờ vẻ nguy nga, bề thế, nó dung hòa những nét đặc sắc trong kiến trúc của người Mông Cổ và người Hán, được xem là ngôi đền đặc biệt thuộc khu vực đền chùa của người Tạng thời kỳ đầu.

– Đền Shalu vốn chỉ là một ngôi đền nhỏ, không tiếng tăm và có rất ít sư tăng.

Quá trình phát triển, hưng thịnh và suy yếu của nó liên quan mật thiết đến giáo phái Sakya.

Tôi không khỏi xót xa khi nhớ lại rằng, ngôi đền ấy đã được xây dựng hao tiền tốn của ra sao.

Tôi hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh, kể tiếp:

– Vạn hộ hầu Shalu đã đặt cược cho phái Sakya và ông ta đã đúng.

Mãi cho đến cuối triều Nguyên, Shalu vẫn luôn là một trong những vạn hộ hầu lớn mạnh, giàu có, sở hữu nhiều ruộng đất và cư dân nhất đất Tạng.

Những của cải, tài sản này đều do cuộc hôn nhân chính trị kia mang lại.

Hết chương 40.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 41: Cuộc hôn nhân thứ ba


“Người hiền dù ở phương xa,

Vẫn chăm lo cho người thân, bè bạn;

Mây mưa dẫu trôi mãi trên từng cao,

Vẫn giúp mùa màng bội thu”

(Cách ngôn Sakya)

Hoàng hôn nhuộm đỏ cả không gian, ráng chiều len lỏi qua các ô cửa sổ cao vời vợi, đổ nắng vào căn phòng trống trải.

Tôi mặc bộ y phục màu xanh nước biển, viền thêu hoa mai trắng, thắt lưng màu trắng đính kim tuyến lấp lánh, dây tóc màu lam, đứng trong phòng ngủ của Kháp Na, mân mê từng vật dụng thân thuộc của cậu ấy, lưu luyến mãi chẳng rời.

Bỗng có tiếng bước chân rộn rã ngoài hành lang, đoán định chỉ có một mình Bát Tư Ba nên tôi không làm phép ẩn mình.

Cánh cửa bật mở, chàng ngó đầu vào bên trong tìm kiếm.

Trông thấy tôi, chàng không khỏi kinh ngạc, vội lao đến:

– Kìa Lam Kha, sao em lại một mình trốn ở đây thế?

Làm ta phải chạy khắp nơi tìm kiếm.

Tôi chậm rãi đặt gọn y phục của Kháp Na lên giường, vuốt cho phẳng các nếp gấp rồi mới từ tốn ngẩng đầu nhìn chàng, cất giọng bình thản:

– Vì sao đêm đó không phải là chàng?

Chàng đang thở hổn hển, bỗng ngây ra như phỗng sau khi nghe câu hỏi của tôi.

Tôi lại gần, đuổi theo ánh mắt của chàng, tiếp tục truy hỏi:

– Đêm đó, Khabi chỉ đưa một mình chàng đến căn nhà ấy, vậy thì vì sao sau đó lại đổi thành Kháp Na?

Thấy tôi sáp lại gần, chàng đột nhiên thức tỉnh, ánh mắt thoáng bối rối:

– Em… em…

đã nghe chúng ta trò chuyện sao?

Tôi cười buồn, gật đầu:

– Tám ngày trước, sau khi từ biệt chàng, em đã tìm thấy Kháp Na trong đoàn đưa dâu, kể từ lúc ấy, em vẫn luôn ở bên cạnh Kháp Na nhưng không xuất đầu lộ diện.

Chàng cúi đầu, nói khẽ:

– Tối hôm ta và đệ ấy trò chuyện, em cũng có mặt ư?

– Em trốn trên xà ngang nên nghe được toàn bộ cuộc chuyện trò của hai người.

Tôi tập trung toàn bộ nhãn lực vào chàng để không cho phép mình bỏ sót bất cứ biểu cảm nào, dù là nhỏ nhất trên gương mặt chàng.

– Đêm hôm đó, rõ ràng chàng đã đến, nhưng vì sao lại đổi thành Kháp Na?

Chàng ngẩng đầu, lùi lại phía sau, giữ khoảng cách với tôi, lấy lại vẻ thản nhiên thường thấy, lạnh lùng đáp:

– Ba đời giáo chủ phái Sakya đều chưa từng thọ giới, chỉ có bác ta và ta là những người đầu tiên thọ giới Tỷ khâu.

Em có biết, thọ giới Tỷ khâu có ý nghĩa thế nào đối với một nhà sư không?

Nó có nghĩa là, người đó không còn là một thường dân coi việc tu tập Phật pháp là nhiệm vụ nữa mà phải thề nguyện tuân thủ hơn hai trăm giới luật của người tu hành.

Sự trói buộc này thể hiện quyết tâm lớn lao của người theo đuổi con đường Phật đạo.

Tôi không ngăn nổi nỗi nghẹn ngào dâng trào:

– Khi phải lựa chọn giữa Phật Tổ và em, chàng đã chọn Phật Tổ.

Chàng hít một hơi thật sâu, khẽ quay mặt đi:

– Vì ta đã thề nguyện trước Phật Tổ nên ta phải giữ trọn lời thề.

Nước mắt cứ thế tuôn rơi, tôi cố nén chặt nỗi run rẩy dâng lên trong từng câu nói:

– Vậy thì vì sao, trước đó chàng lại cho em hy vọng?

Chàng khiến em nghĩ rằng… nghĩ rằng…

Tôi không sao nói tiếp được nữa, đành quay mặt đi, không để chàng nhìn thấy nước mắt như mưa xối trên gương mặt mình.

Rốt cuộc chàng cũng chịu nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt ẩn giấu nỗi niềm lưu luyến, cảm thương nhưng giọng nói thì kiên định, sỏi đá:

– Lam Kha, em rất đẹp, lại hiền thục, khiến cho bất cứ người đàn ông nào cũng phải rung động.

Tuy ta tu tập đã lâu nhưng lòng trần còn nặng, khi phải đối diện với một thiếu nữ hoàn hảo như em, quả thật, đã có lúc ta không sao cưỡng lại nổi, trở nên u mê, thiếu sáng suốt.

Tôi khẽ rùng mình, bật cười chua chát:

– Chỉ là sự mê muội trong chốc lát thôi sao?

Trái tim tôi lạnh dần.

Ánh mắt ấm áp, dịu dàng, lời nói ngọt ngào, mềm mại, những cử chỉ ân cần khiến tim tôi loạn nhịp ngày nào, thì ra chỉ là thoáng chốc u mê.

Chàng khép hờ đôi mắt, hàng mi dài khẽ rung động:

– Sắc giới vốn là thử thách lớn nhất nơi cửa Phật, ta cũng đã bị động lòng bởi những lời thuyết phục khéo léo của Kháp Na, thiếu chút nữa đã hủy hoại quyết tâm tu hành.

Đêm đó, ta đã dằn vặt rất lâu nhưng xét đi xét lại, ta thấy mình không thể phá giới, càng không thể đánh đổi mười năm tuổi thọ!

Chàng càng nói càng xúc động, vội vã ngừng lại, hít thở nhiều lần để lấy lại bình tĩnh.

– Kháp Na nói rất đúng, ta phải giữ mạng sống của mình để làm nhiều việc khác.

Ta phải gây dựng và phát triển Sakya trở thành giáo phái hùng mạnh nhất đất Tạng.

Ta phải thực hiện di nguyện thống nhất đất Tạng của người bác.

Trọng trách nặng nề trên vai buộc ta phải có lỗi với em.

Nỗi buồn ào ạt xô tới, tôi chết lặng trước bóng chiếc áo thầy tu màu đỏ sẫm trong ráng chiều nhạt nhòa ấy.

Vẫn còn nguyên vẻ tuấn tú, hút hồn, phong tư tót vời ấy nhưng sao lại xa lạ đến thế?

Tình cảm mà tôi đã khổ công vun đắp bao năm chỉ trong chốc lát đã đổ vỡ hoàn toàn trước Phật Tổ.

Tôi chưa bao giờ thắng trong cuộc chiến tranh giành Bát Tư Ba với Người.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng thấy lòng nguội lạnh.

Thì ra, hết yêu một người cũng chẳng mấy khó khăn, nhưng không hiểu sao, trước kia tôi cứ cố chấp làm vậy?

Tôi ngửa đầu cười vang, mặc cho nước mắt trào qua hốc mắt, tuôn rơi.

– Thế nên chàng đã để Kháp Na thay chàng làm chuyện đó?

Nhưng lẽ nào Kháp Na hy sinh mười năm dương thọ thì không sao ư?

– Ta không có ý đó, chỉ tại đệ ấy nhất quyết muốn cứu em, không ai có thể ngăn cản.

Chàng buông một tiếng thở dài, nỗi xót xa dâng ngập trong mắt.

– Ta đã bỏ đi, phó mặc sự sống của em cho số phận.

Lúc về phủ Quốc sư, ta bỗng thấy cỗ xe ngựa của Kháp Na.

Đệ ấy vừa tới nơi.

Nhận ra vẻ mặt khác lạ của ta, đệ ấy một mực truy hỏi.

Ta không thể giấu giếm.

Sau khi biết chuyện, đệ ấy đã bất chấp tất cả để chạy đến cứu em.

Đệ ấy hỏi địa chỉ rồi cứ thế phi đi như bay, sáng hôm sau mới trở về.

Tôi nắm chặt bàn tay, móng tay cắm sâu vào lòng tay nhưng tôi chẳng hề thấy đau đớn.

Trước mắt tôi là hình ảnh gương mặt tiều tụy vì lo âu của Kháp Na.

Tôi có thể tưởng tượng được, khi đó cậu ấy đã hoang mang, lo lắng nhường nào.

Đây đâu phải lần đầu cậu ấy vì tôi như vậy!

Bát Tư Ba lại gần khung cửa sổ, ngước nhìn những quầng mây rực rỡ trên nền trời rộng, thở than:

– Trông thấy bộ dạng thất thiểu, vô hồn của đệ ấy, ta mới hiểu, thì ra trong lòng đệ ấy vẫn luôn có hình bóng em, nhưng đệ ấy không chịu cho ta biết, thậm chí muốn nhường em cho ta.

Đệ ấy muốn giúp em biến giấc mộng xa vời thành hiện thực.

Tôi như kẻ mất hồn, đầu óc choáng váng, phải bám chặt vào ghế, mấp máy trong vô thức:

– Giấc mộng ư?

Giấc mộng… xa vời ư?

Chàng quay lại nhìn tôi, ánh mắt buốt sắc cắm sâu, bới tung những phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi:

– Không phải sao?

Lam Kha ơi, bao năm qua em thờ ơ với tình yêu nồng nàn của Kháp Na, chẳng phải vì muốn theo đuổi giấc mộng xa xôi đó sao?

Lẽ nào em cho rằng ta tốt đẹp hơn Kháp Na?

Hay là vì không thể có được nên càng muốn theo đuổi, để rồi em quay lưng hờ hững với người yêu em thật lòng ở ngay bên cạnh?

Mặt đẫm lệ, tôi khóc không thành tiếng, co gập người lại vì cơn đau lan khắp cơ thể.

Tôi phải tựa cả người vào ghế để giữ cho mình khỏi ngã.

Gương mặt Bát Tư Ba thoáng hiện nét thương xót, chàng định lại gần, ôm lấy bờ vai tôi, nhưng khi sắp chạm vào tôi, chàng bỗng rụt tay về, giọng nói càng chua chát:

– Ta chưa từng làm được gì cho em, nhưng Kháp Na thì sao?

Đệ ấy đã vì em nhiều như thế nào!

Đệ ấy sẵn sàng tuyệt tự tuyệt tôn để vun đắp cho em, sẵn sàng trả giá mười năm dương thọ để cứu em.

Không lẽ, những việc làm ấy chẳng thể khiến trái tim em rung động ư?

Tôi ôm đầu, gào lên thảm thiết:

– Xin đừng hỏi nữa!

Chàng đã dồn tôi đến bờ vực, tôi chẳng thể thờ ơ trước sự thật rành rành, cũng không thể tiếp tục mê man trong cơn mộng mị nhiều năm nữa.

Những mảnh ký ức gắn liền với hình ảnh của Kháp Na lần lượt hiện lên, cuồn cuộn trong đầu tôi.

Hình ảnh cậu ấy há hốc miệng kinh ngạc khi thấy tôi hóa phép thành người, án mắt nhìn tôi đắm đuối trong đêm hội Nguyên tiêu, bờ môi ngọt ngào, ấm nồng của cậu ấy lúc hôn tôi và còn rất nhiều, rất nhiều hình ảnh nữa.

Ngập đầy trong tâm trí tôi lúc này là nụ cười rạng rỡ, là ánh mắt chứa chan, là nỗi phiền muộn sầu bi, là niềm vui hân hoan của cậu ấy…

– Lam Kha ơi, có câu: kẻ trong cuộc thường thiếu tỉnh táo, không hiểu tình cảm thực sự của mình.

Chàng nở nụ cười cay đắng, nhìn thẳng vào mắt tôi:

– Người mà em thật lòng yêu là đệ ấy, không phải ta!

Tôi bàng hoàng ngước lên:

– Chàng… chàng nói sao?

– Vậy ta hỏi em, vì sao khi nghe tin Kháp Na tái hôn, em lại buồn đến vậy?

Vì sao em vội vã từ biệt ta để đi tìm đệ ấy?

Tôi run bắn:

– Em…

Không để tôi nói thêm, chàng tiếp tục truy hỏi:

– Những ngày qua, vì sao em không chịu xuất hiện trước mặt đệ ấy mà chỉ lặng lẽ đi theo?

Tôi như người lạc vào mê cung, hồn phách tứ tán:

– Em… em cũng không biết nữa…

Những ngày qua, tôi cứ lặng lẽ đi theo Kháp Na, chỉ khi cậu ấy ngủ say mới chịu hóa thành người, ngồi bên giường, mê mẩn ngắm nhìn gương mặt cậu ấy, cho đến khi trời sáng.

Con tim tôi như thế bị giày vò bởi hàng trăm vuốt sắc, nhưng tôi không sao lý giải nổi những nỗi lo lắng chán chường, bồn chồn, phiền muộn ấy vì đâu mà có.

Bát Tư Ba tiếp tục o bế tôi:

– Em vẫn chưa chịu thừa nhận sao?

Em không thấy Kháp Na đang từng ngày giày vò bản thân, bất chấp tính mạng hay sao?

Lam Kha, đến bao giờ em mới chịu thức tỉnh?

Lẽ nào chờ đến khi đệ ấy cận kề cái chết em mới ân hận, nuối tiếc, dằn vặt sao?

Lòng dạ tan nát, tôi lùi lại, cho đến khi lưng chạm phải bờ tường lạnh ngắt.

Như thể vừa được giác ngộ!

Như thể vừa bị giáng một đòn chí mạng!

Tôi đã hoàn toàn thức tỉnh!

Gió thổi mây tan, ánh nắng chan hòa, mọi thứ trước mắt tôi trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Lưng vươn thẳng, tôi nắm chặt trong tay sợi dây buộc tóc màu lam, cảm nhận được hơi ấm vô bờ từ đó.

Đây mới là thứ tôi thực sự cần: sự ấm áp chân thực tuyệt đối!

Tôi cười với Bát Tư Ba, lúc đầu chỉ là mỉm cười, sau đó tiếng cười ngày một lớn, ngày một vang, tôi cười ha hả, bất chấp tất cả.

Nút thắt bao năm đã được cởi bỏ, lòng tôi nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi gánh nặng ngàn cân.

Cấm kỵ gì chứ, giới luật gì chứ, buồn lo sợ hãi, canh cánh trong lòng gì chứ, đau khổ dằn vặt, chờ đợi mỏi mòn gì chứ?

Hơn mười năm qua, tất cả chỉ là ngộ nhận, chỉ là tự mình làm khổ mình, chỉ là tự giày vò, trói buộc bản thân mình mà thôi!

Chàng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tôi cười, chừng như có chút ân hận vì đã quá nặng lời.

Nhưng tôi mặc kệ, tôi cười cho thật đã rồi mới nghiêm túc nói:

– Chàng nói đúng, em cứ mải mê kiếm tìm những điều xa xôi mà quên đi tình cảm thực sự của mình.

Tôi nhả từng chữ rõ ràng, mạch lạc:

– Khabi đã nói dối, đêm đó em không hề bị linh khí phản ngược, chỉ vì mệt quá nên mới thiếp đi.

Cô ấy làm vậy để thử thách lòng dạ đàn ông mà thôi.

Đôi đồng tử của chàng dần thu nhỏ lại, ánh mắt lấp lánh, bàn tay nắm chặt ghế, những đường gân nổi lên vằn vện.

Nhưng chỉ trong chốc lát, biểu hiện bất thường ấy lập tức tan biến, chàng lại trở về là một quốc sư cao quý, tôn nghiêm trong mắt hàng vạn người.

Sau khi đã lấy lại sự bình tĩnh, chàng lạnh lùng nói:

– Vậy thì hẳn rằng em đã nhận ra, ai mới là người thật lòng với em.

Tôi mỉm cười:

– Đúng vậy, em đã biết.

Cảm ơn chàng đã giúp em thức tỉnh, cho em biết nỗi lòng thực sự của mình.

Loài người vốn đoản thọ, tôi không thể chần chừ, do dự, thời gian đâu có chờ đợi tôi.

Kháp Na đã hai mươi bảy tuổi, những người đàn ông khác ở vào tuổi này đã con cái đầy nhà.

Còn cậu ấy, kể từ năm hai mươi tuổi, khi lần đầu tiên thấy tôi hóa thành người, đã một lòng chờ đợi tôi cho đến tận bây giờ.

Tôi không thể để cậu ấy tiếp tục hành hạ bản thân như thế, không thể để cậu ấy tiếp tục rước về nhà những người vợ hữu danh vô thực nữa.

Tôi nhấc cao vạt váy, đoan trang cúi người trước Bát Tư Ba:

– Xin hãy đưa em đến nơi cử hành hôn lễ, em muốn cùng cậu ấy nên duyên chồng vợ.

Đêm nay, em mới là cô dâu đích thực của Kháp Na!

Toàn thân Bát Tư Ba bỗng run lên bần bật, gương mặt tối sầm, đau khổ hướng về tôi, ánh mắt buồn vô hạn.

Tôi giật mình, vội bước đến, định đỡ lấy chàng:

– Chàng sao vậy?

Nhưng chàng đã vội tránh tôi như tránh tà.

Chàng đặt tay lên ngực, lưng còng xuống, khẽ nhíu mày, mồ hôi túa ra trên trán:

– Ta không sao, chỉ tại mải đi tìm em nên bỏ cả cơm trưa.

Tôi lo lắng:

– Vậy để em mang đồ ăn đến cho chàng…

Sắc mặt chàng trắng bệch, nhưng chàng xua tay, mệt mỏi nói:

– Không cần đâu, lát nữa ta sẽ tự mình lo liệu.

Sắp đến giờ cử hành hôn lễ, em mau biến hình đi, rồi ta sẽ đưa em đến chỗ Kháp Na.

Tôi trở lại nguyên hình, nhảy vào lòng Bát Tư Ba.

Chàng đưa tôi rời khỏi Lang Như Thư Lầu, rảo bước về phía phòng tân hôn của Kháp Na – Labrang Qulo.

Tôi cảm nhận được trái tim chàng đang đập mãnh liệt, toàn thân khẽ run lên, làn da nóng hổi, mãi đến khi tới Labrang Qulo, những biểu hiện khác thường ấy mới vơi bớt đôi chút.

Labrang Qulo đèn hoa rực rỡ, cờ bay rợp trời, dưới đất là những mô gạo ngũ sắc được xếp theo hình đàn tế lễ.

Kháp Na đứng chờ ngoài cửa, lòng như lửa đốt.

Cậu ấy vội đưa mắt dò hỏi khi thấy Bát Tư Ba bước vào.

Bát Tư Ba khẽ gật đầu, tiến lại gần em trai, trịnh trọng trao tôi cho Kháp Na.

Kháp Na tươi cười rạng rỡ đón lấy tôi, giấu vào trong lớp áo lễ phục rộng thùng thình.

Cậu ấy khẽ đặt miếng ngọc thiêng liêng lên chiếc đầu nhỏ xíu của tôi.

Tôi sững sờ!

Đó là nghi thức không thể thiếu trong đám cưới của người Tạng.

Miếng ngọc này được gọi là ngọc Linh hồn.

Chú rể đặt miếng ngọc lên đỉnh đầu của cô dâu, với ý nghĩa rằng từ nay, linh hồn của người con trai sẽ được trao cho người con gái.

Miếng ngọc rung rinh trên đỉnh đầu tôi.

Tôi hiểu Kháp Na muốn nói với tôi rằng, cậu ấy trao gửi linh hồn của mình cho tôi.

Đúng lúc đó, bên ngoài bỗng rền vang từng hồi khèn, hồi trống.

Bát Tư Ba hắng giọng ra hiệu, Kháp Na dùng dằng mãi mới chịu nhấc miếng ngọc Linh hồn ra khỏi đầu tôi.

Lúc này, cô dâu Kangtsoban trong bộ lễ phục diêm dúa, sặc sỡ được đưa vào đại điện.

Hàng trăm tu sĩ của phái Sakya chắp tay tụng niệm chúc phúc.

Âm thanh tụng niệm trầm bổng vấn vít như tiếng gió reo trên hàng thông.

Bản khâm của giáo phái, đại sư Sakya Zangpo đứng ngoài cửa, cầm một nhành hoàng bá đã thấm nước, khẽ vẩy lên đầu cô dâu.

Cô dâu giẫm lên những hạt thanh khoa và lá trà được rải đều trên nền đất dưới sự hướng dẫn của bà mối.

Nghi lễ chỉ mang tính tượng trưng nhưng Kangtsoban vốn bản tính trẻ con, tinh nghịch đã biến nó thành trò chơi lý thú.

Cô nàng nhảy cẫng lên sung sướng, ra sức giẫm đạp khiến lúa mì thanh khoa và lá trà bắn tung tóe.

Bà mối buộc phải mạnh tay, kéo cô nàng đến trước mặt Kháp Na.

So với hai người vợ trước, phục sức của cô dâu Kangtsoban hôm nay càng thể hiện rõ mức độ giàu có, xa hoa của nhà gái.

Ngọc ngà, châu báu trĩu nặng khiến Kangtsoban khó chịu không yên, cô nàng cứ muốn bứt ra khỏi đầu mình chạc ba châu, biểu tượng của phụ nữ quyền quý người Tạng.

Bà mối phải canh chừng mọi lúc mới giữ được thứ trang sức nặng nề đó trên tóc Kangtsoban.

Sau khi lắng nghe lời chúc phúc từ người làm chứng, Kháp Na hững hờ cài mũi tên bằng vải, nhiều màu sắc vào lưng áo Kangtsoban, tượng trưng rằng, từ nay cô nàng sẽ trở thành người của nhà chồng.

Đến nghi thức đặt ngọc Linh hồn lên đầu cô dâu thì chuyện nực cười xảy ra.

Kangtsoban vì mỏi cổ, kiên quyết không cho Kháp Na đặt ngọc Linh hồn lên đầu mình, Jichoi và Selangqe khuyên nhủ thế nào, cô ngốc cũng không chịu nghe.

Đám đông dự lễ thành hôn bật cười khúc khích, Kháp Na thừa dịp, bỏ qua nghi lễ này.

Cậu ấy đặt viên ngọc vào lòng mình, ra hiệu cho người làm lễ tiếp tục các nghi thức khác.

Kháp Na và Kangtsoban ngồi khoanh tròn trên một dải cao đặt giữa chính điện, Vạn hộ hầu Ladulo được mời làm chứng nhân, tuyên đọc hôn ước.

Nội dung quan trọng nhất của bản hôn ước này chính là những trao đổi lợi ích giữa phái Sakya và Vạn hộ hầu Shalu sau hôn lễ, hai gia tộc sẽ cùng chung hoạn nạn, cùng hưởng vinh hoa, phú quý.

Những người có mặt tại đó đều hồi hộp nín thở, lắng nghe từng điều khoản về quyền và lợi ích phân chia tài sản, chỉ có Kangtsoban là tỏ ra khó chịu, bức bối.

Nhân lúc bà mối sơ ý, cô nàng liền nhảy xuống, chạy về phía Kháp Na, kéo tay cậu ấy, kêu gào:

– Kháp Na, chàng ơi, chúng ta đi sinh em bé thôi!

Đám đông sững sờ, Vạn hộ hầu Shalu ngừng đọc hôn ước.

Kháp Na đỏ bừng mặt, vội vã kéo tay Kangtsoban.

Nhưng cô ngốc chẳng chịu yên, tiếp tục vỗ vỗ vào bụng dưới của mình, cất giọng ngây ngô:

– Cha và anh trai nói rằng, chàng sẽ đặt em bé vào bụng ta, sau đó ta sẽ sinh em bé.

Kháp Na, chàng ơi, chàng giấu em bé ở đâu thế?

Vì sao phải chờ đến tối mới đặt em bé vào bụng ta?

Chúng ta làm ngay bây giờ được không?

Kháp Na chỉ muốn tìm một khe hở để chui xuống, quay mặt đi, vờ như không nghe thấy.

Jichoi và Selangqe muối mặt bước đến kéo Kangtsoban.

Nhưng cô ngốc vẫn oang oang khiến rất nhiều người không nhịn nổi, phì cười.

Dì năm ghé tai chị cả Zhuoma của Kháp Na, thì thầm:

– Úi giời, Vương phi sốt ruột cũng phải, chú rể đẹp trai thế kia mà!

Nhưng không biết cô ta có sinh ra những đứa trẻ giống mình không?

Người thừa kế của giáo phái Sakya đấy!

Zhuoma vội đưa tay ra hiệu bảo dì năm ngừng lại:

– Dì năm!

Những lời “thầm thì” của dì năm đã lọt vào tai Bát Tư Ba.

Chàng đưa mắt về phía bà ta, ánh nhìn lạnh lùng nghiêm nghị.

Dì năm sợ hãi cúi đầu, không dám nói năng xằng bậy nữa.

Buổi lễ kết thúc chóng vánh vì những trò phá bĩnh của Kangtsoban, ngay sau đó là tiệc tùng náo nhiệt.

Rất nhiều người muốn đến chúc tụng Kháp Na.

Cậu ấy không từ chối bất cứ ai, chén rượu mừng nào cũng uống cạn.

Nhưng Bát Tư Ba không để tình trạng đó kéo dài thêm, chàng ra mặt ngăn cản:

– Bạch Lan Vương chưa khỏi hẳn, không thể uống rượu.

Ngay cả người anh vợ đến chúc rượu, Bát Tư Ba cũng không hề khách khí.

Nhưng Selangqe không lấy thế làm phật ý, cậu ta cười sảng khoái:

– Vậy thì em rể mau vào động phòng đi, đừng để cô út nhà ta chờ lâu.

Kháp Na chưa kịp mở lời ứng đối thì Bát Tư Ba đã khéo léo từ chối thay em trai:

– Xin các vị thông gia chớ sốt ruột.

Thầy thuốc căn dặn rằng, Bạch Lan Vương cần tĩnh dưỡng thêm.

Lúc này đang là mùa đông băng giá, rất khó lành bệnh, xin hãy cho em tôi thêm thời gian, chờ khi xuân sang, ấy là lúc chú rể hoàn toàn bình phục, đệ ấy tự khắc sẽ đến tìm em dâu.

Lão cáo già Jichhoi nghe thấy những lời này thì sa sầm mặt mày:

– Mong rằng quốc sư không chấp những câu nói thơ dại của con gái ta khi nãy.

Tuy nó hơi ngờ nghệch nhưng vẫn đủ sức khỏe để hoàn thành trách nhiệm sinh con nối dõi cho Bạch Lan Vương.

Bát Tư Ba hiểu ý Jichoi, bèn trịnh trọng đáp rằng:

– Người thừa kế của phái Sakya nhất định phải do Vương phi của Bạch Lan Vương sinh hạ.

Lúc này Jichoi mới gật đầu yên lòng.

Tuy không phản đối Kháp Na cưới thêm vợ nhưng thực ra ông ta rất lo lắng về điều này.

Nếu người thừa kế của phái Sakya không phải huyết mạch dòng họ Shalu, ngày sau, khi đã trở nên hùng mạnh, rất có thể phái Sakya sẽ chẳng thèm bận tâm đến gia tộc Shalu nữa.

Nhưng quốc sư Bát Tư Ba đã trịnh trọng hứa hẹn như vậy, Jichoi hoàn toàn có thể vững tâm gắn chặt sự hưng vong của gia tộc Shalu với giáo phái Sakya.

Yến tiệc vẫn tiếp diễn trong không khí ồn ào, náo nhiệt không dứt.

Bát Tư Ba đề nghị Kháp Na trao tôi cho chàng, căn dặn Kunga Zangpo trông chừng Kháp Na rồi đưa tôi rời khỏi đại điện.

Mọi việc diễn ra trong lễ thành hôn của Kháp Na dường như đều nằm trong sự kiểm soát tài tình của Bát Tư Ba.

Nhưng, cho đến khi chàng đưa tôi trở lại Lang Như Thư Lầu, tôi vẫn không sao đoán ra chàng định làm gì.

* * * * *

Chàng trai trẻ hỏi tôi:

– Bản khâm của Sakya chính là đại sư trụ trì đền Sakya phải không?

Bản khâm Shakya Zangpo có quan hệ huyết thống với gia tộc họ Khon của Bát Tư Ba không?

– Ăn chút điểm tâm lót dạ nào!

Tôi đẩy về phía chàng trai bát bánh nướng nóng hổi, đáp:

– Khi chưa là một giáo phái lớn mạnh, phái Sakya không có chức vị bản khâm này.

Shakya Zangpo chỉ là trụ trì của ngôi đền Sakya mà thôi.

Nhưng khi ngài Ban Trí Đạt rời quê hương đến Trung Nguyên, pháp vương không có mặt tại ngôi đền thiêng của giáo phái suốt hai mươi năm nên buộc họ phải tìm kiếm một người đức cao vọng trọng để cai quản công việc thường ngày của giáo phái.

Tuy không có quan hệ huyết thống với dòng họ Khon nhưng Shakya Zangpo lại là đệ tử được ngài Ban Trí Đạt tín nhiệm nhất.

Đại sư đã cống hiến hết mình vì giáo phái.

Chàng trai trẻ vừa nhấm nháp bánh nướng vừa hỏi:

– Tức là chức vị này xuất hiện khi phái Sakya đã trở nên lớn mạnh và do chính Bát Tư Ba sắc phong?

– Đúng vậy.

Từ bản khâm có nghĩa là “viên quan lớn”, đó là chức quan có thể thay mặt đế sư cai quản toàn bộ công việc ở Tây Tạng, do chính Bát Tư Ba đặt ra.

Shakya Zangpo vốn là đại sư trụ trì đền Sakya nên ông ấy trở thành bản khâm của giáo phái này cũng là điều dễ hiểu.

– Vậy bản khâm có buộc phải xuất gia không?

– Không cần.

Tuy ngài Shakya Zangpo đã chịu lễ thọ giới Tỷ khâu nơi đại sư Ban Trí Đạt, nhưng nhiều vị bản khâm đời sau này đều do những thường dân xuất thân từ danh gia vọng tộc đảm nhiệm.

Sakya vốn là giáo phái cho phép nhà sư thành thân nên cũng không đặt ra quy định nghiêm khắc trong vấn đề này.

Nếu các đệ tử quyết tâm xuất gia, một lòng hướng Phật thì họ có thể thọ giới trở thành tu sĩ chân chính.

Nhưng nếu họ muốn kết hôn thì cũng có thể miễn thọ giới.

– Điều này khác hoàn toàn so với quan niệm của chúng ta về Phật môn.

Chàng trai trẻ đặt bát bánh nướng xuống, ngẩng đầu nhìn tôi.

– Khi pháp vương vắng mặt thì bản khâm là người thay quyền pháp vương cai quản mọi việc của giáo phái.

Như vậy thì người này chỉ ở dưới một người mà ở trên muôn người.

Tôi gật đầu:

– Không sai.

Trong một nhiệm kỳ, bản khâm chỉ do một người đảm nhiệm, địa vị của người này còn cao hơn cả các vạn hộ hầu.

Bát Tư Ba từng ban cho Sakya Zangpo ấn pha lê tam lộ Quân – dân – vạn hộ[1].

Bất kể là việc lớn bé gì, bản khâm đều có quyền quyết định.

Chức vị cao, quyền lực lớn, ngoài đế sư, không ai sánh bằng.

Ánh mắt chàng trai thoáng chút lo âu:

– Vậy nếu trao chức vị này vào tay kẻ xấu, hẳn là sẽ gây ra đại họa?

[1] Tam lộ Quân – dân – vạn hộ: một chức quan xuất hiện vào thời nhà Nguyên, chỉ người cai quản quân đội, cư dân và các vạn hộ hầu thuộc vùng Wusi (tức Tây Tạng ngày nay).

Hết chương 41.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 42: Nẻo về của trái tim


“Sống trên đời hãy lưu lại tiếng thơm,

Khi ra đi phải giữ vẹn phúc đức;

Thiếu cả hai, chỉ sung túc tiền tài,

Không giúp cho bậc hiền nhân vui vẻ”

(Cách ngôn Sakya)

Tôi kinh ngạc khi về đến căn phòng của Kháp Na.

Mới rời khỏi đó có vài canh giờ mà mọi thứ đã hoàn toàn đổi khác, cách bài trí giống hệt phòng tân hôn.

Nến hồng rực rỡ, hồng loan điệp trướng, cả căn phòng rực sáng lung linh, hơi ấm lan tỏa mơn man.

Bếp than không khói khiến cả căn phòng trở nên ấm cúng lạ thường.

Không để tôi chờ đợi, giọng nói trầm ấm của Bát Tư Ba đã cất lên:

– Lam Kha, đêm nay là đêm tân hôn của em và Kháp Na.

Ta đã cho người gấp rút chuẩn bị, mong là em hài lòng.

Tôi ngẩn ngơ, quay lại nhìn chàng.

Dưới ánh nến, gương mặt Bát Tư Ba trở nên hồng hào, ấm áp hơn.

Chàng ôm trong tay chiếc áo choàng cô dâu mới tinh, dệt bằng lụa đỏ rực rỡ, nụ cười hồn hậu nở trên môi:

– Đây là lễ phục cô dâu của em.

Vì thời gian không còn nhiều nên chưa kịp đính thêm trang sức, nhưng ta tin, em vẫn sẽ là cô dâu xinh đẹp nhất trong mắt Kháp Na.

Tôi như bị thôi miên bởi bộ áo váy cô dâu trên tay Bát Tư Ba.

Những đường nét tinh tế, rực rỡ của bức tranh “bát bảo cát tường” lấp lánh trong ánh nến.

Tôi thấy lòng mình rung động sâu sắc.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Bát Tư Ba đã chuẩn bị rất chu đáo, vì chàng muốn tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc trọn vẹn trong ngày thành hôn với Kháp Na.

– Lát nữa ta sẽ đưa Kháp Na về đây.

Đệ ấy vẫn chưa biết chuyện, vì ta muốn tặng đệ ấy niềm vui bất ngờ mà bao năm đệ ấy hằng khao khát.

Chàng khẽ dừng lại, nhìn tôi nghiêm nghị, ánh mắt kiên định, chậm rãi nhả từng tiếng:

– Lam Kha, kể từ hôm nay, em sẽ là vợ của Kháp Na.

Người ngoài có thể không biết, nhưng với ta, em là vương phi duy nhất của Bạch Lan Vương.

Tôi chợt nhớ đến câu nói của Bát Tư Ba với Jichoi trong bữa tiệc:

– Người thừa kế của phái Sakya nhất định phải do Vương phi của Bạch Lan Vương sinh hạ.

Thì ra câu nói ấy chứa đựng ẩn ý khác.

Tôi đỏ mặt thẹn thùng.

Chàng ngắm tôi thêm một lát, ánh mắt ẩn chưa nỗi buồn vương khó đoán.

Rồi chàng thở dài, chầm chậm quay đầu, rời khỏi căn phòng, lúc đến bậc cửa, chàng bỗng ngừng lại, quay đầu, khẽ gọi:

– Lam Kha…

Giọng tôi bồng bềnh như từ cõi xa xăm vọng về:

– Em đây.

Chàng khép mắt, cặp mắt trong veo lúc chàng quay lại nhìn tôi:

– Ta nợ Kháp Na nhiều lắm, ta nhờ em đó!

Bát Tư Ba cúi gập người, trịnh trọng vái tôi một vái, giọng nói thâm trầm, khẩn thiết:

– Xin em, hãy mang lại hạnh phúc cho đệ ấy!

Tôi cũng đáp lễ, cúi gập người trước Bát Tư Ba, để nhận lời với chàng, để tạ từ và để kết thúc giấc mộng đeo đẳng hơn mười năm qua.

Mãi đến khi cánh cửa phòng khẽ khép lại, tôi vẫn cúi gập người như thế, hai mắt chiếu thẳng xuống đất, nước mắt lã chã như chuỗi ngọc đứt dây, từng giọt, từng giọt thấm vào nền gạch.

Rồi tôi chầm chậm đứng lên, vươn thẳng lưng.

Kể từ bây giờ, tôi sẽ chỉ khóc vì một người.

Không, không phải, không được khóc nữa!

Tôi sẽ khiến cậu ấy vui cười, mãn nguyện, khiến cậu ấy thoát khỏi mọi sầu lo, phiền muộn trong cuộc đời này.

Khoác lên mình bộ lễ phục lộng lẫy, nhẹ nhàng buộc gọn mái tóc màu lam bồng bềnh, óng ả, tôi đứng trước gương soi.

Cô gái yêu kiều, đằm thắm, đôi má hồng hồng, làn da trắng nõn nà, đôi môi mọng đỏ, đôi mắt lúng liếng trong gương kia là tôi ư?

Tôi mỉm cười với người trong gương, lúm đồng tiền dễ thương liền xuất hiện, khóe môi uốn thành vành cong kiều diễm.

Tuy chưa bao giờ coi trọng quá mức chuyện ngoại hình nhưng lúc này, tôi đã bị hấp dẫn bởi dung nhan của chính mình.

Trong lòng dâng lên niềm vui khôn tả, người ta thường bảo “xinh như hoa, như gấm” có lẽ cũng chỉ đến thế này thôi chăng?

Kháp Na, em mong cô dâu kiều diễm này sẽ khiến chàng nhớ thương suốt đời.

Thính giác nhạy bén giúp tôi nhận ra tiếng bước chân của hai người trên tuyết, đang hướng về căn phòng.

Những tiếng bước chân quá đỗi thân thuộc, của Bát Tư Ba và Kháp Na.

Tim tôi bỗng rộn ràng, tôi cuống quýt hít thở thật sâu để lấy lại bình tĩnh.

Ngoài cửa có tiếng trò chuyện của hai anh em họ, giọng nói trầm ấm của Bát Tư Ba cất lên:

– Kháp Na à, mùa đông năm nay đệ muốn ở lại Lang Như Thư Lầu bao lâu cũng được.

Ta đã dặn dò mọi người không ai được phép đến đây làm phiền đệ, kể cả Kangtsoban.

Đệ cần gì sẽ có người mang đến tận nơi, cứ giao việc cho Kunga Zangpo là được.

Kháp Na chừng như khó hiểu:

– Huynh muốn đệ ở lỳ trong phòng suốt mùa đông ư?

Làm thế khác nào giam lỏng đệ!

Bát Tư Ba chẳng buồn giải thích thêm:

– Đệ cứ lo tĩnh dưỡng cho khỏe, đừng bận tâm đến những việc đau đầu khác.

Kháp Na gạn hỏi:

– Đại ca đưa Tiểu Lam đi đâu rồi?

Ba Tư Ba trả lời qua quýt:

– Không đưa đi đâu cả.

Muộn rồi, đệ vào trong đi!

Có tiếng đẩy cửa, giọng nói tha thiết của Bát Tư Ba lại vang lên:

– Kháp Na!

Đệ nhất định phải hạnh phúc!

– Đại ca, từ lúc cử hành hôn lễ đến giờ, đệ thấy huynh rất lạ.

Tuy không hiểu ý tứ của anh trai nhưng Kháp Na vẫn mỉm cười đáp lời:

– Đại ca yên tâm, đệ nhất định sẽ hạnh phúc!

Cánh cổng khu nhà khép lại, tiếng bước chân Kháp Na mỗi lúc một gần.

Tôi chợt bối rối, cuống cuồng ngước nhìn qua ô cửa sổ, dõi theo bóng dáng cao gầy, cô độc của người đó dưới gốc cây thông.

Tán cây che khuất vầng trăng, gió thổi cành lá rì rào, bóng dáng ấy mơ hồ lẩn khuất dưới trăng đêm bàng bạc, chập chờn giữa cây lá.

Một đêm thật yên tĩnh, tôi thậm chí có thể nghe thấy cả tiếng thở dài khe khẽ.

Bóng dáng ấy chầm chậm rời khỏi tán cây, rồi chầm chậm đi xa mãi.

Dưới ánh trăng, bờ vai hơi còng xuống khiến bóng dáng ấy trở nên muôn phần cô độc.

Người dần khuất xa, chỉ lưu lại dấu chân trên tuyết lạnh, nước mắt tôi nhạt nhòa, tôi thầm gọi:

– Lâu Cát, cảm ơn chàng!

Cửa phòng bật mở, tôi chầm chậm quay người lại, mỉm cười gật đầu với chú rể.

Chàng đứng yên bất động, dường như quên sạch mọi thứ xung quanh, chỉ biết gắn chặt đôi đồng tử trong veo lên người tôi.

Bao điều muốn nói đều dồn cả vào đôi mắt thần kỳ ấy, đôi mắt biết bày tỏ mọi nỗi niềm yêu thương thiết tha, nồng nàn.

Tôi thấy lòng mình ấm áp lạ thường, khẽ gọi:

– Vào phòng đi chứ!

Chàng như vừa bừng tỉnh sau cơn mộng mị, nhưng ánh mắt vẫn chưa hết mơ hồ.

Lúc bước qua bậc cửa, chàng đã không để tâm, suýt thì ngã nhào.

Tôi vội bước lại đỡ chàng, dìu chàng vào phòng và đóng cửa lại.

Chàng nhìn tôi đắm đuối rồi bối rối thốt lên:

– Tiểu Lam, sao em… sao em lại ăn mặc như vậy?

Tôi mỉm cười, giọng vương chút trách móc:

– Hôm nay là ngày chúng ta thành hôn kia mà!

Chàng bảo rằng, hôn lễ hôm nay là dành cho chàng và em kia mà!

Chàng chộp lấy cánh tay tôi, gương mặt ửng đỏ, ấp a ấp úng:

– Em…

Đại ca đã nói với em ư?

Chàng nhìn quanh căn phòng, kinh ngạc vì sự thay đổi.

– Đại ca đã sắp xếp tất cả?

Huynh ấy buộc em mặc bộ y phục này và chờ ta ở đây?

– Kìa Kháp Na!

Tôi nắm chặt bàn tay giá lạnh của chàng, dịu dàng nói.

– Đúng là Lâu Cát đã sắp đặt tất cả nhưng em cũng muốn vậy mà!

Chàng vẫn chưa hết kinh ngạc, ánh mắt ngập nỗi băn khoăn:

– Em… em hiểu lòng ta nên mới nhận lời cùng huynh ấy để diễn vở kịch này, khiến ta vui lòng phải không?

Tôi nín cười, phụng phịu:

– Trên đời này, làm gì có cô gái nào chịu biến đêm tân hôn của mình thành một vở kịch?

Đêm nay, em sẽ là cô dâu của chàng, nhưng nếu chàng không thích thì thôi.

Chàng sững sờ giây lát rồi đột nhiên gỡ tay tôi ra, lùi thật xa, giữ khoảng cách với tôi, khuôn ngực phập phồng dữ dội:

– Tiểu Lam, ta không cần em thương hại!

– Không phải, không phải vậy! – Tôi sáp lại, cuống quýt giải thích. – Tại em ngu ngốc, đến bây giờ mới nhận ra điều mình thật sự mong muốn là gì.

Chàng thở hổn hển, gắng sức dịch chuyển ánh mắt mê đắm rời khỏi tôi, gắng sức nén dòng cảm xúc cuộn dâng, gạn hỏi:

– Em mong muốn điều gì?

Em từng nói với ta rất nhiều lần rằng, đại ca là ước nguyện lớn nhất của đời em kia mà!

Ước nguyện ấy sẽ nhanh chóng trở thành hiện thực, vì sao đêm nay em lại xuất hiện ở đây?

Tôi nhào đến, nắm chặt tay áo chàng:

– Bởi vì Lâu Cát đã giúp em hiểu ra rằng, người em thực sự yêu là chàng, vậy mà lâu nay em không hề hay biết.

Chàng vẫn kiên quyết kháng cự, gỡ tay tôi ra khỏi tay áo chàng, vừa thở hổn hển vừa bật cười:

– Em cũng biết anh trai ta rất giỏi hùng biện.

Vì muốn tác hợp cho hai ta, chắc chắn huynh ấy đã nói rất nhiều điều tốt đẹp về ta, để em cảm thấy ta là người hợp với em nhất.

Nhưng em phải giữ chính kiến của mình chứ!

Lẽ nào huynh ấy nói gì, em cũng tin sao?

Rốt cuộc tôi đã hiểu, nếu tôi không trải lòng mình, chàng sẽ không tin.

Tôi thở dài, buông áo chàng ra:

– Chàng không tin lời em, đúng không?

Chàng cho rằng em thương hại chàng và nghe lời đề nghị của Bát Tư Ba nên mới đến đây, đúng không?

– Đúng, Lâu Cát từng là giấc mơ của em, giấc mơ tuyệt đẹp do chính em dệt nên. – Tôi cười buồn, mơ màng nhớ lại. – Mục đích ban đầu của việc đi theo hai người là để lén học đạo.

Lúc hai người còn nhỏ, em đã tìm mọi cách để có thể bám theo anh trai chàng, bởi vì em có thể học được từ Lâu Cát rất nhiều phép tu có ích cho việc tu luyện của em.

Anh trai chàng thông tuệ, uyên bác, và điều đáng quý nhất là Lâu Cát không hề có định kiến với em, thậm chí còn cho phép em học lén.

Vì thế, kể từ ngày đầu tiên đi theo Lâu Cát, em đã sùng bái, ngưỡng mộ chàng ấy.

Em đã chứng kiến chàng ấy từng ngày trưởng thành, từ thuở niên thiếu dại khờ đến tuổi thanh xuân chững chạc, vững vàng.

Lâu Cát ngày càng có tư chất và cốt cách của một bậc danh sư.

Phong thái an nhiên, tự tại, vẻ cao quý cuốn hút và vầng hào quang thánh khiết tỏa ra từ chàng ấy có sức thu hút vô cùng mãnh liệt đối với loài yêu như em.

Chàng hít một hơi thật sâu, mệt mỏi ngả lưng vào tường.

Tôi nhìn chàng mà lòng ngập nỗi day dứt, tôi nức nở:

– Lúc đó, chàng mới chỉ là một chú bé vô tư lự, vậy mà đã phải gò mình vào một cuộc hôn nhân ép uổng, sống cuộc đời nàm chán, vô vị, vì thế em thương chàng, xót chàng, mới ra sức bảo vệ chàng.

Chàng trưởng thành và ngày càng khôi ngô, tuấn tú, nhưng ánh mắt của em khi nhìn chàng vẫn chỉ dừng lại là ánh mắt yêu thương dành cho một chú bé, như khi chàng còn nhỏ.

Em chưa từng ở bên chàng bằng cảm xúc của một thiếu nữ ở bên chàng trai mà mình ái mộ, chưa từng nhìn chàng thật lâu bằng ánh mắt luyến lưu, tha thiết.

Bởi vì khi ấy, hình bóng của Lâu Cát đã lấp đầy tâm trí em.

Em khao khát có được hình hài của con người và nỗ lực từng bước lại gần chàng ấy.

Em coi chàng là người bạn tâm giao, để thổ lộ mọi buồn vui, tâm sự mà không hề nhận ra rằng càng ở bên chàng, em càng thấy lòng mình phơi phới, thư thái, nhẹ nhõm biết bao!

Chàng ngẩng lên nhìn tôi, nước mắt lưng tròng.

– Em không biết mình đã yêu chàng tự khi nào.

Bây giờ nghĩ lại, tình cảm của em dành cho chàng càng sâu đậm qua năm tháng.

Ngày hội Nguyên tiêu ở Yên Kinh, trái tim em đã thổn thức vì chàng.

Sinh nhật chàng, nụ hôn của chàng khiến tim em loạn nhịp, chưa khi nào em có cảm giác lâng lâng mãnh liệt đến thế.

Lúc truyền linh khí cho chàng, em đã hôn chàng, chàng biết không, em đã thầm khao khát và muốn khoảnh khắc ấy kéo dài mãi mãi.

Hai má tôi bỗng nóng ran khi phải thốt lên những lời từ sâu thẳm trái tim mình, ngón tay vô thức chạm vào sợi dây buộc tóc màu lam.

– Em… em…

Sau đó, em đã nhiều lần muốn hôn trộm chàng.

Thậm chí, lúc chàng ngủ say, em hóa thành người ngồi bên chàng, em rất muốn hôn chàng nhưng lại không dám.

Chàng khẽ rùng mình, chầm chậm bước về phía tôi, niềm vui dè dặt dâng trong đáy mắt:

– Em…

Vì sao em không nói cho ta biết?

– Là vì giấc mộng xa vời đó!

Bao năm qua em vẫn luôn cho rằng em yêu Lâu Cát và chỉ thương chàng, cảm thông với chàng mà thôi.

Mãi đến hôm nay em mới biết, mình đã nhầm lẫn giữa lòng sùng bái và tình yêu.

Em đã tự huyễn hoặc bản thân, đã chờ đợi mỏi mòn, đã tự mình dệt mộng nên ngoài hình ảnh của Lâu Cát, em không thấy bất cứ ai khác, cũng không cho phép mình suy xét.

Tôi cười buồn, lắc đầu.

– Mãi đến khi nghe tin chàng tái hôn, em thấy mình không còn là mình nữa, trái tim em quặn đau, cơn đau dữ dội ấy khiến em mất đi mọi cảm giác, trong đầu chỉ còn lại một ý niệm duy nhất: em muốn gặp chàng!

Thế là em vội từ biệt Lâu Cát, lén bám theo đoàn rước dâu.

Em đã chứng kiến chàng hát ru Kangtsoban, mỉm cười với cô ấy.

Và lần đầu tiên trong đời, em biết thế nào là ghen tuông.

Em thậm chí đã ghen đến điên dại với một cô ngốc!

Chàng bật cười:

– Không có chuyện đó đâu, chẳng qua là…

Tôi lấy tay che miệng chàng, mê mẩn ngắm nhìn gương mặt như tạc tượng của chàng.

– Em biết chứ.

Những lời chàng nói với Lâu Cát tối qua, em đã nghe thấy cả.

– Vậy… vậy em…

Chàng hết sức ngạc nhiên, sau đó mặt đỏ rần, ánh mắt đầy lo lắng:

– Em đã biết chuyện đêm đó, ta…

– Buổi tối bên hồ Yamdrok-tso, chàng nói rằng chàng có lỗi với em, chính là chuyện này phải không?

Mặt đỏ như gấc chín, chàng gật đầu trong nỗi day dứt:

– Nếu không vì lo lắng cho tính mạng của em, ta đâu dám làm chuyện đó.

Kể từ hôm ấy, ta không nguôi dằn vặt, ta sợ rằng, nếu biết chuyện, em sẽ rời bỏ ta.

– Chàng sẵn sàng đánh đổi mười năm tuổi thọ của mình vì em, sao em có thể trách chàng được?

Tôi ngả đầu vào lòng chàng, áp tai lên ngực chàng, lắng nghe trái tim chàng đang thổn thức.

Chàng sững sờ, hai tay bối rối không biết nên đặt vào đâu.

– Em xin lỗi, vì đã để lỡ quá nhiều thời gian.

Lẽ ra em phải mang lại hạnh phúc cho chàng từ lâu rồi mới phải.

Tôi ngước lên, đắm mình trong đôi mắt tựa hai vực nước sâu hun hút của chàng, âu yếm vuốt ve gương mặt gầy guộc của chàng.

– Kháp Na, anh trai chàng có Phật Tổ, có giáo phái và cả hoài bão thống nhất đất Tạng làm điểm tựa cho thế giới tinh thần, còn chàng thì sao?

Những cuộc hôn nhân ép uổng, trách nhiệm đối với gia tộc, niềm vui, nỗi buồn, nguyện ước của chàng, có ai chịu thấu hiểu?

Chàng khẽ run lên, bóp chặt bàn tay tôi, lòng bàn tay chàng ẩm ướt.

Ánh mắt trong veo như dòng suối che giấu nỗi u sầu tích tụ, gương mặt điển trai thoáng nét nghi hoặc:

– Tiểu Lam, em biết rằng ta không thể cự tuyệt em, đúng không?

Nhưng em đã suy nghĩ thấu đáo chưa vậy?

Nếu hôm nay em trở thành vợ ta thì ta sẽ không bao giờ để em xa rời khỏi vòng tay ta.

Chỉ cần ta còn sống thì dù ngày sau em có hối hận đi nữa, ta cũng không thể nhường em cho bất cứ người đàn ông nào khác, kể cả người đó là người anh mà ta rất mực yêu kính.

Vầng trăng vằng vặc chiếu sáng trên cao, ánh trăng rọi qua ô cửa sổ, dát bạc khắp căn phòng, thứ ánh sáng bàng bạc ấy bao phủ, tắm gội lên tất thảy, làn da của Kháp Na trở nên bóng mịn, khỏe khoắn dưới lớp ánh sáng ấy.

Hàng mi dài của chàng khẽ rung động, đôi đồng tử to rộng gắn chặt vào hai mắt tôi, hẳn là vì không muốn để sót bất cứ biểu cảm nào trên gương mặt tôi.

Tôi kiễng chân, vòng tay qua chiếc cổ thuôn dài, tuyệt đẹp của chàng, khẽ hôn lên bờ môi giá lạnh của chàng.

Chàng ngỡ ngàng, không dám cử động, cơ thể khẽ run lên, mở mắt to hết cỡ vì kinh ngạc.

Hàng mi dài rung động, gương mặt chàng đẹp như tạc, bờ môi chàng rất mềm, khi chạm đến, tôi cảm giác như có một dòng điện lan khắp cơ thể.

Chỉ trong khoảnh khắc, chàng thôi ngỡ ngàng, niềm vui dâng tràn nơi đáy mắt, bàn tay chàng siết chặt eo lưng tôi, kéo tôi sát lại.

Hơi thở nồng nàn quen thuộc ào tới gấp gáp, chàng cuốn lấy tôi, cùng tôi trao và nhận, cùng tôi hòa quyện, cùng tôi quyến luyến.

Trống ngực đập thình thịch, hơi thở hổn hển của chàng phả lên hai má tôi, cảm giác gai gai, chộn rộn.

Không biết nụ hôn ấy đã kéo dài bao lâu, chàng khẽ rời bờ môi tôi, ghì trán chàng vào trán tôi, hân hoan thủ thỉ:

– Ta không cần trở thành vĩ nhân lừng danh thiên cổ như đại ca, cũng không cần quyền lực và danh vọng, ta chỉ cần một người vợ mà ta yêu thương.

Mùa đông, ta muốn cùng cô ấy cưỡi ngựa trên tuyết trắng, tìm kiếm hoa mai.

Mùa xuân, ta muốn đưa cô ấy đến những vạt đồi bát ngát, hái những bông hoa dại, kết thành vòng hoa xinh xắn.

Mùa hạ và mùa thu, cô ấy thích làm gì ta cũng chiều ý.

Mỗi mùa xuân – hạ – thu – đông, ta đều muốn cô ấy trở thành người con gái hạnh phúc nhất thế gian.

Chàng nghiêng đầu sang bên, phải ngừng lại thật lâu mới có đủ can đảm, tiếp tục thổ lộ lòng mình trong nỗi xúc động dâng trào:

– Ta chỉ cầu mong có thế.

Tôi nức nở, thổn thức.

Mong ước của chàng mới giản dị làm sao!

Không giống người anh ôm hoài bão lớn lao, chàng chỉ mong cầu niềm hạnh phúc mà bất cứ ai cũng có thể có được.

Hạnh phúc bình dị ấy, với chàng, lại vô cùng quý giá.

Tôi âu yếm vuốt ve hàng mày dài, sống mũi cao và bờ môi mềm mại của chàng.

Tôi yêu những cảm xúc dấy lên từ những va chạm khẽ khàng ấy.

Tôi thủ thỉ:

– Kháp Na, vậy thì chúng ta đừng lãng phí thời gian đoán định tâm tư, tình cảm của nhau nữa, đừng lạnh lùng, thờ ơ nữa!

Đời người có được bao năm, kể từ bây giờ, chúng ta hãy sống và tận hưởng năm tháng thuộc về chúng ta.

Chàng chớp mắt, đôi đồng tử long lanh gắn chặt vào tôi, niềm hân hoan rạng ngời trên gương mặt và dâng đầy trong mắt.

Khi tôi vừa dứt lời, chàng lập tức sáp lại gần, hôn tôi mê mải.

Nụ hôn mê say, nồng nàn, dịu dàng mà cuồng nhiệt.

Trống ngực đập rộn ràng, hơi thở nồng đượm, hai má nóng ran.

Những âu yếm, đan quyện ngày một mạnh mẽ, mãnh liệt hơn, chàng nồng nhiệt tận hưởng, thả sức thưởng thức.

Tôi dịu dàng đáp lại, chiều ý chàng, quấn quýt bên chàng.

Tôi cảm nhận được khao khát ngày một mãnh liệt của chàng qua bàn tay siết chặt vòng eo tôi, qua bờ môi như có lửa đốt, qua làn da căng tràn xúc cảm và ánh mắt hừng hực dục vọng, giọng chàng thì thầm, khơi gợi:

– Tiểu Lam, em cho phép ta chứ?

Sức nóng từ bàn tay chàng lan tỏa, đốt cháy da thịt tôi, tôi như người vừa trúng bùa mê, ngã vào lòng chàng mềm nhũn:

– Chàng là phu quân của em, chàng muốn sao cũng được.

Tôi nhìn thấy đôi mắt mê dại của mình in trong vòm mắt huyền hoặc của chàng, tiêu cự biến mất, ranh giới không còn, khoảng cách cũng biến mất, làn môi đỏ thắm khẽ mở, làn môi thanh xuân, quyến rũ khó cưỡng.

Tôi chưa bao giờ thấy hình ảnh đó của bản thân, không dám nhìn thêm nữa, tôi vùi đầu vào lòng chàng, đỏ mặt, ấp úng:

– Huống hồ, chàng đã từng…

Dường như lấy lại được chút tỉnh táo, chàng khẽ rời khỏi tôi, gắng gượng quay đầu qua hướng khác:

– Tiểu Lam, tuy em là tâm nguyện lớn nhất đời ta, nhưng ta… ta không muốn giấu em bất cứ điều gì.

Ta muốn em chọn ta không một chút do dự.

Tôi ngạc nhiên:

– Chàng còn điều gì chưa nói với em ư?

Chàng thở dài, khẽ buông tôi ra:

– Tối hôm đó, khi vừa đến phủ Quốc sư, Drakpa Odzer nói với ta rằng, trong cung cho người đến mời đại ca, huynh ấy đã đi rất lâu rồi.

Khi ta chuẩn bị bước vào nhà thì huynh ấy đột nhiên trở về, thần sắc hoang mang, lo sợ, và điều khiến ta ngạc nhiên hơn cả là, bên cạnh huynh ấy không có bất cứ người hầu cận nào.

Y phục của huynh ấy không chỉnh tề mà xô lệch, nhàu nhĩ.

Huynh ấy không buồn chào ta lấy một tiếng mà vội vã rảo bước vào thư phòng.

Ta không biết đã xảy ra chuyện gì, nhưng đó là lần đầu tiên ta thấy bộ dạng của anh trai mình thảm hại như vậy.

Tôi sững sờ, vì tôi cũng không ngờ Bát Tư Ba lại có lúc hoang mang, sợ hãi đến thế.

Kháp Na chìm trong hồi ức, ngọn nến bập bùng chiếu tỏa gương mặt như tạc khắc và ánh mắt xót xa, thương cảm của chàng:

– Đại ca sục sạo bới tìm trên giá sách của mình như một người điên.

Huynh ấy vứt sách ngổn ngang dưới đất.

Ta hốt hoảng, chạy đến giữ tay huynh ấy lại, huynh ấy bỗng gào lên đau đớn.

Chiếc áo tăng ni bị ta kéo rách một miếng để lộ những khớp tay của huynh ấy.

Ta nhìn thấy một vết thương lớn, nhưng huynh ấy đã vội vàng che đi.

Lúc đó, huynh ấy mới nhận ra sự có mặt của ta, và như gặp được vị cứu tinh, cứ ráo riết dồn hỏi ta rằng, nếu biết em gặp nguy hiểm, liệu ta có bằng lòng đán đổi mười năm dương thọ để cứu em không.

Ta đã khẳng khái đáp rằng, ta sẵn lòng, nhưng huynh ấy vẫn chưa chịu tin, nằng nặc buộc ta phải xác nhận chắc chắn…

Dáng vẻ của huynh ấy lúc đó rất kỳ quặc.

Lúc đầu là kinh ngạc, sau đó thì mỗi lời nói ra đều đượm vị xót xa, chua chát.

Huynh ấy lúc bình tĩnh, khi điên loạn, hoàn toàn không phải là người anh trai mà ta biết trước đó.

Sau cùng, như kẻ chấp nhận số phận, huynh ấy cho ta biết tình hình của em và chỗ ngôi nhà, thúc giục ta lên đường.

Ta cuống cuồng trèo lên lưng ngựa, trước lúc phi đi, ta bỗng nghe thấy tiếng đồ đạc vỡ choang vẳng ra từ phòng huynh ấy.

Nhưng vì vội đến cứu em, ta chẳng để tâm chuyện đó.

Tinh mơ hôm sau, khi ta trở về phủ Quốc sư, Drakpa Odzer nói nhỏ với ta rằng, đại ca đã thức trắng đêm, đập vỡ tất thảy đồ đạc trong phòng.

Hôm đó, huynh ấy tiều tụy, võ vàng đi trông thấy, ánh mắt lạnh như băng.

Huynh ấy không hỏi và ta cũng không nói bất cứ lời nào.

Nhưng ta biết, bắt đầu từ đây, giữa huynh đệ ta đã tồn tại một hố sâu ngăn cách, chẳng thể lấp đầy.

Chàng quay đầu nhìn về phía tôi, ánh mắt ngập nỗi day dứt:

– Tiểu Lam, sau chuyện đó, chúng ta biết rằng, cả hai đều đã yêu em.

Tôi thực sự bất ngờ.

Bát Tư Ba chỉ kể lại rất qua loa chuyện đêm đó cho tôi nghe.

Giờ đây, Kháp Na đã tặng cho tôi một phiên bản khác.

Tôi cười buồn, chuyện đó chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Dù cho đêm đó, chàng đã dằn vặt, đau khổ ra sao thì sự thực vẫn là sự thực: chàng đã chọn Phật Tổ chứ không phải tôi.

Tôi nắm lấy bàn tay Kháp Na, đặt lên ngực mình:

– Kháp Na, dù khi ấy đã xảy ra chuyện gì thì người đến với em đêm đó vẫn là chàng.

Thực ra, không có chuyện hao tổn mười năm dương thọ gì cả, đó chỉ là những lời nói dối mà Khabi cố tình dựng lên để thử thách lòng dạ đàn ông mà thôi.

Chàng đã vượt qua cuộc khảo nghiệm đó nên chàng sẽ là người mà cả đời này Lam Kha Mai Đóa yêu thương.

Chàng biết không, loài hồ ly kết đôi rất ổn định, nói theo ngôn ngữ của loài người thì chính là: trọn đời trọn kiếp có nhau.

Chàng và em đã thuộc về nhau, từ nay em xin trao thân gửi phận cho chàng.

Những dằn vặt, trăn trở rốt cuộc cũng đã tan biến trong mắt chàng, niềm vui rạng ngời như nắng xuân.

Chàng kéo tôi vào lòng, siết chặt như thể sợ rằng chỉ cần khẽ buông lơi, tôi sẽ lập tức biến mất.

Chàng nhấc bổng tôi lên, tiến về chiếc giường rộng.

Sợi dây buộc tóc đã tuột tự lúc nào, mái tóc màu lam bồng bềnh xõa dài trên gối.

Chàng thở gấp, lòng bàn tay nóng rãy, ánh mắt vằn vện những tia dục vọng.

Nhưng chàng vẫn đủ kiên nhẫn để cởi bỏ từng lớp xiêm y của tôi.

Chàng nâng niu cơ thể tôi như nâng niu báu vật quý giá nhất trên đời.

Đêm đó, bầu trời đêm ngàn sao lung linh, ánh trăng chiếu rọi khiến gương mặt chàng trở nên quyến rũ hơn bao giờ hết.

Tôi nhớ mãi vầng trăng tròn vành vạnh đêm ấy.

Đó là đêm trăng đẹp nhất mà tôi từng thấy.

– Tiểu Lam ơi…

Tiểu Lam…

Hơi thở hổn hển, niềm hân hoan khoái lạc chẳng thể che đậy, chàng đan những ngón tay mình vào tay tôi, thầm thì gọi tên tôi, giọng nói dịu ngọt của chàng bao phủ lấy tôi.

Suốt những tháng năm dằng dặc sau này, tôi vẫn không nguôi tưởng nhớ lại đêm tân hôn ngọt ngào, thiêng liêng ấy, bên tai tôi vẫn luôn văng vẳng tiếng gọi da diết của chàng: Tiểu Lam ơi…

Tiểu Lam…

Hết chương 42.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 43: Năm tháng lặng yên


“Tài sản chiếm được bằng thủ đoạn xấu xa,

Chẳng ai buồn công nhận;

Loài chó mèo ăn no rửng mỡ,

Vẫn vụng trộm như thường.”

(Cách ngôn Sakya)

– Kháp Na, nghỉ một lát đã.

Tôi thủ thỉ âu yếm, hai tay chắn trước gương mặt nóng bỏng của chàng, ngăn cản bờ môi cuồng nhiệt của chàng.

– Chàng chưa khỏi bệnh, cần giữ gìn sức khỏe.

– Em có thấy ta là kẻ tham lam, bao nhiêu cũng không đủ không?

Chàng không gạt tay tôi sang bên mà đặt một nụ hôn vào lòng bàn tay tôi, giọng nói nồng nàn:

– Tiểu Lam à, ta đã yêu em bao năm, nhưng chỉ dám âm thầm có em trong mơ, ta không tin nổi giờ đây lại được ôm em trong vòng tay thế này.

Em biết không, ta chẳng kiềm chế được bản thân khi ở gần em.

Mọi thứ nơi em đều khiến ta say mê, chẳng thể cưỡng nổi.

Tôi xoay người, kéo chăn quấn quanh mình, buột miệng:

– Nhưng cũng đâu cần vội, chúng ta còn nhiều thời gian mà!

Chàng phì cười, sáp lại, kéo chăn ra, nâng niu gương mặt tôi trong lòng bàn tay, ánh mắt lưu luyến, hơi thở ấm nóng phả vào má khiến tôi chộn rộn.

Giọng chàng mê ly như nước cam tuyền, bồng bềnh trôi bên vành tai tôi:

– Ta đồng ý, nhưng hãy để ta yêu em thêm lần nữa, ta hứa đêm nay sẽ không chạm vào em nữa.

Và rồi tôi nhận ra, một người đứng đắn như Kháp Na cũng có lúc thất hứa.

Kết quả của việc chàng hôn tôi lần nữa là: chàng kiềm chế không nổi.

Những tiếp xúc đê mê của da thịt, hương thơm và hơi ấm của cơ thể, những lời đường mật quyến rũ thoang thoảng bên tai như thôi thúc, như gọi mời, nài nỉ, như mê hoặc, để sau đó tôi lại chiều ý chàng.

Nhưng tôi đã lén truyền linh khí cho chàng qua mỗi nụ hôn, để chàng không bị mất sức.

Tiếng gõ cửa nhè nhẹ đánh thức tôi từ cơn mộng mị miên man, mặt trời đã lên cao bằng cây sào, ánh nắng trải khắp căn phòng.

Ngoài cửa, giọng nói cung kính của Kunga Zangpo vang lên:

– Thưa cậu chủ, tôi mang đồ ăn đến cho cậu.

Nói rồi, cậu ta đặt đồ ăn ngoài cửa, lẳng lặng rời đi.

Tôi cốc nhẹ vào đầu, vẫn còn cảm giác mê mệt.

Trời ạ, tôi đã ngủ say đến như vậy ư, thậm chí không nghe thấy tiếng bước chân ngoài cửa ư?

Muốn ra khỏi giường, nhưng vừa nhổm dậy đã đổ “phịch” xuống, eo lưng mỏi rã rời.

Kháp Na cũng tỉnh giấc, chàng chống tay nhổm dậy, cười nghiêng ngả, ánh mắt dịu dàng, đắm đuối như hồ nước mùa xuân.

Chàng đặt tôi nằm lên gối, nhặt lấy chiếc áo ngủ màu bạc khoác lên người.

Trông chàng có vẻ rất sảng khoái, dễ chịu, không còn dấu hiệu đau ốm của mấy ngày trước nữa.

Chàng bưng khay đồ ăn đến bên giường, chỉ cho tôi từng món.

– Em thấy không?

Chúng ta có rất nhiều thức ăn.

Tôi chau mày, ngồi dậy:

– Vì sao mình mẩy em lại đau ê ẩm thế này?

Lần trước em không hề có cảm giác gì cả.

Chiếc bát chững lại trong tay, chàng xấu hổ giải thích:

– Em biết không, ta đã mừng thầm vì em không có bất cứ ý niệm nào về chuyện đêm đó.

– Vậy chàng kể em nghe đi.

Tôi bỗng thấy tò mò, nũng nịu đòi chàng kể lại.

Nhưng chàng đỏ mặt và kiên quyết không chịu nói.

– Chuyện đó rất khó nói.

Tổi dẩu môi, vờ giận dỗi:

– Chàng bảo rằng sẽ không giấu em bất cứ chuyện gì cơ mà!

Cuối cùng thì chàng đành chịu thua, ấp úng kể lại:

– Đó…

đó là lần đầu tiên.

Thực ra ta mới chỉ đọc trong sách vở và nghe các anh em, bạn bè khác kể lại.

Trước đó, ta cũng từng có những giấc mơ xuân tình vụng trộm, những khao khát cháy bỏng, nhưng khi phải đối diện với em, đầu óc ta bỗng nhiên trống rỗng.

Lúc ấy, ta vô cùng bối rối, lòng như lửa đốt, đầu óc căng như dây dàn, những tà niệm, những ý nghĩ xấu xa dồn đẩy bức bối, nhưng ta lại không biết phải làm sao để mọi việc được suôn sẻ.

Và ta lại rất sợ em đột nhiên tỉnh lại, bắt gặp ta làm chuyện đáng xấu hổ đó.

Thế nên, ta… ta…

Chàng không biết phải nói sao nữa, gương mặt chín đỏ, chỉ buông hờ hai tiếng:

– Rất nhanh…

Lúc đầu tôi còn chưa hiểu, phải mất một lúc lâu tôi bật cười ngặt nghẽo, thì ra, đàn ông cũng rất xem trọng chuyện đó.

Thấy tôi cười, chàng càng bối rối, liền ghé sát vào tai tôi, gằn giọng:

– Em có muốn thử một lần nữa không?

Thấy chàng chuẩn bị chồm đến, tôi giật mình, vội giơ tay xin hàng:

– Em đói.

Chỉ có cách đó mới khiến chàng chịu tha cho tôi.

Sau khi rửa mặt, súc miệng xong xuôi, chúng tôi cùng nhau ăn sáng.

Món canh hầm thịt cầu kỳ vừa thơm vừa ngậy, rất vừa miệng.

Tôi vừa thưởng thức đồ ăn vừa thưởng thức chàng, bật cười khoan khoái.

Ánh mắt chàng sao mà dịu dàng, nụ cười của chàng sao mà ngọt lịm, gương mặt chàng rạng rỡ, hoan hỉ.

Căn bệnh như đã tiêu tan, chàng lấy lại phong độ phơi phới, vẻ khôi ngô, tuấn tú của chàng lúc nào cũng khiến tôi khao khát.

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, chàng chạy lại đầu giường, lật đi lật lại bộ lễ phục chú rể, tìm ra miếng ngọc Linh hồn.

Miếng ngọc lấp lánh màu mật rất đẹp, hai cạnh có lỗ nhỏ, để xỏ dây qua.

Chàng bước đến trước mặt tôi, buộc miếng ngọc lên đỉnh đầu tôi, trịnh trọng tuyên thệ:

– Vợ của ta, xin em hãy gìn giữ linh hồn ta.

Nếu một mai ta chết đi, ta sẽ xin Phật Tổ cho ta gửi gắm linh hồn vào miếng ngọc này, để ta được ở bên em mãi mãi.

Tôi vội lấy tay che miệng, trừng mắt nhìn chàng giận dỗi:

– Không được nói gở!

Em không để chàng đoản thọ như vậy đâu.

Chàng mỉm cười, niềm hạnh phúc ngập tràn trong đáy mắt.

Chúng tôi ngắm nhìn nhau, đan tay vào nhau, ánh mặt trời rực rỡ xuyên qua ô cửa, tràn vào phòng, chiếu lên không gian những đường nét lung linh, diệu ảo.

Chúng tôi đã ở lại rất lâu trong Lang Như Thư Lầu, chẳng buồn bước chân ra khỏi cửa.

Ngày và đêm đã không còn ý nghĩa nữa, chỉ có người bên cạnh là sự tồn tại chân thực duy nhất.

Chúng tôi gắn chặt lấy nhau giữa ngày đông giá lạnh để bù đắp những khoảng thời gian hoang phí trước đó.

Khi trao trọn trái tim mình cho chàng, tôi mới biết rằng, hóa ra, tôi yêu chàng nhiều đến thế, yêu đến mức không muốn rời mắt khỏi chàng, dù chỉ trong khoảnh khắc, yêu đến mức tôi sẵn sàng chịu đựng trăm năm cô độc trong tương lai để đổi lấy niềm hạnh phúc vô tận ở hiện tại.

Cuộc sống bình lặng của chúng tôi đã đôi lần bị Kangtsoban làm cho xáo trộn.

Nhưng mỗi lần cô nàng gào khóc đòi gặp Kháp Na, tôi lại biến phép khiến cô ngốc quên đi mục đích của chuyến viếng thăm mà ngoan ngoãn quay về.

Lang Như Thư Lầu xinh đẹp là thế giới yêu đương của riêng chúng tôi, chỉ thuộc về chúng tôi mà thôi.

Ban ngày, lúc Kháp Na đọc sách, tôi sẽ ngồi lặng lẽ bên chàng.

Chốc chốc chàng lại ngẩng lên nhìn tôi, và thường thì chàng sẽ buông sách xuống, bước đến hôn tôi, vui đùa cùng tôi.

Buổi tối luôn là những đêm hoan lạc miên man, chàng chỉ chịu ngừng lại khi kiệt sức.

Những ngày môi ấp má kề, yêu đương quấn quýt kéo dài hơn một tháng.

Suốt thời gian đó, Kháp Na luôn trong trạng thái tinh thần khoan khoái, dễ chịu, gương mặt rạng ngời hạnh phúc.

Chàng khỏe lại rất nhanh.

Đúng lúc chúng tôi chừng như quên hết thảy mọi sự đời, trong mắt người này chỉ tồn tại duy nhất hình bóng ngọt ngào của người kia thì năm mới 1266 theo lịch Tạng đến gần.

Mấy ngày trước thềm năm mới, dù không muốn chút nào, nhưng vì là nhân vật quan trọng thứ hai ở Sakya, chàng buộc phải chủ trì một số nghi lễ chúc Tết.

Chàng tấm tức rời gót khỏi Lang Như Thư Lầu, nhưng việc đầu tiên là đưa tôi (trong hình hài hồ ly) đi cùng.

Hai chúng tôi cùng bước vào phòng Bát Tư Ba.

– Đại ca, huynh sao vậy?

Mới hơn một tháng không gặp, cơn cớ gì Bát Tư Ba lại tiều tụy nhường này?

Có lẽ đã ba, bốn ngày chàng không buồn cạo râu, mắt thâm quầng như mắt gấu trúc, nếp nhăn trên trán càng thêm sâu, gương mặt trông hốc hác đến dễ sợ.

Con người trước mặt tôi đây hoàn toàn không phải vị pháp sư đạo mạo, trác tuyệt thường ngày.

Kháp Na ra hiệu cho Dampa ra ngoài, trong phòng chỉ còn lại ba chúng tôi, lúc đó, chàng mới lo lắng hỏi han:

– Đại ca, huynh đã thức trắng nhiều đêm và không ăn không uống nhiều ngày phải không?

Bát Tư Ba mệt mỏi đáp:

– Không sao, chẳng chết ngay được đâu!

Cả tôi và Kháp Na cùng sững sờ.

Bát Tư Ba ứng xử nhã nhặn, đúng mực, chưa bao giờ buông lời tuy tiện, vì sao hôm nay lại như vậy?

Kháp Na lặng lẽ quan sát anh trai hồi lâu, buồn bã cúi đầu:

– Đại ca, huynh có biết, trên đời này, người đau lòng nhất khi phải nghe những lời đó là đệ không?

Chừng như biết mình lỡ lời, Bát Tư Ba nói:

– Ta xin lỗi đã khiến đệ lo lắng.

Đúng là đã nhiều đêm ta không sao yên giấc, đều là vì cái này đây.

Chàng khoát tay ra hiệu cho Kháp Na lại gần.

Kháp Na đến bên thư án, Bát Tư Ba trải rộng lên mặt bàn một tấm bản đồ, trên đó kẻ vẽ, đánh dấu rất chi tiết vị trí của các công trình kiên cố, đồ sộ trong phạm vi một thành trì.

Kháp Na kinh ngạc thốt lên:

– Đây là…

Bát Tư Ba gật đầu chắc nịch:

– Đấy chính là thành trì của phái Sakya trong tương lai.

Sau khi thiết kế ổn thỏa, ta sẽ cử người đi Thiên Trúc và Nepol[1] mời về đây những người thợ tài giỏi nhất, giúp chúng ta kiến tạo thành trì này.

[1].

Nepol: tức Nepal ngày nay

Kháp Na ghé mắt thật sát để xem xét tấm bản đồ và ngay lập tức chàng nhận ra điểm khác lạ:

– Công trình này sẽ không giống ngôi đền Sakya xây dựng trên lưng chừng núi.

Với quy mô và bố cục lớn thế này, chúng ta nhất định phải xây dựng trên mặt đất bằng phẳng.

Khóe môi Bát Tư Ba lấp ló nét cười, ánh mắt lộ vẻ vui sướng:

– Thành trì tương lai của giáo phái sẽ được xây dựng ở Samdruptse.

Nơi đó là lũng sông, địa thế bằng phẳng nên ta phải thiết kế như vậy.

– Một tòa thành hũng vĩ!

Kháp Na không kìm nổi sự phấn khích:

– Đại ca, đệ có thể giúp gì cho huynh?

– Đệ không cần phải bận tâm về việc này.

Chờ khi thợ thuyền tập trung đầy đủ, vật liệu chuẩn bị tươm tất, nhanh nhất cũng phải sang năm mới có thể động thổ.

Việc cần kíp trước mắt đối với đệ là…

Chàng đưa mắt về phía tôi, hít một hơi thật sâu, ánh mắt chứa đựng nhiều ý tứ:

– Người thừa kế của giáo phái phải mau chóng ra đời.

Cả tôi và Kháp Na đều đỏ mặt.

Chàng ấp úng:

– Kìa đại ca, mới hơn một tháng, huynh sốt ruột gì chứ!

Bên ngoài có tiếng bước chân gấp gáp, tiếng Dampa vang lên:

– Thưa đại tiểu thư, pháp vương và Bạch Lan Vương đang bàn việc, không gặp bất cứ ai.

– Tránh ra, ta có việc vô cùng cấp thiết cần gặp đại ca!

Tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra giọng nói đầy hoang mang, lo lắng của trưởng nữ nhà họ Khon – Zhuoma.

Sau khi trở về Sakya, anh em Bát Tư Ba chỉ giữ mối quan hệ xã giao, không quá thân thiết với các anh chị em cùng cha khác mẹ.

Zhuoma là quả phụ nên sống trong đền Sakya cùng dì ba, vì vậy thường ngày cô ấy gặp gỡ anh em Bát Tư Ba nhiều hơn các anh chị em khác.

Zhuoma là người phụ nữ hiểu biết, lễ độ, nếu không có việc gì nghiêm trọng, chắc chắn cô ấy không kiên quyết đòi gặp Bát Tư Ba như vậy.

Nghe thấy tiếng ồn bên ngoài, Bát Tư Ba ngẩng lên nhìn Kháp Na rồi đích thân ra mở cửa.

Tôi lập tức trở lại nguyên hình.

Zhuoma đang khổ sở van nài, đầu bù tóc rối, bộ dạng rất đáng thương.

Vừa trông thấy Bát Tư Ba, cô liền lao đến, nắm chặt tay áo anh trai:

– Đại ca, cầu xin huynh mau đi cứu Kunga Zangpo!

Kháp Na thất kinh:

– Kunga Zangpo làm sao?

Zhuoma lo lắng, bật khóc:

– Huynh ấy bị dì năm ra lệnh treo lên cột nhà để tra tấn.

Hai người mau đi cứu huynh ấy.

Bằng không, với tính khí của dì năm, rất có thể huynh ấy sẽ bị đánh cho đến chết!

Hai huynh đệ mặt mày biến sắc, vội rảo bước theo Zhuoma.

Bát Tư Ba vừa đi vừa hỏi:

– Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Kháp Na bừng bừng nộ khí:

– Kunga Zangpo là người hầu của đệ, dì năm có tư cách gì mà đánh cậu ta?

Dù cậu ta có phạm phải tội lỗi tày trời đi nữa, cũng phải thông báo với đệ một tiếng chứ?

Zhuoma đỏ mặt, e thẹn cúi đầu:

– Tất cả là tại muội.

Muội và huynh ấy…

Dì năm đã bắt gặp…

Bát Tư Ba băn khoăn:

– Muội và cậu ta?

Nhìn điệu bộ ấp úng, thẹn thùng của Zhuoma, Kháp Na chừng như đã đoán ra:

– Lẽ nào chị và cậu ta có tình cảm với nhau?

Tuy vẫn đỏ mặt ngượng ngùng nhưng Zhuoma gật đầu thừa nhận không chút sợ hãi.

Thấy Bát Tư Ba cau mày, cô ấy vội vàng giải thích:

– Chúng tôi không yêu đương lén lút, vụng trộm.

Chúng tôi thật lòng đến với nhau!

Chúng tôi vừa nói vừa bước đến cửa phòng chứa củi, tiếng roi vọt và tiếng kêu gào vọng ra.

Kháp Na nhanh tay đẩy cửa, quát lớn:

– Dừng tay!

Hai thanh niên lực lưỡng đang ra sức quất roi, Kunga Zangpo bị trói vào cột nhà, máu me loang lổ khắp người!

Kháp Na xông vào, trừng mắt nhìn dì năm đang đứng bên cạnh:

– Chuyện gì thế này?

Dì năm không ngờ anh em Bát Tư Ba lại đến nhanh như vậy, sợ hãi lùi về phía sau nhưng vẫn hung hăng chỉ vào Kunga Zangpo, mạt sát:

– Tên nô bộc đê tiện này dám giở trò với đại tiểu thư của giáo phái, bị ta bắt quả tang.

Kunga Zangpo lắc đầu yếu ớt, hướng cặp mắt cầu cứu về phía Kháp Na:

– Thưa cậu chủ, không phải vậy!

Dì năm lớn tiếng xỉa xói:

– Người còn dám chối à?

Người ôm ấp Zhuoma, định giở trò đồi bại, bị ta bắt gặp mà vẫn còn chối à?

Trông thấy thảm cảnh của Kunga Zangpo, Zhuoma òa khóc nức nở, giọng nói của cô ấy như xé ruột xé gan:

– Tôi đã nói với dì bao nhiêu lần rồi, tôi tự nguyện kia mà!

Kháp Na bước đến, cởi trói cho Kunga Zangpo, tức giận nói:

– Dù cậu ta có làm điều gì sai trái, dì chỉ cần báo với tôi một tiếng là được.

Ai cho phép dì thay tôi dạy dỗ người hầu của tôi?

Dì năm chống tay vào hông, vênh váo:

– Hơn hai mươi năm các cậu không ở Sakya, ta chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ Dugong[2] của giáo phái.

Dù nó có là người hầu thiết thân của Bạch Lan Vương đi nữa thì nó vẫn là nô lệ của phái Sakya, lẽ nào ta không có quyền quản lý?

Ta phải dằn mặt nó, để nó chớ tưởng rằng, là người hầu tâm đắc của cậu thì có thể tùy tiện đụng đến tiểu thư nhà chủ.

Ta không có phép bất cứ sự ngỗ ngược, vô lễ nào diễn ra ở phái Sakya này.

Hôm nay, ta nhất định phải đánh gãy chân nó, vứt lên núi cho chó sói gặm!

[2].

Dugong (đôi cùng): chỉ các hộ dân nhỏ, sau khi mất hết tài sản, phải bán thân cho địa chủ, địa vị xã hội vô cùng thấp kém.

Bát Tư Ba cau mày, nhìn mụ ta bằng ánh mắt ghê sợ:

– Dì năm, ta mới là chủ nhân của giáo phái, chuyện này dì không định đoạt được.

Lúc này, dì ba cùng mấy cô hầu gái cũng vừa tới nơi.

Dì ba tuổi tác đã cao, vì chạy vội nên thở hồng hộc.

Bị Bát Tư Ba cho ăn quả đắng, dì năm quay ra hằn học với dì ba:

– Chị ba, tôi đã căn dặn chị phải trông nom Zhuoma cẩn thận kia mà.

Chị làm gì mà để con gái tự tung tự tác, gây tiếng xấu cho cả họ thế?

Dì ba vừa thở hổn hển vừa ấp úng:

– Nó đã trốn đi nhân lúc tôi sơ ý, không để mắt đến.

Em năm cũng biết tính tình ương bướng, ngang ngạnh của nó rồi đấy.

Zhuoma lao đến chắn trước mặt Kunga Zangpo, dang rộng hai tay bảo vệ cậu ta:

– Chính tôi đã mồi chài anh ấy, vì tôi yêu anh ấy và muốn lấy anh ấy!

Dì năm được thể châm chọc dì ba:

– Chị xem cô con gái cưng của chị kìa!

Đường đường là một tiểu thư phái Sakya lại đi thích một tên Dugong hèn hạ.

Giấy bán thân của nó vẫn nằm trong tay giáo phái chúng ta đó!

Dì ba không biết phải nói sao, chỉ cúi đầu xấu hổ.

Người Tạng tuy rất phóng khoáng trong chuyện nam nữ nhưng tầng lớp quý tộc lại hết sức coi trọng môn đăng hộ đối.

Thường dân người Tạng chỉ có tên mà không có họ, chỉ giai cấp quý tộc mới được mang họ.

Ví như dòng họ cai quản phái Sakya là họ Khon.

Họ đặt trước tên chính là tiêu chí để nhận biết tầng lớp quý tộc ở đất Tạng.

Gia đình vương giả nào không có con trai, có thể tìm người ở rể, người đó sẽ mang họ của nhà vợ, một bước lên mây, từ đây thoát khỏi tầng lớp thấp hèn.

Nhưng cũng chính vì vậy, các gia đình quý tộc tuyệt đối không muốn gả con gái mình cho những người ở tầng lớp thấp hơn, chưa nói đó lại còn là một Dugong phải bán thân bởi đó sẽ là sự sỉ nhục vô cùng lớn.

Kunga Zangpo muốn đẩy Zhuoma ra, cúi đầu khóc than:

– Không phải lỗi của tiểu thư Zhuoma đâu, tất cả là tại tôi, tôi xin nhận mọi hình phạt.

– Đừng nói nữa!

Kháp Na nghiêm nét mặt, quay lại hỏi Zhuoma.

– Chị Zhuoma, ta hỏi chị, chị có thật lòng với cậu ấy không?

Chị có sẵn sàng từ bỏ địa vị đại tiểu thư phái Sakya để đi theo cậu ấy, suốt đời chịu khổ không?

Zhuoma nhác thấy một con dao bổ củi dựng ở góc tường, liền lao đến, cầm con dao lên, chặt đứt ngón tay mình không hề do dự.

Sự việc diễn ra quá nhanh khiến tất cả chúng tôi trở tay không kịp.

Một nửa ngón tay út của cô ấy rơi xuống đấy, nhưng cô ấy bất chấp máu tươi phun trào, vẫn ngẩng cao đầu, khóe môi nở một nụ cười thê lương:

– Tôi sẵn sàng!

Tôi yêu con người của anh ấy, không màng đến thân phận, địa vị của anh ấy.

Dù giáo phái có từ chối, xua đuổi, dồn tôi đến nơi cùng cực, chỉ cần được ở bên cạnh anh ấy, có chết tôi cũng cam lòng!

Hành động của Zhuoma khiến ai nấy đều bất ngờ và hoảng sợ.

Kunga Zangpo khóc nấc lên:

– Zhuoma, đừng làm vậy…

Bát Tư Ba vội lệnh cho người hầu đi mời thầy thuốc.

Dì ba đau xót lắc đầu:

– Hắn có gì tốt đẹp mà khiến con mê muội như vậy?

Zhuoma gạt tất cả các hầu gái muốn lại gần chăm sóc vết thương cho cô sang một bên, đặt con dao bổ củi lên cổ, gào lên thảm thiết:

– Mẹ ơi, con đã mang trong mình dòng máu của anh ấy.

Nếu mẹ không chịu tác thành cho chúng con, con sẽ chết cùng đứa con này.

Con nói là sẽ làm!

Dì ba sợ tái mặt, vội xua tay, gật đầu:

– Mẹ đồng ý.

Nhưng con phải nghĩ cho kĩ, nếu con không còn là đại tiểu thư phái Sakya nữa thì con cái con cũng sẽ là Dugong, chúng sẽ phải làm thân trâu ngựa suốt đời ở giáo phái này!

Kháp Na quay sang dì ba, cất giọng điềm tĩnh:

– Dì ba, nếu Kunga Zangpo không còn là Dugong nữa, liệu dì có chấp nhận cậu ta là con rể của dì không?

Tất cả chúng tôi đều ngỡ ngàng.

Kháp Na nhanh chóng rời khỏi phòng chứa củi, trước khi đi chỉ để lại một câu:

– Mọi người chờ tôi ở đây!

Chàng quay lại sau khoảng một tuần hương.

Chàng mang theo giấy bán thân của Kunga Zangpo, đốt bỏ trước mặt mọi người rồi vỗ vai Kunga Zangpo:

– Kunga Zangpo, từ nay cậu là người tự do.

Chỉ cần cậu đối xử tốt với chị gái của ta, ta đảm bảo, không ai ở Sakya dám coi thường hai người.

Kunga Zangpo, mắt đỏ hoe, xúc động:

– Cậu chủ…

Kháp Na mỉm cười:

– Kìa anh rể, đừng gọi ta là cậu chủ nữa!

Kunga Zangpo lập tức quỳ xuống, dập đầu trước Kháp Na:

– Cậu mãi mãi là cậu chủ của tôi, cho dù giấy bán thân đã được đốt bỏ nhưng Kunga Zangpo này xin thề với Phật Tổ, tính mạng của tôi mãi mãi thuộc về cậu!

Bát Tư Ba nghiêm giọng:

– Được rồi, chuyện này kết thúc ở đây.

Trước Tết chúng ta sẽ tổ chức hôn lễ cho Kunga Zangpo và Zhuoma.

Kể từ bây giờ, Kunga Zangpo không còn là Dugong nữa mà đã trở thành thành viên của dòng họ Khon.

Kunga Zangpo và Zhuoma vui mừng khôn xiết, Kháp Na cũng mừng thay cho họ.

Cậu ta không còn mang thân phận nô lệ nữa, dì ba đành miễn cưỡng chấp nhận.

Chỉ có dì năm không nguôi tức tối, cay cú.

Bà ta vốn định mượn cớ này dằn mặt Kháp Na, nào ngờ sự thể lại thay đổi chóng mặt không theo ý bà ta.

Kunga Zangpo nhờ thế mà một bước lên mây.

Kunga Zangpo hơn Bát Tư Ba hai tuổi, cha mẹ mất sớm, năm lên mười bị người cậu bán cho phái Sakya.

Ngài Ban Trí Đạt nhận thấy cậu bé tuổi nhỏ mà chín chắn, bèn sắp xếp để Kunga Zangpo theo hầu Kháp Na.

Lúc đến Lương Châu, cậu ta mới mười hai tuổi nhưng đã chăm sóc Kháp Na rất mực chu đáo.

Kunga Zangpo rất thông minh, trong những năm tháng đi theo Kháp Na, cậu ta đã tự mày mò học chữ, đọc sách.

Cậu ta cũng rất tháo vát, năng nổ, phàm việc gì không cần chỉ dẫn tận tình vẫn có thể hoàn thành đâu ra đấy.

Hơn hai mươi năm qua, dù đi đến đâu, Kháp Na cũng đưa cậu ta đi cùng.

Đối với chàng, cậu ta là người đáng tin cậy nhất, chỉ sau Bát Tư Ba.

Hồi còn ở Lương Châu, Kháp Na đã không ít lần mai mối cho Kunga Zangpo.

Tuy là Dugong, nhưng với thân phận người hầu của con rể Khoát Đoan, Kunga Zangpo hoàn toàn có thể tìm cho mình một thiếu nữ con nhà tử tế làm vợ.

Ban đầu, Kháp Na định mai mối cho cậu ấy con gái của một hộ nông dân trong nội thành Lương Châu, nhưng đúng lúc ấy, Kháp Na lại phải về Yên Kinh, vì không muốn chuyện trăm năm của cô gái, Kunga Zangpo đã khéo léo khước từ.

Sau khi về Yên Kinh, Kháp Na được phong làm Bạch Lan Vương, ngày càng nhiều người muốn nhận Kunga Zangpo làm con rể.

Thời gian ấy, Kunga Zangpo cũng từng có tình cảm với con gái một ông chủ tiệm gạo, nhưng đúng lúc hai bên đang bàn chuyện cưới hỏi thì Mukaton qua đời.

Kunga Zangpo từ biệt cô gái và lên đường theo Kháp Na trở về Lương Châu.

Kunga Zangpo tuổi tác đã lớn, vậy mà chuyện hôn nhân năm lần bảy lượt đều không thành, điều này khiến Kháp Na không khỏi áy náy.

Nhưng Kunga Zangpo chưa bao giờ than phiền, cậu ta biết sớm muộn Kháp Na cũng quay về Sakya nên quyết tâm không thành thân nữa.

Năm nay cậu ta đã ba mươi tư tuổi, bằng tuổi Zhuoma.

Thấy hai người yêu thương nhau sâu sắc như vậy, Kháp Na lấy làm mừng và quyết tâm tác thành cho họ, đồng thời cũng nhân cơ hội này, giúp Kunga Zangpo thoát khỏi thân phận nô lệ.

Không có Kháp Na, sẽ không có vị bản khâm đời thứ hai của giáo phái Sakya – Kunga Zangpo.

* * * * *

Tôi đặt chén trà giữa lòng bàn tay để lấy hơi ấm, thư thả nói:

– Hơn hai trăm năm qua, đền Sakya luôn là một công trình kiến trúc được xây dựng trên lưng chừng núi, đó cũng là phong cách xây dựng đền đài của hầu hết các giáo phái ở Tây Tạng.

Nhưng trung tâm hành chính tương lai của đất Tạng mà Bát Tư Ba muốn xây dựng không thể phỏng theo kiến trúc ấy.

Chàng trai trẻ ngẫm ngợi:

– Ngài ấy muốn xây dựng cả một thành trì giống như vương triều Tufan xây dựng thành trì ở La-ta, chứ không phải chỉ là một ngôi đền, đúng không?

– Chính xác!

Tôi gật đầu, nhấp một ngụm trà, nói tiếp:

– Sau khi vương triều Tufan sụp đổ, các giáo phái đua nhau mọc lên như nấm, thời đó xuất hiện một quan niệm phổ biến rằng, cần thiết phải xây dựng đền đài để thu hút và hiệu triệu tín đồ, dân chúng.

Nhưng sau nhiều năm sinh sống trên đất Hán, Bát Tư Ba nhận thấy phương cách xây dựng thành trì, tập trung dân cư và thiết lập hệ thống quan lại là phương thức cai trị rất hiệu quả.

Bởi vậy, chàng đã quyết định sẽ kiến tạo thành trì tương lai của phái Sakya theo mô hình kiến trúc thành phố.

Chàng tai trẻ nhìn tôi băn khoăn:

– Nhưng theo tôi được biết, về sau Bát Tư Ba đã không xây dựng thành trì ở Shigatse, có chuyện gì xảy ra vậy?

Câu hỏi ấy tựa muôn nghìn cây kim nhọn cắm sâu vào lục phủ ngũ tạng của tôi, bất giác tôi phải cúi gập người để chống chọi với con đau dồn dập ấy.

Lúc lâu sau tôi mới đáp lời:

– Bởi vì sau đó đã xảy ra rất nhiều chuyện.

Hết chương 43.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 44: Tình yêu bên hồ Yamdrok - tso


"Phải biết nhìn xa trông rộng về tương lai,

Phải biết nhẫn nại, kiên trì trước trở ngại;

Cứ miệt mài nỗ lực không ngừng nghỉ,

Người nô lệ cũng có ngày làm quan lớn."

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1266, tức năm Bính Dần, Âm Hỏa theo lịch Tạng, tức niên hiệu Hàm Thuần thứ hai, nhà Nam Tống, tức niên hiệu Chí Nguyên thứ ba, Mông Cổ.

Bát Tư Ba ba mươi hai tuổi, Kháp Na hai mươi tám tuổi.

Đám cưới của Kunga Zangpo và Zhuoma được tổ chức nhanh gọn trước tết.

Kunga Zangpo vốn là trẻ mồ côi, trước đây lại từng là Dugong.

Zhuoma cũng đã có một đời chồng và đây là lần tái hôn, cô ấy lại đang mang bầu nên cả hai đều muốn tổ chức đơn giản, không phô trương.

Họ chỉ mời bà con, bạn bè thân thiết ăn một bữa cơm thân mật.

Hôn lễ diễn ra rất đạm bạc, giản dị.

Từ đây, Kunga Zangpo trở thành em rể của pháp vương phái Sakya, anh rể của Bạch Lan Vương, thân phận và địa vị khác trước một trời một vực.

Bát Tư Ba cho phép vợ chồng họ tiếp tục trú ngụ trong đền Sakya, ban cho họ một căn nhà rộng rãi, còn tặng cho họ vùng Khanochang giáp Gyantse.

Vùng đất này là một khu đất ruộng màu mỡ với mấy trăm hộ dân.

Để đáp lại ân tình sâu nặng của Kháp Na, Kunga Zangpo vẫn tiếp tục duy trì quan hệ cậu chủ đầy tớ với Kháp Na và tận tâm hầu hạ chàng.

Năm mới 1266 theo lịch Tạng là cái Tết đầu tiên của pháp vương Bát Tư Ba ở Sakya sau hai mươi mốt năm.

Vì thế, toàn thể thành viên của giáo phái nhận được lệnh tổng động viên, chung sức chung tay dọn dẹp, trang hoàng tươm tất.

Họ tất bật thay rèm cửa, dùng bột màu trắng trang trí cửa nhà, trên xà nhà và trên nền đất nhà bếp.

Không khí tưng bừng, náo nức khắp nơi.

Các cô gái cùng nhau chế biến Kasai[1] với đủ mọi hình thù khác nhau rồi nhuộm màu, bọc đường cát và đặt lên các ban thờ.

Hương thơm lan tỏa bốn phía khiến ai nấy đều nuốt nước bọt ừng ực.

[1].

Một loại bánh ngọt làm từ dầu bơ.

Đêm giao thừa, Bát Tư Ba, Kháp Na và nàng dâu mới Kangtsoban trong trang phục lộng lẫy cùng đến các đại điện làm lễ dâng dầu bơ và nước thánh.

Nghi lễ trang nghiêm này thiếu chút nữa đã bị nàng ngốc Kangtsoban phá hỏng.

Cô nàng chỉ ngoan ngoãn được một lúc, bởi vì các thao tác của nghi lễ lặp đi lặp lại nhiều lần khiến Kangtsoban cảm thấy khó chịu, ngay cả Kháp Na cũng chẳng dỗ dành nổi.

Sau cùng, Kháp Na đành sai cô hầu gái đưa Kangtsoban ra ngoài chơi ú tim, để được yên ổn cùng Bát Tư Ba và tôi hoàn thành những nghi lễ còn lại.

Mồng Hai Tết, bà con họ hàng đến nhà nhau chúc mừng năm mới.

Đền Sakya mời các nghệ sĩ người Tạng đến biểu diễn vở Đức vua Gelsall trên một khoảng sân rộng phía trước điện chính Kunga Nyingpo, người dân ở những vùng lân cận nô nức kéo đến xem.

Bầu không khí náo nhiệt ấy khiến Kangtsoban rất thích thú, Kháp Na phải ra sức kéo cô nàng đi mới xong.

Bởi vì theo tục lệ của người Tạng, năm đầu tiên sau khi kết hôn, nàng dâu phải về nhà mẹ đẻ cùng chồng.

Dù không muốn, Kháp Na vẫn phải giữ gìn quan hệ với Shalu, không thể thất lễ.

Bát Tư Ba không yên lòng nên đã cùng Kháp Na đến trang viên Shalu.

Gặp mặt đầu xuân vốn là lễ tiết không thể thiếu, có điều, Kháp Na vô cùng khó chịu khi Jichoi tìm đủ mọi cách chen vào cuộc chuyện trò với chủ đề mà chàng không muốn nghe đến nhất.

- Ta thấy con hồng hào, tráng kiện, hẳn là đã hết bệnh.

Theo ta, không cần chờ qua Tết, hãy chọn ngày lành tháng tốt làm lễ động phòng sớm đi.

Lúc nói ra những lời này, đôi mắt ti hí lọc lõi của Jichoi đảo khắp lượt.

Kháp Na cúi đầu ho vài tiếng:

- Thầy thuốc bảo bệnh của con vẫn chưa khỏi hẳn, cần tĩnh dưỡng thêm ít bữa nữa.

Jichoi nở nụ cười đầy hàm ý, đưa mắt quan sát thật kỹ gương mặt của Kháp Na.

- Vậy sao?

Hai người vợ của con đã qua đời nhiều năm, con còn chưa đầy ba mươi tuổi, đang ở vào thời kỳ thanh xuân, hừng hực nhựa sống.

Vậy mà con cứ muốn giam mình trong phòng, làm bạn với chăn đơn gối chiếc sao?

Điều này thật khiến người ta khó hiểu.

Kháp Na sa sầm nét mặt, định lên tiếng thì Bát Tư Ba đã ngăn lại.

Bát Tư Ba khách sáo đáp lễ Jichoi:

- Xin ông thông gia đừng sốt ruột.

Rồi đây, chúng tôi sẽ cho mời danh y đến xem bệnh, nếu danh y kết luận Bạch Lan Vương đã hoàn toàn bình phục, chúng tôi sẽ tổ chức lễ động phòng cho vợ chồng đệ ấy.

Ngài nên biết rằng, phái Sakya mong chờ ngày ra đời của người thừa kế hơn bất cứ ai.

Jichoi bật cười sảng khoái:

- Nhưng cũng đừng để chúng tôi chờ lâu quá.

Qua tết ta sẽ cùng danh y vùng Tiền Tạng - Gasangzhabu - đi Sakya một chuyến.

Nghe nói, ông ta khám cho đôi vợ chồng nào là y rằng sẽ sinh được con trai.

Kháp Na lặng yên không nói, chốc chốc lại nghiêng đầu sang bên ho khan một hồi.

Những ngày sau đó, Kháp Na tỏ ra mệt mỏi, chán chường, không muốn ở lại Shalu thêm nữa.

Bát Tư Ba bèn kiếm cớ, cáo từ Jichoi, trở về Sakya trước hạn định.

Vừa đến nơi, Bát Tư Ba nhận được tin vui bất ngờ: Senge đã trở về!

Tết năm ngoái, khi còn ở La-ta, Senge chủ động đề nghị Bát Tư Ba để cậu ta đích thân đưa thư cho Hốt Tất Liệt.

Mới đó mà đã một năm và hôm nay Senge đã trở về, mang theo ý chỉ của Hốt Tất Liệt.

Theo hành trình thông thường, đường đi một chiều từ Đại Đô đến Sakya phải mất đứt một năm, vậy mà Senge đã dùng khoảng thời gian đó để hoàn tất cả hai chặng đi và về.

Điều này chứng tỏ quyết tâm rất lớn của Senge.

Trời đang mưa tầm tã, hơi lạnh căm căm.

Bát Tư Ba đang nghiên cứu tỉ mỉ thánh chỉ của Hốt Tất Liệt trong phòng riêng, vẻ mặt chàng rất mực căng thẳng.

Kháp Na vừa hồi hộp vừa lo lắng:

- Đại hãn viết gì vậy?

Bát Tư Ba đặt thánh chỉ của Hốt Tất Liệt xuống, chậm rãi nói:

- Phái Drikung muốn ta cắt ba nghìn hộ ở La-ta, chuyển thành cư dân Lad cho họ, nhưng Đại hãn không đồng ý mà lệnh cho ta chuyển số hộ dân đó thành cư dân Mid phải đóng thuế cho nhà nước.

Không chỉ có vậy, Đại hãn cho rằng thế lực của phái Drikung quá lớn mạnh, lệnh cho ta phải cắt các hộ dân của phái này và phái Phaktru chuyển thành cư dân Mid nhiều hơn nữa.

Các vạn hộ hầu khác thì chia cư dân Mid và cư dân Lad theo tỷ lệ 4:6, riêng đối với hai phái Driking và Phaktru, phải đổi ngược lại thành 6:4.

Kháp Na thở dài:

- Phái Drikung và Sakya vốn hiềm khích từ lâu, phái Phaktru cũng chỉ bằng mặt không mà không bằng lòng với chúng ta.

Chiếu thư này sẽ càng khiến bọn họ căm hận chúng ta hơn.

Tôi băn khoăn:

- Nhưng chiếu thư là do Đại hãn ban kia mà.

Kháp Na lắc đầu:

- Hai giáo phái ấy sao dám oán thán Đại hãn?

Chắc chắn họ sẽ cho rằng tất cả là do đại ca sắp bày.

Bát Tư Ba chắp tay sau lưng, vẻ mặt tư lự:

- Đệ không cần phải lo chuyện đó, tập trung mà đối phó với Jichoi đi!

Bố vợ của đệ gửi thư báo rằng đã mời được danh y Gasangzhabu, chỉ vài hôm nữa họ sẽ đến Sakya.

Kháp Na tối sầm mặt mũi, quay đầu qua hướng khác.

Bát Tư Ba thở dài:

- Kháp Na, cứ kéo dài mãi thế này cũng không phải cách hay.

Jichoi chắc chắn sẽ không để yên, ông ta sẽ huy động mọi lực lượng, tìm đủ mọi cách để ép đệ và Kangtsoban sinh con.

Kháp Na bật dậy, lao ra khỏi phòng anh trai.

Cả Bát Tư Ba và tôi đều ngỡ ngàng, vội đuổi theo chàng, Bát Tư Ba không quên cầm theo chiếc ô đi mưa dựng ở góc tường.

Kháp Na chạy đến khu vườn bên ngoài phòng ngủ, dang rộng hai tay đón những giọt nước mưa và cái rét cắt da cắt thịt.

Bát Tư Ba mở ô, chạy lại, tôi vội vã hóa phép làm một chiếc lán che mưa trên đầu chàng rồi lao đến bên chàng:

- Kháp Na, chàng không thiết sống nữa sao?

Kháp Na nằng nặc đòi thoát khỏi lán che mưa đó, gạt tôi sang bên:

- Tiểu Lam, cứ mặc ta.

Ta phải làm vậy để dễ bề đối phó với Jichoi.

Bát Tư Ba nổi giận:

- Kháp Na, đừng lấy sức khỏe của bản thân ra làm trò đùa!

Dù không muốn vì ta, vì giáo phái thì cũng đừng khiến cho Lam Kha phải lo lắng chứ!

Lời này của Bát Tư Ba quả nhiên có tác dụng.

Kháp Na sững sờ, hốt hoảng kéo tôi vào lòng, siết chặt:

- Tiều Lam ơi, cả đời này ta chỉ yêu mình em!

Bát Tư Ba ngoảnh mặt đi.

Kháp Na vẫn ôm tôi thật chặt, gào lên:

- Đại ca, huynh biết rõ đệ không thể thân mật với cô ấy kia mà!

Cho dù cô ấy là cô gái hoàn toàn khỏe mạnh đi nữa, đệ cũng không thể!

- Kháp Na, ta hiểu chứ, ta sẽ không ép đệ phải chung sống với người con gái mà đệ không yêu.

Bát Tư Ba nhìn thẳng vào em trai, bình tĩnh nói:

- Kháp Na, hãy đưa Lam Kha đi khỏi Sakya một thời gian!

Kháp Na kinh ngạc, buông tôi ra:

- Đi đâu?

- Đến bất cứ nơi đâu hai người muốn.

Bát Tư Ba thở dài ảo não.

- Kháp Na, vào trong phòng rồi bàn tiếp.

Đứng mãi trong mưa thế này, đệ sẽ ốm đó.

Chúng tôi vào phòng.

Tôi vội vã hong khô bộ y phục đã ướt nhẹp của Kháp Na, đỡ chàng ngồi xuống bên lò sưởi, rót trà bơ nóng hổi cho chàng.

Bát Tư Ba nhìn tôi bận rộn, cuống quýt, ánh mắt đượm buồn.

- Ở lại Sakya, hai người chỉ có thể giam mình trong Lang Như Thư Lầu, vì ra khỏi đó Lam Kha sẽ phải biến hình.

Cuộc sống ở nơi này quá nhiều áp lực với hai người.

Chi bằng hãy đến một nơi xa xôi, để hai người có thể bình yên bên nhau, tận hưởng những tháng ngày hạnh phúc lứa đôi.

Kháp Na chìa tay ra sưởi ấm, vui mừng ngẩng lên:

- Đại ca nói rất trúng ý đệ.

Từ lâu đệ đã muốn đưa Tiểu Lam đến hồ Yamdrok-tso, cô ấy rất thích nơi đó.

Chàng hơi ngừng lại, nhìn về phía gương mặt tiều tụy của Bát Tư Ba, lo lắng:

- Nhưng huynh chưa hoàn tất kế hoạch phân chia cư dân Mid và Lad, lại phải lo đối phó với thế lực thù địch lớn mạnh từ phái Drikung.

Đệ không yên lòng khi một mình huynh phải đối phó với các giáo phái và đám vạn hộ hầu tham lam, nham hiểm đó.

- Mười ba vạn hộ hầu của đất Tạng ta đã phân định xong, các vạn hộ hầu đều căn cứ mức độ lớn nhỏ mà cắt từ hơn một nghìn đến ba nghìn hộ dân và chuyển thành cư dân Mid.

Lúc này, tất cả các vạn hộ hầu đã nhận được mệnh lệnh, qua Tết sẽ bắt đầu tiến hành việc đăng ký hộ tịch, điều tra nhân khẩu.

Chàng ngừng lại một lát, tựa lưng vào đệm, nhắm mắt lấy sức.

- Đệ có ở lại cũng không giúp được ta, vậy nên, hãy đưa Lam Kha đi đi.

Tâm trạng của Kháp Na đã khá hơn rất nhiều, nhưng chàng vẫn không nguôi lo lắng:

- Chắc chắn sẽ có rất nhiều kẻ bực tức.

Bát Tư Ba mệt mỏi xua tay:

- Tuy không hài lòng nhưng nếu biết Sakya và Shalu đã liên minh với nhau, các vạn hộ hầu lớn ở vùng Hậu Tạng cũng đã thuận theo chúng ta, bọn họ cũng không dám chống đối kịch liệt đâu.

Kháp Na cười buồn:

- Nhưng bọn họ đâu phải đã thật lòng thuận theo chúng ta.

Chỉ e họ đang âm thầm vạch ra âm mưu quỷ kế gì đó.

Bát Tư Ba khoan khoái mở mắt, bình tĩnh đáp lời:

- Mặc họ chửi bới, xúc xiểm, mặc họ phản đối, kháng nghị, miễn không gây ra đại loạn là được.

Ta sẽ tuyên bố với bàn dân thiên hạ rằng đã cử đệ đến vùng Tiền Tạng lo việc chính sự.

Nếu bố vợ của đệ có hỏi, ta sẽ trả lời rằng, bây giờ là thời điểm then chốt của kế hoạch thống nhất đất Tạng, và đệ là người thân tín nhất của ta, lại là một vương gia, đệ buộc phải giúp ta thực hiện chuyến công cán bí mật này.

Nói vậy, hẳn là ông ta sẽ không dám căn vặn gì thêm.

Kháp Na bước lại, nắm chặt bàn tay Bát Tư Ba:

- Đại ca, vậy ra huynh đã sắp đặt chu toàn mọi việc cho đệ.

Cảm ơn huynh!

Bát Tư Ba quan sát em trai thật kĩ:

- Kháp Na, đệ có biết sắc mặt của đệ giờ đây hồng hào, rạng rỡ trở lại, ánh mắt ngập tràn hạnh phúc không?

Bao năm qua, đây là lần đầu tiên ta được thấy đệ thanh thản, thư thái như vậy.

Đó là niềm an ủi lớn nhất đối với ta.

Chàng đặt tay mình lên tay em trai, nắm chặt, nhìn em trai đầy yêu thương:

- Đệ muốn nghỉ ngơi bao lâu cũng được, muốn bao giờ trở về cũng được.

Hãy tận hưởng hạnh phúc lẽ ra đã là của đệ từ lâu rồi mới phải.

Đừng bận tâm chuyện ở đây, cũng đừng bận tâm chuyện nhà vợ.

Ta sẽ lo liệu tất cả.

Sống mũi tôi cay xè vì xúc động.

Bát Tư Ba suy xét thấu đáo mọi sự, chỉ vì muốn dành cho chúng tôi một khoảng trời riêng yên bình.

- Lam Kha, ta biết nói điều này là thừa...

Chàng quay sang tôi, ánh mắt lúc đầu khá phức tạp nhưng ngay lập tức đã chuyển thành vẻ điềm nhiên thường thấy.

- Hãy chăm sóc Kháp Na!

Tôi gật đầu chắc nịch.

Mùa xuân năm 1266, khí trời còn tờ mờ, Kháp Na đã cởi bỏ y phục sang trọng, khoác lên người chiếc áo choàng bằng len pulu[2] màu lam dệt từ lông cừu mà các thường dân người Tạng hay mặc rồi tự mình đánh xe ngựa, lặng lẽ đưa tôi rời khỏi Sakya.

Trước lúc lên đường, Kháp Na chỉ âm thầm nói với Kunga Zangpo rằng, chàng phải đi xa một thời gian.

Kunga Zangpo muốn theo hầu hạ nhưng lẽ dĩ nhiên Kháp Na kiên quyết từ chối.

[2].

Loại đồ bằng len được sản xuất ở Tây Tạng.

Sau khi ra khỏi địa hạt Sakya, tôi làm phép giấu đi mái tóc màu lam để cùng chàng đánh xe ngựa.

Trong mắt người đi đường, chúng tôi chẳng khác nào một cặp vợ chồng son rỗi.

Chúng tôi rong ruổi khắp nơi, không vội vã, đến những nơi có phong cảnh tuyệt sắc sẽ cắm trại ở lại vài ngày.

Kháp Na từ nhỏ đã quen với cuộc sống no đủ, chăn ấm, đệm êm, người hầu kẻ hạ nên kiến thức về cuộc sống thường nhật rất hạn chế.

Chàng không biết dựng trại, không biết nấu cơm, không biết trải đệm, cũng không biết đốt lửa, nhưng chàng vẫn kiên nhẫn, cần mẫn học làm những công việc bình dị ấy, nỗ lực hết mình để tìm cách sinh tồn.

Cũng may là tôi biết pháp thuật nên thường lén hỗ trợ chàng, giúp cho nhu cầu ăn ở, đi lại của chúng tôi trên đường xa không đến nỗi quá bi đát.

Một buổi chiều muộn của hơn một tháng sau đó, chúng tôi đã đến được hồ Yamdrok-tso.

Mặt hồ lấp lánh ánh bạc dưới bóng tịch dương, trong làn gió nhẹ, màu nước chia tách thành nhiều tầng bậc rõ rệt.

Ven bờ là màu lam nhạt, tiếp đến là màu xanh lam, ra xa thêm chút nữa là màu lam trầm và đến giữa hồ thì chuyển thành màu ngọc bích thăm thẳm.

Hồ nước này quả nhiên là hồ thiêng trên tiên giới lạc xuống nhân gian!

Mặt hồ hẹp và dài cho cảm giác mênh mông, bất tận, giống một dòng sông rộng rãi hơn là một hồ nước.

Những dải núi đồi trùng điệp ven hồ tựa những đường nét mềm mại, uốn lượn, tô điểm cho hồ thiêng.

Trời vừa vào hạ, cỏ cây tươi tốt, xanh non mơn mởn, hoa cánh bướm đua nhau khoe sắc, những sắc màu rực rỡ, tươi đẹp khiến du khách chẳng thể khép mắt.

- Thích không?

Chàng ôm lấy vai tôi, dịu dàng hỏi.

Tôi gật đầu lia lịa.

Bàn tay chàng cuồng nhiệt kéo tôi vào lòng, để tôi tựa lưng vào vòm ngực của chàng, cùng chàng thưởng thức khung cảnh hồ thiêng buổi hoàng hôn, đẹp đến mê hồn.

Chốc chốc, vài tiếng chim hót lảnh lót lại cất lên trên cao, xa xa là đàn bò, dê đang thủng thẳng gặm cỏ.

Cảnh đẹp ngập trong mắt tôi, còn tôi ngập trong mắt chàng.

Buổi tối, chàng một mình dựng trại, thổi cơm, không cho tôi làm cùng.

Lúc nhóm củi, gương mặt chàng đỏ gay đỏ gắt vì khói bụi, tôi vội vàng biến phép, đốt lên một ngọn lửa, thế là chàng giận dỗi.

Chúng tôi ngồi bên đống lửa, uống canh thịt hầm và nhệu nhạo nhai nuốt những miếng thịt bò Yak, còn chưa nhừ.

Tôi thở dài:

- Kháp Na, vì sao không để em giúp chàng?

Chàng chau mày, nhè ra miếng thịt bò khô đét vì không nhai nổi:

- Tiểu Lam à, ta biết mình vụng về, lóng ngóng, những công việc đơn giản như vậy cũng không biết làm.

Nhưng ta rất muốn rèn luyện, ta muốn học hỏi để làm được những việc mà hầu hết đàn ông trên thế gian này đều biết làm.

Nếu để em giúp thì ta sẽ mãi mãi chỉ là một cậu ấm, ngay cả việc dựng trại cũng không biết.

Tôi lè lưỡi:

- Nhưng chàng có rất nhiều kẻ hầu người hạ kia mà, chàng đâu cần tự mình làm những việc này.

- Ta cố gắng học cho bằng được là vì sau này ta không muốn có bất cứ người hầu kẻ hạ nào ở bên mình nữa.

Chàng đan tay mình vào tay tôi, lửa trại bập bùng, soi rọi gương mặt tuấn tú của chàng, khóe môi chàng nở một nụ cười tuyệt mỹ:

- Tiểu Lam, em đã từng nghĩ về cuộc sống tương lai của chúng ta chưa?

Tim tôi bỗng nhiên đập rộn:

- Còn chàng thì sao?

- Tiểu Lam, em là vợ ta, ta sẽ không để em cứ mãi phải ẩn mình như hiện nay.

Chờ khi ta giúp đại ca hoàn thành ước nguyện thống nhất đất Tạng, ta sẽ đưa em đi thật xa.

Chúng ta sẽ mai danh ẩn tích ở một thôn làng hẻo lánh nào đó, sống cuộc sống giản dị của hai ta, em có muốn vậy không?

Sống mũi cay xè, tôi nhẹ nhàng tựa vào bờ vai chàng:

- Em muốn chứ.

Nhưng liệu chàng có sẵn sàng từ bỏ đời sống vinh hoa, phú quý ấy không?

- Zhuoma không nề hà từ bỏ địa vị cao sang để được ở bên Kunga Zangpo.

Ta vô cùng khâm phục lòng dũng cảm của chị ấy khi chị ấy chặt đứt ngón tay mình.

Lẽ nào ta không làm được như chị ấy ư?

Chàng trỏ tay vào vết sẹo hình hoa sen trên trán tôi, trách yêu:

- Ta chăm chỉ rèn luyện như thế, lẽ nào em không nhận ra quyết tâm của ta ư?

Ta muốn sau này sẽ trở thành trụ cột trong gia đình của chúng ta.

Ta muốn chiều chuộng em tới mức em không muốn xa ta dù chỉ một ngày.

Những năm tháng còn lại của đời mình, ta muốn ở bên em mọi khoảnh khắc.

Ánh mắt chàng tràn đầy niềm tin vào tương lai tươi sáng, giọng chàng ấm nồng, mê đắm.

Niềm hy vọng mãnh liệt nơi chàng đã truyền sang cho tôi khiến tôi bất giác mơ về cuộc sống điền viên bình dị: chồng cày cuốc, vợ dệt vải.

- Nếu không vì đại ca thì từ lâu ta đã muốn giũ bỏ cuộc sống trói buộc trong chiếc lồng sơn son thiếp bạc ấy rồi.

Chàng chăm chú ngắm nhìn ngọn lửa bập bùng, vẻ mặt tư lự.

- Ta vẫn còn một nghĩa vụ nữa phải hoàn thành: chúng ta phải để hai con trai ở lại giáo phái.

Làm trọn trách nhiệm này, ta mới có thể yên lòng rời khỏi Sakya, để cùng em chung hưởng đời sống tự do tự tại của chúng ta.

Tôi đỏ mặt, đập nhẹ vào người chàng:

- Hai con trai ư?

Một đứa còn chưa thấy bóng dáng đâu, chàng nghĩ gì mà xa xôi thế!

Chàng chớp chớp mắt, trêu chọc tôi:

- Thế nên ta mới phải cố gắng!

Chàng luồn tay qua đầu gối tôi rồi bế bổng tôi lên.

Tôi chưa kịp kêu lên thì môi chàng đã áp xuống môi tôi.

Nụ hôn cứ thế mạnh bạo dần, ồn ào, nóng bỏng.

Nụ hôn của chàng khiến tôi đê mê, ngây dại, không biết trời đất gì nữa.

Chàng đã đặt tôi lên chiếc chiếu mềm trải trong lán tự lúc nào.

Cơ thể chàng phủ lên người tôi, hai tay chống cao, chàng chăm chú nhìn vào mắt tôi, nụ cười rạng rỡ.

Chàng khẽ thì thào bên tai tôi:

- Tiểu Lam, sinh cho ta một chú nhóc nhé!

Hai má tôi nóng ran, cánh mũi lấm tấm mồ hôi, tôi gõ nhẹ vào ngực chàng:

- Con gái thì không được à?

Chàng cười khúc khích, tim đập rộn, hơi gấp, những nụ hôn nóng bỏng ào ạt sa xuống như thể muốn cảm nhận cho bằng hết mỗi tấc gang da thịt của tôi.

- Được chứ!

Những đứa bé do em sinh hạ, dù là trai hay gái ta đều yêu thương.

Không muốn nói thêm nữa, vì đôi đồng tử sáng trong của chàng đã trở thành quả cầu lửa, chàng hối hả muốn đưa tôi đến thiên đường.

Trong cơn rên rỉ của khoái cảm chẳng thể kìm nén, từng đợt sóng bồng bềnh nối nhau trào dâng, cuồn cuộn hết lớp này đến lớp khác, cứ thế đẩy tôi lên đỉnh cao.

Tôi chưa từng nghĩ rằng chuyện này lại kỳ diệu đến vậy.

Nước mắt tôi trào ra khi hồn phách đi hoang.

Tôi thật sự lưu luyến cảm giác về sự đụng chạm của da thịt chàng.

Chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng lục huyền cầm[3] và giọng ca cao vút đặc trưng của người Tạng từ xa vọng lại.

Kể từ khi chung sống với chàng, độ mẫn cảm của tôi đã giảm đi rõ rệt và tôi thường thức dậy rất muộn.

Tôi vươn vai, xoay người, ngắm nhìn đôi mắt trong veo của chàng.

Chàng thơm vào đầu mũi tôi:

[3].

Lục huyền cầm: một loại đàn guitar gồm sáu dây của người Tạng. (DG)

- Phu nhân ơi, dậy thôi nào!

Gió mát nắng ấm, nước chảy êm đềm, mặt hồ xanh trong tưởng như có thể nhìn thấy cả đáy.

Nơi đây chính là vùng đất Sambala[4] huyền bí, cách biệt với thời gian con người.

Tôi đứng bên hồ, khoan khoái hít một hơi thật sâu, đón nhận bầu không khí trong lành, tinh khiết, ngập hương hoa.

Bỗng có tiếng ngựa hí vang rền, một đôi nam nữ phi ngựa như bay trên bãi cỏ trước mặt, chàng trai cười vang, cưỡi ngựa đuổi theo cô gái.

[4].

Sambala còn gọi là Shambala, hay Shamballa, trong Phật giáo Tây Tạng, đây là một vương quốc huyền bí ở một nơi nào đó ở Trung Á.

Độc giả có thể tìm đọc cuốn sách 'Trong vòng tay Sambala' của tác giả Ernst Muldashev để hiểu thêm về địa danh này. (DG)

Kháp Na giật mình, vội kéo tôi nấp vào một gốc cây đại thụ.

Hai chúng tôi lén thò đầu quan sát.

Đôi trai gái vẫn tiếp tục cười đùa, họ xuống ngựa, người con trai ôm lấy cô gái, rồi cả hai cùng lộn vòng trên thảm cỏ, giữa những khóm hoa cánh bướm ngát hương, rực rỡ sắc màu.

Sau đó, họ hôn nhau mải miết.

Đôi nam nữ ấy ăn vận rất giản dị nhưng niềm hạnh phúc ngập tràn trên gương mặt họ khiến chúng tôi chạnh lòng.

Cảnh tượng hoang dại khiến người ta sục sôi.

Tôi gắn chặt mắt vào cặp đôi trẻ tuổi đang hôn nhau đắm đuối trước mắt, cảm nhận được hơi thở khó khăn của Kháp Na ngay sau lưng mình.

Tôi quay đầu lại, thấy mặt chàng đỏ như gấc chín, mím chặt môi trong vô thức.

Lúc chạm phải ánh mắt tôi, đôi đồng tử của chàng lấp lánh lạ thường.

Kháp Na dắt ngựa, rón rén kéo tôi rời khỏi nơi đó, tìm đến chỗ không người.

Đến đây, chàng mới than thở:

- Họ thật đáng ngưỡng mộ, muốn yêu là yêu, thích làm gì là làm cái đó.

Không biết đến khi nào chúng ta mới được sống cuộc đời vô ưu như họ?

Tôi nắm tay chàng, khẽ bảo:

- Kháp Na, chúng ta hãy rời khỏi Sakya, vì vậy đừng trói buộc mình vào những suy nghĩ chán nản ấy nữa.

Ở đây, chàng có thể làm tất cả những gì chàng muốn kia mà!

- Tất cả ư?

Chàng nháy mắt tinh nghịch, liếm môi, chuẩn bị nhào đến.

- Ta muốn hôn em!

Tôi vội vàng né tránh, cười ranh mãnh, vừa đáp lại vừa chạy đi thật xa:

- Chim nhỏ vỗ cánh, chuẩn bị bay lên trời cao, nếu chàng là đại bàng, hãy đuổi theo để bắt được em trước lúc mặt trời khuất dạng nơi đỉnh núi phía đông kia.

- Em nói đấy nhé!

Chàng nhảy phốc lên lưng ngựa, thúc ngựa đuổi theo tôi.

Đuổi đến nơi, chàng cúi xuống, vòng tay qua eo, xốc tôi lên.

Trong lúc tôi còn chưa hết ngỡ ngàng, chàng đã nhanh chóng đặt tôi lên yên ngựa, vòng tay ôm gọn tôi, thúc ngựa phi như bay.

Chàng xưa nay vốn nho nhã, điềm đạm nên đây là lần đầu tiên tôi thấy mặt "hoang dã" của chàng.

Cởi bỏ hết những lễ tiết phức tạp của giới quý tộc, chỉ còn lại bản chất chân chất rất thật của mình.

Loài thú chúng tôi cũng tìm bạn đời theo cách hết sức tự nhiên ấy.

Không còn thân phận, địa vị, không còn được mất, sang giàu, con đực cứ mặc nhiên thể hiện vẻ quyến rũ trước mặt con cái.

Nhiều năm sau, tôi vẫn thường hồi tưởng lại buổi chiều mùa hạ đó, Kháp Na cùng tôi trên lưng ngựa, phi như bay trên thảo nguyên.

Vó ngựa khua vang, gió mát ào ạt, hương hoa ngào ngạt hòa quyện với hương đất nồng nồng.

Gió cuộn làm tóc xõa, tà áo bay phần phật, xa xa là những rặng núi xanh thẫm, là nước hồ lăn tăn, lấp lánh, cảnh đẹp như trong mộng!

Đó là bức tranh tuyệt diệu nhất, là bảo bối được tôi rất giữ trong tim, mãi mãi.

* * * * *

Chàng trai trẻ ra khỏi giường, đi lại, vận động xương cốt.

Cậu ta vừa làm vài động tác thể dục vừa đặt câu hỏi:

- Tôi khá tò mò về điều này.

Với vị thế là giáo phái lớn nhất ở Tây Tạng, Sakya được quyền sở hữu bao nhiêu đất đai và dân cư?

Tôi mỉm cười:

- Bát Tư Ba rất giàu có.

Vì chàng là pháp vương của Sakya nên tất cả cư dân Lad của Sakya đều thuộc về chàng.

Ngoài ra, chàng còn sở hữu rất nhiều thái ấp, vốn là lễ phẩm do Hốt Tất Liệt ban tặng trong nhiều năm, phần lớn những thái ấp này đều không ở đất Tạng, mà nằm rải rác ở các vùng Thanh Hải, Cam Túc.

Tôi xòe tay ra nhẩm tính:

- Lấy ví dụ nhé, chàng có một trang viên ở Reburka, thuộc Hà Châu, một trang viên ở Thành Tường Căn gần Trung Đô và một trang viên khác tên gọi Điển Khang, cách chỗ này không xa.

Những trang viên này đều là đất phong do Hốt Tất Liệt ban tặng thượng sư của mình, không phải chịu bất cứ khoản sưu thuế nào, các hộ dân sinh sống trên mảnh đất này cũng không cần liệt kê vào hộ tịch.

Tất cả đều là tài sản cá nhân của Bát Tư Ba.

Chàng trai trẻ tròn mắt sửng sốt:

- Trời!

Nói theo ngôn ngữ bây giờ thì ngài đúng là đại gia đẹp trai, giàu có điển hình.

Tôi gật đầu:

- Nói vậy cũng đúng.

Nhưng chàng rất tiết kiệm, ngoài những khoản chi tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu cho bản thân và những người hầu cận thì phần lớn tài sản có được chàng đều đem về Sakya.

Nhờ vậy mà người đời sau mới có được ngôi đền Sakya nguy ngay, lộng lẫy đó chứ!

Hết chương 44.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 45: Đóng giả


“Sống nhân ái, thiện lương, lạc quan,

Tiếng thơm sẽ truyền khắp bốn phương;

Giống như người nghèo đi hành khất,

Nhận được tấm lòng thơm thảo từ mọi người.”

(Cách ngôn Sakya)

Trong suốt thời gian ẩn cư ở hồ Yamdrok-tso, cứ cách nửa tháng tôi lại hóa phép thành người đưa tin cho hai anh em họ.

Sau khi ý chỉ về việc phân chia mười ba vạn hộ hầu và các cư dân Mid, cư dân Lad được ban bố toàn đất Tạng, tuy bề ngoài không vấp phải bất cứ sự phản đối nào nhưng thực tế thì phái Drikung và Phaktru ở Tiền Tạng đã liên tục kích động, chống đối, tình hình không hề lạc quan chút nào.

Pháp chỉ của quốc sư quy định: Cư dân Mid phải nộp thuế cho viên quan Daluhuachi[1] do người Mông Cổ cử đến và không phải nộp thuế cho tu viện mà họ lệ thuộc trước đó nữa.

Nhưng phái Drikung và phái Phaktru vẫn tiếp tục thu thuế của các cư dân Mid này, thậm chí bọn họ còn huy động lực lượng võ tăng đi càn quét, cưỡng ép người dân đóng thuế, nộp sưu, sau đó, đổ mọi tội lỗi lên đầu phái Sakya, rêu rao rằng, phái Sakya buộc họ phải làm như vậy.

[1].

Trong tiếng Tạng có nghĩa là “quan lớn”, là viên quan do người Mông Cổ cử đến các vùng thuộc địa để quản lý các công việc hành chính.

Kháp Na nổi trận lôi đình:

– Thật quá quắt!

Tôi vỗ nhẹ vào vai chàng, kiềm chế cơn tức giận của chàng:

– Còn nữa, gần đây hai giáo phái này đi khắp nơi bắt bớ dân đen, nói rằng, phái Sakya yêu cầu họ bắt toàn bộ trai tráng từ mười lăm tuổi trở lên, sinh sống trong phạm vi đất đai thuộc quyền cai quản của giáo phái, để đưa đi xây dựng thành trì mới của phái Sakya.

Hành động đó khiến dân chúng vô cùng phẫn nộ, người người nhà nhà lên tiếng chỉ trích phái Sakya.

Kháp Na nghiến răng giận dữ:

– Đại ca tập trung thợ xây dựng từ nhiều nơi và trả tiền công cho họ đầy đủ, không hề có yêu cầu gì khác.

Hai giáo phái này thật đáng ghét, tìm mọi cách đổ tiếng xấu cho Sakya, bọn họ làm vậy nhằm kích động toàn dân đất Tạng chống lại chúng ta đó mà!

Chàng đứng phắt dậy, ôm chặt lấy vai tôi:

– Tiểu Lam, chúng ta về Sakya nào, ta phải giúp đại ca.

– Lâu Cát bảo em nói với chàng rằng, huynh ấy đã xử lý ổn thỏa mọi việc.

Huynh ấy đã cử sứ giả đến Tiền Tạng làm rõ mọi chuyện, xóa tan tin đồn.

Chàng đừng quá lo lắng, chàng về đó cũng không giúp được gì cho huynh ấy đâu.

Kháp Na vùi mặt vào bàn tay tôi, giọng trầm buồn:

– Đại ca một mình gánh vác tất cả, che chắn mọi phong ba bão táp, để ta có thể cùng em tận hưởng hạnh phúc riêng tư trong thái bình, an lạc.

Ta nợ huynh ấy quá nhiều!

Tôi vuốt ve mái tóc đen mềm mại của chàng, đưa mắt nhìn cảnh núi non trùng điệp và hồ nước trong veo phẳng lặng.

Dù không hề muốn rời khỏi chốn thiên đường này nhưng tôi biết, Kháp Na chắc chắn sẽ không thờ ơ trước những gì đang diễn ra.

Người ta nói: niềm vui thường chóng qua, hạnh phúc thì ngắn ngủi, quả không sai.

Cuộc sống điền viên vô lo vô nghĩ bên hồ thiêng Yamdrok-tso của tôi và Kháp Na rồi cũng tới ngày kết thúc.

Nhưng tôi đâu ngờ, cái ngày đó lại đến nhanh, đến bất ngờ như vậy.

Một ngày cuối tháng Tám, khi mùa hạ trên thảo nguyên sắp hết, tôi mang tới cho Kháp Na hai tin tức Zhuoma đã sinh hạ một cô con gái, đặt tên là Jumodaban.

Tin thứ hai rất xấu: Kangtsoban trượt chân ngã xuống chân núi, bị vỡ đầu, đến nay vẫn chưa tỉnh lại.

Tôi nhìn vẻ mặt thất kinh của Kháp Na, thở dài:

– Lâu Cát bảo rằng, chàng phải về Sakya ngay.

Chúng tôi lập tức lên đường trở về Sakya, xe ngựa chạy ngày đêm không ngơi nghỉ nên chỉ nửa tháng sau đã đến nơi.

Quần thể kiến trúc đền đài với ba màu đỏ, xanh, trắng đặc trưng nổi bật giữa lưng chừng núi Benbo.

Ngôi đền này có quá nhiều bậc thang.

Kháp Na thở hổn hển vì phải chạy gấp ở độ cao chừng bốn nghìn ba trăm mét so với mực nước biển, sắc mặt chàng trắng bệch.

Nhưng dù là vậy, chàng cũng không thể ngăn nổi cái chết đang cận kề.

Kangtsoban nằm bất động trên giường bệnh, hơi thở yếu ớt, gương mặt xám xịt, trương lên rất đáng sợ, có lẽ đã đến lúc hấp hối.

Cô hầu gái thân thiết của Kangtsoban kêu khóc nức nở.

Bát Tư Ba và hai danh y đứng một bên, sắc mặt u ám.

Nhác thấy Kháp Na, chàng ra lệnh cho những người khác ra ngoài.

Kháp Na đến trước mặt Kangtsoban, đặt ngón tay dưới mũi cô xem xét, sau đó thì giật mình:

– Sao lại như vậy?

Đã xảy ra chuyện gì?

Bát Tư Ba thở dài:

– Hôm đó cô ấy trốn ra ngoài chơi, không ai hay biết.

Chập tối, tìm khắp mà không thấy chủ nhân đâu, người hầu mới sợ hãi đến bẩm báo với ta.

Ta đã huy động mọi người tìm kiếm nhưng mãi đến tờ mờ sáng hôm sau mới thấy cô ấy dưới chân ngọn đồi thấp sau nhà.

Lúc đó, cô ấy đã hôn mê bất tỉnh, đỉnh đầu vỡ toác, vệt máu đông cứng.

Kể từ lúc đó đến bây giờ vẫn chưa tỉnh lại.

Kháp Na chừng như không tin nổi vào mắt mình:

– Không ai đi theo cô ấy ư?

Hay là có kẻ muốn hãm hại cô ấy?

– Lúc đầu ta cũng có suy nghĩ giống đệ nên đã tra khảo tất cả đám người hầu.

Nhưng không ai trong số họ khai ra bất cứ điều gì đáng nghi ngờ.

Cửa sổ phòng cô ấy mở toang, trên bậu cửa có vết chân của cô ấy.

Có lẽ sáng sớm tinh mơ cô ấy đã lén trèo ra ngoài.

Khả năng cao nhất là cô ấy trốn lên núi chơi, không may trượt chân ngã.

Bát Tư Ba mệt mỏi nhìn Kháp Na:

– Đệ cũng biết đó, thực ra cô ấy chẳng khác nào một đứa trẻ mười tuổi ham chơi, không biết trời cao đất dày là gì, cũng không sợ nguy hiểm nên chúng ta không thể phán đoán hành vi của cô ấy theo cách thông thường được.

Kháp Na trầm ngâm trước cơ thể bất động của Kangtsoban, một lúc lâu sau mới lên tiếng:

– Jichoi biết chuyện chưa?

– Từ lúc tìm thấy cô ấy, ta đã ra lệnh bưng bít tin tức.

Nhưng càng ngày tình trạng của cô ấy càng xấu đi.

Thầy thuốc nói rằng, cô ấy có thể ra đi bất cứ lúc nào.

Nếu cô ấy chết, sẽ không thể giấu giếm được tin này nữa.

Kháp Na giật mình ngẩng lên, ánh mắt ngập tràn nỗi lo sợ:

– Đại ca, nếu cô ấy qua đời, quan hệ giữa Sakya và Shalu sẽ chấm dứt, thậm chí Jichoi sẽ nghi ngờ chúng ta đã hãm hại cô ấy.

Bát Tư Ba cười chua chát:

– Đệ nói đúng.

Mối quan hệ mà chúng ta mất bao công sức để gây dựng với các vạn hộ hầu ở Hậu Tạng có lẽ cũng…

– Và còn cả kế hoạch xây dựng thành trì mới cho giáo phái mà đại ca đã trù bị từ rất lâu rồi nữa…

Kháp Na ngừng bặt, không sao thốt nên lời.

Bát Tư Ba khép hờ đôi mắt, gật đầu bất lực.

Tôi hóa thành người, nhẹ nhàng đến bên anh em họ:

– Để tôi thử xem sao.

Bát Tư Ba mở mắt, Kháp Na hớn hở nắm chặt tay tôi:

– Tiểu Lam, em có cách ư?

– Em có thể truyền linh khí cho cô ấy.

Kháp Na sững sờ, nhìn xoáy vào tôi:

– Tiểu Lam, hãy nói thật cho ta biết, nếu truyền linh khí cho cô ấy, em sẽ ra sao?

Tôi cười buồn:

– Thực ra, không ai có thể cứu được người sắp chết.

Số phận đã định, không ai cưỡng lại được.

Dù em sẵn lòng hao tổn nguyên khí của mình, thậm chí chấp nhận rủi ro có thể bị đẩy trở lại nguyên hình, truyền linh khí đều đặn cho cô ấy hằng ngày thì nhiều nhất cũng chỉ có thể kéo dài sự sống của cô ấy thêm hai, ba năm.

– Không được!

Cả hai đồng thanh phản đối.

Họ nhìn nhau rồi nhanh chóng nhìn đi chỗ khác.

Tôi thấy khó xử:

– Nhưng không thể để cô ấy chết!

– Em càng không thể!

Kháp Na sợ hãi ôm chặt lấy tôi, như thể chỉ cần khẽ buông tay tôi sẽ biến mất.

– Tiểu Lam, nếu em chết, ta nhất định sẽ chết theo em.

Từ đây, mọi sự hưng vong, được mất của phái Sakya sẽ không liên can đến ta nữa!

Bát Tư Ba ngoảnh mặt đi, trầm ngâm hắng giọng nói:

– Lam Kha, em có thể làm phép giấu đi mái tóc màu lam và biến thành con trai, vậy em có thể biến thành Kangtsoban được không?

Tôi kinh ngạc, thoát khỏi vòng tay Kháp Na:

– Chàng muốn em đóng giả làm Kangtsoban?

Bát Tư Ba gật đầu:

– Như thế, chúng ta sẽ có thể duy trì mối quan hệ với Shalu và em có thể danh chính ngôn thuận làm vợ Kháp Na.

Nhưng trước mặt mọi người, em phải chịu khó diễn vai cô ngốc.

Kháp Na vẫn chưa hết xúc động, nhưng tôi đã gật đầu đồng ý với Bát Tư Ba.

Mùa thu năm Kháp Na hai mươi tám tuổi, tôi hóa thân thành người con gái khác, ban ngày đóng giả làm cô ngốc, diễn trò ngây dại, chỉ khi màn đêm buông xuống, tôi mới được trở lại là mình.

Về sau, trên khắp dải đất Sakya, người ta đã truyền tai nhau một câu chuyện vô cùng cảm động: Vì gia tộc, Bạch Lan Vương đã chấp nhận cưới một cô ngốc về làm vợ, nhưng trong lòng không khỏi bất mãn.

Ngài sẵn sàng nhận nhiệm vụ công cán xa nhà, để tránh gặp mặt người vợ.

Khi vợ ngài bị trượt chân, rơi xuống chân núi, hôn mê bất tỉnh, ngài đã lập tức trở về Sakya, lòng đầy ân hận, day dứt.

Ngài đã quỳ trước giường bệnh của người vợ, cầu nguyện trắng đêm.

Lòng thành của ngài khiến Bồ Tát Văn Thù cảm động và Bồ Tát đã ban phước cho giáo phái Sakya.

Sáng sớm hôm sau, Vương phi tỉnh lại như một kỳ tích, không những sức khỏe bình phục mà bệnh ngớ ngẩn dường như cũng được cải thiện rất nhiều, không còn những hành động ngây ngô như trước nữa.

Trải qua kiếp nạn này, Bạch Lan Vương không còn lạnh lùng, xa lánh vợ như xưa, vợ chồng họ ngày càng thuận hòa, ân ái.

Phái Sakya ai nấy vui mừng khôn tả, họ truyền tai nhau tin vui, rằng người thừa kế của giáo phái sẽ ra đời trong nay mai.

Nghe tin con gái gặp nạn, Jichoi tất tả đưa thầy thuốc đến Sakya.

Đầu tôi quấn băng trắng rất dày, sợ bị thầy thuốc phát hiện ra, tôi bèn bắt chước thói ngang ngược của Kangtsoban, kiên quyết không cho ông ta lại gần.

Tôi sà vào lòng Kháp Na, kêu khóc inh ỏi.

Kháp Na dịu dàng vỗ về tôi rồi khổ sở nói với bố vợ:

– Cô ấy rất sợ thầy thuốc, xin cha đừng ép cô ấy.

Cha cứ yên tâm, phái Sakya không thiếu thầy thuốc giỏi.

Ngày nào cô ấy cũng ngoan ngoãn uống thuốc đều đặn.

Con hứa sẽ chăm sóc chu đáo để cô ấy sớm bình phục.

Jichoi chưa từng thấy Kháp Na thương yêu, hết lòng vì Kangtsoban như thế bao giờ nên rất bất ngờ.

– Nghe nói hai vợ chồng con không còn sống riêng như trước nữa?

Tôi biết Jichoi đã lén tra hỏi cô hầu gái Yamkhin của Kangtsoban và cô ta thưa rằng, từ khi Vương phi tỉnh lại đến nay, đêm nào Bạch Lan Vương cũng qua đêm trong phòng Vương phi.

Nhưng vì xấu hổ, Vương phi không cho phép bất cứ người hầu nào lại gần phòng ngủ của mình.

Thực ra, điều Yamkhin muốn nói là: xung quanh Kangtsoban đột nhiên xuất hiện rất nhiều tai mắt, kẻ nào có ý định tiếp cận buồng ngủ của cô ấy đều bị phát hiện và trừng phạt nghiêm khắc.

Lâu dần thành thông lệ, hễ Bạch Lan Vương xuất hiện là các đầy tớ sẽ lập tức tránh đi nơi khác, không làm phiền đến cuộc sống ân ái của đôi vợ chồng son.

Kháp Na đỏ mặt, nhưng lời nói nặng tình nặng nghĩa:

– Lúc Vương phi hôn mê, con đã thề trước tượng Bồ Tát Văn Thù rằng chỉ cần cô ấy tỉnh lại, con sẽ ở bên cô ấy suốt đời và chỉ yêu thương một mình cô ấy.

Jichoi xúc động, rút khăn chấm nước mắt:

– Tốt rồi!

Tốt quá rồi!

Kangtsoban gặp được một người chồng nặng tình nặng nghĩa như con là phúc đức ba đời của nó.

Vì sợ lộ chuyện, tôi không dám đến gần Jichoi, đành giả bộ nũng nịu, bám riết lấy Kháp Na.

Gặp phải những người mà tôi không quen biết, hoặc việc gì lạ lẫm, tôi cứ lờ đi.

Cũng may, Kangtsoban vốn là cô gái ngớ ngẩn nên mọi hành động bất thường của cô ấy đều được xem là bình thường trong mắt người khác.

Thế nên tôi đã che mắt được tất cả, kể cả Jichoi và cô hầu gái thân cận của Kangtsoban.

Sau khi Jichoi rời khỏi Sakya trong niềm vui ngập tràn, đám người hầu vẫn thực hiện đúng quy tắc: tránh xa mỗi khi tôi và Kháp Na ở bên nhau.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, quay lại nhìn Kháp Na:

– Chàng thấy em đóng kịch tài không?

Kháp Na chau mày:

– Tiểu Lam, trở về với hình hài của em đi.

Em biết không, ta rất sợ khi phải thấy gương mặt của Kangtsoban.

Nó khiến ta không thể không nghĩ đến cô ấy, nghĩ về tình cảnh hiện tại của cô ấy: bị đóng băng và giấu xác trong hang núi.

Đêm đó, sau khi Kangtsoban trút hơi thở cuối cùng, hai anh em họ đã bàn bạc rất lâu.

Kháp Na cho rằng nên âm thầm chôn cất cô ấy nhưng Bát Tư Ba không đồng ý.

Chàng đã đề xuất một giải pháp khiến chúng tôi sợ hãi đến mức dựng tóc gáy: ướp xác Kangtsoban và giấu trong hang núi.

– Lẽ nào đệ muốn Lam Kha đóng giả Kangtsoban cả đời sao?

Nếu ngày nào đó chúng ta buộc phải công bố với thiên hạ rằng Kangtsoban đã qua đời, Jichoi chắc chắn sẽ yêu cầu kiểm tra thi thể rồi mới cho nhập liệm.

Đến lúc đó, chúng ta tìm đâu ra thi thể giống hệt Kangtsoban?

Kháp Na ngỡ ngàng, Bát Tư Ba quả nhiên là người suy nghĩ thấu đáo.

Thế là vào một đêm khuya nọ, trời tối đen như mực, với sự giúp đỡ của tôi, hai anh em họ đã đưa Kangtsoban lên đỉnh núi Benbo tuyết phủ quanh năm, tìm kiếm một hang núi vắng vẻ, đặt thi thể Kangtsoban vào đó.

Giữa băng giá, cô ấy giống như một thiếu nữ đang say giấc nồng, gương mặt vẫn sống động như khi còn sống.

Nhưng chính hình ảnh này đã trở thành nỗi ám ảnh khó phai trong lòng Kháp Na.

Khi không có người ngoài, chàng sẽ đề nghị tôi biến phép trở lại nguyên hình.

Bởi vì chỉ khi nhìn thấy gương mặt thật của tôi, chàng mới có thể ngon giấc.

– Tiểu Lam, tội cho em quá!

Cánh tay chàng làm thành chiếc gối êm ái cho tôi, bàn tay vuốt ve từng đường nét trên gương mặt tôi rồi thở dài:

– Em là vợ ta nhưng lại phải đóng giả thành người khác.

Không biết còn phải tiếp tục đóng giả bao lâu nữa.

Tôi đặt ngón tay mình lên bờ môi mềm mượt của chàng:

– Chàng đừng lo.

Đóng giả Kangtsoban không khó, hơn nữa, phép thuật của em càng ngày càng tiến bộ, dù phải giả dạng cô ấy cả ngày, em cũng không mất nhiều linh khí.

Chàng nắm chặt bàn tay tôi:

– Nhưng ta thật lòng không muốn em phải giả danh người khác thì mới có thể chung sống cùng ta.

Khi nào phái Sakya không cần đến sự giúp đỡ của các thế lực khác nữa và ta hoàn thành nghĩa vụ của mình, ta sẽ đưa em đi.

Chúng ta sẽ quay lại hồ Yamdrok-tso, sống đời sống mà ta hằng mơ ước.

Tôi ngắm nhìn đôi mắt sáng long lanh, tràn đầy niềm hy vọng của chàng, mỉm cười ngoắc ngón tay út của mình vào ngón út của chàng:

– Vậy thì nào, “ngoắc tay giao hẹn, trăm năm khó vẹn”.

Chàng lật người, trùm lên tôi, đôi mắt tôi bị bao phủ bởi sự va chạm dịu ngọt, rồi sự va chạm chầm chậm dịch chuyển xuống phía dưới.

Hơi thở ngày một gấp gáp, bờ môi nóng hổi của chàng nhẹ nhàng vân du trên má tôi, chạm nhẹ vào làn môi tôi rồi bỗng nhiên cắn nhẹ một cái:

– Không được, phải là “ngoắc tay giao hẹn, trăm năm trọn vẹn”.

Chưa kịp kêu đau, đôi môi chàng trai đã áp lên miệng tôi, chúng tôi đưa nhau vào cuộc ân ái nồng nàn, quên hết cả đất trời, vạn vật.

Tôi có cảm giác mình đang lơ lửng trên chín từng không, được bao phủ, ấp ôm bởi những đám mây trắng bồng bềnh, êm ái như nhung lụa, tôi như lạc vào cơn mơ.

Tất cả đều đẹp đến mức dường như không có thật!

Mùa đông năm 1266, tuyết lớn ào ào trút xuống, Sakya như biến thành một viên ngọc lưu ly.

Trong căn phòng ấm áp, Bát Tư Ba đang say sưa chấp bút, viết xong lá thư, chàng giao cho Dampa, gửi tới phái Drikung và phái Phaktru.

Khi bóng dáng cung kính của Dampa khuất sau cánh cửa, Kháp Na vừa hơ tay sưởi ấm vừa hỏi:

– Đại ca gửi pháp chỉ gì cho hai phái Drikung và Phaktru vậy?

Bát Tư Ba mỉm cười:

– Lúc trước, hai giáo phái đó không ngừng bày trò ti tiện, giờ sẽ đến lượt phái Sakya chủ động xuất chiêu, ta phải khiến bọn họ trở tay không kịp.

Kháp Na kinh ngạc:

– Đại ca định làm gì?

Bát Tư Ba lại gần Kháp Na, hơ tay bên lò sưởi.

– Ngày còn ở đất Hán, ta từng đọc nhiều sách sử của người Hán.

Vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc, khi muốn khống chế một nước nhỏ, các nước lớn thường yêu cầu nước nhỏ đưa hoàng tử của nước mình đến nước lớn làm con tin.

Người thừa kế tương lai của mình nằm trong tay kẻ khác, các nước nhỏ sẽ không dám manh động, làm bừa.

Kháp Na lập tức hiểu ra vấn đề:

– Huynh sẽ buộc phái Drikung và Phaktru đưa pháp vương tương lai của giáo phái mình đến Sakya, để có thể kiểm soát họ?

– Đúng vậy.

Bát Tư Ba nắm chặt tay lại, khóe môi mím lại vẻ quyết đoán.

– Mâu thuẫn giữa chúng ta và họ đã đến mức không thể dàn hòa nên ta không muốn dễ dãi với bọn họ thêm nữa.

Bức thư này được viết dưới danh nghĩa là pháp chỉ của quốc sư nhà Nguyên, không phải dưới danh nghĩa giáo phái Sakya, thế nên dù muốn hay không, bọn họ cũng phải tuân theo.

Bằng không, sẽ là kháng chỉ!

Bản pháp chỉ này đã được gửi đến phái Drikung và Phaktru vào tháng cuối cùng của năm 1266.

Nghe nói, hai giáo phái này đã chửi rủa, nhục mạ Bát Tư Ba với những lời lẽ độc địa nhất trong một thời gian dài, nhưng sau cùng vẫn phải trả lời thư rằng, qua Tết sẽ đưa người tới.

Động thái này của Bát Tư Ba đã giúp hạn chế rất nhiều âm mưu chống đối, phản kháng của hai phái Drikung và Phaktru.

Trước thềm năm mới theo lịch Tạng, Sakya được sống trong bầu không khí thanh bình hiếm hoi, nhà nhà người người hân hoan chuẩn bị đón Tết.

Ngày Ba mươi Tết, Kháp Na đã đến chỗ Bát Tư Ba, giúp chàng chuẩn bị việc tế lễ mừng năm mới từ sáng sớm.

Tôi ngồi một mình trong phòng, cải trang thành Kangtsoban, vừa định bước ra ngoài thì chợt nghe có tiếng “cạch” ngoài cửa sổ phòng ngủ.

Tôi lập tức nhận ra đó là tiếng một viên đá nhỏ chạm vào cánh cửa.

Mở cửa sổ, tôi thấy một con quay – thứ đồ chơi con trẻ được làm rất tinh xảo, màu sắc bắt mắt nằm trên bậu cửa.

Tôi tò mò cầm lên rồi ngó nghiêng xung quanh, không thấy ai cả.

Không lẽ đứa bé nào mải chơi, để quên ở đây?

Đang định đóng cửa lại thì tôi chợt trông thấy trên bậc đá của con đường dẫn lên ngọn núi phía trước có một con quay to hơn được cắm trong tuyết.

Màu sắc sặc sỡ của con quay ấy nổi bật trên nền tuyết trắng xóa.

Vài dấu chân còn lưu lại trên tuyết, dấu chân làm thành một vệt dài, dẫn đến lưng chừng núi.

Tôi cầm lấy con quay, trèo qua cửa sổ, men theo con đường núi.

Khi đã nhặt được con quay cắm trong tuyết kia, tôi lại nhìn thấy phía trước có con quay khác.

Tôi hiểu rồi, những con quay này được dùng để dẫn đường.

Tôi chầm chậm men theo dấu chân hướng lên núi, những con quay dẫn tôi đến tận mặt sau của ngọn núi, đi qua một triền núi khuất nắng, ngoảnh lại thì đã không còn thấy công trình kiến trúc nguy nga, rực rỡ với ba màu đỏ, xanh, trắng đâu cả.

Các con quay kết thúc nhiệm vụ đưa đường trên một ngọn đồi bằng phẳng.

Nơi đây có lẽ là điểm hẹn của “người bí mật”.

Có tiếng bước chân lạo xạo trên tuyết ngay sau lưng tôi, tôi lắng tai nghe, cảm thấy rất quen.

Tôi kiềm chế bản thân để không quay lại vì tò mò.

Tôi đang đóng vai Kangtsoban, mà cô ngốc thì không thể quá nhạy bén trong hành động được.

Tiếng cười khe khẽ vang lên:

– Kangtsoban ơi, em thông minh lắm, ta mới hướng dẫn có vài lần mà em đã thông thạo rồi.

Tôi run bắn, phải hít thở sâu mới bình tĩnh lại được.

Tôi cố gắng diễn vẻ ngờ nghệch, quay đầu lại, hớn hở:

– Chàng đấy à?

Người đàn ông cao to, mặc áo khoác lông cừu rất bình thường, làn da đen đúa, thô ráp, hai vệt sạm nắng nổi bật trên đôi lưỡng quyền cao dị thường, lông mày rậm, khi cười, nếp nhăn vằn vện ở đuôi mắt.

Làm sao tôi có thể quên được bộ dạng thâm trầm, nham hiểm đó kia chứ!

Hắn ta chính là một trong bốn anh em trai của Kháp Na – Yeshe Bernas!

– Lần trước em bị trượt chân rơi xuống chân núi, ta vô cùng lo lắng.

Ta sợ Kangtsoban đáng yêu của ta gặp nguy hiểm.

Hắn bước đến, ôm lấy hai vai tôi, nhìn tôi âu yếm:

– Tạ ơn trời Phật, em không những không hề hấn gì mà còn xinh đẹp hơn trước, đáng yêu hơn trước rất nhiều.

Cơn buồn nôn ập đến, tôi ra sức kiềm chế để không đẩy hắn ra xa.

Hắn và Kangtsoban đã thân mật đến mức có thể ôm ấp nhau thế này ư?

Tôi vờ nũng nịu:

– Chàng ơi, lần này chàng mang cho em đồ chơi gì vậy?

Hắn bật cười ha hả, càng thân mật hơn:

– Ta yêu Kangtsoban nhất trên đời, làm gì có chuyện không mang đồ chơi và đồ ăn cho em.

Hắn lấy từ trong chiếc túi mỏng khoác sau lưng một con búp bê bằng vải rất xinh đẹp, đưa cho tôi.

Tôi giả bộ vô cùng vui sướng và thích thú, ôm chặt con búp bê vào lòng, đùa nghịch.

Hắn nhìn tôi chơi đùa với búp bê, gương mặt lộ vẻ nham hiểm.

Hắn sáp lại gần tôi, thì thào:

– Con búp bê này xinh không?

Tôi gắng gượng không nghiêng đầu sang bên né tránh, cười ngây ngô:

– Đẹp lắm, đẹp hơn búp bê lúc trước của em.

Hắn cười khe khẽ, ánh mắt lộ vẻ dâm đãng:

– Thế em có muốn sinh ra một búp bê xinh xắn như vậy không?

Tôi sững sờ, bàn tay khẽ run lên, vội giả bộ vuốt ve con búp bê bằng vải.

Tôi lờ mờ đoán ra ý đồ của hắn nhưng vẫn cất giọng tỉnh bơ:

– Muốn chứ!

Hắn tiến lại gần hơn, tôi cảm thấy lợm giọng, buồn nôn.

– Lần trước ta đã dạy em, rằng ta sẽ đặt em bé vào bụng em, sau đó em sẽ tự mình sinh ra em bé đáng yêu đó.

Tim đập thình thịch nhưng tôi vẫn vờ như không hiểu.

– Chàng…

Em… em quên mất rồi.

Lần trước chàng đã dạy em những gì?

Chàng dạy lại một lần nữa được không?

Hắn vuốt ve tóc tôi, tiếp tục dỗ dành:

– Ta đã nói với em rằng, phụ nữ sẽ bị đau khi sinh em bé nhưng chỉ đau một lần thôi.

Chỉ cần em ngoan ngoãn nghe lời ta, chịu đau một chút, không được ngọ ngoậy thì sẽ sinh ra được em bé.

Tôi thừa dịp, gạn hỏi:

– Có phải lần trước em đã ngọ ngoậy không?

Hắn nhếch mép cười:

– Đúng vậy, lần trước em không ngoan.

Tôi lấn lướt:

– Nếu lần này em ngoan hơn, chàng sẽ không đẩy em xuống chân núi, phải không?

Hắn thoáng ngỡ ngàng nhưng nhìn điệu bộ ngây dại, chẳng có chút đề phòng nào của tôi thì bật cười, thừa nhận:

– Nếu em ngoan ngoãn, ta sẽ không đẩy em xuống chân núi nữa.

Tim tôi đập thình thịch.

Rốt cuộc tôi đã biết nguyên nhân cái chết của Kangtsoban!

* * * * *

Chàng trai trẻ đặt câu hỏi:

– Sau đó, phái Drikung và Phaktru có đưa pháp vương tương lai của họ đến Sakya không?

– Có chứ.

Ở đất Tạng, pháp chỉ của quốc sư chẳng khác nào thánh chỉ, kẻ nào dám chống lại kia chứ?

Tôi thở dài, giải thích nguyên do:

– Bát Tư Ba xưa nay vốn khiêm nhường, điềm đạm, sau khi trở về đất Tạng, chàng chỉ xưng mình là Bát Tư Ba của phái Sakya và rất hiếm khi ban bố pháp chỉ với danh nghĩa quốc sư.

Nhưng vì thế lực của Drikung và Phaktru quá lớn mạnh, bọn họ không coi Bát Tư Ba ra gì, đã có nhiều hành vi chống đối, ngăn trở, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch thiết lập hệ thống quản lý hành chính của Bát Tư Ba ở đất Tạng.

Mệnh lệnh này của Bát Tư Ba được thực thi cho đến tận cuối triều Nguyên.

Tôi tiếp than vào lò, vừa cời than hồng vừa nói:

– Phái Phaktru và Drikung buộc phải đưa người thừa kế tương lai đến Sakya làm “Chungker”, có nghĩa là người hầu của trụ trì đền Sakya.

Những người này, sau khi trở về để kế ngôi pháp vương, sẽ phải đích thân đến Sakya, dâng lên các tăng nhân Sakya lễ vật, gọi là lễ vật tạ ơn.

Người sau này gây dựng nên chính quyền của phái Phaktru, thay thế phái Sakya đã suy yếu vào thời nhà Minh đại sư Changchub Gyaltsen hồi nhỏ đã từng là một “Chungker” lớn lên ở Sakya.

– Chỉ e phái Drikung và Phaktru sẽ coi việc này là một sự sỉ nhục.

Tôi bần thần, cười chua chát:

– Bởi vậy sau này phái Sakya và bọn họ đã xảy ra xung đột vũ trang.

Hết chương 45.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 46: Mang thai


“Nhà vua chỉ uy phong ở nước mình,

Bậc hiền nhân được tôn kính ở khắp chốn;

Hoa tươi là vật trang trí trong ngày,

Châu báu là trang sức mãi mãi.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1267, tức năm Đinh Mão, Âm Hỏa, hay năm Rabyong[1] thứ năm theo lịch Tạng, tức niên hiệu Hàm Thuần thứ ba, nhà Nam Tống, tức niên hiệu Chí Nguyên thứ tư, Mông Cổ.

[1].

“Rabyong” hay “năm Rabyong” có thể hiểu là năm Giáp Tý theo lịch Tạng.

Tên gọi này còn được dịch thành: Thắng Sinh, Thắng Sinh Chu, Giai Đoan, Lương Duyên, gắn liền với sự kiện: năm 1027, các sư tăng Ấn Độ bắt đầu dịch ‘Thời luận kinh’ sang tiếng Tạng.

Rabyong là một chu kỳ gồm 60 năm.

Rabyong thứ nhất bắt đầu vào năm 1027.

Cách tính năm Rabyong của người Tạng cũng tương tự hệ đếm Can – Chi của người Hán.

Ví dụ: Tương ứng với Thiên Can theo lịch của người Hán gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Thân, Nhâm, Quý thì lịch của người Tạng sẽ là: Dương Mộc, Âm Mộc, Dương Hỏa, Âm Hỏa, Dương Thổ, Âm Thổ, Dương Kim, Âm Kim, Dương Thủy, Âm Thủy (âm dương ngũ hành luân phiên kết hợp).

Địa Chi của người Hán: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; của người Tạng: Thử (chuột), Ngưu (trâu), Hổ (hổ), Thố (thỏ), Long (rồng), Xà (rắn), Mã (ngựa), Dương (dê), Hầu (khỉ), Kê (gà), Cẩu (chó), Trư (lợn). (DG)

Bát Tư Ba ba mươi ba tuổi, Kháp Na hai mươi chín tuổi.

Bát Tư Ba kinh ngạc thốt lên:

– Yeshe lén quay về Sakya ư?

Tôi kể lại với hai anh em họ thông tin vừa thu lượm được.

– Đúng vậy, hắn âm mưu dụ dỗ Kangtsoban nhưng cô ấy không chịu nên đã đẩy cô ấy xuống núi hòng giết người diệt khẩu.

Bát Tư Ba cau mày:

– Dụ dỗ Kangtsoban?

Lẽ nào hắn…

– Hắn dùng lại kế cũ, muốn Kangtsoban sinh con cho hắn để kế thừa phái Sakya.

Kháp Na đấm xuống bàn khiến chiếc bút lông bật lên cao rồi rơi xuống đất.

– Hành vi của hắn chẳng khác nào loài cầm thú!

Tôi vội vàng nói với hai anh em:

– Hiện hắn vẫn còn ở đó vì em đã hóa phép làm cho hắn bất tỉnh.

Bát Tư Ba lập tức đứng bật dậy:

– Đi nào, chúng ta phải bắt bằng được hắn.

Nhưng khi chúng tôi vừa tới nơi thì Yeshe đã biến đâu mất rồi.

Những dấu chân ngổn ngang, tàn tích của cuộc đào tẩu cuống quýt, dẫn đến mặt kia của ngọn núi rồi mất hút.

Tôi băn khoăn đi lại kiểm tra:

– Lạ thật, rõ ràng em đã làm phép kia mà, sao lại không thấy hắn đâu cả?

Lẽ nào hắn tỉnh lại và bỏ trốn trước khi chúng ta đến?

Bát Tư Ba động viên:

– Có thể vì em quá vội nên sơ suất hoặc hắn còn có đồng bọn.

Kháp Na đùng đùng nổi giận, định xuống núi:

– Chắc chắn hắn đang trốn trong nhà dì năm, chúng ta phải lục soát mới được!

Bát Tư Ba giữ tay Kháp Na lại:

– Không cần đâu.

Kháp Na ngạc nhiên:

– Vì sao?

– Ta hỏi đệ, nếu tìm được hắn, đệ sẽ làm gì?

Bát Tư Ba nhìn em trai, vẻ mặt điềm tĩnh.

– Hắn là cậu ba nhà họ Khon phái Sakya, người ngoài không ai hay biết mối thù hằn giữa chúng ta và hắn.

Nếu hắn bảo hắn muốn về thăm mẹ thì chúng ta làm gì được hắn?

Kháp Na giận đỏ mắt:

– Nhưng hắn đã giết Kangtsoban!

Bát Tư Ba lắc đầu:

– Cái chết của cô ấy chỉ có ba chúng ta biết.

Lam Kha hiện vẫn đang đóng giả Kangtsoban, chúng ta buộc tội hắn thế nào được.

Kháp Na không thể chấp nhận được chuyện này, chàng thở gấp vì tức giận:

– Nhưng lẽ nào cứ để hắn ung dung, tự tại như vậy?

Trước đây, hắn đã làm bao chuyện xấu xa, chính hắn đã gián tiếp hãm hại Mukaton.

Bát Tư Ba kéo Kháp Na lại, bình tĩnh phân tích:

– Ta biết chứ.

Ta vốn nghĩ rằng, hắn âm thầm lẻn về Sakya, nếu vậy ta sẽ âm thầm cho người bắt trói hắn.

Nhưng bây giờ hắn đã trốn thoát, chắc chắn sẽ cảnh giác và phòng bị.

Ta tin rằng hắn sẽ diễn vở kịch “vinh quy bái tổ” đình đám.

Hắn còn ở lại Sakya ngày nào, chúng ta sẽ phải kiềm chế ngày ấy, không nên để người người ngoài nhận ra mâu thuẫn nội bộ giữa anh em chúng ta, vì như vậy sẽ có kẻ thừa dịp gây bất lợi cho chúng ta.

Kháp Na bực bội đá mạnh vào gốc cây thông bên cạnh, tuyết lạnh trên các tán lá ào ào trút xuống, phủ trắng vai chàng.

– Con người này vô cùng nham hiểm, hắn còn ở Sakya ngày nào, chúng ta sẽ khó lòng được yên ổn ngày đó.

Bát Tư Ba ngước nhìn bầu trời ảm đạm, những bóng tuyết vẫn không ngừng trút xuống, đậu lên bờ vai cô độc của chàng.

Ánh mắt chàng lộ vẻ lo lắng:

– Kháp Na, mâu thuẫn nội bộ khó đối phó hơn sự thù địch của hai phái Drikung và Phaktru.

Dù thế nào, hắn và chúng ta vẫn là anh em cùng cha khác mẹ, có cùng huyết thống, cùng dòng họ.

Dù hắn gây nhiều tội ác đến đâu, ta cũng không thể giết hắn.

Quả đúng như Bát Tư Ba dự đoán, không lâu sau khi chúng tôi xuống núi, tin tức đã lan đi khắp vùng: Cậu ba Yeshe của giáo phái Sakya đã từ Vân Nam trở về.

Cậu ba đã vượt qua chặng đường vất vả, gian nan trong thời gian nhanh nhất để được đoàn tụ với gia đình đúng dịp đón năm mới.

Bản thân Sakya Zangpo cùng nhiều người khác đã xuống tận chân núi đón Yeshe.

Không giống anh em Bát Tư Ba, Yeshe sinh ra và lớn lên ở Sakya nên tất cả những người trong giáo phái đều rất thân thiết với hắn.

Hắn giao tiếp tốt, giỏi ăn nói, lại có khiếu hài hước nên đi đến đâu là tiếng cười rộn lên đến đấy.

Già trẻ, gái trai, ai nấy đều yêu mến hắn.

Sự trở về của Yeshe khiến cho bầu không khí đón Tết năm 1267 của phái Sakya náo nhiệt khác thường.

Trước mặt mọi người, hắn tỏ ra rất mực kính trọng Bát Tư Ba, nói năng chừng mực, ứng xử nhã nhặn, thái độ khiêm nhường, ai nấy đều hết lời khen ngợi.

Bát Tư Ba cũng không thể không lịch sự đáp lễ.

Bát Tư Ba nói đúng, lòng dạ của người này thâm hiểm, khó đoán khiến người ta không khỏi kiêng dè.

Đêm Ba mươi, toàn thể gia đình tập trung đón Giao thừa.

Zhuoma và Kunga Zangpo cũng đưa con gái Jumodaban mới được ba tháng tuổi đến dự tiệc.

Nhận thấy ánh mắt khinh bỉ của hầu hết mọi người dành cho Kunga Zangpo, Kháp Na chủ động sắp xếp để cậu ta ngồi cạnh chàng và cố ý tỏ ra thân mật, một câu anh rể, hai câu anh rể khi gọi Kunga Zangpo.

Vì Kunga Zangpo được hai anh em Bát Tư Ba rất mực xem trọng nên các anh chị em khác không thể không tiếp chuyện cậu ta.

Tôi thì vô cùng thích thú được chơi đùa với bé Jumodaban.

Bé được quấn bọc gọn gàng trong khăn tã, hai má mũm mĩm, xinh xắn.

Thấy tôi yêu em bé như vậy, Zhuoma liền trao Jumodaban cho tôi ẵm.

Em bé nằm trong lòng tôi thơm mùi sữa, đưa ngón tay cái lên miệng đùa nghịch, đôi mắt đen láy nhìn tôi chăm chú, trong lòng tôi bỗng trào dâng tình yêu thương.

Thấy tôi cưng nựng em bé như vậy, Zhuoma trêu:

– Em thích trẻ con như vậy, chi bằng hai người hãy cố gắng sinh hạ một thằng cu, ta sẽ gả Jumodaban cho con trai em, được không?

Tôi cười thật hồn nhiên, gật đầu không chút ngại ngùng:

– Vâng!

Không ngờ câu chuyện phiếm của tôi và Zhuoma lại thu hút sự chú ý của các chị em khác.

Tôi lập tức cảm nhận được rất rõ ràng những ánh mắt tức giận, đố kỵ đang dồn về phía Zhuoma.

Kháp Na bóp nhẹ tay tôi, tôi lập tức im bặt.

Có lẽ các cô chị, cô em khác cũng đang nuôi hy vọng một ngày kia, con trai Kháp Na sẽ trở thành rể hiền nhà mình.

Lúc này, Yeshe mới đưa dì năm đến dự tiệc, hắn mau mắn hỏi han hết người này đến người kia.

Tôi giả bộ ngây ngô, vẫy tay gọi Yeshe:

– Chàng ơi, sao lại là chàng?

Chàng cũng đến đây ăn Tết à?

Vừa quay đầu nhìn thấy tôi, hắn lập tức diễn vẻ vui mừng khôn xiết, vội vàng chạy lại, ân cần, thân mật:

– Ơ kìa Kangtsoban, đã bao năm trôi qua mà em vẫn còn nhớ ta sao?

Lúc nhỏ ta thường tặng cho em đồ chơi và các món ăn mà em thích.

Em còn giữ những con búp bê bằng vải và con quay đó không?

Tôi giật mình, thì ra họ quen nhau từ nhỏ.

Sakya cách Shalu không xa, hai người đó làm bạn từ nhỏ cũng không có gì là lạ.

Yeshe quay sang Kháp Na, vồn vã giải thích:

– Ta và em dâu quen nhau từ nhỏ, hồi đó muội ấy rất thích chơi trò sinh em bé nên thường cùng các anh lớn diễn kịch vợ chồng.

Có lần vì quá ham chơi, muội ấy đã sảy chân, ngã xuống chân núi, làm bọn ta sợ hết hồn.

May mà Vạn hộ hầu Shalu không trách phạt bọn ta.

Hắn vờ thân mật vỗ vai Kháp Na, cười ha hả:

– Đó là chuyện con nít xửa xưa, đệ đừng để bụng nhé!

Tôi hiểu rồi, hắn đã chuẩn bị kĩ càng để đối phó với tôi.

Lời hắn nói sẽ vô hiệu hóa tất cả những lời buộc tội của tôi.

Kangtsoban là cô ngốc nên không thể kể lại tường tận mọi chuyện.

Dù tôi có nói gì, cũng không ai tin.

Bát Tư Ba lắc đầu ra hiệu cho tôi.

Tôi hiểu chàng không muốn vạch tội hắn nữa.

Nếu xét về thủ đoạn, tôi hoàn toàn không phải là đối thủ của Yeshe.

Dì năm cố ý lớn giọng hỏi để mọi người cùng nghe thấy:

– Con ơi, cháu trai Dani yêu quý của ta thế nào rồi?

Yeshe cung kính đáp:

– Thưa mẹ, sang năm cháu tròn năm tuổi.

Cháu rất tinh nghịch, lanh lợi, thông minh, giờ cháu đã có thể đọc thuộc làu cuốn Cách ngôn Sakya của bác Ban Trí Đạt.

Dì năm thốt lên kinh ngạc:

– Giỏi vậy ư?

Cháu trai ta sau này nhất định sẽ trở thành một nhân vật cự phách.

Chỉ tiếc là đến nay nó vẫn chưa về Sakya, nơi đây mới là gia đình, là cội nguồn của nó.

Yeshe tươi cười ý nhị:

– Cháu còn nhỏ, lúc này mà về Sakya, chỉ e sức khỏe không đủ.

Đợi cháu lớn hơn, con sẽ đưa cháu về quê hương nhận tổ nhận tông.

Hai người bọn họ, kẻ tung người hứng, tất cả những người có mặt ở đó đều có thể nhận ra giọng điệu đắc ý trong lời nói của họ.

Kháp Na tức tối, Bát Tư Ba điềm tĩnh, trong tiếng pháo rộn ràng, ba anh em họ, mỗi người một tâm trạng, đón nhận những lời chúc mừng năm mới!

Ra Tết, cả hai phái Drikung và Phaktru đều tìm cách trì hoãn việc đưa người thừa kế của giáo phái mình đến Sakya.

Bát Tư Ba tiếp tục gửi pháp chỉ thúc giục, cuối cùng thì bọn họ cũng đành cắn răng mà giao “con tin”.

Mùa xuân năm đó, Sakya đón tiếp hai đoàn người.

Một đoàn đưa rước người thừa kế của hai giáo phái Drikung và Phaktru, một đoàn thợ thủ công đến từ Nepol theo lời mời của Bát Tư Ba để kiến tạo thành trì mới của phái Sakya.

Đoàn thợ người ngoại quốc xa xôi gồm tám mươi người, trong đó người nhỏ tuổi nhất là Anigo mới mười bảy tuổi.

Tuy còn trẻ nhưng Anigo là người có tài kẻ vẽ điêu luyện nhất trong đoàn thợ thủ công.

Ngắm nhìn những bức bích họa của Anigo, Bát Tư Ba đã hết lời khen ngợi.

Hỏi chuyện về kỹ thuật xây dựng, thấy cậu ấy trả lời vanh vách, Bát Tư Ba lại càng kinh ngạc.

Thành trì mới còn chưa khởi công, Bát Tư Ba đã giao cho Anigo nhiệm vụ giám sát công trình tháp hoàng kim[2].

Tòa tháp này được xây dựng ven sông Trum-chu, dưới chân đền Sakya.

Những người hành hương về Sakya lễ Phật có thể nhìn thấy tòa tháp này từ rất xa.

[2].

Tên gọi “tháp hoàng kim” xuất hiện từ đầu thời Bắc Tống, vốn là công trình kiến trúc Phật giáo đồ sộ trong chùa Nam Thái thuộc huyện Vô Vi (nay là Tây Hà).

Về sau, “tháp hoàng kim” được dùng để chỉ kiến trúc tháp cổ Phật giáo kiểu thành trì mang phong cách Ả Rập với bốn mặt tháp được quét một lớp bột vàng lấp lánh. (DG)

– Em đến đó mà xem, mọi người đều đang tập trung dưới chân núi để chiêm ngưỡng tháp hoàng kim đó.

Tuy vẫn chưa hoàn thiện nhưng tòa đó là tòa tháp đẹp nhất ở Sakya.

Anigo thật tài giỏi, đại ca rất hài lòng về cậu ta.

Kháp Na vừa lay gọi vừa ngồi xuống mép giường, xoay gương mặt tôi về phía chàng.

Trong khi đó tôi vẫn rất buồn ngủ.

Tôi uể oải gạt tay chàng sang bên, không sao nhấc mí mắt lên được, lẩm bẩm như người mơ ngủ:

– Em buồn ngủ lắm, chàng đi một mình đi, cho em ngủ thêm một lát.

Kháp Na đặt tay lên trán tôi, băn khoăn:

– Không sốt.

Thế thì rốt cuộc là làm sao?

Thời gian gần đây em thường hay buồn ngủ, ngày nào cũng dậy rất muộn.

Tôi ngáp ngắn ngáp dài:

– Em cũng không biết nữa, chỉ biết là rất thèm ngủ.

– Em có đói không?

Có muốn ăn chút gì không?

Chàng rót cho tôi một bát sữa bò, kéo tôi dựa vào vai chàng, dỗ dành tôi uống sữa.

Vừa nhấp một ngụm, bụng dạ tôi bỗng cồn cào, khó chịu, tôi không sao kìm nổi, nôn ra khổ sở.

Sữa bò bắn vào áo Kháp Na, tôi vội vàng xin lỗi:

– Em không cố ý đâu.

Không hiểu sao, uống sữa bò mà em cũng cảm thấy buồn nôn.

Chàng chẳng buồn để ý đến chiếc áo vấy bẩn, chăm chăm nhìn tôi như thể bị điểm huyệt vậy.

Tôi ngạc nhiên kéo vạt áo chàng:

– Chàng sao vậy?

– Buồn nôn, thèm ngủ…

Chàng đột nhiên ôm chặt hai vai tôi, giọng chàng run lên.

– Tiểu Lam, có phải em có mang rồi không?

Tôi sững sờ, khẽ chạm tay vào bụng:

– Em… em không biết.

Tôi không có bất cứ kinh nghiệm nào về chuyện này, người duy nhất tôi có thể hỏi lại đang ở Trung Đô.

Kháp Na lập tức bật dậy, lao ra ngoài:

– Ta sẽ đi mời thầy thuốc đến khám cho em.

– Không được, Kháp Na!

Tôi vội vã ngăn chàng lại.

– Cơ thể của em khác với loài người, em sợ thầy thuốc sẽ phát hiện ra.

Kháp Na sững lại, gãi đầu quay về bên tôi, chau mày nói:

– Vậy phải làm sao?

Tôi trầm ngâm:

– Hay để em về Trung Đô khỏi Khabi.

Tôi muốn ra khỏi giường nhưng đầu nặng trịch.

Tôi định niệm thần chú nhưng chợt nhận thấy năng lượng không đủ để có thể về được Trung Đô.

Tôi sợ hãi kêu lên:

– Kháp Na, vì sao… vì sao linh khí của em lại đột nhiên giảm sút thế này?

Vừa dứt lời, tôi bỗng sững sờ, ngẩng đầu nhìn Kháp Na đầy lo lắng:

– Em biết rồi!

Năm đầu tiên khi tôi vừa hóa thành người, tôi đã vui mừng khôn xiết, vì từ giờ tôi sẽ có thể đến gần Bát Tư Ba.

Thế nhưng Khabi đã lập tức giội cho tôi một gáo nước lạnh.

Cô ấy nghiêm nghị nói:

– Cô hãy suy nghĩ cho thật kĩ.

Yêu loài người tức là sẽ phải chịu đựng nỗi nghi hoặc canh cánh trong lòng, vì cô không dám chắc anh ta có chung tình với mình hay không; sẽ phải chịu đựng những năm tháng cô đơn dằng dặc sau khi anh ta qua đời; và còn phải vượt qua một cửa ải quan trọng khác: sinh nở.

Tôi sợ hãi gạn hỏi:

– Chúng ta sẽ mang thai chín tháng mười ngày giống con người và cũng phải chịu nỗi khổ sở trong suốt thai kỳ, đúng không?

– Đúng vậy, thậm chí chúng ta còn vất vả, khổ sở và nguy hiểm hơn rất nhiều.

Cô ấy nhếch môi cười, gương mặt kiều diễm bỗng lộ vẻ sợ hãi.

– Kể từ lúc có mang, linh khí trong cơ thể chúng ta sẽ giảm sút rất nhanh, mọi phản ứng của cơ thể đều trở nên chậm chạp.

Tuần cuối của thai nhi càng tăng, linh khí mất đi càng nhiều.

Và thời khắc vượt cạn sẽ là lúc nguy hiểm nhất.

Vẻ mặt của cô ấy khiến tôi hoảng sợ, vội vã hỏi:

– Nguy hiểm thế nào?

– Vì thai nhi của loài người lớn hơn cơ thể của loài hồ ly chúng ta rất nhiều nên khi thai nhi được chừng bảy, tám tháng, chúng ta không thể trở lại nguyên hình, phải sinh đẻ trong hình hài của con người.

Lúc vượt cạn, linh khí của chúng ta không còn nữa, cơ thể chúng ta sẽ yếu hơn rất nhiều so với những phụ nữ khác.

Chỉ sau khi cai sữa, chúng ta mới có thể trở lại nguyên hình để khôi phục sức khỏe.

Vì vậy, trong giai đoạn này, cô phải hết sức thận trọng bởi đây sẽ là thời cơ tốt nhất để kẻ thù tấn công, hãm hại cô.

Những lời nói của Khabi cứ vang vang trong đầu tôi, tôi đột nhiên nhớ lại sự việc hôm đó, tôi làm phép khiến Yeshe bị hôn mê nhưng hắn đã nhanh chóng tỉnh lại và chạy thoát.

Thì ra, không phải do tôi kém cỏi mà vì tôi đã mang bầu.

Những ngày vừa qua, ngoài việc đóng giả Kangtsoban, tôi không hề sử dụng linh khí để làm những việc khác nên tôi không phát hiện ra.

Tôi cúi xuống nhìn phần bụng vẫn phẳng lì của mình, trộm nghĩ, bây giờ là giữa tháng Hai, vậy hẳn là tôi cũng mới có thai.

Tôi gọi khẽ:

– Kháp Na, chàng lại đây.

Kháp Na đến bên, đỡ lấy tôi, lòng dạ như lửa đốt.

Tôi đặt tay chàng lên bụng mình, nở nụ cười thật tươi, nhìn vào đôi mắt long lanh của chàng:

– Có lẽ mới được gần ba tháng thôi.

Nếu vậy thì, khoảng cuối tháng Chín năm nay chàng sẽ được làm cha.

Chàng run rẩy, giật mình ngẩng lên nhìn tôi, khóe môi mấp máy nhưng cứ ấp úng, mãi chẳng thành câu:

– Thật… thật vậy không?

Em không đùa chứ?

Tôi gật đầu khẳng định, hít một hơi thật sâu, giọng nói run rẩy:

– Là thật đó…

Gương mặt chàng bừng sáng lạ thường, nụ cười mỗi lúc một rạng rỡ, ánh mắt long lanh, chan chứa hạnh phúc.

Chàng ngẩng lên, nhìn sâu vào mắt tôi, nụ cười tươi tắn khiến gương mặt chàng càng trở nên tuấn tú.

Rồi đột nhiên chàng bế bổng tôi lên, xoay một vòng, niềm vui vô bờ rộn rã bên tai tôi:

– Tuyệt quá!

Cuối cùng cũng đợi được rồi!

Rồi chàng đột ngột dừng lại, đặt tôi lên giường, quấn chặt chăn đệm lên người tôi, lảm nhảm không ngơi nghỉ:

– Ta thật đáng trách, chẳng may làm em va đập vào đâu thì sao?

Em nhớ phải giữ ấm, không được làm việc gì quá sức, muốn ăn gì, dùng gì, cứ nói với ta là được.

Tôi kìm lại điệu bộ rối rít của chàng, nói khẽ:

– Kháp Na, em không muốn ở lại trong căn phòng của Kangtsoban nữa, chúng ta dọn về Lang Như Thư Lầu đi.

Thực ra vì tôi lo lắng, thai nhi càng được nhiều tháng, linh khí của tôi sẽ càng sụt giảm, nếu không thể tiếp tục đóng giả làm Kangtsoban nữa, bị người hầu của cô ấy phát hiện thì phải làm sao?

Kháp Na gật đầu hoan hỉ:

– Được chứ!

Ta cũng không thích chỗ này, hôm nay chúng ta sẽ dọn về đó.

Sau khi chúng tôi về Lang Như Thư Lầu, Kháp Na đã mời Bát Tư Ba đến và thông báo với chàng tin này.

Biểu cảm trên gương mặt Bát Tư Ba lúc đầu rất khó hiểu, nhưng ngay sau đó, chàng tỏ ra vui mừng khôn tả:

– Tốt quá rồi!

Mong rằng sẽ là con trai, phái Sakya có hy vọng rồi!

Kháp Na nắm chặt tay tôi, tươi cười nói với anh trai:

– Huynh đừng gây áp lực cho Tiểu Lam, con trai hay con gái đều được.

Đệ còn trẻ, sau này đệ sẽ sinh cả đàn con.

– Có chuyện này em không thể không nói với hai người.

Tôi suy đi tính lại và quyết định phải cho họ biết.

– Trong thời gian mang thai, linh khí của em sẽ suy giảm dần, đến thời điểm vượt cạn thì em sẽ mất hết linh khí và không khác một sản phụ bình thường.

Chỉ sau khi cai sữa, em mới có thể khôi phục linh khí đã mất.

Bát Tư Ba kinh ngạc, hàng lông mày xô lại:

– Tức là em sẽ không thể tiếp tục đóng giả Kangtsoban nữa và thính giác, khứu giác, thị giác của em sẽ giống hệt người thường?

Lòng tôi thắt lại, nhưng tôi cố gắng an ủi họ:

– Hai người đừng lo, linh khí sẽ biến mất dần theo thai kỳ chứ không biến mất ngay lập tức.

Nói vậy nhưng tôi cảm thấy vô cùng bất an.

Tôi đi theo anh em họ ngần ấy năm mà không ai hay biết tôi có thể nói chuyện và hóa phép thành người, tất cả đều là nhờ vào thính giác, thị giác và khứu giác nhạy bén, ngay cả lúc ngủ cũng không ai đến gần tôi được.

Nhưng mang thai là cửa ải gian nan, nguy hiểm mà tôi chưa từng trải qua.

Tôi không thể tưởng tượng nổi, nếu trong thời gian này có ai đó phát hiện ra sự tồn tại của tôi thì anh em họ sẽ gặp phải phiền phức lớn thế nào.

– Tuyệt đối không được sơ suất.

Vẻ mặt của Bát Tư Ba nghiêm trọng như sắp phải đối đầu với kẻ địch lớn mạnh.

– Yeshe vẫn đang ở Sakya.

Ta đã cho người canh chừng hắn để kiểm soát mọi việc làm, hành vi của hắn.

Chúng ta phải giữ kín tin Lam Kha mang thai càng lâu càng tốt, mong là có thể giữ cho đến khi đứa trẻ chào đời.

Lòng bàn tay Kháp Na đẫm mồ hôi.

– Đệ sẽ không cho bất cứ ai đến gần.

Đệ sẽ tự mình chăm sóc, chuẩn bị mọi thứ cho cô ấy.

Bát Tư Ba gật đầu:

– Ta sẽ cử người bảo vệ nghiêm ngặt Lang Như Thư Lầu và không cho phép ai vào đây, ngoại trừ ta và đệ.

Đồ ăn thức uống của Lam Kha đều phải có người thử trước.

Chàng nhìn hai chúng tôi, giọng nói chất chứa lo toan:

– Chúng ta phải làm tất cả để bảo vệ đứa bé này.

Tôi và Kháp Na nắm tay nhau thật chặt, gật đầu quyết tâm.

* * * * *

Tôi tấm tắc khen:

– Mùa xuân năm đó, Anigo đã trổ hết tài nghệ, kiến tạo nên tòa tháp hoàng kim đẹp nguy nga, lộng lẫy, có thể coi đó là một tuyệt phẩm của xứ Sakya.

Chàng trai trẻ trầm ngâm suy nghĩ:

– Sao tôi thấy cái tên Anigo này rất quen, chắc chắn đã nghe ở đâu rồi.

– Anigo là kiến trúc sư người nước ngoài duy nhất được sử sách Trung Quốc vinh danh.

Sau này, cậu ta đã được Bát Tư Ba tiến cử cho triều đình nhà Nguyên, được Hốt Tất Liệt trọng dụng, phong chức Quang Lộc đại phu, đại tư đồ, ban thưởng vô số của cải.

Sau khi qua đời, Anigo còn được phong tước hiệu thái sư, lương quốc công.

Tôi lật mở cuốn sách giới thiệu về các danh lam thắng cảnh của Bắc Kinh, chỉ cho chàng trai trẻ xem các bức ảnh.

– Dù có thể không biết tên tuổi của người này nhưng chắc chắn cậu không thể không biết công trình kiến trúc nổi tiếng nhất do cậu ấy xây dựng: Tháp Trắng ở Bắc Kinh, đó là tòa tháp Phật duy nhất ở thành phố Bắc Kinh.

Vừa nhìn thấy bức hình, chàng trai lập tức nhớ ra:

– Tháp Trắng ở Bắc Hải phải không?

Tôi từng tới đó tham quan.

Tôi cười:

– Không phải Tháp Trắng ở công viên Bắc Hải, tòa tháp đó được xây dựng vào thời nhà Thanh, phỏng theo phong cách kiến trúc của tòa Tháp Trắng mà Anigo xây dựng trước đó.

Tòa Tháp Trắng do chính Anigo xây dựng nằm ở cổng Phụ Thành, khu phía tây của thành phố Bắc Kinh.

Sau khi công trình này hoàn tất, Hốt Tất Liệt đã hết lời khen ngợi, lập tức hạ lệnh xây dựng chùa “Đại Thánh Thọ Vạn An” lấy tòa tháp làm trung tâm.

Ngôi chùa này về sau đã trở thành chùa hoàng gia của triều đình nhà Nguyên.

Tiếc thay, nó đã bị phá hủy sau một trận hỏa hoạn xảy ra vào cuối triều Nguyên, chỉ còn tòa Tháp Trắng vẫn được bảo tồn cho đến tận ngày nay.

Tòa tháp này là một trong số ít các di tích lịch sử từ thời Nguyên còn sót lại.

Tôi lật tiếp vài trang nữa và tìm thấy bức hình chụp tượng điêu khắc Anigo.

– Cậu nhìn này, đây chính là tượng đồng Anigo do người đời sau điêu khắc, nó được đặt ngay bên cạnh Tháp Trắng.

Chàng trai trẻ tấm tắc:

– Tôi nhận thấy, rất nhiều danh nhân triều Nguyên có liên quan đến Bát Tư Ba: Senge, Dampa và cả Anigo nữa, đều được Hốt Tất Liệt trọng dụng.

– Chàng quý trọng người tài, lại giỏi nhìn người, đi đến bất cứ đâu, chàng cũng mong muốn chiêu nạp hiền tài.

Gặp được người có tài năng đặc biệt, chàng liền ra sức tiến cử với Hốt Tất Liệt.

Đây cũng chính là lý do vì sao Hốt Tất Liệt lại tín nhiệm và xem trọng chàng đến thế.

Tôi cười buồn.

– Nhưng không phải lúc nào chàng cũng đánh giá đúng về người khác.

Chàng cũng từng nhìn nhận sai lầm một người, vì thế đã phải trả giá rất đắt.

Hết chương 46.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 47: Sinh ly tử biệt


“Cây thấp lè tè mà quả sai trĩu trịt,

Chim công hiền lành mà xòe đuôi rực rỡ;

Chỉ có bậc hiền nhân mới tài đức vẹn toàn,

Chỉ có loài tuấn mã mới phi nhanh như bay.”

(Cách ngôn Sakya)

Những ngày sau đó, tôi chỉ cho phép Yamkhin mỗi ngày được đến thăm tôi một lát, tất cả những cô hầu mà Kangtsoban đưa đến từ Shalu tôi đều không gặp.

Tôi biết Yamkhin là tai mắt của Jichoi ở Sakya nên tôi buộc phải để cô ta thấy tôi an toàn, khỏe mạnh, nếu không Jichoi sẽ sinh nghi.

Mỗi lúc Yamkhin đến thăm, tôi đều hết sức thận trọng, không để cô ta phát hiện ra tôi đã mang thai, tránh việc Jichoi biết được, sẽ cử thầy thuốc đến khám xét.

Chúng tôi đã hết sức thận trọng để bảo vệ sinh mệnh yếu ớt trong bụng tôi.

Kháp Na lo lắng đến mất ăn mất ngủ.

Và tôi bình an vượt qua ba tháng đầu của thai kỳ với sự chăm sóc chu đáo và nghiêm ngặt.

Ngoài cảm giác buồn nôn và chán ăn, tôi không có biểu hiện gì đáng lo.

Tuy không thể mời thầy thuốc đến khám thai nhưng tôi có thể cảm nhận được tình trạng của thai nhi nhờ bản năng mẫn cảm của người mẹ.

Tôi nói với Kháp Na rằng, đứa bé rất ổn, không có gì phải lo cả.

Cuộc sống của Kháp Na lúc này chỉ xoay quanh tôi, cả ngày túc trực bên tôi.

Chàng dành phần lớn thời gian trong ngày để ngắm nghía bụng bầu của tôi, nghiêng sang phải, ngó sang trái và hoan hỉ nói:

– To hơn một chút rồi!

Nhưng tôi lại chẳng nhận ra sự thay đổi nào cả.

Tôi kết luận, người đàn ông này mong mỏi được lên chức cha quá đấy mà!

Cuối tháng Tư năm đó, bụng bầu của tôi bắt đầu lộ rõ.

Kháp Na thông báo với tôi rằng, Yeshe đã rời Sakya về Vân Nam.

Kể từ đêm Giao thừa, khi tôi cố ý vạch trần âm mưu của hắn và bị hắn phủi sạch trơn, hắn không dám tìm gặp riêng tôi nữa.

Dù thỉnh thoảng có chạm mặt, cũng chỉ hỏi han vài câu khách sao, chuyện lúc trước xem như chưa hề xảy ra.

Sau khi chúng tôi dọn vào ở trong Lang Như Thư Lầu, hắn chưa từng đến gặp tôi.

Tôi không rõ hắn định làm gì tiếp theo nhưng lúc này, tôi muốn dành trọn tâm trí cho đứa bé trong bụng, chẳng còn thời gian xét đoán tâm tư của hắn.

Nghe tin hắn đã ra đi, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Suốt bốn tháng ở Sakya, hắn bị Bát Tư Ba cho người giám sát kĩ lưỡng cả ngày lẫn đêm.

Có lẽ hắn cũng hiểu rằng, hắn chẳng thể giở trò gì ở Sakya được nữa nên cách tốt nhất là quay về Vân Nam.

Lúc hắn lên đường, rất đông bà con họ hàng đã đến tiễn hắn, dì năm khóc sưng cả mắt, ngất lên ngất xuống.

Bát Tư Ba vốn tính cẩn trọng, đã cho người bám theo hắn mãi đến tận biên giới Tiền Tạng và Hậu Tạng và nhận thấy hắn không có hành động gì khả nghi.

Một tháng sau khi Yeshe rời khỏi Sakya, nỗi nơm nớp lo sợ trong lòng chúng tôi mới được cởi bỏ.

Bước sang tháng thứ năm, nhu cầu ăn uống của tôi tăng lên nhanh chóng, bụng tôi phình ra như người ta thổi bóng bay, không lâu sau đã đến giai đoạn đi lại nặng nề.

Lúc này, tuy không còn cảm giác nghén nữa nhưng linh khí trong cơ thể đã suy giảm rất nhiều.

Những lúc phải đóng giả Kangtsoban để gặp Yamkhin, tôi rất lo sợ.

Tuy gương mặt có thể biến đổi nhưng bụng bầu thì chẳng thể che giấu.

Thế là, sau khi bàn bạc kĩ lưỡng, Bát Tư Ba và Kháp Na cho rằng, thời kỳ nguy hiểm của thai nhi đã qua, Yeshe cũng đã rời khỏi Sakya, chi bằng công bố thông tin Kangtsoban mang thai.

Bát Tư Ba nói với thầy thuốc rằng, đứa trẻ đã được bốn tháng, nhưng vì Kangtsoban không hiểu biết như những phụ nữ bình thường khác nên mãi đến khi lộ bụng bầu, Kháp Na mới phát hiện ra.

Người trên kẻ dưới trong giáo phái ai nấy đều tưng bừng, hớn hở, trừ dì năm.

Bản thân Shakya Zangpo đã tổ chức rất nhiều buổi lễ cầu an.

Tôi viện cớ mang bầu, tính tình cáu bẳn, ngoài Kháp Na ra, không chịu gặp bất cứ ai, kể cả Yamkhin.

Hay tin, Jichoi lập tức chạy đến Sakya, nhưng tôi đóng kịch nổi đóa, nhất định không chịu cho thầy thuốc khám thai và hất đổ mọi loại thuốc bổ.

Phụ nữ mang thai tính khí thay đổi, Kangtsoban lại không bình thường nên Jichoi cũng đành chịu thua.

Nhưng bù lại, bụng bầu của Kangtsoban đã lộ rõ, Kháp Na lại hết mực yêu chiều vợ nên Jichoi cũng vui vẻ trở về Shalu, chờ ngày được bồng cháu ngoại.

Vậy là tôi đã vượt được cửa ải này.

– Thấy gì không?

Kháp Na áp tai vào bụng bầu tròn trịa của tôi, nín thở lắng nghe.

Nhưng nghe mãi chẳng thấy động tĩnh gì.

– Yên ắng lắm, không có động tĩnh gì hết.

Chàng sốt ruột vỗ nhẹ vào bụng tôi:

– Con ngoan, đạp đi nào, để cha biết con vẫn bình an trong bụng mẹ.

Tôi phì cười:

– Chắc em bé ngủ rồi, ngày mại lại nghe ngóng tiếp.

Kháp Na thở dài thất vọng, vòng tay qua bụng tôi, không muốn rời xa:

– Còn sớm mà, đã đến giờ đi ngủ đâu.

Sáu tháng là em bé có thể đạp được rồi kia mà.

Lúc Kháp Na nói câu này, đột nhiên tôi cảm nhận rất rõ ràng bụng mình bị hích một cái, Kháp Na cũng nhận thấy.

Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc, tôi lập tức nắm lấy tay Kháp Na, xúc động:

– Kháp Na, con đạp rồi đó, con đạp em này!

Kháp Na sung sướng nhìn tôi, niềm vui ngập tràn trong ánh mắt:

– Đúng vậy, đúng là con đang cử động.

Chàng hớn hở áp tai vào bụng tôi:

– Con yêu, đạp một cái nữa đi, rồi cha sẽ hát cho con nghe.

Tôi phì cười:

– Làm sao mà bé hiểu được lời chàng.

Kháp Na tươi cười rạng rỡ như địa chủ được mùa:

– Bé là con của chúng ta, là đứa trẻ kỳ diệu nhất trên đời này, sao lại không hiểu?

Và như để ứng nghiệm lời nói của Kháp Na, em bé đạp tôi một cái mạnh hơn lúc trước, cú đạp bất ngờ đó khiến tôi kêu lên vì đau.

Kháp Na khoái chí, vuốt ve bụng bầu của tôi, cất tiếng khe khẽ:

– “Ầu ơ, ầu ơ, nhịp võng ru

Ngủ ngoan con yêu, tay mẹ đưa

Mai sau khôn lớn con hãy nhớ

Tình mẹ ngày đêm vẫn đợi chờ.”

Kháp Na âu yếm nhìn bụng bầu của tôi, vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc, ánh mắt ấm áp, dịu dàng.

Tôi cảm động đến muốn khóc.

Đứa bé này thật may mắn vì có được người cha yêu nó nhường ấy.

Tôi ngắm nhìn chàng, tưởng tượng:

– Nếu là bé trai, chắc chắn sẽ khôi ngô, tuấn tú như chàng vậy.

Không biết ngày sau sẽ khiến bao nhiêu cô gái điên đảo.

Kháp Na kéo tôi dựa vào vai chàng, vòng tay qua eo tôi, ánh mắt lấp lánh:

– Đại ca hy vọng nó là con trai, nhưng kể cả là con gái, ta vẫn yêu thương nó hết lòng.

Nó sẽ giống em, xinh đẹp, dịu dàng, hiền lành, đáng yêu.

Trong lúc vợ chồng tôi vẫn đang mê mải với viễn cảnh tương lai tươi đẹp thì Bát Tư Ba hốt hoảng lao vào Lang Như Thư Lầu.

Kháp Na giật mình đứng lên.

Không chờ Kháp Na lên tiếng, Bát Tư Ba lập tức thông báo:

– Ta phải về Trung đô ngay.

Kháp Na tái mặt, hỏi:

– Đã xảy ra chuyện gì vậy?

Bát Tư Ba ngồi xuống, nhấp một ngụm trà lấy giọng:

– Ta nhận được hai bức thư gửi đến từ Trung Đô.

Một bức do Đại hãn viết, nói rằng đã mấy năm không gặp ta, lòng ngài không nguôi tưởng nhớ.

Ngài dự định trùng tu lại tòa tháp Phật ở phía tây kinh thành bị hủy hoại vào thời nhà Liêu, theo phong cách của người Tạng nên hỏi ta có tìm được thợ giỏi chuyên xây tháp Lạt Ma nào không.

Kháp Na ngồi xuống cạnh anh trai, rót thêm trà cho chàng:

– Chàng trai trẻ Anigo, người Nepol ấy chính là ứng cử viên xuất sắc.

Cậu ấy có thể xây tòa tháp Phật nguy nga như vậy, chắc chắn cũng sẽ khiến Đại hãn hài lòng.

Bát Tư Ba gật đầu:

– Đúng thế.

Ta định giữ cậu ta lại để lo việc xây dựng thành trì tương lai của phái Sakya nhưng nếu Đại hãn cần người như vậy, về Trung Đô lần này, ta sẽ đưa cậu ấy đi theo.

Kháp Na nhìn anh trai, băn khoăn:

– Đại ca, Đại hãn nhớ huynh đúng là chuyện rất quan trọng, nhưng đâu nhất thiết phải lập tức lên đường.

Huynh gấp gáp như vậy, phải chăng còn vì việc khác?

Vẻ mặt Bát Tư Ba bỗng trở nên trầm lặng:

– Drakpa Odzer cho người gửi thư mật về báo với ta rằng, pháp vương Chongni của phái Phaktru Kagyu đã đến Trung Đô, hiện đang trú ngụ trong cung điện của Đại hãn.

Ông ta giỏi ăn nói, nhiều phép thuật nên rất được lòng Đại hãn.

Kháp Na kinh ngạc:

– Ông ta đến đó khi nào?

Vì sao phái Sakya không hề hay biết chuyện này?

– Ông ta âm thầm đến đó, mục đích rất rõ ràng: muốn thừa dịp ta không có mặt ở Trung Đô, giành lấy sự tín nhiệm của Đại hãn, hòng thay thế địa vị của phái Sakya!

Bát Tư Ba vô cùng lo lắng:

– Ta bảo Rinchen ở lại Trung Đô là để gìn giữ và duy trì sự ủng hộ của Đại hãn đối với giáo phái chúng ta.

Có điều, Rinchen tuy uyên thâm Phật pháp nhưng lại không giỏi ứng biến, khó mà đối phó được với Chongni.

Drakpa Odzer rất lo lắng nên mới viết thư mời ta về Trung Đô gấp, lại đúng lúc Đại hãn muốn triệu ta về, ta cũng đã hoàn thành xong hệ thống chữ viết Mông Cổ.

Chuyến đi lần này là hoàn toàn hợp tình hợp lý.

Kháp Na vẫn đầy trăn trở:

– Nhưng ở đây còn biết bao việc chưa xong.

Thành trì của giáo phái còn chưa khai công, hai phái Drikung và Phaktru tuy bề ngoài chịu khuất phục nhưng vẫn ngấm ngầm giở trò phá hoại, chống đối.

Việc thống nhất đất Tạng vẫn bộn bề, dang dở!

– Thế nên ta muốn đệ ở lại.

Lúc ta vắng mặt thì đệ sẽ là trụ cột của giáo phái, mọi việc lớn bé sẽ do đệ quyết định.

Bát Tư Ba nắm chặt tay em trai, xúc động:

– Ta biết đệ không muốn nhưng đệ buộc phải thay ta hoàn thành những phần việc còn dang dở này.

Kháp Na, hãy hứa với ta, giúp ta gánh vác trọng trách này!

Kháp Na vẫn rất bối rối:

– Đại ca…

– Ta hứa với đệ, sau khi đến Trung Đô và hoàn tất mọi việc, ta sẽ lập tức quay về Sakya, giải thoát đệ khỏi trách nhiệm nặng nề này.

Rồi chàng quay sang ngắm nghía bụng bầu của tôi, ánh mắt tràn đầy hy vọng:

– Đến lúc đó, có lẽ cháu trai của ta đã biết gọi “bác ơi” rồi!

Kháp Na khảng khái đáp:

– Huynh cứ yên tâm về Trung Đô, đệ nhất định sẽ làm tròn trách nhiệm.

Bát Tư Ba quyết định ngày 25 tháng 6 sẽ khởi hành về Trung Đô.

Trước ngày lên đường, Kháp Na bận rộn không ngơi chân ngơi tay, vì phải chuẩn bị hành trang cho anh trai và tiếp quản mọi công việc của Lâu Cát nên thời gian chàng dành cho tôi rất ít.

Tôi không thể ra khỏi Lang Như Thư Lầu nên đành đi dạo một mình trong sân vườn, vừa đi vừa trò chuyện với em bé trong bụng để giết thời gian.

Một ngày trước khi đi Bát Tư Ba lên đường, lòng tôi phấp phỏng lo âu.

Tôi rất muốn đến gặp để chào tạm biệt chàng.

Từ Sakya đến Trung Đô, cả đi cả về cũng phải mất hai năm, Bát Tư Ba còn phải ở lại đó một thời gian nữa, điều đó có nghĩa, phải chừng ba năm sau, tôi mới gặp lại chàng.

Ba năm tới đây, vì phải nuôi con nhỏ, tôi sẽ không thể làm người đưa tin cho hai anh em họ như trước kia được nữa.

Cứ nghĩ đến đây, lòng tôi thắt lại, trái tim hoang mang, trống trải.

Ở bên anh em họ hơn hai mươi năm, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng sẽ có lúc mình phải xa Bát Tư Ba lâu đến vậy.

Kháp Na không có nhà, mình tôi thơ thẩn ngoài vườn.

Vì muốn tâm trạng của tôi được thoải mái, Kháp Na đã nhờ Kunga Zangpo tìm kiếm loài hoa đẹp nhất ở mãi vùng Tiền Tạng, đem về trồng trong vườn.

Lúc này đang là mùa hạ, mùa dễ chịu nhất ở Sakya, hoa nở khắp vườn, cây xanh lá biếc, hương thơm ngào ngạt nhưng vẫn không sao khiến tâm trí tôi thư thái được.

Tôi nhớ Bát Tư Ba, tôi muốn gặp chàng!

Nỗi niềm thầm lặng mà da diết ấy cứ cuồn cuộn trào dâng trong tôi, không sao nguôi ngoai.

Đang định niệm chú hóa thành Kangtsoban để đi gặp Lâu Cát, vừa quay đầu lại, tôi đã bắt gặp bóng chiếc áo tăng ni màu đỏ sẫm ngoài cổng, vẫn là bóng dáng cao gầy, cô độc ấy, vẫn đôi mắt trong suốt, long lanh ấy đang nhìn tôi chăm chú, đôi đồng tử u buồn như sương mai trên dãy núi phía xa.

Tôi mãi mãi không bao giờ hiểu hết những điều thầm kín ẩn chứa trong đôi mắt ấy, nhưng lúc nào đôi mắt ấy cũng khiến tôi nhớ nhung tha thiết.

– Lâu Cát…

Nước mắt trào ra, tôi vội vàng quay đi, lau nước mắt rồi ôm bụng ra đón chàng.

– Sao chàng lại đến đây?

Kháp Na đâu rồi?

– Kháp Na đang bàn giao chìa khóa nhà kho cho bản khâm nên chỉ có mình ta đến.

Chàng tựa người vào cánh cổng, bối rối cúi nhìn ngón chân mình, khẽ nói:

– Ta… ta muốn gặp riêng em để chào từ biệt.

Tim tôi đập mạnh, sống mũi cay cay.

Kể từ ngày làm vợ Kháp Na, tôi dành trọn tâm tư cho cho chàng, chưa khi nào gặp riêng Lâu Cát thế này.

Tuy trái tim vẫn đập rộn ràng mỗi lúc nhìn thấy bóng chiếc áo tăng ni màu đỏ sẫm ấy như một thói quen khó bỏ nhưng tôi biết, chúng tôi đã không còn duyên nợ gì, chỉ có thể thương nhau, nhớ nhau như những người bạn, người thân mà thôi.

Tôi sụt sịt, xúc động:

– Trên đường đi chàng phải giữ gìn sức khỏe, chịu khó ăn uống, ngủ nghỉ thật đầy đủ.

Đừng lo lắng chuyện ở nhà, Kháp Na sẽ xử lý tốt mọi việc.

Chàng vẫn cúi đầu như thế, chỉ ậm ừ đáp lại mỗi lời dặn dò của tôi.

Thực ra, tôi biết chàng sẽ không nghe tôi đâu.

Tôi ngước lên nhìn gương mặt gầy guộc, tiều tụy của chàng, không nén nổi tiếng thở dài:

– Lâu Cát, chỉ cần hứa với em một điều thôi: đừng để gầy thêm nữa.

Cuối cùng thì chàng cũng chịu ngẩng lên, ánh mắt lấp lánh như muốn chiếu rọi đến tận cùng u tối.

Rất lâu sau, chàng mới quay đi, cất giọng thì thào:

– Được, ta hứa với em!

Kể từ lúc đó, hai chúng tôi hầu như không nói với nhau câu gì, nhưng cả hai đều không muốn thốt lên lời giã biệt, cứ lặng lẽ như thế.

Mặt trời ngả về tây, cái nóng oi bức của mùa hạ được gió chiều làm cho dịu lại.

Vạt áo tăng ni của chàng bay bay theo gió, dưới ánh hoàng hôn ngày muộn, bóng dáng ấy như còng xuống rất nhiều bởi trên vai chất đầy trọng trách.

Gương mặt cương nghị, thâm trầm thoáng nét hiền hòa và nụ cười hồn hậu.

Chàng khẽ bảo:

– Lam Kha, ta đi đây!

Tôi nắm chặt bàn tay, móng tay cắm vào da thịt, truyền đến cảm giác nhói đau.

Chàng lùi lại, đặt tay lên thành cửa, ánh mắt không rời khỏi tôi, bàn chân dùng dằng không dứt.

– Chia tay lần này, không biết khi nào mới có thể gặp lại.

Điều khiến ta nuối tiếc nhất là không được tận mắt chứng kiến ngày đứa bé chào đời.

Tôi cuống quýt dõi theo bản thân chuẩn bị bước qua bậc cửa của chàng, vội vã gọi:

– Trước lúc ra đi, chàng có muốn chào em bé không?

Đôi mắt chàng mở to kinh ngạc, nụ cười rạng rỡ trên môi, niềm hân hoan chẳng thể che giấu.

Chàng rảo bước lại gần tôi, ánh mắt đổ dồn vào cái bụng bầu của tôi, cánh tay chầm chậm chìa ra, xúc động, run rẩy.

Nhưng ngay khi sắp chạm tới, ánh mắt chàng đột nhiên thoáng vẻ kinh hãi, hoảng sợ, rồi chàng lập tức rụt tay về, hơi thở hổn hển.

Chàng lùi lại, lấy lại vẻ mặt điềm tĩnh như thường lệ:

– Ta là tăng nhân đã thọ giới Cụ túc, không thể có cử chỉ khiếm nhã đó được.

Tôi ngỡ ngàng, lắc đầu cười buồn:

– Em không có ý gì cả.

Em chỉ nghĩ chàng và Kháp Na đều rất mực yêu thương đứa bé này nên hẳn rất muốn biết liệu nó có được an toàn, khỏe mạnh hay không thôi.

Ánh hoàng hôn trải một đường viền vàng son trên lớp lớp tầng mây xa tít tắp, ánh sáng nơi đường chân trời dần tắt lịm.

Đôi mắt chàng rực sáng nhức nhối.

Chàng chầm chậm cúi gập người trước tôi:

– Lam Kha, hãy vì Kháp Na, vì Sakya và… và ta mà sinh hạ đứa trẻ này thật khỏe mạnh, an toàn nhé!

Nước mắt tôi trào ra, đây là lần thứ hai chàng trịnh trọng cúi người trước tôi thế này.

Lần đầu vì Kháp Na, lần thứ hai là vì đứa trẻ.

Rồi chàng hít một hơi thật sâu, thốt lên hai tiếng sau cùng:

– Bảo trọng!

Nói rồi, chàng quay đầu, rảo bước.

Bóng dáng ấy đột ngột khuất sau cánh cổng, chiếc áo tăng ni màu đỏ sẫm nhuộm trong nắng vàng, nửa vai bên này hiển hiện rõ nước da bánh mật khỏe khoắn.

Tôi thì thầm:

– Lâu Cát, hãy bảo trọng!

Tôi thẫn thờ ngước nhìn lên, nền trời đã ngả từ màu xanh lam sang gam màu tối sẫm.

Gió nhẹ dìu dặt thổi tới, mang theo hương hoa nồng nàn, đủ khiến người ta nghiêng ngả.

Tôi giật thót mình khi nhận ra có ai đó xuất hiện, lập tức quay đầu lại.

Kháp Na đang đứng ngoài cổng, chăm chú nhìn tôi.

Tôi thở phào:

– Kháp Na, chàng về từ khi nào vậy?

Thính giác của tôi đã mất đi sự nhạy bén nên ngay tiếng bước chân của chàng cũng không nhận ra.

Chàng trầm ngâm một lúc mới trả lời:

– Ta vừa về tới.

Chàng chậm rãi bước lại gần tôi, nhìn thấy đám hoa vàng đang nở rộ nơi góc tường, chàng liền đưa tay ngắt một bông, cài lên tóc tôi:

– Loài hoa này tuy không đẹp nhưng mùi hương của nó rất nồng nàn.

Kunga Zangpo bảo rằng, hoa này gọi là Tuyết Sơn Nhất Chi Khao[1], chỉ mọc ở vùng Nyingchi thuộc đất Tạng.

Để đưa giống hoa này về trồng ở Sakya, Kunga Zangpo đã bỏ ra rất nhiều công sức.

[1] Một loại hoa có màu vàng, thuộc họ cúc. (DG)

Tôi ngắm nhìn những bông hoa màu vàng tươi, rung rinh trong gió, khẽ lắc đầu:

– Em cảm thấy hương hoa này quá nồng, ảnh hưởng rất nhiều đến khứu giác của em.

Tuy chàng vì em mới tốn công tốn sức như vậy nhưng em thấy lo, nhỡ xảy ra chuyện gì, mùi hương của loài hoa này sẽ trở thành chướng ngại vật.

– Khứu giác của em mất đi sự nhạy bén vì mang bầu, đừng đổ lỗi cho hoa chứ!

Ta thấy đất đai ở Sakya quá ư khô cằn, được ngày ngày ngắm nhìn hoa cỏ rực rỡ thế này thật là sảng khoái.

Chàng tươi cười ôm vai tôi, dắt tôi vào phòng.

– Đừng nghĩ ngợi nhiều, sau khi sinh con, khứu giác và thính giác của em tự khắc sẽ khôi phục như xưa.

Tuy nói vậy nhưng không hiểu sao mí mắt tôi cứ giật liên tục.

Có điều gì đó khiến tôi bồn chồn không yên.

Và nỗi âu lo đeo đẳng ấy chỉ năm ngày sau đã ứng nghiệm, như sét đánh, gây nên nỗi đau đớn không bao giờ nguôi ngoai trong cuộc đời tôi.

Ngày Bát Tư Ba lên đường, tôi không ra khỏi Lang Như Thư Lầu, chỉ có Kháp Na đi tiễn.

Kháp Na cưỡi ngựa theo đoàn người rất lâu, mãi đến đoạn núi non điệp trùng, núi tuyết đan cài thảo nguyên mênh mông, hai anh em họ mới bịn rịn hết lần này đến lần khác.

Không giống những lần chia ly trước đây, vì lần này trên vai mỗi người đều mang những trọng trách lớn lao, mà họ lại khó lòng trao đổi tin tức với nhau giữa nghìn trùng xa cách.

Bát Tư Ba phải thúc giục mãi, Kháp Na mới chịu thúc ngựa quay về Sakya.

Bát Tư Ba đứng trên đồi cao, dõi theo bóng em trai cứ xa dần, xa dần rồi khuất hẳn.

Còn tôi, một mình ngồi trong Lang Như Thư Lầu, mí mắt cứ giật liên tục, lòng bồn chồn, lo lắng.

Hương hoa ngào ngạt ào đến, tôi ngước nhìn những tầng mây xám ùn ùn kéo tới, che khuất vầng thái dương, kéo theo đó là tiếng sấm sét rền vang đất trời.

Bầu không khí trở nên ngột ngạt vô cùng, mây đen bao phủ khắp vùng Sakya.

Hai anh em họ không hề biết rằng, cuộc “sinh ly” này đã trở thành “tử biệt”.

* * * * *

– Tôi có một thắc mắc.

Với sự nâng đỡ, ủng hộ của triều đình nhà Nguyên, phái Sakya đã xây dựng chính quyền của giáo phái mình trên đất Tạng, nhưng dường như quyền hành của họ hết sức hạn chế.

Này nhé, phái Drikung và Phaktru có thể ngang nhiên chống đối Sakya, các giáo phái và vạn hộ hầu khác đều là những thế lực rất mạnh trong khu vực họ cai quản, thế nên đôi lúc Bát Tư Ba không thể không xuống nước với họ.

Vậy thì, phải chăng chính quyền Sakya chỉ có quyền lực trên danh nghĩa?

– Những điều cậu vừa nói không phải không có lý nhưng không thể căn cứ vào đó để kết luận chính quyền Sakya chỉ là một chính quyền trên danh nghĩa.

Tôi ngẫm ngợi một lát, nói tiếp:

– Đúng là những giáo phái và vạn hộ hầu này có quyền tự quyết độc lập trong phạm vi cai quản của mình, thậm chí một số giáo phái còn cử người trực tiếp đến chính quyền trung ương để bái kiến Nhà vua, nâng cao thanh thế của giáo phái mình.

Đó là vì Tây Tạng đã bị chia năm xẻ bảy suốt thời gian dài nên Bát Tư Ba không thể lập tức tước bỏ quyền lợi của họ.

Chàng mới chỉ tước đi một phần nhỏ quyền lợi của họ mà đã gây nên cuộc phân tranh kéo dài mấy chục năm đấy thôi.

– Cũng phải, có kẻ nào bằng lòng san sẻ miếng ngon của mình đâu chứ!

– Bởi vậy, chính quyền Sakya mà Bát Tư Ba xây dựng nên là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh lịch sử thực tế của Tây Tạng khi đó.

Về sau, phái Phaktru thời nhà Minh, phái Gelug thời nhà Thanh đã tiếp tục duy trì mô hình cai trị này của chính quyền Sakya, tức là vẫn duy trì một phần quyền tự quyết và đất đai sở thuộc các giáo phái khác.

Tôi chuyển đề tài, đưa mắt sắc lẻm về phía chàng trai trẻ:

– Không nên thấy các giáo phái khác vẫn có được đất đai tự quản mà đánh giá rằng chính quyền Sakya chỉ là chính quyền trên danh nghĩa.

Điều quan trọng nhất là, triều đình nhà Nguyên đã trao quyền quản lý các giáo phái và mười ba vạn hộ hầu vào tay phái Sakya, chứ không phải bất cứ giáo phái nào khác.

Tuy một số giáo phái đã được sắc phong nhưng những tước vị đó chẳng thể so sánh với quyền lực của phái Sakya cả về phạm vi và mức độ.

Những giáo phái này buộc lòng phải tuân thủ mệnh lệnh của cả triều Nguyên và chính quyền Sakya.

Tuy không hài lòng, nhưng họ cũng chỉ có thể âm thầm phản đối, không kẻ nào dám công khai chống đối.

Bởi vì, hành động đó sẽ bị coi là chống lại người Mông Cổ, có thể sẽ phải chuốc lấy sự trừng phạt thảm khốc.

Hết chương 47.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 48: Sự biến ở Sakya


“Bậc hiền nhân và người thường tuy hành động giống nhau,

Nhưng kết quả đạt được hoàn toàn khác nhau;

Hạt gieo dưới đất tuy giống nhau,

Nhưng cho kết quả thu hoạch khác nhau.”

(Cách ngôn Sakya)

Tôi không bao giờ quên được ngày mồng 2 tháng 7 năm 1267 ấy bởi đó là nỗi ám ảnh đeo đẳng suốt cuộc đời tôi.

Mỗi năm, vào ngày này, thế giới trong mắt tôi chỉ là một màu u ám, ảm đạm.

Bảy trăm năm sau hồi tưởng lại, tim tôi vẫn quặn đau từng cơn.

Đó là một chiều mùa hạ bình dị của ngày thứ năm sau khi Bát Tư Ba lên đường.

Sáng sớm, Kháp Na đã có mặt ở phòng làm việc của Bát Tư Ba để xử lý việc chính sự.

Buổi trưa, như thường lệ, chàng quay về Lang Như Thư Lầu, dùng bữa với tôi.

Ăn trưa xong, Kháp Na định trở lại làm việc nhưng thấy chàng có vẻ mệt mỏi, tôi khuyên chàng ngủ một lát rồi hãy đi.

Không ngờ Kháp Na thiếp đi rất lâu, sắc mặt càng lúc càng nhợt nhạt, trán vã mồ hôi.

Chàng ôm bụng, kêu đau.

Tôi hốt hoảng, vội ghé sát người chàng hít ngửi.

Độ nhạy cảm của khứu giác suy giảm, thêm vào đó mùi hương hoa ngào ngạt từ ngoài vườn đưa vào khiến tôi không sao phát hiện ra điều gì khả nghi nên đoán rằng chàng bị đau bụng đi ngoài.

Tôi định ra ngoài tìm người giúp đỡ nhưng Kháp Na đã giữ tay tôi lại, gương mặt tái dại, gắng gượng nở nụ cười:

– Đừng làm vậy, ta không sao.

Uống chén trà, nghỉ ngơi một lát là khỏi thôi.

Tôi vội vàng đi rót trà cho chàng, lúc quay lại bên giường thì thấy chàng ôm bụng, mặt mày nhăn nhó, khổ sở.

Chàng gắng gượng nhấp một ngụm trà nhưng chưa kịp nuốt trôi đã nôn tháo ra giường.

Trời ơi, toàn là máu!

Tôi ghé sát mũi ngửi thử rồi sợ hãi, hồn bay phách lạc:

– Có độc!

Tôi cuống cuồng hóa phép thành Kangtsoban, lao ra ngoài kêu to:

– Người đâu, mau đến đây!

Vì Kháp Na hạ lệnh nghiêm cấm người hầu đến gần Lang Như Thư Lầu nên phải mất một lúc bọn họ mới ào đến.

Tôi lập tức ra lệnh:

– Mau lên, mau mời thầy thuốc đến đây!

Vương gia bị trúng độc rồi!

Đám đầy tớ tròn mắt kinh ngạc, vội vã chạy đi.

Tôi giữ tay một người lại, hỏi:

– Kunga Zangpo đâu?

Người đó đáp:

– Khi nãy ông ấy nói là hơi mệt nên đã về phòng nghỉ ngơi.

Tôi sững sờ.

Kunga Zangpo xưa nay luôn đảm nhiệm việc thử đồ ăn của Kháp Na.

Loại độc này không phát tác ngay tức khắc nên có lẽ Kunga Zangpo chưa phát hiện ra.

Chắc là cậu ta cũng đã trúng độc.

Tôi nghiêm giọng dặn dò:

– Lập tức khiêng Kunga Zangpo đến phòng Vương gia để cùng cứu chữa, sau đó đi mời bản khâm đến đây!

Người hầu nhìn tôi bằng ánh mắt lạ lùng.

Tôi lập tức hiểu ra, hẳn cậu ta đang vô cùng băn khoăn vì sao Kangtsoban lại tỉnh táo, linh hoạt như vậy.

Nhưng giữa lúc nước sôi lửa bỏng thế này, tôi không còn thời gian để bận tâm đến những chuyện đó nữa.

Tôi gắt lên:

– Mau đi đi chứ!

Lúc này cậu ta mới tỉnh ra, vội vã chạy đi.

Lúc tôi quay vào phòng, dưới chân giường, những vệt máu đen đã loang rộng.

Kháp Na gục xuống mép giường, mái tóc xõa xuống nền đất.

Tôi thất kinh, gọi tên chàng, chạy đến bên chàng, đỡ chàng nằm xuống.

Gương mặt chàng tái xám, đôi môi trắng bệch, hai mắt nhắm chặt, chàng đang ra sức chống chịu với cơn đau.

Tôi vội vàng cúi xuống, áp môi lên bờ môi lạnh như băng của chàng, truyền linh khí cho chàng.

Nhưng vừa lấy lại được chút sức lực, chàng đã đẩy tôi ra xa bằng cả hai tay, vừa thở dốc vừa lắc đầu:

– Tiểu Lam, ta không sao, đừng lãng phí linh khí.

Tôi biết chàng không muốn mất sức trong thời gian mang thai nên chỉ biết gào khóc.

– Kháp Na, thầy thuốc sắp đến rồi, chàng hãy cố gắng chịu đựng!

Một lúc sau, bản khâm Shakya Zangpo cùng cả đoàn người lao vào phòng.

Thầy thuốc lập tức chạy đến, quỳ xuống bên giường, rút kim bạc trong hộp đồ nghề, kiểm tra đám máu trên nền đất.

Cây kim lập tức chuyển sang màu đen, thầy thuốc mặt mày biến sắc:

– Có độc!

Ông ta quay lại hỏi:

– Hôm nay Vương gia đã ăn những gì?

Phải tìm cho bằng được đồ ăn của Vương gia để kiểm tra xem đó là loại độc gì, như thế mới có thể bốc thuốc được.

Shakya Zangpo ra lệnh:

– Lập tức đem đồ ăn thừa lúc trưa của Vương gia đến đây.

Nếu đã đổ vào thùng chứa thì bê cả thùng đến đây!

Người hầu vâng lệnh, lui ra.

Lúc này, Kunga Zangpo mới được khiêng tới.

Sắc mặt cậu ta rất tệ, cậu ta một tay ôm bụng, tay kia vịn vào thành ghế, lê xuống, quỳ trước mặt Kháp Na, kêu khóc:

– Đồ ăn của cậu chủ đều do tôi dùng kim bạc thử trước, nếu không có vấn đề gì mới dâng lên cậu chủ.

Bao năm qua tôi chưa bao giờ để xảy ra sai sót, vì sao hôm nay…

Shakya Zangpo bình tĩnh hỏi:

– Cậu đừng trách mình, hãy cho chúng tôi biết trưa nay, cậu chủ đã ăn những gì?

Kunga Zangpo vội vàng thưa:

– Bữa trưa hôm nay có món thịt dê hầm kĩ với trứng gà và sữa bò.

Cậu chủ sống ở Trung Nguyên nhiều năm, thích ăn rau nên tôi đã dặn nhà bếp làm thêm một đĩa đỗ xào.

Lúc cắm kim bạc kiểm tra, không thấy những đồ ăn này có gì bất thường, tôi nếm thử cũng không sao cả.

Sau đó, tôi đứng ngoài cửa, chờ lệnh cậu chủ, nửa tiếng sau bắt đầu thấy bụng mình cồn cào.

Tôi cứ nghĩ mình buồn đi ngoài nên gọi người khác thay mình đứng hầu bên ngoài rồi về phòng.

Không ngờ, càng lúc tôi càng đau dữ dội, tôi đang định đi mời thầy thuốc thì cậu chủ xảy ra chuyện.

Kunga Zangpo vừa kể vừa khóc, ân hận đập thùm thụp vào ngực mình.

Đám người hầu từ nhà bếp quay lại, hai đầu bếp cao to lực lưỡng khiêng cả thùng nước gạo vào phòng, mùi chua bốc lên nồng nặc.

Thầy thuốc bất chấp thứ mùi khó ngửi đang xộc lên mũi, đút một chiếc vỉa vào thùng, vớt váng đồ ăn, hễ thấy miếng thịt nào là cắm kim bạc kiểm tra, nhưng đều không có gì khả nghi.

Kunga Zangpo ôm bụng, trán lấm tấm mồ hôi nhưng cậu ta vẫn kiên trì đứng lên quan sát, rồi đột nhiên cậu ta chỉ tay vào miếng rau xanh bám trên chiếc vỉa, hét to:

– Đây chính là loại đỗ được cắt nhỏ mà trưa nay Vương gia đã ăn.

Thầy thuốc cắm kim bạc vào miếng đỗ, một lúc sau rút ra, cũng không thấy có gì khác thường.

Mọi người đều ngơ ngác, đã thử hết mọi đồ ăn mà không phát hiện ra có độc.

Thầy thuốc cau mày:

– Lẽ nào Vương gia trúng độc không phải do đồ ăn?

Sáng nay, Vương gia có ăn thứ gì khác không?

Kunga Zangpo nhớ lại:

– Buổi sáng, cậu chủ bận rộn với công việc chính sự, chỉ uống vài ngụm trà…

Tôi ngắt lời Kunga Zangpo:

– Làm phiền thầy thuốc kiểm tra lại món đỗ xào này.

Trưa nay, lúc ăn cơm, ta đã động đũa đến tất cả các món, trừ món đỗ xào.

Đến bây giờ ta vẫn không hề hấn gì, vậy chắc hẳn món đỗ xào này có vấn đề.

Tất cả đều hướng ánh nhìn về phía tôi, nhưng tôi mặc kệ, lúc này tôi chỉ lo cho sự an nguy của Kháp Na.

Thầy thuốc cầm miếng đỗ xào lên quan sát tỉ mỉ, rồi tiếp tục đút cái vỉa vào thùng vớt thêm vài miếng khác, đặt xuống đất, ghép thành hình nửa quả đỗ.

Rồi sắc mặt ông ta đột nhiên tái xám, giọng nói run run:

– Nếu tôi đoán không sai thì loại đỗ này được trồng ở vùng Nyingchi.

Đầu bếp gật đầu xác nhận:

– Đúng là loại đỗ Nyingchi.

Sakya trồng được rất ít loại rau xanh nhưng Vương gia lại rất thích ăn rau nên chúng tôi phải mua từ Nyingchi, La-ta về đây với giá rất đắt.

Shakya Zangpo thắc mắc:

– Ta nghe nói, loại đỗ này nếu ăn sống thì có độc, nhưng đã nấu chín thì không sao.

Các đầu bếp không thể không biết kiến thức cơ bản này nên món đỗ đã được xào rất kĩ, không lẽ vẫn còn độc?

Thầy thuốc cúi đầu thưa:

– Bản khâm nói không sai.

Nhưng tôi còn nhớ đỗ Nyingchi không giống các loại đỗ khác.

Ở Nyingchi có một loài hoa, mùi hương rất nồng, bình thường thì hương hoa này không hề có độc.

Nhưng nếu trồng hoa và đỗ ở cùng chỗ, khi mùa hạ đến, loài ong mật đưa phấn của loài hoa kia đến đài hoa của cây đỗ thì quả đỗ mọc ra từ sự kết hợp đó sẽ rất độc.

Shakya Zangpo sa sầm mặt mày:

– Không lẽ đỗ Nyingchi nấu chín vẫn còn độc?

Nhưng sao dùng kim bạc không phát hiện ra?

Thầy thuốc giải thích:

– Đỗ Nyingchi nấu nhừ đúng là sẽ hết độc, nhưng nếu mùi hương của loài hoa kỳ dị kia lẫn vào, nó sẽ kích thích độc tố trong đỗ Nyingchi.

Nếu ăn quá nhiều, sẽ không thể giải độc.

Tôi tái người, lảo đảo, suýt ngã.

Cô hầu gái đỡ lấy tôi, tôi gạt tay cô ta ra, lao ra ngoài sân, ngắt một bông hoa vàng, mang vào phòng.

Tôi chìa bông hoa ra cho thầy thuốc xem, toàn thân run lên bần bật:

– Có phải là loại hoa này?

Thầy thuốc nhặt lấy bông hoa, ngắm kĩ, đưa lên mũi kiểm tra, sắc mặt tái đi:

– Đúng là nó!

Hoa này gọi là Tuyết Sơn Nhất Chi Khao.

Tuy không bắt mắt nhưng hương thơm nồng đượm, chỉ có thể sinh trưởng trong điều kiện độ ẩm cao như Nyingchi.

Hoa này không thể trồng được ở vùng khô hạn như Sakya.

Sao nó lại xuất hiện ở đây?

Kunga Zangpo chết điếng, miệng lắp ba lắp bắp:

– Thời gian trước, cậu chủ nói rằng muốn trồng hoa ở Lang Như Thư Lầu để Vương phi vui lòng.

Trên đường đi tìm, tôi gặp một người bán hoa trên một góc phố ở La-ta.

Hắn nói loài hoa này rất thơm, các cô gái đều yêu thích hoa này nên tôi đã mua về…

Mọi thứ tối sầm trước mắt tôi, toàn thân tôi mềm nhũn như không còn chút sức lực. cô hầu gái vội đỡ lấy tôi.

Đầu óc tôi quay cuồng, tôi gào lên thảm thiết:

– Âm mưu, chắc chắn là một âm mưu!

Ở đất Tạng, vùng Nyingchi nằm ở vĩ độ thấp, độ cao so với mực nước biển cũng tương đối thấp nên thời tiết rất nóng nực, oi nồng.

Khi ấy, cả đỗ Nyingchi và Tuyết Sơn Nhất Chi Khao đều đã ra hoa.

Sau hơn nửa tháng, đỗ Nyingchi chứa phấn hoa Tuyết Sơn Nhất Chi Khao được đưa tới Sakya.

Sakya là vùng cao hơn Nyingchi nên đến lúc này, Tuyết Sơn Nhất Chi Khao được đưa về trồng ở Sakya mới bắt đầu vào mùa ra hoa, hương thơm ngào ngạt.

Tuy đỗ Nyingchi đã nấu nhừ nhưng khi đưa tới Lang Như Thư Lầu, phải đi ngang qua vườn hoa, gió sẽ thổi phấn hoa lẫn vào đồ ăn.

Vì lượng phấn hoa này rất ít, Kunga Zangpo chỉ ăn một miếng nhỏ nên không nghiêm trọng.

Nhưng Kháp Na đã ăn gần hết đĩa đỗ xào!

Còn tôi, tôi quen ăn thịt, nhưng bữa trưa này không có thịt nên tôi chỉ gặm chút bánh nướng, không hề động đến món đỗ xào đó.

Xác suất một phần vạn thế này, không thể nào là sự trùng hợp ngẫu nhiên!

Tôi túm lấy áo Shakya Zangpo, nghiến răng:

– Dì năm, trói dì năm lại, giải đến đây!

Shakya Zangpo rất bất ngờ trước thái độ lạ thường của Kangtsoban, lúc sau mới gật đầu:

– Vâng, tôi sẽ đích thân đi bắt bà ta!

Shakya Zangpo dẫn theo đám người hầu đi khỏi, tôi quay lại hỏi thầy thuốc:

– Xin ông hãy nghĩ kĩ xem, có cách nào giải độc được không?

Bất luận đó là loại thuốc hiếm có, quý giá nhường nào, bất luận nó có ở đất Tạng hay không, chỉ cần ông biết, hãy nói với ta, ta sẽ tìm cho bằng được!

Thầy thuốc lắc đầu, vẻ khó xử:

– Dạ thưa… loại độc này rất hiếm gặp, sách y học chưa từng ghi chép về cách giải loại độc này.

Tôi ra lệnh:

– Mau đi tìm!

Nếu ông không biết thì đi hỏi những người khác, phải tìm cho bằng được trong thời gian nhanh nhất.

Dù không tìm được phương pháp giải độc triệt để, cũng phải tìm cho ra cách thức kiềm chế sự phát tác của độc tố, bằng mọi giá phải giữ lấy tính mạng của Vương gia!

Thầy thuốc vâng vâng dạ dạ rồi rời đi.

Tôi đến bên giường, nắm chặt tay Kháp Na:

– Kháp Na, gắng lên!

Có em ở đây, em nhất định sẽ cứu chàng!

Kháp Na gắng gượng mở mắt, mệt nhọc gật đầu với tôi.

Shakya Zangpo giải dì năm vào phòng.

Mọi người đều ngạc nhiên trước thái độ điềm nhiên của bà ta.

Không cần bắt trói, bà ta đủng đỉnh bước vào.

Nhìn thấy Kháp Na nằm trên giường bệnh, bà ta cười vang:

– Thọ gớm nhỉ?

Hơn hai mươi năm trước bị ta đẩy xuống cầu thang, mẹ ngươi đã che chắn cho ngươi.

Lần này, ăn phải loại kịch độc ấy mà vẫn chưa chết cơ đấy!

Tôi lao đến, giáng cho mụ ta một cái tát thật lực.

– Quả nhiên là do mụ!

Kẻ đứng sau chỉ đạo là Yeshe phải không?

Hắn đâu rồi?

Môi tứa máu nhưng mụ vẫn nhìn tôi trừng trừng:

– Ngươi hết ngớ ngẩn rồi à?

Chính ta đã hạ độc, không liên quan đến con trai ta.

Kháp Na chết đi, con trai ta là con út, sẽ có quyền thừa kế gia nghiệp, ha ha!

– Bà cho rằng Kháp Na chết đi thì Yeshe có thể thừa kế gia nghiệp sao?

Tôi nhổ vào mặt mụ ta.

– Bà đừng nằm mơ!

Bát Tư Ba chắc chắn sẽ trả thù cho Kháp Na.

Mẹ con bà không thoát khỏi sự trừng phạt đâu!

– Bát Tư Ba ư?

Mụ ta cười như điên như dại, răng môi nhuốm máu tươi, gương mặt như ác quỷ.

– Để xem hắn có sống sót qua hôm nay không đã!

– Đại ca…

đại ca làm sao?

Kháp Na gượng dậy, giọng chàng run lên.

Tôi vội chạy đến đỡ chàng, để chàng tựa vào vai mình.

Bà ta trợn mắt nhìn Kháp Na, vẻ mặt nham hiểm, quỷ quyệt:

– Ta đã mất công ra tay, đâu thể chỉ lấy mạng của mình ngươi.

Bát Tư Ba mới là mối họa lớn nhất trong lòng ta.

Hắn không chết thì dù ngươi có mất mạng, con trai ta cũng không thể lấy lại mọi thứ ở Sakya này!

Shakya Zangpo xông lên, tra hỏi mụ ta:

– Đoàn tùy tùng của pháp vương có đến hơn ba trăm người, họ đều là những chiến binh trung thành nhất, không bao giờ phản bội pháp vương.

Đàn bà như mụ sao có thể hãm hại được ngài?

– Ta không làm gì được hắn nhưng trên đời này, ngoài ta ra, còn rất nhiều người khác căm hận hắn!

Ánh mắt mụ ta chất chứa nỗi căm tức, mụ nghiến răng kèn kẹt.

– Thôi được, để ta cho ngươi được chết một cách tỏ tường!

Năm trăm võ tăng của phái Drikung đã mai phục trên núi Kiewu, muốn đến La-ta buộc phải đi qua đường đó.

Ba trăm tùy tùng của Bát Tư Ba khi đi ngang qua khe núi hẹp, làm sao có thể chống cự nổi năm trăm võ tăng của Drikung?

Chác chắn hắn sẽ bỏ mạng nơi vách núi.

Ha ha!

Shakya Zangpo sợ hãi:

– Núi Kiewu ư?

Pháp vương đã đi được năm ngày, tính thời gian thì hôm nay chính là ngày vượt qua ngọn núi ấy.

Rồi ông ấy lập tức ra lệnh:

– Lập tức cưỡi con ngựa phi nhanh nhất, đi báo với pháp vương.

Mụ đàn bà tàn ác cười hả hê:

– Dù có là xích thố cũng không thể đến đó trong vòng nửa ngày.

Các ngươi chờ nhặt xác của Bát Tư Ba đi!

– Mụ đàn bà độc ác, ta sẽ giết ngươi!

Kunga Zangpo chẳng màng bản thân đang bị trúng độc, lao đến, túm lấy mụ ta, đập cho tơi tả.

Shakya Zangpo vội chạy đến kéo Kunga Zangpo ra, tiếp tục tra hỏi:

– Phái Drikung đã hối lộ thứ gì cho mụ mà mụ cam lòng câu kết với người ngoài, hãm hại phái Sakya?

Mụ ta ngẩng lên, gương mặt nhoe nhoét máu, nhưng vẫn bật cười ha hả:

– Nếu con trai ta trở thành pháp vương Sakya, được kế thừa toàn bộ cơ nghiệp nhà họ Khon thì ta sẽ thả tự do cho người thừa kế của Drikung.

Đó chính là điều kiện ta đặt ra cho phái Drikung.

Shakya Zangpo lập tức ban lệnh:

– Hãy canh chừng mụ ta cho cẩn thận, ngày sau sẽ định tội.

Mụ ta phải chịu hình phạt phanh thây!

Nhanh như chớp, mụ ta móc ra từ trong túi áo một hạt gì đó, bỏ vào miệng rồi gào lên:

– Khi quyết định làm chuyện này, ta đã xác định sẽ mất mạng.

Khỏi cần các ngươi nhọc công, ta tự biết cách chết!

Shakya Zangpo vội lao đến bóp miệng mụ, nhưng không kịp nữa, máu đen đã trào ra mép, mụ hướng mặt lên trời, hét lên:

– Con ơi, mẹ không được chứng kiến ngày con lên ngôi pháp vương rồi!…

Vừa dứt lời, mụ liền lăn đùng ra đất.

Máu đen lênh láng khắp vùng mặt của mụ.

Shakya Zangpo đành sai người khiêng xác mụ đi.

Chúng tôi đang bối rối không biết phải làm sao thì thầy thuốc cấp tập chạy vào:

– Tìm ra cách rồi!

Cả tôi và Shakya Zangpo đồng thanh kêu lên:

– Nói mau!

Thầy thuốc vừa thở hổn hển vừa trình bày:

– Trung Nguyên có một loại dược liệu gọi là Thủ ô, đặc biệt là loại Thủ ô trồng trên núi Tung Sơn, cực kỳ công hiệu, nhưng phải là Thủ ô tươi mới có tác dụng giảm đau, tiêu độc.

Tuy loại Thủ ô này không thể giải độc ngay tức khắc nhưng có thể giúp bệnh tình thuyên giảm.

Được vậy, chúng ta sẽ có thêm thời gian tìm kiếm danh y chữa trị cho Vương gia.

Shakya Zangpo hỏi:

– Đất Tạng có loại thuốc này không?

Nếu cho người lập tức đi tìm, liệu có tìm được không?

Thầy thuốc lắc đầu:

– Đất Tạng chưa bao giờ dùng đến vị thuốc này, chỉ e không tìm được.

Tôi túm lấy cổ áo viên thầy thuốc, gạn hỏi:

– Tính mạng của Vương gia còn kéo dài được bao lâu nữa?

Ông ta ấp úng đáp:

– Dạ thưa…

Tôi quát:

– Nói mau!

– Nếu không kịp thời cứu chữa, e là không qua nổi đêm nay.

Tôi chết điếng, lùi lại một bước, cố đứng vững.

Shakya Zangpo lo sợ đến mức nước mắt đầm đìa:

– Nhưng Trung Nguyên xa xôi ngàn dặm, làm sao kịp đến đó tìm thuốc kia chứ?

Tôi như người sắp chết đuối, cố bám víu vào tất cả những gì nổi trên mặt nước:

– Còn cách nào khác không?

Thầy thuốc đầm đìa mồ hôi vì căng thẳng:

– Quả thực là không còn cách nào khác.

Đây là biện pháp kéo dài thời gian duy nhất mà tôi có thể tìm được.

Kháp Na đột nhiên lên tiếng, giọng chàng yếu ớt, lời nói đứt quãng:

– Các người… lui cả ra…

Ta có chuyện muốn nói với Vương phi.

Không ai dám trái lời Kháp Na, Shakya Zangpo lệnh cho người hầu lập tức đi tìm Thủ ô, sau đó cùng Kunga Zangpo lặng lẽ rời khỏi căn phòng.

Tôi hóa phép trở lại là Lam Kha, lao đến bên Kháp Na.

Chàng gắng sức ngẩng lên, đôi mắt sưng húp hé mở, chầm chậm chìa tay về phía tôi.

Tôi vội nắm chặt tay chàng.

Chàng vừa thở hổn hển vừa nói:

– Tiểu Lam… chỉ có em mới… cứu được đại ca.

Hãy… mau đến đó… ngăn đại ca lại.

Tôi lắc đầu quầy quậy, nước mắt lã chã:

– Không, Kháp Na, em sẽ đến Trung Nguyên tìm Thủ ô!

– Tiểu Lam, em chỉ có thể cứu một người!

Chàng thở gấp, lông mày xô lại, cố nén cơn đau vật vả, nói tiếp.

– Núi Kiewu cách Sakya chỉ năm ngày đường, sẽ không tốn nhiều linh khí của em.

Nếu em lên đường ngay bây giờ thì có thể cứu được đại ca.

Nhưng nếu đi Trung Nguyên, chưa chắc đã tìm được Thủ ô.

Tim tôi tan nát, nước mắt tuôn trào như thác lũ:

– Kháp Na, em không thể để chàng chết!

– Chúng ta phải tỉnh táo để đánh giá tình hình và lựa chọn.

Nước mắt lưng tròng, ánh mắt vô hồn của chàng lúc trước bỗng sáng long lanh.

Chàng nắm chặt tay tôi, đột nhiên lớn tiếng:

– Tính mạng của đại ca quan trọng hơn ta!

Tôi nghẹn ngào:

– Nhưng chàng là chồng em, hãy nghĩ đến con chúng ta!

Lẽ nào chàng muốn con chúng ta chưa ra đời đã không còn cha ư?

– Ta không hề muốn chết nhưng ta buộc phải lựa chọn!

Mặt chàng đột nhiên đỏ kỳ dị, chàng buông tay tôi ra, nghiêng đầu ho dữ dội.

Tôi vội vã kề khăn tay bên miệng chàng.

Lát sau, chàng dồn hết sức lực, gọi tôi:

– Tiểu Lam, nếu em không chịu đi cứu đại ca, ta sẽ cắn lưỡi tự vẫn trước mặt em ngay bây giờ!

Tôi chết lặng khi nhìn đám máu đen quánh lại trên chiếc khăn tay.

– Kháp Na…

Chàng bật dậy, chỉ tay về phía cửa, ánh mắt sắc buốt:

– Đi đi, đi ngay đi!

Không còn thời gian nữa!

– Kháp Na…

Tôi vừa khóc vừa áp môi lên miệng chàng.

– Vâng, em sẽ đi, em truyền chút linh khí cho chàng rồi sẽ đi!

Nhưng chàng vội quay mặt đi, môi tôi chạm vào gò má chàng.

– Tiểu Lam, đừng lãng phí linh khí vì ta nữa.

Em phải giữ sức còn đi cứu đại ca.

Tôi nắm chặt tay chàng, muốn nói gì đó nhưng cơn đau tê tái khiến tôi không sao thốt nên lời.

Nước mắt đầm đìa trên gương mặt chàng, chàng đẩy tay tôi:

– Đi đi!

Tôi đã khóc hết nước mắt, mỗi câu, mỗi tiếng của chàng đều khiến trái tim tôi đau thắt đến không thở nổi.

Tôi biết mình không thể chần chừ thêm nữa, đành hít một hơi thật sâu, lấy hết sức bình sinh kiềm chế cơn run rẩy, nhìn chàng:

– Kháp Na, hãy hứa với em, nhất định phải gắng gượng đến khi em quay lại!

Cơn đau rần rật hiện trên chiếc cổ dài của chàng, mạch máu xanh lét phập phồng dưới làn da tái xám, hai hàng nước mắt đổ dài, nhưng chàng vẫn gượng cười thật tươi, run rẩy chìa ngón tay út ra:

– Được, ngoắc tay giao hẹn, trăm năm khó vẹn!

Tôi cũng chìa ngón út, ngoắc vào ngón tay chàng, khóe môi rung động:

– Ai bảo?

Nhất định trăm năm sẽ trọn vẹn!

* * * * *

– Trời ơi, Kháp Na…

Kháp Na…

Chàng trai trẻ không biết phải nói sao khi thấy tôi khóc nấc lên.

Cậu ta rút khăn giấy trong túi áo, thở dài đưa cho tôi, giọng nghẹn ngào:

– Vì sao lại bắt cô phải lựa chọn như vậy?

Tôi biết lựa chọn của Kháp Na là đúng.

Trong tình hình ấy, tôi chỉ có thể cứu được một người.

Tôi vùi đầu vào đầu gối, nức nở một hồi mới có thể tiếp tục câu chuyện.

– Nhưng sự lựa chọn của chàng khiến tôi và Bát Tư Ba không bao giờ có thể tha thứ cho bản thân.

Chàng trai trẻ trầm ngâm rất lâu, khẽ chau mày:

– Sự việc này, bề ngoài thì có vẻ như mọi thứ đều do dì năm sắp đặt, nhưng lẽ nào tất cả chuyện này không hề liên quan đến Yeshe?

– Khi đó, cả tôi và Bát Tư Ba đều nghi ngờ hắn có nhúng tay vào chuyện này, nhưng cái chết của dì năm khiến chúng tôi không tìm ra chứng cứ.

Chàng trai trẻ lắc đầu:

– Một kế hoạch vô cùng chi tiết như thế, tôi không tin một kẻ một chữ bẻ đôi không biết như dì năm có thể vạch ra.

Rất có thể bà ta đã cố ý gánh tội thay hắn.

Bà ta tự sát trước mặt mọi người chính là vì không muốn mọi người tìm ra bằng chứng buộc tội con trai bà ta.

Tôi lau nước mắt, cố kìm nén nỗi đau vò xé tim gan, giọng nói khản đặc:

– Chúng tôi cũng nghi ngờ như vậy, chỉ có điều không tìm được chứng cứ.

Hết chương 48.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 49: Kháp Na Đa Cát qua đời


“Làm việc giúp bậc hiền nhân,

Dù là việc nhỏ, vẫn được hậu đáp;

Tặng một quả táo gai,

Cũng được ban thưởng như thái tử.”

(Cách ngôn Sakya)

Dòng sông Xiabuqu gầm gào chảy xiết, thác nước xối xả chia cắt những hẻm núi sâu thành tầng tầng lớp lớp những khối ngọc bích.

Núi non trùng điệp ở hai bên bờ sông ẩn mình giữa màn mưa dày đặc.

Trận mưa như trút nước, đổ rào rào lên con đường núi quanh co, khúc khuỷu.

Đoàn người ngựa lầm lũi đi trong mưa, cờ quạt mang biểu tượng của phái Sakya tung bay phần phật, cuộn xoắn vào thân cột.

Thấy rõ đoàn tùy tùng của Bát Tư Ba ở ngay trước mặt nhưng tôi không sao tăng tốc được vì cơn đau quằn quại, vò xé gan ruột.

Mưa lớn xua đi cái oi nồng ngày hạ, những hạt mưa to bằng hạt đậu trút xuống bộ lông của tôi, thấm vào da thịt tôi, buốt đến tận xương tủy.

Bình thường tôi chỉ cần niệm chú là có thể tránh mưa dễ dàng nhưng hôm nay, tôi không còn đủ sức để làm việc đó nữa.

Tôi mệt nhọc đổ người vào một thân cây, thở dốc, nước mưa trút xuống cành lá, rơi rào rào lên người tôi.

Tôi cúi nhìn bụng bầu to tướng so với thân hình hồ ly nhỏ bé của mình, lòng buồn vô hạn.

Cơn đau dữ dội ập đến, thiếu chút nữa tôi đã không kiểm soát nổi bản thân để lộn một vòng như thói quen của hồ ly.

Tôi cắn răng chịu đau, bật khóc, vỗ về đứa bé:

– Con ơi, mẹ xin lỗi đã để con phải chịu khổ sở như vậy.

Mẹ cầu xin con, đừng quậy nữa.

Con là đứa trẻ kiên cường, hãy giúp mẹ cứu bác trai!

Thở dốc một hồi, nhác thấy đoàn người phía trước sắp xa khỏi tầm mắt, tôi vội vã gạn hết linh khí, lao đi như bay.

Nơi đây cách núi Kiewu chừng vài dặm, còn chưa đầy nửa canh giờ nữa, đoàn người sẽ rẽ vào khúc cua của hẻm núi hẹp và sâu nhất.

Tôi bỏ Kháp Na lại, bất chấp tính mạng của đứa trẻ trong bụng, hóa phép thành hồ ly.

Tôi không thể công cốc, không thể để Kháp Na chết không nhắm mắt!

Cứ nghĩ đến Kháp Na đang hấp hối là trái tim tôi lại quặn thắt như thể có ai đó muốn nghiền nát nó bằng vuốt sắc vậy.

Tôi bắt đầu thấy hoa mắt, chóng mặt nhưng tôi tự nhủ mình không được ngã gục.

Tôi lao đi giữa màn mưa mù mịt, gào lên những tiếng kêu xé họng, lấy hết sức bình sinh cắn vào chân trước của mình.

Máu tươi đổ ra, lẫn với nước mưa, xối xuống đất, đầu óc tôi trở nên tỉnh táo hơn.

Cơn đau thể xác tạm thời lấn át nỗi đau tinh thần, tôi lao đi như kẻ mất trí, mặc cho mưa xối sạch nước mắt và máu trên cơ thể mình.

Tôi đã theo kịp xe ngựa của Bát Tư Ba nhưng không đủ sức chui vào xe của chàng.

Tôi đành cắn răng lao lên phía trước.

Cỗ xe kịp dừng lại và tôi không bị nghiền nát.

Có người xuống xe, nhấc tôi lên, quan sát:

– Trời, một con hồ ly màu lam!

Sao nó lại nặng thế này?

Sao bụng nó lại to thế này?

Hình như nó sắp sinh.

Trong lúc mê muội, tôi nghe ra giọng nói của Dampa.

Sau đó là giọng của Senge:

– Trông nó rất giống con hồ ly của pháp vương.

Mau đưa nó cho pháp vương xem.

– Chuyện gì vậy?

Bát Tư Ba vén rèm cửa, vừa thấy tôi nằm trên tay Senge, mặt chàng biến sắc:

– Mau, mau đưa cho ta!

Senge chuyển tôi cho Bát Tư Ba, chàng thận trọng đỡ lấy tôi, quấn bọc tôi vào lớp áo tăng ni, đặt tôi áp vào thân thể ấm áp của chàng.

Tôi cuộn tròn trong lòng Bát Tư Ba như một trái bóng, dần ấm lại nhờ sự chăm sóc ân cần của chàng.

– Lam Kha, sao em lại đến đây, ở Sakya đã xảy ra chuyện gì?

Tôi thều thào:

– Dừng lại, lập tức quay đầu, quay lại Sakya ngay!

Chàng kinh ngạc, không kịp hỏi nguyên nhân, thò đầu ra ngoài, gào lớn:

– Quay về Sakya ngay lập tức!

Đoàn người ngựa trở nên hỗn loạn, những tiếng xì xầm bàn tán rộ lên khắp nơi nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân, lập tức quay đầu, tăng tốc.

Bên trong cỗ xe ngựa tròng trành, Bát Tư Ba khẽ hỏi tôi:

– Em đã mang bầu đến tháng thứ bảy, lúc này mà hóa phép trở lại nguyên hình rất nguy hiểm.

Nếu không phải chuyện gì vô cùng nghiêm trọng, chắc chắn Kháp Na sẽ không để em mạo hiểm như vậy.

Lam Kha, nói ta nghe, rốt cuộc là chuyện gì?

Tôi vừa thở hổn hển vừa nói:

– Phái Drikung muốn giết chàng, bọn họ đã cho năm trăm võ tăng mai phục trên núi Kiewu, chờ đoàn tùy tùng tới nơi sẽ đột kích.

Sắc mặt Bát Tư Ba như đóng băng, chàng đấm vào thành xe:

– Bọn chúng dám mưu sát quốc sư ư?

Kẻ nào mà to gan đến vậy?

Chúng không sợ sẽ bị giết cả họ ư?

Tôi cười chua chát:

– Bọn chúng ra tay đồng thời, cho rằng sẽ nắm chắc phần thắng trong tay.

Nếu hai người cùng chết, sẽ không ai biết được hành vi tàn độc của bọn chúng, sẽ không ai truy xét tội lỗi của bọn chúng.

– Ra tay đồng thời?

Bát Tư Ba đột nhiên im bặt, nhìn tôi trân trân rồi cất giọng run rẩy:

– Xảy ra chuyện gì với Kháp Na rồi?

Cơn đau vò xé tâm can tôi như thể có ai đó dùng búa tạ nện thẳng vào các khớp xương của tôi vậy.

Tôi vùng vẫy để thoát khỏi vòng tay chàng:

– Việc đưa tin cho chàng đã xong, em phải về đây.

– Lam Kha, em điên rồi sao?

Chàng vòng tay ôm tôi lại, siết chặt, không cho tôi giãy giụa.

– Em mạo hiểm tính mạng đến báo tin cho ta, bây giờ lại lê bụng bầu kềnh càng quay về, em không thiết sống nữa sao?

Đứa bé này quan trọng hơn tất thảy, không thể liều lĩnh như vậy!

– Em biết, nhưng dù phải mất nó, em cũng phải quay về.

Nước mắt lăn dài trên má tôi.

Tôi hích đầu mũi vào bàn tay chàng:

– Chàng cũng vậy, phải về Sakya ngay!

Chàng run lên:

– Kháp Na!

Kháp Na sao rồi?

– Chàng…

đã trúng độc, không có cách nào cứu chữa…

Trong mắt tôi, trong cổ họng tôi như có ngọn lửa đang thiêu đốt.

Tôi gạn hết sức tàn, thốt lên:

– Em muốn về gặp chàng lần cuối.

Chàng vẫn đang chờ em.

– Kháp Na, em… em…

Ý em là Kháp Na…

Nghe như sét đánh ngang tai, toàn thân chàng run lên bần bật, nước mắt trào ra như nước vỡ bờ.

– Không đâu, không đâu!

Kháp Na còn chưa tròn ba mươi tuổi.

Nó sắp được làm cha rồi, không thể nào… không thể nào…

Tôi đau đớn đến không thở nổi, giọng khản đặc:

– Trong thời gian ngắn như vậy, em chỉ có thể cứu một người.

Và Kháp Na, chàng ấy đã nhường cơ hội sống cho chàng và chọn cho mình cái chết…

Nỗi đau đớn cùng cực bóp méo gương mặt vốn bình thản, điềm tĩnh của chàng.

Dường như không chịu đựng nổi, chàng ngã nhào về phía sau, rơi phịch xuống sàn xe ngựa.

Khóe môi chàng không ngừng mấp máy, nhưng chẳng thể bật ra thành tiếng rõ ràng, và cứ thế, chàng đấm thùm thụp vào thành xe ngựa, như điên như dại, khiến cả bàn tay nhuốm máu.

Rồi chàng ôm đầu, nỗi tuyệt vọng ngập trong mắt, chàng hét lên như xé ruột xé gan:

– Aaaaaaaa!

Tiếng kêu thảm thiết ấy bị mưa bão ngắt lời thành từng đoạn nối tiếp nhau, vang vọng giữa sơn cốc.

Gió gào lên nức nở, thông rên rỉ khóc than, trời và đất tối tăm mù mịt.

Không muốn phải chứng kiến nỗi đau đớn thương tâm của Lâu Cát, tôi khóc nấc lên:

– Em phải về trước.

Nếu chàng không về kịp, em sẽ nhắn lại với chàng những lời sau cùng của Kháp Na…

Dứt lời tôi nhảy ra khỏi xe ngựa, cắm đầu chạy trong mưa bão.

Dampa và Senge túc trực bên ngoài, lo lắng hỏi vọng vào:

– Thầy ơi, có chuyện gì vậy?

Bát Tư Ba lúc này như hóa điên, gào lên:

– Không được dừng lại, không được nghỉ ngơi, cũng không cần dừng xe ăn uống!

Ngựa mệt thì thay ngựa, nếu các người chịu không nổi thì một mình ta sẽ về trước.

Chàng vẫn quỳ trên sàn xe ngựa, hai tay ôm vai, co người lại, toàn thân run rẩy dữ dội.

– Ta phải về Sakya, ta muốn gặp đệ ấy…

Nửa đêm, tôi về đến Sakya, sức cùng lực kiệt.

Tuy mưa đã ngớt nhưng nhiệt độ xuống thấp nhanh chóng, tôi run lẩy bẩy.

Tôi thấy chóng mặt, bụng dạ trống không, vậy mà cơn buồn nôn vẫn tiếp tục hành hạ.

Tôi sử dụng chút linh khí cuối cùng để hóa phép thành Kangtsoban, muốn lập tức chạy về Lang Như Thư Lầu nhưng lực bất tòng tâm.

Hai tay ôm bụng, tôi tựa lưng vào bức tường bao bên ngoài cổng Thư Lầu, thở dốc.

Đứa bé đạp liên hồi, những cơn đau quằn quại dội đến.

Tôi cắn răng, lê lết từng bước chân, những bước sau cùng tôi đã đi trong tư thế còng lưng lại.

Cuối cùng, khi nước mưa đã khiến toàn thân tôi ướt sũng, tôi đập cửa cổng.

Người mở cổng là Kunga Zangpo, cậu ta trông thật tiều tụy.

– Vương phi đã đi đâu vậy?

Chúng tôi tìm kiếm khắp nơi mà không thấy.

Tôi đã gần như kiệt sức, chống tay vào cánh tay cậu ta, yêu cầu:

– Đưa ta đi gặp Vương gia.

Kunga Zangpo nhìn tôi kinh ngạc:

– Sao tóc của Vương phi lại biến thành màu lam thế kia?

Tôi hốt hoảng, những lọn tóc lòa xòa trước ngực quả đúng là có màu lam.

Linh khí của tôi không đủ để duy trì màu tóc nữa ư?

Tôi không đáp, Kunga Zangpo cũng không dám hỏi thêm, vội đưa tôi vào buồng ngủ.

Trong phòng còn có Shakya Zangpo và vài người hầu cận, bọn họ đang kêu khóc quanh giường Kháp Na, thầy thuốc đang miệt mài thay hết mảnh khăn này đến mảnh khăn khác trên trán chàng.

Tim tôi thắt lại, tôi đưa mắt nhìn Kunga Zangpo.

Hiểu ý tôi, cậu ta vừa khóc vừa đáp:

– Vương gia muốn chờ Vương phi về nên ngài đã gắng gượng, nhưng…

Cậu ta không sao nói tiếp được nữa, quay mặt đi, khóc nấc lên.

Tôi chầm chậm đến bên giường, ngồi xuống, nhấc bàn tay đã lạnh như băng của chàng lên, áp vào má, ghé sát vào tai chàng, thì thào:

– Kháp Na ơi, em về rồi!

Đôi mắt quyến rũ ngày nào giờ đây đang khép chặt, tử khí che phủ gương mặt chàng, thân hình gầy guộc của chàng dường như đã mất hết sinh khí, hơi thở mỏng manh, yếu ớt.

Nghe thấy tiếng tôi gọi, chàng đột nhiên mở mắt, mỉm cười, giọng nhẹ như gió thoảng:

– Ra ngoài cả đi…

để mình Vương phi ở lại.

Tôi không sao gắng gượng được nữa, bèn trở lại dung mạo của chính mình, cũng may lúc ấy, bọn họ đều vừa khóc lóc vừa ra khỏi phòng nên không ai nhìn thấy gương mặt thật của tôi.

Cánh cửa khẽ khép lại, căn phòng yên tĩnh đến mức tưởng như có thể nghe được tiếng lá rơi.

Dưới ánh nến lập lòe thê lương, chàng nhìn tôi:

– Tiểu Lam… ta cứ ngỡ… không gắng gượng nổi để chờ em về…

Tôi đặt tay lên môi chàng:

– Đừng nói vậy, Shakya Zangpo đã sai người đi khắp nơi tìm kiếm Thủ ô.

Chàng sẽ không sao cả, Phật Tổ nhất định sẽ phù hộ cho chàng.

Chàng sốt ruột hỏi tôi:

– Đại ca…

đại ca…

Tôi ép mình nở một nụ cười:

– Chàng đừng lo, Lâu Cát không sao cả, em đã đến kịp và ngăn huynh ấy.

Hiện huynh ấy đang trên đường quay về Sakya, huynh ấy muốn gặp chàng.

Kháp Na thở phào rồi khẽ lắc đầu, tử khí vây khốn trên gương mặt mệt mỏi cực độ của chàng:

– Chỉ e… không kịp nữa…

Tôi kêu lên thất thanh:

– Không đâu, chàng hãy cố đợi, huynh ấy sẽ về ngay thôi, huynh ấy có chuyện muốn nói với chàng…

– Hãy nói với đại ca rằng ta không thể giúp huynh ấy được nữa.

Ta thật lòng muốn chia sẻ gánh nặng với huynh ấy, nhưng ta không còn thời gian.

Chàng thở gấp.

– Hãy nói với huynh ấy, đừng vì giáo phái, đừng vì sứ mạng thống nhất đất Tạng mà làm việc quá sức, phải biết nghĩ cho bản thân mình, phải sống cho bản thân mình.

Những lời này đã tiêu tốn quá nhiều sức lực của chàng, mồ hôi vã ra, đầm đìa trên trán chàng.

Tôi lấy khăn lau mồ hôi cho chàng, khóc lóc, nài nỉ:

– Kháp Na, nghỉ ngơi đi, đừng nói nữa!

– Không nói, chỉ e sẽ không còn cơ hội nữa.

Tiểu Lam ơi, ta rất hối hận…

Hai hàng lệ lặng lẽ tuôn rơi từ đôi mắt chàng, bàn tay run rẩy vuốt ve gương mặt tôi.

Tôi vội vã cúi xuống, đặt tay chàng lên má mình.

Bàn tay chàng vân du đến từng đường nét trên gương mặt tôi.

– Em làm vợ ta chưa được bao lâu, trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, ban ngày, em lại phải đóng giả làm người khác.

Con của chúng ta vừa chào đời đã mất cha.

Nếu sớm biết ta sẽ mang lại cho em số phận nghiệt ngã thế này, ta quyết không cưới em.

Tôi khóc không thành tiếng, cổ họng đau rát.

– Kháp Na, chàng đừng nói vậy!

Sống bên chàng, em thấy mình vô cùng hạnh phúc.

Đó là quãng thời gian đẹp đẽ nhất của cuộc đời em.

Em rất mãn nguyện.

Chàng nhìn tôi đắm đuối, ánh mắt xót thương, lưu luyến:

– Tiểu Lam, hãy hứa với ta một chuyện, được không?

Tôi gật đầu ngay tức khắc:

– Chàng nói đi!

Giọng chàng buồn bã:

– Đại ca rất yêu em, huynh ấy bỏ rơi em vì muốn tác hợp cho chúng ta.

Chỉ tại ta quá ích kỷ, quá tham lam, chỉ muốn giữ em cho riêng mình.

Sau khi ta chết, em hãy cùng huynh ấy nối lại duyên xưa…

– Không!

Tôi ngắt lời chàng, nắm chặt bàn tay chàng, đặt lên ngực.

– Chàng là chồng em, mãi mãi như vậy!

Hơi thở của chàng mỗi lúc một khó khăn:

– Tiểu Lam, em muốn ta chết mà không nhắm được mắt ư?

Nếu biết em không hạnh phúc thì dẫu ở âm tào địa phủ, ta cũng không thể yên lòng.

Hãy hứa với ta, để ta được ra đi thanh thản!

Tôi lắc đầu, hoang mang đau đớn:

– Kháp Na, xin chàng, đừng ép em!

Cuối cùng, chàng cũng chịu nhượng bộ nhưng vẫn kiên trì:

– Thôi được, nhưng đây là di nguyện của ta, em không được giấu đại ca, phải truyền đạt lại với huynh ấy từng câu, từng chữ.

Tôi đành phải gật đầu.

Ánh mắt chàng dừng lại nơi miếng ngọc Linh hồn, lễ vật chàng đã trao cho tôi vào ngày cưới.

Miếng ngọc lồng vào sợi dây buộc tóc màu lam, không lúc nào rời mái tóc tôi.

Tôi cởi dây, tháo miếng ngọc, đặt vào tay chàng.

Chàng nhìn miếng ngọc, khẽ thở dài:

– Tiểu Lam, tuổi thọ của em cao hơn loài người rất nhiều, em sẽ sống ra sao trong những năm tháng cô đơn đằng đẵng về sao?

Sau khi qua đời, ta sẽ cầu xin Phật Tổ, cho ta gửi gắm một nửa linh hồn mình vào miếng ngọc này.

Như thế, ta có thể tìm thấy em trong mỗi kiếp lai sinh.

Giọng chàng yếu dần, ánh mắt trở nên mơ hồ, tử khí bao phủ gương mặt chỉ còn sót chút sinh khí cuối cùng của chàng.

Chàng đang hấp hối.

Tôi khiếp sợ, vừa lắc mạnh cơ thể chàng vừa gào lên:

– Kháp Na, chàng tỉnh lại, tỉnh lại đi!

Chàng còn chưa đặt tên cho con kia mà!

Đôi mắt chàng từ từ khép lại, đầu chầm chậm đổ về sau.

Tôi cuống cuồng áp môi mình lên miệng chàng, truyền cho chàng linh khí.

Nhưng khi vừa lấy lại được chút tỉnh táo, chàng lập tức nghiêng đầu né tránh:

– Đừng lãng phí linh khí nữa…

Hôm nay em đã sức cùng lực kiệt… vì phải đi cứu đại ca.

Em phải… giữ sức… cho con chúng ta…

Chàng nhìn tôi chăm chú, ánh mắt dịu dàng, khóe môi chợt nở một nụ cười tuyệt mỹ.

– Tiểu Lam…

Hãy hứa với ta… ta đi rồi…

đừng quá đau lòng…

Hãy sống thật khỏe mạnh để sinh con… vì ta… vì Sakya… và vì…

đại ca.

Chàng chầm chậm khép mắt lại, giọng chàng càng lúc càng yếu ớt.

– Hãy đặt tên con là…

Dharmapala.

Bỗng ngoài trời nổi con dông, gió mạnh ào vào, thổi tung trướng rủ màn che.

Ngọn nến vụt tắt, căn phòng chìm trong bóng đêm bất tận.

Ngoài kia, tiếng gió rít, tiếng mưa dông gào thét, vần vũ.

Trong phòng, lại là sự yên ắng, tịch lặng đến lạnh người.

Tôi nằm xuống cạnh Kháp Na, gối đầu lên vai chàng, hệt như hằng đêm chúng tôi vẫn thiếp đi trong vòng tay nhau như vậy.

Thời gian ngưng đọng, trái tim tôi cũng như ngủ quên, mọi thứ xung quanh không còn ý nghĩa với tôi nữa.

Đêm tàn sẽ sang ngày, ngày hết sẽ là đêm, ánh sáng trong căn phòng luân chuyển từ tối sang sáng, rồi lại từ sáng sang tối.

Tôi cuộn mình bên cạnh Kháp Na, thiếp đi mê mệt, nhưng vẫn thoáng nghe thấy những tiếng ồn ào ngoài kia.

Tôi đã chốt chặt cả cửa sổ, vậy mà vẫn có người cố tìm cách xông vào.

Có phải vì biết ta không còn linh khí nữa nên đám người nhỏ bé, yếu đuối các người dám bắt nạt ta phải không?

Mặc đi, ta không hơi sức đâu mà lo chuyện của các người, ta mệt lắm, mệt vô cùng!

Tôi tựa vào bờ vai của Kháp Na, muốn tiếp tục dỗ giấc nhưng cơ thể chàng đã lạnh như băng khiến tôi chốc chốc lại giật mình tỉnh giấc vì cảm giác buốt giá.

Kháp Na như đang ngủ say vậy, hai mắt khép chặt, khóe môi vẫn vương mãi nụ cười dịu dàng.

Chàng vẫn ngọt ngào, ấm áp như xưa.

Chỉ có điều, cánh tay chàng đã không còn là chiếc gối êm của tôi nữa, hơi thở nồng ấm của chàng không còn đều đều vang bên tai tôi nữa, những lời yêu thương tha thiết đã trở thành ký ức.

Giờ đây chỉ còn là bờ ngực đã thôi phập phồng, là thân thể không còn hơi ấm.

Tôi buộc lòng phải đối diện với thực tế nghiệt ngã: Kháp Na đã rời xa tôi mãi mãi!

Ngoài kia vang lên tiếng bước chân vội vã, Shakya Zangpo mừng rỡ, reo lên:

– Pháp vương, pháp vương đã về!

Giọng nói chất chứa âu lo của Bát Tư Ba vọng lại:

– Bạch Lan Vương đâu?

Shakya Zangpo nghẹn ngào:

– Ngài đã viên tịch…

Tôi nghe rõ tiếng bàn ghế xô lệch, Bát Tư Ba trầm ngâm một lúc mới run rẩy thốt lên từng tiếng:

– Đệ ấy đang ở đâu?

– Vương phi giam mình trong phòng cùng Vương gia, không cho phép ai vào.

Chúng tôi đã gõ cửa nhiều lần mà không được.

Đó là giọng Kunga Zangpo.

– Bao lâu rồi?

Kunga Zangpo đáp:

– Từ nửa đêm hôm kia đến giờ.

Tôi giật mình.

Tôi đã thiếp đi lâu như vậy ư?

Tôi quay lại nhìn Kháp Na, trái tim vô cảm của tôi dần hồi lại.

Kháp Na, chàng đã rời xa em lâu như vậy rồi ư?

Giọng nói trầm buồn của Bát Tư Ba vang lên:

– Các người lui cả ra, ta sẽ đi khuyên Vương phi.

Tiếng những bước chân xa dần rồi mất hút, sau đó là tiếng gõ cửa nhè nhẹ:

– Lam Kha, là ta đây, hãy mở cửa ra!

Tôi ngồi đó bất động.

Chàng tiếp tục gõ cửa:

– Ta xin em, cho ta gặp Kháp Na!

Những lời của chàng khiến tôi động lòng.

Tôi rời khỏi giường, cất bước mà như đang lê đi trên những đám mây, tôi phải bám chặt lấy cánh tủ mới đứng vững.

Tôi khổ sở nhích từng bước một, tê dại.

Bát Tư Ba xuất hiện ngoài cửa, tóc tai rối bời, đôi mắt vằn vện những tia máu đỏ.

Tôi vừa hé cửa, chàng lập tức rảo bước vào trong, chạy đến bên Kháp Na, kêu khóc thảm thiết:

– Kháp Na ơi, đại ca về rồi đây!

Chàng đổ người lên thi thể của Kháp Na, gào khóc thê thiết, gọi mãi tên em trai.

Âm thanh đau đớn, tuyệt vọng ấy vang động khắp Lang Như Thư Lầu.

Sự ra đi của Kháp Na khiến Lâu Cát như chết nửa con người, kể từ đây sinh mệnh của chàng chỉ còn một nửa.

Tôi ôm bụng, khó nhọc lại gần chàng.

Chàng ngẩng lên nhìn tôi, nước mắt đầm đìa.

– Đệ ấy… có gì muốn nói với ta không?

Tôi nức nở:

– Kháp Na nhờ em nói lại với chàng, rằng chàng ấy thật lòng muốn san sẻ gánh nặng cùng chàng, nhưng chàng ấy đã không thể nữa rồi.

Kháp Na khuyên chàng không nên quá lao tâm khổ tứ vì giáo phái và sứ mệnh thống nhất đất Tạng, hãy nghĩ cho bản thân, hãy sống cho chính mình!

Chàng như lịm đi vì đau khổ, chống tay xuống nền nhà, gượng đứng lên:

– Còn gì nữa không?

Lời nói của Kháp Na văng vẳng bên tai tôi:

– Đại ca rất yêu em, huynh ấy bỏ rơi em vì muốn tác hợp cho chúng ta.

Chỉ tại ta quá ích kỷ, quá tham lam, chỉ muốn giữ em cho riêng mình.

Sau khi ta chết, em hãy cùng huynh ấy nối lại duyên xưa…

Nhưng tôi đã lắc đầu:

– Không còn gì nữa.

Chàng quỳ trước mặt Kháp Na, nghiến răng căm tức, những tia máu vằn vện trong mắt:

– Kháp Na, đệ chết quá oan uổng!

Đại ca xin thề trước mặt đệ, ta sẽ tìm cho bằng hết những kẻ âm mưu hãm hại đệ và trừng trị đích đáng từng kẻ một!

Ngày mồng 2 tháng 7 năm 1267, Bạch Lan Vương Kháp Na Đa Cát qua đời ở Lang Như Thư Lầu, vùng Sakya, hưởng thọ hai mươi chín tuổi.

* * * * *

Gió tuyết ngoài kia tạm ngừng, không khí yên ắng trong căn phòng kéo dài rất lâu, chỉ có âm thanh lép bép của củi lửa vang vọng.

Chàng trai trẻ ngồi xuống cạnh tôi, chăm chú ngắm nhìn đôi mắt đỏ hoe của tôi, cất giọng buồn bã:

– Xin lỗi, lúc trước tôi đã nghe câu chuyện của cô bằng thái độ tò mò, hiếu kỳ.

Tôi không biết rằng, câu chuyện lại bi thảm như vậy.

Nó thương tâm đến mức khiến người ta không dám nghe tiếp.

Tôi muốn cất lời nhưng cổ họng nghẹn đắng.

Cậu ta thở dài, muốn vỗ về, an ủi tôi nhưng cảm thấy làm vậy thật khiếm nhã, liền rút tay về.

– Sắp mười hai giờ rồi, nếu cô mệt thì nghỉ ngơi một lát đi, ngày mai hãy kể tiếp.

– Sáng sớm mai cậu phải lên đường rồi, làm gì còn thời gian nghe chuyện của tôi nữa.

Tôi nhìn cậu ta thăm dò.

– Nếu cậu không buồn ngủ, tôi muốn kể hết câu chuyện trong đêm nay, vì ngày mai cậu sẽ không tìm được tôi đâu.

Chàng trai trẻ gật đầu:

– Thôi được, nhưng cô phải hứa là không được gắng gượng quá sức.

Tôi thấy cảm động trước sự quan tâm của cậu ta, tiếp tục câu chuyện:

– Tuy âm mưu hãm hại Bát Tư Ba của phái Drikung không thành nhưng chí ít bọn họ đã loại trừ được Kháp Na, cũng có nghĩa đã giáng cho Bát Tư Ba một đòn chí mạng.

Chàng trở nên kiệt quệ vì mất mát quá lớn này, suốt một thời gian dài chìm trong địa ngục.

Nhớ lại khoảng thời gian tăm tối ấy, Bát Tư Ba trở nên tiều tụy, võ vàng, lòng tôi quặn đau:

– Cái chết của Kháp Na không những đã kéo dài thời gian quay về Trung Đô mà còn làm thay đổi rất nhiều kế hoạch của Bát Tư Ba.

Những thay đổi này có ảnh hưởng quan trọng đối với tương lai của phái Sakya.

Hết chương 49.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 50: Đứa trẻ mồ côi


“Người tài đức gặp lúc khó khăn,

Mọi người không cần nhọc lòng lo lắng;

Trăng kia dẫu bị thiên cẩu ăn mất,

Sẽ được giải thoát nhanh chóng.”

(Cách ngôn Sakya)

Người ta dựng một giàn gỗ rất cao ven sông Trum-chu, dưới chân núi Benbo và phủ cỏ khô xung quanh.

Kháp Na nằm đó như đang say giấc trong lớp áo trắng tinh khiết.

Dung mạo thanh tân của chàng mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi chín, không bao giờ già đi.

Shakya Zangpo cùng tất cả sư tăng của Sakya xếp thành mấy chục hàng dài, ngồi thiền trên những phiến đá nhỏ ven sông, tụng kinh siêu độ.

Bên kia là gia tộc họ Khon, gồm các anh chị em và cháu của Kháp Na.

Người có gương mặt thảm hại nhất là Kunga Zangpo, cậu ta bị trúng độc nhưng vẫn gắng gượng tiễn đưa Kháp Na.

Thiên táng là tập tục phổ biến, đã hình thành từ bao đời ở đất Tạng.

Chỉ bậc cao tăng của các giáo phái, sau khi viên tịch, mới được hỏa táng.

Tuy không phải là pháp vương nhưng địa vị của Kháp Na ở Sakya không thua kém địa vị của pháp vương nên chàng được hỏa táng long trọng và Bát Tư Ba đích thân chủ trì lễ tang.

Tôi ngồi trong kiệu, không cầm nổi những dòng nước mắt tuôn rơi xuống bụng bầu.

Tôi không còn đủ linh khí để biến hóa thành người khác nên Bát Tư Ba không muốn tôi tham dự tang lễ, nhưng tôi yêu cầu được đến.

Bát Tư Ba đành sắp xếp để tôi ngồi trong kiệu, dặn dò tôi không được ra ngoài.

Chàng nói với mọi người rằng thai nhi không được khỏe, Vương phi phải kiêng gió, tránh gặp người lạ.

Mọi người lần lượt bước lên phía trước, tay cầm khăn lụa Ha đa, cúi đầu trước Kháp Na rồi dâng khăn lên giàn gỗ.

Sau đó, Dampa trao cho Bát Tư Ba một ngọn đuốc.

Râu ria lởm chởm dưới cằm, hai mắt sưng đỏ, vẻ mặt tiều tụy, võ vàng, bàn tay chàng run bần bật khi đón lấy ngọn đuốc rồi chàng bật khóc.

Một tay Bát Tư Ba cầm ngọn đuốc, một tay ôm ngực, lưng còng xuống, lảo đảo bước lên phía trước, hít thở rất nhiều lần mới châm được ngọn lửa vào đám cỏ khô.

Cỏ khô bén lửa rất nhanh, gương mặt Kháp Na trở nên hồng hào, tràn đầy sinh khí dưới ánh lửa bập bùng.

Tôi đã khóc hết nước mắt, một tay túm chặt rèm kiệu, một tay áp chặt sợi dây buộc tóc màu lam lên ngực, cố kiềm chế khao khát muốn lao đến bên chàng.

Đêm qua, Bát Tư Ba đã cho phép tôi vào gặp Kháp Na lần cuối.

Tôi đã cắt sợi dây buộc tóc màu lam làm hai, buộc một nửa vào mái tóc mềm như lụa của chàng.

Tôi hôn lên bờ môi giá băng của chàng lần cuối.

Tình yêu của chàng, hạnh phúc của chàng, mọi thứ đẹp đẽ về chàng đã kết thúc chóng vánh ở tuổi hai mươi chín.

Mọi người đều quỳ xuống, tiếng khóc ai oán vang vọng khắp hai bên bờ sông.

Bát Tư Ba chống hai tay xuống đất, đầu cúi thấp, bờ vai rung động.

Ba nghìn tăng nhân của phái Sakya ngồi xếp bằng tụng kinh siêu độ, tiếng tụng niệm xen lẫn tiếng khóc than nức nở khiến cho bầu không khí vừa trang nghiêm vừa tang thương.

Ngọn lửa lớn dần, chỉ trong chốc lát đã nuốt chửng thi thể của Kháp Na.

Trái tim tôi như bị cắt thành từng mảnh khi nghĩ về những ngày tháng sau này tôi sẽ không còn được nhìn thấy chàng cười, nghe chàng nói lời yêu thương nữa.

Rặng thông ù ù thổi, như khóc như than.

Tang lễ kéo dài hơn một canh giờ.

Vậy là, Kháp Na đã trở về với cát bụi…

Bát Tư Ba chầm chậm gom nhặt tro cốt của em trai vào chiếc bình vàng.

Chàng mân mê chiếc bình rồi đau đớn bật khóc, tưởng như không thể tiếp tục thu lượm được nữa.

Có người đứng bên muốn lại gần giúp nhưng chàng kiên quyết không chịu, kiên trì tự tay gom nhặt bằng hết, bỏ vào bình.

Mặt trời ngả về tây, ráng chiều nhuộm nền trời đỏ rực.

Những chùm nắng đổ dài trên núi Benbo, đan cài giữa màu tuyết trắng bàng bạc.

Bát Tư Ba run rẩy đặt bình tro cốt vào tháp hoàng kim nguy nga trước cổng ngôi đền Sakya.

Khi những người thợ từ từ đóng nắp tòa tháp lại, Bát Tư Ba đau đớn tột độ, ngất đi.

Khi ra lệnh cho Anigo xây dựng tòa tháp này, chàng đâu ngờ rằng, nó lại trở thành mộ chí của Kháp Na.

Sau những tiếng gọi hốt hoảng của Shakya Zangpo, Bát Tư Ba dần tỉnh lại, chàng gượng đứng lên, tuyên bố với tất cả con dân của giáo phái Sakya:

– Thành trì của giáo phái không cần dời đến Samdrupise nữa.

Lời tuyên bố vừa dứt, đám đông lập tức xôn xao.

Vì ngày trước, chính Bát Tư Ba là người bất chấp ý kiến phản đối về việc di dời thành trì đến nơi khác.

Vậy nên bản khâm Shakya Zangpo tỏ ra vô cùng băn khoăn:

– Pháp vương, vậy thì thành trì sẽ…

– Sẽ ở đây, thành trì sẽ được xây dựng trên lũng sông Trum-chu này.

Bát Tư Ba chỉ tay xuống mảnh đất dưới chân, mắt dõi nhìn công trình kiến trúc đồ sộ trên lưng chừng núi, dưới ánh chiều tà, sắc đỏ, trắng, xanh biến đổi kỳ ảo.

– Ngôi đền trên lưng chừng núi sẽ được gọi là đền Bắc Sakya, còn thành trì mới xây dựng sẽ được gọi là đền Nam Sakya, công trình mới sẽ được khởi công ngay tức khắc.

Những lời này khiến tôi sững sờ, nước mắt tuôn rơi.

Kế hoạch mà chàng đã khổ công trù bị bao tháng ngày đã thay đổi một sớm một chiều vì sự ra đi đột ngột của Kháp Na.

Tôi hiểu rằng, chàng không muốn rời xa em trai mình, chàng muốn bao bọc, che chở cho Kháp Na.

Ánh chiều đã xuống đến tòa tháp hoàng kim, nơi lưu giữ tro cốt của Kháp Na.

Giọng Bát Tư Ba run rẩy cất lên:

– Ta sẽ cho xây dựng một Phật điện bên cạnh lăng mộ của Bạch Lan Vương để ngày ngày hương khói.

Sau này, lăng mộ của các đời pháp vương phái Sakya đều sẽ được xây dựng ở đây, kể cả ta.

Mặt trời khuất sau rặng núi Benbo, màn đêm trùm khắp mặt đất, gió đêm ào tới, thổi bay vạt áo tăng ni của chàng.

Bát Tư Ba và tòa tháp chất chứa đau thương ấy như quyện hòa vào nhau, chìm trong bóng tối thê lương.

– Lam Kha, chịu khó ăn một chút đi, đây là món thịt gà và sữa bò mà em thích nhất.

Bát Tư Ba bưng khay đồ ăn đến bên giường, động viên tôi.

– Em đã bỏ bữa rất lâu rồi.

Cho dù còn linh khí đi nữa, em cũng không nên đày ải bản thân mình như vậy.

Nói vậy nhưng chàng có hơn tôi là bao, cũng mất ngủ, cũng bỏ bữa liên tục nhiều ngày.

Tôi ngó khay đồ ăn thơm phức mà chẳng có cảm giác đói bụng, tủi thân, lắc đầu.

Bát Tư Ba ngồi xuống trước mặt tôi, nhìn tôi đầy lo lắng:

– Ta xin em, hãy nghĩ đến đứa bé!

Tôi ôm bụng, cơn đau khiến mồ hôi trên trán tôi túa ra đầm đìa:

– Không phải em không chịu ăn mà là bụng em đau dữ dội, đau đến mức em không muốn ăn bất cứ thứ gì.

Tôi thở hổn hển, ngả lưng xuống gối:

– Em e mình sẽ sinh non mất.

Bát Tư Ba bàng hoàng khi thấy thân dưới của tôi ra máu.

– Ta sẽ lập tức cho gọi bà đỡ đến và lệnh cho tất cả các thầy thuốc của giáo phái đứng đợi lệnh ở bên ngoài.

Tôi vội nắm chặt tay áo rộng của chàng, ngăn lại:

– Em muốn tự mình sinh con vì em không thể biến thành Kangtsoban được nữa, không thể để người khác nhìn thấy gương mặt thật của em.

Chàng sốt ruột:

– Đến nước này rồi, em còn lo chuyện đó làm gì!

Em sinh non khi mới mang thai bảy tháng, cả hai mẹ con đều rất nguy hiểm.

Tôi khổ sở lắc đầu:

– Em đã diễn vở kịch này ngần ấy thời gian, nếu bây giờ bị lộ, công lao của em và Kháp Na sẽ đổ xuống sông, xuống biển.

Chàng hơi do dự.

Thấy tôi đau đớn, quằn quại, chàng liền bật dậy, nhặt tấm chăn thừa, trèo lên giường, buộc hai đầu góc chăn lên cột giường, để tấm chăn rủ xuống đúng phần ngực của tôi, sau đó buông màn che kín bốn xung quanh.

Chàng nhìn tôi, gật đầu:

– Làm thế này, bà đỡ sẽ không nhìn thấy dung mạo của em.

Tôi không đủ sức để đáp lời, đành cắn răng, gật đầu.

Bà đỡ đến rất nhanh, theo sau là Zhuoma.

Vừa vào phòng, các bà đỡ ráo riết chuẩn bị vải sạch, dây buộc, kéo và dao nhỏ đã được đun trong nước sôi, nước sôi và rượu gạo nồng độ cao.

Bát Tư Ba giữ tay Zhuoma lại khi cô ấy định vén màn.

Tôi nghe thấy Zhuoma nói với Bát Tư Ba:

– Đại ca, hãy để muội chăm sóc em dâu.

Huynh cứ ra ngoài đi.

Bát Tư Ba nghiêm giọng đáp:

– Không cần đâu, không ai được phép vào bên trong, ta sẽ chăm sóc cô ấy.

Các bà đỡ đều ngỡ ngàng, một người rụt rè lên tiếng:

– Thưa pháp vương, xin mời ngài ra ngoài chờ.

Đàn ông không được phép vào phòng đẻ.

Chàng trầm ngâm một lát rồi cất giọng chắc nịch:

– Ta không đi đâu cả.

Ta sẽ ở đây, bên cạnh cô ấy.

Các người cứ làm tốt phận sự của mình, nhất định phải giúp mẹ con cô ấy được bình an.

Zhuoma thất kinh:

– Đại ca, làm vậy không hợp với lễ nghi.

Huynh là…

Bát Tư Ba ngắt lời Zhuoma:

– Ta là bác ruột của đứa bé, bác cũng như cha vậy.

Ta chỉ cần biết có thế, trước mặt đứa bé này, thân phận gì cũng vô nghĩa.

Zhuoma vẫn kiên trì thuyết phục:

– Huynh không sợ người đời chê trách sao?

Ta đâu cần bận tâm người khác sẽ nói gì.

– Ta đã mất Kháp Na, ta không thể mất thêm mẹ con cô ấy.

Zhuoma và các bà đỡ không biết phải nói sao.

Bát Tư Ba vén màn, bước vào, ngồi xuống bên cạnh tôi, đôi mắt hun hút buồn:

– Ta sẽ ở bên, cùng em vượt qua cửa ải này!

Cơn đau dồn đến, ào ạt như bão tố.

Tôi đau đớn rã rời, càng thấm thía lời nói năm xưa của Khabi.

Yêu loài người, sẽ phải chịu đựng nỗi khốn khổ khi sinh nở nhiều gấp trăm ngàn lần so với đồng loại, huống hồ tôi lại đẻ non thế này.

Theo chỉ dẫn của Zhuoma, Bát Tư Ba kê mấy lần gối dưới lưng tôi.

Tôi há miệng thực hiện động tác hít thở, không được thở quá mạnh, càng không được nín thở.

Bát Tư Ba lau mồ hôi trên trán tôi, không ngơi tay.

Tôi đau đớn đến không còn giữ nổi sự tỉnh táo, cứ túm chặt lấy cánh tay chàng.

Chàng khẽ rùng mình, hàng lông mày xô lại như thể đang chịu đựng điều gì.

Tôi mặc kệ, tiếng Zhuoma vọng vào:

– Em dâu à, phải hết sức bình tĩnh.

Nào, hãy đếm theo ta: một, hai, ba,…

Chàng nắm chặt tay tôi.

Tôi gượng mở cặp mắt đã mệt lử, quay sang nhìn chàng.

Toàn thân chàng run lên bần bật, hàng lông mày nhíu lại, rúm ró, khổ sở nhưng bàn tay vẫn siết chặt tay tôi, truyền cho tôi hơi ấm và sức mạnh.

Chàng nhìn tôi trân trân, gương mặt nhễ nhại mồ hôi của tôi in trong đôi đồng tử màu đen huyền hoặc ấy.

– Ta sẽ đếm cùng em, một, hai, ba,…

Tôi không cầm được nước mắt.

Trên vầng trán cao rộng của chàng đã xuất hiện vài nếp nhăn, gương mặt gầy guộc mà kiên định, vững chắc, giọng nói trầm vang, ấm áp.

Tôi thấy mình được an ủi rất nhiều, mạnh mẽ lên rất nhiều nên cũng gắng gượng, lẩm nhẩm theo:

– Bốn, năm, sáu,….

Không biết chúng tôi đã đếm đến bao nhiêu, giọng nói của chàng vẫn vang bên tai tôi.

Tôi đếm theo chàng để quên đi cơn đau như thể có hàng trăm cỗ xe đang giày xéo phần thân dưới.

Trong cơn mê man, tôi nhận ra mình được nhấc lên, tựa vào một bờ vai gầy guộc.

Giọng nói của ai đó run lên bần bật, cơ thể như bị co rút vì đau đớn:

– Đây là canh nhân sâm nghìn năm, em hãy chịu khó uống để lấy sức.

Chàng bón cho tôi từng thìa một, tôi cố nuốt vài ngụm.

Bên ngoài vọng vào giọng nói đầy lo lắng của bà đỡ:

– Thưa Vương phi, đứa bé bị kẹt bên trong.

Xin hãy rặn thật mạnh!

Tôi muốn làm theo nhưng cơ thể tôi mềm nhũn, chẳng còn chút sức lực.

Bà đỡ hô lớn:

– Vương phi đã đau quá lâu, e là kiệt sức rồi.

Lúc này, quan trọng nhất là giúp Vương phi có thêm sức lực.

Chàng rối trí, bèn nhấp một ngụm canh sâm, giữ chặt cằm tôi, cúi xuống, kề sát miệng tôi.

Chàng khẽ rên lên khi chạm phải môi tôi, toàn thân run bần bật.

Sau một hồi hổn hển, chàng tiếp tục kiên trì mớm canh sâm cho tôi.

Không dịu dàng, không kinh nghiệm, chàng cứ thế ép tôi nuốt.

Trong lúc nước sôi lửa bỏng ấy, không ai không còn tâm trí để nghĩ ra cách gì hợp lý, nhẹ nhàng hơn.

Tôi đã uống hết bát canh sâm theo cách như vậy, và tôi đã lấy lại sức lực để tiếp tục cơn rặn theo chỉ dẫn của bà đỡ.

Thời gian tiếp tục trôi, tôi không còn nhớ nổi lúc này là lúc nào nữa, chỉ biết rằng, trong phòng đèn nến đã sáng trưng.

Phía sau tấm màn, bóng người chập chờn, lay động.

Thần trí tôi cứ bay bổng, lơ lửng, chợt tôi nghe thấy tiếng hát như vọng lại từ cơn mơ nào.

Giọng nam trầm ấm, dặt dìu, tha thiết:

– “Ầu ơ, ầu ơ, nhịp võng ru

Ngủ ngoan con yêu, tay mẹ đưa

Mai sau khôn lớn con hãy nhớ

Tình mẹ ngày đêm vẫn đợi chờ.”

Giữa không gian bồng bềnh, mơ mộng ấy, người đàn ông cao gầy đang mỉm cười với tôi.

Tôi đưa tay về phía trước, lồng vào ngón tay chàng, mãn nguyện gọi tên chàng:

– Kháp Na…

Giọng nói trầm ấm vẳng bên tai tôi:

– Ta ở đây, luôn ở đây bên em.

Bên ngoài, tiếng bà đỡ reo lên:

– Thấy đầu đứa bé rồi!

Xin Vương phi hãy ráng nữa lên!

– Con của chúng ta…

Nhìn thấy nụ cười rạng rỡ và gương mặt tuấn tú của Kháp Na nên tôi dồn hết sức bình sinh, ngẩng đầu, đẩy người lên, hét to một tiếng.

Thân thể tôi như từ không trung rơi xuống vực sâu.

Tôi ra khỏi cơn mộng mị, trở lại với hiện thực.

Gắng gượng mở mắt, gương mặt thân thương ấy ngày một hiện ra rõ nét.

Thì ra, người hát cho tôi nghe, lồng tay vào tay tôi, không phải Kháp Na, mà là Bát Tư Ba.

Nhưng khi ấy, cơn đau tột cùng khiến tôi không còn đủ sức để suy nghĩ về điều này, vì sao gương mặt chàng lại như đang phải chịu đựng khổ đau vậy?

Lẽ nào chỉ là ảo giác?

Bỗng ngoài kia vang lên tiếng hò reo của Zhuoma:

– Ra rồi, ra rồi, một cậu con trai!

Bát Tư Ba giật mình, bật dậy, cuống quýt vén màn, đi ra.

Tiếp đó là giọng nói mừng rỡ điên cuồng của chàng:

– Là con trai!

Là con trai!

Sakya có hy vọng rồi!

Kháp Na ơi, Sakya có người nối dõi rồi!

– Thưa pháp vương, hình như đứa bé không được khỏe.

Giọng của bà đỡ có vẻ lo lắng.

–Vì quá đau lòng nên Vương phi đã đẻ non.

Trong thời gian rặn đẻ lại mất nhiều sức lực nên đứa bé bị thiếu cân nghiêm trọng, hơi thở yếu ớt, vỗ thế nào cũng không khóc, chỉ e…

Bát Tư Ba lo lắng gào lên:

– Mau mời thầy thuốc, phải cứu bằng được đứa bé!

Tiếng những bước chân dồn dập rời khỏi căn phòng, tiếng thầy thuốc vang lên ngoài kia:

– Đứa bé kẹt trong bụng mẹ quá lâu, chỉ e đã bị ngạt thở.

– Có thể cứu được không?

– Đứa bé này quá yếu, tôi sẽ cố thử!

Đầu óc tôi quay cuồng nhưng tôi vẫn cố giữ cho mình được tỉnh táo, cất giọng khó khăn:

– Đưa cho tôi!

Bát Tư Ba thận trọng bế đứa bé vào, đặt trước mặt tôi.

Nó nhỏ bé, tội nghiệp quá, hệt như chú chuột con đỏ hỏn vậy.

Tôi gượng dậy, áp môi lên cái miệng xinh xinh của nó.

Bát Tư Ba hốt hoảng:

– Em không muốn sống nữa sao?

Tôi mệt mỏi xua tay.

Giờ đây, chỉ có tôi mới cứu được nó.

Tôi hút hết dịch ối trong miệng đứa bé và truyền cho nó chút linh khí cuối cùng trong cơ thể.

Cuối cùng, đứa bé cũng chịu cất tiếng khóc, dù chỉ là tiếng thút thít như tiếng mèo kêu nhưng đối với tôi, đó là âm thanh tuyệt vời nhất trên đời.

– Dharmapala, tên của nó là Dharmapala…

Tôi không đủ sức để mở mắt ra nữa, đổ người xuống gối, hơi thở khó khăn, gắng gượng thốt lên những lời cuối cùng trước lúc ngất đi:

– Lâu Cát…

Nếu em chết… xin chàng… hãy chôn em cùng với Kháp Na…

– Em nói gì vậy?

Em không thể chết!

Chàng lay gọi tôi, thổn thức bên tai tôi.

– Đừng đi, cầu xin em, đừng bỏ ta lại một mình!

Đầu óc tôi mất dần sự tỉnh táo, hai mắt khép lại, dường như chàng vẫn không ngừng gào gọi, nhưng tôi chẳng thể nghe thấy nữa, tôi đang chìm vào cõi u tối vô biên.

Tôi cứ ngỡ, sự sống của tôi từ đây sẽ ra đi theo Kháp Na.

Nếu là vậy thì ngoài việc không thể nuôi con trai khôn lớn, tôi không còn gì để nuối tiếc hoặc ân hận.

Nhưng tôi không phải con người, sự sống mãnh liệt của loài hồ ly thiêng buộc tôi phải chấp nhận số phận: là nhân chứng của bảy trăm năm bãi bể nương dâu, vật đổi sao dời tiếp theo.

Thế nên, khi tỉnh lại và trông thấy gương mặt tiều tụy của Bát Tư Ba sáng lên vì phấn khích, tôi đã không hề vui mừng khi biết mình vẫn còn sống, như chàng.

– Lam Kha, cuối cùng em cũng chịu tỉnh lại!

Em đã hôn mê hơn một tháng rồi đó!

Chàng ôm tôi lên, ghì chặt vào lòng, khóc nấc lên vì vui sướng.

Khoan đã, vì sao cánh tay của chàng lại phải băng bó thế kia?

Và vì sao chàng lại ôm tôi lên được?

Tôi cúi xuống và bắt gặp những móng vuốt quen thuộc, bộ lông màu lam ảm đạm.

Tôi sững sờ.

Khabi từng nói, trong thời gian cho con bú, chúng tôi phải duy trì hình hài con người, phải chờ giai đoạn này kết thúc mới có thể trở lại nguyên hình kia mà?

Tôi muốn nói chuyện với chàng nhưng chỉ có thể thốt lên những tiếng kêu lí nhí.

Tôi thảng thốt, thử giọng thêm lần nữa, vẫn chỉ là tiếng kêu của loài hồ ly.

Chàng nhìn tôi vẻ băn khoăn:

– Lam Kha, em muốn nói gì với ta?

Tôi muốn nói: “Vì sao em không nói được?”

Tôi bứt mấy sợi lông ở đùi để con đau kích thích thanh âm, nhưng khi mở miệng cất tiếng, vẫn không thể thốt ra lời.

Chàng vội vã ngăn tôi tiếp tục cắn xé bản thân:

– Lam Kha, đừng hành hạ bản thân như vậy!

Tôi ngẩng lên nhìn chàng, miệng dính đầy lông, nước mắt giàn giụa.

Tôi đã bị đẩy trở lại nguyên hình hoàn toàn, không thể hóa phép, không thể trò chuyện, chỉ khẽ cử động cũng mệt mỏi rã rời, tôi đã không còn, dù chỉ một chút linh khí.

Ngoài việc vẫn nghe hiểu được tiếng người, tôi chẳng làm được gì khác.

Tôi không còn đủ năng lực để tiếp tục sống sót nữa!

Chàng nhìn tôi thăm dò:

– Em không thể trò chuyện được nữa?

Tôi gật đầu, giọt nước mắt buồn tủi rớt xuống ngực chàng.

Chàng lại thận trọng hỏi tiếp:

– Cũng không thể hóa phép thành người được nữa?

Tôi ngoảnh mặt đi, nước mắt như mưa.

Tôi đã tu luyện khổ cực biết bao nhiêu để có được hình hài con người mà Kháp Na yêu thích.

Giờ đây, tất cả đã trở thành trăng dưới mặt nước, chẳng thể tìm lại được nữa.

Chàng ôm tôi vào lòng, dịu dàng an ủi:

– Đừng sợ, ta sẽ đưa em về Trung Nguyên.

Chúng ta đến tìm Hoàng hậu Khabi, chắc chắn cô ấy sẽ có cách.

Tôi giật mình ngẩng lên, lắc đầu quầy quậy.

Chàng chừng như đoán ra suy nghĩ của tôi:

– Em không muốn xa Dharma, phải không?

Vì em lo lắng cho sự an nguy của thằng bé?

Tôi gật đầu xác nhận.

Chàng thở dài khe khẽ:

– Nhưng em thế này, dù có ở lại cũng chẳng thể bảo vệ được nó.

Tôi choáng váng.

Tôi bây giờ chỉ là một hồ ly nhỏ bé, mất hết linh khí, một con chó giữ nhà cũng có thể là đối thủ đáng gờm của tôi, tôi lấy gì để bảo vệ con trai mình?

Cảm giác ấy vừa cay đắng vừa tủi phận, tôi lo lắng đập đầu liên hồi vào bàn tay chàng.

Chàng đứng lên, ôm tôi theo.

– Ta biết rồi, em muốn gặp Dharma phải không?

Ta sẽ đưa em đi gặp con.

Trước khi Kháp Na qua đời, hai chúng tôi đã lên kế hoạch chu tất cho căn phòng của em bé.

Căn phòng được bố trí đối diện với buồng ngủ của chúng tôi.

Trong phòng sẽ xếp nôi, ngựa gỗ và rất nhiều đồ chơi con trẻ mà Kháp Na đã chuẩn bị cho bé từ rất sớm.

Thế nhưng Bát Tư Ba lại đưa tôi đến một khu nhà mới xây, nằm kề Lang Như Thư Lầu.

Tôi không khỏi ngạc nhiên, khu nhà này mọc ra từ khi nào vậy?

Căn phòng ngăn cách với thế giới bên ngoài bởi ba bức tường, bên ngoài mỗi bức tường đều có mấy lực sĩ canh gác rất mực nghiêm cẩn.

Phải vào sâu bên trong mới thấy một căn nhà nho nhỏ, ngoài vườn là những hàng thông, bách thường gặp ở Sakya.

Căn nhà không lớn, nhưng tôi đã sững sờ khi thấy nó.

Người Sakya thường xây nhà bằng đá, vậy mà căn nhà này lại được dựng hoàn toàn bằng gỗ.

Sakya nằm trên vùng núi cao, gỗ được xem là vật liệu quý hiếm ở đây.

Căn nhà bằng gỗ này khiến người ta không khỏi xuýt xoa về mức độ xa hoa của nó.

Chàng dừng lại, ngước nhìn căn nhà gỗ rực rỡ dưới ánh mặt trời.

– Đây là phòng của Dharma.

Thằng bé sẽ được nuôi dưỡng trong căn nhà này.

* * * * *

– Thảo nào trong trí nhớ của tôi, không hề có dữ kiện nào về việc phái Sakya di dời thành trì đến nơi khác, thì ra bên trong lại chứa nhiều uẩn khúc như vậy.

Chàng trai trẻ như chợt bừng tỉnh rồi thở dài ảo não:

– Tình cảm sâu đậm của hai anh em họ thật khiến người ta cảm động.

– Vì là thành trì của chính quyền Sakya nên ngôi đền Nam Sakya hoàn toàn khác với các ngôi đền Phật giáo ở đất Tạng trước đó.

Tôi lật mở cuốn sách ảnh, chỉ cho cậu ta xem:

– Ngôi đền mà chúng ta thấy ở Sakya ngày nay chính là đền Nam Sakya.

Cậu ta gật đầu xác nhận:

– Đúng là nó.

Tôi nhớ rằng bức tường bao quanh ngôi đền rất cao và vô cùng kiên cố.

Nó không giống một ngôi đền mà giống thành lũy hơn.

– Nó đã được thiết kế theo bố cục của thành lũy.

Bên ngoài là tường thành, ở giữa là Phật điện, thành phố và đền đài đan xen kết hợp.

Tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn ngôi đền Sakya trong bức tranh, một lát sau mới sực tỉnh.

– Bát Tư Ba đã dốc toàn bộ của cải vào việc xây dựng đền Nam Sakya.

Công trình này kéo dài suốt hơn hai mươi năm mới hoàn tất, bắt đầu từ nhiệm kỳ bản khâm thứ nhất do đại sư Shakya Zangpo đảm nhiệm cho đến đời nhiệm kỳ bản khâm thứ ba.

Tức là, cho đến khi Bát Tư Ba qua đời, ngôi đền vẫn chưa được xây cất xong.

– Tôi cũng lưu giữ những bức ảnh về ngôi đền này, để tôi cho cô xem.

Chàng trai trẻ rút ra chiếc iPhone, chỉ cho tôi thấy từng tấm hình.

– Lúc đến Sakya, tôi đã phải thốt lên, vì sao một nơi nghèo nàn thế này lại có thể xây dựng một ngôi đền nguy nga, lộng lẫy như thế?

Thật không thể tin nổi!

Tôi chỉ vào bức ảnh và nói:

– Ngôi đền mà cậu đến tham quan là ngôi đền mới xây dựng, còn đền Bắc Sakya nằm trên lưng chừng núi Benbo đã bị phá hủy vào thời Cách mạng Văn hóa, đến nay chỉ còn lại tàn tích mà thôi.

Hết chương 50.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 51: Thế tử duy nhất


“Lòng nhân từ của bậc hiền nhân,

Có thể khuất phục kẻ địch;

Ai ban ân đức cho muôn dân,

Người đó sẽ được tôn làm vua.”

(Cách ngôn Sakya)

- Thế tử hôm nay thế nào?

Bát Tư Ba giấu tôi trong áo, quay sang hỏi một vú em có gương mặt đôn hậu, chất phác.

Người đó cung kính thưa:

- Bẩm, Thế tử rất yếu, đêm nào cũng khóc hoài không dứt, cứ bón thuốc là lại nhè ra, nhưng thuốc đắng dã tật, không thể không uống.

Mấy ngày qua, chúng tôi thay phiên nhau túc trực bên Thế tử nên Thế tử cũng đã khá hơn.

Lòng tôi thắt lại, tôi sốt ruột thò đầu ra khỏi ngực áo Bát Tư Ba.

Tội nghiệp thằng bé, còn đỏ hỏn mà đã phải thuốc thang, đắng ngắt như vậy làm sao bé chịu nổi?

Chàng khẽ ấn vào người tôi, ra hiệu cho tôi không được nóng nảy, sau đó quay sang nói với tất cả các vú em và thị nữ:

- Các cô đã vất vả chăm sóc Thế tử, ngày sau Thế tử lớn lên mạnh khỏe, phái Sakya sẽ không để các cô thiệt đâu.

Nhưng ta cũng nhắc để các cô nhớ, nếu kẻ nào lười biếng, dối trá hoặc vì tham lam đồ đút lót của kẻ xấu, đang tâm hãm hại Thế tử, ta quyết không tha!

Bọn họ nhất loạt quỳ xuống, dập đầu, không dám ho he.

Bát Tư Ba lệnh cho họ lui ra ngoài rồi đưa tôi lại gần chiếc nôi.

Đôi mắt tôi như bị thôi miên.

Đứa bé non nớt, đỏ hỏn trong nôi kia là Dharmapala của tôi sao?

Trong trí óc tôi chỉ lưu lại ấn tượng rất mơ hồ lúc bé vừa chào đời.

Còn lúc này, gương mặt của bé đã dài hơn, cái mũi bé xíu, đôi má xinh xắn, có thể thấy rõ từng đường nét của Kháp Na, rất đẹp!

Chỉ có điều, cơ thể của bé không mập mạp bằng những đứa trẻ cùng tháng khác.

Những âm thanh phát ra từ cái miệng nhỏ xinh của bé yếu ớt như tiếng mèo con.

Sống mũi cay sè, tôi trào nước mắt.

Dharma, mẹ xin lỗi vì đã không chăm con thật tốt lúc mang thai.

Chàng cúi xuống sát vành nôi, thò ngón tay vào, khẽ đùa với chiếc cằm đáng yêu của Dharma, giọng nói êm ái, ánh mắt dịu hiền:

- Nó rất giống Kháp Na, đúng không?

Tôi gật đầu đồng tình rồi nhẹ nhàng đặt móng vuốt lên đôi má măng sữa của bé.

Dharma chợt mở mắt, đôi đồng tử đen láy đảo qua đảo lại, bàn tay nhỏ xíu của bé túm chặt lấy móng vuốt của tôi, cái miệng phát ra những tiếng “a…a…” rất dễ thương.

Đột nhiên, tôi bật khóc.

- Lam Kha, ta phải nói cho em biết về nguồn gốc của căn nhà gỗ này.

Chàng đặt tôi cạnh Dharma rồi ngồi xuống bên nôi.

- Trong một tháng em hôn mê bất tỉnh, đã xảy ra một chuyện.

Thì ra hôm đó, sau khi truyền linh khí cho Dharma, tôi đã ngất đi và trở lại nguyên hình, Bát Tư Ba lập tức ra lệnh cho mọi người rời khỏi căn phòng.

Bé Dharma đã chào đời, tin tức Kangtsoban đẻ non sớm muộn cũng truyền đền tai Jichoi ở Shalu.

Vì là ông ngoại nên chắc chắn Jichoi sẽ đôn đáo chạy đến thăm con gái và cháu ngoại.

Đến lúc ấy, phải ăn nói làm sao với Jichoi và Kangtsoban?

Bát Tư Ba đã suy nghĩ rất nhiều, đột nhiên nhớ ra thi thể đã đóng băng của Kangtsoban trong sơn động trên núi Benbo.

Tối hôm đó, cậu dẫn theo Senge và Dampa lên núi đưa Kangtsoban xuống, ngay hôm sau đã tuyên bố Vương phi của Bạch Lan Vương qua đời vì đẻ khó.

Thế nên đội ngũ báo tin vừa đến Shalu thì đoàn người báo tin dữ cũng tới.

Jichoi khóc sưng mắt trên đường đến Sakya.

Jichoi đề nghị chôn cất Kangtsoban cùng với Kháp Na nhưng Bát Tư Ba không đồng ý.

Kháp Na được hỏa táng vì chàng là bậc cao tăng đại đức của nhà Phật.

Trong khi đó, theo tập tục ở đất Tạng, phụ nữ không được hưởng nghi lễ hỏa táng trang trọng kia.

Thế nên, Bát Tư Ba đã tổ chức tang lễ trọng thể cho Kangtsoban theo nghi thức thiên táng, gửi gắm linh hồn Kangtsoban cho thần Chim ưng.

Giờ đây, sợi dây kết nối duy nhất giữa Shalu và Sakya là nhóc Dharmapala đang nằm trong nôi.

Jichoi rất mực cưng nựng cháu ngoại, ông ta đề nghị đưa Dharma về Shalu nuôi dưỡng để tránh bầu không khí chết chóc nặng nề ở Sakya, nhưng Bát Tư Ba kiên quyết phản đối.

Và để Jichoi được yên lòng, chàng đã đề nghị hai bên cùng hợp sức, trong vòng một tháng, xây dựng xong căn nhà bằng gỗ kiên cố để bảo vệ sự an toàn của Dharma.

Nếu Jichoi không tin tưởng đội thị vệ của Sakya, ông ta hoàn toàn có thể cử vệ sĩ trung thành nhất của Shalu đến canh gác ngày đêm tại nơi ở của Dharma.

Lính canh ngoài kia đều là hộ vệ mà Jichoi cử đến.

Chàng thở dài, nhìn quanh một lượt.

- Tất cả đồ đạc và đồ chơi mà Kháp Na và em chuẩn bị cho bé, ta đều cho chuyển hết tới đây.

Tôi đưa mắt nhìn theo cánh tay chàng, hầu hết những đồ đạc trong phòng như: thùng tròn tập đứng, ngựa gỗ,…

đều là đồ chơi của Bát Tư Ba và Kháp Na lúc còn nhỏ, Kháp Na đã sai người đóng lại cho chắc chắn và sơm màu bắt mắt.

Những món đồ thấm đượm tình phụ tử ấy khiến tôi nhớ đến gương mặt tràn đầy niềm hy vọng và ngóng đợi ngày con chào đời của Kháp Na, lòng tôi chùng xuống.

Bát Tư Ba tiếp tục câu chuyện:

- Vú em nuôi dưỡng Dharma đều được tuyển chọn kĩ càng từ những gia đình tử tế.

Người nào được mời làm vú nuôi của Dharma thì cả gia đình sẽ dọn đến sinh sống ở Sakya.

Như thế, một là để vú nuôi yên tâm phục vụ Thế tử, hai là để đề phòng nguy cơ có kẻ bắt bớ, khống chế người thân của vú nuôi và ép cô ta hãm hại Dharma.

Chàng chậm rãi cất bước, nền nhà vang lên những tiếng cọt kẹt.

- Nền nhà được xây cao thế này để nếu kẻ xấu đột nhập thì dù hắn đi lại nhẹ nhàng cỡ nào, cũng sẽ phát ra tiếng kêu.

Nếu hắn có ý định lợi dụng đêm tối bắt cóc thằng bé, cũng khó mà đạt được mục đích.

Tôi băn khoăn nhìn chàng.

Vật liệu gỗ kỵ nhất là lửa, nếu là kẻ thù, chắc chắn tôi sẽ phóng hỏa.

Như đọc được suy nghĩ của tôi, chàng mỉm cười đầy tự tin.

- Em đừng xem thường độ chịu lửa của căn nhà gỗ này, nó còn tốt hơn những căn nhà thông thường khác rất nhiều bởi nó được dựng lên bằng gỗ thông, bốn mặt trát than chì.

Gỗ thông gặp nóng thì nở ra, có thể ngăn chặn kẻ xấu đút lửa vào khe hở.

Còn than chì có tác dụng chịu lửa rất tốt, cho dù ngoài kia có xảy ra hỏa hoạn, lửa cháy ngùn ngụt thì căn phòng này vẫn có thể chống đỡ trong một khoảng thời gian rất dài.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, mê mải ngắm nghía đứa bé xinh xắn trong nôi.

Bé đang ngủ rất say, đôi mắt khép lại, toàn thân căng tràn mùi sữa non, chốc chốc cái miệng xinh xinh lại tóp tép.

Tôi sững sờ, lúc mơ ngủ Kháp Na cũng có thói quen đó.

Hai cha con giống nhau quá!

Chàng nhấc tôi ra khỏi chiếc nôi, thở than:

- Ta biết em rất khổ tâm vì mặc dù là mẹ đẻ của Dharma nhưng em không thể nhận con.

Lòng tôi chợt ảm đạm.

Với bộ dạng thế này, tôi nhận con làm sao được?

Vả lại, Dharma cũng không thể chấp nhận điều này!

Tôi không có ý định nói cho nó biết.

Nó phải sống với thân phận là cháu ngoại của Vạn hộ hầu Shalu suốt đời.

Giỗ bốn mươi chín ngày của Kháp Na, Bát Tư Ba tổ chức một pháp hội cầu siêu long trọng tại đền Qiong Ke ở Qumi.

Chàng và các nhà sư làm lễ dâng hương, chắp tay quỳ lạy ba lần, vẻ mặt đau buồn, u uất.

Người ta thắp lửa sáng cả ngôi đền, trên tay mỗi nhà sư là một ngọn đèn dầu, cả đại điện trở nên lung linh bởi những đốm lửa bập bùng cháy sáng.

Bát Tư Ba, mắt nhòe lệ, nhấc tấm thẻ gỗ ghi tên Kháp Na trên bàn thờ xuống, bỏ vào đống lửa.

Âm thanh tụng niệm lầm rầm vang lên, vọng khắp ngôi đền.

Nước mắt đầm đìa ngực áo Bát Tư Ba, tôi không rõ đó là nước mắt của chàng hay của chính mình nữa.

Sau buổi pháp hội, Bát Tư Ba tháo băng quấn vết thương trên tay chàng.

Từng lớp vải rơi xuống, bàn tay chàng lộ ra.

Tuy vết thương đã lành nhưng lòng bàn tay có một vết sẹo kỳ lạ, như thể bị bỏng vậy.

Vết sẹo nổi lên nhức nhối, khiến cho bàn tay với những ngón thuôn dài, đẹp đẽ của chàng trở nên thô ráp, xấu xí.

Tôi nhìn trân trân vào vết sẹo trong lòng bàn tay Bát Tư Ba rồi ngẩng lên, dùng ánh mắt dò hỏi.

Chàng chỉ giải thích qua loa: Đêm túc trực bên linh cữu Kháp Na, cây nến đổ vào lòng bàn tay từ lúc nào mà chàng không hay biết nên mới bị bỏng như vậy.

Thấy tôi đau lòng, cứ liếm mãi lòng bàn tay chàng, Bát Tư Ba vội rụt tay lại, giấu sau lưng.

- Không sao đâu, ta khỏi rồi.

Chàng dõi nhìn khoảng không xa tít tắp, ánh mắt u buồn:

- Nay mọi việc đã tạm ổn, chúng ta phải về Trung Nguyên thôi.

Đầu tháng Chín năm đó, khi ngựa xe đã sẵn sàng lên đường, chàng cho gọi những nhân vật chủ chốt của giáo phái vào phòng riêng để căn dặn từng việc.

Chàng nói với Zhuoma và Kunga Zangpo:

- Ta giao Dharma cho hai người.

Hãy tận tâm chăm sóc để thằng bé được lớn lên khỏe mạnh.

Ngày sau, ta hứa sẽ tổ chức hôn lễ cho Dharma và con gái Jumodaban của hai người.

Vợ chồng Zhuoma bất ngờ, không tin vào tai mình.

Kunga Zangpo lập tức quỳ xuống, lắp ba lắp bắp:

- Dạ bẩm…tôi xuất thân hèn mọn, đâu dám nhận vinh hạnh này…

Làm vậy thật thiệt thòi cho Thế tử!

Bát Tư Ba gật đầu hài lòng:

- Jumodaban chỉ hơn Dharma một tuổi, dung mạo xinh xắn, dễ thương, ta thấy chúng rất xứng đôi.

Ngập ngừng một lát, giọng nói của chàng trở nên bi thương lạ thường:

- Vả lại, khi còn sống, Kháp Na đã rất tin tưởng cậu.

Ta hy vọng hai người sẽ bảo vệ giọt máu duy nhất của đệ ấy bằng mọi giá, kể cả phải hy sinh tính mạng.

Kunga Zangpo dập đầu quả quyết, giọng nói nghẹn ngào:

- Xin pháp vương yên tâm, mạng sống của Kunga Zangpo trước kia thuộc về cậu chủ Kháp Na, bây giờ sẽ thuộc về Thế tử!

Bát Tư Ba đỡ Kunga Zangpo đứng dậy, quay sang phía bản khâm Shakya Zangpo, nắm chặt bàn tay đồi mồi của đại sư, xúc động nói:

- Bản khâm, công việc xây dựng đền Nam Sakya phải trông cậy vào thầy rồi!

Shakya Zangpo xúc động hứa rằng:

- Thưa pháp vương, tuy đã có tuổi nhưng tôi nhất định sẽ dành trọn thời gian còn lại của đời mình cho công trình này, nhất định sẽ xây dựng thành trì khang trang, đẹp đẽ nhất cho phái Sakya.

Bát Tư Ba gật đầu mãn nguyện:

- Sau khi trở về Trung Đô và xử lý xong xuôi mọi việc, ta sẽ lập tức quay lại Sakya.

Shakya Zangpo do dự một lát, thưa rằng:

- Thưa pháp vương, hiện thế hệ sau của phái Sakya có hai người con trai.

Cậu chủ Dani, con trai ngài Yeshe, lớn hơn Thế tử Dharma sáu tuổi.

Đã đến lúc phải đón cậu ấy về đây để học tập các pháp môn của giáo phái, theo ngài…

Sắc mặt Bát Tư Ba bỗng thay đổi:

- Không cần đi đón.

Pháp thống và gia tộc sẽ do một mình Dharma kế thừa.

Tất cả những người có mặt lúc đó đều bàng hoàng, sững sờ, ngay cả tôi đang trong tâm trạng buồn bã, ủ rũ cũng giật mình ngẩng lên.

Shakya Zangpo lên tiếng:

- Nhưng theo truyền thống của giáo phái, con trai lớn kế thừa pháp thống, con út kế thừa huyết thống.

Nếu Bạch Lan Vương còn con trai khác nữa thì không có gì phải lo lắng, nhưng…

Nhận thấy sắc mặt của Bát Tư Ba càng lúc càng tối sầm, ông ấy bèn lùi lại phía sau, giọng nói lí nhí khi cố gắng trình bày nốt:

- Dani là anh, kế thừa pháp thống, Dharma là em, kế thừa huyết thống, như vậy là hợp lý.

Bát Tư Ba nghiêm mặt nói:

- Không cần bàn luận thêm nữa.

Đối với ta, Dharma là đứa cháu trai duy nhất.

Để nó kế thừa pháp thống và huyết thống của giáo phái cũng không có gì bất ổn.

Ngày sau, nó sinh được hai con trai, sẽ lại phân chia quyền thừa kế theo truyền thống của giáo phái.

Shakya Zangpo không dám nhiều lời, đành gật đầu vâng dạ.

Vợ chồng Zhuoma tất nhiên hoàn toàn ủng hộ quyết định của Bát Tư Ba.

Senge và Dampa chỉ là đệ tử, không dám can thiệp vào chuyện nhà của phái Sakya.

Mọi người đều cung kính rời khỏi phòng của Bát Tư Ba.

- Em trách ta vì quyết định chuyện hôn nhân của Dharma quá sớm phải không?

Thấy tôi mặt ủ mày chau, đi đi lại lại trên đệm trải, chàng ôm tôi lên, ghì chặt vào lòng.

- Chuyến đi này, nhanh cũng phải mất ba năm.

Ta phải bảo đảm rằng, lúc ta không có mặt ở đây, Dharma vẫn được an toàn.

Ta không còn cách nào khác ngoài việc nhờ cậy những người ta có thể tin tưởng tuyệt đối.

Cũng mừng là hai đứa trẻ sẽ được sống với nhau từ nhỏ, lớn lên chúng sẽ là thanh mai trúc mã, như vậy sẽ tốt hơn việc phải kết hôn với những người hoàn toàn không quen biết, đúng không?

Tôi lắc đầu.

Đó không phải là điều khiến tôi lo lắng, bởi vì thực lòng, tôi rất yêu mến Jumodaban.

Tôi chỉ sợ rằng, khi tin tức này lan truyền tới Vân Nam, Yeshe chắc chắn không chịu để yên.

Dù Bát Tư Ba đã bố trí canh gác cẩn mật nhưng tôi vẫn bồn chồn, lo lắng.

Thằng bé còn non nớt như vậy mà đã phải đối mặt với dông bão, với hằn thù và giết chóc.

Tôi không muốn xa Dharma, cho dù tôi chỉ là một hồ ly nhỏ bé, đã mất hết linh khí, tôi cũng muốn ở bên, bảo vệ con trai tôi.

Nên khi Bát Tư Ba đưa tôi đến gặp Dharma lần cuối trước lúc lên đường, tôi thừa dịp chàng không để ý, lẻn trốn đi.

Bát Tư Ba huy động rất nhiều người hầu đi tìm tôi khắp nơi.

Tôi vốn thông thạo địa hình, địa thế ở Sakya, ban ngày tôi trốn trên cây để không ai có thể tìm thấy.

Tôi định sẽ đến thăm con trai sau khi Bát Tư Ba rời khỏi Sakya.

Nhưng trời vừa sẩm tối, lòng tôi lại cồn cào không yên.

Tôi đành mạo hiểm lẻn vào phòng Dharma.

Cơ thể nhỏ bé của tôi không gây ra tiếng động lớn khi bước đi trên sàn gỗ nên tôi vô cùng mừng rỡ trèo vào trong nôi, ngắm nghía gương mặt đáng yêu của Dharma khi con đang say ngủ, cái miệng chốc chốc lại tóp ta tóp tép.

Thằng bé đáng yêu đến nỗi khiến trái tim tôi tan chảy.

Tôi nhìn bé không chán, nhưng không hiểu sao thị lực của tôi càng ngày càng kém đi.

Chợt sàn gỗ vang lên âm thanh cọt kẹt, tôi chưa kịp quay đầu lại đã bị Bát Tư Ba bế xốc lên, giọng chàng nhè nhẹ vang bên tai tôi:

- Ta đoán không sai, chỉ cần chờ ở đây là sẽ tìm được em.

Tôi bực mình đá vào người chàng, giãy giụa vùng thoát.

Giờ đây, khi không còn linh khí, cả khứu giác, thính giác nhạy bén của tôi cũng mất hết, bằng không, chàng đừng hòng tóm được tôi dễ dàng như vậy.

Thì ra chàng đã chờ sẵn ở đây, chẳng trách, không có vú em nào ở bên cạnh Dharma.

Tôi buồn bực vì đã “trúng kế” của Bát Tư Ba, cắn vào tay chàng.

Chàng khẽ kêu lên nhưng kiên quyết không chịu thả tay ra.

- Lam Kha, đừng trốn nữa!

Đưa em rời xa Dharma, ta biết em sẽ giận ta, nhưng ta buộc lòng phải làm vậy.

Ta phải đưa em đi tìm Hoàng hậu Khabi, cô ấy là người duy nhất có thể cứu em.

Chàng gắng chịu đau, ánh mắt lấp lánh dưới ánh trăng vằng vặc.

- Có thể em không bận tâm đến việc có khôi phục được linh khí hay không, không bận tâm đến việc bản thân đã trở nên nhỏ bé, yếu ớt, nhưng nếu không mang hình hài con người, làm sao em nhận con trai được?

Lẽ nào em muốn suốt đời phải trốn trong góc khuất, lén lút nhìn ngắm nó?

Em không muốn được ôm nó vào lòng sao?

Tôi nhìn chú bé con trong nôi, nước mắt đầm đìa.

Từ khi bé ra đời đến nay, tôi chưa lần nào được ôm nó vào lòng.

Tôi đã thèm muốn điều đó biết bao!

Lòng xót xa vô hạn, tôi há miệng, bàn tay chàng vẫn còn nguyên vết răng của tôi.

Tôi ân hận liếm láp vết thương ấy, không biết nước bọt của tôi có còn phát huy tác dụng chữa bệnh như trước không.

Chàng thở dài, vuốt ve tôi, chẳng hề bận tâm đến vết thương kia.

- Lam Kha, đừng cố chấp nữa.

Ta hứa, sau khi em lấy lại được hình hài con người, ta sẽ lập tức đưa em về Sakya!

Ngước nhìn gương mặt đôn hậu, hiền từ, tràn ngập tình yêu thương của Bát Tư Ba dưới ánh trăng, nước mắt tôi rơi lả chã, tôi đã gật đầu.

Tôi ngoảnh lại nhìn con thêm một lát, thầm an ủi: “Dharma, nhất định con sẽ bình an, nhất định con sẽ trưởng thành mạnh khỏe.

Hãy chờ ngày mẹ con ta đoàn tụ!”

Tháng 9 năm 1267, sau khi lo liệu chu tất hậu sự của em trai Kháp Na Đa Cát, Bát Tư Ba lên đường trở lại Trung Đô.

Trước ngày khởi hành, Bát Tư Ba phát thống cáo mời các cao tăng đại đức của tất cả các giáo phái lớn tập trung tại Damxung, phía Bắc đất Tạng, để tiễn chàng lên đường.

- Em biết vì sao ta làm vậy không?

Khi chúng tôi yên vị trên xe ngựa, chàng hỏi tôi.

– Chắc em biết, ta vốn không thích phô trương thanh thế.

Càng ngày Bát Tư Ba càng thích trò chuyện với tôi, chàng kể cho tôi nghe mọi chuyện, từ những việc vụn vặt thường ngày đến những việc chính sự khiến chàng bận lòng, dù chàng biết rằng tôi không thể trả lời.

Người ngoài nhìn vào, sẽ thấy hành động của chàng thật kỳ quặc, vì chàng quá mức cưng nựng, yêu chiều một tiểu hồ ly lông lá xơ xác, đi đến đâu cũng ôm nó trên tay, ngay cả lúc ngủ, cũng không rời, còn thường lẩm bẩm trò chuyện với tiểu hồ ly nữa.

Điệu bộ ấy khiến người ta cảm thấy lạ lùng và nực cười.

Nhưng Bát Tư Ba hoàn toàn không để tâm đến ánh mắt của người đời.

- Ta làm vậy là vì Dharma.

Chàng cúi xuống, dịu dàng vuốt ve sống lưng tôi.

– Lần này về Trung Nguyên, không rõ khi nào mới có thể trở lại Sakya.

Ta buộc phải cảnh cáo tất cả các giáo phái, để họ biết rằng ta và phái Sakya là thủ lĩnh của đất Tạng.

Thanh thế của phái Sakya càng lớn, Dharma càng được an toàn, yên ổn.

Tôi nằm yên lặng trên đùi chàng.

Dharma thật may mắn, vừa chào đời đã được cha chú mở sẵn một khoảng trời rộng mở, hoạch định sẵn một tương lai tươi sáng.

Nhưng nếu được lựa chọn, tôi tin rằng, Kháp Na sẽ mong con trai mình được sống bình yên, vui vẻ, hơn là sống cuộc sống giàu sang quyền quý mà bao người mơ ước này.

Giữa tháng Mười một năm đó, dãy núi tuyết trùng điệp, sừng sững xuất hiện trước mắt chúng tôi.

Tám tòa tháp (bát tháp) của miền Bắc nổi bật trên hồ nước xanh như ngọc khiến lòng người chợt dấy lên cảm xúc kính ngưỡng vô hạn.

Tám tòa tháp này được xây dựng để tưởng niệm viên đại tướng Shagkha, bề tôi trung thành của Đức vua Gelsall vĩ đại.

Nơi đây chính là cửa ngõ đầu tiên của đất Tạng – Damxung.

Damxung nằm dưới chân ngọn núi chính thuộc dãy Nyainqentanglha, độ cao tương đương vùng Sakya.

Theo kế hoạch trước đó, Bát Tư Ba đã cho lập một trạm nghỉ tại đây.

Hồ nước thiêng lớn nhất Tây Tạng Namtso nằm dưới chân ngọn núi tuyết vĩnh cửu Nyainqentanglha này.

Đang là tháng mùa đông rét đậm, tuyết lớn ào ạt trút xuống, băng tuyết phủ trắng phân nửa diện tích hồ thiêng Namtso.

Tất cả các pháp vương (kể cả pháp vương Chung Dorje của phái Drikung) và cao tăng đại đức của các giáo phái đều đã có mặt tại Damxung từ rất sớm, trừ pháp vương Chongni của phái Phaktru, hiện đang ở Trung Đô.

Bát Tư Ba dừng chân tại trạm nghỉ Damxung hơn mười ngày.

Trong suốt thời gian này, chàng đã tận dụng cơ hội để giao lưu, đàm đạo với các giáo phái.

Hơn hai năm sau khi trở về đất Tạng, sau bao vất vả, cực nhọc, thành tựu mà Bát Tư Ba gặt hái được là phần lớn các giáo phái và quan lại địa phương đã chịu thần phục phái Sakya, tôn Bát Tư Ba làm thủ lĩnh của đất Tạng.

Ngay cả pháp vương Chung Dorje của phái Drikung cũng phải tỏ ra rất mực cung kính, ứng xử nhã nhặn với Bát Tư Ba.

Đáp lại, Bát Tư Ba cũng rất mực ôn tồn, lịch duyệt, người khác chẳng thể nhận ra, giữa Drikung và Sakya từ lâu đã tồn tại một mối hận thù sâu sắc, không thể hóa giải.

Nhưng tôi không thể kìm lòng, chỉ muốn xé xác tên Chung Dorje đó ra thành trăm nghìn mảnh.

Một ngày nọ, trong buổi gặp mặt riêng giữa Bát Tư Ba và Chung Dorje, tôi đã xông ra, ngoạm vào đùi hắn.

Chung Dorje kêu lên đau điếng, cúi xuống, túm lấy đuôi tôi, giật mạnh ra khỏi người hắn.

Tôi đau đớn kêu gào nhưng kiên quyết không chịu nhả hắn ra.

Hắn tức tối kẹp chặt cổ tôi.

Bát Tư Ba vội vàng lao đến, vừa ra sức đẩy tay hắn vừa nạt nộ tôi:

- Lam Kha, buông ra!

Tôi đã ngoạm được một miếng thịt trên đùi hắn!

Tôi quắc mắt nhìn, nhai rau ráu miếng thịt đẫm máu, nuốt ừng ực.

Chung Dorje ôm vết thương nhầy nhụa máu, rên la thảm thiết:

- Đồ súc sinh đáng chết!

Để rồi xem, tao sẽ phanh thây mày!

Bát Tư Ba ôm tôi vào lòng, ném ánh mắt hình mũi tên về phía hắn:

- Pháp vương Chung Dorje, đây là hồ ly của ta.

Ta không cho phép bất cứ kẻ nào đụng vào nó!

Người hầu của Chung Dorje vội vàng kéo đến, bọn chúng tròn xoe mắt và hốt hoảng khi thấy hắn quỳ dưới nền tuyết, máu tươi trào ra, ướt đẫm một bên đùi.

Bát Tư Ba cúi xuống ngó Chung Dorje, khóe môi treo một nụ cười lạnh lùng, giọng nói như băng giá:

- Đây mới chỉ là sự cảnh cáo.

Rồi sẽ có một ngày, cái ác phải đền tội!

Dứt lời, Bát Tư Ba phất tay áo, ôm tôi bỏ đi.

Tôi ngoảnh lại nhìn, thấy hắn ngồi phịch trên đất, vẻ mặt bàng hoàng, khiếp sợ.

Khi chúng tôi về phòng, Bát Tư Ba đặt tôi lên giường, nhìn tôi nghiêm nghị:

- Lam Kha, bây giờ em đã không còn linh khí, ta không cho phép em mạo hiểm như vậy nữa đâu!

Tôi xấu hổ quay mặt đi, nhưng chàng kiên quyết xoay tôi lại, đối diện với chàng, tôi đọc thấy trong giọng nói của chàng vẻ bực bội:

- Em cho rằng ra không muốn trả thù cho Kháp Na ư?

Ta muốn lắm chứ, nhưng bây giờ chưa phải lúc.

Hôm đó, ta không tận mắt chứng kiến bọn chúng phục kích ta trên núi Kiewu, tất cả dấu vết đều đã được xóa sạch, chỉ có duy nhất một người làm chứng là dì năm, nhưng bà ta đã chết.

Tuy ta đã ra sức kìm hãm nhưng phái Drikung vẫn rất mạnh.

Ta không thể nôn nóng, cần phải kiên nhẫn thu thập mọi bằng chứng.

Tôi lặng lẽ cúi đầu.

Chàng thở dài, ôm tôi vào lòng, dùng khăn tay lau vết máu vương bên mép tôi, dịu dàng nói:

- Trước kia em đã bảo vệ ta và Kháp Na, bây giờ, hãy để ta bảo vệ em.

Cuối tháng Mười một, sau hơn mười ngày dừng chân tại Damxung, Bát Tư Ba tiếp tục lên đường.

Hôm đó, tất cả pháp vương và cao tăng đại đức của các giáo phái đều tập trung hai bên đường để đưa tiễn Bát Tư Ba.

Màu áo tăng ni đỏ sẫm của hàng vạn nhà sư nổi bật trên nền núi tuyết trắng xóa và hồ thiêng xanh như ngọc.

Đó là cảnh tượng trang nghiêm, long trọng chưa từng có.

Xe ngựa lộc cộc lăn bánh, Bát Tư Ba vén rèm cửa, ngoảnh lại nhìn.

Ngọn núi cao nhất trên dãy Nyainqentanglha khuất dần, đất Tạng ngày một cách xa chúng tôi.

Trên bàn tay đang bóp chặt thành cửa xe của chàng nổi lên những đường gân xanh.

- Lam Kha, nhất định sẽ có ngày ta trả thù cho Kháp Na.

Ta sẽ tìm ra từng kẻ một và bắt chúng phải đền tội.

...

Chàng trai trẻ đổi tư thế, chọn cho mình kiểu ngồi dễ chịu nhất trên thảm trải.

- Chừng ấy giáo phái đến đưa tiễn Bát Tư Ba nhưng có lẽ không ai trong số họ cũng có thiện chí, đúng không?

Nhất là phái Phaktru và phái Drikung.

- Điều đó cũng dễ hiểu thôi.

Nhưng ngoài mặt thì họ vẫn phải tỏ ra tuân lệnh pháp vương.

Tôi cời than hồng để ngọn lửa bập bùng cháy sáng.

- Lãnh tụ tôn giáo lên đường đến triều đình nhà Nguyên ở Trung Nguyên, các giáo phái khác tập trung tại một nơi để đưa tiễn lãnh tụ của mình.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong chuỗi lịch sử cát cứ, phân lập của Tây Tạng diễn ra một sự kiện trọng đại như vậy.

Chàng trai trẻ mỉm cười:

- Chắc chắn đó là ngày lễ vô cùng long trọng.

- Đúng vậy.

Thủ lĩnh của tất cả các giáo phái đều phải cúi đầu trước Bát Tư Ba.

Cậu biết không, các giáo phái Phật giáp Tây Tạng rất coi trọng vai vế, thân phận nên nghi thức chào hỏi của họ cũng đặc biệt phức tạp và nghiêm khắc, thậm chí, ngay cả việc ngồi khoanh tròn trên đệm trải cũng phải phân biệt lớn bé, cao thấp rõ ràng, nếu không sẽ xảy ra tranh cãi kịch liệt.

- Vậy mà thủ lĩnh của các giáo phái đều phải răm rắp nghe theo hiệu lệnh của Bát Tư Ba, lập tức đến Damxung tập trung.

Chàng trai trẻ tỏ ra rất mực già dặn khi kết luận.

– Điều này đủ để minh chứng cho vị thế và uy thế vô cùng to lớn và quan trọng của Bát Tư Ba ở Tây Tạng khi đó.

Tôi cười:

- Vào đời nhà Thanh, phái Gelug nắm quyền cai trị Tây Tạng, cũng đã học theo Bát Tư Ba.

Vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm của giáo phái này, trước khi lên đường đến Bắc Kinh yết kiến Thuận Trị, cũng lệnh cho thủ lĩnh các tất cả các giáo phái tập trung ở Damxung để đưa tiễn.

Hơn một trăm năm sau, Ban Thiền đời thứ sáu đi Bắc Kinh yết kiến Càn Long, cũng yêu cầu các thủ lĩnh tập trung ở Damxung.

Chàng trai trẻ bật cười:

- Tức là nghi thức này đã trở thành thông lệ!

Hết chương 51.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 52: Trở lại Trung Đô


“Dù khó khăn nhường nào,

Người cao thượng cũng không chấp nhận của cải phi nghĩa;

Dù đói khát đến đâu,

Vua sư tử cũng không thèm ăn miếng mồi ôi thiu.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1269 – tức năm Kỷ Tỵ, Âm Thổ theo lịch Tạng – tức niên hiệu Hàm Thuần thứ năm, nhà Nam Tống – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ sáu, Mông Cổ.

Bát Tư Ba ba mươi lăm tuổi, Chân Kim hai mươi sáu tuổi.

Xuân qua thu tới, thời gian chảy trôi như dòng nước.

Từ Sakya đến Đại Đô, chúng tôi đã đi suốt một năm, bốn tháng, đủ thấy mức độ gian khổ của hành trình này.

Tháng một năm 1269, Bát Tư Ba trở lại Trung Đô.

Có điều, lần này, bên cạnh chàng không còn bóng dáng cao gầy thân thuộc với nụ cười tươi tắn, rặng rỡ luôn thường trực trên môi ấy nữa.

Khi ra đi, Bát Tư Ba vừa tròn ba mươi tuổi, ấp ủ biết bao hoài bão.

Ngày trở lại, chàng đã ba mươi lăm tuổi, nếm trải bao cay đắng, khổ nạn của cuộc đời.

Buổi lễ nghênh đón Bát Tư Ba được tổ chức trọng thể đến mức ai nấy đều trầm trồ, xuýt xoa.

Hốt Tất Liệt cho lập một đàn hương rất lớn ở nơi cách kinh thành một dặm để đón Bát Tư Ba.

Trên đàn hương bày một bàn thờ rất rộng, hàng trăm vương công quý tộc và quan lại triều đình xếp thành hai hàng ở hai bên, đội nghi thức trang nghiêm, tề chỉnh, kéo dài từ hương đàn đến tận cửa hoàng cung.

Vì là Đại hãn nên Hốt Tất Liệt không đích thân ra đón, nhưng ngài đã cử Hoàng tử Chân Kim cùng Hoàng hậu, phi tần và các đại thần trong triều đi nghênh đón quốc sư.

Vinh dự lớn lao này, Hốt Tất Liệt chỉ dành cho Bát Tư Ba.

Khi đoàn chúng tôi vừa đến đàn hương, Chân Kim đã đích thân tới trước xe ngựa của Bát Tư Ba, đỡ quốc sư xuống xe.

Nhiều năm không gặp, Chân Kim đã trưởng thành lên rất nhiều, cậu ta để râu, thân hình cao lớn, vạm vỡ, phong thái đường hoàng, bệ vệ.

Cậu ấy ứng xử nho nhã, lịch duyệt, chứ không giống đám quý tộc Mông Cổ cục mịch, thô lỗ, chỉ biết bắn cung, cưỡi ngựa kia.

Tôi thầm khen, quả là một đấng anh tài, hào kiệt, chả trách Khabi lại tự hào về cậu ta đến vậy.

Thị vệ dắt đến một con voi Thiên Trúc khổng lồ, trên lưng buộc một bảo tọa [1] được trang trí bằng các hàng châu ngọc đan chéo nhau.

Sau khi Bát Tư Ba ngự trên bảo tọa, tiếng trống, tiếng nhạc rầm rộ vang lên.

Đội nghi thức với cột khắc kinh văn, cờ hoa, ô lọng rợp trời, những dòng cờ phướn tung bay dưới bầu trời xanh.

Trên tất cả các con phố, người ta cắm cờ ngũ sắc rực rỡ, dân chúng đứng chen chân hai bên đường, xúc động chiêm bái.

Cảnh tượng trang nghiêm, long trọng như thể ngày Phật Đản.

[1] Có nghĩa là ghế báu. (DG)

Lúc này, Hốt Tất Liệt đang ngóng chờ trên đại điện.

Vừa thấy Bát Tư Ba xuất hiện, ngài đã vội vã bước tới nghênh đón.

- Cuối cùng cũng về tới nơi!

Năm năm trời, trẫm ngày đêm thương nhớ quốc sư!

Năm đó, Hốt Tất Liệt đã năm mươi tư tuổi nhưng vẫn tráng kiện như ngày nào, gương mặt hồng hào, rạng rỡ.

Trong khi, Bát Tư Ba tiều tụy, ốm yếu hơn trước.

Bát Tư Ba quỳ xuống vái lạy, nghẹn ngào:

- Đại hãn...

Hốt Tất Liệt vội đỡ Bát Tư Ba đứng lên, khẽ vỗ vào vai chàng, động viên:

- Tay Chongni của phái Phaktru ấy chỉ giỏi mồm mép, trẫm đã đuổi hắn về rồi.

Trẫm vẫn tu tập theo pháp môn của phái Sakya.

Quốc sư hãy nghỉ ngơi một thời gian, sau đó mời quốc sư làm lễ quán đỉnh cho trẫm.

- Thưa Đại hãn, bần tăng trở về Trung Đô lần này không phải để tranh giành sự sủng ái của Đại hãn, mà có việc đáng vui mừng bẩm báo với người.

Bát Tư Ba rút trong tay áo ra một bản tấu chương, trịnh trọng dâng lên:

- Thưa Đại hãn, sau tám năm nghiên cứu, Bát Tư Ba đã hoàn tất trọng trách sáng tạo ra loại chữ Mông Cổ mới, xin dâng lên Đại hãn.

Đây là bản “Ưu lễ tăng nhân chiếu thư” [2] do Đại hãn soạn thảo, đã được chép lại bằng loại chữ Mông Cổ mới.

[2] Ưu lễ tăng nhân chiếu thư (Chiếu thư về việc kính lễ các nhà sư) là bản chiếu thư Hốt Tất Liệt ban riêng cho Bát Tư Ba.

Trong chiếu thư này, Nhà vua hết lời ca ngợi Bát Tư Ba cùng với tôn giáo mà ngài đang tu tập.

Đồng thời yêu cầu mọi người trong thiên hạ phải kính lễ các nhà sư, tăng sĩ, không ai được phép tỏ ra khinh thường họ.

Hốt Tất Liệt mừng vui khôn xiết, đón lấy bản tấu chương, càng đọc càng hài lòng, phấn khởi:

- Tốt lắm, hay lắm!

Loại chữ viết mới này sẽ bù đắp thiếu sót của triều đại chúng ta, giúp chấn hưng nước nhà!

Trẫm sẽ lập tức ban chiếu thư, ra lệnh phổ biến loại chữ này trên toàn quốc!

Tháng Hai năm đó, Hốt Tất Liệt ban lệnh phổ cập chữ viết mới.

Kể từ ngày chiếu thư được ban bố, toàn bộ công văn, giấy tờ trao đổi qua lại đều phải được viết bằng loại chữ mới.

Khi ấy, người ta gọi văn tự này là “chữ Mông Cổ mới”.

Sở dĩ “mới” là để phân biệt với chữ Mông Cổ kiểu Uyghur trước đây.

Không lâu sau, loại chữ này được đổi tên thành “chữ Mông Cổ” hoặc “quốc thư Mông Cổ”.

Khi loại văn tự này suy vong, người đời sau gọi nó là chữ Bát Tư Ba để kỷ niệm người đã sáng tạo ra nó.

Cậu hai Rinchen và đại đệ tử Drakpa Odzer đã dọn dẹp, bài trí xong xuôi phủ Quốc sư để nghênh đón Bát Tư Ba.

Tối hôm đó, Bát Tư Ba thay bộ áo cà sa mới, nói với tôi:

- Lam Kha, tối nay Đại hãn thết tiệc tẩy trần cho ta, em cứ ở lại phủ Quốc sư nghỉ ngơi, chờ ta về.

Rồi chàng ngừng lại một lát, ánh mắt thoáng chút do dự:

- Tối nay Hoàng hậu cũng đến dự tiệc, không có thời gian để gặp em đâu.

Ngày mai ta sẽ đưa em đến tìm cô ấy.

Tôi cuộn tròn trên giường, gật đầu.

Sáng sớm hôm sau, Bát Tư Ba giữ đúng lời hẹn, đưa tôi vào cung gặp Khabi.

Hậu cung của Hốt Tất Liệt vẫn giữ nếp sống của người Mông Cổ, không thiết lập chế độ ra vào cung quá nghiêm khắc như sau này.

Vả lại, Bát Tư Ba là thượng sư của rất nhiều hậu phi, hoàng tử, công chúa triều Nguyên nên chàng được tự do ra vào hoàng cung.

Mái tóc Khabi đã điểm rất nhiều sợi bạc nhưng gương mặt vẫn ngời ngời vẻ trang trọng, đài các, mọi cử chỉ, hành động đều toát lên phong thái của bậc mẫu nghi thiên hạ.

Cô ấy lệnh cho đám người hầu lui ra ngoài rồi cúi xuống nhìn tôi, lắc đầu, thở dài:

- Trời đất ơi, sao lại ra nông nổi này?

Ba trăm năm tu luyện đã thành công cốc!

Trong tộc hồ ly màu lam của chúng ta, làm gì có ai bi đát như cô chứ!

Tôi ngoảnh mặt đi, không thèm để ý đến cô ấy.

Tôi đã tàn tạ, thê thảm thế này rồi mà cô ấy vẫn không quên chọc tức tôi.

- Thưa Hoàng hậu, Lam Kha đã trải qua rất nhiều cay đắng, đã nếm đủ những đau đớn, khổ sở mà người thường khó lòng chịu đựng nổi.

Cô ấy rơi vào tình cảnh thảm thương thế này, tất cả đều vì bần tăng.

Bát Tư Ba nhẹ nhàng vuốt ve tôi rồi chắp tay, trịnh trọng vái Khabi một vái:

- Bần tăng đưa cô ấy đến gặp người là muốn hỏi, liệu cô ấy có thể khôi phục được linh khí không?

Khabi túm cổ tôi, nhấc lên.

Tôi giẫy đạp, vùng vẫy nhưng không ăn thua.

Cô ấy quan sát tôi thật kĩ rồi hờ hững đáp:

- Nói là khó thì cũng chẳng khó, chỉ cần chăm chỉ tu luyện, từ từ sẽ khôi phục được thôi.

Tôi quên là cổ mình đang bị thít chặt đến nghẹt thở, tròn xoe mắt nhìn cô ấy.

Bát Tư Ba lo lắng hỏi:

- Phải mất bao lâu?

Cô ấy phì cười, đặt tôi vào lòng Bát Tư Ba, liếc xéo tôi một cái:

- Thành quả tu luyện suốt ba trăm năm, làm gì có chuyện muốn khôi phục là khôi phục ngay được!

Còn phải xem vận số của từng người ra sao.

Người thông minh, tái trí thì chỉ cần ba, bốn năm là đủ, kẻ đần độn, ngu si, có thể phải tu lại ba trăm năm cũng nên.

Tôi trừng mắt lườm cô ấy, nói thế chẳng bằng không nói.

Cô ấy ngẫm ngợi một lát rồi gật đầu với tôi:

- Thế này đi, nể tình chúng ta là đồng loại, từ lâu lại có quan hệ thân thiết, ta sẽ truyền linh khí cho cô.

Tuy không thể giúp cô lập tức phục hồi nhưng chí ít cô có thể trò chuyện như xưa.

Tôi giật mình ngẩng lên, không tin nổi vào tai mình.

Cô ấy trở nên tốt bụng từ khi nào vậy?

Truyền linh khí cho người khác sẽ hao tổn rất nhiều năng lượng của bản thân, nếu không phải là người thân thiết nhất của mình, trên đời này, làm gì có kẻ nào bằng lòng làm việc đó?

Cô ấy chẳng buồn đếm xỉa đến ánh mắt băn khoăn của tôi, đặt ngón tay lên vết sẹo hình hoa sen trên trán tôi và niệm chú.

Một luồng khí nóng truyền từ ngón tay cô ấy vào ấn đường của tôi, chỉ trong chốc lát đã lan khắp cơ thể, cho tôi cảm giác vô cùng thư thái, dễ chịu.

Một lát sau, cô ấy ngừng lại, lấy hơi, nhìn tôi.

Tôi thử cất tiếng gọi:

- Lâu Cát...

Tuy giọng nói vẫn còn khản đặc nhưng rõ ràng tôi đã có thể trò chuyện.

Bát Tư Ba vui mừng khôn xiết:

- Lam Kha, hay quá!

Em lại có thể trò chuyện được rồi!

Tôi sung sướng, vùi đầu vào lòng chàng, gọi đi gọi lại tên chàng.

Khabi tủm tỉm:

- Thôi thôi, đừng tình tứ trước mặt ta nữa.

Tìm nơi vắng vẻ mà tâm tình, thủ thỉ.

Gương mặt Bát Tư Ba đỏ như gấc chín, tôi xấu hổ quay mặt đi.

Khabi lấy lại dáng vẻ đoan trang, thục hiền của một hoàng hậu, dặn dò tôi:

- Cô vẫn còn nhớ các pháp môn đó chứ?

Hãy chăm chỉ tu tập và đừng quên điều này, càng tu luyện hiệu quả cô càng có cảm giác buồn ngủ.

Điều này hết sức bình thường, không nên lo lắng.

Tôi và Bát Tư Ba đưa mắt nhìn nhau, ánh mắt chàng ngập tràn niềm vui.

Kể từ khi Kháp Na qua đời, tôi chưa bao giờ thấy chàng cười.

Nhưng hôm nay đã khác, nụ cười rạng rỡ, mãn nguyện của chàng khiến tim tôi loạn nhịp.

Tôi vội vã quay mặt đi để che giấu xảm xúc đó.

Suốt khoảng thời gian sống trong phủ Quốc sư, Bát Tư Ba không lúc nào nguôi ngoai mỗi khi nhìn sang phủ Bạch Lan Vương phía đối diện.

Vì thế, Hốt Tất Liệt đã đề nghị chàng dọn vào ở trong ngôi chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương vừa khánh thành, nằm bên sông Cao Lương.

Ngôi chùa này do Hoàng hậu Khabi công đức tiền của để xây dựng, người ta trồng hàng nghìn cây mẫu đơn trong chùa.

Hoa mẫu đơn, tiếng Tạng là “mai đóa nhiệt oa”, nghĩa là: vườn hoa.

Mùa xuân về, hoa mẫu đơn đua nhau nở rộ, rực rỡ chẳng khác nào vườn Thượng Uyển trên Thiên Cung.

Từ ngày trở về Trung Đô, Bát Tư Ba lại đầu tắt mặt tối.

Bát Tư Ba là người đứng đầu Tổng chế viện mà Hốt Tất Liệt lập ra để cai quản nền Phật giáo của đất nước và các công việc chính sự liên quan đến vùng Tufan.

Thêm vào đó, chữ Mông Cổ vừa được ban lệnh phổ cập, Bát Tư Ba phải đích thân truyền dạy mọi người cách sử dụng vì chàng là người sáng tạo ra hệ thống chữ viết mới mẻ này.

Vì thế, ngày nào chàng cũng đi sớm về muộn, bận bịu thâu đêm suốt sáng, tôi chỉ gặp được chàng chốc lát vào buổi tối.

Còn tôi, tôi có việc quan trọng phải làm.

Hằng ngày, ngoài lúc ăn uống và ngủ nghỉ, tôi dành trọn thời gian và tâm sức cho việc tu luyện.

Giờ đây, tôi đã thoát khỏi nỗi tuyệt vọng và đang nỗ lực không ngừng nghỉ vì mục tiêu: lấy lại hình hài con người!

Lần đầu tiên trong đời, khát khao cháy bỏng ấy đến với tôi khi trái tim tôi rung động trước vị quốc sư tuổi trẻ tài cao, được mọi người sùng bái ấy.

Còn bây giờ, khi đã nếm trải đủ những cay đắng, khốn cùng của cuộc đời, đã biết thế nào là sinh ly tử biệt, đã hiểu thế nào là tình yêu đích thực, trái tim tôi chẳng thể rung động được nữa.

Trong lòng tôi lúc này, Dharma xếp vị trí số một.

Tôi muốn có được hình hài con người để được ôm con trai tôi vào lòng.

Đúng như Khabi dự đoán, sau mỗi ngày khổ luyện, tôi lập tức chìm vào giấc ngủ say.

Thường thì, khi Bát Tư Ba về phòng, đã thấy tôi thiếp đi mê mệt.

Hôm sau, khi tôi thức giấc thì chàng đã rời khỏi phòng ngủ từ lâu, chỉ còn chút hơi ấm vương lại trên gối và cốc sữa bò bốc hơi nơi đầu giường nhắc nhở tôi rằng, hôm nay, chàng lại tiếp tục vòng quay của chuỗi ngày đi sớm về muộn.

Nhưng trong những lần gặp hiếm hoi, tôi hết sức thảng thốt vì hình như Bát Tư Ba đã già đi vài phần so với lần gặp trước.

Năm nay chàng mới ba mươi lăm tuổi, vậy mà những nếp nhăn nơi đuôi mắt và trên trán cứ ngày một đậm hơn, sâu hơn.

Tuy những nếp nhăn khiến chàng trở nên từng trải hơn, vững chải, trang nghiêm hơn, nhưng thực sự nó không hợp với tuổi tác của chàng.

Tôi biết những năm qua chàng đã quá lao tâm khổ tứ vì việc chung, lại phải chứng kiến người thân của mình qua đời, nhưng dù vậy, khoảng thời gian ở Sakya, chàng không già nua nhanh chóng như trong vòng một năm trở lại đây.

Tôi đã khuyên can và nài nỉ chàng đừng quá lao lực nhưng chàng chỉ mỉm cười đáp lại, tiếp tục thức khuya dậy sớm, tiếp tục già nua đi như thế.

Ngày tháng thoi đưa, chớp mắt đã hết một năm.

Năm 1270, thể theo nguyện vọng của Hốt Tất Liệt, Bát Tư Ba tổ chức lễ truyền pháp quán đỉnh Mật tông [3] cho Nhà vua.

Hốt Tất Liệt ban tặng cho Bát Tư Ba ngọc ấn của vua Tây Hạ mà năm xưa Thành Cát Tư Hãn đã đoạt được khi công phá Tây Hạ.

Ngọc ấn này đã được gia công thành ngọc ấn lục giác khi ban tặng cho Bát Tư Ba.

Đồng thời, Hốt Tất Liệt sắc phong Bát Tư Ba làm đế sư với lời ca ngợi: “Ngài là bậc trên thông thiên văn dưới tường địa lý, đệ tử của đấng Phạm Thiên, hóa thân của Phật Đà, người đã sáng tạo ra chữ viết mới, gánh vác việc triều chính.”

Bên cạnh việc ban ngọc ấn và sắc phong làm đế sư, Hốt Tất Liệt còn ban thưởng cho Bát Tư Ba rất nhiều vàng bạc, châu báu, lụa là, gấm vóc.

Tất nhiên, toàn bộ số của cải này đã được Bát Tư Ba chuyển về Sakya làm kinh phí xây dựng đền Nam Sakya.

[3] Quán đỉnh Mật Tông là nghi lễ trong Phật giáo Kim Cương Thừa mà theo đó, các pháp được truyền theo hình thức tantra thông qua công đức vô lượng và năng lực của đại sư truyền pháp.

Mùa hè năm đó, Sakya báo tin: bản khâm Shakya Zangpo viên tịch!

Đại sư Shakya Zangpo đã ngoài sáu mươi, khi chúng tôi rời Sakya, sức khỏe của đại sư đã yếu đi nhiều.

Mất mát này khiến Bát Tư Ba đau buồn một thời gian dài.

Sau khi xét suy mọi bề, Bát Tư Ba gửi thư về Sakya, lệnh cho Kunga Zangpo kế nhiệm chức vị bản khâm đời thứ hai.

Tôi vô cùng kinh ngạc:

- Chàng giao cho một người thân phận thấp kém như Kunga Zangpo chức vị lớn lao ấy, chàng không sợ mọi người sẽ phản đối sao?

- Kunga Zangpo đi theo ta và Kháp Na từ nhỏ, năng lực của cậu ta, ai nấy đều thấy rõ.

Cậu ta là người già dặn, chín chắn, suy nghĩ thấu đáo, thận trọng.

Công trình đền Nam Sakya là một công trình vĩ đại, xét thấy cả phái Sakya chỉ có mình Kunga Zangpo có thể đảm nhiệm được trọng trách này.

Chàng đặt bút xuống, thổi cho khô các nét mực rồi quay sang nói với tôi:

- Còn về chuyện xuất thân, hiện cậu ấy đã là con rể của phái Sakya, thế là đủ.

- Người xưa nói không sai: “Yêu ai yêu cả đường đi.”

Tôi thở dài, trong lòng cứ phấp phỏng lo âu.

– Bởi vì cậu ta là người mà Kháp Na tin tưởng nhất nên chàng cũng tin tưởng cậu ta tuyệt đối.

Chàng trầm ngâm không nói, ngước nhìn màn đêm buông xuống ngoài cửa sổ.

Gió đêm mang theo hơi nóng của ngày đầu hạ ùa vào phòng, thổi bay cánh màn.

Chàng đột nhiên thẫn thờ, buột miệng:

- Sắp ba năm rồi!

Tôi ngỡ ngàng, lập tức hiểu ra điều chàng muốn nói.

Tôi cúi đầu, nước mắt lã chã, lòng đau quặn.

Kháp Na đã rời xa chúng tôi gần ba năm rồi...

Ngày đêm với tôi không còn ý nghĩa nữa, ngoài những lúc miệt mài khổ luyện, tôi dành trọn thời gian để nghĩ về con trai.

Không biết thằng bé đã lớn thêm được chút nào chưa?

Không biết đã bi bô tập nói chưa?

Chắc là con tinh nghịch, đáng yêu lắm.

Chắc là con càng ngày càng giống cha.

Mong là lúc mẹ lấy lại được hình hài con người, mẹ vẫn có thể ôm con trong tay.

Bát Tư Ba ngày một già nua.

Cứ cách một thời gian, ngắm nhìn chàng, tôi lại thấy chàng già đi rất nhanh.

Chàng mới ba mươi sáu tuổi nhưng hai năm trở lại đây, chàng dường như đã già đi hơn mười tuổi.

Những đường nét thanh tân trên gương mặt chàng đã hoàn toàn biến mất.

Vóc dáng gầy gò càng thêm tiều tụy, lưng chàng còng xuống, chiều cao giảm hẳn, nếp nhăn trên trán ngày càng vằn vện, quá nửa chân tóc là màu trắng.

Chàng rất chăm chỉ cạo đầu, hễ thấy chân tóc trắng là lập tức cạo sạch.

Trước đây, mỗi lần chàng ra ngoài là đám đông các thiếu nữ lập tức xúm lại, chiêm ngưỡng, nhưng giờ đây, cảnh tượng đẹp đẽ đó không còn tái diễn nữa.

Một ngày nọ, tôi gắng gượng chống lại cơn buồn ngủ để chờ chàng về.

Tôi đã cấu vào chân mình để giữ cho đôi mắt không khép lại.

Sau giờ Hợi, khi bàn chân tôi đã sưng đỏ, tôi mới thấy chàng bước vào phòng.

Tôi nhảy lên lòng chàng khiến chàng giật mình:

- Lam Kha, sao giờ này còn chưa đi ngủ?

Em phải chịu khó ngủ thật nhiều mới nhanh phục hồi linh khí được chứ!

Tôi trách móc:

- Ngày nào chàng cũng chỉ ngủ có ba canh giờ, sau đó rời khỏi phòng giải quyết cả núi việc.

Nếu em không nhẫn nại chờ đợi, chắc chẳng khi nào gặp được chàng.

Chàng vuốt ve cái đầu nhỏ của tôi, vẻ mặt chẳng có gì là hối lỗi:

- Chữ Mông Cổ vừa được ban hành, ta phải hướng dẫn quan lại trong triều cách dùng, còn phải soạn bài giảng nữa.

Ta cũng muốn đưa em đi cùng, nhưng chắc chắn những công việc này sẽ khiến em cảm thấy buồn chán, nên em hãy chăm chỉ ở lại đây tu luyện thì hơn.

- Em chờ chàng về không phải vì em cảm thấy buồn chán!

Tôi hơi bực, thúc cái mũi nhọn vào cánh tay chàng.

– Chàng còn nhớ những lời dặn dò của Kháp Na không?

Kháp Na không muốn chàng quá lao lực vì giáo phái hay vì trọng trách thống nhất đất Tạng.

Kháp Na muốn chàng sống cho bản thân mình.

Nghe nhắc đến Kháp Na, chàng chỉ biết im lặng.

Tôi thở dài:

- Lâu Cát, cho dù chàng không bận tâm đến sức khỏe của bản thân, không màng đến việc dung mạo của mình ngày một già nua thì chàng cũng phải nghĩ đến Dharma chứ?

Nếu chàng qua đời, Dharma sẽ ra sao?

Một đứa bé như nó làm sao gánh vác nổi trọng trách của giáo phái?

Chàng khép hờ đôi mắt, hàng mi dài rung động, nụ cười gượng gạo:

- Đừng lo, Đại hãn ban cho ta rất nhiều loại thuốc bổ quý hiếm.

Ngày nào Dampa cũng sắc cho ta uống.

Ta hứa với em, sau khi kết thúc chuỗi ngày bận rộn này, ta nhất định sẽ nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng một thời gian và dành nhiều thời gian cho em hơn.

Tôi muốn nói thêm nhưng không biết phải nói sao.

Chàng lúc nào cũng vậy, chẳng bao giờ để ý đến sức khỏe của mình.

Suốt cuộc đời, chàng chưa bao giờ sống cho riêng mình.

Chàng vỗ nhẹ vào lưng tôi, dỗ dành:

- Em mau ngủ đi, ta xem qua một lượt các công văn của Tổng chế viện gửi đến rồi sẽ đi nghỉ ngay.

Cơn buồn ngủ lập tức ập đến, trước lúc thiếp đi, hình như tôi có cảm giác bị nhấc bổng lên và đưa đi đâu đó, có tiếng bước chân quen thuộc.

Sau đó, tôi không còn biết trời đất gì nữa.

Tết năm 1271, Hốt Tất Liệt dẫn theo Khabi và Chân Kim đến chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương lễ Phật, cầu phúc.

Chân Kim đã lẻn đến gặp tôi.

Cậu ta mang cho tôi món gà rán của quán Đức Thắng mà tôi thích nhất.

Tôi thốt lên kinh ngạc rồi nhào đến ngấu nghiến, cắn xé món thịt thơm ngậy.

Bạn bè chơi với nhau từ bé có khác, hiểu rõ tôi thích gì nhất.

Lần nào đến chùa, Chân Kim cũng là người giúp tôi cải thiện bữa ăn.

- Tiểu Lam, lẽ ra em phải là một hồ ly già cả rồi mới phải chứ!

Vì sao ta không thấy em già đi chút nào?

Bộ lông của em vẫn bóng mượt như thế, đôi mắt vẫn xanh lam, đáng yêu như thế.

Chân Kim vừa nhìn tôi thả sức thưởng thức món ngon vừa bật cười khúc khích, thò tay đùa giỡn với chiếc cằm của tôi.

Tôi khinh khỉnh nhìn cậu ta.

Nếu thấy tôi lúc vừa trở về Trung Đô, chắc chắn cậu ta sẽ không nhận xét như vậy.

Lúc ấy, đôi mắt của tôi tái dại, lông lá xác xơ, tơi tả.

Mất hai năm trời khổ luyện, tôi mới lấy lại được dáng vẻ như bây giờ.

Những ngày qua, tôi đã cảm nhận một cách rõ rệt, linh khí trong cơ thể ngày càng nhiều lên.

Khứu giác, vị giác, thính giác và thị giác của tôi đều đã phục hồi.

Tôi thử biến phép thì phần lớn đều thành công.

Có lẽ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ lấy lại hình dáng con người!

Chân Kim đột nhiên buông một câu hỏi lạ lùng:

- Không biết ở trên trời cô ấy có được bình an không?

Cậu ta cúi đầu, thở dài, hàng lông mày dày, rậm xô lại, chừng như đang có rất nhiều tâm sự.

- Năm năm qua ta chưa lần nào gặp lại cô ấy.

Tôi sững sờ, cậu ta đang nói về tôi sao?

Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi, Khoát Khoát Chân đã sinh cho cậu ta đứa con trai thứ ba Thiết Mộc Nhĩ, vậy mà cậu ta vẫn tưởng nhớ cuộc gặp tình cờ vào ngày lễ Sitatapatra đó ư?

Tôi khẽ lắc đầu.

Đối với cậu ta, cô gái tóc xanh, mắt xanh ấy chẳng qua chỉ là một ảo ảnh mà thôi.

Vì buổi chiều tham ăn, chén cả con gà rán mà Chân Kim mang cho nên tôi hầu như không đụng đũa vào đĩa thức ăn buổi tối.

Ăn uống xong xuôi, tôi cuộn tròn trên giường, lăn qua lăn lại một hồi vẫn không thấy buồn ngủ.

Lạ quá, hai năm qua, tối nào cơm nước xong một lúc là tôi buồn ngủ rũ mắt kia mà, vì sao hôm nay không hề có cảm giác muốn ngủ?

Tiếng bước chân quen thuộc của Bát Tư Ba vang lên ngoài cửa.

Tôi tủm tỉm cười, nằm im trên giường vờ ngủ say.

Cánh cửa kẹt mở, chàng bước về phía tôi, ôm tôi lên.

Tôi định mở miệng dọa chàng nhưng lại thấy chàng cất bước rời khỏi căn phòng.

Vòng vèo một hồi, tôi càng lúc càng nghi hoặc, chàng định đưa tôi đi đâu?

Đến trước cửa một căn phòng lạ lẫm, chàng đẩy cửa bước vào như thể rất thông thuộc.

Căn phòng được bài trí đơn sơ, một người con gái yêu kiều đang ngồi xoay mặt về phía cửa sổ.

Nghe tiếng động, người con gái lập tức quay đầu lại, mỉm cười:

- Thầy đến đấy à?

Tôi toát mồ hôi khi nhận ra người đó là Khabi!

...

- Đến tận bây giờ tôi vẫn có thể đọc thuộc bản chiếu thư ban hành chữ Bát Tư Ba của Hốt Tất Liệt.

Tôi đứng lên, chầm chậm cất bước trong căn phòng, khe khẽ đọc:

- Trẫm dùng chữ viết ghi lại lời nói, ghi lại những sự kiện để người đời nay biết những việc của người đời trước.

Quốc gia của trẫm bắt nguồn từ phương Bắc, phong tục cổ hủ, chưa có chữ viết của riêng mình, văn tự mà người Mông Cổ sử dụng là mượn từ chữ Hán và chữ Uyghur.

Xét thấy các nước lân bang đều có chữ viết riêng, gặt hái được những thành tựu văn hóa rực rỡ.

Những điều mà người đời tôn trọng là những điều ghi trước các cuốn sách...

Do đó, trẫm đã hạ lệnh cho ngài Bát Tư Ba sáng tác ra chữ mới của Mông Cổ, dịch tất cả các chữ để mọi người đọc được mà hiểu biết mọi chuyện.

Chàng trai trẻ tỏ ra băn khoăn:

- Hốt Tất Liệt ra sức phổ cập chữ Bát Tư Ba là thế, vậy thì vì sao về sau, loại chữ này không được tiếp tục lưu truyền?

- Bởi vì hình dạng của kiểu chữ này rất khó nhận biết.

Thêm vào đó, một số địa phương vẫn phỏng theo kiểu chữ Triện của người Hán nên lại càng khó nhận biết hơn.

Tôi lật mở những bức hình trong sách và chỉ cho chàng trai trẻ từng chữ một.

– Bởi vậy, mặc dù triều Nguyên đã nhiều lần hạ lệnh yêu cầu quan lại và dân chúng sử dụng chữ Bát Tư Ba khi ghi chép, viết lách, và thực chất là cũng có một số thư tịch được viết bằng chữ Bát Tư Ba, nhưng phần đông dân chúng vẫn tiếp tục dùng chữ Hán.

Thế nên, chữ Bát Tư Ba chủ yếu chỉ được sử dụng trong các văn kiện của quan lại.

Cậu ta quan sát và thử mô phỏng một chữ Bát Tư Ba, rồi gật gù, nói:

- Quả thật rất khó phân biệt.

- Sau khi triều Nguyên suy vong, chữ Bát Tư Ba dần dần bị đào thải, cuối cùng trở thành văn tự chết.

Chàng trai ngẩng lên hỏi:

- Vậy vì sao ngay cả Mông Cổ cũng không còn lưu truyền loại chữ này?

Tôi cười:

- Bởi vì nhà Nguyên chỉ là một trong bốn nước lớn của đế quốc Mông Cổ, chữ Bát Tư Ba chỉ được sử dụng ở triều Nguyên, các nước Mông Cổ khác không sử dụng loại văn tự này.

Triều Nguyên sụp đổ, người Mông Cổ bị người Hán đuổi khỏi Trung Nguyên, chữ Bát Tư Ba từng được sử dụng rộng rãi ở Bắc Nguyên một thời gian.

Sau đó, cùng với việc những người sử dụng loại chữ này bị các bộ lạc Mông Cổ khác đồng hóa, chữ Bát Tư Ba từ đó diệt vong.

Chàng trai trẻ thở dài:

- Vậy nên ngày nay, chúng ta chỉ có thể đọc được chữ Bát Tư Ba trên các di vật văn hóa.

Hết chương 51.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 53: Trở lại làm người


“Kẻ tiểu nhân nạt nộ bậc hiền nhân,

Bậc hiền nhân không buồn so đo;

Loài sói tru lên những tiếng ngọa mạn,

Sư tử cười nhạo đám vô tri.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1271 – tức năm Tân Mùi, Âm Thiết theo lịch Tạng – tức niên hiệu Hàm Thuần thứ bảy, nhà Nam Tống – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ tám, Mông Cổ.

Bát Tư Ba ba mươi bảy tuổi, Chân Kim hai mươi tám tuổi.

Khabi đặt ngón tay lên vết sẹo hình hoa sen trên trán tôi, nhận xét:

- Hai năm trôi qua, linh khí trong cơ thể cô ấy đã ngày một nhiều lên.

Có lẽ chỉ vài bữa nữa là cô ấy có thể hóa thành người.

Giọng nói khản đặc của Bát Tư Ba vang lên trong hoan hỉ:

- Tốt quá!

Cuối cùng cô ấy cũng được như ý!

Khabi đặt tôi lên giường rồi ngồi xếp bằng đối diện với tôi:

- Từ nay thầy phải bỏ vào đồ ăn của cô ấy lượng thuốc mê mà ta đã làm phép nhiều hơn trước.

Bởi vì linh khí càng mạnh, thính giác, khứu giác, vị giác của cô ấy càng được khôi phục nhanh chóng.

Nếu ta không làm phép và nếu cô ta không ăn quen các món đó thì cô ấy đã phát hiện ra từ lâu.

Nếu không giữ yên linh khí của cô ấy, để cô ấy tỉnh lại giữa chừng thì công lao che giấu suốt hai năm qua của thầy sẽ đổ xuống sông xuống biển.

- Tạ ơn Hoàng hậu nhắc nhở.

Có tiếng y phục sột soạt rồi chàng cũng lên giường, ngồi xếp bằng bên cạnh tôi.

- Xin mời Hoàng hậu bắt đầu cho!

- Thầy không sao chứ?

Khabi do dự một lát, giọng nói khẽ khàng.

– Thầy ngày một già nua, yếu ớt.

Giọng chàng điềm tĩnh:

- Bần tăng không sao.

- Nếu thầy không muốn tiếp tục thì có thể ngừng lại bất cứ lúc nào.

Khabi bật cười xót xa.

– Nhưng ta biết, thầy sẽ không chịu dừng lại, nếu không, thầy đã chẳng kiên trì suốt hai năm qua.

Giọng chàng vang lên, tĩnh lại như mặt nước nơi đáy giếng.

- Chờ khi cô ấy khôi phục được hình hài con người hãy hay.

Khabi không nói thêm gì nữa, ngón tay đặt trên trán tôi bỗng truyền đến một dòng nhiệt nóng ran như muốn thiêu đốt vết sẹo hình hoa sen.

Vì không muốn để họ biết tôi hoàn toàn tỉnh táo, tôi đành gắng gượng chịu đựng sức nóng dị thường của dòng nhiệt ấy.

Một lát sau, dòng nhiệt dần tan đi, thay vào đó, hơi ấm hơi tỏa khắp cơ thể, khiến tôi cảm thấy vô cùng sảng khoái, dễ chịu, như thể đang lơ lửng trên chín tầng mây, gối đầu lên mây ấm bồng bềnh, ngắm nhìn mặt trời lặn rồi mọc.

Nửa canh giờ sau, ngón tay của Khabi rời khỏi vùng trán tôi.

Cô ấy thu lại phép thuật, ngồi thở dốc rồi nhìn tôi, thở dài:

- Có lúc tôi thấy cô ấy thật đáng thương, Đồng loại của cô ấy, sau khi tu luyện thành người, đều được tận hưởng đời sống vinh hoa phú quý, giàu sang, sung sướng.

Còn cô ấy, chỉ được ở bên người mình yêu vỏn vẹn hai năm, sau đó âm dương cách biệt.

Và điều đau khổ nhất là, cô ấy không thể nhận con.

Bát Tư Ba trầm ngâm không nói, chỉ ngồi một bên khe khẽ thở.

Khabi rời khỏi chiếc giường, nhấc tôi lên:

- Nhưng tôi cũng cảm thấy cô ấy thật hạnh phúc, bởi vì tình yêu mà cô ấy có được nhiều hơn chúng tôi gấp vạn lần.

Trên đời này, mười gã đàn ông thì có đến tám, chín kẻ lòng dạ bạc bẽo.

Nhưng may mắn thay, cô ấy đã gặp được hai người.

Cả Kháp Na và thầy đều sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình vì cô ấy.

Có được hai người yêu mình sâu sắc đến thế, cuộc đời của cô ấy quả không uổng phí.

Cuối cùng, chàng cũng lên tiếng, giọng nói ngắt quảng, dường như vô cùng mệt mỏi, hỏi thở yếu ớt, không đều:

- Cảm phiền Hoàng hậu giữ kín bí mật này giùm bần tăng, vì bần tăng không muốn cô ấy cảm thấy mình mắc nợ.

- Ta biết, thầy về nghỉ ngơi sớm đi.

Bát Tư Ba rời khỏi chiếc giường, đón lấy tôi từ tay Khabi, loạng choạng bước đi.

Khabi đắn đo một lát, gọi với theo:

- Ta biết thầy sẽ không nghe ta đâu nhưng ta không thể không nói.

Thầy đừng lao lực với công việc chính sự nữa.

Thầy đã truyền giảng cách sử dụng chữ mới cho các thầy giáo ở Quốc tử giám [1], họ sẽ biết cách soạn bài giảng ra sao, thầy không cần đích thân làm việc đó.

Ta sẽ lựa lời để Đại hãn giảm bớt công việc cho thầy.

Thầy cần nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, thuốc thang đều đặn, chớ thức khuya đèn sách.

Hãy làm những việc thầy muốn mà chưa có thời gian để thực hiện bởi vì thời gian của thầy...

[1] Cơ quan quản lý giáo dục cao nhất thời phong kiến, cũng là trường học bậc cao nhất vào một số triều đại ở Trung Quốc.

Cô ấy đột nhiên ngừng lại, giọng nói trầm buồn:

- Không còn nhiều nữa...

Tôi giật mình thảng thốt, nhưng có lẽ vì quá mệt mỏi, chàng không phát hiện ra.

Chàng bước chậm lại, vịn tay vào cánh cửa, thở gấp một hồi rồi mới lên tiếng:

- Chờ khi cô ấy lấy lại hình hài con người, bần tăng sẽ lập tức đưa cô ấy về Sakya thăm con trai.

Đến lúc đó, có lẽ phải tấu trình lên Đại hãn xin phép được từ chức.

Bần tăng muốn tìm cho mình một nơi thật yên bình, thanh tĩnh, chứ không muốn chờ chết ở Trung Đô.

Trên đường về, chàng lết từng bước rất chậm, được vài bước lại thở hổn hển, mãi mới về được phòng.

Hơi thở của chàng rất khó khăn, nhịp tim rất chậm, chỉ có người cao tuổi mới thở như vạy.

Về đến phòng, chàng đặt người xuống rồi thiếp đi rất nhanh.

Nến đã cháy hết, ngọn lửa bừng lên rồi tắt lịm.

Căn phòng ngập ánh trăng, tôi ngồi lặng lẽ ngắm nhìn Bát Tư Ba đang say ngủ.

Đuôi mắt, vầng trán, khóe môi và trên cổ chàng vằn vện những nếp nhăn của tuổi tác.

Vẻ già nua hiển hiện trên gương mặt thông tuệ, hiền từ.

Gương mặt gầy guộc ấy giống hệt một ông lão đã trải qua cả chặng đường đời đầy sương gió.

Nhìn vào gương mặt chàng, không ai có thể tin rằng chàng chỉ mới bước vào tuổi trung niên.

Tôi ngồi xuống, mê mải ngắm nhìn gương mặt già nua của chàng, nước mắt lã chã.

Đúng lúc này tôi nhận ra sự biến đổi quen thuộc của cơ thể mình.

Tôi cúi xuống, bắt gặp mái tóc màu lam bóng mượt rủ trước ngực, làn da nõn nà, thanh tân.

Tôi chìa tay ra, ngắm nghía hồi lâu đôi tay nuột nà dưới ánh trăng.

Không nén nổi xúc động, tôi òa khóc thống thiết.

Đêm tịch mịch, gió mát lạnh, trăng sáng, sao thưa, không gian vắng lặng.

Khabi nằm nghiêng người, thân hình quyến rũ giữa êm đềm tướng rũ màn che.

Rồi cô ấy đột nhiên bật dậy, thốt lên kinh ngạc:

- Tiểu Lam ?

Tôi bước đến trước mặt cô ấy, lặng lẽ gật đầu.

- Mới đó đã biến được thành người rồi, tuyệt thật!

Cô ấy ngồi dậy, với chiếc áo ngủ màu ngọc bích, khoác lên người rồi lại gần, nắm tay tôi, quan sát tỉ mỉ.

- Vẫn xinh đẹp như xưa.

Quả nhiên là loài hồ ly thuần chủng, thời gian phục hồi linh khí cũng ít hơn hồ ly tạp chủng rất nhiều.

- Có thật là chỉ dựa vào năng lực của bản thân tôi không?

Tôi gạt tay cô ấy, lạnh lùng nói.

– Hay nhờ cô đã sử dụng phương pháp gì khác?

Cô ấy hơi sững lại rồi bật cười:

- Cô cứ đùa!

Làm gì có cách nào khác.

Trừ khi ai đó có nguồn linh khí dồi dào, sẵn sàng truyền cho cô.

Nhưng cô thừa biết, việc đó chẳng khác nào hy sinh tính mạng của mình.

Trên đời này làm gì có người nào dại dột như thế!

- Tối qua, tôi đã không ăn đồ ăn chàng chuẩn bị cho tôi.

Tôi nhìn xoáy vào mắt cô ấy, thốt lên từng tiếng rành mạch.

Cô ấy trở nên bối rối.

Tôi bước đến, giữ chặt vai cô ấy:

- Hãy cho tôi biết sự thật!

- Nếu cô đã nghe được tất thảy thì chắc cô cũng biết sự thật là gì rồi.

Cô ấy bật cười xót xa.

– Đúng thế, cô có thể phục hồi nhanh chóng như vậy, không phải do bản năng trời phú, cũng không phải ông trời thương xót mà nhờ Bát Tư Ba đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy.

Tôi lảo đảo, ngã phịch xuống chiếc giường lộng lẫy của cô ấy.

Tuy đã có linh cảm về chuyện này nhưng tôi vẫn cầu mong đó không phải là sự thật.

Cô ấy thở dài, ngồi xuống cạnh tôi:

- Hai năm trước, sau bữa tiệc tẩy trần mừng cậu ấy trở về, cậu ấy đã đến tìm tôi, kể cho tôi nghe mọi chuyện xảy ra ở Sakya, về việc cô phải lựa chọn cứu sống một người, về việc cô đã sinh non, mất hết linh khí và bị đẩy trở lại nguyên hình, về việc con trai ở trước mặt mà cô không thể nhận, càng không thể ôm vào lòng.

Những điều này đã giày vò tâm can cậu ấy bao nhiêu năm qua.

Cậu ấy cầu xin tôi cứu cô bằng bất cứ giá nào.

Trong đêm xuân se lạnh ấy, Khabi đã kể lại cho tôi nghe tường tận mọi việc.

Tôi khóc hết nước mắt, lệ rơi ướt đầm khăn áo.

Khi ấy, Khabi đã đáp lời Bát Tư Ba như sau:

- Cô ấy đã mất hết linh khí, muốn khôi phục, chỉ còn cách chăm chỉ tu luyện ba trăm năm nữa.

Chàng run lên bần bật, lắc đầu khổ sở:

- Ba trăm năm ư?

Nếu biết phải chờ thêm ba trăm năm, chắc chắn cô ấy sẽ không thiết sống nữa.

Thưa Hoàng hậu, người cũng làm mẹ, người thử nghĩ xem, liệu người có thể chịu đựng chuyện con trai mình lớn lên, già đi rồi qua đời mà không biết mẹ ruột mình là ai không?

Chàng đã khiến Khabi động lòng, cô ấy trầm ngâm hồi lâu mới lên tiếng:

- Vậy thì đành phải sử dụng cách thức nhẫn tâm này thôi.

Cặp mắt Bát Tư Ba vụt sáng.

- Là cách gì?

Chỉ cần bần tăng đủ sức, bần tăng nhất định sẽ giúp cô ấy.

- Nếu là những người đàn ông bình thường khác thì có muốn cũng không thể làm theo cách này.

Trên đời này, chỉ mình thầy làm nổi.

Khabi nhìn vòng sáng bảy màu thấp thoáng xung quanh Bát Tư Ba, ngưỡng mộ thốt lên:

- Thầy tu pháp đã nhiều năm, linh khí tích lũy dồi dào.

Nếu loài yêu hút được thứ linh khí thuần khiết trên thân thể thầy thì sẽ khỏi cần nhọc công tu luyện.

Bát Tư Ba khẳng khái hỏi:

- Bần tăng phải truyền linh khí cho cô ấy như thế nào?

- Thầy hãy suy nghĩ cho kĩ.

Khabi ngừng lại một lát rồi đẩy ánh mắt sắc lạnh về phía chàng:

- Thầy bằng lòng trao cho cô ấy tính mạng của mình chứ?

Bát Tư Ba thoáng sững sờ:

- Bằng cách nào?

Gương mặt như hoa như ngọc của Khabi chợt toát lên thần sắc đáng sợ:

- Tinh nguyên vốn là nguồn sống của con người, trong cơ thể thầy, nó tồn tại song song với linh khí.

Ta có thể làm phép hút thứ tinh nguyên mang theo linh khí của thấy rồi truyền sang cơ thể cô ấy.

Nhưng nếu muốn cô ấy lấy lại được hình dáng con người thì thầy phải chịu hao tổn quá nửa tinh nguyên trong cơ thể mình.

Việc đó tuy không lấy mạng thầy ngay tức khắc nhưng thầy cũng chẳng còn sống được bao lâu.

Bát Tư Ba trầm mặc hồi lâu, nghẹn ngào hỏi:

- Bần tăng còn được bao nhiêu thời gian nữa?

Khabi ngập ngừng nhưng vẫn quyết định nói ra sự thật:

- Có lẽ nhiều nhất là bảy, tám năm.

Bát Tư Ba cười tươi mãn nguyện:

- Tốt quá!

Những bảy, tám năm, khoảng thời gian đó đủ để bần tăng hoàn tất rất nhiều việc.

Điều nuối tiếc lớn nhất của bần tăng là không thể chứng kiến Dharma trưởng thành.

Nhưng không sao, sau khi có được linh khí, Lam Kha sẽ bảo vệ Dharma.

Bần tăng sẽ trao lại quyền cai quản Sakya cho Dharma và có thể yên tâm ra đi.

Khabi thốt lên kinh ngạc:

- Thầy... thầy bằng lòng thật ư?

Thầy là người thông minh trác tuyệt, thông tuệ Phật pháp, khó ai bì kịp.

Pháp môn Đạo quả pháp bí ẩn của phái Sakya, chí ít cũng có thể giúp thầy sống thọ đến hơn tám mươi tuổi.

Thầy sẵn sàng vì cô ấy mà hy sinh mạng sống của mình ư?

- Một mình đơn độc sống đến tám mươi tuổi còn có ý nghĩa gì?

Tính mạng của bần tăng vốn do cô ấy cứu, bần tăng chỉ trả lại cho cô ấy mà thôi.

Chàng ngước đôi mắt u buồn, chăm chú ngắm nhìn ngọn nến tàn canh.

- Cô ấy đã mất đi Kháp Na, không thể lại mất đi niềm hy vọng được bồng con trai nữa.

Lắng nghe Khabi thuật lại tỉ mỉ câu chuyện, tôi giữ chặt ngực mình, đau đớn đến đứt từng khúc ruột.

Bây giờ tôi đã hiểu vì sao hai năm qua chàng già yếu đi nhanh đến vậy.

Khabi vẫn tiếp tục kể:

- Ta đã làm phép và đưa cho Bát Tư Ba một ít thuốc mê để cậu ấy trộn vào đồ ăn của cô.

Chờ khi cô ngủ say, mới đưa cô đến căn phòng đó.

Mỗi ngày ta đều làm phép, di chuyển từng chút một tinh nguyên và linh khí từ cơ thể cậu ấy sang cơ thể cô.

Vì trước đó cô đã bị thương tổn nặng nề nên phải mất hai năm trời mới giúp cô khôi phục lại thể trạng và linh khí.

Tôi túm chặt cánh tay Khabi, lắc đầu, gào khóc:

- Khabi, tôi không muốn chàng hy sinh bản thân vì tôi.

Cô hãy hút linh khí trong cơ thể tôi trả lại cho chàng!

Tôi chấp nhận bị đẩy trở lại nguyên hình, chấp nhận suốt đời không nhận mặt con!

Khabi bật cười chua chát:

- Tiểu Lam, cô nói đùa gì vậy?

Linh khí của loài người khi bị loài yêu chúng ta hút mất, đâu dễ dàng trả lại được.

Huống hồ, cô cũng biết rõ rằng, cậu ấy đã chống lại mệnh số để cứu cô thì phải chấp nhận vận số của mình.

Dù cô có nỗ lực ngày ngày truyền lại linh khí cho cậu ấy đi nữa, cũng chỉ kéo dài tuổi thọ của cậu ấy thêm vài năm mà thôi.

- Vậy tôi sẽ cho chàng nội đan của mình.

Tôi ngừng lại, cổ họng đau rát.

– Nợ tình, tôi sẽ trả bằng mạng!

Khabi lắc đầu, thở dài:

- Cậu ấy quả rất hiểu những suy nghĩ của cô.

Cậu ấy biết cô sẽ phản ứng như vậy.

Thế nên cậu ấy đã đề nghị tôi, và tôi đã sử dụng loại thần chú không thể đảo ngược khi làm phép.

Dù cô có trao nội đan cho cậu ấy, cậu ấy cũng không thể tiếp nhận.

Tôi chết lặng.

Vì sao chàng lại làm vậy?

Vì sao chàng nghiệt ngã với bản thân mình như vậy?

Tôi phải làm sao đây?

Chàng muốn tôi phải chịu đựng mấy trăm năm cô đơn và dây dứt hay sao?

Khabi kéo tôi sát lại, để tôi tựa vào vai cô ấy mà khóc, giọng cô ấy nghẹn ngào, xúc động:

- Ta đã sống cả nghìn năm, chứng kiến bao kẻ phụ tình, từ lâu đã không còn tin vào cái gọi là “tình yêu chân thành” nữa.

Ta cứ ngỡ, trái tim ta đã hóa đá, vậy mà giờ đây, nó không nguôi thổn thức trước mối tình đằm thắm của ba người.

Tôi khóc nấc lên.

Từ lúc rời khỏi Sakya, trái tim tôi như đóng băng, như khô héo, như mặt giếng sâu phẳng lặng.

Tôi cứ ngỡ, trên đời này, ngoài con trai, sẽ không còn gì khiến trái tim tôi rung động được nữa.

Vậy mà hành động bất chấp tính mạng của chàng đã khiến tôi đau đớn không thiết sống nữa.

Khabi ôm hai má tôi, nhẹ nhàng lau nước mắt cho tôi nhưng cô ấy cũng không cầm nổi nước mắt:

- Tiểu Lam à, tình yêu cậu ấy dành cho cô không hề thua kém Kháp Na.

Chỉ có điều, số mệnh của cậu ấy quá ư bi thảm.

Dù sao trước khi qua đời, Kháp Na đã có với cô những tháng ngày hạnh phúc, tuyệt đẹp.

Còn cậu ấy, cậu ấy chẳng có gì.

Cuộc đời cậu ấy quá khốn khổ, cậu ấy phải gánh trên vai niềm hy vọng của thế hệ trước và trọng trách của gia tộc.

Cậu ấy chưa từng, dù chỉ một ngày, sống vì mình...

Sau hai năm trời truyền linh khí cho cô, đến nay, sinh mệnh của cậu ấy chỉ còn lại nhiều nhất là năm năm.

Thế mà cậu ấy vẫn hăng say cống hiến, thức khuya dậy sớm như thế thì e rằng, ngay cả năm năm ngắn ngủi cũng chẳng còn.

Rồi đây, sức khỏe của cậu ấy sẽ ngày một yếu dần, các loại bệnh tật sẽ thừa dịp xâm nhập vào cơ thể.

Tuy nói rằng còn cả năm năm nhưng bất cứ lúc nào cậu ấy cũng có thể ngừng hơi thở.

Khabi gượng cười nhìn tôi:

- Cô hãy ở bên và giúp cậu ấy làm những việc mà cậu ấy yêu thích đi.

Trái tim tôi như bị một bàn tay vô hình vò xé, mỗi câu nói của Khabi đều khiến tim tôi quặn thắt, tan nát.

Tôi đưa tay áo lên, quệt nước mắt trong nỗi bấn loạn khốn cùng rồi bật dậy, lao đi.

Tôi không còn thời gian nữa, tôi phải ở bên chàng và khiến chàng thật vui vẻ, hạnh phúc trong chuỗi ngày ngắn ngủi còn lại của cuộc đời.

- Tiểu Lam!

Khabi gọi với theo, tôi quay đầu lại, bắt gặp cặp mắt ngấn nước và nụ cười hạnh phúc nở trên khóe môi cô ấy.

- Đừng lãng phí thời gian!

Tôi gật đầu chắc nịch.

Trời sáng dần, ánh ban mai tràn vào phòng, soi rọi gương mặt hiền từ, đôn hậu của chàng.

Trong màn sương mỏng mờ ảo của buổi sớm mai ấy, không gian như ngập tràn nỗi niềm thương nhớ của tôi dành cho chàng.

Thầm yêu chàng bao năm, tôi đã nỗ lực hết mình để có được dung mạo của con người.

Chàng là tình yêu đầu, là những xúc cảm lãng mạn nhất, tuyệt vời nhất của tuổi thanh xuân tôi.

Tuy sau đó, tôi đã yêu Kháp Na nhưng trong tim tôi, hình bóng chàng chưa bao giờ phai nhạt.

Chàng đã trở thành một phần không thể tách rời của sự sống tôi, đã là một phần máu xương, một phần tâm hồn tôi.

Chàng hé mắt, chừng như vẫn còn ngái ngủ.

Nhận ra ánh sáng rực rỡ ngoài cửa sổ, chàng vội vàng ngồi dậy, gương mặt thoáng vẻ buồn bả.

Chàng chưa khi nào thức dậy muộn như vậy.

Vừa định ra khỏi giường, chàng chợt thấy tôi đứng đó.

Gương mặt già nua bỗng trở nên rạng rỡ bởi nụ cười hoan hỉ, vui sướng.

Chàng lập tức đưa tay ra, chực ôm tôi vào lòng:

- Lam Kha, thần kỳ quá, em đã lấy lại hình dáng con người!

Nhưng chàng lập tức rụt tay lại, kiềm chế cảm xúc, khẽ hắng giọng, điềm tĩnh nói:

- Giờ em đã trở lại hình dáng con người, vậy hãy mau trở về Sakya.

Dharma mới có bốn tuổi, em vẫn có thể bế được nó, chứ để thêm vài năm nữa, chắc em bồng con không nổi đâu.

Tôi lắc đầu, ngồi xuống bên cạnh, nhìn chàng đăm đăm:

- Việc quan trọng nhất bây giờ không phải chuyện đó, sau này em sẽ về thăm con.

-

Sau này?

Chàng thảng thốt.

– Em muốn chờ bao lâu nữa?

Tôi gật đầu, khẽ thốt lên:

- Năm năm.

Chàng biến sắc mặt:

- Em... em đã đến chỗ Hoàng hậu?

- Trước khi qua đời, Kháp Na còn vài lời căn dặn khác nữa mà em chưa nói với chàng.

Tôi không trả lời câu hỏi của chàng mà nói cho chàng nghe những lời tôi đã giấu tận đáy lòng suốt mấy năm qua:

- Chàng nói rằng: “Đại ca rất yêu em, huynh ấy bỏ rơi em vì muốn tác hợp cho chúng ta.

Chỉ tại ta quá ích kỷ, quá tham lam, chỉ muốn giữ em cho riêng mình.

Sau khi ta chết, em hãy cùng huynh ấy nối lại duyên xưa...”

Chàng run lên bần bật, ánh mắt trốn tránh:

- Lam Kha, đừng nói nữa!

Những lời của Kháp Na không phải sự thật đâu...

- Vậy thì vì sao chàng dùng cả mạng sống của mình để cứu em?

Chàng trở nên bối rối, lắp bắp nói:

- Em...

Hoàng hậu đã nói cho em biết tất cả ư?

- Nếu không, chàng định sẽ giấu em đến bao giờ?

Chàng vẫn chưa chịu thừa nhận tình cảm của chàng dành cho em sao?

Chàng bật dậy, ra khỏi giường, vừa lao đi vừa nói nhanh như gió:

- Em đừng quá ngộ nhận, ta chỉ thương hại em mà thôi.

Ta phải đi lo công việc đây.

Không hiểu sao hôm nay lại ngủ nước đến tận bây giờ.

Tôi chắn trước mặt chàng, dang rộng hai tay:

- Chàng đừng dối lòng nữa!

Ngay cả Khabi cũng nhận ra tình cảm chàng dành cho em, em đâu phải kẻ vô tâm...

Chàng gắt lên nạt nộ tôi, sáp lại gần, chỉ cho tôi thấy gương mặt già nua của mình:

- Lam Kha, em nhìn cho kĩ, hãy nhìn cho kĩ!

Ta đã là một ông già, không còn khôi ngô, tuấn tú như ngày nào nữa.

Còn em, em vẫn xinh đẹp, yêu kiều như xưa.

Ta không xứng với em, em muốn bị thiên hạ cười chê sao?

Tôi muốn nắm tay chàng nhưng chàng đã lùi về phía sau, không cho tôi chạm vào chàng.

Tôi vừa khóc vừa lắc đầu:

- Em không bận tâm!

Dù chàng xấu hay đẹp, trẻ trung hay già nua, em cũng không bận tâm.

Em chỉ muốn được ở bên chàng, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa.

Năm năm, chúng ta chỉ còn năm năm thôi!

Chàng ngửa mặt lên, hít một hơi thật sâu, chiếc cổ thuôn dài rần rật vì xúc động, nghẹn ngào:

- Chính vì chỉ còn năm năm nên ta càng không thể ở bên em!

Kháp Na chung sống với em chưa đầy hai năm đã qua đời.

Đệ ấy đã mang lại cho em biết bao đau khổ.

Ta không muốn, năm năm sau, em lại phải chịu đựng nỗi khổ đau giày vò này nữa.

Ta thà sống cô độc một mình đến hết đời!

Tôi thấy mình không thở nổi.

- Chàng có thể sống trọn vẹn năm năm nữa ư?

Toàn thân chàng run lên, ánh mắt hoảng hốt, chàng vội quay mặt đi.

Tôi muốn ôm chàng nhưng chàng đã tránh né, kiên quyết giữ khoảng cách với tôi.

- Chàng lao vào công việc không tiếc sức mình, ngày nào cũng thức khuya dậy sớm, không chịu gặp em.

Thứ nhất là vì chàng không muốn em nghi ngờ dung mạo ngày càng già nua của chàng.

Hai là...

Tôi ngừng lại, cơn đau cuồn cuộn trào dâng, tôi nhìn xoáy vào đôi mắt đang cố gắng trốn tránh của chàng, nhả từng tiếng một:

- Vì chàng không thiết sống nữa!

Chàng bất chấp tính mạng của mình, chàng đang tự sát...

Chàng run rẩy ngắt lời tôi:

- Đừng nói bậy!

Em cũng biết là ta không còn nhiều thời gian, trong khi ta có rất nhiều việc phải làm.

Sao ta có thể vô duyên vô cớ rút ngắn tuổi thọ của mình được chứ?

- Thế nên em cần chàng nói cho em biết, vì sao chàng làm vậy?

Tôi tiến một bước, chàng lùi một bước, cho đến khi lưng chàng chạm tường, không thể trốn chạy được nữa.

- Em đã nói là em không bận tâm về dung mạo của chàng, không bận tâm chàng còn bao nhiêu thời gian.

Dù chàng có cự tuyệt em thế nào, em cũng quyết ở bên chàng.

Tôi lao đến, ôm chầm lấy chàng, muốn hôn lên môi chàng nhưng chàng đã lập tức nghiêng đầu né tránh, nước mắt lăn dài trên má.

- Bởi vì ta không thể chạm vào em!

Khoảnh khắc ấy, tôi như bị đóng đinh, mãi chẳng thể hồi tỉnh.

Khuôn ngực chàng phập phồng dữ dội, những giọt nước mắt trong như pha lê rớt xuống, thấm trên lần áo tăng sĩ màu đỏ của chàng, loang ra thành những bông hoa nho nhỏ màu tối.

Tôi sững sờ nhìn vào mắt chàng.

Chàng đáp lại tôi bằng ánh mắt bi thương, giọng nói cất lên chất chứa nỗi tuyệt vọng tột cùng:

- Ta không thể chạm vào em khi em hóa thành người!

....

Tôi nghẹn ngào không thể kể tiếp, nước mắt lã chã tuôn rơi.

Chàng trai trẻ lại gần, muốn vòng tay qua kéo tôi tựa vào bờ vai mình nhưng lại ngập ngừng, do dự.

Suy nghĩ một lát, cậu ta rút khăn giấy, đưa cho tôi.

Tôi đang thấm nước mắt thì cậu ta thốt lên vẻ kinh ngạc:

- Vì sao mái tóc màu xanh của cô chỉ qua một đêm đã điểm nhiều sợi bạc thế này?

Tôi sững sờ, kéo một lọn tóc ra phía trước, nhận ra rằng, quả nhiên đã có thêm nhiều sợi bạc giữa màu xanh bóng mượt, lạ quá!

Tôi cười buồn:

- Không sao, có lẽ vì lúc kể chuyện tôi đã nghĩ đến những ký ức đau buồn.

Chàng trai nhìn tôi, thương xót:

- Cô có muốn nghỉ một lát không?

Tôi lắc đầu cả quyết:

- Tôi muốn kể tiếp.

Nếu đêm nay tôi không kể hết câu chuyện, cậu sẽ...

Tôi giật mình, im bặt, mân mê chiếc vòng tay hình hoa sen, gượng cười:

- Cậu không còn gặp lại tôi nữa và sẽ không thể nghe hết câu chuyện của tôi.

Cậu ấy ngồi xếp bằng bên tôi, ánh mắt nghiêm nghị:

- Nhưng cô phải hứa không được quá đau buồn thì tôi mới chịu nghe cô kể tiếp.

Tôi gật đầu, kìm nén cảm xúc, tiếp tục câu chuyện.

Hết chương 53.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 54: Bí mật chôn giấu


“Người tài giỏi thường bị xét nét,

Kẻ hèn kém không ai buồn để ý;

Ngọc mã não được người ta nâng niu,

Que cời lửa nào ai thèm nhòm ngó.”

(Cách ngôn Sakya)

Không biết chúng tôi đã nhìn nhau bao lâu, mãi sau tôi mới run rẩy hỏi:

- Vì sao?

Bát Tư Ba nhìn tôi trân trối, ánh mắt ngập tràn khổ đau, cởi bỏ áo cà sa.

Tôi thốt lên kinh ngạc.

Trên mình chàng, trên cánh tay chàng chi chít các vết sẹo, dù không còn tấy đỏ nhưng hằn rõ hình những bông sen rỉ máu.

Tôi giật mình ngẩng lên nhìn chàng.

Chàng cúi đầu, rơi lệ:

- Khi em hóa thành người, chỉ cần ta chạm vào em là thịt da sẽ bị thiêu đốt, đau đớn tột độ.

Tôi chết lặng, kinh hoàng, một lúc lâu sau mới run run cất giọng hỏi:

- Vì sao lại như vậy?

Chàng cười thê lương.

- Có ai không nhận ra tình cảm ta dành cho em kia chứ!

Ta giả bộ lạnh lùng, lạnh nhạt chỉ để che giấu tình cảm dạt dào, mãnh liệt đang trỗi dậy trong lòng mình mà thôi.

Chàng hít một hơi thật sâu, ngẩng lên nhìn tôi đắm đuối, ánh mắt dịu dàng, dìu dặt.

– Đúng vậy, ta yêu em.

Kể từ lúc Kháp Na đưa em tới trước mặt ta, ta đã yêu em bằng cả trái tim mình.

Bởi vì, đúng như Kháp Na từng nói, em xinh đẹp, hiền hậu là thế, làm sao ta có thể chống lại sức hấp dẫn chết người ấy được?

Thậm chí, trong ta đã nảy sinh những ham muốn đáng xấu hổ, ta khao khát có được em!

Nước mắt tôi lã chã:

- Từ lúc nào chàng biết mình không thể chạm vào em?

- Đó là buổi tối ngày diễn ra lễ hội Sitatapatra, cách đây bảy năm.

Hoàng hậu Khabi đến tìm ta, nói rằng ta phải đánh đổi mười năm dương thọ của mình để cứu em.

Em biết không, lúc đó ta đã vô cùng vui sướng.

Ta chỉ cần có một lý do để được ở bên em, mười năm dương thọ có là gì.

Nhưng ta… ta…

Chàng đột ngột ngưng bặt, chìa bàn tay ra trước mặt, xoay qua xoay lại, khóe môi run run.

- Khi ta vuốt ve gương mặt em, bàn tay như bị đốt cháy, bỏng rát đến tận xương tủy.

Ta không tin nên đã ôm em vào lòng.

Nhưng bất cứ vùng da thịt nào trên cơ thể ta chạm vào em đều đau đớn tột cùng.

Đến lúc ấy ta mới nhận ra, nhìn em mà không thể chạm vào em.

Cả đời này ta chỉ có thể ngắm nhìn em mà không thể chạm vào em!...

Ta vội vàng đánh xe về phủ Quốc sư và nhận thấy Kháp Na vừa tới.

Để cứu em, ta buộc phải nói với Kháp Na.

Ta đâu ngờ, đệ ấy bất chấp tất cả, lao đi cứu em.

Và ta hiểu rằng, đệ ấy cũng rất yêu em.

Lần đầu tiên trong đời mình, ta biết thế nào là ghen tuông, căm hận.

Ta đã ghen với cả đứa em trai ta yêu thương nhất!

Chàng đau khổ ôm đầu, toàn thân đổ vào bức tường phía sau rồi từ từ trượt xuống đất, mỏi mệt rã rời.

Chàng gào lên quằn quại:

- Đêm đó, lòng ghen tuông và nỗi căm hận như loài rắn độc gặm nhấm tâm can ta.

Cứ hình dung ra cảnh em và Kháp Na ở bên nhau là toàn thân ta như bị vùi trong lò lửa.

Cả đêm đó, ta đã giày vò, đày đọa bản thân mình hóa điên vì ta muốn tìm ra nguyên nhân, vì sao ta không thể chạm vào em.

Tôi muốn chìa tay ra nắm lấy tay chàng, nhưng đành cắn răng rút lại:

- Vậy chàng đã tìm ra nguyên nhân đó chưa?

Chàng lắc đầu tuyệt vọng:

- Bảy năm qua ta vẫn không ngừng tìm hiểu nhưng không có kết quả.

Đó là bí mật lớn nhất của đời ta, ta không thể hỏi ai, cũng không thể nói với ai, kể cả Kháp Na.

Sau đó, ta nhận thấy tình cảm của em dành cho Kháp Na ngày càng sâu đậm nên ta muốn vun vén cho hai người, ta không thể không nhường em cho Kháp Na.

Nhưng để có thể đưa ra quyết định ấy, ta đã phải trải qua những tranh đấu, giằng co quyết liệt.

Vì quá đau khổ, ta đành vùi đầu vào công việc để quên đi.

Chỉ cần không còn thời gian rảnh rỗi, ta sẽ không phải suy nghĩ, không phải đau khổ nữa.

Nước mắt đầm đìa trên mặt, tôi ngồi xuống bên chàng, muốn ôm chàng vào lòng nhưng lại không thể.

Bây giờ tôi đã hiểu vì sao chàng lại vô cớ lạnh nhạt, cay nghiệt với tôi như vậy.

Muốn được ôm người mình yêu vào lòng mà không thể, cảm giác ấy xót xa, cay đắng vô cùng.

Vậy mà chàng đã một mình chịu đựng suốt bảy năm trời.

Chàng ngồi xuống nền đất, tựa lưng vào tường, ánh mắt nhìn tôi trống trải:

- Kháp Na vì giáo phái, đã ép mình chấp nhận cuộc hôn nhân lần thứ ba, điều này khiến ta vô cùng xót xa.

Trên đường từ Chumig trở về Sakya, ta đã nhận ra em có tình cảm với đệ ấy.

Kháp Na hy sinh bản thân hết lần này đến lần khác vì giáo phái thì vì sao ta không thể giúp đệ ấy giành lấy hạnh phúc vốn dĩ phải thuộc về đệ ấy?

Dù ta có miệt mài tìm hiểu nguyên nhân cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa, đó là sự trừng phạt của Bồ Tát Văn Thù đối với tội lỗi phá giới của ta.

Em không bao giờ thuộc về ta, chỉ tại ta quá tham lam, ích kỷ.

Vì thế ta đã quyết định…

Chàng ngừng lại, ánh mắt chàng vân du trên gương mặt tôi rất lâu, giọng nói khản đặc vì xúc động:

- Vĩnh viễn từ bỏ em.

Vậy là tôi đã hiểu, khi chàng khuyên tôi đến với Kháp Na, chàng nói rằng chàng không chịu đánh đổi mười năm dương thọ vì chàng còn nhiều việc phải làm, chàng còn bảo rằng chàng đã bỏ tôi lại căn phòng đó, phó mặc tôi cho số phận định đoạt, tất cả những lời cay nghiệt, vô tình ấy thì ra chỉ là để tôi căm ghét chàng!

Tôi như đứt từng khúc ruột, lắc đầu phủ nhận:

- Không đúng, chàng từng chạm vào em.

Khi em sinh Dharma, chàng đã luôn ở bên em, nắm chặt tay em, kéo em tựa vào lòng chàng, an ủi, động viên, cỗ vũ em.

Khi em không còn đủ sức để uống canh sâm, chàng đã mớm cho em từng miếng một.

Nếu không có chàng, chắc chắn em không thể vượt qua cửa ải sinh tử ấy.

Nhưng lẽ nào… lúc đó chàng…

Tôi không thể nói tiếp được nữa.

Nhớ lại khi ấy, gương mặt chàng tái dại, méo mó như thể đang phải chống chịu với con đau tột độ.

Về sau, tôi thấy tay chàng băng bó nhưng chàng lại bảo đó là do vô tình làm nến đổ vào.

Tôi đâu biết chàng đã bất chấp nỗi đau đớn, khổ sở nhường vậy để không rời xa tôi dù chỉ một bước.

- Đau lắm, quả thực rất đau.

Lúc hôn em, ta không hề có cảm giác gì khác ngoài sự tê dại, đau buốt.

Chàng chạm tay vào vết sẹo trên cơ thể mình, những vết sẹo hình hoa sen.

- Dù vậy, vết thương trên da thịt làm sao nhức nhối bằng vết thương trong tim!

Em đã phải chịu đựng nỗi đau khổ gắp hàng trăm, hàng nghìn lần.

Em đã mất Kháp Na.

Nếu ta cũng bỏ em đi thì em sẽ ra sao?

Tôi quỳ gối, nhích từng chút một về phía chàng.

- Nếu chàng đã biết, chàng là điểm tựa của cuộc đời em, vậy thì xin chàng đừng từ chối em.

Hãy để em ở bên chàng, cùng chàng đi trọn chặng đường cuối của cuộc đời.

Đó không chỉ là tâm nguyện của em, còn là của Kháp Na nữa!

Chàng cười tuyệt vọng, lắc đầu mệt mỏi:

- Dù em không chê ta già cả, không bận tâm ta chẳng còn sống được bao lâu nhưng ta vẫn không thể chạm vào em.

Lam Kha, em nói xem, ngoài việc từ chối em, ta còn làm gì được nữa?

Em nói đúng, ta không màng đến sự sống chết nữa.

Ta mệt lắm, rất mệt, ta muốn sớm được giải thoát…

- Không được, em không cho phép chàng buông xuôi như vậy!

Tôi trừng mắt nạt nộ chàng, lau nước mắt rồi bật dậy:

- Chúng ta hãy đi hỏi Khabi, chắc chắn cô ấy sẽ có cách.

Tôi mới chỉ ba trăm tuổi, so với các đồng loại khác thì tôi còn rất trẻ.

Nhưng Khabi đã một nghìn tuổi, cô ấy từng trải hơn, hiểu biết hơn, phép thuật cũng cao thâm hơn tôi.

Có thể cô ấy biết nguyên nhân và tìm ra cách hóa giải.

Chàng sững sờ, ánh mắt thoáng hy vọng.

Được tôi cổ vũ, chàng nhúc nhích cơ thể, gượng đứng lên.

Tôi muốn lại gần dìu chàng nhưng sợ chàng đau, đành rụt tay về.

Tôi nắm chặt tay lại, gật đầu quả quyết:

- Em sẽ ở bên chàng, chúng ta nhất định sẽ có cách!

Mí mắt chàng khẽ rung động, chàng hít thở sâu vài lần rồi mới chịu gật đầu với tôi.

Tối hôm đó, Bát Tư Ba đưa tôi đến cung điện của Khabi.

Khi đám người hầu ra ngoài hết, tôi hóa phép thành người, kể lại toàn bộ sự tình cho cô ấy nghe.

Cô ấy kinh ngạc, chăm chú quan sát Bát Tư Ba:

- Chả trách khi ta làm phép truyền linh khí từ cơ thể thầy sang cho Tiểu Lam, ta cảm thấy trong cơ thể thầy có một khối năng lượng rất kỳ lạ.

Khối năng lượng này không gây hại cho thầy nhưng ta không biết lai lịch của nó.

Cô ấy đề nghị Bát Tư Ba ngồi xếp bằng trước mặt, đặt ngón tay lên trán chàng, chậm rãi niệm chú.

Tôi đứng bên, lo lắng dõi theo.

Đầu ngón tay Khabi dần xuất hiện vệt sáng màu đỏ.

Bát Tư Ba chừng như rất đau, gương mặt chàng càng lúc càng tái nhợt nhưng chàng vẫn kiên trì chịu đựng.

Khabi đăm chiêu suy nghĩ, miệng lẩm nhẩm liên hồi:

- Kỳ lạ, rất kỳ lạ!

Tôi sốt ruột hỏi:

- Kỳ lạ thế nào?

Cô ấy ngừng làm phép, thở hổn hển, hỏi một câu rất lạ lùng:

- Tiểu Lam, cô còn nhớ trước lúc qua đời, đại sư Ban Trí Đạt từng truyền dạy cho cô một đoạn chú để khống chế linh hồn và thể xác của cô, khiến cô không thể hóa phép thành người không?

Tôi ngạc nhiên, đáp:

- Có chuyện đó.

Nhưng tôi đã nghe lời cô, không tu luyện theo pháp môn ấy nữa.

Và tôi lại có thể hóa phép thành người đó thôi.

Khabi rời khỏi chiếc giường, nhấc chén trà, nhấp vài ngụm, nhíu mày suy tư:

- Tuy cô không tiếp tục tu luyện theo đoạn chú đó nữa và có thể hóa phép thành người nhưng đại sư Ban Trí Đạt là người tính toán rất thấu đáo.

Ông ấy đã sử dụng cách thức nghiêm khắc hơn.

- Là bác ấy ư?

Toàn thân Bát Tư Ba run lên bần bật, cánh tay chống xuống giường mỏi mệt:

- Trước lúc lâm chung, bác bảo ta quỳ xuống, đặt tay lên đỉnh đầu ta và niệm một đoạn chú.

Ta cứ ngỡ bác ấy đang cầu phúc cho ta, nào ngờ...

- Đúng, đó là một loại bùa chú!

Bùa chú này tương khắc với bùa chú mà ông ấy yểm trên người Tiểu Lam, nó không hề gây hại cho sức khỏe của thầy nhưng thầy không thể chạm vào bất cứ loài yêu nào từng tu tập đoạn chú của đại sư Ban Trí Đạt, bởi vì bùa chú yểm trên người thầy sẽ sát thương thầy.

Khabi thở dài nhìn tôi, khẽ chau mày:

- Trên đời này, có mấy yêu quái được đại sư Ban Trí Đạt truyền dạy pháp môn đâu!

Rõ ràng ông ấy muốn khống chế cô.

Ông ấy cần linh khí và lòng trung thành của cô để bảo vệ hai anh em họ.

Nhưng ông ấy không muốn cô và Bát Tư Ba nảy sinh tình cảm, hủy hoại cuộc đời tu hành của quốc sư nên mới nghĩ ra kế sách vẹn toàn này.

Dụ cô tu tập theo pháp môn của ngài để trói buộc linh hồn và thể xác của cô.

Nếu một ngày nào đó cô phát hiện ra và dừng lại thì ngài đã có cách khác để đảm bảo rằng người thừa kế của người không bị cô quyến rũ.

Cách đó là: yểm một bùa chú tương khắc lên thân thể Bát Tư Ba để quốc sư suốt đời không thể gần cô!

Tôi như bị đóng băng.

- Nhưng tôi đã ngừng tu tập theo thuật pháp của đại sư từ lâu rồi kia mà!

Khabi lắc đầu:

- Ngừng tu tập cũng vô ích, bởi vì khi cô phát hiện ra thì bùa chú ấy đã ăn sâu vào huyết mạch của cô rồi.

Bùa chú này không phải loại bùa chú tà ác, không trái với đạo trời, không ngược với luân thường đạo lý nên khi nó đã được yểm thì không thể hóa giải.

- Không có cách nào hóa giải ư?

Cô ấy lắc đầu xác nhận, nhìn hai chúng tôi, nói:

- Bát Tư Ba, bây giờ thầy thử chạm vào người Tiểu Lam đi.

Bát Tư Ba rất đỗi băn khoăn:

- Lẽ nào bần tăng có thể chạm vào cô ấy rồi ư?

Khabi ngập ngừng:

- Ta cũng không biết, có lẽ là được.

Trong đầu ta vừa lóe lên một suy nghĩ, ta muốn kiểm chứng.

Tôi ngồi xuống cạnh chàng, Bát Tư Ba thận trọng đưa tay lên má tôi, tôi ngừng thở, dõi theo bàn tay chàng, cho đến khoảnh khắc chàng chạm vào làn da tôi.

Chàng khẽ nhíu mày, bàn tay chầm chậm di chuyển trên gương mặt tôi, lạ thay, không có vết thương nơi lòng bàn tay.

Chàng mừng rỡ ngẩng nhìn Khabi:

- Tuy vẫn hơi đau nhưng không đến mức không chịu đựng nổi.

So với cảm giác thiêu đốt lúc trước, cơn đau đã giảm nhẹ rất nhiều, không xuất hiện vết thương nữa.

Tôi vui mừng quá đỗi, nắm chặt bàn tay chàng:

- Thật ư?

Như thế này có khiến chàng đau không?

Chàng khẽ chau mày, mỉm cười nhìn tôi:

- Không sao, ta có thể chịu được.

Nhưng Khabi không hề tỏ ra lạc quan, ngược lại, cô ấy càng lo lắng:

- Xem ra, ta đã đoán đúng.

Tôi và Bát Tư Ba đều nhận ra biểu cảm khác lạ của Khabi.

Chúng tôi siết chặt tay nhau, cùng cầu xin cô ấy:

- Xin hãy cho chúng tôi biết sự thật.

Ánh mắt Khabi dừng lại trên đôi tay siết chặt của chúng tôi rất lâu.

- Loại bùa chú này sẽ tự động mất hiệu lực khi linh khí của quốc sư ngày một cạn kiệt và cơ thể thầy ngày càng yếu đi.

Tôi thảng thốt bật dậy, lòng như lửa đốt:

- Cô...

ý cô là...

- Bần tăng hiểu rồi.

Bát Tư Ba điễm tĩnh nhìn Khabi, vẻ mặt an nhiên.

– Sở dĩ bần tăng không còn cảm giác đau đớn dữ dội như trước là vì linh khí của bần tăng đã gần cạn kiệt, sự sống không còn được bao lâu, phải vậy không?

Khabi nhìn chúng tôi bằng ánh mắt u buồn, nước mắt trào ra trên gương mặt yêu kiều của cô ấy.

- Cho đến lúc... sự sống kết thúc, thầy sẽ không còn thấy đau khi chạm vào cô ấy nữa.

Trái tim tôi như vỡ tan thành trăm nghìn mảnh.

Kể từ lúc rời xa con trai, tôi chưa bao giờ thấy đau khổ như thế này.

Tôi không thể chấp nhận sự thật trước mắt.

Tôi quỳ xuống, ngửa mặt lên trời, gào thét điên dại:

- Tuy là yêu quái nhưng tôi chưa từng hãm hại ai.

Tôi chỉ muốn được cùng người tôi yêu sống cuộc đời bình dị, mà sao khó khăn đến vậy?

Vì sao ông trời lại đối xử với tôi như vậy?

Vì sao người tôi yêu đều phải chịu số mệnh tàn khốc?

Khabi cúi xuống đỡ tôi đứng dậy nhưng tôi gạt tay cô ấy ra, người đổ rạp, kêu khóc thảm thiết.

Khabi cũng không cầm được nước mắt.

Bát Tư Ba nhẹ nhàng ngồi xuống bên tôi, giọng chàng khe khẽ cất lên:

- Lam Kha, đừng buồn, em nói muốn cùng ta đi trọn chặng cuối của hành trình kia mà!

Tôi ngẩng lên, bắt gặp nụ cười hồn hậu của chàng sau làn nước mắt.

Đôi mắt không còn tinh anh như thuở thiếu thời nhưng thông tuệ, bác ái và ngập nỗi bể dâu, đôi mắt thấu suốt tâm hồn tôi.

Chàng vỗ về tôi, kéo tôi vào lòng.

Cơn đau kéo đến khiến chàng phải hít thở sâu để chịu đựng nhưng vòng tay chàng vẫn siết chặt lấy tôi:

- Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, đừng lãng phí cho nước mắt và khóc than.

Tôi thẫn thờ ngắm nhìn gương mặt gầy guộc, vằn vện nếp nhăn của chàng:

- Chàng bằng lòng từ bỏ triều đình, giáo phái và bộn bề công việc chính sự để ra đi cùng em ư?

- Em còn nhớ di chúc của Kháp Na không?

Đệ ấy không muốn ta lao tâm khổ tứ vì giáo phái và hoài bão thống nhất đất Tạng mà muốn ta nghĩ cho bản thân mình, sống cho bản thân mình.

Vầng trán chàng vằn vện những nếp nhăn của tuổi tác, đuôi mắt chàng cũng vậy, chỉ cần khẽ chớp mắt, những vết chân chim lại hằn rõ.

Chàng lấy ra trong ngực áo viên ngọc Linh hồn mà Kháp Na trao cho tôi trong đêm tân hôn, tôi đã buộc nửa sợi dây màu lam vào đó.

Sau khi bị đẩy trở lại nguyên hình, tôi không còn linh khí để có thể hóa phép cất giấu viên ngọc nên chàng đã giữ giúp tôi.

Chàng đặt viên ngọc lên đỉnh đầu tôi, vuốt ve mái tóc màu lam của tôi, vẻ mặt ngập tràn hạnh phúc:

- Giờ đây ta đã có thể ôm em vào lòng, tuy còn hơi đau nhưng niềm vui này đã vượt tầm kỳ vọng của ta.

Ta chỉ cầu mong có thế.

Giống như Kháp Na vậy, được cùng người mình yêu rong chơi, ca hát trên đồng cỏ giữa mùa xuân, chèo thuyền trên sông khi hạ về, thưởng thức trái chín khi thu sang và dạo chơi trên tuyết trắng, ngăm hoa mai nở khi đông tới.

Ước mơ ấy ta chưa bao giờ dám thổ lộ, Nhưng hôm nay, ta muốn được sống cho bản thân mình.

Ta muốn được là mình.

Em bằng lòng ở bên ta chứ?

Tôi gật đầu rối rít, vít chặt tà áo tăng ni của chàng, vùi đầu vào lòng chàng, bật khóc nức nở.

Chúng tôi quen nhau đã hai mươi lăm năm, gần nửa đời người đã trôi qua, nhưng chưa bao giờ chàng thổ lộ tình cảm như vậy.

Nước mắt tôi ướt đầm ngực áo chàng, chiếc áo tăng ni của chàng nhàu nhĩ, hình ảnh trác tuyệt, khôi ngô của một bậc cao tăng đã bị tôi hủy hoại.

Vậy mà chàng vẫn cười thật tươi, thật hạnh phúc.

Trong mắt tôi, chàng vẫn điển trai, phong thái vẫn bất phàm như ngày nào, chàng vẫn là chú bé mười ba tuổi với ánh hào quang rạng rỡ trong lần đầu gặp gỡ đầu tiên ấy.

Tháng Ba năm đó, Bát Tư Ba trình tấu chương lên Hốt Tất Liệt xin nghỉ ốm.

Trung Đô là vùng ẩm thấp, không tốt cho bệnh hô hấp của chàng, chúng tôi muốn dọn đến một nơi khô ráo hơn để chàng tĩnh dưỡng.

Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho tất cả các danh y trong kinh thành đến khám bệnh cho Bát Tư Ba.

Nhưng sau khi bắt mạch cho quốc sư, tất cả các thầy thuốc đều tấu trình lên Nhà vua tin dữ: Vì quá lao tâm lao lực, căn bệnh kinh niên của quốc sư được dịp phát tác, giờ đã vô phương cứu chữa.

Quốc sư không còn sống bao lâu nữa...

Hốt Tất Liệt không thể tin nổi một người trẻ hơn ngài những mười chín tuổi mà sức khỏe lại suy sụp nghiêm trọng nhường vậy!

Nghe theo lời khuyên giải của Khabi, ngài đã phê chuẩn cho phép Bát Tư Ba lui về nghỉ dưỡng.

Bát Tư Ba muốn đến vùng Lâm Thao ở Lương Châu vì chàng có một trang viên do Hốt Tất Liệt ban tặng ở đó.

Khí hậu nơi đó khô ráo nơi Trung Đô, sẽ tốt hơn cho người bị bệnh hô hấp kinh niên như chàng.

Tháng 3 năm 1271, hoa đào nở rộ trong chùa Đại Hộ Quốc Nhân Vương, sắc đỏ rợp trời, rực rỡ.

Gió mát thổi qua cành lá, cuốn theo những cánh hoa phớt hồng bay lượn trên không trung rồi đỗ xuống bờ vai Bát Tư Ba.

Chàng đứng đó, giữa lớp lớp hoa bay, lặng nhìn một lần sau cuối người em trai thứ hai và các đệ tử, vẫy tay từ biệt họ rồi ôm tôi vào lòng, bước lên xe ngựa.

Chàng chỉ đưa một vài đệ tử thân cận đi theo, trong đó có đại đệ tử Drakpa Odzer, người đã theo chàng hai mươi năm qua.

Trước lúc ra đi, chàng đã sắp xếp để Rinchen thay chàng gánh vác trọng trách của một quốc sư trong triều đình của Hốt Tất Liệt.

Hốt Tất Liệt tổ chức buổi đưa tiễn Bát Tư Ba vô cùng long trọng ở cổng Sùng Thiên.

Nhà vua dặn dò chàng rất nhiều, hết đoạn đường này đến đoạn đường khác, không muốn rời xa.

Thực ra, trong lòng cả hai người đều có chung dự cảm rằng đây có thể là lần từ biệt cuối cùng.

Ngày xuân nắng ấm, cỗ xe lộc cộc lăn bánh, cành liễu đung đưa trong gió mát ở hai bên đường, Trung Đô khuất xa dần.

Ba mươi bảy tuổi, Bát Tư Ba mang theo cơ thể ốm yếu, bệnh tật, rời khỏi Trung Đô, kể từ đó cho đến lúc cuối đời, chàng không trở lại kinh thành nức tiếng trong lịch sử Trung Quốc này lần nào nữa.

Trong khoảng thời gian một năm sau đó, đế quốc của Hốt Tất Liệt có những biến động to lớn.

Tháng Mười một năm đó, chúng tôi nhận được tin từ Trung Đô: Viên đại thần người Hán Lưu Bỉnh Trung dâng tấu chương, đề nghị đổi quốc hiệu thành Đại Nguyên.

Hốt Tất Liệt đã phê chuẩn và lệnh cho Lưu Bỉnh Trung lập ra bức chiếu thư có tên gọi “Kiến quốc hiệu chiếu”[1].

Nước Mông Cổ sẽ đổi tên thành “Đại Nguyên”, Đại hãn Mông Cổ thành Hoàng để Trung Nguyên.

Mọi người phải thay đổi cách xưng hô từ “Đại hãn” thành “Bệ hạ”.

[1] Chiếu thư về việc đổi quốc hiệu.

Sự thay đổi này có ý nghĩa vô cùng to lớn với cả một người đau ốm đang sinh sống ở tận vùng Lâm Thao xa xôi.

Tước hiệu quốc sư của Bát Tư Ba đã được Hốt Tất Liệt tôn lên một bậc, thành đế sư, có nghĩa là thầy giáo về tôn giáo của người đứng đầu thiên hạ!

Kể từ khi Bát Tư Ba nhận phong tước vị đế sư, trong triều đình nhà Nguyên mới bắt đầu xuất hiện chức vị này.

Nếu đế sư viên tịch thì phải lập người kế nhiệm.

Nếu đế sư đau ốm, phải rời xa triều chính một thời gian dài thì sẽ ủy thác cho người thay thế.

Dù lúc này Bát Tư Ba không còn ở Đại Đô nhưng lòng tín nhiệm và tôn sùng của Hốt Tất Liệt đối với chàng không hề suy giảm.

Nhà vua ban bố một đạo chỉ, khẳng định rằng, chức vị đế sư sẽ do người nhà họ Khon đảm nhiệm.

Điều đó có nghĩa là, đế sư đời tiếp theo chắc chắn sẽ do Dharma đảm nhiệm.

Về sau, Hốt Tất Liệt đã giữ đúng lời hứa, mười bốn đời đế sư trong suốt chiều dài lịch sử của nhà Nguyên đều do người của phái Sakya đảm nhiệm.

....

- Kể từ khi Thành Cát Tư Hãn lập nước đến giai đoạn này, người Mông Cổ đều tự xưng mình là nước Đại Mông Cổ.

Khi Hốt Tất Liệt lên ngôi Đại hãn, nước Đại Mông Cổ đã phân tách thành một số hãn quốc lớn trải dài khắp châu Âu và châu Á, các hãn quốc này không có bất cứ mối quan hệ phụ thuộc nào.

Trung tâm thống trị của Hốt Tất Liệt di dời về đất Hán, xây dựng triều đình, tiếp nối truyền thống của các vương triều Trung Nguyên, bởi vậy cần có quốc hiệu để công bố với dân chúng rằng, triều Nguyên là triều đại mới, kế tiếp của các triều đại phong kiến Trung Nguyên.

Cũng tức là tuyên bố với thần dân Trung Nguyên: Nhà nước mà Hốt Tất Liệt cai trị không chỉ là một hãn quốc của người Mông Cổ mà là sự kế tục của các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Chàng trai trẻ gật đầu:

- Đúng vậy.

Cũng giống như nhà Thanh sau này, khi dân tộc Mãn Châu hòa nhập với dân tộc Trung Hoa, nhà Thanh đã trở thành một trong những vương triều của Trung Nguyên.

Tôi giải thích kĩ hơn về ý nghĩa của chữ “Nguyên”:

- Lưu Bỉnh Trung là một trong những đại thần người Hán nổi tiếng nhất đầu thời Nguyên vì ông ấy đã lập ra quốc hiệu cho quốc gia với cương vực rộng lớn chưa từng có này.

Tấu chương của ông viết rằng: Các vương triều trước đây như nhà Tần, nhà Hán đều đặt tên nước bằng tên của vùng đất nơi vương triều được lập nên.

Nhà Tùy, nhà Đường thì đặt tên nước bằng tên vùng đất được ban phong.

Tất cả những tên gọi đó đều không làm toát lên sự vĩ đại của vương triều mình.

Trong Kinh dịch có câu: “To lớn thay!

Nguyên khí của đất trời.”

Chúng ta hãy mượn ý này để đặt quốc hiệu là “Đại Nguyên”.

Chàng trai trẻ thốt lên kinh ngạc:

- Thì ra nguồn gốc tên gọi của triều Nguyên xuất phát từ ý nghĩa đó.

Tôi còn nhớ, thủ đô của triều Nguyên là Đại Đô nhưng lúc trước cô thường gọi là Yên Kinh, sau đó lại là Trung Đô.

Vậy đến thời điểm nào mới bắt đầu gọi là Đại Đô?

Lúc này đã là nửa đêm, thời tiết giá buốt.

Tôi lấy thêm cho cậu ta một tấm thảm rồi đáp:

- Đến năm thứ hai, tức năm Chí Nguyên thứ chín, tức tháng 2 năm 1272, Hốt Tất Liệt đã chấp nhận lời đề nghị của Lưu Bỉnh Trung, đổi tên Trung Đô thành Đại Đô.

Từ đây, Đại Đô chính thức trở thành thủ đô của triều Nguyên.

Hết chương 54.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 55: Cuộc sống ẩn dật


"Người chính trực dù vấp phải nguy nan

cũng không đổi bản sắc;

Vàng ròng bị nung chảy

cũng không biến thành màu khác."

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1273 - tức năm Quý Dậu, Âm Thủy theo lịch Tạng - tức niên hiệu Hàm Thuần thứ chín, nhà Nam Tống - tức niên hiệu Chí Nguyên thứ mười, nhà Nguyên.

Bát Tư Ba ba mươi chín tuổi, Chân Kim ba mươi tuổi.

- Thưa cô, tiệm trang sức của chúng tôi nổi tiếng nhất nhì Lâm Thao này đó.

Ông chủ tiệm đon đả mời chào, câu kéo.

- Thiếu nữ có nhan sắc khuynh nước khuynh thành như cô nương nên chọn cho mình món trang sức thượng hạng mới xứng, mới tôn thêm vẻ đẹp như hoa như nguyệt của cô.

Tôi dìu Bát Tư Ba đi lại ngắm nghía cửa tiệm trang sức này.

- Này, chủ quán, chúng tôi chỉ muốn mua một số phụ kiện chất lượng tốt để về tự kết hợp.

- Hàng rời, chất lượng tốt ư?

Ông chủ tiệm quả là người có đầu óc kinh doanh nhạy bén, đối đáp lượm liền.

- Có chứ, có chứ.

Các vị cứ khảo sát cả thành phố Lâm Thao này sẽ thấy, tiệm chúng tôi đây là tiệm trang sức có nhiều kiểu dáng mới nhất, đẹp nhất.

Không biết ông lão định làm thành thứ đồ trang sức gì?

Cây thoa Kim Phượng, vòng tay bằng ngọc hay là vòng cổ?

Tôi khẽ chau mày khi nghe ông ta gọi như vậy.

Bát Tư Ba chẳng bận tâm, chàng đáp:

- Một chuỗi hạt đeo tay.

Tôi sẽ tự nghĩ ra kiểu dáng và tự xâu kết.

- Một chuỗi?

Chỉ là vòng tay thôi ư?

Ông chủ tiệm tiếp tục buôn bán nước bọt, câu kéo khách hàng.

- Con gái cụ xinh như mộng thế này, phải cho cô ấy đeo vàng bạc, châu báu mới xứng với cô ấy, chỉ một chuỗi hạt thì ăn thua gì!

- Một chuỗi là đủ.

Chúng tôi chỉ muốn mua một ít đá khổng tước [1], đá thanh kim [2] và hạt xà cừ [3].

Nếu ông không có, chúng tôi sẽ đi tiệm khác.

[1] Là loại đá quý màu lục, dễ biến sắc tùy theo góc phản chiếu và khúc xạ ánh sáng, dùng làm đồ trang sức, mỹ nghệ.

[2] Loại đá có màu xanh biếc, còn gọi là đã Lapis lazuli.

[3] Xà cừ: tên một loại vỏ sò rất lớn, phân bố chủ yếu ở Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương.

Tôi làm mặt lạnh, trách móc:

- Và này ông chủ tiệm, đây là chồng tôi.

Ông chủ tiệm không khỏi sững sờ, đưa mắt quan sát kĩ lưỡng hai vị khách ăn vận hết sức giản dị trước mặt.

Có lẽ vì nhận thấy phong thái khác người của chúng tôi, ông ta mới đích thân ra tiếp đón thế này.

Nhưng ông chủ tiệm cũng là người rất mau mắn, nhanh trí!

- Cô nương quả là người có con mắt tinh tường!

Tướng công của cô diện mạo phi phàm, phong thái đĩnh đạc, rất đáng ngưỡng mộ!

Tôi phì cười, đúng là mồm mép tép nhảy, đưa người ta một bước lên mây xanh.

Bát Tư Ba lúc này nhìn như người đã ngoài năm mươi tuổi, da mặt nhăn nheo, vóc dáng cao gầy, lom khom.

Tuy gương mặt chàng vẫn toát lên sự thông tuệ, trác tuyệt nhưng chẳng thể dùng những cụm từ như "diện mạo phi phàm" để mô tả chàng được nữa.

Tôi nhìn trộm Bát Tư Ba, thấy chàng không hề phật ý, cũng không để tâm những lời ông chủ tiệm vừa nói.

Tôi trừng mắt lườm ông ta một cái:

- Ông mau lấy đồ ra đi, không là chúng tôi đi luôn đây.

- Ấy chớ, đá khổng tước, đá thanh kim và hạt xà cừ thượng hạng, tiệm chúng tôi đều có cả và đều được nhập về từ Thiên Trúc, Kabul [4] xa xôi ngàn dặm, hàng thật, giá cả phải chăng.

Thử hỏi cả thành Lâm Thao này, làm gì có tiệm vàng nào có được hàng thượng hạng như ở tiệm chúng tôi chứ?

[4] Ngày nay là Pakistan, Afghanistan, nơi chuyên sản xuất đá thanh kim.

Ông ta vừa quảng cáo vừa ôm một cái hộp kiểu dáng rất bắt mắt ra.

Quả nhiên không ngoa, đều là trang sức thượng hạng.

Bát Tư Ba từng chiêm ngưỡng và sở hữu nhiều vàng bạc, châu báu nên chàng rất rành, tự mình lựa những hạt đẹp nhất, tốt nhất.

Lúc rời khỏi tiệm trang sức, mặt trời đã ngả về tây, ánh hoàng hôn vàng ruộm đổ lên vai chúng tôi, hơi ấm mùa xuân thấm vào tận buồng tim lá phổi.

Chúng tôi cùng hít hà cho căng tràn lồng ngực hương hoa đào ngan ngát trong không gian rồi nhìn nhau mỉm cười, quay về trang viên.

Hai năm qua, chúng tôi sống ẩn dật ở Lâm Thao, không ai hay biết chủ nhân của trang viên rộng lớn này, ông lão cao gầy ấy chính là vị đế sư chưa đầy bốn mươi tuổi.

Ngày thường, chúng tôi rất ít khi ra ngoài, nhưng cứ xuất hiện là sẽ có người chỉ trỏ, bàn tán.

Chắc chắn là những lời đàm tiếu chẳng mấy hay ho về cặp đôi chồng già vợ trẻ này.

Hôm nay, Bát Tư Ba đột nhiên cao hứng muốn làm vòng tay cho tôi.

Chàng muốn tự mình đi chọn đồ, thế là chúng tôi cùng nhau ra phố.

Quả không ngoài dự đoán, người ta xúm đông xúm đỏ, chỉ trỏ, bàn tán sau lưng chúng tôi, thậm chí không ít những chú chàng trẻ trai còn đánh bạo, ra rả châm chọc:

- Ôi!

Bông hoa nhài cắm bãi phân trâu!

Nhưng chúng tôi chẳng để tâm đến họ, tôi cũng chẳng buồn biến phép dạy cho họ một bài học.

Chúng tôi vẫn tay trong tay, thủng thẳng cất bước.

Giờ đây, khi cảm giác đau đớn ngày càng giảm đi, chàng rất thích được nắm tay tôi.

Một buổi chiều mùa xuân êm đềm như thế, tôi và người tôi yêu cùng nhau tận hưởng thế giới của riêng hai người.

Bình yên, đầm ấm, với chúng tôi thế là đủ.

Kể từ khi dọn đến Lâm Thao, Bát Tư Ba để tôi được đường đường chính chính xuất hiện trước mặt mọi người, không cần phải giả làm người hầu như trước nữa, chỉ đề nghị tôi giấu mái tóc mà màu mắt xanh đi.

Và tôi đã ở bên chàng với danh phận là Lam phu nhân.

Tuy không công bố chính thức nhưng mọi người đều ngầm thừa nhận mối quan hệ giữa hai chúng tôi.

Sakya vốn là giáo phái Phật giáo cho phép tăng sĩ kết hôn nên không ai thắc mắc hay nghi hoặc gì.

Khi tin tức được truyền đến Trung Đô, Hốt Tất Liệt đã rất vui mừng và quyết định ban phong tước vị.

Nhưng Bát Tư Ba kiên quyết từ chối, và vì thế, tôi đã không phải đội lên đầu thứ trang sức nặng trình trịch mà tước vị Cáo mệnh phu nhân mang lại.

Khi chúng tôi vừa về đến trang viên, Drakpa Odzer lập tức bẩm báo:

- Vương gia Khởi Tất Thiếp Mộc Nhi dẫn theo con gái Bối Đan đến thăm pháp vương, ngài đã chờ khá lâu rồi.

Chúng tôi cùng vào phòng khách, Khởi Tất vội vã kéo cô con gái chừng mười tuổi đứng lên, vái chào chúng tôi.

Bát Tư Ba bước lại, đỡ họ dậy.

- Người anh em đừng khách sáo.

Huynh vượt đường sá xa xôi đến đây thăm ta, ta vui lắm!

Khởi Tất năm nay năm mươi tuổi, hơn Bát Tư Ba mười một tuổi.

Những năm qua, cậu ta đã già đi rất nhanh, bệnh tật vây khốn, cơ thể tráng kiện, vạm vỡ năm nào giờ chỉ còn da bọc xương.

Khởi Tất nhìn Bát Tư Ba, lắc đầu:

- Người anh em, chỉ e đây là lần cuối cùng ta gặp được đệ.

Thầy thuốc nói rằng, bệnh huyết hư của ta vô phương cứu chữa, chỉ còn chờ chết mà thôi.

Bát Tư Ba sững sờ, nỗi âu lo hiển hiện trên nét mặt:

- Sao lại như vậy?

Ta sẽ lập tức xin với Bệ hạ, để ngài cử danh y tốt nhất đến thăm bệnh cho huynh.

Huynh cần dùng bất cứ loại thuốc quý hiếm nào, cũng xin nói cho ta biết.

Khởi Tất nghiêng đầu ho một chặp.

- Vô ích thôi.

Bao năm qua đã chữa đủ mọi cách mà vẫn không khỏi, ta hết hy vọng rồi.

Ta chỉ lo cho đứa con gái bé bỏng này.

Bát Tư Ba buồn bã ngước nhìn gương mặt tiều tụy của Khởi Tất:

- Người anh em ốm đau như vậy mà vẫn cất công đến đây, chắc hẳn không phải chỉ để hàn huyên chuyện cũ.

Huynh cần ta giúp điều gì, xin cứ nói, ta nhất định sẽ tận lực!

Khởi Tất đưa mắt nhìn cô con gái Bối Đan.

Bát Tư Ba hiểu ý, bảo tôi đưa Bối Đan ra ngoài hóng gió.

Tôi bèn dắt cô bé ra vườn chơi đùa, trò chuyện.

Lúc đầu còn lạ lẫm, cô bé có vẻ khép nép, nhưng sau quen dần thì tỏ ra rất mực thân thiết.

Tôi vừa chơi đùa với cô bé vừa dỏng tai nghe ngóng câu chuyện trong phòng khách.

- Quả là ta có việc muốn thỉnh cầu đế sư, mong ngài nể tình ông lão già cả này mà nhận lời cho.

Giọng nói của Khởi Tất chất chứa nỗi nghẹn ngào, xúc động.

- Xin người anh em hãy đứng lên.

Huynh đang đau ốm, đừng quỳ trên nền đá lạnh như thế.

Tôi có thể đoán ra, Khởi Tất đã quỳ dưới chân Bát Tư Ba.

- Đệ bây giờ đã là bậc đế sư, hoàng tử, công chúa trong cung gặp đệ cũng phải cung kính vái chào.

Vậy mà đệ vẫn nhớ đến người anh em từ hơn hai mươi năm trước này.

Đệ quả là người nặng tình nặng nghĩa!

Khởi Tất khóc lóc một hồi.

Bát Tư Ba phải ra sức an ủi, động viên, Khởi Tất mới kiềm chế nỗi xúc động, nói tiếp:

- Nếu phải ra đi, ta không còn gì nuối tiếc, ta chi lo cho đứa con gái bé bỏng, tội nghiệp này.

Nếu ta chết, mấy thằng anh trai lòng dạ độc ác của nó chắc chắn sẽ không tìm cho nó một người chồng tử tế đâu.

Nghe lời tâm sự của Khởi Tất, tôi mới chợt nhớ ra, trước đây từng nghe được một vài tin đồn.

Hồi trẻ, Khởi Tất quá phong lưu, phóng đãng nên đã sinh ra cả một bầy con trai.

Mười cậu ấm suốt ngày tranh giành, đấu đá, chỉ mải mê ăn chơi, rượu chè, cờ bạc.

Nhưng đất phong của Khởi Tất đã bị Hốt Tất Liệt tước gần hết, lấy đâu ra của cải cung phụng cho đám đổ đốn vô đối ấy.

Nghe nói, mấy năm gần đây, cuộc sống của Khởi Tất rất ư khốn khó, cả Vương phủ đông đúc phải sống dựa vào việc cầm cố hết tài sản này đến của cải khác.

Đám con trai bất hiếu kia chỉ mong sao cha mình chết sớm để còn chia tài sản.

Bát Tư Ba an ủi Khởi Tất:

- Xin người anh em đừng quá lo lắng.

Ta nhất định sẽ tìm cho Công chúa Bối Đan một gia đình tử tế làm quan trong triều.

Nhưng Khởi Tất lại nói rằng:

- Người anh em, chi bằng hai gia đình chúng ta hãy kết làm thông gia.

Hãy cho con gái ta làm cháu dâu đệ, được không?

Bối Đan trở thành con dâu của phái Sakya thì nó mới có thể tránh khỏi cảnh bị nhà chồng khinh rẻ vì số của hồi môn bọt bèo.

Tôi điếng người, đến nỗi Bối Đan gọi mấy tiếng "dì Lam" mà tôi cũng không nghe thấy.

Thì ra, Khởi Tất lê tấm thân bệnh tật đến tận Lâm Thao là vì mục đích này.

Nhưng trước đó, Bát Tư Ba đã nhận lời với Zhouma và Kunga Zangpo rồi kia mà!

- Chuyện này...

Bát Tư Ba do dự.

- Mấy năm trước, ta đã chỉ định hôn sự cho Dharma, cô dâu là con gái của người em gái lớn của ta...

Khởi Tất ra sức thuyết phục:

- Không sao cả, chỉ cần con gái ta không bị thiệt thòi với phận làm thiếp là được.

Tuy Khởi Tất đã sa sút nhưng dù sao con gái cậu ta cũng là công chúa Mông Cổ nên nếu đặt địa vị của Bối Đan ngang bằng với Jumodaban, vợ chồng Kunga Zangpo cũng không thể phản đối.

Căn phòng yên ắng đến lạnh người.

Tôi lắng nghe hồi lâu mới thấy tiếng Bát Tư Ba trịnh trọng đáp:

- Được, người anh em, ta nhận lời với huynh.

Sau khi huynh ra đi, ta sẽ thay huynh chăm sóc Công chúa Bối Đan.

Ta cũng hứa sẽ không để cô bé phải chịu thiệt thòi khi về làm dâu phái Sakya.

Tôi sững sờ, ngay sau đó cảm giác buồn tủi dâng lên ngập lòng.

Tôi quay sang ngắm nhìn đứa bé hồn nhiên kia, cô bé hơn Dharma bốn tuổi.

Không hiểu vì sao, cô bé làm tôi nhớ đến Kháp Na và Mukaton.

Buổi tối, Bát Tư Ba cần mẫn tết chuỗi vòng đeo tay dưới ánh đèn dầu.

Tôi đặt bát canh yến trước mặt chàng:

- Vì sao chàng nhận lời với Khởi Tất Thiếp Mộc Nhi?

Chàng đặt chuỗi hạt xuống, chầm chậm uống bát canh yến.

- Vương gia Khoát Đoan, cha của huynh ấy có ơn với giáo phái Sakya.

Ta và huynh ấy lại là anh em kết nghĩa đã hơn hai mươi năm, huynh ấy quỳ xuống cầu xin ta như vậy, làm sao ta từ chối cho được.

Hơn nữa, Mukaton vì Kháp Na mà chết, trong lòng ta rất áy náy.

Ta chấp nhận cuộc hôn nhân này cũng là để bù đắp cho Khởi Tất.

- Chàng không thấy Dharma và Bối Đan rất giống Kháp Na và Mukaton sao?

Con trai của Kháp Na lấy cháu gái của Mukaton, số phận thật lạ kỳ, nhưng không biết đây sẽ là mối lương duyên hay là nghiệt duyên nữa.

Chàng vuốt ve mái tóc màu lam của tôi, mỉm cười bảo:

- Ta biết em đang lo lắng chuyện gì.

Ta tin rằng chúng sẽ không bất hạnh như Kháp Na và Mukaton.

Chờ khi Dharma trưởng thành, tới Trung Đô, ta sẽ cho hai đứa trẻ làm quen với nhau, sau đó mới cho chúng kết hôn.

Tôi lắc đầu buồn bã.

Tuy là mẹ nhưng tôi chẳng có quyền quyết định chuyện hôn sự của con trai, tất cả đều phải nghe theo Bát Tư Ba.

Tôi không thấy thoải mái chút nào.

Tôi luôn cổ súy cho hôn nhân một vợ một chồng, đầu bạc răng long, chứ không phải những cuộc hôn nhân chính trị, ép những đứa trẻ chẳng hề quen biết nhau phải chung sống với nhau.

Nhưng tôi cũng hiểu rằng đó là tục lệ phổ biến của xã hội này.

Cô dâu thường chỉ biết mặt chú rể sau khi khăn che mặt được vén lên.

Nếu người con trai có địa vị, quyền thế thì có thể cưới cả đám vợ cũng không sao, Kháp Na cũng từng cưới ba người vợ đó thôi.

Tôi sống với loài người chừng ấy năm, lẽ ra phải quen những phong tục tập quán này mới đúng chứ!

Dharma là người thừa kế duy nhất của phái Sakya, nó sẽ giúp Sakya phát triển lớn mạnh, sẽ sinh cho nhà họ Khon thật nhiều con cái.

Phái Sakya chắc chắn sẽ không đồng ý nếu nó chỉ lấy một người vợ duy nhất.

Không biết vì sao, trong lòng tôi cứ thấp thỏm lo âu.

Tôi đưa mắt nhìn Bát Tư Ba.

Chàng đang tập trung tinh thần, miệt mài tết dây xâu chuỗi hạt dưới ánh nến.

Chốc chốc chàng lại nhắm mắt nghỉ ngơi một lát rồi mới tiếp tục công việc.

Thực ra, Bát Tư Ba không phải một con người hoàn hảo.

Chàng đã hình thành cho mình một thói quen, phàm việc gì cũng phải xét đến lợi ích của giáo phái trước nhất.

Đó là kiểu giáo dục đã ăn sâu vào tiềm thức của chàng từ nhỏ, nhất là sau khi được chọn làm người kế thừa của giáo phái.

Nhưng nếu chàng có thể trở thành một người như đại sư Ban Trí Đạt kỳ vọng, luôn đặt lợi ích của giáo phái lên trên tất thảy, gạt bỏ mọi tình cảm cá nhân thì có lẽ chàng đã không phải đau khổ như vậy.

Tôi thầm nguyện cầu, ngày sau, Dharma của tôi sẽ không giống chàng.

Chiếc vòng được hoàn tất sau ba ngày vất vả.

Hôm ấy, Bát Tư Ba trao cho tôi một chiếc túi gấm rất đẹp.

- Đẹp quá!

Tôi mở túi, lấy chiếc vòng ra, thốt lên kinh ngạc.

Những viên đá khổng tước và đá thanh kim lóng lánh huyền hoặc.

Những miếng xà cừ được gọt tỉa thành hình hoa sen và lá sen, vô cùng sống động, tài tình.

Tôi háo hức xỏ luôn vào tay.

- Đi theo chàng hơn hai mươi năm mà em không biết chàng lại khéo tay như vậy.

Chàng đỏ mặt ngại ngùng:

- Mẹ ta đã hướng dẫn ta cách làm đó.

Lúc nhỏ, ta thường ngồi trong lòng mẹ, xem bà bện dây xâu những chuỗi tràng hạt.

Mẹ đã xâu rất nhiều chuỗi hạt với hình dáng, kiểu cách khác nhau, rất sinh động.

Tiếc là nhiều năm qua ta không làm việc này nên đã quên hết các kiểu dáng độc đáo, chỉ làm được chiếc vòng tay đơn giản thế này thôi.

Tôi xoay đi xoay lại, ngắm mãi không chán.

- Em thích lắm, rất thích, rất đẹp.

Em sẽ đeo chiếc vòng này suốt đời!

Bàn tay chàng dịu dàng vuốt ve mái tóc tôi, ngừng lại nơi viên ngọc Linh hồn lấp lánh ánh sáng.

- Ngày nào em cũng mang theo bên mình ngọc Linh hồn và sợi dây của Kháp Na.

Ta cũng muốn tự tay làm một món quà gì đó tặng em, nghĩ mãi mới ra thứ này.

Chàng nắm tay tôi, ngắm nghía chuỗi vòng trên cổ tay tôi, giọng chàng chợt buồn:

- Em thích nó thì hãy đeo nó mỗi ngày, thấy nó cũng như thấy ta vậy.

Tôi nhận ra trong câu nói của chàng dư vị chua xót của lời giã biệt, lòng không khỏi băn khoăn:

- Chàng định đuổi em đi ư?

- Lam Kha, em đã ở bên ta hai năm.

Hai năm không phải bận lòng với việc chính sự và những việc mệt mỏi khác, chỉ có em cận kề bên ta, ta vui lắm.

Đây là quãng thời gian hạnh phúc nhất đời ta.

Chàng thả tay tôi xuống, chầm chậm cất bước đến bên cửa sổ, lặng nhìn cây bạch dương vừa mọc thêm những chồi non mơn mởn ngoài kìa, khẽ thở dài:

- Hai năm là đủ rồi.

Tôi bước lại gần chàng, ngước nhìn bóng dáng gầy guộc của chàng mà lòng se sắt:

- Em sẽ không đi đâu cả...

Chàng đột ngột quay lại:

- Đừng lãng phí thời gian cho một kẻ sắp chết như ta!

Em đã trọn tình vẹn nghĩa với ta, em nên quay về Sakya thăm Dharma, nó sáu tuổi rồi đó.

Mấy hôm trước ta nhận được thư của Kunga Zangpo, viết rằng Dharma rất tinh nghịch, đáng yêu và vô cùng thông minh, càng ngày càng giống Kháp Na.

Em không muốn về thăm con sao?

- Em muốn.

Tôi bình thản nhìn vào mắt chàng.

- Nhưng đối với em, người quan trọng hơn cả lúc này là chàng.

Dharma còn cả chặng đường dài phía trước, nhưng chàng...

Tôi chưa nói hết câu, chàng đã sụp xuống khiến tôi hoảng hốt, vội chạy lại đỡ lấy chàng.

Tôi lay gọi chàng nhưng chàng không đáp lại.

Tôi dìu chàng đến bên giường, đỡ chàng nằm xuống, vuốt ve vầng trán chàng, gương mặt chàng vàng vọt, hơi thở yếu ớt, sự sống đang chầm chậm bỏ chàng mà đi.

Có lẽ vì vậy mà chàng muốn tôi ra đi, có lẽ vì vậy mà chàng gấp rút sắp xếp chuyện hôn sự của Dharma.

Chàng đã dự cảm được tình trạng sức khỏe của mình nên muốn sắp xếp ổn thỏa mọi thứ?

Tôi lập tức cúi xuống, đặt môi lên miệng chàng, truyền linh khí cho chàng.

Sở dĩ tôi phải nén chặt nỗi nhớ con trong lòng và không chịu rời xa chàng một bước là vì tôi biết rằng chàng có thể gục xuống bất cứ lúc nào.

Tôi chầm chậm truyền linh khí cho chàng, đôi mắt chàng vẫn khép chặt, bờ môi khô lạnh, làn da tái xám.

Tuy đã lấy lại hình hài con người nhưng tôi vẫn ngày đêm khổ công tu luyện, không dám trễ nải.

Bởi vì tôi biết mình phải chuẩn bị một lượng linh khí thật dồi dào phòng khi cần kíp.

Và vì tôi là người duy nhất có thể kéo dài sự sống cho chàng.

Tôi không dám truyền linh khí quá lâu, sợ khi chàng tỉnh lại, sự tiếp xúc da thịt giữa chúng tôi sẽ khiến chàng đau đớn.

Tôi ngồi bên giường, ngắm nhìn gương mặt đang say ngủ của chàng, tử khí vây quanh chàng đã tan biến.

Gương mặt chàng an nhiên, tĩnh tại.

Tôi nhẹ nhàng chạm vào bờ môi, vầng trán và chiếc cổ nhăn nheo của chàng.

Tình yêu thuở thiếu thời của tôi dành cho chàng đã lên một nấc mới.

Không chỉ là yêu, mà với tôi, chàng là người thân yêu nhất, đáng tin cậy nhất, là người tôi thương nhớ nhất, không muốn rời xa nhất.

Ánh mặt trời tràn vào căn phòng, chiếu sáng chuỗi hạt trên cổ tay tôi.

Những viên đá khổng tước, đá thanh kim lấp lánh, rực rỡ, lung linh, huyền ảo.

Chàng tỉnh lại.

Tôi rót nước cho chàng, cầm lá thư trên bàn, hỏi:

- Drakpa Odzer vừa đến, báo rằng có mật thư gửi từ Sakya.

Chàng có muốn đọc ngay không

Chàng gật đầu, đón lấy bức thư, mở ra đọc.

Tôi thấy sắc mặt chàng càng lúc càng xấu đi, vội lao đến, hỏi:

- Thư viết gì vậy?

Chừng như rất tức giận, bàn tay cầm lá thư của chàng run lên:

- Kunga Zangpo càng ngày càng tồi tệ, thủ đoạn độc ác, chỉ vì tranh chấp lãnh thổ, dám gây ra đổ máu!

Sự việc là thế này: Vùng Ali do quý tộc Nangsababoxi cai quản, cũng là một trong mười ba vạn hộ hầu do Bát Tư Ba sắc phong.

Nangsababoxi có quan hệ mật thiết với phái Phaktru nên Ali lâu nay vẫn được xem là thuộc phạm vi thế lực của phái Phaktru.

Kunga Zangpo ra lệnh trao đổi các cư dân Mid ở vùng Ali của Nangsababoxi với các hộ dân thuộc vùng Magarze bên hồ thiêng Yamdrok-tso.

Nagarze vốn thuộc phạm vi thế lực của phái Drikung nên động thái này của Kunga Zangpo rõ ràng là muốn tạo ra mâu thuẫn giữa hai phái Drikung và Phaktru.

Tất nhiên là Nangsababoxi không đồng ý, đã ra sức chống đối.

Kunga Zangpo mua chuộc người hầu cận của Nangsababoxi, một nhà sư mười tám tuổi, tên gọi Damparinqu.

Tên hầu cận này đã hạ độc giết chết Nangsababoxi.

Kunga Zangpo ban thưởng cho Damparinqu bằng cách cắt vùng Maizho Pakza tặng cho hắn.

Nangsababoxi không có người thừa kế nên nhân lúc phái Phaktru chưa kịp can thiệp vào việc này, Kunga Zangpo đã nhanh tay chiếm đoạt toàn bộ đất đai của Nangsababoxi.

Tuy việc làm của Kunga Zangpo đã giúp phái Sakya giành được một địa bàn hết sức rộng lớn nhưng đó là đất đai có được nhờ sử dụng thủ đoạn bỉ ổi, gây tai tiếng xấu và kích động sự phẫn nộ của quần chúng.

Tôi không muốn Bát Tư Ba vì tức giận mà ảnh hưởng đến sức khỏe nên đã nói đỡ cho Kunga Zangpo:

- Tuy làm vậy thật tàn bạo nhưng cũng có thể hiểu được.

Cậu ấy muốn trả thù hai phái Phaktru và Drikung.

Bát Tư Ba tức giận:

- Ta cũng muốn trả thù nhưng phải hành động thật quang minh chính đại, tuyệt đối không thể dùng thủ đoạn tàn độc, đê tiện như vậy được!

Tôi thở dài:

- Kunga Zangpo giờ đã là bản khâm của giáo phái, chàng không có nhà, Dharma lại còn nhỏ nên bản khâm sẽ là người nắm trong tay quyền lực lớn nhất đất Tạng.

Quyền lực trong tay, lâu dần người ta sẽ thay đổi cách nghĩ.

Kunga Zangpo là một người cơ trí, mẫn cán.

Phán xét một cách công bằng thì trong vòng mấy năm kể từ khi nhậm chức bản khâm, Kunga Zangpo đã có những cống hiến to lớn cho phái Sakya, phần lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của phái Sakya nhờ cậu ta mà nhiều lên gấp đôi.

Và tất cả đất đai này đều thuộc về Sakya, Kunga Zangpo không hề có ý đồ tư lợi.

Cậu ta đã giám sát xây dựng hoàn thiện gian chính điện quan trọng nhất của đền Nam Sakya, đúc thành công bức tượng Quan Âm Bồ Tát mạ vàng để tưởng niệm đại sư Ban Trí Đạt và lệnh cho thợ thủ công hoàn thành toàn bộ số bích họa dọc hành lang bên ngoài đại điện.

Dưới bàn tay điều hành của Kunga Zangpo, quy mô ngôi đền Nam Sakya đã bước đầu thành hình.

Tầm ảnh hưởng của cậu ta ở Sakya càng ngày càng lớn.

Rất nhiều người trong giáo phái tỏ ra khâm phục và dần dà ủng hộ cậu ta hết lòng.

- Cậu ta có công với giáo phái nhưng công lao đó không thể bù đắp những tội ác mà cậu ta gây ra.

Bát Tư Ba gắng gượng ngồi dậy, bảo tôi:

- Giúp ta một tay, đỡ ta ngồi dậy.

Ta phải viết thư đe nẹt, giáo huấn cậu ta mới được.

Dù rất lo lắng cho sức khỏe của chàng nhưng tôi cũng đành kéo chiếc bàn làm việc nhỏ của chàng tới sát mép giường và giúp chàng mài mực.

Mấy ngày sau, bức thư khiển trách Kunga Zangpo được gửi đi từ Lâm Thao.

Khi ấy, chúng tôi không hề biết rằng, mâu thuẫn giữa Kunga Zangpo và Bát Tư Ba đã bắt đầu nảy sinh và nó sẽ lớn dần, trở thành cơn cuồng phong nhuốm máu về sau.

Mùa hè năm đó, chúng tôi nhận được tin tức từ Đại Đô: Chân Kim đã được lập làm thái tử!

Các đại thần người Hán nhiều lần tấu chương, đưa ra ý kiến, các vương triều ở Trung Nguyên xưa nay đều có thông lệ, hoàng đế lập thái tử kế ngôi ngay trong thời gian tại vị.

Nhập gia thì phải tùy tục, vậy nên Hốt Tất Liệt trở thành thái tử danh chính ngôn thuận đầu tiên trong lịch sử Mông Cổ.

...

Tôi khẽ thở dài:

- Chân Kim trở thành vị thái tử đầu tiên trong lịch sử Mông Cổ.

Tin tức này làm dấy lên hai nguồn ý kiến trái chiều trong triều đình nhà Nguyên.

Người Hán thì ủng hộ còn người Mông Cổ thì bất mãn.

Chàng trai trẻ ngạc nhiên hỏi:

- Vì sao?

Lẽ nào Chân Kim không được lòng người Mông Cổ?

- Các quý tộc Mông Cổ đã tranh cãi rất nhiều về Chân Kim.

Nhớ đến vị thái tử mà số phận rất mực lận đận, bi đát này, lòng tôi chợt buồn ảo não.

- Chân Kim từ nhỏ đã được nuôi dưỡng trong môi trường Nho học của người Hán.

Bên cạnh cậu ấy lúc nào cũng có hàng tá các nhà Nho tài ba vây quanh, họ đều là những nhân vật chủ chốt, đại diện cho chủ trương trị quốc bằng Nho giáo trong triều đình Hốt Tất Liệt.

Đối với người Hán, việc lập Chân Kim làm thái tử là phù hợp với truyền thống của các vương triều Trung Nguyên, bởi vậy, họ đặt rất nhiều kỳ vọng ở cậu ta.

Họ cho rằng, Chân Kim là người kế vị tương lai, cậu ta sẽ bắt đầu một thời đại mới của nên Nho trị, vị thế của người Hán trong triều đình nhà Nguyên chắc chắn sẽ được nâng cao.

Chàng trai trẻ lắc đầu:

- Điều này chắc chắn động chạm đến quyền lợi của người Mông Cổ.

Tôi gật đầu:

- Đúng vậy.

Người Mông Cổ cho rằng Chân Kim đã bị Hán hóa, nếu cậu ta kế vị thì triều đình này sẽ trở thành thiên hạ của người Hán.

Hơn nữa, người Mông Cổ không có thông lệ lập người kế vị khi Đại hãn vẫn còn sống.

Mấy trăm năm qua, thông lệ của người Mông Cổ vẫn là: sau khi Đại hãn qua đời, các vương gia sẽ tổ chức hội nghị Kurultai để bầu chọn người kế nhiệm ngôi vị Hãn vương tiếp theo.

Đại hội này không thông qua thì không ai có thể trở thành Đại hãn hợp pháp.

Nếu đại hội không thể lập tức chọn ra Hãn vương phù hợp thì chính quyền sẽ do hoàng hậu tạm thời cai quản, cho đến khi đại hội chọn ra Hãn vương kế nhiệm.

Bởi vậy, chức vị thái tử của Chân Kim đã gây nhiều tranh cái trong nội bộ các quý tộc Mông Cổ.

Hết chương 55.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 56: Chân Kim đến thăm


“Nếu nhà vua không chăm lo cho dân, cho nước,

Thì đó là dấu hiệu của thế nước suy vong;

Nếu mặt trời không xua tan bóng đêm,

Thì đó là dấu hiệu của hiện tượng nhật thực.”

(Cách ngôn Sakya)

Năm 1274 – tức năm Giáp Tuất, Dương Mộc theo lịch Tạng – tức niên hiệu Hàm Thuần thứ mười, nhà Nam Tống – tức niên hiệu Chí Nguyên thứ mười một, nhà Nguyên.

Bát Tư Ba bốn mươi tuổi, Chân Kim ba mươi mốt tuổi.

Chúng tôi sống ẩn dật ở Lâm Thao và không muốn bị làm phiền.

Bát Tư Ba trút bỏ mọi công việc chính sự ở Đại Đô và giao cho em trai thứ hai thay mình gánh vác trọng trách, nhưng chàng không thể không bận tâm việc của giáo phái.

Ông trời đã sắp bày để năm 1274 là một năm nhiều sóng gió.

Vừa ăn Tết xong, chúng tôi lại nhận được mật thư gửi từ Sakya.

Bát Tư Ba không thể tin nổi, bức thư khiển trách Kunga Zangpo vẫn đang trên đường đến Sakya thì chàng đã lại nhận được tin mật báo tiếp theo về những việc làm của vị bản khâm đời thứ hai: Kunga Zangpo đích thân thống lĩnh đội quân võ tăng gồm hàng nghìn người tấn công đền Drikung và tiêu diệt toàn bộ tăng sĩ trong ngôi đền của một trong những giáo phái lớn nhất đất Tạng này!

Hai tay Bát Tư Ba run lên bần bật, chàng đấm mạnh xuống bàn:

- Hắn thật to gan, ai cho hắn mặc ý làm bừa như vậy!

Tôi lo lắng cho sức khỏe của chàng nên vội vã giữ chặt cánh tay chàng, nghẹn ngào:

- Cậu ta muốn trả thù cho Kháp Na.

Bát Tư Ba nổi giận đùng đùng:

- Trả thù thì sao không nhắm vào Chung Dorje!

Hắn giết cả hàng nghìn người rồi phóng hỏa đốt đền, như vậy không gọi là trả thù mà là giết người, cướp của!

Rồi đây, người ta sẽ nghĩ sao về phái Sakya?

Dân chúng sẽ cho rằng phái Sakya ỷ thế làm bừa, thấy kẻ nào chướng tai gai mắt là dùng vũ lực tiêu diệt kẻ đó không thương tiếc.

Ngày sau, phái Sakya sẽ bị cô lập ở đất Tạng, mối liên kết mà ta mất bao công sức gây dựng với các giáo phái khác sẽ bị hủy hoại hoàn toàn.

Tôi vội vã đỡ chàng ngồi xuống, nhẹ nhàng động viên:

- Chàng đừng nóng giận, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Giờ sự việc đã xảy ra, chúng ta chỉ có thể nghĩ cách chữa cháy thôi!

- Ta sẽ lập tức gửi thư về Sakya, tước bỏ chức vị bản khâm của hắn, chức vị này sẽ do đệ tử của ta kế nhiệm.

Nể tình Zhouma, ta không giết hắn nhưng sẽ đuổi hắn khỏi Sakya và chỉ cho phép hắn mang theo đồ dùng cá nhân và vợ con!

Chàng ngừng lại, ánh mắt băng giá:

- Còn nữa, hủy bỏ hôn ước giữa Dharma và Jumodaban.

Một kẻ độc ác, tàn bạo như hắn không xứng trở thành cha vợ của Dharma!

Lá thư phế bỏ chức vị của Kunga Zangpo được chuyển đi không lâu, chúng tôi lại nhận được một tin tức kinh thiên động địa khác: Vân Nam Vương Hốt Ca Xích bị thuộc hạ giết chết tại Côn Minh!

Thì ra người con cả này của Hốt Tất Liệt từ lâu vẫn nuôi lòng ghen ghét, đố kỵ với Chân Kim.

Cậu ta vốn định chờ sau khi Hốt Tất Liệt qua đời sẽ tổ chức đại hội Kurultai, tranh giành vương vị với Chân Kim.

Nhưng tin tức Hốt Tất Liệt lập Chân Kim làm thái tử đã đập tan hy vọng của cậu ta.

Hốt Ca Xích vì chán nản, ngày ngày rượu chè say khướt trong Vương phủ ở Vân Nam, hễ nổi giận là lôi tướng sĩ ra trói lại, đánh đập.

Cậu ta vốn dĩ là một kẻ vũ phu, bạo ngược, bạc đãi thuộc hạ.

Có câu: con giun xéo lắm cũng quằn, đám lính dưới trướng cậu ta không nhẫn nhịn nổi nữa, đã nhân lúc Hốt Ca Xích ngủ say, dùng dây thừng siết cổ Vân Nam Vương, sau đó phóng hỏa thiêu rụi Vương phủ.

Hốt Ca Xích và Bát Tư Ba không có mối quan hệ thân thiết, cậu ta chết cũng là do quả báo.

Nhưng cái chết của cậu ta lại mang đến một tin tức khác: Yeshe là thượng sư thân cận của Hốt Ca Xích, trong đêm xảy ra cuộc biến động ấy, hắn đã bị thuộc hạ của Hốt Ca Xích trói chặt và nhốt trong phòng nên đã bị thiêu cháy.

Còn vợ và con trai hắn thì đến nay vẫn chưa rõ tung tích.

Khi thông tin được truyền đến Lâm Thao, cả tôi và Bát Tư Ba cùng thở dài.

Yeshe gây ra bao tội ác nên bị trời đày, phải chết thảm khốc như vậy.

Đầu tháng ba năm đó, Lâm Thao vẫn chìm trong tiết xuân se lạnh, bỗng một nhân vật đặc biệt bất ngờ ghé thăm trang viên chúng tôi.

Nhiệm vụ đầu tiên mà Hốt Tất Liệt giao cho Chân Kim sau khi được lập làm thái tử là đến Lâm Thao chúc thọ tuổi bốn mươi của đế sư Bát Tư Ba.

Sinh nhật chàng vào ngày 6 tháng 3 theo lịch Tạng.

Chân Kim từng theo Bát Tư Ba học Phật pháp từ nhỏ nên hai người có quan hệ thầy trò.

Chân Kim lúc nào cũng tỏ ra kính trọng, tôn sùng Bát Tư Ba.

Dù đã là thái tử đương triều, cậu ta vẫn một mực cung kính, lễ phép với chàng.

Bát Tư Ba hết sức vui mừng vì sự xuất hiện của Chân Kim, nhưng tôi lại thấy khó xử.

Ở trang viên này, tôi xuất hiện với thân phận là bà chủ, chỉ cần giấu đi mái tóc và đôi mắt màu lam, gương mặt vẫn giữ nguyên.

Nhưng sau khi Chân Kim đến đây, tôi chẳng dám đi gặp cậu ta vì sợ bị phát hiện.

Điều đáng ngại hơn nữa là, cậu ta cứ một mực đòi bái kiến Lam phu nhân.

Tôi cảm thấy vô cùng ngượng ngùng, có lẽ tin đồn về một cô gái xinh đẹp luôn ở bên chăm sóc đế sư đã truyền khắp cung đình của Hốt Tất Liệt.

Vậy mà Bát Tư Ba vẫn đường hoàng gọi tôi ra gặp.

Tôi ngập ngừng, do dự hồi lâu, nếu lúc này thay đổi dung mạo sẽ khiến những người trong trang viên kinh hãi.

Tôi đành lấy một mảnh khăn trùm kín mặt, vận bộ trang phục giản dị nhất, đội mũ rồi mới rụt rè bước ra phòng khách.

Thấy tôi kín mít trong lớp y phục dày cộm, ở trong phòng mà vẫn đội mũ chắn gió, Bát Tư Ba ngạc nhiên:

- Sao hôm nay lại....

Tôi vội ngắt lời chàng:

- Em bị cảm phong hàn mấy hôm nay, không tiện đón khách, nhưng vì có khách quý đến chơi nên không thể thất lễ.

Tôi quay sang cúi lạy Chân Kim, cố nén cho giọng khác đi, lí nhí chào:

- Thần thiếp kính chào Thái tử Điện hạ!

Tôi chịu rét tốt hơn người thường, mùa đông cũng không mặc quá nhiều quần áo, nhưng hôm nay tôi đã khoát lên người toàn bộ số áo rét tôi có khiến Bát Tư Ba không khỏi kinh ngạc.

Chân Kim mời tôi đứng dậy, cười bảo:

- Lam phu nhân phải không?

Lúc ở Đại Đô, Chân Kim đã nghe Phụ hoàn nhắc đến, cảm thấy rất tò mò nên muốn nhân dịp này diện kiến phu nhân, xin phu nhân lượng thứ cho sự đường đột này.

Tôi cứ đinh ninh rằng mình có thể học theo Khabi, ứng đối lịch duyệt, dáng vẻ yêu kiều, nhưng vì khoác lên người quá nhiều y phục nên khi cúi thấp xuống thì cơ thể giống như loài gấu trúc béo mập, nặng nhọc, không sao đứng lên nổi.

Đang lúc bối rối không biết phải xử trí ra sao thì chân tôi giẫm vào vạt váy, lộn nhào một vòng rồi mới lồm cồm bò dậy, xấu hổ không biết giấu mặt vào đâu.

Chân Kim sững sờ, ngạc nhiên, sau đó thì ôm bụng cười ngất:

- Không ngờ Lam phu nhân lại là người hài hước, chất phác như vậy!

Tất cả là tại ngươi!

Tôi bằng mặt nhưng không hề bằng lòng.

- Tiểu nữ sinh ra ở nơi thôn dã, ứng xử quê mùa, cục mịch, xin Thái tử đừng cười chê!

Bát Tư Ba hắng giọng:

- Lam Kha, Thái tử sẽ ở lại trong trang viên của chúng ta một vài ngày, hãy sắp xếp cho ổn thỏa.

- Xin thầy chớ khách khí, câu nệ.

Xin cho ta sinh hoạt, ăn ở giống như thầy vậy!

Cậu ta đảo mắt một vòng quanh phòng tìm kiếm:

- Thưa thầy, Tiểu Lam đâu rồi?

Ta mang cho nó mấy con gà rán Đức Thắng mà nó thích ăn nhất.

Cũng may gặp lúc trời lạnh, ta lại sai người bỏ vào thùng đá nên đi đường xa mà không bị hỏng.

Tôi thật sự cảm động.

Hai tháng trời ròng rã từ Đại Đô đến Lâm Thao, vậy mà cậu ta vẫn nghĩ cách bảo quản món gà rán mà tôi yêu thích.

Bát Tư Ba đưa mắt liếc tôi một cái, mỉm cười, nói:

- Thái tử cứ giao cho ta, ta sẽ cho nó ăn.

Người khổ sở nhất khi Chân Kim ở lại trong trang viên chính là tôi.

Đi đến đâu tôi cũng phải trùm kín mặt.

Buổi tối, Chân Kim cho người đến mời tôi dự tiệc nhưng tôi viện cớ chưa hết cảm nên từ chối tham gia.

Tôi ngồi một mình trong phòng, nhai cơm, ngắm trăng và nghĩ cách đối phó với cậu ta những ngày tiếp theo.

Nghĩ mãi không ra cách, đau đầu chán nản, tôi nuốt cơm chẳng đặng.

Đêm đến, bụng tôi réo gào ầm ĩ, đúng lúc tôi không chịu nổi nữa thì mùi thơm thoang thoảng lan trong không gian.

Trời ơi, đó là mùi gà rán!

Tôi lần theo mùi thơm đến tận nhà bếp, bên trong vẫn sáng đèn, củi lửa lép bép cháy, sao giờ này vẫn chưa tắt bếp nhỉ?

Tôi xoa chân xoa tay, sung sướng hít hà, khoái trá bước vào, hớn hở nói với người đầu bếp đang cắm cúi nhóm lửa:

- Cậu đang chuẩn bị món gà rán cho ngày mai đúng không?

Không cần để đến mai đâu, Lam phu nhân sẽ xơi món gà rán béo ngậy, thơm phức ngay bây giờ!

Tôi lại gần bếp lò, mở vung.

Món gà rán bọc lá sen đang lăn lộn trong chảo dầu sôi lục bục.

Tôi hít cho căng lồng ngực mùi thơm ngây ngất ây, nuốt bước bọt ừng ực:

- Thơm quá, đã ba năm nay ta không được thưởng thức món gà của quán Đức Thắng, thèm chết đi được!

Tâm trí tôi đang dồn cả vào món gà rán nên không hề biết rằng người đầu bếp đã ngẩng lên và đang nhìn tôi chằm chằm.

Tôi không cưỡng nổi cơn khát thèm, liều lĩnh dùng tay vớt gói lá sen nhưng đã phải trả giá vì bị bỏng, tôi vội vã đưa tay lên miệng thổi phù phù:

- Nóng quá, nóng quá!

Cành củi trên tay người đầu bếp rơi xuống đất, tôi ngạc nhiên quay sang, sau đó thì một loạt những tiếng coong coong vang lên, chiếc vung nồi trong tay tôi tiếp đất.

Người đầu bếp đứng phắt dậy, thân hình cao lớn, vạm vỡ, trang phục sang trọng, lộng lẫy.

Người đó là Chân Kim!

Cậu ta nhìn tôi trân trân, khóe môi run run, miệng lắp bắp:

- Cô... cô nương... sao lại ở đây?

Tôi sững sờ, sau đó thì ba chân bốn cẳng bỏ chạy.

Chân Kim đuổi theo:

- Cô nương chờ đã, ta đã đi tìm cô bao năm qua.

Chạy được vài bước tôi mới nhận ra, gót sen thiếu nữ của tôi không thể nào địch nổi đôi chân dài của cậu ta.

Tôi liền hóa phép, trở lại nguyên hình, leo lên cây, trước khi cậu ta kịp nhận ra sự biến mất của tôi.

Tôi ngồi thở dốc trên chạc cây, bắt đầu trách cứ bản thân.

Đúng là đầu óc bã đậu!

Khi nãy tôi xuất hiện với đôi mắt và mái tóc màu đen kia mà, dù cậu ta có nhận ra gương mặt quen thuộc của tôi thì tôi vẫn có thể chối bay chối biến, kiên quyết khẳng định rằng tôi không phải cô gái đó!

Cậu ta có thể làm gì tôi được chứ?

Nhưng tôi lại bỏ trốn thế này, chẳng khác nào có tật giật mình, không khảo mà xưng.

Tôi thấy cậu ta như hóa điên, sục sạo tìm kiếm khắp nơi, hành động lạ lùng của cậu ta ngày càng thu hút sự tò mò của đám người hầu.

Cậu ta tóm lấy một tên đầy tớ và hỏi về dáng dấp, dung mạo của tôi, người đầy tớ gật đầu đáp:

- Đó là Lam phu nhân.

Cậu ta ngỡ ngàng, sau đó lại hỏi thêm một người nữa và nhận được đáp án tương tự.

Tôi đập đầu liên tục vào cành cây tự trừng phạt, lòng bồn chồn không yên.

Tiêu rồi, cậu ta biết được thân phận của tôi rồi!

Tôi thở phào khi thấy cậu ta thất thểu về phòng như kẻ mất hồn.

Thật may cậu ta không lỗ mãng, lao vào phòng Bát Tư Ba, đòi gặp tôi ngay lập tức.

Nhưng ngày mai thì sao?

Có chắc ngày mai cậu ta sẽ không nhắc chuyện này với Bát Tư Ba?

Đêm đó, sau khi suy trước tính sau, tôi quyết định kể lại mọi chuyện cho Bát Tư Ba.

Từ chuyện chúng tôi gặp nhau tình cờ trong đêm rằm tháng Giêng, chuyện tôi bị ngất đi trong ngày hội Sitatapatra rồi bị cậu ta đưa đi.

Kể xong, tôi ấp úng đề nghị Bát Tư Ba:

- Nếu ngày mai cậu ta hỏi chàng, chàng hãy bảo rằng em không phải cô gái tóc xanh, mắt xanh ấy.

Nếu cậu ta đến hỏi em, em cũng sẽ nói như vậy.

Em sẽ không thừa nhận, để xem cậu ta làm gì được nào!

Bát Tư Ba trầm ngâm hồi lâu, biểu cảm trên gương mặt chàng rất phức tạp.

Nghe xong câu chuyện, chàng dịu dàng vuốt ve mái tóc tôi:

- Khuya rồi, ngủ thôi.

Ngày mai ta sẽ biết phải nói sao cho thỏa đáng.

Tôi thở phào, nằm xuống cạnh chàng.

Trong đêm, lắng nghe hơi thở nhè nhẹ của chàng, tôi bình tâm trở lại.

Đêm nào tôi cũng dỗ giấc bằng việc đếm hơi thở của chàng.

Tôi nghiêng người ngắm nhìn chàng.

Dáng ngủ của chàng vẫn như xưa, gương mặt an nhiên, bình thản, hai tay đặt ngay ngắn hai bên đùi.

Tôi muốn gối đầu lên vai chàng nhưng buộc lòng phải kiềm chế, vì tôi sợ sự va chạm ấy sẽ khiến chàng thấy đau mà thức giấc.

Nhưng tôi lại càng sợ hơn nếu sự va chạm ấy không mang lại cho chàng bất cứ cảm giác đau đơn nào nữa.

Ngày hôm sau, tôi sống trong nỗi thấp thỏm, lo âu.

Bát Tư Ba kêu tôi đi chợ mua ít đồ ăn ngon cùng người đầu bếp.

Lúc về tới trang viên, Drakpa Odzer báo rằng, Bát Tư Ba đang chờ tôi trong thư phòng.

Tôi lao tới thư phòng, đẩy cửa bước vào:

- Tình hình thế nào?

Cậu ta sẽ thôi đeo bám chứ?

Mùi hương trầm xứ Tạng dìu dịu tỏa bay trong căn phòng, một người dáng cao lớn đang chăm chú ngắm nhìn những bức thư họa trên tường.

Nghe tiếng tôi, người đó quay lại, thoáng chút bối rối nhưng đôi mắt ngời sáng gắn chặt vào tôi:

- Tiểu Lam, là ta.

Người ấy ăn vận sang trọng, vóc dáng cao lơn, tráng kiện, râu hùm, hàm én, mày ngài cương nghị, đôi mắt to, lông mày rậm, toát lên khí chất anh hùng hào kiệt.

Tôi trong xoe mắt:

- Chân Kim, sao lại là cậu?

Bát Tư Ba đâu?

Chừng như mất bình tĩnh, cậu ta vặn vẹo bàn tay, ngập ngừng nói:

- Chính thầy bảo ta chờ em ở đây.

Tôi như sắp nghẹt thở, vội hỏi:

- Chàng đã nói gì với cậu?

- Thầy đã kể cho ta nghe mọi chuyện về em.

Ánh mắt cậu ta không chịu rời gương mặt tôi, niềm vui đan xen nỗi nghẹn ngào, chua xót:

- Thì ra em chính là Tiểu Lam.

Chúng ta làm bạn từ nhỏ mà ta không hề hay biết.

Thì ra người khiến trái tim ta điêu đứng chính là em!

Thế mà ta vẫn thường tâm sự với em những nỗi niềm thương nhớ của ta.

Em thật ác, giấu ta lâu đến vậy!

Tôi lạnh lùng quay mặt đi:

- Nếu vậy, chắc cậu cũng biết tôi là yêu quái mà loài người vốn rất sợ hãi.

- Ta không sợ!

Cậu ta rảo bước về phía tôi, nhìn tôi đăm đắm, cất giọng nhỏ nhẹ.

– Trong lòng ta, em mãi là tiên nữ, là cô gái xinh đẹp nhất thế gian!

Cậu ta xúc động nắm lấy tay tôi.

Tôi vội lùi lại, né tránh rồi trỏ vào gương mặt mình, cười mỉa:

- Chân Kim, cậu nói đi, rốt cuộc cậu thích gì ở tôi?

Cậu gặp tôi được mấy lần?

Cậu chỉ yêu thích gương mặt tôi mà thôi.

Nếu không có dung nhan này, chắc chắn cậu sẽ không si tình như vậy!

- Em nói đúng, ta mới gặp em ba lần, đây là lần thứ tư.

Và đúng là ta đã bị lôi cuốn bởi dung nhan tuyệt sắc của em.

Cậu ta lại gần tôi hơn nữa, nhưng khi chạm phải ánh mắt “đề phòng” của tôi, cậu ta không dám tiến tới chạm vào người tôi nữa, chỉ thở dài:

- Thượng sư đã kể cho ta nghe câu chuyện của ba người.

Nếu lúc trước ta yêu em vì nhan sắc mỹ miều của em thì bây giờ ta yêu tấm lòng trung trinh, lương thiện của em hơn.

Tôi cắn chặt môi, nhìn xoáy vào đôi mắt si mê của cậu ta:

- Cậu đã nghe về chuyện của tôi, vậy chắc cậu cũng hiểu rằng, tình cảm giữa tôi và Kháp Na và Bát Tư Ba là tình cảm thiêng liêng, không bao giờ phai nhòa.

Không người đàn ông nào trên đời có thể thay thế họ.

Còn tôi và cậu, chúng ta có gì với nhau đâu.

Hàng mày dài xô lại, cậu ta đau khổ cúi đầu:

- Ta biết, ta đến với em khi đã muộn màng.

Nhưng nếu số phận không trớ trêu, khiến chúng ta lạc mất nhau, ta sẽ không để em phải chịu đựng những đớn đau tột cùng như thế.

Cậu ta ngẩng lên, siết chặt bàn tay tôi, ánh mắt rực lửa:

- Ta hứa sẽ không ghen tỵ với họ, tình yêu vĩ đại của họ khiến ta cảm phục.

Ta chỉ mong em cho ta một cơ hội để ta được yêu em!

- Bát Tư Ba đã đề nghị cậu phải không?

Tôi rút tay mình ra khỏi bàn tay cậu ta, bình tĩnh hỏi.

– Chàng đã nói với cậu rằng chàng không sống được bao lâu nữa nên nhờ cậu chăm sóc tôi, đúng không?

Cậu ta thoáng do dự, ánh mắt xót xa:

- Thầy nói rằng, nếu phải ra đi, thầy không có gì nuối tiếc, thầy chỉ lo cho em thôi.

Thầy không muốn em phải cô đơn, đau khổ...

Tôi ngắt lời cậu ta bằng tràng cười giòn giã, nước mắt trào ra:

- Nên chàng đã giao tôi cho người đàn ông khác, lại là người đàn ông quyền lực nhất thế gian!

Tôi nên cảm ơn chàng ư?

Vì sao chàng không hỏi xem tôi có bằng lòng hay không?

Thấy tôi khóc, cậu ta cuống quýt không biết phải làm sao, đành rút từ trong túi áo ra mảnh khăn lụa, rụt rè đưa cho tôi:

- Em đừng trách thầy.

Thầy đã yêu cầu ta khẳng định chắc chắn tình cảm dành cho em.

Thầy nói rằng, không thể để em chịu đựng thêm bất cứ sự đổ vỡ tình cảm nào nữa.

Nếu ta chỉ đam mê nhan sắc yêu kiều của em thì thầy quyết không nhờ cậy ta chăm sóc em.

Ta đã thề với thầy rằng, ta thật lòng yêu em...

- Thật lòng?

Tôi đẩy cậu ta ra, gạt nước mắt, lạnh lùng bật cười mỉa mai.

– Cậu muốn giam tôi vào chốn lầu son gác tía như các phi tần khác, để ngày ngày mòn mỏi ngóng chờ cậu đến ban ơn mưa móc hay sao?

Chân Kim chừng như rất buồn, rầu rầu biện bạch:

- Nếu ta là kẻ háo sắc thì chỉ cần nháy mắt một cái, Vương phủ của ta sẽ chất đầy mỹ nữ.

Nhưng bao năm qua, ngoài Khoát Khoát Chân, ta chỉ có thêm hai phi tần, họ đều là những người chăm sóc ta từ bé.

Sau khi làm mẹ, họ trở nên già nua.

Ta không có tình cảm yêu đương với họ mà chỉ còn tình nghĩa vợ chồng.

Công bằng mà nói, Chân Kim là người ít thê thiếp nhất trong số mười một hoàng tử của Hốt Tất Liệt.

Trước khi được sắc phong làm thái tử, cậu ta là hoàng tử được sủng ái nhất, nhưng hơn mười năm qua, Chân Kim mới chỉ có một người vợ cả là Vương phi Khoát Khoát Chân và hai người thiếp vốn là những người theo hầu cậu ta từ nhỏ.

Khoát Khoát Chân sinh cho cậu ta ba người con trai, hai người thiếp cũng lần lượt sinh hạ hai cô con gái và được phong làm thứ phi.

Nhiều năm qua, biết bao vương công quý tộc muốn kết thân với Chân Kim, tìm mọi cách đưa cành vàng lá ngọc của mình vào phủ Yên Vương nhưng đều bị cậu ta từ chối.

Trong số các hoàng tử, cậu ta là người liêm chính, ngay thẳng, đứng đắn nhất.

Cậu ta tiến thêm một bước, nhìn tôi đắm đuối:

- Tiểu Lam, trước ngày thành hôn với Khoát Khoát Chân, ta đã gặp em và trúng phải tiếng sét ái tình.

Em là cô gái khiến ta lần đầu tiên trong đời biết thế nào là rung động.

Cảm giác xốn xang, thổn thức, quyến luyến khó tả ấy, mãi đến bây giờ, sau mười ba năm, ta vẫn nhớ như in.

Nếu ngày đó em không biến mất, biết đâu chúng ta sẽ hạnh phúc bên nhau!

Những lời tình tứ ngọt ngào, nồng nhiệt được thốt lên từ miệng một người đàn ông có thân phận tôn quý nhường ấy, quả thực rất có sức hấp dẫn, mê hoặc.

Chỉ tiếc rằng, tôi đã không còn là cô gái thanh tân, cửa lòng để ngỏ năm xưa nữa.

Thế nên, tôi vẫn bình thản nhìn thẳng vào cậu ta:

- Cậu là hoàng đế tương lai, dù thế nào cũng không thể trọn đời trọn kiếp với một mình tôi.

Huống hố, cậu đã có người vợ kết tóc se tơ, chung sống với cậu mười ba năm và sinh cho cậu ba người con trai.

- Khoát Khoát Chân là vương phi của ta, bao năm qua cô ấy đã cai quản phủ Yên Vương đâu ra đấy, chưa khi nào làm điều gì sai trái nên ta không thể bỏ cô ấy.

Ngày sau, nếu ta được kế thừa vương vị, ngôi hoàng hậu chắc chắn thuộc về cô ấy.

Cậu ta thốt ra những lời này bằng nỗ lực phi thường nhưng không hề do dự.

Điều này chứng tỏ vị trí vô cùng quan trọng của Khoát Khoát Chân trong trái tim cậu ta.

Chân Kim đưa mắt về phía tôi:

- Nhưng ta xin thề, nếu em bằng lòng lấy ta, ta sẽ không nạp thêm bất cứ thê thiếp nào nữa.

Ta chỉ cần em thôi!

Khabi từng nói, tuyệt đối không được tin những lời thề nguyền của đàn ông.

Tôi lắc đầu:

- Người ta càng quyền cao chức trọng càng bạc tình bạc nghĩa, tôi không tin đâu.

Cậu ta bối rối, mắt đỏ hoe, bước tới, nắm chặt hai vai tôi:

- Ta sẽ trở thành người đàn ông quyền lực nhất thế gian này, ta đủ sức để bảo vệ em!

Tôi gạt tay cậu ta ra, lắc đầu:

- Tôi là yêu tinh, tôi có thể tự bảo vệ mình, không cần dựa vào cậu.

Chân Kim, Bát Tư Ba luôn như vậy, lúc nào cũng chỉ biết lo lắng cho người khác.

Thực tình, tôi đã suy nghĩ rất kĩ, sau khi chàng viên tịch, tôi sẽ về sống bên cạnh con trai tôi, không đến với bất cứ người đàn ông nào nữa, kể cả cậu.

Câu nói của tôi như giáng cho Chân Kim một đòn chí mạng, cậu ta cắn môi đau đớn:

- Em cự tuyệt ta, ta chỉ biết cầu xin mà chẳng thể làm gì khác.

Tiểu Lam, em thật nhẫn tâm!

Chân Kim nhìn tôi ai oán, ánh mắt ngập nỗi thất vọng.

Tôi thở dài, nắm lấy bàn tay cậu ta:

- Không phải tôi nhẫn tâm đâu.

Chân Kim, tôi chỉ xem cậu như một người bạn thuở ấu thơ.

Ngay từ đầu tôi đã biết, cậu không phải người tôi có thể yêu nên tôi không dành cho cậu bất cứ tình cảm đặc biệt nào.

Tôi cũng không thể chia sẻ chồng mình với những phụ nữ khác.

Tôi có Kháp Na, có Bát Tư Ba một lòng yêu tôi, vậy là đủ rồi!

...

- Thực ra, trong ba năm sống ẩn dật ở Lâm Thao, Bát Tư Ba không hoàn toàn xa lánh thế sự.

Lâm Thao khi ấy là khu vực quần cư của nhiều dân tộc.

Người Mông Cổ đã lập nha Tuyên úy Duo Sima ở đây.

Vì Bát Tư Ba là nhà lãnh đạo cao nhất của Tổng chế viện nên người của nha Tuyên úy thường xuyên gửi công văn đến trang viên xin ý kiến Bát Tư Ba.

Bát Tư Ba đã có không ít cống hiến trong khoảng thời gian này, ví như: phân chia đất đai thuộc quyền cai quản của nha Tuyên úy Duo Sima, bổ nhiệm các chức quan của nha Tuyên úy, phong quan cho thủ lĩnh các bộ lạc người Tạng sinh sống trên vùng Cam Túc, Thanh Hải.

Chàng trai trẻ mỉm cười:

- Ngài ấy quả là người không chịu sống đời nhàn hạ.

Tôi gật đầu:

- Tôi không cho chàng làm những việc quá sức, còn thì mặc chàng cống hiến, bởi vì cuộc sống điền viên thôn dã thảnh thơi, nhàn hạ không hợp với tính cách của chàng.

Vả lại, chàng còn là một đại sư, một nhà truyền giáo nhiệt thành, tâm huyết.

- Có phải nhờ thế mà sức ảnh hưởng của giáo phái Sakya ở Cam Túc, Lâm Thao mạnh mẽ, sâu rộng hơn các khu vực khác trên dải đất Trung Nguyên?

- Đúng vậy.

Tôi gật đầu tán đồng, lấy một ví dụ phân tích cho cậu ta thấy.

– Trong thời gian ở Lâm Thao, chàng đã cử các đệ tử đến truyền giáo ở vùng phía Nam Duo Sima, thay đổi tín ngưỡng đạo Bon của khu vực này thành đạo Phật theo trường phái Sakya và xây dựng đền chùa của phái Sakya tại đây.

Trong nội thành Lâm Thao cũng có một ngôi đền tên gọi Shangungta, vào thời kỳ hưng thịnh nhất, hàng nghìn tăng nhân đã đến tu tập trong ngôi đền này.

Trong đền có tượng thờ Bát Tư Ba.

Đó là ngôi đền mà các đệ tử của Bát Tư Ba xây dựng để tưởng nhớ chàng, sau khi chàng rời khỏi Lâm Thao.

Ngoài ra, còn một ngôi đền thiền định khác, được gìn giữ đến tận ngày nay, tên là Zhuoni, cũng do đệ tử của Bát Tư Ba xây dựng.

Ngôi đền này rất nổi tiếng ở vùng Cam Ranh, Trung Quốc ngày nay.

Hết chương 56.
 
Đức Phật Và Nàng: Hoa Sen Xanh
Q2- Chương 57: Trở lại Sakya


“Nhà vua nhân từ, bác ái,

Sẽ được dân yêu, dân theo;

Hoa sen nở giữa đầm lầy,

Chim thiên nga rủ về tụ hội.”

(Cách ngôn Sakya)

Chân Kim giam mình trong phòng suốt mấy ngày liền sau khi bị tôi cự tuyệt.

Tôi cũng bày tỏ quan điểm của mình với Bát Tư Ba: ép dầu ép mỡ, chẳng ai nỡ ép duyên, tôi không yêu Chân Kim, mong chàng từ nay đừng ghép đôi giúp tôi nữa.

Bát Tư Ba cũng đành thuận theo ý tôi.

Chân Kim ủ dột khi tham dự buổi lễ thượng thọ của Bát Tư Ba tròn bốn mươi tuổi.

Bát Tư Ba không thích ăn đồ tanh, nhiều dầu mỡ, cũng không muốn bày vẽ om sòm nên bữa tiệc gia đình được tổ chức rất đơn giản.

Một mâm cỗ nhỏ, mọi người quây quần bên nhau, chúc thọ Bát Tư Ba.

Bát Tư Ba rất yếu, chàng không thể ngồi lâu, nhưng khi tôi chuẩn bị dìu chàng về phòng thì đệ tử của chàng hối hả chạy vào bẩm báo:

- Thưa pháp vương, ngoài kia có người xin gặp thầy, ông ta là pháp vương Chung Dorje của phái Drikung!

Bát Tư Ba và tôi đưa mắt nhìn nhau rồi cả hai cùng tái mặt.

Kunga Zangpo tàn sát toàn bộ phái Drikung kia mà, lẽ nào Chung Dorje đã trốn thoát?

Bát Tư Ba ra lệnh:

- Mau đưa ông ta vào đây.

Chung Dorje bước thấp bước cao, tấp tễnh lết vào phòng với sự trợ giúp của các đệ tử.

Hắn gặp đại nạn, lại nhiều ngày phiêu bạt trên đường trốn chạy nên gương mặt tiều tụy, hốc hác, tinh thần hoảng loạn, hắn không còn là pháp vương Drikung ngạo mạn, dương dương tự đắc như trước nữa.

Bát Tư Ba chẳng buồn chào hỏi, chỉ nhìn hắn bằng ánh mắt lạnh lùng.

Chung Dorje cũng không nhiều lời, hắn vào thẳng đề:

- Đế sư, ta tới đây vì mục đích duy nhất, muốn nói với ngài sự thật mà ngài cần biết.

Bát Tư Ba khẽ nhướn mày:

- Sự thật gì?

Chung Dorje cười lạnh lùng:

- Sự thật về cái chết của Bạch Lan Vương.

Tôi giật mình ngẩng lên, gằn giọng:

- Không phải do chính ngươi gây ra sao?

- Ta là kẻ chủ mưu nhưng các người thử nghĩ xem, làm thế nào mà ta có thể nắm bắt thời cơ và hành động chính xác tuyệt đối như thế?

Hắn ngửa cổ lên trời, cười như điên dại, những vết thương dọc ngang trên trán khiến cho điệu cười của hắn trở nên man rợ, đáng sợ hơn:

- Bạch Lan Vương không hề biết rằng, suốt bao năm qua cậu ta đã nuôi bên mình một con bò cạp, không những vậy, cậu ta còn hết lòng hết dạ với con bò cạp ấy.

Nếu ở trên trời biết được sự thật này, chắc chắn linh hồn cậu ta cũng chẳng thể yên ổn.

Bát Tư Ba xông đến, túm lấy cổ áo Chung Dorje:

- Ý ngươi là Kunga Zangpo?

Ánh mắt Chung Dorje rực lửa căm hờn, hắn nhổ nước bọt, nghiến răng nghiến lợi chửi rủa:

- Chính hắn!

Chính con bò cạp ấy đã hạ độc Bạch Lan Vương, chính hắn chủ mưu tàn sát phái Drikung.

Hắn là loài súc vật độc ác!

- Ngươi nói láo!

Kunga Zangpo chẳng có lý do gì để giết hại Kháp Na.

Mười hai tuổi cậu ta đã theo hầu Kháp Na, chính tay Kháp Na đốt bỏ giấy bán thân của cậu ta, còn giúp cậu ta cưới được đại tiểu thư phái Sakya, từ đó thoát khỏi kiếp đời nô lệ.

Rồi Bát Tư Ba đột ngột ngừng lại, nhìn xoáy vào Chung Dorje:

- Ta hiểu rồi, ngươi căm hận cậu ta vì tàn sát phái Drikung nên muốn mượn tay ta trả thù Kunga Zangpo chứ gì?

- Ta biết đế sư sẽ không tin ta nên đã mang theo thứ này.

Chung Dorje cởi áo tăng ni, hắn giắt một chiếc ruột tượng nơi eo lưng.

Hắn lôi ra một cái túi giấy dầu, lật mở từng lớp từng lớp một, mãi sau một tờ giấy màu vàng đã rách mép mới xuất hiện.

- Đây chính là chứng cứ của việc tên bò cạp tàn độc, vong ân phụ nghĩa ấy phản bội, giết hại chủ nhân.

Đây cũng chính là nguyên nhân khiến hắn tàn sát giáo phái Drikung!

Bát Tư Ba đón lấy tờ giấy hoen ố, nhàu nát ấy, đó là mẫu giấy bán thân thường gặp ở đất Tạng, trên đó có dấu vân tay đen đúa, họ tên, dấu xác nhận của một số người làm chứng.

Bát Tư Ba tỏ ra nghi hoặc:

- Đây là…?

- Zhaxirinbo là cái tên trên giấy bán thân nhưng trên đời này chỉ mình ta biết, bây giờ hắn tên là gì.

Chung Dorje cười méo mó.

– Tờ giấy bán thân mà Bạch Lan Vương đốt bỏ là giả, cho đến bây giờ, Zhaxirinbo vẫn là Dugong của phái Drikung chúng ta!

Bát Tư Ba run lên vì giận:

- Zhaxirinbo chính là Kunga Zangpo?

Chung Dorje uất hận kể lại toàn bộ sự việc.

Thì ra, ngay từ thời đại của ngài Ban Trí Đạt, phái Drikung và phái Sakya đã kết mối hận thù.

Khi đó, pháp vương mới nhậm chức của phái Drikung là Chung Dorje đã sai đệ tử đi khắp nơi tìm về một đứa trẻ không cha không mẹ để đưa đến Sakya.

Kẻ này tự nhận là cậu của đứa trẻ, nói dối rằng, gia đình nợ nần chồng chất không đủ sức trả nợ, phải đem bán đứa bé đến Sakya.

Mục đích của Chung Dorje là muốn cài cắm tai mắt của mình ở Sakya.

Hắn đâu ngờ rằng, hơn hai mươi năm sau, quân tốt vô thưởng vô phạt ấy lại trở thành quân cờ quyết định sự thắng thua của cả cuộc cờ.

Kể từ lúc đổi tên thành Kunga Zangpo, hơn mười năm qua, Zhaxirinbo đã theo Kháp Na đi khắp vùng Trung Nguyên, mối liên hệ với phái Drikung mờ nhạt dần.

Trên đường về Sakya, lúc ngang qua Maizho Kunggar, hai anh em Bát Tư Ba nhận lời mời của Chung Dorje, ở lại Drikung một vài ngày.

Ông cậu hờ, vốn là đệ tử của phái Drikung, đã nhận ra Kunga Zangpo chính là đứa bé năm xưa, thông qua vết bớt trên cổ cậu ta.

Và thế là phái Drikung nối lại sợi dây liên hệ với Kunga Zangpo, cho cậu ta xem giấy bán thân và buộc cậu ta phải làm việc cho Drikung.

Ban đầu chỉ là những tin tức mật liên quan đến phái Sakya, nhưng sau đó, mâu thuẫn giữa hai giáo phái ngày càng sâu sắc, gay gắt và cuối cùng không thể hòa giải.

Đúng lúc này, Yeshe lẳng lặng mò về từ Vân Nam, tìm đến Drikung, gặp Chung Dorje.

Chung Dorje muốn lấy mạng Bát Tư Ba, còn Yeshe đòi giết Kháp Na.

Hắn nói, tình thân giữa Bát Tư Ba và Kháp Na không giống quan hệ của những anh em ruột thịt khác, chỉ cần một trong hai người chết đi, người còn lại sẽ sống mà như đã chết và như thế cũng đủ để hủy hoại phái Sakya.

Sau nhiều ngày ủ mưu tính kế, bọn chúng đã lập ra một kế hoạch hoàn hảo.

Nhưng kế hoạch này phải do một người thân cận của Bạch Lan Vương thực hiện.

Khi ấy, Kunga Zangpo đã là chàng rể của giáo phái Sakya, sống đời vương giả, mỹ mãn, cậu ta kiên quyết từ chối.

Chung Dorje đã đe dọa sẽ phơi bày sự thật về thân phận Dugong của Kunga Zangpo, và chiếu theo luật Tạng, cậu ta buộc phải trở về Drikung tiếp tục cuộc đời làm nô lệ cho giáo phái này.

Kunga Zangpo kiên quyết phủ nhận mình là Zhaxirinbo, nhưng trên giấy bán thân còn nguyên dấu vân tay của người thân của Zhaxirinbo và những người làm chứng khác, họ đều còn sống, chỉ cần bọn họ khẳng định người có vết bớt hình cánh bướm trên cổ chính là Zhaxirinbo thì cậu ta sẽ hết đường chối cãi.

Bị ép đến đường cùng, Kunga Zangpo buộc phải nhận lời.

Hắn đem Tuyết Sơn Nhất Chi Khao về trồng trong Lang Như Thư Lầu rồi cố ý nói với đầu bếp rằng Kháp Na rất thích ăn quả đỗ.

Hắn đã tuân theo chỉ thị của Chung Dorje và Yeshe, từng bước đưa Kháp Na đến chỗ chết.

Lẽ ra, với thân phận của hắn lúc ấy, hắn không cần phải thử đồ ăn cho Kháp Na nhưng hắn vẫn kiên trì đảm nhiệm công việc đó với danh nghĩa “đền đáp công ơn” của Kháp Na.

Hôm ấy, hắn đã cố ý ăn một lượng nhỏ đỗ xào để mình cũng bị trúng độc, tránh được sự nghi ngờ của mọi người.

- Bây giờ ngài đã hiểu vì sao hắn phải tàn sát phái Drikung rồi chứ?

Chung Dorje đấm thùm thụp vào ngực mình, ánh mắt vằn tia đỏ.

– Ngài đưa hắn lên ngôi cao, cho hắn làm bản khâm của phái Sakya, còn nhận lời để con gái hắn trở thành vợ của pháp vương tương lai.

Lợi ích chất cao như núi trước mắt hắn, ở đất Tạng, quyền lực của hắn chỉ ở dưới một người mà trên muôn vạn người thì sao hắn chịu để phái Drikung nắm được điểm yếu của mình chứ?

Tàn sát phái Drikung nghĩa là giết sạch những người nắm giữ bí mật của hắn.

Đối với bên ngoài, hắn sẽ viện cớ làm vậy để trả thù cho Bạch Lan Vương.

Hắn thật là nham hiểm, thủ đoạn!

Bát Tư Ba đứng không nổi.

Chàng lảo đảo, chực đổ người về phía sau.

Tôi hốt hoảng chạy lại đỡ chàng.

Chung Dorje ngồi thụp xuống gào khóc, nện từng nắm đấm dữ dằn xuống mặt bàn:

- Ta hối hận muôn phần!

Nếu lúc xưa phái Drikung chịu phục tùng Sakya thì cùng lắm chỉ bị mất một số đất đai và cư dân, chứ không phải chịu đại nạn thế này!

Trong số hơn một nghìn mạng người của phái Drikung, kẻ thì bị giết chết, người thì bị thiêu cháy, các đệ tử đã phải liều mạng giúp ta trốn thoát, để đến đây gặp ngài.

Rồi hắn đột ngột rút ra một con dao găm từ trong tay áo.

Tôi hoảng hốt, vội vàng dang tay chắn trước Bát Tư Ba.

Chẳng ngờ, Chung Dorje lại kề con dao ấy vào cổ mình, nước mắt xối xả cùng máu:

- Phái Drikung gặp phải quả báo này đều do ta đã tạo nên nghiệp chướng.

Ta có tội với tổ tông của giáo phái.

Ta chết là đáng lắm, nhưng những tín đồ khác của giáo phái Drikung đều là những người vô tội!

Ta đến gặp ngài là để đền mạng cho Bạch Lan Vương.

Giờ đây, khối u nhức nhối nhất của phái Sakya chính là Kunga Zangpo, chỉ có ngài mới tiêu diệt được con bò cạp này và trả thù cho những oan hồn của phái Drikung chúng ta!

Chung Dorje đẩy con dao găm về phía trước, ngửa cổ nhắm mắt lại, sẵn sàng chịu chết.

Khoảnh khắc ấy, tôi đã muốn chạy đến, giằng lấy con dao găm biết bao.

Tôi đã từng trằn trọc bao đêm trắng, từng khao khát được tự tay xẻ thịt, phanh thây hắn thành hàng trăm nghìn mảnh, nhưng giờ đây, khi con dao găm đang ở ngay trước mặt, tôi lại không đủ gan góc để tiến lên và cầm lấy nó.

Bát Tư Ba run lên bần bật, gương mặt tái xám, chàng trầm ngâm hồi lâu rồi thở dài mỏi mệt.

- Ngươi giết hại em trai ta, gây bao tội ác.

Bao năm qua ta gắng sức chống đỡ với bệnh tật, chỉ mong chờ đến ngày báo thù.

Nhưng nay, ngươi đã bị trời trừng phạt, gặp quả báo!

Chàng hít một hơi thật sâu, quay lưng lại với Chung Dorje, giọng chàng như từ cõi xa xăm vọng lại.

– Chung Dorje, ta sẽ không giết ngươi, ngươi chết đi sẽ được giải thoát khỏi mọi chuyện, ngươi phải tiếp tục sống để chịu sự trừng phạt, Những ngày tháng tiếp theo, ngươi sẽ không được yên ổn, mỗi oan hồn của phái Drikung sẽ trở thành cơn ác mộng hằng đêm của người!

Chung Dorje run như cầy sấy, ánh mắt lộ vẻ khiếp hãi.

Nỗi sợ hãi của hắn càng tăng thêm sau mỗi câu nói của Bát Tư Ba, cuối cùng, hắn vò đầu, thét lên thảm khốc. các đệ tử của hắn vội chạy đến giữ hắn lại, nhưng hắn ra sức giãy giụa, vùng thoát như thể vừa gặp ma vậy.

Rồi hắn lao ra khỏi phòng, vừa chạy vừa gào lên:

- Xin đừng bắt ta đền mạng, ta không cố ý!

Tiếng kêu gào điên dại xa dần rồi tắt hẳn, pháp vương Chung Dorje của phái Drikung đã trở nên quẫn trí vì nỗi sợ hãi kinh hoàng và lương tâm cắn rứt.

Các đệ tử đã đưa hắn trở lại đất Tạng, nhưng một thời gian ngắn sau, vào một đêm mùa đông băng giá, hắn chỉ khoác trên người một manh áo mỏng, bỏ đi lang thang rồi chết cóng dưới một gốc cây.

Tuy bị tổn thất nặng nề nhưng phái Drikung không vì thế mà diệt vong.

Các đệ tử của Chung Dorje đã tập hợp nhau lại, cùng tái thiết đền Drikung.

Tuy sau này, phái Drikung cũng có những giai đoạn phát triển nhưng không giữ được địa vị nhất nhì ở đất Tạng như trước kia nữa.

Khi bóng dáng điên dại của Chung Dorje đã khuất xa, Bát Tư Ba chống tay lên bàn, gắng đứng vững, nhìn tôi lo lắng:

- Lam Kha, sáng sớm mai chúng ta sẽ lập tức trở về Sakya!

Tôi sững sờ:

- Chàng yếu như vậy, chịu sao nổi chặng đường gian nan ấy?

Chàng lắc đầu, ánh mắt ngập tràn nỗi đau khổ và âu lo:

- Ta nhất định phải quay về!

Chung Dorje nói đúng, chính ta đã đặt Kunga Zangpo vào vị trí ấy và cũng chỉ ta mới có thể loại trừ được hắn, để ngăn mầm họa cho Dharma về sau!

Tôi lo lắng đến phát khóc:

- Thế lực của hắn ở Sakya rất mạnh, hắn lại được đông đảo tín đồ của giáo phái ủng hộ.

Chàng trở về lúc này, chưa hẳn đã địch nổi hắn, huống hồ sức khỏe của chàng lại không cho phép!

Tôi đọc thấy trong mắt Bát Tư Ba nỗi bi ai vò xé, chàng nhìn tôi đăm đắm:

- Lam Kha, ta muốn được chết ở Sakya, nơi đó có Kháp Na!

Nỗi đau dâng ngập trong lòng, sống mũi cay sè, tôi thẫn thờ nhìn Bát Tư Ba.

Cánh cửa phòng đột nhiên bật mở, ai đó xông vào, bóng dáng cao lớn:

- Thưa thầy, xin cho ta được hộ tống thầy trở về Sakya!

Cả tôi và Bát Tư Ba đều sững sờ vì ngạc nhiên.

Những lời của Chung Dorje khiến tôi chấn động, không còn tâm trí để quan sát những gì diễn ra bên ngoài.

Có lẽ Chân Kim đã nghe thấy tất cả.

Tôi dìu Bát Tư Ba ngồi xuống ghế, chàng thở dốc một hồi, lắc đầu nói với Chân Kim:

- Không được!

Bệ hạ đang tiến đánh nước Tống ở phía nam, ngài còn dự định sẽ đưa quân viễn chinh đi tấn công nước Oa [1].

Hiện em trai thứ ba của Thái tử là An Tây Vương Mang Ca Lạt đang phụ trách quân vụ vùng Tứ Xuyên.

Em trai thứ tư của Thái tử là Bắc Bình Vương đang trấn thủ ở phương Bắc.

Đường về Sakya xa xôi ngàn dặm, Thái tử vừa được sắc phong, phải chung vai gánh vác trọng trách quân sự, không nên lãng phí cả năm trời hộ tống ta về Sakya.

Làm vậy sẽ gây bất lợi cho danh tiếng của Thái tử trong triều đình!

[1] Tên gọi nước Nhật Bản của người Trung Quốc thời xưa.

Chân Kim đưa mắt về phía tôi, khẽ gật đầu, gương mặt thoáng nét ửng đỏ rất đáng ngờ.

- Thưa thầy, xin thầy hiểu cho lòng ta!

Tôi chợt hiểu ra, bỗng thấy bối rối, sau cậu ta vẫn chưa chịu rút lui?

Bát Tư Ba liếc tôi một cái, rồi nghiêng đầu ho liền một chặp.

Chân Kim ngập ngừng rồi cắn môi, ngẩng đầu lên nhìn Bát Tư Ba:

- Dù ta có trở thành người đứng đầu thiên hạ, dù ta có thể mang lại cho cô ấy quyền lực và danh vị cao nhất mà một người phụ nữ có thể có được nhưng Tiểu Lam vẫn không hề động lòng.

Cô ấy không xem trọng những thứ đó.

Ta đã hứa sẽ không nạp thêm bất cứ thê thiếp nào nữa, cô ấy cũng không tin.

Bởi vậy, ta chỉ còn cách chứng minh tấm lòng chân thành của ta, may ra cô ấy mới chịu đón nhận ta.

Hộ tống thầy trở về Sakya, hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của thầy, đó là cách để ta chứng minh tình cảm của ta đành cho cô ấy.

Tôi bực bội, gắt lên:

- Chân Kim, cậu đừng…

Cậu ta lập tức ngắt lời tôi bằng ánh mắt rực lửa và giọng nói quyết đoán:

- Tiểu Lam, ta đã quyết rồi.

Thượng sư là người ra vô cùng kính trọng nên trước khi thầy viên tịch, ta thề sẽ không hành động thất lễ.

Nay thượng sư phải trở về Sakya xử lý việc nhà trong tình trạng bệnh tình trầm trọng, thầy cần ta trợ giúp trừ bỏ hậu họa.

Ngoài ra, với thân phận thái tử, ta đến Sakya sẽ giúp củng cố vững chắc hơn địa vị của Thế tử Dharma.

Ta tin rằng, từ đây không kẻ nào ở đất Tạng dám sinh lòng bội phản.

Điều này có lợi cho tương lai của Dharma, không phải vậy sao?

Câu nói cuối cùng là nói với tôi, ánh mắt cậu ta rực sáng lấp lánh, ánh sáng của sự nhiệt thành, chân tình ấy khiến tôi không sao tìm nổi lý do để khước từ.

Tôi giậm chân, tức tối:

- Cậu… cậu thật là…

Bát Tư Ba đột ngột lên tiếng, giọng chàng phẳng lặng:

- Nếu Bệ hạ không phản đối, chúng ta…

Chân Kim mừng rõ, gương mặt tươi hồng, gật đầu rối rít:

- Xin thầy yên tâm, Phụ hoàng rất mực tôn sùng thầy, chắc chắn ta sẽ thuyết phục được Người.

Chân Kim nói không sai, lần này về Sakya, chúng tôi rất khó đối phó với một kẻ đã gây dựng được vây cánh lớn mạnh như Kunga Zangpo.

Chúng tôi phải dựa vào thế lực của Chân Kim mới mong giải quyết được triệt để mọi việc.

Tôi thầm thở dài, tuy trước mặt Chân Kim, tôi cứ một mực nói rằng có thể tự lo cho bản thân, nhưng khi lâm vào tình cảnh khó khăn, tôi vẫn phải cậy nhờ vào cậu ta để bảo vệ Bát Tư Ba và con trai.

Tháng 3 năm 1274, bất chấp sức khỏe lúc này đã như ngọn đèn trước gió, Bát Tư Ba vẫn quyết định lên đường trở về Sakya với sự tháp tùng của Chân Kim.

Chân Kim đã cử sứ giả cấp tốc về Đại Đô trình tấu lên Hốt Tất Liệt, nhưng vì Bát Tư Ba nóng ruột không yên nên Chân Kim quyết định hộ tống Bát Tư Ba lên đường trước và lệnh cho sứ giả mang ý chỉ của Hốt Tất Liệt đuổi theo sau.

Tôi ngồi trong xe ngựa, ngoái nhìn thành phố Lâm Thao cứ xa dần, khuất dần khỏi tầm mắt, không khỏi lưu luyến, bịn rịn.

Tuy chỉ lưu lại đây ba năm, nhưng đó là ba năm tôi được ở bên chàng, sống những ngày đầm ấm, thanh bình.

Sẽ khó có thành phố nào mang lại cho tôi cảm giác sớm tối bên nhau, thương yêu quấn quýt, keo sơn bền chặt ấy nữa.

Khi rời xa nơi này, Bát Tư Ba biết rằng, chàng sẽ chẳng còn cơ hội quay lại nên đã ban tặng toàn bộ tài sản của chàng ở Lâm Thao cho các đệ tử và những người hầu cận đã tận tình chăm sóc chàng suốt ba năm qua.

Một cánh tay ôm nhẹ bờ vai tôi, tôi quay lại, thấy chàng cũng đang hướng mắt ra bên ngoài cửa xe, vẻ mặt tư lự, dường như đang ngẫm ngợi điều gì.

Tôi khẽ hỏi:

- Có đau không?

Chàng thoáng ngạc nhiên, sau đó khẽ lắc đầu, bàn tay ghì chặt bờ vai tôi thêm nữa:

- Không thấy đau nữa.

Tôi ngả vào lòng chàng, do dự một lát, rồi thận trọng luồn tay qua vòng eo gầy guộc của chàng, vùi đầu vào bờ vai chàng, giấu đi gương mặt đẫm lệ.

Chàng nhẹ nhàng ôm tôi, như thể tôi là người giấy, chỉ cần siết mạnh sẽ nhàu nát.

Chúng tôi đã ôm nhau trong nỗi niềm canh cánh, khắc khoải như thế, nước mắc lã chã rơi, thấm vào lần áo sẫm đỏ của chàng, loang ra thành những nụ hoa nho nhỏ, xinh xinh.

Chúng tôi đã đi rất chậm vì Bát Tư Ba không thể chịu nổi hơn bốn canh giờ mỗi ngày trên cung đường gập ghềnh, khúc khuỷu, thế nên tốc độ của đoàn chúng tôi chỉ bằng một phần ba khi xưa.

Bát Tư Ba lo lắng không yên, nhiều lần yêu cầu phải tăng tốc nhưng tôi kiên quyết phản đối.

Vì dù đã đi rất chậm nhưng chàng vẫn nhiều lần ngất đi, tôi phải lén truyền linh khí mới có thể giúp chàng chống đỡ với đường xa dặm thẳng.

Một đêm nọ, sau hơn bốn tháng đi đường gian khổ, khi đoàn người đã chìm sâu vào giấc ngủ, tôi chợt ngửi thấy mùi hương quen thuộc, vốn là dấu hiệu nhận biết của loài hồ ly.

Tôi lồm cồm bò dậy, nhẹ nhàng lách qua người Bát Tư Ba, xuống giường, mặc áo khoác và ra ngoài.

Dưới bóng trăng dát bạc, thiếu nữ yêu kiều tha thướt đang thả hồn bên hồ nước.

Tôi hớn hở reo lên:

- Khabi?

Sao cô lại tới đây?

Cô ấy yểu điệu xoay người lại, thấy tôi, rầu rầu đáp:

- Ta muốn tìm hiểu xem, cơn cớ gì mà Chân Kim sẵn sàng từ bỏ cuộc sống dư dả ở Đại Đô để vượt đường xa dặm thẳng, muôn phần gian nan, cực khổ để đến vùng đất quanh năm tuyết phủ xa tít mù ấy.

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

- Cô… cô biết cả rồi?

- Chân Kim phái người về Đại Đô cầu xin Bệ hạ cho phép nó hộ tống Bát Tư Ba về Sakya.

Bệ hạ đã đồng ý, có lẽ chỉ nay mai sứ giả sẽ đuổi kịp các vị.

Nhưng ta cảm thấy quyết định này của Chân Kim rất lạ lùng.

Dù sao thì nó cũng không nên rời Đại Đô trong thời gian dài như vậy, khi vừa mới được sắc phong làm thái tử.

Nếu không vì điều gì đó khiến nó nặng lòng, chắc chắn nó sẽ không đưa ra một quyết định kém thông minh như vậy.

Cô ấy khẽ chau hàng mày dài tuyệt đẹp, liếc xéo tôi đầy ẩn ý.

- Ta đoán định rằng, nó đã gặp cô nên hồn phách mới điên đảo mà bỏ bê mọi thứ để đi theo cô như thế, đúng không?

Tôi thở dài, kể lại đầu đuôi câu chuyện.

Cô ấy vừa nghe vừa lắc đầu, lúc thì đập tay, lúc thì giậm chân:

- Thì ra là vậy, thì ra là vậy!

Không ngờ nó nặng lòng với cô đến thế!

Mười ba năm qua vẫn không nguôi thương nhớ cô.

Ta nên vui mừng vì sinh được một đứa con si tình như vậy, hay nên phiền lòng vì sự cố chấp của nó?

Tôi ngập ngừng một lát, nhưng rồi vẫn quyết định bày tỏ lòng mình:

- Khabi, tôi rất cảm động vì những việc làm cao thượng của Chân Kim.

Tôi cũng biết cậu ta vẫn đang chờ đợi nhưng tôi sẽ không yêu cậu ta.

Trái tim tôi rất nhỏ bé, chỉ đủ chỗ cho Kháp Na và Bát Tư Ba thôi.

- Ta biết chứ.

Người con gái nào trải qua những hạnh ngộ thăng trầm của cuộc đời như cô, có được hai người đàn ông sẵn sàng hy sinh tính mạng vì mình như thế, cũng sẽ không thể đón nhận bất cứ người đàn ông nào khác.

Nhưng con trai ta đã trưởng thành, ta có khuyên can cũng chẳng ích gì.

Chân Kim đã ba mươi tuổi, là cha của năm đứa trẻ, hãy để nó tự quyết định.

Cô ấy chợt ngừng lời, nhìn tôi nghiêm nghị.

- Có điều, Tiểu Lam à, nếu cô không có tình cảm với nó thì đừng tạo cho nó bất cứ ảo tưởng nào vì hy vọng càng nhiều, thất vọng sẽ càng sâu.

Tôi gật đầu nhận lời.

Mấy ngày sau, chúng tôi nhận được ý chỉ của Hốt Tất Liệt, cho phép Thái tử Chân Kim hộ tống đế sư Bát Tư Ba trở về Sakya.

...

- Sự kiện Chân Kim hộ tống Bát Tư Ba về Sakya chỉ được ghi chép trong các tư liệu lịch sử bằng tiếng Mông Cổ và tiếng Tạng, không có trong bất cứ tài liệu tiếng Hán nào nên đã có nhiều nghi vấn được đặt ra.

Nhưng người ta không tìm thấy bất cứ tài liệu lịch sử triều Nguyên ghi chép bằng tiếng Hán nào về hoạt động của Chân Kim trong suốt năm năm kể từ năm 1274 đến năm 1279.

Chàng trai trẻ tươi cười:

- Nếu là tôi, tôi cũng sẽ nghi ngờ.

Vì Chân Kim vừa được sắc phong làm thái tử, dù vua cha có yêu thương, tín nhiệm đến đâu, cậu ta cũng nên lo lắng về việc những người anh em khác đang nhòm ngó vị trí của mình.

Hành trình hộ tống Bát Tư Ba trở về Sakya xa xôi vạn dặm kéo dài suốt mấy năm trời, nếu trong thời gian đó, Hốt Tất Liệt đột ngột qua đời thì làm sao cậu ta kịp quay về Đại Đô để kế vị?

Tôi gật đầu:

- Cậu nói đúng lắm, hộ tống Bát Tư Ba về Sakya là quyết định chứa đựng rất nhiều rủi ro của Chân Kim.

Thế nên, sau khi đối chiếu thời gian trong các tài liệu được ghi chép bằng tiếng Mông Cổ, tiếng Tạng và tiếng Hán, không thể không thừa nhận rằng Chân Kim thực sự đã đến Sakya thì các nhà sử học vốn giữ thái độ hoài nghi đã đặt ra một câu hỏi khác: Chân Kim đến đó làm gì?

Chàng trai trẻ nhìn tôi, mỉm cười đầy ẩn ý.

Tôi phân tích tiếp:

- Giới sử học có nhiều phán đoán khác nhau.

Có người cho rằng, Chân Kim muốn thiết lập nha Tuyên úy Wusi cho riêng khu vực Tây Tạng nên mới đến đây.

Có người lại bảo, vì Hốt Tất Liệt muốn dọn đường qua Tây Tạng để tấn công sang Ấn Độ, hoàn thành giấc mộng thâu tóm toàn bộ đại lục Âu – Á của mình.

Cậu ta phì cười:

- Sức tưởng tượng của các vị thật phong phú.

Những lập luận kiểu này hoàn toàn không có căn cứ.

Lòng tôi chợt thắt lại khi nhớ đến số mệnh bi đát của Chân Kim.

Tôi buồn bã nói:

- Dù thế nào, sự thực là Chân Kim đã đến Sakya.

Nếu số phận không nghiệt ngã, buộc cậu ta phải ra đi trước Hốt Tất Liệt thì cậu ta đã là vị hoàng đế ở Trung Nguyên duy nhất trong lịch sử Trung Quốc từng đặt chân đến Tây Tạng.

Hết chương 58.
 
Back
Top Bottom