Cập nhật mới

Khác Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6

Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 8: Ông lão


我们立即停下来回头,同时又有谁惊叫了一声。

Chúng tôi lập tức dừng lại, quay đầu nhìn — cùng lúc đó, lại có ai đó hét lên một tiếng kinh hoàng.

这一声惊叫犹如厉鬼,我们只看见那边乱做一团,也不知道发生了什么。我们愣了一下,立即抄起家伙往惊叫的地方跑去。

Tiếng la hét hoảng loạn nghe như tiếng kêu của lệ quỷ, chúng tôi lập tức nhìn về hướng ấy, chỉ nghe được bên kia đang nháo nhào hết cả lên mà không biết đã xảy ra chuyện gì.

Chúng tôi đờ ra mất một lúc, rồi lập tức vơ vét đồ nghề chạy về nơi phát ra tiếng hét.

相隔不远,只听狗在狂吠,树影婆娑中也看不出他们为什么大叫。阿贵喝问:"出什么事了?"

Do cách nhau không quá xa, chẳng mấy chốc đã đến chỗ họ, nhưng chỉ thấy mấy con chó đang sủa nhặng xị, dưới bóng cây rậm rạp tôi cũng không nhìn ra vì sao bọn họ lại la ầm lên như thế.

A Quý quát lên: "Có chuyện gì vậy?"

"当心!草里面有东西!"前面的人叫道。刚叫完一旁的林子忽然有了动静,好似有什么东西正快速穿过灌木,动静很大,看来是只大型动物。

"Coi chừng!

Trong bụi cỏ có vật gì đó!"

Những người phía trước kêu lên.

Lời vừa dứt, cánh rừng bên cạnh chợt có động, hình như có con gì đó băng ngang bụi cây trong chớp nhoáng, gây ra tiếng động cực lớn, có lẽ là một động vật cỡ đại.

阿贵端起他的枪开了一枪,打在哪儿都看不真切,炸雷一样的枪响把远处的飞鸟全惊飞了,那动物一阵狂奔,隐入了黑暗中。

A Quý giương cao cây súng của mình, nã một phát, không biết đã bắn trúng nơi nào, tiếng súng nổ đùng đoàng như tiếng sấm dọa đàn chim phía xa giật mình nháo nhác bay đi, còn cái thứ gây ra tiếng động kia cũng lao đi băng băng rồi biến mất trong màn đêm.

我们冲到他们跟前,山上的几个也冲了过来,手电往林子里四处扫去,只见到灌木一路抖动,阿贵马上大叫:"放狗出去!"

Chúng tôi nhào đến trước mặt bọn họ, những người trên núi cũng lao tới, rọi đèn pin khắp cánh rừng mà chỉ thấy mấy lùm cây đang rung rinh.

A Quý lập tức thét to: "Thả chó!"

几个猎人打了声唿哨,猎狗一下就冲了出去,那气势和城里的宠物犬完全不同,一下前面就乱了套了,灌木摩擦声,狗叫声,不绝于耳。阿贵他们立即尾随而去,几个人应该都有打猎的经验,用当地话大叫了几声,散了开来跟着狗就往林子里跑。

Mấy người thợ săn huýt sáo, đám chó săn lập tức lao ra ngoài, khí thế hoàn toàn khác với đám chó cảnh trong thành phố, nhoáng cái mặt trước đã trở nên hỗn loạn, bên tai là tiếng bụi cây va quệt và tiếng chó sủa liên miên không dứt.

Đám A Quý lập tức bám đuôi, mấy người này đều có kinh nghiệm săn thú, hô to mấy tiếng bằng giọng địa phương rồi chia nhau ra, chạy theo đàn chó vào rừng.

我们想跟过去,阿贵回头朝云彩大叫了几声,云彩把我们拦住,说不要跟去,他们顾不了我们。黑灯瞎火的,猎人不能随便开枪,那野兽逼急了可能伤人。野兽,特别是豹子一类的猛兽非常凶狠,被抓上一下就是重伤,所以要格外的小心,我们没经验很容易出事,而且我不懂怎么围猎,去帮忙也是添乱。

Chúng tôi muốn đi cùng, nhưng A Quý đã quay lại la to vài tiếng với Vân Thái, cô bé liền ngăn cản chúng tôi, bảo đừng đi theo, bọn họ không rảnh mà để mắt đến chúng tôi.

Trong bóng đêm mịt mùng, thợ săn không thể tùy tiện nổ súng, dã thú kia bị dồn ép quá có thể sẽ nổi điên mà tấn công người.

Dã thú, đặc biệt là loại mãnh thú cực kỳ hung hữ như báo, chỉ cào một phát cũng đủ gây trọng thương, cho nên phải hết sức cẩn thận.

Chúng tôi không có kinh nghiệm nên rất dễ gặp nạn, hơn nữa tôi không biết vây săn là gì, đi giúp họ chỉ tổ vướng víu tay chân.

我自然是不肯,心说要论身手,闷油瓶还会给你们添乱?往前追了几步,却发现她说的添乱是另一回事。

Tôi đương nhiên không chịu, thầm nghĩ luận về thân thủ, Muộn Du Bình mà làm vướng víu tay chân mấy người sao?

Nhưng đuổi theo được vài bước, lại phát hiện cái vướng víu mà cô nói lại là chuyện khác.

猎狗训练有素,三只分开摆出队形,冲到了那东西前面,那东西遭到围堵立刻掉转往回跑,而后面就是围上去的几个猎人。狗和人一前一后,正好形成一个包围的态势。这需要包围圈每个人都有经验,否则猎物就可能找到突破点逃出去。

Chó săn đã được huấn luyện thuần thục, ba con tách khỏi đội hình lao đến trước mặt con thú kia; con thú kia bị vây kín, lập tức quay sang hướng khác mà chạy.

Phía sau là mấy tay thợ săn quây kín, chó và người một trước một sau, vừa vặn hình thành một vòng vây.

Mỗi người trong vòng vây này đều cần phải có kinh nghiệm, bằng không con mồi sẽ tìm được điểm yếu mà phá vòng vây chạy mất.

阿贵他们不停地叫喊,让猎物搞不清状况,不知道该往哪个方向逃,只能在包围圈里不停地折返。同时猎人们都举起了猎枪,不停地缩小包围圈。这是猎野猪的方法,我见过以前老家有类似的情形,猎稍微大点的动物都用这种方式。

Đám A Quý không ngừng la hét, đánh lạc hướng con mồi, khiến nó luẩn quẩn trong vòng vây không biết nên trốn chạy theo phương nào.

Đồng thời nhóm thợ săn đều đồng loạt giương súng, không ngừng siết chặt vòng vây, đây chính là cách săn lợn rừng.

Tôi đã từng thấy cảnh tượng như thế này ở quê, săn động vật lớn đều dùng cách thức này.

太久没看到打猎的真实情形,我们屏息看着,阿贵他们越逼越近,很快猎物已经进入猎枪的射程范围内,只是猎物不停地动,手电光无法锁定。这里的猎狗都是中型犬,猎得最多的是野鸡和野兔之类的小动物,所以也不敢贸然上去。如果是北方猎狼的大狗,在以一对三的形式下,早就冲上去肉搏了。

Đã lâu không được tận mắt chứng kiến một màn săn thú, tôi chỉ biết nín thở mà nhìn.

Đám A Quý càng siết càng gần, chẳng mấy chốc con mồi kia đã vừa vặn rơi vào tầm bắn của súng săn, chỉ có điều con mồi không ngừng di chuyển, ánh đèn pin không thể tập trung vào nó được.

Chó săn ở đây đều vào cỡ trung bình, cùng lắm cũng chỉ săn được mấy con vật nhỏ như gà rừng hay thỏ hoang, nên chúng không dám tùy tiện xông lên.

Nếu là giống chó săn sói cỡ lớn ở phương bắc, với hình thức lấy một chọi ba, thì đã sớm xông lên đánh sáp lá cà rồi.

磨蹭了半天阿贵他们也没有开枪,一般的猎物在这种时候都会犯错误,会突然冲向某个方向,一旦靠近准备着的猎人,猎人近距离开枪就十拿九稳,之后猎狗再追过去,这东西就基本逃不掉了。但是这一只不仅没有立即突围,反而逐渐冷静了下来,没两下就潜伏在草里不知道藏在哪个位置了。这样一来阿贵他们反而不敢靠近。

Dằng dai cả buổi, đám A Quý vẫn chưa nổ súng.

Những con mồi bình thường vào lúc này đều phạm sai lầm, đều đột ngột lao về một phương hướng nào đó, thoáng chốc là tới gần thợ săn đã chuẩn bị sẵn sàng.

Thợ săn nổ súng ở cự ly gần là chắc chắn trúng, tiếp đó chó săn sẽ đuổi theo, con vật cơ bản là không trốn chạy nổi nữa.

Nhưng con vật này không những không muốn phá vây ngay, mà trái lại còn dần dần trở nên bình tĩnh, mấy lần ẩn nấp vào bụi cỏ mà không thể biết được vị trí chính xác, cứ thế trái lại khiến đám A Quý không dám tới gần.

我看着这些十分诧异,心说厉害啊,反客为主,这到底是什么东西,这么狡猾,难道是只大狐狸?

Tôi thấy vậy mà kinh ngạc, thầm nghĩ lợi hại nha, đổi khách thành chủ, con này rốt cuộc là cái giống gì, xảo trá như thế, không lẽ là hồ ly?

但是狐狸要多大才能袭击人啊,难道这只是狐狸中的施瓦辛格?

Nhưng mà hồ ly thì phải to cỡ nào mới dám tấn công người chứ?

Chẳng lẽ con này là Schwarzenegger trong giới hồ ly à?

阿贵照了几下实在拿不准,这批猎人不是以前那些一辈子在山里讨生活的山精,经验到底欠缺一些,也没有好办法,就吆喝云彩拿石头去砸,把猎物砸出来。我们捡起石头刚想过去,却被闷油瓶双双拉住,我抬头看他,发现他不知何时面色有变,眼睛没有看着围猎的地方,而是看着阿贵的身后,叫了一声:"当心背后!"

A Quý chiếu đèn pin vài lần vẫn không trúng, tốp thợ săn này đâu phải đám sơn tinh cả đời kiếm ăn trong núi như lớp thợ săn trước, kinh nghiệm dù sao vẫn còn thiếu sót, cũng không nghĩ ra cách nào hay, liền gào lên gọi Vân Thái ném đá ép con mồi phải chạy ra.

Hai đứa tôi nhặt vài hòn đá lên định ném, lại bị Muộn Du Bình giữ lại cả đôi.

Tôi ngẩng đầu lên nhìn hắn, chợt nhận ra không biết từ bao giờ sắc mặt hắn đã biến đổi, ánh mắt hắn không nhìn vào vòng vây săn mà nhìn ra sau lưng A Quý, hô to: "Cẩn thận đằng sau!"

我跟着看去,竟然发现阿贵身后的草泛起了一股波纹,好像是风吹的,但是四周又没有风,又像是有东西潜在草里在朝阿贵逐渐靠拢。

Tôi nhìn theo hắn, phát hiện bụi cỏ sau lưng A Quý lại nổi sóng, giống như có gió thổi qua.

Nhưng bốn bề đều lặng gió, nên hẳn là có thứ gì đó đang nấp trong bụi cỏ, nhích dần về phía A Quý.

阿贵立即回头,那波纹一下就停止了。

A Quý lập tức quay đầu, gợn sóng kia cũng ngưng ngay lập tức.

"什么东西?"我惊疑道,"还有一只?"

"Cái gì vậy?"

Tôi ngạc nhiên hỏi: "Còn một con nữa?"

"不是。"闷油瓶看着四周,冷然道。我把手电扫向周围,一下就发现四周远处的草丛泛过好几道奇怪的波纹,正在向我们聚拢而来。

"Không chỉ có vậy."

Muộn Du Bình nhìn khắp bốn phía, nói bằng giọng hờ hững.

Tôi cầm đèn pin chiếu rọi khắp bốn vùng quanh, lập tức phát hiện những bụi cỏ đằng xa đang lan truyền những đợt sóng kỳ lạ, dồn về phía chúng tôi.

这里的猎人哪里见过这样的场面,一个个瞠目结舌,还是云彩这丫头第一个反应过来,立即打了个唿哨,把狗叫了回来。

Thợ săn ở đây chưa bao giờ gặp cảnh tượng này, cả đám trợn mắt há mồm, cô bé Vân Thái lại là người đầu tiên phản ứng, lập tức huýt sáo gọi đám chó quay về.

我大叫让他们聚拢过来,几个人聚在一起,仔细去看四周的动静,就见那些波纹犹如草中的波浪一样,忽隐忽现。

Tôi kêu mấy người bọn họ tụ tập lại đây, cẩn thận quan sát động tĩnh bốn phía, chỉ thấy những gợn sóng này cứ thoắt ẩn thoắt hiện không ngừng.

三只猎狗比我们更能感觉到情势的诡异,不停地朝四周狂吠,烦躁不堪。几道波纹在不规则的运动中,逐渐靠近我们,我虽说不害怕,但是不可避免地紧张起来,心如擂鼓。

Ba con chó săn còn cảm nhận được tình cảnh kỳ lạ này rõ ràng hơn chúng tôi, không ngừng quay khắp bốn phía sủa loạn xạ, phiền phức không chịu nổi.

Những làn sóng vận động bất quy tắc dần dần áp sát chúng tôi, tuy nói mình không sợ nhưng tôi cũng bắt đầu căng thẳng, tim đập như nổi trống.

"到我们中间去。"阿贵对云彩说了一句,也搞不清到底是什么状况。不过山民剽悍是真的,竟没有一个害怕的,几个人都把枪端了起来,此时也顾不得我们,我拿了块石头当武器,看了看四周的环境,道:"这里草太多了,我们退到山坡古坟那边去。"

"Chui vào giữa đi con."

A Quý bảo Vân Thái, có lẽ anh ta cũng không nắm rõ tình huống lúc này rốt cuộc là gì.

Người miền núi quả đúng là dũng mãnh, không một ai sợ hãi, mấy người kia đều giương súng lên, lúc này cũng không hơi đâu để mắt đến chúng tôi nữa.

Tôi nhặt một hòn đá làm vũ khí, quan sát cảnh tượng bốn phía, nói: "Chỗ này rậm rạp quá, chúng ta lui về phía triền núi có ngôi mộ cổ bên kia đi."

几个人立即动身,一边警惕一边快速往山上走,没想到我们一动,那几道波纹立即就围了过来,在离我三十多?的时候,又一下子消失了。我们几乎没有时间紧张就直接慌张了,正道也不走,直接顺着坡直线往上。

Mấy người lập tức lên đường, vừa cảnh giác vừa nhanh chân rút lên núi, không ngờ chúng tôi vừa động, mấy đợt sóng kia lập tức vây lại, đến khi còn cách tôi hơn ba mươi mét thì đều nhanh chóng biến mất.

Chúng tôi gần như không có thời gian căng thẳng, mà lập tức hoảng loạn, không đi theo đường chính mà leo thẳng lên dọc sườn núi.

山泥全是湿的,几个男的上去了,一下云彩就崴了脚,滑下去好几米。我拉了一把结果自己也脚下一滑,脚下的泥全垮了。

Bùn trên núi nhão nhoẹt, mấy gã đàn ông đã lên cả, nào ngờ Vân Thái bất ngờ trẹo chân, trượt xuống dưới vài mét.

Tôi đưa tay ra kéo, kết quả là chính mình cũng trượt theo luôn, bùn dưới chân đều lún cả xuống.

闷油瓶和阿贵停下来拉我,一下队伍的距离就拉开了几米。山坡上杂草密集得好比幔帐,我此时就听到四周的草丛里全是草秆被踩断的声音,十分密集,顿时心中燃起了强烈的不安。

Muộn Du Bình và A Quý dừng lại kéo tôi, nháy mắt đã tụt lại sau đoàn vài mét.

Cỏ dại mọc trên sườn núi dày như một tấm thảm, lúc này tôi chợt nghe từ các bụi rậm xung quanh phát ra tiếng cây cỏ bị giẫm gãy liên tục trong lòng nổi lên cảm giác cực kỳ bất an.

被拉起来后我去找云彩,云彩崴了脚已经疼得哭了起来,我冷汗冒得腿都不听使唤,咬牙拨开草好不容易把云彩扶到山坡上,那边的烂泥已经又垮出了一个坑。我在她的小屁股上推了一把,上面的闷油瓶单手就把她拉了上去。

Được kéo lên rồi, tôi lại tìm Vân Thái.

Vân Thái bị trẹo chân suýt khóc, đôi chân đổ đầy mồ hôi lạnh của tôi cũng không chịu nghe lời tôi nữa, đành cắn răng vén đám cây cỏ ra, chật vật đỡ Vân Thái lên triền núi.

Bùn nhão bên kia lại lún xuống thành một cái hố, tôi ủn mông cô bé lên còn Muộn Du Bình đứng bên trên thì vươn một tay ra kéo.

我爬了几下,发现我体重太大,没人在屁股后面推我的话,那泥吃不消我的重量还得垮,于是企图往边上绕上去。没想到人背喝凉水也塞牙,没走几步,脚下的烂泥又垮了,我一下摔在山坡上滑落了好几米。挣扎着爬起来,我听上头阿贵大叫:"跑开!快跑开!"

Tôi thử leo vài cái, phát hiện ra mình quá nặng, lại chẳng có ai đứng sau ủn mông, đám bùn kia không chịu nổi sức nặng của tôi nên cứ lún dần xuống, bèn lách người sang bên cạnh.

Ai ngờ tôi xui xẻo đến độ uống nước cũng mắc răng, còn chưa đi được mấy bước, bùn nhão dưới chân đã tiếp tục lún xuống khiến tôi ngã nhào xuống triền núi, ngày càng trượt sâu hơn.

Giãy dụa bò lên, chợt nghe A Quý trên đỉnh đầu la to: "Chạy!

Mau chạy đi!"

听声音我本能地知道他肯定看到了什么,立即往左一动,又听到阿贵大叫:"错了!不是那边!"一下我看到面前的草丛一阵骚动,接着我看到一只小牛犊般大小,吊睛白额,似豹非豹的动物从草里探出上半身来,两只碧绿的眼睛放着寒光,一张脸狰眉狞目,好似京剧脸谱里的凶妖一般。

Nghe vậy, bản năng mách bảo cho tôi biết chắc chắn anh ta đã thấy được gì đó, liền rẽ sang trái, lại nghe A Quý la to: "Sai rồi!

Không phải bên đó!"

Ngay lập tức, tôi thấy bụi cỏ phía trước lay động một chập, thế rồi một con vật to cỡ con nghé nhỏ, mắt xếch trán trắng, giống báo mà không phải báo nhô nửa người lên từ bụi cỏ, đôi ngươi xanh biếc lóe hàn quang, mặt mày dữ tợn giống như gương mặt hung yêu trong Kinh kịch.

我一和它对视就知道这玩意儿是什么东西了,心中无比的诧异——这竟然是一只猞猁。

Vừa đối diện với nó, tôi đã biết ngay cái thứ của nợ này là gì rồi, trong lòng hết sức kinh ngạc – thì ra đó là một con linh miêu.

猞猁是一种大猫,比豹子小,比猫大得多,这种猫科动物的脸好比妖怪,邪毒凶都在上面。猞猁和豹子最明显的区别是猞猁的耳朵上有两道很长的粗毛,像京剧里的花翎。

Linh miêu là một loài mèo lớn, nhỏ hơn báo nhưng lớn hơn mèo rất nhiều.

Loài động vật họ mèo này có khuôn mặt y chang yêu quái, nét tà độc hung ác đều hiện lên mặt.

Khác biệt rõ ràng nhất giữa linh miêu và báo là trên lỗ tai linh miêu có hai nhúm lông mao thô dài ngoằng, giống như lông công trong Kinh kịch.

这种东西智商极高,虽然喜欢独居,但在食物匮乏的时候也会协同捕猎,是除了狮子外能唯一能成群合作捕猎的猫科动物。在西藏,大型猞猁被称为"林魔",据说会叼年轻女性回巢交尾,但因为皮毛的关系,近代几乎被捕杀干净了。怎么它会出现在偷猎这么严重的广西?

Loài vật này cực kỳ thông minh, tuy thích sống riêng lẻ, nhưng những khi thức ăn khan hiếm cũng sẽ đi săn thành bầy, ngoại trừ sư tử, thì đây là loài động vật họ mèo duy nhất có thể đi săn theo đàn.

Linh miêu cỡ lớn ở Tây Tạng được gọi là "Ma rừng", nghe nói còn biết tha con gái trẻ về ổ giao phối.

Nhưng do có bộ da đẹp, nên thời cận đại gần như đã bị bắt giết sạch sẽ, sao lại xuất hiện ở một vùng có nạn săn trộm trầm trọng như Quảng Tây cơ chứ?

如果是猞猁,倒可以解释盘马老爹为什么被袭击而没有死,猞猁像猫,喜欢将猎物玩得精疲力竭再杀死。而且性格极其谨慎,不会轻易贴身肉搏。

Nhưng nếu là linh miêu, thì lại giải thích được vì sao lão Bàn Mã bị tấn công mà chưa chết.

Linh miêu rất giống mèo, thích đùa giỡn con mồi cho đến khi sức cùng lực kiệt mới giết chết, nhưng bản tính lại rất thận trọng, không dễ mà vật lộn sáp lá cà.

心念电转之间,在我的另一边,又是一只猞猁探出头来。这一只更大,同时头上掉落烂泥,闷油瓶已经从上面下来,滑到了我边上。阿贵的猎刀在他手里。闷油瓶下来后立即拉住我,"踩着我的背上去。"他斩钉截铁道。

Giữa những luồng suy nghĩ biến đổi chớp nhoáng, bên tôi lại thêm một con linh miêu thò đầu ra.

Con này còn bự hơn, vả lại trên đầu còn có bùn nhão chảy ròng ròng.

Muộn Du Bình đã trượt từ trên xuống đến bên cạnh tôi, tay cầm đao săn của A Quý, vừa xuống đến nơi lập tức kéo tay tôi: "Cứ giẫm lên lưng tôi."

Hắn nói như chém đinh chặt sắt.

"啊,那多不好意思。"我一时没反应过来。

"A, vậy thì ngại quá."

Tôi nhất thời không kịp phản ứng.

"上来!"上面的阿贵大叫,满头冷汗。

"Lên mau!"

A Quý đứng bên trên la to, mồ hôi đầy đầu.

猫科动物最喜攻击猎物的咽喉,一击必杀,我缩起自己的脖子,心说我就不客气了,扒拉了几下烂泥,踩到闷油瓶的肩膀上,闷油瓶猛地一抬身子把我送了上去。上面的阿贵拉住我的手,我乱踢乱蹬好不容易在山坡上稳住,忽然听到云彩一声惊叫,从下面的草丛里猛地蹿出一只庞然大物,纵身跳在山坡上借力。我就那么看着一只"巨猫"踩着飞溅的泥花,几乎是飞檐走壁般飞到我的面前。

Bản năng của động vật họ mèo là tấn công vào cổ họng con mồi, một đòn chết tươi.

Tôi rụt cổ lại, thầm nhủ vậy tôi không khách khí nữa, gạt đi chút bùn đất rồi giẫm lên vai Muộn Du Bình.

Muộn Du Bình vung người đẩy tôi lên, A Quý đứng bên trên nhoáng cái đã túm được tay tôi, tôi quơ quào tay chân loạn xạ, vất vả lắm mới đứng vững được trên triền núi.

Chợt nghe Vân Thái thét lên một tiếng sợ hãi, thoáng chốc từ bụi cỏ bên dưới có một con vật lớn lao ra.

Vừa mới nhún người mượn lực, tôi đã trông thấy một con "mèo bự" gần như bám vào vách núi mà phi đến trước mặt mình.

阿贵条件反射下放了手,我一下就摔了下去,凌空被咬住了。

A Quý thả tay theo phản xạ, tôi lập tức rơi xuống, bị ngoạm lấy giữa không trung.

幸好猞猁的体形还是太小,没法把我直接压到地上,我摔进草丛里滚下去好几米,随即狠狠踢了它一脚,将它踢了出去,起来一看我的肩膀几乎被咬穿了。

Cũng may hình thể con linh miêu vẫn còn quá nhỏ, không thể đè tôi xuống đất.

Nháy mắt tôi đã ngã vào bụi cỏ, lăn xuống vài mét, hung hăng đá nó một cú bay vèo đi, đứng lên nhìn lại thì thấy bả vai mình gần như đã bị cắn thủng.

四周所有的草都几乎在动,被我踢飞的那一只刚落地就已经恢复了攻击的姿势,再次朝我猛扑过来。

Cỏ cây bốn phía dường như đều lay động, cái con bị tôi đá bay xuống đất cũng đã lấy lại tư thế tấn công, nhào về phía tôi một lần nữa.

我完全没有任何时间去害怕和恐惧,这几年的探险生涯让我具备了极强的求生本能,我护住咽喉一下就被撞倒,索性一个翻身顺着山坡翻了下去,疾滚而下。

Tôi hoàn toàn không có thời gian để mà sợ hãi, kiếp thám hiểm trong những năm gần đây đã trang bị cho tôi một bản năng sống mạnh mẽ.

Vừa đưa tay lên che cổ họng tôi đã bị đẩy ngã, bèn dứt khoát xoay người lăn vèo vèo từ triền núi xuống.

这一滚真是天昏地暗,爬起来后我也不管三七二十一,跌跌撞撞就跑。后面的阿贵他们已经放枪了,我也分辨不清方向,一直往山谷里的深处冲去。跑出没几米就听到背后一阵疾风,我知道它来了,绝对不能把自己的后脑让出来,脑壳会被直接咬穿的,于是我立即转身。

Cú lăn này đúng là tối tăm mặt mũi, vừa đứng lên tôi liền bất chấp tất cả mà lảo đảo bỏ chạy.

Đám A Quý sau lưng đã bắt đầu nổ súng, tôi cũng không phân biệt nổi phương hướng nữa, đành cắm đầu chạy sâu vào trong khe núi, chạy được vài mét chợt nghe sau lưng có luồng gió quét qua.

Tôi biết tuyệt đối không thể dâng phần gáy của mình cho động vật họ mèo xơi được, xương sọ sẽ bị cắn thủng mất, thế nên lập tức xoay người.

几乎是刚转身就看到一个黑影以迅雷不及掩耳之势追了过来,根本就没法估计速度,转眼就到了我面前。我心说完了,这一次将我扑倒之后我绝对没有时间再做防御,条件反射下我闭眼等死。

Gần như vừa mới xoay người lại, tôi liền thấy một bóng đen lao đến với tốc độ nhanh đến mức chưa kịp chớp mắt, không sao ước lượng nổi nó di chuyển ra sao — chớp mắt một cái, nó đã ở ngay trước mặt tôi.

Tôi thầm kêu "xong rồi!", lần này nếu bị nó nhào tới thì chắc chắn không còn cơ hội phản ứng nữa.

Theo bản năng, tôi nhắm nghiền mắt lại — chờ cái chết ập đến.

眼睛都没完全闭上,转眼之间,忽然我身边的草丛分了开来,接着寒光一闪,一个人影闪电般从草丛里扑了出来,一下和黑影抱在一起。

Chưa kịp nhắm mắt hoàn toàn, chỉ chớp mắt một cái, bỗng cỏ rậm bên cạnh tách ra, kế đó lóe lên ánh sáng lạnh, một bóng người lao ra từ trong đám cỏ như tốc điện, ôm chầm lấy bóng đen.

黑影来势极凶,两个影子撞在一起后翻出去好远,我愣在那里完全反应不过来,好像做梦一样。只听到猞猁的吼叫和呻吟声,草丛里乱成一团。

Bóng đen tấn công dữ dội, hai bóng va chạm rồi lộn ra xa, tôi đứng đó hoàn toàn choáng váng, như đang mơ.

Chỉ nghe thấy tiếng gầm gừ và rên rỉ của mèo rừng, đám cỏ rối tung lên một mớ hỗn độn.

不知过了多久,草丛里安静了下来,从里面站起来一个黑影。我松了口气,那人影走了出来,走到了月光下,我才发现那是一个干瘦的陌生老头,浑身都是血,手里提着一把瑶苗特有的猎刀,那只大猞猁被扛在背上,似乎已经断气了。

Chẳng biết bao lâu sau, đám cỏ yên lặng.

Một bóng đen từ trong đó đứng dậy.

Tôi thở phào nhẹ nhõm — bóng người bước ra, dưới ánh trăng mới thấy đó là một ông lão gầy gò, lạ mặt, toàn thân dính máu, tay cầm một cây đao săn đặc biệt của người Mèo.

Con linh miêu kia bị ông lão vác trên lưng, hình như đã tắt thở.

他走到我跟前,看到我后愣住,用当地话问了我一句,我也不知道他说了什么,只是下意识地摇头,心说这天神爷爷是谁啊?而下一秒我看到了更加让人惊讶的画面——我看见老头的身上,竟然纹着一只黑色的麒麟。

Ông lão đi đến trước mặt tôi, thấy tôi thì đờ người.

Ổng dùng tiếng địa phương hỏi tôi một câu, tôi cũng không hiểu ổng đang nói gì, đành ý tứ lắc đầu, trong lòng thầm nghĩ ông tiên này là ai vậy?

Nhưng ngay giây sau, tôi chết lặng trước cảnh tượng còn đáng kinh ngạc hơn — trên người ông lão, hình xăm một con kỳ lân đen hiện lên rõ ràng.

鹿角龙鳞,踩火焚风,和闷油瓶身上的如出一辙。

Sừng hươu, vảy rồng, bước chân rực lửa, thổi gió cháy, y hệt như hình xăm trên người Muộn Du Bình.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 9: Lão Ba Bàn Mã


老头很瘦,和肩膀上肥大的猞猁一比就更显瘦削,但是仔细看能看到他身上已经萎缩的肌肉仍精练如铁条,可以想象在壮年的时候会是何等雄伟。月光下老头的眼睛炯炯有神,有一种让人说不出的感觉。

Ông lão gầy gò, so với con linh miêu vác trên vai nom càng thêm quắt queo, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy những bắp thịt đã khô quắt trên thân thể ông lão vẫn rắn rỏi như sắt thép, có thể mường tượng ra những bắp thịt này vào thời trai trẻ đã từng tráng kiện đến thế nào.

Dưới ánh trăng, ánh mắt lão ngời sáng có thần, gây cho người một cảm giác khó nói thành lời.

他把猎刀收回到腰后的鞘里,又打量了我一下,把猞猁换过到自己的另一只肩膀上,接着用当地话让我跟他走。

Ông lão tra thanh đao vào vỏ trên thắt lưng, lại ngắm nghía tôi một chặp, chuyển con linh miêu sang vai bên kia, sau đó dùng giọng địa phương bảo tôi đi cùng.

四周的草还在动,但老头熟视无睹,背着猞猁一路往前。很快,四周的动静逐渐远去了,林子深处传来了它们的悲鸣声。猞猁都是临时组成的狩猎团体,这一只可能是其中最强壮的,负责最后的扑杀,它一死狩猎团体就瓦解了,猞猁生性十分谨慎,绝对不会再冒第二次险。

Cây cỏ bốn bề vẫn còn lay động nhưng ông lão chẳng thèm để mắt, cứ vác con linh miêu bước phăm phăm về phía trước, chẳng bao lâu tiếng động xung quanh cũng dần dần lùi xa, chỉ nghe trong cánh rừng sâu thẳm truyền đến tiếng gừ gừ của một đàn thú khác.

Đàn linh miêu chỉ tập hợp trong thời gian ngắn để săn mồi, đây có thể là con khỏe nhất trong đám, phụ trách ra đòn chí mạng cuối cùng; con này vừa chết, cả đàn cũng tan luôn.

Bản tính linh miêu cực kỳ thận trọng, tuyệt đối sẽ không mạo hiểm đến lần thứ hai.

老头一边叫喝,一边往古坟的方向走,手电光闪烁不定,但始终定在山上,显然阿贵这家伙不厚道,没下来救我。

Ông lão vừa quát tháo, vừa hướng về ngôi mộ cổ.

Có ánh đèn pin phát ra từ phía bên kia nhưng thủy chung vẫn dừng lại từ trên núi.

Rõ ràng tay A Quý này cũng chẳng phải người tốt, không chịu xuống dưới cứu tôi.

只有一只手电朝这里来,我们迎上去,看到闷油瓶少有的有些急切,看到我没事后似乎松口气,接着他看到了老头。

Chỉ có một cái đèn pin ném về hướng này, chúng tôi bắt lấy, rồi thấy Muộn Du Bình đi về phía chúng tôi với dáng vẻ hoảng hốt hiếm có.

Thấy tôi không sao hắn mới thở phào nhẹ nhõm, rồi lại nhìn sang ông lão kia.

闷油瓶的手上也全是血,阿贵的猎刀被反手握着,两个人对视了一眼。闷油瓶看到老头的文身,顿时就愣住了,但是老头好似没有注意他,径直就从他身边走了过去。

Cánh tay Muộn Du Bình đẫm máu, ông lão trở tay nắm lấy đao săn.

Hai người liếc nhau một cái, Muộn Du Bình thấy hình xăm kia thì ngây người, nhưng ông lão hình như không hề để ý đến hắn, bước thẳng qua bên cạnh hắn.

我心说我靠,好酷的老头,有闷油瓶的风范,难道这家伙是瓶爸爸?

Tôi thầm nghĩ ôi cái đệch, ông lão này quá siêu phàm, lại mang đầy phong thái của Muộn Du Bình, lẽ nào chính là Bình ba ba?

闷油瓶想上去询问,我将他拦住,说这老头不是省油的灯,而且显然语言不通,问他也没有用,先回去再说。

Muộn Du Bình muốn bước lên hỏi, nhưng tôi ngăn hắn lại.

Ông lão này không phải hạng hồ đồ, vả lại ngôn ngữ bất đồng, có hỏi cũng vô ích, ta cứ về đã rồi tính sau.

途经我摔下来的地方,看到地上也有一具猞猁的尸体,脖子被拧断了,显然是闷油瓶的杰作。老头示意我们抬起来,闷油瓶将尸体过到肩上,一起爬上山坡,上面的人立即跑了过来,看到老头后显得很惊讶。

Đi ngang qua chỗ tôi ngã xuống, thấy trên mặt đất cũng có xác một con linh miêu cổ bị vặn gãy, hiển nhiên là kiệt tác của Muộn Du Bình.

Ông lão ra hiệu cho chúng tôi khiêng nó lên, Muộn Du Bình liền vác xác nó trên vai rồi leo lên triền núi.

Người bên trên lập tức chạy tới, nhìn thấy ông lão đều tỏ ra hết sức kinh ngạc.

老头和他们用当地话唧唧呱呱说了一通,我完全听不懂,我就偷偷问云彩,这老头是谁啊。

Ông lão và bọn họ bắn ra một tràng tiếng địa phương, tôi nghe ù ù cạc cạc, liền lén hỏi Vân Thái xem ông lão này là ai.

云彩道:"还能是谁,他就是你们要找的盘马老爹。"

Vân Thái đáp: "Còn ai vào đây nữa, ông ấy chính là lão ba Bàn Mã mà các anh muốn tìm."

"他就是盘马?"我不由得吃惊,不过之前也想到了这一点。都说盘马老爹是最厉害的猎人,除了他还有谁能这么老的年纪徒手杀死一只这么大的猞猁。要知道单只的猞猁可以猎杀落单的藏狼,猫科动物是进化到了顶点的哺乳动物捕食者,不是极端熟悉它们的习性不可能做到。

"Ông ấy chính là Bàn Mã?"

Tôi thoáng giật mình, nhưng đúng là trước kia tôi cũng từng nghĩ đến chuyện này rồi.

Ai cũng bảo lão ba Bàn Mã là thợ săn cừ khôi nhất, ngoài lão ra còn ai đủ sức tay không giết chết một con linh miêu lớn cỡ này ở tuổi xế bóng cơ chứ.

Phải biết rằng một con linh miêu có thể săn được cả sói Tạng đi riêng lẻ, họ mèo là họ động vật ăn thịt có vú đã tiến hóa đến đỉnh cao, nếu không phải là người cực kỳ am hiểu tập tính của nó thì không thể nào hạ thủ được.

刚才盘马老爹肯定是被猞猁袭击了之后,一直和猞猁周旋到了这里,然后蛰伏下来等待时机。娘的,最后那一下必杀我看就是闷油瓶也不一定能做得那么干脆,就是稍微晚个一秒,我和老爹之间肯定就死一个。

Vừa rồi Lão ba Bàn Mã nhất định đã bị linh miêu tấn công, sau đó dây dưa với đàn linh miêu đến tận nơi này thì nghỉ ngơi chờ đợi thời cơ.

Mẹ kiếp, cái đòn tất sát cuối cùng kia tôi thấy ngay cả Muộn Du Bình cũng không thể ra tay dứt khoát đến vậy, chỉ chậm một giây thôi là tôi hoặc lão nhất định sẽ phải chết.

阿贵看了看我的伤势,向我们介绍了一下双方,老爹似乎对我们不感兴趣,只略打了个招呼就开始擦身上的污秽。

A Quý quan sát vết thương của tôi, xong giới thiệu đôi bên cho nhau.

Lão ba hình như không có hứng với chúng tôi, chỉ chào hỏi lấy lệ rồi bắt đầu lau rửa những vết bẩn trên người.

擦掉身上的血,我发现他的文身在血污中非常骇人,而且造型确实和闷油瓶的几乎一样,老爹的后脊梁骨有新伤口,深得有点恐怖,可能是猞猁偷袭所致。

Lau đi vết máu trên người, tôi mới nhận ra hình xăm của lão và Muộn Du Bình na ná như nhau.

Sau xương sống lão có một vết thương sâu đến ghê người, có thể là do bị linh miêu tập kích bất ngờ mà ra.

几个人嘀嘀咕咕的,述说着进山的经过。自己半猜半琢磨,加上云彩的翻译,我听懂了大概,前面的和我猜的差不离,确实是因为他儿子的事情才进的山,不想怎么会遇上猞猁这种东西。好在老爹进山有一个习惯,就是在背上搭一条树枝,一来可以当拐杖,二来在平地的时候可以防着后面的罩门被偷袭。这都是古时野兽横行时留下来的规矩,一辈子都没派上用场,不料就是这一次救了命,衣服给扯了去,但后脖子没有被咬断,真是险之又险。

Có vài người quây thành tốp, xì xào kể về về hành trình vào núi.

Tôi nửa đoán nửa suy luận, lại nhờ Vân Thái phiên dịch nên cũng hiểu được lờ mờ.

Nửa đầu câu chuyện cũng gần giống như tôi phán đoán, đúng là lão vì chuyện của con trai mới vào núi, không ngờ lại chạm trán cái giống kia ở đây.

Cũng may những khi vào núi lão có thói quen buộc một cành cây trên lưng, trước hết có thể làm gậy chống, ở nơi đất bằng lại có thể đề phòng điểm yếu phía sau bị đánh úp.

Đây là quy tắc lưu truyền từ thời xa xưa khi dã thú hoành hành, cả đời chẳng có ích gì, ai ngờ lần này lại cứu được một mạng.

Tuy quần áo bị xé nát, nhưng gáy không bị cắn đứt, đúng là nguy hiểm khôn cùng.

猞猁已经多少年没露面了,在这里又突然出现,可能是因为前几天连降大雨,深山里出了异变才被迫出来,人多的地方老鼠多,于是它们被食物吸引到了村寨边上。

Bao nhiêu năm trời không gặp linh miêu, giờ bỗng dưng xuất hiện ở vùng này, có thể là do mấy hôm trước trời mưa to, trong núi sâu xảy ra chuyện bất thường buộc chúng phải chạy ra.

Chỗ này có người ở nên chuột cũng lắm, chúng mới bị con mồi thu hút đến đây.

老爹的神情很兴奋,似乎是找回了当年巅峰时的感觉,我寻思现在也不适宜多问问题,阿贵吆喝着回去,说村里人该急死了,老爹和我的伤口都有点深,必须尽快处理。

Thấy lão tỏ ra rất phấn chấn, như thể tìm lại được cảm giác của một thời oanh liệt đã qua, tôi cảm thấy giờ không thích hợp để hỏi những chuyện khác.

A Quý liền gọi đoàn quay về, nói giờ này người trong thôn chắc là đang rất sốt ruột.

Vết thương của tôi và lão ba đều sâu, phải về còn xử lý.

几个人把两具猞猁的尸体烧了,此时天色都泛白了,于是我们踩熄了火立即出发。

Vài người đem đốt hai cái xác linh miêu, trời cũng dần sáng, không còn sớm nữa, đã qua cả một đêm rồi, nên họ dập tắt đống lửa rồi lập tức lên đường.

猞猁的皮毛价值连城,就这么烧了实在太可惜了,不过阿贵说,不能让其他人知道这里出现了猞猁,否则,不出一个星期偷猎的人就会蜂拥而至,这些人贪得无厌就算打不到猞猁也肯定要打点别的回去,这里肯定会被打得什么都不剩下。

Bộ da linh miêu rất có giá, cứ thế đốt đi thật là uổng phí.

Nhưng A Quý nói không thể để ai khác biết ở đây xuất hiện linh miêu, bằng không thì chưa đến một tuần đám săn trộm đã ùn ùn kéo đến.

Những tên này tham lam vô độ, dù không bắt được linh miêu thì cũng chuyển sang những loài thú khác, nơi này nhất định sẽ sạch bách chẳng còn gì.

一路无话,回到村里天都大亮了,几个村里的干事都通宵没睡,带着几个人正准备进山,在山口碰上了我们。

Dọc đường đi không ai nói thêm lời nào, về đến thôn thì trời đã sáng.

Những cán bộ trong thôn cũng thức trắng cả đêm, đang dẫn theo vài người chuẩn bị vào núi đi tìm, đến sơn khẩu thì gặp chúng tôi.

我们在村公所里吃了早饭,烙饼加鸡蛋粥,我饿得慌吃了两大碗,村里和过节似的,不停有人来问东问西。

Chúng tôi ăn sáng trong trụ sở thôn, có bánh rán và cháo trứng, tôi đói quá làm luôn hai bát to.

Trong thôn vui như tết, liên tiếp có người đến hỏi han.

我的肩膀几乎被咬了个对穿,消毒后打了破伤风针,又敷了草药。盘马老爹的背上缝了十几针,那赤脚医生也真下得去手,好比家里缝被褥一样,三下五除二就缝好了,期间老爹一直沉默不语,就听着那些村干部在不停地啰唆。

Bả vai tôi gần như bị cắn thủng, phải sát trùng rồi tiêm một mũi phòng uốn ván, còn đắp thêm cả thảo dược.

Lưng lão ba Bàn Mã khâu mười mấy mũi, tay y tá thôn kia thật chẳng biết nương tay là gì, khâu vết thương mà cứ như khâu chăn đệm, khâu dăm ba nhát đã xong.

Trong khi lão ba vẫn yên lặng không nói lời nào thì mấy người trông như cán bộ thôn kia lại cứ thao thao bất tuyệt.

这些烦琐事情不提,处理完后我们想先回去休息,等缓过劲来再去拜访老爹。不料老爹临走的时候,却做了一个手势,让我们跟他回家。

Tạm thời bỏ qua những chuyện lặt vặt, xử lý xong vết thương chúng tôi định về nghỉ ngơi, chờ sức khỏe phục hồi sẽ đến thăm lão ba sau.

Ai ngờ trước khi đi, lão lại bảo chúng tôi cùng về nhà mình.

我和闷油瓶对视一眼,心说这老头真是脾气古怪,两个人站了起来连忙跟了上去,走出没两步,盘马老爹又摇头,忽然指了指闷油瓶说了一句什么。

Tôi và Muộn Du Bình liếc nhau, nghĩ bụng ông lão này tính tình cũng thật cổ quái, rồi vội vã đi theo.

Đi chưa nổi hai bước, lão đã chỉ chỉ Muộn Du Bình nói cái gì đó.

我们听不懂,不禁看向跟来的阿贵,阿贵也露出了奇怪的神色,和盘马老爹说了几句,盘马就用很坚决的语气回答他,说完之后就径直走了。

Chúng tôi không hiểu, nhìn sang A Quý đi cùng.

Nét mặt A Quý nom cũng rất kỳ quái, nói với Bàn Mã vài câu, lão lại dùng giọng điệu cương quyết đáp lại, nói rồi đi thẳng.

我不知道出了什么事,很茫然地看着阿贵,阿贵有点尴尬,我问他老爹说了什么?阿贵对我道:"他说,你想知道事情就你一个人来,这位不能去。"

Tôi ngơ ngác nhìn A Quý, hỏi ổng nói cái gì vậy?

Anh ta có vẻ lúng túng đáp: "Muốn biết hãy đến một mình, người kia không thể đi theo."

我皱起眉头,心说这是什么意思,看了看闷油瓶,阿贵又道:"他还说......"

Tôi nhíu mày nhìn Muộn Du Bình, thầm nghĩ lão nói vậy có ý gì chứ?

A Quý lại tiếp "Ông ấy còn nói..."

"说什么?"

"Nói gì nữa?"

"说你们两个在一起,迟早有一个会被另一个害死。"

"Nói nếu hai người còn đi chung với nhau, sớm muộn gì cũng có ngày một người bị người kia hại chết."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 10: Ngồi xuống bàn bạc


听了那话,我一下就愣了,这没头没尾的,盘马老爹忽然说了这么一句,我一下没反应过来。但是,同时我脑子咯噔了一下,感觉到这一句话听着有点瘆人。

Nghe những lời này, tôi có hơi sửng sốt.

Lão ba Bàn Mã không dưng nói ra một câu không đầu không cuối, thật khiến người ta không kịp phản ứng, nhưng đầu óc cũng đồng thời căng thẳng, cảm thấy câu nói vừa rồi nghe có hơi rợn người.

还没细想闷油瓶已经追了上去,一下赶到那老头前面将他拉住。"你这么说,你认识我?"他问道。

Còn chưa kịp suy nghĩ tường tận, Muộn Du Bình đã đuổi đến trước mặt lão Bàn Mã, giữ chặt lão lại hỏi: "Nói vậy, tức là ông biết tôi?"

盘马老爹抬头看着他,脸上毫无表情,没有回答,闷油瓶一下脱掉自己的上衣,露出了自己的上半身:"你看看,你是不是认识我?"

Lão ba Bàn Mã ngẩng đầu nhìn hắn bằng gương mặt vô cảm, cũng không đáp lời.

Muộn Du Bình lập tức lột áo, lộ ra nửa thân trên, "Ông nhìn đi, ông có biết tôi là ai không?"

两人黑色的文身无比清晰,似乎是两只麒麟正在对决相冲,而他们目视着对方,十分的奇特。

Hình xăm màu đen rõ mồn một, tựa như hai con kỳ lân ở hai phía đang lao vào nhau, mà ánh mắt hai người nhìn nhau cũng hết sức kỳ lạ.

对峙了片刻,盘马仍旧什么都没有说,而是漠然地从闷油瓶身边走了过去,完全不会理会他,面部表情也没有任何的波澜。

Giằng co một hồi, Bàn Mã vẫn lặng thinh không nói, chỉ âm thầm đi qua bên cạnh Muộn Du Bình, hoàn toàn phớt lờ hắn, nét mặt cũng không hề biến đổi.

我无法形容那时的感觉,很奇特,如果一定要用文字形容,我只能说我仿佛看到了两个不同时空的闷油瓶,瞬间交合又瞬间分开。

Tôi không tài nào diễn tả được cảm giác khi đó, thật kỳ lạ, nếu bắt buộc phải diễn đạt thành lời, tôi chỉ có thể nói rằng dường như tôi đã thấy đến hai Muộn Du Bình của hai thời điểm khác nhau, nhập lại rồi tách rời ra trong tích tắc.

"闷油瓶终于遇到对手了。"我当时心里出现了一个奇怪的想法,如果不是时机不对的话我还真有点幸灾乐祸。一直以来,我认为世界上不可能有人比闷油瓶更难搞的人,原来不是,果然很多时候需要以毒攻毒,以闷打闷。

"Muộn Du Bình cuối cùng cũng gặp phải đối thủ."

Lúc ấy trong lòng tôi nảy ra một suy nghĩ kỳ cục, nếu không phải rơi vào thời điểm không thích hợp thì tôi còn có cảm giác hả hê.

Xưa nay tôi vẫn tưởng trên đời không ai khó trị hơn hắn, thì ra không phải vậy, quả nhiên nhiều lúc phải lấy độc trị độc, lấy muộn trị muộn.

闷油瓶没有再次追上去,他静静地看着盘马扬长而去,就这么几秒钟的时间,刚才那种时空错乱的感觉又烟消云散。

Muộn Du Bình không đuổi theo nữa, hắn lẳng lặng nhìn Bàn Mã nghênh ngang bỏ đi, ngẩn ngơ mất vài giây, mọi thứ lại tan thành mây khói.

阿贵不知所措,看看我,看看远去的盘马,看看闷油瓶,面色有点撮火,显然搞不懂这故弄玄虚的是唱的哪一出。我怕他出现腻烦情绪,忙拍了拍他,走到闷油瓶身边,和他说让他回去,别急,既然盘马让我去我就去,问完了就立即回来告诉他。

A Quý không biết phải làm sao, hết nhìn tôi rồi nhìn theo bàn Mã đã đi xa, lại nhìn đến Muộn Du Bình, sắc mặt có vẻ ngán ngẩm, hiển nhiên anh ta không hiểu nổi mấy câu nói úp mở làm màu vừa rồi.

Tôi sợ A Quý chán nản, vội vỗ vai anh ta vài cái rồi đến bên Muộn Du Bình khuyên hắn về đi, đừng sốt ruột.

Bàn Mã bảo tôi đi thì tôi cứ đi đã, hỏi lão xong sẽ lập tức quay về kể lại cho anh biết.

闷油瓶不置可否,点了点头,还是看着远去的盘马,不知道在思索什么。

Muộn Du Bình chẳng ừ hữ gì, chỉ gật đầu, ánh mắt vẫn dõi theo Bàn Mã đằng xa, không biết đang nghĩ gì.

不知为什么,这时,我觉得他的眼神忽然变得有些不同了,好像少了什么东西,同时我又感觉,这眼神我之前在什么地方见过。

Không hiểu vì sao, đúng lúc này, tôi cảm thấy ánh mắt hắn đột ngột biến đổi, giống như đã thiếu đi điều gì, đồng thời cũng cho tôi cảm giác hình như mình từng gặp ánh mắt này ở đâu đó.

刚才他们四目交汇的时候,一定发生了什么,盘马的这种表现,是一种极强烈的暗示,他肯定知道一些事,而且他肯定知道闷油瓶是谁,甚至和他有过比较深的渊源,但看他的态度,似乎这种渊源一点都不愉快。

Vừa rồi khi bốn mắt họ giao nhau chắc chắn đã gửi đi tín hiệu gì đó, thái độ của Bàn Mã là một sự gợi ý rất rõ ràng.

Lão nhất định đã biết một vài chuyện, hơn nữa lão chắc chắn phải biết Muộn Du Bình là ai, thậm chí còn có khúc mắc sâu xa gì đó với hắn.

Mà nhìn thái độ của lão, thì đảm bảo cái khúc mắc này cũng chả vui vẻ gì.

我迫不及待地追了上去。

Tôi gấp gáp đuổi theo.

跟阿贵再次来到盘马家的饭堂里席地坐下,我脑子里一直在琢磨盘马的话是什么意思,以及应该如何有效地和盘马这样的人交流。

Một lần nữa theo A Quý vào ngồi trong phòng ăn nhà Bàn Mã, tâm trí tôi cứ không ngừng nghĩ ngợi xem những lời Bàn Mã nói có ý gì?

Và phải trao đổi với lão bằng cách nào mới hiệu quả.

"你们两个在一起,迟早有一个会被另一个害死。"

"Nếu hai người còn đi chung với nhau, sớm muộn gì cũng có ngày một người bị người kia hại chết."

盘马突然说出这么一句话,本身就让人摸不着头脑,如果他不是知道什么,他一个山里的猎人是不会无缘无故耍花枪的。但他的态度又很奇怪,而且很明显,他不是很喜欢闷油瓶。

Bàn Mã đột ngột nói ra một câu kỳ lạ như thế, nếu lão thực sự không biết gì, thì một thợ săn miền núi như lão cũng chẳng lý gì lại vô duyên vô cớ bày trò dắt mũi tôi.

Nhưng thái độ của lão lại rất quái gở, hơn nữa rõ ràng lão không ưa Muộn Du Bình.

我实在想不出个中关系。这可能是一句很普通的话,也可能带有什么隐喻,我一直告诉自己让自己别多想,也许盘马老爹的意思是我的身手太差,闷油瓶的身手又太好,所以我总有一天会连累他。但是我的直觉告诉我,这句话从承前启后来看,被警告的人似乎是我,我是那个迟早被害死的人。

Tôi thật sự không luận ra những mối liên hệ trong đó.

Đây có thể chỉ là một câu nói hết sức bình thường, cũng có thể ẩn chứa điều gì đó.

Tôi vẫn luôn tự nhắc nhở bản thân đừng nghĩ ngợi quá nhiều, có lẽ ý của Bàn Mã chỉ là bản lĩnh của Muộn Du Bình rất cao cường, nhưng của tôi lại quá cùi bắp, nên sẽ có ngày tôi vạ lây đến hắn.

Nhưng trực giác mách bảo cho tôi biết, nếu xem xét những lời này một cách có đầu có đuôi, thì người bị cảnh cáo dường như lại chính là tôi.

但是闷油瓶可能把我害死吗?如果没有他,我现在早就是几进宫的粽子了,即使他要害死我,我也只能认栽了,这似乎也完全说不通。

Nhưng Muộn Du Bình làm sao hại chết được tôi chứ?

Nếu không có hắn, tôi đã thành bánh tông thứ thiệt vài lần rồi, cho dù hắn muốn hại chết tôi thì tôi cũng chỉ biết bó tay chịu chết, nói kiểu gì cũng không thấy hợp lý.

Mà với tính tình lập dị của hắn, người khác cũng rất khó kết thân.

盘马的儿子打来水给我们洗脸洗身体,盘马因为伤口在后背,就由他儿子代劳,他自己点起水烟袋,抽他们瑶族的黄烟。

Con trai Bàn Mã xách nước đến cho chúng tôi tắm rửa, do vết thương sau lưng nên lão để con làm thay, còn mình thì lấy loại thuốc lá riêng của người Dao cho vào điếu cày hút.

我闻着味道发现烟味和闷油瓶的草药味有点类似,看来那些草药里也有这种成分。于是我想着能不能以这个当切入口先缓和一下气氛,却完全找不到话头。

Tôi ngửi mùi này thấy giống mùi thảo dược của Muộn Du Bình, xem ra trong loại thảo dược đó cũng có thành phần thuốc lá.

Vốn định mượn chi tiết này nói vài câu xoa dịu bầu không khí, lại không tìm được chủ đề nào.

天色一下沉了下来,似乎又要下雨,广西实在太喜欢下雨了,盘马的儿媳妇关上窗户后席地而坐,风从缝隙中吹进来,气温一下凉爽了很多,老头这才给我行了一个当地的礼仪,我也学着还了一下。

Sắc trời mỗi lúc một âm u, hình như lại muốn mưa, Quảng Tây đúng là đất mưa nhiều.

Cô con dâu Bàn Mã đóng cửa sổ lại rồi ngồi xuống chiếu, gió lùa qua khe hở thổi vào làm bầu không khí nhanh chóng dịu đi.

Lúc này lão mới làm một động tác giống hành lễ kiểu địa phương với tôi, tôi cũng dựa theo đó mà đáp lại.

此时我才能仔细打量盘马的样貌。盘马五官分明,脸上满是和山民一样黝黑的皱纹,非常普通的样貌,这时很难想象当年他天神老爹的派头,真是人不可貌相。这个五官绝对和闷油瓶不会是一个谱系的,想到这里我稍微放心了一点。

Lúc này tôi mới có điều kiện quan sát kỹ càng vẻ ngoài lão Bàn Mã.

Ngũ quan rõ ràng, gương mặt đầy những vết nhăn ngăm đen như bao người miền núi khác, tướng mạo hết sức bình thường.

Nhìn ông lão bây giờ rất khó tưởng tượng được dáng vẻ của ông tiên này lúc trước, đúng là không thể trông mặt bắt hình dong.

Mặt mũi như này thì chắc chắn không thể có họ hàng gì với Muộn Du Bình được, nghĩ đến đó tôi mới hơi yên tâm.

阿贵在一边把我的来意说了一遍,还说我是官面上的人物,盘马看着我说了一句话,阿贵翻译道:"老爹说,你到底是什么人他大概也能猜得到,他也早就料到有一天会有人问起这件事。你想问什么就问吧,问完就赶紧走,不要来打扰他。"

A Quý ngồi bên cạnh kể qua một lượt về mục đích đến của tôi, nhắc lại tôi là cán bộ chính phủ.

Bàn Mã liền nhìn tôi nói một câu, A Quý phiên dịch: "Lão nói, cậu thật ra là ai lão cũng đoán được lờ mờ, từ lâu lão đã đoán trước đến một ngày sẽ có người hỏi chuyện này.

Cậu muốn hỏi gì thì cứ hỏi đi, hỏi xong thì mau cút, đừng đến quấy rầy lão nữa."

我又愣了一下,感觉老爹话里带着什么意思,好像他误会我是什么人了。

Tôi lại ngây ra mất một lúc, cảm thấy lời lão đều mang ẩn ý gì đó, cứ như lão hiểu lầm tôi là một người nào khác.

可是我又无法清晰地感觉出他误会的原因,想着想着我立即反应过来,知道现在根本不应该去琢磨,当成自己也没发觉是最妥当的,等再有点苗头了,再说清楚也不迟。

Nhưng tôi lại không thể cảm nhận một cách rõ ràng nguyên nhân của sự hiểu lầm này.

Nghĩ đến đây tôi liền phản ứng, biết lúc này căn bản không nên nghĩ nhiều, cứ coi như mình không phát hiện ra là tốt nhất, chờ có thêm manh mối rồi nói cho rõ ràng cũng chưa muộn.

我正了正神,心里理了一下,于是对老爹道:"就是想和您打听一下以前那只考古队的事情,我想您能把当年的情况和我大概说一遍。不过,在这之前,我想知道,您刚才的那句话,是什么意思?什么叫我们两个,一个肯定会被一个害死——"

Tôi nghiêm mặt, chỉnh đốn lại tâm tư rồi bảo lão: "Cháu chỉ muốn hỏi thăm ông vài chuyện về đội khảo sát ngày trước, mong ông có thể kể sơ sơ một lượt cho cháu nghe tình hình năm đó.

Nhưng trước đó, cháu cũng muốn biết câu nói vừa rồi của ông là có ý gì?

Cái gì mà 'hai chúng ta, một người chắc chắn sẽ bị người kia hại chết'..."

盘马吸了一大口烟,?然露出一个很奇怪的表情,摇头说了几句话,阿贵翻译道:"老爹说,他刚才那句话的意思很明白,你的那个朋友你完全不了解他是怎样的一个人,和他在一起,你绝对不会有好下场。"

Bàn Mã rít một hơi thuốc dài, tôi còn chưa nói xong lão đã lắc đầu cười, nói mấy câu, A Quý ngây ra một lúc mới dịch lại: "Lão ba ý câu vừa nãy của ông ấy rất rõ ràng: bạn của cháu, cháu hoàn toàn không hiểu con người thật của hắn.

Ở bên hắn, chắc chắn cháu sẽ không có kết cục tốt."

"您认识他?"我立即追问道。"为什么这么说?"

"Ông biết hắn?"

Tôi hỏi, "Vì sao lại nói vậy?"

盘马老爹看着我,顿了顿,好久才道:"脸我不认得,但我认得他身上的死人味道。"

Lão Bàn Mã nhìn tôi: "Tuy không biết mặt, nhưng ta nhận ra được mùi vị chết chóc trên người họ."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 11: Mùi vị


阿贵翻译这句话用了很长的时间,显然他也觉得非常奇怪,这是什么意思?我更加不明白了。

A Quý mất khá lâu để dịch câu nói này, rõ ràng cậu ta cũng thấy rất kỳ lạ.

Ý của nó là gì vậy?

Tôi càng không hiểu.

"死人味道"是什么味道?尸臭?

"Mùi vị chết chóc" là mùi gì?

Là mùi xác chết?

我还想继续追问,没想到盘马摇了摇头,让我不要问这个问题:死人味道,就是死人味道。你想知道其他的事就快问,这件事情,他只能说到这里,信不信,他都不管。

Tôi còn muốn tiếp tục hỏi, không ngờ Pan Ma lại lắc đầu, ra hiệu đừng hỏi nữa: mùi vị chết chóc, chính là mùi vị chết chóc.

Nếu muốn biết chuyện khác thì hỏi nhanh, còn chuyện này, ông ta chỉ nói tới đó thôi, tin hay không, ông ta chẳng quan tâm.

我自然不肯就这么放弃,但是盘马的态度很强硬,我求了他几声,他连一点表情都没有,甚至不作回应。

Tôi tất nhiên không muốn bỏ cuộc như vậy, nhưng thái độ của Pan Ma rất cứng rắn.

Tôi van xin vài lần, ông ta cũng không biểu lộ chút cảm xúc nào, thậm chí không đáp lại.

这边阿贵就给我打了几个眼色,让我别追问了,怕问烦了盘马翻脸,我才停了下来,心中不由得暗骂死老头他娘的太不识抬举。

Ở bên cạnh, A Quý ra hiệu cho tôi đừng hỏi nữa, sợ nếu hỏi quá nhiều Bàn Mã nổi giận, tôi mới dừng lại, trong lòng thầm chửi lão già kia quá ngang ngược.

我看得出盘马心里肯定有很多东西,虽然表面上他没有任何表现,但是话里无一不是在告诉我,他知道很多东西。但是他似乎又有点遮遮掩掩,显得态度很矛盾,从他对闷油瓶的不动声色来看,这老头子绝对见过大世面。

Tôi nhìn ra trong lòng lão Bàn Mã chắc chắn còn giấu nhiều chuyện, tuy không thể hiện ra ngoài, nhưng không câu nói nào không ngầm ám chỉ với tôi rằng lão biết rất nhiều chuyện.

Nhưng dường như lão lại muốn che che đậy đậy, thái độ rất mâu thuẫn, từ thái độ bình thản khi đối mặt với Muộn Du Bình, có thể thấy lão già này nhất định là một người từng trải.

我脑子转了一下,换位思考,什么时候人会有这种表现?

Đầu óc tôi cứ quay mòng mòng, đặt mình vào địa vị người khác mà nghĩ xem, một người sẽ tỏ thái độ này vào lúc nào?

一种是有东西待价而沽的时候,我以前和一些掮客打交道,都是这样放一句,收一句。但这老鬼不是很像那些掮客。

Một là khi đang muốn bán đồ với giá cao, trước kia tôi đã tiếp xúc với một vài tay lái buôn, cũng có cái kiểu nói năng nhát gừng như thế.

Khổ nỗi lão quỷ này lại không giống cho lắm.

另一种是自己心中藏有一个秘密,绝对不能说,但是他看到了一个现象和他的秘密有关,如果他不说可能会导致某些严重的事情发生,在这种矛盾中他只能提供一些模棱两可的说辞。比如说有一个特务已经被人怀疑了,这时候他看到一个小鬼在玩一个铁圆盘,他知道铁圆盘是地雷,但他如果和那个小孩说了,他的特务身份就可能暴露,这时他就会对那个小鬼说:"你和这个东西玩,迟早会被这个东西害死。"

Hai là trong lòng ẩn giấu một bí mật, tuyệt đối không thể tiết lộ, nhưng anh ta lại chứng kiến một chuyện nào đó xảy ra có liên quan đến bí mật của mình; nếu không chịu tiết lộ, có thể sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.

Trong tình cảnh mâu thuẫn này, anh ta chỉ có thể nói một câu lập lờ nước đôi.

Ví dụ như có một đặc vụ đã bị nghi ngờ, lúc này anh ta thấy một thằng nhóc đang nghịch một khối tròn bằng sắt, anh ta biết khối tròn đó chính là mìn, nhưng nếu nói ra điều này với thằng nhóc thì thân phận đặc vụ của anh ta có thể bại lộ.

Nên anh ta mới bảo thằng nhóc kia: "Cháu nghịch món đồ này, sớm muộn gì cũng bị nó hại chết."

我觉得这种可能性很大,我刚开始来这里只想知道文锦他们进山的一些细节和时间,但他看到了闷油瓶之后,表现出的一些细节让我想得更多。也就是说,推理出他认为闷油瓶是一只会炸死我的地雷,他心中有一个秘密使得他知道闷油瓶是地雷,但是他并不愿意说。

Tôi cảm thấy khả năng này rất lớn.

Khi mới tới nơi này tôi chỉ muốn biết chút ít về tình hình và thời gian nhóm Văn Cẩm vào núi, nhưng sau khi lão trông thấy Muộn Du Bình, lại tỏ thái độ khiến tôi buộc phải để ý.

Nói cách khác, theo lý mà suy thì lão cho rằng Muộn Du Bình chính là quả mìn có thể nổ chết tôi.

Trong lòng lão chứa một bí mật cho lão biết Muộn Du Bình chính là quả mìn đó, nhưng bí mật này lão lại không muốn nói ra.

有意思!我忽然就不内火了,他娘的不怕你不泄密,就怕你没秘密。这老鬼会提醒我,说明他良知未泯,至少可以说,他对我的印象应该不坏。现在骂人也没用,耐心一点说不定还能套出来点什么。

Thú vị thật!

Tôi đột nhiên không còn bực nữa.

Mẹ nó, không sợ ông không chịu hé miệng, chỉ sợ là ông chẳng có bí mật nào để nói.

Lão già này chịu nhắc nhở tôi, chứng tỏ lương tâm vẫn còn, ít nhất cũng có thể nói rằng ấn tượng của ông về tôi không tệ.

Giờ có chửi cũng vô ích, kiên nhẫn một chút, biết đâu còn moi ra được thêm gì đó.

不过,一开始就表明自己的窥探想法会让他心生警觉,所以我决定先不动声色,转移一下注意力。于是我点头道:"算了,这个您不想说,那我也就不勉强了,您能和我说说那支考古队的事情吗?"

Tuy nhiên, nếu ngay từ đầu mà để lộ ý muốn thăm dò của mình, chắc chắn sẽ khiến ông ta cảnh giác.

Vì vậy, tôi quyết định giữ im lặng, không để lộ cảm xúc, chuyển hướng chú ý sang chuyện khác.

Tôi gật đầu nói: "Thôi được, chuyện này ông không muốn nói thì tôi cũng không ép.

Vậy ông có thể kể cho tôi nghe về đội khảo cổ đó được không?"

阿贵听了之后松了口气,显然他怕我们吵起来,不给任何我再问的机会,迅速把这个问题翻译了过去。

A Quý nghe xong thở phào, rõ ràng cậu ta sợ chúng tôi cãi nhau, không để tôi có cơ hội hỏi thêm, nhanh chóng dịch câu hỏi đó sang cho Bàn Mã.

盘马这才抬起头来,却又摇摇头,说了一句话。阿贵也立即翻译回来道:"老爹说,你弄错了,那不是考古队,那些人,是当兵的。"

Lúc đó Bàn Mã mới ngẩng đầu lên, nhưng lại lắc đầu, nói một câu.

A Quý lập tức dịch lại: "Ông cụ nói, cậu nhầm rồi, đó không phải là đội khảo cổ, những người đó là lính."

"当兵的?"我一开始以为我听错了,阿贵又翻译一遍。我没听错。

"Lính?"

Tôi sững người, tưởng mình nghe nhầm, A Quý lại dịch lại lần nữa.

Tôi không nghe nhầm.

琢磨了一下,我感觉一定是盘马老爹搞错了,当时的人都穿着绿军装,他可能把那些人都当成当兵的了。

Suy nghĩ một lát, tôi cảm thấy chắc Bàn Mã đã nhầm lẫn, khi đó, mọi người đều mặc quân phục màu xanh lục, có lẽ ông ta tưởng họ là lính.

(接下来的对话,都有阿贵在其中翻译,为了叙述方便不再一一说明。)

(Từ đây, các đoạn hội thoại đều có A Quý dịch lại, để tiện cho việc kể chuyện, tôi sẽ không nhắc lại phần dịch thuật nữa.)

"当时形势很紧张嘛。来了好些个兵,都背着冲锋枪,说是要到羊角山里,找人给他们带路,阿贵的爹当时就找了我,我就给他们带到山里去了。"老爹继续道。

"Khi đó tình hình rất căng thẳng.

Có không ít binh lính kéo đến, ai cũng mang súng tiểu liên.

Họ nói muốn vào núi Dương Giác, tìm người dẫn đường, khi ấy, cha của A Quý tìm tôi, thế là tôi đưa họ vào núi."

Lão ba tiếp tục kể.

我皱起眉头,忽然想起那时和越南的边境纠纷,上世纪七十年代这里一直在零零星星地打仗,我倒没有想到当时这里正是战区,形势更加的复杂。

Tôi cau mày, chợt nhớ đến những tranh chấp biên giới với Việt Nam vào thời điểm đó, những năm 1970, khu vực này vẫn còn giao tranh lẻ tẻ, tôi lại không nghĩ ra rằng nơi này từng là vùng chiến sự, khiến tình hình càng thêm phức tạp.

这真是我没想到的情况,我一下就陷入了沉思,脑子里很多东西开始闪现出来。

Đây thực sự là điều tôi không ngờ tới, tôi lập tức chìm vào suy nghĩ, nhiều suy đoán liên tục hiện lên trong đầu.

当时那种环境下,肯定不可能会有考古队来这里考察的,那事情就奇怪了......文锦他们还真是神通广大。难道当时的项目是国家派下的项目,有枪就说明真的有当兵的保护。看来盘马老爹说的也不全是假的。

Với bối cảnh đó, chắc chắn không thể nào có một đội khảo cổ đến đây để nghiên cứu.

Chuyện này thật kỳ lạ...

Nhóm Văn Cẩm đúng là có khả năng phi thường.

Chẳng lẽ dự án khi ấy là nhiệm vụ được nhà nước giao phó?

Nếu có vũ khí, tức là thật sự có quân đội bảo vệ.

Xem ra những lời của lão ba Bàn Mã cũng không hoàn toàn sai.

什么项目能够让国家往战区里派进一支考古队呢?难道羊角山里真的有一个价值很大的古墓?

Rốt cuộc đó là dự án gì mà có thể khiến nhà nước điều một đội khảo cổ vào vùng chiến sự?

Chẳng lẽ thật sự có một ngôi mộ cổ vô cùng giá trị trong núi Dương Giác?

"那些人的背景非常深......"三叔的话在我脑海里一闪而过,让我打了个寒战。

"Thế lực đằng sau những người đó rất lớn..."

Câu nói của chú Ba bất chợt lóe lên trong đầu, khiến tôi không khỏi rùng mình.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 12: Hồi ức của Bàn Mã


之后,我和盘马老爹的对话持续了三个多小时,我不停地提问题,一边了解事情的经过,一边试图试探出那个秘密。

Sau đó, cuộc trò chuyện giữa tôi và cụ Bàn Mã kéo dài hơn ba giờ, tôi không ngừng đặt câu hỏi, vừa tìm hiểu diễn biến sự việc, vừa cố gắng dò xét bí mật mà ông ta giấu.

谈话内容十分的分散,老爹讲话加上阿贵翻译,有时候还要互相解释概念,非常花时间。而且老爹并不十分配合我的问题,也或许是阿贵的翻译有一些偏差。所以谈完之后,我的脑海中完全是一片支离破碎的景象。

Nội dung cuộc trò chuyện rất rời rạc, ông lão nói, A Quý dịch lại, đôi khi hai bên còn phải giải thích thêm khái niệm, nên mất rất nhiều thời gian, hơn nữa, ông lão cũng không hoàn toàn phối hợp trả lời câu hỏi của tôi, hoặc có thể do A Quý dịch không chính xác.

Vì vậy, sau khi nói chuyện xong, những gì đọng lại trong đầu tôi chỉ là một mớ ký ức vụn vặt, rời rạc.

文锦他们进山的年份,大概是在1976年,老头没法很精确地说出时间。

Năm mà nhóm Văn Cẩm vào núi, khoảng chừng năm 1976, nhưng ông lão không thể xác định chính xác thời gian.

当时带队的应该就是文锦,但是我拿出西沙的合照让老爹看的时候,他却无法分辨出其他人。时间太久人也太多,当时那种环境下,所有的人都一个发型一种衣服,他只记住了唯一的一个带队,非常合理。

Có vẻ người lãnh đạo chính là Văn Cẩm, nhưng khi tôi lấy bức ảnh chụp chung ở Tây Sa cho ông ta xem, ông lão lại không thể nhận ra những người khác.

Thời gian đã quá lâu, hơn nữa người trong ảnh quá nhiều, lại thêm bối cảnh khi đó, ai cũng có chung một kiểu tóc, một loại trang phục, nên ông lão chỉ nhớ được người lãnh đạo, như vậy cũng rất hợp lý.

前面的事情平淡无奇,当时这里边境冲突频繁,村里出现部队太平常了,要知道在1978年前后,上思一带几乎都是解放军,山里的路大部分都是打对越反击战时挖出来的,部队要进山里找向导,那是属于军事任务。

Những chuyện trước đó không có gì đặc biệt, khi ấy, biên giới khu vực này thường xuyên xảy ra xung đột, bộ đội xuất hiện trong thôn là bình thường, phải biết rằng, vào khoảng năm 1978, khu vực Thượng Tư gần như tràn ngập quân Giải phóng, phần lớn những con đường trong núi đều được đào ra trong cuộc phản kích chống lại quân đội Việt Nam, do đó, việc bộ đội vào núi tìm người dẫn đường cũng thuộc về nhiệm vụ quân sự.

盘马拿了部队的津贴,当时他还是壮年,打猎的时候他一个人走得最远、最深,自然是当向导最合适的人选。

Bàn Mã nhận được phụ cấp của quân đội, khi đó, ông lão vẫn còn sung sức, là người đi săn xa và sâu nhất trong vùng, vì thế đương nhiên là lựa chọn phù hợp nhất để làm người dẫn đường.

他们在当天的清晨出发,部队的任务他不便多问详情,只是将部队的人引到了羊角山里,之后便是跟着部队走。他的心思放在了记路上,羊角山他去得也不多,他必须保证能安全返回。

Bọn họ xuất phát vào sáng sớm hôm đó, ông lão không tiện hỏi về nhiệm vụ của quân đội mà chỉ đưa bọn họ vào núi Dương Giác, sau đó đi theo họ.

Toàn bộ tâm trí ông lão đều tập trung vào việc ghi nhớ đường đi, vì dù sao ông ta cũng không thường vào núi Dương Giác, và quan trọng nhất là ông ta phải đảm bảo có thể trở về an toàn.

他们走了相当长的时间,在山里过了一夜,来到了山里的一处湖泊。

Họ đi suốt một khoảng thời gian dài, ngủ lại một đêm trong núi, rồi đến một hồ nước trong rừng.

那个地方盘马只到过一次,那还是他三十一岁那年,他娶老婆要打几只獐子回去请舅爷。那年山里太不太平,野兽都躲到深山里去了。他一路带着狗找进来,找到了这个湖,在湖边上埋伏了一天,猎到了一只野猪。之后他再没有深入过那里。

Bàn Mã chỉ từng đến nơi đó một lần, khi lão ba mốt tuổi.

Lần đó, lão cần săn vài con hoẵng về để đãi cậu của vợ mình trong lễ cưới, nhưng năm ấy, trong rừng không yên ổn, dã thú đều trốn vào vùng núi sâu.

Ông ta dắt chó săn vào rừng lần theo dấu vết, tìm đến cái hồ đó, phục kích suốt một ngày bên bờ hồ, cuối cùng săn được một con lợn rừng.

Từ đó về sau, ông lão không bao giờ vào sâu trong khu vực đó nữa.

那种湖泊自然没有名字,也许除了盘马外,村里人都不知道那里有湖。湖是一个死湖,没有溪涧,底下有没有连着其他地方他就不知道了,部队的人在湖边上扎营立了帐篷,之后盘马的任务就完成了。

Tất nhiên cái hồ đó không có tên, có lẽ ngoài Bàn Mã ra, không có người nào trong thôn biết đến sự tồn tại của nó.

Đây là một hồ nước tù đọng, không có suối chảy vào hay chảy ra, dưới đáy có thông với nơi nào khác hay không, ông lão cũng không rõ, bộ đội đóng quân tại đó, dựng lều trại ven hồ, nhiệm vụ của Bàn Mã cũng kết thúc từ đây.

接下来,他负责每隔几天送给部队一些给养,部队自身的补给很充足,所以他每次进山只带一些大米或者盐巴。阿贵说的那一次奇怪的事,就发生在其中一次。在此期间没有人知道那支部队驻扎在那里是干什么。

Sau đó, ông ta chỉ có nhiệm vụ mang lương thực tiếp tế cho bộ đội theo định kỳ, vài ngày một lần, nhưng vì họ đã có nguồn cung ứng rất đầy đủ, nên mỗi lần vào núi, ông ta chỉ mang theo ít gạo hoặc muối.

Chính trong một lần tiếp tế như vậy, sự kiện kỳ lạ mà A Quý nhắc đến đã xảy ra, trong suốt thời gian đó, không ai biết rõ nhóm bộ đội này đóng quân ở đây để làm gì.

在这个过程中盘马是很好奇的,但是他也知道在那种年月里,窥探这些东西的代价太大,所以他忍住了自己的好奇心。后来队伍开拔的时候,多了很多盒子,大约有三十个,每个都是鞋盒大小。当兵的很小心地带了出来。

Bàn Mã cũng rất tò mò, nhưng ông ta hiểu rõ rằng vào thời điểm đó, những chuyện thế này không thể tìm hiểu bừa bãi, nếu không cái giá phải trả sẽ rất lớn, vì vậy, ông ta kìm nén sự tò mò của mình.

Đến khi đơn vị đó rút đi, họ mang theo rất nhiều hộp gỗ, khoảng ba mươi chiếc, mỗi hộp có kích thước cỡ một hộp đựng giày, những người lính di chuyển chúng rất cẩn thận.

他好奇,曾经想拿过一个,但被一个当兵的很婉转地制止了。当兵的说这盒子里装的东西很危险,他寻了个机会拿了一下,只感觉入手十分的重,不知道装的是什么。

Ông ta thấy lạ, từng có ý định cầm thử một cái hộp, nhưng bị một người lính khéo léo ngăn lại, người này nói rằng thứ bên trong rất nguy hiểm.

Dù vậy, Bàn Mã vẫn tìm cơ hội chạm vào, chỉ cảm thấy cái hộp rất nặng, nhưng không rõ thứ gì ở bên trong.

我听到这里,脑子里大概有一些印象,这种鞋盒大小的盒子,叫做收纳盒,外号叫做骨董盒,是考古队用来存放出土整理后的文物碎片的。这种盒子一般都被严格编号,有大有小,但是大部分都是鞋盒大小(出土的文物一般较重,鞋盒大小所容纳的重量最适合搬运)。

Nghe đến đây, trong đầu tôi lập tức có ấn tượng, những chiếc hộp cỡ hộp giày này thường được gọi là "hộp lưu trữ", còn có biệt danh là "hộp cổ vật".

Đây là loại hộp mà các đoàn khảo cổ sử dụng để lưu giữ và sắp xếp những mảnh di vật khai quật được, chúng thường được đánh số một cách nghiêm ngặt, có nhiều kích cỡ khác nhau, nhưng đa số có kích thước tương đương hộp giày (vì hiện vật khai quật thường khá nặng, và kích thước này là phù hợp nhất để vận chuyển).

盘马非常纳闷,因为湖的边上并没有什么特别的东西,盒子里的东西是哪里来的?他当时的想法是这盒子里肯定装的是石头,因为湖泊的边上是大片的石滩,有很多很多的石头。

Điều khiến Bàn Mã băn khoăn là xung quanh hồ không có gì đặc biệt, vậy những thứ trong hộp đến từ đâu?

Ông ta đoán rằng chắc bên trong chỉ toàn đá, vì ven hồ là một bãi sỏi lớn, có rất nhiều đá.

不过,他很快就发现不对劲,因为在山中行进了一段时间后,盒子里开始散发出一股奇怪的味道,非常难闻并且无法形容。

Nhưng không lâu sau, ông ta nhận ra có gì đó không ổn, khi di chuyển trong núi được một đoạn, một mùi kỳ lạ bắt đầu tỏa ra từ những cái hộp, rất khó chịu, rất nồng nặc, và không thể diễn tả nổi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 13: Tâm lý chiến


我的第一反应是腐臭味,但盘马说不是,常年打猎的人经常和肉食打交道,腐臭味他绝对能分辨出来,那种味道,确实无法形容。

Tôi nghĩ ngay đến mùi thịt ôi, nhưng Bàn Mã nói không phải.

Người đi săn quanh năm suốt tháng tiếp xúc với thịt nên lão dễ dàng nhận ra mùi thịt ôi.

Chứ còn cái mùi này, quả đúng là không tài nào mô tả nổi.

对于气味的形容一般基于物件,比如说"像茉莉花一样香"或者"和臭袜子一样臭",盘马老爹无法形容,必然是他没有闻过的味道,这种味道甚至连相似的都找不到。

Bình thường muốn tả mùi phải dựa vào vật, ví dụ "thơm như hoa lài" hoặc "hôi như tất thối".

Lão Bàn Mã không tài nào mô tả được, dĩ nhiên là vì lão chưa từng ngửi qua mùi này, thậm chí mùi na ná thế cũng chưa.

我想问他这种味道是不是就是"死人的味道",但终究忍住了,如果这个话题他不想说,中途提出来对我并没有好处。

Tôi muốn hỏi lão mùi này có phải là "mùi người chết" hay không, nhưng rồi lại thôi.

Nếu lão đã không muốn nhắc đến đề tài này thì nửa chừng thắc mắc cũng không có lợi cho tôi.

盘马的好奇更甚,但之后那些人开始对他有所提防,他一直没有机会再接触到那些盒子。回到村里之后,这一批人很快就走了,从此再也没有出现过。这件事对他的影响很深,他进山打猎,总是会想起那支军队,他们进山是什么目的,他们在湖边干什么,那些盒子里是什么东西,又是从哪里来的?

Sau đó lão Bàn Mã càng thêm hiếu kỳ, nhưng những người kia lại bắt đầu đề phòng, nên lão vẫn chưa có cơ hội tiếp xúc với những cái hộp này.

Về đến thôn, nhóm người ấy nhanh chóng rời đi, từ đó về sau biệt tăm biệt tích.

Chuyện này ảnh hưởng rất lớn đến lão, mỗi lần vào núi săn thú lão đều nghĩ về cánh quân kia.

Bọn họ vào núi nhằm mục đích gì, đã làm gì ven hồ; vật đựng trong hộp là gì, từ đâu mà tới?

当时他就预感到,这件事必然以后会有人打听,但是没有想到,我们来得这么晚,过了近三十年我们才出现。

Khi ấy lão đã có linh cảm, rồi sẽ có người đến thăm dò chuyện này.

Nhưng không ngờ lại đến quá muộn, gần ba mươi năm sau chúng tôi mới xuất hiện.

我问他湖的形态,他告诉我,湖是长的,像一把弯刀。四周全是石头,有的很大,比人还大,有的和鹅卵石差不多。湖现在还在,不过因为气候的变化,湖的水位下降得很厉害,三年前他去过一次,湖已经比原来小了一半。

Tôi hỏi lão hồ nước trông như thế nào, lão bảo hồ dẹt như một thanh loan đao.

Bốn phía đều là đá tảng, có những tảng rất to, to hơn thân người, mà cũng có những viên nhỏ bằng đá cuội.

Hồ vẫn còn đó, nhưng vì khí hậu biển đổi nên mực nước rút xuống rất nhanh, ba năm trước lão quay lại thì thấy hồ chỉ còn một nửa so với ban đầu.

听到这里我陷入了沉思。盒子中装的大有可能就是我们在闷油瓶的高脚楼里发现的那种铁块,如果是三十多盒,整盒整盒往外搬的话,数量必然不少,还真有可能是如胖子说的,是什么东西的碎片。

Nghe đến đó, tôi rơi vào trầm tư.

Thứ được giấu trong hộp, rất có thể chính là khối sắt mà chúng tôi đã tìm thấy ở nhà Muộn Du Bình.

Nếu có đến ba mươi cái rương được khuân ra ngoài thì hiển nhiên số lượng không nhỏ, rất khả năng nó là mảnh vỡ của món đồ nào đó như lời Bàn Tử nói.

这些东西是从哪里来的呢?之前胖子在有限的条件下推测,这羊角山中有一个古墓,但是我现在听来,感觉会不会是从那个湖底捞上来的?

Những thứ này từ đâu mà ra?

Trước kia trong điều kiện thiếu thốn thông tin, Bàn Tử từng suy đoán trong núi Sừng Dê có một ngôi mộ cổ.

Giờ nghe chuyện lão kể, tôi lại nghĩ phải chăng những món đồ này được vớt từ đáy hồ lên?

难道他们在那个湖底发现了一只大型的铁器之类的东西,然后他们将其就地分解,一块一块带出去?

Lẽ nào bọn họ phát hiện ra một cỗ máy bằng sắt cỡ lớn dưới đáy hồ, tháo nó ra ngay tại chỗ rồi mang từng khối ra ngoài?

不太可能,这样一来这东西就等于废铁,而且如果是这样,不可能用鞋盒那么小的盒子来装。

Khả năng này không lớn, vì nếu thế thì thứ này khác nào sắt vụn, hơn nữa cũng không thể đựng bằng hộp nhỏ cỡ hộp giày.

我不禁也好奇起来,心中已经同意了胖子的想法,无论如何得去羊角山里去看一看。

Tôi không nén nổi trí tò mò, lòng đã ngầm đồng ý với giả thiết của Bàn Tử, mà dù sao đi chăng nữa cũng phải đến núi Sừng Dê ngó thử một lần.

盘马老爹也有一块铁块,说是山里捡来的,而且他认为价值连城,显然考古队走了之后,盘马老爹肯定还做了一些什么。他不知道我知道他有这块铁块,所以只字未提,这让我更加确定他瞒着很多事。

Lão Bàn Mã cũng có một khối sắt, nói là nhặt được trong núi, vả lại lão cứ đinh ninh có cực kỳ quý giá; rõ ràng là sau khi đội khảo sát rời đi, lão Bàn Mã còn động tay động chân vào nữa.

不过,他现在和我说的,应该也不是谎言。铁块、"死人的味道"是和危险连在一起的,他肯定经历了一件事情,让他把这三者联系了起来。闷油瓶的记忆中,铁块是一个十分危险的东西,而盘马老爹的回忆中,那个当兵的也和他说过铁块很危险,这些都很吻合。

Đây chính là bí mật trong lòng lão, khối sắt và "mùi người chết" có mối liên hệ với nguy hiểm, lão nhất định đã gặp chuyện gì đó mới kết nối ba cái này lại với nhau.

Trong ký ức của Muộn Du Bình, khối thép kia là một vật vô cùng nguy hiểm; mà trong hồi ức của lão Bàn Mã, người lính kia cũng bảo lão rằng khối sắt này rất nguy hiểm.

我琢磨着怎么让他开口,要说坏水,虽然我本性比较安分守己,但是和潘子、胖子他们混久了,要挤也能挤出少许来。这种时候,我能利用的就是老爹还弄不清楚我的身份,可以诈他一下。

Tôi nghĩ cách cạy miệng lão ra, xét về độ gian trá, tuy tính tôi an phận thủ thường nhưng chơi với đám Phan Tử Bàn Tử đã lâu, muốn gian trá cũng có thể nặn ra một ít gian trá.

Vào lúc này, tôi có thể lợi dụng việc lão không nắm rõ thân phận của tôi để lừa lão một chặp.

诈人的诀窍就是让别人以为你基本上都知道了,从而在整个对话的形式上,把询问变成一种质问。

Bí quyết lừa người chính là để người khác lầm tưởng bạn đã biết cả rồi, cho nên về hình thức cuộc đối thoại, bạn phải biến câu hỏi thành chất vấn.

这就到关键时候了,我静了一会儿,脑子里有了一个大概的想法,就又问道:"那么,你后来再回到湖边的时候,是怎么发现那块铁块的。"

Tôi im lặng giây lát, trong đầu đã vạch ra phương án sơ lược, liền hỏi: "Vậy sau đó trở lại ven hồ, ông đã phát hiện ra khối sắt này như thế nào."

这完全是我猜测的,因为铁块既然是从山里找来的,就不太可能是其他地方,我赌了一把,反正猜错我也完全没有损失。

Đó hoàn toàn là suy đoán, vì nếu khối sắt này tìm được trong núi thì rất khó có thể là nơi nào khác ngoài cái hồ.

Tôi thử đánh cuộc một phen, dù sao có đoán sai cũng không mất mát gì.

盘马老爹一下人就僵了,我知道自己猜对了,但是他除了那极快的一点僵硬,并没有继续表现出什么来,而是看向我。

Lão Bàn Mã đờ người, tôi biết ngay mình đã đoán đúng.

Nhưng trừ khoảnh khắc đứng hình ấy ra, lão cũng không có biểu hiện gì khác, mà chỉ nhìn sang tôi.

我知道这时候要下点猛料,又继续道:"你放心,我只要知道那时候的事情,另外那件事情,我不感兴趣。"

Tôi biết lúc này mình phải bồi thêm một cú nữa, lại tiếp: "Ông yên tâm, tôi chỉ cần biết chuyện xảy ra khi đó, còn những chuyện khác tôi không có hứng."

盘马老爹这下脸色就变了,放下烟斗,就问道:"你到底是谁?"

Lão Bàn Mã biến sắc, buông điếu thuốc xuống hỏi: "Thật ra cậu là ai?"

我心中松口气,几乎要出冷汗。这后面一句话,是在上一句猜测的成功上继续加码,死人味道,铁块的危险,闷油瓶的事情。我料想能让老爹保守秘密的,必然是有一个事故,这个事故一定非常的惊险,很可能有人死,我本来可以说:"他的死我就不过问了。"但是我不知道到底死了多少人,所以换了一个更加稳妥的办法。

Lòng tôi thở phào, muốn toát mồ hôi lạnh.

Câu tiếp theo sẽ tiếp nối thành công trong phán đoán của câu trước, mùi vị người chết, khối sắt nguy hiểm, chuyện của Muộn Du Bình.

Tôi đoán lý do khiến lão giữ bí mật là vì một sự cố, sự cố này nhất định cực kỳ nguy hiểm, dễ chừng còn có người chết.

Đáng ra tôi có thể hỏi: "Tôi sẽ không hỏi đến cái chết của hắn."

Nhưng tôi không biết rốt cuộc đã chết bao nhiêu người, nên đổi sang một biện pháp chắc ăn hơn.

心虚之人,除非知道我的底细,否则必然会露出马脚。

Ngườichột dạ, trừ phi hiểu rõ về tôi, bằng không tất sẽ lộ ra sơ hở.

我心说反客为主的时候到了,立即装出一副高深莫测的表情——我在和客户砍价的时候经常如此——淡淡道:"你还是不要问的好,这整件事情你只要原原本本告诉我就可以了。"说着我摸着口袋抓出一叠钱来,这是本来预备给盘马的资料费,本来打算给个两三百,但是为了视觉效果我把口袋里的一叠都掏了出来,放到自己面前。"我知道一些事情,但是并非完全清楚,所以你不要担心,只要照实说出来,你拿你的钱,之后什么事情都没有,也不会有人知道我们在这里说过什么。"

Tôi thầm nghĩ đây chính là lúc đổi khách thành chủ, lập tức trưng ra bộ mặt cao thâm khó dò - những khi chặt chém khách hàng tôi vẫn thường làm thế - lạnh nhạt nói: "Ông đừng hỏi gì thì hơn, chuyện này ông chỉ cần kể rõ đầu đuôi cho tôi biết là được."

Nói đoạn vuốt túi áo, lấy ra một xấp tiền vốn dành để trả phí tư liệu cho Bàn Mã.

Đáng ra chỉ trả hai ba trăm, nhưng để trông có vẻ hoành tráng nên trong túi có bao nhiêu tôi lôi ra bằng hết, đập xuống trước mặt.

"Tôi biết một vài chuyện nhưng không rõ ràng lắm, nên ông đừng lo gì cả, chỉ cần nói ra sự thật là được.

Ông cầm tiền là xong, về sau sẽ không làm sao hết, cũng không ai biết chúng ta đã nói gì ở đây."

盘马看着我,露出了心神不定的神色,我用一种非常镇定但是充满逼迫的眼神看着他,等他发飙或者投降。

Bàn Mã nhìn tôi, có vẻ thấp thỏm không yên.

Tôi nhìn lão bằng ánh mắt cực kỳ bình tĩnh và tập trung, chờ lão nổi giận hoặc đầu hàng.

"你是怎么知道那些事情的?"他问我道,"你倒说给我听听。"

"Làm sao cậu biết chuyện này?"

Lão hỏi.

"Nói ta nghe thử xem."

啧?我骂了一声心说这老鬼还真顽固,这怎么说得出来,我表面不动声色,但是脑子立即狂转。

Hừ, tôi chửi thầm, nghĩ bụng lão quỷ này đúng là ngoan cố, cái này làm sao mà nói ra được.

Ngoài mặt tôi không đổi sắc, nhưng tâm trí tức khắc xoay chuyển điên cuồng.

那就是一秒内的反应,我几乎顺口就道:"难道你们就不知道,有人跟着你们吗?"

Trong một giây phản ứng, tôi gần như buột miệng hỏi: "Lẽ nào các người không biết có người đi theo mình sao?"

我话一出,自己还没回过味来,就发现盘马的表情明显松了下来,心中咯噔一下,我心说糟糕了,被揭穿了。

Lời vừa nói ra, còn chưa còn chưa kịp định thần thì đã thấy nét mặt Bàn Mã thả lỏng, tim rớt mất một nhịp, thầm nghĩ thôi tiêu rồi, mình đã bị lật tẩy.

盘马看着我道:"虽然我不知道你是谁,不过我也不是老糊涂,你回去后不要来找我了,你什么都不知道,我也不会告诉你。"说着就要来撵我。

Bàn Mã liền nhìn tôi nói: "Tuy không biết cậu là ai, nhưng ta cũng không phải lão già hồ đồ.

Cậu về rồi đừng quay lại tìm ta nữa, cậu chẳng biết gì hết, ta cũng không nói cho cậu biết."

Nói đoạn liền ra ý muốn tiễn khách.

我迅速地回想,心说哪里被他发现了,是他能确定觉得没有人跟着他,还是当时的情况不可能被人跟?我想着怎么补救却发现没什么好办法,一下就沮丧了下来。

Tôi lập tức phản ứng, thầm nghĩ làm sao lão phát hiện ra được nhỉ.

Vì lão có thể xác định không ai bám theo mình, hay là vì tình hình khi đó không thể bị bám theo được?

Tôi cố nghĩ làm sao để vớt vát, lại phát hiện mình chẳng có cách nào hay, nhanh chóng chán nản buông xuôi.

他的儿子来开门,意思是让我们出去,门一开光线一亮,我正想起身,忽然就发现老爹的脚,竟然有一些轻微的抖动。

Con trai lão mở cửa, có ý muốn mời chúng tôi ra.

Cửa vừa mở ánh sáng liền ùa vào, tôi đang định đứng lên, chợt phát hiện chân lão run rẩy nhè nhẹ.

我猛地看向老爹,发现他正看着我,虽然脸上镇定得一点波澜也看不出来,但是脸色坏得吓人,显然处于极度的紧张中。

Tôi nhìn sang lão, phát hiện lão cũng đang nhìn tôi, tuy nét mặt vẫn điềm tĩnh không chút gợn sóng nhưng sắc mặt lại xấu một cách đáng sợ, rõ ràng trong lòng lão đang căng thẳng cực độ.

我一下就明白了,他也在诈我!

Tôi nhanh chóng hiểu ra, lão cũng đang lừa tôi!

我立即将我起身的起势化成一个伸懒腰的动作,然后重新坐定,用不容辩驳的语气道:"不要嘴硬,我拿事实说话,我没有多少耐心。"

Tôi lập tức biến tư thế nhổm người đứng dậy của mình thành một động tác vươn vai, sau đó ngồi trở về chỗ cũ, nói bằng ngữ điệu không thể phản bác: "Đừng cứng đầu nữa, nói thật, tôi không còn nhiều kiên nhẫn đâu."

盘马看着我,他儿子也看着我,我信心十足,能感觉出自己当时的表情确实阴险不可捉摸得要命。

Bàn Mã nhìn tôi, con trai lão cũng nhìn tôi.

Tôi hoàn toàn tự tin, có thể cảm nhận được vẻ mặt của bản thân vào lúc đó đúng là cực kỳ âm hiểm và khó nắm bắt.

对峙良久,盘马一下崩溃了,他低下了头,向他儿子打了个眼色,他儿子和阿贵说了几句什么,阿贵就半拉半扯地被拉了出去,他儿子进来,坐在了阿贵的位置上,门重新被关上。

Rất lâu sau, Bàn Mã rốt cuộc cũng cúi đầu, nháy mắt ra hiệu cho con trai.

Anh con trai nói gì đó với A Quý, A Quý liền bị nửa lôi nửa kéo ra ngoài.

Con lão trở lại ngồi vào chỗ của A Quý, cửa bị đóng lại lần nữa.

盘马老爹向我行了一个十分大的礼,抬头的时候道:"不管你是谁,希望你说话算话,如果要算老账,就全算我的头上。那些人全是我杀的,其他几个人只是帮我抬东西。"

Lão ba Bàn Mã hành lễ cực kỳ trịnh trọng với tôi, rồi ngẩng đầu lên nói: "Dù cậu là ai, thì cũng mong cậu nói lời giữ lời, nếu muốn tính nợ cũ thì cứ tính cả lên đầu ta.

Người đều do ta giết, mấy người kia chỉ giúp ta khiêng đồ thôi."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 14: Đó là một hồ ma


我诧异于这话是什么意思,但是盘马很快就把整件事情说了出来,只听了几句,我就遍体冰凉,一下明白了死人味道的来历。但是这件事情实在太恐怖了,太出乎我的意料了,我听完之后,首先感觉到的不是疑惑,而是恶心。

Tôi kinh ngạc không hiểu câu nói này có ý gì, nhưng ngay sau đó Bàn Mã đã kể đầu đuôi câu chuyện, mới nghe vài câu toàn thân tôi đã lạnh toát, nhanh chóng hiểu rõ hoàn toàn lai lịch của mùi người chết.

Nhưng chuyện này thật sự quá kinh khủng, nằm ngoài dự kiến của tôi, sau khi nghe xong, cảm giác đầu tiên của tôi không phải nghi hoặc mà là ghê tởm.

我实在无法想象竟然会有这种事情,也无法理解他当时的目的,更无法想象当时的人心为什么会是这样。如果盘马说的是真的,那么他身上背负的就不是什么秘密,而是巨大的罪孽。

Tôi thật sự không thể ngờ lại có chuyện như thế xảy ra, cũng chẳng hiểu nổi mục đích của lão khi ấy, càng không tài nào tưởng tượng được lòng người thời đó sao lại ra nông nỗi này.

Nếu điều Bàn Mã nói là thật thì thứ lão đang gánh không phải bí mật gì cả, mà là nghiệp chướng nặng nề.

前面的过程和盘马说的完全一样,关键的问题就出在盘马所说的,他进山却发现考古队消失的那一次。

Quá trình trước đó hoàn toàn giống như những gì Bàn Mã đã kể, vấn đề mấu chốt nằm ở cái lần lão vào núi rồi phát hiện ra đội khảo cổ biến mất.

盘马说了谎,他那一次进山,考古队并没有消失,而且他也不是一个人进山,他带了自己的四个兄弟替他背东西,这样他们回来的时候还能打猎。

Bàn Mã đã nói dối, lần ấy lão lên núi, đội khảo cổ không hề biến mất, hơn nữa lão cũng không đi một mình, mà còn dẫn theo bốn người anh em nữa.

Họ vác đồ đạc giúp lão, như thế trên đường về họ còn có thể đi săn.

送完粮食之后,他们没有离开,因为在营地里待到傍晚可以吃到一顿白米饭,这对于他们来说简直是皇帝一般的待遇。但是考古队不允许他们待在营地的内部,他们一直在营地外吹牛打屁,要一直等到傍晚开饭。

Giao lương thực xong họ vẫn chưa về ngay, bởi vì nán lại đó đến chập tối sẽ được ăn một bữa cơm trắng.

Đối với họ thì đây quả là đãi ngộ của bậc vua chúa, thế nhưng đội khảo cổ không cho ở lại trong doanh địa, họ đành đứng bên ngoài tán phét mãi đến giờ cơm chiều.

在这个过程中,四个兄弟中的其中一个人,看着考古队的军用补给,突然起了歹心。

Trong khoảng thời gian này, một trong số bốn người anh em của lão khi nhìn đồ tiếp tế quân dụng của đội khảo sát, đã nảy lòng tham.

当时十万大山的贫困程度是现在的人无法想象的,连年的边境冲突,野兽都逃进了深山里,小孩子没有肉吃,只能吃一些米穗和野菜,都发育不良,白米饭更是当糖来吃的东西。部队的补给对于他们来说诱惑太大了,那几袋大米他们可以吃一年。

Sự nghèo khó của Thập Vạn Đại Sơn hồi ấy, người bây giờ không tưởng tượng nổi đâu.

Nhiều năm liền xung đột biên giới khiến muông thú trốn hết vào núi thẳm, lũ trẻ không có thịt mà ăn, chỉ có bông lúa với rau dại, thành ra đều suy dinh dưỡng cả.

Cơm trắng với họ chẳng khác nào bánh kẹo, cho nên đồ tiếp tế của bộ đội trở nên quá sức hấp dẫn, mấy bao gạo đó phải ăn được cả năm.

因为让村民帮忙运粮绝对会中途被掏掉一些,所以部队收粮都要过秤,如果发现少了虽不会追究但是以后就要换人。他那个兄弟就盘算着,等着他们过完秤,他们入夜睡了,他们偷偷进去,掏几碗出来,这样不会丢了活儿也能让家里人吃到甜头。

Để thôn dân vận chuyển giúp thì nhất định sẽ bị ăn bớt dọc đường, nên bộ đội khi nhận lương thực đều phải cân lại, nếu phát hiện thiếu cũng không truy xét gì, nhưng lần sau sẽ đổi người khác.

Người anh em kia tính chờ họ cân xong đi ngủ rồi sẽ lẻn vào xúc trộm vài bát, như thế không lo mất việc mà lại có thể mang lợi lộc về nhà.

这本来是一件非常单纯的事情,盘马不同意,他的手艺好,家里算不错,没有苦到饿死孩子的分上,但是其他四个人都动心了。

Đây vốn là một việc hết sức đơn giản, Bàn Mã không đồng ý vì tay nghề lão tốt, gia cảnh cũng tạm ổn, chưa khổ đến nỗi để con cái chết đói, nhưng ba người kia đều động tâm.

盘马只得让他们去,他在外面等着,没有想到,这四个人进去后出了事。

Bàn Mã đành phải để họ đi còn mình đứng chờ bên ngoài, ai mà ngờ ba người vào rồi lại sinh chuyện chứ.

他们从每一袋大米中舀了三碗米,出来的时候正好被一个进帐篷检查的小兵碰到了。那时是军事状态,人的神经都是绷紧的,小兵马上举枪,但是他没有看到躲在他身后还有一个人。情急之下,后面的人一下把小兵按住,他们四个人用米袋把小兵活活给捂死了。

Trong góc lều chứa gạo, họ xúc trộm mỗi bao ba bát, lúc ra vừa hay lại đụng phải một tiểu binh vào đó kiểm tra.

Tiểu binh lập tức giương súng, nhưng cậu ta không nhìn thấy một người nấp phía sau; trong tình thế cấp bách, người này thình lình đè tiểu binh xuống, rồi cả ba chụp bao gạo lên đầu cho cậu ta chết ngạt.

杀了人之后,四人怕得要死,杀人罪,特别是杀军人,如果让人发现,肯定直接就枪毙。他们逃出去,和盘马一说,盘马立刻心说糟糕了。

Giết người rồi, bọn họ sợ đứng tim.

Tội giết người, đặc biệt là giết quân nhân sẽ bị xử bắn ngay tại chỗ, nếu để người ta phát hiện chắc chắc sẽ bị bắn thẳng tay.

Họ vội chạy ra kể lại cho Bàn Mã, Bàn Mã liền nghĩ bụng ôi thôi hỏng bét rồi.

这件事情他无论如何也脱不了关系,因为考古队请的是他,而几个兄弟是他请来帮忙的,所有的责任他一分都逃不掉,而且在这种敏感时候,说他没参与也没有人会信。

Chuyện này kiểu gì cũng dây đến lão, vì đội khảo sát mời lão, còn mấy người anh em là do lão nhờ đến giúp, toàn bộ trách nhiệm lão đều không thể trốn thoát.

Hơn nữa vào thời điểm nhạy cảm này, dù lão chối mình không tham dự thì cũng chẳng ma nào tin.

他当即想了一个办法,必须把那小兵的尸体从里面拖出来,当成失踪,否则他们肯定会被调查。

Lão lập tức nghĩ ra một cách, phải lôi xác tiểu binh kia ra ngoài coi như mất tích, nếu không họ nhất định sẽ bị tra ra.

他们潜回去,把米全部还上,然后把小兵的尸体拖出了帐篷,结果没拖多远就被放哨的人发现了。放哨的人一路追过来问他们在干吗,盘马他们一时慌神之下尸体就被看见了,哨兵立即举枪,但是当时提出偷东西的伙计早就准备好了,一下就把那人的喉管割断了。

Họ lén quay về trả hết gạo, sau đó lôi cái xác tiểu binh ra khỏi lều, kết quả là chưa đi được bao xa đã bị người canh gác phát hiện.

Đối phương đuổi theo hỏi họ đang làm gì, bọn Bàn Mã nhất thời chột dạ, để lộ thi thể, tay lính canh lập tức giương súng; nhưng kẻ trước đó đưa ra chủ ý ăn trộm đã chuẩn bị sẵn sàng, thình lình cắt đứt cổ người kia.

几乎没有什么考虑,他们走火入魔般连杀了两个人。盘马一下感觉事情已经完蛋了,说逃吧,但是杀人的那个兄弟却杀红了眼,说已经杀了两个人,杀两个是杀,杀光也是杀,如果让他们回去通报军部,我们这辈子都要猫在山里了,与其如此,我们把这些人都杀了,就说他们不见了,其他人肯定认为是越南人干的。

Gần như không hề suy xét, bọn họ cứ như bị tẩu hỏa nhập ma mà giết hai người liền.

Bàn Mã thầm nghĩ toi đời rồi, lão đề nghị trốn đi, nhưng tay giết người kia lại nổi điên nói đã giết hai người rồi, giết hai là giết mà giết sạch cũng là giết, nếu để họ trở về báo cáo lên quân đoàn thì chúng ta phải trốn trên núi cả đời.

Chi bằng giết hết cho xong, rồi cứ nói là không thấy họ đâu nữa, mọi người chắc sẽ tưởng là người Việt Nam làm.

这是在一种诡异的气氛下突如其来的冲动,考古队的人数不多,那时大部分都在酣睡,想到那些白米、冲锋枪和之后的事情,盘马竟然也无法抑制地起了歹念。

Đây là sự kích động bất ngờ xảy đến trong bầu không khí quỷ dị.

Đội khảo sát không đông, hiện giờ phần lớn đều ngủ say không biết trời trăng gì nữa, nghĩ đến số gạo trắng và súng tiểu liên, cùng chuyện xảy ra sau đó, ngay cả Bàn Mã cũng không thể kiềm chế tạp niệm nổi lên trong lòng.

之后的过程让人恶心,他们拿着冲锋枪和匕首,偷进一个又一个帐篷,把里面的人全部杀死了。

Chuyện xảy ra sau đó thật ghê tởm, họ cầm súng tiểu liên và dao găm lần lượt lẻn vào từng lều, dùng thắt lưng siết chết bằng sạch những người bên trong.

杀完人后,他们把尸体、枪和弹药,还有物资全部都抛入湖中,把白米和吃的偷偷背回了村里,藏在床下。一些他们能用的,但是背不动的日用品等东西也藏了起来,等风平浪静后再拿,同时几个人约好,以后决死不提这个事情。

Giết người xong họ ném xác xuống hồ rồi đem giấu hết súng ống đạn dược lẫn vật tư, lén lút vác gạo và thức ăn về thôn, giấu dưới gầm giường, cùng hẹn nhau quyết giữ bí mật này đến chết.

盘马当时心虚,思前想后的,就开始在村里宣称考古队都不见了的怪事,想为以后的事情做一个铺垫。因为当时边境冲突频繁,有队伍在越南边界失踪,一般都会认为是越南特工干的。

Khi đó Bàn Mã chột dạ, tính tới tính lui rồi bắt đầu lan truyền khắp thôn câu chuyện đội khảo cổ mất tích một cách kỳ lạ, chuẩn bị sẵn đường lui.

Bởi dạo đó thường xảy ra xung đột biên cảnh, nếu có một đoàn người mất tích ở biên giới Việt Nam thì thường bị đổ cho đặc công Việt Nam làm.

几个人认为万无一失,谁也没有想到,这却是他们噩梦的开始。

Mấy người họ cứ đinh ninh mình không làm gì sơ hở, ai ngờ đây lại là khởi đầu cho một cơn ác mộng.

三天后,盘马再次进山,回到了湖边,想去那些东西里翻翻,先把值钱的东西拿回去。那一晚的疯狂让他心有余悸,所以他先是远远地看了一下,让他毛骨悚然的是,他竟然看到湖边又出现了一个营地,竟然还有人在活动。

Ba ngày sau, Bàn Mã làm bộ muốn đi đưa lương thực, nhân cơ hội quay lại ven hồ, định đến chỗ kia lục tìm mấy món đồ đáng giá.

Chuyện điên khùng đêm đó khiến lão vẫn còn e ngại vùng giữa hồ, nên ban đầu chỉ dám đứng từ xa nhìn lại.

Đáng sợ làm sao, lão lại trông thấy ven hồ xuất hiện một doanh địa, mà còn có người hoạt động nữa chứ.

有其他的军队?尸体被发现了?他胆战心惊,好久才缓过来,等鼓起勇气偷偷靠近去观察的时候,他却瞠目结舌,发现之前的考古队竟然又出现他在面前。

Có một đội quân khác?

Thi thể đã bị phát hiện?

Lão sởn da gà, mất một lúc lâu mới bình tĩnh lại, cho đến khi gắng gượng lấy dũng khí đi vào doanh địa, lão lại trố mắt đứng nhìn: đội khảo sát trước kia ấy thế mà lại xuất hiện ngay trước mặt lão.

盘马完全不知道自己的?觉,他有点闹不清到底是怎么回事,看着在营地中忙碌的那些人,好像身在幻影之中。那些人似乎根本不知道之前发生的事情,纷纷都和他打招呼。

Bàn Mã hoàn toàn không hiểu nổi cảm giác của mình lúc này, cũng không thể xác định rõ rốt cuộc là chuyện gì đang xảy ra.

Nhìn những bóng người lướt qua trong doanh địa, lão cữ ngỡ mình đang rơi vào ảo ảnh.

Họ dường như không hề hay biết trước kia đã xảy ra chuyện gì, rối rít chào hỏi lão.

他以为自己在做梦,捏了好几下才发现都是真的,那些脸虽然不熟悉,但都是考古队里见过的,他甚至看到了几个亲手被他勒死的人在那里谈笑风生。

Lão còn tưởng mình đang nằm mơ, tự véo mấy cái mới phát hiện ra đây là thật.

Những gương mặt ấy tuy không quen lắm, nhưng đều đã gặp trong đội khảo cổ kia; thậm chí lão còn thấy mấy người bị chính tay mình siết cổ đang đứng đó chuyện trò vui vẻ.

他仓皇赶回到村里,失魂落魄,急忙把事情和其他人一说,他们去看了之后发现果然如此。他们都吓坏了,琢磨这到底是怎么回事,难道那是一弯魔湖,能让里面的死人复活?

Lão hoảng hốt chạy về thôn, hồn bay phách lạc, vội vàng kể lại mọi chuyện với mấy người kia.

Cả đám quay lại xem thì thấy quả nhiên là thế, ai nấy đều hoảng sợ, suy nghĩ xem chuyện này rốt cuộc là sao.

Lẽ nào đó là một hồ ma có thể hồi sinh người chết?

但是那些人都是活生生的,一点也不像僵尸。

Nhưng bọn họ đều sống sờ sờ, không giống cương thi chút xíu nào.

盘马百思不得其解,村里人很迷信,觉得这一定是山神湖鬼在作怪,吓得魂不附体。盘马琢磨了很久,鼓起了勇气,再一次回到湖边给他们送粮食,试探性地问起了那一天的事情,然而,所有人都回答没事,那表情没有任何异样。

Bàn Mã nghĩ mãi mà không ra.

Người trong thôn rất mê tín, cứ đinh ninh đây nhất định là do sơn thần hồ quỷ tác quái, sợ đến mất vía.

Bàn Mã suy tính hồi lâu mới dám lấy hết dũng khí trở lại bên hồ đưa lương thực cho họ nhân tiện ướm hỏi chuyện hôm ấy, nhưng mọi người đều nói không có việc gì, biểu cảm vẫn như bình thường.

一天好像就被翻过去了,天神把那一天的事情全部抽走了。或者是,那几个行凶者在当天都做了一个同样的梦,他们根本没有去杀人。

Ngày hôm ấy giống như đã bị lật sang trang, thiên thần đã xóa bỏ mọi việc xảy ra trong ngày đó.

Hoặc là, mấy kẻ thủ ác đều đã mơ cùng một giấc mơ, họ căn bản không hề giết người.

盘马并不是一个就此认命的人,他不相信自己是做了一个梦,但是他又怎么想也想不明白,之后一直留心着这一批人,想知道他们到底是人是鬼——可是,无论怎么看,他都看不出一丝破绽来。

Bàn Mã không phải là người dễ chịu thua, lão không tin mình nằm mơ, nhưng nghĩ mãi mà không thông được.

Sau đó lão vẫn luôn chú ý đến nhóm người này, muốn biết bọn họ rốt cuộc là người hay quỷ?

Nhưng dù có quan sát kỹ lưỡng đến đâu, lão cũng không thấy mảy may sơ hở.

唯一让他感觉到有点奇怪的是,他闻到那批人身上,出现了一种奇怪的味道,是之前没有的。

Điểm duy nhất khiến lão cảm thấy kỳ quặc là, lão ngửi thấy trên người họ xuất hiện một thứ mùi lạ mà trước kia không có.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 15: Trúng tà


那种味道,就是盘马从后来的盒子里闻到的味道,只不过盒子里发出的更加的浓烈。

Thứ mùi đó chính là mùi mà Bàn Mã ngửi thấy trong hộp, chẳng qua mùi phát ra từ hộp nồng nặc hơn thôi.

对于盘马来说,那就完全是死人的味道。那些不知是人是鬼的恶魔,他们身上的味道肯定是从地府里带出来的。

Đối với Bàn Mã, đó hoàn toàn là mùi của người chết.

Thứ mùi trên thân thể những ác ma không biết là người hay quỷ đó chắc chắn được mang ra từ địa phủ.

"你的那位朋友身上,也有那种味道,如果不是被草药的味道盖住,我第一次看到他的时候,就会闻到。"盘马老爹看着我,"他和他们一样,也是湖里的妖怪!"

"Trên người cậu ta cũng có thứ mùi đó, nếu không bị mùi thảo dược át đi thì ta đã ngửi được nó từ lần đầu gặp mặt."

Bàn Mã nhìn tôi nói: "Cậu ta giống bọn họ, đều là yêu quái cả."

闷油瓶身上有什么味道?我对味道这种东西不是很敏感,我也不是猎人,没有极好的嗅觉,所以对此半信半疑——下次要偷偷去闻一下。

Trên người Muộn Du Bình có mùi gì chứ?

Tôi không mẫn cảm với mùi vị cho lắm, cũng không phải thợ săn để mà có khứu giác nhạy bén hơn người, nghe lời lão nói thì nửa tin nửa ngờ.

Lần sau phải lén ngửi thử xem sao.

如果事情到此为止,也许这事就会过去,过上一段时间,人会自己怀疑自己的记忆,对于没有解释的会自动抹掉。但是,我知道事情肯定没有结束,因为光是这样,盘马老爹不会得出闷油瓶会害死我的结论。

Nếu chuyện đến đây là hết, có lẽ mọi việc sẽ qua đi, một thời gian sau người ta sẽ hoài nghi trí nhớ của chính mình, những sự việc không lời giải sẽ tự động chìm vào quên lãng.

Nhưng tôi biết chắc chuyện vẫn chưa dừng ở đây, vì nếu chỉ đơn giản như thế thì lão Bàn Mã đã không đưa ra kết luận Muộn Du Bình sẽ hại chết tôi.

果然,盘马继续说了下去,他说之后发生的事情,让他一辈子都无法忘记这种味道。

Quả nhiên lão lại nói: Chuyện xảy ra sau đó khiến cả đời lão không quên nổi thứ mùi này.

这件怪事发生之后,盘马老是感觉心神不宁,虽然那些人似乎和之前一模一样,但是,盘马总感觉他们的眼神和神情有一丝妖异,这种感觉没有任何事实依据,完全是一种心理作用。盘马有一种预感,村里会出事情。

Sau khi chuyện lạ xảy ra, Bàn Mã luôn cảm thấy tinh thần mình bất ổn.

Tuy đám người ấy dường như không hề thay đổi, nhưng Bàn Mã luôn cảm thấy ánh mắt vẻ mặt họ toát ra nét gì đó yêu dị, cảm giác này không dựa trên căn cứ nào mà hoàn toàn là một loại hiệu ứng tâm lý.

Lão có dự cảm: trong thôn sẽ sinh chuyện.

几天后,村里发生了一件事,让他开始毛骨悚然。

Vài ngày sau, trong thôn xảy ra một chuyện khiến lão rợn tóc gáy.

和他一起行凶的,还有四个人,他们说起来都有血缘关系,远近略有不同,其中一个人叫做庞二贵,胆子最小,忽然就不见了。盘马和其他几个人心里有秘密,一下心就提了起来,谁也不敢说。村里人去山里找了两天,最后,盘马他们硬着头皮回到湖边,竟然发现那个庞二贵在营地里,和那支考古队里的人谈笑风生。

Tham gia hành hung với lão còn có bốn người, tính ra thì bọn họ đều là họ hàng dây mơ rễ má cả, người xa người gần.

Trong số đó người tên Bàng Nhị Quý nhát gan hơn cả bỗng dưng mất tích, Bàn Mã và mấy người kia trong lòng đều ôm ấp bí mật, đã thử nhắc đến chuyện này nhưng rốt cuộc không ai dám nói ra.

Người trong thôn vào núi tìm suốt hai ngày, cuối cùng đám Bàn Mã quyết tâm trở lại ven hồ, nào ngờ lại phát hiện gã Bàng Nhị Quý kia đang ngồi trong doanh trại cười nói vui vẻ với người của đội khảo sát.

他们莫名其妙,把他领了回来,盘马拉住他的时候,就闻到从庞二贵的身上,竟然也传来了那股神秘的味道。

Bọn họ chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả, đành đưa gã về.

Khi Bàn Mã kéo gã, chợt ngửi thấy thứ mùi thần bí kia toát ra từ người gã.

盘马看着庞二贵大白天就开始起鸡皮疙瘩,他一下就感觉庞二贵的表情和以前不一样了,好像变了一个人。

Bàn Mã nhìn Bàng Nhị Quý mà nổi da gà giữa ban ngày ban mặt, lão bỗng nhận ra nét mặt của Bàng Nhị Quý không giống trước đây, cứ như đã biến thành con người khác.

那种恐惧是无法形容的,他感觉庞二贵肯定被鬼迷了,回到村里,他叮嘱了庞二贵的媳妇,让她如果发现她男人不正常,立即和他说。

Cảm giác sợ hãi này không thể nói rõ thành lời, lão nghĩ Bàng Nhị Quý nhất định đã bị quỷ ám rồi.

Về tới thôn, lão dặn vợ Bàng Nhị Quý nếu phát hiện chồng mình có biểu hiện bất thường thì phải báo ngay cho lão.

但是她媳妇没有机会去发现了,第二天,他媳妇起来后就发现庞二贵吊死在床边上。整个屋子里,弥漫着那股奇怪的味道。

Nhưng vợ gã không có cơ hội phát hiện ra điều gì.

Ngày hôm sau, chị ta vừa tỉnh dậy đã thấy chồng mình treo cổ bên giường, cả căn phòng nồng nặc thứ mùi quỷ quái kia.

村子里以为是庞二贵想不开,或者是被狐仙迷了,盘马心里明白,惶恐不安的他更加确定那些人是妖怪,肯定是庞二贵中了邪了。

Người trong thôn cứ đinh ninh Bàng Nhị Quý nghĩ quẩn hoặc bị hồ ly tinh quyến rũ.

Bàn Mã hiểu rõ sư tình, lòng thấp thỏm lo âu, lại càng thêm chắc chắn những người kia đúng là yêu quái, Bàng Nhị Quý nhất định đã trúng tà.

庞二贵的媳妇被吓坏了,再也不敢住那个房子,搬回了娘家,那房子就荒废了下来。其他几个人吓得要命,两个搬出了村子,盘马和另外一个留了下来,晚上根本都不敢睡觉,借了好几只狗,唯恐下一个就是自己。

Vợ Bàng Nhị Quý bị dọa cho hết hồn, không dám ở lại căn nhà cũ, đành dọn về nhà mẹ đẻ, căn nhà kia trở nên hoang phế.

Những người khác thì sợ chết khiếp, hai người trong số đó liền dọn ra khỏi thôn, chỉ còn Bàn Mã và một người nữa ở lại.

Ban đêm hai người tuyệt nhiên không dám ngủ, phải mượn vài con chó, chỉ lo người tiếp theo sẽ là mình.

但是狗也没有用,一个星期后,和他一起留下的另一个人也失踪了。两天后,一个小孩在庞二贵家废弃的房子里发现了他,他吊死在和庞二贵一样的位置上。

Nhưng nuôi chó cũng vô ích, một tuần sau đó, cái người ở lại thôn cùng lão cũng mất tích.

Chờ thêm hai ngày, một đứa bé tìm thấy hắn treo cổ trong ngôi nhà hoang của Bàng Nhị Quý, vị trí treo cổ trùng khớp với Bàng Nhị Quý lúc trước.

盘马生性刚烈,自小和大山为伴,所以非常的坚强,恐惧到极点之后,他反而豁出去了,带着枪就赶向湖边,心说反正是死,死也要死个明白,绝对不会坐等。但是他进山之后,正巧考古队开拔。

Bàn Mã bản tính cứng cỏi, thuở nhỏ đã làm bạn với núi non nên hết sức kiên cường.

Sau cơn sợ hãi cùng cực, lão trái lại không còn vướng bận gì nữa, vác cây súng quay lại cái hồ kia, trong lòng tự nhủ nếu đằng nào cũng chết thì mình phải chết cho mình bạch, chứ tuyệt đối không ngồi yên chờ chết.

Nhưng khi lão vào núi thì vừa hay đội khảo sát cũng nhổ trại.

盘马是在半路上遇到的队伍,似乎他们不再需要向导,盘马之前已经想得很决绝,但是一见到他们一下就软了,他胆战心惊地随着队伍出了山。

Bàn Mã đi được nửa đường thì gặp đội khảo sát, hình như họ không cần người dẫn đường.

Bàn Mã trước khi đi đã hạ quyết tâm, nhưng vừa nhìn thấy bọn họ liền nhanh chóng dao động, khiếp hãi theo cả đội xuống núi.

如盘马之后所说的,考古队带着散发出奇怪气味的盒子离开了村子,再也没有出现,一直到现在。逃到另外两个村的人没有出事情,盘马胆战心惊地过了一年,才逐渐放下心来,相信他们真的走了。

Chuyện sau đó giống như Bàn Mã đã kể, đội khảo sát rời thôn mang theo những cái hòm tỏa ra mùi lạ, từ đó trở đi không quay lại đây nữa.

Hai người trốn khỏi thôn cũng bình an vô sự, Bàn Mã thấp thỏm sống qua một năm mới dần dần yên tâm, đinh ninh bọn họ đã đi thật rồi.

这一件事犹如噩梦一样一直缠绕着盘马,那种恐惧我可以想象。军队走后半个月,为了弄清到底发生了什么,他再次回到了湖边。绕着湖边走了一圈,他发现了有一件衣服不知道怎么被冲到了岸上,在那件衣服里,他发现了那块奇怪的铁块。

Chuyện này giống như một cơn ác mộng cứ ám ảnh Bàn Mã không thôi, cảm giác khiếp sợ này tôi có thể hiểu được.

Đội khảo sát đi được chừng nửa tháng, lão tò mò muốn biết chuyện gì đã xảy ra, bèn quay lại cái hồ.

Đi một vòng quanh hồ, lão phát hiện một bộ quần áo đương thời không hiểu sao lại bị quẳng lên bờ, bọc trong bộ quần áo ấy chính là khối sắt kỳ cục kia.

这块铁块的发现,让他肯定了这些人肯定是从湖里爬上来的,因为铁块在衣服里,绝不可能被湖水冲到岸上。那块铁块散发着让他毛骨悚然的味道,他自觉非同小可,所以一直放在身上。早年生活贫困的时候,他想把它卖掉,现在生活逐渐好起来了,想起当年不禁有些后怕,就想保住这个秘密,带进棺材算了。

Phát hiện ra khối sắt này, lão kết luận những người kia nhất định đã bò từ dưới hồ lên, vì khối sắt kia bọc trong quần áo, tuyệt đối không thể bị sóng xô lên bờ.

Cái mùi tỏa ra từ khối sắt khiến lão sởn gai ốc, lão nghĩ đây không phải chuyện đùa nên vẫn luôn mang nó theo người.

Trước kia thỉnh thoảng gặp cơn túng quẫn lão đã định bán đi, nay điều kiện sống đã khá giả hơn trước, nhớ tới chuyện năm đó mà hoảng, định bụng sẽ mang theo bí mật này xuống mồ.

之后,我们出现了。

Sau đó, chúng tôi xuất hiện.

盘马的秘密,到此就结束了。

Bí mật của Bàn Mã, cuối cùng cũng chấm dứt.

听完之后,我陷入了久久的沉思中,少有的,我没有感觉到更加的迷惑,我第一次感觉到,我似乎找到了一条链条,能把我心中的疑团串联起来。

Nghe xong câu chuyện, tôi rơi vào trầm tư.

Lạ một nỗi tôi không cảm thấy mọi chuyện thêm mơ hồ, trái lại lần đầu tiên có cảm giác dường như mình đã tìm được một sợi xích có thể kết nối những nghi vấn trong lòng.

这些谜团都好比一根根双头的螺纹钢管,连接的地方都是一个疑团,但是把其中两个疑团连起来,那么四个谜团就会失去两个,把所有的钢管连接起来,那么这么多谜团,可能只剩下首尾的两个。所以疑团一个一个连接起来,让人很有快感。

Những bí ẩn này giống như ống thép có ren ở hai đầu, mỗi đầu tiếp xúc đều là nghi vấn.

Nhưng nếu ta nối liền hai nghi vấn lại với nhau, như thế bốn bí ẩn sẽ mất đi hai, lại nối liền tất cả các ống thép, thì vô vàn bí ẩn có lẽ chỉ còn hai cái ở hai đầu.

Cho nên nối liền từng nghi vấn lại với nhau là một công việc rất thú vị.

如果是以前的我,我一定会抓狂,但是现在我学会了不去看问题的本身,我清楚地意识到了这件事情的真相,这件事情需要去求证,如果我的想法是正确的,那么,三叔,或者说解连环一直疑惑的问题,就有了答案。

Nếu là trước đây, tôi nhất định sẽ phát điên; nhưng bây giờ đã học được cách không chỉ nhìn vào bản thân vấn đề, tôi liền hiểu rõ chân tướng sự việc.

Cái này lại phải chứng thực, nếu tôi suy luận đúng, thì vấn đề mà chú Ba – hay có thể là Giải Liên Hoàn – vẫn luôn nghi hoặc đã có câu trả lời.

而要求证这件事情,必须要到那座湖边去。

Mà muốn chứng thực chuyện này, lại phải đến cái hồ kia.

盘马老爹拿出了那块铁块给我看,那东西果然和闷油瓶床下发现的那块一样,同样的铁疙瘩,上面有着古朴的花纹,不过盘马的这一块略大。我特地闻了一下,果然闻到了一股奇怪的味道,非常的淡,几乎无法分辨。老爹说,刚发现的时候味道很浓,逐渐的,这味道一点一点消失了,铁块放在家里,家里什么虫子都没有。

Lão Bàn Mã đưa khối sắt kia cho tôi xem, quả nhiên nó giống y xì đúc khối sắt dưới gầm giường Muộn Du Bình, cũng xù xì thô ráp, bề mặt có những hoa văn cổ.

Có điều khối sắt của Bàn Mã lớn hơn một chút, tôi ngửi thử, quả nhiên có mùi quái lạ nhưng chỉ thoang thoảng, hầu như không thể nhận ra.

Lão nói lúc vừa phát hiện thì mùi của nó rất nồng, dần dần mới nhạt đi; đặt khối sắt này trong nhà, côn trùng sâu bọ đều không dám bén mảng.

我对这东西暂时失去了兴趣,心里充满了我的推测。

Tôi tạm thời mất hứng với vật này, trong lòng nổi lên đủ loại suy đoán.

盘马不肯再去那个湖边,我想着让阿贵另找向导,把钱给了盘马,便起身告辞。

Bàn Mã không chịu đến cái hồ kia nữa, tôi định bảo A Quý tìm người dẫn đường khác, đưa tiền cho Bàn Mã rồi đứng dậy cáo từ.

到门口的时候,我忽然想了另外一件事,回头问道:"对了,老爹,你身上的文身,是怎么来的?"

Ra đến cửa, tôi sực nhớ ra một việc khác, bèn quay lại hỏi lão "À phải rồi, hình xăm trên người ông có lai lịch thế nào?"

盘马看着我,有些诧异我忽然问这个,他的儿子替他解释道:"这是防蛊的文身,是小时候一个路过的苗人巫师替他文的。当时我的爷爷救了他的命,他给我爹文了这个答谢,据说有这个文身,到了苗寨可以通行无阻,没有人会为难你。"

Bàn Mã nhìn tôi, tỏ ra ngạc nhiên vì câu hỏi đột ngột này.

Con lão giải thích: "Đây là hình xăm phòng cổ độc do một vu sư người Mèo xăm cho cha tôi hồi nhỏ.

Lần đó ông ta được ông nội tôi cứu mạng, bèn xăm hình này cho cha tôi để tạ ơn.

Nghe nói có hình xăm này trên người là được quyền thoải mái đi lại trong làng người Mèo mà không ai dám gây khó dễ."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 16: Kế hoạch


阿贵一直在门口等我,蹲在地上郁闷地抽烟,显然不知道盘马他们在搞什么鬼。见到我后立即站了起来,我对他道:走,咱们回去。

A Quý chờ tôi ở cửa, ngồi xổm trên đất bực dọc hút thuốc, hiển nhiên cũng không biết đám Bàn Mã đang làm cái quái gì.

Nhìn thấy tôi, tôi liền bảo anh ta: "Đi, chúng ta về."

在路上我问他,知不知道盘马说的那个羊角山的湖泊?阿贵点头,说以前听说过,不过他自己没去过。我道我出高价,帮我尽快找一个猎人,带我们过去。

Trên đường về tôi hỏi anh ta có biết cái hồ trong núi Sừng Dê mà Bàn Mã nhắc đến hay không?

A Quý gật đầu, bảo trước kia từng nghe nói nhưng cũng chưa đến đấy bao giờ.

Tôi liền bảo mình ra giá cao, mau tìm giúp một thợ săn đưa nhóm tôi vào đó.

阿贵满口答应,试探性问我,盘马到底和我说了什么?不过阿贵问得很小心,我心说告诉你就是害了你,随口便敷衍掉了。

A Quý gật đầu lia lịa, rồi hỏi dò xem Bàn Mã rốt cuộc đã nói với tôi chuyện gì?

Cơ mà A Quý hỏi rất e dè, tôi thầm nghĩ nói cho anh tức là hại anh, bèn thuận miệng đáp lấy lệ.

急匆匆回到阿贵家里,我着急想把我的发现告诉闷油瓶,却发现家里只有云彩和她的姐姐在烧灶台,胖子和闷油瓶都不在。

Vội vã trở về nhà A Quý, tôi nóng lòng muốn kể cho Muộn Du Bình nghe phát hiện của mình, nhưng trong nhà chỉ có Vân Thái đang đun bếp với em, không thấy Bàn Tử và Muộn Du Bình đâu cả.

我心说奇怪,问云彩人呢?云彩道那位不怎么说话的老板回来后看到胖老板还没回来就问我,我告诉他胖老板一晚上没回,他就急匆匆去找了。

Tôi nghĩ bụng, quái, bèn hỏi em của Vân Thái xem họ đâu rồi?

Em Vân Thái đáp cái anh lầm lì kia về đến nơi thấy anh béo chưa về mới hỏi em, em bảo anh béo đi cả đêm chưa về, anh ấy liền vội vã đi tìm.

我本来心里很兴奋,一下子兴奋劲就压了下去,心说胖子一晚上没回来?

Tôi còn đang phấn chấn, nghe tới đây liền mất hứng, thầm nghĩ Bàn Tử cả đêm chưa về?

山村不像城市有娱乐场所可以让他去逍遥,他一晚上没回来有点不正常。我对胖子的秉性很了解,想到他之前说的要去弄点硫酸的事情,一下就有不祥的预感。

Trong thôn không có mấy chỗ chơi bời cho hắn la cà như ở thành phố, hắn đi thâu đêm kể cũng lạ.

Tôi khá hiểu Bàn Tử, nhớ lại trước kia hắn đã nói muốn đi tìm acid sunfuric, chợt có dự cảm mơ hồ.

相信闷油瓶和我一样,也立即想到了这个可能性,所以才会立即去找。

Hẳn là Muộn Du Bình cũng như tôi, nghĩ ngay tới khả năng này, cho nên mới lập tức đi tìm.

我马上让阿贵带我去村里的村公所,如果胖子有什么意外,肯定会在那里。走出去没几步,却正碰见胖子和闷油瓶回来了,胖子脸上还蒙着纱布,一边走一边骂,好像受了伤。

Tôi lập tức bảo A Quý dẫn mình đến trụ sở thôn, nếu Bàn Tử gặp chuyện ngoài ý muốn, nhất định sẽ ở đó.

Đi được vài bước đã thấy Bàn Tử với Muộn Du Bình quay lại, trên mặt Bàn Tử còn quấn băng, vừa đi vừa chửi um lên, hình như là bị thương.

一问才知道原来胖子买硫酸回来的路上,看到一只马蜂窝,来了兴致,结果错误估计了自己的身手,中弹了,而且还挺严重,在村公所挂盐水,结果睡了一晚上。胖子说这里的马蜂和他以前碰到的不一样,之前他碰到的马蜂都是捅了才发飙,这一次他才靠近马蜂就突然围了过来,凶得不得了。

Hỏi ra mới biết Bàn Tử đi mua acid sunfuric, trên đường về thấy một tổ ong vò vẽ, thế là bản tính lộ ra, kết quả dự đoán sai thân thủ của mình, dính chưởng nghiêm trọng, phải ngâm nước muối rồi ngủ lại cả đêm ở trụ sở thôn.

Bàn Tử nói ong vò vẽ ở đây không giống ong mình hay gặp, ong vò vẽ mình gặp trước kia đều phải chọc vào tổ mới xông ra, chứ ong này mới mon men đến gần đã đột ngột vây kín, hung ác cực kỳ.

我说你别找客观原因,你得承认你就是老了,老胖子不提当年勇,捅马蜂窝这种事情你以后还是少干,免得别人笑话。

Tôi bảo anh đừng đổ tội cho khách quan, cứ thẳng thắn thừa nhận mình rút lui xem nào.

Lão Bàn Tử không khoe chuyện quá khứ*, mấy cái trò như chọc tổ ong vò vẽ từ sau anh hạn chế đi, tránh cho người khác chê cười.

* Chế từ câu tục ngữ "Hảo hán bất đề đương niên dũng" nghĩa là hảo hán không khoe khoang ngày xưa mình anh dũng thế nào, nói cách khác là không ngủ quên trong quá khứ.

回房给胖子换药,换药显然极其疼,要不是为了在云彩面前表示自己的男子气概,他肯定叫得像杀猪一样。

Về phòng thay thuốc cho Bàn Tử, thay thuốc hiển nhiên là rất đau, nếu không ráng nhịn đau để chứng tỏ khí khải nam tử trước mặt Vân Thái thì hắn nhất định đã gào rống ầm ĩ như heo bị cắt tiết rồi.

云彩倒是很镇定,蜻蜓点水一样在他脸上消毒,我发现他的下巴上有几块指甲大的地方全肿了,云彩用竹签子先把肿的地方划破再上药,那简直就是活剔肉,难怪疼死他了。

Tôi tiến lên hỗ trợ, Vân Thái trái lại khá bình tĩnh, thay thuốc cho hắn nhẹ nhàng như chuồn chuồn lướt nước.

Tôi phát hiện trên cằm hắn có mấy mảng thịt sưng vù nhỏ bằng móng tay, Vân Thái lấy thanh nứa cắt hết những chỗ sưng rồi bôi thuốc, quả thực chính là róc thịt sống, chẳng trách hắn đau chết ngất đi được.

弄完后胖子吃饭都艰苦,好不容易吃完饭,天色暗了下来,我们在高脚楼延伸出的走廊上乘凉,我把在盘马家听到的一切全部复述了一遍。

Thay thuốc xong muốn ăn cơm cũng chật vật, khó khăn lắm mới ăn xong bữa, sắc trời cũng tối sầm lại.

Cả đám đứng trên hành lang căn nhà sàn hóng gió, tôi thuật lại một lần tất tật những chuyện mình nghe được.

听完之后,两个人都皱起了眉头,胖子问道:"还有这种事情,娘的这都赶上我小时候吓唬姑娘家的鬼故事了,这事情能是真的吗,你说你的假设是什么?"

Nghe xong câu chuyện, hai người đều nhíu mày.

Bàn Tử hỏi tôi: "Lại có chuyện như thế nữa à, má nó còn ghê hơn mấy chuyện ma quỷ tôi đem dọa bọn con gái hồi nhỏ.

Chuyện này có thật không, cậu nói xem giả thiết của cậu là gì?"

"我认为,盘马绝对没有说谎。"我道,"这件事情绝对是真的,但是,他的真,不是那种意义上的真。"

"Tôi cho rằng, Bàn Mã tuyệt đối không bịa chuyện.

Việc này chắc chắn là thật, nhưng cái "thật" của ổng không phải là "thật" theo nghĩa đen."

"你是什么意思?"胖子道。

"Ý cậu là sao?"

"咱们考虑最合理的可能性,不去考虑什么魔湖啊,妖怪啊,你觉得这件事情最可能的情况是什么?"

"Chúng ta đi tìm giả thiết hợp lý nhất, bỏ qua mấy cái nhảm nhí như hồ ma với chả yêu quái.

Anh cảm thấy giả thiết hợp lý nhất trong trường hợp này là gì?"

胖子摇头道:"少来这一套,我的脑细胞全给马蜂叮死了,我不来猜你的,你直接说就是了。"

Bàn Tử lắc đầu: "Thôi đừng vòng vo nữa, não tôi bị ong chích thủng cả rồi, không đoán được cậu nghĩ gì đâu, cậu cứ xổ toẹt ra đi."

我苦笑,好容易想表现一下,胖子还不配合,道:"好,咱们把一切不可能的因素都去掉,没有什么有魔力的湖泊,没有什么死人复活,也没有妖怪,但是事情必须是合理的,盘马说的话必须成立,那么这件事情唯一的可能性其实很明显——人不可能复活,那么进山的考古队和出山的考古队,就肯定不是同一支队伍。"

Tôi gượng cười, khó khăn lắm mới tìm được cơ hội thể hiện chút ít mà Bàn Tử cũng không chịu phối hợp: "Được rồi, chúng ta loại bỏ hết những yếu tố không thể xảy ra, không có sống lại, không có yêu quái, nhưng câu chuyện phải logic, lời Bàn Mã nói phải đứng vững, thế thì chuyện này rõ ràng chỉ có duy nhất một khả năng."

胖子顿了顿,领悟道:"你是说,死的人没复活,走出来的,是另外一批人?"

Bàn Tử dừng lại một chút, rồi hiểu ra: "Ý cậu là, những người chết không hề sống lại, mà những kẻ ra khỏi núi là một nhóm khác?"

"盘马他们杀了的那一批人,确实是死了,盘马并不了解那支队伍,如果有另外一支队伍易容之后,我觉得并不需要多么高深的化装,就可以骗过盘马。"

"Những người bị bọn Bàn Mã giết quả thực đã chết, Bàn Mã cũng không hiểu rõ về đội khảo sát kia, nếu có một nhóm người khác dịch dung, tôi nghĩ không cần phải giỏi hoá trang cũng lừa được Bàn Mã."

"可是,为什么他们要这么干?这不是耍他嘛。"

"Nhưng vì sao bọn họ phải làm thế?

Chẳng lẽ chỉ để đùa bỡn lão."

"我仅仅是推测,通过那支队伍的情况和盘马的情况,我感觉这事可能有些误差。咱们假设这是一场蓄谋已久的阴谋,那么,可能计划中,就在盘马杀死考古队的那一天,这一支考古队就已经被设定会被抹掉,但是,这个计划可能出现了偏差。也许来杀死考古队的杀手,在林子中遇到了什么意外,没有到来,反而由盘马完成了这个任务,之后替换的冒牌队伍来到这里,以为是杀手完成了任务,于是就按照计划开始了伪装。那么,不知情的盘马才有了魔湖一说。"我道,"这是一种合理性的推测,事实可能完全不是这样,但是这证明了有可能这事会出现。"

"Tôi chỉ phỏng đoán thôi, thông qua tình hình của Bàn Mã và đội khảo sát kia, tôi cảm thấy chuyện này có thể có sai sót.

Chúng ta đặt giả thiết đây là một âm mưu đã được tính toán từ lâu, vậy có thể trong âm mưu đó, vào cái ngày Bàn Mã giết chết cả đội thì đội khảo sát này cũng đã bị sắp đặt để biến mất.

Nhưng kế hoạch này có thể xuất hiện sai sót, có lẽ sát thủ đến giết đội khảo sát đã gặp chuyện ngoài ý muốn trong rừng nên không đến nơi được, trái lại để Bàn Mã hoàn thành nhiệm vụ.

Sau đó đội khảo sát giả đến đây thay thế tưởng sát thủ đã hoàn thành nhiệm vụ, nên cứ dựa theo kế hoạch mà bắt đầu nhiệm vụ ngụy trang.

Bàn Mã không hiểu rõ câu chuyện, mới nói nó là 'hồ ma'."

Tôi nói: "Đây là một phỏng đoán hợp lý thôi, sự thật có thể khác hoàn toàn, nhưng nó chứng minh chuyện này có thể xảy ra."

"哎,这个听上去好像有点靠谱,不过胖爷我好像在哪儿听过这样的桥段?"胖子道,"你有什么证据?"

"Ờm, giả thiết này nghe cũng hợp lý đấy, cơ mà hình như Bàn gia đây đã từng nghe cái mô tuýp này ở đâu đó rồi?"

Bàn Tử nói.

"Cậu có bằng chứng không?"

"只有一些细节,比如说,考古队是盘马带进去的,但是出来的时候,并没有等盘马进来带他们出去,而是自己出发了。说明后面的队伍,熟悉这里的地形,他们有出去的本领。之后发生的事情,可能是因为考古队发现了什么蛛丝马迹,对庞二贵他们进行了杀人灭?。"我道,"我现在不知道是否这一考古队就是去西沙的那一支,但是我感觉,即使不全部是,肯定其中也有几个人是。如果是这样,那么你说会不会,有人为了进这个考古队去西沙,而进行了这一次调包。"我的思路很成熟。

"Chỉ có một vài chi tiết nhỏ, ví dụ như đội khảo cổ do Bàn Mã dẫn vào, nhưng lúc quay ra họ tự đi chứ không chờ Bàn Mã dẫn đường, chứng tỏ nhóm người sau có khả năng tìm đường ra.

Chuyện xảy ra sau đó có thể là vì đội khảo sát phát hiện ra manh mối gì đó, bèn giết đám Bàng Nhị Quý diệt khẩu.

Giờ tôi vẫn chưa biết đội khảo sát này có phải chính là đội đi Tây Sa không, nhưng tôi có cảm giác, dù không phải tất cả thì nhất định cũng có vài người trong số họ đi Tây Sa.

Nếu là như thế thì anh nói xem, liệu có ai vì muốn vào đội khảo cổ đi Tây Sa mà tiến hành một vụ đánh tráo?"

Tôi suy luận hết sức thành thục.

胖子道:"他娘的,但是你怎么证明呢?"

Bàn Tử hỏi: "Mẹ nó chứ, nhưng cậu chứng minh kiểu gì được?"

"最直接的方法,咱们应该去羊角山的那个湖里看一下,现在湖变小了,我觉得可以潜水下去看看下面有什么,有没有当时抛入湖中的尸体。"

"Cách trực tiếp nhất có lẽ là chúng ta đến chỗ cái hồ nằm trong núi Sừng Dê xem sao.

Bây giờ hồ đã thu hẹp, tôi nghĩ có thể lặn xuống nước thăm dò đáy hồ, xem liệu có những cái xác bị vứt xuống hay không."

"他娘的这个有点困难吧,现在快过了四十年了,有尸体也早就烂没了。"

"Con mẹ nó, chuyện này cũng khó nói lắm, từ đó đến giờ đã qua 40 năm, xác người lại chẳng nát bấy từ đời tám hoánh."

"骨头肯定还在。"我道:"盘马他们没有船,抛尸的地方肯定是湖边,我觉得我们可以去碰碰运气。"

"Xương cốt nhất định vẫn còn."

Tôi nói: "Đám Bàn Mã không có thuyền, chắc chắn chỉ vứt xác quanh hồ thôi, tôi nghĩ chúng ta có thể đi thử vận may."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 17: Dường như đã từng quen


胖子觉得我的说法很玄乎,但是也承认这是事件合理的唯一可能性。他本来就是羊角山一日游的积极分子,如此我一说要去,自然是满口答应。

Bàn Tử cảm thấy giả thiết của tôi rất mơ hồ, nhưng cũng phải thừa nhận đây là khả năng hợp lý duy nhất.

接下来我们商议了一些具体事项。因为这一次是旅游性质,什么装备都没有带,所以有点棘手,万一碰到有开棺掘冢之类需要家伙的事就只能干瞪眼。

Anh ta vốn tích cực ủng hộ phương án vào chơi trong núi Sừng Dê một ngày, thấy tôi nói muốn đi thì đương nhiên là đồng ý nhiệt tình.

Sau đó chúng tôi bàn bạc cụ thể về công việc, vì chuyến này coi như đi du lịch, chẳng mang theo đồ nghề gì nên vấn đề trang bị cũng hơi khó nhằn.

Lỡ đâu phải đào mồ quật mả cần có đồ nghề mà mang theo hai bàn tay trắng thì chỉ còn nước trơ mắt mà nhìn.

地方偏僻,在这种地方也不可能买到现成的装备,胖子说道,有些东西倒是没有必要,咱们可以买点替代品,虽然用起来不会那么称手,但是这一次离村子还算近,对质量的要求也不用太高。

Nhưng ở những nơi thế này lại không có sẵn trang bị để mà mua, Bàn Tử nói có vài thứ cũng không khó giải quyết, chúng ta có thể mua cái khác bù vào, tuy không thuận tay cho lắm, nhưng lần này không đi xa thôn lắm nên cũng không cần đòi hỏi quá cao.

他说的是野外生存用品,猎人有自己的一套,肯定不需要我们背着固体燃料和无烟炉,不过见识了野兽的剽悍,我觉得武器还是要准备一些的。

Anh ta bảo, thợ săn nào mà chẳng có những vật dụng để sinh tồn nơi hoang dã, chúng ta cần gì phải vác theo nhiên liệu rắn và lò không khói.

Nhưng chứng kiến độ hung hãn của dã thú rồi, tôi cảm thấy vẫn nên chuẩn bị vũ khí cho chu đáo thì hơn.

把阿贵叫来和他商量这些事情,阿贵自己也打猎,有三把猎枪,都是被改装过的不知道名字的老枪。三把枪年代就不同,最老的一把是阿贵从鸡棚里拿出来的,虽然枪管子的成色还可以,但枪膛里头全锈了,谁也不敢用,也没处去找火药去。另外两把都是打子弹的,看得出是战争年代留下来的。

Tôi gọi A Quý tới để thương lượng về những chuyện này.

Bản thân A Quý cũng đi săn, có ba khẩu súng săn đều là súng cũ không rõ tên tuổi được sửa sang lại, niên đại cũng không đồng đều.

Khẩu cũ nhất được A Quý lấy ra từ chuồng gà, tuy nòng súng vẫn còn nguyên vẹn nhưng bên trong đã hoen gỉ cả rồi, chẳng ai dám xài đến, vả lại cũng không biết đào đâu ra đạn.

Hai khẩu còn lại vẫn bắn được, xem ra là di vật từ thời chiến tranh.

前几年禁枪,但是这里的人都靠打猎为生,吃饭的家伙当然都不肯交出去,上头也知道情况,睁一只眼闭一只眼,就是现在子弹不好弄,阿贵说得村干部去县里批才买得来。

Mấy năm trước có lệnh cấm súng, nhưng người vùng này sống bằng nghề săn thú, đã là cần câu cơm thì dễ gì giao ra.

Cấp trên hiểu chuyện nên cũng mắt nhắm mắt mở cho qua, có điều bây giờ đạn là hàng hiếm, A Quý phải nhờ cán bộ thôn lên tận huyện mới mua được.

阿贵自己打猎已经属于业余活动,所以家里存弹不多,胖子把两把枪检查了一下,道:"阿贵的那把绝对没问题,另一把太久没用了,但是枪保养得还可以,要开一枪才知道还能不能用。"

A Quý cũng chỉ là thợ săn nghiệp dư nên không giữ nhiều đạn trong nhà.

Bàn Tử kiểm tra hai khẩu súng rồi nói: "Súng của A Quý tuyệt đối không có vấn đề gì, một khẩu đã lâu không đụng đến nhưng được bảo dưỡng tốt lắm, phải bắn thử một phát mới biết có xài được không."

我们以五十块一发的高昂价格,在阿贵隔壁几户邻居那里买来了五十发子弹,我看那黄铜的圆柱状子弹就知道是小作坊里手工做出来的,这东西要五十块他娘的有点让我心疼。胖子说别这么小肚鸡肠,五十块钱可能就救了你的命,绝对值。

Chúng tôi trả cái giá cắt cổ năm mươi đồng một viên đạn, mua được bốn năm mươi viên từ mấy nhà hàng xóm của A Quý.

Tôi nhìn viên đạn hình trụ bằng đồng thau, biết ngay đây hàng thủ công làm ra trong xưởng nhỏ.

Cái của nợ này mà mua mất năm mươi đồng, mẹ kiếp đúng xót ruột.

Bàn Tử bèn khuyên đừng có bủn xỉn như vậy, năm mươi đồng mà cứu được mạng cậu thì cũng đáng chứ.

开山的砍刀阿贵家就有,阿贵特地去磨锋利了,其他的东西我们写了条子,让他去乡里看看有没有替代品,没有爬山的绳子就用井里的麻绳,没有大功率的手电就拿几只手电捆起来用,没有匕首就用镰刀。

Nhà A Quý đã có sẵn dao phát, anh ta mài lại cho sắc, những món đồ khác chúng tôi viết ra giấy rồi bảo A Quý đi quanh thôn tìm xem có vật thay thế hay không.

Thiếu dây thừng leo núi thì xài dây gầu dưới giếng, thiếu đèn pin công suất lớn thì mượn mấy cái đèn pin nhỏ buộc lại, thiếu dao găm thì xài tạm lưỡi liềm.

阿贵对我们建议道,现在雨水多,山里蚊虫毒蚁也多,特别是湖泊边上,蚊子都跟马蜂一样大,要带蚊香和蚊帐,把蚊香甩在篝火里,否则我们几个城里人肯定吃不消。我心说有闷油瓶在,这个不需要担心。

A Quý bảo chúng tôi giờ đang vào mùa mưa, trong núi nhiều muỗi kiến độc, đặc biệt là vùng ven hồ, muỗi ở đấy to bằng con ong vò vẽ, đề nghị phải mang theo nhang muỗi và màn, quây quanh đống lửa, bằng không mấy người thành phố chúng tôi nhất định sẽ không chịu nổi.

Tôi lại thầm nghĩ, có Muộn Du Bình ở đây còn lo gì nữa?

安排妥当,阿贵说那些东西得一两天时间准备,反正打猎的人也都没回来,他准备好了再出发。

Sắp xếp ổn thỏa, A Quý liền nói mấy món đồ này sẽ phải mất một hai ngày để chuẩn bị.

Dù sao thợ săn vào đó cũng chưa ai trở về, nên chuẩn bị cho chu đáo rồi hẵng xuất phát.

在此期间,胖子说可以想办法用他带回来的硫酸,看看那铁块中包着什么东西,这需要精细的操作,要挑一个好一点的场地。

Trong lúc này, Bàn Tử lại hỏi có thể nghĩ cách dùng acid sunfuric mình mang về để xem trong khối sắt kia chứa vật gì không?

Việc này cần những thao tác tinh vi, phải kiếm bãi đất nào khá khẩm hơn một chút.

我想起盘马的叙述,觉得不妥当,这铁块中散发出一股气味,而且这气味随着时间的推移逐渐变淡,说明里面有一种挥发性的物质,鬼知道这种物质对人体会不会有害。我觉得要溶开这东西的时间未到,到了那边,查到一些蛛丝马迹之后,再判断是不是要冒这个险比较靠谱。

Tôi nghĩ đến câu chuyện Bàn Mã kể, thấy không ổn cho lắm.

Từ khối sắt này tản ra một thứ mùi, hơn nữa cái mùi này còn nhạt dần đi theo thời gian, cho thấy bên trong chứa một loại vật chất bay hơi, có quỷ mới biết loại vật chất này có gây hại cho cơ thể người hay không.

Tôi cảm thấy vẫn chưa đến lúc dùng acid hòa tan vật này, tốt nhất là chờ đến khi tra được chút manh mối rồi mới phán đoán xem có cần thiết phải mạo hiểm như thế hay không.

胖子的好奇心烧得他受不了,但是我说的绝对有道理,闷油瓶也同意我的看法,想到可能连累到其他人,他也只好作罢。

Bàn Tử tò mò muốn chết đi được, nhưng lời tôi nói cũng rất có lý.

Nghĩ đến chuyện có thể ảnh hưởng đến những người khác, anh ta cũng chỉ còn cách bỏ cuộc.

接下的时间胖子兴致勃勃,一是他的古墓说他深信不疑,二是他很久没打猎了手痒得厉害,一晚上不顾脸肿得像被马踢过一样,一直和我们唠叨他以前打猎的事。我也睡不着,但脑子却想着湖边的事情,闷油瓶一直没有说话,我看他一直看着阿贵隔壁的楼,看着那个窗户出神。

Sau đó Bàn Tử tỏ ra hết sức hào hứng, thứ nhất anh ta tin chắc vào giả thiết cổ mộ của mình, thứ hai anh ta đã lâu không đi săn nên chân tay ngứa ngáy lắm rồi, bất chấp khuôn mặt nở toe toét như hoa loa kèn, cả đêm không ngừng ba hoa về chuyện mình đi săn thú hồi xưa.

Tôi cũng đang cao hứng, trong đầu nảy ra một vài giả thiết; còn Muộn Du Bình vẫn ngậm hột thị, tôi thấy hắn ta cứ nhìn đăm đăm vào ngôi nhà A Quý nằm kế bên, nhìn cái cửa sổ kia đến xuất thần.

我想起前天晚上在那个楼里看到了影子,不过现在那个窗户里一片漆黑,什么也不看见,阿贵的儿子似乎不是很愿意见人,深居简出的。我怀疑是不是有什么疾病,所以只能待在家里。农村里经常有这样的事情。

Tôi nhớ lại cái bóng mình nhìn thấy trong căn nhà đó vào đêm hôm trước, nhưng bây giờ khung cửa sổ kia tối om om, chẳng nhìn thấy gì.

Con trai A Quý hình như không thích gặp người, ít khi giao du.

Tôi hoài nghi không biết có phải cậu ta mắc bệnh gì nên mới phải ru rú trong nhà, ở nông thôn thường có chuyện như thế.

一个晚上没睡,加上一天剧烈的思想活动,很快我就晃神听不清胖子在说什么,闷油瓶靠在那里打起了瞌睡。在这里外面比屋内凉快得多,闷油瓶在四周一只虫子也没有,我们就这么躺下睡着了,醒来已经是第二天的中午。

Một đêm thức trắng, cộng thêm một ngày nghĩ ngợi căng thẳng, chẳng bao lâu đầu óc tôi đã mơ màng không nghe rõ Bàn Tử đang nói gì nữa.

Muộn Du Bình thì tựa vào đâu đó ngủ gà ngủ gật, ngoài này mát mẻ hơn trong nhà nhiều, xung quanh Muộn Du Bình không có lấy một con côn trùng, chúng tôi cứ thế nằm xuống ngủ mê mệt.

这一天各自准备不说,第三天准备得当,阿贵带我们出发。

Ngày thứ hai ai nấy đều tự chuẩn bị hành lý phần mình, sang ngày thứ ba mọi việc đã xong xuôi, A Quý dẫn chúng tôi lên đường.

让我郁闷的是,我没有看到传说中的向导,一起出发的竟然是阿贵自己和云彩。

Chuyện khiến tôi bực bội nhất là không thấy người dẫn đường trong truyền thuyết đâu cả, người đi cùng lại chính là A Quý và Vân Thái.

我问怎么回事,阿贵你不是说你没去过吗?怎么是你自己带我们去?

Tôi hỏi có chuyện gì thế, A Quý không phải anh đã nói mình chưa đến đó bao giờ sao?

Cớ gì anh lại đích thân dẫn chúng tôi đi.

阿贵道这猎人进了山里,不知道是不是遇到了什么阻碍,几队都没回来,其他人都没去过,他能找到的人就是他女儿云彩,云彩以前跟着爷爷去过那里几次,知道怎么走。他带着我们,加上云彩认路,还有狗,问题应该不大。否则我们几个语言不通,恐怕会出麻烦。

A Quý đáp dạo này thợ săn vào núi chẳng biết gặp phải trở ngại gì mà mấy đội đi không một ai trở lại.

Những người khác đều chưa từng đến đó, anh ta đành nhờ con gái Vân Thái dẫn đi; trước kia Vân Thái từng theo ông nội vào đó vài lần nên biết rõ đường.

Anh ta dẫn theo chúng tôi cộng thêm Vân Thái biết đường, vả lại còn có chó nên chắc không có vấn đề gì lớn đâu.

我心说糟糕了,看来我出价太高了,阿贵舍不得让别人赚这个钱了。胖子立即说不行,咱们是去干事,带着个小丫头这不开玩笑嘛,要是受点什么伤的,你这个当爹的不心疼我还心疼呢。

Tôi thầm nghĩ thôi tiêu rồi, chắc mình trả giá quá cao nên A Quý không nỡ để đống tiền lọt vào tay người khác đây mà.

Bàn Tử lập tức phản đối, nói chúng tôi đi làm công chuyện, có phải trò đùa đâu mà mang theo một con bé, lỡ bị thương kẻ làm cha như ông không đau lòng thì chúng tôi cũng đau.

阿贵一个劲说没事,这里的小丫头片子也都是五六岁就摸枪了,要论在山里,她比我们有用,而且这山她?他都熟悉,不用担心。

A Quý vẫn khăng khăng nói không sao đâu mà, con gái ở đây lên năm lên sáu đã chơi súng, vào trong núi nó còn được việc hơn các anh.

Với lại nó cũng thuộc đường trong núi hơn tôi, các anh đừng lo lắng.

说着云彩就从屋里出来,我和胖子一看,眼睛都直了。只见云彩完全换了一个人一般,一身的瑶族猎装,猎刀横在后腰,背着一把小短猎枪。瑶族姑娘本来身材就好,这衣服一穿,那小腿和身上的线条绷了出来,真是好看得紧。加上英姿飒爽中带着俏皮的表情,带着十七八岁年纪那种让人不可抗拒的味道,一下子就把胖子给征服了。

Nói đến đây thì Vân Thái từ trong nhà bước ra, tôi và Bàn Tử vừa nhìn đã lóa mắt.

Chỉ cảm thấy Vân Thái dường như đã biến thành con người khác, cô bé mặc trang phục đi săn của người Dao, dao săn buộc sau eo, lưng đeo một khẩu súng săn ngắn.

Con gái người Dao vốn có dáng vóc đẹp, khoác bộ đồ này lên lại khoe trọn bắp chân và những đường cong trên thân thể, quả là đẹp mắt.

Thêm vào đó là vẻ mặt vừa tươi tắn lại vừa mạnh mẽ tinh anh, cộng thêm khí thế khiến người ta không thể chối từ của tuổi mười bảy mười tám, loáng cái đã chinh phục được Bàn Tử.

她走到我们边上,挑战似的盯着我们,道:"几位老板,瞧不起人是不是?"

Cô bé lại gần chúng tôi, nhìn Bàn Tử đầy khiêu khích: "Ông chủ nói vậy là có ý xem thường người ta phải không?"

"没有没有!完全没有!"胖子立即道,"大妹子,你不要误会,你胖哥哥我主要是怕你辛苦,其实在我们心里,你绝对是最佳人选。"

"Đâu có đâu có!"

Bàn Tử chối lia lịa: "Em gái à, chớ có hiểu lầm, chẳng qua anh sợ em phải chịu khổ thôi, chứ thật ra em mới đúng là lựa chọn tốt nhất."

我立即皱起眉头,踢了胖子一脚,低声骂道:"你怎么变卦得那么快,怎么着,就你这年纪了,还想老牛吃嫩草?"

Tôi đá cho Bàn Tử một cú, khẽ mắng: "Sao ông anh trở mặt nhanh như chong chóng thế, ông anh đã đến tuổi này rồi còn muốn làm trâu già gặm cỏ non hay sao?"

"我年纪怎么了,胖爷我这说起来叫做人到壮年,是壮牛,不是老牛。"他低声道,"你都让潘子去找个婆娘,怎么就容不得我?"

"Đến tuổi này thì đã làm sao, tôi đây gọi là người đến tuổi tráng niên, cùng lắm thì làm con trâu khỏe, không phải trâu già."

Anh ta thì thầm nói, "Cậu còn bảo Phan Tử đi kiếm vợ, sao đến tôi lại không được?"

我也不知道他是真的动了心还是只想吃点豆腐,对他道苗瑶一家,女家都厉害,你小心人家真动了情把你下蛊绑了,那你就得上门在人家家里种一辈子田,如果变心逃跑,一发蛊那就是万虫穿心,一身的神膘都喂了蛊虫。

Tôi không biết anh ta thật sự rung động hay chỉ đơn thuần là thích trêu ghẹo, bèn nói người Miêu, người Dao vốn giỏi nuôi cổ trùng, lỡ như cô bé thực sự thích anh, hạ cổ giữ anh lại thì anh chỉ có nước ở đây làm rể nhà họ suốt đời.

Nếu anh phản bội rồi chạy trốn, chỉ cần một con cổ được kích hoạt, anh sẽ bị vạn trùng đục ruột, mỡ trên người cũng dùng để nuôi sống đám trùng đó.

胖子显然见多识广,不以为然,说牡丹花下死,做鬼也风流,最好全瑶寨的美女都向他下蛊,那他就留在这里做村长。

Rõ ràng Bàn Tử là kẻ từng trải, không hề nao núng, chỉ cười khẩy, chết dưới hoa mẫu đơn, làm quỷ cũng phong lưu.

Tốt nhất cả bản Dao này đều hạ cổ tôi, vậy tôi sẽ ở lại đây làm trưởng thôn.

嬉笑中我也只好接受了这个现状,看云彩那种气度,我感觉阿贵说的没错,而且这一次估计不会有太大的危险。

Cười đùa một hồi, tôi cũng đành phải chấp nhận.

Nhìn khí phách của Vân Thái, tôi cảm thấy A Quý nói không sai, vả lại tôi đoán chuyến đi này cũng không gặp nguy hiểm gì quá lớn.

唯一让我在意的是,我们打包东西的时候,胖子老是找云彩调侃,把云彩逗得哈哈笑。但是我能看出来,云彩时不时偷偷看着闷油瓶,看得很小心,总是看一眼立即转回眼神,但在那清澈的眼睛里,我是能看出一点东西来的。

Điều duy nhất khiến tôi bận tâm là khi chúng tôi gói ghém đồ đạc, Bàn Tử luôn trêu đùa Vân Thái, chọc Vân Thái cười khanh khách.

Nhưng để ý thì thấy Vân Thái thỉnh thoảng lại len lén nhìn Muộn Du Bình, nhìn rất cẩn thận, chỉ liếc mắt một cái rồi quay đi ngay, nhưng tôi vẫn nhìn ra được chút manh mối từ đôi mắt trong veo ấy.

我们按照当时找盘马老爹的路线原路出发,对于这路线我已经有少许了解,一路比晚上搜索盘马老爹时轻松多了。胖子简直是被迷住了,围着云彩就转,就差趴下来给她当马骑了,云彩也确实可爱,蹦蹦跳跳的。

Chúng tôi xuất phát, đi dọc theo còn đường đi tìm lão Bàn Mã lần trước.

Tôi cũng lờ mờ nhớ đường, chuyến đi này vui vẻ hơn lần đi tìm người kia nhiều.

Bàn Tử quả thực đã bị mê hoặc rồi, cứ lượn lờ quanh Vân Thái suốt, chỉ thiếu điều bò bằng bốn chân làm ngựa cho cô cưỡi, mà Vân Thái cũng thật dễ thương và sôi nổi.

她问我们到底是干什么的,肯定不是导游,哪有导游会到这种地方来的,胖子故作神秘,说我们是有秘密任务的大人物,如果她肯亲他一口他就偷偷告诉她。

Cô hỏi chúng tôi rốt cuộc làm nghề gì, nhất định không phải hướng dẫn viên du lịch rồi vì làm gì có hướng dẫn viên du lịch nào lại đến cái chốn này chứ.

Bàn Tử liền ra vẻ thần bí, nói tụi anh là nhân vật lớn đi làm nhiệm vụ bí mật, nếu em chịu hôn anh một cái thì anh sẽ tiết lộ cho em biết.

我还真怕云彩亲他,那太浪费了,还好云彩还是有审美能力的,坚决不上当。不过闷油瓶没有为我们的气氛所感染,他的脸色一直没有任何变化,在轻松的气氛中,只有他仍旧沉在阴云里。

Tôi còn sợ Vân Thái hôn hắn ta thật, vậy cũng quá lãng phí rồi, may mà Vân Thái vẫn còn mắt thẩm mỹ, cương quyết không mắc mưu.

Nhưng Muộn Du Bình vẫn dửng dưng trước bầu không khí náo nhiệt của chúng tôi, sắc mặt hắn không hề thay đổi khiến tôi cảm thấy có gì đó khác thường.

当天晚上到了山口的古坟处,我们深入进去一两公里稍事休息,天亮后继续,在山中走了两天,才来到了那处湖边。

Đêm hôm ấy chúng tôi đến sơn khẩu nơi có ngôi mộ cổ, đi sâu thêm một vài km nữa rồi nghỉ ngơi, đến hửng sáng lại lên đường, đi suốt hai ngày trong núi là đến được mép hồ kia.

远远我就在山脊上看到了那湖,大概是连日暴雨的缘故,湖泊比我想象的要大一些。果然如盘马说的四周全是石头,湖四周是莽莽群山,高大陡峭的山峰连绵不断,山体巨大入云,一点也不像丘陵,完全是险恶的大山大水。山中植物分布得非常厚实,连山间的断崖都是墨绿色的,十万大山果然名不虚传。我不由得庆幸,此地离村子尚且不远,再往里走,这深山中的腹地恐怕比塔木坨还要险恶。

Từ xa, tôi đã nhìn thấy mặt hồ khi đứng trên sườn núi.

Có lẽ do mưa lớn liên tục trong nhiều ngày, hồ lớn hơn tôi tưởng.

Quả nhiên, giống như lời Bàn Mã nói, xung quanh toàn là đá, hồ được bao bọc bởi những dãy núi trùng điệp cao vút, sừng sững hiểm trở, nối tiếp nhau không dứt.

Những ngọn núi nơi đây to lớn đến mức vươn thẳng vào mây trời, hoàn toàn không giống vùng đồi thấp, mà là những dãy núi hiểm trở.

Thảm thực vật trong rừng cực kỳ dày đặc, những vách đá dựng đứng cũng phủ một màu xanh sẫm.

Quả không hổ danh là Thập Vạn Đại Sơn.

Tôi không khỏi thấy may mắn, vì nơi này vẫn còn cách thôn làng không quá xa, nếu đi sâu vào hơn nữa, có lẽ vùng lõi của khu rừng này còn hiểm trở hơn cả Tháp Mộc Đà.

经过一条已经完全被植被覆盖不可见的山路,我们来到湖滩上,完全看不出当年这里有人驻扎过的痕迹。湖水非常清澈,倒映着天空中的云彩相当漂亮,甩掉包裹,我们到湖水里去洗脸,水是凉的,说明湖底通着地下河,在三伏天里冰凉的湖水让人精神一振。

Đi theo một con đường núi đã hoàn toàn bị cây cối che phủ, không còn nhìn thấy, chúng tôi tới bãi hồ, hoàn toàn không thấy dấu vết nào cho thấy từng có người đóng trại ở đây.

Nước hồ rất trong, phản chiếu những đám mây trên trời, nhìn cực kỳ đẹp.

Bỏ hết hành lý xuống, chúng tôi bước xuống hồ rửa mặt.

Nước lạnh, chứng tỏ đáy hồ thông với sông ngầm, trong những ngày hè oi ả, dòng nước hồ lạnh buốt khiến người tỉnh táo hẳn ra.

洗完脸我仰头看向四周,湖水倒映着天空和四周的山,忽然就发现这里似曾相识般熟悉。我看了一眼,边上的闷油瓶也是一脸的疑惑。

Rửa mặt xong, tôi ngẩng đầu nhìn bốn phía.

Mặt hồ phản chiếu bầu trời và những ngọn núi xung quanh.

Bỗng dưng, tôi cảm thấy khung cảnh này vô cùng quen thuộc, như thể đã từng thấy ở đâu đó.

Tôi liếc sang bên cạnh, thấy Muộn Du Bình cũng đang cau mày đầy nghi hoặc.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 18: Câu đố


这种一刹那的熟悉感以前我也有过,每每都让我起了一身鸡皮疙瘩。书上说这是一种错觉,但是这一次却不同,因为我看到闷油瓶的脸色也起了变化,同样一脸疑惑的表情,不知是否和我是同样的感觉。

Trước đây đã từng xảy ra chuyện tương tự làm tôi sởn da gà, Muộn Du Bình cũng ngây ra mà nhìn với ánh mắt đầy nghi hoặc, chưa biết chừng hắn có cảm giác giống tôi.

是哪里呢?我在哪里看到过这里的情景,或者是看到过与这里类似的情景?

Ở đâu nhỉ?

Tôi đã từng thấy cảnh này ở đâu, hay từng thấy tình cảnh tương tự như vậy ở đâu rồi?

我努力回忆,从脑子里翻来覆去思考,但是想不起来,只记得这情景我应该刚看到不久。而且,与这种相似的感觉一起来的,还有一种"不对劲"的感觉。显然我记忆里的印象,和这里仍然有少许的不同。

Tôi ra sức hồi tưởng, suy đi nghĩ lại mà vẫn không tài nào nhớ ra, chỉ biết rõ mình từng thấy cảnh tượng này cách đây không lâu, hơn nữa đi kèm với cảm giác thân thuộc còn có một loại cảm giác "không đúng".

Hiển nhiên ấn tượng trong tâm trí tôi vẫn không hoàn toàn trùng khớp với nơi này.

胖子没心没肺,直接脱得只剩下裤衩就在水里游泳了,阿贵让他小心点,山里的湖里都不吉利,不要太折腾。胖子什么场面没见过,朝阿贵泼水让他闭嘴。

Bàn Tử vô tâm vô phế, cởi sạch đồ chỉ còn mỗi quần đùi rồi nhảy xuống nước bơi.

A Quý nhắc anh ta cẩn thận, nói rằng hồ trong núi không may mắn, đừng có làm ầm ĩ quá.

Bàn Tử chẳng coi lời A Quý ra gì, hất nước vào A Quý bảo ông ta ngậm miệng lại.

回到岸上,我们脱掉了湿掉的鞋和裤子,胖子帮阿贵搭起了雨棚,阿贵去砍柴,云彩帮忙烧饭,我喝着水,这才想起这山势在哪里见过。

Trở lại bờ, chúng tôi cởi giày và quần ướt đẫm ra, Bàn Tử phụ A Quý dựng lều che mưa.

A Quý đi đốn củi trở về, Vân Thái giúp nấu cơm, tôi uống nước xong mới nhớ ra mình đã gặp thế núi này ở đâu.

这山的形状和感觉,竟然和我们在村子溪边戏水时看到的山景非常相似,山的线条、走势,都如出一辙。只不过当时我们是在溪涧里,现在我们是在湖泊里。所以这水里的倒影和山的样子,一下让我吃了一惊。只不过这里的山上树木茂密,而在寨子边上,树木都被砍伐过了,所以才有少许的异样。

Hình dáng và cảm giác của dãy núi này cực kỳ giống với quang cảnh chúng tôi đã thấy khi nghịch nước ở khe suối trong làng, đường nét của núi, độ dốc, tất cả giống hệt nhau.

Chỉ khác là lúc đó chúng tôi đứng trong khe suối, còn bây giờ chúng tôi đang ở trong một hồ nước.

Chính vì vậy, hình ảnh phản chiếu của nước và hình dáng ngọn núi đã khiến tôi giật mình.

Chẳng qua núi ở đây cây cối rậm rạp, còn những ngọn núi bên cạnh bản làng thì cây đã bị chặt bớt, nên mới có hơi khác.

我闭目养神的时候,仔细观察过溪涧四周的风景,闷油瓶别看心不在焉的,一切他肯定也看在眼里,胖子的注意力在当时那些小姑娘身上,难怪不察觉。

Khi đó tôi đã cẩn thận quan sát cảnh vật xung quanh khe nước, đừng nhìn Muộn Du Bình có vẻ mất tập trung mà nhầm, hắn chắc chắn đã thu tất cả vào trong mắt.

Còn sự chú ý của Bàn Tử lại dồn hết lên những cô bé kia, hèn gì không phát hiện ra.

这还真是有趣,大自然真是鬼斧神工,不知是纯粹的巧合,还是因为什么地质原因形成。好像有一种风水地势就是如此,这种地形叫做"鱼鳞岙",所有的山好像鱼鳞一样,一层一层的,山势都十分的相像,这种风水不适合葬人,因为据说鱼鳞下是藏污纳垢的地方。从地理上说鱼鳞状的特别容易水土流失,也是积水特别严重的地形,我们在山口看到的古坟就一个例子。不过,如果在"鱼鳞岙"里有一泉湖,那就完全不同了,那叫"鱼来自得水",水在鱼鳞里,出水而不亡,那这就不是鱼,而是一条未化的小龙,如果有早亡的年轻人,应该葬在这里。

Chuyện này thực sự thú vị, tạo hóa quả thật tinh xảo, không biết đây là trùng hợp thuần túy hay là do cấu trúc địa chất nào đó tạo thành.

Hình như có một kiểu địa thế phong thủy như thế này, gọi là thung lũng vảy cá, các ngọn núi xếp tầng như vảy cá, dáng núi vô cùng tương đồng.

Loại địa hình này không thích hợp để mai táng, vì theo phong thủy, dưới vảy cá là nơi chứa đựng những thứ bẩn thỉu.

Xét về địa lý, địa hình vảy cá rất dễ bị xói mòn và tụ nước, khu mộ cổ mà chúng tôi thấy ở cửa núi là một ví dụ điển hình.

Nhưng nếu trong "thung lũng vảy cá" có một hồ nước thì tình hình lại hoàn toàn khác.

Như thế lại được gọi là "cá gặp nước", nước ở giữa vảy cá, cá ra khỏi nước mà không chết, tức là không phải là cá, mà là một con vật nhỏ chưa hóa rồng.

Nếu có người trẻ yểu mệnh, nơi này thực sự rất thích hợp để chôn cất.

如此说来,这里有个古墓的可能性真的很大,可惜我不知道这种山势的殓葬细节,在我看来四周的山上都不是很适合葬人。

Xem ra, xác suất có một ngôi mộ cổ ở nơi này là rất cao.

Tiếc là tôi không biết rõ về cách chôn cất trong địa hình này, nhưng theo quan sát, dường như những ngọn núi xung quanh không thích hợp để mai táng.

云彩他们搭完窝棚,开始收集一边的柴火,我和胖子、闷油瓶不需要帮忙,开始环湖搜索大概观察四周的环境。

Vân Thái và A Quý dựng xong lều, bắt đầu gom củi, còn tôi, Bàn Tử và Muộn Du Bình bắt đầu đi dọc quanh hồ quan sát địa hình xung quanh.

湖泊只剩下两个足球场大小,一下就走完了,我走在岸边看着湖内,感觉湖底似乎也全都是石头,而且湖底的落差很大,稍微浅一点的地方能看到水底,再往下湖底就迅速隐入了黑暗,看来水下可能极深。湖滩上全是大大小小的石头,如盘马所说大小差别很大,让我在意的是,湖滩非常干净,什么杂物都没有,也许是被连日大雨冲进湖里了。

Bây giờ hồ nước chỉ còn lớn bằng hai sân bóng đá, đi một vòng là hết.

Tôi nhìn xuống theo bờ hồ, cảm thấy dường như đáy hồ cũng toàn là đá, hơn nữa độ sâu thay đổi rất đột ngột.

Có thể nhìn thấy đáy ở những khu vực nông hơn, nhưng càng xuống sâu, đáy hồ càng chìm vào bóng tối, có vẻ như nơi này cực kỳ sâu.

Trên bờ hồ toàn là đá lớn nhỏ lẫn lộn, đúng như lời Bàn Mã nói, kích thước chênh lệch rất nhiều.

Thứ khiến tôi chú ý là bờ hồ cực kỳ sạch sẽ, không có một mảnh vụn nào, có lẽ đã bị mưa lớn cuốn trôi hết xuống hồ.

我对于极深的湖泊总是怀有一种莫名的恐惧,俗话说浅水不藏龙,水深必有怪,水一深代表湖的容纳范围没有我们从湖面上看到的那么小,就有可能有一些奇怪的东西在里面。世界上很多有水怪的大湖,湖面不大但都极其深,即使没有什么古怪,水极深的地方也容易有一些大鱼。有些大水库清库底的时候,总会发现一些长得无比巨大的鱼。

Tôi luôn có cảm giác sợ hãi một cách khó hiểu đối với những hồ nước sâu.

Có câu nước cạn không chứa rồng, nước sâu tất có quái, lòng nước sâu cho thấy dung tích của hồ không nhỏ như chúng ta thấy từ bề mặt, mà có thể còn chứa đựng thứ gì kỳ quái bên trong.

Trên thế giới có biết bao nhiêu hồ lớn chứa thủy quái, tuy bề mặt chúng không rộng nhưng lại rất sâu.

Dù không có gì kỳ quái thì chỗ nước sâu cũng dễ có cá lớn, thi thoảng vào mùa nước lên sẽ phát hiện vài con cá khổng lồ.

绕了一圈没有看到明显的尸骨痕迹,不过湖滩大部分石头都很细碎,四十多年来这里水位不断变化,山石不断滚落,那些尸骨也许被压在了石头的下面。

Đi một vòng quanh hồ không thấy vết tích xương cốt rõ ràng, song những viên đá này đều nhỏ vụn, trong hơn 40 năm mực nước nơi này lên xuống vô định, đá núi không ngừng lăn xuống, những mảnh xương này kia có thể nằm bên dưới lớp đá.

我们判断着当时的过程,按照一般的情况考古队应该和我们一样扎在湖的南面,另一面是山,会有落石和泥石流的危险,那么我们要搜索的区域应该是湖的南面。

Chúng tôi phán đoán tình hình lúc đó, dựa theo lẽ thường thì có lẽ đội khảo cổ dựng trại ở bờ nam.

Bờ bên kia là núi, có nguy cơ gặp đất đá bùn lầy trôi xuống, vậy thì khu vực chúng tôi muốn tìm hẳn là bờ nam.

这是个大工程,还好带了几只狗,不过也不知道能不能派上用场。尸体被水泡了这么多年,肯定白骨化了,和石头不见得有什么区别。

Đây là một việc không hề đơn giản, may mà chúng tôi có mấy con chó săn, nhưng cũng không chắc chúng có thể giúp được hay không.

Chắc chắn xác chết bị ngâm trong nước nhiều năm đã phân hủy hoàn toàn, chỉ còn lại bộ xương, trông cũng chẳng khác gì đá.

吃过中饭阿贵去四周转转,看看有什么东西好打,我们开始划区域寻找,云彩给我们洗汗臭的衣服。湖边的区域很大,我和胖子、闷油瓶三个人每人一大块地方开始了行动。

Ăn cơm trưa xong, A Quý đi thăm thú xung quanh xem có món gì tốt.

Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm trong khu vực, Vân Thái giặt mớ quần áo đẫm mồ hôi giùm chúng tôi.

Vùng ven hồ rất rộng, tôi, Bàn Tử và Muộn Du Bình chia nhau mỗi người một khoảnh mà tìm kiếm.

我们要做的就是徒手把石头一块一块搬开,这里石头的情况,应该是离岸最近的不停地往湖中心滚落,但是这里的水位是逐渐下降的,而且石头累积本身就有防雨水冲刷的作用(雨水会浸入石滩下层汇聚成地下水,而不会在石滩上形成水流,都江堰的一部分就是这种原理)。湖底的坡度很陡,当年盘马不可能走入湖中太深,那么抛尸的地方肯定离岸很近,而且水位下降了很多,尸骨不会在湖里,而是在岸上。

Việc chúng tôi cần làm là di chuyển từng tảng đá một bằng tay không.

Có lẽ những viên gần bờ nhất sẽ liên tục lăn xuống trung tâm hồ, nhưng mực nước ở đây đang dần hạ xuống, hơn nữa, bản thân sự tích tụ của đá đã có tác dụng ngăn nước mưa xói mòn (nước mưa sẽ thấm xuống tầng dưới của bãi đá và tụ thành nước ngầm, thay vì tạo thành dòng chảy trên bề mặt bãi đá, một phần nguyên lý của Đô Giang Yển cũng giống như vậy).

Đáy hồ rất dốc, năm đó Bàn Mã không thể nào đi quá sâu vào trong hồ, vậy nên chắc chắn nơi ném xác ở rất gần bờ.

Hơn nữa, nước đã rút đi nhiều, xương sẽ không còn ở dưới hồ mà sẽ nằm trên bờ.

胖子说尸体丢下去后如果没有什么东西捆扎,会先变成浮水尸,然后沉底被鱼虾吞食,骨头应该是散的,脑袋在这里,屁股可能就在一百米外,这么找肯定找不到。而且如果尸体没有被抛入很深的地方,那么也有可能被动物拖上岸分食。

Bàn Tử nói thi thể bị ném xuống đó nếu không buộc lại thì ban đầu sẽ trôi lơ lửng, sau đó chìm xuống rồi bị tôm cá rỉa, xương cốt phân tán hết, đầu ở đây cái kia có thể trôi xa hơn 100m, muốn kiếm cũng kiếm không ra.

Mà nếu thi thể không được ném xuống nơi đủ sâu thì có thể còn bị thú vật tha lên bờ xé ăn.

我道无论怎么说,不太可能一点蛛丝马迹都不剩下,毛主席说过,世界上怕就怕认真二字,咱们先找着,真找不到再来分析原因。

Tôi nói dù gì đi chăng nữa cũng khó có chuyện không lưu lại chút manh mối nào.

Mao chủ tịch từng nói hai chữ đáng sợ nhất trên đời là niềm tin, chúng ta cứ tìm trước đã, tìm không thấy hẵng đi phân tích nguyên nhân sau.

三个人就这么一直翻到夕阳西下,仍然没有结果,几只猎狗在湖边嬉戏,完全不理会我们,也不想帮忙。湖边的太阳很毒,晒了一天,我的天灵盖都火辣辣的痛。阿贵的枪在林子里响了两声,带回来一只野鸡,很快烤鸡的香味就让我们按捺不住了。

Cứ thế cho đến khi trời chiều đã ngả về tây, ba người vẫn tay trắng.

Mấy con chó săn chạy chơi ven hồ, hoàn toàn không đếm xỉa đến chúng tôi, cũng chả thèm giúp sức.

Phơi dưới ánh nắng gay gắt bên bờ hồ cả ngày khiến đỉnh đầu tôi đau rát; từ trong rừng vang lên hai tiếng súng của A Quý, rồi anh mang về một con gà rừng đem nướng, chẳng mấy chốc mùi thơm đã tỏa ra ngào ngạt làm chúng tôi thèm nhỏ rãi.

胖子不禁有些沮丧,我们休息的时候靠到一起抽烟,胖子就说看来够戗,你还是看看这里什么地方可能有肥斗比较保险,死人可能找不着了。我知道他惦记着他的古墓说,安抚他道反正要待好几天,慢慢来吧,真要找不到死人,我就替他去找那肥斗。

Bàn Tử bắt đầu hơi chán nản.

Lúc nghỉ ngơi, chúng tôi tựa vào nhau hút thuốc.

Bàn Tử nói có vẻ không khả quan lắm, hay là thử xem ở đây có cái đấu béo bở nào đáng đổ hơn không, có khi không tìm được người chết, nhưng mộ cổ thì lại có thể.

Tôi biết anh ta vẫn nhớ nhung ngôi mộ cổ, bèn trấn an dù sao cũng phải ở lại đây vài ngày, cứ từ từ đã.

Nếu thật sự không tìm được xác chết, tôi sẽ tìm cái đấu béo bở kia cùng anh.

难得我心中没有多少急躁,喝了点米酒,我们围在湖边的篝火旁休息,既是湖边又是山中,凉爽得要命。云彩也换了衣服,穿了轻薄的T恤,洗了头感觉和城市里的女孩很像了。吃了饭她还跳舞给我们看,瑶族的舞蹈有很多转圈和后踢小腿的动作,瑶族姑娘的小腿又特别的好看,胖子看得下巴都掉了下来,一定要去学,但是他完全像跳大神,我笑得人仰马翻。

Lạ là tôi cũng không cảm thấy quá sốt ruột.

Sau khi uống ít rượu nếp, chúng tôi ngồi nghỉ bên đống lửa cạnh hồ.

Vừa gần hồ vừa ở trong núi, không khí mát lạnh vô cùng.

Vân Thái cũng thay đồ, mặc một chiếc áo thun mỏng, vừa gội đầu xong, trông giống hệt một cô gái thành phố.

Ăn xong, cô bé còn nhảy múa cho chúng tôi xem.

Điệu múa của người Dao có rất nhiều động tác xoay vòng và đá chân ra sau.

Bắp chân của các cô gái Dao cực kỳ đẹp, Bàn Tử nhìn mà há hốc mồm, nhất quyết đòi học theo, nhưng anh ta nhảy chẳng khác gì lên đồng, khiến tôi cười bò ra đất.

太久没有笑得这么舒畅了,我最后都笑不动了,但是转眼看到闷油瓶,却见他靠在石头上,一点放松的表情都没有。乍一看都察觉不到他的存在。

Lâu rồi không cười sảng khoái đến thế, mãi mới ngưng lại được, tôi đảo mắt nhìn sang Muộn Du Bình thì đã thấy hắn dựa vào tảng đá, nét mặt không hề thoải mái, nếu nhìn lướt qua sẽ không phát hiện ra hắn đang tồn tại.

我心说到这里来找他的过去也不知是不是一个错误,就目前收集到的线索来看,显然策略上我们是来对了,对于我们来说,这一路过来是轻松的,但对他来说,遇到的东西无一不是在敲击他过去的心门,让他轻松起来真的很难。

Tôi thầm nghĩ, mình tới đây truy tìm quá khứ của hắn liệu có phải sai lầm hay không?

Nhưng nhìn những manh mối hiện đã thu thập được thì hiển nhiên trên lý thuyết chúng tôi đến đúng chỗ rồi.

Đối với chúng tôi con đường đến đây có thể đi một cách ung dung, nhưng với hắn những thứ gặp phải trên đường luôn gợi mở cánh cửa quá khứ, muốn thả lỏng cũng khó.

这人又是典型的自我放逐型人格,心在桃园外,兀自笑春风,谁也进不了他心里。

Người này lại mang đặc trưng của kiểu nhân cách hướng nội, lòng ở ngoài chốn đào viên mà vẫn cười với gió xuân, chẳng để ai vào lòng.

想想有些不忍,我拿了一块小石头丢他,对他道:"别琢磨了,告诉你,我有经验,怎么琢磨都没用,咱们现在做的就是拼图,在所有的片找得差不多之前,少琢磨一些。"说着递给他米酒。

Nghĩ vậy, tôi có chút không nỡ.

Tôi nhặt một hòn đá nhỏ ném hắn, nói: "Anh đừng cả nghĩ, nói cho anh biết, theo kinh nghiệm của tôi có nghĩ đến nát óc cũng chẳng để làm gì.

Chúng ta đang ghép tranh, trước khi tìm ra tất cả mảnh ghép thì nghĩ ngợi ít thôi."

Rồi đưa rượu gạo cho hắn.

闷油瓶默默接过,放到一边,我有点多了,叹了口气道:"你就不能喝一口?"

Muộn Du Bình lặng lẽ nhận lấy rồi đặt sang một bên.

Tôi thở dài: "Anh không thể uống lấy một ngụm sao."

他摇头,看向一边的黑暗。

Hắn lắc đầu, nhìn sang khoảng tối bên cạnh.

我只得把注意力转回到胖子身上,胖子正出脑筋急转弯给我们猜,问云彩,什么战斗是:杀敌一百,自损三千?

Tôi đành chuyển sự chú ý sang Bàn Tử, thấy hắn đang ra câu đố mẹo cho chúng tôi đoán, hỏi Vân Thái chiến đấu như thế nào thì gọi là "Giết địch một trăm, tự tổn ba ngàn."

我怕胖子出黄色笑话给小姑娘猜,小姑娘很纯啊,这种东西感觉说出来都是污染,就喝了他一下。胖子说放心吧,这个脑筋急转弯绝对正经。

Tôi sợ Bàn Tử lấy truyện cười bậy bạ ra cho Vân Thái đoán, nhuộm đen đầu óc trong sáng của cô bé, liền la rầy hắn.

Bàn Tử nói yên tâm đi, câu đố này hoàn toàn đứng đắn.

阿贵也喝多了,咯咯直傻笑,猜来猜去都不对,最后答案公布,原来是屁胡和十三幺的战斗,打麻将放炮,赢下家一百,但是输给中炮三十番。

A Quý cũng nốc kha khá rồi, chỉ biết cười ngô nghê, đoán tới đoán lui vẫn trượt, cuối cùng công bố đáp án hóa ra lại là xuông đối trận với xập xám chướng*, chỉ chăm chăm nã pháo, thắng nhà con một trăm lại trúng pháo thua ba mươi lần.

* Đây là những thuật ngữ chỉ các thế bài trong mạt chược.

Xuông (Nguyên văn: thí hồ) là thế bài tạp không được tính điểm (phán) nào, xập xám chướng (Nguyên văn: thập tam yêu) là thế bài có đủ 13 quân nhất vạn, cửu vạn, nhất tác, cửu tác, nhất đồng, cửu đồng, đông, tây, nam, bắc, bạch, phát, trung, là thế bài đặc biệt, nã pháo chính là "ù".

Mỗi ván có một người đóng vai nhà cái, còn lại là nhà con, cách chơi của nhà cái và nhà con sẽ khác nhau đôi chút.

瑶寨里不兴这个,云彩根本听不懂,我骂道你这不是欺负人吗?有没有乡土气息一点的脑筋急转弯。

Trò này không phổ biến trong thôn người Dao, Vân Thái chẳng hiểu mô tê gì sất, tôi mới mắng anh hỏi thế chẳng hóa bắt nạt người ta hay sao?

Có câu đố mẹo nào mang tính địa phương một chút không hả?

胖子就道有,问我们道:再猜,什么战斗是杀敌一个,自损三千的。

Bàn Tử đáp có, rồi lại hỏi: "Tiếp nè, chiến đấu như thế nào thì gọi là "Giết địch một tên, tự tổn ba ngàn."

"马蜂!"云彩立即举手道。

"Ong vò vẽ!"

Vân Thái lập tức giơ tay đáp.

胖子啧道:"臭丫头,你存心刺激我是不是?"

Bàn Tử lắc đầu: "Nha đầu thúi, cố ý đâm thọt anh hả?"

我们大笑,我说那肯定是骑兵和坦克的战斗,胖子道如果是骑兵和坦克,自损一万都杀不了一个。

Cả đám cười rộ lên, rồi tôi nói vậy chắc chắn là kỵ binh đấu với xe tăng, Bàn Tử bảo nếu đấu với xe tăng thì có tổn thất một vạn kỵ binh cũng không hạ nổi một cỗ.

接着我们猜,有猜打扑克的,有猜蚂蚁的,有猜吃鲍鱼的,胖子都说不对,得意扬扬,好像在凌辱我们的智商。

Chúng tôi tiếp tục đoán, người đoán chơi bài tây, người đoán con kiến, người lại đoán là ăn bào ngư, Bàn Tử đều nói sai rồi, cái mặt vênh vênh đắc ý cứ như đang cười nhạo trí khôn của chúng tôi.

我怒道,你他妈的说那是什么战斗?如果牵强我就揍你。

Tôi phát cáu, bảo tiên sư thế anh nói coi đó là kiểu chiến đấu gì?

Đáp án mà khiên cưỡng là tôi tẩn cho đấy.

胖子道:"这个太容易了,哎,胖爷我真是天赋异禀,和你们这些凡夫俗子怎么都有差距,我告诉你你听好了,杀敌一个,自损三千,是香蕉和大象的战斗。"

Bàn Tử đáp: "Quá dễ, hầy, Bàn gia đây đúng là thiên phú dị bẩm, hạng phàm phu tục tử các người còn kém xa.

Nghe cho kỹ lời tôi nói đây, giết địch một tên tự tổn ba ngàn, là trận chiến giữa chuối tiêu và voi."

我听了大怒,骂道,你胡说什么,香蕉和大象的战斗,这是什么玩意儿,你倒说说香蕉和大象打怎么可能杀敌一个,自损三千?

Tôi nghe vậy lườm lườm Bàn Tử, mắng, anh nói bậy gì đó, chuối tiêu đấu với voi là cái của nợ gì, anh nói coi chuối tiêu đấu với voi kiểu gì mà giết địch một tên tự tổn ba ngàn?

胖子道:"大象被撑死了呗。"

Bàn Tử đáp: "Thì voi no chết chứ sao."

我们一下笑成一团,云彩都笑得无法呼吸了,但是笑了几声,我们就慢慢收敛了下来,因为我看到闷油瓶在我们人仰马翻的时候,默默地站了起来,往湖的方向走去,然后远远地坐在篝火勉强能照到的地方。

Chúng tôi cười ồ lên, Vân Thái cũng cười đến suýt ngạt thở.

Song cười được vài tiếng chúng tôi cũng phải từ từ ngừng lại, bởi tôi thấy trong lúc cả đám cười lăn cười bò ra thì Muộn Du Bình lại lẳng lặng đứng lên, bước tới bên hồ, rồi ngồi ra một góc xa nơi ánh lửa trại phải khó khăn lắm mới chiếu đến.

云彩的眼神里有一丝惶恐,她看了看我们:"他是不是嫌我们太吵了?"

Trong mắt Vân Thái lướt qua một tia hốt hoảng, nhìn sang chúng tôi: "Chúng ta ồn quá, làm phiền anh ấy sao?"

胖子叹了口气,吸了一口黄烟叶,安慰道:"没事,别理他,他是去拉屎。"

Bàn Tử thở dài, rít một hơi thuốc lá rồi an ủi: "Không đâu, hắn đi đại tiện ấy mà."

我看着闷油瓶,刚想站起来,云彩却抢先朝他走了过去。

Tôi nhìn Muộn Du Bình, vừa định đứng dậy thì Vân Thái đã nhanh chân bước tới chỗ anh ta trước.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 19: Hiệu ứng Siphon


云彩坐在闷油瓶身边,远远的也不知道有没有和他说上话,胖子直直地看着,我调侃道:"你失恋了,节哀顺变。"

Vân Thái ngồi bên Muộn Du Bình, cách chúng tôi một quãng khá xa nên không biết hai người có nói chuyện không.

Bàn Tử nhìn họ đăm đăm, tôi mới trêu rằng: "Anh thất tình rồi, nén bi thương đi"

胖子不以为然道:"你不是也一样!"

Bàn Tử thản nhiên đáp: "Cậu cũng thế còn gì!"

"一你妈个头!"我怒道,"我可没你那么变态,我对小女孩没兴趣。"

"Cũng thế cái đầu anh ấy!"

Tôi tức giận nói.

"Tôi không biến thái như anh, tôi không có hứng thú với mấy cô gái nhỏ."

胖子拍拍我:"我相信小哥,绝对是够义气的人。"说着把酒递给我,自己也起来放尿。很快后面传来长篇大尿的水声,源源不断,也不知道他憋了多久。

Bàn Tử phản bác: "Tôi tin Tiểu Ca chắc chắn là người có nghĩa khí."

Nói rồi đưa rượu sang cho tôi, còn mình thì đứng dậy đi trút bầu tâm sự.

Chẳng mấy chốc sau lưng đã truyền đến tiếng nước chảy tồ tồ, chảy mãi chưa dứt, không biết hắn đã phải nín bao lâu.

我不禁莞尔,笑得也累了,静下来,看着远处月光下的湖面,忽然感觉来这里也许是一种缘分。

Tôi không nhịn nổi mà bật cười rũ rượi, cười chán chê mới nhìn về mặt hồ xa xa chìm trong ánh trăng mờ ảo, chợt cảm thấy mình đến được nơi đây có lẽ cũng là duyên số.

独看这里湖光山色,谁能想到当年发生了那么诡异的事,又看我们笑声豪迈,谁又知道其实我们背负了这么多东西。世界上的一切都很简单,而人似乎是最复杂的,这种复杂又是他们抗拒却又逃避不了的。

Chỉ nhìn cảnh sắc tươi đẹp nơi đây, ai mà ngờ được năm đó đã xảy ra chuyện quỷ quái đến vậy, cũng như nghe tiếng cười phóng khoáng bề ngoài, ai mà biết thực ra trên vai chúng tôi mang theo biết bao nhiêu gánh nặng.

Mọi thứ trên đời đều vô cùng đơn giản, mà con người dường như lại là thứ phức tạp nhất, kiểu phức tạp này họ vốn muốn chống đối, nhưng rồi lại không thể trốn tránh được.

庸人自扰,都是庸人自扰。我闭上眼睛,深吸了一口气,想自己以前的那种心境,又想想现在的这种心境,觉得以前那个在那么多谜中到处碰壁的形象真的有点可笑。

Suy nghĩ viển vông, quả đúng là suy nghĩ viển vông.

Tôi nhắm nghiền hai mắt, hít sâu một hơi, nhớ lại tâm tư của mình ngày trước, rồi nghĩ đến tâm trạng của bản thân lúc này, chợt thấy hình ảnh cái kẻ cứ mãi quẩn quanh giữa muôn vàn câu đố quả có hơi tức cười.

胖子放完水,哆嗦着走回来,看云彩还在那边,就奇怪道:"那丫头还没碰一鼻子灰回来?毅力可嘉啊。"

Bàn Tử giải quyết xong nỗi buồn, lập cập quay lại, thấy Vân Thái vẫn ngồi bên đó liền thắc mắc: "Con nhóc đó vẫn chưa bị đuổi về à?

Ý chí kiên cường thật đấy."

我道:"别说,也许小哥正喜欢这种类型的呢,他们现在都在交换定情信物了。"

Tôi bảo: "Đừng nói vậy, biết đâu Tiểu Ca lại thích kiểu này thì sao, có khi người ta đã trao tín vật hẹn ước luôn rồi."

胖子说道:"那不成,他们离我们这么远,万一有个妖怪什么的从湖里出来把他们拖了去,我都不好救,我去保护他们一下。"说着就要过去。

Bàn Tử đáp: "Làm gì có chuyện đó, họ ngồi cách chúng ta rõ xa, lỡ có con yêu quái nổi lên dưới hồ kéo họ đi mất thì tôi cũng không cứu kịp.

Thôi tôi qua đó bảo vệ hai người ấy đây."

Dứt lời liền nhổm lên định đi.

我拉住他,说不要打扰了,闷油瓶现在可能已经很烦了,他现在肯定满脑子都是问题,这种时候我也经历过,让他一个人待着比较好。你仔细听听,云彩也没有说话,说不定只是陪着他看天。

Tôi giữ hắn lại, bảo anh đừng có quấy rối.

Giờ này có lẽ Muộn Du Bình đang rất buồn bực, đầu óc chất chứa vô vàn câu hỏi, tình cảnh này tôi đã từng trải qua, cứ để hắn ngồi một mình thì hơn.

Anh lắng nghe cho kỹ đi, Vân Thái không hề nói chuyện, chắc là đang ngắm trời trăng với hắn thôi.

胖子坐下来,仔细听了听,却听到一边云彩正在唱歌。我和胖子都静了下来,微弱的湖风带来了轻灵的歌声,是瑶族的歌曲,唱得很轻,但是很清晰。

Bàn Tử ngồi xuống dỏng tai nghe ngóng, lại nghe như Vân Thái đang hát.

Tôi và Bàn Tử đều lặng đi, gió hồ hiu hiu mang theo tiếng ca trong trẻo, là một bài hát của người Dao, lời ca nhẹ bẫng lại hết sức rõ ràng.

再没有人说话,我心说云彩这丫头真不错,于是坐下来,看着天上的繁星听了下去。

Chẳng ai nói gì nữa, tôi thầm nhủ con bé Vân Thái kia đúng là không tệ, bèn thả lỏng người nằm xuống, ngắm bầu trời đầy sao tiếp tục lắng nghe.

天上薄云飘过,我的心境很快如湖水一般平静,慢慢地,在空灵的歌声中我进入了恍惚的状态。

Trên trời mây lững lờ trôi, lòng tôi nhanh chóng bình lặng như mặt nước hồ.

Dần dần, giữa tiếng ca huyền ảo, tôi từ từ chìm vào mông lung, dường như muốn thiếp đi.

迷迷糊糊的,不知道过了多久,忽然歌声就停了,一下我心境动荡了一下,睁开了眼睛。一边的闷油瓶已经站了起来看着湖面,一边无聊地趴着的几只狗也都抬起了头看着相同的方向。

Nhưng giờ hãy còn sớm, tôi mơ mơ màng màng không biết bao lâu thì tiếng hát chợt ngừng.

Tôi thoáng giật mình mở mắt, chỉ thấy Muộn Du Bình đằng kia đã đứng dậy nhìn xuống mặt hồ, bầy chó đang uể oải nằm kế bên cũng ngẩng đầu nhìn theo một hướng.

胖子还在闭目养神,阿贵也感觉到了异样,我拍醒胖子,就听到风从湖面的方向带来"吧嗒吧嗒"的声音,好像有好几只脚掌很大的腿,正在湖泊的浅滩上往岸上走来。

Bàn Tử còn đang nhắm mắt nghỉ ngơi, A Quý cũng cảm thấy có chuyện khác thường.

Tôi lay Bàn Tử dậy, chợt nghe trong gió có tiếng "oàm oạp" truyền đến từ phía hồ, giống như có những bàn chân ngoại cỡ đang bước lên từ bãi cạn trong hồ.

狗全都站了起来,警惕地盯着那个方向,这些猎狗训练有素,没有一只发出吠叫。胖子和我对视了一眼,我朝他龇牙,他指了指一边的手电,让我递给他。阿贵却一边让我们安静地坐下,一边摆手让我们别紧张,他轻身道:"没事,好像是野兽在舔水。"

Bầy chó đều đứng dậy nhìn chằm chằm đầy cảnh giác về hướng đó, những con chó săn này đều được huấn luyện nghiêm khắc, không hề sủa bậy.

Tôi và Bàn Tử liếc nhìn nhau, tôi nhe răng với hắn, hắn chỉ cái đèn pin ở bên cạnh ý bảo tôi đưa sang.

A Quý vừa ra hiệu cho chúng tôi trật tự ngồi xuống vừa xua tay ý nói chúng tôi đừng căng thẳng, rồi thì thào: "Không sao đâu, hình như là thú hoang đang uống nước."

"是什么野兽,听动静个头挺大啊。"胖子轻声问。

"Là con thú gì vậy, nghe tiếng động thì nó phải bự lắm."

Bàn Tử hỏi nhỏ.

阿贵拿起猎枪,让我们待着别动,赤脚往黑暗中摸去。云彩跟在后面,胖子一看要打猎了,立即按捺不住,给我们打了个眼色,我也想去看看,于是隔了几米,偷偷尾随过去。

A Quý cầm chắc súng săn, ra hiệu cho chúng tôi ngồi yên đừng quậy, rồi bước chân trần dò dẫm trong bóng đêm, Vân Thái cũng theo sau.

Bàn Tử không dằn lòng được liền nháy mắt ra hiệu, mà tôi cũng muốn hóng, bèn len lén bám đuôi sau vài mét.

走到闷油瓶边上,依稀看到一些湖面的情况,我们寻找想象中的野兽,但是没找到。可能这只野兽只是喝水的动静大,个头不大。我们用手电扫射,循着声音寻找,找着找着,却发现这种声音来自四面八方,而且有节奏,不像是动物发出来的。

Đi đến bên Muộn Du Bình, có thể lờ mờ thấy được một chút cảnh tượng trên mặt hồ.

Chúng tôi tìm kiếm con thú hoang trong truyền thuyết nhưng không thấy gì cả, có thể con thú này uống nước thì ồn nhưng cái đầu cũng không lớn.

Chúng tôi quét đèn pin qua, men theo âm thanh mà tìm kiếm, rồi nhận ra loại âm thanh này có nhịp diệu.

"不是野兽,是什么声音?"胖子自言自语。

"Không phải thú hoang thì là tiếng gì chứ?"

Bàn Tử làu bàu.

"潮声。"闷油瓶道。

"Tiếng thủy triều."

Muộn Du Bình đáp.

我们面面相觑,这么小的湖会有潮水?难道今天的月亮特别大?抬头看看,月亮根本看不清楚。

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, cái hồ nhỏ xíu này mà cũng có thủy triều?

Chẳng lẽ hôm nay có siêu trăng?

Ngẩng đầu nhìn lên, mặt trăng hôm nay hơi mờ.

阿贵放下枪,我们朝湖边走去,走到吃水线附近,果然,湖水在有节奏地波动着,像海浪拍打沙滩,不过幅度不大,那动物舔水的声音,是水撞击石头发出来的。

A Quý buông súng, chúng tôi đi đến ven hồ.

Tới gần mép nước, quả nhiên nước hồ đang sóng sánh nhịp nhàng như sóng biển vỗ bờ cát, có điều biên độ không lớn.

Còn âm thanh giống như động vật uống nước kia là do tiếng nước vỗ vào một tảng đá vọng lại.

我看着脚下的石滩,发现水位下降了,脚下都是湿的,也就是说刚才我们吹牛打屁加上云彩唱歌的时间,这湖泊的水位就在不停地下降。从湿线开始一直走到水边,我发现起码有十几步,水位降得很厉害。

Tôi nhìn bãi đá dưới chân, lờ mờ nhận ra mực nước đã hạ xuống để lại một mảng ẩm ướt dưới chân.

Nói cách khác trong khoảng thời gian chúng tôi chém gió ngó trăng rồi nghe Vân Thái hát hò, nước trong hồ vẫn liên tục hạ.

Từ vùng đất ẩm đi đến mép nước ít ra cũng phải vài chục bước, xem ra mực nước đã vơi đi rất nhiều.

"怎么回事?难道湖底漏了?"胖子搭手眺望。

"Chuyện quái quỷ gì đây?

Chẳng lẽ hồ bị rỉ nước hả?"

Bàn Tử khum tay nhìn ra xa.

我对地理很熟悉,知道这是一种地理现象,对他道:"这大概是虹吸效应。"

Tôi thông thạo địa lý, liền giải thích: "Đây là hiệu ứng siphon."

"虹吸是什么?虹吸二锅头?"

"Hiệu ứng siphon là cái gì?

Rượu Hồng Tinh ấy hả?"

(Hiệu ứng siphon nguyên văn là 虹吸效应- hóngxīxiàoyìng, có thể hiểu nôm na là nguyên lý bình thông nhau, khi được nối liền qua một ống dẫn thì mực nước trong hai bình luôn cân bằng với nhau.

Bàn Tử nghe nhầm thành 红星二锅头 – hóngxīngèrguōtóu, một loại rượu trắng giá rẻ rất phổ biến ở Trung Quốc.)

"这湖看来确实和地下河相连,附近可能还有一个更巨大的湖与之相连,被潮汐或者气压影响,这里的湖受到连动,比如说小湖和大湖都是磁铁,而假设虹吸效应是月亮引力引起的,那么月亮也是大磁铁,肯定大湖受到的吸力大,于是大小湖就产生压力差了,小湖中的水会被抽到大湖中去,小湖的水位就会降低。"我抬头看看了天,忽然就意识到了什么。

"Xem ra hồ này thật sự nối liền với mạch nước ngầm trong đất, gần đây có thể còn một cái hồ lớn hơn nữa nối liền với nó.

Cái hồ kia bị tác động bởi thủy triều hoặc khí áp, kéo theo hồ bên này cũng chịu chung ảnh hưởng.

Nếu ví hồ lớn và hồ nhỏ là hai khối nam châm, lại giả sử hiệu ứng siphon hình thành do lực hút của mặt trăng, vậy thì bản thân mặt trăng cũng là một khối nam châm lớn.

Chắc chắn lực hút tác động lên hồ lớn sẽ mạnh hơn, nên giữa hai hồ xuất hiện chênh lệch áp suất, nước trong hồ nhỏ sẽ bị hút sang bên hồ lớn, khiến mực nước trong hồ nhỏ hạ xuống."

Tôi ngẩng đầu nhìn lên trời mà giải thích, chợt nhận ra điều gì đó.

难怪我们找不到一点尸体的痕迹,如果这里存在虹吸效应,每天晚上有虹吸潮,那么当年的尸体可能会被虹吸潮吸到湖中心去。就好像抽水马桶的原理一样。

Chẳng trách chúng tôi không tìm thấy chút dấu vết nào của thi thể.

Nếu ở đây tồn tại hiệu ứng siphon, hằng đêm đều xuất hiện thủy triều siphon, vậy thì thi thể năm đó có lẽ đã bị thủy triều siphon hút đến giữa hồ rồi, cái này cũng giống như nguyên lý của bồn cầu tự hoại.

不光是尸体,所有在湖里的东西都会被抽到湖的中心去,难怪我感觉湖边上除了石头,一点东西都没有。

Không riêng gì thi thể mà tất tật mọi thứ trong hồ đều bị hút đến giữa hồ, chẳng trách tôi cứ có cảm giác bờ hồ ngoài đá ra chẳng còn gì hết.

这湖的湖底落差很大,非常陡峭,只要往下滑落就不会在涨潮的时候被推回来,如果当时没有用石头压住,那么肯定留在湖中心最深的地方了。

Đáy hồ rất dốc, một khi rơi xuống là khỏi mong sẽ được thủy triều đẩy lên.

Nếu lúc đó không lấy đá neo lại, thì chắc chắn đã chìm nghỉm xuống rốn hồ rồi.

想到这里我不由得有些沮丧,不知道这湖有多深,我们没有带水肺,如果湖水太深,那么我们这一次可以说是无功而返了。

Nghĩ đến đây tôi không khỏi nản lòng, chẳng biết cái hồ này sâu bao nhiêu, chúng tôi lại không mang theo bình khí.

Nếu mực nước quá sâu, thì coi như chúng tôi ra về tay trắng.

不过,再一想又振奋起来,徒手潜水的人能潜到一百多米深的地方,虽然我们没有那种专业技能,但是潜个二三十米也应该问题不大。如果湖水没有深得离谱,我们还是可以下水去找找的,就是需要水性好的人。

Nhưng cũng chưa hết hy vọng hoàn toàn, bởi con người có thể lặn xuống độ sâu hơn 100 mét mà không cần thiết bị gì.

Tuy chúng tôi không chuyên nghiệp được tới mức đó, nhưng tôi nghĩ nếu hồ chỉ sâu độ hai ba mươi mét thì chắc không thành vấn đề, chỉ cần có người giỏi bơi lội là được.

来这里一次不容易,不管怎么样我们都得试一试,游到湖中间倒没什么难度。

Đã mất công đến tận đây, dù gì chúng tôi cũng phải thử một lần, lặn đến giữa hồ cũng chẳng phải chuyện khó khăn gì.

想着我问他们道:"你们憋气都能憋多久?"

Nghĩ vậy tôi bèn hỏi họ: "Các anh có thể nín thở trong bao lâu?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 20: Dưới đáy hồ


我们几个中,胖子、闷油瓶和我都有点水性,阿贵能游泳,但是他们一般在溪涧中,没有长时间踩水的习惯,所以恐怕帮助不大。云彩倒是水性很好,可是没有泳衣,我们总不能让她穿着小背心帮我潜水,那胖子恐怕就没心思干事了。

Trong nhóm thì ba người Bàn Tử, Muộn Du Bình và tôi đều bập bõm biết bơi.

A Quý cũng vậy, nhưng quanh đây chỉ có mấy con suối nhỏ, anh không quen bơi đứng nên e rằng không giúp được nhiều.

Ngược lại Vân Thái bơi rất giỏi, song không có áo tắm, tôi không thể để cô bé mặc độc cái áo con mà lặn xuống hồ, mà Bàn Tử chắc cũng không muốn.

要说憋气时间还真没个准,胖子说他肺大,能憋五分钟,我说不可能,你体积那么大,潜到水下受到的压力比我们大得多,一般能憋到三分钟的人已经是神仙了。千万别逞能,这玩意儿不是开玩笑的。

Nói đến khả năng nhịn thở, Bàn Tử khoe mình phổi lớn, có thể nhịn năm phút liền.

Tôi bảo làm gì có chuyện ấy, anh béo thế kia lúc lặn xuống sẽ phải chịu áp lực lớn hơn chúng tôi rất nhiều, mà người bình thường chỉ cần nhịn được ba phút cũng đã thần thánh lắm rồi.

Tuyệt đối không nên khoe mẽ, đây nào phải chuyện chơi.

胖子道他倒不是很担心这个,咱们下去肯定会在浅的地方先试试水,问题是我们没脚蹼,往下潜水很慢,可能没到底就没气了。

Bàn Tử nói thật ra mình không lo cái này, mà lo chúng tôi không đeo chân nhái, nếu lặn xuống quá chậm thì dễ chừng chưa đến đáy đã cạn khí rồi.

Trước đó nên lặn thử ở vùng nước nông thì hơn.

我点头,其实自由深潜也不是完全的徒手,也是有相关的装备和保护措施的,而其中最重要的是人的心理素质。我在西沙的时候,听那几个潜水员和我们说过,深水潜水最关键的恰恰是心理素质,所有的深水潜水,特别是自由深潜的潜水员都会做瑜伽的入定训练。在水深的地方,四周一片漆黑,犹如身在一片虚无中,这时人会不自觉地恐慌。在水下,一恐慌就没法定神了,很容易出事情。有水肺的时候,耗氧量也会大幅增加,如果没有水肺就可能直接心理窒息了。

Tôi gật đầu, thật ra lặn tự do* không hoàn toàn là tay không bắt giặc, mà cũng có thiết bị và phương pháp bảo hộ tương xứng, trong đó quan trọng nhất là yếu tố tâm lý.

Hồi ở Tây Sa tôi đã nghe mấy người thợ lặn kể yếu tố then chốt khi lặn sâu xuống nước chính là tâm lý, vì thế tất cả thợ lặn, đặc biệt là thợ lặn tự do đều phải trải qua khóa huấn luyện ngồi thiền kiểu yoga.

Dưới tầng nước sâu chỉ còn bóng đêm vô tận giống như đang lơ lửng trong vũ trụ, khiến con người bất giác sinh ra sợ hãi.

Khi ấy, chỉ cần một thoáng hoang mang sẽ không thể tập trung được nữa, dễ dàng gặp chuyện bất trắc.

Nếu có bình dưỡng khí thì lượng oxi tiêu thụ sẽ tăng đột biến, bằng không chỉ còn nước thở bằng niềm tin.

* Tức là lặn không dùng bình dưỡng khí.

可惜西沙的那片区块海水都太浅,而且水太清,我没有体验到那种感觉,也不知道实际碰到会是如何。

Tiếc rằng vùng biển Tây Sa vừa cạn lại vừa trong xanh, tôi không có cơ hội trải nghiệm cảm giác ấy, nên cũng chẳng biết tình hình thực tế ra sao.

不过自由潜水对于装备并不苛刻,我们可以找到一些替代品,比如说胖子提出的问题,我们只要用石头加速我们下降就可以了。这里的湖原先可能很深,但是这些年水位下降不可能还有一百多米,我看五十米深已经是极限了,当然在潜水之前我们也得先探一下。

Nhưng được cái thiết bị lặn tự do cũng không quy củ cho lắm, hoàn toàn có thể tìm vật dụng thay thế.

Ví như vấn đề của Bàn Tử, chúng tôi chỉ cần buộc thêm tảng đá để tăng tốc độ lặn là xong.

Hồ này trước kia hẳn là rất sâu nhưng năm nay mực nước đã hạ, không thể sâu quá trăm mét được.

Tôi đoán năm mươi mét là cùng, đương nhiên trước khi lặn chúng tôi cũng phải thăm dò độ sâu của nó.

我们详细讨论了一些细节,三个人都很兴奋。第二天我们起得很早,趁着太阳没出来,我还是继续在岸边进行最后一次搜索,确定自己昨天的印象。湖四周有一层薄雾,但是只到湖的外延为止,云彩他们都习惯了早起,早早就烧好了早饭。那是很薄的稀粥,胖子一个人都能喝十碗,不过云彩烧的,他怎么也不会说不好喝。

Chúng tôi thảo luận chi tiết, ai cũng háo hức.

Hôm sau, trời vừa sáng, trước khi mặt trời lên cao, tôi tiếp tục tìm kiếm quanh bờ hồ để xác nhận lại những gì mình thấy hôm qua.

Xung quanh hồ vẫn phủ một lớp sương mỏng, chỉ lan đến rìa ngoài.

Vân Thái và A Quý đã quen dậy sớm nên họ đã chuẩn bị xong bữa sáng, là một nồi cháo loãng, Bàn Tử có thể ăn mười bát một mình, nhưng do Vân Thái nấu nên dù anh ta có cảm thấy không ngon cũng chẳng dám phàn nàn.

吃完后,胖子也来帮忙搜索,这一次带了狗,胖子逗那些狗,说找骨头,找骨头,找到骨头给你们配母狗。狗却自顾自到湖边喝水嬉戏,完全不理会他。

Sau khi ăn xong, Bàn Tử cũng tham gia tìm kiếm, lần này còn mang theo chó.

Anh ta trêu lũ chó, bảo tìm xương đi, tìm xương đi, tìm được xương tao cưới vợ cho mày.

Con chó quay mông ra hồ uống nước đùa nghịch, hoàn toàn phớt lờ hắn.

等到日头出来,我已经又转了一圈,确定是不太可能找到了。我和他们合计,确定得下水,时间定在下午水稍微暖和一点的时候,于是按照昨天计划的,开始收集和准备很长的绳子、一个小浮筏、几块重量合适的石头。

Đến khi mặt trời lên cao, tôi đã đi một vòng nữa quanh hồ và xác nhận rằng không thể tìm thêm được gì.

Bàn bạc với mọi người xong, chúng tôi quyết định phải xuống nước.

Thời gian được ấn định vào buổi chiều, khi nước ấm hơn một chút.

Theo kế hoạch hôm qua, chúng tôi bắt đầu thu thập dây thừng dài, một chiếc bè nhỏ cùng vài hòn đá có trọng lượng phù hợp.

阿贵和云彩帮我们编草绳,不需要太结实,只要能用来测量深度就行了,但是要尽量长。胖子拿着镰刀割了不少草,然后铺开来晒,但是并不是所有的草都适合编,一大半都不能用。

A Quý và Vân Thái giúp chúng tôi tết dây thừng cỏ, không cần quá chắc chắn, chỉ cần đủ dài để đo độ sâu là được.

Bàn Tử dùng liềm cắt một đống cỏ lớn rồi rải ra phơi khô, nhưng không phải cỏ gì cũng tết được, mà đến quá nửa là đồ bỏ.

我和闷油瓶用编好的绳子扎了两只八仙桌大小的小浮排,然后找等同大腿大小的石头,绑上草绳做压仓物。

Tôi và Muộn Du Bình dùng dây thừng đánh số buộc hai bè nhỏ cỡ cái bàn bát tiên vào với nhau, rồi lại tìm tảng đá to cỡ bắp vế buộc vào đầu dây cho đầm.

草绳编了三截,只有十多米,两个人一个上午能有这样的成就就很了不起了,因为没有经过很好的加工处理,很粗糙,但是我也不管了,反正没指望能用上几个月,能撑住几个时辰就行了。

Thừng cỏ tết làm ba đoạn, chỉ dài hơn mười mét, nhưng hai người mất một buổi sáng đã tết được chừng ấy cũng giỏi lắm rồi.

Do chưa trải qua quá trình gia công tỉ mỉ nên vẫn còn khá thô sơ, nhưng tôi cũng chẳng câu nệ.

Cần gì phải xài được đến mấy tháng, chỉ mong trụ nổi vài tiếng đồng hồ là ngon rồi.

另外把胖子的尼龙包裁掉,把里面的尼龙线扯出来盘了个线圈,上面绑个小石头当成小锚,用来探测深度。

Mặt khác lại cắt rời bao nilon của Bàn Tử, lấy dây nilon bên trong cuốn lại thành cuộn, bên trên buộc thêm hòn đá thành một cái neo nhỏ để đo độ sâu của hồ.

准备妥当之后,我们把这些东西全部堆到小浮排上,然后脱得只剩下裤衩缓缓走入湖中。闷油瓶的内裤是胖子买的,上面有两只小鸡,把云彩笑得差点晕过去。

Chuẩn bị xong xuôi mọi thứ, chúng tôi xếp hết đồ đạc lên chiếc bè nhỏ rồi cởi sạch chỉ chừa lại cái quần đùi, chầm chậm đẩy bè vào sâu trong hồ.

Quần của Muộn Du Bình là do Bàn Tử mua, bên trên in hình hai con gà con, làm Vân Thái cười đến suýt nghẹn thở.

此时已经是下午两点左右,湖水的表面还是冰凉,肯定与活水相连。要是没有太阳,这么大的温差,说不定我们下水还会抽筋。

Lúc này khoảng hai giờ chiều mà mặt nước vẫn lạnh như băng, nhất định là do mạch ngầm nối liền với cái hồ kia.

Nếu không có ánh nắng, chúng tôi lặn xuống không chừng còn bị chuột rút.

一路踩水,很快脚下的水的颜色就变深了,这有点让人心虚,看不到底的地方总让人感觉不安全,不过经历了大风大浪,那种感觉一闪就过。湖也不大,我们很快就踩水到了湖中心的位置。

Bơi đứng liền một mạch, chẳng bao lâu màu nước dưới chân đã sâu hun hút khiến người ta có phần hoang mang.

Những chốn sâu không thấy đáy luôn gây ra cho con người cảm giác bất an, nhưng tôi đã trải bao phen sóng gió nên thứ cảm giác ấy chỉ lướt qua như gió thoảng.

Hồ cũng không rộng lắm, chúng tôi bơi một chặp đã ra đến giữa hồ.

湖风非常凉爽,暑意全消,在湖中心,踩水需要更用力才能保持身体的平衡。胖子用手抹了一把脸,问道:"天真无邪船长,先干什么?"

Gió trên mặt hồ mát rượi xua tan đi nắng nóng ngày hè.

Dừng lại giữa hồ, thế bơi đứng khiến chúng tôi càng phải ra sức giữ thăng bằng.

Bàn Tử lấy tay vuốt mặt một cái rồi hỏi: "Thiên Chân Vô Tà uyền trưởng, ta phải làm gì bây giờ?"

"先测水深。"我道。

"Đo độ sâu cái đã."

Tôi đáp.

胖子拿起系着小石头的尼龙丝,往水里丢去。石头拉着丝线往下不停地沉,丝线圈在胖子手里不停地转动。很快,只剩下线能看到,石头沉入了黑暗之中。

Bàn Tử lấy sợi dây nylon buộc viên đá nhỏ rồi thả xuống nước.

Viên đá kéo sợi dây chìm dần xuống, dây trong tay Bàn Tử cũng liên tục trượt xuống.

Không bao lâu sau, sợi dây đã hoàn toàn chìm vào bóng tối của lòng hồ.

等了一分多钟,线圈才停止转动,胖子把线头拉断,把线一点一点拉上来,一边数绕的圈数,最后确定水深有三十三米多。

Sau hơn một phút cuộn dây mới ngừng quay, Bàn Tử bứt đứt đầu sợi dây rồi từ từ kéo ngược nó lên, cuốn lại thành vòng mà đếm, kéo xong thì cũng ước lượng được hồ sâu hơn ba mươi ba mét.

我吸了口凉气,虽然和我估计的差不多,但是真听到还是有点觉得可怕,并且这也不一定是最深的地方,这种石头湖,最深的地方不一定在湖的正中央。

Tôi rùng mình ớn lạnh, tuy kết quả này cũng gần giống suy đoán của tôi nhưng khi nghe vẫn không khỏi kinh hãi.

Hơn nữa đây chưa chắc đã là rốn hồ, với kiểu hồ đá như thế này thì nơi sâu nhất không phải lúc nào cũng nằm chính giữa.

"三十三米,大副,咱们得潜十多层楼这么深啊。"

"Ba mươi ba mét, thuyền phó, vậy là chúng ta phải lặn xuống độ sâu tương đương với mười mấy tầng lầu đấy."

"我靠,怎么一听到三十米立马就给我降官阶了?"我骂道,一边硬撑,"十层楼一般般,他娘的,怕个鬼。"

"Đ* má sao vừa nghe đến ba mươi đã bó tay chịu trói?"

Tôi cười nói: "Mười tầng lầu là cái đinh, mẹ nó, sợ quái gì chứ".

说着就和闷油瓶用泥塞住耳朵,先浅浅地潜了几下适应了水温,让胖子暂时先在上面看着,他胖不那么好潜,我们争取一次搞定就不用他了。说着用绑着大石头的草绳系在腰上,拿好镰刀、装在塑料袋里的手电,我就和闷油瓶打了个眼色。

Dứt lời, tôi và Muộn Du Bình lập tức bịt kín hai lỗ tai, trước tiên lặn vài lượt nông nông để thích nghi với nhiệt độ dưới nước, còn Bàn Tử tạm thời cứ cho ở lại quan sát.

Người béo không giỏi lặn, nếu chúng tôi lặn một chuyến mà xong việc thì khỏi phiền hắn vác xác xuống.

Nói đoạn tôi buộc sợi thừng nối với tảng đá vào thắt lưng, giắt thêm cái liềm, bỏ đèn pin vào túi nhựa rồi nháy mắt ra hiệu với Muộn Du Bình.

我们深深吸入一口气,在气到极限的时候,一下把石头从木筏上推入水中,石头缓缓沉下,带动我们直接往水里沉去。

Chúng tôi hít một hơi thật sâu, khi khí đã đầy phổi lập tức đẩy tảng đá trên bè xuống nước.

Tảng đá từ từ rơi xuống kéo theo chúng tôi chìm sâu vào lòng hồ.

在苏丹,出轨的酋长夫人就是这么被处死的。我抬头看着水面,没有潜水镜,所有的情形都是迷蒙的,模模糊糊能看到胖子的下半身和木筏的影子,还能看到太阳在水面上的光晕。但是这些情景很快就远去了,一下四周便进入了绝对的寂静。再往下看,下面是一片漆黑的深渊,只能看到闷油瓶的手电,他头朝下灵活得像一只水蝙。

Ở Sudan, phu nhân tù trưởng mà đi lăng nhăng sẽ bị xử tử kiểu này.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên mặt nước, ngoài nửa thân người Bàn Tử và cái bóng của bè gỗ còn thấy sắc nắng loang loang, nhưng cảnh tượng này chớp mắt đã vụt trôi, bốn phía hoàn toàn rơi vào tĩnh mịch.

Nhìn xuống lại thấy vực thẳm đen ngòm, chỉ còn ánh sáng từ ngọn đèn pin của Muộn Du Bình, đầu hắn chúc xuống dưới, động tác linh hoạt như một con dơi biển.

这种情形不会持续太久,我告诉自己。随着四周光线的急剧下降,同时出现的是巨大的水压,我的耳膜和胸口开始非常难受,使得我不得不吐出肺里的空气。

Tình cảnh này sẽ qua nhanh thôi, tôi tự nhủ với lòng.

Ánh sáng xung quanh mờ dần đi kèm với áp lực nước tăng vọt, khiến màng nhĩ và ngực bắt đầu khó chịu cực kỳ, buộc tôi phải xả bớt không khí trong phổi ra.

很快,我的手电照到了水下的情形,那是青蒙蒙的一片石头,逐渐朝我靠近。随着我的下沉,水底也越来越清晰,我发现水下的石头有深有浅,显然并不平坦,而是一处斜坡。

Chẳng mấy chốc, ánh đèn pin của tôi cũng chiếu được xuống đáy nước.

Dưới đó là một vùng đá xanh xám mờ ảo, đang dần tiến lại gần hơn.

Khi tiếp tục chìm xuống, tôi nhận ra đáy hồ không bằng phẳng mà là một dốc nghiêng với địa hình lởm chởm.

也就几乎在这个时候,我有点锁不住气,看了看表,才下水不到三十秒。我开始感觉一股压力直冲我的鼻子,很想很想吸气。

Ngay lúc này, tôi cảm thấy không thể nín thở lâu hơn được nữa.

Nhìn đồng hồ, tôi mới lặn xuống chưa đầy ba mươi giây, nhưng áp lực từ nước ép lên mũi khiến tôi chỉ muốn thở ngay lập tức.

另一边闷油瓶还在不断下潜,我抬头看了看头顶,天哪,头顶一片模糊,只在很远处有一点光晕,你可以想象,你在一个漆黑一片并有三十米高的大礼堂里抬头看碗口大小的天窗的感觉,不由得恐惧顿生乱了手脚,感觉没法坚持了。

Ở bên kia Muộn Du Bình vẫn tiếp tục lặn sâu hơn.

Tôi ngước nhìn lên trên, trời ạ, phía trên giờ chỉ còn mờ mờ ảo ảo, chỉ còn một quầng sáng nhỏ xíu từ xa.

Giống như anh đang đứng dưới một đại sảnh tối om cao ba mươi mét rồi nhìn lên một ô cửa sổ bé bằng miệng bát.

Cảm giác sợ hãi bỗng chốc dâng lên, khiến tôi gần như mất kiểm soát.

于是拔出腰里的镰刀想割断拉住我的草绳,没想到的是,浸了水的草绳很韧,我割了两刀,草绳只断了一半,另一半怎么也割不断了。

Thế là tôi rút con liềm ở bên hông ra, định chặt đứt sợi dây cỏ đang kéo mình lại.

Không ngờ rằng, dây cỏ ngấm nước rồi nên rất dai, tôi chém liền hai nhát, mà chỉ đứt được một nửa, nửa còn lại cố thế nào cũng không cắt nổi.

我一下就慌了,条件反射下告诉自己深呼吸镇定,结果一呼吸一口水直呛进肺里,我整个人咳嗽得曲了起来。

Vì thế tôi nhanh chóng rơi vào sợ hãi tột cùng, mà phản xạ tự nhiên lại mách bảo bản thân nên hít một hơi sâu lấy lại bình tĩnh.

Kết quả vừa hít đã đưa một ngụm nước xộc thẳng vào phổi, làm tôi ho đến gập người.

好不容易把肺里的水憋住,从绳子的一头传来一阵震动,石头已经落到底了。我努力稳住自己朝下望去,水底果然是一大片单调的陡峭石滩,和岸上的石滩一样,都是大大小小的石头。不过这些石头经年累月泡在水里,上面覆盖着一层水糜,让我感觉异样的是,这些石头完全是"干净"的,不像我以前看到的水底,石头上都会长一些藻类和螺丝。

Khó khăn lắm tôi mới nín được hơi nước trong phổi, thì từ đầu kia của sợi dây truyền đến một luồng rung động — hòn đá đã rơi đến đáy rồi.

Tôi cố giữ thăng bằng, nhìn xuống dưới, quả nhiên dưới đáy nước là một bãi đá dốc đơn điệu, giống hệt như bãi đá trên bờ, toàn là những tảng lớn nhỏ chen chúc nhau.

Tuy nhiên, những hòn đá này ngâm trong nước đã nhiều năm, trên mặt phủ một lớp chất nhầy dưới nước, khiến tôi cảm thấy có điều bất thường — vì chúng sạch trơn, không giống những gì tôi từng thấy ở đáy nước, nơi mà thường có rêu và ốc bám đầy.

石滩很陡峭,我的"负重石"卡在石滩的几块石头里,没有往陡坡下滑,但是石滩下面一片幽深,好像还有得潜。

Bãi đá rất dốc, hòn đá neo buộc vào người tôi mắc kẹt giữa mấy tảng đá trên sườn dốc, nên không trượt xuống dưới.

Nhưng phía dưới bãi đá là một vùng sâu thẳm, dường như vẫn còn có thể lặn tiếp được.

我不知道现在的深度是多少米,另一边闷油瓶下潜的地点肯定比我深得多,因为我已经看到他的手电光沉了下去,好比黑夜中一个模糊的信号弹。

Tôi không biết lúc này độ sâu là bao nhiêu mét, còn chỗ Muộn Du Bình lặn xuống chắc chắn sâu hơn tôi rất nhiều, vì tôi đã thấy ánh đèn pin của anh ta chìm xuống bên dưới, giống như một quả pháo hiệu mờ nhạt trong đêm đen.

我肺里的气已经吐光,人也开始往水底沉去,很快就趴在了水底,这时反而感觉自己还能憋上一段时间。刚才的紧迫感可能是水压压住我的胸口导致的,我撑了一下,把我的"负重石"从卡住的地方搬了起来,往斜坡下方丢去。

Không khí trong phổi tôi đã cạn sạch, cơ thể bắt đầu chìm xuống đáy nước, rất nhanh sau đó tôi nằm áp sát xuống đáy hồ.

Lúc này, ngược lại tôi lại thấy mình vẫn có thể nín thở thêm được một lúc — có lẽ cảm giác ngột ngạt ban nãy là do áp lực nước đè lên ngực mà ra.

Tôi chống người dậy, nhấc hòn đá neo đang bị kẹt ra khỏi chỗ, rồi ném xuống dốc phía dưới.

负重石头滑了下去,再次带动我下潜,又滚下去了七八米,石滩的坡度变缓,石头又停住了。

Hòn đá neo trượt xuống, lại kéo tôi chìm xuống, tiếp tục lăn thêm bảy tám mét, rồi sườn bãi đá thoai thoải hơn, hòn đá dừng lại không trượt nữa.

我抓住绳子再次沉下去,还想搬起石头,这时我忽然发现我斜坡下方深邃的青灰色的水中,出现了一个巨大而模糊的影子,好像一只鳄鱼的脑袋。

Tôi nắm chặt sợi dây, lại chìm xuống lần nữa, định nhấc hòn đá lên.

Ngay lúc đó, tôi bỗng phát hiện trong làn nước xanh xám sâu thẳm dưới triền dốc, hiện ra một cái bóng khổng lồ và mờ mịt — trông giống như cái đầu của một con cá sấu.

水下的视线十分的模糊,我只能看清楚大概,不由得吓了一跳,心说这种湖里都会有水怪?

Tầm nhìn dưới nước rất mờ, tôi chỉ có thể nhìn nhưng hình dáng đại khái, không khỏi giật mình và tự hỏi trong lòng: "Hồ kiểu này cũng có quái vật nước sao?"

手电照下去,却看到那影子其实是一间样式古老的木楼,垮塌在我脚下的深沟内,只有一个大概的架子,上面覆满了棉絮一样的沉积物。我拽住绳子稳定自己的姿势,靠近那木楼再转动手电,看到这种木楼不止一间,下面还有不少交错的黑影,甚至还有破败的瓦房。顺着这深沟的坡度望下去,石阶,篱笆什么都有,所有的这些都静静地沉在湖水中。

Tôi rọi đèn pin xuống, thì thấy cái bóng ấy thực ra là một ngôi nhà gỗ kiểu cổ, đã sụp đổ trong khe sâu dưới chân tôi, chỉ còn lại bộ khung đại khái, phía trên phủ đầy lớp trầm tích như bông gòn.

Tôi nắm chặt sợi dây để giữ thăng bằng, tiến lại gần ngôi nhà gỗ, rồi xoay đèn pin soi tiếp — thì phát hiện không chỉ có một ngôi, mà bên dưới còn nhiều bóng đen đan xen, thậm chí còn có cả những căn nhà ngói đổ nát.

Dọc theo triền dốc của khe sâu, tôi nhìn thấy bậc đá, hàng rào... tất cả đều có, và mọi thứ ấy lặng lẽ chìm dưới làn nước hồ.

天哪,我惊呆了,我看到的,竟然是一座瑶族的古寨。

Trời ơi, tôi sửng sốt hoàn toàn — những gì tôi thấy lại là một ngôi làng cổ của người Dao.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 21: Ngôi làng cổ dưới đáy hồ


幽深青色的湖底给过我很多想象,但是我从来没有想到,我会在湖底看到这些东西。

Đáy hồ xanh thẳm sâu thẳm đã cho tôi rất nhiều sự tưởng tượng, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng, tôi lại thấy những thứ này dưới đáy hồ.

这些木楼被沉积物完全覆盖,很像沉船的一部分,在这种光线下我无法仔细观察,但还是能肯定,我眼前应该是一座沉在湖底的瑶族古寨。

Những ngôi nhà sàn gỗ này bị trầm tích phủ kín hoàn toàn, rất giống một phần của tàu đắm.

Trong điều kiện ánh sáng này, tôi không thể quan sát kỹ, nhưng vẫn có thể khẳng định, trước mắt tôi hẳn là một ngôi làng cổ của người Dao chìm dưới đáy hồ.

更深处的坡下一片黑暗,下面黑影幢幢,肯定还有东西,我猜测都是这种高脚木楼。

Khu vực dốc sâu hơn chìm trong bóng tối, phía dưới bóng đen chập chờn, chắc chắn còn có thứ khác, tôi đoán đều là những ngôi nhà sàn cao cẳng kiểu này.

这是怎么回事?为什么湖底会有这些?难道这里发生过大面积的山洪,导致山体崩塌,把原本是村庄的地方淹没了?

Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra?

Tại sao dưới đáy hồ lại có những thứ này?

Lẽ nào ở đây đã xảy ra một trận lũ lụt lớn, dẫn đến sạt lở núi, làm cho nơi vốn là một thôn làng bị nhấn chìm?

看着这幽冥一般的青色古楼,我整个头脑都混沌了,连四周的环境都忘记了,只是呆呆地看着眼前的情形。

Nhìn tòa nhà cổ màu xanh u minh này, cả đầu óc tôi trở nên hỗn loạn, thậm chí quên cả môi trường xung quanh, chỉ ngây người nhìn cảnh tượng trước mắt.

正在发呆,忽然浑身一震,我开始往上浮去,一扯脐带一样的绳子,发现原来被我死死拽住的绳子终于断了,这时候才再次感觉到令人窒息的水压扑面而来,再也顾不上眼前的情形,奋力向上挣扎着游去。

Đang lúc ngẩn ngơ, đột nhiên cả người tôi rung mạnh, tôi bắt đầu nổi lên.

Vừa kéo mạnh sợi dây như dây rốn, tôi phát hiện sợi dây mà tôi đã giữ chặt cuối cùng cũng đứt rồi.

Lúc này tôi mới lại cảm thấy áp lực nước ngột ngạt đến nghẹt thở ập tới, không còn bận tâm đến cảnh tượng trước mắt nữa, cố hết sức vùng vẫy bơi lên.

那是一种让人很难形容的感觉,有了浮力的帮助我上升得非常快,四周是黑暗,上方是逐渐明亮的光圈,我的大脑开始缺氧,只感觉光圈越来越迷蒙,像在游向天堂。

Đó là một cảm giác khó tả, nhờ lực nổi giúp đỡ, tôi nổi lên rất nhanh.

Xung quanh là bóng tối, phía trên là vòng sáng dần dần sáng hơn.

Bộ não tôi bắt đầu thiếu oxy, chỉ cảm thấy vòng sáng ngày càng mờ mịt, như thể đang bơi về phía thiên đường.

淹死的人最后看到的大概也是这种场景,我心说,最后的几秒我的气已经到了极限,脑子一下空白,眼前一片白光,之后猛地感觉脸一松,四周的白光收缩了,同时我听到了水声和其他无法分辨的声音,看到了水光潋滟的湖面。

Người chết đuối cuối cùng nhìn thấy có lẽ cũng là cảnh tượng này, tôi tự nhủ.

Trong vài giây cuối cùng, hơi thở của tôi đã đến giới hạn, đầu óc lập tức trống rỗng, trước mắt một mảnh ánh sáng trắng.

Sau đó, tôi bỗng thấy mặt mình nhẹ bẫng, ánh sáng trắng xung quanh co lại.

Đồng thời, tôi nghe thấy tiếng nước và những âm thanh không thể phân biệt khác, nhìn thấy mặt hồ lấp lánh ánh nước.

我几乎就没有力气吸那第一口气,那一下呼吸几乎是用全身的力气爆发出来的,等我终于让肺部充满空气的时候,我差点晕了过去——天哪,活了几十年,从来就没有觉得呼吸是那么舒畅的一件事情。

Tôi gần như không còn chút sức lực nào để hít hơi đầu tiên, hơi thở đó gần như được bùng phát ra bằng toàn bộ sức lực cơ thể.

Đến khi cuối cùng tôi đã lấp đầy phổi bằng không khí, tôi suýt ngất đi—Trời đất ơi, sống mấy chục năm, chưa bao giờ tôi thấy hít thở lại là một chuyện dễ chịu đến thế.

接着我开始大口喘气,几乎是恐怖地吞咽空气,逐渐地四周的一切舒缓过来。

Tiếp theo, tôi bắt đầu thở dốc lớn, gần như kinh khủng nuốt không khí.

Dần dần, mọi thứ xung quanh dịu lại.

等我完全清醒,抬手看了看表,发现从我潜水下去到我浮出水面,才过了一分钟多一点,我却感觉过了好几个小时一样。水底的环境和看到的情形太让我震惊了,以至于感觉都失常了。

Đến khi tôi hoàn toàn tỉnh táo, giơ tay nhìn đồng hồ, tôi phát hiện từ lúc tôi lặn xuống cho đến khi nổi lên mặt nước, mới chỉ hơn một phút một chút, nhưng tôi lại cảm giác như đã qua mấy tiếng đồng hồ.

Môi trường dưới nước và cảnh tượng nhìn thấy đã quá mức làm tôi kinh ngạc, đến mức cảm giác bị rối loạn.

而在平时我的憋气时间没有这么短,看样子游泳池和深水湖泊完全是两回事,我想得太天真了。

Và bình thường thời gian nín thở của tôi không ngắn như vậy.

Xem ra, hồ bơi và hồ nước sâu hoàn toàn là hai chuyện khác nhau.

Tôi đã nghĩ quá ngây thơ rồi.

胖子和筏子在离我三十米处,可能是我最后冲出水面的时候用错了力气,偏离了方向。我朝胖子游去,游回到筏子边上,胖子就问我怎么这么快就上来了。

Bàn Tử và chiếc bè cách tôi khoảng ba mươi mét, có lẽ do lúc tôi cuối cùng lao ra khỏi mặt nước đã dùng lực sai, nên bị lệch hướng.

Tôi bơi về phía Bàn Tử, bơi về đến bên chiếc bè, Bàn Tử liền hỏi tôi: "Sao cậu lên nhanh thế."

我刚想说话,忽然感觉上唇很烫,一摸,竟然流鼻血了。接着耳朵和全身都开始疼起来,人开始晕眩,差点就从筏子上脱手沉下去,恍惚间感觉被胖子拽住了,隐约听到他对我道:"我操,你上浮得太快了,血管爆掉了!"

Tôi vừa định nói, đột nhiên cảm thấy môi trên rất nóng.

Sờ một cái, hóa ra máu mũi đang chảy.

Tiếp đó, tai và toàn thân tôi bắt đầu đau nhức, người bắt đầu chóng mặt, suýt nữa thì buông tay khỏi bè mà chìm xuống.

Trong cơn mơ hồ, tôi cảm thấy mình bị Bàn Tử kéo lại, loáng thoáng nghe thấy hắn nói với tôi: "Đ* má, cậu nổi lên nhanh quá, mạch máu bị vỡ rồi đấy!"

还好晕眩稍纵即逝,很快我就缓了过来。我不是专业潜水员,看来身体的构架确实不适合这种自由潜水。我再次趴到筏子上,看着源源不断的鼻血贴着我的脸流到我的下巴,然后滴到水里,我隐隐有些担心是否自己的内脏也受了损伤。

May mắn là cơn chóng mặt thoáng qua rồi biến mất, rất nhanh tôi đã hoàn hồn lại.

Tôi không phải là thợ lặn chuyên nghiệp, xem ra cấu tạo cơ thể quả thực không thích hợp cho kiểu lặn tự do này.

Tôi lại nằm rạp trên bè, nhìn dòng máu mũi không ngừng tuôn ra chảy dọc theo mặt tôi xuống cằm, rồi nhỏ giọt xuống nước.

Tôi lờ mờ lo lắng không biết liệu nội tạng của mình có bị tổn thương hay không.

胖子给我用他的手绢暂时堵了一下鼻孔,就问我怎么回事?怎么上来得这么急。

Bàn Tử dùng khăn tay của hắn tạm thời bịt lỗ mũi cho tôi, rồi hỏi tôi có chuyện gì?

Sao cậu lên gấp như vậy.

我仰起头让鼻血回流,同时把我看到的一说,胖子听得目瞪口呆,随后他还不相信,这种事情,不是自己亲眼看到,不知道是个什么情形。他说他也要下去看一下,我把他拦住了,告诉他这下面绝对不止我们测的那么深,一个人下去太危险了。

Tôi ngửa đầu lên để máu mũi chảy ngược vào trong, đồng thời kể lại những gì mình đã thấy.

Bàn Tử nghe xong mắt chữ O mồm chữ A, sau đó hắn còn chưa tin.

Chuyện như thế này, nếu không tận mắt nhìn thấy, sẽ không biết là cảnh tượng như thế nào.

Hắn nói hắn cũng phải xuống xem một chút, tôi cản hắn lại, nói với hắn rằng độ sâu dưới đó tuyệt đối không chỉ là mức chúng ta đo được, một người xuống đó quá nguy hiểm.

这时候又是一声水声,闷油瓶也浮了上来,大口地吸了一口气。他出现的地方离筏子只有两米多,显然比我镇定得多。

Đúng lúc này, lại có một tiếng nước vang lên.

Muộn Du Bình cũng nổi lên, hít một hơi thật sâu.

Nơi hắn xuất hiện chỉ cách chiếc bè hơn hai mét, rõ ràng là bình tĩnh hơn tôi rất nhiều.

我看了看表,比我多潜了一分钟左右,他吃力地游到筏子边上,单手扶上来,胖子刚想问情况如何,闷油瓶另一只手忽然从水里哗啦提上来一个东西,甩到了筏子上,水花一下溅了我们满脸。

Tôi nhìn đồng hồ, hắn lặn sâu hơn tôi khoảng một phút.

Hắn khó nhọc bơi đến bên chiếc bè, một tay bám vào.

Bàn Tử vừa định hỏi tình hình thế nào, tay kia của Muộn Du Bình đột nhiên vung lên một vật từ dưới nước, quăng lên trên bè.

Nước bắn tung tóe khắp mặt.

我还没看清楚,胖子就惊叫起来:"我操,这是什么鬼东西!"

Tôi còn chưa kịp nhìn rõ, Bàn Tử đã kêu lên kinh ngạc: "Đ* má, đây là cái quái thai gì !"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 22: Quái vật mò được


大概是胖子的叫声给了我预判,我顿时感觉到心里发毛,忙抹开脸上的水去看。

Có lẽ tiếng kêu của Bàn Tử đã cho tôi một sự dự đoán, tôi lập tức cảm thấy trong lòng rờn rợn, vội vàng gạt nước trên mặt để nhìn.

我的第一感觉就是闷油瓶可能找到了那些尸体,我已经做好看到一具惨白尸骨的准备。

Cảm giác đầu tiên của tôi là Muộn Du Bình có lẽ đã tìm thấy những thi thể kia rồi, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để nhìn thấy một bộ hài cốt trắng bệch.

可惜我猜错了,我看到被甩到筏子上的好像是一具登山包大小的死动物。仔细一看又发现那"沉尸"的四周竟然还长了一团腐烂的发黑的触手,"沉尸"被水泡胀了,好像一只球一样,看样子在水里已经腐烂了很久。

Đáng tiếc là tôi đoán sai, tôi thấy thứ bị quăng lên bè hình như là một xác động vật chết kích cỡ bằng chiếc ba lô leo núi.

Nhìn kỹ lại thì phát hiện xung quanh cái "xác chìm" đó còn mọc ra một búi xúc tu thối rữa đen kịt, "xác chìm" bị nước ngâm trương phình, trông như một quả bóng, có vẻ đã thối rữa trong nước rất lâu rồi.

看过发大水湖里漂过的死猪死狗的人都知道这种尸体有多恶心,我顿时感觉到一股反胃,忙翻身蹬出去远离那筏子,心说闷油瓶捞这东西干什么?

Những người từng thấy xác chó xác lợn chết trôi nổi trên hồ nước lũ đều biết loại thi thể này ghê tởm đến mức nào, tôi lập tức cảm thấy một cơn buồn nôn, vội vàng lật người đạp nước bơi ra xa chiếc bè, thầm nghĩ Muộn Du Bình vớt thứ này lên làm gì?

游出去一米多我立即用湖水洗去溅到我脸上的腐尸水,感觉黏糊糊的,胖子已经在那里开骂了,"小哥,我操,你他娘的真是下得去手,什么恶心你捞什么。"

Bơi ra xa hơn một mét, tôi lập tức dùng nước hồ rửa sạch thứ nước xác chết thối rữa văng vào mặt, cảm giác dính nhớp nháp.

Bàn Tử đã bắt đầu chửi rủa ở đó: "Tiểu Ca, tôi đuˋ, cậu thật sự là xuống tay được, cái gì ghê tởm là cậu vớt lên cái đó."

闷油瓶却不以为意,一下趴到筏子上,手直接压在那腐尸上,顿时尸水被挤了出来,顺着筏子流到湖面上。接着他开始把那些触手从尸上撕下来,抛到水里。

Muộn Du Bình lại không hề bận tâm, hắn nằm rạp xuống bè, tay trực tiếp đè lên cái "xác thối", lập tức nước xác bị ép ra, chảy dọc theo bè xuống mặt hồ.

Sau đó hắn bắt đầu xé những cái xúc tu đó khỏi xác và ném xuống nước.

我刚开始几乎要吐了,但随即就发现不太对,因为我没有闻到强烈的腐臭味,接着看到胖子似乎发现了什么,也在招手让我过去。

Lúc đầu tôi gần như muốn nôn, nhưng ngay sau đó liền phát hiện không đúng lắm, vì tôi không ngửi thấy mùi thối rữa nồng nặc.

Tiếp đó, tôi thấy Bàn Tử dường như đã phát hiện ra điều gì đó, cũng đang vẫy tay gọi tôi qua.

我再次游过去,闷油瓶甩出来的"触手"还漂浮在筏子四周,我忍住恶 tâm 捞起一条看了看,发现那不是什么触手,而是一种奇怪的像水草的东西。再仔细看那黑色的"沉尸",我这才知道自己看错了。那具"沉尸"鼓起的肚子已经瘪了下去,这么一看就不像尸体,反倒像是一个瘪掉的皮球,而四周的触手都是那种奇怪的像水草的东西。

Tôi lại bơi qua, những cái "xúc tu" mà Muộn Du Bình ném ra vẫn còn trôi nổi xung quanh bè.

Tôi nén lại sự ghê tởm, vớt một cái lên xem, phát hiện đó không phải là xúc tu gì cả, mà là một loại vật thể kỳ lạ giống như rong rêu.

Nhìn kỹ lại cái "xác chìm" màu đen đó, lúc này tôi mới biết mình đã nhìn lầm.

Cái bụng trương phình của cái "xác chìm" đã xẹp xuống, nhìn như thế không giống thi thể nữa, mà ngược lại giống như một quả bóng da bị xẹp, còn những cái xúc tu xung quanh đều là loại vật thể kỳ lạ giống như rong rêu kia.

我上去帮着闷油瓶从那"沉尸"边上把水草除下,终于看清了那东西竟然是腐烂发黑的老式牛皮包,牛皮已经被水泡得全黑透了,表层都烂没了,只剩下薄薄的一层底衬。

Tôi bơi lên giúp Muộn Du Bình loại bỏ rong rêu bám quanh cái "xác chìm", cuối cùng nhìn rõ ràng cái thứ đó hóa ra là một chiếc ba lô da bò kiểu cũ đã thối rữa đen kịt.

Da bò đã bị nước ngâm đen thui, lớp ngoài đã mục nát hết, chỉ còn lại một lớp lót mỏng manh.

这是以前装大行李的大包,里面有铁丝的架子,所以没散开,否则肯定烂没了。

Đây là loại túi lớn dùng để đựng hành lý cồng kềnh trước đây, bên trong có khung bằng dây thép nên nó không bị rã ra, nếu không chắc chắn đã mục nát hết rồi.

"这是......?"胖子失语。

"Cái này là...?"

Bàn Tử không nói nên lời.

闷油瓶道:"在我潜下去的地方,有一层篱笆,有很多沉到湖底的包和杂物卡在篱笆上,散落了一大片,我看到有步枪、皮包和帐篷,我只捞了一个上来。"

Muộn Du Bình nói: "Ở chỗ tôi lặn xuống, có một hàng rào bằng củi, rất nhiều túi và tạp vật chìm xuống đáy hồ bị mắc kẹt trên hàng rào, rơi vãi ra một vùng lớn.

Tôi thấy có súng trường, túi da và lều bạt, tôi chỉ vớt một cái lên."

我立即意识到了这是什么:"这肯定是盘马说的,他们杀完人后和尸体一起沉到湖里的枪和装备,看来我说的没错,确实这些都被虹吸潮吸往湖底沉挂在篱笆上了。"

Tôi lập tức ý thức được đây là cái gì: "Đây chắc chắn là súng và trang bị mà Bàn Mã đã nói, chúng bị dìm xuống hồ cùng với thi thể sau khi họ giết người.

Xem ra tôi nói không sai, quả thực những thứ này đều bị hồng hấp triều (sóng hút xoáy nước) hút xuống đáy hồ và mắc kẹt trên hàng rào."

闷油瓶点头,显然同意我的说法。

Muộn Du Bình gật đầu, rõ ràng là đồng ý với nhận định của tôi.

"篱笆?他娘的,这湖底真有个村子?"胖子还是不相信。

"Hàng rào?

Mẹ nó chứ, dưới đáy hồ thật sự có một ngôi làng à?"

Bàn Tử vẫn không tin.

我脑子里乱成一团,心说我骗 cậu làm gì,要不是亲眼见到我也不信。

Đầu óc tôi rối bời, thầm nghĩ tôi lừa cậu làm gì, nếu không phải tận mắt thấy tôi cũng không tin.

水下的古寨看规模不小,这种一锅端被湖泊淹没的情形十分特别,一般是大型水 lợi 工程牺牲性的蓄水造成的,比如三峡大坝蓄水,好多低水位的村子甚至名胜古迹都被淹没了。也有地震导致的山体破坏,水库随着湖泊中的大水流入山洼淹没村子,或者整个村子的地基因为地震而垮塌,村子陷入地下后又被水淹没。

Ngôi làng cổ dưới nước nhìn quy mô không nhỏ, tình huống bị hồ nước nhấn chìm một mẻ hốt trọn như thế này vô cùng đặc biệt, thông thường là do việc tích nước mang tính hi sinh của các công trình thủy lợi lớn gây ra, ví dụ như đập Tam Hiệp tích nước, rất nhiều làng mạc và thậm chí danh lam thắng cảnh ở mực nước thấp đều bị ngập.

Cũng có thể do động đất làm sạt lở núi, nước hồ lớn tràn vào thung lũng làm ngập làng, hoặc toàn bộ nền móng của ngôi làng bị sụp đổ do động đất, làng bị chìm xuống đất rồi lại bị nước nhấn chìm.

但这里的地形不像是发生过地震的样子,这个石头湖也非常的奇怪,水底全是碎石头不知是怎么产生的。

Nhưng địa hình ở đây không giống như đã từng xảy ra động đất, hồ đá này cũng rất kỳ lạ, dưới đáy toàn là đá vụn không biết được tạo ra như thế nào.

他娘的这村子肯定和这整件事情有关系。当年的考古队显然来到这个湖边,是为了打捞在湖底的铁块,而这些铁块显然存在于湖底的那个古寨中。这些因素之间到底有什么渊源?这里发生过什么事情?

Mẹ nó, ngôi làng này chắc chắn có liên quan đến toàn bộ sự việc.

Đội khảo cổ năm đó rõ ràng đến bên hồ này là để trục vớt những khối sắt dưới đáy hồ, mà những khối sắt này rõ ràng tồn tại trong ngôi làng cổ dưới đáy hồ đó.

Giữa những yếu tố này rốt cuộc có duyên cớ gì?

Chuyện gì đã xảy ra ở đây?

看来水里深藏的事情肯定超出我的想象。

Xem ra những chuyện ẩn sâu dưới nước chắc chắn đã vượt quá sức tưởng tượng của tôi.

"先别管这些,先看看包里是什么东西?"胖子急着想开包,但是这包很大,筏子又小,我们三个人扶着不好操作,胖子弄了几下没找到开包的诀窍,筏子却感觉快翻了。我心乱如麻,没心思琢磨这些,拦住了他道:"别急于一时,等下翻了就白捞了,我们先回岸上。"

"Khoan đã, đừng bận tâm mấy chuyện đó, trước hết xem trong túi có gì đã?"

Bàn Tử sốt ruột muốn mở túi, nhưng chiếc túi này quá lớn, bè lại nhỏ, ba chúng tôi giữ không dễ thao tác.

Bàn Tử loay hoay mấy lần không tìm được mẹo mở túi, nhưng chiếc bè lại có vẻ sắp lật.

Lòng tôi rối bời như tơ vò, không có tâm trí suy nghĩ mấy chuyện này, tôi cản hắn lại nói: "Đừng vội vàng, lát nữa bè lật thì công cốc, chúng ta về bờ trước đã."

"不行,"胖子道,"咱们不知道里面有什么,要是个死人或者什么不能让阿贵看到的东西,难道你也杀人灭口?咱们得在这儿先看了。"

"Không được," Bàn Tử nói, "Chúng ta không biết bên trong có gì, lỡ đó là một xác chết hoặc thứ gì đó không thể để A Quý thấy, chẳng lẽ cậu cũng muốn sát ngườidiệt khẩu à?

Chúng ta phải xem ở đây trước đã."

我一想也对,让他们知道太多终归不是好事,于是让他快点。

Tôi nghĩ cũng đúng, để họ biết quá nhiều rốt cuộc cũng không phải là chuyện tốt, vì thế tôi bảo hắn nhanh lên.

包的整个形还在,我们扯动那薄薄的烂牛皮时发现还有很大的韧性,当时军工产品的质量真是让人神往。这种包一般都用铁皮搭扣,我们在筏子上小心翼翼地把包翻了个身找到了背面的搭扣,翻的时候感觉里面的东西软软的,好像一团棉絮。

Toàn bộ hình dáng chiếc túi vẫn còn, khi chúng tôi kéo lớp da bò mỏng manh đã rách nát đó thì phát hiện nó vẫn còn độ dẻo dai đáng kể.

Chất lượng sản phẩm quân dụng thời đó thật khiến người ta phải ngưỡng mộ.

Loại túi này thường dùng khóa móc bằng sắt, chúng tôi cẩn thận lật chiếc túi trên bè để tìm khóa móc ở mặt sau.

Khi lật, cảm thấy đồ bên trong mềm mềm, như một búi bông.

这种包本来就是放衣服或者衣料多一些,我心说不要翻出来是床被子,那就搞笑了。

Loại túi này vốn là để đựng quần áo hoặc vải vóc là chủ yếu, tôi thầm nghĩ đừng lật ra lại là một chiếc chăn bông thì thật là làm trò cười.

翻开之后看到了已经锈成铁疙瘩的两个搭扣,已经开不动了,胖子拔出镰刀,直接在包上划了一道口子,露出了里面的铁丝框。

Mở ra thì thấy hai cái khóa móc đã rỉ sét thành cục sắt, không thể mở được nữa.

Bàn Tử rút dao rựa ra, rạch thẳng một đường trên túi, để lộ khung dây thép bên trong.

我以前看过一本很老的国产警匪电影,里面也有这种包,当时是用来抛尸的,里面装的是尸块,还是有点心理阴影,胖子也很小心,用镰刀把牛皮翻开来。果然,里面是一团几乎已经腐烂的棉絮,这是被水泡烂的毯子的残余物。胖子用刀在里面搅动,很快,我们在棉絮的底部发现了一些东西,拨弄了一下,胖子像考古一样把这些东西全部勾了出来,那完全是一个女人的生活用品。

Trước đây tôi từng xem một bộ phim cảnh sát và tội phạm cũ của Trung Quốc, trong đó cũng có loại túi này, lúc đó được dùng để vứt xác, bên trong chứatừng mảng xác thịt.

Tôi vẫn còn ám ảnh tâm lý một chút.

Bàn Tử cũng rất cẩn thận, dùng dao rựa lật lớp da bò ra.

Quả nhiên, bên trong là một búi bông gần như đã mục nát, đó là tàn dư của chiếc chăn bị nước ngâm thối.

Bàn Tử dùng dao khuấy động bên trong, rất nhanh, chúng tôi phát hiện một số thứ ở đáy búi bông.

Gạt gạt một lúc, Bàn Tử như đang khảo cổ mà móc hết những thứ đó ra.

Đó hoàn toàn là đồ dùng sinh hoạt của một người phụ nữ.

让我下这个结论的,自然是其中的三把梳子,男人也会带梳子但不会带三把,而且其中一把的齿特别大,那肯定是用来梳长发的。

Thứ khiến tôi đưa ra kết luận này, đương nhiên là ba chiếc lược ở bên trong.

Đàn ông cũng mang lược nhưng sẽ không mang ba chiếc, hơn nữa một chiếc trong số đó có răng lược đặc biệt lớn, chắc chắn là để chải tóc dài.

还有两只发卡,一枚毛主席像章,还有一只木头镜框和一只百雀羚的雪花膏,另外还有一只茶叶罐。

Còn có hai chiếc kẹp tóc, một huy hiệu hình Mao Chủ Tịch, một khung ảnh bằng gỗ và một hộp kem dưỡng da Bách Tước Linh cùng một hộp trà.

百雀羚雪花膏和茶叶罐都是铁皮的,锈得非常厉害,不过因为湖底的状态稳定可以看出铁锈到了一定程度就停止了。

Hộp kem Bách Tước Linh và hộp trà đều bằng sắt tây, rỉ sét rất nghiêm trọng, nhưng do trạng thái dưới đáy hồ ổn định nên có thể thấy quá trình rỉ sét đã dừng lại ở một mức độ nhất định.

我最感兴趣是那只木头镜框,里面有照片,但已经完全被水浸烂,只剩下一团团的色条。只要把镜框后面的盖子拧开,里面的东西肯定全都烂掉了,即使不烂掉,从色条上也完全看不出拍的是什么东西。

Tôi hứng thú nhất là chiếc khung ảnh bằng gỗ, bên trong có ảnh nhưng đã hoàn toàn bị nước ngâm nát, chỉ còn lại những vệt màu.

Chỉ cần vặn nắp phía sau khung ảnh ra, đồ bên trong chắc chắn đã thối rữa hết.

Kể cả không thối rữa, từ các vệt màu cũng hoàn toàn không thể nhìn ra đó là ảnh chụp thứ gì.

茶叶罐子摇动后有声音,显然里面是密封的。胖子想打开但是锈死了。他不信邪,用镰刀当榔头敲击罐底,但是筏子不能承受那种敲打,他只好一边仰泳一边把罐子放在自己胸口上敲,清脆的打鼓一样的声音在湖面上回荡,好像一只肥大的水獭。

Hộp trà lắc lên có tiếng, rõ ràng bên trong được niêm phong.

Bàn Tử muốn mở nhưng nó đã rỉ sét cứng lại.

Hắn không tin tà, dùng dao rựa làm búa gõ vào đáy hộp, nhưng chiếc bè không thể chịu được kiểu gõ đó.

Hắn đành phải vừa bơi ngửa vừa đặt hộp trà lên ngực mình mà gõ, tiếng gõ giòn tan như tiếng trống vang vọng trên mặt hồ, trông giống như một con rái cá béo ị.

我看着好笑,但是确实管用,很快罐底就被敲破了,他从里面倒出了一块黑色的东西,立即就惊呼了一声。

Tôi nhìn thấy buồn cười, nhưng quả thực nó hiệu quả, rất nhanh đáy hộp đã bị gõ thủng.

Hắn đổ ra một khối màu đen từ bên trong, lập tức kêu lên kinh ngạc.

我一看心就一沉,那竟然是一块小铁块,和我在闷油瓶床下发现的非常类似。 Tôi nhìn thấy thì lòng chợt chùng xuống, hóa ra đó là một khối sắt nhỏ, rất giống với khối tôi đã tìm thấy dưới giường Muộn Du Bình.

胖子嘟囔道:"又是这种东西,看来这只皮箱确实属于当时的考古队,盘马没骗我们,他娘的这玩意儿到底是什么?"

Bàn Tử lẩm bẩm: "Lại là thứ này, xem ra chiếc túi da này quả thực thuộc về đội khảo cổ năm đó, Bàn Mã không lừa chúng ta.

Mẹ nó, cái thứ này rốt cuộc là cái gì?"

我接过铁块仔细看了看,摇头不语,因为我发现这铁块和闷油瓶的那一块相比,有少许不寻常。

Tôi nhận lấy khối sắt, nhìn kỹ một lúc rồi lắc đầu không nói, bởi vì tôi phát hiện khối sắt này so với khối của Muộn Du Bình, có một chút không tầm thường.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 23: Khối sắt


这块铁块比我们之前看到的小了很多,大概只有大拇指的大小,让我觉得意外的是,这块铁相对的光滑,虽然也是锈迹斑斑,但比闷油瓶的那块要干净很多,上面的花纹还清晰可辨。

Khối sắt này nhỏ hơn nhiều so với khối chúng tôi từng thấy trước đây, chỉ bằng cỡ ngón tay cái.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là khối sắt này tương đối nhẵn bóng, mặc dù cũng đầy rỉ sét, nhưng sạch hơn nhiều so với khối của Muộn Du Bình, hoa văn phía trên còn có thể nhận ra rõ ràng.

我曾经想过,闷油瓶床下的铁块那副丑陋的样子是不是因为有人用酸处理过,现在看来果然如此。这种铁块原来应该是这种样子的,而不是闷油瓶那块那样全是看上去像癞蛤蟆,而且从上面非常精美的装饰花纹来看,显然属于一件非常高超的艺术品。

Tôi đã từng nghĩ rằng, vẻ ngoài xấu xí của khối sắt dưới giường Muộn Du Bình có phải là do ai đó dùng axit xử lý không, giờ xem ra quả đúng là như vậy.

Khối sắt này ban đầu hẳn phải có hình dạng như thế này, chứ không phải như khối của Muộn Du Bình, trông toàn là những mụn nhọt như cóc ghẻ.

Hơn nữa, nhìn từ hoa văn trang trí cực kỳ tinh xảo trên đó, rõ ràng nó thuộc về một tác phẩm nghệ thuật rất cao siêu.

小铁块也有不规则的断面,显然并不是整体,应该是另外一件东西的碎片,这些铁块应该来自于一件或者几件大型的铁器。

Khối sắt nhỏ này cũng có những mặt cắt không đều, rõ ràng nó không phải là một khối hoàn chỉnh mà phải là mảnh vỡ của một vật thể khác.

Những khối sắt này hẳn phải đến từ một hoặc vài kiện sắt khí cỡ lớn.

我一边踩水,一边脑子飞快转动,感觉事情在此时已经基本连成一线了。现在问题开始清晰起来,指向了大概两点。

Tôi vừa đạp nước vừa suy nghĩ cực nhanh, cảm thấy mọi chuyện lúc này đã cơ bản được xâu chuỗi lại.

Bây giờ vấn đề bắt đầu rõ ràng, tập trung vào khoảng hai điểm.

我的推测是否正确,是否这里发生过考古队被调包的事件,我们还得继续去寻找那些被他们抛入湖里的设备、踪迹,我想那些尸体很可能也会在附近,这看来并不是难事了。

Liệu suy đoán của tôi có đúng không, có phải đã xảy ra sự việc đội khảo cổ bị đánh tráo ở đây hay không, chúng tôi vẫn phải tiếp tục tìm kiếm những thiết bị, dấu vết bị họ ném xuống hồ.

Tôi nghĩ những thi thể kia rất có thể cũng ở gần đó, việc này xem ra không phải là khó khăn gì.

再有就是湖底古寨的事情,深山中的湖泊底部怎么会淹着一个寨子呢?这些铁块来自于这个寨子,它们原本是什么东西又有什么用处?为什么考古队会知道这件事情要把它们打捞起来,他娘的这之后的猫腻可能就多了,我们现在完全无从想起。关于湖的事情只能大概的向阿贵打听,不过,我感觉他不会有太多的信息给我们。

Thứ hai chính là chuyện làng cổ dưới đáy hồ.

Tại sao dưới đáy một hồ nước trong núi sâu lại có một ngôi làng bị nhấn chìm?

Những khối sắt này đến từ ngôi làng đó, ban đầu chúng là thứ gì và có công dụng gì?

Tại sao đội khảo cổ lại biết chuyện này và phải trục vớt chúng lên?

Con mẹ nó, mờ ám đằng sau chuyện này có lẽ nhiều vô kể, chúng tôi bây giờ hoàn toàn không thể nghĩ ra.

Về chuyện cái hồ, tôi chỉ có thể hỏi thăm A Quý một cách đại khái, nhưng tôi cảm thấy anh ta sẽ không có quá nhiều thông tin cho chúng tôi.

这两点的答案,都在水底。我叹了口气,明白接下来应该做什么,我们必须仔细观察湖底,并且把下面能找到的东西都捞上来查看。看样子,得在水里泡上很长时间。

Câu trả lời cho cả hai điểm này, đều nằm dưới nước.

Tôi thở dài một hơi, hiểu rõ mình nên làm gì tiếp theo.

Chúng tôi phải quan sát đáy hồ một cách cẩn thận, và vớt tất cả những thứ có thể tìm thấy dưới đó lên để kiểm tra.

Xem ra, sẽ phải ngâm mình trong nước một thời gian dài.

可惜,我们身上的草绳都已经酥了无法再用,我的体力也不足以再次潜水,否则我真想立即下去再看看。

Đáng tiếc, dây thừng cỏ trên người chúng tôi đã mục nát không thể dùng được nữa, thể lực của tôi cũng không đủ để lặn lần nữa, nếu không tôi thực sự muốn xuống ngay lập tức để xem thêm.

我们在这片水域用尼龙绳加浮漂做了一个记号,三人先回到岸上休息,云彩看到我的样子吓坏了,急忙给我处理。我鼻子里塞了两个布条,蹲在草丛里换好衣服,感觉骨头好像从里面裂开了,疼得我一点力气都用不出来。胖子和闷油瓶把筏子从水里拽到岸上,像使用担架一样抬起筏子,连同筏子上的烂牛皮包一路抬到岸上干的地方。

Chúng tôi dùng dây nylon gắn phao để làm một ký hiệu tại khu vực nước này.

Ba người trước hết trở về bờ nghỉ ngơi.

Vân Thải nhìn thấy dáng vẻ của tôi thì sợ hãi, vội vàng xử lý cho tôi.

Tôi nhét hai miếng giẻ vào mũi, ngồi xổm trong bụi cỏ thay quần áo, cảm giác xương cốt hình như nứt ra từ bên trong, đau đến mức tôi không thể dùng chút sức lực nào.

Bàn Tử và Muộn Du Bình kéo chiếc bè từ dưới nước lên bờ, nâng chiếc bè lên như dùng cáng cứu thương, cùng với chiếc túi da bò rách nát trên bè, khiêng một mạch đến chỗ khô ráo trên bờ.

云彩他们非常好奇我们从水里捞上来了什么,因为里面没什么特别的,所以胖子也就让她去看,真看到了她就觉得恶心。

Vân Thải và những người khác rất tò mò về thứ chúng tôi vớt được từ dưới nước lên.

Vì bên trong không có gì đặc biệt, nên Bàn Tử cũng để cô ấy xem, khi thực sự nhìn thấy thì cô ấy liền cảm thấy ghê tởm.

太阳毒辣辣的,内裤甩在石头上自己就会干,我们吃了几棵野果子补充糖分,胖子一边吃一边问阿贵知道不知道淹村的事情?阿贵一头雾水,完全没有任何概念,说他从来不知道这湖下面还有一个寨子。

Mặt trời gay gắt, quần lót phơi trên đá tự nó sẽ khô.

Chúng tôi ăn vài quả dại để bổ sung đường.

Bàn Tử vừa ăn vừa hỏi A Quý có biết chuyện làng bị ngập không?

A Quý đầu óc mơ hồ, hoàn toàn không có bất kỳ khái niệm nào, nói rằng anh ta chưa bao giờ biết dưới cái hồ này còn có một ngôi làng.

刚才我在水中视线一片模糊,大多看不分明,无法说出更多的细节,但是凭借上面那种沉积物的厚度, 我就知道这村子沉在湖底肯定有年头了。我让阿贵再想想,附近的寨子有没有关于这件事的传说,哪怕是很老的传说,只要搭边都行。阿贵还是摇头,发誓肯定没有,他道:"其实,我也觉得有点奇怪,我们所有人都知道这里有个湖,但是这湖到现在连名字也没有,老人也不是经常提起。"

Vừa rồi thị lực của tôi trong nước rất mờ, phần lớn không nhìn rõ, không thể nói ra thêm chi tiết.

Nhưng chỉ dựa vào độ dày của lớp trầm tích bên trên, tôi biết ngôi làng này chìm dưới đáy hồ chắc chắn đã có niên đại rồi.

Tôi bảo A Quý nghĩ kỹ lại xem, những ngôi làng gần đó có truyền thuyết nào về chuyện này không, dù là truyền thuyết rất cũ, chỉ cần có liên quan là được.

A Quý vẫn lắc đầu, thề là tuyệt đối không có.

Anh ta nói: "Thật ra, tôi cũng thấy hơi lạ.

Tất cả chúng tôi đều biết ở đây có một cái hồ, nhưng cái hồ này cho đến giờ còn không có tên, người già cũng không thường xuyên nhắc đến."

我和胖子面面相觑,我预料到他不会知道得太多,因为到底是传说,能不能流传下来要看运气,但是我没有想他会说得这么绝对。

Tôi và Bàn Tử nhìn nhau.

Tôi đã dự đoán là anh ta sẽ không biết quá nhiều, bởi vì dù sao cũng là truyền thuyết, có thể lưu truyền lại hay không còn tùy thuộc vào may mắn, nhưng tôi không nghĩ anh ta lại nói tuyệt đối như vậy.

羊角山有很多的传说和怪事,因为这里自古是深山和猎区的分界线,人类的活动痕迹到这里就基本不延伸了,所以有传说是很正常的,可是羊角山中这么大一个湖泊,理应也有传说,但却像绝缘了一样,没有任何故事,让我感觉有点奇怪。

Dương Giác Sơn có rất nhiều truyền thuyết và chuyện kỳ lạ, vì nơi đây từ xưa đã là ranh giới phân chia giữa núi sâu và khu săn bắn, dấu vết hoạt động của con người cơ bản không còn mở rộng đến đây nữa, nên có truyền thuyết là rất bình thường.

Thế nhưng một cái hồ lớn như vậy trong Dương Giác Sơn, lý ra cũng phải có truyền thuyết, nhưng nó lại như bị cách điện vậy, không có bất kỳ câu chuyện nào, khiến tôi cảm thấy hơi kỳ lạ.

胖子道:"这会否就是你们说的被山火烧过的老村寨,说你们的老寨子也是在羊角山被山火烧光了,其实是被淹在这湖下了?所以你们都说在地面上看不到一点痕 tích 了。"

Bàn Tử nói: "Cái này có lẽ là ngôi làng cũ bị cháy mà các cậu nói chăng?

Bảo rằng ngôi làng cũ của các cậu cũng bị cháy trụi ở Dương Giác Sơn, thực ra là bị ngập dưới cái hồ này?

Cho nên các cậu mới nói là không thấy chút dấu vết nào trên mặt đất."

阿贵摇头:"年代太久了,就是那烧毁的老寨子的传说,也是大明皇帝的时候,两者间有什么联系,我真就没法说了。"

A Quý lắc đầu: "Niên đại quá lâu rồi, ngay cả truyền thuyết về ngôi làng cũ bị cháy đó cũng là từ thời Đại Minh Hoàng Đế.

Giữa hai cái đó có liên hệ gì, tôi thực sự không thể nói được."

我看阿贵就知道他不是在说谎,于是躺下来抽了根烟,用手指按摩自己爆痛的太阳穴,心说果然得靠自己。

Tôi nhìn A Quý là biết anh ta không nói dối, liền nằm xuống hút một điếu thuốc, dùng ngón tay xoa bóp thái dương đang đau nhức dữ dội, thầm nghĩ quả nhiên vẫn phải tự mình làm thôi.

胖子遥指着湖面我估计出的湖底最深的位置道:"这湖底是怎么个德行,我看像被钉锤敲出来的一样,你说是怎么形成的?"

Bàn Tử chỉ tay về phía mặt hồ, nơi tôi ước tính là chỗ sâu nhất dưới đáy hồ nói: "Đáy hồ này kiểu gì thế, tôi nhìn cứ như bị búa đóng đinh gõ ra vậy, cậu nói xem nó hình thành như thế nào?"

我道:"这不是形成的,这种落差一般只在山与山之间的峡谷河流中才会产生,这湖应该是个堰塞湖,可能是在几百年前形成的。"

Tôi nói: "Cái này không phải là hình thành như thế.

Độ dốc lớn như vậy thường chỉ xuất hiện ở các con sông trong thung lũng giữa các ngọn núi.

Cái hồ này hẳn là một yển tắc hồ, có lẽ được hình thành từ mấy trăm năm trước."

"是因为地震吗?"云彩在边上好奇道。

"Có phải vì động đất không?"

Vân Thải tò mò hỏi ở bên cạnh.

我摇头:"水下的村子保持得相对完好,如果是大地震我们肯定看不到这么整齐的石头路和篱笆,说明村子被水淹没是在相对温和的情况下。"我指了指胖子刚才指的最深处,说出了我的推测,"有可能是因为地质运动,或者什么另外的原因,在几百年前我们对面的那些山体中,突然出现了一条连通着附近地下水系的暗河,因为这个村子正好地处低洼地带,所以突如其来的大水就将整个村子全部淹没了。"

Tôi lắc đầu: "Ngôi làng dưới nước được bảo tồn tương đối hoàn hảo.

Nếu là động đất lớn thì chúng ta chắc chắn không thể thấy con đường đá và hàng rào gọn gàng như vậy.

Điều đó cho thấy ngôi làng bị nước nhấn chìm trong tình huống tương đối ôn hòa."

Tôi chỉ vào chỗ sâu nhất mà Bàn Tử vừa chỉ, và nói ra suy đoán của mình: "Có thể là do vận động địa chất, hoặc một nguyên nhân nào đó khác, mấy trăm năm trước, trong những ngọn núi đối diện chúng ta, đột nhiên xuất hiện một con sông ngầm thông với hệ thống nước ngầm gần đó.

Bởi vì ngôi làng này nằm đúng ở khu vực trũng thấp, cho nên dòng nước lớn đột ngột ập đến đã nhấn chìm toàn bộ ngôi làng."

为什么说是地下水系的水,是因为我没有听阿贵说过附近有更大的湖泊,十万大山中我也没有听说过有大湖,但是这里的喀斯特地下河是很有名的。这里接近热带,降雨十分频繁,这些水肯定得有地方去。地面上走的河流水,最后也是汇入地下的大江大河。

Tại sao lại nói là nước từ hệ thống nước ngầm?

Bởi vì tôi chưa nghe A Quý nói về việc có hồ lớn hơn nào gần đây.

Trong Thập Vạn Đại Sơn, tôi cũng chưa từng nghe nói có hồ lớn, nhưng sông ngầm Karst ở đây thì rất nổi tiếng.

Khu vực này gần nhiệt đới, mưa rất thường xuyên, những dòng nước này chắc chắn phải có nơi để đi.

Nước sông chảy trên mặt đất, cuối cùng cũng hội tụ vào những con sông lớn dưới lòng đất.

昨晚的虹吸潮肯定也是因为这个口子。

Sóng hút xoáy nước tối qua chắc chắn cũng là vì cái miệng thông này.

胖子道:"看来我说得没错,那我们要找的东西,一定就在最深的地方,我们不可能找到了。"

Bàn Tử nói: "Xem ra tôi nói không sai, vậy thứ chúng ta phải tìm chắc chắn nằm ở chỗ sâu nhất, chúng ta không thể tìm thấy được rồi."

我摇头:"非也,这些木楼就好比过滤网,被虹吸潮水吸入湖底的东西,大部分都会在古村的外沿被那些篱笆和木楼卡住,所以我们只需要搜索这一圈就基本会有收获,否则,我觉得可以承认失败了。"

Tôi lắc đầu: "Không phải thế.

Những ngôi nhà sàn gỗ này giống như một cái lưới lọc.

Những thứ bị sóng hút xoáy nước hút xuống đáy hồ, phần lớn sẽ bị mắc kẹt ở vành ngoài của làng cổ bởi những hàng rào và nhà sàn đó.

Vì vậy, chúng ta chỉ cần tìm kiếm quanh khu vực này là cơ bản sẽ có thu hoạch, nếu không, tôi nghĩ có thể thừa nhận thất bại rồi."

这一圈的深度并不太深,我估计只有二十米多,只要有点耐心,我们肯定能发现什么。

Độ sâu của khu vực này không quá sâu, tôi ước tính chỉ khoảng hơn hai mươi mét.

Chỉ cần có chút kiên nhẫn, chúng ta chắc chắn sẽ phát hiện ra điều gì đó.

胖子看了看太阳,一下又来了兴致,道:"今日事今日毕,咱们这就下水。"

Bàn Tử nhìn mặt trời, lập tức lại nổi hứng, nói: "Chuyện hôm nay làm hôm nay xong, chúng ta xuống nước thôi."

我立即摇头,那是不可能的,从刚才我们潜水的经历来看,徒手潜水实在有点勉强,要想仔细从容地调查水底的古寨,肯定得用专业的潜水用具。我们绝对没法马上进行,得先回到县城里,然后通过关系把装备运过来。

Tôi lập tức lắc đầu, điều đó là không thể.

Xét từ kinh nghiệm lặn vừa rồi của chúng tôi, lặn tay không thực sự hơi miễn cưỡng.

Muốn điều tra ngôi làng cổ dưới nước một cách cẩn thận và thong thả, chắc chắn phải dùng đến dụng cụ lặn chuyên nghiệp.

Chúng tôi tuyệt đối không thể tiến hành ngay, phải quay về huyện lỵ trước, sau đó thông qua quan hệ để vận chuyển trang bị đến.

这是一个大工程,潜水器械很重,可能得雇十几个人用骡子拉进山里来,这就不符合我们低调的初衷。而且,这种东西不是那么好弄的,除了氧气瓶,我们还得准备充氧气用的氧气泵,那玩意儿可不是什么小家伙,骡子可能都拉不进来,得分解后再运输,那时间就更久了。

Đây là một đại công trình, thiết bị lặn rất nặng, có thể phải thuê hơn chục người dùng la kéo vào núi, điều này không phù hợp với ý định ban đầu muốn giữ kín của chúng tôi.

Hơn nữa, loại đồ này không dễ kiếm như vậy, ngoài bình oxy, chúng tôi còn phải chuẩn bị máy bơm oxy để bơm khí.

Cái thứ đó không phải là đồ nhỏ bé gì, la có lẽ cũng không kéo vào được, phải tháo rời rồi mới vận chuyển, như vậy sẽ tốn thời gian hơn.

我心中很急,让我要再等一段时间,我恐怕会被折磨死。

Trong lòng tôi rất nóng ruột, bảo tôi phải đợi thêm một thời gian nữa, tôi e rằng sẽ bị tra tấn chết mất.

胖子也是不愿意回去,但他比我理性,他想了想道:"这个不用想,想要完全探索我们肯定得回去带水肺过来,没什么其他选择。不过从刚才潜水的情况来看,只是潜入水底简单搜索的话也没有必要用水肺,我们可以分头办事,一个人回去置办装备,另外两个在这里先开始打捞那些沉物。这两件事情可以同时进行。"

Bàn Tử cũng không muốn quay về, nhưng hắn lý tính hơn tôi.

Hắn suy nghĩ một lúc rồi nói: "Cái này khỏi cần nghĩ, muốn thăm dò hoàn toàn thì chúng ta chắc chắn phải quay về mang bình dưỡng khí lặn đến, không có lựa chọn nào khác.

Tuy nhiên, xét từ tình hình lặn vừa rồi, nếu chỉ lặn xuống nước tìm kiếm đơn giản thì cũng không cần thiết dùng bình dưỡng khí lặn.

Chúng ta có thể chia nhau làm việc, một người quay về sắm sửa trang bị, hai người còn lại ở đây bắt đầu trục vớt những vật chìm kia trước.

Hai chuyện này có thể đồng thời tiến hành."

"那谁回去?"我问道。

"Vậy ai về?" tôi hỏi.

"从关系上来说,当然是你回去最合适,你的关系最多,我和小哥在这里打捞。你想你认识这么多伙计,直接找几个伙计帮你置办,可以交代完了就回来,比我们方便多了。"

"Xét về quan hệ, đương nhiên là cậu về là thích hợp nhất, cậu có nhiều quan hệ nhất.

Tôi và Tiểu Ca ở lại đây trục vớt.

Cậu nghĩ xem, cậu quen biết nhiều anh em như vậy, trực tiếp tìm vài người giúp cậu sắm sửa, dặn dò xong là có thể quay lại, tiện hơn chúng tôi nhiều."

我骂了一声:"我靠,那还不是一样,我还是得憋死。"

Tôi chửi một tiếng: "Đ má*, thế thì cũng như không, tôi vẫn phải bị nghẹt thở chết mất."

"一个人憋死总好过三个人一起憋死,而且你想,让小哥去肯定不可能,我的关系在北京,比你不方便很多,我去办的话你等的时间更长,在这种地方看看风景是不错,你待上一个月你也难过,所以听胖爷我的没错,你回去置办是最理想的。"胖子冠冕堂皇道。

"Một người bị nghẹt thở chết vẫn tốt hơn là ba người cùng bị nghẹt thở chết.

Hơn nữa cậu nghĩ xem, để Tiểu Ca đi là tuyệt đối không thể.

Quan hệ của tôi ở Bắc Kinh, bất tiện hơn cậu nhiều.

Nếu tôi đi làm, cậu đợi còn lâu hơn.

Ở nơi này ngắm cảnh thì tốt, cậu ở lại một tháng cũng sẽ buồn bã.

Cho nên, nghe Bàn Gia tôi là không sai, cậu quay về sắm sửa là lý tưởng nhất."

Bàn Tử nói với vẻ ngoài đường hoàng, cao thượng.

我看着胖子的表情,那叫一个欠揍,但是仔细一想,他说的确实有道理,我只要给潘子打一个电话几天内事情就能搞定,还能把王盟和三叔铺子里的几个伙计都带过来帮忙。胖子这不靠谱的,他出去办事我还真不放心。我只好点头,当下一合计,也别磨蹭了,明天一早就回去,力求速战速决。

Tôi nhìn vẻ mặt của Bàn Tử, quả là thiếu đòn.

Nhưng nghĩ kỹ lại, hắn nói quả thực có lý.

Tôi chỉ cần gọi một cuộc điện thoại cho Phan Tử là vài ngày trong có thể giải quyết được mọi việc, còn có thể đưa cả Vương Minh và vài anh em trong tiệm của Tam Thúc đến giúp đỡ.

Bàn Tử này không đáng tin cậy, hắn đi làm việc tôi thật sự không yên tâm.

Tôi đành gật đầu, lập tức tính toán một chút, đừng chần chừ nữa, sáng mai lên đường quay về ngay, cố gắng tốc chiến tốc quyết.

于是和阿贵约好,明天由阿贵带我回去,云彩在这里守着胖子和闷油瓶,我一想阿贵这么来来回回也辛苦,而且现在我们还真缺他不可,得笼络一下他,于是开了个大价钱。

Thế là tôi hẹn với A Quý, ngày mai A Quý sẽ đưa tôi về, Vân Thải ở đây trông chừng Bàn Tử và Muộn Du Bình.

Tôi nghĩ A Quý đi đi về về như vậy cũng vất vả, hơn nữa hiện tại chúng tôi thực sự không thể thiếu anh ta, nên phải mua chuộc anh ta một chút, liền ra một cái giá lớn.

接下来的时间我就瘫了,几乎就没站起来过,胖子和闷油瓶又去潜了两次,又带上来一些东西,但都已经高度破败了,都是垃圾,没什么价值。其中有一支当时的冲锋枪,烂得好比烧火棍一样,胖子爱惜枪,直叫可惜。

Thời gian tiếp theo tôi gần như bị liệt, hầu như không đứng dậy nổi.

Bàn Tử và Muộn Du Bình lại đi lặn thêm hai lần nữa, mang lên một số thứ, nhưng đều đã bị phá hủy nghiêm trọng, toàn là rác rưởi, không có giá trị gì.

Trong đó có một khẩu súng tiểu liên thời đó, rỉ sét nát bét như một cây củi nhóm lửa.

Bàn Tử là người yêu súng, cứ xuýt xoa tiếc nuối.

胖子也看到了沉在水下的寨子,不由得吃惊竟有这么大规模,他道可惜没有潜水镜,否则可以看得更加清楚一点,也不会尽捞些垃圾。接着他就满世界找替代品,搜遍了所有的装备,最后终于找到了一个东西,那就是手电筒的筒头,但是这玩意儿不太可能密封,胖子就作了一个非常离谱的决定,他把手电筒的筒头贴在自己的眼睛上,缝隙粘上胶布和油脂,然后用力压住,这样可以保证一只眼睛能在水下远视。胖子潜入到浅水中试验,却立即被水压压进筒里,这方法是行不通的。无奈之下他只好让我记得,阿贵和我回县城里,随便找个体育用品店先带点普通的装备过来顶顶。

Bàn Tử cũng đã thấy ngôi làng chìm dưới nước, không khỏi kinh ngạc vì quy mô lớn đến vậy.

Hắn nói thật tiếc vì không có kính lặn, nếu không có thể nhìn rõ hơn một chút, cũng sẽ không toàn vớt phải rác.

Sau đó hắn tìm khắp nơi đồ thay thế, lục tung tất cả trang bị, cuối cùng cũng tìm được một thứ, đó là đầu đèn pin.

Nhưng cái thứ này khó mà niêm phong được.

Bàn Tử đã đưa ra một quyết định rất phi lý: hắn đặt đầu đèn pin lên mắt mình, dán băng keo và mỡ vào các khe hở, rồi dùng sức ấn giữ, hy vọng làm được kính lặn một mắt để viễn thị dưới nước.

Bàn Tử lặn xuống vùng nước nông để thử, nhưng lập tức bị áp lực nước ép vào trong ống.

Phương pháp này không thể thực hiện được.

Bất đắc dĩ, hắn đành bảo tôi nhớ rằng, khi A Quý và tôi về huyện lỵ, hãy tùy tiện tìm một cửa hàng dụng cụ thể thao mang một ít trang bị thông thường về dùng tạm.

当夜无话,第二天我早上我就离开了羊角山,走的时候,天空乌云密布,似乎要下大雨,我挥手和他们告别,接着走上山路。走到山腰再次看向湖面时,看到那片乌云,我忽然有一种奇怪的预感,似乎有什么事要发生。 Đêm đó không có chuyện gì để kể.

Sáng hôm sau tôi rời khỏi Dương Giác Sơn.

Lúc tôi đi, bầu trời mây đen dày đặc, dường như sắp có mưa lớn.

Tôi vẫy tay chào tạm biệt họ, rồi bước lên đường núi.

Khi đi đến lưng chừng núi, tôi quay lại nhìn mặt hồ, thấy những đám mây đen đó, tôi đột nhiên có một dự cảm kỳ lạ, dường như có chuyện gì đó sắp xảy ra.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 24: Dòng chảy


长话短说,回到巴乃后我先是吃了一顿好的,之后马不停蹄去到了附近的一个县城,先买了一些游泳用的东西,嘱咐阿贵带回去,然后坐上中巴驶出十万大山。

Nói dài thành ngắn, sau khi về Ba Nãi, tôi trước hết ăn một bữa ngon, sau đó không ngừng nghỉ đi đến một huyện lỵ gần đó, trước hết mua một số đồ dùng bơi lội, dặn dò A Quý mang về, rồi ngồi lên xe buýt cỡ trung rời khỏi Thập Vạn Đại Sơn.

一路颠簸,心里又急于是十分的煎熬,在车上我还看到了盘马老爹那个满嘴京腔的远方亲戚,看得出他有很重的心事,一路都没说话光在琢磨事情。他也 没认出我来。

Suốt dọc đường xóc nảy, trong lòng lại nôn nóng nên vô cùng khổ sở.

Trên xe, tôi còn thấy người bà con xa nói giọng Bắc Kinh rặt của Lão ba Bàn Mã.

Có thể thấy hắn có tâm sự nặng nề, suốt đường không nói gì, chỉ lo suy tính chuyện.

Hắn cũng không nhận ra tôi.

回到了防城港,定下酒店就开始操办。以前置办过东西,知道其中的猫腻和困难,所以我做得十分有条 lý, 先给潘子打了电话,让他运一些装备,他熟门熟路,效率最高,然后让王盟立即飞过来帮忙,我需要一个人蹲点。

Về đến Phòng Thành Cảng, đặt khách sạn xong là tôi bắt đầu lo liệu.

Trước đây từng sắm sửa đồ đạc nên tôi biết những mờ ám và khó khăn trong đó.

Vì thế tôi làm việc rất có phương pháp, trước hết gọi điện cho Phan Tử, bảo anh ta vận chuyển một số trang bị.

Anh ta thạo việc, hiệu suất cao nhất.

Sau đó, tôi bảo Vương Minh bay đến ngay lập tức để giúp đỡ, tôi cần một người canh gác.

潘子听到我要装备后有些担心,我骗他说别人托我办的,他才答应下来。东西和人都是在五天后到的,我在防城港租好车,一路将东西直接运到了巴乃。盘山公路陡峭非凡,我只能开C驾照车,这一次硬着头皮开大头车,惊险万分,几次差点都冲下山崖,因为全都贴着一边的峭壁开,车头的两边都撞变形了,王盟下车的时候腿都软了。

Phan Tử nghe tôi cần trang bị thì có chút lo lắng, tôi lừa anh ta nói là người khác nhờ tôi làm, anh ta mới đồng ý.

Đồ đạc và người đều đến sau năm ngày.

Tôi thuê xe ở Phòng Thành Cảng, lái xe vận chuyển thẳng đồ đạc đến Ba Nãi.

Đường đèo quanh co dốc đứng phi thường, tôi chỉ có bằng lái hạng C.

Lần này tôi cắn răng lái chiếc xe tải lớn, vô cùng nguy hiểm, mấy lần suýt lao xuống vách núi.

Vì cứ bám sát vách đá mà lái nên hai bên đầu xe đều bị móp méo.

Vương Minh xuống xe lúc đó chân đã mềm nhũn.

巴乃的路都是扶贫砂石路,最后一段实在开不进去了,天又下大雨,只好下来换小车。大车的装备装了三车皮的拖拉机才拉进村子里。至此一切顺利,但从我离开到再踏上巴乃的村头,已经过了两个星期时间。

Đường ở Ba Nãi đều là đường sỏi đá xóa đói giảm nghèo.

Đoạn cuối cùng thực sự không thể lái vào được nữa, trời lại đổ mưa lớn, đành phải xuống xe đổi sang xe nhỏ.

Trang bị của xe tải lớn phải chất lên ba thùng xe kéo máy cày mới chở được vào trong làng.

Cho đến lúc này mọi chuyện đều thuận lợi, nhưng từ lúc tôi rời đi đến khi đặt chân trở lại đầu làng Ba Nãi, đã qua hai tuần thời gian.

本来和阿贵约好在村口接应,先把东西运到他家里去,到了村口卸掉货却不见他的人。

Ban đầu tôi hẹn A Quý ở cửa làng đón, trước hết vận chuyển đồ đạc đến nhà anh ta.

Đến cửa làng dỡ hàng xuống thì lại không thấy bóng dáng anh ta đâu.

我当时已经筋疲力尽,不由得有点恼怒,让王盟在村口看着东西,自己去阿贵家找他。我们住的用做客房和吃饭的那栋楼家门紧闭,我敲了半天没反应,只好去他住的那栋木楼。

Lúc đó tôi đã kiệt sức, không khỏi có chút bực mình.

Tôi bảo Vương Minh ở cửa làng trông chừng đồ đạc, còn mình thì đi đến nhà A Quý tìm anh ta.

Căn nhà chúng tôi ở dùng làm phòng khách và chỗ ăn uống đóng kín cửa.

Tôi gõ nửa ngày không thấy phản ứng, đành phải đến căn nhà sàn gỗ nơi anh ta ở.

**木楼的门倒是开着,这是云彩他们住的地方,大堂和我们那边差不多,因为厨房不在这里显得干净了很多,角落里堆着他们编织的一些彩框,是卖给观光客的。墙上贴着一些年画,她们两姐妹的闺房在里屋,阿贵睡在边屋,还有一只木梯子通向二楼.

** Cửa nhà sàn gỗ thì mở, đây là nơi Vân Thải và những người khác ở.

Đại sảnh cũng gần giống bên chúng tôi, vì bếp không ở đây nên trông sạch sẽ hơn nhiều.

Trong góc chất đống một số khung sặc sỡ họ đan, dùng để bán cho khách du lịch.

Trên tường dán một vài bức tranh tết.

Phòng riêng của hai chị em họ ở phòng trong, A Quý ngủ ở phòng bên, còn có một cái thang gỗ thông lên lầu hai.

这里民风淳朴,大门都不锁,里面的房间都安的帘子,我叫了几声,小心翼翼进去后发现都不在,又对着楼上吼了两声,还是没有人,似乎都不在家。 Nơi đây dân phong thuần phác, cổng lớn cũng không khóa, các phòng bên trong đều mắc rèm.

Tôi gọi mấy tiếng, cẩn thận đi vào thì thấy không có ai, lại hét lên hai tiếng hướng lên lầu, vẫn không có người, dường như không ai ở nhà.

我心里就骂开了,他娘的这个阿贵怎么回事,约好了等我的,人怎么找不到了?难道他进山去了?那就要了命了,我在这里就认得他一个,等他回来不知是什么时候了。

Trong lòng tôi bắt đầu chửi rủa: Con mẹ nó cái thằng A Quý này làm sao thế, hẹn là đợi tôi, sao lại không thấy người đâu?

Lẽ nào anh ta vào núi rồi?

Thế thì chết tiệt rồi, tôi ở đây chỉ quen mỗi mình anh ta, đợi anh ta về không biết đến bao giờ.

我当时血气上涌,并不信邪,怕他也许在上面干活听不到,于是快步上楼,扯开喉咙继续叫。

Lúc đó tôi huyết khí dâng lên, không tin tà, sợ có lẽ anh ta đang làm việc trên lầu nên không nghe thấy, liền bước nhanh lên lầu, rát cổ tiếp tục gọi.

一楼和二楼之间有块竹子编的门一样的东西,是压在楼板上的,我一下就推开爬了上去。上面是个走道,走道尽头通向一边的木阳台,板竹墙有点年头了,看起来都是从那种废弃的老木楼上偷过来的。两边各有一个房间,一边是堆东西的,里面全是编好的框子和绷起来风干的兽皮,另一边门关着,我敲了半天没反应,好像人确实不在。

Giữa tầng một và tầng hai có một cái vật giống như cánh cửa đan bằng tre, nó được đè trên sàn nhà.

Tôi đẩy một cái rồi trèo lên.

Phía trên là một lối đi, cuối lối đi thông ra ban công gỗ ở một bên.

Tường bằng tấm tre đã có niên đại, trông có vẻ như được lấy trộm từ những căn nhà sàn gỗ cũ bị bỏ hoang.

Hai bên đều có một phòng, một bên là phòng chất đồ, bên trong toàn là khung đan xong và da thú căng ra phơi khô, phòng bên kia đóng cửa.

Tôi gõ nửa ngày không thấy phản ứng, hình như người quả thật không có ở đây.

我喘了几口气让自己冷静下来,发火也没用处了。这时候忽然想到这门后面,好像是阿贵说的,他儿子住的房间。

Tôi hít vài hơi để tự trấn tĩnh, nổi nóng cũng chẳng ích gì.

Lúc này đột nhiên tôi nhớ ra, phía sau cánh cửa này hình như là phòng con trai A Quý ở, như anh ta từng nói.

他儿子只在他嘴巴里说说,我从来没见过,我感觉可能有些什么残疾所以不太见人,怎么今天也不在?我不由得好奇,透过门缝往里看了看,发现里面非常昏暗,只能看到墙上挂着非常多东西,看不清是什么,好像都是纸片,但确实没人,而且,我没有看到有日用器皿,空空荡荡的。

Con trai anh ta chỉ được nhắc đến bằng lời, tôi chưa bao giờ gặp.

Tôi cảm thấy có thể cậu bé có tật nguyền gì đó nên ít khi gặp người ngoài.

Sao hôm nay cũng không có ở đây?

Tôi không khỏi tò mò, nhìn qua khe cửa vào trong, thấy bên trong vô cùng tối tăm, chỉ có thể thấy trên tường treo rất nhiều thứ, không nhìn rõ là gì, hình như là giấy vụn, nhưng quả thật không có người.

Hơn nữa, tôi không thấy có đồ dùng sinh hoạt, trống rỗng.

我心说奇怪,他儿子就睡在这种房间里?这房间怎么住人?想推一把门进去仔细看看,门却纹丝不动,好像里面有什么闩子闩住了。

Tôi thầm nghĩ lạ thật, con trai anh ta ngủ trong căn phòng như thế này sao?

Căn phòng này làm sao mà ở được?

Muốn đẩy cửa vào xem kỹ, nhưng cửa lại không hề nhúc nhích, hình như bên trong có chốt gì đó khóa lại.

我没时间考虑这些,收起好奇心下楼,找邻居问了一下,却说阿贵很久没出现了,好像两个星期前进山后就没出来。不过他们也不敢肯定,因为阿贵经常要到外地接客人。他的小女儿因为连日大雨,去邻村的爷爷家去了。

Tôi không có thời gian suy nghĩ những chuyện này, dẹp bỏ sự tò mò xuống lầu, hỏi thăm hàng xóm một chút, họ lại nói A Quý lâu rồi không xuất hiện, hình như hai tuần trước vào núi rồi thì không ra nữa.

Tuy nhiên họ cũng không dám chắc chắn, vì A Quý thường xuyên phải ra ngoại tỉnh đón khách.

Con gái út của anh ta vì mưa lớn liên tục nên đã đi đến nhà ông nội ở làng bên.

我骂了一声,两个星期前就是我离开这里的时候,看样子他再次进山之后就没出来,很可能他根本就没记得和我 说他得出来接一下。

Tôi chửi một tiếng, hai tuần trước chính là lúc tôi rời khỏi đây.

Xem ra anh ta vào núi xong thì không ra nữa, rất có thể anh ta hoàn toàn không nhớ tôi đã nói anh ta phải ra đón.

于是只好自己掏钱,叫了几个村民帮忙,先把那些装备搬到阿贵那里,让王盟先看着。然后又想通过那邻居的帮忙,再找一个向导进山,自己先带着一些力所能及的装备往山里去,到了之后,换阿贵出来找人把装备运进来。

Thế là đành phải tự bỏ tiền ra, gọi vài người dân làng giúp đỡ, trước hết chuyển những trang bị đó đến nhà A Quý, bảo Vương Minh trông chừng trước.

Sau đó tôi lại muốn nhờ hàng xóm đó giúp đỡ, tìm thêm một người dẫn đường vào núi, bản thân tôi mang theo một số trang bị có thể mang được vào núi trước.

Đến nơi rồi, đổi lại để A Quý ra tìm người vận chuyển trang bị vào.

一问就却立即知道了为什么阿贵不来接我,原来我走了之后连下了好几天的雨,山里全是泥石流和烂泥,不要说徒步出来,就是现在带着十几个人拉着骡子进山,全军覆灭也是几秒钟的事情,阿贵他们很可能被困在山里了。

Vừa hỏi thì liền biết ngay tại sao A Quý không đến đón tôi.

Hóa ra sau khi tôi đi thì trời mưa liên tục mấy ngày, trong núi toàn là đất đá trôi và bùn lầy.

Đừng nói là đi bộ ra, ngay cả bây giờ dẫn mười mấy người kéo la vào núi, toàn quân bị diệt cũng chỉ là chuyện trong vài giây.

A Quý và những người khác rất có thể đã bị mắc kẹt trong núi rồi.

这真是始料未及的事情,我一下子不知所措。不过那邻居对我说不用太担心,阿贵知道怎么应付,他们只要待在湖边,最多被雨淋一下,不会有大的危险。不过我要再进山的话,最起码还要等上一个星期,如果雨不停的话可能更久,这种天气没有任何一个猎户肯帮忙。那不是钱的问题。

Đây quả là chuyện ngoài dự đoán (始料未及 - Shǐ liào wèi jí), tôi nhất thời không biết phải làm sao.

Tuy nhiên, người hàng xóm đó nói với tôi không cần quá lo lắng, A Quý biết cách đối phó.

Họ chỉ cần ở bên hồ, nhiều nhất là bị ướt mưa một chút, sẽ không có nguy hiểm lớn.

Nhưng nếu tôi muốn vào núi nữa, ít nhất còn phải đợi một tuần, nếu mưa không ngừng thì có thể lâu hơn.

Thời tiết như thế này không có bất kỳ thợ săn nào chịu giúp.

Đó không phải là vấn đề tiền bạc.

一个星期,我一盘算这事就不对了,阿贵如果一直没有回来,那他们都两个星期没有补给了,吃的东西很可能已经耗光,就算阿贵能打猎,在这种大雨下有没有猎物还是个问题。

Một tuần, tôi vừa tính toán thì thấy chuyện này không ổn.

Nếu A Quý cứ thế không quay về, vậy họ đã không có tiếp tế suốt hai tuần rồi.

Đồ ăn rất có thể đã cạn kiệt, dù A Quý có thể săn bắn, nhưng dưới cơn mưa lớn như thế này, có săn được con mồi hay không vẫn là một vấn đề.

其实即使他们撑得住,我也等不及再耽搁一个星期。于是开出了三倍的高价想找个要钱不要命的,最后那邻居被我问烦了,就对我说,现在这种天气,敢进山的只有一个,那就是盘马老爹,你要不去求求他看吧。

Thực ra dù họ có chịu đựng được, tôi cũng không thể chờ đợi thêm một tuần nữa.

Thế là tôi ra giá cao gấp ba, muốn tìm một người cần tiền không cần mạng.

Cuối cùng người hàng xóm bị tôi hỏi phiền quá, bèn nói với tôi: "Thời tiết thế này, người dám vào núi chỉ có một, đó chính là Lão ba Bàn Mã, hay cậu đi xin ông ta giúp thử xem sao."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 25: Tâm lý chiến (2)


我回到阿贵的房子里,王盟浑身湿透正在把衣服里的水拧出去,我也脱了衣服,不再客气,去阿贵屋里把他的酒拿了出来喝了几口去湿,接下来就琢磨该怎么办。

Tôi quay về nhà A Quý, Vương Minh toàn thân ướt sũng đang vắt nước từ quần áo ra.

Tôi cũng cởi quần áo, không khách sáo nữa, vào phòng A Quý lấy rượu của anh ta ra uống vài ngụm để trừ ẩm, sau đó bắt đầu ngẫm nghĩ xem nên làm thế nào.

说实话,我真的一点也没有想到过这种情况,完全是始料未及,这让我想起以前我的导师和我说过的一个概念,叫做"去先入为主表格"。这是一个物流里的概念,后来被应用到很多行业里,就是说在任何环节都必须完全重新考虑所有的条件,不能有任何想当然。在物流里考虑的特别多,包括天气、宗教、习惯罢工周期,所有的细节在任何一个港口都得完全考虑才能保证顺畅。

Nói thật, tôi thực sự không hề nghĩ đến tình huống này, hoàn toàn ngoài dự đoán.

Điều này khiến tôi nhớ đến một khái niệm mà người hướng dẫn của tôi từng nói, gọi là "Biểu mẫu loại bỏ ấn tượng ban đầu.

Đây là một khái niệm trong logistics, sau này được áp dụng vào nhiều ngành nghề, ý là ở bất kỳ khâu nào cũng phải hoàn toàn xem xét lại tất cả các điều kiện, không được có bất kỳ sự mặc nhiên nào.

Trong logistics, người ta phải xem xét rất nhiều thứ, bao gồm thời tiết, tôn giáo, thói quen, chu kỳ đình công.

Tất cả các chi tiết ở bất kỳ bến cảng nào cũng phải được xem xét kỹ lưỡng mới đảm bảo được sự trôi chảy.

我就是对这里的天气先入为主了,不知道广西的雨季有多恐怖,才会没有把这个因素考虑进去。

Tôi chính là đã mặc nhiên về thời tiết ở đây, không biết mùa mưa ở Quảng Tây kinh khủng đến mức nào, nên mới không đưa yếu tố này vào xem xét.

如今事情变得非常棘手,听他们说的,雨什么时候停完全无法预测,而且就算停了,很长时间内山里还是非常危险,所以什么时候能进山,最短是一个星期,最长可能有一个月还多。我不能盼老天开眼,所以现在进山是最正确的。

Bây giờ mọi việc trở nên vô cùng khó khăn.

Nghe họ nói, mưa khi nào tạnh hoàn toàn không thể dự đoán được.

Hơn nữa, ngay cả khi tạnh, trong một thời gian dài, trong núi vẫn rất nguy hiểm.

Vì vậy, thời điểm có thể vào núi, ngắn nhất là một tuần, dài nhất có thể là hơn một tháng.

Tôi không thể mong ông trời mở mắt, nên vào núi ngay bây giờ là đúng đắn nhất.

但如果现在去找盘马老爹求助,我实在是把握不大,我之前讹他的时候和他说过不会再去找他,现如今又去求助,和之前我给他那种背后势力很大的印象不符合,一下就穿帮了,穿帮后他不揍我就不错了,更不要说帮我。

Nhưng nếu bây giờ đi tìm Lão ba Bàn Mã cầu cứu, tôi thực sự không có nhiều chắc chắn.

Trước đây khi tôi lừa gạt ông ta, tôi đã nói sẽ không tìm ông ta nữa.

Giờ lại đi cầu cứu, điều này không phù hợp với ấn tượng thế lực chống lưng rất lớn mà tôi đã tạo ra trước đó, lập tức sẽ bị lộ tẩy.

Sau khi lộ tẩy, ông ta không đánh tôi đã là may rồi, nói gì đến việc giúp tôi.

想着想着,我告诉自己不能退缩,既然找盘马是唯一的办法,那只能硬着头皮上了。必须有一个非常巧妙的说法让他上钩。

Càng nghĩ, tôi càng tự nhủ mình không được thụt lùi.

Vì tìm Bàn Mã là cách duy nhất, nên chỉ có thể cứng đầu mà làm thôi.

Phải có một cách nói thật khéo léo để ông ta cắn câu.

盘马是只老狐狸,有他们那代人特有的智慧,怎么引他入局,实在是件麻烦事。

Bàn Mã là một lão hồ ly, có trí tuệ đặc trưng của thế hệ họ.

Làm thế nào để dẫn ông ta vào cuộc, quả thực là một chuyện phiền phức.

我想来想去没个好辙。这事情他娘的真难办,我突然出现,求他带我进山,这事本身就没有任何说 phục 力。因为如果我连进山的能力都没有,那同样也没有威胁他的本钱。

Tôi nghĩ tới nghĩ lui không có được một cách hay.

Chuyện con mẹ nó này thật khó giải quyết.

Tôi đột nhiên xuất hiện, cầu xin ông ta đưa tôi vào núi, bản thân chuyện này đã không có bất kỳ sức thuyết phục nào.

Bởi vì nếu tôi ngay cả năng lực vào núi cũng không có, thì cũng không có vốn liếng để uy hiếp ông ta.

首先,我能明确的是我的态度不能是求,我得是威胁,或者是逼迫,我宁可让他认为我是一个出尔反尔的强大的坏人,不择手段想要达到目的,也不能让他看出我是空架子。

Đầu tiên, điều tôi có thể xác định là thái độ của tôi không thể là cầu xin, tôi phải là đe dọa, hoặc ép buộc.

Tôi thà để ông ta nghĩ rằng tôi là một kẻ xấu mạnh mẽ nuốt lời, không từ thủ đoạn để đạt được mục đích, chứ không thể để ông ta thấy tôi là thùng rỗng kêu to.

其次,我得把注意力转移,无论我找什么理由来让他带我进山,进山还是进山,我用这个理由找他就表示我没有能力进山,强大的坏人可以在其他地方没能力,但是不可以没能力进山。我必须把我的目的掩藏起来,让他以为我需要他干的是其他事情,进山只是这件事里必须做的工作。

Thứ hai, tôi phải chuyển hướng sự chú ý.

Cho dù tôi tìm lý do gì để ông ta đưa tôi vào núi, thì vào núi vẫn là vào núi.

Việc tôi dùng lý do này tìm ông ta cho thấy tôi không có khả năng vào núi.

Kẻ xấu mạnh mẽ có thể không có khả năng ở những việc khác, nhưng không thể không có khả năng vào núi.

Tôi phải che giấu mục đích của mình, khiến ông ta tưởng rằng tôi cần ông ta làm việc khác, còn vào núi chỉ là công việc bắt buộc trong chuyện này.

我第一要逼迫,第二,我没有能力办到需要求助于他,不能代表我的无能。这件事会是什么样的呢?

Thứ nhất tôi phải ép buộc.

Thứ hai, việc tôi không có khả năng tự làm mà phải cầu cứu ông ta, không thể đại diện cho sự vô năng của tôi.

Chuyện này sẽ là chuyện gì đây?

救阿贵和云彩?

Cứu A Quý và Vân Thải?

不可能,太善良了,我既然是一个冷酷无 tình 不择手段的人,这种善良的品质不能出现在我的身上。而且,盘马本身有一种天生的邪性,我一旦表现出善良,他立即就能压倒我反过来威胁我,我不能表现出人性的弱 điểm。

Không thể nào, quá thiện lương.

Tôi đã là một người lạnh lùng vô tình không từ thủ đoạn, phẩm chất lương thiện này không thể xuất hiện trên người tôi.

Hơn nữa, Bàn Mã bản thân có một loại tính tà trời sinh, một khi tôi thể hiện sự lương thiện, ông ta lập tức có thể đè bẹp tôi, ngược lại uy hiếp tôi.

Tôi không thể thể hiện điểm yếu của nhân tính.

说要让他到那边当面辨认什么东西?

Nói là muốn ông ta đến đó nhận diện trực tiếp cái gì đó?

好像有点牵强,没有他一定成行的说服力。而且这么干我想装也不知道应该以怎样的腔调去装。另外,就算他同意了,看我一个人和他上路,他难免不起疑心,我那种身手在他眼里肯定就越看越孬种,说不定遇到危险还要靠他救我。一来二去,我肯定又没法控制。

Nghe có vẻ hơi gượng ép, không có sức thuyết phục để ông ta nhất định phải đi.

Hơn nữa, làm như vậy tôi muốn giả vờ cũng không biết nên giả vờ bằng giọng điệu nào.

Ngoài ra, ngay cả khi ông ta đồng ý, thấy tôi đi một mình với ông ta, khó tránh khỏi nghi ngờ.

Loại võ nghệ của tôi trong mắt ông ta chắc chắn là càng nhìn càng thấy hèn nhát.

Biết đâu gặp nguy hiểm còn phải nhờ ông ta cứu tôi.

Cứ thế qua lại, tôi chắc chắn lại không thể kiểm soát được.

想到后来头都大了,感觉这事和套话不一样,套话好比商务谈判,你只要在谈判的时候混过去就行了,这件事谈完了我还得和他上路,一路在这么恶劣的条件上都得装。难度太高了。

Nghĩ đến sau này đầu tôi muốn nổ tung, cảm thấy chuyện này không giống như gài bẫy lời nói.

Gài bẫy lời nói giống như đàm phán thương mại, cậu chỉ cần qua mặt được lúc đàm phán là được.

Còn chuyện này, đàm phán xong tôi còn phải lên đường với ông ta, suốt chặng đường trong điều kiện tồi tệ như vậy đều phải giả vờ.

Độ khó quá cao rồi.

我揉着太阳穴,想把坏水全倒出来,他娘的,换个思路,如果靠装不行,能不能来点狠的。

Tôi xoa xoa thái dương, muốn đổ hết ý đồ xấu ra.

Con mẹ nó, đổi cách suy nghĩ xem, nếu giả vờ không được, liệu có thể dùng chiêu ác độc hơn không.

绑架?我一下脑子一跳:把他打晕了然后装驴车上?

Bắt cóc?

Đầu óc tôi nhảy dựng lên: Đánh ngất ông ta rồi chất lên xe lừa?

但是我立即想起了盘马的身手,再看王盟和我,马上放弃了,我靠,绑架,说不定被他当场就砍死了。

Nhưng tôi lập tức nhớ đến võ nghệ của Bàn Mã, rồi nhìn lại Vương Minh và tôi, liền từ bỏ ngay.

Đ má*, bắt cóc, nói không chừng bị ông ta chém chết tại chỗ.

绑架不行,那么直接上大钱,我狠点,直接拿个二三十万出来拿钱砸他。

Bắt cóc không được, vậy thì trực tiếp dùng tiền lớn.

Tôi cứng rắn một chút, trực tiếp lấy hai ba trăm ngàn ra dùng tiền đập ông ta.

想到盘马家很困难,加上他儿子的那种 thái độ, 我一下脑子里有了一个剧本,就说我要那种铁块,这几天就要,一块多少钱,让盘马去捞,捞上来一块我就给一万,这样,也许他们为了钱就可能自己进山。

Nghĩ đến nhà Bàn Mã rất khó khăn, cộng thêm thái độ của con trai ông ta, tôi lập tức có một kịch bảntrong đầu.

Tôi sẽ nói rằng tôi cần loại khối sắt đó, cần ngay trong mấy ngày này.

Một khối bao nhiêu tiền.

Bảo Bàn Mã đi vớt, vớt lên được một khối tôi sẽ trả một vạn.

Như vậy, có lẽ họ vì tiền mà có thể tự mình vào núi.

发现这个有点靠谱,我开始掏身上的东西,二三十万不是什么大数字,不过我随身不可能带那么多,我把身上的现金杂物全理了出来,数了一下,只有四万,卡里还有钱,但要到镇上去取。估计了一下感觉大概够,刚想让王盟出发,忽然又脑子一閃。

Phát hiện cách này có vẻ đáng tin, tôi bắt đầu móc đồ trên người ra.

Hai ba trăm ngàn không phải là số tiền lớn, nhưng tôi không thể mang theo nhiều như vậy bên mình.

Tôi lấy hết tiền mặt và đồ lặt vặt trên người ra, đếm thử thì chỉ có bốn vạn.

Trong thẻ còn tiền, nhưng phải ra thị trấn mới rút được.

Ước tính một chút cảm thấy có lẽ đủ.

Vừa định bảo Vương Minh xuất phát, đột nhiên trong đầu lại lóe lên.

不对,这不是万全之策,虽然我估计盘马很可能会答应,但到底不是百分之百肯定,他万一拒绝了呢?

Không đúng, đây không phải là kế sách vẹn toàn.

Mặc dù tôi đoán Bàn Mã rất có thể sẽ đồng ý, nhưng rốt cuộc không phải là chắc chắn một trăm phần trăm.

Lỡ ông ta từ chối thì sao?

他一拒绝,我就再没有第二次机会了。爷爷和我说过,做事情可以失败,但不可以在没有第二次机会的时候失败。

Ông ta vừa từ chối, tôi sẽ không còn cơ hội thứ hai nữa.

Ông nội đã nói với tôi, làm việc có thể thất bại, nhưng không được thất bại khi không còn cơ hội thứ hai.

"一个办法可以没有百分之五十的成功率,甚至可以只有百分之十的成功率,但是必须留有余地,这样其实就拥有了后续的无数个百分之一百。"

"Một phương pháp có thể không có tỷ lệ thành công năm mươi phần trăm, thậm chí chỉ có tỷ lệ thành công mười phần trăm, nhưng phải có đường lui.

Như vậy, thực ra nó đã sở hữu vô số một trăm phần trăm tiếp theo."

我一下又颓了,挠着头看着我那些信用卡,心说他娘的,还真是难。爷爷只说了做事情要留余地,我也想留,但是怎么留啊。

Tôi lập tức lại chán nản, gãi đầu nhìn những chiếc thẻ tín dụng của mình, thầm nghĩ con mẹ nó, thật sự là khó.

Ông nội chỉ nói làm việc phải có đường lui, tôi cũng muốn có đường lui, nhưng làm sao để có đường lui đây.

我有点焦虑,站了起来,想到外面的大雨里冲冲,把脑子里那些废想法全部甩掉,于是收拾我的那些卡,把杂物都理起来。我一下摸到了一包东西,就是在闷油瓶床下发现的那块铁块。

Tôi có chút lo lắng, đứng dậy, muốn lao ra giữa cơn mưa lớn bên ngoài, quẳng hết những ý nghĩ vô dụng trong đầu đi.

Thế là tôi dọn dẹp những chiếc thẻ của mình, sắp xếp đồ lặt vặt.

Tôi bỗng chạm phải một bọc, đó chính là khối sắt tôi tìm thấy dưới giường Muộn Du Bình.

原本胖子让我先带回城里去,找个地方存起来,我给忘记了。我拿起铁块,解开外面的报纸看了看,忽然灵光一闪,想起了爷爷说过的另外一句话:"与人斗,直攻其短。"

Ban đầu Bàn Tử bảo tôi mang nó về thành phố trước, tìm chỗ cất đi, tôi lại quên mất.

Tôi cầm khối sắt lên, mở lớp báo bên ngoài ra xem, đột nhiên lóe lên một tia sáng trong đầu, nhớ đến một câu khác ông nội từng nói: "Đấu với người, trực tiếp đánh vào chỗ yếu."

和别人斗智,直接攻击对方最薄弱的地方。

Đấu trí với người khác, trực tiếp tấn công vào điểm yếu nhất của đối phương.

盘马最薄弱的地方是什么?我一想,又看到手里的铁块,脑子里有了一个万全的策略。

Chỗ yếu nhất của Bàn Mã là gì?

Tôi vừa nghĩ, vừa nhìn thấy khối sắt trong tay, trong đầu liền có một chiến lược vẹn toàn.

仔细一过,发现天衣无缝。我不由得一身鸡皮疙瘩,自己的这些想法让我觉得有点恐惧,从来就没有这么处心积虑算计过人,经历了这些事情,我发现自己变了, 竟然能自然而平静地考虑这么深的阴谋。但是一想到胖子和闷油瓶的处境,我也没法顾虑太多。

Xem xét kỹ, phát hiện thiên y vô phùng.

Tôi không khỏi sởn gai ốc, những ý nghĩ này của bản thân khiến tôi cảm thấy hơi sợ hãi.

Tôi chưa bao giờ tâm cơ tính toán người khác như vậy.

Trải qua những chuyện này, tôi nhận ra mình đã thay đổi, lại có thể bình tĩnh và tự nhiên mà suy tính một âm mưu sâu sắc đến thế.

Nhưng vừa nghĩ đến hoàn cảnh của Bàn Tử và Muộn Du Bình, tôi cũng không thể lo lắng quá nhiều.

事不宜迟,我立即开始准备,先让王盟给我找了一个香炉,里面填满了热炭,然后把铁块和香炉包在一起烤。

Không nên chậm trễ, tôi lập tức bắt đầu chuẩn bị.

Trước hết bảo Vương Minh tìm cho tôi một cái lư hương, bên trong đổ đầy than nóng, sau đó gói khối sắt và lư hương lại với nhau để hơ.

盘马说过这种铁块会散发味道,但随着时间的推移,味道会越来越淡,我知道肯定是里面的某种东西在挥发,而依据一般的规律,一加热,这种淡淡的挥发会再次加剧。

Bàn Mã đã nói loại khối sắt này sẽ tỏa ra mùi, nhưng theo thời gian, mùi sẽ ngày càng nhạt đi.

Tôi biết chắc chắn có một thứ gì đó bên trong đang bay hơi, và dựa trên quy luật thông thường, khi được làm nóng, sự bay hơi nhè nhẹ này sẽ lại tăng cường.

不出我所料,缓缓地,铁块开始散发出一股奇怪的味道,越来越浓郁。

Không ngoài dự đoán của tôi, từ từ, khối sắt bắt đầu tỏa ra một mùi vị kỳ lạ, ngày càng nồng đậm.

我是第一次闻到这股味道,感觉确实非常怪,无法形容,一定要形容就是一股化学味。混杂着烫铁的杂味。这种味道如果给盘马闻,他确实无法辨认出是什么。

Đây là lần đầu tiên tôi ngửi thấy mùi này, cảm thấy quả thực rất kỳ quái, không thể miêu tả được.

Nếu nhất định phải miêu tả thì đó là một mùi hóa chất.

Hỗn tạp với mùi tạp nham của sắt nóng.

Mùi này nếu cho Bàn Mã ngửi, ông ta quả thực không thể nhận ra là gì.

我把东西用毛巾松松地包好,放进背包里,然后在镜子前练了一下高深莫测的妖异表情,之后打着伞,朝盘马家走去。

Tôi dùng khăn tắm gói lỏng đồ vật lại, cho vào ba lô.

Sau đó, tôi tập luyện trước gương cái biểu cảm yêu dị cao thâm khó lường.

Sau đó, tôi cầm ô đi về phía nhà Bàn Mã.

盘马看到我出现时的表情,很难形容,说不出是惊讶,是恐惧,还是厌恶。

Biểu cảm của Bàn Mã khi nhìn thấy tôi xuất hiện, rất khó để mô tả, không thể nói rõ là kinh ngạc, là sợ hãi, hay là chán ghét.

但等我进到屋子里,坐下来,满屋开始弥漫我身上的异味之后,他的脸上只剩下了惊恐。接着,他立即就崩溃了。

Nhưng đợi đến khi tôi bước vào nhà, ngồi xuống, cả căn phòng bắt đầu lan tỏa mùi lạ trên người tôi, trên mặt ông ta chỉ còn lại sự kinh hoàng.

Ngay sau đó, ông ta lập tức sụp đổ.

我从容地坐下来,看着浑身发抖的盘马,第一句话就是:他们回来了。我来接你。

Tôi ung dung ngồi xuống, nhìn Bàn Mã đang run rẩy khắp người, câu đầu tiên nói ra là: "Bọn họ về rồi.

Tôi đến đón ông."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 26: Gió mặc gió, mưa mặc mưa


我本来准备好了很多的说辞,打算在这场合将他这种恐惧加深,但是完全没有了必要,我只说了没几句话,他就崩溃了,完全丢了魂儿。

Đáng lẽ tôi đã chuẩn bị rất nhiều lời lẽ, dự định nhân cơ hội này làm sâu sắc thêm nỗi sợ hãi của ông ta, nhưng hoàn toàn không cần thiết nữa.

Tôi chỉ nói được vài câu, ông ta đã sụp đổ, hoàn toàn mất hồn.

与人斗,直攻其短。

Đấu với người, trực tiếp đánh vào chỗ yếu.

盘马的短,就是心中的恐惧,什么都不用说,从心理上我完全摧毁了他。

Chỗ yếu của Bàn Mã chính là nỗi sợ hãi trong lòng.

Không cần nói gì cả, về mặt tâm lý, tôi đã hoàn toàn hủy diệt ông ta.

但是,事情并没有我想的那么顺利,因为他实在太恐惧了,几乎破门而逃,事实上,可能他宁可死也不愿再去见到那些人。

Tuy nhiên, mọi việc không hề suôn sẻ như tôi nghĩ, vì ông ta quá sợ hãi, suýt nữa phá cửa bỏ chạy.

Trên thực tế, có lẽ ông ta thà chết chứ không muốn gặp lại những người đó nữa.

我一点一点将他说服,最后给他的概念是,他必须把这个事情了结了,否则他的儿子孙子都会倒霉,才逼得他就范。当时他也是心一横,抱着必死的心跟我进山。至于进山干什么,我什么都没说,他也根本没问.

Tôi từng chút một thuyết phục ông ta, cuối cùng đưa ra khái niệm rằng ông ta phải chấm dứt chuyện này, nếu không con trai, cháu trai ông ta đều sẽ gặp xui xẻo, như thế mới buộc ông ta phải tuân theo.

Lúc đó ông ta cũng cắn răng, ôm tâm lý chắc chắn phải chết mà theo tôi vào núi.

Còn về việc vào núi làm gì, tôi không nói gì cả, ông ta cũng căn bản không hỏi.

当然,名义上是让他跟我进山,但是实际上,是我跟着他,在山里走反正我走在后面前面都没有关系。

Đương nhiên, danh nghĩa là để ông ta theo tôi vào núi, nhưng trên thực tế, là tôi theo ông ta.

Đi trong núi, dù tôi đi trước hay sau cũng không thành vấn đề.

看到他这个样子,让我起了深深的负罪感。本来,为了我自己的利益,把一个老人吓成这样就是不义之举,况且我还得逼他跟我到那么危险的山里,这种行为让我觉得恶 tâm, 我忽然发现我血管里可能真的流着我三叔他们的血液,那种凶狠狡诈的家族本能。

Nhìn thấy dáng vẻ này của ông ta, khiến tôi dấy lên cảm giác tội lỗi sâu sắc.

Vốn dĩ, vì lợi ích của bản thân mà dọa một ông lão đến mức này đã là hành vi bất nghĩa.

Huống hồ tôi còn phải ép ông ta theo tôi vào ngọn núi nguy hiểm như vậy.

Hành vi này khiến tôi cảm thấy ghê tởm.

Tôi đột nhiên nhận ra trong mạch máu mình có lẽ thực sự đang chảy dòng máu của Tam Thúc và những người khác, cái loại bản năng gia tộc hung ác xảo quyệt đó.

长话短说,我们整顿了半天就出发了,出发的时候我在前盘马在后,看上去是我在带路,其实我完全不认得。

Nói dài thành ngắn, chúng tôi chỉnh đốn nửa ngày rồi lên đường.

Lúc xuất phát tôi đi trước Bàn Mã đi sau, trông có vẻ là tôi đang dẫn đường, nhưng thực ra tôi hoàn toàn không biết đường.

这一路几乎毫不停歇,又是瓢泼大雨,山路非常难走,好在在防城港我养足了力气,所以还熬得住。盘马一路上完全不说话,我也基本上不和他交谈,就是闷头猛走。

Suốt chặng đường này gần như không hề dừng lại, lại thêm mưa như trút nước.

Đường núi vô cùng khó đi.

May mà ở Phòng Thành Cảng tôi đã dưỡng đủ sức lực, nên vẫn chịu đựng được.

Bàn Mã suốt đường hoàn toàn không nói gì, tôi cũng cơ bản không nói chuyện với ông ta, cứ thế cúi đầu đi thẳng.

不日便回到了湖边,远远一看,我的娘啊,湖水的水位几乎涨了起码五六米,湖面一下子大了很多,和我临走那水光潋滟相比,现在的羊角山大雨磅礴,山坡上泥水飞溅,面目十分的狰狞。

Chẳng bao lâu chúng tôi đã quay lại bờ hồ.

Nhìn từ xa, Mẹ ơi, mực nước hồ gần như đã dâng lên ít nhất năm sáu mét.

Mặt hồ bỗng lớn hơn rất nhiều.

So với mặt nước lấp lánh ánh nước lúc tôi rời đi, Dương Giác Sơn bây giờ mưa như trút, bùn đất tung tóe trên sườn núi, diện mạo vô cùng dữ tợn.

现在在山上太危险了,我们赶着骡子立即蹚着泥水,由小道直下到石滩湖边。

Bây giờ ở trên núi quá nguy hiểm rồi.

Chúng tôi dắt la, lập tức lội qua bùn nước, theo đường mòn đi thẳng xuống bờ hồ Thạch Than.

在山中雨水打在树叶上的声音已经震耳欲聋,不要说到了湖边,瓢泼大雨打在湖面上发出频率一致的声音,几乎充斥了整个天地,让人根本无法对话。盘马的几只猎狗非常的烦躁不安,也不跟随过来,盘马只好任由它们躲在石滩边缘的树下。

Trong núi, tiếng mưa rơi trên lá cây đã điếc tai.

Đừng nói là đến bờ hồ, mưa như trút nước đập xuống mặt hồ phát ra âm thanh đồng tần số, gần như tràn ngập cả trời đất, khiến người ta căn bản không thể đối thoại.

Vài con chó săn của Bàn Mã vô cùng bồn chồn không yên, cũng không chịu đi theo.

Bàn Mã đành mặc kệ chúng trốn dưới gốc cây bên rìa Thạch Than.

没有了树冠的遮挡,雨帘直挂,能见度极其低,我们硬拉着骡子往以前搭的雨棚走去,很快就在雨帘中看到一个模糊的影子一闪而过,好像是胖子。

Không còn vòm cây che chắn, màn mưa rủ thẳng, tầm nhìn cực kỳ thấp.

Chúng tôi cố sức kéo la đi về phía mái che mưa đã dựng trước đây, rất nhanh đã thấy một bóng người mờ ảo lóe lên trong màn mưa, hình như là Bàn Tử.

我知道叫也没用,就算是面对面,现在这种时候也没法说话,便继续往前。这时不知道为什么,骡子忽然都停住了,我回头一看,原来盘马拉住骡子看向我,显然他认为到目的地了,要等我的指示。

Tôi biết gọi cũng vô ích, ngay cả khi đối diện, lúc này cũng không thể nói chuyện được, bèn tiếp tục tiến lên.

Lúc này không biết tại sao, đàn la đột nhiên đều dừng lại.

Tôi quay đầu nhìn, hóa ra Bàn Mã đã kéo la lại và nhìn tôi, rõ ràng ông ta cho rằng đã đến đích, muốn chờ chỉ thị của tôi.

经过这么多天,我看他也似乎想通了,并没有像之前那么害怕。而且看眼神,他似乎下定了什么决心,整个人阴沉得不行,我都有点害怕。

Trải qua nhiều ngày như vậy, tôi thấy ông ta dường như cũng đã nghĩ thông suốt, không còn sợ hãi như trước nữa.

Hơn nữa, nhìn ánh mắt, ông ta dường như đã hạ quyết tâm gì đó, cả người âm trầm không tả xiết, đến nỗi tôi cũng thấy hơi sợ.

人就是这样,一天两天可以吓到半死,天天吓就皮了。

Con người là thế, một hai ngày có thể sợ đến chết đi sống lại, sợ mãi thì sẽ chai sạn.

到了这里我就不用再装了,其实到了路途最后我也没有装,因为太累了,我反而开始琢磨如何和盘马解释他将看到的情形。如果让他知道我完全在讹他,恐怕他会杀了我,但是继续骗下去又很难,而且也太不人道了。

Đến đây thì tôi không cần giả vờ nữa.

Thật ra đến cuối đoạn đường tôi cũng không giả vờ nữa, vì quá mệt.

Ngược lại, tôi bắt đầu ngẫm nghĩ làm thế nào để giải thích cho Bàn Mã về tình huống ông ta sắp thấy.

Nếu để ông ta biết tôi hoàn toàn lừa gạt ông ta, e rằng ông ta sẽ giết tôi.

Nhưng tiếp tục lừa dối thì lại rất khó, mà cũng quá vô nhân đạo rồi.

我不知道怎么和盘马说,这件事其实只要阿贵他们一出现就立即会穿帮。我想必须先和胖子商量一下,或者我干脆躲起来,等他火发完了再出来,于是让他站住别动,自己放下缰绳先过去找胖子他们商量,顺便通知他们帮忙卸货。

Tôi không biết phải nói với Bàn Mã thế nào, chuyện này thực ra chỉ cần A Quý và họ xuất hiện là sẽ lộ tẩy ngay.

Tôi nghĩ phải thương lượng với Bàn Tử trước, hoặc tôi dứt khoát trốn đi, đợi ông ta xả hết giận rồi mới ra.

Thế là tôi bảo ông ta đứng yên đừng động đậy, tự mình buông dây cương ra rồi đi qua tìm Bàn Tử và họ để bàn bạc, tiện thể thông báo họ giúp dỡ hàng.

没走几步,看向前方的雨帘就发现刚才的人影又闪现了出来,这时候我才发现那影子有点奇怪。还没等我仔细去分辨是谁,突然后脑就一疼,接着我眼前一黑摔倒在地,好歹没晕过去。

Chưa đi được mấy bước, nhìn về màn mưa phía trước thì phát hiện bóng người vừa nãy lại lóe lên.

Lúc này tôi mới nhận ra cái bóng đó hơi kỳ lạ.

Chưa kịp phân biệt kỹ là ai, đột nhiên sau gáy tôi đau nhói, sau đó trước mắt tối sầm ngã xuống đất, may mà không ngất đi.

就地一滚坐起来,我看到盘马老爹脸色铁青地站在我背后,另一手的猎刀已经拔了出来,眼里全是杀意。

Tôi lăn một vòng ngồi dậy, thấy Lão ba Bàn Mã mặt mày xám ngoét đứng sau lưng tôi.

Lưỡi dao săn ở tay kia đã rút ra, trong mắt toàn là sát ý.

"你干什么?"我骂道,一下就看到他把刀举了起来,一下朝我劈来。

"Ông làm cái quái gì đấy?"

Tôi chửi.

Lập tức thấy ông ta giơ dao lên, chém thẳng về phía tôi.

我靠,我大惊失色,立即就地一滚躲了过去又爬起来,只见盘马的刀在雨中画出了一道优美的弧线,直切向我的脖子,我的下一个趔趄正好避过,坐倒在地,才发现他下的是杀手。

Đ má*, tôi hoảng hồn, lập tức lăn tại chỗ né tránh rồi bò dậy.

Chỉ thấy dao của Bàn Mã vẽ một đường cong duyên dáng trong mưa, chém thẳng vào cổ tôi.

Cú loạng choạng tiếp theo của tôi vừa vặn né được.

Tôi ngồi phịch xuống đất, lúc này mới nhận ra ông ta ra tay giết người.

我看着那眼神,想起路上他不变的表情,忽然心说不好,妈的,这家伙在路上是想通了,他娘的他想通的是先下手为强,要和我们拼了,把我们全杀了。

Tôi nhìn vào ánh mắt đó, nhớ lại vẻ mặt không thay đổi của ông ta trên đường.

Đột nhiên trong lòng thầm nhủ không ổn: Đ má*, thằng cha này trên đường đã nghĩ thông suốt rồi.

Con mẹ nó, cái mà ông ta nghĩ thông suốt là ra tay trước để chiếm ưu thế, muốn liều mạng với chúng tôi, giết chết hết chúng tôi.

我操,这事情麻烦了,我立即想逃,逃了几步盘马老爹已经绕到我前面,横刀就劈了过来。我大叫我错了,我骗你的!没事情,他们他娘的没回来。狗日的他根本听不进去。

Đ má*, chuyện này gây rắc rối rồi.

Tôi lập tức muốn chạy trốn.

Chạy được mấy bước, Lão ba Bàn Mã đã vòng ra trước mặt tôi, dao ngang chém tới.

Tôi hét lớn tôi sai rồi, tôi lừa ông đấy!

Không có chuyện gì đâu.

Bọn họ con mẹ nó không về đâu.

Thằng khốn ông ta căn bản không thèm nghe.

我一路奔波早就跑不起来,在雨中和他周旋了没多久就向雨棚跑,没想到没几下脚踩进一道石头缝里倒了下去,盘马立即逼了上来,我胡乱抄起石头朝他扔去,但都被他躲了过去。他反手拿刀正要压上来,忽然身形停了停,好像发现了什么,看向了另外一边。

Tôi bôn ba suốt đường nên sớm đã không thể chạy nổi.

Lượn lờ với ông ta trong mưa không được bao lâu thì chạy về phía mái che mưa.

Không ngờ được, chưa được mấy bước chân đã dẫm vào một khe đá ngã xuống.

Bàn Mã lập tức ép sát.

Tôi vớ bừa đá ném về phía ông ta, nhưng đều bị ông ta né được.

Ông ta cầm dao lật tay chuẩn bị đè xuống, đột nhiên dáng người dừng lại, hình như phát hiện ra điều gì đó, nhìn về phía bên kia.

我乘机爬起来继续跑,一下发现四周的雨帘中出现了很多人影,将我们围在了中间。

Tôi nhân cơ hội bò dậy tiếp tục chạy, bỗng thấy trong màn mưa xung quanh xuất hiện rất nhiều bóng người, bao vây chúng tôi ở giữa.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 6
Chương 27: Bóng ma trong mưa


那几个人影飘飘摇摇,时而出现,时而在雨帘中消失,一看就知道不怀好意,似乎正在仔细观察我们,伺机而动。这种幽灵一样站在雨帘后窥视的影子让人觉得不寒而栗。

Mấy bóng người đó lảo đảo, lúc xuất hiện, lúc biến mất trong màn mưa.

Nhìn qua là biết không có ý tốt, dường như đang quan sát chúng tôi một cách cẩn thận, chờ cơ hội hành động.

Loại bóng ma đứng sau màn mưa rình rập này khiến người ta rùng mình.

怎么回事,这里突然出现了这么多人?

Chuyện gì đang xảy ra vậy, sao đột nhiên lại xuất hiện nhiều người như thế này?

我脑子里第一个念头,就是我之前推测的:村里有人暗中在阻碍我们,现在他们终于动手了。这些人可能要在这里截杀我们。

Ý nghĩ đầu tiên trong đầu tôi chính là điều tôi đã suy đoán trước đây: Có người trong làng đang ngầm cản trở chúng tôi, và bây giờ họ cuối cùng đã ra tay.

Những người này có thể muốn chặn giết chúng tôi ở đây.

这可乱了,他娘的,一边是疯马,一边是截杀的大队伍,狗日的。这次他娘的死定了。

Loạn rồi.

Con mẹ nó, một bên là Bàn Mã phát điên, một bên là đội ngũ chặn giết đông đảo.

Thằng khốn.

Lần này con mẹ nó chắc chắn chết rồi.

我粗略看了一圈,这里大概有七个人,他娘的,不知道他们想干吗,看来这算是在这里设伏了。

Tôi nhìn lướt qua, ở đây khoảng chừng bảy người.

Con mẹ nó, không biết họ muốn làm gì, xem ra đây là đặt phục kích ở đây rồi.

我抹了一把脸,把雨水抹掉,但是雨太大,瞬间还是雨水打满眼睑,那些人影还是模模糊糊看不清楚,不知道他们带着什么武器。

Tôi quẹt một cái lên mặt, lau sạch nước mưa, nhưng mưa quá lớn, nháy mắt nước mưa vẫn đánh đầy mí mắt.

Những bóng người đó vẫn mờ mịt không nhìn rõ, không biết họ mang theo vũ khí gì.

也看不清楚盘马脸上的表情,我和他保持着距离,他顿了顿,忽然就朝着其中一个影子疾冲过去。

Cũng không nhìn rõ biểu cảm trên mặt Bàn Mã.

Tôi và ông ta giữ khoảng cách.

Ông ta khựng lại một chút, rồi đột nhiên lao nhanh về phía một trong những bóng người đó.

我一开始吓了一跳,但是随即明白了了他的想法:我操,他以为这些人影是那些人了。

Lúc đầu tôi giật mình, nhưng ngay sau đó đã hiểu ra suy nghĩ của ông ta: Đ má*, ông ta tưởng những bóng người này là những người kia rồi.

在这种环境下,谁也无法从容地设伏或者截杀别人,所以与其等对方看明白了,不如一下冲过去,这么几个人在这么混乱的环境下,只要一乱就会把我和自己人认错, 他就有可乘之机。

Trong hoàn cảnh này, không ai có thể bình tĩnh đặt phục kích hay chặn giết người khác.

Vì vậy, thay vì đợi đối phương nhìn rõ, chi bằng lao thẳng qua.

Mấy người này trong môi trường hỗn loạn như vậy, chỉ cần hỗn loạn là sẽ nhận nhầm tôi và người của họ, ông ta sẽ có cơ hội hành động.

我不知道这对我算好事还是坏事,我也管不了那么多了,立即就跟着盘马跑去,他们把我团团围住,盘马一和他们起冲突,肯定就会有缺口,我可以借机逃出去。

Tôi không biết đây là chuyện tốt hay chuyện xấu đối với tôi, tôi cũng không quản được nhiều nữa.

Lập tức tôi chạy theo Bàn Mã.

Họ vây chặt tôi.

Bàn Mã vừa xảy ra xung đột với họ, chắc chắn sẽ có kẽ hở, tôi có thể nhân cơ hội trốn thoát.

雨棚也不能回去了,如果这些人早在这里了,那阿贵和闷油瓶他们的情况不知道怎么样,毕竟闷油瓶和胖子身手再好,一人一枪也就挂了,何况还有阿贵他们拖累。

Mái che mưa cũng không thể quay lại được.

Nếu những người này đã ở đây sớm rồi, vậy tình hình của A Quý, Muộn Du Bình và họ không biết thế nào.

Dù võ nghệ của Muộn Du Bình và Bàn Tử có tốt đến mấy, mỗi người một phát súng cũng toi đời, huống hồ còn có A Quý và họ kéo theo.

在又滑又不平的石滩上跑步好似耍杂技,我跑了几米膝盖全磕破了,我远远跟着盘马冲到了其中一个影子跟前,因为距离一变动,四周的影子全都不好辨认了,也搞不清楚它们有什么动作。盘马直朝那个影子冲过去,手中瑶刀切过雨帘那阵势一点也看不出那是个八十岁的老人。

Chạy trên bãi đá vừa trơn trượt vừa gồ ghề giống như diễn xiếc.

Tôi chạy được mấy mét, đầu gối rách toạc.

Tôi đi theo Bàn Mã từ xa, lao đến trước một bóng người đó.

Vì khoảng cách thay đổi, tất cả các bóng người xung quanh đều khó nhận ra, cũng không thể biết rõ họ có hành động gì.

Bàn Mã lao thẳng về phía cái bóng đó, dao Dao trong tay chém xuyên màn mưa, cái thế trận đó không hề cho thấy đó là một ông lão tám mươi tuổi.

奇怪的是,那个影子岿然不动,似乎毫不在意盘马凌厉的冲击。十秒不到我们就冲到了那影子跟前,盘马老爹刀锋一转没有砍上去,却一下停住了,接着他忽然发出一声惨叫,刀掉在地上。他开始往后狂退,接着被石头绊摔在地上。

Điều kỳ lạ là, cái bóng đó sừng sững bất động, dường như hoàn toàn không bận tâm đến cú xung kích mạnh mẽ của Bàn Mã.

Chưa đầy mười giây, chúng tôi đã lao đến trước cái bóng đó.

Lưỡi dao của Lão ba Bàn Mã xoay chuyển, không chém xuống, nhưng lại dừng lại.

Tiếp đó, ông ta đột nhiên phát ra một tiếng kêu thảm thiết, con dao rơi xuống đất.

Ông ta bắt đầu lùi lại điên cuồng, rồi bị hòn đá vấp ngã xuống đất.

我从边上绕过去一看,发现了影子的真面目:那竟然是一具站立着的骷髅。让人毛骨悚然的是,这具骷髅身上还穿着已经腐烂成黑色条丝的军装和武装带,背着生锈的冲锋枪。

Tôi vòng qua bên cạnh nhìn, phát hiện ra bộ mặt thật của cái bóng: Đó lại là một bộ xương khô đang đứng.

Điều khiến người ta sởn tóc gáy là, bộ xương này vẫn còn mặc quân phục và dây đai vũ khí đã mục nát thành những sợi đen, trên lưng vác khẩu súng tiểu liên đã gỉ sét.

我头皮一奓也立即退了一步,心说我靠,他娘的这是什么东西!难道那些死人真的从水里爬上岸来了!

Da đầu tôi dựng đứng, tôi cũng lập tức lùi lại một bước, thầm nghĩ Đ má*, con mẹ nó cái thứ quái quỷ gì đây!

Chẳng lẽ những người chết đó thực sự bò lên bờ từ dưới nước rồi sao!

但是我的心理承受能力要比盘马好上很多,随即一阵雨打下来,我就看到那骷髅的头骨随着风摇摆,像灯笼一样,好像是挂在上面的。

Nhưng khả năng chịu đựng tâm lý của tôi tốt hơn Bàn Mã rất nhiều.

Ngay sau đó một trận mưa đánh xuống, tôi nhìn thấy hộp sọ của bộ xương đó đu đưa theo gió, giống như chiếc đèn lồng, hình như là treo ở phía trên.

定睛一看我发现,这具骸骨是用树枝架起来的,背后有一个树枝架子。

Nhìn kỹ tôi phát hiện, bộ hài cốt này được dựng bằng cành cây, phía sau có một cái giá đỡ bằng cành cây.

我靠,这里怎么会有死人,难道他们找到湖底的尸体了?我吸了口凉气,仔细一看那骨骸,果然不差,那些被水腐蚀的衣服和武装带,这肯定是一个当兵的。看样子我的想法没有错。

Đ má*, sao ở đây lại có người chết?

Chẳng lẽ họ đã tìm thấy thi thể dưới đáy hồ rồi sao?

Tôi hít một hơi khí lạnh, nhìn kỹ bộ hài cốt đó.

Quả nhiên không sai.

Những bộ quần áo và dây đai vũ khí bị nước ăn mòn này, đây chắc chắn là một người lính.

Xem ra suy nghĩ của tôi không sai.

不过,我看着这骨骸立在这里的样子,又觉得诡异异常,暗骂了一声,这算什么?吓唬人?

Tuy nhiên, tôi nhìn bộ hài cốt này đứng ở đây, lại cảm thấy quỷ dị bất thường.

Tôi thầm chửi một tiếng: Cái này là cái quái gì?

Dọa người à?

盘马老爹吓得够戗,我回头看的时候,已经看不到他在什么地方,我心想这是胖子的恶作剧?

Lão ba Bàn Mã sợ đến chết khiếp.

Lúc tôi quay đầu nhìn, đã không thấy ông ta ở đâu nữa.

Tôi nghĩ, đây là trò đùa dai của Bàn Tử sao?

我立即冲回到骡子那里,还是不见盘马老爹,我头疼得要命,走向另外那些影子,发现都是同样的死人,我能找到的一共是七具骨骸,在其他地方还有没有就无法肯定了。那个疯子不见踪影,似乎躲藏了起来。

Tôi lập tức lao lại chỗ đàn la, vẫn không thấy Lão ba Bàn Mã.

Tôi đau đầu muốn chết.

Tôi đi về phía những bóng người khác, phát hiện đều là những người chết tương tự.

Tổng cộng tôi tìm được bảy bộ hài cốt.

Ở những nơi khác còn hay không thì không thể khẳng định được.

Ông lão điên kia biến mất không dấu vết, dường như đã trốn rồi.

这么大的雨,我没法去找盘马,于是准备先去和阿贵会合,告诉他们这里还有其他人。骡子似乎是害怕这些死人,怎么驱赶也不动,我把它们拴到石头上,然后绕过那死人直走到之前的雨棚里。雨棚明显已经经过加固,在这么大的雨中岿然不倒,我冲进去,只听四周顿时一安静,环顾了一下,发现他们不在里头。

Mưa lớn như vậy, tôi không thể đi tìm Bàn Mã.

Thế là tôi chuẩn bị đi hội họp với A Quý trước, nói cho họ biết ở đây còn có những người khác.

Đàn la dường như sợ hãi những người chết này, đuổi thế nào cũng không chịu đi.

Tôi buộc chúng vào đá, sau đó vòng qua người chết đó đi thẳng vào mái che mưa trước đây.

Mái che mưa rõ ràng đã được gia cố, sừng sững không đổ trong cơn mưa lớn như vậy.

Tôi lao vào, chỉ nghe thấy xung quanh đột nhiên yên tĩnh.

Nhìn quanh, phát hiện họ không có ở bên trong.

我再次暗骂,心说下这么大的雨,难道他们还在下水?还是他妈的出了什么事情。只见雨棚内堆着大量的东西,都是从水下打捞上来的,我不在的这两个星期,胖子和闷油瓶成果斐然。

Tôi lại thầm chửi lần nữa, thầm nghĩ mưa lớn như thế này, chẳng lẽ họ vẫn còn lặn xuống nước?

Hay chết tiệt đã xảy ra chuyện gì rồi.

Chỉ thấy bên trong mái che mưa chất đống một lượng lớn đồ vật, đều là vớt lên từ dưới nước.

Hai tuần tôi vắng mặt, Bàn Tử và Muộn Du Bình thành quả rực rỡ.

这些东西凡是金属的都锈得一塌糊涂,我看到水壶、步枪手枪、望远镜、一些匕首、砍刀,都是当时的武装配备,可以想见当时这里的战争气氛。另外还有很多生活用品,甚至有饼干盒,非常细致,什么都有,可能是从一些大件的打捞物里找出来的。

Những thứ này, hễ là kim loại thì đều gỉ sét tả tơi.

Tôi thấy bi đông, súng trường, súng lục, ống nhòm, một số dao găm, mã tấu, đều là trang bị vũ khí thời đó.

Có thể hình dung được bầu không khí chiến tranh lúc bấy giờ ở đây.

Ngoài ra còn có rất nhiều vật dụng sinh hoạt, thậm chí có cả hộp bánh quy.

Rất tỉ mỉ, cái gì cũng có, có thể là được tìm thấy từ một số vật vớt lớn.

我想着自己没有东西防身,捡起一把当时的56式三棱刺刀,这是很有名的刺刀。当时刺刀其实并不多用,毕竟是近八十年代,单兵兵器的火力都很强大,刺刀一般只在执行特种任务的时候才用,丛林战里越南人是不会跟对手拼刺刀的。

Tôi nghĩ mình không có gì phòng thân, nhặt một lưỡi lê ba cạnh kiểu 56 thời đó lên, đây là loại lưỡi lê rất nổi tiếng.

Thời đó lưỡi lê thực ra không được dùng nhiều.

Dù sao cũng là gần thập niên tám mươi, hỏa lực của vũ khí cá nhân đều rất mạnh.

Lưỡi lê thường chỉ được dùng khi thực hiện nhiệm vụ đặc biệt.

Trong chiến tranh rừng rậm, người Việt Nam sẽ không đấu lưỡi lê với đối thủ.

因为本身的材料问题,刺刀并没有腐朽得很厉害,我听说这种刺刀上通常喂过毒,所以也特别小心,反手握着。我心里琢磨该怎么办,妈的,主要是这么大的雨,叫也听不见,看也看不清楚。

Vì vấn đề vật liệu của nó, lưỡi lê không bị mục nát quá nghiêm trọng.

Tôi nghe nói loại lưỡi lê này thường được tẩm độc, nên cũng đặc biệt cẩn thận, cầm ngược tay.

Trong lòng tôi ngẫm nghĩ nên làm gì.

Đ má*, chủ yếu là mưa lớn như vậy, gọi cũng không nghe thấy, nhìn cũng không rõ.

想着自己在雨棚里目标太大,搞不好盘马杀进来,于是重新冲进雨里,跑到湖边,看阿贵他们是不是在。来回绕了几圈,忽然看到有个人在湖滩上拖着木筏子往岸上走。

Nghĩ rằng mình ở trong mái che mưa là mục tiêu quá lớn, không chừng Bàn Mã sẽ sát nhập, thế là tôi lại lao vào mưa, chạy ra bờ hồ, xem A Quý và họ có ở đó không.

Quanh đi quẩn lại mấy vòng, đột nhiên thấy có một người đang kéo bè gỗ trên bãi hồ đi lên bờ.

我冲过去,发现那人是阿贵,单薄的背影一个人拖着筏子往岸上走,我出现在他面前的时候,他看到了我,一下子呆住了,脸色苍白得吓人。"怎么只有你一个人?他们人呢?"我问道。

Tôi lao đến, phát hiện người đó là A Quý.

Bóng lưng gầy gò một mình kéo bè đi lên bờ.

Khi tôi xuất hiện trước mặt anh ta, anh ta nhìn thấy tôi, lập tức đờ đẫn, sắc mặt tái nhợt đến đáng sợ.

"Sao chỉ có cậu một mình?

Bọn họ đâu?"

Tôi hỏi.

阿贵呆呆地立在湖水中,神情有些呆滞,他就这么盯着我,我又问了第二遍,他还是没反应。

A Quý đứng đờ trong nước hồ, thần sắc có chút ngây dại.

Anh ta cứ thế nhìn chằm chằm tôi.

Tôi hỏi lần thứ hai, anh ta vẫn không có phản ứng.

我看着那些木筏,以为阿贵是刚从湖里回来,心说我靠,果然这些人他娘的疯了,这么大的雨还在打捞。这时候我忽然意识到不对,为什么阿贵拖着筏子回来了?他应该在湖面上等着他们,否则在大雨中游泳是非常危险的,更何况水位已经上升了那么多,而且阿贵的表情十分的不对劲。

Tôi nhìn những bè gỗ đó, tưởng A Quý vừa mới trở về từ dưới hồ.

Thầm nghĩ Đ má*, quả nhiên những người này con mẹ nó điên rồi, mưa lớn như vậy mà vẫn còn vớt.

Lúc này tôi đột nhiên nhận ra không ổn.

Tại sao A Quý lại kéo bè về?

Anh ta lẽ ra phải đợi họ trên mặt hồ, nếu không bơi trong mưa lớn là vô cùng nguy hiểm, huống hồ mực nước đã dâng lên nhiều như vậy.

Hơn nữa, biểu cảm của A Quý rất không đúng.

我走近阿贵,想再问清楚,越走近就越意识到不对,阿贵的表情无比呆滞,似乎经历了什么让他极度受刺激的事情,他整个人在离魂状态。我上去就抽了他一个巴掌,大吼道:"出了什么事情?"他一下就反应了过来,这才忽然泪流满面,大哭道:"他们......他们都死了!"

Tôi tiến gần A Quý, muốn hỏi cho rõ hơn.

Càng tiến gần thì càng nhận ra không ổn.

Biểu cảm của A Quý vô cùng ngây dại, dường như đã trải qua chuyện gì đó khiến anh ta bị kích động tột độ.

Cả người anh ta đang trong trạng thái hồn lìa khỏi xác.

Tôi xông lên tát anh ta một cái, hét lớn: "Xảy ra chuyện gì rồi?"

Anh ta lập tức phản ứng lại, lúc này mới đột nhiên nước mắt giàn giụa, khóc lớn: "Bọn họ... bọn họ đều chết hết rồi!"
 
Back
Top Bottom