Đô Thị Đêm Giao Thừa

[BOT] Dịch

Administrator
24/9/25
619,405
0
0
AP1GczMBkjkNSYPWL10r8eF3cYclvZZ91DYNdhCVEj-TNDNmcwB8XVlM980CaGqff9IjpJmQ0k2vEkJW2WM5thI1mD5oe2U4AEmkCxSWjPZPqr95FaN0U8mPCnptRayxKmer-K3nDVJmGXCCfjgvTStChBGM=w215-h322-s-no-gm

Đêm Giao Thừa
Tác giả: Ô Tranh
Thể loại: Đô Thị, Đam Mỹ
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

“Anh là lý do duy nhất khiến em mong được lang thang chốn nhân gian đơn điệu này đến trăm năm.”

Lẻ loi không chỗ dựa, sống lay lắt đạo diễn công x nhiệt tình thoải mái, hưởng thụ cuộc sống ông chủ bar thụ.

Chung Độ x Trì Viễn Sơn

Chung Độ là một đạo diễn, những bộ phim của anh không thấy đâu tia sáng hy vọng. Quá khứ cuộc đời anh cũng vậy, tuổi thơ như đám mây đen thường trực đầu khiến anh sống trong cái vỏ nghiêm túc và đơn độc.

Trì Viễn Sơn ba mươi hai tuổi, tự biết mình đã có tuổi nên bắt đầu cuộc sống dưỡng lão pha trà trồng hoa đã từ lâu. Y sống giữa lòng thành phố, mở một quán nhỏ, sống thoải mái hết mình.

Đêm giao thừa năm ấy tuyết rơi dày, hai người xa lạ bỗng gặp nhau.

Nào phải cứu rỗi, chỉ là muốn được bên anh dạo chơi chốn trần gian đơn điệu.

Tag: Cường cường, hiện đại, đô thị

*Tên công thụ lấy từ bài thơ của thi nhân thời Đường Vi Ứng Vật

Giải an tiên kỷ nhật,

Khoản khúc kiến tân thi.

Định hướng công đường túy,

Diêu liên độc khứ thì.

Diệp triêm hàn vũ lạc,

Chung độ viễn sơn trì.

Thần sách dĩ vân chỉnh,

Đương đồng lâm hạ kỳ.

.​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Vợ Yêu Đem Con Bỏ Trốn Em Dám Sao
  • Một Đêm Xuân
  • Từng Đem Tình Yêu Gửi Biển Núi
  • Nyx Ở Chợ Đêm
  • Đêm Tân Hôn, Ta Bị Thái Tử Điên Cuồng Chiếm Đoạt
  • Một Ngàn Đêm Ngủ Đông - Tu Nguyệt Nha
  • Đêm Giao Thừa
    Chương 1


    Đêm giao thừa là lúc nhà nhà thắp đèn vui vầy náo nhiệt.

    Sau giấc trưa ánh mặt trời dìu dịu vừa phải, không chói mắt cũng không nóng cháy, đủ sưởi ấm người đi đường giữa ngày đông giá buốt.

    Cả buổi trưa hôm ấy Chung Độ ở khách sạn không để làm gì cả, một đêm giao thừa giống giao thừa mọi năm.

    Cả cơ thể trong trạng thái lâng lâng không nghĩ gì nổi, hàng tá câu hỏi cố nhét vào đầu rồi lại đi ra mà vẫn không có câu trả lời.

    Anh đành gập máy tính lại, tiện tay cầm áo khoác ra khỏi phòng, định bụng xuống lầu phơi nắng một lúc.

    Cho dù không hòa nhập được với không khí lễ Tết tràn lan khắp phố thì cũng không nên bỏ qua ngày nắng đẹp hiếm có này.

    Cô bé tiếp tân của khách sạn đã chộn rộn để ý kể từ lúc Chung Độ vào ở, ngày nào cũng như mở cờ trong bụng. Thấy Chung Độ xuống lầu, cô lập tức nở nụ cười, chuẩn bị giọng nói nhẹ nhàng nhất có thể.

    Như hai hôm trước, kiểu gì Chung Độ cũng sẽ đút tay vào áo khoác, bước tới nói với cô: “Phiền gọi cô vào quét dọn phòng giúp tôi.” Sau khi báo số phòng xong sẽ vừa gật đầu vừa đáp “Vất vả rồi”, từ từ quay người đi.

    Mà cô sẽ liên tục len lén nhìn anh từ phía sau, thấy anh đứng yên ngoài cửa khách sạn, thong thả châm điếu thuốc rồi ngoặt sang trái hoặc phải, biến mất khỏi tầm mắt cô.

    Đây là khoảng thời gian thư giãn nhất cô tự thưởng cho bản thân mỗi ngày. Vậy mà, hôm nay Chung Độ khiến cô phải thất vọng rồi.

    Anh xuống lầu, cảm giác lạnh lẽo thoát ra từ con người anh khiến cô vừa liếc mắt đã vội vàng cúi xuống nhìn điện thoại. Bụng nghĩ: Chà! Phong thái thế kia, trời chưa đủ lạnh hay sao còn đóng băng mắt mình nữa.

    Chung Độ đang lửng lơ quên cả câu thoại hôm nào mình cũng nói với tiếp tân, quên cả đứng ngoài cổng châm điếu thuốc, trong đầu chỉ còn mỗi suy nghĩ đi phơi nắng.

    Bước chân của anh vội vã hơn bình thường. Tai đeo tai nghe, lúc đi chỉ chăm chăm nhìn mặt đường, tách biệt khỏi những món đồ trang hoàng khắp con phố và nhạc Tết vang bên tai.

    Người ta đang về nhà, anh lại như đang trối chết.

    Không rõ đã qua bao cột đèn giao thông, sượt qua bao người sắm đồ Tết, cứ đi mãi đi mãi về phía Tây nơi có mặt trời.

    Đến lúc anh để ý đèn đường dần sáng lên, tiếng nhạc bên tai đã ngừng từ lâu.

    Điện thoại tắt nguồn, thế giới bỗng chìm vào tĩnh lặng.

    Đâu phải cả thế giới hiểu cho tâm trạng của anh mà làm không khí lễ hội thoắt cái biến mất, mà là anh đã đi suốt từ chiều đến tối, bây giờ đang ở một con đường không biết tên nào đó ngoài ngoại ô.

    Bên đường là con sông “suy dinh dưỡng” chỉ còn lại ít nước cạn đã đóng băng, dưới đèn đường trông giống hệt lão già còm cõi một cách khó hiểu.

    Lão già thoi thóp hơi tàn, không có chốn về.

    Cỏ dại khô héo là “nếp nhăn” dòng chảy để lại, vài hòn đá lác đác là “đồi mồi” thời gian in hằn.

    Hẳn rằng ít lâu sau, nó sẽ trở thành một con sông khô cạn không còn dấu vết của dòng nước.

    Nguy khốn như bản thân anh, bấp bênh bên bờ sụp đổ.

    Đầu hơi choáng váng, Chung Độ đến gần bờ sông tìm tảng đá.

    Anh ngồi xuống, thở dài.

    Mặt trời xuống núi rồi, lạnh thật.

    Kéo khóa lên tới cằm, đầu thụt vào tận trong cổ áo, anh cười lẩm bẩm với dòng sông: “Mình làm bạn đi.”

    Cười xong lại ngẩn ngơ, ngửa đầu lên, hốc mắt đau xót.

    Tâm trạng ông trời cũng bất ổn giống Chung Độ vậy, mới ban chiều nắng còn đẹp, mà lúc này màn đêm vừa buông đã bắt đầu đổ tuyết.

    Chung Độ nheo mắt, xuyên qua bông tuyết nhìn mấy ngôi nhà sáng đèn lấm tấm đằng xa, như thế thấy rõ từng ánh đèn sáng lên trong những ngôi nhà ấy, nhìn thấy nồi sủi cảo hấp nóng hôi hổi, nhìn thấy tiếng cười nói rộn vang khăp căn nhà.

    Làm một phép so sánh như thế, bản thân lại càng lạnh lẽo hơn.

    Anh nhắm mắt giữa vùng tuyết đổ mênh mông, tâm trí mất kiểm soát chìm vào thước phim.

    Có khoảnh khắc, anh như nghe thấy tiếng bước chân mẹ rõ mồn một, tiếng chú chim nhỏ vỗ cánh dưới chân mình, con cá sắp chết thoi thóp trong nỗi sợ hãi…

    Móng tay vô thức ghim chặt vào lòng bàn tay, nhưng anh như mất cảm giác, thậm chí có ghim chặt hơn đến mấy cũng không cách nào kiềm chế được cơn run rẩy bằng cảm giác đau.

    Trời đất quay cuồng, anh bỗng mở mắt.

    Thở dài, ngẩng đầu, bông tuyết rơi lả tả trên mặt như tinh linh có sự sống.

    Đám tinh linh mang đến cái lạnh tức thời, mau chóng hóa thành nước trôi tuột xuống trên gò má, rồi biến mất.

    “Đây mới là cuộc sống, nhỉ.” Anh nhìn bọt nước nhỏ trên đầu ngón tay, thầm nghĩ.

    Lúc chào đời không ồn ào, đến khi ra đi cũng thinh lặng.

    Tuyết càng rơi càng dày đặc, đến ông trời cũng đuổi người đi đường về nhà, giục giã thời khắc đoàn viên.

    Cơ thể dường như không còn hơi ấm để chèo chống linh hồn tuyệt vọng này giữa trời đông rét mướt. Nhưng Chung Độ lại tìm thấy cảm giác bình yên đến kỳ dị trong cơn lạnh thấu xương.

    Anh định cứ chờ đợi mãi như thế, nhưng lý trí vẫn hoài kêu gào:

    Không chừng lại mày sẽ chết cóng mất. Phim chưa quay xong, bây giờ chết phim còn quay được không? Không biết đợi đến bao giờ mới quay được. Trông vào mình Tạ Tư Vĩ khóc mình xong lại quay phim, vậy thì chẳng biết phải đợi đến tháng năm nào.

    Huống hồ, lỡ chết cóng thì mấy cô chú quét đường ngày mai biết làm sao? Cuối năm còn làm người ta thêm ngột ngạt. Nếu biết trước anh đã đi xa thêm chút nữa, tới đồng cỏ hoang không người qua lại.

    Vậy thì hai hôm nữa chắc bảng tin giải trí sẽ đăng: “Sốc! Đạo diễn Chung Độ nổi tiếng mất tích từ đêm giao thừa đến nay, hiện không rõ tung tích!”

    Anh nhếch nhếch môi cười khổ, để mặc đầu óc nhảy nhót giữa cảm giác bình yên hiếm có này.

    Tiếng còi xe thình lình ập xuống cắt ngang trí tưởng tượng bay xa của Chung Độ.

    Anh nhặt chỗ tỉnh táo còn sót lại, mất hứng quay sang.

    Chiếc xe dừng ở ven đường, cửa ghế lái bật mở, một người đàn ông cao ráo chân dài bước ra.

    Người ấy mặc áo khoác đen, đi cùng một đôi giày cao cổ màu đen, đội cả mũ đen.

    Lúc bấy giờ tuyết giăng kín mặt đất, khung cảnh trắng xóa với người đàn ông đen từ trên xuống dưới này khiến Chung Độ thoáng chốc đã tưởng Diêm Vương cử người đến đón mình.

    Thời khắc này cuối cùng cũng đến à? Anh đã chờ quá lâu rồi.

    Khóe môi cong lên, người đàn ông áo đen lên tiếng tàn nhẫn đập nát mộng đẹp.

    “Này người anh em, cần giúp gì không?”

    Ra là thiên sứ nhỏ thích cứu giúp.

    Lòng dâng chút thất vọng, Chung Độ không trả lời.

    Thực tế thì, anh thực sự thầm mong được chào đón cái chết bằng cách thức bất ngờ này.

    Không phải tự sát mà là tai nạn.

    Không ai truy cứu cuộc đời khi anh còn sống, người ta chỉ cảm thán vài ba câu thương hại, rồi “Chung Độ” và “Chung Độ đã chết” đều sẽ tan thành mây khói.

    “Thiên sứ nhỏ áo đen” Trì Viễn Sơn hiển nhiên không biết mớ suy tưởng dữ dội trong đầu anh. Thấy anh cứ chậm chạp chẳng đáp, y định lại gần xem tình hình thế nào.

    Trì Viễn Sơn bước được vài bước, Chung Độ đứng dậy, nhìn đăm đăm vào người tới gần mình không chớp mắt.

    Xem chừng là một người đàn ông làm người ta thấy an tâm.

    Dáng người cao ráo rắn rỏi, giữa đôi mày là cảm giác trầm tĩnh thư thả tích lũy theo năm tháng. Đôi chân bước đều đặn trên nền tuyết, đèn xe vàng dát lên người y một vầng sáng.

    Bông tuyết nhảy múa đầy trời, y chậm rãi bước đến như một vị thiên sứ khoác áo giáp từ trên trời giáng xuống cứu vớt trần gian.

    Chung Độ chớp chớp đôi mắt khô khốc, cảm thán thế giới này thật lắm sự huyền diệu.

    Thật ra Trì Viễn Sơn không phải từ trời giáng xuống. Y đang đi ăn tất niên với mấy thằng bạn trong quán, tối tối về cầm ít rượu thì không ngờ có nhóc mèo hoang đột nhập phá tung cái vườn lên.

    Quần quật dọn xong thì trời đổ tuyết, y đành chậm rãi lái xe về.

    May mà y lái chậm, mới phát hiện giữa đêm tuyết ba mươi Tết lại có người ngồi ngoài bờ sông.

    Cảnh tượng này muốn người ta không nghĩ quá cũng khó.

    Y cũng thấy huyền diệu thật, dừng xe săm soi một lát. Người kia nhìn trời, nhìn đất, nhìn kiểu gì cũng thấy không được bình thường.

    Chẳng lý nào không chìa một tay giúp đỡ khi mọi người đang tận hưởng vui vẻ đầm ấm.

    Đương nhiên, y không phải Bồ tát cứu thế gì. Lúc xuống xe y còn đang nghĩ lỡ xui rủi đụng phải cái tên không biết điều thì sẽ quay đầu bỏ đi liền.

    Chung Độ thật là cái tên không biết điều. Người ta hỏi anh không đáp, gương mặt lạnh toát nhìn chằm chằm người ta, đến cả bầu trời đầy rẫy tuyết đây cũng không che lấp được cảm giác giá rét anh có.

    Trì Viễn Sơn nhìn gương mặt lạnh băng nọ, chẳng có tí suy nghĩ muốn quay đầu bỏ đi liền nào mà thậm chí còn nhìn ra đâu đó sự yếu ớt của phiến băng mỏng sắp vỡ nát một cách khó hiểu.

    Y dừng bước, hỏi lại một lần nữa: “Cần tôi giúp gì không?”

    Phản xạ đầu tiên của Chung Độ là muốn từ chối. Anh chần chừ một hồi, cuối cùng vẫn tuân theo số mệnh đã an bài: “Cảm ơn, điện thoại tôi hết pin, có thể tiện đường chở tôi đi được không? Trên đường có cửa hàng tiện lợi hay chiếc taxi nào cứ tấp vô cho tôi xuống là được.”

    Thì ra không bị câm điếc.

    Trì Viễn Sơn gật đầu: “Đi thôi, tôi về thành phố, anh ở đâu? Tiện đường thì để tôi chở về luôn, trời lạnh thế này.”

    Thật ra y còn lanh miệng định nói thêm: “Chắc gia đình anh đang lo lắng đấy”, may mà phanh kịp.

    Nói ra được cũng ngớ ngẩn thật. Nếu đoàn viên thì đã về từ lâu, làm sao lại một thân một mình ngơ ngẩn giữa chốn đồng không mông quạnh này được.

    Chung Độ ngần ngừ báo tên khách sạn, hiếm khi nhận được tình cảm từ người xa lạ.

    Mặc dù thật tình anh không muốn rước phiền cho người ta. Nhưng nghĩ lại lúc này chắc trông mình không ổn lắm, đoán chừng thiên sứ nhỏ áo đen sợ thả mình giữa đường lại xảy ra chuyện nữa.

    Hai người một trước một sau lên xe. Lúc nghe thấy tên khách sạn Trì Viễn Sơn thoáng khựng lại, quay đầu hỏi: “Ở đường Vân Đài phải không?”

    Chung Độ gật đầu.

    “Vậy thì khéo rồi, tôi cũng về đường Vân Đài. Quán tôi cách chỗ anh ở cũng chừng trăm mét thôi.”

    Có chuyện trùng hợp đến vậy sao?

    Chung Độ không đáp, phủi tuyết trên người rồi theo Trì Viễn Sơn đến cạnh xe, mở cửa ghế lái phụ.

    Lúc lên xe, anh hỏi: “Ngồi ghế lái phụ được không?”

    Trì Viễn Sơn nhướng mày cười: “Có gì mà không ngồi được? Tôi độc thân không chừa riêng cho ai hết, anh lên xe đi.”

    Tác giả có lời muốn nói:

    Các tình yêu đừng bắt chước đạo diễn Chung lên xe người lạ nha, nguy hiểm ~ nguy hiểm ~ nguy hiểm ~
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 2


    Đã nhiều năm Trường Nam không đổ một trận tuyết lớn như thế, người đi đường lẫn xe cộ đều thưa thớt.

    Trong xe mở điều hòa, bật một bài hát tiếng Anh nhẹ nhàng chậm rãi, khác hoàn toàn với khung cảnh trời đông tuyết phủ ngoài kia.

    Chung Độ lên xe ngoài câu “Phiền cậu rồi” ra thì không nói gì nữa. Anh không biết giao tiếp, cũng không còn hơi sức để chuyện trò, chỉ biết thầm cảm ơn sự ân cần của thiên sứ nhỏ áo đen này.

    Ân cần vì đã không hỏi anh tại sao đêm giao thừa mà một mình ngồi ở chỗ vắng vẻ, không có điện thoại tại sao không bắt xe hay đi bộ nhờ người ta giúp đỡ, mà lại ngồi đờ ra cạnh bờ sông như tên đần.

    Trì Viễn Sơn sống hơn ba mươi năm. Y là người thông minh, chỉ cần nhìn là hiểu cái gì không cần thiết hỏi khiến người ta thêm ngột ngạt. Huống hồ chỉ là người xa lạ bèo nước gặp nhau, không việc gì phải tìm tòi cặn kẽ.

    Chung Độ nhìn ra ngoài cửa sổ suốt, ánh mắt trống rỗng, sắc mặt cũng rất khó coi.

    Cả ngày chưa ăn gì lại còn hứng lạnh lâu vậy, tính ra mấy tiếng rồi anh chưa uống một giọt nước.

    Đau đầu, dạ dày cũng kêu gào.

    Lúc này, Trì Viễn Sơn chợt lên tiếng: “Nếu anh không sợ tôi là tên b**n th** hạ độc anh, thì kế bên có nước suối.”

    Y gợi câu đùa, cố ý khiến người ngồi kế bên thư giãn đôi chút.

    Chung Độ cũng cười, đáp: “Cảm ơn.”

    Anh vặn nắp chai uống một hợp, lại hỏi: “Tôi tên Chung Độ, cậu tên gì?”

    “Trì Viễn Sơn.”

    Viễn Sơn à, hư vô xa tầm với đến ngần nào sao lại từ trời giáng xuống chốn này?

    Chung Độ vịn cửa xe, ánh mắt dần mất thần. Anh như vừa thoát khỏi thế giới này trong một phút chốc, mũi giày chưa kịp đặt trên nền tuyết đã rụt về.

    Trong xe và ngoài trời chênh lệnh nhiệt độ lớn. Cửa sổ ám hơi sương, ánh đèn đủ sắc màu ngoài kia nhấp nháy thành vầng sáng mông lung như chiêm bao.

    Lúc này, tiếng nhạc vẫn đang cất lên:

    “Mother, these streets are too cold for me

    Mẹ ơi, với con những cung đường này lạnh lẽo biết chừng nào

    Im standing by your door

    Con đang đứng trước cửa

    A plant under each arm

    Trong tay là món đồ con trộm lấy

    Let me move back in

    Hãy cho con về đi

    …”

    Sau khi để ý lời bài hát, Trì Viễn Sơn nhìn Chung Độ từ gương chiếu hậu, nói: “Nghe radio tình hình giao thông nhé? Còn một lúc nữa mới về thành phố.”

    Chung Độ nghe tiếng quay đầu, tỉnh táo lại trong chớp mắt: “Để tôi, cậu nhìn đường đi.”

    Thật ra anh thấy giai điệu bài hát khá hay, mới vừa rồi vô thức nghe được bài hát. Bây giờ định thần lại mới nhận ra Trì Viễn Sơn thật chu đáo quá.

    Có lẽ là y đoán được gì đó, sợ rằng bài hát sẽ khiến anh buồn bã.

    Thực tế thì Chung Độ nào sẽ buồn chỉ vì một bài hát, huống gì trong bài hát này đầy ắp tha thiết. Và anh làm sao còn cảm xúc tha thiết gì với gia đình và mẹ.

    Cơ mà, anh nhận được sự ân cần của thiên sứ nhỏ rồi, bèn nói: “Cậu mới nói quán cậu ở đường Vân Đài phải không? Tên gì nhỉ? Dạo này tôi hay đi loanh quanh, lần sau sẽ ghé đến chơi.”

    Chung Độ vốn không có chút hứng thú vào với chuyện quán người ta tên gì, chỉ là cực kỳ không muốn nợ ân tình bất kỳ một ai. Anh hỏi thăm tên quán rồi bữa sau mua thứ gì đó hoặc đến tặng quà, ít nhiều cũng xem như cảm ơn người ta đã cứu mình đêm nay.

    Mặc dù không cứu thì tốt hơn.

    Đôi mắt Trì Viễn Sơn tập trung nhìn phía trước, trong giọng nhuốm ý cười nhạt: “Hay anh đoán thử đi. Chẳng phải anh nói dạo này hay đi loanh quanh à? Có ấn tượng với quán nào không, nhân tiện tôi khảo sát xem quán tôi có hấp dẫn khách hàng chưa đây.”

    Trì Viễn Sơn nói dối. Y là kiểu ông chủ chỉ toàn vung tay để đó, mọi chuyện trong quán không tới phiên y lo. Bây giờ lại lấy cớ đơn giản chỉ vì kéo suy nghĩ của Chung Độ đi chỗ khác, không hãm sâu quá vào tâm trạng sẵn có nữa.

    “Ừm… để tôi xem…”

    Gần đây Chung Độ có đi quanh đó thật. Năm trước đoàn phim vừa quay xong các phân cảnh tại phim trường, qua năm sẽ quay ngoại cảnh ở Trường Nam này. Vừa dịp Tết nên anh cho ekip nghỉ, còn mình đến khảo sát. Trước hết là để làm quen với các điểm quay, xem xem sẽ quay ở bố cục nào; hai là có vài cảnh vẫn chưa quyết định xong xuôi, anh muốn đi loanh quanh thử biết đâu có duyên gặp được nơi nào vừa ý.

    Lúc này, anh ngồi trong xe nhìn Trì Viễn Sơn, với ý đồ đoán xem người trước mắt mình đây sẽ là chủ của một cửa tiệm thế nào.

    Từ ấn tượng ban đầu, anh cảm thấy đây là một người có phần mâu thuẫn.

    Chẳng hạn như mặc đồ đen từ trên xuống dưới, thuộc kiểu diện mạo điển trai cứng cỏi, đôi mày sắc, đường nét cứng cáp, nhưng chỉ sau khoảng thời gian tiếp xúc ít ỏi mà đâu đâu cũng tỏa ra lương thiện và mềm mại.

    Giống con nhím.

    Anh vừa quan sát biểu cảm của Trì Viễn Sơn vừa nói, hoàn toàn bị hút vào trò chơi giải đố này: “Kể ra thì, đường Vân Đại có nhiều hàng quán đắc sắc thật. Có một studio chụp ảnh, tên gì tôi quên mất rồi, studio chụp ảnh Tần Tang? Studio ấy rất đặc biệt, thợ quay chụp cũng chất lượng, chỉ là… trông cậu không giống nhiếp ảnh gia.”

    “Mà tôi cũng không phải tên Tần Tang kia mà. Tuy Tần Tang đúng thật là bạn tôi.” Trì Viễn Sơn cười.

    Chung Độ nhìn nụ cười trên gương mặt Trì Viễn Sơn, có khoảnh khắc nào đó, bỗng mất hồn đầy khó hiểu.

    Khoảnh khắc ấy ngắn ngủi đến độ có thể bị lược bỏ, giống ảo giác phần hơn. Dòng suy nghĩ của Chung Độ cũng không bị ngắt ngang: “Ừm… tôi nhớ còn có một hàng gốm rất lạ, phong cách cũng độc đáo. Mà tôi ấn tượng với căn nhà có màu đen trắng kia nhất, dưới trệt là quán trà tên Gột Ưu Phiền, trên là quán bar Quên Ưu Sầu. Tôi có ghé vào uống trà, trong quán có cô gái đến đưa cho tôi thẻ hội viên của quán bar trên lầu, nói bar trên đó cũng là cùng một chủ mở, còn nói anh chủ của họ cực kỳ đẹp trai…”

    <i>*”Trà vi địch phiền tử, tửu vi vong ưu quân”, thi nhân Kiên Ngô thời Đường. (Trà là thứ gột rửa ưu phiền, còn rượu là thứ khiến người quên sầu).</i>

    Nghe đến đây, Trì Viễn Sơn sờ tai, hơi ngượng ngùng cười cười.

    Chung Độ cũng cười, tay vịn trên cửa sổ xe, thong thả mà chắc chắn: “Tôi đoán đúng rồi phải không, ông chủ Trì?”

    Trì Viễn Sơn cười thở dài: “Đúng rồi, mà thật ra thì chủ cửa hàng gốm ấy cũng là bạn tôi nốt. Tất cả đều do cùng một người thiết kế, cả con đường có ba hàng, vậy mà anh chọn cả rồi, kì diệu thật.”

    Chung Độ cười cười, không phát giác bản thân vừa nói hơi nhiều, hoàn toàn không phải phong cách bản thân.

    “Vậy mới nói… Làm sao anh đoán được?” Trì Viễn Sơn tò mò hỏi.

    Chung Độ cảm thấy cách thức kinh doanh của quán bar trên lầu và quán trà dưới trệt rất tương đồng với khí chất của Trì Viễn Sơn, mâu thuẫn mà hài hòa.

    Anh đã từng ghé quán trà, phong cách bài trí lấy tông màu trắng và màu gỗ thô làm chủ đạo, tô điểm bằng cây xanh hoa lá, trên mỗi chiếc bàn là một kiểu cắm hoa Trung Quốc khác nhau. Ngay khi đặt chân vào quán, hơi thở đầy tự nhiên lập tức bao trùm lấy, tiếng ồn trắng êm trầm như dòng nước xua tan mọi căng thẳng trong não bộ, khiến mọi vị khách mau chóng lắng lòng và thư giãn.

    Mặc dù anh chưa lên bar, song từ bề ngoài nhìn vào cũng thừa biết nó mang phong cách hoàn toàn khác biệt với quán trà.

    Huống hồ cho dù phong cách thống nhất, một quán trà phẳng lặng và một quán bar định sẵn không quá yên tĩnh chắc hẳn không hề ăn khớp với nhau. Thế nhưng Trì Viễn Sơn đặt tên quán trà là “Gột Ưu Phiền”, quán bar lại đặt là “Quên Ưu Sầu”, và sự liên kết của cả hai bắt đầu đầy lạ kỳ.

    Một là quán trà tĩnh lặng, một là quán bar náo nhiệt; một gột rửa phiền lo, một khiến nhân loại quên sầu vương, bản chất đều là chốn bồng lai tiên cảnh.

    Bao nhiêu suy nghĩ trong đầu thốt ra khỏi miệng chỉ còn vỏn vẹn vài chữ: “Cảm giác thôi, mâu thuẫn nhưng lại hài hòa.”

    Trì Viễn Sơn không bất ngờ trước câu trả lời của Chung Độ. Sau một chút thời gian tiếp xúc với anh, trừ hương vị băng giá cảm nhận được trên người này, y còn có cảm giác đây là một con người sâu xa, không dễ gì đo dò đến tận cùng.

    Giống giếng sâu.

    Nhìn xuống là vực đen không lối thoát, ngẩng đầu lại nhìn thấy được đôi mắt của chính mình.

    Y buột miệng khơi câu đùa: “Có vẻ triết học quá ta.”

    Chung Độ cười không đáp.

    Điện thoại reo chuông, Trì Viễn Sơn tiện tay bật loa ngoài. Vì người gọi đến là Nghiêm Tùng Thanh, chắc chắn gọi hỏi y đã đến chưa, có gì đâu mà phải tránh né.

    Chung Độ hạ âm lượng giúp y, tay còn chưa kịp buông xuống trong điện thoại đã vang một giọng nam đầy năng lượng: “Anh! Anh tới chưa? Nguyên đám đang chờ anh đó, đói sảng hết chịu nổi tới nơi rồi.”

    Nghiêm Tùng Thanh vừa mở miệng là bắn liên thanh không ngừng nghỉ. Trì Viễn Sơn vội ngắt lời: “Ngưng ngưng ngưng, đói thì cậu với mọi người ăn trước đi. Đừng chờ anh, đường tuyết không khó đi lắm.”

    Bên kia điện thoại có giọng nói khác vọng vào: “Ai chờ ông anh trời, người ta chờ rượu đó.”

    Trì Viễn Sơn cười: “Mẹ, cần hâm gì thì hâm lẹ đi, sắp tới rồi.”

    Cúp máy, âm lượng đã bật nhỏ nên cả xe chìm vào im ắng.

    Sự tương phản rõ rệt này khiến Trì Viễn Sơn khó chịu đến khó hiểu. Cảm giác tĩnh lặng đột ngột như kéo y vào thế giới của Chung Độ, một vùng băng tuyết lạnh lẽo.

    Thoáng lia mắt nhìn người ngồi kế bên, Trì Viễn Sơn chợt nghĩ đêm nay người này thật sự cần đôi chút khói lửa sưởi tan giá băng khắp cơ thể.

    Sau nửa phút suy xét lời mời có quá đường đột hay không, cuối cùng, Trì Viễn Sơn vẫn hỏi khỏi miệng: “Đã ở khách sạn thì chắc anh không phải người ở đây nhỉ? Hay là tối nay ghé quán tôi ăn chút gì nhé? Mấy người họ gói sủi cảo, sau cốp xe tôi có rượu bọn tôi tự ủ nữa.”

    Lời mời chân thành và cụ thể, không hề mang ý khách sáo hay giả tạo. Chung Độ ngạc nhiên nhìn sang.

    Bao nhiêu năm rồi anh không có lấy một cái Tết đúng nghĩa. Thuở bé không hiểu vì sao mọi gia đình ngoài kia lại rộn ràng đến vậy, sao lũ trẻ kia lại vui vẻ nhường ấy. Trưởng thành rồi mới dần chết lặng, người ta về nhà đón Tết còn anh mua đại một tấm vé máy bay, tìm một nơi lang thang bất định hệt hôm nay.

    Trong mấy năm làm việc qua cả đoàn phim chỉ có mình anh ở lại. Năm nào câu nghe nhiều nhất cũng là Tạ Tư Vĩ nói: “Thầy Chung, hay là năm nay em không về ở lại với thầy?”

    Tạ Tư Vĩ hiểu rõ Chung Độ biết, nếu mời Chung Độ về nhà ăn Tết chắc hắn anh sẽ không đồng ý. Mới đầu còn từng hỏi, chứ về sau này không nhắc tới nữa.

    Hồi đó lời mời của Tạ Tư Vĩ cũng chỉ đơn giản chung chung: “Thầy Chung, hay là thầy về ăn nhà em ăn Tết đi.”

    Giờ phút này lời mời của Trì Viễn Sơn lại cụ thể như thế. Vài ba câu chữ ngắn ngủi cũng đủ khiến Chung Độ tưởng tượng ra hương sủi cảo nóng hôi hổi và vị thơm nồng của rượu tự ủ.

    Lời mời quá sức hấp dẫn với cái bụng đói đang kêu réo của Chung Độ. Nếu giọng điệu người mời Trì Viễn Sơn mà thêm yếu tố dè dặt chân thành nữa, chắc chắn không ai nỡ chối từ.

    Thậm chí y còn nhẹ nhàng tìm cách giải thích hợp lý thay cho đủ thứ bất hợp lý của Chung Độ: Bởi vì không phải người ở đây nên giao thừa mới một mình cô đơn.

    Dù có được cân nhắc cẩn thận trước khi nói ra không, chí ít bề ngoài đây là một lời giải thích có vẻ thể diện.

    Không hiểu sao Chung Độ muốn đồng ý, đến độ phớt lờ bầu không khí náo nhiệt toát ra từ điện thoại, phớt lờ một người như anh sẽ lạc loài trong không gian như vậy, và quên luôn cả bản thân mình là kẻ chỉ thấy bầu khí đón Tết trên phố đã không chịu nổi muốn trốn chạy.

    Có lẽ vì khoảng lặng hơi dài, Trì Viễn Sơn bổ sung: “Không có người lớn đâu, chỉ có mấy người bạn với nhân viên không về quê thôi. Có cả nhiếp ảnh gia tên Tần Tang anh vừa nhắc đấy, Tông Dã chủ hàng gốm, Yến Tiếu Ngữ người đưa thẻ hội viên cho anh, à người vừa gọi điện cho tôi là Nghiêm Tùng Thanh. Là quản lý thường trực của bar trên lầu, tính xởi lởi nhiệt tình lắm. Thanh niên với nhau cả, anh đừng khách sáo quá.”

    Trì Viễn Sơn không hề ý thức mình vừa thao thao bất tuyệt thiếu điều giới thiệu cả đám người đang chờ trong quán cho Chung Độ, để sự ồn ã sôi nổi của họ hòa tan bớt nỗi cô độc và lạnh lẽo trong anh.

    Còn vì sao lại một hai phải quan tâm người lạ mới quen đêm nay có cô độc hay không. Trì Viễn Sơn quy hết tại ảnh hưởng của thời gian địa điểm đặc biệt, cũng đổ hết tại sức hấp dẫn bí ẩn của Chung Độ, chỉ riêng phần mình là không tìm lý do.

    Chung Độ nhìn Trì Viễn Sơn đang thao thao bất tuyệt, cuối cùng cũng không từ chối. Anh chật vật nghe theo tiếng lòng mình: “Vậy làm phiền cậu.”

    Vào một đêm giao thừa ông trời như thể muốn trêu ngươi nhân loại, Chung Độ cũng bỗng muốn trêu đùa ông trời ấy thử.

    Người trải sẵn lối đi và sắp đặt cuộc đời này. Tôi đã luôn chấp nhận đến tận hôm nay, giờ phút này, tôi muốn thoát khỏi quỹ đạo xem liệu mọi thứ sẽ đến đâu.

    Tác giả có lời muốn nói:

    Trích dẫn từ ca khúc: Parenting Never Ends – Hello Saferide.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 3


    Lúc hai người về đến quán đã là gần chín giờ. Nhân lúc chờ lấy rượu trong cốp xe, Trì Viễn Sơn nhắn Wechat cho Nghiêm Tùng Thanh vài chữ ngắn gọn: “Anh dẫn người về.”

    Y không có thời gian nhiều lời, Chung Độ còn đang chờ ở đây.

    Trong Wechat ngổn ngang hàng đống tin chúc Tết, tìm ra được Nghiêm Tùng Thanh là chờ cái ảnh đại diện đầu khoai tây đần thối ra kia.

    May mà Nghiêm Tùng Thanh không làm y thất vọng. Chỉ trong bốn chữ ngắn ngủi này mà Nghiêm Tùng Thanh cũng đọc ra suôn sẻ ý ngầm của Trì Viễn Sơn: “Anh dẫn người về, bảo bọn họ một hồi gặp đừng có bàn vô bàn ra linh tinh.”

    Chỉ cần cách nghĩa tới đây là ổn thỏa rồi, nhưng tư duy của Nghiêm Tùng Thanh y hệt cái miệng líu lo của cậu ta vậy, không kiềm nổi bắt đầu bay bổng đến tận đâu.

    Dẫn người về? Trì Viễn Sơn lại đi dẫn người ta về ăn tất niên với đám bọn họ? Người ở đâu ra mà dẫn về? Chẳng lẽ cây vạn tuế sắp trổ hoa? Chắc chắn là có biến, không thì ai hơi đâu Tết nhất không về ăn Tết mà lại đi với cái tên độc thân già khú nhà anh?

    Lúc này Nghiêm Tùng Thanh đang ngồi trên sô pha quán bar, xung quanh là đám người bu đông chờ rượu.

    Người ngồi bên cạnh là Tần Tang, người thuộc cái kiểu ăn ý giữa hai anh em nhất đang xúm vô nghiên cứu bốn chữ Trì Viễn Sơn gửi. Hoàn toàn không bất ngờ gì, đưa ra kết luận như đúc.

    Tần Tang xem trò vui không chê chuyện lớn ngẩng đầu gọi Tông Dã, nháy nháy mắt ra hiệu: “Anh Trì của ông muốn dẫn ai về kìa.”

    Tông Dã nhướng mày không nói gì, gương mặt lạnh te ngàn năm như một hiếm khi nhếch môi.

    Rõ là hiểu ý.

    Còn Yến Tiếu Ngữ đang quấn quýt Lâm Thu Huyền.

    “Cuối cùng ai là hung thủ, tiết lộ cho em biết đi! Em cam đoan không nói cho cả nhỏ bạn thân nhất luôn.” Cô vừa giơ ba ngón tay chuẩn bị thề thốt, giơ rồi lại hối hận: “Thôi thôi thôi anh đừng nói, đừng nói nha trời, để em tự đoán cái đã.”

    Lâm Thu Huyền không buồn nhấc mắt, đã quá quen với cái kiểu này rồi.

    Lâm Thu Huyền là một tác giả chuyên viết tiểu thuyết trinh thám bí ẩn. Dáng người cao gầy với mái tóc dài chấm vai, dù đeo cặp kính cũng không phong ấn được chất lưu manh mà văn nhã từ sâu bên trong.

    Vì thích không khí quán trà mà hôm nào anh ta cũng xách máy tính tới gõ truyện, lâu dần cũng thành chỗ thân quen.

    Yến Tiếu Ngữ lèo nhèo kì kèo nửa buổi trời mà Lâm Thu Huyền vẫn lướt điện thoại không buồn nhấc mắt. Vậy mà câu “Anh Trì của ông muốn dẫn ai về kìa” khiến anh ta ngẩng đầu, hỏi: “Có biến?”

    Yến Tiếu Ngữ nghe vậy mất kiểm soát cao giọng: “Ai? Anh Trì có biến ấy ạ?”

    Lần này cả Nghiêm Tùng Đình đang pha chế trong quầy bar cũng ngoảnh về.

    Hiển nhiên, không phải người chung dòng máu thì ai đời sống cùng một nhà. Dòng suy nghĩ của tất cả người ở đây đồng loạt chạy về một hướng.

    Chung Độ nghĩ cỡ nào cũng không tưởng nổi. Hơn một tiếng trước anh còn ngồi bên bờ sông buông xuôi theo ý ông trời, vậy mà hơn một tiếng sau đã trở thành “bà chủ” quán trà lẫn quán bar.

    Anh đang theo sau Trì Viễn Sơn lên lầu, nghe y rào trước mình sắp phải gặp gỡ một phòng đầy người.

    Y toàn chọn những từ hài hước khi nói chuyện, nào là bảo Nghiêm Tùng Thanh có quả đầu “khoai tây”, kể Tông Dã nhiều lời một tí là sợ mỏi lưỡi, nói Yến Tiếu Ngữ hễ cứ gặp trai đẹp là phát thẻ hội viên lia lịa…

    Còn chưa kể xong, có giọng nói hết sức phấn khích thình lình ngắt ngang.

    Là Nghiêm Tùng Thanh đứng trên lầu gào xuống: “Nào các đồng chí, có cần tôi bật Hành Khúc Đám Cưới tạo tí bầu không khí cho anh Trì của tôi không?”

    Nhân vật chính của bài Hành Khúc Đám Cưới miệng méo xệch, rẽ bước: “Hay là hai ta đánh lẻ ra ngoài ăn đi.”

    Chung Độ cười cười, nghĩ chắc là Trì Viễn Sơn báo trước nhưng không nói rõ nên gây hiểu lầm.

    Thật ra là bạn bè thân thiết tới mức độ nhất định, thông báo dẫn ai đó về cùng ăn bữa cơm đã là chuyện không mấy cần thiết.

    Trì Viễn Sơn báo trước nguyên nhân trước hết là vì y thích người đồng giới, điều mà mọi người đều biết; hai là hôm nay dù gì cũng là bữa cơm tất niên, một thời điểm rất đặc biệt.

    Chủ ý của y là để tâm đến cảm xúc của Chung Độ sợ mọi người nói đùa linh tinh, khiến bữa cơm này chỉ làm người ta ngột ngạt. Trái lại không ngờ lời thông báo này khiến nguyên cả đám vùng dậy.

    Y hơi đau đầu, muốn quay đầu đi thật, xấu hổ quá rồi.

    Cũng may là Hành Khúc Đám Cưới không phát thật.

    Trì Viễn Sơn bất đắc dĩ lên lầu, vừa tới nơi còn chưa kịp giới thiệu bên tai đã vang ầm ầm giọng nữ cao vút và hai giọng nam khác.

    Giọng nữ cao phát ra từ Yến Tiếu Ngữ. Cô nhìn Chung Độ đứng đằng sau Trì Viễn Sơn, bụm miệng hét lên hai giây rồi cấp tốc thu tiếng về.

    Chuỗi hành động này rõ ràng y chang fan thấy thần tượng, hưng phấn mất kiểm soát rồi vội vàng lượm hình tượng thục nữ về.

    Hai giọng nam là từ Nghiêm Tùng Thanh và Tần Tang. Cả hai cũng nhìn Chung Độ, thốt lên liên tiếp nhau: “Cái đệt!”

    Giống hệt một bản song ca.

    Đến lượt Trì Viễn Sơn ngạc nhiên.

    Mặc dù Yến Tiếu Ngữ là cô nàng cuồng loạn tuổi dậy thì, nhưng bình thường thấy người lạ cũng biết đường cư xử như một tiểu thư khuê các. Nàng tiểu thư nay bỗng vứt bay hình tượng, không kiềm chế nổi mê mẩn si đắm thì đúng là bất thường.

    “Bản song ca” của Nghiêm Tùng Thanh và Tần Tang càng khiến y khó hiểu. Y hết nhìn mọi người lại nhìn sang Chung Độ, ngần ngừ hỏi: “Thế là… biết nhau cả à?”

    Chung Độ nở nụ cười nhạt, lên tiếng: “Chào mọi người, tôi tên Chung Độ, làm phiền mọi người rồi.”

    Nghe cái tên này, mắt Nghiêm Tùng Thanh và Tần Tang trợn to hơn.

    Mới nãy chỉ là nghi vấn, bây giờ thì thật sự xác nhận, đây đúng là vị đạo diễn vừa trẻ vừa đẹp trai vừa tài giỏi kia.

    Nghiêm Tùng Thanh không nhịn nổi vội vàng ùa tới, chỉ hận rèn sắt không thành thép vỗ vỗ vai Trì Viễn Sơn, nhăn mày: “Anh? Thật luôn, bình thường hay trêu anh là đồ độc thân già khú vậy thôi nhưng cũng làm gì tới mức sa đọa lên thẳng hạng kỳ cựu như này? Dẫn người ta về mà không biết người ta là ai luôn hả?”

    Trì Viễn Sơn ngơ ngác: “Anh mới quen có một tiếng trước sao ai cũng biết vậy? Yến Tiếu Ngữ thì từng gặp rồi, thế mấy đứa cũng quen à?”

    Nghiêm Tùng Thanh lườm y, không buồn để ý mà nhiệt tình dẫn Chung Độ vào bàn: “Đạo diễn Chung, mời anh sang đây. Ông anh em chỗ nào cũng tốt khổ mỗi cái mù mặt, đừng chấp nhặt ổng nha ạ.”

    Chung Độ quay lại đưa mắt nhìn Trì Viễn Sơn còn đang ngơ ngác, không buồn giải thích với y bởi vì mọi người đang ngồi xung quanh đồng loạt đứng dậy.

    Nghiêm Tùng Đình cũng bước đến, tự giới thiệu bản thân rồi giới thiệu mọi người trên bàn với Chung Độ.

    Bạn bè ngồi một bàn, nhân viên không về quê ăn Tết ngồi một bàn. Đưa mắt nhìn một lượt cả bàn bạn bè này cũng chỉ có Nghiêm Tùng Đình là trông khuôn mẫu đúng chất quân tử, mặc đồ Tây chỉn chu, tóc tai giày da phẳng phiu tỉ mỉ.

    Giới thiệu xong, Trì Viễn Sơn cũng bất giác phản ứng lại cách gọi “đạo diễn Chung” của bọn họ.

    Y bước tới, nhìn chằm chằm vào mặt Chung Độ độ vài giây, vẻ kinh ngạc rõ mồn một trên khuôn mặt: “Anh là Chung Độ?”

    Nói rồi lại thấy mình ngốc hết chữa, ngượng ngùng cười cười: “Ngại quá, tôi hoàn toàn không nghĩ tới đó luôn.”

    Chung Độ trấn an: “Bình thường thôi, tôi cũng đâu phải ngôi sao gì, không nhận ra là bình thường, bị nhận ra mới là đáng ngạc nhiên.”

    Trì Viễn Sơn thầm nghĩ đúng là bất ngờ thật. Nếu biết trước đêm nay người mình tình cờ gặp là đạo diễn Chung Độ, cỡ nào y cũng không dám mời người ta đến ăn cơm tất niên đường đột như vậy.

    Mấy người kia lại không nghĩ nhiều, cả đám cứ cười toe toét dồn dập dọn đồ ăn lên.

    Trì Viễn Sơn ngồi xuống bên tay phải Chung Độ, giới thiệu thêm về Nghiêm Tùng Đình: “Vị này là nhà thiết kế tôi vừa kể với anh đấy, hiện cũng có một công ty thiết kế. Bọn tôi ở đây không nhờ cậu ấy thì chẳng đứa nào mở được quán, phải xếp hàng đầu ngành.”

    Nghiêm Tùng Đình cười xua tay.

    Nghiêm Tùng Thanh, Nghiêm Tùng Đình, anh em à? Chung Độ thầm nghĩ.

    Quả nhiên, ngay sau đó Trì Viễn Sơn nói tiếp: “Nghiêm Tùng Thanh, cái cậu đầu trọc ấy, là em trai cậu ta.”

    “Ai đầu trọc, em có tóc được chưa? Suốt ngày đầu với chả trọc, tóc em mà không mọc được nữa anh có đền không?”

    “Rồi, đầu lởm chởm. Đi ngó coi anh Lý còn ở đây không, còn thì nhờ anh ấy nấu giúp anh miếng trà gừng. Giữa đường xe trục trặc đứng ngoài đường cóng hết người.”

    Trì Viễn Sơn nói dối, không hề đề cập y bắt gặp Chung Độ thế nào.

    Người này giống con nhím thật. Bề ngoài sắc bén, tâm tính lại mềm mại như kẹo ngọt.

    Thấy Nghiêm Tùng Thanh đứng dậy, Chung Độ tạm thời gạt những suy nghĩ kỳ quặc nọ sang một bên, mau chóng lên tiếng: “Không sao đâu, tôi uống nước nóng được rồi, không phiền mọi người.”

    Nghiêm Tùng Thanh nào nghe anh mà nghe Trì Viễn Sơn tất, anh Trì của cậu ta nói gì là cậu ta làm cái đó: “Đừng khách sáo mà đạo diễn Chung, vài phút nữa là phục vụ liền cho anh.”

    Rõ ràng là giữa mùa đông khắc nghiệt, vậy mà quán bar này khác nào chốn thiên đường xuân về hoa nở, thậm chí còn ấm nồng đến quá đáng.

    Kỳ lạ là, Chung Độ không hề bài xích. Cơ thể đóng băng sau một đêm dài dần ấm lên trong bầu không khí ấy.

    Xung quanh tiếng gì cũng có, từ cãi vã đến cười nói rộn ràng, giọng Chung Độ nói hòa lẫn không quá rõ nét.

    Trì Viễn Sơn nghe rõ, anh nói cảm ơn.

    Giọng anh trầm thấp, mang theo tiếng thở hắt khó lòng phát giác.

    Lời cảm ơn này khiến Trì Viễn Sơn biết đêm nay mình đã mời đúng rồi. Thế là y cười: “Không có gì đâu, anh cứ thoải mái đi.”

    Đang khi nói chuyện Tần Tang bắt đầu rót rượu, gọi Chung Độ: “Đạo diễn Chung, không ngờ Tết nhất còn được gặp thần tượng thế này. Em là fan cứng của đạo diễn đấy, mời đạo diễn một ly.”

    Chung Độ tỉnh táo, vội vàng tìm ly nhưng phát hiện của mình rỗng tuếch. Vừa nãy lúc rót rượu Trì Viễn Sơn không rót cho anh.

    Đang chuẩn bị lấy chai rượu, Trì Viễn Sơn hớt tay trên lên tiếng: “Tự uống đi, đạo diễn Chung còn chưa bỏ được miếng cơm vào bụng mà mời rượu chè cái gì.”

    Tần Tang không nghĩ sâu xa tới vậy, cơ mà lúc này ngó nghiêng Trì Viễn Sơn rồi đến Chung Độ, đảo mắt cười: “Rồi rồi rồi, lát nữa mời sau, em đi dọn đồ ăn với mọi người đây ha?”

    Tần Tang chắp tay sau lưng nghênh ngang vào bếp, vừa đi vừa lầm bầm: “Ái chà! Cây vạn tuế già sắp ra hoa rồi.”

    Chẳng trách Tần Tang nghĩ nhiều được, đêm nay đủ loại hành động của Trì Viễn Sơn thật quá sức bất thường.

    Y là người chừng mực, sẽ giúp đỡ người lạ, sẽ chìa tay, nhưng không phủi đất cho người mình vừa kéo lên rồi cho người ta một viên kẹo.

    Lễ nghĩa của Trì Viễn Sơn chỉ dừng lại ở việc đưa tay. Thế nên Tần Tang thường cảm thán: “Không có bồ cũng đáng lắm.”

    Không ngờ lúc sinh thời có dịp nhìn thấy một Trì Viễn Sơn thế này, Tần Tang lấy làm mừng rỡ.

    Ly rượu này không uống thì có sao? Vạn tuế đã ra hoa thì sợ gì không gặp được thần tượng lần nữa?
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 4


    Thịt chân giò kho tàu, tôm cua phật nhảy tường, các thể loại đồ ăn bày kín bàn.

    Bình thường các quán bar chỉ phục vụ trái cây và thức ăn nhẹ nên không yêu cầu trình độ người đầu bếp cao. Và tuy là anh Lý nấu các món ăn gia đình không quá đặc sắc, nhưng mỗi cuối năm đều cố gắng chuẩn bị cho mọi người mâm cơm tất niên đầy đặn.

    Rượu tự ủ và trà gừng dành riêng cho Chung Độ đã lên đủ, màn chiếu quán bar đang phát chương trình Gala cuối năm, cuối cùng bữa ăn cũng bắt đầu.

    Trì Viễn Sơn rót cho Chung Độ một tách trà gừng ấm nóng đặt bên cạnh. Y chưa vội cầm đũa mà cầm điện thoại gửi bao lì xì vào nhóm công việc quán trà lẫn quán bar, cuối cùng còn dặn dò: “Đừng có đăng linh tinh lên mạng biết chưa đó.”

    Dù Chung Độ không phải ngôi sao nhưng ít nhiều cũng là nhân vật công chúng. Lỡ đâu ngày mai tuồn hình đạo diễn Chung đêm hôm khuya khoắt vào bar mua say thì đúng là khó coi.

    Mục đích chính của y là dặn dò nhân viên quán, còn đâu anh em bạn bè cùng bàn thì không lo.

    Thực tế nhân viên thấy khách vào ra đã nhiều, cái gì nên nói cái gì không nên cũng tự biết rõ, Trì Viễn Sơn dặn thừa cả. Nhưng y lại không kiềm lòng được làm ra hành động rất khác những gì mình làm.

    Vừa đặt điện thoại xuống, Nghiêm Tùng Đình ngồi bên phải y bỗng vỗ trán.

    Lâm Thu Huyền thấy vậy giật mình, quay sang nhạt nhẽo nói với Nghiêm Tùng Đình: “Biết anh thông minh rồi, phải tôi tôi làm gì dám làm thế, một đập đủ rơi rớt bao nhiêu tế bào não.”

    Nghiêm Tùng Đình không quan tâm: “Anh nhớ ra rồi, vài ngày trước người liên hệ với anh, họ Tạ thì phải? Thấy ảnh bên mình đăng trên Weibo nên muốn xin số liên lạc để mượn địa điểm quay vài ngày.”

    Anh ta đặt tay lên vai Trì Viễn Sơn, nhìn y: “Cậu còn nhớ không? Đợt anh có hỏi cậu ảnh chụp toàn bộ chỗ này. Anh không nắm cụ thể nên không trao đổi thẳng với cậu được, đến khi trợ lý báo đạo diễn Chung mượn địa điểm quay anh mới hỏi.”

    “Chắc đó là phó đạo diễn của tôi.” Chung Độ đáp: “Đúng là ekip quay có đang tìm địa điểm, nhưng tôi không biết chuyện này. Thường cậu ta đánh tiếng ổn thỏa rồi mới báo.”

    Mấy năm này Tạ Tư Vĩ bị Chung Độ giày vò tới độ thành người cẩn trọng từng li từng tí, địa điểm không chắc chắn mười mươi thuê mượn được cậu ta tuyệt đối không cho Chung Độ xem ảnh. Lỡ Chung Độ vừa ý mà không xin được, cậu ta thể nào cũng bị thồn cho một câu hời hợt: “Liên lạc lại lần nữa đi.”

    Sáu chữ hời hợt của Chung Độ buộc Tạ Tư Vĩ phải làm cho bằng được. Chẳng phải Chung Độ là cấp trên b**n th** gì, xin không được anh cũng không cáu bẳn, chỉ vô thức chau mày tỏ vẻ tiếc nuối mà thôi.

    Mà đương nhiên, Chung Độ làm sao biết được cái nhíu mày vô tình của mình gây bóng ma cho Tạ Tư Vĩ cỡ nào.

    Nói vậy thì, anh không được thấy ảnh chụp, nghĩa là Trì Viễn Sơn không đồng ý.

    Lúc này, anh đưa mắt nhìn xung quanh, chợt hiểu lý do vì sao Tạ Tư Vĩ lại chọn nơi này.

    Phong cách của quán bar không thuộc dạng quá bắt mắt, nhưng chỉ cần có thêm một chút xíu kiên nhẫn, nhất định mọi người sẽ cảm nhận được điểm đặc biệt của nó.

    Mảng diện tích lớn màu xám đậm phối với màu trắng làm nền, các đường nét nghệ thuật được tô vẽ đầy sinh động và ấn tượng. Ánh đèn đủ các màu sắc và hình dáng khác nhau út chặt đôi mắt các vị khách đến thưởng thức. Màu đèn ấm áp tạo cảm giác êm dịu và yên bình. Không gian được bố trí hợp lý, các thiết kế sô pha cũng rất đặc biệt, tính thẩm mỹ và sự dễ chịu đều đáp ứng đủ.

    Ngoài ra, ở nơi khuất bên trong có sân khấu biểu diễn không quá lớn, nhưng đủ cho một nhóm nhạc bốn, năm người diễn thoải mái.

    Chung Độ mường tượng được những ca sĩ lui đến nơi đây thường ngày biểu diễn những phong cách nào, cũng tưởng tượng được tâm trạng của mỗi vị khách đến đây gọi ly rượu mình yêu thích, hưởng thụ không gian âm nhạc thư thả êm đềm.

    Có chăng đây thật sự là nơi chốn khiến người qua quên đi ưu sầu trong khoảnh khắc.

    Hoàn toàn ăn khớp với cảnh phim trong tưởng tượng của anh. Nếu mượn được nơi này cho set quay thì không còn gì tuyệt vời hơn, nhưng anh nghĩ, Trì Viễn Sơn đã từ chối Tạ Tư Vĩ một lần rồi, vậy anh không nên khiến y bối rối thêm một lần nữa.

    Thế là anh đáp: “Không sao, dạo này tôi cũng đang khảo sát thôi, thời gian còn dư dả, sẽ kịp.”

    Nếu Tạ Tư Vĩ mà nghe được chắc lồng lộn hộc máu tới nơi. Có trời mới biết tìm được bối cảnh quay phù hợp khó đến mức nào.

    “Khoan khoan khoan khoan.” Trì Viễn Sơn nghe nửa buổi trời mà vẫn chưa hiểu gì: “Anh Đình, anh hỏi hồi nào cơ?”

    “Anh bảo Tùng Thanh hỏi cậu, thằng nhóc đó quên rồi à?”

    Nghiêm Tùng Thanh cuống lên: “Em hỏi anh rồi mà, anh nói “Không cho không cho, ra chỗ khác chơi” rõ ràng.”

    Cả nét mặt lẫn giọng điệu cậu ta đều thèm đòn vô kể. May mà còn ngồi xa, không thì Trì Viễn Sơn sẽ cạo cái đầu lởm chởm của cậu ta ra bã.

    Lâm Thu Huyền hiểu ý y, vỗ vào đầu cậu ta.

    Nghiêm Tùng Thanh ôm đầu, vừa khua tay vừa la oai ái kêu oan: “Em hỏi anh rồi thật mà, lúc đó anh ngồi ở bên kia kìa. Anh già nên lẫn rồi hả?”

    Nghe cậu ta diễn tả Trì Viễn Sơn nhớ ra rồi, đúng thật có chuyện như vậy.

    Mà nhớ ra y lại càng giận, ngoắc tay gọi Nghiêm Tùng Thanh: “Cậu lại đây cho anh, cậu nói với mọi người xem cậu hỏi anh kiểu gì. Chúi mũi vào game gủng không thèm ngẩng mặt lên, hỏi đại đại “Người ta ưng quán bar mình muốn mượn chỗ quay phim, anh cho mượn không?” Nguyên văn cậu nói đó.”

    “Chuẩn luôn, thế đúng là em hỏi anh đấy còn gì?” Nghiêm Tùng Thanh tự nhiên thấy chột dạ một cách khó hiểu, giọng nhỏ như tiếng muỗi kêu.

    “Thế thì cậu phải nói là phim của đạo diễn Chung chứ, cậu nói vậy anh còn tưởng cái kiểu video ngắn nhảm nhí, không bảo cậu cuốn xéo đi đã là nhân đạo lắm rồi. Thậm chí cậu còn không nói là anh Đình hỏi, phải thế anh đã hỏi thêm ai là người mượn rồi.”

    Nghiêm Tùng Thanh hết đường chối cãi.

    Thật ra tối trước đó lúc anh trai nhờ hỏi Nghiêm Tùng Thanh cũng bận chơi game, không hề nghe được là phim của Chung Độ nên không nghĩ tới mức kia, đến chính cậu ta còn tưởng là quay video ngắn kia mà.

    Yến Tiếu Ngữ cười nhạo cậu ta: “Nhóc Thanh Tử, đúng là không được thông minh lắm ha.”

    Đến cả Tông Dã kiệm lời cũng nghiêm túc nhìn cậu ta.

    “Vâng vâng vâng, em sai.” Cậu ta tự thấy đuối lý, không cãi cố nữa: “Bây giờ anh biết rồi, đưa ra câu trả lời chắn chắn đi. Em phải đi dọn chỗ cho thầy Chung ngồi nữa đây.”

    Sở dĩ cậu ta dám nói vậy là vì biết chắc Trì Viễn Sơn sẽ đồng ý.

    Quả nhiên, Trì Viễn Sơn lập tức trả lời: “Cho mượn chứ, có gì đâu mà không mượn được? Khi nào quay cần kéo bàn ghế gì cậu lo mà sắp xếp cho thầy Chung, lấy công chuộc tội.”

    Chung Độ muốn nói gì đó, khựng lại rồi lắc đầu cười cười. Anh uống hết tách trà gừng, rót cho mình một ly rượu rồi đứng dậy: “Tôi không nói cảm ơn nữa. Lần đầu gặp mặt kính mọi người một ly, sau này nếu có vấn đề gì cần tôi thì cứ hỏi thẳng là được.”

    Mọi người cùng nâng ly, Yến Tiếu Ngữ cười hì hì: “Thầy Chung ơi, em với thầy có gặp nhau một lần rồi, dưới quán trà ấy ạ. Lần sau thầy lại ghé nhé!”

    Chung Độ gật đầu: “Tôi còn nhớ, cảm ơn tấm thẻ hội viên của cô.”

    Nhắc đến thẻ hội viên, Trì Viễn Sơn không nhịn được trêu Yến Tiếu Ngữ: “Dạo này em cũng ghê gớm thật, cứ thấy ai đẹp trai là phát hết hả? Không biết quán anh còn duy trì được tới sang năm không ấy chứ?”

    Yến Tiếu Ngữ chậc lưỡi: “Em có phải loại trêu hoa ghẹo nguyệt cỡ đó đâu? Anh yên chí, em là người quan trọng tâm hồn, trai đẹp bình thường sao đủ lọt vào mắt xanh của em, anh cứ yên chí mà làm ăn.”

    Có người xen lời vạch trần: “Cô em thì dẹp dẹp, ai muốn móc tiền túi ra miễn phí cho ông anh đẹp trai dạo trước ấy nhỉ?”

    Mọi người ồ lên cười đùa, Chung Độ cũng vô thức thoáng vui vẻ.

    Trước đêm nay, anh khó lòng tưởng tượng được mình có thể ngồi lại với mọi người ở đây ăn cơm tất niên trong tâm thức vui vẻ chân thành.

    Anh như cảm giác nơi này là một gia đình thật sự. Nơi có bữa ăn nóng hổi, có ánh đèn ấm áp, có người cãi cọ, có người ồn ào, cũng có người kiệm lời hay thậm chí làm thinh, nhưng mỗi cá thể đều hòa hợp và tất cả không ai là không thoải mái.

    Qua ba lượt rượu, đồ ăn trên bàn cũng gần hết. Lâm Thu Huyền vứt hết hình tượng xoa bụng: “No quá trời, ở đây ai lên hát một bài đi, cái gala cuối năm này càng lúc càng nhàm.”

    Nhóm người ầm ĩ đòi Trì Viễn Sơn lên hát.

    Chung Độ nhướng mày nhìn về phía y.

    Không hổ danh vạn tuế sắp ra hoa, Trì Viễn Sơn không hề nhăn nhó đứng dậy, sau đó lên sân khấu: “Được thôi, để anh lên. Thầy Chung hát không?”

    Chung Độ không nói gì, anh ít nghe nhạc, mấy bài thịnh hành bây giờ anh không biết tên một bài nào, đành phải lắc đầu.

    “Vậy tôi hát đại nhé.”

    Y vừa chỉnh mic vừa ngồi bên ghế cao, trong ngực là một cây ghita.

    Gảy dây đàn thử âm xong, Trì Viễn Sơn bắt đầu khúc nhạc dạo.

    Giai điệu quen thuộc vang lên, Chung Độ ngạc nhiên nhìn sang.

    Anh đã quá quen thuộc bài hát này. Hôm nay trước khi điện thoại cạn pin sập nguồn anh đã phát đi phát lại bài hát ấy.

    “<i>Cửa tiện chen chúc, không khí tấp nập</i>

    <i>Không có gì để mua nên tôi chỉ đi loanh quanh</i>

    <i>Đưa bố vào một quán ăn trên phố</i>

    <i>Nhà nhà đoàn viên, tôi chỉ xem nó là một bữa cơm</i>.”

    Giọng Trì Viễn Sơn rất êm ái, y hát được vài ba câu mọi người xung quanh dần yên lặng.

    Tiếng vỗ tay lẫn cười đùa đều mất dạng, ánh mắt Chung Độ không cách nào dời khỏi người này.

    Bài hát như dòng đại dương mênh mông cuộn trào, quấn chặt lấy khiến anh ngạt thở.

    “<i>Năm mới</i>

    <i>Tôi phải đi đâu mới thoát được ngày này</i>

    <i>…</i>

    <i>Năm mới</i>

    <i>Ai lại sợ hãi ngày này như tôi chăng</i>

    <i>…</i>“

    Khúc hát vang lên giữa đêm giao thừa nghe sao mà ngược ngạo. Cả ngày hôm nay Chung Độ tuần hoàn tự ngược đãi chính mình.

    Anh đưa mắt nhìn chung quanh, không ngoài dự đoán, mặt mày ai nấy đều khó coi.

    Có người ngửa đầu uống rượu, người thả trôi ánh mắt không biết đang suy nghĩ gì, có cô nàng thậm chí lướt tay chùi vội khóe mắt.

    Khi đôi mắt lần nữa trở về trên Trì Viễn Sơn, y cũng đang nhìn thẳng vào anh. Ánh mắt ấy không đâm thẳng vào tim như ca từ bài hát, nhưng là mặt hồ yên ả bao dung giữa đêm tối tĩnh mịch, như thể có rót vào bao nhiêu tâm sự y cũng đủ sức dung chứa lấy.

    Ánh mắt khiến người ta chìm đắm. Đến khi Chung Độ nhận ra mình đã nhìn y chăm chú quá lâu, nốt nhạc cuối cùng đã kết thúc.

    Không ai nói gì.

    Trì Viễn Sơn nhìn anh cười, dời mắt sang những người khác: “Không cố ý hát bài này kéo tâm trạng mọi người xuống đâu. Nhưng nếu không kéo thì không ai nghe tôi hát.”

    Tông Dã cười thốt lên: “Cái đệt.”

    Lâm Thu Huyền dựa lưng trên sô pha, cầm khăn lau kính không biết từ đâu ra vừa kì cọ vừa nói: “Ok, tiết mục k*ch th*ch cảm xúc người nghe mỗi năm một lần bắt đầu rồi.”

    Quả nhiên, Trì Viễn Sơn ôm ghita lên tiếng: “Năm nay quán mình đón Tết đông người, không biết là chuyện vui hay buồn nữa đây.

    Lớn tuổi rồi, không muốn đụng chuyện là chạm đến cảm xúc. Nhưng vẫn cứ muốn nói vài lời, có duyên được quen biết mọi người, và thường xuyên được gặp gỡ nhau là một điều thật sự rất may mắn.

    Tôi không giỏi giang gì, cũng không thể cam kết gì cho tương lai. Điều duy nhất tôi đủ sức khẳng định là dù ngày sau này chúng ta mỗi người mỗi ngả, miễn là mọi người bằng lòng về đây ăn Tết, tôi sẽ vẫn ở đây.”

    Y vừa dứt câu, Nghiêm Tùng Thanh tức khắc xỉa vào chọc ngoáy: “Anh tính hơi quá tay rồi nha. Mai mốt người ta có người yêu thì đi ăn Tết với người yêu chứ, ai hơi đâu tới thăm giới cao niên neo đơn như anh?”

    Lâm Thu Huyền cười phì, khen ngợi: “Đâm đau đấy!”

    “Nhất là cậu, để tôi chống mắt xem năm sau có vác mặt không.” Tần Tang chỉ vào Lâm Thu Huyền: “Sang năm không dẫn người yêu tới thì ở ngoài luôn cho rồi.”

    Lâm Thu Huyền nhún vai, không buồn đổi thái độ: “Thèm vào!”

    Đang khi trò chuyện, Trì Viễn Sơn sải bước xuống sân khấu, vừa đi vừa chỉ trỏ đám người vô lương tâm kia: “Mấy cô mấy cậu thích tới thì tới, còn mấy nhân viên đáng yêu sẽ không bỏ anh đâu, nhờ.”

    Yến Tiếu Ngữ giơ tay phản đối đầu tiên: “Ài, anh Trì đừng tính em vào đó. Qua năm em không ở lại được đâu, bộ năm nào bố mẹ em cũng vứt em tận hưởng thế giới hai người được chắc?”

    Nghe vậy, Nghiêm Tùng Thanh lập tức chỉa chủ đề sang cô: “Chị ơi là chị, nói như này tổn thương trái tim tụi em quá đó? Chị ngẩng lên mà coi hơn nửa cái quán này toàn côi cút không cha không mẹ đáng thương không nơi nương tựa, bộ chị hết chuyện nói rồi hả?”

    “Nói mãi thì quen thôi, Tết nhất mà mặt mày mấy đứa cứ như đưa đám thế à.”

    Đám người đâm thọc nhau đủ trò. Chung Độ im lặng, anh còn đang nghĩ về những lời Trì Viễn Sơn vừa nói.

    Bấy giờ anh hiểu ra, sở dĩ hai bàn này tụ lại đón Tết cùng nhau đơn giản là vì đại đa số người góp mặt ở đây đều giống như anh, không có nhà để về. Điều khác biệt là, anh không được may mắn như họ. Quá lắm Chung Độ chỉ trong vai một vị khách qua đường, không có lấy nửa xu quan hệ với hai chữ mai này của Trì Viễn Sơn.

    Thực tế thì, anh không phải người quá tham lam những thứ này, buông bỏ hy vọng xa vời vào tình thân đã từ lâu, số bạn bè ít ỏi anh có cũng chỉ xã giao nửa vời.

    Mọi điều đẹp đẽ trên đời này đều không liên quan đến anh. Vậy mà đêm nay khi hòa mình vào bầu khí này, anh bỗng chợt ước ao.

    Tác giả có lời muốn nói:

    Trích dẫn ca khúc “Đón Tết” – Triệu Lôi.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 5


    Lúc này mọi người trên bàn tản đi khắp nơi, pha rượu, hát ca, tụ tập chuyện trò, có người đã bắt đầu thu dọn bàn ăn.

    Trì Viễn Sơn xuống sân khấu ngồi về bên cạnh Chung Độ, rót rượu cho cả hai: “Thầy Chung, hai ta uống với nhau một ly đi.”

    Chung Độ cầm ly của mình cụng với y, nói: “Cậu hát hay lắm.”

    “Cảm ơn.” Thái độ của Trì Viễn Sơn có vẻ buông thả, nhưng lời nói lại hết sức chân thành: “Tôi thích phim của đạo diễn lắm. Chỉ là không hay coi tin tức giới giải trí với đúng thật có hơi mù mặt nữa nên mới không nhận ra anh. Hôm nay gặp được nhau cũng coi như có duyên có phận. Được góp phần vào bộ phim của đạo diễn như thế này rất vinh hạnh cho tôi.”

    Có lẽ vì rượu tự ủ quá mạnh, men say khiến anh không thể suy nghĩ như bình thường. Chung Độ nhìn Trì Viễn Sơn, bỗng không biết phải nói gì. Sự chân thành và thiện chí người này biểu lộ lớn lao đến độ khiến Chung Độ có đôi phần luống cuống.

    Trì Viễn Sơn cũng uống nhiều, tuy còn lâu mới tới ngưỡng say nhưng đầu óc cũng bắt đầu bay bổng rồi.

    Thấy Chung Độ thoáng cau mày, y bất giác thốt ra một câu không hợp thời điểm cho lắm: “Đừng căng thẳng quá thầy Chung. Anh xem bọn họ đấy, có phải chuyện gì ghê gớm đâu. Cái tôi vừa nói ban nãy đương nhiên cũng gồm cả anh, nếu sang năm anh vẫn muốn đến đây ăn Tết, chắc chắn tôi sẽ ở đây đợi anh.”

    Nếu là bình thường Trì Viễn Sơn có đoán ra đến đâu cũng sẽ tuyệt đối không nói ra lời. Dù Chung Độ thật sự rất dễ đoán, biểu hiện cũng quá rõ ràng.

    Nhất là, tối thiểu anh đã phải gọi điện thoại về nhà báo trước nếu có việc không thể về, kẻo người nhà lại lo. Nhưng anh không gọi, không mượn điện thoại báo bình an, cũng không hề về khách sạn lấy sạc pin trong khi khách sạn anh ở chỉ cách đây chưa đầy một trăm mét.

    Trì Viễn Sơn có quan tâm mấy nữa cũng không khiến người ta khó xử, nói ra như hôm nay thật sự là ngoài ý muốn.

    Nói ra rồi mới nhận thức được, không cách nào rút lại.

    Cũng may Chung Độ không cho y cơ hội lúng túng. Sau vài giây ngạc nhiên, anh mau chóng nâng ly cụng với Trì Viễn Sơn: “Tôi nhớ rồi, cảm ơn cậu.”

    Câu trả lời nằm ngoài dự đoán của Trì Viễn Sơn.

    Quan hệ trước mắt của hai người nhiều lắm cũng chỉ thân thiết hơn người lạ một đôi chút, hai câu đối thoại vừa rồi lẽ ra không nên xảy ra giữa cả hai.

    Một lời đề nghị không nên nói ra đổi lấy một câu trả lời bất ngờ. Nhất thời hai người im lặng không nói gì.

    Giọng nói oang oang của Nghiêm Tùng Thanh phá tan bầu không khí lúng túng nọ: “Anh, anh vào nấu sủi cảo đi? Anh Lý về nhà với chị dâu rồi, em sợ cái đám này làm bếp nổ banh mất.”

    “Tới đây.” Trì Viễn Sơn lên tiếng đáp, dời mắt khỏi gương mặt Chung Độ: “Thầy Chung ngồi chơi nhé, chút nữa ăn thử sủi cảo nhà làm, tôi với nhân viên gói cả đấy.”

    Trì Viễn Sơn vừa đi, Tần Tang lập tức trườn qua như con cá chạch, luồn lách chiếm chỗ y êm ru.

    Tần Tang săm soi hết đêm rồi. Đủ loại biểu hiện của Trì Viễn Sơn đúng là có gì đó thật sự.

    Anh em tốt là gì? Là giúp bạn không tiếc mạng sống, không từ gian nan. Huống gì người Trì Viễn Sơn nhớ thương lại là thần tượng mình, dao có đâm Tần Tang cũng cam tâm tình nguyện.

    Tần Tang tính toán tiếp cận từng bước: “Đạo diễn Chung, nói ra thì đạo diễn là đàn anh của em đấy. Em học sau anh hai khóa.”

    Khoa Chung Độ học chương trình đào tạo chính quy và thạc sĩ không ở cùng một trường. Thế là anh hỏi: “Ồ? Cậu học ở trường nào?”

    “Đại học C.” Tần Tang đáp: “Cũng sau này em mới biết đạo diễn Chung Độ và “đàn anh Chung Độ của các em” các thầy cô hay nhắc đấy là cùng một người.”

    Chung Độ cười.

    “Tính theo tuổi nhập học thì qua năm đạo diễn ba mươi tư rồi phải không?” Tần Tang lẳng lặng quẹo chủ đề về với Trì Viễn Sơn.

    Chung Độ gật đầu.

    “Trì Viễn Sơn lớn hơn em hai tuổi, qua năm đã ba hai rồi. Em quen ảnh năm, sáu năm nay mà chưa bao giờ thấy có ai bên cạnh. Hôm nay nghe bảo dẫn ai đó về em còn tưởng ảnh có người yêu rồi chứ.”

    Chung Độ bị Tần Tang lôi sang trò chuyện về đời sống tình cảm của Trì Viễn Sơn một cách khó hiểu. Anh không biết đáp gì, đành phải “lục tung” lên khô khan phụ họa: “Cậu ấy… có cảm giác là người biết cách sống, cho dù một mình chắc hẳn cậu ấy vẫn sẽ sống rất tốt.”

    Tần Tang đau đớn trong lòng y hệt cha già lo chuyện hôn sự: “Đúng là biết sống lắm, còn là người tốt nữa, tiếc là cây vạn thụ ngàn năm không ra hoa.”

    Thật ra Tần Tang muốn diễn đạt tới Chung Độ hai ý sau: Trì Viễn Sơn độc thân và Trì Viễn Sơn là người tốt. Tần Tang muốn xây dựng “nền móng” cho mối quan hệ này, còn chuyện xu hướng tính dục các thứ mình không tiện thay Trì Viễn Sơn kể ra với Chung Độ được.

    Tần Tang không biết rằng, ngay từ lúc lên xe Chung Độ đã biết Trì Viễn Sơn độc thân, cũng không hay đêm nay Chung Độ đã cảm nhận được Trì Viễn Sơn tốt đến ngần nào.

    Hướng đi của Chung Độ không ăn nhập gì với tưởng tượng của Tần Tang. Anh không nhạy bén trong chuyện tình cảm, hoàn toàn không hiểu được tiếng lòng ông mối của Tần Tang.

    Tông Dã và Lâm Thu Huyền ngồi bên nhìn Tần Tang thu xếp, nhìn một hồi cả hai đều nhận ra sự bất đắc dĩ của Chung Độ.

    “Lôi cậu ta ra đi.” Tông Dã lên tiếng.

    Lâm Thu Huyền vỗ tay thu hút sự chú ý của Tần Tang: “Nhiếp ảnh gia đại tài Tần Tang, phiền anh vào bếp có núi bát đĩa đang chờ anh rửa.”

    Tần Tang đang liệt kê cho Chung Độ nghe bao nhiêu việc thiện Trì Viễn Sơn làm mấy năm qua, bị Lâm Thu Huyền thình lình cắt ngang thì cáu lắm: “Còn chưa ăn sủi cảo nữa mà bắt người ta rửa bát rồi? Thắng oắt đầu trọc kia gan lại phình lên nữa rồi chứ gì?”

    Tần Tang vừa nói vừa đứng dậy vọt vào bếp, định túm Nghiêm Tùng Thanh lại tính sổ.

    Lúc đi ngang Nghiêm Tùng Đình chọc cho một câu: “Đừng bắt nạt em trai anh.”

    “Ô hay.” Tần Tang dừng lại nhìn Nghiêm Tùng Đình, hơn hớn: “Lão Nghiêm, chiếm hời nhiêu đó còn chưa vừa nữa hả.”

    Chung Độ nhìn họ đấu võ miệng, còn chưa hiểu tại sao câu kia lại thành chiếm lợi gì đó Trì Viễn Sơn đã quay lại với hai dĩa sủi cảo đầy ăm ắp.

    Một dĩa đặt bên Tông Dã Lâm Thu Huyền, dĩa còn lại bưng đến trước mặt anh: “Tôi đoán chắc anh không ăn không vô, ít nhiều gì cũng làm mấy miếng đi. Tết mà, ăn vài ba miếng sủi cảo mới trọn vẹn.”

    Vậy à? Đúng là Chung Độ đã trải qua bao nhiêu năm vô nghĩa vô định. Hồi bé mình đã từng ăn sủi cảo bao giờ chưa nhỉ? Cũng không nhớ rõ.

    Dù sao đi nữa thì, anh vẫn nói cảm ơn rồi gắp sủi cảo lên.

    Nhân thịt lợn hành tây. Tấp đại vào một quán lề được là ăn được, thế nhưng hương vị của miếng sủi cảo này lại có chút gì đó khang khác.

    Chẳng phải là bùng nổ vị giác gì cho cam, chỉ là đặc biệt vô cùng.

    Có lần, thầy của Chung Độ từng giao cho anh bài tập quay ảo ảnh trong hư không. Tráng lệ và rất đẹp đẽ, nhưng không chạm được đến, không thể trở thành hiện thực.

    Mà theo cách diễn giải của thầy là: “Thiếu một chút khói lửa.”

    Ngày xưa ấy anh không biết thứ khói lửa mịt mờ ấy rốt cuộc là gì. Nhưng anh biết vì sao mình không có được.

    Đêm nay, dường như anh lại hiểu thêm chút gì. Từ con người Trì Viễn Sơn, từ những người bạn của y, từ những miếng sủi cảo này, anh đều nhấm nháp được đâu đó hương khói lửa.

    Mà chuyện này không lún sâu vào được. Hiển nhiên, một người đã ba mươi tư tuổi mới lần đầu tiên cảm nhận được hương vị khói lửa từ nhóm người xa lạ lần đầu chạm mặt, nghe thật đáng thương và đáng buồn.

    Anh khẽ cúi đầu, đôi mắt nóng lên vì hơi nước.

    Trì Viễn Sơn cũng gắp sủi cảo ăn, vờ như đang lướt điện thoại chừa không gian cho Chung Độ bình tĩnh. Thật ra Trì Viễn Sơn đã no lắm rồi, nhưng y không nói gì, chỉ lặng yên cùng ăn với Chung Độ.

    Hai người ăn hết dĩa sủi cảo trong im lặng. Trì Viễn Sơn tần ngần một lúc, hỏi: “Tôi đưa anh về khách sạn nhé? Bây giờ bọn họ còn quậy lâu lắm. Hôm nay anh nhiễm lạnh, về tắm rửa nghỉ ngơi sớm thì hơn.”

    Chung Độ không nói gì, hồi lâu sau mới ngẩng lên nhìn Trì Viễn Sơn, thình lình nói: “Sủi cảo ngon lắm.”

    Lúc này Chung Độ không còn giống cái giếng sâu hút bất khả xâm phạm. Đôi mắt anh sáng, tiếng nói ngấm giọng mũi.

    Trì Viễn Sơn sửng sốt, chợt cười: “Ngon thì để lần sau tôi lại gói cho anh.”

    Hai người bèo nước gặp nhau, quen biết quá lắm vài tiếng đồng hồ. Một người sẵn sàng bộc lộ sự chân thật, một người sẵn sàng hứa hẹn lần tiếp theo. Câu chuyện mà cả hai khó lòng tưởng tượng nổi, song lúc bấy giờ không ai nhận ra sự khác thường bên trong mình.

    Theo lý thuyết, chỉ với khoảng cách chừng trăm mét Chung Độ hoàn toàn tự về được. Nhưng anh không từ chối lời đề nghị của Trì Viễn Sơn, cũng không định đáp lại bằng một câu khách sáo. Anh tự nhận thấy từ chối và khách sáo không xứng với lòng tốt và sự dịu dàng Trì Viễn Sơn trao.

    Bên ngoài tuyết còn đang rơi. Chung Độ chào tạm biệt mọi người trong quán, cùng Trì Viễn Sơn ra cửa.

    Đêm dài, cửa hàng hai bên đường đóng cửa gần hết, tĩnh lặng đến mức nghe tiếng giày giẫm trên nền tuyết, chẳng hiểu sao thấy xoa dịu.

    “Cho tôi số liên lạc đi, hôm sau tôi nói phó đạo diễn liên lạc với cậu.” Chung Độ nói: “Bên tôi chắc sẽ quay tầm ba đến năm ngày, có quá hẹn cũng không hơn một tuần. Cậu cứ tính giá theo thời gian đông khách nhất và chi phí thuê, có yêu cầu gì cũng cứ nói với cậu ta.”

    Trì Viễn Sơn uống rượu nên hơi đau dầu, đội mũ áo lông lên. Nghe Chung Độ muốn tính tiền thuê rạch ròi với mình, y giẫm trên tuyết đùa: “Thầy Chung này, anh sợ thiếu tôi nhiều ân tình quá à? Không cần đâu, tôi có đóng cửa mấy hôm cũng không việc gì, quán tôi cũng toàn khách quen hả, báo một tiếng là được.”

    Chung Độ lắc đầu không đáp, nhìn Trì Viễn Sơn với biểu cảm rất cố chấp, như thể anh không đưa tiền thì không được.

    Trì Viễn Sơn không nói nữa, chuyển sang chuyện khác: “Điện thoại anh hết pin mà đúng không? Để tôi lưu của anh trước vậy, lát nữa gửi tin nhắn sang để khi nào anh sạc rồi lưu sau.”

    Chung Độ đọc số điện thoại, lúc nói chuyện còn thở ra hơi sương trắng xóa.

    Đêm tuyết rơi lạnh lẽo, anh hơi hối hận khi để Trì Viễn Sơn đưa mình về.

    Uống nhiều lại còn hong gió lạnh, không biết có cảm hay không nữa.

    Bước chân nhanh dần, Chung Độ vừa đi vừa nói: “Lúc về cậu cũng phải uống trà gừng.”

    Trì Viễn Sơn không để tâm mấy. Y cẩu thả quen rồi, không tới mức gió lùa tí là cảm liền, nhưng vẫn đáp lời.

    Đi vài bước là tới khách sạn. Nhân viên tiếp tân đã thay ca. Nếu cô bé suốt ngày nghĩ ngợi kia mà thấy cảnh tượng này ngoài cửa chắc phải ngạc nhiên lắm, ngạc nhiên khi Chung Độ luôn một mình hôm nay lại có bạn đưa về.

    “Về thôi thầy Chung, nghỉ ngơi sớm đấy.”

    Chung Độ nhẹ gật đầu, nhìn Trì Viễn Sơn đội mũ, thấy y giống con nhím thật.

    Gương mặt vô thức nhuốm ý cười: “Đêm nay rất vui, có dịp tôi lại mời mọi người một bữa.”

    “Được, chờ anh có dịp.”

    Chung Độ gật đầu: “Cậu về đi, nhớ uống trà gừng.”

    “Ừm.” Trì Viễn Sơn phẩy tay áo chào tạm biệt anh. Đang khi quay đi móc điện thoại chuẩn bị gửi tin nhắn cho Chung Độ, y vô tình nhìn thấy bây giờ đã là 23 giờ 59 phút.

    Không chần chừ thêm, y dừng bước, quay lại gọi Chung Độ: “Thầy Chung, gượm đã.”

    Chung Độ ngoái đầu, sau lưng anh là sảnh khách sạn rộng rãi lộng lẫy, ánh đèn sáng choang giữa đêm tuyết tĩnh mịch hệt như vở kịch dung tục nát tươm vừa cho ra lò. Mà Chung Độ là chú nai nhỏ bị lạc vào vở kịch như trò cười ấy.

    Cảnh tượng này khiến Trì Viễn Sơn ngẩn ngơ, giật mình trông thấy chàng hoàng tử bé chỉ tồn tại trong sách truyện.

    Trông anh luống cuống mà cô độc.

    Còn Chung Độ ngoái lại nhìn thấy Trì Viễn Sơn đang bàng hoàng.

    Vài giây đồng hồ trôi đi, nơi chân trời rất xa xôi phía chếch chéo Trì Viễn Sơn, đợt pháo hoa đầu tiên nở rộ trên bầu trời khi không giờ điểm.

    Ngay sau đó, từng đợt pháo hoa nối tiếp nhau phóng vút lên không trung, nở rộ thành những vòng cung rực rỡ, hằng hà những tia lửa giăng đầy trời trong mắt Chung Độ hệt như đang vương vãi trên mái tóc Trì Viễn Sơn.

    Y cười rạng rỡ, gò má hây đỏ: “Quên nói, chúc mừng năm mới thầy Chung, năm mới bình an.”

    Vốn dĩ nên là kết thúc bằng câu năm mới vui vẻ. Nhưng Trì Viễn Sơn cảm thấy từ “vui vẻ” dành để chúc phúc đến Chung Độ hình như mơ hồ quá, chỉ bình an mới có được cảm giác chân thật.

    Chung Độ nhìn y hồi lâu không nói gì.

    Pháo hoa quá đẹp, Trì Viễn Sơn quá đỗi dịu dàng.

    Một đợt pháo hoa khác lại nở rộ, Chung Độ đáp lời: “Chúc mừng năm mới! Tuyết lớn, cậu về mau đi.”

    Tác giả có lời muốn nói:

    Phần quay phim mọi người đừng soi kỹ quá nhé, phục vụ cho cốt truyện cả thôi.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 6


    Hình ảnh Chung Độ dùng để liên tưởng đến Trì Viễn Sơn rất phù hợp, y thật sự giống con nhím.

    Trì Viễn Sơn luôn tạo cho người khác cảm giác dễ chịu, lúc nào cũng giữ nét tươi cười trên khuôn mặt và chưa bao giờ khiến người khác phải khó xử. Y là một người giỏi lắng nghe, mọi người có thể mặc sức kể lể chuyện trò với y, nhưng thường cũng sẽ chỉ dừng lại ở bước này.

    Khi người ta tưởng rằng mình có thể bày tỏ tình cảm với Trì Viễn Sơn, muốn tìm tòi con người thực chất bên trong y, y sẽ dựng thẳng gai góc bọc khắp thân mình, trưng bộ giáp sắt của mình ra.

    Người không thân thiết cảm nhận được sự lịch thiệp của y, nhưng tuyệt nhiên không cảm nhận được sự dịu dàng y có.

    Chung Độ là ngoại lệ.

    Trên cơ sở ấy, trong mắt người hiểu rõ con người Trì Viễn Sơn mà nói, đêm nay của y rất đáng mổ xẻ.

    Thế là, Trì Viễn Sơn vừa về quán đã bị cả đám vây lại, ép y thành khẩn khai báo.

    Trì Viễn Sơn cũng rất khó hiểu: “Khai báo cái gì? Ở đâu ra? Đêm nay anh cũng vừa mới quen đây. Người ta xa nhà nên anh mới mời đến ăn bữa cơm tất niên vậy thôi. Sao nữa? Bộ mấy người cao quý vậy luôn hả? Không phải nửa kia tương lai thì không được ngồi chung mâm với mấy người à?”

    Y giỏi phản pháo nhất, nhưng lại không ai buồn để tâm.

    Lâm Thu Huyền nhạt nhẽo lên tiếng: “Ờ đúng đấy, trông hai người có mỗi vậy thôi mà bọn tôi thẩm vấn năm lần bảy lượt làm gì nhỉ? Mỗi dẫn người ta về ăn cơm tất niên đấy? Mỗi cản rượu cho người ta đấy? Mỗi nấu trà gừng cho người ta đấy? Mỗi cơm nước xong xuôi đưa đón người ta về đấy? Có làm sao? Cuối năm rồi mấy người làm ơn để ông chủ Trì yên thân đi được không?”

    Nghe Lâm Thu Huyền đâm thọc móc xỉa với bộ mặt thản nhiên, thấy mà giận điên lên được.

    Tần Tang lập tức xen vào: “Anh coi đó. Mà ảnh cũng xem như người ít thân nhất ở đây rồi đó. Bây giờ tính về mức độ thân thiết thì em với anh là nhất rồi đúng chưa, anh không nói với bọn họ thì anh nói với thằng em anh này, tiết lộ chút xíu thôi, anh có ý định phát triển thử với thần tượng em không?”

    Trì Viễn Sơn còn chưa kịp đáp, Nghiêm Tùng Thanh đã bất mãn trước: “Tần Tang ông có bị nhảm không? Anh tôi thân với ông nhất cơ á? Ông cụp cái pha xuống, ở đây còn người sống sờ sờ nha.”

    Một đám nhao nhao ầm ĩ lên, Trì Viễn Sơn bất đắc dĩ day day thái dương.

    Thật ra y không nghĩ sâu xa đến vậy. Vốn ban đầu chỉ muốn giúp một tay, lời mời sau đó cũng chỉ xuất phát từ sự đồng cảm, chỉ là vì hôm nay là một ngày quá đặc biệt, mà Chung Độ lại trông có vẻ cô độc quá mà thôi.

    Về chuyện cản rượu, nấu trà gừng. Không phải chỉ là hành vi quan tâm phổ biến và hết sức bình thường sao?

    Vụ mượn quán bé xíu thì càng không đáng đề cập. Một cái nhấc tay thôi, chưa kể người ta còn là đạo diễn mình thích.

    Chấp nhận xích gần hơn, ý định kết bạn là có thật, nhưng hoàn toàn không sâu xa đen tối như bọn họ nghĩ. Trì Viễn Sơn tự hạ kết luận cho bản thân.

    Cả đám nháo nhào lên dọn dẹp, lúc xong xuôi cũng đã khá trễ rồi.

    “Mọi người tính về làm sao? Cuối năm mà tuyết lớn nữa, chắc kiếm chở thuê cũng khó? Quán còn thừa vài chỗ, còn lại ở khách sạn vậy?” Trì Viễn Sơn vừa nói vừa thiếu kiên nhẫn xua tay: “Thôi thôi, lười dọn phòng khách cho mấy cậu lắm, ở khách sạn hết lượt cho rồi.”

    “Ok, bọn em ở khách sạn bên kia luôn. Lỡ đâu bắt gặp thầy Chung còn tiện quảng cáo giùm anh mấy phát.” Tần Tang cười xấu xa.

    Trì Viễn Sơn vừa định kiếm gì đó quăng vào người thanh niên này thì bị Nghiêm Tùng Đình cản lại, đẩy ra ngoài: “Cậu lo về đi, anh không uống nhiều, để anh đưa bọn họ sang. Phòng đặt cả rồi.”

    Nghe vậy, Trì Viễn Sơn không buồn quay đầu đi thẳng. Nhà trong thành phố của y khá gần quán, đi bộ cũng chỉ tầm chục phút là tới.

    Tông Dã ngủ trong phòng nghỉ của quán. Anh ta hơi có bệnh sạch sẽ, không chịu ở khách sạn.

    Nhân viên thì ở khu nhà chung cho nhân viên. Yến Tiếu Ngữ không thuyết phục nổi mấy chị em trong quán nên bị lôi về nhà chung ngủ.

    Chỉ còn lác đác vài người sang khách sạn, có khoảng trăm bước mà lãng đãng mất hai chục phút đồng hồ.

    Mấy thanh niên này con nít quá thể, ông ném bóng tuyết vào người tôi tôi nhét tuyết vào quần áo ông, bắt đầu một trận đại chiến ném tuyết mà chẳng mảy may thấy xấu hổ.

    Lúc đến khách sạn đầu ai nấy trắng xóa, đến cả Nghiêm Tùng Đình tránh xa cuộc hỗn chiến nhất cũng xui xẻo dính vạ.

    Nhìn không giống khách đến ở mà giống trộm cướp hơn.

    Lúc này Chung Độ đã tắm xong, đang nghe điện thoại Tạ Tư Vĩ: “Lát nữa anh gửi số điện thoại cho cậu. Trả giá thuê cao nhất, vượt ngân sách thì tính phần riêng cho anh.”

    Đêm nay Tạ Tư Vĩ bị Chung Độ đùa cợt cứ như là chơi tàu lượn siêu tốc.

    Tạ Tư Vĩ biết Chung Độ dở hơi, nên thường dịp lễ Tết sẽ không tùy tiện liên lạc với anh. Hôm nay có công việc gấp cần anh xác nhận thì gọi hoài gọi mãi không thấy bắt máy làm Tạ Tư Vĩ lo sốt vó đến độ suýt thì báo cảnh sát.

    Lần này cuối cùng cũng chịu trả lời, ai đâu ngờ còn đem cả niềm vui bất ngờ về. Người này thế mà tẩm ngẩm tầm ngầm giải quyết vụ thuê chỗ quay.

    Cảm giác từ vực sâu bay thẳng lên trời phải nói là sung sướng tột độ. Tạ Tư Vĩ thích ý đáp: “Vâng, thầy cứ yên chí. Có nhét em cũng phải đút bằng được tiền cho anh ấy.”

    Bàn chuyện công việc xong rồi, Tạ Tư Vĩ cẩn trọng hỏi han: “Thầy Chung ăn cơm chưa? Hay em gọi ship cho thầy?”

    Cậu nhóc này cũng vất vả lắm, kiếm một đầu lương mà phải làm tận hai đầu việc. Không chỉ chịu trách nhiệm công việc mà còn phải bận tâm chuyện cuộc sống của Chung Độ.

    Lúc ở công ty còn có trợ lý rót cho ly trà hay mua cơm cho. Hễ cứ vừa bước vào đoàn quay một cái là Chung Độ thiếu điều sống như thần tiên, ăn uống áo quần giữ ấm không để ý một cái sự gì.

    Tạ Tư Vĩ biết đôi chút hoàn cảnh gia đình Chung Độ, cái giờ nhà nhà đoàn tụ vui vầy này mà anh nhớ ăn cơm mới là lạ.

    Nhưng mà, câu trả lời của Chung Độ đi chệch mọi dự đoán của Tạ Tư Vĩ: “Ăn rồi, ăn sủi cảo. Mua cho cô chú đi, cúp máy.”

    Đúng là gặp quỷ tới nơi mất. Thần tiên hạ phàm lúc nào vậy? Tạ Tư Vĩ nghĩ mãi vẫn không hiểu nổi.

    Sáng sớm hôm sau thần tiên hạ phàm nhận được đề xuất thiện chí của Trì Viễn Sơn. Nguyên nhân là Tạ Tư Vĩ hết sức phấn khởi với cái bánh từ trên trời rơi xuống này, vừa bảnh mắt ra đã gọi điện cho Trì Viễn Sơn, đồng thời một hai tỏ ý nhất định phải trả tiền thuê.

    Trì Viễn Sơn bị dựng dậy đến thua, đành phải xin nhờ Chung Độ thu phục yêu quái.

    Ảnh đại điện Wechat của Trì Viễn Sơn là một bức tranh phong cảnh, màu xanh trong của trời pha trộn với màu xanh mướt của dãy núi mây mù bao phủ khắp. So ra, ảnh đại diện của Chung Độ đơn điệu vô cùng, chỉ là một tấm hình đen sì.

    Có điều tên Wechat cả hai lại rất thú vị, giống nhau y hệt, mỗi người một dấu chấm tròn.

    Trì Viễn Sơn thì đơn giản là bởi không biết đặt tên gì cho hay nên tiện tay đặt luôn dấu chấm. Còn Chung Độ thì không rõ vì sao.

    Sau khi kết bạn, Trì Viễn Sơn lập tức gửi tin nhắn: “Thầy Chung à, thật sự không cần trả chi phí thuê cho tôi đâu.”

    Chung Độ trả lời: “Chắc phải cần thôi, còn nhờ nhóm Tùng Thanh chỉnh trang nữa.”

    Trì Viễn Sơn hết sức bất đắc dĩ. Y nghĩ đây chỉ là chuyện nhỏ tí, nhưng qua đêm rồi cũng ít nhiều hiểu được lối cư xử của Chung Độ. Dương như người này luôn trong trạng thái kéo căng dây cót, tự vạch ranh giới cho bản thân, cho người khác tiếp cận đã là khó khăn lắm rồi, nếu từ chối thêm nữa sẽ chỉ càng khiến anh thiếu thoải mái.

    Thế là y đáp: “Đành vậy, tính theo giá bình thường nhé.”

    Dù Trì Viễn Sơn chưa từng tiếp xúc mảng này, nhưng qua lời Tạ Tư Vĩ cũng rõ nhất định Chung Độ đã đôn thêm.

    Trong từ điển của Trì Viễn Sơn bạn bè không chơi với nhau như thế. Tôi cứu bạn một lần, bạn áy náy thì mời tôi bữa cơm, đưa tiền thì thật chẳng có tí tình cảm nào. Cơ mà lòng y cũng rõ Chung Độ không có ý gì, chỉ là nóng lòng muốn biểu đạt lời cảm ơn mà dùng sai cách thức, nên là để y lùi một bước vậy.

    Giọng điệu của Trì Viễn Sơn không cho phép bàn cãi gì thêm, Chung Độ hết cách, đành đồng ý.

    Thật ra anh không biết mình nên làm gì để bù lại lòng tốt của Trì Viễn Sơn được đây. Tiếc rằng anh không biết kết bạn, không biết biểu đạt lời cảm ơn bằng cách thức dễ chịu hơn.

    Trì Viễn Sơn nhắn tiếp: “Nếu vẫn chưa chọn địa điểm quay xong xuôi, mấy ngày sắp tới tôi có thể đi quanh đây với anh. Khu Trường Nam này thì tôi rành lắm.”

    Chung Độ không muốn làm phiền Trì Viễn Sơn thêm nhưng ngẫm nghĩ một hồi vẫn đồng ý. Một là anh đến đây chưa lâu, đúng thật không quen nơi này; hai là dù thế này cũng phải nhân cơ hội này mời Trì Viễn Sơn một bữa cơm, rồi xem có dịp được thì tặng y một món quà.

    Hai người đã hẹn trưa này sẽ ăn cơm với nhau, xế chiều đi loanh quanh xem có chỗ nào hợp quay cảnh phố cũ không. Chung Độ cần tìm con đường như thế để quay một cảnh dài và cực kỳ quan trọng.

    Hẹn nhau lúc mười một giờ ba mươi, Chung Độ xuống lầu sớm mười lăm phút.

    Hôm nay tâm trạng anh từ âm u bỗng thành quang đãng, chẳng những không quên đến quầy tiếp tân chào cô gái nọ mà còn nhận lời chụp ảnh chung.

    Vừa chụp xong, anh chuẩn bị quay người ra cửa thì nghe có tiếng ai đó gọi: “Thầy Chung!”

    Ra là nhóm Nghiêm Tùng Thanh, anh thoáng ngạc nhiên: “Sao mọi người lại ở đây?”

    “Đêm qua bọn em ngủ lại đây mà anh.” Nghiêm Tùng Thành đáp: “Muộn mà tuyết lớn nữa nên bọn em không kiếm chở thuê được, anh em ở gần thế mà còn chẳng chịu chứa chấp bọn em cơ.”

    Tần Tang cũng tiếp lời: “Giờ tụi em ra kiếm chỗ ăn cơm, đàn anh đi chung với tụi em luôn không?”

    Chung Độ hơi ngại ngùng, rõ ràng Trì Viễn Sơn biết rõ họ ở đây, muốn sang mà không nói với họ một tiếng.

    Anh không giỏi nói dối, đành thật thà: “Lát nữa tôi có hẹn Viễn Sơn nhờ cậu ấy giúp tôi. Hay là chờ cậu ấy đến chúng ta cùng đi ăn?”

    Nghiêm Tùng Thanh vừa định đồng ý, Nghiêm Tùng Đình đã kẹp cổ em trai bắt cậu ta nín chữ “Được” quành ngược vào trong, trả lời Chung Độ: “Không được rồi đạo diễn Chung. Anh cứ đợi cậu ấy vậy, bọn tôi đi ăn cơm trước để chiều còn có công chuyện. Hôm nào lại hẹn nhau sau đi.”

    Cả đám ùa khỏi cửa như gió trong chớp mắt.

    Trì Viễn Sơn đúng lúc đến nơi, đỗ xe ngoài khách sạn, thấy họ đi ra thì hạ cửa xe xuống, còn chưa kịp mở miệng đã nhận liền ba câu: “Bye bye”, “Mốt gặp”, “Đi đây”.

    Lần lượt đến từ Lâm Thu Huyền, Tần Tang và Nghiêm Tùng Đình. Chữ “Anh” của Nghiêm Tùng Thanh nhốt trong bàn tay Nghiêm Tùng Đình, chỉ kịp phát ra âm tiết nhỏ xíu.

    Sau đó Chung Độ bước ra, hơi khó hiểu, lên xe hỏi: “Họ làm sao vậy?”

    Trì Viễn Sơn nghĩ bằng ngón chân cũng đủ biết cái đám lại nghĩ tầm bậy tầm bạ không đâu, thế là đáp: “Kệ họ đi, anh muốn ăn gì?”

    Thật ra, Chung Độ hồi tưởng suốt từ nãy, cứ mải nhớ lại xem tối qua Trì Viễn Sơn gắp những món nào nhiều nhất để quyết định nên ăn gì. Ngặt nỗi tối qua anh cứ thẫn thờ ngẩn ngơ, không nhớ nổi, đành dịu giọng nói: “Hôm nay tôi mời nhé? Ăn món cậu thích.”

    Trì Viễn Sơn cười khẽ, bỗng cảm giác giọng điệu thương lượng của Chung Độ thú vị thật, thế là thoải mái đáp: “Được, mùng một Tết cũng ít quán mở, đến quán tôi hay ghé đi.”

    Tác giả có lời muốn nói:

    Người nhà yêu quý là thần trợ công cả ~
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 7


    Quán Trì Viễn Sơn dẫn Chung Độ đến là của một người anh có tuổi, xem như bạn vong niên.

    Thường thường họ đều tụ tập ăn uống ở đây, phần vì quán đẹp, menu đặc sắc, quan trọng hơn là thỉnh thoảng gặp được ông anh đã quá chén.

    Ông anh thích ngồi trong sân hát hò, không bàn đến kỹ thuật thì cũng hay ho lắm.

    Đó là một quán cơm nhỏ trong hẻm. Đi vào cửa chính là khoảnh sân rộng rãi có xích đu và bàn đá của ông anh, quanh sân trồng vài loại cây hoa đã bị mưa tuyết dập gần hết.

    Phong cách bài trí trong sân rất tùy tiện, khoác vẻ nhàn nhã buông thả mà cũng có phần rời rạc.

    Trì Viễn Sơn chỉ vào cái bể kính to giới thiệu với Chung Độ: “Đây là bồn cảnh thủy tinh đấy. Chỗ chúng tôi ở mùa đông lạnh, tôm cá rúc hết vào trong, mùa hè trong bể có cá có tôm với cây bèo thì đẹp cực.”

    Trì Viễn Sơn còn chưa dứt câu, ông anh vừa đi đâu về vỗ bốp lên vai y, to giọng chào hỏi: “Ây! Sao hôm nay thằng nhóc chú lại lượn qua đây? Đầu xuân qua làm lại cho anh cái bể này xem nào. Anh phá tung lên, ba cái này vào tay chú mới ra hồn.”

    “Vâng vâng vâng, anh vỗ nhẹ thôi, tay chân lèo khoèo như em sao mà chịu nổi?”

    “Thanh niên tầm này chẳng mấy đứa chịu tập tành nhể.” Ông anh già đang định lải nhải mấy câu, quay sang mới phát hiện đâu ra có gương mặt lạ hoắc đứng bên: “Ơ! Chú dẫn bạn đến chơi à. Anh chàng lạ mặt này muốn ăn gì đây?”

    Trì Viễn Sơn cũng hỏi Chung Độ: “Thầy Chung có kén món nào không thế?”

    “Tôi không kén.” Chung Độ cười với người anh nọ. “Anh cứ làm mấy món cậu ấy hay gọi là được.”

    Anh thấy vậy thì quá tốt rồi, đoán chừng người này sẽ rành Trì Viễn Sơn thích ăn gì hơn mình.

    “Rồi, vậy hai chú vào quán ngồi đi, để anh vào làm cái.”

    Ông anh nắm hai cục đá óc chó vào tay, từ từ rảo bước vào bếp. Hai người vào phòng riêng ngồi, sau đó có nhân viên lập tức gõ cửa phục vụ trà.

    “Quên hỏi thầy Chung có ăn cay được không nhỉ? Đồ ăn ở đây nhiều món cũng cay đấy.”

    Chung Độ lấy khăn chậm rãi lau tay: “Không sao, hồi nhỏ thì không ăn được mấy, bây giờ thì được rồi.”

    Khi ý thức cụm “hồi nhỏ” thốt ra từ miệng mình, Chung Độ thoáng khựng tay.

    Anh hiếm đề cập chuyện thuở bé của bản thân với người khác. Đến độ bây giờ thốt ra còn cảm thấy lạ lẫm.

    Trì Viễn Sơn nhận ra sắc mặt anh thay đổi, nâng ấm trà rót cho anh một ly, lẳng lặng chuyển chủ đề: “Tôi thấy anh có đem máy ảnh theo, muốn chụp gì đó không?”

    “À phải. Ra kết quả hẳn hoi mới xét hiệu quả được, thỉnh thoảng tôi cũng không tin con mắt mình mấy đâu.” Chung Độ nhận tách trà cười cười.

    Nói đoạn, anh đưa mắt nhìn về phía Trì Viễn Sơn, nhớ lại cảnh tượng trước khách sạn đêm qua.

    Dẫu là dưới góc nhìn cá nhân Chung Độ hay của một người đạo diễn, cảnh tượng ấy vẫn đẹp đến nao lòng.

    Thế là anh hỏi: “Không biết có thể mời cậu Trì đây làm người mẫu tạm thời giúp tôi được không?”

    “Tôi à?” Trì Viễn Sơn cúi xuống nhìn giao diện bình thường hết sức của mình hôm nay: “Như này luôn?”

    Chung Độ gật đầu: “Ừ, như này đã là rất ổn rồi.”

    Hôm nay Trì Viễn Sơn vẫn mặc cả cây đen. Chiếc áo khoác nhung dài màu đen phối với áo len cao cổ màu đen, quần đen, giày da cũng đen nốt.

    Trang phục này ở trên người khác chắc rằng chỉ bình thường không có gì đặc biệt. Thế nhưng dáng người Trì Viễn Sơn rất đẹp, cao ráo, nước da sáng màu khỏe khoắn, nguyên cây đen này rất tôn khí chất y.

    Trì Viễn Sơn không có ý kiến gì với lời đề nghị làm người mẫu tạm thời của anh, chỉ là bỗng thấy tiếc nuối vô cớ: “Phải mà tôi biết chụp ảnh thì đã hay, anh hợp làm người mẫu hơn đó.”

    Hôm nay Chung Độ khoác chiếc áo dài màu xám khói, áo len trắng và quần jean màu lam, thêm chiếc kính gọng vàng làm anh trông nhã nhặn tươm tất vô cùng.

    Nghe vậy, anh lập tức lắc đầu không buồn suy nghĩ: “Cậu ăn ảnh hơn tôi. Mà tôi cũng không có yêu cầu gì đâu, cậu cứ đứng đó giúp tôi là được.”

    “Rồi, nghe lời đạo diễn Chung đấy.” Trì Viễn Sơn không hề nhăn nhó.

    Nhân viên bắt đầu lên món, hai người vừa ăn vừa chuyện trò.

    “Đợt này anh đang quay câu chuyện thế nào, có tiết lộ được không?”

    “Không có gì bí mật cả. Có điều tôi cũng không biết đến cuối nó sẽ trở thành một câu chuyện ra sao.” Chung Độ nở một nụ cười có phần tự giễu: “Suốt quá trình quay nhiều tình tiết đang thay đổi, mà chung quy vẫn là bi kịch đi vậy.”

    Lại là bi kịch sao? Trì Viễn Sơn vô thức chau mày.

    “Thầy Chung này. Không biết anh có xem bình luận trên mạng không. Rất nhiều người bảo không dám xem lại hai bộ phim trước của anh, tôi cũng vậy. Thật sự không dám xem lại đâu, ngột ngạt quá. Tôi không có ý nói ngột ngạt là không hay, góc độ chuyên môn thì tôi không hiểu, nhưng dưới điểm nhìn của một người xem như tôi, cả hai bộ phim tôi đều sẽ cho điểm cao nhất. Không dám xem lần hai cũng bởi nó được quay quá xuất sắc, quá thực tế, thật sự rất ngột ngạt.”

    “Xin lỗi cậu.” Chung Độ cười cười: “Bộ phim này vẫn cùng phong cách với hai bộ trước đó. Không có gì đột phá, có lẽ chắc do tôi không có năng lực quay thể loại khác.”

    Trì Viễn Sơn hơi trái quan điểm: “Đừng tự xem nhẹ mình chứ thầy Chung. Tài năng của anh rõ như ban ngày vậy, tôi không tin có thể loại nào mà anh không quay được đâu.”

    Lúc này Trì Viễn Sơn cảm giác như mình đã đâu đó chạm được đến miệng cái giếng sâu mang tên Chung Độ. Y chắc chắn và tin tưởng rằng Chung Độ là người có khả năng đột phá, chỉ là những câu chuyện anh kể, hay chính xác hơn là đôi mắt nhìn thế giới của anh bị phủ một lớp bụi mờ.

    Sự tự ti, cẩn trọng và cách hành xử đôi khi bối rối của anh là bằng chứng.

    Nó mang sức hấp dẫn vô cùng đặc biệt, và khiến Trì Viễn Sơn thấy đau lòng đến khó hiểu.

    Nếu nói nữa sẽ làm mọi thứ đi quá sâu. Y ngừng câu chuyện, chuyển sang chủ đề nhẹ nhàng hơn tránh để bữa cơm trở nên nặng nề.

    “Thỉnh thoảng lại nghe được anh ấy hát đấy, mà phải xỉn mới hát cơ. Hôm nay nhìn thế này chắc là không uống rồi, mình hơi xui.”

    “Xưa giờ tôi nào may mắn gì, chỉ sợ liên lụy cậu thôi.”

    Chung Độ chỉ nói đùa, Trì Viễn Sơn lại trả lời rất ấm áp: “Nhiều khi ông trời đang tích góp thay anh đó, để dồn chúng vào chuyện quan trọng hơn.”

    Một cách giải nghĩa rất thú vị.

    Chung Độ nhìn y, nhướng mày, bỗng cười vài giây rồi mới đáp: “Có lẽ thế.”

    Trên bàn bày bốn món ăn, thố canh lên cuối cùng.

    Người anh nọ hẳn cân nhắc Trì Viễn Sơn chỉ đi hai người nên giảm khẩu phần ăn còn một nửa. Bốn món một canh thành ra vừa vặn cho cả hai, không phí phạm.

    Trì Viễn Sơn ra hiệu nhân viên đặt canh ở bên Chung Độ: “Thầy Chung ăn canh đi, ở đây họ ninh kỹ, ngon lắm.”

    Chung Độ gật đầu, cầm muỗng múc thành hai bát nhỏ, lúc đưa cho Trì Viễn Sơn anh hơi thoáng ngần ngừ: “Cậu không ăn thêm rau à? Ăn món cay mãi lại phát hỏa.”

    Trì Viễn Sơn sửng sốt, chợt nhìn anh rồi bật cười.

    Dường như Chung Độ không quen kiểu quan tâm lời nói này. Cả biểu cảm lẫn giọng điệu đều nhuốm sự do dự, trông chẳng khác nào bé con vừa nhận được kẹo cẩn trọng từng li từng tí cầm viên sô cô la của mình ra.

    Trông thấy y cười, Chung Độ “hửm” một tiếng, hỏi y: “Cậu cười gì vậy?”

    Trì Viễn Sơn lắc đầu, cười gắp thêm đũa rau.

    Chung Độ không hỏi thêm, từ từ húp canh, cùng Trì Viễn Sơn ăn xong bữa cơm trong yên lặng.

    Tận hưởng bầu không khí này một cách khó hiểu.

    Khi ăn cơm quai hàm Trì Viễn Sơn căng ra, cánh môi bị ớt nhuộm màu, cơ hàm lên rồi xuống mỗi lần nhai nuốt, lẫn cả đôi mắt nhuốm ý cười chưa tan kia đều khiến người ta thả lỏng.

    Thấy anh im ắng không động đậy gì, Trì Viễn Sơn cũng không phải loại vô tri vô giác, vừa gắp đồ ăn vừa ngẩng lên nhìn anh, hỏi: “Anh no rồi à?”

    Xưa giờ Chung Độ không ăn nhiều lắm. Mọi khi anh cũng không kén cá chọn canh, thế mà hôm nay lại thấy không được ngon miệng.

    Những món ăn thoạt nhìn đẹp đẽ trong mắt Chung Độ lại có vẻ không sánh bằng món sủi cảo đêm qua.

    Xem “livestream ăn uống” suốt từ nãy đến giờ, Chung Độ đang trong trạng thái thư thái cực độ vô thức bật thốt suy nghĩ trong lòng: “Không ngon bằng sủi cảo.”

    Anh nói ra câu này với tông giọng không quá cao, thậm chí còn nghe có vẻ trẻ con.

    Trì Viễn Sơn nghe rõ mồn một, ngạc nhiên rồi lại buồn cười.

    Giây phút này y cảm thấy Chung Độ hệt một que kem, bên ngoài đóng đá lạnh lẽo, bên trong lại tạo thành từ sữa ngọt và mứt trái cây. Chỉ cần bạn dũng cảm cắn một miếng, que kem thoạt tưởng bình thường kia sẽ đáp lại bằng cảm giác sảng khoái và ngọt ngào như tan trong miệng.

    Y cười: “Sủi cảo muốn ăn lúc nào cũng có mà? Tối nay về gói liền cũng được.”

    “Đừng, tôi thuận miệng nói thế thôi.” Chung Độ vội vã lắc đầu.

    Đó vốn là một câu quá bình thường, nhưng vẻ hoảng hốt trong khoảnh khắc ấy của anh không thoát khỏi đôi ngươi của Trì Viễn Sơn.

    Biểu cảm ấy có chút gì đó xót lòng. Y nghĩ thuở bé chắc hẳn Chung Độ không phải một đứa trẻ mít ướt, mà sợ sệt khiến người ta phiền phức, sợ sệt mắc nợ ân tình, thế nên mới phản xạ bằng thái độ hoảng loạn trong vô thức.

    Lần này Trì Viễn Sơn không thể thuyết phục bản thân làm như không thấy được nữa.

    Canh trong bát không còn thơm ngon. Y thở dài, nhìn thẳng vào Chung Độ hỏi: “Thầy Chung à, anh nghĩ tôi có tư cách làm bạn với anh không?”

    “Đương nhiên.” Chung Độ trả lời ngay.

    Trì Viễn Sơn là con người chân thành ấm áp đến thế, sao lại không có tư cách đây? Nói đến tư cách, thì anh là người không có tư cách mới phải.

    “Được rồi, vậy thì bây giờ.” Trì Viễn Sơn vừa nói vừa đưa tay, nhướng mắt nhìn đồng hồ: “Nhằm lúc 13 giờ 05 phút trưa mùng một tháng một, Trì Viễn Sơn và Chung Độ chính thức trở thành bạn.”

    Y bỗng trở nên trẻ con như thế kia, Chung Độ hơi khó hiểu.

    Biểu cảm nét mặt y lại trông nghiêm túc lạ: “Thầy Chung, ta là bạn rồi, bây giờ tôi có thể yêu cầu anh một điều được không?”

    “Đương nhiên là được, cậu cứ nói đi.” Chung Độ cũng trở nên nghiêm túc theo rất khó hiểu.

    “Tôi hơi lạnh, lát nữa anh tìm cửa hàng nào đó mua giúp tôi khăn quàng cổ được không?”

    Một chiếc khăn quàng cổ thôi à?

    Chung Độ vẫn chưa hiểu suy nghĩ của Trì Viễn Sơn, nhưng vẫn nghiêm trang tính toán mọi khả năng thực hiện yêu cầu y đưa ra: “Được. Chắc là hôm nay không có nhiều hàng mở lắm? Cơ mà trên đường cậu lái xe tôi sẽ để ý cửa hàng hai bên, thấy có cái nào thì chúng ta tấp vào xem thử, thích cái nào thì mua. Nếu không được nữa thì chúng ta về khách sạn, trên phòng tôi có khăn quàng cổ, cậu đeo của tôi nhé.”

    Nhận được đáp án hài lòng, Trì Viễn Sơn cười cười: “Anh thấy đó, thật ra tôi chỉ thuận miệng nêu một yêu cầu hơi bất hợp lý. Như anh nói, hôm nay rất ít hàng quán mở cửa, để bắt tay vào thực hiện chắc chắn sẽ gặp khó khăn nhất định. Nhưng anh không từ chối, chưa kể còn ra sức nghĩ cách thỏa mãn tôi nữa.”

    Chung Độ vẫn chưa mò ra ý y muốn nói, nghi hoặc “Hở?” một tiếng.

    “Bạn bè với nhau nêu ra một yêu cầu hơi quá đáng hoặc giúp đỡ lẫn nhau là những chuyện hết sức thường tình.” Trì Viễn Sơn giải thích.

    Quanh quẩn một vòng ra là muốn “giáo dục” anh. Chung Độ cười, sau đó nghe Trì Viễn Sơn “tổng kết trần tình”: “Mượn điểm quay và gói sủi cảo với tôi không phải chuyện phiền toái.”

    Trì Viễn Sơn vạch ra một vòng tròn cho bản thân. Người đứng ngoài đều ngừng lại bằng phép lịch sự, nhưng người bên trong y sẽ hoàn toàn chẳng giữ lại chút gì.

    Như giờ phút này, y bộc lộ tấm chân tình với Chung Độ, cố gắng làm Chung Độ hiểu bạn bè nên đối đãi với nhau ra sao, và hy vọng rằng chi ít ở trước mặt mình anh hãy cứ để mặc bản thân chạy theo suy nghĩ cá nhân.

    Trước khi kịp tự ý thức, Trì Viễn Sơn đã kéo Chung Độ vào trong vòng tròn ấy.

    Cơ mà quen biết chưa bao lâu đã “lên lớp” người ta thế này thật chẳng phải chuyện gì hay ho, cũng may Chung Độ hoàn toàn không để bụng.

    Chung Độ nhận ra dường như mình đã tìm thấy tính cách của Trì Viễn Sơn. Một người đôi khi ân cần dịu dàng, thỉnh thoảng lại rất thẳng thắn, thẳng thắn đến độ giống một đứa nhóc choai choai còn hôi sữa. Vậy mà vĩnh viễn không khiến mọi người thấy bị xúc phạm, bởi vì y thừa lòng chân thành.

    Vẫn là nhận định ấy, mâu thuẫn mà hài hòa.

    Đứng trước mặt người thế này khiến Chung Độ thấy hổ thẹn. Anh không đường nào biện giải cho mình, cười nhận thua: “Vậy cậu dạy tôi được không? Lúc làm sủi cảo ấy.”

    Thấy học trò vừa tiếp thu nhanh vừa tiến bộ rõ rệt, Trì Viễn Sơn cười: “Thầy Chung đúng là thông minh hơn người.”
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 8


    Hai người ra ngoài khi cơm nước xong xuôi, ông anh đang ngồi trong sân sưởi nắng chợp mắt, bên cạnh có một chú cún lông vàng bự đùng nằm dài, thấy có người ra chẳng buồn sủa mà còn vểnh dậy quẫy tít đuôi.

    “Nhị Mao, mới mấy bữa không gặp mà nom mập ra rồi ta.” Trì Viễn Sơn bước tới, ngồi xổm xuống nựng nó: “Tết nay mập lên được hai, ba ký rồi hả?”

    Nhị Mao có vẻ rất phấn khích, vẫy đuôi líu ríu quanh chân Trì Viễn Sơn.

    Chung Độ nhìn họ, thoáng thất thần.

    Hồi nhỏ anh cũng từng nuôi chó, một chú chó cỏ lang thang nhặt về giữa đường mắc mưa. Lúc đó anh còn bé lắm, không biết trên đời tồn tại chữ “an tử” nên ngốc nghếch đặt cho chú chó nọ cái tên “An Vui”, mong nó được bình an và vui vẻ.

    An Vui là một trong số những bức họa màu ít ỏi tồn tại giữa ký ức thời thơ ấu của Chung Độ. Chỉ là sau này An Vui chẳng hề yên vui, đến mức chết cũng chẳng được an bình.

    Sau một thoáng cười nhạo tuổi thơ của mình, anh cũng bước lại ngồi xuống sát bên, đưa tay xoa đầu nhóc cún.

    Nhị Mao là một chú cún đơn giản hạnh phúc, được người quý mến là sung sướng lắm. Lúc này hai người cùng nựng nó một lúc, nó vui đến độ nằm dài ra đất.

    Chung Độ thấy thế cười rờ bụng nó. Trì Viễn Sơn nghiêng đầu nhìn anh, nói một câu hết sức phạm pháp: “Thích không? Thích thì anh nói một tiếng khuya nay thanh vắng mình lẻn vào trộm chó.”

    Ông anh già đang lim dim ngủ thì bị cái kiểu nói chuyện ngang ngược kia giật cho bừng tỉnh, đứng dậy đuổi đi hết: “Thằng nhóc kia, ăn xong rồi thì đi đi giùm, vướng víu hai người ở đây ngủ trưa.”

    “Ài rồi em đi, anh cẩn thận tay chân vào lẩm cẩm rồi đấy.”

    Hai người bị đuổi khỏi cửa, Nhị Mao cũng lẽo đẽo bám theo phấn khởi ngồi ngoài cửa tiễn hai người họ. Xe đã đi cả quãng mà vẫn thấy nó ở đứng trước quán quẫy đuôi.

    Chung Độ nhìn chú cún trong gương chiếu hậu, ghen tị với chủ của nó vô kể.

    Không phải kiểu ghen tị vật chất, mà là tinh thần.

    Anh có đủ điều kiện mua một căn nhà nhỏ, mướn nhân viên mở một quán cơm, cũng có thể nuôi một nhóc cún đáng yêu, mua một chiếc bàn đá, một chiếc xích đu. Đáng buồn rằng anh không cách nào sống nhàn nhã hay có lòng dạ hưởng thụ cuộc sống, càng không có người bạn vong niên nào để trêu ghẹo, thậm chí không còn biết nếu mình thật sự nuôi một chú chó chẳng hay nó có thích người chủ này không.

    Sống là một phạm trù quá triết học mà dường như anh mãi mãi cũng không bao giờ học được.

    Nhưng kể từ ngày gặp được Trì Viễn Sơn về sau, đâu đó có điều gì khang khác.

    Trước khoảnh khắc gặp được y, ngày qua ngày anh chỉ suy nghĩ về muôn kiểu chết sao cho lẫy lừng. Gặp được y rồi, anh dần bắt đầu đặt mình trong tư thái của một người chứng kiến đầy ước ao. Từ bên trong sự dịu dàng của Trì Viễn Sơn, anh nghĩ ngợi hẳn rằng mình cũng đáng được sống mà, phải không.

    “Anh thích Nhị Mao vậy à? Không thấy nữa rồi mà anh cứ nhìn chằm chằm mãi.”

    Chung Độ tỉnh thần, cười ngượng nghịu: “Mỗi lúc no bụng tôi hay bị thất thần, chắc là già rồi.”

    Trong gương chiếu hậu đã khuất bóng Nhị Mao, thay bằng quang cảnh đường phố thường ngày.

    “Chỗ chúng ta đi có xa không?” Chung Độ hỏi.

    “Tôi biết hai khu phố cũ, cái nào cũng hơi xa chút chút. Cơ mà không sao, tầm này còn lâu mặt trời mới xuống núi, chắc sẽ không lỡ giờ anh chụp ảnh.” Trì Viễn Sơn đáp: “À phải rồi, anh đi ngoài đường có bị nhận ra không? Có cần đeo khẩu trang không?”

    “Không đến nỗi, Tết nhất ít người, tôi cũng không nổi tiếng tới mức độ ấy.” Chung Độ thản nhiên: “Có ai đó thấy tôi quen mắt cũng không nghĩ theo hướng kia, đeo khẩu trang còn dễ lộ hơn.”

    “Cũng đúng, tôi nghĩ nhiều rồi.” Trì Viễn Sơn nói xong bỗng buồn cười.

    Thật ra y nghĩ Chung Độ bị chụp một mình đã chẳng sao, nhưng nếu hai người bị chụp nhỡ đâu người ta đồn đại lại thành dở. Nghe anh nói y mới ngộ ra, hai tên đàn ông đi với nhau đường hoàng thì làm sao? Chỉ toàn do mình thích đàn ông mà nghĩ sang chuyện đó.

    Lúc này Chung Độ đang vẩn vơ nghĩ về mấy tài khoản cứ thích viết lung ta lung tung lên kia, đầu chợt sáng ra, nhìn Trì Viễn Sơn cố ý hỏi trêu: “Cậu nghĩ đến đâu thế?”

    Tại đám bạn xấu vớ vẩn nên Trì Viễn Sơn hơi o ép, cứng đơ chuyển chủ đề: “Không bàn không bàn nữa. Nhanh thôi, anh chắc chắn tôi thế này cũng được chưa?”

    Chung Độ cười cười, không trêu y nữa mà hướng dẫn lát nữa sẽ chụp thế nào.

    Con phố cổ đầu tiên hai người ghé tuổi đời đã nhiều năm rồi. Hai bên đường là những ngôi nhà gạch lúp xúp chằng chịt hết đỏ lại xanh, ánh lên cảm giác xưa cũ.

    Chung Độ đứng ở đầu đường ngắm nghía một lát. Con đường khá hẹp, may mà đủ dài, chụp đủ tốt hẳn vẫn sẽ đạt hiệu quả như mong muốn.

    Anh để Trì Viễn Sơn đi trước, mình theo sau chụp bóng lưng y.

    Trời râm mát, đường vắng vẻ không người, mặt đất và mái nhà trải kín tuyết, những nhành cây vươn ra từ sân nhà cũng phủ ắp lớp tuyết dày như bơ.

    Có chú chim bay lên ngọn cây. Trì Viễn Sơn ngẩng lên nhìn, không thấy rõ là chim gì, vừa bắt gặp nó đã vỗ cánh bay mất không còn tăm tích.

    Lớp tuyết trên nhành cây bị quấy nhiễu rơi lả tả khắp người y.

    Chung Độ cầm máy ảnh ấn chụp.

    Màn hình dừng lại tại khoảnh khắc mặt Trì Viễn Sơn ngẩng lên, màn tuyết mỏng manh rơi rụng từ trên nhành cây. Y vô thức nhắm mắt lại, hệt như một tín đồ thành kính giữa nghi thức thanh tẩy bằng tuyết.

    Chung Độ bước đến, đưa máy ảnh cho Trì Viễn Sơn xem. Y nhìn bản thân có phần lạ lẫm trong ống kính của anh mà kinh ngạc: “Thầy Chung, anh mà làm nhiếp ảnh gia thì Tần Tang thất nghiệp mất, thật đấy.”

    “Đừng khen tôi quá, Tần Tang là dân chuyên môn mà.” Chung Độ vừa đáp vừa đưa tay tự nhiên phủi tuyết bám trên vai áo y.

    Trì Viễn Sơn thản nhiên: “Tôi thích anh chụp cơ.”

    Nghe đoảng một tí lại thành “Tôi thích anh”, Chung Độ đang phủi tuyết chợt khựng lại.

    Trì Viễn Sơn vô tri vô giác, mắt còn dán chặt vào máy ảnh, mê mẩn tấm hình không buồn che đậy.

    “Thích thì bao giờ về tôi gửi sang cho cậu.”

    “Ừm, không vội đâu, anh cứ xong việc rồi tính sau.”

    Bấy giờ Trì Viễn Sơn không còn là ông chủ Trì chững chạc điềm tĩnh nữa. Cách y chăm chú ngắm nghía tấm hình lẫn nét mặt và giọng điệu đều thẳng đuột giản đơn, hệt như một đứa bé đang mân mê quyển truyện tranh nó thích nhất vậy.

    Chung Độ nhìn y, cứ cười suốt không ngơi, giọng điệu cũng vô thức nghe chiều chuộng như dỗ dành trẻ con: “Được, nghe cậu.”

    Đi thêm một quãng ra đến gần đầu đường, Chung Độ gọi Trì Viễn Sơn về.

    “Được rồi à?” Trì Viễn Sơn quay lại hỏi.

    Đúng lúc này, có tia nắng nhảy nhót xuyên qua tầng mây nghiêng nghiêng đổ lên mặt đường, dát trên khuôn mặt Trì Viễn Sơn sắc vàng óng.

    Nắng tung tăng, giọng nói Trì Viễn Sơn cũng hệt như đang nhảy múa: “Mau, mau, cho tôi xem mấy tấm sau này với.”

    Chung Độ nhìn y bước từng bước về phía mình, đầu bỗng nảy ra tiếng nói không hề đúng thời điểm: Cậu ấy hệt một thiên sứ phát ra ánh sáng, cậu ấy sẽ cứu rỗi mình ư?”

    Anh lần nữa giơ máy ảnh lên, nhanh chóng ấn chụp, thu lại nụ cười rạng rỡ của Trì Viễn Sơn vào ống kính.

    Chung Độ nhìn tấm hình nọ, có tiếng phủ định lập tức vang lên: Thôi đi vậy, đừng cứu tôi, cậu ấy phải nên tự do tự tại tắm mình dưới ánh mặt trời.

    Phủ định rồi bỗng thấy mất mát một cách khó hiểu.

    Chung Độ đưa máy ảnh cho Trì Viễn Sơn, im lìm đi phía trước, hai người cùng nhau ra bãi đỗ xe.

    Ánh mặt trời tràn ra, nền tuyết lóng lánh màu nắng. Đó là thời khắc lộng lẫy nhất cuộc đời chúng, để rồi theo sau là sinh mệnh tới hồi đếm ngược.

    Có chiếc xe máy ầm ầm lao đến, Trì Viễn Sơn còn đang mải xem ảnh, Chung Độ phản xạ nhanh khom người kéo y vào trong lề.

    Như tuyết tan, trong chớp mắt ấy trái tim Chung Độ gần như vụn vỡ.

    Trì Viễn Sơn không để ý sắc mặt thoắt đổi của anh, nhìn theo chiếc xe vừa vút qua, còn ngẩn ra cười cứ như đầu thiếu mất sợi dây nào: “Uầy, đường tuyết không mà còn phóng như bay thế, không sợ trượt té hay gì.”

    Nói rồi tiếp tục xem ảnh, chẳng buồn để bụng tí nào.

    Chung Độ cũng không nói thêm, mà nửa đường sau đó cứ đăm đăm nhìn dưới chân giúp y, không dám thơ thẩn một giây nào.

    Lúc gần đến bãi đỗ, ven đường có bà cụ bày sạp bán, nào mũ, khăn quàng cổ, găng tay cái gì cũng có đủ, trông vừa đẹp mắt lại vừa ấm áp.

    Lúc đi ngang qua, bà cụ chào mời: “Hai cậu xem thử có cần mua gì không? Hàng tự đan cả.”

    Chung Độ ngừng chân, kéo Trì Viễn Sơn đứng lại cùng.

    Trì Viễn Sơn còn bận chìm đắm trong mấy tấm hình, bị anh kéo sang còn hơi mơ màng: “Hửm?”

    Chung Độ ra hiệu y nhìn sang bên kia: “Chọn một cái đi, mua khăn quàng cổ cho cậu.”

    “Tôi nói đại thôi thầy Chung à.” Trì Viễn Sơn buồn cười nhìn sạp hàng nhỏ, nhưng vẫn ngồi xổm xuống lựa.

    Chung Độ đứng đằng sau y, quan sát một lượt rồi chỉ vào chiếc khăn quàng màu đỏ, hỏi: “Cậu thích cái này không?”

    Thật ra Trì Viễn Sơn không thích mặc đồ sáng màu. Nhưng nhìn biểu cảm lưỡng lự của Chung Độ, cuối cùng y gật đầu, sau đó cũng cầm khăn quàng màu đen giơ về hướng Chung Độ múa máy tay chân.

    Anh không kén thật, vừa nghe y nói xong là gật đầu ngay tắp lự: “Được.”

    Hàng len tự đan nên không quá nhiều kiểu mốt bây giờ, nhưng được làm rất tỉ mỉ có tâm.

    Hôm nay trời lạnh lẽo, Trì Viễn Sơn nhìn đôi bàn tay bà nứt nẻ mà không chịu nổi, thế là y nghĩ ngợi rồi nói: “Bà ơi, mấy món này bà đan đẹp thật ấy. Hai đứa con mua cả chỗ này nhé, con có nhiều bạn thích mấy món đồ thủ công như vậy lắm, vừa khéo con không cần chuẩn bị quà năm mới cho bạn luôn.”

    Không ngờ bà cụ xua tay từ chối: “Thôi cậu không dùng tới, đừng tội nghiệp bà già này mới mua. Bà nhận ý tốt của cậu rồi, cậu không cần làm vậy đâu, mua về mà không dùng thì cũng như lãng phí đấy.”

    Trì Viễn Sơn không nghĩ đến mức đó, bỗng xấu hổ vô cùng. Y giương mắt về phía Chung Độ, bất giác tỏ ý cầu cứu.

    Đúng thật, khăn quàng cổ thì còn tặng được, chứ bạn bè của y còn không ai đeo găng tay chứ còn nói gì đến mũ len. Bà bỏ tâm bỏ sức đan từng cái một, không dùng vào đúng mục đích đúng là phụ lòng người làm.

    Chung Độ nhận được tín hiệu của Trì Viễn Sơn, giải vây giúp y: “Hai đứa con có cần dùng đến bà ạ. Thời gian tới bọn con đi làm, nhiều bạn bè từ miền Nam tới đây không chịu lạnh được, hai đứa con tặng cho họ.”

    Anh cũng không hoàn toàn nói dối. Hầu hết toàn bộ cảnh đoàn quay tại Trường Nam là ngoại cảnh, kha khá trong số đó phải quay đêm, chắc chắn sẽ cần găng tay và mũ.

    Trì Viễn Sơn mau chóng hiểu ý anh, tiếp lời: “Vâng ạ, bà không biết đâu, mấy đứa bạn con từ miền Nam chưa thấy tuyết lớn như ở chỗ mình bao giờ, lạnh run cả người thấy thương lắm. Đồ bà bỏ công đan làm sao lại để phí được, chắc chắn là giành nhau hết thôi.”

    Nói hết nước hết cái bà cũng chịu tin, đồng ý bán cho hai người.

    Lúc ôm cả đống đồ ra xe, Trì Viễn Sơn cảm thán: “Lắm khi bố thí thì dễ dàng, tôn trọng lại khó. Tôi tự đại quá.”

    Y nhớ về bà mình, nếu bà nội còn sống chắc cũng tầm tuổi bà rồi.

    Vốn là có lòng tốt, ai ngờ làm vụng lại hóa hỏng.

    Vậy mà Chung Độ lắc đầu, nhẹ nhàng phủ định: “Không, thiện lương là điều đáng quý nhất.”
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 9


    Mua đồ ra hơi trễ, lúc hai người đến con phố cổ thứ hai đã gần năm giờ chiều rồi.

    Ánh sáng trên phố ảm đạm đi nhiều, may mà có tuyết trên đất làm tấm phản quang cũng được.

    Xuống xe, Chung Độ đưa chiếc khăn quàng cổ đỏ cho Trì Viễn Sơn: “Cậu đeo đi, trời lạnh.”

    Ngày và đêm miền bắc chênh lệch nhiệt độ rất lớn, bây giờ đúng thật lạnh hơn hồi trưa nhiều. Trì Viễn Sơn cầm khăn quàng cổ quấn lên, lại hỏi Chung Độ: “Còn anh?”

    “Tôi không đeo được, chụp ảnh vướng víu.”

    Nói dứt câu chợt phát hiện Trì Viễn Sơn vẫn còn nhìn mình như muốn nói gì, anh bèn cười bổ sung: “Tôi không lạnh đâu, thật.”

    Con đường này rộng hơn đường vừa rồi kha khá, hai bên là hai hàng cây hồng đã rụng lá sạch trơn, mấy quả hồng cam óng treo trên cành cây, đội chiếc mũ tuyết trĩu nặng lủng lẳng như chực chờ rơi xuống.

    Ở bất kỳ góc độ nào con đường này cũng cực kỳ hợp với yêu cầu của Chung Độ. Nó hệt như một quý bà bị thời gian bỏ quên, trơ trọi, cô tịch, thoi thóp, mang nét đẹp cổ kính mà thê lương hoang tàn.

    Trì Viễn Sơn vẫn đi trước, y không hợp cung đường này mà giống cậu bạn nhỏ ghé du xuân phần hơn: “Thầy Chung nhìn này, hình như chỗ gốc cây kia có quả hồng đó.”

    Chung Độ đang giơ máy canh chỉnh góc máy, nghe vậy, ánh mắt anh không dời khỏi ống kính mà lần theo tiếng gọi chuyển hướng. Khoảnh khắc trông thấy Trì Viễn Sơn xuất hiện trên màn hình, anh nhanh chóng ấn chụp.

    Chuỗi hành động nọ phát sinh trong chớp mắt, chụp hình cũng chỉ là phản ứng trong vô thức. Anh không hề để tâm đến bố cục ánh sáng, quên cả mục đích mình đặt chân đến đây mà chỉ chăm chú vào Trì Viễn Sơn trên màn ảnh, thu lại cảnh tượng đẹp nhất kia.

    Trong màn hình, Trì Viễn Sơn cười ngoái đầu lại, tay chỉ gốc cây hồng cách đó không xa, mái tóc bị gió thổi rối tung, quần áo theo chiều xoay người của y tạo thành độ cong đẹp mắt giữa không trung.

    Bầu trời màu xanh xám, gạch ngói màu biêng biếc đắp trên tường nhà và tuyết trắng giăng khắp nơi lát thành phông nền cho bức ảnh, chiếc khăn quàng đỏ trên cổ Trì Viễn Sơn chói mắt đến lạ lùng.

    Nhưng chói mắt đến đâu cũng chỉ là phần phụ, thứ đẹp nhất vẫn là cái quay đầu lơ đãng của y.

    Chung Độ nhìn tấm hình chăm chú giây lát, tiện tay chụp thêm vài cảnh đường phố rồi gọi Trì Viễn Sơn đi về.

    Từ lúc tới đây đến giờ còn chưa đầy mười phút, Trì Viễn Sơn bối rối: “Anh không thích chỗ này à?”

    Chung Độ ngẩn người, sau đó cười lắc đầu: “Không đâu, tôi chọn nơi này rồi.”

    “Vậy sao mới chụp có vài ba tấm đã về thế?”

    “Vài tấm đó là đủ.” Chung Độ nở nụ cười bất đắc dĩ: “Cậu hợp làm mẫu ảnh lắm, mai mốt không chụp cậu được nữa đâu, cảnh có đẹp mấy cũng thành phông nền.”

    Giọng điệu anh bình bình đang trần thuật một sự thật hiển nhiên. Thế mà chẳng hiểu sao Trì Viễn Sơn nghe xong lại muốn sờ sờ tai.

    Y bước vội lên trước, như thể đang trốn chạy: “Vậy chúng ta về làm sủi cảo thôi.”

    Trên đường về, Trì Viễn Sơn hỏi: “Lát nữa ghé nhà tôi nhé? Hôm nay bar mở cửa rồi, mấy cô cậu không về nhà đâu chịu ngồi yên.”

    Chung Độ ngừng một lúc mới khẽ gật đầu: “Ừ.”

    “Anh muốn ăn nhân gì? Như tối hôm qua à?”

    “Tôi không chọn đâu, gói loại cậu thích ăn đi.”

    Trì Viễn Sơn biết ngay câu trả lời sẽ thế này mà, xem ra cái tật này không trị hết trong thời gian ngắn được.

    Chung Độ như biết y đang nghĩ gì, cười biện bạch: “Không, là ăn cái gì cũng được thật. Mấy cậu gói sủi cảo ngon lắm, không giống ăn ở ngoài.”

    “Giống mà được à?” Trì Viễn Sơn nói tiếp: “Ở nhà bao giờ cũng ngon hơn ăn ngoài, huyền học cả đấy.”

    Y nói quá lên thế mà Chung Độ lại đồng tình. Anh cảm thấy sủi cảo mình ăn đêm qua có hương vị gì đó thật đặc biệt, như thể ăn hoài ăn mãi cũng chẳng bao giờ ngán.

    “Vậy gói hai thứ nhân đi, thịt heo cải thảo với thịt heo hành tây, hai loại cũng tạm gọi là sở trường của tôi.”

    “Được.”

    Chung Độ đồng ý thoải mái, thực tế lòng vẫn đang có phần thấp thỏm về chuyện đến nhà người ta chơi. Kinh nghiệm của anh trong mấy vụ thế này đúng là hạn hẹp, vậy mà cứ một hai gặp được người nhiệt tình như Trì Viễn Sơn.

    Từ hôm qua đến hôm nay, người này dường như đang đẩy anh về phía đám đông, về nơi ấm áp khói lửa.

    Dẫu là vô tình hay cố ý, với Chung Độ ấy khác nào bàn tay cuộc sống chìa đến níu giữ anh lại.

    Nhà của Trì Viễn Sơn bày trí rất đơn giản, vẫn với tông màu trắng xám đen ở đại đa số nhà đàn ông độc thân. Không có gì quá đặc biệt nhưng sạch sẽ ngăn nắp, cây hoa tô điểm ngoài kia khiến mọi thứ trở nên ấm áp vô kể.

    Y vừa về nhà đã vào bếp luôn tay luôn chân. Nhất thời nảy ý làm sủi cảo nên có nhiều thứ cần chuẩn bị đây.

    Chung Độ mới vừa nghe điện thoại, anh cởi áo khoác vào cửa gian bếp: “Tôi giúp gì được không?”

    Trì Viễn Sơn nghe thế ngoái lại nhìn anh, trò xấu bỗng nhảy ra.

    Y mở vòi nước rửa tay, cầm tạp dề mới tinh được tặng kèm hồi mua nồi trong tủ, giũ ra rồi tròng lên cổ Chung Độ.

    “Thầy Chung hiếm khi vào bếp phải không?” Trì Viễn Sơn cười xấu xa: “Vào bếp phải đeo tạp dề đó nha.”

    “Rõ ràng cậu đâu có đeo.”

    “Tôi mặc áo đen, anh mặc áo trắng kia kìa, để cái gì dính vào khó giặt lắm.”

    Nếu chiếc tạp dề chễm chệ trên người mình không phải kiểu caro màu hồng, Chung Độ suýt đã tin lý do nọ.

    Trì Viễn Sơn thắt tạp dề cho anh, đứng ra xa khoanh tay cứ như nhà thiết kế chuyên nghiệp đang chiêm ngưỡng “tác phẩm” của mình.

    Khá hài lòng, cảm giác lạnh lẽo buốt giá trên người anh đã mất tăm chẳng thấy bóng dáng đâu.

    Dúi cho anh củ hành, dịch cái ghế con sang rồi giao nhiệm vụ bóc hành “gian khổ” cho Chung Độ xong xuôi, Trì Viễn Sơn thỏa mãn đi làm nhân.

    Phần thịt chia làm hai nêm muối, nước tương nhạt, mười ba loại gia vị, một chút dầu hào và nước cốt gà, trộn đều với tiêu từng mẻ một, cuối cùng đập một trái trứng gà.

    Một phần bỏ vào chỗ cải thảo đã vắt ráo nước, hành lá và gừng xắt nhỏ rải lên trên; phần thịt còn lại chỉ thêm hành gừng.

    Bật bếp cho nóng chảo dầu, hai phần nhân cho vào đảo sơ, mùi thơm lập tức dậy lên.

    Đặt nhân sang một bên, phần bột cũng đã sẵn sàng. Trì Viễn Sơn mở lớp màng bọc thực phẩm ra nhào vài lần, lớp vỏ mịn màng hiện ra.

    Tất cả các bước xuôi chèo mát mái đến độ Chung Độ không xen tay vào. Anh thoáng ngạc nhiên, dù gì thoạt trông Trì Viễn Sơn không giống người biết nấu ăn, thế là anh hỏi:

    “Sao cậu lại nhào bột lại nhỉ?”

    “Tôi biết nhiều lắm, thầy Chung cứ từ từ học hỏi thêm đi thôi.” Trì Viễn Sơn hơi tỏ vẻ kiêu ngạo: “Đi, ra phòng khách vừa xem ti vi vừa gói bánh.”

    Tấm silicon trải trên bàn trà phòng khách, mang lên theo thứ tự hai bát nhân nhỏ, cục bột làm vỏ, chày cán cột và hai cái muỗng không sâu lòng.

    Chuẩn bị tất cả xong xuôi, thầy Trì cán vài cái vỏ, bắt đầu tiết học.

    Chung Độ không biết làm sủi cảo, bụng nghĩ đây là công việc cần kỹ thuật điêu luyện. Trì Viễn Sơn lại cứ giở trò không chịu dạy anh cách gói đơn giản, cứ vẽ ra bày anh gói lằng nhằng mãi thôi.

    “Nhân phải cho vừa đủ, thiếu thì không ngon mà dư thì dễ bục vỏ.” Y vừa nói vừa làm mẫu cho Chung Độ: “Đầu tiên cầm một bên rìa lên, sau đó đặt ở hộ khẩu, tay phải chèn vô thế này là miếng sủi cảo của mình sẽ thành.”

    Cách gói sủi cảo bụng bự nhìn thì đơn giản, nhưng nhìn người ta làm thực tế là biết ngay không hề dễ. Chung Độ gói thử vài cái mà chẳng được miếng nào ra hồn, huống gì là được tròn trịa như của Trì Viễn Sơn.

    Thử bao nhiêu lần vẫn không có tiến bộ, anh vừa bất đắc dĩ lại vừa hưởng thụ.

    Ti vi đang chiếu thời sự khô khan, chày cán bột trong tay Trì Viễn Sơn nhịp nhàng đưa tới lui trên thớt. Từ cửa sổ phòng khách nhìn ra ngoài, ánh đèn lấm tấm ngoài xa kia sáng lên biểu thị màn đêm đã buông.

    Giờ này tối hôm qua anh vẫn đang ngồi giữa chốn lạnh lẽo hâm mộ những ánh đèn từ bao ngôi nhà đằng xa xôi kia. Vậy mà chỉ vỏn vẹn một ngày trôi qua, anh đã trở thành một phần của khung cảnh chân thực này, anh hoảng hốt.

    Ở độ tuổi còn mộng mơ, anh từng ảo tưởng cảnh tượng này sẽ xuất hiện giữa căn nhà không hợp với từ ấm cúng kia. Nhưng dẫu là khi đó, anh vẫn không dám mơ đẹp đến nhường này.

    “Thầy Chung à, tôi nói chứ mấy cái anh gói mà bỏ vào luộc thế nào cũng ra nguyên nồi mì.” Trì Viễn Sơn giống hệt một bé hồ ly ưỡn ngực xòe đuôi tỏ ra mình xinh đẹp: “Nhìn của tôi này, trắng trẻo mập mạp chưa.”

    “Ừ, đẹp lắm.” Chung Độ tỉnh táo, thoáng cưng chiều nhìn về “bé hồ ly” cười.

    Trên bàn đã có hai hộp sủi cảo trắng phau tròn trịa, mấy cái anh gói kia bị Trì Viễn Sơn xếp ra bên rìa, ngả trái nghiêng phải không đủ tư cách nhét vào hộp.

    Nhân bánh đã hết mà anh vẫn chưa gói được cái sủi cảo nào. “Bé hồ ly” Trì Viễn Sơn vẫn đang vểnh đuôi, lúc bưng sủi cảo được gói đẹp đẽ kín kẽ vào bếp bỏ lại một câu thế này: “Trò Chung à, cố lên.”

    Tội nghiệp Chung Độ muốn ăn sủi cảo phải trả cái giá đắt, mới đây mà đã từ “thầy Chung” giáng xuống thành “trò Chung”.

    Lúc thầy Trì nấu sủi cảo, cậu trò Chung không dám lười biếng đi vào giúp lột tỏi rồi giã tỏi, nghiêm chỉnh học cách pha công thức nước chấm bí mật.

    Quá trình làm gà bay chó nhảy bao nhiêu thì khỏi phải kể. Vật vã nửa buổi trời, sủi cảo bày ra đến bàn thì anh cũng đói lắm rồi.

    Gắp một miếng sủi cảo chấm vào bát nước chấm Trì Viễn Sơn gọi là công thức bí truyền kia cho vào miệng, nhận được cảm giác sung sướng đồ ăn ngon đem đến.

    Hai người anh một miếng tôi một miếng không ngơi đũa, nhất thời trên bàn ăn im ắng không ai nói gì.

    Lát sau, Trì Viễn Sơn cười: “Bạn học Chung này, anh biết phần thưởng lớn nhất với người đầu bếp là gì không?”

    “Là gì?”

    “Là khi đồ ăn được bưng lên bàn, ai cũng cắm cúi ăn không hề nói chuyện.”

    Nếu là thật vậy thì, ngày xưa trong nhà anh một năm dì giúp việc phải nhận được hơn ba trăm phần thưởng thế này, Chung Độ nghĩ.

    Nói ra sẽ làm hỏng không khí. Anh cười cười, đổi lời: “Thầy Trì nói đúng lắm.”

    Hai người vừa nhâm nhi bia vừa ăn vừa trò chuyện. Toàn nói với nhau những chuyện tầm phào cả, nhưng cả hai ai cũng dễ chịu vui vẻ.

    Loanh quanh từ trời đất bốn mùa đến đám bạn xấu rồi món rượu đêm qua.

    “Rượu đêm qua anh uống không quen à? Có loại dịu hơn đấy, để lần sau tôi dẫn anh sang sân vườn uống.”

    “Sân vườn?”

    “Ừm, trên đường gặp anh tối qua chạy về phía Nam một tí nữa là đến.” Trì Viễn Sơn than vắn thở dài như ông già: “Mấy năm rồi cứ thấy bản thân già rồi, cần dưỡng sinh nên tôi có mua sân vườn rồi tự mình mày mò trong đó. Lúc nào rảnh tôi dẫn anh qua chơi.”

    Cái kiểu thích nói mình già của hai người này đúng là giống nhau như đúc, mà mặt ai cũng trẻ măng hơn tuổi.

    Chung Độ cười lắc đầu: “Cậu già chỗ nào.”

    “Ở riết với bọn Nghiêm Tùng Thanh với Yến Tiếu Ngữ sao mà không thấy già cho được? Mấy người họ mới là trẻ trung thật, không sợ trời sợ đất.” Trì Viễn Sơn nheo mắt, hồi tưởng lại cái thời mình ngông cuồng lông bông: “Hồi tôi cỡ tuổi đó còn đang phiêu bạt khắp nơi ấy chứ. Một thân một mình nghe ngạo mạn lắm phải không? Quả đất này rộng lớn thế còn không kiềm nổi tôi, bởi vậy hồi xem Tảo Biển tôi nhiều cảm xúc lắm.”

    Nghe vậy, Chung Độ bỗng ngưng cười, cau mày ngắt lời y: “Đừng so sánh mình với Tảo Biển.”

    Thoạt nghe như một lời trách cứ, Trì Viễn Sơn lại lập tức hiểu ra.

    “Tảo Biển” là bộ phim đầu tay của Chung Độ, về câu chuyện một cậu thiếu niên ở làng chài.

    Cậu thiếu niên tên Tiểu Hải, không biết sinh ra ở đâu, còn câu chuyện thì bắt đầu ở ngôi làng nọ.

    Đó là làng chài dốt nát và lạc hậu, người thân tôn sùng biển cả, nhưng lại đối xử với Tiểu Hải vô cùng cay nghiệt.

    Tiểu Hải lớn lên cùng mùi tanh mặn của nước biển, tanh hôi của hải sản và cái nhìn kỳ dị của người dân làng chài.

    Nó là một đứa trẻ bị bỏ rơi, trên mặt có vết bớt màu đỏ to tướng, chắc hẳn là nguyên nhân khiến nó bị ruồng rẫy.

    Ông đánh cá già sống một mình nhặt nó về, cũng một mình nuôi nó lớn khôn.

    Hai người có chỗ cậy dựa là chuyện không còn gì đẹp hơn. Nhưng biển cả đem đến món quà, cũng là nguồn cơn mang lại bi kịch.

    Một ngày kia, cơn bão cuốn trôi căn nhà cũ nát và người đàn ông già nua luôn kiệm lời.

    Nhà mất, Tiểu Hải lại thành đứa mồ côi.

    Từ bé nó đã hèn mọn, song tính tình lại xấc láo. Trưởng thành, nó không chút do dự ra đi, bỏ cái làng chài nát rữa tanh hôi và ngu dốt đến lố bịch lại đằng sau.

    Vậy mà, thế giới ngoài kia không tốt đẹp như nó tưởng tượng, nó vẫn nhận được lời nhận xét: “Thằng dị hợm vừa gớm ghiếc vừa ngu đần.”

    Lòng tốt vẫn tồn tại, nhưng những tia sáng le lói kia không thể thắp bừng thế giới hoang vắng khôn cùng trong nó.

    Cuối cùng, Tiểu Hải quay về làng chài. Nó ngồi bên vách núi nhìn ánh trời chiều dần tan vào mặt biển. Dưới hào quang tuyệt đẹp ấy, Tiểu Hải gieo mình xuống biển cả.

    Bước chạy của hoàng hôn về phía tây không ngừng lại, mặt biển từ từ chìm vào tĩnh lặng.

    Thước phim ấy vừa tráng lệ lại vừa bi thương.

    Gần như cả cuộc đời ngắn ngủi của Tiểu Hải khác nào loài tảo biển lay lắt nổi trôi. Nó yếu ớt mà cứng cỏi, gồng mình tồn tại nhưng cuối cùng vẫn chẳng thể nở rộ, nên nó trả mình lại cho biển khơi.

    Chung Độ không thích Trì Viễn Sơn so sánh cuộc đời mình tương tự với vở bi kịch này. Anh nghĩ, cuộc đời của Trì Viễn Sơn sẽ là thước phim hoàn hảo và vui tươi.

    Trì Viễn Sơn gật đầu cười: “Phải, tôi may mắn hơn Tiểu Hải nhiều. Cái tính không sợ trời không sợ đất của tôi cuối cùng vẫn đơm hoa kết quả.”

    Chung Độ nhìn y, thầm nghĩ: Nếu cậu là hoa, tôi nghĩ rằng cậu sẽ nở rộ đến chói lòa, gió thu mưa lạnh có tạt đến cũng phải rẽ đường. Nếu cậu là quả, tôi tin rằng cậu sẽ là thứ quả đẹp nhất khiến người lữ khách môi khô họng cháy phải ngừng chân thưởng thức, và hẳn nhiên không nỡ hái xuống chiếm làm của riêng mình.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 10


    Sau bữa ăn, hai người ngồi sô pha uống trà nói chuyện trên trời dưới đất. Bỗng Tạ Tư Vĩ gọi điện thoại sang.

    “Thầy Chung ạ, nhân viên khách sạn gọi đặt phòng, anh vẫn ở phòng cũ hay là đổi sang phòng khác?”

    “Không cần, như cũ đi.”

    Thấy họ đang bàn công việc, Trì Viễn Sơn muốn chừa không gian cho Chung Độ, thế là y giơ bao thuốc lá trong tay rồi chỉ chỉ ra ban công, ra hiệu mình đi hút điếu thuốc.

    Vừa đứng dậy định đi, Chung Độ bắt lấy tay y cản lại, thuận tay dịch gạt tàn trên bàn trà đến trước mặt y.

    Là bảo mình ở lại hút? Trì Viễn Sơn khó hiểu nhìn anh.

    Chung Độ hếch cằm về phía cửa sổ chưa đóng ngoài ban công, nói với y bằng khẩu hình miệng: “Lạnh.”

    Trì Viễn Sơn ngẩn người, bật cười, cuối cùng cũng chẳng hút thuốc mà lặng lẽ ngồi bên nhâm nhi trà.

    Tạ Tư Vĩ trong điện thoại còn đang thao thao bất tuyệt, bàn chuyện chính lại lân la hỏi anh đã ăn cơm chưa như thông lệ. Chung Độ vẫn với câu trả lời đó: “Ăn rồi, ăn sủi cảo.”

    “Lại ăn sủi cảo? Anh đi đâu ăn sủi cảo đấy?”

    “Bên chỗ thầy Trì. Đừng lo, cho cậu nghỉ.”

    Nghe thấy hai chữ “thầy Trì”, Trì Viễn Sơn không nhịn được phì cười vui vẻ.

    Bấy giờ Chung Độ mới ý thức mình vừa thốt ra xưng hô gì, khóe môi bất giác cong cong, đáy mắt cũng nhuốm ý cười.

    Anh đang trong trạng thái thả lỏng, cử chỉ cũng thoải mái tự nhiên hoàn toàn khác với một ngày trước. Trì Viễn Sơn lấy làm mừng rỡ.

    Tạ Tư Vĩ ôm cái đầu đầy dấu hỏi từ đêm qua đến tận hôm nay.

    Tính tình Chung Độ thế nào cậu ta còn lạ gì, vậy mà anh lại đi ăn sủi cảo với người vừa quen tận hai ngày liên tục? Chung Độ im lìm bí ẩn đây á hả? Hay là hồn bị ai nhập vào rồi.

    Chung Độ hoàn toàn không biết bản thân đã biến thành nạn nhân bị nhập hồn trong đầu Tạ Tư Vĩ. Anh cúp điện thoại, nhìn đồng hồ lên tiếng: “Trễ rồi, tôi về đây, cậu nghỉ ngơi sớm.”

    Trì Viễn Sơn vừa thôi cười, bỗng nhớ ra: “Cái đệt! Tôi quên mất còn phải đưa anh về, giờ uống rượu nên cũng không lái xe được!”

    “Không cần chở tôi về đâu, nhà cậu gần khách sạn, tôi đi bộ vài ba bước là tới.”

    “Anh không biết đường, để tôi đưa anh đi.” Trì Viễn Sơn vừa dứt câu là lập tức muốn đứng dậy.

    “Không cần.” Chung Độ ấn vai y về sô pha: “Tôi biết đường.”

    Giọng nói anh có phần sắc thái không cho phép từ chối, sau đó chắc là cảm thấy giọng điệu mình có hơi cứng ngắc mới bổ sung: “Ra khỏi khu dân cư đi thẳng rẽ phải đúng không? Tôi đâu phải con nít ba tuổi, không lạc được.”

    Trì Viễn Sơn như cũng nhận ra mình hơi căng thẳng quá, gãi đầu cười ngượng: “Được, vậy anh đeo khăn quàng cổ về, còn chỗ mũ với găng tay này cứ để chỗ tôi đi, để bữa sau tôi đưa sang cho anh.”

    Thật ra nếu là Nghiêm Tùng Thanh, Tần Tang hay bất kì một ai trong số họ ở đây, chắc chắn rằng y sẽ dọn dẹp phòng cho khách để họ ở lại. Dù sao cũng đã muộn thế rồi, không nên đi lại cho vất vả làm gì. Vậy mà đối diện với Chung Độ y lại chẳng thể nói nên lời.

    Cớ gì lại chẳng nói nên lời? Vì chưa đủ thân thiết ư? Dĩ nhiên là không phải, chẳng qua vì nó thiếu tự nhiên.

    Chung Độ đi rồi, phòng khách bỗng chìm vào tĩnh lặng. Trì Viễn Sơn ngồi giữ căn phòng trống rỗng bắt đầu ngây ra.

    Đôi mắt nhìn thấy Chung Độ mặc chiếc tạp dề đã xếp gọn, Chung Độ dọn dẹp căn bếp sạch sẽ, Chung Độ mua về một đống mũ với găng tay cùng mình, Chung Độ, Chung Độ, Chung Độ…

    Trì Viễn Sơn cười khổ, nghĩ thầm: Quả nhiên là bị đám bạn tồi kia nói trúng à? Nhưng… là Chung Độ đó! Có duyên kết bạn đã là may mắn to lớn trong đời rồi, có quan hệ gần gũi hơn nữa đến nghĩ y cũng không dám, rõ ràng là người của hai thế giới.

    Nghĩ thế, Trì Viễn Sơn tức khắc bừng tỉnh. Nếu đã ngoài tầm với, chi bằng dừng lại đúng thời điểm.

    Sáng sớm hôm sau Trì Viễn Sơn đã chạy về sân vườn. Y không liên lạc với Chung Độ, không đưa mũ len găng tay cho anh, cũng không hỏi anh có cần đi ngắm nghía thêm chỗ nào không.

    Hành vi có phần không giống Trì Viễn Sơn, song y không để ý nhiều đến vậy, nhu cầu khẩn cấp bây giờ là giữ bản thân được tỉnh táo đôi chút.

    Tối qua y nằm mơ thấy Chung Độ. Cũng chẳng đẹp đẽ gì, chỉ là giấc mơ Chung Độ trải qua một ngày bình thường ở nhà mình.

    Hai người tự nhiên ở cạnh nhau, tự nhiên đi chợ nấu cơm, tự nhiên ngả lưng ra sô pha xem phim. Chỉ có điều, đến cả cách họ thân thiết trong giấc mơ dù xem xét ở góc độ nào cũng giống như người yêu chứ chẳng phải bè bạn.

    Bộ phim hai người xem là Tảo Biển, Chung Độ nhìn y nói: “Em không phải Tiểu Hải, em là Tiểu Viễn của tôi.”

    Sáu giờ sáng, Trì Viễn Sơn bị câu nói hoang đường làm cho giật mình choàng chỉnh. Cơn buồn ngủ mất tăm, mồ hôi lạnh túa ướt sũng người.

    Chạy trối chết thoát khỏi ngôi nhà nơi nơi là hình bóng Chung Độ, Trì Viễn Sơn vác cái đầu hỗn độn ghé sang sân vườn.

    Đáng ra hôm qua lúc trời ngừng tuyết y đã phải về quét dọn tuyết, lề mề tới tận hôm nay có mấy chỗ đã kết băng.

    Đập vỡ băng, quét tuyết thành đống, tiếp đó xách xẻng xúc tuyết vào trong bồn hoa.

    Bồn hoa này là chủ cũ làm để lại, trồng hoa hồng, nghe kể đã chăm nhiều năm rồi.

    Mùa thu cắt tỉa cành, mùa đông “ủ tuyết” là sang năm sẽ đâm chồi nở hoa.

    Trì Viễn Sơn không thích hoa hồng, nhưng y mua lại sân vườn này vào mùa hè, khi ấy hoa hồng đang độ nở đẹp. Cứ ngần ngừ mãi cuối cùng vẫn không nỡ dẹp đi, cứ để chăm đến bây giờ.

    Nhắc tới là lại buồn cười, mỗi một chậu hoa y trồng đều đắt đỏ hơn nhiều, đông tới là làm đủ trò giữ ấm cho chúng nó. Nhưng số sống sót được qua mùa này cứ ít ỏi dần, trái lại cái bồn hoa hồng này trông cứ mỗi năm một tươi tốt.

    Từng xẻng tuyết xúc đổ vào bồn hồng, Trì Viễn Sơn chẳng hề để ý nhẹ tay chút nào.

    Y càng nghĩ lại càng thấy mình giống hệt loài hoa hồng chẳng biết thân biết phận này. Chúng nó ganh đua khoe sắc với mưu đồ chiếm được cái nhìn hay sự thưởng thức vốn không thuộc về mình, đúng là ngu ngốc.

    Vậy thì để đống tuyết này đánh thức chúng nó, cũng là tỉnh thức chính bản thân.

    Việc trong sân vườn xong xuôi, Trì Viễn Sơn hết chuyện để làm nên về nhà đi thăm ông anh với cái bể cảnh sinh thái kia.

    Y đăm đăm nhìn lũ rong tảo, đăm đăm nhìn đám tôm tép, đăm đăm nhìn mấy tảng đá, chẳng biết bản thân đã ngồi lặng đó bao lâu.

    Y tự vấn bản thân làm gì tới mức độ đó? Chưa bàn tới chuyện khoảng cách giữa mình và Chung Độ là bao xa, cuộc sống thiếu đồng nhất đến ngần nào; chỉ xuất phát từ tình cảm thôi thì tính cho rõ ràng y còn chưa quen biết Chung Độ đầy bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Thật sự có thể nói đây là cảm mến ư?

    Nếu vẫn còn ở lứa tuổi hai mươi ngông nghênh ngang ngạnh. Y sẽ không tốn thời gian băn khoăn những câu hỏi vô nghĩa này. Thích thì theo đuổi, được ăn cả, ngã cũng không hối hận. Tóm lại là sẽ thử. Nhưng đến cái tuổi này rồi nhiều thứ phải suy xét lắm, không thể chỉ băn khoăn phần mình mà còn phải bận tâm về người kia.

    Nghĩ thật nhiều, sau cùng chỉ còn lại tiếng thở dài tự giễu.

    Hơn ba mươi tuổi, không còn ở độ mộng mơ nhất kiến chung tình. Song tình cảm vẫn luôn là điều khó hiểu, lúc mong mỏi chẳng thấy bóng dáng đâu, khi thong dong thuận lợi lại từ trên trời rớt xuống.

    Khác gì đang trêu ngươi.

    Thôi, chuyện có to mấy cũng phải cơm nước ấm thân cái đã.

    Trì Viễn Sơn cho cá tôm trong bể ăn, còn mình đi mua thịt dê.

    Giữa mùa đông, giữa khung cảnh tuyết rơi, y khoan thai tự nướng thịt trong sân.

    Có con mèo ngửi mùi mò tới ngồi ềnh trên tường. Mèo ta có bộ lông vàng, béo ú, chắc là mèo nhà hàng xóm nuôi, trên cổ còn thấy đeo vòng cổ.

    Nó ngồi đấy cả buổi trời, tên “loài hai chân” dưới kia không biết đường ngó ngàng tí nào. Đã chẳng tự lấy thịt cho nó ăn thì thôi, chẳng thế còn không buồn nhìn nó nữa chứ.

    Lắc mình, mèo béo ta đáp xuống trong sân, nghểnh cao đầu nghênh ngang lượn tới lượn lui trước mắt Trì Viễn Sơn.

    Vòng vèo gần một buổi, cuối cùng tên “loài hai chân” kia cũng đưa mắt nhìn nó.

    “Là mày phải không? Hai hôm trước bừa loạn cái vườn của anh lên.” Trì Viễn Sơn giơ đồ gắp lên, chỉa thẳng vào nó: “Chắc chắn là mày, nhìn tinh quái lắm kia, chắc chắn không phải trẻ ngoan.”

    Mèo béo meo một tiếng, nhìn y như người ngoài hành tinh.

    “Vậy thì tại mày hết, nếu mày không phá tung vườn thì anh đã chẳng ra khỏi quán sớm, làm sao bắt gặp Chung Độ được.”

    Cái tên “loài hai chân” này nói nhiều thật chứ. Mèo béo ta hết kiên nhẫn, lười biếng tìm chỗ nào có nắng leo lên gà gật.

    Rồi lại nửa buổi sau, Trì Viễn Sơn mới thở dài, nướng cho nó hai xiên không ướp gia vị rồi bỏ vào chén cho nó.

    Nói tới nói lui một hồi sao y lại hối hận khi gặp được Chung Độ cơ chứ, thấy may mắn còn không hết.

    Một người một mèo trong sân hài hòa ăn thịt, điện thoại trong phòng reo lên.

    Trì Viễn Sơn tưởng Nghiêm Tùng Thanh gọi, nghĩ bụng thể nào cũng phải chặn thằng nhóc này, muốn ở yên một ngày sao khó vậy không biết? Lười nghe.

    Nhưng mà, tiếng chuông cứ vang lên như giục riết, nghỉ vài giây ngắn ngủi rồi lại tiếp tục vang lên.

    Tim bỗng đập nhanh đầy khó hiểu, Trì Viễn Sơn bước nhanh vào nhà, trên màn hình là tên Tạ Tư Vĩ.

    Tạ Tư Vĩ vội sắp điên lên, trưa nay cậu ta gọi điện cho Chung Độ mãi mà không được. Vừa nãy nghe máy mà nghe là biết đổ bệnh rồi, nói năng ú ớ lơ mơ. Cậu ta chưa kịp nói thêm câu nào Chung Độ đã bảo “không làm sao” rồi cúp máy, gọi tiếp cũng không nhấc máy.

    Chung Độ dửng dưng bao nhiêu Tạ Tư Vĩ đã từng chứng kiến. Có lần bị sốt trên trường quay mà không hề hay biết, thậm chí thức trắng vài đêm liên tục, cuối cùng ngất xỉu trên bàn họp.

    Có tiền lệ rành rành, Tạ Tư Vĩ không dám coi thường, đang lúc lo lắng người duy nhất cậu ta nghĩ đến chỉ có mình Trì Viễn Sơn.

    Trì Viễn Sơn nghe máy, cậu ta không để tâm đến cả phép lịch sự mà lập tức hỏi: “Chào ông chủ Trì, bây giờ anh tiện đến xem thầy Chung một chút được không?”

    Chờ Tạ Tư Vĩ nói một tràng dài xong, y chạy ra sân mở khoa xe.

    “Đã biết, gửi số phòng cho tôi, bây giờ tôi qua ngay.”
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 11


    Từ sân vườn về thành phố ít cũng nửa tiếng đồng hồ. May mà cuối năm nên xe cộ không đông.

    Trì Viễn Sơn vội vàng phóng đi với tốc độ tối đa trong ngưỡng cho phép, đến khách sạn còn không chờ nổi thang máy mà đi thẳng thang bộ lên.

    Lý trí đã nói với y rất nhiều lần rằng chỉ là cảm sốt thôi, không phải chuyện nghiêm trọng đâu. Nhưng trái tim y cứ không chịu nghe lời đập thình thịch, tốc độ nói cũng vô thức gấp gáp.

    “Mau mở cửa, có việc gì tôi sẽ chịu trách nhiệm.”

    Gõ một lúc lâu mà không ai đáp, y gọi người của khách sạn đến giúp.

    Cậu nhân viên khách sạn rất khó xử: “Anh Trì à, chúng ta hàng xóm quen biết nhau lâu năm rồi em cũng biết rõ con người anh nên mới mở, là người khác em thật không dám đâu.”

    Trì Viễn Sơn không quan tâm cậu ta đang nói gì, cửa vừa mở đã chạy vào phòng.

    Bỗng thấy căn phòng rỗng tuếch, trên giường chỉ có nệm với chăn trắng toát, nhìn thật kỹ mới phát hiện dưới chăn có người.

    Y không hề mê tín, nhưng lúc này lại cảm thấy hình ảnh này mang điềm xấu.

    Trì Viễn Sơn đến cạnh giường, kéo chăn xuống bắt đầu gọi: “Chung Độ! Tỉnh!”

    Người nằm trên giường mơ màng mở mắt, lúc thấy y còn hơi lâng lâng.

    Đêm qua gió to, Chung Độ đi bộ về khách sạn, về phòng còn mở cửa sổ đọc sách đến nửa đêm.

    Ngủ một giấc dậy là thấy đau đầu, không biết sốt từ bao giờ.

    Lúc sáng anh ráng gượng mua thuốc trên app, uống rồi ngủ tới bây giờ. Vừa mở mắt bỗng nhiên trông thấy Trì Viễn Sơn, Chung Độ suýt tưởng mình bị ảo giác.

    Có bàn tay áp lên trán mình, Chung Độ bị lạnh giật thót, nghe Trì Viễn Sơn nói: “Anh đứng dậy, đi bệnh viện.”

    Bàn tay ấy có hiệu quả tinh thần lắm, cuối cùng Chung Độ cũng tỉnh, hé môi muốn đáp “Được”, nhưng cổ họng không bật ra được âm tiết nào.

    “Anh tự thay quần áo được không? Gật hoặc lắc đầu.” Chủ nhân của bàn tay chau mày hỏi.

    Chung Độ nhẹ gật đầu.

    Trì Viễn Sơn nhìn anh, như đang nghĩ xem anh có tự làm được thật không. Săm soi hồi lâu, cuối cùng y vẫn nói: “Có chuyện gì thì gọi tôi.” Rồi quay người ra ngoài.

    Báo cho cậu nhân viên khách sạn đứng ngoài, tìm cái ly rót nước nóng cho Chung Độ xong, Trì Viễn Sơn mới ngồi xuống sô pha, hồi phục nhịp tim tăng vọt suốt từ nãy đến giờ.

    Trên bàn trà là chỗ thuốc Chung Độ mua. Trì Viễn Sơn lia mắt nhìn hóa đơn, thuốc không vấn đề gì, nhưng lúc thấy thời gian mua y thình lình nổi giận.

    Hôm qua mình nói bằng vô ích, người này sốt tới thế kia thà mua thuốc chứ nhất định không gọi cho mình. Nửa đêm không gọi cho phiền mình còn nghe được, trên hóa đơn là giờ trưa, sợ làm phiền mình ngủ trưa hay gì?

    Y quẳng hóa đơn qua một bên, sau đó lại bắt đầu rầu rĩ: Nếu mình không lên cơn, sáng nay gọi điện cho anh thì đã khác.

    Chung Độ thay quần áo đi ra, trông thấy Trì Viễn Sơn mặt đen thui ngồi trên sô pha, chẳng biết là đang giận ai đây.

    Thấy anh ra, nét mặt Trì Viễn Sơn dịu đôi chút, y gọi anh: “Đến đây ngồi chút xíu đã, anh uống miếng nước cho hạ nhiệt rồi chúng ta đi.”

    Chung Độ gật gật, đi qua uống mấy hớp nước nhuận họng rồi trả lời với giọng khàn đặc: “Sao cậu lại tới đây?”

    “Tôi không đến thì anh định làm sao?”

    Thấy sắc mặt y khó coi, Chung Độ hơi khó hiểu chỉ thuốc trên bàn, giải thích: “Tôi uống thuốc.”

    Trì Viễn Sơn tức tới độ bật cười: “Anh đúng là tổ tông của tôi mà.”

    Mặt anh đỏ bừng, giọng tắc tịt, trông hơi đáng thương. Trì Viễn Sơn không nói gì nữa: “Tạ Tư Vĩ gọi điện cho tôi, để tôi gọi báo lại cậu ta một tiếng, anh uống miếng nước nữa đi.”

    Lúc này Chung Độ mới nhớ ra hình như mình mới nghe điện thoại của Tạ Tư Vĩ, cụ thể nói gì anh không nhớ rõ lắm, còn tưởng mình đang nằm mơ.

    Trì Viễn Sơn ra cạnh cửa sổ gọi điện. Chung Độ nhìn y, bấy giờ mới để ý hôm nay trông y hơi nhếch nhác.

    Tóc rối tung, góc áo bị bẩn không biết quẹt bụi ở đâu, trên giày còn dính bùn. Gương mặt luôn tươi nụ cười và sự bình tĩnh kia chẳng thấy đâu, thay vào đó là nét lo lắng và mệt mỏi rất khó phát giác giữa đôi mày.

    Y cầm điện thoại, tay vô thức đặt lên cổ. Chung Độ ngồi trên sô pha cầm ly nước hơi thất thần.

    “Đi thôi? Người anh vẫn còn sốt đúng không?” Trì Viễn Sơn cúp máy, quay lại hỏi.

    Chung Độ im ắng mất vài giây, lúc lên tiếng giọng anh nhẹ hẫng: “Tôi xin lỗi, làm cậu sợ rồi phải không?”

    Trì Viễn Sơn nhìn anh, sững người.

    Chung Độ đặt ly xuống, rút miếng khăn ướt trên bàn trà đến hướng Trì Viễn Sơn, kéo góc áo y, cúi đầu lau vết bẩn trên áo.

    “Tôi cứ nghĩ ngủ một giấc là khỏe, vẫn chịu được nên không báo với cậu. Đừng lo lắng, chỉ là bị cảm thôi, đêm qua mở cửa sổ nên gió lùa.”

    Lau xong, Chung Độ ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt Trì Viễn Sơn, nét mặt thật dịu dàng.

    Hai người cách nhau gần sát, mùi hương cơ thể Chung Độ lẫn với mùi thơm của giấy ướt bỗng xộc vào xoang mũi. Trì Viễn Sơn cứng người trong chớp mắt, nhưng rồi mau chóng cân bằng.

    Y nhìn Chung Độ lặng thinh một lúc, sau đó cầm khăn giấy trên tay anh, thở dài: “Tôi biết rồi, đi thôi.”

    Chung Độ mặc áo khoác, thay giày rồi đứng chờ Trì Viễn Sơn vào phòng vệ sinh. Lúc trở ra bùn đất trên giày y đã sạch, tóc gọn ghẽ, tay cũng đã rửa sạch sẽ.

    Những cảm xúc lo lắng đâu đó bại lộ đã biến mất, dường như y đã tìm về cảm giác trầm tĩnh nhất quán.

    Đưa mắt nhìn Chung Độ chờ mình ngoài cửa, y đưa tay lấy khăn quàng trên móc choàng lên cổ anh, lại kéo mũ áo khoác anh lên kín mít đầu.

    Chung Độ mặc y làm không chút phản kháng. Chờ Trì Viễn Sơn xong xuôi, anh mới móc trong túi ra một cục kẹo cao su, cười chìa đến.

    Anh đưa đến mà chẳng nói chẳng rằng, chỉ cười.

    Cách dỗ dành của anh đúng là vụng về, nhưng người được dỗ không chê, nhận lấy xé ra ăn tại chỗ.

    Tới bệnh viện khám cả buổi, lúc chờ truyền nước trời đã tối hẳn. Nhân lúc rảnh rỗi, Trì Viễn Sơn gọi điện cho Nghiêm Tùng Thanh hỏi: “Cậu đang đâu vậy?”

    Hình như Nghiêm Tùng Thanh đang ở ngoài đường, y nghe tiếng còi xe bên kia điện thoại: “Em đang trên đường về, bọn em đi trượt tuyết. Anh làm cái gì vậy mà gọi chẳng thấy nghe.”

    Trì Viễn Sơn không trả lời câu hỏi của Nghiêm Tùng Thanh, hỏi tiếp: “Sắp về tới chưa?”

    “Sắp rồi, chắc tầm mười phút nữa đến quán.”

    “Vậy cậu ghé quán cháo đầu đường mua một phần đem về đi. Anh đang ở bệnh viện Nhân Dân, thầy…”

    Chưa nghe y nói dứt câu, Nghiêm Tùng Thanh ầm lên: “Anh đang ở bệnh viện? Anh bị làm sao vậy?”

    Nghiêm Tùng Thanh đang trong xe, Nghiêm Tùng Đình cầm lái, mấy người kia cũng đang ở cạnh. Nghe tiếng hô hào hốt hoảng của cậu ta, tất cả mọi người đều tỏ ra thản nhiên. Lâm Thu Huyền còn không buồn nhấc mắt, như thể đã quá quen cảnh này.

    “Ngưng! Anh không sao. Thầy Chung bị sốt ở đây truyền nước. Không nghiêm trọng, chỉ là bị cảm thôi, không cần nằm viện, truyền nước rồi về.” Phòng khi Nghiêm Tùng Thanh hỏi tới hỏi lui, Trì Viễn Sơn làm một hơi báo cáo tình hình: “Nói quán làm thanh đạm thôi, cậu đưa đến là được, đừng kéo mấy người họ theo mắc công.”

    Mọi câu hỏi của Nghiêm Tùng Thanh bị chặn đứng, bí từ nên đành phải đáp: “Được, anh chờ em đó nha.”

    Từ lúc Chung Độ ghim kim truyền Trì Viễn Sơn không đi đâu nửa bước, thỉnh thoảng lại nhìn chai nước trên kia.

    “Tôi khá hơn nhiều rồi, cậu mệt thì ngủ một lát đi. Tôi tự canh được.” Ở phòng truyền dịch còn có nhiều người khác, Chung Độ ngả sang phía Trì Viễn Sơn, ghé tai y nói nhỏ.

    Trì Viễn Sơn xoa xoa tai đứng dậy, cởi áo khoác đắp lên cho anh: “Anh ngủ đi. Tôi gọi Tùng Thanh đưa cháo tới, lúc nào đến tôi sẽ gọi.”

    Chung Độ vừa định nói gì đã bị Trì Viễn Sơn chặn mất: “Biết anh muốn nói gì rồi, không phiền đâu. Anh nói in ít thôi, nhắm mắt ngủ nào.”

    Chung Độ cười, nghe lời nhắm mắt lại.

    Áo khoác của Trì Viễn Sơn có mùi thơm khiến người ta thấy yên tâm, thoang thoảng, không phải mùi nước hoa mà chắc là mùi nước giặt trộn với hương nắng.

    Trì Viễn Sơn nhìn anh rồi nhìn chai nước, lòng ngổn ngang đủ loại cảm xúc. Những suy nghĩ dừng lại kia giờ này bắt đầu dao động.

    Đúng thật, anh là đạo diễn Chung Độ ở nơi xa xôi ngoài tầm với. Anh tuổi trẻ tài cao, tương lai rộng mở, nhưng cũng chính anh là Chung Độ lạc lối trong đêm tuyết, là Chung Độ nhìn mình hát, là Chung Độ cất mọi cảm xúc nơi đôi mắt, là Chung Độ đeo tạp dề bóc hành học hoài học mãi chẳng biết cách gói sủi cảo ở nhà mình, là Chung Độ với gương mặt đỏ ran và đôi môi khô nứt cần được chăm sóc.

    Nhìn Chung Độ ấy, y không tài nào chối bỏ cảm xúc đau lòng của bản thân.

    Bây giờ nghĩ lại, đám bạn tồi kia có nói sai gì sao?

    Rõ ràng chỉ cần được thấy anh là bất giác muốn xích gần, rõ ràng ở nơi đây làm ra những hành động chẳng giống mình, rõ ràng chỉ sau một ngày ở bên đã biết đây là người đến đúng thời điểm. Hoài băn khoăn vẫy vùng có nghĩa lý gì không? Hiển nhiên không.

    Vừa nhận điện thoại đã hoảng sợ, càng lúc càng giận dữ, đau lòng, tự trách, không có lấy một loại cảm xúc nào song hành cùng lý trí.

    Trì Viễn Sơn nhìn người ngủ cạnh bên mình, thở dài, dường như chấp nhận số mệnh.

    Tác giả có lời muốn nói:

    Cho mỗi cục kẹo cao su đã dỗ êm, anh chủ Trì có bị bắt cóc bao giờ chưa dạ?
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 12


    Lúc Nghiêm Tùng Thanh đến thì thấy anh Trì của cậu ta đang ngắm Chung Độ chăm chú, ngắm ngẩn cả người, trông cứ bất bình thường thế nào.

    Nghiêm Tùng Thanh đi tới, quơ quơ tay trước mặt Trì Viễn Sơn, hạ giọng hỏi: “Anh ngơ rồi hả?”

    Trì Viễn Sơn tỉnh táo, đẩy tay cậu ta ra, nhận phần cháo mà không nói gì như sợ đánh thức người đang ngủ cạnh bên.

    Vậy mà còn chưa đặt cháo xuống không biết điện thoại ai reo lên, tiếng chuông to tới độ lật tung nóc bệnh viện. Chung Độ bị đánh thức.

    “Chậc.” Trì Viễn Sơn hơi bất mãn đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng động, nhưng cũng hết cách. Giường bệnh thiếu thốn, bệnh nhân cảm thông thường không được nằm viện mà chỉ ở tạm phòng truyền dịch.

    Chung Độ vừa mở mắt, Nghiêm Tùng Thanh là lập tức xổ ào ào: “Thầy Chung tỉnh rồi ạ? Sao thầy lại bị cảm? Hôm qua anh em dẫn thầy đi hóng gió à? Tuyết rơi không lạnh mà tuyết tan mới lạnh đấy, thầy ra đường phải mặc nhiều vào, đội cả mũ với choàng khăn, à mà…”

    Cậu ta chưa nói hết câu, Trì Viễn Sơn đã xách cậu ra đi như xách gà: “Thằng nhóc cậu lo đi ăn cơm đi, đừng có ở đây ríu ra ríu rít nữa.”

    Nói xong lại quay sang áp tay lên trán Chung Độ, dịu giọng: “Đỡ sốt rồi, anh dậy thì tranh thủ ăn cháo cho nóng.”

    Cùng là quan tâm, vậy mà thái độ của Trì Viễn Sơn câu trước câu sau trái ngược cả thước. Nghiêm Tùng Thanh nhếch môi nghĩ thầm: Sao nói chuyện với thầy Chung thì nhẹ nhàng ghê ta, tới phiên mình có quan tâm cũng nghe ruồng rẫy dễ sợ? Thằng em này đúng là em trai ruột thừa mà.

    Cậu ta lia mắt nhìn Trì Viễn Sơn, không để ý y nữa, đổi mặt xoành xoạch tươi cười nói chuyện với Chung Độ: “Quán này hơi bị ngon đó thầy Chung. Nguyên liệu tươi mới mỗi ngày, mà quán còn sạch sẽ lắm cơ, chủ bị bệnh sạch sẽ nghiêm trọng luôn nên thầy cứ yên tâm ăn.”

    Cậu nhóc này thật nhiệt tình đến quá đáng, Chung Độ cười cười: “Cảm ơn, làm phiền cậu nữa rồi Tùng Thanh.”

    Nghiêm Tùng Thanh ngốc nghếch lắc đầu xua tay: “Không phiền không phiền, thầy đừng nói nữa, giọng khàn thế kia.”

    Đang lúc nói chuyện, Trì Viễn Sơn đã mở hộp cháo. Y dúi thìa cho Chung Độ, giúp anh bưng hộp, ra hiệu anh ăn đi rồi không quên đuổi Nghiêm Tùng Thanh: “Cậu về lẹ lẹ đi, ăn cơm rồi đi ngủ. Khỏi về quán, nhiều người ở đó rồi không cần thêm cậu.”

    Y biết rõ Nghiêm Tùng Thanh, mỗi lần đi trượt tuyết thằng nhóc này không trượt tới khi mệt thừa sống thiếu chết thì nhất quyết không chịu về.

    Nghiêm Tùng Thanh oải thật, hiểu lòng Trì Viễn Sơn nhưng cái miệng một hai không chịu buông tha: “Anh không cần em thì cần ai? Á à! Tên độc thân già khú.”

    Cậu ta quay ngoắt đi thẳng, cái đầu khoai tây đầy vẻ kiêu ngạo không phục.

    Mối quan hệ của hai người thú vị thật, Chung Độ vừa ăn cháo vừa cười khẽ.

    Anh ăn nhanh hơn bình thường, bởi vì Trì Viễn Sơn còn đang bưng giúp mình.

    Cơ sở vật chất trong phòng truyền dịch có hạn, anh một tay ghim kim một tay cầm muỗng có hơi bất tiện.

    May mà cháo không quá nóng, âm ấm vừa vặn.

    Anh rũ mắt, bàn tay khớp xương rõ ràng kia gần trong gang tấc.

    Trì Viễn Sơn bưng hộp cháo bằng một tay, cánh tay thuôn dài hơi gồng sức tạo thành đường cong đẹp mắt, trên cổ tay là chiếc vòng gỗ Đàn Hương, năm ngón tay khép lại, móng tay gọn gàng sạch đẹp.

    Để Chung Độ dễ múc hơn, cánh tay y luôn nghiêng về phía Chung Độ, giữ chắc không nhúc nhích.

    Chung Độ thu hết vào mắt, không muốn y phải giữ tư thế mệt người này quá lâu nên đành phải phụ lòng phần cháo và sự vất vả của Nghiêm Tùng Thanh, qua loa ăn non nửa rồi đặt muỗng xuống.

    Trì Viễn Sơn cũng không ép anh, cũng vốn chỉ để ăn lót dạ cho ấm bụng.

    Sắc trời dần ngả muộn, phòng truyền dịch vãn người dần, chai nước cuối cùng của Chung Độ cũng cạn đáy.

    Trì Viễn Sơn thoáng chau mày. Y không yên tâm để Chung Độ ở khách sạn một mình, nghĩ ngợi muốn hỏi anh có muốn về nhà cùng mình không, nhưng lăn tăn hồi lâu vẫn chẳng nghĩ ra câu nào phù hợp.

    Dù gì cũng có tư tâm thế kia, không biết nói làm sao mà không đường đột.

    Bối rối viết cả trên mặt, Chung Độ nhìn y một lát, nhẹ thở dài, nói khẽ: “Viễn Sơn à, tối nay tôi ở nhờ phòng khách nhà cậu được chứ?”

    Trì Viễn Sơn giật mình nhìn sang, mở to mắt, đôi ngươi vốn trầm lặng chợt đầy ắp ý cười: “Tôi đang nghĩ cách hỏi anh đây, lỡ đâu ban đêm lại sốt, anh ở khách sạn một mình tôi lo lắm.”

    Chung Độ nhìn y cười, không rõ cảm xúc trong mình là gì.

    Thật ra anh đã rất chật vật để nói ra. Bao nhiêu năm qua anh o ép mình sống nghiêm túc và đơn độc, khó khăn mới mới duy trì được những mối quan hệ nửa vời không xa không gần, anh chưa từng chủ động với một ai, dù là người bạn thân thiết nhất.

    Chung Độ không tự cho bản thân là kẻ siêu phàm, nhưng lòng chất chứa quá nhiều những câu chuyện không thể nói ra và không cách nào quên lãng. Ngày nào chúng còn chất nặng trên lưng, ngày nấy anh vẫn không thể sống thoải mái. Anh cho rằng mình không có tư cách kết bạn với bất kì ai.

    Anh chẳng thể cảm thông với cảm xúc sướng vui buồn giận của người khác, cũng sẽ không bộc bạch quá khứ của mình ra cho ai khác xem. Loại bạn bè luôn giữ khoảng cách nhất định này có ai lại vô tư chấp nhận?

    Vậy mà, ngay hôm qua, khoảnh khắc Trì Viễn Sơn hỏi “Thầy Chung à, anh nghĩ tôi có tư cách làm bạn với anh không?” Anh lại thốt nhiên bật ra hai chữ “Đương nhiên”, thậm chí không bổ sung “Nhưng tôi không có tư cách” để làm rõ.

    Tối qua khi hứng gió đi bộ một mình về khách sạn, Chung Độ cũng đã nghĩ, từ ngày gặp gỡ Trì Viễn Sơn anh bắt đầu trở nên không giống bản thân. Anh tự nguyện đón nhận thiện ý của Trì Viễn Sơn từ tận đáy lòng, tự nguyện kết bạn với y, thậm chí vô cùng thích được ở bên y, nhưng những điều ấy với Trì Viễn Sơn không hay biết gì là điều tốt hay là tai họa?

    Trì Viễn Sơn sẽ liên lụy sao? Liệu có bị ảnh hưởng gì tại mình không? Hay liệu có bị mình kéo vào vực thẳm vào một ngày nào đó?

    Những khả năng ấy khiến anh hoảng sợ và bối rối. Mà những khi đối diện với Trì Viễn Sơn, lý trí và sự tự chủ của anh luôn mất tích, “hàng phòng ngự” của anh giơ tay đầu hàng trước cả khi phát chuông báo động. Anh đã gánh vác lấy hàng tấn cảm giác tội lỗi, vậy mà vẫn từng chút hạ thấp phòng tuyến an toàn của mình…

    Giây phút này đây, anh nhìn người cạnh bên, với ánh mắt dịu dàng mà sâu thẳm hơn cả đại dương lúc nửa đêm.

    Lúc hai người về đến nhà cũng đã khá muộn, Trì Viễn Sơn lấy bộ chăn ga mới và đồ ngủ mới. Y đưa quần áo cho Chung Độ, còn mình ôm chăn ga sang phòng ngủ cho khách: “Anh ngồi đây đã, tôi tăng độ điều hòa rồi, chừng nào phòng ấm hơn thì anh đi tắm. Tôi vào dọn dẹp phòng.”

    Chung Độ gật gật. Anh vẫn hơi nhức đầu nên không cậy khỏe, ngoan ngoãn ngồi xuống sô pha.

    Trì Viễn Sơn đi ra đi vào một lúc đã dọn dẹp xong, sau đó bưng một ly nước mật ong đến: “Ban nãy nghe điều dưỡng nói bị cảm thì nên uống nước mật ong.”

    “Cảm ơn cậu.” Chung Độ thở dài: “Quen cậu được ba ngày, hình như ngày nào cũng gây phiền phức cậu.”

    “Không việc gì.” Trì Viễn Sơn không nhiều lời: “Đến lúc anh khỏe tôi cũng rước phiền cho anh.”

    “Ồ? Chẳng hạn?”

    Chẳng hạn… phiền anh yêu đương với tôi.

    Đó là suy nghĩ vừa tức khắc hiện lên trong đầu Trì Viễn Sơn, may mà y không thốt ra.

    Y cứ nhìn sang Chung Độ mãi, định nói đại cái gì đó thì mắt bỗng lia tới chiếc khăn quàng treo trên cửa, đổi lời: “Tôi không dám ví dụ đâu, tôi thuận miệng mà anh cứ xem là thật.”

    Y hếch cằm, ra hiệu Chung Độ nhìn cánh cửa.

    Chung Độ nhìn sang, cười cười, bưng ly nước không nói gì.

    Ti vi vẫn bật đại một kênh nào đó, nhiệt độ phòng dần lên cao.

    Nước mật ong ấm áp rót vào cổ họng, cảm giác dễ chịu lan khắp cơ thể. Chung Độ mặc bản thân tận hưởng trong giây lát, tạm thời gạt những câu hỏi không lời giải đáp ra sau.

    Ngủ ở nhà người khác không khó khăn như Chung Độ đã tưởng, thậm chí nảy sinh cảm giác bản thân thuộc về đầy kì diệu.

    Có lẽ là vì hôm qua mới vừa gói sủi cảo trong căn nhà này, hay có lẽ chỉ đơn giản vì đây là nhà của Trì Viễn Sơn.

    Hai người cùng xem ti vi một lúc, phòng ấm dần, Trì Viễn Sơn giục anh đi tắm còn mình vào nhà vệ sinh trong phòng ngủ.

    Lúc y tắm rồi thay đồ ra Chung Độ vẫn chưa xong.

    Y gõ cửa nhà vệ sinh. Tiếng nước chảy ngưng lại, giọng Chung Độ khàn khàn vang lên: “Viễn Sơn à? Sao thế?”

    “Quên dặn anh tủ trong gương có máy sấy, anh sấy cho khô hẵng ra, kẻo lại cảm nữa.”

    “Được.”

    Từ xế chiều đến tối mỗi lần nghe Chung Độ nói bằng giọng khàn đặc Trì Viễn Sơn đều thấy đau thay anh. Lúc này ngăn cách một cánh cửa, giọng nói anh thêm phần mơ hồ, thậm chí là gợn chút gợi cảm.

    Nhất là khi gọi “Viễn Sơn”.

    Suy nghĩ bất thình lình nảy ra khiến Trì Viễn Sơn xấu hổ mất mặt vô kể, chậc lưỡi một tiếng rồi ra ngoài.

    Khi Chung Độ tắm rửa xong đi ra, Trì Viễn Sơn đang ngồi trên sô pha chơi điện ngoại, tóc còn đang nhỏ nước.

    “Cậu không sấy tóc à?” Chung Độ hỏi.

    “Bạn học Chung à, để tâm bản thân là được rồi, tôi không sấy cũng sẽ không bị cảm đâu.”

    Tóc Trì Viễn Sơn không ngắn, nhưng y không có thói quen sấy tóc, nhất là vào mùa hè. Lúc này vì để tâm đến Chung Độ nên nhiệt độ trong phòng khá cao, y tiện tay lau tóc vài đường rồi kệ nó tự khô, còn cảm thấy mát mẻ.

    Chung Độ không nói gì, trở lại vào phòng tắm cầm máy sấy đưa cho y: “Sấy khô rồi ngủ, kẻo sáng mai nhà lại có hai bệnh nhân.”

    Hai bệnh nhân? Trì Viễn Sơn tưởng tượng hai người ngồi truyền nước cạnh nhau, vui ra mặt.

    Chung Độ thấy y cười, khóe môi cũng bất giác cong cong: “Nghĩ gì thế?”

    “Nghĩ cảnh nhà có hai bệnh nhân đó. Mỗi người đắp cái chăn ngồi truyền nước, còn trao đổi kinh nghiệm bị bệnh được nữa chứ.”

    Trì Viễn Sơn vừa nói vừa cầm máy sấy tóc. Y mặc bộ quần áo ở nhà rộng rãi, khoanh chân ngồi trên sô pha, mái đóc đen tuyền sấy rối tung lên.

    Trong tiếng máy sấy ù ù, Chung Độ nghĩ về cảnh tượng Trì Viễn Sơn miêu tả, chợt thấy vui vẻ, sau đó có hình ảnh hiện lên trong đầu anh đầy khó hiểu: Hai ông già tóc bạc trắng ngồi trên băng ghế dài ở công viên, đám rong bèo phía xa xa đung đưa theo gió, có chú chim bay lướt qua mặt hồ, giữa một chiều hoàng hôn.

    Tuổi xế chiều có người bạn già bên cạnh, một chuyện may mắn đến nhường nào.

    Anh nhìn người trên sô pha, thảng thốt trong mơ màng.

    Tác giả có lời muốn nói:

    Bây giờ bệnh viện đã không còn phòng truyền dịch nữa rồi, để hai con được ở cạnh nhau nên cho phép tôi chế ra một cái nha ~
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 13


    Giấc ngủ của Chung Độ luôn khá tệ, hôm nay buổi sáng ngủ lâu nên bây giờ vẫn còn tỉnh táo.

    Trì Viễn Sơn đã về phòng ngủ, Chung Độ cũng về phòng cho khách nằm.

    Nói là phòng ngủ cho khách nhưng cũng rất rộng rãi, nội thất đầy đủ không thiếu gì.

    Đối diện cửa là cửa sổ, trên bệ cửa số trưng một cái bàn tí hon có thiết kế rất độc đáo, kế bên là mấy chậu xương rồng tròn.

    Dáng xương rồng tròn vo trông đáng yêu vô cùng, Chung Độ đưa tay chạm khẽ đên, đâm đau đấy chứ.

    Đúng là cây em bé nhím trồng. Anh mỉm cười, cảm giác tồn tại bên trong Trì Viễn Sơn là một linh hồn đa hình dạng và thú vị.

    Bầu trời ngoài cửa sổ đen kịt, xa xa là ánh đèn vụt qua.

    Chung Độ giật mình, bỗng nhớ trong phòng vẽ tranh của mẹ cũng có khung cửa sổ nhỏ như vậy. Những khi trời nắng bà sẽ lấy bệ cửa sổ làm chỗ đặt tĩnh vật, bày đủ các loại chai lọ hoa cỏ, ngồi vẽ suốt cả ngày dài.

    Khi ấy Chung Độ còn rất nhỏ, vẫn còn nét ngây thơ vốn có của một đứa trẻ. Khi mẹ vẽ tranh anh đã từng lèo nhèo đòi vào chơi, muốn leo lên bệ cửa sổ ấy làm người mẫu cho mẹ.

    Sau này…

    Anh trốn chạy khỏi căn phòng ấy còn không kịp.

    Chung Độ nhắm mắt kiềm chế ép bản thân dừng lại, nhưng não bộ có suy nghĩ của riêng nó, những hình ảnh không thể xóa nhòe kia nuốt chửng anh, như đang nhắc nhở bản thân không được phép quên mình đến từ đâu.

    Hết thảy dưới đôi mắt anh cũng hệt như vầng sáng trên ô cửa sổ, đẹp đẽ mà hư ảo.

    Có thể là do tác dụng của thuốc hoặc hình ảnh hiện lên trong đầu trước lúc ngủ ảnh hưởng, đêm nay Chung Độ không yên giấc.

    Sáng hôm sau lúc Trì Viễn Sơn thức dậy đi ngang cửa phòng anh, y lờ mờ nghe thấy hình như anh nói mớ. Y chỉ ngừng lại một lúc rồi mau chóng rời đi, y tự nhận thức hiện tại bản thân không có thân phận để làm gì, có nghe được cũng chỉ biết vờ như không nghe thấy.

    Y dậy rất sớm, nấu ít cháo rồi ra ngoài mua lê. Bây giờ nồi hầm cách thủy đang sôi gợn bọt nước li ti, mùi lê với đường phèn thơm phức lan khắp nhà.

    Chung Độ lần theo mùi thơm vào bếp: “Chào buổi sáng, cậu đang hầm gì à? Thơm quá.”

    Giọng anh vẫn còn khàn, Trì Viễn Sơn ngoái lại nhìn anh, mặt hết đỏ rồi.

    “Chào buổi sáng. Đang chưng lê với đường phèn đây, lát nữa cơm nước xong xuôi anh ăn vào.” Trì Viễn Sơn cầm số lê còn lại chuẩn bị bỏ vào tủ lạnh, lúc sượt ngang Chung Độ còn đưa tay áp lên trán anh: “Tạm ổn rồi, chí ít cũng hết sốt. Ăn sáng xong đi truyền nước thêm bữa nữa nhỉ.”

    Thật ra Chung Độ không muốn đi lắm, anh thấy rầy rà phiền phức. Nhưng khi Trì Viễn Sơn nghiêng người sang anh đã sững mất trong khoảnh khắc, đáp đầy khó hiểu: “Được.”

    Cơ thể Trì Viễn Sơn mang hương của sáng sớm, mùi bạc hà trộn với mùi hoa nhài thoang thoảng.

    Chắc do vừa mới rửa trái cây nên tay y lạnh buốt.

    Lúc sượt qua, Chung Độ bị mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết và xúc cảm lạnh buốt kia tập kích bất thình lình, tim chợt dại đi vài giây đồng hồ, não bộ đình công, môi lưỡi không bỏ qua cơ hội hiếm có nắm lấy quyền kiểm soát một cách mượt mà, thoải mái thốt ra chữ “Được” kia.

    Anh không nhịn nổi bật cười, không nghĩ nhiều thêm mà giúp Trì Viễn Sơn bày đồ ăn ra bàn trong phòng khách chan hòa nắng.

    Trên bàn là một dĩa rau, hai bát cháo và vài cái bánh bao nóng hổi. Hai người ngồi đối diện ăn bữa sáng đơn giản cùng nhau.

    Trì Viễn Sơn giật mình nhớ lại giấc mơ đêm ấy, ánh mắt lướt qua Chung Độ nhìn về sô pha phòng khách, chợt mỉm cười.

    Nhấc tay húp cháo che đậy khóe môi vểnh ý cười, y nghĩ bụng mình đúng là không có chí tiến thủ, đến cả nằm mơ cũng chỉ mơ thứ bình thường nhạt nhẽo như thế.

    Thật ra xưa nay Trì Viễn Sơn chưa bao giờ là người ôm nhiều tham vọng, vừa qua ba mươi tuổi đã bắt đầu sống kiểu dưỡng lão ra mặt, ngày qua ngày chờ những bữa cháo bữa cơm, những hôm sáng rồi chiều. Nhưng mà, bây giờ đây y đã có một chút tham vọng, ước mơ cuộc sống mình hiện hữu thêm một bóng hình.

    Người kia yên tĩnh ăn cháo, lúc phát giác ra ánh nhìn từ y cũng khẽ ngẩng đầu nhìn sang: “Đang ăn sáng sao lại ngẩn ra thế kia?”

    Trì Viễn Sơn lắc đầu cười cười, lẳng lặng thu buổi sáng này vào ký ức.

    Phía trước có Chung Độ, sau lưng là nắng sớm, muỗng cháo trong khoang miệng thoảng mùi gạo thơm, giản đơn mà không vô vị.

    Ăn sáng xong, Trì Viễn Sơn đi tìm đồ mình cho Chung Độ mặc. Hôm qua anh sốt đổ mồ hôi, áo khoác vừa mặc đi viện hôm qua, hôm nay hết mặc được nữa rồi.

    Không ngoài dự đoán, Trì Viễn Sơn ôm đống đồ đen bước ra, hỏi Chung Độ: “Anh xem mấy cái này được không? Mới hết cả. Thân hình chúng ta cũng không khác nhau mấy, chắc sẽ vừa với anh.”

    Chung Độ không để ý quá nhiều, đồ Trì Viễn Sơn anh mặc cũng vừa, chỉ là nếu mặc vào thì có hơi khác phong cách thường ngày.

    Đồ đen quần đen, đến cả áo len cũng màu đen nốt, đúng chuẩn phong cách Trì Viễn Sơn, còn may là áo sơ mi lót màu trắng.

    Trì Viễn Sơn có chuộng màu đen thật, nhưng phong cách của y không phải cứng đơ bất biến. Mỗi một món đồ đều sẽ có những chi tiết sáng bừng lên, chẳng hạn như chiếc áo khoác trên người Chung Độ đây, thoạt trông thì đen kịt từ đầu đến chân, nhưng ngắm kỹ sẽ thấy những bông hoa tuyết rải rác ở những chi tiết khuất lấp khó phát hiện.

    Mọi suy nghĩ nhỏ nhặt của y đều hiện hết ra ngoài, vậy mà Chung Độ phản ứng chậm ngơ toàn tập chẳng biết gì. Anh thay quần áo rồi bước ra, hết nhìn Trì Viễn Sơn lại nhìn mình, bật cười.

    Bây giờ tận hai Hắc Vô Thường, nửa đêm mà kéo bè kéo phái ra hù người ta thì được phải biết.

    Trong mắt anh là hai “Hắc Vô Thường”, còn trong mắt Yến Tiếu Ngữ lại là đồ đôi đúng chuẩn.

    Hai người truyền nước biển xong về quán, vừa đặt chân vào cửa Yến Tiếu Ngữ đã dính cứng đôi mắt to tròn kia đảo tới đảo lui bọn họ.

    Mỗi người mặc đồ đen từ đầu tới chân, mỗi người quấn chiếc khăn quàng cổ cùng kiểu, mỗi người đeo khẩu trang đen.

    Chưa kể quần áo Chung Độ nhìn đúng kiểu phong cách của Trì Viễn Sơn là rõ, khăn quàng cổ giống nhau kia là bằng chứng chắc như đinh đóng cột!

    Yến Tiếu Ngữ như được mở ra chân trời mới, thầm nghĩ tiến triển cỡ này có phải hơi nhanh quá không ta?

    Cô cười chào hỏi hai người, nụ cười kéo từ khóe miệng đến tận đuôi mày.

    Trì Viễn Sơn nhìn cô: “Nay quán có anh nào đẹp trai ghé à? Sao vui vậy.”

    “Trai đẹp ở đâu đọ được hai trai đẹp nhà ta đây?”

    “Nhà mấy đứa? Trì Viễn Sơn chau mày: “Vậy thì khẩn trương, vào pha trà hoa cúc cho thầy Chung nhà mấy đứa đi.”

    “Ok anh, nghe bảo thầy Chung bị cảm ạ? Cảm uống cái này tốt lắm.”

    Chung Độ gật đầu, nói cảm ơn.

    Đầu năm đầu tháng Trì Viễn Sơn không định bán buôn, nhưng mấy nhân viên không về quê ở không chán chê đòi vào quán chơi, thế là anh cũng mặc họ.

    Hôm nay quán trà vắng hoe không một bóng khách. Trì Viễn Sơn yên tâm để Chung Độ lại tầng trệt sưởi nắng, còn mình lên lầu định vào bếp nấu cho anh bát canh.

    Tầng trệt cũng có gian bếp, thường sẽ có hai đầu bếp ở đây làm trà bánh. Nhưng ông đứng bếp chính là người nghiêm túc và có rất nhiều quy củ, từ chối đám này vào bếp ông phá rối, thế nên thỉnh thoảng muốn nấu nướng gì đều phải chạy lên lầu nghịch.

    Vẫn chưa đến giờ mở cửa quán bar, lầu hai cũng không có ai.

    Trì Viễn Sơn vào bếp, cho gà vào nồi luộc sơ, rửa rồi thả gói gia vị nấu canh mua sẵn, tiếp đó là mấy lát hành gừng, hầm lửa nhỏ liu riu.

    Nấu canh gà không cần khả năng cao siêu gì, chưa đầy hai mươi phút sau y đã xuống lầu.

    Lúc đó, Yến Tiếu Ngữ đang tuồn “lịch sử đen” của Trì Viễn Sơn cho Chung Độ nghe: “Thầy Chung thầy không biết ổng độc địa cỡ nào đâu. Hồi nào có cô kia cắm cọc ở quán cả tháng trời, một ngày nọ dồn hết can đảm xin số điện thoại ổng, người ta mới chạy ra trước mặt ổng giơ điện thoại, ổng vừa dịch về sau cho người ta đi vừa nói “Bên này tính tiền”.”

    Trì Viễn Sơn đứng bên này cầu thang hoài nghi nhân sinh. Y không hiểu người ngợm mình thế nào mà hút được cả hội bạn tồi, đặc biệt là hai đứa Nghiêm Tùng Thanh với Yến Tiếu Ngữ chẳng yên tâm yên dạ nổi.

    Mặt trời giữa trưa treo trên đỉnh đầu, vậy mà y đã muốn uống ly rượu mạnh cho say mềm.

    Thật ra y biết người ta muốn xin số mình, mà khi đó trong quán khá đông, nếu từ chối thẳng thì sợ cô gái sượng mặt, thế là đành phải biến mình thành tên đần không hiểu tình cảm.

    May mà Chung Độ không bị dọa chạy mất, anh lướt qua Yến Tiếu Ngữ nhìn Trì Viễn Sơn phía sau cô, cười đáp: “Viễn Sơn tinh tế thật.”

    Anh ngồi dưới nắng, tay bưng tách trà ấm, khen y bằng chất giọng khàn khàn, cười dịu dàng đến kỳ cục.

    Yến Tiếu Ngữ còn định nói gì đó, cô bé khác trong tiệm bỗng vừa cười vừa đằng hắng. Yến Tiếu Ngữ bắt được, ngoái lại nhìn mới phát hiện Trì Viễn Sơn đang cười lạnh, mặt mũi cô biến sắc cứ như thấy ma, la lên “Má ơi” rồi bật dậy chạy biến.

    Trì Viễn Sơn gật gù nhìn cô, bước vài bước rồi ngồi xuống đối diện Chung Độ, bất đắc dĩ thở dài: “Sau này anh đến quán tôi in ít thôi vậy, không được ai bình thường.”

    Quả nhiên sau giờ cơm, hai người đi xuống lầu thì bắt gặp thêm một người bất bình thường nữa.

    Lâm Thu Huyền đến từ hồi nào không rõ, ngồi tại chỗ quen lọc cọc gõ.

    Thấy hai người đi xuống cùng nhau, tác giả Lâm vừa lướt mắt đã nhướng mày, phán một câu đầy sâu xa: “Thầy Chung vất vả rồi.”

    Chung Độ không hiểu mình vất vả cái gì. Trì Viễn Sơn thì hiểu rõ tên này quá đi, đang giao phó mình cho Chung Độ còn gì nữa.

    Ẩn ý: Thu nhận người già neo đơn của bọn tôi đây, thầy Chung vất vả rồi.

    Y giơ ngón giữa sau lưng Chung Độ, Lâm Thu Huyền tảng lờ, bình thản nói tiếp: “Nghe đâu thầy Chung bị bệnh. Làm phim vất thật, đến tận thành phố nhỏ bọn tôi đây còn cóng tới ốm ra, thay mặt cộng đồng fan cảm ơn đạo diễn đã vất vả.”

    Chung Độ còn chưa nói gì, Trì Viễn Sơn đã lạnh te tiếp lời: “Làm gì vất vả cho bằng thầy Lâm đây, Tết nhất còn mò tới tận cái quán nhỏ như lỗ mũi của tôi viết tiểu thuyết. Không trao giải cày siêng năng chăm chỉ cho tác giả thì thật hết nói. Hay thế này, một lát nữa tôi tự tay pha cho thầy Lâm một tách phổ nhĩ sống, thầy thấy thế nào?”

    Lâm Thu Huyền không uống được phổ nhĩ sống, hễ uống là đau dạ dày. Anh ta vẫn giữ nét thản nhiên, bưng tách phổ nhĩ quen thuộc của mình ra hiệu với Trì Viễn Sơn: “Không làm phiền cậu, tôi có trà rồi.”

    Mặc dù Chung Độ không biết Lâm Thu Huyền không uống được phổ nhĩ sống, nhưng anh nghe ra thái độ “đâm xỉa” của Trì Viễn Sơn. Lúc Trì Viễn Sơn nói chuyện, anh cứ cười nhìn y mãi, như thể cảm thấy biểu cảm lẫn giọng điệu trẻ con của y rất thú vị.

    Hai người ngồi xuống tán gẫu với Lâm Thu Huyền đôi câu. Chung Độ về khách sạn trước, anh còn việc phải làm.

    Chung Độ đi rồi, Trì Viễn Sơn thở dài, tự nhiên cảm thán: “Đường còn dài còn nan mà!””

    <i>*Nguyên câu là đường còn dài con nan, nhưng cuộc hành trình sắp bắt đầu.</i>

    Nhìn cái bản mặt cay đắng khổ sở của Trì Viễn Sơn, Lâm Thu Huyền đẩy mắt kính, cười đầy sâu xa: “Tôi thấy cậu sống phí thật, đúng là tên đần.”

    Đôi mắt cụp của y biếng nhác nhướng lên: “Cái gì? Ý cậu là?”

    Lâm Thu Huyền không đáp, dời mắt về màn hình, thản nhiên giơ tay chỉ vào mắt mình.

    Một hành động hết sức qua quít. Lâm Thu Huyền luôn quan niệm rằng nếu diễn đạt thẳng thừng quá, vậy cuộc sống này sẽ trở nên nhạt toẹt.

    Một lát sau, thấy mặt mũi Trì Viễn Sơn vẫn cứ đờ ra, anh ta chợt cười cười, thừa dịp quán trà vắng người gào lên: “Sơn Sơn dũng cảm không sợ gian khó.”

    Cái tên điên này. Trì Viễn Sơn kệ anh ta, lên lầu.

    Y thật thấy “đường còn dài còn nan”. Y hoàn toàn không biết gì về con người Chung Độ, không biết quá khứ anh, không biết sở thích anh, thậm chí còn không biết anh sống ở thành phố nào.

    Đến cả cái móng còn không ra hồn thì làm sao dám mơ đến chuyện cất nhà lầu cao? Hết cách rồi, chỉ đành đi từng bước một thôi.

    Lúc y đi, Lâm Thu Huyền gõ một dòng thế này trên màn hình: “Anh nhìn cậu, với đôi mắt dịu dàng như nước.”

    Vài giây sau, Lâm Thu Huyền lắc đầu bật cười, xóa chữ “cậu” mình đánh sai đi, sửa thành cô.

    Tác giả có lời muốn nói:

    Xin hỏi: Em bé Huyền nhà mình sao lại đánh sai vậy nè?
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 14


    Chung Độ ở khách sạn nghỉ ngơi hai ngày. Mỗi sáng khi đến quán trà Trì Viễn Sơn đều sẽ gọi điện thoại cho anh, gọi anh xuống lầu lấy lê chưng đường phèn lên, anh cũng nhân mấy ngày nghỉ ngơi này chỉnh sửa ảnh chụp hôm rồi xong xuôi.

    Mùng sáu, Tạ Tư Vĩ và ekip đến Trường Nam sớm. Chung Độ dự định sẽ quay hết các phân cảnh ở quán bar trước khi kỳ nghỉ kết thúc, cố gắng không ảnh hưởng đến việc kinh doanh của Trì Viễn Sơn, một phần ekip đến sớm để làm công tác chuẩn bị đạo cụ và bố trí bối cảnh.

    Lúc Tạ Tư Vĩ đến khách sạn cậu ta ôm theo cả đống đặc sản tới, thứ nhất là chia cho ekip đoàn, thứ hai là muốn tặng cho Trì Viễn Sơn cảm ơn y đã chăm sóc Chung Độ.

    Nghỉ ngơi hai hôm bệnh Chung Độ cũng khỏi hẳn, ekip chuẩn bị xong xuôi đến quán bar, Trì Viễn Sơn và Nghiêm Tùng Thanh đang ở sẵn đó chờ họ.

    Sau khi giới thiệu đôi bên sơ lược, Chung Độ để nhóm bố trí làm việc trước. Tạ Tư Vĩ đang rảnh rỗi tạm thời đi dạo từ lầu trên xuống dưới một lượt, chậc lưỡi cảm thán: “Ông chủ Trì có gu thật.”

    Số lần Trì Viễn Sơn được người ta gọi là ông chủ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhân viên trong quán đều gọi y là anh Trì. Vậy nên y thấy hơi lạ lẫm, bèn nói: “Thế này đi, c** nh* tuổi hơn tôi tôi cũng không gọi cậu là đạo diễn Tạ, chi bằng gọi tên nhau đi.”

    “Không không không được, vậy em gọi là anh Trì nhé.” Tạ Tư Vĩ đáp: “Phải rồi anh Trì, em có mang ít đặc sản đến. Chẳng phải gì quý giá đâu anh, là để cảm ơn anh giúp bọn em có được bối cảnh này, với cả chăm sóc thầy Chung nữa.”

    Trì Viễn Sơn nhận món quà nhưng không nhận lời cảm ơn của Tạ Tư Vĩ: “Cảm ơn thì thôi vậy, nhờ vào sức quyến rũ của thầy Chung cả đấy.”

    Nghe thế, Chung Độ cười, không phản bác mà mặc y đùa, thậm chí còn cười rất nuông chiều.

    Tận mắt chứng kiến cách hai người qua lại với nhau, bảo Tạ Tư Vĩ không ngạc nhiên thì là nói dối. Bởi dẫu sao trong mắt cậu ta Chung Độ là bậc thần tiên không dính khói bụi trần gian. Mới mấy bữa không gặp mà thần tiên đã đi kết bạn kết bè rồi, thậm chí còn biết nói đùa nữa chứ. Không tưởng tượng nổi. Cơ mà thật may mắn là cậu ta có ấn tượng rất tốt về Trì Viễn Sơn.

    Miễn Trì Viễn Sơn là người tốt, với Tạ Tư Vĩ Chung Độ kết bạn là chuyện tốt to đùng, mừng còn không kịp.

    Nói chuyện một lúc cả Chung Độ và Tạ Tư Vĩ cũng đi làm việc. Trì Viễn Sơn tạm thời không giúp gì được, tìm một góc đằng xa xa ngồi, thỉnh thoảng ngẩng lên ngắm Chung Độ từ bên trong nhóm người.

    Khi làm việc Chung Độ trở nên rất khác. Nếu miêu tả Chung Độ ở bên Trì Viễn Sơn như tuyết tan chảy dưới nắng ấm, vậy Chung Độ trong trạng thái làm việc sẽ giống băng tuyết trên đỉnh núi cao ngàn năm không tan.

    Cứng cỏi, sắc bén, góc cạnh mà tỏa sáng khôn cùng.

    Một Chung Độ với sức hấp dẫn không thể phủ nhận. Mới đầu Trì Viễn Sơn còn chốc chốc cúi xuống trả lời vài tin nhắn, nhưng càng về sau đôi mắt hoàn toàn dính chặt không cách nào dời khỏi anh được nữa.

    Hôm nay Chung Độ mặc đồ tông màu sáng sủa, tóc chải chuốt không quá kỹ lưỡng, không có phụ kiện trang sức gì, thoạt trông dễ chịu thoải mái. Nếu không đi cùng khí chất ấy, khéo bảo là sinh viên cũng có người tin.

    Khí chất là một thứ diệu kỳ, rất khó hình dung song chỉ cần một cái nhìn thoáng qua là đủ nhận thấy. Nó tàng ẩn từ trong biểu cảm nét mặt, lẩn lút trong từng cử chỉ nhỏ từ cái giơ tay nhấc chân, giấu mình giữa giọng điệu câu nói hay cách ngắt nghỉ. Những điều nhỏ nhặt ấy trở nên nét quyến rũ độc nhất của một cá thể.

    Nhìn một Chung Độ này, Trì Viễn Sơn cảm giác khoảng cách giữa cả hai như xa xôi cả khoảng trời, nhưng lúc này y đã không còn bất kỳ suy tưởng chùn bước nào.

    Riêng con người y không có ưu điểm gì mấy, nhưng chất ngạo nghễ không sợ trời sợ đất ngấm từ trong xương. Điều đã ấn định, y tuyệt nhiên không từ bỏ.

    Cảm nhận được ánh mắt nóng cháy của người nọ, Chung Độ thình lình quay sang. Khi ánh mắt hai người chạm nhau, nét sắc bén góc cạnh kia bị anh rút đi mất, đôi mày nhuốm ý cười.

    Trì Viễn Sơn cũng không hề bối rối khi bị tóm đuôi, thậm chí còn cười tươi rói vẫy tay chào Chung Độ.

    Trông cứ ngơ ngơ ngốc ngốc kiểu gì. Bình thường dây thần kinh trong não Nghiêm Tùng Thanh hay đi chơi xa, nhưng hai ngày rồi chí ít cũng nhận ra cái gì đó. Nhìn Trì Viễn Sơn cười ngơ ngáo, Nghiêm Tùng Thanh mò tới tần ngần hỏi: “Anh nè, hai hôm rồi anh cứ như này, chắc không phải em nghĩ nhiều đâu ha? Anh có ý như kia hả?”

    Nắng hơi chói mắt, Trì Viễn Sơn nhíu mày, nheo mắt bắt đầu trêu con nít: “Ý gì?”

    “Ơ kìa, thì… ý như kia đấy.” Nghiêm Tùng Thanh vừa nói vừa nháy mắt ra hiệu với đám sau lưng, sống chết không đề cập tới tên Chung Độ cứ như sợ ai nghe thấy.

    “Anh cậu chưa học ngôn ngữ biểu cảm đâu nha em trai, không hiểu cái kiểu biểu cảm bảy sắc cầu vồng của cậu.”

    Rõ là đang trêu mình đây mà, Nghiêm Tùng Thanh lập tức nhướng mày: “Ài anh đừng ngó lơ nữa. Em đang lo chuyện chung thân đại sự cho anh đấy còn gì? Mãi mới được một người, nếu anh có ý như kia thật thì để em giúp.”

    Con trẻ hiếu thuận, Trì Viễn Sơn lại không nhận, giễu cợt: “Ai không biết chứ anh lại chẳng rành quá cơ? Hơn hai chục tuổi đầu chưa yêu đương bao giờ, tự lo cho mình trước đi nhóc xử nam.”

    Nghiêm Tùng Thanh bị thọc trúng chỗ đau không phục, ngoái lại đi tới chỗ Tạ Tư Vĩ. Cậu ta suy nghĩ đơn giản, nói chung trước hết cứ đánh vào nội bộ “kẻ địch”, nhỉ?

    Không biết hai người nói với nhau cái gì, mà buổi tối lúc Chung Độ kêu Tạ Tư Vĩ đưa ekip đi ăn, Nghiêm Tùng Thanh được mời theo cùng. Trước khi đi thằng nhóc còn liếc mắt sang Trì Viễn Sơn, nghểnh cổ ưỡn ngực nhác y hệt con gà trống kiêu ngạo.

    Trì Viễn Sơn không buồn nhìn trả, bởi vì người ta đang sửa soạn đi ăn riêng với thầy Chung của người ta đây này.

    Chung Độ không muốn tụ tập đông đúc, anh định dẫn Trì Viễn Sơn đi ăn mì một mình.

    Trì Viễn Sơn không có ý kiến: “Ăn mì ổn lắm, anh vừa cảm dậy ăn mì cho dễ tiêu hóa.”

    Chung Độ “Ừ” một tiếng, không nói gì thêm. Thật ra chiều nay anh nghe Nghiêm Tùng Thanh quở trách Trì Viễn Sơn: “Đau dạ dày còn uống cà phê, anh cứ vậy riết đi.”

    Bệnh dạ dày của Trì Viễn Sơn có từ xưa rồi. Lúc trẻ ỷ mình khỏe mạnh ăn uống bữa đực bữa cái, cộng thêm hai năm đầu mở bar buộc phải uống liên miên, dằn vặt dạ dày ra hỏng. Cơ mà tỉnh thoảng có tái lại y cũng không để tâm lắm, sống mà kiêng khem khổ sở thì kém vui nhiều.

    Hiện tại y đang trong trạng thái thỏa mãn trong mọi tình cảnh, chỉ cầu mong bản thân thong dong an nhàn, cũng không mơ ước sống lâu trăm tuổi xa vời gì.

    Chỉ là… bây giờ suy nghĩ này đã thay đổi thế nào. Nếu được sống lâu trăm tuổi cùng người trước mắt đây, y cảm thấy, dẫu mình có từ bỏ bớt vui thú cuộc đời hay thậm chí chịu khổ một tí cũng không thành vấn đề.

    Trì Viễn Sơn phát hiện, chắc chắn Chung Độ cố tình dẫn y đi ăn mì. Bởi vì lúc y định thêm miếng ớt vào bát mì như thường lệ, Chung Độ cản lại.

    Cản mà chẳng nói năng gì, im lặng mãi mới nhận thua lên tiếng: “Đau dạ dày đừng ăn ớt.”

    Chung Độ hoàn toàn không nghĩ tới trường hợp Trì Viễn Sơn ăn ớt, bây giờ lại xấu hổ. Anh kiếm quán mì rồi lại quá phận lựa mấy loại không cay cho Trì Viễn Sơn chọn, ai ngờ vòng vèo một hồi cuối cùng vẫn phải nói thẳng câu quan tâm ra miệng.

    Anh không quen biểu đạt thế này, nói xong còn hơi hơi thiếu tự nhiên.

    Bộ dạng tự đặt bản thân vào thế khó của anh làm Trì Viễn Sơn cười thành tiếng. Cảm giác được ai đó quan tâm cũng tốt thật, y cam tâm tình nguyện trả muỗng ớt về.

    Trì Viễn Sơn là loại đồ ăn không cay thì không chịu được, vậy mà y lại khoan khoái ăn bát mì không bỏ miếng ớt nào này từ trong ra ngoài. Điều này khiến y nhận thức rõ một sự thật, đó là khi đối diện với Chung Độ Trì Viễn Sơn chỉ có duy một nước tước vũ khí đầu hàng.

    Không có lựa chọn nào khác, thế thì buộc phải tiến về trước.

    Xử bát mì mau lẹ, Trì Viễn Sơn đặt đũa rồi lau miệng, vờ như hờ hững hỏi: “Thầy Chung đã yêu ai bao giờ chưa?”

    Chung Độ nghe vậy ngoài mặt không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, anh vốn không nghĩ sâu xa. Anh lắc đầu rồi lại gật đầu: “Nếu có tính hồi bé chơi đóng vai gia đình gọi là yêu.”

    “Vậy sao tính được.”

    “Vậy thì chưa, sao thế?”

    Trì Viễn Sơn hết cách thôi, mới đầu y muốn dùng câu hỏi này để bóng gió đào bới thông tin. Y có thể chắc chắn rằng trước mắt Chung Độ đang độc thân, lỡ đâu người ta là trai thẳng thật thì y càng phải cân đo đong đếm thêm. Nhưng vị này đúng là núi tuyết vạn năm vẫn trơ trơ, không cho y lấy cả cơ hội hỏi tiếp.

    Thật ra hồi nhỏ đến cả chơi đóng vai gia đình chắc Chung Độ cũng chưa từng chơi bao giờ. Anh trả lời như thế chỉ để khiến mình bớt kì quặc phần nào thôi. Ba mươi bốn tuổi đầu mà chưa từng yêu ai, đoán chừng nhiều người sẽ thấy là một điều kỳ khôi hiếm có.

    “Anh muốn yêu chưa?” Trì Viễn Sơn lại hỏi.

    Chung Độ lắc đầu gần như không do dự, trên gương mặt là nụ cười tự giễu: “Bản thân sống còn không ra hồn, gây họa cho người ta làm gì.”

    Một câu trả lời rất thẳng thật, anh nghĩ, đêm giao thừa ấy Trì Viễn Sơn đã biết tỏng con người anh rồi. Che giấu có còn nghĩa lý gì, huống hồ anh cũng không muốn làm vậy.

    Trì Viễn Sơn ngẩn người. Mấy ngày qua quan hệ giữa cả hai vẫn luôn dễ chịu, thậm chí ý còn cảm giác thấy thái độ buông lỏng và nuông chiều Chung Độ dành cho mình, đến mức y đã sắp quên mất Chung Độ lần đầu mình gặp gỡ.

    Y sực tỉnh, bất giác nghĩ: Hôm ấy rốt cuộc tâm trạng anh tệ hại, hay đó mới đúng nghĩa là một phần con người thật bên trong anh?

    Khả năng cao là vế sau. Trì Viễn Sơn chìm vào dòng hồi tưởng, Chung Độ ở bờ sông đêm ấy thật đáng sợ, đôi mắt anh vô hồn, xám xịt. Chúng chất chứa những bộ phim của anh, cả thế giới quan lẫn cách anh giải quyết những thứ nhỏ vụn, đâu đâu cũng là nỗi tuyệt vọng và đớn đau.

    Tất thảy đều in hằn dấu vết, Trì Viễn Sơn bỗng sợ sệt.

    Quên béng cả câu hỏi bóng gió ban nãy, y do dự mãi, hiếm khi vụng về mở lời: “Anh ơi, sau này… sau này nếu có chuyện buồn hay đau hãy cứ nói cho em biết được không anh?”

    Chung Độ nghe xưng hô y gọi, biểu cảm trở nên kinh ngạc. Thỉnh thoảng Tạ Tư Vĩ cũng gọi mình là “anh”, nhưng tiếng “anh ơi” của Trì Viễn Sơn lúc này rất khác.

    Y gọi cẩn trọng đến từng li từng chút, khiến nó nhẹ hẫng, như là khẩn thiết tìm được chút gì thừa nhận và thân mật, để câu đề nghị vừa thốt lên chẳng hề đường đột.

    Một Trì Viễn Sơn thế ấy khiến người ta mềm lòng.

    Vài giây tiếp theo, Chung Độ bỗng nghe y bổ sung: “Nếu như anh sẵn sàng nói. Không muốn nói thì cũng không sao, miễn là anh vui vẻ.”

    Chung Độ nhìn y, thoáng lặng tiếng.

    Anh hiểu Trì Viễn Sơn muốn nói gì, nhưng không biết làm thế nào cho xứng. Nhiều thứ với anh là quá khó để nói ra, vui vẻ cũng nào phải thứ anh muốn là có được.

    Anh không biết làm sao cho phải. Đối diện với sự chân thành của Trì Viễn Sơn, anh luôn thấy bản thân luôn thiếu thành thật đáng khinh đến cực độ.

    Khoảng lặng hơi dài dặc, Trì Viễn Sơn không dời mắt. Chung Độ nhìn đôi mắt y, thở dài, rốt cuộc vẫn không thể nói ra câu xin lỗi mà bất đắc dĩ mỉm cười: “Viễn Sơn, cậu thật…”

    Thấy vẻ khó xử và khó nói vô cùng của anh, Trì Viễn Sơn lập tức nhận ra có lẽ mình đi quá giới hạn rồi. Vừa định bỏ qua chuyển chủ đề, y chợt nghe Chung Độ nói: “Nếu tôi muốn tâm sự, người duy nhất chỉ có thể là cậu. Tôi sẽ cố gắng, nhưng tạm thời tôi vẫn chưa phải một người bạn đạt chuẩn, cậu cho tôi thêm một chút xíu thời gian được không?”

    Câu trả lời của anh đầy chân thành, ánh mắt rất nghiêm túc. Trì Viễn Sơn nhanh chóng trả lời: “Là em nghĩ nhiều, anh cứ làm những gì bản thân thấy dễ chịu là được.”

    “Không sao đâu. Sau này cũng vậy, muốn nói gì cứ nói đó, đừng lăn tăn nhiều vậy.”

    Giọng anh nghe đầy nuông chiều, khiến Trì Viễn Sơn đã cảm giác rằng mình muốn gì anh đều sẽ cho trong cơn hoảng hốt.

    Chung Độ tỏ ra dung túng đến vô cùng, anh lập tức chìa điện thoại ra: “Lại đây, tôi sẽ ghim Wechat cậu lên đầu tiên, lại lưu số vào, bảo đảm lúc muốn nói gì tôi sẽ tức khắp tìm được cậu.”

    Trì Viễn Sơn bị anh trêu buột miệng đáp: “Thầy Chung đừng nghịch quá, có phải thanh niên yêu đương đâu mà.”

    Lỡ lời suýt cắn phải lưỡi.

    Chung Độ nghe thế nhướng mày, cười hỏi: “Vậy là thầy Trì từng yêu cô bé nào rồi?”

    Giọng anh rõ vẻ đùa giỡn như muốn làm bầu không khí sôi nổi hơn. Thế là Trì Viễn Sơn cũng giả bộ như mình đáp đùa: “Phải là cô bé à, cậu trai không được hả anh?”

    Chung Độ nhướng mày cười cười: “Theo ý thầy Trì tất.”

    Quả nhiên anh hoàn toàn không nghe ra ẩn ý trong câu đùa của Trì Viễn Sơn. Bấy giờ anh đang nghiêm túc lưu số, khóe mắt đuôi mày ngập ý yêu chiều.

    Nếu anh ngẩng lên nhìn dù chỉ một chút thôi, chắc hẳn sẽ phát hiện đáy mắt Trì Viễn Sơn sâu hút, đổ đầy cảm xúc anh không tài nào hiểu thấu.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 15


    Hôm sau, “Chung Núi Tuyết” suýt tí nữa đã biến thành “Chung Núi Lửa”.

    Hôm sau sẽ phải khai máy, công tác chuẩn bị trong hôm nay hết sức căng thẳng nên Trì Viễn Sơn không có ý định làm phiền Chung Độ, chỉ để Nghiêm Tùng Thanh trong quán hỗ trợ. Nhưng mà đến chiều, y nhận được điện thoại của Nghiêm Tùng Thanh gọi báo Chung Độ nổi giận, bảo anh đến đây mau mau.

    Trong công việc Nghiêm Tùng Thanh rất ý tứ chừng mực, không phải cậu ta mượn cớ cho Trì Viễn Sơn cơ hội làm gì cho cam. Vấn đề là Chung Độ nổi cáu mọi người trong ekip quay không ai dám khuyên can, đến cả Tạ Tư Vĩ cũng sợ mất mật. Thế là cậu ta nghĩ chắc chỉ Trì Viễn Sơn mới dỗ êm được anh thôi.

    Trì Viễn Sơn vẫn ở nhà suốt, chưa đầy hai mươi phút sau đã đến quán.

    Mấy hôm nay quán trà cũng đóng cửa. Đoàn phim tới lui liên tục, dù đa phần đều lên tầng từ thang máy bên hông nhưng vẫn khó tránh ồn ào, quán trà lại cần không gian yên tĩnh nên chi bằng nghỉ luôn cho xong.

    Chung Độ ngồi ở tầng trệt một mình, lúc Trì Viễn Sơn vào cửa anh không hề phát giác. Trì Viễn Sơn cũng chẳng hề lên tiếng, đi vào lấy bộ ấm trà của mình, lại vào tủ lạnh lấy một lon trà Long Tỉnh rồi mới bưng khay trà đi ra.

    Tạ Tư Vĩ đứng ngay đầu cầu thang im lìm gọi, Trì Viễn Sơn đi qua hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

    Tạ Tư Vĩ muốn to cả đầu, giờ thấy mặt Trì Viễn Sơn cứ như diện kiến Bồ Tát sống.

    Canh me Chung Độ ngồi trong góc kia, cậu ta hạ giọng kể lể: “Anh Trì tới rồi. Tối qua chú trưởng tổ đạo cụ uống say quá nên giao việc cho cấp dưới sai be bét, cả sáng nay chả làm ăn được gì. Mà cũng trùng hợp lắm cơ, mấy sáng rồi bọn em đến xem điểm quay mà chú đạo cụ say xỉn không góp mặt, chỉ có đám nhóc ở đây làm, không ai canh chừng, mới nãy tụi em về mới phát hiện sai toàn bộ.

    Mà nhiêu đó coi như không tính đi, thầy Chung hơi giận nhưng cũng chỉ gọi chú đạo cụ tới nói mấy câu. Rốt cuộc chú đạo cụ chắc thấy bị thanh niên nói thẳng mặt không chấp nhận được, làm trong lúc cáu kỉnh nên bất cẩn làm vỡ cái đèn thủy tinh kia của anh.

    Bây giờ chắc thầy Chung giận thật rồi, ảnh ngồi đó suốt từ nãy.”

    Cậu ta nói ào ào một hơi, vô thức nhăn nhíu mày trông sầu não hết sức. Trì Viễn Sơn nghe vậy khẽ thở phào, nếu giận vì làm vỡ đồ mình thì không to tát.

    Tạ Tữ Vĩ bảo cái đèn nọ là Trì Viễn Sơn đặt làm riêng, tay nghề thợ vững mà thiết kế cũng rất độc đáo. Chung Độ thấy nó hợp với phong cách bộ phim nên thông qua sự đồng ý của Trì Viễn Sơn để nó lại.

    Nói đến đây, Tạ Tư Vĩ cũng tỏ ra ái ngại, liên tục xin lỗi Trì Viễn Sơn.

    Y xua tay đáp: “Không việc gì, để tôi qua gặp thầy Chung trước đã.”

    Thật ra Chung Độ rất hiếm khi nổi giận, hoặc cho dù có cáu giận cũng sẽ mau chóng giải quyết vấn đề. Mục tiêu công việc rõ ràng và không lẫn lộn quá nhiều cảm xúc ngoài luồng. Hôm nay là một lần nổi giận rất hiếm khi của anh.

    Trì Viễn Sơn bưng khay trà ngay ngắn lại gần, Chung Độ mới ngẩng mắt khỏi điện thoại. Đúng lúc màn hình chưa tắt y tình cờ thấy được một đống hình đèn trong điện thoại anh.

    Sợ là đang tìm đèn đây.

    Y đặt khay trà, ngồi xuống đối diện Chung Độ, không khuyên nhủ gì anh mà bày mọi thứ ra.

    “Sao lại đến đây rồi?” Chung Độ ngạc nhiên nhìn y.

    “Nghe nói thầy Chung giận nên em đến nghía thử.” Trì Viễn Sơn vừa nấu nước vừa đáp.

    Chung Độ cười, lắc đầu: “Làm gì có.”

    “Có hay không cũng không cản được em pha cho anh ấm trà.”

    Chung Độ gật đầu, đặt điện thoại xuống chờ trà.

    Dáng vẻ Trì Viễn Sơn ngồi đó loay hoay pha trà trông rất thanh nhã, bàn tay cầm ấm nước với khớp xương rõ ràng, móng tay tròn trịa gọn ghẽ. Y pha trà rất thành thạo, trôi chảy mà khoan thai, đến ấm trà trắng tráng men trong tay y cũng nhạt màu.

    Tráng tách, ủ trà, rót nước, mọi thao tác đều đúng chuẩn mà không hề cứng ngắc.

    Ấm trà hơi chúc, dòng nước chảy từ cao xuống. Nắng chiều trời đông dịu dàng lạ, tô màu bộ trà cụ lẫn người pha thành bức sơn dầu mượt mà.

    Chung Độ nhìn không chớp mắt như thể đặt mình vào ruộng lúa mênh mông tĩnh mịch.

    Tiếng gõ đều đặn vang lên, Trì Viễn Sơn đang nhịp tay trên bàn nhẩm thời gian.

    Hồi lâu sau, hương trà tỏa ngát.

    Y nhấc ấm trà bằng một tay, tay kia mở nắp, thoáng nghiêng tay, nước trà vẽ thành vòng cung thanh nhã trên không trung uyển chuyển chảy vào tách.

    Bàn tay với khớp xương rõ ràng kia đẩy tách trà đến trước mặt Chung Độ: “Nếm thử bí quyết của em đi, trà Minh Tiền Long Tỉnh.”

    Chung Độ nâng tách nhấp một ngụm, khoang miệng và hơi thở tức khắc thoảng hương trà dìu dịu, thơm nồng nàn, thơm đến độ thấm vào tim gan.

    Cảnh tượng trước mắt hòa với dư hương dài lâu, tâm trạng nóng nảy bất an của anh gần như biến mất: “Cảm ơn cậu, thơm lắm.”

    Trì Viễn Sơn cười cười, nâng tách nhấp một hớp trà.

    Lưỡi y xưa nay ưa xoi mói, không hài lòng với hương vị này: “Trà Minh Tiền Long Tỉnh, đã qua hạ, thu rồi hết đông, bảo quản kỹ lưỡng đến mấy cũng không thơm ngon bằng trà mới.”

    Chung Độ lại đáp: “Cậu pha ngon lắm.”

    Không hề có ý khen ngợi để nụ cười chưa tan của Trì Viễn Sơn thêm phần rạng rỡ: “Thầy Chung à, thoại biên sẵn từ nãy giờ trong đầu nghe anh khen xong tự nhiên thành khó nói đây này.”

    Chung Độ cũng cười theo: “Cậu biên sẵn gì vậy, nói đi.”

    “Em định nói, với em chiếc đèn nọ cũng giống như lá trà xuân này vậy, cũ kỹ, không mới lạ, là thứ có cũng được mà không có cũng không vấn đề gì.”

    “Cậu nói dối.” Chung Độ cười, lắc đầu.

    Anh không chỉ biết Trì Viễn Sơn nói dối mà anh còn biết vì sao trong vô số loại trà y lại chọn pha lá trà quý này. Đơn giản chỉ bởi hôm ấy mình thuận miệng bảo thích uống Long Tỉnh.

    Với Chung Độ mà nói, Phổ Nhị hảo hạng lâu năm cũng không bằng Long Tỉnh quý. Anh nghĩ Trì Viễn Sơn cũng thế, cho dù anh có đền chiếc đèn giá trị hơn và đẹp hơn đến mức nào, trong mắt y chỉ e vẫn kém cạnh.

    Suy đoán của anh hoàn toàn có căn cứ. Hôm qua lúc ăn cơm trên quán, Trì Viễn Sơn có kể đèn của y được đặt làm riêng một phần, một phần là mua ở chợ đồ cũ, mỗi bóng đèn đều rất đặc biệt.

    Nếu đặc biệt đến thế nào lại thành thứ cũ kỹ, có cũng được mà không có cũng không vấn đề gì?

    Trì Viễn Sơn đúng thật như Chung Độ nghĩ, nhưng với y mà nói, người trước mắt y đây đương nhiên quan trọng nhiều hơn.

    “Rồi, em nói xạo đó. Em xót chết mất, cái đèn đáng thương ở với em lâu năm thế không có công lao cũng có khổ lao.” Y ôm ngực, cứ như diễn viên nhập để dỗ anh.

    Không gian chỉ có hai người, nếu bị người ngoài thấy được chắc cái mặt y không còn chỗ chui quá.

    Chung Độ lắc đầu cười cười, uống cạn nửa tách trà còn lại, tiếng thở dài bất đắc dĩ theo nước trà nuốt ngược vào trong, ý cười choán lấy nơi khóe môi trở nên sống động.

    “Cậu dỗ tôi như dỗ con nít à.”

    “Vậy em dỗ êm được thầy Chung chưa nhỉ?”

    “Không ai được bằng cậu.”

    Giọng anh nhẹ hẫng như tiếng thở, nói đùa nhưng lại là thật.

    Chung Độ cho rằng thế giới của mình là vở kịch câm trắng đen cũ rích và nhàm chán. Mà Trì Viễn Sơn lại ôm lấy những sắc màu tươi đẹp lao xộc đến. Trì Viễn Sơn khi là màu đỏ nồng nàn của đá quý, khi là màu hồng dịu dàng của san hô, khi chau mày buồn giận là màu xám tro trầm lặng của thuốc lá, khoảnh khắc này là màu cam quýt khiến Chung Độ cam nguyện đầu hàng.

    Trì Viễn Sơn hẳn nhiên là một người đặc biệt, thậm chí là độc nhất. Mà Chung Độ ở thời khắc nào cũng nhắc nhở bản thân phải luôn tỉnh táo.

    Anh không cách nào mặc mình sa chân chìm đắm, vì thế giới anh cỗi cằn và hoang vắng, lật tung mọi ngóc ngách cũng chẳng tìm nổi một bông hoa xinh đẹp dành tặng cho người rực rỡ đầy ắp sắc màu ấy.

    Trì Viễn Sơn lại đẩy tách trà thứ hai đến, Chung Độ nhận lấy uống một ngụm, hỏi: “Đèn hư rồi, thầy Trì muốn tôi lấy gì đền bù đây?”

    “Để em suy nghĩ đã.” Trì Viễn Sơn cười: “Tạm thời giam giữ anh chờ xét xử.”

    Hai người trêu ghẹo nói chủ đề linh tinh trên trời dưới đất qua ba nước trà. Tạ Tư Vĩ chốc chốc ló xuống đầu cầu thang ngó nghiêng thấy không khí thế kia cũng thả lỏng bớt, nhanh nhẹn gọi chú đạo cụ xuống.

    Thật ra chú đạo cụ cũng cảm thấy ái ngại, nhưng tuổi tác lai lịch bày ra đó, muốn chủ động nhận sai là chuyện không thể xuống nước.

    Bây giờ bị Tạ Tư Vĩ đẩy lưng túm quần kéo tới chỗ Chung Độ, còn chưa đứng yên anh đã lên tiếng trước: “Chú không cần phải nói gì hết. Ngày mai phải khai máy, thời gian cần sắp xếp lại liên lụy bao nhiêu người chú biết rồi, chậm tiến độ một ngày ảnh hưởng ra sao tôi cũng không nói thêm. Tôi vẫn giữ câu trước đó, miễn là chuẩn bị xong xuôi theo yêu cầu tôi đề ra, ngày mai khai máy như bình thường là được. Lần sau sẽ không giải quyết như vậy nữa.”

    Chú đạo cụ hơi khó khăn gật đầu, do dự nói: “Còn đèn…”

    “Chú không phải để tâm đến cái đèn đó. Người ta cho chúng ta mượn quán quay là vì tình cảm, tôi nghĩ chí ít chúng ta không nên chà đạp tình cảm đáng quý đó.” Chung Độ nói với tốc độ không vội vàng cũng không chậm rãi, không ngạo mạn cũng không khép nép, “Tôi là đàn em, chú có điều gì không hài lòng sau khi quay xong tôi sẽ nhận tội với chú.”

    Lúc nghe anh nói đến đây Trì Viễn Sơn nhíu mày. Chú đạo cụ nghe không hiểu hết, nhưng y nghe hiểu rõ mồn một. Những gì Chung Độ nói chẳng phải đang che chở mình sao?

    Có giận gì thì trút thẳng vào tôi, có chỗ nào không phải thì tôi nhận tội, nhưng chú không được phép chà đạp lên thiện ý của Trì Viễn Sơn.

    Y nhấp nước trà giấu nụ cười không kiềm nổi trên môi, không tỏ ý giảng hòa cũng không nói mấy lời khách sáo, trong bụng y còn đang mê mệt vẻ che chở của anh đây.

    Chú đạo cụ tự biết đuối lý, không giải thích gì thêm mà chỉ nói xin lỗi Trì Viễn Sơn rồi lên lầu làm việc.

    Tạ Tư Vĩ còn đứng cạnh đó, cậu ta hết nhìn Trì Viễn Sơn lại nhìn sang Chung Độ, đắn đo lên tiếng: “Em cũng có trách nhiệm thưa thầy Chung. Em biết rõ chú ấy thích uống rượu, nếu đêm qua để ý không để chú uống nhiều thì đã không sao.”

    Chung Độ lắc đầu: “Chuyện quay phim cậu cứ quản lý, nhưng chuyện trên bàn rượu cậu đừng nhúng tay vào. Người lớn tự chịu trách nhiệm cho sai lầm của bản thân là được rồi, đừng cái gì cũng ôm hết vào người.”

    Nói đến đây, anh bỗng nhớ mấy đứa trẻ làm không công cho bên đạo cụ đến tận trưa trật kia, thế là cầm điện thoại chuyển tiền cho Tạ Tư Vĩ, nói: “Cậu về gửi cho mấy đứa trẻ kia đi, tiền mừng tuổi. Tết nhất mà, không phải lỗi của chúng.”

    Đám trẻ nọ thê thảm thật, chỉ nghe theo lời người lớn phân phó làm việc, bây giờ sai sót phải tăng ca đúng là tai bay vạ gió.

    Tạ Tư Vĩ đáp rồi êm ru chạy tuốt.

    Trì Viễn Sơn nhìn Chung Độ, cảm thán cái sức hấp dẫn chết tiệt của người đàn ông này. Đến nổi cáu anh cũng kiềm chế lễ độ, tùy việc mà xem xét, không khoan dung cũng không giận cá chém thớt người không liên quan, cuối cùng không quên đền bù cho người vô tội.

    Chỉ là, người vừa mới cười đây thoắt đã nghiêm túc hẳn lên. Trì Viễn Sơn gợi câu đùa: “Thầy Chung này, lúc anh xụ mặt trông cũng đáng sợ ghê ấy chứ. Nhưng ai mà ngờ được đạo diễn Chung tiếng tăm lừng lẫy này đây đến học gói cho được miếng sủi cảo còn chẳng ra hồn đâu?”

    Chung Độ nhướng mày nhìn y, lập tức nở nụ cười, nâng tách trà trong tay về phía Trì Viễn Sơn: “Vậy cảm phiền thầy Trì giữ bí mật nhé.”
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 16


    Hai người uống trà rồi đi ăn cơm với đoàn phim, lúc cơm nước xong xuôi trời đã xẩm tối.

    Hôm nay là mùng bảy Tết, phố đã đông người qua lại hơn hẳn. Chung Độ lấy khẩu trang trong túi đeo vào, sau đó đi về với Trì Viễn Sơn.

    Chỗ họ ăn cơm cách đó không xa, chính quán cháo có ông chủ bị chứng sạch sẽ ở đầu đường kia. Cháo rất ngon, các món ăn kèm cũng không tồi, bữa ăn diễn ra trong thoải mái.

    Giữa lúc chậm rãi rảo bước về, Chung Độ cảm nhận được sức hấp dẫn đặc biệt của nhịp sống khoan thai trong lòng thành phố nhỏ.

    Đứa trẻ ăn kẹo hồ lô chạy nhảy vút qua, mùi khoai lang nướng “quyến rũ” từng cái bụng đói meo của người đi đường, đèn đường lặng lẽ bật sáng, vầng trăng thong thả ngự trên bầu trời đêm.

    Thời tiết buốt giá lạnh lẽo, vậy mà con phố này khác nào bập bùng trong ánh lửa.

    Các hàng quán nghỉ bán mấy ngày Tết nay đã mở cửa, Trì Viễn Sơn đi được thu được hàng tá lời chào hỏi.

    Có người gọi “Anh Trì”, người kêu “Tiểu Trì”, thậm chí còn có đứa bé đứng từ xa tít la to: “Chú Trì ơi chúc mừng năm mới!”

    Chung Độ đi bên cạnh y, khóe môi ẩn dưới lớp khẩu trang ngập ý cười: “Thầy Trì được chào đón quá.”

    Trì Viễn Sơn nhún vai: “Anh cứ thử tháo khẩu trang xem trong mắt mọi người có còn thấy em không?”

    Chung Độ cười đáp, cánh tay thuận thế đặt trên vai Trì Viễn Sơn, ngẩng lên ngắm trời đêm.

    Cũng may là anh không quá nổi tiếng, chỉ những lúc thế này mới trộm được đôi chút bình yên từ thành phố nhỏ này.

    Trì Viễn Sơn sửng sốt trước hành động của anh, vừa tính nhắc anh để ý đường, nghiêng sang nhìn một lát lại nuốt trở về.

    Thật khó để hình dung cảm giác ấy ra sao, chỉ là một cái nhìn lướt bỗng chợt hiểu cảm xúc của anh trong khoảnh khắc.

    Hệt như người cơ hàn chợt ngước lên trông thấy bầu trời đêm lấp lánh, có niềm hân hoan xen trong tuyệt vọng.

    Trì Viễn Sơn không nói gì, cũng không nhìn anh nữa mà chỉ lặng lẽ theo sát bên.

    Sức hiện diện của cánh tay trên bờ vai quá đỗi nặng nề. Chung Độ vô tư thẳng thật, nửa thân trên của Trì Viễn Sơn lại như không còn thuộc về y.

    Khi đi ngang qua hàng gốm của Tông Dã, cuối cùng y cũng được cứu.

    Tông Dã cũng vừa mới ăn cơm về, thấy hai người họ bèn chào hỏi rồi mời vào ngồi chơi.

    Trì Viễn Sơn đang rảnh rỗi mới nghiêng sang hỏi Chung Độ: “Thầy Chung có thời gian không? Có cần về theo dõi tiến độ không?”

    “Không cần.” Chung Độ tự nhiên đẩy vai y vào hàng gốm: “Có Tư Vĩ ở đó là được rồi.”

    Con người Tông Dã rất ngầu, mà mọi ngóc ngách trong hàng gốm trông đều cổ điển và tao nhã.

    Không gian đơn giản khoáng đạt, kệ gỗ thô trưng bày các tác phẩm gốm, bức tranh treo trên tường cũng do Tông Dã vẽ.

    Chung Độ từng học vẽ tranh, đánh giá thấy bức vẽ rất khá, và vốn hiểu biết không quá sâu rộng về gốm cũng không cản trở anh thưởng thức những tác phẩm của Tông Dã.

    “Vị này là nghệ thuật gia thực thụ đấy.” Trì Viễn Sơn nói.

    Chung Độ nhẹ gật đầu, tán thành: “Đúng là rất có tài. Nhóm bạn các cậu ai cũng giỏi giang, ai cũng là nghệ sĩ.”

    Trì Viễn Sơn cười xua tay: “Bọn họ thì phải, còn em thì không đâu, em nghệ thuật chỗ nào vậy?”

    Tông Dã đưa mắt nhìn y, rõ là muốn phản bác gì đó, nhưng anh ta nhìn Chung Độ đứng bên rồi lại im lặng.

    Chung Độ lập tức tỏ ra không đồng tình: “Mọi chỗ. Cách cậu sống là nghệ thuật, chính bản thân cậu là nghệ thuật.”

    Một lời nhận định rất to tát, anh lại thốt ra nhẹ tênh chắc nịch.

    Hôm nay anh cứ thổi phồng đến độ phi lý, Trì Viễn Sơn cười đầy bất đắc dĩ, hai tai lại nóng ran lên.

    Trước khi đi Chung Độ hỏi mượn Tông Dã vài tờ giấy Tuyên anh ta dùng vẽ tranh, thêm cả thuốc màu và bút vẽ, anh bảo muốn sửa đèn cho Trì Viễn Sơn.

    Y thoáng bất ngờ, nhưng cũng không cản anh.

    Tông Dã nhìn hai người, bỗng nhớ tới cảnh tưởng bá vai dính cứng mới bắt gặp hồi nãy kia, lắc đầu cười cười.

    Về đến bar, Chung Độ tạt qua xem tiến độ bên đạo cụ, sau đó xách cái đèn bị hỏng vào phòng nghỉ của Trì Viễn Sơn.

    Trì Viễn Sơn đang dọn chỗ cho anh ngồi trong phòng nghỉ. Phòng của y ở đây là một không gian mở hoàn toàn với chiếc giường bên trái, sô pha với tủ lạnh mini, bên phải là không gian làm việc.

    Trước khi Chung Độ vào, Trì Viễn Sơn đã dọn mớ đồ đạc bừa bộn trên bàn lại, dẹp cả ghita và giá đỡ vào góc.

    “Ở đây được chứ?” Trì Viễn Sơn hỏi Chung Độ đang đi vào.

    “Ừ, được.”

    Chiếc đèn bị hư là loại đèn để bàn phục cổ bằng thủy tinh, chân đế bằng sắt nâu tạo thành hình nhánh cây. Phần thủy tinh tuy đã vỡ nhưng phần khung gốc vẫn còn lành lạnh, Chung Độ định sử dụng giấy tuyên thay thủy tinh, làm thành một chiếc đèn giấy.

    Miểng vỡ còn sót dưới chân đế, thế là Trì Viễn Sơn nói: “Để em dọn chỗ thủy tinh vỡ này đã, anh cứ vẽ trước đi.”

    “Được, vậy cậu coi chừng tay.”

    Hai người ngồi đối diện nhau làm phần việc riêng mình, không gian chìm vào tĩnh lặng.

    Phần việc của Trì Viễn Sơn rất đơn giản, y cầm kìm làm một loáng là xong. Xong xuôi y ra ngoài rót cho Chung Độ ly nước nóng, về phòng ngồi bên sô pha nhìn anh vẽ tranh.

    Cách nhau một quãng xa, Trì Viễn Sơn không thấy Chung Độ đang vẽ gì, nhưng y vẫn chăm chú ngắm nghía người vẽ tranh.

    Chung Độ đi bút rất gọn gàng, lưng anh giữ thẳng tắp, đôi môi mỏng khẽ mím lại, cánh tay nâng cao lờ mờ trông thấy đường nét cơ bắp bên trong, thoạt trông anh vừa tĩnh tại lại vừa ung dung.

    Ánh đèn vàng sưởi ấm không gian nho nhỏ này, cảnh tượng trước mắt hệt cánh rừng đầu thu, đẹp cách u trầm.

    Không biết là bao lâu sau, mọi âm thanh tổ đạo cụ cập rập tới lui đã biến mất, Trì Viễn Sơn cũng vô thức chậm chạp nhắm mắt lại.

    Trên bàn làm việc, Chung Độ cầm vài bức tranh vừa vẽ xong, nào pháo hoa, cây hồng, chú chó lông vàng nhà anh bạn vong niên, lẫn cả Trì Viễn Sơn quàng khăn đỏ.

    Bức vẽ tiếp theo, anh cầm bút tư lự đôi chốc, đưa mắt nhìn rồi quyết định vẽ Trì Viễn Sơn đang ngủ.

    Không có giá vẽ, bút cũng là Tông Dã cho mượn đại, Chung Độ cũng đi từng nét theo cảm giác, vậy mà mỗi bức tranh nhỏ đều toát lên sự điềm đạm và đầy tràn bình yên, kết hợp thành cuộc sống phẳng lặng mà trước đây anh đã từng không dám mơ tưởng đến.

    Bức tranh cuối cùng đã hoàn tất, Chung Độ đứng dậy xoa cổ rồi hoạt động cổ tay. Anh ngoái đầu nhìn Trì Viễn Sơn nằm hơi co mình, cầm chăn trên giường đắp cho y.

    Đôi mắt Trì Viễn Sơn khép chặt, không có chút cảm giác nào. Lúc ngủ sự sắc sảo và nét cương nghị mất hút, trông thư thái bình yên, nhịp thở nhè nhẹ, thoạt trông ngoan hiền vô cùng.

    Chung Độ đắp chăn, có chớp mắt chợt muốn đưa tay v**t v* đôi mày hơi nhíu của y, tay nhấc lên rồi lại khựng mất vài giây, cuối cùng vẫn không hạ xuống.

    Trì Viễn Sơn bỗng thức dậy. Y chẳng hiểu sao mình ngủ quên mất, đang ngủ thì giật mình nhận ra Chung Độ còn đang vẽ, thế là tức khắc bừng tỉnh.

    Vừa mới mở mắt, ánh đèn ùa vào khiến y thấy chói, ngơ ngác gọi: “Anh ơi.”

    Chung Độ lập tức ngẩng lên nhìn y: “Đây, cậu lên giường ngủ đi, tôi sắp xong rồi.”

    Nghe thấy giọng anh, Trì Viễn Sơn yên tâm hẳn.

    Trên người có thêm tấm chăn, Trì Viễn Sơn dụi dụi mắt, ngồi dậy, cầm chăn đi qua chỗ Chung Độ: “Mấy giờ rồi anh? Ngày mai anh bắt đầu quay mà đúng không? Hôm khác làm tiếp vậy.”

    Chung Độ vẫn thoăn thoắt không ngưng tay: “Xong đến nơi rồi, dán lên nữa là được.”

    “Vậy để em phụ một tay.”

    Trì Viễn Sơn vừa ngủ dậy, trên đầu chỉa hai nhúm tóc nghịch ngợm, mí mắt vẫn díu tít chưa mở hẳn. Đang khi mơ màng định đắp chăn cho Chung Độ, tầm mắt Trì Viễn Sơn chợt lướt qua mấy bức tranh trên bàn. Y thoáng khựng, hoàn toàn tỉnh táo.

    Y nhìn thấy pháo hoa đêm giao thừa, thấy cành hồng sai trĩu quả mùng một Tết, thấy Nhị Mao ngồi trước cửa sân, nhìn thấy cả mình đang cuộn mình trên sô pha ngủ vùi.

    Những bức tranh nho nhỏ ấy sáng sủa và mang lấy gam màu tươi tắn, thậm chí đâu đó toát lên nét vui tươi, hoàn toàn không giống như tác phẩm ra đời từ đôi tay Chung Độ.

    Bức tranh vẽ lại khoảng thời gian ngắn ngủi hai người bên nhau, cũng là Trì Viễn Sơn trong mắt Chung Độ.

    Khoảnh khắc ấy, Trì Viễn Sơn đã nghĩ: Lẽ ra mình không nên tham lam, nhưng khoảng thời gian này, dòng hồi ức này, mình muốn có được thật nhiều thật nhiều, ghi khắc chúng thật lâu thật lâu.

    “Vẽ được không?” Chung Độ nhìn y hỏi.

    “Ừm, đẹp xuất sắc.” Giọng Trì Viễn Sơn nhẹ hẫng, không biết là do vừa tỉnh ngủ hay vì điều gì khác mà nhuốm âm mũi.

    Hai người không ai nói tiếp, lặng lẽ dán những bức tranh cùng nhau.

    Khi chiếc đèn lần nữa sáng lên, những bức vẽ như được thổi hồn, trở nên sống động.

    Cả hai im lặng trong phút chốc.

    Trì Viễn Sơn muốn nói gì đó, nhưng y không muốn làm hỏng không gian đẹp đẽ này.

    Phải nói gì đây? Nói <i>hình như em nằm mơ giữa ban ngày rồi thầy Chung ạ, em thích anh</i> ư? Chắc Chung Độ sẽ bỏ đi mất.

    Chung Độ trong phút giây im ắng cũng muốn nói gì đó. Anh muốn nói mọi thường lúc không quay phim tôi ở Thành Bắc, công ty cũng ở đấy, ở rất gần Trường Nam thôi, lái xe ba bốn tiếng là đến, đi máy bay thì chưa đầy một tiếng, nếu rảnh cậu có thể đến chơi.

    Cũng muốn nói sau khi hoàn thành bộ phim này trong tương lai gần tôi sẽ không quay gì khác, công ty không cần tôi, tôi cũng có thể ở lại Trường Nam thật lâu.

    Nhưng anh không mở miệng được. Anh không biết đến bao giờ mình mới khá hơn, hay liệu rằng có thực sự khá hơn được không. Mấy hôm rồi anh đã nhắm chặt mắt bịt chặt tai ở bên Trì Viễn Sơn, mỗi ngày trôi qua là một ngày bước khỏi ranh giới an toàn, thậm chí tâm sự, thậm chí hứa hẹn cho tương lai, nhưng giây phút ngắm những bức tranh này đây, nhìn người trước mắt này, anh vẫn sợ sệt, vẫn không dám tiến về phía trước lấy một bước.

    Hai người ôm tâm sự riêng chìm vào thinh lặng, không ai hiểu được cảm xúc nơi đáy mắt nhau.

    Một lát sau, Trì Viễn Sơn hắng giọng: “Muộn rồi anh, ngày mai còn công việc, anh ở ngủ lại đây đi. Em về.”

    Chung Độ lắc đầu: “Không cần đâu, tôi về khách sạn.”

    “Không sao, ngày mai anh phải dậy sớm chứ em đâu cần.”

    Chung Độ vẫn lắc đầu, không nói ra là đang cố chấp vì gì, chỉ là cực kỳ không muốn người trước mắt mình ra khỏi căn phòng ấm áp để chịu đựng gió đông rét mướt ngoài kia.

    Anh đứng dậy, chẳng hiểu sao vươn tay ấn nhúm tóc vểnh lên của Trì Viễn Sơn về, giọng dịu dàng lạ lùng: “Ngủ tiếp đi, tôi về khách sạn duyệt lại cảnh quay ngày mai.”

    “À.” Trì Viễn Sơn giật mình: “Vậy anh đeo khăn quàng cổ vào, kẻo lạnh.”

    Chung Độ cười, đáp: “Ừ.”

    Lúc mặc áo khoác chuẩn bị đi, Chung Độ đứng ở cạnh cửa, lòng bàn tay nắm chốt cửa lạnh buốt, bỗng dưng lưu luyến sự ấm áp nơi căn phòng này.

    Quay đầu nhìn chiếc đèn nọ lại nhìn nhúm tóc ngốc vểnh lên của Trì Viễn Sơn, anh dừng một lát, khẽ nói “Ngủ ngon” rồi mới vặn chốt cửa ra ngoài.

    Bóng lưng thoạt trông vẫn thẳng tắp và thoải mái, nhưng cảm xúc bên trong có lẽ chỉ có bản thân mình hiểu.

    Chung Độ đi rồi, Trì Viễn Sơn lại không buồn ngủ nữa. Y ngồi ghế Chung Độ vừa ngồi kia, gục xuống bàn nhìn chăm chăm chiếc đèn nọ.

    Ngắm từng bức tranh thật tỉ mỉ nên lại nhớ về những cảnh tượng đã qua. Ngắm hoài ngắm mãi mà sinh lòng tiếc nuối, tiếc rằng trong số chúng không có lấy một bức về Chung Độ.

    Con người quả là loài động vật diệu kỳ, số ít trong họ dẫu quen biết bao lâu cũng chỉ coi là vị khách vãng lai vội vàng; số ít trong họ rõ ràng chỉ là vị khách vội vàng lướt qua, vậy mà bạn lại muốn trồng cho họ cả vườn hoa trái trong tim.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 17


    Xế chiều hôm sau, mọi người tập trung đông đủ, bên Chung Độ khai máy thuận lợi.

    Anh không dùng chiếc đèn nọ nữa, để bên đạo cụ thay một loại tương tự.

    Giữa giờ nghỉ, biên kịch Bạch Kinh Nguyên hỏi Chung Độ: “Quay xong bộ ba Hải, Lục, Không này cậu tính làm gì tiếp theo?”

    Bộ ba “Hải Lục Không” là cách mọi người gọi vui ba bộ phim của Chung Độ. Bộ đầu tiên là Tảo Biển, bộ thứ hai là Đám Mây, bộ thứ ba là Cỏ Dại.

    Nghe anh ta hỏi, Chung Độ nhất thời không đáp. Thật ra anh không hề nghĩ đến chuyện sau ba bộ phim này mình sẽ đi đâu hay làm gì.

    Bản chất ba bộ phim này là lời từ biệt của Chung Độ với thế giới.

    Hồi xưa nếu có ai hỏi câu này, anh sẽ đáp qua loa “Vẫn chưa tính”. Nhưng bây giờ anh lại do dự, tiếp đó nở nụ cười: “Chắc là quay thể loại khác, nếu tôi có khả năng.”

    Bạch Kinh Nguyên hơi ngạc nhiên nhướng mày.

    Sau kỳ nghỉ này, anh ta phát hiện Chung Độ rõ là khang khác. Hình như tên này ăn xong cái Tết bỗng bắt đầu hồi sinh. Biết cười, biết nói, bị hỏi cũng không lẩn tránh trả lời nữa.

    Là một trong số bạn bè ít ỏi của Chung Độ, Bạch Kinh Nguyên hứng thú nhìn gương mặt tươi cười của Chung Độ, nói bóng nói gió: “Dạo này sao rồi?”

    “Tốt, Tết ăn sủi cảo, quen bạn mới.” Chung Độ dựa lưng vào ghế, thoải mái trả lời.

    Không biết nghĩ đến điều gì, anh thoáng ngừng lại, sau đó bổ sung: “Khi nào về Thành Bắc cậu hẹn nhà tâm lý kia giúp tôi đi, tôi muốn thử xem.”

    Cảm xúc của Bạch Kinh Nguyên lúc bấy giờ hình dung bằng từ kinh hoàng còn chưa đủ đô.

    Hai người học chung với nhau bảy năm, tốt nghiệp xong hợp tác với nhau ba bộ phim. Mười mấy năm ròng anh ta không chỉ đề nghị Chung Độ đi thăm khám tâm lý không chỉ một lần, nhưng anh từ chối tất cả.

    Mấy năm gần đây họ có độ nổi tiếng nhất định nên Chung Độ không còn tiện nữa. Bạch Kinh Nguyên nhờ cả bạn bè giới thiệu cho một nhà tâm lý vừa cực kỳ có uy tín lại vừa bảo mật tốt, nhưng anh vẫn từ chối.

    Lúc này nghe Chung Độ bảo “muốn thử xem”, Bạch Kinh Nguyên tức khắc đáp: “Ok, quay xong tôi sẽ gọi điện xếp lịch liền, bên đó không dễ đặt lịch đâu, phải đặt càng sớm càng tốt.”

    Anh ta thật sự rất mừng rỡ, không quan tâm là Chung Độ thay đổi do dâu, anh ta vẫn mừng thay Chung Độ từ đáy lòng.

    Bao nhiêu năm qua chứng kiến Chung Độ giật mình tỉnh dậy từ ác mộng, chứng kiến Chung Độ vô thức để lộ những vết thương mới và cũ chồng chéo, hay tình cờ biết được đôi chút quá khứ gia đình Chung Độ qua nhiều câu chuyện.

    Bấy giờ Chung Độ chập nhận thử, Bạch Kinh Nguyên vui mừng cứ như người cha già.

    Vài ngày tiếp theo tiến trình quay phim vẫn diễn ra thuận lợi, dù Trì Viễn Sơn không góp mặt nhưng vẫn gửi tin nhắn Wechat cho Chung Độ, kể với anh vài chuyện nào đó thú vị, hỏi han anh đã ăn cơm chưa.

    Mấy ngày nay Bạch Kinh Nguyên thấy Chung Độ cầm điện thoại cười cười rất nhiều lần rồi. Một, hai lần còn coi như trùng hợp đi, đây nhiều tới mức anh ta tưởng giống đang thấy quỷ.

    Quen bạn mới đây à? Rõ là bạn gái thì có?

    Hôm nay, Bạch Kinh Nguyên không nhịn nổi nữa hỏi Tạ Tư Vĩ: “Rốt cuộc thầy Chung của cậu quen bạn mới nào đấy, cậu gặp chưa?”

    “Em gặp rồi, là chủ quán bar này chứ đâu.”

    Bạch Kinh Nguyên giục cậu ta kể nhiều lên, Tạ Tư Vĩ đành phải vắt óc miêu tả: “Đẹp trai, tốt tính, mà nhiệt tình lắm, hồi hôm thầy Chung bị sốt ảnh còn giúp em đưa thầy đi bệnh viện nữa. Anh muốn hỏi cái gì vậy?”

    Bạch Kinh Nguyên nghe tới khúc đẹp trai, cuối cùng cũng phản ứng: “Đàn ông à?”

    “À dạ, đàn ông mà anh.” Tạ Tư Vĩ mặt mày khó hiểu: “Ủa đâu, anh nghĩ tới chỗ nào rồi?”

    Bạch Kinh Nguyên không buồn để ý cậu ta, đảo mắt một lượt rồi nhìn Tạ Tư Vĩ cứ như nhìn đứa con nít bị thiểu năng: “Cái thằng nhóc ngáo ngơ này, chả hiểu cái sự gì. Đàn ông thì làm sao? Cậu kỳ thị đồng tính à? Để anh xem cậu dám không.”

    Tạ Tư Vĩ có cả đống dấu hỏi trên đầu, vẫn chưa hiểu kịp sao mới đây mình bị quy chụp là kỳ thị đồng tính cơ? Mà ai là đồng tính? Anh Trì với thầy Chung? Ủa hồi nào? Sao mình không biết!

    Nhìn Bạch Kinh Nguyên quay lưng thản nhiên đi mất, lần đầu tiên trong đời Tạ Tư Vĩ bắt đầu hoài nghi trí thông minh của mình.

    Để chứng minh mình không phải thằng đần, cậu ta rảnh rang kiếm chuyện theo dõi Chung Độ sát sao với ý đồ tìm ra bằng chứng phản pháo Bạch Kinh Nguyên.

    Mới đầu Chung Độ còn ngó lơ, sau này bị nhìn mãi thành phiền, không nhịn được hỏi: “Mặt anh có cái gì mà cậu cứ săm soi suốt vậy?”

    Tạ Tư Vĩ cười cười xấu hổ, xua tay liên tục.

    Cái kiểu ngáo ngáo ngơ ngơ của cậu ta làm Bạch Kinh Nguyên cười thành tiếng: “Có gì đâu, chắc thế giới quan của thằng nhỏ tan nát rồi, hai hôm nữa là lại như thường.”

    Cười xong thì thả lại một câu như tiện thể nói: “Chung Độ, quay thêm hôm nữa là hết cảnh ở quán bar rồi. Trước khi đi có phải cậu nên mời ông chủ Trì bữa cơm cảm ơn người ta không? Tôi nghe Tư Vĩ bảo tiền thuê không mất bao nhiêu.”

    “Được.” Chung Độ không nghĩ nhiều, lập tức đồng ý.

    Đúng thật, mấy hôm rồi không thấy Trì Viễn Sơn Chung Độ có hơi lạ lẫm. Bây giờ anh cứ vô thức nhìn về phòng nghỉ, tiếp đó nhớ về đủ thứ cảm xúc không sao nói rõ cũng không sao tả hết về hôm sửa đèn ấy.

    Cơ mà cũng không phải tự nhiên mà anh độc thân mấy chục năm qua. Cho dù nhận ra tâm trạng bản thân có gì đó không ổn lắm nhưng anh cũng không nghĩ nhiều, quy hết nó thành sản phẩm của sự xoắn xuýt.

    Vừa muốn kết bạn với Trì Viễn Sơn lại vừa cảm thấy bất an tội lỗi, sự xoắn xuýt này làm nảy sinh cảm xúc từa tựa như yêu.

    Bình thường thôi, anh nghĩ.

    Mấy ngày qua anh đã suy nghĩ cẩn thận, dường như ngay từ khi bắt đầu anh đã không còn đường lui. Đối diện với Trì Viễn Sơn, anh không còn lựa chọn nào khác ngoài từng chút hạ thấp phòng tuyến an toàn của mình.

    Đã vậy, anh chỉ có thể bắt đầu thử thay đổi bản thân. Đó cũng là lý do anh quyết định đi gặp nhà tâm lý.

    Lúc này Bạch Kinh Nguyên ra gợi ý mời Trì Viễn Sơn ăn cơm, anh không ý kiến, lập tức nhắn với Trì Viễn Sơn trong Wechat.

    Hẹn ăn cơm vào tối mai, nhưng không ngờ đến hôm sau vẫn chưa quay xong. Trì Viễn Sơn tất nhiên phải đến, nguyên nhân là diễn viên vào vai ông chủ quán bar bị thương ngay mặt.

    Lúc đến anh trai diễn viên quần chúng mặt mày bê bết, lòng vòng bên ngoài kiếm Tạ Tư Vĩ.

    Thấy anh ta Tạ Tư Vĩ giật mình: “Đệt, anh bị làm sao vậy? Mặt mũi máu không ra thế kia.”

    “Tìm được cậu rồi.” Anh diễn viên quần chúng hết sức lo lắng: “Mặt anh vừa bị mèo cào, phải làm sao bây giờ? Đã sắp tới cảnh quay rồi.”

    Máu trên mặt anh ta vẫn chưa ngừng hẳn, Tạ Tư Vĩ nhìn mà đau hộ: “Anh ơi là anh mau mau đi sơ cứu đi, nhìn hãi quá.”

    “Cậu đừng quan tâm ba cái vết thương nhỏ xíu, cái này trang điểm cũng không che hết được phải không? Không được nữa thì kiếm anh em nào trong nhóm quần chúng giúp anh một lát? Cũng chỉ hai câu thoại thôi.”

    “Không được. Mấy ngày trước mấy diễn viên này đã quay thấy mặt cả, làm sao vừa vai khách vừa vai chủ được?” Tạ Tư Vĩ xua tay: “Tôi anh đừng bận tâm, đến bệnh viện mau đi, lát nữa em tới chỗ anh sau.”

    Cậu ta nói năng nhẹ nhàng, nhưng trong bụng thì rối rắm phát hoảng. Sắp vào giờ quay tới nơi rồi, nhìn mãi không thấy ai thế được thật, đành phải tìm Chung Độ trước.

    Chung Độ hay tin vẫn rất bình tĩnh: “Không sao, anh đi gọi điện thoại.”

    Vừa nghe Tạ Tư Vĩ báo cái tên Trì Viễn Sơn lập tức nảy ra trong đầu anh, và cũng chỉ có một mình Trì Viễn Sơn, không có lấy một lựa chọn thay thế nào.

    Anh ra góc vắng người, không suy nghĩ gọi điện cho Trì Viễn Sơn.

    “Viễn Sơn, là tôi đây, cậu đang bận à?”

    “Cũng đang rảnh, sao vậy anh?”

    “Diễn viên quần chúng bên tôi có chuyện, muốn mời cậu tới đóng vai ông chủ quán bar. Chỉ hai câu thoại thôi, có được không?”

    Trì Viễn Sơn hơi bất ngờ. Nhưng Chung Độ đã mở lời, y cũng không hoài nghi chuyện mình có diễn được không, vừa đứng dậy vừa cười: “Không được rồi.”

    “Ừ?” Mới đầu Chung Độ định đáp không sao, nhưng nghe tiếng Trì Viễn Sơn cười, anh bán tín bán nghi hỏi lại.

    “Đất diễn ít quá, không mời được diễn viên xuất sắc tên tuổi như em đâu. Anh ra thêm điều kiện gì thuyết phục em thử đi, vậy em còn suy nghĩ lại.”

    “À.” Chung Độ cũng vô thức cười: “Vậy quay xong mời cậu đi ăn nhé?”

    “Được, em ra ngay.”

    Cuộc gọi bị cúp ngang, trước khi cúp anh còn nghe thấy tiếng Trì Viễn Sơn mặc áo khoác nghe sột soạt, Chung Độ đứng đó lắc đầu mỉm cười.

    Nhoáng cái Trì Viễn Sơn đã đến, đưa mắt là trông thấy Chung Độ đang chờ mình ở đầu cầu thang.

    Còn chưa lên đến nơi, y đã gọi trước: “Anh.”

    “Chạy cái gì? Đừng vội.” Chung Độ tự nhiên ôm lấy vai y, nhẹ nhàng vỗ lưng cho y thở.

    Trì Viễn Sơn cười xòa: “Tới nhanh chứ, không lại bị người ta đồn bệnh ngôi sao thì khổ.”

    Chung Độ trông đến là chịu thua nhưng vẫn hùa theo y: “Ai dám? Đạo diễn về phe cậu.”

    Vừa nói anh vừa đưa Trì Viễn Sơn vào trong. Tạ Tư Vĩ nhìn sang, thấy Trì Viễn Sơn xuất hiện cũng không quá ngạc nhiên: “Anh Trì, thật ra em cũng thấy anh hợp lắm đó, mà không dám mời anh thôi.”

    “Vậy ra tôi cũng có tố chất làm ảnh đế ấy chứ hả. Cả hai vị đạo diễn đều đánh giá cao thế này.”

    “Biên kịch tôi cũng thấy ông chủ Trì cực kỳ ổn.” Bạch Kinh Nguyên bước lại đưa tay: “Xin chào, Bạch Kinh Nguyên.”

    “Chào anh, Trì Viễn Sơn.”

    “Nghe danh đã lâu, tối nay quay xong đi làm một ly chứ.” Mặt mày Bạch Kinh Nguyên đứng đắn lạ thường, lòng âm thầm suy xét hai người trước mắt đây.

    Hành vi thân mật, mắt giấu ánh sáng, quả thật là nhìn kiểu gì cũng thấy bất thường.

    Cơ mà… rất xứng.

    Bất kể là ngoại hình hay khí chất, hai người đứng sánh vai đều rất xứng đôi, thậm chí khiến người ta có cảm giác khó lòng chen chân một cách khó hiểu.

    Đưa ra nhận định trong bụng rồi, Bạch Kinh Nguyên cười cười, không nhiều lời thêm, ủ mưu tối nay ăn cơm đi tìm tòi thực hư sau.

    Chung Độ vừa tạm dừng quay, cố ý ra cầu thang chờ Trì Viễn Sơn, mới nói được vài câu anh lại phải đi làm việc.

    Bạch Kinh Nguyên chào hỏi rồi cũng đi mất, chỉ Tạ Tư Vĩ ở lại nói sơ cảnh chuẩn bị quay cho Trì Viễn Sơn.

    “Bộ phim kể về một đám trẻ không nhà không nơi nương tựa. Trong cảnh quay này đứa trẻ làm việc trong bar muốn ứng lương trước. Nó đến gặp anh, anh cười hừ bảo: ‘Mấy thanh niên như chú em thì anh đây gặp thừa, chú em tính than mẹ bệnh nặng hay bố tai nạn? Không xài được đâu, tích miếng đức cho gia đình đi’. Sau đó nó trả lời: ‘Bố mẹ tôi chết lâu rồi’, nó quay người đi mất, anh biểu cảm khúc đó là xong.”

    “Có hai câu này thôi anh Trì, đơn giản lắm.”

    Trì Viễn Sơn nghe thế trêu: “Ra là gọi tôi tới diễn vai người xấu.”

    “Xấu à?” Tạ Tư Vĩ ngẫm nghĩ: “Có lẽ chỉ là một người bình thường thôi, chắc hẳn anh ta đã gặp phải rất nhiều trẻ vị thành niên không tốt.”

    Vốn chỉ là câu đùa, câu trả lời của Tạ Tư Vĩ lại khiến Trì Viễn Sơn thoáng ngạc nhiên.

    Thật dễ dàng để đánh giá một người cách phiến diện thông qua một lời nói, nhưng thật khó để thoát khỏi sự chi phối của cảm xúc và nghĩ sâu sắc hơn đại đa số mọi người.

    Từ góc độ điện ảnh, mỗi vai diễn là trang giấy hay là một con người bằng xương bằng thịt nằm ở suy nghĩ nơi bề sâu của biên kịch và người đạo diễn.

    Bây giờ y đã hiểu rõ vì sao Tạ Tư Vĩ có thể trở thành phó đạo diễn của Chung Độ, thế là cười vỗ vai cậu ta, đáp: “Đạo diễn Tạ quả xứng chức! Rất có chiều sâu.”

    Tạ Tư Vĩ ngượng nghịu cười cười: “Bấy nhiêu chiều sâu đó được thể hiện ra bằng cách nào phải nhờ cậy ảnh đế Trì đây rồi.”
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 18


    Trước lúc bắt đầu Chung Độ không dặn dò gì nhiều với Trì Viễn Sơn, anh chỉ nói: “Đừng nghĩ mình đang diễn, cứ tự nhiên như đang nói chuyện bình thường là được, thêm thắt cũng không đáng kể.”

    Anh không giảng giải cho Trì Viễn Sơn biết y nên sử dụng tông giọng thế nào để biểu đạt cảm xúc ra sao. Đây vốn là vai diễn tại nơi quá quen thuộc với thân phận của Trì Viễn Sơn, chỉ cần thể hiện một cách tự nhiên là đủ, làm quá trái lại sẽ khiến y lo lắng.

    Trì Viễn Sơn cũng không làm Chung Độ phải thất vọng. Mặc dù đây là lần đầu tiên y diễn, ánh sáng và máy quay bao vây tứ phía, bạn diễn lại trông rất chuyên nghiệp, song y đã diễn rất thoải mãi

    Có lẽ bởi đây là địa bàn của mình, cũng là lẽ là bởi người ngồi giám sát đằng sau máy quay là Chung Độ.

    Khi bạn diễn thoại xong câu: “Bố mẹ tôi chết sớm”, y ngẩng lên nhìn bóng dáng đứa trẻ rời đi, cảm xúc trong mắt là nỗi kinh ngạc, không đành lòng và cả hối hận, mọi sự coi rẻ miệt thị trước đó đều đã biến mất.

    “Cut! Kết thúc!”

    Chung Độ hô cut, đứng dậy đi về phía Trì Viễn Sơn.

    Trì Viễn Sơn còn đứng sững ở đó, chưa hiểu vì sao mới quay một lần đã qua.

    Thấy Chung Độ đi tới, y đùa: “Xem ra hai câu thoại của em không quan trọng thật ha. Dân nghiệp dư cỡ em thoại đại mà cũng một lần qua được à?”

    Chung Độ chỉnh lại gấu áo cười: “Có thể là do thầy Trì có tài năng thiên bẩm?”

    “Quay xong hết rồi à?”

    “Xong rồi, đây là cảnh cuối, đứa trẻ kia sẽ không quay lại.”

    “Thế ông chủ quán bar có cho cậu bé đó tiền không?” Trì Viễn Sơn tò mò hỏi.

    Chung Độ đưa mắt nhìn y, không trả lời mà hỏi ngược lại: “Cậu nghĩ sao?”

    “Em nghĩ là cho, cho dù cậu bé đi rồi nhưng vẫn chuyển vào tài khoản được mà.”

    “Ừ, vậy thì cho.”

    Trì Viễn Sơn hơi khó hiểu nhìn Chung Độ, anh lại lắc đầu chẳng nói gì, đẩy y về phía Bạch Kinh Nguyên: “Đừng nghĩ nữa, ăn cơm nào.”

    Trì Viễn Sơn hiểu rồi, không hỏi nữa.

    Theo phong cách xưa nay của Chung Độ, e là ông chủ sẽ không cho tiền. Bất kể ông chủ bar ấy là hạng người gì, cho dù cảm xúc dâng lên trong tức khắc đó vẫn chưa chắc số tiền ấy sẽ đến tay đứa trẻ. Mỗi người ai cũng khó cái khó riêng đấy thôi?

    Nghĩ vậy, Trì Viễn Sơn bỗng muốn hỏi nhiều thêm nữa. Chẳng hạn như vì sao anh không trả lời thật, mà lại theo lời mình bảo là cho?

    Không nghĩ nhiều được, lần mò sâu thêm y sẽ đắc ý tung trời mất.

    Một lát sau, Nghiêm Tùng Thanh có mặt, cả đoàn chuẩn bị đi ăn cơm.

    Bạch Kinh Nguyên không nói Chung Độ dẫn cả ekip theo, chỉ để mỗi Tạ Tư Vĩ ở lại. Trì Viễn Sơn cũng chỉ gọi Nghiêm Tùng Thanh, là Chung Độ nhờ y gọi cậu ta đến, bảo là Nghiêm Tùng Thanh đã giúp đỡ đoàn phim rất nhiều.

    Không ngờ trước khi ra cửa lại đụng phải Lâm Thu Huyền.

    Lâm Thu Huyền tạt ngang qua uống tách trà. Dạo này tiến độ viết chậm rì, hở ra là chê trà ở nhà dở, lúc thì càu nhàu hoa cỏ trong nhà nhìn phát ngán không đẹp bằng lọ hoa trong quán, tóm lại ở đâu Lâm Thu Huyền cũng không có hứng.

    Vừa mở cửa vào thì bắt gặp nhóm người chuẩn bị ăn cơm. Chung Độ mời, Lâm Thu Huyền cũng không ái ngại mà theo ngay. Dạo này anh ta ở nhà tới “mốc” cả ra rồi, cấp thiết cần hơi đám đông kéo dài sự sống.

    Trà nước phục vụ đến nơi, lúc này Chung Độ mới chính thức giới thiệu mấy người lạ mặt hai bên.

    Bạch Kinh Nguyên không lạ gì cái tên Lâm Thu Huyền, suy cho cùng đều là người trong giới. Lâm Thu Huyền đương nhiên biết Chung Độ và Bạch Kinh Nguyên hợp tác với nhau đã vài năm. Hai người chuyện trò mấy câu đã thân thiết, đã thế còn hợp nhau đến lạ.

    Nhưng Bạch Kinh Nguyên chưa quên mục đích chính đêm nay. Đợi món ăn và rượu ra đủ, anh ta rót một ly mời Trì Viễn Sơn: “Ông chủ Trì, cả chiều luôn tay không nói chuyện được với nhau mấy. Lần đầu gặp mặt mạn phép mời ông chủ một ly, suốt mấy hôm rồi toàn nghe họ kể tốt về ông chủ mãi.”

    “Không kể xấu là được rồi.” Trì Viễn Sơn cười đứng dậy, đang định lấy ly rót rượu thì bỗng có ly trà xuất hiện từ bên kia.

    “Tự uống đi, cậu ấy uống trà.” Chung Độ lia mắt sang Bạch Kinh Nguyên, thong thả nói.

    Nói xong cũng không buồn giải thích.

    Cảnh tượng sao mà trông quen quen. Trì Viễn Sơn nhướng mày cười, không chống cự gì mà đặt ly rượu xuống nhận tách trà Chung Độ đưa tới: “Xin lỗi thầy Bạch, thầy Chung đã lên tiếng thì tôi phải nghe vậy, xin phép anh lấy trà thay rượu.”

    Đêm nay Trì Viễn Sơn rất phiêu, nói một cách nghiêm túc thì trò đùa này đi hơi quá trớn rồi. May mà Chung Độ chỉ cười, không nghĩ nhiều cũng không để bụng.

    Bạch Kinh Nguyên uống cạn ly rượu, không nói nổi nửa chữ. Anh ta biết nói gì bây giờ? Đang tính móc méo bóng gió, lần lần từng bước rồi cuối cùng đánh thẳng cửa Trì Viễn Sơn cho ra nhẽ. Ai mà ngờ người ta chơi chiêu lộ bài, chưa gì đã đánh phủ đầu.

    Tầm này biết nói gì nữa? Đôi mắt cười của Trì Viễn Sơn thay lời cả rồi.

    Lâm Thu Huyền ngồi cạnh Bạch Kinh Nguyên thư thả rót rượu cho anh ta, nghiêng sang nhướng mày nâng ly, khóe môi nhuốm ý cười: “Hai ta uống chứ, thầy Bạch.”

    Hai người cụng ly, nhìn nhau, mọi sự đều không thành lời.

    Tạ Tư Vĩ sau một khoảng thời gian quan sát rất lâu, lơ ngơ hết mấy ngày cuối cùng não cũng xử lý kịp. Bây giờ cậu ta đang nhìn Trì Viễn Sơn và Chung Độ nói chuyện với nhau, hồi tưởng lại đủ thứ diễn vài ngày qua, cuối cùng mới bắt kịp Bạch Kinh Nguyên.

    Tạ Tư Vĩ rõ ràng Chung Độ thay đổi. Mặc dù không biết bản thân anh có ý thức được không, nhưng với tư cách người chứng kiến ở góc nhìn thứ ba, cậu ta sâu sắc cảm nhận được cách đối đãi mà Chung Độ dành cho Trì Viễn Sơn hoàn toàn khác với tất cả mọi người.

    Trì Viễn Sơn thì sao? Trì Viễn Sơn nghĩ thế nào? Mặc dù Tạ Tư Vĩ không biết nhiều về y, nhưng nhớ lại hồi Chung Độ bị sốt Trì Viễn Sơn trong điện thoại không kiềm chế nổi sự lo lắng, nhớ hôm Chung Độ nổi giận Trì Viễn Sơn đến pha trà dỗ anh, thấy Trì Viễn Sơn chuyên tâm nhìn Chung Độ cười giờ khắc này, tất cả đều được lý giải.

    Cậu ta bắt chước Bạch Kinh Nguyên, nâng ly giả bộ trầm lắng cụng ly với Nghiêm Tùng Thanh ngồi cạnh. Hai đứa nhóc còn bắt tay nhau, lần lượt nói với nhau: “Nhờ cậu.”

    Kể ra thì buồn cười, nhìn lại cả bàn chỉ có mỗi Chung Độ người trong cuộc chưa tỏ mà ngoài ngõ đã tường, ai nấy nhìn vào đều biết cả.

    Đương sự Chung Độ đang nói nhỏ với Trì Viễn Sơn ngồi bên: “Đừng trách tôi lo lắm, cậu ăn gì đó dằn bụng rồi hãy uống.”

    Trì Viễn cười đáp lời.

    Nghĩ bằng đầu ngón chân cũng ra tuyệt nhiên Chung Độ chưa bao giờ là người thích can thiệp chuyện người khác. Thêm cả lần ăn mì trước, đã hai lần cản mình rồi, suy cho cùng cũng vì lo cho mình sợ mình đau dạ dày. Chí ít bấy nhiêu đã thể hiện rõ với Chung Độ Trì Viễn Sơn không giống mọi người, thế nên y làm sao trách anh lo nhiều được, vui còn không kịp.

    “Tư Vĩ nói với cậu rồi phải không. Ngày mai bọn tôi sẽ bắt đầu quay ngoại cảnh, hôm nay tôi đã bảo mọi người chuyển đồ quán về nguyên trạng cho cậu, ngày mai là mở lại được rồi.”

    Trì Viễn Sơn “ừm” một tiếng, do dự hỏi: “Các anh còn quay ở Trường Nam bao lâu nữa?”

    “Khó nói trước được, tùy ông trời vậy, tối đa một tháng.”

    Nói đến đây, Chung Độ thoáng khựng, cuối cùng nói lời hôm ấy đã cất vào trong ra: “Quay xong bọn tôi về Thành Bắc. Trong thời gian hậu kì tôi phải theo sát sao một thời gian, nếu có rảnh thì cậu đến chơi. Xong xuôi tôi không cần ở đó nữa, bên công ty cũng không cần tôi có mặt, đến lúc đó tôi có thể về Trường Nam ít lâu.”

    Anh rât hiếm khi nói một cách chật vật như thế, mà nói ra đồng nghĩa với việc kéo Trì Viễn Sơn về phía mình thêm một chút. Mặc dù không biết làm vậy là có đúng hay không, nhưng lần nữa nhìn Trì Viễn Sơn khiến lòng mình mềm tan ra giờ phút này, anh càng không thể nói những gì mình không làm được.

    Chung Độ tưởng rằng mình đã hiểu Trì Viễn Sơn, tưởng rằng y chỉ muốn thân thiết với mình hơn một đôi chút. Chung Độ đáng thương đến cả môn kết bạn thật tâm thật dạ anh còn chưa học xong, làm sao nghĩ đến chuyện nhảy lớp lên thẳng môn yêu đương cho được.

    Dẫu thế, Trì Viễn Sơn nhận được kẹo ngọt mà vừa mừng vừa lo. Y để ý Chung Độ nói chính xác là “về” Trường Nam, không gì khiến y mừng rỡ hơn thế nữa.

    Khóe mắt y cong cong, đuôi mày nhếch lên, cười hệt như một đứa trẻ. Chung Độ nhìn Trì Viễn Sơn, trái tim đánh thịch không kiềm lòng nổi đưa tay xoa mái tóc mềm bồng bềnh của y. Bạch Kinh Nguyên ngồi đằng đối diện chớp thời cơ móc điện thoại chụp ngay một tấm, lẩm bẩm: “Chậc, đúng là cảnh tượng tình huynh đệ xã hội chủ nghĩa.”

    Tiếng tách làm nửa cái bàn giật bắn, Bạch Kinh Nguyên không buồn quan tâm, thản nhiên giơ điện thoại cho Lâm Thu Huyền xem.

    Lâm Thu Huyền hiếm khi gặp được người chung chí hướng, sau một lúc sững sờ bỗng bật cười không ngưng được một cách khó hiểu, cái vỏ văn nhã lưu manh muốn văng cả ra. Mới vừa nãy Lâm Thu Huyền cũng vô thức tính móc điện thoại ra chụp, cơ mà kiêng dè thân phận của Chung Độ nên mới không ra tay, Bạch Kinh Nguyên thì mặc kệ tất.

    Bạch Kinh Nguyên chẳng những chụp mà tối về khách sạn còn cố tình lượn lờ sang phòng cho Chung Độ thấy. Anh ta biết tỏng rồi, Trì Viễn Sơn là một cậu đẹp trai, từng cử chỉ từng ánh mắt đong đầy cảm xúc mến thích dành cho Chung Độ. Còn Chung Độ ở đây thì sao? Y hệt tên cô hồn dã quỷ không nơi nương tựa, vật vờ du đãng trên con phố không biết tên.

    Bậc thầy tình yêu Bạch Kinh Nguyên tới cho lời khuyên đây.

    Lúc đó, Chung Độ vừa tắm xong đang thay áo ngủ, đeo mắt kính ngồi trên sô pha xem kịch bản.

    Điện thoại gí sát mặt, anh nheo mắt vài giây, thản nhiên lên tiếng: “Gửi cho tôi.”

    “Mỗi thế? Không còn gì để nói hả?” Bạch Kinh Nguyên nhìn anh chòng chọc.

    Đôi ngươi nâu sẫm sau cặp kính của Chung Độ thoáng bối rối: “Nói cái gì nữa? Chụp đẹp lắm à?”

    Bạch Kinh Nguyên thừa lòng kiên nhẫn, dẫn dắt từng bước một: “Không phát hiện ra cái gì khác hả?”

    “Ừ… bọn tôi rất đẹp trai?”

    Nhìn bộ mặt khó hiểu thật sự của Chung Độ, Bạch Kinh Nguyên phục lăn.

    Trong tấm hình, ý cười của cả hai đầy tràn ánh mắt, thêm cả hành động thân mật của Chung Độ nữa, nhìn có khác đếch gì một đôi đực rựa yêu nhau đâu. Nếu giờ bán tấm hình này cho mấy tay săn ảnh, chưa đầy mười hai tiếng sau cái tên Chung Độ sẽ chễm chệ trên hot search, vậy mà cái tên này cứ ngờ ngờ nghệch nghệch không tự nhận thức được.

    Bạch Kinh Nguyên cạn lời, giật điện thoại lại đi thẳng, trước lúc ra khỏi cửa không nhịn được hỏi thêm: “Cậu chấp nhận đồng tính luyến ái được không?”

    Chung Độ đẩy mắt kính, nhướng mi nhìn Bạch Kinh Nguyên khó hiểu: “Tôi không chấp nhận cậu còn đứng ở đây được?”

    “Tôi không bảo tôi, bảo cậu đấy, chính cậu.” Bạch Kinh Nguyện điên tiết muốn hộc máu: “Thôi thôi thôi, cậu thắng, để tôi chống mắt lên xem bao giờ thì cậu mở cái não ra.”

    Tức thì tức, Bạch Kinh Nguyên vẫn rất mừng rỡ.

    Mấy năm rồi xung quanh Chung Độ như có cái lồng kính ngăn cách. Người ta nhìn thấy anh, nhưng không thể chạm tay đến. Những cuộc trò chuyện như vừa rồi chưa bao giờ diễn ra giữa hai người, Chung Độ tuyệt nhiên không biết nói đùa, càng không bao giờ trả lời những câu hỏi bản thân chưa hiểu rõ.

    Cơ mà, cái tên đầu gỗ này đúng là làm người ta nhức cái đầu.

    Bạch Kinh Nguyên không biết Trì Viễn Sơn nghĩ gì, không thể nói thẳng toẹt ra với Chung Độ, đồng thời cũng không muốn cướp mất trải nghiệm tình yêu chớm nở lần đầu tiên trong đời của Chung Độ. Nhưng với cái tiến độ hiện tại thì, để Chung Độ tự cảm giác ra thì không biết đến ngày tháng năm nào.

    Tế bào yêu đương của một chàng trai trẻ đẹp tài năng như kia lại chết yểu hết lượt. Bạch Kinh Nguyên thở dài, nhủ thầm: “Trì Viễn Sơn đáng thương.”

    Tác giả có lời muốn nói:

    Đừng nóng vội nha, hồ lô đầu gỗ sẽ hiểu ra sớm thôi ~ P.S Bộ này có cp phụ, cơ mà đất diễn không nhiều.
     
    Đêm Giao Thừa
    Chương 19


    Hôm sau, đoàn phim đổi địa điểm quay, nhóm Chung Độ cũng dọn ra khỏi quán bar trên đường Vân Đài.

    Trì Viễn Sơn lại mở cửa, quán trà vẫn tĩnh lặng như thường lệ.

    Khi y vào quán, Lâm Thu Huyền đang ngồi ở chỗ cũ gõ phím lọc cọc, Yến Tiếu Ngữ muốn mò sang xem lén lắm mà vẫn ráng chịu đựng như thường lệ, vài vị khách quen thuộc vài ngày không đến nay vẫn đều đặn ghé như trước.

    Dường như tất thảy đã trở về nguyên trạng, tim Trì Viễn Sơn bỗng trống vắng đến khó hiểu.

    Quãng thời gian vừa qua như một giấc mơ không có thực, để đến hôm nay cuối cùng cũng phải thức giấc.

    Y vốn nào phải người lo được lo mất, lần này sao lại khang khác.

    Suy cho cùng cũng bởi trái tim vẫn chưa về hiện thực.

    Khi quan hệ giữa người với người nảy nở, đa phần cần thời gian gom góp và lắng đọng. Có gần gũi mới có thấu hiểu, có thấu hiểu mới có được tín nhiệm.

    Trì Viễn Sơn và Chung Độ là ngoại lệ, vài ngày bên nhau ngắn ngủi đã đủ để cả hai tin tưởng lẫn nhau, nhưng lại chẳng thấu hiểu người kia được bao nhiêu.

    Gặp nhau thường xuyên nên không cảm nhận được, một khi xuất hiện khoảng cách như thế, cảm xúc rối ren trong lòng lại càng được nước lấn đến.

    Người có lý trí và sức kiềm chế cao đến đâu cũng phải đầu hàng trước tình yêu. Vài ngày liên tục đã qua, Trì Viễn Sơn không sao lên tinh thần nổi. Ban ngày y ngồi dưới quán trà ngơ ngác, ban tối lại lên bar chơi trò trầm lặng. Người quen tới muốn uống rượu cùng y không buồn uống, thỉnh thoảng có ban nhạc còn thấy ồn ào chui vào phòng nghỉ.

    Nghiêm Tùng Thanh sầu muốn chết, mấy bữa nay cậu ta đâu dám lượn lờ trước mắt Trì Viễn Sơn.

    Nghiêm Tùng Thanh là thanh niên thẳng tăm tắp chưa yêu ai bao giờ, vẫn chưa nếm trải nỗi đau tình ái, thậm chí còn thấy Trì Viễn Sơn quá là khó hiểu. Cậu ta đang phàn nàn với Nghiêm Tùng Đình tới đón: “Thầy Chung đi quay là chuyện công việc chứ bộ, chả nhẽ lại không dời chuyện khác ra sau, chờ người ta quay phim xong tính tiếp được à? Cái ông anh này cả ngày cứ như gái mới lớn thất tình á, anh nghĩ cách giải quyết lẹ đi kìa.”

    Cậu ta cho rằng những chuyện thế này chỉ có thể nhờ cậy Nghiêm Tùng Đình, trong cả nhóm thì chỉ có Nghiêm Tùng Đình là anh lớn đáng tin cậy nhất.

    Nghiêm Tùng Đình nghe vậy thì không nói gì, định tự quan sát xem tình hình thế nào. Anh ta hiểu rõ thằng em mình quá rồi, phàm là chuyện gì dính tới Trì Viễn Sơn là cứ ầm ĩ loạn lên.

    Gõ cửa phòng nghỉ Trì Viễn Sơn, Nghiêm Tùng Đình ngó vào gọi: “Viễn Sơn, khách về gần hết rồi, ra đây ngồi một lát?”

    “Anh Đình à, đến từ bao giờ vậy?” Trì Viễn Sơn nghe tiếng nhìn sang, vừa đáp vừa đứng dậy theo Nghiêm Tùng Đình ra ngoài.

    “Mới tới, sao cậu lại chui trong phòng làm gì?”

    “Hỏi em anh đấy, mấy ngày nay cứ vẽ ra chủ đề gì không biết. Tối qua là “Tuổi mười tám”, làm khách khứa khóc nức nở, hôm nay lại là “Mất ngủ”. Khá thật, anh không thấy cái điệu hồi nãy đâu, cứ như bọn họ mất ngủ là cả thế giới này khỏi được ngủ theo ấy.”

    Mỗi đêm quán bar sẽ có một chủ đề, ban nhạc sẽ hát những ca khúc liên quan đến chủ đề được đặt ra ấy, cả ánh sáng và rượu cũng sẽ có một chút thay đổi cho hợp hoàn cảnh.

    Chủ đều không được không báo trước, mỗi vị khách bước vào bar sẽ như bước vào hộp mù. Có lẽ sự hiếu kỳ ông trời ban cho nhân loại là nguyên nhân khiến bar của Trì Viễn Sơn dù đã hoạt động được vài năm vẫn liên tục giữ sức nóng bền bỉ.

    “Em trai tôi chăm chỉ muốn cho quán cậu thêm sức sống đấy chứ.” Nghiêm Tùng Đình cười.

    Trì Viễn Sơn thoạt trông vẫn rất bình thường, nhưng Nghiêm Tùng Đình hiểu y quá rõ, chỉ cần nghĩ ngợi gì trong bụng sẽ bắt đầu ngại ồn ào.

    Quả nhiên, câu tiếp theo y nói là: “Em cảm ơn nhóc ấy lắm, làm lỗ tai em đau điên lên.”

    Đang lúc nói chuyện hai người vừa ra đến sân khấu, Nghiêm Tùng Thanh nghe thấy câu Trì Viễn Sơn vừa nói, nhóc trai thẳng lập tức cất bản mặt buồn hiu, gân cổ đâm chọc: “Em bảo anh già anh còn cứ chối đây đẩy, anh thử qua bar nhà người ta đi? Coi người ta làm ầm ĩ rần rần lên cỡ nào ấy.”

    “Ai thích gì làm đó, ngày mai cậu mà còn tra tấn anh, thể nào anh cũng bảo anh Đình vứt quách cái máy game gủng của cậu đi cho rồi.”

    Mắt Nghiêm Tùng Thanh trợn ngược: “May mà anh đồng tính á, không mai mốt con anh nó báo cảnh sát mất. Ông bố gia trưởng điển hình.”

    Bartender Đông Tử đứng quầy nghe hai người đấu võ miệng mà cười phì, ngày nào cũng y hệt đi coi kịch.

    Vở kịch hôm nay là kết thúc mau chóng, Trì Viễn Sơn làm lơ Nghiêm Tùng Thanh, quay sang nói chuyện với Đông Tử: “Cho anh ly sữa.”

    Đông Tử bật cười: “Sữa ấy hả? Em có nghe lộn không? Sao lại? Anh không sợ người ta cười cho à?”

    “Già rồi, dưỡng sinh. Được nữa thì ngâm miếng kỷ tử vào giùm anh.”

    Y bịa chuyện với vẻ mặt nghiêm trang, Nghiêm Tùng Thanh chậc lưỡi một tiếng, đặt cái ly xuống bàn rồi chống tay lên quầy bar đứng dậy: “Coi bộ em tự xen vào việc người ta, anh Đình mình đi thôi, kệ ổng.”

    Mọi người không biết vì sao y không uống rượu, còn Nghiêm Tùng Thanh thì rõ quá rồi, hôm ăn cơm đó cậu ta ngồi chình ình ở đó chứ đâu.

    Nghiêm Tùng Thanh có vẻ định đi thật, cầm áo khoác đút tay vào túi quần, hai ông anh không buồn nhìn cậu ta, im ắng ngồi đó.

    Các nhân viên lần lượt tan ca, Đông Tử vừa đưa sữa cho Trì Viễn Sơn cũng đã về rồi. Lúc bấy giờ xung quanh không còn ai, Nghiêm Tùng Đình mới quên tiếng: “Có chuyện thì nói ra, đừng im ỉm giấu trong lòng.”

    “Hả?” Trì Viễn Sơn lạ lùng đưa mắt sang, lát sau mới hiểu ra: “Không có gì đâu, lại nghe thằng em anh vớ vẩn.”

    “Thật sự không có gì?”

    “Thật.” Trì Viễn Sơn thư thả ngồi, nhâm nhi cốc sữa trong tay cứ như đang thưởng thức rượu vang: “Triển vọng đẹp mà, em suy nghĩ vớ vẩn thôi.”

    “Đừng nghĩ linh tinh, chuyện gì cũng phải làm từng bước, không vội được. Muốn ăn quả thì phải trồng cây, rồi tưới nước bón phân thì tự khắc có quả.”

    Một cách diễn giải chung chung mà hợp lý, Nghiêm Tùng Đình vẫn luôn là người sáng suốt như xưa nay.

    Trì Viễn Sơn còn chưa đáp, Nghiêm Tùng Thanh xách áo khoác về đã xen vào: “Đúng đấy, thầy Chung của em đang phải quay phim gấp rút còn gì? Trì Viễn Sơn anh chịu khó hiểu tí đi.”

    Nếu là bình thường Trì Viễn Sơn đã cho cậu ta một cái cốc vào đầu, hôm nay lại mặc kệ chẳng ừ hử. Nghiêm Tùng Thanh cũng tự hiểu, kéo Nghiêm Tùng Đình chạy mất hút.

    Hai anh em đi rồi, quán bar chỉ còn mình Trì Viễn Sơn, hai tai bị tra tấn cả ngày rốt cuộc cũng được yên.

    Y ngồi một mình bên quầy bar, chậm rãi uống ly sữa của mình.

    Y vẫn hiểu hết đấy chứ, nào thật sự không hiểu chuyện như Nghiêm Tùng Thanh nói. Nếu không mấy ngày trước Chung Độ quay phim ở bar y phải chường mặt tới mỗi ngày cho người ta thấy mới đúng, sao lại không muốn làm phiền anh tới độ không mảy may xuất hiện.

    Nhưng quá nhiều yếu tố thiếu chắc chắn, trái tim chênh vênh lại càng khiến y chẳng tài nào khống chế.

    Trì Viễn Sơn uống cạn sữa, đứng dậy đi tới sân khấu.

    Bar đã đóng cửa, mấy ngọn đèn còn sót lại cũng đã buồn ngủ mệt nhoài. Người trên sân khấu trơ trọi mộ mình, ngồi xuống, cái bóng kéo dài đến bất tận.

    Trì Viễn Sơn ôm ghita, hòa với chủ đề hôm nay ngân nga ca khúc “I Don’t Sleep Well”.

    Một khoảng sân khấu nho nhỏ, một chiếc ghita mộc dây sắt. Y hát đến dại khờ, trái tim đang yêu nồng nàn mà thận trọng giấu kín, giọng hát khẽ khàng như thầm thì.

    Một chút cảm xúc vụn vặt, một người nhớ thương, nếu kết cục giống như trong bài hát viết, sợ rằng y sẽ mất ngủ.

    Đêm khuya khoắt, quán bar không người và ông chủ đang hát một mình, cảnh tượng sao mà vắng lặng. Hai anh em vừa quay về nhất thời cùng sững người trong bóng tối.

    Nghiêm Tùng Đình vừa bị Nghiêm Tùng Thanh kéo tay chạy mất để quên điện thoại trong quầy bar, quay lại thì tình cờ bắt gặp.

    Hai người không quấy rầy Trì Viễn Sơn, chỉ im lặng đứng ở đầu cầu thang.

    Nghiêm Tùng Thanh mở máy ảnh điện thoại, quay về phía người trên sân khấu.

    Đây là nhật ký của fanboy, đồng thời là chứng cứ cây vạn tuế ra hoa.

    Giữa mấy câu hát cuối cùng, Nghiêm Tùng Đình bỗng lên tiếng: “Mới có câu không thể giấu được ánh mắt của người đang yêu, sau này em yêu đương đừng có giấu giếm không dám đưa về, anh có ăn thịt em đâu.”

    Nghiêm Tùng Thanh tắt điện thoại, khó hiểu lia mắt sang: “Cô gái em yêu chẳng biết đang hát ở đâu nữa. Có anh đó, yêu người nước ngoài bao năm rồi em còn chưa được thấy mặt chị dâu, bộ em anh thì ăn thịt anh chắc.”

    Nghiêm Tùng Đình cười cười không đáp. Hai anh em định chờ một lúc nữa mới vào, vậy mà Trì Viễn Sơn xuống khỏi sân khấu cầm điện thoại đi thẳng về chỗ họ đứng.

    Trì Viễn Sơn nhét điện thoại vào tay Nghiêm Tùng Đình, xách túi xuống lầu, để lại một câu: “Gửi video cho anh.”

    Màn đêm thăm thẳm, gió buốt. Y vừa đi vừa rụt cổ, móc điện thoại gửi video Nghiêm Tùng Thanh vừa bắn sang cho Chung Độ, còn nhắn kèm: Thằng nhóc kia lén quay em, anh xem có giống phim ma không cơ?

    Nghiêm Tùng Thanh quay từ đằng xa, từ video không thấy khuôn mặt của y. Xem sơ qua video không khác gì phim ma ngắn quay ẩu tả hơi tức cười, bởi vậy y mới yên lòng gửi cho Chung Độ.

    Dạo này y hay gửi mấy thứ thú vị cho Chung Độ, đêm nay cũng là định nhắn gì đó cho anh vui, không ngờ chốc lát sau Chung Độ lại gọi điện tới.

    Khi đó Trì Viễn Sơn đã về đến cổng khu dân cư, y ngạc nhiên nghe máy: “Anh còn thức à?”

    “Ừ, hôm nay quay cảnh tối, vừa tắm rửa xong.” Giọng Chung Độ có phần do dự: “Hôm nay tâm trạng không vui à?”

    Trì Viễn Sơn thoáng khựng bước, vô thức siết chặt điện thoại, sau đó vờ như thản nhiên cười cười: “Đâu có, bữa nay Tùng Thanh ra chủ đề mất ngủ trong quán, khách khứa về hết rồi nên em cũng tận hưởng một tí.”

    Chung Độ nhất thời không nói gì, thật ra anh gọi điện thoại là vì lúc xem video đã cảm giác tâm trạng Trì Viễn Sơn không được tốt. Bây giờ nghe giọng y và cả lý do đều ổn thỏa, thế nhưng Chung Độ không quá tin.

    Anh thở dài, giọng thật trầm: “Cậu bảo sau này nếu có buồn hay đau thì nói với cậu. Cậu cũng vậy, lúc nào tâm trạng không được vui có thể tâm sự với tôi.”

    Đường về yên tĩnh, giọng Chung Độ phát ra từ điện thoại khiến người ta an tâm lạ lùng. Chỉ là Trì Viễn Sơn không thể kể cho anh nguyên nhân mình không vui được.

    Y giẫm lên mấy viên đá ven đường, buột miệng bịa cớ: “Thật không có gì đâu mà anh. Tối nay hơi ồn ào, em vào phòng nghỉ cho yên tĩnh, bật đèn, tự nhiên hơi nhớ anh.”

    Ngoài cổng khu dân cư có người lái xe ra, đèn chiếu chói cả mắt. Trì Viễn Sơn bị bất ngờ vô thức bật ra một cậu nghe ái muội như thế.

    Nói xong rồi mới phát giác không đúng chỗ, suýt thì cắn vào lưỡi.

    Chung Độ không nghĩ gì, anh vẫn đặt nặng mọi điều Trì Viễn Sơn nói ra như mọi lần: “Cũng không xa mấy, muốn gặp tôi thì mình gặp nhau đi. Hôm nào quay xong sớm tôi sang chỗ cậu, hay là bao giờ cậu rảnh chúng ta đi ăn cơm. Bên khúc này có quán đồ cay Tứ Xuyên mới mở, chắc cậu sẽ thích.”

    Trì Viễn Sơn nghe anh nói liên miên, y cầm điện thoại ngẩng mặt lên. Trời đêm nay không sao, áp suất không khí thấp, mũi y hơi xon xót. Cảm xúc bị kiềm nén suốt những ngày qua bỗng dâng ứ, rồi lại tan thành mây khói giữa bầu không khí khiến người ta an tâm một cách khó hiểu này. Y cười đáp: “Vâng.”

    Hai người chuyện trò thêm vài câu rồi mới chúc ngủ ngon cúp máy. Chung Độ đặt điện thoại xuống mới nhớ ra chưa lau tóc, vừa lau vừa ngẩn ngơ.

    Kể cả Trì Viễn Sơn trong video lẫn Trì Viễn Sơn nói chuyện điện thoại với mình đều không ổn. Anh nghĩ tới một khả năng nào đó, nhưng cuối cùng vẫn quy về mình tự đa tình, thế là cười giễu quẳng hết chúng ra sau.

    Mấy ngày tiếp theo, những lần liên lạc nói chuyện với nhau không ai nhắc lại cuộc điện thoại hôm ấy.

    Nhưng Chung Độ nhớ chuyện mình đã đồng ý với Trì Viễn Sơn rất lâu.

    Sáng sớm hôm ấy, vừa đến studio anh đã nhắn Wechat cho Trì Viễn Sơn: “Tôi xem, tầm chiều mai quay xong sớm. Cậu có rảnh không?”

    Sau đêm nọ, tâm trạng của Trì Viễn Sơn đã từ âm u biến thành xanh trong. Đương nhiên y rảnh, không rảnh cũng phải rảnh, trả lời bằng tin nhắn thoại: “Em rảnh đây, lãnh đạo có chỉ thị gì?”

    “Học ở đâu ra thế này?” Chung Độ cũng trả lời bằng tin nhắn thoại, trong giọng nói lẫn ý cười: “Không có gì, nếu cậu rảnh tối chúng ta đi ăn bữa cơm chứ?”

    “Được, mình kiếm quán hay lại làm sủi cảo. Chỗ anh quay cũng gần sân vườn lắm.”

    Chung Độ nghĩ ngợi, anh vẫn muốn ăn sủi cảo Trì Viễn Sơn gói. Nhưng nói ra miệng cứ thấy ngượng nghịu thế nào, anh đành chấp nhận gõ tin nhắn: “Muốn ăn sủi cảo của thầy Trì.”

    Anh hoàn toàn không có ý định buông tha cách gọi này, Trì Viễn Sơn cười cười: “Ừm, vậy mình ăn sủi cảo. Có thầy Bạch với Tư Vĩ không?”

    “Không cho đi, hai người đó chỉ biết ăn chứ không chịu gói. Tôi gói cũng chậm nữa, nhiều người cậu sẽ mệt cho xem.”

    Tin nhắn thoại tiếp theo được gửi, Chung Độ ấn nghe mà không hiểu sao lại phát loa ngoài, thế là Bạch Kinh Nguyên sượt ngang cũng nghe thấy giọng nói hưng phấn của Trì Viễn Sơn: “Được, vậy chiều mai em đón anh nhé.”

    Bạch Kinh Nguyên đứng lại ngay lập tức, xỉa mắt sang nhướng mày trêu Chung Độ với điệu bộ dạng chó hình người: “Ồ, có hẹn đấy à? Dẫn tôi theo với?”

    Chung Độ chẳng buồn nhấc mắt, trả lời không suy nghĩ: “Không.”

    Bạch Kinh Nguyên chậc lưỡi, ngồi ngả ra ghế: “Chắc có mình cậu hẹn hò quá?”

    Nói đoạn, anh ta móc điện thoại gõ tin nhắn, gửi lời mời hẹn hò sang: “Tác giả Lâm, tối mai đi ăn cơm với tôi chứ?”
     
    Back
    Top Dưới