Cập nhật mới

Khác Đạo mộ bút ký - Mười năm sau

Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 20: Giả Dạng


抽到第二下王盟才醒过来,摸着后脑一脸疑惑的看着我。"干嘛?"

Nện đến lần thứ hai thì Vương Minh mới tỉnh lại, cậu ta xoa xoa cái ót, vẻ mặt nghi hoặc nhìn tôi: "Làm chi đó?"

我上去一顿狂抽,把他抽得爬起来满营地跑。"吴邪!你不要以为你人多我就怕你!"我火更大了,一个飞腿把他踹了一个踉跄,胖子伸腿把他绊倒,他摔了个狗啃泥。我上去直接抽了两个大嘴巴子:"说,你搞什么?"

Tôi đi tới cho ăn một chầu đập, đuổi đánh đến nỗi cậu ta bật dậy chạy khắp doanh địa.

"Ngô Tà!

Đừng tưởng ông có nhiều người thì tôi sợ!"

Tôi lại càng điên tiết, vung chân đạp cậu ta một cái khiến cậu ta loạng choạng.

Bàn Từ bèn thò chân vào ngáng cậu ta ngã sấp thành chó gặm bùn luôn.

Tôi đi tới tát cho hai phát thật mạnh: "Nói, mày làm gì đấy hả?"

"你搞什么我就搞什么,只准你搞不准我搞,没有这个天理!"王盟还不服气,我反手一个嘴巴把他抽飞。一脚踏住他的胸膛。把鞋子丢给胖子。

"Ông làm cái gì thì tôi làm cái đó, chả lẽ chỉ ông được làm mà tôi không được làm, làm gì có cái lý ấy!"

Vương Minh hoàn toàn không phục, tôi lại trở tay vả thêm một phát.

Một cước đạp lên lồng ngực cậu ta.

Ném giầy trả lại Bàn Tử.

王盟眼睛狠狠的瞪着我,不停的喘气。但是也不敢再说什么,我盯着他。他盯着我,良久他才道:"如果他死了呢?十年里可以发生很多事情,你也变了,他也变了,就算不死他也可能忘记你了,你冒着生命危险到这里来接的只是你的心魔。"

Vương Minh hung tợn trợn mắt nhìn tôi, không ngừng thở hổn hển.

Thế nhưng cũng không dám nói thêm gì nữa, tôi nhìn chằm chằm cậu ta.

Cậu ta nhìn chằm chằm tôi.

Một lúc lâu sau cậu ta mới nói: "Nếu như tên đó đã chết rồi thì sao?

Trong mười năm có thể xảy ra rất nhiều chuyện, anh cũng thay đổi, hắn ta cũng thay đổi, dù không chết thì hắn cũng có thể quên mất anh, mạo hiểm cả tính mạng tới nơi này đón hắn chỉ là vì tâm ma của anh mà thôi!"

我点起一根烟,冷冷的看着他。

Tôi châm một điếu thuốc, lạnh lùng nhìn cậu ta.

王盟继续道:"你知道他和你说,让你十年之后去找他,只是给你一个未知的未来,人都是健忘的,他以为十年足够你忘记了,你知道没有人可以在地下生活十年。你是疯子才会真的来接他。"

Vương Minh tiếp tục nói: "Anh có biết hắn ta nói với anh, để anh chờ mười năm sau hẵng đi tìm hắn, chỉ là để cho anh một cái tương lai chưa biết, con người rất dễ quên, hắn ta nghĩ rằng mười năm cũng đủ để anh quên.

Anh có biết không một ai có thể sống dưới đất suốt mười năm.

Chỉ có anh là đồ điên mới thực sự đi đón hắn."

胖子和小花都看向我们,王盟指着他们:"为了你的心魔,你把这些人都拖下水了。你把我也拖下水了,我的人生原来不是这样的,你不能因为你一个人的心魔,想怎么样就怎么样,这不公平!"

Bàn Tử và Tiểu Hoa đều nhìn về phía bọn tôi, Vương Minh chỉ vào họ: "Vì cái tâm ma của anh, anh liền kéo những người này xuống nước cùng.

Anh cũng kéo cả tôi xuống nước, cuộc đời của tôi vốn không thế này, anh không thể chỉ vì tâm ma của cá nhân mình mà muốn thế nào thì phải thế đó, điều này thật không công bằng!"

我松开脚,看了看我手上的疤,我没有想到王盟会和我说这些,但是,我内心早就不会有任何的动摇。因为——"每个人都有自己的心魔。"我说道:"你的心魔是什么?"

Tôi bỏ chân ra, nhìn vết sẹo trên tay mình.

Tôi thật không ngờ Vương Minh sẽ nói với tôi những điều này, thế nhưng, trong lòng tôi vốn sẽ chẳng có bất kỳ dao động nào.

Bởi vì, "Mỗi người đều có tâm ma của mình."

Tôi nói, "Tâm ma của cậu là gì?"

他看着我,无法回答。

Cậu ta nhìn tôi, không thể trả lời.

我冷冷道:"我给你两个选择,要么你现在回去给我继续去看铺子,要么我现在把你埋在这里。"

Tôi lạnh lùng nói: "Tôi cho cậu hai lựa chọn, hoặc là bây giờ trở về tiếp tục trông cửa hàng cho tôi, hoặc là bây giờ tôi chôn cậu luôn chỗ này."

他的眼圈一下就红了。

Vành mắt cậu ta lập tức đỏ lên.

"你连谈论都不想和我谈论。"

"Ngay cả nói chuyện anh cũng không muốn nói chuyện với tôi."

"有些人的约会是不能放鸽子的。"我说道,闷油瓶也许不会出现,我也许会死在路上,但是经历了那么多之后,我需要一个解脱。我需要一个句号。这个解脱不是忽然顿悟可以解决的,在过去的十年乃至之前的人生中,一切都现实的可以亲手触摸,这些记忆需要一个结局。

"Con người, có một số ước hẹn là không thể cho leo cây được."

Tôi nói, Muộn Du Bình có lẽ sẽ không xuất hiện, tôi có lẽ sẽ chết trên đường, thế nhưng, đã trải qua nhiều thứ đến vậy, tôi chỉ cần một giải thoát.

Tôi cần một dấu chấm hết.

Giải thoát này không phải tự dưng tỉnh ngộ là có thể giải quyết được, suốt mười năm trước thậm chí là cả cuộc đời tôi trước đó, tất cả đều rất thực tế, có thể chạm tay đến được, những ký ức này cần có một kết thúc.

"不过,等我回来,我可以告诉你,为什么我一定要这么做。"我看着他,还是说道。

"Có điều, đợi tôi trở về, tôi có thể nói cho cậu biết vì sao tôi nhất định phải làm vậy."

Tôi nhìn cậu ta, vẫn là nói tiếp.

王盟看着我,胖子过来蹲在王盟边上:"回去吧。你这智商,既阻止不了我们,也阻止不了自己死。"

Vương Minh nhìn tôi, Bàn Tử đến bên Vương Minh ngồi xổm: "Về đi.

Với chỉ số thông minh của chú, không ngăn cản được tụi này, cũng không ngăn cản được cái chết ập đến chính bản thân chú đâu."

王盟站起来,昨晚的记忆让他不敢逞强,收起自己的装备,他的手下一个一个的站起来。我给坎肩使了个眼色,坎肩把一些食物丢给他们。

Vương Minh đứng lên, ký ức về tối hôm qua khiến cậu ta không dám cậy mạnh nữa, bèn thu dọn trang bị, thủ hạ của cậu ta cũng từng người từng người đứng lên.

Tôi nháy mắt với Khảm Kiên một cái, Khảm Kiên liền mang ít thức ăn ném cho tụi nó.

王盟看了我一眼,转头一瘸一拐的往山外走去。走了几步,他回头低声说道:"老板,你一定要活着回来。"

Vương Minh liếc mắt nhìn tôi, quay đầu tập tễnh đi về phía ngoài núi.

Đi được mấy bước, cậu ta quay đầu lại, khẽ nói: "Ông chủ, anh nhất định phải sống trở về."

我点头,他回头,沮丧的,慢慢的,开始走远。

Tôi gật đầu.

Cậu ta quay đầu lại, uể oải, chầm chậm, đi xa dần.

我猛吸了一口烟,胖子说道:"他让手下假扮小哥,是想——"

Tôi rít một hơi thuốc lá thật mạnh, Bàn Tử nói: "Cậu ta cho thủ hạ giả trang thành Tiểu Ca, là muốn..."

我没有听胖子后半句话,我没有兴趣知道,他想干什么,问胖子道:"你怎么从地下出来的?"

Tôi không nghe nửa câu sau của Bàn Tử, tôi không có hứng thú muốn biết cậu ta muốn làm gì.

Tôi hỏi Bàn Tử: "Làm sao mà anh lại từ lòng đất chui lên thế?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 21: Tuyến Đường


这么多年下来,我已经不习惯有人对我付出什么,因为这些人终究会因为各种各样的原因而离开。我不喜欢来到的时候留下一堆感情然后离开的任何事物。我喜欢自己的朋友每个人都是自洽的,不需要我什么,我也不需要他什么。每个人行动的理由都来自于自己坚定的内心。

Suốt bao năm nay, tôi đã không quen có người vì tôi mà phải trả giá cái gì, bởi những người này đến cuối cùng sẽ rời đi với đủ các loại nguyên nhân.

Tôi không thích cái kiểu lúc đến thì để lại cả đống tình cảm sau đó thì cứ thế bỏ đi.

Tôi thích bạn bè mình người nào người nấy đều trước sau như một, không cần tôi cái gì, tôi cũng không cần họ điều gì.

Lý do hành động của mỗi người đều đến từ nội tâm kiên định của bản thân mình.

我到茶泡饭边上坐下来,胖子用树枝在地上画了几道:"你们走了之后,我就尝试着小范围的炸山,没想到,只炸了两三处,整个山盖就松动开裂了,整块区域塌了下去,露出了一个大洞,下面全是水,有及腰深,我就带队下去,一路走,下面是一条地下的小河,河道所处的隧道时高时低,我们淌水走了进去,这条河有三段是露出地面的,山壳开裂,在河的上方山体上出现裂缝,像一线天一样有阳光照进来,其他部分都是在地下。走到头的时候隧道变得很窄干涸,顶部开始出现往上的人工修建的井道,我们听到上头有人喊叫和枪声,就往上攀爬,看到有石板拦在井底,就一层一层炸上来。然后就看到你们了。"

Tôi đến bên chỗ cơm chan nước trà ngồi xuống.

Bàn Tử dùng cành cây vẽ mấy đường lên mặt đất: "Sau khi mấy cậu đi, tôi thử cho nổ núi trong phạm vi nhỏ, nào có ngờ, nổ được hai, ba chỗ, cả ngọn núi liền nứt toác ra, cả khu vực đất ở đấy sụp luôn xuống, lộ ra một cái hang động cực lớn, phía dưới toàn là nước, có chỗ sâu đến thắt lưng.

Tôi đưa cả đội xuống đấy, đi suốt một đường, bên dưới là một con sông ngầm nhỏ, đường ngầm chỗ con sông lúc cao lúc thấp, tụi này đi dọc theo đường nước chảy mà vào, con sông này có ba đoạn là lộ lên trên mặt đất.

Vỏ núi bị nứt, lòng núi ở phía trên con sông xuất hiện một khe nứt, có ánh mặt trời chiếu xuống, cứ như một Nhất tuyến thiên ấy, còn bộ phận khác thì đều ở dưới lòng đất.

Đi đến cuối đường hầm trở nên vừa hẹp vừa khô khốc, phía trên đầu bắt đầu xuất hiện những đường giếng hướng lên trên do con người tu tạo.

Tụi này nghe thấy trên đầu có tiếng súng với tiếng hò hét, thế là bèn trèo lên trên, trèo lên đến nơi thấy có phiến đá chặn ở đáy giếng, thế là cứ cho nổ từng tầng từng tầng ra.

Sau đó là gặp mấy cậu rồi."

炸药旋起的气流在井道中冲过,发出恐怖的咆哮声,把我们吓个半死。

Luồng hơi xoáy từ thuốc nổ ập vào đường giếng, phát ra tiếng gầm khủng khiếp, dọa chúng tôi sợ mất mật.

我看着胖子画的路线,陷入了沉思。

Tôi nhìn Bàn Tử vẽ tuyến đường, rơi vào trầm tư.

胖子进入地下水道的地方,东夏和蒙古有一场血战,说明那个地方的山体,对于东夏人来说非常关键。现在证明下面有一条地下水脉,一直通行至我们发现的这片全是古井的森林。胖子说,水脉还在往地下延伸。

Bàn Tử tiến vào đường thủy dưới lòng đất, Đông Hạ và Mông Cổ từng có một trận huyết chiến, tức là vùng núi ở nơi đó đối với người Đông Hạ mà nói là vô cùng quan trọng.

Hiện giờ đã chứng minh được bên dưới có mạch nước ngầm, trực tiếp thông thẳng đến cánh rừng rậm toàn là giếng cổ mà chúng tôi đã phát hiện này.

Bàn Tử nói, mạch nước vẫn còn kéo dài xuống dưới lòng đất hơn nữa.

这里离云顶天宫还极远,长白山腹地有大量水源,不需要从这里输送雨水,这条地脉一定通往地下某处东夏关键所在。这边的树林之中栖息着那么多的人面鸟,显然和地下它们的栖息地相通。

Nơi này cách Vân Đỉnh Thiên Cung còn xa lắm, trong lòng núi Trường Bạch có một nguồn nước cực lớn, không cần phải chuyển nước mưa từ đây vào, mạch nước này nhất định là thông xuống cơ sở quan trọng nào đó ở dưới lòng đất của người Đông Hạ.

Trong rừng chỗ này có lắm lũ chim mặt người đậu thế, rõ ràng là có tương thông với nơi sinh sống của chúng nó ở dưới lòng đất.

我招呼人整顿装备,清点子弹,自己找郎中去看手,郎中说骨裂没断,给我打了一个夹板,让我尽量不要用伤手。我打上封闭,看着王盟已经走到很远的地方。就对胖子道:"我们得继续往下。下面空气情况如何?"

Tôi gọi người chấn chỉnh lại trang bị, kiểm kê đạn dược, còn mình thì đi tìm thầy thuốc xem cánh tay thế nào.

Thầy thuốc nói mới rạn xương chứ không gãy, kiếm thanh nẹp nẹp vào, bảo tôi cố gắng đừng dùng cái tay bị thương này.

Tôi làm mũi thuốc tê, nhìn về hướng Vương Minh đã đi rất xa, rồi nói với Bàn Tử: "Chúng ta phải tiếp tục đi xuống.

Không khí bên dưới thế nào?"

"有活水空气就不会有问题,但井口下面的区域,水道己经很狭窄了,再往前走是走不过去了,得潜水下去。"

"Đã có nước chảy thì không khí sẽ chẳng vấn đề gì.

Nhưng mà bên dưới khu vực miệng giếng, đường nước đã rất hẹp rồi, nếu đi tiếp nữa thì không đi bộ nổi, phải lặn xuống dưới."

我点头,我们只有三套潜水器械在外面没带进来,这里有潜水经验的只有胖子和我,还有一个专门走水路的伙计。跟着他老爹黄河捞尸出身,二十多岁一头长发非主流,浑身惨白,身材修长有一米九多,身若无骨,在水里游的时候像条白蛇一样。外号叫素贞。

Tôi gật đầu.

Chúng tôi chỉ có ba bộ đồ lặn ở bên ngoài chưa mang vào, ở đây người có kinh nghiệm lặn xuống nước thì chỉ có tôi và Bàn Tử, còn có một người đồng bạn chuyên đi đường thủy nữa.

Người này vốn xưa hay theo cha lặn ngụp trên Hoàng Hà mò xác, hơn hai mươi tuổi, một đầu tóc dài không hợp mốt, cả người trắng bệch, vóc dáng thon dài, cao hơn mét chín, thân mình cứ như không xương, lúc bơi trong nước cứ như một con rắn trắng.

Ngoại hiệu gọi là Tố Trinh.

胖子用卫星电话给山外打信号,让外面的大部队带所有物资进来,我也乘机养养。

Bàn Tử dùng điện thoại vệ tinh truyền tín hiệu ra ngoài núi, bảo phần lớn đội ngũ ở bên ngoài mang tất cả vật tư vào, tôi cũng thừa dịp này nghỉ dưỡng thương.

当晚我们继续外撤了几公里,将营地巩固,第二天胖子留在原地守营的人和我们汇合。小花决定和我们分两路,他从陆路继续前进,看看还有什么发现。

Đêm đó chúng tôi tiếp tục rút lui ra ngoài mấy cây số, củng cố lại doanh địa.

Sang ngày hôm sau, tôi tụ họp với nhóm người Bàn Tử để lại trông coi doanh địa.

Tiểu Hoa quyết định chia làm hai đường với tôi, cậu ta tiếp tục đi theo đường bộ, đi xem xem có phát hiện gì không.

一直等到潜水设备运到,山谷之中已经非常热闹,我和素贞两个人检查了设备,一行人再次回到林中找到了那个井口。

Vẫn ngồi đợi đồ lặn được chuyển đến, trong thung lũng náo nhiệt cực kỳ, tôi với Tố Trinh kiểm tra lại thiết bị, đoàn người lại một lần nữa tìm đến cái miệng giếng kia trong khu rừng.

满地的鸟骨,所有的尸体被蚰蜒吃了个精光,骨头下面盘踞着好多蚰蜒,我们调校了手表,下到井底胖子来的通道中,落地就是齐腰深刺骨的地下河。掉下来的瓦片散落在河底。我用手电去照,地下河水清澈的一点杂质都没有。往前看去,只能猫腰前进,河水很缓,我们往前大概三十多米,就来到胖子说需要潜水通过的地方。水道往下延伸,全部浸没在水里。

Đầy mặt đất toàn là xương chim, tất cả xác thịt đều bị du diên xơi sạch, bên dưới xương xẩu có rất nhiều du diên chiếm cứ, chúng tôi chỉnh là đồng hồ đeo tay, xuống cái đường hầm dưới đáy giếng mà Bàn Tử đã lên.

Rơi xuống dưới là đụng phải mạch nước ngầm ngập đến thắt lưng, nước lạnh thấu xương.

Mấy mảnh ngói vỡ cũng rơi lả tả xuống đáy sông.

Tôi lấy đèn pin chiếu sáng, nước sông trong suốt không một chút tạp chất nào.

Nhìn về phía trước, chỉ có thể khom lưng mà đi, nước sông chảy rất chậm, chúng tôi đi về phía trước khoảng hơn ba mươi mét sẽ đến đoạn sông mà Bàn Tử nói cần phải lặn xuống.

Đường nước cứ thế kéo dài xuống phía dưới, tất cả đều ngâm trong nước.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 22: Trắng Rắn


通道中还弥漫着轻微的硫磺味,最近使用的化学炸药的气味相对以前的土雷管,气味和威力都可控的多。我检查了手电的防水橡胶,手电没入水中。光线在水中呈现一种亮橙,非常特别的颜色。

Trong lối đi tràn ngập mùi lưu huỳnh nhè nhẹ.

Mùi của thuốc nổ hóa học bây giờ sử dụng đúng là khác hẳn so với mìn tự chế ngày xưa, mùi và uy lực có thể khống chế được nhiều.

Tôi kiểm tra lớp cao su chống thấm của đèn pin, đèn pin không bị thấm nước vào trong.

Tia sáng chiếu trong nước có màu vàng chanh sáng, một màu sắc rất đặc biệt.

我带上潜水镜看了气量表就沉了下去。往前的通道非常低矮,在水里猫着身子往前,很快整个通道往下全部浸没在水中。

Tôi đeo kính lặn, nhìn đồng hồ đo lượng khí rồi mới lặn xuống.

Lối đi phía trước rất thấp bé, khom người đi trong nước tiến về phía trước, chẳng mấy chốc, toàn bộ lối đi xuống đã chìm trong nước.

水道的四壁都是黑色片层岩石,非常粗糙,我在水里活动,把水中的杂质都混沌了起来,能看到很多细微的旗袍和棉絮一样的东西在面前飘动。

Bốn vách tường trong đường nước toàn là đá núi đen sì, cực kỳ thô ráp.

Tôi hoạt động trong nước, khiến các chất bẩn lắng xuống bị khuấy đục ngầu cả lên, có thể thấy rõ những thứ trông như sợi bông mềm đang bồng bềnh trôi trong nước ở trước mặt.

我回头看了看胖子,胖子不停的打战,水太冷了。做了个手势:"快走。"

Tôi quay đầu nhìn Bàn Tử, Bàn Tử không ngừng run lập cập, nước lạnh quá.

Anh ta ra dấu bằng tay: "Đi mau."

白蛇高大细长的身子在最后,他必须要横过来才能在管道中顺畅的移动。

Cậu Rắn Trắng thân thể cao lớn thon gầy kia đi sau cùng.

Cậu ta cứ nhất định phải vắt ngang ra thì mới di chuyển thông thuận trong cái lối đi này cơ.

我做了一个手势提醒他们盯着我氧气瓶上的灯,然后头往下一下载了下去。

Tôi ra dấu, nhắc nhở bọn họ phải để ý đèn trên bình dưỡng khí của tôi, sau đó bơi xuống phía dưới.

游了一段,一下来到一个水下的峡谷,两边大概有两人宽,犹如斧劈一样平整,前后的宽度很大,白蛇掠过我的头部,摆动长腿迅速开始观察。

Bơi được một đoạn, đến một cái khe hẻm ở dưới nước, chiều rộng cỡ hai người đi vào, vuông vức cứ như ai dùng rìu bổ thành, bề ngang trước sau rất lớn.

Rắn Trắng lướt vụt qua đầu tôi, đôi chân dài đạp nước bắt đầu nhanh chóng đi vào quan sát.

我有极强的深海恐惧,也就是如果处于四周都是黑暗和虚空的环境下,我会陷入极端的恐惧。有一部分是恐慌虚空中会忽然出现任何的物体,有一部分是恐慌虚空本身。这里两边的岩壁最然狰狞,但至少让我的现实有所依托。

Tôi có nỗi sợ biển sâu cực mạnh, cũng chính là, nếu như ở trong tình cảnh tứ phía xung quanh đều là bóng tối và hư không, tôi sẽ rơi vào nỗi sợ hãi tột cùng.

Một phần là sợ trong hư không sẽ đột nhiên xuất hiện vật thể bất kỳ nào đó, một phần là sợ chính cái hư không đó.

Ở đây vách đá hai bên tuy rất đáng sợ, nhưng ít ra còn cho tôi một chỗ để dựa vào.

往下沉了十几米,我们已经分的很开,胖子活动开了为了表示自己和白蛇的水性差不多,做着各种高难度的动作。白蛇则完全进入了状态,在水中光线扭曲,他的皮肤在光线下显得像水栖生物。

Lặn sâu xuống hơn mười mét, chúng tôi đã tách nhau khá xa.

Bàn Tử bắt đầu hoạt động, thể hiện mình không kém cạnh gì Rắn Trắng về kỹ năng bơi lội.

Cậu Rắn Trắng đã hoàn toàn vào trong trạng thái, tia sáng chiếu dưới nước bị bẻ vặn móp méo, làn da cậu ta ở dưới nước được ánh sáng chiếu vào trông như một loài sinh vật thủy sinh nào đó.

很快他在很远的地方打来信号,我招呼胖子,两个人朝他靠去,发现白蛇所处的地方,两边的岩壁上,出现了大量的浮雕。

Rất nhanh, cậu ta ở phía tít xa ra tín hiệu.

Tôi vẫy gọi Bàn Tử, hai người cùng lại gần cậu ta, phát hiện ra ở hai bên vách đá chỗ Rắn Trắng xuất hiện một lượng lớn phù điêu.

浮雕大量磨损,能看到很多人形,但所有的细节几乎都消失了。在浮雕上,有很多深孔,里面有生锈的铁榫。

Phần lớn phù điêu đã bị mài mòn đi mất, có thể thấy rất nhiều hình người, nhưng những chi tiết nhỏ thì hầu như đã biến mất hết.

Trên phù điêu có rất nhiều lỗ sâu, bên trong là những cái mộng sắt đã rỉ sét hết.

这里之前有个古代工程,铁榫的位置大多集中在浮雕的下半身,感觉是一条站到栈道,(目测站到是三叔打错了没删除)浮雕是栈道两边的装饰。

Nơi này trước đây là một công trình cổ đại, phần lớn những mộng sắt tập trung ở nửa dưới phù điêu, cảm giác như là một sạn đạo, phù điêu là trang trí hai bên đường sạn đạo.

真是穷讲究,我心说,都把墓修在这边了还他妈凸逼格呢,于是沿着铁榫一路往前寻找,这些铁孔缓缓往下,似乎无边无尽。

Đúng là đồ trưởng giả, tôi thầm nghĩ, đã xây cái mộ ở đây rồi còn ra vẻ cốt cách.

Bèn cứ đi dọc theo một đường mộng sắt này tiến về phía trước tìm kiếm, chầm chậm đi xuống theo những lỗ sắt này, tựa hồ như vô biên vô tận.

我心中隐隐担忧,氧气逐渐减少,虽然还带了几个罐子备用,但这一次如果没有结果,基本可以放弃这条道路。

Trong lòng tôi có hơi hơi lo lắng, oxy từ từ giảm đi, tuy vẫn mang theo mấy bình oxy dự phòng, nhưng lần này mà không ra kết quả gì, vậy có thể bỏ qua con đường này luôn.

很快到了峡谷的底部,底部全部都是尖利的巨石,犹如尖牙一样对上刺出,"浮雕带"由此转折往上,此时返程警告亮了。

Chẳng mấy chốc liền tới dưới đáy hẻm.

Dưới đáy toàn là đá lớn sắc nhọn, đâm ra tua tủa như răng nanh.

Bởi vậy mà "con đường phù điêu" kia bèn chuyển ngoặt lên trên, lúc này, đèn báo động sáng lên.

为了安全,必须严格按照氧气表的警告回程,这个时候,我看到一条鱼从我面前游过。

Để an toàn, nhất thiết phải tuân thủ theo báo động trở về trên đồng hồ dưỡng khí.

Lúc này, tôi nhìn thấy một con cá bơi vọt qua trước mắt.

我的手电过去,被手电刺激,那条鱼立即游开,往上浮去。

Đèn pin của tôi chiếu qua đó, bị ánh sáng kích thích, con cá kia lập tức tránh ra, bơi lên trên.

我看着那条鱼目瞪口呆,那时我们之前放养的鲶鱼之一,我能清晰的看到他(它)鳍上的信号发生器。

Tôi trợn mắt há mồm nhìn con cá kia, đó là một trong mấy con cá nheo chúng tôi thả xuống trước đây, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng máy phát tín hiệu trên người nó.

鲶鱼生活在浅滩,我对其他人一指那条鱼,两个人看了看自己的氧气表,犹豫了一下,白蛇就第一个追了上去。

Cá nheo sống ở nơi nước cạn, tôi chỉ vào con cá kia cho người khác xem, hai người nhìn đồng hồ dưỡng khí của mình, do dự một chút, Rắn Trắng là người đầu tiên lập tức đuổi theo.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 23: Di Vật


我们跟在后面,我的心跳开始加速,这是一场赌博,如果这条鲶鱼带我们进更深的水域,我们在回程路上很可能氧气耗尽溺死在地下。

Chúng tôi đuổi theo phía sau, tim tôi bắt đầu đập nhanh.

Đây là một canh bạc, nếu con cá nheo này dẫn chúng tôi xuống đến vùng nước sâu hơn nữa, rất có khả năng trên đường trở ra chúng tôi sẽ hao hết dưỡng khí, chết đuối dưới đất.

心中强烈的思想斗争和直觉共存,但身体还是老实的跟着鲶鱼往上游去。胖子月过我,我都感觉到他的口水从呼吸管边缘飘出来。

Trong lòng thì trực giác cùng với đấu tranh tư tưởng dữ dội, thân thể thì cứ thế bơi theo con cá nheo kia.

Bàn Tử vượt qua tôi, tôi thậm chí còn cảm thấy được nước miếng của anh ta rỉ qua ống khí trôi đến gần tôi.

一直往上过了大概5分多钟,我心中的焦虑已经到了极点,无数次想转头往望来的方向夺路而逃。早就抛下我们几乎紧跟在鲶鱼后面的白蛇再次打来信号。

Vẫn bơi lên trên khoảng chừng 5 phút, tôi đã lo lắng đến tột cùng, vô số lần tôi đã muốn quay đầu cướp đường mà chạy.

Rắn Trắng đã bỏ xa chúng tôi, gần như theo sát đằng sau con cá nheo, cậu ta lại ra tín hiệu nữa.

我看到了希望,冲了上去,水的压力在身上缓缓变轻,很快头部一凉,我们的头露出了水面。

Thấy được hy vọng, tôi bèn xông lên trước, áp lực nước trên người ngày một nhẹ đi, rất nhanh trên đầu mát lạnh, đầu của chúng tôi đã vọt lên khỏi mặt nước.

胖子打起冷烟火,照亮了四周,这是一片地下的河滩,上面有一条缝隙,有天光从缝隙中射入,无数的树根和菟丝子从缝隙中垂下。伴随着溪水低落。

Bàn Tử đốt pháo lạnh, chiếu sáng khắp bốn phía.

Nơi đây là một bãi sông ngầm, bên trên có một khe hở, ánh sáng trời lọt vào qua khe hở này, vô số rễ cây và dây leo rủ xuống qua khe hở nữa.

Cùng với một khe suối chảy xuống nữa.

我们缓缓走上河滩,脱掉潜水装备,发现我们已经通过了被水淹没的区域,重新来到了水道可以通行的一段。

Chúng tôi từ từ đi lên bãi sông, cởi trang bị lặn xuống, phát hiện chúng tôi đã đi qua khu vực chìm trong nước rồi, lại đến một đoạn đường nước có thể đi bộ.

"鱼呢?"胖子问我。我蹲下来,看到这里的水面上飘着一层白色粘土一样的粘液,我用手摸了一吧(把),非常腥臭,这是动物的粪便。

"Cá đâu?"

Bàn Tử hỏi tôi.

Tôi ngồi xổm xuống, xem chất dịch trắng trắng dính nhầy như đất sét đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước ở gần đấy, lấy tay sờ một cái, tanh hôi cực kỳ, đây là phân và nước tiểu của động vật.

抬头仔细看,我就看到这里的墙壁上,开凿山体出来一个一个的神龛,犹如敦煌一样,密密麻麻,很多神龛上,都停着一只人面鸟,将头埋在翅膀下面,都在休眠。

Ngẩng đầu nhìn lên, tôi thấy trên vách tường có đầy những ban thờ khảm vào lòng núi, giống như Đôn Hoàng vậy, dày đặc kín mít, trên các ban thờ đều có một con chim mặt người đang đậu, đầu cúi xuống dưới canh, đang ngủ đông.

所有人立即压低自己的呼吸声,胖子按住了携带的手枪。不过我们都知道,就我们三个人,在这里如果惊动了这些鸟,一定是死定了。

Mọi người lập tức nín hơi thở của mình, Bàn Tử ấn xuống khẩu súng lục mang theo.

Có điều chúng tôi biết, chỉ với ba người bọn tôi, nếu kinh động đến lũ chim ở đây, nhất định là chết chắc.

一尊巨大的青铜雕像在这些神龛的重(中)心,已经坍塌了,上面被鸟的粪便腐蚀的(得)斑斑驳驳。

Một pho tượng đồng khổng lồ đặt tại ngay giữa các ban thờ, đã bị sụp từ bao giờ, trên tượng bị phân và nước tiểu của lũ chim ăn mòn đến loang lổ.

"之前那些鲶鱼就是在这里被捕食的吧。"我心说,昨晚大战,人面鸟的数量减少了不少,但是这些神龛往两边延伸而去,黑暗中不知道还有多少人面鸟在石壁上潜伏着。

"Lúc trước lũ cá nheo chắc là bị ăn mất ở chỗ này ha."

Tôi nhủ thầm.

Tối qua đại chiến, số lượng chim mặt người đã bớt đi không ít, thế mà đi dọc theo các ban thờ ở hai bên vách núi này, trong bóng tôi không biết cơ man là chim mặt người đang ẩn núp trên vách đá.

"这些东夏人把这些破鸟当神一样供着。"胖子踢了踢脚下很多骨头,用嘴型说道:"这儿的野兽都被他们吃光了"

"Người Đông Hạ cũng thờ phụng lũ chim chết tiệt này như thần thánh vậy."

Bàn Tử đá đá rất nhiều những cục xương dưới chân, dùng khẩu hình nói: "Dã thú ở nơi đây đều bị chúng nó chén sạch cả rồi."

白蛇从地上捧起一颗人骷髅,穿着潜水服,这个人又瘦又高,简直就像属于云顶天宫里的生物。

Cậu Rắn Trắng nhặt từ dưới đất lên một bộ xương người, mặc đồ lặn, người này vừa gầy vừa cao, quả thực cứ như một sinh vật thuộc về Vân Đỉnh Thiên Cung ấy.

"吴邪,你看这个。"

"Ngô Tà, xem này."

白蛇自诩人人平等,自己是一个有尊严的从业马仔,从来对我都是直呼其名。

Rắn Trắng tự khoe khoang người với người bình đẳng, mình là một tên làm thuê thực tập có tôn nghiêm, trước giờ toàn gọi thẳng tên tôi.

我走过去,看到了在动物的骨骼中,有着大量的人骨,其中有一些尼龙碎片附着着(多打了个着),我翻动这些骨头,从里面找出半截生锈的皮带扣。

Tôi đi tới, thấy trong đống xương động vật có số lượng lớn xương người, trong đó còn có mấy mảnh nilon bám vào, tôi lật đống xương này lên, tìm được nửa cái khóa thắt lưng rỉ sét.

我知道这是谁的皮带扣,叶成当年就死在云顶天宫里。估计尸体就在这里被分食。

Tôi biết đây là khóa thắt lưng của ai.

Là Diệp Thành năm xưa chết trong Vân Đỉnh Thiên Cung.

Có lẽ xác bị đem đến đây xâu xé.

想不到竟然还能再见到故人的遗物,有一种恍如隔世的感觉。

Thật không ngờ lại có thể gặp được di vật cố nhân, có một cảm giác như đã cách đến mấy đời.

原路返回已经不可能了,我看了看手表,离天黑还早。最好的办法是从上面的缝隙爬出去。但看到了叶成的遗物,我忽然意识到,在这里,我也许可能找到另一个人的遗骨。他身上有些信息,对我还是有用的。

Giờ theo đường cũ trở về đã không thể được, tôi nhìn đồng hồ đeo tay, cách trời tối vẫn còn lâu.

Giờ cách tốt nhất là trèo ra ngoài theo khe hở kia.

Nhưng khi thấy được di vật của Diệp Thành, tôi bỗng nhận ra, ở chỗ này, tôi có thể tìm thấy được di cốt của người khác.

Trên người kẻ này có chút tin tức, đối với tôi vẫn còn hữu dụng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 24: Thi Thể Của Lão Cửu Môn


胖子认为我疯了,这个时候当然直接爬出去,带着大队人马杀回来,到时候想怎么找就怎么找。但是我坚持还是要在这里翻一翻。

Bàn Tử cho là tôi điên rồi, lúc này đương nhiên là phải trèo ra ngoài đã, đem đại đội đến đây chém giết một hồi, đến lúc đó, muốn tìm gì thì tìm.

Nhưng tôi vẫn cứ kiên trì muốn ở lại đây lục lọi một lát đã.

人面鸟的只能消耗口中猴的粪便,这两种生物的依存关系,最早在七星鲁王宫的水道中,我看到那只战国时期的铃铛开始,就已经屡见不鲜。这长白山山底的殷商皇陵不知道是谁所建,但是和七星宫所处的年代持平,显然这种技术在当时那个时代是有传播的。

Chim mặt người chỉ có thể tiêu hóa phân và nước tiểu của "khỉ trong miệng", hai sinh vật này sống với nhau nhờ quan hệ cộng sinh.

Sớm nhất là hồi ở trong đường nước của Thất tinh Lỗ Vương Cung, tôi bắt đầu nhìn thấy chiếc chuông thời Chiến Quốc, nhìn mãi thành quen mắt.

Hoàng lăng Ân Thương dưới đáy núi Trường Bạch không biết là do ai xây nên, nhưng cũng cùng khoảng niên đại với Thất tinh cung nọ, rõ ràng kỹ thuật này ở thời đại đó là có phổ biến.

万奴王进入地下之后被妖花,我听说的传说各种各样,不知道是否在殷商皇陵之中找到了某种已经失传的知识。

Vạn Nô Vương sau khi tiến xuống lòng đất bị hóa thành yêu, truyền thuyết tôi được nghe nói đến có đủ loại, có phải là đã tìm thấy được tri thức thất truyền nào đó ở trong hoàng lăng Ân Thương hay không.

口中猴是杂事动物,除了大型兽类,他们一般捕食一些两栖类和啮齿类的耗子青蛙什么的。所以水底沉的很多碎骨都很小,大骨头都是人面鸟叼来的比较大的猎物。

"Khỉ trong miệng" là động vật ăn tạp, ngoại trừ loại động vật hình thể lớn, bình thường chúng hay săn mồi là những loài động vật lưỡng cư hoặc gặm nhấm, ví như chuột hoặc ếch nhái gì đó.

Cho nên dưới đáy nước có rất nhiều những mảnh vụn xương nhỏ, còn xương lớn thì đều là những loài thú săn lớn do chim mặt người tha đến.

找了半天,找到十几具人骨,但陈皮四阿公的鼻梁骨被人砍断过,所以很好认,骸骨中一具都没有。我来到山壁底下,有很多指甲的印子。

Tìm suốt nửa ngày, tìm được mười bộ xương người, nhưng mũi Trần Bì A Tứ từng bị người ta chém đứt, cho nên rất dễ nhận dạng, nhưng trong đống hài cốt này lại không có.

Tôi đi tới dưới vách núi, thấy có rất nhiều dấu móng tay.

数量非常多。胖子问我:"是鸟挠的吗?"

Số lượng rất nhiều.

Bàn Tử hỏi tôi: "Là móng vuốt chim à?"

我摇头,鸟的爪子分三叉,这些指甲痕都是无根手指的。这要么是人面猴的,要么是人挠的。但人面猴的爪子没有那么大。

Tôi lắc đầu.

Vuốt chim phải chia làm ba dấu vạch, còn những vết cào này đều là năm vết.

Đây hoặc là của "khỉ trong miệng", hoặc là do người cào.

Nhưng "khỉ trong miệng" không có móng vuốt to như vậy.

"这可不是什么好兆头。"胖子说道:"看来有人和我们一样来到这里,但是没爬出去啊。"

"Đây cũng không phải điềm tốt gì."

Bàn Tử nói: "Xem ra có người cũng đến đây giống chúng ta, nhưng lại không trèo ra ngoài."

我用手在岩石上哗啦了一道,没有留下任何的痕迹。

Tôi lấy tay cào trên mặt đá một cái, nhưng không để lại bất kỳ dấu vết nào.

这不是一般的指甲可以画出来的痕迹,在这里想爬出去的东西,如果是人的话,状况很不正常。

Đây không phải là dấu vết mà móng tay người thường có thể cào ra được.

Thứ muốn trèo ra khỏi đây, nếu là người, vậy thì tình cảnh lúc đó không bình thường.

"我爷爷临死的时候,一定要火葬。"我轻声冷冷的说道:"霍老太太的皮肤,陈皮阿四的寿命,都有一些诡异。老九门平三门和后三门的这些人,只要是行动型的人到晚年生理情况都不是很正常,不知道在史上最大的盗墓活动中,他们经历了什么。"

"Ông nội tôi trước khi chết, nói nhất định phải hỏa táng."

Tôi nhẹ giọng, lạnh lùng nói: "Da của Hoắc lão thái, thọ mệnh của Trần Bì A Tứ, tất cả đều có chút quỷ dị.

Mấy người thuộc bình tam môn và hậu tam môn của Lão Cửu Môn này, chỉ cần là người phái hành động, đến lúc cuối đời tình trạng sinh lý đều không bình thường, không biết trong lần hoạt động trộm mộ lớn nhất lịch sử hồi ấy, bọn họ đã phải trải qua cái gì."

"你什么意思?"

"Cậu có ý gì?"

"我在想,如果我爷爷不火葬,会变成什么东西?"

"Tôi đang nghĩ, nếu như ông nội tôi không được hỏa táng, không biết ông sẽ biến thành cái gì?"

陈皮阿四没有火葬,他的尸体应该会被叼到这里,如果他和我爷爷的体质一样,那么,我也许能知道爷爷一定要火葬的理由。

Trần Bì A Tứ không được hỏa táng, thi thể của ông ta ắt sẽ bị tha đến đây.

Nếu thể chất của ông ta giống với ông nội tôi, như vậy, có lẽ tôi sẽ biết được nguyên do vì sao nhất định phải hỏa táng ông nội.

"你们先出去"我看向一边的黑暗,我要进去看看,这条通道通往哪里。

"Mấy người đi ra ngoài trước đi."

Tôi nhìn sang bóng tối ở một bên, tôi muốn vào xem một chút, xem cái lối này sẽ thông ra đến đâu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 25: Tứ A Công


胖子看着我,"想什么呢你?你以为胖爷是陪你来这儿的?"拍了我一下:"你不来我也会来。"说着自己先往一边的黑暗中走去。示意我跟上。

Bàn Tử nhìn tôi, "Đang suy nghĩ cái gì đấy?

Cậu tưởng Bàn gia này bồi cậu đến đây là thôi à?"

Rồi vỗ vỗ tôi: "Cậu dù không tới tôi vẫn tới."

Nói rồi, anh ta tự mình đi vào trong một bên bóng tối.

Ý bảo tôi mau đuổi theo.

我哭笑不得,示意白蛇也跟上——他一个人在这里攀爬风险太大,还是同进同退吧。

Tôi dở khóc dở cười, bèn bảo Rắn Trắng cũng đi cùng – một mình cậu ta ở chỗ này mà leo lên trên thì quá mạo hiểm, chi bằng cùng tiến cùng lùi đi.

三个人小心翼翼地淌水往黑暗中走去,离开有天光的地方,里面迅速变为一片漆黑,我只往前走了十几米,就知道不可能继续探索下去。

Cả ba người cẩn thận từng li từng tí đi vào trong bóng tối theo dòng nước chảy, rời khỏi nơi ánh sáng chiếu tới.

Bên trong nhanh chóng trở nên tối mịt, tôi chỉ đi về phía trước có hơn mười mét, đã biết ngay mình không thể tiếp tục thăm dò xuống dưới được rồi.

"这里这些鸟也不知是死是活,在黑暗中使用手电,那我们就是靶子。"胖子说道:"昨天我们刚把人家七大姑八大姨全弄死了,今天就不要再上门偷东西了。胖爷我是有良知的。"

"Lũ chim ở đây không biết là chết hay sống, trong bóng tối mà dùng đèn pin soi, chúng ta ắt thành bia ngắm cho nó."

Bàn Tử nói: "Mới hôm qua tụi mình còn giết chết cả nhà cô Ba dì Bảy nhà người ta, hôm nay đừng trở lên chôm đồ nữa.

Bàn gia tôi vẫn còn lương tâm lắm."

接下来如果使用手电,手电光照到那些人面鸟身上,后果不堪设想。两相合计,还是先撤。我对胖子说道:"咱们的子弹够不够再回来的时候,把这里扫干净。"

Kế tiếp nếu sử dụng đèn pin, ánh sáng đèn pin chiếu lên lũ chim mặt người kia, hậu quả không dám tưởng tượng.

Hai bên tính kế, hay là cứ rút lui trước.

Tôi nói với Bàn Tử: "Đạn của mình còn đủ để làm chuyến nữa không, quét sạch sẽ chỗ này đi."

胖子叹了口气:"天真,这么多年你变得毫无人性,杀了他们爸爸还要杀儿子,不过我喜欢,在我们赶尽杀绝界,子弹是最没效率的,咱们出去把你狗杀了,肉里拌上氰化钾,往这里一丢,保证不废一弹就——"

Bàn Tử thở dài đánh sượt một cái: "Thiên Chân, qua nhiều năm thế, cậu trở nên vô nhân tính đến vậy à, giết bố chúng nó rồi còn muốn giết nốt con trai, cơ mà tôi thích, chúng mình cứ đuổi tận giết tuyệt luôn đi, dùng đạn không có hiệu quả tốt nhất đâu, mình cứ ra ngoài giết cái con chó nhà cậu ấy, sau đấy trộn kali xyanua vào, ném vào đây, thế là bảo đảm chẳng tốn tí đạn nào cũng..."

"别他妈打我狗的主意。"我怒道,知道他在开玩笑,但那些狗听的懂人话,被听到了晚上说不定偷偷先把胖子弄死了。

"Đừng có nhòm ngó gì đến chó nhà tôi."

Tôi cả giận nói, biết anh ta chỉ là đang đùa thôi, nhưng chó nhà tôi mà nghe hiểu tiếng người, nó mà nghe được lời này không chừng đêm đến sẽ lén đi ám sát luôn Bàn Tử mất.

正准备转身,胖子忽然又把我拉住。

Đang định quay người đi, bỗng Bàn Tử kéo tôi lại.

"你年纪大了,开始哆嗦了是吧。"我怒道。

"Anh già rồi, bắt đầu run run rồi đúng không."

Tôi cả giận nói.

"我哪儿年纪大了?你年纪小,你年纪小你眼神那么差?"胖子看着黑暗中,示意我看。

"Tôi già chỗ nào?

Cậu tuổi còn trẻ, trẻ tuổi thế mà mắt đã kém vậy?"

Bàn Tử nhìn vào trong bóng tối, ý bảo tôi nhìn.

我眯起眼睛,黑暗中什么都看不到。

Tôi nheo mắt lại, chẳng nhìn thấy cái gì trong bóng tối cả.

"你是不是出现幻觉了?"我道,胖子指了指水中,用手电。我低头,就看到很多小鱼在石头的缝隙间游动,密集的往我们前方的黑暗中游去。

"Có phải anh bị ảo giác hay không hả?"

Tôi nói.

Bàn Tử chỉ chỉ vào trong nước, lấy đèn pin soi.

Tôi cúi đầu, liền thấy rất nhiều cá nhỏ đang bơi trong khe đá, cực kỳ nhiều cá, đang bơi về phía bóng tôi trước mặt chúng tôi.

"这是泉鱼,前面有腥味才会这样。"胖子缓缓顺着鱼游动的方向移动光斑,把手电抬了起来。

"Đây là suối cá, phía trước có mùi tanh nên mới thế này."

Bàn Tử chậm rãi chiếu ánh sáng theo hướng cá bơi đi, giơ đèn pin lên.

光柱射入黑暗中,我隐约看到,远远在河滩上和岩壁的交界处,有一个人形的东西,面对着岩壁站着。

Cột sáng chiếu vào trong bóng tôi, tôi loáng thoáng nhìn thấy, ở phía xa xa chỗ giao nhau giữa bãi sông và vách đá có một sinh vật hình dáng kỳ quái, đang đứng đối mặt với vách tường đá.

远远的看不清楚,我正要上前。

Vì xa quá nên không nhìn rõ lắm, tôi đang định tiến lên.

胖子拉住我,拿出望远镜,"新设备。"他调动焦距,舔着嘴唇:"用这个看我铺子对面那大长腿卖翡翠的,连毛都——"他忽然闭嘴,转头看我。我问他怎么了,胖子拉长了下巴,但是说不出话来。

Bàn Tử kéo tôi lại, lấy kính viễn vọng ra: "Thiết bị mới."

Anh ta điều chỉnh tiêu cự, liếm môi: "Toàn dùng cái này để ngắm cô em chân dài bán phỉ thúy trước cửa tiệm tôi không đó, ngay cả một cọng lông cũng......" anh ta bỗng im bặt, quay đầu nhìn tôi.

Tôi hỏi sao thế, Bàn Tử há miệng ra, nhưng nói không ra lời.

这么多年了,胖子从来没有说不出话来过,我一把抢过望远镜,对着手电的光斑看过去。

Nhiều năm trôi qua rồi, Bàn Tử chưa bao giờ nói không nên lời như thế.

Tôi bèn giật lấy kính viễn vọng, chiếu ánh sáng đèn pin sang nhìn.

我看到一个赤裸的老人笔直的站在黑暗中,手电光下这个人身上的皮肤是酱紫色的,整个人干涸的像树皮一样,两只手垂在身体两侧,手指的指甲一直垂到水里。

Tôi nhìn thấy một ông lão trần truồng đứng nghiêm mình trong bóng đêm, dưới ánh đèn pin, làn da của người này có màu tím đỏ, toàn thân khô khốc như vỏ cây, hai tay buông thõng bên người, móng tay buông rũ xuống nước.

"四阿公?"我的手开始抖起来。

"Tứ A Công?"

Tay của tôi bắt đầu run lên.

虽然有预判,但是实际看到故人的尸体时隔十年仍旧僵化站立在这里,还是让人难以接受。

Mặc dù đã có dự liệu trước, thế nhưng khi tận mắt thấy thi thể của cố nhân suốt mười năm vẫn cứng ngắc đứng đó, điều này quả thực vẫn rất khó có thể tiếp nhận nổi.

"粽子!"胖子用嘴型说道:"别叙旧了,快跑。"

"Bánh tông!"

Bàn Tử dùng khẩu hình nói: "Đừng ôn chuyện cũ nữa, chạy mau."

"要看到正面。"我说道。指了指水中。我们还有一些氧气。我要潜水过去,看个究竟。

"Tôi muốn nhìn thấy đằng trước."

Tôi nói.

Chỉ chỉ vào trong nước.

Chúng tôi vẫn còn chút dưỡng khí.

Tôi muốn lặn xuống nước qua bên đó, để nhìn cho rõ ràng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 26: Ông Già


"僵尸会游泳吗?"我们重新背上潜水瓶的时候,白蛇问我。

"Cương thi có biết bơi không thế?"

Khi chúng tôi lại đeo bình lặn lên lưng, Rắn Trắng có hỏi tôi.

我回忆了一下,好像没有任何的古籍记载过,僵尸游泳的记录。不过既然已经死了,应该不可能再淹死一次。

Tôi nhớ lại một hồi, hình như không có bất kỳ sách cổ nào ghi chép về việc cương thi biết bơi này.

Có điều, nếu đã chết rồi, chắc không chết đuối được lần nữa.

"死沉死沉的,死人特别沉。"胖子道:"那玩意到水里就沉底了,没戏。"

"Cực nặng cực nặng, người chết cực kỳ nặng."

Bàn Tử nói: "Cái thứ đấy mà rớt xuống nước liền chìm đến đáy luôn, không đùa."

轻声细语在山洞中也有回音,听着像很多人窃窃私语,让人毛骨悚然。也可能出水走了一段毛孔收缩,洞里的体感越来越寒冷。

Trong hang động dù nói khẽ khàng mấy cũng vẫn có tiếng vang, nghe như có rất nhiều người đang xì xào bàn tán gì đó, nghe mà sởn tóc gáy.

Hoặc cũng có thể do ngâm dưới nước một đoạn, lỗ chân lông co hết lại, đi trong hang động cảm thấy càng ngày càng lạnh.

胖子觉得这声音很有意思。又学了一句:"吴邪是个小三八。"整个山洞回荡着细微的胖子的声音。

Bàn Tử nghĩ âm thanh này rất thú vị, thế là học một câu: "Ngô Tà là đồ mắc dịch."

Cả hang động đều vang vọng luẩn quẩn tiếng nói này của Bàn Tử.

我瞟了他一眼,戴上潜水镜,胖子抓住我的手,表情有些严肃。

Tôi liếc mắt nhìn anh ta, đeo kính lặn.

Bàn Tử chộp lấy tay tôi, vẻ mặt có chút nghiêm túc.

"未必是陈皮阿四。你真的要去看吗?"

"Chưa chắc đã là Trần Bì A Tứ.

Cậu thực sự muốn đi xem à?"

"你是指可能是小哥?"

"Ý anh là đó có thể là Tiểu Ca ấy hả?"

在地下变成一具苍老的僵尸,真是适合他的结局。不过,不可能的。

Biến thành một cương thi già sọm ở dưới lòng đất, đúng là một kết cục hợp lý cho hắn.

Có điều, đó là không thể.

洞中水下的卵石戴着脚蹼很难行走,我们都趴下来,没入水中。

Những viên đá cuội dưới nước trong hang động, mang chân vịt rất khó đi, nên tất cả chúng tôi đều nằm bò xuống, chìm hẳn vào trong nước.

沿着岩壁的部分不深,勉强把我们没了,可以用手拨弄滩底前进,我适应了一下,往那个老人站立的地方游去。

Phần dọc theo vách đá không sâu lắm, miễn cưỡng chúng tôi mới lặn chìm được, có thể dùng tay chống xuống đáy mà tiến lên.

Tôi thích ứng một chút, rồi bơi về phía ông cụ đang đứng chỗ kia.

游到估摸着差不多了,我拧开手电,缓缓的单手撑着滩底,把脸露出了一半在水面上,另一只手伸出水面,把手电照射过去。

Bơi đến khoảng khá gần rồi, tôi mới bật đèn pin, một tay chậm rãi chống xuống đáy nước, ngoi nửa mặt lên trên mặt nước, tay kia vươn lên trên mặt nước, chiếu đèn pin đến.

我看到刚才那赤裸老人站立的地方,空空如也。

Tôi nhìn thấy cái nơi mà ông cụ trần truồng còn đứng vừa nãy, giờ đây trống không.

"没了?"我心中纳闷。一边胖子和白蛇也抬头出水。我们四处去看,发现都不见那老人的身影。

"Không có?"

Trong lòng tôi buồn bực.

Bên cạnh, Bàn tử và Rắn Trắng cũng ngoi đầu lên khỏi mặt nước.

Chúng tôi nhìn quanh quất, không thấy bóng dáng của ông cụ kia đâu.

"去哪儿遛弯了。"胖子关停氧气瓶。爬起上半身。"嘿,这老头还挺利索。"

"Đi dạo chơi đâu mất rồi."

Bàn Tử đóng bình dưỡng khí, bò cả nửa người lên.

"Chà, lão già này vẫn còn nhanh nhẹn gớm."

我估摸着时间,我们一来一回穿上潜水服,时间花的不多,肯定走不了多远。

Tôi ước lượng thời gian, chúng tôi đi tới đi về rồi mặc đồ lặn, cũng không tốn bao nhiêu thời gian, chắc chắn chưa đi được bao xa.

胖子看我怎么办,我把手电照向水下,多少我也要找到一些线索,四处探照,猛的就看到大概两个人外的水面上,有一个人头。

Bàn Tử xem tôi làm thế nào giờ, tôi lấy đèn pin chiếu xuống nước, ít nhiều cũng phải tìm thấy chút đầu mối chứ.

Chiếu đèn khắp xung quanh, bỗng thấy ở trên mặt nước cách khoảng hai người, có một cái đầu người.

人头脸上全是头发,看不清脸,但能看到水下躯干的影子,指甲很长,在水中泡软之后,打卷像水草一样。

Trên mặt đầu người kia toàn là tóc, không thấy rõ mặt mũi, nhưng có thể thấy bóng của thân mình ở dưới nước, móng tay rất dài, sau khi ngâm dưới nước thì mềm oặt, xoăn như cọng rong nước ngọt vậy.

"大爷,泡澡呢?"胖子轻声说道。"你去问问他要搓个背吗?"

"Đại gia, đang tắm hả?"

Bàn Tử nhẹ giọng nói.

"Cậu đi hỏi xem ông ta có cần kỳ lưng không đi."

我们的状态很尴尬,脚上有脚蹼,背上的氧气瓶没有浮力的情况下很重,在浅滩水域就像搁浅的鱼一样,站也站不起来,游也游不快。

Tình huống bây giờ của chúng tôi rất bất tiện.

Chân đi chân vịt, bình dưỡng khí trên lưng thì quá nặng không có sức nâng, ở chỗ nước cạn giống như cá mắc cạn vậy, đứng không đứng được, bơi không bơi nhanh.

我对他们甩头,三个人缓缓往深水区退,慢慢的沉入水中。

Tôi hất đầu với bọn họ, ba người bèn chầm chậm lùi vào khu nước sâu, từ từ chìm vào trong nước.

手电沉入水下,再往前靠近,两步,光柱穿过浑水照出了水下的尸体。

Đèn pin chìm xuống nước, tiến đến phía trước, hai bước, cột sáng chiếu xuyên qua làn nước đục, soi rõ thi thể dưới nước kia.

它站在水中,皮肤褶皱苍白,几乎皮包骨头。就像泡在福尔马林液体中的蜡像。我看到他身上的纹身。

Nó đứng trong nước, làn da nhăn nheo tái lợt, gần như chỉ còn da bọc xương.

Trông giống như tượng sáp bị ngâm trong dung dịch formalin vậy.

Tôi nhìn thấy hình xăm trên người kẻ đó.

不是麒麟,是旧社会的一些纹身。很淡的青色,因为皮肤的褶皱,已经看不出是什么。

Không phải kỳ lân, là mấy hình xăm trong xã hội cũ.

Màu xanh đen rất nhạt, bởi vì lớp da rất nhăn nheo, cho nên không nhìn thấy rõ là hình gì.

是四阿公,即使我没有看到他的脸和眼睛。我认得这些纹身。

Là Tứ A Công thật.

Cho dù tôi không thấy được mặt và mắt của người này.

Nhưng tôi nhận ra hình xăm này.

胖子拉着我快走,同时,我也看到了那具尸体的脖子上,挂着一个东西。

Bàn Tử kéo tôi đi mau.

Cùng lúc đó, tôi nhìn thấy trên cổ của cái xác kia có đeo một vật.

我眯起眼睛看不清那是什么,但是我的内心涌起一种直觉,死了这么久还挂在身上的东西。这根挂绳肯定非常讲究,这说明这件东西对于本人来说非常重要。

Tôi nheo mắt nhìn mà vẫn không nhìn rõ là vật gì, nhưng trong lòng tôi nổi lên một trực giác, một thứ đồ vật mà người đã chết lâu đến thế vẫn đeo trên người.

Mà sợi dây đeo rõ ràng rất được chú trọng, chứng tỏ món đồ này đối với người này là cực kỳ quan trọng.

我对着它脖子上的东西指了指,胖子摇头。我再指了指,胖子还是摇头。我看了一眼白蛇,指了指脖子上的东西,胖子和白蛇都摇了摇头。

Tôi chỉ vào món đồ trên cổ thi thể, Bàn Tử lắc đầu.

Tôi lại chỉ chỉ, Bàn Tử vẫn lắc đầu.

Tôi liếc nhìn cậu Rắn Trắng, lại chỉ chỉ thứ trên cổ, Bàn Tử và Rắn Trắng đều lắc đầu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 27: Kinh Hoàng


我甩掉胖子的手,矮身贴着水底,想潜到四阿公的身后去,忽然水中一震,瞬间惊起的水泡,迷了我的眼睛。我立即摆正自己在水下的姿势。我看到四阿公消失在我面前,同时水中有一个影子在游动,动作像极了海猴子。

Tôi giãy tay Bàn Tử ra, khom người dán sát xuống đáy nước, muốn lặn ra đằng sau Tứ A Công.

Bất chợt trong nước chấn động một cái, nháy mắt bọt nước tung tóe, làm trước mắt tôi hoa lên.

Tôi lập tức chấn chỉnh lại tư thế dưới nước của mình.

Tôi thấy Tứ A Công biến mất ngay trước mắt, đồng thời, trong nước có một cái bóng đang bơi, động tác trông cực giống hải hầu tử.

这不是什么僵尸,我心中凌然,想起了爷爷的遗嘱。

Đây không phải cương thi gì cả, tôi thầm khiếp sợ, nhớ lại di chúc của ông nội.

这东西不是什么僵尸,这东西是另外一种东西。

Thứ này không phải là cương thi gì cả, mà là một loại khác.

来不及仔细思考心中的念头。白蛇首先做出反应,水中一震,他第二个消失在我身边,我和胖子往深水区一靠,手电一照,就看到两个白色的影子在我们身边闪过。一个瞬间跑远了。看样子白蛇发现粽子会游泳之后,瞬间放弃了自己的强项开溜了。

Không kịp suy ngẫm kỹ càng ý niệm trong đầu, Rắn Trắng có phản ứng đầu tiên, trong nước lại chấn động thêm cái nữa, cậu ta là kẻ thứ hai ở bên cạnh tôi biến mất.

Tôi với Bàn Tử đến gần khu nước sâu một chút, chiếu đèn pin một cái, liền thấy hai cái bóng trắng sượt qua bên người chúng tôi.

Loáng cái lại chạy xa.

Xem ra từ khi Rắn Trắng phát hiện ra bánh tông biết bơi, lập tức bỏ ngay cái gì mà quật cường, chuồn mất tiêu luôn.

我实在不知道应该怎么办?第一次碰到这种东西和上一次碰到这种东西,采取的策略都是跑。我和胖子对视一眼,我忽然冷静了下来,理智瞬间回归。

Tôi thực sự không biết phải làm gì đây?

Lần đầu tiên đụng phải cái thứ này và lần trước đụng phải cái thứ này, kế sách được lựa chọn toàn là chạy hết.

Tôi với Bàn Tử nhìn nhau, tôi bỗng bình tĩnh trở lại, lý trí lập tức trở về.

什么都别想,先跑!

Không phải nghĩ gì hết, chạy trước!

我和胖子往后狂游,跟着白蛇的影子,一路上了浅滩,胖子甩掉氧气瓶和脚蹼。抬头白蛇已经爬了上去。两个人直接往山壁上爬。

Tôi với Bàn Tử điên cuồng bơi về phía sau, đuổi theo cái bóng của Rắn Trắng, dọc đường gặp phải vùng nước cạn, Bàn Tử bỏ luôn bình dưỡng khí và chân vịt.

Ngẩng đầu đã thấy Rắn Trắng trèo lên rồi.

Hai người trực tiếp trèo lên vách núi đá luôn.

我甩掉脚蹼,踩着齐腰深的水赶上去,忽然四周水波一荡,我的脚踝擦过触感奇怪的东西。接着一股巨大的力量将我直接扯倒进水里。

Tôi cũng bỏ chân vịt ra, đạp nước chỉ đến thắt lưng mà đuổi theo.

Bỗng nhiên nước xung quanh nổi sóng, mắt cá chân của tôi cọ vào thứ gì đó cảm giác rất kỳ quái.

Sau đó, một sức mạnh khổng lồ kéo tuột tôi xuống nước.

我挣扎着爬起来,呼吸器掉了,四周全是水泡,慌乱间,我看到水泡中有一双无神无瞳孔的白色眼睛。

Tôi giãy giụa kịch liệt, máy thở rơi mất tiêu, bốn phía toàn là bọt nước.

Đang lúc hoảng loạn, tôi nhìn thấy trong đám bọt nước có một cặp mắt trắng dã không có đồng tử.

接着,这股巨大的力量把我往水底扯去。脚踝处剧痛,显然被什么死死的勾住。

Sau đó, sức mạnh khổng lồ ấy kéo tôi xuống đáy nước.

Mắt cá chân tôi đau nhức, rõ ràng là bị cái gì đó nắm lấy.

我最后一次用力出水,看到胖子重新跳了下来,朝我冲来,接着我一下被拖入深水。我仅此的理智让我抓住呼吸管,塞进自己的嘴巴里。

Tôi gắng sức nổi lên mặt nước lần cuối, thấy Bàn Tử đã lại nhảy xuống nước, vọt đến bên tôi, sau đó, tôi bị kéo xuống vùng nước sâu.

Lần này lý trí hơn, tôi tóm lấy ống thở, nhét vào miệng.

接着我开始旋转,头部不停的撞上滩底,我能感觉我被拉进一个狭窄的缝隙里,我死死的拽住了我的手电,我知道这是我唯一的希望,只要我有两三秒的时间,我就能有应对的办法,但所有的办法都需要照明。但瞬间我就发现我的握力不如以前,可能是因为之前的骨裂,接着手电被撞脱手,看着手电光迅速远去,四周顿时一片漆黑。

Sau đó tôi bắt đầu quay cuồng, đầu liền tiếp đập xuống đáy, tôi có cảm giác mình bị lôi tuột vào trong một khe hở chật hẹp.

Tôi túm chặt lấy đèn pin của mình, tôi biết đây là hy vọng duy nhất của tôi, chỉ cần tôi có chừng hai, ba giây là tôi có thể sẽ có cách ứng phó ngay, nhưng tất cả các cách, cách nào cũng cần chiếu sáng cả.

Nhưng tôi lập tức nhận ra sức nắm của tôi không bằng trước đây nữa, có thể là vì bị rạn xương lúc trước, sau đó bị va đập, đèn pin tuột khỏi tay, thấy ánh đèn pin nhanh chóng văng xa, bốn phía tức thì tối om om.

混乱中我大口呼气,氧气灯亮起。很快我就发现吸气的效果减落——没氧气了。

Trong lúc hỗn loạn tôi hít từng hơi rất lớn, đèn của bình dưỡng khí sáng lên.

Chẳng mấy chốc, tôi nhận ra hiệu quả hít thở dần giảm - sắp hết oxy rồi.

我顿时浑身的冷汗,立即强迫自己安静了下来。强迫放慢呼吸,停止手脚的挣扎。

Nhất thời tôi toát mồ hôi lạnh đầy người, lập tức buộc mình phải bình tĩnh lại.

Buộc mình phải hít thở chậm lại, tay chân ngừng giãy dụa.

四周非常安静,慢慢的,一路能感觉到滩底的石块,除了氧气灯,什么都看不到。但从石块掠过我脸部和水流的速度,我知道自己正在以一个极快的速度在水中前进。

Xung quanh cực kỳ tĩnh lặng, dần dần, tôi có thể cảm nhận được những hòn đá ở dưới đáy, ngoại trừ đèn báo bình dưỡng khí, tôi chẳng nhìn thấy bất cứ cái gì cả.

Nhưng từ tốc độ mặt tôi lướt xẹt qua các hòn đá và tốc độ dòng nước, tôi biết mình đang bị tha đi trong nước với tốc độ cực kỳ nhanh.

我不知道过了多久,也许只有一两分钟,但是感觉在黑暗的水底被拖了很久,我的体温迅速下降,触觉和意识都开始模糊。

Không biết qua bao lâu, có lẽ chỉ khoảng một hai phút thôi, nhưng cảm giác bị kéo tuột đi dưới đáy nước trong bóng tối mịt mùng thì rất lâu, nhiệt độ cơ thể tôi nhanh chóng sụt giảm, xúc giác và ý thức cũng bắt đầu mờ mịt.

我的意识很快恢复,我感觉到了暖和,我不知道中间隔了多久,这种感觉好像开车秒睡一下,忽然睡着了很短的时间,醒来的瞬间却觉得自己睡了很久。

Ý thức của tôi rất nhanh khôi phục trở lại, tôi cảm thấy ấm áp, tôi không biết đã cách bao lâu rồi, cảm giác này giống kiểu mình lái xe rồi chợp mắt một chút, thình lình ngủ được trong một thời gian rất ngắn, trong chớp mắt khi tỉnh lại thì có cảm giác mình đã ngủ rất lâu rồi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 28: Đáy Sông


接着我发现呼吸器不在我的嘴巴里,但是我可以呼吸。脸很疼。

Sau đó, tôi nhận ra ống thở không còn trong miệng tôi nữa, thế nhưng tôi vẫn có thể hít thở được.

Mặt rất đau.

睁开眼睛,氧气灯的红光,照亮了很小的一块区域。我的上半身出水了,但是下半身非常冷,能感觉到水泡着我的脚踝。

Mở mắt, đèn báo hiệu bình dưỡng khí đã chuyển màu đỏ, chiếu sáng một vùng rất nhỏ.

Nửa người tôi nổi trên mặt nước, nhưng nửa người dưới cực lạnh lẽo, có thể cảm thấy mắt cá chân tôi vẫn bị ngâm dưới nước.

我尝试爬起来,有一只手臂,我甚至分不出是哪只手臂,完全没有力气。

Tôi thử lồm cồm bò dậy, chỉ còn một cánh tay, tôi thậm chí không phân biệt nổi cánh tay nào hoàn toàn không còn sức lực nữa.

我尝试黑瞎子教我的呼吸法,尝试动身上所有能动的地方,很快感觉到处蔓延。我坐了起来。

Tôi thử dùng cách hít thở mà Hắc Hạt Tử dạy tôi, thử cử động tất cả những nơi trên cơ thể có thể cử động, rất nhanh cảm giác đã trở về.

Tôi ngồi dậy.

我发现氧气瓶不见了,只剩下一些配件挂在潜水服上。

Tôi không thấy bình dưỡng khí đâu nữa, chỉ còn lại mấy bộ phận linh kiện treo lủng lẳng trên đồ lặn.

地下是石板,我能触摸到,我拿起氧气瓶警示灯,就像在宇宙中拿起一颗星星。我一边贴着地面摸着石板的缝隙,一边贴近红光的范围。努力让自己记忆。

Bên dưới là đá tảng, tôi có thể chạm tới, tôi cầm lấy đèn báo hiệu của bình dưỡng khí, giống như ở trong vũ trụ mà cầm lấy một ngôi sao bé tí vậy.

Tôi vừa áp sát mặt đất sờ sờ khe nứt trên tảng đá, vừa kề sát vào trong phạm vi chiếu sáng của ánh đèn đỏ.

Cố gắng hồi tưởng lại.

这里是人造建筑,这么黑应该是在地下,在这个地方,地下的人造建筑只有那个皇陵。我搞砸了,我没有任何的照明,氧气灯最多20小时也会熄灭,我要在黑暗中继续摸索下去。胖子和小花再次找到我不知道要多久。但,我活着更靠近那道门了。

Nơi này là do con người kiến tạo, tối như thế thì chắc là dưới lòng đất, ở nơi này, một kiến trúc do sức người xây nên mà ở dưới lòng đất, vậy thì chỉ có hoàng lăng.

Tôi đập đập, tôi không có bất kỳ thiết bọ chiếu sáng nào, đèn báo hiệu bình dưỡng khí cùng lắm cũng chỉ trụ được 20 tiếng đồng hồ rồi tắt, tôi phải tiếp tục lần mò trong bóng tối.

Chờ Bàn Tử và Tiểu Hoa lại tìm thấy tôi thì chẳng biết phải bao lâu nữa.

Nhưng, tôi còn sống, lại càng đến gần cánh cửa kia hơn rồi.

只要能让我看一眼四周,知道自己在什么位置,——如果我已经在殷商皇陵之内,那么,即使在黑暗中,我推演无数次的路线,不用眼睛也能走完。

Chỉ cần cho tôi liếc mắt nhìn khắp xung quanh, biết mình đang ở vị trí nào - nếu tôi đã ở trong phạm vi của hoàng lăng Ân Thương, như vậy, cho dù có lần mò trong bóng tối, nhưng tuyến đường đi tôi đã vô số lần tưởng tượng lại trong đầu, không cần mắt nhìn cũng vẫn đi được.

不知道为什么,我忽然笑了起来。

Không biết vì sao, tôi bỗng mỉm cười.

黑暗中,应该没有任何人看到。

Trong bóng tôi, chắc là chẳng có ai nhìn thấy.

眼睛慢慢适应了绝对的黑暗。小小的氧气警戒灯的红光,也照出了四周的模糊轮廓。

Dần dần mắt tôi thích ứng được với bóng tối tuyệt đối.

Ánh đèn đỏ báo hiệu bình dưỡng khí nho nhỏ cũng soi được đại khái đường nét quang cảnh xung quanh.

我脱掉潜水衣,四周的温度非常低,都能哈出白气来。当然白气我也看不清楚。

Tôi cởi đồ lặn ra, xung quanh nhiệt độ rất thấp, đến nỗi có thể hà hơi ra khói trắng rồi.

Đương nhiên tôi cũng không nhìn thấy rõ khói trắng cho lắm.

我拿着氧气灯,往前走了几步,看到了一块石墙,往后走了几步,是一个台阶,台阶从水中延伸上来。

Tôi cầm đèn dưỡng khí, tiến về phía trước mấy bước, thấy được một bức tường đá, lùi về sau mấy bước, là một bậc thang, bậc thang kéo dài xuống nước.

随即我发现,我所处的位置,整个就是一处长而宽大的台阶,一路从水中延伸上来。但是露出水面的部分有很多方石,残缺不全,有大有小,大的如卡车那么大,小的都是碎石,都是台阶上方滚落下来的建筑坍塌石料。这些坍塌的石料堵住了台阶往上的路。

Tôi lập tức phát hiện, vị trí tôi đang đứng, là cả một cái cầu thang vừa dài vừa rộng, từ dưới nưới kéo dài thẳng lên trên.

Thế nhưng, phần lộ lên khỏi mặt nước có nhiều tảng đá vuông, sứt mẻ không đầy đủ, có to có nhỏ, to thì to bằng nguyên cái xe cam nhông, nhỏ thì toàn là đá vụn, đây đều là những vật liệu đá của kiến trúc phía trên sụp xuống, lăn xuống dưới cầu thang.

Những vật liệu đá bị sụp xuống này đã chặn hết đường đi lên cầu thang.

我拿着氧气灯一点一点地查看,发现脚下老是踢到东西。低头贴着地面,就看到了很多的金属片,篝火的痕迹和一些锈成渣的空罐头。

Tôi cầm đèn dưỡng khí kiểm tra từng chút từng chút một, nhận thấy dưới chân cứ luôn đá phải thứ gì đó.

Cúi đầu sát mặt đất, liền thấy rất nhiều miếng kim loại, vết tích của lửa trại và mấy cái lon rỗng rỉ sét hết cả.

有一些皮革烂在石头上,长出了一些真菌,除此之外,还有很多的碎骨。

Có một ít da thuộc nát rữa ở trên tảng đá, mọc nấm mốc, ngoài cái đó ra, còn có rất nhiều mảnh xương vỡ.

有人在这里生活过,看碎骨的数量,应该生活了有一段时间了,很可能是陈皮阿四。

Có người đã từng sống trong này.

Xem số lượng những mảnh xương, có thể là đã sống trong suốt một quãng thời gian rồi, rất có thể đó là Trần Bì A Tứ.

年纪那么大了,还能有这么强的求生意识,在这里坚持一段时间,已经算是奇迹了,当然,不知道什么原因,当时我觉得他的身体一直处在死和生之间的状态。体力完全不似一个老人。

Tuổi đã cao đến thế, mà vẫn còn có ý thức sinh tồn mãnh liệt đến vậy, kiên trì sống ở đây suốt một quãng thời gian, đã có thể coi là kỳ tích.

Đương nhiên, không biết vì nguyên nhân gì, hồi đó tôi cứ cảm thấy cơ thể ông ta luôn trong tình trạng dở sống dở chết.

Thế mà thể lực lại hoàn toàn không giống một cụ già.

缓缓的用氧气灯探着,我就看到一双赤脚,赤脚的指甲很长,看的出是自然断裂,如同鸟爪一样。面对一块巨石站着。

Chậm rãi dùng đèn dưỡng khí thăm dò, tôi liền thấy một đôi chân trần, móng chân rất dài, thấy được đó là để gãy tự nhiên, giống như móng chim vậy.

Đang đứng ngay đối diện một tảng đá rất lớn.

我不敢往前,远远的在微弱的红光下,看到陈皮阿四的尸体面对着一块堵路的巨石站立,几乎贴在巨石上。

Tôi không dám đi về phía trước, ở chỗ xa xa, dưới ánh đèn màu đỏ yếu ớt, tôi thấy thi thể của Trần Bì A Tứ đứng thẳng người, đối mặt với một tảng đá rất lớn chặn lối đi, gần như là dán mặt vào tảng đá vậy.

它想往前走,但是走不过去。

Nó muốn đi về phía trước, nhưng không đi được.

就是它把我带到这里来的,我吸了口气,看到,它面对的巨石上,用碳写了一些文字。

Chính là nó đã đưa tôi đến đây, tôi hít một hơi, nhìn thấy, trên tảng đá đối diện nó, có mấy chữ viết bằng than.

光线极暗,又被他挡住,完全看不清楚。而且氧气灯也日渐黯淡起来。

Tia sáng rất tối, lại bị ông ta che khuất mất, tôi không nhìn thấy rõ được.

Hơn nữa, đèn dưỡng khí cũng càng ngày càng tối dần rồi.

我的心脏狂跳,我看着它对着岩石的背影,没有以往这种场景的恐惧。我只有强烈的焦虑,不安和难过。可能是因为我现在不再害怕死亡。但是害怕无法达成自己的目的。

Tim tôi điên cuồng đập bình bịch, tôi nhìn bóng lưng nó quay về phía tảng đó, không có cảm giác khiếp sợ như hồi xưa khi gặp phải tình huống kiểu này.

Tôi chỉ có cảm giác lo lắng, bất an và buồn bã mãnh liệt.

Có lẽ là bởi vì bây giờ tôi không còn sợ cái chết nữa.

Nhưng là sợ sẽ không thể đạt được mục đích của mình.

它脖子上的东西还在,这个距离看上去,伸手就能抢过来。

Món đồ trên cổ nó vẫn còn đó.

Từ khoảng cách này mà nhìn, vươn tay ra là đoạt lấy được.

我捡起一块石头,朝水里丢了过去。石头落水发出水声。

Tôi nhặt một hòn đá lên, ném xuống nước.

Tảng đá rơi xuống nước vang lên một tiếng tõm.

它无动于衷,我无法理解它为什么会把我带到这里来。也许它只是重复在做生前一直做的事情。

Nó vẫn bất động, tôi không thể hiểu được vì sao nó phải mang tôi đến nơi này.

Hay là nó chỉ đang lặp lại những việc mà hồi còn sống vẫn luôn làm.

潜水衣干了,我看着潜水衣,我想起三叔在海底的经历,当时就是潜水衣救了他一命。

Đồ lặn đã khô rồi, tôi nhìn bộ đồ lặn, nhớ đến những gì chú Ba đã trải qua khi ở dưới đáy biển, hồi đó chính là bộ đồ lặn đã cứu một cái mạng của chú.

我手里什么都没有,只有这一件衣服了。我想了想,再次把潜水服脱了下来。我在潜水裤的一个裤腿上,绑上了一块石头。做成一个流星锤。

Trong tay tôi giờ chẳng có gì cả, chỉ có một bộ quần áo này thôi.

Tôi suy nghĩ một chút, lại cởi đồ lặn ra.

Tôi buộc ống quần của bộ đồ lặn vào một tảng đá, làm thành một cái chùy Lưu tinh.

好了,我小心翼翼的弯腰靠过去,这个举动要么能让我获得主动,要么就彻底让我陷入到最糟糕的境地。

Được rồi, tôi cẩn thận từng chút một, khom lưng lại gần.

Làm vậy để tôi có thể có được sự chủ động, nếu không sẽ khiến tôi rơi vào tình cảnh hỏng bét nhất.

"四阿公!"我叫了一声。"还记得我吗?!我是吴家的!"

"Tứ A Công" Tôi gọi một tiếng, "Ông có nhớ con không?!

Con là người Ngô gia nè!"

面前的尸体缓缓的转了过来,极弱的光线下只能看到白色眼睛的反光。然后我听到了熟悉的咯咯咯咯的声音,从它的喉咙口发了出来。

Thi thể trước mặt từ từ quay lại, dưới ánh sáng cực yếu ớt có thể nhìn thấy ánh sáng phản chiếu lại từ đôi mắt trắng dã.

Sau đó tôi nghe thấy tiếng khặc khặc khặc khặc quen thuộc, phát ra từ cổ họng nó.

"四阿公!来,抱抱。"我深吸了一口气,开始后退。它转过身,似乎在寻找声音的来源。

"Tứ A Công!

Đến, ôm cái nào."

Tôi hít sâu một hơi, bắt đầu lùi về phía sau.

Nó xoay người, dường như đang tìm kiếm nơi phát ra âm thanh.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 29: Nhân Quả


爷爷他们,甚至是陈文锦他们,一定是遇到了什么事情,这件事情让他们的身体发生了变化。

Nhóm người ông tôi, thậm chí cả nhóm Trần Văn Cẩm, nhất định đã gặp phải chuyện gì đó, sự kiện này khiến cơ thể bọn họ xảy ra biến hóa gì đó.

这件事情可能有很多种可能性,比如说,他们吃了什么?他们一直在古墓中寻找长生的古法,传言方士会将长生之法留于自己的墓冢,当然黑瞎子和我说:如果真的可以长生,那些方士又怎么会有墓呢?

Việc này rất có khả năng, ví dụ như, họ ăn phải cái gì đó?

Bọn họ luôn luôn tìm kiếm cổ thuật trường sinh trong cổ mộ, nghe nói các phương sĩ thường đem thuật trường sinh giấu trong mộ mình, đương nhiên, Hắc Hạt Tử có nói với tôi: nếu như thật có thể trường sinh, vậy vì sao những phương sĩ đó lại có mộ?

所以才有在古时仙山去寻找修炼的人仙蜕的行为。仙蜕指的是古时候人成仙留下的尸体,往往非常苍老但是日久不腐。我面前的东西似乎就是一具仙蜕,但是没有人和我说过,仙蜕长的和僵尸一样。不论他们发生了什么,他们的身体受到这件事情的影响,我爷爷的认为是:他死后他的尸体会发生变化。

Vì vậy thời cổ thường có những người lên tiên sơn tìm xác tiên của người tu tiên.

"Xác tiên" thời cổ là chỉ thi thể của người đã thăng thành tiên để lại, thường rất già nua nhưng rất lâu vẫn không thối rữa.

Thứ trước mặt tôi đây dường như là một xác tiên, nhưng sao không ai nói với tôi là, xác tiên trông giống hệt cương thi như thế.

Bất kể là đã xảy ra chuyện gì, cơ thể của bọn họ đã phải chịu ảnh hưởng của sự kiện này, tôi nghĩ lời của ông nội tôi có nghĩa là: sau khi ông chết, di thể của ông sẽ bị biến đổi.

陈皮阿四一直活到生死不明的地步,而他死后,他尸体的状况确实匪夷所思。陈文锦则更加的严重,从我调查所得,她认为她会在一个极短的时间内变成一种怪物。爷爷他们遇到的事情,肯定是在古墓中发生的,他们可能是因为机关或者是意外遭难。

Mà Trần Bì A Tứ vẫn cứ sống dai đến mức chẳng biết là sống hay chết, mà sau khi ông ta chết, trạng thái thi thể của ông ta quả thực khó bề tưởng tượng nổi.

Với Trần Văn Cẩm thì còn nghiêm trọng hơn, từ những gì tôi điều tra được, cô ấy cho rằng mình sẽ biến thành một con quái vật trong một thời gian ngắn.

Sự kiện mà nhóm người ông nội gặp phải, chắc chắn là xảy ra trong cổ mộ, có lẽ là bởi vì cơ quan hoặc tai nạn ngoài ý muốn nào đó.

但是陈文锦他们遇到的事情,应该是在格尔木的疗养院里发生的。甚至可能是人为的。

Mà sự kiện nhóm người Trần Văn Cẩm gặp phải, có lẽ là xảy ra trong trại an dưỡng ở Golmud.

Thậm chí có khi còn là do con người làm.

四阿公的尸体朝我一点一点靠过来,我甩动我的流星锤,只要稍微离远一些,我就看不清楚四阿公四周的状态,是在太暗,但是它似乎不是靠眼睛就可以知道我在这里。

Thi thể của Tứ A Công từng chút từng chút tiến đến gần tôi, tôi vung chùy Lưu tinh của mình ra.

Chỉ cách hơi xa một chút thôi mà tôi không nhìn thấy rõ được tráng thái xung quanh Tứ A Công, quả thực là tối quá, nhưng mà hình như nó không phải dựa vào mắt nhìn mà biết tôi đang đứng chỗ này.

"得罪了。"我看准机会,第一次把流星锤甩了出去,同时我人也跑起来,我希望能够让流星锤缠绕上四阿公的身体,然后我再另一头接住,这样我就可以将它绑在某块石头上。

"Đắc tội rồi."

Tôi nhắm đúng cơ hội, đầu tiên vung chùy Lưu tinh ra, đồng thời bắt đầu chạy, hy vọng chùy Lưu tinh đủ sức quấn quanh thi thể Tứ A Công, sau đó tôi bắt lấy một đầu dây, như thế tôi có thể trói chặt nó vào một tảng đá nào đó.

但是流星锤没有我想象的那么好用,因为它的距离本来就不长,所以甩在四阿公身上之后,重重的打了他一下,然后掉了下来。

Nhưng chùy Lưu tinh không dùng được như tôi tưởng tượng, bởi vì dây của nó không dài, cho nên sau khi văng đến đập vào xác Tứ A Công, đập một cú thật mạnh, sau đó liền rơi tuột xuống.

我拉回来,准备再次丢出去,氧气灯在这个时候熄灭了。四周在一瞬间,回到了绝对黑暗中。

Tôi kéo chùy lại, chuẩn bị lại quăng lần nữa, đèn dưỡng khí đúng lúc này tắt phụt.

Bến bề tức khắc trở về một màn tối đen như mực.

我胡乱的把流星锤甩出去,这东西打在石头上,冒出了火星。我抽回来。心脏开始疯狂的跳动起来。脑子一片空白,绝对的黑暗就是眼睛不会带给大脑任何需要处理的信息。

Tôi quăng quật chùy Lưu tinh loạn xạ, va đầu vào các tảng đá, bắn tóe lửa.

Tôi rút về.

Tim bắt đầu đập bình bịch điên cuồng.

Trong đầu trắng xóa, bóng tối tuyệt đối khiến mắt tôi không còn thu được bất cứ thông tin gì để truyền về cho đại não nữa.

我像直升机一样甩动流星锤,确保没有东西靠近我,可才转了两圈,忽然就打到了某个东西,流星锤落到地上,我拉起来一边反方向后退,一边重新甩动。

Tôi vung chùy Lưu tinh giống như cái máy bay trực thăng, bảo đảm không có thứ gì lại gần tôi được.

Nhưng khi vung đến vòng thứ hai, đột nhiên va đập phải vật gì đó, chùy Lưu tinh rơi bịch xuống đất, tôi nhặt lên, vừa lùi về sau vừa tiếp tục vung chùy.

就差喊一句星云锁链了。甩了一下,又打到面前的石头上,火星四射。石头,对了。我摸索过去,摸到那块一人高的石块,开始往上爬去。锋利的石头立即挂破了我的脚底,我忍住剧痛,一直爬到这块石头的顶端,指甲都翻起来好几片。这让我有了一些安全感。

Tí nữa thì gào lên "Tinh Vân Tỏa Liệm!"* rồi.

Quăng quật một hồi lâu, lại đập phải tảng đá trước mặt.

Tia lửa bắn tung tóe.

Đá, đúng rồi.

Tôi lần mò tiến đến, sờ được một tảng đá cao bằng người, bắt đầu trèo lên trên.

Tảng đá sắc cạnh lập tức cọ rách gan bàn chân tôi, tôi cố nhịn đau xót, trèo lên đến tận trên đỉnh tảng đá.

Bị bật mấy cái móng tay luôn rồi.

Điều này đem lại cho tôi một chút cảm giác an toàn.

* Một trong các kỹ năng của Thánh đấu sĩ chòm sao Tiên Nữ trong truyện tranh Áo giáp vàng của Nhật Bản.

我想把流星锤收到身边,拉回来两下,忽然一紧,流星锤的锤头好像被什么东西抓住了。我一拉,对面的力气十分霸道,拉扯不动。

Tôi muốn kéo chùy Lưu tinh về phía mình, kéo về được một chút, đột nhiên căng ra, đầu kia của chùy Lưu tinh hình như bị cái gì đó tóm chặt lấy.

Tôi kéo mạnh, sức lực của đối phương quá mạnh mẽ, kéo không được chút gì.

我不敢再拉,忽然心生一计,我将流星锤在我手里的一端,绑在潜水衣的袖子上,然后把潜水衣脱下来,包住这块岩石。

Tôi không dám kéo nữa, bỗng nghĩ ra một kế.

Tôi lấy một đầu của chùy Lưu tinh mà tôi đang cầm trong tay, đem buộc vào tay áo của bộ đồ lặn, sau đó cởi đồ lặn ra, mắc nó vào đá núi.

因为岩石有棱角卡住衣服的纹路,一边拉紧之下,潜水服非常牢固的挂在了岩石上。我想现在仙蜕总不至于能知道自己正在和石头拔河。我小心翼翼的跳下石头,使劲摇晃氧气警戒灯。这东西是和气压表连在一起的,使用锂电池按道理没有那么快没电。

Bởi vì đá núi có một đường vân góc cạnh có thể mắc bộ đồ vào được, trong tình huống bị kéo giãn căng, bộ đồ lặn mắc vào đá núi cực kỳ chắc chắn.

Tôi nghĩ, xác tiên kia chắc không đến nỗi biết được là mình đang chơi kéo co với vách đá đâu.

Tôi cẩn thận trèo xuống tảng đá, ra sức lắc lắc cái đèn cảnh báo bình dưỡng khí.

Thứ này gắn liền với đồng hồ đi khí áp.

Theo lý mà nói, sử dụng pin lithium thì không thể hết sạch pin nhanh như thế được.

忽然意识到氧气瓶没了,是不是气压表有问题,于是去摇气压表,摇了几下,红灯又亮了起来。

Bỗng nghĩ đến bình dưỡng khí đã mất rồi, có phải đồng hồ đo khí áp có vấn đề, thế là bèn lắc lắc chiếc đồng hồ, lắc được mấy cái, ánh đèn đỏ lại sáng lên.

1、立即去看石头上的内容。

1, Phải đi xem nội dung trên tảng đá ngay lập tức.

2、立即找到第二个光源,这个坚持不了多久。

2, Phải tức khắc đi tìm nguồn sáng thứ hai, thứ này không thể duy trì được lâu.

我打着小算盘,微光中看到了拉着流星锤的人影,贴着另一边避开,来到刚才四阿公面对的那块石头上,将红灯贴上岩石,几乎是一个字一个字辨认这些字。

Tôi bật chiếc máy tính cầm tay lên, trong ánh sáng lờ mờ nhìn thấy được bóng người đang giằng kéo chùy Lưu tinh, bèn tránh sang một bên khác, đến xem mặt tảng đá mà Tứ A Công vừa nãy đứng đối diện, kề sát ánh đèn đỏ vào vách đá, cả hàng chữ này, gần như tách biệt từng chữ từng chữ một.

第一个字是:如。我眯起眼睛,把文字看完,五行字。如有后人到此处,见我遗体,取我鼻骨半分,内有乾坤,可得往往一切因果。

Chữ đầu tiên là: 《Nếu.》Tôi nheo mắt, đọc hết đoạn văn tự này, có năm hàng chữ.《Nếu người sau đến đây, thấy di thể của ta, lấy nửa phần xương mũi, trong khắc có càn khôn, có thể biết được mọi nguyên nhân kết quả.》
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 30: Bí Mật


我的手颤抖着,回头看了看黑暗。

Tay tôi run rẩy, quay đầu lại nhìn vào trong bóng tối.

四阿公的鼻骨折断,连同双眼,一直不知道是瞎是明,但他活着的时候几乎没有任何盲人的迹象。至今让我不得其解。

Sống mũi Tứ A Công từng bị chém đứt, cả hai mắt nữa, nhưng không biết là có mù không, hồi còn sống ông ta không có bất cứ dấu hiệu gì của người mù.

Đến nay tôi vẫn không hiểu được.

他身上肯定有很多秘密,陈皮阿四不若其他人,他没有道德包袱,杀人不眨眼,也不太计较别人的死活。我的家族往往为了顾全大局,会做超出100%的戒备,这导致了传达的信息太隐晦,流传的不畅,但陈皮阿四不会。他留下的信息让我涌起了长久没有涌起的好奇心。

Ông ta chắc chắn có rất nhiều bí mật, Trần Bì A Tứ không bằng những người khác, ông ta không có một bồ đạo đức, giết người không chớp mắt, cũng không quá quan tâm sống chết của người khác.

Nhà tôi thường vì lấy đại cục làm trọng, phải đề phòng đến hơn 100%, cho nên tin tức truyền đi rất mù mờ, truyền đi cũng không thông suốt.

Nhưng Trần Bì A Tứ thì không thế.

Tin tức ông ta để lại làm tôi dâng lên một cảm giác rất lâu rồi chưa có, đó là hiếu kỳ.

但,我真的不知道如何在这种状态下取下他的鼻骨。我觉得他能放过我的鼻骨就不错了。

Nhưng mà, tôi thực sự không biết trong tình cảnh này phải làm sao để lấy được sống mũi ông ta nữa.

Tôi nghĩ ông ta có thể bỏ qua cho cái mũi của tôi là tốt lắm rồi.

我深吸了口气,缓缓朝黑暗中走去,来到陈皮阿四身后,我闻到了一股淡淡的香味,我知道这是所谓的禁婆香。

Tôi hít một hơi thật sâu, chầm chậm bước đi vào trong bóng tối.

Đến sau lưng Trần Bì A Tứ, tôi ngửi thấy được một mùi thoang thoảng, tôi biết đây là cái gọi là hương Cấm Bà.

我捂住鼻子,慢慢的靠近它,尝试弄出一点动静。

Tôi bịt mũi, từ từ tới gần nó, thử gây ra chút tiếng động.

不知道为何,它没有反应,我拉了拉自己的短裤,继续尝试着一点一点靠近。

Không biết vì sao, nó không có phản ứng gì, tôi kéo lại cái quần đùi của mình, tiếp tục từng bước từng bước tới gần.

面前的人影在极其昏暗的光线下,慢慢出现轮廓,我浑身冷汗,凑到了跟前。

Bóng người trước mặt dưới tia sáng cực kỳ mờ tối, dần dần bắt đầu xuất hiện đường nét, toàn thân tôi toát mồ hôi lạnh, tiến đến trước mặt ông ta.

我看到了瘦的皮包骨头的脸上,全是被水浸泡的皱和斑点。双眼鼓出但是没有眼珠,全是白色。双手的指甲缠住了我的流星锤。

Tôi nhìn thấy trên khuôn mặt gầy sọm chỉ còn da bọc xương toàn là những lốm đốm và nếp nhăn do ngâm nước.

Hai mắt lồi cả ra nhưng lại không có con ngươi, chỉ một màu trắng dã.

Móng tay của hai bàn tay quấn lấy chùy Lưu tinh của tôi.

尸体的鼻骨处,有一道骇人的伤痕,划过双眼和鼻梁。东西应该就在伤痕下面。

Ở chỗ sống mũi của thi thể có một vết thương rất dài, xẹt qua hai mắt và mũi.

Chắc hẳn, đồ là nằm ở ngay phía dưới vết thương.

怎么拿?

Biết lấy thế nào đây?

我屏住呼吸,心说难道要从鼻孔中把手指插进去。那他妈的就牛逼大发了。

Tôi nén thở, nghĩ thầm chẳng lẽ lại thọc hai ngón tay vào hai lỗ mũi?

Như thế thì mẹ kiếp quá trâu bò rồi.

我知道很多鼻子手术,需要提起上唇,在上唇和牙龈的连接处割开,把脸皮掀起来,可以露出整个鼻骨。其他方式是很难触及到鼻子上端的。当然,直接敲碎它的脸也是一种办法。

Tôi biết có nhiều cuộc phẫu thuật mũi, cần nâng môi trên lên, cắt rạch ở điểm nối liền môi trên và lợi, lột cả da mặt lên, mới có thể lộ ra được toàn bộ sống mũi.

Dùng những cách khác thì rất khó có thể với đến được nửa trên của sống mũi.

Đương nhiên, thẳng tay đập bể nó luôn cũng là một cách.

想了想,我蹲了下来退了回去,决定铤而走险,用一种最蠢的办法。

Suy nghĩ một chút, tôi bèn ngồi xổm xuống lùi về, quyết định bí quá hóa liều, dùng một cách ngu xuẩn nhất.

我咬住氧气灯,四处去搬一些石头,开始在四阿公身边搭墙。

Tôi cắn đèn dưỡng khí, di chuyển một vài tảng đá xung quanh, bắt đầu đắp một bức tường ở bên cạnh Tứ A Công.

在黑暗中没有时间感觉,也不知道过了多久,我肯定是相当久的时间,我浑身酸痛,在四阿公的尸体身边,硬生生搭起了一个塔,把它包在里面。

Trong bóng tối không có cảm giác về thời gian, cũng không biết qua lâu nữa, nhưng chắc chắn là rất lâu, toàn thân tôi đau ê ẩm, xung quanh thi thể Tứ A Công mọc lên một cái tháp bao vây nó ở giữa.

这实在是乱来,小孩子过家家的水平,我爷爷和三叔要知道,非气死不可。但我什么都没有,能用的只有这些石头。

Đây đúng là làm bậy, trình độ con nít, ông nội tôi và chú Ba mà biết thế nào cũng tức chết luôn.

Nhưng tôi không có gì cả, chỉ có thể sử dụng những tảng đá này.

我知道这玩意力气很大,特地垒了好几层人头大小的石头,学建筑的,在力学结构上做了手脚,一块石头卡住一块石头,垒的越高,,资深的重量让这个塔越结实,就像吃猴脑一样,用石块把四阿公整体裹了起来,就剩一个脑袋露在外面。

Tôi biết cái thứ này sức lực rất mạnh, đặc biệt xếp chồng lên mấy tầng tảng đá mỗi tảng to bằng cái đầu người.

Học kiến trúc, tính toán kết cấu cơ học, một tảng đá lại mắc vào một tảng đá, chồng lên càng cao, trọng lượng nặng càng làm cho kết cấu cái tháp này càng chặt chẽ, giống như khi ăn não khỉ vậy, dùng đá bao vây lấy Tứ A Công, chỉ chừa một cái đầu thò ra bên ngoài.

然后我爬到了塔上,举起一块尖利的石头,对准四阿公的脸就砸了下去。

Sau đó tôi trèo lên tháp, giơ một tảng đá sắc nhọn lên, đập mạnh một cú vào giữa mặt Tứ A Công.

只一下,四阿公就动了,一下在石头圈里乱撞,石头很快松动,但因为我的设计,撞塌的石块都往它身上倒去,一下它就被彻底压住了。

Đập một cú, Tứ A Công cũng liền động, va đập loạn lên trong vòng vây đá tảng, tảng đá chẳng mấy liền lỏng ra, nhưng bởi vì tôi đã thiết kế, đá tảng bị sụp ngay xuống người nó, lập tức nó đã hoàn toàn mắc kẹt trong đống đá.

我又是一下,整张脸砸塌了下去,石头鼓动,它想爬出来,我大喊了一声:得罪!

Tôi lại đập cú nữa, cả khuôn mặt bị đập sụt xuống, đống đá rung động, nó muốn trèo ra ngoài, tôi bèn gào to một tiếng: Đắc tội rồi!

用尽死力砸了下去,脸一下断裂豁开了。

Rồi dùng toàn bộ sức lực đập xuống, khuôn mặt tức khắc bị đập nát ra.

脸还在晃动,眼珠都砸烂了挤出两边。

Khuôn mặt vẫn còn đang lắc lư, hai con ngươi bị đập nát, lồi hẳn ra sang hai bên.

我不敢直接伸手进去,身边已经什么都没有,只好脱掉内裤,包住手,伸进鼻子处,掰开面骨。

Tôi không dám trực tiếp thò tay vào, trên người đã không có gì cả, tôi đành cởi quần lót, bọc lấy tay, với vào lỗ mũi, đẩy xương mặt ra.

我摸到了一个环,似乎有一根铜丝,通入鼻腔之内。

Tôi sờ thấy một cái vòng, hình như là một sợi đồng, xuyên vào trong khoang mũi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 31: Sách Lụa


四阿公难道是一颗手榴弹精吗?

Tứ A Công lẽ nào là một quả lựu đạn thành tinh sao?

我的第一反应是这个,当年佛主讲经的时候,坛前埋了一颗手雷,日夜听经,竟然成精。如今死后现出原形,我只要一拉这环,立即把我炸成鞑靼牛肉。

Phản ứng đầu tiên của tôi là thế này: năm xưa Phật Tổ giảng kinh, trước ban thờ chôn một trái lựu đạn, ngày ngày đêm đêm đều nghe kinh, thế là thành tinh.

Hôm nay chết rồi liền hiện nguyên hình, tôi chỉ cần kéo cái vòng này ra một cái, thế là tôi nổ tung thành món thịt bò Tartare.

想来也不太可能,如果生前在自己鼻腔里植入手雷,被人抓住的时候,以扣鼻屎为名拉动引线,未免也死得太惨了。

Nghĩ thì cũng không có khả năng cho lắm.

Nếu hồi còn sống chôn trong khoang mũi mình một quả lựu đạn, để khi nào bị bắt giữ, giả vờ móc cứt mũi để kéo ngòi nổ, không khỏi chết quá thảm rồi.

我拉动铜丝,四阿公整个人抽搐起来,想来我刨了爷爷的坟筛他的骨灰,砍了霍老太的脑袋,砸了陈皮阿四的脸,九门有此后代,真是家门不幸。

Tôi kéo sợi đồng kia, toàn thân Tứ A Công co giật.

Tôi nhớ đến hồi mình đào mộ ông nội, sàng tro cốt của ông, nhớ mình chặt đầu Hoắc lão thái, đập bể mặt Trần Bì A Tứ, Cửu Môn có đứa con cháu thế này, thật là gia môn bất hạnh.

忽然铜丝一松,鼻腔深处的东西被我扯了出来,那种从腔体中抽出东西的感觉,真是awesome。

Đột nhiên sợi đồng lỏng ra một cái, thứ đồ ở sâu trong khoang mũi bị tôi rút ra, cái cảm giác rút được vật ra khỏi một hộp rỗng, thật là awesome.

上面全是黏液,滑腻的不行,我包在内裤中,用氧气灯细心观瞧,那东西竟然我曾经见过,那是一枚柄部有着珠子的铜钥匙。几乎是同时,就见四阿公的尸体开始萎缩,不停地抽搐,皮肉发出恶臭。

Bên trên toàn chất nhầy, quá trơn dính, tôi bọc nó trong quần lót, dùng đèn dưỡng khí soi mà quan sát kỹ càng, thứ đồ vật đó té ra là tôi đã từng nhìn thấy rồi.

Đó là một chiếc chìa khóa bằng đồng trên chuôi có gắn một hạt châu.

Gần như là cùng lúc, tôi thấy thi thể của Tứ A Công bắt đầu héo rũ xuống, không ngừng co rúm lại, da thịt bốc mùi tanh tưởi.

我捂住鼻子退下几步,最后关头抓住了她脖子上挂的东西,扯了下来。

Tôi bịt mũi lùi ra xa mấy bước, cuối cùng tóm lấy thứ đồ đeo trên cổ ông ta, giựt xuống.

四阿公的尸体腐烂坍塌,缩入了石头之中,我松了口气。看着手里的两样东西。

Thi thể của Tứ A Công thối rữa ra, đổ sụp xuống, co rúm lại bên trong đống đá, tôi thở phào một hơi.

Nhìn hai thứ đồ trong tay mình.

这把钥匙,我在七星鲁王宫里见过,在青眼狐狸身边的女尸嘴巴里,据说有防腐的功效,我当时拿出之后,以为是开迷宫盒子的,但钥匙后来不知所踪,没想到,会到了陈皮阿四手里。并被他嵌入了自己的鼻腔里。

Chiếc chìa khóa này, tôi đã từng nhìn thấy trong Thất Tinh Lỗ Vương cung, lấy ra từ trong miệng của cái xác nữ nằm bên cạnh xác hồ ly mắt xanh, nghe nói có tác dụng chống thối rữa, hồi đó, sau khi tôi lấy nó ra, cứ tưởng là nó dùng để mở hộp mê cung, nhưng về sau chiếc chìa khóa này biến mất, không nhìn thấy đâu nữa, hóa ra là ở trong tay Trần Bì A Tứ.

Lại còn nhét ở trong khoang mũi ông ta nữa.

小哥是陈皮阿四的人,当时三叔从陈皮阿四手下借人,用黑金古刀换来了闷油瓶的帮忙,这钥匙会不会是小哥混乱中拿去,给陈皮阿四的?

Tiểu Ca là người của Trần Bì A Tứ, hồi đó chú Ba chú Ba mượn người từ tay Trần Bì A Tứ, dùng Hắc kim cổ đao đổi lấy sự giúp đỡ của Muộn Du Bình, chiếc chìa khóa này phải chăng là Tiểu Ca lấy đi trong lúc hỗn loạn, rồi giao cho Trần Bì A Tứ?

之后陈皮阿四竭尽自己所能,90多岁了还涉险在这深山之中寻找云顶天宫,闷油瓶也在侧帮助。

Về sau Trần Bì A Tứ vắt kiệt hết khả năng, hơn 90 tuổi còn lặn lội vào trong tận nơi núi sâu này tìm Vân Đỉnh Thiên Cung, Muộn Du Bình cũng ở đó giúp đỡ.

我慢慢开始看到了之前不曾注意的部分,以前一直在思考三叔的动机,闷油瓶到底在做什么,现在看来,不如先理清楚陈皮阿四他这些相对简单的目的。

Tôi dần dần bắt đầu nhìn thấy một phần mà ngày trước chưa từng chú ý tới, trước đây tôi chỉ một mực suy nghĩ về động cơ của chú Ba, và Muộn Du Bình rốt cuộc làm gì, bây giờ xem ra, chi bằng trước tiên cứ lý giải cho rõ về những mục đích tương đối đơn giản của Trần Bì A Tứ này.

陈皮阿四参与过史上最大的联合盗墓活动,在那次行动中以他的性格,应该会亲自涉险,之后他在广西活动了很久,终于有一天他找到了已经失去记忆的小哥。

Trần Bì A Tứ từng tham gia vào hoạt động liên hợp trộm mộ lớn nhất trong lịch sử, trong lần hoạt động đó, với tính cách của ông ta thì hẳn là tự mình đi thăm dò, về sau ông ta về Quảng Tây hoạt động một thời gian rất dài, cuối cùng có một ngày ông ta tìm thấy Tiểu Ca lúc đó đã mất trí nhớ.

陈皮阿四应该是有目的性的在关心搜索闷油瓶的,因为广西对于九门解放后之后那一代人来说,是一个发生了太多故事,藏有太多秘密的地方。

Trần Bì A Tứ hẳn là đi tìm Muộn Du Bình là có mục đích, bởi vì Quảng Tây đối với một thế hệ người sau Cửu Môn tan rã mà nói, đó là một nơi đã xảy ra quá nhiều sự việc, ẩn tàng quá nhiều bí mật.

之后失去记忆的小哥一直在为陈皮阿四做事,陈皮阿四是很聪明的一个人,他也许并不想知道真相,只想解决自己身体上的问题。也许是他得到了最初的那张战国帛书之后,将其散发到江湖上,最终我三叔解开了帛书的秘密。

Tiểu Ca về sau mất trí nhớ đã luôn làm việc cho Trần Bì A Tứ, Trần Bì A Tứ là một người cực kỳ thông minh, ông ta có lẽ chẳng hề muốn biết được chân tướng mà chỉ muốn giải quyết được vấn đề thân thế của chính mình.

Có lẽ sau khi ông ta có được tấm sách lụa Chiến Quốc ban đầu kia, liền thả nó ra trôi nổi trong giang hồ, cuối cùng đến tay chú Ba tôi giải được bí mật sách lụa.

我三叔看到这张帛书的时候,以我之后对他的了解,他一定用这张帛书引申出了一个很大的圈套。但陈皮阿四并不知道这一点,当他听说三叔会去寻找帛书上的古墓是,就把张起灵借给了他。

Chú Ba tôi sau khi nhìn thấy tấm sách lụa nó, lại có những lý giải của tôi nói với chú sau đó, chú nhất định đã dùng tấm sách lụa này mở rộng ra thành một cái bẫy cực lớn.

Nhưng Trần Bì A Tứ không hề biết điểm này, hồi đó ông ta nghe chú Ba sẽ đi tìm kiếm cổ mộ trong tấm sách lụa này, bèn đưa Trương Khởi Linh cho chú mượn.

闷油瓶在七星鲁王宫里完成了自己的工作,我到现在也不知道他做了什么,现在算起来,他拿走了鬼玺,调换了帛书,掐了铁面生的仙蜕,还给陈皮阿四带去了这把防腐钥匙。这一切,似乎都是为了陈皮阿四来云顶天宫准备的。

Muộn Du Bình hoàn thành công việc của mình trong Thất Tinh Lỗ Vương cung, đến bây giờ tôi vẫn không biết hắn ta làm cái gì, giờ tính ra, hắn lấy đi Quỷ tỷ, hoán đổi sách lụa, bóp chết xác tiên của Thiết Diện Sinh, lại còn lấy chiếc chìa khóa chống thối rữa này đưa cho Trần Bì A Tứ.

Tất cả những việc này, dường như là để chuẩn bị cho chuyến đi đến Vân Đỉnh Thiên Cung của Trần Bì A Tứ.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 32: Chìa Khóa


但我到现在还能记得起来那些违和的感觉,闷油瓶在七星鲁王宫里,有好几次,让我感觉上,他来过这个地方。

Nhưng đến giờ tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác không hài hòa đó, Muộn Du Bình ở trong Thất Tinh Lỗ Vương cung, đã mấy lần, làm tôi có cảm giác, hắn ta đã từng đến đó rồi.

但以他性格的稳定程度,他如果不想让我知道,他应该有办法装得毫无破绽,之所以让我看出来了,我觉得,他很有可能在进入七星鲁王宫的过程中,记忆开始恢复。他自己都没有预计到会出现这种情况。

Nhưng mà với mức độ ổn định trong tính cách của hắn, nếu hắn không muốn cho tôi biết, hắn ta chắc chắn có cách để giả vờ mà không để lộ chút sơ hở nào, cho nên, nếu đã để tôi nhìn ra được điểm này, tôi nghĩ, rất có khả năng là trong quá trình tiến vào Thất Tinh Lỗ Vương cung, ký ức của hắn bắt đầu hồi phục.

Bản thân hắn ta cũng không dự liệu được tình huống này sẽ xảy ra.

在协助陈皮阿四进入云顶天宫的过程中,他的记忆完全恢复,他已经知道他的目的。所以最终走进青铜门的,不是陈皮阿四,而是他自己。

Trong quá trình trợ giúp Trần Bì A Tứ tiến vào Vân Đỉnh Thiên Cung, trí nhớ của hắn đã hoàn toàn hồi phục, hắn đã biết mục đích của mình rồi.

Cho nên, cuối cùng liền đi vào cánh cửa thanh đồng, không phải Trần Bì A Tứ, mà là chính bản thân hắn.

陈皮阿四要什么呢?90多岁的高龄,涉险进入这里,金钱爱情这些都不可能是动机了,陈皮阿四肯定认为这里有延长生命的办法。他如果参与过史上最大的盗墓活动,理应对这些事情非常了解。

Trần Bì A Tứ muốn cái gì?

Một ông lão hơn 90 tuổi, lặn lội vượt hiểm mà vào đây, yêu tiền ham tài những cái này không thể là động cơ được.

Chắc chắn Trần Bì A Tứ cho rằng ở nơi đây có phương pháp kéo dài mạng sống.

Ông ta nếu đã tham gia vào hoạt động trộm mộ lớn nhất trong lịch sử, có lẽ vô cùng hiểu rõ những sự việc này.

如果,老九门里的人都在史上最大盗墓活动中,身体发生了变化。

Nếu như, trong hoạt động trộm mộ lớn nhất lịch sử đó, người trong Lão Cửu Môn, cơ thể của tất cả bọn họ đều xảy ra sự biến đổi.

张起灵说过,他是九门中的其他人去承担进入青铜门这件事情的。

Trương Khởi Linh đã nói, hắn chính là một người khác trong Cửu Môn, gánh vác trách nhiệm tiến vào trong cánh cửa thanh đồng.

会不会,这是长生的一种代价,在史上最大的盗墓过程中,老九门里的很多人,获得了长生的种子,但是整个过程,需要在青铜门内完成。他们需要在一定的时间内,找到青铜门,所以在70年代,所有人疯了一样的在全中国到处寻找线索。在这个过程中,不断有人尸化,提供支持的人也开始逝世,最终剩下来的,坚持到底的,只有陈皮阿四。

Phải chăng, đây chính là cái giá phải trả của trường sinh, trong hoạt động trộm mộ lớn nhất lịch sử đó, rất nhiều người trong Lão Cửu Môn có được hạt giống trường sinh, nhưng mà cả quá trình, nhất định cần phải hoàn thành ở trong cánh cửa thanh đồng.

Trong một thời gian nhất định, bọn họ phải tìm được cánh cửa thanh đồng, cho nên vào những năm 70, tất cả mọi người đều phát điên phát dồ lên mà sục sạo tìm kiếm đầu mối trên toàn Trung Quốc.

Trong quá trình này, không ngừng có người bị thi hóa, những người cố gắng kiên trì cũng bắt đầu chết đi, cuối cùng còn thừa lại một người kiên trì đến cùng, đó là Trần Bì A Tứ.

我在黑暗中深吸了一口气,感觉到一丝凉意。

Tôi đứng trong sâu thẳm bóng tôi, hít một hơi sâu, cảm thấy một chút lãnh lẽo.

我是老大的儿子,我爷爷是在什么时候生的我爹,是在史上最大盗墓活动之前还是之后。为什么我爷爷在我出生之后这么感慨,称呼我为吴邪。

Tôi là con trai trưởng, ông nội tôi lúc nào thì sinh bố tôi, đó là trước hay sau hoạt động trộm mộ lớn nhất lịch sử kia.

Tại sao sau khi tôi ra đời, ông nội tôi lại cảm khái, đặt tên tôi là Ngô Tà.

邪,到底是什么?

Tà, rốt cuộc là vì sao?

难道,史上最大盗墓活动中受到的变化,还能遗传?这是不是能解释我二叔和三叔和我父亲性格的迥然不同,以及九门解放后这一代对于这些事情出乎寻常的兴趣。

Lẽ nào, sự biến đổi phải chịu trong cuộc trộm mộ lớn nhất lịch sử đó, còn có khả năng di truyền ư?

Phải chăng điều này sẽ giải thích được vì sao tính cách của bố tôi, chú Hai, chú Ba tôi lại khác xa nhau đến vậy, và việc thế hệ sau Cửu Môn tan rã lại có hứng thú bất thường đối với những sự việc này.

那,如果我是吴邪的,秀秀呢?小花呢?

Vậy, nếu như tôi là Ngô Tà, còn Tú Tú thì sao?

Tiểu Hoa thì sao?

不敢再想下去。

Không dám nghĩ tiếp nữa.

在四阿公脖子上挂的东西,是一块铁牌,上面钢印着一个地址,一个手机号码。

Thứ đồ treo trên cổ Tứ A Công, là một tấm thẻ sắt, in khắc trên mặt sắt là một địa chỉ, cùng một số điện thoại.

我有些意外,上面会有这些东西。反过来,铁牌背后钢印着:如有后辈至此,见此铁牌,即见广西陈皮四,将尸首完整运至铁牌背后所印之处,可得一世之财。

Tôi có hơi ngạc nhiên, phía trên thế mà lại ghi những thứ này.

Lật mặt sau xem, đằng sau tấm thẻ sắt in dòng chữ: Nếu hậu bối đến đây, thấy được thẻ sắt này, gặp Trần Bì Tứ Quảng Tây, chuyển thi thể đến địa chỉ khắc sau tấm thẻ, có thể kiếm được tiền tài cả đời.

是块收尸牌,我不由莞尔,之前是因为看到这东西,才一路想看个究竟,没想到引我来此的东西毫无价值,却得到了另外的线索。

Là một tấm thẻ nhận xác, tôi không khỏi mỉm cười, lúc trước bởi nhìn thấy thứ này, mới muốn đi xem đến cùng, không ngờ thứ dẫn tôi tới đây lại không hề có chút giá trị gì, bù lại, lại có được một đầu mối khác.

人生往往就是如此,我看着铁牌子,忽然想着我随便找具老人的尸体送到那个地址,说不定还能大赚一笔。随即觉得羞愧,这商人的习气,年纪大了不减反长,可见我活的是更加实惠了。

Cuộc đời thường là như vậy, tôi nhìn tấm thẻ sắt, bỗng nghĩ muốn đưa thi thể ông cụ này đến địa chỉ kia, không chừng có thể kiếm được một món lớn.

Vừa nghĩ liền xấu hổ, thói xấu con buôn này, tuổi lớn rồi mà chẳng giảm được tí nào, trái lại còn tăng lên, có thể thấy tôi sống càng thực dụng hơn rồi.

一边教训自己这次来的目的很单纯,一边把铁牌子顺手就给自己戴上了。带戴上之后,忽然又觉得不对,这脖子上的东西,似乎和石壁上所说的内容,有所矛盾。

Vừa dạy dỗ bản thân rằng mục đích lần này đến đây hết sức thuần khiết, vừa tiện tay đeo tấm thẻ lên cổ mình.

Vừa mới đeo xong, bất chợt nghĩ không đúng, nội dung ghi trên thứ đeo trên cổ này hình như mâu thuẫn với nội dung khắc trên tảng đá.

如果陈皮阿四希望后辈将自己的尸体运回去,那么,他又为什么要另外引导后辈去砸他自己的脸呢?这实在说不过去。

Nếu Trần Bì A Tứ muốn hậu bối đưa thi thể mình trở về, vậy vì sao ở chỗ khác ông ta lại chỉ dẫn hậu bối đi đập vỡ mặt mình đây?

Điều này thực sự không thể nào nói nổi.

我跳下石塔,光着身子还是比较尴尬的,想不到只是到了这个地方已经那么狼狈。再次来到石壁之前,看那五行字,我不由笑了起来。

Tôi nhảy xuống tháp đá, cả người trần truồng nên hơi bối rối một chút, không ngờ mới đến đây thôi đã chật vật như thế rồi.

Lại bước đến trước tường đá lần nữa, nhìn năm hàng chữ nọ, tôi không khỏi mỉm cười.

这不是陈皮阿四的笔迹,不是因为我不认得四阿公的笔法,而是我认得,这是闷油瓶的笔迹。

Đây không phải bút tích của Trần Bì A Tứ, không phải bởi vì tôi không nhận ra nét chữ của Tứ A Công, mà là bởi vì, tôi nhận ra được, đây là nét chữ của Muộn Du Bình.

太久没有见到了,有些生疏,但仔细看的时候,立即就想了起来。

Lâu lắm mới lại nhìn thấy, có hơi xa lạ, nhưng khi nhìn kỹ, lập tức nghĩ đến ngay.

这应该是他和我分别之后,再次来到这里的时候,留下来的。

Có lẽ là sau khi hắn chia tay tôi, lại đến nơi này, rồi để lại.

这是写给我的,他知道我会履约。

Đây là viết cho tôi, hắn biết tôi sẽ thực hiện lời hứa.

我捏紧了拳头,多年没有的一种安全感,忽然从心底升起。

Tôi siết chặt nắm tay, cái cảm giác an toàn đã rất lâu rồi chưa có, bỗng nhiên lại dâng lên từ đáy lòng.

如果他相信我会履约,那么我面对的不会是一个冷冰冰的云顶天宫,他一定会留下什么给我。记号?提示?

Nếu như hắn tin tưởng tôi sẽ thực hiện lời hứa, như vậy, thứ tôi sẽ đối mặt không phải chỉ là một Vân Đỉnh Thiên Cung lạnh lẽo như băng nữa, hắn ta nhất định sẽ để lại cho tôi cái gì đó.

Ký hiệu?

Gợi ý?

这枚钥匙,不是陈皮阿四留给后人的,那么,是闷油瓶留给我的。

Chiếc chìa khóa này, không phải là thứ Trần Bì A Tứ để lại cho người đời sau, như vậy, đó là Muộn Du Bình để lại cho tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 33: Thay Đổi Vị Trí Suy Nghĩ


我尝试换位思考,如果我是闷油瓶,知道十年之后会有人来找自己,会做什么准备。

Tôi đổi vị trí suy nghĩ, nếu tôi là Muộn Du Bình, biết mười năm sau sẽ có người đến tìm mình, tôi sẽ chuẩn bị những gì?

我会在所有可能进入这里的地方给出提示。"接我的朋友请往这里走,小心地滑。"

Tôi sẽ để lại gợi ý ở tất cả những nơi có thể tiến vào nơi này.

"Bạn hữu đến đón tôi, xin mời đi vào đây, cẩn thận trượt chân."

如果胖子和小花从其他地方进入,也许也会碰到提示。

Nếu Bàn Tử và Tiểu Hoa đi vào từ chỗ khác, có lẽ cũng sẽ gặp được gợi ý.

为什么是在这面墙上,陈皮阿四对着这面墙壁,他应该会有一条固定的活动路线,为什么他会以一条固定的路线活动?

Tại sao lại là trên mặt tưởng chỗ này?

Trần Bì A Tứ quay mặt vào bức tường này, ông ta chắc hẳn có một tuyến đường hoạt động cố định, vì sao ông ta lại lấy một tuyến đường để hoạt động cố định ở đó?

是什么驱使他的。

Có gì đó đã sai khiến ông ta.

——往往可得因果。这句话说的很大——

Mọi thứ đều có nguyên nhân kết quả.

Những lời này nói rất to.

我忽然脑子闪过一丝灵感,提起铜线,看着那枚钥匙,钥匙后面的墨绿色宝石,让我想起了青铜门的颜色。

Trong đầu tôi bỗng lóe lên một linh cảm, kéo sợi đồng lên, lại nhìn chìa khóa, đá quý màu xanh lục thẫm khảm phía sau chiếc chìa khóa, làm tôi nhớ đến màu sắc của cửa thanh đồng.

钥匙不停的转动,接着停了下来,慢慢指向了一个方向。

Cái chìa khóa không ngừng quay tròn, sau đó ngừng lại, chầm chậm chỉ về một hướng.

我再次拨动钥匙,钥匙旋转,停了下来,还是指向了那个方向。

Tôi lại xoay cái chìa khóa lần thứ hai, chìa khóa xoay tròn, ngừng lại, vẫn chỉ về phía phương hướng kia.

敢情这东西是这么用的。

Hóa ra vật này là dùng như vậy.

我的心跳加速,内裤是不敢穿回去了,丢在了地上。从石头堆里扯回了流星锤和潜水服上装,摸到水边洗干净了。穿上,氧气灯几乎没有任何用处,照明距离只有几厘米。我挂在胸口,然后提着钥匙,顺着钥匙的方向,开始往前走。

Tim tôi đập rộn lên, quần lót không dám mặc lại nữa, vứt ở trên mặt đất.

Tôi giựt lấy chùy Lưu tinh và áo lặn từ tảng đá về, mò đến bờ nước giặt sạch.

Sau đó mặc vào, đèn dưỡng khí gần như chẳng có tí tác dụng nào, phạm vi chiếu sáng chỉ có mấy centimet.

Tôi treo nó lên trước ngực, sau đó cầm chìa khóa lên, đi theo hướng chìa khóa chỉ.

Bắt đầu tiến về phía trước.

眼前是一片漆黑,我走了几步,摸到了面前的岩石,开始爬上去。

Trước mắt chỉ toàn tối đen, tôi đi mấy bước, lần mò được mỏm đá trước mặt, bắt đầu trèo lên.

我什么都看不见,爬到顶部之后,我担心钥匙脱手,于是把铜丝系到手指上。另一只手摸索着前后左右,一点一点地在碎石中爬行前进。

Tôi không nhìn thấy cái gì cả, sau khi leo lên đến đỉnh, tôi sợ chìa khóa bị rơi tuột mất khỏi tay, bèn quấn sợi đồng vào ngón tay.

Tay kia lần sờ xung quanh, bò đi từng chút từng chút trong đá vụn tiến về phía trước.

爬了几个小时,筋疲力尽,我的手脚破损,几乎失去了触觉,这个时候,终于踩到了平地上。

Bò được mấy giờ, tôi mệt mỏi rã rời, tay chân bị tổn hại, gần như mất hết cả xúc giác.

Đúng lúc này, cuối cùng tôi cũng giẫm lên được đất bằng.

地面很粗糙,我第一次完全无法还原四周的环境,也许这里是青石板地面的墓室,也许是皇陵里面的神道,也许是护城河的河底,但是我的手向前摸去的时候,什么都摸不到。

Mặt đất rất thô ráp, lần đầu tiên tôi không thể mường tượng ra được bốn phía xung quanh, có lẽ đây là đá xanh lót mặt đất của mộ thất, hoặc có lẽ là thần đạo trong hoàng lăng, hoặc có lẽ là dưới đáy hào nước quanh thành, nhưng khi tay tôi lần sờ lên phía trước lại chẳng sờ được cái gì cả.

我一步一步的走着,在黑暗中,就像有人牵着我的手。

Tôi cứ từng bước từng bước đi tới, trong bóng đêm, dường như có người dắt tay tôi đi.

氧气灯再次熄灭,这一次怎么打都亮不起来了。黑暗中,我的其他感官开始发挥作用。

Đèn dưỡng khí lại tắt phụt lần nữa, lần này đập lắc thế nào cũng không sáng lên nữa.

Trong bóng tối, những cơ quan cảm giác khác của tôi bắt đầu phát huy tác dụng.

我先是听到了更多的声音,四周似乎非常的空旷,没有风,但是远处有着各种各样的声音,水声?雨声?分不清楚。接着,我所有的直觉消失了,方向直觉,时间直觉,我感觉不到我在移动,我也感觉不到时间在流逝。

Đầu tiên là tôi nghe thấy nhiều âm thanh hơn, bốn phía hình như cực kỳ trống trải mênh mông, không có gió, nhưng ở phía xa xa có các loại tiếng động, là tiếng nước?

Tiếng mưa?

Không phân rõ được.

Sau đó, mọi trực giác của tôi biến mất, cảm giác về phương hướng, cảm giác về thời gian, tôi không cảm thấy mình đang chuyển động, cũng không cảm thấy thời gian đang trôi qua.

我不知道自己在黑暗中走了多久,似乎只有几秒钟,似乎已经走了快好几天了。

Tôi không biết mình đã đi bao lâu trong bóng tối rồi, hình như chỉ có mấy giây, mà tựa như đã đi được mấy ngày.

这有效地证明了直觉这种东西,其实只是细微感官的快速反应,它的产生需要眼睛、耳朵、嗅觉等感觉和大脑里经验的完美配合。

Điều này chứng minh thứ gọi là trực giác này, kỳ thực chỉ là những phản ứng rất nhanh của những cơ quan cảm giác rất nhỏ bé, sự xuất hiện của nó cần có mắt, tai, mũi vân vân các cơ quan phối hợp hoàn hảo với hệ thần kinh trong đại não.

我的手重复地做着动作,我的脚,所有的感觉都在脚趾上。

Tay tôi lại lần nữa làm các động tác, chân của tôi, tất cả mọi cảm giác đều nằm ở ngón chân.

Plan B.

我努力回忆之前来的时候,和胖子他们商议的各种可能性。胖子看美国电影看的多了,满口plan b,plan c。可惜他b的发音听着就不对。

Tôi cố gắng nhớ lại quãng thời gian lúc trước, cùng bàn bạc các loại khả năng với bọn Bàn Tử.

Bàn Tử xem nhiều phim Mỹ quá, suốt ngày lải nhải Plan B, Plan C.

Tiếc là phát âm "B" của anh ta chẳng chuẩn gì cả.

胖子和我分开的地方,离这里已经不远了,按胖子的经验,应该比小花更快找到这里。如果胖子和我失散,我们是怎么约定的?

Nơi mà tôi với Bàn Tử tách ra, cách nơi này không xa.

Dựa theo kinh nghiệm của Bàn Tử, chắc là anh ta tìm tới chỗ này nhanh hơn Tiểu Hoa.

Nếu tôi với Bàn Tử lạc nhau, chúng tôi giao hẹn như thế nào?

两个指标,一个是信号弹,如果我们在同一个空旷区域,胖子会打出信号弹。我们承诺必须先汇合再进行下一步行动。

Có hai tín hiệu.

Một là đạn tín hiệu, nếu như chúng tôi cùng ở trong một khu vực trống trải, Bàn Tử sẽ bắn đạn tín hiệu.

Chúng tôi hẹn nhau hội hợp trước đã rồi mới tiến hành bước tiếp theo.

一个是声音,如果双方都丢失了装备,那么必须每隔一段时间,发出一种节奏的口哨。

Hai là âm thanh.

Nếu như cả hai đều bị mất trang bị, vậy thì, cứ cách một khoảng thời gian lại huýt sáo một bài có nhịp điệu tiết tấu.

我可以用手指,或者一根线配合,吹出非常尖锐的口哨来,但要传播的远,还是需要一些能吹出高频哨音的东西来。

Tôi có thể dùng ngón tay, hoặc một cái gì dài dài phù hợp, thổi ra được tiếng huýt vô cùng chói tai, nhưng nếu muốn vang xa, thì cần phải có mấy thứ đồ vật có thể huýt ra âm thanh có tần số cao cơ.

我停了下来,蹲下来,开始往旁边摸去,第一次开始没有按照钥匙的方向前进,开始在旁边搜索,希望有可以使用的东西。

Tôi dừng lại, ngồi xổm xuống, bắt đầu sờ soạng hai bên trái phải, lần đầu tiên bắt đầu không tiến về phía trước theo hướng chỉ của chìa khóa nữa, bắt đầu sục sạo tìm kiếm ở hai bên cạnh, hy vọng có thể tìm thấy thứ gì đó sử dụng được.

往边上走了两步,我便摸到了一只人的脚。站立在黑暗中。

Đi sang một bên được hai bước, tôi liền sờ thấy một bàn chân con người.

Đang đứng thẳng trong bóng đêm.

我把手缩了回来,浑身冷汗,所有的汗毛都炸了起来,再往边上无意识的摸了一下,我又摸到了一只脚。

Tôi liền rụt tay về, toàn thân toát mồ hôi lạnh, tất cả tóc gáy đều dựng đứng lên, lại sang bên khác sờ soạng lần mò một chút, lại sờ thấy được một bàn chân khác.

我操,我心说,这里的黑暗中,站满了人。

Đệch mợ, tôi nhủ thầm, trong bóng tối ở nơi này, có đầy người đang đứng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 34: Toàn là Người Chết


我之所以说站满了人是有原因的,如果我摸到的是一只石头的脚,我能感觉出来。石刻的足部没有那么多细节,特别是陪葬的人俑,足部的雕刻一般圆润,从温度和手感还有坚硬程度,一摸就知道。

Cho nên mới nói, ở đây đứng đầy người ắt có nguyên nhân, nếu như tôi cái mà tôi sờ được là một bàn chân bằng đá tôi thì có thể cảm nhận được.

Phần chân khắc đá sẽ không chi tiết đến thế, đặc biệt là tượng đá bồi táng, bình thường phần chân của tượng đá đều rất tròn đầy, từ nhiệt độ và xúc giác ở tay còn có cả độ cứng chắc nữa, sờ một cái là biết ngay.

但这是人的脚,因为脚上的指甲很长,能摸到开裂的皮肤,是软的。

Nhưng đây là chân người, bởi vì móng chân rất dài, còn có thể sờ thấy được cả làn da nứt nẻ, lại mềm.

至少是绷着皮革的人俑,但我无法解释断裂的脚指甲,没有人雕刻一具石俑,会把脚指甲雕成这样。

Chí ít thì là tượng người bọc da, nhưng tôi không thể giải thích được móng chân gãy, không ai điêu khác một tượng đá mà lại khắc móng chân thành như thế cả.

我怀疑自己是不是感觉错误,毕竟刚才就一个瞬间,但我已经不若以前那样没有自信,仔细回忆了一下,我觉得我的感觉没错。

Tôi hoài nghi, phải chăng mình cảm giác sai rồi, dù sao vừa nãy cũng là trong nháy mắt, nhưng tôi đã không còn thiếu tự tin như ngày xưa nữa.

Nhớ lại kỹ càng một lúc, tôi nghĩ, cảm giác của tôi nhất định không sai.

我身边的黑暗里,站满了人,他们排着队伍,皮肤干涸,指甲还在生长,和之前的四阿公一样。

Trong bóng tôi bên cạnh tôi, có đầy người đang đứng, bọn họ xếp thành hàng ngũ, da khô quắt, móng tay chân vẫn còn mọc, giống hệt như Tứ A Công lúc trước.

这些人应该是死人。

Những người này chắc hẳn đều là người chết.

我缩回进黑暗中,心脏狂跳。

Tôi co rụt lại về trong bóng tôi, tim đập bình bịch.

四周非常安静,我刚才的举动,并未触发任何的状态。

Bốn phía cực kỳ tĩnh lặng, hành động ban nãy của tôi, vẫn chưa dẫn đến bất kỳ trạng thái nào.

我几乎能幻想出来,我身边是一排一排的干尸,很可能穿着甲胄,身上全是灰尘。

Tôi hầu như có thể tưởng tượng ra được, bên cạnh tôi là từng hàng từng hàng xác khô, rất có thể còn đang mặc giáp trụ, trên người toàn là bụi bặm.

我暂时放弃了和胖子汇合的想法,这一刻我对光的渴望到达了极限。我站起来,全身发麻,后脊背的汗毛和冷汗一阵一阵,我深呼吸压了下去。想想自己这十年做过的事情,慢慢的,四周的压力,变得不算什么。

Tôi tạm thời bỏ qua việc tìm cách tụ họp với Bàn Tử, giờ khắc này, khao khát ánh sáng của tôi đã đạt đến cực hạn.

Tôi đứng lên, toàn thân tê rần, sau lưng tóc gáy dựng, mồ hôi lạnh túa ra từng trận, tôi hít một hơi thật sâu đè nén xuống.

Nghĩ lại những việc mình đã làm trong suốt mười năm này, dần dần, áp lực khắp xung quanh, trở nên không đáng vào đâu nữa.

我站了起来,感觉着手指钥匙的转动,再次开始往前走。

Tôi đứng lên, cảm giác sự chuyển động của cái chìa khóa buộc ở ngón tay, lại một lần nữa tiến về phía trước.

一片漆黑,如果十年里让我坚持下来的信念,这信念现在就是指尖的一丝引导,比起十年无法触摸到任何东西,这一点点牵引,已经实在很多。

Tối đen như hũ nút, nếu như trong mười năm cho tôi lòng tin tiếp tục kiên trì, thì lòng tin này hiện tại đã biến thành một sợi tơ dẫn đường ở đầu ngón tay, thì so với việc mười năm chẳng thể chạm đến được bất cứ điều gì, một tí chút dẫn dắt này, thực sự đã là rất nhiều rồi.

光,我必须有光。

Ánh sáng, tôi phải có ánh sáng.

我身上还有潜水服,有坏掉的氧气灯,一把铜钥匙,一块铁狗牌。用铁狗牌摩擦地面,只要速度够快,就会产生火花。但这些火花未必温度够高,我也没有取火的火绒。

Trên người tôi còn có bộ đồ lặn, một cái đèn dưỡng khí đã hỏng, một cái chìa khóa bằng đồng, một tấm thẻ tên đeo cổ bằng sắt.

Dùng tấm thẻ ma sát xuống mặt đất, chỉ cần tốc độ đủ nhanh, sẽ sinh ra tia lửa.

Nhưng những tia lửa này chưa chắc nhiệt độ đã đủ cao, tôi cũng không có ngòi lấy lửa để bắt lửa nữa.

耐心,我告诫自己,边上的陪葬干尸,属于游牧民族,尸体上很有可能会带有火镰等陪葬用具,据我所知,大部分游牧民族的腰带上都会镶嵌有火镰燧石。

Kiên trì, tôi tự nhủ với chính mình, những xác khô bồi táng ở bên cạnh, thuộc về dân tộc du mục, rất có thể trên xác chết sẽ có mang theo những công cụ bồi táng như dao đánh lửa vân vân, theo tôi biết, phần lớn người dân du mục trên dây thắt lưng đều khảm dao đánh lửa hoặc đá đánh lửa.

如果我再往前走,有可能会摸到木质的东西,我有铜丝,只要有木料,我可以扯开我脖子上挂着狗牌的绳子,绳子的端口会有棉毛绒做引火的火绒。

Nếu tôi cứ đi về phía trước, có khả năng sẽ lần mò được thứ gì đó bằng gỗ, tôi có sợi tơ đồng, chỉ cần có ít vật liệu gỗ, tôi có thể giựt sợi dây đeo của tấm thẻ treo trên cổ xuống, ở đầu sợi dây này có ít bông vải lông nhung, có thể dùng để dẫn lửa.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 35: Quỷ Tỷ


总之远不到绝望的时候。

Nói chung, còn khướt mới đến lúc tuyệt vọng.

一路在黑暗中往前走着,却什么都没有碰到,没有胖子出现来救我,没有木料,脚下的地面上一直是冰凉的石头,有的部分忽然出现碎石,要小心翼翼的爬过去。

Cứ đi thẳng một đường trong bóng tối, nhưng lại không va đụng phải bất cứ cái gì, không có Bàn Tử xuất hiện cứu tôi, không có vật liệu gỗ, mặt đất dưới chân vẫn là đá tảng lạnh lẽo như băng, thỉnh thoảng đột ngột xuất hiện đá vụn, phải cẩn thận mà trèo qua.

我走的累了,躺了下来,如果是以前的我在这种绝望下,早就疯了吧。我蜷缩在黑暗中,开始思索我第一次被一把钥匙带着走,是什么时候。

Tôi đi mệt rồi, bèn nằm xuống.

Nếu là tôi của ngày trước, trong sự tuyệt vọng thế này, chắc đã phát điên rồi.

Tôi cuộn mình trong bóng tối, bắt đầu suy nghĩ về lần đầu tiên tôi bị một chiếc chìa khóa dẫn dắt đi, là từ lúc nào.

是我发现我爷爷迁坟的时候,老家出事,我在那次事件中得到的那把钥匙。这把钥匙让我找到了爷爷真正的棺材所在,打开了上锁的骨灰坛。从而找到了那些箭头。

Đó là lúc tôi phát hiện ông nội tôi di dời mộ, nhà cũ xảy ra chuyện, và tôi đã có được chiếc chìa khóa đó trong sự kiện lần ấy.

Chiếc chìa khóa này đã giúp tôi tìm thấy vị trí quan tài thật sự của ông nội, mở chiếc hũ đựng tro cốt bị khóa.

Nhờ đó mà tôi tìm được những mũi tên kia.

鬼玺,我不知道该庆幸还是不庆幸,把这个东西留在了外头。我是怕进来太危险丢了,所以让它和大部队一起运进来。如果这条路的终点是那座青铜巨门,那我真是应该随身携带。

Quỷ tỷ, tôi không biết mình nên mừng hay không nên mừng, khi để vật này ở bên ngoài.

Tôi sợ khi tiến vào gặp nguy hiểm mà đánh mất, cho nên mới để nó ở cùng với phần lớn đội ngũ, cùng tiến vào.

Nếu như ở cuối con đường này chính là cánh cửa thanh đồng khổng lồ kia, tôi đây thực đúng là nên mang nó theo bên người.

我沉沉的睡去。觉得很冷,但控制不住睡意。

Tôi nặng nề thiếp đi.

Cảm thấy rất lạnh, nhưng không kìm được cơn buồn ngủ.

醒过来的时候,我看到了光,我愣了一下,发现我的手脚处竟然有光发出。接着我一下惊醒了过来,那是蚰蜒发出的荧光。它们在钻进我手和脚上的伤口里。

Lúc tỉnh lại, tôi thấy được ánh sáng.

Tôi sửng sốt một chút, phát hiện ở chỗ tay chân của tôi lại có phát sáng.

Sau đó tôi vì giật mình mà tỉnh dậy, phát hiện đó chính là ánh huỳnh quang của du diên.

Chúng đang chui vào trong những vết thương ở tay và chân tôi.

我爬起来,甩掉这些虫子,看了看周围,我的血腥味引来很多。

Tôi đứng lên, phủi hết lũ bọ đi, nhìn xung quanh một chút, máu của tôi đã thu hút đến rất nhiều du diên.

我的血时灵时不灵,我也发现了规律,在我心跳加速,体温上升的时候,我的血是有效果的,但是当我体温下降的时候,我的血就和普通人的血一样。

Máu của tôi, lúc linh lúc mất linh, tôi cũng phát hiện ra quy luật rồi, khi nào tim tôi đập nhanh, nhiệt độ cơ thể tăng cao, là máu tôi sẽ có hiệu quả, nhưng khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống, máu tôi sẽ giống như máu người thường.

我爬起来,用尽自己所有的体力活动四肢,让体温回升。

Tôi đứng lên, dùng hết tất cả thể lực, vận động tay chân, để nhiệt độ cơ thể tăng trở lại.

我脱掉潜水裤,裤腿包住手当手套,把蚰蜒的腿和牙都掰掉,然后抽出了潜水服腰部的松紧带,把这些蚰蜒穿了起来,形成了一串灯笼。一手提着灯笼,一手提着钥匙,我往四周看去。

Tôi cởi quần lặn, dùng ống quần bao lấy tay làm thành găng tay, hất hết chân và răng của lũ du diên ra, sau đó rút sợi thun luôn trong thắt lưng quần, buộc mấy con du diên vào, làm thành một xâu đèn lồng.

Một tay cầm đèn lồng, tay kia cầm chìa khóa, tôi nhìn quanh bốn phía.

荧光下,一具一具穿着盔甲的高大士兵,整齐的站在我的四周,它们的脸部奇长,不像是人类。

Dưới ánh huỳnh quang, một binh sĩ cao lớn mặc khôi giáp chỉnh tề, đứng ngay ngắn khắp xung quanh tôi, khuôn mặt bọn họ dài lạ thường, không giống mặt người.

我认得他们,当年张起灵第一次,就是穿着它们的盔甲,进入到青铜门内的。

Tôi nhận ra bọn họ, năm xưa lần đầu tiên Trương Khởi Linh vào đây, chính là mặc khôi giáp của họ, tiến vào bên trong cửa thanh đồng.

它们的眼睛和陈皮阿四一样只有眼白,眼睑被割掉,身上落满了灰尘。

Cặp mắt của họ giống mắt của Trần Bì A Tứ, chỉ có tròng mắt trắng, mí mắt bị cắt mất, trên người đầy bụi bặm.

这个地方我没有来过,应该是那条地下缝隙的深处,我抬头往上看,上面一片漆黑。

Nơi này tôi chưa tới bao giờ, chắc là ở sâu trong cái khe ngầm kia, tôi ngẩng đầu nhìn lên, phía trên đen kịt.

我偏离了钥匙给我指引的方向,在这些甲兵中穿行,当年在云顶天宫,小哥就是从这出发的。我四处穿行,希望能看到一些痕迹。这时候,有东西掉在我头上,我抬头,再看上方,就看到远远的顶部高处,有几只细微的小手电光。

Tôi đi lệch khỏi hướng chỉ của chìa khóa, đi xuyên qua hàng ngũ binh sĩ này, năm xưa ở Vân Đỉnh Thiên Cung, Tiểu Ca chính là xuất phát từ nơi này.

Tôi đi xuyên qua khắp bốn phía, hi vọng có thể tìm thấy được chút gì dấu tích.

Lúc này đây, có gì đó rơi xuống đầu tôi, tôi ngẩng lên, lại nhìn lên phía trên cao nữa, thấy ở tít trên đỉnh chóp rất cao rất xa kia, có mấy đốm đèn pin rất nhỏ.

我忽然意识到我在哪里,上一次进入云顶天宫的时候,我们经过了一个巨大的山体缝隙,里面有数亿的蚰蜒形成了银河一样的景观,现在,我就在这个山体缝隙的底部。而上面,有人正按照之前的原路进入皇陵之内。

Tôi bỗng nhận ra mình đang ở nơi nào.

Lần trước tiến vào Vân Đỉnh Thiên Cung, chúng tôi đã đi qua một cái khe núi cực lớn, bên trong có hằng hà sa số những con du diên tạo thành một cảnh tượng trông như dải ngân hà, hiện tại, tôi đang ở dưới đáy khe núi đó.

Mà bên trên, có người đang theo đường cũ và tiến vào trong hoàng lăng.

我手里的光线太细小,上面的人无法看到我,我也顾不了太多了,深吸了一口对着上面大喊:你是风儿,我是沙!

Tia sáng trong tay tôi quá nhỏ bé, người phía trên không thể nhìn thấy tôi, tôi cũng không lo được nhiều vậy, hít sâu một hơi rồi ngẩng lên trên gào tướng lên: Chàng là gió, thiếp là cát!

声音循环往上,很快就失去了音调,但旋律还在,据说人脑对于这个旋律的判断是最清晰的。我不能让他们认为我的喊声是风声。

Âm thanh cứ tuần hoàn vọng lên trên, loáng cái đã mất luôn âm điệu, nhưng giai điệu thì vẫn còn, nghe nói phán đoán của bộ não con người rất rõ ràng với giai điệu.

Tôi không để bọn họ tưởng tiếng gào của tôi là tiếng gió đâu.

喊了几声,我一直注意着四周的阴兵,一边竭力大喊。

Gào được mấy lần, tôi vẫn luôn chú ý đến âm binh xung quanh, vừa gắng hết sức mà gào.

四五声之后,上面传来了清晰的哨音,短短长长点点。

Sau bốn năm tiếng, phía trên vang lên tiếng huýt sáo rõ ràng, ngắn ngắn dài dài chấm chấm.

不知道是小花还是胖子,我大喜,接着上面碎石掉落,一个东西顺着悬崖滚了下来,实在太高了,滚了很久,才落到一边,是一只背包。

Không biết là Tiểu Hoa hay là Bàn Tử, tôi mừng rỡ, sau đó, đá vụn phía trên rơi lả tả xuống, một vật lăn xuống theo vách núi, thực sự là cao quá, lăn thật lâu, mới rớt phịch xuống bên cạnh, là một cái ba lô.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 36: Hội Hợp


我翻动背包,首先从里面拿出一只手电,我亲吻了一下,打开手电,强光手电的光芒让我的眼睛一下迷住了。

Tôi lật ba lô lên, đầu tiên lấy từ bên trong ra một chiếc đèn pin, tôi hôn nó thắm thiết, bật đèn pin lên.

Ánh sáng mạnh của đèn pin làm tôi hoa mắt lên một chút.

强光照射之下,四周石块纹路,这些甲胄尸身上的材质灰尘,都照的发白。我抹了抹眼睛,喜极而泣。接着我翻出一只高频哨子来。

Dưới ánh sáng mạnh chiếu vào, những đường vân đá khắp xung quanh, những bụi bặm cùng chất gỗ trên người mấy thi thể mặc giáp trụ, bị ánh sáng chiếu đến trắng bệnh cả ra.

Tôi lau lau mắt, mừng đến rơi lệ.

Sau đó tôi lấy ra một cái còi tần số cao.

我抬头,吹动哨子,同时打手电的信号。

Tôi ngẩng đầu, huýt còi, đồng thời bật đèn pin làm tín hiệu.

上头是胖子,信号打回来的时候我知道了,他说他怕除了地面之后,已经和小花取得了联系,出去之后的区域就是之前第一次来的入口,他抢进来找我。

Phía trên là Bàn Tử, khi tín hiệu gửi trở về tôi mới biết, anh ta nói sau khi trèo lên được mặt đất, anh ta đã bắt được liên lạc với Tiểu Hoa, khu vực ở bên ngoài chính là cửa vào lần đầu tiên, anh ta bèn xông vào tìm tôi.

我松了口气,再次翻动包里,看到了压缩饼干,这才觉得饿,拆开来吃上几口,把自己的情况也用哨子加手电和胖子说了。

Tôi thở phào nhẹ nhõm, lại lục lọi ba lô một lần nữa, thấy bánh quy nén, mới cảm thấy đói, tôi bóc ra ăn vài miếng, dùng cái còi và đèn pin để kể lại tình hình của mình cho Bàn Tử.

胖子叫我尽快穿上裤子,否则蚰蜒会钻进屁屁里。我听他的话穿上,还从包里发现了半盒烟。

Bàn Tử gọi tôi mau mặc quần vào, không kẻo du diên nó chui vào mông bây giờ.

Tôi nghe lời anh ta mặc quần vào, lại còn tìm thấy nửa gói thuốc lá trong ba lô.

说是半盒只有两三支了,我一边骂胖子小气,一边点了一支抽了一口。

Nói là nửa gói nhưng cũng chỉ có hai, ba điếu thôi.

Tôi vừa chửi Bàn Tử keo kiệt, vừa châm lấy một điếu, hút một hơi.

极度困顿下的我有一种进入仙境的感觉,混沌的感觉一扫而光。

Trong cảnh mệt mỏi cực độ, tôi có một cảm giác như thể được vào trong tiên cảnh, mọi cảm giác lộn xộn đều bị quét sạch.

四周的阴兵没有任何的反应,但是我的冷汗越来越多,感官恢复之后,第六感越来越灵敏,我看着它们发白的眼仁,总有一种它们随时会动的感觉。这些东西在这里特别的邪性,我必须尽快离开。

Âm binh ở khắp xung quanh không có chút phản ứng nào, nhưng mồ hôi lạnh của tôi ngày càng nhiều, sau khi mọi giác quan hồi phục, giác quan thứ sáu lại càng nhạy cảm, nhìn tròng mắt trắng ởn của chúng, cứ luôn có cảm giác bất cứ lúc nào chúng cũng động đậy được vậy.

Mấy thứ ở đây đặc biệt tà tính, tôi phải mau mau rời đi thôi.

两相分析,胖子说我所处的位置,很可能能直接到达青铜门所在,要小心大的蚰蜒和人面鸟。他继续前进会进入到火山口中,他在那里等小花汇合,之后原路进来,带着鬼玺和我在门前碰头。

Hai bên phân tích một hồi, Bàn Tử nói từ vị trí của tôi, rất có thể sẽ trực tiếp đến thẳng được chỗ cửa thanh đồng, những phải thật cẩn thận bọn du diên và chim mặt người.

Anh ta sẽ tiếp tục đi vào trong miệng núi lửa, ở đó chờ hội họp với Tiểu Hoa, rồi theo đường cũ tiến vào, mang theo Quỷ tỷ, chạm trán tôi trước cửa đồng.

按照直线距离,我肯定先于他们到达,可能要在黑暗中等待一段时间。

Cứ thẳng tắp đường mà đi, chắc chắn tôi sẽ đến trước bọn họ, có lẽ phải ngồi trong bóng tối chờ đợi một khoảng thời gian.

我想我本来都摸黑去了,这不算什么。回到正路上,看着钥匙的方向,我刚想开始小跑前进,却看到手电光照射下,这把铜钥匙,有些奇怪。

Tôi mới đầu còn tưởng mình sẽ phải lần sờ trong bóng tối mà đi, thế này đã là cái gì.

Trở về đường chính, nhìn phương hướng chiếc chìa khóa, tôi vừa định bắt đầu chạy chậm mà đi, bỗng bỗng nhìn thấy dưới ánh đèn pin chiếu xuống, chiếc chìa khóa này, có chút kỳ quái.

张起灵,你做了什么?我心说。

Trương Khởi Linh, anh làm cái gì vậy?

Tôi nghĩ thầm.

我看着四周的阴兵,我是一个走到哪里哪里起尸的命格,这一路过来,这里那么多诡异的胄尸,竟然丝毫不动。

Nhìn âm binh khắp bốn phía, tôi vốn có mệnh cách đi đến đâu xác chết vùng dậy chỗ ấy, ở đây nhiều xác chết mặc giáp trụ quỷ quái như thế, vậy mà lại không nhúc nhích tí nào.

这似乎有些不太寻常。

Việc này hình như hơi không bình thường.

胖子在上面攀岩,沿着岩壁上的突起前进缓慢,我很快就把他们落下。

Bàn Tử ở vách đá phía trên, thong thả tiến lên phía trước men theo chỗ gồ lên trên vách đá, chẳng mấy mà bọn họ sẽ xuống.

接下来的18个小时,我心无旁骛,在长白山底深处的缝隙中,一路狂奔。一直跑到头顶开始出现巨大的锁链。

Mười tám tiếng đồng hồ tiếp theo, tôi hết sức tập trung, lao điên cuồng trong khe nứt ở tít sâu dưới đáy Trường Bạch Sơn.

Chạy thẳng đến đỉnh, bắt đầu xuất hiện một dây xích đồng khổng lồ.

第一次看到的时候,这里的场景让人震惊,如今再看,仍旧让人毛骨悚然。一条一条的锁链横贯在山谷两端,无数的人面鸟停在上面,头蜷缩着,呈现休眠的状态。我早已经走出了阴兵的方阵,屏息缓缓在满地的骨骸和乱石中穿行。最终,我的手电远远的,似乎照出了一块青铜的巨壁。

Hồi mới lần đầu tiên nhìn thấy, tôi bị cảnh tượng này làm cho khiếp sợ.

Hôm nay gặp lại, vẫn muốn sởn da gà như cũ.

Một sợi xích bắc ngang giữa hai vách hẻm núi, vô số chim mặt người đậu ở trên, co đầu, đang ngủ đông.

Tôi đã đi ra khỏi đội hình âm binh, nín thở từ tốn đi xuyên qua dưới mặt đất đầy những xương cốt và đá vụn.

Cuối cùng, ở phía xa xa nơi ánh đèn pin tôi chiếu tới, hình như soi sáng được một vách tường bằng đồng khổng lồ.

我记得那座巨大的青铜门,镶嵌在岩壁之中。甚至看不分明。

Tôi nhớ rất rõ cánh cửa thanh đồng khổng lồ ấy, khảm vào trong vách núi, đến nỗi không nhìn rõ mép rìa nữa.

手电的光芒照不出那边的全貌,它似乎真的在那里,无数次我在梦里梦到,醒来总是怀疑自己是否当时出现了幻觉。

Ánh sáng của đèn pin không thể chiếu rõ toàn bộ cảnh tượng bên đó, nhưng nó dường như thực sự ở đó.

Vô số lần tôi mơ thấy nó trong giấc mộng, tỉnh dậy luôn nghi ngờ liệu lúc đó mình có bị ảo giác hay không.

我的心脏紧张的几乎要爆裂出来。我坐倒在地,双腿不住的发抖。

Tim tôi căng thẳng như sắp nổ tung.

Tôi ngã ngồi xuống đất, hai chân không kìm được run rẩy.

我真的无法想象,有生之年,我还会回到这里。

Tôi thực sự không thể nào tưởng tượng nổi, sinh thời, tôi vẫn còn cơ hội trở về đây.

手里的钥匙指向那个方向,我没有急着过去,想点起第二根烟,看了看头顶的黑影,没有敢点。

Chiếc chìa khóa trong tay chỉ về phương hướng kia, tôi không vội vã đi qua, muốn châm điếu thuốc thứ hai, nhìn bóng tối trên đỉnh đầu, không có dũng khí.

远处有一处平台的石头,我双脚脚底已经全是伤口,爬了上去。

Ở phía xa có một tảng đá bằng phẳng, hai lòng bàn chân tôi đã đầy vết thương, tôi trèo lên đó.

我看到了一团东西,铺在石头上面。

Tôi nhìn thấy một đống gì đó, trải trên mặt đá.

走近,抖掉上面的灰尘,我发现那是一套衣服,我辨认了好久,才认出这是闷油瓶的衣服。他把衣服脱了放在这里,叠的很好,还用石头覆盖着。

Đến gần, phủi hết bụi bặm trên đó đi, tôi mới phát hiện ra, đó là một bộ quần áo.

Tôi phải nhìn rất lâu, mới nhận ra được đây là quần áo của Muộn Du Bình.

Hắn cởi quần áo để ở đây, lại còn gấp rất gọn gàng, lại còn dùng tảng đá che khuất đi.

他又是换了甲胄进去的?我搬开石头,扯动衣服,都是外衣,还有一双鞋,我闻了闻,只有一股鸟粪味。

Hắn lại thay giáp trụ để đi vào rồi?

Tôi dời tảng đá, khẽ chạm vào bộ quần áo, là áo khoác ngoài, còn có một đôi giày, tôi ngửi ngửi, chỉ có mùi phân chim.

我把衣服上的污渍大概拨弄了一下,抖掉灰尘和干粪,脱掉潜水服,把衣服和鞋穿上,穿鞋之前,我扯掉衣服口袋里的内衬,用来做袜子包住脚。

Tôi phủi sơ sơ vết bẩn trên quần áo, phụi hết bụi bặm và phân khô, cởi đồ lặn, mặc quần áo, đi giày vào.

Trước khi đi giày, tôi xé toạc lớp lót trong túi áo, dùng làm bít tất bao chân.

潜水服有保暖的功能,但终究不如衣服暖和,我抖了一下,无论怎么抖,衣服里还是能抖出灰来。但舒适的感觉开始回归了。

Đồ lặn có công dụng giữ ấm, nhưng chung quy vẫn không ấm áp bằng quần áo được.

Tôi rung người một cái, dù có rung đến thế nào, vẫn giũ ra được đầy bụi bẩn trong quần áo.

Nhưng cảm giác thoải mát bắt đầu quay trở về.

小哥没有什么私人物品,衣服口袋里什么都没有,我坐在石头上,有点发懵。

Tiểu Ca không có đồ đạc gì riêng tư, trong túi áo cũng không có cái gì cả, tôi ngồi trên tảng đá, có hơi ngẩn ra.

我到了。

Tôi đến rồi.

为了节约电池,我把手电关了,四周的黑暗中,出现了无数的繁星,寂静,悠然。我坐在黑暗中,犹如坐在漫天星辰里。

Để tiết kiệm pin, tôi tắt đèn pin, bốn phía chìm vào bóng tối, xuất hiện vô số vì sao dày đặc, khoan thai.

Tôi ngồi trong bóng đêm, như ngồi giữa đầy trời sao sáng.

我眼前的星光开始不停地移动,汇聚成一个又一个的星座,有些是三叔的脸,有些是小哥的脸。

Ánh sao trước mắt tôi không ngừng chuyển động, tụ lại thành hết chòm sao này đến chòm sao khác, có cái hơi giống mặt chú Ba có cái lại giống mặt Tiểu Ca.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 37: Giấc Mơ Của Ngô Tà


这十年里面,我做过很多次梦,我梦到过年少的他,和我在年少的时候相遇,梦到过青铜门前的白骨,梦到过再见时他已经变成陈皮阿四那样的东西,很多可能性在十年的时间里,足够让我一个一个的设想,一个一个的接受,我也梦到年轻时候的三叔把我拴在树下,自己一个人不知所踪。

Trong suốt mười năm nay, tôi đã rất nhiều lần nằm mơ, mơ thấy hắn ta thời niên thiếu, với tôi thời niên thiếu gặp nhau, mơ thấy bộ xương trắng trước cửa thanh đồng, mơ thấy đến lúc gặp lại hắn ta đã biến thành một thứ giống như Trần Bì A Tứ, mà rất có thể, quãng thời gian mười năm này đủ để tôi tưởng tượng từng chút một, chấp nhận từng chút một.

Tôi cũng mơ thấy chú Ba ngày trẻ trói chặt tôi lại dưới cái cây, còn chú thì một mình bỏ đi chẳng biết tăm tích.

在一切没有开始之前,我最有印象的应该是我的三叔吧,从小在餐桌上——我家的桌子放在窗前,窗外是一座桥,桥的那边有一家弹棉花的,他们家的小孩总偷偷到我家窗前,把我家纱窗弄破,偷我放在餐桌上的小玩具——我父母就一直会说起三叔闯的祸,三叔好玩,来我家玩的时候,家里人在熬油渣,三叔总不会帮忙做家事,举起我放在头顶,就带我出去抓蛐蛐。

Khi tất cả mọi chuyện còn chưa bắt đầu, người để lại ấn tượng nhất trong lòng tôi phải là chú Ba, hồi nhỏ ở bên bàn ăn - bàn ăn nhà tôi đặt ở cạnh cửa sổ, ngoài cửa sổ có một cây cầu, bên cây cầu có một nhà chuyên tơi bông, thằng bé con nhà đó thường lén đến trước cửa sổ nhà tôi, phá hỏng cái cửa sổ treo rèm nhà tôi, rồi chôm mấy món đồ chơi lặt vặt hay đặt trên bàn ăn - bố tôi suốt ngày cằn nhằn chú Ba hay gây vạ, nhưng chú Ba thì vui lắm, những lúc chú đến nhà tôi chơi, người nhà đang rang tóp mỡ, chú Ba chả bao giờ giúp làm việc nhà đâu, mà hay bế tôi lên vắt vẻo trên đầu chú, dẫn tôi đi bắt dế chơi.

我的心思很细,回忆起这些来,特别是这十年间,我能看到很多以前看不到的东西,我喜欢抓蚱蜢,因为蚱蜢抓起来,就是自己看看,不会叫也不会和蟋蟀一样,有竞争的成份在里面,但三叔喜欢争斗,所以他的目的一直很明确。

Tâm tư của tôi rất tinh tế, nhớ lại những chuyện này, đặc biệt là trong mười năm nay, tôi có thể nhìn thấy được những thứ mà ngày xưa tôi chưa nhìn thấy.

Tôi thích bắt châu chấu, bởi vì bắt châu chấu về chỉ mình mình chơi, nó không kêu, cũng không giống dế mèn, có phần tranh đấu ở trong đó.

Nhưng chú Ba thì thích tranh đấu, cho nên, mục đích của chú thường rất rõ ràng.

对于我来说抓蚱蜢是力所能及的,抓蟋蟀需要到肮脏的地方,翻开砖瓦,蟋蟀看起来也非常的可怖,风险很高,所以我一直跟着三叔,看他翻开石头,踩死油葫芦,扑那些在枯叶湿泥中跳跃的蛐蛐。也许从小的时候,跟着三叔去窥探他的世界,已经成了我的习惯之一。

Đối với tôi mà nói, bắt châu chấu là vừa đủ khả năng, bắt dế mèn cần phải đến những chỗ rất bẩn, lật gạch lật ngói.

Dế mèn thoạt nhìn vô cùng đáng sợ, độ mạo hiểm cao, cho nên tôi chỉ thường đi theo chú Ba, xem chú lật mấy tảng đá, giẫm chết dế cơm, bổ nhào vào mấy con châu chấu đang nhảy nhót trong những bãi bùn ẩm lá khô.

Có lẽ từ khi còn bé, đi theo chú Ba, rình mò thế giới của chú, đã trở thành một trong những thói quen của tôi rồi.

黑暗中,我的脑海里闪过很多人,爷爷的笔记,长沙镖子岭,爷爷那一代人,很多时候求的是一顿饱饭,一张暖和的床,要满足这些爷爷他们往往要竭尽所能,他们的爱情几乎都是在一些瞬间中发生的,爷爷他们往往是在田埂拉着翻犁看到远远的一眼,就觉得自己喜欢上了一个人。那个时候的人,为了简单的目的,使用简单的手段,但做着这个时代无法想象的残酷抉择。

Trong bóng tối, trong đầu tôi thoáng hiện lên rất nhiều người, sổ tay của ông nội, Tiêu Tử Lĩnh ở Trường Sa.

Những người ở thế hệ ông nội, nhiều khi chỉ cầu được một bữa cơm no bụng, một cái giường ấm áp, để thỏa mãn được những điều này, các cụ lúc nào cũng phải dốc cạn sức lực, tình yêu của các cụ, dường như chỉ xảy ra trong một chớp mắt, kéo cày trên thửa ruộng, nhìn về phía xa xa, đã liền cảm thấy mình thích một người rồi.

Người ở thời ấy, vì những mục đích đơn giản, sử dụng những phương thức giản đơn, nhưng lại có những lựa chọn tàn khốc mà người thời nay không thể nào tưởng tượng nổi.

所以爷爷的对于人心是绝望的。这也是他那么喜欢狗的原因。

Cho nên, đối với lòng người, ông nội đã tuyệt vọng.

Đây cũng là lý do vì sao ông thích chó đến thế.

在这十年的时间里,我越来越理解爷爷,甚至也越来越理解闷油瓶对于这个世界的淡漠。什么是人呢?这个世界上所有的人,都有自己完整的一整套需要解决的问题。每一个人都太复杂了,以至于你和其中任何一个人有所联系,都是在和他所有需要解决的问题联系。

Trong mười năm này, tôi càng ngày càng hiểu rõ ông nội hơn, thậm chí, cũng càng ngày càng hiểu rõ sự hờ hững của Muộn Du Bình đối với thế giới này.

Con người là gì?

Toàn bộ con người trên thế giới này, đều có một lô những vấn đề cần phải giải quyết.

Mỗi một con người đều quá phức tạp, đến nỗi bạn có mối liên hệ với bất kỳ người nào, thì cũng có mối liên hệ với tất cả những vấn đề mà người đó phải giải quyết.

十年里面,我越发明白自己能给予的最好的东西,如果不是能够解决对方需要解决问题的元素,那么你就算挖心掏肺,对方调转枪头的决绝会让你目瞪口呆。

Trong mười năm, tôi càng hiểu, những thứ tốt nhất mà mình có thể cho được, nếu không phải là thứ có thể dùng để giải quyết vấn đề mà người kia cần phải giải quyết, vậy thì, cho dù mình có moi hết tim gan ra đi nữa, thì sự dứt khoát quyết tuyệt khi chuyển hướng nòng súng của người kia sẽ khiến mình chết lặng người.

而世界上大部分的人,并不知道自己需要什么,他们只知道别人有什么,而他们不可以没有。

Mà phần lớn con người trên thế giới này, cũng không biết chính bản thân mình cần cái gì.

Bọn họ chỉ biết người khác có cái gì, mà bọn họ lại không có cái ấy.

所以大部分人心是无解的,你能拿出的所有,必然填不满蜘蛛网一样在人和人之间融汇的巨大欲网。

Cho nên, phần lớn lòng người là khó hiểu, ta có thể cho đi tất cả, nhưng chắc chắn vẫn không thể lấp đầy được cái mạng lưới tham vọng khổng lồ tụ lại giữa người với người giống như mạng nhện vậy.

如果我是闷油瓶的话,如果一次一次的经历这样的人心,我宁愿人世间只有我一个人。少有人能阅尽浮华之后,仍旧天真无邪,可天生单纯的人,只能生存在无尽的孤独里。

Nếu tôi là Muộn Du Bình, nếu cứ từng lần từng lần lần nào cũng là nếm trải lòng người như thế, tôi chẳng thà thế gian này chỉ còn một mình mình.

Rất hiếm người sau khi nếm trải hết mọi vinh hoa mà vẫn có thể vô tư hồn nhiên.

Người trời sinh đã đơn thuần, chỉ có thể sinh tồn trong cô độc bất tận.

我抬头看四周的繁星,它们还在变化,变成了奔跳的蛐蛐,变成了十年里一幕一幕让我难过和无法理解的人心。

Tôi ngẩng đầu nhìn khắp bốn phía đầy sao, chúng vẫn đang biến đổi, biến thành những con dế nhảy nhót, biến thành từng cảnh từng cảnh lòng người mà tôi vẫn khổ sở và không thể hiểu nổi trong suốt mười năm qua.

远处有一盏灯火,缓缓出现,似乎是油灯,和这些繁星不同,那是遥远的火光,犹如鬼火一样。

Xa xa có một ánh đèn đuốc, từ từ xuất hiện, hình như là đèn dầu, khác hẳn với những vì sao kia.

Đó là ánh lửa nơi xa xôi, trông như lửa ma trơi.

我的心在刚才的思绪中沉重了下去,一时间无法分清楚是现实还是幻觉。

Trong lòng tôi vẫn đang trĩu nặng bởi những suy nghĩ vừa nãy, nhất thời không thể phân rõ được đó là hiện thực hay là ảo giác.

那盏火光越晃越近,我才慢慢醒悟过来,听着远处传来的脚步声,心中恐慌。

Ánh lửa kia càng đung đưa càng lại gần, tôi mới từ từ tỉnh ngộ lại, nghe tiếng bước chân vọng lại từ nơi xa xa, trong lòng khủng hoảng.

如果是胖子和小花,按照原来的计划,不应该从这里出现,在这长白山底,怎么会有人持灯而行。

Nếu là Bàn Tử và Tiểu Hoa, theo kế hoạch ban đầu, thì đáng ra họ không phải xuất hiện ở đây.

Dưới đáy Trường Bạch Sơn này, vì sao lại có người cầm đèn mà đi.

难道是小哥在门里待烦了,出来遛弯?

Chẳng lẽ Tiểu Ca ở trong cánh cửa chờ đến phát chán rồi, bèn ra ngoài đi dạo chơi?
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 38: Vô Số Ngô Tà Có Diện Mạo Giống Nhau


我在边上捡起一堆石头,我在黑暗中,想来他不会那么快发现我,如果有变,我用石头砸他至少有防身的机会。

Tôi nhặt một đống đá ở bên cạnh, trong bóng tối, nghĩ hắn ta không thể phát hiện ra tôi nhanh thế được, nếu như có biến, tôi cứ dùng đá chọi hắn, ít nhất cũng có cơ hội phòng thân.

灯火晃晃悠悠,逐渐靠近,这地下山谷下能行走的道路很窄,很快,灯火就来到了我的前方。

Ánh lửa cứ lắc lắc lư lư, từ từ tới gần, trong hẻm núi dưới lòng đất này, con đường có thể đi lại được rất hẹp, rất nhanh, ánh lửa đã tiến đến ngay trước mặt tôi.

我看到一个举着风灯的人,穿着破烂的冲锋衣,来到我的面前,他没有看到黑暗中的我,只是和我一样停了下来喘气,四处观瞧。

Tôi nhìn thấy một người đang cầm ngọn đèn bão, mặc áo khoác phao đã rách tả tơi, đến trước mặt tôi, hắn không nhìn thấy tôi đang núp trong bóng tối, chỉ dừng lại thở hổn hển giống tôi, nhìn ngó quanh quất.

接着他坐了下来,将风灯放在一边半人高的石头上,火光照亮了他的脸。

Sau đó, hắn ngồi xuống, đặt đèn bão lên một tảng đá bên cạnh cao đến nửa người, ánh đèn chiếu sáng khuôn mặt hắn.

第一个瞬间,我有了一种认识和不认识完全混淆的感觉,随即我便发现,这两种感觉都是对的。因为,我看到的是我自己的脸。来的人,竟然和我长的一模一样。

Trong nháy mắt, tôi có cảm giác hoàn toàn lẫn lộn giữa quen biết và không quen biết, ngay lập tức tôi phát hiện ra, hai cảm giác này đều đúng.

Bởi vì, tôi nhìn thấy chính gương mặt của tôi.

Người đến, dáng dấp giống tôi y như đúc.

我眯起眼睛——张海客?还是——

Tôi nheo mắt lại - Trương Hải Khách?

Hay là...?

他的脸上充满了疲惫,迷茫的环顾四周,不是张海客,张的眼神坚定和锐利很多。

Gương mặt hắn đầy vẻ mệt mỏi, lơ mơ nhìn khắp bốn phía.

Không phải Trương Hải Khách.

Ánh mắt cậu ta kiên định và sắc bén hơn rất nhiều.

他似乎没有继续前行的打算,开始整理的自己的背包,他的背包里有一些吃的,他似乎吃了起来。

Dường như hắn không có dự định tiếp tục đi về phía trước nữa, bắt đầu sắp xếp lại ba lô sau lưng mình, trong ba lô của hắn có ít đồ ăn, hình như hắn bắt đầu ăn.

我的手有些发抖,脑子一片空白,不知道该如何反应。忽然,这个人似乎听到了什么,警觉的抬起了头,我立即屏住呼吸,却看到他看的方向不是我这边。

Tay của tôi hơi run lên, đầu óc trống rỗng, không biết nên phản ứng thế nào.

Bỗng nhiên, hình như người nọ nghe thấy cái gì, cảnh giác ngẩng đầu lên, tôi lập tức nín thở, lại thấy hướng mà hắn nhìn không phải là chỗ tôi.

他看向了峡谷的深处,我转头看去,又看到一点火光,从远处晃动而来。

Hắn nhìn về phía sâu trong hẻm núi, tôi quay đầu nhìn, lại thấy một ánh lửa, từ đằng xa, đang đung đưa tiến lại gần.

我面前的吴邪,似乎紧张起来,他观望了一会儿,掏出了一把手枪,没有任何的举动。

Ngô Tà trước mắt tôi hình như đang căng thẳng, hắn ngóng nhìn một hồi, sau đó lấy ra một khẩu súng lục, không có bất kỳ cử động gì.

我抓住一边的石头,足有半个小时,又看到一个人举着火把,小心翼翼的走近这里。

Tôi nắm lấy hòn đá bên cạnh, chừng nửa tiếng sau, lại nhìn thấy một người cầm đuốc, cẩn thận từng bước lại gần về phía này.

这个人穿着攀山的紧身棉服,举着火把,背着一只巨大的登山包,来到我的附近,似乎是闻到了附近煤油的味道,他抽出了登山镐。看到风灯下的吴邪看着他,两个人都没有丝毫的惊讶,接着,新来的放下了背包。

Người này mặc một bộ quần áo cotton leo núi bó sát, tay giơ đuốc, sau lưng vác một ba lô leo núi rất to, đi tới gần chỗ tôi, hình như là ngửi thấy mùi dầu hỏa quanh quất, hắn ta bèn rút cái cuốc chim leo núi ra.

Thấy Ngô Tà dưới ánh đèn bão đang nhìn mình, hai người không một chút kinh ngạc, sau đó, người mới tới đặt ba lô xuống.

他的头发很长,比我和前一个人都长。胡子很久没有刮了,他拿着登山镐,剥掉一个区域的碎石,给自己空出了一个可以休息的地方。

Tóc hắn ta rất dài, còn dài hơn gã đến trước và cả tôi.

Râu ria đã lâu không cạo, hắn ta cầm cuốc lên, đập xuống đá vụn ở một chỗ, chừa cho mình một khoảng trống để nghỉ ngơi.

我看着第三个人的脸,浑身的冷汗不停的冒出来,那仍旧是我的脸。

Tôi nhìn khuôn mặt của người thứ ba, toàn thân mồ hôi lạnh không ngừng toát ra, vẫn là khuôn mặt của tôi.

怎么回事?

Chuyện gì thế này?

我的脑子一下清晰,一下混沌,无法进行思考。

Trong đầu tôi chốc chốc lại rõ ràng, chốc chốc lại loạn xì ngầu, không thể suy nghĩ gì được.

为什么不止一个我来到这里?

Vì sao không chỉ có một tôi tới nơi này?

那些人,它们的举动,好像我自己。难道,那些我发现的,和我长的一样的人,张海客一直困惑的那些伪装的吴邪,是这个目的?

Người những đó, những động tác của chúng, giống hệt như chính tôi vậy.

Lẽ nào, những người dáng dấp giống hệt tôi mà tôi phát hiện ra đây, những Ngô Tà giả trang mà Trương Hải Khách vẫn luôn hoang mang ngờ vực đây, mục đích là thế này?

接着,在远处的黑暗中,一盏一盏的火光,灯光开始亮起。我惊悚的意识到,无数的人,开始往这里走来。

Tiếp đó, ở phía xa trong bóng tôi, lần lượt xuất hiện từng ánh lửa, ánh sáng bắt đầu bừng lên.

Tôi kinh hoàng nhận ra, vô số những người này, đều bắt đầu đi về phía này.

你麻痹。我心说,看着这个地方一处一处的亮了起来,我浑身的毛都立了起来。

Mụ nội nó.

Tôi thầm nghĩ, nhìn từng chỗ từng chỗ ở nơi này sáng bừng lên.

Lông tơ toàn thân tôi dựng đứng.

这些人,他们互相并不在意,来到附近之后,都是和我一样,找了一个地方坐了下来,也不交谈,也不注视,默默的安静了下来。很快,在青铜门外的这片峡谷中,星星点点的响亮起了很多的火光,四周的星光消失了,留下的好比夜晚界博灯会时,满山的火灯。

Những người này, bọn chúng không hề để ý đến nhau, sau khi đến gần đây, đều giống như tôi, tìm một chỗ mà ngồi xuống, cũng không trò chuyện gì, cũng không nhìn ngắm gì, chỉ lặng yên như tờ.

Rất nhanh, trong khe núi bên ngoài cửa thanh đồng, bừng lên vô vàn những ánh lửa lốm đốm.

Ánh sao khắp xung quanh đã biến mất, chỉ còn lại ánh lửa đầy khắp núi, trông như một buổi đêm lễ hội đèn dầu thần Shiva (Karthikai Deepam)
 
Đạo Mộ Bút Ký - Mười Năm Sau
Chương 39: Hắc Hạt Tử


我在黑暗中待了很久,一直到这个地方已经没有黑暗给我隐藏,等我反应过来,我已经在他们之间穿行了很久。他们没有一个人抬头注视我,迷茫的看着四周,看着手里的东西,有的在闭目养神,有的干脆睡了过去。

Tôi nấp trong bóng đêm đợi rất lâu, mãi đến khi nơi này không còn bóng tối cho tôi nấp nữa, đến khi tôi phản ứng kịp, tôi đã đi len qua bọn người này từ lâu rồi.

Bọn chúng không ai ngẩng đầu nhìn tôi, chỉ mơ màng nhìn khắp bốn phía, nhìn đồ vật trong tay, có kẻ thì lại nhắm mắt dưỡng thần, có kẻ thì ngủ luôn.

我捏紧了手里的石头,我不明白这是怎么回事,但我知道,这样的场景,和我无数次想象的都不一样。

Tôi siết chặt hòn đá trong tay.

Tôi không biết chuyện này là thế nào, nhưng tôi biết, cảnh tượng này, không hề giống với vô số lần tưởng tượng của tôi.

把他们都杀了。我的心里不停的涌起这个念头,不管这些人为什么会出现,我不要那么复杂的局面。

Giết hết bọn chúng đi.

Trong lòng tôi không ngừng dâng lên cái ý nghĩ này, mặc kệ vì sao những kẻ này phải xuất hiện ở đây.

Tôi không muốn cục diện thành phức tạp thế này.

我拿着石块,来到一个睡着的吴邪身边,冷冷的看着他。我把石头举了起来。

Tôi cầm lấy hòn đá, đi tới bên cạnh một Ngô Tà đang ngủ, lạnh lùng nhìn hắn.

Tôi giơ tảng đá lên.

他翻了个身,睁开眼睛,看着我,眼神中没有一丝的恐惧,这个时候忽然意识到,我在什么时候见过他。

Hắn trở mình, mở mắt, nhìn tôi, trong ánh mắt không một tia sợ hãi, lúc này, tôi chợt nhận ra, hình như tôi đã gặp hắn lúc nào rồi.

他疲惫的睡在石头上,手里拿着一瓶没有标签的白酒。

Hắn mệt mỏi nằm ngủ trên tảng đá, tay cầm một chai rượu trắng không có nhãn.

这是我回到杭州最初的样子,我躺在铺子前,对着面前的西湖。人流如织,我喝着白酒,我根本就没有酒量,刚清醒一点,喝两口又晕乎乎了。

Đây là dáng vẻ hồi đầu khi tôi trở về Hàng Châu.

Tôi nằm trước cửa hàng, quay mặt về phía Tây Hồ.

Nhìn dòng người chen nhau như dệt cửi, tôi uống rượu trắng, tôi vốn chẳng có tửu lượng gì, vừa tỉnh táo được một tí, uống hai ngụm lại ngây ngất.

那个时候,我觉得疲累绝望,一切都回到原点,我失去了所有,竟然什么都没有获得。

Khi đó, tôi cảm thấy rất mệt mỏi và tuyệt vọng, tất cả đã trở về điểm ban đầu, tôi mất tất cả, lại không thu được gì.

我放下手里的石头,看着四周的吴邪们,我意识到他们都是我这十年里面的一个瞬间,每个人,都是十年中的一个自己。

Tôi thả hòn đá trong tay xuống, nhìn những Ngô Tà ở khắp xung quanh.

Tôi nhận ra, bọn chúng chính là từng khoảnh khắc của tôi trong suốt mười năm, mỗi người, đều là một tôi trong mười năm này.

穿着不同的衣服,带着不同的警惕,拿着不同的武器。

Mặc những bộ quần áo khác nhau, có những vẻ cảnh giác khác nhau, cầm những vũ khí khác nhau.

人从没有这样的机会可以那么清晰的注视自己,我爬到一块大石头上,心里忽然想到,这是幻觉吗?为什么我那么多的过去,会在我面前投射出来,难道,我不知不觉中,走到了青铜门的里面,我手电照到的青铜门的光泽,是门的背面。

Con người chưa bao giờ có cơ hội để có thể nhìn kỹ nhìn rõ ràng chính bản thân mình đến vậy.

Tôi leo lên trên một tảng đá lên, trong lòng bỗng nghĩ, đây là ảo giác sao?

Vì sao lại có nhiều quá khứ của tôi đến thế, đều phóng chiếu ra hết trước mặt tôi đây?

Lẽ nào, tôi trong lúc bất giác, đã vào trong cánh cửa thanh đồng?

Đèn pin tôi chiếu lên cánh cửa đồng sáng chói, là mặt sau của cửa.

我这么想着,看到身下的火光一点一点的熄灭,四周缓缓的恢复到黑暗,只剩下一团火光的残影,接着,我感觉到有东西在舔我的嘴唇。

Tôi nghĩ vậy, thấy ánh lửa dưới chân tắt đi từng chút từng chút, bốn phía lại trở về bóng tối như cũ, chỉ còn lại một ánh lửa tàn, sau đó, tôi cảm giác có cái gì đang liếm miệng tôi.

我的意识缓缓的回归,意识到我在睡梦中,耳边有人说话,等我睁开眼睛,我朦胧的看到面前的篝火,小满哥在舔我的脸。

Ý thức của tôi từ từ trở về, nhận thấy tôi đang nằm ngủ, bên tai có tiếng người nói chuyện.

Đến khi tôi mở mắt ra, tôi lờ mờ thoáng thấy một đống lửa trước mặt, Tiểu Mãn Ca đang liếm mặt tôi.

不知道小花给他吃了什么,口水臭的要命,我翻身坐起来,看到四周有几摊篝火。

Không biết Tiểu Hoa cho nó ăn cái gì, nước bọt mùi thối muốn chết.

Tôi xoay người ngồi dậy, thấy xung quanh có mấy đống lửa.

一边有人递水杯给我,心中一松,接过水杯,这才发现自己的手上的伤痕被缝好处理了。

Bên cạnh có người đưa ly nước cho tôi, trong lòng tôi thả lỏng, nhận lấy ly nước, lúc này mới phát hiện vết thương trên tay đã được khâu rồi.

"来了?我怎么睡着了?"我说道。

"Tới rồi?

Sao tôi lại đang ngủ?"

Tôi nói.

有人往我水杯里倒入热茶:"你不是睡着了,你是休克了。"

Có người rót thêm trà nóng vào cốc của tôi: "Cậu không phải đang ngủ, cậu là đang bị sốc."

"胡说。"我喝了口热茶,十年里,我经历过比现在严苛很多的环境,我怎么那时候不休克,在这里休克。

"Vớ vẩn."

Tôi nhấp một ngụm trà nóng, trong mười năm này, tôi đã trải qua những hoàn cảnh còn khó khăn hơn thế này nhiều, thế mà sao hồi đó tôi không bị sốc, mà lại sốc ở đây.

我转头,我以为会看到胖子或者小花,或者是其他人。但我看到了一个穿皮衣的男人,戴着墨镜,端着杯子看着我。

Tôi quay đầu.

Tôi nghĩ rằng mình sẽ nhìn thấy Bàn Tử hoặc Tiểu Hoa, hoặc là những người khác.

Nhưng tôi lại nhìn thấy một gã đàn ông mặc áo khoác da, đeo kính râm, tay cầm cốc nhìn tôi.

"我还没有醒对吗?"我喝了口茶,"否则你怎么会出现在这里?"

"Tôi vẫn chưa tỉnh, đúng không?"

Tôi nhấp một ngụm trà, "Bằng không sao anh lại xuất hiện ở chỗ này?"

"是的,我是你的幻觉,你马上就要死了。"黑瞎子和我说道:"这里的温度很低,你躺在石头上睡着了,他们在你死透之前找到你的可能性很小。"

"Đúng vậy, tôi là ảo giác của cậu, cậu sắp chết rồi."

Hắc Hạt Tử nói với tôi: "Nhiệt độ ở đây quá thấp, cậu nằm trên tảng đá này mà ngủ, khả năng rất thấp là bọn họ sẽ tìm được cậu trước khi cậu chết hẳn."

"我不会死的。我死前的幻觉,怎么可能是你。"我说道,看着小满哥,我忽然有些不好的感觉。黑瞎子肯定是我的幻觉,但是我为什么会幻觉这条臭狗。

"Tôi sẽ không chết.

Ảo giác trước khi chết của tôi, sao có thể là anh được."

Tôi nói, nhìn Tiểu Mãn Ca.

Tôi bỗng có chút cảm giác không ổn.

Hắc Hạt Tử thì nhất định là ảo giác của tôi rồi, nhưng mà tại sao tôi lại ảo giác ra con chó chết tiệt này.

我强烈的意识到自己还没有清醒。我站了起来,看向四周,一眼,我便看到胖子死在我背靠的巨石后面,他的脖子断了,手脚扭成了麻花,露出了脊椎骨,一只口中猴正在吞咬脊椎里的东西。

Tôi có cảm giác mãnh liệt rằng mình vẫn chưa hề tỉnh táo lại.

Tôi đứng lên, nhìn bốn phía, liếc mắt, tôi liền thấy Bàn Tử chết ở đằng sau tảng đá lớn mà tôi nằm tựa vào.

Cổ anh ta đứt đoạn, tay chân xoắn vặn thành hình cái bánh quai chèo, lòi ra cả xương sống, một con "khỉ trong miệng" đang ngấu nghiến cái gì đó ở xương cột sống.

"他在下来的时候,滑落下锁链,摔断了脖子。"黑瞎子来到我的身后,勾住我的肩膀,示意我看另一边。

"Khi hắn ta xuống đây, bị tuột xuống khỏi sợi xích, ngã gãy cổ."

Hắc Hạt Tử đi tới sau lưng tôi, ôm lấy bả vai tôi, ra hiệu nhìn sang bên kia.

我转头看到小花头滚在一堆碎石里,身体不知所踪。

Tôi quay lại nhìn, thấy đầu của Tiểu Hoa lăn lông lốc trong đống đá vụn, thân thể chẳng biết ở đâu.

"你把他的头带出去交给秀秀,看看她这次理不理你。"黑瞎子说道:"他被人面鸟撕成了碎片。你的手下想去救他——"

"Cậu đem đầu của cậu ta giao cho Tú Tú, xem cô nàng lần này có còn để ý đến cậu nữa không."

Hắc Hạt Tử nói: "Cậu ta bị chim mặt người xé xác thành từng mảnh, thủ hạ của cậu muốn đi cứu..."

在小花的头颅边上,坎肩被压在一块石头下面,眼珠子被压出,脑汁从他的眼洞里流了出来。"这里的鸟抓着石头,像炸弹一样丢下来。"

Bên cạnh cái đầu của Tiểu Hoa, Khảm Kiên bị chẹt dưới một tảng đá, con mắt lòi cả ra, não chảy ra từ trong hốc mắt.

"Chim ở đây quắp lấy đá, ném xuống dưới như bom."

我朝他们走去,看着四周伙计的尸体,都四分五裂,四周弥漫着血腥味和令人作呕的内脏臭味。

Tôi đi về phía bọn họ, nhìn khắp nơi toàn là xác của đồng bạn tôi, đều bị phanh thây thành năm bảy mảnh, bốn phía nồng nặc mùi máu tươi và mùi hôi thối của nội tạng khiến người ta phát buồn nôn.

竟然没有一个活着。

Dĩ nhiên, không một ai còn sống.

我的手发凉,看向黑瞎子,黑瞎子说道:"我和你说过,也许会是这样的下场。只要有一个人继续走下去,他身边的人就会不停的遭遇这些。"

Tay của tôi phát lạnh, nhìn về phía Hắc Hạt Tử.

Hắc Hạt Tử nói: "Tôi đã nói với cậu rồi, kết cục cuối cùng có lẽ sẽ là vậy.

Chỉ cần còn một người đi tiếp, mọi người xung quanh hắn sẽ luôn luôn đụng phải những cảnh này."

我没有说话,早十年,我也许会因此崩溃,但现在不会了,因为我已经认可了人生的无常了。

Tôi không nói gì.

Mười năm trước, có lẽ chuyện này sẽ khiến tôi sụp đổ mất.

Nhưng bây giờ thì không.

Bởi vì tôi đã chấp nhận sự vô thường của đời người rồi.

黑瞎子看着我:"不说话?来,跟我来。"

Hắc Hạt Tử nhìn tôi: "Không nói à?

Đến đây, đi theo tôi."

"去哪儿?"

"Đi đâu?"

黑瞎子用手电指了指前方,我发现,那座巨大的青铜门竟然已经洞开,青铜之间,出现了一条缝隙,正在缓缓合拢。

Hắc Hạt Tử dùng đèn pin chỉ về phía trước, tôi phát hiện, cánh cửa thanh đồng khổng lồ ấy vậy mà đã mở ra.

Ở giữa cửa đồng, có một khe hở, đang từ từ khép lại.

他从地上捡起一把枪,甩给我,说着朝着缝隙冲了过去,我检查了一下子弹,从胖子的尸体上捡起手电,也跟着他朝缝隙冲了过去。

Anh ta nhặt một khẩu súng từ dưới đất lên, vứt cho tôi, rồi vọt đến chỗ cái khe.

Tôi kiểm tra đạn một chút, nhặt chiếc đèn pin bên cạnh thi thể của Bàn Tử, rồi cũng vọt đến chỗ cái khe theo anh ta.

人面鸟朝我们俯冲下来,我在他背后,抬枪射击,每十发一发曳光弹,漫天的光弧,混乱中,我冲进了缝隙之中。

Lũ chim mặt người lao xuống, ập về phía chúng tôi.

Tôi chạy sau lưng anh ta, giơ súng bắn, mỗi mười phát đạn lại một phát đạn sáng, đường hình cung sáng chói khắp bầu không.

Trong lúc hỗn loạn, tôi chạy vọt vào trong khe hở.
 
Back
Top Bottom