Cập nhật mới

Khác Điệp báo A10 - Nông Huyền Sơn

Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 20


Bar cà phê Gir nằm trên đường Tự Do không dành cho khách bình dân bởi giá cả của nó chỉ phù hợp với túi tiền của những người khách trung lưu.

Giá một ly cà phê đen trong bar Gir tương đương giá 20 ly cà phê đen xây dừng ở quán cóc trên vỉa hè cách đó khoảng vài chục mét.

Rất nhiều chính khách, rất nhiều nhân vật cao cấp của chính phủ đều chọn Gir làm nơi uống cà phê, điểm tâm sáng trước khi vào công sở.

Giới ký già Sài Gòn cũng chọn bar Gir để gặp gỡ các nhân vật của chính phủ để trao đổi và kiểm chứng nguồn tin hoặc nghe ngóng phát ngôn của chính phủ.

Tuy nhiên, kể từ khi chính quyền siết chặt kiểm soát báo chí, bar Gir không còn là nơi thuần túy trao đổi giao lưu thông tin nữa mà trở thành nơi các ký giả lên án, chửi bới chính quyền.

Thế là những tay mật vụ cũng chọn Gir làm nơi la cà, tạo thêm một lượng khách đáng kể cho nơi này.

Sang hôm nay bar Gir mang một không khí khác lạ.

Cánh ký giả bước vào bar với ánh nhìn dáo dác, đề phòng và nôn nóng.

Họ không ăn to nói lớn như thường ngày mà thầm thì hỏi han nhau: "Đã có manh mối nào chưa?", "Đã có nguồn tài liệu chưa?", "Hình như ai đó đã có bằng chứng trong tay phải hông?".

Cả tháng nay, kể từ khi vụ buôn lậu mà giới ký giả Sài Gòn đặt tên là "vụ buôn lậu còi hụ" có liên quan đến nhiều quan chức cấp cao của chính phủ được đánh giá là quy mô nhất từ trước đến nay bị đổ bể, chưa có tờ báo nào dám đưa tin vì thông in nội vụ bị những người có trách nhiệm ém nhẹm quá kỹ.

Giới ký giả đã tận dụng mọi đầu mối thân thuộc trong giới chức để moi chút ít bằng chứng nhưng đều thất vọng.

Những người liên quan nội vụ đều bị bắt giam bí mật.

Những người có trách nhiệm bắt giam, khi hỏi thì xanh xám mặt mày thì thào: "Không dám tiết lộ".

Những tay ký giả giỏi săn tin nhất cũng chỉ biết trông chờ một phép lạ.

Sự việc tưởng chừng đã chìm xuồng dư luận sau hơn 4 tuần im ỉm.

Bất ngờ từ hôm qua, giới ký giả rỉ tai nhau: "Một ký giả đã có hồ sơ còi hụ".

Ký giả nào có hồ sơ?

Không ai biết.

Dù vậy, họ vận hy vọng được chia sẻ hồ sơ quý giá đó.

Người làm báo lơ ngơ nhất cũng biết vụ "Còi hụ" sẽ hút lượng độc giả đến mức nào.

Cái đất Sài Gòn đầy biến động chính trị, thay đổi chủ hàng ngày đã buộc con người phải có thói quen đọc báo, cập nhật thời sự.

Là một dân đen cũng phải hiểu biết thời sự để xu theo thời thế.

Người ta còn cần biết vị quan chức nào sắp phải vào tù, "về vườn" hoặc hoán chuyển công tác để mà liệu đường làm ăn.

Lạc hậu thời sự trong một ngày có thể dẫn người ta vào con đường tán gia bại sản, rơi vào vòng lao lý như chơi.

Dân biếu Sáu, mặt còn ngái ngủ, bước vào bar Gir, tiến thẳng lại chiếc bàn trong góc khuất.

Ông ta gọi một ly cà phê đen để chờ đợi một nhân vật chưa biết mặt.

Đêm qua, một thư điện báo gởi đích danh ông cho biết, sáng nay sẽ có người gặp ông tại đây để cung cấp hồ sơ vụ "còi hụ Long An".

Với ông, đó là một phi vụ lớn, là một cứu cánh giúp đỡ tờ báo Bút Thần của ông khoát khỏi nguy cơ phá sản.

Là người khai sáng lần lượt 5 tờ báo lớn đều bị chính quyền Thiệu đóng cửa, ông nợ như chúa chổm nhưng cái thế dân biểu cứ buộc ông phải trụ nghề làm báo.

Làm chính trị ở cái thế đối đầu với Thiệu, nếu không có tờ báo trong tay, ông sẽ khó lòng tồn tại nổi.

Nhờ làm báo, ông đã khiến Thiệu ngán mặt không dám cho đàn em ám sát thủ tiêu.

Khi còn làm chủ nhiệm tờ báo Tiếng Nói Dân Tộc, ông đã chỉ đạo tòa soạn phanh phui vụ án "Châu - Hồ - Trúc" để phơi bày cho dân chúng biết chân tướng gian manh, thủ đoạn của Thiệu bỉ ổi đến mức nào.

Thiệu trả thù ông bằng cách ra lệnh buộc tờ Tiếng Nói Dân Tộc đóng cửa.

Không ngán, ông tiếp tục hợp lực với một nghị sĩ làm tờ Điện Tín.

Ông này vốn là một đại tá quân đội đắc cử nghị sĩ, rất thân thiết với tướng Dương Văn Minh.

Tờ Điện Tín là một giải pháp hỗ trợ vị tướng này tìm thế tháy Tổng thống Thiệu, nhằm thành lập một nội các hòa bình, góp thêm một điều kiện thuận lợi để chấm dứt chiến tranh.

Lúc này tướng Minh bị bắt buộc sống lưu vong tại Bangkok, Thái Lan vừa về nước.

Chính thái độ công khai ủng hộ giải pháp Dương Văn Minh khiến cho Bộ Thông tin của chính phủ Thiệu càng dòm ngó kỹ tờ Điện Tín.

Nhờ khéo léo, ông đã đưa tờ Điện Tín thành một tờ báo có đông độc giả bình quân ủng hộ nhất Sài Gòn.

Những chuyên mục nổi trội, độc đáo như "Văn tế sống", tranh châm biếm chua cay chuyên nhắm vào những vị tai to mặt lớn trong chính quyền khiến báo bán chạy như tôm tươi.

Một trong những cú huých khiến độc giả tin tưởng tờ báo này là phóng sự điều tra lính Mỹ thảm sát dân thường ở Sơn Mỹ do ký giả Văn Lê khai thác.

Có lẽ đó là bài báo lên án tội ác chiến tranh đầu tiên của miền Nam.

Sự vụ đó bắt đầu từ việc một số nạn nhân đến tận tòa soạn Điện Tín kêu cứu.

Họ cho biết, họ là những người may mắn thoát chết trong một vụ lính Mỹ vô cớ xả súng giết hàng hoạt dân thường vô tội gồm người già, phụ nữ và trẻ nít.

Ngay hôm sau, Điện Tín cho đăng một phóng sự điều tra tỉ mỉ tội ác của toán lính Mỹ.

Từ bài báo, quốc hội Sài Gòn lập đoàn đến tận Sơn Mỹ đều tra.

Ngay sau đó, đồng loạt các báo trong nước lẫn nước ngoài cùng lên tiếng kêu gọi quốc hội Mỹ xem xét vấn đề.

Tờ Điện Tín là một cái gai trong mắt Thiệu, liên tục bị sách nhiễu, nhiều lần bị đóng cửa phải phát hành lậu.

Nhiều lần ông và ekip làm báo phải tuồn lén báo ra cửa sau đem đi phát hành.

Có lần, Thiệu thuê côn đồ ném hóa chất gây cháy vô cửa tòa soạn lúc nửa đêm, may nhờ một phóng viên ảnh có nhà gần tòa soạn phát hiện, tri hô nên đám cháy nhanh chóng được dập tắt.

Thậm chí, Thiệu cho đàn em gởi một lá thư nặc danh đe dọa sẽ cho nổ bom tòa soạn.

Trước sự khủng bố đê tiện đó, ngân sách gia đình ông gần như kiệt quệ.

Mặc dù rất yêu đứa con tinh thần chứa đầy tâm huyết của mình, ông vẫn quyết định rời tờ báo vì ông cần tờ báo này tồn tại song song với chế độ Thiệu.

Với số lượng phát hành cao ngất ngưởng, tờ báo này sẽ là công cụ đắc lực cho bất kỳ ai nắm giữ nó.

Nghe tin ông bán tờ Điện Tín, nhiều tay chân của Thiệu ngỏ lời mua với giá cao.

Ông không phải Cộng sản và muốn tờ Điện Tín góp chút công sức vào tiếng nói chung của Mặt trận.

Nhận thấy ekip của tờ Tin Sáng mà đứng đầu là dân biểu Ba có chủ trương kêu gọi hòa bình trong tinh thần dân tộc phù hợp với chủ trương của tờ Điện Tín, linh cảm ông cảm nhận, dân biểu Ba là người của Mặt trận.

Thế là ông tìm gặp dân biểu Ba giao quyền điều hành tờ Điện Tín.

Ông nhảy sang thuê manchette tờ Bút Thần ẩn tên tiếp tục làm báo.

Không phụ niềm tin của ông, kể từ khi nhóm dân biểu Ba điều phối, Điện Tín tăng số lượng phát hành đến chóng mặt.

Điện Tín không chống Thiệu gay gắt như trước mà chuyển sang đấu tranh chính trị có bài bản.

Dù ẩn tên điều phối tờ Bút Thần nhưng nhiều anh em ký giả đối lập với Thiệu vẫn còn quý trọng ông.

Đối với ông, đó là niềm an ủi to lớn nhất.

Thời gian gần đây, tin đồn râm ran về việc vợ Thiệu sử dụng quân đội tổ chức đường dây buôn lậu rất lớn, khiến hầu hết các tờ báo đối lập đều đói khát tin này.

Tin này sẽ là một cái tát thẳng vào mặt Thiệu.

Tiếc là không ai có được một mẫu bằng chứng để có cơ sở viết bài.

Nếu không có bằng chứng cụ thể mà viết thì chẳng khác nào mời gọi Thiệu xóa sổ tờ báo.

- Chào ông!

Giọng một cô gái vang lên khiến ông giật mình ngẩng lên.

Trước mặt ông là một cô gái trẻ, gương mặt thanh tú và cách ăn mặc đơn giản phảng phất nét hồn nhiên sinh viên, nghiêng đầu nhìn ông cười.

Ông bối rối:

- Tôi và cô đã từng biết nhau?

Cô gái hồn nhiên hỏi lại:

- Ông có cho phép em ngồi trước khi trả lời?

- Ồ, vâng.

Mời cô ngồi.

Cô gái nhìn thẳng vào mắt ông:

- Em là người gửi bức điện hôm qua.

Ông hơi sốc.

Tay chân của Thiệu sẽ không hối tiếc một loạt đạn dành cho người có bộ hồ sơ tối mật này.

Ông không ngờ kẻ bạo gan lại là một cô gái mảnh mai.

Hay đây là trò đùa của một nữ sinh tinh quái?

- Cô biết mức độ quan trọng của hồ sơ này?

Cô gái mỉm cười tự tin:

- Em biết rất rõ, thưa ông.

Ông nhìn sững cô gái trẻ, thoáng nghi ngờ:

- Cô có thể cho biết làm cách nào cô có bộ hồ sơ này?

- Em chỉ là người chuyển giúp, thưa ông.

- Cô không sợ tôi sẽ báo cảnh sát?

Với hành động đó tôi sẽ được một món tiền thưởng của Tổng thống, còn cô sẽ bị bắt.

Cô gái lại mỉm cười:

- Thưa, trước khi gặp ông, em đã biết rất rõ về ông.

Em còn biết, khi nhận được bộ hồ sơ này, ông sẽ chấp nhận một thỏa thuận của em nữa.

- Cho dù thỏa thuận đó nằm ngoài ý muốn hoặc khả năng của tôi?

- Vì biết rõ về ông nên em tin rằng những thỏa thuận đó sẽ nằm trọn trong ý muốn lẫn khả năng của ông.

Nhìn cái vẻ tự tin của cô gái, ông đã cảm thấy thích thú:

- Cô muốn bán hồ sơ này với giá bao nhiêu?

- Ông lầm rồi, thưa ông.

Thỏa thuận của em không nằm trong phạm trù vật chất.

Chờ cho người phục vụ bê ly cà phê đặt lên trước mặt rồi rút lui, cô gái ngoảnh nhìn xung quanh để tin chắc không ai ở gần có thể nghe được, rồi bắt đầu nói chậm, mạch lạc:

- Em không muốn ông độc quyền hồ sơ này mà cần ông tổ chức họp báo để công khai.

- Vì sao?

- Vì nếu sử dụng hồ sơ này để hạ uy tín Thiệu thì uổng phí.

Nếu biến hồ sơ này thành một vũ khí chính trị buộc Thiệu từ chức tổng thống hoặc chí ít cũng làm Thiệu chấp nhận giải pháp hòa bình, hòa hợp dân tộc thì tốt hơn.

- Cô là...?

- Em chỉ là người yêu chuộng hòa bình, mong muốn Mỹ trả quyền tự quyết cho dân tộc Việt.

- Cô còn yêu cầu nào nữa không?

- Dạ còn.

Cuộc họp báo chỉ nên xảy ra ngay khi Ngoại trưởng Kissinger trở lại Việt Nam hội đàm với Thiệu trong tuần sau.

Đó sẽ là chuyến gặp cuối cùng của Kissinger với Thiệu trước khi Kissinger đi Paris gút lại những điều khoản cần ký trong hiệp định.

Nếu làm được những điều đó, ông đã góp phần không nhỏ cho Tổ quốc hòa bình.

Ông đồng ý chứ?

- Tôi đồng ý vì đó là mục tiêu chung của tất cả đồng bào Việt Nam.

Nhưng cô lấy gì bảo đảm rằng đây là hồ sơ thật?

Cô gái móc trong xắc tay ra một bộ hồ sơ đặt lên bàn:

- Tất cả tài liệu trong hồ sơ này đều có đóng dấu của những quan chức có trách nhiệm điều tra vụ việc.

Chúc ông thành công!

Dân biểu Sáu cảm thấy tay mì run run khi chạm vào bộ hồ sơ.

Với bản tính gian manh của Thiệu, ông không tin bộ hồ sơ này có thể khiến y từ chứ nhưng ông tin Thiệu sẽ kết thúc sự nghiệp chính trị trong lần bầu cử tới.

Ông ngẩng lên toan cất lời cám ơn nhưng cô gái đã rời đi từ lúc nào.

Ông không biết đó chính là F2 - một mắt xích của cụm tình báo A10.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 21


Mười Thắng cầm bức điện giải mã lao vào căn chòi lá:

- Báo cáo anh Sáu, tin từ đường dây của Ba Hoàng cho biết bắt đầu từ ngày Mười tám tháng Mười hai sắp tới Mỹ sẽ thực hiện kế hoạch ném bom miền Bắc mang tên chiến dịch Linebaker II.

Sáu Ngọc ngẩng lên nhìn cậu học trò bằng ánh mắt chan chứa thiện cảm:

- Tin này R(*) đã có rồi.

R cũng có bản kế hoạch chi tiết chiến dịch.

Tôi cũng định tìm cậu để yêu cầu nhiệm vụ mới nhưng ta bàn chuyện Linebaker II trước đã.

Mười Thắng gãi ót:

- Em xin lỗi vì thu thập thông tin chậm trễ.

Sáu Ngọc kéo tay Mười Thắng ngồi xuống bên cạnh:

- Các cậu làm được như thế là giỏi lắm rồi.

Không chậm trễ đâu.

R có được bản kế hoạch đó là nhờ một tuyến tình báo cao cấp.

Tuy đã có bản kế hoạch nhưng chi tiết ngày giờ thực hiện từng phi vụ thì R chưa có.

Nhiệm vụ đó dành cho các cậu đó.

Cánh của Ba Hoàng đã cài cấy người vào sân bay Tân Sơn Nhất đến đâu rồi.

- Dạ, đã hoàn tất rồi anh.

Ba cậu sinh viên thi tuyển vào Công ty Harris Cooperation đã trúng tuyển xuất sắc.

F7 được ch1ung chuyển về nhận nhiệm vụ tại văn phòng đặc trách kinh tế thủ tướng ngụy.

F8 và F9 nhận nhiệm vụ tại Nha Kỹ thuật.

Các bộ phận như Đài Tín Mẹ, Nha Cảnh sát Đô thành, Tổng nha Cảnh sát đều có cơ sở của A10.

- F8 và F9 có tiếp cận được chi tiết từng phi vụ?

- Nhiệm vụ của họ là ghi chép chi tiết từng phi vụ.

Sáu Ngọc vỗ đùi:

(*) Trung ương cục miền Nam

- Tốt!

Quá tốt!

Cậu yêu cầu F8 và F9 báo cáo nhanh từng phi vụ.

Cậu lập ngay một tuyến giao thông nối liền F7, F8 trực tiếp vào đây.

Nhớ là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối.

- Dạ.

Ngoài miệng dạ nhưng lòng Mười Thắng rối bời.

Lập tuyến giao thông nối liền F7, F8 về đây không khó.

Cái khó là đảm bảo bí mật tuyệt đối trước lưới mật vụ địch dày đặc bao quanh sân bay.

H3 đã chọn F10 làm đầu mối giao thông nhận báo cáo từ F7, F8, F9.

Nhưng những báo cáo đó chỉ mang tính thông tin, nội dung chỉ cần ghi nhớ trong đầu chứ không phải hồ sơ chi tiết chằng chịt số liệu, nhùng nhằng giờ, ngày, tháng.

Tân Sơn Nhất là yếu huyệt của hệ thống sức mạnh của địch.

Hầu như tất cả những thông tin đầu mối liên quan đến quân sự của địch đều xuất phát từ đây.

Những số liệu về viện trợ vũ khí, những nhu liệu về các cuộc hành quân, địa điểm hành quân và ý đồ chiến thuật đều ẩn nấp đâu đó trong sân bay số một Đông Nam Á này.

Thậm chí, các chuyến bay ngoại giao cao cấp của địch cũng được cập nhật tại đây.

Chẳng vô lý khi tình báo Mỹ chọn nơi đây là trụ sở trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp núp dưới cái tên rất dân sự: Công ty Harris Cooperation.

Đâu chỉ Mỹ, điệp viên của các nước đồng minh với Mỹ, điệp viên của chính quyền Thiệu, điệp viên của cá nhân Thiệu bao quanh nơi này tạo thành một hệ thống hàng rào vô hình.

F8, F9 chỉ là sinh viên mới ra trường, liệu có đủ sức vượt qua hệ thống điệp viên được trang bị những thiết bị cá nhân hiện đại nhất?

Anh tự đặt mình vào những tình huống khó khăn của F8, F9 để rồi chợt nhớ đến trường hợp anh thoát khỏi lưới của vây của cảnh sát trước khi vào cứ.

Một ý nghĩa lóe sáng trong đầu.

Uyển Nhi - cô học trò tinh quái, con gái một vị đại sứ của Việt Nam Cộng hòa.

Đúng rồi, Uyển Nhi vào vai người yêu của F8 hoặc F9 thì mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản.

Anh vội lấy sổ tay ra ghi nhanh: H3 - F10 - F11 - F8 - F9.

Thấy Mười Thắng hý hoáy ghi chép, Sáu Ngọc bật cười:

- Cậu nên tập thói quen ghi nhớ mọi thứ trong não.

Những chi tiết cậu ghi chép trong sổ tay phải được mã hóa, nếu không nó sẽ trở thành hồ sơ tố cáo cậu khi quyển sổ lọt vào tay địch.

Mười Thắng chìa quyển sổ về phía thủ trưởng:

- Thì em đã mã hóa rồi.

Sáu Ngọc nhìn cậu học trò nghiêm khắc:

- Như vậy vẫn chưa đủ độ bí mật.

Chữ "H", cậu ghi thành "Hòa Bình".

Chữ "F", cậu ghi thành "Phú Thọ" có phải tốt hơn không?

Kể từ ngày làm việc với "thầy" Sáu Ngọc, Mười Thắng học được rất nhiều bài bản nghiệp vụ.

Anh vui vẻ xé trang giấy đốt cháy thành than rồi viết những chi tiết trên vào trang mới bằng ký hiệu mã.

Sáu Ngọc xoay xoay cây bút Paker trên tay:

- Cậu đã nghiên cứu xong tài liệu phân tích về các chính trị gia ở Sài Gòn của Bá Thành gởi vào chưa?

- Dạ rồi.

- Cậu thấy thế nào?

Mười Thắng cân nhắc kỹ mấy phút trước khi nói:

- Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, số đông lực lượng trí thức, bằng tư duy, họ đã nhận ra sự phi nghĩa của Việt Nam Cộng hòa.

Họ thấy rất rõ chính quyền này chỉ là một chính quyền lệ thuộc Mỹ.

Họ muốn đạp đổ chế độ này để xây dựng một chính quyền tự chủ.

Nhưng vì điều kiện khách quan, họ không tiếp cận được Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Họ đã quy tụ lại thành một lực lượng đơn độc chống lại Thiệu, chống lại Mỹ.

Vì thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn nên họ cứ loay hoay trong mới chính trị hỗn độn.

Nếu ta làm công tác dân vận tốt, sẽ lôi kéo được họ về phía Mặt trận.

Sáu Ngọc trầm ngâm:

- Nếu lôi kéo lộ liễu, chưa chắc họ sẽ theo ta.

Một số người còn chưa hiểu vai trò liên kết của Mặt trận.

- Anh có ý kiến chỉ đạo về lực lượng này?

Sáu Ngọc phác họa nhanh một sơ đồ trong sổ tay rồi nói:

- Trong chính trường Sài Gòn, có rất nhiều phe nhóm nhưng tôi chỉ thấy ba lực lượng.

Một là lực lượng ủng hộ Thiệu công khai.

Hai là lực lượng bí mật ủng hộ Thiệu.

Hai lực lượng này không đáng kể vì đa phần là bọn kinh doanh chính trị, ăn cháo đá bát.

Ngày nào Thiệu còn có lợi cho những phi vụ làm ăn bất chính của chúng thì chúng còn ủng hộ.

Bọn này đầu óc không có tư duy chính trị.

Lực lượng đáng kể là những nhóm chính trị chống đối Thiệu.

Nhóm này có xu hướng chọn tướng Minh làm nhân vật đại diện.

Cậu có thể tổ chức cơ sở trong các nhóm chính trị bao quanh tướng Minh không?

Mười Thắng trả lời ngắn gọn:

- Được.

- Vậy cậu triển khai kế hoạch này nhé!

Sáu Ngọc chìa ly trà quạu về phía Mười Thắng:

- Kế hoạch chào đón "Diều hâu", các cậu làm đến đâu rồi?

- Dạ, đã hoàn tất.

Hơn năm mươi tờ báo tiếng Việt và khoảng năm tờ báo ngoại văn tại Sài Gòn đã có đủ chứng cứ tố cáo Thiệu tham nhũng đồng thời lên án Thiệu bắt quân dịch trẻ em.

Thiệu tổ chức một nhóm nghị sĩ dân biểu để biểu tình chống Hiệp định Paris khi "Diều hau" trở lại.

F1 cũng đã chuẩn bị xong lực lượng đối phó với nhóm này.

Cụm đang chờ lệnh khai hỏa của anh.

Sáu Ngọc mỉm cười:

- Lệnh khai hỏa nằm trong chuyến trở lại Sài Gòn của "Diều hâu"!

R cho biết "Diều hâu" đã có lịch đến Sài Gòn để nhận kết quả lới hứa của Thiệu.

Ông ta tin chắc rằng, những điều Thiệu làm theo lời hứa sẽ là vũ khí hỗ trợ ông ta tại Paris.

Nếu các cậu không làm tốt kế hoạch phản công chính trị Thiệu, ta sẽ mất đi một phần lợi thế tại bàn đàm phán đấy nhé.

Mười Thắng đưa một nắm tay lên trước mặt:

- Em xin thề trước cờ Đảng, nhiệm vụ sẽ hoàn thành!

- Thôi được.

Tôi cho lệnh khai hỏa.

Sáu Ngọc đứng lên bắt tay Mười Thắng:

- Chúc các cậu thành công!

Mười Thắng rời căn nhà ban chỉ huy bước sang căn nhà của bộ phận cơ yếu.

Tâm hồn anh phơi phới.

Phu vụ đầu tiên của A10 trôi chảy đến mức chẳng có chút trở ngại nào.

Mấy phút sau, tại Sài Gòn, Năm Quang khui gói thuốc lá quân tiếp vụ lấy ra một điếu xé đọc.

Sau khi những sợi thuốc đen bị rủ sạch, Năm Quang nhúng miếng giấy quấn thuốc mỏng manh vào cốc nước.

Một dòng chữ mảnh khảnh hiện ra "Diều hâu đã trở lại.

Ngày mai tổ chức ngay tiệc đón rước long trọng".

"Diều hâu đã trở lại" tức là Kissinger sắp trở lại Sài Gòn để đòi Thiệu thực hiện 3 lời hứa của lần gặp trong tháng trước.

Năm Quang vội vã cỡi chiếc Mobillete phóng ra đường.

Anh phải cấp tóc báo tin cho các đầu mối để kịp thời chuẩn bị tư thế.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 22


Chiếc Mercedes đen trũi chở Kissinger rời Tân Sơn Nhất lẳng lặng và đơn độc.

Trước khi đến Việt Nam chuyến này, ông ta đã cẩn thận dặn dò các bộ phận tháp tùng phải thông báo trước cho Thiệu một tuần lễ.

Ấy vậy mà, không có thủ tục chào đón của chính phủ nước sở tại, không có đoàn hộ tống mở đường.

Đã đến đất nước này nhiều lần nhưng đây là lần đầu tiên ông ta hiện diện tại một xứ sở nhỏ bé này một cách bình lặng như một du khách.

Những lần ngồi lọt thỏm trong chiếc xe hơi bọc thép, giữa một đoàn xe hộ tống có vũ trang bao quanh, ông ta chẳng kịp nhìn thấy một chút phố sá ven đường.

Mặc dù được lực lượng vũ trang hộ tống, ông ta vẫn nơm nớp lo một tiếng nổ bất thần xảy ra dưới gầm xe.

Những vụ ám sát thủ tiêu lẫn nhau bằng bom của các nhóm chính trị vẫn thường xảy ra tại Sài Gòn, mặc dù các nạn nhân được hộ tống chặt chẽ làm ông ta luôn bất an.

Ông ta ghét cái đất Sài Gòn này thậm tệ.

Lần này đến Sài Gòn, Kissinger lại cảm thấy thích thú.

Qua kính xe, ông ta trông thấy tường tận những chiếc xích lô đạp chở những người phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn trong bộ áo dài thướt tha.

Ông ta thích thú ngắm nhìn những chú bé con vận quần đùi ôm chồng báo trên tay chạy dọc theo vỉa hè rao bán.

Hình ảnh những người phụ nữ đội nón lá gánh hàng rong như một biểu tượng cho sự mưu sinh vất vả làm ông ta xúc động.

Ngẫu hứng, ông ta muốn chụp những bức ảnh đường phố Sài Gòn để làm kỷ niệm.

Mai sau, chưa hẳn ông ta có dịp trở lại cái đất nước kỳ quặc này.

Ông ta đưa tay nhìn đồng hồ.

Mới hơn 8 giờ sáng.

2 giờ chiều ông ta mới làm việc với Thiệu.

Thời gian còn rộng chán.

Ông ta bảo viên tài xế cận người Việt Nam:

- Này anh, cho tôi xuống phố, gần dinh Độc Lập.

- Ồ không nên, thưa ngài.

Rất nguy hiểm.

Nhiệm vụ của tôi không cho phép để ngài đi bộ một mình trên phố - Ngưng một chút, viên tài xế láu cá nói tiếp - Mặc dù thời điểm này người dân Sài Gòn đang náo nức chuẩn bị mùa Giáng sinh rất tuyệt vời.

Có lẽ không nơi nào trên thế giới người ta đón mừng Giáng sinh trong khi tiếng bom B52 vẳng đến từ xa.

Tính tò mò kích thích, Kissinger kèo nài:

- Không ai nhận ra lão già Hoa Kỳ này đâu.

Anh vui lòng cho tôi hưởng chút không khí tự do.

Viên tài xế đành nhún nhường:

- Ok.

Ngài sẽ vui lòng nếu tôi xin ý kiến cấp trên chứ?

- Ok.

Kissinger hoàn toàn hài lòng khi cuộc điện đàm của viên tài xế cận vệ với cấp trên hoàn rất:

- Cấp trên của anh đồng ý.

Anh vui lòng thả tôi xuống công viên cạnh nhà thờ Đức Bà nhé.

Tôi sẽ đi bộ dọc theo công viên trước cổng dinh Độc Lập.

- Vâng.

Xin ngài lưu ý là đừng nên đến gần bất kỳ đám đông nào nhé.

- Tôi sẽ nhớ lời khuyến cáo của anh.

Kissinger bước xuống xe.

Ông ta để lại trong xe chiếc áo khoác lẫn cravat.

Ông ta hít thở khoan khoái cất bước sải dài trên vỉa hè dưới cái nắng nhàn nhạt của buổi sáng Sài Gòn.

Chiếc xe công vụ chạy rề đến trước cổng dinh Độc Lập dừng lại chờ đợi.

Mấy gã lính lăm lăm súng máy đứng gác trước cổng dinh đưa mắt lơ đãng nhìn chiếc cờ hiệu trước mũi xe rồi tiếp tục công việc liếc ngang dọc tròng mắt.

Quang len bộ dạng phục phịch vào cánh cửa hé xộc vào phòng Thiệu:

- Báo cáo Tổng thống.

Đúng như tài thánh đoán của Tổng thống, lão Kis đòi đi dạo một mình trước dinh Độc Lập.

Thiệu được Quang khen nịnh, vui ra mặt:

- Trời chiều ý ta.

Đứng trên dinh có thể nhìn thấy lão không?

- Dạ thấy nếu Tổng thống nhìn qua ống nhòm ạ.

- Mắt anh không cần ống nhòm vẫn nhìn thấy?

Quang ỉu xìu vì bị Thiệu chửi xỏ

Thiệu vớ lấy chiếc ống nhòm đặt trên bàn rồi sải chân bước ra hành lang nhìn về hướng nhà thờ Đức Bà.

Quang cập rập chạy theo đứng cạnh.

Thiệu hài lòng khi thấy Kissinger ngồi xổm trước một gánh hàng rong.

Quay sang Quang, Thiệu hỏi:

- Mật kế "quà Giáng sinh" tôi giao anh, đã làm xong chưa?

Quang hơi nhót ruột khi Thiệu nhắc đến kế hoạch vận động các nghị sĩ dân biểu biểu tình chống hòa đàm Paris ngay khi Kissinger đặt chân đến Sài Gòn.

Quang đã đích thân đi gặp từng vị dân biểu thuộc phe cánh hậu thuẫn.

Hầu hết họ đều lớn giọng trong phòng họp quốc hội nhưng lại e ngại xảy ra đụng độ với nhóm đối lập ngoài đường.

Quang đã phải thề sống chết rằng sẽ cho cảnh sát mật dập tắt tất cả các cuộc biểu tình của các nhóm đối lập ngay từ trứng nước.

Cuối cùng Quang cũng thuyết phục được gần 30 vị chịu xuống đường căng 2 biểu ngữ "Phản đối hòa đàm Paris!

Hòa đàm Paris có lợi cho Cộng sản!

Ký hòa đàm là giao Việt Nam cho Cộng sản!".

- Dạ, hoàn tất chín mươi chín phần trăm.

- Chắc không?

- Dạ chắc.

- Còn kế hoạch tổng động viên tân binh?

Quang tươi tỉnh:

- Dạ vượt dự kiến ạ.

Ta đã bắt...

à không, tuyển được hơn tám trăm ngàn tân binh.

- Nghe nói trong đợt tuyển quân vừa rồi, anh vơ khẳm tiền hối lộ miễn dịch?

Quang xanh mặt:

- Dạ, Tổng thống đừng nghe Việt cộng tuyên truyền bậy ạ.

- Tôi là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa lại đi nghe lời tuyên truyền của Cộng sản hử?

Mặt Quang càng tái hơn:

- Dạ không, ý em không phải vậy.

Ý em là... là...

Thiệu thoát tay:

- Khỏi phân bua.

Miễn chú làm tốt công việc của tôi giao là được.

Quang thở hào hển sau cú nắn gân của Thiệu.

Gương mặt bóng lưỡng của Thiệu nở một nụ cười bí hiểm:

- Chiều nay, lão già Kissinger sẽ phải thay đổi lập trường, quan điềm về cái gọi là giải pháp hòa bình ở Paris của lão.

Hừ!

Một loạt âm thanh ầm ì như tiếng sấm rền từ xa xăm vẳng đến kèm theo những cơn chấn động nhẹ sàn nhà.

Thiệu nghiêng tai lắng nghe rồi hỏi:

- Tiếng bom B52 ở Hà Nội cũng vẳng đến tận đây à?

Quang cười gượng:

- Dạ không.

Xa quá, không vẳng tới nổi đâu, thưa Tổng thống.

Đó là tiếng B52 ta rải trên đường mòn Hồ Chí Minh ngăn chặn đoàn quân Nam tiến.

Thiệu đưa tay vuốt cái cằm nhọn, nhẵn nhín:

- Tôi rất thích tiếng nổ của bom B52.

Nó âm âm, rền rền như tiếng bass trong dàn nhạc giao hưởng.

Thời còn bên quân sự, ta chưa có B52.

Tiếc thật!

Quang chưa kịp hiểu Thiệu tiếc điều gì thì Thiệu đã cất bước đi te tái vào trong.

Quang chạy theo.

Thiệu sập cửa trước khi ném cho Quang mệnh lệnh:

- Chú cho khởi sự đi.

Kissinger nheo mắt ngắm nhà thờ Đức Bà qua ống kính máy ảnh.

Ông ta bỏ dở động tác bấm máy bởi một loạt âm thanh hỗn độn vẳng đến.

Ông ta lia tia nhìn về hướng phát ra tiếng ồn rồi lẩm nhẩm: "Lại biểu tình".

Ông ta chọn một gốc cây trong công viên có tầm nhìn bao quát làm điểm tựa lưng để chụp ảnh.

Dân biểu Thìn dẫn đầu một nhóm khoảng 10 người mặc áo sơ mi thắt cravat đi bộ từ nhà thờ Đức Bà đến trước cổng dinh Độc Lập ngồi xổm xuống.

Được dặn dò trước nên đám lính gác vẫn bình thản làm nhiệm vụ liếc ngang dọc.

Dân biểu Thìn nhễ nhại mồ hôi, trấn an mấy người cùng nhóm:

- Các anh ráng chờ vài phút nữa.

Các đoàn học sinh, sinh viên ủng hộ ta đang trên đường đến.

Một người trong nhóm cắt ngang:

- Lỡ họ không đến thì sao?

Thìn cười khùng khục:

- Đến chứ sao không?

Mình bỏ tiền thuê đấy.

Mỗi người tham gia biểu tình đều được trả mười lăm ngày công lao động.

Họ đến chậm là do... ta thuê người ở các tỉnh lân cận.

Xe đi đón họ từ hồi một giờ khuya.

Sắp tới rồi.

Yên tâm đi, Mấy anh không lẻ loi đâu.

Một người khác làu bàu:

- Nếu họ không tới thì coi như ta làm đám hề cho tụi báo chí đối lập có cớ tăng số lượng phát hành.

Dân biểu Thìn toan nói gì nữa nhưng thấy có vài người hiếu kỳ đứng lại bên vỉa hè chỉ trỏ, bàn tán nên im lặng.

Không hơn 10 phút sau, đám người hiếu kỳ đã tạo thành một hàng rào người bao xung quanh đám dân biểu.

- Ủa?

Họ làm gì ngồi đây ta?

Mấy ông này là nghị gật của quốc hội đây mà.

- Giống là biểu tình quá hà.

Nhưng sao chỉ có mấy ngoe vậy?

Làm biểu tình mà im như hến, ai biết họ đòi hỏi cái gì.

- Ừa hén!

Ít nhất cũng phải có biểu ngữ chớ.

- Tôi biết cái ông có bộ râu mép kia kìa.

Ổng là dân biểu "xé cheng" đó.

Hè hè hè!

Thìn đứng lên phân trần:

- Tụi tôi là những dân biểu phản đối hòa đàm Paris.

Một người phụ nữ lớn tuổi đứng trong đám đông hiếu kỳ trề môi:

- Mồ tổ mấy ông!

Mấy ông điên hả?

Người ta mong muốn hòa bình còn mấy ông phản đối hòa bình.

Chiến tranh giết chết hai đứa con của tôi rồi.

Làng xóm tiêu điều xác xơ cũng vì chiến tranh.

Vậy mà cũng dám xưng là dân biểu hả?

Tôi đố mấy ông mở miệng phản đối chiến tranh một lần cho tôi coi.

Tôi xáng cái thúng này vô miệng đó.

Lời đe dọa có tác dụng ngay lập tức.

Đám dân biểu chống hòa bình im thin thít, lấm lét nhìn quanh.

Đúng lúc đó, từ khắp các ngả đường đổ về hàng ngàn người đủ mọi thành phần tay cầm băng rôn miệng hô vang khẩu hiệu: "Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu phá hoại hòa bình!

Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu bắt trẻ em ra trận!

Mỹ rút quân về nước!

Hãy chấm dứt chiến tranh!".

Họ tiến tới đứngrau lưng nhóm dân biểu đang ngồi chết lặng.

Một thanh niên mặc áo blouse trắng từ trong đoàn sinh viên Y khoa tách ra, tiến đến kéo tay người phụ nữ lớn tuổi nói nhỏ: "Cám ơn dì Tám!

Dì đi theo con".

Năm Quang cùng dì Tám luồn lách giữa đám đông tiến về Kissinger đang giương máy ảnh chụp liên tục cảnh biểu tình của dân chúng.

Ông lăng xăng chụp ảnh như một nhà báo thực thụ.

Dì Tám cầm xấp hồ sơ tố cáo chính quyền bắt trẻ em đi quân dịch chìa về phía Kissinger:

- Chào ông nhà báo Mỹ.

Tôi muốn ông có bộ hồ sơ này để viết bài kể cho nhân dân Mỹ biết Nguyễn Văn Thiệu ác nhơn ác đức cỡ nào.

Trong này có danh sách những đứa trẻ nít bị buộc phải ra chiến trường cầm súng bắn nhau.

Hiện tại tụi nó vẫn còn đang ở quân trường.

Ông xem đi.

Tặng ông thêm mấy tờ báo nữa nè.

Năm Quang phiên dịch lời của dì Tám cho Kissinger hiểu.

Đôi mắt màu xanh xám của ông ta tối sầm.

Ông ta chộp lấy bộ hồ sơ.

Đứng cách đó khoảng 10 mét, chứng kiến toàn bộ cảnh Kissinger tiếp xúc với người biểu tình, viên trợ lý an ninh của Tổng thống Thiệu xám ngoét mặt mày.

Gã quay lưng tìm đường chạy vào dinh Độc Lập tìm Thiệu.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 23


Kissinger hết đứng lên ngồi rồi lại ngồi phịch xuống chiếc ghế nệm bọc da hiệu Nike trong phòng làm việc của đại sứ Bunker.

Ông ta không cần che giấu cái bực dọc phàm phu rất người đã bị giam hãm suốt thời gian dài dưới cái vẻ điềm đạm thường ngày của một nhà ngoại giao.

Tại bàn làm việc, Bunker nhẫn nại quay số điện thoại một lần nữa.

Tiếng tút tút đáng ghét lại vang lên như những lần quay trước.

Bunker xòe ngửa hai bàn tay nhìn Kissinger nhún vai:

- Thiệu vẫn không bắt máy.

- Có cách này buộc Thiệu phải nhất máy không?

- Tôi đã thử điện thoại cho phòng trực của sĩ quan cảnh vệ Phủ Tổng thống.

Họ cho biết Thiệu vẫn còn ở trong phòng.

Họ đã đập cửa nhưng Thiệu trả lời đang bận.

Thiệu đã lẩn tránh Kissinger suốt 3 ngày nay.

Sáng hôm đó chứng kiến cảnh biểu tình, Kissinger giận Thiệu đến rung người.

Ông ta định bụng sẽ mắng Thiệu té tát trong cuộc gặp vào buổi chiều theo lịch hẹn.

Nhưng, Thiệu đã để ông ta đứng ngoài tiền sảng trước cánh cửa phòng đóng im ỉm suốt buổi chiều như một lão già vô công rỗi nghề.

Ông ta đã thừ nhờ rất nhiều người gõ phòng Thiệu nhưng không hiệu quả.

Thiệu trốn ông ta như một đứa trẻ trốn mẹ sau khi thua cuộc chơi với đám bạn.

Cho đến hôm nay, Thiệu vẫn trốn ông ta.

Kissinger không thể chịu được sự nhẫn nại quá mức này.

- Cho dù Thiệu trốn, tôi vẫn đi Paris.

Vai trò Việt Nam Cộng hòa của Thiệu có thể được đánh dấu kết thúc kể từ hôm nay.

Bunker nhìn xoáy Kissinger:

- Tiến sĩ có cân nhắc kỹ?

Sinh mạng một đồng minh đang nằm trong tay ngài đấy.

Kissinger so vai, rụt cổ và bĩu môi để minh họa lời nói:

- Tôi đã cân nhắc kỹ và hoàn toàn không hối tiếc những điều sắp thỏa thuận với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Còn Việt Nam Cộng hòa ư?

Kissinger dùng hai tay phủi áo như có một lớp bụi dày trên đó.

Cái chiến dịch Linebacker II chết tiệt kết thúc từ hôm qua đã chẳng làm nên trò trống gì cả.

Vì Thiệu, vì muốn gia chút ơn cho Việt Nam Cộng hòa, ông đã phải khô nước bọt trình bày với Nixon đồng thời trả lời phản biện với quốc hội để xin xỏ 12 ngày đêm thể hiện sức mạnh Hoa Kỳ mà mấy gã ở Bộ Quốc phòng hào hứng gọi là "món quà Giáng sinh".

Ấy vậy mà, Thiệu lừa ông ra như thể ông ta là một con lừa.

Trên thế giới, chưa có trận ném bơm nào khốc liệt và tàn bạo đối với mặt đất như thế.

Và trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ cũng như của thế giới chưa có cảnh tượng máy bay B52 cháy rụng đỏ trời như thế, đến nỗi tay Phó tham mưu trưởng không quân phải thú nhận "Bắc Việt Nam đã phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn nhất thế giới".

Kết thúc chiến dịch ném bom này, Hoa Kỳ chẳng nhận được một khoản lãi nào trên bàn ngoại giao ngoài sự lên án của tất cả những đất nước đã từng đứng về phía Hoa Kỳ.

Kissinger đã nghiên cứu rất kỹ những báo cáo tổng hợp của Việt Nam Cộng hòa trong những năm gần đây.

Chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm này đã có 150 cuộc biểu tình của người dân đòi Thiệu từ chức, đòi dân sinh, dân chủ và đòi quân Mỹ về nước.

Trong khi Thiệu gân cổ phủ nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam mà người Việt gọi tắt là Quân giải phóng.

Dù Thiệu phủ nhận thì sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tổng nha Cảnh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh Sài Gòn, Hàng không mẫu hạm Card, sân bay Tân Sơn Nhất, khách sạn Brink, Métropole, Caravell, rạp hát Kinh Đô, Mac, cư xá sĩ quan hải quân Mỹ, cư xác quân đội Đại Hàn, kho đạn Gò Vấp... cứ luân phiên nhận được bom của Quân giải phóng.

Kissinger thầm nghĩ: "Cái chính quyền của Thiệu không đáng để tồn tại nữa".

Bunker hấp háy mắt nhìn Kissinger:

- Ngài không cho rằng học thuyết Domino hết giá trị chứ?

Kissinger cười khẩy:

- Học thuyết Domino ư?

Hừm!

Nó phá sản kể từ ngày ta đưa quân đội sang đây.

Bunker lại quay số điện thoại bằng dáng điệu của một kẻ tuyệt vọng:

- Vẫn im ỉm như nấm mồ - Ông ta thở dài - Thiệu lỳ lợm không kém gã tổng thống đầu tiên.

- Và tham lam hơn nhiều - Kissinger nói thêm rồi móc từ trong cặp ea một xấp báo đủ loại ném về phía Bunker - Việt Nam Cộng hòa không đáng để ta viện trợ một xu bằng tiền thuế của dân chúng Hoa Kỳ.

Ngài đọc đi.

Đọc cái vụ "còi hụ Long An" và xem bộ ảnh trẻ em bị bắt quân dịch ấy.

Trong khi ngài đọc, vui lòng cho tôi mượn điện thoại gọi cho tổng thống của chúng ta.

Bunker xòe tay mời Kissinger sử dụng điện thoại rồi mở tờ Saigon News chăm chú đọc:

"Tại địa phận tỉnh Long An, một đoàn quân xa hàng chục chiếc, có cả xe quân cảnh hú còi ưu tiên mở đường đã bị hai viên quân cảnh phát hiện là chuyến hàng lậu đại quy mô.

Ai đứng đằng sau vụ buôn lậu đại quy mô này?

Một đoàn quân xa có xe quân cảnh hú còi mở đường bất thình lình bị chận đứng ở một trạm kiểm soát thuộc tỉnh Long An.

Hai viên quân cảnh này được dân chúng mật báo rằng đoàn quân xa không chở chiến cụ hoặc binh sĩ mà chở toàn những mặt hàng xa xỉ phẩm, đắt tiền như: Các loại rượu Cognac, Martel, Whisky, Champagne; Các loại thuốc lá thơm hiệu con mèo Craven "A", 555, Mallboro; Quần áo, hàng vải, tơ lụa, giày vớ của Pháp, Ý; Nồi cơm điện National; Các loại đồ chơi điện tử của Nhật; Đồng hồ hiệu Omega, Longine, Rolex, Seiko, Certina; Bút máy Parker, Mont Blanc, Cross; Các loại bánh kẹo đắt tiền của Anh, Hòa Lan và Đan Mạch.

Đáng lẽ đoàn quân xa mang biển số quân vận thuộc Vùng 3 chiến thuật chở hàng lậu này dễ dàng vượt trạm nhờ xe quân cảnh hộ tống hụ còi đã lọt vào nội ô Đo Thành Sài Gòn nhưng một số người dân mật báo rằng, chuyến quân xa này xuất hiện từ chiều hôm qua tại một địa điểm ở Chợ Gao, Mỹ Tho.

Những người dân này khẳng định, đoàn quân xa trên "ăn hàng" từ một chiếc tàu buôn mang tên Panama.

Chiếc tàu Panama không cặp thương cảng Sài Gòn để làm thủ tục nhập cảng như bao nhiêu tàu buôn khác mà neo đậu ở hải phận quốc tế.

Một đoàn tàu hải quân thuộc lực lượng Việt Nam Cộng hòa đã cặp mạn chiếc tài Panama lúc nửa đêm để bốc hàng rồi chuyên chở bí mật vào địa điểm Chợ Gạo, thuộc tỉnh Mỹ Tho.

Sau đó, đoàn quân xa mang biển số quân vận Vùng 3 chiến thuật xuất hiện bốc dỡ hàng.

Những chiếc vận tải hiệu GMC chất đầy căng hàng hóa lẫn những người đàn ông người Việt gốc Hoa, mặc đồ quân sự, có lẽ là chủ số hàng nói trên.

Tất cả được phủ bạt kín mít.

Đoàn xe rời Chợ Gạo, xông ra quốc lộ tiến về Sài Gòn bằng vận tốc khá cao.

Như bạn đọc biết, về nguyên tắc, những chiếc xe quân cảnh hú còi ưu tiên thì không trạm gác nào được chặn bắt hay xét hỏi.

Trong chuyến công - voa đặc biệt này, xe hộ tống thuộc tiểu đoàn 6 quân cảnh Biệt khu Thủ đô thuộc quyền chỉ huy của đại úy Nhiêu, tiểu đoàn phó - một sĩ quan vừa được thuyên chuyển từ trường huấn luyện quân cảnh về Biệt khu Thủ đô.

Theo hồ sơ của bổn báo có được, trước ủy ban điều tra, đại úy Nhiêu khai, sau khi nhận chỉ thị của thượng cấp lệnh cho ông ta phải đi Mỹ Tho, hộ tống một đoàn quân xa thuộc quân vận Vùng 3 về Sài Gòn, khi đến địa điểm hành sự, ông thấy đoàn quân xa đều căng bạt phủ kín bịt bùng, sẵn sàng xuất phát.

Ông không quan tâm tìm hiểu xem trong xe chất chứa những gì.

Đoàn xe tiến tới trạm kiểm soát hỗn hợp gồm quân cảnh và cảnh sát ở Long An do hai viên hạ sĩ quan quân cảnh trực gác.

Do được dân chúng điềm chỉ, hai viên hạ sĩ đã thổi còi chận đoàn xe lại, nhưng đoàn xe vẫn vượt trạm.

Hai viên hạ sĩ này cấp tốc điện thoại liên lạc về đồn quân cảnh Long An, báo tin cho trung úy Thọ trưởng đồn.

Trung úy Thọ báo cáo khẩn lên thượng cấp là đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Long An để xin chỉ thị.

Đại tá Lê Văn Năm lệnh cho quận trưởng chi khu Bến Lức và quận trưởng chi khu Gò Đen, bằng mọi giá phải chặn đứng cho bằng được đoàn xe quân vận ấy.

Tại trạm kiểm soát Gò Đen, rất nhiều chướng ngại vật được dân chúng nhanh chóng bố trí chắn đường.

Đoàn quân xa chở hàng lậu đành phải dừng lại.

Đại tá Lê Văn Năm tiểu khu trưởng Long An có mặt tại hiện trường ngay sau đó để lập biên bản sự vụ.

Sau đó, đại tá Lê Văn Năm báo cáo sự việc cho trung tướng Phạm Quốc Thuần, đương kim tư lệnh Quân đoàn 3, kiêm Vùng 3 chiến thuật để xử lý.

Tướng Phạm Quốc Thuần không nhận trách nhiệm sự vụ nhưng vẫn không dám ban hành một chỉ thị xử lý mà ỡm ờ rằng: Sự vụ này chỉ có Tổng thống và Thủ tướng mới có quyền quyết định xử lý.

Phải chăng, tướng Thuần đã biết ai đứng đằng sau vụ buôn lậu này?

Ngày hôm sau, đích thân Tổng thống Thiệu ra lệnh tống giam tất cả các đương sự có liên quan, từ hai viên hạ sĩ quân cảnh có công phát hiện cho đến đại úy Nhiêu.

Còn số số hàng lậu được Thiệu ra lệnh chuyển đến một kho hàng của một đại gia ở Chợ Lớn.

Phán quyết của Thiệu thật khó hiểu.

Thiệu giải thích với một số thuộc hạ rằng, kho hàng ấy của Hội cô nhi, quả phụ.

Hội này do bộ ba phu nhân thành lập gồm: Bà Tổng thống Thiệu, bà Thủ tướng Khiêm và bà Đại tướng Viên.

Theo hồ sơ chúng tôi có được thì những người bị Tổng thống Thiệu ra lịnh tống giam để điều tra gồm toàn các sĩ quan cấp thấp và hạ sĩ quan như: đại úy Nhiêu, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 6 quân cảnh, thuộc Biệt khu Thủ đô trưởng toán hộ tống đoàn quân xa chở hàng lậu; Đại úy Thế, tiểu đoàn 4 quân cảnh trưởng đồn quân cảnh Mỹ Tho; Đại úy Quới, trưởng đoàn quân xa thuộc quân vận Quân đoàn 3, chỉ huy toán quân xa chở hàng lậu; Trưởng ty cảnh sát quận Chợ Gạo; Một viên sĩ quan an ninh quân đội; Một viên thiếu tá chỉ huy trưởng giang đoàn ở Mỹ Tho; Viên thiếu tá quận trưởng kiêm chi khu trưởng Gò Đen - người chỉ huy dân chúng dùng vật cản chắn đoàn xe buôn lậu; Viên sĩ quan trưởng đồn quân cảnh Long An và hai viên hạ sĩ quan quân cảnh gác trạm kiểm soát Long An đã có công phát hiện đoàn quân xa chở hàng lậu.

Theo luật quan thuế, nguyên tắc thưởng công dành cho bất kỳ người nào đã có công giúp nhà chức trách khám phá tổ chức buôn lậu đều được thưởng công tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị của số lượng hàng hóa bị phát hiện.

Trong vụ này, những người có công phát hiện được thưởng bằng cách tống giam để điều tra?!?

Ai cũng biết Tổng thống Thiệu chỉ bố trí những người thân tín nhất chỉ huy quân đội Vùng 3 chiến thuật và Biệt khu Thủ đô nhằm chống đảo chính.

Trong vụ buôn lậu này, đơn vị bốc hàng lậu từ đậu ngoài khơi đem vào đất liền là hải quân đóng ở Mỹ Tho.

Địa điểm đổ đồ lậu là Chợ Gạo, Mỹ Tho, thuộc Vùng 4 chiến thuật, nhưng đoàn quân xa chở hàng lậu lại thuộc quân vận Vùng 3 và quân cảnh mở đường cho đoàn quân xa chở hàng lậu lại thuộc Biệt khu Thủ đô.

Điều đó cho thấy có sự thỏa hiệp của các chỉ huy tối cao thuộc hai vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ đô.

Nếu không, đại úy Nhiêu thuộc Vùng 3 không thể ngang nhiên sử dụng xe quân cảnh dùng còi hụ ưu tiên áp tải đoàn quân vận Vùng 3 trong lãnh địa của Vùng 4.

Nếu không có sự thu xếp của tư lệnh Quân đoàn 3, Vùng 3 chiến thuật và tư lệnh Biệt khu Thủ đô cùng tư lệnh Quân đoàn 4, Vùng 4 chiến thuật thì không xảy ra hiện tượng tréo ngoe này.

Là một tổng thống tư lệnh tối cao của quân đội và đã từng phục vụ trong quân đội, Thiệu không hiểu được trách nhiệm trong vụ này?

Những vị chỉ huy quân đội này vô can trong vụ án, cho thấy ai là người đứng đằng sau, đứng trên toàn bộ sự vụ.

Bản cáo trạng dành cho những người có công phát hiện vụ án được chính Tổng thống Thiệu viết sẵn.

Phiên tòa quân sự diễn ra trong bí mật tuyên án:

- Đại úy Nhiêu, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 6 quân cảnh Biệt khu Thủ đô; Đại úy Thế, trưởng đồn quân cảnh Mỹ Tho, thuộc tiểu đoàn 4 quân cảnh; Đại úy Quới chỉ huy đoàn quân xa... bị tước đoạt binh quyền, lưu đày ra Côn Đảo.

- Đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Long An bị giáng cấp xuống đại úy, thuyên chuyển về Sư đoàn 21, đóng ở Chương Thiện, Gia Rai.

- Trung úy Thọ, trưởng đồn quân cảnh Long An bị ghi nhận là mất tích không rõ nguyên do.

Hai viên hạ sĩ quan quân cảnh, thuộc trạm kiểm soát Long An, đã có công đầu tiên phát hiện đoàn quân xa chở hàng lậu đều bị phạt mỗi người mấy chục ngày trọng cấm, ghi án tích vào hồ sơ, sau đó bị bắn chết không rõ nguyên do.

Tướng Hiếu, người đặc trách bộ phận bài trừ tham nhũng bị bắn chết bí ẩn.

Vụ ám sát được cho là tướng Hiếu chết vì bất cẩn khi lau súng.

Chuyện khó tin đối với một sĩ quan cao cấp như tướng Hiếu.

Chúng tôi không thể im lặng trước một sự thật tàn nhẫn, bất nhân dành cho những người có công trong vụ này.

Dân chúng và giới quân nhân ở khắp nơi đều cho rằng đây là một vụ án cực kỳ bất công, che giấu tội phạm tham nhũng thối nát của thượng tầng xã hội.

Dư luận dân chúng tố cáo đích danh thủ phạm vụ buôn lậu này là Nguyễn Văn Thiệu và vợ là Nguyễn Thị Kim Anh, có sự hợp tác của vợ chồng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên.

Dân chúng cho biết, vợ Nguyễn Xuân Nguyên là em vợ của Thiệu.

Nguyễn Xuân Nguyên là một tay trùm buôn lậu tuyến Chợ Gạo - Sài Gòn.

Mỹ Tho là lãnh thổ làm ăn của đệ nhất phu nhân Nguyễn Thị Kim Anh và vợ chồng Nguyễn Xuân Nguyên.

Còn đường dây buôn lậu Vũng Tàu - Sài Gòn là của bà Sáu Cyrnos với tướng Quang.

Tướng Quang là cận thần của Thiệu còn Sáu Cyrnos là vợ lậu của Thiệu.

Vợ chồng Trần Thiện Khiêm là chuyên gia chạy chọt các loại giấy phép xuất nhập cảng, hối đoái, chuyển ngân.

Đứng sau vợ chồng Khiêm trong việc làm ăn phi pháp là Hai Ri - anh vợ của Khiêm.

Trong giới săn gỗ quý Nam phần, ai cũng biết danh Hai Ri.

Hầu hết những cây gỗ quý bị buôn lậu đều có dấu tay của Hai Ri.

Vợ của tướng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên có hỗn danh Tư Quần Lãnh Đen là bà trùm trong việc thu xếp đấu thầu của Cục mãi dịch và Cục quân tiếp vụ.

Đã có nhiều vụ án giết người bí mật có liên quan đến việc đấu thầu hàng quân tiếp vụ cho thấy chị Tư Quần Lãnh Đen khát máu đến mức nào".

Kissinger kéo tâm trí Bunker ra khỏi tờ báo:

- Tổng thống đã quyết định.

- Về chuyện gì?

- Bunker trố mắt.

- Không cần sĩ diện, chấp nhận mọi điều khoản Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miễn đi đến một thỏa hiệp ta rút quân khỏi cái đất nước này.

Tổng thống ban lệnh ngài đem bản dự thảo hiệp định cho Thiệu ký.

- Như ngài đã biết, Thiệu đã tuyên bố không ký.

- Tôi xin phép lặp lại nguyên văn lời Tổng thống của chúng ta: Ký hoặc sẽ bị cắt đầu.

Ngài có thể thu xếp cho tôi một chuyến bay đến Paris trong ngày mai.

Tôi không cần gặp Thiệu nữa.

Kissinger đưa cao bàn tay xòe chém vào không khí giống như lão đang chém dao chặt chịt vào cổ một kẻ vô hình.

Bunker lại nhún vai một cách bất lực.

Cách đó không xa, Thiệu nói với Quang:

- Nếu không muốn lịch sự lặp lại ngày Ba tháng Mười một năm Sáu ba, ta phải ký hiệp định.

Quang nắm chặt tay, nghiến răng:

- Ta còn phải lần ra kẻ nào phá hoại kế hoạch của ta nữa.

Thiệu ỉu xìu:

- Túy anh.

Tôi đi nhảy đầm đây.

Cách đó hơn 100km đường chim bay, Mười Hương bắt tay Sáu Ngọc, vui mừng nói:

- Hòa bình trong tầm tay rồi!

Cụm A10 rất đáng khen ngợi.

Tiếp tục chuẩn bị trận địa mới thôi các cậu.

Mười Thắng vui sướng đón nhận lời khen của thủ trưởng.

Anh ngước nhìn bầu trời xanh qua cửa sổ.

Hình như trời đất đã bắt đầu vào xuân.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 24


Năm Quang cắm đầu, vặn người điều khiển chiếc Mobillette chạy vòng vèo trên con đường lởm chởm gạch đá xuyên giữa một xóm nhà lá lụp xụp ven nội đô.

Đây là xóm nhà của dân chạy loạn tứ xứ đổ về kể từ sau trận Mậu Thân.

Mặc dù chính phủ Thiệu luôn cảnh báo đây là vùng không an toàn, rất dễ xảy ra giao tranh khi phát hiện Việt cộng nhập thành người dân bất chấp.

Họ cứ xí đại một phần đất, chống cây làm cột, phủ bạt làm chòi ở tạm.

Ngày qua ngày, người tứ xứ đổ về càng đông, thế là thành khu dân cư bất hợp pháp.

Những căn chòi dần biến thành những căn nhà lá, tuy không vững chãi nhưng cũng đủ sức chống chọi nắng mưa.

Rất nhiều cơ sở của ta được gây dựng trong đó.

Hôm qua, anh dẫn đoàn sinh viên cứu trợ đi khám bệnh, phát thuốc cho dân xóm này.

Khi hoàn tất công tác cứu trợ, đoàn đang thu dọn vật dụng thì một cô gái rụt rè đến xin thuốc đỏ, bông băng và thuốc chống viêm nhiễm.

Cô gái cho biết, anh trai cô đi nhặt phế liệu bị trái nổ làm bị thương, do không có tiền đi viện nên ở nhà tự điều trị.

Anh đề nghị cô gái dẫn về nhà để khám trực tiếp cho bệnh nhân.

Sau đợt Tổng tấn công Mậu Thân, với danh nghĩa Đoàn sinh viên cứu trợ Y - Nha - Dược do anh làm chủ tịch đã cứu được rất nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta bị thương còn kẹt lại trong nội đô.

Cũng với danh nghĩa này, anh tổ chức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân đặt lu nước "trốn quân dịch" cho con em mình và cho cả con em hàng xóm.

Phong trào lính đào ngũ và trốn bắt lính nhanh chóng lan tỏa khắp các cụm dân cư ven nội đô như một làm sóng ngầm mạnh mẽ.

Người dân tự truyền tai cho nhau những kinh nghiệm hiệu quả.

Ở Khánh Hội, thanh niên có sáng kiến rất vui.

Khi bị ruồng bắt, người trốn chui vô lu ngồi thu lu gục mặt xuống hai đầu gối, hai tay cầm tờ bạc xanh(*) che trên đầu.

Khi quân cảnh lục xét phát hiện cái lu có người trốn thì sẽ trông thấy tờ bạc xanh đầu tiên.

Gã quân cảnh hiểu ngay đó là tiền hối lộ, chộp lấy rồi giả như không thấy người trốn trong đó.

Từ phong trào này, anh tổ chức thành công màn kịch "trẻ em bị bắt quân dịch" để làm vũ khí tố cáo Thiệu với ngoại trưởng Mỹ Kissinger.

Những gia đình có con em đào ngũ và trốn bắt lính thường rất khó khăn, nghèo khó.

Đoàn sinh viên cứu trợ thường xuyên thăm hỏi, khám chữa bệnh, phát gạo, mì gói.

Nhờ vậy, mỗi lần trông thấy bóng dáng đoàn sinh viên cứu trợ, trẻ con ở các khu dân cư ven nội đô reo hò, mừng rỡ.

Người lớn thì xem các sinh viên cứu trợ như con cái trong nhà.

Khi đã thân thiết, các thành viên đoàn cứu trợ tuyên truyền cho người dân biết chính sách, chủ trương giải phóng dân tộc của Mặt trận.

Dần dà, những cụm dân cư này trở thành những lõm "căn cứ" của ta giữa lòng địch.

Hoàn tất việc gây dựng ban đầu, anh báo cáo về Cụm.

Cụm báo cáo về T4.

Khi ấy, các bộ phận khác của T4 cho cán bộ về móc ráp, gây dựng cơ sở.

Những lõm chính trị như thế liền ranh nhau, bao bọc vùng ven nội đô Sài Gòn tạo thành vùng "căn cứ nội thành" chứa, giấu cán bộ nhập thành hoạt động.

Nhiều lõm "căn cứ nội đô" bao bọc xung quanh hệ thống đồn bót của địch canh gác những cửa ngõ vào Sài Gòn.

Cụm dân cư này đoàn sinh viên của anh mới đến vài lần, chưa tạo đủ thiện cảm để trở thành vùng "lõm căn cứ".

Người đàn ông bị thương này có lẽ là cán bộ của ta ở rừng về ẩn trú tạm bên xóm Sen - một vùng "lõm căn cứ" cách đây vài cây số - đi công tác bị bọn địch trong đồn phục kích.

Anh phỏng đoán như vậy vì những vết thương do đạn nhọn chứ không phải bị trái nổ như cô gái khai bệnh.

Vết đạn xuyên thủng bụng đã bắt đầu giai đoạn hoại tự do nhiễm trùng nên người đàn ông trạc 30 tuổi đó hôn mê sâu, mạch yếu.

Có lẽ bị truy kích, vì sợ lộ địa chỉ ẩn trú nên anh chạy tránh sang vùng bên này và may mắn được gia đình cô chứa giấu.

Nếu chuyển người bị thương sang vùng lõm an toàn trong tình trạng này rất dễ bị địch phát hiện.

Anh cùng vài bạn sinh viên tổ chức giải phẫu ngay tại chỗ rồi hỗ trợ chi phí thuốc men cho gia đình cô gái chăm sóc nạn nhân.

Hôm nay, anh trở lại thăm khám ca đặc biệt này.

Mải mê suy nghĩ, anh không để ý một ổ gà lớn trên đường khiến chiếc Mobillette giật nẩy mạnh, chao đảo.

Không chịu nổi cú sốc, vành trước chiếc xe cong veo, vểnh ngược.

Đã đến đầu xóm, nơi cần đến chỉ còn non 1 cây số, anh mím môi nhấc bánh trước chiếc xe, khệ nệ đi tiếp.

Đến ngôi nhà lụp xụp đầu tiên, anh cảm thấy linh tính của mình lay động một điều gì đó không lành.

Xóm vắng lặng, không thất bóng dáng một đứa trẻ nào mặc dù cửa các ngôi nhà vẫn mở rộng.

Điều này bất thường đối với một xóm lao động ngụ cư.

Với những xóm này, ban ngày người lớn tủa đi khắp ngả kiếm sống, nhiều trẻ nhỏ cũng quanh quẩn trong xóm nhặt rác hoặc chơi đùa.

Hôm nay, chúng biến đi đâu?

Anh dừng chân, đặt chiếc xe của nợ xuống, lấy khăn lau mồ hôi để quan sát.

Vẻ bất thường hiện rõ trên gương mặt người phụ nữ đang quét rác trước sân nhà đằng kia.

Tay cầm chổi quét rác nhưng gương mặt chị hướng về anh, trông mắt đảo vòng vòng một cách kỳ lạ.

Anh phóng tầm mắt xa hơn vào xóm.

Trước hàng hiên căn nhà rách nát, một người đàn ông mặc quần đùi, ở trần để lộ nước da đen nhẻm nắng sương đang ngồi chẻ nan tre ra chiều thanh thản nhưng cây rựa trong tay ông cứ lặp lại nhiều động tác thừa.

Với một nhát chẻ, chiếc rựa có thể tách làm hai thanh tre nhưng ông cứ phải chẻ tiếp hai ba lần sau khi thanh tre đã rời ra.

Cứ mỗi lần làm động tác thừa thãi, ông liếc đôi mắt về phía anh, môi mấp máy điều gì đó.

Anh vừa vắt óc suy nghĩ điều gì đang xảy ra vừa đưa mắt quan sát xung quanh.

Dưới mặt đất lổm nhổm đất đá có nhiều dấu giầy đinh.

Anh hiểu ngay, lính quang phục kích trong xóm.

Quay lưng bỏ chạy, chưa chắc thoát, lại thêm yếu tố khẳng định với địch mình là ai.

Anh bình thản đi thẳng vào, miệng chào vồn vã chị phụ nữ:

- Em chào chị!

Hôm trước đến khám bệnh cho bà con, em sơ ý để quên ở nhà một số loại thuốc.

Hôm nay em trở lại gởi cho bà con.

Gương mặt chị phụ nữ xanh mét:

- Thôi, chú đi về đi.

Hôm nay bà con xóm này bận rồi, không ai rảnh nhận thuốc đâu.

Như sợ anh chưa hiểu, chị nói thật nhanh:

- Trong xóm có Việt cộng, mấy ông lính đang phục kích...

Từ trong căn nhà nhỏ bé của chị hơn chục gã lính đội nón sắt, tay lăm lăm khẩu tiểu liên AR15 lao ra.

Một gã có hai bông mai trên ve áo xông đến trước mặt anh chĩa súng ngắn thét:

- Đứng yên, hai tay đưa lên đầu!

Trong lúc đó một gã khác xáng mạnh một tát tai vào mặt chị phụ nữ:

- Mày báo động cho Việt cộng hả, con quỷ cái?

Chị phụ nữ ôm mặt khóc:

- Thằng con nít này mà là Việt cộng hả?

Mấy ông vu oan giá họa cho người khác, tội đầy đầu đó.

Mấy ông bắt tôi đứng quét sân từ sáng đến giờ mỏi tay thấy bà cố mà có thấy thằng Việt cộng nào đâu.

Gã lính đeo hai bông mai vẫy súng ra lệnh cho đồng bọn:

- Trói thằng nhóc này lôi vô nhận mặt đồng bọn đi.

Trói luôn con quỷ báo động kia, chờ đó tính sau.

Phác họa nhanh phương án xử lý tình huống trong đầu, Năm Quang tĩnh tâm bình thản để cho đám lính trói tay.

Chúng trói bằng dây kẽm nhuyễn, đau thấu trời.

Mười Thắng biết lợi thế tương quan giữa chiếc Honda 67 và chiếc Jeep nên anh cất thẳng cánh đồng lồi lõm gốc rạ và bờ đất chứ không chọn con lộ bằng phẳng.

Điều cần thiết lúc này là giữ thăng bằng mỗi khi xe vượt chướng ngại.

Mười Thắng cúi rạp người siết ga.

Chiếc Honda 67 đã được đôn dên, xoáy nòng phóng như bay qua các mô đất, bờ ruộng.

Phía sau, Ba Hoàng choàng một tay ôm cứng lấy Mười Thắng, một tay chĩa khẩu Colt 12 về hướng chiếc xe Jeep đuổi theo vẩy từng phát đạn cầm chừng.

Nếu đứng yên vị dưới đất, Ba Hoàng có thể sử dụng hai tay hai súng bắn chính xác hồng tâm di động trong bán kính 15 mét.

Thời còn công tác ở tổ trinh sát vũ trang, nhờ tài thiện xạ đó, Ba Hoàng đã vượt qua rất nhiều pha hụt chết.

Trong tình huống này, Ba Hoàng chỉ bắn hú họa, cầu may để giữ cho chiếc xe Jeep không dám áp sát.

Không mấy chốc, chiếc xe Jeep đành chịu thua, dừng lại bắn đuổi theo vài tràng tiểu liên.

Chạy hết cánh đồng, Mười Thắng cho xe rẽ vào một con đường đất núp dưới những lùm tre.

Mười Thắng biết, thưởng một xe vàng, chiếc xe Jeep kia cũng không dám đuổi vào tới đây.

Tuy cách vùng ven nội đô không xa nhưng từ mép cánh đồng này kéo dài đến Mỹ Hạnh là vùng du kích.

Mười Thắng tìm một vạt rừng chồi um tùm dừng xe nghỉ ngơi.

Tuy đã thoát nạn nhưng anh vẫn không vui vì lo lắng cho số phận Sáu Vỹ - một giao thông viên mới được tuyển vào Cụm.

Vì ghìm chân địch để giải thoát cho anh và Ba Hoàng mà Sáu Vỹ bị thương và kẹt lại.

Trong cuộc chiến này, bị địch bắt hoặc hy sinh là chuyện không thể tránh khỏi.

Một chiến sĩ cầm súng chiến đấu ở chiến tranh trực diện hy sinh ta tổn thất một tay súng, mức độ ảnh hưởng đến cuộc chiến không to lớn bằng một chiến sĩ tình báo.

Một chiến sĩ tình báo bị bắt hoặc hy sinh ảnh hưởng đến cả một kế hoạch, có khi nguyên hệ thống bị phá vỡ.

Nếu bị địch bắt, không chịu nổi sự tra tấn của địch, chịu đầu hàng khai báo, nguyên cụm sẽ trở nên vô dụng.

Để giảm thiểu trường hợp đó xảy ra, Mười Thắng đã khéo léo xây dựng nhiều tuyến đan xen nhau nhưng hoàn toàn độc lập.

Nếu một người của tuyến nào bị bắt thì chỉ mỗi tuyến đó bị vỡ, những tuyến song song khác còn nguyên vẹn.

Tuy đã dự tính rất nhiều tình huống xấu xảy ra nhưng chuyến nhập thành này là một sơ sót chủ quan của anh.

Theo kế hoạch, khi Năm Quang gầy dựng xong lõm chính trị an toàn nào là Ba Hoàng đến đó tổ chức tuyến điệp báo.

Khi nghe Ba Hoàng báo cáo đã tổ chức xong một tuyến ở xóm Sen, anh theo Ba Hoàng nhập thành để kiểm tra.

Trong vai lính thủy quân lục chiến ở chiến trường trốn về thành chơi, anh và Ba Hoàng hẹn gặp Sáu Vỹ ở một bãi đấy hoang ven xóm Sen.

Không ngờ, cuộc hẹn của anh đúng lúc bọn lính đồn Phú Lâm đi tuần.

Sáu Vỹ là một thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng nhưng chưa có kinh nghiệm đối với những tình huống bất ngờ.

Vừa trông thấy bọn lính bất thần xuất hiện từ xa, thay vì bình tĩnh đối phó, Sáu Vỹ nổ súng.

Mấy phát súng của Vỹ đã khiến bọn lính nháo nhào ẩn nấp.

Nhờ vậy, Mười Thắng đủ thời gian nổ máy chiếc Honda 67 chờ cho Ba Hoàng và Sáu Vỹ nhảy lên là anh phóng đi.

Thế nhưng Sáu Vỹ bị thương ngay loạt súng phản kích đầu tiên của bọn lính.

Sáu Vỹ đành nằm lại thoát tay ra hiệu cho anh và Ba Hoàng chạy thoát.

Anh không biết Sáu Vỹ sống chết ra sao.

Gã lính có một vết sẹo từ đuôi mắt chạy thẳng qua màng tang chui tọt vào mớ tóc rậm rì, bù xù, trợn mắt, bặm môi hất bá khẩu tiểu liên vào bụng Năm Quang.

Anh hộc lên một tiếng đau đớn.

Phổi anh thắt nghẹn không thở được.

- Mày thuộc đơn vị nào của Việt cộng?

Anh há hốc mồm đớp không khí rất lâu mới mở miệng được:

- Em chỉ là sinh viên trường Y đi cứu trợ.

- Xạo hả mày?

Đi cứu trợ hay đi cứu thương thằng Việt cộng nằm kia?

Theo hướng mũi súng chỉ của tên lính, anh trông thấy người bị thương nằm còng queo, thoi thóp dưới đất, người bê bết máu, lớp băng cứu thương xổ tung.

Anh cố nén xót xa vào lòng, trả lời tỉnh rụi:

- Dạ, hôm qua tôi có băng bó cho anh này.

Gã lính giang thẳng tay tát anh một cú nảy đom đóm:

- Không phải Việt cộng mà đi cứu thương Việt cộng hả?

- Tôi đâu cần biết ảnh là Việt cộng hay dân thường.

Tôi là sinh viên Y khoa, thấy người bị thương là cứu.

Đó là quy định quốc tế.

Thấy gã lính giơ tay toan đánh nữa, anh la lớn:

- Mấy ông không được bắt giữ, hành hạ tôi trái luật.

Tôi sẽ kiện mấy ông đó.

Tôi là em ruột trung tá Sinh phó tỉnh Bến Tre.

Gã lính mặt thẹo dừng tay.

Gã trung úy, có lẽ là trưởng toán, nghe anh nói vậy, tiến lại gần:

- Mày có xạo không?

Thấy tình thế có chiều hướng sáng sủa, Năm Quang tự tin:

- Tôi không rảnh để xạo với mấy ông.

Mấy ông đụng tới tôi là mấy ông mệt đó.

Không tin mấy ông điện thoại về nhà tôi xác minh.

Gã trung úy ngờ vực:

- Là anh em quốc gia, sao mày đi cứu thương cho Việt cộng?

- Tôi đã nói rồi.

Tôi là bác sĩ sắp tốt nghiệp.

Tôi thấy ai bị nạn đều phải cứu giúp.

Chuyện phân biệt Việt cộng hay quốc gia là của mấy ông chứ không phải tôi.

- Sao mày không báo cáo sự việc phát hiện cho nhà chức trách?

- Tôi biết gì mà báo cáo.

Họ khai là đi làm đồng bị nổ trái.

Tôi cứu thương người bị té xe, té giếng của phải đi báo cáo với nhà chức trách sao?

Gã trung úy thay đổi sắc mặt, ra lệnh cho đàn em:

- Thằng truyền tin đâu.

Điện về đồn bảo tụi nó thông báo cho gia đình thằng nhóc này đi bảo lãnh.

Tháo trói cho nó.

Đưa thằng Việt cộng bị thương kia về đồn.

Đưa hết gia đình chứa chấp thằng Việt cộng theo.

Năm Quang biết mình đã thoát nạn nhưng vẫn lo cho số phận người đồng đội nằm kia.

Anh nói với gã trung úy:

- Tôi phải cứu chữ người kia.

Nếu mấy ông muốn điều tra cũng phải giữ cho người ta sống chớ.

Gã trung úy gật đầu.

Năm Quang cố tính thực hiện thao tác cứu chữa thật chậm để chờ cơ hội hỏi thăm.

Thấy bọn lính mải mê ăn uống, người bị thương thều thào vào tai Năm Quang:

- Nếu bạn thuộc phe chúng tôi, bạn làm ơn treo một chiếc nón lá vào ngọn cây thị ở đầu xóm Sen rồi chích cho tôi một mũi thuốc độc.

Trước sau gì chúng cũng đánh tôi chết.

Dù xót xa, Năm Quang vẫn không thể xác nhận mình thuộc phe ta hay phe địch và càng không thể giết chết anh ta theo yêu cầu.

Để anh ta sống tức là đẩy anh ta vào tình huống chết chậm trong đau đớn trước những đòn tra tấn của địch.

Anh nhớ mãi ánh mắt van nài cầu khẩn ấy suốt đời.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 25


Mười Hương triệu tập cuộc họp bất thường với cụm A10 khiến Mười Thắng lo lắng.

Cuộc họp chỉ có 4 người: Mười Hương, Sáu Ngọc, Mười Thắng và Ba Hoàng.

Mười Thắng và Ba Hoàng đã làm kiểm điểm sự việc để một giao thông viên lọt vào tay địch.

Việc bị kỷ luật anh không lo bằng chuyện đổ bể mọi công sức tạo mạng lưới cho Cụm.

Anh tin Sáu Vỹ sẽ chịu chết không khai nhưng một tình huống trùng hợp đã khiến độ an toàn của lưới không còn ở vạch số không nữa.

Đó là việc Năm Quang vô tình cứu thương cho Sáu Vỹ .

Tuy Năm Quang thoát được sự giam cầm của địch nhưng yếu tố trùng hợp sẽ khiến cho tình báo địch đặt dấu hỏi.

Năm Quang đã quá nổi bật với những cuộc biểu tình của sinh viên Y - Nha - Dược, rồi đến vụ chuyển tài liệu cho Kissinger, bây giờ lại "vô tình" cứu chữa cho một cán bộ nhập thành.

Chưa kể những hoạt động khác của Năm Quang chưa bị địch phát hiện.

Nếu tổng hợp lại được tất cả những chi tiết đó thì dù có ngờ nghệch, tình báo địch cũng đặt dấu hỏi lớn: Năm Quang là ai?

Chờ cho mọi người an vị, không yêu cầu báo cáo kết quả công tác như thường lệ, Mười Hương vào thẳng vấn đề:

- Hôm nay, ta sẽ kiểm điểm công tác sau.

Trước hết tôi muốn bàn luận với các cậu về tình hình giữa ta và địch để các cậu nắm mà hoạt động cho phù hợp.

Tôi bình luận tình hình để đề ra mục đích cuối cùng cần đạt được.

Nhiệm vụ tình báo không thể cầm tay chỉ việc, các cậu phải đơn độc định ra hướng hành động để đạt mục đích cuối cùng.

Nên nhớ nhiệm vụ chúng ta là nhiệm vụ tình báo chính trị, vì vậy, các cậu cần nắm vững tình hình chính trị.

Quá rành cách làm việc của thủ trưởng, Sáu Ngọc, Mười Thắng lẫn Ba Hoàng lẳng lặng lắng nghe, im lặng ghi chép những ký hiệu riêng vào sổ tay.

- Hiệp định Paris là một thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam.

Đối với Thiệu, hiệp định này là sự tẩy chay chế độ gian lận của ông ta.

Nixon một mặt hứa với Thiệu sẽ tiếp tục viện trợ quân sự, một mặt, theo tin tình báo của ta, ngay đêm đình chiến Hai mươi bảy tháng Một, Mỹ đã lệnh tháo lui trở về Mỹ sáu chiếc tàu chở năm mươi lăm ngàn tấn đạn dược trên Thái Bình Dương dự định viện trợ cho Thiệu.

Điều này cho thấy Nixon hứa lèo với Thiệu.

Ta đủ cơ sở tin rằng Mỹ không dám đến đất nước ta nữa.

Thiệu đang đứng trên bờ vực thẳm.

Do bản chất ngoan cố, Thiệu vẫn bấu víu lấy niềm hy vọng mong manh rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ.

Hiện nay, sau gần một năm bị Mỹ bỏ rơi quân sự lẫn kinh tế, chính quyền Thiệu lạm phát trầm trọng, số người thất nghiệp lên tới một triệu ba mươi hai vạn.

Vũ khí của chúng đang cạn kiệt.

Thiệu đã phải kêu gọi binh sĩ "đánh giặt theo kiểu con nhà nghèo".

Đang chết ngáp nhưng Thiệu vẫn còn rất ngoan cố tuyên bố trắng trợn "Cương quyết không tổng tuyển cử, không hòa bình".

Y tiếp tục thực hiện ráo riết kế hoạch giành dân lấn đất với ta, tung xuống xã, ấp bốn mươi phần trăm công chức và hai ngàn bốn trăm sĩ quan để tăng cường bộ máy kềm kẹp.

Chúng đang huy động toàn lực Sư đoàn 25 mở cuộc hành quân đánh sâu vào các vùng căn cứ giải phóng của ta ở Bắc Củ Chi, đồng thời sử dụng một bộ phận chủ lực còn lại kết hợp với bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát và các đoàn bình định mở các cuộc hành một lấn chiếm vùng ven chung quanh Sài Gòn.

Trong tình hình đó, Thành ủy vừa mở hội nghị đề ra chủ trương: "Lấy khẩu hiệu trung tâm là hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, ở nội thành đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, ra sức xây dựng lực lượng cơ sở, tạo điều kiện và thời cơ đi tới cao trào, phối hợp chặt chẽ với phong trào nông thôn và mũi tiến công của quân sự, tiến lên đánh đổ tập đoàn quân phiệt, phát xít tay sai phản động của đế quốc Mỹ ở miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ.

Phối hợp chặt chẽ với phong trào ở nội thành, ở nông thôn, phải tập trung chống phá bình định của địch, chống phá địa hình, chống phá càn quét, lấn chiếm, chống cướp lúa, gom dân, chống đôn quân bắt lính...

Hội nghị đề ra yêu cầu: "phát triển các loại lực lượng lên gấp 2 đến 3 lần ở cả thành phố lẫn nông thôn; tăng cường số lượng và chất lượng của lực lượng vũ trang đảm bảo tiêu diệt lực lượng ác ôn, kềm kẹp, lực lượng sùng lục, đánh bại lực lượng càn quét, lấn chiếm; đẩy mạnh đấu tranh phá lỏng kềm và giành quyền làm chủ của nhân dân; công tác xây dựng Đảng, xây dựng thực lực cách mạng đô thị phải đi sâu hơn nữa vào xí nghiệp, xóm lãnh đạo và các ngành trọng điểm".

Sinh khí mới chính trị của các tầng lớp quần chúng sau Hiệp định Paris được sự khủng hoảng kinh tế của ngụy ủng hộ và thái độ hiếu chiến của Thiệu hợp thành một phát khởi mới trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị.

Trung ương Cục chỉ đạo cho ta phải đẩy mạnh việc cài cắm người vào lực lượng chính trị mới hình thành sau Hiệp định Paris tại Sài Gòn, đó là lực lượng tiến bộ gồm các nhân sĩ, trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng tá ngụy...

Ta bám vào khuynh hướng chống Thiệu, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ của các thành phần này để bao vây Thiệu.

Ta cần lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của các nhân sĩ nổi bật.

Nhanh chóng thành lập hàng loạt tổ chức chính trị trong lòng địch như: Ủy ban chống sa thải; Ủy ban chống đàn áp, bất công; Mặt trận nhân dân cứu đói; Ủy ban bảo vệ các bạn hàng chợ; Ủy ban bảo vệ quyền lợi sinh viên; Ủy ban bảo vệ tự do báo chí...

Nói đến đây, Mười Hương nhìn khắp lượt mọi người rồi hỏi:

- Các cậu đã hiểu rõ nhiệm vụ mới chưa?

Trên yêu cầu ta chung chung như vậy, nhưng riêng với A10 cần chú trọng mấy yếu tố cụ thể: Làm mọi cách bao vây chính trị Thiệu, đuổi Thiệu ra khỏi dinh Độc Lập để đưa người khác lên thay Thiệu.

Trong nội các mới có sẵn người của ta sẽ nắm chính quyền.

Mười Hương chuyển ánh nhìn sang Ba Hoàng:

- T4 hết lời khen ngợi cậu đã xuất sắc hoàn thành nhiều nhiệm vụ.

Những cơ sở nội tuyến của cậu trong Phủ Thủ tướng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng đài điện thoại Bưu điện và cơ quan Tình báo quân sự Mỹ làm việc rất hiệu quả.

Sắp tới, cậu phải đảm đương nhiều nhiệm vụ quan trọng hơn đấy - Quay sang Mười Thắng - A10 đang chuẩn bị một hướng tấn công tổng lực mới, cần đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Tôi thấy Năm Quang có nhiều yếu tố khiến địch dễ lần ra A10. cậu có ý kiến gì không?

Nhờ chuẩn bị từ trước, Mười Thắng trình bày mạch lạc:

- Năm Quang đã tốt nghiệp trường Y và trong giai đoạn được xét miễn hoãn quân dịch.

Những sinh viên đã từng tham gia biểu tình rất khó được xét miễn hoãn.

Vì vậy, Năm Quang nằm trong trường hợp sẽ trúng tuyển quân dịch.

Tuy chưa có bằng chứng cụ thể nhưng địch luôn đặt dấu hỏi xung quanh Năm Quang.

Vì Năm Quang là mắt xích, là đầu mối của nhiều hệ thống quan trọng của Cụm, chỉ cần anh ấy bị bắt là Cụm sẽ bị nghẽn mạch.

Chưa kể địch sẽ lần ra những hoạt động của Năm Quang.

Em chưa biết xử lý tình huống này ra sao.

Mười Hương nói ngay:

- Cứ cho cậu ấy đi lính.

Nếu đã xác định không miễn hoãn được thì bảo cậu ta nên tình nguyện đi để xóa sạch nghi ngờ của địch.

Với bằng cấp của cậu ta, khi vào lính sẽ được phong hàm sĩ quan ngay.

Cứ tạm thời cho cậu ấy ẩn thân không giao nhiệm vụ nhưng đừng để mất liên lạc.

Toàn bộ hệ thống của cậu ta chuyển sang cho Ba Hoàng đảm nhiệm.

Mười Thắng thở phào nhẹ nhõm trước cách xử lý sáng suốt của người chỉ huy.

Từ đầu cuộc họp, Sáu Ngọc im lặng để nghe và suy nghĩ, giờ mới lên tiếng hỏi Mười Hương:

- Anh có ý kiến gì về nhân vật Dương Văn Minh không, anh Mười?

Mười Hương suy nghĩ một chút rồi nói:

- Những thuộc thành phần trí thức, cựu tướng lãnh ngụy đều kính trọng Dương Văn Minh.

Ông ta chủ trương liên kết các nhóm chính trị đối lập với Thiệu để lập một miền Nam trung lập.

Giải pháp đó hoàn toàn có lợi cho ta về mặt chính trị.

Rất nhiều nhóm trí thức, tôn giáo và dân biểu Sài Gòn ngầm chọn ông ta làm giải pháp thay cho Thiệu.

Ta cần nhanh chóng tiếp cận ông ta để nắm bắt mọi diễn biến của các nhóm đối lập Thiệu, đồng thời tác động tư tưởng ông ta nghiêng về mình.

Các cậu có định đưa Họa sĩ Ớt vào dinh Hoa Lan không đấy?

Bị thủ trưởng đoán trúng ý đồ kế hoạch, Sáu Ngọc cười:

- Anh Mười nhạy thiệt.

Em mới nhá cạnh tý xíu, anh đã đoán trúng hết.

Anh mà chỉ huy tình báo của địch chặc tụi em không còn cháo để húp.

Mười Hương nở nụ cười hiền lành:

- Tán nhau thì ích gì.

Để địch tán ta mới sướng chứ.

Thôi, ráng mà tạo chất xúc tác cho Thiệu đi an toàn kẻo y bị thuộc ném đá theo kiểu trung cổ.

Chúc các cậu thành công.

Tôi đi đặt trước vé tàu Sài Gòn - Hà Nội đây.

Câu nói đùa đầy hàm ý của Mười Hương kết thúc cuộc họp, một cuộc họp đánh dấn trận đánh mới, quyết liệt của cụm A10 trong cái chợ chính trị Sài Gòn.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 26


Huỳnh Bá Thành chống tay dưới cằm nhìn tờ giấy trắng trước mặt.

Cụm trưởng A10 đã gởi yêu cầu anh phải vẽ một bức biếm họa gợi ý cho quần chúng thấy chính quyền Thiệu đang đẩy xã hội vào bức đường cùng của nghèo đói.

Chuyện đó quá dễ, trong vụ "còi hụ Long An" anh đã cho đăng bức họa Thiệu đứng sau lưng thò tay móc túi một quan chức mặt mập phệ.

Nhìn nét vẽ ai cũng biết đó là Quang.

Vị quan chức có gương mặt của Quang lại đứng sau lưng một người khác có gương mặt giống một vị bộ trưởng.

Vị bộ trưởng đứng đằng sau một người dân thường gầy gò, ốm yếu và rách rưới.

Vị bộ trưởng thò tay bóp dái người dân thường.

Nội dung bức tranh tố cáo thẳng hành vi tham nhũng móc túi dân đen theo từng cấp của chính quyền Thiệu.

Bức tranh như một cái tát thẳng vào mặt khiến Thiệu tức lồng lộn nhưng chẳng làm gì được.

Hôm nay anh cần tăng liều thuốc đắng trong bức vẽ số báo ngày mai.

Anh cần hoàn tất nhanh bức họa để lát nữa sẽ có người đến đón anh vào căn cứ của A10.

Sáng nay trên đường đến tòa soạn, khi đi ngang qua dinh Độc Lập anh trông thấy năm người thương binh nằm ăn vạ trong công viên trước dinh Độc Lập.

Năm người mang năm kiểu thương tật khác nhau, kẻ mù hai mắt, người cụt hai chân, què tay.

Họ mang cả vợ con theo nằm vật vạ, nấu nướng giữa ánh mắt kỳ thị của người qua lại.

Lấy làm lạ, anh dừng xe lại hỏi han.

Một người bị cụt cả hai chân, băng vẫn còn rướm máy đỏ au, có vẻ là người chủ xướng cuộc ăn vạ, nghe anh giới thiệu là ký giả mới chịu mở lời:

- Đù móa!

Tôi, thiếu úy thủy quân lục chiến thuộc Lữ đoàn 258 Vùng Một chiến thuật.

Tôi và các anh em này ở các đơn vị khác nhau nhưng chung một tâm trạng: Sắp chết đói.

Hôm nay chúng tôi đến đây để hỏi Tổng thống Thiệu vài điều nhưng tụi chó chết - Anh ta chỉ tay về hướng hàng lính bảo vệ dinh Độc Lập - không cho chúng tôi vào.

Đù móa!

Chúng tôi quyết nằm đây ăn vạ cho đến khi nào Thiệu thò mặt ra chúng tôi chất vấn.

Nếu anh là ký giả có lương tâm và trách nhiệm thì hãy đăng báo giùm tôi nhưng câu hỏi?

Thấy anh móc quyển sổ tay ra ghi chép, anh thương binh cao giọng:

-

Đù móa!

Hiệp định hòa bình đã ký kết, tại sao tôi vẫn còn phải bắn nhau với Việt cộng?

À mà, Việt cộng là ai vậy?

Là người nước nào vậy?

Tại sao tôi phải bắn nhau với Việt cộng?

Tại sao tôi phải căn thù Việt cộng?

Việt cộng làm gì mà tôi phải căm thù?

Vì họ chiến đấu để đòi hòa bình cho đất nước Việt Nam đau thương này mà chúng tôi căm thù họ hả?

Chúng tôi cần Thiệu giải thích rõ ràng điều này.

Còn nữa, Thiệu cần bao nhiêu triệu sinh linh trên đất nước này chết, mới chịu chấp nhận hòa bình?

Tôi đã cầm súng bắn về phía anh em Việt Nam bên kia mà không biết bắn vì cái gì?

Có phải tôi đã đổ máu chỉ vì cái ghế tổng thống tham nhũng của ông ta?

Bây giờ thân tôi tàn phế, vợ con tôi nheo nhóc với đồng lương thương binh chết đói.

Trong khi đó, ông ta và tập đoàn của ông ta ra sức tham nhũng, buôn lậu và vơ vét tiền thuế của dân.

Tôi muốn ông ta cút khuất mắt nhường ghế tổng thống cho người yêu chuộng hòa bình.

Người thương bình càng nói càng hăng.

Giọng nói oang oang của anh ta khiến những người hiếu kỳ dừng lại nghe.

Lúc đầu chỉ vài người, sau đó hàng chục, hàng trăm người bao quanh.

Hàng chục phóng viên tây, ta nghe tin chạy đến chụp ảnh.

Cuộc nói chuyện độc diễn của anh ta trở thành một buổi diễn thuyết lên án chế độ đương quyền thối nát.

Anh ta kể lể về những ngôi làng bị chiến tranh tàn phá xơ xác, những thân xác người dân vô tội chết vì bom đạn.

Anh ta gào khóc.

Nhớ lại cảnh tượng đó, Bá Thành nảy một ý hay cho bức họa.

Anh ngoáy chiếc bút sắc thật nhanh cảnh người thương binh dùng chân giả làm củi nấu cơm.

Bá Thành thở phào nhẹ nhõm nhấn chuông gọi cô thư ký vào trao bức họa rồi dặn dò:

- Em đem bức họa này vô dinh Hoa Lan trao cho anh Ba duyệt gấp giùm anh.

Em nói với anh Ba là anh sẽ về thăm quê hai ngày.

Cô gái đi khỏi phòng, Bá Thành mở một xấp tài liệu chăm chú đọc.

Anh cần thuộc những chi tiết quan trọng trong hồ sơ.

Theo chỉ thị của Cụm, hôm nay anh phải vào mật cứ để báo cáo tình hình chính trị và nhận nhiệm vụ quan trọng.

Đi vào mật cứ trong tình hình hiện tại rất mạo hiểm nhưng Cụm vẫn gọi anh vào, chứng tỏ chuyến đi này của anh rất quan trọng.

Biết vậy, nhưng anh không có cách nào để đi cho an toàn.

Tình hình chính trị ở Sài Gòn như một ngọn núi lửa đang chực chờ phun trào.

Khắp các cửa ngõ ra vào Sài Gòn, nhất là các tuyến đường hướng về căn cứ, cảnh sát, mật vụ và lính tráng lập chốt kiểm soát dày đặc, kiểm tra rất gắt gao.

Mặc dù có thẻ ký giả được ưu tiên đi lại nhưng anh sẽ khó trả lời khi bị lực lượng kiểm soát hỏi lý do đi về hướng thuộc vùng kiềm soát của Quân giải phóng.

Anh đã đề xuất nhiều phương án vượt vòng kiểm soát nhưng cụm trưởng không đồng ý.

Trong đó có cả phương án xin giấy giới thiệu đặc biệt của Bộ Tổng tham mưu cho phép vào vùng "xôi đậu" để thực tế viết phóng sự về đời sống người dân.

Cụm không đồng ý, cho rằng xin phép như vậy chẳng khác nào thông báo cho địch biết anh đi vào vùng giải phóng.

Anh đang bế tắc thì Cụm lại gởi chỉ thị cho biết đã có phương án đưa anh vào mật cứ an toàn.

Hôm nay là ngày người của Cụm đến.

Có tiếng gõ cửa, anh đứng dậy ra mở cửa.

Trước mặt anh, một gã lính thủy quân lục chiến trẻ măng, vai mang hàm đại úy quân y, trên ngực áo đeo huy chương Anh dũng Bội tinh, gương mặt trông rất quen thuộc.

Bá Thành nheo mắt, khi nhận ra đó là Năm Quang, anh reo:

- Trời!

Tự dưng mày mất biệt tăm hơi.

Năm Quang cười sảng khoái:

- Tao đi lính, mày không thấy sao?

Từ ngày chỉ huy Cụm chỉ thị anh cắt liên lạc với Năm Quang và nối liên lạc với H2, tức ký giả Hai Phương anh cứ thắc thỏm lo âu cho người bạn thuở học trò.

Anh không hiểu vì nguyên do nào cụm cắt liên lạc với Năm Quang.

Trong trận chiến bí mật này, anh biết không nên hỏi những việc ngoài nhiệm vụ được giao.

Bặt vô âm tín hơn một năm, giờ Năm Quang xuất hiện đột ngột với bộ đồ rằn ri khiến anh hơi ái ngại.

Đoán biết tâm trạng bạn, Năm Quang cười cợt:

- Ê!

Không được nghi ngại bậy bạ à nghen.

Lập trường tao vững như bàn thạch đó.

Không để tâm trạng bạn bất an lâu, Năm Quang xổ một tràng mật khẩu rồi nói luôn:

- Tao có nhiệm vụ đưa mày đi.

Gánh nặng trong lòng tan biến, Bá Thành thở phào:

- Hóa ra mày vẫn còn... trinh.

Năm Quang thúc nhẹ cùi chỏ vào sườn bạn:

- Thôi, thu xếp đi sớm.

Ăn với nói bậy bạ không hà.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 27


Năm Quang cầm lái chiếc xe Jeep mang biển số quân đội chở Bá Thành phóng vùn vụt về hướng Thủ Dầu Một.

Kể từ khi tạm rời vị trí trong Cụm, đi đăng lính để xóa dấu tích đến nay, đây là chuyến công tác đầu tiên đánh dấu sự trở lại của anh.

Nhờ tấm bằng bác sĩ hạng ưu, ngay sau khi đăng lính anh được mang hàm trung úy quân y, bị điều về làm bác sĩ tiểu đoàn 6 được mệnh danh là tiểu đoàn "Thần ưng Quyết tử" thuộc Lữ đoàn 258 thủy một lục chiến đóng quân ở vùng ven biển Nam Cửa Việt.

Đó là một vùng dân cư thưa thớt, chỉ có vài con đường đất nối liền bến cá Hải Lăng ra Quảng Trị về Huế và hàng quán lèo tèo mọc lên phục vụ nỗi buồn những người lính xa nhà được gọi là "dãy phố buồn thiu".

Bức điện cuối cùng của Cụm anh nhận được chỉ vỏn vẹn mấy dòng: "Đóng vai thật tốt.

Nhẫn nại chờ tin".

Điều đó có nghĩa là Cụm yêu cầu anh phải vào vai sĩ quan quân đội địch thật tốt và chờ đến khi Cụm chủ động bắt liên lạc lại.

Một năm ẩn núp trong vai một sĩ quan bác sĩ tận tụy nhiệm vụ với "quân lực Việt Nam Cộng hòa", đối với anh là những ngày dài thăm thẳm, những đêm sâu mịt mù.

Thời gian đầu, để thử thách, chúng điều anh về một tiểu đoàn trực tiếp chiến đấu.

Tuy chỉ làm nhiệm vụ cứu thương theo những chuyến hành quân càn quét vào những làng mạc nghèo, lòng anh vẫn ray rứt buồn phiền.

Sau những chuyến hành quân mệt rã người, khi về căn cứ đóng quân, anh rủ vài người lính cùng đơn vị đi tìm men bia để nỗi buồn không có dịp tỉnh.

Từ những cuộc bia đó, anh được những người lính san sẻ tâm trạng.

Hóa ra không chỉ mình anh cảm thấy cuộc chiến tranh kéo dài phi nghĩa này mà ai cũng vậy.

Thế là anh có dịp khơi gợi sự vi phạm hiệp định hòa bình.

Anh khuyên họ trước khi nổ súng, hãy nghĩ phía bên kia là một đồng bào cùng máu đỏ da vàng.

Tận dụng khả năng phân tích, anh kể tình hình chính trị ở Sài Gòn cho họ nghe.

Điều đáng ngạc nhiên là, cái cách tuyên truyền của anh được đám sĩ quan chỉ huy ngộ nhận là anh đang điều trị tâm lý cho đám lính.

Dần dà, anh trở thành một thứ "linh mục đời", cứ hễ gã lính nào có biểu hiện nhụt chí chiến đấu là được gởi đến anh để điều trị tâm lý.

Các tay sĩ quan chỉ huy không ngờ rằng, sau một buổi điều trị tâm lý của anh, gã lính nhụt chí chiến đấu trở nên tươi tỉnh vì đã "ngộ" ra chẳng bao lâu nữa Thiệu sẽ "cuốn gói ra đi cho hòa bình chạm ngõ".

Anh ta trở nên hăng hái xả đạn về phía "đối phương" hơn nhưng kỳ thật là xả đạn bổng lên trờ cho mau... cạn kho đạn còn sót lại của quân đội Mỹ.

Với tư cách là bác sĩ, anh có quyền giám định sức chiến đấu của thương binh.

Những ca bị thương nhẹ, miễn có máu đổ là anh có cớ ghi vào phiếu yêu cầu chuyển ra tuyến sau cứu chữa.

Chỉ cẩn có dấu hiệu cảm sốt, ghẻ lở là anh đều cho chuyển về tuyến sau điều trị.

Nhiều anh lính sợ ra chiến đấu, anh đều hướng dẫn cách khai bệnh để có cớ đưa về Sài Gòn.

Có lần, "quân ta" bắt được một thương binh Việt cộng, anh được gọi lên cứu chữa, săn sóc sức khỏe để chỉ huy khai thác ý đồ chuyển quân của "đối phương".

Người thương binh này đã phản bội, khai nhận tất cả.

Không thể làm cho gã im miệng, anh đành phải làm tròn nhiệm vụ một thầy thuốc.

Tối đó anh nảy ra sáng kiến rủ mấy anh lính ra quán cóc ổi ở chợ nhậu.

Sau vài chai bia, anh vờ say, kể lại chuyện cứu tên tù binh.

Anh cố ý kể thật to những điều gã đã khai với hy vọng người của ta nghe được để thay đổi ý đồ chuyển quân.

Nhờ những "thành tích" đó, anh được chính tay viên tướng chỉ huy binh chủng thủy quân lục chiến đeo huy chương Anh dũng Bội tinh, được thăng hàm đại úy trước hạn và trở thành bác sĩ trưởng quân y Lữ đoàn 258.

Kể từ khi trở thành bác sĩ trưởng quân y, Năm Quang có nhiều cơ hội bám theo trực thăng cứu thương về Sài Gòn hơn.

Mỗi lần về Sài Gòn, anh cứ mong ngóng nhận được một chỉ thị nào đó của Cụm để thoát khỏi tâm trạng bị bỏ rơi.

Giống như một chứng bệnh đã được chuẩn đoán chính xác nguyên nhân nhưng thiếu thuốc chữa trị, tâm trạng bị bỏ rơi khó chịu cùng cực.

Về Sài Gòn, thèm đi chơi lòng vòng nhưng anh sợ nhỡ chuyến liên lạc của giao thông viên.

Hàng chục chuyến về Sài Gòn là hàng chục chuyến trở lại nơi đóng quân trong tâm trạng u uất, nhiều lần anh có ý định đào ngũ.

Nhưng Cụm đã phân công anh giữ vị trí này, nếu đào ngũ, xem như anh rời bỏ nhiệm vụ.

Giữa lúc buồn chán, anh gặp một tay trung sĩ quê ở Quảng Bình.

Hôm đó, anh đang ngồi trong lều doanh trại đọc một tài liệu y học của một bác sĩ người Mỹ cho mượn.

Tay trung sĩ bước vào lều dập gót chào:

- Tôi, trung sĩ Nguyễn Đức đạt, tiểu đoàn 6, trình đại úy bác sĩ một nguyện vọng.

Năm Quang rời quyển sách, nhìn người đối diện.

Anh đã từng ở tiểu đoàn 6 gần một năm nhưng chưa hề gặp tay trung sĩ này.

Qua giọng nói, anh đoán tay trung sĩ này người dân gốc Huế.

Mái tốc rối bù và gương mặt sạm đen sạm không làm đôi mắt anh ta bớt sáng.

Anh cất giọng:

- Anh bỏ quân cách rồi ngồi xuống đây trò chuyện.

Tay trung sĩ không ngần ngừ, ngồi xuống thùng đạn rỗng đối diện Năm Quang.

- Đại úy chưa gặp em lần nào đâu.

Khi em về tiểu đoàn 6, đại úy đã về trung đoàn quân y.

Trước đó em là lính của "Sư đoàn 3 tháng" đã giải tán.

Năm Quang đã nghe kể về "Sư đoàn 3 tháng" này.

Nhằm xây dựng tuyến phòng thủ giáp vĩ tuyến 17, địch đã gấp rút thành lập Sư đoàn 3 án ngữ phía Bắc Trung phần chắn ngang dãy Trường Sơn.

Hầu hết lính của sư đoàn này đều là tân binh "vét" của các quân trường.

Mới thành lập được 3 tháng, bị quân ta đánh một trận tơi tả.

Sư đoàn bị xóa sổ hẳn.

Số tàn quân của sư đoàn chỉ còn vài trăm, được rải đều bổ sung cho các đơn vị khác.

Năm Quang im lặng chờ đợi người đối diện nói lý do tìm gặp.

Như hiểu ý Năm Quang, tay trung sĩ nói thẳng:

- Đại úy có thể giúp em một giấy phép về Sài Gòn?

Bao nhiêu em cũng chung.

Quá quen với những yêu cầu như vậy, Năm Quang mỉm cười độ lượng:

- Tôi có thể giúp anh nếu anh trình bày được một lý do hợp lý.

Trong ánh mắt tay trung sĩ lóe một tia sáng đầy nỗi niềm:

- Em vừa nhận tin, ở quê vợ con em đã chết hết.

Chết vì đạp trúng mìn của quân đội gài.

Vợ con em đi mần ruộng.

Đại úy hiểu không?

Đi mần ruộng, đạp mìn của chúng ta gài, ba mẹ con chết thảm.

Năm Quang nhìn anh ta bằng ánh mắt cảm thông, chia sẻ:

- Xin chia buồn với người anh em.

Tay trung sĩ nói tiếp bằng giọng run run:

- Tại sao hiệp định hòa bình đã ký rồi mà còn chiến tranh vẫn còn hiện diện khắp nơi?

Trong khi chúng ta đang đối diện cái chết, đối diện chiến tranh thì thằng Thiệu làm gì?

Buôn lậu.

Đại úy nghe rõ không.

Nó buôn lậu.

Nếu đại úy còn chút lương tâm, hãy cho em một giấy chứng bệnh về Sài Gòn.

Nếu đại úy không cho, em cũng bỏ ngũ về Sài Gòn.

Em về Sài Gòn để vào dinh Độc Lập gặp Thiệu.

Năm Quang nhướng mắt như ngầm hỏi: "Để làm gì?".

Tay trung sĩ nói tiếp:

- Em sẽ bảo ông ta hãy tôn trọng hòa bình hoặc cút xéo khỏi cái ghế tổng thống của ông ta.

- Liệu lời đề nghị lẻ loi của anh có tác động được Thiệu?

- Một lời đề nghị của em không đủ sức để tác động nhưng nhiều lời đề nghị như thế sẽ tạo thành một sức mạnh.

Năm Quang khích lệ:

- Nếu muốn như vậy, anh không nên vào dinh Độc Lập.

Đám quân cảnh sẽ bắt anh ngay khi anh vừa chạm tay vào cánh cổng.

Tiếng nói của anh sẽ có giá trị khi được báo chí ghi nhận.

Tại sao anh không đứng trước thềm Hạ viện dùng khả năng diễn thuyết của mình yêu cầu Thiệu trả lại hòa bình cho đất nước.

Ở vị trí đó anh sẽ tạo được sự chú ý của giới ký giả trong quán bar Gir.

Tôi có quen một dân biểu.

Anh hãy tìm gặp ông này để được giúp đỡ.

Tay trung sĩ ngớ người mất mấy giây mới hiểu viên đại úy bác sĩ đã chấp thuận giúp anh ta về Sài Gòn thực hiện nguyện vọng.

Ngay sau khi ký giấy cho tay trung sĩ về Tổng Y viện Cộng hòa ở Sài Gòn điều trị một chứng bệnh khó xác định, Năm Quang bám theo một chuyến trực thăng bay về Sài Gòn ngay.

Về đến Sài Gòn, anh tìm gặp một cơ sở cũ của cụm A10 đang là dân biểu trong Hạ viện.

Năm Quang đề nghị vị dân biểu này giúp đỡ tay trung sĩ.

Mấy ngày sau, trên trang nhất của rất nhiều tờ báo trong nước, nước ngoài đăng bức ảnh tay trung sĩ đứng trước Hạ viện lên tiếng kêu gọi Thiệu từ chức để hòa bình hiện diện ở Việt Nam.

Cũng trong chuyến về Sài Gòn này, anh nhận được tín hiệu liên lạc của Cụm.

Như người bệnh nằm liệt giường chiếu nhiều ngày được hồi sinh, anh mừng rỡ đi tìm hòm thư mật nhận chỉ thị.

Chỉ thị yêu cầu anh đưa Bá Thành vào mật cứ thuộc vùng giải phóng ở Trảng Bàng.

Năm Quang bảo Bá Thành:

- Ê!

Sắp qua trạm kiểm soát kìa mày, lấy cái nón sắt tao để phía sau đội lên đi.

Bá Thành im lặng làm theo.

Kể từ đầu năm nay, lo sợ thuộc hạ đảo chính mình, lo sợ quân giải phóng tấn công, Thiệu cho lập một hàng rào quân sự bao bọc kín Sài Gòn.

Tất cả những con đường lớn nhỏ, kể cả đường mòn trên đồng từ ngoại ô vào Sài Gòn đều được đặt trạm gác liên hợp được trang bị máy kiểm tra giấy tờ giả.

Chiếc xe Jeep vẫn giữ nguyên tốc độ, khi chỉ còn cách thanh chắn khoảng 20 mét, Năm Quang mới chịu siết thắng.

Bốn bánh xe Jeep chị bắt đừng cày miết dưới mặt đường nhựa tạo thành một thứ âm thanh chói tai, buốt óc.

Từ trong trạm, một thiếu úy quân cảnh xách súng chạy ra, vừa liếc thấy ve áo của Năm Quang vội nghiêm chào:

- Tôi, Trần Nguyên Vũ, thiếu úy quân cảnh thuộc đơn vị Biệt khu Thủ đô, yêu cầu đại úy xuất trình giấy tờ.

Thấy cái kiểu quân cách của gã thiếu úy, Bá Thành hơi ái ngại cho tình thế.

Năm Quang đã quá quen thuộc với món này, hất hàm văng tục:

- Đù móa!

Giấy tờ gì mày?

Mày không nhận ra phù hiệu lữ đoàn của tao à?

Mày nghĩ coi, từ Vùng Một chiến thuật về đến đây tao phải qua bao nhiêu cái trạm?

Gã thiếu úy vẫn giữ tư thế chào:

- Trình đại úy, phía bên kia trạm, cách vài cây số là vùng không đảm bảo an toàn, Việt cộng đang kiểm soát.

Tôi e ngại cho sự an toàn đại úy, mong đại úy thông cảm.

Ngay từ khi được rút lên trung đoàn quân y của lữ đoàn, mỗi lần vễ Sài Gòn, Năm Quang đều yêu cầu lữ đoàn cấp cho anh sự vụ lệnh đặc biệt để sử dụng trong trường hợp Cụm giao nhiệm vụ bất ngờ.

Sự lo xa của anh có dịp sử dụng trong trường hợp này.

Nhưng nếu gã thiếu úy hỏi về lý do Bá Thành đi theo anh thì hơi khó.

Từ lâu Thiệu đã liệu cánh báo chí vào trường hợp kiểm soát gắt gao, cấm mon men vào vùng giải phóng.

Vả lại, Cụm đã yêu cầu Bá Thành không để lộ tung tích ký giả.

Năm Quang chỉ còn cách sử dụng chiêu "cả vú lấp miệng em" đánh lạc hướng gã thiếu úy.

Năm Quang vẫn ngồi trên xe, một tay móc túi chìa sự vụ lệnh đặc biệt vào mặt gã thiếu úy, một tay đặt báng súng ngắn đeo bên hông chửi thề liên tục:

- Một sĩ quan cao cấp của lữ đoàn vừa bị thương, đang nằm trong căn cứ Đồng Dù chờ tao.

Nếu vì sự rắc rối của mày mà cứu trễ cấp trên của tao thì... tao hứa với mày, tao sẽ đem một đại đội về đây tiễn cái trạm chết tiệt của mày vào chỗ bán đồng nát.

Thấy Năm Quang làm dữ, gã thiếu úy hoảng hốt trả giấy, đứng nghiêm chào, miệng lắp bắp:

- Mời đại úy qua trạm.

Năm Quang nhấn mạnh ga, chiếc xe Jeep miết bánh xuống mặt đường lao vụt về phía trước.

15 phút sau, chiếc xe Jeep rẽ vào một vạt rừng chồi.

Năm Quang siết tay bạn:

- Mày ở đây, sẽ có người đến đón mày vào mật cứ.

Tao phải trở về.

Bá Thành vui ra mặt.

Anh cảm nhận rất rõ cái siết tay mạnh mẽ của Năm Quang.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 28


Bá Thành cho chiếc Ladalat rẽ ngoặt vào cổng dinh Hoa Lan.

Tướng Minh mang gương mặt ưu tư đứng chờ anh từ lúc nào.

Cái dáng người cao lớn ẩn nhẫn trong bộ đồ 4 túi kiểu ký giả màu xám khiến ông giống một giáo chức già hơn là một vị tướng hưu trí.

- Moa trông toa đến giúp moa vài chuyện quan trọng.

Lần nào cũng vậy, vừa gặp Bá Thành, ông Minh đều nói kiểu ngoại giao như thế.

Nhiều người cho rằng ông Minh là một vị tướng không am tường chính trị.

Anh không nghĩ vậy.

Là người yêu nước theo kiểu cổ xúy tinh thần dân tộc, khi ở địa vị quốc trưởng, có lẽ ông hiểu cái thế cờ miền Nam nằm trong sự kiềm tỏa của Mỹ.

Với thế kiềm tỏa đó, miền Nam chỉ phải đi theo một chuẩn mực do Mỹ vạch ra, không thể khác được.

Thế là ông bất lực buông xuôi.

Trong những ngày lưu vong tại Thái Lan, ông nhận thấy, miền Nam muốn thoát khỏi bàn tay của Mỹ, chỉ có một con đường duy nhất, đó là chấp nhận vai trò nhạc trưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nhưng với vị thế hiện tại của mình, ông không thể nói trắng ra điều đó.

Tiếp cận ông thường xuyên nên Bá Thành nhận ra ông có tư tưởng như vậy nhưng anh không hiểu vì sao lãnh đạo T4 không lôi kéo ông đứng hẳn về phía Mặt trận.

Có lẽ, lãnh đạo T4 đã có một kịch bản bí mật.

Với anh, chuyến vào mật cứ vừa qua là một khóa huấn luyện điệp báo thật sự.

Người chỉ huy tình báo Mười Hương và Sáu Ngọc đã truyền đạt cho anh nhiều biện pháp nghiệp vụ quý giá trong cách khai thác thông tin và điều khiển hành động đối phương theo ý đồ mình.

Anh Mười Hương khuyên, đừng bảo ông Minh làm điều gì cụ thể cả mà chỉ có một cách duy nhất để hành động.

Tất nhiên, hành động duy nhất đó là ý đồ mong muốn của ta.

Cái thâm thúy nghiệp vụ và sâu sắc về tình hình, diễn biến chính trị của anh Mười Hương khiến Bá Thành thán phục tuyệt đối.

Sống giữa lòng Sài Gòn nhưng khi gặp Mười Hương anh mới nắm bắt được những mấu chốt quan trọng nhất, yếu huyệt tuyệt đối nhất của chế độ Sài Gòn.

Từ khi nhận nhiệm vụ hoạt động tình báo, anh chỉ nhận được chỉ thị mục tiêu để tự đề ra phương thức hành động.

Tức là Cụm chỉ đề ra mục tiêu cuối cùng cần đạt, giống như ra một đề toán đã có đáp số sẵn, anh phải tự tìm ẩn số X trong cách giải bài toán hành động.

Chính trị Sài Gòn thời điểm này giống như một cái lẩu thập cẩm.

Cái xã hội vàng thau lẫn lộn này, ai cũng có thể trở thành một chính trị gia.

Một gã buôn heo, ngủ một giấc thức dậy, hứng chí là chính trị gia bỏ tiền ra thuê thiên hạ ủng hộ mình.

Các biểu tượng chính trị mọc nhanh nhản khắp nơi.

Bông lúa, cành trúc, gà trống, nồi đồng, củ tỏi và hàng trăm thứ hầm bà lằng khác đều có thể biến thành biểu tượng của một nhóm chính trị.

Lủng củng, lùng nhùng những học thuyết ba xu, những đường lối tiêu, hành, tỏi, ớt.

Giữa cái mớ hỗn độn ấy, anh cần phải nhận ra nhóm nào có khả năng xoay chuyển tình thế nhất để đối phó.

Nếu không có sự định hướng của anh Mười Hương và Sáu Ngọc, bị rơi trong mớ hỗn độn ấy, anh sẽ phân tán rộng sự chú ý của mình.

Từ sự phân tích của anh Mười Hương, anh nhận ra, dù hỗn độn nhưng tất cả những nhóm chính trị đều có chung một đòi hỏi: Đuổi Thiệu ra khỏi ghế tổng thống.

Tuy hỗn độn nhưng tất cả những nhóm chính trị có thực lực đều chọn tướng Minh là nhân vật trung tâm.

Cầm tờ báo Điện Tín mới phát hành sáng nay, anh trịnh trọng đưa tướng Minh, cất lời:

- Hôm bay báo đăng nguyên văn kế hoạch Sao Chổi của Thiệu đó chú.

Tướng Minh cầm tờ báo, một tay áp sau lưng Bá Thành nhẹ nhàng dìu vào trong:

- Đi vào uống nước trà đã.

Thiệu dùng kế hoạch Sao Chổi bịt miệng dư luận tức là tự bịt cả mũi lẫn miệng của y rồi đó.

Chết ngộp ngay tức khắc thôi.

Toa công khai kế hoạch này ra là bấm đúng huyệt chết đứng của y.

Hôm nay, moa muốn ký giả chứng kiến và ghi nhận một cuộc họp quan trọng.

Bá Thành vừa đặt chân lên tiền sảnh đã thấy trong phòng có rất đông những gương mặt các chính trị gia nổi tiếng.

Một nghị sĩ vừa trông thấy anh đã lên tiếng:

- Ồ, có cả ngài Họa sĩ Ớt đây nữa.

Xem tranh của ông, cay xé cả mắt.

Bá Thành nhận ra đó là một nghị sĩ vừa được anh đưa gương mặt vào làm chủ thể một bức biếm họa.

Trong bức họa này, anh không hề có chủ ý chửi xiên xỏ vị nghị sĩ này mà chỉ mượn hình ảnh ông ta đang giương cao một lá cờ hòa bình.

Hàm ý của anh là phê phán chung chung những ông nghị chỉ kêu gọi hòa bình suông bằng lời chứ không bằng hành động cụ thể.

Tuy anh không phê phán riêng cá nhân ông ta nhưng nét vẽ phóng khoáng khiến gương mặt của ông ta trông méo mó như một tên hề.

Trong giới chính trị Sài Gòn kháo nhau về 3 nỗi sợ khi hoạt động: Ám sát, số một; Lột quyền, số hai; Cay ớt, số ba.

"Cay ớt" là cụm từ ám chỉ Họa sĩ Ớt đưa chân dung vào biếm họa.

Anh chìa tay ra tỏ ý thân thiện với vị nghị sĩ:

- Nếu bức họa làm ông phiền lòng, mong ông thứ lỗi.

Tôi chỉ có ý muốn kêu gọi mọi người nên hành động cụ thể có lợi cho nước nhà chứ không chủ ý với riêng cá nhân ông.

Xin thứ lỗi!

Thứ lỗi!

Vị nghị sĩ cười khà nắm chặt tay anh như chấp nhận lời xin lỗi.

Anh đảo mắt quanh phòng họp nhận diện từng người.

Những thành phần có mặt khẳng định cuộc họp này rất quan trọng.

Anh đi một vòng bắt tay từng người để phân loại nhanh.

Nhóm thứ nhất có xu hướng chống Cộng gồm: Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Hữu Phi, Mai Hữu Xuân, Võ Văn Hải, Tôn Thất Thiện, Bùi Chánh Thời.

Nhóm thứ hai chủ trương trung lập hóa miền Nam gồm Vũ Văn Mẫu, Hồ Văn Minh, Nguyễn Hữu Chung, Lý Quí Chung.

Nhóm thứ ba có biểu hiện Mặt trận gồm Trần Ngọc Liễng, Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Nguyễn Ngọc Lan, Hồ Ngọc Nhuận.

Ngoài ra còn một số ký giả trong nước lẫn nước ngoài.

Với những thành phần như vậy, Bá Thành đoan chắc cuộc họp này sẽ đánh dấu một điều gì đó to tát đối với chế độ Thiệu.

Anh lẳng lặng tìm một chỗ khuất ngồi xuống theo dõi diễn biến.

Trong cuộc bầu cử năm 1971, Tổng thống Thiệu dùng quyền lực chính quyền ép quốc hội ra luật bầu cử mới buộc mỗi liên doanh phải có đủ 40 dân biểu, nghị sĩ hoặc 100 nghị viên đồng giới thiệu mới được ra ứng cử.

Thiệu dùng chiêu này để loại bỏ giá trị chơi, ứng viên chỉ còn hai liên doanh tranh cử là ông Minh và Thiệu.

Trước sự xảo trá của Thiệu, ông Minh chờ gần hết ngày niêm yết chính thức danh sách liên danh tranh cử, bất thần tuyên bố rút tên để mỗi người tranh cử với chính mình.

Nếu một người tranh cử danh chính ngôn thuận, trong tình thế đó, Thiệu phải hủy bỏ cuộc tranh cử để xin ý kiến quốc hội tổ chức lại.

Nhưng bản tính tham quyền cố vị, Thiệu "độc diễn" luôn trong sự dè bỉu của công luận quốc tế cớ cho hàng loạt của biểu tình chửi rủa Thiệu.

Lúc đó, Bá Thành chưa được của giao nhiệm vụ nhưng anh biết, Cụm đã cho người tiếp cận ông Minh để bày diệu kế đó.

Với sự nhạy bén của một ký giả lăn lộn trong chính trường địch, anh nhận ra trong số những người tham mưu của ông Minh gồm những Vũ Văn Mẫu, Lý Chánh Trung, Hồ Văn Minh, Trần Ngọc Liễng, Hồng Sơn Đông, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Nguyễn Hữu Chung và Lý Quí Chung có người của Cụm.

Sau này, khi đã vào Cụm, tuy nhận diện được "mặt anh em" nhưng nguyên tắc anh không cho phép anh nhận "họ hàng".

Sau cuộc "ứng cử độc diễn" của Thiệu, mỗi thứ tư hàng tuần, dinh Hoa Lan có thêm nhiều chính khách mới.

Một số người trước kia ủng hộ Thiệu rất hăng, nay tìm đến dinh Hoa Lan để ngóng nghe tin tức, lập trường của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Một người mặc áo vest bạc đứng lên vỗ tay bôm bốp ra hiệu cho mọi chú ý rồi bắt đầu nói:

- Kính thưa tất cả quý vị có mặt ở đây hôm nay.

Chúng tôi cố ý mời tất cả các vị, không phân biệt thành phần chính trị, tôn giáo, đảng phái cùng ngồi với nhau để cùng nhìn về một hướng, đó là vận mệnh quốc gia.

Như quý vị đã rõ, Nguyễn Văn Thiệu đã lộ rõ bản chất xảo trá, gian manh, tham quyền, cố vị, lừa đảo, tham nhũng, độc ác, phi nhân.

Ông ta đã tuyên bố không chấp nhận hòa bình.

Lời tuyên bố của ông được lặp lại nhiều lần.

Đó là sự thách thức trắng trợn đối với những ai biết đau xót trước thảm cảnh dân tộc bị bom cày, đạn xới, người dân vô tội bị giày xép thịt da...

Có ai đó ngồi trong nhóm ông già Thơ nói lớn:

- Gọn đi cha nội.

Không đếm xỉa đến lời nói cắt ngang phá bĩnh, ông ta nói tiếp:

- Chúng ta cần làm áp lực để Thiệu từ chứ.

Chúng ta cần một người có tài lên thay Thiệu để đưa đất nước vào cái thế hòa bình, hòa hợp dân tộc.

Nhiều lời bàn luận lao xao từ phía các cử tọa khiến lời nói của ông ta bị chìm nghỉm.

Nhóm nào cũng muốn đại diện của mình trở thành nhân vật trung tâm của "công cuộc" thay Thiệu.

Người mặc áo vest xám bạc phải vỗ tay nhiều lần mới làm không khí dịu xuống.

Ông ta nói tiếp:

- Chúng tôi nhận thấy ngài đại tướng Dương Văn Minh là người đầy đủ bản lĩnh chính trị để lãnh đạo quốc gia.

Chúng tôi xin công bố cương lĩnh hoạt động...

Cả phòng lặng đi giây lát rồi tiếng lao xao lại cất lên.

Hầu như ai cũng công nhận tướng Minh là người thay thế Thiệu phù hợp nhất.

Ai cũng biết, cái ghề của Thiệu tuy đã lắt lay không vững nhưng vẫn còn tồn tại là nhờ có Mỹ chìa tay ra giữ.

Muốn Thiệu ra đi, họ cần một người thay thế.

Người thay thế đó phải được Mỹ chấp nhận.

Ông Minh đã từng được Mỹ hậu thuận trong cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, sẽ dễ dàng được Mỹ chấp nhận thay Thiệu hơn những người chưa có "số má".

Vả lại, nếu ông Minh lên nắm quyền, người của họ sẽ có nhiều cơ may tham chính hơn những gã ăn đong khác.

Cuộc họp trở nên hỗn loạn: mạnh ai nấy nói.

Ông Minh lẳng lặng bước sang căn phòng thư viện:

Bá Thành cố nhẹ nhàng để không tạo sự chú ý về phía mình, len lách người bám theo tướng Minh.

Tướng Minh mệt mỏi ngả lưng trên chiếc ghế tựa.

Gương mặt ông đầy vẻ thất vọng chán chường.

Ông tươi tỉnh nét mặt ngay khi trông thấy Bá Thành:

- Moa mệt mỏi quá.

Tưởng chúng nó bàn luận chuyện gì mới, không ngờ cứ bấy nhiêu lặp đi lặp lại hoài.

Chán ngắt.

Bá Thành ngồi xuống cạnh ông Minh:

- Thưa đại tướng - Anh nói rõ hai tiếng "đại tướng" - Cháu nhận thấy đại tướng đã quy tụ được nhiều thế lực ủng hộ nhưng hình như... không biết đại tướng có chấp nhận ý kiến của cháu không?

-Ồ, toa sao lại khách sáo với moa.

Moa luôn tôn trọng ý kiến của những anh em trẻ nhưng nhiệt tâm như toa.

Toa cứ nói.

Vẫn giữ thái độ e dè, Bá Thành nói:

- Có một lực lượng rất quan trọng đã thúc đẩy độ chín muồi cho cuộc đảo chính năm Sáu ba.

Ông Thiệu rất e dè lực lượng này.

Ông Minh vỗ tay đánh bộp vào thành ghế:

- A!

A!

Toa định nói về thượng tọa Trí Quang?

Như có luồng sinh lực mới, ông Minh ngồi dậy bóp trán.

Ông Minh là phật tử và có mối thâm tình với thượng tọa Trí Quang - một nhận vật kỵ số một với Thiệu mà Mỹ rất ngán.

Trong nhóm chính trị gia ủng hộ tướng Minh đã có sẵn nghị sĩ Mầu, cầm đầu lực lượng hòa giải dân tộc.

Nghị sĩ Mầu cũng là đại diện giới Phật giáo.

Nhưng thượng tọa Trí Quang mới là người có ảnh hưởng chính trị lớn nhất trong giới Phật giáo nói chung và Ấn quang nói riêng.

Nếu ông Minh tìm được tiếng nói ủng hộ cụ thể từ thượng tọa Trí Quang thì chắc chắn Thiệu không còn đường thoát.

Ông Minh lại vỗ tay xuống thành ghế một lần nữa:

- Ngay ngày mai moa sẽ đến chùa Ấn Quang.

Toa rất nhạy bén.

Cám ơn toa đã cho moa một gợi ý sáng suốt.

Không để ông Minh khe thêm, Bá Thành nhắc lại bài báo công khai kế hoạch Sao Chổi của Thiệu:

- Theo đại tướng thì giới ký giả có nên làm một điều gì đó để phản ứng lại kế hoạch bịt miệng báo chí của Thiệu không ạ?

Sực nhớ đến tờ báo của Bá Thành đưa, ông Minh vỗ trán:

- À, lát nữa moa sẽ đọc.

Nhưng moa đã nghe kể nội dung sơ nét.

Moa sẽ đề nghị các anh em tổ chức một cái gì đó đập lại tên gian hùng Thiệu.

Bá Thành thở phào.

Anh đã hoàn tất hơn phân nữa điệp vụ.

Anh cũng toan thông báo cho tướng Minh biết Thiệu đã có một kế hoạch tấn công dinh Hoa Lan nhưng anh kịp giữ lại.

Nếu một cuộc biểu tình quy mô của giới ký giả bùng nổ thì Thiệu chẳng còn hơi sức đâu để tấn công ai khác.

Một động tác thừa thãi có thể dẫn đến nguy cơ lộ diện, tốt nhất là giữ bí mật.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 29


Thiệu ngao ngán nhìn gương mặt phị mỡ lấm tấm mồ hôi của Quang.

Nếu không bị ràng buộc bởi những phi vụ làm ăn của vợ, Thiệu đã cho gã về vườn từ lâu.

Hơn ai hết, Thiệu biết rõ cái gã quân sư an ninh này chẳng làm nên trò trống gì ngoài lòng trung thành tuyệt đối.

Bản chất đa nghi khiến Thiệu không tin ai nhưng với Quang thì Thiệu tin.

Thiệu tin vì biết sự trung thành của Quang được ràng buộc bởi những phi vụ làm ăn.

Nếu không có những phi vụ làm ăn, có lẽ Quang cũng đã bỏ rơi Thiệu như bao nhiêu gã đàn em khác.

Thiệu biết, quốc hội Mỹ dũng đã ngán Thiệu đến tận cổ nhưng vẫn cố duy trì, dù lay lắt.

Cái yếu tố để Mỹ duy trì Thiệu năm trong cụm từ "chống Cộng tuyệt đối".

Thiệu hiểu điều đó nên bám rịt lấy cái phao chống Cộng để Mỹ đừng bỏ rơi mình.

Nhiều khi Thiệu tự cười cợt mình về cái tư tưởng chống Cộng.

Suy cho cùng, chẳng lý do gì để Thiệu căm thù Cộng sản cả.

Họ có làm gì ông đâu.

Có lần một gã nhà báo Mỹ hỏi về lý do chống Cộng, Thiệu suy nghị mất mấy phút mới tìm được một câu khỏa lấp: "Họ gây mất trị an".

Ai muốn hiểu sao cứ hiểu.

Ấy vậy mà một số ký giả ăn lương "đen" của Quang, cong đít rán dương rằng: "Việt cộng gây mất trị an khu vực và quốc tế".

Làm tổng thống sướng thật.

Càng nói những câu tối ý, càng có lý do để người khác suy đoán thành triết lý.

Một câu nói bật cũng trở thành một học thuyết.

Hồi còn là một anh sĩ quan bộ binh quèn, một lần được giao nhiệm vụ chỉ huy trung đội đi tuần tra khu vực ngoại vi căn cứ.

Đang đi tuần, trung đội của Thiệu bất thần chạm mặt hai chiến sĩ Việt Minh đang đi ngược chiều.

Hai chiến sĩ Việt Minh thét to: "Đứng lại, các anh đã bị bắt!".

Thoáng nghĩ, ngoài hai người Việt Minh đó, có lẽ quân phục kích rất đông nên Thiệu... co cẳng chạy một mạch về đến căn cứ.

Tất nhiên đám lính do Thiệu chỉ huy cũng co cẳng chạy theo.

Chạy về tới căn cứ, một anh lính nói cho Thiệu biết là hai người Việt Minh đó tay không vũ khí, đi đơn độc chứ chẳng có quân phục kích nào.

Thiệu bị sĩ quan chỉ huy mắng: "Tôi không tin những lời anh biện minh mà tôi chỉ tin những gì anh mới làm".

Khi trở thành tổng thống, trong một lần độc diễn văn tố cáo láo Việt cộng vi phạm Hiệp định Paris, đồng thời khẳng định quân lực Việt Nam Cộng hòa đủ sức chống chỏi với Việt cộng để cầu xin Mỹ đừng cắt viện trợ, bất thần nhớ đến câu chuyện năm xưa, Thiệu buộc miệng: "Người Mỹ đừng tin lời Việt cộng tố cai Việt Nam Cộng hòa.

Người Mỹ hãy nhìn những chiến thắng mà quân lực Việt Nam Cộng hòa đạt được".

Nói xong, Thiệu toát mồ hôi hột.

May nhờ Quang lanh trí thu xếp cho các ký giả cùng phe sửa lại thành: "Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm".

Ấy vậy cho nên Thiệu giữ sự trung thành của Quang bên mình.

Thiệu cao giọng hỏi Quang:

- Bọn chõ hơi chầu thịt ở dinh Hoa Lan đang mưu đồ đảo chính tôi?

- Thưa Tổng thống, hiện giờ mấy lão chính trị ở đó chưa có động thái rõ ràng.

Đáng lo ngại là sự xuất hiện của lão Timmes.

- Timmes?

Thiệu lo ngại trước thông tin này.

Timmes là một cựu sĩ quan quân đội của Mỹ được CIA sử dụng làm điệp viên chính trị.

Thiệu nhớ tới vụ đảo chính Diệm.

Kích hơi cho vụ đảo chính đó là một gã CIA có vai trò giống như gã Timmes này.

- Timmes thường xuyên lui tới dinh Hoa Lan nhưng cái đám chính trị gia hết thời ở dinh Hoa Lan vẫn không đáng ngại bằng tướng Kỳ.

Timmes cũng mom men đến gặp tướng Kỳ nhiều lần.

- Anh có nghe thằng Kỳ mưu toan gì không?

- Hiện giờ thì chưa nắm được ông Kỳ sẽ làm gì nhưng...

- Nhưng sao?

- Nếu xảy ra đảo chính, lực lượng nào nắm được không quân thì phần thắng nằm trong tay.

Tuy ông Kỳ đã hưu trí nhưng đàn em của ông Kỳ còn trong lực lượng không quân rất đông.

Mình đề phòng ông Kỳ cho an toàn.

- Anh đã làm gì chưa?

- Dạ, em đã cho tổ Tulip Đen bám sát tướng Kỳ.

Chỉ cần có động tĩnh là em cho ám sát ngay.

Giết rắn chỉ cần đập đầu thôi.

Nhưng...

- Nhưng sao nữa?

- Em cần giấy phép đặc biệt cho đám đàn em được ra vào Tân Sơn Nhất tự do hơn.

- Thì giấy của tụi Tulip Đen là giấy ưu tiên đặc biệt rồi.

- Không sử dụng giấy này được.

Lỡ có anh nào bị phát hiện thì ta lòi bản chất...

à không, ta để lộ hành tích.

Tổng thống nên cho sử dụng giấy phép của an ninh quân đội.

- À!

Được rồi.

Anh cần bao nhiêu giấy?

- Càng nhiều càng tốt ạ.

Ta chỉ sử dụng hai nhân viên nhưng đề phòng mất thằng này còn thằng khác thay thế.

- Được rồi.

Anh cứ ghi sẵn danh sách, tôi đích thân mang sang quân đội yêu cầu họ cấp.

Quang mừng húm.

Với loại thẻ đặc biệt này, lính của Quang không còn vùng cấm nữa.

Cả tháng nay vợ Quang mè nheo về chuyện mấy chuyến hàng đặc biệt từ Tam Giác Vàng cứ bị hốt ở sân bay.

Với loại thẻ này, bây giờ đố thằng nào dám xét hỏi.

Chỉ cần một thẻ thôi là Quang đã trúng số mỗi ngày một tờ độc đắc rồi, đằng này có đến mấy chục thẻ.

Thiệu thở dài:

- Tôi vẫn lo ngại đám dinh Hoa Lan.

Lúc nãy, vì cần số thẻ thông hành đặc biệt, Quang đôn sự nguy hiểm của tướng Kỳ lên, bây giờ đã toại nguyện, Quang đẩy vấn đề dinh Hoa Lan lên hàng đầu:

- Bây giờ dinh Hoa Lan trở thành trụ sở quốc hội rồi.

Suốt ngày mấy chả cứ tụ tập ở đó bàn cách lật đổ chúng ta.

Hay là mình hốt trọn ổ một lần?

Ở đó có nhiều thành phần liên can Việt cộng đang bị truy nã, ta đủ chứng cứ để hốt mà không sợ dư luận.

- Nghị sĩ, dân biểu là thành phần bất khả xâm phạm, được miễn trừ... gì quên rồi?

- Được miễn trừ... miễn trừ..., tóm lại là không được phép bắt họ nhưng em đã có cách.

Lẫn lộn trong số đó có nhiều tên đang có lệnh truy nã.

Ta cứ bắt hết.

Bắt xong, ta họp báo cho rằng làm như vậy để thanh lọc Việt cộng nằm vùng, bảo vệ an nguy cho tướng Minh.

Thiệu đoán Mỹ sử dụng dinh Hoa Lan làm thứ áp lực, một loại vòng kim cô đe dọa cái ghế tổng thống của Thiệu.

Mỹ đe dọa theo cái kiểu cao bồi miền Tây: "Anh không nghe lời tôi, tôi sẽ xúi giục tụi nó đảo chính anh đấy".

Bởi vậy, đụng tới dinh Hoa Lan là đụng tới Mỹ.

Nhưng im lặng thì cái gai trong mắt cứ nhức nhối, khó chịu.

Kể từ khi Nixon ra đi trong tai tiếng, Ford trở thành Tổng thống Mỹ.

Nhờ chứa, Ford vẫn ủng hộ Thiệu nhờ cái mác chống Cộng.

Thiệu cần phải chứng minh cho Ford thấy, dinh Hoa Lan là cái ổ Việt cộng để Thiệu là đứa con cưng duy nhất của Mỹ.

Dù ăn không được cũng phải phá cho hôi, Thiệu mím môi bảo Quang:

- Triệt!

Triệt hết đám dinh Hoa Lan.

Ngay bây giờ, ta có đủ yếu tố đánh úp cái ổ này không?

- Dạ, có sẵn lực lượng.

Em đã dự thảo kế hoạch tấn công dinh Hoa Lan từ hơn một tuần nay.

- Có đảm bảo bí mật không?

- Dạ hoàn toàn bí mật.

- Vậy hành động ngay đi.

- Dạ, em thực hiện ngay.

Quang vừa xoay lưng chưa kịp bước đi thì tiếng chuông điện thoại reo đột ngột.

Thiệu cầm ống nghe.

Đầu dây bên kia, giọng đại sứ martin vang ong ỏng:

- Tổng thống chịu khó bước ra hành lang nhìn xuống công viên.

Chúc tổng thống bình yên.

Martin cúp máy ngang.

Thiệu lẫn Quang chạy nhanh lên Tĩnh Tâm lâu nhìn xuống đường.

Sau khi đưa mắt nhìn một lượt quang cảnh dưới đường, Thiệu nhăn mặt hỏi Quang:

- Tụi nó làm gì vậy?

Quang xám mặt:

- Hình như... biểu tình.

Sáng nay em đã yêu cầu tướng Bình thu xếp ngăn cản một vụ biểu tình của tụi ký giả.

Không hiểu thằng nào tiết lộ bí mật kế hoạch Sao Chổi, hôm qua báo Điện Tín đăng nguyên văn.

Thiệu nhăn mặt:

- Chú làm tình báo gì kỳ vậy?

Tạm ngưng kế hoạch tấn công dinh Hoa Lan.

Lo đối phó với vụ này gấp.

Quang không ngờ toàn bộ kế hoạch tấn công dinh Hoa Lan đã được một cơ sở bí mật đang ẩn nấp trong vao một thư ký của Quang gởi vào cho cụm trưởng A10 ngay khi vừa soạn thảo xong.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 30


Từ sáng sớm người ta đã thấy hàng trăm ký giả, nhà văn, nhiếp ảnh gia nổi tiếng của làng báo Sài Gòn hàng ngay ngắn trước cửa trụ sở Hạ viện.

Xung quanh họ là hàng trăm cảnh sát dã chiến đứng đan cánh tay thành hàng rào người hơn 10 lớp.

Bên ngoài những lớp hàng rào cảnh sát là hàng chục ngàn người bao vây gồm giới tài xế taxi, giới xích lô, công nhân của các hãng Mic, Xakibomi, Vifomico, sinh viên, học sinh, Phật tử, ni cô, linh mục, trí thức, tiểu thương, thương phế binh.

Đã được báo tin trước từ tối qua, hàng trăm ký giả, phóng viên ảnh, phóng viên truyền hình của các hãng tin quốc tế len lỏi vào giữa đám đông để tiếp cận sự kiện.

Cánh cửa Hạ viện đang đóng im ỉm chợt bật mở.

Một số dân biểu từ bên trong bước ra chuyền tay nhau phân phát nón lá, gậy và chiếc bị cói cho các ký giả đang xếp hàng.

Trên nón là sơn sẵn hàng chữ "Ngày ký giả ăn mày".

Sau khi trang bị xong dụng cụ, những "người ăn mày" bắt đầu tiến thẳng về hàng rào người cảnh sát.

Một cảnh tượng hỗn độn bắt đầu diễn ra.

Bên ngoài, lực lượng biểu tình xông vô xé hàng rào cảnh sát để những "người ăn mày" thoát ra.

Ở góc phải tòa nhà, có ai đó la lớn: "Cảnh sát đánh người đổ máu ở đây anh em ơi!".

Đám đông kéo dạt sang hướng phát ra tiếng la.

Ở đó, một thanh niên trẻ mặc chiếc áo sơ mi trắng nhuộm đỏ máu đang vật lộn với 4 cảnh sát.

Đám đông xông vào ôm ngang người 4 gã cảnh sát kéo ra đè nghiến xuống đường.

Thấy đồng bọn bị tấn công, đám cảnh sát làm hàng rào kéo dạt qua giải vây.

Nhờ vậy, những người "ăn mày" thoát ra ngoài tiến thẳng về hướng chợ Bến Thành.

Họ đi giữa rừng người đông nghịt.

Đi đến đâu, rừng người vẹt ra chừa lối cho họ đi đến đó.

Nhiều người xúc động gởi vào chiếc bị cói của "người ăn mày" gói xôi, bánh mì, thuốc lá.

Rừng người cùng hòa giọng thét to: "Đả đảo đàn áp báo chí!

Đả đảo bịt miệng dư luận!

Thiệu phải từ chức!".

Từ khắp các ngả đường, rất nhiều xe chở lính, cảnh sát lẫn xe cứu hỏa xuất hiện nhưng chỉ dừng từ xa, bất lực quan sát những dòng người hừng hực nhiệt huyết.

Từng dòng người từ khắp các ngả đường đổ về càng đông.

Trục đường Lê Lợi không còn đủ sức chứa hàng chục ngàn người cùng tuần hành, thế là một dòng người tách ra đi dài theo các tuyến phụ bao bọc xung quanh trung tâm Sài Gòn.

Dòng người này đồng thanh kêu gào Thiệu từ chức, đòi hòa bình, đòi tự do, đòi cơm áo, đòi thi hành hiệp định Paris và kêu gọi cảnh sát, binh lính đào bỏ ngũ đứng về phía đồng bào đấu tranh.

Trên đường đi, dòng người biểu tình vẽ khẩu hiệu bằng nước sơn xuống mặt đường Lê Lợi.

Ở trên bậc thềm Hạ viện, một dân biểu đứng diễn thuyết phân tích việc Thiệu vi phạm hiệp định Paris.

Ở một góc chợ Bến Thành, một ni sư đứng giữa hàng trăm ni cô diễn thuyết kêu gọi Phật tử đứng lên đuổi Thiệu ra khỏi đất nước.

Trên tượng đài, góc đường Phan Đình Phùng một người đàn ông diễn thuyết kêu gọi con chiên của Chúa cùng hợp lực đòi Thiệu trao chính quyền.

Mười Thắng trong vai một tài xế xe ôm ngồi trên chiếc xe Honda 67 dựng sát góc vỉa hè quan sát quang cảnh.

Đây là lần đầu tiên anh hiện diện công khai giữa đường phố trung tâm Sài Gòn, kể từ ngày vào căn cứ.

Không khí rực lửa của cuộc biểu tình khiến anh nao lòng.

Anh không ngờ mức độ thành công của kế hoạch được như thế.

Anh hài lòng vì không uổng công sức thức trắng suốt một tuần điều phối kế hoạch trong nước rút.

Như một nhạc trưởng trong dàn nhạc giao hưởng nhiều cung bậc, anh đã phân công từng nhiệm vụ riêng lẻ cho mỗi mắt xích thực hiện nhiều công đoạn khác nhau.

Điều khó khăn nhất là phải tận dụng đúng thời điểm để bùng nổ cuộc biểu tình đại quy mô này.

Nếu chậm một ngày, có thể tình hình sẽ chuyển biến theo chiều hướng khác, bất lợi cho kế hoạch dài hạn.

Nếu vội vã, bỏ sót một chi tiết, cuộc biểu tình sẽ không đánh trúng huyệt đạo đối phương.

Ngay khi nắm được tin lực lượng ký giả Sài Gòn tổ chức một ủy van "đấu tranh đòi tự do báo chí" để chống lại việc Thiệu ban hành đạo luật số 007 khống chế tất cả những tờ bào Sài Gòn nhằm bịt mọi thông tin bất lợi đối với ông ta, anh đã chỉ đạo một cơ sở xâm nhập vào lực lượng này.

Nếu tổ chức biểu tình trong thời điểm này, Thiệu sẽ dễ dàng đàn áp thẳng tay lực lượng.

Anh chỉ đạo cơ sở, tìm cách kiềm chế ủy ban này, khuyên họ khoan manh động để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ.

Anh biết cái đạo luật 007 vẫn chỉ là một mớ giấy lộn nếu Thiệu không áp dụng cụ thể.

Chắc chắn một ngày không xa, Thiệu sẽ hành động.

Anh biết chắc như thế vì các tờ báo bất chấp đạo luật 007, vẫn tiếp tục chửi rửa Thiệu, Thiệu từ chức.

Đúng như dự đoán, cách nay một tuần, một cơ sở của A10 trú ẩn trong Tổng nha Cảnh sát đã chộp được kế hoạch thực hiện chiến dịch bí mật mang mật danh Sao Chổi gởi vào cứ. bản kế hoạch chiến dịch này nêu rõ chi tiết đàn áp, bắt bớ, khủng bố từng tòa soạn, từng ký giả bằng những thủ đoạn đê hèn nhất, kể cả hành động thuê côn đồ đốt tòa soạn, đánh đập dằn mặt ký giả.

Cùng thời điểm, bọn tay chân Thiệu cũng soạn thảo một kế hoạch đánh úp dinh Hoa Lan.

Kế hoạch này được soạn thảo bí mật, chỉ có Quang và vài thuộc hạ của y biết, khác với kế hoạch Sao Chổi có rất nhiều bộ phận tham gia soạn thảo.

Nếu cho báo chí công bố kế hoạch Thiệu đánh úp dinh Hoa Lan, chẳng khác nào chỉ rõ vị trí của điệp viên đang ẩn thân cạnh Quang.

Nếu để Thiệu đánh úp dinh Hoa Lan, một số điệp viên của Cụm sẽ bị vô hiệu hóa hoạt động.

Anh biết thời điểm đã đến.

Thế là một kế hoạch tấn công chính trị quy mô vào chính quyền Thiệu được khởi động mà tâm điểm "ký giả ăn mày".

Anh huy động tất cả mạng lưới của Cụm vào cuộc.

Đường dây của H2 chịu trách nhiệm kích thích ủy ban "đấu tranh đòi tự do báo chí" tập hợp lực lượng ký giả, tổ chức nón, bị, gậy đi tuần hành "ăn mày", đồng thời ra thông cáo báo chí phát cho các ký giả , phóng viên quốc tế.

Đường dây của H3 chịu trách nhiệm vận động, kích thích các nghị sị, dân biểu ủng hộ cuộc tuần hành "ký giả ăn mày", trong đó, nhân tố chính là Họa sĩ Ớt.

Các mắt xích, đường dây ngoại vi của H2, H3 nằm rải rác ở ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, các nhà thờ, chùa chiền, các trường học, các chợ và 39 lõm chính trị bao quanh Sài Gòn đồng loạt tổ chức xuống đường làm hậu thuẫn cho các ký giả .

Một đoàn sinh viên học sinh đi qua kéo Mười Thắng về thực tại.

Những gương mặt trẻ trung hừng hực khí thế, tay vung lên cao, miệng hô vang khẩu hiệu "Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu độc tài".

Tim anh run lên khi trông thấy Uyển Nhi, cô học trò mà anh dạy kèm trước khi rời Sài Gòn vào căn cứ.

Uyển Nhi thướt tha trong bộ áo dài trắng dẫn đầu một tốp nữ sinh viên, tay cầm khẩu hiệu "Trả hòa bình cho Việt Nam" vung cao.

Như linh cảm, Uyển Nhi ngoái cổ lại nhìn anh.

Ánh mắt cô thoáng chút bối rối rồi sáng lên.

Cô rời đoàn người tiến thẳng đến bên anh.

Khi còn cách anh khoảng 5 bước chân, cô đứng lại.

Anh rất muốn nở nụ cười tươi đón Uyển Nhi nhưng tình thế hiện tại không cho phép anh làm điều đó.

Anh nhìn Uyển Nhi bằng ánh mắt nhìn hững hờ, xa lạ.

- Hình như... anh.... thầy phải không?

Mười Thắng sửa giọng nói:

- Cô muốn đi xe Honda ôm?

Uyển Nhi rụt rè tiến thêm vài bước chân nghiêng đầu nhìn kỹ anh một lần nữa.

Anh lặp lại câu hỏi:

- Cô muốn đi về đâu?

Uyển Nhi chớp chớp mắt, nói nhỏ vừa đủ anh nghe:

- Nếu đúng là anh thì em cũng không cần anh xác nhận.

Em chỉ muốn nói là, anh không đúng như người em đã từng nghĩ.

Em thất vọng về anh.

Giọng cô run run âm điệu trách móc.

Đôi môi chín mọng trĩu xuống biểu lộ trạng thái khinh thị.

Anh không thể trách cô.

Anh đang trong bộ dạng một người chạy Honda ôm bàng quang thời cuộc, an phận kiếm cơm.

Uyển Nhi nhìn thẳng vào mắt anh một lần nữa rồi xoay lưng tất cả cất bước.

Cái dáng nhỏ xinh xắn của cô hòa vào dòng người để lại anh một cảm giác pha trộn vui lẫn buồn đến khó tả.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 31


Sài Gòn đầu tháng Tư như một lò lửa.

Mùa khô đã đến hạn ra đi nhưng cơn mưa đầu mùa vẫn chưa chịu đến khiến không khí cứ hầm hập khó chịu.

Đã vậy, tin chiến sự nóng hỏi ở chiến trường cứ tới tấp bay về càng khiến người ta cứ ngoắc ngoải chờ đợi, mong ngóng một điều gì đó to tát sắp xảy ra.

Từ các quán cà phê cóc trên vỉa hè, các quán bún ốc trong chợ cho đến những nhà hàng sang trọng sóng sánh rượu ngoại, đâu đâu người ta cũng hỏi nhau: Quân giải phóng đã tới đâu rồi?

Giới cá độ Chợ Lớn còn cá cược với nhau khi nào Sài Gòn thất thủ.

Khắp các vỉa hè, phố xá, bến xe, nơi nào người ta cũng bắt gặp một vài anh lính quần áo rách bươm, đầu tóc rối bời, thất thần kể lại cuộc tháo chạy nháo nhào của binh lính ở các chiến trường miền Trung.

Bá Thành ngồi trầm ngâm trong văn phòng tòa soạn, trên tay cầm bản dịch chuyển ngữ một bài báo của hãng tin Mỹ UPI mô tả một chuyến bay của hãng World Airways chở binh lính tháo chạy từ Đà Nẵng về Sài Gòn:

"Khoảng hơn một ngàn người sáng hôm thứ Bảy đã tràn vào phi đạo, đánh đập, giày xéo, bắn nhau để cố leo lên chiếc Boeing 727 của hãng World Airways do USAID thuê bao.

Nhưng cuối cùng "chuyến bay địa ngục" – nói theo văn từ của viên phi công trưởng - vẫn có lắc lư hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

Tất cả 400 người trên máy bay đều an toàn, kể cả một số người ngồi nép mình ở hầm hành lý dưới lườn máy bay, ngoại trừ một người chết nhẹp vì bị bánh máy bay rút vào ép sát.

Sau đây là bài tường thuật chi tiết của phóng viên UPI Paul Vogen đi theo chuyến bay này:

Chiếc Boeing lăn bánh để cất cánh.

Nhưng nhiều người dưới đất vẫn nhào ra một cách tuyệt vọng trước lằn bánh máy bay di chuyển.

Một số binh sĩ dùng cả đại liên bắn theo máy bay.

Khi chúng tôi đáp xuống Tân Sơn Nhất, xác một binh sĩ, khẩu M16 vẫn còn trên vai, đang lắc lư dưới lườn chiếc phản lực.

Tôi đã ở Việt Nam hơn 18 năm và cảnh tượng ở Đà Nẵng hôm thứ Bảy là cảnh thê thảm nhất tôi đã chứng kiến trong đời.

Viên hoa tiêu nói với tôi là ông ta đã bay 75 chuyến không vận Nam Vang từ mấy tuần qua, nhưng "thà tiếp tục bay thêm 300 chuyến như vậy còn hơn là bay thêm một chuyến ra Đà Nẵng".

Trên chuyến bay, những người dân duy nhất là hai phụ nữ và một em bé.

Còn lại tất cả là quân nhân.

Số quân nhân đã bị quân cảnh bắt giữ ngay khi xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

Hầu hết trong số này thuộc đơn vị Hắc Báo được coi là tinh nhuệ nhất của Sư đoàn 1 bộ binh.

Một phóng viên Việt Nam đã chứng kiến tường tận cảnh tướng Ngô Quang Trưởng liều mình nhảy xuống biển bơi ra một chiếc tuần dương hạm đậu ngoài khơi để đào thoát.

Ông Trưởng sắp chết đuối thì được một bộ binh sĩ và phóng viên Việt Nam - người chứng kiến sự việc - bơi dìu ra tận chiếc tuần dương hạm".

Bá Thành sẽ cho đang bài báo này để người dân Sài Gòn thấy sự hoảng loạn tháo chạy của binh lính.

Anh trích dẫn thêm một mẫu tin Tổng thống Ford trả lời phỏng vấn tờ Washington Post: "Có lẽ sự cần thiết lúc này Việt Nam Cộng hòa nên vứt bỏ Thiệu".

Anh chỉnh sửa một vài chi tiết rồi mang bài báo sang phòng thư ký.

Sau đó, anh lấy hồ sơ nhà báo Pháp Paul Leandri – phó văn phòng AFP tại Sài Gòn - bị sát hại tại trụ sở Tổng nha Cảnh sát, cho vào cặp.

Khi ra đến cửa, trông thấy một con chuột mập ú lao ngang chân, một thoáng ý nghĩ chạy quanh qua tâm trí, anh nghĩ, Thiệu cầm tinh con chuột, năm nay là năm Mão, kỵ tuổi Thiệu.

Thiệu rất tin vào những trò bói toán.

Anh đi ngược trở vào gặp viên thư ký, bảo:

- Anh biết nơi ở của chiêm tinh gia Huỳnh Liên không?

Viên thư ký nhìn anh ngạc nhiên:

- Anh cũng tin vào những thứ mê tín đó à?

Viên thư ký hấp háy đôi tròng kính cận hỏi tiếp:

- Huỳnh Liên là thầy bói riêng của Thiệu thì em biết.

- Anh đến đó lấy một quẻ bói cho Thiệu giùm tôi.

Số báo ngày mai cũng cần đăng một quẻ bói cho Thiệu.

Anh làm cách nào đó cho quẻ bói dành cho Thiệu càng thê thảm càng tốt.

Đã hiểu ý anh, viên thư ký nói:

- Nếu vậy, ta cho đăng luôn tin miếu trấn yếm cung mạng của Thiệu ở Bình Thuận bị trời đánh?

- Thật hả?

- Thật.

Hôm qua, cộng tác viên có gởi một cái bài kể vụ này, có ảnh chụp nữa.

Em ngại mấy vụ mê tín dị đoan nên không gởi cho anh duyệt.

Bá Thành cười:

- Nếu những tin liên quan đến vận mệnh xúi quẩy của Thiệu thì cứ cho đăng.

Thời điểm này, hù dọa bóng vía ông ta càng nhiều càng tốt.

- Dạ, em hiểu.

Bá Thành buồn cười trước sự mê tín đến mê muội của Thiệu.

Khi vừa ngồi ghế tổng thống chưa ấm đít, Thiệu đã cho mời ông thầy bói Huỳnh Liên đến dinh Độc Lập trấn yểm tà ma.

Lúc đó, cột cờ của dinh Độc Lập ở dưới đất, ngay trước tiền sảnh, cạnh dài phun nước.

Lão thầy bói Huỳnh Liên kéo tay Thiệu ra đứng dưới đường, sau nhà thờ Đức Bà chỉ về hướng dinh Độc Lập bảo: Cái dinh Độc Lập giống như hình con tàu cháy nếu để cột cờ ở đó.

Màu cờ ba que là... ngọn lửa, còn màu máu nước phun cao là... khói tỏa.

Thế là Thiệu cho dời cột cờ lên nóc dinh.

Thầy bói Huỳnh Liên còn bàn: Dinh Độc Lập là đầu rồng, tượng trưng cho quyền lực của vị vua là Thiệu.

Đầu rồng ngoi lên trên ngay phần đất cao là hợp lý.

Mình rồng chạy lượn theo các trục đường Côn Lý, ẹo xuống bến Bạch Đằng, ưỡn lên đường Tự Do ngoặt qua đường Duy Tân rồi... chìm nghỉm đuôi dưới đất.

Huỳnh Liên khuyên Thiệu nên xây cái gì đó cho đuôi rồng ngóc cao lên.

Hỏi cái đuôi đang chìm ở đâu thì Huỳnh Liên chỉ dấu tích tượng đài "chiến sĩ vô danh" của Pháp xây ngày xưa đã bị quân đảo chính Diệm đập phá.

Nghe lời Huỳnh Liên, Thiệu cho xây ngay cái hồ Con Rùa ngay góc đường Duy Tân.

Thiệu còn chi tiền cho Huỳnh Liên đi khắp miền Nam tìm 4 yếu huyệt trấn yểm.

Thiệu tin rằng, làm như vậy, Thiệu sẽ mãi mãi được làm vua.

Anh không tin đánh vào tâm trạng mê tín làm cho Thiệu từ bỏ tham vọng quyền lực nhưng đó sẽ là một trong những yếu tố cộng thêm để tác động tâm lý của Thiệu.

Cụm trưởng đã vào Sài Gòn trú ẩn trong nhà một cơ sở từ cả tháng nay để chỉ đạo lưới hoạt động.

Anh đã cùng cụm trưởng phân tích, đánh giá mọi khả năng giãy chết của địch.

Địch liên tiếp tháo chạy khỏi Buôn Mê Thuật, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang và bây giờ co cụm tại tuyến phòng thủ cuối cùng lại Xuân Lộc.

Nếu ta đánh vỡ phòng tuyến Xuân Lộc, tiến thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch, một cuộc phản kháng trong thế đường cùng của địch sẽ biến Sài Gòn thành một bãi chiến trường hoang tàn, đổn nát.

Trước áp lực của Mỹ, Thiệu đã chuẩn bị tư thế rút lui nhưng không vội vã.

Thiệu vẫn ngoan cố bám lấy cái ghế tổng thống lay lắt của y.

Có thể Thiệu cố tình trì hoãn cho đến khi chính quyền miền Nam chẳng còn gì để mất hòng trả đũa sự buông tay của Mỹ.

Nhiệm vụ của anh lúc này là "khích lệ" Thiệu ra đi càng sớm càng tốt.

Những bài báo đánh vào tâm lý mê tín của Thiệu sẽ là một phát đạn hòa vào lưới đạn tấn cống của Quân giải phóng nhắm vào hướng chính quyền Thiệu.

Bá Thành lái chiếc xe Ladalat rời tòa soạn hướng về dinh Hoa Lan.

Cuộc biểu quyết của Thượng viện Sài Gòn đòi Thiệu từ chức vừa diễn ra.

Cho rằng cuộc biểu quyết này do tướng Minh đạo diễn, Thiệu trả thù bằng cách ra lệnh cho cảnh sát bắt hàng loạt chính trị gia đã từng có mặt ở dinh Hoa Lan như nhà báo Kiên Giang – Hà Huy Hà, Tô Nguyệt, Văn Mại, Quốc Phượng, Sơn Nam, linh mục Nguyễn Ngọc Lan, kỹ sư Châu Tâm Luân, Ngân – Nguyên trợ lý của Thiệu... trong đó có nhân vật nội tuyến của Cụm.

Một số nhân vật khác, kể cả Bá Thành, chắc chắn sẽ bị Thiệu tiếp tục bắt, anh cần làm một điều gì đó để ngăn chặn tình thế này.

Mặc dù không bị bắt vì lộ diện hoạt động tình báo nhưng trong tình thế cấp bách hiện tại, không thể để người của Cụm bị bó tay chân trong phòng giam trong khi các hoạt động đang cần nhiều nhân lực.

Vì vậy, anh cần gặp tướng Minh.

Bá Thành cho xe rẽ vào ngoặt vào cổng dinh.

Một tốp cảnh sát áo trắng cầm dùi cui đứng chắn giữa cổng ra hiệu cho anh dừng xe.

Đã chuẩn bị trước tình huống này, Bá Thành cầm tấm thẻ "ưu tiên đặc biệt" chìa cho gã cảnh sát.

Nếu không có lá bùa hộ mạng này, anh đã bị bắt trong vụ Thiệu trả đũa Thượng viện từ mấy ngày qua.

Nhờ F7 là "đệ tử ruột" của tay cố vấn an ninh trong Phủ Tổng thống, Bá Thành mới có tấm thẻ đặc biệt này.

Gã cảnh sát trả lại tấm thẻ, khoát tay ra hiệu cho Bá Thành vào cổng.

Tướng Minh ngồi trầm ngâm một mình trong thư viện, tay cầm tách trà đầy đã nguội ngắt từ bao giờ.

Vừa trông thấy Bá Thành, ông mừng rỡ:

- Đúng là cầu được ước thấy.

Moa vừa nghĩ tới toa thì toa xuất hiện ngay.

Moa đang định nhờ toa mấy việc.

Quá quen với câu chào ngoại giao của tướng Minh, Bá Thành chìa tay ra bắt, miệng nói:

- Cháu chúc đại tướng đầy sức khỏe và vững tinh thần trong thời điểm này.

Vừa rót trà cho khách, tướng Minh vừa làu bàu:

- Thằng Thiệu láu cá thiệt.

Tuần trước thằng Kỳ bắt được hai thằng sát thủ lởn vởn gần dinh của nó.

Hai thằng mật vụ khai, nó có nhiệm vụ theo dõi từng bước đi của Kỳ, nếu Kỳ có dấu hiệu động binh là ám sát ngay.

Tuy đã biết rõ vụ này nhưng Bá Thành vẫn vờ la hoảng:

- Thiệt vậy sao?

Hèn gì ông Martin lần mò tới gặp Kỳ.

Tướng Minh ngạc nhiên:

- Ông đại sứ Mỹ gặp Kỳ?

- Dạ đúng, Cháu có người bạn làm việc trong Phi Long.

Người bạn cháu cho biết, tướng Timmes dẫn ông Martin đến gặp Kỳ.

Tướng Minh giãn gương mặt, cười:

- Thủ thuật của bọn Mẽo đó.

Thằng Timmes cũng mò đến chỗ moa.

Tũi Mẽo sợ thằng tướng cao bồi làm ẩu, đảo chính Thiệu, làm hư ván cờ chính trị cuối cùng của chúng.

Mẽo muốn chính Thiệu từ chức để già Hương ngồi ghế Tổng thống.

Bá Thành thăm dò:

- Thiệu nhờ Martin thực hiện động thái giả này?

- Không đời nào - Tướng Minh lại cười – Martin muốn dọa Thiệu đó.

Nếu anh không sớm từ chức thì tôi sẽ xúi thằng cao bồi đảo chính anh đó.

Anh liệu hồn đi nhé.

Đó, thăm Kỳ để nói với Thiệu như vậy đó.

Bá Thành vờ thắc mắc:

- Ông Thiệu có hiểu lời răn đe đó không?

- Thiệu không đủ thông minh hiểu điều đó nếu không có người giải thích.

Toa làm điều đó đi.

Chỉ cần toa cho đăng một cái tin ngắn cho biết ngài đại sứ Mỹ có một chuyến ghé thăm Kỳ bí mật là Thiệu quắn đít.

- Nhưng một tờ Điện Tín sẽ không đủ...

- Yên tâm.

Moa sẽ bảo mấy đứa nhỏ rỉ tai với các tờ báo khác để đăng tin đồng loạt.

Bá Thành cố giấu nét vui mừng vì đã đạt được thêm một mục tiêu.

Tướng Minh đưa tay xoa trán một lúc rồi cất tiếng:

- Moa nhờ toa một chuyện nghen?

Nghe câu ngoại giao này nghe nhiều lần nhưng trong bối cảnh này, Bá Thành hiểu ông Minh cần anh làm giúp chuyện gì đó.

Anh sốt sắng:

- Cháu rất vinh dự được làm điều gì đó có ích cho đại tướng.

Cháu biết,mọi việc của đại tướng đều vì dân tộc.

Gởi tia nhìn vào xa xăm, tướng Minh nói giọng trầm buồn:

- Nói thật lòng, moa không còn ham hố gì đến địa vị nữa.

Moa đã quá hiểu cái bản chất của Việt Nam Cộng hòa rồi.

Thà làm dân một đất nước độc lập, thống nhất, còn hơn làm tổng thống một cái chế độ lệ thuộc ngoại bang.

Trong tình hình này, nếu già Hương giữ cương vị tổng thống, thời gian giãy chết của chế độ sẽ kéo dài ngoắc ngoải, càng thêm khổ dân chúng.

Moa phải giành lấy cớ để trao cho Quân giải phóng càng sớm càng tốt.

Bá Thành nhìn ông Minh.

Một số người cho rằng ông Minh không biết là chính trị.

Anh nghĩ khác.

Anh nghĩ tướng Minh không thuộc dạng tham vọng chính trị.

Đã từng giữ cương vị quốc trưởng của chính quyền miền Nam, ông hiểu sâu xa các chính trường ngụy tạo, giả hiệu do Mỹ dựng lên.

Những chính trị gia bao quanh ông mới là những người thúc đẩy ông tham chính.

Nói chính xác hơn là họ núp bóng ông, lấy ông làm biểu tượng quyền lực đối chọi với thế lực đương quyền.

- Nếu Thiệu trao quyền cho già Hương, moa sẽ tổ chức một đại hội nhân sĩ, trí thức để ra một tuyên cáo chống chính phủ của già Hương.

Moa biết chắc chính phủ của Hương sẽ là một "chính phủ của Thiệu nhưng không có Thiệu".

Địa điểm sẽ thông báo sau.

Thời gian được chọn là ngay sau khi Thiệu trao quyền tổng thống cho già Hương.

Toa giúp mua phiên dịch bản thông cáo này ra tiếng Anh, Pháp để phân phát cho các ký giả quốc tế.

Tướng Minh với tay lấy từ trên kệ xuống một xấp tài liệu đưa cho Bá Thành, căn dặn:

- Bí mật tối đa nhé.

Moa chỉ tin tưởng mỗi mình toa trong việc này.

Bá Thành nhận xấp hồ sơ từ tay tướng Minh:

- Cháu hứa sẽ hoàn tất sớm việc dịch thuật và giữ bí mật tuyệt đối.

- Tòa soạn cho moa danh sách các ký giả quốc tế luôn thể.

Chỉ chọn những ký giả ủng hộ hòa bình thôi nhé.

- Dạ.

Bá Thành đứng lên sửa soạn kiếu từ.

Tướng Minh nói bâng quơ một mình:

- Giá như có cách nào đó để moa gặp trực tiếp một đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì hay biết mấy.

Bá Thành hơi chột dạ.

Anh không hiểu câu nói của tướng Minh có ẩn chứa ý gì.

Có thể tướng Minh đã đoán biết anh là người của Mặt trận nhưng cũng có thể tướng Minh chỉ bộc phát tức thời ý nguyện.

Dù thế nào đi nữa, anh cũng không cho phép mình tắc trách.

Anh trả lời cầm chừng:

- Cháu nghĩ, sẽ có lúc Mặt trận sẽ cử người tìm gặp đại tướng.

- Moa cũng mong vậy.

Bá Thành đón bàn tay của tướng Minh nắm chặt trước khi xoay người.
 
Điệp Báo A10 - Nông Huyền Sơn
Chương 32 (Chương cuối)


Một buổi sáng tháng 4 năm 2010, trong căn phòng nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh, một ông lão tầm thước, có đôi mắt thông minh và mái tóc bạc trắng ngồi đối diện với một nữ nhà báo trẻ, thuộc thế hệ 8X.

Đó là ông Trần Quốc Hương - người chỉ huy nhiều mạng lưới tình báo cách mạng hoạt động trong lòng địch ở miền Nam trước năm 1975.

Ông đang kể cho cô nhà báo nghe về một góc chỏ của cuộc chiến tranh vĩ đại giải phóng dân tộc mà ông là người trong cuộc.

Cô nhà báo sinh ra trong thời kỳ đất nước bước vào giai đoạn đổi mới và trưởng thành trong thời kỳ phát triển kinh tế.

Khái niệm về chiến tranh đối với cô mơ hồ, trừu tượng.

Vì vậy, ông chỉ hướng câu chuyện vào những góc khuất nhỏ, những góc khuất ít người biết để minh họa thêm cho một khúc ngoặt thời gian.

Điều đó, những nhân chứng như ông, ít ai biết.

Nếu so với pho lịch sử của đất nước thì điều đó quá nhỏ nhoi, cùng lắm được các nhà viết sử ưu ái ghi một vài dòng ngắn gọn.

Nhưng nếu so với một đời người sống trọn vẹn trong thời bình yên, phồn thịnh thì những góc khuất nhỏ ấy trở thành vĩ đại.

Những góc khuất nhỏ ấy chất chứa rất nhiều điều, kể mãi không cạn.

Ông khiêm tốn nhận mình chỉ là một nhân chứng lịch sử cuộc kháng chiến của dân tộc nhưng những gì ông đã cống hiến khiến cho pho lịch sử ấy dày thêm rất nhiều trang.

Tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám, ông là một trong những thanh niên ưu tú của chính quyền non trẻ.

Năm 1954, khi hai miền đất nước bị chia cắt sau hiệp định Genève, ông được Trung ương biệt phái vào Nam để xây dựng, huấn luyện và chỉ huy một số mạng lưới điệp viên hoạt động trong lòng địch.

Kể từ đó, tuổi trẻ của ông trôi theo dòng lịch sử kháng chiến miền Nam trong trận tuyến tình báo.

Ông thấu hiểu những nhân vật tình báo của ông là một khuân mẫu hoàn toàn khác với những khuôn mẫu của mọi đất nước phồn vinh hiện đại.

Họ đã cống hiến không vụ lợi, không trả treo với lịch sử và ra giá với bản thân.

Nhờ giá trị đó, họ luôn chiến thắng.

Như sinh ra để hoạt động tình báo ông luôn chiến thắng, kể cả lúc bị địch bắt vào năm 1958.

Biết ông là tình báo cao cấp, địch sử dụng mọi biện pháp để lung lạc ý chí ông rồi sau đó mua chuộc.

Không khuất phục được chúng đã đưa ông vào danh sách 200 tù nhân cần thủ tiêu, nhưng chưa kịp thực hiện thì cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm xảy ra.

Ra khỏi tù, ông về Hà Nội.

Năm 1968 Trung ương Cục miền Nam xin Trung ương chi viện ông về chiến trường miền Nam.

Lần vào Nam này, ông giữ vai trò Phó Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam phụ trách An ninh đô thị và Trinh sát vũ trang, đồng thời kiêm nhiệm chức vụ Trưởng ban An ninh Sài Gòn - Gia Định.

Đây là thời điểm ông tổ chức, xây dựng và chỉ huy nhiều Cụm tình báo hoạt động trong lòng chính quyền địch, trong đó có cụm tình báo A10.

Bằng giọng chậm rãi, khúc chiết, ông kể:

- Trong lịch sử thế giới, trận đánh quyết định cuối cùng của chiến tranh luôn biến sào huyệt của kẻ chiến bại thành một bãi hậu chiến đổ nát, hoang tàn.

Duy nhất chỉ có thành phố Sài Gòn được giải phóng nguyên vẹn.

Để làm được điều đó, ta phải vận dụng rất nhiều bộ phận quân sự, chính trị, nghiệp vụ phối hợp chiến đấu. tất cả bộ phận đó, mỗi anh một việc, mỗi anh một vị trí nhưng đều tập trung cho nỗ lực giải phóng Sài Gòn nguyên vẹn.

Như một dàn nhạc giao hưởng, một bộ phận thực hiện một cung bậc khác nhau bằng các loại nhạc cụ khác nhau nhưng có cùng một nhịp, cùng một nhạc phẩm.

Nếu Trần Văn Hương không chịu trao quyền Tổng thống cho Dương Văn Minh mà tiếp tục ra lệnh Sài Gòn tử thủ thì Quân giải phóng buộc lòng đánh sâu vào nội đô.

Trước sau gì thì ta cũng giải phóng xong nhưng mỗi ngày kéo dài thêm cuộc chiến là danh sách người chết dài thêm.

Phố phường sẽ đổ nát vì giao tranh.

Chính cụm tình báo A10 đã góp phần không nhỏ trong việc tạo động lực thúc đẩy ông Minh quyết tâm giành lấy chính quyền để giao cho Cách mạng.

Sau này, khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Minh luôn khẳng định Huỳnh Bá Thành là người tác động quan trọng nhất để ông tuyên bố đầu hàng, trao chính quyền cho Quân giải phóng.

Sáng ngày Hai mươi chín tháng Tư năm Bảy lăm, khi Quân giải phóng đập tan tuyến phòng thủ cuối cùng của địch và đã tiến quân đến sát cầu Sài Gòn, một đơn vị biệt động quân của địch được lệnh đặt mìn phá hủy cầu để chặn bước tiến của quân ta.

Huỳnh Bá Thành đã nhờ Huy - một vị dân biểu là con rể của Dương Văn Minh bạn thân của chỉ huy đám lính biệt động quân chốt giữa cầu Sài Gòn - yêu cầu đừng phá sập cầu.

Lúc ấy Sài Gòn rất náo luận nhưng Huy vẫn đến được tận chân cầu gặp trực tiếp tay chỉ huy yêu cầu giữ nguyên cây cầu với lý do: chừa đường cho đám tàn quân ở Long Khánh chạy về Sài Gòn.

Nhờ vậy, xe tăng và quân của ta có đường xâm nhập vào thành phố...

Chờ ông ngưng lời nhấp ngụm trà, cô nhà báo trẻ hỏi:

- Thưa ông, vì sao gọi A10 là tình báo chính trị ạ?

Ông cười hồn nhiên:

- Có lẽ trên thế giới chưa có hoạt động tình báo nào như cụm A10.

Họ không được trang bị bất kỳ máy móc, thiết bị nào cả. tất cả các thành viên của cụm đều không có đồng lương nào.

Hoạt động vì lòng yêu nước, vì nhiệt tình tuổi trẻ và vì cách mạng.

Gọi là tình báo chính trị vì hoạt động của cụm luôn bám các chủ trương của địch mà đánh.

Đánh bằng chính trị.

Tính từ năm Bảy hai đến đầu năm Bảy lăm, Thiệu ban hành hơn sáu mươi sắc lệnh để thủ tiêu quyền dân chủ, khủng bố tất cả những ai không đồng ý với ông ta.

Thông qua A10 Thành ủy đề ra các khẩu hiệu cho từng giới, từng ngành, từng thời điểm để đấu tranh với Thiệu.

A10 đã linh hoạt để xoay chuyển hình thức, quy mô đấu tranh chính trị một cách linh hoạt, phù hợp, sát thực tế nên lôi kéo, cuốn hút được nhiều thành phần trung gian, nhiều sĩ quan, binh lính, nhân viên ngụy quyền giúp phong trào đấu tranh biểu tình vừa có hiệu quả, vừa bảo toàn được lực lượng, góp phần thúc đẩy nhanh sự khủng hoảng chính trị trong chính quyền Sài Gòn.

A10 đã làm các sắc lệnh của Thiệu bị vô hiệu , thậm chí để biến các sắc lệnh ấy trở thành chứng cứ tố cáo Thiệu.

- Hầu hết những thành viên của A10 đều không qua đào tạo nghiệp vụ tình báo?

Ông lại cười:

- Đúng.

Nếu có thì chỉ là những buổi nói chuyện mang tính bình luận thời sự hơn là học nghiệp vụ.

Mỗi thành viên A10 đều tự tìm cho mình một phương thức hoạt động.

Ấy vậy mà, suốt thời gian hoạt động, cho đến ngày toàn thắng không một thành viên nào của Cụm A10 bị địch phát hiện.

Nhắc chuyện này khiến tôi nhớ đến một nữ giao liên của A10.

Cô này là em vợ Bá Thành, lúc đó đang là sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn, chưa từng tham gia phong trào sinh viên lần nào và hoàn toàn chưa có kinh nghiệm hoạt động bí mật.

Thời điểm đó, Bá Thành bị theo dõi nên không thể tiếp xúc trực tiếp với H3.

Thế là Bá Thành nhờ cô em vợ này trao một tài liệu quan trọng cho H3.

Bá Thành dặn cô đến địa chỉ hẹn, chờ gặp một người thanh niên.

Nếu anh ta nói đúng và trả lời đúng mật khẩu thì giao tài liệu được hóa trang thành điếu thuốc lá.

Sau lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ thành công, cô này xin được nhận nhiệm vụ luôn mà không biết đó là làm tình báo.

Sau này, khi đó là nhiệm vụ tình báo thì cô đã trở thành một cán bộ đầy kinh nghiệm từ bao giờ.

Cô nhà báo toan hỏi thêm điều gì đó, ông ôn tồn bảo:

- Khi đất nước thống nhất rồi, một số anh em trong A10 được chuyển về công tác tại Công an Thành phố, một số chuyển sang làm báo, luật sư. một số khác vẫn tiếp tục ẩn thân hoạt động, bước vào cuộc chiến đấu thầm lặng khác để bảo vệ an ninh tổ quốc và giữ bình yên cuộc sống cho mọi người.

Hồi mới hòa bình, tôi chỉ đạo "đại úy bác sĩ thủy quân lục chiến" Khánh Duy vẫn ra trình diện quân cách mạng như bao nhiêu anh em binh sĩ ngụy khác.

Khánh Duy vẫn đi học tập cải tạo.

Nhưng sau đó, vì thấy không cần thiết duy trì vỏ bọc đó, Khánh Duy được chuyển về công tác tại Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện giờ, Khánh Duy là giám đốc một trung tâm cai nghiện ma túy tự nguyện ở Thanh Đa; Minh Trí là luật sư trưởng văn phòng luật sư Trí Việt; Hai Phương là một nhà báo; Ba Hoàng đã mang hàm Thiếu tướng Công an...

Có người đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng, có người đang được đề nghị.

Ngưng một chút, ông nói tiếp như để kết thúc cuộc trò chuyện:

- Không thể kể hết tất cả mọi thứ được.

Với tình báo, chạm vào bất kỳ điểm nào, ngóc ngách nào cũng có thể biến nó thành một câu chuyện dài nhiều tình tiết...

Ông nhắm nghiền mắt, dựa người vào thành ghế nghỉ ngơi.

Sức khỏe của ông dạo này không được tốt lắm.

Nhưng tiềm ẩn trong cơ thể yếu ớt vì tuổi già đó, một sức sống mãnh liệt luôn tồn tại.

Trại sáng tác Đà Lạt 2009

Trại sáng tác Nha Trang 2010

Nông Huyền Sơn.
 
Back
Top Bottom