Ngôn Tình Dạo Bước Dưới Ánh Trăng

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,323,406
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
dao-buoc-duoi-anh-trang.jpg

Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
Tác giả: Trì Tử Kiến
Thể loại: Ngôn Tình, Khác
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

TÁC PHẨM: DẠO BƯỚC DƯỚI ÁNH TRĂNG | 踏着月亮的行板

TÁC GIẢ: TRÌ TỬ KIẾN | 迟子建

ĐỘ DÀI: 10 CHƯƠNG

THỂ LOẠI: HIỆN ĐẠI, LÃNG MẠN

CHUYỂN NGỮ: NENECHAN

GIỚI THIỆU:

Dạo bước dưới ánh trăng là một tác phẩm truyện ngắn của tác giả Trì Tử Kiến, được xuất bản lần đầu năm 2004. Đây là một câu chuyện phản ánh cuộc sống đan xen giữa phố thị và thôn quê của những “Người ngoài lề xã hội”.

Truyện kể về đôi vợ chồng trẻ vì mưu sinh nên phải sống xa cách hai phương, hai người bỗng cùng có một ngày nghỉ Tết Trung thu nên quyết định không hẹn trước mà lên tàu đến thăm nhau với mong muốn tạo bất ngờ cho đối phương. Nào ngờ sai một li đi một dặm, bất ngờ họ dành cho nhau lại trở thành tiếc nuối. Đêm đoàn viên trong tưởng tượng vỡ tan như bong bóng xà phòng. Suốt một ngày dài, hai người đi bốn chuyến tàu, cuối cùng lại chỉ có thể đứng trên xe nhìn nhau ngược chiều rời xa. Bôn ba một ngày, cuối cùng vẫn là mỗi người một nơi, hương vị tình yêu sinh ra chua xót.

Chặng đường của đôi vợ chồng xen kẽ những mảnh vụn về ký ức và trải nghiệm của hai người trên tàu, thời gian xoay quanh cuộc sống hơn mười năm, địa điểm từ thôn Hạ Tam xa xôi ngàn dặm đến Cáp Nhĩ Tân và Đại Khánh. Nội dung kể về quá trình trưởng thành, quá trình hẹn hò, hôn nhân, cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ và sự tồn tại muôn hình vạn trạng của những người bình thường trong xã hội. Chặng hành trình dài, bối cảnh rộng lớn, cuộc sống phức tạp; song nhìn chung câu chuyện không mang thăng trầm của xung đột và những tình tiết kinh thiên động địa, nó chỉ là cuộc sống hàng ngày của những người bình thường.

Tựa đề Dạo bước dưới ánh trăng gợi nhớ đến bản nhạc Andante cantabile của Tchaikovsky, âm nhạc tạo nên bầu không khí lãng mạn và mộng mơ, cũng là giọng điệu cảm xúc của bộ tiểu thuyết.​
 
Có thể bạn cũng thích !
  • Ái Tình Dạt Dào
  • Bạn Trai Giấu Lưỡi Dao Trong Bánh Kem
  • Niệm Dao Dao
  • Thiên Y Tiêu Dao
  • Hôn Trộm Ánh Trăng - Tiểu Chu Dao Dao
  • Vãn Phong Vị Lạc - Trạm Dao Tiểu Sinh
  • Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 1


    Mỗi lần đến nhà ga, Lâm Tú San đều cảm giác như đang chen chúc trong chuồng trại.

    Tiếng còi hơi tàu hỏa sinh động như tiếng tru tréo của đàn gia súc. Lúc thì giống tiếng trâu thở, khi lại nghe ra tiếng lừa hí, còn có lúc nghe như tiếng lợn kêu nhặng lên vì đói. Bởi vậy những đoàn tàu hỏa trong mắt cô cái nào cái nấy đều mang hình vẻ của một loài gia súc.

    Những chuyến tàu tốc hành lao vùn vụt như ngựa hoang mất cương, những chuyến tàu chạy thẳng không nhanh không chậm giống chú dê lanh lợi dạo bước trên đồng cỏ hoang. Chuyến tàu chậm cô thường đi thì giống một con trâu no cỏ, an nhàn tản bộ.

    Chuyến thăm Vương Nhuệ không báo trước, đây là chuyện Lâm Tú San chưa từng làm bao giờ. Vậy nên khoảnh khắc bước lên tàu hỏa, cô hơi kích động, thậm chí còn nóng mặt, tim đập dồn, cảm giác tựa như lần đầu Vương Nhuệ ôm cô vào lòng.

    Chuyến tàu chậm này chạy dọc từ Tề Tề Cáp Nhĩ đến Cáp Nhĩ Tân. Lâm Tú San làm việc trong căng-tin xưởng dệt len ở quận Nhượng Hồ Lộ, thuộc thành phố Đại Khánh. Vì vậy mỗi lần đến Cáp Nhĩ Tân thăm Vương Nhuệ cô đều lên tàu ở trạm Nhượng Hồ Lộ. Xe dừng ở Nhượng Hồ Lộ thường là tàu chậm.

    Lâm Tú San cũng không thích tàu cao tốc vì giá vé đắt hơn, chưa kể ngồi tàu cao tốc không thể ngắm nhìn phong cảnh ngoài cửa, ngồi tàu chậm mới được tận hưởng đã mắt quang cảnh ven đường.

    Với Lâm Tú San, đi tàu hỏa mà không tranh thủ ngắm cảnh là ngu ngốc.

    Dù chỉ là những hàng cây tẻ nhạt, những căn nhà đất lùn tịt hay những nấm mộ hoang trên đồng ruộng, cô đều thấy rất có ý vị. Những cảnh vật này vốn âm u tử khí, nhưng vì tàu hỏa đang chuyển động, chúng như trở thành những vật sống.

    Cái cây đằng kia giống một người cao lêu nghêu đang gấp gáp lên đường, nhà đất trông như những chiếc máy cày xình xịch, những nấm mộ hoang thì giống đám ếch xanh lúc nhúc. Vì tính thích ngắm cảnh, mỗi lần mua vé Lâm Tú San đều yêu cầu người bán vé: “Bán cho một vé cạnh cửa sổ.”

    Lâm Tú San và Vương Nhuệ đã kết hôn sáu năm. Trước kia kết hôn ở thôn Hạ Tam dưới quê.

    Thôn Hạ Tam có hơn trăm hộ gia đình. Ban đầu vùng này đất đai phì nhiêu, mưa thuận gió hòa, nông nghiệp liên tiếp mấy năm liền bội thu, người trong thôn sống không lo cơm áo, hạnh phúc yên vui. Tuy nhiên những năm gần đây thị huyện lân cận khai phá rừng bừa bãi, trắng trợn khai khẩn đất hoang, đất đai ngày càng suy thoái trầm trọng. Con sông dồi dào phù sa trong thôn cũng cạn kiệt, sản lượng nông nghiệp cũng suy giảm không phanh.

    Thời điểm mùa xuân, bão cát to đến mức có thể quật cả hạt giống gieo dưới đất, người thôn Hạ Tam đua nhau di tản, mưu sinh đất khách. Vương Nhuệ và Lâm Tú San cũng là một trong số những người dân di cư. Cũng giống bao người khác, họ chọn con đường vào thành phố làm thuê.

    Vương Nhuệ là thợ xây, anh xin được một chân làm việc trong công ty Kiến trúc Hằng Cơ ở Cáp Nhĩ Tân. Vốn dĩ Lâm Tú San cũng muốn ở lại Cáp Nhĩ Tân kiếm chút việc vặt, như vậy sẽ thuận tiện cho hai người gặp nhau. Tuy nhiên trải qua bao trắc trở, mong muốn của cô đều tan thành mây khói.

    Lâm Tú San có hình thức tầm trung, mặt tròn, da ngăm đen, mắt không to lắm, mũi hơi tẹt. Tuy ngũ quan không mấy xuất chúng, nhưng mặt mũi hiền lành nên cũng khá ưa nhìn. Điểm chí mạng ở đây phải kể đến hàm răng. Người dân thôn Hạ Tam nhiều năm nay đều dùng nguồn nước mặt, dùng đến độ răng người nào người nấy vàng khè. Mấy cô dì khác răng vàng chẳng nói, riêng Lâm Tú San thì khác vì cô có thói hay cười, hàm răng vàng của cô là điểm sáng thu hút mọi ánh nhìn trên gương mặt hiền hòa đôn hậu. Bởi vậy mỗi lần đi ứng tuyển, nhà tuyển dụng vừa thấy cô nở nụ cười liền nhíu mày, thẳng tay xóa sổ tên cô.

    Vương Nhuệ từng góp ý, bảo cô đi làm một liệu trình thẩm mỹ dán răng sứ Veneer, nhưng Lâm Tú San kiên quyết phản đối. Cô nói rời thôn Hạ Tam không mang theo được gì, mồm có bộ răng vàng coi như đã mang theo nước ở đó bên mình, như vậy mỗi lần nhìn hàm răng này, cô sẽ bớt thấy nhớ nhà.

    Vương Nhuệ không thể làm lay chuyển ý cô nên chỉ đành mặc kệ. Về sau Lâm Tú San tìm được việc ở Đại Khánh, làm nấu nướng trong căng-tin xưởng dệt len. Bên cạnh được bao ăn bao ở, mỗi tháng còn kiếm được 400 đồng tiền công đủ khiến cô vô cùng thỏa mãn. Chưa kể Nhượng Hồ Lộ cách Cáp Nhĩ Tân không xa, dù đi tàu chậm cũng chỉ mất khoảng ba tiếng là đến.

    Lâm Tú San và Vương Nhuệ không gặp nhau đều đặn hàng tuần, song mỗi tuần họ đều gọi điện thoại cho nhau. Bất kể gió mưa, ba năm nay đều vậy.

    Kí túc tập thể chỗ Lâm Tú San và chỗ ở của Vương Nhuệ đều không có điện thoại, họ đành đưa ra chủ kiến coi bốt điện thoại công cộng gần chỗ ở như điện thoại của nhà.

    Công nghiệp điện tín thời này rất phát triển, đường sá trong thành phố đâu đâu cũng có bốt điện thoại, chỉ cần một tấm thẻ IC là được. Những bốt điện thoại này đa phần đều được phủ một lớp áo màu xanh táo, người đứng ở trong như bị nó ôm gọn trong lòng, vậy nên đôi khi Lâm Tú San cảm thấy bốt điện thoại rất giàu tình cảm.

    Bốt điện thoại Lâm Tú San hay dùng là cái mà Vương Nhuệ chọn cho cô.

    Nó chỉ cách xưởng dệt năm phút đi bộ, hiên ngang giữa nơi phố thị đông đúc. Bên đường có hàng cây dương sừng sững, xanh tươi uốn lượn, cao to như bức bình phong. Gần đó còn có một trạm xe buýt. Vương Nhuệ thấy bốt điện thoại này quá phù hợp cho các cặp vợ chồng, người qua người lại trên đường, dưới tác động của gió, hàng cây dương phát ra âm thanh du dương như tiếng kèn ác-mô-ni-ca. Như vậy vừa đảm bảo được sự an toàn cho vợ, lại có thể thổi tới luồng không khí lãng mạn. Ngược lại, bốt điện thoại bên chỗ anh đã đổi đến bốn lần trong ba năm.

    Xây xong một tòa nhà, họ sẽ di chuyển sang công trình khác, bốt điện thoại cũng phải thay đổi theo thời thế. Bình thường Lâm Tú San sẽ đợi cuộc điện thoại của Vương Nhuệ lúc bảy giờ tối thứ Sáu hằng tuần.

    Rõ ràng biết chỉ là cuộc điện thoại chứ không phải Vương Nhuệ bằng xương bằng thịt, nhưng mỗi lần đến cô đều trang điểm sửa soạn một lượt như sợ giọng Vương Nhuệ truyền tới sẽ mọc thêm đôi mắt.

    Vì cả hai đều nghe máy trong môi trường ồn ào, bọn họ chỉ đành lớn tiếng trò chuyện, có lúc còn phải rống cả lên, không thì đối phương không sao nghe rõ mình đang nói gì.

    Mỗi lần muốn gặp mặt, họ đều phải hẹn lịch trước qua điện thoại. Lâm Tú San đến Cáp Nhĩ Tân tìm Vương Nhuệ, hoặc Vương Nhuệ sẽ về Nhượng Hồ Lộ thăm cô. Trước nay chưa từng một phút bốc đồng, không hẹn mà cùng về thăm nhau đột ngột như hôm nay.

    Gần như cùng lúc Lâm Tú San bước chân lên tàu hỏa, Lâm Nhuệ cũng bắt đầu cuộc hành trình ngược về Nhượng Hồ Lộ.

    Mỗi lần về thăm Lâm Tú San, anh đều khoác lên mình bộ âu phục màu lam tím anh đã dùng 70 đồng mua được ở chợ đêm. Chất vải làm từ sợi tổng hợp kém chất lượng, gia công cẩu thả, không phải nách thì cũng là đũng qu@n sứt chỉ đường tà.

    Lâm Tú San hay giễu cợt Vương Nhuệ những lúc ngồi vá: “Đũng qu@n sứt chỉ còn có thể hiểu được, chứ nách anh mọc ra của hiếm gì mà cũng sứt chỉ mới lạ?”

    Vương Nhuệ nghe xong liền nhéo tai vợ: “Dạo này hư hỏng lắm rồi!”

    Đôi giày da dưới chân, hồi mùa đông anh mua ở một cửa hàng nhỏ. Mùa đông bán đồ hè sẽ rẻ hơn rất nhiều, đôi này giá gốc 120 đồng, vậy mà anh chỉ tốn 68 đồng để rinh về. Vì là hàng đại hạ giá nên không còn đủ size, Vương Nhuệ không mua được đúng cỡ chân mình, đôi giày này lớn hơn hai số so với size chân anh, vậy nên anh buộc phải độn thêm hai cái đế giày, không thì đi hai bước là tụt mất.

    Vương Nhuệ thường sẽ về thăm Lâm Tú San vào buổi tối thứ hai sau hai ngày nghỉ.

    Kí túc của Lâm Tú San có năm người, họ không tiện ngủ lại nên đành thuê một phòng nghỉ dưới tầng hầm của quán trọ gần đó. Một đêm chỉ tốn 25 đồng nhưng cũng đủ khiến họ tiếc xót ruột gan.

    Hai người ở cùng một chỗ, trước hết sẽ trải qua một trận ái tình đầy cuồng nhiệt, sau đó mới chuyện trò hết lượt bao nỗi tâm tình ấp ủ mấy ngày trời.

    Vương Nhuệ sẽ kể cô nghe những câu chuyện mới mẻ anh nghe được ở Cáp Nhĩ Tân: Ở một nhà hàng nọ có thực khách ăn trai nhổ ra cả viên trân châu; người đàn bà lăng loàn phải lòng gã đàn ông khác liền mưu sát chồng mình; một con bò đi lạc ngoài ngoại ô làm tắc nghẽn giao thông hàng giờ đồng hồ; cú mèo bay tới khu dân cư v.v.

    Có lần Vương Nhuệ kể chuyện tổng giám đốc công ty anh dắt cún cưng đi thị sát tiến độ công trình, con chó kia rất cao, lông đen tuyền, giá trị ước chừng khoảng ba đến bốn vạn. Con chó ấy còn có phòng và giường riêng ở nhà.

    Nghe đoạn Lâm Tú San òa khóc, khóc đến là bi ai, dọa Vương Nhuệ giật cả mình vội vàng hỏi cô bị làm sao? Lâm Tú San thút tha thút thít nói: “Mình sống trong thành phố còn chẳng có nổi một cái giường, ấy mà chó nhà tổng giám đốc các anh còn có.”

    Vương Nhuệ phì cười: “Anh mà thèm làm chó nhà tổng giám đốc ấy, làm cún của em còn hơn, không có giường, bọn mình ngủ ngoài đường cũng phong lưu!”

    Lâm Tú San không hay kể chuyện trên trời dưới bể như Vương Nhuệ, chuyện của cô đều là những chuyện vụn vặt xảy ra trong kí túc: Vương Ái Linh lại bị sinh non; Tiêu Vinh rụng tóc khiếp hồn, gót chân nứt toác; Ngô Mỹ Quyên đêm nào cũng đánh rắm thối um, ai dính chưởng là hoa mắt váng đầu. Ngoài ra còn có, Vương Quyên ngốc nghếch đến mức dệt sót cả tay áo len v.v.

    Chẳng khi nào nghe Lâm Tú San kể hết, Vương Nhuệ đã ngáy khò khò, Lâm Tú San liền nhéo nhẹ vào tai chồng, trách móc: “Xong việc là chẳng thèm nghe em nói chứ gì, sau này nói chuyện trước rồi mới được hành sự.”

    Thế nhưng trong lần tới họ vẫn không nhịn được hành sự trước, sau mới nói chuyện, đến lượt Lâm Tú San kể thì tiếng ngáy của Vương Nhuệ lại vang rền như sấm.

    Lâm Tú San rất thương chồng, làm việc quần quật cả ngày ở công trình, tối đến lại ngồi mấy tiếng tàu hoả, lúc đến Nhượng Hồ Lộ đã là chín mười giờ tối. Sáng hôm sau đương lúc sâu giấc nhất lại phải dậy sớm cho kịp bắt xe quay về, tránh trễ giờ làm việc. Lâm Tú San sợ anh ngủ quên nên cố tình mua một cái đồng hồ báo thức, dù đông hay hè, mỗi lần Vương Nhuệ về thăm cô, đồng hồ sẽ lại đặt báo thức lúc ba giờ sáng vì lúc tám giờ anh buộc phải có mặt ở công trường.

    Đồng hồ báo thức tuyệt đối không thể sai sót, nhưng để cho chắc chắn, Lâm Tú San quyết định thức thâu đêm, cô và chiếc đồng hồ cùng chờ đợi giây phút đánh thức người chồng. Trong mắt cô, đồng hộ cũng có tính cách như con người, ngày nào mà thất thường không thích đảm nhiệm vai trò đánh thức chủ nhân thì ánh nắng chào đón họ khi thức dậy chắc chắn sẽ là cục bóng tuyết lạnh lẽo nện vào người.

    Tuy nhiên Vương Nhuệ không hay biết chuyện người vợ thức đêm canh giấc cho mình, càng không biết giữa màn đêm đen Lâm Tú San đã giơ đôi bàn tay tràn đầy yêu thương giúp anh xoa bóp đầu. Thỉnh thoảng cô còn không nhịn được hôn trộm má anh, sợ anh thức giấc, cô không dám dùng sức lộ liễu.

    Có lúc thấy Vương Nhuệ quá vất vả, Lâm Tú San chủ động hẹn lịch cố định ngày đến Cáp Nhĩ Tân thăm anh. Họ sẽ tìm phòng trọ tư nhân gần công trường, cùng nhau trải qua một đêm tình nồng.

    Hành lý của Lâm Tú San ngoài thiết bị nha khoa, còn mang cả đồng hồ báo thức và một tấm ga trải giường hình hoa. Chăn ga ở mấy phòng trọ kiểu này thường có những vệt ố loang lổ, ngủ trên cái giường như vậy cảm giác chẳng khác nào rơi tọt xuống cống mương hôi hám. Bởi vậy Lâm Tú San đã bỏ ra hơn 30 đồng để mua bộ trải giường 2 mét. Bộ ga có màu nền xanh mát, bên trên còn in đầy hình hoa hướng dương khổng lồ. Nằm trên nó cảm giác như đang vùi mình giữa những khóm hoa, ấm áp vô cùng, tựa như nghe được mùi thơm phảng phất.

    Mỗi lần đi nhà nghỉ, việc đầu tiên họ làm là chốt cửa phòng, sau đó trải ga giường. Vừa trải dứt tay, Vương Nhuệ liền sốt sắng tắt đèn. Họ c ởi đồ soàn soạt trong bóng tối, âm thanh ấy khiến Lâm Tú San liên tưởng đến con chuột nhắt lọ mọ lùng sục đồ ăn trên chạn bát lúc nửa đêm.

    Thường thì Vương Nhuệ sẽ cởi nhanh hơn, anh tr@n truồng chui vào chăn, liên tục giục Lâm Tú San “mau lên…”. Lam Tú San hễ gấp lên là tay chân lóng ngóng, khoá quần không kéo nhầm thì cũng kẹt cứng; đã thế còn phải cởi giày trong bóng tối, làm dây giày thắt thành nút chết, thế là chiếc giày chẳng khác gì con chó ghẻ cắn cổ chân cô không chịu nhả.

    Sau mấy lần như vậy, mỗi lần hẹn hò Lâm Tú San đều chọn mấy bộ đồ dễ cởi, áo tránh những bộ có cổ và khuy măng séc, quần chọn cái nào thoải mái không khoá kéo, giày thì đi đôi giày lười không dây xỏ cái là xong. Vậy là Lâm Tú San có thể nhanh chóng sà vào lòng chồng. Họ c ởi đồ trông chẳng khác nào người không biết đánh vảy cá, lóng nga lóng ngóng tung toé khắp nơi. Lúc báo thức kêu, cả hai vội vàng bật đèn mới nhận ra chiếc tất đã bay đến phích nước từ khi nào, vốn tất phải đi đôi, đây một chiếc vắt ngoài cửa, chiếc còn lại bay xuống gầm giường.

    Có một lần, áo ngực của cô còn bay vào bồn rửa mặt đang nổi lềnh phềnh xác ruồi và tàn thuốc lá, mỗi lần mặc cái áo đó cô đều nhăn mặt nhíu mày. Chiếc áo ngực xấu số như nàng thiếu nữ xinh đẹp nhuốm bụi trần, kiểu gì cũng khiến cô thấy kì cục.

    Hai người cũng có những cuộc hẹn mất hứng.

    Ví dụ có lần Lâm Tú San nhiệt tình đến Cáp Nhĩ Tân, tàu hoả vừa chạy không lâu liền thấy khắp người nóng ran, não cô gào thét “không ổn”, vào nhà vệ sinh kiểm tra thì quả nhiên phía dưới đã nhuốm màu máu tươi như dải lụa đỏ phiêu bạt. “Bà dì” ngỡ tưởng tuần sau mới đến đã vội vàng gõ cửa, vị khách không mời mà đến này khiến cô ngán ngẩm.

    Vị khách ấy đến cũng đến rồi, chạy trời không khỏi nắng mà.

    Lâm Tú San vô cùng tủi thân, vừa gặp Vương Nhuệ, nước mắt tuôn rơi ào ào. Vương Nhuệ tưởng người nhà dưới thôn Hạ Tam xảy ra chuyện, anh sợ trắng mặt, hỏi rõ đầu đuôi thì thở phào, không khỏi than: “Anh đành coi em như ma-nơ-canh trong tủ kính ngoài cửa hàng vậy, ngắm nhìn thôi cũng được mà?”

    Lâm Tú San đang khóc thì phụt cười, trách móc: “Anh bảo em đứng đờ trong lồ ng kính á, ngột ngạt chết mất.”

    Vương Nhuệ nói: “Anh mà có tư tưởng hại em ngộp chết em thì anh sẽ ngã từ giàn giáo chết tươi!”

    Câu thề của anh chủ yếu muốn bày tỏ tấm chân thành, nào ngờ lại nói trúng nỗi lo sợ lớn nhất trong lòng Lâm Tú San. Mỗi lần thấy tin tức công nhân xây dựng gặp chuyện ở công trình trên tivi, cô đều hốt hoảng lo cho Vương Nhuệ suốt mấy ngày liền.

    Ban đêm khi thì mơ thấy anh ngã từ tòa nhà, lúc lại mơ thấy anh vùi mình trong gạch vữa lúc xây tường, bức tường ấy trở thành mộ phần của chồng. Vậy nên mỗi khi chuẩn bị kết thúc một cuộc điện thoại hay mỗi lần tạm biệt sau cuộc hẹn, Lâm Tú San luôn dặn dò anh: “Làm việc phải hết sức cẩn thận, đi lại phải chú ý tránh bước hụt; cũng không được lơ là trên đầu, lỡ có ai quẳng viên gạch xuống thì phải tránh ngay!”

    Lâm Tú San vì yêu mà sinh hoang tưởng, cô chỉ mong Vương Nhuệ mọc thêm đôi cánh, chẳng may có ngã xuống từ giàn giáo thật thì cũng bình an vô sự, giống như loài diều hâu bay xuống từ không trung luôn có thể vững vàng đáp đất. Vỏ não Vương Nhuệ mà được đúc từ thép thì tốt, cục gạch hòn ngói nào bay trúng đầu cũng chẳng làm gì được anh.

    Sau đó trước mỗi cuộc hẹn với Lâm Tú San, qua điện thoại, Vương Nhuệ sẽ tế nhị hỏi cô: “Tuần này có tiện không?”

    Thỉnh thoảng hứng lên, Lâm Tú San sẽ nghịch ngợm đáp “không tiện”, ngay sau đó lại bật cười. Tiếng cười của cô khiến quả tim giật thót của Vương Nhuệ bình tĩnh trở lại, anh hiểu cô chỉ đang nói đùa. Tiếng cô luôn xen lẫn tiếng người hoặc tiếng ô tô lao vút qua như tên bắn, điều này khiến Vương Nhuệ thấy tiếng cười của vợ mình đáng thương như củ cà rốt tươi mọng, tạp âm xung quanh thì như tiếng đao nhọn vô hình, cắt xén sự ngọt ngào và mọng nước của củ cà rốt, khiến lòng anh cảm thấy không thoải mái.

    Từ đó anh vô cùng ngưỡng mộ những ai có điện thoại di động, họ thích gọi cho nhau lúc nào cũng được. Nếu anh và Lâm Tú San cũng có điện thoại thì mỗi đêm khuya thanh vắng, họ sẽ có thể thủ thỉ đôi câu vuốt v e an ủi. Nhưng cả hai đều hiểu, nuôi một chiếc điện thoại bằng cả chi phí nuôi con.

    Quên chưa kể, họ có một đứa con trai bốn tuổi đang được nhà mẹ đẻ Lâm Tú San dưới thôn Hạ Tam chăm nom. Mỗi lần được lĩnh lương, Vương Nhuệ và Lâm Tú San đều cảm thấy như lại kéo con trong bùn đất lên thêm một đoạn, họ quyết chí gom góp tiền của để tương lai đưa con vào thành phố đi học.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 2


    Tàu chậm ung dung băng qua cây cầu trên sông Tùng Hoa. Vương Nhuệ ngồi trên hàng ghế ba chỗ ngay sát lối đi, muốn nhìn ra ô cửa, anh phải thò người rướn cổ như con ngỗng.

    Tên mập ngồi cạnh cửa hút thuốc phì phèo, hắn ta hồn nhiên nuốt mây nhả khói, che khuất cả phong cảnh bên ngoài.

    Vương Nhuệ không nhìn được sóng nước lấp lánh và con thuyền phiêu du trên mặt nước như mọi lần, anh không khỏi cụt hứng. Định bụng đứng dậy sang chỗ khác ngắm cảnh, tàu hỏa đã chạy xình xịch qua cây cầu.

    Vương Nhuệ không thích ngắm đồng ruộng, hồi ở Hạ Tam anh đã bán mặt cho đất bán lưng cho trời suốt bao năm ròng. Nhà anh mấy đời đều làm nông, hồi đầu xuân khi anh vừa tốt nghiệp cấp hai đã bị bố đưa về thôn Hạ Tam làm nông. Lời dạy bảo cửa miệng của bố luôn là: Học lắm chữ cũng chẳng biến ra cơm.

    Vương Nhuệ là con thứ ba trong nhà, hai anh chị sinh đôi lớn hơn cũng đều là nông dân, họ chỉ học hết tiểu học, trong nhà có mỗi anh được học đến cấp hai. Việc đầu tiên Vương Nhuệ làm khi về thôn Hạ Tam là ra đồng lao động với bố, dưới ánh mặt trời ấm áp, anh vừa trông ngô vừa khóc thút thít.

    Mùa ngô năm đó bội thu, nguyên nhân chắc chắn vì chỗ hạt giống ấy thấm đẫm nước mắt của anh.

    Lâm Tú San nhỏ hơn Vương Nhuệ hai tuổi. Lúc diễu trâu đi cày, Vương Nhuệ thường bắt gặp Lâm Tú San ngồi máy kéo ra quê đi học thêm cuối tuần. Thôn Hạ Tam chỉ có trường tiểu học, Lâm Tú San cũng học đến cấp hai như anh nên phải ra quê đi học. Trong số đám con gái học đến cấp hai, Vương Nhuệ chỉ chấm đúng Lâm Tú San.

    Tuy cô trông bình thường, nhưng luôn tươi tắn niềm nở như thể chẳng biết ưu tư là gì. Vương Nhuệ biết gia đình Lâm Tú San cũng nghèo khó như nhà mình, anh trai cô cưới vợ còn phải đi vay tiền, sau khi bố bị liệt nửa người gia đình càng túng thiếu, xem chừng học hết cấp hai cô cũng sẽ đi làm nông giống anh.

    Hồi đó tuy mới mười bảy nhưng Vương Nhuệ đã thầm hạ quyết tâm phải cưới bằng được Lâm Tú San. Quả nhiên, hai năm sau, Lâm Tú San lóc cóc xách hành lí về trở thôn Hạ Tam.

    Lâm Tú San không đến mức nghỉ học cái liền tủi thân xuống ruộng làm đồng trong nước mắt như Vương Nhuệ, cô hăng hái nhặt đá ven đường bắn chim sẻ. Hễ bắn trúng một con, cô lại bật cười khanh khách. Kẻ lặng lẽ bám theo cô là Vương Nhuệ nghe tiếng cô cười mà lòng thấy ruộng nương thôn Hạ Tam bỗng trở nên bao la, bầu trời cũng cao vời vợi.

    Xưa kia anh ghét bỏ thân trâu nặng mùi, chán ghét loài ve ồn ào trên cây, ghét phải làm lụng dưới ruộng ngô nắng nóng, cũng chẳng ưa cảnh ráng chiều đỏ chói như mào gà.

    Giờ đây anh nhận ra mọi thứ đều quá đỗi đáng yêu. Anh để ý thấy Lâm Tú San thích ca hát, liền ngày ngày dậy sớm ra ruộng ngô luyện mở giọng. Nào ngờ ngũ âm khuyết thiếu, anh không sao hát tử tế hết một bài, từ đó đâm ra nhụt chí.

    Về sau nghĩ Lâm Tú San thích hát, vậy ắt hẳn cũng sẽ thích tiếng kèn ác-mô-ni-ca, thế là anh xin gia đình mua một cái kèn. Bố anh kiên quyết phản đối, ông bảo kèn ác-mô-ni-ca đắt bằng cả đống tiền thức ăn, không thể lãng phí thế được. Anh trai anh cũng góp ý rằng nông dân mà a dua thổi ác-mô-ni-ca, người ta nhìn vào sẽ bảo mình không lo làm việc cho đàng hoàng, không nên mua, hơn nữa mua về anh cũng chẳng biết thổi, đồng nghĩa rước về nhà một thằng câm.

    Vì vụ này mà Vương Nhuệ tuyệt thực ba ngày, mẹ anh sợ anh xảy ra bất trắc, bèn kín đáo nhét cho anh một trăm đồng. Trong thôn chẳng có bóng dáng tiệm nào bán kèn ác-mô-ni-ca, Vương Nhuệ ra quê tìm cũng không có, anh lại trèo lên xe đường dài ra huyện, cuối cùng cũng ẵm được chiếc kèn về nhà như ý nguyện.

    Giây phút chiếc kèn thuôn dài bèn bẹt nằm gọn trong tay, anh thấy mình như đang nắm lấy bàn tay Lâm Tú San.

    Loại Vương Nhuệ mua khá rẻ, anh rất ưng hai hàng ô vuông màu lục khảm trên thân kèn, cảm giác như bên trong mọc đầy cây cỏ xanh biếc. Loại kèn đắt nhất có dăm kèn bằng đồng thì được khảm các ô vuông màu đỏ.

    Vương Nhuệ nghĩ, thổi loại kèn này sẽ khiến môi anh toác máu, máu chảy vào thân kèn sẽ làm mất cảm giác tươi đẹp của nó. Mẹ cho anh một trăm đồng, trừ lộ phí đi lại và tiền mua bánh nướng lót bụng, số tiền còn lại chỉ đủ đưa anh về đến cửa hàng nhà họ Trương. Vương Nhuệ dứt khoát cuốc bộ từ đấy về nhà.

    Dọc đường, có hai xe vận chuyển nông sản ba bánh lái qua. Đói bụng thì nhổ trộm củ cải ăn; khát nước thì lại bên hồ vốc nước uống; đêm đến nằm co ro ngoài đồng hoang ngắm bầu trời đầy sao. Rút chiếc kèn ác-mô-ni-ca thổi một cách khoan thai, anh cảm thấy mỗi nốt nhạc đều tỏa ánh hào quang, chúng bay lên trời cao, khiến những vì sao càng thêm lấp lánh.

    Lúc anh rước chiếc kèn dấu yêu về đến nhà, có một cô gái nhà ở thôn kế bên đang đợi anh. Cô gái này do bà mai Kim Lục dẫn tới. Bà Kim Lục có hàm răng vàng ruộm, nhưng bộ răng của bà đáng giá hơn những bộ răng vàng khác của người dân thôn Hạ Tam, vì đây là răng “vàng”, bàn tay bà còn xỏ đầy nhẫn vàng nữa kìa. Bà là người lắm của nhất trong thôn, không cần làm ruộng, chỉ cần dựa vào nghề se duyên làm mối, đủ để bà sống không lo nghĩ.

    Vương Nhuệ cũng tài giỏi, dáng người cao gầy, mặt mày góc cạnh sắc nét, sống mũi thẳng tắp, mắt không quá to nhưng rất có thần, hơn nữa lại sống kiệm lời, bà Kim Lục phán anh có tướng “quý nhân”, chỉ tiếc đầu thai phải nhà nghèo.

    Bà sớm đã ngỏ lời với bố anh, muốn mối cho nhà ông cô con dâu xinh đẹp nhất trăm dặm đổ lại. Cô gái bà dẫn đến quả thực rất xinh xắn. Mặt trái xoan, cặp mày lá liễu cong mảnh, sống mũi và khuôn miệng cũng hài hoà, đôi mắt hạnh nhân nhìn người đượm tình kia hễ liếc Vương Nhuệ một cái liền che miệng tủm tỉm. Vương Nhuệ nhìn cô thì lạnh lòng, trái tim anh chỉ chứa hình bóng của cô gái tầm thường Lâm Tú San.

    Mẹ anh lặng lẽ kéo anh vào nhà bếp, nói: “Con bé này kém con một tuổi, đẹp quá còn gì! Bố người ta là trưởng thôn Thủy Dương, hai anh trai đều thành gia lập thất hết rồi, anh cả là hộ chuyên nuôi lợn, anh hai là cục trưởng Cục chăn nuôi, gia cảnh khá lắm!”

    Vương Nhuệ đi đi lại lại, người mệt đừ như con lừa chở đá cả ngày, định bụng về nhà làm bát cháo nóng rồi ngất ra giường thì trên trời rơi xuống một “em Lâm”.

    Anh sốt sắng đến váng đầu, nói: “Con không thích người ta, bảo bà mối dẫn về đi.”

    Mẹ anh cuống quýt, bà dí ngón tay vào trán anh: “Cái thằng não úng này, mở mang đầu óc ra nghen con. Con bé này là báu vật trời ban đấy, kiếm đâu ra mới được một mối như thế, để lỡ thì hối hận cả đời con ạ!”

    Vương Nhuệ nói: “Trông cái tướng như Lâm Đại Ngọc thế kia, bạc mệnh lắm, chẳng có phúc khí gì!”

    Tuy mẹ anh không biết nhiều chữ, nhưng cũng từng nghe kể <i>Hồng lâu mộng</i>, bà tức giận: “Con tưởng mình là Giả Bảo Ngọc là viên đá quý thông linh giáng xuống trần gian hả? Cái số trời sinh đã làm trâu làm ngựa cho người ta, may được cái tướng vớt lại, không thì đến Tú Cố cũng có mà rước được!”

    Câu nói ấy khiến anh bất mãn. Tú Cố là cô ả đần độn nổi tiếng trong thôn Hạ Tam, ả ngày ngày lang thang khắp các xó xỉnh, năm nay đã ngoài ba mươi nhưng chẳng làm được việc gì. Hễ gặp các chị em là ả chẳng nói chẳng rằng, lúc nào cũng hậm hừ khinh khỉnh như tất cả đàn bà trên đời đều không nên tồn tại, cả thôn Tam Hạ chỉ cần mình ả là đủ.

    Ngược lại cứ gặp được đàn ông thì bất kể lớn bé, ả đều tủm tỉm sấn sổ lôi kéo người ta.

    Vương Nhuệ từng bị ả cò cưa hai lần, một lần là trước cổng xưởng làm đậu, Tú Cố nói: “Em về giúp anh làm ấm giường nhé!”

    Vương Nhuệ né tránh, nói: “Giường đệm nhà tôi ấm rồi, không phiền cô!”

    Lần khác là lúc anh ra tạp hóa mua bóng đèn đụng phải ả, ả cười khanh khách bám víu tay anh: “Em xinh thế này, em phải làm thịt anh!”

    Vương Nhuệ sợ chạy mất dép, chẳng kịp mua bóng đèn. Bóng đèn trong nhà bị cháy, cả nhà đang ngồi trong bóng tối, thấy Vương Nhuệ chạy về tay không, mọi người hỏi rõ đầu đuôi, Vương Nhuệ cũng thật thà kể lại, cả nhà liền cười nhạo anh: “Đến Tú Cố mà cũng sợ, đàn ông thế là không được!”

    Mẹ anh bảo Tú Cố cũng chê anh tức là đang sỉ nhục Vương Nhuệ. Anh kích động cãi lại: “Đủ rồi, đến Tú Cố cũng không rước được thì ở vậy cả đời cho xong!”

    Câu này của anh vọng lên nhà trên, cô gái kia nghe được thì hết ngồi đoan trang che miệng tủm tỉm như lúc mới đến, một phát đứng dậy bỏ về. Vừa đi còn vừa gắt bà Kim Lục: “Con lừa ba chân còn khó tìm chứ đàn ông ở đâu chẳng có!” Dáng vẻ dịu dàng điềm đạm trước đấy cũng bay sạch.

    Bà mối Kim Lục tức tối chê Vương Nhuệ: “Đúng là cái đồ không biết điều, phượng hoàng vàng dâng đến tận cửa còn chê!”

    Vương Nhuệ đáp: “Nhà tôi mành tranh vách nứa không chứa nổi phượng hoàng!”

    Bà mối ngượng ngùng dẫn cô gái kia đi. Bị người nhà trách mắng, Vương Nhuệ tuyên bố: “Con có người trong lòng rồi.”

    Người nhà gặng hỏi là ai, Vương Nhuệ đáp: “Khi nào cưới về mọi người khác biết.” Anh tự tin chiếc kèn ác-mô-ni-ca kia sẽ giúp anh rước về nàng Lâm Tú San.

    Không ngờ mấy hôm sau, con trâu của nhà đột nhiên mất tích, theo đó là hai con dê thả ngoài đồng cũng chẳng thấy đâu. Cả nhà đang chạy loạn khắp nơi tìm về thì bà mối Kim Lục lại đủng đỉnh cắn hạt dưa đến nhà. Bà nói: “Cô gái kia ưng Vương Nhuệ lắm. Nếu anh bằng lòng, bố nàng sẽ bao trọn đồ cưới, trâu với dê nhà các người cũng mất một tặng mười!”

    Nhà họ Vương nghe vậy liền vỡ lẽ. Bố Vương Nhuệ thấy gia đình cô gái kia quá lạm quyền, nàng về làm dâu chắc cả nhà phải coi nàng như tổ tông cũng nên. Họ trả lời bà mối thế này: “Nhà tôi ao cạn nước tù, nào thể nuôi được nàng tiên cá!”

    Bà Kim thốt lên: “Nhà các người đáng khốn cùng cả đời!”

    Biết chuyện trâu dê trong nhà mất tích có liên quan đến cô gái kia, Vương Nhuệ tỉnh bơ đến thôn Thủy Dương. Quả nhiên, trâu với dê nhà mình đều có mặt ở chuồng gia súc nhà trưởng thôn!

    Vương Nhuệ tự biết bản thân không quyền không thế nên đương nhiên không đến tay không. Anh đổ đầy cát vào mấy ống nhựa, quấn vào người, lại dùng màng nhựa mỏng bọc vài mảnh gạch mộc giắt lên. Lúc anh dắt trâu dắt dê ra khỏi chuồng nhà trưởng thôn, ông ta và thằng con vạm vỡ lao ra chặn lại.

    Vương Nhuệ hùng hồn: “Tránh đường!”

    Trưởng thôn nói: “Nhà ngươi tự tiện xông vào chuồng gia súc nhà ta trộm trâu trộm dê, quân trộm cắp! Ta phải gọi người gô cổ ngươi vào đồn!”

    Vương Nhuệ bình tĩnh đáp trả: “Đây là trâu dê nhà tôi, tôi dắt về đã làm sao!”

    Anh vừa dứt lời, con gái trưởng thôn từ trong nhà lao ra. Cô nàng bĩu môi: “Anh bảo đây là trâu dê nhà anh, thế anh thử gọi xem nó có đáp không?”

    Vương Nhuệ nói: “Đừng tưởng chúng nó vô nhân tính như các người!” Anh gọi to một tiếng, đám trâu dê đang đứng yên liền ngoan ngoãn đáp lời, con trâu nghé ọ hai tiếng, con dê luôn mồm me me.

    Cô gái kia nói: “Thế này cũng chẳng thể chứng minh chúng nó là trâu dê nhà họ Vương!”

    Vương Nhuệ cởi soạt áo ngoài, đống thuốc nổ ngụy trang giắt trên người phơi bày trước thiên hạ, tay anh cầm chiếc bật lửa, “tách” một tiếng, mồi lửa lóe lên: “Các người thử chắn đường tôi xem, tôi cho cả nhà các người tan xác!”

    Trưởng thôn sợ nhũn cả chân, con gái ông chạy tót vào nhà, vừa chạy vừa hô hoán: “Mau thả anh ta đi!”

    Con trai trưởng thôn đon đả: “Người anh em chớ kích động, anh nói sao thì là vậy, mau dẫn gia súc nhà anh về đi. Anh còn trẻ lắm đừng làm chuyện dại dột!”

    Vương Nhuệ nói: “Các người quấy nhiễu gia đình tôi, đừng mơ được sống yên thân!”

    Trưởng thôn nói: “Tại tôi có mắt không tròng mà coi thường cậu. Cậu về đi, mau dập cái mồi lửa kia đi, nhà ngói tôi vừa mới xây, nhỡ nổ tung thì biết phải làm sao?”

    Vương Nhuệ nói: “Tôi cảnh cáo các người, sau này còn dám ức h**p nhà tôi coi chừng tôi gọi anh em giang hồ trên huyện về! Tuy tôi trông hèn mọn, nhưng thông báo cho các người biết, tôi và đồng bọn từng đi cướp taxi, chơi gái nhà người, còn đánh tàn phế những đứa không nghe lời! Sau này nhà tôi mà xảy ra chuyện gì, tôi đều đến tính sổ nhà các người, một xác cũng không tha! Từ hôm nay trở đi các người cứ liệu hồn thắp hương dập đầu cầu an yên đi là vừa!”

    Trưởng thôn sợ muốn tè ra quần, ông vội vàng tránh đường cho Vương Nhuệ mau đi. Vương Nhuệ cầm cái bật lửa, nghênh ngang ra về.

    Vừa ra khỏi thôn Thủy Dương, hai chân anh mềm nhũn. Nghĩ bụng nhỡ may họ phát hiện đống thuốc nổ trên người là hàng giả thì chẳng biết làm sao mới dắt được trâu với dê về nhà đây?

    Đàn gia súc mất tích trở về khiến cả nhà reo vui, Vương Nhuệ chỉ bảo người dân thôn bên cạnh tìm được chúng chứ không đả động đến “hành động vĩ đại” của mình, anh sợ cả nhà nghe mà hoảng hồn. Quả nhiên từ ngày đó trở đi, gia đình trưởng thôn kia không còn đến sinh sự với nhà họ Vương nữa. Vương Nhuệ nghĩ, có lẽ trưởng thôn đang thấy may vì chưa gả quý nữ cho một kẻ liều mạng như anh. Mỗi khi gặp phải anh, bà mối Kim Lục chẳng khác nào chim sợ cành cong, cũng chẳng dám bén mảng đến nhà họ Vương “làm mai” thêm nữa. Vương Nhuệ đường hoàng coi chiếc kèn ác-mô-ni-ca là “bà mối” của mình, anh cưới Lâm Tú San về nhà như ý nguyện.

    Hành khách ngồi trong khoang tàu chậm đa số ăn mặc giản dị, mặt mày uể oải. Từ cách ăn vận và cử chỉ của họ, có thể nhìn ra phần lớn đều là tầng lớp thu nhập thấp.

    Hôm nay là Tết Trung thu, khá nhiều hành khách mang theo bánh trung thu. Lâm Tú San đoán hầu hết mọi người trên xe đều đang trên đường về nhà đoàn tụ với gia đình.

    Lâm Tú San không phờ phạc như những hành khách kia, cô ngồi ở vị trí cạnh cửa sổ, lúc thì nhìn ngắm phong cảnh, lúc lại mở hành lý lật đi lật lại đống đồ bên trong.

    Khác với mọi lần, ngoài dụng cụ nha khoa, ga trải giường và đồng hồ báo thức, hành lý của cô hôm nay còn có cả bánh trung thu và một chiếc kèn ác-mô-ni-ca. Đây cũng là chiếc kèn Vương Nhuệ dùng để tán tỉnh cô, hiện nó đã cũ mèm, trở thành món đồ chơi trong tay trẻ con. Từ khi con trai họ chào đời, Vương Nhuệ không còn thổi kèn nữa, tuy nhiên nó vẫn hiện diện trong những cuộc trò chuyện của hai người.

    Khi đó Vương Nhuệ không theo học ai, anh tự mày mò luyện thổi, ấy vậy mà thổi hết một bản nhạc hoàn chỉnh không sai nốt nào. Hồi còn ở Hạ Tam Lâm Tú San thích nghe anh nhàn nhã thổi ác-mô-ni-ca biết bao. Vương Nhuệ thường sẽ đứng đầu bờ ruộng nhà cô thổi kèn, anh trai và chị dâu Lâm Tú San biết tỏng ý đồ của anh, cứ nghe có tiếng kèn, họ liền trêu chọc em gái: “Uyên ương đến tìm bạn đời đấy.”

    Lâm Tú San cũng chẳng ngần ngại, cô mỉm cười đáp: “Nghe tiếng kèn lòng em thấy dễ chịu, nếu phải lấy chồng, em muốn gả cho anh ấy.”

    Anh trai cô nói: “Muốn ngày ngày được nghe thì đừng vội nhận lời. Còn chưa theo đuổi được em, cậu ta còn thổi dài dài, cưới em về rồi càng không có mấy bài này!”

    Lâm Tú San thấy anh mình nói chí phải, cô dùng thái độ chẳng nóng chẳng lạnh mà qua lại với anh, quả nhiên cô cũng được thỏa thích nghe thổi kèn, nghe đến là si mê, nghe như say như dại.

    Lúc họ kết hôn, âm thanh phát ra từ chiếc kèn đó đã thều thào như bà cụ, nhưng trong đêm động phòng hoa chúc, Lâm Tú San vẫn bắt Vương Nhuệ thổi một khúc.

    Sợ người nhà cười nhạo họ nửa đêm nửa hôm lại đi thổi kèn, hai người ghép hai bộ chăn làm một, tắt đèn, chui vào chăn, người thổi người nghe. Vương Nhuệ ngộp đến thở không ra hơi, Lâm Tú San thì đổ mồ hôi đầy đầu. Cuối cùng bản nhạc còn chưa kết thúc, hai người đã thò đầu khỏi chăn hít lấy hít để như vừa được cứu vớt sau cơn chết chìm, đồng thời không nhịn được cùng bật cười.

    Ngoài cửa sổ có nhóc cháu bị gia đình xúi đến nghe trộm đôi vợ chồng son, thấy tiếng họ cười liền lon ton về phòng phụ huynh báo cáo: “Con đã nghe thấy tiếng hai người ấy, cười giòn lắm! Thì ra người có gia đình thường hay cười lúc đi ngủ!”
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 3


    Nhiều năm nay không được nghe Vương Nhuệ thổi kèn, sự thật này khiến cô hốt hoảng. Có lần cô bảo anh: “Muốn nghe anh thổi ác-mô-ni-ca quá.”

    Vương Nhuệ đáp: “Cái kèn ngày xưa phế lắm, giờ mà mua phải mua cái nào xịn hẳn, ít nhất cũng phải tốn hàng trăm đồng cơ, đủ để anh đi thăm em hai ba chuyến rồi. Khi nào phát tài anh sẽ mua cái nào đắt nhất, dùng nó làm tiếng báo thức gọi em dậy mỗi sáng!”

    Mỗi lần đến ngày nhận lương, Lâm Tú San đều đến ngân hàng. Cô chỉ để lại một trăm đồng tiền tiêu vặt, số còn lại sẽ đem gửi ngân hàng. Trừ những khi trái gió trở giời buộc phải mặc theo thời tiết, xưa nay cô gần như không sắm thêm quần áo mới. Cô dùng kem đánh răng và xà phòng loại rẻ nhất, chẳng bao giờ dùng đồ trang điểm. Một cái bàn chải đủ để dùng cả năm, dùng đến mức độ lông bàn chải xoắn xuýt hết vào nhau, chúng chẳng khác nào mớ xương cá chà lợi cô tứa máu. Băng vệ sinh cô dùng cũng không phải loại có bao bì đẹp mắt và thoáng khí mà là giấy vệ sinh giá rẻ. Cô gấp chúng thành từng chồng như chiếc băng vệ sinh. Bữa tối hẹn hò của cô và Vương Nhuệ sang nhất cũng chỉ vào một quán ăn nhỏ gọi hai phần sủi cảo hoặc hai bát mì tương trộn thịt bằm. Đa phần họ sẽ tới những sạp ăn ồn ào khách khứa, xếp hàng gọi hai tô mì hoành thánh.

    Vương Nhuệ không được nhận lương đều đặn hàng tháng như Lâm Tú San mà phải đợi đến lúc hoàn thiện một công trình mới được tận mắt thấy tiền. Đã vậy tiền về tay luôn ít hơn mấy trăm so với mức công ty hứa hẹn ban đầu. Bột rễ cây bản lam và moroxydine(*) được phát hồi cao điểm cúm mùa giữa đông, bánh ú và trứng gà ăn ngày Tết Đoan ngọ, tất tật đều tính vào lương của công nhân. Công ty còn hay lấy cớ thi công không đạt chuẩn để xén bớt tiền lương của mọi người, công nhân cũng chẳng thể làm gì hơn.

    <i>(*)Moroxydine: một loại thuốc trị cảm cúm.</i>

    Lâm Tú San từng mấy lần đến thăm lều trại ngoài công trình của Vương Nhuệ, chúng được bố trí đồng bộ, bước vào là thấy phản gỗ dài làm giường, bên trên có hàng chục bộ đồ gấp xiêu vẹo chen chúc, bên dưới là túi hành lý, chậu rửa mặt, giày dép v.v. Lối đi lại hẹp đến mức chỉ đủ một người đi.

    Vương Nhuệ nói có những tối quá mệt, đèn điện trong lán còn tối, họ còn chui nhầm vào chăn của nhau. Mỗi khi nhìn chỗ nằm của chồng trên phản gỗ, Lâm Tú San đều cảm thấy đau đáu. Tiền kiếm được chẳng dễ dàng nên họ tiêu tiền hết sức dè dặt. Mỗi lần về thăm nhau, họ luôn ngồi tàu chậm với mức giá rẻ nhất.

    Khoản chi tiêu nhiều nhất trong năm của hai người là những dịp đầu năm về quê ăn tết. Vừa phải sắm quần áo, giày mũ mới cho người nhà, vừa phải biếu chút tiền cho gia đình cả hai bên mua hạt giống và phân bón.

    Sức thu hoạch hoa màu ở Hạ Tam ngày càng tệ, tuy nhiên người dân vẫn tràn đầy hi vọng, năm nào cũng gieo hạt đều đặn. Có những hộ nông thậm chí sẵn sàng vay tiền để kịp gieo hạt vụ xuân. Những hạt giống ấy dù cho không bị bão cát quét mất, khó khăn nảy mầm, thì sau khi mọc mầm cũng chẳng thu hoạch được tí nào vì khô hạn.

    Chịu ở lại thôn Hạ Tam làm đồng cơ bản đều là người già. Thanh niên cường tráng đều ra ngoài kiếm việc. Các chuyện trên trời dưới bể phát sinh do ra ngoài kiếm việc cũng nhiều vô cùng tận. Người thì bị lừa nên quyết định đi lừa gạt người khác, lĩnh một suất vào tù; người thì thấy thế giới phồn hoa ngoài đó khó cầm lòng ném tiền vào “gái làng chơi”, về đến thôn nhặng lên đòi ly dị vợ; còn có người tàn phế vì chấn thương lao động, chủ sử dụng lao động cũng phớt lờ như không, bất đắc dĩ đành đưa nhau đi kiện.

    So với những người làm thuê khác, Vương Nhuệ và Lâm Tú San cũng coi như may mắn, tuy nói cho cùng vẫn là số vất vả, nhưng dù gì thì tiền vẫn về đến tay. Quý hơn cả là họ có sức khỏe, có tinh thần, thuận vợ thuận chồng, không giống một số đôi vợ chồng khác vừa rời khỏi thôn Hạ Tam là đứt gánh tơ hồng, đường ai nấy đi.

    Mong muốn mua tặng Vương Nhuệ một chiếc kèn a-mô-ni-ca khác của Lâm Tú San không phải chuyện ngày một ngày hai. Lần này nỡ bỏ tiền mua là vì cô bỗng ăn may kiếm được 60 đồng.

    Mỗi dịp lễ tết, xưởng dệt len thường thưởng quà cho công nhân. Ví như Tết Đoan ngọ cho trứng gà, Trung thu phát bánh trung thu, vân vân. Công nhân làm việc trong nhà ăn chỉ có cô không phải người làm chính thức, vậy nên đến lượt nhận quà đều không có phần của cô. Lâm Tú San sớm đã quen với cảnh nhìn người ta hoan hỉ nhận quà, mình cô ngồi một góc xúc cơm, gắp thức ăn.

    Nhưng Trung thu năm nay thì khác hẳn mọi năm, Lâm Tú San được đặc cách phân đến xưởng dệt chăn lông tại gia.

    Quản lý hậu cần mới nhậm chức mấy ngày trước đến nhà ăn kiểm tra công tác, lúc đó Lâm Tú San đang mặc chiếc tạp dề loang lổ mỡ đông, tay cầm dao chặt xương lợn đoàng đoàng.

    Trong quầy thực phẩm phụ, xương lợn chia làm ba loại, thượng hạng nhất là xương sườn, hay còn gọi “dẻ sườn”, loại xoàng nhất là xương ống, tầm trung có xương sống. Căng-tin chủ yếu dùng xương sống là nhiều.

    Chặt xương sống heo cần có lực và kỹ xảo. Có lực mà không có kỹ xảo dễ chặt thành mảnh vụn, ngược lại có kỹ xảo mà không có lực thì cục xương sẽ để lại vết tích lởm chởm.

    Lâm Tú San chặt xương dứt khoát từng đao, các miếng đều tăm tắp, lớn nhỏ bằng nhau, dễ dàng chế biến. Quản lý hậu cần thấy cô hạ đao vô cùng thành thạo, bèn đứng cạnh nhìn một hồi. Lâm Tú San không để ý, lúc chặt xong đống xương, ngẩng đầu mới phát hiện quản lý đang đánh giá cô, ánh mắt ấy toát vẻ nể phục và tràn ngập tán thưởng khiến Lâm Tú San đỏ mặt, cô không quen bị đàn ông nhìn với cái nhìn hảo cảm. Cũng giống như ánh mắt tán thưởng Vương Nhuệ nhìn cô sau khi kết hôn, nó khiến cô phải đỏ mặt.

    Quản lý hậu cần hỏi Lâm Tú San là người ở đâu? Lâm Tú San đáp cô là người thôn Hạ Tam. Quản lý không biết đấy là chỗ nào liền hỏi cô, kết quả Lâm Tú San càng giải thích, quản lý càng chẳng hiểu mô tê gì.

    Cô không nói rõ thôn đó thuộc vùng nào, huyện nào, chỉ tả phải ngồi tàu chậm mười mấy tiếng từ Nhượng Hồ Lộ, sau đó đổi sang tàu khác đi thêm ba tiếng, lại xuống tàu bắt ô tô, ngồi thêm bốn tiếng nữa là đến.

    Không chỉ quản lý nghe mà choáng ngợp, đến những công nhân khác trong bếp cũng váng đầu, mọi người cười phá lên khiến khuôn mặt vốn đã đỏ của Lâm Tú San càng thêm tưng bừng, đỏ như miếng thịt trên cục xương sống cô vừa chặt ra vậy.

    Tổ trường nhà bếp Vương Ái Linh trước nay luôn đối xử tốt với Lâm Tú San, nhân cơ hội này chị khen ngợi cô vài câu trước mặt quản lý hậu cần, nào là tính nết tốt, chịu thương chịu khó, ngoan ngoãn dịu dàng, còn nói mỗi tháng ngoài tiền lương cố định 400 đồng chưa từng được nhận phúc lợi gì khác, vậy nhưng cũng chẳng bao giờ oán trách than vãn gì. Quản lý nghe đoạn vẫy tay: “Mấy ngày nữa là Trung thu, có phát quà gì cũng phải thêm cho cô ấy một phần!”

    Thật ngoài sức tưởng tượng của Lâm Tú San, cứ như những ngày thơ ấu dưới quê ngắm trăng trên mặt hồ, ngỡ tưởng nó chỉ là giả.

    Mãi đến mấy ngày trước, cũng giống bao công nhân khác, cô cũng được nhận một tấm chăn lông xinh đẹp, lúc này mới dám tin là thật.

    Loại chăn lông này công ty Bách Hoa bán ra với giá 200 tệ, kể cả là giá xuất xưởng cũng phải trên dưới 140 tệ. Lâm Tú San vừa nhìn thấy nó, trong đầu liền hiện ra hình dạng một chiếc kèn ác-mô-ni-ca.

    Bộ chăn đệm nhà cô được nhận từ xưởng dệt gồm: Một tấm đệm bông tương đối rắn, một bộ chăn họa tiết ô vuông màu lam. Tuy đệm hơi cứng một chút, chăn cũng hơi mỏng, song cô cảm thấy dùng chăn lông thì quá xa xỉ. Dẫu biết được đắp chăn lông sẽ mềm mại sung sướng, chưa kể mùa đông đắp lồ ng thêm vào chăn cũ sẽ ấm áp phải biết, nhưng cô vẫn không nỡ mang ra dùng. Cô tính lặng lẽ mang tấm chăn lông này ra chợ nông bán đứt, sau đó lấy tiền mua tặng Vương Nhuệ một chiếc kèn mới.

    Chợ nông thường có các thiểu thương không cố định, mình cách họ ăn mặc liền biết là nông dân ngoài huyện. Bọn họ đeo những chiếc gùi chứa hạt dưa, hoặc xách một giỏ hạt óc chó, một giỏ nấm hoặc quả dại… Ngoài ra còn mang theo một cái cân đòn, đi đây đi đó bán buôn.

    Thái độ buôn bán của họ không hùng hồn như những tiểu thương có cửa hàng cố định, lúc mời chào hàng thường sẽ liếc đông liếc tây, sợ sệt đụng độ phải quản lý thị trường. Nếu thực sự trông thấy bóng dáng ai đội mũ kê-pi, mặc bộ đồng phục xanh xám dạo qua, họ sẽ sợ chạy trối chết.

    Hình thức làm ăn này rất vất vả, cũng thú vị và mạo hiểm, Lâm Tú San muốn thử một lần nhưng chẳng có gì để bán. Giờ tấm chăn lông này đến rất đúng lúc, cô sẽ sắm vai một con buôn thực thụ.

    Cô đã ngầm định giá chiếc chăn này, miễn là không dưới 120 tệ. Tối đó, cơm nước xong xuôi, cô chuẩn bị mang chiếc chăn ra chợ nông thì bị Vương Ái Linh gọi lại. Vương Ái Linh kể em trai sắp kết hôn, chị cũng được thưởng một tấm chăn lông y hệt nên muốn mua thêm một chiếc để ghép lại thành đôi, chi bằng Lâm Tú San bán lại chiếc của cô cho chị, cô cũng đỡ tốn công tốn sức đem đi bán. Ngộ nhỡ không bán được, lại bị quản lý thị trường tóm được thì đồ bị tịch thu không nói, đã thế còn phải nộp phạt. Lâm Tú San nghe đoạn liền sảng khoái bảo chị mang chiếc chăn đó về, coi như cô biếu chút quà mừng cho em trai chị!

    Lâm Tú San hiểu, nếu không có Vương Ái Linh, cô cũng không được hưởng cái “phúc lợi” này. Vương Ái Linh nói: “Như vậy sao được, em mà không lấy tiền, chẳng thà chị đi mua một cái cho xong!”

    Lâm Tú San đáp: “Thôi được rồi, vậy chị đưa em vài đồng là được.”

    Vương Ái Linh rút ra tờ 100 đồng đưa cô, Lâm Tú San giật mình, nghĩ bụng thế này còn ít hơn 20 đồng so với giá cô định bán ra, trước mắt cô gần như hiện lên hình ảnh chiếc kèn thổi không ra tiếng của Vương Nhuệ. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng cô lại nói: “Nhiều quá nhiều quá!”

    Hai người bày đặt tranh qua giành lại, người thì kêu đưa quá nhiều, người nằng nặc thế này còn ít, sau cùng Lâm Tú San lấy Vương Ái Linh 60 đồng. Lúc đầu cô có chút ủ dột vì nghĩ đến chiếc kèn tịt cả nửa hàng lưỡi gà của Vương Nhuệ, nhưng cô nhanh chóng tươi tỉnh hẳn khi hay tin Trung thu được cho nghỉ một ngày, Vương Ái Linh bảo cô đến Cáp Nhĩ Tân thăm Vương Nhuệ, đây quả là một bất ngờ lớn.

    Cô ra ngân hàng rút 150 đồng, mua cho Vương Nhuệ một chiếc kèn mới giá 130 đồng, lại mua thêm một gói bánh trung thu, chỗ tiền còn lại để mua tiền vé tàu và tiền sinh hoạt lúc đến Cáp Nhĩ Tân.

    Lâm Tú San vuốt v e chiếc kèn, cảm giác như đang chạm vào bờ môi ấm áp của Vương Nhuệ. Cô sẽ dành tặng anh một niềm vui bất ngờ. Đoán chừng buổi sáng Vương Nhuệ sẽ ra công trường, cô định xuống xe liền chạy thẳng ra đó tìm anh. Trưa nay hai người sẽ đến quán ăn gọi hai xửng sủi cảo, tối nay xử lí cái bánh trung thu. Cô định sau sáu giờ tối mới đi thuê phòng trọ, kẻo lại cho không người ra tiền phòng nửa ngày trời.

    Tàu chậm giống như người ưa làm việc thiện, trái với những chiếc tàu cao tốc chẳng thèm dừng chân ở các trạm kia, nó chậm rãi đỗ lại. Đi một quãng đường lại dừng lại. Thường hành khách rất phiền với việc tàu chậm buộc phải dừng ở tất cả các trạm, Lâm Tú San thì khác. Những trạm dừng đó khiến cô nhớ về thôn Hạ Tam.

    Thôn Hạ Tam không mở đường tàu hỏa, đến một trạm dừng nhỏ tí xíu cũng không có. Nếu tàu hỏa nào cũng lao vun vút, bỏ qua những trạm dừng này, thế thì khác nào những phú ông phú bà kênh kiệu, bỏ mặc người ăn xin ven đường?

    Hành khách lên tàu từ những trạm dừng này trông ai cũng đầy mệt mỏi, áo quần cũ kĩ, biểu cảm nhìn người khác thường là đờ đẫn, kèm một chút nhút nhát, một chút bình thản, cũng phảng phất một chút hiếu kỳ. Nhiều tàu chậm không soát kĩ số ghế ngồi, hành khách lên xe trước hết luôn vội vàng xông đến những ghế còn trống, thường thường họ còn chưa kịp ngồi xuống thì tàu đã chuyển động.

    Thời gian tàu tạm dừng ở các trạm thường là ba phút, lâu nhất không hơn năm phút. Người lên người xuống lúc nào cũng hớt ha hớt hải. Lâm Tú San ngồi lâu đâm bí bách, cô thích soi xét ngầm những vị khách mới lên xe.

    Có người phụ nữ diện bộ váy áo rất xinh đẹp, cô cứ ngắm nhìn người ta không thôi; có đứa trẻ con hai má hồng hào, cô lại ngẩn ngơ nhìn mãi. Có lần thấy một người đàn ông nọ để kiểu tóc khá đẹp, cô nghĩ nếu Vương Nhuệ để kiểu này hẳn cũng không tệ chút nào. Cuối cùng anh nông dân đa tình kia tưởng cô nhìn trúng mình, bèn lặng lẽ duỗi chân dưới gầm bàn, với tới cạnh chân cô, nhẹ nhàng đá đưa, ám chỉ và thăm dò ý cô. Lâm Tú San lập tức mở miệng phô bày hàm răng vàng, chẳng khác nào mở bao ngô vàng óng đem đi phơi, tên đàn ông kia giật mình, vội vàng đứng dậy tìm chỗ ngồi khác, Lâm Tú San lúc này mới khép miệng, cô nhoài ra bàn cười thầm.

    Lâm Tú San nghĩ, may mà chưa thẩm mỹ lại bộ răng, vẻ ngoài khó coi của nó chính là viên đạn nhắm vào những tên nảy sinh ý đồ bất chính với cô.

    Lâm Tú San ngắm chiếc kèn một lúc rồi đặt lại vào hành lý, lại lôi đồng hồ báo thức ra nghịch, nghịch xong lại cất trở về. Tuy mới đầu thu, gió hiu hiu lạnh, nhưng ánh nắng vẫn chan hòa. Cô ngẩng đầu nhìn những đám mây trắng như tuyết trên nền trời xanh trong, trong môn văn học hồi tiểu học, chúng được ví với đàn cừu trắng. Lâm Tú San cảm thấy cách ví von này quá chuẩn. Cô nghĩ, đàn cừu ông trời thả ra quả là khác biệt, chúng vừa béo khỏe vừa sạch sẽ. Chỉ là cô không biết ai là người chăn cừu. Là mặt trời ư? Cũng có thể, vì ánh nắng mặt trời chiếu xuống trong mắt cô trông thật giống những chiếc gậy chăn cừu.

    Lâm Tú San là người có trí tưởng tượng phong phú. Ví dụ đường ray tàu hoả trong mắt cô rõ ràng là một đôi chân dài ngoằng, những bốt điện thoại im lìm trên đường phố thành thị dưới cái nhìn của cô cũng biến thành những lỗ tai to lớn. Hành lý của cô lúc này có thêm chiếc kèn ác-mô-ni-ca, cô lại nghĩ con tàu này chính là một cây đàn hoạt động liên tục, để đàn phát ra âm thanh là nhờ đường ray như cung đàn phía dưới. Hiện giờ cô đang ngồi trên một chiếc đàn vi-ô-lông đến thăm Vương Nhuệ, cuộc đời còn gì tuyệt vời hơn điều này được đây?

    Tiếng tàu hỏa vang lên, khoang xe có tiếng người trò chuyện, tiếng ho hắng, tiếng trẻ con gào khóc, ngoài cửa có tiếng còi hơi vọng tới, cô cảm thấy những âm thanh này đều đang cùng chiếc “vi-ô-lông” tấu nên một bản nhạc phong phú âm sắc.

    Cô yêu những thanh âm này, huyên náo, vụn vặt, thân mật, ôn tồn.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 4


    Lúc tàu chậm băng qua trạm Long Phụng, Vương Nhuệ ngồi đối diện một đôi nam nữ. Người phụ nữ được người nọ dìu đỡ, sắc mặt vàng vọt, hơi thở thoi thóp. Người đàn ông đỡ cô dáng vóc cao gầy, tướng cằm nhọn, miệng thở ra đầy mùi rượu.

    Vương Nhuệ đoán họ là vợ chồng. Người phụ nữ kia tuy sắc mặt yếu ớt, nhưng nhan sắc vẫn diễm lệ như ánh trăng trên sông. Lúc ngồi xuống cô ta nhìn Vương Nhuệ với ánh mắt thương cảm, anh rất muốn mở lời chào hỏi.

    Trong túi anh có ít quýt, hai chiếc bánh trung thu, còn có một chiếc khăn quàng cổ. Bánh trung thu để dành cho buổi thưởng trà ngắm trăng với Lâm Tú San, còn chiếc khăn quàng là quà anh tặng cô.

    Mùa xuân ở Nhượng Hồ Lộ thường có gió lớn, Lâm Tú San đã muốn mua một chiếc khăn choàng cho ấm đầu từ lâu nhưng không nỡ bỏ tiền. Vương Nhuệ tới khu mua sắm dưới lòng đất, tìm được một chiếc khăn lụa nền xanh hoa tím tặng vợ.

    Anh không dám đến trung tâm thương mại lớn vì đồ ở đó đắt cắt cổ, đồ ở khu mua sắm dưới lòng đất còn có thể mặc cả. Chiếc khăn này giá gốc 60 tệ, anh mua được với giá 35 tệ. Ban đầu anh định lấy chiếc nền xanh hoa trắng, trông vô cùng bắt mắt, nhìn một cái liền liên tưởng đến bầu trời trong xanh có mây trôi lững lờ.

    Nghĩ đi nghĩ lại, sợ vợ choàng chiếc khăn đó quá thu hút ánh nhìn, ngộ nhỡ lúc cô đi nghe điện thoại họ hẹn nhau mỗi chạng vạng thứ Sáu hàng tuần bị tên đàn ông nào nhắm được thì sao? Thế là anh quyết định đổi sang cái nền xanh hoa tím, trông không quá bắt mắt nhưng cũng rất xinh xắn, như bông hoa nở rộ giữa đêm, mặc dù chỉ nhìn được lờ mờ, song lại gợi nên một vẻ đẹp trang nhã.

    Cả khăn lụa và bánh trung thu đều không thể tặng cho người phụ nữ bệnh tật phía đối diện, Vương Nhuệ đành móc một quả quýt đưa cho cô: “Làm quả quýt giải khát này.”

    Người phụ nữ đó cố nặn ra nụ cười, cô lắc lắc đầu. Người đàn ông ngồi cạnh liếc anh bằng con mắt thù địch, hắn lẩm bẩm với người phụ nữ: “Ốm yếu đến thế rồi mà vẫn đi câu dẫn người khác?”

    Vương Nhuệ rất muốn nói vài câu với người đàn ông đó, vợ anh đã bệnh đến thế rồi mà vẫn châm chọc được? Tuy nhiên anh sợ người ta chửi mình lắm chuyện, thôi thì ngậm mồm lại, đồng thời bỏ lại trái quýt bị từ chối vào túi, tránh gây chuyện thị phi.

    Người đàn ông kia vừa ngồi xuống liền châm lửa hút thuốc, hắn híp mắt nhìn Vương Nhuệ qua làn khói mờ ảo: “Người anh em đi đâu đấy?”

    Vương Nhuệ không nói điểm đến, chỉ bảo: “Đi thăm vợ!”

    Lúc này người phụ nữ kia giơ tay bảo người đàn ông: “Em vẫn chưa đỡ, lấy cho em viên thuốc.”

    Người đàn ông kẹp điếu thuốc một tay, tay còn lại lục vỉ thuốc trong túi, trách mắng người phụ nữ: “Đã bảo từ đầu rồi, chạy trốn với nhân tình chẳng có kết cục hay ho gì đâu! Khi còn tươi tắn trẻ trung, xinh đẹp rạng rỡ hắn ta mới có hứng thú với em, cứ thử bệnh tật hay gặp nạn mà xem hắn có sút em ra khỏi nhà ngay không?! Chỉ cần em hứa sau này không bám theo gã tình nhân kia nữa, anh sẽ cai thuốc bỏ rượu, em có muốn trăng trên trời anh cũng bắc thang lên hái về cho em!”

    Nói đoạn, hắn lôi ra viên thuốc đưa đến bên miệng người phụ nữ, với chai nước khoáng trong túi hành lý, vặn nắp chai, bón cô uống thuốc. Người phụ nữ có vẻ giận anh vì bóc mẽ cô trước mặt người lạ, uống thuốc xong liền nhắm mắt giả vờ ngủ.

    Vương Nhuệ giờ mới vỡ lẽ, thì ra người phụ này này có tình nhân!

    Sự đồng cảm ban đầu với cô trôi sạch, anh bỗng cảm thông cho người đàn ông phía đối diện. Anh nghĩ, nếu Lâm Tú San mà ngoại tình, anh còn lâu mới rộng rãi tiếp nhận thêm lần nữa.

    Vương Nhuệ hỏi người đàn ông nọ: “Người anh em về nhà ăn rằm trung thu à?”

    Người đàn ông đó đáp: “Ừ, về Nột Hà.”

    Vương Nhuệ chỉ người phụ nữ, lại hỏi: “Vợ anh à?”

    Hắn khạc một bãi đờm: “Hừ, vợ tôi đấy!”

    Hắn trợn mắt nhìn người đàn bà, thở dài một tiếng, nói: “Chú em bảo đi thăm vợ, vậy tức là hai người sống xa nhau hả?”

    Vương Nhuệ gật gật đầu. Người đàn ông hung hăng rít một hơi thuốc: “Không phải anh uống say đâm ăn nói hàm hồ đâu, nhưng chú em nghe anh, mau nghĩ cách mà dọn về cùng một chỗ đi, vợ chồng không ở với nhau mà không sinh chuyện mới lạ! Như anh đây này, một người Nột Hà, một người Long Phụng, chú em làm sao biết được hằng đêm nó nằm đếm sao với ai?”

    Vương Nhuệ cười, anh nói khẽ: “Vợ em không phải người như vậy.”

    Người đàn ông bĩu môi, anh nghiêm mặt, ngồi thẳng người truyền kinh nghiệm: “Người anh em chớ vội mạnh miệng, tự cổ chí kim thứ ta không nên đánh cược nhất chính là đàn bà của mình không nuôi trai bên ngoài!”

    Nói đoạn, anh ta chép miệng. Cách nói chuyện quyết liệt đủ thể hiện anh ta đã uống quá chén. Vương Nhuệ nghĩ nếu không uống nhiều thế hẳn anh ta đã không vứt cả thể diện trước người lạ, phơi bày hết thảy chuyện xấu trong nhà.

    Lâm Tú San từng nói rượu chính là “chất lỏng ma thuật”, một khi uống quá nhiều, con người sẽ không còn là chính mình, đàn bà điềm đạm đến mấy cũng ngả ngớn gió trăng, đàn ông hiền như cục đất cũng líu lo không ngừng. Vương Nhuệ nói đùa vợ: “Hôm nào anh cũng thử chuốc cho em ngả ngớn gió trăng xem thế nào!”

    Lâm Tú San đáp: “Anh chê em không biết làm đỏm chứ gì?”

    Vương Nhuệ nói: “Em mà học cái thói đua đòi đấy, anh ở công trường đêm nào cũng mất ngủ mất thôi!”

    Lâm Tú San nghe vậy liền để lộ hàng răng vàng óng, nụ cười vừa hờn dỗi, vừa đắc ý, cũng ngọt ngào như đóa sen nở rộ.

    Tiếng xe đẩy thức ăn cót két trên lối đi khoang tàu.

    Người đàn ông kia dập tàn thuốc, biểu cảm phấn khích gọi to xe thức ăn nán lại mua hai chai bia, một túi lạc, hai cái xúc xích. Anh ta dùng răng mở nắp chai bia đầy dứt khoát, sau đó đưa Vương Nhuệ một chai: “Người anh em làm chai bia!”

    Vương Nhuệ vội từ chối: “Em không uống bia rượu, chú anh cứ tự nhiên!”

    Người đàn ông vừa xé gói lạc vừa nói: “Rượu bia là thức giải sầu, uống vào tâm trạng thoải mái!”

    Nói rồi anh ta khẽ nhún vai: “Những lúc thấy tâm trạng rối bời, cứ dồn vào đấy thì khó chịu lắm, có khác gì tích đầy rác trong bụng, nhưng cồn vừa chảy xuống, chà, thoáng đãng cả lòng! Cồn giống như cây chổi quét một cái, dọn sạch đống ngổn ngang trong bụng!”

    Anh ta dùng sức, gói lạc mở toang, tung tóe cả nửa, những hạt lạc lăn lóc khắp nơi trên sàn, người đàn ông chửi thề: “Mẹ tiên sư, có phải thiếu nữ mới lớn đâu, trời sinh số chúng mày phải vào bụng người ta, chạy đi đâu hả, chạy được ông đây rồi cũng phải vào bụng lũ chuột nhắt đấy thôi!”

    Vương Nhuệ nghe mà bật cười. Đến người phụ nữ kia cũng hé mắt nhìn trộm chồng mình đang chửi bới mấy củ lạc trên sàn, khóe miệng khẽ nhếch lên nét cười khó phát hiện, sau đó lại nhắm chặt mắt.

    Sắp đến trạm xe, Vương Nhuệ nhìn người đàn ông đối diện đang tu bia ừng ực. Rượu vào lời ra, anh ta chửi rủa mùi tanh hôi trong khoang tàu, chửi tên khốn kiếp nào mang cá chết lên xe; lại chửi nhà vệ sinh nặng mùi, chê nhân viên vệ sinh lười biếng không chịu cọ rửa nhà vệ sinh. Anh ta còn chửi con tàu chẳng khác nào ả kỹ nữ, hễ dừng chân vào trạm là lại lôi kéo khách. Anh ta nhanh chóng nốc cạn một chai bia, lúc cúi người đặt chai rỗng xuống sàn, anh than thở: “Hầy, nước nôi vợ nhà khác nào chai bia này, cống cho người ta nốc sạch sành sanh, thừa lại cho tôi cái chai rỗng! Ấy thế mà tôi vẫn không nhỡ vứt cái chai đi!”

    Nói xong, anh đứng dậy, giơ tay xoa đầu người đàn bà kia đầy yêu thương. Hành động của anh ta suýt khiến Vương Nhuệ trào nước mắt, anh bỗng sinh ra hảo cảm với người đàn ông tuy trông th ô tục, mở miệng là càu nhàu trước mặt. Vậy nên lúc xuống trạm Nhượng Hồ Lộ, anh bắt chặt tay người đàn ông, nói: “Trung thu vui vẻ nhé!”

    Người đàn ông lầm bầm: “Hầy, sao chú em xuống nhanh thế? Anh đây đã hết chuyện đâu!”

    Lúc ra khỏi sân ga, Vương Nhuệ không khỏi cảm thấy thẫn thờ.

    Anh nghĩ, ngộ nhỡ Lâm Tú San thích người đàn ông khác thì phải làm sao? Anh không muốn vợ mình tươi cười trong lòng kẻ khác. Lâm Tú San từng nói với anh, Lão Lý ở phòng thường trực xưởng dệt rất nhiệt tình đối đãi cô, có lần cô đến bốt điện thoại đợi anh gọi đến, trời bỗng đổ mưa, Lão Lý liền mang ô ra đưa cô về kí túc. Lâm Tú San nói đó là lần đầu tiên cô đi chung ô với đàn ông, cô thấy rất căng thẳng, còn cố tình giữ khoảng cách với Lão Lý, kết quả dầm mưa cả nửa người, về đến nhà vẫn ướt như chuột lột.

    Lúc đó Vương Nhuệ trêu cô: “Tên Lão Lý này cố tình hại em bị ướt đấy, để em lạnh cóng xong kiểu gì cũng đề nghị giúp em làm ấm người!”

    Lâm Tú San thụi vào ngực anh, nói: “Em còn lâu mới để người khác làm ấm người nhé!”

    Vương Nhuệ mới gặp Lão Lý một lần, trong trí nhớ của anh trông mặt mũi hắn cũng hiền lành. Anh nghĩ hôm nay gặp Lâm Tú San nhất định phải vào phòng thường trực ngồi một lúc, phải để Lão Lý thấy cảnh anh mua khăn quàng tặng vợ, để hắn biết anh yêu thương cô đến nhường nào. Nhưng anh cũng không biết hôm nay Lão Lý có ca trực không. Hai nhân viên trong phòng thường trực luân phiên thay ca, mỗi người trực một ngày, nghỉ một ngày.

    Giờ là khoảng mười một giờ trưa, ánh nắng chói chang rọi vào mắt. Vương Nhuệ nhanh chân đến xưởng dệt. Ven đường đâu đâu cũng có người xách bánh trung thu và hoa quả, Vương Nhuệ biết họ đang chuẩn bị cho buổi tiệc ngắm trăng đêm nay. Ngày trước đón Trung thu ở thôn Hạ Tam, mẹ anh sẽ bày cỗ ở sân nhà, nào bánh trung thu, nào trái cây mang ra “tế trăng”. Sau khi bánh trung thu và trái cây đã được trăng chiếu rọi, mọi người mới bắt đầu thưởng thức.

    Vương Nhuệ đi qua phòng thường trực, anh cố tình ngó vào trong, thấy người trực không phải Lão Lý, anh hơi thất vọng. Người nọ không biết Vương Nhuệ, thấy anh đi thẳng vào xưởng dệt liền gào lên: “Này, đứng lại! Anh tìm ai?”

    Vương Nhuệ dừng bước, noi: “Tìm Lâm Tú San của tôi!”

    Người nọ nói: “Sáng sớm nay Lâm Tú San đã xách túi rời khỏi đây rồi, không có trong xưởng đâu!”

    Vương Nhuệ nói: “Sao có thể thế được!”

    Người nọ: “Không chê thì mời nán lại, vào trong thử tìm mà xem!”

    Anh ta làm đúng thủ tục, lấy ra một tờ đơn bảo Vương Nhuệ kê khai tên tuổi, còn kiểm tra cả chứng minh thư của anh, xong xuôi mới để anh vào. Vương Nhuệ cho rằng anh ta chắc chắn đã nhìn nhầm người, Lâm Tú San làm việc trong nhà ăn, sao có thể tự tiện ra ngoài cơ chứ? Anh nhanh chân chạy đến căng-tin, cửa bếp vừa mở liền ùa tới mùi thịt hầm thơm nức.

    Vương Nhuệ nhìn thấy Vương Ái Linh đang thái củ cải, hai người còn lại đang nhặt đậu que. Vương Ái Linh vừa thấy Vương Nhuệ liền hoảng hốt: “Sao cậu lại đến đây?”

    Vương Nhuệ nói: “Hôm nay Trung thu, ông chủ cho em nghỉ một ngày nên em về thăm Lâm Tú San.”

    Vương Ái Linh vứt con dao, chị “giời ơi” một câu, nói: “Hôm nay chúng tôi cũng cho Lâm Tú San nghỉ phép bảo con bé đi thăm cậu, sáng sớm nó đã xuất phát đến Cáp Nhĩ Tân rồi! Cậu mau mau bắt xe ngược về!”

    Vương Nhuệ đứng chôn chân tại chỗ, mãi một lúc sau mới bừng tỉnh, anh thốt lên: “Giời ơi là giời!”

    Vương Nhuệ gần như xông ra khỏi xưởng dệt. Lúc băng qua phòng thường trực, nhân viên bảo anh: “Tôi nói phải chứ?”

    Vương Nhuệ mặc kệ anh ta, anh chạy thẳng ra nhà ga. Đến nơi, anh lập tức mua vé nửa tiếng sau xuất phát đến Cáp Nhĩ Tân. Anh nghĩ, Lâm Tú San không tìm thấy anh nhất định sẽ đợi ở công trình.

    Giữa trưa, bụng Vương Nhuệ sôi òng ọc. Anh bỏ một đồng mua hai chiếc bánh bao dưa chua nhân thịt. Bánh bao vỏ dày ít thịt, đã vậy còn nguội ngắt, khó ăn muốn ói. Vốn đang nóng lòng như lửa, nghe tiếng loa phát thanh thông báo tàu chậm sẽ đến trễ 15 phút, thực sự là đổ thêm dầu vào lửa.

    Vương Nhuệ có một tật xấu, ấy là một khi sốt ruột, hệ bài tiết liền mất kiểm soát, anh sẽ chạy vào nhà vệ sinh liên tục. Năm xưa sinh con Lâm Tú San khó đẻ, nghe vợ mình khóc thét long trời lở đất, anh không kiềm được liên tục xông vào nhà vệ sinh, Khi con trai cuối cùng cùng cất tiếng khóc chào đời, anh đã tiểu tiện đến độ đầu choáng mắt hoa, cất bước cũng khó khăn.

    Mỗi lần ra khỏi nhà vệ sinh, anh lại nhìn thông báo trên màn hình điện tử phía cổng soát vé, chỉ sợ tàu lại vào trạm đúng giờ, bỏ lại anh ở đây. Bằng kinh nghiệm của mình, tuy anh biết một khi tàu chậm báo lùi giờ vào bến, sẽ không đời nào có chuyện đến đúng giờ ban đầu. Bởi phạm vi vận hành của tàu chậm khá ngắn, thường xe còn chưa tăng tốc đã phải dừng lại ở các trạm.

    Quả nhiên, chuyến tàu của anh không khác nào một gã say xỉn, chậm đến hẳn 20 phút mới ì ạch vào trạm. Có lẽ do Trung thu nên hành khách đông hơn bình thường, Vương Nhuệ không mua được vé có ghế ngồi, anh đứng ở khoang xe liền kề khoang pha trà. Ở đó cũng có mấy người không có chỗ ngồi như anh, có phụ nữ ôm con ngồi bệt ra sàn, không kiêng dè ai mà cho con bú. Vương Nhuệ nhìn thoáng qua vú sữa căng tròn lõa lồ, anh ngại ngùng cúi đầu, anh cảm thấy nhìn phụ nữ khác cho con bú chính là hành động bất trung với vợ.

    Những người khác đứng đó, có người hút thuốc, có người dựa vào vách gỗ bẩn thỉu, mệt mỏi ngủ gà ngủ gật.

    Lên tàu rồi, Vương Nhuệ thấy yên tâm hẳn. Anh đứng ở ngay cửa, qua ô kính vẩn đục ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài. Anh nghĩ, ngày nắng đẹp thế này, ánh trăng đêm nay chắc chắn cũng sẽ vô cùng tỏa sáng. Nhớ ngày xưa đón Trung thu ở thôn Hạ Tam, Lâm Tú San thường đổ nước vào chậu giặt quần áo, nhìn ngắm ánh trăng trong nước.

    Vương Nhuệ hỏi cô vì sao không ngắm trăng trên trời? Lâm Tú San cười khì khì: “Trăng trên trời không chạm tới, trăng trong nước còn vớt lên được cơ.” Nói đoạn, cô giơ tay vớt trăng, ánh trăng trong chậu nước run run rẩy rẩy, chốc lát như biến thành ông già nhăn nheo.

    Nghĩ đến Lâm Tú San, Vương Nhuệ thấy lòng ấm áp lạ thường.

    Tiếng tàu chậm chuyển bánh như một người bệnh hen, phát ra cỗ âm thanh khò khè khiến người ta nghẹt thở.

    Đứng một hồi, Vương Nhuệ thấy hơi tê chân. Anh quay người lại, phát hiện có mấy người đang lấy nước ở khoang trà, người cầm khay thức ăn dùng một lần màu trắng, người bưng cái ca còn đọng vài vệt nước. Bọn họ đều phàn nàn nước ở đây quá nguội.

    Vương Nhuệ nghĩ, thay vì tốn thời gian ở đây, chi bằng lên khoang trước hỏi xem có ai sắp xuống xe, tìm một vị trí trống để ngồi. Anh khó khăn len qua những người đang đi lấy nước, cuối cùng phát hiện tối đi phía trước cũng kín người, cũng biết ý định của mình tám chín phần mười thất bại. Anh hỏi sáu bảy người, họ không xuống ở điểm cuối thì cũng đã có người đặt gạch trước. Vương Nhuệ chỉ đành hậm hực quay lại khoang trà, nghĩ thầm quãng đường hai ba tiếng đồng hồ cũng không xa, thôi thì đứng yên ở cửa xe cho xong. Nhưng cửa tàu chậm này chẳng khác nào bộ răng giả dễ rụng, chưa dựa được bao lâu, xe đã dừng lại ở các trạm.

    Cửa xe mở ra, hành khách lên xuống xe lại chen vào, Vương Nhuệ đứng đó xoay mòng mòng, anh thấy mình giống hệt con quay, không tự chủ xoay tròn. Đợi đến khi cửa xe đóng lại, tàu hỏa tiếp tục chuyển bánh, anh đã choáng đến mồ hôi đầy đầu, miệng thở hồng hộc, tứ chi bủn rủn, sức cùng lực kiệt như vừa kết thúc một ngày lát gạch.

    Vương Nhuệ ước giá mà Tôn Ngộ Không xuất hiện ngay lúc này, nhờ ngài thổi một sợi lông biến tôi bé lại bằng con ong con muỗi, thế là tất cả chỗ ngồi đều thênh thang.

    Sau liên tưởng đó, anh thấy con người thật đáng thương, chim chóc đi đâu cũng chẳng cần mua vé, chỉ cần vỗ cánh, bầu trời liền trở thành đường đi của chúng.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 5


    Tàu chậm thường có các trường hợp trốn vé. Nhiều thành phần rất cao tay trong vụ này, thấy bảo vệ đến soát vé, họ không lẩn vào nhà vệ sinh thì cũng chui xuống gầm ghế. Còn có trường hợp hai người mua chung một vé, một vé hai suất, lúc bảo vệ kiểm tra, một người ngồi im tại chỗ, người khác trốn sang khoang khác. Người đã được soát vé thường làm bộ muốn vào nhà vệ sinh rồi tuồn tờ vé cho người còn lại. Cứ như vậy, người không có vé liền trở thành có vé, nghênh ngang quay lại chỗ ngồi.

    Những mánh chui vé kiểu này Vương Nhuệ được nghe từ các công nhân. Bọn họ rất hay trốn vé, kể đến là ai cũng sành sỏi ra mặt. Vương Nhuệ cũng từng có ý đồ chui vé, có lần anh chỉ mua một vé lên tàu, nhưng bảo vệ vừa đến kiểm tra, anh sợ mất hồn mất vía, không biết nên chạy vào nhà vệ sinh hay tót xuống gầm ghế trước mắt bàn dân thiên hạ.

    Cuối cùng anh đề nghị mua vé bù, kết quả phải bỏ ra hai tệ, giác ngộ thấy được một mất mười, về sau không đời nào dám mạo hiểm vậy nữa.

    Bảo vệ áp giải mấy vị anh hùng trốn vé bị mắc lưới, liếc thấy Vương Nhuệ, cho rằng khách đứng ở khoang pha chế này có vẻ khả nghi, liền thét lên: “Vé của đồng chí đâu?”

    Vương Nhuệ lục vé trong túi áo khoác, anh nhớ sau khi soát vé đã nhét vào đó. Nhưng moi mãi vẫn không thấy tung tích tấm vé đó đâu, anh lại lục đến túi quần, túi quần cũng rỗng tuếch!

    Tim anh hẫng một nhịp: Lẽ nào anh đánh rơi trong lúc chen chúc. Vương Nhuệ cúi đầu nhìn sàn, chỉ thấy vỏ quýt, vỏ hạt dưa và giấy ăn, không chút bóng dáng tấm phiếu. Vương Nhuệ hoảng hốt khô cả họng, anh cứng họng cãi bảo vệ: “Thề là tôi mua vé rồi!”

    Bảo vệ cười nhạt: “Mấy trò này tôi còn lạ lắm đấy, đi theo tôi!”

    Trong lúc bảo vệ kiểm tra vé của Vương Nhuệ, mấy tên trốn vé còn lại tẩu mất. Bảo vệ quay ra thấy chẳng còn một ai, liền hỏi người đàn bà bế con ngồi dưới đất: “Chị thấy họ chạy hướng nào không? Chạy lên khoang trước hay xuống khoang sau?!”

    Người đàn bà nói: “Tôi bận trông con tôi chứ trông họ làm gì, ai mà biết họ chạy đi đâu?”

    Bảo vệ đổ hết tội trạng lên đầu Vương Nhuệ: “Đi theo tôi!”

    Vương Nhuệ lóng ngóng lục vé, bực mình vì không thể lột s@ch đồ tìm một lượt. Bảo vệ yêu cầu anh đi theo, anh nói: “Đợi tôi tìm lại hẵng, tôi có mua vé thật mà!”

    Bảo vệ nói: “Tôi tóm được anh thì để lọt mất tận năm tên! Anh có phải đồng bọn của chúng không? Anh giữ chân tôi để cho họ chạy thoát chứ gì!”

    Vương Nhuệ oan ức vô cùng: “Anh đừng vu oan giá họa, tôi là đồng bọn với họ khi nào! Tôi với họ không quen không biết, chưa kể tàu của các anh là tấm lưới, bọn họ là cá trong lưới, miếu ở đây hòa thượng còn chạy đi đâu được?”

    Câu này của anh khiến bảo vệ cười nắc nẻ. Người đàn bà đang bế con cũng bật cười, chị ta bảo bảo vệ: “Tôi thấy anh còn chẳng bằng con gấu! Gấu đen tách ngô còn biết tách một bắp bỏ một bắp, anh thì tách một bỏ năm!”

    Nghe chị nói vậy Vương Nhuệ cũng đỡ căng thẳng. Anh bật cười, bảo vệ cũng cười, hành khách tập trung trong khoang này cũng cười. Mọi người như đang nói tướng thanh, không khí vui vẻ hòa thuận. Đáng tiếc tiếng cười không phải bàn tay biết hóa phép, không thể giúp Vương Nhuệ tìm về tấm vé thất lạc, anh chỉ đành cúi đầu uể oải đi theo bảo vệ. Họ đi dọc đến toa ăn uống, ở đó đã có mấy bảo vệ khác đang bổ sung vé cho quân trốn vé.

    Toa ăn uống có vài ghế trống, mấy cô phục vụ túm tụm nói cười, còn có vài đầu bếp đang đánh poker. Đầu bếp đội mũ trắng, áo khoác vốn trắng phau nhuốm màu dầu mỡ. Ruồi nhặng khoan thai le ve quanh tấm khăn trải bàn loang lổ vết nhơ.

    Vương Nhuệ ngồi xuống, kiên nhẫn giải thích với bảo vệ: “Xin đảm bảo với anh, tôi chưa dám trốn vé bao giờ! Anh cho tôi mấy phút, tôi chạy quanh đây tìm lại!”

    Bảo vệ nói: “Để bắt anh mà lọt mất năm người, tôi chưa bắt anh mua bù sáu vé là may cho anh lắm rồi! Nói mau, anh lên tàu từ trạm nào? Xuống ở trạm nào?”

    Vương Nhuệ nói: “Tôi lên ở trạm Nhượng Hồ Lộ, muốn đi đến Cáp Nhĩ Tân!”

    Bảo vệ gọi nhân viên bù vé: “Cho cậu này một vé từ Nhượng Hồ Lộ đến Cáp Nhĩ Tân!”

    Vương Nhuệ sốt ruột: “Tôi thề, tôi mà chưa mua vé thì bị sét đánh chết!”

    Bảo vệ nói: “Trời nắng chang chang thế này lấy đâu ra sét, thề thốt cái gì? Mua bù vé mau lên, không có đến Cáp Nhĩ Tân tôi gọi người đưa anh vào đồn đấy!”

    Vương Nhuệ vẫn cứng đầu, anh dõng dạc từng chữ: “Tôi – không – trốn – vé!”

    Bảo vệ nói: “Lời nói vô căn cứ, mang vé ra đây chứng minh coi!?”

    Vương Nhuệ: “Thế anh để tôi chạy vào nhà vệ sinh cởi hết quần áo ra kiểm tra, kiểm tra từng ngóc ngách!”

    Bảo vệ nói: “Không phải vào đấy làm gì, cứ đứng ngay đây mà cởi! Thời nay ai còn là kim đồng ngọc nữ chớ, có bộ phận nào trên cơ thể người chưa ai từng thấy đâu, cởi đê!”

    Câu nói của bảo vệ khiến mấy nữ phục vụ cười khúc khích, nhưng miệng chưa khép cũng đã nhanh chân rút chìa khóa rời khỏi khoang ăn uống. Xem ra lại sắp đến một trạm nữa, họ phải phụ trách mở cửa khoang xe mình quản lý.

    Vương Nhuệ cảm thấy mình bị sỉ nhục nặng nề, anh gầm lên: “Tôi có mua vé rồi, nhưng tôi không tìm thấy thật, chắc chắn nó đã rơi ở đâu đó!”

    Bảo vệ cười: “Đừng kích động, ngày lễ tết thế này, dĩ hòa vi quý thôi được không? Mau mua vé bù rồi rời khỏi đây đi!”

    Vương Nhuệ vẫn không cam lòng, anh nhớ không sai, tấm vé đó thực sự nhét trong túi áo. Anh cởi chiếc áo, bộ dạng như các nhà khảo cổ khai quật mồ mả, nghiêm túc săm soi túi áo. Kết quả phát hiện túi áo bị rạn chỉ bên trong, vé xe tọt vào miếng lót.

    May mà miếng vải lót bên trong được máy khá kĩ nên tờ vé mới bình yên nằm gọn trong đó. Hồ hởi lôi tấm vé bày trước mặt bảo vệ, anh thực sự phát bực với cái áo này, có khác gì tên hán gian bán đứng anh không cơ chứ!

    Bảo vệ trông thấy tấm vé liền nói: “Thực sự đổ oan cho cậu rồi ư!”

    Thấy Vương Nhuệ tủi thân như sắp khóc, bảo vệ lại nói: “Thôi cậu ngồi đây đi, không thu tiền ghế của cậu nữa!”

    Vương Nhuệ chẳng thèm ngồi lại đây, anh muốn quay về chỗ ban đầu. Anh phải mang tấm vé về cho hành khách trong khoang đó chứng kiến, anh không hề nói dối, anh hoàn toàn trong sạch! Vương Nhuệ vắt áo khoác lên tay, sải chân ra khỏi khoang ăn uống.

    Cùng lúc tàu hỏa cũng rời trạm, con xe rung lắc dữ dội khiến Vương Nhuệ cũng loạng choạng theo. Lúc về đến chỗ đứng ban đầu, anh thấy người đàn bà bế con đã đi mất, không biết xuống tàu rồi hay đi tìm chỗ ngồi khác! Hành khách ban đầu ở đó cũng đã thay thế bằng những khuôn mặt mới. Chỉ còn lại bếp đun rỉ sét là vẫn bày ra bộ mặt từng trải mùi đời, nghênh đón anh trở lại.

    Sau sự hụt hẫng Lâm Tú San để lại, Vương Nhuệ sinh ra ảo não, thêm trận phong ba vé tàu ban nãy khiến tâm trạng anh sa sút triệt để. Nghĩ bụng sớm biết thế này đã không bốc phét trước ống kính, chẳng những bị đồng nghiệp chê cười, ngày nghỉ anh đánh đổi cũng chằng hề vui vẻ.

    Trưa hôm trước, lúc ăn trưa trong công trường, quản đốc gọi anh ra bảo có hai phóng viên của đài truyền hình đến đây, muốn phỏng vấn tình hình đãi ngộ đối với người làm thuê. Quản đốc thấy Vương Nhuệ có ngoại hình ổn, mồm miệng cũng khéo, bảo anh phát biểu vài lời hay ho về công ty, cứ nói điều kiện ăn ở công ty trợ cấp rất tốt, cũng chưa từng nợ lương nhân công vân vân mây mây.

    Vương Nhuệ không muốn làm người phát ngôn cho họ, nhưng đốc công thì thầm vào tai anh: “Cậu nói tốt sẽ thưởng cậu 100 đồng!”

    Vương Nhuệ nói: “Ngoài tiền ra em còn muốn xin nghỉ Tết Trung thu, có vậy em mới đi.”

    Đốc công vỗ ngực: “Không thành vấn đề!” Thế là Vương Nhuệ bị phóng viên kéo sang một bên phỏng vấn.

    Phóng viên nam chĩa ống kính như tên lửa vào mặt anh, nữ phóng viên thì cầm cây mía tượng trưng cho micro dí vào mồm anh. Tuy là lần đầu ghi hình, nhưng Vương Nhuệ không hề thấy căng thẳng.

    Phóng viên hỏi anh: “Anh có hài lòng với điều kiện ăn ở của Công ty Vĩnh Hằng không?”

    Vương Nhuệ đáp: “Rất hài lòng, đồ ăn hàng ngày có thịt, có cơm, có màn thầu! Sinh hoạt cũng không quá chật chội, đủ duỗi dài cẳng chân!”

    Phóng viên hỏi: “Công ty có từng nợ lương các anh không?”

    Vương Nhuệ nói: “Không đâu, cứ đến đầu năm là chúng tôi đều nhận đủ lương!”

    Phóng viên hỏi: “Anh có thích làm công nhân xây dựng không?”

    Vương Nhuệ đáp: “Thích chứ, vì tôi đang xây dựng tổ ấm cho người dân mà. Chim không tổ thì phải dãi dầm nắng mưa, người không nhà thì là kẻ lang bạt rồi còn gì?”

    Phỏng vấn kết thúc suôn sẻ, đốc công rất hài lòng, ông giữ đúng lời hứa trả anh 100 đồng và một ngày nghỉ phép. Vương Nhuệ dùng 100 đồng mua khăn choàng cho Lâm Tú San, mua ít quýt và bánh trung thu, định bụng đến Nhượng Hồ Lộ tạo bất ngờ cho cô, ai mà ngờ Lâm Tú San cũng được nghỉ một ngày, cũng bất ngờ đến tìm anh. Xem ra một khi đã đi sai, hai niềm vui bất ngờ liền trở thành nỗi sầu.

    Vương Nhuệ vẫn nhớ cảnh tượng các công nhân vây quanh màn hình tivi vẻn vẹn 12inch xem chương trình anh phỏng vấn, hình ảnh Vương Nhuệ vừa biến mất khỏi chương trình buổi tối, mọi người bắt đầu bàn tán.

    Người thì bảo Vương Nhuệ làm nghề này là quá phí, khả năng bịa chuyện của anh hoàn toàn xứng đang đi làm hôn quan; người lại bảo sau này mà túng thiếu quá thì sẽ tìm vay anh, ai bảo anh chém gió công ty không nợ lương? Còn có người bảo bộ dạng của Vương Nhuệ trông giống người này người kia, mà những cái tên kể ra đều là nhân vật phản bội trong các bộ phim điện ảnh.

    Đám công nhân lời qua tiếng lại như bầy ong chích lên mặt anh, Vương Nhuệ đành phân bua: “Em mà không nói tốt một chút thì công ty đuổi việc cả lũ chứ chả đùa. Kiếp ăn nhờ ở đậu như chúng ta là phải dẻo mồm!”

    Đám công nhân không nói gì hơn. Nhưng Vương Nhuệ cảm thấy rất khó chịu, nghĩ thầm đàn bà và vật chất quả thực có thể lôi kéo con người trở nên sa đoạ, 100 đồng và Lâm Tú San, đủ điều kiện mua chuộc anh mặt dày ca ngợi người ta.

    Lúc Vương Nhuệ lên tàu ngược trở lại Cáp Nhĩ Tân, Lâm Tú San cũng hụt hẫng lên tàu ngược về Nhượng Hồ Lộ.

    Khoảng 12 giờ trưa, cô đến công trường của Vương Nhuệ. Cô nhờ hai công nhân đang vận chuyển gạch lên cần cẩu: “Phiền các anh gọi Vương Nhuệ giúp em với!”

    Hai người nọ trơ mắt nhìn nhau, họ cười khà khà: “Vương Nhuệ là ai? Chúng tôi không quen!”

    Lâm Tú San quen Dương Thành, người đồng chí cạnh giường Vương Nhuệ, cô hỏi: “Thế các anh quen Dương Thành không?”

    Hai người vẫn cười khà khà, đồng thanh đáp: “Vương Thành là ai? Chúng tôi không quen!”

    Lâm Tú San tưởng mình đến nhầm công trường, đang lúc hoài nghi, hai người kia lại cười nói: “Em là vợ Vương Nhuệ hả? Bọn anh từng gặp em rồi, trước kia có đến công trường thăm Vương Nhuệ mà! Nhưng hôm nay cậu ấy không ở đây!”

    Vừa nghe Vương Nhuệ không ở công trường, Lâm Tú San mềm nhũn hai chân, hoa cả hai mắt, giọng run rẩy: “Anh ấy xảy ra chuyện gì ạ?”

    Hai công nhân nhìn nhau cười, một người lên tiếng: “Cậu ấy giờ là minh tinh rồi, còn lên tivi cơ mà!”

    Lâm Tú San càng kinh hãi, cô nghĩ Vương Nhuệ cũng không phải loại người có thân phận có địa vị có tiền của, anh được lên tivi khác gì những người nghèo khổ ngoài kia, một là phạm pháp hoặc hi sinh hình tượng để giáo dục xã hội, cũng tức là hình tượng bị người ta lừa, khóc lóc đòi công bằng.

    Đang lúc lòng như lửa đốt, Lâm Tú San trông thấy Dương Thành cùng mấy công nhân khác đang vận chuyển dụng cụ lên tầng, cô vội chạy qua gọi anh: “Chào anh Dương, Vương Nhuệ nhà em rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy ạ? Sao anh ấy không tới công trường?”

    Lúc nói những lời này, cô đã bắt đầu rơm rớm nước mắt.

    Dương Thành thấy Lâm Tú San thì “giời ạ” một tiếng, lại nói: “Vương Nhuệ đi thăm em rồi mà, hai đứa ngược đường nhau rồi!”

    Lâm Tú San nói: “Anh đừng lừa em, anh ấy sao rồi? Mọi người đều đang làm việc mà, sao anh ấy lại vắng mặt?”

    Dương Thành vắn tắt chuyện Vương Nhuệ nhận lời tham gia phỏng vấn được công ty thưởng một ngày nghỉ. Anh nói: “Em mau bắt xe ngược về, tầm này chắc Vương Nhuệ đã đến chỗ em lâu rồi!”

    Lâm Tú San nói: “Anh không lừa em thật ư?”

    Dương Thành: “Anh lừa em làm gì!”

    Dứt lời, Lâm Tú San cuống quýt chạy ra bến tàu bắt xe ngược về, cô mua tấm vé khởi hành lúc một giờ năm phút chiều. Nghĩ bụng Vương Nhuệ biết chuyện cô đến Cáp Nhĩ Tân tìm anh mà không gặp được, nhất đinh sẽ đoán ra cô lập tức bắt xe ngược về. Anh mà không đợi cô ở cổng xưởng dệt thì chắc chắn cũng đợi ở nhà trọ tư nhân họ thường lui tới.

    Biết Vương Nhuệ vẫn bình an vô sự, Lâm Tú San bình tĩnh trở lại. Cô vào tiệm bán thức ăn nhanh gọi một suất mì trộn tương, sau đó liền chen vào dòng người qua cổng soát vé, đi xuống đường hầm dưới lòng đất, cô tìm đến vị trí con tàu của mình.

    Ước tính trước năm giờ chiều sẽ gặp được Vương Nhuệ. Lâm Tú San không đen đủi như anh, cô mua được vé có ghế ngồi, hơn nữa còn ngay sát cửa sổ, điều này khiến cô thầm đắc ý. Cô cũng giống anh, cũng thích ngắm nhìn con sông Tùng Hoa khi tàu băng qua cầu.

    Có lần cô còn bắt gặp cảnh mặt trời lặn xuống đáy sông, ngỡ như con sông chính là loài thuồng luồng ngậm lấy viên trân châu xán lạn.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 6


    Đoàn tàu rời ga trong khúc nhạc dịu êm.

    Nếu như nói, Lâm Tú San cảm thấy trạm Nhượng Hồ Lộ hệt như cái chuồng gia súc, thực chất nó chỉ là cái lán nhỏ, trạm tàu ở Cáp Nhĩ Tân mới đích thị là cái chuồng gia súc lớn.

    Phía tám cổng ra vào, từng dòng tàu hỏa nối liền không dứt. Còi hơi đua nhau cất tiếng, không khác gì tiếng lừa hí ngựa kêu trâu ọ chó sủa gà gáy tụm lại một chỗ. Đoàn tàu màu vỏ quýt trông như con trâu tráng kiện, đoàn tàu xám bạc thì giống những thớt tuấn mã tím nhạt.

    Con tàu chậm thân xanh cô đang ngồi, lại giống loài cừu ôn hòa. Lần này, chuyến tàu chạy từ Cáp Nhĩ Tân về Nhượng Hồ Lộ. Thường tàu mới khởi hành còn rất sạch sẽ, chúng giống như những thiếu nữ thức dậy sửa soạn mỗi sớm mai, khiến người ta thấy tinh tươm, sảng khoái. Còn những con xe lặn lội đường xa băng qua, chúng nhếch nhác như một bà cụ.

    Ghế đôi đối diện chỗ ngồi của Lâm Tú San vẫn còn trống, cô muốn đổi hướng ngồi, như vậy sẽ cùng với phương hướng đoàn tàu đang tiến lên.

    Nhiều người ngồi ngược chiều xe chạy không quen nên dễ say xe, Lâm Tú San thì không. Nhưng cô vẫn thích ngồi cùng chiều tàu chạy, nếu không ngay cả khi con tàu đang lao về trước, cô vẫn sẽ có cảm giác như đang lùi về sau. Hơn nữa, ngồi ngược lại ngắm cảnh, mỗi cái cây, mỗi ngôi nhà giữa ruộng đồng đều biến từ to thành nhỏ, cuối cùng chỉ nhỏ xíu như hạt vừng, khiến bạn có cảm giác như đang lạc vào cõi hư ảo, nơi mọi thứ như đang tức tốc biến mất một cách kì dị. Ngược lại, ngồi cùng hướng tàu chạy ngắm cảnh, cảnh vật ngoài kia từ mơ hồ dần trở nên rõ rệt, chúng luôn biến mất trong khoảnh khắc hiện diện rõ nét nhất, khiến người ta cảm thấy vô cùng chân thực.

    Lâm Tú San vừa đổi hướng ngồi, có hai người từ lối vào khoang tàu bước tới.

    Họ cao ngang nhau, nhưng một béo một gầy. Người đàn ông gầy đeo cặp mắt kính, rất có khí chất, trông nho nhã lịch sự, cảm giác rất có văn hóa. Tuy nhiên hai tay anh ta bị còng tay chụp lại. Người đàn ông béo cỡ bốn chục tuổi, anh ta khoác túi du lịch màu đen, mặc áo sơ mi tăm nhung màu đồng, khóe miệng bên phải trầy xước, trông như trái dâu tây dập nát.

    Người đàn ông béo xòe hai tấm vé, đứng lại trước mặt Lâm Tú San, nói: “Cô gì ơi, đây là chỗ của cô sao?”

    Lâm Tú San đỏ mặt như ăn trộm bị tóm cổ, cô vội vàng đứng dậy ngồi về phía đối diện: “Dạ tôi thấy tàu chạy rồi mà vẫn chưa có người ngồi, tôi tưởng ghế này bỏ trống, xin lỗi nhé.”

    Người béo nói: “Không sao.”

    Anh để người đang bị còng tay ngồi cạnh cửa sổ, sau đó ngồi xuống hàng ghế bên kia lối đi, đặt hành lý lên đùi. Sau khi ngồi xuống, người đàn ông gầy thản nhiên đặt tay lên bàn trà, như đang cố tình trưng bày cái còng tay kia vậy. Người béo hỏi: “Muốn đi vệ sinh hả?”

    Người gầy lắc đầu. Người béo lại hỏi: “Khát nước?”

    Người gầy vẫn lắc đầu. Người béo mở túi hành lý, rút ra chiếc xiềng chân, gồng người cúi xuống đeo lên chân người gầy, sau đó khóa túi lại, anh vứt nó lên hộc hành lý, ngáp một cái, dáng vẻ như đã mệt mỏi đến tột cùng.

    Lâm Tú San đoán, người đeo kính là phạm nhân bị đưa về quy án, người đàn ông béo là một cảnh sát. Nghĩ thấy đối diện mình là tội phạm, cô hơi hãi hùng khiếp vía, thậm chí lúc đoàn tàu qua sông, cô căng thẳng đến mức quên cả ngắm sông Tùng Hoa.

    Cô không biết người đàn ông này phạm tội gì, giết người, hi3p d@m, cướp bóc hay là lừa đảo! Trông anh ta vừa trẻ vừa có khí chất, Lâm Tú San tiếc thay cho anh.

    Một bảo vệ đi tới. Anh dừng lại trước chỗ người béo, nói: “Lão Vương, có cần tôi giúp gì không?”

    Người béo bị gọi với cái tên Lão Vường “ừm” một tiếng, hắng giọng nói: “Không cần đâu, mọi thứ đều ổn.”

    Bảo vệ ngồi xuống cạnh Lâm Tú San, nhìn người đàn ông gầy, anh bảo Lão Vương: “Hắn ta giết hai người cơ mà! Mẹ nó! Đúng là không nhìn ra đấy!”

    Lão Vương cười, nói: “Với thị lực của cậu thì không phải tôi đang áp giải cậu ta đâu, mà phải là cậu ta áp giải tôi mới đúng.”

    Bảo vệ cũng bật cười, đáp: “Nói cũng phải! Người ta giống cảnh sát hơn, cậu thì trông như tên tội phạm!”

    Phạm nhân khẽ run còng tay, hẳn nở nụ cười khó nhận ra.

    Bảo vệ và Lão Vương mỗi người châm một điếu thuốc, họ nói sang chuyện khác, một lúc sau bảo vệ rời đi, Lão Vương lim dim ngủ gật. Lúc rời khỏi đó, bảo vệ nói với tội phạm: “Thời gian không còn nhiều, cậu sắp lên đoạn đầu đài rồi, không còn cơ hội được ngồi tàu hỏa đâu, hãy tận hưởng nốt phong cảnh này đi!”

    Lâm Tú San vốn định đổi chỗ ngồi khác tránh xa tên tội phạm này chút, nhưng cô rất tò mò, sao người này có thể là tội phạm giết người? Sao anh ta lại giết người? Cô rất muốn nói chuyện với người ta, nhưng không biết mở lời thế nào. Hơn nữa cũng sợ chọc đúng máu điên, để rồi kích động anh ta thò đôi tay đang bị còng kia phang đầu cô nát bươm như quả dưa hấu. Nghĩ một người đang sống sờ sờ thế này sắp bị xử bắn, người cô lạnh toát từng cơn. Mỗi lần liếc mắt nhìn anh ta, cô thấy như đang nhìn một bóng ma.

    Cảnh sát mặc thường phục ngáy o o. Có lẽ vì biết tội phạm đã bị trói chả chân cả tay, bửa bước còn khó đi, nên mới ngủ ngon lành đến vậy. Một vài hành khách biết trên tàu đang có tội phạm giết người, họ lặng lẽ đi qua hóng hớt. Phạm nhân cũng không để tâm, anh ta bình tĩnh đánh giá những người tới nhìn mình. Mỗi vị hành khách ghé qua bắt gặp ánh mắt của anh đều sợ chạy mất dép. Phạm nhân lúc thì ngắm cảnh, lúc lại nhìn Lâm Tú San. Anh ta ngắm cảnh rất lâu, còn nhìn Lâm Tú San thì chỉ liếc qua. Lúc anh ta quét mắt qua người mình, Lâm Tú San thấy như bị ác quỷ trên vai khẽ vỗ một cái, rất lạnh lẽo.

    Mỗi khi tàu dừng vào trạm, khoang xe sẽ nháo nhiệt một phen. Những lúc đó cảnh sát sẽ hé mắt, mơ màng liếc tên tội phạm. Sau khi tàu tiếp tục chuyển động, anh ta lại trở về cơn mơ. Hành khách lên tàu ngày càng nhiều, các ghế trống không còn rảnh rỗi như ban đầu, ngoại trừ vị trí cạnh Lâm Tú San. Có hai hành khách vừa ngồi xuống, thấy đôi tay bị còng của tội phạm đặt trên bàn trà liền cuống quýt bỏ đi. Chỗ ngồi này giống như chiếc ngai vàng, không một ai dám ngồi.

    Lâm Tú San ngồi đây không còn tâm trạng nào nghĩ đến Vương Nhuệ. Tiềm thức cô chỉ còn tội phạm ngay trước mặt. Có vài lần cô thử hắng giọng, muốn hỏi dò: “Năm nay anh bao nhiêu tuổi?” Nhưng lời đến cửa miệng lại nuốt xuống.

    Có lẽ phạm nhân cũng nhìn ra ý đồ của cô, mỗi khi Lâm Tú San hắng giọng xong, anh ta sẽ chớp chớp mắt, mìm cười với cô. Nụ cười của anh ta khiến Lâm Tú San lạnh sống lưng. Cô không sợ phạm nhân đó cười, mà là sợ nụ cười này sẽ nhanh chóng tiêu tan cùng gió mây, cô lấy làm tiếc cho anh ta.

    Lâm Tú San chưa từng gặp phạm nhân bao giờ, càng không nói ngồi đối mặt với người ta thế này. Trong ấn tượng của cô, tử tù thường có vẻ ngoài hung ác, xấu xí khó coi. Không ngờ trông anh ta lại nho nhã lịch thiệp như vậy.

    Lâm Tú San không quen ngắm cảnh ngược chiều kiểu này, vậy nên mỗi khi trông ra cửa, cô không khỏi cảm thấy chán chường. Cô đã không còn e ngại việc ngồi trước mặt phạm nhân, đứng dậy lấy túi hành lý trên hộc đồ, mở ra tiếp tục nghịch mấy đồ trong đó.

    Đầu tiên cô lấy ra chiếc đồng hồ, lên cót cho nó một cách vô nghĩa. Mấy phút sau, đồng hồ kêu lên “tít tít tít”, cảnh sát giật mình tỉnh dậy, anh ta lập tức đứng phắt dậy, rút súng gài bên hông.

    Phạm nhân thấy vậy không khỏi bật cười, lúc này anh ta đã cười thành tiếng. Cảnh sát nhìn chiếc đồng hồ, trợn mắt bảo Lâm Tú San: “Nghe giống còi báo động thế không biết.”

    Lâm Tú San cũng cười. Hàm răng vàng của cô khiến cảnh sát phản cảm, anh ta nhíu mày. Lâm Tú San cất đồng hồ lại túi. Cảnh sát cảnh cáo: “Cô đừng cài báo thức nữa đấy, chút nữa nó lại kêu xem, tôi rút súng cho nó lõm đầu luôn!”

    Lâm Tú San nghĩ, Cục cảnh sát giao súng cho anh là để thi hành công vụ, thử bắn nát cái đồng hồ của tôi đi, xem anh có bị đuổi khỏi đội công an không!

    Cất chiếc đồng hồ, Lâm Tú San lại lấy ra chiếc kèn ác-mô-ni-ca. Cô vuốt v e chiếc kèn, lòng lại nhớ về Vương Nhuệ. Nghĩ bụng chắc chắn anh đang sốt ruột đợi cô lắm đây. Trưa nay anh ăn cơm chưa nhỉ? Cô sợ nhất anh đi ăn mì lạnh Hàn Quốc, dạ dày anh không tốt, ăn mì lạnh dễ bị đau dạ dày. Nhưng anh lại khoái món ấy lắm. Lâm Tú San tính tối nay rủ anh đi ăn sủi cảo Tam Tiên, cho anh ăn canh sủi cảo nóng hổi.

    Lúc cô nghịch chiếc kèn, ngẩng đầu nhìn tội phạm, cô phát hiện ánh mắt anh ta đã biến đổi, trước đó ánh mắt ấy rất lạnh nhạt, sầu muộn, lúc này lại trở nên dịu dàng, hiền hòa. Anh ta tập trung ngắm nhìn chiếc kèn của cô, Lâm Tú San nghĩ có lẽ anh ta cũng biết thổi như Vương Nhuệ.

    Có lẽ anh ta cũng giống Vương Nhuệ, xưa kia từng thổi kèn để dành lấy ái tình.

    Lâm Tú San thấy anh ta si mê nhìn chiếc kèn, cô muốn cất vào túi, bởi nó thuộc về chồng cô, những người đàn ông khác không xứng được chiêm ngưỡng. Nhưng lại nghĩ anh ta không còn sống được bao lâu, nếu đã muốn nhìn, thôi thì cho anh nhìn thỏa thích. Cô đặt chiếc kèn lên bàn trà để anh ta ngắm thật kĩ.

    Phạm nhân nhìn chiếc kèn, trông anh ta như người vừa trải qua cái giá rét mùa đông bắt gặp sắc liễu xuân về, mê mẩn và ngây ngất.

    Lâm Tú San hỏi: “Anh biết thổi không?”

    Phạm nhân gật đầu, sau đó khẽ thở dài. Lâm Tú San hiểu, tiếng thở dài bắt nguồn từ chiếc còng trên tay, muốn thổi ác-mô-ni-ca, cần phải có một đôi tay tự do.

    Lâm Tú San đẩy viên cảnh sát dậy: “Anh tháo còng tay cho anh ấy một lúc được không?”

    Cảnh sát liếc mắt nhìn Lâm Tú San, hỏi: “Làm gì? Vất vả lắm mới tóm được hắn, cô muốn thả đi hả?”

    Lâm Tú San mỉm cười giơ chiếc kèn ác-mô-ni-ca: “Anh ấy muốn thổi một bài, anh để anh ấy toại nguyện đi.”

    Cảnh sát quay đầu nhìn phạm nhân, anh châm chọc: “Cậu cũng giỏi đấy, tôi mới chợp mắt một hồi, cậu đã kịp làm lòng người lung lay rồi!”

    Cảnh sát ho khan một tiếng, lại híp mắt nhìn. Cử chỉ của anh ta tỏ rõ không muốn tự tiện tháo còng cho phạm nhân. Lâm Tú San vốn không định xin xỏ thêm, nhưng cô quả thực không nhịn được khi thấy ánh mắt phạm nhân nhìn chiếc kèn: Vừa chờ mong, vừa thương cảm!

    Cô lại lay người cảnh sát, nói: “Anh tháo còng cho anh ấy thổi một bài đi! Không thả lâu đâu, chỉ đúng một bài thôi!”

    Cảnh sát thở hắt, nói; “Cô là gì của cậu ta?”

    Lâm Tú San trịnh trọng nhấn mạnh: “Tôi là người của Vương Nhuệ!”

    Cảnh sát hỏi: “Vương Nhuệ là ai!?”

    Lâm Tú San cười híp mắt: “Là chồng tôi, anh ấy cũng biết thổi kèn!”

    Cảnh sát hỏi phạm nhân: “Cậu muốn thổi kèn thật hả?”

    Phạm nhân gật đầu. Cảnh sát vẫn hơi dè chừng, Lâm Tú San khích lệ: “Anh xích chân rồi mà, khác gì con lừa bị buộc vào cối xay đâu? Chạy đi đâu được chứ!”

    Lâm Tú San hồn nhiên so sánh với hình tượng gia súc, cảnh sát nghe đoạn bật cười. Anh bảo phạm nhân: “Đây cũng là bản nhạc cuối cùng của cậu rồi, thôi thì cho một cơ hội.”

    Cảnh sát rút chìa khóa trong túi áo, tháo còng tay cho phạm nhân. Đôi tay người phạm nhân thon dài như tay phụ nữ, chỉ là nó không có huyết sắc.

    Trước hết, phạm nhân vận động cổ tay, sau đó mới dè dặt nhấc chiếc kèn lên như một đứa trẻ được phóng thích, nhẹ nhàng kề bên môi. Lâm Tú San bỗng thấy căng thẳng, cô không biết chiếc kèn sẽ phát ra âm sắc gì, liệu nó có xinh đẹp hay không?

    Bỗng nhiên, chiếc kèn nhỏ nhắn phát ra giai điệu du dương như làn nước mùa xuân, khiến Lâm Tú San cảm thấy cái đẹp ùa đến quá bất thình lình. Cô chưa từng được nghe một giai điệu ôn hòa, ấm áp, thương tâm, thê mỹ đến vậy, khúc nhạc này gần như thôi thúc cô rớm lệ.

    Bản nhạc do Vương Nhuệ thổi chỉ khiến cô thấy buồn cười, đó là cái đẹp thiên về sự trong trẻo; còn khúc nhạc của phạm nhân lại mang màu sắc thê lương, khiến cô nghe mà rưng rưng. Giờ đây Lâm Tú San mới hiểu, có những lúc muốn khóc mà lòng vẫn thật đẹp!

    Cảnh sát có lẽ cũng bất ngờ trước tài thổi kèn của phạm nhân, anh ta không kìm được lắc lư theo điệu nhạc, hành khách trong khoang xe cũng rủ nhau tìm đến nơi phát ra tiếng nhạc. Họ tụ tập bên cạnh Lâm Tú San và cảnh sát, nghe nhạc mà lòng chứa chan.

    Kết thúc một bài, phạm nhân nhẹ nhàng đặt chiếc kèn xuống bàn trà, Lâm Tú San thấy ngón tay anh run rẩy không thôi. Các hành khách chưa nghe đã đời, họ cầu xin cảnh sát: “Để cậu ấy thổi thêm một bài đi mà!”

    Cảnh sát sảng khoái đáp: “Được, hôm nay là Tết Trung thu, hãy phục vụ mọi người hai bản nhạc, tuy không thể chuộc tội, nhưng cũng coi như đã có cống hiến cho nhân dân!”

    Nghe vậy, phạm nhân run rẩy cầm lại chiếc kèn. Lâm Tú San thường cười nhạo dáng vẻ thổi kèn của Vương Nhuệ giống hệt một người răng yếu gặm bắp ngô già. Còn động tác thổi kèn của phạm nhân lại như cậu thiếu niên khôi ngô gặm dưa leo trên đồng cỏ xanh biếc. Thậm chí cô gần như ngửi thấy một mùi hương tươi mát.

    Bản nhạc thứ hai anh thổi vẫn thê lương, uyển chuyển, như mộng như ảo. Lâm Tú San nhận thấy nước mắt đã lặng lẽ lăn trên khuôn mặt phạm nhân, lăn xuống chiếc kèn, chiếc kèn như thấm đẫm gió sương, ướt dầm dề.

    Bản nhạc kết thúc, hành khách vỗ tay tán thưởng. Cảnh sát tuy vẫn chưa hết thòm thèm, những vẫn từ chối lời thỉnh cầu của mọi người, còng đôi tay ấy lại. Chiếc kèn từng dính hơi thở và nước mắt của phạm nhân về lại tay Lâm Tú San.

    Lâm Tú San thấy hơi có lỗi với Vương Nhuệ, cô cầm chiếc kèn đến bồn rửa mặt, dùng nước lạnh rửa sạch sẽ. Nhưng nước xối mãi, nước mắt cô cũng tuôn trào. Khi tàu hỏa đã dừng lại ở trạm Nhượng Hồ Lộ từ khi nào, Lâm Tú San thậm chí còn cảm thấy đoạn đường này quá ngắn ngủi.

    Trước khi xuống tàu, cô nói với phạm nhân: “Điệu kèn anh thổi rất đẹp.”

    Cô không biết cảnh sát sẽ áp giải anh xuống ở trạm nào. Phạm nhân gật đầu với cô như một lời từ biệt. Từ đầu đến cuối, anh ta không nói câu nào.

    Ra đến sân ga ồn ào náo động, Lâm Tú San chợt thấy thất vọng và mất mát. Cô đứng lại một lúc định thần, đầu mới dần hiện ra bóng dáng cao gầy của Vương Nhuệ.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 7


    Công trình xây dựng là nơi hỗn tạp nhất trần đời. Tiếng máy trộn bê tông, tiếng cần cẩu lên xuống, tiếng những thanh thép va chạm nhau giòn giã cùng tiếng bay gọt viên gạch hoà vào nhau khiến tai người ta ù đi.

    Lúc còn ở thôn Hạ Tam, thứ Vương Nhuệ cảm nhận sâu sắc nhất chính là sự yên tĩnh của thôn quê. Ba năm vào thành phố, anh thấy khổ nhất không phải cái thân này, mà là lỗ tai.

    Ở công trường, mỗi giây mỗi phút đôi tai đều phải chịu sự giày xéo của tạp âm. Trước kia ở dưới quê, dù chỉ là tiếng trâu ợ anh cũng có thể nghe rõ mồn một. Nhưng ở thành phố, môi trường sống và làm việc quá mức ồn ào, dường như anh không còn mấy mẫn cảm với âm thanh như trước nữa.

    Giờ đây anh mới hiểu, âm thanh thực sự chỉ tồn tại ở nơi yên tĩnh. Đa số âm thanh thực chất là một dạng thức vô thanh.

    Vương Nhuệ nóng lòng đuổi tới công trường, lúc này hoàng hôn đã ngả bóng đằng tây.

    Vương Nhuệ tưởng sẽ gặp được Lâm Tú San, cô sẽ ngoan ngoãn ở đó chờ đợi anh, nhưng anh lại phải thất vọng. Liệu cô có nghe nói anh tới Nhượng Hồ Lộ nên nhảy lên tàu ngược về không? Vương Nhuệ vừa nghĩ vậy liền lạnh lòng.

    Anh gặp được hai công nhân, bèn hỏi họ: “Các chú có gặp vợ tôi không?”

    Người bạn kia đáp: “Không qua đêm với vợ à, sao đã chạy về rồi?”

    Vương Nhuệ nghĩ Lâm Tú San nhận ra Dương Thành, cô không thấy anh chắc chắn sẽ tới tìm Dương Thành nghe ngóng. Vương Nhuệ ngồi cần cẩu lên tầng thượng, anh tìm thấy Dương Thành.

    Dương Thành vừa thấy anh liền kêu lên: “Sao cậu lại về đây rồi? Tôi bảo vợ cậu đi tìm cậu đấy!”

    Vương Nhuệ thấy chân mình mềm nhũn, anh bất lực: “Sao cô ấy không biết đường ở đây đợi tôi cơ chứ.”

    Dương Thành nói: “Tôi bảo cô ấy về đấy! Cậu mau ngược về đó đi! Áng chừng cô ấy cũng về đến trạm rồi!”

    Vương Nhuệ nản chí ngã lòng: “Đi đi về về cả ngày trời, tôi thấy còn mệt hơn cả đi làm!”

    Dương Thành cười khúc khích: “Tối nay ôm vợ trong lòng, mệt mấy cũng bay sạch!”

    Vương Nhuệ nghĩ vẫn còn kịp, anh rời khỏi công trường, nhảy lên xe buýt ra ga tàu hoả, lại mua một tấm vé đến Nhượng Hồ Lộ. Lần này anh rất may mắn, không những mua được ghế ngồi, đã thế chỉ mười phút sau khi anh mua vé thì tàu đã đến.

    Vương Nhuệ ngồi trong khoang tương đối sạch sẽ và sáng sủa, nghĩ chỉ ba tiếng nữa là được gặp Lâm Tú San, anh lại thấy lòng phơi phới.

    Đoàn tàu chậm rãi băng qua cầu Tễ Hồng, sau khi đi qua những toà nhà u tối, đoàn tàu cùng âm vang tiến lên cầu Giang.

    Lần này Vương Nhuệ quên mất phải ngắm sông Tùng Hoa, lúc này tà dương đã lặn quá nửa, một nửa mặt sông được phủ dưới bóng chiều cam cháy, nửa còn lại là một mảng xám xịt. Dòng sông này trông thoáng qua như một mỹ nữ đang khoác chiếc áo lụa vàng nhưng chỉ xỏ một ống tay áo, nửa sáng nửa tối.

    Vương Nhuệ thấy nhìn thế này lại đâm ra thanh nhã. Cả con sông sáng bừng dễ khiến người ta thấy kiều diễm quá, còn nếu xám hẳn lại khiến người ta ngột ngạt. Chỉ khi nửa sáng nửa tối tương phản thế này, mới có ma lực làm say đắm lòng người. Thậm chí anh còn cảm thấy anh và Lâm Tú San cứ ngọt ngào được mãi, cũng là nhờ trạng thái sinh hoạt lúc gần lúc xa như này.

    Khi họ sống độc lập, đó là mảng “tối”; khi gặp gỡ nhau, đó là mảng “sáng”, sáng tối giao thoa luôn để lại dư vị tuyệt vời.

    Đoàn tàu đi mãi, sắc trời tối dần, khoang xe lên đèn, ánh sáng rọi xuống trong mơ hồ tạo cảm giác ảm đạm.

    Đối diện Vương Nhuệ là hai người đàn ông trông lạ hoắc, một người cặm cụi viết số má gì đấy, người còn lại giết thời gian với quyển tạp chí. Người đọc tạp chí chốc chốc lại ngẩng lên liếc Vương Nhuệ, Vương Nhuệ nghĩ mặt anh có phải con chữ đâu mà nhìn?

    Bên cạnh Vương Nhuệ là một bà cụ, vừa lên xe là bà đã dựa vào cửa sổ nghỉ ngơi. Tư thế ngủ của bà rất đặc biệt, hai tay không hề thả lỏng mà khoanh lại trước ngực. Thời buổi này chẳng còn mấy ai đeo găng tay nhưng bà cụ này lại đeo một đôi rất bắt mắt. Một người phụ nữ tròn trịa khoác áo trắng đẩy xe hàng xiêu vẹo tới đó, trên xe có bán cơm hộp.

    Vương Nhuệ đói bụng, anh mua một phần cơm 6 tệ. Bình thường anh không thích mua cơm trên tàu cho lắm vì giá đắt đỏ. Ví dụ hộp cơm anh vừa mua, lượng cơm chỉ bằng nắm tay, kèm ít thức ăn màu sắc nhạt nhẽo, thế mà cũng đòi giá 6 tệ. Hộp cơm thế này ở ngoài chỉ bán 3 tệ là cùng! Vương Nhuệ xót ruột xúc ăn, lúc này người đàn ông nãy giờ mải viết số gì đó ngẩng đầu bảo Vương Nhuệ: “Người anh em, đọc bừa vài tổ hợp số tôi nghe coi! Mỗi tổ hợp bảy số nhé!”

    Lúc này Vương Nhuệ mới vỡ lẽ, ông anh này ra là dân lô đề, nãy giờ đang nhọc lòng nghiên cứu kết quả sổ xố. Vương Nhuệ cười nói: “Em không có cái vận đấy đâu, chú anh tự bịa đi!”

    Người nọ nói: “Xin chú em đấy, cho tôi vài số đi!”

    Vương Nhuệ thấy anh ta khẩn thiết, anh cũng tùy ý nói bừa hai tổ hợp. Hai tổ hợp này trước kia anh từng mua, một cái là số máy bốt điện thoại công cộng gần công trường chỗ anh, một cái là số bốt ở Nhượng Hồ Lộ chỗ Lâm Tú San. Đáng tiếc đến giải khuyến khích mà cả hai dãy số đều chưa từng trúng lấy một lần.

    Nhóm công nhân đa số đều có sở thích mua vé số, ai ai cũng muốn thử vận may vì nhỡ trúng được giải nhất 5 triệu thì sẽ có ngay cái danh xưng phú ông chỉ sau một đêm. Tiếc là chẳng có ai được như thế, ngoại trừ Lý Vi Dân tới từ huyện Bái Tuyền từng trúng giải tư trị giá 300 tệ, những pha cược của người khác đều tan biến như bong bóng xà phòng dưới ánh mặt trời.

    Lâm Tú San chẳng bao giờ mua vé số, cô nói hễ thấy vé sô liền liên tưởng đến con hổ ăn thịt người. Con hổ này có cái miệng rất to, ngày nào cũng ăn thức ăn loài người cống cho nó, nó sẽ vắt sạch những người không hiểu rõ nó đến khi nào không còn một xu dính túi. Vương Nhuệ nói vé số không hẳn lúc nào cũng là con hổ, vì đấy là nó không nhả vàng ra thôi, một khi đã nhả, nó sẽ nhả cho người ta cả một kho vàng, trường hợp trúng cả mấy trăm triệu cũng đâu có hiếm!

    Lâm Tú San nói một cách đ ĩnh đạc: “Ai trúng to chứng tỏ người ấy cũng phải bị con hổ kia ngoạm cho một cái đau điếng rồi, chẳng có kết cục hay ho đâu! Anh thử nghĩ xem, đang yên đang lành tự nhiên trúng hàng triệu tệ, nhà cửa không loạn lên vì công cuộc chia đều tiền thì cũng thành phế vật vì ăn sẵn cái đống tiền bẩn đấy, đây không phải tai họa thì là gì?”

    Ăn hết hộp cơm, Vương Nhuệ thấy mệt lừ, anh ngửa đầu ra sau nhắm mắt nghỉ một lúc, lại sợ mình ngủ say quá không nghe thấy tiếng loa phát thanh, đành hỏi người đàn ông đang nhọc lòng nghiên cứu xổ số: “Anh xuống ở trạm nào thế?”

    Người kia đáp: “Có việc gì?”

    Vương Nhuệ nói: “Tôi muốn chợp mắt một chút, sợ ngủ say quá không nghe thấy loa báo.”

    Người kia ngáp một cái, nói: “Tôi cũng buồn ngủ rồi, mí mắt cứ díp vào, tôi không dám chắc sẽ gọi được anh đâu đấy.”

    Lúc này người nãy giờ mải đọc tạp chí bỗng lên tiếng: “Cứ yên tâm ngủ đi, tôi xuống trạm cuối, đến trạm tôi sẽ gọi hai chú dậy.”

    Người kia hỏi Vương Nhuệ xuống trạm nào, anh đáp: “Nhượng Hồ Lộ.”

    Lại hỏi tín đồ xổ số, anh ta đáp: “Nộn Giang.”

    Người đọc tạp chí nói: “Yên tâm đi, tôi sẽ nhớ gọi các anh dậy!”

    Sự nhiệt tình khác thường của anh ta khiến Vương Nhuệ nhất thời sinh nghi ngờ: Liệu anh ta có phải lừa đảo không nhỉ?

    Anh nghe nói, lừa đảo trên tàu ngày nay không luồn lách khắp nơi gây án trong khoang xe như ngày trước nữa, chúng vẫn sẽ mua vé tàu và ngồi vào vị trí cho đàng hoàng, nhân lúc hành khách xung quanh lơ là cảnh giác, chúng sẽ ra tay hành động. Xong xuôi liền xuống tàu, chưa xong việc thì vẫn chiếm cứ ở đó chờ đợi con mồi xuất hiện.

    Vương Nhuệ nhắm mắt giả vờ ngủ, còn cố tình đặt túi hành lý lên đùi, đã thế còn ngâm một điệu ngáy. Tín đồ xổ số kia cũng ngáy theo. Vương Nhuệ nghe ra, tiếng ngáy của anh ta là thật.

    Quả nhiên, 15 phút sau, Vương Nhuệ cảm thấy cái túi trên đùi mình động đậy, anh mở bừng mắt thì thấy người kia vẫn đang đọc tạp chí. Vương Nhuệ nghĩ tên lừa đảo này còn nhanh tay hơn cả các nhà ảo thuật!

    Vương Nhuệ nghĩ, tên lừa đảo phát hiện anh đề cao cảnh giác, hắn chắc chắn sẽ lượn sang toa khác, toa này thất thủ ắt sẽ ra tay ở nơi khác. Lại nghĩ, chi bằng gọi xừ cảnh sát tới trông tên lừa đảo này, nhưng nghĩ lại thì anh cũng chưa có bằng chứng buộc tội, nhỡ bị cắn ngược lại thì đúng là thiệt thân! Vương Nhuệ quyết định khỏi ngủ, anh nhìn chằm chặp người ngồi đối diện, nhìn hắn ta thỉnh thoảng lại giở một trang, nghĩ bụng để xem hắn ra tay kiểu gì!

    Trời ngày càng mờ tối, phong cảnh bên ngoài cũng trở nên mơ hồ, ai đó quên đóng cửa nhà vệ sinh làm mùi nước tiểu khai mù ngang nhiên bay qua, thật là buồn nôn. Tàu hỏa giảm tốc, Vương Nhuệ biết nó lại sắp vào trạm.

    Người kia ném quyển tạp chí lên bàn rồi đứng dậy vươn vai, nói: “Ôi dào, ngồi mãi cũng dức cả đầu, ra cửa hít thở không khí tí không?”

    Nói đoạn anh ta ra phía cửa xe. Vương Nhuệ đoán có lẽ anh ta nhân lúc hành khách chen chúc lên xuống để tìm kiếm con mồi.

    Vương Nhuệ lay tín đồ xổ số dậy, nhỏ giọng nói: “Người anh em, tỉnh táo lên! Cái người ngồi cạnh chú anh dễ chừng là ăn trộm đấy! Vừa nãy tôi giả vờ ngủ, hình như hắn thò tay nhăm nhe túi hành lý của tôi!”

    Vương Nhuệ vừa dứt lời, tàu hỏa bỗng rung lắc kịch liệt một hồi rồi dừng lại. Tín đồ xổ số ngủ ngon lành, khóe miệng còn lóng lánh nước dãi. Anh ta ảo não nhìn Vương Nhuệ: “Ôi dào, đang thì mơ trúng 500 triệu, đang đến ngân hàng lĩnh tiền thì bị cậu gọi dậy!”

    Vương Nhuệ nói: “Mơ chứ có phải thật đâu! Tôi chẳng thích mơ đẹp chút nào, thà là gặp ác mộng!”

    Tín đồ xổ số ngáp một cái, hỏi: “Vì sao?”

    Vương Nhuệ nghiêm túc đáp: “Anh nghĩ thử xem, nếu anh mơ đẹp, trong mơ muốn gì được nấy, tỉnh dậy lại chẳng có gì, sầu không cơ chứ! Nhưng nếu anh gặp ác mộng, trong mơ lên núi đao xuống biển lửa chịu khổ chịu nạn, tỉnh dậy phát hiện ánh nắng đang chiếu ngập phòng, những thứ đáng sợ kia không tồn tại, có cảm động không nào?”

    Tín đồ xổ số cười hì hì, nói: “Chú em nên làm một bậc hiền triết.”

    Lúc hai người cười nói, con tàu chậm rãi xuất phát. Khoang xe đã bớt đi vài hành khách, thay vào là một lượt khách mới.

    Vương Nhuệ nhận ra người phía đối diện không quay lại, anh bảo tín đồ xổ số: “Hắn ta biết mình bị lộ đuôi cáo nên chuồn rồi!”

    Tín đồ xổ số nói: “Chuồn thì chuồn mẹ đi! Đời nó thế đấy, nhậu nhẹt, cờ bạc, gái gú, phá phách, cướp bóc, có cái gì là không có?”

    Tín đồ xổ số càu nhàu tung tóe cả nước bọt. Lúc này bảo vệ kiêm nhân viên soát vé đã tới. Vương Nhuệ để sẵn vé ra đấy, trải nghiệm tìm vẻ chẳng mấy vui vẻ lần trước để lại bóng đen trong lòng anh. Tín đồ xổ số cũng thò tay vào túi tìm vé, Vương Nhuệ bỗng thấy anh ta hô lên: “Bỏ mẹ, ví của tôi đâu rồi?!”

    Vương Nhuệ nói: “Hay anh để ở túi khác?”

    Tín đồ xổ số luống cuống đứng dậy, anh vò đầu bứt tai như con khỉ. Lục lọi một lượt cả túi đồ vẫn không tìm thấy gì, lại vỗ vỗ đập đập loạn xạ khắp người, mồm lẩm bẩm: “Ra đây, ra đây!”

    Như thể túi tiền là một thằng bé chơi trốn tìm với anh, bị quát liền thò mặt ra không bằng.

    Cuối cùng nhân viên soát vé đã đứng lại cạnh họ, anh vẫn chẳng tìm thấy vé.

    Nhân viên liếc Vương Nhuệ trước, sau đó đánh thức bà cụ: “Bác gái, cho tôi kiểm tra vé!”

    Bà cụ buông cánh tay, thò vào găng tay rút ra một cuộn tiền, bà mở ra, vé xe cuộn trong đó, bà rút vé để xuống. Vương Nhuệ nghĩ bà cụ này quả là minh mẫn, tiền và vé xe nhét cả thảy vào găng tay, có ngủ thì khoanh tay vào, cục tiền khác nào được nhét vào két bảo hiểm, không chút sơ sẩy.

    Lúc nhân viên kiểm tra vé của tín đồ xổ số, anh đã sốt ruột toát mồ hôi đầy đầu, mồm rít lên: “Tôi mất ví rồi! Vé xe kẹp ở đó!”

    Bảo vệ chỉ cười: “Trò này tôi gặp nhiều rồi, lải nhải ít thôi, mua vé bù đi!”

    Câu này giống y chang cách bảo vệ trên chuyến tàu trước chế nhạo Vương Nhuệ.

    Tín đồ xổ số nói: “Tôi có vé! Vé của tôi cất trong ví, ví mất xừ rồi!”

    Vương Nhuệ nói: “Chắc chắn do tên kia làm! Hắn ta chuồn sang toa khác rồi đây mà! Tôi nhớ mặt hắn, chúng ta đi bắt thôi!”

    Vương Nhuệ kể lại chuyện bị người đọc tạp chí trước mặt động tay động chân vào hành lý lúc anh giả vờ ngủ, đồng thời chỉ vào cuốn tạp chí trên bàn, nói: “Anh nhìn xem, đây chính là quyển hắn đọc!”

    Bảo vệ nửa tin nửa ngờ đi theo Vương Nhuệ và tín đồ xổ số sang toa khác bắt giặc. Họ mất cả nửa tiếng đi dọc từ đầu tàu đến cuối tàu mà chẳng thấy bóng dáng tên trộm đâu. Vương Nhuệ đoán hắn đã xuống tàu từ lâu rồi.

    Không bắt được trộm, Vương Nhuệ và tín đồ xổ số trở lại chỗ ngồi. Tín đồ xổ số nói ví anh ta có hơn 300 tệ, còn có bốn vé số giá trị 20 tệ và vé tàu. Anh ta nhìn đồng hồ, mặt mày ủ dột nói mười phút nữa là công bố kết quả xổ số, khéo đâu lại trúng giải đặc biệt chứ chả đùa, nhưng mà vé số bị người ta cuỗm mất rồi còn đâu! Theo cách nghĩ này thì thứ anh ta mất không phải là mấy trăm tệ, vé xe hay vé số, mà là 5 triệu tiền mặt vận chuyển còn khó khăn!

    Anh ta không ngừng lải nhải như bị ma nhập: “Hôm nay vé số của tôi chắc chắn trúng to! Giời ạ, 5 triệu tệ của tôi! Ông giời ơi!”

    Anh ta tiếc đứt ruột gan, đấm ngực giậm chân cứ như thể thứ bị móc mất không phải ví tiền mà là quả tim của anh. Vương Nhuệ thấy anh hồn bay phách lạc liền an ủi mấy câu, nào ngờ anh ta bỗng xông lên túm cổ Vương Nhuệ: “Tất cả là tại cậu, biết hắn là ăn trộm sao không nhắc nhở tôi! Cậu chỉ biết lo cho túi của cậu thôi, sống ích kỉ thế à?!”

    Nói rồi anh ta vung tay cho Vương Nhuệ một đấm vào hốc mắt phải. Vương Nhuệ đau điếng ré lên, anh giơ hai tay bụm mặt, tín đồ xổ số vẫn không chịu bỏ qua, anh ta đấm vài nhát vào vai Vương Nhuệ, giọng khàn cả đi: “Cậu đền 5 triệu đây, đền đây!”

    Bà cụ ngồi cạnh Vương Nhuệ sợ hãi nép vào lối đi, bà hô lên: “Bớ làng nước ơi, chết người đến nơi rồi!”

    Một hành khách vừa lùn vừa còi gọi bảo vệ tới. Bảo vệ chạy tới quát lớn: “Làm gì đấy, chưa bắt được giặc đã cấu xé nhau rồi!”

    Tín đồ xổ số còn muốn đấm Vương Nhuệ, thấy bảo vệ đến, anh ta đẩy cục tức lên người bảo vệ, cứ thế tung quyền vào cằm người ta rồi chửi bới: “Cái bọn ăn hại này! Tàu xe nuôi chúng mày làm gì không biết! Khác gì đám mèo lười không cơ chứ, thấy đám giặc chuột kia cũng không biết đường tóm cổ, để chúng nó cuỗm mất tiền của ông, mày đền ngay 5 triệu cho ông!”

    Bảo vệ không kịp đề phòng nên lãnh trọn cú đấm của tín đồ xổ số, anh nổi cơn tam bành túm cổ tín đồ xổ số lôi ra hành lang như diều hâu quắp gà, sau đó bảo vệ thò chân đạp anh ta một cước, tín đồ xổ số đau đớn kêu oai oái, nhưng vẫn không quên nghĩa vụ lầu bầu vì vừa mất toi 5 triệu.

    Cuối cùng tín đồ xổ số bị bảo vệ lôi đi.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 8


    Tín đồ xổ số đi rồi, các hành khách trước đó vây lại hóng hớt cũng về chỗ của mình.

    Bà cụ ngồi về vị trí cạnh Vương Nhuệ, trề môi bảo anh: “Cậu để người ta đánh tím cả mắt thế kia! Tết Trung thu mà thành ra thế này! Tôi không có ý gì đâu, nhưng cậu lo chuyện bao đồng làm gì! Tự nhiên nói chuyện tên trộm ra làm gì! Đấy rồi xem, trộm chạy mất, người ta đánh cậu thế mạng!”

    Vương Nhuệ thấy hốc mắt đau rát, nước mắt không ngừng ứa ra. Anh hối hận chết đi được!

    Nghĩ bụng bà cụ này nói chí phải, anh quả thực không nên kể chuyện đó với tên tín đồ xổ số. Bà cụ lại nói: “Tôi thấy cậu phải nhờ ai dẫn đi khám cái mắt xem thế nào, chính cậu nhìn còn chẳng rõ, sưng thế kia cơ mà, nhỡ mà mù thì chết dở. Con mắt là quý lắm đấy!”

    Bà cụ càng càm ràm, Vương Nhuệ càng nghĩ mà sợ, ngộ nhỡ anh mà mù thật thì sao? Anh không muốn để Lâm Tú San có một ông chồng chột đâu.

    Vương Nhuệ ra sức nháy con mắt bị thương, để nó đảo qua đảo lại nhạy nhất có thể. Kết quả chỉ thấy phí sức và nhức phát khiếp, điều đó khiến anh khá yên tâm. Anh nghĩ nếu tên tín đồ xổ số kia mà thấy bộ dạng đảo mắt nhoay nhoáy thế này, kiểu gì cũng liên tưởng đến cái lồ ng cầu xổ số với những trái bóng sắc màu kia, khéo rồi móc cả tròng mắt anh ra cũng chưa biết chừng.

    Vương Nhuệ ôm mắt trái, mắt phải thử nheo lại nhìn cảnh vật xung quanh, anh nhìn được vết đồi mồi màu xanh trên bàn tay của bà cụ ngồi kế, nhìn thấy người đàn ông ngồi phía bên kia lối đi đang gác chân hút thuốc. Anh lại ngoái đầu nhìn cửa sổ, trông thấy ánh trăng vàng nhạt như hơi thở của bơ sữa rọi xuống cánh đồng hoang. Xem ra ông trăng đêm Trung thu đã lặng lẽ lộ diện rồi đây. Biết mắt mình không đáng lo ngại, anh vui mừng khôn tả.

    Vương Nhuệ rút chiếc khăn lụa mua cho Lâm Tú San trong túi, nhìn những bông hoa tím biếc trên đó, anh không kìm được rơi nước mắt.

    Bà cụ thấy anh rơi lệ thì kinh ngạc nói: “Chẳng lẽ cậu không nhìn thấy hoa trên dải khăn nữa? Không được tha cho tên kia đâu đấy, bắt hắn ta xuống tàu dẫn cậu tới bệnh viện kiểm tra!”

    Vương Nhuệ định bảo bà, chính vì vẫn nhìn thấy hoa trên khăn lụa, anh mới rớt nước mắt.

    Vương Nhuệ bình tĩnh lại, anh ngồi dậy tới phòng vệ sinh, tính rửa qua cái mặt. Tuy nhiên vặn vòi nước mãi không thấy nước đâu. Vòi nước trên tàu chậm thường thế, chuyến tàu xuất phát khoảng một hai tiếng đầu, nó vẫn nhả nước ào ào, nhưng sau khi đi qua vài trạm, nó sẽ ngậm chặt miệng như một kẻ câm.

    Vương Nhuệ đứng đó, bỗng cảm thấy như đang đứng giữa vùng đất thôn Hạ Tam dần sa mạc hóa, vòi nước thì như nguồn nước sông đã cạn. Ngẩng đầu nhìn chiếc gương trước bồn rửa, tuy nó đã bị vệt nước và cặn bụi vấy bẩn, mờ mịt, nhưng anh vẫn nhìn thấy mặt mình. Hốc mắt phải quả nhiên tím xanh, đã thế còn sưng vù lên. Anh nghĩ, xuống tàu gặp Lâm Tú San với bộ dạng này, cô mà hỏi mắt mũi bị làm sao, chắc chắn anh sẽ không kể thật, cùng lắm thì bảo bị gạch quẹt qua mắt lúc ở công trường.

    Thế thì càng hỏng bét, vì anh mà quay lại công trường làm việc, cô không thấp thỏm mỗi ngày mới là lạ. Thôi thì cứ nói hôm nay tàu đông, anh không cẩn thận đụng trúng cửa.

    Lúc tàu chậm gần đến Nhượng Hồ Lộ, ánh trăng đã lên cao chót vót. Vương Nhuệ nghĩ giá mà ánh trăng có tác dụng tiêu sưng giảm phù, có thể khiến mắt anh khôi phục trạng thái bình thường thì tốt. Anh cảm thấy đi đoàn tụ với vợ trong bộ dạng này hơi mất hứng. Vương Nhuệ đoán chừng có lẽ Lâm Tú San đã đợi sẵn ở nhà trọ họ hay lui tới. Anh quyết định không đến xưởng dệt len nữa mà đi thẳng tới nhà trọ.

    Vương Nhuệ là khách quen của nhà trọ này, vợ ông chủ nhận ra anh. Bà chủ năm nay 44, người béo tròn, tay đeo ba cái nhẫn vàng, hễ rảnh rỗi là bà ngồi cắn hạt dưa tanh tách, lúc nhìn người khác hay nheo nheo mắt.

    Có lần Vương Nhuệ rời khỏi phòng trọ từ tảng sáng, bà chủ ngáp ngắn ngáp dài lững thững từ phòng đăng ký bước ra bảo anh: “Hôm qua khách sát phòng hai vợ chồng cậu phải trả phòng, họ bảo không ngủ được vì hai người ồn ào quá đấy! Tôi phải bảo người ta vợ chồng cậu mười ngày nửa tháng mới gặp nhau một lần, chẳng nhẽ lại không vần nhau ra bã!”

    Vương Nhuệ và Lâm Tú San nghe vậy đỏ bừng mặt như làm gì sai không bằng. Họ hứa hẹn với bà chủ lần sau sẽ chú ý hơn, nhưng làm sao mà chú ý được chứ, một khi được ở cùng nhau là lại buông thả đến cùng, khách trọ sát vách vẫn làm ầm lên đòi đổi phòng như thường. Vậy nên mỗi khi thấy Vương Nhuệ, bà chủ thường cười cợt nói: “Trông cậu còi cọc mà cũng khoẻ ra phết đấy nhỉ.”

    Lúc đến nhà trọ, Vương Nhuệ thấy bà chủ hôm nay trang điểm lộng lẫy ngồi ở phòng đăng kí. Bà chị mặc áo choàng nhung nền xanh hoa hồng phấn, phối với cái quần suông rộng màu đen. Mái tóc búi lên, mặt chẳng những trát phấn, còn bôi son vẽ mày. Bà chị lúc này đang nói nói cười cười với nữ phục vụ có biệt danh “Lê Trắng Nhỏ”.

    Lâm Tú San từng bảo Vương Nhuệ, Lê Trắng Nhỏ là “gà” bà chủ nuôi ở nhà trọ. Thân phận của cô ta là phục vụ, thực chất là toàn câu dẫn khách làng chơi, vậy nên Vương Nhuệ rất coi thường Lê Trắng Nhỏ. Thực tế cô gái này không quá xinh đẹp, nhưng dáng vóc rất thu hút, da dẻ trắng trẻo, mắt cười đon đả, vậy nên trông khá nịnh mắt.

    Bà chủ thấy Vương Nhuệ, thái độ niềm nở: “Tôi đoán ngay hôm nay là Trung thu, hai vợ chồng cậu không đến mới lạ!”

    Vương Nhuệ hỏi: “Vợ tôi đến chưa?”

    Bà chủ đáp: “Đã thấy đâu? Sao thế, chưa hẹn nhau à? Chưa hẹn cũng không sao, cứ thuê phòng trước đi rồi quay ra tìm cô ấy!”

    Vương Nhuệ nói: “Tôi phải xem cô ấy có ở Nhượng Hồ Lộ không hẵng, cô ấy không ở đây thì thuê phòng có ích gì?”

    Bà chủ cười, nói: “Vợ không ở đây cũng không phải lo, tôi bảo Lê Trắng Nhỏ bồi cậu!”

    Vương Nhuệ quay ra ngoài, vừa đi vừa nói: “Tôi không ăn lê!”

    Sau đó anh thấy bà chủ và Lê Trắng Nhỏ cười phá lên sau lưng.

    Bà chủ cười rung cả vai: “Cả năm chỉ ăn một loại quả mà không thấy chán nhỉ? Cậu ta không ăn lê thì để người khác ăn!”

    Lê Trắng Nhỏ nói: “Hốc mắt anh ta tím xanh thế kia, khéo chừng nếm thử quả dại không vừa mồm rồi bị người ta uýnh cho cũng nên!”

    Vương Nhuệ phiền muộn chạy tới xưởng dệt. Anh không ngừng săm soi người qua đường, chỉ sợ lướt qua Lâm Tú San. Mãi đến khi chạy tới phòng thường trực, nhân viên trực ban nhận ra anh: “Vợ anh về rồi đấy, nhưng lại đi luôn rồi!”

    Vương Nhuệ uể oải: “Đi đâu rồi?”

    Trực ban: “Tôi biết sao được? Lúc chạy ra cô ấy cũng chẳng bảo đi đâu! Anh vào đó hỏi mọi người thử xem.”

    Lần này anh ta không bắt Vương Nhuệ điền phiếu đăng kí.

    Vương Nhuệ lê đôi chân mỏi nhừ tới kí túc xá của Lâm Tú San, anh ủ rũ gõ cửa.

    Kí túc tối đèn, chẳng lẽ không có ai ở đây?

    Vương Nhuệ vẫn gõ cửa liên tục, còn gọi to: “Tú San, em có đó không? Tú San!”

    Vương Nhuệ nghe có tiếng bước chân trong phòng, nhưng đèn đuốc vẫn tối om. Giọng Ngô Mỹ Quyên truyền qua cánh cửa: “Vương Nhuệ, là cậu hả?”

    Vương Nhuệ đáp: “Chị Ngô, là em đây, chị mở cửa cho em với, Tú San có đó không ạ?”

    Ngô Mỹ Quyên: “Mọi người đi xem phim hết rồi, xin lỗi nhé tôi không ra mở cửa nữa.”

    Chị ngừng một lát, lại nói: “Tú San tới Cáp Nhĩ Tân tìm cậu rồi mà! Giờ cơm tối thấy con bé quay về, bọn tôi kể chuyện cậu đến đây tìm nó, biết nó cũng tới Cáp Nhĩ Tân nên cậu lại ngược về. Tú San nghe vậy liền chạy đi bắt xe tới Cáp Nhĩ Tân! Cậu mau về đó đi!”

    Lời của Ngô Mỹ Quyên khiến Vương Nhuệ rét lạnh, anh thấy mình như như bác nông dân trồng phải hạt giống giả, bôn ba mệt nhọc đến cuối cùng lại trắng tay.

    Giờ phút này Vương Nhuệ đã chua xót đến đỉnh điểm. Anh biết Ngô Mỹ Quyên đang ở cùng chồng.

    Chồng Ngô Mỹ Quyên ở thôn Lâm Điện, mỗi lần tới thăm vợ đều không nỡ bỏ tiền thuê trọ. Họ sẽ bỏ vài đồng đuổi mọi người trong kí túc ra rạp chiếu bóng gần xưởng, một vé chỉ tốn 2 đồng, mọi người xem xong quay lại thì họ cũng đã xong chuyện. Ngô Mỹ Quyên sẽ dẫn chồng tới ký túc xá nam, xin người ta cho anh ở ké một đêm.

    Lâm Tú San nhờ đó mà được xem khá nhiều phim. Có lần cô nói nhỏ với Vương Nhuệ, rạp chiếu bóng toàn chiếu phim cấp ba, buồn nôn chết đi được.

    Vương Nhuệ nói: “Em mà học hư theo thì đừng trách anh đáp gãy mũi chồng Ngô Mỹ Quyên.”

    Lâm Tú San cười khanh khách: “Mũi anh ta gãy sẵn rồi! Khỏi cần anh ra tay!”

    Cứ nghĩ Ngô Mỹ Quyên đang được tận hưởng giây phút ngọt ngào với chồng, còn anh và Lâm Tú San sau một ngày bôn ba vẫn cứ là mỗi người một nơi, anh cảm thấy như bị số phận đùa cợt, nước mắt không kìm được rơi lã chã.

    Vương Nhuệ loạng chà loạng choạng ra khỏi xưởng dệt. Anh không ra nhà ga mà băng qua đường cái, tới chỗ bốt điện thoại Lâm Tú San thường tới đợi cuộc gọi của anh.

    Xe cộ trên đường thưa hơn ban nãy, lối đi bộ thỉnh thoảng cũng mới có một hai người qua lại. Có lẽ mọi người đều đã về nhà thưởng thức bánh trung thu thơm lừng.

    Vương Nhuệ nhìn vành trăng sáng tỏ, anh cúi đầu một cách tội nghiệp.

    Anh nghĩ, vầng trăng này không thuộc về anh, cũng chẳng thuộc về Lâm Tú San. Đêm nay, vầng trăng ấy đối với anh chẳng khác nào một cái hố đen kịt. Anh cảm thấy cô độc cùng bất lực.

    Vương Nhuệ móc thẻ IC, cắm nó vào khe hở, anh vô thức quay số máy bốt điện thoại gần công trường. Mỗi thứ Năm hằng tuần trong suốt nửa năm nay, anh đều ở đó gọi điện thoại cho Lâm Tú San.

    Lần trước Lâm Tú San tới Cáp Nhĩ Tân, họ đi qua cái bốt đó. Lâm Tú San còn nghịch ngợm bảo anh: “Nhìn kìa, đó chẳng phải là điện thoại nhà mình đấy ư?”

    Câu nói này khiến Vương Nhuệ trào nước mắt cay đắng. Anh nghĩ thằng đàn ông như anh thật vô tích sự, đến một cái điện thoại di động cũng không mua được cho vợ. Họ không thể trao nhau những lời tâm tình mỗi đêm khuya thanh vắng, mà chỉ có thể cố định một thời điểm bất kể gió mưa hay tuyết lớn. Trông thì có vẻ lãng mạn, thực chất lại bi thương biết bao!

    Vương Nhuệ cầm ống nghe đã qua tay vô số người, anh nghe được chuỗi âm thanh tút tút báo máy bận. Đoán chừng các công nhân không được về nhà hẳn đang gọi điện cho gia đình đây mà.

    Gia đình các công nhân đa số đều ở nông thôn khó khăn, hầu như không nhà nào lắp điện thoại. Nhưng thôn đồn có chỗ lắp điện thoại. Họ sẽ gọi cho người ta, nhờ người ta gọi người nhà mình tới, sau đó tạm gác máy chờ đợi, khi nào người nhà tới lại gọi lại. Vậy nên có những người gọi tới nhà trưởng thôn, có người gọi tới trường tiểu học hoặc quán ăn tiệm hàng gì đấy.

    Lúc các công nhân về nhà, túi hành lý lúc nào cũng có thêm một phần quà cho những gia đình cho họ gọi nhờ điện thoại. Thôn Hạ Tam cũng có mấy hộ lắp điện thoại, nhưng Lâm Tú San lại chọn trúng nhà bà Kim Lục.

    Vương Nhuệ không ưa gì bà Kim Lục, nhưng Lâm Tú San thì khác.

    Lâm Tú San nói bà Kim Lục đâu phải quân buôn người đùn đẩy các thiếu nữ vào hố lửa, bà cũng chỉ là một bà mai, mục đích chẳng qua là mưu sinh mà thôi. Nhà bà Kim Lục gần nhà Lâm Tú San, đi bộ hai ba phút là tới, đây cũng là lý do Lâm Tú San chọn gọi cho nhà bà.

    Mỗi năm họ sẽ gọi về khoảng bốn năm cuộc điện thoại. Họ thường gọi lúc ở cùng nhau, vợ chồng sẽ thay nhau nói chuyện với người nhà. Mẹ Lâm Tú San sẽ nói với tốc độ nhanh nhất có thể, không đợi họ nói hết lời, bà đã nhanh tay cúp máy vì sợ tốn tiền điện thoại.

    Lúc trở về thôn Hạ Tam, Lâm Tú San sẽ mua một phần quà cho bà Kim Lục. Bà Kim Lục thích của ăn của mặc, Lâm Tú San thường mua đồ ăn và áo quần biếu bà. Mỗi lần nhận được điện thoại của cô, bà Kim Lục đều nhiệt tình đi gọi người nhà Lâm Tú San tới.

    Vương Nhuệ vẫn nhớ trận sóng gió từ vụ mai mối của bà Kim Lục, vậy nên không có thiện cảm với bà. Anh chỉ thấy bà ta ham ăn lười làm, mồm miệng dẻo quẹo, chẳng phải dạng người đứng đắn. Vậy nên hễ muốn gọi điện hỏi thăm gia đình, nhưng nghĩ tới phải gọi cho nhà bà Kim Lục, Vương Nhuệ lại bỏ ngay ý định đó.

    Vương Nhuệ lại quay số máy bốt điện thoại gần công trường, phản hồi anh vẫn là tiếng máy bận. Anh chắc chắn đầu dây bên kia là công nhân làm cùng, muốn hỏi thử người ta xem Lâm Tú San có tới đó hay không? Cô đang đợi anh, hay là lại nhảy lên xe về đây rồi?

    Ánh trăng soi tỏ mặt đường, soi xuống hàng cây, soi lên trạm buýt vắng tanh không bóng người dừng chân.

    Vương Nhuệ nhìn bóng cây in trên mặt đường, anh cảm thấy chúng là những đóa hoa đang âm thầm nở rộ.

    Một chiếc xe buýt chỉ lẻ tẻ vài hành khách đang tới. Nó lăn qua đóa hoa trên mặt đường.

    Vương Nhuệ cho rằng bông hoa kia sẽ bị nghẹt thở, nhưng sau khi xe đi mất, bóng cây như đóa hoa in trên mặt đường kia vẫn hoạt bát sống động, say đắm lòng người.

    Vương Nhuệ nghĩ, giá như anh là một phần của cái bóng này thì tốt, vậy thì mỗi ngày Lâm Tú San sẽ dạo bước qua anh.

    Anh sẵn lòng.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 9


    Sẵn lòng để những bước chân giận giữ của cô chà đạp người mình bất cứ lúc nào.

    Vương Nhuệ thương cảm, bỗng nhiên, một giọng nói đầy kích động lọt vào tai.

    Giữa đêm, tiến nói ấy mát lạnh và du dương như tiếng chuông gióng trên chùa miếu. Vương Nhuệ nghe máy, anh “alo” một câu.

    Chỉ một tiếng “alo” đó, Lâm Tú San đã nhận ra chồng mình! Dù chỉ là tiếng thở dài khe khẽ, cô cũng có thể nhận ra một cách chuẩn xác.

    “Vương Nhuệ, em biết là anh!” Lâm Tú San tủi thân nói: “Em đến tìm anh hai lần rồi, đều vồ hụt!”

    “Anh mà chả thế!” Mắt Vương Nhuệ ướt rượt: “Anh cũng tới tìm em hai lượt rồi! Trước đấy anh còn tưởng em sẽ đợi anh ở nhà trọ cơ, anh tới đó lại chẳng thấy em, lúc ra khỏi nhà trọ anh đã mềm oặt hai chân rồi!”

    “Vương Nhuệ…” Lâm Tú San gọi chồng đầy âu yếm, xót thương.

    “Tú San…” Vương Nhuệ cũng gọi vợ đầy thương yêu, tủi hờn.

    Lâm Tú San nói: “Em vừa gọi về nhà. Hai gia đình đều khỏe, mẹ còn bế con tới, nó nói chuyện với em qua điện thoại đấy.”

    Vương Nhuệ hỏi: “Con trai nói gì thế?”

    Lâm Tú San nói: “Nó bảo nhớ bố mẹ. Hỏi bố mẹ đã ăn bánh trung thu chưa?”

    Vương Nhuệ: “Thế em trả lời thế nào?”

    “Em bảo bố mẹ vẫn chưa được ăn, muốn đợi ăn cùng con. Em bảo con lúc ăn bánh hãy nhìn lên ông trăng, như thế sẽ nhìn thấy bố mẹ. Anh đoán xem con mình bảo gì? Nó bảo bố mẹ có cánh đâu mà đòi bay lên cung trăng? Còn nói trên đó toàn là ánh sáng, ở đấy thì chói mắt chết mất!”

    Vương Nhuệ ngấn lệ bật cười, nói: “Nó thông minh thật! Tương lai chắc chắn giỏi hơn bố nó!” Nói đoạn, anh mới nhớ ra hỏi vợ đang ở đâu bên Cáp Nhĩ Tân.

    “Ở bốt điện thoại gần công trường chỗ các anh đó, chính chiếc điện thoại nhà mình!” Lâm Tú San nói: “Em đoán anh không tìm thấy em, có lẽ sẽ ra bốt công cộng đợi, vậy nên em tới đây gọi về. Ban đầu chẳng thấy ai nghe máy, em lại gọi về nhà. Nói chuyện với con xong em lại gọi vào số này, thế là anh bắt máy!” Giọng Lâm Tú San run run: “Cả nhà mình đoàn viên qua điện thoại, thế là em vui rồi!”

    “Tú San, em đợi anh ở đó, hay anh ở đây đợi em về? Anh nhớ em!” Vương Nhuệ nhìn xung quanh, lại nói: “Anh muốn ôm em vào lòng, hôn em!”

    “Em cũng nhớ anh!” Lâm Tú San nói: “Em không ở đây đợi anh nữa, sáng sớm mai còn phải đi làm. Ngày mai anh cũng phải tới công trình, khỏi cần đợi em, anh cũng quay về đây đi!”

    “Vậy hôm nay mình không được gặp nhau rồi!” Vương Nhuệ bùi ngùi.

    “Chúng ta có thể thấy nhau tại thời điểm tàu giao nhau.” Lâm Tú San nói: “Anh ngồi tàu chậm lúc 10 giờ 40 phút, em lên chuyến 10 giờ 50 phút, tàu bọn mình chắc chắn sẽ gặp nhau trên đường! Em đứng trước cửa sổ, nhất định sẽ thấy anh, anh cũng có thể nhìn thấy em!”

    “Nhưng tàu hỏa sẽ sượt qua trong chốc lát!” Vương Nhuệ nói: “Anh còn không thể chạm đến tay em!”

    Lâm Tú San nói: “Chúng ta ngồi tàu chậm, tàu chậm sẽ không lướt qua nhanh như vậy, khéo phải nhìn được mấy lần đấy!” Lâm Tú San nói gì đó, điện thoại bỗng ngắt máy. Vương Nhuệ hoảng sợ ướt cả lòng bàn tay, anh không biết do Lâm Tú San mệt quá ngất xỉu, hay là gặp cướp hoặc lưu manh?

    Khoảng 10 giờ tối ở Cáp Nhĩ Tân, dù có là đường phố sầm uất cũng cũng vắng xe ít người.

    Vương Nhuệ hoang mang mất cả bình tĩnh, đầu anh kêu ong ong. Nhưng anh nhanh chóng hoán hồn, vội vàng gọi lại bốt điện thoại ở Cáp Nhĩ Tân.

    “Vương Nhuệ…” Lâm Tú San vui sướng reo lên: “Em biết anh rất thông minh, anh chắc chắn sẽ gọi lại. Thẻ điện thoại của em hết tiền rồi!”

    “Làm anh hết hồn!” Vương Nhuệ nói câu này, môi vẫn hơi run rẩy.

    Lâm Tú San nói: “Vương Nhuệ, anh không gặp được em cũng đừng như lão Hồ nhé. Nhịn một chút, lần sau gặp nhau em sẽ hầu hạ anh thật tốt!”

    Lão Hồ 38 tuổi, là đồng nghiệp của Vương Nhuệ, vợ con đều ở Hổ Lâm. Công nhân nửa năm hoặc có khi là cả năm chẳng gặp vợ, nhiều người không nhịn được nên đi tìm gái đi3m giải tỏa; cũng có người sợ tốn tiền hoặc sợ nhiễm hoa liễu thì có lỗi với vợ nên thỉnh thoảng sẽ lén lút tự xử lúc nửa đêm.

    Có lẽ Lão Hồ lớn tuổi hơn một chút, không biết tiết chế bản thân mà kêu thành tiếng trong cơn khoái lạc, từng có hai lần anh ta kêu r3n giữa đêm làm mọi người tỉnh giấc. Từ đó các công nhân cứ gặp anh ta liền cười cợt trêu: “Lão hồ, cổ họng anh lảnh lót thật đấy!”

    Lão Hồ tuy cao lớn thô kệch nhưng da mặt mỏng, từ đó về sau anh ta không thèm nói chuyện với ai, đã thế lúc làm việc ở công trường thì hay sai sót. Một ngày nọ, anh ta xây lệch cả bức tường, đốc công vốn đã không ưa anh ta thấy vậy thì giận tím mặt, đuổi việc thẳng cẳng. Lão Hồ đành cuốn gói về quê.

    Vương Nhuệ nhớ lúc kể chuyện Lão Hồ cho Lâm Tú San, cô bật khóc ôm anh thật chặt, nói: “Em sẽ chăm tới thăm anh, anh không được học Lão Hồ để người ta cười nhạo đâu đấy!”

    Nghĩ đến Lão Hồ, Vương Nhuệ hơi đau lòng, nói: “Anh còn lâu mới giống Lão Hồ! Được nghe giọng em thôi là anh đã mãn nguyện lắm rồi!”

    Ống nghe truyền tới tiếng cười của Lâm Tú San, ngọt ngào và ấm áp như tiếng cười thiếu nữ. Lâm Tú San nói: “Vương Nhuệ, em mua cho anh một món quà, anh đoán xem là gì?”

    Vương Nhuệ không ghĩ nhiều, anh đáp ngay: “Thịt muối.”

    Anh thích ăn thịt muối nhà Lão Cát ở chợ đêm Nhượng Hồ Lộ nên đoán chắc vợ đã mua nó cho anh.

    “Anh chỉ biết thịt thôi!” Lâm Tú San oán trách: “Chút nữa trên tàu em sẽ giơ nó lên, lúc đấy anh sẽ biết là gì!”

    “Lúc nào anh cũng nhớ em thì đương nhiên sẽ đoán là thịt rồi!” Vương Nhuệ nói.

    Lâm Tú San: “Lúc chưa cưới em về, anh đâu có nghĩ đến thịt!”

    Vương Nhuệ cười: “Anh cũng mua cho em một chiếc khăn quàng, em đoán xem là quà gì?”

    Lâm Tú San càng cười giòn, cô nói không ra hơi: “Đã khai là khăn quàng rồi còn bảo em đoán?! Anh ngồi tàu lâu quá thành ngớ ngẩn rồi đấy!”

    Vương Nhuệ nói: “Chết, anh ngớ ngẩn thật rồi. Chưa già đã lẩm cẩm, em đừng đá anh đấy!” Vương Nhuệ vừa nói vừa nhìn màn hình hiển thị số dư còn lại trong thẻ IC, nhận ra chỉ còn 4 hào, chỉ đủ nói một phút nữa, anh nói to: “Tú San, thẻ của anh cũng hết tiền đến nơi rồi, chốc nữa nó tự ngắt máy em không phải lo đâu nhé!”

    Lâm Tú San nói: “Em biết mà.”

    Vương Nhuệ muốn nói những chuyện quan trọng trong một phút cuối cùng, nhưng não anh trống rỗng không nghĩ ra gì. Lâm Tú San bên kia cũng trầm mặc như anh. Vương Nhuệ mơ hồ nghe thấy tiếng máy trộn bên tông ở công trường bên đó, Lâm Tú San thì nghe phảng phất tiếng ô tô vùn vụt lao qua, nghe giống tiếng gió rít. Cuộc điện thoại của họ tự động gián đoạn giữa lúc hai luồng âm thanh giao nhau.

    Lâm Tú San và Vương Nhuệ bước trên con đường trở về cuối cùng sau một ngày dài. Họ gần như tới nhà ga cùng lúc. Lâm Tú San mua vé, qua cửa kiểm tra, cô thấy hành khách đợi tàu ít đến đáng thương.

    Tàu hỏa tới nửa đêm giống chuồng gia súc đang nghỉ ngơi, thỉnh thoảng có vài chuyến tàu chậm đi qua, như những con ngựa đi ăn đêm, chúng vẫn chăm chỉ mở to đôi mắt ôn hòa.

    Lúc xuống đường hầm, trong thoáng chốc Lâm Tú San thấy mình và không khí Trung thu bị ngăn cách; ra khỏi đường hầm, ngước nhìn ánh trăng, cô mới cảm nhận được ngày lễ như một đứa trẻ đang nũng nịu, nó ùa vào vòng tay cô.

    Khoang xe trống vắng, đa phần ghế ngồi đều bỏ trống, Lâm Tú San chọn vị trí cạnh cửa sổ. Cô sẽ gặp gỡ Vương Nhuệ qua ô cửa kính.

    Cô không biết ngồi ở phía hàng ghế ba chỗ, hay là phía hàng ghế hai chỗ mới gặp được tàu của anh. Cô liên tục nhìn qua ô cửa xem đường ray bên kia của tuyến đường đôi nằm ở đâu, xác định là phía hàng hai ghế, cô mới yên tâm ngồi xuống. Lâm Tú San ước chừng thời gian gặp được Vương Nhuệ, có lẽ là khoảng một tiếng sau.

    Lâm Tú San mở túi hành lý, vuốt v e chiếc đồng hồ báo thức không được làm việc hôm nay, như đang ôm một chú thỏ nghịch ngợm trong lòng, cô âu yếm bảo nó: “Ngủ ngon nhé, sáng mai không phải làm việc đâu, cho cổ họng mày được giải lao.”

    Cô lấy ra chiếc ga giường, hít một hơi thật sâu, mùi của Vương Nhuệ phảng phất trên đó khiến cô ấm lòng, cô lại thủ thỉ với nó: “Trên người mày có mùi người đàn ông của tao nhưng tao không so đo, đứa khác mà dính mùi của anh ấy, tao sẽ xé nát nó!”

    Lâm Tú San lại nhẹ nhàng rút chiếc kèn ác-mô-ni-ca, vài giọt nước trong chiếc kèn nhỏ xuống, lành lạnh, xem ra trước đấy cô rửa xong vẫn chưa lau khô hẳn. Nhớ lại khuôn mặt người tử tù kia, nhớ lại tiếng kèn anh ta thổi cho mọi người nghe, cô không kìm lòng thở dài một tiếng.

    Có lẽ phạm nhân đã đến điểm dừng rồi nhỉ, lúc anh ta đeo còng tay xuống tàu, liệu có nghĩ đến chiếc kèn này?

    Trong khi Lâm Tú San đã chọn được vị trí họ có thể gặp nhau, Vương Nhuệ vẫn đang thấp thỏm tìm chỗ ngồi.

    Ra đến nhà ga Vương Nhuệ mới phát hiện mình chỉ còn 10 đồng trong ví, vốn chẳng đủ để mua vé ngồi quay về. Anh đành mua vé đứng trên tàu. Không lường trước hôm nay sẽ đi hẳn bốn chuyến nên anh không mang nhiều tiền.

    Chuyến tàu Vương Nhuệ đi lần này khởi hành từ phía sông Đồ Lý, nó đã trải qua chặng đường mười mấy tiếng đồng hồ nên nhuốm đầy cát bụi.

    Lối đi trên khoang tàu vứt đầy vỏ hoa quả, tàn thuốc, vỏ lạc vân vân; bàn trà thì chất đầy vỏ bia, xương gà, vỏ hạt dưa, giấy ăn dơ bẩn, vỏ bánh kẹo và đủ thứ linh tinh khác. Ghế ngồi trong khoang trống hơn nửa, đa số hành khách đã ngủ say.

    Muốn trốn vé trong hoàn cảnh này rất dễ dàng, nếu thấy nhân viên soát vé đến kiểm tra, anh chỉ việc đứng dậy chen vào hàng ghế ba chỗ, dù sao mọi người cũng không quen biết nhau, chẳng việc gì phải ngại.

    Từ mức độ bẩn thỉu của con tàu anh có thể đưa ra phán đoán, nhân viên trên tàu đã không quét dọn mấy tiếng rồi, có lẽ họ đang tụ tập trong khoang ăn uống nhắm rượu thưởng trăng. Nếu thực sự là vậy, bảo vệ cũng sẽ không đến soát vé.

    Chỗ ngồi Vương Nhuệ chọn có ô cửa sổ tương đối sạch sẽ. Nhưng Vương Nhuệ vẫn sợ không nhìn rõ Lâm Tú San, anh lấy cổ tay áo lau đi lau lại. Ghế ngồi xung quanh đều bỏ trống, chỉ có phía hàng ghế bên kia lối đi là có một người phụ nữ và một đứa bé.

    Người phụ nữ cúi đầu đan áo len, vừa đan vừa ngáp, bé trai độ sáu bảy tuổi kia thì cầm chiếc súng đồ chơi, lúc thì bắn một cái qua cửa sổ, chốc lại nhắm vào cái đồ hồ treo trên lối ra vào khoang tàu, mồm lẩm bẩm “pằng, pằng” mô phỏng tiếng đạn bắn tung tóe.

    Chơi được một lúc lại chạy ra nhõng nhẽo với bà mẹ đang đan áo: “Mẹ ơi, cho con một viên đạn được không?”

    Người phụ nữ đan áo: “Không được! Không thấy mọi người đang ngủ à? Nhỡ bắn trúng làm người ta tỉnh dậy thì sao?”

    Thằng bé: “Con không bắn người, chỉ bắn ghế trống!”

    Người phụ nữ: “Không được! Con có thấy ai như con không, đêm hôm rồi còn không ngủ, chỉ biết nghịch là giỏi!”

    Chuyến tàu chạy được khoảng một tiếng hai mươi phút, Vương Nhuệ đứng dậy. Ước tính thời điểm anh và Lâm Tú San gặp nhau sắp tới rồi.

    Quả nhiên, mười mấy phút sau, anh thấy một đoàn tàu đang chạy tới từ phía đối diện. Giữa đêm tối, đoàn tàu không như gậy huỳnh quang nối liền đầu đuôi, chiếu sáng đêm đen.

    Vương Nhuệ phát hiện các ghế ngồi trên đoàn tàu phía đối diện cũng trống không, hai con tàu như hai đứa trẻ mồ côi lang bạt gặp được nhau trong đêm.

    Cuối cùng Vương Nhuệ cũng nhìn thấy một bóng người ngồi cạnh cửa sổ, nhìn cái là nhận ra ngay Lâm Tú San!

    Cô mỉm cười giơ thứ gì đó, trông rất giống một đoạn mía.

    Cô gần trong gang tấc, nhưng lại không thể chạm tới!

    Vương Nhuệ muốn gào khóc một trận!

    Bỗng nhiên, anh thấy mình bị tấn công sau lưng, cơ thể vô thức vẹo sang một bên, quay đầu nhìn thì thấy thằng bé ban nãy đang giơ chiếc súng đồ chơi, nhìn anh với nụ cười đắc thắng.

    Thì ra mẹ thằng bé không chịu được con mình mè nheo nên cho một viên đạn cao su. Nó không do dự nhắm thẳng vào tấm lưng giống cái bia đang dựng trước cửa sổ của Vương Nhuệ.
     
    Dạo Bước Dưới Ánh Trăng
    Chương 10: Hoàn


    Lâm Tú San mới thoáng thấy Vương Nhuệ thì phát hiện người anh vẹo sang một bên. Cô không biết do anh mệt quá nên choáng ngất, hay là bị làm sao. Cô tò mò muốn nhìn rõ, nhưng ô cửa có Vương Nhuệ ngày càng đi xa, cô không nhìn được gì cả.

    Bên này Vương Nhuệ đứng thẳng dậy ngó ra cửa sổ sau giây phút buồn bực thì đoàn tàu Lâm Tú San đang ngồi đã chuồn mất như một con rắn. Anh không hiểu vì sao tàu chậm lại biến mất nhanh như thế!

    Cuối cùng anh cũng ngộ ra, anh không nên coi con tàu như phong cảnh ngoài ô cửa, vì phong cảnh là vật cố định, còn đoàn tàu thì luôn chuyển động. Hai đoàn tàu chậm đi ngược chiều nhau, giây phút chúng giao nhau, tàu chậm sẽ trở thành tàu cao tốc.

    Thời khắc họ gặp gỡ, đồng thời cũng là lúc họ đang ngồi trên chuyến tàu cao tốc.

    Mặt trăng như chuyến tàu độc hành trên bầu trời cao kia, nó đã chạy đến giữa trời. Không biết con tàu đó đang chở gì bên trong, là Hằng Nga, Ngô Cương hay cây hoa quế?

    Đoàn tàu ấy luôn khởi hành trong đêm tối, và đích đến của nó cũng luôn là bình minh.

    HẾT
     
    Back
    Top Bottom