Cập nhật mới

Ngôn Tình Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương

Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 160


Nhưng đã bất lực, lưỡi đao trong tay hắn bị đối phương đánh rơi. Trang Hưởng cầm đao đ.â.m thẳng vào tim Hàn Nguyên, lạnh lùng nói:

“Ngươi một mình lên phía Bắc, chẳng phải muốn đến báo tin cho Hoắc U Châu sao? Đáng tiếc, tin này ta không thể để ngươi truyền đi. Không ai được phép phá hỏng đại sự của Kỷ Đại Tư Mã.”

Hắn mạnh tay rút đao ra, m.á.u b.ắ.n tung tóe đầy đất.

Trang Hưởng nhìn sang người còn lại, dứt khoát ra lệnh:

“Chúng ta dọn sạch nơi này, sau đó ngươi đi báo cho quân dọc đường. Ta sẽ đến Trầm Viên Đạo.”

---

Phủ Giả tiết.

Hôm nay đã là ngày thứ chín, nhưng vẫn chưa có tin tức về con gái.

Sáng nay, không biết vì mấy ngày liên tiếp ngủ không yên hay vì lý do nào khác, mí mắt phải của Bùi Oanh cứ giật liên hồi.

Người ta thường nói “mắt trái giật là tài, mắt phải giật là tai,” trước đây Bùi Oanh không phải người mê tín, những lời này nghe rồi bỏ qua. Nhưng qua từng ngày không nhận được tin tức về con gái, nàng dần dần thấy bất an.

Những ngày này, Hoắc Đình Sơn đều cùng nàng dùng bữa. Giống như mọi khi, thấy nàng ăn không được mấy miếng, lại bắt đầu đếm hạt cơm, hắn liền lấy một cái bát nhỏ, gắp mấy món t.hịt bỏ vào, rồi giao nhiệm vụ cho nàng.

“Phu nhân, sáng nay ta lại nhận được một tin.” Hoắc Đình Sơn nói.

Bùi Oanh ngước mắt nhìn, ánh mắt đầy vẻ oán trách.

Những ngày gần đây, hắn ngày nào cũng nói nhận được tin. Nhưng khi nàng hỏi là tin gì, hắn lại luôn bảo đợi ăn xong rồi nói.

Có những tin chẳng quan trọng, chỉ là mấy chuyện lặt vặt báo cáo thường lệ. Nhưng dù biết rõ, nàng vẫn không thể không mắc lừa hết lần này đến lần khác, vì thực sự không muốn bỏ lỡ chút tin tức nào có thể liên quan đến con gái.

Bùi Oanh thường có ảo giác, nàng giống như con thỏ, còn hắn cầm cần câu với củ cà rốt treo lủng lẳng phía trước để dụ nàng.

Nàng đang định lấy cái bát nhỏ, thì đúng lúc đó, Hoa Đại Giang vội vã chạy đến báo:

“Đại Tướng quân, Chủ mẫu, lại nhận được thư rồi!”

Vẫn là giấy dâu có điểm chu sa đỏ.

Thư từ Trường An gửi đến.

Mảnh giấy dâu được điểm chu sa đỏ, nàng không thể quen thuộc hơn. Trước đó, chính những bức thư như vậy đã khiến nàng lo âu, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần.

Và giờ đây, loại thư này lại xuất hiện.

Bùi Oanh không thể ngồi yên, nàng đứng dậy định đi lấy thư, nhưng vừa đến bên cạnh Hoa Đại Giang thì lại có vệ binh vào báo:

“Đại Tướng quân, trong sân phát hiện rất nhiều phong thư đỏ.”

Vệ binh tới bẩm báo cầm không ít phong thư đỏ trong tay, mỗi phong đều giống hệt những phong thư trước.

“Sao lại nhiều như vậy?” Bùi Oanh kinh ngạc.

Một cánh tay dài vươn ra từ bên nàng, cầm lấy bức thư trong tay Hoa Đại Giang.

Hoắc Đình Sơn mở thư, ánh mắt lướt qua nội dung bên trong, con ngươi liền khẽ siết lại.

Bùi Oanh đứng bên cạnh, thấy hắn mở thư thì tò mò ghé mắt nhìn, nhưng không ngờ hắn lại nhanh chóng dùng ngón tay gấp thư lại.

Nàng nhìn thấy trên thư có chữ, nhưng cụ thể nội dung thì không thấy rõ.

Bùi Oanh nghi hoặc hỏi:

“Hoắc Đình Sơn, trên thư viết gì vậy?”

Hắn cân nhắc từ ngữ, đáp:

“Đối phương ở đây có cài cắm ám trạm, có lẽ thấy phu nhân mấy ngày nay không hành động, nên gửi thư thúc giục.”

Bùi Oanh đưa tay ra muốn lấy thư:

“Đưa ta xem.”

Hoắc Đình Sơn không đưa.

Trong mắt Bùi Oanh thoáng hiện vẻ nghi hoặc, ngay khi nàng bắt đầu nghi ngờ nội dung trong bức thư liệu có thật sự nhẹ nhàng như hắn nói hay không, lại có vệ binh đến báo.

Lần này người đến không mang thư, mà cầm theo một chiếc trâm vàng cẩn ngọc hình bướm, thân trâm bằng vàng, cánh bướm được khắc từ ngọc, chế tác vô cùng tinh xảo. Nhưng hiện tại, trên trâm dính máu, một bên cánh ngọc của bướm đã gãy, lộ ra vết vỡ lởm chởm.

Đó chính là trâm cài của con gái nàng.

Ngày hôm đó, Linh Nhi rời nhà, cài chính chiếc trâm này.

Sắc mặt Bùi Oanh bỗng chốc trắng bệch, tựa như có một bàn tay vô hình cầm búa tạ, đập mạnh vào thái dương nàng, khiến đầu óc choáng váng.

Mặt đất dưới chân dường như từng tấc, từng tấc biến mất. Những gì nàng đang đứng không còn là nền đất vững chắc, mà là một sợi dây thép mảnh treo lơ lửng. Gió mạnh bất ngờ thổi qua, dây thép điên cuồng lắc lư, nàng không còn đứng vững, trượt chân rơi xuống vực sâu.

Hoắc Đình Sơn kịp thời đỡ lấy nàng:

“Phu nhân, đừng để trúng kế địch.”

Tâm trí mơ hồ của Bùi Oanh dần dần tụ lại:

“Thư… thư đưa ta xem!”

Thế nhưng hắn chỉ ôm lấy nàng, không nói lời nào. Trong đôi mắt dài hẹp của hắn, nàng thoáng thấy một nét phức tạp. Trái tim nàng rơi xuống từng chút một, tựa như đang chìm trong băng tuyết. Cuối cùng, không đợi hắn đưa thư, nàng tự mình vươn tay giật lấy phong thư.

Lần đầu giật không được, hắn nắm c.h.ặ.t không buông.

Bùi Oanh vừa lo lắng vừa tức giận, trong mắt dần ngấn nước:

“Hoắc Đình Sơn, trong thư viết gì? Có phải…”

Hắn rốt cuộc thả tay, để mặc nàng lấy đi bức thư.

Bùi Oanh vội vã mở thư ra.

Nội dung thư viết:

“Mau đến Trường An. Hôm nay nếu không rời khỏi thành, sẽ c.h.ặ.t một ngón tay con gái ngươi.”

Bùi Oanh choáng váng, thư rơi khỏi bàn tay vô lực, lả tả đáp xuống đất.

Hoắc Đình Sơn nhíu mày, bế nàng vào gian phòng nhỏ, đặt lên giường. Cúi xuống nhìn, thấy nàng đã nước mắt giàn giụa.

Có người khi khóc sẽ gào thét, đứt ruột đứt gan. Có người lại nức nở, như bị ai bóp nghẹt cổ, không thể thở. Nhưng nàng khóc, chỉ lặng lẽ để nước mắt tuôn rơi, không làm ồn, không náo loạn. Nước mắt thành từng chuỗi, lăn dài xuống, thấm ướt cả y phục của nàng và hắn.

Hoắc Đình Sơn chỉ cảm thấy trong lòng như bị một con d.a.o nhỏ nhúng nước muối đ.â.m qua. Cơn đau ban đầu còn nhẹ, nhưng càng về sau càng thấu xương. Hắn đưa tay lau nước mắt cho nàng, những ngón tay thô ráp vuốt qua khóe mắt, nhanh chóng bị những giọt lệ làm ướt.

Rõ ràng chỉ sai người đến Trường An thiêu hủy nhà cửa vẫn chưa đủ. Tên họ Kỷ kia đáng ra nên bị ngàn đao xé xác ngay tức khắc.

“Hoắc Đình Sơn, hắn nói muốn c.h.ặ.t ngón tay của con gái ta.” Bùi Oanh nói, hàng mi dài rũ xuống, chớp mắt một cái, nước mắt lại rơi:

“Ta…”

“Bùi Oanh, nàng tin ta không?” Hắn nắm lấy tay nàng, bao trọn trong bàn tay rộng lớn của mình.

Tầm nhìn của Bùi Oanh đã mờ đi, dường như không thể thấy rõ gương mặt hắn, nhưng lại có thể cảm nhận được hơi ấm từ bàn tay ấy, vững vàng và đáng tin cậy.

Nhưng…

Không khí như ngưng đọng.

Hoắc Đình Sơn có thể nhìn thấy sự do dự và bối rối trong mắt nàng. Nàng giống như con thỏ bị kinh động, đôi mắt đỏ hoe, bị những điều bên ngoài làm xáo trộn tâm trí, dường như đã bắt đầu cân nhắc liệu có nên rời khỏi nơi yên ổn này.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 161


Nàng không nói gì, sau đó hắn cũng im lặng, chỉ còn lại hai nhịp thở khác biệt vang lên trong không gian tĩnh lặng.

Người nam nhân chậm rãi cúi mắt, đúng lúc này, hắn nghe được một tiếng “Ừm” rất nhẹ. Âm thanh ấy nhỏ đến mức tựa như lông vũ khẽ rơi, dù thính lực của Hoắc Đình Sơn rất nhạy bén, hắn cũng thoáng ngỡ rằng mình nghe nhầm.

Hắn đột nhiên ngẩng đầu lên, trước mặt là người phụ nữ đang ngấn lệ nhìn hắn. Hoắc Đình Sơn khẽ nuốt nước bọt, giọng nói trầm thấp: “Phu nhân…”

“Ta tin ngươi.” Bùi Oanh khẽ nói, “Hoắc Đình Sơn, ta tin ngươi.”

Hôm nay là ngày thứ chín kể từ khi con gái mất tích. Từ Trầm Viên Đạo đến Trường An, dù phi ngựa không ngừng nghỉ cũng phải mất nửa tháng. Nếu con bé thực sự đã lên đường, sao có thể có chuyện “Hôm nay không rời thành, c.h.ặ.t một ngón tay con gái ngươi”?

Những lời hắn nói trước đây là đúng, đây chỉ là âm mưu của kẻ địch, không thể để bản thân rơi vào bẫy. Nếu nàng đến Trường An, chẳng khác nào uống rượu độc giải khát.

Con gái chưa được tìm thấy, giờ mở lòng vui mừng có lẽ không thích hợp. Nhưng Hoắc Đình Sơn vẫn nhếch môi cười: “Chỉ cần phu nhân tin ta là đủ.”

“Đại tướng quân, có việc gấp cần bẩm báo.” Bên ngoài có người gọi.

Lông mày Hoắc Đình Sơn giật nhẹ, hắn đứng dậy rời khỏi giường: “Ta ra xem thử.”

Vừa bước đi, vạt áo của hắn bị Bùi Oanh nắm lại.

Nàng vừa khóc một hồi, sức lực đã mất đi phần lớn, lúc này chỉ níu lấy một góc áo, lực không mạnh, đối với hắn chỉ như gió thoảng qua, chỉ cần nhẹ nhàng giằng ra là được.

Nhưng Hoắc Đình Sơn lại dừng bước, hắn xoay người lại, đứng bên giường. Ánh nắng từ cửa sổ nghiêng nghiêng rọi vào, chiếu lên bóng dáng cao lớn trong bộ y phục đen, tựa như một con mãnh thú mọc răng nanh và vuốt sắc.

Chỉ là, lúc này, mãnh thú như bị cột dây cương, không thể động đậy dù chỉ một chút.

“Để hắn vào đi, ta cũng muốn nghe xem có chuyện gì quan trọng.” Bùi Oanh lau mắt, nhẹ giọng nói.

Hoắc Đình Sơn chẳng biết làm sao, chỉ đành gọi người vào.

Trải qua hai lần nghe báo tin xấu, dù biết lần này mang đến tin tức tốt, nhưng dưới ánh mắt sắc lạnh đầy áp lực của hắn, Hoa Đại Giang vẫn không tránh khỏi cảm giác da đầu tê dại: “Đại tướng quân, đã bắt được kẻ rải thư, có khả năng đây là ám điệp. Chỉ cần tra khảo một chút, chắc chắn sẽ moi được không ít tin tức.”

Không khí nặng nề lập tức dịu đi.

Gương mặt tái nhợt của Bùi Oanh cuối cùng cũng có chút sắc hồng trở lại: “Có manh mối rồi? Thật tốt quá.”

Quả thật có manh mối. Sau khi tra hỏi, tên ám điệp được chôn ở Trầm Viên Đạo không chịu nổi cực hình, đã khai ra toàn bộ nhóm do thám ẩn náu trong thành. Hoắc Đình Sơn nhân cơ hội này quét sạch toàn bộ thành, đồng thời thu thập được một số thông tin quan trọng.

Rất có thể bức thư trên là phương án dự phòng.

Từ Trường An đến đây quá xa, việc đưa tin qua lại trong chín ngày thực sự không dễ. Với những sự việc quan trọng, luôn phải có phương án chính và dự phòng. Lẽ nào không để lại lối thoát nào sao?

Lần này, những bức thư được tung ra khắp nơi, cách phát tán này dường như cố ý muốn người khác biết. Trong đó, người lo lắng thực sự chỉ có phu nhân của hắn sao?

Hoắc Đình Sơn dùng khớp ngón tay gõ nhẹ lên án thư: “Sa Anh, ngươi dẫn năm trăm người xuống phía Nam; Lan Tử Mục, ngươi dẫn năm trăm người đi về phía Tây, dọc đường chia quân mà tiến, vòng qua các thành, tập trung tìm kiếm ở vùng ngoại thành.”

Nha đầu rất có thể đã tự mình trốn thoát.

Nếu quả thực như vậy, cần tập trung phần lớn binh lực ở vùng ngoại ô, bởi hiện giờ nàng không nơi nương tựa, chẳng khác gì dân lưu lạc. Việc vào thành tìm chỗ trú chân là không thể.

Hai người nhận lệnh, nhanh chóng dẫn binh đi.

---

Đêm hôm đó, Hoắc Đình Sơn bị những tiếng nói mê làm tỉnh giấc.

“Đừng c.h.ặ.t tay của Linh Nhi ta…”

Nam nhân khẽ thở dài trong lòng, đang định vỗ về nàng, để nàng ngủ yên giấc hơn, thì vừa đưa tay ra đã chạm phải một cơ thể nóng bỏng như lửa.

Hiện đang là mùa hè, trong phòng họ đã đặt các bồn đá lạnh, nhưng dù như vậy, nàng vẫn như một lò lửa.

Hoắc Đình Sơn lập tức tỉnh táo hoàn toàn.

Chỉ chốc lát sau, ánh đèn trong viện chính sáng rực như ban ngày.

Phùng Ngọc Trúc thu tay lại sau khi bắt mạch cho Bùi Oanh, nói: “Mạch của phu nhân căng mà sáp, khí huyết không thông, điều này là do uất kết trong lòng mà thành. Tâm hỏa quá vượng dễ sinh nhiệt tà. Mong phu nhân cố gắng giữ tâm trạng thoải mái, không nên gấp gáp. Ta sẽ kê hai thang thuốc, sau khi dùng canh thuốc hạ sốt khoảng hai canh giờ, sẽ uống thêm một thang an thần.”

Tân Cẩm nhận lệnh đi sắc thuốc.

Phùng Ngọc Trúc là một đại phu giỏi bậc nhất, đứng đầu nhóm y quan trong quân đội U Châu. Ngày thường, ai đau đầu cảm mạo chỉ cần tìm ông lấy một thang thuốc, uống vào là khỏi ngay.

Nhưng lần này, viện chính mấy lần truyền lệnh triệu ông, ông hết lần này đến lần khác mang theo hòm thuốc tới, thang thuốc cũng sắc hết lượt này đến lượt khác, vậy mà Bùi Oanh uống vào vẫn không có tác dụng. Ban ngày uống thuốc xong có thể hạ sốt được một chút, nhưng đến tối lại tái phát.

Nàng cứ ngày một héo mòn, bầu không khí trong viện chính cũng mỗi ngày một nặng nề. Bọn nô bộc làm việc cẩn thận gấp mười lần bình thường, sợ làm phật ý nam nhân vốn cũng đang ngày càng trở nên thất thường.

“Phu nhân, dùng chút mứt nhé.” Hoắc Đình Sơn lấy từ chiếc hũ sứ nhỏ ra một viên mứt, đưa tới bên môi nàng.

Bùi Oanh vừa uống xong thuốc, miệng đắng ngắt, không muốn ăn thứ ngọt gắt này, nàng khẽ lắc đầu: “Không cần đâu.”

Hoắc Đình Sơn cương quyết áp viên mứt lên môi nàng: “Ta nói nàng nghe một tin vui, nha đầu đã tìm được rồi.”

Bùi Oanh lập tức ngồi bật dậy: “Tìm được rồi? Linh Nhi bây giờ ở đâu? Bao giờ con bé về?”

“Nàng ấy cách Trầm Viên Đạo vẫn còn một đoạn, để trở về cần thêm chút thời gian. Phu nhân hiện thân thể không khỏe, phải mau chóng hồi phục mới được, nếu không nha đầu về nhìn thấy sẽ đau lòng lắm.” Hắn dường như cố chấp với viên mứt, kiên trì đưa tới trước miệng Bùi Oanh.

Lần này Bùi Oanh mở miệng, ăn viên mứt: “Cần thêm chút thời gian là bao lâu?”

Hoắc Đình Sơn trầm ngâm một lát: “Ít nhất mười ngày.”

“Hoắc Đình Sơn, ngài không được lừa ta?” Bùi Oanh nghi hoặc.

Người này có chút gì đó không đúng. Tin tức quan trọng như Linh Nhi được tìm thấy, sao lại đợi đến khi nàng uống thuốc xong mới nói, mà không phải vừa vào đã báo ngay?

“Ta khi nào lừa phu nhân?” Hắn vẻ mặt như thường.

Bùi Oanh nghĩ một lát: “Lần hoàng đế Triệu băng hà.”

Hoắc Đình Sơn khẽ ho một tiếng: “Chỉ một lần đó thôi.”

Bùi Oanh tin hắn, nỗi uất kết trên mày cũng dần tan, trong mắt có chút ánh sáng: “Tìm được là tốt, tìm được là tốt…”

Đêm ấy, Bùi Oanh ngủ yên hơn hẳn mấy ngày trước. Nhưng nàng không hay biết, sau khi nàng ngủ say, người nam nhân bên cạnh nàng hiếm thấy rời khỏi viện chính.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 162


Hoắc Đình Sơn đi đến thư phòng.

Trần Uy, Trần Dương cùng các thủ hạ khác đã đợi sẵn trong thư phòng. Nhìn thấy hắn bước vào, tất cả đồng loạt hành lễ, sau đó mới báo cáo:

"Đại tướng quân, vừa nhận được tin từ Lan Trung tướng truyền về, phía Tây vẫn chưa phát hiện tung tích tiểu thư."

Từng người một báo cáo, đến người cuối cùng cũng không mang về được manh mối nào, ngày hôm nay vẫn như hạt cát trôi qua tay.

"Tiếp tục tìm." Hoắc Đình Sơn sắc mặt không đổi, lại chỉ định thêm hai người: "Trần Uy, Trần Dương, hai ngươi mỗi người dẫn theo một nghìn người, tiến về phía Nam."

Nhận lệnh xong, mọi người lần lượt rời khỏi thư phòng.

Trong phòng chỉ còn lại Hoắc Đình Sơn, người nam nhân cao lớn lặng lẽ ngồi sau án thư. Ngọn đèn bên cạnh cháy leo lét, ánh sáng mờ nhạt, không đủ xua đi tầng bóng tối đang quẩn quanh nơi đáy mắt hắn.

Có lẽ vì ánh đèn quá mờ, nơi tóc mai của hắn lấp lánh vài sợi bạc ánh lên dưới ánh sáng yếu ớt. Một lúc nào đó, tấm lưng thẳng tắp của hắn khẽ khom xuống, như bị gánh nặng vô hình đè ép.

---

Hay tin con gái đã được tìm thấy, bệnh tình của Bùi Oanh dần có chuyển biến tích cực. Sau khi uống thêm một ngày thuốc, cơn sốt cao đã hoàn toàn thuyên giảm. Dẫu thân thể vẫn còn yếu, nhưng so với mấy ngày trước đã khá hơn rất nhiều.

Bệnh khí của Bùi Oanh dần tan đi, không khí trong chính viện cũng từ mùa đông lạnh lẽo chậm rãi chuyển sang hơi thở của mùa xuân.

Trong mắt các nha hoàn, mọi việc đều đang tiến triển theo hướng tốt. Nhưng chỉ riêng Hoắc Đình Sơn biết rằng, bên dưới lớp băng mỏng manh ấy, dòng chảy ngầm vẫn đang cuộn trào mãnh liệt.

Thoáng chốc đã ba ngày trôi qua, hôm ấy, khi Bùi Oanh và Hoắc Đình Sơn đang dùng bữa trưa, bên ngoài có người hối hả chạy vào.

"Đại tướng quân, phu nhân, tiểu thư đã về phủ!" Hoa Đại Giang mặt đầy nét vui mừng, nói: "Tiểu thư đi cùng Trần Sứ quân trở về, ta thấy sắc mặt của tiểu thư rất tốt."

Đáy mắt Hoắc Đình Sơn thoáng hiện vẻ kinh ngạc. Hắn hít một hơi sâu, rồi nhếch môi cười nhẹ: "Về là tốt rồi."

Bùi Oanh không nhận ra sự khác lạ nơi người nam nhân đối diện. Nàng hoàn toàn chìm đắm trong niềm vui sướng khi biết con gái đã về phủ trước tận sáu ngày. Bỏ cả bữa trưa, nàng kéo Hoắc Đình Sơn bước ra ngoài nghênh đón.

Vừa đi đến chính viện, Bùi Oanh đã nhìn thấy một bóng dáng nhỏ nhắn rẽ qua góc hành lang phía trước.

Thiếu nữ mặc bộ y phục không mấy vừa vặn, có lẽ là mua vội trên đường, chẳng phải kiểu áo do các thợ thêu đo may cẩn thận như lúc ở nhà. Thế nhưng, sự sắc sảo nơi con người nàng lại chẳng hề bị che khuất.

Phải, ngoài bộ y phục ra, điều Bùi Oanh chú ý nhất chính là khí chất của con gái mình đã thay đổi rõ rệt sau chuyến đi xa nhà.

Giống như điều gì nhỉ?

Có lẽ giống như một thanh đao vừa được mài giũa sắc bén.

Trước đây, nàng là một thanh đao được điêu khắc tinh xảo, tuy nhiên chưa từng khai nhẫn. Mọi người chú ý đến lớp vỏ bọc đẹp đẽ, hoa lệ bên ngoài. Nhưng nay, khi lưỡi đao ấy được mở ra, ánh sáng lạnh lẽo sắc bén lập tức bừng lên nơi mũi nhọn.

Bùi Oanh không màng đến lễ nghi, nàng chạy tới ôm chầm lấy con gái, trong mắt ánh lên lệ quang, vừa mừng vừa xúc động: "Con gái của ta, con về là tốt rồi. Con gầy đi nhiều, chắc chắn ở bên ngoài đã chịu không ít khổ sở..."

"Mẫu thân, con đã không làm tròn bổn phận, khiến người và phụ thân phải lo lắng." Mạnh Linh Nhi cúi đầu xin lỗi, vòng tay ôm lấy mẫu thân mình.

Bất ngờ, nàng cảm thấy trên đỉnh đầu có một bàn tay rộng lớn, ấm áp khẽ vỗ về.

"Bị bắt đi nhưng vẫn nhanh chóng trở về, không hổ là nữ nhi của Hoắc Đình Sơn ta."

Mạnh Linh Nhi vùi đầu vào lòng mẫu thân, khép mắt lại, nơi khóe mắt lặng lẽ trào ra một giọt nước mắt. Giọt lệ ấy không một tiếng động, thấm sâu vào áo của Bùi Oanh.

---

Trường An

Màn đêm buông xuống, canh gác vừa đổi, người tuần canh vốn nên trở về nghỉ ngơi lại không quay về nơi trú ngụ ngay, mà rẽ hướng, lặng lẽ tiến về khu vực của quyền quý Trường An.

Khi tới bên tường thành của một phủ đệ rộng lớn, đã có vài người nam nhân tụ tập ở đó, người cao kẻ thấp, gầy béo không giống nhau, nhìn qua tựa như thường dân, chứ không phải binh tốt ngày ngày rèn luyện.

Mấy người hội hợp, tên béo đẩy xe gỗ bắt đầu lấy từng hũ dầu từ trên xe xuống, rồi leo lên chiếc thang gỗ đã dựng sẵn, đổ toàn bộ dầu qua tường.

Giữa đêm khuya tĩnh lặng, tiếng dầu chảy róc rách không khỏi vang vọng. Nhưng nhờ tính toán khéo léo, bọn chúng tránh được lộ trình tuần tra trong phủ, khiến không ai hay biết dị động.

Chỉ trong chốc lát, mấy hũ dầu lớn đều đã đổ hết.

Tên béo khẽ gật đầu với người tuần canh và tên lùn, hai người liền lùi ra sau, lấy những túi da chứa dầu chưa được cột c.h.ặ.t miệng, dùng sức ném mạnh qua tường.

“Là kẻ nào ngoài kia dám gây chuyện?!” Bên trong vang lên tiếng quát chói tai.

Bên ngoài, bọn chúng không hề tỏ ra hoảng loạn, nhanh chóng rút ra hỏa chiết tử đồng loạt thổi mạnh.

Trong nháy mắt, mỗi người cầm trong tay một bó đuốc lớn.

Chúng ném hàng loạt hỏa chiết tử qua tường, sau đó lập tức chạy trốn. Bên trong, lửa nhanh chóng bùng lên dữ dội, cả phủ rơi vào cảnh hỗn loạn.

“Cháy rồi! Mau tới cứu hỏa!”

“Khốn kiếp! Là bọn chuột nhắt phương nào dám gây náo loạn ở Tư Mã phủ?!”

---

Phủ Giả tiết, thư phòng.

Hoa Đại Giang tiến thẳng vào thư phòng:

“Đại tướng quân, vừa nhận được tin chiến báo từ Hoài Cổ Quan. Quân Kinh Châu đại phá liên quân Ích Châu và Ung Châu. Đại đô đốc Ích Châu, Mục Thiên Thu, đã bị tướng Kinh Châu, Lý Cùng Kỳ, c.h.é.m ngã ngựa.”

Nghe xong, sắc mặt một số người trong thư phòng liền biến đổi.

“Mục Thiên Thu c.h.ế.t rồi?”

“Kẻ này, muội muội là sủng cơ của Ngụy Ích Châu. Dù nhờ vậy mà được gia nhập quân đội Ích Châu, nhưng hắn đứng vững trong quân ngũ là nhờ bản lĩnh thực sự. Từ một lính quèn leo lên đến chức Đại đô đốc, quả là kẻ có thể hàng phục hổ báo, vậy mà lại c.h.ế.t dễ dàng thế sao? Ta từng nghĩ rằng hắn và Lý Cùng Kỳ chí ít cũng có thể đánh ngang tay.”

Hoa Đại Giang lại báo:

“Hai người mới giao phong chưa qua ba hiệp, Mục Thiên Thu đã bị Lý Cùng Kỳ dùng thương xà mâu sắt đánh ngã ngựa.”

Trong các trận chiến lớn, ngoài việc dùng đại quân xung kích, còn có một cách ít phổ biến hơn nhưng rất hiệu quả để quyết định thắng thua nhanh chóng – đó là tướng quân hai bên đơn độc giao đấu.

Tướng lĩnh đôi bên đọ sức, kết quả không chỉ quyết định thắng bại mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lòng quân và sĩ khí.

Khâu Tả vuốt cằm trầm tư:

“Việc này ta không lấy làm lạ. Lý Cùng Kỳ hung danh đã lan xa, khiến trẻ nhỏ Kinh Châu nghe tên cũng khóc thét không thôi. Nghe đâu hắn là hóa thân của hung thú Cùng Kỳ. Hồi trẻ, hắn từng sát hại một phú thương, sau đó trốn vào chùa, giấu tên làm hòa thượng chuyên ăn t.hịt và uống rượu. Trong thời gian này, hắn lại sát hại không ít sơn tặc tới tìm rắc rối. Tông Lục Kỳ biết được sự hung hãn của hắn, bèn chiêu nạp vào dưới trướng, phong quan tiến chức.”

Công Tôn Lương nhớ lại một chuyện:

“Hơn một năm trước, Kinh Châu và Dự Châu từng xảy ra tranh chấp. Lý Cùng Kỳ dẫn binh tấn công trực diện vào Dự Châu, thế quân như mãnh hổ, liên tục c.h.é.m g.i.ế.t mấy hiệu úy của Dự Châu, khiến cả vùng khiếp đảm.”

Khi đó, hoàng đế Triệu vẫn còn tại vị, triều đình trên cao kiềm chế, các Châu mục khi ban chức cho thuộc hạ không dám phong vượt quá giới hạn. Như Hoắc U Châu, dù rất trọng dụng Trần Nguyên, cũng chỉ để hắn giữ chức hiệu úy.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 163


Rất có thể, những hiệu úy ở Dự Châu bị g.i.ế.t lúc ấy, có lẽ đều là cánh tay đắc lực của Lôi Dự Châu.

Trần Thế Xương nói: “Tên Lý Cùng Kỳ này quả thật có chút lai lịch. Không biết hắn và Hùng Mậu đơn đả độc đấu, rốt cuộc ai thắng ai bại.”

Hoắc Đình Sơn gõ ngón tay lên án kỷ, chậm rãi nói: “Bất kể thắng bại, giờ đây Thống lĩnh quân Ích Châu đã bị chém, quân Ích Châu như rắn mất đầu, không còn khí thế. Quân Ung Châu chỉ có bảy vạn, lại từng chịu bại trận, sĩ khí suy sụp. Nếu Chu Viêm Vũ vẫn có thể giành được Hoài Cổ Quan, thì trước kia đã chẳng đến mức vô danh như vậy.”

Chỉ có thể tóm trong một câu, Hoài Cổ Quan xem như hết hy vọng.

Công Tôn Lương bấy giờ nói: “Chủ công, ngài hai lần từ chối lời mời liên minh của Tòng Lục Kỳ, lại còn c.h.é.m sứ giả của hắn, chỉ e đối phương sẽ vì thế mà ghi hận. Có câu tiên lễ hậu binh, giờ đây chiến sự Hoài Cổ Quan đại cục đã định, e rằng Lý Cùng Kỳ sẽ bị điều đến Trầm Viên Đạo.”

“Hắn đến thì cứ đến. Ta cũng muốn xem thử con mãnh thú Cùng Kỳ này lợi hại đến mức nào.” Hoắc Đình Sơn không chút để tâm.

Sứ giả từ Kinh Châu đúng là do hắn chém, đến bao nhiêu c.h.é.m bấy nhiêu. Tòng Lục Kỳ ngay cả kế sách dịch bệnh, loại thủ đoạn vô sỉ, tàn nhẫn và độc ác như vậy mà cũng nghĩ ra, thì dù hắn đầu thai mười tám lần cũng chẳng phải người cùng đường với Hoắc Đình Sơn.

Hoắc Đình Sơn bắt đầu phân chia nhiệm vụ: “Nếu đối phương xuất binh, cũng chỉ trong mấy ngày tới. Sa Anh, ngày mai ngươi dẫn binh ra ngoài, chiếm lấy huyện Linh Ôn ở phía Tây, coi đó là tuyến phòng thủ đầu tiên.”

Từng nhiệm vụ được giao xuống, hôm nay cuộc nghị sự kết thúc.

Khi mọi người lần lượt rời khỏi thư phòng, Trần Nguyên lấy ra từ trong lòng một quyển danh sách nhỏ: “Đại tướng quân, đây là danh sách thương vong của Hắc Giáp Kỵ kể từ khi nam chinh Kinh Châu. Trong lần xuất trận này, Hắc Giáp Kỵ bị thương ba mươi người, Lư Tử Long, Hàn Nguyên và Hứa Hóa...”

Trần Nguyên kể gần mười cái tên: “Tổng cộng tám người hy sinh. Theo ghi nhận của các Thập trưởng, địch quân có hơn sáu trăm người, bị g.i.ế.t ít nhất một nửa.”

Hắc Giáp Kỵ là đội quân tinh nhuệ mà Đại tướng quân hao tâm tổn sức gây dựng, lấy một địch hai là chuyện thường. Nhưng tinh nhuệ không có nghĩa là bất bại, cũng không tránh khỏi thương vong.

Hoắc Đình Sơn cầm lấy quyển danh sách lật xem.

Danh sách không dày, nhưng cũng có mấy trang. Phần đầu ghi lại những Hắc Giáp Kỵ bị trọng thương trong chuyến đi, thông tin từ số hiệu đội, quê quán, thời gian nhập ngũ đến chức vị đảm nhiệm.

Phần sau là danh sách tử sĩ, viết theo cùng tiêu chuẩn. Từ khi nam chinh đến nay, hai nghìn quân Hắc Giáp Kỵ tử trận chưa đến năm mươi, không quá một phần bốn mươi.

Hoắc Đình Sơn lật từng trang, xem rất cẩn thận, rồi nói: “Chép lại một bản danh sách tử sĩ, sai người đưa về U Châu trước. Tiền tuất của những người đã hy sinh phải phát ngay. Những gia đình không còn trai tráng, tiền tuất tăng gấp đôi... không, gấp ba lần. Như trước đây, báo cho Huyện lệnh hoặc Đình trưởng địa phương, đặc biệt chiếu cố gia quyến tử sĩ, không được để bọn vô lại ức h**p.”

U Châu nay đã không còn là U Châu thâm hụt ngân sách trước kia, giờ đây U Châu rất giàu có, tuyệt đối không được bạc đãi những binh sĩ liều mạng vì hắn.

Hoắc Đình Sơn lại giao thêm nhiệm vụ cho Trần Nguyên: “Lỗ hổng trong Hắc Giáp Kỵ, ngươi chọn người bổ sung vào.”

Trần Nguyên đáp: “Tuân mệnh.”

Sau khi bẩm báo xong, lẽ ra Trần Nguyên nên lui ra, nhưng Hoắc Đình Sơn lại bảo:

"Vội gì chứ, ngồi xuống nói chuyện đi. Nói xem mấy ngày tiểu thư mất tích, ngươi và nàng tiến triển thế nào rồi?"

Trần Nguyên thở dài, lúng túng: "Đại Tướng quân..."

"Vừa rồi nói năng đâu ra đấy, giờ chỉ hỏi vài chuyện nhỏ lại ngập ngừng thế này." Hoắc Đình Sơn hừ lạnh, ánh mắt đầy vẻ soi xét, nhìn đâu cũng thấy không thuận mắt. "Ngươi, tiểu tử này, có phải đã làm điều gì khuất tất không?"

Trước đây, hắn thấy Trần Nguyên cũng không tệ, tính cách trầm ổn, ít lời mà hiệu quả, không phiền phức. Nhưng giờ nhìn lại, cái kiểu ba búa không ra được một chữ, đến lúc cần nói lại lề mề như thế, chẳng có chút khí khái nam nhân nào.

Trần Nguyên nghiêm mặt: "Thuộc hạ không dám mạo phạm tiểu thư."

Hoắc Đình Sơn nghiêng đầu, cười nhạt: "Không dám? Vậy là ngươi đã từng nghĩ đến rồi."

Trần Nguyên: "…"

"Ngươi tìm thấy tiểu thư khi nào? Lúc đó đã xảy ra chuyện gì?" Hoắc Đình Sơn hỏi, rõ ràng mang theo nhiệm vụ.

Người giao nhiệm vụ: Chính là phu nhân nhà hắn.

Nữ nhi trở về, họ đã hỏi qua tình hình mấy ngày đó, nhưng có lẽ không muốn phụ mẫu lo lắng, nha đầu chỉ đáp qua loa rằng "sau khi chạy trốn đã gặp được Trần Nguyên," rồi không nói gì thêm.

Đêm qua, phu nhân trằn trọc không ngủ, cuối cùng giao cho hắn nhiệm vụ thăm dò. Chuyện nhỏ nhặt, Hoắc Đình Sơn nhanh chóng nhận lời.

Trần Nguyên im lặng một lát, sau đó tóm gọn kể lại mọi chuyện trong những ngày đó.

Bọn họ rời khỏi ngôi làng nhỏ, chạy xuống phía Nam để tránh truy binh. Những ngày đó không dám vào thành, chỉ nghỉ lại ở những nơi hoang dã, chờ cắt đuôi kẻ đuổi theo mới quay trở lại Trầm Viên Đạo.

Nghe xong, Hoắc Đình Sơn xoay chiếc nhẫn ngọc trên tay, lời nói đầy hàm ý:

"Nữ nhi ta, không thể gả cho một Trung Hộ quân nhỏ nhoi."

Trần Nguyên cúi đầu: "Thuộc hạ hiểu."

Hoắc Đình Sơn thấy nói nhiêu đó là đủ, liền đứng dậy rời khỏi thư phòng.

Trần gia là một trong những gia tộc phụ thuộc vào Hoắc gia. Từ năm mười bảy tuổi, Trần Nguyên đã cống hiến sức mình cho quân đội U Châu.

Từ góc độ của người bề trên, đây là chuyện hiển nhiên, cũng là bổn phận của họ. Nếu không có Hoắc gia, nếu không có sự nâng đỡ và bồi dưỡng không ngừng trong những năm qua, Trần gia làm sao có được địa vị như ngày nay?

---

Sau khi con gái trở về, Bùi Oanh cuối cùng cũng an tâm, bắt đầu có tâm tư suy nghĩ chuyện khác.

Ví dụ như làm thủy tinh.

Nguyên liệu chính để làm thủy tinh bao gồm cát thạch anh, soda (natri cacbonat), và đá vôi. Soda có thể lấy từ các mỏ tự nhiên hoặc sản xuất nhân tạo.

Mỏ soda tự nhiên ở Trung Quốc chủ yếu tập trung ở Hà Nam và Nội Mông, trong đó số lượng lớn nhất nằm ở Nội Mông. Hà Nam chính là vùng đất Dự Châu thời cổ, còn Nội Mông thuộc các khu vực như U Châu, Tịnh Châu và Lương Châu.

Hà Nam thì gần, nhưng đáng tiếc Dự Châu hiện nay không thuộc quyền kiểm soát của họ, không thể lén lút lấy soda. Nội Mông thì có, nhưng họ đã di chuyển xuống phía Nam, khoảng cách quá xa.

Sau khi cân nhắc, Bùi Oanh quyết định tự sản xuất soda.

Nàng chọn phương pháp soda amoniac, vì nguyên liệu chính đơn giản, chỉ cần đá vôi, muối thô và khí amoniac, không phức tạp như phương pháp liên hợp cần phải tổng hợp amoniac.

Bùi Oanh nhìn vào cuốn sổ tay nhỏ, ánh mắt dừng lại ở dòng ghi phương trình hóa học, đặc biệt chú ý đến khí amoniac.

Trong nước tiểu của con người có chứa urê, mà urê có thành phần amoniac. Khi đun nóng nước tiểu, có thể thu được khí amoniac.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 164


Hiệu suất quá thấp, urê chỉ là một phần rất nhỏ trong nước tiểu, chiếm khoảng 2%, hơn nữa khi đun nóng, urê cũng không hoàn toàn chuyển hóa thành khí amoniac.

Bùi Oanh chìm vào trầm tư.

Khi Hoắc Đình Sơn trở về vào buổi trưa, hắn liền trông thấy nàng ngồi đờ đẫn bên án kỷ, hồi lâu chẳng động đậy. Hắn không khỏi nhướng mày dài, cất giọng trêu chọc:

"Đang học tăng nhân tọa thiền sao? Đừng học nữa, nàng đã có phu quân, mà phu quân lại trường thọ như nàng, phu nhân định sẵn không vào được cửa Phật rồi."

Bùi Oanh chỉ liếc hắn một cái rồi không thèm đáp lời, tiếp tục nhìn quyển sổ nhỏ trên án kỷ.

Hoắc Đình Sơn ngồi xuống bên cạnh nàng, ánh mắt cũng hướng đến quyển sổ, nhưng thấy bên trong không có lấy một chữ, chỉ toàn là những ký hiệu ngoằn ngoèo. Hắn hỏi:

"Đây là văn tự của nơi phu nhân từng ở sao?"

"Không phải, đây là phương trình hóa học." Bùi Oanh đáp.

Hoắc Đình Sơn lập tức tỏ vẻ hứng thú. Hắn luôn tò mò về thời đại của nàng:

"Cái gì là phương trình hóa học?"

Bùi Oanh: "…" Đây thật sự làm khó nàng.

"Ngươi có thể hiểu nó như quá trình biến đổi của vật chất, giống như ngươi hành quân đánh trận, từ một thành đến một thành khác, chính là tuyến đường ngươi đi qua." Bùi Oanh cân nhắc giải thích.

Hoắc Đình Sơn gật đầu, chỉ vào công thức hóa học của amoniac, hỏi tiếp:

"Phu nhân, ký hiệu đơn lẻ này lại đại diện cho cái gì?"

"Là một loại khí không màu nhưng có mùi." Thấy hắn hào hứng, dáng vẻ không hiểu rõ thì không chịu buông, Bùi Oanh đành phải giải thích thêm:

"Làm thủy tinh cần vài nguyên liệu, có những nguyên liệu không có tại chỗ, ta nghĩ đến việc dùng vật này đổi lấy vật khác, nhưng sau đó phát hiện nguyên liệu để thay thế lại rất khó tìm."

Nói đến đây, Bùi Oanh thở dài:

"Điều kiện quá đơn sơ."

Công nghiệp hiện đại sử dụng phương pháp Haber để tổng hợp amoniac, trộn khí nitơ và khí hydro lại, rồi thực hiện phản ứng trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao. Nhưng bất kỳ một nguyên liệu hay điều kiện nào trong phương pháp này đều đủ để chặn đứng bước tiến của nàng.

Hoắc Đình Sơn suy ngẫm lời nàng vừa nói:

"Phu nhân bảo có nguyên liệu không ở bên cạnh, vậy có phải thứ đó tồn tại trong thế gian, nhưng chỉ là ở nơi khác?"

Bùi Oanh ngạc nhiên trước sự nhạy bén của hắn:

"Đúng vậy."

Hoắc Đình Sơn cười nhạt một tiếng:

"Phu nhân cần thứ gì, cứ nói thẳng ra. Cho dù nằm trong phủ của kẻ họ Kỷ ở Trường An, ta cũng sẽ mang về cho nàng."

Bùi Oanh: "U Châu."

Hoắc Đình Sơn: "…"

Thì ra thứ khiến nàng nhíu mày suy nghĩ nửa ngày trời, lại đang nằm ngay trên địa bàn của hắn.

Thấy thần sắc hắn phức tạp, Bùi Oanh giải thích:

"Không phải ta nóng lòng sao? Từ đây về U Châu ít nhất cũng cần một tháng, thêm thời gian tìm kiếm quặng soda, ít thì một năm rưỡi, lâu thì vài năm. Thời gian quá dài."

Hoắc Đình Sơn từng nghe nói về quặng vàng, quặng bạc, nhưng quặng soda thì đây là lần đầu tiên. Hắn hỏi:

"Ngoài U Châu, nơi nào khác còn có quặng soda không?"

"Tịnh Châu cũng có." Bùi Oanh đáp.

Mỏ soda ở Trát Cát Na Nhĩ của Nội Mông là lớn nhất châu Á, còn mỏ ở Đồng Bách, Hà Nam là lớn thứ hai trong nước. Chỉ là vào thời đại này, Đồng Bách chắc hẳn không mang tên gọi đó, muốn đi tìm cần phải tốn công sức.

Hoắc Đình Sơn cười:

"Chuyện này có gì khó? U Châu và Dự Châu đang chuẩn bị kết minh, Lôi Dự Châu sẽ không từ chối sự nhờ vả của ta, một nhạc phụ tương lai."

Bùi Oanh bất giác giật nhẹ khóe mắt.

Người này lời lẽ quả quyết, xem ra việc liên hôn đã là chuyện đóng đinh trên bàn. Nghĩ lại, thư hẳn đã truyền về U Châu, nếu nhanh hơn một chút, lúc này Minh Tuấn có lẽ đã lên đường nam tiến.

"Ngài hãy gửi thư đến Lôi Dự Châu, nói với họ rằng ta muốn phái một đội trăm người vào Dự Châu để tìm kiếm dược liệu." Bùi Oanh lại nghĩ đến chuyện hôn sự của Hoắc Minh Tuấn: "Lôi Dự Châu sẽ đồng ý gả con gái đến Lạc Dương sao?"

Lạc Dương là địa bàn của Hoắc Đình Sơn, đó là một lẽ; lẽ thứ hai, trong tình cảnh hiện tại, việc tái giá là chuyện thường, nhưng trước khi thành thân, nam nữ tuyệt đối không ở cùng nhau, dễ làm người đời dị nghị.

Nếu đổi lại là nàng, dù thế nào cũng không đời nào để con gái mình đi một mình đến Dự Châu.

"Chắc chắn sẽ đồng ý." Hoắc Đình Sơn quả quyết: "Dự Châu yếu thế hơn U Châu ta, lại sốt sắng muốn liên minh, không có lý do gì để từ chối. Phu nhân, không phải tất cả các bậc phụ mẫu trên đời đều thương yêu con cái như nàng."

Như hắn, từ lúc hai đứa nhi tử ra đời, quan tâm chẳng được bao nhiêu. Hắn cũng không cảm thấy cần phải chăm sóc bọn trẻ như chăm kỳ hoa dị thảo dễ chết.

Người như nàng, việc gì cũng đặt con cái lên hàng đầu, thật sự hiếm thấy, hơn nữa là vô cùng hiếm thấy.

Nhắc đến con cái, Bùi Oanh chợt nghĩ đến vết thương trên tay con gái. Những vết cắt dài, nhỏ, không dưới mười vết. Khi ấy có lẽ chưa được xử lý đúng cách, sau này chắc chắn sẽ để lại sẹo.

Vết thương...

Bùi Oanh khựng lại, quay đầu nhìn người nam nhân bên cạnh, hỏi: "Hoắc Đình Sơn, thường ngày binh sĩ của ngài trên chiến trường bị thương, họ có làm sạch vết thương không?"

"Tất nhiên là có." Hoắc Đình Sơn quen thuộc quy trình, đáp: "Thông thường dùng nước sạch rửa vết thương, sau đó đắp thảo dược. Nếu vết thương có t.hịt thối, hoặc cắt bỏ, hoặc đặt giòi lên để chúng ăn sạch phần t.hịt thối."

Bùi Oanh lặng lẽ xoa cánh tay, vuốt những nốt gai ốc vừa nổi lên.

Hoắc Đình Sơn bật cười: "Chuyện này có gì đáng sợ? Chỉ là giòi thôi mà, nhón tay là bóp c.h.ế.t được."

Bùi Oanh: "..." Ai muốn đi bóp giòi chứ.

Nàng nhanh chóng đổi đề tài: "Ở chỗ ta, việc làm sạch vết thương dùng nước muối sinh lý."

Không đợi hắn hỏi nước muối sinh lý là gì, Bùi Oanh tiếp lời: "Con người ăn muối để duy trì sự cân bằng muối trong cơ thể. Nói đơn giản, nó giúp các cơ quan nội tạng và những bộ phận nhỏ khác trong cơ thể hoạt động bình thường. Nước muối sinh lý có áp suất tương tự như áp suất bên trong cơ thể, vì vậy khi rửa vết thương sẽ không lo làm mất nước tại chỗ vết thương."

Hoắc Đình Sơn xoa cằm, nghe mà hiểu được nửa vời, nhưng cũng đủ để nhận ra đây là thứ tốt: "Phu nhân, nước muối sinh lý này chế ra thế nào?"

Bùi Oanh: "Chín gam muối hòa tan trong một lít nước cất là được."

Hoắc Đình Sơn hứng thú: "Gam là gì? Lít là gì"

Bùi Oanh: " Một loại đơn vị."

Hoắc Đình Sơn tò mò hỏi tiếp: "Đơn vị là gì? Nước cất là loại nước gì?"

Bùi Oanh: "..."

Bùi Oanh từ chối nói chuyện với hắn.

Thấy vậy, Hoắc Đình Sơn bật cười khẽ: "Hay là ta với phu nhân trao đổi thông tin thì sao? Lần này đi Dự Châu tìm loại ‘tro soda’ mà phu nhân nhắc đến, ta dự định cử Trần Nguyên đi. Phu nhân có muốn biết mấy ngày qua đã xảy ra chuyện gì không?"
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 165


Khi nhắc đến Trần Nguyên, Bùi Oanh vội hỏi hắn về tình hình trước đó: "Trần Nguyên nói thế nào, mấy ngày đó đã xảy ra chuyện gì?"

Hoắc Đình Sơn không làm nàng phải chờ đợi, thuật lại mọi chuyện một cách trung thực.

Bùi Oanh nghe xong liền trầm mặc. Lời kể của đối phương không có gì khác thường, cũng không hề mạo phạm, nhưng nàng hiểu rõ, có những cảm xúc có thể thay đổi khi đứng trước ranh giới sinh tử. Nàng thở dài: "Trần Nguyên là người tốt, nhưng mười năm trôi qua, Linh Nhi ba mươi lăm tuổi, còn hắn đã bốn mươi lăm. Haizz, bây giờ nhắc chuyện hôn nhân còn quá sớm, đành phải sau này xem xét thêm thôi."

Hoắc Đình Sơn nhếch khóe môi: "Mười tuổi thì quả là hơi lớn, nhưng lớn hơn bốn tuổi lại vừa đủ đẹp."

Bùi Oanh: "…"

---

Một con khoái mã từ phía tây của Trầm Viên Đạo phi nước đại lao thẳng vào thành, rồi nhanh chóng tiến đến phủ Giả tiết.

Thám mã trở về, trực tiếp vào thư phòng: "Báo cáo Đại tướng quân, huyện Linh Ôn bị tập kích, Lý Cùng Kỳ đến cửa khiêu chiến. Đô thống Sa đích thân ra nghênh địch, sau vài hiệp giao đấu đã bị đ.â.m ngã khỏi ngựa."

Mọi người trong thư phòng không khỏi kinh hãi.

Chỉ sau vài hiệp, Sa Anh đã bị đ.â.m ngã ngựa? Hung thú Cùng Kỳ này quả thực quá đáng sợ.

"Tình hình của Sa Anh thế nào?" Hoắc Đình Sơn hỏi thăm an nguy của thuộc hạ.

Người lính đáp: "Khi ấy, Khâu tiên sinh có mặt tại hiện trường, nhanh chóng chỉ huy các bách phu trưởng của Hắc Giáp Kỵ hợp lực cầm chân Lý Cùng Kỳ, cứu được Sa Đô thống trở về."

Nghe nói người đã được giữ được mạng sống, mọi người trong thư phòng mới thở phào nhẹ nhõm.

"Lý Cùng Kỳ này xem ra còn lợi hại hơn cả lời đồn."

Công Tôn Lương nghiêm mặt nói: "Quân Kinh Châu từ cửa ải nguy hiểm tiến đến, hiểm trở tự nhiên cũng không cản nổi bọn chúng. Nếu Linh Ôn thất thủ, tiếp theo sẽ là Trầm Viên Đạo. Chủ công, phải mau chóng xuất binh ngăn cản Lý Cùng Kỳ, bằng không để hắn chiếm lại Trầm Viên Đạo, việc tái chiếm về sau sẽ vô cùng khó khăn."

Hoắc Đình Sơn cũng hiểu rõ điều này, liền bảo người lính báo tin: "Lập tức phái Hùng Mậu đến huyện Linh Ôn."

Có những người mạnh mẽ dũng mãnh, trên chiến trường tựa hổ sói, nhưng lại thiếu khả năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược. Những người như vậy thích hợp làm tiên phong, nhưng không thể giao trọng trách làm đại tướng cầm binh.

Người lính nhận lệnh rời đi.

Sau khi thám mã rời khỏi, thư phòng tiếp tục nghị sự. Nhưng chưa đầy một canh giờ sau, thám mã lại vội vã quay về.

"Đại tướng quân, Hùng Giáo úy đã bại trận."

Thư phòng lập tức xôn xao.

"Hùng Mậu cũng bại? Chuyện này liệu có điều gì uẩn khúc?"

"Hắn còn giữ được mạng không?" Có người lo lắng hỏi.

Thám mã đáp: "Mạng vẫn còn, nhưng vai và cánh tay bị thương khá nặng."

Hoắc Đình Sơn nhướng mày, từ trên ghế đứng dậy: "Lý Cùng Kỳ này quả thật thú vị. Để ta tự mình đi gặp hắn."

Trần Thế Xương nét mặt lo lắng, vội khuyên:

"Chủ công, Lý Cùng Kỳ liên tiếp đánh bại hai vị dũng tướng của ta, giờ đây nhuệ khí đang dâng cao. Thuộc hạ nghĩ rằng nên tránh mũi nhọn của hắn thì hơn."

"Tránh vào lúc này là bất lợi, chỉ tổ khiến sĩ khí địch quân thêm hưng phấn." Hoắc Đình Sơn vừa nói vừa bước ra ngoài. "Hơn nữa, chỉ cần quân ta còn ở Kinh Châu một ngày, tên Lý Cùng Kỳ đó không thể nào tránh mặt được."

Hắn rời khỏi phủ Giả tiết, cưỡi ngựa Ô Dạ rời thành, thúc ngựa phi nước đại, đội kỵ binh giương cao bụi cát trên đường.

Khoảng cách giữa huyện Linh Ôn và Trầm Viên Đạo không xa, lại thêm Ô Dạ là thiên lý mã hạng nhất, chẳng bao lâu, thành trì Linh Ôn đã hiện ra trước mắt.

Quân Kinh Châu tấn công, bốn cổng thành vốn dĩ luôn mở đã bị đóng chặt. Đám lính gác trên tường thành thị lực tốt, từ xa đã trông thấy một kỵ binh phi nhanh mà đến, ngựa đen như dải mây đen xẹt qua, khí thế vô cùng mạnh mẽ.

"Là Đại tướng quân! Mau mở cổng thành." Đội trưởng vệ binh vội vàng hô lớn.

Cánh cổng không mấy dày nặng phát ra tiếng "kẹt" rồi từ từ mở ra.

Hoắc Đình Sơn thúc ngựa tiến vào, băng qua cổng Đông, chạy thẳng một đường qua phố xá đến tận cổng Tây.

Tại cổng thành Tây, đám người tụ tập đông đúc. Phùng Ngọc Trúc dẫn theo hơn chục y quan đang xử lý vết thương cho Hùng Mậu, Sa Anh cùng các binh sĩ khác.

Những chiếc bình nhỏ được dùng để rót ra "nước sạch", nước này được đổ lên vết thương để rửa sạch. Nhìn dòng nước chảy ào ào, sắc mặt Hùng Mậu càng thêm tái nhợt, không rõ là đau đớn do vết thương, hay đau lòng vì sự quý giá của nước.

"Đại tướng quân tới!" Không rõ ai nói lớn một câu.

Sa Anh và Hùng Mậu đang ngồi bệt trên đất đồng loạt quay đầu, rồi lập tức mang vẻ mặt hổ thẹn muốn đứng dậy.

"Đừng động đậy." Phùng Ngọc Trúc nghiêm giọng quát: "Nước muối sinh lý do chủ mẫu điều chế ra rất quý giá, đừng có mà lãng phí."

Ở thời đại này, muối không phải là thứ rẻ rúng. Thuế muối là nguồn thu quan trọng của quốc khố, không ngoa khi nói rằng muối đôi khi còn có thể dùng làm tiền tệ.

Không chỉ có muối, từ khi biết nước này không phải nước bình thường mà là nước cất, được điều chế bằng cách tương tự việc chưng cất rượu, Phùng Ngọc Trúc đã gần như coi nó ngang hàng với rượu ngon.

Rượu thượng hạng của chủ mẫu Bùi Thị bán tại Trường An giá hai mươi lượng một bình, thì bình nước cất này dù gì cũng đáng giá mười lăm mười sáu lượng.

Một con bò cày chỉ đáng hai lượng bạc, vậy một bình nước cất này tương đương bảy tám con bò, là gia tài mà một gia đình bình dân dành dụm cả đời mới có thể có được.

Bị Phùng Ngọc Trúc quát như vậy, không chỉ Hùng Mậu mà cả Sa Anh ngồi bên cạnh cũng trở nên ngoan ngoãn, cả hai yên lặng ngồi xếp bằng dưới cổng thành, mỗi người một vết thương được băng bó bằng vải thô, trông chẳng khác gì bị người ta bắt nạt đến thê thảm.

"Chỉ một Lý Cùng Kỳ mà khiến các ngươi thảm hại thế này, ngày thường tập luyện lười biếng lắm đúng không?" Hoắc Đình Sơn thúc ngựa tiến tới, giọng nói pha chút khiển trách.

Sa Anh và Hùng Mậu cúi gằm đầu, tràn đầy hổ thẹn.

Không có gì để biện hộ, thua là thua, suýt nữa còn mất mạng, quả thật đáng xấu hổ.

Bên ngoài bỗng vang lên tiếng hét khiêu khích:

"Đám nhãi U Châu kia, phụ thân Cùng Kỳ của các ngươi ở đây, mau ra chịu chết! Ha ha ha, chẳng lẽ không còn ai nữa sao? Nếu sợ thì cút ngay về U Châu đi, đừng có chiếm hố xí mà không chịu ị!"

Hoắc Đình Sơn khẽ giật giật khóe miệng.

Nếu Linh Ôn là cái hố xí, vậy dân chúng trong Linh Ôn là gì? Nghe nói Lý Cùng Kỳ từng ở chùa một thời gian, lẽ nào chùa chiền lại rèn ra cái thứ thô lỗ như hắn?

"Mở cổng thành." Hoắc Đình Sơn ra lệnh.

"Đại tướng quân!"

"Đại tướng quân!"

Hùng Mậu và Sa Anh đồng thanh kêu lớn.

"Lý Cùng Kỳ cực kỳ dũng mãnh, thân pháp lại quỷ dị. Cây xà mâu sắt trong tay hắn không phải vật thường. Thuộc hạ khi giao chiến với hắn, đao của ta đã bị cây mâu của hắn đánh gãy." Lúc này, Sa Anh vội vàng nói, không còn bận tâm đến việc làm tăng sĩ khí của địch.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 166


Hoắc Đình Sơn chỉ khẽ "ừ" một tiếng, biểu thị đã rõ.

Binh sĩ bên cạnh khi nhận lệnh "mở cổng thành" không dám chậm trễ, lập tức đẩy cổng thành mở ra.

Hoắc Đình Sơn thúc ngựa ra khỏi thành.

Xưa kia có lệnh truyền chế định dùng năm sắc cờ xanh, đỏ, trắng, đen, vàng để phân biệt Đông, Nam, Tây, Bắc, Trung, gọi chung là “Ngũ Phương Kỳ”.

U Châu nằm phía Bắc, quân kỳ mang màu đen; Kinh Châu nằm phía Nam, quân kỳ mang màu đỏ.

Ngoài thành, quân Kinh Châu đã xếp thành trận, quân kỳ đỏ phấp phới trong gió, tựa một con Chu Tước dang rộng đôi cánh tung bay. Ánh mắt Hoắc Đình Sơn lướt qua, nhận thấy nhân mã đối phương không nhiều, khoảng chừng một vạn người.

Quân số thực sự ít, nhưng có lẽ bởi hai lần liên tiếp đánh bại tướng lĩnh U Châu, khí thế của chúng vẫn mạnh mẽ. Thấy cổng thành mở ra lần nữa, các tướng sĩ Kinh Châu đều bất ngờ, không ngờ rằng sau khi thua liền hai trận, vẫn còn có kẻ dám bước ra đối địch.

Lý Cùng Kỳ tinh thần phấn chấn, không chờ đợi được liền ngước nhìn người sắp ra nghênh chiến, nhưng vừa thấy, hắn lập tức khựng lại.

Người nam nhân vừa ra cưỡi một con ngựa cao lớn màu đen, từ đầu tới đuôi dài khoảng một trượng. Lông ngựa đen tuyền như mực nghiên, không lẫn một sợi lông tạp sắc nào, bốn vó thon dài, chắc khỏe, vừa nhìn liền biết đây là chiến mã ngàn dặm khó tìm.

Lý Cùng Kỳ lòng đầy ngưỡng mộ, nhưng khi ánh mắt rời khỏi ngựa mà nhìn lên, hắn liền quên hẳn con tuấn mã ấy.

Người nam nhân trên ngựa thân hình vạm vỡ, mặc giáp trụ, sau lưng khoác một chiếc áo choàng nền đỏ viền đen. Hắn thúc ngựa ra khỏi thành, rõ ràng bên ngoài thành lúc này chỉ có một mình hắn, nhưng khí thế lại như ngàn quân vạn mã, tựa như cả một ngọn núi lớn ập đến, khiến kẻ khác không khỏi cảm thấy một khoảnh khắc kinh hãi đến đờ người.

“Đó là Hoắc U Châu!” Một phó tướng đứng cạnh Lý Cùng Kỳ thốt lên kinh hãi.

Lý Cùng Kỳ giật mình: “Hắn chính là Hoắc Đình Sơn sao?”

Phó tướng đáp: “Tuyệt đối không sai, ta từng được diện kiến hắn một lần, ấn tượng sâu sắc vô cùng.”

Lúc này, Hoắc Đình Sơn dưới thành cũng đang nhìn Lý Cùng Kỳ.

Các tướng quân vóc dáng đều cao lớn, Lý Cùng Kỳ cũng không ngoại lệ. Hắn cao chín thước, mặt vuông, cằm tròn, tay đơn độc cầm một thanh xà mâu sắt đặt ngang thân, trông cực kỳ oai phong lẫm liệt.

Quả là kẻ đầy khí thế.

Đối phương bật cười ha hả, giơ cao xà mâu, thúc ngựa tiến ra: “Hay lắm, Hoắc Đình Sơn! Hôm nay ta nhất định lấy đầu ngươi mang về lãnh thưởng!”

Lý Cùng Kỳ vừa phi ngựa xông tới, binh sĩ Kinh Châu phía sau đồng loạt vung cờ, hô vang trợ uy. Trong khoảnh khắc, phía sau Lý Cùng Kỳ như có mãnh hổ sinh đôi cánh theo sau, hình bóng loài mãnh thú cổ xưa Cùng Kỳ như hóa thành thực thể, kéo dài từ sau lưng hắn.

Hoắc Đình Sơn rút hoàn thủ đao bên hông ra, cũng thúc ngựa tiến lên.

Ngựa hai bên đều là tuấn mã, khoảng cách giữa hai người bị thu hẹp chỉ trong chớp mắt. Đối phương thế như vũ bão, xà mâu sắt quét ra tạo thành một luồng cuồng phong mãnh liệt. Hoắc Đình Sơn nâng đao đón đỡ trước, hai binh khí giao nhau vang lên một tiếng “choang” chấn động.

Sức mạnh kinh khủng từ chỗ giao tiếp giữa binh khí lan tỏa đến tay của cả hai. Hoắc Đình Sơn nhướng cao đôi lông mày dài, cười nói:

“Tiểu tử cũng có chút bản lĩnh, so với người thường quả thật hơn một bậc.”

Nghe đối phương so sánh mình với người thường, lại gọi mình là “tiểu tử”, Lý Cùng Kỳ thoáng lộ vẻ bất mãn, nhưng cú giao đao vừa rồi đã khiến hắn không dám xem thường người trước mặt.

Hoắc Đình Sơn tay cầm đao lại không chút run rẩy. Nghe đồn người này trời sinh thần lực, quả nhiên không phải lời đồn suông.

“Đừng hống hách quá!” Lý Cùng Kỳ cầm thương xà mâu đ.â.m tới lần nữa.

Cây thương xà mâu của hắn dài tám thước, đầu thương uốn lượn như hình rắn, dưới ánh nắng ánh lên tia sáng sắc bén, trên thân thương còn vương vết máu, không rõ là của Sa Anh hay Hùng Mậu.

Đao hoàn thủ lại chạm thương rắn, tiếng vang nổ lớn. Hoắc Đình Sơn kẹp c.h.ặ.t chân, con ngựa Ô Dạ lập tức hiểu ý, tiến nhanh lên trước. Lưỡi đao hoàn thủ lướt theo thân thương, ma sát dữ dội tạo nên những tia lửa lấp lánh.

Thương xà mâu rất dài, đầu thương uốn cong hai lưỡi sắc bén, dưới lưỡi thương là cán thương kết hợp sắt và gỗ, trong đó lưỡi thương chiếm một phần ba chiều dài toàn bộ cây thương.

Loại trường binh khí này, nếu bị áp sát sẽ trở nên cồng kềnh. Lý Cùng Kỳ rõ ràng ý đồ của Hoắc Đình Sơn, lập tức thu thương về, rồi bất ngờ lao mạnh về phía trước một lần nữa.

Hoắc Đình Sơn thúc ngựa né sang bên, thấy thương xà mâu lại lao tới, nhắm thẳng vào yết hầu mình, rõ ràng muốn lấy đầu, liền xoay đao chắn đỡ, mượn lực hóa giải thế mạnh của đối phương, rồi bất ngờ đ.â.m ngược lại.

Lý Cùng Kỳ giật mình, vội vã lách người né tránh, một lọn tóc dài nhẹ nhàng rơi xuống.

Hai người một tới một lui, ánh đao lóe lên, tiếng binh khí va chạm không ngừng vang dội. Thời gian chầm chậm trôi qua, hơn hai khắc đã qua, nhưng vẫn chưa phân định thắng bại, khiến một số binh sĩ Kinh Châu không khỏi lo lắng.

Hoắc Đình Sơn của U Châu vẫn chưa hề có dấu hiệu suy yếu, chẳng lẽ lần này thắng bại khó lường?

Ý nghĩ vừa thoáng qua, bỗng nghe thấy Lý Cùng Kỳ bật cười lớn. Vị phó tướng định thần nhìn lại, thì ra thanh đao hoàn thủ trong tay Hoắc Đình Sơn đã gặp vấn đề.

Lưỡi đao hoàn thủ nhiều lần va chạm với thương xà mâu, lúc này trên thân đao xuất hiện vết nứt.

Lại thêm một cú va chạm “choang” nữa, phần trên của đao hoàn thủ vỡ vụn hoàn toàn, những mảnh vỡ rơi lả tả xuống đất.

Lý Cùng Kỳ cười càng đắc ý: “Hoắc Đình Sơn, chịu c.h.ế.t đi!”

Quân U Châu trên thành, dưới cổng thành theo dõi trận chiến, mắt đều đỏ hoe. Ngay khi Sa Anh cố gắng gượng dậy, định bảo các bách phu trưởng của Hắc Giáp Kỵ cùng nhau ra tay cứu giá, bỗng thấy đại tướng quân của họ dùng đoạn đao cản lại, cản ngay thân thương đang lướt tới phần gốc, sau đó bất ngờ dùng tay trái nắm lấy phần cán gỗ phía sau đầu thương.

Nắm c.h.ặ.t được đầu thương, Hoắc Đình Sơn dứt khoát buông đoạn đao gãy, hai tay cùng giữ lấy cán thương xà mâu.

Lý Cùng Kỳ không ngờ đối phương không lùi mà tiến tới, bất ngờ bị hắn chộp lấy cán thương.

Hai người mỗi người giữ một đầu thương rắn, bắt đầu trận đấu sức thuần túy.

Cánh tay Hoắc Đình Sơn nổi gân xanh, Lý Cùng Kỳ nghiến răng nghiến lợi, thương xà mâu nằm giữa hai người vẫn không hề động đậy.

Cảnh tượng tựa như thời gian ngưng đọng. Một lúc sau, trên trán Lý Cùng Kỳ mồ hôi đổ như mưa, tay cầm thương bắt đầu run rẩy.

Hắn, cây thương trong tay hắn, cùng với con ngựa dưới thân, từ từ bị kéo về phía Hoắc Đình Sơn.

“Ô Dạ!” Hoắc Đình Sơn bỗng hét lớn.

Con ngựa đen nghe tiếng, liền giơ móng đá mạnh, nhắm thẳng vào chân trước bên trái của con ngựa đối phương.

Sức ngựa không phải chuyện đùa, huống hồ Ô Dạ so với ngựa thường còn to lớn hơn. Cú đá ấy lập tức khiến con ngựa dưới thân Lý Cùng Kỳ gãy lìa chân trước.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 167


Từ khi Hoắc Đình Sơn hét lớn "Ô Dạ", đến lúc Ô Dạ tung vó, mọi việc dường như xảy ra trong chớp mắt.

Chiến mã của Lý Cùng Kỳ khuỵu gối trước, ngã xuống đất, kéo theo chủ nhân cũng mất đi hơn nửa sức lực, cây thương xà mâu bị giật mạnh khỏi tay trong tích tắc.

Hoắc Đình Sơn đoạt lấy binh khí, vung một vòng trên tay, sau đó điều chỉnh lại tư thế, mũi mâu hướng ngược lại, áp mạnh xuống vai phải của Lý Cùng Kỳ. Lưỡi mâu sắc bén cắt qua giáp vai, để lại một vết rách dài.

Máu tươi tức thì trào ra, thấm ướt toàn bộ vai phải của Lý Cùng Kỳ. Chỉ cách một chút nữa thôi, lưỡi mâu nhuốm m.á.u ấy đã chạm đến cổ hắn.

Sắc mặt Lý Cùng Kỳ lập tức tái nhợt đi.

Các binh sĩ quan chiến có cảm xúc khác nhau, phía U Châu như được cơn mưa giải hạn, quét sạch khí thế sa sút trước đó.

"Đại tướng quân uy vũ!"

"Đại tướng quân uy vũ!"

Tiếng hô vang dội không ngừng trên thành.

Trái lại, tinh thần của quân Kinh Châu bên kia rõ ràng đã d.a.o động. Đội quân này chỉ có một vạn binh mã, nếu Lý tướng quân bị c.h.é.m đầu, đối mặt với quân U Châu chỉ còn là tình cảnh lấy trứng chọi đá.

"Tình hình không ổn, xem ra Lý tướng quân khó giữ được mạng. Nếu U Châu quân trong thành dốc toàn lực tấn công, lại thêm Hoắc U Châu cầm binh, chúng ta e rằng chẳng đủ sức làm gì. Hay là..."

"Nhưng kẻ bỏ trốn sẽ bị xử tử."

"Chết sớm hay c.h.ế.t muộn, ngươi tự chọn đi."

---

Hoắc Đình Sơn ngồi trên lưng Ô Dạ, từ trên cao nhìn xuống Lý Cùng Kỳ:

"Ngươi bại dưới tay ta, tâm phục khẩu phục chưa?"

Chiến mã đã ngã, cổ bị kề lưỡi mâu, Lý Cùng Kỳ không cách nào đứng dậy, chỉ có thể giữ nguyên tư thế ngồi trên đất, cứng cổ đáp:

"Không phục! Ngươi để ngựa của mình đá ngựa của ta, dùng mưu hèn thắng trận. Hơn nữa, trước đó ta đã giao đấu với hai tướng lĩnh của ngươi, hao tổn sức lực. Đến khi đối chiến với ngươi, sức ta đã phần nào kiệt quệ, vì vậy mới bại trận. Ngươi muốn g.i.ế.t thì cứ giết, nhưng dù c.h.ặ.t đầu ta, ta, Lý Cùng Kỳ, vẫn không phục!"

Dù bị thương, giọng nói của hắn vẫn đầy khí thế.

Hoắc Đình Sơn nheo mắt lại:

"Nếu ngươi quy phục U Châu quân của ta, ta sẽ tha mạng, thế nào?"

"Nam nhân đầu đội trời chân đạp đất, ta, Lý Cùng Kỳ, há phải loại người vì cầu sống mà phản chủ! Muốn g.i.ế.t thì giết, một mạng đổi một mạng, bớt nói nhảm." Lý Cùng Kỳ hừ lạnh.

Hoắc Đình Sơn cười khẩy:

"Tòng Lục Kỳ vì muốn diệt quân U Châu mà không ngại dùng đến kế bẩn thả dịch bệnh, hắn xem bách tính Tư Châu và cả biên cương Kinh Châu như cỏ rác. Ngươi lại ngoan cố trung thành, thật u mê không tỉnh."

"Chớ có vu khống! Giết ta thì cứ giết, bôi nhọ chủ công của ta để làm gì?!" Lý Cùng Kỳ giận dữ.

Hoắc Đình Sơn nhếch môi, thu mũi mâu lại:

"Ngươi đã không phục, ta không g.i.ế.t ngươi. Ngươi cứ quay về, mở mắt thật to mà xem rõ vị chủ công 'thanh danh lẫy lừng' của ngươi thực chất là hạng người gì."

Không ngờ mọi chuyện chuyển biến bất ngờ, Lý Cùng Kỳ thoáng sững sờ:

"Ngươi không g.i.ế.t ta? Nhưng ta nói trước, cơ hội chỉ có một lần. Lần sau gặp lại, ta tuyệt đối sẽ không thua ngươi."

Hoắc Đình Sơn cười nhạo:

"Nói nhiều vô ích. Ta thắng ngươi một lần, tự nhiên thắng được lần thứ hai."

"Ngươi sẽ hối hận." Lý Cùng Kỳ nghiến răng đứng dậy, ánh mắt không khỏi liếc về cây thương xà mâu trên tay Hoắc Đình Sơn, muốn nói lại thôi.

Hoắc Đình Sơn nhìn thấu ý nghĩ ấy, cười khẩy. Hắn biết Lý Cùng Kỳ muốn gì, chẳng qua là đòi lại binh khí của mình. Nhưng...

"Ngươi nghĩ đẹp quá." (~^^~)

"Tha mạng cho ngươi đã là vì ta coi trọng tài năng, đừng được đằng chân lân đằng đầu. Cút!" Hoắc Đình Sơn chế nhạo.

Lý Cùng Kỳ hổ thẹn rời đi.

Nhưng vừa đi được hai bước, cây xà mâu lại lần nữa kề vào cổ hắn. Lý Cùng Kỳ đứng khựng lại, không giận dữ vì nghĩ đối phương đổi ý, mà trên mặt lộ vẻ như đã hiểu rõ từ trước, biết chắc Hoắc Đình Sơn sẽ không dễ dàng tha cho hắn.

“Trả lời ta một câu hỏi, xong rồi ngươi có thể tự rời đi.” Hoắc Đình Sơn nói:

“Thanh xà mâu này của ngươi, vì sao có thể liên tục phá hủy binh khí của người khác?”

Lý Cùng Kỳ thoáng ngẩn ra, không ngờ Hoắc Đình Sơn lại hỏi điều này.

Nói đến vũ khí của mình, hắn lộ chút phức tạp:

“Xà mâu này là vật chủ công ban cho ta. Nghe nói, nó được Chu Độc tiên sinh dùng mười đôi đồng nam đồng nữ làm tế phẩm, sau đó cầu khấn trời cao suốt tám mươi mốt ngày, mới cảm động được thần linh, để ngài ban xuống thần binh vô địch này.”

Quả thực, từ khi có thần binh này, Lý Cùng Kỳ chưa từng gặp binh khí nào có thể chống lại.

Hoắc Đình Sơn mặt không biểu cảm, không rõ là tin hay không tin lời hắn:

“Cút đi.”

Lý Cùng Kỳ xoay người rời đi, lần này không còn ai cản trở. Hắn bước chân càng lúc càng nhanh, quân đội Kinh Châu cũng đã phái người đến đón hắn.

Hoắc Đình Sơn vác chiến lợi phẩm – thanh Xà mâu sắt – trở về thành. Cổng thành đã mở sẵn, hai bên các tướng lĩnh đứng thành hàng chào đón.

Vừa rồi, Hoắc Đình Sơn đại thắng một trận, sĩ khí nhờ vậy lại dâng cao. Ngay cả Sa Anh và Hùng Mậu bị trọng thương, sắc mặt cũng đã khá hơn đôi chút.

“Đại tướng quân, Lý Cùng Kỳ hung hãn như thế, thả hổ về rừng sẽ để lại hậu hoạn.” Sa Anh nghiêm trọng nói.

Vừa rồi, lời chiêu hàng của Hoắc Đình Sơn với Lý Cùng Kỳ không quá lớn tiếng, những người ở xa không nghe được.

Sa Anh là người đầu tiên giao đấu với Lý Cùng Kỳ, đối phương vô cùng dữ dằn, nếu không nhờ hắn nhanh nhẹn cùng sự trợ giúp của các Bách phu trưởng Hắc Giáp Kỵ, e rằng hắn đã sớm trở thành vong hồn dưới đao.

Sau đó, Hùng Mậu đến tiếp viện.

Hùng Mậu là người có võ lực cao nhất trong số các tướng lĩnh ở đây, nhưng khi đối đầu với Lý Cùng Kỳ, hắn cũng chịu bại trận. Điều này đồng nghĩa, ngoại trừ Hoắc Đình Sơn, không ai trong số bọn họ có thể chế ngự Lý Cùng Kỳ. Một khi đại tướng quân không có mặt, đối phương chắc chắn sẽ không còn e ngại.

Hùng Mậu ở bên gật đầu, tán đồng lời Sa Anh.

Hoắc Đình Sơn nói:

“Hiện giờ Lý Cùng Kỳ đã bị thương, chắc chắn không còn dũng mãnh như trước. Các ngươi nếu giờ giao chiến với hắn, chưa chắc đã ở thế hạ phong.”

Sa Anh lo lắng đáp:

“Nhưng vết thương rồi sẽ lành. Đến khi hắn khỏi hẳn, lại là một con Cùng Kỳ ăn t.hịt người. Lúc đó, nếu đại tướng quân không ở đây, chúng ta phải làm thế nào?”

Hùng Mậu lại lần nữa gật đầu.

Hoắc Đình Sơn nhếch môi cười:

“Lý Cùng Kỳ này quả thực là một mãnh thú, móng vuốt cũng đủ sắc bén. Một con mãnh thú khó gặp như vậy, g.i.ế.t đi chẳng phải đáng tiếc sao? Nếu hắn có thể làm việc cho ta, chẳng phải sẽ là chuyện tốt đẹp?”

Sa Anh im lặng, cảm thấy bất ngờ nhưng lại không hẳn là ngoài dự đoán. Từ khi đại tướng quân chỉ làm hắn trọng thương mà không đoạt mạng, hắn đã mơ hồ đoán được điều này.

“Thời gian trước khi hắn lành vết thương, ta nghĩ đủ để ta thuần phục hắn.” Hoắc Đình Sơn quay đầu, nhìn về hướng đội quân Kinh Châu vừa rời đi.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 168


“Đại tướng quân, thanh thương xà mâu sắt này có thể cho ta xem được chăng?” Sa Anh tỏ ra vô cùng hứng thú với binh khí của Lý Cùng Kỳ.

Khi trước, hắn từng giao chiến với đối phương, chỉ vừa đối mặt vài hiệp, đao trong tay đã vỡ nát. Khi ấy hắn không ngờ lại xảy ra chuyện kỳ lạ như vậy, nhất thời sơ ý, bị đối phương đ.â.m ngã ngựa.

Sau đó Hùng Mậu lên trận, cũng gặp phải tình cảnh quái dị tương tự.

Binh khí của Lý Cùng Kỳ tuyệt đối không phải vật phàm!

“Đại tướng quân, ta cũng muốn xem qua.” Hùng Mậu nhìn đầy khao khát.

Hoắc Đình Sơn thấy sắc mặt cả hai kẻ này trắng bệch, khẽ chậc một tiếng: “Với bộ dạng này của các ngươi, cầm nổi không?”

Thanh thương xà mâu sắt dài tám thước, đối với người thường mà nói phải dốc hết sức lực mới có thể nhấc lên nổi.

Sa Anh tự có cách, “Để vệ binh nâng giúp là được.”

Hoắc Đình Sơn nhìn vẻ mặt tha thiết của hai người, không nói gì thêm, ra hiệu cho hai vệ binh mỗi người đứng một đầu thương, cùng nhau nâng lên.

Sa Anh và Hùng Mậu đứng hai bên lưỡi mâu, vừa nhìn vừa thì thầm to nhỏ.

“Có phải ta hoa mắt hay không, thanh thương xà mâu sắt này dường như sáng hơn binh khí bình thường.” Sa Anh dùng ngón tay gõ nhẹ lên bề mặt lưỡi mâu.

Lưỡi mâu không chút lay động.

Hùng Mậu bảo vệ binh lấy đao tới, vốn định tự mình cầm thử, nhưng khi giơ tay lại vô ý kéo động vết thương, đau đến nhăn nhó, đành từ bỏ, chuyển sang nhờ vệ binh thay mình.

Một binh sĩ cầm đao, dùng sức bổ mạnh vào thương xà mâu sắt mấy lần.

Sau vài lượt, lưỡi đao trong tay binh sĩ đã xuất hiện vết nứt.

Mọi người xung quanh đều kinh hãi, Hùng Mậu thốt lên: “Thanh thương xà mâu sắt này chẳng lẽ là thần binh trên trời?”

Vừa nói xong liền bị cấp trên của mình không chút nể nang mà chế giễu: “Làm gì có nhiều thần binh quỷ khí như vậy, nếu Lý Cùng Kỳ thực sự có tiên binh thần tướng trợ giúp, thì cần gì phải tự mình dẫn binh? Hắn chỉ cần thi triển tiên pháp, khiến các ngươi tự tìm dây thắt cổ, hoặc trực tiếp hô phong hoán vũ, dâng đại hồng thủy nhấn chìm toàn bộ quân U Châu trong Trầm Viên Đạo, chẳng phải nhanh hơn sao?”

Hùng Mậu: “…”

Sa Anh: “…”

Đúng là có lý, nhưng vậy thì phải giải thích thế nào về sự khác thường của thanh thương xà mâu sắt này?

Đột nhiên, hai vệ binh đang nâng thương xà mâu sắt đồng thời cảm thấy tay nhẹ bẫng, hóa ra cây mâu đã bị người nam nhân cưỡi trên lưng Ô Dạ lấy đi.

Hoắc Đình Sơn tay phải cầm thương xà mâu sắt, tay trái giữ dây cương, xoay đầu ngựa dưới chân thành: “Các ngươi có nhìn thêm mười năm tám năm cũng không nghiên cứu ra được gì, ta mang về cho phu nhân xem thử.”

Một người một ngựa lao vút đi, bóng dáng thiết kỵ nhanh chóng khuất dạng.

---

Bùi Oanh chẳng bao lâu trước đã hay tin huyện Linh Ôn bị tập kích, đồng thời vệ binh còn truyền lời rằng Hoắc Đình Sơn đã đi đến lân cận huyện Linh Ôn, bữa trưa sẽ không cùng nàng dùng.

Quân tình cấp bách, tất nhiên phải lo việc nơi ấy trước.

Bùi Oanh ngỡ rằng hắn sẽ về muộn, nào ngờ khi nàng dùng xong bữa trưa, đang định nghỉ trưa thì hắn trở lại.

Người đàn ông vừa bước vào sân chính đã gọi:

“Phu nhân.”

Bùi Oanh khi ấy đang nằm trên giường, mắt đã nhắm mơ màng, nghe tiếng Hoắc Đình Sơn bên ngoài gọi liền ngồi dậy, vừa khoác thêm áo ngoài thì hắn đã vào đến phòng.

Hắn chưa cởi khôi giáp, áo choàng phía sau cũng chưa tháo, một tay cầm một cây thương lớn mà bước vào.

Thương xà mâu sắt với lưỡi mâu sắc bén bên dưới còn gắn tua đỏ, trải qua mấy trận chiến kịch liệt, lưỡi mâu nhuốm máu, tua đỏ cũng thấm đẫm vài phần. Lại thêm đoạn đường phi ngựa về thành, bụi đất vương vào khiến tua đỏ lấm lem bùn đất, kết dính lại.

Trong mắt Bùi Oanh, cây thương này chẳng khác nào cái chổi lau nhà chưa vắt sạch nước mà mang vào.

“Hoắc Đình Sơn, ngài cầm cái gì bẩn thỉu vào đây vậy, mau đem ra ngoài!”

“Phu nhân, giúp ta xem qua cây thương xà mâu sắt này.”

Hai tiếng đồng thời vang lên.

Người đàn ông dừng chân, cúi đầu nhìn cây thương trong tay, khóe miệng giật giật.

Bẩn thỉu? Đám Hùng Mậu nhìn mà thèm nhỏ dãi, đến nàng lại bảo là đồ bẩn thỉu.

Thôi được, đúng là có hơi bẩn thật.

Hắn không bước tiếp, nhưng cũng chẳng vội ra ngoài, chỉ đứng trong phòng mà nói chuyện với Bùi Oanh.

“Phu nhân, trận chiến ở huyện Linh Ôn vừa rồi ta thu được cây thương xà mâu sắt này. Thứ này thật kỳ lạ, có thể liên tục đánh vỡ binh khí của đối phương. Sau trận, ta hỏi Lý Cùng Kỳ – chủ nhân cũ của cây thương – rằng tại sao nó lại khác thường như thế. Hắn nói thứ này được rèn bằng cách tế lễ mười đôi đồng nam đồng nữ, khiến thần linh cảm động mà ban cho thần binh.” Nói đến đây, Hoắc Đình Sơn lạnh lùng cười khẩy, “Thần binh gì chứ, theo ta chỉ là trò bịp bợm mê hoặc người khác mà thôi.”

Chút buồn ngủ cuối cùng của Bùi Oanh tan biến khi nghe đến “tế mười đôi đồng nam đồng nữ”.

Nàng giật mình, hóa ra thứ hắn mang không phải cái chổi lau nhà mà là chiến lợi phẩm:

“Ngài đem cây thương này ra sân, bên ngoài sáng sủa, ta sẽ xem.”

Hoắc Đình Sơn biết nàng vẫn chê bẩn, không muốn làm dơ phòng, thói quen sạch sẽ này của nàng đúng là không thay đổi chút nào.

Hắn vác thương bước ra ngoài.

Một lát sau, Bùi Oanh chỉnh trang xong xuôi, bước ra từ trong phòng. Nàng thấy cây thương xà mâu sắt được đặt trên bàn đá giữa sân, ánh nắng chiếu xuống phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo sắc bén.

Thấy nàng ra, Hoắc Đình Sơn rút d.a.o ngắn, đặt song song với cây thương xà mâu sắt.

Để riêng không thấy gì, nhưng khi đặt cùng nhau thì tương phản rõ ràng, cây thương xà mâu sắt sáng hơn hẳn, như thể đã được cao tăng khai quang.

Hoắc Đình Sơn nói:

“Hùng Mậu bọn họ cũng bảo thứ này là thần binh lợi khí hiếm có trên đời, nhưng ta lại nghĩ chưa chắc, phu nhân có lẽ đã từng thấy chất liệu tương tự như cây thương này.”

Bùi Oanh chăm chú quan sát, còn co ngón tay khẽ chạm vào lưỡi thương xà mâu sắt.

Hoắc Đình Sơn hỏi:

“Phu nhân thấy thế nào?”

Bùi Oanh không vội đáp hắn, mà cầm lấy d.a.o ngắn, dùng d.a.o gõ nhẹ vào cây mâu, lắng nghe âm thanh phát ra.

Một lúc sau, nàng ngẩng đầu:

“Thứ này dĩ nhiên không phải thần binh từ trên trời rơi xuống, nhưng đối với các ngài mà nói, quả thật là bảo vật hiếm có.”

Người đàn ông bật cười, sự chú ý đặt ở chỗ khác:

“Phu nhân quả nhiên biết thứ này.”

Hắn đã nói rồi, thần thánh quỷ quái đều là trò hư huyễn. Thần binh từ trời giáng ư? Nếu có thần tiên, ngôi vị hoàng đế liệu có đến lượt nhà Triệu chiếm giữ hay không?
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 169


Bùi Oanh hỏi: “Hoắc Đình Sơn, các ngài từ khi nào không còn sử dụng đồ đồng quy mô lớn nữa?”

Hắn đáp: “Bắt đầu từ triều đại hiện nay.” Rồi hỏi: “Phu nhân, rốt cuộc đây là vật gì?”

Bùi Oanh không trả lời mà hỏi ngược lại: “Hiện tại, thợ rèn của các ngươi chế tạo binh khí là chọn quặng sắt phù hợp, sau đó nghiền nhỏ rồi đưa vào lò luyện sắt, cuối cùng nung chảy thành sắt lỏng, đúng không?”

Những chi tiết phức tạp hơn, chẳng hạn như cần thêm vào một số khoáng chất trong quá trình nung để tránh sắt lỏng bám vào thành lò, Bùi Oanh đều lược bỏ.

Hoắc Đình Sơn gật đầu: “Quả đúng là như vậy.”

Bùi Oanh cố gắng dùng từ ngữ đơn giản dễ hiểu: “Ở nơi ta sống, sắt được chia làm ba loại chính: gang, thép và sắt rèn. Gang tuy cứng, nhưng so về độ cứng thì còn thua đồng. Hơn nữa, gang rất giòn, nếu gặp phải va chạm mạnh, có khả năng sẽ vỡ. Ta đoán rằng các ngươi hôm nay mới không còn sử dụng đồ đồng quy mô lớn là do có thợ rèn đã phát hiện ra kỹ thuật luyện sắt mới, bằng cách thêm các chất phụ gia và rèn đi rèn lại để loại bỏ tạp chất trong gang.”

Gang, thép, sắt rèn — sự khác biệt chính giữa ba loại này nằm ở hàm lượng carbon, với gang là cao nhất, thép thấp hơn, và sắt rèn có hàm lượng carbon thấp nhất, dưới 0,02%.

Nhớ lại, Bùi Oanh nhận ra rằng đồ đồng cũng đã rút khỏi vũ đài lịch sử từ thời nhà Hán, nhường chỗ cho đồ sắt. Từ đó, trong cụm từ “binh đao tương kiến,” chữ “binh” ám chỉ binh khí làm từ sắt.

Hoắc Đình Sơn nghe nàng phân loại đồ sắt, liên tưởng đến gang đã bị loại trừ, liền hỏi: “Phu nhân, thanh thương sắt này chẳng lẽ là sắt rèn?”

“Không phải. Sắt rèn rất mềm, độ bền và độ cứng đều thấp,” Bùi Oanh lắc đầu.

Hoắc Đình Sơn hơi nhướng mày.

Không phải gang, cũng không phải sắt rèn, vậy binh khí này là thép sao?

Thấy hắn có vẻ chưa hiểu, Bùi Oanh giải thích sự khác biệt về hàm lượng carbon giữa ba loại: “...Vậy nên có một khoảng giá trị nhất định. Binh khí mà các ngươi đang sử dụng hiện nay tuy đã thoát khỏi phạm trù của gang, nhưng dựa trên cách rèn sắt của thợ rèn, hàm lượng carbon trong binh khí của các ngươi gần giống với gang hơn, vì vậy giòn hơn rất nhiều. Còn thanh thương sắt này thuộc vào loại thép carbon thấp.”

Lúc này Hoắc Đình Sơn mới hiểu ra: “Nói như vậy, việc luyện kiếm bằng mười đôi đồng nam đồng nữ có lẽ không phải là lời nói hão huyền?”

Bùi Oanh cau mày không thoải mái: “Chuyện này phải nói thế nào đây? Dầu mỡ trong cơ thể người có thể làm tăng nhiệt độ lò, hơn nữa một số nguyên tố trong cơ thể, chẳng hạn như lưu huỳnh, có thể làm giảm điểm nóng chảy của sắt. Kiếm luyện bằng người quả thực có thể tốt hơn kiếm thường, nhưng chung quy lại, tốt hơn chẳng qua là do thêm vào những thứ khác. Nếu tìm được các chất phụ gia khác, hiệu quả cũng sẽ tương tự.”

Hoắc Đình Sơn hiểu ra: “Hóa ra đây chỉ là trò lừa bịp để mê hoặc ngu dân. Phu nhân, thép carbon thấp này có thể nhanh chóng sản xuất hàng loạt không?”

Nếu binh khí này rơi vào tay kẻ khác và có thể sản xuất hàng loạt, đến lúc đó chẳng phải người khác nắm dao, còn ta lại là cá nằm trên thớt sao?

Hồi đó, yên ngựa Cao Kiều và bàn đạp ngựa xuất hiện đầu tiên trong quân đội U Châu, giúp hắn giành được lợi thế. Không ai hiểu rõ hơn Hoắc Đình Sơn về lợi ích to lớn mà một loại vũ khí tăng cường sức chiến đấu mang lại.

Không hề phóng đại khi nói rằng, việc chiếm lĩnh Tịnh Châu và Ký Châu nhanh chóng như vậy hoàn toàn là nhờ hai bảo vật đó.

Bùi Oanh biết hắn nóng lòng, nhưng chỉ mỉm cười, nói:

“Thực ra, thép carbon thấp còn có một tên gọi khác, chính là 'bách luyện cương'. Như tên gọi, đó là thép được chế luyện qua nghìn búa đập, vạn lần rèn giũa. Sáng tạo chưa bao giờ là chuyện một sớm một chiều; khi một kỹ thuật mới xuất hiện, tất nhiên cần một khoảng thời gian không ngắn để mày mò.”

Câu nói: “Bách luyện cương chung quy thành nhiễu chỉ nhu”, tạm gác các hàm ý của nó sang một bên, chỉ xét bản thân câu nói, chính là quá trình rèn thép thành loại sắt dẻo dai có độ kéo giãn vượt trội.

Đường đi trải qua muôn vàn gian khổ, tựa như ý nghĩa của năm tháng mài giũa, mới tạo ra được nét mềm mại ấy. Không khó để thấy rằng, với kỹ thuật thời xưa, đạt được sự chuyển hóa này chẳng phải chuyện dễ dàng.

Tương truyền, Tào Tháo từng mất năm năm, huy động bảy mươi thợ tài hoa cùng hợp sức mới có thể đúc ra được hai thanh kiếm Ỷ Thiên và Thanh Hồng. Khi ấy, Tào Tháo đứng trên đỉnh cao quyền quý còn như vậy, huống hồ là người thường?

“Chỉ cần tạm thời không thể sản xuất quy mô lớn là được.” Hoắc Đình Sơn an tâm. Chỉ cần đối phương không thể đặt vào tay mỗi binh sĩ một thanh, vậy chẳng có gì phải sợ.

Bùi Oanh cảm thấy có ánh mắt nhìn thẳng vào mình. Trong viện giờ chỉ có hai người bọn họ. Nàng quay đầu nhìn kẻ gây rối:

“Ngài muốn làm gì?”

Đôi mắt hẹp dài đen nhánh kia như giữ lấy một ngọn lửa đang nhảy múa. Bùi Oanh nhìn thấy trong đó dã tâm sáng rực.

Hừ, người này...

Quả nhiên, ngay giây tiếp theo, nàng nghe thấy hắn hỏi:

“Bách luyện cương phu nhân có thể đúc không?”

“Nguyên lý của nó ta biết, đúng là biết, nhưng cần chút thời gian, cũng không dám chắc chắn có thể thành công. Ngài đừng ôm kỳ vọng quá lớn.” Bùi Oanh bất đắc dĩ đáp.

Trong Thiên Công Khai Vật từng có ghi chép về phương pháp đúc thép, nhưng đọc qua và tận tay luyện thép là hai chuyện hoàn toàn khác. Nói rằng chắc chắn làm được, ngay cả Bùi Oanh cũng không dám mạnh miệng.

Lời vừa dứt, cả người nàng đã bị ôm lên.

Không phải kiểu bế ngang, mà là kiểu bế dựng đứng, như bế trẻ con. Trước tiên một tay vòng qua eo nàng, nhấc bổng lên, sau đó tay còn lại đặt dưới mông, nâng nàng cao thêm một đoạn.

“Phu nhân quả là thần nhân!”

“Hoắc Đình Sơn!” Bùi Oanh bị hắn làm cho kinh ngạc. Đôi chân rời khỏi mặt đất khiến nàng bất an, nhưng cánh tay dài ôm c.h.ặ.t ngang eo lại như một hàng rào bảo vệ, khiến nàng không thể nào thoát khỏi.

Khuôn mặt Bùi Oanh đỏ bừng, vội đập vào vai hắn mà nói:

“Ngài mau thả ta xuống! Nếu bị người khác nhìn thấy, ngài không muốn mặt mũi, nhưng ta thì vẫn cần đó!”

“Không ai nhìn thấy đâu, nha hoàn sẽ không tới vào giờ này.” Hoắc Đình Sơn thấy nàng lo lắng, liền ung dung nói:

“Nếu thật bị bắt gặp, vi phu đích thân diệt khẩu là được, có gì đâu.”

Bùi Oanh vội vàng nói:

“Không sợ vạn nhất, chỉ sợ ngộ nhỡ!”

“Phụ thân và mẫu thân ở trong đó không? Ta muốn...”

Một giọng nói bất ngờ vang lên từ phía cổng viện, nhưng nói được một nửa thì im bặt.

Thế giới bỗng trở nên tĩnh lặng, dường như ngay cả tiếng chim chóc cũng lùi xa.

Bùi Oanh tuyệt vọng nhắm mắt lại. Đúng là định luật Murphy, những điều muốn tránh bằng mọi giá, cuối cùng vẫn xảy ra. Nàng siết c.h.ặ.t bàn tay đang đặt trên vai Hoắc Đình Sơn, tiếc rằng hắn đang mặc giáp, muốn véo cho hả giận cũng không được.

Hoắc Tri Chương vừa từ Lạc Dương trở về, đứng ở cổng viện, trợn mắt há mồm nhìn hai người trong sân. (~^^~)
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 170


Hoắc Tri Chương cảm thấy chắc chắn bản thân chưa tỉnh ngủ, hoặc cũng có thể vì mệt mỏi quá độ sau hành trình dài mà sinh ra ảo giác. Nếu không, cớ gì lại thấy phụ thân hắn mặc áo giáp, áo choàng chưa kịp cởi, công khai ôm mẫu thân trong sân, thậm chí còn ôm đến mức chân mẫu thân không chạm đất?

Nói phụ thân hắn không trọng quy củ, cũng không hẳn vậy.

Hoắc gia dù gì cũng là một thế gia ở Bắc Cương, tuy không quá câu nệ chuyện ăn không nói, ngủ không nói, nhưng những lễ nghi như vấn an trưởng bối hay những quy tắc khác tuyệt đối không thể bỏ qua.

Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Hoắc gia đối với con cháu luôn có yêu cầu rất cao, việc gì nên làm, việc gì không nên làm, tuyệt đối không được tùy tiện làm bừa.

Lời dạy bảo vẫn còn văng vẳng bên tai, hắn chưa từng dám quên dù chỉ một khắc.

Chỉ là hiện tại…

Ừm, chắc chắn là hắn quá mệt mỏi, mệt đến mức mắt cũng sinh ảo giác rồi.

Hoắc Tri Chương xoa xoa mắt mình.

Nhân lúc này, Bùi Oanh vội vỗ nhẹ vào vai Hoắc Đình Sơn, rồi chỉ vào bên trong nhà, ra hiệu hắn mau vào.

Người này chân dài, chỉ cần hai ba bước là có thể vào nhà. Với sự tin tưởng mù quáng của Tri Chương đối với phụ thân, không chừng sau này hắn còn có thể tự mình thuyết phục bản thân.

Nhưng bản tính bá đạo trong xương tủy của Hoắc Đình Sơn lại trỗi dậy, không thấy thì thôi, đã gặp rồi thì cớ gì phải tránh?

Chỉ có đạo lý con cái nhường đường trưởng bối, chứ làm gì có chuyện phụ thân phải né tránh nhi tử? Hơn nữa, hắn và phu nhân đường đường chính chính là phu thê, đã bái trời đất, cũng bái tổ tông, thì có gì mà phải e ngại?

Không tránh.

Hoắc Đình Sơn chỉ đặt người trong lòng xuống.

Bùi Oanh thấy hắn không chút sợ hãi, rõ ràng là quyết tâm làm theo ý mình, khuôn mặt như ngọc thạch lập tức đỏ bừng: “Ta mặc kệ ngài, nhưng đừng quên những gì ngài đã nói trước đó.”

Hoắc Đình Sơn: “…”

Bùi Oanh vào nhà, để lại phụ tử hai người trong sân mắt to trừng mắt nhỏ.

Khi Hoắc Đình Sơn định giơ cao đạo lý mà “tru diệt” nhi tử mình, thì hắn lại thấy nhi tử cuối cùng cũng hồi thần sau cơn chấn kinh, ngập ngừng gọi một tiếng "phụ thân". Tiếng gọi ấy khơi dậy chút ít tình phụ tử trong lòng Hoắc Đình Sơn, khiến hắn cuối cùng không ra tay.

Hoắc Đình Sơn khẽ “ừ” một tiếng, nét mặt đã trở lại bình thường: “Sao trở về nhanh như vậy? Việc bên Lạc Dương đã xử lý xong hết rồi?”

Hoắc Tri Chương giả vờ như không nghe thấy ý chê bai trong câu nói kia: “Dạ, phụ thân.”

“Sau bữa cơm tối, con đến gặp mẫu thân để báo cáo tình hình của Thương Hành Bùi Thị.” Hoắc Đình Sơn biết nàng mặt mũi mỏng, nên không bắt nhi tử lập tức qua ngay.

Hoắc Tri Chương ngoan ngoãn gật đầu.

Sau đó, phụ tử hai người không nói thêm lời nào, không khí cũng trở nên ngưng đọng.

Hoắc Đình Sơn định bảo tên này tránh xa, nhưng lúc này, Hoắc Tri Chương đã bị cây thương xà mâu sắt trên bàn đá hấp dẫn ánh nhìn.

Cây thương ấy dưới ánh mặt trời phản chiếu một lớp hào quang lạnh lẽo, như được bao phủ bởi băng huyền, hoàn toàn khác biệt với cây đoản đao bên cạnh.

Thiếu niên quên ngay mọi ngượng ngùng, bước nhanh tới, cầm thương xà mâu sắt bằng một tay, nâng lên thử sức nặng, rồi khẽ dùng ngón tay gõ lên thân thương, lắng nghe tiếng rung ngân nhẹ phát ra từ lưỡi thương. “Phụ thân, cây thương xà mâu sắt này từ đâu mà có?”

Hoắc Đình Sơn đáp: “Kinh Châu, Lý Cùng Kỳ tới tận cửa thách đấu, bị ta đánh bại mà chạy về. Cây thương này là binh khí của hắn.”

Hoắc Tri Chương tiếp tục quan sát kỹ lưỡng cây thương. Nhạy cảm của một võ tướng khiến hắn lập tức cảm thấy cây thương này không phải vật thường: “Ta thấy cây thương này thật khác lạ.”

“Quả đúng vậy,” Hoắc Đình Sơn thản nhiên nói. “Mẫu thân ngươi bảo đây là ‘bách luyện cương’, độ cứng hơn hẳn các loại binh khí thông thường. Khi ấy, Lý Cùng Kỳ cầm cây thương này liên tiếp c.h.ặ.t gãy binh khí của Sa Anh, Hùng Mậu và của ta.”

Hoắc Tri Chương nghe xong vô cùng kinh hãi, lập tức nhìn kỹ phụ thân, thấy hắn không mang thương tích gì mới yên lòng, rồi lại hỏi thăm tình hình của Sa Anh và Hùng Mậu. Đến khi biết hai người kia không nguy hiểm đến tính mạng, thiếu niên liền không kìm được hiếu kỳ: “Bách luyện cương là vật gì? Vì sao Lý Cùng Kỳ có thứ đó mà U Châu chúng ta lại không? Phụ thân, chúng ta có thể rèn được thứ bách luyện cương này chăng?”

Hoắc Đình Sơn liếc nhìn hắn, giọng nhàn nhạt: “Chuyện này rất phức tạp, nói ra ngươi cũng không hiểu.”

Hoắc Tri Chương: “...”

Hoắc Đình Sơn liền đổi chủ đề: “Tình hình ở Lạc Dương thế nào? Thuận lợi chứ?”

Hoắc Tri Chương dù tiếc nuối không thể tiếp tục chuyện về cây thương, nhưng vẫn đáp: “Cũng xem như thuận lợi. Mới đầu, đường trắng ở Lạc Dương bán đến mức khan hàng, cửa hàng ngày nào cũng có người đợi từ khi trời chưa sáng. Sau khi hàng hết, cửa tiệm vẫn bị đám gia nô nhà quyền quý vây kín không kẽ hở. Con bất đắc dĩ mới làm tạm một đợt thẻ gỗ, chia trước cho những quyền quý xếp hàng chờ, đợi đợt đường mới gửi tới, sẽ ưu tiên bán cho họ.”

Hoắc Đình Sơn không hỏi đến lợi nhuận của Thương Hành Bùi Thị. Những chuyện Bùi Thị kiếm được bao nhiêu bạc, từ rất lâu hắn đã không hỏi nữa.

Vì Hoắc Tri Chương trở về, bữa tối hôm đó đặc biệt phong phú.

Mạnh Linh Nhi lâu ngày không gặp nhị ca, thế nên bàn tiệc nhỏ náo nhiệt hẳn lên.

Hoắc Tri Chương kể về phong thổ Lạc Dương, Mạnh Linh Nhi lắng nghe rất chăm chú.

Bùi Oanh ngồi cạnh Hoắc Đình Sơn, liếc nhìn trượng phu bên cạnh, lại nhìn qua nhị tử đối diện. Cả hai sắc mặt đều bình thường, tựa hồ ăn ý không nhắc đến, dường như màn xung đột buổi trưa không hề xảy ra.

Bùi Oanh thầm cảm thán.

Sau bữa cơm, Hoắc Tri Chương cùng Bùi Oanh bàn lại tình hình của Thương Hành Bùi Thị, cuối cùng trình lên sổ sách Lạc Dương gần đây.

Bàn xong chuyện Thương Hành, Hoắc Tri Chương không chịu rời đi, hắn hăm hở: “Mẫu thân, con nghe phụ thân bảo người nói cây thương xà mâu sắt kia dùng bách luyện cương. Thứ bách luyện cương ấy là gì? Vì sao người biết?”

Thiếu niên đầy lòng hiếu kỳ, Bùi Oanh chỉ mỉm cười, giải thích cho hắn một lượt.

Hoắc Tri Chương nghe xong, trong đầu như có như không hiểu được vài phần. Nhưng từ lời mẫu thân, hắn nhạy bén nhận ra một thông tin:

Nếu mẫu thân hiểu rõ về bách luyện cương như vậy, chẳng phải có khả năng lớn người biết cách rèn bách luyện cương hay sao? Giống như xà phòng, kính viễn vọng, hay đường trắng, những thứ chưa từng xuất hiện trước đây, chẳng phải đều do một tay mẫu thân tạo ra sao?

Phụ tử nhà này vào thời khắc nào đó lại có sự ăn ý đáng kinh ngạc, hắn liền hồ hởi: “Mẫu thân, người có thể rèn bách luyện cương chăng?”

Bùi Oanh cũng không nói chắc chắn: “Còn chưa rõ, thử xem sao.”

Hoắc Tri Chương vui mừng khôn xiết, dường như hắn cũng không tự nhận ra, đối với mẫu thân hắn có một niềm tin vô điều kiện kỳ lạ. Dù là “còn chưa rõ”, qua tai hắn lại trở thành chuyện đầy hy vọng.

Hắn liền tươi cười rạng rỡ: “Nếu mẫu thân cần đến con, cứ việc lên tiếng, nhi tử nguyện xả thân cống hiến!”
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 171


Bùi Oanh mỉm cười, đáp lời.

Trời tối dần, chẳng mấy chốc đã đến giờ Bùi Oanh an giấc. Tối nay, nàng ngủ một mình, bởi Hoắc Đình Sơn đã rời đi vào giờ Tuất.

Theo lời hắn, hắn phải đi thuần thú.

Bùi Oanh không rõ nửa đêm hắn đi thuần loại thú nào, nhưng nếu hắn bận, nàng cũng không hỏi nhiều, chỉ lo nghỉ ngơi. Dưỡng tinh thần, ngày mai nàng chính thức bắt tay vào việc luyện thép.

---

Bên kia.

Hoắc Đình Sơn dẫn theo một đội quân rời khỏi Trầm Viên Đạo, tiến về hướng huyện Linh Ôn.

Ban ngày, quân Kinh Châu từng áp sát thành, nhưng bị Hoắc Đình Sơn đẩy lui. Sau đó, quân Kinh Châu rút về cách huyện Linh Ôn bảy mươi dặm, đóng quân tại một nơi gọi là trấn Thủy Hương.

Hoắc Đình Sơn dẫn quân đội đi trong đêm, đến gần trấn Thủy Hương vào giờ Tý.

Đến nơi rồi, nhưng Hoắc Đình Sơn không vội tiến công. Hắn lấy bản đồ trấn Thủy Hương ra xem xét. Vùng này thuộc Kinh Châu, địa hình đa phần đồi núi, thấp ở giữa và mở rộng về phía nam thành một lòng chảo không hoàn chỉnh.

Trấn Thủy Hương nằm ở vùng biên phía bắc. Từ huyện Linh Ôn đi về phía tây đến trấn Thủy Hương phải vượt qua một đoạn dốc thoải. Từ trấn Thủy Hương hướng về cửa ải Hoài Cổ, có hai con đường quan đạo đi xuống phía tây, đặt trấn này vào vị trí cao điểm nhỏ.

Hoắc Đình Sơn nhìn về phía nhi tử cùng Tần Dương, phân công nhiệm vụ:

“Hoắc Nhị, Tần Dương, mỗi người dẫn một đội quân, vòng qua trấn Thủy Hương từ hai phía tây bắc và tây nam, chặn hai lối ra. Cài hai lớp bẫy dây thừng chặn ngựa, sau đó án binh bất động, đợi quân Kinh Châu tự chui đầu vào rọ.”

Hai người nhận lệnh.

Hai đội quân lên đường trong đêm. Để che giấu tiếng động, họ bọc vải dày quanh móng ngựa.

Hoắc Đình Sơn cùng Lan Tử Mục và những người khác ở lại chờ.

Thời gian chậm rãi trôi qua. Trăng tròn trên trời từ từ dịch chuyển từ đông sang tây, màn đêm càng thêm sâu thẳm.

Giờ Tý qua, giờ Sửu đến.

Lan Tử Mục nhìn trời, rồi quay sang hỏi Hoắc Đình Sơn:

“Đại tướng quân, bọn họ chắc đã đến nơi, khi nào thì chúng ta hành động?”

Trấn nhỏ này không lớn, dù phải vòng đường, nhưng có ngựa thì Hoắc Nhị cùng đội của hắn hẳn đã vào vị trí.

Hoắc Đình Sơn gọn gàng đáp:

“Đợi đến đầu giờ Dần.”

Đầu giờ Dần chính là lúc con người chìm vào cơn buồn ngủ sâu nhất. Thêm nữa, hôm nay trời trăng sáng vằng vặc, nửa vầng mây đen cũng không thấy, ánh trăng chiếu sáng cả ngàn dặm. Hành động lúc này vẫn còn quá sớm.

Tiếp tục chờ đợi.

Thêm một canh giờ nữa trôi qua. Gió thổi nhẹ, từng làn gió mang theo mây đen chầm chậm kéo đến, che khuất một nửa ánh trăng sáng.

Hoắc Đình Sơn nhìn vị trí của trăng để xác nhận thời gian.

Đầu giờ Dần đã tới.

Hoắc Đình Sơn trầm giọng nói: “Lên ngựa, hành động.”

Đám binh lính U Châu mai phục hai bên quan đạo đồng loạt đứng dậy, nhanh chóng lên ngựa.

Móng ngựa được bọc vải dày, khiến đội quân này gần như hoàn toàn ẩn mình trong bóng đêm, lặng lẽ áp sát thành. Thậm chí, khi móc câu leo thành đã được dựng lên, quân Kinh Châu thủ thành mới giật mình phát hiện.

“Không ổn rồi, có địch tập kích ban đêm!”

“Mau báo cho Lý tướng quân!”

“Choang!” Tiếng chiêng trống vang lên dồn dập.

Trên thành, ánh lửa bùng lên như một con rắn dài thức tỉnh, nhanh chóng lan tỏa. Quân Kinh Châu vội vàng cầm trường cung b.ắ.n xuống nhằm làm chậm bước tiến của những kẻ đang leo lên.

Nhưng chưa kịp b.ắ.n được bao nhiêu, quân Kinh Châu trên thành đã nhìn thấy từ ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối có một vật khổng lồ dần xuất hiện.

Có kẻ trừng lớn đôi mắt, kinh hãi kêu lên: “Hỏng rồi, bọn chúng có Lâm Xung!”

Cái gọi là Lâm Xung, chính là một loại tháp xe công thành có tám bánh, trông tựa tòa cao lâu. Thường thì trên đó còn gắn một khúc gỗ lớn làm cọc phá thành, lính đẩy từ phía sau, dùng cọc gỗ phá hủy bờ tường phòng thủ của địch.

Thị trấn Thủy Hương chỉ là một nơi nhỏ bé, thành môn làm sao có thể sánh với các quận lớn. Chỉ bị Lâm Xung đ.â.m một lần, tường thành đã rơi rụng từng mảng đất cát, cổng thành lớn nghiêng ngả, sắp không chống đỡ được.

Đứng trên Lâm Xung, binh lính U Châu tính toán khoảng cách đã đủ gần, liền vung trường đao c.h.é.m đứt dây thừng cố định thang dài trên đỉnh tháp.

Dây thừng đứt, thang dài trên đỉnh Lâm Xung phát ra tiếng “cọt kẹt”, rồi cuối cùng “rầm” một tiếng, đổ xuống bờ tường phòng thủ.

“Yểm trợ!” Binh lính U Châu phía sau cầm cung lớn tiếng ra lệnh.

Hoắc Đình Sơn cũng tay cầm trường cung, đứng bên cạnh Lâm Xung, nhắm thẳng vào quân Kinh Châu trên thành mà bắn.

Mũi tên lao đi trong gió, mỗi phát như xé toạc không khí, chuẩn xác xuyên vào n.g.ự.c quân Kinh Châu, khiến chúng ngã xuống theo tiếng tên rít.

Đội lính U Châu đầu tiên trèo qua thang đã thành công đột nhập lên thành.

Cổng thành nhỏ bé không chịu nổi sức ép từ các đợt công kích, lại thêm nội ứng ngoại hợp, chẳng mấy chốc đã bị phá tan.

Khi Lý Cùng Kỳ vội vã đến nơi, cảnh tượng đập vào mắt hắn chính là thế này:

Quân U Châu mặc Hắc Giáp như đàn kiến từ trên thành tràn xuống, mỗi nhát đao đều lạnh lùng và sắc bén, rõ ràng là những kẻ tinh nhuệ. Ánh lửa hắt lên bề mặt đao sắc sáng loáng, nhanh chóng bị m.á.u tươi nhuộm đỏ.

Dưới cổng thành, quân U Châu cũng đã tụ tập. Cổng thành lung lay sắp đổ, một binh lính U Châu rút đi đoạn then cửa to lớn cuối cùng, khiến cổng thành không thể trụ thêm, “rầm” một tiếng sụp đổ.

Dây thần kinh trong đầu Lý Cùng Kỳ cũng đứt theo.

Cổng thành đã mở, quân Hắc Giáp bên ngoài như thủy triều tràn vào.

Lý Cùng Kỳ bị thương, thành này đã mất, hắn tự biết không thể địch lại, liền vội vàng quay ngựa, dẫn tàn quân hướng về cổng Tây.

Thành nội hỗn loạn một mảnh.

Hoắc Đình Sơn thúc ngựa tiến vào, phân phó Lan Tử Mục dẫn một đội thanh trừ tàn quân Kinh Châu, sau đó dẫn phần lớn Hắc Giáp Kỵ tiếp tục truy đuổi.

Muốn kẻ địch rơi vào bẫy, nhất định phải gia tăng áp lực, đúng không?

Lý Cùng Kỳ dẫn tàn binh ra khỏi thành, ngựa chạy nhanh như bay, gió đêm lạnh buốt như d.a.o cắt lướt qua mặt, khiến đầu óc hỗn loạn của hắn có chút tỉnh táo lại.

Ngoài thành có hai quan đạo nhỏ dẫn đi, đều hướng về phía Tây, nhưng một đường chếch về Nam, một đường chếch về Bắc. Phía trước nơi hai đường phân nhánh, bóng tối bao trùm. Dưới màn đêm, hai con đường quan đạo giống như miệng rắn khổng lồ đang há to, đi đường nào cũng tựa như bị nuốt chửng.

Rõ ràng đang là đêm khuya, gió lạnh buốt, nhưng lưng Lý Cùng Kỳ vẫn toát mồ hôi. Hắn ý thức được, hai con đường phía trước rất có thể đều đã có mai phục.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 172


Lý Cùng Kỳ hối hận không thôi. Sớm biết như vậy, hắn lẽ ra nên rút binh xa hơn nữa, chứ không phải nghĩ rằng Hoắc Đình Sơn vừa tổn thương nhuệ khí của hắn nhưng lại không g.i.ế.t hắn, sẽ không lập tức dẫn quân tấn công thành.

Dự đoán sai lầm.

“Lý tướng quân, chúng ta đi bên nào?” Phó tướng lo lắng hỏi.

Sau lưng có truy binh, thời gian để bọn họ suy tính không còn nhiều.

Ánh mắt Lý Cùng Kỳ lướt qua hai con đường quan đạo, cuối cùng cắn răng nói: “Đi bên trái!”

Phía bên trái là con đường quan đạo chếch về phía Tây Bắc. Hắn nhớ rõ hai bên đường này ít rừng rậm hơn so với Tây Nam, tầm nhìn cũng rộng rãi hơn, không dễ để mai phục như bên kia.

---

Hoắc Tri Chương nằm úp sấp trên một gò đất nhỏ, trong tay cầm ống nhòm nhìn về phía xa.

Chất liệu để chế tạo kính vẫn thiếu thứ soda nguyên chất tại Dự Châu, nguyên liệu chưa đủ, bởi vậy đến nay vẫn chưa phổ biến.

Sau này, Bùi Oanh cho người quay lại hang động lớn thu thập pha lê, nhưng đáng tiếc, pha lê đủ chất lượng để làm kính hiếm vô cùng. Loại tốt nhất được chọn trước để làm chiếc kính viễn vọng đầu tiên cho Hoắc Đình Sơn.

Sau đó, Sa Anh cũng làm được một chiếc, nhưng dùng pha lê kém hơn một chút. Lần tiếp theo, số pha lê còn sót lại được sàng lọc đi sàng lọc lại, miễn cưỡng tạo ra chiếc kính thứ ba.

Dù mặt kính khá mờ, nhưng Hoắc Tri Chương chẳng hề bận tâm, có thể nhìn được là đủ, hắn không để ý đến những tiểu tiết như vậy.

Hiện tại, thiếu niên nọ nhếch môi cười khi nhìn thấy bóng đen xuất hiện qua kính viễn vọng, khẽ lẩm bẩm: “Cuối cùng cũng tới, chậm thêm chút nữa ta đã nuôi béo hết đám muỗi rồi.”

Quan đạo tối đen như mực, đêm khuya yên tĩnh, chỉ có tiếng vó ngựa của phe mình không ngừng vang lên.

Trong lòng Lý Cùng Kỳ, sự bất an ngày càng dâng trào, như thể trên đầu hắn treo một thanh kiếm vô hình. Hắn không biết thanh kiếm ấy cách mình bao xa, cũng chẳng rõ dây treo nó sẽ đứt lúc nào.

Vào một khoảnh khắc nào đó, hai trinh sát đi trước đột ngột ngã nhào khỏi ngựa.

“Chết tiệt, là dây chặn ngựa!”

Ngay giây tiếp theo, mưa tên như vũ b.ắ.n tới.

Lý Cùng Kỳ lại cảm thấy như trút được một hơi thở, lập tức khích lệ sĩ khí: “Xuống ngựa, vào rừng!”

Thế nhưng lời vừa dứt, trận mưa tên đã ngừng. Tình thế này trông như kẻ phục kích không có nhiều binh lực, hoặc số lượng tên mang theo không đủ.

Quân lính Kinh Châu đưa mắt nhìn nhau, phó tướng hỏi: “Lý tướng quân, có cần xuống ngựa không?”

Lý Cùng Kỳ hít sâu một hơi, chiến mã quý giá, rốt cuộc không nỡ bỏ: “Không, cứ tiếp tục tiến lên.”

Tàn quân tiếp tục đi tới. Hai trinh sát dẫn đường ban đầu đã tử trận vì trúng tên, sau khi đã chịu một trận dây chặn ngựa, Lý Cùng Kỳ tự nhủ chắc sẽ không còn lần phục kích nào nữa, nên không phái trinh sát đi trước.

Kết quả lại chịu thiệt.

Người ngã ngựa đổ, phía trước tiếng sát phạt vang trời.

Không bao lâu sau, từ phía sau vang lên tiếng vó ngựa dồn dập, thanh thế lớn lao, vây c.h.ặ.t đội quân Kinh Châu ở giữa.

Lý Cùng Kỳ liên tục ngoảnh đầu nhìn về phía sau.

Người đến dường như đã chắc chắn thắng lợi, ngạo nghễ thắp lên bó đuốc, ánh lửa rực rỡ như con rồng hung dữ cuộn đến gần.

Lý Cùng Kỳ nhìn thấy bóng dáng vững chãi dẫn đầu đội quân. Ngọn đuốc trong tay binh sĩ phía sau hắn, ánh sáng từ sau chiếu lên trước, khiến khuôn mặt người đó không rõ ràng.

Dẫu không thấy rõ mặt, nhưng bóng dáng này, dù có hóa thành tro, Lý Cùng Kỳ vẫn nhận ra: “Hoắc, Đình, Sơn!”

Lại là hắn.

Hoắc Đình Sơn không phí lời với y, chỉ ra hiệu một cái, binh mã phía sau lập tức ào ạt tiến lên.

Trước sau giáp kích, chẳng mấy chốc, đội tàn quân Kinh Châu bị tiêu diệt gần hết, kẻ chưa bị g.i.ế.t cũng bị bắt làm tù binh.

Lý Cùng Kỳ bị buộc phải xuống ngựa, cùng y và mấy tướng lĩnh Kinh Châu còn lại bị vây ở trung tâm, xung quanh là một vòng giáo dài chữ “卜” tua tủa chĩa ra, ánh giáo dưới ánh trăng lạnh lẽo khiến người ta run sợ.

Hoắc Đình Sơn ngồi trên ngựa, cất giọng:

“Lý Cùng Kỳ, lần thứ hai bắt được ngươi rồi, phục chưa?”

Lý Cùng Kỳ trán nổi gân xanh, hai lần giật giật:

“Không phục! Thủy Hương Trấn chẳng qua chỉ là một thôn nhỏ, tường lũy lỏng lẻo chẳng khác gì không, một nơi như vậy dễ công khó thủ, chẳng lợi thế cho ta. Nếu đổi là ta, ta cũng có thể dễ dàng chiếm được Thủy Hương Trấn.”

Hoắc Tri Chương đứng bên cạnh bật cười châm biếm:

“Không phải chính ngươi tự chọn đóng quân ở Thủy Hương Trấn sao? Đã là ngươi chọn, thì hậu quả cũng nên tự gánh.”

Lý Cùng Kỳ nghẹn lời, chẳng thể nào nói rằng đối phương đoán được bước đi của y, chỉ có thể cố cứng cổ đáp:

“Dù sao ta vẫn không phục!”

Hoắc Đình Sơn dường như không ngạc nhiên khi y vẫn không phục, chậm rãi nói:

“Không phục? Nếu vậy, ta lại tha cho ngươi lần nữa.”

Cùng bị vây với Lý Cùng Kỳ còn có sáu tướng lĩnh Kinh Châu, nghe vậy không khỏi lộ vẻ vui mừng.

“Ngàn đời khó khăn chỉ một chữ chết.”

Lúc này còn sống, lại có cơ hội Đông Sơn tái khởi, tất nhiên là mừng rỡ không thôi.

Nhưng Hoắc Đình Sơn chưa nói hết lời:

“Ta cho ngươi một khắc, trong sáu người này, ngươi chọn ba người đi cùng ngươi.”

Sáu chọn ba, ý là chỉ một nửa được sống.

Sắc mặt sáu người đồng loạt thay đổi, nhao nhao nhìn về phía Lý Cùng Kỳ, miệng không ngừng van nài.

Hoắc Đình Sơn bên cạnh thảnh thơi xem kịch, lặng lẽ chờ thời gian trôi qua. Một khắc nhanh chóng qua đi, người đàn ông vừa xem xong màn kịch liền cất lời:

“Chọn đi, ngươi muốn ba người nào sống.”

Lý Cùng Kỳ nghiến răng, căm hận chỉ người.

Hoắc Đình Sơn thấy vậy, gật đầu, dùng roi ngựa chỉ ba người đã đứng cạnh Lý Cùng Kỳ, là những người được chọn “sống”:

“Ba người kia, giết.”

Sắc mặt mấy người biến đổi dữ dội.

Hoắc Tri Chương chẳng bận tâm tâm trạng của bọn họ ra sao, cùng Lan Tử Mục đồng thời rút đao, chớp mắt đã c.h.é.m rơi hai đầu người.

Máu tươi b.ắ.n tung tóe, “cộc cộc” đầu người thứ ba lăn xuống đất, thân không đầu ngã thẳng về phía sau.

“Ngươi đùa giỡn ta?!” Lý Cùng Kỳ mắt đỏ ngầu, như thể muốn ăn tươi nuốt sống đối phương.

Hoắc Đình Sơn thản nhiên đáp:

“Không tính là đùa giỡn. Ngươi với ta vốn khác phe, ta đối đầu ngươi chẳng phải chuyện bình thường sao? Cút đi, không cút thì cùng xuống gặp Diêm Vương với bọn họ.”

Lý Cùng Kỳ đứng ngẩn vài giây, rốt cuộc xoay người lên ngựa. Tiếng vó ngựa vang lên lóc cóc, đưa bóng đêm hành giả đi về phía tây.

“Phụ thân, vì sao người không g.i.ế.t Lý Cùng Kỳ?” Hoắc Tri Chương không hiểu.

Hắn đã nghe từ Sa Anh và Hùng Mậu rằng Lý Cùng Kỳ là một kẻ thân thủ phi phàm. Loại mãnh tướng như thế, sớm trừ khử chẳng phải giảm được một nỗi lo lớn hay sao?
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 173


Hoắc Đình Sơn liếc mắt nhìn tiểu nhi tử, “Đừng cả ngày chỉ biết đánh đánh g.i.ế.t giết. Thiên hạ rộng lớn như vậy, kỳ nhân dị sĩ không ít, chẳng phải chuyện gì ta cũng tiện tay g.i.ế.t được. Ngươi g.i.ế.t xuể sao? Hơn nữa, hắn hôm nay là tướng của Kinh Châu, ai biết ngày mai có thể đầu quân cho ta tại U Châu hay không? Trước đây Tư Châu còn thuộc về Lý Khiếu Thiên, bây giờ chẳng phải cũng đã thành địa bàn của phụ thân ngươi rồi sao?”

Hoắc Tri Chương cứng họng, không nói được lời nào.

Nhìn theo hướng Lý Cùng Kỳ rời đi, Hoắc Đình Sơn chậm rãi nhếch khóe miệng.

Giết ba thả ba, ba người được thả chính là những kẻ mà Lý Cùng Kỳ điểm danh muốn giết. Ba người thoát c.h.ế.t trong gang tấc, trong lòng chắc chắn tràn đầy oán hận đối với Lý Cùng Kỳ. Họ có thể còn lo sợ rằng Lý Cùng Kỳ đã nhìn thấu sự oán hận trong lòng mình, cảm thấy giữ họ bên cạnh không an toàn, chi bằng ra tay trước, diệt trừ hậu hoạn.

Ba người đó phần lớn sẽ lén lút đào tẩu, rồi vòng đường khác trở về gặp Tòng Lục Kỳ.

Oán hận chất chứa trong lòng luôn cần có nơi trút bỏ. Tòng Lục Kỳ, người có thể áp chế Lý Cùng Kỳ, chính là nơi lý tưởng để bộc bạch.

Lãnh binh đi đánh Trầm Viên Đạo, cuối cùng hầu như toàn quân bị diệt, bao nhiêu công sức đúc nên Thiết Tích Xà Mâu cũng mất sạch.

Dù bản thân Tòng Lục Kỳ không nghĩ nhiều, nhưng dưới sự xúi giục của những kẻ có tâm tư, cũng sẽ dấy lên chút nghi ngờ, rằng liệu Lý Cùng Kỳ có phải đã sớm phản bội, nếu không làm sao hai lần giữ được mạng dưới tay Hoắc Đình Sơn?

Chỉ còn thiếu một mồi lửa cuối cùng từ Tòng Lục Kỳ nữa thôi...

“Về thôi.” Hoắc Đình Sơn kéo cương quay đầu ngựa.

---

Sáng hôm sau, Bùi Oanh tỉnh dậy, bên cạnh hiếm hoi có người. Sự bá đạo của người này thể hiện ở mọi khía cạnh, đến nỗi cánh tay dài quấn lấy eo nàng ban đầu nàng cũng không đẩy ra được.

Nhưng hành động của nàng cũng khiến hắn tỉnh giấc.

Râu mới mọc lởm chởm của hắn cọ vào thái dương nàng, hơi ngứa. Bùi Oanh nghiêng đầu tránh, “Đêm qua thuận lợi chứ?”

Mới ngủ dậy, giọng Hoắc Đình Sơn trầm hơn thường ngày, “Cũng coi như thuận lợi.”

“Con thú đó bắt về được chưa?” Bùi Oanh trở người trong vòng tay hắn.

“Chưa, nhưng chỉ còn thiếu chút lửa cuối cùng.” Hoắc Đình Sơn tâm trạng phấn khởi.

Hắn trở về khi trời vừa sáng, nằm nghỉ chưa đến hai canh giờ nhưng tinh thần đã phấn chấn.

Buổi sáng, tinh thần mọi mặt đều dâng cao.

Bàn tay thô ráp vốn ôm lấy eo mỹ phụ, khẽ trượt dọc theo đường cong, khiến Bùi Oanh rùng mình không ngớt.

Mùa hè nóng bức, cửa sổ trong phòng mở rộng, bên giường đặt một bồn đá mới thay, giờ đây gió và ánh sáng ùa vào, mang theo sự mát mẻ và rực rỡ.

Sau tấm bình phong, động tĩnh không nhỏ. Người đàn ông vừa thắng trận ngủ một giấc thỏa thuê, tâm trí cũng vì thế mà trôi nổi.

“Trước đây ai nói thời chiến cấm…”

Lời còn chưa dứt đã bị hắn nuốt trọn.

‘Hàm túy ỷ túy bất thành ca, tiêm thủy yểm hương la.

Minh mị xuân quang vô hạn hảo, mãn nguyệt ám sinh hương.’ (*)

(*) “Ngà ngà say chẳng cất nên lời,

Nước mỏng che màn gấm nhẹ rơi.

Xuân sắc mơ màng vô hạn đẹp,

Trăng tròn âm ỉ tỏa hương ngời.”

Được trích từ bài thơ "Bán Yên Hành" (半烟行) của Lý Thanh Chiếu (Li Qingzhao), một nữ thi hào nổi tiếng thời Tống ở Trung Quốc.

Bài thơ này thuộc thể từ, phản ánh phong cách tinh tế và trữ tình đặc trưng của bà, thường diễn tả tâm trạng yêu thương, nhớ nhung và cảm xúc tinh tế qua thiên nhiên và cảnh vật.

Ban đầu, Bùi Oanh dự định sau khi tỉnh dậy sẽ bắt đầu tính toán chuyện luyện thép, nhưng bị Hoắc Đình Sơn phá đám, nàng kéo dài đến gần trưa mới dậy được.

“Phu nhân.” Ngoài cửa có người lên tiếng, là giọng Tân Cẩm.

Bùi Oanh lườm người đàn ông đang mãn nguyện một cái, “Nhất định trễ giờ rồi.”

Theo thường lệ, lúc không có chiến sự, họ luôn dùng bữa cùng các tiểu bối. Giờ thì hay rồi, trễ thế này.

Hoắc Đình Sơn uể oải nói: “Ăn bữa cơm thôi, đâu phải chuyện gấp gáp gì, để bọn họ chờ là được.”

Bùi Oanh không đáp lời hắn, chỉ chuyên chú mặc y phục. Nhưng trong lúc mặc, nàng chợt phát giác có điều không ổn.

Hiện đang là mùa hạ, vải vóc của áo váy mỏng nhẹ. Mặc dù cổ áo váy thời này không thấp như thời Đường, nhưng bảo là đặc biệt cao thì cũng không phải.

Giờ đây, Bùi Oanh vừa cúi đầu, lập tức liền trông thấy một vết đỏ hồng, không tài nào che đậy nổi, lộ ra ngoài cổ áo.

Vết đó mới vừa in, còn tươi mới vô cùng.

Bùi Oanh bực dọc kéo cổ áo lên che lại, nhưng việc này không mấy tác dụng. Nàng vừa buông tay, cổ áo lại rủ xuống.

"Hoắc Đình Sơn, ngài thật là quá tùy tiện rồi." Nàng thấp giọng trách hắn.

Hoắc Đình Sơn liếc nhìn, nhàn nhạt đáp:

"Ta lần sau sẽ chú ý hơn."

Bữa trưa ấy, Bùi Oanh không ra chính sảnh, nàng cùng Hoắc Đình Sơn ở trong phòng giải quyết.

Cơm trưa xong, Bùi Oanh bắt đầu chuẩn bị việc luyện thép.

Luyện thép không phải việc dễ dàng. Bùi Oanh đại khái nhớ rằng phương pháp luyện sắt ở các thời kỳ khác nhau đều không giống nhau.

Ở Trung Quốc, từ cuối thời Xuân Thu đã bắt đầu bước vào thời đại đồ sắt. Đến thời Tần, con người thử nghiệm kẹp sắt quặng với than củi, sau đó cùng đưa vào lò luyện sắt, từ đó thu được loại sắt mềm tạp chất cao.

Sang thời Hán, kỹ thuật luyện sắt tiến bộ, xuất hiện "bách cương pháp" và "sao thiết pháp". Cũng chính vào thời đại này, loại thép vừa dẻo hơn sắt cứng, vừa chắc hơn sắt mềm, đã bắt đầu ra đời.

Tuy nhiên, do phương pháp luyện sắt còn lạc hậu, công đoạn phức tạp, thép luyện ra thời ấy chất lượng vẫn kém xa hậu thế.

Đến Nam Bắc triều, xuất hiện phương pháp "quán cương" được ghi trong Thiên Công Khai Vật. Phương pháp này là rót sắt lỏng vào sắt mềm, thông qua sự chênh lệch cacbon giữa hai loại để tạo thành thép. Chất lượng thép so với thời Hán đã có bước tiến vượt bậc.

Đến Minh triều, "quán cương pháp" được cải tiến, hình thành "Tô cương pháp" vẫn còn sử dụng đến ngày nay. Phương pháp này là đặt sắt thô lên miệng lò, đợi tan chảy nhỏ giọt vào lò, phản ứng với sắt mềm bên trong.

Quá trình này giống như một thí nghiệm chuẩn độ axit-bazơ, có thể tương đối chính xác kiểm soát tỷ lệ hai bên, từ đó ảnh hưởng đến hàm lượng cacbon trong thép.

Bùi Oanh nhìn từng phương pháp liệt kê trong sổ nhỏ, trước tiên dùng than chì gạch bỏ "bách cương pháp".

"Chậm quá, một miếng sắt nhỏ mà luyện vài năm, làm sao có ngần ấy thời gian."

"Sao thiết pháp dường như công đoạn cũng rất phiền toái, bỏ qua đi…" Bùi Oanh vừa tự nói vừa cầm bút gạch tiếp "sao thiết pháp".

(Cho phép Editor qua loa khoản luyện thép này tý nha – thật sự không phải chuyên môn nên khá mơ hồ khi dịch, thêm vào đó, việc tìm kiếm tài liệu để giải thích và dịch ra cho mọi người dễ hiểu rất mất thời gian, mà lại không ảnh hưởng đến cốt truyện chính nên mình tạm thời bỏ qua nhé! – lời Editor)

Hiện tại, quân Kinh Châu tại Hoài Cổ Quan vừa đại thắng liên quân Ung Châu và Ích Châu. Đông Môn Quan thì đang lâm vào bế tắc, trên một phương diện nào đó, chiến sự tạm yên, nên Hoắc Đình Sơn, vốn chẳng phải kẻ trung thần một lòng, hiếm khi nhàn nhã như lúc này.

Hắn ngồi bên cạnh Bùi Oanh, nghe nàng lẩm bẩm. Đôi mắt đẹp của nàng chăm chú nhìn sổ nhỏ, chuyên tâm đến mức như không hề nhận ra bên cạnh có một người sống.

Dáng vẻ này của nàng thực hiếm gặp. Hoắc Đình Sơn hứng thú nhìn, lại chẳng thấy buồn chán chút nào.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 174


Bùi Oanh dành hai canh giờ để phác thảo sơ bộ quy trình luyện sắt, cuối cùng nàng từ bỏ phương pháp luyện thép Tô Cương, quyết định sử dụng phương pháp Quán Cương.

Phương pháp Quán Cương một khi ra đời, chắc chắn sẽ làm kinh động thiên hạ, theo đó cũng sẽ thu hút sự chú ý của các thế lực khắp nơi.

Khác với những thứ chỉ thuộc về hàng xa xỉ phẩm như xà phòng, phương pháp liên quan đến binh khí nhất định sẽ khiến các bên liên hợp lại, không tiếc mọi giá để điều tra cho bằng được bí mật của Quán Cương pháp.

Không bảo vệ được phương pháp này là điều hiển nhiên. Một là vì lực lượng bên ngoài quá lớn, hai là cũng không thể xem nhẹ những thợ rèn cổ đại. Người xưa thực sự rất thông minh.

Việc mò mẫm từ một điểm khởi đầu hoàn toàn khác với việc bắt đầu từ hai điểm đã được xác định rõ. Việc phương pháp Quán Cương bị truyền bá khắp thiên hạ chỉ là vấn đề thời gian, có thể chỉ trong vòng hai năm, thậm chí chưa đến một năm, các châu đã nghe danh mà biết.

Nàng cần đặt xuống một lá bài khác, và lá bài này chính là Tô Cương pháp.

Đợi đến khi Quán Cương pháp lan rộng khắp các châu, lúc đó U Châu có thể âm thầm thay thế bằng Tô Cương pháp, luyện ra một mẻ thép chất lượng ưu việt hơn.

Xác định được phương pháp luyện thép, việc trọng yếu tiếp theo là chú ý nhiệt độ của lò luyện. Để dùng Quán Cương pháp, nhiệt độ cần đạt từ 1300℃ trở lên. Cách nâng cao nhiệt độ lò luyện chính là mấu chốt, mà nhiệt độ cao không chỉ cần thiết cho việc luyện thép mà sau này cũng sẽ liên quan đến việc chế tác thủy tinh.

Chính tại điểm này mà Bùi Oanh bị mắc kẹt.

Nàng loay hoay cả buổi chiều.

Hoắc Đình Sơn ngồi bên nhìn nàng viết viết, rồi lại gạch bỏ, phần lớn giấy sau khi viết xong đều bị nàng vo tròn, vứt vào giỏ tre nhỏ ở bên cạnh.

Chiếc giỏ vốn trống rỗng giờ dần đầy lên.

“Phu nhân, trời đã không còn sớm, trước dùng cơm đã.” Hoắc Đình Sơn khép quyển sổ nhỏ trước mặt nàng lại.

Nhưng vừa mới khép được một giây, nàng lập tức mở ra, ánh mắt vẫn chăm chăm vào cuốn sổ, hoàn toàn không để ý đến hắn, “Ngài đi trước đi, ta ăn sau.”

Bùi Oanh cảm thấy bản thân đang đứng ở lằn ranh của sự khai sáng, những điều nàng quên dường như mờ mờ nhớ lại được một phần.

Phần đỉnh băng sơn đã lộ ra, màn sương mù sắp được vén.

Chỉ thiếu một chút nữa thôi.

Chỉ một chút nữa!

Ngay lúc này, làm sao nàng có thể để tâm đến việc dùng bữa?

Bùi Oanh cứ như vậy mà bướng bỉnh với cái lò luyện thép.

Hoắc Đình Sơn muốn lên tiếng lần nữa: “Phu nhân…”

Nhưng hiện tại, nàng chẳng thể chịu được bất kỳ sự quấy nhiễu nào. Lập tức, khuôn mặt diễm lệ như phù dung của nàng lạnh đi, quay đầu nhìn hắn với ánh mắt lạnh lùng. Những lời còn chưa nói hết của hắn chẳng hiểu sao lại nghẹn lại.

Hắn đành phải rút lui trong im lặng, nhưng chỉ riêng dáng vóc của hắn đã đủ hiện diện một cách rõ ràng. Dù hắn cố ý thu lại khí thế, sự tồn tại của hắn vẫn không thể bỏ qua.

Bùi Oanh nhìn hắn, đôi mày thanh tú từ từ cau lại, “Ngài đứng dậy đi.”

Hoắc Đình Sơn không hiểu vì sao, nhưng vẫn nghe lời đứng lên, sau đó thấy nàng cũng đứng dậy, thậm chí còn kéo lấy tay hắn.

Đây là dấu hiệu nàng thay đổi ý định, muốn đi dùng cơm cùng hắn?

Tốt lắm.

Cho đến khi cùng nàng đi tới cửa phòng, Hoắc Đình Sơn cảm thấy cánh tay đang khoác lấy hắn từ từ buông ra. Hắn định quay đầu nhìn lại, nhưng thấy nàng đã lui về phía sau, lùi vào trong phòng.

Ngay sau đó…

"Cạch." Cánh cửa phòng bị đóng sầm lại.

Hoắc Đình Sơn: "…"

---

Lý Cùng Kỳ cưỡi ngựa một mình trên quan đạo, trên người mang hai vết thương, một ở vai phải, một ở thắt lưng bên trái.

Vết thương trước là từ trận chiến dưới thành huyện Linh Ôn, bị Hoắc Đình Sơn dùng thương xà mâu sắt đâm; vết thương sau là do đêm qua bị ba người kia liên thủ tập kích.

Khi ấy, bọn họ đang ở dịch trạm dùng bữa, ăn chưa được bao lâu, hắn bỗng cảm thấy mất sức, không rõ là do thức ăn bị hạ độc hay nguồn nước không sạch. Nhưng dù là lý do gì, khi ba người kia bất ngờ ra tay với hắn, mọi chuyện đã sáng tỏ.

Họ muốn lấy mạng hắn.

Ngoại trừ việc ban đầu bị tập kích bất ngờ, Lý Cùng Kỳ không để mình chịu thiệt nữa. Thậm chí, trong tình trạng bị đ.â.m một nhát và vai vẫn còn đau, hắn vẫn g.i.ế.t c.h.ế.t một người. Hai người còn lại thấy hắn không hề giảm khí thế hung hãn, lại mất đi một đồng bọn, lập tức sợ hãi và bỏ chạy.

Cứ như vậy, bốn người vốn đồng hành trên đường giờ chỉ còn lại một mình Lý Cùng Kỳ.

Phủ châu mục của Kinh Châu nằm ở quận Giang Lăng thuộc Nam Quận. Lý Cùng Kỳ một mình một ngựa từ Bắc vào Nam, mất đúng năm ngày mới về đến Giang Lăng.

Quân lính trên thành đều nhận ra hắn. Trước đây, mỗi lần nhìn thấy Lý Cùng Kỳ, bọn lính đều cúi đầu cung kính hành lễ, nhưng hôm nay không biết vì nghe được tin tức gì hay vì lý do nào khác, Lý Cùng Kỳ cảm nhận ánh mắt của bọn họ có chút khác thường.

Tuy nhiên, vì đang gấp gáp vào cung, hắn cũng không nghĩ nhiều.

Từ khi Tòng Lục Kỳ xưng đế, nay đã là Chiêu Nguyên Đế, làm sao có thể ở trong phủ Châu mục nhỏ bé được nữa? Thế nên phủ Châu mục trước đây được sửa sang lại, biến thành Hoàng cung.

"Ôi trời, Lý tướng quân, ngài cuối cùng cũng về rồi." Trung thường thị họ Triệu vừa được phong chức có quan hệ không tệ với Lý Cùng Kỳ, thấy hắn vội bước tới: "Bệ hạ đang rất giận dữ, lát nữa khi gặp bệ hạ, ngài phải cẩn thận lời nói, điều cần giải thích thì phải giải thích rõ ràng."

Lời tuy không nhiều, chỉ hai câu, nhưng đủ để hiểu.

Tâm Lý Cùng Kỳ trầm xuống.

Xem ra Hồng Bị và Tây Môn Cung đã trở về Giang Lăng trước hắn.

"Ta đã rõ, cảm ơn Triệu Trung thường thị đã nhắc nhở." Lý Cùng Kỳ để lại một câu rồi sải bước tiến vào trong.

Hắn gấp rút muốn gặp thượng cấp của mình.

Giang Lăng từng là kinh đô, nơi đây từng có những cung điện rộng lớn, nhưng đó là chuyện hơn năm trăm năm trước. Sau đó, kinh đô dời đến Lạc Dương rồi Trường An, Giang Lăng, thành trì từng một thời huy hoàng, dần mất đi vẻ phồn hoa.

Hoàng cung mới xây chẳng có được bề dày lịch sử, chỉ cố hết sức dùng vàng bạc tô điểm, diện tích cũng không lớn lắm.

Sau khi thông báo, Lý Cùng Kỳ được cho phép vào trong. Hắn nhìn thấy người mình muốn gặp, và cả Chu Độc – từng là mưu sĩ, nay đã được phong làm thừa tướng.

"Mạt tướng tham kiến bệ hạ." Lý Cùng Kỳ hành đại lễ.

Tập tục tôn sùng màu đen của triều trước vẫn được duy trì đến triều nay, hoàng bào cũng là màu đen. Tòng Lục Kỳ, người đã tự xưng đế, nay khoác trên mình long bào màu đen, đầu đội mũ miện mười hai tua ngọc, ngồi trên ngai cao, khuôn mặt không cảm xúc nhìn vị ái tướng ngày xưa của mình.

Dù cúi đầu, Lý Cùng Kỳ vẫn có thể cảm nhận ánh mắt không hài lòng và dò xét của người ở trên cao.

"Vân Quy," Chiêu Nguyên Đế gọi tên tự của Lý Cùng Kỳ, "trẫm cần một lời giải thích."

Trước khi đến, Lý Cùng Kỳ đã chuẩn bị sẵn lời lẽ. Hắn không giấu giếm, đem toàn bộ sự việc kể lại.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 175


Nói về chuyện hắn ban đầu thế nào tại huyện Linh Ôn đứng dưới thành khiêu chiến, sau đó liên tiếp đánh bại hai người, dẫn đến Hoắc Đình Sơn xuất chiến. Trong cuộc đối đầu tiếp theo, hắn không cẩn thận để đối phương đoạt mất binh khí. Sau đó, dẫn quân rút về trấn Thủy Hương, nhưng không ngờ đối phương tổ chức một trận tập kích ban đêm. Kết cục là hắn bị bắt, rồi Hoắc Đình Sơn ép hắn chọn người đồng quy vu tận.

Cuối cùng, Lý Cùng Kỳ nói: “... Là mạt tướng khinh địch.”

Đúng vậy, bây giờ ngẫm lại, quả thực là hắn đã khinh địch.

Ban đầu, liên tiếp đánh bại hai người khiến hắn mất cảnh giác. Ai ai cũng biết Hoắc U Châu làm chủ soái, giỏi nhất là khả năng thống lĩnh và chỉ huy, chứ không phải sức chiến đấu quá kinh người. Khi ấy, hắn cũng đinh ninh rằng đối phương chỉ giống như lời đồn, trời sinh thần lực, nhưng lại không biết người này còn vô cùng xảo quyệt.

Thiết Tích Xà Mâu bị đoạt, vai hắn bị thương, sự thất bại đã được định trước...

Chiêu Nguyên Đế nhìn Lý Cùng Kỳ đang cúi đầu bên dưới, nhàn nhạt mở lời: “Ái khanh rời Hoài Cổ Quan mang theo một vạn binh mã, hiện tại còn lại bao nhiêu?”

Lý Cùng Kỳ đầy vẻ hổ thẹn đáp: “Ngoài mạt tướng, chỉ còn lại Hồng Bị và Tây Môn Cung.”

Nghe hắn chủ động nhắc đến hai người này, Chiêu Nguyên Đế nheo mắt: “Đã có kẻ khác còn sống, sao ái khanh lại một mình đến đây?”

Lý Cùng Kỳ: “Mạt tướng và bọn họ bất hòa. Lúc trước, Hoắc Đình Sơn ép mạt tướng chọn ba người, Hồng Bị, Tây Môn Cung và Phó Hùng đều không nằm trong lựa chọn. Ba người họ sau khi rời đi cùng mạt tướng, có lẽ lo sợ bị diệt khẩu, nên tính ra tay trước, hợp mưu g.i.ế.t mạt tướng, nhưng không ngờ việc chưa thành, ngược lại mất đi một người.”

Hắn đã gián tiếp thừa nhận mình g.i.ế.t Phó Hùng.

Chiêu Nguyên Đế lại hỏi: “Hoắc Đình Sơn bắt ngươi hai lần, sao không g.i.ế.t ngươi?”

Lý Cùng Kỳ không nghe ra nghi ngờ trong giọng nói của y, nhưng cũng biết đối phương nhất định có điều hoài nghi, nếu không đã chẳng hỏi như vậy. “Hắn muốn mạt tướng quy thuận U Châu, còn nói...”

Nói đến đây, Lý Cùng Kỳ dừng lại, ban đầu hắn cúi đầu, giờ chậm rãi ngẩng lên: “Hoắc Đình Sơn còn nói bệ hạ vì muốn tiêu diệt quân U Châu mà thả dịch bệnh, coi dân chúng ở Tư Châu cho đến biên thùy Kinh Châu như cỏ rác.”

Hắn nhìn thấy rõ ràng, lúc hắn nói lời này, cơ mặt bên phải của người ngồi trên kia khẽ giật một cái, tựa hồ không thể khống chế.

Trong lòng Lý Cùng Kỳ kinh hãi.

Chuyện này là sao?

Chẳng lẽ những lời Hoắc Đình Sơn nói là thật?

“Ngụy biện, xằng bậy!” Tiếng quát giận dữ truyền từ phía trên xuống.

Lý Cùng Kỳ lòng hơi yên ổn.

Lúc này, Chu Độc bên cạnh lên tiếng: “Hoắc Đình Sơn là kẻ gian trá, Lý tướng quân chớ mắc bẫy của hắn.”

Lý Cùng Kỳ vội nói đương nhiên không.

Hắn đáp lời xong, cả sảnh đường rơi vào tĩnh lặng.

Ánh mắt dò xét từ vị trí cao nhất chưa từng rời đi, nhưng Lý Cùng Kỳ cảm thấy bản thân không còn gì để nói nữa. Những điều cần kể đã kể, cần giải thích đã giải thích xong.

Hắn vốn không phải kẻ thích lặp đi lặp lại để biện hộ, đã nói hết lời, phần còn lại xem đối phương xử trí thế nào.

Chu Độc bên cạnh liên tục nháy mắt ra hiệu với Chiêu Nguyên Đế, người sau trầm mặc hồi lâu mới nói: “Trẫm đã biết, ái khanh lui về trước đi.”

Lý Cùng Kỳ hành lễ cáo lui.

Chờ hắn rời khỏi, Chiêu Nguyên Đế lạnh lùng mở lời: “Theo khanh thấy, hắn có phản bội không?”

Chu Độc vuốt râu đáp: “Hẳn là không. Bệ hạ đối với hắn có ân, hắn có được ngày hôm nay hoàn toàn là nhờ ân điển của ngài, Lý tướng quân không phải kẻ vong ân phụ nghĩa.”

“Một vạn binh mã gần như toàn quân bị diệt, Phó Hùng c.h.ế.t dưới tay hắn, Thiết Tích Xà Mâu tốn bao công sức mới có lại rơi vào tay Hoắc Đình Sơn. Khanh cũng biết rõ về cây thương đó, đến trẫm còn tiếc không dám dùng, chỉ vì quý trọng nhân tài mới ban cho hắn.” Chiêu Nguyên Đế nghĩ đến đây liền cảm thấy đau lòng.

Cây thương ấy thế gian hiếm có, trong tay hắn cũng chỉ có một cây. Nay thì hay rồi, lại để Hoắc Đình Sơn cướp mất.

"Một câu trọng nhân tài liền để hắn trở về, ái khanh làm sao biết đó không phải chỉ là cái cớ?" Giọng Chiêu Nguyên Đế dần lạnh lùng hơn. "Hơn nữa, Hồng Bị và Tây Môn Cung cũng đã nói, tối hôm đó hắn khăng khăng đóng quân trong trấn nhỏ, ban ngày bại trận mà tối lại không vội vã rút lui. Lý Vân Quy trước nay không phải người bất cẩn như vậy, hỏi sao trẫm lại nghi ngờ trong đó có điều mờ ám?"

Chu Độc âm thầm nhíu mày.

Hồng Bị và Tây Môn Cung trở về Giang Lăng trước, gặp mặt chủ công trước tiên, ấn tượng đầu tiên đã hình thành thì về sau khó mà thay đổi, huống hồ chủ công lại là người đa nghi.

Nghĩ đến đây, Chu Độc đứng dậy từ chỗ ngồi, hướng về phía trên chắp tay cung kính nói:

"Bệ hạ, ngựa có lúc sảy chân, người cũng có lúc lầm lỡ. Lý tướng quân có lẽ chỉ là nhất thời sơ suất, còn Hoắc Đình Sơn thì xảo quyệt vô cùng, lại rất giỏi thừa thắng truy kích, nên mới dẫn đến cục diện hôm nay."

Phía trên, Chiêu Nguyên Đế không nói lời nào.

Chu Độc ở bên cạnh Tòng Lục Kỳ hơn hai mươi năm, có thể nói hắn là nhóm mưu sĩ đầu tiên của Tòng Lục Kỳ, cũng là người duy nhất còn lại trong nhóm đầu tiên ấy.

Hắn hiểu rõ tính khí của chủ công mình hơn ai hết.

Giờ đây thấy đối phương không đáp, Chu Độc biết rằng ngài ấy vẫn chưa hết nghi ngờ. Chủ công đa nghi, mà trước đây Lý Cùng Kỳ lại từng nhắc đến dịch bệnh, có lẽ sau này còn phải điều tra thêm…

"Bệ hạ, dụng nhân bất nghi, nghi nhân bất dụng (*)."

(*) Khi đã dùng người thì không nghi ngờ, nếu đã nghi ngờ thì không nên dùng.

Chu Độc ngập ngừng hồi lâu, cuối cùng thấp giọng nói: "Nếu như ngài phát hiện thật sự không thể tin tưởng Lý tướng quân, xin ngài ngàn vạn lần đừng để hắn rời Giang Lăng mà còn sống."

Lý Cùng Kỳ là một con hổ dữ, vuốt sắc nanh nhọn, hung hãn vô cùng. Nếu như con hổ dữ này cuối cùng không thể tiếp tục vì mình mà ra sức như trước, ắt phải diệt trừ.

---

Mấy ngày liền, Bùi Oanh đều trầm ngâm suy nghĩ về lò luyện thép. Ban đầu nàng chỉ thỉnh thoảng không ra chính sảnh dùng bữa cùng đám tiểu bối, về sau thì dứt khoát không đi nữa, đều ăn uống trong phòng.

Hoắc Đình Sơn đến thì nàng thêm một đôi đũa, không đến thì nàng tự ăn xong rồi lại dồn sức vào công việc.

Kim Ô lặn về Tây, màn đêm buông xuống. Gian nhà chính đã thắp đèn, ánh đèn dịu nhẹ lan tỏa, xua tan mấy sợi u ám vừa tụ lại không lâu.

Bùi Oanh ngồi trước án thư, trước mặt trải một quyển sổ nhỏ. Trong sổ viết không ít chữ, còn vẽ những hình mà người ngoài nhìn vào chẳng hiểu nổi.

Than củi thượng hạng trong môi trường tương đối kín, nhiệt độ cháy cao nhất có thể đạt 1200℃, đây cũng là nhiệt độ tối đa của kỹ thuật hiện tại.

Muốn vượt qua mức 1200℃ này, Bùi Oanh hiểu rằng ngoài những phụ liệu có thể giảm điểm nóng chảy của sắt, còn phải đưa thêm khí oxy vào lò, ngọn lửa mới cháy mạnh hơn.

Vấn đề là làm sao đưa khí vào?

Giai đoạn hiện tại dường như đang dùng ống thổi hay túi hơi, nhưng đều phải dựa vào sức người, đồng nghĩa với việc một lò ít nhất cần mấy người thay phiên thổi không ngừng cả ngày lẫn đêm.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 176


Việc luyện thép không nên phô trương, người đông sẽ bất tiện. Huống hồ, chỉ cần lơ là thổi gió, nhiệt độ ắt sẽ ảnh hưởng đến bên trong lò.

Bùi Oanh nhíu mày, cố gắng tìm kiếm ký ức từ những quyển sách đã từng đọc qua.

Không hay không biết, gần hai canh giờ đã trôi qua.

“Cạch.” Cửa phòng bị đẩy ra, một bóng dáng cao lớn bước vào từ bên ngoài.

“Phu nhân, không còn sớm nữa.” Hoắc Đình Sơn đến thúc giục nàng đi nghỉ ngơi.

Bùi Oanh bị tiếng gọi của hắn kéo trở lại thực tại, chợt nhận ra đêm nay sắp qua mà nàng vẫn chưa tìm được giải pháp.

Bùi Oanh bất đắc dĩ xoa trán.

Thấy vậy, Hoắc Đình Sơn rót cho nàng một chén trà, dịu giọng nói: “Việc này gấp cũng không được, uống chút nước trước đã. Có gì phu nhân cần ta chia sẻ ưu phiền, cứ việc nói với vi phu.”

Bùi Oanh ngẩn người, quay đầu nhìn hắn, ánh mắt thoáng chút kinh ngạc: “Hoắc Đình Sơn, vừa rồi ngài nói gì?”

Hắn nhướng nhẹ chân mày, đưa tay khẽ chạm vào vành tai trắng ngần của nàng: “Ở trong phòng mấy ngày, đến nỗi tai cũng ù đi rồi sao?”

Bùi Oanh bất chợt xoay đầu, không để ý đến hắn nữa, nhanh chóng thu dọn đồ đạc trên bàn: “Đa tạ đã nhắc nhở, ta đã nghĩ ra cách để ổn định lượng oxy. Hoắc Đình Sơn, tối nay cho ta mượn thư phòng của ngài một lát, ngài cứ ở trong phòng mà nghỉ ngơi đi.”

Nói rồi, nàng dứt khoát thu dọn đồ đạc, động tác nhanh gọn, trong chớp mắt đã rời đi.

Hoắc Đình Sơn nhìn cánh cửa phòng mở toang, chìm vào im lặng.

Hắn chỉ rót cho nàng một chén nước, vậy mà tối nay lại phải chịu cảnh trống vắng một mình?

---

Thư phòng là nơi trọng địa, đã chẳng còn là nơi chỉ treo tấm biển “người nhàn chớ vào”.

Trong nhiều gia tộc quyền thế, các vị chủ nhân thường phái người canh giữ thư phòng, nữ quyến tuyệt đối không được bén mảng, dù là thê tử cũng không ngoại lệ.

Vệ binh thấy Bùi Oanh đến, chỉ hành lễ rồi đứng yên, không hề ngăn cản, hiển nhiên là đã nhận lệnh từ trước.

Nha hoàn Tân Cẩm nhanh nhẹn thắp sáng các đèn trong thư phòng, rồi thấp giọng nói: “Phu nhân, nô tỳ sẽ chờ ở cửa, có việc gì xin cứ gọi nô tỳ.”

Thư phòng là nơi nhạy cảm, Tân Cẩm rất rõ bản thân không thể nán lại lâu, xong việc liền nhanh chóng lui ra.

Vì lúc đến quá vội, một lòng chỉ nghĩ đến ý tưởng vừa bắt được, Bùi Oanh không chú ý rằng Tân Cẩm đã theo mình đến, giờ đây mới nói: “Tân Cẩm, ngươi không cần đợi ngoài cửa, hãy về nghỉ trước đi. Trong này có sạp nhỏ, ta làm việc xong sẽ nghỉ tại đó, không cần hầu hạ gì thêm.”

Tân Cẩm chần chừ.

Bùi Oanh khẽ cười: “Không sao đâu, ngươi cứ về đi, bên ngoài có vệ binh trực đêm, nếu có việc ta sẽ gọi họ.”

Lần này Tân Cẩm không do dự nữa, liền lui ra khỏi thư phòng.

Cửa thư phòng lại được đóng chặt.

Bùi Oanh trải quyển sổ tay nhỏ của mình ra, tiếp tục viết vẽ.

Vừa rồi, Hoắc Đình Sơn nói với nàng một câu: “Việc này gấp cũng không được, uống chút nước trước đã. Có gì phu nhân cần ta chia sẻ ưu phiền, cứ việc nói với vi phu.”

Một câu nói rất đỗi bình thường, nhưng có hai chữ trong đó khiến nàng động lòng.

Thủy (nước), (bài) thoát nước.

Nàng đã nhớ ra rồi.

Thời kỳ đầu nhà Hán, công cụ thổi hơi dùng loại túi gió, ban đầu cả hai loại này đều dựa vào sức người để vận hành, tức là “nhân lực dẫn động”.

Về sau, người ta chuyển sang dùng sức kéo của gia súc như trâu, dê. Nhưng rồi người ta phát hiện gia súc cũng không phải lúc nào cũng ổn định. Vậy là ánh mắt khôn ngoan của cổ nhân chuyển từ gia súc sang sức mạnh của thiên nhiên.

Người xưa thông minh nghĩ đến việc tận dụng thủy lực.

Tương tự như phương pháp phát điện bằng sức gió và nước ngày nay, người xưa dựng nên bánh xe nước bên bờ nguồn, kết nối bánh xe nước với lò luyện sắt, trong đó dùng túi hơi làm cầu nối.

Dòng nước làm quay bánh xe, bánh xe lại thúc động túi hơi hoặc túi gió, nhờ vậy không chỉ tiết kiệm được gia súc trên đồng ruộng, mà còn thu được nguồn lực ổn định hơn cả người và gia súc, chính là sức nước.

Phương pháp thổi hơi này, vì các hốc lò luyện sắt được sắp thành hàng nên gọi là “thủy bài”.

Có được ý tưởng rồi, Bùi Oanh làm việc càng nhanh hơn.

Thời gian luôn trôi nhanh khi chuyên tâm làm việc. Đến khi Bùi Oanh vẽ xong bản thiết kế thủy bài, trăng tròn trên trời đã ngả về phía tây.

Giờ Tý đã qua, nhưng nàng vẫn hiếm thấy tinh thần phấn chấn. Khi nàng đang định một hơi viết nốt các bước còn lại, cửa thư phòng bỗng mở ra.

Nghe tiếng, Bùi Oanh ngẩng đầu, liền thấy một người mà giờ này không nên, nhưng vẫn có thể xuất hiện ở đây.

Nhìn bóng dáng cao lớn ấy, Bùi Oanh kinh ngạc, “Hoắc Đình Sơn, sao ngài lại đến đây?”

Người nọ chỉ nhàn nhạt đáp, “Phu nhân hiếm khi thức đêm làm việc, ta qua xem thế nào.”

Lúc này, Bùi Oanh mới chợt nhớ quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ. Cửa sổ vẫn mở, đêm nay trời quang đãng, không mây che khuất, là một cảnh đêm hiếm thấy trăng sáng sao thưa.

Nhưng trăng tròn đã ngả về tây, rõ ràng đêm đã khuya.

Bùi Oanh nghi hoặc trước lời hắn, “Thật chỉ là xem? Nếu ngài có quân tình cần xử lý gấp, ta sẽ tìm nơi khác làm việc, không quấy rầy ngài nghị sự.”

Trước đây cũng từng xảy ra tình huống khẩn cấp như vậy. Đang ngủ thì bên ngoài có vệ binh đưa quân tình cấp bách, hắn phải rời giường giữa đêm khuya đến thư phòng.

“Không có quân tình.” Hoắc Đình Sơn đi tới, đứng bên cạnh nàng, cúi đầu nhìn xuống.

Bản vẽ thủy bài đã hoàn thành, cả túi hơi và lò cao bằng đất cũng đã định hình.

Thật mới lạ, đều là những thứ Hoắc Đình Sơn chưa từng thấy qua. Nhưng đại khái quy trình luyện sắt hắn vẫn hiểu, thậm chí những năm đầu khi tiếp quản quân U Châu, hắn còn hay ghé qua giám binh khí để xem xét.

Nhìn bản vẽ, hắn cũng hiểu được hơn nửa.

Hoắc Đình Sơn nói, “Bản vẽ của phu nhân quả thật tinh xảo.”

“Nếu ngài đến thời hậu thế, sẽ thấy rằng so với nó, mọi thứ bây giờ chẳng khác gì trẻ con nghịch bùn.” Bùi Oanh nhớ đến những rừng thép sừng sững, những cần cẩu chỉ cần vài cần gạt và nút bấm là có thể nâng lên những vật nặng hàng trăm tấn.

Cuộc cách mạng công nghiệp đã mở ra một trang sử hoàn toàn mới, cũng đồng thời vạch ra một ranh giới sâu như vực thẳm giữa trước và sau.

“Nếu phu nhân nói hậu thế kỳ diệu đến vậy, chi bằng đưa ta đi xem thử.” Hắn chuyển ánh mắt về phía nàng.

Bùi Oanh sững lại, “Chuyện này sao mà xem được? Nếu có cách trở về, ta…” Nàng nghĩ đến con gái mình, sẽ dẫn theo con cùng trở về.

Lời còn chưa dứt, cả người nàng đã bị bế bổng lên.

Đột ngột rời khỏi mặt đất khiến Bùi Oanh theo phản xạ nắm lấy cánh tay hắn, còn hắn sau khi bế nàng lên lại cố tình nhấc bổng nàng lên một cái, còn cười.

“Hoắc Đình Sơn!”

Bùi Oanh bị hắn làm cho giật mình không ít, chỉ lo nắm lấy tay và vạt áo hắn, quên cả câu nói đang dang dở."
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 177


Trong gian nội thất của thư phòng có đặt một chiếc tháp nhỏ, để chủ nhân tạm nghỉ ngơi. Phủ Giả tiết của Phương Cương quả nhiên hoa lệ, tiểu tháp trong thư phòng cũng không ngoại lệ, so với nhà thường thì lớn hơn không ít.

Nhưng dù lớn cách mấy, thì nó vẫn chỉ là một chiếc tiểu tháp dành cho một người, giờ hai người cùng nằm, tự nhiên trở nên chật chội.

Bùi Oanh bị ép đến sát tường, một bên áp vào tường, bên kia áp sát hắn. Nàng bất mãn nói:

“Đây chính là cái mà ngài gọi là dẫn ta đi xem? Trong mộng cái gì cũng có phải không?”

Hoắc Đình Sơn khẽ cười:

“Sao lại không tính chứ?”

Bùi Oanh: “…”

Tiểu tháp vốn không rộng, Hoắc Đình Sơn liền kéo nửa người nàng ôm vào lòng, như thường lệ nửa ôm lấy nàng.

Không bao lâu, Bùi Oanh liền kháng nghị:

“Ngài dịch ra một chút, nóng quá.”

Hắn lười biếng đáp:

“Dịch không được, tháp chỉ có nhiêu đây thôi.”

Bùi Oanh im lặng một hồi, đột nhiên thông suốt vài chuyện, trong bóng tối mở to mắt nhìn hắn:

“Vậy là không có quân tình khẩn cấp nào, ngài đến thư phòng thuần túy là để ngủ sao?”

Trong bóng tối, nàng nghe hắn ừ một tiếng, rồi chẳng còn gì nữa.

Bùi Oanh không nói nên lời.

Nhưng nhịp điệu một khi bị phá vỡ, sợi dây căng thẳng trong lòng buông lỏng, Bùi Oanh chỉ cảm thấy cơn buồn ngủ ập đến, rất nhanh đã bị mệt mỏi cuốn lấy, đến mức mí mắt cũng không mở nổi.

Nếu là lúc bình thường, khi vào giấc nàng nhất định sẽ lại nhắc nhở Hoắc Đình Sơn rằng nóng, đồng thời yêu cầu về ngủ ở chủ viện. Nhưng bây giờ nàng quá mệt, mệt đến mức có thể tạm bợ, nhắm mắt lại chẳng bao lâu liền chìm vào giấc ngủ.

Nghe tiếng hô hấp đều đặn của người trong lòng, trong bóng tối, Hoắc Đình Sơn chậm rãi nhắm mắt.

Cảm giác này, mới đúng.

Một giấc ngủ yên bình.

---

Trong vài ngày tiếp theo, toàn bộ tinh thần của Bùi Oanh vẫn đặt vào việc luyện thép, từng bản thiết kế lần lượt ra đời.

Hoắc Đình Sơn gọi đến một binh lính U Châu mà trước đây nàng chưa từng tiếp xúc, người kia tên là Hạ Huyền, hình như từng đảm nhận chức vụ tại Giám quân khí, là người trong nghề.

Bùi Oanh trực tiếp làm việc với hắn. Mỗi lần Hạ Huyền nhận được một bản thiết kế đều hưng phấn không thôi.

Hắn dường như đã lui về từ chiến trường, ngón áp út và ngón út trên tay phải bị c.h.ặ.t đứt đến tận gốc, nhưng điều đó không ảnh hưởng đến việc hắn lúc này dùng ba ngón còn lại của tay phải cầm c.h.ặ.t bản thiết kế, như thể cầm được báu vật.

“Chủ mẫu, thiết kế này thực diệu kỳ!” Hạ Huyền kích động đến mức mặt đỏ bừng.

Nhưng sau khi kích động, Hạ Huyền lại bắt đầu lo lắng.

Bản thiết kế rất tốt, phương pháp luyện thép trên đó tiên tiến hơn hiện nay rất nhiều, nhưng lại không thể lập tức thử nghiệm.

Hiện tại bọn họ vẫn đang ở Kinh Châu, chỉ chiếm được Trầm Viên Đạo và huyện Linh Ôn lân cận. Nói không ngoa, bốn phía đều đầy lỗ hổng. Chuyện trọng đại như vậy mà để lộ tin tức thì tổn thất khó lòng tính toán được.

Hắn có thể mang bản thiết kế đến Tư Châu, tại Tư Châu triển khai việc luyện thép, nhưng trong đó lại liên quan đến nhiều vấn đề khác…

Mặc dù đã có bản vẽ, nhưng trong quá trình luyện thép, ắt sẽ gặp phải không ít vấn đề nhỏ nhặt. Hắn cần thỉnh giáo chủ mẫu, nhưng chủ mẫu hiện ở Kinh Châu, hành trình đi về vừa tốn thời gian vừa hao sức lực. Biện pháp tốt nhất là đưa chủ mẫu cùng về Tư Châu.

Hạ Huyền đem những lo lắng và yêu cầu này trình bày với thượng cấp, cầu xin đối phương chấp thuận. Hắn vốn nghĩ thượng cấp hoặc là đồng ý, hoặc sẽ suy xét, nhưng không ngờ…

“Không được.” Hai chữ này vừa lạnh lùng vừa cứng rắn, tựa hồ chẳng có chút không gian nào cho sự thương lượng.

Hạ Huyền không nén nổi sự kinh ngạc, thốt lên, “Đại tướng quân, vì sao?”

Ánh mắt đen như mực của nam nhân chỉ khẽ động, tựa như một thứ chất vô cơ lạnh lẽo, “Không cần lý do. Việc này không có gì để bàn thêm.”

Hạ Huyền trong lòng càng thêm khó hiểu.

Khi bọn họ đang trò chuyện, Bùi Oanh đứng ngay bên cạnh.

Chờ đến khi Hạ Huyền lui ra ngoài, nàng nhìn về phía nam nhân bên cạnh, “Hoắc Đình Sơn, những lời hắn nói không phải là vô lý. Kinh Châu không thích hợp luyện thép, nhưng Tư Châu thì khác. Đó đã là địa phận của ngài, có quân đội trú đóng, tính bảo mật cũng cao hơn nhiều.”

“Phu nhân không thể rời xa ta.” Hoắc Đình Sơn đáp gọn, nhưng lý lẽ đầy đủ, “Tên tiểu nhân họ Kỷ ở Trường An vẫn đang chú ý tới nàng. Chỉ cần phát hiện nàng rời đi, hắn nhất định sẽ ra tay.”

Bùi Oanh ngẫm nghĩ một hồi rồi đưa ra đề nghị: “Trầm Viên Đạo đã là ranh giới cuối cùng của Kinh Châu. Từ đó xuất phát tới huyện thành Tư Châu chỉ mất hai, ba ngày. Nếu ngài thực sự không yên tâm, có thể để Hoắc Tri Chương dẫn một đội Hắc Giáp Kỵ hộ tống ta tới Lạc Dương. Lúc ấy, ta ở Lạc Dương cùng với Minh Tuấn sẽ có người hỗ trợ lẫn nhau.”

Nghe thấy nàng nhắc tới Lạc Dương, lại nhắc tới trưởng tử của mình, Hoắc Đình Sơn trong lòng khẽ hừ một tiếng.

Nàng nghĩ tới cả Lạc Dương, hẳn đã bí mật tính toán từ lâu.

“Không được.” Vẫn là hai chữ lạnh như băng.

Bùi Oanh nghe vậy thì nhíu mày, “Đây đã là cách tốt nhất rồi. Chẳng lẽ ngài không muốn thép sớm ngày được luyện ra sao?”

Hoắc Đình Sơn im lặng.

Dĩ nhiên hắn muốn. Không nói đến việc trang bị toàn bộ cho mười mấy vạn binh mã, dù chỉ có một nghìn thanh thép tinh luyện, hắn cũng có thể tạo nên một đội kỵ binh thiết huyết khiến thiên hạ phải chấn động.

Nhưng trong đó cũng có rủi ro mà hắn khó lòng gánh vác. Hắn không muốn nhận lấy nguy cơ đó, dù mồi câu trước mặt vô cùng hấp dẫn.

Bùi Oanh nhìn thấu được sự lo ngại của hắn, nhẹ giọng trấn an, “Sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu. Sau khi tới Lạc Dương, ta chỉ đi lại giữa phủ Châu mục và xưởng rèn. Những họ hàng thân thích tìm tới, ta sẽ không tiếp bất kỳ ai.”

Hoắc Đình Sơn nói: “Phu nhân, hãy để ta cân nhắc thêm.”

Suy nghĩ của hắn kéo dài hai ngày. Hai ngày sau, trong bữa ăn, Hoắc Đình Sơn tuyên bố một quyết định: hắn và Bùi Oanh cùng trở về Lạc Dương.

Hoắc Tri Chương kinh ngạc không thôi, “Phụ thân, nếu người rời đi, nơi này Trấn Viên Đạo sẽ thế nào?”

Hiện tại, các thế lực tạm thời ở trạng thái tương đối yên bình, nhưng cuộc chiến không phải đã chấm dứt. Không ai biết được, liệu ngày nào đó còi hiệu chiến tranh có thể lại vang lên, khói lửa chiến tranh lại ngùn ngụt.

Cục diện chiến trường thay đổi trong chớp mắt, làm sao đoán định được?

Sắc mặt Hoắc Đình Sơn bình thản, đáp, “Hoắc Tri Chương, ngươi năm nay đã mười tám, không còn là đứa trẻ tám tuổi. Khi bằng tuổi ngươi, ta đã có thể tự mình dẫn quân. Ta giao Trầm Viên Đạo lại cho ngươi, cho ngươi mười vạn binh mã, thêm cả Công Tôn Thái Hòa cùng những người khác. Mọi việc ở Kinh Châu trước khi ta trở về đều do ngươi toàn quyền phụ trách.”

Hoắc Tri Chương hơi mở to mắt, như thể trong lồng n.g.ự.c bị nhồi nhét đầy những cảm xúc phức tạp, nhiều đến mức sắp tràn ra ngoài.

Bối rối, lo lắng, mong đợi, phấn khích…

“Con lĩnh mệnh!” Giọng hắn vang vọng đầy chắc nịch.

Hoắc Đình Sơn: “Nếu có vấn đề không thể giải quyết, lập tức phái người khẩn cấp đưa thư tới Lạc Dương.”

Sau bữa ăn, Bùi Oanh cùng Hoắc Đình Sơn rời khỏi sảnh đường.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 178


Người này cũng sẽ đến Lạc Dương, nhưng trước đây Bùi Oanh chưa từng nghe hắn tiết lộ nửa lời. Nàng cũng chỉ vừa mới biết chuyện này trên bàn ăn.

Bùi Oanh hỏi hắn:

“Ngài cớ sao lại đột ngột muốn đi Lạc Dương? Trầm Viên Đạo chiếm lấy đâu dễ dàng, ngài cứ thế mà rời đi, nhỡ có biến cố xảy ra thì làm thế nào?”

Hoắc Đình Sơn giọng điệu bình thản:

“Hoắc nhị đã trưởng thành, cứ mãi trốn sau lưng ta thì ra thể thống gì. Phải để hắn tự mình dẫn binh, tự mình quyết định, trải nghiệm thế nào mới là một tướng quân thực sự. Tôi luyện không thể quá câu nệ được mất, cho dù Trầm Viên Đạo có mất, ta cũng có cách giành lại.”

Bùi Oanh bất giác nghĩ tới loài điêu ưng trong tự nhiên.

Khi ưng con trưởng thành đến một mức nhất định, ưng mẹ sẽ dẫn chúng đến vách đá cheo leo, sau đó từng con một, đẩy chúng xuống dưới.

Có con ưng nhát gan, vì sợ hãi không thể dang rộng đôi cánh, bị rơi xuống mà mất mạng. Nhưng cũng có những con ưng can đảm, vỗ cánh bay lên, học được cách tung hoành giữa trời xanh.

Bùi Oanh quay đầu nhìn người đàn ông bên cạnh mình. Ánh mặt trời phủ lên gương mặt góc cạnh của hắn, nhưng lại chẳng khiến hắn thêm chút ấm áp nào, ngược lại trông càng lãnh đạm, xa cách.

Trong vai trò người phụ thân, hắn không hề do dự, cũng chẳng chút quyến luyến khi đẩy đứa con trai chưa tới tuổi đội mũ trưởng thành ra ngoài để rèn luyện.

Tựa như cảm nhận được ánh mắt của nàng, hắn nghiêng đầu, vẻ mặt dịu đi đôi chút:

“Lần trước đến Lạc Dương quá vội vã, chưa kịp ngắm kỹ. Lần này ta sẽ đưa phu nhân dạo quanh Lạc Dương một phen, được không?”

Bùi Oanh trong thoáng chốc không biết nên nói gì, thậm chí có phần muốn né tránh ánh mắt kia, rõ ràng là ôn hòa, nhưng lại khiến nàng cảm thấy nóng rực đến mức quá đỗi.

“Ừm.” Nàng khẽ đáp một tiếng.

Sau khi quyết định đi Lạc Dương, Giả tiết phủ nhanh chóng vận hành, dồn toàn lực để thu xếp hành trang. Nhưng ngay khi mọi thứ sắp được chuẩn bị xong, bên ngoài phủ lại xuất hiện một vị khách đặc biệt.

Lý Cùng Kỳ đã đến cửa.

Sau một hồi trốn thoát khỏi hiểm cảnh, Lý Cùng Kỳ tóc tai rối bời, y phục dơ bẩn, vết thương trên người quấn dây băng cũ kỹ không biết đã bao nhiêu ngày chưa thay. Người ngoài nhìn vào chỉ tưởng hắn là một tên hành khất nơi đầu đường xó chợ.

Thế nhưng, tên "hành khất" này giờ lại được mời vào phủ Giả tiết, còn ngồi ở chính sảnh nơi dùng để tiếp khách quý.

Hoắc Đình Sơn ngồi trên thượng tọa, ánh mắt lướt qua dáng vẻ tiều tụy, gầy rộc của Lý Cùng Kỳ, khóe môi hơi nhếch lên, giọng như cố ý dò hỏi:

“Không biết Lý tướng quân đến tìm ta, là vì chuyện gì đây?”

Lý Cùng Kỳ nghe vậy, trong lòng uất nghẹn, suýt chút nữa phun ra máu.

Những gì xảy ra mấy ngày trước hằn sâu vào tâm trí y, dù mười năm sau, hẳn vẫn sẽ cảm thấy cơn ác mộng đó như mới xảy ra hôm qua.

Sau khi một mình trở về Giang Lăng, y liền nhập cung diện thánh, dâng sớ trình bày. Nhưng vừa rời khỏi cung, quay lại phủ, đêm đó phủ đệ của y đột nhiên bốc cháy.

Lửa bùng lên từ phòng ngủ chính. Trùng hợp thay, đêm đó, y lòng đầy tạp niệm, trằn trọc không yên, vừa nghĩ đến Hồng Bị và Tây Môn Cung phản bội mình, vừa nhớ lại cảnh báo cáo trong cung, cuối cùng lại quay cuồng với ký ức trận tập kích ban đêm.

Nằm không được, y đành đứng dậy vào thư phòng nghiên cứu cách đánh bại Hoắc Đình Sơn.

Không ngờ, giữa đêm khuya, phòng ngủ chính của y bốc cháy, thê tử bị xà nhà cháy rụi đè chết.

Dù trời mùa hạ hanh khô, nhưng nhìn dầu hỏa đổ tràn trong viện, Lý Cùng Kỳ làm sao không nhận ra có người cố tình phóng hỏa?

Có kẻ muốn lấy mạng hắn.

Y lập tức tra xét, lần theo manh mối phát hiện sự việc liên quan đến Hồng Bị. y không phải kẻ nhẫn nhịn, liền cầm kiếm định tìm Hồng Bị tính sổ, nào ngờ trên đường đi lại bị triệu vào cung.

Chiêu Nguyên Đế – người từng là thượng cấp của y – nghe hắn y báo xong, chỉ nhấc cao đánh khẽ, biến chuyện lớn thành nhỏ.

Khoảnh khắc ấy, y đã hiểu, người thượng cấp này không còn tín nhiệm y nữa, thậm chí vụ phóng hỏa lần này có lẽ còn được ngầm cho phép.

Y bí mật cử tâm phúc đưa lão mẫu và tiểu nhi tử rời đi, bản thân cũng định bỏ trốn, nhưng gặp phải sự ngăn cản quyết liệt.

Hầu như toàn bộ thành Giang Lăng đều xuất quân truy bắt y. Y mất đi mấy người tâm phúc mới có thể phá vòng vây, m.á.u chảy thành sông, thoát ra ngoài. Khi thoát khỏi Giang Lăng, Y đột nhiên cảm thấy vô định.

Đi về phía tây, đến Ích Châu?

Nhưng Ngụy Ích Châu và Tòng Lục Kỳ không hợp, không lâu trước đó y đã c.h.é.m c.h.ế.t Đô đốc Ích Châu – Mục Thiên Thu. Hiện tại đến đó chẳng khác nào tự đ.â.m đầu vào chỗ chết.

Đi về phía bắc, tới Ung Châu?

Ung Châu và Ích Châu kết minh, đã hợp quân thành liên minh. Hơn nữa, quân Ung Châu xét cho cùng vẫn là quân triều đình. Một võ tướng từng gia nhập “tân đế” như y mà chạy sang phía triều đình, nghĩ thôi cũng biết chẳng có kết cục tốt đẹp.

Đi về phía đông, tìm Lôi Dự Châu – Lôi Thành Song?

Có lẽ Dự Châu quá xa, đến được đó cũng đã c.h.ế.t giữa Trầm Viên Đạo rồi.

Đúng vậy, Trầm Viên Đạo.

Suốt đường từ Giang Lăng đến đây, trong đầu y không ngừng hiện lên Trầm Viên Đạo, như có một giọng nói bảo rằng hắn phải đến nơi đó.

Thế là y vượt qua tầng tầng lớp lớp binh lính truy bắt, né tránh các thành trấn, ngày đêm gấp rút tới Trầm Viên Đạo, rồi xuất hiện trước phủ Giả tiết.

Y báo danh, nói muốn gặp Hoắc U Châu. Nghĩ rằng với dáng vẻ thảm hại hiện giờ, binh lính canh cửa sẽ xem y như kẻ ăn mày tìm bữa ăn miễn phí mà đuổi đi. Y thậm chí đã chuẩn bị làm ầm lên, đánh ngã vài người để chứng minh thực lực.

Nhưng kỳ lạ thay, binh lính không chỉ không đuổi y mà còn dẫn vào phủ, đưa đến chính sảnh, như thể đã nhận được chỉ thị từ trước.

Ở chính sảnh, y không đợi lâu, Hoắc Đình Sơn xuất hiện.

Nghe Hoắc Đình Sơn hỏi lý do tới đây, tay Lý Cùng Kỳ vô thức siết c.h.ặ.t thành nắm đấm. Nhưng ngẫm lại, lời này dù có chút giễu cợt, song lại không chứa ác ý, tay y dần buông lỏng.

“Trước kia ngài từng nói muốn ta quy thuận quân U Châu. Lần này ta đến, chính là vì điều đó.” Lý Cùng Kỳ nhìn thẳng Hoắc Đình Sơn.

Hoắc Đình Sơn gật đầu:

“Được.”

Lý Cùng Kỳ ngẩn ra.

Hắn đồng ý nhanh như vậy, chẳng hỏi gì thêm sao?

Hoắc Đình Sơn gọi lính canh, bảo đi mời Phùng Ngọc Trúc đến. Sau đó quay sang Lý Cùng Kỳ nói:

“Ngày mai ta sẽ khởi hành đi Lạc Dương. Ngươi đi cùng ta.”

Lý Cùng Kỳ cau mày, Hoắc Đình Sơn không hỏi, y lại không nhịn được mà lên tiếng trước:

“Hoắc U Châu, ngài không muốn hỏi vì sao ta đột nhiên đến đầu quân sao?”

Hoắc Đình Sơn từ đầu đến chân quan sát y, nở nụ cười ý vị thâm sâu:

“Ta nghĩ bộ dạng hiện giờ của ngươi cũng đủ chứng minh rằng ngươi không thể ở lại Giang Lăng. Tòng Lục Kỳ không dung nổi ngươi, chẳng phải vậy sao?”

Lý Cùng Kỳ nghẹn họng, đáp lời:

“…Đúng vậy.”

“Vậy là được rồi.” Hoắc Đình Sơn có người nằm vùng trong bóng tối tại Giang Lăng. Tin tức về việc Giang Lăng truy nã toàn diện Lý Cùng Kỳ, hắn đã sớm nắm rõ.
 
Đến Từ Hiện Đại, Mẫu Thân Ta Danh Chấn Tứ Phương
Chương 179


Hắn không hỏi, nhưng Lý Cùng Kỳ vẫn muốn nói:

"Ta ở Giang Lăng, nhà cửa bị người phóng hỏa, thê tử ta c.h.ế.t trong trận hỏa hoạn. Sau việc ấy, ta muốn đi tìm kẻ phóng hỏa để báo thù, nhưng chưa kịp làm gì đã bị triệu vào cung. Hắn biến chuyện lớn thành nhỏ, buộc ta nhẫn nhịn bỏ qua."

Ban đầu, Lý Cùng Kỳ rất phẫn nộ. Nào ngờ sau khi nói xong, Y phát hiện ánh mắt Hoắc Đình Sơn nhìn mình có chút thay đổi.

Nếu như trước đó chỉ đơn giản là giễu cợt, thì nay ánh nhìn ấy đã trở thành khinh bỉ:

"Bị người g.i.ế.t thê, hắn bảo ngươi biến chuyện lớn thành nhỏ, ngươi lại nhịn được, thật đúng là hèn nhát."

Lý Cùng Kỳ hạ giọng:

"Nhưng lúc ấy xung quanh điện có nhiều thị vệ, ta lại đã buông kiếm bước vào, trên người không có binh khí, thêm thương tích, không thắng nổi hắn."

Hoắc Đình Sơn chẳng buồn đáp lời.

Bầu không khí trong sảnh đường nhất thời đọng lại.

Chưa được bao lâu, Phùng Ngọc Trúc đeo hòm thuốc vội vàng đến. Hoắc Đình Sơn mở miệng:

"Văn Thừa, ngươi xem thương thế cho hắn."

Phùng Ngọc Trúc nhìn Lý Cùng Kỳ, mí mắt hơi giật.

Đây là lần đầu hắn ta gặp một vị khách nhếch nhác đến vậy. Dù còn chưa đến gần, hắn ta đã thoáng ngửi được mùi khó chịu, không biết đã bao lâu không tắm rửa.

Tuy vậy, đã quen đối mặt với phong ba, Phùng Ngọc Trúc không biểu lộ chút gì. Hắn ta bảo Lý Cùng Kỳ cởi áo ra để kiểm tra vết thương.

Khi áo vừa cởi, sắc mặt Phùng Ngọc Trúc liền thay đổi đôi chút:

"Vết thương đã bắt đầu hoại tử."

Không chỉ có t.hịt hoại tử, mà còn bốc ra mùi thối rữa khó chịu. Thực ra cũng chẳng thể trách Lý Cùng Kỳ. Trên đường chạy trốn, y thường xuyên bữa đói bữa no, ăn đủ đã là tốt, nào còn hơi sức lo chuyện vệ sinh cá nhân.

Hoắc Đình Sơn giọng điệu nhạt nhẽo:

"Kẻ này hiện không tính là binh sĩ U Châu của ta. Văn Thừa, ngươi cần cắt thì cắt, cần khâu thì khâu, chỉ cần giữ được một hơi thở, dùng thuốc mạnh cũng không sao, chẳng cần nương tay."

Chân mày Lý Cùng Kỳ khẽ giật.

Phùng Ngọc Trúc lại hiểu rõ ý tứ.

Hiện không tính là binh sĩ U Châu, nhưng qua được lần này thì sẽ là. Thân phận kẻ này không đơn giản, hắn ta phải dốc toàn lực cứu chữa.

Không dám chậm trễ một khắc, Phùng Ngọc Trúc bắt đầu xử lý vết thương cho Lý Cùng Kỳ, bước đầu tiên là dùng nước muối sinh lý rửa sạch vết thương.

---

Lúc trước, Bùi Oanh đang thu dọn hành lý, chợt nghe Hoa Đại Giang đến báo rằng có người đến, kẻ đó tên là Lý Cùng Kỳ. Sau đó, Hoắc Đình Sơn vốn đang ở trong phòng cùng nàng, lại đi tiếp khách.

Hoắc Đình Sơn rời đi, Bùi Oanh đứng trong phòng một lát, chợt nhận ra tại sao cái tên "Lý Cùng Kỳ" này lại khiến nàng có cảm giác quen thuộc.

Trước kia, Hoắc Đình Sơn từng nhắc đến việc thu được một cây thương xà mâu sắt, còn nói qua về tên của chủ nhân trước đó – chính là Lý Cùng Kỳ.

Đối phương chẳng phải người Kinh Châu hay sao? Bị tịch thu vũ khí chưa lâu, nay lại đến cửa?

Có thể khiến vệ binh cho vào, hẳn không phải kẻ địch nhỉ.

Bùi Oanh lòng đầy tò mò, cũng muốn biết những binh khí như thương xà mâu, phía đối phương còn bao nhiêu. Nàng định lén nhìn một chút, rồi nhờ vệ binh chuyển lời cho Hoắc Đình Sơn.

Kết quả, nàng vừa đến hành lang bên cạnh chính sảnh, chưa kịp vòng qua đã gặp một binh sĩ U Châu đang xách hai bình nước muối sinh lý. Đối phương khẽ cúi chào nàng.

“Đây là dùng hay tặng vậy?” Bùi Oanh hỏi.

Vệ binh đáp: “Dùng ạ. Phùng y quan đang xử lý vết thương cho hắn.”

“Phu nhân.” Nghe động tĩnh, Hoắc Đình Sơn bước ra.

Nhân vật chính xuất hiện, Bùi Oanh liền hỏi thẳng: “Giờ tình hình thế nào? Đối phương đến đầu hàng sao?”

Nếu không, tài nguyên của quân U Châu khó mà dùng cho người ngoài.

Hoắc Đình Sơn cười: “Phu nhân quả nhiên thông tuệ, mãnh thú đã tự biết quay về chuồng.”

Bùi Oanh nhớ đến lời hắn từng nói về thuần thú, liền bừng tỉnh đại ngộ. Lý Cùng Kỳ, Cùng Kỳ – một trong tứ hung thần thoại thượng cổ, quả thực là mãnh thú.

“Vết thương bên hông khá nghiêm trọng, ta cần cắt bỏ phần hoại tử. Ngươi phải nhẫn nhịn một chút, đừng động đậy lung tung.” Từ bên trong, nàng nghe tiếng Phùng Ngọc Trúc nói.

“Cứ làm đi.” Một giọng nói trầm đục như tiếng sấm vang lên.

Bùi Oanh lại nhớ đến chuyện khác, hỏi Hoắc Đình Sơn: “Ngươi từng nói, nếu vết thương có t.hịt thối, phải cắt bỏ hoặc để giòi ăn sạch. Vậy khi cắt t.hịt thối, là cắt sống à?”

Người đàn ông nhướng mày, ngạc nhiên nói: “Không cắt sống, chẳng lẽ cắt chết?”

Bùi Oanh: “…”

Nàng phát hiện hắn quả thật có chút hài hước đen tối.

“Dĩ nhiên không phải cắt chết. Ý ta là trước khi cắt, nên cho bệnh nhân dùng thứ gì đó để họ không cảm giác đau đớn, tránh họ không nhịn được mà giãy giụa, ảnh hưởng đến công việc của y giả.” Bùi Oanh giải thích.

Hoắc Đình Sơn đáp: “Chúng ta hiện không có loại ‘thứ đó’. Nhịn được thì chịu đựng, không nhịn được thì trói lại hoặc đánh ngất.”

Bùi Oanh: “…” Rất tốt, đúng là đơn giản thô bạo.

Thấy nét mặt nàng có vẻ khó nói, Hoắc Đình Sơn hỏi: “Ở chỗ phu nhân, trước khi cắt t.hịt thối, sẽ dùng thứ gì?”

Chưa đợi Bùi Oanh trả lời, bên trong chính sảnh đã có tiếng nói vọng ra: “Ta đây làm bệnh nhân còn chẳng lo, ngươi làm y quan lại cứ nhăn mày nhíu mặt, sợ cái gì chứ! Nói thật, ngươi định khâu ta như khâu y phục à?”

Bùi Oanh liếc nhìn về phía chính sảnh rồi nói: “Sẽ dùng ma dược trước. Khi ma dược phát huy tác dụng, dù có mổ bụng, cắt ruột hay khâu vết thương, bệnh nhân cũng không cảm thấy gì. Họ như chìm vào giấc ngủ, không còn sức lực lải nhải với y giả.”

Không biết câu nào chạm vào nụ cười của Hoắc Đình Sơn, hắn khẽ cười trầm, nói: “Gặp những kẻ lắm lời đúng là phiền thật.”

Cười xong, hắn lại hỏi: “Thứ gọi là ‘ma dược’ trong lời phu nhân, làm thế nào chế được?”

“Ở chỗ ta, cách làm rất phức tạp, nơi này không có điều kiện.” Bùi Oanh lại nhìn về phía chính sảnh, nói thêm: “Nhưng có một loại thuốc có lẽ nơi này có thể làm được. Ta lát nữa sẽ nói với Phùng y quan.”

Trong y học cổ đại Trung Quốc, ma dược xuất hiện sớm nhất vào thời Đông Hán, do Hoa Đà phát minh, gọi là Ma Phí Tán. Nghe nói chỉ cần uống Ma Phí Tán với rượu, bệnh nhân sẽ mê say, không còn cảm giác đau đớn.

Nhưng phương thuốc Ma Phí Tán sau đó thất truyền. Người đời sau tìm tòi, chỉ đoán được có thể có nguyên liệu như hoa Mạn Đà La.

Nghe lời Bùi Oanh nói, Hoắc Đình Sơn như suy tư điều gì.

Họ vốn định ngày mai lên đường đi Lạc Dương, nhưng vì Lý Cùng Kỳ đến cửa mà hành trình thay đổi, lùi lại hai ngày.

Thoáng chốc đã qua hai ngày, cả nhà dùng xong bữa sáng, chuẩn bị khởi hành.

Hoắc Tri Chương từng bước nhỏ theo sát song thân, tiễn họ đến tận sân nơi xe ngựa đỗ.
 
Back
Top Bottom