Cập nhật mới

Khác Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
174634765-256-k999221.jpg

Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Tác giả: XiaoYing0820
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Đạo mộ bút ký - 盗墓笔记

Quyển 2
Nộ hải tiềm sa - 怒海潜沙

Tác giả: Nam Phái Tam Thúc - 南派三叔
Tình trạng sáng tác: Đã hoàn thành.



nohaitiemsa​
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 1: Xà mi đồng ngư


那盒盖缓缓的自动打开,里面只有小拇指大的一个空间,由白娟垫着,白娟的中间,放着一条镏金的青铜鱼。

Nắp hộp từ từ tự động mở ra, bên trong chỉ có một không gian nhỏ bằng ngón tay út, được lót bằng lụa trắng, ở giữa lớp lụa trắng, đặt một con cá bằng thanh đồng mạ vàng.

这条铜鱼的做工很精细,每一片鳞片都打磨的有棱有角,鱼的眉毛上,各盘着一条海蛇,惟妙惟肖,栩栩如生。

Con cá đồng này được gia công rất tinh xảo, mỗi một cái vảy đều được mài giũa có góc có cạnh, trên lông mày của cá, mỗi bên cuộn một con rắn biển, khéo léo tuyệt vời, sống động như thật.

我把这鱼上上下下看了一遍,觉得有点纳闷,古董中镏金器是我的专长,可是这条鱼,我却一点概念也没有,不过这条鱼的工艺水品只属于中上等,在当时应该并不算十分贵重的东西,相比之下,用来装它的紫金盒子,要贵重的多。

Tôi nhìn con cá này từ trên xuống dưới một lượt, cảm thấy hơi thắc mắc, trong giới đồ cổ thì đồ mạ vàng là sở trường của tôi, nhưng con cá này, tôi lại chẳng có chút khái niệm nào.

Có điều trình độ thủ công của con cá này chỉ thuộc loại trung thượng đẳng, vào thời đó chắc không tính là đồ vật vô cùng quý trọng, so ra thì cái hộp tử kim dùng để đựng nó còn quý giá hơn nhiều.

历史上,只有在一些特殊的条件下,才会发生便宜货装在贵盒子里的情况,比如说这条鱼有特殊的象征价值。

Trong lịch sử, chỉ có dưới một số điều kiện đặc biệt mới xảy ra tình huống hàng rẻ tiền đựng trong hộp đắt tiền, ví dụ như con cá này có giá trị tượng trưng đặc biệt nào đó.

可是我又想不出这东西是干什么用的呢?兵符?不可能啊,太小了,一点气派都没有;令牌?也不可能,上面又没有文字,而且太容易伪造。看这个东西的造型和体积,唯一合理的用途就是做乐器和兵器的装饰,可是又上面又没有任何的打孔和绳印。

Nhưng tôi nghĩ mãi không ra thứ này dùng để làm gì?

Binh phù?

Không thể nào, quá nhỏ, một chút khí phách cũng không có; Lệnh bài?

Cũng không thể, bên trên lại không có chữ, hơn nữa quá dễ ngụy tạo.

Xem tạo hình và thể tích của thứ này, công dụng hợp lý duy nhất chính là làm đồ trang trí cho nhạc cụ và binh khí, nhưng bên trên lại không có bất kỳ lỗ thủng và dấu dây nào.

我百思不得其解,想起三叔对这方面的东西也非常痴迷,决定去请教他一下。虽然他未必知道的比我更多,但是凭借他的经验,他说不定推断出一些东西。

Tôi nghĩ trăm lần cũng không ra lời giải, nhớ tới Chú Ba đối với những thứ phương diện này cũng vô cùng si mê, quyết định đi thỉnh giáo chú ấy một chút.

Tuy rằng chú ấy chưa chắc biết nhiều hơn tôi, nhưng dựa vào kinh nghiệm của mình, nói không chừng chú ấy suy đoán ra được thứ gì đó.

打定注意,我带着铜鱼,敲开三叔的房门,三叔看我鬼鬼祟祟,一脸疑惑的把我让了进去。

Quyết định xong xuôi, tôi mang theo cá đồng, gõ cửa phòng Chú Ba.

Chú Ba thấy tôi lén lén lút lút, vẻ mặt đầy nghi hoặc cho tôi vào.

我把那数字的事情和他一说,他也大皱眉头,道:'越来越乱了,看来这帮美国人也不是来单纯倒斗的这么简单.'他拿起那条铜鱼,突然脸色一变,伊了一声:'这不是蛇眉铜鱼吗?'

Tôi đem chuyện về những con số kia nói với chú, chú cũng nhíu mày thật chặt, nói: "Càng lúc càng loạn rồi, xem ra đám người Mỹ này cũng không đơn giản là đến để đổ đấu thôi đâu."

Chú cầm lấy con cá đồng kia, đột nhiên sắc mặt thay đổi, ồ lên một tiếng: "Đây không phải là Xà Mi Đồng Ngư sao?"

我一看有门,忙问这到底是什么东西?到底做什么用处的?

Tôi vừa thấy có hy vọng, vội hỏi đây rốt cuộc là thứ gì?

Rốt cuộc dùng làm gì?

三叔说道:"你来问我真问着了,这玩意全中国知道的人不超过一百个,而这一百个里真正见过,大概只有十几个,可以说是一件绝对的稀世珍品。"

Chú Ba nói: "Mày tới hỏi tao đúng là hỏi đúng người rồi, món đồ chơi này cả Trung Quốc người biết không vượt quá một trăm người, mà trong một trăm người này người thật sự từng thấy, đại khái chỉ có mười mấy người, có thể nói là một món tuyệt đối là trân phẩm hiếm có trên đời."

我听到三叔这么说,简直心花怒放,心说真是吃牛粪里都能吃出个金戒指,想不到那破盒子里的东西这么值钱,忙问他大概能卖多少价格。

Tôi nghe Chú Ba nói như vậy, quả thực mở cờ trong bụng, bụng bảo dạ đúng là bới trong phân trâu cũng có thể tìm ra được cái nhẫn vàng, không ngờ thứ trong cái hộp rách nát kia lại đáng tiền như vậy, vội hỏi chú ấy đại khái có thể bán bao nhiêu tiền.

三叔摇摇头,对我说:"说这鱼是稀世珍品,并不表示这鱼值钱,而是说它的考古价值很高,这条鱼和二十年前一次考古考察中出土的文物很相似,可能有某种联系,如果交给当时的考古队,那几乎可以说是无价之宝,不过你想靠它发财,不如死了这条心。"

Chú Ba lắc đầu, nói với tôi: "Nói con cá này là trân phẩm hiếm có, cũng không có nghĩa là con cá này đáng tiền, mà là nói giá trị khảo cổ của nó rất cao.

Con cá này và văn vật khai quật trong một lần khảo sát khảo cổ hai mươi năm trước rất giống nhau, có thể có mối liên hệ nào đó, nếu giao cho đội khảo cổ lúc đó, thì gần như có thể nói là bảo vật vô giá, có điều mày muốn dựa vào nó phát tài, chi bằng chết cái tâm này đi."

我心说这不是白搭,我们又不考古,有考古价值有什么用啊,我总不能拿着这东西到文物管理处去叫卖。

Tôi thầm nghĩ đây không phải là công cốc sao, chúng ta lại không khảo cổ, có giá trị khảo cổ có tác dụng gì chứ, tôi cũng không thể cầm thứ này đến chỗ quản lý văn vật để rao bán được.

我看三叔脸色有变,觉得这背后说不定还有什么隐情,就追问当年到底出了事情,这东西是鲁王宫里带出来的,难道当年的事情,和鲁王宫有关系?

Tôi thấy sắc mặt Chú Ba thay đổi, cảm thấy đằng sau việc này nói không chừng còn có ẩn tình gì, liền truy hỏi năm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, thứ này là từ trong Lỗ Vương Cung mang ra, chẳng lẽ chuyện năm đó có quan hệ với Lỗ Vương Cung?

他从贴身口袋里拿出一个东西,递给我,我一看,也是一条很精致的铜鱼,大概只有我小拇指这么大小,铜鱼的眉毛也是两条海蛇,做工很上乘,每个鳞片都非常的细腻,应该和盒子里的这一只出自同一个来源,中不足的是,他这条在鳞片的凹槽里,有很多细小的白色石灰状污垢,粘的非常牢,我一看就知道了,说:"这是海货?"

Chú từ trong túi áo sát người lấy ra một vật, đưa cho tôi.

Tôi nhìn qua, cũng là một con cá đồng rất tinh xảo, kích thước đại khái chỉ bằng ngón út tôi, lông mày của cá đồng cũng là hai con rắn biển, gia công thuộc hàng thượng thừa, mỗi một cái vảy đều vô cùng tinh tế, hẳn là cùng một nguồn gốc với con ở trong hộp này.

Điểm thiếu sót là, trong rãnh vảy con cá của chú, có rất nhiều cặn bẩn dạng vôi màu trắng nhỏ li ti, bám rất chắc.

Tôi vừa nhìn là biết ngay, nói: "Đây là Hải Hóa (Hàng dưới biển)?"

三叔点点头,我挺吃惊的,海货就是海里捞上来的古董,一般都是些青花瓷器,在海里淘古董比在陆地上方便,应为很多东西都是露出在海底地表上的,但是因为海里微生物太多,从海里带上的东西,大部分都有白色的灰状污垢,是很难洗掉的。所以价值上就打了折扣。

Chú Ba gật đầu, tôi khá ngạc nhiên.

Hải hóa chính là đồ cổ vớt từ trong biển lên, bình thường đều là mấy loại đồ sứ thanh hoa.

Đãi đồ cổ dưới biển tiện hơn trên đất liền, bởi vì rất nhiều thứ đều lộ ra trên bề mặt đáy biển.

Nhưng vì trong biển có quá nhiều vi sinh vật, đồ mang từ dưới biển lên, phần lớn đều có cặn bẩn dạng vôi màu trắng, rất khó rửa sạch.

Cho nên giá trị bị giảm đi nhiều.

我很迷惑,记忆里三叔不会对这种低价货感兴趣,问三叔道:"你难道去倒过海斗?"

Tôi rất thắc mắc, trong ký ức thì Chú Ba sẽ không hứng thú với loại hàng giá thấp này, hỏi Chú Ba: "Chẳng lẽ chú từng đổ hải đấu (đổ đấu dưới biển)?"

三叔点点头,说:"只有一次,我真是后悔,要是那次我能忍住不去趟那把混水,我现在肯定已经孩子都一大把了。"

Chú Ba gật đầu, nói: "Chỉ có một lần, tao thực sự hối hận, nếu lần đó tao có thể nhịn được không lội vào vũng nước đục đó, tao bây giờ chắc chắn con cái đã đầy đàn rồi."

那三叔的故事,我知道一点,三叔以前有个女人,也是个女中豪杰,听说他们还是在斗里认识的,那女的叫文锦,听说是个挺文静的女的,看不出是个摸金的北派,三叔和她好了有5年,女的寻龙点穴,男的探穴定位,号称是倒斗界里的神雕侠侣,后来突然就听说那女的失踪了。我只道是进斗的时候失了手,女孩子干这个本来就不合适,家里人都挺惋惜的,不过那时候我才几岁,也不懂这么多,只看到三叔一个星期像个木头一样的,老伤心老伤心,后来也就渐渐好了,这小时候的事情,我也记不清楚,现在一听到三叔好象想讲出来的样子,心里虽然很想知道,也不能表现的太八卦,问:"那时候出事情的,难道是个海斗?"

Chuyện của Chú Ba, tôi có biết một chút.

Chú Ba trước kia có một người phụ nữ, cũng là nữ trung hào kiệt, nghe nói bọn họ còn quen nhau ở trong đấu.

Người phụ nữ đó tên là Văn Cẩm, nghe nói là một người phụ nữ khá văn tĩnh, nhìn không ra là Bắc phái Mô Kim.

Chú Ba và cô ấy yêu nhau được 5 năm, nữ tìm tầm long điểm huyệt, nam thám huyệt định vị, được xưng tụng là Thần Điêu Hiệp Lữ trong giới đổ đấu, sau đó đột nhiên nghe nói người phụ nữ đó mất tích.

Tôi chỉ cho là lúc vào đấu bị thất thủ, con gái làm cái nghề này vốn dĩ đã không thích hợp, người trong nhà đều khá tiếc nuối.

Có điều lúc đó tôi mới mấy tuổi, cũng không hiểu nhiều như vậy, chỉ thấy Chú Ba suốt một tuần cứ như khúc gỗ, cực kỳ đau lòng, sau đó cũng dần dần khỏi.

Chuyện hồi nhỏ này, tôi cũng nhớ không rõ, bây giờ vừa nghe Chú Ba dường như muốn kể ra, trong lòng tuy rất muốn biết, cũng không thể biểu hiện quá nhiều chuyện, hỏi: "Lần xảy ra chuyện đó, chẳng lẽ là một cái hải đấu?"

三叔摇摇头不肯说,"这么多年的事情,我也不想再提,总之很负责的告诉你,这条鱼出现在鲁王宫应该只是一个巧合,和鲁殇王没有任何关系。那时候的资料,已经给一场大火烧毁了,这些都是命中注定的。"

Chú Ba lắc đầu không chịu nói: "Chuyện bao nhiêu năm như vậy, tao cũng không muốn nhắc lại, tóm lại tao rất có trách nhiệm nói cho mày biết, con cá này xuất hiện ở Lỗ Vương Cung hẳn chỉ là một sự trùng hợp, không có bất cứ quan hệ gì với Lỗ Thương Vương.

Tư liệu khi đó đã bị một trận hỏa hoạn thiêu hủy rồi, những thứ này đều là mệnh trời đã định."

我听了郁闷,我来问你时事情,你不说也就算了,还弄出这么一堆勾引人的话,我岂不是更想知道?于是使出耍赖的手段,软磨硬泡,一定要他告诉我。

Tôi nghe xong thấy buồn bực, con tới hỏi chú sự tình, chú không nói thì thôi đi, còn lôi ra một đống lời lẽ câu dẫn người ta như vậy, con chẳng phải là càng muốn biết hơn sao?

Vì thế tôi giở thủ đoạn chơi xấu, năn nỉ ỉ ôi, nhất định bắt chú ấy nói cho tôi biết.

三叔被我追问的烦不过,只好对我透露了一点:

Chú Ba bị tôi truy hỏi đến phiền, đành phải tiết lộ với tôi một chút:

三叔叹了口气,说:"那个时候我和她都还年轻,她有几个同学都是考古队的,他们隐约知道我是个手艺人,我也没想过要瞒他们,大家都很要好,后来他们去西沙做沉船考古,我也跟着去了,只是没想到,"他顿了顿,好象不太想想起那个事情"没想到,那水底下沉的东西,竟然会这么大。"

Chú Ba thở dài, nói: "Lúc đó tao và cô ấy đều còn trẻ, cô ấy có mấy người bạn học đều là người trong đội khảo cổ.

Bọn họ lờ mờ biết tao là người có nghề, tao cũng không nghĩ sẽ giấu bọn họ, mọi người chơi với nhau rất tốt.

Sau đó bọn họ đi Tây Sa làm khảo cổ thuyền đắm, tao cũng đi theo.

Chỉ là không ngờ," chú ngừng một chút, dường như không muốn nhớ lại chuyện đó, "Không ngờ, thứ chìm dưới đáy nước đó, lại lớn đến thế."

三叔早些年在考古队做过一段时间的领队,是实地考古的专家,擅长搞定那些不符合墓葬习惯的奇特古墓。

Những năm đầu Chú Ba từng làm đội trưởng trong đội khảo cổ một thời gian, là chuyên gia khảo cổ thực địa, am hiểu giải quyết những ngôi mộ cổ kỳ lạ không phù hợp với tập quán mai táng.

墓葬自人类认识到死亡以来,就一直是人类特有的人文活动,其历史与人类的历史等长,各个时期的墓葬中都蕴藏了大量当时人类生活的信息,包罗衣食住行各个方面,所谓事死如事生,是古人一直传承到现在墓葬规律。

Mai táng kể từ khi nhân loại nhận thức được cái chết, vẫn luôn là hoạt động nhân văn đặc thù của nhân loại, lịch sử của nó dài bằng lịch sử nhân loại.

Trong mộ táng của các thời kỳ đều ẩn chứa lượng lớn thông tin sinh hoạt của nhân loại thời đó, bao gồm các phương diện ăn mặc ở đi lại, cái gọi là sự tử như sự sinh, là quy luật mai táng người xưa vẫn luôn truyền thừa đến hiện tại.

然而一直以来,并不是每一个朝代的人都会千篇一律的使用他们朝代的墓葬习惯,有不少封建统治阶级,他们的坟墓就非常的特别,完全无法用我们日常所用的经验来推断,他们修建坟墓的技术,也是终极的机密,几千年来只有极其少数的皇家御用工匠,才有资格学习。

Tuy nhiên trước giờ, cũng không phải người của mỗi triều đại đều sẽ sử dụng tập quán mai táng của triều đại bọn họ một cách rập khuôn.

Có không ít giai cấp thống trị phong kiến, phần mộ của bọn họ vô cùng đặc biệt, hoàn toàn không thể dùng kinh nghiệm chúng ta thường dùng để suy đoán.

Kỹ thuật bọn họ xây dựng phần mộ cũng là cơ mật tối cao, mấy ngàn năm qua chỉ có số ít thợ thủ công hoàng gia ngự dụng cực kỳ ít ỏi mới có tư cách học tập.

现在我们所知道的,秦始皇陵就是一个实例,这些坟墓都有相当的记载流传人间,但是始终无人破解里面的结构,有人说秦始皇陵,深一千五百米,地宫深藏在郦山里面,其实都猜测,陵墓真正的结构,如果不亲自进去,即使给你一张平面图,你也是看不懂,三叔这一辈子最喜欢的就是进入这些没人了解的古墓,但是历史上能够大兴土木搞特殊化的皇帝并不多,这种坟墓可遇而不可求,就算找到了一些资料,也找不到坟墓所在,一直以来也没有他大显身手的机会。

Hiện tại theo những gì chúng ta biết, Lăng Tần Thủy Hoàng chính là một ví dụ thực tế, những phần mộ này đều có ghi chép tương đối lưu truyền nhân gian, nhưng từ đầu đến cuối không ai phá giải được cấu trúc bên trong.

Có người nói Lăng Tần Thủy Hoàng sâu một ngàn năm trăm mét, địa cung ẩn sâu trong núi Ly Sơn, thật ra đều là phỏng đoán, cấu trúc chân chính của lăng mộ nếu không đích thân đi vào, cho dù đưa cho bajn một tấm bản đồ mặt phẳng, bajn cũng xem không hiểu.

Chú Ba cả đời này thích nhất chính là tiến vào những ngôi mộ cổ không ai hiểu rõ này, nhưng trong lịch sử hoàng đế có thể xây dựng rầm rộ làm chuyện đặc biệt hóa cũng không nhiều, loại phần mộ này có thể gặp mà không thể cầu, cho dù tìm được một ít tư liệu cũng không tìm thấy vị trí của phần mộ, trước giờ cũng không có cơ hội để ông ấy đại hiển thân thủ.

直到一九八四年,考古工作者在西沙群岛,发现了一座罕见的水下古墓,年代和墓主人的身份皆不可考证,这座古墓是盗墓贼炸沉船的时候偶然发现的,四周海底一片狼藉,爆破点有十几处,墓室的封土几乎完全被破坏,外层墓墙有几处蹋陷,但是盗墓者始终没有找到进入这个古墓的办法。

Mãi cho đến năm 1984, nhân viên công tác khảo cổ ở quần đảo Hoàng Sa phát hiện một ngôi mộ cổ dưới nước hiếm thấy, niên đại và thân phận chủ mộ đều không thể khảo chứng.

Ngôi mộ cổ này là do trộm mộ nổ chìm thuyền tình cờ phát hiện ra, bốn phía đáy biển bừa bãi lộn xộn, điểm nổ phá có mười mấy chỗ, lớp đất phong tỏa mộ thất gần như hoàn toàn bị phá hủy, tường mộ bên ngoài có mấy chỗ sụp lún, nhưng kẻ trộm mộ từ đầu đến cuối không tìm được cách tiến vào ngôi mộ cổ này.

从墓区周围找到的巨大石碇来看,这座墓应该是先修建在一艘大船上,然后凿穿船底,将船墓一起沉入海底,这样的葬法史无前例,能够具备这样实力的,墓的主人应该是当年一个非常显赫的人物,但是因为无法进入墓中,具体是谁始终无法考证,当时与越南关系紧张,不能在那里大兴土木,考古队只好从其他地方寻找隐蔽的入口。

Nhìn từ những hòn đá neo thuyền khổng lồ tìm thấy xung quanh khu vực mộ, ngôi mộ này hẳn là xây dựng trước ở trên một con thuyền lớn, sau đó đục thủng đáy thuyền, dìm cả mộ và thuyền xuống đáy biển.

Cách mai táng như vậy chưa từng có trong lịch sử, có thể có đủ thực lực như vậy, chủ nhân ngôi mộ hẳn là một nhân vật vô cùng hiển hách năm đó, nhưng bởi vì không thể tiến vào trong mộ, cụ thể là ai từ đầu đến cuối không thể khảo chứng.

Lúc đó quan hệ với Việt Nam căng thẳng, không thể ở nơi đó xây dựng rầm rộ, đội khảo cổ đành phải tìm kiếm lối vào ẩn nấp từ những nơi khác.

清理工作一直进行,外层的坍塌的墓墙被清理干净,墓墙里面的情景显现出了这个古墓的特殊结构,考古工作者在坍塌的墓墙后面,发现了第二道用膏土封死的防水墙,由此推断出的结论让世界为之一震——这座古墓里面竟然是密封的。

Công tác dọn dẹp vẫn luôn được tiến hành, tường mộ sụp đổ bên ngoài được dọn dẹp sạch sẽ, tình cảnh bên trong tường mộ hiện ra cấu trúc đặc biệt của ngôi mộ cổ này.

Các nhân viên công tác khảo cổ ở phía sau bức tường mộ bị sụp đổ phát hiện bức tường chống nước thứ hai dùng đất cao (đất sét trắng) bịt kín, từ đó suy đoán ra kết luận khiến thế giới chấn động —— ngôi mộ cổ này bên trong lại được bịt kín.

古墓里面竟然有空气,这是事先谁也没有想到的,即使是我爷爷这样的专家,也从未见过隔离在水下的中空古墓,所有工作被迫停了下来,众人小心翼翼的进入外墙与内墙之间的夹缝,发现内墙上有一个一尺见宽的入水口子,刚够一个人匍匐进入,进入十几米深仍未见到尽头,反而发现了墓道的角落里躺着一只四角狮头铜盒,打开之后又有绢布裹着一件东西,赫然便是一条蛇眉铜鱼, 铜鱼遍体镏金,眉毛上是两条盘曲的海蛇,工艺细致,栩栩如生。

Bên trong mộ cổ lại có không khí, đây là chuyện mà trước đó không ai nghĩ tới, cho dù là chuyên gia như ông nội tôi cũng chưa từng thấy mộ cổ rỗng ruột cách ly dưới nước.

Tất cả công việc bị buộc dừng lại, mọi người cẩn thận từng li từng tí tiến vào khe hở giữa tường ngoài và tường trong, phát hiện trên tường trong có một cái miệng đường vào rộng một thước, vừa đủ một người bò vào.

Tiến vào sâu mười mấy mét vẫn chưa thấy điểm cuối, ngược lại phát hiện trong góc đường hầm mộ có nằm một cái hộp đồng đầu sư tử bốn góc, sau khi mở ra lại có vải lụa bọc một thứ, rõ ràng chính là một con Xà Mi Đồng Ngư.

Cá đồng toàn thân mạ vàng, trên lông mày là hai con rắn biển cuộn khúc, công nghệ tinh tế, sống động như thật.

考古队里各地的专家一看,就知道这是稀世珍品,可能是有着相当重要的象征意义,但是这盒子怎么会出现在墓道里?大家百思不得其解,专家分析有两种可能性,一是搬运陪葬品时偶然掉落在那里的,二是有神通广大的盗墓贼已经进入了古墓,出来的时候不小心掉落。按照那条墓道的狭窄程度来看,后者的可能性很大。

Các chuyên gia từ khắp nơi trong đội khảo cổ vừa nhìn liền biết đây là trân phẩm hiếm có, có thể mang ý nghĩa tượng trưng khá quan trọng, nhưng cái hộp này sao lại xuất hiện trong đường hầm mộ?

Mọi người nghĩ trăm lần cũng không ra lời giải.

Chuyên gia phân tích có hai loại khả năng, một là khi vận chuyển đồ tùy táng ngẫu nhiên rơi ở đó, hai là có kẻ trộm mộ thần thông quảng đại đã tiến vào mộ cổ, lúc đi ra không cẩn thận đánh rơi.

Dựa theo mức độ chật hẹp của đường hầm mộ kia để xem, khả năng thứ hai rất lớn.

四角狮头铜盒中,还发现了很多重要的东西,其中有一块用来包裹铜鱼的白色绢布,上面写了一行榜书 "xx内府xx",由此推断出古墓年代为明,另有一张宣纸,折成四方,可以取出的时候操作失误,化成了一团粉末,令人扼腕痛惜。

Trong hộp đồng đầu sư tử bốn góc còn phát hiện rất nhiều thứ quan trọng, trong đó có một miếng lụa trắng dùng để bọc cá đồng, bên trên viết một dòng bảng thư "xx Nội phủ xx", từ đó suy đoán ra niên đại mộ cổ là thời Minh.

Ngoài ra còn có một tờ giấy Tuyên, gấp thành hình vuông, có thể là khi lấy ra thao tác sai lầm, hóa thành một đống bột phấn, khiến người ta bóp cổ tay tiếc nuối khôn nguôi.

三叔当时是第二批召集的全国专家,负责研究进入古墓的方法,但是大环境所致,有很多有建设性的意见不方便提出来,研究长时间陷入僵局。

Chú Ba lúc đó thuộc nhóm chuyên gia toàn quốc được triệu tập đợt hai, phụ trách nghiên cứu phương pháp tiến vào mộ cổ, nhưng do hoàn cảnh chung, có rất nhiều ý kiến mang tính xây dựng không tiện đưa ra, nghiên cứu rơi vào bế tắc trong thời gian dài.

这种"沉船葬海底墓"三叔略有研究,修筑的方法,他也知道十之八九,但是规模如此巨大,并且里面还存有空气的,却是头一糟,根据进入人员的记录,他可以确定那只四角狮头铜盒是盗墓贼遗落,那内墙上的墓道,必然是进入墓穴内部的一个关键。

Loại "mộ táng thuyền chìm đáy biển" này Chú Ba có chút nghiên cứu, phương pháp tu kiến ông ấy cũng biết tám chín phần mười, nhưng quy mô to lớn như vậy, hơn nữa bên trong còn lưu lại không khí thì lại là lần đầu tiên gặp.

Dựa theo ghi chép của nhân viên tiến vào, ông ấy có thể xác định cái hộp đồng đầu sư tử bốn góc kia là do trộm mộ bỏ lại, đường hầm mộ trên bức tường trong kia tất nhiên là một mấu chốt để tiến vào bên trong huyệt mộ.

这种所谓的沉船葬海底墓,要进墓必然要打开墓墙,但是一但打开,海水就会涌入造成无法想象的连锁反应,这个盗墓贼他是怎么解决这个矛盾的,三叔百思不得其解。

Loại mộ táng thuyền chìm đáy biển cái gọi là này, muốn vào mộ tất nhiên phải mở tường mộ ra, nhưng một khi mở ra, nước biển sẽ tràn vào tạo thành phản ứng dây chuyền không thể tưởng tượng nổi, tên trộm mộ kia hắn giải quyết mâu thuẫn này như thế nào, Chú Ba nghĩ mãi không ra.

三叔其实对海斗没什么经验,也算是被爱情充昏了头,竟然爱文锦面前夸下了海口,说自己如何如何了得,于是就跟着那考古队出了海。他们包了当地一艘渔民的船,花了两天的时间,到了西礁的碗礁附近,那地方是古代海上丝绸之路上最凶险的一段之一,沉船很多,三叔下去一看,几乎呆了,只见整个海底几乎到处都是破烂的清花瓷器,那规模真的是叹为观止。

Chú Ba thực ra đối với hải đấu không có kinh nghiệm thực tiễn gì, cũng coi như là bị tình yêu làm mụ mẫm đầu óc, lại dám khoác lác trước mặt Văn Cẩm, nói mình tài giỏi thế này thế nọ, thế là đi theo đội khảo cổ kia ra biển.

Bọn họ thuê một chiếc thuyền của ngư dân địa phương, mất hai ngày thời gian, đến gần Đá Lát thuộc Đá Tây.

Chỗ đó là một trong những đoạn hung hiểm nhất trên con đường tơ lụa trên biển thời cổ đại, thuyền đắm rất nhiều.

Chú Ba lặn xuống nhìn một cái, gần như ngây người, chỉ thấy khắp đáy biển hầu như đâu đâu cũng là đồ sứ thanh hoa vỡ nát, quy mô đó quả thực là đáng kinh ngạc.

文锦告诉他,这些东西是沉船上倒下来的,被海水冲的到处都是,以前渔民一网下去,就能拉上来四五个瓷器,不过他们认为这入了水的就是海龙王的,一般都会扔回去了。

Văn Cẩm bảo với chú, những thứ này là từ trên thuyền đắm đổ xuống, bị nước biển cuốn đi khắp nơi.

Trước kia ngư dân quăng một mẻ lưới xuống là có thể kéo lên bốn năm món đồ sứ, có điều bọn họ cho rằng cái này đã xuống nước thì chính là của Hải Long Vương, bình thường đều sẽ ném trở lại.

可惜的是,这些东西几乎都是烂的,很少能找到完好的,就算是找到了,上面也大多数都寄生了海生物,很难清洗干净,文锦的同学是以考古价值来看这些东西,所以都很兴奋,三叔看出去就是一片荒凉,心疼的要命,心说他妈的沉船的时候我怎么就没生出来,他也没想那时候的青花瓷器还根本不是古董。

Đáng tiếc là, những thứ này gần như đều đã hỏng, rất ít khi tìm được món hoàn hảo, cho dù là tìm được thì bên trên đa số cũng bị sinh vật biển ký sinh, rất khó rửa sạch.

Bạn học của Văn Cẩm là dùng giá trị khảo cổ để nhìn nhận những thứ này, cho nên đều rất hưng phấn.

Chú Ba nhìn ra lại thấy là một mảnh hoang lương, đau lòng muốn chết, trong bụng bảo mẹ nó lúc thuyền chìm sao ông đây lại chưa sinh ra chứ.

Chú cũng chẳng nghĩ đến lúc đó đồ sứ thanh hoa căn bản vẫn chưa phải là đồ cổ.

他们在水里转了有两三天,弄上来一筐一筐的瓷器,三叔好这个,对于瓷器他是了如直掌,随便拿起一只就能讲个半天,一下子他就变成考古队的精神领袖,他姓吴,叫三省,他们那些小年轻就叫他三省哥,三叔就飘飘然了,还真把自己当他们的头了。

Bọn họ lượn lờ dưới nước được hai ba ngày, vớt lên từng giỏ từng giỏ đồ sứ.

Chú Ba thích món này, đối với đồ sứ thì chú nắm rõ như lòng bàn tay, tùy tiện cầm lên một cái là có thể giảng giải cả nửa ngày, nhoáng cái chú đã biến thành lãnh đạo tinh thần của đội khảo cổ.

Chú họ Ngô, tên Tam Tỉnh, đám thanh niên trẻ tuổi kia liền gọi chú là anh Tam Tỉnh.

Chú Ba liền lâng lâng, còn thực sự coi mình là đầu lĩnh của bọn họ.

第四的天的时候,出了个事情,有一个考古队的,坐着皮梃出去,到了黄昏还没回来,其他人急了,就让大船起锚去找,后来在碗礁2公里外的一处礁石山上找到那只搁浅的皮艇,但是上面的人不见了。

Đến ngày thứ tư thì xảy ra chuyện.

Có một người trong đội khảo cổ ngồi xuồng cao su đi ra ngoài, đến hoàng hôn vẫn chưa về.

Những người khác cuống lên, liền cho thuyền lớn nhổ neo đi tìm, sau đó tìm được chiếc xuồng cao su mắc cạn ở trên một bãi đá ngầm cách Đát Lát 2 km, nhưng người ở bên trên đã không thấy đâu.

三叔一想糟糕了,可能人下水去摸东西,出了事情,忙连夜打上装备潜下去,摸了有半宿,终于找到那人的尸体,脚卡在珊瑚礁里了,已经泡的涨了起来,他们把尸体拖上来。虽然死了个人,大家很悲痛,但是三叔已经意识到这水下面可能有什么东西,不然这个人不会连夜来这里打捞。

Chú Ba vừa nghĩ liền thấy hỏng bét, có thể người kia xuống nước mò đồ, xảy ra chuyện rồi, vội vàng ngay trong đêm đeo trang bị lặn xuống.

Mò mẫm nửa đêm, rốt cuộc tìm được thi thể người nọ, chân kẹt ở trong rạn san hô, đã bị ngâm đến trương lên.

Bọn họ kéo thi thể lên.

Tuy rằng chết một người, mọi người rất đau thương, nhưng Chú Ba đã ý thức được dưới nước này có thể có thứ gì đó, nếu không người này sẽ không đến đây trục vớt ngay trong đêm.

三叔猜测,可能是白天在拖寻(用船拖着人搜索)的时候的,这个人看到什么东西,没说出来,晚上想在没人的时候再回去看看,结果出了事情。当然三叔没把他的想法说出来,因为现在人已经死了,说这些也没意义了。

Chú Ba đoán, có thể là ban ngày lúc rà soát (dùng thuyền kéo người tìm kiếm), người này nhìn thấy thứ gì đó nhưng không nói ra, buổi tối muốn nhân lúc không có ai quay lại xem thử, kết quả xảy ra chuyện.

Đương nhiên Chú Ba không nói suy nghĩ của mình ra, bởi vì bây giờ người đã chết rồi, nói những thứ này cũng chẳng có ý nghĩa gì.

第二天,三叔把这个事情和那些人提了一提,当然他是这么说的:某某同志为了考古事业,加班加点的工作,不幸出了意外,不过从他手里的劳动成果来看,这位同志显然已经在海底发现了什么,所以我们不能辜负他云云。调动一番,众人情绪有点恢复,于是回到了出事的海域,下水进行了地毯式的搜索,那个时候就有了眉目。

Ngày hôm sau, Chú Ba đem chuyện này nhắc với những người kia một chút, đương nhiên chú nói thế này: Đồng chí mỗ mỗ vì sự nghiệp khảo cổ, tăng ca làm việc, không may xảy ra tai nạn, nhưng nhìn từ thành quả lao động trong tay cậu ấy, vị đồng chí này hiển nhiên đã phát hiện ra cái gì đó dưới đáy biển, cho nên chúng ta không thể phụ lòng cậu ấy vân vân.

Cổ vũ một hồi, tâm trạng mọi người khôi phục chút ít, thế là quay trở lại vùng biển xảy ra chuyện, xuống nước tiến hành tìm kiếm theo kiểu thảm, lúc đó liền có manh mối.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 2: Hai tầng tường mộ


当天晚上三叔琢磨了一宿,他从来没倒过海斗,又在别人面前下了海口,明天不表现还不行,他想了想,这海里也不能下铲,一来力气使不上,钉不下去,而来,就算挖出来了,海泥和陆地上的完全不同,他那点破经验完全没作用。他回忆了我爷爷笔记本里的记录,我爷爷的确是倒过几次海斗,但是也没有什么特别的方法,主要还是看地形。

Tối hôm đó Chú Ba trằn trọc cả đêm.

Chú chưa từng đổ cái đấu nào dưới biển, lại lỡ khoác lác trước mặt người ta rồi, ngày mai không thể hiện thì không được.

Chú ngẫm nghĩ, ở dưới biển này cũng không thể hạ xẻng, một là không dùng sức được, không đóng xuống được, hai là, cho dù có đào lên được thì bùn biển và đất trên lục địa cũng hoàn toàn khác nhau, chút kinh nghiệm vặt vãnh kia của chú hoàn toàn không có tác dụng.

Chú nhớ lại những ghi chép trong cuốn sổ tay của ông nội tôi, ông nội tôi quả thực từng đổ vài cái hải đấu, nhưng cũng không có phương pháp gì đặc biệt, chủ yếu vẫn là xem địa hình.

最后,他把所有的难题都集中到怎么打盗洞上去了,这个水底都是沙子,定不住形,很容易就塌,那可不是闹着玩的,在水里被压住基本就是死路一条,最后他们讨论来讨论去,决定用土办法,那渔船上有炸鱼的炸弹,先用炸弹在一边炸出一个土坑,把上面容易坍塌的沙子炸掉,然后在下面比较结实的海泥里挖一个斜向下的洞,这个工程浩大,但是这些人全部都斗志满满。三叔估计了一下,大概要一个星期时间,可是那尸体还在船上,再不送回去就要发臭了。

Cuối cùng, chú tập trung tất cả các vấn đề khó khăn vào việc làm sao đào đạo động.

Dưới đáy nước này toàn là cát, không định hình được, rất dễ sụp, đó không phải chuyện đùa, bị đè ở trong nước thì cơ bản là chết chắc.

Cuối cùng bọn họ bàn đi bàn lại, quyết định dùng biện pháp thủ công, trên tàu cá kia có thuốc nổ để đánh cá, trước tiên dùng thuốc nổ nổ ra một hố đất ở một bên, thổi bay lớp cát dễ sụp bên trên đi, sau đó đào một cái lỗ nghiêng xuống dưới ở lớp bùn biển khá chắc chắn phía dưới.

Công trình này rất lớn, nhưng những người này đều tràn đầy ý chí chiến đấu.

Chú Ba ước tính một chút, đại khái cần một tuần, nhưng thi thể kia vẫn còn trên thuyền, không đưa về nữa thì sẽ thối mất.

他们想了一个折中的方法,让大船先把尸体送回去,他们在小船作业上,因为那几天天气非常好,所以大家都一点也不担心,他们把三只皮划艇绑在一起,然后把所有的需要用的装备都搬到一块礁石上。

Bọn họ nghĩ ra một cách trung hòa, để tàu lớn đưa thi thể về trước, bọn họ làm việc trên thuyền nhỏ, vì mấy ngày đó thời tiết rất tốt, cho nên mọi người cũng chẳng lo lắng chút nào.

Bọn họ buộc ba chiếc xuồng cao su lại với nhau, sau đó chuyển tất cả trang bị cần dùng lên một tảng đá ngầm.

第二天大船就开走了,三叔觉得有点不安,大船一走,在海上就一点保障都没有了,但是他们当时被那大墓冲昏了头,只想了一下就又投入到工作中去,那盗洞打的很顺利,比三叔估计的快多了。可是4天后,等到他们打到墓壁了,那船还没有回来,这些人开始担心起来。三叔知道现在只有继续工作才能维持一个良好的次序,不然可能会出现恐慌。就一直安慰他们,并不时说一些鼓舞的话来转移他们的注意力。

Ngày hôm sau tàu lớn rời đi, Chú Ba cảm thấy hơi bất an, tàu lớn đi rồi, ở trên biển chẳng còn chút bảo đảm nào cả, nhưng lúc đó bọn họ bị ngôi mộ lớn kia làm cho mụ mẫm đầu óc, chỉ nghĩ ngợi một chút rồi lại lao vào công việc.

Việc đào đạo động rất thuận lợi, nhanh hơn Chú Ba dự tính nhiều.

Nhưng 4 ngày sau, đợi đến khi bọn họ đào đến tường mộ rồi, chiếc tàu kia vẫn chưa quay lại, những người này bắt đầu lo lắng.

Chú Ba biết bây giờ chỉ có tiếp tục làm việc mới có thể duy trì trật tự tốt, nếu không có thể sẽ xuất hiện sự hoảng loạn, liền liên tục an ủi bọn họ, đồng thời thỉnh thoảng nói vài lời cổ vũ để di dời sự chú ý của bọn họ.

他们在洞里清理出一快墓墙,三叔敲了敲,这些砖头是空心的,大概是为了减少整个墓穴的重量,不然就算船再大,船底也支撑不住,他看到每隔5米,就有一个钢笔直径的小孔打在墙上,看样子这个墓设计的时候,就是以水来封墓的,里面应该充满了水.他们防下心来.开始拆砖头.

Bọn họ dọn ra một mảng tường mộ ở trong động, Chú Ba gõ gõ, những viên gạch này là rỗng ruột, có lẽ là để giảm trọng lượng của cả ngôi mộ, nếu không cho dù thuyền có lớn đến đâu, đáy thuyền cũng không chống đỡ nổi.

Chú nhìn thấy cứ cách 5 mét, lại có một cái lỗ nhỏ đường kính bằng cây bút máy khoan trên tường, xem ra lúc thiết kế ngôi mộ này, chính là dùng nước để phong bế mộ, bên trong hẳn là chứa đầy nước.

Bọn họ buông lỏng cảnh giác, bắt đầu tháo gạch.

在进墓前其实三叔已经想过,在这水里,什么机关暗器都没用,因为海水阻力太大,如果有暗弩,就算没烂,那发出来的箭也是慢动作,陷坑也不可能,不要说根本掉不下去,就算掉下去了也能游上来,其他各种落石机关,要用水银击发的,在水里就完全不灵光,水银在水里流的很慢而且很容易扩散.其实这水就是一个致命的机关,古时候没有氧气设备,完全没可能去倒海斗,所以这个斗里有机关的可能性非常小.

Trước khi vào mộ thực ra Chú Ba đã nghĩ rồi, ở trong nước này, cơ quan ám khí gì cũng vô dụng, bởi vì lực cản của nước biển quá lớn, nếu có nỏ ngầm, cho dù chưa hỏng, thì tên bắn ra cũng là quay chậm, hố bẫy cũng không thể nào, đừng nói là căn bản không rơi xuống được, cho dù có rơi xuống thì cũng có thể bơi lên, các loại cơ quan đá rơi khác, cần dùng thủy ngân để kích hoạt, ở trong nước thì hoàn toàn không linh nghiệm, thủy ngân ở trong nước chảy rất chậm hơn nữa rất dễ khuếch tán.

Thật ra chỗ nước này chính là một cơ quan chí mạng, thời xưa không có thiết bị oxy, hoàn toàn không có khả năng đi đổ hải đấu, cho nên khả năng trong đấu này có cơ quan là rất nhỏ.

他们卸下墓墙,只有一层,里面就是空洞洞的一片黑,三叔知道现在这些人都靠不住,让他们不要动,自己探头进去,发现里面一片漆黑,他是按照陆上墓的特点,向着主墓室挖下去的,可是好象料错了,里面只是一个非常狭小的墓道,三叔一看就知道了,忙退出来让他们撤了回去,他们上了一个礁石,开了一个小会,三叔说:"这个墓是两层的,外层墙和内层之间灌满了海水,这样的设计,里面肯定有一个空间是无水的,利用气压的原理将一部分空气留在了墓室里.现在不知道那个墓道有多长,明天我们下去3个人,每人带4个氧气筒,看看能不能撑到那里."

Bọn họ tháo tường mộ xuống, chỉ có một lớp, bên trong là một màu đen ngòm trống hoác, Chú Ba biết bây giờ đám người này đều không đáng tin, bảo bọn họ đừng động đậy, tự mình thò đầu vào, phát hiện bên trong tối đen như mực.

Chú là dựa theo đặc điểm của mộ trên cạn mà đào về phía chủ mộ thất, nhưng hình như đoán sai rồi, bên trong chỉ là một đường hầm mộ vô cùng nhỏ hẹp.

Chú Ba vừa nhìn liền hiểu, vội vàng lui ra bảo bọn họ rút về.

Bọn họ leo lên tảng đá ngầm, mở một cuộc họp nhỏ, Chú Ba nói: "Ngôi mộ này có hai tầng, giữa tường ngoài và tầng trong được bơm đầy nước biển, thiết kế như vậy, bên trong chắc chắn có một không gian không có nước, lợi dụng nguyên lý áp suất khí quyển để giữ lại một phần không khí trong mộ thất.

Bây giờ không biết đường hầm mộ kia dài bao nhiêu, ngày mai chúng ta xuống 3 người, mỗi người mang 4 bình oxy, xem thử có thể cầm cự đến chỗ đó không."

他们在那里讨论来讨论去,三叔肯定是要下去,其他两个名额需要筛选,因为如果里面没水,那情况就比较复杂了,可能会有危险,这个时候,文锦突然惊叫起来,他们吓了一跳,原来不知道什么时候,他们坐的礁石竟然升高了,三叔往下看,本来离海面只有半米都不到,现在竟然有五米多.

Bọn họ ở đó bàn tới bàn lui, Chú Ba chắc chắn là phải xuống, hai suất còn lại cần phải tuyển chọn, bởi vì nếu bên trong không có nước, tình hình sẽ khá phức tạp, có thể sẽ có nguy hiểm.

Lúc này, Văn Cẩm đột nhiên hét lên, làm bọn họ giật nảy mình.

Hóa ra không biết từ lúc nào, tảng đá ngầm bọn họ đang ngồi thế mà lại dâng cao lên, Chú Ba nhìn xuống, vốn dĩ cách mặt biển chưa đến nửa mét, bây giờ thế mà đã hơn năm mét.

他意识到有点不妙,抬头一看天,只见远远的海平线上,一条黑线正在逼近。他们中有一个叫李四地的男学生,父母是渔民,他一看到这个情景,吓得嘴唇发白,说:"大风暴要来了!"

Chú nhận thấy có điều chẳng lành, ngẩng đầu nhìn trời, chỉ thấy ở đường chân trời xa xa, một đường đen đang ép tới gần.

Trong bọn họ có một nam sinh viên tên là Lý Tứ Địa, bố mẹ là ngư dân, cậu ta vừa nhìn thấy cảnh này, sợ đến mức môi trắng bệch, nói: "Bão lớn sắp tới rồi!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 3: Bão lớn


这个李四地水性很好,他们水里的工作都是他负责的,他说"1个小时之内这里肯定有一场巨大的风暴,这海水退下去这么多,就是一个证据,等一下这些被低气压吸过去的海水一齐冲过来,就是一场小形的海啸,我们这里只有三是小皮艇,恐怕不是很乐观。"

Cậu Lý Tứ Địa này khả năng bơi lội rất tốt, công việc dưới nước của bọn họ đều do cậu ta phụ trách.

Cậu ta nói: "Trong vòng 1 tiếng nữa ở đây chắc chắn có một trận bão lớn, nước biển rút xuống nhiều thế này chính là một bằng chứng.

Lát nữa chỗ nước biển bị áp suất thấp hút đi kia cùng lúc ập lại, chính là một trận sóng thần nhỏ.

Chúng ta ở đây chỉ có ba chiếc xuồng cao su nhỏ, e là tình hình không khả quan lắm đâu."

他说的已经十分委婉,但是三叔看他的表情,分明是觉得他们已经死定了,这些人没见过大世面,一个个都吓的面色发白,有几个女生都哭了起来。

Cậu ta nói đã vô cùng uyển chuyển, nhưng Chú Ba nhìn biểu cảm của cậu ta, rõ ràng là cảm thấy bọn họ chết chắc rồi.

Đám người này chưa từng va chạm nhiều với sự đời, ai nấy đều sợ đến mặt cắt không còn giọt máu, có mấy cô gái đều đã khóc òa lên.

三叔拉着文锦的手,发现她手心里都是汗,知道她也很害怕,那个时候三叔也没有处理过这种事情,但是他到底个职业倒斗的,心里素质非常之好,当时他就提醒自己,不要乱,如果一乱那就真的没戏了!

Chú Ba nắm lấy tay Văn Cẩm, phát hiện trong lòng bàn tay cô ấy đều là mồ hôi, biết cô ấy cũng rất sợ hãi.

Lúc đó Chú Ba cũng chưa từng xử lý loại chuyện này, nhưng chú dù sao cũng là dân đổ đấu chuyên nghiệp, tố chất tâm lý vô cùng tốt, lúc đó chú liền tự nhắc nhở bản thân, không được loạn, nếu mà loạn thì thật sự hết đường cứu!

他清点了一下人数,他们来的时候一共是10个人,现在有一个人死了,另一个人因为需要去向上头汇报事故和海下的发现,跟着大船回去了。现在加起来,只有8个人,三叔问李四地:"这风暴要持续多少时间?"

Chú kiểm lại quân số một chút, lúc bọn họ đến tổng cộng là 10 người, bây giờ có một người đã chết, một người khác vì cần phải đi báo cáo với cấp trên về tai nạn và phát hiện dưới đáy biển, đã đi theo tàu lớn về rồi.

Bây giờ cộng lại, chỉ có 8 người.

Chú Ba hỏi Lý Tứ Địa: "Trận bão này sẽ kéo dài bao lâu?"

李四地说:"这种夏季风暴时间很短,大概几十分钟之后就过去了,可是那个时候海水最起码要升上去五六米,到时候这些礁石全部都得淹掉。"他摇了摇头,"这几十分钟可不是闹着玩的,被这浪一冲,要不就是撞到礁石上撞死,要不就是被卷到深海去,不是我吓唬你,这下子真的麻烦大了。"

Lý Tứ Địa nói: "Loại bão mùa hè này thời gian rất ngắn, khoảng mấy chục phút sau là qua thôi, nhưng lúc đó nước biển ít nhất phải dâng lên năm sáu mét, đến lúc đó những tảng đá ngầm này toàn bộ đều sẽ bị nhấn chìm."

Cậu ta lắc đầu, "Mấy chục phút này không phải chuyện đùa đâu, bị sóng này cuốn một cái, không phải đập vào đá ngầm mà chết, thì cũng là bị cuốn ra biển sâu.

Không phải tôi dọa anh, cú này thật sự phiền phức lớn rồi."

三叔脑子转的很快,脑子里好几个方案已经瞬间提出然后否决掉了,坐皮艇划回去,找死,划的再快也跑不过风暴,用呼吸器躲到水里,这碗礁附近的海底有个最深也只有七米多,根本不管事情。

Đầu óc Chú Ba xoay chuyển rất nhanh, trong đầu đã thoáng hiện lên mấy phương án rồi lập tức bị bác bỏ: ngồi xuồng cao su chèo về là tìm chết, chèo có nhanh hơn nữa cũng không chạy thoát khỏi cơn bão; dùng bình thở trốn xuống nước, đáy biển quanh Đá Lát này chỗ sâu nhất cũng chỉ hơn bảy mét, căn bản chẳng ăn thua.

三叔看到那几乎已经可以用肉眼看到的海底,犹如黑夜里一道闪电,突然间一个十分冒险的计划在他脑子里浮现出来。那个时候更本不容许他再去讨论可行性,他对那些人说:"我们也不要想这么多了,大家集中一下氧气瓶,看看还够多少空气,我们下古墓里去避一避!"

Chú Ba nhìn thấy đáy biển gần như đã có thể nhìn thấy bằng mắt thường kia, giống như một tia chớp giữa đêm đen, đột nhiên một kế hoạch vô cùng mạo hiểm hiện ra trong đầu chú.

Lúc đó căn bản không cho phép chú đi thảo luận tính khả thi nữa, chú nói với những người kia: "Chúng ta cũng đừng nghĩ nhiều như thế nữa, mọi người tập trung bình oxy lại một chút, xem còn đủ bao nhiêu không khí, chúng ta xuống trong ngôi mộ cổ kia lánh một lát!"

三叔下古墓是轻车熟路,所以没觉得有什么关系,但是其他人都是书呆子,这个提议太大胆了,这句话一出,众人哗然。三叔一看意见不统一,忙给他们分析里厉害关系。

Chú Ba xuống mộ cổ là chuyện như cơm bữa, cho nên không cảm thấy có vấn đề gì, nhưng những người khác đều là mọt sách, đề nghị này quá táo bạo, câu này vừa thốt ra, mọi người liền ồ lên.

Chú Ba vừa thấy ý kiến không thống nhất, vội vàng phân tích quan hệ lợi hại cho bọn họ.

他指了指海平线,说:"大家看这风暴,现在我们还没有感觉,但是大家都看过关于海啸的记录电影吧,这东西不是闹着玩的,如果在这里等风暴过来,十死无生,肯定是连尸体都找不到,而这海下面,有一个现成的避难场所,我们已经知道,这个古墓里肯定有空气,这海斗里的空气其实是活的,因为他连着活水,所以里面的空气质量应该还过的去,我们人不多,在里面呆个1个小时再出来,是唯一的生存机会了!"

Chú chỉ về phía đường chân trời, nói: "Mọi người nhìn cơn bão này xem, bây giờ chúng ta vẫn chưa có cảm giác, nhưng mọi người đều đã xem phim tài liệu về sóng thần rồi chứ, thứ này không phải chuyện đùa đâu.

Nếu ở lại đây đợi bão tới, mười phần chết chắc, chắc chắn là ngay cả thi thể cũng không tìm thấy.

Mà dưới biển này, có một nơi lánh nạn có sẵn, chúng ta đã biết, trong ngôi mộ cổ này chắc chắn có không khí, không khí trong cái hải đấu này thực ra là không khí sống, bởi vì nó nối với nước lưu thông, cho nên chất lượng không khí bên trong chắc vẫn còn dùng được.

Chúng ta người không đông, ở trong đó một tiếng đồng hồ rồi ra, là cơ hội sống sót duy nhất rồi!"

三叔有这么一点鼓动人的天赋,不然他以后生意也做不到那么大,众人看他说的头头是道,不由心里也出现了一线希望,他们集中起所有的潜水设备,将三只皮艇都放气叠好。一切准备就绪,三叔先和他们规定了一些在水下活动的手语。然后带他们潜入水下,他自己打起一个防水的探灯,第一个爬进墓道里。

Chú Ba có chút thiên phú cổ động người khác như vậy, nếu không sau này việc làm ăn của chú cũng không làm được lớn đến thế.

Mọi người thấy chú nói đâu ra đấy, trong lòng không khỏi nhen nhóm một tia hy vọng, bọn họ tập trung tất cả thiết bị lặn lại, xả hơi ba chiếc xuồng cao su rồi gấp gọn.

Mọi thứ chuẩn bị xong xuôi, Chú Ba quy định trước với bọn họ một số thủ ngữ hoạt động dưới nước, sau đó dẫn bọn họ lặn xuống.

Bản thân chú bật một cái đèn thám hiểm chống nước, là người đầu tiên bò vào trong đường hầm mộ.

那个时候的潜水设备,头上是一个大头盔,看上去十分笨重,但是这个东西非常的结实,如果前头有什么大型的海生物,有这个头盔,一下子也吞不掉他。三叔尽量使自己放松,一边游一边看,这个墓道竟然是越来越窄,按照这个趋势,最后能不能容他们通过也是个问题,好在他全套工具都在身上,实在不行,还能破出一条路来。

Thiết bị lặn thời đó, trên đầu là một cái mũ bảo hiểm lớn, nhìn qua vô cùng cồng kềnh, nhưng thứ này vô cùng chắc chắn, nếu phía trước có sinh vật biển cỡ lớn gì đó, có cái mũ này, một cú cũng không nuốt trôi được chú.

Chú Ba cố gắng thả lỏng bản thân, vừa bơi vừa nhìn, đường hầm mộ này thế mà càng lúc càng hẹp, theo đà này, cuối cùng có thể để bọn họ chui lọt hay không cũng là một vấn đề, may mà chú mang đủ bộ đồ nghề trên người, thật sự không được, còn có thể phá ra một con đường.

墓道的壁上有很多的人脸的浮雕,现在上面都是厚厚的一层附着物,无法认清是哪个朝代的,这些人没见过大世面,都忘了现在的处境,围上去研究这些脸,三叔头痛不以,不得不经常停下去催促他们。

Trên vách đường hầm mộ có rất nhiều phù điêu mặt người, bây giờ bên trên đều là một lớp sinh vật bám dày đặc, không cách nào nhận rõ là triều đại nào.

Những người này chưa từng va chạm nhiều, đều đã quên mất hoàn cảnh hiện tại, vây lại nghiên cứu những khuôn mặt này, Chú Ba đau đầu không thôi, không thể không thường xuyên dừng lại hối thúc bọn họ.

他们往前游了十五分钟,转了好几弯,已经摸不清楚方向了。三叔觉得这些人太乱,应该整顿一下,于是做了个手势让后来的人停下来,他让文锦去数数人数,看看有没有人掉队,在这狭窄的墓道里游泳都耗费体力,那些人都累的不行了,一看这手势如获大赦,都东倒西歪的坐下来。

Bọn họ bơi về phía trước mười lăm phút, rẽ vài khúc cua, đã không còn rõ phương hướng nữa.

Chú Ba cảm thấy đám người này quá lộn xộn, cần phải ch chỉnh đốn lại một chút, thế là ra hiệu tay bảo những người đi sau dừng lại, chú bảo Văn Cẩm đi đếm quân số, xem xem có ai bị tụt lại không.

Bơi trong đường hầm mộ chật hẹp này rất tốn thể lực, những người kia đều đã mệt rã rời, vừa nhìn thấy hiệu lệnh này thì như được đại xá, đều ngồi bệt xuống ngả nghiêng ngả ngửa.

三叔无可奈何的看着他们,心说这个老大还真不好当,他用探灯照着,想先到前面去看看,这个时候,文锦拍了拍他的脚,三叔转过头,看见她表情非常的惊慌,心里一紧,心说难道真的有人掉队了?

Chú Ba bất lực nhìn bọn họ, bụng bảo làm đại ca quả thật không dễ chút nào.

Chú dùng đèn thám hiểm soi, muốn lên phía trước xem thử trước.

Đúng lúc này, Văn Cẩm vỗ vỗ vào chân chú, Chú Ba quay đầu lại, nhìn thấy vẻ mặt cô ấy vô cùng hoảng hốt, trong lòng thắt lại, thầm nghĩ chẳng lẽ thật sự có người bị tụt lại rồi?

文锦手忙脚乱的不知道怎么表达自己的意思,她伸出一个手指,不停在三叔面前晃,三叔不知道她是什么意思,问她:是不是少了一个?文锦看着三叔的嘴形,摇摇头,一只手掌全部展开,另一手伸出四个手指,把两只手放到一起,三叔非常纳闷,他仔细看着文锦的嘴形,突然发现她其实想说的是:"多了一个人!"

Văn Cẩm luống cuống tay chân không biết phải diễn đạt ý mình thế nào, cô ấy giơ một ngón tay ra, không ngừng khua khua trước mặt Chú Ba.

Chú Ba không hiểu cô ấy có ý gì, liền hỏi: "Có phải thiếu một người không?"

Văn Cẩm nhìn khẩu hình của Chú Ba, lắc đầu, một bàn tay xòe ra hết, tay kia giơ bốn ngón, rồi đặt hai tay lại với nhau.

Chú Ba vô cùng thắc mắc, ông nhìn kỹ khẩu hình của Văn Cẩm, bỗng nhiên nhận ra thực ra cô ấy muốn nói là: "Thừa ra một người!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 4: Quỷ biển


三叔吃了一惊,如果后面少了一个或者两个人,他都可以理解,甚至所有的人都消失了,他也可以理解。但是多出一个人,太匪夷所思了,他以为文锦数错了,回头自己也数一遍,自己是第一个,文锦第二,然后依次下去,三,四,五,六,七,第八是李四地,第......

Chú Ba giật mình, nếu đằng sau thiếu một hoặc hai người, chú có thể hiểu, thậm chí tất cả mọi người đều biến mất, chú cũng có thể hiểu được.

Nhưng dư ra một người thì quá mức khó tin.

Chú tưởng Văn Cẩm đếm nhầm, quay đầu tự mình đếm lại một lượt, mình là người thứ nhất, Văn Cẩm thứ hai, sau đó lần lượt đếm xuống, ba, bốn, năm, sáu, bảy, người thứ tám là Lý Tứ Địa, thứ...

他突然倒吸了一口凉气,因为他已经看到了那多出来的第九个人,那人躲在长长的队伍后面,模模糊糊的,连个人形都看不清楚,肯定有问题。

Chú đột nhiên hít một hơi khí lạnh, vì chú đã nhìn thấy người thứ chín dư ra kia.

Người đó nấp sau đội ngũ dài, mờ mờ ảo ảo, ngay cả hình người cũng nhìn không rõ, chắc chắn có vấn đề.

三叔不由开始冒冷汗。他也不是害怕什么妖魔鬼怪,只是在水下面他一点经验也没有,也不知道这后面是什么东西,这粽子应该不会游泳,话又说回来,这海斗里的粽子不知道应该怎么称呼,难道叫海粽子?要不饺子?

Chú Ba không khỏi bắt đầu toát mồ hôi lạnh.

Chú cũng không phải sợ yêu ma quỷ quái gì, chỉ là ở dưới nước chú một chút kinh nghiệm cũng không có, cũng không biết đằng sau là thứ gì.

Cái bánh tông này chắc là không biết bơi đâu nhỉ, nói đi cũng phải nói lại, bánh tông trong hải đấu này không biết nên gọi là gì, chẳng lẽ gọi là hải bánh tông?

Hay là sủi cảo?

他摇摇头,心说这李四地他娘的也真迟钝,这么个东西跟在后面都没有发现,现在这个情况,谁都指望不了,唯有冲过去看看。他暗中掏出一把匕首,藏在手后面,就往回游去。

Chú lắc đầu, bụng bảo dạ cái tên Lý Tứ Địa này má nó cũng thật chậm chạp, có một thứ như thế đi theo sau lưng mà cũng không phát hiện ra.

Tình hình này bây giờ không trông cậy được vào ai, chỉ có thể xông tới xem sao.

Chú âm thầm rút ra một con dao găm, giấu ở sau tay, bơi ngược trở lại.

那第九人一动也不动地站在那里,李四地看见三叔径直向他游过来,也意识到自己背后有什么不对劲,忙一回头,他一动,那个人也突然一动,好像在模仿他一样。李四地吓了一大跳,往后退了好几步,那人突然也往后退了好几步,看它好像完全是学着李四地的动作,三叔发现这人动作不仅奇怪,还有些滑稽,拿头上的探灯一照,那东西被光一刺激,慌忙向后逃去,三叔刹那间看到一张狰狞的长满鳞片的巨脸一闪而过,吓得手上的匕首都差点脱手。

Người thứ chín kia đứng yên bất động ở đó.

Lý Tứ Địa thấy Chú Ba bơi thẳng về phía mình, cũng nhận ra sau lưng mình có gì đó không ổn, vội quay đầu lại.

Cậu ta vừa động, người kia cũng đột nhiên động đậy, dường như đang bắt chước cậu ta.

Lý Tứ Địa sợ hết hồn, lùi về sau mấy bước, người kia đột nhiên cũng lùi về sau mấy bước, trông nó dường như hoàn toàn đang học theo động tác của Lý Tứ Địa.

Chú Ba phát hiện động tác của người này không chỉ kỳ quái mà còn có chút buồn cười, bèn chĩa đèn thám hiểm trên đầu chiếu tới.

Thứ kia bị ánh sáng kích thích, hoảng hốt bỏ chạy về phía sau.

Trong sát na, Chú Ba nhìn thấy một gương mặt khổng lồ đầy vảy dữ tợn lướt qua, sợ tới mức suýt chút nữa làm rơi con dao găm trên tay.

李四地吓得面无土色,就要往前游,不敢再待在这里休息,三叔忙一把拉住他,他对三叔大叫,看嘴巴的形状好像是"好孩子,好孩子"。

Lý Tứ Địa sợ đến mức mặt cắt không còn giọt máu, định bơi về phía trước, không dám ở lại chỗ này nghỉ ngơi nữa.

Chú Ba vội vàng kéo cậu ta lại, cậu ta hét lớn với Chú Ba, nhìn khẩu hình dường như là "Hảo hài tử, hảo hài tử" (bé ngoan, bé ngoan).

他本来就有口音,平时说话已经很吃力,嘴形更是看不懂,三叔看他几乎歇斯底里了,竟然想摘掉自己的头盔,忙把他按到墙上。这一按不要紧,那面墙的四条缝里同时一松动,竟然就缩了进去,突然间四周的水就往那墙里猛灌进去,三叔心说不好,已经来不及了,他们就像抽水马桶里的蟑螂一样,被卷进那个墙洞里。

Cậu ta vốn dĩ nói giọng địa phương, bình thường nói chuyện đã rất khó nghe, khẩu hình lại càng không hiểu nổi.

Chú Ba thấy cậu ta gần như phát điên, lại còn muốn tháo mũ lặn của mình ra, vội vàng ấn cậu ta vào tường.

Cái ấn này không xong rồi, bốn khe hở của bức tường kia đồng thời buông lỏng, thế mà lại thụt vào trong.

Đột nhiên nước ở bốn phía ồ ạt trút mạnh vào trong bức tường đó.

Chú Ba thầm kêu không ổn, nhưng đã không kịp nữa rồi, bọn họ giống như mấy con gián trong bồn cầu xả nước, bị cuốn vào trong cái lỗ trên tường kia.

三叔不知道自己转了多少个圈,只觉得五脏六腑全部都被甩到一边了,突然一头就撞到什么坚硬的东西上,幸好头盔结实,他蹬了几下,猛一抬头,竟然发现自己出了水。

Chú Ba không biết mình đã quay bao nhiêu vòng, chỉ cảm thấy ngũ tạng lục phủ đều bị quăng sang một bên, đột nhiên đầu va mạnh vào vật gì đó rất cứng, may mà mũ lặn rắn chắc.

Chú đạp vài cái, ngẩng phắt đầu lên, thế mà lại phát hiện mình đã ngoi lên khỏi mặt nước.

其他人都和他差不多时间,有几个女生都在头盔里吐了,那恶心就别提了(那歌怎么唱的,最恶心的不是看到腐尸,而是淹死在自己的呕吐物里......),几个身体素质比较好的忙扶住他们,不让他们沉下去。

Những người khác cũng ngoi lên cùng lúc với chú, có mấy nữ sinh đều đã nôn ngay trong mũ lặn, cái sự buồn nôn đó khỏi phải nhắc tới (bài hát đó hát thế nào nhỉ, kinh tởm nhất không phải là nhìn thấy xác thối, mà là chết đuối trong bãi nôn của chính mình...).

Mấy người có tố chất thân thể tốt hơn vội vàng đỡ lấy họ, không để họ chìm xuống.

三叔也一把抱住文锦,他用探照灯一照,发现似乎已经达到了冥殿,拿出防风打火机打火,火能烧起来,有氧气。于是做了个OK的手势示意空气没问题,他们几个把沉重的头盔一掀,刚吸了第一口气,几个人同时叫道:"好香啊!"

Chú Ba cũng vội ôm lấy Văn Cẩm, dùng đèn chiếu rọi, phát hiện dường như đã tới Minh Điện (điện thờ).

Chú lấy bật lửa chống gió ra quẹt, lửa cháy được, có oxy.

Thế là chú ra hiệu OK ý bảo không khí không có vấn đề, mấy người bọn họ liền tháo cái mũ lặn nặng trịch ra.

Vừa hít ngụm khí đầu tiên, mấy người đồng thanh kêu lên: "Thơm quá!"

墓室里一股非常好闻的香气,很淡但是很提神,也不知道是什么东西发出的香味,三叔遇到过奇臭无比的墓室无数,这有香气的还是第一次,不由纳闷,他用探灯一扫,发现这个墓室并不是主墓,可能是个耳室,因为里面没有棺材,只有一排排的瓷器陪葬品,这些东西应该是墓主人生前用过的,而他们现在,就在那耳室中间的一个圆形喷泉眼里,三叔又看了看这里的装饰,越看越疑惑。墙壁上都是壁画,因为有水汽,被腐蚀得很厉害,他只能隐约看到,壁画上画的,好像全是人的影子。

Trong phòng mộ có một mùi thơm cực kỳ dễ chịu, rất nhạt nhưng lại rất sảng khoái, cũng không biết là mùi hương phát ra từ thứ gì.

Chú Ba đã gặp vô số phòng mộ thối không ngửi nổi, nhưng có mùi thơm thế này thì là lần đầu, không khỏi thắc mắc.

Chú dùng đèn quét qua một lượt, phát hiện phòng mộ này không phải mộ chính, có thể là một nhĩ thất (gian phòng phụ), vì bên trong không có quan tài, chỉ có từng hàng từng hàng đồ tùy táng bằng sứ.

Những thứ này chắc là đồ dùng lúc sinh thời của chủ mộ, mà hiện tại bọn họ đang ở ngay trong cái mắt của đài phun nước hình tròn giữa nhĩ thất.

Chú Ba lại nhìn cách bài trí nơi này, càng nhìn càng nghi hoặc.

Trên tường đều là bích họa, vì có hơi nước nên bị ăn mòn rất nghiêm trọng, chú chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ, những thứ vẽ trên bích họa dường như toàn là bóng người.

这些类似影子的图案什么姿势的都有,长的,矮的,胖的,走路的,跳舞的,每一个都非常逼真,好像是真人影印上去的一样,但是所有的影子都很怪,它们的肚子都非常大,好像孕妇一样,文锦在壁画研究方面造诣很高,但是她也看不出一个所以然。

Những hình vẽ giống như cái bóng này tư thế nào cũng có: cao, thấp, mập, đang đi, đang múa, cái nào cũng rất sống động, giống như là người thật in lên vậy.

Nhưng tất cả những cái bóng đều rất quái lạ, bụng của chúng đều rất to, giống như phụ nữ mang thai vậy.

Văn Cẩm có trình độ rất cao về nghiên cứu bích họa, nhưng cô ấy cũng không nhìn ra được nguyên do.

倒是那个李四地,看到这些壁画,吓得脸都发青了,大叫起来:"海鬼!这里有海鬼!这个是个海鬼墓。"

Ngược lại là cái cậu Lý Tứ Địa kia, nhìn thấy những bích họa này thì sợ đến mức mặt xanh mét, hét toáng lên: "Hải quỷ!

Ở đây có hải quỷ!

Cái này là mộ hải quỷ."

三叔想起刚才看到的那个怪物,心说难道那个东西就是海鬼?他自己不敢肯定,现在贸贸然把这个提出来,可能会引起恐慌,他决定暂时保密。

Chú Ba nhớ tới quái vật vừa nhìn thấy lúc nãy, bụng bảo dạ chẳng lẽ thứ đó chính là hải quỷ?

Bản thân chú cũng không dám khẳng định, bây giờ mạo muội nói ra chuyện này có thể sẽ gây hoang mang, chú quyết định tạm thời giữ bí mật.

那李四地一直在那里大叫,因为他口音很重,他们都听成海龟,一群人哄堂大笑,弄得李四地哭也不是,跟着笑也不是,三叔看了看表,让他们都出了水,有几个胆子大的已经往耳室边上那门走去。那门不高,应该是通到甬道里去的,三叔一把他们拉回来,说:"现在我们一没有考古的设备,二没有救护的准备,你们给我老实地待在这里,哪里也不准去。这里面的墓道里不知道有没有机关,这一个小时我们是来这里避难的,大家要怀感激之心,懂不懂?"

Cậu Lý Tứ Địa kia cứ đứng đó hét lớn, vì giọng địa phương của cậu ta rất nặng, mọi người đều nghe thành "hải quy" (rùa biển), cả đám cười ồ lên, làm cho Lý Tứ Địa khóc cũng không được mà cười theo cũng không xong.

Chú Ba xem đồng hồ, bảo họ đều leo lên khỏi mặt nước.

Có mấy người to gan đã đi về phía cánh cửa bên cạnh nhĩ thất.

Cửa đó không cao, chắc là thông tới dũng đạo (lối đi trong hầm mộ).

Chú Ba kéo giật bọn họ trở lại, nói: "Hiện tại chúng ta một là không có thiết bị khảo cổ, hai là không có chuẩn bị cứu hộ, các cậu thành thật ở yên đây cho tôi, đâu cũng không được đi.

Trong mộ đạo này không biết có cơ quan hay không, một tiếng đồng hồ này là chúng ta tới đây lánh nạn, mọi người phải có lòng biết ơn, hiểu không?"

这帮小子虽然不甘心也没有办法,只好猫在耳室里研究那些瓷器,三叔一看,就知道这些个是明初的东西,他诧异难道这里真的是沈万三那一个宗族的墓穴?

Đám nhóc này tuy không cam tâm nhưng cũng chẳng còn cách nào, đành phải rúc trong nhĩ thất nghiên cứu mấy món đồ sứ kia.

Chú Ba vừa nhìn liền biết mấy thứ này là đồ thời Minh sơ, chú kinh ngạc chẳng lẽ đây thật sự là mộ huyệt của gia tộc Thẩm Vạn Tam?

不过他古董看得太多,没什么兴致,眼下倒是比较担心这空间的空气够不够用。他又核对了一下人数,这下子对了,他松了口气,这几天他实在是累得够戗,也没好好休息,现在正好打个盹。

Có điều chú nhìn đồ cổ quá nhiều rồi, không có hứng thú gì mấy, trước mắt lại lo lắng không khí trong không gian này có đủ dùng hay không.

Chú lại kiểm tra lại sĩ số, lần này thì đúng rồi, chú thở phào nhẹ nhõm.

Mấy ngày nay chú thực sự mệt muốn chết, cũng chưa được nghỉ ngơi đàng hoàng, bây giờ vừa vặn chợp mắt một lát.

他靠墙坐了下来,文锦靠在他肩膀上,亲了他一下,算是奖励他这次的出色表现,三叔一下魂都飞了,本来还被这帮小子搞得一肚子怨气,现在看到文锦甜甜的一笑,觉得值,真他妈值。让他再倒着来一遍他都肯。

Chú ngồi dựa vào tường, Văn Cẩm tựa vào vai chú, hôn chú một cái, coi như phần thưởng cho biểu hiện xuất sắc lần này của chú.

Chú Ba hồn xiêu phách lạc, vốn dĩ còn bị đám nhóc kia làm cho tức đầy một bụng, bây giờ nhìn thấy nụ cười ngọt ngào của Văn Cẩm, cảm thấy đáng, thật mẹ nó đáng.

Bảo chú làm lại một lần nữa chú cũng chịu.

他们休息了一会儿,潜过水人都知道,如果没有长时间的水下操作经验,一次潜水的是非常消耗体力的,三叔虽然体力不错,但是和那些人比起来身体还没有适应,现在身体放松下来,竟然开始打哈欠,又加上那香气好像有让人宁神的效果,一下子他就觉得非常非常的困,他迷迷糊糊对文锦说:"我睡一会儿,如果时间到了就叫我一下。"

Bọn họ nghỉ ngơi một lát.

Những người từng lặn xuống nước đều biết, nếu không có kinh nghiệm hoạt động dưới nước trong thời gian dài, một lần lặn sẽ tiêu hao thể lực rất lớn.

Chú Ba tuy thể lực khá tốt, nhưng so với những người kia thì thân thể vẫn chưa thích ứng kịp, bây giờ cơ thể thả lỏng, thế mà lại bắt đầu ngáp ngắn ngáp dài.

Cộng thêm mùi hương kia dường như có hiệu quả an thần, thoáng cái chú đã cảm thấy vô cùng, vô cùng buồn ngủ.

Chú mơ mơ màng màng dặn Văn Cẩm: "Anh ngủ một lát, nếu đến giờ thì gọi anh dậy nhé."

那种困乏似乎不正常,但三叔已经来不及去思考,只朦胧地看到文锦温顺地点了点头,他鼻子里都是淡淡的香气,不知道是文锦头发上的体香还是古墓特有的那种味道,总之他几乎就在瞬间,马上就进入了睡眠。

Sự mệt mỏi đó dường như không bình thường, nhưng Chú Ba đã không kịp suy nghĩ nữa, chỉ lơ mơ nhìn thấy Văn Cẩm ngoan ngoãn gật đầu.

Trong mũi chú đều là mùi hương nhàn nhạt, không biết là mùi thơm trên tóc Văn Cẩm hay là mùi đặc hữu của ngôi cổ mộ, tóm lại chú gần như chỉ trong khoảnh khắc, ngay lập tức chìm vào giấc ngủ.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 5: Bức ảnh cũ


思绪回到现在,我已经完全被他的故事吸引过去,只觉得自己就在古墓里,怀里就是文锦的温香暖玉。三叔咳嗽了一声,我一楞,突然发现自己抱着个枕头,心中大窘,心说怎么可以对三叔的女人产生幻想,忙脸通红地问:"你怎么不说了,最后怎么样了?"

Tâm trí quay trở lại hiện tại, tôi đã hoàn toàn bị câu chuyện của chú cuốn hút, chỉ cảm thấy như mình đang ở ngay trong ngôi cổ mộ, trong lòng là khối ngọc ấm tỏa hương của Văn Cẩm.

Chú Ba ho một tiếng, tôi ngẩn người, chợt phát hiện mình đang ôm một cái gối, trong lòng vô cùng xấu hổ, bụng bảo dạ sao có thể tơ tưởng đến người phụ nữ của Chú Ba được chứ, vội đỏ mặt tía tai hỏi: "Sao chú không kể nữa, rốt cuộc sau đó thế nào?"

三叔苦笑一声:"没有什么可说的了,故事到这里已经结束了,我到现在还想不明白,我睡着的这段时间里,古墓里到底发生了什么事情。"他嘴唇颤抖着,"我不知道睡了多久,等我醒过来的时候,我发现那耳室里,只剩下了我一个人,其他人都不知道到哪里去了。我以为他们趁我不在跑到主墓室里去了,心里很火,因为文锦一向很听我的话,这次却和他们一起胡闹,我就想追过去。"

Chú Ba cười khổ một tiếng: "Chẳng còn gì để nói nữa, câu chuyện đến đây là kết thúc rồi.

Đến tận bây giờ tao vẫn không thể hiểu nổi, trong khoảng thời gian tao ngủ, rốt cuộc trong cổ mộ đã xảy ra chuyện gì."

Môi chú run run, "Tao không biết mình đã ngủ bao lâu, đợi đến khi tỉnh lại, tao phát hiện trong nhĩ thất chỉ còn lại một mình tao, những người khác không biết đã đi đâu mất rồi.

Tao tưởng họ nhân lúc chú không để ý đã chạy vào chủ mộ thất, trong lòng rất giận, vì Văn Cẩm xưa nay rất nghe lời tao, lần này lại cùng bọn họ làm bậy, tao liền muốn đuổi theo."

他掏出一只烟含在嘴巴里,脸色有点难看:"这个时候,我看到那墙上的门,竟然不见了!我转头一看,马上就发现,这里并不是我睡着的时候待的耳室,而是另一个陌生的地方,在我身后,竟然放着一只金丝楠木棺。"

Chú rút một điếu thuốc ngậm vào miệng, sắc mặt có chút khó coi: "Lúc này, tao nhìn thấy cánh cửa trên bức tường kia, thế mà lại biến mất rồi!

Tao quay đầu nhìn, lập tức phát hiện, nơi này không phải là cái nhĩ thất lúc tao ngủ, mà là một nơi hoàn toàn xa lạ, sau lưng tao, thế mà lại đặt một cỗ quan tài gỗ nam mộc tơ vàng."

我笑道:"以三叔您老人家的魄力,肯定是毫不犹豫,直接把这棺材板给掀了,把里面的好东西全部都倒出来。"

Tôi cười nói: "Với khí phách của Chú Ba, chắc chắn chú chẳng chút do dự, trực tiếp lật tung nắp quan tài lên, đổ hết đồ tốt bên trong ra chứ gì."

三叔骂了一声:"屁,我告诉你,我那个时候吓得屁滚尿流,棺材我是见多了,但是那只棺材里不停地有水冒出来,一拨一拨的,他娘的好像有东西在里面洗澡,我想起那李四地说的海鬼墓,你知道粽子我不怕,但是海鬼还是头一糟,吓得我几乎要尿裤子,我又担心着文锦,大喊了几声,没人应我,这个时候那棺材板就突然翻了一下。"

Chú Ba mắng một tiếng: "Quần què, tao nói cho mày biết, lúc đó tao sợ đến mức đái ra quần.

Quan tài thì tao gặp nhiều rồi, nhưng cái quan tài đó không ngừng trào nước ra ngoài, từng đợt từng đợt, mẹ nó giống như có thứ gì đang tắm bên trong vậy.

Tao nhớ tới cái mộ hải quỷ mà Lý Tứ Địa nói, mày cũng biết bánh tông thì tao không sợ, nhưng hải quỷ thì là lần đầu tiên gặp, sợ đến mức suýt thì ướt quần.

Tao lại lo cho Văn Cẩm, gào to mấy tiếng, không ai trả lời, đúng lúc này nắp quan tài đột nhiên lật một cái."

三叔说到这里表情很古怪,他接着说:"我那时候想也没想,看那头盔还在手上,直接一套就跳到那泉眼里去了。然后我就逃出来了。"

Chú Ba nói đến đây biểu cảm rất kỳ quái, chú nói tiếp: "Lúc đó tao chẳng nghĩ ngợi gì, thấy cái mũ lặn vẫn còn trên tay, tròng thẳng vào đầu rồi nhảy ùm xuống cái mắt suối kia.

Sau đó thì tao thoát ra được."

我一听忙说:"不对啊,那房间不是变了吗?怎么那泉眼还在?"

Tôi nghe xong vội nói: "Không đúng, căn phòng đó chẳng phải đã biến đổi rồi sao?

Sao cái mắt suối vẫn còn?"

三叔脸一绿,结结巴巴说:"在,当然在,就那泉眼在。你他娘的别打岔!我还没说完呢,"他定了定神,继续说,"我也不管什么海啸不海啸了,找到了那个盗洞我就游了出去,我一看,老大的太阳挂在天上,也不知道是什么时候,我钻出水面,瞅见不远处好几艘大船,看样子是来捞我们的,我游回到船上去,一问时间,他娘的竟然已经是第二天的中午了。你说我在这墓里就打了一会盹,怎么就过了一天了呢?"

Mặt Chú Ba xanh mét, lắp bắp nói: "Còn, đương nhiên là còn, chính là cái mắt suối đó còn.

Mày mẹ nó đừng có ngắt lời!

Tao còn chưa kể xong đâu," Chú định thần lại, tiếp tục nói, "Tao cũng mặc kệ sóng thần hay không sóng thần, tìm được cái đạo động kia là tao bơi ra ngoài luôn.

Tao nhìn thấy mặt trời to đùng treo trên trời, cũng không biết là lúc nào, tao ngoi lên mặt nước, nhìn thấy cách đó không xa có mấy chiếc thuyền lớn, nhìn dáng vẻ là đến vớt bọn tao.

Tao bơi về thuyền, hỏi giờ, mẹ nó thế mà đã là giữa trưa ngày hôm sau rồi.

Mày nói xem tao chỉ chợp mắt trong mộ một lát, sao lại trôi qua một ngày rồi chứ?"

我盯着三叔看,太假太假,最后他肯定还碰到什么决定性的事情,不知道他为什么不肯告诉我,这老家伙最后到底在那墓里干了什么?他妈的,又不能逼他,看他说话闪闪缩缩的样子,搞得我又心痒痒。

Tôi chằm chằm nhìn Chú Ba, quá giả, quá giả, cuối cùng chắc chắn chú còn gặp phải chuyện gì mang tính quyết định nữa, không biết tại sao chú lại không chịu nói cho tôi, lão già này rốt cuộc đã làm gì trong cái mộ đó?

Mẹ nó, lại không thể ép chú, nhìn cái bộ dạng nói năng ấp a ấp úng của chú, làm tôi lại ngứa ngáy trong lòng.

我看他不说话了,心里很担心文锦,问他:"其他人了?他们都没出来吗?"

Tôi thấy chú không nói nữa, trong lòng rất lo lắng cho Văn Cẩm, hỏi chú: "Những người khác đâu?

Họ đều không ra được sao?"

三叔懊恼地拍了一下大腿,"我上了船,不知道为什么没说几句就晕了过去,后来送到海南的医院,昏迷了整整一个星期,我后来去问海事管理局,还有他们的研究所,发现这些小青年都失踪了,文锦也和他们一起,我经过整整一个多月的反复推敲研究,始终没有拿出一个实用的办法,加上国际形式开始紧张,考古队被迫撤离,古墓被重新盖上封土,所有的研究资料与位置数据,悉数上交政府,这件事情就这样在历史中消失了。后来我得知有几个当时的专家偷偷留一下一部分资料,很长一段时间私底下做过一些研究,至于结果如何就不得而知道了。快二十年了,到现在一点消息都没有,我真的是一点也搞不懂那个墓是怎么回事,怎么可能平白无故人就不见了呢?"他用力一敲桌子,眼圈一红,"我他娘的后悔,那个时候逞什么能啊,如果我不去倒那个海斗,这一群人现在说不定都孙子都有了!还有文锦,我真是对不起她。"

Chú Ba ảo não vỗ đùi một cái: "Tao lên thuyền, không biết tại sao chưa nói được mấy câu đã ngất đi, sau đó được đưa đến bệnh viện ở Hải Nam, hôn mê suốt một tuần lễ.

Sau đó tao đi hỏi Cục quản lý hàng hải, còn cả viện nghiên cứu của bọn họ, phát hiện đám thanh niên kia đều đã mất tích, Văn Cẩm cũng ở cùng bọn họ.

Tao trải qua tròn hơn một tháng lặp đi lặp lại suy xét nghiên cứu, từ đầu đến cuối không đưa ra được một biện pháp thực dụng, cộng thêm tình hình quốc tế bắt đầu căng thẳng, đội khảo cổ bị bắt buộc rút lui, mộ cổ được đắp đất phong tỏa lại lần nữa, tất cả tư liệu nghiên cứu và số liệu vị trí, toàn bộ nộp lên chính phủ, chuyện này cứ như vậy biến mất trong lịch sử.

Về sau tao biết được có mấy chuyên gia khi đó lén lút giữ lại một bộ phận tư liệu, một khoảng thời gian rất dài lén lút làm một số nghiên cứu, còn kết quả thế nào thì không được biết rồi.

Gần hai mươi năm rồi, đến giờ vẫn bặt vô âm tín, tao thật sự một chút cũng không hiểu nổi cái mộ đó là thế nào, sao người lại có thể vô duyên vô cớ biến mất được chứ?"

Chú dùng sức đập bàn, vành mắt đỏ lên, "Tao mẹ nó hối hận, lúc đó còn ra vẻ ta đây cái gì chứ, nếu tao không đi đổ cái hải đấu đó, đám người này bây giờ nói không chừng đều đã có cháu chắt cả rồi!

Còn Văn Cẩm nữa, tao thật sự có lỗi với cô ấy."

我看三叔一把鼻涕一把泪,从没见过他这样,也不知道怎么办好。

Tôi thấy Chú Ba nước mắt nước mũi tèm lem, chưa từng thấy chú như vậy bao giờ, cũng không biết làm thế nào cho phải.

我看了看那鱼,心想:"如果鲁殇王也倒过海斗,他手上也有这么一条蛇眉铜鱼,是不是可以说鲁王宫和海里的那个沉船墓有关系呢?"可是一想,不对啊,两个墓差了这么长时间,一个是战国,一个是明初,打死都搭不上关系。这之间的奥秘,我怎么想也没有头绪。

Tôi nhìn con cá, thầm nghĩ: "Nếu Lỗ Thương Vương cũng từng đổ hải đấu, trên tay ông ta cũng có một con Xà Mi Đồng Ngư như thế này, liệu có thể nói Lỗ Vương Cung và cái mộ thuyền chìm dưới biển kia có liên quan với nhau không nhỉ?"

Nhưng nghĩ lại, không đúng, hai ngôi mộ cách nhau một khoảng thời gian quá dài, một cái Chiến Quốc, một cái đầu Minh, đánh chết cũng không dính dáng tới nhau được.

Bí mật trong chuyện này, tôi nghĩ thế nào cũng không ra manh mối.

三叔对我说道:"你这条铜鱼,当时六十几个专家看过,都不知道是干什么用处的,后来转送到中央之后,听说是研究出了一些头绪,我们没有拿到当时的简报,不知道是这些消息被扣下来了,还是以讹传讹,这件事情就这样过去了,也没人问起过,后来资料送到国家档案馆,听说给锁到地下室里,我本打算到时候打通关系进去看看,没想到前几年一场大火全部都烧光了,你想知道其中的蹊跷,现在恐怕没这么容易。"

Chú Ba nói với tôi: "Con cá đồng này của mày, khi đó hơn sáu mươi chuyên gia xem qua, đều không biết dùng để làm gì, sau đó chuyển đến trung ương, nghe nói là nghiên cứu ra được một số manh mối.

Bọn tao không nhận được vắn tắt tình hình lúc đó, không biết là những tin tức này bị giữ lại, hay là tam sao thất bản, chuyện này cứ thế qua đi, cũng không ai hỏi đến nữa.

Sau này tư liệu đưa đến cục lưu trữ quốc gia, nghe nói bị khóa trong tầng hầm, tao vốn định đến lúc đó đả thông quan hệ đi vào xem thử, không ngờ mấy năm trước một trận đại hỏa thiêu rụi toàn bộ rồi, mày muốn biết sự kỳ lạ trong đó, bây giờ e là không dễ dàng như vậy."

我问三叔:"这么古怪的一个墓你就这样放弃了?以你的脾气,就算明着不能去,我看你私下里也按奈不住,我看你准还知道什么,你就别卖关子了,我保证就算杀头也不说出去。"

Tôi hỏi Chú Ba: "Một cái mộ cổ quái như vậy chú cứ thế từ bỏ à?

Với tính khí của chú, cho dù ngoài sáng không thể đi, con thấy lén lút chú cũng không kìm nén được, con thấy chú chắc chắn còn biết cái gì, chú đừng úp úp mở mở nữa, con đảm bảo cho dù bị chặt đầu cũng không nói ra ngoài."

三叔意味深长的笑了笑,很坚决的说道:"不行,接下来的事情,我就算带进坟墓里不会说。"

Chú Ba cười đầy ẩn ý, rất kiên quyết nói: "Không được, chuyện tiếp theo, tao cho dù mang xuống mồ cũng sẽ không nói."

无论我怎么软磨硬泡,赖皮拉泼,三叔也不肯把后面的事情告诉我,说到最后他把眼睛一瞪,自顾自看报纸不理我。

Dù tôi có dùng đủ cách, từ năn nỉ ỉ ôi đến giở thói ăn vạ, Chú Ba cũng nhất quyết không chịu kể tiếp chuyện về sau cho tôi nghe.

Nói đến cuối cùng, chú trừng mắt một cái, rồi tự mình ngồi xem báo, mặc kệ tôi.

我知道三叔的脾气,话都说成这样了,要再磨下去也磨不出个什么来,不敢再说什么,不过这故事听了一半,总觉得下面的才是重点,心里实在是痒的难受。

Tôi biết tính khí của Chú Ba, lời đã nói đến nước này rồi thì có mài nỉ thêm nữa cũng chẳng ra được cái gì, nên không dám nói thêm nữa.

Có điều câu chuyện mới nghe được một nửa, cứ cảm thấy phần sau mới là trọng điểm, trong lòng thực sự ngứa ngáy khó chịu.

我对三叔说道:"既然你不想说,我也不勉强你,不过你能不能把那铜鱼的事情讲的详细点,你不是说当时有一些头绪吗?要是能找到当时做研究的专家,现在去问问他们,不就能知道他们当时研究出的,是些什么东西了吗?"

Tôi nói với Chú Ba: "Nếu chú không muốn nói, con cũng không ép chú.

Nhưng chú có thể kể chi tiết hơn về chuyện con cá đồng kia không?

Chẳng phải chú nói lúc đó đã có chút manh mối sao?

Nếu có thể tìm được những chuyên gia nghiên cứu hồi đó, bây giờ đi hỏi bọn họ, chẳng phải sẽ biết được thứ bọn họ nghiên cứu lúc đó là cái gì sao?"

三叔听我一说,微微一怔,说道:"这倒也是个办法,可那时是八四年,二十年了,那些老专家还不知道在不在世。"

Chú Ba nghe tôi nói vậy, hơi sững người, nói: "Đây cũng là một cách, nhưng lúc đó là năm 84, hai mươi năm rồi, mấy vị chuyên gia già đó không biết còn sống hay không nữa."

我忙说道:"不找老专家,找他们的助手也行啊,就算当年他们的助手都有四十好几,现在也不过六十几岁,说不定还没退休,以你的关系,肯定能找到。"

Tôi vội nói: "Không tìm chuyên gia già thì tìm trợ lý của họ cũng được mà.

Cho dù trợ lý năm đó đã ngoài bốn mươi, thì bây giờ cũng chỉ tầm sáu mươi tuổi, nói không chừng còn chưa nghỉ hưu.

Với quan hệ của chú, chắc chắn có thể tìm được."

三叔叹了口气,摇摇头:"那次项目结束之后,我们都各奔东西,后来就没什么联系,偶尔见面也只是一些学术上的交流,他们之中有很多人我连叫什么都不知道,要找起来谈何容易。"

Chú Ba thở dài, lắc đầu: "Sau khi dự án đó kết thúc, bọn tao đều mỗi người một ngả, về sau cũng không liên lạc gì mấy, thỉnh thoảng gặp mặt cũng chỉ là vài cuộc giao lưu học thuật.

Trong số bọn họ có rất nhiều người tao còn chẳng biết tên là gì, muốn tìm đâu có dễ."

三叔说完这句之后,突然好象想了什么,眉头一皱,"噫"了一声。

Chú Ba nói xong câu này, đột nhiên dường như nghĩ ra điều gì đó, nhíu mày, kêu lên một tiếng "Á".

我一看似乎还有下文,便给他倒了一杯茶,看他如何继续。

Tôi thấy dường như có biến chuyển, bèn rót cho chú chén trà, chờ xem chú nói tiếp thế nào.

三叔点上香烟,眯着眼睛想了很久,对我说道:"西沙考古过去这么久了,大部分琐碎的事情我都忘的差不多了,只是你刚才说起来,我才略微回忆了一下,正好给我想到一件事情,非常的奇怪。"

Chú Ba châm điếu thuốc, nheo mắt suy nghĩ hồi lâu, rồi nói với tôi: "Khảo cổ Hoàng Sa đã qua lâu như vậy rồi, phần lớn những chuyện vặt vãnh tao đều quên gần hết.

Chỉ là vừa rồi mày nhắc tới, tao mới láng máng nhớ lại một chút, vừa khéo để tao nghĩ ra một chuyện, cực kỳ kỳ quái."

我问道:"什么事情,说来听听?"

Tôi hỏi: "Chuyện gì, chú nói nghe xem?"

他对我说道:"我也不能肯定,不过刚才想起来,一起和我出海的那几个年青专家中,有一个人,好象长的和那闷声不响的小哥很像!"

Chú nói với tôi: "Tao cũng không dám khẳng định, có điều vừa rồi nhớ lại, trong mấy chuyên gia trẻ tuổi cùng tao ra khơi năm đó, có một người, hình như trông rất giống cái Tiểu Ca ít nói kia!"

我一听就笑了出来,对他说道:"三叔,这怎么可能,他那个时候肯定才出生没多少时间,怎么可能和你做同事!"

Tôi nghe xong liền bật cười, nói với chú: "Chú Ba, sao có thể chứ, lúc đó anh ta chắc chắn mới sinh ra chưa được bao lâu, sao có thể làm đồng nghiệp với chú được!"

三叔仔细的回忆着,眉头越皱越紧:"我也知道口说无凭,不过我们出海前拍了合照,看一下就知道我说的是真是假。"

Chú Ba cẩn thận nhớ lại, mày càng nhíu càng chặt: "Tao cũng biết nói miệng không bằng chứng, nhưng trước khi ra khơi bọn tao có chụp ảnh chung, xem một cái là biết chú nói thật hay giả."

三叔打电话给家里,让他的佣人把他夹在老影集里的几张大合照扫描过来,五分钟后,一封email就发到了三叔的手提电脑里。

Chú Ba gọi điện thoại về nhà, bảo người giúp việc scan mấy tấm ảnh chụp chung kẹp trong cuốn album cũ gửi qua.

Năm phút sau, một email đã được gửi tới máy tính xách tay của Chú Ba.

照片是黑白的,他们第二波出海的专家大概只有十个人,前面是蹲着,第二排是站着,背景是在一个军用码头,边上还有几个海军,这张照片估计他很久没看看,发黄的很厉害,几个角上还出现了霉斑。

Ảnh là đen trắng, đợt chuyên gia thứ hai xuất phát cùng bọn họ đại khái chỉ có mười người, hàng trước ngồi xổm, hàng thứ hai đứng, bối cảnh là tại một quân cảng, bên cạnh còn có mấy người lính hải quân.

Tấm ảnh này chắc lâu lắm rồi chú không xem lại, đã ngả vàng rất nặng, mấy góc ảnh còn xuất hiện vết mốc.

我放大比例来观察照片,里面蹲在第一排中间的就是年轻时候的三叔,而他后面站的那个人,好象有点熟悉,我仔细一看,还真有点像...。

Tôi phóng to ảnh lên để quan sát, người ngồi xổm ở giữa hàng đầu tiên chính là Chú Ba thời trẻ, mà người đứng sau lưng chú, dường như có chút quen mắt.

Tôi nhìn kỹ lại, quả thực có chút giống...

不对,好象不只是像。

Không đúng, hình như không chỉ là giống.

我以为自己看错了,揉了揉眼睛再看,马上,我就觉得自己给人仍进了冰窟窿里,浑身起了一阵鸡皮疙瘩。

Tôi tưởng mình nhìn nhầm, dụi dụi mắt nhìn lại lần nữa.

Ngay lập tức, tôi cảm giác như mình bị ném vào hầm băng, toàn thân nổi da gà.

这眼神,这表情,我的天啊,太像了,这人简直长的和闷油瓶一模一样。

Ánh mắt này, biểu cảm này, trời ơi, quá giống, người này quả thực trông y hệt như Muộn Du Bình.

这到底是怎么一回事情,闷油瓶到底是什么人,...为什么他这么多年一点都没有变老?

Chuyện này rốt cuộc là thế nào, Muộn Du Bình rốt cuộc là ai...

Tại sao anh ta bao nhiêu năm qua một chút cũng không già đi?

难道二十年在西沙的那次考察,真的和鲁王宫有着关系?这有怎么可能,两件空间和时间上相差这么远的事情,怎么可能会有联系。

Chẳng lẽ cuộc khảo sát hai mươi năm trước ở Hoàng Sa, thật sự có quan hệ với Lỗ Vương Cung?

Chuyện này sao có thể chứ, hai sự kiện cách nhau xa như vậy về cả không gian và thời gian, sao có thể có liên hệ được.

闷油瓶子本来就已经够神秘了,这样一来,他的身份就更加的扑朔迷离了,围绕着他的无数迷题,一下子就坠入到更加匪夷所思的境地里。

Muộn Du Bình vốn dĩ đã đủ bí ẩn rồi, cứ thế này, thân phận của anh ta càng trở nên mơ hồ khó đoán.

Vô số câu đố xoay quanh anh ta bỗng chốc rơi vào tình cảnh càng thêm khó tin.

三叔疑惑着看着电脑屏幕,突然,他神经质地站了起来,大叫了一声:"我明白了,我明白了!"

Chú Ba nghi hoặc nhìn màn hình máy tính, đột nhiên, chú đứng phắt dậy như bị thần kinh, hét to một tiếng: "Tao hiểu rồi, tao hiểu rồi!"

他一边叫着,一边拿起行李往外跑走,我莫名奇妙,忙追出去问他:"三叔,你干什么去?"

Chú vừa hét vừa xách hành lý chạy ra ngoài.

Tôi không hiểu ra sao, vội đuổi theo hỏi: "Chú Ba, chú đi đâu thế?"

他对我大叫了一声:"我要再去一次西沙,你照顾好潘子,千万不要跟来!"

Chú hét lớn với tôi: "Tao phải đi Hoàng Sa lần nữa, mày chăm sóc tốt cho Phan Tử, tuyệt đối đừng có đi theo!"

三叔走的非常匆忙,就随便拎了个箱子,把他的手提电脑,衣服和一些杂物都留在了这里。

Chú Ba đi cực kỳ vội vàng, chỉ xách đại một cái vali, để lại cả máy tính xách tay, quần áo và một số đồ linh tinh ở lại đây.

他平时为人非常的谨慎,这样的情况,说明他走的时候人已经失去理智。

Bình thường chú làm người rất cẩn thận, tình huống như thế này chứng tỏ lúc đi chú đã mất hết lý trí.

我看拦也拦不住他,就喊了一嗓子:"你自己当心点!"他嗷了一声算回答,就跑进电梯了。

Tôi thấy cản cũng không cản được, bèn gào lên một câu: "Chú tự cẩn thận đấy!"

Chú gào một tiếng coi như trả lời, rồi chạy vào thang máy.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 6: Anh Hùng Sơn Lão Hải


我在他走后几天里一直在想,他在最后到底明白了什么,在我看来,这么复杂的事情,不可能有什么解释,只能是一个迷。除非还有什么东西是我不知道的。

Mấy ngày sau khi chú đi, tôi vẫn luôn suy nghĩ, rốt cuộc vào phút cuối chú đã hiểu ra điều gì.

Theo tôi thấy, sự việc phức tạp như thế này không thể nào có lời giải thích, chỉ có thể là một bí ẩn.

Trừ phi còn có thứ gì đó mà tôi không biết.

可惜的是,我对那件事情的了解只限于三叔的口述,不尽不实,实在想不出个所以然,最后只得作罢,很快的,我就慢慢将这个事情淡忘了。

Đáng tiếc là sự hiểu biết của tôi về chuyện đó chỉ giới hạn trong lời kể của Chú Ba, không đầy đủ cũng chẳng xác thực, thật sự nghĩ không ra nguyên do, cuối cùng đành bỏ cuộc.

Rất nhanh sau đó, tôi cũng dần quên lãng chuyện này.

后面几天,我白天窝在房间里看电视,晚上去洗脚按摩,过着神仙一样糜烂的日子,这样的生活一直到宾馆洗脚中心的服务员上来和我结帐单,才被迫中断。

Mấy ngày sau, ban ngày tôi ru rú trong phòng xem tivi, buổi tối đi mát-xa chân, sống những ngày tháng trụy lạc như thần tiên.

Cuộc sống như vậy kéo dài mãi cho đến khi nhân viên phục vụ của trung tâm mát-xa chân trong khách sạn lên thanh toán hóa đơn với tôi, mới bị buộc phải gián đoạn.

这里的消费虽然不高,但是我们习惯了签帐,不知不觉,也已经欠了六万多块的帐。

Chi phí ở đây tuy không cao, nhưng chúng tôi có thói quen ký nợ, không biết từ lúc nào đã nợ hơn sáu vạn tệ tiền hóa đơn.

做为一个店家,可以容忍你欠六万块钱的帐,已经是很给你面子了,我无法推辞,只好开出一张支票,把这张帐单打发了。

Làm chủ tiệm mà có thể dung túng cho bạn nợ đến sáu vạn tệ, đã là nể mặt bạn lắm rồi.

Tôi không thể chối từ, đành phải viết một tấm séc, thanh toán cho xong tờ hóa đơn này.

这样一来,我身边的钱,一下子就所剩无几了,我自己倒还好,最多搬到个差点的酒店去住,只是潘子在医院里医药费,实在是个很大的数目。

Cứ như vậy, tiền bên người tôi bỗng chốc chẳng còn lại bao nhiêu.

Bản thân tôi thì sao cũng được, cùng lắm là chuyển sang khách sạn tồi tàn hơn một chút để ở, chỉ là tiền thuốc men của Phan Tử trong bệnh viện thực sự là một con số rất lớn.

我在房间里来回的走来走去,正烦着呢,突然看到那金缕玉棺套,还在躺在一边的包里。

Tôi đi đi lại lại trong phòng, đang lúc buồn bực, đột nhiên nhìn thấy bộ áo quan ngọc lũ kim kia vẫn đang nằm trong cái túi ở một bên.

三叔对这东西是爱护的不得了,还用油纸报了四五层,我看着,就突然产生一个比较冲动的念头。

Chú Ba nâng niu thứ này hết mực, còn dùng giấy dầu gói kỹ bốn năm lớp.

Tôi nhìn mà đột nhiên nảy sinh một ý nghĩ khá bốc đồng.

我想找个古玩市场,把这东西卖了,然后整点钱救急,一来,这东西太烫手,放在身边不安全。二来,现在钱字一个火了,我被人赶出来事小,潘子给人断了药可就麻烦了。

Tôi muốn tìm một cái chợ đồ cổ, bán quách thứ này đi, sau đó kiếm chút tiền cứu nguy.

Một là thứ này quá "bỏng tay", để bên người không an toàn.

Hai là, bây giờ chữ Tiền đang cháy xém lông mày rồi, tôi bị người ta đuổi ra ngoài là chuyện nhỏ, Phan Tử bị người ta cắt thuốc mới là rắc rối to.

我想着下到大堂去问服务员,这儿哪里有倒腾古玩的地方,那服务员非常热心,直接陪我下楼,还帮我叫了个的士。上了车后我就和师傅说哪里古玩多去哪里,那师傅答应了一声就把我送到英雄山市场,我一看,这地方还有点花头在里面。

Tôi nghĩ thế bèn xuống đại sảnh hỏi nhân viên phục vụ, ở đây chỗ nào có nơi buôn bán đồ cổ.

Cậu nhân viên kia vô cùng nhiệt tình, trực tiếp cùng tôi xuống lầu, còn giúp tôi gọi taxi.

Lên xe rồi tôi bảo bác tài chỗ nào nhiều đồ cổ thì đến đó, bác tài đồng ý một tiếng rồi đưa tôi đến chợ Anh Hùng Sơn.

Tôi vừa nhìn, chỗ này cũng có chút hay ho.

我一路上听那的哥狂侃,他说这里是比较大的古玩和书法制品的集中地,人很多,比较嘈杂,不过假货居多,没事情在这里可以和那些老板聊聊,吹吹牛皮,他们也乐意。

Suốt dọc đường tôi nghe bác tài chém gió, bác ấy bảo đây là nơi tập trung đồ cổ và thư pháp khá lớn, người rất đông, khá ồn ào, nhưng hàng giả chiếm đa số, không có việc gì đến đây tán gẫu với mấy ông chủ, chém gió thổi phồng, họ cũng rất vui lòng.

我背着那死沉的玉棺套下了车,寻思着找一个大点儿的门面,这东西不是一般人能买的起的,那些大店必然有联系一些比较大的客人,可以托他介绍。

Tôi vác bộ áo quan ngọc nặng trịch xuống xe, tính toán tìm một cửa tiệm lớn một chút.

Thứ này không phải người bình thường mua nổi, những tiệm lớn đó ắt hẳn có liên hệ với một số khách hàng lớn, có thể nhờ họ giới thiệu.

至于这个东西的价值,我心里也有数,我在回来的路上和三叔讨论过这事,三叔说也就是百来万,这种东西有价无市,一是很难有人肯买这么贵的东西,除非是老外,可这个东西又太大了,不要带出境外。

Còn về giá trị của thứ này, trong lòng tôi cũng có tính toán.

Trên đường về tôi đã cùng Chú Ba thảo luận chuyện này, Chú Ba nói cũng tầm trăm vạn tệ.

Loại đồ này có giá nhưng không có thị trường, một là rất khó có người chịu mua thứ đắt như vậy, trừ phi là người nước ngoài, nhưng thứ này lại quá lớn, không nên mang ra khỏi biên giới.

我对于国宝外流非常反感,心里盘算着最好能找一个爱国的企业家,半卖半送也可以,国宝当然要放在中国人房里。

Tôi cực kỳ phản cảm với việc bảo vật quốc gia bị tuồn ra nước ngoài, trong lòng tính toán tốt nhất có thể tìm được một doanh nhân yêu nước, bán rẻ như cho cũng được, quốc bảo đương nhiên phải đặt trong phòng của người Trung Quốc.

没走几步,突然就瞄见一个铺子里,放着一只青铜的香炉,上面有一些铭刻的人物造型,我一看就一个激灵,那上面的人,一个个都大着个肚子,和三叔提到的海斗壁画很像,我俯下头想看仔细点,这个时候那老板就出来了,说:"哟嘿,您挺识货,我这铺子就这东西值钱。"

Chưa đi được mấy bước, đột nhiên liếc thấy trong một cửa tiệm có đặt một chiếc lư hương bằng thanh đồng, bên trên có khắc một số tạo hình nhân vật.

Tôi vừa nhìn liền rùng mình, những người trên đó, ai nấy bụng đều to tướng, rất giống với bích họa hải đấu mà Chú Ba nhắc tới.

Tôi cúi đầu muốn nhìn kỹ hơn, lúc này ông chủ tiệm đi ra, nói: "Dô hay, ngài thật biết nhìn hàng, tiệm tôi chỉ có thứ này là đáng tiền thôi."

我一听他的口音,还是个京片子,就问他:"这上面刻的是什么啊?怎么这么怪,看这样子该不是海南来的吧?"

Tôi vừa nghe giọng ông ta, là dân Bắc Kinh gốc, bèn hỏi: "Trên này khắc cái gì thế?

Sao lại quái đản vậy, nhìn kiểu này chắc không phải đồ từ Hải Nam tới chứ?"

那人一听,表情一变,忙把我往他铺子里让,还说:"今天真碰到行家了,这东西放在这儿有年头了,您还是第一个看出苗头来的,不错,这的确是海南的。"

Người kia nghe xong, sắc mặt đổi khác, vội mời tôi vào trong tiệm, còn nói: "Hôm nay đúng là gặp được người trong nghề rồi, thứ này để ở đây cũng lâu năm rồi, ngài là người đầu tiên nhìn ra manh mối đấy, không sai, đây đích thực là đồ Hải Nam."

做古玩生意的,嘴巴甜是肯定的,我看他的表情,倒不知道他现在说的是不是真心话,还是单纯想把这东西卖给我,我手头上的资料不多,装老手肯定会露馅,就说:"不是行家不是行家,我是在海南看到过这东西,心里觉得奇怪,这东西叫什么我都不知道。"

Làm nghề buôn bán đồ cổ, mồm mép ngọt xớt là cái chắc, tôi nhìn biểu cảm của ông ta, cũng không biết ông ta nói có thật lòng không, hay đơn thuần chỉ muốn bán thứ này cho tôi.

Tài liệu trong tay tôi không nhiều, giả làm lão làng chắc chắn sẽ lộ tẩy, bèn nói: "Không phải dân trong nghề, không phải dân trong nghề, tôi từng nhìn thấy thứ này ở Hải Nam, trong lòng thấy lạ, thứ này tên là gì tôi cũng không biết đâu."

那人请我坐下,端出一杯茶,说:"那您是谦虚了,不过您要真不知道也不要紧,我告诉您,这香炉上雕的,是种鬼,他们都叫这东西'禁婆',这东西的来历就说来话长,你要真有兴趣,我就给你说说?"

Người kia mời tôi ngồi xuống, bưng ra một chén trà, nói: "Thế thì ngài khiêm tốn rồi, nhưng ngài không biết thật cũng không sao, tôi nói cho ngài hay, trên lư hương này khắc một loại quỷ, người ta gọi thứ này là 'Cấm Bà', lai lịch thứ này nói ra thì rất dài, nếu cậu thật sự có hứng thú, tôi kể cho cậu nghe?"

我一看有戏,忙装做很想买的样子,点点头,他给我做了等等的手势,把那香炉从橱窗里拿出来,放到茶几上,我一下子就闻到一股奇特的香味传了过来,不由惊讶,他嘿嘿一笑:"这个香气很特别吧?"

Tôi thấy có cơ hội, vội làm bộ rất muốn mua, gật gật đầu.

Ông ta ra hiệu bảo tôi đợi một chút, lấy cái lư hương từ trong tủ kính ra, đặt lên bàn trà.

Tôi lập tức ngửi thấy một mùi hương kỳ lạ truyền tới, không khỏi kinh ngạc.

Ông ta cười hì hì: "Mùi hương này rất đặc biệt đúng không?"

我问:"什么香料在里面?"

Tôi hỏi: "Hương liệu gì bên trong thế?"

他把香炉盖子一打开,我看见有一块小小的黑色石头,我一愣,他得意地一笑:"这块就是禁婆的骨头,这香味,叫做骨香。可是个好东西,你睡觉的时候放在边上,包你睡得舒坦。"

Ông ta mở nắp lư hương ra, tôi nhìn thấy một mẩu đá nhỏ màu đen, tôi ngẩn ra, ông ta đắc ý cười: "Mẩu này chính là xương của Cấm Bà đấy, mùi hương này, gọi là Cốt hương.

Là đồ tốt đấy, lúc ngủ cậu đặt ở bên cạnh, bao cậu ngủ thoải mái."

我突然就觉得有点恶心,问:"这禁婆到底是什么东西?闻她的骨头来睡觉,太缺德了吧。"

Tôi đột nhiên cảm thấy hơi buồn nôn, hỏi: "Cấm Bà này rốt cuộc là thứ gì?

Ngửi xương của mụ ta để ngủ, thất đức quá đi mất."

他笑笑说:"禁婆是一个很大的概念,就相当于一个不好的东西的总称呼,那里的人,生了病或是受了伤,都说是禁婆害的,你要说她是什么东西还真不好形容,实在要说的话,可以说她是一个恶鬼。"

Ông ta cười cười nói: "Cấm Bà là một khái niệm rất rộng, tương đương với tên gọi chung của một thứ không tốt lành, người ở đó, bị bệnh hay bị thương, đều nói là do Cấm Bà hại.

Ngài bảo mụ ta là thứ gì thì thật sự khó hình dung, nếu thật sự phải nói, có thể nói mụ ta là một ác quỷ."

"哦,那这就是她的骨头?"我皱了眉头问,"这东西哪里来的?看这盖子上的海屎,好像是个海货啊。"

"Ồ, thế đây là xương của mụ ta?"

Tôi nhíu mày hỏi, "Thứ này ở đâu ra?

Nhìn vết hà bám trên nắp này, hình như là hàng vớt dưới biển nhỉ."

那人呵呵一笑:"您还说你不是行家,不错,这东西是一个渔民一个网撒下去捞上来的,不过物以稀为贵,虽然有点海屎在上面,这价钱也可是不便宜。"

Người kia cười ha ha: "Ngài còn bảo ngài không phải dân trong nghề, không sai, thứ này là một ngư dân quăng một mẻ lưới vớt lên được, có điều vật dĩ hi vi quý (vật hiếm thì đắt), tuy có chút vết hà bám trên đó, nhưng cái giá này cũng không rẻ đâu."

我身上钱根本不够,于是叹了口气说:"可惜,我这个人好全品,这海货我是不要的,你要真想卖,不如把里面这块骨香卖给我?"

Trên người tôi căn bản không đủ tiền, bèn thở dài nói: "Tiếc quá, con người tôi thích hàng 'zin', hàng vớt biển này tôi không lấy đâu, nếu ông thật sự muốn bán, chi bằng bán cho tôi mẩu cốt hương bên trong này?"

那人脸色一变,赔笑道:"那怎么成,你把这骨香买走了,我找谁买这香炉去啊?"

Sắc mặt người kia đổi khác, cười xòa nói: "Thế sao được, cậu mua mẩu cốt hương này đi rồi, tôi tìm ai bán cái lư hương này đây?"

我看看这东西上面略有灰,知道肯定放了很久没卖出去,这种东西太冷门了,买下来不好转手,一般买来投资的人都不喜欢,乱世黄金,盛世古董,卖不出去的东西,店主自然也不会再花心思打理,我摇摇头,反正这东西我买了也没什么用,等一下我把那棺套拿出来给他一看,他要是能联系到个买主,这东西让他送给我也成,想着一笑说:"那行,咱先不谈这个,我给你看样东西。"

Tôi nhìn thứ này bên trên có bám chút bụi, biết chắc chắn đã để rất lâu không bán được.

Loại hàng này quá kén người chơi, mua về khó bán lại tay, người mua đầu tư bình thường đều không thích.

Loạn thế mua vàng, thịnh thế chơi cổ, đồ không bán được, chủ tiệm tự nhiên cũng chẳng tốn công chăm sóc.

Tôi lắc đầu, dù sao thứ này tôi mua cũng chẳng có tác dụng gì, đợi lát nữa tôi lấy cái bộ áo quan ngọc kia ra cho ông ta xem, nếu ông ta liên hệ được người mua, thứ này bảo ông ta tặng kèm cho tôi cũng được, nghĩ thế bèn cười nói: "Được rồi, chúng ta khoan hãy bàn cái này, tôi cho ông xem thứ này."

说着就把玉棺套拿上来,露出一个角给他看,这是不是行家,看表现就知道了,他一看脸色就变了,二话不说又把那玉棺套塞回去,然后起身把铺子的卷帘门给拉了下来,把我那杯茶倒了,给我换了另一杯上来,我一闻,操,上等的铁观音啊,看来我算是上了一个档次了。

Nói rồi bèn lôi bộ áo quan ngọc lên, để lộ một góc cho ông ta xem.

Có phải dân chuyên hay không, nhìn biểu hiện là biết ngay.

Ông ta vừa nhìn sắc mặt đã thay đổi, không nói hai lời nhét bộ áo quan ngọc trở lại, sau đó đứng dậy kéo cửa cuốn của cửa tiệm xuống, đổ chén trà của tôi đi, đổi cho tôi một chén khác.

Tôi vừa ngửi, đ*, Thiết Quan Âm thượng hạng, xem ra tôi được nâng lên một đẳng cấp rồi.

他擦了擦头上的汗,说:"不知道这位手艺人怎么称呼啊?"

Ông ta lau mồ hôi trên trán, nói: "Không biết vị thợ thầy này xưng hô thế nào nhỉ?"

我一看,这人果然不是单纯的古董贩子,反应这样快,一眼就看出这东西是倒出来的,也不由要表示一下,客气地一笑:"敝姓吴,老板怎么称呼?"

Tôi nhìn qua, người này quả nhiên không phải dân buôn đồ cổ đơn thuần, phản ứng nhanh như vậy, liếc mắt cái là nhận ra thứ này là hàng đổ ra, cũng không khỏi phải thể hiện một chút, khách sáo cười nói: "Tôi họ Ngô, ông chủ xưng hô thế nào?"

那人说:"您叫我老海就行了,那吴师傅,你这东西,打算出手,还是让我看看?"

Người kia nói: "Ngài cứ gọi tôi là Lão Hải là được rồi.

Thế Ngô sư phụ, thứ này của cậu, định bán, hay là để tôi xem giúp?"

我说:"当然是出手,这东西,放在身边有点烫手。"

Tôi nói: "Đương nhiên là bán, thứ này, để bên người hơi bỏng tay."

他在房间里来回走了几下,问:"全不全?"

Ông ta đi lại vài vòng trong phòng, hỏi: "Có đủ bộ không?"

我点点头:"一片都不会少你的,刚出锅,还热火着呢。"

Tôi gật đầu: "Một mảnh cũng không thiếu của ông, mới ra lò, còn nóng hổi đấy."

他坐来下,轻声说:"那吴师傅,我是个爽快人,我敢说你这东西,这整个英雄山,就我敢收,不过这东西我再正儿八经的和你抬杠也没必要,宝贝是讲不来价格的,你就和我说个心里话,多少肯放,我给你打个电话问问我朋友去。"

Ông ta ngồi xuống, khẽ nói: "Thế Ngô sư phụ này, tôi là người sảng khoái, tôi dám nói thứ này của cậu, cả cái chợ Anh Hùng Sơn này, chỉ có tôi dám thu.

Có điều thứ này tôi có đôi co trả giá đàng hoàng với cậu cũng không cần thiết, bảo vật thì không nói thách được, cậu cứ nói cho tôi một câu thật lòng, bao nhiêu thì chịu buông, tôi gọi điện thoại hỏi bạn tôi giúp cậu."

我想了一下,心说怎么样也要来个一百万,大奎家里得给个三十万,潘子住院最起码也得二十万,那胖子早就留了话,东西卖了钱给他汇过去,这样一个人也就分个十万多点,想起自己用命搏回来的,不由又觉得太少。不过三叔说了,倒斗就是这样的事情,不然为什么倒了一个又一个,你倒一个斗带出来的东西再珍贵,这没人买还是垃圾,所以太好的东西他都不拿,拿了也卖不掉。

Tôi suy nghĩ một chút, bụng bảo dạ thế nào cũng phải được một trăm vạn, nhà Đại Khuê phải đưa ba mươi vạn, Phan Tử nằm viện ít nhất cũng phải hai mươi vạn, tên Bàn Tử kia sớm đã nhắn lại, đồ bán được tiền thì gửi qua cho hắn, như vậy một người cũng chia được hơn mười vạn một chút, nghĩ tới việc bản thân dùng mạng đổi về, không khỏi lại cảm thấy quá ít.

Nhưng Chú Ba nói rồi, đổ đấu là chuyện như thế, nếu không tại sao đổ hết cái này đến cái khác, cậu đổ một cái đấu mang đồ ra dù trân quý đến đâu, không có người mua thì cũng là rác rưởi, cho nên đồ tốt quá chú ấy đều không lấy, lấy cũng bán không được.

我估计着一百万差不多了,对那老海做了个一的手势,他不由一喜,我一看有点郁闷,难道报低了?他拿起电话,躲到角落里轻声打了个电话,打完后开心得脸都红了,说:"成了!成了!吴师傅你运气好,这东西还真有人等着要,这一百万不高,二百万不低,我给你报了个一百二十万,你看怎么样?"

Tôi ước tính một trăm vạn là tàm tạm, bèn giơ một ngón tay với Lão Hải.

Ông ta không kìm được vui mừng, tôi nhìn mà hơi uất ức, chẳng lẽ báo giá thấp rồi?

Ông ta cầm điện thoại, trốn vào trong góc khẽ gọi một cuộc, gọi xong mặt đỏ bừng vì vui sướng, nói: "Được rồi!

Được rồi!

Ngô sư phụ cậu số đỏ thật, thứ này đúng là có người đang đợi mua, một trăm vạn này không cao, hai trăm vạn không thấp, tôi báo giá giúp cậu một trăm hai mươi vạn, cậu thấy thế nào?"

我一听,心说鬼知道你报了多少,说不定翻了一倍给人家报了过去,不过已经比我预计的多了二十万出来,心里还是很舒服,笑道:"那您那份,还是老规矩?"

Tôi nghe xong, bụng bảo dạ quỷ mới biết ông báo bao nhiêu, nói không chừng gấp đôi rồi báo cho người ta, nhưng đã nhiều hơn dự tính của tôi hai mươi vạn, trong lòng vẫn rất thoải mái, cười nói: "Thế phần của ông, vẫn theo quy tắc cũ?"

他笑了笑,说:"不瞒您说,那边已经多预备了点给我,这120万您就收好,咱们第一次买卖,就当交个朋友,下次有这种东西,就别往别人家问了,直接送我这儿来,你要多少价,我都给你往上抬个20%,要知道,我背后的主顾,可是大大的有钱。别人不敢收的东西,他都敢收。"

Ông ta cười cười, nói: "Không giấu gì ngài, bên kia đã chuẩn bị dư ra một chút cho tôi rồi, một trăm hai mươi vạn này ngài cứ cầm lấy.

Chúng ta lần đầu làm ăn, coi như kết giao bằng hữu, lần sau có thứ này, thì đừng hỏi nhà khác nữa, cứ trực tiếp đưa đến chỗ tôi, cậu muốn giá bao nhiêu, tôi đều nâng lên cho cậu hai mươi phần trăm.

Phải biết là, chủ nhân sau lưng tôi, cực kỳ cực kỳ nhiều tiền.

Thứ người khác không dám thu, ông ấy đều dám thu."

他看我有点着急的样子,忙说:"您坐一会儿,我给你预备钱去,这120万,别看我这铺子小,帐上还不缺,我先垫给您。"

Ông ta thấy tôi có vẻ hơi sốt ruột, vội nói: "Ngài ngồi một lát, tôi đi chuẩn bị tiền cho ngài, một trăm hai mươi vạn này, đừng nhìn tiệm tôi nhỏ, trong sổ sách vẫn không thiếu, tôi ứng trước cho ngài."

我正愁这钱怎么收,看他这么爽快,正合我意思,就点头说道:"那敢情好,我正需要急钱。那就麻烦了。"

Tôi đang lo khoản tiền này thu thế nào, thấy ông ta sảng khoái như vậy, đúng ý tôi quá, bèn gật đầu nói: "Thế thì tốt quá, tôi đang cần tiền gấp.

Vậy làm phiền ông rồi."

老海点了点头,叫了一声,把外面那小女孩子叫了进来,打发她去取120万的现金支票。

Lão Hải gật đầu, gọi một tiếng, gọi cô bé bên ngoài vào, sai cô đi lấy tấm séc tiền mặt trị giá một trăm hai mươi vạn.

那女孩子吃惊的看了我一眼,也没有多话,就跑了出去,老海又道:"吴师傅,您这一回,不可能就倒出这一件东西啊,是不是还有好东西留着啊?您要不嫌弃,就拿几件给我老海见识见识。"

Cô bé kinh ngạc nhìn tôi một cái, cũng không nói nhiều, liền chạy đi.

Lão Hải lại nói: "Ngô sư phụ, chuyến này của ngài, không thể nào chỉ đổ ra mỗi món này thôi nhỉ, có phải còn giữ đồ tốt không?

Ngài nếu không chê, thì lấy vài món ra cho Lão Hải tôi mở mang tầm mắt."

我本来不想和他多说这些,不过说起来,我倒是想起三叔的那两条铜鱼了,就给他形容了一下,他一听,脸色一变,压低了声音问我:"您真有这东西?"

Tôi vốn dĩ không muốn nói nhiều với ông ta chuyện này, nhưng nhắc tới thì tôi lại nhớ tới hai con cá đồng của Chú Ba, bèn mô tả cho ông ta một chút.

Ông ta vừa nghe, sắc mặt biến đổi, hạ giọng hỏi tôi: "Ngài thật sự có thứ này?"

我看他表情有变,以为有戏,忙问:"当然有,怎么,老板你知道这东西的来历?"

Tôi thấy biểu cảm của ông ta thay đổi, tưởng có cơ hội, vội hỏi: "Đương nhiên là có, sao, ông chủ biết lai lịch thứ này à?"

老海摇摇头,表情很怪,他想了想,说道:"吴师傅,我和你说的事情,你可千万别说出去,这两条鱼,我虽然不知道来历,但是我却知道有一个人在出很高的价钱收购,这价钱,高到什么程度,你绝对想象不到,就连我这样一年几千万买卖的人,也不敢去接他的生意。你要是真有这个东西,我劝您也别做,富贵烧身。"

Lão Hải lắc đầu, biểu cảm rất lạ, ông ta nghĩ ngợi rồi nói: "Ngô sư phụ, chuyện tôi nói với cậu, cậu ngàn vạn lần đừng nói ra ngoài.

Hai con cá này, tuy tôi không biết lai lịch, nhưng tôi lại biết có một người đang ra giá rất cao để thu mua.

Cái giá này, cao đến mức độ nào, cậu tuyệt đối không tưởng tượng nổi đâu, ngay cả người một năm buôn bán mấy chục ngàn vạn tệ như tôi, cũng không dám nhận mối làm ăn của người đó.

Cậu nếu thật sự có thứ này, tôi khuyên cậu cũng đừng dây vào, phú quý thiêu thân đấy."

我听了就问"您知道不知道那人是谁?说实在话,我只想知道这东西是干什么用的,其他的我倒不是很介意。"

Tôi nghe xong bèn hỏi: "Ông có biết người đó là ai không?

Nói thật, tôi chỉ muốn biết thứ này dùng để làm gì thôi, những cái khác tôi cũng không để tâm lắm."

老海摇了摇头:"我没见过,是个女人,姓霍,其他的我一概不知道,而且我们的江湖规矩,主顾的信息,就算知道也不能往外说。"

Lão Hải lắc đầu: "Tôi chưa gặp bao giờ, là một người phụ nữ, họ Hoắc, những cái khác tôi hoàn toàn không biết.

Hơn nữa quy tắc giang hồ của chúng tôi, thông tin của khách hàng, cho dù biết cũng không thể nói ra ngoài."

我看他说的坚决,知道再问只能碰钉子,就只好作罢。两个又聊了些别的

Tôi thấy ông ta nói kiên quyết, biết hỏi nữa chỉ tổ đụng phải đinh, đành phải bỏ qua.

Hai người lại tán gẫu chuyện khác, "Khoan đã, thế cái lư hương Cấm Bà này?

Hay là ông cũng chiết khấu cho tôi một cái giá?

Tôi lấy luôn một thể."

那人嘿了一声,甩手道:"这个您喜欢就拿去,算我送您的,不瞒您说,这东西我收来就五块钱,刚才扯那么多那是套您呢。"

Người kia "Hây" một tiếng, phất tay nói: "Cái này ngài thích thì cứ cầm lấy, coi như tôi tặng ngài.

Không giấu gì ngài, thứ này tôi thu vào có năm đồng thôi, ban nãy chém gió nhiều như thế là để lừa ngài đấy."

我看看这东西上面略有灰,知道肯定放了很久没卖出去,这种东西太冷门了,买下来不好转手,一般买来投资的人都不喜欢,乱世黄金,盛世古董,卖不出去的东西,店主自然也不会再花心思,我摇摇头,反正这东西我买了也没什么用,就起身走了。

Tôi nhìn thấy trên món đồ này có một lớp bụi mỏng, biết rằng chắc chắn nó đã được đặt ở đây rất lâu rồi mà không bán được.

Loại đồ vật này quá ít người quan tâm, mua về khó sang tay, những người mua để đầu tư thường không thích.

Thời loạn kim tiền, thời bình đồ cổ.

Đồ vật không bán được, chủ tiệm tự nhiên cũng không còn để tâm nữa.

Tôi lắc đầu, dù sao thì mua thứ này về tôi cũng chẳng có ích gì, nên đứng dậy bỏ đi.

三个小时后,我怀揣巨款,心情好到天上去了,回酒店的时候都不想正眼看那门卫,后面还有人议论,这小子是不是中五百万了,你看那眼睛笑得睁不开了。我整理一下钱后,把所有的账先结了,又到医院交了潘子一个月的代护费用,给胖子打了钱,然后郑重地把自己那一份,连同三叔欠我的,全部转到了自己的卡里。心里总算舒坦了。

Ba tiếng đồng hồ sau, tôi mang theo một số tiền lớn, tâm trạng vui vẻ đến tận trời xanh.

Khi về khách sạn, tôi còn không thèm nhìn thẳng vào mặt người gác cổng.

Phía sau còn có người bàn tán, thằng nhóc này có phải trúng năm triệu rồi không, nhìn đôi mắt nó cười đến không mở ra được kìa.

Sau khi tôi sắp xếp lại tiền, thanh toán hết tất cả các hóa đơn trước, rồi đến bệnh viện đóng tiền Phan Tử nằm viện một tháng, gửi tiền cho Bàn Tử, sau đó trịnh trọng chuyển phần tiền của mình, cùng với số tiền Chú Ba nợ tôi, tất cả vào thẻ của mình.

Trong lòng cuối cùng cũng thấy thoải mái.

这接下来的几天我找了个当地的漂亮导游,到我济南各个地方都去兜了一圈,不过我从杭州过来,看人文景看多了,越看兴致越低,后来干脆就去找了个钓厂钓鱼去了,这几天是我活的最安逸的时候,不过人有点贱,这安逸了,竟然开始怀念倒斗时的那种刺激了。

Mấy ngày tiếp theo tôi thuê một cô hướng dẫn viên xinh đẹp tại địa phương, đi chơi khắp mọi nơi ở Tế Nam.

Nhưng tôi từ Hàng Châu đến, xem danh lam thắng cảnh nhiều rồi, càng xem càng mất hứng.

Sau này dứt khoát tìm một chỗ câu cá giải trí.

Mấy ngày này là lúc tôi sống an nhàn nhất, nhưng con người thật là tiện, được an nhàn rồi, lại bắt đầu nhớ đến cái cảm giác kích thích khi đổ đấu rồi.

再逛下去也没有意思,我打车回了酒店,刚一进门,就听见电话再响,我一开始听到含糊的什么什么医院,以为是潘子醒了,一问才知道不是,电话是海南打来的,一听之下大吃一惊,原来是三叔出了事情,现在在急救,我一听一脑门子汗,对方说你快来吧,这事情有点棘手,弄不好可能有最坏的情况发生,吓的我够戗,忙收拾了一下东西,连夜上了海南的飞机。

Dạo thêm cũng không có ý nghĩa gì, tôi bắt taxi về khách sạn.

Vừa bước vào cửa, tôi đã nghe thấy điện thoại reo.

Ban đầu tôi nghe loáng thoáng thấy "bệnh viện" gì đó, cứ nghĩ là Phan Tử tỉnh rồi.

Hỏi ra mới biết không phải, cuộc gọi là từ Hải Nam.

Nghe xong, tôi giật mình kinh hãi.

Hóa ra là Chú Ba xảy ra chuyện, hiện đang cấp cứu.

Tôi nghe xong toát mồ hôi lạnh cả trán.

Đối phương nói: "Cậu mau đến đi, chuyện này hơi khó giải quyết, không khéo có thể xảy ra tình huống xấu nhất."

Sợ tôi hồn vía lên mây, tôi vội vàng thu dọn đồ đạc, lên máy bay đi Hải Nam ngay trong đêm.

东耽搁一下西耽搁一下,我在第二天中午终于到了那家医院,三叔在加护病房里,我进不去,和医生表明了身份后,他的主治医生看见我,把我叫到办公室,问:"你就是死者的家属?"

Hết chỗ này gián đoạn một chút, chỗ kia gián đoạn một chút, cuối cùng đến trưa ngày hôm sau tôi mới tới được bệnh viện đó.

Chú Ba đang ở phòng chăm sóc đặc biệt, tôi không vào được.

Sau khi trình bày danh tính với bác sĩ, bác sĩ điều trị chính của chú ấy thấy tôi liền gọi tôi vào văn phòng, hỏi: "Cậu là người nhà của người đã mất à?"

"死~死者!"我吓了一跳:"三叔他~难道"

"Người... người đã mất!"

Tôi giật mình: "Chú Ba tôi... chẳng lẽ..."

那医生忙道歉:"不好意思不好意思,最近这里发生了一起海难,死了30几个人,我这几天昏头了,应该是伤者,你是伤者的家人吗?"

Vị bác sĩ vội vàng xin lỗi: "Xin lỗi, xin lỗi, gần đây ở đây xảy ra một vụ tai nạn hàng hải, chết hơn 30 người, mấy ngày nay tôi quay cuồng quá.

Phải là người bị thương mới đúng, cậu là người nhà của người bị thương à?"

我点点头:"我是他侄子"医生说:"你叔叔已经脱离危险了,只是现在还不能说话,你可以放心。"

Tôi gật đầu: "Tôi là cháu trai của ông ấy."

Bác sĩ nói: "Chú của cậu đã qua cơn nguy kịch rồi, chỉ là bây giờ vẫn chưa thể nói chuyện, cậu có thể yên tâm."

"他怎么受伤的?"我问

"Ông ấy bị thương như thế nào?"

Tôi hỏi.

医生看了我一眼,有点为难的说:"我不知道,他是被一个渔民连同那些海难的人一起救上来的,当时已经深度昏迷了,但是他又不在乘客名单里,最奇怪的是,他手里抓着这个东西。"

Bác sĩ liếc tôi một cái, hơi khó xử nói: "Tôi không rõ.

Ông ấy được một ngư dân cứu lên cùng với những người gặp tai nạn hàng hải kia.

Lúc đó đã hôn mê sâu, nhưng ông ấy lại không có trong danh sách hành khách.

Điều kỳ lạ nhất là, ông ấy nắm chặt cái này trong tay."

医生拉开抽屉,那出一出袋子递给我,我一看,里面竟然是一屡长头发,那医生接着说:'他在昏迷的时候还在说一些胡话,你们家乡话我听不懂,但我想应该和他受伤的原因有关,就录了下来,不如你听一下。'

Bác sĩ kéo ngăn kéo, lấy ra một chiếc túi rồi đưa cho tôi.

Tôi nhìn vào, bên trong lại là một lọn tóc dài.

Vị bác sĩ nói tiếp: "Lúc hôn mê ông ấy vẫn nói mê sảng.

Tiếng địa phương của nhà cậu tôi không hiểu, nhưng tôi nghĩ nó có liên quan đến nguyên nhân ông ấy bị thương, nên đã ghi âm lại.

Hay cậu nghe thử xem."

我说了声谢谢,他拿出手机一按,我就听到了三叔的声音,他不段的重复着一句话,我仔细一听,原来他说的是:"电梯!"

Tôi nói cảm ơn.

Ông ta lấy điện thoại ra bấm một cái, tôi liền nghe thấy giọng Chú Ba.

Chú ấy liên tục lặp lại một câu.

Tôi lắng tai nghe kỹ, hóa ra chú ấy nói là: "Thang máy!"

我听了好几遍,确定自己没有听错,不由纳闷,那医生问我:"你能听懂是什么吗?"

Tôi nghe đi nghe lại mấy lần, xác nhận mình không nghe nhầm, không khỏi lấy làm lạ.

Vị bác sĩ hỏi tôi: "Cậu có hiểu đó là gì không?"

我苦笑:"能是能听懂,但是不知道他是什么意思。"

Tôi cười khổ: "Hiểu thì có thể hiểu, nhưng không biết ông ấy có ý gì."

我刚才已经断定三叔必然是从海斗里出来,在海斗里出来的人,怎么样也应该叫一些类似与棺材,粽子之类的词,怎么在这里叫电梯呢?难道他在那海斗里看到一部电梯?那也太离奇了,我以为自己听成另一个词语,但是电梯这个字的发音在我家乡话里是独一无二的。

Tôi vừa nãy đã dám chắc Chú Ba chắc chắn là đi ra từ Hải đấu.

Người đi ra từ Hải đấu, dù thế nào cũng nên gọi những từ tương tự như quan quách, bánh tông, vân vân.

Sao lại gọi là thang máy ở đây?

Chẳng lẽ chú ấy thấy một cái thang máy trong cái Hải đấu đó?

Chuyện đó quá đỗi kỳ lạ.

Tôi cứ nghĩ mình nghe nhầm thành một từ khác, nhưng phát âm của từ "thang máy" trong tiếng địa phương nhà tôi là độc nhất vô nhị.

为了证实我的想法,我又问医生:"他获救的时候是不是穿着潜水服?"

Để xác nhận suy nghĩ của mình, tôi lại hỏi bác sĩ: "Ông ấy được cứu lên lúc có mặc đồ lặn không?"

医生点点头:"我也是听那些当兵的说的,发现他的时候,他身上穿着一件紧身的潜水服,但是没有任何的潜水设备,他们后来查了一下,和你叔叔一起出去的还有四个当地人,他租了当地一艘中型的渔船,在海事局登记过,说是科学考察,现在这另外四个人都失踪了,那些营救人员还在那个地方寻找。他们估计你叔叔是顺着海流飘过来的,但具体出事是在什么地方,不好估计。"

Bác sĩ gật đầu: "Tôi cũng nghe những người lính nói lại.

Khi phát hiện ra ông ấy, trên người ông ấy mặc một bộ đồ lặn bó sát, nhưng không có bất kỳ thiết bị lặn nào.

Sau đó họ điều tra, cùng đi ra ngoài với chú của cậu còn có bốn người địa phương khác.

Ông ấy thuê một chiếc thuyền đánh cá cỡ trung bình của địa phương, đã đăng ký với Cục Hải sự, nói là khảo sát khoa học.

Bây giờ bốn người kia đều mất tích.

Những nhân viên cứu hộ vẫn đang tìm kiếm ở khu vực đó.

Họ phỏng đoán chú của cậu trôi dạt theo hải lưu, nhưng cụ thể xảy ra chuyện ở đâu thì rất khó xác định."

我叹了口气,自己估计的没错,三叔应该是又进了一次海斗,但是他是怎么找到的呢?难道他当时和我说找不到那个海斗,是骗我的?这老狐狸到底瞒着我什么事情。

Tôi thở dài một hơi.

Tôi đoán không sai, Chú Ba hẳn lại đi vào Hải đấu một lần nữa.

Nhưng chú ấy tìm thấy nó bằng cách nào?

Chẳng lẽ lúc đó chú ấy nói với tôi là không tìm thấy cái Hải đấu đó là lừa tôi?

Lão hồ ly này rốt cuộc đang giấu tôi chuyện gì.

那医生看我在那里不说话,就先告辞出去工作了,我呆在他办公室里也不好意思,留了一张名片就走了,才走到医院门口,忽然有一个手机响。

Vị bác sĩ thấy tôi đứng đó không nói gì, liền cáo từ ra ngoài làm việc.

Tôi ở trong văn phòng ông ấy cũng không tiện, để lại một danh thiếp rồi rời đi.

Vừa đi đến cổng bệnh viện, đột nhiên một chiếc điện thoại di động reo lên.

我的手机已经关掉了,因为怕影响医院里的仪器,所以一开始我以为是别人的手机,可是这声音非常的刺耳,离我非常的近,我仔细一听,果然是从我的包里发出来的。

Điện thoại di động của tôi đã tắt nguồn, vì tôi sợ làm ảnh hưởng đến thiết bị trong bệnh viện.

Nên ban đầu tôi tưởng là điện thoại của người khác.

Nhưng âm thanh này vô cùng chói tai, lại rất gần tôi.

Tôi lắng nghe kỹ, quả nhiên là phát ra từ trong túi của tôi.

我疑惑的打开,突然浑身一震,只见那只我在森林里找到的手机,正在不停的闪烁。

Tôi nghi hoặc mở túi ra, đột nhiên toàn thân chấn động.

Chỉ thấy chiếc điện thoại di động mà tôi tìm thấy trong rừng đang không ngừng nhấp nháy.

这下子我有点发蒙,我早就忘记这东西的存在了,没想到它还在我的包里,而且时间这样长了还能响,我还没见过一只手机的电池可以坚持这么久。

Lần này tôi có chút ngẩn người.

Tôi đã quên mất sự tồn tại của thứ này từ lâu, không ngờ nó vẫn còn trong túi tôi, hơn nữa thời gian lâu như vậy rồi mà nó vẫn reo được.

Tôi chưa từng thấy loại pin điện thoại nào có thể duy trì lâu đến thế.

我犹豫了一下,这只手机应该是我们前一批盗墓贼在森林里丢失的,那些奇怪的老外不知道来那地方干什么,也许这个电话能找到点线索,如果有什么不对劲我就直接挂掉好了,我想到这里,把手机放到耳边就按下下通话的按纽.

Tôi do dự một lát.

Chiếc điện thoại này hẳn là do nhóm đổ đấu trước đó đánh rơi trong rừng.

Mấy người nước ngoài kỳ lạ kia không biết đến nơi đó làm gì, có lẽ cuộc gọi này có thể tìm ra chút manh mối.

Nếu có gì không ổn tôi sẽ cúp máy ngay.

Nghĩ đến đây, tôi áp điện thoại vào tai và nhấn nút nghe.

电话一通,我就听到里面有个女人说:"吴先生,你好"

Điện thoại vừa thông, tôi liền nghe thấy một giọng phụ nữ nói: "Chào Ngô tiên sinh."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 7: Đổi trời rồi


想着,船一震,后面的渔老大起锚开船了,船的抖动开始剧烈起来,因为是老旧的船,不仅仅是左右的摇晃,还有一种不规则的前后摇摆,非常的不舒服,我还没撑到10分钟,就跑出去趴到船边上吐起来。这个时候,我发现,才几分钟的工夫,已经变天了,而且奇妙的是,因为海浪的关系,海水是在船舷的上面,非常的恐怖。

Đang nghĩ ngợi thì con tàu rung lên, lão ngư dân phía sau đã nhổ neo cho tàu chạy, thân tàu bắt đầu rung lắc dữ dội.

Vì là tàu cũ nát, không chỉ lắc lư trái phải mà còn chòng chành trước sau rất không theo quy luật, vô cùng khó chịu.

Tôi còn chưa chịu đựng được đến 10 phút đã phải chạy ra nhoài người lên mạn tàu mà nôn thốc nôn tháo.

Lúc này tôi mới phát hiện, chỉ mới vài phút đồng hồ mà trời đã đổi gió.

Hơn nữa kỳ lạ là, do sóng lớn, nước biển dâng cao hơn cả mạn tàu, trông vô cùng đáng sợ.

我站在甲板上,不是很能站的稳,觉得有点危险,但是吐在船仓里又太没有尊严了,至少我也是被误当成倒斗的高手绑架来的,怎么也要有个高手的样子,我抱住一块突出的铁环,这个时候,我隐隐约约的,看到船的左侧,那高起的海浪后面,好象有什么东西。

Tôi đứng trên boong tàu, đứng không vững lắm, cảm thấy hơi nguy hiểm.

Nhưng nôn trong khoang thuyền thì lại quá mất mặt, ít nhất tôi cũng là kẻ bị bắt cóc vì bị lầm tưởng là cao thủ đổ đấu, thế nào cũng phải ra dáng cao thủ một chút.

Tôi ôm lấy một cái vòng sắt lồi ra, đúng lúc này, tôi loáng thoáng nhìn thấy bên mạn trái con tàu, phía sau ngọn sóng dâng cao kia dường như có thứ gì đó.

因为距离比较远,我看不太清楚,只觉得是一艘船,又不像,这个时候那个女人从我身后走过,我一把抓住她,指着那地方大声说:"你看看那个是什么东西!"

Vì khoảng cách khá xa nên tôi nhìn không rõ lắm, chỉ cảm thấy đó là một con tàu, nhưng lại không giống.

Lúc này người phụ nữ kia đi ngang qua sau lưng tôi, tôi bèn túm lấy cô ta, chỉ vào chỗ đó rồi lớn tiếng nói: "Cô nhìn xem đằng kia là cái gì!"

想着,船一震,后面的渔老大起锚开船了,船的抖动开始剧烈起来,因为是老旧的船,不仅仅是左右的摇晃,还有一种不规则的前后摇摆,非常的不舒服,我还没撑到10分钟,就跑出去趴到船边上吐起来。这个时候,我发现,才几分钟的工夫,已经变天了,而且奇妙的是,因为海浪的关系,海水是在船舷的上面,非常的恐怖。

Đang suy nghĩ, chiếc thuyền rung lên.

Lão ngư dân ở phía sau nhổ neo, bắt đầu cho thuyền chạy.

Sự rung lắc của thuyền bắt đầu trở nên dữ dội.

Vì là thuyền cũ kỹ, không chỉ lắc lư ngang dọc, mà còn có cả sự lắc lư tiến lùi không đều, vô cùng khó chịu.

Tôi chưa chống đỡ được mười phút, đã phải chạy ra ngoài nôn mửa bên mạn thuyền.

Lúc này, tôi phát hiện ra, chỉ trong vài phút, trời đã trở mặt rồi.

Và điều kỳ lạ là, do sóng biển, nước biển lại cao hơn cả mạn thuyền, vô cùng đáng sợ.

我站在甲板上,不是很能站的稳,觉得有点危险,但是吐在船仓里又太没有尊严了,至少我也是被误当成倒斗的高手绑架来的,怎么也要有个高手的样子,我抱住一块突出的铁环,这个时候,我隐隐约约的,看到船的左侧,那高起的海浪后面,好象有什么东西。

Tôi đứng trên boong, không thể đứng vững lắm, cảm thấy hơi nguy hiểm.

Nhưng nôn trong khoang thuyền thì lại quá mất thể diện.

Dù sao tôi cũng là người bị bắt cóc vì bị lầm là cao thủ đổ đấu, thế nào cũng phải giữ dáng vẻ cao thủ.

Tôi ôm chặt một cái vòng sắt lồi ra.

Lúc này, tôi lờ mờ thấy, bên mạn trái của thuyền, phía sau con sóng cao, hình như có thứ gì đó.

因为距离比较远,我看不太清楚,只觉得是一艘船,又不像,这个时候那个女人从我身后走过,我一把抓住她,指着那地方大声说:"你看看那个是什么东西!"

Vì khoảng cách khá xa, tôi nhìn không rõ lắm, chỉ thấy nó giống một con thuyền, nhưng lại không phải.

Đúng lúc này, người phụ nữ kia đi ngang qua sau lưng tôi.

Tôi túm chặt lấy cô ấy, chỉ vào chỗ đó và lớn tiếng nói: "Cô nhìn xem, cái thứ kia là gì!"

她身上头发湿湿的,被风吹得乱甩,仔细听了一下说:"他们好像看到一艘船。"

Tóc cô ấy ướt sũng, bị gió thổi bay loạn xạ.

Cô ấy lắng tai nghe một lúc rồi nói: "Họ hình như nhìn thấy một con thuyền."

船老大走到我们身边,用半生不熟的普通话说:"那边好像有艘船出了事故,按照规定,我们必须要过去看看。"

Thuyền trưởng đi đến bên cạnh chúng tôi, dùng tiếng Phổ thông nửa vời nói: "Bên kia hình như có một chiếc thuyền gặp sự cố.

Theo quy định, chúng ta phải qua xem thử."

这样做当然无可厚非,那女人点点头,船老大对他那些伙计用本地话很快发布了一系列指令,马上船就一个满舵转了方向,向左边开去。

Làm vậy đương nhiên là điều nên làm, người phụ nữ gật đầu.

Thuyền trưởng nhanh chóng ra một loạt chỉ thị bằng tiếng địa phương cho các thuyền viên của mình.

Ngay lập tức con thuyền quay mũi hết cỡ, chuyển hướng sang bên trái.

风浪中的海就像丘陵,每一个浪头都是一座山,而我们的船迎着浪头冲了过去,尔后破浪而过,每破一次船上的人就洗一次海水浴,全身湿了不知道多少次,我从来没有感觉这么亢奋过,忍不住都想号叫起来。

Biển trong gió lốc giống như những quả đồi, mỗi con sóng là một ngọn núi, và thuyền của chúng tôi đối đầu xông lên.

Sau đó, nó rẽ sóng mà đi, mỗi lần rẽ sóng, người trên thuyền lại được tắm biển một lần, toàn thân ướt sũng không biết bao nhiêu lần.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy phấn khích như vậy, không kìm được muốn hú hét lên.

我们一连翻过十几个浪头,终于可以看清楚那东西的大概轮廓了。

Chúng tôi vượt qua hơn mười con sóng liên tiếp, cuối cùng đã có thể nhìn rõ đại khái hình dáng của vật thể kia.

这个时候,我就听到船老大惊恐地大叫了一声,随即好几个船员都惊慌了起来,我忙问那女人又出了什么事情,她一听之下突然脸色大变,一把抓住我的手说:"千万别回头看,那是条鬼船!"

Lúc này, tôi nghe thấy thuyền trưởng kinh hãi hét lớn một tiếng, ngay sau đó vài thuyền viên cũng hoảng loạn.

Tôi vội hỏi người phụ nữ lại xảy ra chuyện gì, cô ấy nghe xong đột nhiên biến sắc, nắm chặt tay tôi nói: "Tuyệt đối đừng quay đầu lại nhìn, đó là thuyền ma!"

当天下午,我们自清澜港出发,第一段航程十分紧凑,如果天气正常,预计时间十二小时就可以完成,这已经是这艘船所能达到的极限速度。我第一次出远海,心情非常的兴奋,在船头远眺,大陆逐渐远去,前方就是世界上最神秘的海洋南中国海,自古以来,埋藏在这片广遨蓝色之下的秘密数不胜数,我们这一次,仓促成行,不知道能不能探得这扑朔迷离之下万一。

Chiều hôm đó, chúng tôi xuất phát từ cảng Thanh Lan, chặng đường đầu tiên rất khẩn trương, nếu thời tiết bình thường, dự kiến mười hai tiếng là xong, đây đã là tốc độ giới hạn mà con tàu này đạt được.

Lần đầu tôi ra khơi xa, tâm trạng vô cùng phấn khích, đứng ở mũi tàu nhìn ra xa, đại lục dần lùi lại, phía trước là Biển Đông bí ẩn nhất thế giới.

Từ xưa đến nay, bí mật chôn giấu dưới màu xanh bao la này nhiều không đếm xuể, chúng tôi lần này đi vội vàng, không biết có thể khám phá được một phần vạn dưới màn sương mù mịt kia không.

渔船顺风而行,天气似乎一直大好,不知道能维持多少时间,船夫们第一次接触考察队伍,对于我们这些神秘的陌生人很好奇,不时在那边切切私语,猜测我们出海的目的。

Tàu cá thuận gió mà đi, thời tiết có vẻ rất tốt, không biết duy trì được bao lâu.

Các thuyền viên lần đầu tiếp xúc với đội khảo sát, rất tò mò về những người lạ bí ẩn như chúng tôi, thỉnh thoảng lại xì xào bàn tán, đoán mục đích ra khơi của chúng tôi.

在大海中景色单调,让我留下印象的,是那种宝石一般的蓝色,广阔无垠的深蓝色与远天衔接,犹如一块缓缓隆起的蓝色大陆,闪着远古洪荒般的琉璃之光。

Cảnh sắc trên biển đơn điệu, thứ để lại ấn tượng cho tôi là màu xanh lam như ngọc thạch kia, màu xanh thẫm bao la vô tận nối liền với chân trời xa xăm, giống như một lục địa màu xanh đang từ từ nhô lên, lấp lánh ánh sáng lưu ly của thuở hồng hoang.

刚开始的那几海里,我们经过不少非常袖珍的岛屿,大部分都是光秃秃,少数上面有几棵矮小的灌木,似乎在昭彰生命的张狂,阿宁和我说,能在水面看到的岛屿只是这里岛屿链的一小部分,大的珊瑚礁原来都在水下,经千千万万年珊瑚虫体堆积造礁作用,才逐渐露出水面,但造礁过程是继续不断的,所以至今还有星罗密布的礁滩、暗沙处于水下或时隐时露于水中。

Mấy hải lý đầu tiên, chúng tôi đi qua khá nhiều hòn đảo tí hon, phần lớn đều trọc lóc, thiểu số bên trên có vài bụi cây thấp bé, dường như đang phô trương sự ngông cuồng của sự sống.

A Ninh bảo tôi, những hòn đảo nhìn thấy trên mặt nước chỉ là một phần nhỏ của chuỗi đảo ở đây, những rạn san hô lớn vốn đều nằm dưới nước, trải qua hàng ngàn vạn năm san hô chết đi tích tụ tạo rạn mới dần lộ ra mặt nước, nhưng quá trình tạo rạn vẫn tiếp tục không ngừng, nên đến nay vẫn còn chi chít bãi đá ngầm, cồn cát nằm dưới nước hoặc lúc ẩn lúc hiện trong nước.

出了港区之后,我们很长时间都看不到和陆地有关的东西,就连海鸟都消失不见了,偶而有几艘与我们类似的渔船出现在海平线上,告诉我们仍旧行驶在人类的活动范围之内。然而,这一丝的兴奋,很快又会消失在无垠的天地尽头。

Ra khỏi khu vực cảng, rất lâu chúng tôi không nhìn thấy thứ gì liên quan đến đất liền nữa, ngay cả chim biển cũng biến mất tăm, thỉnh thoảng có vài chiếc tàu cá giống chúng tôi xuất hiện ở đường chân trời, báo cho chúng tôi biết vẫn đang đi trong phạm vi hoạt động của con người.

Tuy nhiên, chút hưng phấn này rất nhanh lại biến mất nơi cuối trời vô tận.

我这个时候才明白,为什么那个神秘的墓主人会选择将自己的陵墓安放在大海里,几乎无限广阔的海面,没有任何可以辨认的特征,在当年没有任何卫星定位和航行记录的情况,盗墓者要凭眼睛找到掩藏在海平面之下的痕迹,几乎是天方夜潭。

Lúc này tôi mới hiểu, tại sao chủ nhân ngôi mộ bí ẩn kia lại chọn đặt lăng mộ của mình trong biển cả.

Mặt biển rộng lớn gần như vô hạn, không có bất kỳ đặc điểm nào để nhận biết, trong điều kiện không có định vị vệ tinh và nhật ký hàng hải như năm xưa, kẻ trộm mộ muốn dựa vào mắt thường tìm ra dấu vết che giấu dưới mặt biển, gần như là chuyện nghìn lẻ một đêm.

不过,我们这一次虽然有精确的航线记录,也有先进的设备,但是要在短短的四五个小时里,透过这里目视30多米深的清澈海水,找到掩藏在海底沙层中的古墓,我同样没有把握。

Có điều, lần này tuy chúng tôi có ghi chép hải trình chính xác, cũng có thiết bị tiên tiến, nhưng muốn trong vòng bốn năm tiếng ngắn ngủi, nhìn xuyên qua nước biển trong vắt sâu hơn 30 mét này, tìm ra cổ mộ giấu trong tầng cát đáy biển, tôi cũng không nắm chắc.

船头一个年轻的渔夫突然唱起了有名的海南渔歌,充满乡土气息的歌声回荡在空旷的海面上,也不知道是这歌声映衬了眼前景色的宁静苍茫,还是这里的景色使得歌声更加的空灵悠远,我烦躁的心情逐渐平复下来。

Một ngư dân trẻ ở mũi tàu bỗng cất tiếng hát bài ca chài nổi tiếng của Hải Nam, tiếng hát đậm chất quê hương vang vọng trên mặt biển trống trải, cũng không biết là tiếng hát làm nền cho sự tĩnh lặng mênh mang của cảnh sắc trước mắt, hay cảnh sắc nơi đây khiến tiếng hát thêm trống vắng xa xăm, tâm trạng phiền muộn của tôi dần bình ổn lại.

海风在开船四个小时后开始大作,船的晃动更加剧烈,甲板摩擦发出有节奏的"吱吱"声,我十几个小时的舟车劳顿,加上晕船,这么一晃,倦意袭来,逐渐睡着了。

Bốn tiếng sau khi mở máy, gió biển bắt đầu thổi mạnh, tàu lắc lư dữ dội hơn, boong tàu cọ xát phát ra tiếng "kẽo kẹt" có nhịp điệu.

Tôi mệt nhọc vì ngồi tàu xe mười mấy tiếng đồng hồ, cộng thêm say sóng, bị lắc lư như vậy, cơn buồn ngủ ập đến, dần dần ngủ thiếp đi.

这一觉也不知道睡了多久,醒过来的时候,迷迷糊糊的,感觉光线有点晦涩,还以为睡到了晚上,转头看去,原来是变天了。

Giấc này cũng không biết ngủ bao lâu, lúc tỉnh lại, mơ mơ màng màng, cảm thấy ánh sáng hơi u ám, còn tưởng ngủ đến tối rồi, quay đầu nhìn ra, hóa ra là trời đổi gió.

正巧船老大从我面前急匆匆的走过,神色有点不安,我叫住他,问道:"大师傅,看这天色,是不是要起大风?"

Đúng lúc chủ tàu vội vã đi qua trước mặt tôi, thần sắc có chút bất an, tôi gọi ông ta lại, hỏi: "Bác tài, nhìn sắc trời thế này, có phải sắp có gió lớn không?"

船老大叹了口气,指了指远方,用很生硬的普通话对我说:"是的,有风暴,大大地,要来了。"

Chủ tàu thở dài, chỉ ra xa, dùng tiếng Phổ thông rất cứng nhắc nói với tôi: "Đúng thế, có bão, to lắm, sắp đến rồi."

我顺着他的手指看去,远处的海平线上有一条诡异的黑线,将原本连成一片的天地分成两半。

Tôi nhìn theo ngón tay ông ta, trên đường chân trời xa xa có một vệt đen quỷ dị, chia đôi đất trời vốn đang liền một dải.

我问他:"那怎么办?我们还继续赶路吗?"

Tôi hỏi ông ta: "Vậy làm thế nào?

Chúng ta vẫn tiếp tục đi à?"

他摇了摇头,说道:"赶路不行地,大风,要找礁盘避风地。"

Ông ta lắc đầu nói: "Đi tiếp không được đâu, gió to, phải tìm rạn đá tránh gió thôi."

我看他表情严肃,知道这不是在危言耸听,心里也着急起来。

Tôi thấy vẻ mặt ông ta nghiêm túc, biết đây không phải chuyện giật gân, trong lòng cũng lo lắng.

我走进船仓找乃明商量,他也知道了消息,一脸愁容的对我说:"按船老大的说法,现在前面有一个气压团,必须马上改变方向,到最近的礁盘里避风,否则我们这样只配了两台发动机的小渔船,肯定会被卷进风暴圈的内部,后果不堪设想。可是这样一来,我们到达华光礁的时间,也必须往后延迟好几个小时。"

Tôi vào khoang thuyền tìm Nãi Minh thương lượng, hắn cũng đã biết tin, mặt mày ủ ê nói với tôi: "Theo lời chủ tàu, hiện giờ phía trước có một khối khí áp, bắt buộc phải đổi hướng ngay, đến rạn đá gần nhất để tránh gió, nếu không chiếc tàu cá nhỏ chỉ trang bị hai động cơ của chúng ta chắc chắn sẽ bị cuốn vào tâm bão, hậu quả khó lường.

Nhưng như vậy thì thời gian chúng ta đến đá Lồi cũng phải lùi lại mấy tiếng."

我问有没有办法走另外一条航线,这几个小时对于下面的人来说,可能就是生和死的区别,船老大听了摇摇头,说: "风暴不是不动的,很快速度,船跑不过风,想绕没时间了。"

Tôi hỏi có cách nào đi đường khác không, mấy tiếng đồng hồ này đối với người bên dưới có thể là ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Chủ tàu nghe xong lắc đầu, nói: "Bão không phải đứng yên đâu, tốc độ nhanh lắm, tàu chạy không lại gió, muốn đi đường vòng không kịp nữa rồi."

船老大说完后就大叫着调动水手去了,乃明拍了拍我的肩膀,叫我别着急,说:"这种事情也是命里注定的,急也没用,你别胡思乱想,我们尽力就行了。"

Chủ tàu nói xong thì hét lớn điều động thủy thủ.

Nãi Minh vỗ vai tôi, bảo tôi đừng vội, nói: "Chuyện này cũng là do số trời định, có vội cũng vô dụng, cậu đừng suy nghĩ lung tung, chúng ta cố gắng hết sức là được."

我看他说的中肯,回了声谢谢,当下将鞋子脱掉,赤脚加入到忙碌的水手中去。

Tôi thấy hắn nói cũng có lý, đáp một tiếng cảm ơn, rồi cởi giày, đi chân trần gia nhập vào đám thủy thủ đang bận rộn.

热带风暴来的很快,甲板上的物资还没有全部固定完毕,乌云已经连成一体,挡住了所有的阳光,大海一下子变成了骇人的黑色,海浪翻滚起来,我们一台发动机就在这个时候突然罢工,航速一下降到三节,小船几乎就是在随浪起伏,就好象激流中的一片枯叶一样无助。

Bão nhiệt đới ập đến rất nhanh, vật tư trên boong tàu còn chưa cố định xong xuôi, mây đen đã kết thành một khối, che khuất mọi ánh mặt trời.

Biển cả bỗng chốc biến thành màu đen đáng sợ, sóng biển cuộn trào.

Đúng lúc này, một động cơ của tàu đột ngột chết máy, tốc độ tàu giảm xuống còn ba hải lý một giờ, con tàu nhỏ bé gần như phó mặc cho sóng biển nhồi lên dập xuống, bất lực như một chiếc lá khô giữa dòng nước xiết.

船老大扯着已经喊哑的嗓子,一边招呼机械师去抢修,一边让我们注意无线电,如果边上有船经过,就发求救信号。

Chủ tàu gân cổ họng đã khản đặc, vừa gọi thợ máy đi sửa chữa gấp, vừa bảo chúng tôi chú ý vô tuyến điện, nếu có tàu bè đi qua thì phát tín hiệu cầu cứu.

我浑身被打上来的浪花湿透,只能拉住船舷上的铁环固定身体,船舷外面的情景犹如怒海地狱,黑色的大海在沸腾,巨浪像丘陵一座接着一座,我们一上一下,似乎在坐没有任何保险措施的云霄飞车,那种情形,如果不是亲身经历,根本无法体会。

Tôi ướt sũng người vì sóng đánh lên, chỉ biết bám chặt vào vòng sắt trên mạn tàu để cố định thân mình.

Cảnh tượng bên ngoài mạn tàu cứ như địa ngục biển khơi đang cuồng nộ, mặt biển đen ngòm sôi sục, những con sóng khổng lồ như những quả đồi nối tiếp nhau.

Chúng tôi lúc lên lúc xuống, cảm giác như đang ngồi trên tàu lượn siêu tốc mà không có bất kỳ biện pháp bảo hộ nào.

Tình cảnh đó, nếu không phải tự mình trải qua thì không thể nào cảm nhận được.

这样颠簸一直到了傍晚,船才逐渐远离了热带风暴云团,海浪稍微收敛了一些,这个时候罢工的发动机也修好了,船老大大叫着,我们开足马力,向七海里外的礁盘逃去。

Cứ chòng chành như vậy cho đến chập tối, con tàu mới dần thoát khỏi vùng mây bão nhiệt đới, sóng biển dịu đi đôi chút.

Lúc này động cơ bị hỏng cũng đã sửa xong, chủ tàu hét lớn, chúng tôi mở hết công suất, chạy trốn về phía rạn đá cách đó bảy hải lý.

我又冷又饿,被船老大叫进了船仓,里面已经有热好的姜汤水,我灌了一大碗下去,又换上防水的连体潜水服,吃了点巧克力和牛肉,这才缓过劲来。

Tôi vừa đói vừa lạnh, được chủ tàu gọi vào khoang, bên trong đã có sẵn nước gừng nóng hổi.

Tôi uống cạn một bát lớn, thay bộ đồ lặn liền thân chống nước, ăn chút sô cô la và thịt bò, lúc này mới lại sức.

随行的几个专家都给折腾的够戗,谷老头子本来就晕船,风暴一来他晕的就更厉害,迷迷糊糊的,嘴唇都变成紫色,木子齐搬东西的时候脑袋磕在门框上,满头是血,几乎没把乃明给吓死,那最年轻的伍永更要命,不会游泳还非要到甲板上来,说想体验大海激情的一面,结果一个大浪过来就找不到人了,船老大以为他给冲下去,跑过去一看,才发现他挂在船舷外面,吓的连救命都叫不出来。

Mấy vị chuyên gia đi cùng đều bị hành cho ra bã.

Lão Cốc vốn đã say sóng, bão đến lại càng say dữ dội hơn, mê man bất tỉnh, môi tím tái cả đi.

Mộc Tử Tề lúc khiêng đồ đập đầu vào khung cửa, máu me be bét, suýt nữa dọa Nãi Minh chết khiếp.

Gã trẻ tuổi nhất Ngũ Vĩnh càng "chí mạng", không biết bơi mà cứ đòi lên boong tàu, bảo là muốn trải nghiệm sự dữ dội của biển cả.

Kết quả một con sóng lớn ập đến, chẳng thấy người đâu nữa.

Chủ tàu tưởng hắn bị cuốn trôi rồi, chạy ra xem thì thấy hắn đang treo lủng lẳng bên ngoài mạn tàu, sợ đến mức không kêu được tiếng cứu mạng nào.

那女的倒是没什么,看上去还是那样冷冰冰的,似乎见惯了这样的风浪,休息期间,她也换上了紧身的防水潜水服,一边吃着东西,一边正在指挥几个人加固着固定物资的网绳,短发在海风中飘动,凹凸有致的身材陪上小麦色的皮肤,闪烁着动人的光彩。

Người phụ nữ kia thì lại chẳng làm sao cả, trông vẫn lạnh lùng như thế, dường như đã quá quen với sóng gió kiểu này.

Trong lúc nghỉ ngơi, cô ta cũng thay bộ đồ lặn chống nước bó sát, vừa ăn đồ ăn vừa chỉ huy mấy người gia cố lưới dây cố định vật tư.

Mái tóc ngắn bay trong gió biển, thân hình lồi lõm gợi cảm kết hợp với làn da màu lúa mì lấp lánh vẻ quyến rũ động lòng người.

老外船医找我商量,说谷教授有点脱水,能不能想个办法让船不要这么颠簸,我心说这老外的人道主义觉悟就是高,不过审时度势的能力就差了点,你也不看看你坐的是啥船,这颠簸不颠簸是我说了算的吗?

Ông tây bác sĩ tìm tôi thương lượng, bảo giáo sư Cốc hơi mất nước, có cách nào làm cho tàu đỡ lắc hơn không.

Tôi thầm nghĩ cái tinh thần nhân đạo của lão tây này cao thật đấy, nhưng khả năng nhìn nhận thời thế thì hơi kém.

Ông không nhìn xem mình đang ngồi trên cái tàu gì à, chuyện lắc hay không lắc đâu phải do tôi quyết định?

他让我去和船老大说一声,说是最好行驶的稳一点,我对他说:"这种事情啊,请你去找龙王爷商量,别来找我,我不负责这一块。"

Ông ta nhờ tôi đi nói với chủ tàu một tiếng, bảo là tốt nhất lái tàu êm một chút.

Tôi bảo ông ta: "Mấy chuyện này ấy, xin ông đi tìm Long Vương gia mà thương lượng, đừng tìm tôi, tôi không phụ trách mảng này."

那老外不知道什么是龙王爷,就在船上到处去问,谁是龙王爷,你是不是龙王爷,船夫们累的筋疲力尽,谁也没理他,他问了一圈也没找到龙王爷,只好无奈地看着我耸肩膀。

Lão tây kia không biết Long Vương gia là ai, bèn đi khắp tàu hỏi, ai là Long Vương gia, ông có phải Long Vương gia không?

Đám thuyền viên mệt đứt hơi, chẳng ai thèm để ý đến ông ta.

Ông ta hỏi một vòng cũng không tìm được Long Vương gia, đành bất lực nhìn tôi nhún vai.

我们只休息了大概二十分钟,浪又大了起来,船老大在船头叫起来:"风暴追过来了,快快地,东西不要吃了,游泳不会的回仓里去,千万不要出来了。"

Chúng tôi chỉ nghỉ ngơi được khoảng hai mươi phút thì sóng lại lớn lên, chủ tàu ở mũi tàu hét lên: "Bão đuổi theo rồi, nhanh lên, đừng ăn nữa, ai không biết bơi thì chui vào khoang, tuyệt đối không được ra ngoài."

我走到船头眺望,隐约看到一团墨汁一样的乌云正在向我们蔓延过来,比刚才我们看到时,又低了很多。

Tôi đi ra mũi tàu nhìn về phía xa, lờ mờ thấy một đám mây đen như mực đang lan về phía chúng tôi, thấp hơn nhiều so với lúc nãy chúng tôi nhìn thấy.

我们与惊涛骇浪搏斗了将近4个小时,才得到一次喘息的机会,这个时候甲板上的工作已经基本上完成了,所有需要固定的物资都用尼龙绳网牢牢绑在钉死在甲板上的铁环上。那些来不及固定的,全部已经给冲进了海里,成了贡献给海龙王的祭品。

Chúng tôi vật lộn với sóng to gió lớn gần 4 tiếng đồng hồ mới có cơ hội thở dốc.

Lúc này công việc trên boong tàu cơ bản đã hoàn thành, tất cả vật tư cần cố định đều được dùng lưới dây nilon buộc chặt vào các vòng sắt đóng chết trên boong.

Những thứ không kịp cố định đều đã bị cuốn trôi xuống biển, thành vật tế cống nạp cho Long Vương.

乃明想用铁钩将一些浮在海上抛货勾回来,可是船老大不同意,他说西沙的渔民有自己的规矩,掉进海底的东西就是属于海龙王的,没拜过玛祖之前绝对不能捞上来。

Nãi Minh định dùng móc sắt móc một số hàng hóa trôi nổi trên biển lại, nhưng chủ tàu không đồng ý.

Ông ta nói ngư dân Hoàng Sa có quy tắc riêng, đồ đã rơi xuống đáy biển là thuộc về Long Vương, chưa cúng bái Mã Tổ thì tuyệt đối không được vớt lên.

入乡随俗,我们没有办法,只好眼睁睁看着那些货物消失翻滚的海面之下。

Nhập gia tùy tục, chúng tôi không còn cách nào khác, đành trơ mắt nhìn những hàng hóa đó biến mất dưới mặt biển cuộn trào.

东南风一阵比一阵大,浪高几乎已经达到了七米,船老大大叫着我们回仓里去,就算是水手,也必须要在腰间绑上绳子才可以出去作业。

Gió đông nam thổi từng cơn càng lúc càng mạnh, sóng cao gần bảy mét, chủ tàu hét lớn bảo chúng tôi vào khoang, ngay cả thủy thủ cũng phải buộc dây thừng vào thắt lưng mới được ra ngoài làm việc.

我正打算回仓,一闪眼就有一道七层楼高的巨浪打在船上面,把船都顶的飞了起来,我听到一声惊叫,忙回头一看,只见一个人被甩到了船舷外面,那女的和乃明揪着他的衣服,他才没掉进海里。

Tôi đang định vào khoang thì thoáng thấy một con sóng khổng lồ cao bằng tòa nhà bảy tầng ập vào con tàu, hất tung con tàu lên không trung.

Tôi nghe thấy một tiếng hét thất thanh, vội quay đầu lại thì thấy một người bị văng ra ngoài mạn tàu, người phụ nữa kia và Nãi Minh đang túm lấy áo hắn nên hắn mới chưa rơi xuống biển.

我冲过去帮忙,三个人手忙脚乱将那人拉了上来,掰过他的脸一瞧,操!又是伍永,他娘的这家伙也太不长记性,天生平衡力差我们已经不怪你了,你他娘的没事还老往甲板上跑,这不是存心添乱吗?

Tôi lao tới giúp, ba người luống cuống tay chân kéo người nọ lên.

Lật mặt hắn ra xem, đ*!

Lại là Ngũ Vĩnh, má nó tên này đúng là không biết nhớ lâu, bẩm sinh khả năng thăng bằng kém bọn tôi không trách cậu, nhưng má nó cậu không có việc gì cứ chạy ra boong tàu làm cái gì, đây không phải cố tình thêm phiền sao?

伍永吓的脸色惨白,一个劲的说谢谢,乃明对他说你快点回仓里面去,千万不要再出来了,甲板是很危险地。

Ngũ Vĩnh sợ mặt cắt không còn giọt máu, cứ rối rít cảm ơn.

Trương hói bảo hắn mau chui vào trong khoang, tuyệt đối đừng ra nữa, boong tàu nguy hiểm lắm.

这个时候,有几个船员好像看见了什么东西,开始叫起来,我听不懂闽南话,顺着他们的手指看去,隐隐约约看到船的左侧,高起的海浪后面,好像有什么东西。

Lúc này, có mấy thuyền viên dường như nhìn thấy thứ gì đó, bắt đầu hét lên.

Tôi không hiểu tiếng Mân Nam, nhìn theo hướng tay họ chỉ, lờ mờ thấy phía mạn trái con tàu, sau con sóng dâng cao, dường như có thứ gì đó.

因为距离比较远,看不太清楚,只觉有可能是一艘船,这个时候那个女人从我身后走过,我就问她这些人在叫唤什么?

Vì khoảng cách khá xa, nhìn không rõ lắm, chỉ cảm thấy có khả năng là một con tàu.

Lúc này người phụ nữ kia đi ngang qua sau lưng tôi, tôi liền hỏi cô ta xem đám người này đang la hét cái gì.

她身上头发湿湿的,被风吹得乱甩,仔细听了一下说:"他们好像看到一艘船。"

Tóc tai cô ta ướt nhẹp, bị gió thổi rối tung, cô ta lắng tai nghe kỹ một chút rồi nói: "Hình như họ nhìn thấy một con tàu."

船老大走到我们身边,用半生不熟的普通话说:"那边好像有艘船出了事故,按照规定,我们必须要过去看看。"

Chủ tàu đi đến bên cạnh chúng tôi, dùng tiếng Phổ thông bập bẹ nói: "Đằng kia hình như có tàu gặp nạn, theo quy định, chúng ta bắt buộc phải qua xem thử."

这样做当然无可厚非,那女人点点头,船老大对他那些伙计用本地话很快发布了一系列指令,马上船就一个满舵转了方向,向左边开去。

Làm vậy đương nhiên không có gì đáng trách, người phụ nữ kia gật đầu.

Chủ tàu dùng tiếng địa phương nhanh chóng ra một loạt chỉ thị cho đám anh em, con tàu lập tức bẻ hết lái đổi hướng, chạy về phía bên trái.

风浪中的海就像丘陵,每一个浪头都是一座山,而我们的船迎着浪头冲了过去,尔后破浪而过,每破一次船上的人就洗一次海水浴,全身湿了不知道多少次,我从来没有感觉这么亢奋过,忍不住都想号叫起来。

Biển trong gió bão giống như vùng đồi núi, mỗi ngọn sóng là một quả núi, còn tàu của chúng tôi cứ đón đầu ngọn sóng mà lao tới, sau đó xé sóng lướt qua.

Mỗi lần xé sóng là người trên tàu lại được tắm nước biển một lần, toàn thân ướt sũng không biết bao nhiêu lần.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy hưng phấn đến thế, nhịn không được chỉ muốn gào lên.

我们一连翻过十几个浪头,终于可以看清楚那东西的大概轮廓了。

Chúng tôi vượt qua liền mười mấy ngọn sóng, cuối cùng cũng có thể nhìn rõ hình dáng đại khái của thứ đó.

这个时候,我就听到船老大惊恐地大叫了一声,随即好几个船员都惊慌了起来,我忙问那女人又出了什么事情,她一听之下突然脸色大变,一把抓住我的手说:"千万别回头看,那是条鬼船!"

Lúc này, tôi nghe thấy chủ tàu kinh hãi hét lớn một tiếng, ngay sau đó mấy thuyền viên cũng hoảng loạn hẳn lên.

Tôi vội hỏi người phụ nữ kia lại xảy ra chuyện gì, cô ta vừa nghe xong sắc mặt bỗng biến đổi hẳn, túm chặt lấy tay tôi nói: "Tuyệt đối đừng quay đầu lại nhìn, đó là tàu ma!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 8: Thuyền ma


我看到所有的人都慌张地把头转过去,不去看那只破船,也不知道发生了什么事情,这种形势不明了的情况下,我也不敢自作主张,忙学他们的样子背过身子,那女的发抖着对我说:"不管发生什么情况,都不要转头过去。就算有什么东西碰你,你也要当不知道。"

Tôi thấy tất cả mọi người đều hoảng hốt quay đầu đi, không nhìn con tàu nát kia, cũng không biết đã xảy ra chuyện gì.

Trong tình thế không rõ ràng thế này, tôi cũng không dám tự ý hành động, vội bắt chước bọn họ quay lưng lại.

Người phụ nữ kia run rẩy nói với tôi: "Bất kể xảy ra chuyện gì, cũng đừng quay đầu lại.

Cho dù có thứ gì chạm vào anh, anh cũng phải coi như không biết."

我一听,冷汗就下来了,问:"你别吓唬我,这里会有什么东西碰我?"

Tôi nghe xong, mồ hôi lạnh toát ra, hỏi: "Cô đừng dọa tôi, ở đây thì có cái gì chạm vào tôi được?"

她白了我一眼,轻声说:"你不信都没用,等一下就知道了,现在快把头转过去!"

Cô ta lườm tôi một cái, khẽ nói: "Anh không tin cũng vô dụng, lát nữa là biết ngay, giờ mau quay đầu đi!"

我看她说得这么邪,又看到其他船员那种惶恐的样子,好像不是在吓唬我,轻声问:"你总得告诉我,那到底是什么东西?"

Tôi thấy cô ta nói nghe tà quái như vậy, lại nhìn dáng vẻ hoảng sợ của đám thuyền viên, hình như không phải đang dọa tôi, bèn khẽ hỏi: "Cô cũng phải cho tôi biết, đó rốt cuộc là thứ gì chứ?"

那女做了个不要说话的手势,说:"闭嘴,这是冤死鬼来索命来了。"

Người phụ nữ kia làm động tác chớ lên tiếng, nói: "Im miệng, đây là oan hồn đến đòi mạng đấy."

她越这样说,我越觉得害怕,脖子不由自主的就想转过去看看,忙捏了自己大腿一把,把那脖子上的肌肉绷得就像打了石膏一样。

Cô ta càng nói vậy, tôi càng thấy sợ, cổ bất giác cứ muốn quay lại xem thử, vội nhéo đùi mình một cái, gồng cứng cơ cổ như đang bó bột.

那船在风浪里摇得很厉害,船上的甲板还在吱吱作响,听上去快散架了,我手抓住船舷上的两个铁环,屁股死死顶住,但是上半身还是不停的在晃动,偏偏脖子又不能动,我就像一个不倒翁一样晃来晃去,有几次几乎被甩得要脱手了。

Con tàu lắc lư dữ dội trong gió bão, boong tàu kêu kẽo kẹt, nghe như sắp rã đám.

Tay tôi nắm chặt hai cái vòng sắt trên mạn tàu, mông ghì chặt xuống, nhưng nửa thân trên vẫn không ngừng lắc lư.

Khổ nỗi cổ lại không được cử động, tôi cứ như con lật đật lắc qua lắc lại, có mấy lần suýt nữa thì tuột tay văng ra ngoài.

这个时候,我已经可以听到那所谓鬼船上传来的声音,咯吱咯吱的,好像是有人在甲板上走。我身上已经全被海水打湿了,加上自己的冷汗,非常不舒服,忍不住轻声问那个女人:"怎么好像有人在甲板上走,你刚才有没有看错。"

Lúc này, tôi đã có thể nghe thấy âm thanh truyền đến từ cái gọi là tàu ma kia, kẽo cà kẽo kẹt, giống như có người đang đi lại trên boong tàu.

Người tôi đã ướt sũng nước biển, cộng thêm mồ hôi lạnh chảy ra, vô cùng khó chịu, không nhịn được khẽ hỏi người phụ nữ kia: "Sao nghe như có người đi lại trên boong thế, ban nãy cô có nhìn nhầm không vậy."

那女人很害怕,努了努嘴巴,我顺她嘴巴看去,原来船仓的玻璃上,清晰地映出了身后的情况。一艘和我们规模差不多的渔船,在我们的身后摇曳,离我们越来越近,我看得也越来越清楚,很快我就看见,那船上面有一层白色的棉花一样的海锈,看厚度,肯定在海里泡过几十年以上了。真想不通这样的船怎么还可能浮在海面上,而且上面还亮着个灯。

Người phụ nữ kia rất sợ hãi, hất cằm ra hiệu.

Tôi nhìn theo hướng cô ta hất cằm, hóa ra trên kính cửa sổ khoang tàu phản chiếu rõ ràng tình hình phía sau.

Một chiếc tàu cá có kích cỡ tương đương chúng tôi đang dập dềnh ngay sau lưng, càng lúc càng đến gần.

Tôi nhìn ngày càng rõ, rất nhanh đã thấy trên con tàu đó phủ một lớp rỉ sét trắng xóa như bông, nhìn độ dày thì chắc chắn đã ngâm trong nước biển hơn mấy chục năm rồi.

Thật không hiểu nổi con tàu như vậy sao còn có thể nổi trên mặt biển, hơn nữa bên trên còn đang thắp đèn.

那些小说里出现的幽灵船,都是那种非常破败的,但是基本上还是能航行的船,但是这一艘肯定已经完全报废了,看样子就像从海底开上来的一样。我脑子转得很快,回忆了一下我看过的关于幽灵船的报道,好像都没有提到这种样子的船。

Những con tàu ma xuất hiện trong tiểu thuyết đều là loại rất tồi tàn, nhưng cơ bản vẫn là tàu có thể đi được.

Nhưng con tàu này chắc chắn đã hỏng hoàn toàn rồi, trông cứ như từ dưới đáy biển trồi lên vậy.

Đầu óc tôi xoay chuyển rất nhanh, nhớ lại những bài báo về tàu ma từng đọc, hình như chưa từng nhắc đến loại tàu có hình dạng thế này.

那船越开越近,我隐约觉得苗头不对,轻声说:"小姐,好像不是办法,那鬼船看样子打算撞过来啊。你要不叫渔老大开足马力溜吧?"

Con tàu kia càng lúc càng gần, tôi lờ mờ cảm thấy điềm chẳng lành, khẽ nói: "Cô này, hình như không ổn rồi, cái tàu ma kia trông như định đâm vào đây ấy.

Hay là cô bảo chủ tàu mở hết công suất chuồn đi?"

那女的也有点害怕,头发全贴在脸上,也没想到去拨一下,她说:"要逃的时候渔老大自己会逃,我们两艘吨位差不多,它撞过来也不怕。你拉紧了可别掉下去。"

Người phụ nữ kia cũng hơi sợ, tóc dính bết cả vào mặt cũng chẳng buồn vuốt, cô ta nói: "Lúc cần chạy thì chủ tàu sẽ tự chạy, hai tàu chúng ta trọng tải xêm xêm nhau, nó đâm vào cũng không sợ.

Anh bám cho chắc vào kẻo rơi xuống đấy."

她那说话的语气,我也听不出是在提醒我还是在讽刺我,说:"就怕他等一下跳船跑了,你可拿他没办法。"

Nghe giọng điệu của cô ta, tôi cũng không nhận ra là đang nhắc nhở hay mỉa mai tôi, bèn nói: "Chỉ sợ lát nữa ông ta nhảy tàu chạy mất, cô cũng chẳng làm gì được ông ta đâu."

"你少在这里挑拨离间,这渔船就是他们渔民的命,他死也不会离开船的。"那女的有点火起来,"你要是废话再多我就把你推下去!"

"Anh bớt châm ngòi ly gián ở đây đi, con tàu này là mạng sống của ngư dân bọn họ, chết ông ta cũng không bỏ tàu đâu."

Người phụ nữ kia hơi cáu lên, "Anh mà còn lắm lời nữa là tôi đẩy anh xuống đấy!"

我一听这么凶,也不好再说话,集中注意力看着那玻璃上的鬼船,我估计以它的速度,撞击的时候也不会造成多大的震动(后来知道这是sb想法),心里渐渐平静下来。

Nghe hung dữ thế, tôi cũng không tiện nói nữa, tập trung chú ý nhìn con tàu ma trên tấm kính.

Tôi ước tính với tốc độ của nó, lúc va chạm cũng sẽ không gây chấn động lớn lắm (sau này mới biết đây là suy nghĩ ngu xuẩn), trong lòng dần bình tĩnh lại.

那船越来越近,我可以清晰地看到,船上什么东西都没有,我本来还以为会看到一些恐怖的景象,不由松了口气,那船靠得很快,几乎就要贴到我们的船了,我眼睛一闭,一咬牙,准备硬顶一下那撞击。

Con tàu kia càng lúc càng gần, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng trên tàu chẳng có thứ gì cả.

Tôi vốn còn tưởng sẽ nhìn thấy cảnh tượng kinh khủng nào đó, không kìm được thở phào nhẹ nhõm.

Con tàu áp sát rất nhanh, gần như sắp dính vào tàu chúng tôi rồi.

Tôi nhắm mắt, nghiến răng, chuẩn bị dồn sức chịu cú va chạm đó.

这是一个瞬间,突然,后面的声音就消失了,我等了有十几秒,估计就算它想撞十次都撞完了,可是还没有什么动静传过来,不由奇怪,这个时候,我又听到那甲板咯吱咯吱的声音从背后传出来,我心里有点发慌,偷偷眯开一只眼睛,去看船仓的玻璃,那只鬼船已经并排和我们靠在了一起,我的背后什么都没有。

Chỉ trong khoảnh khắc, đột nhiên âm thanh phía sau biến mất.

Tôi đợi mười mấy giây, ước chừng có muốn đâm mười lần cũng đâm xong rồi, nhưng vẫn chưa thấy động tĩnh gì truyền đến, không khỏi lấy làm lạ.

Lúc này, tôi lại nghe thấy tiếng kẽo cà kẽo kẹt trên boong tàu vang lên từ sau lưng, trong lòng hơi hoảng, lén hé một mắt nhìn vào kính cửa sổ khoang tàu.

Con tàu ma kia đã áp sát song song với chúng tôi, sau lưng tôi chẳng có gì cả.

我松了口气,看了看边上,只见我旁边那个女的和我一样看着那船仓的玻璃,已经吓得呆住了,我觉得好像有什么不对劲,仔细一看,只见她的肩膀上,搭着两只干枯的手。

Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhìn sang bên cạnh, chỉ thấy người phụ nữ bên cạnh cũng đang nhìn vào kính cửa sổ khoang tàu giống tôi, đã sợ đến ngây người ra rồi.

Tôi cảm thấy hình như có gì đó không ổn, nhìn kỹ lại, chỉ thấy trên vai cô ta đang có hai bàn tay khô đét đặt lên.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 9: Bàn Tay khô


那两只干枯的手,显然是人的手,已经收缩成枯柴状,贴在那的女的身上,这样的情景,就算看着,也觉得毛骨悚然,我不知道那女的现在是什么感觉,只觉得我的背上不停地冒冷汗。

Đôi bàn tay khô héo kia rõ ràng là tay người, đã co rút thành hình dạng củi khô, bám vào người cô gái.

Cảnh tượng như vậy, ngay cả khi chỉ nhìn thôi, cũng thấy lạnh sống lưng.

Tôi không biết cô gái đó bây giờ cảm thấy thế nào, chỉ thấy mồ hôi lạnh không ngừng tuôn ra sau lưng tôi.

那两只手也没有进一步的行动,只是无力地垂在那里,好像是她衣服上的装饰一样,我想看看那手是从哪里伸出来的,顺着手臂望上去,但是她的头发太乱了,蓬松开来,看不清楚。

Hai bàn tay đó cũng không có hành động gì thêm, chỉ buông thõng ở đó, cứ như là vật trang trí trên quần áo cô ấy.

Tôi muốn xem bàn tay đó thò ra từ đâu, nhìn dọc cánh tay lên trên, nhưng tóc cô ấy quá rối, xõa tung ra, không nhìn rõ.

女的显然已经非常恐惧,浑身抖得厉害,如果是普通的女人,恐怕早就已经晕过去了,我看她的身子发软,估计也已经到了极限。

Cô gái rõ ràng đã vô cùng sợ hãi, toàn thân run rẩy dữ dội.

Nếu là phụ nữ bình thường, e rằng đã ngất xỉu từ lâu rồi.

Tôi thấy cơ thể cô ấy mềm nhũn, đoán chừng cũng đã đến giới hạn.

那船老大背对着我们跪着,一边磕头一边不知道念了什么,我听不懂他们当地的方言,但是也可以猜出来,他可能在进行某种仪式,估计是在求妈祖保佑。他念了几声,就拿出两个奇怪的半圆木片,往甲板上扔,好像是在求签一样,他扔了一次,看了看结果,又叩了几个头,拿起来再投。我看到他浑身开始发起抖了,大概问出来的结果不太理想。

Thuyền trưởng quay lưng lại với chúng tôi, quỳ xuống, vừa dập đầu vừa lẩm bẩm điều gì đó.

Tôi không hiểu tiếng địa phương của họ, nhưng cũng có thể đoán được, ông ta có lẽ đang thực hiện một nghi thức nào đó, chắc là cầu Ma Tổ phù hộ.

Ông ta niệm vài tiếng, rồi lấy ra hai mảnh gỗ bán nguyệt kỳ lạ, ném xuống sàn tàu, giống như đang gieo quẻ.

Ông ta gieo một lần, nhìn kết quả, lại dập đầu vài cái, rồi nhặt lên gieo lại.

Tôi thấy toàn thân ông ta bắt đầu run rẩy, có lẽ kết quả quẻ gieo ra không được lý tưởng cho lắm.

我对这种一向是不相信的,但是看到船老大这么虔诚的样子,心里有点担心,这些人非常讲究这一套东西,如果那些求签的结果说我是一个恶鬼,估计他们会毫不犹豫地把我扔到海里去。

Tôi vốn không tin vào những thứ này, nhưng thấy thuyền trưởng thành kính như vậy, trong lòng có chút lo lắng.

Những người này rất coi trọng những chuyện này.

Nếu kết quả quẻ nói tôi là một ác quỷ, e rằng họ sẽ không ngần ngại ném tôi xuống biển.

就在这个时候,突然那个女的惊呼一声,整个人突然往后一缩,也不知道是没抓稳还是被那鬼手拖了一下,竟然一下子就翻进鬼船里,这下子不得了,那鬼船一下子就漂了开去。我一看不好,也不管什么回头不回头了,转身就想跳过去救她,那船老大从后面冲过来一把把我抱住,说:"没办法了!掉到鬼船里已经救不回来了,不要去送死!"

Ngay lúc này, cô gái đột nhiên kêu lên một tiếng kinh hãi, cả người bất ngờ co rúm lại phía sau.

Không biết là do không nắm vững hay bị bàn tay quỷ đó kéo, cô ấy đột nhiên lật nhào và rơi thẳng vào chiếc thuyền ma.

Chuyện này thật tồi tệ.

Chiếc thuyền ma lập tức trôi dạt ra xa.

Tôi thấy tình hình không ổn, cũng không thèm bận tâm đến chuyện quay đầu hay không quay đầu nữa, quay người lại định nhảy qua cứu cô ấy.

Thuyền trưởng từ phía sau xông đến ôm chặt lấy tôi, nói: "Hết cách rồi!

Rơi vào thuyền ma là không cứu được nữa, đừng đi tìm chết!"

那船老大力气很大,我甩不开他,其他那些人不知道着了什么魔一样,竟然还是不敢转过头去,我心里只骂,这个时候,那个乃明不知道从哪里跑出来,扯起船上的锚,用力一甩,把锚甩到鬼船上,钩住了船舷。那鬼船游得飞快,一下子就把锚缆拉成直线,我们的船一震,硬生生被扯了过去。

Thuyền trưởng rất khỏe, tôi không thể vùng ra khỏi ông ta.

Những người khác không biết bị ma quỷ ám ảnh thế nào, lại vẫn không dám quay đầu lại.

Trong lòng tôi chỉ biết chửi bới.

Đúng lúc này, Nãi Minh không biết từ đâu chạy ra, giật cái neo trên tàu, dùng sức vung mạnh, ném neo sang chiếc thuyền ma, móc vào thành tàu.

Chiếc thuyền ma trôi đi rất nhanh, lập tức kéo căng sợi dây neo thành một đường thẳng.

Con thuyền của chúng tôi rung lên, bị kéo giật đi một cách thô bạo.

那个船老大吓得魂不附体,抽出把刀就去砍那缆绳,被那乃明一拳打翻在地上,其他船员毛了,一个个扑了上来,那乃明竟然拔出一把手枪,一把把船老大架住,大叫:"别动,不然我杀了他!"

Thuyền trưởng sợ mất hồn vía, rút con dao ra định chặt đứt sợi dây cáp, bị Nãi Minh đấm một cú ngã lăn trên sàn.

Những thuyền viên khác nổi điên, từng người xông lên.

Nãi Minh lại rút ra một khẩu súng lục, một tay khống chế Lão ngư, hét lớn: "Đứng yên, nếu không tôi sẽ giết ông ta!"

那几个船员没见过这种场面,这一嗓子竟然没人敢上来了,那乃明又对我说道:"小吴,我已经把他们控制住了,你快去救人!"

Mấy thuyền viên chưa từng thấy cảnh tượng này, tiếng hét này khiến không ai dám xông lên nữa.

Nãi Minh lại nói với tôi: "Tiểu Ngô, tôi đã khống chế được họ rồi, cậu mau đi cứu người!"

我张大嘴巴,怀疑自己有没有听错,这么惊涛骇浪,难道要我游过去?他还想当然地瞪了我一眼,指了指那根缆绳,吼道:"快去!年轻人要勇敢点!"

Tôi há hốc mồm, nghi ngờ mình có nghe lầm không.

Sóng gió kinh hoàng như thế này, lẽ nào bắt tôi bơi qua?

Ông ta còn dĩ nhiên trừng mắt nhìn tôi, chỉ vào sợi dây cáp, hét lên: "Mau đi!

Thanh niên phải dũng cảm lên!"

我摇摇头,这太可笑了,我体育本来是就弱项,游泳过去基本上就是送死,如果爬那根缆绳,估计就算我爬得到也是剩下一口气,还怎么救人。

Tôi lắc đầu, điều này thật quá nực cười.

Thể thao vốn là môn tôi yếu kém, bơi qua cơ bản là tự sát.

Nếu trèo qua sợi dây cáp đó, e rằng cho dù tôi trèo đến nơi cũng chỉ còn thoi thóp, làm sao mà cứu người được nữa.

这个时候,我听到那个女的在鬼船上尖叫起来,她拼命想爬到那根缆绳上面,但是好像被什么东西拖住了一样,没办法前进,只好用两只手死死抓住船舷,朝我大叫:"吴先生!救救我!"

Đúng lúc này, tôi nghe thấy cô gái trên chiếc thuyền ma thét lên.

Cô ấy cố gắng hết sức bò lên sợi dây cáp, nhưng dường như bị thứ gì đó kéo lại, không thể tiến lên được, đành dùng hai tay ghì chặt thành thuyền, hét lớn về phía tôi: "Ngô tiên sinh!

Cứu tôi!"

我听得心头一晃,猛拍了自己一个巴掌,大骂:"吴邪啊吴邪,你他娘的还是不是男人!"

Tôi nghe thấy tim mình chấn động, tát mạnh vào mặt mình một cái, mắng lớn: "Ngô Tà ơi Ngô Tà, má nó mày còn là đàn ông nữa không!"

这一巴掌我也不知道是把自己拍醒了还是拍懵了,突然就血气上涌,一咬牙大叫:"死就死了!"

Cú tát này tôi cũng không biết là mình đã tỉnh táo hay choáng váng, đột nhiên máu huyết xông lên, cắn răng hét lớn: "Chết thì chết!"

我深吸一口气,先拿起一边的游泳眼镜带上,然后脱掉鞋子,走到船舷边上,笨拙地抓住那根绷得很紧的缆绳,只见前面是惊涛骇浪,那绳子还不时淹到水里去。

Tôi hít một hơi thật sâu, trước tiên lấy cái kính bơi bên cạnh đeo vào, rồi cởi giày, đi đến mép thuyền.

Tôi vụng về nắm lấy sợi dây cáp đang căng cứng, nhìn về phía trước là sóng to gió lớn, sợi dây còn thỉnh thoảng bị nhấn chìm xuống nước.

那根缆绳大概就十二米长,结实程度绝对够,如果手脚快一点,也不是很危险,主要的麻烦还是在绳子上被浪打下去,想到这里,我的心里也稍微活动了一下。

Sợi dây cáp đó dài khoảng mười hai mét, độ chắc chắn thì tuyệt đối đủ.

Nếu tay chân nhanh nhẹn một chút, cũng không quá nguy hiểm.

Rắc rối chính là việc bị sóng đánh rơi khỏi dây cáp.

Nghĩ đến đây, tâm trí tôi cũng trấn tĩnh lại một chút.

我从小到大从来没遇到这么要下决心的事情,在那船舷上屁股拱来拱去好久,才慢慢爬出去第一步,我按照记忆里电视上那些特种兵的方法,倒挂在绳上,四肢并用,一边爬一边祈祷,可还没等我张开嘴巴,突然一个浪头过来,直接把我淹到水里去了,等我探头出来的时候脸都憋绿了,不过这样一下子,我也对这海浪的力气有了一个了解,心里豁然,估计爬到那边应该没问题。

Từ nhỏ đến lớn tôi chưa bao giờ phải đưa ra một quyết định quyết tâm như vậy.

Tôi chồm mông qua lại trên thành thuyền một lúc lâu, mới từ từ bò ra bước đầu tiên.

Tôi làm theo phương pháp của những lính đặc nhiệm trên TV mà tôi nhớ được, treo ngược trên dây cáp, bốn chi dùng sức.

Vừa bò vừa cầu nguyện.

Nhưng còn chưa kịp mở miệng, đột nhiên một con sóng ập tới, trực tiếp nhấn chìm tôi xuống nước.

Khi tôi thò đầu lên mặt nước thì mặt đã xanh lét vì nghẹt thở.

Nhưng nhờ vậy, tôi cũng đã hiểu được sức mạnh của con sóng này, trong lòng thông suốt, ước tính bò sang bên kia chắc không thành vấn đề.

就这样我在有浪打过来的时候就不动,等出水就爬几步,也不知道过了多久,我已经很靠近那艘鬼船了,这个时候,一个巨大的浪打过来,我整个沉到了水下,这一下子,我几乎被压到了一米多深,人都有点被拍蒙掉了,我憋住呼吸睁开眼睛一看,突然看到了一幅奇特的景象,只见那艘鬼船的船底,有一根长满海锈的链条,很长,离奇的是,那链条末端,有一块奇怪的东西,在很深的水底,看不清楚。

Cứ như thế, khi có sóng đánh tới thì tôi đứng yên, đợi nước rút thì bò thêm vài bước.

Không biết đã qua bao lâu, tôi đã rất gần chiếc thuyền ma đó.

Lúc này, một con sóng khổng lồ đánh tới, tôi chìm hẳn xuống dưới nước.

Cú này, tôi gần như bị ép xuống sâu hơn một mét, người có chút choáng váng.

Tôi nín thở mở mắt ra nhìn, đột nhiên nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ.

Tôi thấy dưới đáy chiếc thuyền ma, có một sợi xích sắt phủ đầy gỉ biển, rất dài.

Điều kỳ lạ là, ở cuối sợi xích đó, có một vật thể kỳ lạ, ở dưới nước rất sâu, không nhìn rõ.

我吐出口气正准备仔细看一看,突然那缆绳一抬,我就出了水了,这一下我在浪尖上,往下一看,看见那个女的面朝上,正在用一个奇怪的姿势往鬼船的船仓里爬,我一看就吓呆了,拖着她前进的,不是她自己的手,而是那两只干枯的鬼手。

Tôi thở ra một hơi, chuẩn bị nhìn kỹ hơn, đột nhiên sợi dây cáp nâng lên, tôi đã trồi lên mặt nước.

Lần này tôi ở trên đỉnh con sóng, nhìn xuống dưới, thấy cô gái đang ngửa mặt lên trời, đang bò vào khoang chiếc thuyền ma bằng một tư thế kỳ quái.

Tôi nhìn thấy liền sợ ngây người.

Thứ đang kéo cô ấy đi không phải là tay của chính cô ấy, mà là hai bàn tay quỷ khô héo kia.

我看她一动也不动,好像失去了知觉,别无选择,只好手脚一发力,爬了过去,然后一个翻身摔进鬼船里,倒在甲板上。

Tôi thấy cô ấy bất động, dường như đã mất tri giác.

Không còn lựa chọn nào khác, tôi dùng sức tay chân, bò qua đó, rồi lật người ngã vào chiếc thuyền ma, đổ rạp xuống sàn tàu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 11: Boong thuyền


那甲板经过多年海水腐蚀,已经不勘重负,我八十公斤的体重压上,马上发出一声咯吱,似乎就要断裂,但是我也顾不了这么多,忙去看那个女人怎么样了。

Sàn tàu sau nhiều năm bị nước biển ăn mòn đã không chịu nổi trọng lượng.

Cân nặng tám mươi kilôgam của tôi đè lên, lập tức phát ra tiếng kẽo kẹt, dường như sắp gãy vụn, nhưng tôi cũng không thể để tâm đến nhiều như vậy, vội vàng xem xét tình trạng của người phụ nữ kia.

她半个身子已经被拖入黑洞洞的船仓,我一看急了,自己身上一没有任何的照明设备,二没有利器在手,一旦被拖进去,生死真的很难料。

Nửa người cô ấy đã bị kéo vào khoang thuyền tối om.

Tôi thấy gấp gáp, bản thân một là không có bất kỳ thiết bị chiếu sáng nào, hai là không có vật sắc nhọn trong tay, một khi bị kéo vào trong, sinh tử thực sự khó lường.

我一个打滚翻过去,抓住她的腿,使出吃奶的力气扯了几下,发现那女的纹丝不动,而且她身上穿的是紧身的潜水衣服,不仅没有可以拉的地方,沾上海水还滑得要命,力气只能用上百分之八十。

Tôi lăn người qua, túm lấy chân cô ấy, dùng hết sức bình sinh giật mấy cái, phát hiện cô gái không hề nhúc nhích.

Hơn nữa, cô ấy mặc đồ lặn bó sát, không chỉ không có chỗ để kéo, mà dính nước biển vào còn trơn tuột kinh khủng, lực chỉ có thể dùng được tám mươi phần trăm.

我一看这样下去,这个女的肯定完蛋,一时间也想不到好的办法,急起来,就扑到那个女的身上,一把抱住她的腰,这样我们两个人的重量加起来最起码有一百三十多公斤,我看这两只蜡杆一样的手怎么拉。

Tôi thấy cứ tiếp tục thế này, cô gái chắc chắn xong đời, nhất thời cũng không nghĩ ra được cách hay, trong cơn vội vã, tôi liền nhảy bổ lên người cô ấy, ôm chặt lấy eo cô ấy.

Như vậy, trọng lượng của hai chúng tôi cộng lại ít nhất cũng hơn một trăm ba mươi kilôgam.

Tôi muốn xem hai bàn tay khô queo như thanh nến này kéo kiểu gì.

没想到这甲板已经到了临界,我刚压上去,嘎嘣一声整个就塌了,几秒的工夫,我就随着大量腐朽潮湿的木片一起掉进了船仓里,幸好那船底还结实,不然我们就直接掉海里去了。

Không ngờ sàn tàu đã đến giới hạn.

Tôi vừa đè lên, rắc một tiếng, cả sàn tàu liền đổ sập.

Chỉ trong vài giây, tôi cùng với một lượng lớn mảnh gỗ mục nát ẩm ướt rơi xuống khoang thuyền.

May mắn là đáy thuyền vẫn còn chắc chắn, nếu không thì chúng tôi đã rơi thẳng xuống biển rồi.

这一下摔得够戗,我晃晃悠悠坐起来,心里不由苦笑,刚才是拼命不想进船仓,现在反倒进来的这么爽快,这个时候,就听见那女的在下面叫:"快走开,你压死我了!"

Cú ngã này khá đau, tôi lắc lư ngồi dậy, trong lòng không khỏi cười khổ.

Vừa nãy còn cố sống cố chết không muốn vào khoang thuyền, bây giờ ngược lại lại vào nhanh chóng như vậy.

Đúng lúc này, tôi nghe thấy cô gái kêu lên ở phía dưới: "Mau tránh ra, anh đè chết tôi rồi!"

我发现自己正坐在她屁股上,忙让开,心说这可好,以前看偶像剧,都是女的坐男人身上,现在反而倒过来了。那女的吃力地撑着腰坐起来,肩膀上的手已经不见了,我一惊,忙问:"那两只鬼手跑哪里去了?"

Tôi phát hiện mình đang ngồi ngay trên mông cô ấy, vội vàng né sang một bên.

Tôi thầm nghĩ thế này thì hay rồi, trước đây xem phim thần tượng, toàn là con gái ngồi trên người con trai, bây giờ lại ngược lại.

Cô gái khó khăn chống eo ngồi dậy, hai bàn tay trên vai đã biến mất.

Tôi giật mình, vội hỏi: "Hai bàn tay quỷ đó chạy đi đâu rồi?"

她一摸肩膀,惊讶道:"我也不知道,一掉到这船上来我就迷迷糊糊的,也不知道什么时候没了。你没看见吗?"

Cô ấy sờ lên vai, kinh ngạc nói: "Tôi cũng không biết.

Vừa rơi xuống thuyền này tôi đã mơ màng, cũng không biết mất từ lúc nào.

Anh không nhìn thấy sao?"

我摇摇头:"刚才掉下来的时候情况太混乱,我也没注意,不过那两只手能拖着个大活人走,肯定不是幻觉,是实在的东西,不可能凭空消失掉,肯定是刚才掉下来的时候撞掉了,你看看你身下有没有。"

Tôi lắc đầu: "Vừa nãy rơi xuống tình hình quá hỗn loạn, tôi cũng không để ý.

Nhưng hai bàn tay đó có thể kéo một người sống to đùng đi, chắc chắn không phải là ảo giác, là vật thể thật, không thể biến mất giữa không trung được.

Chắc chắn là bị đánh bật ra khi rơi xuống, cô xem dưới người cô có không."

这话一出,那女的吓得脸色一白,忙抬起屁股看。可惜身子下面除了木片什么都没有,我说:"可能掉下来的时候被扯掉了,它还抓着那仓口的台阶,你这么突然往下一掉,它来不及撒手,可能还留在上面。"

Lời này vừa thốt ra, mặt cô gái sợ tái mét, vội vàng nhấc mông lên xem.

Đáng tiếc, dưới thân cô ấy ngoài những mảnh gỗ ra thì không có gì khác.

Tôi nói: "Có thể bị giật đứt khi rơi xuống rồi.

Nó vẫn đang bám vào bậc cửa khoang, cô đột ngột rơi xuống, nó không kịp buông tay, có lẽ vẫn còn ở phía trên."

她点点头,觉得有道理,说:"也不知道它把我拉过来是什么企图,我看我还是要多加小心。"

Cô ấy gật đầu, thấy có lý, nói: "Cũng không biết nó kéo tôi qua đây có âm mưu gì, tôi thấy mình vẫn nên cẩn thận hơn."

我们两个人各自查看了一下四周,因为那甲板上破了一个大洞,所以照得还算通透,这船仓的内壁上也有厚厚的白色海锈,几乎把所有的东西都盖在里面,我们剥开一些,可以看到一些一般航行用的物品,不过基本上都已经腐烂得只剩下个形状。

Hai chúng tôi mỗi người tự kiểm tra xung quanh.

Vì sàn tàu bị thủng một lỗ lớn, nên ánh sáng chiếu vào khá xuyên suốt.

Vách trong của khoang thuyền cũng có một lớp gỉ biển màu trắng dày cộp, gần như che phủ mọi thứ bên trong.

Chúng tôi bóc ra một ít, có thể thấy một số vật dụng thông thường dùng cho hàng hải, nhưng về cơ bản đều đã mục nát chỉ còn lại hình dáng.

看这船仓的规模结构,应该是七八十年代比较中型的渔船,铁皮的船身,仓室空间很大,中间由木板隔着,应该分成了船员的休息室,船老大的房间,货物仓,我们现在的位置应该在货物仓里,不过看剥出来的东西,这艘船肯定不是在载货途中沉没的。

Nhìn quy mô và kết cấu của khoang thuyền này, có lẽ là một chiếc thuyền đánh cá cỡ trung vào những năm bảy mươi, tám mươi, thân tàu bằng sắt.

Khoang chứa đồ rất lớn, được ngăn cách bằng ván gỗ, có lẽ chia thành phòng nghỉ của thuyền viên, phòng của thuyền trưởng, và khoang hàng hóa.

Vị trí hiện tại của chúng tôi có lẽ là trong khoang hàng hóa.

Nhưng nhìn những vật dụng được bóc ra, con thuyền này chắc chắn không bị đắm trong khi đang chở hàng.

这船的龙骨应该还没有被完全腐蚀,所以还有一定的续航能力,不然在这么大的浪中,早就被冲得解体了。

Khung xương của con thuyền này có lẽ vẫn chưa bị ăn mòn hoàn toàn, nên vẫn còn khả năng duy trì trên biển nhất định.

Nếu không, trong cơn sóng lớn như vậy, nó đã bị cuốn trôi và tan rã từ lâu rồi.

那女的看得直摇头,说:"我其实也算是个很了解船的,但是这船的情况太不符合情理了——这么厚的海锈,照理说在海底最起码也该有个十几年了。"

Cô gái nhìn rồi lắc đầu liên tục, nói: "Tôi thực ra cũng là người rất hiểu về tàu thuyền, nhưng tình trạng của con tàu này quá phi lý—lớp gỉ biển dày như vậy, theo lý mà nói thì ít nhất cũng phải nằm dưới đáy biển hơn chục năm rồi."

我问:"有没有可能是大的风暴把它从海底卷上来了。"

Tôi hỏi: "Có khả năng nào là do cơn bão lớn nào đó đã cuốn nó từ đáy biển lên không."

她回答道:"这样的可能性很少,几十年的沉船,早就应该深深埋在海沙里,就算你用起重机去吊,也很难吊起来,而且它的船身很脆,一不小心就可能被扯散架掉。"

Cô ấy trả lời: "Khả năng này rất ít.

Một con tàu đắm mấy chục năm, đáng lẽ đã bị chôn sâu trong cát biển rồi, cho dù anh dùng cần trục để cẩu, cũng rất khó cẩu lên, hơn nữa thân tàu của nó rất giòn, không cẩn thận là có thể bị xé tan."

她说的我也想到,但是我还有一点想不通,这船既然当初沉了下去,现在怎么还能浮在水上?就算有人把它捞了上来,它的船体上肯定还有当时遇险的时候留下的破洞,难道这洞还能自己补上不成?

Điều cô ấy nói tôi cũng đã nghĩ đến, nhưng tôi vẫn còn một điểm không thể hiểu được: Con thuyền này đã bị chìm xuống, tại sao bây giờ nó vẫn có thể nổi trên mặt nước?

Cho dù có người vớt nó lên, trên thân tàu chắc chắn vẫn còn những lỗ thủng do tai nạn lúc đó để lại.

Lẽ nào những lỗ thủng này có thể tự vá lại được sao?

我看这里也瞧不出什么名堂,那两只手也不见了踪影,稍微放下心来,拍了拍身上的木片站起来,招呼那个女的往仓里面走走。那两个仓之间都是用木板隔着,现在基本上已经烂的千疮百孔,我想直接把板子踢掉,那女的阻止我说:"这木板上面贴着甲板,你再用力,恐怕整个甲板都要掉下来。"

Tôi thấy ở đây cũng không tìm ra manh mối gì, hai bàn tay kia cũng biến mất không dấu vết, tâm trạng hơi thả lỏng.

Tôi phủi những mảnh gỗ trên người đứng dậy, gọi cô gái đi sâu hơn vào trong khoang.

Giữa hai khoang đó được ngăn cách bằng ván gỗ, bây giờ cơ bản đã mục nát lỗ chỗ.

Tôi định trực tiếp đá văng tấm ván ra, cô gái ngăn tôi lại nói: "Tấm ván này được dán vào sàn tàu, anh dùng sức nữa, e rằng cả sàn tàu sẽ rơi xuống."

我心说,要是整个甲板都掉下来就好了,那光线照进来,心里也不会发慌。

Tôi thầm nghĩ, nếu cả sàn tàu đều rơi xuống thì tốt quá, ánh sáng chiếu vào, trong lòng cũng không hoảng sợ.

有了鲁王宫的经验,我对于很多事情都有了比较深刻的了解,特别是几次徘徊在生死边缘之后,应变能力加强了不少,所以我在这鬼船上,虽然神经还是绷得很紧,但是没有那种脑子被吓得无法思考的情况。

Có kinh nghiệm từ Lỗ Vương Cung, tôi đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn về nhiều việc.

Đặc biệt là sau vài lần lang thang giữa ranh giới sinh tử, khả năng ứng biến đã tăng lên rất nhiều.

Vì vậy, trên chiếc thuyền ma này, mặc dù thần kinh vẫn căng thẳng, nhưng không còn tình trạng đầu óc sợ hãi đến mức không thể suy nghĩ nữa.

那木隔板子上还正儿八经地装了一扇门,我不知道是推还是拉的,先试着一拉,那把手就和半块门板一起被拔了出来。我看看那个女的,说:"这不是和拆整块板子差不多?"

Trên tấm ván ngăn bằng gỗ còn lắp đặt hẳn một cái cửa.

Tôi không biết là đẩy hay kéo, thử kéo trước một cái, tay nắm và nửa tấm ván cửa liền bị giật tung ra cùng lúc.

Tôi nhìn cô gái, nói: "Thế này thì khác gì tháo cả tấm ván?"

她不理我,往那黑漆漆的大门洞里看了一眼,这女的胆子应该算大了,不过我想经历了刚才那种事情,估计她也不敢贸然进去,对她说:"里面光线不够,如果要进去,还是直接再在甲板上开个天窗借点光好,免得进去了,又被什么东西搭上。"

Cô ấy không để ý đến tôi, nhìn vào cái lỗ cửa đen kịt.

Cô gái này gan cũng khá lớn, nhưng tôi nghĩ đã trải qua chuyện vừa rồi, cô ấy chắc cũng không dám mạo hiểm đi vào.

Tôi nói với cô ấy: "Ánh sáng bên trong không đủ, nếu muốn vào, chi bằng trực tiếp mở thêm một giếng trời trên sàn tàu để lấy ánh sáng thì hơn, kẻo đi vào rồi, lại bị thứ gì đó ám nữa."

我知道这句话说了肯定有用,果然她一犹豫,我暗笑一声,上前掰了几下,就几乎把整块板子掰了下来,这里面的仓室有一块大的床板架子,是铁做的,所以还在,床板已经烂光了,看陈设应该是那些船工待的地方,我看到这个仓室的角落里,放着一只铁橱,还关得很好,上前去拉了一下,比较松动。

Tôi biết câu này nói ra chắc chắn có tác dụng.

Quả nhiên cô ấy do dự.

Tôi cười thầm một tiếng, tiến lên bẻ mấy cái, gần như bẻ được cả tấm ván xuống.

Khoang thuyền bên trong có một cái giá giường lớn làm bằng sắt, nên vẫn còn.

Ván giường đã mục nát hết rồi.

Nhìn cách bày trí có lẽ là nơi những thợ thuyền ở.

Tôi thấy ở góc khoang này, đặt một cái tủ sắt, vẫn còn đóng chặt.

Tôi bước đến kéo thử, thấy khá lỏng lẻo.

在这种船上面很难找到文字记录,现在的船老大还必须天天写航行日志,那个时候识字的人都不多,所以我也没指望找到什么有用的东西,等我打开那个铁橱,不由吃了一惊,里面竟然有一只老旧的防水袋,我打开袋子,里面掉出一本已经几乎要散架的笔记,我一看,封面上写了几个字:西沙碗礁考古记录。

Trên những con thuyền như thế này rất khó tìm thấy ghi chép bằng chữ viết.

Thuyền trưởng hiện đại còn phải viết nhật ký hàng hải mỗi ngày, thời đó người biết chữ không nhiều, nên tôi cũng không hy vọng tìm thấy thứ gì hữu ích.

Nhưng khi tôi mở cái tủ sắt ra, không khỏi giật mình.

Bên trong lại có một chiếc túi chống nước cũ kỹ.

Tôi mở túi ra, một cuốn sổ tay gần như sắp rách vụn rơi xuống.

Tôi nhìn vào, trên trang bìa viết mấy chữ: Ghi chép khảo cổ ở Đá Vành Khăn - Hoàng Sa.

我翻开扉页,上面很娟秀的几个字——1984年7月,吴三省赠陈文锦

Tôi lật mở trang đầu, trên đó là mấy chữ viết tay rất thanh tú: Tháng 7 năm 1984, Ngô Tam Tỉnh tặng Trần Văn Cẩm.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 12: Lời nói dối của chú Ba


看到这几个字,我几乎惊讶得要晕厥过去,吴三省和陈文锦,这不是三叔和文锦的全名吗?难道这笔记本,是他们当年留下来的?但是这种东西怎么会在鬼船上出现呢?

Nhìn thấy mấy chữ này, tôi gần như kinh ngạc đến mức muốn ngất đi.

Ngô Tam Tỉnh và Trần Văn Cẩm, đây chẳng phải là tên đầy đủ của Chú Ba và Văn Cẩm sao?

Chẳng lẽ cuốn sổ tay này là thứ họ để lại năm xưa?

Nhưng tại sao thứ này lại xuất hiện trên thuyền ma?

如果说这鬼船沉没之前,船碰巧也有两个人,一个人叫吴三省,一个叫陈文锦,这两个人又碰巧也是做考古工作的,又碰巧也到西沙碗礁来考古,这样的巧合发生的几率,恐怕够我中好几个五百万了。

Nếu nói rằng trước khi chiếc thuyền ma này chìm, tình cờ trên thuyền cũng có hai người, một người tên là Ngô Tam Tỉnh, một người tên là Trần Văn Cẩm, hai người này lại tình cờ cũng làm công việc khảo cổ, lại tình cờ cũng đến Đá Vành Khăn - Hoàng Sa để khảo cổ, xác suất xảy ra những sự trùng hợp như vậy, e rằng đủ để tôi trúng liền mấy giải năm triệu rồi.

我想了一下,似乎不用太多考虑,这本笔记本没有别的解释,毫无疑问应该是三叔他们留下的东西,而且,看上面的署名,这本笔记本应该是三叔当年送给文锦,而文锦则用它来作为记录碗礁考古日常进度的日志,笔记本的主人,应该就是文锦。

Tôi suy nghĩ một chút, dường như không cần phải cân nhắc quá nhiều, cuốn sổ tay này không có lời giải thích nào khác, chắc chắn là đồ vật mà Chú Ba và những người khác đã để lại.

Hơn nữa, nhìn chữ ký, cuốn sổ tay này đáng lẽ là do Chú Ba tặng Văn Cẩm năm xưa, và Văn Cẩm đã dùng nó để ghi lại nhật ký tiến độ công việc khảo cổ Đá Vành Khăn hàng ngày.

Chủ nhân của cuốn sổ tay này, hẳn là Văn Cẩm.

那这艘鬼船,又和三叔他们当年的考古活动有关,甚至可能就是当时没有按时回来的那只中型渔船。

Vậy thì, chiếc thuyền ma này lại có liên quan đến hoạt động khảo cổ năm xưa của Chú Ba bọn họ, thậm chí có thể chính là chiếc thuyền đánh cá cỡ trung đã không quay về đúng hạn lúc bấy giờ.

我稍微思考片刻,不由就觉得无数问号涌现到我的大脑里,开始觉得头痛欲裂起来。

Tôi suy nghĩ một lát, không khỏi cảm thấy vô số dấu hỏi tuôn trào trong đầu, bắt đầu đau đầu dữ dội.

这些事情,其中真正的奥妙,恐怕只有当事人才会知道。我现在所知道的皮毛,全部都是这些事情最表面的东西,似乎还缺少一个把这些都连起来的核心。如果三叔那老狐狸能老老实实地把所有事情告诉我,恐怕我现在已经可以大概知道整件事情的关键所在了。

Sự bí ẩn thực sự đằng sau những chuyện này, e rằng chỉ có người trong cuộc mới biết.

Những gì tôi biết được bây giờ chỉ là bề ngoài của mọi chuyện, dường như còn thiếu một hạt nhân để liên kết tất cả những điều này lại với nhau.

Nế Chú Ba con hồ ly già này chịu thành thật nói hết mọi chuyện cho tôi, e rằng bây giờ tôi đã có thể nắm được mấu chốt của toàn bộ sự việc rồi.

或者这本笔记里的内容,能给我什么提示,我本来想先把这个东西藏起来,等到没人的时候再看,但是心里强烈的好奇心实在无法忍受,想着反正她迟早会知道这件事情,没有必要搞得这么神秘,也不避忌她,直接就翻看起来。

Hoặc nội dung trong cuốn sổ tay này có thể cho tôi gợi ý nào đó.

Ban đầu tôi định giấu nó đi, đợi đến lúc không có ai thì xem, nhưng sự tò mò mạnh mẽ trong lòng thực sự không thể chịu đựng nổi.

Tôi nghĩ đằng nào cô ấy sớm muộn gì cũng sẽ biết chuyện này, không cần phải làm vẻ bí ẩn, tôi cũng không né tránh cô ấy, trực tiếp mở ra xem.

文锦是个做事情很认真的人,每一天的记录她都用相同的格式,列得清清楚楚,我看到第一页就是他们出发的第一天,7月15日,上面列出了一个名单,我看到领队果然是吴三省,那个闷油瓶叫什么,我想起三叔提过他好像姓张,一找,果然有一个人叫张起灵,难道就是他?

Văn Cẩm là một người làm việc rất nghiêm túc, mỗi ngày ghi chép cô ấy đều dùng cùng một định dạng, liệt kê rõ ràng.

Tôi thấy trang đầu tiên chính là ngày đầu tiên họ xuất phát, ngày 15 tháng 7.

Trên đó liệt kê một danh sách thành viên.

Tôi thấy người dẫn đội quả nhiên là Ngô Tam Tỉnh.

Cái tên của Muộn Du Bình là gì, tôi nhớ Chú Ba từng nhắc đến anh ta hình như họ Trương.

Tôi tìm kiếm, quả nhiên có một người tên là Trương Khởi Linh, lẽ nào là anh ta?

再一翻,前面主要的内容都是找到并确定海斗具体位置的经过,只是比三叔说的更加详细,连绳子的种类,还有推理的过程都写了出来,真的和三叔这个大老粗完全不同。真想不通他们两个人怎么能走到一起。不过这些内容我没有必要再看一遍,直接翻到最后,我一看就傻了。

Lật tiếp, nội dung chủ yếu phía trước là quá trình tìm thấy và xác định vị trí cụ thể của hải đấu, chỉ là chi tiết hơn những gì Chú Ba đã nói, ngay cả loại dây thừng, và quá trình suy luận cũng được viết ra.

Thật sự hoàn toàn khác biệt với Chú Ba cái ông già thô lỗ này.

Thật không thể hiểu nổi hai người họ làm sao lại có thể đi cùng nhau.

Nhưng những nội dung này tôi không cần xem lại, tôi lật thẳng đến cuối cùng, và tôi thấy liền sững sờ.

其实不用看最后的内容,只看最后几条标题的记录,就够我惊讶的了,同时也将三叔那个王八蛋骂了一百遍。

Thực ra không cần xem nội dung cuối cùng, chỉ cần xem mấy tiêu đề ghi chép cuối cùng thôi cũng đủ khiến tôi kinh ngạc, đồng thời chửi rủa Chú Ba cái tên vương bát đản này một trăm lần.

只见她上面写着,7月21日,第一次进海底墓穴。

人员:吴三省。

进度:清理左右耳室和甬道,准备清理后室。

工作:使用气泵对墓室进行换气,准备长时间清理。

出水文物:金丝木双凤雕子棺(婴儿棺)。

备注:出现紧急事件,详细记录待补。

Tôi thấy cô ấy viết: Ngày 21 tháng 7, lần đầu tiên tiến vào mộ huyệt dưới biển.

Người tham gia: Ngô Tam Tỉnh.

Tiến độ: Dọn dẹp tả hữu nhĩ thất (phòng tai trái phải) và dũng đạo (hành lang), chuẩn bị dọn dẹp hậu thất (phòng sau).

Vật phẩm trục vớt được: Quan tài kép chạm khắc song phượng bằng gỗ kim tuyến (quan tài trẻ sơ sinh).

Ghi chú: Xảy ra tình huống khẩn cấp, chi tiết ghi chép sẽ bổ sung sau.

然后下面就只有一条记录,7月23日,第二次进海底墓穴。

人员:全部成员。

进度:无

工作:躲避夏季风暴

出水文物:无

备注:无

Và sau đó chỉ có một mục ghi chép: Ngày 23 tháng 7, lần thứ hai tiến vào mộ huyệt dưới biển.

Người tham gia: Tất cả thành viên.

Tiến độ: Không

Công việc: Tránh bão mùa hè

Vật phẩm trục vớt được: Không

Ghi chú: Không

原来,三叔在带他们进去之前,自己已经进去过一次,以他的土匪秉性,肯定顺了很多东西出来,他在这里写的只进行了左右耳室和甬道的清理,谁知道他有没有开后室!说不定棺材里的东西他都已经摸过一遍了。这只老狐狸到底第一次进去时做了什么!我不由恨得牙痒。

Thì ra, trước khi đưa họ vào, Chú Ba đã tự mình vào một lần rồi.

Với bản tính ăn cướp của ông ta, chắc chắn đã cuỗm không ít đồ ra ngoài.

Ông ta chỉ viết ở đây là đã dọn dẹp tả hữu nhĩ thất và dũng đạo, quỷ mới biết ông ta có mở hậu thất không!

Có lẽ đồ trong quan tài ông ta cũng đã sờ qua một lượt rồi.

Con hồ ly già này rốt cuộc đã làm gì trong lần đầu tiên vào đó!

Tôi không khỏi nghiến răng ken két vì căm ghét.

我粗粗看了一遍,里面应该还有很多有用但不关键的记录,现在没有必要看得这么仔细,我将它收好放回防水袋里,回头看那个女人的反应。谁知道她好像根本没注意我,只是拼命地在剥船长室那块隔板上的海锈。

Tôi lướt qua một lượt, bên trong chắc còn rất nhiều ghi chép hữu ích nhưng không quan trọng.

Hiện tại không cần phải xem kỹ đến vậy.

Tôi cất nó đi, đặt lại vào trong túi chống nước, quay lại xem phản ứng của cô gái kia.

Ai ngờ cô ấy dường như hoàn toàn không chú ý đến tôi, chỉ đang cố gắng cạy lớp gỉ biển trên tấm ván ngăn của phòng thuyền trưởng.

她动作很迅速,简直不像是在剥而是在砸,那半块板子已经被她清理了出来,我已经看到那些海锈里面包的竟然是钢。她一路剥下去,一直到船身和隔板的连接处,我发现这块隔板四周是和船身焊在一起的,似乎非常结实,而且那上面的门也是钢的,上面有一个汽车方向盘一样的旋转密封锁。

Động tác của cô ấy rất nhanh nhẹn, gần như không phải là cạy mà là đập.

Nửa tấm ván đã được cô ấy dọn sạch.

Tôi đã thấy thứ được bao bọc bên trong lớp gỉ biển kia lại là thép.

Cô ấy cạy xuống mãi, đến tận chỗ nối giữa thân thuyền và tấm ván ngăn.

Tôi phát hiện tấm ván ngăn này được hàn liền với thân thuyền ở bốn phía, có vẻ rất chắc chắn.

Hơn nữa, cái cửa trên đó cũng bằng thép, có một cái khóa xoay niêm phong giống như vô lăng ô tô.

那个女的一边剥还一边在那里自言自语,好像是在说:"不要怕,不要怕,我马上放你出来。"

Cô gái vừa cạy vừa lẩm bẩm một mình, hình như đang nói: "Đừng sợ, đừng sợ, ta sẽ thả ngươi ra ngay."

我听到这话有点不对劲,才发现她有点不正常,只见她利索地把那钢门边上的海锈都清理掉,我一看,那门与框之间,还有一层橡胶。这里面的仓,似乎是密封的。那女人清理完这些以后,就凭命地去转那个旋转密封锁,可是她力气远远不够,这个锁本身就非常沉重,加上里面全是海锈,不是那些力气极大的水手,根本打不开。她用力转了几下,一点反应也没有。

Tôi nghe câu này thấy có gì đó không ổn, mới nhận ra cô ấy có chút bất thường.

Tôi thấy cô ấy nhanh chóng cạy sạch lớp gỉ biển bên cạnh cánh cửa thép.

Tôi nhìn thấy, giữa cánh cửa và khung còn có một lớp cao su.

Khoang bên trong dường như được niêm phong kín.

Sau khi cô gái dọn dẹp xong, cô ấy liền cố sức xoay cái khóa xoay niêm phong đó.

Nhưng sức lực của cô ấy còn lâu mới đủ, cái khóa này bản thân đã rất nặng, cộng thêm bên trong toàn là gỉ biển, không phải những thủy thủ có sức lực cực lớn thì căn bản không mở được.

Cô ấy dùng sức xoay vài cái, không có phản ứng gì.

我心里觉得有点不妥,对她说:"里面的东西可能没浸过水,我们还是不把他打开为好,万一里面有个什么怪物,我们身上什么武器都没有,肯定得交代在这里。"

Tôi cảm thấy có điều không ổn, nói với cô ấy: "Đồ bên trong có thể chưa bị ngâm nước, chúng ta không nên mở nó ra thì hơn.

Nhỡ bên trong có quái vật gì đó, chúng ta không có vũ khí gì, chắc chắn phải bỏ mạng ở đây."

她根本不理我,还是拼命的去转,我摇摇头,这个女人真的是不可理喻,我对她完全失去了好感。

Cô ấy hoàn toàn không thèm để ý đến tôi, vẫn cố sức xoay.

Tôi lắc đầu, người phụ nữ này thật sự không thể lý giải nổi.

Tôi hoàn toàn mất hết thiện cảm với cô ấy.

接下来的几分钟,我双手叉腰,看她在那里白费力气,心里觉得也比较解气。这时,她转过身子看着我,我以为她开窍了,谁知道她突然发出一声怪叫,人往后仰去,头发里闪电般伸出两只枯手,抓住那旋转密封锁就开始发力,那怪手力气极大,我马上听到了里面海锈碎裂的声音。

Trong vài phút tiếp theo, tôi khoanh tay đứng nhìn cô ấy tốn công vô ích, trong lòng cảm thấy có chút hả hê.

Lúc này, cô ấy quay người lại nhìn tôi.

Tôi tưởng cô ấy đã thông suốt, ai ngờ cô ấy đột nhiên thét lên một tiếng quái dị, người ngửa ra sau.

Hai bàn tay khô héo từ trong tóc thò ra nhanh như chớp, tóm lấy cái khóa xoay niêm phong và bắt đầu dùng sức.

Bàn tay quái dị đó có lực cực lớn, tôi lập tức nghe thấy tiếng gỉ biển bên trong vỡ vụn.

我吓得头皮发麻,几乎就要坐倒在地上。这种景象简直匪夷所思到了极点,难怪那怪手不见了,原来藏到她头发里去了,那刚才和我说话到底是鬼还是人。

Tôi sợ đến tê dại cả da đầu, gần như muốn ngồi sụp xuống đất.

Cảnh tượng này quả thực khó tin đến cực điểm.

Chẳng trách bàn tay quái dị kia biến mất, thì ra nó giấu trong tóc cô ấy.

Vậy người vừa nói chuyện với tôi rốt cuộc là ma hay là người?

这时候那旋转密封锁就已经松动了,那女的连转几圈,正准备把那钢门拉开,里面突然一声巨响,从门里冲出大量的水,那门就直接被水撞了开来,一下撞在那女人后背上,竟然把她撞得飞起来,一下把我扑倒在地上,我知道大事不妙,刚想把她推开逃命,那海水就扑头冲了过来,直接把我们两个冲出去五六丈。我勉力抬起头,正看见一张长满鳞片的巨脸,从那门后面探出来,直直盯着我看。

Lúc này, cái khóa xoay niêm phong đã lỏng ra.

Cô gái xoay thêm vài vòng, đang chuẩn bị kéo cánh cửa thép ra, bên trong đột nhiên vang lên một tiếng động lớn, một lượng lớn nước phun ra từ cửa, cánh cửa bị nước đẩy tung ra, đập mạnh vào lưng cô gái, khiến cô ấy bay lên, lao thẳng vào tôi, đè tôi ngã xuống sàn.

Tôi biết có chuyện lớn rồi, vừa định đẩy cô ấy ra để thoát thân, thì nước biển đã ập tới, trực tiếp cuốn trôi cả hai chúng tôi đi xa năm sáu trượng.

Tôi cố gắng ngẩng đầu lên, vừa lúc nhìn thấy một gương mặt khổng lồ đầy vảy, thò ra từ phía sau cánh cửa, nhìn chằm chằm vào tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 13: Hải hầu tử


这张狰狞的巨脸几乎比我的脑袋大了四五圈,身体还躲在那铁门后面,不知道到底是个多大的东西,从甲板的破洞里照过来的光线并不十分明亮,我无法看清楚它的五官,也不知道是鬼还是什么动物。只觉得这张脸鬼气森森,说不出的诡异。

Gương mặt khổng lồ dữ tợn đó lớn hơn đầu tôi khoảng bốn, năm lần, cơ thể vẫn ẩn sau cánh cửa sắt, không biết rốt cuộc là một vật thể lớn cỡ nào.

Ánh sáng chiếu vào từ lỗ thủng trên sàn tàu không đủ sáng, tôi không thể nhìn rõ ngũ quan của nó, cũng không biết đó là quỷ hay là động vật gì.

Chỉ cảm thấy gương mặt này âm u quỷ dị, không thể nói hết được sự quái đản.

我就这样呆呆地看着它,浑身从头皮麻到后脚跟,吓得几乎连呼吸也不会了,他娘的两条腿又开始不争气,竟然软得像面条一样。我往后艰难地退了几步,随即想到那个女人还躺在地上,这女人虽然不是什么好东西,但是见死不救总也不是办法。

Tôi cứ đờ đẫn nhìn nó như vậy, toàn thân tê dại từ da đầu đến gót chân, sợ hãi đến mức gần như không thể thở được.

Má nó chứ, hai chân tôi lại bắt đầu không nghe lời, mềm nhũn như sợi mì.

Tôi khó khăn lùi lại vài bước, rồi chợt nhớ ra người phụ nữ kia còn đang nằm trên sàn.

Mặc dù cô ta không phải là người tốt đẹp gì, nhưng thấy chết mà không cứu thì cũng không phải là cách.

我把她翻过来,发现那两只枯手又不见了,不过现在也管不了这么多,如果水再涨上来,她的头浸在水里就会淹死,我把手插在她的腋下,慢慢往后挪去,在船仓的另一头肯定通到甲板上的楼梯,只要我把这女人拖上甲板,要么就跳海,要么求救,选择就多了。

Tôi lật cô ấy lại, phát hiện hai bàn tay khô héo kia lại biến mất.

Tuy nhiên, bây giờ không thể quản nhiều như vậy.

Nếu nước tiếp tục dâng lên, đầu cô ấy ngập trong nước sẽ bị chết đuối.

Tôi luồn tay vào nách cô ấy, từ từ lùi lại phía sau.

Ở đầu kia của khoang thuyền chắc chắn có cầu thang dẫn lên sàn tàu.

Chỉ cần tôi kéo được người phụ nữ này lên sàn tàu, thì hoặc là nhảy xuống biển, hoặc là cầu cứu, lựa chọn sẽ nhiều hơn.

我一边迈着发抖的腿,一边在心里默念:"冷静,冷静,越是遇到这种情况越要冷静。"一点点地向后挪去,眼睛一直不敢离开那张脸。

Tôi vừa bước đi với đôi chân run rẩy, vừa thầm niệm trong lòng: "Bình tĩnh, bình tĩnh, càng gặp tình huống này càng phải bình tĩnh."

Tôi nhích dần từng chút một về phía sau, ánh mắt không dám rời khỏi gương mặt đó.

那怪物幽幽地看着我,动也不动,一时间只听到哗哗的水声,如果它做出点什么动作,比如转转脑袋,张张嘴巴,我可能还觉得轻松点,可是它两只眼睛就直勾勾盯着我,看的我越来越发悚。心说这也太不正常了,不过你既然现在不动,就一直不动下去好了,可不要等到我快到楼梯口的时候再扑上来。

Quái vật đó lặng lẽ nhìn tôi, không hề cử động.

Trong chốc lát, chỉ nghe thấy tiếng nước ào ào.

Nếu nó có động tác gì đó, như xoay đầu, mở miệng, có lẽ tôi còn cảm thấy dễ thở hơn một chút.

Nhưng nó cứ trân trân nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt đó, khiến tôi càng lúc càng thấy rợn người.

Tôi thầm nghĩ điều này quá bất thường, nhưng mà đã không động thì cứ tiếp tục không động đi.

Đừng đợi đến lúc tôi sắp tới cầu thang thì lại nhảy bổ tới.

我想着,干脆不去看它,低头就加快了速度,几下就拖到楼梯口,一看,傻了,那楼梯已经烂得只剩下个架子,我一个人也不知道能不能爬得上去,更不要说这里还有个半死不活的婆娘。我看到那楼梯还有几根铁架子横在那里,拉起那婆娘的一只手,试着爬了一下,结果一踩就断,已经烂得像泥巴一样。

Tôi nghĩ vậy, dứt khoát không nhìn nó nữa, cúi đầu tăng tốc.

Chỉ vài cái đã kéo đến cầu thang.

Nhìn thấy, tôi ngây người.

Cái thang đã mục nát chỉ còn lại cái khung, một mình tôi còn không biết có trèo lên được không, nói gì đến việc còn phải kéo theo một cô nàng nửa sống nửa chết này.

Tôi thấy cái thang còn vài thanh sắt ngang, kéo một tay có gái đó lên, thử trèo một chút, kết quả vừa đạp vào đã gãy, đã mục nát như bùn rồi.

这下很棘手,我回头望望,幸好这怪物非常有耐心,还在那里呆着,现在我在阴暗处,和它之间有个光源(甲板的破洞)。所以我只朦胧地看到一个轮廓。这下我心安了不少,先把那女人靠在墙上,然后咬了咬牙,用力一跃,想自己先爬上去再说。

Lần này thật khó khăn.

Tôi quay đầu nhìn lại, may mắn thay con quái vật này vô cùng kiên nhẫn, vẫn đứng ở đó.

Bây giờ tôi đang ở chỗ tối, và giữa tôi với nó có một nguồn sáng (lỗ thủng trên sàn tàu).

Vì vậy, tôi chỉ nhìn thấy một hình dáng mờ ảo.

Điều này khiến tôi yên tâm hơn nhiều.

Tôi đặt người phụ nữ này dựa vào vách tường, sau đó cắn răng, nhảy vọt lên, định tự mình trèo lên trước đã.

可怜我两手虽然修长,但是一点力气也没有,失败了两次,不仅没爬上去,嘴巴还磕了一下,疼得眼泪都下来了,心里非常懊恼,在那里想了半天也想不出办法来,我习惯性地转头,想看那怪物还在不在,这不转头还好,一转头,就突然看到一只巨大的东西不知道什么时候已经站在我的身后,我几乎和它脸对脸就碰上了,吓得我无法控制地大吼起来。

Thật đáng thương, hai tay tôi tuy dài nhưng chẳng có chút sức lực nào, thất bại hai lần, không những không trèo lên được mà miệng còn bị va đập một cái, đau đến mức nước mắt chảy ra.

Tôi vô cùng bực bội, nghĩ mãi vẫn không ra cách nào.

Theo thói quen, tôi quay đầu lại, muốn xem con quái vật còn ở đó không.

Không quay đầu thì thôi, vừa quay đầu lại, đột nhiên tôi thấy một vật thể khổng lồ không biết từ lúc nào đã đứng ngay sau lưng tôi.

Tôi gần như mặt đối mặt với nó, sợ hãi đến mức không thể kiểm soát mà hét lớn lên.

如果你突然回头,看到一个人无声息地站在你背后已经更够恐怖的了,现在看到这么一张狰狞的脸孔,那种恐惧真的无法表达出来,我大叫的同时,人已经不由自主地往后退去,一下子贴到舱壁上。

Nếu bạn đột nhiên quay lại và thấy một người đứng im lặng sau lưng mình đã đủ kinh khủng rồi, bây giờ nhìn thấy một gương mặt dữ tợn như vậy, nỗi sợ hãi đó thực sự không thể diễn tả thành lời.

Cùng lúc tôi hét lên, người tôi đã vô thức lùi lại phía sau, áp chặt vào vách khoang.

这个时候我已经看清楚这东西的样子,脑子里闪电般想起一件事情,我小时候听一个沿海的同学说过,他们村里有一个渔户有一次打到一只奇怪的东西,长的像个人,但是满身都是鳞片,拉回到村里一看,没人知道是什么。后来他们叫来村里一个上了岁数的老头子,这老头一看,吓得几乎没背过去,大叫:"快把它放了,这是只海猴子,等一下其他海猴子找上来,要出大事情!"

Lúc này tôi đã nhìn rõ hình dáng của thứ này.

Trong đầu tôi loé lên một chuyện: Hồi nhỏ, tôi nghe một người bạn học vùng ven biển kể rằng, một lần ngư dân trong làng họ đánh bắt được một thứ kỳ lạ, trông giống người nhưng toàn thân đầy vảy.

Kéo về làng xem, không ai biết đó là thứ gì.

Sau đó họ gọi một ông lão lớn tuổi trong làng đến.

Ông lão vừa nhìn thấy, sợ đến mức suýt ngã ngửa, hét lớn: "Mau thả nó ra, đây là Khỉ Biển (Hải Hầu Tử), lát nữa những con Khỉ Biển khác tìm đến, sẽ xảy ra chuyện lớn!"

可那渔户一听这东西这么珍贵,就动了歪脑筋,想把它养起来卖给城里,就表面上对村里人说放了它,其实把它藏到自己家里去了。结果第二天,那渔户全家都失踪了,村里人觉得不妙,找了整整两天,终于在海边一个悬崖底下,发现那渔户老婆的尸体,肚子都给剖了开来,内脏都吃空了。

Nhưng người ngư dân đó nghe nói thứ này quý giá như vậy, liền nảy sinh tà ý, muốn nuôi nó để bán cho thành phố.

Bề ngoài thì nói với dân làng là đã thả nó, nhưng thực chất lại giấu nó trong nhà mình.

Kết quả, ngày hôm sau, cả gia đình người ngư dân đó mất tích.

Dân làng thấy không ổn, tìm kiếm ròng rã hai ngày, cuối cùng tìm thấy thi thể vợ người ngư dân đó dưới một vách đá gần bờ biển, bụng bị mổ toang, nội tạng đã bị ăn sạch.

那老头看到了就说是其他海猴子上来报仇了,就叫了一个风水先生,在海边上摆了个供台,放了很多猪头羊头,做了好几天的法事才罢休。

Ông lão nhìn thấy thì nói là những con Hải Hầu Tử khác đã lên bờ báo thù.

Ông ta liền gọi một thầy phong thủy, bày một bàn thờ bên bờ biển, đặt rất nhiều đầu heo đầu dê, làm pháp sự suốt mấy ngày mới chịu thôi.

我那同学还把那海猴子的样子画给我看,他平时就很会画这些东西,画得极其逼真,当时就给我幼小的心灵造成了很大的冲击,几天没睡好觉,我对这东西的印象很深,现在看到马上就想了起来。只是没想到这所谓的海猴子个头这么大。

Người bạn học đó của tôi còn vẽ hình con Hải Hầu Tử cho tôi xem.

Cậu ta vốn rất giỏi vẽ những thứ này, vẽ vô cùng chân thực, lúc đó đã gây ra cú sốc lớn cho tâm hồn non nớt của tôi.

Tôi đã mất ngủ mấy ngày.

Ấn tượng của tôi về thứ này rất sâu đậm, bây giờ nhìn thấy liền nhớ ra ngay.

Chỉ là không ngờ con Hải Hầu Tử này lại có kích thước lớn đến vậy.

记忆一闪而过,那怪物并不做出任何动作,只很有兴趣地盯着那靠舱壁上的女人,嘴巴里竟然流下口水来。幸好这婆娘没醒,不然真的恐怕要吓得失禁掉。

Ký ức lướt qua nhanh chóng.

Quái vật đó không hề có động tác nào, chỉ chăm chú nhìn người phụ nữ đang dựa vào vách khoang với vẻ hứng thú.

Nước dãi thậm chí còn chảy ra từ miệng nó.

May mắn là bà cô này chưa tỉnh, nếu không e rằng thực sự sẽ sợ đến mức mất kiểm soát.

我稍微冷静下来,按了按背后的舱壁,也是那种很脆的已经腐朽的木板子,这个时候我已经有了一个计划,只要我用力往后一靠,就肯定能把舱壁靠出个洞来,那样如果那海猴子扑过来,我也有地方能退一下,只是那舱壁里头已经是船尾了,里面应该有很多机械设备,不知道能不能找到什么东西可以当武器。

Tôi bình tĩnh lại một chút, ấn vào vách khoang phía sau lưng.

Nó cũng là loại ván gỗ mục nát rất giòn.

Lúc này tôi đã có một kế hoạch.

Chỉ cần tôi dùng sức ngả người ra sau, chắc chắn có thể làm vách khoang thủng một lỗ.

Như vậy, nếu con Hải Hầu Tử đó nhảy bổ tới, tôi cũng có chỗ để lui lại.

Chỉ là phía sau vách khoang đó là đuôi thuyền, bên trong chắc có nhiều thiết bị máy móc, không biết có thể tìm được thứ gì để làm vũ khí không.

我正在胡思乱想,突然听到甲板发出几声咯吱,似乎又有一个人上了这艘船,正疑惑着,就看见乃明从甲板的裂口里跳下来。这阿呆刚着地就举起手枪,先警惕地看看了那铁门,然后转过来,顿时吓得大叫:"我的妈呀!"

Tôi đang nghĩ lung tung, đột nhiên nghe thấy sàn tàu phát ra mấy tiếng kẽo kẹt, dường như lại có một người lên con thuyền này.

Đang nghi hoặc, tôi thấy Nãi Minh nhảy xuống từ khe nứt trên sàn tàu.

Tên ngốc này vừa chạm đất đã giơ súng lên, cảnh giác nhìn cánh cửa sắt, rồi quay lại, lập tức sợ hãi hét lớn: "Mẹ con ơi!"

那怪物听到叫声,一转头就看见了他,突然发出一声极其凄凉的大叫,一矮身就扑了过来。那乃明的应变倒是非常了得,马上反应过来,往地上一趴躲过了第一击,喀嚓一下拉起枪栓,就是一枪,那怪物发出一身闷哼,肩膀上已经被打开了花,疼得一下子跳到船壁上,那乃明又胡乱开了几枪,子弹几乎全打在我脑袋边上,吓得我一缩脖子。

Con quái vật nghe tiếng hét, quay đầu lại liền nhìn thấy hắn, đột nhiên phát ra một tiếng kêu cực kỳ thê lương, hạ thấp thân mình rồi lao tới.

Khả năng ứng biến của Nãi Minh quả thực rất khá, lập tức phản ứng lại, nằm rạp xuống đất tránh được cú tấn công đầu tiên.

Cạch một tiếng, hắn lên đạn, rồi bắn một phát.

Con quái vật rên lên một tiếng cục mịch, vai nó đã bị cho mở hoa, đau đớn nhảy phóc lên vách thuyền. nãi Minh lại bắn bừa thêm vài phát, đạn gần như bay sát đầu tôi, khiến tôi rụt cổ lại vì sợ hãi.

海猴子非常机灵,一看这枪似乎很厉害,不敢再扑上去,佯装扑了一下,然后突然几个闪电般的连蹦,越过乃明,直接窜回到那个铁门里。

Hải Hầu Tử vô cùng tinh ranh, thấy khẩu súng này có vẻ lợi hại, không dám lao tới nữa.

Nó giả vờ nhảy bổ một cái, rồi đột nhiên liên tục nhảy vọt nhanh như điện, vượt qua Nãi Minh, chui tọt trở lại vào cánh cửa sắt kia.

乃明枪跟着它扫,把舱壁上扫出一排的子弹孔,马上水就飙了进来。这下子水位上升的更快了,他杀心很重,一排扫射将那铁门两个门轴打烂掉,然后上去一脚把门踢开,我跟他后面跑过去一看,只见一个船底有窟窿正在不停的往里面进水,那怪物正用力想钻进去,我一看这洞的就知道这必然是当年出事情的时候破口,就是这个口子导致了这艘船沉没,不过现在已经被大量的海锈堵的只有碗口大了,那怪物力气极大,乃明刚端起枪,它已经一头撞破一个可以容他通过的口子,然后一个猛子就扎了下去。

Nãi Minh chĩa súng theo con quái vật quét một lượt, bắn ra một hàng lỗ đạn trên vách cabin, nước biển ngay lập tức bắn vào.

Lần này mực nước dâng lên càng nhanh hơn.

Sát tâm của anh ta rất nặng, một loạt đạn đã bắn hỏng hai bản lề của cánh cửa sắt.

Sau đó anh ta xông lên đá văng cánh cửa.

Tôi chạy theo sau nhìn vào, chỉ thấy dưới đáy thuyền có một lỗ thủng đang không ngừng tràn nước vào.

Con quái vật kia đang cố gắng chui vào.

Tôi vừa nhìn cái lỗ này liền biết đây chắc chắn là lỗ thủng khi con thuyền gặp chuyện năm xưa.

Chính cái lỗ này đã khiến con thuyền bị chìm.

Tuy nhiên, bây giờ nó đã bị lớp gỉ biển dày đặc làm tắc nghẽn, chỉ còn to bằng miệng bát.

Con quái vật đó sức mạnh cực lớn.

Nãi Minh vừa mới giơ súng lên, nó đã đâm thủng một cái lỗ đủ để nó chui qua, sau đó nhào một cú xuống nước.

乃明还是不甘心,对着水里又扫了一梭子,这个时候这船整个身体已经发出要断裂的呻吟声,我一看,水已经没到膝盖了。这个地方再也不能久呆,要马上离开。那乃明跑回去摇了摇那婆娘,叫了几声:"宁,宁!"看她没反应,对我勾了勾手,我以为他是要我给他帮忙,没想到他突然一枪托,打在我肚子上,我疼的一下子缩了起来。他背起那个女的,一脚踩在我背上,利索的翻了上去。

Nãi Minh vẫn không cam tâm, bắn thêm một băng đạn nữa xuống nước.

Lúc này, toàn bộ thân thuyền đã phát ra tiếng rên rỉ như sắp đứt gãy.

Tôi nhìn lại, nước đã ngập đến đầu gối.

Chỗ này không thể ở lâu hơn được nữa, phải rời đi ngay lập tức.

Nãi Minh chạy lại lắc người phụ nữ kia, gọi vài tiếng: "Ninh, Ninh!"

Thấy cô ấy không phản ứng, anh ta ngoắc tay gọi tôi.

Tôi tưởng anh ta muốn tôi giúp một tay, không ngờ anh ta đột nhiên dùng báng súng đập vào bụng tôi.

Tôi đau đến mức co rúm lại.

Anh ta vác người phụ nữ lên, dẫm một chân lên lưng tôi, rồi thoăn thoắt trèo lên trên.

可怜我几乎同时前后中招,尤其他那一脚,几乎把我踩的吐血,我一下子腰就折了一样,那乃明在上面蹲下手,对我伸出手,突然用非常流利的中文对我说了一句:"真想不到在这里还能再看见你。"

Thật đáng thương, tôi gần như trúng chiêu từ cả trước và sau cùng lúc.

Đặc biệt là cú dẫm chân kia của anh ta, gần như khiến tôi thổ huyết.

Lưng tôi đau nhói như bị gãy.

Nãi Minh ngồi xổm trên đó, chìa tay về phía tôi, đột nhiên dùng tiếng Trung rất lưu loát nói với tôi một câu: "Thật không ngờ còn có thể gặp lại cậu ở đây."

我一听,这声音——太熟悉了!

Tôi nghe thấy, giọng nói này — quá quen thuộc!

这南洋的老外,刚开始说话口音很不地道,后来紧张的时候竟然只能一个词语一词语的说话,现在突然间流利成这个样子,我简直不敢相信自己的耳朵。

Gã người nước ngoài Nam Dương này, lúc đầu nói tiếng Trung còn rất ngọng, sau này khi căng thẳng lại chỉ có thể nói từng từ từng từ một, bây giờ đột nhiên lại trôi chảy đến mức này, tôi gần như không thể tin vào tai mình.

最不可思意,这声音我听上去十分的熟悉,但是一下子又想不起来是谁,似乎很亲切又很遥远。但是等我抬起头,看到他的眼神,突然间就全明白了,我靠,这不是闷油瓶的声音嘛。

Điều không thể tin được nhất là giọng nói này tôi nghe rất quen thuộc, nhưng nhất thời lại không nhớ ra là ai.

Dường như rất thân thiết nhưng lại rất xa xôi.

Nhưng đợi đến khi tôi ngẩng đầu lên, nhìn thấy ánh mắt của anh ta, đột nhiên tôi hiểu ra tất cả.

Tôi thốt lên, đây chẳng phải là giọng của Muộn Du Bình sao!

他看我在那里纳闷不动,趴下来一把就拎住我的领子,想把我提上去,我身手笨拙,几个翻转才爬到甲板上,忙一把揪住他,问:"你是不是——是不是?"太惊讶了,话卡在嘴巴里说不出来。

Hắn thấy tôi đang ngơ ngác không động đậy, liền cúi xuống tóm lấy cổ áo tôi, muốn kéo tôi lên.

Tôi vụng về, loay hoay mấy lần mới leo lên được boong tàu, vội vàng túm lấy hắn, hỏi: "Anh có phải — có phải..."

Quá kinh ngạc, lời nói mắc kẹt trong cổ họng không thốt ra được.

乃明知道我要问什么,点了点头,我还是有点不相信,退后几步看他,实在看不出来他身上有闷油瓶的影子,他进鲁王宫的时候还是人摸人样的,现在怎么变的这付德行,就算是易容术,那身高也不可能矮下去啊。

Nãi Minh biết tôi muốn hỏi gì, gật đầu.

Tôi vẫn còn hơi không tin, lùi lại vài bước nhìn hắn, thực sự không thể nhìn ra bóng dáng Muộn Du Bình trên người hắn.

Lúc hắn vào Lỗ Vương Cung trông vẫn còn bảnh bao, sao bây giờ lại biến thành cái bộ dạng này?

Cho dù là thuật Dịch dung, thì chiều cao cũng không thể lùn đi được chứ.

他看我呆呆的看着他,大概知道了我的疑问,伸出他的手,我看到了那两根奇长的手指,这才子我不相信也不行了,脑子一下子乱成一团,感觉一口血就卡在喉咙口要吐出来。这也太离奇了,根本没办法找出合理的解释来?难道他会借尸还魂?

Hắn thấy tôi ngây người nhìn mình, đại khái biết được câu hỏi của tôi, liền đưa tay ra.

Tôi nhìn thấy hai ngón tay dài kỳ lạ đó.

Lúc này, tôi không tin cũng không được.

Đầu óc tôi hỗn loạn thành một mớ bòng bong, cảm giác như có một ngụm máu mắc kẹt trong cổ họng sắp phun ra ngoài.

Chuyện này quá ly kỳ, căn bản không thể tìm ra lời giải thích hợp lý nào sao?

Chẳng lẽ hắn biết Mượn xác hoàn hồn?

他看我脸色变来变去,忙说道:"你不要惊讶,也不要多问,我们有机会再详谈,现在我还得瞒着船上那些人。"

Hắn thấy sắc mặt tôi thay đổi liên tục, vội nói: "Cậu đừng kinh ngạc, cũng đừng hỏi nhiều.

Chúng ta có cơ hội sẽ nói chuyện chi tiết.

Bây giờ tôi còn phải giấu những người trên thuyền kia."

我真是有千百个问题憋在心里面,他这么一句话休想在把我搪塞过去,但是一时间心乱如麻,也不知道先问哪个好。这个时候,这鬼船发出一声凄凉的扭曲声,好象某个什么巨大的部分变形了,我看到这船前后变的不在同一个水平面上了,心说不好,忙看了一眼船仓。果然是龙骨断了。

Tôi có hàng ngàn câu hỏi chất chứa trong lòng, một câu nói của hắn đừng hòng lấp liếm tôi qua chuyện này.

Nhưng nhất thời lòng rối như tơ vò, cũng không biết nên hỏi cái nào trước.

Đúng lúc này, con thuyền ma này phát ra một tiếng vặn vẹo thê lương, dường như một bộ phận khổng lồ nào đó đã bị biến dạng.

Tôi thấy con thuyền này phần trước và phần sau không còn nằm trên cùng một mặt phẳng nữa.

Tôi thầm nghĩ không ổn, vội vàng liếc nhìn khoang thuyền.

Quả nhiên, sống thuyền đã bị gãy.

龙骨一断,船身必然回开裂,这么一艘船,一个裂口就已经非常致命了,那水几乎就是飞一样进来,估计不要五分钟这船就彻底没顶了。

Sống thuyền vừa gãy, thân thuyền ắt sẽ bị nứt toác.

Một con thuyền như thế này, chỉ cần một vết nứt đã cực kỳ chí mạng rồi.

Nước gần như bay vào trong.

Ước chừng chưa đầy năm phút, con thuyền này sẽ chìm hoàn toàn.

他说道:"现在没时间谈这些事情,还是先离开这里再说。"

Hắn nói: "Bây giờ không có thời gian nói chuyện này, trước tiên hãy rời khỏi đây đã."

我此时也觉得有理,但是有一件事情我必须知道,我急急问道:"你要我不问也可以,但是你必须先告诉我,你是不是张起灵!"

Lúc này tôi cũng thấy có lý, nhưng có một chuyện tôi nhất định phải biết.

Tôi vội vàng hỏi: "Anh muốn tôi không hỏi cũng được, nhưng anh phải nói cho tôi biết trước, anh có phải là Trương Khởi Linh không!"

这个问题非常重要,如果他是的话,他必然已经进过那个海斗,那说明文锦和其他人,说不定也还活着,只要知道他们还活着,那其他的疑问,我自然就有机会知道。

Câu hỏi này vô cùng quan trọng.

Nếu hắn là Trương Khởi Linh, thì hắn nhất định đã vào cái Hải đấu kia.

Điều đó chứng tỏ Văn Cẩm và những người khác, nói không chừng cũng còn sống.

Chỉ cần biết họ còn sống, thì những nghi vấn khác, tự nhiên tôi sẽ có cơ hội biết được.

没想到他听到我这样问,一楞,奇怪的问我:"谁是张起灵?"那表情竟然十分的自然,不像是装出来的,我一看急了,放下声音对他说:"你可不要再骗我了,我知道你肯定是!"

Không ngờ hắn nghe tôi hỏi vậy, lại sững sờ, kỳ lạ hỏi tôi: "Ai là Trương Khởi Linh?"

Vẻ mặt đó lại vô cùng tự nhiên, không giống như giả vờ.

Tôi thấy thế liền sốt ruột, hạ giọng xuống nói với hắn: "Anh đừng lừa tôi nữa, tôi biết chắc chắn là anh!"

他苦笑着摇摇头:"说实话,我自己都不知道自己是谁,你又怎么可能知道?"

Hắn cười khổ lắc đầu: "Nói thật, chính tôi còn không biết tôi là ai, cậu làm sao có thể biết được?"

我对看人还是比较有信心的,他这一笑并不是伪装出来的,我心理也犹豫了,心说难道他真的不是,世界上竟然有这么巧的事情。我有点不甘心,还想追问,可是他已经对我摆了摆手,指了指身后。

Tôi vẫn luôn khá tự tin vào khả năng nhìn người của mình.

Nụ cười này của hắn không phải là giả vờ.

Trong lòng tôi cũng do dự.

Tôi thầm nghĩ chẳng lẽ hắn thật sự không phải sao?

Trên đời lại có chuyện trùng hợp đến vậy.

Tôi có chút không cam lòng, còn muốn hỏi thêm, nhưng hắn đã xua tay với tôi, chỉ vào phía sau.

我回头一看,我们坐的那只渔船已经跟的很近,但是还没有靠上来,船上的有一个红头发的老外,挥着手,大叫:"ARE YOU OK?"

Tôi quay đầu nhìn lại, chiếc thuyền đánh cá mà chúng tôi đang đi đã theo rất sát, nhưng vẫn chưa cập vào.

Trên thuyền có một người nước ngoài tóc đỏ, đang vẫy tay, lớn tiếng kêu: "ARE YOU OK?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 14: Đảo Phú Lâm


乃明背起那个女人,对着那渔船招了招手,那渔船上欢呼了起来,然后发动机器向我们靠了过来,上面几个渔夫在那里兴奋地大叫,真想不明白他们刚才还吓得像团泥一样,这些单纯的渔民果然和我们不一样。

Nãi Minh cõng người phụ nữ, vẫy tay về phía chiếc thuyền đánh cá.

Trên chiếc thuyền đó vang lên tiếng hoan hô, rồi họ khởi động máy tiến về phía chúng tôi.

Mấy ngư dân trên đó hò reo đầy phấn khích.

Thật khó hiểu, vừa nãy họ còn sợ hãi như cục bùn, quả nhiên những ngư dân chất phác này khác với chúng tôi.

那鬼船因为进水,速度已经慢了下来,我们的船靠过来之后,有几个渔民跳了过来,看表情还是害怕,他们手忙脚乱地把那女人抱回到船上去,然后赶紧把锚搬回来。那个船老大大叫:"开船开船,我们快离开这个鬼地方!"

Chiếc thuyền ma do bị vào nước nên tốc độ đã chậm lại.

Sau khi thuyền của chúng tôi cập sát, có mấy ngư dân nhảy qua.

Dáng vẻ họ vẫn còn sợ hãi, họ lúng túng đỡ người phụ nữ đó trở lại thuyền, rồi nhanh chóng kéo neo về.

Thuyền trưởng hét lớn: "Khởi hành, khởi hành, chúng ta mau rời khỏi cái nơi quỷ quái này!"

船老大让我们把那个女的放到地上,示意我扶住她,然后将她的头发撩了起来。

Thuyền trưởng bảo chúng tôi đặt người phụ nữ đó xuống sàn, ra hiệu tôi giữ cô ấy, rồi vén tóc cô ấy lên.

我已经做好了心理准备,但是看到那东西的时候,还是吸了口冷气,只见她那头发里面,蜷曲着两只枯手。现在看来,这两只手也并不是很长,皮肤都已经有点石化掉了,末端长在一团肉瘤的下面,最恶心的是,肉瘤上竟然还隐约长了一张小的人脸,那脸不知道通过什么原理,紧紧吸在那女的后脑上。

Tôi đã chuẩn bị tâm lý, nhưng khi nhìn thấy thứ đó, tôi vẫn phải hít một hơi lạnh.

Tôi thấy bên trong mái tóc cô ấy, có hai bàn tay khô héo đang cuộn tròn.

Bây giờ nhìn lại, hai bàn tay này cũng không dài lắm, da đã hơi hóa đá, phần cuối mọc ra từ bên dưới một khối u thịt, điều kinh tởm nhất là, trên khối u thịt đó còn lờ mờ mọc ra một gương mặt người nhỏ xíu.

Cái mặt đó không biết dựa trên nguyên lý gì, hút chặt vào phía sau gáy người phụ nữ.

船老大看到这些表情凝重起来,先是给那个东西磕了几个头,然后从他口袋里掏出一把什么东西,就撒在那小脸上,那小脸突然尖声一叫,扭曲起来,他马上抽出一把刀,小心但迅速地插到肉瘤和头皮的中间,把那肉瘤挑了起来,然后用力一扯,扯了下来。

Thuyền trưởng nhìn thấy những thứ này, vẻ mặt trở nên nghiêm trọng.

Đầu tiên ông ta dập đầu vài cái trước thứ đó, sau đó lấy ra một thứ gì đó từ trong túi, rắc lên gương mặt nhỏ kia.

Gương mặt nhỏ đột nhiên kêu lên một tiếng chói tai, vặn vẹo lại.

Ông ta lập tức rút một con dao, cẩn thận nhưng nhanh chóng chọc vào giữa khối u thịt và da đầu, khều khối u thịt lên, rồi dùng sức giật mạnh xuống.

那东西掉到地上,扭来扭去,吓得边上看的人都往后退了好几步,几下子工夫,就融化成一团糨糊一样的东西,顺着甲板上的缝流下去。我从来没见过这东西,问:"这是——"

Thứ đó rơi xuống sàn, xoay vặn qua lại, khiến những người đứng xem sợ hãi lùi lại mấy bước.

Chỉ trong chốc lát, nó đã tan chảy thành một thứ giống như hồ dán, chảy xuống theo các kẽ hở trên sàn tàu.

Tôi chưa từng thấy thứ này bao giờ, hỏi: "Đây là—"

他把刀放到海水里洗了一下,轻声说:"这是人面臁,是那艘鬼船上的冤魂,要用牛毛撒在上面就行了。"

Ông ta rửa con dao trong nước biển, nhẹ giọng nói: "Đây là Nhân Diện Liên, là oan hồn trên chiếc thuyền ma kia, chỉ cần rắc lông trâu lên là được."

我看船老大的表情,就知道他已经对自己当初接下这个生意感到后悔了,嘴巴里一直嘟囔着什么,检查完那女的头发里再没其他东西,就招呼手下往后舱里走。不一会儿,船就开动了。

Tôi nhìn vẻ mặt của thuyền trưởng, biết rằng ông ta đã cảm thấy hối hận vì đã nhận thương vụ này.

Miệng ông ta liên tục lẩm bẩm điều gì đó.

Sau khi kiểm tra tóc người phụ nữ đó không còn thứ gì khác, ông ta ra hiệu cho thủ hạ đi vào khoang sau.

Không lâu sau, thuyền đã khởi hành.

这个时候海面上已经平静了下来,天上的黑云虽然还在,但是已经分割成一小块一小块,阳光从那云和云的缝隙里照射下来,天空显得非常魔幻,看样子这他娘的风暴,总算是敖了过去。

Lúc này mặt biển đã bình lặng trở lại.

Mây đen trên trời tuy vẫn còn, nhưng đã chia thành từng mảng nhỏ.

Ánh nắng chiếu xuyên qua khe hở giữa những đám mây, bầu trời trông vô cùng huyền ảo.

Xem ra cơn bão chết tiệt này, cuối cùng cũng đã chịu đựng qua rồi.

我们把那女人安顿好,船老大就爬到船的顶棚上,我知道他要去看着四周的海面,那海猴子报复性极其强,不知道会不会跟着我们找机会报复。不过西沙的水很清,光线好的时候能见度有四十多米,如果有东西跟着我们,肯定一眼就能看见,所以我也并不是很担心会有这种事情发生。

Chúng tôi sắp xếp cho người phụ nữ đó ổn thỏa, thuyền trưởng liền trèo lên nóc cabin.

Tôi biết ông ta đi để quan sát mặt biển xung quanh.

Hải Hầu Tử có tính báo thù cực kỳ mạnh, không biết nó có theo dõi chúng tôi để tìm cơ hội báo thù không.

Tuy nhiên, nước ở Hoàng Sa rất trong, khi ánh sáng tốt tầm nhìn có thể lên đến bốn mươi mét.

Nếu có thứ gì theo dõi chúng tôi, chắc chắn có thể nhìn thấy ngay, nên tôi cũng không quá lo lắng về việc này.

这些人忙碌起来,都不理我开始跑来跑去,我因为刚才那一下子体力消耗得非常厉害,现在人一静下来,就觉得昏昏欲睡了,我找了块比较软的地方靠下来睡了一会儿,醒过来的时候,发现太阳已经西下,我们的船正贴着一个岛的海岸行驶,我看到非常漂亮的白色沙滩,就是看上去那些沙子比较粗,可能踩上去并不舒服,而我们前面就是一个码头,看样子像是要靠岸。

Những người này bắt đầu bận rộn chạy tới chạy lui, không ai để ý đến tôi.

Vì vừa nãy tiêu hao thể lực quá lớn, bây giờ người tôi vừa yên tĩnh lại liền cảm thấy buồn ngủ.

Tôi tìm một chỗ tương đối mềm để tựa vào ngủ một lát.

Khi tôi tỉnh dậy, thấy mặt trời đã lặn về phía Tây.

Thuyền của chúng tôi đang đi sát bờ biển của một hòn đảo.

Tôi thấy bãi cát trắng rất đẹp, chỉ là những hạt cát trông khá thô, có lẽ đạp lên sẽ không thoải mái.

Phía trước chúng tôi là một bến tàu, có vẻ như sắp cập bến.

我一直以为会直接到下一个探点去,没想到还有靠岸的机会,随口问了一句话:"我们现在要去什么地方?"

Tôi cứ nghĩ sẽ đi thẳng đến điểm thăm dò tiếp theo, không ngờ lại có cơ hội cập bến.

Tôi tiện miệng hỏi một câu: "Chúng ta bây giờ đi đâu?"

旁边一个人回答说:"我们去永兴岛,接几个人。"

Một người bên cạnh trả lời: "Chúng ta đến đảo Phú Lâm, đón vài người."

我转过头,看见那女人就坐在我边上,脸色已经恢复了过来,似乎也是刚刚醒过来的样子,我对女人没什么抵抗力,看她病怏怏的样子觉得还真是有点味道,笑了笑问她:"去接谁?"

Tôi quay đầu lại, thấy người phụ nữ đó đang ngồi ngay bên cạnh tôi.

Sắc mặt cô ấy đã hồi phục, dường như cũng vừa mới tỉnh dậy.

Tôi không có sức đề kháng với phụ nữ, thấy cô ấy có vẻ ốm yếu như vậy lại thấy có chút hấp dẫn.

Tôi cười hỏi cô ấy: "Đón ai?"

她指了指远处码头上,隐隐约约一群背着旅行包的人,说:"就是他们,几个潜水员,还有一个和你一样的顾问,我想你肯定认识的。"

Cô ấy chỉ vào một nhóm người lờ mờ đang đeo ba lô du lịch ở bến tàu xa xa, nói: "Chính là họ, mấy người thợ lặn, và một cố vấn giống như anh.

Tôi nghĩ anh chắc chắn sẽ quen biết."

我使劲看了几眼,也觉得其中一个胖子的体形有点熟悉,但是想不起来是谁,这个时候,一个船夫已经站在船头,叫起来:"哦累累!做好准备,我们在这里!"

Tôi cố nhìn vài lần, cũng cảm thấy dáng người của một tên béo trong số đó hơi quen thuộc, nhưng không nhớ ra là ai.

Lúc này, một thuyền viên đã đứng ở mũi thuyền, gọi to: "Ồ Lê Lê!

Chuẩn bị xong chưa, chúng tôi ở đây!"

那胖子转过头来,大骂:"哦你个头啊,让胖爷我在这里吹了半个小时的西北风,你们他娘的有没有时间观念?"

Tên béo kia quay đầu lại, mắng lớn: "Ồ đầu cậu ấy, để Bàn Gia tôi ở đây hóng gió Tây Bắc nửa tiếng, má nó chứ mấy người có khái niệm về thời gian không hả?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 15: Bàn Tử


我心里虽然有几丝惊讶,但是已然猜到了这个可能性,从鲁王宫里出来的人,大奎死了,三叔失踪,潘子昏迷,闷油瓶生死不明,只剩下我和这个胖子,这个组织肯定是两手准备,我估计他们的第一人选可能是胖子,我可能还是个替补。

Trong lòng tôi tuy có chút ngạc nhiên, nhưng cũng đã đoán được khả năng này.

Những người bước ra từ Lỗ Vương Cung thì Đại Khuê chết, Chú Ba mất tích, Phan Tử hôn mê, Muộn Du Bình sống chết không rõ, chỉ còn lại tôi và tên Bàn Tử này.

Tổ chức này chắc chắn đã chuẩn bị hai phương án.

Tôi đoán người được chọn đầu tiên của họ có lẽ là Bàn Tử, còn tôi có thể chỉ là người dự bị.

船到码头,并没有减速,那胖子几天不见又肥了一圈,不过身手照样可以,跟着那群人同时一个纵身跳上船,往前跑了几下才定住,看到我,开心地大笑:"小同志,你也在这里啊,看来我们的阿宁小姐面子还是很大的嘛。"

Thuyền cập bến, không hề giảm tốc độ.

Bàn Tử mấy ngày không gặp lại béo thêm một vòng, nhưng phong thái vẫn như cũ.

Anh ta cùng nhóm người kia đồng thời nhảy vọt lên thuyền, chạy vài bước mới đứng vững.

Nhìn thấy tôi, anh ta cười toe toét: "Tiểu đồng chí, cậu cũng ở đây à, xem ra A Ninh của chúng ta mặt mũi lớn lắm đấy."

那女人勉强对他一笑,看样子他们还很熟络,我对这个胖子的评价一向是毁誉参半,他的到来,我也不知道是该高兴还是悲哀,不过想起他在鲁王宫中的举动,几次都差点把我害死,不由有点头痛起来。

Người phụ nữ kia gượng cười với anh ta, xem ra họ rất quen thân.

Đánh giá của tôi về Bàn Tử này luôn nửa khen nửa chê.

Sự xuất hiện của anh ta, tôi không biết nên vui hay buồn, nhưng nhớ lại những hành động của anh ta trong Lỗ Vương Cung, mấy lần suýt hại chết tôi, tôi không khỏi thấy đau đầu.

他把行李往甲板上一扔,就坐到我们对面,敲着背说:"这一路把我赶的,你们他妈的也催得太急了,对了,那地方找到没有?"

Anh ta quăng hành lý lên sàn tàu, rồi ngồi đối diện chúng tôi, vỗ lưng nói: "Hối tôi suốt dọc đường, con mẹ nó mấy người thúc gấp quá đấy.

À, tìm ra chỗ đó chưa?"

那个叫阿宁的女人摇摇头:"还剩下最后一个点,不出意外应该就是那个地方了。"

Người phụ nữ tên A Ninh lắc đầu: "Vẫn còn điểm cuối cùng, nếu không có gì bất ngờ thì đó chính là chỗ đó rồi."

那胖子说:"我可和你们说过了啊,胖爷我什么寻龙点穴,探穴定位通通不会,你们地方找到了再通知我下去,要是找不到可不能怪我,钱我可照收啊,江湖规矩,你们南蛮子得入境问俗。

Bàn Tử nói: "Tôi đã nói với mấy người rồi nhé, Bàn Gia tôi cái vụ Tầm Long Điểm Huyệt, Thăm Huyệt Định Vị gì đó tuyệt đối không biết đâu.

Các người tìm ra chỗ rồi thì thông báo cho tôi xuống, nếu không tìm ra thì không thể trách tôi được.

Tiền thì tôi vẫn cứ thu đấy, luật giang hồ, đám Nam Man mấy người phải nhập gia tùy tục."

阿宁头痛得叹了口气,说:"我知道你不会,已经安排好了,具体定位的事情,就由吴先生负责。"

A Ninh đau đầu thở dài: "Tôi biết anh không biết, đã sắp xếp rồi.

Chuyện định vị cụ thể, giao cho Ngô tiên sinh phụ trách."

我本来心情比较放松,一听就蒙了,我负责,我拿什么负责?我连一铲都没下过呢,忙说:"我负责?你们不是知道那海斗在什么地方吗?"

Lẽ ra tôi đang trong tâm trạng khá thoải mái, nghe vậy liền ngơ ngác.

Tôi phụ trách?

Tôi dùng cái gì để phụ trách?

Tôi còn chưa xuống một xẻng nào đâu, vội nói: "Tôi phụ trách?

Các người không phải biết hải đấu đó ở đâu sao?"

她说道:"只能估计出一个大概的方位,如果能找到盗洞最好,找不到的话,实际的定位和判断地宫的形状,还得靠你,我们手上只有一些故纸堆的资料,不可能代替土夫子的经验,你三叔很精明,这些资料一点也没有留给我们。"

Cô ấy nói: "Chỉ có thể ước tính ra một phạm vi đại khái.

Nếu tìm được đạo động thì tốt nhất.

Nếu không tìm được, việc định vị thực tế và phán đoán hình dạng địa cung, vẫn phải dựa vào anh.

Chúng tôi chỉ có một ít tài liệu cũ kỹ, không thể thay thế được kinh nghiệm của thổ phu tử.

Chú Ba anh rất tinh ranh, những tài liệu này không để lại cho chúng tôi chút nào."

我背上全是虚汗,看来今天晚上也不用睡觉了,得好好回忆回忆爷爷当年教的那些东西,不然,一旦到了那个地方,马上就要出洋相了。

Lưng tôi toàn là mồ hôi lạnh, xem ra tối nay không cần ngủ nữa rồi.

Phải nhớ kỹ lại những thứ ông nội năm xưa đã dạy, nếu không, một khi đến chỗ đó, sẽ bị bẽ mặt ngay lập tức.

下铲子我是一点问题也没有,在海底有什么不利索或者失误,都可以说是因为海水的关系,到底是土夫子又不是海夫子,这一块应该不算我的专业范畴,但是要我规划地宫,这难度也太大了,幸好我虽然没实践过,但是理论经验还在。

Việc hạ xẻng thì tôi không có vấn đề gì.

Dưới đáy biển có gì không trôi chảy hay sai sót, đều có thể đổ lỗi cho nước biển.

Dù sao cũng là thổ phu tử chứ không phải hải phu tử, phần này không thuộc phạm vi chuyên môn của tôi.

Nhưng bảo tôi quy hoạch địa cung, độ khó này quá lớn.

May mắn là tôi tuy chưa thực hành bao giờ, nhưng kinh nghiệm lý thuyết vẫn còn.

我想了一下,刚才紧张的心情已经平复了很多,心说船到桥头自然直,到时候真的不行,就瞎掰几句说这地宫有些古怪好了。

Tôi suy nghĩ một lát, tâm trạng căng thẳng vừa rồi đã bình tĩnh lại rất nhiều.

Tôi thầm nghĩ thuyền đến đầu cầu tự nhiên thẳng, đến lúc đó thật sự không được thì cứ nói bừa vài câu là địa cung này có chút quái lạ là xong.

那胖子看看我,说道:"那就好,一切具备——不过难得来次西沙,咱们今天晚上得好好吃一顿,养足力气,这倒斗可是体力劳动。"说着就跑去找那个船老大,提溜着他,问他船上有什么海鲜没有。

Bàn Tử nhìn tôi, nói: "Thế thì tốt rồi, mọi thứ đã sẵn sàng—nhưng hiếm hoi lắm mới đến Hoàng Sa, tối nay chúng ta phải ăn một bữa thật ngon, dưỡng đủ sức lực, đổ đấu là công việc thể lực mà."

Nói xong anh ta chạy đi tìm thuyền trưởng, kéo ông ta lại, hỏi trên thuyền có hải sản gì không.

阿宁似乎没什么胃口,靠到一边也不说话了,我倒是饿了,一听有海鲜,口水就多起来,也跑过去看。

A Ninh dường như không có khẩu vị, tựa vào một bên không nói gì nữa.

Tôi thì lại đói rồi, nghe nói có hải sản, nước miếng chảy ra nhiều hơn, cũng chạy tới xem.

西沙马鲛鱼、马鞭鱼和石斑很多,有人说,西沙的海里一半是水,一半是鱼,所以渔船出去,很少会没收获。旅游季节,在西沙钓鱼也是一件十分有意思的事情。胖子连逼带喝,那船老大十分不情愿,还是从渔箱里提出来一条大马鲛鱼,交给一个伙计,说:"拿个鱼头锅出来。"

Cá thu, cá kìm và cá mú ở Hoàng Sa rất nhiều.

Có người nói, biển Hoàng Sa một nửa là nước, một nửa là cá, nên tàu đánh cá ra khơi hiếm khi không có thu hoạch.

Mùa du lịch, câu cá ở Hoàng Sa cũng là một việc vô cùng thú vị.

Bàn Tử vừa ép vừa dụ, thuyền trưởng vô cùng miễn cưỡng, vẫn xách ra một con cá thu lớn từ thùng đựng cá, giao cho một thợ thuyền, nói: "Lấy cái nồi đầu cá ra."

胖子不知道刚才发生的事情,看船老大哭丧个脸,十分不爽,骂道:"他娘的老子又不是不给钱,又不是抢你的。"

Bàn Tử không biết chuyện vừa xảy ra, thấy thuyền trưởng mặt mày rầu rĩ, vô cùng khó chịu, mắng: "Má nó chứ Lão Tử đâu phải không trả tiền, đâu phải cướp của ông."

不过不爽归不爽,那鱼锅子端上来的时候,那个香啊,就别提了,我一下子所有的欲望都变成食欲,以前在城市里,从来没想过会这么想吃一个东西,那胖子馋得眼睛都直了,锅子还没放稳,就直接一筷子下去夹了块鱼皮吃,烫得他眼泪都下来了。

Nhưng khó chịu thì khó chịu, lúc cái nồi cá được mang lên, cái mùi thơm đó thì khỏi phải nói.

Lập tức mọi ham muốn của tôi đều biến thành ham ăn.

Trước đây ở thành phố, tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ thèm ăn một thứ như vậy đến thế.

Bàn Tử thèm đến mức mắt trợn tròn, nồi còn chưa đặt vững, anh ta đã thọc đũa xuống gắp một miếng da cá ăn, nóng đến mức nước mắt chảy ra.

这一锅子东西威力实在太大,不知道都饿了还是怎么了,那些个新人全部都围过来,连在仓底下睡觉的乃明都跑了上来,凑过来一闻,直说:"西沙就是好,随便烧个鱼我们那里一辈子都吃不到。"

Nồi cá này uy lực thực sự quá lớn.

Không biết là mọi người đều đói hay sao, tất cả những người mới đều xúm lại.

Ngay cả Nãi Minh đang ngủ dưới khoang cũng chạy lên, xúm lại ngửi, không ngừng nói: "Hoàng Sa đúng là tốt thật, tùy tiện nấu một con cá mà ở chỗ chúng tôi cả đời cũng không ăn được."

胖子一把把他拉远,大骂:"拍马屁归拍马屁,你他娘的别口水喷进去,恶心不恶心。"

Bàn Tử kéo hắn ta ra xa, mắng lớn: "Nịnh bợ thì nịnh bợ, má nó chứ ông đừng phun nước bọt vào, có thấy tởm không hả."

乃明一看胖子没见过,忙去和他握手,说道:"哎,生面孔啊,怎么称呼啊?"

Nãi Minh thấy Bàn Tử là người lạ, vội vàng tiến đến bắt tay, nói: "Ôi, gương mặt mới à, xưng hô thế nào đây?"

胖子为人很直,看他一眼,问阿宁:"这矮子是谁啊?"

Bàn Tử là người thẳng tính, liếc nhìn hắn ta, hỏi A Ninh: "Cái tên lùn này là ai vậy?"

乃明一听脸就黑了,用力说道:"请称呼我张先生,或者张教授好吗?"

Nãi Minh nghe vậy mặt liền tối sầm lại, nhấn mạnh nói: "Xin xưng hô tôi là Trương tiên sinh, hoặc Trương giáo sư có được không?"

胖子也不理他,阿宁看气氛不对,接过来说道:"忘记给你们介绍了,这位是张教授,也是我们这次的顾问之一。"

Bàn Tử không thèm để ý đến hắn ta.

A Ninh thấy không khí không ổn, tiếp lời nói: "Quên chưa giới thiệu với hai người, đây là Giáo sư Trương, cũng là một trong những cố vấn của chúng tôi lần này."

胖子一听真的是教授,也不敢太放肆了,忙和乃明握了一下手,说道:"哦,真对不住了,我还真没看出来您是个文化人,我就是一直肠子,姓王,粗人一个,你别往心上去。"

Bàn Tử nghe nói thực sự là giáo sư, cũng không dám quá xấc xược nữa, vội bắt tay Nãi Minh, nói: "Ồ, tôi thật sự xin lỗi, tôi thực sự không nhìn ra ông là người có học thức.

Tôi là người thẳng tính, họ Vương, là người thô lỗ thôi, ông đừng để bụng."

乃明一听才勉强笑了一下,说:"这个文化人和粗人,都是人嘛,文化人还不都是粗人变的,分工不同,分工不同。"

Nãi Minh nghe vậy mới miễn cưỡng cười một cái, nói: "Người có học và người thô lỗ thì cũng là người thôi.

Người có học chẳng phải cũng từ người thô lỗ mà ra sao, phân công khác nhau, phân công khác nhau."

胖子也听不懂在他讲什么,只好赔笑,乃明不识好歹,又问:"那王先生是从事什么工作的啊?"

Bàn Tử cũng không hiểu hắn ta đang nói gì, đành cười xòa.

Nãi Minh không biết điều, lại hỏi: "Vậy Vương tiên sinh làm công việc gì?"

胖子一愣,直觉得别扭,但是也不能在文化人面前表现得太粗,说道:"这个,通俗地讲,我其实是个地下工作者。"

Bàn Tử sững người, cảm thấy khó chịu, nhưng cũng không thể tỏ ra quá thô tục trước mặt người có học, nói: "Cái này, nói bình dân một chút, tôi thực ra là một nhân viên công tác ngầm (công tác dưới lòng đất)*."

* Nguyên văn Bàn Tử nói là "địa hạ công tác" (地下工作).

Ở đây tác giả Nam Phái Tam Thúc chơi chữ, cụm từ "địa hạ công tác" vừa có nghĩa là làm việc dưới lòng đất, vừa có nghĩa là công tác ngầm, công tác bí mật.

乃明一听,不由肃然起敬,说道:"原来是公安战士,失敬失敬。"

Nãi Minh nghe vậy, không khỏi kính cẩn đứng lên, nói: "Ôi ra là chiến sĩ công an, thất kính, thất kính."

我一听,忙憋住不让自己笑出来,他娘的乃明也太啰嗦了,胖子看我笑起来,狠狠瞪了我一眼,对乃明说:"先别顾着说话,来,尝两口先。"说着就招呼其他人动筷子。

Tôi nghe vậy, vội nín cười không để mình bật ra tiếng. má nó chứ Nãi Minh cũng quá lắm lời rồi.

Bàn Tử thấy tôi cười, lườm tôi một cái thật mạnh, nói với Nãi Minh: "Đừng lo nói chuyện, nào, nếm thử vài miếng đã."

Nói rồi anh ta ra hiệu cho những người khác động đũa.

我不去管他们,夹起一筷就吃,那口感,真他娘的绝了,第一口还没咽下去呢,我第二筷子又下去了。

Tôi không thèm quản họ, gắp một đũa ăn.

Cái cảm giác đó, thực sự má nó quá tuyệt vời.

Miếng đầu tiên còn chưa nuốt xong, tôi đã thọc đũa lần thứ hai rồi.

那胖子吃了几口,大呼过瘾,又叫着要酒喝,阿宁说道:"这出来打渔的,怎么可能带酒出来。"胖子不相信,跑到船仓里一阵折腾,大笑着抱着坛酒出来,那船老大一看,大惊失色,说这是给龙王爷喝的,说着就过来抢。

Bàn Tử ăn vài miếng, kêu lên sướng miệng, lại đòi uống rượu.

A Ninh nói: "Ra khơi đánh cá, làm sao có thể mang rượu ra được."

Bàn Tử không tin, chạy vào khoang thuyền lục tung một hồi, cười lớn ôm một hũ rượu ra.

Thuyền trưởng nhìn thấy, biến sắc vì kinh ngạc, nói đây là rượu để Long Vương uống, nói rồi liền chạy đến giật lại.

胖子大怒:"你怎么这么多废话,就你这着破酒,龙王爷喝了肯定得把你这船给收了。"说着从自己包里掏出一瓶二锅头来,一把塞给那船老大,"拿着,给龙王爷换换口味!这叫南北酒文化交流,看到没,红星二锅头,好东西,你他娘的别不知道好歹。"

Bàn Tử nổi giận: "Ông sao mà nhiều lời vô ích thế, cái loại rượu tồi của ông, Long Vương uống vào chắc chắn sẽ hốt luôn con thuyền này của ông đấy."

Nói rồi anh ta lôi ra một chai Nhị Oa Đầu từ trong túi mình, nhét vào tay Lão ngư: "Cầm lấy, cho Long Vương đổi vị!

Cái này gọi là Giao lưu văn hóa rượu Bắc Nam, thấy chưa, Hồng Tinh Nhị Oa Đầu, đồ tốt đấy, má nó ông đừng không biết điều."

那船老大呆在那里,也不知道怎么办好,那胖子就当他答应了,一把撕开封口,就给我们倒上,那酒的确不错,是黎苗乡镇有名的椰子酒,我们大吃大喝,好一通风卷残云,一直到月亮到头顶上才罢休。

Thuyền trưởng đứng đờ ra đó, cũng không biết phải làm sao.

Bàn Tử coi như ông ta đã đồng ý, xé toạc niêm phong, rồi rót rượu cho chúng tôi.

Rượu đó quả thực không tồi, là rượu dừa nổi tiếng của hương trấn Lê Miêu.

Chúng tôi ăn uống linh đình, cuốn sạch cả bàn thức ăn, mãi đến khi mặt trăng lên đến đỉnh đầu mới chịu dừng.

那胖子最后一口酒喝掉,打了饱嗝,一拍大腿坐了坐直,说:"各位,咱吃饱了,也该谈谈正经事情了。"

Bàn Tử uống hết ngụm rượu cuối cùng, ợ một cái, vỗ đùi ngồi thẳng dậy, nói: "Chư vị, chúng ta ăn no rồi, cũng nên bàn chuyện chính sự thôi."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 16: Họp


我看他胖子脸色一变,也不由振了振精神,这胖子虽然不太靠谱,但是在古墓里的表现还是可圈可点的,至少在经验方面不知道要好多少倍,我从来没独立倒过斗,也不知道是不是都要在下斗前开个动员什么的,就暂且当一回学生,听听他要怎么说。

Tôi thấy vẻ mặt của Bàn Tử thay đổi, không khỏi chấn chỉnh lại tinh thần.

Bàn Tử này tuy không đáng tin cậy lắm, nhưng biểu hiện trong cổ mộ thì vẫn rất đáng khen ngợi, ít nhất là về mặt kinh nghiệm thì không biết tốt hơn gấp bao nhiêu lần.

Tôi chưa từng tự mình đổ đấu độc lập, cũng không biết có phải trước khi xuống đấu đều phải tổ chức một buổi động viên tinh thần hay không, nên tạm thời cứ đóng vai học sinh, nghe xem hắn sẽ nói gì.

那胖子吃的很多,肚子都鼓了起来,拍了拍说:"这海斗,我从来未倒过,事先肯定要部署一下,免得进去的时候手忙脚乱,里面肯定不比旱斗,我也先看看你们给我准备的装备怎么样。"

Bàn Tử ăn rất nhiều, bụng đã căng phồng lên.

Hắn vỗ vỗ bụng nói: "Cái hải đấu này, tôi chưa từng đổ bao giờ, nên trước tiên nhất định phải sắp xếp bố trí một chút, tránh lúc vào trong cuống cuồng tay chân.

Bên trong chắc chắn không thể so với đấu trên đất liền, tôi cũng phải xem xem các cô cậu chuẩn bị cho tôi những trang bị gì đã."

阿宁说道:"王先生,那你对这次有几成把握,我们不如先计划一下,心里也有个底。"

A Ninh nói: "Vương tiên sinh, vậy anh có bao nhiêu phần chắc chắn cho lần này, chi bằng chúng ta lên kế hoạch trước, trong lòng cũng thấy yên tâm."

那胖子摇摇头:"不好说,根据我的经验,这海斗,一是定位困难,二是盗洞难挖,三是里面的情况不明。其中这第一第二,我们暂且不去想它,主要是这个第三,这海斗里,不知道有没有粽子,若是有,就麻烦了。若是没有,那这海斗也不过是在水里的一个旱斗而已,轻易就可拿下。"

Bàn Tử lắc đầu: "Khó nói lắm.

Theo kinh nghiệm của tôi, cái hải đấu này, thứ nhất là định vị khó khăn, thứ hai là đạo động khó đào, thứ ba là tình hình bên trong không rõ ràng.

Trong đó, cái thứ nhất và thứ hai, chúng ta tạm thời không nghĩ đến, chủ yếu là cái thứ ba này.

Trong hải đấu không biết có bánh tông hay không.

Nếu có, thì sẽ phiền phức.

Nếu không có, thì cái hải đấu này chẳng qua chỉ là một cái đấu trên cạn nằm dưới nước mà thôi, có thể dễ dàng lấy xuống."

说起粽子,我突然想起三叔和我讲的,那在墓道里碰到的怪物,越想越觉得可能就是今天在鬼船上碰到的海猴子,心里不由有点发悚,说:"这有没有粽子我不知道,但是可能有更麻烦的东西。"说着就把在鬼船上看到的那东西和这些人说了,其他人早就听乃明添油加醋地说过了,不过那乃明说的重点应该是他如何如何把我和阿宁救下来,我说的就平实得多了,等我说完,那胖子就大皱眉头,问:"操,他娘的真的还有这种东西?"

Nhắc đến bánh tông, tôi chợt nhớ lại chuyện Chú Ba từng kể cho tôi, về con quái vật đã gặp trong mộ đạo.

Càng nghĩ càng thấy nó có khả năng chính là con Hải Hầu Tử mà chúng tôi gặp trên thuyền ma ngày hôm nay.

Trong lòng không khỏi có chút rùng mình, tôi nói: "Có bánh tông hay không thì tôi không biết, nhưng có thể có thứ phiền phức hơn."

Nói rồi, tôi kể cho những người này nghe về thứ đã thấy trên thuyền ma.

Những người khác sớm đã nghe Nãi Minh thêm mắm dặm muối kể qua rồi, nhưng trọng tâm câu chuyện của Nãi Minh chắc chắn là làm sao hắn đã cứu tôi và A Ninh, còn tôi kể lại thì lại chân thật hơn nhiều.

Khi tôi kể xong, Bàn Tử cau mày thật chặt, hỏi: "Đ*, má nó chứ thật sự còn có thứ này sao?"

我点点头,说:"很多地方都有这东西的传说,应该不会错。"

Tôi gật đầu, nói: "Rất nhiều nơi đều có truyền thuyết về thứ này, chắc là không sai đâu."

阿宁点点头,说道:"我小时候也听过,我还以为大人吓唬我不要到河边去玩。"

A Ninh gật đầu, nói: "Hồi nhỏ tôi cũng nghe nói qua, tôi cứ nghĩ là người lớn dọa để tôi đừng ra bờ sông chơi."

这个时候,那船老大插嘴了,他说道:"不对不对,这你们就不懂了,这里打渔的渔船,都见过这东西,我告诉你们啊,这东西不是什么海猴子,这是夜叉鬼!那都是龙王爷的亲戚,你们现在得罪了他,他肯定要回来报仇的,我看我们还是快点回到岸上去,买头猪回来,请个道士作作法事,兴许他大人有大量,还能放过我们。"

Lúc này, ông thuyền trưởng chen vào, ông ấy nói: "Không đúng không đúng, cái này thì mấy người không biết rồi.

Các thuyền đánh cá ở đây đều đã từng thấy thứ này.

Tôi nói cho mấy người biết, thứ này không phải là Hải Hầu Tử gì đâu, đây là Quỷ Dạ Xoa!

Đó đều là họ hàng của Long Vương Gia!

Bây giờ mấy người đã đắc tội với nó, nó nhất định sẽ quay lại báo thù.

Tôi thấy chúng ta nên nhanh chóng quay về bờ, mua một con heo về, mời một vị đạo sĩ làm pháp sự, có lẽ Đại Nhân có lòng rộng lượng, còn có thể tha cho chúng ta."

乃明一听,就笑了:"我说,船大爷,我都一枪把龙王爷亲戚的肩膀给打烂了,那我岂不是孙悟空?"

Nãi Minh nghe xong liền bật cười: "Tôi nói, ông thuyền trưởng, tôi đã một súng bắn nát vai của họ hàng Long Vương Gia rồi, vậy chẳng lẽ tôi là Tôn Ngộ Không à?"

船老大气得脸都绿的,说道:"你那个样子哪里像孙悟空,你就是个猪八戒!"

Ông thuyền trưởng tức giận đến mức mặt xanh lét, nói: "Cái dáng vẻ đó của anh chỗ nào giống Tôn Ngộ Không, anh chính là Trư Bát Giới!"

我们听得都乐了,乃明捏捏脸上的肥肉,大概觉得自己真的有点像,不由郁闷起来。

Chúng tôi nghe xong đều bật cười.

Nãi Minh nhéo nhéo lớp mỡ trên mặt, có lẽ cảm thấy mình thực sự hơi giống, không khỏi cảm thấy phiền muộn.

那胖子笑了一会儿,说道:"既然海底有这种东西,我们肯定得有武器才行,万一那海斗里就是他们的老巢,那我们岂不是跑去送死?我说阿宁小姐,你有没有准备渔叉什么的?"

Bàn Tử cười một lúc, nói: "Nếu dưới đáy biển có thứ này, chúng ta nhất định phải có vũ khí mới được.

Lỡ như cái hải đấu kia chính là hang ổ của bọn chúng, chẳng phải chúng ta chạy đến tự sát sao?

Tôi nói A Ninh, cô có chuẩn bị xà beng gì không?"

那阿宁说道:"我们是考虑过这个情况,准备了一些潜水用枪,但是这些枪体积很大,而且一次只能打一发,如果有紧急情况,恐怕也没有什么大作用。"

A Ninh nói: "Chúng tôi đã cân nhắc đến tình huống này, đã chuẩn bị một số súng lặn, nhưng những khẩu súng này có kích thước rất lớn, hơn nữa mỗi lần chỉ bắn được một viên.

Nếu có tình huống khẩn cấp, e rằng cũng không có tác dụng lớn gì."

我知道这种枪,是用压缩气体击发的,有效距离大概才四米不到,幸好还可以当长矛用。不过这枪的长度确实太长,在狭窄的墓道里可能施展不开。

Tôi biết loại súng này, nó dùng khí nén để bắn, cự ly hiệu quả chỉ khoảng chưa đến bốn mét.

May mắn là nó còn có thể dùng làm giáo dài.

Tuy nhiên, chiều dài của khẩu súng này quả thực quá dài, có thể sẽ không thể xoay xở được trong mộ đạo chật hẹp.

胖子不理会这些,大叫:"甭管有没有用,枪这东西不嫌多,能带的都带上,明天下去,我就打头阵,小吴同志就跟在我后面,你和那个秃子就在最后,如果我一看到不对劲的东西,就摆摆手,你们就马上停下来,如果我摆摆拳头,你们就什么都别管,逃就是了。"

Bàn Tử không để ý đến những điều này, lớn tiếng kêu lên: "Mặc kệ có tác dụng hay không, súng ống thì không sợ thừa, mang theo được bao nhiêu thì mang hết bấy nhiêu.

Ngày mai xuống, tôi sẽ đi tiên phong, Tiểu Ngô đồng chí cứ đi theo sau tôi, cô và cái tên hói kia đi ở cuối.

Nếu tôi vừa thấy thứ gì đó không ổn, thì sẽ phẩy tay, mấy người lập tức dừng lại.

Nếu tôi vung nắm đấm, thì mấy người đừng quản bất cứ thứ gì nữa, chạy thôi."

我们觉得安排比较合理,点了点头,又讨论了其他一些东西,我想想三叔和我提过的经历,列了一些清单出来,让他们连夜先准备好,什么探灯,匕首,火折子,密封袋子,尼龙绳子,登山扣,还有吃的,急救用品,放毒面具,百宝盒,他们准备的比较全,竟然连黑驴蹄子都准备了。

Chúng tôi thấy cách sắp xếp khá hợp lý, nên gật đầu.

Chúng tôi lại thảo luận một vài thứ khác.

Tôi nhớ lại những kinh nghiệm mà Chú Ba đã kể cho tôi, lập ra một danh sách, bảo họ chuẩn bị ngay trong đêm, nào là đèn pin, dao găm, hỏa chiết tử (mồi lửa), túi ni lông kín, dây thừng ni lông, móc leo núi, cùng với thức ăn, đồ dùng sơ cứu, mặt nạ chống độc, hộp bách bảo.

Họ chuẩn bị khá đầy đủ, thậm chí còn chuẩn bị cả móng lừa đen.

吩咐好之后,天都快亮了,那胖子说我们不能再谈了,再谈水都下不了,得休息,于是几个人各自找了个地方躺下,那椰子酒后劲很大,被海风一吹,我头就重得不行,几下子睡了过去,一直到下午才醒了过来。

Sắp xếp xong xuôi, trời cũng gần sáng rồi.

Bàn Tử nói chúng tôi không thể nói chuyện thêm được nữa, nói thêm sẽ không dám xuống nước luôn, cần phải nghỉ ngơi.

Thế là mấy người chúng tôi tự tìm một chỗ để nằm xuống.

Rượu dừa có hậu vị rất mạnh, bị gió biển thổi vào, đầu tôi nặng trĩu không chịu nổi, chốc lát đã ngủ thiếp đi, mãi đến buổi chiều mới tỉnh lại.

其他几个人比我早醒,已经都在准备了,我用海水洗了一把脸,这时候,几个蛙人已经从水里浮了上来,一个摘下呼吸器就说:"找到了,肯定就是这个地方,盗洞也找到了。"

Mấy người khác đã tỉnh trước tôi, đang chuẩn bị.

Tôi dùng nước biển rửa mặt.

Lúc này, vài thợ lặn đã nổi lên từ dưới nước, một người tháo máy thở ra rồi nói: "Tìm thấy rồi, chắc chắn là chỗ này, đạo động cũng đã tìm thấy rồi."

那阿宁一听,忙问:"有没有进去看看?"

A Ninh nghe thấy, vội hỏi: "Đã đi vào xem chưa?"

那人摇了摇头,说:"有,但是那盗洞很长,我潜进去一段,没看到底,不敢再进去了,就出来了。"

Người kia lắc đầu, nói: "Có, nhưng cái đạo động rất dài, tôi lặn vào một đoạn, không thấy đáy, không dám tiến vào nữa, nên đi ra rồi."

阿宁点点头,又问了那个蛙人几个问题,转头对我们说:"行了,我们准备一下,他们清理完洞口就会叫我们,那洞口里有塌方的迹象,他们会用支架固定一下。"

A Ninh gật đầu, lại hỏi thêm người thợ lặn kia vài câu hỏi, rồi quay sang nói với chúng tôi: "Được rồi, chúng ta chuẩn bị một chút.

Bọn họ dọn dẹp xong cửa động sẽ gọi chúng ta.

Ở cửa động có dấu hiệu sạt lở, bọn họ sẽ dùng giá đỡ để cố định lại."

我们各自去穿潜水衣,我和其他几个都很合身,就胖子,肚子包不进去,露了肚脐出来,虽然不太雅观,但是好歹是穿上去了,我们检查完装备,把该带的都带上,就一个接一个倒摔进水里。

Chúng tôi ai nấy đi mặc đồ lặn.

Tôi và mấy người khác đều vừa vặn, chỉ có Bàn Tử là cái bụng không nhét vào được, để lộ cái rốn ra ngoài.

Mặc dù trông không được nhã nhặn lắm, nhưng dù sao cũng đã mặc được vào rồi.

Chúng tôi kiểm tra xong trang bị, mang theo tất cả những gì cần mang, rồi lần lượt ngã ngửa xuống nước.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 17: Tóc


那盗洞离船不远,我看到海底给炸出一个大坑,洞就在坑的底部,心说果然是三叔的手段,我们在盗洞四周先搜寻了一下,没有任何坍塌的迹象,看样子三叔的技术并没有退步。

Cái đạo động đó không xa con thuyền.

Tôi thấy dưới đáy biển bị nổ tung ra một cái hố lớn, cái động nằm ở dưới đáy hố.

Trong lòng tôi thầm nghĩ quả nhiên là thủ đoạn của Chú Ba.

Chúng tôi tìm kiếm xung quanh đạo động trước, không có bất kỳ dấu hiệu sạt lở nào.

Xem ra kỹ thuật của Chú Ba vẫn chưa hề bị suy giảm.

我还看到几个石头锚碇,和三叔描述的很像,但也不能肯定就是三叔所说的那些。

Tôi còn thấy vài cái neo đá, trông rất giống với mô tả của Chú Ba, nhưng cũng không thể khẳng định chắc chắn đó là những cái neo mà Chú Ba đã nói.

三叔规划出的地宫痕迹还在,我和乃明都用心记了一下,看这个盗洞的位置,应该是往耳室挖下去的,那个地方的砖应该比较薄。

Dấu vết của địa cung do Chú Ba quy hoạch vẫn còn đó.

Tôi và Nãi Minh đều cố gắng ghi nhớ.

Nhìn vào vị trí của đạo động này, có lẽ là được đào thẳng xuống nhĩ thất.

Gạch ở chỗ đó hẳn là khá mỏng.

我们大概找了5分钟,似乎没有再找下去的必要,那胖子对我摆了摆手,意思现在要不要进去了。阿宁看了看潜水表,点了点头。

Chúng tôi tìm kiếm khoảng 5 phút, dường như không cần thiết phải tìm kiếm thêm nữa.

Bàn Tử phẩy tay với tôi, ý hỏi bây giờ có nên đi vào không.

A Ninh nhìn đồng hồ lặn, gật đầu.

我们现在的装备不比20年前,都是轻装上阵,我们最后在洞口核对了一下装备和约定好的暗语,确定一切没问题了,胖子才定了定神,第一个猫了进去,我们几个打开探灯跟着,一下子潜进去五六米。

Trang bị của chúng tôi bây giờ không giống 20 năm trước, tất cả đều là trang bị gọn nhẹ.

Cuối cùng, chúng tôi kiểm tra lại trang bị và ám hiệu đã thỏa thuận ở cửa động, xác nhận mọi thứ đều ổn, Bàn Tử mới định thần lại, người đầu tiên khom lưng chui vào.

Mấy người chúng tôi mở đèn pin đi theo, thoắt cái đã lặn sâu vào năm sáu mét.

这盗洞很不规则,时宽时窄,我一边游一边看这洞壁,越看越奇怪,怎么看上去不是人挖的,如果是三叔打的洞,他肯定是一个铲子一个铲子打的很工整,可是现在这那上面的痕迹,乱七八遭,坑坑挖挖,倒像是动物打的洞。

Cái đạo động này rất không có quy tắc, lúc rộng lúc hẹp.

Tôi vừa bơi vừa quan sát vách động, càng nhìn càng thấy kỳ lạ, sao trông nó không giống do người đào.

Nếu là động do Chú Ba đào, ông ấy chắc chắn sẽ dùng từng xẻng một để đào rất ngay ngắn và gọn gàng.

Nhưng những dấu vết trên vách động hiện tại lại rất bừa bãi, chỗ lồi chỗ lõm, lại giống như hang do động vật đào.

我们艰难地游了二十多米,洞口进来的光线已经照不到了,这个时候盗洞方向突然一变,竟然垂直挖了下去,我不由有些奇怪。既然还没挖到墓,何必改变方向呢。

Chúng tôi khó khăn bơi đi hơn hai mươi mét, ánh sáng từ cửa động đã không còn chiếu tới được nữa.

Đúng lúc này, hướng của đạo động đột nhiên thay đổi, lại đào thẳng đứng xuống dưới.

Tôi không khỏi thấy hơi kỳ lạ.

Rõ ràng là chưa đào đến mộ, tại sao lại phải đổi hướng chứ.

苦于没办法说话,我也没办法表达自己的疑问,我们在这垂直的洞口休息了一下。胖子对我们做了一个小心的手势,然后自己先游了下去,我看他的灯光一直下去一直下去,直到变成一个小点,不由咋舌,心说怎么这么深。

Khổ nỗi không thể nói chuyện, tôi cũng không có cách nào bày tỏ nghi vấn của mình.

Chúng tôi nghỉ ngơi một chút ở cửa động thẳng đứng này.

Bàn Tử ra hiệu cẩn thận với chúng tôi, rồi tự mình bơi xuống trước.

Tôi nhìn đèn của hắn cứ xuống mãi, xuống mãi, cho đến khi biến thành một chấm nhỏ, không khỏi tặc lưỡi, thầm nghĩ sao mà sâu thế.

这个时候他在下面晃了晃探灯,说明下面安全。我们马上一个接一个也潜了下去,我看着潜水表,已经有十几米深了,我从来没有潜到这么深过,不知道自己的身体能不能撑的住。

Lúc này, hắn lắc lắc đèn pin ở phía dưới, ra hiệu bên dưới an toàn.

Chúng tôi lập tức lần lượt lặn xuống.

Tôi nhìn đồng hồ lặn, đã sâu hơn mười mét rồi.

Tôi chưa bao giờ lặn sâu đến mức này, không biết cơ thể mình có chịu đựng nổi không.

那下面已经被挖开一个很大的空间,我们马上看到了古墓的墓墙,上面破了一个大洞,我一看更加疑惑了,这洞竟然破的这么不规则,不像是一般倒斗的一块一块小心地卸下来的,有几块砖头竟然还被撞裂了。那胖子看看我,我也看看他,两个人一起吐了几个泡泡,他指指那几块破砖头,又做了个猴子的样子,我知道他是想说:这洞可能是海猴子挖出来的,不是盗洞。

Bên dưới đã được đào thành một không gian rất lớn.

Chúng tôi lập tức nhìn thấy tường mộ của cổ mộ, trên đó bị phá một lỗ lớn.

Tôi nhìn càng thấy nghi hoặc hơn, cái lỗ này bị phá một cách bất quy tắc như vậy, không giống với cách đổ đấu thông thường là cẩn thận tháo từng viên gạch ra.

Thậm chí có vài viên gạch còn bị đụng vỡ tan.

Bàn Tử nhìn tôi, tôi cũng nhìn hắn, hai người cùng nhau nhả ra vài bọt khí.

Hắn chỉ vào mấy viên gạch vỡ, rồi làm điệu bộ một con khỉ.

Tôi hiểu ý hắn là muốn nói: cái lỗ này có lẽ là do Hải Hầu Tử đào ra, chứ không phải là đạo động.

我点点头表示同意,指了指他背上的水下气枪,他拿了下来,拉开保险,就往洞里游去。

Tôi gật đầu bày tỏ sự đồng ý, chỉ vào súng hơi dưới nước trên lưng hắn.

Hắn tháo nó xuống, kéo chốt an toàn, rồi bơi vào trong động.

这是我第二次进古墓,虽然有点兴奋,但是想起上一次的经历,还是觉得浑身不自在,特别是在水下,手脚的阻力很大,如果遇到危险,恐怕也没办法像陆地上一样快速的逃命。

Đây là lần thứ hai tôi bước vào cổ mộ.

Tuy có chút hưng phấn, nhưng nhớ lại trải nghiệm lần trước, tôi vẫn cảm thấy toàn thân khó chịu, đặc biệt là ở dưới nước, sức cản của tay chân rất lớn.

Nếu gặp nguy hiểm, e rằng cũng không thể nhanh chóng thoát thân như trên đất liền.

墓道比我想的要大的多,我调高探灯的亮度,又转开手里的防水手电,跟在胖子屁股后面,我们几盏灯光非常的亮,一下就照出去老远,顿时整个幕道都亮了起来。我看到那墓壁的墙上,果然有三叔说的人脸浮雕,不仅如此,这些人脸浮雕的额头上面还都刻着一些奇怪的动物,雕的非常精致。我一边游一边看,越看越觉得奇怪,这些动物,大部分都是墓镇兽,但是它们都没有刻上眼睛,看上去有点诡异。

Mộ đạo rộng hơn tôi nghĩ rất nhiều.

Tôi điều chỉnh độ sáng của đèn pin lên cao, rồi bật thêm đèn pin chống nước cầm tay.

Tôi bơi theo sau Bàn Tử.

Mấy ngọn đèn của chúng tôi rất sáng, chớp mắt đã chiếu xa tít, lập tức cả mộ đạo đều sáng bừng lên.

Tôi thấy trên tường mộ, quả nhiên có những phù điêu mặt người mà Chú Ba đã nói.

Không chỉ vậy, trên trán của những phù điêu mặt người này còn được khắc những động vật kỳ lạ, được chạm khắc rất tinh xảo.

Tôi vừa bơi vừa nhìn, càng nhìn càng thấy kỳ lạ.

Hầu hết những động vật này đều là thú trấn mộ, nhưng chúng đều không được khắc mắt, trông có vẻ quỷ dị.

这个时候,我突然看见有一张人脸的额头上,刻的好像是三条蛇眉铜鱼,不由心里一紧,忙拉拉胖子让他停下来,然后去研究那块浮雕。

Lúc này, tôi chợt thấy trên trán của một phù điêu mặt người, dường như có khắc ba Xà Mi Đồng Ngư.

Trong lòng tôi thắt lại, vội vàng kéo Bàn Tử bảo hắn dừng lại, rồi tiến đến nghiên cứu khối phù điêu đó.

胖子正急着往里面走,很不耐烦,也不知道我发现了什么,他转过来看了几眼,没看出什么名堂来,就急得直招手,我让他等等,趴过去仔细看,只见上面有三条蛇眉铜鱼首尾相连的,形成一个环状,每条造形都不一样,我能看出其中两条就在我的包里,还有一条三只眼睛的,我从来没见过,不知道这个是提示什么的。那鱼下面的那张脸和其它的不一样,是一张明显有女性特征的脸,可是因为上面附着了很多东西的缘故,这张脸看上去有点破相。让人不太舒服。

Bàn Tử đang vội vã bơi vào bên trong, rất bất mãn, không biết tôi đã phát hiện ra điều gì.

Hắn quay lại nhìn vài cái, không thấy ra được manh mối gì, liền vội vã vẫy tay.

Tôi bảo hắn đợi một chút, bò tới xem xét kỹ.

Tôi thấy trên đó có ba con rắn mày đồng ngư nối đuôi nhau, tạo thành hình một cái vòng tròn.

Mỗi con có hình dáng khác nhau.

Tôi có thể nhận ra hai trong số đó đang nằm trong túi của tôi, còn một con có ba mắt thì tôi chưa từng thấy, không biết cái này là ám chỉ điều gì.

Khuôn mặt bên dưới con cá đó không giống với những khuôn mặt khác, đó là một khuôn mặt có đặc trưng rõ ràng của phụ nữ, nhưng vì có rất nhiều thứ bám vào nên khuôn mặt này trông hơi bị phá tướng, khiến người ta cảm thấy không được thoải mái.

我还想仔细研究一下,这个时候后面的阿宁也催我,我没办法,只好继续向前游去,幸好那雕刻每隔一段距离又会出现,我还能再看上几眼,看来看去,并没有发现更多的东西,只是隐约觉的有个地方有点不对劲。

Tôi còn muốn nghiên cứu kỹ hơn, lúc này A Ninh phía sau cũng đang giục tôi.

Tôi không còn cách nào, đành phải tiếp tục bơi về phía trước.

May mắn thay, những tác phẩm điêu khắc đó cứ sau một khoảng cách lại xuất hiện, tôi vẫn có thể nhìn thêm được vài lần nữa.

Càng nhìn càng không phát hiện thêm được điều gì, chỉ mơ hồ cảm thấy có một chỗ nào đó không ổn.

看着看着,等到我数到那脸孔浮雕第五次出现的时候,才发现了问题所在,我记得第一块石头板上的人脸,眼睛是闭着的,第二块石头板,似乎有点睁开的趋势,到了第三第四块石头板子,那眼睛睁的越来越大了,现在这第五块,就已经睁的几乎全开了。

Cứ nhìn như vậy, cho đến khi tôi đếm đến lần thứ năm phù điêu khuôn mặt xuất hiện, tôi mới phát hiện ra vấn đề.

Tôi nhớ khuôn mặt trên tấm đá đầu tiên, mắt nhắm nghiền.

Tấm đá thứ hai, dường như có xu hướng hơi mở ra.

Đến tấm đá thứ ba và thứ tư, mắt đã mở ngày càng lớn hơn.

Bây giờ đến tấm thứ năm này, mắt đã mở gần như hoàn toàn.

我感觉有点不妙起来,拉住胖子,让他不要往前走了,然后拿出水下画板,在上面写道:"墓墙上的人脸,眼睛在逐渐睁开来,我怕有问题!"写完指了指墙壁。

Tôi cảm thấy có điều không ổn rồi, liền kéo Bàn Tử lại, không cho hắn đi tiếp, rồi lấy ra bảng vẽ dưới nước, viết lên đó: "Mắt của khuôn mặt trên tường mộ đang dần mở ra, tôi sợ có vấn đề!"

Viết xong, tôi chỉ vào bức tường.

胖子摸了摸那脸,摇摇头,写道:"我没有注意,只是些石头浮雕,里面肯定是整块石头,你想的太多了。"

Bàn Tử sờ sờ khuôn mặt đó, lắc đầu, viết: "Tôi không để ý, chỉ là phù điêu đá thôi, bên trong chắc chắn là một khối đá nguyên vẹn, cậu nghĩ nhiều quá rồi."

我很坚决地摇头,让他把枪端起来,他看我表情严肃,只好照办,不一会儿,我就看到那块相同的浮雕出现在前面,胖子被我说的也有点怕,停了下来,先用灯光照了一下。那张石脸的眼睛已经完全睁开了,整张脸面对着前方,眼神正视,看上去有点呆滞,胖子照来照去,也没什么变化,就壮起胆子走过去,摸了一下,然后对我做了个没事情的手势。

Tôi rất kiên quyết lắc đầu, bảo hắn giơ súng lên.

Hắn thấy vẻ mặt tôi nghiêm túc, đành phải làm theo.

Chẳng bao lâu, tôi lại thấy khối phù điêu giống hệt xuất hiện ở phía trước.

Bàn Tử bị tôi nói cũng có chút sợ hãi, dừng lại, dùng đèn chiếu vào trước.

Mắt của khuôn mặt đá đó đã mở hoàn toàn, cả khuôn mặt hướng về phía trước, ánh mắt nhìn thẳng, trông hơi ngây dại.

Bàn Tử chiếu đi chiếu lại, cũng không thấy có thay đổi gì, liền lấy hết can đảm bơi tới, sờ một cái, rồi ra hiệu với tôi là không sao.

我游过去一看,果然仍旧是整块的石头,并没有什么特别的,用手指插了插它的两只眼睛,也没有反应,不由自嘲地摇摇头,看来这只是墓穴的设计者玩的一个噱头,用来吓唬可能进来的盗墓贼,没有什么特殊的寓意,我竟然在这里自己把自己吓唬了一回,真是没什么面子。那胖子拍了拍我,示意我别想这么多,快点赶路。

Tôi bơi qua xem, quả nhiên vẫn là một khối đá nguyên vẹn, không có gì đặc biệt.

Tôi dùng ngón tay chọc vào hai con mắt của nó, cũng không có phản ứng.

Tôi không khỏi tự giễu lắc đầu.

Xem ra đây chỉ là một chiêu trò mà người thiết kế của mộ huyệt bày ra, dùng để hù dọa những kẻ trộm mộ có thể đi vào, không có ý nghĩa đặc biệt nào.

Tôi lại tự mình dọa mình một phen ở chỗ này, thật là mất mặt quá đi.

Bàn Tử vỗ vỗ tôi, ra hiệu tôi đừng nghĩ nhiều như vậy, mau chóng lên đường.

我们又继续往前游去,我想起三叔和我说过,他是撞到一个机关,才被吸进那个泉眼里去的,可是这些墓壁都是一个样子的,怎么可能找的到他当时撞的那块?

Chúng tôi lại tiếp tục bơi về phía trước.

Tôi nhớ đến chuyện Chú Ba đã nói với tôi, ông ấy đã va phải một cơ quan nên mới bị hút vào cái suối ngầm đó.

Nhưng những tường mộ này đều giống nhau, làm sao có thể tìm thấy tấm mà ông ấy đã va phải lúc đó chứ?

我脑子转的飞快,这样一直往前游也不是办法,不知道这个墓道是通到什么地方去的,说不定又是个循环,如果在里面迷路就完蛋了,我心里盘算,三叔能一眼望到最后一个人,应该是一条很长的回廊,刚才我们转了好几个弯,这样的回廊只有两个,这样说起来,找找倒也不是很困难,就是要花点时间。

Đầu óc tôi quay cuồng rất nhanh, cứ bơi thẳng về phía trước như thế này cũng không phải là cách.

Không biết cái mộ đạo này dẫn tới chỗ nào, có khi lại là một cái vòng tuần hoàn, nếu bị lạc đường ở bên trong thì xong đời rồi.

Tôi tính toán trong lòng, Chú Ba có thể nhìn thấy người cuối cùng, hẳn phải là một hành lang rất dài.

Vừa rồi chúng tôi đã rẽ vài khúc cua.

Những hành lang như vậy chỉ có hai cái.

Nói như vậy, tìm kiếm cũng không quá khó khăn, chỉ là sẽ tốn chút thời gian.

这个时候,前面的胖子停了下来,我一个刹车不住,撞到了他的屁股上,以为前面出了什么状况,忙蹦紧神经,凑上去一看,原来这墓道到头了,前面被一块石头板当住了去路。

Lúc này, Bàn Tử ở phía trước dừng lại.

Tôi phanh không kịp, đụng vào mông hắn.

Tưởng rằng phía trước xảy ra chuyện gì, tôi vội căng thẳng tinh thần, bơi tới xem.

Hóa ra mộ đạo đã đến cuối, phía trước bị một tấm đá chắn mất lối đi.

这石头板光秃秃的,上面没文字也没有浮雕,我摸了好久,找不到什么机关,不由挠了挠头,那阿宁写着问我:"怎么会是死路?"

Tấm đá này trơn nhẵn, trên đó không có chữ viết hay phù điêu.

Tôi sờ sờ rất lâu, không tìm thấy cơ quan nào, không khỏi gãi đầu.

A Ninh viết hỏi tôi: "Sao lại là đường cùng?"

我回写道:"有巧石机关在这附近,我们找一下,看看有没有松动的墓墙。"

Tôi viết trả lời: "Có cơ quan đá ở gần đây, chúng ta tìm xem, xem có tường mộ nào bị lỏng không."

他们都点点头,那胖子开始东敲敲,西敲敲,仔细检查了这些人面浮雕。我心里回忆所有笔记上提过的线索,连边上的每条缝隙都用匕首划过,可是没有任何进展,那石板还是挡在那里,纹丝不动。

Họ đều gật đầu.

Bàn Tử bắt đầu gõ gõ chỗ này, gõ gõ chỗ kia, cẩn thận kiểm tra những phù điêu mặt người này.

Tôi trong lòng hồi tưởng lại tất cả các manh mối đã đề cập trong sổ tay, thậm chí dùng dao găm khều từng kẽ nứt nhỏ ở bên cạnh, nhưng không có tiến triển gì.

Tấm đá vẫn chắn ở đó, bất động.

我不由有些郁闷,回头想看看胖子搞得如何,发现胖子竟然在那里发呆,我拍了拍他,写着问他:"有没有什么发现?"

Tôi không khỏi cảm thấy hơi buồn bã, quay đầu lại muốn xem Bàn Tử làm thế nào, thì phát hiện Bàn Tử lại đang thẫn thờ ở đó.

Tôi vỗ hắn một cái, viết hỏi hắn: "Có phát hiện gì không?"

他表情古怪地看着我,写着问我:"海猴子长头发吗?"

Hắn nhìn tôi với vẻ mặt kỳ quái, viết hỏi tôi: "Hải Hầu Tử tóc dài không?"

我不知道他突然问这个什么意思,不由失笑,海猴子长没长头发我倒是真没注意,记忆似乎整个脑袋都是光秃秃,全是鳞片。

Tôi không biết tại sao hắn lại đột nhiên hỏi câu này, không khỏi bật cười.

Hải Hầu Tử có tóc dài hay không, tôi thực sự không chú ý.

Trong ký ức, dường như cả cái đầu của nó đều trọc lóc, toàn là vảy.

我如实告诉他,又问他问这个干什么,他指了指墙缝,我顺着他的手指一看,马上看到,那石板的与墓道的缝隙里,竟然飘出来一缕黑色的头发。

Tôi thành thật trả lời hắn, rồi hỏi hắn hỏi cái đó làm gì.

Hắn chỉ vào kẽ tường.

Tôi nhìn theo ngón tay của hắn, lập tức nhìn thấy, trong kẽ hở giữa tấm đá và mộ đạo, lại có một lọn tóc đen trôi ra.

我惊讶地呆住了,这怎么可能,难道在石头板的那一头,靠着个人?

Tôi kinh ngạc đứng ngây ra, điều này làm sao có thể.

Chẳng lẽ ở đầu bên kia của tấm đá này, đang có một người dựa vào?

胖子胆子大,想伸手过去想拉一下,没想到那头发突然一缩,竟然缩回到缝隙里面去了。胖子看了我一眼,写道:"石板后面有鬼。"

Bàn Tử gan lớn, muốn thò tay qua kéo một cái, không ngờ lọn tóc đó đột nhiên rụt lại, lại rụt vào trong kẽ hở mất rồi.

Bàn Tử nhìn tôi một cái, viết: "Phía sau tấm đá có quỷ."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 18: Một đống tóc


水底古墓里发现一缕头发,而且还能动,一般人都会马上想到有鬼,幸亏中间隔着一块石板,就算有,他也冲不过来。

Việc phát hiện ra một lọn tóc dưới đáy cổ mộ, hơn nữa nó còn có thể cử động, khiến người bình thường ngay lập tức nghĩ đến ma quỷ.

May mắn thay, có một tấm đá ngăn cách ở giữa, cho dù có ma quỷ thì nó cũng không thể xông qua được.

没有抓住那缕头发,胖子似乎不甘心,拿灯去照那缝隙,想看看后面到底有什么。我胆子没他那么大,恐怖片里关于头发的故事还少吗?就离那个石板远远的,看胖子会有什么反应。

Không tóm được lọn tóc, Bàn Tử dường như không cam lòng.

Hắn dùng đèn chiếu vào kẽ hở, muốn xem phía sau rốt cuộc có gì.

Gan của tôi không lớn như hắn, những câu chuyện về tóc trong phim kinh dị còn ít sao?

Tôi liền lùi xa khỏi tấm đá đó, xem Bàn Tử sẽ có phản ứng gì.

他凑上去看了几眼,好像真的给他看到什么东西,疑惑的定了定神,又贴过去再看,这一次他反应很大,突然就猛的一退,像逃命一样拼命游出去好几米,转身对我们拼命的摇拳头,我一开始以为他要打我,随即一想,靠!这不是让我们逃命的手势嘛。

Hắn ghé sát vào nhìn vài cái, hình như thực sự đã thấy được thứ gì đó.

Hắn định thần lại một cách nghi ngờ, rồi lại áp sát vào nhìn tiếp.

Lần này phản ứng của hắn rất lớn, đột nhiên giật mạnh lùi lại, bơi đi xa mấy mét như thể đang chạy trốn, rồi quay người lại vẫy nắm đấm về phía chúng tôi.

Lúc đầu tôi tưởng hắn muốn đánh tôi, sau đó chợt nghĩ, đ*!

Đây chẳng phải là ám hiệu bảo chúng tôi chạy thoát thân sao.

可刚才好像没什么事情发生啊,我条件反射一样地回过头,只看见那挡路的石头板突然向上升了起来,一团黑色墨汁一样的东西从底下逐渐增大的缝隙里渗了出来,我急退几步,以为是毒水,仔细一看,吓得我下巴都僵掉了,那些黑色的东西,竟然都是人的头发!

Nhưng vừa rồi hình như không có chuyện gì xảy ra cả.

Tôi theo phản xạ có điều kiện quay đầu lại, chỉ thấy tấm đá chắn đường đột nhiên nâng lên.

Một khối đen như mực tàu từ từ thấm ra từ kẽ hở đang ngày càng lớn bên dưới.

Tôi lùi vội vài bước, tưởng đó là nước độc.

Nhìn kỹ lại, tôi sợ đến mức hàm như bị cứng đờ lại.

Những khối màu đen đó, hóa ra đều là tóc người!

那胖子看我们反应这么慢,忙游回来拉我们,我们这才醒悟过来,慌忙逃命,这在水下面,越紧张越消耗体力,游的就越慢,我看慌乱中没办法把握好节奏,索性学胖子一样蹬着墙走,虽然不雅观,但是速度飞快,特别是脚塌实地那种感觉非常好。

Bàn Tử thấy chúng tôi phản ứng chậm như vậy, vội bơi lại kéo chúng tôi.

Lúc này chúng tôi mới tỉnh ngộ, cuống cuồng chạy trốn.

Ở dưới nước, càng căng thẳng càng tiêu hao thể lực, bơi càng chậm.

Tôi thấy trong cơn hoảng loạn không có cách nào nắm bắt được nhịp điệu, dứt khoát học theo Bàn Tử, đạp vào tường mà đi.

Tuy không nhã nhặn nhưng tốc độ cực nhanh, đặc biệt là cái cảm giác chân đạp đất rất tuyệt vời.

我们连蹬了大概二十几步,先到一个转弯处,那胖子一把把我们拉住,让我们躲在拐弯后面,示意先看看情况再说。

Chúng tôi liên tục đạp khoảng hơn hai mươi bước, đến một chỗ quẹo.

Bàn Tử giật mạnh giữ chúng tôi lại, bảo chúng tôi nấp sau góc cua, ra hiệu cứ xem xét tình hình đã rồi tính tiếp.

我们大口吸着氧气,匆匆往后一看,好家伙,后面的墓道里全是头发,黑漆漆一大团一大团,我看着就觉得喉咙发紧,这要多少年没理才能长的这么长啊!胖子骂了一声,拿起汽枪,对准那一团黑色的中央就射,他大概以为这枪能一下穿透过去,所以当他看到那梭镖快速飞了六七米后突然就变成慢动作,然后一下被裹进头发里的时候,脸都白了。

Chúng tôi hít ôxy từng hơi lớn, vội vàng nhìn về phía sau.

Trời ơi!

Mộ đạo phía sau toàn là tóc, từng đoạn đen kịt lớn.

Tôi nhìn mà thấy cổ họng thắt lại.

Phải bao nhiêu năm không cắt mới có thể mọc dài đến thế này!

Bàn Tử chửi thề một tiếng, cầm súng hơi lên, nhắm thẳng vào trung tâm của đoàn màu đen đó mà bắn.

Hắn chắc là nghĩ khẩu súng này có thể xuyên thủng qua.

Vì vậy, khi hắn thấy mũi lao bay nhanh được sáu bảy mét rồi đột nhiên chuyển động chậm lại, sau đó bị bọc vào trong tóc, mặt hắn tái mét lại.

不过那梭镖还是起了点作用,那头发竟然好像还有意识,往后缩了一下,竟然翻滚起来,说那翻滚更像是头发里面有什么东西要出来,我们不由警惕起来,那胖子又搭上一只梭镖,准备走近点再给他来一下,这个时候,那头发猛然一缩,又猛然一放,这一下子,我马上看见从头发的最深处,吐出来一个死人。

Tuy nhiên, mũi lao vẫn có chút tác dụng.

Đám tóc đó dường như có ý thức, rụt lại phía sau một chút, rồi bắt đầu cuộn tròn.

Nói cuộn tròn thì đúng hơn là có thứ gì đó bên trong đám tóc muốn chui ra.

Chúng tôi không khỏi trở nên cảnh giác.

Bàn Tử lại nạp một mũi lao khác, chuẩn bị bơi đến gần hơn để bắn thêm một phát nữa.

Lúc này, đám tóc co lại đột ngột, rồi lại phóng ra đột ngột.

Chỉ trong khoảnh khắc đó, tôi lập tức thấy từ sâu bên trong đám tóc phun ra một xác chết.

那人穿着和我们一样款式的潜水服,有可能那三个中的一个。我只看了一眼,就看到他的鼻子嘴巴里都是头发,连两只眼珠子里都有头发生出来,一看就是窒息死的,现在已经给水泡的肿了起来,非常地难看。

Người đó mặc đồ lặn cùng kiểu với chúng tôi, có thể là một trong ba người kia.

Tôi chỉ nhìn thoáng qua, đã thấy tóc đầy trong mũi và miệng hắn, thậm chí tóc còn mọc ra từ cả hai nhãn cầu.

Nhìn là biết chết vì ngạt thở, bây giờ đã bị nước làm cho sưng phù lên, trông vô cùng xấu xí.

我一看头皮就开始发起麻来,这头发非常邪门,还是快点走,就想拉胖子,可抬头一看,那胖子竟然不见了,我吓了一跳,忙转头,只见他已经跑去出老远,在那里给我们挥拳头。

Tôi nhìn mà da đầu bắt đầu tê dại.

Đám tóc này rất tà môn, tốt nhất là chạy nhanh thôi.

Tôi định kéo Bàn Tử, nhưng ngẩng đầu lên thì thấy Bàn Tử đã biến mất.

Tôi giật mình, vội quay đầu lại, chỉ thấy hắn đã chạy xa tít, đang vẫy nắm đấm về phía chúng tôi.

我心里大骂,敢情你是自己先跑到安全的地方再来警告我们,忙招呼乃明和阿宁跟上去,我看到那胖子还在那里抱怨我们反应慢,立马就给他屁股上来了一脚。胖子被我踢得疼了,还不服气,想冲上来揍我,那阿宁忙栏住我们,指指后面,我一看逃命要紧,这帐出去了再她娘的和他算。

Tôi thầm chửi rủa trong lòng, hóa ra hắn tự mình chạy đến nơi an toàn trước rồi mới quay lại cảnh báo chúng tôi.

Tôi vội gọi Nãi Minh và A Ninh duổi theo.

Tôi thấy Bàn Tử vẫn còn đang phàn nàn chúng tôi phản ứng chậm, liền lập tức đá vào mông hắn một cú.

Bàn Tử bị tôi đá đau, nhưng vẫn không phục, định xông lên đấm tôi.

A Ninh vội ngăn chúng tôi lại, chỉ về phía sau.

Tôi thấy chạy thoát thân là quan trọng nhất, chuyện này ra ngoài rồi tính sổ với hắn sau.

这个时候。手上的氧气记震动起来,我低头一看,糟糕,这一路过来,已经过去将近半个小时,我们又呼吸得这么急促,氧气的消耗是平时的几倍,有点过量了。我算一了还剩下的时间,情况可以说非常糟糕,如果还没有进展,我们就必须要原路赶回去,不然氧气就不够用了。可是这么出去,连三叔说的耳室都没有找到,我又有点不甘心。

Lúc này, bộ đếm ôxy trên tay tôi bắt đầu rung.

Tôi cúi xuống nhìn, hỏng bét rồi!

Cả đoạn đường vừa rồi đã trôi qua gần nửa tiếng, chúng tôi lại thở gấp như vậy, lượng ôxy tiêu hao gấp mấy lần bình thường, hơi bị quá mức.

Tôi tính toán thời gian còn lại, tình hình có thể nói là vô cùng tồi tệ.

Nếu không có tiến triển gì, chúng tôi buộc phải quay về theo lối cũ, nếu không sẽ không đủ ôxy để dùng.

Nhưng cứ thế mà đi ra thì ngay cả nhĩ thất mà Chú Ba nói còn chưa tìm thấy, tôi lại cảm thấy có chút không cam lòng.

这个时候,一直游在最后的乃明突然像只螃蟹一样,拉住我们身上的背带,手忙脚乱的窜到了最前面,一把纠住胖子,让他停下来,我看到他直鼓眼睛,心说,这人对古墓的构造比我了解,难道竟然给他先找到了什么线索?

Đúng lúc này, Nãi Minh vẫn đang bơi ở cuối cùng đột nhiên như một con cua, kéo lấy dây đeo trên người chúng tôi, vụng về chui lên trước mặt.

Hắn túm lấy Bàn Tử, bắt hắn dừng lại.

Tôi thấy hắn tròn mắt, thầm nghĩ, người này hiểu rõ kết cấu cổ mộ hơn tôi, chẳng lẽ hắn đã tìm thấy manh mối gì trước chúng tôi rồi sao?

果然,他让我们跟着他过去,胖子急的直跳,但他刚才表现太差,我们都不去理他,他也没有办法,只好气鼓鼓的跟在我们屁股后面。

Quả nhiên, hắn bảo chúng tôi đi theo hắn.

Bàn Tử nóng ruột nhảy dựng lên, nhưng vì biểu hiện quá tệ vừa rồi, chúng tôi đều phớt lờ hắn, hắn cũng không có cách nào, đành phải hậm hực bơi theo sau chúng tôi.

乃明笨拙地往回游了几米,指着一块已经有点凹陷进去的墓墙让我们看,原来刚才胖子蹬着走的时候,一脚就把这块墓壁给蹬到墙壁里去。

Nãi Minh vụng về bơi ngược lại vài mét, chỉ vào một tường mộ đã hơi lõm vào để chúng tôi xem.

Hóa ra lúc nãy Bàn Tử đạp tường để đi, đã đạp mạnh một cú làm bức tường này lún vào trong.

我一看就心中大喜,往前后比画,这里果然是一处长回廊的末端,那三叔所说的机关十有八九就是这里了,不过这机关一开,水就会狂涌进去,三叔当年是带着头盔,所以没事情,我们现在头上只有个潜水镜,一但被卷进急流,难保不会撞得头破血流。

Tôi nhìn thấy liền vui mừng khôn xiết.

Tôi so sánh phía trước và phía sau.

Chỗ này quả nhiên là cuối của một hành lang dài.

Cơ quan mà Chú Ba nói chín phần mười là ở đây rồi.

Tuy nhiên, một khi cơ quan này được mở, nước sẽ cuồn cuộn chảy vào.

Chú Ba ngày xưa đội mũ bảo hiểm nên không sao, còn bây giờ trên đầu chúng tôi chỉ có kính lặn.

Một khi bị cuốn vào dòng chảy xiết, khó mà đảm bảo không bị đầu rơi máu chảy.

我往后看看,那头发还没有追过来,就想先提醒他们一声,这个时候,那个乃明不知道好歹,突然一把就按了上去。我还没反应过来,一下子大量的水泡就冒了出来。

Tôi nhìn về phía sau, đám tóc vẫn chưa đuổi kịp, định nhắc nhở họ một tiếng.

Đúng lúc này, Nãi Minh không biết tốt xấu, đột nhiên ấn mạnh vào đó.

Tôi còn chưa kịp phản ứng, lập tức một lượng lớn bọt nước sủi lên.

我一看就知道遭了,实在没有想到,这乃明闯祸的能力和胖子比起来有过之而无不及,我一口他妈的没说出去,就觉得一股巨大推力直接从我背后冲过来,把我狠狠推进了墙上的洞里。那水流是旋转着的,我马上体会到三叔说的,什么是内脏都被甩到一边了,就感觉自己被塞进了滚筒洗衣机里,那一阵搅,几下子就晕得什么都看不清楚了。

Tôi nhìn thấy liền biết gay go rồi.

Thật không ngờ, khả năng gây họa của Nãi Minh so với Bàn Tử còn hơn một bậc chứ không kém.

Tôi còn chưa kịp chửi thề, đã cảm thấy một lực đẩy khổng lồ trực tiếp vọt tới từ sau lưng, đẩy tôi mạnh vào cái lỗ trên tường.

Dòng nước đang xoáy tròn, tôi ngay lập tức trải nghiệm được điều Chú Ba nói, thế nào là nội tạng bị quăng sang một bên.

Tôi có cảm giác như mình bị nhét vào một cái máy giặt lồng quay.

Sau một trận quấy đảo, chốc lát tôi đã chóng mặt đến mức không nhìn rõ bất cứ thứ gì nữa.

也不知道过了多久,等我晃晃悠悠清醒过来,感觉浑身都散了架,特别是脖子,疼得不得了,幸亏没折掉,还好呼吸嘴还咬在嘴里。我定睛一看,上下左右都是黑漆漆的,胖子他们在我的下面,看样子也晕的不行了,特别是胖子,到现在还在转圈子,好像在跳芭蕾舞一样。

Cũng không biết đã qua bao lâu, khi tôi lảo đảo tỉnh táo lại, cảm thấy toàn thân rã rời, đặc biệt là cổ, đau không chịu nổi.

May mà không bị gãy.

Cũng may là ống thở vẫn còn ngậm trong miệng.

Tôi định thần nhìn kỹ, xung quanh trên dưới trái phải đều tối đen.

Bàn Tử và những người khác ở bên dưới tôi, xem ra cũng bị ngất đi không ít.

Đặc biệt là Bàn Tử, đến giờ vẫn còn đang xoay vòng vòng, trông như đang múa ba lê.

我看了看这井壁,是上等的汗白玉,这里用上这么好的材料,应该已经到这个墓的地宫内部了,看样子可能已经到了三叔说的那个耳室中的泉眼里,我脚一蹬向上浮去,突然头一暖,脑袋就此升出水面。

Tôi nhìn vách giếng.

Đó là hàn bạch ngọc thượng hạng.

Việc sử dụng vật liệu tốt như vậy ở đây cho thấy chúng tôi hẳn đã đến bên trong địa cung của ngôi mộ này.

Xem ra có thể đã đến suối ngầm trong nhĩ thất mà Chú Ba đã nói.

Tôi đạp chân nổi lên.

Đột nhiên đầu tôi thấy ấm áp, đầu tôi đã nhô ra khỏi mặt nước.

四周是一片漆黑,探灯的光集束性太强,只能照出一个点,我关掉探灯换成手电,把这个墓室仔仔细细看了一遍。墓室是见棱见角的长方形,除了宝顶上面描着五十星图之外,其他地方并没有太多的檐楣雕饰,显得朴实无华。

Xung quanh là một màu tối đen.

Ánh sáng của đèn pin quá tập trung, chỉ có thể chiếu ra một điểm.

Tôi tắt đèn pin, chuyển sang đèn pin cầm tay, quan sát kỹ lưỡng mộ thất này một lượt.

Mộ thất là hình chữ nhật góc cạnh rõ ràng.

Ngoại trừ bảo đỉnh được vẽ Ngũ Thập Tinh Đồ, những nơi khác không có quá nhiều phù điêu hay trang trí mái hiên, trông rất giản dị.

里面没有棺床和棺椁,所以这里应该耳室之一,我找了一下,似乎没有其他出口,只有左边一道石门连着甬道

Bên trong không có sạp quan và quan quách, vì vậy nơi này hẳn là một trong các nhĩ thất.

Tôi tìm kiếm một lúc, dường như không có lối ra nào khác, chỉ có một cánh cửa đá bên trái nối với dũng đạo.

墓室的墙也是用非常廉价的白膏土封起来,上面本来有一些斑斑斓斓壁画,可惜已经被水汽腐蚀得一塌糊涂,我已经无法知道上面画的是不是禁婆的图案。

Tường của mộ thất cũng được trát bằng bạch cao thổ rất rẻ tiền.

Phía trên vốn có một số bích họa loang lổ, nhưng tiếc là đã bị hơi nước ăn mòn tan nát.

Tôi không thể biết được trên đó có vẽ hình ảnh của Cấm Bà hay không.

墓室的地上放了几遛陪葬的瓷器,只有百来个,其中还有几个非常值钱的青花云龙大瓷缸,我同时在地板上发现了一些脚印,都是湿的脚踩在地上的尘土上留下来的,看样子非常地新,估计是三叔的杰作。

Trên sàn mộ thất có đặt vài hàng đồ sứ tuẫn táng, chỉ khoảng trăm cái.

Trong đó có vài cái bình Thanh Hoa Vân Long Đại Từ Cương rất đáng giá.

Đồng thời, tôi phát hiện một số dấu chân trên sàn nhà.

Đó là dấu chân ướt giẫm lên bụi đất trên mặt đất, trông rất mới.

Có lẽ là kiệt tác của Chú Ba.

我测定了空气质量,让他们陆续出水,阿宁爬了来后,首先担心起这些脚印,问道:"这是盗墓贼留下来的吗?"

Tôi đo lường chất lượng không khí, bảo họ lần lượt lên bờ.

Sau khi A Ninh trèo lên, cô ấy trước tiên lo lắng về những dấu chân này, hỏi: "Đây là dấu chân của dân trộm mộ để lại sao?"

我皱了皱眉头,也不敢肯定,因为我看见,在这些脚印中,有一个非常刺眼的赤脚印子,最离奇的是,这脚印很小,看样子是个小孩子的,绝对不会超过三岁。

Tôi cau mày, cũng không dám khẳng định, bởi vì tôi thấy, trong số những dấu chân này, có một dấu chân trần rất chói mắt.

Điều kỳ lạ nhất là dấu chân này rất nhỏ, trông giống như của một đứa trẻ, chắc chắn không quá ba tuổi.

我从来没听说过倒斗会带上小孩子,便招呼胖子过来看,他的阅历比较丰富,也许知道是怎么一回事情。

Tôi chưa bao giờ nghe nói đổ đấu lại dẫn theo trẻ con, liền gọi Bàn Tử qua xem.

Kinh nghiệm của hắn phong phú hơn, có lẽ biết đây là chuyện gì.

胖子看着也有点发懵,说道:"你先别管他是大是小,这脚印本身就不正常,你再仔细看看。"

Bàn Tử nhìn cũng có vẻ mơ hồ, nói: "Cậu đừng quan tâm nó lớn hay nhỏ vội, bản thân cái dấu chân này đã không bình thường rồi, cậu nhìn kỹ lại xem."

我再次端详,发现脚印上有黄黄的一层蜡一样的东西,用刀刮下来一闻,不由咋舌:"这是尸蜡......!"

Tôi quan sát lại lần nữa, phát hiện trên dấu chân có một lớp sáp màu vàng.

Tôi dùng dao cạo xuống một chút, ngửi thử, không khỏi tặc lưỡi: "Đây là thi lạp (sáp xác chết)...!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 19: Bình sứ lớn


尸蜡一般都是浸在水中或埋在水分充足、潮湿的泥土里的尸体,所谓的蜡就是它体内的脂肪和矿物质凝结而成的。

Thi lạp thường là hiện tượng xảy ra với thi thể bị ngâm trong nước hoặc bị chôn vùi trong đất ẩm, nhiều nước.

Cái gọi là sáp chính là chất béo và khoáng chất trong cơ thể kết tủa mà thành.

我顺着这脚印一路看过去,发现它一直延到房间的角落里面,一个青花云龙大瓷缸的后面。心里"咯噔"了一下。

Tôi lần theo dấu chân này, thấy nó kéo dài đến tận góc phòng, phía sau một cái bình Thanh Hoa Vân Long Đại Từ Cương.

Tim tôi thịch một cái.

人说阎王好送,小鬼难缠,难不成这里有一只未成年的粽子?我对胖子说道:"你看这脚印只有过去没回来的,会不会......"

Người ta nói Diêm Vương dễ đối phó, tiểu quỷ khó trêu chọc.

Chẳng lẽ ở đây có một con bánh tông chưa trưởng thành?

Tôi nói với Bàn Tử: "Anh xem dấu chân này chỉ có đi mà không có về, liệu có phải..."

话才说了一半,胖子一摆手,叫我不要说话,我转头一看,只见那是大瓷罐,突然自己晃动了一下。

Lời còn chưa nói hết, Bàn Tử phẩy tay ra hiệu tôi im lặng.

Tôi quay đầu lại nhìn, chỉ thấy cái bình sứ lớn kia đột nhiên tự mình rung lắc một cái.

胖子轻声说:"那东西,还在后面躲着呢。"

Bàn Tử nhẹ giọng nói: "Thứ đó, vẫn còn đang trốn ở phía sau."

乃明装备脱了一半,腰上的带子没脱下来,现在索性不脱了,提了氧气瓶凑过来,问胖子道:"什么东西?"

Nãi Minh đã cởi được một nửa trang bị, nhưng dây đeo ở eo vẫn chưa tháo ra.

Bây giờ hắn dứt khoát không cởi nữa, xách theo bình ôxy lách tới, hỏi Bàn Tử: "Thứ gì?"

胖子见他最烦,骂道:"粽子!"

Bàn Tử thấy hắn là thấy phiền nhất, mắng: "Bánh tông!"

他一楞:"粽子?加兴五芳斋粽子?"

Hắn ngẩn ra: "Bánh tông?

Bánh tông Ngũ Phương Trai Gia Hưng à?"

胖子摇摇头,不理他了,我问胖子道:"你能不能确定,我从来没见过这么小的粽子?"

Bàn Tử lắc đầu, không thèm để ý đến hắn nữa.

Tôi hỏi Bàn Tử: "Anh có thể xác định được không?

Tôi chưa từng thấy bánh tông nào nhỏ như vậy."

胖子说:"我也确定不了,不过不管是不是粽子,我们还是得过去看看,不然就是祸害,这斗倒了心里也不舒服。"说着就端起手里的气枪,向我招手,我心说我才不去呢,摇了摇头。

Bàn Tử nói: "Tôi cũng không thể xác định được, nhưng bất kể có phải bánh tông hay không, chúng ta vẫn phải đi qua xem xét, nếu không thì đó là tai họa.

Đổ đấu mà trong lòng không thoải mái thì cũng không được."

Nói rồi, hắn giơ khẩu súng hơi trong tay lên, vẫy tay với tôi.

Tôi thầm nghĩ tôi tuyệt đối không đi đâu, liền lắc đầu.

胖子叹了口气,只好招呼乃明过来,乃明第一次进斗,兴奋异常,马上就学着胖子的样子走了过去,两个人成包抄之势,向那青花大瓷罐走过去。

Bàn Tử thở dài, đành phải gọi Nãi Minh qua.

Nãi Minh là lần đầu tiên xuống đấu, hưng phấn tột độ.

Hắn lập tức bắt chước Bàn Tử bước tới.

Hai người tạo thành thế bao vây, đi về phía cái bình sứ Thanh Hoa .

我虽然害怕,但是也不能在女人面前表现的太过窝囊,也装着样子,跟在乃明子后面,小心地探头看着。

Tuy tôi sợ hãi, nhưng cũng không thể thể hiện quá hèn nhát trước mặt phụ nữ.

Tôi cũng giả bộ, theo sát phía sau Nãi Minh, cẩn thận thò đầu ra nhìn.

我们走的很慢,生怕有什么东西突然跳出来,胖子先用电筒照了照,那大瓷罐太大了,什么都看不到,又用气枪捅了捅,他这样子很像是我小时候抓黄鼠狼的动作,我不由觉得好笑。他捅了五六下,听着似乎后面没什么东西,才壮起胆子走过去,一看就啧了一声,骂到:"他妈的,只有一个空的木头箱子,害我瞎紧张。"

Chúng tôi đi rất chậm, sợ có thứ gì đó đột nhiên nhảy ra.

Bàn Tử dùng đèn pin chiếu trước.

Cái bình sứ lớn quá to, không thể nhìn thấy gì.

Hắn lại dùng súng hơi chọc chọc.

Cái động tác này của hắn rất giống với động tác tôi bắt chồn hôi hồi nhỏ.

Tôi không khỏi thấy buồn cười.

Hắn chọc năm sáu cái, nghe có vẻ phía sau không có gì, mới lấy hết can đảm bước qua.

Vừa nhìn, hắn đã tặc lưỡi một cái, mắng: "Con mẹ nó, chỉ có một cái hộp gỗ rỗng không, làm hại tôi lo lắng vô ích."

我们也跟了过去,我一看,是一只只有小提琴盒子大小的双凤雕婴儿棺,那棺材盖已经被打开放在一边了,里面的白色棺底还保存得很好,但是尸体已经不见,难怪胖子会以为这只是口箱子,我说道:"这不是箱子,这是一种棺材。"

Chúng tôi cũng đi theo qua.

Tôi nhìn thấy, đó là một cái quan tài trẻ con được chạm khắc song phụng, kích cỡ chỉ bằng cái hộp đàn violin.

Nắp quan tài đã được mở ra và đặt sang một bên.

Đáy quan tài màu trắng bên trong vẫn còn được bảo quản rất tốt, nhưng thi thể đã biến mất.

Chẳng trách Bàn Tử lại tưởng đây chỉ là một cái hộp.

Tôi nói: "Đây không phải là hộp, đây là một loại quan tài."

胖子一下子还不相信,但是他马上领悟,问道:"你是说,这就是那只小粽子的棺材?"

Bàn Tử thoáng chốc vẫn không tin, nhưng hắn nhanh chóng hiểu ra, hỏi: "Ý cậu là, đây là quan tài của con bánh tông nhỏ đó?"

我点点头,又仔细看了看,发现棺身上被打了几个洞,有一道黑色的痕迹从洞里一直延伸到地上,看样子曾经有什么液体从这洞里流出来过,这情景,好像爷爷的笔记上也曾经提到过。

Tôi gật đầu, lại quan sát kỹ hơn.

Tôi phát hiện trên thân quan tài bị đục vài lỗ.

Một vết màu đen từ trong lỗ kéo dài ra tận sàn nhà.

Xem ra từng có chất lỏng nào đó chảy ra từ cái lỗ này.

Tình cảnh này, hình như ghi chép của ông nội cũng từng đề cập đến.

胖子用手电仔细地里里外外瞧了一遍,可惜地叹了口气:"看这棺材的规格,就知道这小孩子身上肯定有不少好东西,可惜不知道尸体到哪里去了,不然压几下,说不定还能压出几颗珠子来。"

Bàn Tử dùng đèn pin soi xét kỹ lưỡng cả trong lẫn ngoài, thở dài tiếc nuối: "Nhìn quy cách của cái quan tài này, là biết đứa trẻ này chắc chắn có không ít đồ tốt trên người.

Tiếc là không biết thi thể đã đi đâu rồi, nếu không nhấn vài cái, nói không chừng còn nhấn ra được vài hạt châu."

我点点头,夭折或者陪葬的孩子,棺材里的东西总是很多,而且大多数都带在身上,特别是陪葬童子的肚子里,经常有防腐珠,都是些价值连城的东西。

Tôi gật đầu.

Trẻ con chết yểu hoặc tuẫn táng, đồ vật trong quan tài luôn rất nhiều, hơn nữa hầu hết đều được mang theo trên người.

Đặc biệt là trong bụng của đồng tử tuẫn táng, thường có châu chống thối rữa, đều là những vật phẩm giá trị liên thành.

我们几个人四处找了一下,想看看尸体到什么地方去了,可是前前后后都翻了一遍,连块渣都没有,看样子可能被那些盗墓者连着一块盗出去了。

Mấy người chúng tôi tìm kiếm khắp nơi, muốn xem thi thể đã đi đâu.

Nhưng tìm đi tìm lại hết lượt, ngay cả một mảnh vụn cũng không có.

Xem ra có thể đã bị những kẻ trộm mộ kia đánh cắp luôn cả quan tài mà mang đi rồi.

胖子不甘心,还想去翻那棺材,我觉得不妥当,拉住他说:"这棺材和别的棺材不一样,绝对不是单纯放死人,还是不要碰了。"

Bàn Tử không cam lòng, vẫn muốn lật cái quan tài đó lên.

Tôi thấy không ổn, kéo hắn lại nói: "Cái quan tài này khác với những cái quan tài khác, tuyệt đối không chỉ là nơi đơn thuần để chứa xác chết.

Tốt nhất là đừng đụng vào."

胖子笑道:"尸体都没了,怕他个熊,你还怕这棺材跳起来咬我?"

Bàn Tử cười nói: "Thi thể còn không có, sợ cái đếch gì, cậu còn sợ cái quan tài này nhảy lên cắn tôi à?"

阿宁说道:"我们来这里的目的不是倒冥器出去,还是快点到主墓室去,别浪费时间,速战速决。"

A Ninh nói: "Mục đích chúng ta đến đây không phải là để đổ minh khí đâu, chi bằng mau chóng đến chủ mộ thất, đừng lãng phí thời gian.

Tốc chiến tốc thắng."

胖子自知理亏,也没办法。我们回去把潜水器械先整理好,胖子背起背包,突然看了看我,嘴巴动了动,欲言又止,好像有话想说,又有点不好意思说,我叹了口气,骂道:"你他妈的有话就说行不,什么事?"

Bàn Tử tự biết mình đuối lý, cũng không còn cách nào.

Chúng tôi quay lại thu dọn thiết bị lặn trước.

Bàn Tử khoác ba lô lên, đột nhiên nhìn tôi, mấp máy miệng, muốn nói lại thôi, hình như có điều muốn nói, nhưng lại có chút ngại ngùng.

Tôi thở dài, mắng: "Con mẹ nó, có gì thì nói đi được không hả?

Chuyện gì?"

胖子说道:"你们说,那小粽子,会不会爬到边上的大瓷罐里了?"

Bàn Tử nói: "Mấy người nói xem, con bánh tông nhỏ đó, có khi nào đã trèo vào cái bình sứ lớn bên cạnh không?"

我看了看那大瓷罐,心中一动,还真的有这个可能。

Tôi nhìn cái bình sứ lớn đó, trong lòng rung động.

Thật sự có khả năng này.

胖子有点脸红,说:"我刚才听到那罐子方向发出的声音,好像是从罐子里面发出来的。我想粽子又不是老鼠,怎么可能自己往罐子里钻,以为听错了,现在只是随便提提,我可没别的意思啊。"

Bàn Tử có chút đỏ mặt, nói: "Vừa nãy tôi nghe thấy âm thanh phát ra từ hướng cái bình, hình như là từ bên trong bình phát ra.

Tôi nghĩ bánh tông đâu phải chuột, sao có thể tự mình chui vào bình được, nên tưởng là nghe lầm.

Bây giờ chỉ là nhắc vu vơ thôi, tôi tuyệt đối không có ý đồ gì khác đâu."

我知道他是还惦记着尸体身上的宝贝,就想讽刺他几句,这个时候,那只大瓷罐,突然咯哒一声翻倒在地上,我一呆,心说不会被他说中了吧。

Tôi biết hắn vẫn còn tơ tưởng đến bảo bối trên người thi thể, định châm chọc hắn vài câu.

Đúng lúc này, cái bình sứ lớn đó đột nhiên lật đổ xuống sàn nhà với một tiếng lách cách.

Tôi sững người, thầm nghĩ sẽ không phải bị hắn nói trúng rồi chứ.

四个人全部都不说话,紧张的看着那罐子,那罐子先是在原地转了几个圈,然后竟然"咕噜咕噜"地向我们滚了过来。

Cả bốn người đều im lặng, căng thẳng nhìn cái bình.

Cái bình đó đầu tiên xoay vài vòng tại chỗ, sau đó lại lăn lục cục về phía chúng tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 2
Chương 20: Hành lang


我刚才的注意力全部集中在那棺材上,没仔细看这瓷罐,忙急急退了几步,那罐子晃晃悠悠滚了几下,就改变方向朝甬道的石门滚去,最后"铛"地一声撞在门框上,停了下来。

Sự chú ý của tôi lúc nãy hoàn toàn tập trung vào cái quan tài, không nhìn kỹ cái bình sứ này.

Tôi vội vàng lùi lại vài bước.

Cái bình đó lắc lư lăn vài cái, rồi thay đổi hướng, lăn về phía cánh cửa đá dẫn vào dũng đạo.

Cuối cùng, nó va vào khung cửa với một tiếng "Đang" và dừng lại.

我们几个你看看我,我看看你,都觉得莫名奇妙,难道真的给胖子说中,里面有只粽子?

Mấy người chúng tôi nhìn nhau, đều thấy vô cùng khó hiểu.

Chẳng lẽ thực sự bị Bàn Tử nói trúng, bên trong có một con bánh tông?

我们楞了半刻,不敢轻易上前,胖子压低声音,说道:"各位,这罐子果然有点邪门啊。要不咱们先下手为强,给他来几梭镖?"

Chúng tôi ngây người nửa khắc, không dám dễ dàng tiến lên.

Bàn Tử hạ giọng nói: "Các vị, cái bình này quả nhiên có chút tà môn đấy.

Hay là chúng ta ra tay trước giành lợi thế, bắn cho nó vài mũi lao?"

我当然不赞成,轻声说道:"千万别,先搞清楚到底是什么再说!"

Tôi tất nhiên không đồng ý, nhẹ giọng nói: "Tuyệt đối không được, phải làm rõ rốt cuộc là cái gì đã!"

我这样说,一来是我已经看出,这元明时候的青花大瓷罐,绝对是个珍品,这样的大小,世界上已经不多见了,恐怕是砸一个少一个。二来,不知道里面到底有什么古怪,如果真的是胖子说的粽子,那免不了又要开打,我刚才在水下消耗太多力气,绝对跑不动了。

Tôi nói như vậy, thứ nhất là vì tôi đã nhìn ra, cái bình Thanh Hoa Sứ thời Nguyên Minh này, chắc chắn là một báu vật.

Kích cỡ lớn như thế này, trên thế giới đã không còn nhiều.

E rằng đập vỡ một cái là mất đi một cái.

Thứ hai, không biết bên trong rốt cuộc có quái lạ gì.

Nếu thực sự là bánh tông như Bàn Tử nói, thì không tránh khỏi sẽ phải đánh nhau.

Tôi vừa rồi đã tiêu hao quá nhiều thể lực ở dưới nước, tuyệt đối không thể chạy nổi nữa.

但是我们现在是在十几米深的水下古墓里,这空气不知道能维持多少时间,如果僵持下去对我们没有任何好处。这一进一退很难抉择,我这人一向没什么主意,急得满头是汗。

Nhưng chúng tôi hiện đang ở trong cổ mộ sâu mười mấy mét dưới nước.

Lượng ôxy này không biết có thể duy trì được bao lâu.

Nếu cứ giằng co như vậy thì không có lợi gì cho chúng tôi.

Việc tiến hay thoái lúc này rất khó quyết định.

Tôi lại là người vốn dĩ không có chủ kiến, vã mồ hôi hột vì lo lắng.

这时胖子看我犹豫不决,说道:"咱们也不能肯定里面就是只粽子,这地方通着海,说不定是什么螃蟹龙虾爬进去了,犯不着在这里自己吓自己,还是过去看看再说。"

Lúc này, Bàn Tử thấy tôi do dự, nói: "Chúng ta cũng không thể khẳng định bên trong là một con bánh tông.

Nơi này thông với biển, nói không chừng là con cua hay con tôm hùm nào bò vào.

Không đáng để chúng ta tự dọa mình ở đây.

Tốt nhất là đi qua xem sao đã."

那女的摇摇头:"我们的主要目的还是进主墓室,不要在路上浪费阿宁时间,我看我们还是能避则避,看看其他地方还有没有什么出路。"

Người phụ nữ kia lắc đầu: "Mục đích chính của chúng ta vẫn là vào chủ mộ thất, đừng lãng phí thời gian trên đường.

Tôi thấy chúng ta né được thì né, xem những chỗ khác còn có lối ra nào nữa không."

我一听这也是个办法,马上又将这耳室左左右右仔细检查了一遍,可惜这地方一目了然的,再没有第二道门,也没有可以供我们钻的洞。

Tôi nghe thấy đây cũng là một cách.

Lập tức lại kiểm tra kỹ lưỡng nhĩ thất này từ trái sang phải.

Đáng tiếc, nơi này nhìn sơ quay là thấy, không còn cánh cửa thứ hai, cũng không có cái lỗ nào để chúng tôi chui vào.

胖子有点熬不下去,说道:"事到如今,要不就是把这罐子搬开,要不就是回去,没别的路走,不过我和你们说在前面,既然已经到了这里了,被个罐子吓回去,我王胖子肯定不干!"

Bàn Tử có chút không chịu nổi, nói: "Đến nước này rồi, hoặc là khiêng cái bình này đi, hoặc là quay về.

Không còn đường nào khác.

Nhưng tôi nói trước với mấy người, đã đến đây rồi mà bị một cái bình dọa cho quay về, Vương Bàn Tử tôi chắc chắn không làm!"

我看了看阿宁的表情,也十分坚决,乃明则一句话都不说,不知道葫芦里卖的什么药,他们三个人一齐看着我,好像在征求我的意见。

Tôi nhìn biểu cảm của A Ninh, cũng rất kiên quyết.

Nãi Minh thì không nói một lời, không biết trong bầu hắn bán thuốc gì.

Ba người họ đồng loạt nhìn tôi, như thể đang xin ý kiến của tôi.

我心里还是没个清晰的决定,心说如果是贸然冲过去,当然不太妥当,但是胖子说的也有道理,这古墓里的东西,很多就是自己吓自己,我看着阿宁那种眼神,不由心里一软,说:"那行,走一步算一步,如果相安无事就算了,要是它老三老四的,我们四只梭子枪在手上,也不怕它!"

Trong lòng tôi vẫn chưa có một quyết định rõ ràng.

Tôi thầm nghĩ nếu xông tới mạo hiểm thì tất nhiên không ổn lắm, nhưng Bàn Tử nói cũng có lý.

Nhiều thứ trong cổ mộ chính là tự mình dọa mình.

Tôi nhìn ánh mắt của A Ninh, không khỏi mềm lòng, nói: "Thôi được, cứ đi bước nào tính bước đó.

Nếu bình yên vô sự thì thôi.

Nếu nó làm loạn, chúng ta có bốn khẩu súng bắn lao trong tay, cũng không sợ nó!"

胖子拍拍我,表示鼓励,我拿出了气枪,打开保险对准那罐子,胖子打头阵,我们四个人小心翼翼的贴着那门的边往里走去。

Bàn Tử vỗ tôi, tỏ ý khuyến khích.

Tôi lấy súng hơi ra, mở chốt an toàn nhắm vào cái bình.

Bàn Tử đi đầu.

Bốn người chúng tôi cẩn thận áp sát cạnh cửa mà đi vào.

我并不是非常的害怕,只是觉得有点紧张,身上又穿着潜水服,汗都透不出去,难受的要命。

Tôi không quá sợ hãi, chỉ cảm thấy hơi căng thẳng.

Trên người lại mặc đồ lặn, mồ hôi không thể thoát ra ngoài, khó chịu vô cùng.

就在我们胖子几乎能看到罐子里是什么东西的时候,突然一声响,那罐子竟然骨碌打了个转,我一下血全部冲上大脑,几乎要开枪了。

Đúng lúc Bàn Tử gần như đã có thể nhìn thấy thứ bên trong cái bình là gì, đột nhiên có một tiếng động.

Cái bình đó lại lăn tròn một cái.

Máu tôi lập tức dồn hết lên não, suýt nữa thì bóp cò.

那胖子机灵地连退两步,做了个让我们不要动的手势,只看那瓷罐突然又滚动起来,这次它是直接一个弧线,咕噜咕噜滚进了黑漆漆的甬道。我们一直听着这个声音滚进去很远,才又"铛"地一声,撞到什么东西上消失了。

Bàn Tử linh lợi lùi lại hai bước, ra hiệu cho chúng tôi đừng động.

Chỉ thấy cái bình sứ đó đột nhiên lại lăn đi.

Lần này nó lăn theo một đường cong trực tiếp, lục cục lăn vào dũng đạo đen kịt.

Chúng tôi nghe tiếng nó lăn đi rất xa, mới lại nghe tiếng "Đang" va vào một vật gì đó rồi im bặt.

我们马上跟进去,里面是一片漆黑,我用电筒一照,只见这是一条汉白玉砖修的直甬,非常的简洁,里面什么东西都没有,只有在地上的两边有两条灯沟,里面是每隔1米的灯座,在甬道的另一头,有一扇玉门,而左右两面也各有一扇略小的门,一共是三个门,都敞开着,看样子已经有人进去,而那罐子,已经停在了左边那个小门中间,不动了。

Chúng tôi lập tức đi theo vào.

Bên trong là một màu tối đen.

Tôi dùng đèn pin chiếu sáng.

Chỉ thấy đây là một dũng đạo thẳng được xây bằng gạch hàn bạch ngọc, vô cùng giản dị.

Bên trong không có bất cứ thứ gì, chỉ có hai rãnh đèn ở hai bên mặt đất.

Bên trong có đế đèn cách nhau mỗi 1 mét.

Ở đầu bên kia của dũng đạo, có một cánh cửa ngọc, và hai bên trái phải cũng có thêm hai cánh cửa nhỏ hơn, tổng cộng là ba cánh cửa.

Tất cả đều mở toang.

Xem ra đã có người đi vào.

Còn cái bình kia, đã dừng lại ở giữa cánh cửa nhỏ bên trái, không nhúc nhích nữa.

我这次是真的觉得有点诡异了,这罐子的举动,好像是在给我们带路一样,就差没说一句"followme"了。这肯定是一种有意识的行为,难不成,这罐子里的东西,不是粽子,是个鬼?

Tôi lần này thực sự cảm thấy có chút quỷ dị rồi.

Hành động của cái bình này cứ như thể đang dẫn đường cho chúng tôi, chỉ thiếu mỗi câu "follow me" thôi.

Đây chắc chắn là một hành vi có ý thức.

Chẳng lẽ thứ trong cái bình này không phải là bánh tông, mà là quỷ?

我看了看闷油瓶,也看不出他是紧张还是害怕,我只好把我的想法说出来,胖子一听有点道理,不由吸了口凉气,说道:"你这一说还真有点这个意思,我刚才也觉得,这东西这么滚着溜,简直就和一保龄球一样。"

Tôi nhìn Muộn Du Bình, cũng không thể nhìn ra hắn căng thẳng hay sợ hãi gì.

Tôi đành phải nói ra suy nghĩ của mình.

Bàn Tử nghe thấy có lý, không khỏi hít một hơi lạnh, nói: "Cậu nói vậy đúng là có ý tứ đó thật.

Lúc nãy tôi cũng thấy, thứ này lăn đi như thế, chẳng khác nào một quả bóng bowling."

我心里苦笑,胖子看我有点摸不着方向,又说道:"既然都到了这个地步,我们也别在这里犹豫来犹豫去,就一路跟过去,看他是什么目的,反正伸头是一刀,缩头也是一刀。"

Tôi cười khổ trong lòng.

Bàn Tử thấy tôi có vẻ mất phương hướng, lại nói: "Đã đến nước này rồi, chúng ta cũng đừng do dự nữa.

Cứ đi theo xem mục đích của nó là gì.

Dù sao thò đầu ra cũng là một nhát dao, rụt đầu lại cũng là một nhát dao."

众人点头,胖子拍拍我说:"这光秃秃的石板子路一般都有陷阱,吴老弟你看看,这地方有没有什么问题?"

Mọi người gật đầu.

Bàn Tử vỗ tôi nói: "Đường gạch đá trơn nhẵn như thế này thường có cạm bẫy.

Ngô lão đệ, cậu xem xem chỗ này có vấn đề gì không?"

我自知责无旁贷,点点头,就用手电照了照地面,这甬道底上都是小块的石头板,很可能装了强驽机关,我想既然三叔到过这个地方,如果有机关,也有可能已经被破坏或者引发掉了。但是万一没有,就比较麻烦,我提醒了他们一下,然后整了整背包就第一个往前走去。

Tôi tự thấy trách nhiệm không thể thoái thác, gật đầu.

Tôi dùng đèn pin soi mặt đất.

Đáy dũng đạo đều là những tấm đá nhỏ, rất có thể đã được lắp cơ quan cung nỏ mạnh.

Tôi nghĩ rằng vì Chú Ba đã từng đến nơi này, nếu có cơ quan thì cũng có thể đã bị phá hủy hoặc kích hoạt rồi.

Nhưng vạn nhất chưa bị phá hủy thì sẽ khá rắc rối.

Tôi nhắc nhở họ một chút, rồi chỉnh lại ba lô và là người đầu tiên bước về phía trước.

要躲避机关,最好就是趴着贴着墙壁,但是这甬道的两边是两条灯渠,里面黑忽忽的不知道有什么东西,我们只能沿着渠边走。

Để tránh cơ quan, tốt nhất là nằm rạp xuống áp sát tường.

Nhưng hai bên dũng đạo là hai rãnh đèn, bên trong tối om không biết có thứ gì.

Chúng tôi chỉ có thể đi dọc theo mép rãnh.

我让他们要非常的注意脚下的感觉,但其实连我自己也没什么头绪,这一脚放下去,放多重,放多快,都是有讲究的,这些东西确实是经验,我是不可能有的,所以我越走就越觉得慌起来。

Tôi bảo họ phải hết sức chú ý đến cảm giác dưới chân, nhưng thực ra ngay cả tôi cũng không có kinh nghiệm gì.

Việc đặt chân xuống, đặt nặng bao nhiêu, đặt nhanh bao nhiêu, đều có quy tắc.

Những thứ này quả thực là kinh nghiệm mà tôi không thể có.

Vì vậy, tôi càng đi càng thấy hoảng loạn.

就这样忐忑不安的走了十几步,我身上都是个冷汗,后面那几个看我这么紧张,也慌起来,那胖子说道:"看样子这趟雷的工作还真不是这么好做,小同志,你要是太累,咱们就歇歇?"

Cứ lo lắng như vậy đi được hơn chục bước, người tôi toát mồ hôi lạnh.

Mấy người phía sau thấy tôi căng thẳng như vậy cũng bắt đầu hoảng lên.

Bàn Tử nói: "Xem ra cái công việc dò mìn này quả thực không dễ làm.

Tiểu đồng chí, nếu cậu quá mệt, hay là chúng ta nghỉ một lát?"

我也没工夫和他抬杠,说:"别吵,我要是一分心,大家都得死。"话还没说完,突然脚下一振,我回头一看,只见阿宁脚下一块石板已经陷了下去,正一脸惊慌地看着我。

Tôi cũng không có thời gian để cãi cọ với hắn, nói: "Đừng làm ồn, nếu tôi phân tâm, tất cả mọi người đều sẽ chết."

Lời còn chưa nói xong, đột nhiên dưới chân tôi có một rung động.

Tôi quay đầu lại nhìn, chỉ thấy một tấm đá dưới chân A Ninh đã sập xuống, cô ấy đang nhìn tôi với vẻ mặt hoảng hốt.

我哀叹一声,心说完了,怎么就怎么倒霉,这下子要被射成刺猬了,就听到一声呼啸,一支弩箭已经贴着她的耳朵就飞了过去。我还没反应过来,第二支箭也到了,直射她的胸口。

Tôi than thở một tiếng, thầm nghĩ xong đời rồi.

Sao lại xui xẻo đến thế này.

Lần này sẽ bị bắn thành nhím mất.

Tôi vừa nghe thấy một tiếng rít, một mũi tên nỏ đã bay sượt qua tai cô ấy.

Tôi còn chưa kịp phản ứng, mũi tên thứ hai đã tới, bắn thẳng vào ngực cô ấy.

这真是电光火石,那阿宁眼神一变,闪电般地转身甩手,凌空一把就把那箭给握住了,那动作几乎就是在几分之一秒内,我甚至连她的影子都没看清楚。

Đây thật là nhanh như điện xẹt.

Ánh mắt A Ninh biến đổi, cô ấy chớp nhoáng quay người hất tay, chộp được mũi tên đó ngay giữa không trung.

Động tác đó diễn ra chỉ trong một phần mấy giây, tôi thậm chí còn chưa nhìn rõ bóng dáng cô ấy.

我看她的身手,大吃了一惊,可是情况不容细想,只感觉到脚下一连串振动,忙大叫:"猫下去,还有暗弩!"

Tôi xem thân thủ của cô ấy, vô cùng kinh ngạc.

Nhưng tình hình không cho phép tôi suy nghĩ kỹ.

Tôi chỉ cảm thấy một loạt rung động dưới chân, vội hét lớn: "Nằm rạp xuống, vẫn còn nỏ ẩn!"

话音刚落,又是十几道白光射来,我忙低头躲过一支,这个时候,我突然看见那远处的罐子里,爬出来一只满身白毛的东西,迅速地钻进了左边的石门里。我刚想叫,突然胸口一痛,低头一看,靠!胸口不知道什么时候已经中了两箭,看样子还插进去了二三寸。

Lời vừa dứt, lại có hơn chục ánh sáng trắng bắn tới.

Tôi vội cúi đầu né được một mũi.

Đúng lúc này, tôi đột nhiên thấy từ cái bình ở đằng xa, bò ra một thứ lông trắng đầy người, nhanh chóng chui vào cửa đá bên trái.

Tôi vừa định kêu lên, đột nhiên ngực tôi đau nhói.

Tôi cúi đầu xuống nhìn, chết tiệt!

Ngực tôi không biết từ lúc nào đã trúng hai mũi tên, xem ra còn cắm sâu vào khoảng hai ba tấc.
 
Back
Top Bottom