Cập nhật mới

Ngôn Tình Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp

Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 100


“Nang nói rất đúng, dạo gần đây ta cũng cảm thấy khoẻ hơn nhiều.”

Nghe hắn đích thân thừa nhận, Bảo Châu bỗng nổi hứng đắc ý, cười rạng rỡ nói:

“Ta từ trước tới nay vẫn may mắn lạ thường, Hoắc Thất Lang cũng từng bảo rằng nét tướng của ta sinh ra là để hưởng phúc, phú quý cát tường. Chia cho ngươi vài phần vận may, e rằng cũng đủ cho ngươi tiêu cả đời.”

Nàng ngẫm nghĩ rồi lại nói:

“Trần Sư Cổ đã khuất núi, về sau ngươi có thể đổi sang một cái tên hay hơn, may mắn hơn. Ta sẽ giúp ngươi chọn một cái thật hay.”

Vi Huấn bật cười:

“Nàng đã đặt tên cho cả dao, nhưng ta không cần Dù sao cũng chỉ là một cách xưng hô, có người gọi, có người kêu, thế là đủ. Nàng rõ ràng có cái tên rất hay, vậy mà chẳng ai dám gọi, không phải cuối cùng chỉ còn lại khắc lên bia mộ hay sao?”

Bảo Châu khựng lại trong khoảnh khắc trầm mặc. Rồi nàng chậm rãi thốt lời, giọng lạnh:

“Tên ta là thiên cơ, sử quan chưa chắc đã biết. Sao ngươi dám cam đoan chắc chỉ có thể khắc vào bia mộ? Chẳng lẽ… ngươi từng đào trộm lăng mộ công chúa khác?”

Một luồng khí lạnh luồn dọc sống lưng Vi Huấn, hắn bất giác chìm dần xuống nước, lòng dâng cơn hoảng loạn. Đêm nay lơ là, tùy tiện trò chuyện, khiến hắn lỡ lời nói ra điều suốt bao năm vẫn cố tình tránh né.

Trần Sư Cổ trộm mộ không chừa ai, đặc biệt thích đào lăng tẩm đế vương quyền quý. Bao nhiêu kẻ khi sống quyền cao chức trọng, đến khi chết cũng chẳng thoát khỏi móng vuốt của ông ta. Trong số đó, chẳng ít là tổ tiên huyết thống của Bảo Châu. Dĩ nhiên, trò này đâu thể thiếu tay trợ thủ là hắn.

Bất kể trong cảnh huống nào, câu “ta từng đào mộ tổ tiên nàng” cũng chẳng bao giờ là câu nói dễ nghe.

Bảo Châu lúc ấy tuy chưa nghĩ sâu đến thế, nhưng cũng nổi trận lôi đình. Nàng giận dữ quát:

“Ta không phải công chúa duy nhất? Còn có công chúa khác nữa sao? Ngươi cũng từng… ôm họ từ trong quan tài ra?”

Vi Huấn hoảng đến chân tay luống cuống, vừa muốn trốn, lại biết chạy đi cũng không xong, đành nghĩ đến tuyệt chiêu xưa kia sư phụ từng dạy: mỗi người trong môn đều học qua một bài chụp nồi cho người khác.

Hắn lập tức vội vàng phân bua:

“Từ trước đến nay là Trần Sư Cổ chọn mộ, ta chỉ là người bị bắt đi theo phụ giúp. Mấy vị công chúa kia… đều là xương trắng mục nát, trong quan tài chẳng còn gì ngoài mấy chiếc răng vỡ, ai mà nhìn ra được nam hay nữ!”

Bảo Châu bán tín bán nghi:

“Thật vậy chăng?”

Vi Huấn gật đầu lia lịa:

“Thật! Mộ của nàng là ta lần đầu tiên chạm đến mộ công chúa, cũng là duy nhất! Rượu trong địa cung nàng, là rượu ngon nhất mà ta từng nếm.”

Nói dối hay thật cũng chẳng phân định nổi, Bảo Châu chỉ ngẫm thấy mình có chút vô lý. Giận dỗi vì hắn từng đào mộ công chúa khác, thật chẳng ra làm sao. Dù sao thân phận Vạn Thọ Công Chúa, theo lý mà nói, cũng đã chết. Tên gọi Bảo Châu cũng chỉ là ẩn danh, một khi đã khắc vào ngọc điệp và bia mộ, nào còn ai nhớ đến? Vạn sự đã xong, một đời cứ vậy kết thúc.

Nghĩ đến sau này ngoài a huynh, sẽ chẳng còn ai thân thiết gọi nàng là Bảo Châu, trong lòng không khỏi dâng nỗi cô đơn.

Tên họ chỉ là một tiếng gọi. Dù có mỹ miều thế nào, nếu không có ai xưng tụng, cũng chỉ là âm thanh rơi vào cõi lặng. Có lẽ, sự cố chấp với tên húy cũng chỉ là một niềm vương vấn không đáng giữ nữa.

Nàng im lặng hồi lâu, rồi hạ quyết tâm:

“Nếu chuyện do Trần Sư Cổ gây nên, ta sẽ không truy cứu nữa.”

Nói xong, nàng hơi ngập ngừng, nhưng cố giữ giọng dõng dạc:

“Ngươi… ngươi từ nay có thể gọi ta là Bảo Châu.”

Dưới bóng đêm, hơi nước mịt mờ lay động như cảnh trong mộng. Trúc tường lặng lẽ, một tiếng gọi vang lên từ phía bên kia:

“Bảo Châu.”

“Ừ…”

Tên thật ấy, nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng lại như một lưỡi dao mềm thấm sâu vào tim gan. Chẳng biết vì sao, hai người đang cùng ngâm mình trong ao nước, cách nhau một bức trúc tường, lại bỗng dưng đồng loạt đỏ mặt, co người giấu mình vào làn nước ấm.

Bảo Châu chỉ còn để lộ mắt và mũi trên mặt nước, da thịt ngâm đến đỏ bừng, mặt thì như muốn chảy máu. Nàng choáng váng, tựa hồ say rượu, lòng lo sợ nếu chẳng may ngất đi, chỉ còn kẻ kia bên cạnh biết mà vớt nàng lên chẳng phải là quá mất mặt hay sao?

Sau một hồi yên lặng, Vi Huấn bỗng cất tiếng:

“Thực ra… vẫn có một loại quỷ dễ dàng lẩn vào chùa chiền.”

Bảo Châu ngẩn người:

“Quỷ gì?”

“Loại gọi là quỷ sâu thắt cổ.”

Hai thứ nàng ghét nhất là quỷ và sâu, nghe đến đó, chân mày đã nhíu lại.

Vi Huấn ung dung kể, giọng trầm thấp như đang thuật chuyện ma:

“Loại sâu ấy sinh trên cây hòe, mùa thu hóa hình, nhả tơ treo mình xuống cành cây, trông hệt người treo cổ, nên dân gian gọi là quỷ sâu thắt cổ.”

Bảo Châu đang ngâm mình trong nước nóng bỗng rùng mình, chẳng hiểu sao đang nói chuyện êm đềm, hắn lại lôi ra chủ đề rùng rợn.

Còn chưa kịp ngăn lại, đã nghe hắn nói lời kết:

“Trên đầu nàng… chính là một cây hòe.”

Toàn thân Bảo Châu nổi da gà, nàng bất đắc dĩ ngẩng đầu nhìn quả nhiên thấy mấy con sâu tròn trịa treo lủng lẳng giữa không trung.

Bảo Châu lập tức kêu “Á!” một tiếng, nhảy vọt khỏi mặt nước:

“Tên khốn nịnh nọt chó cắn ngươi! Ngươi đợi đó cho ta!”

Rồi vội vã quấn áo, ba chân bốn cẳng chạy về phòng.

Hơn hai tháng nơi dân gian khác xa thuở mới tỉnh dậy ngập ngừng lắp bắp, nay mắng chửi người cũng đã có phong cách.

Dù vậy, giờ khắc này, Vi Huấn chỉ cảm thấy mình thật sự giống một con mèo xám gầy gò, vụng về và đáng xấu hổ. Tường rúc có thể ngăn tầm mắt, nhưng không thể ngăn hương thơm dìu dịu từ nàng lan qua từng đợt hơi nước, hương thơm ấy hoà với mùi thụy long não và hơi thở của nàng, khiến hắn không thể giữ nổi tĩnh tâm.

Lúc dòng nước bị nàng khuấy động tràn qua bên này, hắn chỉ thấy một luồng vô hình như lướt qua thân, khiến cả người run rẩy. Hắn đành dọa ma để ép nàng bỏ đi.

Không phải lần đầu. Gần đây, mỗi lần nàng đến gần, hắn đều thấy khí huyết rối loạn, hoặc cuồn cuộn trào dâng, hoặc đi xuống bụng dưới. Chỉ còn cách kéo giãn khoảng cách, âm thầm né tránh.

Năm xưa ở Tàn Dương Viện, khi học Nhật Mộ Yên Ba Chưởng, đồng môn thường bảo: “Đầu học được, thân lại không nghe lệnh.” Hắn từng cười chê là lười biếng kiếm cớ. Giờ mới hiểu họ không hề nói đùa.

Nửa đêm, những xao động khó gọi tên thường len lỏi khiến hắn trằn trọc không yên. Có lần Thập Tam Lang đi ngang, thấy hắn luyện công, hỏi:

“Huynh cả ngày lẫn đêm khổ luyện, muốn tranh ngôi đệ nhất thiên hạ sao?”

Vi Huấn không đáp được. Vì hắn chẳng muốn tranh đệ nhất gì cả chỉ là sợ bị người ta cười chê.

Hắn cuộn người lặn sâu xuống ao, để dòng nước phủ lấy thân thể, che đi mọi cảm giác, ngăn năm giác quan, chỉ mong lắng dịu tâm can.

Thế nhưng dù nàng đã rời khỏi, dù thanh âm, bóng dáng và hương thơm đều biến mất, trong tâm khảm hắn, vẫn vang lên một tiếng gọi, âm thầm mà mãnh liệt:

“Bảo Châu.”

“Bảo Châu.”

“Bảo Châu.”

Tên ấy, như dòng điện chấn động tận đáy tim.

Nàng đã đồng ý, cho phép hắn gọi tên thật.



Ngâm mình lâu trong nước nóng, huyết khí dồn ứ cũng dịu đi ít nhiều, làn da xanh tím cũng phai bớt. Vi Huấn chợt nhớ còn chưa vẽ xong tranh, bèn mặc lại y phục, vấn tóc gọn ghẽ, tìm dây thừng và hũ màu, vòng quanh khách đường một vòng rồi định đến Quy Vô Thường điện tiếp tục công việc.

Thế nhưng lòng vẫn lo lắng, hắn bèn nhón lên mái nhà, ngó qua xem nàng đã ngủ hay chưa.

Bảo Châu đang ngồi bên cửa sổ, tóc xõa tung, một tay vuốt tóc, một tay cầm bút chép kinh. Cung tên đặt sát bên.

Vi Huấn men theo mái hiên, nhẹ nhàng gõ lên khung cửa ba tiếng. Chưa kịp thò đầu vào, quả nhiên, đã có một mũi tên bay ra đáp lễ. Hắn vội vàng rụt lui.

Đợi một lát, lần này đưa vào một đóa hoa sen mới nở.

Sắc hoa tươi tắn giữa đêm mát lành như ý tứ làm lành. Bảo Châu thấy rõ, không giương cung nữa, nhưng cũng chẳng buồn để ý hắn, chỉ cúi đầu viết tiếp.

Vi Huấn buông mình lặng lẽ đáp xuống, đặt đóa sen lên bàn.

Bảo Châu cười lạnh:

“Ngươi mặc áo xanh, treo ngược như vậy, trông chẳng khác gì cái sâu cổ treo trên cây hòe.”

Vi Huấn chớp mắt:

“Vậy coi như ta thay mặt bọn sâu ấy đến xin lỗi nàng.”

Bảo Châu hừ một tiếng:

“Rồi một ngày nào đó, ta sẽ đốn sạch mọi cây hòe trong tầm mắt, không để lũ sâu ấy có chỗ sinh sôi nữa.”

Vi Huấn trầm ngâm một lúc, rồi nói:

“Cây hòe dù có sâu, nhưng mùa xuân nở hoa thơm, mùa ra hạt còn là cứu tinh cho những kẻ đói khát.”

Bảo Châu khựng bút. Một cảm giác áy náy mơ hồ lại dâng lên.

“Còn có cây nào ăn tạm được khi đói nữa?”

“Còn cây du. Trong thành Trường An, một nửa là cây hòe, một nửa là cây du. Ta thì thích quả du hơn, ăn chắc bụng hơn.”

Nàng nghe thế, mắt sáng rỡ. Nhưng hắn lại tiếp lời:

“Chỉ tiếc, khi đói kém, những thứ ấy cũng bị nhổ sạch cả rồi. Mà giờ cũng chẳng phải mùa.”

Nàng thoáng thất vọng, ánh mắt lại ảm đạm đi.

Người xưa nói: “Đào hoa nhan sắc hảo như mã, quả du tân khai xảo tựa tiền” — song kẻ đói thì đâu còn tâm trí ngắm hoa.

Cuối cùng, nàng nhặt hoa sen lên, nhẹ nhàng ngửi một cái, rồi thì thầm:

“Thôi… ta tha thứ cho cây hòe.”

Vi Huấn hiểu ý, lặng lẽ buông tay đáp đất. Hắn định chui vào phòng như mọi khi, nhưng vì chuyện xảy ra khi nãy, thấy nàng chỉ mặc trung y, liền ngừng lại, chỉ ghé cằm vào bậu cửa, lặng im ngắm nàng viết chữ.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 101


Khách đường vốn là thiền phòng mà các danh gia Lạc Dương xưa thường dùng tu hành, mọi vật như giấy kinh, bút mực đều sẵn đầy đủ. Bảo Châu chuyên tâm chép lại kinh Vu Lan Bồn, mong siêu độ cho vong linh, cầu phúc cho người thân.

Vi Huấn thích dáng vẻ nàng dũng cảm cầm cung, nhưng càng ngưỡng mộ khi thấy nàng cầm bút chuyên chú, khí chất yên bình. Nhìn nàng chép kinh xong một tờ, hắn đưa tay lấy xem, thấy bên dưới lại là vài hàng con số: Một đấu mười cân, một thạch mười đấu, một thạch sáu đấu là trăm sáu mươi cân gạo, đủ cho một trăm sáu mươi người ăn.

Hắn hiểu nàng đang tính toán số gạo cần dùng cho tang lễ ở chùa Thiềm Quang hôm nay, liền nói:
“Ngươi biết không, cái việc họ làm ấy phần lớn chẳng phải vì lòng từ bi gì đâu. Chỉ e họ đang muốn lấy thi thể để dựng lên họa đồ Cửu Tương gì đó. Số lương thực này, họ sẽ không chia ra phát đâu.” “

Bảo Châu không đổi sắc mặt, rút lại tờ giấy, vò nát ném về phía sau:
“Biết. Không nói lương trữ trong chùa vốn chẳng đủ cứu tế nạn dân, cho dù ta có làm quan lưu thủ Đông Đô hay trấn thủ Hà Nam, thì cũng khó lòng giải quyết gốc rễ việc đứt đoạn của vận chuyển đường thủy. Có những người định sẵn phải chết, cho nên ta mới nửa đêm chép kinh, mong họ sớm được siêu thoát, đầu thai sang kiếp tốt hơn.”

Vi Huấn hiểu nàng canh cánh trong lòng, bèn rút cán bút, lấy lọ thuốc màu đưa nàng xem:
“Nếu việc chẳng thể do sức người, thì thôi đừng nghĩ ngợi. Mặc đồ vào, cùng ta đi chơi một chuyến.”

Bảo Châu vốn nặng lòng khó ngủ, nghe lời rủ rê cũng có phần xiêu lòng:
“Tóc ta chưa vấn xong.”

Vi Huấn cười:
“Cứ để xõa đi, đi một vòng sẽ khô thôi. Các tăng nhân đến giờ Dần đều dậy tụng kinh, giờ này hẳn ngủ cả. Mà có lỡ bị ai nhìn thấy, chỉ biết ngưỡng mộ ngươi tóc nhiều thôi.”

Nàng chẳng do dự thêm, mặc áo sam, buộc nhẹ mái tóc đen, theo hắn rời phòng.

Đêm khuya trong chùa Thiềm Quang yên tĩnh lạ thường, chẳng mõ canh, chẳng bóng tuần tra. Bảo Châu cầm đèn dầu, ánh lửa mảnh nhỏ chỉ soi sáng một vòng tròn nhỏ. Vi Huấn lẩn khuất trong rìa sáng ấy, khi thì biến mất giữa bóng tối, khi thì trở lại bên ánh đèn.

Gió đêm thổi nhẹ, tóc nàng rối bời, lần đầu phiền não vì xõa tóc ra ngoài, nàng khẽ nói:
“Lễ nghi đã bỏ, y phục cũng vứt, cứ thế này đi mãi, đến U Châu có khi a huynh chẳng còn nhận ra. Không biết ta còn có thể làm ra trò gì vượt khuôn vượt phép nữa… Cưỡi lừa ăn cơm bên đường chăng?”

Vi Huấn phá lên cười:
“Trong tưởng tượng của nàng, việc thất lễ nhất chỉ là cưỡi lừa ăn cơm thôi sao?”

Bảo Châu nghiêm nghị:
“Trước đám đông, ăn cơm bên đường là thất nghi. Quan lại như thế sẽ bị ngự sử tấu dâng, bị giáng chức, phạt nặng. Vậy còn ngươi, hành vi ngông cuồng nhất là gì?”

Vi Huấn hơi ngập ngừng:
“Ờm… chắc… chắc là nắm lừa ăn cơm?”

Bảo Châu khịt mũi:
“Lại nói dối. Ngươi với Thập Tam Lang thường ngày chẳng phải vẫn làm vậy sao?”

Vi Huấn cười mà không đáp, lặng lẽ bước vào bóng tối, Bảo Châu vội theo kịp.

Hai người sánh bước trong chùa, ánh nến lay động rọi lên tường những bức họa vẽ Phật, Bồ Tát, hộ pháp, thiên thần… hình dạng đủ kiểu: khi thì uy nghi, lúc lại hùng dũng, có cả Tu La, dạ xoa, quỷ dị thần bí. Những hình ảnh ấy, ẩn hiện trong ánh sáng mờ mờ, làm Bảo Châu thoáng lạnh sống lưng. Dù tay nàng nắm cung, nhưng đối với thứ siêu nhiên dị giới, luôn có cảm giác binh khí phàm trần chẳng ích gì.

Cho đến khi dừng chân trước một bức “Quan Âm Thành Đạo”, nàng mới chuyên tâm ngắm nhìn.

Tượng Quan Âm này theo lối vẽ sau thời Võ Chu: thân nữ, vóc người dong dỏng, nét mặt dịu dàng, tóc búi cao điểm sen vàng, áo mỏng phấp phới, vòng tay khảm ngọc, dáng vẻ thanh quý đoan trang. Sau lưng bà là vị hộ pháp thân tín: Vi Đà thiên tướng, luôn kề cận bên Quan Âm.

Thấy móng tay đỏ thắm, vòng tay vàng rực, Bảo Châu khe khẽ thốt:
“Mẫu thân ta trước cũng hay vẽ móng như thế. Dùng phèn chua hòa với nước hoa phượng tiên mà nhuộm. Từ bà mà thành thịnh hành, hai mươi năm rực rỡ như triều đình mở hội. Bài thơ “Sáp quang treo cao chiếu sa không…” cũng là để tả những cung nữ chuẩn bị hoa ấy cho bà.”

Vi Huấn hỏi:
“Dung mạo Quan Âm này giống mẫu thân nàng sao?”

Bảo Châu hơi ngẩn ra, chốc lắc đầu, chốc lại gật:
“Cũng như những bức ở điện Quy Vô Thường, dáng vẻ và thần thái rất giống, nhưng nói thật chi tiết khuôn mặt thì không phải. Chắc họa sư chưa gặp bà, chỉ nghe người ta kể lại.”

Vi Huấn gật đầu:
“Bảo sao lúc ấy nàng vừa ra, ta liền muốn bôi xóa đi. Vậy bức này có muốn xóa không?”

Bảo Châu trầm ngâm một hồi, rồi lắc đầu:
“Không cần. Bức kia là xác chết ta không chịu được. Nhưng đây là thần phật, có phần cao quý thanh tịnh. Trong cung ca tụng dung mạo nữ nhân, lời khen cao nhất cũng là “giống Bồ Tát”.”

Nàng ngắm nhìn hồi lâu, dịu dàng nói:
“Ngươi biết không, Quan Âm khi xưa cũng là một công chúa, tên gọi Diệu Thiện.”

Nàng chỉ vào chiếc mũ sen trên đầu tượng Quan Âm:
“Ta cũng từng có chiếc giống vậy do mẫu thân để lại. Ta tính khi xuất gia sẽ đội nó, tiếc là chưa kịp… chẳng biết có ai cho ta chôn cùng. Giờ chẳng còn đồ trang sức gì, chỉ còn mỗi mái tóc này thôi.

Đứng dưới ánh đèn dịu nhẹ, sau lưng là tượng Quan Âm phát hào quang sáng rực, ánh trăng như lụa phủ tóc nàng, dung nhan trong vắt, trầm tĩnh, tựa như một bức tượng sống.

Công chúa… giống Bồ Tát.

Vi Huấn nấp nơi ánh nến chẳng tới, lặng lẽ nhìn nàng, trong lòng như có dòng nước ấm âm thầm chảy qua. Bao ý niệm mờ ám tan biến.

“Nếu sớm biết nàng, ta đã vào địa cung tìm chiếc mũ ấy cho nàng rồi. Nhưng ta thấy tóc nàng đã quý hơn trăm ngàn báu vật.”

Bảo Châu nghe câu khen, tuy thẹn, vẫn mỉm cười kiêu hãnh.

Hai người tiếp tục bước đi, gió thổi nhẹ, cỏ lay động. Thấy nàng vẫn còn thoáng sợ, Vi Huấn chần chừ giây lát, rồi âm thầm lật tay, đổi bình thuốc màu sang tay kia, ngón tay khẽ động, như thử dò ý.

Nghĩ thầm: nếu nàng không nhìn thấy, thì thôi; còn nếu thấy mà vờ như không, hay chẳng hiểu…

Chưa kịp nghĩ hết, Bảo Châu đã đưa tay nắm lấy, tay nàng mềm mại, ấm nóng, nắm chặt tay hắn đầy mãn nguyện. Chỉ là ánh mắt nàng có chút hờn trách, như muốn hỏi vì sao giờ hắn mới nắm tay nàng.

Mùi rượu ủ từ gốc hoa vương nhẹ trong gió. Hai người sóng bước, chẳng ai nói gì. Giữa đêm lặng, tiếng tim đập như trống.

Bảo Châu vừa rung động, vừa thấy yên lòng. Nắm tay hắn, nàng cảm nhận được một chút ấm áp, khác hẳn lần trước, xem ra thuốc và nước ấm quả thực có công hiệu.

Muốn xua bớt cảm xúc rối bời, nàng nói đùa:
“Ta ban cho ngươi suối nước nóng ở Hoa Thanh cung đó, nơi ấy giờ hoang vu chẳng ai lui tới, ngoài vài con chim chóc thỏ hoang, đến lũ người hầu cũng chẳng còn mấy.”

Vi Huấn chỉ khe khẽ ừ một tiếng, đầu óc trắng xóa, chẳng biết phải đáp ra sao. Ngày thường uống ngàn chén chẳng say, hôm nay chưa uống giọt nào, đã lảo đảo bước, nếu không nắm tay nàng, có khi đã bay lên.

Từ thượng khách đường đến điện Quy Vô Thường phải qua hơn nửa ngôi chùa, hai người đi chưa bao xa đã đến. Lúc buông tay, cả hai đều có phần tiếc nuối. Trước hành lang dẫn vào đại điện, Bảo Châu chợt do dự:

“Khó khăn lắm mới thấy nhẹ nhàng thanh thản, không muốn lại ngửi thứ mùi ấy nữa. Ngươi vào đi, ta chờ ở đây.’

Vi Huấn ngước nhìn, từ đây tới đại điện chỉ có lác đác vài cây, chẳng cản tầm mắt. Nhưng lòng còn e ngại chùa miếu này có điều bất ổn, hắn không yên tâm.

Bảo Châu thấy bên hiên có pho tượng Vi Đà hộ pháp uy mãnh, liền đứng dưới tay cầm kiếm của ông:
“Vị hộ pháp này cũng họ Vi, ta đứng đây, người xấu nào thấy cũng phải nể mặt mà không dám động đến ta.”

Vi Huấn vốn không tin thần phật, nghe nàng nói, liền nửa đùa nửa thật:
“Vậy nhờ đồng tộc này trông giùm ta một lát.”

Hắn nhìn nàng lần nữa, rồi theo đường cũ men theo hành lang, nhẹ nhàng leo lên mái, hướng thẳng về phía đại điện.

Sau mấy lần bật nhảy, hắn lên được nóc điện, nhẹ tay gỡ vài viên ngói, buộc chắc dây, miệng ngậm hỏa chiết, một tay ôm vại màu, tay kia bám dây, lặng lẽ chui vào.

Điện Quy Vô Thường tối đen như mực, tường vách tiêu điều, trống trải lạnh lẽo, hắn như rơi vào một cổ mộ xưa. Mùi thi thể lờ mờ khiến Vi Huấn thấy rợn, càng thấy may mắn vì không đưa Bảo Châu vào cùng.

Đang định theo trí nhớ ban ngày đi phá hoại bức vẽ, bỗng nghe thấy một tiếng hít thở mỏng manh, như nghẹn nơi cổ họng.

Hắn lần đến trước bức vẽ “Tân tử tướng”, thấy một bóng người gầy gò ngồi xếp bằng, quay lưng về phía bích họa. Người ấy bất động như thiền nhập định.

Chính là phương trượng Thiềm Quang tự — Đàm Lâm lão tăng.

Giữa đêm thế này, ông không ngủ mà ngồi đó thiền, chẳng lẽ muốn lật tội hắn sao?

Vi Huấn ngẫm nghĩ chốc lát, vừa định mở lời, thì từ miệng vị tăng già đang nhắm mắt, một tiếng khàn khàn chậm rãi vang lên:

“Trần Sư Cổ… còn sống chăng?”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 102


“Trần Sư Cổ còn sống không?”

Lời vừa dứt, Vi Huấn không một tiếng động đưa tay bóp lấy cổ họng của lão tăng.

Thế nhưng Đàm Lâm chẳng kháng cự, thậm chí không buồn mở mắt, chỉ cất tiếng khàn đặc:

“Ngươi đã nhiễm độc sâu, không còn sống được bao lâu.”

Giọng ông ta đều đều như tụng kinh, không hề sợ hãi.

Vi Huấn trong dạ chấn động. Hắn không hiểu sao lão tăng biết mình đang mang mầm chết, lại càng chẳng hiểu sao ông ta nhắc đến tên Trần Sư Cổ. Lúc ấy, hắn phân vân liệu có nên g.iết ch.ết lão cho xong.

“Ta trúng độc gì?”

“Phật gia nói tam độc là tham, sân, si. Tham là ha.m m.uốn danh lợi, tiền tài; sân là giận dữ, sát hại; si là mê muội vì tình, không tự chủ. Trong ba thứ ấy, ngươi chính là si độc.”

Vi Huấn cười nhạt:

“Ta không đọc sách, nghe không hiểu thứ ngụy ngôn mê hoặc đó.”

Đàm Lâm hé mắt nhìn hắn, tỏ vẻ ngạc nhiên:

“Đệ tử Trần Sư Cổ, vậy mà không từng đọc sách?”

Vi Huấn thầm kinh: lão đầu trọc này từng làm quan triều trước, sao lại biết người trong giang hồ? Hắn giả ngây hỏi lại:

“Trần Sư Cổ là ai? Ta chẳng quen biết.”

Đàm Lâm chỉ vào chuôi dao găm bên hông hắn, nặng giọng nói:

“Chuôi này khắc hoa văn hình xương cá, chữ khắc theo nét kim văn năm xưa chính lão tăng ta là người nhận ra thứ đó. Trước vốn là một thanh đoản kiếm, đúng không?”

Vi Huấn cau mày, không nói gì.

Đàm Lâm nói tiếp:

“Kẻ mê tình như cầm đuốc ngược gió, tất sẽ bị cháy tay. Sư phụ ngươi vì si tình mà lỡ đường, cả đời trầm luân. Ngươi cũng muốn đi vào vết xe đổ?”

“Lão Trần đã chết từ lâu, là bệnh chết, chẳng phải trúng độc.”

Vừa nói, hắn vừa rảo bước đến bên cửa sổ, hé nhìn ra ngoài. Thấy Bảo Châu vẫn đứng dưới pho tượng Vi Đà, tay cầm đèn dầu, hắn mới hơi yên lòng.

Đàm Lâm lại nói:

“Ngươi chấp nhất nàng ấy, nhưng nàng có biết bộ mặt thật của ngươi trong bóng tối là gì không?”

Vi Huấn lạnh mặt:

“Nàng không cần biết. Cũng chẳng liên quan đến ngươi.”

Đàm Lâm lấy trong tay áo ra một mảnh giấy tiên, đặt xuống đất, đẩy về phía hắn:

“Đây là mệnh số ta viết cho ngươi. Cầm xem đi.”

Vi Huấn nhếch mép:

“Ngay cả ngày sinh cũng không biết, ông bịa từ đâu ra cái mệnh số này?”

“Gọi là mệnh số của ngươi, chẳng bằng nói là của Trần Sư Cổ. Ngươi và hắn cùng một mạch. Vừa thấy ngươi, ta đã biết. Các ngươi giống nhau cậy tài khinh người, cao ngạo khó thuần, chẳng bao giờ chịu quỳ trước ai.”

Lời ông ta đoán trúng tâm tư, khiến Vi Huấn khó chịu, nhưng lòng lại bị hiếu kỳ giày vò. Hắn do dự chốc lát, rồi cúi người nhặt tờ giấy lên. Trên đó là một bài thơ:

“Nhật mộ yên ba giang sở ám,
Thận lâu treo ngược ánh nguyệt hàn;
Tàn đèn đem tắt quân âm yểu,
Cô ảnh hiu quạnh đuổi thệ xuyên.”

(Chiều xuống, sông khói phủ, bến mờ sương,
Tháp canh thấp thoáng, trăng lạnh treo ngược.
Ngọn đèn tàn sắp tắt, bóng người khuất dần trong âm thanh lặng lẽ,
Bóng cô liêu theo dòng nước cuốn về chốn xa xăm.)



Vi Huấn trở về từ quy vô thường điện, Bảo Châu mơ màng sắp ngủ, mở mắt hỏi:

“Thành công chứ?”

Vi Huấn lắc đầu:

“Đàm Lâm suốt đêm nhập định, không làm được gì. Để hôm khác ta quay lại.”

Bảo Châu thất vọng, nhưng nghĩ việc phá hủy bức vẽ mà để người ta gặp sẽ không còn là trò đùa, mà là tội lớn, cũng đành gật đầu quay về nghỉ.

Vi Huấn đưa nàng về thượng khách đường, đợi nàng cài then cửa sổ cẩn thận xong mới quay lại phòng mình.

Lúc ấy, hắn lấy tờ giấy tiên ra xem lại. Tuy không giỏi thơ phú, nhưng từng chữ hắn đều đọc được. Tâm pháp của Trần Sư Cổ là do tổ sư Xích Túc đạo nhân truyền. Một nhánh công pháp khác, Bát Nhã Sám, lại là do hắn đoạt từ tay một vị tăng người Phạn.

Ba chiêu tuyệt kỹ nổi danh Nhật Mộ Yên Ba chưởng, Thận Lâu bộ, Tàn Đăng thủ là do sư phụ tự nghĩ ra khi trung niên, mỗi người trong Tàn Dương Viện đều học ít nhất một chiêu.

Nhưng Nhật Mộ Yên Ba chưởng quá khó luyện, đến cuối cùng chỉ còn mình Vi Huấn thành thục, mà hắn lại không phô trương, nên giang hồ ít ai biết đến.

Bài thơ trên giấy tiên gói gọn cả ba chiêu, không thể là trùng hợp. Đàm Lâm quả thực từng quen biết Trần Sư Cổ.

Vi Huấn rút chủy thủ ra khỏi vỏ, nhìn kỹ hoa văn kim văn khắc trên đó. Thanh đao thu được từ cổ mộ này in bóng thiếu niên với khuôn mặt tái nhợt, ánh mắt nặng trĩu ưu tư.

“Bộ mặt thật trong bóng tối”… Hắn nghĩ, rốt cuộc mình thật sự là ai? Dù sao, hắn không muốn để nàng thấy. Kể từ khi nàng gọi hắn là ‘người uống máu người hầu’, hắn chỉ muốn mang thân phận mới mà sống trước mặt nàng, không nhắc đến chuyện xưa nữa.



Gà chưa gáy canh ba, chuông chùa Thiềm Quang đã vang lên giục các tăng nhân bắt đầu dậy.

Bảo Châu hôm nay ngủ nướng, bị chuông đánh tỉnh, trong lòng ấm ức, mặt hầm hầm đến trai đường. Chú tiểu Diệu Chứng đã mang trà cụ đến, nhóm lửa, đun nước, thêm gừng, muối, quất khô và bạc hà để thanh tỉnh.

Nàng ngáp dài than thở:

“May mà ta không làm quan, nếu không ngày nào cũng dậy sớm mặc triều phục, lên triều lúc trời còn chưa sáng, trời rét mưa tuyết thì càng khổ.”

Dương Hành Giản nghĩ thầm, công chúa được sủng ái mới được miễn lễ tiết, bằng không ai làm con cái mà không dậy sớm hầu hạ cha mẹ. Nhưng hắn không dám nói thật, chỉ mỉm cười:

“Chỉ quan từ ngũ phẩm trở lên mới phải dự triều hằng ngày. Quan nhỏ như thần , mùng một và mười lăm mới vào cung, chẳng mấy khi thấy mặt Thánh thượng.”

Bảo Châu lẩm bẩm:

“Ngày nào cũng dậy sớm, rồi cũng sớm chết…”

Vi Huấn và Thập Tam Lang đã uống trà xong. Thập Tam Lang nói:

“Hôm nay lễ Vu Lan, chùa có nhiều diễn xướng náo nhiệt lắm. Cửu Nương uống thêm chút trà, tỉnh táo mà xem. Tiếc là đệ phải tụng kinh, không đi được.”

Bảo Châu hỏi:

“Thế đệ cũng phải đi thượng triều sao?”

Thập Tam Lang ậm ừ:

“Có chút việc…”

Vi Huấn chen lời:

“Sớm nói với ngươi rồi, lão Trần trước khi chết thần trí mơ hồ, đừng tin lời ông ấy.”

Thập Tam Lang hoảng hốt:

“Nếu trên đời có lệ quỷ chắc chắn là sư phụ biến thành. Hôm nay âm hồn lên dương thế, ta sợ ông ấy trở lại tìm ta lắm.”

Vi Huấn không để ý, chỉ rút tờ giấy tiên ra đưa Bảo Châu:

“Giúp ta đọc xem trên này viết gì.”

Bảo Châu mắt còn lim dim, cầm lấy xem, là bài thơ bảy chữ từng dòng rõ nét.

Nàng đọc nhỏ:

“Bài thơ này viết không tệ, ý tứ sâu xa, mờ ảo, nỗi nhớ được gửi gắm trọn vẹn trong từng chữ. Chỉ tiếc là giọng điệu quá bi lụy, réo rắt thê lương.. Bốn chữ ‘Nhật Mộ Yên Ba’ có lẽ lấy từ bài thơ thất luật nổi tiếng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu:

<i>‘Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.’</i>

(Chiều buông, quê cũ nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến lòng sầu thắt.)

Lúc hoàng hôn, mặt trời lặn, chẳng biết quê nhà nơi nao, chỉ thấy khói sóng giăng đầy mặt nước – cảm giác mênh mang ấy khiến con người không khỏi sinh buồn nhớ. Trong cảnh giới u buồn, mơ hồ, tựa ảo mộng như vậy, thi nhân gửi gắm nỗi nhớ quê, tưởng như đang nhìn thấy tháp canh treo ngược dưới đáy nước như ảo ảnh hải thị thận lâu. Ngọn đèn tàn dần lụi, tiếng người mỏng manh thoi thóp – hẳn là đang đợi tin ai đó, nhưng đau đớn thay, người ấy mãi chẳng đến. Những từ ngữ như <i>ngày mộ</i>, <i>tàn đèn</i>, <i>bóng cô quạnh</i>, <i>trôi theo suối lặng</i> đều chất chứa nỗi bi thương sâu sắc. Có thể đây là bài thơ được viết ra khi thi nhân đang mắc trọng bệnh, như thể lời trăng trối, một dạng thơ tuyệt mệnh vậy.”

Dương Hành Giản tò mò lại gần:

“Ở đâu mà ngươi có?”

“Đàm Lâm viết cho ta.”

Hắn khen:

“Đàm Lâm thượng nhân xuất thân tiến sĩ khoa bảng, thơ phú quả nhiên không tầm thường.” Nhưng nghĩ lại thì nổi giận: “Ta đưa ông ấy sinh thần của Thiều Vương và Công chúa, vậy mà ông ta lại lo đi đoán mệnh cho ngươi trước?!”

Bảo Châu vừa nghe nói bài thơ bi ai ấy là mệnh số của Vi Huấn, liền xé nát, vo tròn bỏ vào lò trà, đốt sạch thành tro:

“Viết chẳng ra sao, coi như chưa từng thấy. Lần sau ta bắt ông ấy viết lại một bản tốt hơn.”

Vi Huấn cười:

“Quý nhân các nàng đoán mệnh cũng tùy tiện thế sao? Không ưng thì bắt viết lại?”

Bảo Châu gật đầu nghiêm túc:

“Dĩ nhiên. Họ muốn chúng ta nâng đỡ thì phải nói những lời dễ nghe. Dù là Lý Thuần Phong hay Viên Thiên Cương cũng phải nể mặt. Ngươi đến sinh nhật mình còn không biết, ông ấy dựa vào đâu viết mấy lời đen đủi ấy?”

Vi Huấn đáp:

“Người đoán mệnh, chín phần là lừa thiên hạ kiếm ăn. Người thật sự có bản lĩnh, chẳng cần bát tự sinh thần.”

Bảo Châu hừ một tiếng:

“Dù sao Đàm Lâm cũng chẳng có bản lĩnh ấy.”

Vi Huấn thấy nàng cứng miệng, chỉ cười không nói.

Hắn không tin phê mệnh của Đàm Lâm, nhưng sư tổ Xích Túc đạo nhân quả có tài xem thiên tượng, đoán đại thế, đoán cát hung. Nếu ông ấy cũng nói một câu như “Tàn đèn đem tắt”, thì dù có đốt cũng không đốt hết số mạng.

Dương Hành Giản phụ họa:

“Xem ra Đàm Lâm đặt hết tâm trí vào đạo Phật và vẽ tranh, gặp mặt còn chẳng đoán ra sang hèn, đủ biết phố phường đồn thổi chẳng đáng tin.”

Mọi người đang chuyện trò, thì trời đã dần sáng. Quan Triều cho người mang cơm sáng tới. Nhưng chưa kịp vào đến cửa, một đám dân áo vải đã chắn đường, làm loạn một phen.

“Mấy người là nô không giữ quy củ! Giấu con gái nhà ta đi đâu?!”

Bảo Châu cùng mọi người nghe ồn ào liền ra xem. Chỉ thấy vài người dân giận dữ túm cổ áo tăng nhân đưa cơm, hăm dọa đánh người.

Mấy vị tăng nhân luống cuống phân bua:

“Đây là chùa, toàn hòa thượng, tìm con gái nhà các ngươi làm gì ở đây?”

“Quế Nhi bị các ngươi dụ dỗ, gả cho gã hoàn tục đầu óc không bình thường. Giờ mười mấy ngày không về nhà, chẳng lẽ không liên quan? Mau gọi kẻ trông coi ra đây!”

Một người khác thấy Bảo Châu, liền chỉ tay:

“Nói là chùa, sao lại có nữ nhân trẻ tuổi ở đây? Ta xem chùa Thiềm Quang là ổ dụ dỗ đàn bà con gái!”

Đám tăng nhân không dám thừa nhận là người trên cho phép Bảo Châu tá túc, đành lấp l**m:

“Vị nữ thí chủ này là đại thí chủ, đến dự lễ Vu Lan, chẳng liên can gì đến con gái các ngươi.”

Hai bên tranh cãi gần đánh nhau. Bảo Châu nghe chốc lát, đoán được hẳn là thê tử của họa sư Ngô Quan Trừng là Ngô Quế Nhi nhiều ngày chưa về, người nhà không tìm thấy, đành đến chùa kiếm chuyện.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 103


Tiếng huyên náo dậy lên như sóng cồn, tăng chúng trong chùa, lữ khách tá túc trong liêu phòng, khách hành hương sớm tới tham lễ Vu Lan… mọi hạng người nối nhau tụ về, người vây xem ba tầng trong ba tầng ngoài chen chúc quanh sân.

Người nhà họ Ngô thấy người càng đông, tiếng quát tháo lại càng lớn. Cha của Ngô Quế Nhi, ông Ngô A Vinh, chỉ tay mắng thẳng vào mặt các tăng nhân:

“Khi Ngô Quan Trừng cầu thân, lời ngon tiếng ngọt, dập đầu ở rể. Ấy thế mà cưới xong không ở nhà một ngày, cả ngày mê mải ở bãi tha ma, vẽ người chết chơi trò quái đản. Nhà ta làm ăn buôn bán thức ăn, vốn đã không dám nhờ hắn giúp đỡ, đã không chịu làm lụng, lại còn dắt con gái ta bỏ trốn, chẳng khác chi bắt cóc!”

Nhà buôn nhỏ, người nào cũng phải góp công góp sức. Ban đầu bằng lòng gả con gái cho một kẻ côi cút, vốn chỉ vì thấy hắn không vướng bận gia sự. Nào ngờ sau cưới vẫn chỉ lo cầm bút, vẽ vời hình ảnh rùng rợn. Nếu là họa sư kiếm tiền thì không nói, đằng này suốt ngày vẽ ma, vẽ quỷ, lời ra tiếng vào khắp xóm, khiến nhà họ Ngô chịu không ít điều tiếng. Vợ chồng Ngô A Vinh khuyên con gái đoạn tuyệt, nhưng Quế Nhi tính khí cứng đầu, bị dồn ép quá bèn bỏ nhà ra đi.

Giờ đây, họ Ngô cố ý chọn ngày lễ Vu Lan, kéo cả họ đến tận chùa Thiềm Quang đòi người, lại lôi hết chuyện nhà ra giữa thiên hạ, khiến chúng tăng xấu hổ không để đâu cho hết. Không tìm được Ngô Quan Trừng, họ bèn gọi chưởng quản chùa, tức sư Quan Xuyên ra đối chất.

Bảo Châu và Dương Hành Giản đang đứng gần, thấy họ Ngô rút dao dọa người, ánh thép sáng quắc trông đến khiếp đảm. Vi Huấn và Thập Tam Lang thấy thế liền bước lên, kéo hai người về phía sau, tránh rơi vào vòng hỗn loạn.

Không lâu sau, Quan Xuyên xuất hiện. Dáng người cao lớn vững chãi, thần sắc nghiêm trang. Thấy hắn, vợ chồng Ngô A Vinh có phần sợ hãi song trước mặt bao người, vẫn lớn tiếng quát tháo, ép chùa Thiềm Quang giao người.

Quan Xuyên chắp tay, bình thản đáp:

“Thưa quý vị, kẻ gọi là Quan Trừng đã hoàn tục từ lâu, chẳng còn là môn hạ trong chùa. Dẫu đôi lúc vẫn tới đây vẽ vời, nhưng đã mười ngày không thấy bóng. Chúng tôi thực sự không biết hắn và lệnh ái đang ở nơi nào.”

“Đừng chối!” — có kẻ từ họ Ngô quát — “Hễ ở Lạc Dương có pháp hội cúng cô hồn, đều thấy hắn biểu diễn vẽ tranh. Hôm nay mười lăm tháng bảy, ta cố tình tới để vạch mặt! Nếu không giao người, thì cho chúng ta vào tìm!”

“Phật môn thanh tịnh, không dung kẻ phá phách”— Quan Xuyên đáp, tuy nhẹ nhàng nhưng kiên quyết.

Một cụ già trong họ Ngô, tuổi ngoài sáu mươi, nghĩ mình lớn tuổi, bèn tiến lên giáng thẳng một quyền vào mặt Quan Xuyên.

Quan Xuyên trúng đòn mà không hề lay chuyển, tay vẫn chắp trước ngực, vững như tùng trong gió. Họ Ngô thấy hắn không phản kháng, càng đánh càng hăng. Nhưng đánh mãi chỉ như đấm vào da dày, chẳng chút xê dịch. Cuối cùng, ông Ngô A Vinh hoa mắt ù tai, vung dao đâm thẳng vai hắn. Tiếng “đinh” vang lên giòn giã, con dao gãy làm đôi, một nửa văng ra giữa không trung.

Trong đám đông, một người áo xanh nhẹ xoay tay, nửa lưỡi dao bay tới bị hắn hứng gọn trong lòng bàn tay.

Động tác quá nhanh, chẳng ai kịp nhìn thấy, chỉ thấy con dao đã nằm gọn trong tay người nọ. Đám đông trố mắt, rồi hò reo kinh ngạc:

“Thân kim cương bất hoại! Đao thương bất nhập! Hòa thượng này là hộ pháp thành tiên!:

Ngô A Vinh đứng sững tại chỗ. Quan Xuyên không thèm ngoái lại, mà khẽ liếc về phía Vi Huấn.

Dù chưa từng chạm mặt, hai người ấy trong chốn giang hồ, chỉ một ánh mắt cũng thành thách thức.

Vi Huấn hiểu ý, rút lấy đoạn dao gãy, phẩy nhẹ vào cột đá bên, lưỡi thép lập tức ăn sâu vào bên trong, không một tiếng động. Nhìn sơ qua chỉ thấy một đường khảm mờ, chẳng ai ngờ trong cột đá ẩn một mảnh kim loại.

Hai người dùng cách riêng chào hỏi, âm thầm hiểu nhau, không cần lên tiếng.

Quan Xuyên sau đó đón ý lui binh, lời lẽ nhẹ nhàng mời họ Ngô vào nói chuyện, tạm dẹp sóng gió. Đám đông lần lượt tản đi, nhưng không ngớt bàn tán về việc vừa rồi.

Dương Hành Giản ngạc nhiên:

“Hòa thượng ấy có mặc giáp dưới áo tăng không? Hay thật sự luyện được thần công?’

Bảo Châu nhớ đến lần đụng độ “Quỷ Thủ Kim Cương” Khâu Nhậm của Tàn Dương Viện, hắn cũng không đau không ngứa, liền nói:

“Chỉ sợ chẳng phải hòa thượng thường, mà là tay cao thủ võ lâm đấy.”

Dương Hành Giản gật đầu:

“Nghe nói thuở Bắc Ngụy, tổ sư Thiền tông là Đạt Ma từng ở Lạc Dương truyền đạo, cũng luyện được thân kim cương. Có lẽ là thật.”

Bảo Châu nói:

“Ta chẳng tin chỉ tụng kinh mà thành thân sắt da đồng. Đàm Lâm kia tay chân như cành khô, đụng là gãy, võ công hẳn cũng chỉ để hù dọa con nít.”

Hai người nói chuyện dong dài, hết chuyện nọ lại lạc chuyện kia.

Vi Huấn không góp lời, quay sang hỏi Thập Tam Lang :

“Ngươi thấy tăng nhân ấy, so với Lão Tứ, Lão Ngũ nhà ta thì sao?”

Thập Tam Lang nghĩ một lúc rồi lắc đầu:

“Nhìn không ra… chỉ biết mạnh hơn đệ nhiều.”

Vi Huấn khích lệ:

“Gắng luyện “Bát Nhã Sám” cho vững. So với đám dùng công, ta thà đấu với Lão Nhị, Lão Tam còn hơn. Đánh công phải đánh dứt điểm, không thì rất mệt.”

Thập Tam Lang cười khổ:

“Sư phụ mất rồi, sư huynh cũng không luyện “Bát Nhã Sám”, đệ thì chẳng có thiên tư. Chi bằng sau chuyến này vào chùa cạo đầu làm hòa thượng, an phận tụng kinh gõ mõ, sống như mấy sư ông chốn sơn lâm, e còn thong dong hơn.”

Vi Huấn lặng thinh. Hắn biết mình không còn sống được bao lâu, cũng chẳng dạy được sư đệ võ nghệ gì. Có lẽ sau này phải phó thác y cho Bảo Châu, để tìm một lối khác dễ sống hơn.

Thập Tam Lang lại nói:

“Chỉ một môn công phu luyện đến cực hạn đã đủ sánh thiên hạ. Bằng không sư phụ sao cướp được tâm pháp từ Phạn tăng kia?”

Vi Huấn bật cười:

“Chúng ta là hộ pháp Quan Âm, chứ không phải đi một đường giết hết từ phật đến ma. Có thể không động thủ, thì không nên động thủ.”

Bên kia, Bảo Châu và Dương Hành Giản vẫn còn đang tranh luận xem vị sư ấy có phải là cao thủ võ lâm hay không.

Lễ Vu Lan bắt đầu vào chính ngọ, giờ âm dương giao thoa. Tăng nhân từ sớm đã tụng xong khóa sáng, bắt đầu bày biện đàn tràng. Giữa chùa có sân lớn có thể chứa cả ngàn người, chính giữa là hồ phóng sinh, phía đông dựng đài cao mười trượng, vươn ra trên mặt nước, lễ hội sẽ xoay quanh nơi ấy.

Các tăng nhân treo cờ ngũ sắc khắp đàn tràng, quanh hồ xếp hàng trăm chậu sành lớn, để đến lúc ấy, khách hành hương ném tiền của, đồ ăn vào, cúng dường trai tăng, cũng là cách siêu độ vong linh người thân, ấy là tích xưa về “Vu Lan Bồn”.

Khách hành hương có điều kiện từ sáng đã cử người mang ghế tới chiếm chỗ, mong có chỗ tốt ngắm các tiết mục cúng cô hồn, xiếc, diễn trò.

Ăn xong bữa sáng thứ hai, nhóm Bảo Châu dạo quanh chùa, xem các gánh xiếc dựng sân khấu. Nào là xiếc dây, múa kiếm, tung hứng, đủ kiểu đa dạng, chẳng kém gì trong cung.

Bảo Châu thấy ở vách phía nam đàn tràng có một mảng tường trắng để trống, lấy làm lạ. Chùa Thiềm Quang vốn nổi danh với tranh vẽ, nơi dễ thấy như vậy sao lại không vẽ? Nàng thấy một lão họa sư đang chỉ đồ đệ tu bổ tranh cổ, liền lại hỏi.

Lão họa sư nhìn qua mảng tường, nói:

“Đó là chỗ dành riêng cho Ngô Quan Trừng phun tranh. Người biểu diễn tạp kỹ nhiều, riêng hắn có tuyệt kỹ ít ai sánh kịp, phương trượng cố ý giữ chỗ này cho hắn.”

Bảo Châu hỏi:

“Phun tranh là gì?

Đồ đệ đáp thay:

“Là ngậm thuốc màu trong miệng rồi phun lên tường vôi, lát sau bức tranh hiện lên ngay trên mặt tường. Tết Thượng Nguyên vừa rồi, hắn phun ra bức “Duy Ma chất vấn bệnh”, làm chấn động cả Lạc Dương.”

Dương Hành Giản nghe mà ngạc nhiên:

“Còn tuyệt kỹ kia là gì?”

“Là thủy họa” — lão họa sư đáp —” Dùng bút vẽ tranh nổi trên mặt nước, màu không loang, không tan, cả ngày vẫn còn như cũ.”

Tiểu đồ chừng mười lăm, ánh mắt đầy sùng bái. Lão họa sư lắc đầu:

“Đây có khi là lần cuối được thấy hắn biểu diễn. Nghe nói sau Vu Lan, hắn sẽ rời Lạc Dương, vào Trường An tìm đường tiến thân.”

Dương Hành Giản nói:

“Giống hệt Ngô Đạo Tử năm xưa, luyện vẽ ở Lạc Dương, nổi danh ở Trường An.”

Lão họa sư gật đầu:

“Ngô Quan Trừng tự xưng là họa thánh chuyển thế, rất giỏi dùng màu, lại có tài biến hóa kỳ diệu, đúng là hợp với hoàng thất. Chắc chẳng bao lâu nữa sẽ thành ngự họa sư, giá tranh cao vút, kẻ giàu cũng phải chờ mới mua được.”

Bảo Châu nghĩ ngợi, gật đầu tán thành. Quả thật hoàng thất thích sắc màu rực rỡ, lại mê xiếc lạ thần kỳ. Nhưng nếu muốn chen chân vào chốn ấy, Ngô Quan Trừng cần phải dứt bỏ thói mê thi thể, nếu không khó mà đứng vững.

Tiểu đồ đệ ánh mắt đầy ngưỡng mộ, vừa giúp thầy tô màu, vừa thì thầm:

“Bao giờ ta mới được như hắn, đi Trường An tìm vinh hoa?”

Họa sư khi vẽ, chia hai bước: đầu tiên là phác thảo bố cục, gọi là “bạch họa”, rồi mới tô màu. Bạch họa là phần khó nhất, chỉ dành cho họa sư bậc cao, còn tô màu thường để học trò làm, từ đó phân biệt đẳng cấp trong giới vẽ.

Ngô Quan Trừng từng là học trò của Đàm Lâm, chuyên tô màu. Nhưng với tài năng hiếm có, hắn sớm vượt mặt, bỏ qua bước phác thảo, dùng màu sắc để tạo bố cục phá vỡ hoàn toàn lề lối cũ. Muốn vẽ cách ấy, cần loại thuốc màu không tan trong nước, xưa kia chưa từng có.

Lão họa sư thở dài:

“Ta thì nghèo rớt mồng tơi, đâu bằng Đàm Lâm thượng nhân. Hắn có thể lo cho Ngô Quan Trừng mọi thứ từ thuốc màu cho đến… cả thi thể.”

Tiểu đồ đệ đỏ bừng mặt, không nói thêm lời.

Bảo Châu thầm nghĩ: Cùng là nhìn thi thể, một bên là cao tăng tu hành, một bên là kẻ mồ côi say nghề vẽ, mà thiên hạ lại phán xét khác nhau. Đủ thấy tiêu chuẩn trong cõi đời chưa bao giờ thống nhất.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 104


Hà Nam phủ doãn Đậu Kính nhận được lời mời từ chùa Thiềm Quang, đúng buổi hoàng hôn thì bước vào ngôi cổ tự này, tham dự lễ Vu Lan ngày rằm tháng Bảy.

Thân là quan đứng đầu vùng Lạc Dương, việc ông đích thân có mặt phần nhiều là bởi có giao tình với phương trượng Đàm Lâm. Thiềm Quang tự là nơi tu hành lâu đời, được kính trọng trong giới Phật giáo. Lẽ ra nơi ấy phải mang lại cảm giác thanh tịnh, an hòa, song Đậu Kính vẫn cảm thấy bất an, thấy những bức bích họa nơi đây có gì đó âm u, nặng nề.

Đàm Lâm dù đã khoác áo cà sa nhiều năm, nhưng nhờ xuất thân từ dòng dõi Vương thị đất Thái Nguyên và có gốc rễ sâu với Phật giáo Lạc Dương, ông vẫn là bậc cao tăng có ảnh hưởng lớn ở Đông Đô. Những khi con cháu quý tộc có điều trăn trở về đạo Phật, hoặc phạm điều trái lương tâm muốn sám hối, thường tìm đến ông để được khai trí.

Là một quan chức trong triều, tham dự các lễ lớn là việc thuộc bổn phận. Đậu Kính cũng muốn nhân dịp này cầu siêu cho tổ tiên bằng việc bố thí cúng dường. Trước mắt là màn xiếc mở hội, diễn viên hóa thân thành thần tiên cưỡi dây thừng qua lại giữa không trung. Dù quanh ông có đến hơn chục gia nhân và hộ vệ, lòng ông vẫn dấy lên nỗi sợ mơ hồ, khiến ông đứng ngồi chẳng yên.

Giữa dòng người đông đúc chen vai thích cánh, ánh mắt Đậu Kính bất ngờ bắt gặp một khuôn mặt quen thuộc. Đó là một dung nhan xinh đẹp, thanh quý, vốn không nên xuất hiện ở nơi này, càng không nên tồn tại giữa cõi người. Nếu là ngày thường, có thể ông sẽ cho rằng chỉ là người giống người. Nhưng hôm nay là Vu Lan, ngày hồn phách lang thang trở về nhân thế, làm ông càng thêm lạnh sống lưng.

Đậu Kính từng giữ chức Trung thư xá nhân, Khởi Cư xá nhân ở Trường An, từng ra vào cung cấm, nên không thể nào lầm lẫn dung nhan của bậc hoàng tộc. Đôi tai nàng đeo hoa tai hình chuỗi ngọc Phật, khi ánh chiều tà rọi xuống, làn da ánh lên sắc lưu ly mờ ảo, đẹp đến nao lòng nếu nàng chưa từng chết.

Một luồng lạnh buốt từ bàn chân lan lên tận tim, Đậu Kính có cảm giác mình đang bị cuốn vào một trận cuồng phong khó lòng thoát thân.

Cái chết của vị công chúa ấy từng dấy lên nhiều lời đồn đãi trong triều. Dưới chân núi Chung Nam, ngôi mộ nàng nằm đơn độc giữa nghĩa trang, nơi ấy vẫn ngày đêm cử hành nghi lễ trấn hồn, cầu siêu không dứt. Giờ đây nàng trở lại dương thế, chẳng lẽ là vì một mục đích nào đó?

Mồ hôi lạnh túa ra từ khăn đội đầu, áo trong ướt đẫm bám sát vào da, Đậu Kính không thể chịu đựng thêm, bèn ghé tai một tên tùy tòng nói nhỏ: “Ngươi mau đến báo với phương trượng Đàm Lâm, nói ta bỗng lên cơn đau đầu, hoa mắt chóng mặt, không thể tiếp tục ở lại pháp hội.”

Tên tùy tòng nghe cấp trên nói vậy, cuống quýt khuyên: “Chùa Thiềm Quang có phòng thượng khách rất danh giá, ngài hãy nghỉ ngơi chốc lát cho lại sức?”

Đậu Kính mặt tái như giấy, cương quyết lắc đầu: “Không! Ta phải về phủ, mau đi!” Ông để lại một viên phó quan, rồi vội vã rời đi cùng đoàn tùy tùng. Khi đã bước qua ngạch cửa lớn, Đậu Kính quay đầu lại nhìn lần cuối người thiếu nữ kia đã biến mất không để lại chút dấu vết.

Vi Huấn đứng trên mái hiên nhìn theo bóng đoàn người tháo chạy, liền nhảy xuống, báo với Bảo Châu: “Bị dọa chạy rồi.”

Bảo Châu bước ra từ sau gốc cây mộc, thở dài: “Ta quên mất kẻ đó đã được điều tới Lạc Dương.”

Dương Hành Giản cũng nhận lỗi: “Là thần sơ ý, không ngờ Đậu phủ doãn lại đến Thiềm Quang tự dự pháp hội.”

Bảo Châu thầm nghĩ, bản thân không phải là người ẩn mình khuê các, thuở trước thường dự yến tiệc trong cung, cùng đám hoàng thân quốc thích chơi bóng, săn thú, xem kịch, số người từng gặp nàng đông không kể xiết. Sau biến cố, nàng sống ẩn dật giữa dân gian, lại không quen biết những kẻ từng bị kết tội theo phe phản nghịch, nên mới quên rằng bản thân nay đã là người chết trong mắt thiên hạ.

Đậu Kính trông thấy nàng trong lễ Vu Lan, hoảng hốt bỏ chạy, ắt đã tin là oan hồn Vạn Thọ công chúa về dương thế báo thù.

Vi Huấn nói: “Trên đời này người giống nhau không hiếm. Hắn ngủ một giấc, sáng mai tỉnh dậy sẽ tự nhủ do mình hoa mắt nhìn lầm mà thôi.”

Bảo Châu gật đầu đồng tình. Nàng hiện tay trắng, ngay cả thân phận công chúa cũng chẳng thể chứng minh. Nhìn từ xa trong đám đông, ai dám chắc đó là ai?

Tiếng trống xiếc rộn ràng, chỉ thiếu Thập Tam Lang vẫn chưa thấy bóng dáng. Bảo Châu hỏi: “Đệ ấy đâu? Sao không đến xem hội?”

Vi Huấn đáp khẽ: “Hôm nay đệ ấy muốn tụng kinh.”

Bảo Châu nhớ đến cảnh mồ côi của Thập Tam Lang. Đêm lễ Vu Lan, người có duyên với Phật ắt muốn vì thân nhân khuất bóng mà cầu nguyện.

Hoàng hôn đã hoàn toàn khuất sau sông Lạc, bầu trời chỉ còn vệt đỏ lờ mờ, ánh chiều dần tắt. Âm thanh tạp kỹ cũng dần lắng xuống. Một hồi chuông ngân lên, giọng Quan Xuyên vang vang trầm hùng: “Thỉnh phương trượng Đàm Lâm lên pháp đài thuyết giảng kinh pháp.”

Đậu Kính đã rời đi, không còn gì phải tránh né. Bảo Châu muốn dự lễ cầu phúc cho mẫu thân, liền vội vã chạy về phía pháp đài trung tâm.

Bốn tăng nhân Sơn, Xuyên, Vân, Triều cùng khiêng một tòa sen gỗ sơn đỏ dát vàng lên đài Linh Chi, dựng cao giữa biển phóng sinh. Một lão tăng thân hình khô gầy mặc pháp y tím, ngồi xếp bằng nơi giữa tòa, trang nghiêm như tượng Phật được tăng đồ bảo vệ. Vài chú tiểu đứng bên, tay nâng pháp khí, ốc biển, hương trầm, bài trí đầy đủ quanh chỗ ngồi.

Mọi người nín lặng, ánh mắt trang nghiêm đổ dồn về phía đại đức cao tăng — người được đồn rằng, chỉ cần nghe ngài giảng một buổi pháp, liền có thể tăng thêm phúc thọ một năm.

Đàm Lâm niệm hương tán, rồi bắt đầu tục giảng kinh Vu Lan. Tục giảng tức là lối kể kinh Phật bằng lời thường, lồng ghép chuyện xưa, để người bình dân cũng hiểu. Ông kể tích Mục Liên cứu mẹ chuyện ai ai cũng biết trong lễ Vu Lan. Tiếp đó, ông chuyển sang giảng về Thiền sư độ Tu La.

“Xưa kia, tại Lạc Dương có một vị cao tăng nước Thiên Trúc, hiệu là Già Cái Diệp, tu luyện đạt đến thân kim cương bất hoại. Nghe tin có một kẻ mang oán độc sa vào đường ác, ngày đêm sát sinh tạo nghiệp, ngài quyết đến khuyên răn.

Ngài giảng kinh ba ngày ba đêm, mong người ấy tỉnh ngộ. Nhưng Tu La cứng đầu, nói năng sắc bén, không chịu nghe lời. Già Cái Diệp bèn thi triển võ công, giao đấu suốt ba ngày, mong lấy sức mạnh cảm hóa hắn. Song Tu La trời sinh hiếu chiến, không chịu khuất phục.

Cuối cùng, Già Cái Diệp quyết hi sinh bản thân, nguyện chết để độ người. Ngài buông vũ khí, ngồi yên để mặc Tu La đánh trọng thương. Lúc hấp hối, ngài truyền tụng bài kinh “Bàn Nhược sám” tâm pháp đắc đạo của mình rồi bảo: Nếu ngươi chưa hiểu nổi lòng ta, hãy truyền bài kinh này cho đời sau. Biết đâu, một ngày hậu nhân ngươi sẽ thành người thiện. Nói rồi, ngài tọa hóa.”

Cả pháp hội lắng nghe đến đây, ai nấy đều chăm chú, song Đàm Lâm bất ngờ ngừng lại. Có người lên tiếng hỏi: “Rồi sau đó thế nào?”

Ông đáp: “Già Cái Diệp nhờ lòng từ bi mà thành Phật. Còn Tu La… Truyền nhân của hắn, hôm nay cũng đang ngồi giữa chùa Thiềm Quang này, lặng lẽ nghe ta giảng kinh.”

Lời ấy vừa dứt, một luồng cảm xúc phức tạp lan khắp hội trường khó tả là sợ hãi hay xúc động.

Đàm Lâm nay tuổi cao sức yếu, sau hai chuyện ấy liền kết thúc buổi giảng.

Tiếp đó là nghi lễ cúng cô hồn và thả đèn hoa. Khách hành hương chen nhau đổ gạo thóc, lụa là, tiền bạc vào những chiếc bồn lớn. Rồi họ thả đèn giấy hình hoa sen có nến cháy giữa vào ao phóng sinh, cầu cho vong linh người thân được siêu thoát.

Trời đã tối hẳn. Hơn trăm ngọn đèn lập lòe trôi trên mặt nước như ảo ảnh. Người đời tin rằng hồn ma trong địa ngục không thấy được ánh sáng, nhưng nếu trông thấy một ngọn đèn, có thể theo đó mà siêu sinh.

Bảo Châu từ sáng sớm đã mua một đèn hoa sen màu vàng, lặng lẽ ghi tên húy mẫu th*n d*** chân đèn. Nàng đón lấy lửa từ Vi Huấn, châm nến, rồi đặt đèn vào ao, tay chắp lại, miệng tụng kinh cầu phúc.

Sông phóng sinh thường ngày không có dòng nước chảy, nên đèn hoa sen trôi rất chậm. Nhưng bỗng từ đáy ao dâng lên từng chuỗi bọt khí, mặt nước khẽ gợn sóng.

Có người hốt hoảng kêu: “Dưới nước hình như có vật gì trồi lên!”

“Là cái gì vậy? Kiếm à? Rắn? Hay quỷ rút lưỡi?”

“Ta thấy có xác người! Quỷ đói ăn người!”

Vi Huấn thấy tình hình bất thường, lập tức vỗ vai Bảo Châu ra hiệu. Nàng mở mắt, đứng dậy nhìn xuống, chỉ thấy một bức tranh “Địa Ngục Biến” rực rỡ đang từ đáy ao từ từ hiện lên, màu sắc sống động đến rùng rợn.

Một người trong đám đông hô lớn: “Là tranh nước! Là tranh của họa sư Ngô Quan Trừng!”

Nghe thế, mọi người xô đến bờ ao chen chúc xem tranh, khiến vài người ngã xuống nước. Tranh vẽ quỷ súc dữ tợn, màu không loang, dưới ánh đèn hoa sen lại càng thêm ghê rợn.

Thông thường tranh “Địa Ngục Biến” luôn có Bồ Tát tọa liên hoa ở trung tâm, cứu rỗi chúng sinh. Nhưng bức họa này để trống chính giữa.

Giữa lúc ấy, lại có một vật từ đáy ao trồi lên, phủ khít phần trống của bức tranh. Đó là thứ gì trắng bệch, căng phồng như xác chết trôi. Một mùi tanh nồng nặc tỏa ra. Vi Huấn lập tức kéo Bảo Châu lùi lại, nhưng không còn kịp nữa.

Toàn bộ khách hành hương đều thấy rõ một xác chết lớn, mặt ngửa lên trời, trôi bồng bềnh đúng vào phần trung tâm của bức họa, khép lại kiệt tác địa ngục bằng cách rùng rợn nhất.

Tiếng hét kinh hoàng vang lên, người người dẫm đạp nhau mà chạy. Hình ảnh địa ngục từ mặt nước lan đến bờ, rồi tràn khắp ngôi chùa Thiềm Quang như một cơn ác mộng — nhân gian luyện ngục.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 105


Thân bị vây giữa đám đông, một khi xảy chen lấn dẫm đạp, thì khó lòng thoát thân. Tuy thân thể mềm mại, nhưng dưới sức ép khổng lồ chồng lên nhau, chẳng khác gì bị những tấm sắt ép nghiền, khiến người ta không tài nào thở nổi. Nếu sơ ý ngã xuống, lập tức sẽ bị người khác giẫm thành thịt vụn.

Không kịp bàn bạc đối sách, Vi Huấn lập tức vươn tay trái kéo Bảo Châu lên, tay phải nắm lấy đai lưng Dương Hành Giản, thân hình phóng vút khỏi mặt đất, trong khoảnh khắc đã thoát khỏi ba vị trí đứng cũ, nơi ấy liền bị thân người khác lấp kín.

Hắn mang theo hai người nhảy lên dây xiếc mà nghệ nhân còn để lơ lửng trên không, trước tiên đặt Dương Hành Giản xuống. Ông lão nào biết đi dây xiếc, tuy nhất thời thoát khỏi cảnh bị giẫm nát, nhưng lại vô cùng chật vật, tay chân bám chặt lấy dây, treo lủng lẳng giữa không trung, khăn vấn đầu rơi mất, miệng la hét om sòm, song vì tiếng ồn xung quanh quá lớn nên chẳng ai nghe được ông ta kêu gì.

Vi Huấn đang lưỡng lự chưa biết an trí Bảo Châu thế nào, nàng đã ghé tai hét lên: “Lên chỗ cao! Càng cao càng tốt!”

Vi Huấn lập tức ôm nàng vào lòng, hai chân đạp trường thằng mà lao đi như giẫm đất bằng, phóng thẳng về phía bảo tháp gần nhất. Bộ pháp Thận Lâu tuyệt thế vô song, tuy ôm theo một người mà vẫn nhanh như tia chớp. Bảo Châu chỉ cảm thấy gió ào ào bên tai, cảnh vật lướt nhanh qua mắt, mi vừa nhắm vừa mở thì hắn đã bắt đầu trèo tháp.

Chỉ mấy cú tung người, nhẹ như khói, hắn đã đưa nàng lên đến đỉnh tầng năm của bảo tháp. Vi Huấn buông Bảo Châu xuống, hỏi: “Chỗ này đủ cao chưa?”

Nơi ấy cách mặt đất ba mươi trượng, dưới chân là mái ngói lung lay sắp đổ, Bảo Châu vội ôm lấy đỉnh nhọn của tháp để giữ thăng bằng. Vi Huấn đợi nàng đứng vững liền xoay người muốn quay xuống, nhưng bị nàng níu tay áo lại.

“Cứu từng người thì không kịp đâu! Để ta quan sát xem tình hình dưới sân.”

Đứng trên đỉnh bảo tháp, toàn cảnh chùa Thiềm Quang thu hết vào tầm mắt. Đêm đã buông, may thay hôm nay là lễ hội, khắp nơi đều thắp đèn dầu. Mắt Bảo Châu tinh tường, thấy ở sườn tây nam có một cửa nhỏ đóng kín. Dù quanh đó cũng đầy người chen lấn như muốn ép sát vào tường, nhưng cửa ấy vẫn chưa có ai mở ra.

“Nơi đó!” Nàng chỉ tay về phía ấy. Không đợi giải thích, Vi Huấn đã như mũi tên trong tay nàng rời cung mà lao vút đi. Cửa nhỏ ấy vốn hằng ngày không dùng, bị xích sắt khoá chặt. Vi Huấn tung một chưởng, khóa gãy răng rắc, rồi xoay người tung cước, đá văng cánh cửa sắt gỉ.

Bất ngờ có lối thoát, đám người quanh đó lập tức ùa ra, hơn trăm người thuận lợi thoát hiểm. Sức ép ở phía tây nam cũng vơi bớt. Nhưng trong bóng tối hỗn loạn, những nơi khác người vẫn như ruồi mất đầu, không tìm được đường thoát.

Vi Huấn men theo mép tường chạy, thấy có người cõng trẻ nhỏ trên vai thì liền vươn tay kéo lên, đặt cho họ ngồi trên tường. Lại thử kéo những người ép sát bên tường ra ngoài, nhưng bọn họ đã bị tầng tầng lớp lớp thân người ép thành một khối, hễ động vào liền thảm, cánh tay tưởng chừng sắp rời.

Cứ thế kéo ra vài người, những người già yếu, thể trạng nhỏ bé phần nhiều đã ngất lịm vì ngộp thở. Dù đã hôn mê nhưng thân thể không đổ, người bên cạnh nhìn thấy đồng bạn trợn trắng mắt, sùi bọt mép, sợ đến nỗi hồn phi phách tán, bật khóc k** r*n.

Vi Huấn chạy một vòng, mới hiểu vì sao chỉ một xác chết trôi mà gây nên thảm họa như vậy. Do tập tục truyền thống, chùa miếu thường xây ngạch cửa cao hơn đầu gối người lớn. Ngày thường đi qua đã phải chậm rãi, huống hồ trong cơn hoảng loạn, người già trẻ nhỏ còn cần được đỡ.

Khi xác chết trôi bất ngờ nổi lên ở biển phóng sinh, người gần đó hoảng sợ bỏ chạy. Kẻ ngoài không rõ nguyên do, nhưng thấy đám người kia mặt mày thất sắc, lại bị cảm xúc kinh hoảng lan truyền, nên đua nhau tháo chạy ngược ra cổng chính.

Ngạch cửa cao khiến tốc độ chạy chậm lại, người chân yếu vấp ngã, người sau tiếp tục vấp vào người trước, thân thể chồng chất như núi, trực tiếp bịt kín cổng lớn. Người sau không rõ vì sao cửa bị chắn, lại càng thêm hoảng, xô đẩy nhau như điên, khiến cho đám đông đổ sụp, khó lòng thoát ra.

Cùng lúc ấy, trên đài Linh Chi treo giữa không trung, các tăng nhân đang tiếp khách hay xem mây nước cũng không kịp trở tay. Có người nhìn xuống xác chết trôi mặt mày biến dạng, lẩm bẩm: “Quỷ nước kia là ai vậy?”

Quan Triều vội hét lên: “Đừng lo nó là ai! Cứ thế này nữa, chỉ sợ chết thêm nhiều người!”

Giam viện hòa thượng thấy Vi Huấn đá văng cửa nhỏ, bèn vội thổi tù và, hướng đám người hét lớn: “Cửa tây nam mở rồi! Mau chạy lối ấy!”

Tù và có tác dụng khuếch đại âm thanh, nhưng giữa cảnh hỗn loạn ầm ĩ như vậy thì chẳng mấy ai nghe được lời chỉ dẫn.

Đàm Lâm trầm tư chốc lát, vẫy Quan Xuyên đến gần, nghiêm giọng: “Dùng tiếng hống dẹp yên đám đông.”

Quan Xuyên hiểu ý, cùng ba sư huynh đệ đỡ Đàm Lâm lui vào góc, bịt kín tai. Quan Xuyên bước tới mép đài Linh Chi, hít sâu, vận nội lực, gân xanh nổi lên.

Một tiếng gào rền như sấm nổ vang khắp bốn bề, đất rung nhà chuyển, mái hiên rơi ngói, đám đông đang chen lấn kinh hoàng tột độ. Dương Hành Giản sợ đến run bần bật, Bảo Châu phải ôm chặt lấy đỉnh tháp mới không rơi xuống, người ở gần còn nôn thốc nôn tháo vì chấn động quá mạnh.

“Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam mô kim cương bất hoại Phật! Nam mô sư phụ hiện thân! Nam mô lìa khỏi sợ hãi hiện thân! Nguyện thân này dứt trần, cùng sinh về cõi Cực Lạc!”

Quan Xuyên như sư tử rống nơi Phật tiền, vận nội lực gầm vang đoạn Phật hiệu, khiến mấy ngàn người kinh hãi bỗng như tỉnh mộng. Sau đó lại hô lớn:

“Quỷ nước trong biển đã bị sư phụ Đàm Lâm hàng phục, chư Phật tại đây bảo hộ, mọi người chớ sợ, hãy đứng yên tại chỗ!”

Không rõ là vì lời tụng Phật an ủi, hay bị tiếng gầm hù dọa, người phía sau không dám xô đẩy nữa, tiếng kêu la cũng dịu đi. Thiềm Quang tự có gần ngàn tăng nhân, lúc này bắt đầu ra tay cứu viện, dựng thang, dỡ người từng bước khỏi đống người chồng chất ở cổng lớn.

Vi Huấn nghe lời hô của Quan Xuyên, lòng khẽ động, tay chân vẫn không ngừng. Hắn kêu to, dẫn người quanh cửa nhỏ đi ra, ai vấp ngã lập tức đỡ dậy, tránh lặp lại bi kịch như cổng chính.

Hơn ngàn người lần lượt rời khỏi sân, sức ép dần hạ, rất nhiều người hoàn hồn mới nhận ra xác chết chỉ là một thi thể chết trôi thường thấy trên sông Lạc, chỉ vì xuất hiện đúng lúc ở trung tâm ảo thuật “Địa Ngục Biến”, lại trùng vào đêm Vu Lan âm khí nặng nề, mới dẫn đến tâm lý hoảng loạn, gây nên thảm án.

Lúc Vi Huấn bế Bảo Châu từ đỉnh tháp xuống, đám người đã bớt, trên đất vương vãi đầy giày dép, túi tiền, khăn vấn, người bị thương được đưa vào phòng nghỉ, đếm số người tử vong có bảy người do dẫm đạp, nghẹt thở.

Thêm cả một xác chết trôi vô danh trong sông phóng sinh.

Đêm ấy, giam viện hòa thượng an bài người bị thương xong, tới thượng khách đường truyền lời Đàm Lâm thăm hỏi. Dương Hành Giản còn chưa hoàn hồn, cầm chén nước tay run bần bật, đáp cho có lệ: “Là chuyện ngoài ý muốn, xin thượng nhân chớ để tâm, sáng sớm mai chúng tôi sẽ rời khỏi Thiềm Quang tự, đi Lạc Dương.”

Hòa thượng do dự, rồi nói thêm: “Ngoài việc thăm hỏi, thượng sư còn một yêu cầu, muốn mời vị thanh y hiệp sĩ đồng hành cùng ngài đến điện Vô Thường một chuyến, hỗ trợ điều tra chân tướng vụ thảm kịch.”

Dương Hành Giản kinh ngạc chỉ Vi Huấn: “Hắn?”

Vi Huấn cười nhạt: “Chân tướng chẳng phải do các người sắp xếp bất cẩn, tham lam gom tiền, mới khiến quá nhiều người tụ tập đó sao? Có can hệ gì tới ta? Lại nói, nếu muốn nhờ giang hồ trợ giúp, các người đã có một cao thủ đứng đầu.”

Hòa thượng tuân lệnh Đàm Lâm, dẫu bị trách mắng cũng không dám thất lễ, chân thành đáp: “Sư đệ Quan Xuyên đã rời thế tục từ lâu, nhiều năm nay ngoài tụng kinh và hộ vệ sư phụ, không can dự chuyện khác, thật chẳng giúp gì được.”

Bảo Châu ở trên cao thổi gió lạnh nửa đêm, hồn phách phiêu tán, giờ uống vài chén trà an thần mới tỉnh táo. Nàng ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói với hòa thượng:

“Nếu Đàm Lâm chấp thuận điều kiện của ta, ta sẽ bảo Vi lang hỗ trợ, còn không thì miễn bàn.”

Hòa thượng sững sờ, nhìn sang Dương Hành Giản, thấy ông ta chỉ uống trà, không nói lời nào. Trong lòng thầm nghĩ, rõ ràng vị này là quan viên, nhưng như thể tiểu thư mới là người đứng đầu đoàn.

Vi Huấn lần đầu nghe nàng gọi mình là “Vi lang” trước mặt người ngoài, bất giác ngây người, không thốt nên lời.

Hòa thượng xem xét thời thế, cung kính hỏi: “Xin hỏi tiểu thư có điều gì dặn dò?”

Bảo Châu không vòng vo: “Các người hãy đem toàn bộ tiền gạo thu được trong lễ Vu Lan hôm nay đi cứu tế nạn dân, ta sẽ giúp điều tra chân tướng.”

Hòa thượng giật mình: “Đó là lễ vật cúng Phật, sao có thể dùng tùy tiện?”

Bảo Châu lười tranh luận, uống trà rồi phất tay tiễn khách.

Hòa thượng thấy chẳng còn đường thương lượng, không dám tự quyết, đành cáo lui về bẩm với Đàm Lâm.

Bảo Châu nói: “Sáng nay người Ngô gia tới tìm con gái mất tích, ban đầu ta tưởng xác chết là Ngô Quế Nhi, nhưng dẫu ánh đèn lờ mờ, cũng nhìn ra đó là một thi thể khổng lồ, khác hẳn người thường.”

Vi Huấn lắc đầu: “Người chết trôi vài ngày thường trương phồng lên như vậy, nam hay nữ phải xem kỹ thân thể mới rõ. Có lẽ đợi khách hành hương rời hết, các tăng nhân sẽ vớt xác.”

Dương Hành Giản nghe thế liền buồn nôn, chỉ muốn về phòng nằm giả chết.

Hồi lâu sau, hòa thượng trở lại báo: “Sư phụ đã đồng ý, mời các vị vào thương nghị.”

Sau cơn hoảng loạn cũng có tin mừng, Bảo Châu phấn chấn tinh thần, dù không ưa bầu không khí u ám của điện Vô Thường, nhưng vẫn cùng Vi Huấn và Dương Hành Giản tới gặp Đàm Lâm.

Đêm nay đại điện đèn đuốc sáng trưng. Dù Đàm Lâm đã về hưu với chức tán viên tam phẩm, hưởng lương triều đình, nhưng khi xảy ra đại sự vẫn phải báo cáo lên triều. May mắn quan phủ Hà Nam là Đậu Kính đã cáo bệnh rời đi từ trước, bằng không lỡ có gì nguy hiểm, e khó cứu vãn.

Đàm Lâm vì chân yếu phải người dìu đỡ, được an trí ngồi trên tòa sen trong điện, lưng tựa ghế gỗ. Quan Xuyên lực lưỡng vẫn như thường đứng bên, như thần hộ pháp trước Phật.

Bảo Châu ngồi đối diện trên đệm hương bồ, Vi Huấn ngồi đối diện Quan Xuyên.

Đàm Lâm quan sát nàng hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Nghe nói cô nương có lòng từ bi, nguyện dùng tiền Vu Lan cứu đói dân nghèo. Tiếc rằng đường thủy gián đoạn, người cần giúp lại đông, số tiền ấy chỉ đủ lo bữa cơm cho ngàn người, qua hôm sau họ lại đói tiếp.”

Bảo Châu không nao núng: “Vậy thì hôm nay ngàn người ấy sẽ biết ơn. Ai biết ngày mai có gì đổi khác? Nếu đường thông, vận lương bằng thuyền từ Giang Hoài về đây chỉ mất bốn mươi ngày. Sẽ có ngày ai cũng được ăn no.”

Đàm Lâm ngắm khuôn mặt trẻ trung tự tin của nàng, mỉm cười:

“Lão nạp sinh thời Khai Nguyên, từng được thấy cảnh thịnh trị Đại Đường, nhưng ngay cả thời ‘gạo trắng chất đầy kho, quan dân đều no đủ’ ấy, cũng không có chuyện ‘mọi người đều ăn no’. Dưới thời Trinh Quán, Khai Nguyên, mùa màng thuận lợi, nhưng vẫn ba phần dân cần cứu trợ, miễn cưỡng không chết đói thôi.”

Lời này hoàn toàn trái với hiểu biết trước nay của Bảo Châu, thậm chí chạm đến kiêu hãnh hoàng tộc họ Lý. Nàng giận dữ nói: “Ngài nói láo!”

Đàm Lâm thản nhiên tiếp lời:

“Lão nạp làm ở Bộ Công hơn bốn mươi năm, quản đồn điền, thủy lợi, sản vật núi rừng, không ai hiểu rõ cuộc sống người dân hơn lão. Trong Kinh Pháp Hoa có dạy: ‘Tam giới chẳng yên, như nhà cháy lớn, trăm khổ tràn ngập, thật đáng sợ thay. Chỉ có giác ngộ mới thoát được lửa thiêu trần thế.’

Nước Đại Đường đến nay hơn hai trăm năm, riêng vùng Lạc Dương đã từng bốn mươi trận lụt, ba mươi đợt hạn, thêm động đất, châu chấu, bão… kể không xuể. Năm nào chẳng có người đói chết. Đó là số kiếp của cõi Sa Bà, chỉ có giác ngộ mới mong thoát khỏi bể khổ.”

Ông thở dài, như nhớ về thuở xưa:

“Cô nương còn trẻ, khi chúng tôi bằng tuổi cô nương, ai cũng ôm chí hướng ‘cho thiên hạ ai nấy đều no đủ’. Giờ tóc bạc da mồi, nhìn lại thuở ấy, chỉ thấy mình khi xưa quá ngây thơ buồn cười.”

Ánh mắt ông dừng ở Vi Huấn, nói chậm rãi:

“Trừ sư phụ ngươi là Trần Sư Cổ…”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 106


Bảo Châu đứng trên hành lang dài trước điện Quy Vô Thường, nước mắt lấm lem đầy mặt.

Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công—Công Bộ chính là một trong lục bộ thuộc hàng cuối, xưa nay trên triều đình hiếm khi có cơ hội thể hiện. Quan lại có thế lực đều tìm cách rời đi, chỉ còn lại một số ít người trầm mặc, an phận giữ thân, trong yến tiệc không chỉ ít lời, ngay cả lúc khiêu vũ cũng vụng về, quê mùa.

Ấy vậy mà, cũng chính nơi ấy lại gần dân nhất. Những người như Đàm Lâm, cả đời làm việc, mấy chục năm kinh nghiệm mở miệng ra là viện dẫn sử sách, đưa ra số liệu rành rọt, nói đâu ra đó. Bảo Châu sống trong mây trắng, chưa từng đối mặt thực tiễn, đương nhiên không phải đối thủ. Chỉ vài câu, đã bị bác bỏ đến mức nước mắt tuôn tràn. Không muốn để lộ yếu thế, nàng đành bỏ đi khóc một mình.

Vi Huấn lấy khăn đưa nàng, vừa dỗ vừa cười: “Ngươi là lấy tra án đổi lương, chứ có phải đem hạt đậu vàng ra đổi đâu, khóc nữa lại mệt đó.”

Bảo Châu nức nở: “Ta… ta nhịn không nổi mà…”

Ở Biện Kinh, những cao tăng nói năng trôi chảy đã quen, nhưng Đàm Lâm chẳng cần hùng biện, chỉ cần sự thật. Ông đã trải qua bao nhiêu năm cứu tế, từng đích thân trông coi công trình sau lũ lụt ở Lạc Dương, từng đụng chạm vô số vụ đói nghèo. Với một người như vậy, nàng không thể phản bác được.

So với Đàm Lâm, nàng thật quá non nớt. Từ nhỏ đến lớn, nàng luôn được che chở. Mỗi lần tranh luận đều chiếm phần thắng, hoặc là vì đối thủ yếu thế, hoặc là nương thế quan uy của Dương Hành Giản. Hôm nay mới lần đầu tiên gặp người không hề kiêng nể thân phận nàng, khiến nàng nhận ra sự nông nổi của chính mình. Càng nghĩ càng tuyệt vọng. Đàm Lâm cả đời làm việc mà cũng kết luận rằng không thể cứu vãn, chỉ còn cách quy y cửa Phật, mong giải thoát.

Dương Hành Giản khuyên không được, lại không thể tiết lộ thân phận công chúa, cũng chẳng dám đắc tội quan lớn như Đàm Lâm, chỉ còn biết âm thầm trách bản thân chính là người đề nghị đến chùa Thiềm Quang tìm chỗ nghỉ, hối hận đến muốn tự tát.

Bảo Châu khóc ướt khăn của mình, lại lấy khăn của Vi Huấn. Nàng u oán nói: “Ngươi biết ta chủ ý sai rồi, sao không nhắc ta sớm?”

Vi Huấn cười nói: “Giờ thì nàng biết hoa hòe và quả du không thể ăn thay cơm rồi đấy. Thế là tiến bộ rồi. Câu nói ‘ngàn người một bữa, ngày mai lại xem chuyển biến’ cũng không tệ chút nào.”

Bảo Châu úp mặt vào khăn, thầm nghĩ: khi ở trong cung, nào có ai dám đối đầu với nàng? Ra ngoài cung, người tranh luận thì yếu thế, người cãi lý thì phải kiêng nể Dương Hành Giản. Nay mới biết thế nào là gặp thực sự cao thủ, dù Vi Huấn có dỗ dành thế nào, cũng không che giấu được nỗi nhục bại trận.

Vi Huấn thấy nàng khóc càng lúc càng thê lương, cũng muốn an ủi, nhưng chẳng biết làm sao. Chỉ còn biết rút từng chiếc khăn ra đưa. Từ khi biết nàng có thói xấu này, ngày nào hắn cũng mang theo bốn năm chiếc khăn để sẵn.

Thua trận, lòng không vui. Phượng hoàng non chưa kịp ra đời, lần đầu đối mặt với gió sương ngoài vỏ trứng, sao có thể không thua? Nếu là thần điểu đã thành, sao có thể để người mưu hại mà bị chôn sống trong địa cung?

Cuối cùng, Bảo Châu cũng ngừng khóc, lau khô nước mắt, hít sâu một hơi, rồi quay bước trở lại điện Quy Vô Thường.

Vi Huấn dặn dò: “Nếu điều kiện đã đặt ra rồi, ngươi cứ mặc kệ lão đầu trọc ấy là được.”

Bảo Châu đáp: “Mẫu thân từng dạy, cách giữ vững quan hệ lợi ích vững bền nhất là đôi bên đều có điều mong cầu. Hắn ghét ta là vì chướng mắt ta thể hiện. Ta càng phải thể hiện cho hắn thấy. Với lại, hắn đã về hưu, sao lại quen biết Trần Sư Cổ? Chuyện này ta rất muốn làm rõ.”

Nói rồi nàng quay vào điện, ngồi lại đệm hương bồ đối diện Đàm Lâm, hỏi thẳng:

“Ngài nhắc tới người họ Trần kia là có ý gì?”

Đàm Lâm lần này quay sang nhìn Dương Hành Giản: “Nếu biết lễ nghĩa thì phải biết người ấy. Trần Sư Cổ là bạn đồng khoa năm ấy với ta, cùng bảng tiến sĩ.”

Dương Hành Giản gật đầu: “Chuyện đó hạ quan chỉ nghe kể lại. Nghe nói hắn là kỳ tài đỗ tiến sĩ khi mới ngoài hai mươi, nhưng chẳng bao lâu lại phát bệnh điên, bỏ chức quan mà đi.”

Người đời có câu: “Ba mươi tuổi mới hiểu kinh, năm mươi mới đỗ tiến sĩ”, kỳ thi ấy xưa nay khó như lên trời. Người hơn hai mươi đỗ đạt, lại bỏ dở, quả là chuyện hiếm thấy.

Đàm Lâm lắc đầu: “Không phải bệnh điên, mà là trúng độc mê hồn. Sau này, hắn rời quan trường, quay lại chốn giang hồ, bắt đầu thu nhận đệ tử.”

Lời này như sét đánh ngang tai. Bảo Châu và Dương Hành Giản cùng há hốc miệng, quay sang nhìn Vi Huấn, mà hắn thì chỉ mở tay, làm vẻ vô tội: “Nửa đầu chuyện đó ta chưa từng nghe đến.”

Dương Hành Giản ho khan, cố gắng lấy lại vẻ nghiêm trang: “Thượng nhân nhầm rồi, người kia tuy trùng tên Trần Sư Cổ, nhưng là một tên trộm mộ khét tiếng, không dám ra ánh sáng.”

Đàm Lâm vẫn bình thản: “Không nhầm đâu. Trần Sư Cổ tuy xuất thân thứ dân, nhưng văn hay chữ tốt, võ nghệ cao cường, trí tuệ hơn người. Đỗ tiến sĩ xong vẫn giết người, cướp của, đào mộ, trộm báu. Năm đó gặp lần đầu ở Khúc Giang, ta thấy hắn mang chính thanh kiếm kia bên hông.”

Ông chỉ vào thanh kiếm bên hông Vi Huấn: “Lão nạp nghiên cứu cổ vật đã nhiều năm, không thể nhận sai loại binh khí cổ như vậy.”

Sau một lúc im lặng nặng nề, Dương Hành Giản bỗng hét to: “Không thể nào! Tại hạ không tin!”

Hắn run tay, đứng bật dậy, kích động phủ nhận liên hồi. Là người danh môn, xưa nay luôn lấy lễ nghĩa làm gốc, Bảo Châu chưa từng thấy hắn thất thố đến vậy, không khỏi sững sờ. Đàm Lâm khẽ thở dài:

“Biết lễ là tốt, nhưng cố chấp quá cũng không hay.”

Nhà họ Dương vốn dòng dõi thế gia, bao đời làm quan, thi cử đỗ đạt không ít. Nhưng Dương Hành Giản thì không may, thi rớt cả tiến sĩ lẫn minh kinh, cuối cùng phải dựa ân điển tổ tiên mà vào triều. Vì thế trong lòng luôn có vết sẹo, càng tự ti lại càng coi khinh kẻ thất học.

Nay nghe Vi Huấn, kẻ hắn xem thường nhất, lại là môn đồ của tiến sĩ năm nào, còn là người được trọng vọng, hắn chẳng khác nào sụp đổ.

Vi Huấn thấy hắn tức đến rơi nước mắt, liền trêu: “Sư phụ ta nói đọc sách là việc vô dụng nhất. Chẳng lẽ ngươi, bậc danh sĩ, lại không bằng một tên trộm mộ?”

“A!!!” Dương Hành Giản gào lên, rồi òa khóc, bỏ chạy khỏi điện Quy Vô Thường.

Vi Huấn thích chí vô cùng, vừa quay đầu lại thì thấy ánh mắt Bảo Châu như muốn thiêu cháy mình, vội mím môi nín cười.

“Hắn là người cùng phe với ta!” nàng giận dữ nói.

Đây là người thứ hai trong nhóm khóc lóc bỏ đi ngay tại trận. Bảo Châu giận Vi Huấn không phân biệt nặng nhẹ, nếu trong tay có thước, chắc đã đánh cho hắn bầm dập. Vi Huấn chột dạ lảng sang bên, lí nhí:

“Ta… không nhịn được…”

Bảo Châu tuy không đến mức như Dương Hành Giản, nhưng trong lòng cũng đầy ngạc nhiên. Ai ngờ được người từng đỗ tiến sĩ lại đem kiến thức truyền cho một nhóm môn đồ không biết chữ trong Tàn Dương Viện?

Cả ba người đều bàng hoàng, còn Đàm Lâm và Quan Xuyên thì đã nhìn ra: nàng tuyệt đối không phải con gái của Dương Hành Giản.

Đàm Lâm nói: “Nếu có hứng thú với chuyện cũ của Trần Sư Cổ, ngày khác ta sẽ kể. Giờ xin giúp chùa Thiềm Quang, điều tra cho rõ chân tướng.”

Vi Huấn đáp: “Ảo thuật dưới nước chỉ có tên họa sĩ ngốc Ngô Quan Trừng mới làm được. Tìm được hắn, hỏi rõ rồi nói sau.”

Đàm Lâm im lặng. Quan Xuyên lên tiếng:

“E rằng không kịp nữa. Thi thể ấy… rất có thể là chính sư đệ Ngô Quan Trừng.”

Bảo Châu sửng sốt: “Các ngươi nhận ra mặt mũi ư?”

Quan Xuyên lắc đầu: “Xác đã sưng biến dạng. Nhưng tóc vừa chấm tai, không đủ dài để búi, đầu bù tóc rối, không phải kiểu tóc thường thấy. Chỉ có người mới hoàn tục như Ngô sư đệ mới giữ kiểu tóc như vậy.”

Bảo Châu trầm ngâm một lúc: “Nếu ngày thường hắn đã giữ bộ dạng đó, hẳn sẽ có nhiều người nhận ra. Biết đâu có ai cố ý cắt sửa tóc xác chết, để người khác nghĩ đó là hắn.”

Hai thầy trò đưa mắt nhìn nhau, giật mình hỏi: “Vì sao phải làm vậy?”

Bảo Châu đáp: “Ta từng gặp vụ án kẻ giết người rồi cắt đầu nạn nhân, chỉ để che giấu thân phận là một vị tăng nhân.”

Cả điện lặng đi trong khoảnh khắc.

Vi Huấn cất tiếng phá tan không khí nặng nề: “Xác ấy hiện đặt ở đâu? Chưa mai táng chứ? Cho ta xem qua.”

Quan Xuyên đáp: “Đang đặt sau điện, trong kho chứa vôi.”

Vi Huấn đứng dậy: “Dẫn đường.”

Dương Hành Giản không biết chạy đi đâu, Bảo Châu và Vi Huấn theo Quan Xuyên vòng ra sau điện. Trước mặt là một dãy nhà kho thấp bé, xưa nay để thi thể.

Trên đường đi, Vi Huấn tiện tay bẻ một nhành cây, hỏi bâng quơ: “Từng nghe trên giang hồ có cao thủ hiệu ‘Lôi Âm Nghê’, nổi danh với nội công thép và tiếng rống sư tử, khoảng bốn năm trước bỗng dưng mất tích. Đại hòa thượng, tục danh ngươi chẳng hay là Thù Kiên Thành?”

Quan Xuyên dửng dưng: “Tên họ vốn là thứ hư ảo, đã xuất gia thì chẳng còn liên hệ với trần tục. Họ Ân hay họ Thù, có khác gì nhau.”

Bảo Châu hiểu ý Vi Huấn, ngẫm nghĩ rồi thầm thì: “‘Lôi Âm Nghê’ nghe oai thật. Toan Nghê là mãnh thú giống sư tử, mà sư tử lại là thánh thú nhà Phật. So với lừa thì hơn nhiều.”

Quan Xuyên nhìn nàng kỳ lạ. Câu ấy nghe như lời khen, nhưng vẻ mặt nàng đầy bất bình, mà nhắc tới lừa là ý gì?

Vi Huấn suýt bật cười, cắn môi nhịn. Từ khi nàng có biệt hiệu Kỵ Lư Nương Tử, luôn muốn tìm người sánh vai, nhưng ai cũng có vẻ oai hơn nàng.

Vừa nói chuyện, họ đã tới gian phòng chứa xác. Dãy nhà kho trước kia để xác chờ hỏa táng, nay dọn trống hết, chỉ đặt một xác trôi sông mới vớt. Quan Xuyên mở khóa, mời vào.

Vi Huấn quay sang Bảo Châu: “Ngươi đợi ngoài. Xác chết phình lên còn đáng sợ hơn cây hòe thắt cổ.”

Bảo Châu vốn đã sợ, vội gật đầu. Vi Huấn bước vào phòng, nơi đây đào sẵn một hố vuông, lót vôi bên dưới. Xác đặt trong hố, hơi nước đã bị vôi hút khô, bên trên là nhang đếm giờ, một chiếc kính chiêu hồn, và một lư trầm hương khử mùi thi thể.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 107


Vi Huấn bước vào phòng đặt xác, nơi đây bài trí chẳng khác gì điện Quy Vô Thường. Trên nền đất có một hố vuông trát vôi, thi thể vớt từ sông đặt giữa lòng hố, nước thấm ra đã bị vôi hút khô ráo. Trên vách treo hương tính giờ cùng một chiếc gương trấn hồn, bên cạnh còn có lò đàn hương cháy âm ỉ, tỏa mùi thơm nồng, dùng để át mùi thi thể.

Ngay khi bước vào, hắn liền thi triển công phu nín thở, lặng lẽ đi quanh quan sát. Xác chết trương phồng như ba người hợp lại, đầu to như thúng, chân thô như cột, thoạt nhìn chẳng còn ra hình người, tựa một kẻ khổng lồ dị dạng. Chỉ lờ mờ còn sót lại chút dấu vết của na giới.

Từ ngoài cửa, Bảo Châu cất giọng hỏi vọng vào:
“Không phải là nữ sao?”

Vi Huấn đang nín thở, không tiện đáp lời, song nghĩ nàng đứng một mình bên ngoài ắt sẽ sợ, bèn bỏ bế khí, lớn tiếng đáp:
“Là nam giới.”

Thi thể vì trương sình mục nát nên xiêm y đã rách tơi tả, dấu vết bên ngoài cũng chẳng còn phân biệt rõ, vết bớt, hình xăm đều khó thấy. Một vài chỗ thịt da thối rữa để lộ vết lõm sâu. Vi Huấn dùng cành cây khều thử, da thịt lún xẹp như bột nát.

Quan Xuyên nói:
“Những chỗ rách này là do lúc vớt xác làm ra. Chính thân thể không thấy có vết thương chí mạng.”

Vi Huấn gật đầu, tiếp tục xem xét. Hai tay thi thể có chỗ hằn lõm như bị thắt buộc, nơi cổ tay phải còn quấn một đoạn cỏ tranh mềm mại.

Hắn trầm ngâm một lúc, ném cành cây đi rồi quay bước ra ngoài.

Bảo Châu vội hỏi:
“Thế nào? Có phát hiện gì không?”

Vi Huấn hít một hơi dài, lấy lại hơi thở rồi nói:
“Căn cứ thời tiết hôm nay, người này đã chết độ ba bốn ngày. Trên thân không thấy vết thương rõ rệt, mũi miệng còn vương chất nhầy, trong tay nắm rong nước, e là chết đuối. Còn thân phận, rất có thể chính là Ngô Quan Trừng.”

Bảo Châu hỏi:
“Sao ngươi dám chắc?”

Vi Huấn đáp:
“Ngoài tóc dài, ngón tay phải của người này có dấu hiệu biến dạng do cầm bút lâu năm. Mười đầu móng tay còn sót lại thuốc màu ngũ sắc. Thi thể phơi trong nước đã lâu, mà màu vẫn chưa phai, có thể là do thuốc vẽ ngấm sâu theo năm tháng, hoặc là loại màu không tan trong nước.

Quan Xuyên hỏi:
“Vậy nguyên nhân cái chết chỉ là chết đuối?”

Vi Huấn lắc đầu:
“Kỳ quái là ở chỗ đó. Dấu vết nơi tay chân cho thấy từng bị trói, nhưng lại không hề có vết cào xước hay tổn thương vì giãy giụa, chứng tỏ không kháng cự. Hơn nữa vật dùng để buộc là cỏ tranh mềm, không đủ sức giữ chặt người trưởng thành. Nếu người này còn sống, chỉ cần vùng một cái là đứt.”

Bảo Châu trầm ngâm:
“Bị trói mà không giãy? Chẳng lẽ là bị trói rất chặt?”

Vi Huấn tiếp lời:
“Cũng không. Dây buộc là thứ yếu, chẳng đáng để khống chế. Nếu người này thật sự bị ép chết đuối, tất nhiên sẽ có dấu tích vùng vẫy. Nhưng không có.”

Giá như có lão Khâu Nhậm ở đây, hẳn đã mổ xác xem nội tạng, nhưng Vi Huấn không muốn mình dính mùi xác thối, nên thôi.

Ba người vẫn chưa tìm ra manh mối nào. Quan Xuyên xoay người khóa cửa lại, cả bọn quay về điện Quy Vô Thường.

Nếu thi thể vô danh kia đúng là Ngô Quan Trừng, thì sau khi chết hắn làm sao còn dựng được ảo ảnh dưới nước như đêm vu lan vừa rồi? Nếu không phải, thì ai đã bày bố thế trận ấy, dựng nên một bức vẽ kinh hoàng như vậy? Hắn đã chết, hay cố tình che mắt? Hay chỉ là một tai nạn?

Bảo Châu không tìm được đáp án, ánh mắt dời quanh đại điện. Khi lướt qua bức tường có vẽ hình vị mỹ nữ, nàng cảm thấy khó chịu, liền quay đi, rồi nhìn vào góc điện nơi đặt bức tượng người cúng dường.

Nàng hỏi:
“Người nuôi bọn họ vốn là một vị tăng nhân, vậy tại sao còn phải bỏ tiền xây thêm chùa khác?”

Đàm Lâm vẫn nhắm mắt, đáp ngắn gọn:
“Không thể nói.”

Bảo Châu không vui, quay sang Vi Huấn:
“Ở đây ngồi ngắm xác cũng chẳng có ích gì, chi bằng ra ngoài dạo một vòng tìm manh mối.”

Vi Huấn lập tức đứng dậy, theo nàng rời khỏi điện.

Càng rời xa điện Quy Vô Thường, càng thoát khỏi mùi đàn hương lẫn tanh nồng, Bảo Châu hít một hơi thật sâu, nói:
“Dù cơm chay có ngon, có suối nóng thư giãn, ta cũng chẳng muốn ở đây thêm một ngày. Cứ thấy chỗ nào cũng hôi.”

Vi Huấn khẽ nhắc:
“Đi rửa mặt đi, nghẹt mũi nên ngửi cái gì cũng thấy khó chịu.”

Bảo Châu ngó quanh, thấy không ai theo sau, bèn hạ giọng:
“Thi thể đúng là chết đuối, lại không có dấu vết vùng vẫy. Khi ấy giữa đài lễ, mọi người giẫm đạp, Quan Xuyên lại dùng chiêu sư tử hống dọa người, ta ở xa còn choáng váng buồn nôn, chẳng lẽ hắn dùng chiêu ấy hạ gục Ngô Quan Trừng, rồi ném xuống ao?”

Vi Huấn đáp:
“Ta cũng nghĩ đến khả năng đó. Nhưng với bản lĩnh của hắn, muốn giết người có trăm cách dễ hơn. Rống một tiếng làm tim phổi vỡ tung là chuyện nhỏ, thậm chí khiến người đổ máu thất khiếu mà chết cũng có thể. Nếu đã vậy, cần gì dùng dây buộc? Chẳng đáng để phiền lòng.”

Bảo Châu chợt nhớ:
“Đàm Lâm kể chuyện thiền sư độ Tu La, chẳng lẽ “Tu La” đó là Trần Sư Cổ? Nếu không phải ngươi, thì người nào có mặt tại pháp hội lại nghe ra ngụ ý đó?”

Vi Huấn nhún vai:
“Lão Trần đâu có phức tạp thế. Hắn chỉ bảo năm xưa từng giết một tăng Phạn khó chơi, rồi lấy được một quyển tâm pháp, vậy thôi.”

Bảo Châu nói:
“Nhưng Đàm Lâm lại vì một mình ngươi mà thuyết pháp trước vạn người, còn viết mệnh số cho ngươi, rõ là coi trọng quá mức. Dù có từng đỗ khoa thi cùng năm, cũng chẳng đến mức mấy chục năm vẫn không quên.”

Vi Huấn đáp:
“Người Tàn Dương Viện thì ai cũng muốn quên sớm. Hắn bị xem như tai họa, chết rồi ai cũng thở phào. Chẳng ai còn nghĩ đến ân tình gì nữa.”

Càng nghĩ Bảo Châu càng thấy lạ. Nàng lo lắng:
“Quan Xuyên trước kia cũng là người trong giang hồ, chẳng lẽ… Đàm Lâm muốn nhân dịp này khuyên ngươi vào chùa? Như vậy hắn sẽ có đủ hai hộ pháp!”

Nghĩ đến vẻ lọc lõi, mưu lược thâm sâu của Đàm Lâm, Bảo Châu vừa tức vừa hơi sợ, nghiêm giọng:
“Người này lòng tham vô đáy, đã có sư tử rồi còn muốn đoạt linh miêu của ta, ngươi đừng nghe hắn giảng kinh giảng nghĩa. Không nghe, không được nghe!”

Vi Huấn cười bật tiếng:
“Sao vậy, nàng thì được tu hành, còn ta thì không được động ý nghĩ xuất gia?”

Bảo Châu nghẹn lời, nhận ra mình đúng là thiên vị. Trong nhóm tuy đã có một chú tiểu, lại còn là sư đệ Vi Huấn, nhưng chẳng rõ vì sao nàng không thích nghĩ đến cảnh Vi Huấn khoác áo cà sa. Đành tìm cớ tránh né, nghiêm nghị nói:
“Ta nói thật đó, đầu trọc không đẹp bằng bây giờ đâu!”

Vi Huấn thấy bên tai nóng bừng, may mà tóc che kín, nếu không da đầu đỏ lựng thì mất mặt biết bao.”

Hắn trấn tĩnh lại, nói:
“Thế thì hay, chúng ta ước định, nàng còn để tóc thì ta cũng không cạo.”

Bảo Châu nghe vậy rất đỗi hài lòng, lập tức gật đầu đồng ý.

Lần này hai người chọn con đường khác để đi dạo. Hai bên đường, bích họa vẫn phủ kín tường. Đêm khuya tĩnh mịch, cổ tự chìm trong yên lặng, tường vẽ những hình quỷ thần, tà ma như sống lại giữa ánh trăng.

Sau hai ngày lễ tẩy họa, hai người đã quen mắt, dễ dàng nhận ra nét vẽ của Ngô Quan Trừng.

Tranh của hắn có phong cách rất riêng: không dùng đường nét rõ ràng, chỉ dùng khối màu để dựng hình; màu sắc lại rực rỡ, hoàn toàn khác hẳn phong cách trầm đậm cổ truyền; sờ tay lên còn thấy cả lớp màu chồng dày; điều đặc biệt là cực kỳ chân thực, không chút ước lệ, từ nét mặt nhân vật đến từng gân cốt đều hiện ra sống động.

Điều làm người rùng mình hơn cả là đôi mắt quỷ thần trong tranh như phát sáng, ánh nhìn tựa như có sinh khí, dường như chuyển động theo người đang dõi xem.

Thấy vậy, ngay cả Vi Huấn cũng rợn người. Bảo Châu nói:
“Ngô Đạo Tử xưa từng sáng tạo thuốc vẽ đặc biệt để tô mắt thần Phật, khi vẽ lên thì sinh thần hiệu ứng. Về sau kỹ pháp thất truyền, chỉ còn tranh trong cung còn giữ lại được. Có lẽ Ngô Quan Trừng tìm được những thứ đó trong phòng thiền xưa của họ Ngô?”

Vi Huấn gật đầu:
“Cũng có lý. Nhưng ta nghe nói hắn vì vẽ tranh mà từng giải phẫu thi thể, nhìn kỹ xác chết để vẽ cho giống. Người như vậy, vì tranh mà nhập ma, thật là đáng sợ.”

Bảo Châu nghĩ đến hôm nay là đêm Vu Lan, linh hồn u uất về lại nhân gian, tưởng tượng Ngô Quan Trừng đang ôm cái đầu người đi lượn lờ quanh đây, bất giác rùng mình, siết chặt tay áo.

Vi Huấn nghĩ, người nhập ma quả thật rất đáng sợ.

Trần Sư Cổ khi xưa từng đào xác từ nghĩa địa về, giải phẫu chia phần, cho đồ đệ tập nối xương, khâu thịt. Chính loại phương pháp trái luân thường đạo lý này đã khiến võ học Tàn Dương Viện trở thành dị biệt trong giang hồ, cũng là nguyên nhân hắn bị mọi người ghét bỏ.

Từ bé sống giữa đói khát, thi thối, Vi Huấn đã quen cảnh gió tanh mưa máu. Giờ đây đứng cạnh nàng trong bộ dạng sạch sẽ, khiến chính hắn cũng thấy như giấc mộng.

“Quan Trừng? Quế Nhi?”

Một giọng già nua vang lên nơi hành lang, mang theo chút run rẩy vì kinh sợ.

Bảo Châu quay đầu nhìn, thấy đó là lão họa sư đã gặp ban ngày. Mắt lão lờ đờ, nâng đèn dầu run rẩy soi ngó, nhìn kỹ một lúc mới biết nhận nhầm người, thở phào nhẹ nhõm.

Vi Huấn cảnh giác hỏi:
“Sao, chúng ta giống họ lắm sao?”

Lão họa sư lắc đầu:
“Không giống hẳn, nhưng đều là trai gái trẻ, lại đứng ngắm tranh đêm Vu Lan, ta tưởng là hồn về.”

Bảo Châu hỏi:
“Lẽ nào ông cho rằng cả hai người ấy đều đã chết?”

Lão họa sư thở dài:
“Khi vớt xác, tóc của người chết chẳng lẫn vào đâu được… Tin Ngô Quan Trừng chết đã lan khắp chùa rồi. Còn Quế Nhi, lão từng mong nó còn sống, nhưng nhà nó đã tới đây làm ầm lên, bảo mất tích cả nửa tháng.”

Vi Huấn nói:
“Đàm Lâm nhờ bọn ta điều tra chuyện này. Lão nếu biết rõ phu thê họ Ngô , xin cứ kể lại đầu đuôi.”

Lão họa sư lại thở dài. Giữa đêm u tịch, được trò chuyện với người sống dường như giúp lòng nhẹ nhõm hơn.

“Lão làm ở chùa Thiềm Quang nhiều năm, chính mắt nhìn thấy thằng bé lớn lên…”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 108


“Lão ở chùa Thiềm Quang đã nhiều năm, là người chứng kiến Quan Trừng lớn lên từ thuở nhỏ. Nó là cô nhi được thượng nhân Đàm Lâm nhận nuôi. Từ khi còn bé đã bộc lộ tài năng hội họa, sớm là đệ tử thân truyền, cũng là cánh tay đắc lực của phương trượng trong việc vẽ vời. Hồi ở Lạc Dương, lão và nhà họ Ngô cùng sống tại phường Quảng Lợi, tuy chẳng thân thiết nhưng cũng biết mặt biết tên. Nhà họ chỉ làm ăn buôn bán nhỏ, sống rất chắt chiu, quanh năm rau cháo qua ngày. Ngô Quế Nhi, con gái lớn nhà ấy, chưa từng biết mùi vị đường phèn là gì.”

“Quế Nhi chẳng biết vẽ, nhưng rất mê xem tranh. Chùa Thiềm Quang nổi danh với bích họa, nàng thường lấy cớ lễ Phật hay mua hoa quế để vào xem. Từ đó mới quen biết Quan Trừng. Cả hai đều nghèo, có ý định rời chùa sống đời thường, nhưng đến một đồng bạc cũng không có, quả là túng thiếu vô cùng.”

Bảo Châu thắc mắc: “Nhưng Quan Trừng vẽ giỏi đến thế, lẽ nào không kiếm được tiền?”

Lão họa sư hừ khẽ, không vui: “Nó là học trò, nghề nào cũng vậy, học trò thì không có thù lao. Có bữa cơm no là phúc. Ta dạy đồ đệ cũng vậy. Thượng nhân Đàm Lâm tuy rộng rãi, thuốc màu không tiếc tiền, nhưng vẫn không cho xuất sư. Kỹ pháp cốt lõi vẫn giữ chặt trong tay, Quan Trừng chỉ được phép tô màu.”

“Nhưng đứa trẻ ấy thật tài hoa. Bỏ qua bước vẽ phác, trực tiếp dùng màu sắc cấu hình tranh, tự tạo ra lối vẽ riêng biệt. Vì vậy chuyện xuất sư cũng không còn quan trọng. Khi ấy, nó yêu Quế Nhi, hai người quyết hoàn tục, Đàm Lâm đành buông tay, chỉ dẫn nó đi tìm thứ thuốc màu đặc biệt của riêng mình, cũng có thể thử vẽ ảo thuật, là con đường tắt để tạo danh tiếng.”

“Quan Trừng nghe lời, nghĩ ra cách dùng dầu thay nước để điều màu, còn sáng chế ra kỹ pháp ‘thủy họa, phun màu’, đi khắp nơi biểu diễn kiếm chút tiền, mong ngày về cưới Quế Nhi.”

Bảo Châu nói: “Nghe thì có vẻ suôn sẻ, sao lại thành ra vẽ tranh bằng thi thể?”

Lão họa sư lắc đầu: “Ai mà biết. Có thể là khi đi theo phương trượng xem xác thì đột nhiên nảy sinh ý tưởng lạ. Theo tục truyền trong nghề, ‘Họa long bất điểm nhãn’*, Quan Trừng lại mê nhất là vẽ mắt. Thần quỷ nếu được vẽ quá chân thật thì sẽ chiêu gọi u linh về. Nó mải miết tích góp, định mang Quế Nhi lên Trường An, dựa vào tay nghề mà đổi đời. Ai dè lại chết chìm, mà còn chết một cách rùng rợn, không phải quỷ quấy thì là gì?”

*“Họa long điểm nhãn” (vẽ mắt rồng): trong dân gian hay ví von là công đoạn cuối cùng, khiến hình vẽ sống động như thật – nhưng cũng dễ bị xem là xâm phạm cấm kỵ, đặc biệt khi vẽ hình âm linh, quỷ ảnh.

Bảo Châu cùng Vi Huấn liếc nhau, trong lòng mỗi người đã lờ mờ đoán ra điều gì.

Lão họa sư kể hết những điều mình biết, sau đó khuyên hai người nên quay về khách phòng nghỉ ngơi, chớ lang thang trong đêm Vu Lan. Bảo Châu hỏi địa điểm chỗ ở cũ của Ngô Đạo Tử, ông ta liền vội vã rời đi.

Hai người lần theo lối nhỏ, tìm đến nơi họa thánh từng ở.

Bảo Châu vừa nghe đến chuyện “quỷ quấy phá” liền cảm thấy toàn thân gai lạnh. Một cơn gió thoảng qua cũng khiến nàng giật mình, giống như chim nhỏ sợ cành cong.

Vi Huấn nhìn dáng vẻ ấy, cố nhịn rồi rốt cuộc không nén được, bèn hỏi điều vẫn canh cánh trong lòng: “Nàng thật sự từng gặp quỷ sao? Vì sao lại ái ngại thứ vốn chỉ tồn tại trong chuyện kể? Nàng là người gan dạ, võ nghệ cao, còn dám đơn thân phá cả La Sát Điểu môn, còn sợ gì hơn?”

Bảo Châu trầm ngâm một lát, rồi khẽ nói: “Lúc nhỏ, bên cạnh ta có một nội thị tên Duệ An, theo ta nhiều năm, rất thân thuộc. Một lần, hắn kể cho ta nghe chuyện trong cung xuất hiện ‘huyết đồ quỷ’.”

“Là bức tranh máu ở Cửu Tương Quan sao?”

Bảo Châu lắc đầu: “Không rõ, chỉ nói là một hồn ma toàn thân tắm máu, đầy oán khí, lẩn khuất trong cung.”

Vi Huấn an ủi: “Hoàng cung từng nhiều lần rời đô, trong đó người chết oan cũng chẳng ít.”

Bảo Châu sắc mặt tái đi: “Đáng sợ không phải chỉ ở chuyện kể. Mấy ngày sau, ta muốn hỏi lại Duệ An cho rõ, thì phát hiện hắn biến mất. Cung nhân ai nấy đều nói chưa từng có người tên đó. Những nội thị thân quen với hắn cũng lắc đầu. Tên, lời nói, kỷ niệm tất cả như bị xóa sạch. Giống như bị huyết đồ quỷ nuốt trọn. Ta hoảng sợ đến độ phải ngủ cùng vú nuôi suốt mấy đêm.”

“Ta không sợ người sống, chỉ cần có hơi thở, thì dù mạnh cỡ nào cũng có cách ứng phó. Nhưng với thứ không hình, không bóng này…… Sau này lớn hơn, ta hiểu, Duệ An là vì đã lỡ lời nói điều không nên, nên mới gặp họa. Hắn là người đầu tiên bên ta biến mất. Rồi lại thêm hai người nữa. Không ai dám nhắc đến, như thể họ chưa từng tồn tại.”

Giọng nàng khẽ run: “Lần cuối cùng, người bị xóa khỏi trần thế, chính là ta. Và để xóa được ta, cả những người xung quanh cũng bị vạ lây. Cái gọi là huyết đồ quỷ đó, đến nay ta vẫn không biết là thứ gì.”

Trong bóng tối, không hay từ khi nào, Bảo Châu đã nắm tay Vi Huấn. Da tay hắn lạnh như sương, sức nắm lại mạnh đến đau, thế nhưng nơi ấy lại khiến nàng thấy yên tâm.

Bảo Châu cố làm ra vẻ nhẹ nhõm: “Mà nghĩ lại thì, giờ ta cũng là thứ không dám gặp ánh mặt trời. Vừa ló mặt, đã khiến Đậu Kính hoảng hồn bỏ chạy. Dọa người cũng thật thú vị.”

Vi Huấn yên lặng nghe nàng trút lòng, rất lâu sau mới khẽ nói: “Kỳ thật nàng từng gặp một con quỷ, nó luôn bám theo nàng.”

Bảo Châu tưởng hắn lại nói đùa, bèn cười: “Là quỷ sâu thắt cổ trên cây hòe?”

“Không phải.”

Vi Huấn dừng chân, lấy từ túi bên hông một hòn đá xanh, đưa lên tường vẽ mấy nét giữa đám tượng hộ pháp uy nghiêm. Rất nhanh, trên bức tường hiện ra hình một con mèo nghênh ngang, ánh mắt chế giễu, dáng vẻ kiêu hãnh.

“Đó, là quỷ trêu người.”

Bảo Châu tức giận nhưng cũng không nhịn được cười: “Đây là bích họa trong chùa, đâu phải quán trọ mà vẽ bậy. Ngươi không sợ thần phật trách phạt sao?”

Vi Huấn tỉnh bơ: “Ta là hộ pháp của công chúa, chẳng lẽ không xứng có một chỗ trên tường sao?”

Lời hắn khiến tâm trạng nhẹ hẳn. Bảo Châu nhớ lại ngày đầu vào chùa, cũng sai hắn vẽ lại bích họa, lúc ấy đâu nghĩ đến chuyện báo ứng. Nghĩ đến đây, nàng thấy mình đã bị tên “quỷ trêu người” này làm hư rồi.

Nói chuyện một hồi, cả hai đã đến nơi xưa kia Ngô Đạo Tử từng ở. Vi Huấn thành thạo mở khóa, gọi nàng vào cùng xem.

Tuy là nơi danh nhân từng sống, phòng không quá cũ, bụi cũng không dày, hẳn là có người chăm sóc. Một số tranh dở trên tường cho thấy nét bút thuở đầu còn non kém. Giấy màu trên án thư nhìn như bản nháp đời sau bắt chước, chứ không phải vật cũ quý giá.

Vi Huấn nói: “Nếu không biết đây là nơi họa sư từng ở, ta đã tưởng đây là phòng của thuật sĩ.”

Bảo Châu hỏi: “Sao lại nghĩ vậy?”

Vi Huấn chỉ từng lọ trên kệ: “Gan công, vân mẫu, đồng thanh, chu sa, thư hoàng, hùng hoàng, chì trắng đều là thứ luyện đan. Khác nhau là một bên mài ra để vẽ, một bên đem ném vào lò.”

Bảo Châu trầm trồ: “Ngươi xem mấy thẻ tre tu tiên luyện đan chẳng uổng công.”

“Còn bên kia có gì?”

Bảo Châu lắc đầu: “Chẳng thấy gì đáng kể. Thực ra ta không ưa Ngô Đạo Tử, tuy là họa thánh, nhưng phẩm cách thấp kém.”

Vi Huấn tò mò: “Là sao?”

“Hắn già rồi, danh tiếng lẫy lừng, thế mà lại ganh tỵ với thiếu niên tài năng Hoàng Phủ Chẩn, sinh ra cũng ở Lạc Dương, sau này lên Trường An tìm đường lập nghiệp. Vì sợ bị vượt mặt, Ngô sinh thuê người ám sát.”

“Thật sao?”

“Họ Ngô đó là họa sư trong cung, rất được hoàng đế sủng ái, nên vụ ấy bị Kinh Triệu Doãn ém nhẹm. Người đã danh tiếng vang xa, vậy mà vẫn để tâm ganh ghét. Nếu Hoàng Phủ Chẩn không chết, hẳn đã là đời thứ hai của họa thánh. Thật uổng một nhân tài.”

Nàng thấy một lọ sứ chứa bột đỏ như son, liền chấm thử rồi định thoa lên môi, nhưng bị Vi Huấn chặn lại.

“Đừng! Đó là thần sa, pha từ thủy ngân và lưu huỳnh, có độc.”

Bảo Châu hốt hoảng lau tay bằng giấy bỏ đi. Tờ giấy từng bọc gì đó, có cả dây thừng tế lễ.

Vi Huấn rút ra, nhận ra dây là loại cỏ tranh mềm, trùng với loại thấy trên cổ tay xác chết. Trong giấy còn sót một mảnh nhỏ nửa trong suốt, đưa lên mũi ngửi, rồi đưa nàng ngửi thử.

Bảo Châu nhận ra: “Mùi đường hoa quế?!”

Vi Huấn gật đầu: “Là giấy gói đường. Loại này vẫn dùng trong chợ để gói bánh kẹo.”

Nếu nơi ở xưa của Ngô Đạo Tử còn sót lại giấy gói đường của Ngô gia, thì hoặc Quan Trừng, hoặc Quế Nhi từng ghé qua.

Đây tuy không phải manh mối trực tiếp, nhưng cũng lóe lên chút tia sáng.

Ra khỏi căn phòng cũ, Bảo Châu ngáp dài. Từ canh Dần đã bị tiếng chuông trong chùa đánh thức, lại trải qua nhiều chuyện, sớm đã mệt rã rời.

Vi Huấn khuyên: “Về nghỉ đi. Thi thể đã nằm trong hố vôi, ngày mai cũng chẳng chạy đâu.”

Bảo Châu cố mở mắt: “Ta tắm rửa tỉnh táo rồi sẽ ra ngay. Mau chóng phá án, còn lấy lại vật trong tay Đàm Lâm, rời khỏi chốn quái dị này.”

Vi Huấn đưa nàng đến cửa Thượng khách đường, gỡ kiếm Ngư Tràng đưa nàng đeo bên hông.

“Sừng tê giác trừ tà, chính miệng nàng nói.”

Bảo Châu nhận lấy, vừa lúc gặp Thập Tam Lang cũng ngáp dài bước tới.

“Hôm nay không hiểu sao mệt quá trời.”

“Đệ ăn bao nhiêu bánh canh tối qua?”

“Bốn chén.”

Bảo Châu bật cười: “Ăn thế, không no mới lạ.”

“Đệ đi rửa mặt tỉnh người.”

“Vừa hay, bồi tỷ niệm kinh trừ tà.”

Hai người vừa cười vừa bước đi, đèn lồng trong tay nàng soi rọi ánh trăng. Dưới ánh sáng, bóng nàng khoác nguyệt huy, nhẹ như dải lụa phiêu du, tựa thiên nữ đang về lại cung trăng.

Vi Huấn đứng lặng trong bóng tối, bỗng nhiên thấy lòng thấp thỏm. Không kìm được gọi: “Bảo Châu?”

Lần đầu bị gọi tên thật khi ở bên ngoài, nàng khựng lại, xoay người: “Gì vậy?”

Vi Huấn ấp úng: “Không… không gì. Chỉ là muốn xem nàng có trả lời không.”

“Có, ta sẽ luôn trả lời.”

Nàng cười dịu dàng, rồi quay lưng rời bước.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 109


Sau khi Bảo Châu trở về phòng nghỉ ngơi, Vi Huấn cầm theo dây thừng tìm được trong chỗ ở cũ của Ngô Đạo Tử, lặng lẽ bước vào gian phòng phía sau điện Quy Vô Thường. Trong phòng hương khói u tịch cuộn tròn như mây, quyện lẫn mùi xác thối và đàn hương, tạo thành một thứ có mùi kỳ lạ, đặc quánh trong từng ngóc ngách.

Vi Huấn thấm ướt dây thừng, đối chiếu với cỏ tranh tìm được trên thi thể Ngô Quan Trừng, nhận ra là cùng một loại. Rõ ràng hắn đã từng tới nơi đây, thậm chí từ chỗ họa thánh ở phát hiện ra được thứ thuốc màu thần bí nào đó, khiến kỹ pháp vẽ mắt của hắn đạt tới cảnh giới chân thực đến lạnh người.

Từ bên xác chết đứng dậy, Vi Huấn bỗng thấy toàn thân nặng trĩu, mỏi mệt như có làn sương mờ vây phủ.

Giờ Tý vừa mới điểm, ánh nến trên tường hắt lên vách đá hình ảnh chập chờn. Hắn vén tay áo ngó vào bắp tay, không có nước nóng tắm rửa như mọi khi, sắc tím đậm của kinh mạch càng lộ rõ. Gương an hồn phản chiếu gương mặt hắn trắng bệch như xác không hồn. Ý niệm thoáng lướt, Vi Huấn chợt nghĩ đến một mai mình cũng sẽ như Trần Sư Cổ, rơi khỏi đài danh vọng, không theo kịp bước chân đồ đệ.

Do từng chạm phải thi thể, hắn lo trên mình còn mùi tử khí, lát nữa lại còn muốn nắm tay Bảo Châu, bèn tìm chút đồ để rửa sạch. Qua điện Quy Vô Thường, thấy Đàm Lâm đang đốt lò hương, ngồi bên ao vôi, liền chẳng khách khí mà vào lấy bạc hà, vỏ quất, muối… tự pha một bát nước súc tay.

Đàm Lâm ngồi đối diện tro trắng, ánh mắt mê mẩn, thong thả nói:
“Hai thầy trò các ngươi thực giống nhau. Sinh nơi u tối, rất dễ bị ánh sáng dịu dàng của người lương thiện hấp dẫn.”

Vi Huấn ngồi xếp bằng lau tay, đáp:
“Phải, hạng như ta sống nơi tối tăm, thì đương nhiên mê thích những gì trong trẻo. Bằng không sao? Ai ưa mấy lão đầu âm u như ngươi?”

Đàm Lâm tiếp lời:
“Nhân sinh như kẻ đi qua rừng gai, tâm không động thì thân yên, không động thì không đau. Nhưng khi tâm dao động, thì thân sẽ bị thương. Vì thế mới biết thế gian lắm khổ. Ngươi nếu chẳng thuộc về chốn hồng trần này, cớ gì phải tham luyến chút ấm áp giả tạm để chuốc lấy khổ đau?”

Vi Huấn gọn lỏn đáp:
“Ta tự tìm lấy.”

Đàm Lâm chăm chú nhìn hắn:
“Chẳng lẽ ngươi không muốn biết chuyện cũ của Trần Sư Cổ?”

Vi Huấn dứt khoát lắc đầu:
“Không, ta không tò mò gì hết.”

“Kẻ khôn nên lấy gương người trước. Khi đã rơi vào tay tâm ma, ai cũng khó lòng tự cứu. Lúc đó có hối hận cũng muộn. Ngươi chẳng lo cho cô nương kia sao? Một khi ngươi điên loạn, cô nương ấy làm sao chịu nổi một đòn của ngươi?”

Động tác lau tay của Vi Huấn chậm lại.

Đàm Lâm thấy hắn không phản bác, tiếp lời:
“Năm xưa người quen Trần Sư Cổ, giờ sống sót chỉ còn ta. Một mai ta cũng đi, chẳng ai biết đoạn quá khứ kia nữa. Nhưng hắn để lại không ít tai họa cần có người phòng bị. Ngươi cứ xem như nghe chuyện phiếm, sau đó phản ứng thế nào là việc của ngươi.”

“Ta gặp Trần Sư Cổ lần đầu là mùa xuân năm ấy, trong bữa tiệc Khúc Giang. Đó là buổi yến hội lớn mừng tân tiến sĩ, tổ chức trên ngự thuyền giữa dòng Khúc Giang, long trọng vô cùng.”

“Khi chưa kịp lên thuyền, ta thấy một người trẻ tuổi bị Kim Ngô Vệ ngăn lại. Da ngăm đen, dáng cao gầy rắn rỏi, bên hông treo đoản kiếm, mặc áo đơn giản nhưng thần thái hiên ngang y hệt người luyện võ. Rõ ràng không giống văn sĩ.”

‘Vệ binh không cho hắn lên thuyền. Ban đầu hắn định bỏ đi, sau bạn hắn khuyên giữ lại, hắn mới đưa thiệp vàng chứng minh thân phận tân tiến sĩ, rút kiếm ra kiểm tra, chỉ là thanh sắt gỉ.”

“Người đó chính là Trần Sư Cổ. Khi ấy ta chưa biết hắn, nhưng bạn hắn Nguyên Húc thì rất thân với ta.

“Nguyên Húc là người Lạc Dương, tổ tiên là quý tộc Bắc Ngụy, tuy đã sa sút nhưng vẫn là nhà nho. Mồ côi từ nhỏ, được anh trai Nguyên Ấp và chị dâu Lý Nhàn nuôi lớn. Từ thuở bé đã được mệnh danh thần đồng, mười bốn tuổi đậu châu học, có tư cách dự thí, là ứng viên trẻ tuổi nhất trong khoa bàng năm ấy.”

Vi Huấn ngắt lời:
Liên quan gì tới ta? Ta không hứng thú.”

Đàm Lâm không giận, chỉ thở dài:
“Nếu bỏ qua Nguyên Húc, thì chẳng thể hiểu vì sao Trần Sư Cổ nhập ma. Nguyên Húc từng từ chối đề cử của thầy mình, lý do là đợi bạn mới học chữ đuổi kịp để cùng đi Trường An thi.”

“Nguyên Ấp nổi giận, nhưng Húc rất kiên quyết. Bạn hắn là Trần Sư Cổ một thiếu niên nghèo, áo rách, nhỏ người vì đói . Hắn tự xưng là con nhà nghèo vùng Bắc Mang, mồ côi cha mẹ, sống nhờ ông nội. Nhưng Nguyên gia quen biết hắn hơn chục năm chưa từng gặp thân thích nào của hắn.”

“Nguyên Húc thương xót, dạy hắn học chữ, khen hắn thông minh hơn mình. Nguyên Ấp thì phản đối, cho là thằng nhỏ nghèo cản đường tương lai dẹ ẹ. Nhưng rồi loạn Thiên Bảo nổ ra, binh An Sử tràn vào Trung Nguyên, dân tình khốn khổ.”

“Trong cảnh loạn, chính Trần Sư Cổ cứu Nguyên gia, dẫn họ trốn lên núi, vượt lửa băng sông. Nguyên Ấp mới biết hắn không phải kẻ tầm thường, mà có thể là hiệp khách giang hồ.”

“Từ đó hai người kết nghĩa. Mấy năm sau, triều đình mở lại khoa cử. Nguyên Húc và Trần Sư Cổ cùng tới Trường An. Húc đổi tự là Yến, văn chương ôn hòa, lại có huynh trưởng nâng đỡ, đậu tiến sĩ là chuyện sớm muộn.”

‘Còn Trần Sư Cổ thân phận thấp, không quen biết ai trong triều. Thi hành quyển, người ta chẳng muốn nhìn mặt. Nếu không nhờ tài viết truyền kỳ quái văn, chỉ gửi nửa cuốn, khiến người ta tò mò gọi đến hỏi nốt phần sau, thì có lẽ đã bị loại từ đầu.”

“Hắn nổi danh vì tài văn, thứ hai là vì dáng dấp oai vệ nhưng tính cách kiêu ngọ, có danh xưng “Trần không quỳ”. Sau đó được Trung Võ tướng quân phá lệ đề cử.”

Vi Huấn đưa tay xoa đầu gối, không lên tiếng.

“Thi đậu rồi, đến tiệc Khúc Giang. Trên thuyền chật, phải ba lần quỳ lễ. Ai nấy đều chuẩn bị thi phú, riêng Trần Sư Cổ mặt mày ủ dột, ngồi nửa canh giờ mồ hôi đầm đìa, sau được Nguyên Húc xin phép thánh nhân cho lui vì bệnh. Thánh nhân đan vui, liền cho.”

“Lúc đó ta cười thầm, tưởng hắn hèn kém không biết nắm cơ hội. Mãi sau ta mới nhớ: thuyền trôi giữa dòng, xa bờ mấy chục trượng, hắn rời đi bằng cách nào? Nhưng rồi cũng quên đi trong men rượu.”

“Không ngờ, chính chuyện ấy lại là mở đầu cho một huyết án chấn động Lĩnh Nam…”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 110


Sau khi đỗ tiến sĩ, vẫn chỉ là kẻ tay trắng, cần phải vượt qua kỳ thẩm định của Lại Bộ thì mới có thể được bổ nhiệm chức quan. Nguyên Húc tài năng nổi bật, diện mạo khôi ngô, là người xuất sắc nhất trong số các tân khoa, nên lập tức được bổ làm Giáo thư lang của Thư tỉnh. Chức quan này tuy cấp bậc thấp, nhưng dễ thăng tiến, là nơi xuất phát của biết bao danh thần lương tướng. Còn ta kém xa, chỉ được đưa vào nhàn chức ở Công Bộ.

Còn Trần Sư Cổ, nhiều lần thẩm định đều bị đánh trượt. Suy cho cùng, hắn vốn không thuộc về vòng tròn ấy. Tính tình lại cứng cỏi, dù có giao thiệp với người quyền quý cũng chẳng hề nịnh bợ. Triều đình dĩ nhiên không muốn dùng một kẻ ngạo mạn, khác người như hắn, thể nào cũng phải để hắn mòn mỏi vài năm, cho mài mòn đi cốt khí, rồi mới tính đến chuyện dùng.

Nhưng Trần Sư Cổ vốn không màng chuyện làm quan. Sau khi Nguyên Húc thi xong, hắn xem như đã trọn nghĩa, liền mặc kệ quan trường, suốt ngày rong chơi nơi thành Trường An, tự xưng là “Thư đồng của Yến chi”, lấy thân phận bạn thân mà sống ung dung, không thiết tha với bổng lộc hay quyền thế.

Hắn nhìn có vẻ nghèo, thường áo vải mũ rơm, túng thiếu đến mức nợ cả tiền rượu, vậy mà trong tay lại có những món đồ cổ quý hiếm từ thời trước. Trong giới sưu tầm kim văn cổ vật, tên hắn khá có tiếng. Hỏi đồ ấy từ đâu mà có, chỉ đáp gọn lỏn: “Mua ở chợ đen Trường An.”

Thời gian trôi qua ba bốn năm, Nguyên Húc đã được thăng lên chức Ngự sử trong điện, tiền đồ rộng mở. Còn Trần Sư Cổ vẫn mặc áo vải đi dạo đầu đường cuối chợ. Từ thuở nghèo khổ lớn lên cùng nhau, nay thân phận đôi bên đã cách biệt như mây với đất. Ấy vậy mà tình bạn giữa họ chưa từng phai nhạt. Điều này khiến những người quen biết đều thấy lạ lùng. Hai người vốn khác nhau từ gốc rễ:

Nguyên Húc xem việc cứu đời giúp dân là chí hướng, trong lòng có Phật, tâm địa từ bi. Trần Sư Cổ lại hoàn toàn chẳng tin vào quỷ thần, chẳng kiêng nể gì, cho rằng dân đen vốn chỉ nhờ trời mà sống, bất kể vua sáng hay tối, quan hiền hay gian, thay ai cũng vậy. Có lẽ điều khiến hắn gắn bó với Nguyên Húc, chính là cái chí “biết là vô vọng mà vẫn làm”.

Nhưng con đường làm quan của Nguyên Húc chẳng mấy chốc bị dập tắt. Khi ấy, Tể tướng Nguyên Tai chuyên quyền lộng hành, khiến hoàng đế sinh lòng ghét bỏ, bị kết tội và ban chết, cả nhà bị xử theo. Dù Nguyên Tai và Nguyên Húc chẳng hề thân cận, chỉ là cùng họ, nhưng vì Nguyên Tai từng quý mến tài năng của Nguyên Húc, lại từng có ý nhận làm nghĩa tử (dù bị Nguyên Húc từ chối), nên triều đình vẫn nhìn hắn bằng ánh mắt nghi ngờ. Cuối cùng, Nguyên Húc bị biếm ra Lĩnh Nam, làm huyện thừa huyện Linh Thủy, Khâm Châu.

Đến đây, Đàm Lâm thở dài:

“Bị đày đi như thế chẳng có gì lạ. Ta cũng từng bị đày đến Kiềm Trung. Chốn quan trường lúc chìm lúc nổi, Diêu Sùng, Trương Thuyết, Trương Tích, mấy vị Tể tướng đời nay cũng từng bị đày đi nơi hoang vu xa xôi, huống gì những quan nhỏ. Học văn võ là để dâng thân cho đế vương, kẻ có tài cách mấy, trong mắt bậc đế vương cũng chỉ là món hàng muốn dùng thì dùng, muốn bỏ thì bỏ.”

“Nhưng chỉ cần giấu tài, đợi gió đổi chiều, rồi sẽ có ngày được trở về Trường An. Vị hoàng đế này không được thì chờ vị tiếp theo.”

Trần Sư Cổ nghĩ như vậy. Sau khi tiễn Nguyên Húc lên đường, hắn đột nhiên biệt tích vài tháng. Đến khi trở lại Trường An, trong tay mang theo nào là kính chiếu cốt, Thanh Long câu, đỉnh rồng cuộn… toàn những báu vật hiếm thấy. Lúc ấy, đứng đầu đám hoạn quan trong triều lại được hoàng thượng sủng ái, vốn say mê đồ cổ, nhìn thấy liền mê mẩn. Trần Sư Cổ không tiếc gì, dâng hết lên chỉ với một mong cầu đẩy nhanh chiếu thư phục chức cho Nguyên Húc.

May thay, hoàng đế cũng nguôi giận, điều tra rõ Nguyên Húc và Nguyên Tai chẳng liên quan, lại nghe thêm lời tốt từ vài người trong triều, liền ban chiếu khôi phục chức cũ, từ Trường An gửi đến Khâm Châu. Đường sá muôn trùng, dù đi nhanh bằng lối quan đạo cũng mất tới hai tháng.

Nhưng khi chiếu thư đến nơi, người nhận đã không còn. Nguyên Húc vốn thân thể yếu đuối, bị đày đến nơi nóng ẩm độc hại, lại chẳng buông lơi việc công, ngày đêm tận tụy, đến nỗi thành bệnh. Nơi ấy lại đầy chướng khí, không có thuốc thang cứu chữa. Chỉ trong chưa đầy một năm, chàng đã mất.

Vi Huấn chen lời:

“Chỉ vì bạn thân chết bệnh, lão Trần liền nổi điên sao?”

Đàm Lâm lắc đầu:

“Vẫn chưa đâu. Tin dữ từ Linh Thủy được một viên quan trạm mang về Trường An, kèm theo cả bức thư tuyệt mệnh. Trần Sư Cổ đau đớn tận lòng, nhưng vẫn gắng chấp nhận sự thật, còn viết thư an ủi huynh của Nguyên Húc, đính kèm bài thơ tuyệt mệnh ấy:”

“Nhật mộ yên ba giang chử ám,
Thận lâu treo ngược ánh nguyệt hàn;
Tàn đèn đem diệt quân âm yểu,
Cô ảnh hiu quạnh trục thệ xuyên.”

(Chiều rơi khói phủ bến sông,
Trăng treo lạnh ngắt, tháp lồng bóng nghiêng.
Đèn tàn lụi ánh chập chờn,
Một thân lặng lẽ theo nguồn nước trôi…)

“Bài thơ đó là của Nguyên Húc viết ư?” — Vi Huấn hỏi.

“Đúng. Trong thời gian bị đày, hai người từng gửi nhiều thư qua lại, nhưng không hiểu sao chẳng ai nhận được thư của người kia. Khi sắp qua đời, Nguyên Húc vẫn ngày đêm ngóng tin của bạn, nhưng đèn tàn thì tắt, chờ mãi chẳng thấy ai. Điều chàng lo lắng nhất khi lâm chung, lại không phải chính mình, mà là bạn thân sau khi mất đi chàng, sẽ cô độc thế nào. Con người ấy xưa nay vẫn vậy, luôn đặt người khác trước mình.

Trần Sư Cổ trong thư hứa với Nguyên Ấp và Lý Nhàn, rằng chính tay sẽ đến Linh Thủy, đưa linh cữu bạn về quê nhà, an táng trên núi Bắc Mang, nơi tổ tiên Nguyên thị an nghỉ.

Cái chết của Nguyên Húc khiến nhiều người xúc động. Chàng chính là hiện thân của bậc chính nhân quân tử: trẻ tuổi, tài cao, khí tiết vẹn toàn, dù rơi vào nghịch cảnh cũng không đổi chí khí.

Như trong Kinh Pháp Hoa có nói: thế gian này giống như một căn nhà cháy rực, người ở trong đó có kẻ gào khóc chạy trốn, có người thờ ơ, có người lợi dụng cháy nhà mà vơ vét. Nhưng cũng có vài người, rất ít, biết rõ nguy hiểm vẫn dấn thân cứu người trong lửa đỏ. Nguyên Húc chính là một người như thế.

Còn Trần Sư Cổ, sau khi trả xong nợ nần, mua một con ngựa, lên đường từ Trường An đi Lĩnh Nam, muốn đón bạn về.

Sau này, từ kết quả điều tra của Hình Bộ và Đại Lý Tự, người ta mới biết, Nguyên Húc mãi không nhận được tin của Trần Sư Cổ là vì bị huyện lệnh Linh Thủy, Hi Kiến Chương, cố ý ngăn trở. Hắn tham ô, bóc lột dân lành, Nguyên Húc thẳng thắn không chịu hùa theo, nên hắn sợ Nguyên Húc sẽ tố giác. Hắn không chỉ cắt đứt thư tín, còn cản trở việc chữa bệnh, khiến Nguyên Húc lâm bệnh mà chết.

Dĩ nhiên, đến khi bị Trần Sư Cổ gi.ết ch.ết cả nhà, chắc hẳn Hi Kiến Chương đã vô cùng hối hận.

“Vậy là, khi biết bạn bị hại, lão Trần mới nổi điên?” — Vi Huấn hỏi.

“Cũng chưa. Theo ta, khoảnh khắc khiến hắn thực sự rơi vào ma chướng, là lúc đến Linh Thủy, chuẩn bị đưa linh cữu bạn về.”

Lúc ấy đang giữa hè, mưa lũ tràn về, nước sông Linh Thủy dâng cao, cuốn trôi tất cả. Mấy trăm dặm hai bờ chìm trong bùn lầy. Nhà cửa, bia mộ đều tan biến, ngay cả hình dạng đất đai cũng thay đổi, không cách nào tìm được mộ bạn.

Vài tháng sau, có tin từ Khâm Châu gửi về Trường An: Trần Sư Cổ ở Linh Thủy huyện công khai đào mộ khắp nơi, ai cản đều bị giết, chỉ trong mấy ngày giết hơn ba trăm người. Hắn như có yêu thuật, chạm tay là đầu người rơi, chẳng ai cản nổi.

Tiết độ sứ Lưu Ẩn Quang điều động một nghìn lính giáp đi dẹp, bị hắn giết thêm mấy chục rồi trốn mất. Hai ngày sau, trong phủ tiết độ sứ, người ta thấy đầu Lưu Ẩn Quang nằm trên giường, bên cạnh thị thiếp của ông ta còn đang ngủ, hoàn toàn không hay biết.

Trần Sư Cổ như kẻ hóa điên, ngày đêm đào bới bên sông, tìm kiếm thi hài bạn trong vô vọng. Mưa lũ là thiên tai, sức người sao chống nổi?

Đến đây, Vi Huấn nhíu mày:

“Lĩnh Nam cách Trường An mấy nghìn dặm, mà ngươi lại rành rẽ từng việc như vậy, chẳng phải lạ lắm sao?”

Đàm Lâm điềm nhiên vén tay áo, để lộ cánh tay gầy trơ xương, đầy sẹo sâu đến tận xương:

“Ta vốn cũng không muốn biết rõ như thế. Nhưng chẳng thể làm khác. Khi tin dữ từ Lĩnh Nam truyền về, cả triều hoảng hốt. Dù là nơi xa xôi, thì Trần Sư Cổ cũng từng là tiến sĩ Trường An, không thể bỏ mặc. Triều đình muốn cử người đến trấn an hoặc trấn áp. Kẻ xui xẻo ấy, chính là ta.”

Ta là đồng hương với Nguyên Húc, lại là bạn đồng khoa với cả hai người. Triều đình biết quốc khố cạn kiệt, không đủ tiền điều quân, nên sai ta một mình đi khuyên giải. Nếu được thì tốt, không được cũng chỉ mất một viên quan hạng chót.

Tuy trong lòng không cam, nhưng thánh chỉ khó trái. Ta mang theo hai mươi lính cấm vệ cùng vài người hầu, vượt đường dài tới Khâm Châu. Dọc đường vất vả không kể xiết, Linh Thủy huyện khi ấy tiêu điều, dân bỏ xứ mà đi, phần vì nạn đói sau lũ, phần vì sợ bị người đó gi.ết c.hết.

Tốn không ít tiền để dò hỏi, cuối cùng được người bản địa dẫn tới bờ Linh Thủy. Gặp lại hắn, ta suýt không nhận ra. Trần Sư Cổ khi ấy mặt mày tiều tụy, áo quần rách nát, đầy bùn và máu, ánh mắt cháy rực như lửa quỷ.

Ta quên cả hai bên nói gì, chỉ nhớ đầu người rơi lả tả, máu đổ như thác. Ta trốn sau lưng đám lính, run rẩy niệm kinh, tưởng đâu sắp mất mạng, thì nghe hắn gọi:

“Vương Tuy?”

Dù đã phát điên, thần trí hắn vẫn chưa hoàn toàn mờ mịt. Nhận ra ta từng làm ở Công Bộ, lo việc thủy lợi, đắp đê, xây cầu… hắn buông tha ta, nhưng bắt ta về nhốt trong một ngôi miếu hoang…
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 111


Bên trong Phật điện, khói nhang quẩn quanh, mờ mịt như sương khói giấc mơ. Trên bức tường lớn vẽ hình mỹ nhân phản chiếu ánh sáng lên đống xương khô, phía trước đó, một lão tăng gầy guộc ngồi ngay ngắn trên tòa sen, chậm rãi trầm giọng kể chuyện… Cả gian điện như ngưng đọng, lặng lẽ mà rùng mình.

Giọng già nua của Đàm Lâm, khô khốc như nước giếng cạn, vang vọng khắp gian điện, dẫn người trở về đoạn ký ức bốn mươi năm về trước.

“Trần Sư Cổ không giết ta, trái lại bắt nhốt vào một ngôi miếu hoang, đặt một cỗ quan tài mới toanh trước tượng Phật. Ta đoán, đó là quan tài hắn chuẩn bị để mang di cốt Nguyên Húc trở về Lạc Dương.

Mục đích của hắn là ép ta tính toán độ dày bùn đất sau trận lụt, xác định hướng chảy của dòng sông, mong lần theo số liệu mà tìm ra nơi mộ bạn mình bị vùi lấp. Chỉ cần ta lưỡng lự hay phản bác, hắn liền lóc từng thớ thịt cánh tay ta để tra khảo. Ta sợ hãi đến hồn vía lên mây, chỉ biết cúi đầu làm theo.

Hắn đeo một thanh đoản kiếm, thoạt nhìn chỉ là khúc sắt rỉ. Nhưng sau khi đã chém không biết bao nhiêu người, lớp rỉ sét từng mảng tróc ra, để lộ hàng chữ vàng nhạt như ruột cá ta chợt hiểu đó là một thanh cổ kiếm danh tiếng từng thuộc các vương hầu ngày xưa. Hóa ra, đám cổ vật hắn từng đem bán khắp kinh thành, chính là lấy từ các lăng mộ trong lòng Bắc Mang Sơn nơi hắn quen Nguyên Húc lúc đầu.

Một tháng trời bị giam, ta vừa tính toán vừa tìm mọi cách nịnh bợ cầu sống. Dốc hết từ ngữ tán tụng kiếm pháp hắn: nào là ‘Mười bước một mạng, ngàn dặm không lưu bóng’, ‘Trăng rọi vỏ kiếm, sao lạc lưỡi gươm’, ‘Gươm lặng như nước, đỏ au máu đọng’… Hắn nghe xong chỉ ngơ ngác nói:

“Kiếm là vũ khí khó dùng nhất. Nhập môn đã khó, luyện thành càng khó, lại dễ mẻ gãy, lắm khi chỉ để trang trí. Ta đeo kiếm, chỉ vì Yến Chi thích loại hiệp khách trong thơ ấy. Kiếm thật hay giả, cũng chỉ là cái vỏ.”

Vi Huấn thầm nghĩ: thì ra suốt đời Trần Sư Cổ chỉ dùng loại vũ khí tệ nhất mà vẫn tung hoành thiên hạ, là vì chấp mê vào mộng tưởng trong thi văn.

“Bị nhốt càng lâu, ta càng nhận ra hắn không giống những kẻ loạn trí lang thang ngoài phố. Hắn giết người không ghê tay, nhưng vẫn giữ được sự tỉnh táo lạ kỳ. Mỗi lần ta đưa ra phép tính, hắn đều đích thân kiểm tra lại, sợ ta dối trá. Một kẻ chưa từng học số học, lại nhanh chóng hiểu được nghề ta khổ luyện mấy mươi năm, khiến ta lạnh sống lưng vì biết đâu mai này hắn không cần ta nữa.

Nghĩ vậy, ta bèn tranh thủ những lúc nghỉ ngơi tụng kinh cầu siêu cho Nguyên Húc. Nguyên Húc sinh thời sùng Phật, Trần Sư Cổ từng thấy hắn tụng kinh, nên từ đó hắn thôi không hành hạ ta nữa.

Nhưng đêm xuống, ngoài miếu thường vang vọng những tiếng hú gào chẳng ra người chẳng ra thú, rợn ngợp giữa khúc sông Linh Thủy. Nghe như tiếng oán hồn, thê lương não nề, chứa chan hối hận. Có lẽ hắn oán chính mình, hối tiếc vì không luôn ở bên bạn thân, để rồi Nguyên Húc chết tha hương, thân xác chẳng thể về cố hương.

Sau bao lần tính toán, giấy bút chất cao thành núi, cuối cùng ta đi đến kết luận linh cữu Nguyên Húc không bị chôn vùi, mà bị lũ cuốn trôi xuống sông, hòa vào dòng bùn, dạt ra biển rộng. Mỗi bước tính, hắn đều theo dõi kỹ càng nên kết quả ấy không sai.

Ta biết mình khó sống sót, liền quỳ xuống tụng kinh, chờ cái chết. Nhưng hắn không ra tay, chỉ nhìn về phía biển xa, lẩm bẩm:

“Ngươi xem, ta nói rồi, thứ trong sách độc hơn cả rắn rết trong thơ.”

Rồi hắn bỏ đi, mang theo cỗ quan tài ấy, không còn bóng dáng.

Ta quỳ đó một ngày, trong lòng nảy ra một ý nghĩ. Nếu năm ấy không có lũ lụt, hắn có lẽ đã tìm được xác bạn, đem về chôn cất, dần dần nguôi ngoai mà trở lại làm người. Nhưng vì chẳng thể đối diện, hắn bị chấp niệm gặm nhấm, hoá điên.

Lễ tang của một người từ gọi hồn, tắm rửa, cơm hàm, cáo phó, phát tang, khâm liệm… không dành cho người chết, mà để người sống dần học cách chấp nhận.

Về sau, khi về hưu, ta mở Cửu Tương Quán, giúp người rơi vào u mê tìm lại chính mình.

Nhưng chuyện ấy chưa kết thúc.

Ta lê lết nghìn dặm trở về Trường An, thân thể tiều tụy như ăn mày, cứ tưởng mọi sự sẽ lắng xuống. Nhưng ta nhầm. Đại Lý Tự lập tức bắt giam ta vì tội tắc trách. Nguyên Ấp cùng vợ chàng Lý Nhàn cũng bị bắt.

Tội của Nguyên Ấp là tiến cử một kẻ lai lịch mờ ám dự thi tức Trần Sư Cổ. Qua điều tra, phát hiện gia phả, quê quán, tổ tiên của hắn đều bịa đặt. Do loạn lạc thời Thiên Bảo, sổ hộ tịch thất lạc, Lễ Bộ không kiểm tra được, nên hắn mới qua mặt quan trường.

Khi dò theo địa chỉ hắn từng khai, người ta chỉ tìm được một lăng mộ cổ đời Hán trên núi Bắc Mang. Mộ chủ cũng họ Trần.

Thì ra, hắn không mang họ Trần. Tên ‘Sư Cổ’ chỉ là ám chỉ ‘thi cốt’. Hắn là một bóng ma không tên, bị ánh sáng từ Nguyên Húc dẫn dắt, từ địa ngục Tu La len vào trần thế, rồi lại rơi về chốn tối tăm.

Các quan Đại Lý Tự thương xót chúng ta là người bị lừa, không tra tấn, chỉ bắt chép lại từng chi tiết về Trần Sư Cổ, hết lần này đến lần khác. Nhờ thế, bốn mươi năm rồi, ta vẫn nhớ rành rọt.

“Đến lúc ấy rồi, triều đình còn mơ bắt người ấy về quy án. Nhưng chỉ một tháng sau, ảo vọng ấy tan biến.”

Trong buổi thiết triều ở điện Hàm Nguyên, khi hoàng đế vừa ngự giá, giữa điện bỗng hiện một cái đầu đẫm máu. Thủ vệ rối loạn. Có kẻ lấy máu từ đầu ấy, viết lên tường một bài thơ tang tóc:

“Chiều rơi khói phủ bến sông
Trăng treo lạnh ngắt, tháp lồng bóng nghiêng.…”

đó chính là thơ tuyệt mệnh của Nguyên Húc.

Lúc này ai cũng hiểu, Trần Sư Cổ có thể dễ dàng lấy đầu tiết độ sứ, thì việc vào Hàm Nguyên Điện lấy đầu vua chẳng khó. Hắn chưa ra tay, chỉ vì Nguyên Húc còn thân nhân sống. Khi họ chết đi, phong ấn cuối cùng này cũng mất đi.

Ba ngày sau, chúng ta được thả, trả về chức cũ. Để trấn an, triều đình còn phong Lý Nhàn làm huyện quân.

Vụ án chấn động này được lặng lẽ khép lại. Hàm Nguyên Điện được sơn lại, hồ sơ bị thiêu hủy, mọi lời nhắc đều bị cấm. Tựa như hai con người ấy chưa từng tồn tại.

Đó là lần cuối ta nghe về Trần Sư Cổ. Về sau, nhiều năm ta luôn sống trong sợ hãi, e một ngày hắn sẽ trở lại báo thù. Nhưng lạ thay, vợ chồng Nguyên Ấp lại thọ lâu, qua ba đời vua vẫn sống an lành.

Năm năm trước, khi còn đi lại được, ta đến thăm họ. Cảm giác ấy… như một ngọn đèn sắp tắt.

Hôm qua gặp ngươi, ta không nhịn được hỏi han tung tích Trần Sư Cổ. Nếu hắn lại xuất hiện, Đại Đường ắt rơi vào tai hoạ.”

Vi Huấn nhớ lại năm năm trước, khi mình vừa mạnh mẽ xuất sư. Trần Sư Cổ đã bệnh nặng, không còn đủ sức theo kịp đồ đệ, càng chẳng thể trèo lên tường Hàm Nguyên Điện để viết thơ bằng máu.

Suốt đời hắn bị giam trong một câu thơ và một cỗ quan tài, chẳng thể trả thù, chỉ biết moi xác đám quan lại từ dưới mồ lên mà nghiền xương trả hận. Trong số những người còn sống, chỉ còn lão tăng trước mặt.

“Yên tâm. Hắn chết rồi. Ta tận mắt chứng kiến.”

Nhớ đến Bảo Châu, Vi Huấn không muốn nghe thêm. Lau tay, hắn đứng dậy.

Đàm Lâm vội nói:

“Ngươi đã nhiễm tình độc, tâm ma sắp phát. Sao không buông bỏ mà quy y, học phép độ người, độ mình như Quan Xuyên?”

Ông chỉ vào thi thể một thiếu nữ vừa mới mất:

😛hàm có hình tướng, đều là hư ảo. Bao người vì chấp niệm mà thành ma. Trần Sư Cổ cũng thế. Ngươi là truyền nhân hắn, nhưng nếu một lòng hộ pháp, thì dù thân từ quỷ vực, cũng có thể thành thần hộ pháp. Đừng giẫm lên vết xe đổ!:

Vi Huấn dứt khoát đáp:

“Không được. Ta còn sứ mệnh. Dù có xuất gia, thì ta cũng chỉ vì nàng mà làm hộ pháp, không phải vì ông.:

Một tiếng thở dài buông ra. Đàm Lâm thất vọng nhắm mắt lại, lát sau mới nói:

“Xem ra, ngươi vẫn chấp mê, rồi sẽ lại rơi vào tuyệt lộ. Nếu chẳng còn manh mối nào, hãy xem tác phẩm cuối cùng của hắn – “Cửu Tương Đồ”. Có lẽ sẽ thấy được tâm ma trong đó.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 112


Vi Huấn chẳng rõ vì sao mình lại nấn ná lâu đến thế. Trong đại điện âm u, mùi nhang tỏa quẩn quanh, lão tăng chậm rãi tụng niệm, tiếng nói khàn khàn dường như có ma lực, lôi người chìm vào dòng hồi ức 40 năm trước, như sa vào bùn lầy, chẳng thể thoát thân.

Đàm Lâm luôn miệng khuyên nhủ đừng “dẫm vào vết xe đổ”, nhưng Vi Huấn chẳng nhìn ra điều gì đáng để học lấy. Nguyên Húc bị người hại chết, xương cốt chẳng còn; còn Bảo Châu, ngay từ đầu đã gặp phải cùng một kiếp nạn, nàng vẫn còn đây.

Sau khi xoá tên đồ đệ thứ sáu Bàng Lương Ký, cả mười hai người trong sư môn đều bị giết tận, chẳng một ai giữ được tính mạng. Ai cũng có kết cục thê thảm, Trần Sư Cổ cũng chẳng khá gì hơn. Hắn rơi vào ma chướng, bởi không còn nơi để phát tiết. Nếu khi xưa có thể giết kẻ thù trong đêm tối, e rằng mọi việc đã sớm kết thúc.

Vi Huấn chạy vội về thượng khách đường, liếc mắt đã thấy Bảo Châu đang quỳ bên hồ nước, tay với lấy một đóa sen nhưng mãi chẳng chạm tới, suýt nữa ngã nhào vào trong ao.

Hắn bật cười, ngăn nàng lại: “Muốn té xuống như gà lăn vào nồi canh à!” Rồi nhún người phóng lên núi giả giữa hồ, hỏi: “Muốn đóa nào?”

Bảo Châu chỉ tay reo lên: “Là đóa kia, vừa mới nhú lên khỏi mặt nước ấy!”

Vi Huấn đưa tay hái sen, nhảy trở về bờ, mang theo sương sớm trao vào tay nàng.

Nàng vừa mới tắm gội xong, cả người nóng ấm, ôm hoa sen hít một hơi thật sâu, khoan khoái nói: “Chính là mùi này. Tòa tháp này đầy mùi quái dị, dùng hương liệu che giấu mùi xác, càng khiến người ngột ngạt. Chỉ có hương hoa tự nhiên mới làm tỉnh thần tĩnh tâm.”

Nàng nghiêng đầu than tiếc: “Hoa sen không hợp cài tóc, nhựa làm bẩn mái đầu. Vẫn là trâm sen của ta trước kia tốt hơn… Ngươi cũng ngửi thử xem.”

Bảo Châu giơ hoa kề sát mặt Vi Huấn, hắn làm bộ hít hà, nhưng lòng thì nghĩ: chẳng có đóa sen nào thơm bằng hương thơm của nàng. Có lần nàng lén giấu túi thơm vào hành lý, mà trên người vẫn ngát hương. Mùi ấy không hẳn là từ thụy long não, mà từ chính thân thể nàng. Chỉ tiếc, hễ nghe thấy là tâm loạn ý tán, khó lòng giữ chánh niệm, chi bằng giữ khoảng cách còn hơn.

Vi Huấn kể lại hết thảy tin tức vừa nhận được từ Đàm Lâm, trong đó nhắc rằng bức họa cuối cùng của Ngô Quan Trừng “Cửu Tương Đồ” giống hệt đề tài bích họa trong Vô Thường điện. Nhưng đây không phải là đơn đặt của chùa Thiềm Quang, mà là lúc mười ngày trước hắn mất tích, bị các tăng nhân trông thấy đang điên cuồng vẽ vời. Ai gọi cũng không đáp.

Hai người tức khắc lên đường, tìm đến nơi treo bức họa.

Chỗ gần nhất là tầng thứ nhất hướng tây bắc của Phù Đồ. Ở trung tâm có đặt một cỗ quan tài, xung quanh vách tường và vòm điện là những bích họa hoa lệ, vẽ cảnh phi thiên tung hoa. Giữa tầng mây và dải lụa, các thiên nữ bay lượn vung đầy cánh hoa, cảnh tượng vừa mỹ lệ, vừa thần thánh.

Nhưng bên cạnh vách tường lại bị phá một khoảng, vẽ chằng chịt hình ảnh thi thể đang rữa nát. Hình vẽ sống động đến nỗi khiến Bảo Châu chẳng dám lại gần.

Vi Huấn ngắm kỹ rồi chậm rãi nói: “Đàm Lâm nhắc mãi về Cửu Tương Quan, quả không sai. Trình tự trên bức họa khớp với tiến trình phân hủy của tử thi ngoài đời thật.

Thứ nhất là thân xác người mới chết còn nguyên vẹn, thứ hai bụng trương phồng, thứ ba da chuyển màu bầm tím, thứ tư máu chảy loang lổ, thứ năm mủ rỉ ra, thứ sáu bị dòi bọ đục khoét, thứ bảy da thịt nứt ra, thứ tám trơ xương, thứ chín chỉ còn bộ cốt khô. Nhìn đám ruồi bay lượn quanh, đây hẳn là cảnh thứ sáu: dòi bọ đục khoét, Ngô Quan Trừng vẽ đúng thật.”

Bảo Châu nghe vậy càng thêm sợ, hỏi lớn: “Vậy quan tài kia là ai?”

Vi Huấn bước tới, gõ gõ nắp quan, nói bằng giọng nhà nghề: “Mộc âm, vật liệu quý. Người trong quan hẳn là phú quý.”

Hắn vòng ra phía bên, thấy dán câu đối phúng điếu: “Di Ái Thiên Thu Phu nhân Bí Thư Thừa Đoạn Thị.”

Vi Huấn nói: “Có lẽ di thể do thân nhân gửi nhờ chùa, đợi hợp táng hoặc chưa kịp lo mộ phần. Các chùa thường nhận việc này, đổi lấy một khoản công đức.”

Cạnh quan tài bày hoa tươi, trái cây, đèn trường minh và hương án đầy đủ. Nhìn cách bày biện, hẳn là người giàu sang.

Hắn trầm ngâm giây lát, rồi bảo Bảo Châu: “Ta mở quan xem thử?”

Bảo Châu đành gật đầu, lùi ra xa.

Vi Huấn không dùng đồ nghề, chỉ vận công Tàn Đăng Thủ, rút từng chiếc đinh quan, rồi mở nắp nặng nề. Mùi hương trộn mùi xác lập tức xộc lên, may mà phía dưới có vôi hút nước, trên phủ đầy hương quý, nên mùi mới dễ chịu đôi chút.

Trong quan là thi thể một phụ nữ đã khô quắt, dịch thể bị hút hết, áo quần chỉnh tề, đoán chừng đã chết vài tháng. Kiểu tóc và y phục cho thấy là người đã có gia thất, chỉ là tuổi khó đoán.

Vi Huấn khẽ nhấc búi tóc, thấy là tóc giả đen tuyền, bên dưới là mái tóc hoa râm, đoán tuổi người chết ngoài năm mươi.

Từ xa, Bảo Châu hỏi lớn: “Có gì lạ không?”

Vi Huấn đáp: “Không có gì. Trông rất yên bình.” Rồi đặt tóc giả lại cho ngay ngắn, đậy nắp quan tài, nói: “Đi tiếp nơi khác.”

Trước khi rời đi, hắn ngoái đầu nhìn lên vòm điện. Giữa hàng trăm hình phi thiên, hắn bỗng chú ý tới một nữ hình sáu tay. Sau lưng mọc hai cặp tay to, thân thể uyển chuyển, thân trên tr*n tr**, th*n d*** mặc váy dài mềm mại. Nàng đội mũ hoa sen, môi đỏ mọng, trang sức giống hệt các phi thiên khác. Nhưng gương mặt lại rất giống Bảo Châu.

Vi Huấn giật mình, nhìn kỹ thì ánh nến lấp loáng, đôi mắt bức họa ấy dường như chớp một cái.

“Ngươi đang nhìn gì thế?” Bảo Châu đột ngột xuất hiện trước mặt, hỏi lạnh lùng.

Vi Huấn vội dời mắt khỏi mấy bức họa mỹ nữ mặc hở hang, trả lời qua loa: “Không có gì, chỉ ngắm ánh trăng.”

Hắn thầm nghĩ: hay là Ngô Quan Trừng vẽ đôi mắt sống động kia bằng kỹ pháp vẽ mắt? Nhưng sao lại vẽ giống Bảo Châu đến vậy?

Cả hai rời tây bắc tháp, đi qua hành lang dài tới hướng đông bắc. Hai bên hành lang đều là bích họa, trong đó có bức “Địa Ngục Biến” miêu tả cảnh Vu Lan hội. Tranh xưa, màu nhạt, chi tiết bong tróc nhiều, không phải bút của Ngô Quan Trừng.

Bảo Châu chỉ vào bức họa nói: “Dù ở Trường An hay Lạc Dương, giữa bức Địa Ngục Biến đều có Địa Tạng Bồ Tát. Tuy cảnh tượng âm u, nhưng có Bồ Tát thì còn hy vọng. Thế mà bức Phúc Thủy kia chỉ vẽ một xác chết trôi. Nếu Ngô Quan Trừng bị hại, thì hung thủ thật độc ác, muốn hắn mãi mãi không được siêu sinh.”

Nói đoạn, nàng thở dài, mắt đầy lo âu.

Vi Huấn hiểu nàng nghĩ đến cảnh mình từng bị chôn sống, đè trong quan tài, mặt bị che bởi bàn cờ và đồ cúng. Chưa kịp an ủi, nàng đã tiến lại gần.

“Ta mới mở quan đấy…”

Bảo Châu không chạm vào tay dơ của hắn, mà khoác tay hắn, tựa nửa người vào.

Cảm giác mềm ấm thấu qua áo, khiến Vi Huấn sững người. Hai người đi cạnh một lúc, hắn đành thoát khỏi tay nàng: “Không được đâu, lỡ gặp mai phục, ta cần tay để ứng phó, kéo nàng chạy cho kịp.”

Bảo Châu bực bội lườm một cái, rồi chỉ nắm lấy cổ tay hắn.

“Vừa rồi nữ tử trong quan, có mang trang sức không?” Nàng hỏi.

Vi Huấn ngẫm lại: “Có, khá nhiều vòng tay trang sức. Quan tài bằng gỗ quý, chắc không phải người nghèo.”

Bảo Châu lẩm bẩm: “Ta nằm trong quan tài gỗ đế vương, mà trên đầu chẳng còn gì cả…”

Vi Huấn thấy khó hiểu, hình như nàng từng nhắc chuyện này, nhưng chẳng nhớ rõ lúc nào.

Cả hai tiếp tục đến chính điện phía bắc, nơi có một quan tài và bức họa mới của Ngô Quan Trừng vẽ cảnh thứ năm: chảy mủ. Thi thể phân hủy hơn nửa, mủ máu lan tràn, vẽ sống động như thật. Ánh sáng lờ mờ khiến bức tranh càng thêm ghê rợn.

Bảo Châu đứng nép ngoài cột, Vi Huấn mở quan. Bên trong là một nam thi cao lớn, mặc áo võ, gần như chỉ còn xương. Theo Cửu Tướng Đồ, đây là cảnh thứ tám hoặc thứ chín, không khớp với bức họa.

Nghe nàng ngáp từ xa, hắn lớn tiếng gọi: “Ngươi về ngủ đi. Một đêm nữa ta mở hết, sáng kể lại kết quả.”

Không thấy hồi âm. Một lúc sau, nàng bước ra, kiên quyết nói: “Không, phải phá án cho nhanh. Ngô Quan Trừng lúc chết tinh thần chẳng tỉnh táo, ta lo cho Ngô Quế Nhi.”

Nàng ngừng một lát, khẽ nói: “Nếu bích họa chẳng khớp tình trạng xác chết, thì sao hắn cứ nhất định phải vẽ bên cạnh quan tài kẻ khác? Những người này đều giàu sang, đâu có liên quan gì đến hắn một cô nhi nghèo khó?”

Vi Huấn kiểm tra kỹ thi thể, giúp người đã khuất chỉnh lại khăn áo.

Bảo Châu hỏi: “Ngươi không tin có ma quỷ, sao vẫn giữ lẽ với xác chết như vậy? Hôm nay là Vu Lan, chẳng lẽ sợ hồn ma tìm đến ngươi?”

Vi Huấn cười: “Xác chết vô tri, ta không sợ. Chỉ ngại lúc người nhà đến nhìn thấy thân nhân xộc xệch nên trong lòng chẳng nỡ.”

Bảo Châu khẽ lẩm bẩm: “Thật không hiểu, Trần Sư Cổ sao lại dạy ra ngươi như thế này?”

Vi Huấn đậy nắp quan, chà tay vào lá bưởi để xua mùi tử khí. Hắn thở hắt ra trong làn hương xông, lòng vẫn thấy rờn rợn.

Sau một lúc, hắn nói: “Nhưng người đó không phải lão Trần dạy ta. Ta theo ông ta làm nghề trộm mộ từ nhỏ, chẳng thấy có gì bất thường. Một hôm, đi ngang bãi tha ma, thấy một người mẹ nghèo chôn con sơ sinh. Nàng chẳng có tiền mua quan tài, cũng không thuê nổi người đào huyệt. Đành lấy một mảnh vải cũ quấn xác, chôn cạn xuống đất.

Bảy ngày sau, ta quay lại, thấy xác bé bị chó hoang moi lên, ăn mất một nửa. Mộ phần tan hoang. Mẹ nó mang ít hoa quả đến, phát hiện thì chỉ còn biết ôm thi thể đứa nhỏ vào lòng, nức nở.

Ta đứng bên, nhận ra: mình chính là con chó hoang đó. Từ đó, ta mới nhận ra nghề này sai lầm, trong lòng nhen nhóm ý định dừng tay. Nếu không phải cần thuốc cứu người, đã sớm rửa tay gác kiếm.”

Nói xong, Vi Huấn thấy câu chuyện có phần thê lương, sợ Bảo Châu buồn, bèn cười nhẹ: “Cũng may ta chưa bỏ nghề sớm, bằng không làm sao cứu được nàng từ địa cung ra?”

Hơn mười năm đụng chạm xác chết, hóa ra chỉ để đưa nàng về lại nhân gian. Thế là đủ.

Nghĩ đến đây, hắn thấy Bảo Châu đứng lặng dưới mái hành lang, gương mặt kiều diễm ánh lên trong bóng tối, ánh mắt như ngấn lệ, lại như chứa điều gì khác.

Đã đến giờ Tý. Mọi thứ chìm vào tĩnh lặng. Sương đêm trắng toát phủ lên viện cổ. Ánh trăng sáng vằng vặc, soi rọi xuống một thế giới u huyền.

Chợt trong thoáng chốc, như thể bức họa phi thiên sáu tay kia, đôi mắt nàng lại khẽ chớp một lần nữa.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 113


Sâu thẳm, kéo dài, không bờ không bến… như hành lang cổ tháp dẫn vào lòng mộ đạo.

Tương ứng với bóng tối ấy là những bức bích họa sặc sỡ và rực rỡ sắc màu trên vách tường: từng hàng thần hộ pháp mặc giáp trụ oai vệ, Bồ Tát váy lụa nâng tịnh bình, các vị thiên nhân uyển chuyển, chẳng khác gì những vẽ trong cung đình hoặc trong mộ cổ.

Bảo Châu giơ cao bó đuốc, ngắm nghía kỹ lưỡng từng nét vẽ nhân vật, thấp giọng trách khẽ:

“Bọn họ vẽ vội quá, chẳng buồn tô thêm sắc màu lên vẽ cung ta.”

Vi Huấn cảm thấy như có làn khói trầm hương phảng phất dâng lên trong lòng, từng đợt sương mờ bồng bềnh, che lấp tầm mắt. Hắn bỗng dừng lại nơi môi nàng: đỏ mọng, đầy đặn, mềm như cánh hoa, thoảng như phủ một lớp phấn hồng. Hắn biết không nên nhìn chăm chú, nhưng ánh mắt lại không sao dứt ra được.

“Ngươi còn nhớ cái hộp thất bảo lưu li ta đưa không? Cái hộp gỗ sơn chế từ thợ thủ công Thường Châu ấy?” — Bảo Châu bất chợt hỏi.

“Nhớ rõ. Trong ấy là dạ minh châu giả, ta đã bóp vỡ từ lâu.”

“Lần sau nếu mở nắp quan tài mà gặp nữ tử đeo trang sức, nhớ rút một cây trâm cho ta. Ta muốn lấp đầy cái hộp ấy.”

Vi Huấn sững người:

“Ngươi chắc chứ? Đó là trang sức trên thi thể, mùi ấy phải rèn lửa mới hết nổi.”

“Chẳng phải ngươi lúc nào cũng ám mùi tử khí sao? Ta nào có ghét bỏ.”

Vi Huấn nghẹn lời. Hắn đích xác là kẻ sống nhờ quật mộ, nhưng vẫn cảm thấy lời nàng có gì đó lạc lõng.

Nàng lại có thể nói những lời như thế sao?

Tác phẩm “Cửu tương đồ” của Ngô Quan Trừng, đến phần thứ ba: da chuyển màu bầm tím, thi thể trương phồng biến dạng, gần giống một xác trôi sông, nhưng làn da tím tái, dễ phân biệt hơn thi thể vừa chết. Bức tranh khắc họa một thiếu nữ, tóc đen rậm rạp, thoạt nhìn còn trẻ lắm.

Vi Huấn mở quan tài bên cạnh bức họa, chỉ là thi hài một bé gái bảy tám tuổi, tóc thắt, tay đeo trâm ngọc, vòng tay chuỗi hạt đều tinh xảo. Rõ ràng là con nhà quyền quý, được yêu chiều. Hắn lặng lẽ khép nắp quan tài lại, không nỡ động đến bất kỳ món đồ nào.

Trở ra khỏi thiền phòng, Bảo Châu đang ngồi tựa lưng lên một bệ cao, bỏ giày, vắt chân, chân trần đung đưa, ánh mắt chờ mong:

“Có thu hoạch gì không?”

Bệ cao chừng sáu thước, người thường khó lòng trèo lên mà không lấm lem hay trông luộm thuộm. Vậy mà nàng kẻ luôn tô son dặm phấn khi đối đầu với địch chẳng hề để lộ chút luộm thuộm.

Vi Huấn cúi đầu, hít sâu một hơi. Trong lòng hắn, muôn vàn phương án phó đang lần lượt hiện ra. Với bản lĩnh của mình, vốn dĩ chẳng cần lắm lo toan, nhưng nếu kẻ thù ngụy trang giống hệt nàng, thì khi ra tay… hắn có dám xuống tay không?

Hắn tiến tới, ngẩng đầu ra lệnh:

“Xuống đây.”

Bảo Châu nghe lời nhảy xuống. Vừa chạm đất, Vi Huấn lập tức vung tay khóa chặt vai nàng, ép chặt vào tường.

“Ngươi làm gì vậy?” — nàng kinh ngạc.

“Nàng đâu?” — Vi Huấn lạnh lùng hỏi.

“Nàng nào?” — nàng cau mày, khó hiểu.

Không dám nhìn vào mắt nàng, hắn chỉ chăm chăm nơi xương quai xanh:

“Đừng dùng giọng nàng ấy để nói chuyện. Nếu không ta sẽ móc cổ họng ngươi ra!”

“Ngươi làm ta đau. Muốn tạo phản sao?” — nàng vẫn như chưa hiểu chuyện gì.

Vi Huấn không còn nhẫn nại. Hắn ấn mạnh lên mặt nàng, tìm dấu vết dịch dung. Nếu là phấn sẽ nhanh chóng nhòe đi. Nhưng lần này, chỉ là da thịt mềm mại, chỉ có một chút son môi nhòe.

Hắn cúi nhìn bàn tay dính son đỏ, trong lòng bỗng dấy lên cảm giác hoảng loạn. Phấn ấy đã bị chính hắn vứt bỏ. Giữa chùa chiền đầy tăng lữ này, nàng lấy đâu ra phấn son?

“Hoắc Thất nói ngươi hung dữ. Quả nhiên không sai, ngươi là con mèo hoang thô bạo.” — nàng rên nhẹ, đầy ẩn ý.

Vi Huấn càng thêm nghi hoặc. Hắn bất thần kéo tay nàng, vặn ngược, ép nàng quay mặt vào tường, xé rách áo.

Dưới xương vai trái có một vết bớt đỏ bằng móng tay út, hình như cánh hoa đào…

Không sai, đúng ngay chỗ đó.

Bảo Châu không vùng vẫy, chỉ run nhẹ mi dài, nước mắt loáng ánh trăng:

“Còn chỗ nào nữa không? Cánh tay trái có nốt ruồi, sau đùi cũng có… nơi ấy chính ta còn không rõ lắm”.

Vi Huấn buông nàng ra, thoái lui, ánh mắt hoang mang.

“Ngươi biết những chỗ nhỏ nhặt ấy, vì lúc cứu ta ra khỏi địa cung, phải kiểm tra kỹ xem trong người có cắm trâm thép hay thứ gì cấm kỵ. Khi ấy ngươi như kẻ vụng về, chỉ là đang lật thi thể thôi, ai ngờ hai tháng sau, bỗng nhiên nhớ lại trong mơ, rồi mất ngủ… phải không?”

Vi Huấn bước lui từng bước. Trong lòng dấy lên muôn câu hỏi: Nàng là ai? Sao lại giống Bảo Châu đến thế, đến cả dấu vết kín đáo cũng không sai? Sao lại biết chuyện ở Thúy Vi Tự?

Hắn vội lao về phía khách đường, phá cửa sổ xông vào. Trong phòng chỉ có những trang kinh Vu Lan còn bay lượn theo làn gió. Trống trơn. Không một bóng người.

“Bảo Châu?!”

Hắn vội chạy sang khu suối nước nóng. Vẫn không thấy ai. Chỉ có tiếng nước nhỏ qua bức tường trúc. Hắn trèo lên nhìn qua.

Giữa làn hơi nước mờ mịt, nàng đang ngâm mình.

“À, cuối cùng cũng dám qua đây. “— nàng giơ cánh tay trắng ngần vẫy hắn —” Lại đây, chẳng phải ngươi vẫn mong ta chạm vào ngươi sao?”

Vi Huấn trượt chân, sững sờ đứng bên ao.

Từ tường trúc vọng sang tiếng nàng:

“À phải rồi, ngươi không dám. Bởi ngươi biết ta chẳng còn gì: không thân phận, không quyền thế, chẳng châu báu hay thị vệ. Gọi là công chúa, kỳ thực như trẻ mồ côi, chỉ còn mỗi lòng kiêu hãnh. Ngươi sợ chạm vào, sợ làm vỡ đi thứ kiêu hãnh mong manh ấy, nên luôn nhẫn nhịn.”

“Nhưng khát khao không biến mất. Ngươi rất thích nhìn ta khóc, đúng chứ? Khi bị ép, khi tủi thân, như lúc nãy vậy…”

Lời nàng sắc lạnh hơn cả lưỡi kiếm, rạch từng vết nơi lòng hắn.

Là mộng chăng? Sao lại như thật thế này?

Vi Huấn tái mặt, ngước nhìn trăng, mong xác định phương hướng. Nhưng bầu trời u ám, không ánh sáng.

Hắn chạy. Vừa chạy vừa gọi tên nàng. Không ai đáp lại.

Xa xa có ánh sáng. Hắn lao tới như bắt được cứu cánh.

“Bảo Châu!”

“Mèo?

Nàng đứng giữa ánh trăng, tóc đen xõa dài, đưa tay đón hắn:

“Đừng đứng trong bóng tối, ta nhìn không thấy ngươi.”

Vi Huấn chững bước, ngỡ ngàng nhìn bóng dáng ấy.

Nàng mỉm cười:

“Hay là… ngươi vốn không phải mèo quý?”

Nàng tiến lại gần, hắn lùi từng bước.

“Ngươi từ trong bóng tối ngước nhìn trăng, bị ánh sáng hấp dẫn, thu lại móng vuốt, giả làm người lương thiện, quỳ bên ta.”

“Ta không giả…” — Vi Huấn lẩm bẩm.

“Vậy thứ trên tay ngươi là gì?”

Hắn giơ tay lên. Máu.

“Một đòn kết liễu. Kẻ ngươi giết, đều đáng chết cả sao?”

Đúng thế, bên nàng, ý niệm giết chóc bị che lấp. Nhưng chưa từng biến mất.

Bảo Châu sà vào, nâng tay chạm mặt hắn. Vi Huấn kinh hãi nhảy vọt lên nóc.

Hắn tung người, phóng qua từng gác chuông, tòa thiền, sân viện, chạy mãi l*n đ*nh Phù Đồ.

Từ cao nhìn xuống, chùa Thiềm Quang chìm trong bóng tối, chỉ le lói đèn trường minh nơi quàn xác.

Đáng lẽ phải cắt đuôi rồi chứ? Không ai nhanh hơn hắn cả.

“Sao có thể?”

Giọng nói ấy bất ngờ vang lên sau lưng. Toàn thân Vi Huấn cứng đờ. Một thân thể mềm mại, ấm áp, ôm lấy hắn.

“Dù ngươi khinh công đệ nhất thiên hạ, cũng không thể thoát khỏi thân thể mình. “— nàng thì thầm bên tai — “Ta là dụ.c vọ.ng, là tâm ma của ngươi. Ngươi vĩnh viễn không thể vượt qua ta.”

Vi Huấn giật mình, túm lấy kẻ sau lưng, giật ra trước mặt.

Ánh trăng lặng lẽ, vu lan bồn đêm đen kịt. Trên đỉnh Phù Đồ, bóng dáng thướt tha như tiên nữ dần hiện ra.

Dải lụa tung bay, đầu đội hoa sen, chân trần Xích Túc, sáu cánh tay dài mảnh vươn ra từng nhánh…

Chỉ là một ước vọng thầm kín: mong nàng chạm vào mình. Nhưng đêm nay, ở ranh giới âm dương, ước vọng ấy vặn vẹo, hóa thành thứ quỷ dị đáng sợ.

Sáu cánh tay: một đôi nâng mặt, một đôi siết eo, một đôi trườn xuống dưới…

“Đây là ảo tưởng cuồng dại nhất của ngươi, phải không? “— nàng cúi đầu, nở nụ cười thần bí.

“Không! Không phải! “— Vi Huấn hoảng hốt kêu lên.

Nhưng ngay lúc hắn cất tiếng, đôi môi kia đã phủ xuống, môi lưỡi siết chặt, hòa vào nhau trong nụ hôn.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 114


Mây đen âm u dồn nén bên trên đại chùa Thiềm Quang, phía đỉnh Phù Đồ, hai thân ảnh đan xen trong nụ hôn.

Thiên Ma Bảo Châu, sáu tay quấn chặt lấy Vi Huấn như dây thép lạnh, nhưng hắn không đáp lại, chỉ nghiến răng cố chống cự. Sau một hồi hôn mãnh liệt, nàng cảm nhận trên mặt hắn lành lạnh ướt đẫm, liền buông lưỡi, nhẹ l**m môi hắn, khẽ hỏi:

“Ngươi khóc sao? Vì lần đầu không đúng như ngươi từng mộng tưởng? Không phải cảnh tượng ngươi luôn nghĩ đến sao?”

“Nàng ở đâu?”

Rơi vào cảnh ngộ đảo điên mê loạn ấy, lòng Vi Huấn rối như tơ vò. Rõ ràng hắn chưa từng bước vào giấc mộng hay ký ức nào, vậy vì cớ gì lại hiện lên ảo giác khó gọi thành lời như thế này? Đây là ác mộng, hay là tâm ma kéo đến? Vậy Bảo Châu thực sự đang ở đâu? Nàng rốt cuộc gặp chuyện gì? Chẳng lẽ nàng cũng lâm vào một tình cảnh quỷ dị đến mức không sao tưởng nổi.

Bị nhốt ở nơi nào đó, giãy giụa tuyệt vọng, mà không thể nào thoát ra?

“Ta chính là nàng, nàng cũng là ta.”

Tiếng nói Thiên Ma Bảo Châu dịu dàng như nước chảy, nàng thì thầm:

“Ta là khao khát sâu kín nhất trong tâm ngươi. Ngươi chẳng luôn mong nàng chủ động đến gần, chạm vào ngươi sao? Vì thế ta hiện hình như thế này. Giờ đây, chỉ cần ngươi buông lòng kháng cự, hãy tận hưởng, ta sẽ dịu dàng đối đãi. Dẫu sao… chỉ là một giấc mộng. Là mộng đẹp hay ác mộng, là do chính ngươi chọn lấy.”

Cánh tay mềm mại tựa rắn quấn lấy thân thể hắn, luồn vào trong vạt áo xanh.

Hắn rùng mình, nói với tâm ma:

“Không thể được.”

“Không thể được.”

Hắn siết chặt tay, tự nhủ lại một lần nữa.

Dẫu rã rời và hỗn loạn, Vi Huấn vẫn cắn răng gắng sức thoát ra, từng chút từng chút giằng khỏi sáu cánh tay quấn riết. Hắn rút từng tay khỏi người, cuối cùng đẩy mạnh nàng ra.

Thiên Ma Bảo Châu bật cười rực rỡ, lùi lại một bước trên đỉnh Phù Đồ, chân trần đạp hư không, tưởng như sắp rơi xuống từ trên cao.

Nàng có cùng khuôn mặt, thân hình và giọng nói như Bảo Châu. Vi Huấn hoảng hốt, vô thức đưa tay đỡ lấy, nhưng bàn tay xuyên qua người nàng bởi nàng chỉ là một làn sương khói mơ hồ.

“Đến nước này rồi, mà vẫn không yên lòng sao?”

Nàng trôi bồng bềnh, một cái lộn vòng vui vẻ giữa không trung, rồi áp sát mặt hắn:

“Vậy ta nói cho ngươi một bí mật…”

Nàng thì thầm bên tai:

“Ta ở cùng Quế Nhi.”

Dứt lời, sáu tay Thiên Ma nữ tan biến thành khói, không chút dấu vết.

Ở cùng Quế Nhi? Ngô Quế Nhi?

Nhớ lại kết cục thê thảm của Ngô Quan Trừng, nhớ đến bức họa “Cửu Tương Đồ” cuối cùng, một luồng dự cảm xấu bao trùm tim hắn. Vi Huấn vội vã từ đỉnh tháp lui xuống, nào ngờ lảo đảo suýt ngã.

Tay chân hắn nặng trĩu, không còn sức. Thân thể lạnh toát, đầu óc trống rỗng. Đây là điềm dữ báo tử? Là lúc bệnh tái phát sao?

“Bảo Châu…”

Hắn bám vào tường, lê từng bước về phía trước, không rõ định đi đâu. Mạch máu xanh tím hiện rõ trên tay, tư duy dần rối loạn, tâm trí như hóa thành bùn lầy.

Phía trước lờ mờ một thân ảnh lực lưỡng vận giáp trụ. Vi Huấn lập tức căng người, chuẩn bị ứng chiến. Nhưng người kia không cầm vũ khí, mà giơ một ngọn kỳ lệnh tang nghi.

Rồi người thứ hai xuất hiện. Rồi người thứ ba…

Từng võ sĩ hộ pháp từ tranh tường bước xuống, giáp trụ cấm quân Trường An đầy đủ, tay cầm cờ, nghiêm trang mà trầm lặng. Họ lặng lẽ bước đi, không để tâm đến Vi Huấn, như không thấy hắn hiện diện. Đội hình dài, cờ màu trắng viền đen của kỳ tang.

Sau đó, từ bên kia tường tranh, các thiên nữ áo lụa bước xuống, tay ôm gương đồng chạm trổ phượng hoa là vật tế. Rồi thị nữ cung đình tay cầm tịnh bình, kim bồn, lược ngọc, lần lượt từ tranh hiện thân. Gương mặt ai nấy u buồn, đi lặng lẽ bên cạnh đội ngũ cấm quân tang lễ.

Có người đặt ngọc ve trong miệng tử thi thực hiện lễ chặn miệng bằng ngọc.

Ai là người được cử hành tang lễ này? Quy mô lớn như thế, vàng mã đầy đủ, cấm quân mở đường, thị nữ tế phẩm, đội ngũ dài dằng dặc…

Dưới hoa bay hóa giấy tiền, Vi Huấn như bị cuốn theo. Bóng người trước mắt cứ nối tiếp nối tiếp, tràng cờ phủ đầy trời. Đoàn người cứ thế lặng lẽ bước đi, dài không thấy cuối, tiến về phía trước.

Là ai đang được tiễn đưa?

Vi Huấn không biết. Chỉ biết, hắn đi theo như kẻ vô hồn. Lỡ chạm vào ai, người đó liền tan thành khói, rồi lại tụ hình vài bước sau. Một vòng luẩn quẩn, dẫn lối hắn đi mãi không dừng.

Cuối cùng, trước mặt hiện ra một tòa mộ lớn. Quan tài gỗ quý được đặt giữa mộ thất, nắp đậy phủ kinh phật và phù chú, hai bên đốt Bác Sơn lư hương, hương liệu phả lên mùi hương kỳ dị, ngăn không cho mùi tử thi lan ra.

Hắn từng khai quật quan tài này. Đã từng từ đây mang ra một người vô cùng quan trọng. Nhưng giờ, người ấy đang ở đâu?

Hắn lần lượt rút ra từng đinh gỗ, xốc lớp vải phủ kinh văn, mở nắp quan tài.

“Là ngươi từ chối mộng đẹp, lựa chọn ác mộng.”

Giọng Thiên Ma nữ lại vang bên tai.

Quan tài mở ra. Một thiếu nữ áo hoa nằm đó, trên mặt đeo mặt nạ quỷ quái.

Có còn kịp cứu nàng không? Như lần trước?

“Bảo Châu…”

Hắn khẽ gọi, như một lần cuối cùng chống cự. Không có ai đáp lời.

Mặt nàng xanh tím, hai mắt khẽ mở, ánh sáng trong trẻo ngày xưa nay đã mờ đục, phủ tầng sương trắng. Một thanh kiếm găm sâu vào bụng nàng là Ngư Tràng kiếm, cán tê giác cắm đến tận chuôi.

Vi Huấn run tay chạm lên gương mặt ấy, khẩn cầu đây chỉ là ảo ảnh, nhưng da thịt lạnh băng chân thực khiến hắn tuyệt vọng.

Hắn ôm nàng ra khỏi quan tài. Thi thể lạnh cứng, không còn chút hơi ấm nào, càng không còn hương thơm quen thuộc. Từng đụng đến không biết bao nhiêu tử thi, hắn chưa từng ảo tưởng, nhưng lần này, lòng hắn như tan nát.

Quanh hắn, đưa tang cấm quân và thị nữ lặng lẽ nhìn.

Mọi thứ lại trở về điểm đầu. Chỉ là, lần này không có con đường cứu nàng.

Hắn ôm nàng, dựa vào quan tài, ngồi bệt xuống, tâm trí hoàn toàn ngưng đọng.

“Ngươi giống Trần Sư Cổ, là Tu La mang tai họa, chỉ khiến người bên cạnh gặp nạn.”

Tâm ma lại lên tiếng.

“Ta chỉ muốn được ở bên nàng…”

Hắn nhìn gương mặt ấy, nước mắt từng giọt rơi xuống, hòa với máu, loang ra màu đỏ nhạt trên da nàng.

“Ngươi học giết chóc, không phải cứu người. Một ngày nào đó, ngươi sẽ tự tay làm nàng tổn thương.”

“Ta chưa từng muốn hại nàng…”

“Vậy vũ khí giết ta là gì? Ngươi xem đi.”

Thi thể đột ngột cử động, môi hé mở:

“Ngươi không phải đang siết cổ ta sao?”

Giật mình, Vi Huấn phát hiện hai tay mình đã siết chặt lấy cổ nàng.

“Đây là định mệnh. Đây là ngươi đã giết ta.”

Thi thể nói xong câu cuối, lại im lặng.

Vi Huấn buông tay, lòng bàn tay đặt lên Bác Sơn lò hương bên quan tài. Da thịt phỏng rộp, đau buốt toàn thân. Trong mộng vẫn có thể cảm thấy đau sao?

Hắn cố không động đậy, để cơn đau thiêu cháy thần trí. Cho đến khi mùi thịt cháy xộc lên, hắn mới vung tay đánh đổ lư hương, hương liệu bay tứ tán, bụi phấn rơi khắp đất.

Đủ rồi. Có phải thế là đủ rồi?

Hắn vẫn ôm thi thể trong tay, lặng im.

Thời gian trôi đi theo từng nhịp thở. Ký ức kéo ngược trở về: tử thi, đói khát, bệnh tật, tuyệt vọng đi tìm thuốc…

Không biết đã bao lâu, lòng hắn tĩnh lại. Ngẩng đầu, thấy bóng người quanh mình đều biến mất. Nên trả nàng về quan, an táng yên ổn chăng?

Hắn nâng thi thể, cúi đầu nhưng đó không phải Bảo Châu.

Là một nữ tử xa lạ, chết đã mười ngày, mặt mày tím tái, gầy gò, không rõ tướng mạo, chỉ có mái tóc đen dày cho thấy nàng còn trẻ. Môi nàng hé mở, như thể đang gọi một ai đó.

Một cơn gió đêm lướt qua, khiến tư duy hắn lưu chuyển trở lại.

Kỳ đầu, cờ trấn hồn, Ngư Tràng kiếm đều biến mất. Vi Huấn đưa mắt nhìn quanh, nhận ra đây không phải mộ hoàng thất, mà là phòng thiền trong tháp cổ. Quan tài kia cũng không phải mộc tơ vàng, chỉ là gỗ thường mà nhà giàu có thể dùng được.

Mộng đã tan? Ảo giác lặng lẽ rời đi, chỉ còn lòng bàn tay phỏng rộp đau nhức, kéo hắn về với thực tại.

Lư hương tắt, mây tan trăng sáng, ánh trăng luồn qua hành lang chiếu vào thiền đường. Vi Huấn thấy trong miệng tử thi có vật phản sáng. Hắn thò tay lấy ra là một khối đường trong suốt như băng, lẫn vụn hình như là cánh hoa quế.

Là đường hoa quế.

Một khối đường đặt trong miệng nữ thi.

Nhớ đến lời tâm ma: “Ta ở cùng Quế Nhi”, Vi Huấn như ngộ ra điều gì.

Đây là nàng nhắn gửi?

Ôm lấy tử thi lạ mặt, Vi Huấn đứng lên, dưới ánh trăng Vu Lan Bồn, bước vào giây phút mà người chết có thể mở miệng nói lời cuối cùng…
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 115


Không rõ vì cớ gì, Vi Huấn cứ có linh cảm rằng: chỉ khi phá xong trận này, chàng mới có thể thật sự tìm được Bảo Châu.

Chàng nhẹ tay đặt lại xác nữ tử lạ vào quan tài, cẩn thận cởi y phục nàng, lần lượt xem xét khắp thân thể để tìm dấu vết thương tổn khi còn sống. Vết thương chí mạng chỉ có một: vết bầm sâu ở cổ. Trong ảo ảnh, Vi Huấn từng tự trách, nhưng tay chàng khi ấy chưa từng dùng hết sức, vậy mà dấu ấn trước mặt lại đậm đến mức lõm hẳn xuống, không đàn hồi, đã hình thành từ mười ngày trước.

Kẻ ra tay dùng lực tàn bạo, không chỉ bóp nát cổ nàng, mà còn để lại vết xước hình trăng non do móng tay cào xước. Trong đó còn sót lại chút sắc tố đỏ thắm là một loại màu dùng trong tranh vẽ.

Chàng giúp nữ tử mặc lại y phục, chỉnh lại búi tóc đơn sơ, rồi khẽ bẻ hàm nàng để xem kỹ trong khoang miệng.

Thi thể này được quàn ở điện Phù Đồ, nơi đặt linh cữu tất nhiên không thể thiếu đèn trường minh và lư hương. Đều là lễ nghi cúng tế, nên không ai nghi ngờ điều gì.

Vi Huấn dừng hơi thở, lần lượt hất đổ những chiếc lư hương khả nghi. Quả nhiên, trong đó giấu đầy những chất độc như gan công, chì trắng, thủy ngân, chu sa, đồng nguyên, tất cả đều là vật liệu luyện đan, đồng thời cũng là nguyên liệu chế màu vẽ.

Khi đốt cùng hương liệu, các thứ ấy khiến khứu giác sai lệch, làm chàng không kịp nhận ra mình đang rơi vào bẫy. Hít phải độc khí, chàng mê man mà không hay. Nếu khi ấy vẫn như lúc trộm mộ, nín thở hành sự, có lẽ đã không nhiễm độc quá sâu. Nhưng đêm đó, vì muốn làm dịu nỗi sợ của Bảo Châu, chàng không ngừng nói chuyện, chẳng ngờ từ tỉnh táo lại bước thẳng vào mê loạn.

Rốt cuộc, từ khi nào nàng không còn là Bảo Châu thật sự? Vi Huấn lắc đầu, cố dẹp bỏ suy nghĩ ấy. Chàng mở từng cỗ quan tài, soi đèn dầu xem xét từng khoang miệng của xác chết.

Chàng nhớ lần đùa giỡn cùng Bảo Châu: “Muốn biết thân thế người, chỉ cần nhìn răng là hiểu.”

Đó là một kinh nghiệm học lỏm từ những năm tháng hành nghề tại Tàn Dương Viện. Người giàu từ bé ăn toàn đồ mềm, răng ít mòn. Người nghèo ăn đồ thô lạt, răng mòn nặng. Những thi thể này, ngoại trừ xác nữ tử trẻ có ngậm viên đường sương hình hoa quế, ai nấy đều thuộc hàng phú quý. Còn nàng răng mòn nát là kẻ từng lớn lên kham khổ.

Ngô Quế Nhi. Nàng mất tích đã nửa tháng. Thân nhân vẫn ngờ nàng bị giấu trong chùa Thiềm Quang giờ được chứng thực. Kẻ ra tay bóp cổ nàng chính là trượng phu Ngô Quan Trừng kẻ từng là tăng nhân hoàn tục. Dưới móng tay để lại dấu vết màu vẽ của họa sư.

Vậy còn xác họa sư kia thì sao?

Giờ đã đến lúc hỏi hắn. Vi Huấn lặng lẽ bước vào sau điện, nơi đặt cái xác trương phình của kẻ tên Quan Trừng. Tắt lư hương, thắp đèn dầu, chàng ngồi xuống.

Xác vẫn nằm trong hố vôi, bốc mùi tanh tưởi. Vi Huấn không tránh né, chỉ nhẹ nhàng nói: “Làm phiền.” Rồi vén tay áo, dùng ngón tay chuyên hành nghề Tàn Đăng Thủ mà mổ phanh thi thể, từng bộ phận nội tạng được lấy ra.

Nếu lúc đầu chàng không sợ Bảo Châu ghét bỏ, không cố tránh việc khám nghiệm, hẳn sự đã không đi đến nước này. Giờ, tất cả đều do mình tự chuốc lấy.

Phổi của xác phình lớn, bên trong như bọt biển là chết đuối không sai. Nhưng khác biệt là: khoang miệng, yết hầu phủ đầy vết loét bởi chất độc là hậu quả từ việc nhiễm độc thuốc vẽ lâu ngày.

Nhớ lại ảo cảnh, Vi Huấn từng bóp cổ “Bảo Châu”, cảm giác ấy không khác mấy nỗi tuyệt vọng hiện giờ. Nay, chàng đã hiểu rõ vì sao Quan Trừng lại điên đến vậy.

Tất cả những gì chàng từng thấy: sáu tay thiên ma, điện Phù Đồ, địa cung hóa ra chỉ là hồi ức hỗn độn từ nhiều năm trước. Còn Quan Trừng, có lẽ cũng chìm trong ảo giác riêng, rồi trong mê loạn gi.ết chế.t thê tử mình Quế Nhi. Đến khi tỉnh lại, không chịu nổi tội lỗi, hắn phát điên.

Nhưng hắn không hề ghét nàng.

Không thể mua nổi quan tài, liệm nàng trong cỗ hào môn của người khác.

Không có hương liệu quý, chỉ rải hoa quế, đặt vào miệng nàng viên đường thứ nàng chưa từng ăn.

Hắn vẽ tranh suốt trong chùa, không phải để dọa người, mà là để tự cứu mình để đuổi đi tâm ma. Nhưng chấp niệm vẫn còn, nên cứu không được.

Rồi hắn tự buộc mình xuống đáy ao trong bức vẽ Địa Ngục Biến, nguyền rủa chính mình không được siêu sinh. Khi xác nổi lên, dây buộc đã mục, nên xác lồ lộ trước mắt thiên hạ, gây nên thảm họa giẫm đạp.

Vi Huấn thò tay vào họng xác, lấy ra một vật, cẩn thận cất đi.

Xác đã chết ba ngày, kẻ đầu độc trong lư hương không thể là hắn.

Trước khi đi, chàng soi mình trong chiếc gương treo ở tường. Trong gương, khuôn mặt phủ một lớp khí xám, hai mắt đỏ lòm. Tuy đầu óc đã tỉnh táo hơn, nhưng độc khí vẫn chưa tan, khiến nét mặt trông dữ tợn.

Đã mở hơn chục cỗ quan, mà vẫn chưa tìm được tung tích Ngô Quan Trừng. Giờ thân thể chàng bốc mùi chẳng khác gì xác chết.

Xem ra, người chết rồi, dẫu sướng hay khổ, cũng không thể thoát khỏi dấu tích từng có trong đời. Cũng như hàm răng kia, mỗi vết mòn, mỗi vết nứt, đều là ghi chép không thể chối cãi.

Kẻ địch của hắn có thể là ba người.

Vừa bước khỏi gian phòng thi thể, chàng đã bị một kẻ to cao chặn lại.

“Ta thấy có ánh đèn, đoán là ngươi.” Người ấy nói, nét mặt dửng dưng. Chính là Quan Xuyên.

Vi Huấn nghĩ thầm: “Xem ra, đây là kẻ đầu tiên.” Trong đầu nhớ lại lời Đàm Lâm từng nói: “Phẫn nộ, cuồng si là ma chướng của kẻ ngu muội.”

Chàng hỏi thẳng: “Ngươi giấu Dương Phương Hiết ở đâu?”

Quan Xuyên nhíu mày: “Sao ai cũng đến chùa đòi người? Nàng chẳng phải đang ở Thượng Khách Đường nghỉ lại sao? Là con gái quan triều đình, ta sẽ cho cha con họ rời đi an toàn.”

Vi Huấn nhếch môi lạnh lùng: “Vậy ngươi chính là thừa nhận, muốn giữ ta lại.”

Quan Xuyên gật đầu: “Không sai. Nhưng ta và sư phụ không cùng quan điểm. Hắn muốn độ hóa ngươi, còn ta chỉ muốn đánh chết ngươi. Loại người như ngươi và Trần Sư Cổ, không thể quay đầu.”

Vi Huấn động tâm, hỏi thử: “Ngươi là hậu nhân Diệp Già?”

Quan Xuyên gật đầu: “Năm xưa, tổ sư ta nghe tin Trần Sư Cổ sa ngã, đã rời Lạc Dương vào Quan Trung khuyên can, kết quả bị giết, tâm pháp Bát Nhã Sám cũng bị cướp. Sau này ta gặp Đàm Lâm, ông khuyên ta bỏ thù hận, vào Phật môn hộ pháp…”

Vi Huấn bỗng bật cười lớn. Quan Xuyên cau mày: “Ngươi cười gì?!”

Chàng cười đến ch** n**c mắt, nói: “Thì ra Đàm Lâm ai cũng dùng một bài nói cũ rích ấy, chỉ xem kẻ nào ngu dại mà câu được. Gã nói về tâm ma, tam độc, vô thường, nói yêu là ngược gió cầm đuốc… nghe thì thâm sâu, hóa ra chỉ là thủ đoạn đầu độc người ta.”

Chàng cúi nhìn tay mình bàn tay từng thiêu cháy vì hương độc lẩm bẩm: “Tay ta bỏng, thì vẫn là tay ta bỏng. Chẳng thể thay đổi rằng đó chính là sự thật”

Quan Xuyên phẫn nộ, cổ họng vang lên tiếng gầm gừ: “Ngươi đã nhập ma, ta sẽ giết ngươi.”

Gân xanh nổi lên, y bước tới, chuẩn bị tung đòn. Vi Huấn nheo mắt, biết hắn đã luyện đến cảnh giới thân thể như thép, không dễ phá giải.

Còn mình, vừa trúng độc, vừa bị thương, chỉ còn lại nửa phần sức.

Chàng khẽ rùng vai, các khớp tay phát ra tiếng răng rắc, lẩm bẩm: “Không đem theo đồ nghề, thôi thì tạm có gì thì đánh đấy mà thôi.”

Suốt quãng đường đi, muốn giữ nàng bình an, thì phải chém qua hết mọi thứ.
Phật đến, giết Phật. Ma tới, trảm Ma.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 116


Đàm Lâm ngồi thiền định trong điện Quy Vô Thường, lặng lẽ suy tính xem kế sách đã chuẩn bị có thể thuận lợi tiến hành hay không.

Hắn vừa thêm một nhúm an tức hương vào lò, thứ hương liệu khiến người buông lỏng và dễ dàng chìm vào mộng tưởng. Ngày thường, hắn dùng nó để bản thân dễ nhập định, chứ ít khi để người khác ngửi qua. Một khi đã hít phải, người ta thường mất đi cảnh giác, dễ rơi vào trạng thái mê muội như trong mây mù. Khi ấy, chỉ cần giảng một hai câu chuyện, ý niệm đã dễ dàng thấm vào đầu óc người nghe.

Hắn kể cho Vi Huấn nghe chuyện Trần Sư Cổ, một phần vì muốn khơi gợi hiếu kỳ để giữ chân y lại trong điện, một phần vì tuổi già ngày một rõ rệt, hắn thật lòng muốn truyền lại bí mật năm xưa cho người kế thừa. Nhưng điều quan trọng hơn cả, là hắn hy vọng có thể khuyên Vi Huấn quy y, thực hiện chí nguyện cao tăng họ Diệp năm nào chưa thể làm trọn.

Ngày đó, bóng dáng Tu La ấy đã in sâu trong cơn ác mộng máu tanh không dứt của Đàm Lâm. Dẫu bốn mươi năm trôi qua, hắn đã vượt xa người binh thường, nhưng nỗi khiếp sợ xưa kia vẫn nhiều lần trở lại mỗi đêm. Nếu có thể thu đồ đệ của Trần Sư Cổ vào môn hạ, có lẽ ông ta sẽ hóa giải được tâm ma đã ăn sâu vào cốt tủy.

Thiếu niên áo xanh kia… liệu có thể hiểu được lòng hắn không?

Đàm Lâm còn đang trầm ngâm thì đột nhiên, một trận địa chấn vang dội nổi lên. Cả tòa điện Quy Vô Thường rung chuyển, tro bụi rào rạt rơi từ xà nhà xuống.

Chuyện gì vậy? Động đất sao? Đàm Lâm lập tức mở to mắt, nhưng rồi ngay sau đó nhận ra đó là tiếng gầm giận dữ của Quan Xuyên. Tiếng gầm ấy vốn mang tên “Lôi Âm Rống”, Về sau được hắn đổi thành “Vô Úy thanh”, một môn công phu sâu xa.

Trong Phật pháp, “vô úy” (không sợ hãi) là tâm thế khi thuyết pháp có thể trấn áp mọi tà thuyết, hàng phục ngoại đạo.
Kinh Phật thường ví Phật như sư tử giữa đại ngàn, lời Phật thốt ra như tiếng rống của sư tử, nên được gọi là “vô úy thanh” (không sợ ). Năm xưa, chính là nhờ điểm ấy mà Đàm Lâm từng thuyết phục Thù Kiên Thành bỏ tà theo chính, quy y cửa Phật, trở thành đệ tử của mình. Dù là con cháu danh gia thế tộc, hay là hiệp khách chốn giang hồ. Thì trong đáy lòng mỗi người, vẫn luôn có một khoảng trống. Và họ đều cần một tín ngưỡng nào đó để tựa vào, để giữ vững mình giữa cõi hư vô.

Còn bản thân hắn Đàm Lâm lại buộc phải dựa vào một cao thủ võ lâm trung thành để bảo hộ, để ngăn cản tâm ma từng bị Trần Sư Cổ tạo ra năm xưa trỗi dậy.

Bỗng nhiên, lại một tiếng gầm vang dội như sấm nổ giữa trời quang, tiếng gào cuồn cuộn như lôi đình muôn quân, đến mức mặt đất cũng rung chuyển, nền điện lớn cũng bắt đầu lay động.

Đàm Lâm chấn động trong lòng, nghi hoặc thầm nghĩ:
“Chẳng lẽ Quan Xuyên đang giao chiến với ai?”

Đến lần thứ ba tiếng gào vọng tới, trong âm thanh phẫn nộ đã xen vào một chút hoảng hốt, như thể một con sư tử chốn hoang dã đang bị mãnh thú đánh úp bất ngờ.

Vu Lan đêm ấy, kinh động ngàn tín đồ cũng chỉ là một tiếng hô là đủ. Thế thì lần này là ai? Kẻ địch nào có thể khiến Quan Xuyên cảm thấy khó đối phó đến vậy?

Chẳng lẽ là… Vi Huấn? Nhưng sau khi hắn hít phải thứ kia, đáng lẽ không thể còn chút sức lực nào để hành động nữa mới phải…

Đàm Lâm rất muốn đứng dậy bước ra ngoài xem rốt cuộc là chuyện gì đang xảy ra, nhưng đôi chân hắn lúc này rã rời đến mức không thể đứng dậy, không có người đỡ, hắn hoàn toàn chỉ có thể ngồi im.

Tiếng gầm rống của sư tử mỗi lúc một dồn dập, con mãnh thú thần bí kia liên tiếp tung ra những đòn tấn công dữ dội với tốc độ khủng khiếp. Sư tử dần trở nên yếu thế, đến cuối cùng, tiếng rống lại xen lẫn cả những âm thanh như gào lên vì đau đớn co rút, rõ ràng là đã bị thương.

Đàm Lâm thấp thỏm lo lắng. Quan Xuyên vốn có thân thể cứng như sắt, dù là đao kiếm trong tay cũng không thể để lại lấy một vết xước trên da hắn. Vậy mà đối phương là ai, lại có thể xuyên thủng được thân xác kiên cố ấy?

Tiếng gào rống dần dần yếu đi, trong đó vang lên nỗi tuyệt vọng không thể tin nổi. Cuối cùng, là một tiếng gào dài, thống thiết, như xé rách cả tâm can — rồi đột ngột im bặt giữa chừng.

Cả điện Quy Vô Thường lặng ngắt như tờ.

Mồ hôi lạnh đã thấm ướt cả áo tăng của Đàm Lâm, hắn càng thêm hoảng loạn vì chính mình đến nửa bước cũng không nhúc nhích nổi…

Một lúc lâu sau, từ trong bóng đêm vô biên vô tận ngoài đại điện, một bóng người lặng lẽ, không một tiếng động lần mò bước vào. Trước mặt hắn có một tấm bình phong che khuất, nên không thể nhìn rõ là ai — chỉ mơ hồ thấy một thân hình như dã thú, bốn chi áp đất, lặng lẽ bò tới vài bước, đến gần bình phong rồi mới từ từ đứng thẳng người dậy.

“Tuy ngươi chỉ là một lão tăng chẳng biết võ công, sống gần đất xa trời, nhưng lại là kẻ âm hiểm, khó đối phó nhất trong tất cả những địch thủ ta từng gặp.” Bóng người cất giọng khàn khàn, nghèn nghẹn nói.

“Tuy ông là một lão già không biết võ công, nhưng lại là địch thủ âm hiểm khó phòng nhất ta từng gặp.”

Đàm Lâm nghe ra đó là giọng của Vi Huấn, liền khẽ thở phào một hơi, vừa định mở miệng trích một đoạn kinh Phật sâu xa nào đó để kéo chú ý của hắn, thì đối phương đã ném tới một vật nặng nề.

Thứ ấy bay qua tấm bình phong, lăn lộc cộc trên nền, đến khi lăn vào vùng ánh sáng của chân đèn, mới lộ rõ ra đó là một cái đầu người đẫm máu. Hai mắt Quan Xuyên trợn trừng sắp bật ra khỏi hốc mắt, cổ họng bị xé toạc, để lộ cả khí quản và mạch máu. Vết cắt nơi cổ nham nhở, không giống như bị chém bằng dao sắc, mà giống như bị móng vuốt mãnh thú xé toạc.

Đàm Lâm kinh hãi tột độ, muốn bỏ chạy, nhưng hoàn toàn không đủ sức đứng dậy. Cả người hắn chỉ khẽ nghiêng một chút đã từ trên tòa sen ngã lăn xuống đất. Hắn chỉ còn biết hy vọng trong chùa có ai nghe thấy tiếng gầm của Quan Xuyên mà tới xem xét. Nhưng lại hiểu rõ rằng: Điện Quy Vô Thường nằm tách biệt bên ngoài chùa, âm thanh chưa chắc có thể truyền ra xa đến thế. Huống hồ, hắn càng hiểu lòng người — sau vụ án mạng thảm khốc đêm Vu Lan, cho dù có tăng nhân nào nghe được tiếng lạ, e là cũng không dám mở cửa bước ra xác nhận.

Vi Huấn lạnh lùng cất tiếng: “Không mang theo dao, tay không xé xác có hơi bất tiện, làm rối tung cả lên,”

Hắn lục lọi trong chiếc túi da mang theo bên người, rồi lần lượt ném ra hai vật, là hai cánh tay bị lóc trơ cả cơ và gân.

“Mười ngón tay Quan Xuyên đều dính vết thuốc màu, Hắn chẳng phải họa sư, vốn không nên động tới mấy thứ ấy. Loại thuốc màu thông thường còn tẩy được, nhưng xem ra đây là thuốc màu gốc dầu, cực khó rửa sạch nhất thời cũng không thể gột trôi hết được đâu. Ngươi thân thể tàn tật, liền sai hắn thay ngươi ra tay hạ độc. Gọi hắn là sư tử, chẳng bằng nói là một con chó trung thành biết nghe lời.”

Vi Huấn dừng lại một chút, rồi tiếp:

“Nhưng đây chẳng qua là màn thứ hai trong kế hoạch đầu độc của ông.”

“Ông bảo Ngô Quan Trừng dùng thuốc màu khó rửa để diễn ảo thuật vẽ thủy họa, phun màu. Thủy họa thì không sao, nhưng phun tranh lại cần ngậm thuốc màu mà phụt lên tường. Lâu dần, thuốc độc ăn mòn miệng hắn, khiến hắn phát điên. Hắn vốn không hại người, nhưng đến khi trúng độc, ảo giác liên tục xuất hiện, hắn ngộ sát vợ mình rồi tự tử. Dù ông không tự tay giết, thì cái chết của họ đều do ông mà ra.”

“Ông không chỉ muốn hắn chết, mà còn muốn hắn thân bại danh liệt.”

Thế nhưng, xem ra Quan Trừng vốn không có ý hại ai. Cho đến khi độc phát ngày một sâu, ảo giác ngày càng nhiều, hắn lỡ tay gi.ết ch.ết Ngô Quế Nhi, rồi tự dìm mình xuống hồ phóng sinh, trong cơn mê sảng còn vẽ nên bức 《Địa Ngục Biến, cuối cùng gây ra trận giẫm đạp kinh hoàng giữa đám người.

“Tuy không phải ông trực tiếp ra tay, nhưng tất cả những cái chết này, rốt cuộc cũng phải tính trên đầu .”

Vi Huấn vừa nói, vừa lấy ra vật thứ ba từ chiếc túi da — một chiếc lưỡi người đã thối rữa, dính đầy đủ loại thuốc màu loang lổ. Ngay sau đó, hắn bước ra khỏi bóng tối sau tấm bình phong, tiến vào vùng ánh sáng mờ mờ của cây đèn. Nhìn rõ dung mạo hắn, Đàm Lâm toàn thân cứng đờ, hồn bay phách lạc. Người đứng trước mặt hắn thân thể đầy thương tích, mắt, tai, mũi, miệng đều đang rỉ máu, đôi mắt đỏ tươi như phát điên, ánh lên một thứ ánh sáng tà dị, cuồng loạn, giống hệt Trần Sư Cổ năm xưa nhập ma.

“Vì sao lại hạ độc mưu hại chính đệ tử của mình? Vì sao lại ra tay với kẻ mà mình từng dang tay cưu mang? Ta nghĩ, một phần là vì Ngô Quan Trừng kiên quyết đòi hoàn tục, rời khỏi tầm kiểm soát của ông, khiến ông cảm thấy bản thân đang dần đánh mất quyền khống chế. Phần khác, là vì lòng ghen ghét.

Cũng giống như họa thánh Ngô Đạo Tử năm xưa, vì đố kỵ mà sinh lòng sát hại, đã mưu sát thiếu niên thiên tài Hoàng Phủ Chẩn. Ông cũng vậy ganh ghét tài năng của Quan Trừng, ganh ghét tuổi trẻ của hắn, nhất là khi chính ông ngày một già đi, mà hắn lại đang rực rỡ bừng lên một luồng sinh khí mới. Ta chỉ cần nhìn qua bức 《Cửu Tương Đồ》 của hắn, rồi nhìn lại tranh của ông, thì dù ta là kẻ ngoài nghề, cũng có thể nhận ra ai cao ai thấp.”

“Vị đại nhân vật ở Lạc Dương kia, thật ra vốn không hề ủy thác cho ông. Hắn trực tiếp tìm đến Ngô Quan Trừng để nhờ vẽ bức ‘Cửu Tương Đồ’ trừ tà, đúng chứ?”

Kẻ Tu La đẫm máu ấy, tuy thân thể máu me be bét, trông chẳng khác nào Trần Sư Cổ năm xưa, nhưng giọng nói lại rõ ràng, mạch lạc, từng lời sắc bén như dao, mỗi câu nói ra đều đánh thẳng vào chỗ yếu, từng bước ép sát.

Thấy sắc mặt Đàm Lâm dần xám như tro, Vi Huấn biết mình đoán trúng, khóe miệng hắn nhếch lên thành một nụ cười quái dị, kéo rách cả vết thương đang rỉ máu, nửa cười nửa rỉ máu mà nói:

“Thật đáng thương. Ông bỏ ra bao năm sống giữa những xác chết thối rữa, ngửi đủ loại mùi tanh tưởi độc hại, gắng dựng lên hình tượng một đại đức cao tăng, một thánh thủ luyện đan, một cao nhân ẩn thế. Cuối cùng đến già, lại bị chính đệ tử trẻ tuổi của mình lấn lướt nổi bật, Vậy thì trong lòng hẳn là tuyệt vọng biết bao.

Ông từng giảng với ta rằng: Tam độc Tham – Sân – Si, trong đó Tham là lòng ha.m mu.ốn danh, lợi, tài, mọi thứ thuộc về thế tục. Ông thì sao? Ông càu danh trục lợi, vơ vét không ngừng, từ đó mới sinh ra sát ý. Có thể nói ông chính là kẻ Tham nhất trong lòng Tham. Thế nhưng, điều đáng sợ nhất… là ông khéo ăn nói, giỏi mê hoặc lòng người, biết tô vẽ cho mọi hành vi của mình một lớp vỏ vàng son đẹp đẽ.

“Muốn vạch trần những lời dối trá của ông, thực sự vô cùng khó. Ngay cả Trần Sư Cổ, Thù Kiên Thành những cao thủ ấy, cũng từng sập bẫy của ông. Năm xưa Trần Sư Cổ tha cho ông một mạng, là sai lầm một sai lầm quá lớn.”

“Ông rất giỏi bịa chuyện Chỉ cần vài câu ba tấc lưỡi là biến thành những giai thoại cảm động lòng người. Như cái gọi là chuyện ‘Thiền sư độ hóa Tu La’, nghe thì tưởng có huyền cơ thiền ý, kỳ thực chi tiết hoàn toàn không khớp sự thật. Ta tuy là đệ tử của Trần Sư Cổ, nhưng chưa từng học qua “Bát Nhã Sám” mà các ông truyền tụng, cũng không phải người thừa kế chân truyền tâm pháp. Người được chọn là một tiểu tử khác kia kìa. Những thứ ông thường dùng để xem tướng, đoán mệnh, phán số, cái vẻ ‘huyền huyền ảo ảo’ kia…toàn bộ chỉ dựa vào chút bản lĩnh suy đoán mà dựng nên trò bịp bợm, đúng không?”

Vi Huấn cười một tiếng chua chát:

“Lúc ấy, lẽ ra ta nên tin nàng, chứ không phải ngồi nghe một lão hòa thượng như ngươi tụng kinh gõ mõ. Nếu ta chịu nghe lời nàng, thì đã không rơi vào kết cục thế này…Rõ ràng nàng đã đoán được hết động cơ hại người trong chuyện này, chỉ tiếc là ta không chịu để tâm.”

Trong đầu hắn như có tiếng sấm nổ liên hồi. Vị Đàm Lâm từng nổi danh là miệng lưỡi lanh lợi, giỏi nói giỏi lý, giờ đây lại hoàn toàn trầm mặc. Vi Huấn trong lòng sinh nghi, liền hỏi:

“Sao ông không nói gì? Lặng im thế này lại càng đáng ngờ đấy.”

Hắn mắt đã mờ, lảo đảo tiến sát gần thêm vài bước, tới khi còn cách chừng năm bước,
mới nhìn rõ môi lão tăng vẫn đang mấp máy liên tục.

Vi Huấn sững người một lúc, rồi đưa tay sờ lên tai mình. Ngón tay dính cả máu khô lẫn máu tươi mới chảy ra.

“À…Thì ra ta bị Quan Xuyên gầm đến thủng màng nhĩ, điếc tai rồi…Cũng tốt thôi, như vậy sẽ không phải nghe ông nói mấy lời dối trá vớ vẩn nữa.””

Khuyên dụ, biện giải, đe dọa, đùn đẩy, van xin tha mạng chỉ trong nửa nén nhang, Đàm Lâm đã dùng hết mọi cách để cầu sống, nhưng Vi Huấn vẫn không mảy may lay động. Khi thấy hắn xách theo chiếc lưỡi người ghê rợn kia chầm chậm bước đến gần, trong đầu Đàm Lâm chợt hiện lên ký ức 40 năm về trước ở bờ Linh Thủy — đầu người rơi lả tả, máu phun như thác lũ, Trần Sư Cổ cầm huyết kiếm bước về phía mình…

Tên Tu La trẻ tuổi này khẽ niệm:

“Nhật mộ yên ba, giang chử ám…Thật khó cho ông, mấy chục năm qua vẫn luôn ghi nhớ bài thơ ấy. Trần Sư Cổ đã chết, thì để ta thay ông ấy dùng Nhật Mộ Yên Ba Chưởng, tiễn ông một đoạn đường.”

Vi Huấn bước sát lại gần, giơ tay lên, đột nhiên cười:

“Thiên hạ đồn rằng, chân Phật, chân Bồ Tát, trên thân đều mang theo mùi hương kỳ lạ… Còn ngươi,
chỉ là một tên giả Phật, trên người chẳng có gì ngoài mùi hôi hám của một lão già sắp chết.”

Chưởng phong vung xuống rất khẽ, nhẹ như thiên nữ rải hoa, rơi đúng vào lồng ngực gầy xương lởm chởm của lão tăng.

Kẻ địch thứ hai đã bị tiêu diệt.

Trong đầu Vi Huấn mịt mờ hỗn loạn, vẫn còn vang vọng một mệnh lệnh cuối cùng: Phải đốt bức bích họa. Hắn đạp đổ đèn tràng, dầu lửa văng lên tấm bình phong, ngọn lửa lặng lẽ bò dần lên khung gỗ.

Xách theo thi thể của Đàm Lâm, Vi Huấn loạng choạng lê bước về phía gian phòng sau điện. Sau lần liều mạng chịu đựng tiếng sư rống của Quan Xuyên, hắn không chỉ thất khiếu chảy máu, mà còn mất cả khả năng giữ thăng bằng,
lúc bước đi thường phải chống cả tay chân xuống đất như dã thú.

Vi Huấn ném thi thể Đàm Lâm xuống hố vôi, rồi lấy chiếc lưỡi dùng làm chứng cứ đặt lại vào cổ họng của Quan Trừng. Nghĩ ngợi một lúc, hắn lại bẻ hàm Đàm Lâm ra, rút luôn chiếc lưỡi đỏ tươi kia ra khỏi cái miệng ba tấc đầy xảo trá. Thân thể người này gầy khô, héo úa như củi mục, chỉ riêng chiếc lưỡi là vẫn còn đỏ au, đầy máu tươi, tựa như vẫn sống.

Hắn cúi xuống, nhẹ giọng nói với Quan Trừng: “Ngươi có thể thay sư phụ báo oán, trả thù. Ta đã rút lưỡi của hắn, từ nay hắn sẽ không thể lừa gạt bất kỳ ai nữa.”

Trước khi rời đi, Vi Huấn lướt qua tấm “An Hồn Kính” treo trên tường, lờ mờ thấy phản chiếu bên trong một vật gì đó tà dị và khủng khiếp. Tấm mặt nạ của “kẻ đuổi tà trấn quỷ” giờ đây đã bị xé toang hoàn toàn, bộ mặt thật của hắn lộ ra Tu La đội lốt người, tàn độc, hắc ám, như thứ sinh ra từ bùn lầy đáy sông.

Ngọn lửa trong điện Quy Vô Thường bắt đầu bùng lên, lan rộng. Vi Huấn ném những mảnh thi thể còn sót lại của Quan Xuyên vào lửa, lúc xoay người, hắn thoáng thấy một pho tượng đất sét dùng để “cung dưỡng” đặt ở góc tường.

Sau khi tấm bình phong đổ sập, bức tượng mộc ấy nghiêng về phía bức họa người chết, như thể từ đầu tới cuối vẫn chăm chăm nhìn mỹ nhân trên vách bích họa kia.

Vi Huấn xách pho tượng lên, rồi dẫm nát nốt đầu của gã hòa thượng cuối cùng trong đại điện. Dưới phần đế tượng, lộ ra mấy dòng chữ nhỏ:

“Nhật nguyệt thường tương vọng,
Uyển chuyển không rời tâm,
Thấy quân hành ngồi chỗ,
Dường như lửa đốt thân.”

Chỉ trong chốc lát, những dòng chữ không ai để ý kia đã bị ngọn lửa thật sự nuốt trọn.

Rời khỏi đại điện Quy Vô Thường chìm trong biển lửa, Vi Huấn chạy băng qua viện chính của chùa Thiềm Quang, giữa bóng đêm nhảy thoăn thoắt trên mái hiên, hành lang, tìm kiếm từng gian thiền phòng.

Mắt hắn giờ đã mờ, phủ đầy tơ máu, tai đã điếc, chẳng nghe được gì, miệng tanh mùi máu tươi, ngũ giác suy kiệt, chỉ còn lại khứu giác là chưa hoàn toàn mất đi.

Thỉnh thoảng, hắn dừng lại, áp mặt sát mái ngói, ngửi ngửi thứ hương vị đặc biệt đang trôi trong gió đêm, cố lần theo đó như dã thú đánh hơi vết máu con mồi.

Đêm Vu Lan Bồn, cửa địa ngục rộng mở, vong hồn lẩn khuất khắp nhân gian, kẻ sa vào ác mộng mê man, người thao thức suốt đêm chẳng ngủ. Không ai dám bước ra khỏi cửa, chỉ có những bức bích họa quỷ lệ khắp vách tường lặng lẽ lay động trong bóng tối, tựa thần, tựa ma, tranh thủ khoảnh khắc u huyền mà hiện hình.

Một bóng quỷ vật thân đầy vết thương tím bầm, lặng lẽ lướt qua lòng tháp cổ, đi tìm ánh trăng đã thất lạc.

Nàng ở đâu? Bị giấu nơi nao giữa cõi mê sương mờ mịt?

Kẻ thù…Còn một kẻ cuối cùng.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 117


Từng phiến mái ngói bị nhấc tung lên, một mảng rồi lại một mảng mất hút vào bóng tối, lộ ra khoảng trống vừa đủ cho thân ảnh luồn qua. Một quỷ vật đầu xanh, phủ đầy vệt máu bầm, len lén trườn mình vào khe hở. Hắn không ngừng đánh hơi, ngửi lấy từng mùi vị lẫn trong không khí phòng thiền. Chỉ chờ bắt được tia hương thơm đã truy tìm bấy lâu, thân thể liền chấn động, kinh hỉ đến phát run, lập tức mở rộng cửa ngói, lặng lẽ luồn hẳn vào trong phòng, bốn chi men theo xà nhà bò xuống, không phát ra lấy nửa tiếng động.

Nàng sao lại ở đây?

Đây vốn là khu phòng dành cho thượng khách, nằm ở một góc hẻo lánh, không được trang H**ng X* hoa như những gian thiền phòng khác, song cửa nẻo lại kín bưng, cửa sổ thông vào khung tường, khó lòng ra vào như thể được bố trí để canh phòng cẩn mật. Trong phòng không thấy bóng ai canh giữ, thanh quỷ bèn thả lỏng cảnh giác, lần theo mùi hương kia, lặng lẽ lần từng bước một, cho đến khi tìm thấy bóng dáng dưới ánh trăng nơi sát khung cửa sổ.

Từ xa, khó lòng trông rõ mặt nàng, chỉ thấy trong màn đêm như có một vầng sáng trắng mờ mờ, khiến hắn không dám tin vào mắt mình. Bò sát lại gần, hắn tỉ mỉ đánh hơi khắp lượt, một lần nữa xác nhận. Không sai. Là Bảo Châu.

Nàng không nằm nghỉ trên giường, mà cùng nghiêng người trên một chiếc trường kỷ hẹp dài. Gò má tựa vào lòng bàn tay phải, dáng nằm thảnh thơi, ngủ rất đỗi yên lành, trầm tĩnh tựa như Quan Âm tọa liên, an nhiên giữa liên đài thanh tịnh. Bên gối lót một mảnh chiếu tinh xảo mà đơn sơ.

Cớ sao nàng lại có thể an nhiên ngủ say nơi đây? Không bị giam cầm, không chút đề phòng?

Thanh quỷ lấy làm khó hiểu, men theo trường kỷ mà bò vòng quanh, ngấm ngầm tìm kiếm dấu vết quỷ dị. Bỗng ở chiếc bàn thấp bên cạnh, phát hiện một tượng đắp Vi Đà Thiên chưa đầy một thước cao.

A… thì ra là thế.

Nàng từng quỳ dưới tượng Vi Đà Kim Cương mà thầm cầu hộ, hắn cũng trộm miệng khẩn cầu vị đồng họ ấy thay mặt bảo hộ nàng. Vi Đà bất luận ở đâu, lúc nào, vẫn luôn là hộ pháp trung thành của Quan Âm, dù người kia mới chỉ là một thiếu nữ chưa đắc đạo, vẫn được thần linh ấy âm thầm gìn giữ. Có lẽ chính bởi có thần hộ pháp thực sự đang âm thầm trấn giữ, nên nàng mới có thể an ổn vượt qua đêm Vu Lan — đêm trăm tà vạn quỷ dấy loạn, giữa trùng trùng hiểm họa bủa vây mà vẫn bình yên vô sự.

Thanh quỷ nheo đôi mắt đỏ tươi, lặng lẽ nhìn về phía pho tượng Vi Đà nhỏ bé kia. Giữa màn máu mờ mịt trong tầm mắt,
hắn dường như trông thấy bóng dáng Thiên Uy Vi Đà đột ngột trở nên cao lớn dị thường, thân ảnh hiển hiện uy vũ, thần sắc điềm nhiên, nhưng trên mặt đã hiện rõ dáng vẻ trừng mắt, tay cầm chày báu lấp lánh kim quang, tựa hồ đang chuẩn bị nện thẳng xuống đầu hắn một đòn không thể tránh.

Chẳng lẽ… ảo giác vẫn chưa tan?

A, phải rồi… Vẫn còn sót lại một kẻ địch cuối cùng chưa diệt. Sau một thoáng trầm tư, Thanh quỷ bỗng bừng tỉnh đại ngộ: Tại sao Vi Đà lại sinh ra phản ứng phòng ngự dữ dội đến vậy?

Lúc này, ngay khoảnh khắc này, đang có một Tu La khát máu, kẻ sát nhân không thể khống chế, lặng lẽ tiến gần Quan Âm, ý đồ khuấy động giấc ngủ bình yên của nàng.

Tam độc: Tham – Sân – Si. Sân ma — đã bị hắn xé nát. Tham ma — đã rút lưỡi, đuổi hồn về Tây Thiên. Còn lại, chỉ còn Si ma… Si ma đang trú trong chính thân xác hắn.

Si chính là mê muội vì tình, bởi luyến ái mà đắm chìm không thể tự thoát, khiến ý nghĩ rối loạn, từ đó sinh ra những hành vi sai lạc trái đạo, trái lòng.

Tối nay, trận ác mộng vặn vẹo biến hình, quỷ dị như ma chướng, tuy khởi phát bởi trúng độc, song mọi chi tiết bên trong những ẩn dụ, dấu hiệu, cảnh tượng lạ lùng đều bắt nguồn từ d.ục vọ.ng sâu kín trong chính hắn. Tâm vừa động, ý niệm đê tiện cũng theo đó sinh ra, ý nghĩ loạn cuồng không thể nói ra, thậm chí dẫn tới hành vi bất chính. Hắn đã có sát ý, muốn khinh nhục nàng, tổn thương nàng. Dẫu là trong mộng, hắn đích thực đã ra tay.

Giết Quan Xuyên, diệt Đàm Lâm xong, người nguy hiểm nhất trong đại chùa Thiềm Quang này đối với nàng chính là hắn.

Hiện tại, đã tới thời khắc chém trừ ba độc, đoạn diệt tâm ma, chứng tâm ngộ đạo.

Thanh quỷ lặng lẽ lấy ruột cá từ gối nàng, lùi về sau mấy bước, hai đầu gối chạm đất, chậm rãi quỳ xuống.

Một luồng đau đớn sắc bén từ đầu gối truyền tới, mình đầy thương tích, nhưng so với tất cả, đau đớn nơi tâm can này vẫn khiến hắn không thể không run rẩy.

Đàm Lâm tuy giảo hoạt, xảo ngôn như vàng ngọc, chuyện xưa kể về Trần Sư Cổ chưa chắc toàn là sự thật. Nhưng chỉ có một điều hắn không hề nói sai: Trần Sư Cổ cùng hắn cả thầy lẫn trò đều không thích hành lễ quỳ.

“Đầu gối Kỳ lân” trong giới võ học, là một trong bảy loại cốt tướng hiếm có mà những kẻ có tư chất kỳ tài mới sở hữu. Hai bên đầu gối, bên dưới, mỗi bên đều có một mảnh xương nhô lên sắc bén. Người có cốt tướng này, trời sinh linh hoạt, thân pháp nhẹ như chim hồng sà xuống nước, tựa rồng uốn lượn giữa trời. Chỉ cần thêm đôi chút luyện rèn, ắt có thể đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của khinh công.

Trần Sư Cổ năm xưa mua hắn từ trong đám dân đói, chính vì nhận ra hắn cũng mang cốt tướng giống mình, rất hợp để rèn luyện võ nghệ. Cốt tướng tuy tuyệt hảo, duy chỉ có một khiếm khuyết là không thể ngồi quỳ lâu. Một khi quỳ xuống, đầu gối sẽ đau như gãy xương, giống như chịu cực hình. Hắn và Trần Sư Cổ không phải vì ngạo mạn mà khinh thường lễ nghi quyền quý, mà là thân thể đã định sẵn, không thể nào quỳ được.

Hắn vẫn nhớ, thuở thiếu niên mới học chữ đọc sách, mấy lần vì ngang ngạnh không chịu sửa lời mà bị sư phụ đánh đến thâm tím. Trần Sư Cổ liền bắt hắn quỳ dưới hành lang, nói rằng: “Nếu có thể kiên trì đến rạng đông, ta sẽ dạy ngươi đọc sách.”

Trong lúc bị phạt, hắn từng nghe Trần Sư Cổ cắn răng đau đớn mắng: “Đầu gối Kỳ lân, ngoài miệng thì nói là tướng cốt thiên mệnh, chỉ khi gặp được chân long thiên tử mới có thể quỳ xuống đều là lời ba hoa xằng bậy cả! Ta đã từng diện kiến chân long thiên tử, quỳ xuống y theo lễ, đau đến muốn chết. Cái gọi là đầu gối kỳ lân, vốn chẳng phải phúc tướng gì, chỉ là nghịch cốt không được hậu thế dung tha mà thôi! Học đạo đọc sách, chính là phải rèn cho thân yên ổn giữa khổ ải phản cốt, dám bước vào con đường máu chảy bụi gai, mặc cho đạo tặc tra tấn, làm nhục. Ngươi muốn học, thì cứ thử xem: dựa vào hai cái chân này, liệu có thể chịu đựng đến cuối đường hay không?”

Cuối cùng, hắn chưa chịu nổi một canh giờ đã đau đến ngất xỉu, ngã vật xuống đất. Từ đó về sau, không còn dám mở miệng xin học chữ với sư phụ nữa.

Khi ấy còn nhỏ chưa hiểu, nay nhớ lại mới hay: Cái gọi là “học đọc sách” theo lời Trần Sư Cổ, không phải chỉ là học chữ nghĩa, mà là con đường dấn thân vào khoa cử, bước chân vào triều đình. Nếu Đàm Lâm có một lời thật, thì có lẽ năm xưa Trần Sư Cổ tuổi trẻ cũng từng muốn ma luyện thân tâm, đổi lấy đường tiến thân trong thế giới xa lạ ấy, chỉ là… cuối cùng lại không muốn rời đi.

Mà lúc này, hắn cũng đã có trong lòng một người như thế một người khiến hắn tình nguyện cam chịu xé thân phản cốt.

Bước vào thế giới Sa bà như mình đang bước giữa rừng gai bụi rậm, tâm vừa động, thân liền loạng choạng, mà hễ loạng choạng, ắt bị thương, thân đau, xương rạn. Cũng bởi vậy, mới thấu hiểu trăm ngàn khổ ải của cõi trần.

Vi Huấn gắng gượng nén cơn đau dưới đầu gối, ngồi quỳ lặng lẽ trước mặt Bảo Châu, dùng khổ hạnh này để răn lòng, dằn xuống ý niệm thất lễ nàng.

Hắn chậm rãi rút ra con dao nhỏ giấu nơi ruột cá, đặt mũi dao sáng loáng bên cạnh, lấy ánh bình minh làm mốc giới nếu trước khi trời sáng không thể tận diệt ma tâm, không thể chứng thật thân tâm, thì sẽ dùng chính thanh dao này để chém xuống Tu La trong lòng mình.

Từ trước đến nay, chưa từng có pháp môn huyền diệu nào có thể độ hóa thân Tu La thành hộ pháp thiện thần, trừ phi chính bản thân nó tự nguyện, tự ngộ, tự sám hối.

Tảng sáng, ánh nắng ban mai xuyên qua khung cửa sổ, chim chóc ríu rít hót ca, Bảo Châu trong giấc say dần dần tỉnh giấc. Nàng cảm thấy từ sau khi rời cung tới nay, chưa từng được ngủ một giấc yên lành đến vậy, thậm chí trong mộng cũng không thấy điều gì. Dưới ánh sớm nhẹ nhàng ấy, bóng tượng Vi Đà Bồ Tát in ngược trong phòng, dáng vẻ như một võ sĩ mặc giáp thực thụ, khiến lòng người bất giác thấy yên ổn lạ lùng.

Bảo Châu ngáp một cái, lim dim cuộn mình thêm một lát trên trường kỷ. Đêm qua đường xa mệt mỏi, nàng vốn chỉ định nghỉ một chút rồi lại thức dậy điều tra vụ án, nào ngờ vừa nằm xuống đã thiếp đi tới tận bình minh. Phòng này dường như có một lớp kết giới vô hình, ngay cả tiếng chuông tụng sáng của các tăng nhân nàng cũng không hề hay biết.

Ngủ nướng thật lâu trong cơn lười nhác mơ màng, đến khi tỉnh hẳn, Bảo Châu phát hiện trên người mình được đắp một tấm chăn mỏng, trong lòng chợt thấy lạ. Trời không đến nỗi lạnh, người thì quá mệt, nàng chẳng nhớ nổi mình ngủ trong tình trạng thế nào. Mở mắt ra, nàng đảo mắt nhìn quanh, bài trí trong phòng không chút thay đổi. Chỉ là trước trường kỷ còn đọng lại một vũng nước trong, vệt nước kéo dài về phía cửa, tựa như có ai đó ướt sũng toàn thân đứng lặng nơi ấy, dõi mắt nhìn nàng hồi lâu, đắp chăn cho nàng xong rồi lặng lẽ rời đi…

Nhớ lại chuyện xác chết trôi trong hồ phóng sinh đêm qua, Bảo Châu thoắt cái bị dọa đến hồn phiêu phách tán rồi tỉnh táo lại trong chớp mắt. Bởi nàng còn nhớ rõ ràng rành mạch, trước khi đi ngủ đã vì an toàn mà cài chặt hết thảy then cửa lẫn song cửa sổ.

Vệt nước kéo dài chừng nửa trượng, xem ra người kia đã rời đi được một lúc. Bảo Châu vội vã từ trên sập bò dậy, xỏ giày chỉnh tề, quay đầu hướng về Vi Đà Thiên tượng khẽ khấn một tiếng cảm tạ, rồi lập tức men theo dấu nước đuổi ra cửa, trong lòng không khỏi nghi hoặc vệt nước ngoằn ngoèo xiêu vẹo, tựa như dấu chân của kẻ say rượu, bước đi lảo đảo.

Quả nhiên then cửa đã bị mở. Bảo Châu dè dặt hé một cánh cửa, ngó đầu nhìn ra ngoài hành lang.

Chỉ thấy dưới mái hiên nơi hành lang, một thiếu niên ướt sũng đang ngồi xếp bằng, chân trần, tóc dài nhỏ giọt, chưa kịp vấn lên, rối tung rối mù xõa trên vai. Cả thân mình như vừa ngâm mình lâu trong suối nóng, y phục tuy sạch, lại dính đầy máu tươi.

Bảo Châu kinh hãi mở toang cửa, nhìn thấy Vi Huấn cả người bê bết nước, vết thương chồng chất khắp nơi. Da môi, sống mũi đều nứt toác, hai bàn tay kín đầy vết trầy xước, không chỗ nào lành lặn. Quần áo tuy đã được giặt sạch, nhưng thương tích dưới lớp vải vẫn rỉ máu thấm ra ngoài, đặc biệt là hai đầu gối, vết máu bầm đen đã loang thẫm cả xiêm y…

Hắn cứ thế, cả thân mình thê thảm, ngồi canh giữ ngoài cửa suốt đêm, tựa đầu vào một cột trụ hoa sen mà ngủ vùi.

Chuyện gì đã xảy ra vậy? Chẳng lẽ trong đêm có kẻ địch nhân cơ hội đánh úp? Cớ sao nàng lại chẳng hay biết gì?

Bảo Châu lặng lẽ bước đến gần, ngửi được trên người hắn thoang thoảng hương bạc hà hòa cùng vị quất vỏ tươi mát, xem ra thân thể đã thực sự được tẩy rửa hoàn toàn. Thấy dáng ngủ của hắn phờ phạc rã rời, nàng không khỏi động lòng thương xót, nhẹ đưa hai tay ôm lấy mặt hắn.

Vi Huấn bị sự va chạm bất ngờ đánh thức, toàn thân khẽ chấn động, bừng tỉnh dậy. Ánh mắt ban đầu mờ mịt, tản mác vô định, cho đến khi tầm nhìn cuối cùng dừng lại trên gương mặt Bảo Châu, ánh mắt hắn mới dần dần ngưng tụ lại chút thần sắc, thấp giọng gọi thử:

“Bảo Châu?”

“Là ta đây, ngươi làm sao rồi?”

Bảo Châu thấy trong đôi mắt trong suốt sáng ngời kia lại vương tơ máu đỏ, không rõ hắn đã chịu phải thương tích ra sao, lòng lại càng lo lắng bất an.

Đêm qua hắn vừa điều tức vừa vận khí chữa thương, đến giờ thị lực và thính giác cũng đã phần nào hồi phục. Vi Huấn không dám tin vào mắt mình, ngơ ngác nhìn nàng thật lâu, ánh dương buổi sớm soi lên gương mặt nàng, mỗi sợi tóc bên thái dương đều như phủ một lớp hào quang, ánh mắt nàng chan chứa quan hoài, hắn mới dám xác nhận, đây là Bảo Châu thật sự, chứ không phải ảo ảnh nào đó trong cơn mê.

Một cơn mỏi mệt dữ dội lẫn cảm giác trống rỗng đột ngột ập đến, trong đó lại xen lẫn chút tủi thân khó gọi thành tên. Suốt đêm qua, hắn không biết đã gọi bao nhiêu lần cái tên “Bảo Châu”, mãi đến giờ mới thực sự nhận được một tiếng hồi đáp từ chính nàng.

Ý chí kiên cường, trải trăm lần gãy mà không đổ, đến lúc này cũng như đã cạn kiệt hoàn toàn, trái tim động lay, chẳng thể gượng ép nữa. Vi Huấn nhịn không nổi, khẽ nghiêng mặt tựa vào lòng bàn tay mềm mịn mát rượi của nàng, nhẹ nhàng cọ sát như một đứa bé tìm hơi ấm.

Bảo Châu bỗng thấy như có một luồng lực vô hình vô ảnh đập mạnh vào tim, thân thể khẽ run lên, rung động đến tận xương tủy, trong lòng trỗi dậy một xúc cảm mãnh liệt rằng nàng chỉ muốn ôm hắn thật chặt vào lòng.

Người vốn ngày thường kiêu ngạo khó thuần, giờ phút này mang theo thương tích, mái tóc rối tung ướt đẫm, thật sự khiến người vừa thấy thương xót, vừa thấy đáng yêu đến nao lòng.

Dẫu đã được dạy dỗ nghiêm cẩn từ thuở nhỏ, tâm ý vẫn cố gắng khắc chế cơn xúc động kỳ quặc này, nhưng trong lòng Bảo Châu không khỏi luyến tiếc thầm nghĩ nếu hắn thật là một chú mèo rừng xù lông, nàng nhất định phải ôm vào lòng, xoa vuốt, nựng nịu thật lâu.

Tâm lay động, ngơ ngẩn trong chốc lát, phải cố lắm nàng mới bình tâm trở lại, vội vàng hỏi:

“Rốt cuộc ngươi đã bị thương thế nào? Có phải có kẻ địch đánh úp trong đêm?”

Vi Huấn khẽ thở dài, trận chiến đêm qua vừa hao tổn thể xác vừa rã rời tinh thần, hắn cũng chẳng biết nên bắt đầu kể từ đâu. Nhưng điều trước tiên, là phải làm rõ một nghi hoặc lớn nhất trong lòng Vi Huấn ngước nhìn Bảo Châu, ánh mắt chăm chú, giọng nói dè dặt:

“Trước hết… có thể cho ta hỏi một chuyện không?”

Bảo Châu hơi nghiêng đầu:

“Chuyện gì vậy?”

Hắn nhìn thẳng vào nàng, chậm rãi hỏi:

“Tại sao… nàng lại ngủ trong phòng của Thập Tam Lang?”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 118


Vi Huấn nhẹ giọng hỏi:

“Đêm qua ta tìm khắp nơi cũng chẳng thấy bóng dáng nàng, vì sao lại ngủ trong phòng của Thập Tam Lang?”

Bảo Châu nghe hỏi liền cảm thấy lạ lùng:

“Chuyện ấy chẳng phải là đương nhiên sao? Cũng là tại ngươi cả đấy!”

Vi Huấn ngạc nhiên:

“Tại ta?”

Bảo Châu thấy hắn chẳng hiểu gì, trong lòng vừa thẹn vừa bực, khẽ trách:

“Cũng bởi… cây hòe ấy!”

Chỉ vì cây hòe.

Cây hòe…

A…

Lời giải cho điều nghi hoặc lớn nhất cuối cùng cũng hiện ra. Vi Huấn bỗng như trút được gánh nặng trong lòng, thân thể cũng buông lơi, khẽ dựa vào cột hành lang sau lưng, đôi vai thả xuống.

Phải rồi… là vì cây hòe.
Hôm trước lúc hai người cùng tắm bên tường gỗ, hắn nổi lòng xấu hổ, lấy cớ nói trên cây hòe có quỷ sâu thắt cổ để dọa nàng đi. Nàng vốn sợ sâu, lại nghe lời hắn nói, nhất định chẳng dám trở lại gian tắm cũ dưới cây hòe nữa, tự nhiên phải tìm một suối nước nóng khác không có cây ấy.

Lại nói thêm, trước kia gian phòng nàng vốn đã đổi cho Dương Hành Giản, lúc này tạm thời đổi tiếp với Thập Tam Lang, cũng là chuyện thuận tay. Mà Thập Tam Lang hôm qua ở thiền đường suốt đêm tụng niệm, không về phòng nghỉ, thành ra gian kia vẫn bỏ trống. Nàng vốn e sợ, lại thấy tiện, liền ở luôn nơi ấy.

Điều tưởng như huyền bí không thể nào lý giải, hóa ra lại có lời giải giản đơn đến không ngờ.

Bảo Châu lại nói tiếp:

“Hôm qua ta mệt đến mở mắt không nổi, có nói với ngươi là về phòng chợp mắt một lát trước đã, chẳng lẽ ngươi quên rồi sao?”

Vi Huấn ngẩn người nhớ lại: khi ấy có lẽ chính mình đã bắt đầu bị tâm ma quấy nhiễu, cho nên không hề để ý tới lời nàng nói. Bảo Châu xưa nay vốn sợ hãi thi thể cùng quan tài, từ đầu đến cuối cũng chưa từng tới gần điện, chỉ đứng nhìn từ xa, vậy nên mới không hít phải hương độc từ lư hương, mà vô tình tránh được một kiếp.

Còn chuyện vì sao nàng luôn mệt mỏi, e rằng chỉ bởi sáng sớm hôm qua bị tiếng chuông sớm trong chùa đánh thức, hiếm hoi mới dậy sớm một lần như vậy thôi.

Vậy thì… nàng từ đầu tới cuối, thực ra chưa từng tham dự vào đoạn thăm dò sau nửa đêm ấy? Nghĩ lại bao nhiêu cảnh tượng hỗn loạn mờ ảo trong đêm qua, Vi Huấn chỉ thấy xấu hổ khó nói nên lời, chẳng dám truy hỏi sâu thêm, đành chôn giấu tất cả vào tận đáy lòng.

Bảo Châu nhẹ nâng mặt hắn, khẽ v.uốt ve từng chút, lại lật bàn tay hắn lên xem, thấy tay phải thương tích chồng chất, rách nát chẳng nỡ nhìn, tức thì vừa giận vừa đau, nước mắt đã muốn trào ra nơi khóe mi. Nàng nghiêm giọng ép hỏi:

“Rốt cuộc là ai đánh ngươi?! Là Quan Xuyên phải không? Nếu tên ấy thực sự là da đồng xương sắt, đao thương bất nhập, thì ta nhất định sẽ nghĩ cách trừ khử hắn!”

Chưa kịp để Vi Huấn trả lời, Dương Hành Giản đã thở hồng hộc chạy xộc vào trong đình viện. Hắn cũng chẳng buồn để ý đến chuyện hai người đang tay nắm tay, chỉ hốt hoảng hướng về phía Bảo Châu mà báo:

“To chuyện rồi! Nghe nói điện Quy Vô Thường nửa đêm bốc cháy! Chùa Thiềm Quang đều làm bằng gỗ, nếu không mau chạy, e rằng sẽ như lần quân Hồi Hột phóng hỏa đốt chùa Bạch Mã, chẳng mấy chốc hóa thành tro tàn mất!”

Bảo Châu giật mình đứng phắt dậy. Vừa rồi bao tâm trí đều để vào người Vi Huấn, giờ mới chợt nhận ra trong không khí quả thực đang vương mùi khét nồng, cay xộc mũi thứ mùi cháy sém đặc trưng, còn gắt hơn cả khói nhang miếu thường ngày.

Vi Huấn khẽ lẩm bẩm:

“Ta đã chặt đứt dãy hành lang rồi, chắc lửa không lan đến viện này đâu.”

Bảo Châu và Dương Hành Giản đồng loạt nhìn sang hắn, vẻ mặt đầy nghi hoặc. Vi Huấn điềm nhiên đáp:

“Chẳng phải ngươi bảo muốn hủy bức bích họa ấy sao? Ta nhân đêm qua phóng hỏa trong chính điện, tiện tay… cũng giết luôn Quan Xuyên và Đàm Lâm rồi.”

“Ngươi, ngươi nói gì cơ?!”

Bảo Châu trợn tròn mắt, há miệng lặng người. Dương Hành Giản thì giật nảy, tròng mắt suýt rơi ra ngoài, mặt cắt không còn giọt máu, run giọng lặp lại:

“Phóng hỏa? Giết người? Ngươi… ngươi nói thật sao?!”

Thập Tam Lang nghe tin cháy từ phía chư tăng, vội vã chạy đến gọi Bảo Châu dậy chạy trốn. Vừa trông thấy Vi Huấn cả người thương tích ngồi nơi hành lang, hắn liền sững sờ tại chỗ. Lại nhìn kỹ hai tay Vi Huấn, da tróc thịt bong, lập tức liền hiểu ra, kinh hô:

“Đại sư huynh cùng cái gã hòa thượng Quan Xuyên kia động thủ rồi phải không? Sao không thấy lôi luôn tên kia về trị?”

Là vì muốn trừ tà cho Bảo Châu.

Vi Huấn lại thở dài một tiếng, nghĩ bụng: đêm qua Bảo Châu có thiên tượng Vi Đà hộ thân, lại thêm Tê Chiếu kiếm trong tay, tránh được tam độc tham sân si vây hãm, thoát khỏi một kiếp hiểm nguy, xem ra vận số của nàng quả thực không tầm thường.

Đối diện ba người đồng hành, hắn đem mọi chuyện đêm qua đại khái kể lại một lượt Đàm Lâm làm sao dụ dỗ, sai khiến Quan Xuyên âm thầm hạ độc, hại chết Quế Nhi, khiến Quan Trừng rơi vào đường cùng, tự mình chết chìm trong hồ phóng sinh, mở màn cho thảm án đêm Vu Lan. Chỉ là lược qua đoạn bản thân chìm trong ảo giác, không nhắc đến.

Dương Hành Giản nghe đến đây, cả người run như cầy sấy:

“Không nói đến Quan Xuyên, chỉ riêng Đàm Lâm thượng nhân đã là danh tăng đất Lạc Dương, lại từng đảm đương tam phẩm đại chức, danh vọng lẫy lừng! Ngươi… ngươi lại nói giết là giết, cứ thế mà đánh chết hắn sao?”

Vi Huấn kiêu ngạo hỏi ngược lại:

“Thì đã sao? Nếu ta thấy không thuận mắt, dẫu hắn có là Thiên Vương lão tử, ta cũng khiến hắn không thấy nổi mặt trời ngày mai.”

Bảo Châu kinh ngạc liếc nhìn hắn một cái. Vừa rồi thấy hắn thương tích chồng chất, thân thể yếu ớt tưởng như chỉ chạm nhẹ cũng tan vỡ, nàng thương xót không thôi, suýt nữa đã định dìu hắn về phòng nghỉ ngơi. Nào ngờ vừa dứt miệng đã là giọng điệu ngạo mạn cuồng ngông như thường, hệt như một khắc sau còn có thể bật dậy đánh liền mười người.

Nhìn thấy vẻ mặt kinh ngạc của nàng, Vi Huấn chớp mắt một cái, rồi thu mình lại, khoanh tay ôm đầu gối, từ từ rút vào một góc. Tuy hắn đã chứng thân vào giờ khắc trước bình minh, thoát khỏi hình thái Tu La, nhưng thời gian quá ngắn, trong người dường như vẫn còn chút tàn dư chưa tiêu tan hết.

Dương Hành Giản lại thúc giục mọi người rời khỏi chùa, vẻ mặt càng lúc càng hoảng hốt.

Bảo Châu lại chẳng muốn đi, thần sắc đầy bối rối, buồn bã nói:

“Đàm Lâm… thế mà đã chết…”

Lời nàng thốt ra mang theo một tia tiếc nuối, khiến mọi người đều lấy làm khó hiểu. Chỉ nghe nàng thấp giọng, như tự mình lẩm bẩm:

“Nếu ngay cả phương trượng cũng là kẻ đứng sau mọi chuyện, vậy thì lời ông ấy hứa với ta đêm qua về nghi thức bố thí Vu Lan Bồn, chỉ e cũng là lừa gạt. Ông ấy chẳng qua là lấy cớ dụ chúng ta bước vào bẫy, để tiện ra tay với Vi Huấn.”

Ba người đều hiểu rõ ẩn ý trong lời nàng. Dương Hành Giản dịu giọng an ủi:

“Công chúa có tâm địa Bồ Tát, trời cao ắt nhìn thấu. Nhưng lương thảo kia thực khó lòng đủ để cứu tế nạn dân, chúng ta vẫn nên lấy việc bảo toàn bản thân làm trọng, mau chóng rời khỏi chùa Thiềm Quang là hơn.”

Bảo Châu vẫn ngẩn người trầm ngâm, không chịu động đậy. Vi Huấn chống vào cột hành lang đứng dậy, định cùng Thập Tam Lang chia nhau đi thu xếp hành lý, dắt lừa chuẩn bị lên đường. Nào ngờ nàng bỗng hỏi:

“Ngươi xử trí Đàm Lâm ra sao? Cũng giống như lúc giết Bảo Lãng, lấy đầu hắn đem đi ư?”

Vi Huấn lắc đầu:

“Tối qua không mang theo dao găm, tay không ra tay hơi bất tiện, nên chỉ dùng một chưởng đánh chết hắn.”

“Sau đó… ném vào Quy Vô Thường điện thiêu hủy thi thể?”

Vi Huấn thấy nàng hỏi đến tường tận như thế, hơi lấy làm lạ, nhưng vẫn đáp:

“Không, hôm qua chúng ta là những người cuối cùng gặp mặt hắn, nếu thi thể bị thiêu mất thì tăng nhân trong chùa khó tránh sinh nghi. Ta liền chôn hắn sau điện, trong hố vôi cạnh nhà trụ trì, chỉ là vội vàng đi tìm nàng nên đào cũng khá cạn.”

Ánh mắt Bảo Châu sáng bừng lên:

“Nói vậy tức là… thi thể vẫn không hiện ra dấu tích rõ ràng của thương tích?”

Hồi tưởng đến hành vi rút lưỡi khi nãy, Vi Huấn khẽ ho một tiếng, thấp giọng nói:

“Chắc cũng không sai biệt lắm… chỉ cần hắn nhắm lại cái miệng từng lừa người là được rồi…”

Bảo Châu vừa đi vừa gấp rút cân nhắc tính toán trong đầu, vừa lẩm bẩm một mình:

“Già Cái Diệp… xả thân… thân thể thành Phật… thân thể thành Phật…”

Để xác định kế hoạch có thể thực hiện hay không, nàng lại hỏi:

“Người đã chết rồi, có thể bày ra tư thế đặc biệt nào đó được không?”

Ba người nghe vậy đều lấy làm kỳ quái. Vi Huấn đáp:

“Chết đã hai canh giờ, thi thể sớm cứng đờ. Nếu muốn bày ra dáng vẻ nào đó thì phải bẻ gãy khớp, rồi dùng dây cố định. Nàng… chẳng lẽ chưa hết giận, định treo hắn lên bêu đầu thị chúng?”

Bảo Châu thuận theo mạch suy nghĩ, càng nghĩ càng hứng khởi, xoa tay hào hứng gọi Thập Tam Lang:

“Sư huynh đệ bị thương rồi, để hắn nghỉ ngơi, ngươi theo ta một chuyến đến Quy Vô Thường điện, cùng nhau đào thi thể lão hòa thượng lên!”

Ba người đồng loạt trố mắt nhìn nàng.

Bảo Châu nghiêm giọng nói:

“Đàm Lâm khi còn sống dùng gạo thóc đổi lấy xác chết, thì ta sẽ làm ngược lại lấy xác ông ấy đổi về gạo thóc!”

Nói xong quay sang chỉ huy Dương Hành Giản:

“Ngươi ở lại nơi này, theo lời ta mà viết một phong di thư.”

Trời còn chưa sáng hẳn, phương Bắc đã thấp thoáng thấy ánh lửa bốc lên, đỏ như ráng hồng lúc bình minh, nhuộm hồng cả chân trời. Dương Hành Giản nghe nàng nói muốn xông vào nơi đại điện đang cháy, lại còn bảo lưu lại di thư, lập tức cuống đến đỏ bừng cả mặt:

“Tàn nhẫn quá rồi! Công chúa tuyệt đối không thể thân mình mạo hiểm như vậy!”

Bảo Châu đáp thản nhiên:

“Ai nói là ta viết di thư? Ta bảo ngươi bắt chước khẩu khí Đàm Lâm, viết cho ông ấy một phong di thư. Chúng ta vốn là những người cuối cùng nhìn thấy hắn đêm qua, nếu lão hòa thượng trước khi chết có lời trối trăn nhờ ngươi truyền đạt, thì lời ấy hợp tình hợp lý, các tăng nhân cũng không dám nghi ngờ danh vọng của một triều quan viên.”

Nói đoạn, nàng giản lược thuật lại đại ý kế hoạch, lệnh cho Dương Hành Giản y theo đó mà viết.

Dương Hành Giản nghe xong, biết rõ nàng định xử trí thi thể Đàm Lâm thế nào, mặt mày tái nhợt như tro tàn, liều mình can gián:

“Công chúa! Việc này xúc phạm thiên mệnh, tất sẽ gặp báo ứng!”

Bảo Châu chỉ nhếch môi cười lạnh:

“Đây gọi là ‘tận dụng phế vật’. Hơn nữa, mục đích cuối cùng là để làm điều thiện. Phật Bồ Tát tự nhiên sẽ hiểu thấu nỗi khổ tâm của ta, sao lại trách phạt được?”

Dương Hành Giản vẫn không chịu:

“Lão thần… thật sự không thể…”

Y là người duy nhất trong nhóm biết cách chấp bút văn thư theo thể thức triều đình, nhưng lại vì mê tín dị đoan mà cứ đùn đẩy thoái thác. Trong khi ấy, hỏa thế bốc càng lúc càng dữ, thời cơ không thể chậm trễ, Bảo Châu bèn giận dữ quát lớn:

“Câm miệng! Ta không cần biết quá trình, chỉ cần kết quả! Mau lấy bút ra viết, viết ngay lập tức cho ta!”

Nghe câu nói như sét đánh bên tai: “Mặc kệ quá trình, chỉ cần kết quả”, Dương Hành Giản giật mình rùng mình một cái, cảm thấy một luồng lạnh buốt như băng chạy dọc sống lưng, gai ốc lấm tấm nổi khắp người. Trong khoảnh khắc, trước mắt y hiện lên đủ loại ảo ảnh: hai mươi năm qua từng phụng dưỡng không biết bao nhiêu vị chủ công, thân ảnh các bậc bề trên ấy giờ đây đều chồng lấn lên một người chính là nàng thiếu nữ đứng trước mặt.

Lòng chợt ê ẩm, Dương Hành Giản thầm hiểu: công chúa vẫn là công chúa, dù ngoài mặt trông như tiểu cô nương nhu mì, nhưng bản chất thì vẫn là người ở trên đầu người khác.

Cũng như thuở trước, Thánh Hoàng đăng cơ bằng thân nữ nhi, tự xưng là Di Lặc chuyển thế, sai người bày mưu lập kế, chế ra bộ “Đại Vân Kinh”, ban bố khắp thiên hạ. Thuận theo thì là thần, trái ý thì thành ma loại người ở ngôi cao ấy, xưa nay chưa từng tin vào chuyện nhân quả báo ứng.

Dương Hành Giản đành chấp nhận số phận, lẳng lặng lấy từ túi ra bút mực giấy viết, bắt đầu chuẩn bị viết di thư.

Bảo Châu thấy vậy rất đỗi hài lòng, lập tức mang theo Thập Tam Lang phóng thẳng về phía điện Quy Vô Thường đang bốc lửa nghi ngút.

Vi Huấn vốn không yên tâm để nàng một mình xông vào đám cháy, liền cố nhịn thân thể đau đớn, xỏ giày vào chân, lảo đảo đuổi theo hai người, không dám rời bước.

Năm ấy triều đình buông thả quân Hồi Hột cướp phá Lạc Dương, chùa Bạch Mã trong trận đại hỏa hoạn bị thiêu rụi, mấy vạn sinh linh chết cháy trong biển lửa. Lúc ba người đi về phía điện Quy Vô Thường, dọc đường gặp vô số tăng nhân đang hối hả trốn chạy vì lo sợ ngọn lửa lan rộng, người người vác theo tay nải của cải, chen chúc kéo nhau ra khỏi chùa.

Trong đám người tháo chạy hỗn loạn, bóng dáng Bảo Châu lại lẻ loi một mình đi ngược dòng, khiến Vi Huấn bỗng nhớ đến đoạn kinh văn mà Đàm Lâm từng trích dẫn trong 《Pháp Hoa Kinh》. Kẻ thuyết kinh kia tuy bụng dạ khó lường, nhưng đoạn kinh ấy, vào lúc này ngẫm lại, quả là thỏa đáng.

Cõi nhân gian ví như căn nhà rực lửa, lửa cháy hừng hực thiêu đốt khắp nơi, khổ nạn lan tràn, khiến người người hoảng sợ thất kinh. Kẻ ở trong căn nhà ấy, người thì khóc gào tìm đường thoát thân, kẻ thì dửng dưng mặc kệ, có người lại nhân lúc cháy nhà tranh thủ vơ vét của cải.

Thế nhưng giữa muôn người ấy, lại có một hai kẻ hiếm hoi không sợ không lui, dù biết rõ con đường phía trước đầy hiểm nguy, vẫn gắng gượng đi ngược dòng, dốc hết tâm sức tìm cách cứu người khỏi biển lửa. Dù tâm chưa khỏi non nớt, dù sức mỏng lực cô, nhưng tấm lòng chân thành ấy lại khiến người ta không thể không động tâm.

Sau trận gào thét của Quan Xuyên, Vi Huấn bị chấn thương tai, ù tai đến giờ vẫn chưa dứt. Chung quanh bao nhiêu âm thanh đều trở nên mơ hồ hỗn độn. Thế nhưng giữa cơn hỗn loạn ấy, hắn lại dường như nghe thấy một tiếng động dị thường, như thể đâu đó vang lên tiếng vỏ trứng đang nứt vỡ.

Chẳng lẽ… là thai phượng hoàng đang muốn phá vỏ mà ra đời?

Đại chùa Thiềm Quang, ngày hôm qua vừa mới xảy ra chuyện quỷ nước nổi lên nơi ao phóng sinh, gây nên thảm kịch Vu Lan với cảnh chen lấn giẫm đạp hỗn loạn, nay lại lan ra thêm một việc kinh thiên động địa khiến cả vùng Lạc Dương xôn xao chấn động.

Vị đại đức cao tăng lừng danh gần xa Đàm Lâm thượng nhân được truyền rằng đã được một vị thiên nữ mọc cánh dẫn lối, vì muốn an ủi những oan hồn thiệt mạng trong đêm Vu Lan, đồng thời cứu giúp bách tính đói khổ trôi dạt tứ phương, nên đã tự nguyện xả thân thành nhân, lấy thân mình siêu độ u hồn lầm than.

Theo lời di ngôn truyền lại từ một người từng là cấp dưới của ngài, đêm ấy khi bóng tối phủ xuống, ngài vẫn như thường ngày nhập tịnh trong điện Quy Vô Thường, bất ngờ nơi Phật điện phát hỏa. Lửa bén quá nhanh, quy mô điện đường lại lớn, khiến cho ngọn lửa cuồng nộ không thể dập được, cứ thế bùng cháy suốt một ngày đêm, mãi đến khi trời sẩm tối mới dần lụi tàn.

Khi tăng nhân vào lại giữa đống tro tàn lửa tắt, giữa lớp tro than nóng bỏng họ phát hiện di hài khô ráo của Đàm Lâm thượng nhân. Sắc diện ngài an hòa đoan chính, thân thể không chút tổn hại, chắp tay ngồi ngay ngắn giữa đài sen cháy dở người đời nói ngài đã hóa thân thành tức thân Phật.

Ngài để lại một bài kệ từ bi như sau:

“Nguyện đem công đức này, trang nghiêm tịnh độ Phật.
Báo bốn ân sâu dày, cứu ba đường khổ nạn.
Nếu ai nghe hiểu được, tất phát tâm Bồ Đề.
Thân này xin báo tận, cùng sinh cõi Cực Lạc.”

Không chỉ thân thể hóa Phật, mà đến cả nghiệp hỏa thiêu đốt cũng chẳng làm tổn hại mảy may kỳ tích ấy khiến người người chấn động, tin tức lan truyền nhanh chóng khắp nơi. Từ Lạc Dương cho tới vùng Kinh Kỳ, tin chúng đều vì đó mà rung động. Từ con cháu hoàng thân quốc thích cho đến thứ dân trăm họ, vô số người đổ về đại chùa Thiềm Quang, chỉ mong được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan viên tịch trang nghiêm của vị cao tăng sau khi niết bàn.

Phật kệ mà Đàm Lâm thượng nhân lưu lại có lời lẽ sáng rõ: chỉ cần khởi thiện tâm, cứu giúp kẻ hoạn nạn, thì có thể như ngài, thẳng thăng vãng sinh Cực Lạc, không còn vướng khổ luân hồi.

Giáo pháp, kinh kệ dẫu có thâm sâu diệu nghĩa đến đâu cũng khó sánh với thần tích hiển hiện trước mắt: thân thể bất hoại, ngồi hoa sen mà nhập định, như tức thân Phật. Các nhà quyền quý, phú hào Đông Đô đều chấn động. Dẫn đầu là Đậu Kính, phủ doãn Hà Nam, rồi đến chư công khanh, huân quý, phú thương, danh gia vọng tộc… thi nhau mở kho, dâng tiền tặng gạo, thóc lúa, ngân lượng dồn về như sóng lớn sông Lạc, dũng mãnh không ngừng, so với lễ bố thí Vu Lan hôm trước, còn vượt xa gấp trăm ngàn lần.

Chiếu theo di ngôn của Đàm Lâm thượng nhân, chùa Thiềm Quang không giữ lại một hạt thóc, một đồng tiền, toàn bộ đều đem đi cứu tế dân nghèo nơi nơi đói khổ.

Vị đệ tử được ngài yêu quý nhất, đồng thời là người mang từ tâm lớn lao điển tòa Quan Triều chính thức kế thừa y bát, đảm nhận chức trụ trì mới của đại chùa Thiềm Quang, thay thầy gánh vác việc đời, thống lý tài vật, sắp đặt mọi chuyện cứu tế chu toàn đâu vào đó.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 119


Để nghiệm chứng kế sách của Bảo Châu liệu có thể thuận lợi tiến hành hay không, đoàn người tiếp tục ở lại chùa Thiềm Quang thêm mấy ngày.

Thi thể Đàm Lâm sau khi được vôi trong hút hết khí ẩm, lại trải qua hơi lửa sót lại từ vụ hỏa hoạn hun đốt hồi lâu, đã hóa thành một khối xác khô định hình, toàn thân mất nước.

Tăng chúng chùa Thiềm Quang vốn sẵn tinh thông thuật xử lý di thể, lại có Vi Huấn âm thầm chỉ dẫn, bèn lặng lẽ lấy nội tạng Đàm Lâm ra, trong khoang bụng lấp đầy vôi sống và hương liệu, toàn thân thoa lên dầu trẩu chống phân hủy, tương lai còn có thể mạ thêm một lớp vàng ròng. Từ đó, xác thân này, phát ra hương khí nhàn nhạt, đủ để xưng là tức thân Phật, bảo tồn bất hoại hai ba trăm năm cũng chẳng phải việc khó.

Về phần Quan Xuyên mất tích, mọi người chỉ cho rằng hắn vốn là một giang hồ hiệp khách, đến thì vô ảnh, đi cũng vô tung. Nay Đàm Lâm đại sư đã viên tịch hóa Phật, hộ pháp của hắn coi như đã mãn, âm thầm rút lui cũng là lẽ thường.

Mây nổi non cao, dòng triều lặng ngắt. Trong năm vị đệ tử thân truyền, nay chỉ còn lại ba người, mà di chúc Đàm Lâm lại minh bạch chỉ rõ người kế thừa y bát chính là Quan Triều. Chúng tăng không ai dám dị nghị, lập tức cùng nhau nghênh thỉnh vị tăng trẻ tuổi dung mạo tuấn tú ấy bước lên tọa chủ trụ trì, tiếp nhận trọng trách bố thí cứu tế dân đói, gánh vác việc lớn sau hỏa nạn.

Quan Triều vốn từ trước đã chưởng quản đại sự, chuyên lo liệu việc bếp núc, hương hỏa, kho và trai đường, phụ trách cơm chay mỗi ngày cho hơn nghìn tăng chúng trong chùa Thiềm Quang cùng thí chủ đến tá túc. Những việc vụn vặt, rối rắm hằng ngày ấy, hắn đều nắm rõ như lòng bàn tay, lại thêm tâm địa từ bi, chẳng mấy chốc đã thu xếp thỏa đáng, tiếp nhận lễ hiến của tin chúng, rồi lại thay mặt Phật môn đem phân phát cứu tế dân nghèo đói khát.

Lúc này, bốn người Bảo Châu hội họp nơi phòng Dương Hành Giản, âm thầm bàn luận những điều gần đây quan sát được, đều đồng lòng tán thành tài cán cùng cách hành sự của Quan Triều.

Dương Hành Giản một mực thành tâm, thành ý mà tán thưởng rằng:

“Công chúa có con mắt biết người, lại giỏi giao người làm việc. Phật môn có câu rằng: ‘Từ xưa đại liêu xuất tổ sư’. Bởi lẽ chỉ người từng qua việc nhỏ nhặt hằng ngày, từng quán xuyến gốc rễ mới hiểu được Phật pháp là gì. Nếu chỉ ngồi yên luận kinh nói nghĩa, thì cũng như xây lâu đài giữa hư không vậy.”

Bảo Châu nghe mà không khỏi nghi hoặc, nói:

“Ta vốn chẳng quen biết hắn, đâu biết hắn giỏi giang đến đâu.”

Thập Tam Lang băn khoăn hỏi:

“Nhưng chẳng phải chính miệng Cửu Nương phân phó để Quan Triều hòa thượng kế nhiệm trụ trì đó sao?”

Bảo Châu hơi nhướng mày, khóe môi cong lên, cười đắc ý:

“Bởi vì hắn lớn lên trông rất tuấn tú. Ta tin rằng ‘tướng do tâm sinh’, người đẹp ắt lòng cũng thiện, tâm địa cũng tốt lành.”

Còn lại ba người nhất thời không biết nên nói gì thêm, bầu không khí thoáng chốc chìm vào yên lặng.

Bảo Châu lại ung dung, thản nhiên mà tiếp lời:

“Làm hòa thượng, điều quan trọng nhất chính là dung mạo khiến người nhìn vào cảm thấy thư thái dễ chịu. Chúng ta hằng ngày gặp gỡ biết bao tăng nhân đạo sĩ, phần nhiều đều là đến hóa duyên xin của, làm gì có dư hơi mà lần lượt khảo xét ai có đạo hạnh sâu hay tâm tánh cao. Bởi thế, cứ ai trông thuận mắt, nói chuyện lại dễ nghe, thì sẽ dễ được người bố thí.”

Vì Vi Huấn còn đang dưỡng thương, mấy ngày nay đều là Thập Tam Lang theo nàng bôn ba lo liệu, lại thêm lanh lợi, biết nghe lời, khiến Bảo Châu trong lòng càng thêm quý mến. Nàng khẽ cười, quay sang khen ngợi chú tiểu:

“Đệ trông cũng rất khá, ánh mắt cũng tốt, mai sau trưởng thành tất nhiên sẽ là một vị hòa thượng tuấn tú đủ tư cách. Tới khi đó, ta sẽ thay đệ an bài một tòa chùa lớn như Thiềm Quang, để đệ làm trụ trì, chịu không?”

Thập Tam Lang nghe vậy, khuôn mặt nhỏ lập tức sáng bừng như nắng mới, biết rằng đời mình từ nay có công chúa làm chỗ dựa, vui sướng đến nỗi không ngồi yên được, bật nhảy lên kêu to:

“Công chúa nói thì phải giữ lời đó nha!”

Niềm hân hoan lớn lao khiến trong lòng hắn như có pháo nổ rộn ràng, không kìm được, lại nhảy đến trước mặt Vi Huấn, hưng phấn chia sẻ:

“Đại sư huynh, huynh có nghe không? Sau này đệ không cần vất vả luyện võ nữa! Đệ sẽ làm… hòa thượng của công chúa đó!”

Vi Huấn như đang trầm ngâm điều gì, mắt vẫn không rời tiểu sư đệ, một hồi lâu sau mới nghiêm túc nói:

“Vậy thì đệ lại càng phải sớm hôm siêng năng, dốc lòng khổ luyện công phu mới được.”

Thập Tam Lang ngẩn ra, khó hiểu hỏi lại:

“Vì sao chứ?”

Vi Huấn ngoắc tay bảo sư đệ lại gần, vòng tay ôm lấy vai hắn, rồi ghé sát tai thì thầm bằng giọng âm trầm:

“Bởi vì… làm hòa thượng của công chúa thì cực kỳ dễ bị người ta chém ngang lưng! Không luyện được thân kim cương bất hoại, thì lấy gì mà chịu nổi đao kiếm bay đầu?”

Ánh mắt hắn lấp lánh vẻ gian giảo, khóe môi nhếch lên nụ cười tà ác như mèo rình chuột. Thập Tam Lang nhìn thấy sư huynh vẫn thân thiết thường ngày, nay lại mang vẻ dọa người như vậy, trong lòng chỉ thấy rùng mình một trận lạnh sống lưng, song vẫn không hiểu rõ dụng ý trong lời nói.

Được một lời hứa hẹn tốt đẹp như vậy, hắn vốn hưng phấn vô cùng, thế mà đại sư huynh chẳng những không chia vui, lại còn hù dọa người ta đến mức khó hiểu. Mũi hắn ê ẩm, ấm ức lầm bầm một câu:

“Đại sư huynh thật là xấu…”

Vi Huấn nhìn bộ dạng tiu nghỉu đó, chỉ thầm cười trong bụng: đã gieo được một hạt mầm nghi hoặc vào lòng sư đệ, từ nay về sau nếu hắn thật sự chăm luyện Bát Nhã Sám, mười mấy năm nữa e sẽ thành ra một thân hình cao lớn vạm vỡ như Quan Xuyên, chứ chẳng phải phong tư nhã nhặn như Quan Triều…

Đại khái là… vậy?

Bảo Châu lại đột nhiên nhớ ra một chuyện lạ, quay sang hỏi Thập Tam Lang:

“Vu lan đêm hôm ấy, đệ nói một mình đi tụng niệm, kết quả cả đêm không thấy bóng dáng, rốt cuộc là làm thứ gì mà vất vả như vậy?”

Thập Tam Lang đáp:

“Sư phụ lúc lâm chung có để lại hai lời trối. Một điều là chuyện mọi người đều biết, chính là cái gọi là ‘họa loạn điên đảo’ nọ. Còn điều kia thì người chỉ nói riêng với đệ mỗi tháng, mùng Một hay mười lăm, chọn một ngày bất kỳ để tụng kinh siêu độ, cầu phúc cho một người bằng hữu của người.”

Bảo Châu sửng sốt, hỏi lại:

“Hạng người cố chấp kỳ quái như ông ấy mà cũng có bằng hữu sao? Vị đó phải là Bồ Tát sống mới chịu nổi tính nết của ông ta chứ?”

Thập Tam Lang lắc đầu:

“Ông chưa từng nói rõ. Nghĩ lại thì sư phụ là người quái đản như vậy, chắc cũng chẳng có nhiều bạn bè. Đệ đoán chỉ cần tụng một câu ‘bằng hữu của Trần Sư Cổ’ là người nơi âm phủ sẽ nhận được rồi.”

Vi Huấn không lên tiếng. Bảo Châu trầm ngâm chốc lát, bỗng trong lòng loé lên điều gì, nghiêm giọng chất vấn:

“Khoan đã! Tụng kinh thì không nói làm gì, nhưng sao kinh thì ít nhất cũng phải biết chữ, lại còn phải biết viết nữa chứ. Chẳng lẽ đệ biết viết chữ?”

Thập Tam Lang gật đầu thành thật:

“Sư phụ trước lúc mất đã dạy đệ viết <i>Tâm kinh</i> hai trăm sáu mươi chữ, còn cả <i>Đại Bi chú</i> bốn trăm mười chữ nữa.”

Bảo Châu nghe vậy liền giật mình biến sắc, thật không ngờ trong đám người của Tàn Dương Viện, kẻ có học vấn đầu tiên lại chính là tiểu sa di nhỏ bé đứng hàng cuối này. Sau một hồi kinh ngạc, nàng quay sang nói với Vi Huấn:

“Trần Sư Cổ vốn nghiêm cấm các ngươi học chữ đọc sách, thậm chí vì chuyện ấy mà đánh Bàng Lương Ký thành tàn phế, thế mà cuối cùng lại thiên vị một mình Thập Tam Lang, dạy đệ ấy học chữ sao kinh. Những người sư huynh, sư tỷ kia chẳng lẽ không có ý kiến gì à?”

Vi Huấn chỉ đành bất lực đáp:

“Trong muôn vàn tật xấu của ông ấy, bất công e là loại vô hại nhất, chúng ta còn có thể nói gì?”

Những ngày qua, hắn vẫn mãi nghĩ suy về đoạn lời tự thuật của Đàm Lâm rằng chuyện giữa Trần Sư Cổ và Nguyên Húc năm xưa rốt cuộc bao nhiêu phần là thật. Hai lời trối trăn trối trước lúc lâm chung của sư phụ, ban đầu ai nghe cũng thấy mơ hồ khó hiểu, nay dường như đã có một lời giải đáp.

Trần Sư Cổ vốn biết rõ năm ấy Đàm Lâm chỉ vì cầu sống mà giả vờ tụng kinh vì Nguyên Húc, thế nhưng ông ta vẫn tha cho hắn một con đường sống. Một người chẳng hề tin vào thần Phật, bốn mươi năm sau, lại để một tiểu đệ tử bé bỏng của mình tiếp tục gánh lấy cái việc tụng kinh hão huyền vô ích ấy, chẳng rõ là vì tin, hay vì nợ.

Trần Sư Cổ tuy mang ma chướng, nhưng cũng không hề là kẻ bình tĩnh, lý trí như mọi người lầm tưởng.

Có được một thân xác thành Phật trăm năm khó gặp, đại chùa Thiềm Quang cũng vì thế mà không còn xem trọng những kỳ quan từng dùng để thu hút thập phương thí chủ. Đàm Lâm vừa qua đời, không còn ai tình nguyện tiếp tục tu hành Cửu Tương Quan, càng chẳng có họa sư nào chịu học theo cái phép xem trừng xác chết rồi họa hình tỉ mỉ như xưa. Tất thảy thi thể trong chùa đều được đưa ra mộ viên ngoài thành an táng.

Không còn xác người, cũng không cần đốt ngàn cân hương liệu để át mùi ô uế, tân trụ trì Quan Triều dứt khoát xóa bỏ lệ phí đắt đỏ này. Tháp cổ ngày xưa quanh năm mịt mù sương khói, giờ trở nên thoáng đãng, trong lành lạ thường. Bầu không khí vốn nặng nề âm trầm, cũng hóa nhẹ như khói sớm ban mai.

Để tiết kiệm gạo thóc, mở rộng nhân lực cứu tế, Quan Triều còn miễn luôn cả việc sai người ủ men ủ rượu dưới gốc mộc tê. Hắn công khai nói: chùa Thiềm Quang vốn dựng trên nguồn suối ấm, đất ở đây ấm hơn nơi khác, dù không bón phân cũng chẳng hại gì đến vụ nở hoa.

Trước khi rời Thiềm Quang, Bảo Châu một lần cuối đến thưởng lãm bức tranh 《Mục Liên cứu mẹ》 của Ngô Quan Trừng. Vụ án đã sáng tỏ, hung thủ đền tội, nàng chỉ không rõ, vị họa sư thiên tài từng bị hãm hại đến chết ấy, liệu đã trút bỏ oán hận mà thoát khỏi biển khổ địa ngục hay chưa? Không biết, nơi tàng cây mộc tê ấy, hắn có gặp lại được Quế Nhi hay không?

Chỉ tiếc rằng, kỹ pháp vẽ mà hắn sáng tạo, cùng với bí thuật vẽ rồng điểm nhãn của Ngô Đạo Tử, đều đã cùng hắn mai một. Từ nay về sau, e là không ai còn vẽ được nữa.

Cảm khái mà thở dài, Bảo Châu ngoảnh đầu nhìn lại đình viện, khóe mắt vô tình bắt gặp bóng người đứng lặng dưới hành lang Vi Huấn đang lặng lẽ dõi mắt trông nàng, thần sắc nửa sáng nửa tối, dáng vẻ ấy vừa tịch mịch lại vừa như quỷ ảnh lẩn khuất.

Từ đêm Vu Lan ấy sau trận chiến kinh tâm, hắn dường như biến đổi ít nhiều, khác hẳn vẻ thong dong ngày trước. Trước kia còn có thể sóng vai kề vai, nắm tay trò chuyện, nay lại lấy cớ vết thương chưa lành mà cứ né tránh, sống chết chẳng chịu đến gần. Hắn thường xuyên lặng lẽ trốn trong một góc, mắt thì dán lấy nàng, ánh nhìn ấy khiến người ta rợn gai, khó mà dửng dưng cho được.

Nể tình hắn bị thương nên nhất thời thất thường, Bảo Châu đã nhẫn nhịn nhiều ngày, không trách móc nửa lời. Nhưng đến hôm nay, rốt cuộc nàng cũng không nhịn nổi nữa, đưa tay ngoắc hắn lại gần.

Vi Huấn chầm chậm bước tới, hỏi:

“Sao vậy?”

Bảo Châu nhíu mày, không vui mà nghi hoặc nói:

“Dạo gần đây ngươi thật kỳ quái.”

Không bằng cái đêm hôm ấy còn kỳ quái hơn. Vi Huấn thầm nghĩ trong bụng.

Hắn vốn cho rằng, sau khi trải qua chứng tâm* rồi, mọi ảo giác cuồng loạn kia đều có thể rũ bỏ hết, để lại phía sau lưng. Nào ngờ, tâm trạng tuy đã yên, mà ký ức lại chẳng chịu nguôi. May thay, những ngày qua đã tập luyện nhiều lần, đến nay mới có thể miễn cưỡng áp chế bản thân đưa mắt nhìn nàng như một người bình thường, là nhìn toàn thể, nhìn gương mặt, y phục, dáng đi, chứ không còn bị đôi môi, d** tai, xương quai xanh… mấy chỗ vụn vặt ấy mê hoặc ánh nhìn nữa.

<i>Chứng tâm</i> (證心): Có thể hiểu là một loại pháp tu khắc nghiệt, giúp người đối mặt với tâm ma, tạp niệm và ảo giác.

Bảo Châu chất vấn, giọng mang chút không vui:

“Ngươi rốt cuộc nhìn cái gì?”

Vi Huấn đáp khẽ:

“Trên tóc nàng… hôm nay không cài trâm.”

Bảo Châu biết đầu mình hôm nay để trống, bởi hôm nọ xông vào biển lửa, tóc đuôi bị cháy sém, đành phải cắt đi hai tấc. Nàng buồn bực nói:

“Cái cây cũ dùng mãi cũng chán rồi. Chờ đến Lạc Dương, lãnh được tiền ở quầy phường, ta nhất định phải đi dạo phố, chọn vài kiểu mới. Còn muốn mua thêm son phấn nữa.”

Vi Huấn gật đầu, không nói thêm gì. Trong những ảo ảnh kia, nàng cũng chỉ quẩn quanh những việc như thế đủ thấy là thật lòng mong muốn.

“Đưa tay đây.” Bảo Châu thản nhiên nói.

Vi Huấn biết lần này không tránh được, đành chậm rãi nâng tay phải, vẻ mặt như ra chiến trường, hiên ngang mà đưa sang.

Bảo Châu nhẹ nhàng từng chút tháo bỏ lớp vải băng bó, hai tay nâng lấy bàn tay kia, cẩn thận quan sát. Bàn tay ấy chi chít thương tích, móng vuốt rớm máu, nhưng vì là kẻ luyện khí, thương thế lành nhanh hơn thường nhân nhiều. Nơi tróc da nứt thịt đã dần khép miệng, phần lòng bàn tay bị bỏng đỏ tươi nay cũng bắt đầu ngả sẫm lại.

Hung thủ tuy đã đền tội, nhưng khi nhìn đến vết thương này, Bảo Châu vẫn không khỏi tức giận. Nàng nói:

“Hôm ấy khi lão tặc đầu trọc nhắc đến kẻ ‘không sợ chết’, ta đã thấy có chỗ chẳng lành. Nghĩ kỹ lại, người hợp với câu ấy nhất… chính là ngươi.”

Vi Huấn trầm ngâm. Từ lúc bước chân vào chùa Thiềm Quang tới nay, hắn vẫn canh cánh trong lòng, chỉ e có kẻ ngấp nghé Bảo Châu. Nào ngờ người trong chùa vốn kiêng nể thân phận quan viên của Dương Hành Giản, chưa từng dám sinh lòng tà ác. Trái lại, mọi sự cuối cùng lại thành trò cười do trời xui đất khiến.

Bảo Châu căn dặn:

“Lần sau nếu lại cùng người động thủ, nhớ gọi ta một tiếng. Dù cái tên hiệu kia nghe không ra gì, nhưng ta cũng xem như là nhân vật có tiếng trên giang hồ.”
Nghĩ ngợi một thoáng, nàng lại nói nhỏ, giọng có chút ngượng ngùng:

“Chỉ là… gọi tên ta thôi, đừng gọi tên hiệu.”

Vi Huấn bật cười, gật đầu:

“Được.”

Mấy ngày nay đã cố nhẫn nhịn để giữ tâm bình khí hoà, vẻ ngoài trông như chẳng có chuyện gì. Thế nhưng tay bị nàng nhẹ nhàng nắm lấy, lại vừa vỗ về vừa xoay trở chơi đùa, lòng hắn vẫn không khỏi rối như tơ vò. Nếu không phải nhờ ý chí chống đỡ, chỉ sợ đã không chịu nổi lại phát tác thêm lần nữa.

Đợi đến khi nàng cẩn thận băng lại tay phải cho hắn, vừa định đưa tay trái ra, Vi Huấn liền đưa một chiếc hộp sơn son đặt vào tay nàng chính là chiếc hộp lưu ly thất bảo từng đoạt được ở huyện Hạ Khuê.

Bảo Châu ngẩn người, chưa rõ hắn có ý gì.

Vi Huấn hơi nghiêng người sát lại, hạ giọng nói khẽ:

“Rời khỏi chùa Thiềm Quang rồi hẵng mở ra. Trong ấy… là vật ta trộm về.”

Bảo Châu trong lòng chấn động, người này… thế mà lại mang tang vật đi tặng người khác như lễ vật?

Hộp còn nằm trong tay, Vi Huấn đã quay lưng bỏ đi, đúng lúc một đoàn tăng nhân tay ôm rơm mới phơi ngang qua. Sợ chuyện bại lộ, kinh động chúng tăng, Bảo Châu hoảng hốt giấu vội chiếc hộp vào ngực áo, không dám để lộ nửa phần.

Đoàn người rời khỏi đại chùa Thiềm Quang, khi bước ngang qua sơn môn, như thường lệ ở các ngôi tự khác, nơi cửa chùa sừng sững một pho tượng Vi Đà hộ pháp cao lớn nghiêm trang.

Vi Huấn đưa dây cương cho Thập Tam Lang, rồi hai tay ôm quyền, chắp tay nhất bái về phía Vi Đà, thần thái tiêu sái, tràn đầy phong vị giang hồ.

Dương Hành Giản trông thấy kẻ trước nay không tin thần Phật như hắn mà cũng chịu cúi đầu trước Bồ Tát, lấy làm kinh ngạc đến há hốc miệng không khép được. Lại ngẫm, người khác bái Phật đều chắp tay trước ngực cung kính, riêng người này lại bái theo lối ôm quyền của võ lâm giang hồ, dường như coi Vi Đà cũng là một vị hiệp khách, trong lòng càng thêm khó hiểu.

Mọi người ngoái đầu, đưa mắt nhìn lần cuối về câu đối khắc hai bên sơn môn:
“Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ứng tác như thị quán.”
(Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như sương như điện chớp, nên quán chiếu như thế.)

Ra khỏi cổng, thế giới bên ngoài cũng chẳng phải thanh tịnh gì hơn. Từ xa nhìn lại, hàng dài dân đói nối đuôi nhau chờ lĩnh cháo từ chùa Thiềm Quang bố thí, vẫn chưa thấy điểm tận cùng. Nhưng bởi nơi đây là tịnh địa của Phật môn, lại có từ bi của Đàm Lâm thượng nhân tức thân Phật lưu lại che chở, nên tuy sắc mặt người người hốc hác vì đói khổ, vẫn chẳng đến nỗi tuyệt vọng.

Bảo Châu cưỡi lừa, mắt nhìn khắp xung quanh. Nhận thấy vì đại chùa Thiềm Quang gần đây hương khói hưng vượng, người có tiền kéo đến dâng lễ cũng đông, nên quanh vùng bắt đầu tụ họp nhiều quầy hàng nhỏ bán bánh trái, lại có người cõng rương bán đường mạch nha ngọt lịm, tiếng rao vang vang trên đường.

Nàng sai Thập Tam Lang đi mua đường mạch nha. Chú tiểu chạy đi hỏi giá, chưa vội trả tiền, rồi quay về báo lại:

“Cửu Nương, hắn nói hai mươi văn một chiếc.”

Bảo Châu nghe xong liền nổi giận:

“Thật là cướp giữa ban ngày! Đường kia chẳng lẽ có nạm vàng hay sao? Ở Quan Trung một hai văn cũng mua được, hắn sao dám hét giá ngông cuồng như thế!”

Vi Huấn nghe nàng đường đường là kim chi ngọc diệp, cao quý thanh nhã mà cũng có ngày vì giá cả đắt đỏ ngoài phố mà oán trách, không nhịn được bật cười:

“Đường mạch nha làm từ lúa mạch nảy mầm, giờ lương thực đắt đỏ, thứ này dĩ nhiên cũng đội giá theo.”

Bảo Châu nghe ra căn nguyên, có phần đỏ mặt, bối rối thanh giọng, rồi dõng dạc phân phó Thập Tam Lang đi mua ba chiếc.

Từ trước tới nay nàng vốn không ăn những thứ vặt vãnh bày bán ven đường thường dính đầy tro bụi, chẳng sạch sẽ gì nên Thập Tam Lang khi mang về, hớn hở giơ cao đưa tới, liền bị nàng nghiêm trang từ chối:

“Ta đang cưỡi lừa, sao có thể vừa đi vừa ăn, mất hết thể thống. Đệ chia với sư huynh ngươi, còn lại cái cuối cùng, đưa cho đứa trẻ kia.”

Nàng chỉ tay về phía hàng người dài dằng dặc đang xếp hàng chờ lĩnh cháo. Giữa dòng người, có một người đàn ông gánh đôi sọt, trong một sọt ngồi vắt vẻo một đứa bé ngăm đen, gầy nhom, khô xác như que củi. So với mấy ngày trước, có một điểm khác biệt cây cỏ cắm trên đầu nó để rao bán đã được gỡ xuống.

Nàng chưa yên dạ, dặn dò thêm:

“Đệ đứng đó trông cho hắn ăn xong hẵng về, kẻo có kẻ cướp giật mất phần.”

Thập Tam Lang lĩnh mệnh, vừa ngậm một chiếc đường mạch nha trong miệng, vừa nhét chiếc còn lại vào tay Vi Huấn, hớn hở chạy đi.

Đứa trẻ ngồi trong sọt, bất ngờ được tặng quà, mừng rỡ mà cắm đầu cắn lấy cắn để, như thể từ trước đến nay chưa từng được nếm món gì ngon lành đến vậy.

Vi Huấn nhìn cảnh tượng ấy, chẳng hiểu sao trong lòng chợt dấy lên cảm giác quen thuộc, như đã từng thấy ở nơi nào rồi. Chẳng rõ hôm nay vì cớ gì, tâm tình hắn tựa như thả trôi vào suối nước ấm, cả người nhẹ lâng lâng, như được một làn ánh sáng êm dịu bao bọc lấy, nâng hắn lên khỏi mặt đất. Trong thoáng chốc, hắn cảm tưởng người được kéo lên từ hầm mộ sâu thẳm kia là mình, chứ chẳng phải nàng.

Rốt cuộc khi ấy là ai cứu ai?
Kỳ thực… nói cho rõ, cũng chẳng ai phân định được.

Rời khỏi chùa Thiềm Quang một chặng dài, gần đến cửa thành Lạc Dương, Bảo Châu đã chẳng còn nhẫn nại được nữa, bèn lấy chiếc sơn hộp kia ra.

Vi Huấn lặng lẽ nhìn nàng, ánh mắt đong đầy chờ mong.
Thế nhưng Bảo Châu lại vì bao phen xấu nết, rối ren hắn từng gây ra trước đó, mà bỗng dưng ngần ngại do dự…

“Trêu ghẹo ta à? Đừng nói là ngươi giấu sâu lông trong hộp nhé?” — Bảo Châu nghi ngờ nheo mắt nhìn hắn, giọng còn có chút đề phòng.

“Ta nói cho ngươi biết, nếu lần này còn dám dọa ta nữa, ta nhất định… nhất định…”

Nhưng nghĩ tới đôi tay hắn bị thương, đánh cũng không được, nàng nhất thời nghẹn lại, chưa nghĩ ra nên phạt thế nào, đành trừng mắt hăm dọa:

“Hừ, nói chung là tuyệt không tha nhẹ đâu!”

Vi Huấn khẽ cười, từ tốn đáp:

“Quả là vật hái trên cây, nhưng không phải để dọa nàng. Mở ra mà xem.”

Bảo Châu vẫn còn nghi ngờ, không dám lập tức mở hộp, chỉ hé hé nắp một khe nhỏ nhìn vào, chưa kịp thấy rõ bên trong, đã ngửi thấy hương thơm thanh mát, ngọt lành từ trong hộp tỏa ra.

Nàng như chợt hiểu ra điều gì, lập tức mở nắp hộp, gương mặt bừng sáng, kinh hỉ reo lên:

Là cái này!”

Trong sơn hộp, nằm yên một đóa hoa quế vừa hé nở, sắc vàng rực rỡ còn hơn cả vàng ròng, mùi thơm dìu dịu mà thấm sâu, còn hơn cả hương quý nào ta từng biết.

Vi Huấn nói nhỏ:

“Lúc sắp rời đi, ta ngửi được từ mộc tê bay tới một tia hương dịu, mấy tên đầu trọc trong chùa thì đang bận nấu cháo cứu tế, chẳng ai để ý năm nay hoa quế sớm nở, ta liền lặng lẽ trèo lên, hái về một đóa.”

Bảo Châu cười tươi đến nỗi không khép được miệng, nâng hoa lên ngửi mấy lượt, lại ngắm nghía hồi lâu, vui vẻ kêu lên:

“Mau! Mau cài lên trâm cho ta!”

Nàng cúi đầu, giục Vi Huấn cắm đóa hoa lên búi tóc, nơi hai lớp lụa vấn chồng thành dáng.

Dương Hành Giản thấy giai nhân cài mộc tê rực rỡ dưới nắng sớm, cũng không nén được lời khen, lập tức lấy giọng cung kính khen tặng như đang dâng biểu chương cho thượng cấp, ân cần nói:

“Thiên tử bao năm chưa hạ cố tới Đông Đô, nay khắp Lạc Dương nữ tử tôn quý nhất chính là Công chúa, được cành hoa quế đầu tiên năm nay cũng là chuyện nên. Việc hôm nay kinh mà nghĩa trọng, nào thể gọi là trộm? Mộc tê sinh vân tường, vốn là ứng với cảnh công chúa đăng tiên phượng liễn vậy.”

Bảo Châu nghe xong, trong dạ rộn ràng, càng thêm rạng rỡ, cằm khẽ nâng, ngồi thẳng lưng lừa mà ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Dáng vẻ như thể nàng không chỉ là một thiếu nữ đơn độc, mà đang cưỡi xe loan ngọc giữa hàng trăm thị vệ và cung nữ theo hầu, nghi trượng uy nghi chẳng khác gì long giá.

Nhìn nàng vì một cành hoa mà hoan hỉ đến như vậy, Vi Huấn bật cười, cười đến nỗi vết thương nơi khóe môi cũng rạn nứt đau nhói.

Trong lòng hắn thầm nghĩ:
“Bảo Châu và Nguyên Húc tuy giống nhau về khí cốt, nhưng cũng có một điểm khác biệt. Nàng thân thể mạnh mẽ, ăn được ngủ được, lại khoáng đạt rộng lòng, dẫu mai sau có vào chốn độc trùng phương Nam hay đến miền U Châu biên tái băng giá, tất cũng có thể mạnh mẽ mà sống, không ai có thể khuất phục nàng.”

“Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.”
Kinh Phật từng dạy: hết thảy sự đời, đều tựa như ảo ảnh trong mộng, như sương mai đầu ngọn cỏ, như ánh chớp thoáng qua hư không chợt đến rồi chợt đi, không nên chấp trước.

Nhưng chính là những giấc mộng đẹp từng qua như suối nước nóng trong đêm lạnh, giọt sương đầu cánh sen, hay một tia chớp soi thấu mê lộ từng khoảnh khắc ấy, tựa như tơ mảnh mỏng manh mà thuần tịnh, lại khắc sâu nơi tâm khảm, không sao xóa nhòa.

Dẫu cho đời người ngắn ngủi, tựa như bọt nước lững lờ giữa dòng, thì chỉ cần từng có một khắc chân tình, một giây khoảnh khắc ngời sáng cũng đã không uổng kiếp này.



《Cửu Tương Quan》 kết.
 
Back
Top Bottom