Cập nhật mới

Ngôn Tình Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp

Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 80


“Cái gì chỉ có ngươi mà không có ta?”

Vi Huấn thoáng sững người, ánh mắt vụt hiện vẻ hoang mang. Nhớ tới lời dặn của thầy thuốc mà Khâu Nhậm nhắc lại hôm qua, hắn vội vã nói:
“Lão Tứ chỉ thuận miệng nói bừa, ngươi chớ tin làm gì! Ta thật sự không sao cả. Không tin thì gọi Dương đại phu đến bắt mạch cho ta…”

Bảo Châu lập tức ngắt lời:
“Gã mặt đen ấy tuy thô lỗ, nhưng là danh y có tiếng, chưa từng nói sai một lời với ta. Trái lại, chính ngươi đã nhiều lần giả mạo mạch tượng để lừa khối kẻ ở Hạ Khuê huyện. Khi đó ta đứng một bên nhìn tận mắt, nên nay dù bắt mạch ta cũng chẳng tin ngươi.”

Vi Huấn nghẹn lời, không ngờ trò đùa vô thưởng vô phạt năm xưa, đến hôm nay lại hóa thành gậy gộc quay về tự đập vào mình.

Bảo Châu nghiêm giọng:
“Lão Dương còn chưa khỏi phong hàn, đang nằm ở phòng bên nói mê. Nếu ngươi lại đổ bệnh, chẳng lẽ muốn ta dắt Thập Tam Lang, cưỡi lừa một mình vượt đường dài tới U Châu?”

Vi Huấn cuống quýt giải thích:
“Ta nghỉ một đêm đã khá hơn rồi, chỉ là hôm qua uống nhiều rượu nên mệt.”

Miệng thì nói cứng, nhưng môi đã tái đi vì lạnh. Bảo Châu trong lòng giận lắm:
“Ta biết rõ bệnh cũ của ngươi thế nào, nay lại thêm vết thương độc, thầy thuốc căn dặn rõ ràng mà ngươi còn muốn đi lại khắp nơi, chẳng phải là ngại sống lâu sao?”

Vi Huấn định mở miệng, nhưng Bảo Châu đã lạnh lùng nói tiếp:
“Còn muốn chối? Nếu ngươi dám lừa ta thêm một lần nữa, ta sẽ lập tức đuổi ngươi! Đại Đường ngoài kia có không ít kẻ tự xưng là hiệp khách đồng môn với ngươi, ta hoàn toàn có thể chọn lấy một hai người trong số đó theo ta đến U Châu. Như gã đạo sĩ áo tím kia chẳng hạn, cái áo choàng hắn khoác ta đoán là vật trong cung. Biết đâu hắn đang cố tình bám lấy hoàng thất, vậy thì càng hợp với ta hơn…”

Nàng làm bộ quay người định bước ra cửa. Vi Huấn hoảng hốt, vội với tay giữ nàng lại, tay níu lấy dây thắt ngang hông, ngăn nàng bước đi. Nhưng sau đó lại chẳng biết nên làm gì tiếp theo, chỉ đứng im phía sau nàng, chẳng dám dùng sức, cũng không dám buông tay.

“Đừng! Đừng tìm họ… bọn họ sao sánh được với ta…”

Khi nghe hai chữ “đuổi”, sắc mặt Vi Huấn tái nhợt, lời nói lắp bắp, giọng khàn khàn, chẳng còn chút gì là vẻ ngang tàng thường thấy.

Bảo Châu liếc mắt nhìn hắn, lạnh nhạt hỏi:
“Vì đâu ngươi hơn được họ? Ta thấy ai nấy đều khí sắc tốt lành, không giống ngươi đã xanh xao lại còn cố cãi.”

Vi Huấn cố nuốt khan, cứng giọng nói:
“Dù ta bệnh, thì cũng còn hơn họ về võ công. Lão nhị áo tím kia vốn là kẻ ham danh hám lợi, âm hiểm xảo quyệt, ngươi tuyệt đối không được để lộ thân phận trước mặt hắn. Lão tam là nữ quỷ, chẳng phải ngươi sợ ma quỷ nhất sao? Mà tính nết nàng lại xấu vô cùng, chỉ thích bày trò ám toán, một ngày không gây chuyện là bức bối khó chịu. Lão tứ thì ngươi gặp rồi, thô kệch vô lễ, lại thêm nhiều sở thích gớm ghiếc, ngươi chắc chắn không chịu nổi nếu phải đi đường cùng hắn. Lão ngũ thì tính tình còn được, nhưng đánh nhau thì phát điên, chẳng màng ai khác. Nếu để hắn hộ tống, e là chính ngươi chịu khổ trước.”

Vi Huấn kể ra từng người một, chỉ trích không sót kẻ nào. Nhưng Bảo Châu lại như chẳng để vào tai, mắt vẫn dán vào cánh cửa, lạnh lùng nói:
“Ta không phải người trong giang hồ, không phân được cao thấp võ công. Ta chỉ biết, kẻ sống thì luôn mạnh hơn kẻ đã chết. Dẫu ngươi từng kinh tài tuyệt thế, một khi nằm xuống, thì tất cả đều thành hư không. Kẻ ta dựa vào để sống, một khi không còn, cũng như chim non mất tổ, phải tha hương, chẳng còn ai chở che.”

Giọng nàng run rẩy, dần khàn đi. Vi Huấn giật mình, buông tay khỏi thắt lưng nàng, nghiêng người nhìn lên, chỉ thấy khóe mắt nàng đã đỏ hoe.

Hắn như chợt hiểu điều gì, thấp giọng hỏi:
“Kẻ trong lời ngươi… không phải là ta đó chứ?”

Bảo Châu hít sâu một hơi, cố ghìm nước mắt, mãi sau mới cất lời:
“Ta nói đến mẫu thân ta. Khi bà còn sống từng quản lý cả lục cung, một người dưới trời, trên vạn người. Ta khi ấy ở Bồng Lai điện trong Đại Minh Cung, muốn gì có nấy, chưa từng biết đời này còn có chuyện gì là khó.”

Nhưng bà mất sớm vì khó sinh, mọi quyền lực cũng theo đó mà tiêu tan. Bồng Lai điện vốn là nơi ở của trung cung, bà không còn, ta cùng đệ đệ liền bị dọn đi, đưa đến sống cùng tay chân của kẻ từng đối đầu với bà. Khi ấy a huynh đã được xuất các, dọn vào vương trạch vậy mà cũng chẳng giúp được gì.

Nàng nghẹn ngào:
“Đừng nói đâu xa… ngay tháng Năm năm ấy, ta bị chôn sống đưa vào địa cung. Nếu mẫu thân còn sống, sao ta lại chịu những nỗi oan uổng như vậy? Dẫu là người quyền cao hay võ nghệ cao, một khi mất đi, thì còn gì nữa đâu. Ngươi biết mình còn bao nhiêu ngày tháng, mà lại cứ mãi liều mạng tiêu xài sinh mệnh như thế?”

Nàng nói một hơi, chẳng màng đến việc đã gợi lại chuyện cũ. Vi Huấn rốt cuộc cũng hiểu được, nàng đang đau lòng vì hắn.

Ngay từ khi ở chùa Thúy Vi, trong lòng hắn đã dửng dưng với sống chết. Bao nhiêu người chết oan ngoài đường mỗi ngày, bản thân hắn cũng chẳng giết ít, đến khi gặp Diêm Vương, thì cũng là chuyện sớm muộn. Nhưng hôm nay nghĩ lại, nếu mình chết dọc đường tới U Châu, bỏ mặc nàng một mình trong loạn thế, không ai bảo vệ thì thật chẳng cam tâm.

Bàng Lương Ký nợ ân tình, nàng cũng cần một người đáng tin bên mình. Một đôi tay dễ kiếm, nhưng một người đáng để nương tựa lại khó hơn gấp trăm lần.

Vi Huấn không dám giấu nữa, giọng khẽ như thì thầm:
“Bệnh ta là từ nhiều năm trước, đã tìm không ít thầy giỏi, chữa mãi cũng không khá lên. Sống được tới hôm nay đã là kỳ tích rồi. Nhưng khoảng thời gian còn lại… cũng đủ để đưa ngươi đến nơi an toàn.”

Hắn siết chặt tay, khẽ khàng nói:
” Ta thật sự là người giỏi nhất trong số họ. Xin ngươi… đừng thay ta bằng ai khác.”

Bảo Châu nhìn nét mặt hoang mang của hắn, hồi lâu mới nhẹ gật đầu. Nàng tuy đã kìm nước mắt, nhưng giọng vẫn khàn. Vi Huấn cẩn thận lau chiếc ly, rót cho nàng một chén nước.

Bảo Châu uống vài ngụm, rồi tức giận:
“Sao lại là nước lạnh? Rõ ràng hôm qua ta dặn chủ quán chăm sóc cho ngươi, không được để ngươi thiếu nước nóng cơ mà!”

Vi Huấn đỏ mặt, hận không thể trèo cửa sổ bỏ đi. Đời hắn từng hạ bao nhiêu đối thủ, tay không biết dính máu bao nhiêu lần, vậy mà giờ lại biến thành kẻ yếu ớt không dám ho he trước mặt nàng. Nghĩ lại chuyện chạy trốn lần trước, hắn giờ ngay cả động cũng không dám nhúc nhích, chỉ biết ngửa đầu nhìn trần nhà, im lặng.

Bảo Châu thấy hắn lặng thinh, cổ họng khẽ động, nhìn kỹ vùng cổ hắn, dường như có thứ gì nhỏ bé đang cựa quậy dưới da. Trong lòng nàng thoáng ngờ vực. Tuy nam trang của Hoắc Thất Lang trông rất tự nhiên, nhưng xét kỹ thì vẫn khác với thân thể nam tử thực sự. Nàng nhìn kỹ thêm mấy lần, chợt cảm thấy ngượng, vội quay đi, hai tai cũng nóng bừng.

Mãi mới dằn được nỗi xấu hổ trong lòng, Vi Huấn cười khổ nói:
“Đêm qua bọn tiểu nhị bị người ta đánh cho bất tỉnh hết rồi, giờ chưa chắc đã tỉnh lại. Chuyện nước ấm là do lão Tứ hay ba hoa chích chòe thôi, xin ngươi đừng nhắc lại nữa.”

Bảo Châu thoáng ngẩn ra. Thì ra đám người kia hành sự kín đáo đến vậy, chẳng ai để lộ chút tiếng gió, chẳng hề giống tưởng tượng của nàng về đám giang hồ l* m*ng.

Nàng nói:
“Ta thấy lời Khâu Nhậm nói không sai. Rượu cũ để lâu vốn mang hàn khí. Ngươi trước nay thích uống rượu cất trong cổ mộ, trên đời còn gì lạnh lẽo âm u hơn thế? Uống nhiều, không bệnh mới là lạ.”

Vi Huấn thở dài:
“Từ nay… không uống nữa.”

Bảo Châu thầm nghĩ, Quan Trung danh y đều ở Trường An, sau này có thể tìm vài ngự y chữa cho hắn. Nhưng nghĩ đến việc mình bị chôn sống cũng là sau một lần ngự y chẩn đoán sai, nàng lại thấy khó mở miệng.

Nàng dịu giọng:
“Ta biết ngươi nợ Bàng Lương Ký một món ân tình, phải giúp hắn, nhưng chưa chắc chuyện gì cũng phải tự tay làm. Hãy nghe lời thầy thuốc, ở lại đây nghỉ ngơi thêm hai hôm. Hãy xem ta phá án ra sao. Hung thủ võ công chắc chắn không cao, nếu không đã chẳng dùng trò lén lút. Ngươi không xuất hiện, mới là cách tốt nhất để dụ rắn ra hang.”

Vi Huấn trầm giọng hỏi:
“Lỡ như con rắn độc ấy cắn trúng ngươi thì sao?”

Bảo Châu ngẩng đầu, ánh mắt rắn rỏi, giọng đầy tự tin:
“Ta vốn chẳng muốn để lộ thân phận giữa bọn sư huynh sư muội, nhưng dẫu trời có sập, cũng chưa chắc đè được ta. Dù ngươi đã thay ta chắn lấy mũi độc của kẻ giấu mặt, nhưng phần núi sống này vẫn là ta gánh, món nợ ấy, ta phải chính tay đòi lại!”

Vi Huấn biết nàng tuy thường ngày thích cười đùa, nhưng đến lúc hiểm nguy thì cứng đầu vô cùng, ai khuyên cũng vô ích. Đã quyết việc gì, tất cả mọi người chỉ còn cách thuận theo nàng. Hắn nghĩ ngợi một hồi, rồi tháo thanh dao găm đeo bên hông đưa cho nàng.

“Cầm lấy phòng thân. Nếu gặp nguy hiểm thì đừng cố liều mình đối đầu, cứ tìm lão Ngũ hay lão Thất mà tránh. Nhưng nhớ kỹ, nếu thấy lão Ngũ bắt đầu lẩm nhẩm tụng kinh, thì đừng chần chừ gì nữa, phải chạy càng xa càng tốt.”

Bảo Châu nhận lấy, rút ra một đoạn, thấy giữa vân thép ánh lên mặt gương, phản chiếu dung nhan mình như soi vào một dòng nước âm u và kỳ bí.

Nàng hỏi:
“Thanh đao này rốt cuộc tên gọi là gì?”

Vi Huấn đáp tỉnh queo:
“Gọi là dao… ăn.”

Bảo Châu tức tối:
“Ít nhất cũng là binh khí từ ngàn năm trước, sao ngươi có thể coi nó như dao ăn dùng hàng ngày? Thật là xúc phạm đến nguồn gốc của nó!”

Vi Huấn cười khẽ, không mấy để tâm:
“Không ưng thì tự đặt cho nó cái tên đẹp đi.”

Bảo Châu suy nghĩ một lúc, rồi nhẹ nhàng nói:
“Trong <i>Tấn thư</i> có chép rằng: “Ngưu Chử là vực sâu không đáy, bên dưới đầy quái vật. Lấy sừng tê giác trừ tà, dùng ánh lửa soi xuống thì có thể nhìn thấu mọi thứ ẩn giấu.” Chủy thủ này cán làm từ sừng tê, thân khắc vân nước, thôi thì đặt tên là <i>Tê Chiếu</i>, mong nó có thể soi sáng dòng sông ngầm u tối kia, chiếu rọi mọi tà ma quỷ mị.”

Vi Huấn gật đầu tán thưởng:
“Tên hay. Hy vọng ngươi có thể dùng nó trấn áp con quái dưới tầng hầm, bắt được cả kẻ đứng sau vụ bắt cóc tân nương.”

Bảo Châu nghiêm túc:
“Ngươi cũng phải giữ lời đã hứa với ta.”

Vi Huấn đáp ngay:
“Nghe theo lời thầy thuốc dặn, hai ngày tới tuyệt không vận công, tránh động đến khí huyết.”

Bảo Châu vừa lòng gật đầu, cẩn thận giắt dao găm vào hông, rồi tháo chiếc túi nhỏ mang theo. Đó là túi thường dùng của quan viên trong triều để đựng bút mực. Nàng biết tính Vi Huấn không thể ngồi yên, nên riêng xin Dương Hành Giản đưa cho một túi để hắn luyện chữ.

“Trước từng hứa sẽ dạy ngươi viết chữ, nhưng mấy hôm nay bận lên đường liên tục, không có dịp luyện tập. Giờ đang rỗi rãi dưỡng thương, tiện thể học luôn đi.”

Nàng mở trang giấy, chấm mực, viết trước một đoạn “Ngũ Liễu tiên sinh quy viên điền cư”, rồi bảo Vi Huấn ngồi xuống, tay nắm tay sửa cho hắn tư thế cầm bút.

“Phép cầm bút tám phần là đúng, ngón trỏ vững, lòng bàn tay nhẹ. Năm thế tay cần nhớ: Dẫn, ấn, móc, hất, giữ.”

Cách giảng dạy viết chữ chẳng khác gì dạy luyện võ tâm pháp, Vi Huấn vốn chỉ nghe một lần là hiểu, nhưng lúc này vì tay nàng đặt lên tay hắn, trong đầu hắn như có sấm nổ, tai lùng bùng không nghe rõ nàng nói gì, lòng rối như tơ vò, tay chân cũng chẳng còn biết nặng nhẹ.

Từng ngón tay nàng dịu dàng uốn nắn từng động tác cho hắn. Vi Huấn tay khẽ run, bất giác siết mạnh khiến bút ngà bị bóp nứt.

Chưa từng gặp học trò nào tay mạnh đến vậy, Bảo Châu nhíu mày rút cây bút gãy từ tay hắn, không tin nổi:
“Không thể dùng cách cầm vũ khí để cầm bút! Đây là ngà voi, dù làm bằng gỗ chắc cũng chịu không nổi sức tay ngươi. Trong túi chỉ còn một cây dự phòng thôi đấy, nhớ nhẹ tay!”

Nàng lấy bút mới, đưa lại:
“Hãy tưởng tượng ngươi đang cầm một cành hoa, mềm mại, mong manh, nếu dùng sức quá sẽ gãy. Ngón tay chỉ nên giữ nhẹ, điều khiển bằng cổ tay. Ngươi là người học võ, chẳng lẽ không biết cách phát lực từ khớp cổ tay?”

Nàng lại một lần nữa cầm tay sửa cho đúng, chỉ rõ từng đốt ngón tay, từng khớp nối.

Khoảng cách gần đến nỗi có thể nghe rõ hơi thở thơm dịu. Vi Huấn càng cúi thấp đầu, gần như áp sát mặt bàn, chẳng nói chẳng rằng, chỉ gật khẽ một cái. Thực ra tay đã tê dại, cả người như hóa thành một khúc gỗ. Hắn phải ngừng thở, âm thầm tụng khẩu quyết tĩnh tâm, mới giữ được vẻ ngoài không phát run.

Tay nàng mềm như cánh hoa đào, đầu móng tay hồng hồng trong suốt, như cánh hoa vừa hé nở. Nhưng lúc này không phải hắn cầm hoa, mà là hoa đang nắm lấy hắn.

Cảm giác lạ lan nhanh từ tay lên khắp cánh tay, rồi đến vai. Nhanh hơn bất kỳ loại độc nào, hắn chẳng thể chống đỡ, cũng chẳng nén được. Bao năm kiêu ngạo vì giỏi điều khiển thân thể, lúc này chỉ còn biết thừa nhận: đây quả thực là bệnh vào tận xương, chỉ muốn có một chỗ nghỉ lưng một lát.

“Được rồi, như thế là đúng! Ngươi cứ ở trong phòng, viết câu này: “Lâu ở lồng chim, phục đến phản tự nhiên” đủ trăm lần. Chữ lung kết cấu phức tạp, chờ khi ngươi viết thuần thục, cũng là lúc có thể từ nhà giam chui ra, quay về với tự nhiên.

Bảo Châu dặn dò một hồi, thấy Vi Huấn không ngẩng đầu, vẫn cắm cúi viết theo mẫu, tay giơ bút vững vàng, cả người cứng đờ như tượng. Tưởng hắn chăm chú học hành, nàng trong lòng càng khoái chí, cảm thấy mình thật sự có dáng làm thầy, liền tươi tắn gọi khẽ:
“Ta đi đây!” rồi líu ríu bước ra cửa.

Cửa vừa khép lại, Vi Huấn lập tức gục luôn xuống bàn, tay phải vẫn giơ cao không dám động, sợ chỉ hơi động là phá thế cầm bút nàng đã sửa. Cảm giác ấm áp, mềm mại nơi tay nàng vẫn còn đọng lại trên da, khiến hắn chẳng dám chạm, cũng không dám bị ai chạm đến.

Chưa kịp thở ra một hơi, bên ngoài lại vang lên tiếng bước chân. Bảo Châu lần này không gõ cửa, cứ thế đẩy vào. Vi Huấn ngẩng đầu, ánh mắt đầy tuyệt vọng, không biết nàng còn định hành hạ gì thêm.

Thì ra Bảo Châu thấy hắn ngoan ngoãn quá mức, sợ hắn đang toan tính chuyện trốn đi, nên trở lại nhắc nhở, giọng lạnh tanh:
“Ta bảo viết một trăm lần là một trăm lần. Chờ ta phá án về sẽ đếm từng tờ. Nếu thiếu một tờ…”

Nàng ngẫm nghĩ, rồi quyết định đem ra tuyệt chiêu từng dùng phạt đệ đệ mình là Lý Nguyên Ức, híp mắt, nghiến răng dọa:
“Ta sẽ lấy thước đánh vào lòng bàn tay ngươi!”

Nói rồi lại đóng cửa rời đi.

Vi Huấn lại một lần nữa gục đầu xuống bàn, mãi không ngồi dậy nổi.

Mãi lâu sau, dư âm kỳ lạ nàng để lại mới dần tan đi. Vai hắn khẽ run, không nén được bật cười khe khẽ, lòng rối như mớ bòng bong:
“Chữ này… rốt cuộc là nên viết hay không nên viết đây? Nghe lời, thì đúng là được gần nàng. Không nghe lời… hình như cũng có chút hay ho riêng.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 81


Sau khi thành công nhốt được Vi Huấn trong phòng luyện chữ, Bảo Châu mang bao tay bảo hộ, từ tay đến chân trang bị đầy đủ, dáng vẻ oai phong từ trên lầu hai bước xuống.

Đám người phía dưới vừa trông thấy nàng bên hông đeo thanh dao găm, ai nấy sắc mặt đều có phần bất ngờ, vẻ mặt đủ mọi loại cảm xúc khó nói : kẻ thì lộ vẻ căm phẫn bất bình, người lại hả hê, kẻ thì khinh thường.

Trong lòng mỗi người đều vang lên tiếng thầm than: Hắn vậy mà lại giao cả Ngư Tràng kiếm cho nàng!

Ngư Tràng chính là một trong mười thanh kiếm cổ xưa nhất, từng xuất hiện trong các truyền tích chư hầu thời loạn, so với những thanh kiếm chỉ để vương tộc cất giữ làm vật trưng bày thì nó mang sát khí từng nhuốm biết bao máu lửa nơi sa trường có uy danh vang dội. Năm xưa bị Trần Sư Cổ đào ra từ một ngôi mộ cổ thời Tiên Tần, do đã nghìn năm chưa dính máu nên sắt bị gỉ nhiều chỗ trông chẳng khác gì một cây gậy sắt.

Khi còn trẻ, Trần Sư Cổ dùng chính thanh gậy sắt ấy đánh chết bảy trưởng môn các phái ở Quan Trung mở ra một cõi giang hồ nhuộm máu mà nên. Ngư Tràng kiếm, sau nhiều lần uống máu, dần dần lấy lại sự sắc bén năm xưa, từ đó trở thành vật trấn viện khi Tàn Dương Viện thành lập. Về sau, khi Trần Sư Cổ già yếu, ông trao lại cho đệ tử là Vi Huấn.

Oái oăm thay, thầy trò hai người lại chẳng ai thật sự quý trọng thanh kiếm này. Trần Sư Cổ chê kiếm ngắn khó dùng, đem mài thành dao găm; còn Vi Huấn thì chẳng màng binh khí, ngày thường dùng thanh Ngư Tràng như… dao ăn. Mấy người sư huynh đệ trong viện đã sớm bất mãn, chỉ là không tiện nói ra.

Trong lòng mỗi người dâng tràn phẫn uất và nghi ngờ. Lúc ấy Hoắc Thất Lang tiến lên, tươi cười đón nàng, trước là khen ngợi bộ nam trang của nàng hôm nay, rồi mới hỏi:
“Đại sư huynh đâu?”

Bảo Châu đáp:
“Hắn không đi. Giờ tới lượt ta phá án.”

Thác Bạt Tam Nương nghe vậy tức thì giận sôi, thấp giọng lầm bầm:
“Tiểu nha đầu này cho rằng thanh dao găm ấy là lệnh bài sư môn chắc? Muốn dùng vật đó ra lệnh cho bọn ta?”

Hứa Bão Chân cũng lạnh lùng nói:
“Chúng ta chẳng ai từng thừa nhận Ngư Tràng kiếm là lệnh phù cả. Nó chỉ là biểu tượng người có võ công cao nhất thôi.”

Khâu Nhậm bật cười hắc hắc:
“Vậy các ngươi dám cướp lấy nó từ tay cô nương ấy không? Ý Vi đại là muốn chúng ta thấy kiếm như thấy người, chớ có làm loạn.”

Mấy người nhỏ giọng bàn bạc. Hoắc Thất Lang lại hỏi tiếp Bảo Châu:
“Chuyện chiến đấu đại sư huynh xưa nay chưa từng vắng mặt, chẳng hay hôm nay là vì bệnh hay thương tích?”

Bảo Châu không muốn để lộ tình trạng thật của Vi Huấn, liền bịa:
“Không, hắn quyết định từ bỏ võ học, theo ta học chữ, giờ đang luyện viết trong phòng.”

Cả căn phòng lập tức rơi vào im lặng, rồi vỡ òa tiếng xì xào bàn tán. Hứa Bão Chân và Thác Bạt Tam Nương nghe thế liền muốn bỏ đi, nhưng lại ngần ngại Ngư Tràng kiếm là binh khí trấn viện, giờ nằm trong tay một thiếu nữ xa lạ, lỡ bị ai cướp mất thì quả là chuyện lớn.

Hai người ấy lòng đầy toan tính, nửa muốn đi, nửa không đành. Trong lúc ấy, Bảo Châu đã bước ra khỏi đám người, dắt con lừa, nhẹ nhàng lên yên, ánh mắt nhìn thẳng, dáng vẻ quyết đoán.

Hoắc Thất Lang xưa nay vốn thương hoa tiếc ngọc, lập tức đi theo hộ tống.

Thấy phần lớn người còn đứng ngẩn ra, Bảo Châu quay đầu nói lớn:
“Hung thủ tráo tân nương là ai, ta đã đoán được bảy tám phần. Vi lang hôm nay không ra khỏi cửa, các ngươi đứng đây chờ chẳng được gì. Theo ta, cơ hội phá án càng lớn hơn.”

Thái độ quá mức tự tin khiến Thác Bạt Tam Nương không nhịn được mỉa mai:
“Ồ, hôm nay khẩu khí lớn thật đấy! Không phải trước kia toàn khóc lóc chờ tiểu quỷ đầu tới cứu đó sao?”

Bảo Châu trong lòng tức tối, nhưng vẫn nhẫn nhịn, cất cao giọng:
“Ngươi dùng mấy trò giả thần giả quỷ, thủ đoạn chẳng có gì hay ho nay trời sáng rõ, ta chẳng ngán ngươi đâu. Các ngươi đi hay không tùy ý. Ta chỉ nói một điều: Vụ án trộm châu ở tháp Phật huyện Hạ Khuê là do ta phá được, Hoa Châu đệ nhất danh bộ La Thành Nghiệp cũng đã bị ta đánh bại. Sư huynh các ngươi chỉ góp mặt giúp ta một vài phần nhỏ mà thôi.”

Mọi người nghe vậy ngẩn ra, đưa mắt nhìn nhau dò xét.

Khâu Nhậm lên tiếng:
“Chuyện này giang hồ đồn đãi ầm ĩ cả lên. Viên ngọc bạch xà ở huyện Hạ Khuê kia chẳng phải do đại sư huynh trộm sao?”

Hoắc Thất Lang vỗ ngực xác nhận:
“Không phải đâu. Lúc đó lão thất ta có mặt, vụ án rất phức tạp, đúng là Cửu Nương tự mình phá.”

Khâu Nhậm vẫn chưa hết nghi ngờ:
“Ủa? Sao kỳ vậy? Ta nhớ ngày đó hỏi, đại sư huynh còn khoe rằng đã trộm được viên bảo châu quý nhất tặng cho Bảo Châu, hiện giờ vẫn đeo trên người, chẳng phải là viên ở huyện Hạ Khuê sao?”

Bảo Châu kinh ngạc sững người, rồi chợt hiểu ra Vi Huấn đang lấy danh nghĩa nàng làm chuyện bậy, lập tức nổi trận lôi đình, nghiến răng nghiến lợi:
“Đó là chuyện ở Trường An, không liên quan tới bạch xà châu gì cả!”

Tàn Dương Viện từ trước tới nay vẫn là nơi “gánh tội thay” nổi danh trong chốn giang hồ. Bọn họ mỗi người đều từng vài ba lần bị mang tiếng thay người khác, nên chuyện đồn thổi thế nào cũng không quá tin. Lần này nghe Bảo Châu giải thích, lại có Hoắc Thất Lang làm chứng, đành tạm thời tin tưởng.

Dù sao trong mắt họ, La Thành Nghiệp tuy không phải là cao thủ nhưng danh hiệu “Hoa Châu đệ nhất danh bộ” cũng không phải hư danh. Không ngờ lại bại dưới tay một thiếu nữ, lần này mới nhìn nàng bằng con mắt khác.

Hôm ấy, trời âm u, mây đen giăng kín như sắp mưa. Bảo Châu không muốn nói nhiều, khẽ giật dây cương, con lừa cất bước đi trước. Hoắc Thất Lang lập tức thúc ngựa đuổi theo.

La Đầu Đà hỏi:
“Trong các ngươi, có ai nắm chắc bảy tám phần như nàng?”

Thấy ai nấy đều im lặng, hắn xách tích trượng, sải bước đuổi theo.

Khâu Nhậm bĩu môi, cũng cưỡi lừa đuổi theo.

Thác Bạt Tam Nương thở dài, tay nhấc vạt váy, chậm rãi bước qua bậc cửa. Hứa Bão Chân thấy thế kinh ngạc hỏi:
“Ngươi cũng đi?”

Thác Bạt Tam Nương ngoái đầu mỉm cười, thì thầm như gió thoảng:
“Một chữ “tình”, nhị sư huynh mãi không hiểu được đâu. Ta đoán tiểu quỷ kia chẳng yên lòng để nàng một mình ra mặt, dù ngày mai có chết, hôm nay cũng sẽ âm thầm theo sau. Nếu hắn đã đi, thì chẳng khác nào Tàn Dương Thất Tuyệt cùng ra tay. Như thế cũng không tính là mất mặt đâu.”

Nói rồi bước đi nhẹ nhàng như làn khói mỏng.

Hứa Bão Chân dù không hiểu lắm, nhưng lo Ngư Tràng kiếm bị Tam Nương đoạt mất, đành lưỡng lự một hồi, rồi cũng dẫn đồ đệ theo sau nhập đoàn.

Trên lầu hai, Dương Hành Giản mặt mày xám ngắt, chống gậy đứng nhìn theo bóng Bảo Châu rời đi giữa đám người. Hắn muốn theo sau nhưng sức khỏe không cho phép, đến xuống lầu cũng không nổi. Trong lòng càng giận dữ: tên áo xanh kia hôm nay không hiểu nghĩ gì mà chẳng theo bên bảo hộ công chúa, còn ra thể thống gì nữa?

Bảo Châu đội mũ có rèm, cưỡi trên lưng lừa, giữa vòng vây quần hùng, thẳng hướng Ngọc Thành mà đi.

Trên đường, kẻ qua người lại thấy nàng cùng đoàn giang hồ khách khí thế hùng hổ, sắc mặt nghiêm nghị, ai nấy đều sợ chọc phải Diêm Vương, liền chủ động né tránh. Bảo Châu tuy chẳng mấy vui vẻ khi đi cùng một đám người hình dáng cổ quái, nhưng tình thế hiện tại lại chẳng khác nào cảnh một người quyền cao chức trọng ra phố, thị vệ hai bên mở lối.

Rời khỏi huyện thành Linh Bảo, khói mù nặng nề phủ đầy trời, không khí lẫn mùi bùn đất tanh ngai ngái, thêm mấy phần âm u nặng nề. Gió lạnh quất tới xé áo giật tóc, trời âm trầm thấp nặng, như sắp mưa mà lại không mưa, khiến người đi đường phân vân: nên về nhà tránh mưa, hay là chờ xem tình hình rồi mới tính?

Hoắc Thất Lang hỏi nàng:
“Hiện giờ chưa có chút manh mối nào, ngươi lại nói nắm chắc đến bảy tám phần, vậy ngươi đoán hung thủ là ai?”

Bảo Châu ngẩng đầu nói:
“Thiên cơ bất khả lộ. Ta ngờ rằng có liên quan đến vụ án cũ năm xưa ở Đại Lý Tự.”

Nàng hỏi lại Hoắc Thất Lang:
“Hôm ấy đón dâu, ngươi đi suốt bên kiệu hoa, có từng phát hiện dấu hiệu nào cho thấy tân nương bị tráo đổi trên đường không?”

Hoắc Thất Lang lắc đầu:
“Tuyệt đối không thể. Từ lúc rước dâu từ Tiêu gia ra, ta cùng đại sư huynh luôn dõi theo mọi động tĩnh trong xe, dù thật hay giả cũng chỉ có một người. Lúc ấy đoàn rước loạn cả lên, tân nương trong kiệu hơi thở vẫn đều, lòng ta còn thầm phục tính khí trầm ổn của nàng dâu lão lục. Giờ ngẫm lại, e là ngay từ lúc rời nhà mẹ đẻ đã không phải người thật.”

Nàng bĩu môi:
“Cũng tại tân nương quỳ xuống quá nhanh, nếu khi ấy Lão Lục lên tiếng ngăn lại, ba chúng ta đã chẳng đến nỗi để đám tẩu tẩu muội phu nhà họ xúm lại đánh cho một trận tơi bời rồi.”

Bảo Châu lặng lẽ trầm ngâm. Ngày hôm ấy nàng có mặt từ đầu đến cuối, nhưng không bước chân vào nhà Tiêu gia đón dâu. Sau việc mới nghe Vi Huấn và Hoắc Thất Lang kể lại, tất nhiên bỏ sót nhiều chi tiết then chốt.

Đang đắm chìm trong suy nghĩ, bỗng thấy nơi đất hoang ven đường, cách chừng trăm bước, sừng sững một nấm mộ lớn. Cũng con đường ấy, cũng lộ trình ấy, hôm rước dâu đi qua mà chẳng ai để tâm. Khi ấy hỉ khí ngập trời, đâu có ai trông vào mấy chỗ không may kia. Giờ giữa cảnh hoang vu thê lương, trông lại chốn đó mà lòng chợt dấy lên cảm giác nặng nề bất an.

Đột nhiên, một trận gió dữ từ phía nấm mồ cuốn tới, cát bay đá chạy, bụi đất mù mịt, khiến người ta mở mắt không nổi. Cùng lúc, giữa mộ phần vang lên tiếng kêu rít gào rợn người, như từ âm phủ vọng về, nghe như tiếng quỷ khóc ma gào. Bảo Châu nghe động, cả người nổi gai lạnh buốt.

Nàng đội mũ có rèm, lại có khăn che mặt, nên gió lạnh khó lùa tới, đôi mắt còn nhìn được mờ mờ. Chỉ thấy sau bia mộ thấp thoáng bóng đen như tro bụi lay động.

Bỗng bóng đen nọ lao vọt ra, hình như mang theo hai cánh vỗ phành phạch giữa không trung, tiếng rít chát chúa vang rền. Bảo Châu phản xạ theo bản năng, giương cung, một mũi tên bật ra, vun vút lao tới. Theo sau là một tiếng rú xé gan, bóng dáng kia quằn quại giữa không trung, rơi nghiêng xuống, rồi lẩn thẳng vào rừng đào bên cạnh, thoáng nhìn tựa như một loài ác điểu to lớn nào đó.

Mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp mắt, lại cách trăm bước, bọn họ còn đang gượng mở mắt giữa gió lốc, thì bóng kia đã biến mất, chỉ còn âm vang vẳng lại quanh khu mộ địa. Với tầm xa như thế, nếu không phải cung tiễn, thì chẳng có môn võ nào kịp ra tay.

Lúc đầu thấy Bảo Châu mang theo cung, ai nấy còn ngờ nàng chỉ học lỏm đôi chút rồi mang ra khoe mẽ như bọn tiểu thư nhà giàu. Nhưng cú bắn vừa rồi nhanh như sấm giật, chuẩn xác như tay thiện xạ hạng nhất, khiến tất cả đều giật mình. Thác Bạt Tam Nương vốn giỏi dùng ám khí, càng hiểu rõ cung bắn trong gió loạn dễ lệch mục tiêu, phải có bản lĩnh lão luyện và tính toán cực kỹ mới dám bắn trúng. Nàng chẳng thể không thầm tán thưởng tài bắn cung của thiếu nữ trẻ kia.

Song miệng nàng lại không chịu buông lời khen, ngược lại bĩu môi chê bai:
“Ngươi mang nhẫn ban chỉ, lại đeo bảo hộ tay, làn da tuy trắng trẻo, nhưng dễ ảnh hưởng cảm giác, thể lực yếu, chưa thể bắn chí mạng.”

Bảo Châu vốn chẳng ưa nàng, liền đáp thẳng:
“Có công cụ hỗ trợ tuy không bằng tay không linh hoạt, nhưng ta mang đủ thứ vướng víu vẫn là người duy nhất đả thương được địch. Chẳng phải càng chứng minh ta giỏi hơn người khác một bậc sao? Không phục, ngươi bắn thử đi!”

Lời nàng vừa dứt, mọi người liền thấy toát ra hẳn mùi kiêu ngạo quen thuộc. Ba đệ tử đầu của Tàn Dương Viện luôn được xếp trên, cách biệt với đám còn lại. Còn Vi Huấn thì xưa nay vẫn luôn ngang ngược, thường nói những lời chẳng ai cãi nổi. Nhớ lại bộ mặt tên tiểu quỷ ấy lúc hăng hái tự đắc, ai nấy đều cắn răng nhịn, không dám bật lại.

Trong lòng Bảo Châu lúc này lại nghĩ: nhóm người này quả thực không ai sánh được với Vi Huấn. Ngày xưa nàng bắn trật con mồi, hắn đã phóng như bay đuổi theo. Còn bọn này thì mắt trơ trơ, chẳng ai nhích một bước. Chẳng lẽ bắt nàng tự mình đi đến? Cưỡi lừa đuổi theo thì cũng được đấy, nhưng bên kia là mộ lớn, nàng vốn sợ ma, chẳng dám đến gần. Nếu Vi Huấn có mặt, hẳn đã hiểu lòng nàng mà giúp đỡ.

Nàng không biết rằng, bọn họ mỗi người một tính, ai cũng chẳng phục ai. Nay đại sư huynh không có mặt, chẳng ai nắm quyền vốn định tự đi tìm dấu vết, giờ lại cố tình đứng yên xem nàng làm được gì.

Chờ một hồi vẫn chẳng thấy ai động đậy, Bảo Châu thở dài, định bụng phải lên tiếng sai bảo, thì mặt đất bỗng chấn động, tựa hồ có đoàn ngựa đang tới gần. Chẳng bao lâu, Bàng Lương Ký dẫn theo hơn hai chục người từ hướng Ngọc Thành cưỡi ngựa phi nhanh tới, khí thế cuồn cuộn, vừa lúc gặp đoàn Bảo Châu ở dọc đường.

“Nhị sư huynh! Tam sư tỷ! Tứ sư huynh! Ngũ sư huynh! Lão Thất!”

Hắn không tiện xuống ngựa, hô một mạch mấy người, sau đó ghìm cương chạy tới trước mặt Bảo Châu:
“Ta ngồi chờ mãi mà không thấy các ngươi đến, chờ rồi lại chờ, cuối cùng quyết định đem người tới đón.”

Tối qua việc được nàng sắp đặt, hắn chỉ trong một canh giờ đã thu xếp đâu vào đấy. Tật Phong Thái Bảo dù đôi chân tàn phế, nhưng vẫn nóng lòng như lửa đốt, hễ có hy vọng là lập tức hành động.

Bảo Châu nghĩ bụng: ban đầu thấy tên này ngây ngô, giờ so với đám giang hồ này, hắn lại là người tỉnh táo duy nhất. Nàng kể lại chuyện quái lạ vừa rồi, nói:
“Ta săn thú bao năm, chưa từng gặp con quái điểu nào như thế. Cả thứ chim đầu chó do Tây Vực tiến cống cũng chưa chắc to như vậy.”

Bàng Lương Ký lập tức nói:
“Các ngươi đi trước vào Ngọc Thành. Đất hoang này mò mẫm tốn thời gian ta dù gì cũng chẳng đánh đấm gì được, vừa lúc đem người tới đi tìm.”

Đoạn sai người xuống ngựa, nhường ngựa cho các vị sư huynh sư tỷ.

Bảo Châu liếc qua đám người theo hầu, đều là gia đinh bình thường. Nghĩ bụng: nay Bàng gia bị kẻ nhắm tới, không thể để những người này một thân một mình dễ trở thành miếng mồi. Bèn quay sang đám người Tàn Dương Viện:
“Có người nên theo Bàng Lương Ký, phòng khi xảy ra chuyện bất trắc còn có người ứng biến.”

Mọi người lặng lẽ đưa mắt liếc dao găm bên hông nàng, trong lòng đều hiểu: bảo vệ Bàng Lục là việc nên làm, lời này dù chẳng phải phát từ miệng nàng cũng cần có người thực hiện.

La Đầu Đà trầm giọng, lời ít ý nhiều:
“Ta ở lại.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 82


Đoàn người tiến vào Ngọc Thành trong tay nắm ba đầu mối cần phải tra xét. Bảo Châu nhất thời do dự, chưa biết nên bắt đầu từ đâu. Lúc ấy, Thác Bạt Tam Nương bất ngờ quay đầu ngựa, định tách ra khỏi đoàn.

Bảo Châu thấy nàng nhắm hướng phủ Bàng Lương Ký, liền cất giọng nhắc:
“Tân nương mất tích, hiện trường đầu tiên hẳn là Tiêu gia, đâu phải Bàng gia?”

Thác Bạt Tam Nương bật cười khinh khỉnh:
“Ta muốn đi đâu, cần gì phải bẩm báo với ngươi?”

Nói đoạn, nàng không thèm ngoảnh lại, thúc ngựa phóng đi.

Bảo Châu giận tím mặt. Hoắc Thất Lang vội giải thích:
“Tam sư tỷ vốn tinh thông mật thám, ẩn thân hành thích, dò la cơ mật, hoặc hạ thủ đoạt đầu. Lần này e là nàng muốn quan sát thủ pháp của kẻ địch, mà kẻ giả làm tân nương kia chắc chắn cũng không phải hạng tầm thường, cần có người bản lĩnh theo dõi sát sao.”

Bảo Châu nghe xong, tim như gõ trống. Trong lòng nảy ý muốn thu phục Tam Nương về dưới trướng. Nhưng nữ nhân ấy vốn tính tình ngạo mạn, khó thuần, dường như còn lấn át cả Vi Huấn, nói năng tử tế thôi cũng đã chẳng dễ.

Nàng dõi mắt nhìn theo bóng dáng nữ hiệp thần sắc quỷ dị kia dần khuất sau con hẻm vắng, khẽ thở dài:
“Nàng đã chọn đi Bàng gia, vậy thì ta trước tiên tới Tiêu phủ.”

Ngày rước dâu hôm ấy, Tiêu phủ ngựa xe tấp nập, cửa trước rộng mở, tiếng nhạc vang khắp nơi. Giờ đây lại tiêu điều vắng lặng, một lão bộc còng lưng, chậm rãi hất từng gáo nước giữa sân, quét tàn tro rơi rụng như người chẳng còn sức lực.

Đoàn người xuống ngựa, không ai ra đón, không cả người dắt lừa dắt ngựa. Họ đành tự mình buộc dây cương vào cọc gỗ trước cổng, lặng lẽ đi thẳng vào trong. Mãi đến khi vào tới giữa sân, mới có một nha hoàn lật đật chạy vào trong báo tin.

Chờ khá lâu, một người đàn ông trung niên áo gấm từ trong bước ra. Trên mặt hắn thoa phấn trắng dày, hương thơm xộc thẳng vào mũi, so với mặt Bảo Châu điểm trang còn diêm dúa hơn vài phần. Hoắc Thất Lang vừa thoáng nhìn đã phải nhăn mặt cắn răng.

Người ấy vẻ mặt cao ngạo, mũi hếch lên trời, cất tiếng hỏi:
“Các người là ai?”

Bảo Châu nhìn cách ăn mặc và tuổi tác của hắn, đoán đây hẳn là chủ của Tiêu phủ, liền nói:
“Tiểu nữ là Dương thị Cửu Nương, họ hàng nhà Bàng Lương Ký. Do Tiêu tiểu thư bất ngờ mất tích trong ngày thành thân, nên tiểu nữ đến nhà mẹ đẻ nàng dò la sự tình. Ngài là thân phụ nàng sao?”

Kẻ kia vẫn giữ nguyên vẻ khinh khỉnh, tuyệt không lộ lấy một nét lo âu vì con gái mất tích. Tuy thời Đường nam tử nhà giàu có thói thoa phấn điểm hương, nhuộm tóc chải râu, không phải chỉ riêng mình nữ giới, nhưng con gái vừa mới mất tích hôm qua, hắn không những chẳng sai người qua hỏi han nhà thông gia, lại còn trang điểm rực rỡ thế kia, khiến ngay cả Bảo Châu cũng phải nhíu mày khó chịu.

Người nọ xưng danh:
“Ta là Tiêu Sĩ Liêm. Tiêu Nhiễm đã gả vào Bàng gia, từ lúc bước chân lên kiệu hoa rời khỏi cửa nhà, nàng đã không còn là người của Tiêu thị. Các ngươi đem chuyện náo loạn khiến lời ra tiếng vào, giờ còn có mặt mũi tới đây dò xét sao?”

Bảo Châu vốn định ôn hòa hỏi chuyện, mong lần theo dấu vết tìm ra chút manh mối. Nào ngờ chủ nhà tự nhận là “thanh quý”, lại ngạo ngược vô lễ, ngay câu đầu đã phủi sạch quan hệ, mặt đầy vẻ “gả rồi thì mặc kệ”, khiến nàng lập tức nổi giận. Dẫu sao nàng cũng là dòng dõi vọng tộc, nếu luận tài đối đáp, bọn kẻ sĩ nghèo rớt này sao địch nổi Lũng Tây Lý thị?

Nàng cười nhạt, ngẩng cao đầu, giọng lạnh lùng:
“Họ là ‘Sĩ Liêm’, mà hành xử chẳng khác nào kẻ ham lợi. Vội vã phủi tay, chẳng lẽ sợ Bàng gia đem tân nương bị tráo trả về, bắt ngươi trả sính lễ sao? Nhìn cảnh nhà tiêu điều thế này, sợ rằng cả đời chẳng có cháu bồng, chẳng dám nhận lại cô con gái đã bán đi làm của hồi môn. Phấn son ngươi bôi trên mặt, tơ lụa ngươi mặc trên người, chẳng phải đều từ tiền sính lễ đó sao? Nay muốn thoái hôn, đòi lại của, e là cũng chẳng dám ra mặt nói rõ với người ta, đúng là khó xử thật đấy.”

Nàng nói bằng giọng châm biếm sâu cay, ánh mắt lạnh lùng khinh miệt.

Tiêu Sĩ Liêm nghe xong mặt mày tái xanh, miệng há hốc, tay run run chỉ vào nàng, lời nói nghẹn lại nơi cuống họng.

Từ xưa, thế tộc vọng tộc vốn lấy huyết thống và phẩm cấp làm đầu, giữ nghiêm lễ nghi, khinh thường thông hôn với hạng hàn môn. Nhưng thời thế đổi dời, nhiều nhà vọng tộc sa sút, kinh tế eo hẹp, lại bị những gia tộc mới giàu lấn át, bèn đem nữ nhi gả cho kẻ có tiền để đổi lấy sính lễ, mong dùng của cải bù đắp thể diện, gọi là “bán hôn”.

Nếu hai bên ưng thuận còn dễ thông cảm. Nhưng có nhà, cha mẹ chẳng hỏi ý con, không màng tuổi tác, bệnh tật, dung mạo, chỉ xét tiền tài, đem con gái như món hàng mà gả bán, khiến người đời cười chê, gọi là gả con vì lợi, là mang danh bán nữ nhi.

Việc này triều đình từng ra lệnh cấm, nhưng lòng tham con người thì đâu dễ dứt. Lệnh ban chưa ráo mực, nạn bán con vẫn nhan nhản khắp nơi.

Tiêu Sĩ Liêm thừa biết hành vi đó bị thiên hạ khinh miệt. Nhiều lời đàm tiếu đang lan truyền cũng nhắm vào hắn, nói hắn đem con gái còn giữ tiết hạnh gả cho kẻ què chân tàn phế, chỉ vì tham món sính lễ. Bị Bảo Châu vạch mặt ngay trước sân, hắn xấu hổ đến mức mặt mày trắng bệch, chỉ đành gắt lên:

“Con ranh kia! Ngươi là thứ hàn môn vô danh lấy tư cách gì mà đến đây hỗn hào với nhà ta?”

Nào ngờ hắn vừa dứt lời, Bảo Châu lại càng được thể, cười khúc khích đáp lời:
“Bàng gia tuy xuất thân hàn môn, nhưng ta là Dương thị Hoằng Nông, nhà ta ba đời vinh hiển, truyền thống thanh sạch. A gia ta từng mặc triều phục đỏ, huynh trưởng ta từng đội mão tím, còn ngài, một nhánh Tiêu thị mấy đời tay không, chẳng đỗ nổi một khoa thi, đọc sách như gió, tự xưng thư hương, chẳng thấy xấu hổ sao? Vậy mau cầm tiền sính lễ đem cho đứa con ngốc nhà ngươi đi mua lấy chức quan nho nhỏ là gỡ lại được chút thể diện ấy mà!”

Đêm qua, Bàng Lương Ký đã sai người tới từ đường Tiêu thị đánh cắp gia phả, Bảo Châu nhờ đó nắm rõ gốc rễ từng tộc phái nhà họ Tiêu. Giờ mở miệng công kích, chẳng khác nào gió thuận buồm xuôi, nhắm đúng điểm yếu mà giáng đòn, ép đối phương nghẹn lời.

Dù không cần đến thân phận Lũng Tây Lý thị, chỉ riêng danh môn của Dương Hành Giản cũng đủ đè bẹp loại người như Tiêu Sĩ Liêm, khiến hắn chẳng còn dám ngẩng đầu.

Sau khi Võ hậu chấn hưng khoa cử, môn phiệt thế gia dần suy vi, muốn chấn hưng phải dựa vào thi cử mà vào triều. Sĩ tộc sa sút, con cháu không học hành thì chẳng có đường ra dù gia thế lớn đến đâu cũng bị chèn ép.

Bảo Châu biết rõ bọn người ấy vừa hận đời vừa khát cầu công danh, nói câu nào cũng như gươm chém trúng chỗ hiểm. Mấy lời qua lại, mặt Tiêu Sĩ Liêm lúc thì đỏ bừng, khi lại tái mét, tay ôm ngực ngã phịch xuống ghế, thở không ra hơi.

Hắn định xông lên tát nàng một cái, nhưng nhìn nàng khí chất đài các, dáng vẻ con cháu quyền quý, lại không dám làm liều như với con gái mình.

Hoắc Thất Lang đứng bên, khoanh tay xem kịch, thầm tiếc không có hạt dưa để nhâm nhi thưởng thức.

Khâu Nhậm thì liếc mắt về phía góc sân, thấp giọng nói với Bảo Châu:
“Ta từng nghe nói Nhật Mộ Yên Ba chưởng có thể đánh người nội thương mà bên ngoài không tổn hại, nay thấy Cửu Nương dùng lời lẽ mắng mỏ, hiệu quả chẳng kém Vi đại chút nào. Xem ra lão già kia sắp phát bệnh tim thật rồi, bị nàng mắng sống mắng chết rồi.”

Hoắc Thất Lang cũng liếc mắt nhìn về phía góc sân, nửa đùa nửa thật nói:
“Hay là Cửu Nương dắt theo Tứ sư huynh đến sẵn đi, lát nữa nếu người kia lăn đùng ra ngất, thì người còn có ngươi ứng cứu.”

Hứa Bạo Chân đứng bên cửa, thái độ lạnh nhạt, trong lòng dâng lên ngờ vực. Chàng để ý khẩu âm, cách dùng từ và cách nói năng của Bảo Châu, đều y hệt như người trong cung cấm, đặc biệt là điệu bộ cao cao tại thượng, ngữ khí răn dạy đầy kiêu căng, khiến ngờ vực trong lòng mỗi lúc một lớn.

Đúng lúc Bảo Châu đang mắng chửi Tiêu Sĩ Liêm đến hả dạ, một nữ nhân cao gầy lặng lẽ bước vào chính đường. Phía sau, đám gia nhân dìu Tiêu Sĩ Liêm thất thểu lui vào trong.

Gia chủ Tiêu phủ ăn vận bóng bẩy, mặt mày phấn son kỹ càng, trái lại người nữ tử mới đến lại để mặt mộc, mày mắt vuông vắn, dung nhan nghiêm nghị, trạc hơn ba mươi, tóc tai quần áo vẫn giữ cách ăn mặc của người chưa chồng.

Gia phả xưa nay chỉ ghi tên con trai, chẳng nhắc tới con gái, nên Bảo Châu không khỏi ngỡ ngàng, nhất thời chưa biết nên xưng hô ra sao, thì đã nghe người kia mở miệng:
“Tiểu nữ Tiêu Nhẫm, là tỷ tỷ của Tiêu Nhiễm — tân nương hôm ấy. Phụ thân sức khỏe yếu, không tiện tiếp khách, xin các vị lượng thứ.”

Nữ tử ấy nét mặt bình thản, giọng nói ôn hòa, như thể chẳng nghe thấy gì về trận mắng chửi dữ dội vừa rồi.

Hai chữ “thấm thoát” vốn dùng để chỉ thời gian trôi qua nhẹ nhàng không dấu vết, xuất xứ từ đời Hán trong bài <i>Quả phụ phú</i>: “Khi thấm thoát mà không lưu, đem dời linh lấy đại sự.” Dùng làm tên người thật chẳng may mắn.

Bảo Châu thấy nàng tuổi đã xế chiều, lại vẫn giữ nếp ăn mặc của người chưa chồng, trong bụng cũng đoán được phần nào thân thế. Chuyện “bán hôn” đời sau vẫn thường nhắc: nhà danh gia vọng tộc nếu không gả được con gái cho nhà môn đăng hộ đối, bèn để đấy chờ dịp tốt, hy vọng bán được giá cao. Còn nếu bán chẳng được, thì cứ để đó cho đến khi già.

Thời gian thấm thoát trôi qua, muội muội đã là quả phụ, tỷ tỷ lại hóa kẻ cô đơn sống qua tuổi xuân thì, đúng như cái tên “Tiêu Nhẫm” của nàng — thấm thoát mà lỡ cả đời, như có số mệnh sắp sẵn, không thể tránh.

Bảo Châu chưa từng gặp Tiêu Nhiễm, chỉ mới thấy kẻ giả dạng nàng trong ngày rước dâu. Qua dáng vẻ cũng có thể hình dung bản thân Tiêu Nhiễm hẳn là thanh tú dịu dàng, xứng gả danh gia, lại tái giá nhà giàu cũng không lạ. Trái lại, Tiêu Nhẫm dung nhan bình thường, nhìn qua chẳng có nhiều lựa chọn, e cũng bị phụ thân ham tiền mà giữ lại mãi trong nhà.

Tiêu Nhẫm sau khi an bài cho Tiêu Sĩ Liêm nghỉ ngơi, liền gọi một nha hoàn, dặn xuống bếp kêu đầu bếp hầm một chén canh an thần cho cha dùng. Đoạn lại bảo người mang trà nước tiếp đãi khách khứa, lời nói hành xử ung dung, cử chỉ đoan chính, chẳng khác gì quản gia lâu năm dày dạn kinh nghiệm.

Quả nhiên, sau khi mọi việc được sắp xếp thỏa đáng, nàng mời Bảo Châu ngồi xuống, sắc mặt lạnh lùng, nói:
“Mẫu thân đã mất nhiều năm, mọi việc trong nhà đều do ta quán xuyến. Hôn lễ của muội muội cũng một tay ta lo liệu, phụ thân chẳng rõ chi tiết bên trong, tiểu thư có điều chi muốn hỏi, cứ hỏi thẳng ta.”

Bảo Châu để tâm quan sát từng nét mặt, cử chỉ của nàng, lại chẳng thấy chút gì lo lắng vì em gái mất tích, trong lòng càng cảm thấy kỳ quặc. Nàng vẫn còn canh cánh chuyện Vi Huấn bị rót rượu độc trong lễ cưới, vì thế dù trà nước đã được bưng tới, nàng vẫn không hề động tay. Chỉ có Khâu Nhậm là khẽ nâng ly, l**m thử rồi ngửi ngửi.

Vừa rồi đã trút hết cơn giận vào Tiêu Sĩ Liêm, giờ chẳng cần quanh co, Bảo Châu đi thẳng vào chuyện:
“Tiêu Nhiễm rời nhà chồng, trở về nhà mẹ đẻ từ khi nào?”

Tiêu Nhẫm đáp:
“Thủ tang cho chồng xong, đầu năm nay thì trở về.”

Bảo Châu nhớ lời Bàng Lương Ký nói: hôn kỳ cũng định vào đầu năm. Nghĩ bụng, lần tái giá này quả thật quá vội, bảo sao ngoài phố xá người người đều chê cười. Nhưng nhìn ánh mắt Tiêu Sĩ Liêm đầy tham lam, nàng đoán việc định hôn sớm e chẳng phải ý của Tiêu Nhiễm.

Pháp luật nhà Đường có quy định rõ ràng trong <i>Hộ hôn luật</i>: “Phụ nhân phu tang phục trừ, thề tâm thủ chí, duy tổ phụ mẫu, cha mẹ đến đoạt mà gả chi.”

Tức là, chỉ cần hết thời gian để tang, nếu cha mẹ hoặc ông bà ép gả, thì dù bản thân quả phụ không muốn, cũng không thể cãi lại. Chuyện tái giá, gả ai, lúc nào, vẫn do người trong nhà định đoạt như lần đầu xuất giá.

Bảo Châu lại hỏi:
“Nói vậy, Tiêu Nhiễm ở nhà mẹ đẻ nửa năm, trong khoảng ấy có qua lại với nhà chồng cũ Lư gia không?”

Tiêu Nhẫm lắc đầu, nói nhạt:
“Lư gia giũ hết của hồi môn, vào mùa đông đã đuổi muội muội ta đi trong giá rét, bắt muội ấy đi chân trần ra khỏi nhà. Hôm ấy náo loạn khắp đầu phố cuối ngõ, chẳng có khả năng còn qua lại gì nữa.”

Bảo Châu gật đầu, lại hỏi tiếp:
“Vậy nàng ở phòng nào? Xuất giá từ gian nào? Ta muốn nhìn qua.”

Tiêu Nhẫm liền đứng dậy:
“Mời các vị theo ta.”

Bảo Châu cùng mọi người Tàn Dương Viện đi theo bước chân nàng vào nội viện Tiêu phủ.

Hai dãy sân nối liền trước sau, tuy bề ngoài chia tiền viện hậu viện, nhưng bài trí bên trong lại chật chội tù túng, nhà cửa cũ kỹ xiêu vẹo, trái lại bàn ghế, đồ dùng thì đều là vật mới sang quý, trông có vẻ chắp vá, thiếu hài hòa.

Thấy Bảo Châu chăm chú quan sát, Tiêu Nhẫm thản nhiên giải thích:
“Đồ mới là sính lễ nhà Bàng gia đưa đến, mấy người hầu kia cũng là mới tuyển, còn chưa quen việc. Huynh trưởng ta đã dọn sang phủ mới, nơi này từ đó không còn ai sửa sang gì nữa.”

Vốn dĩ nhóm người Bảo Châu định bụng chế giễu Tiêu gia bán con cầu vinh, nhưng thấy nàng thẳng thắn, thái độ tự nhiên, không tranh hơn thua lại chẳng nỡ chê bai gì nữa.

Chừng nửa khắc sau, họ đến gian phòng của Tiêu Nhiễm. Cửa phòng đóng chặt, mới được sơn đỏ lại, khóa lớn còn niêm phong. Tiêu Nhẫm lấy chìa khóa mở ra, bên trong tối om, ánh sáng lờ mờ ảm đạm.

Tuy chưa bước vào, nhưng khung cảnh bên trong hoàn toàn chẳng giống khuê phòng, ngược lại giống phòng kho hoặc nhà giam. Bảo Châu thấy nghi, Tiêu Nhẫm giải thích:
“Sau lần đầu xuất giá, trong nhà không còn chừa lại phòng riêng cho muội ấy. Gian này vốn là phòng chứa đồ, tạm sửa lại dùng, không có cửa sổ lớn. Xin chờ một lát để ta lấy đèn.”

Hoắc Thất Lang thấy vậy, cẩn thận dặn:
“Cửu Nương tạm ở ngoài chờ, để ta cầm đèn vào xem trước. Lỡ bên trong có người mai phục thì nguy hiểm.”

Khâu Nhậm thì nói:
“Ta không vào đâu. Ta muốn biết, hôm rót rượu tân lang trước cổng lớn, là nữ nhân nào ra mặt? Rượu ấy ai chuẩn bị?”

Tiêu Nhẫm đáp gọn:
“Đó là biểu muội Mai cô cô. Rượu là do nhà ta chuẩn bị. Các nàng bàn nhau bỏ ít thuốc trêu chọc tân lang, ta không cản được, thật lòng xin lỗi.”

Lời nàng nói thẳng thắn không né tránh, khiến ai nấy đều bất ngờ. Khâu Nhậm nói:
“Ta muốn xem nơi các người pha rượu.”

Tiêu Nhẫm gật đầu, sai gia nhân đưa hắn đi.

Chờ đèn được mang tới, Hoắc Thất Lang một tay cầm đèn dầu, cẩn trọng bước vào trước dò xét một vòng. Xác nhận bên trong không có gì nguy hiểm mới gọi Bảo Châu vào xem.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 83


Đám người Tàn Dương Viện tuy bề ngoài có vẻ lười biếng, nhưng từ lúc bước chân vào gian “khuê phòng” kỳ thực chẳng khác ngục thất ấy, lại trở nên đặc biệt thận trọng. Trước hết là Hoắc Thất Lang tiến vào dò xét, sau đó mới cùng Bảo Châu vào trong, còn Hứa Bạo Chân thì ở lại ngoài cửa để phòng hờ, tránh trường hợp bị mai phục chẳng khác chi “cá chui vào rọ”.

Vừa bước qua ngưỡng cửa, cảm giác đầu tiên đập vào người là một luồng áp lực nặng nề.

Nếu nơi đây vốn là phòng chứa vật dụng, thì hẳn có tính toán đề phòng trộm cắp vì cửa sổ chỉ là một ô vuông nhỏ bằng lòng bàn tay, thông khí kém, bên ngoài lại giăng đầy song sắt. Lớp gỉ đã dày, rỉ đỏ ăn mòn tới tận chân sắt, hiển nhiên là đã nhiều năm chưa từng thay thế.

Trong phòng, bàn ghế vật dụng toàn bộ đều mới toanh, làm bằng gỗ hoàng dương, kiểu cách tinh xảo, hoa văn chim chóc sặc sỡ uốn lượn như tranh vẽ, có lẽ cũng là đồ sính lễ từ Bàng gia đưa tới. Ngoài ra còn thấy không ít sách vở, nghiên bút, giấy mực… dấu vết sử dụng rõ ràng, hiển nhiên chủ nhân là người thường xuyên đọc sách, viết chữ.

Bảo Châu thuận tay lật vài trang viết, thấy chữ viết ngay ngắn thanh tú, nét bút như trâm hoa rơi nhẹ, vượt xa mấy nét chữ xấu tệ của Bàng Lương Ký. Chỉ là trong nhà âm u, ánh sáng tù mù, muốn đọc sách viết chữ thì dẫu giữa ban ngày cũng phải đốt đèn mới sáng.

Bảo Châu lấy làm lạ, hỏi:
“Tiêu phủ tuy không rộng rãi, nhưng chẳng đến nỗi không dành nổi một gian phòng sáng sủa cho cô nương ở tạm?”

Tiêu Nhẫm đáp khẽ:
“Là phụ thân cố chấp muốn muội ấy ở đây.”

Nói đến đây nàng hơi ngập ngừng, như đang cân nhắc có nên nói ra thực tình hay không.

“Nếu các vị là người nhà Bàng gia, vậy ta xin nói thật. Năm xưa nhà ta ở sát vách Bàng phủ, A Nhiễm lúc ấy còn nhỏ, người giữ cửa lại không nghiêm nên muội ấy có dịp làm quen với công tử nhà họ Bàng. Chính vì điều ấy mà lần đầu nàng xuất giá đã khiến Lư gia sinh lòng khó chịu. Lần này nàng trở về nhà mẹ đẻ, phụ thân liền nhất quyết bắt nàng nhốt trong phòng, bắt chép sách, không cho bước ra khỏi cửa.”

Bảo Châu thầm nghĩ: vậy chẳng khác nào trong cung gọi là “giam cung” — một hình thức giam cầm nữ nhân không danh không phận.

Chỉ bởi vì thời thơ bé từng quen biết Bàng Lương Ký mà rộ lên những lời đồn thất thiệt, khiến Tiêu Sĩ Liêm chẳng rõ vì tâm địa vặn vẹo hay hẹp hòi mà giam con gái chẳng khác gì phạm nhân. Một nhà vốn mang tiếng danh gia vọng tộc, vậy mà hành xử chẳng khác gì kẻ tiểu nhân hèn mọn, khiến người khác chỉ thấy ngột ngạt khó thở.

Hoắc Thất Lang nhảy phắt lên bàn, vung tay thử vào dãy song sắt nơi cửa sổ, không ngờ bẻ ra được một thanh gỉ sét.

“Chà, sắt gỉ mục đến thế này rồi.” — Nàng chìa thanh sắt đưa cho Bảo Châu, nói: “Một khi đã bẻ xuống rồi thì coi như không thể gắn lại. Trong phòng mùi ẩm mốc nặng nề, xem ra từ lâu không ai đến chỉ có thể ra vào bằng cửa chính thôi.”

Bảo Châu hỏi Tiêu Nhẫm:
“Thường ngày căn phòng này vẫn khóa chặt vậy sao?”

Tiêu Nhẫm gật đầu:
“Phần lớn thời gian là vậy. Chỉ khi phụ thân ra ngoài, ta mới lén mở cửa cho muội ấy ra ngoài hít thở khí trời. Trong thời gian tổ chức hôn lễ, phòng này hoàn toàn khóa kín. Sính lễ của Bàng gia có nhiều đồ quý giá, người ra kẻ vào lại lắm tay tạp, sợ thất thoát, nên ai cũng bị kiểm tra gắt gao.”

Bảo Châu càng nghe càng thấy phản cảm. Một nhà chỉ biết nhìn tiền, nhốt con gái như nhốt tù nhân. Nàng quay sang nói:
“Chúng ta cần xem xét kỹ căn phòng này. Phiền Tiêu đại nương ra ngoài nghỉ tạm một lúc.”

Tiêu Nhẫm thoáng khựng lại. Nhận ra thiếu nữ kia đang thay mặt quản lý, ra lệnh cho chính mình người chủ sự Tiêu gia lui ra, mà giọng điệu lại vô cùng tự nhiên, khiến nàng bỗng có cảm giác nơi đây không phải Tiêu phủ của mình, mà như thể chỉ là một tiểu viện mà Bảo Châu cai quản, còn bản thân nàng chỉ là một kẻ sai vặt dưới tay người ta. Phải chăng đây mới thực sự là phong thái của con nhà thế gia, danh môn đích nữ?

Trong lòng Tiêu Nhẫm bất giác dâng lên nỗi tự ti, không nói gì thêm, lặng lẽ lui xuống.

Bảo Châu và Hoắc Thất Lang liền chia nhau ra tìm. Một người lật giở sách vở, giấy bút; người kia thì xem xét từng góc khuất sau kệ tủ, tường vách, đề phòng có hầm ngầm hay cửa bí mật.

Tiêu Nhiễm không chỉ dung mạo xinh đẹp, mà tài văn cũng đáng kinh ngạc. Thơ phú nàng viết cao nhã thanh khiết, như lan như huệ giữa núi rừng u tịch. Bảo Châu lần dở tập thơ bản thảo, nghĩ bụng: cô nương này tài học ắt vượt xa huynh trưởng, tiếc thay sinh làm nữ tử, bị nhốt trong trăm điều lễ giáo, trói buộc bởi những toan tính hôn nhân tầm thường. Nếu sinh làm nam nhi, ắt sẽ được tung hoành trong chốn khoa trường, chẳng đến nỗi Tiêu gia giờ đây nghèo túng, luẩn quẩn bán con lấy tiền.

Hoắc Thất Lang lục lọi một hồi chẳng thấy manh mối gì, quay sang hỏi:
“Vậy rốt cuộc chúng ta đang tìm cái gì?”

Bảo Châu đáp:
“Ta cũng chưa biết. Manh mối thường chỉ lộ ra khi bản thân bước tới gần nó. Án này xoay quanh chuyện ba nhà tranh giành một nữ nhân: chồng cũ họ Lư, nhà mẹ đẻ họ Tiêu, và tân lang họ Bàng. Nàng vốn là người do cha mẹ sinh dưỡng, rồi bị bán cho nhà chồng, sau đó lại bị bán lần nữa mà mỗi lần như vậy đều vì tiền. Kẻ nào bỏ tiền ra thì có quyền “mua lại”. Thân phận nàng chẳng khác gì món hàng bị đem ra đổi chác, còn nàng thì vĩnh viễn không thể tự quyết vận mệnh chính mình.”

Hoắc Thất Lang nghe mà chấn động:
“Người trong giang hồ bọn ta vẫn tưởng nữ nhân nhà quyền quý sống trong nhung lụa, áo gấm rượu ngon, chẳng ngờ bị nhốt trong cái phòng như ngục tù thế này, bị giam giữ, định giá, không có một chút quyền tự do. Thế khác gì súc vật đâu?”

Bảo Châu thầm nghĩ, ngay cả thân là công chúa như nàng, hôn nhân cũng chẳng hơn gì Tiêu gia tỷ muội. Đến tuổi thì cũng phải nghe cha mẹ, nghe lời mai mối, trở thành công cụ quyền lực trong tay triều đình. Nếu không được vua cha thương yêu, thì có khi còn bị đưa đi hòa thân nơi phiên bang, chẳng có lấy một con đường phản kháng. Muốn thực sự có được tự do, chỉ còn cách bỏ lại tất cả, sống lang bạt giữa đời loạn, tóc tai rối bời, miếng ăn bữa đói bữa no, một bước xuống giang hồ, chẳng biết ngày về.

Nàng mở một chiếc rương đỏ, xem xét bên trong, chỉ thấy vài hộp phấn son cũ kỹ chẳng có lấy một món trang sức nào. Ở đáy rương, lại tìm được một tờ giấy dùng để pha màu, mặt trên nguệch ngoạc mấy dòng thơ:

“A gia luyến Kim Trọng,
Thân huynh muốn mã kỵ;
Đem bán tiểu nữ nhi,
Gả cùng chơi xuân nhi.”

Đây vốn là thơ của Nguyên Chẩn trong bài <i>Đại cửu cửu</i>, nói về một người cha vì tham lam mà bán con gái cho kẻ trăng hoa. Bốn câu ấy, chỉ đổi “a mẫu” thành “a gia”, mà chẳng lệch một nghĩa nào quả đúng với hoàn cảnh của Tiêu gia lúc này.

Bảo Châu đọc đến đó, lòng bất an, thấp giọng nói:
“Hỏng rồi!”

Hoắc Thất Lang ngạc nhiên ghé tới:
“Sao lại thế?”

Bảo Châu chỉ vào tờ thơ:
— “Chơi xuân nhi” chính là kẻ trăng hoa, ăn chơi trác táng. Nữ nhân trong bài thơ tự biết mình gả nhầm người, kết cục là:

“Sao Sâm, sao Thương nửa đêm khởi,
Cầm sắt một tiếng ly.
Nỗ lực tân tùng diễm,
Cuồng phong thứ tự thổi.”

Nghĩa là nàng ấy quyết rời khỏi kẻ chồng không xứng đáng, mở ra một đời sống mới. Nếu “chơi xuân nhi” ám chỉ chính là Bàng Lương Ký, thì rất có thể Tiêu Nhiễm chưa từng muốn lấy hắn!

Hoắc Thất Lang chết sững:
“Chẳng lẽ cô nương ấy thật sự rất chán ghét lão Lục?”

Việc tráo tân nương đã khiến cả kinh thành bàn tán xôn xao, vậy mà phụ thân và tỷ tỷ nàng vẫn thản nhiên như không, quả là đáng nghi. Bảo Châu vốn tưởng Tiêu Nhiễm và Bàng Lương Ký là thanh mai trúc mã, tình cảm mặn nồng. Nhưng Tiêu Nhiễm bị nhà mẹ đẻ cưỡng ép đoạt lại từ tay nhà chồng, rồi bị giam lỏng trong căn phòng tối như ngục này, từ đầu đến cuối đều là nghe lệnh cha mẹ, do người mai mối sắp đặt.

Vậy Bàng Lương Ký có từng tự thân đến hỏi nàng về hôn nhân này chưa? Hay chỉ là hắn một mình si tình, mê muội theo đuổi mà không biết người ta chẳng hề mong muốn? Đứng ở góc nhìn của tân nương, có khi hắn chẳng khác nào một tên hào phú mặt dày, dùng tiền ép cưới, lại còn mượn danh nghĩa “hộ vệ” mà đưa cả sư huynh đệ hung hăng đến ép buộc nàng… Như thế, há chẳng phải đáng sợ hay sao?

Bảo Châu ngẫm nghĩ một hồi, đoạn nghiêm giọng nói:
“Nếu tra ra sau cùng là Tiêu Nhiễm tự ý bỏ trốn, vậy ta cũng chẳng thể ép nàng quay về, chỉ đành bảo Bàng Lương Ký đi tìm một mối khác mà kết duyên.”

Hoắc Thất Lang nghe vậy thì khẽ thở dài, lòng như có chút vướng bận. Một lát sau mới lên tiếng:
“Cũng phải thôi, bọn ta tuy chẳng phải hạng người tốt lành gì, nhưng chuyện cưỡng ép nữ nhân, quả thật chẳng đành lòng làm ra. Nàng không muốn, thì đành chịu vậy.”

Khám xét khuê phòng chẳng thấy thêm manh mối nào, Bảo Châu rảo bước ra ngoài sân, đang định nghĩ xem bước tiếp theo nên dò hỏi nơi nào, thì bất chợt nhớ lại lời Vi Huấn từng nói: trong lễ cưới hôm ấy, có kẻ trà trộn giữa đám phụ nhân nhà chồng dùng gậy sắt đánh lén. Hắn vì ngại tình thế không tiện phản đòn nên chỉ đoạt lấy vũ khí rồi tiện tay ném lên mái nhà.

Nhìn thấy Hứa Bạo Chân vẫn ung dung đứng tựa cột bên hành lang, Bảo Châu bèn sai:
😛hiền đạo trưởng lên mái xem giúp, thử coi có tìm được hai cây gậy sắt hay không?:

Hứa Bạo Chân lơ đễnh liếc nàng một cái, phất nhẹ tay áo, coi như không nghe thấy.

Hoắc Thất Lang bật cười:
“Nhị sư huynh xưa nay vốn kén chọn cao ngạo, thôi để Lão Thất ta vì ngươi chạy chân một phen.”
Dứt lời, nàng liền nhanh nhẹn phóng lên mái nhà tìm kiếm.

Bảo Châu trong lòng không khỏi bực bội. Đạo sĩ kia rõ ràng là theo nàng ra đây, nhưng hết lần này đến lần khác lại chẳng chịu nghe lời sai khiến. Lúc này nàng mới để ý: y phục Hứa Bạo Chân mặc khác hẳn đám đồng môn áo vải mũ cỏ. Trên đầu hắn đội một chiếc mũ nạm vàng, thân khoác áo bào tím rộng tay thêu sao dệt gấm, từ cách may đến màu sắc đều giống hệt mấy vị pháp sư hầu bên long giá trong cung.

Mà áo bào màu tím chính là lễ phục dành riêng cho hoàng thân quốc thích hoặc quan lại từ tam phẩm trở lên, do đích thân Thái Tông sắc định. Chẳng biết mấy năm gần đây, thánh thượng mải mê đan dược trường sinh, đem y phục tôn quý ấy ban cho lũ “chân nhân”, “thiên sư” trong cung, khiến cả triều trên dưới đều lấy làm khó chịu.

Bảo Châu lạnh lùng hỏi:
“Bộ quần áo này là ngự ban sao? Ngươi có thân thế gì mà dám mặc đồ trong cung?”

Hứa Bạo Chân trong lòng chợt dâng nghi hoặc, ánh mắt lạnh như nước lướt nhanh qua gương mặt nàng. Cùng lúc đó, chiếc phất trần khẽ rung, như cảm ứng sát khí từ đâu bất ngờ ập tới. Hắn liền trấn định lại tinh thần, cúi mi rũ mắt, điềm nhiên đáp:
“Mắt ngươi tinh tường thật đấy, sao lại nhận ra?”

Bảo Châu bịa đại:
“Nhà ta có người là thương nhân có giao tình với hoàng thân. Thân mặc ngự phục, sao không ở lại bên thánh thượng? Cung đình đãi ngộ chẳng phải cao quý hơn giang hồ gió bụi nhiều lắm sao?”

Hứa Bạo Chân cười nhạt:
“Vua chúa đời nào cũng mong sống lâu trăm tuổi, nhưng chẳng ai muốn bỏ công sức thật sự. Chỉ muốn động cái miệng mà đòi đan dược trường sinh bất tử, há chẳng là mơ chuyện hoang đường? Ta lười phụng hầu, cũng chẳng quen nói lời nịnh hót dối trá.”
Dứt lời, mặc nàng có hỏi thêm, hắn cũng nhất quyết không mở miệng nữa.

Hoắc Thất Lang từ mái hiên nhẹ nhàng đáp xuống, trong tay cầm hai cây gậy sắt, cười nói:
“Mua một tặng một, vận may tốt thật! Tìm gậy còn lượm thêm được một quyển sách nữa.”
Nói xong, nàng đưa cho Bảo Châu một quyển sách bọc trong giấy dầu.

Bảo Châu lòng dấy nghi ngờ, liền tháo giấy ra xem, trải tờ bìa đầu tiên, chỉ thấy một hàng chữ tựa như ca dao, lại tựa như câu đố:
“Một mảnh lửa, hai mảnh lửa,
Trẻ áo bay ngồi giữa điện đình.”

Mắt vừa lướt qua câu đó, sắc mặt nàng liền biến hẳn, lập tức khép chặt quyển sách lại.

Sắc mặt nàng nghiêm trọng chưa từng thấy, trầm giọng hỏi:
“Ngươi đã xem nội dung bên trong chưa?”

Hoắc Thất Lang nhướng mày hỏi lại:
“Trong ấy có nhắc đến tên ta sao?”

Bảo Châu lắc đầu.

Nàng lại hỏi:
“Vậy có thứ nào giống trò gieo xúc xắc, đánh bài, hay trò chơi cờ lá không?”

Bảo Châu biết đó là mấy trò bạc bẽo mà Hoắc Thất Lang mê mẩn, bèn lại lắc đầu.

Nghe vậy, nàng cười phá lên:
“Vậy thì chẳng có can hệ gì tới ta. Ta không quen sách, sách cũng chẳng quen ta.”

Bảo Châu thầm thở phào. Nghĩ bụng, đôi khi không biết chữ lại hóa ra tránh được hoạ. Nàng vội ôm quyển sách giấu vào trong ngực, rồi gọi một nha hoàn tới, sai dẫn mình đến gặp riêng Tiêu Nhẫm cùng gia chủ Tiêu Sĩ Liêm để nói chuyện kín.

Hoắc Thất Lang gọi giật lại:
“Còn hai cây gậy này thì sao, bỏ à?”

Bảo Châu vừa đi vừa đáp, giọng khẩn trương như có lửa đốt lòng:
“Gậy sắt cùng lắm chỉ dùng để đánh người. Còn quyển sách này… có thể khiến cả nhà chết không kịp chạy!”
Nói rồi nàng rảo bước đi thẳng vào nội đường.

Hoắc Thất Lang cùng mấy người còn lại bị giữ lại ở sân ngoài. Hứa Bạo Chân nhếch môi khinh khỉnh:
“Nhìn bộ dạng ân cần kia mà chướng mắt. Chẳng khác gì đám tay sai l**m gót vương công quý tộc.”

Hoắc Thất Lang bị mắng một hồi, chỉ cười cười, chẳng lấy làm phiền:
“Ngươi chưa thấy Đại sư huynh của ta đâu. Bộ dạng chạy đông chạy tây lấy lòng còn ân cần hơn ta gấp bội.”

Hứa Bạo Chân lạnh lùng nói:
“Hắn sớm muộn cũng chết nên mới dám muốn gì làm nấy. Còn ngươi cũng muốn đi vào vết xe đổ ấy sao?”

Hoắc Thất Lang nhún vai:
“Chẳng ai sống mãi với đời. Tất cả chúng ta rồi cũng sẽ chết. Trước khi chết, được sống theo ý mình, sống vui một chút, vậy chẳng tốt hơn sao?
Ta thì thích vui vầy bên mỹ nhân, chẳng mưu tính lớn lao gì, nhưng tâm lại thảnh thơi khoan khoái.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 84


Sấm vĩ, là điềm trời báo mệnh.

Tựa như xưa kia có câu: “A Phòng A Phòng, mất nước vì Thủy Hoàng”, hay “Nước Sở dấy binh, Trần Thắng làm vua”. Gần đây lại có: “Hoa dương rơi, mận nở rộ”, “Nữ vương nổi dậy, thiên hạ đổi thay”… Những câu ấy phần nhiều lưu truyền trong dân gian qua lời đồng dao, câu đố, hát ru, như thể ý trời âm thầm hé lộ giữa cõi nhân gian.

Nếu điềm trời thuận lợi cho kẻ cầm quyền thì gọi là “Thiên mệnh”, còn nếu làm lung lay kỷ cương thì liền thành “Lời ma mị nhiễu loạn lòng dân”.

Bởi đấng quân vương là kẻ mang mệnh trời, nên triều đình xưa nay đều e sợ những lời tiên đoán dị thường. Ai tự tiện viết sách tiên tri tàng trữ trong nhà, chẳng khác gì cất giấu gươm giáo để phản nghịch. Có thời, triều đình còn lấy tội tru di cả tộc mà nghiêm cấm.

Năm xưa, Thiều Vương Lý Nguyên Anh vì một câu: “Xuyến đi trung thẳng truyền thiên hạ”, mà bị nghi là kẻ phản nghịch, cha con sinh hiềm khích, cuối cùng bị đày nơi biên ải, chẳng còn mặt mũi quay về Trường An.

(Câu sấm này bị lợi dụng để ám chỉ rằng Lý Nguyên Anh là “trung thẳng” – người ở giữa, nhưng sẽ đoạt quyền, giành lấy thiên hạ. Do đó, kẻ đối địch mượn lời sấm để gieo rắc nghi kỵ giữa Lý Nguyên Anh và hoàng đế, khiến cha con bất hòa, bị giáng chức đày đi biên ải.)

Bởi vậy, Bảo Châu càng thêm cảnh giác. Vừa cầm lấy quyển sách đã lật sơ qua, thấy toàn những câu kiểu như “Áo bay, đứa trẻ ngồi giữa điện”, “Người gặp dưới chân núi quỷ, buộc áo lụa”, “Ba anh em, mỹ nhân về, dung nhan trắng trẻo đoạt ánh xuân trời”… toàn những câu đố ca dao rối rắm khó hiểu, xen lẫn vô số bức vẽ thiên văn đầy ký hiệu kỳ dị. Nàng lập tức đoán ra đây chính là một quyển sấm ký, loại sách mà triều đình luôn kiêng kị nhất.

Thứ sách ấy được bọc trong giấy dầu chống nước, giấu kín trên mái phòng không ai lui tới. Nếu quan quân tra xét mà thấy, cả nhà Tiêu thị ắt gánh tội tru di. Kẻ nào giấu nó, tâm địa còn hiểm độc hơn cả rắn rết. Nếu chẳng phải Bảo Châu tình cờ cùng Hoắc Thất Lang lên đó tìm cây gậy Vi Huấn đánh rơi, ắt cũng không ai phát hiện ra.

Nàng lặng lẽ đem sách đưa cho Tiêu Sĩ Liêm. Gã vừa thấy đã quỵ ngay xuống đất, mặt trắng bệch như tờ giấy, tay chân run rẩy, chẳng đứng lên nổi.

Tiêu Nhẫm chưa từng thấy vật ấy, nhưng nghe danh đã hoảng. Vốn là người trầm lặng điềm nhiên, nay ống tay áo cũng không giấu nổi run rẩy. Tuy chưa ngất, nhưng rõ ràng đang gắng gượng.

Bảo Châu nghiêm mặt nói:

“Việc này đã không còn là chuyện của riêng một tân nương. Là họa diệt môn. Tiêu đại nương tử, từ đây về sau, ngươi phải nói rõ hết mọi sự trong nhà. Một lời cũng không được giấu. Nếu không, ta cũng chẳng giúp được gì cho các ngươi.”

Tiêu Nhẫm gật đầu, nuốt nước miếng, miễn cưỡng giữ vẻ bình tĩnh.

“Tiêu Nhiễm có thật bằng lòng tái giá hay không? “— Bảo Châu hỏi thẳng.

Nàng kia cúi đầu, ngón tay siết chặt dây lưng áo, nói nhỏ:

“Muội ấy không phản đối, nhưng cũng không có vẻ gì vui mừng. Chắc là vì sợ ta lo lắng. Từ khi trở về, tính tình muội ấy khác xưa, không còn nói nhiều với ta như trước. Ta… ta trước kia từng ghen ghét muội ấy, nhưng giờ đã buông bỏ rồi.”

“Sao lại buông bỏ?” — Bảo Châu truy hỏi.

Tiêu Nhẫm ngập ngừng, rồi đáp:

“Vì lấy chồng chẳng có gì hay. A Nhiễm về Lư gia, không con cái, bị chồng và nhà chồng chê bai, sống chẳng ra gì. Ta tuy không chồng, nhưng trong nhà còn có căn phòng của riêng mình.”

Nàng thở nhẹ một hơi, rồi nói tiếp:

“Càng gần ngày cưới, muội ấy càng buồn bã. Ta thấy muội ấy giấu một mảnh giấy, trên có mấy dòng thơ, ý cũng chẳng thiết tha gì Bàng gia tiểu lang. Lúc nhỏ có lẽ có chút tình cảm, nhưng nay gã đã què, lại nổi tiếng ăn chơi lêu lổng. Chúng ta… thật sự đã đến đường cùng, không có sính lễ của Bàng gia, mùa đông tới than sưởi cũng không có. Trong lòng ta rất áy náy với muội ấy.”

Tiêu Sĩ Liêm lúc này mới bò tới, định nắm chân Bảo Châu cầu xin, nhưng bị nàng đá sang một bên.

Nàng thầm nghĩ, nhà này thật chẳng có một người nam ra hồn. Tiêu Nhiễm có tài, nhưng không được đi thi; Tiêu Nhẫm giỏi việc, nhưng không thể ra ngoài kiếm sống. Hai người giỏi nhất nhà, đều là nữ tử, mà phả hệ thì chỉ ghi nam. Không lụi bại mới là lạ.

Tiêu Nhẫm ngẩng mặt lên, giọng kiên quyết:

“Nếu A Nhiễm không muốn lấy chồng, ta sẽ bảo vệ muội ấy đến cùng. Khi nhỏ muội ấy vốn nghịch ngợm, trèo tường ra ngoài chơi là chuyện thường, bằng không sao lại quen biết Bàng lang.”

Bảo Châu khẽ gật đầu, nghĩ thầm: Tiêu Nhẫm hẳn đoán muội mình đã bỏ trốn, nên giả vờ không quan tâm, mong giữ lại cho nàng con đường lui.

“Hôm ấy có gì khác lạ không? “— nàng hỏi.

“Ngày cưới đông người, ta lo tiếp khách nên chẳng theo sát được. Nhưng có một việc lạ: Bàng gia có phái một nữ nhân đến làm bạn tân nương, ta cũng sắp xếp nàng này ở cùng A Nhiễm. Nhưng tới lúc lên kiệu hoa, người ấy lại biến mất. May còn có tẩu tử muội phu ta theo kèm.”

Bảo Châu ghi nhớ kỹ tướng mạo nữ nhân kia. Nếu bên Tiêu gia có sách sấm, nhà kia e cũng chẳng sạch sẽ gì.

Nàng giấu sách vào người, dặn Tiêu Nhẫm đóng cửa lục lại toàn bộ nhà, rồi cùng Hoắc Thất Lang trở lại Bàng phủ.

Khâu Nhậm vẫn lần mò dấu vết rượu thuốc. Bảo Châu sợ trong đám người hầu mới của Tiêu gia có gian tế, bèn để hắn ở lại canh giữ.

Trên đường về, nơi từng đón dâu nay đã vắng vẻ. Bảo Châu nhớ lại dáng thiếu niên hăng hái hôm ấy, giờ chỉ còn là kẻ tơi tả máu me, bất giác lửa giận bốc lên, trong lòng thề sẽ tận tay kết thúc vụ này.

Ngang qua đoạn Vi Huấn từng ném tiền đuổi bọn phá hôn, những đồng bạc chôn trong phiến đá đã bị người ta cạy sạch, chỉ còn lại lỗ chỗ hố nhỏ.

Hoắc Thất Lang cảm khái:

“Đại sư huynh ra tay thật mạnh.”

“Nhưng không ném vào người.” — Bảo Châu nói.

Hứa Bão Chân nhếch môi cười khẩy. Hoắc Thất Lang vẻ mặt khổ sở:

“Chẳng qua vì là hôn lễ nên hắn mới nương tay, chứ bình thường với huynh đệ trong môn, có bao giờ nhẹ nhàng?”

Bảo Châu hơi sửng sốt, nghĩ: Bàng Lương Ký cũng từng chê trách Vi Huấn ra tay độc ác, nay lại thêm Hoắc Thất Lang, chẳng biết cái gọi là “sư môn” này có còn tình nghĩa hay chăng.

Hoắc Thất thấy nàng ngạc nhiên, nhớ đến vụ cá cược, bèn cố tình thử:

“Với ngươi thì hắn hẳn rất dịu dàng, chẳng bao giờ mạnh tay.”

“Ta luyện cung ngựa, không so quyền cước với hắn. Hắn ra tay nặng hay nhẹ thì có liên quan gì tới ta?” — Bảo Châu đáp tỉnh bơ.

Hoắc Thất biết nàng không hiểu, vội vàng cười trừ cho qua.

Tới chỗ hôm trước Vi Huấn giương cờ, lá cờ rách đã bị hạ xuống, chỉ còn một dải lụa đỏ mắc nơi đầu cây. Bảo Châu bước qua cây cầu đã hai lần đi lại, chợt thấy bên sông có một chiếc lông chim đen sì rơi giữa bụi cỏ, bèn sai Hoắc Thất Lang nhặt lên.

Từ xa nhìn không rõ, cầm trong tay mới biết: Lông chim cứng như đao, dài tới gần hai thước, chẳng rõ mọc từ con chim khổng lồ nào. Nàng lập tức nhớ đến con chim kỳ quái gặp lúc sáng nơi mộ hoang.

“Buổi sáng chưa nói kịp, ta cũng thấy giống như… — Hoắc Thất Lang nói — … một giống yêu điểu nơi mộ phần.”

“Nói nghe thử xem? “— Bảo Châu tò mò.

“Ngươi hẳn cũng biết sư môn ta vốn làm nghề gì. Chuyện quỷ quái kỳ dị ai cũng từng nghe kể. Có truyền rằng nơi phần mộ âm khí tích tụ, người sống oán, kẻ chết hận, lâu dần sinh ra quái điểu gọi là La Sát Điểu. Con ấy thân to như chim ưng, móng vuốt nhọn hoắt, có thể hóa thành mỹ nữ mê hoặc kẻ sống, rồi moi mắt mà ăn.

Nghe đến đây, Bảo Châu rùng mình, tay sờ thanh chủy thủ bên hông, cầu mong vật ấy thực sự có thể trừ tà. Nàng rụt rè hỏi:

“Các ngươi… từng gặp thứ ấy chưa?”

“Chưa.” — Hoắc Thất Lang lắc đầu.

Hứa Bão Chân lạnh lùng nói:

“Chuyện truyền miệng mà thôi. Đừng nói La Sát, đến một bóng ma tụi ta còn chưa từng thấy.”

Bảo Châu thầm nghĩ: Các ngươi đã là lũ tà ma sống, âm binh dưới mộ thấy cũng phải chạy mất.

“Không biết Bàng Lương Ký có đuổi kịp con chim ta bắn rơi không. Nếu bắt được xác, may ra còn rõ nó là thứ gì. Với lại… mỹ nữ mê hoặc người sống, chẳng giống chuyện tân nương bị tráo hôm ấy sao?”

“Ma quỷ thì khó nói, nhưng kẻ tráo tân nương chắc chắn là người. — Hoắc Thất Lang đáp — Tới Bàng phủ là rõ.”

Thế nhưng chưa kịp tới nơi, chuyện lạ đã xảy ra. Dọc đường người trong giang hồ kéo nhau đi như hội. Đến gần biệt phủ Bàng gia, đã có tới hơn hai ba trăm người tụ tập.

Hứa Bão Chân hỏi một kẻ trong đám, được đáp: Tật Phong Thái Bảo Bàng Lương Ký nhân danh Tàn Dương Thất Tuyệt mời toàn bộ võ lâm trong vùng tới phủ, nói sẽ tuyên bố một chuyện “động trời”.

Hoắc Thất Lang cùng Hứa Bão Chân nghe xong đầy bụng ngờ vực.

Tàn Dương Thất Tuyệt đã lâu không tụ họp, chẳng ai muốn bị xem như một môn phái. Bàng Lương Ký lại đã bị trục xuất, danh cũng không còn trong nhóm, mấy người còn lại cũng chẳng buồn tìm ai thay thế, chỉ mặc kệ gọi là “lục tuyệt” từ lâu.

“Ta nhớ Bàng Lục định nhân dịp cưới xin để rửa tay rời giang hồ, nhưng thế nào cũng không phải chuyện kinh thiên động địa. ” — Hoắc Thất nói.

Hứa Bão Chân cau mày:

“Việc này không do Bàng Lục làm. Hắn không dám xưng như vậy. Ta đi dò hỏi xem tin từ đâu ra.”

Nói rồi giục ngựa đi.

Bảo Châu thấy đoàn người của mình ngày càng lẻ tẻ, sốt ruột:

“Phái đồ đệ đi là biết rồi, sao phải tự mình?”

Hứa Bão Chân liếc nàng:

“Ngươi không phải người trong giang hồ, nên không hiểu quy củ.” — Giọng lạnh nhạt, rõ ý khinh thường, rồi bỏ đi.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 85


“Tiêu Nhiễm” vốn có vẻ mặt thanh tú dịu dàng, giờ phút này trông còn đáng sợ hơn cả lệ quỷ mười phần. Mặt nạ da người bên ngoài bị Hoắc Thất Lang xé rách, để lộ nửa khuôn mặt thật khô quắt và nhăn nhúm vì thời gian dài bị giam trong tối tăm. Nửa còn lại thì bị Thác Bạt Tam Nương khoét mất một con mắt, hốc trống chảy ròng ròng máu đọng.

Tứ chi nàng vặn vẹo, nằm oặt như con rối đứt dây, trắng bệch và co rúm. Tay chân bị rút hết gân, xếp một bên như những sợi dây trắng. Dù là người đã quen thấy cảnh chết chóc như Hoắc Thất Lang, cũng không khỏi rùng mình, than thở: “Tam sư tỷ ra tay hơi quá rồi.”

Thác Bạt Tam Nương lại chẳng lấy làm áy náy, trái lại còn trách Vi Huấn: “Đều tại tiểu quỷ đó đánh trúng vào vai ta, không đổi được dây đàn, giờ còn thiếu một dây, không thể đàn được nữa.”

Bảo Châu tối sầm mặt mày, dạ dày dâng trào, vội ôm miệng chạy khỏi hầm. Nàng vốn nghĩ mình gan lì, không sợ quỷ thần, ai ngờ lại bị cảnh sống rút gân người làm cho sợ đến thất vía.

Hoắc Thất Lang nhanh chóng đuổi theo.

Kẻ giả tân nương, trước vốn được cung phụng chu đáo, bị xé mặt nạ, lộ ra nửa mặt người nửa mặt quỷ, từ đó chẳng ai dám gần. Không bao lâu bị đưa xuống hầm, rơi vào tay Bà Âm Ma, chưa đầy mấy hôm đã bị dày vò đến chẳng còn ra hình người.

Bảo Châu nôn ọe bên gốc cây, chẳng nhớ nổi mình định hỏi gì, Thập Tam Lang bèn chạy đi tìm nước cho nàng súc miệng.

Lúc mới vào Bàng phủ, nàng đã căn dặn tổng quản tìm cho bằng được thư Sấm Vĩ, sau mới định dò hỏi giả tân nương. Hoắc Thất Lang từng khuyên nàng đừng vào hầm, nàng lại cố chấp vào bằng được, nào ngờ tự rước khổ vào thân.

Hoắc Thất Lang tính vỗ lưng an ủi nàng, song nghĩ rồi lại thôi, chỉ dịu giọng nói: “Tam sư tỷ giỏi thẩm vấn, Đại Lý Tự mà nàng còn moi được lời, huống gì là một đứa giả trang. Có gì cần biết, hỏi nàng là rõ.”

Bảo Châu hít sâu mấy lần, mới trấn định lại, hỏi: “Ngươi học thuật giả dung, chỉ cần giỏi là có thể giả được mặt ai cũng giống sao?”

Hoắc Thất Lang lắc đầu: “Mặt thật ra dễ, khó là hình vóc và giọng nói. Như ta cao lớn thế này, có làm mặt giống Tiêu tiểu nương mười phần, nhìn qua cũng thấy giả. Muốn giả cho giống, cần thân hình và giọng nói tương đồng. Muốn bắt chước giọng, phải ở bên người ta thật lâu, quen mới bắt chước nổi. Ta đoán tên kia hoặc không giỏi bắt chước giọng, hoặc chưa gần gũi Tiêu Nhiễm bao giờ, nên đành giả làm người câm.”

Bảo Châu ngẩng nhìn hắn. Nàng còn cao hơn Vi Huấn, nếu là nàng thì càng khó giả người khác. Hiểu ra, thuật giả dung không phải vô địch, nếu lọt vào địch doanh mà bị lộ, hậu quả thật khó lường.

Hai người đang trò chuyện, chợt trên cành cây trong viện vang lên tiếng kêu khàn khàn. Bảo Châu lập tức giương cung, mũi tên còn chưa rời dây, đã thấy một chiếc phi đao lấp lánh bay vút qua, tiếng kêu im bặt. Từ trên cao rơi xuống xác một con quạ đen, đầu lìa khỏi cổ.

Thác Bạt Tam Nương cười đắc ý: “Thấy chưa? Phải thế mới gọi là gọn gàng. Đánh không chết ngay thì phải bổ thêm đao, tức là công phu còn yếu.”

Trong tầm hai mươi bước, cung tên cần giương kéo, ám khí chỉ cần tay nhanh. Vũ khí khác nhau, mỗi người mỗi sở trường. Song nghĩ đến cách nàng đối xử với tên giả tân nương ban nãy, Bảo Châu không muốn cùng loại người này luận tài nữa.

Hoắc Thất Lang thấy Bảo Châu e sợ, liền bước lên che trước nàng. Thác Bạt Tam Nương hừ lạnh, nhặt xác quạ lên xem. Phát hiện dưới cánh có lông nhuộm lam, không phải tự nhiên.

Hoắc Thất Lang nói: “Là ám ký. Bàng gia bị người theo dõi. Giang hồ có nơi dùng cách này báo tin.”

Bảo Châu thắc mắc: “Không phải thường dùng bồ câu sao?”

Hoắc Thất đáp: “Người giang hồ đa phần không biết chữ, chỉ cần thoả thuận từ trước, phân biệt bằng màu sắc là đủ. Không chỉ bồ câu, quạ, chim sẻ, thậm chí chó mèo cũng dùng được.”

Thập Tam Lang chen vào: “Môn phái chúng ta dùng khói ngũ huynh chế ra truyền tin.”

Thác Bạt Tam Nương phì cười: “Tàn Dương Viện các ngươi cái gì cũng nói cho người ngoài, thật chẳng có chút đường lui.”

Bảo Châu không tranh luận, hỏi thẳng: “Ngươi moi được gì từ miệng tân nương giả rồi?”

Tam nương đáp: “Gã rất kín miệng, chỉ khai rằng khi lẻn vào khuê phòng nơi ấy trống trơn, không còn thấy bóng tân nương.”

Nghe vậy, nghi hoặc trong lòng Bảo Châu bỗng rơi rụng.

Tam nương giễu cợt: “Ngươi nói ta mờ ám, nhưng ngươi cũng chẳng hơn gì. Tự xưng nắm chắc bảy tám phần, đông chạy tây dò nửa ngày, rốt cuộc được gì?”

Bảo Châu điềm đạm đáp: “Ta đã biết rõ hai phe – một bên là kẻ biết luật triều đình, ra tay âm hiểm nhằm diệt cả hai họ Tiêu và Bàng; bên kia là người giang hồ, chỉ phá hôn lễ để hạ nhục Bàng Lương Ký. Một bên là thù nước, một bên là oán riêng.”

Nàng dừng một chút, tiếp: “Căn cứ nhiều vụ án trước ở Đại Lý Tự, phàm nữ tử chết thảm, hơn nửa là do nhà chồng ra tay, hoặc trượng phu, hoặc cha mẹ chồng. Tân nương mất tích, hung thủ khả nghi nhất là chồng trước Lư gia. Tiêu gia vì tham giàu mà gả con hai lần, lại có oán với Lư thị, kẻ kia trong triều có thế, không khó đoán bọn họ thừa dịp hôn sự hoàn tất, ra tay trừ hai nhà. Hơn nữa, theo lệ, phát hiện người giả được thưởng một nửa tài sản của tội nhân. Bàng gia giàu có, e sớm bị nhắm tới.”

Tam nương chau mày hỏi: “Nhưng việc tái giá đâu phải mới, sao bọn họ không ra tay sớm?”

Bảo Châu đáp: “Lư gia có thế, song Tiêu Nhiễm vẫn từng là vợ họ, nếu ra tay sớm thì vạ lây cả thân tộc. Phải đợi khi lục lễ hoàn thành, nàng thật sự thuộc về Bàng gia, lúc đó mới có cớ ra tay. Mưu tính rất sâu, chẳng khác gì đá tự đập vào chân mình nếu sai một bước.”

Tam nương lặng im, Bảo Châu nói: “Ta giờ quay lại Tiêu gia tìm chứng cứ.”

Vừa dứt lời, Bàng tổng quản chạy tới, sắc mặt tái nhợt, nhỏ giọng nói: “Chủ nhân sai ta đi theo Cửu nương, nguyện dốc sức trợ giúp, chỉ mong ngài cứu một nhà Bàng gia.”

Bảo Châu gật đầu, lập tức quay lại Tiêu gia. Tiêu Nhẫm kéo theo một tiểu tỳ chừng mười ba, mười bốn tuổi đến trước mặt nàng, nói: “Con bé này từ nhỏ hầu hạ muội muội, cùng theo về nhà. Có gì nương tử muốn hỏi, nó chắc biết đôi chút.”

Bảo Châu nhìn tiểu tỳ, hỏi: “Nếu Lư gia đã tịch thu của hồi môn, sao ngươi còn theo nàng về được?”

Tiêu Nhẫm đáp: “Lạ là ở chỗ đó. Muội muội về nhà một mình, mấy tháng sau con bé này tới gõ cửa, nói bị đuổi khỏi Lư gia, không nơi nương tựa, xin về hầu hạ lại. Phụ thân ta tiếc của, một nô tỳ ba mươi quan tiền, nên chỉ hỏi vài câu rồi nhận lại.”

Tiểu tỳ sợ run người, nước mắt lưng tròng. Tiêu Nhẫm biết sự việc liên quan đến lời sấm rất hiểm nguy, nên sau khi Bảo Châu rời đi đã tra xét lại mọi manh mối.

Bảo Châu nghiêm giọng hỏi: “Lư gia sai ngươi chuyển gì cho tiêu tiểu nương?”

Khí chất uy nghi khiến tiểu tỳ lập tức quỳ xuống, vừa khóc vừa khai: “Phu nhân Lư gia lén đưa một phong thư, sau khi xem xong, tiểu nương tử lập tức đốt ngay. Nô không biết chữ, chẳng hiểu gì cả!”

Bảo Châu nghĩ: Với thân phận nàng, không biết nội dung thư cũng phải. Nhưng điều đó chứng thực Lư gia có nhúng tay. Giờ chỉ còn biết Tiêu Nhiễm giữ vai trò gì trong âm mưu ấy.

Bảo Châu hỏi tiếp: “Ngày thành thân, nàng có gì bất thường?”

Tiểu tỳ đáp: “Vẫn như ngày thường, trâm nương đến điểm trang, chúng nô giúp mặc áo cưới, đội trang sức. Nhưng nàng chẳng vui vẻ gì, còn đuổi hết ra ngoài, nói muốn tự tay mặc.”

Lúc ấy, Khâu Nhậm đi ra, nói với Bảo Châu: “Bọn họ còn giữ nửa hồ rượu có pha thuốc mê, nhưng không có mạn đà la. Có lẽ có kẻ lén thêm vào sau, mùi bị thứ thuốc khác át đi. Đại sư huynh kỵ cay chẳng ngờ cũng uống hết.”

Hoắc Thất Lang cười: “Không khéo, tam sư tỷ vừa tìm được một gói thuốc bột từ tên giả.”

Khâu Nhậm nghe xong, mắt sáng như sao: “Đó là bảo vật đấy, ta đi xin lại ngay.” Rồi vội vàng chạy đi.

Bảo Châu gom hết đầu mối suy ngẫm lại, lòng còn ngờ vực. Lư thị có động cơ rõ ràng, người giang hồ thì mục tiêu mơ hồ, dường như chỉ muốn làm nhục Bàng gia trước mặt bá quan văn võ.

Nhưng vì sao phải hại một kẻ vốn tàn phế, sắp rời giang hồ, như Bàng Lương Ký? Vi Huấn và bọn họ có cừu oán gì chăng? Nàng nghĩ mãi vẫn không ra. Bèn lệnh Tiêu Nhẫm trông coi tiểu tỳ, còn mình quay lại khuê phòng Tiêu Nhiễm, tìm thêm manh mối.

Hoắc Thất Lang nói: “Phòng tối quá, hay là dọn hết đồ ra ngoài mà xem cho rõ?”

Bảo Châu cười nhẹ: “Ngươi quả là người có sức mà không chỗ dùng.”

Hoắc Thất đáp: “Nhờ lão lục nuôi ăn nuôi uống, nên ta mới có sức. Nghe bảo hắn còn đúc cả chậu vàng để rửa tay gác kiếm, thật đúng là phung phí. Trên giang hồ, dùng thau đồng đã là sang.”

Bảo Châu lặng người. Thế sự đã rối như tơ vò, người này vẫn còn lòng nói chuyện cười. Chẳng biết là tâm rộng hay lòng bình thản.

Nàng hỏi: “Ngươi lo xong việc Bàng Lương Ký rồi định đi đâu?”

Hoắc Thất Lang thành thật: “Tính về Trường An uống rượu.”

Bảo Châu không do dự: “Vậy đầu quân cho ta, cùng các huynh đệ hộ tống ta đi tìm người thân. Tiền công không kém đâu.”

Hoắc Thất vừa nghe, lòng run rẩy, một bên đi đường một bên được ngắm người đẹp, còn có tiền đầy tay đời này còn gì hơn?

Bảo Châu lại tiếp lời: “Vi Huấn dù sao cũng là nam tử, có nhiều việc bất tiện. Ta lại hơi sợ tối, sợ ma… Có ngươi bên cạnh, vừa tiện vừa an tâm.”

Nói tới đây, nàng chớp mắt long lanh: “Ngươi có thể ở cùng phòng, cùng giường với ta, chẳng gì hợp bằng.”

Hoắc Thất Lang nghe đến đó, nụ cười dần tắt, cảm thấy một luồng sát khí từ đâu kéo đến, lạnh sống lưng. Biết nếu trả lời sai, e đầu không còn giữ nổi.

“Tiếc là… việc này lão Thất không tiện nhận.”

Vì mạng sống, hắn đành từ chối, miệng bịa ra: “Sư môn chúng ta có quy củ, đã nhận chủ rồi thì không được nhận người khác.”

Bảo Châu chau mày: “Thập Tam Lang chẳng phải vẫn theo ta đấy thôi?”

Hoắc bảy cúi đầu cung kính: “Đó là ngoại lệ. Tiểu Thập Tam Lang chưa xuất sư đi theo đại sư huynh. Ta là anh hùng có tiếng, chẳng thể so được.”

Bảo Châu thất vọng rõ ràng, oán trách: “Môn phái các ngươi nhỏ, quy củ lại nhiều như luật lệnh vậy.”

Hoắc Thất thầm thở dài: thật ra chẳng có quy củ gì cả, chỉ là Vi đại chiếm mất chỗ tốt, kẻ khác chẳng dám tranh.

Không giữ được người, Bảo Châu lại quay về với khuê phòng Tiêu Nhiễm, ánh mắt dừng trên chiếc giường lớn. Giường cao, rộng, chăn gấm xếp chồng, màn buông lên cả giường, chưa chắc đã kiểm tra kỹ.

Nàng nói: “Ngươi có thể dỡ giường lên cho ta xem kỹ không?”

Hoắc Thất Lang liền vén tay áo, dỡ hết màn, nhấc giường dịch ra. Vừa kéo ra, nàng đã kêu lên: “Dưới giường có dấu vết, như từng có người trốn ở đây.”

Bảo Châu nhìn kỹ, thấy có một dòng chữ nhòe máu ghi vội nơi đầu giường:

“Chết ở chỗ nào nói, đành giử thân nơi núi non.”

Cạnh đó, trong khe giường, có cắm một chiếc thoa mạ vàng.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 86


Hoắc Thất Lang từ đáy giường rút ra một chiếc trâm cài, cầm trong tay ngắm nghía. Đó là loại trang sức nữ nhân thường dùng, trên đầu trâm có hình con bướm, phía đuôi chia hai nhánh nhỏ, vì thường xuyên đeo nên lớp mạ vàng bên ngoài đã mòn gần hết, lộ ra lõi đồng bên trong.

Còn dòng thơ, chính là câu cuối trong bài “Nghĩ khúc phúng điếu từ” của tiên sinh Ngũ Liễu – Đào Uyên Minh. Có lẽ được viết bằng ngón tay dính phấn son vạch trong bóng tối, nên chữ xiêu vẹo, không rõ nét.

Bảo Châu nhìn câu thơ, trong lòng bất giác dâng lên một linh cảm chẳng lành, quay sang Hoắc Thất Lang nói khẽ:

“Đây là một câu thơ tuyệt mệnh.”

“Nghĩa là người biết mình sắp chết mới để lại lời trối?”

Bảo Châu gật đầu, mặt trầm hẳn xuống. Bên dưới giường phủ một lớp bụi mỏng, hiện rõ dấu một thân người nhỏ nhắn từng nằm co ro, và ở một phía còn lưu lại những vệt trắng tròn như giọt nước. Người khác có lẽ không nhận ra, nhưng Bảo Châu thì quá quen thuộc đó là vết nước mắt hòa son phấn, rơi xuống từ một gương mặt đang lặng lẽ khóc trong uất nghẹn.

“Tên thích khách bị tam sư tỷ ngươi tra tấn đến nửa sống nửa chết ấy, ban đầu giả làm nữ tỳ của Bàng gia để trà trộn vào Tiêu phủ, sau đó lẻn vào phòng Tiêu tiểu thư. Gã tưởng phòng vắng người, liền khoác lễ phục, đeo trang sức, hóa trang thành tân nương để thế thân. Gã đâu ngờ, lúc ấy, tân nương thật lại đang trốn dưới gầm giường, âm thầm khóc trong bóng tối.”

Hoắc Thất Lang nói: “Nếu Tiêu tiểu thư bị trói bịt miệng giấu dưới giường, khóc thì còn có thể, nhưng làm sao viết chữ được?”

Bảo Châu khẽ thở dài: “Không có ai trói nàng cả. Kẻ bắt cóc tân nương… chính là nàng. Lư gia đã cho người đuổi tiểu tỳ đi, nhân tiện truyền thư đến, có lẽ trong đó chứa lời đe dọa cả hai nhà Tiêu – Bàng, buộc nàng phải tự bắt cóc mình. Đợi đoàn rước dâu rời đi, Tiêu phủ yên tĩnh trở lại, nàng sẽ đội mũ che mặt trèo tường bỏ trốn.

Bài thơ để trong hộp gương chỉ là để đánh lạc hướng, khiến người ta tưởng nàng tự ý bỏ trốn vì không muốn lấy chồng. Dòng thơ tuyệt mệnh dưới gầm giường mới là tiếng lòng chân thực.”

Hoắc Thất Lang vừa nói vừa lật đi lật lại chiếc trâm trong tay, một lát sau mới khẽ nói: “Tiêu tiểu thư, hẳn là có tình với lão lục.”

Bảo Châu hỏi: “Sao ngươi đoán được?”

Hoắc Thất Lang nói: “Chiếc trâm này làm từ đồng, mạ vàng, trong có lõi đồng ý là ‘đồng tâm’, thường được người yêu nhau dùng làm tín vật đính ước.”

Bảo Châu ngạc nhiên, nghi hoặc: “Ngươi làm sao biết rõ như vậy?”

Hoắc Thất Lang cười nhạt: “Vì ta thường được tặng thứ này.”

Bảo Châu nghẹn lời, nhất thời không thể hình dung được cảnh mình cài trâm lên tóc ra sao, liền nói: “Nhưng cũng chưa thể chắc chắn đây là tín vật giữa nàng và Bàng Lương Ký. Bàng gia giàu có, nếu tặng vật gì cũng là vàng bạc châu báu, sao lại đưa một chiếc trâm đồng rẻ tiền như thế này?”

Nói rồi nàng ra khỏi phòng, gọi Bàng tổng quản Tiêu phủ đến, đưa trâm cho ông xem.

Bàng tổng quản nhìn thấy, chấn động: “Đây là món quà tiểu lang nhà ta tặng Tiêu tiểu thư khi còn nhỏ. Chính ta là người trộm nó từ tiệm về cho cậu ấy. Sao vị tiểu thư ấy còn giữ bên mình?”

Bảo Châu đem phỏng đoán của mình nói ra, Bàng tổng quản cười khổ: “Khi ấy nhà họ Tiêu chưa khá giả, nếu con gái đột nhiên mang vàng bạc không rõ nguồn gốc, cha mẹ chắc chắn nghi ngờ. Tiểu lang vì vậy mới tặng trâm đồng. Đuôi trâm vốn có khắc hình con ngựa nhỏ chính là hàm nghĩa trong tên của cậu ấy.”

Bàng tổng quản chỉ cho Bảo Châu chỗ từng khắc dấu hiệu ấy, nhưng đã bị v*t c*ng cạo mòn từ lâu.

Bảo Châu nghĩ thầm: nhìn lớp mạ vàng bị mài mòn, chắc hẳn nàng đã đeo trâm này nhiều năm. Nếu mang theo trâm về nhà chồng, nàng đương nhiên phải cẩn thận để không bị phát hiện đó là tín vật của tình lang, nên mới cố tình xóa đi dấu hiệu.

Họ là có tình.

Nàng tưởng tượng lại cảnh đêm tân hôn hôm đó. Tiêu tiểu thư giấu mình dưới giường, chờ thời cơ bỏ trốn, nhưng bất ngờ thấy một kẻ lạ trà trộn vào phòng. Nàng đâu hay biết đó là người từ phe khác phái tới, tưởng là người nhà chồng cũ sắp đặt thế thân. Kẻ kia mặc lên lễ phục thuộc về nàng, chuẩn bị thay nàng lấy người mình yêu. Trong tuyệt vọng, nàng chỉ có thể để mặc nước mắt rơi, thấm qua phấn son, nhỏ xuống sàn gỗ.

“Chết ở chỗ nào nói, đành giử thân nơi núi non.”

Linh cảm chẳng lành trong lòng Bảo Châu mỗi lúc một rõ. Lư gia đã bày mưu giết người, lại ép nàng tự đào hôn, chẳng lẽ chỉ để gây khó dễ cho Bàng gia? Ba tộc kết oán thâm thù, người chồng trước cũng đã chết còn ép nàng quay về thì được lợi gì?

Càng nghĩ càng lạnh sống lưng, Bảo Châu lập tức bảo Hoắc Thất Lang chuẩn bị đến Lư phủ đối chất. Nhưng xét thấy nhân lực còn yếu, nàng vừa bước khỏi cửa Tiêu phủ thì thấy Hứa Bão Chân đã ngồi sẵn trên lưng ngựa, đợi bên ngoài.

Hắn ít lời, nhưng dứt khoát: “Bàng Lục đi tìm người, không hề truyền tin ra ngoài. Kẻ tụ tập võ lâm vào Bàng phủ là có kẻ phá rối. Có lẽ… liên quan đến di ngôn của sư phụ.”

Hoắc Thất Lang cau mày: “Có nên gọi cả đại sư huynh?”

Bảo Châu chưa rõ ẩn ý của họ, nhưng câu đó thì nàng nghe hiểu, vội nói: “Không cần! Ta sắp tìm ra Tiêu tiểu thư rồi, chỉ là sắp phải đối đầu với kẻ địch, số người hơi ít. Hai người theo ta một chuyến.”

Hoắc Thất Lang nghe xong, sờ vào hông trống không, vẻ mặt lúng túng: “Biết trước phải động thủ thật, ta đã mượn theo cây đao. Giờ tay không, có phần bất tiện.”

Hứa Bão Chân thở dài, như tiếc thay cho hắn: “Lần sau đừng tham tiền nữa, ta cùng các ngươi đi.”

Thêm một người tiếp sức, tinh thần Bảo Châu càng vững. Nàng cho gọi tiểu tỳ từng truyền thư, dẫn theo mọi người thẳng tới phủ Lư gia.

Trên đường, Bảo Châu dặn Hoắc Thất: “Lát nữa nếu động thủ, gặp họ Lư thì cứ đánh cho thật mạnh.”

Từ trước đến giờ nàng luôn tỏ vẻ đoan trang điềm đạm, nay đột nhiên dặn dò như vậy, Hoắc Thất Lang tò mò hỏi: “Sao? Bọn họ từng chọc ngươi à?”

Bảo Châu gật đầu: “Cũng có chút tư thù. Ngươi từng nghe đến ngoại hiệu ‘Hồ tiêu khanh’ chưa?”

Hoắc Thất Lang bật cười: “Ở Trường An ai chẳng biết, chẳng lẽ là nhà của Lư Tụng Chi kia?”

Bảo Châu đáp: “Không sai.”

Lúc trước nàng từng kể rằng trong cung từng xảy ra vụ tranh cãi quanh việc dùng hồ tiêu. Một vị ngự sử tự xưng thanh liêm cho rằng hồ tiêu quá đắt đỏ, dâng tấu xin đổi sang dùng hoa tiêu.

Hoàng thượng không đồng ý. Hoa tiêu tuy thơm, nhưng ăn vào tê miệng, chỉ hợp làm gia vị, không hợp dùng thường xuyên. Ngự sử dù sao cũng là bề tôi chính trực, chẳng thể thẳng tay đuổi, cần có lý lẽ để bác bỏ.

Lúc đó, Lư Tụng Chi một thầy thuốc nhỏ ở Thái Y Thự viết lời từ sách “Thiên kim phương” của Tôn Tư Mạc, nói hoa tiêu có độc, dễ gây loét miệng và choáng váng, còn hồ tiêu lại không độc, có thể làm thuốc trị đau bụng. Vì sức khỏe hoàng thượng và nhan sắc quý phi, phải dùng hồ tiêu mới yên tâm. Theo cách giải thích đó, ai còn đòi dùng hoa tiêu tức là có dã tâm hại hoàng tộc.

Lư Tụng Chi rất hiểu lòng vua, đem y thư ra làm bằng chứng từ đó được sủng ái, chức quan lên nhanh, nay đã là gián nghị đại phu, kiêm quản Thượng Dược Cục.

Khi ấy, Bảo Châu chưa đến mười tuổi, nhớ rõ hiệu quả chữa bệnh của hồ tiêu. Trong một buổi yến, nàng từng đùa giỡn gọi Lư Tụng Chi là “Hồ tiêu khanh”, chẳng ngờ truyền ra ngoài, từ triều đình đến dân gian ai cũng gọi hắn như vậy. Chắc hẳn cả đời này, hắn cũng không quên được ngoại hiệu đó.

Lư Tụng Chi không dám làm khó nàng người được hoàng đế yêu quý nhưng lại ngấm ngầm kéo theo nhiều phương sĩ vào cung, khiến hoàng thượng dần sinh nghi và tính tình thay đổi.

Trước khi nàng bị chôn sống, một ngự y từng đến khám bệnh đột ngột bị thay thế, mà người có thể can thiệp vào việc ấy không ai ngoài Lư Tụng Chi. Vì vậy Bảo Châu tin rằng hắn đã nhân cơ hội trả thù.

Hiện tại, nàng đã mất hết thân phận, không thể điều tra, chỉ biết âm thầm khắc ghi mối hận này.

Những điều ấy, nàng không thể nói ra. Chỉ nhẹ nhàng bảo: “Ta xem tộc phổ nhà họ Lư rồi. ‘Hồ tiêu khanh’ chính là người chống lưng cho gia tộc này. Gia chủ Lư Đình Phương là em ruột hắn, cũng là cha chồng cũ của Tiêu tiểu thư.”

Hoắc Thất Lang nói: “Lại thân thích lằng nhằng, rồi lại phải cãi nhau như với Tiêu gia nữa sao?”

Bảo Châu nhớ đến bài thơ tuyệt mệnh, lắc đầu: “Không thể chậm trễ, phải tốc chiến tốc thắng.”

Một đường phi ngựa đến Lư phủ, nơi này rõ ràng to lớn hơn hẳn Tiêu gia, nhưng trước cổng lại treo khăn trắng như có tang sự trong nhà.

Bảo Châu đi thẳng vào, dõng dạc: “Ta tới tìm Tiêu tiểu thư, gọi Lư Đình Phương ra gặp.”

Bọn gia đinh thấy nàng gọi thẳng tên gia chủ, thái độ chẳng khách khí lập tức định đuổi đi, nhưng bị Hoắc Thất Lang tung chân đá bay.

Bảo Châu dẫn đầu tiến vào. Lũ gia đinh xông tới vây quanh, tay cầm gậy gộc.

Hứa Bão Chân rút kiếm đưa cho Hoắc Thất, bản thân tay cầm phất trần, bước đi chậm rãi mà uy nghi. Từng bước của hắn như tiên nhân giáng trần, động tác nhẹ nhàng mà sát thương cực mạnh. Lũ gia đinh vừa bị phất trần quét trúng liền gãy xương r*n r*.

Hoắc Thất Lang cầm kiếm không rút, dùng cả vỏ làm gậy. Hắn chỉ bảo vệ Bảo Châu, không ra tay trước nhưng ai dám lại gần, hắn liền thọc cho một cú.

Cả nhóm thuận lợi tiến vào chính sảnh, Bảo Châu ung dung ngồi lên vị trí chủ tọa, ngẩng đầu thấy trong sảnh toàn là người bệnh.

Nàng lớn tiếng: “Gọi Lư Đình Phương ra! Thứ ngươi giấu ở Tiêu gia và Bàng gia, ‘Nhị đế cùng công, thế vạn toàn’, những lời phản nghịch ấy là do ngươi viết sao? Nếu không ra, coi chừng cả nhà ngươi bị liên lụy!”

Nàng gọi mấy lần, lời nói động trời. Cuối cùng, một người đàn ông trung niên mặc đồ tang trắng bước vào, vẻ mặt căng thẳng, sau lưng có gia đinh theo hầu.

Vừa thấy nàng, ông ta liền mắng: “Con đàn bà nào dám đến đây gây rối nhà họ Lư?”

Bảo Châu mỉm cười: “Chỉ là chi thứ, mà cũng dám tự nhận là họ Lư Phạm Dương? Ngươi là cha chồng cũ của Tiêu tiểu thư? Mặc đồ tang cho ai vậy?”

Lư Đình Phương không đáp, nhìn thấy tiểu tỳ từng bị đuổi khỏi nhà, biết âm mưu đã lộ, nhưng vẫn hỏi: “Ngươi vừa rồi nói gì?”

Bảo Châu lạnh lùng: “Ngươi biết rõ ta nói gì. Mau giao Tiêu tiểu thư ra, ta tha cho ngươi một mạng.”

Lư Đình Phương vốn xuất thân thế gia, cả đời chưa ai dám lớn tiếng với ông. Nay bị Bảo Châu mắng như kẻ hầu, nhất thời nghẹn lời, chỉ biết lắp bắp. Rồi ông quát: “Tiện phụ đã tái giá, còn dám đến Lư gia đòi người?”

Bảo Châu nói thẳng: “Nếu không giao người, ta tặng ngươi một món quà lớn. Thứ ngươi dùng để hại người, ta đã giấu kỹ. Đừng mong đào đất lật ngói mà tìm ra. Ta đã báo lên phủ, xem quan quân tới lục soát nhanh hay ngươi tìm ra trước.”

Lư Đình Phương tái mặt. Hắn hiểu rõ sự lợi hại của lời sấm, biết kẻ trước mặt có người võ công cao cường hỗ trợ, chuyện giấu vật không phải chuyện khó. Hắn không ngờ Bàng gia lại có liên hệ giang hồ, lại còn hiểu rõ quy tắc triều đình đến vậy.

Hoắc Thất Lang thích thú nghe nàng ép hỏi, thầm nghĩ: nàng từ sáng tới giờ chưa hề rời khỏi, làm gì có thời gian giấu vật? Ấy vậy mà nói ra mồm dối trá như thật, quả là thông minh đến đáng mến.

Bảo Châu thừa thắng: “Ngươi lấy thứ đó để hại người, đương nhiên biết giá trị của nó. Một khi bị tố cáo, nam đinh nhà ngươi sẽ bị bắt, dù không bị xử tử, cũng nát thân đừng mong khoa cử làm quan.”

Câu nói đánh trúng điểm yếu. Bảo Châu đoán hắn sẽ đem tên Lư Tụng Chi ra hù dọa, ai ngờ ông ta chỉ biết run rẩy, mặc kệ người hầu đỡ đứng.

Bỗng từ trong nhà vang lên tiếng khóc gào. Một người đàn bà trung niên tóc đã bạc phơ, nét mặt đầy oán hận xông ra:

“Con tiện phụ ấy khắc chết con ta, còn mơ tái giá với kẻ phú quý? Hừ! Tên tiểu tử nhà họ Bàng còn dám nói con ta không xứng! Nó phát tang thì hắn bày tiệc, nó giỗ đầu thì hắn đính hôn, ha ha ha! Đừng hòng gặp lại tiện phụ ấy nữa, nàng sống là người nhà ta, chết cũng phải làm ma nhà ta! Xuống hầu hạ con ta đi!”

Bảo Châu nhìn người đàn bà vừa khóc vừa cười như điên, lòng chợt lạnh. Nàng nhớ lại dòng thơ viết bằng phấn trong bóng tối kia, biết chắc đã xảy ra chuyện chẳng lành.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 87


Hoắc Thất Lang và Hứa Bão Chân vốn không giỏi hỏi cung, hai người vừa ra tay đã vung chưởng đánh ngất phu thê nhà họ Lư, còn chưa kịp tra ra tâm phúc là ai, ai là kẻ trực tiếp thi hành mưu đồ diệt môn. Trong lúc rối ren, mọi manh mối đều vụt tan như khói.

Từ những lời nói lắp bắp, rối loạn của Lư phu nhân, Bảo Châu đoán được tính mạng của Tiêu Nhiễm đang như ngọn đèn cạn dầu, không thể chậm trễ thêm được nữa.

Hoắc Thất Lang chau mày nói:
“Tên lão già mặc đồ tang kia, chẳng lẽ đã lỡ tay gi.ết c.hết Tiêu cô nương?”

Bảo Châu vội đáp:
“Không thể nào. Không có chuyện bậc trưởng bối để tang cho con cháu. Hơn nữa nhà họ Lư đối với nàng còn mang thâm thù, sao có thể làm vậy được?”

Nàng lặng người giây lát, rồi chộp lấy một gã gia đinh bị thương, gằn giọng hỏi:
“Lư Đình Phương để tang cho ai?”

Tên kia òa lên khóc:
“Là huynh trưởng của chủ nhân mất ở Trường An cách đây hai tháng. Cả nhà đều mặc đồ tang vì ông ấy.”

Bảo Châu chợt hiểu, liếc nhìn áo tang của Lư Đình Phương, thấy cách thắt vạt áo đúng theo lễ tiết ‘trảm suy’, lòng chấn động: chẳng lẽ là để tang cho con của Lư Tụng Chi?

Nhưng chuyện đó có vẻ không liên can trực tiếp đến vụ mất tích của Tiêu Nhiễm. Bảo Châu nôn nóng đi đi lại lại, trong lòng rối bời, miệng khẽ ngâm nga bài “Nghĩ vãn ca từ ” của Đào Uyên Minh:

“Mênh mông cánh đồng cỏ
Hàng bạch dương xác xơ
Trời tháng chín sương lạnh
Đưa ta ra ngoài ô
Bốn bên không nhà ở
Mộ thấp cao nhấp nhô
Ngựa hí vang nghển cổ
Gió từng cơn vật vờ
Nhà tối một đóng kín
Ngàn năm chẳng sáng cho
Ngàn năm chẳng sáng cho
Hiền đạt há khác chi
Người đưa ta đến đó
Đà lục tục ra về ra về
Thân thuộc còn xót xa
Người dưng đà vui vẻ
Chết đi là hết nói
Thân vùi bên sườn đồi” (Thivien)

Bài thơ miêu tả cảnh mình sau khi chết được đưa ra nơi đồng vắng, từ cỏ hoang, gió buốt, đến tiếng khóc người thân, thảy đều bi thiết khôn nguôi. Đặc biệt câu “Nhà tối một đóng kín, Ngàn năm chẳng sáng cho” khiến Bảo Châu rùng mình, nhớ lại cảnh bản thân từng bị chôn sống trong địa cung, nỗi tuyệt vọng ấy bỗng sống dậy.

Nàng lẩm bẩm:
“Không thể nào… chẳng lẽ bọn họ thật sự…”

Hoắc Thất Lang dù không biết nhiều chữ, nhưng vốn thích thơ phú, nghe nàng đọc cũng thấy cảm xúc dâng trào, bèn nói:
“Câu ‘Ngựa hí vang nghển cổ, Gió từng cơn vật vờ’, chẳng phải như thể con ngựa của Bàng Lương Ký đang khóc cho Tiêu cô nương hay sao?”

Bảo Châu chợt sáng mắt, lớn tiếng:
“Phải rồi! Bọn họ đem nàng chôn theo cùng chồng trước Lư Đan!”

Theo lệ, dù là vợ của chồng trước hay sau, nếu chết thì vẫn thường được táng chung cùng trượng phu. Dẫu là đất khách quê người, người thân cũng thường tìm cách cải táng cho được hợp mộ.

Không trách Lư Đình Phương thà chết cũng không chịu khai, bởi ông ta biết rõ Tiêu Nhiễm không còn là người sống.

Bảo Châu lại bắt một gia đinh, hỏi gắt:
“Mộ của Lư Đan nằm ở đâu?”

Tên kia còn chần chừ, đã bị Hứa Bão Chân quét phất trần cuốn vào cổ chân, kéo thẳng ra cửa:
“Thời gian không đợi ai, vừa đi vừa hỏi!”

Bảo Châu biết mộ phần của nhà quyền quý dù có lớn, cũng không như địa cung với nhiều tầng lớp. Nếu còn sống bị vùi bên trong, thì e chẳng cầm cự được lâu, nàng lòng như lửa đốt, vội theo sau chạy đi.

Hoắc Thất Lang nói:
“Dù là đại sư huynh có ở đây, muốn đào một hầm lớn cũng cần thời gian. Trừ phi là ngũ sư huynh…”

Gã gia đinh bị kéo lê một quãng, đến khi Hứa Bão Chân nhảy lên ngựa, giơ roi đe dọa:
“Nếu ta thúc ngựa một roi, thì da ngươi cũng tan nát. Còn không nói thật?”

Tên kia hoảng hốt kêu to:
“Xin đạo trưởng tha mạng! Nô chỉ đường ngay!”

Hứa Bão Chân lập tức xách hắn lên ngựa, phóng như bay. Gã chỉ tay về phía huyện thành Linh Bảo. Mấy người liền thúc ngựa phi nước đại.

Bảo Châu quay sang hỏi:
“Ngươi vừa nói câu kia là có ý gì?”

Hoắc Thất Lang đáp:
“Trong sư môn, nếu nói ai giỏi tìm mộ nhất, thì là đại sư huynh. Nhưng nếu so về tốc độ đào, thì ngũ sư huynh đứng đầu.”

Bảo Châu thầm nghĩ, La Đầu Đà thân hình to lớn, mỗi lần vào mộ đều phải lom khom mới đi được. Người như vậy sao chen nổi vào đường hầm trộm mộ nhỏ hẹp?

Mọi người phi như bay. Bảo Châu ngạc nhiên nhận ra con lừa của nàng hôm nay lại đặc biệt nhanh nhẹn. Bao lần nàng chê nó thấp lùn, xấu xí, chẳng dám cưỡi ra đường. Thế mà hôm nay roi vừa giục, nó không những không chậm, mà còn nhanh chẳng kém ngựa thường, khiến nàng âm thầm thấy lạ.

Theo hướng tên gia đinh chỉ, họ quay lại con đường cũ từ khách đ**m tới Ngọc thành. Vừa bàn bạc cách liên lạc với La Đầu Đà, thì bỗng một chấn động dữ dội vang lên, mặt đất rung chuyển. Sau đó là tiếng nổ lớn, một luồng khói đen bốc lên cuồn cuộn.

Ngựa giật mình hí vang, đứng thẳng hai vó trước, chỉ riêng con lừa của Bảo Châu vẫn ung dung, không nao núng.

Hoắc Thất Lang nhìn làn khói, reo lên:
“Là ngũ sư huynh! Hắn tới còn nhanh hơn chúng ta?”

Tới nơi, mấy người kinh ngạc thấy đây chính là gò đất lớn nơi sáng sớm Bảo Châu bắn hạ con chim quái. Cửa mộ bị đánh sập, một lối vào tối om mở ra giữa lòng mộ.

Bàng Lương Ký từ trong khói đen khập khiễng ôm ra một thiếu nữ nhỏ nhắn, mặt mũi lem luốc, nước mắt cùng tro tàn nhòe nhoẹt một vùng. Bọn tùy tùng vội vây quanh, nhưng hắn nhất định không buông, ôm chặt lấy người ấy rõ ràng chính là tân nương đã mất tích.

Bảo Châu vừa mừng rỡ vừa ngỡ ngàng:
“Các ngươi làm sao biết nàng bị chôn ở đây?”

Bàng Lương Ký chẳng buồn đáp, chỉ ôm lấy Tiêu Nhiễm đang thoi thóp trong vòng tay, nước mắt tuôn như suối, miệng gọi không ngừng:
“A Nhiễm… A Nhiễm…”

Một tùy tùng lên tiếng:
“Thưa Cửu Nương, công tử nhà ta cũng chẳng biết. Sáng nay người sai chúng tôi đi tìm quái điểu, tìm suốt ban ngày chẳng thấy gì, đang định trở về thì công tử đọc được bia mộ. Ngài phát hiện đây là mộ chồng trước của tân nương, thấy đất quanh mộ còn mới, trong lòng bất an nên cầu xin đầu đà sư huynh phá mộ xem. Không ngờ thật sự cứu được người. Này chẳng phải trời giúp hay sao?”

Mộ thất không có thông gió như địa cung, Tiêu Nhiễm đã hôn mê vì ngạt thở, tính mạng như chỉ mành treo chuông. Nếu không nhờ trực giác của Bàng Lương Ký, e rằng lúc Bảo Châu tới khai quật thì đã muộn.

Thấy mộ bị phá tung, Bảo Châu kinh ngạc:
“Đây là uy lực thuốc nổ? Thứ đó không phải chỉ để phát khói thôi sao? Sao không làm thương ai trong mộ?”

Hoắc Thất Lang cười:
“Ngũ sư huynh được gọi là Chấp Hỏa Lực Sĩ, chuyên phá cấu trúc mộ. Nhưng mỗi lần phá nổ như vậy động tĩnh rất lớn, bình thường không thể dùng, trừ khi ở nơi hoang vắng.”

Lúc ấy, từ lỗ hổng trong mộ, một bóng người to lớn khom lưng chui ra, hệt như núi đổ. La Đầu Đà tay cầm một mũi tên, mặt đầy nghi hoặc, bước tới đưa cho Bảo Châu:
“Của ngươi sao?”

Nàng cầm lên nhìn – đúng thật. Mỗi mũi tên trong túi nàng đều có khắc dấu chữ thập bằng móng tay. Kiểm lại chỉ còn 29 mũi, buổi sáng nàng bắn một tên vào quái điểu, chính là mũi này.

Bảo Châu ngạc nhiên:
“Ở đâu ra vậy?”

La Đầu Đà đáp:
“Găm trên nắp quan tài. Ta là người đầu tiên vào, không ai đổi được.”

Bảo Châu thẫn thờ. Mũi tên bắn vào quái điểu sáng sớm lại nằm trong phần mộ khép kín, bên cạnh là xác Lư Đan và Tiêu Nhiễm mất tích không tài nào lý giải được.

Nghĩ đến lời Hoắc Thất Lang từng kể về La Sát Điểu sinh ra từ thi khí, nàng bất giác thấy lạnh sống lưng. Không dám giữ mũi tên bên mình, nàng đưa lại cho La Đầu Đà:
“Làm phiền sư huynh đem nó đi siêu độ hay gì đó…”

Bàng gia sai người cấp tốc mời Quỷ Thủ Kim Cương Khâu Nhậm đến. Y xem mạch, châm vài mũi định hồn lên cổ Tiêu Nhiễm, rồi bảo ôm nàng về tĩnh dưỡng.

Khâu Nhậm quay sang nói:
“Gần đây lão lục đang tụ hội hơn ngàn người, gần như nửa võ lâm Trung Nguyên đã tới, nói là do Tàn Dương Thất Tuyệt mời đến xem lễ. Ba ngày rồi chưa mở tiệc, ai cũng ngồi chờ sốt ruột. Bàng phủ bị sự cố hôm cưới hãi đến không dám mở cửa, tam sư tỷ trấn thủ bên ngoài, tính tình lại nóng nảy, e rằng sắp đánh nhau tới nơi.”

Bảo Châu nghĩ: cứu được Tiêu Nhiễm mới là một phần, kẻ ẩn mình trong bóng tối giật dây vẫn chưa lộ mặt, nếu không trừ sạch, về sau sẽ còn tai họa.

Tàn Dương Thất Tuyệt đều có cùng ý nghĩ, liền lập tức lên ngựa, hộ tống Tiêu Nhiễm trở về.

Hứa Bão Chân bảo:
“Sắp tới là chuyện giang hồ, ngươi nên về khách đ**m nghỉ ngơi.”

Bàng Lương Ký cũng nói:
“Cửu Nương đã giúp đến mức này, đã là đại ân. Trước mặt là đao núi biển máu, không thể để nàng liên lụy.”

Bảo Châu nhìn quanh quần hùng đang hừng hực khí thế, ngạo nghễ đáp:
“Từ nay về sau ta với ngươi không liên quan. Nhưng đám người mai phục ta, khiến thuộc hạ ta bị thương, mối thù này ta phải đòi cho bằng được.”

Mọi người nghe nàng nói “thuộc hạ của ta” thì ngơ ngác, rồi đồng loạt nghĩ thầm: đến Vi Huấn cũng chịu lép vế trước nàng, quả là người dũng cảm ít ai bì.

Hứa Bão Chân cười cười:
“Tùy ngươi. Nhưng khi động thủ, không ai liều chết che chở ngươi như đại sư huynh đâu.”

Bảo Châu không đáp, chỉ ngẩng đầu thúc lừa tiến về phía Ngọc Thành.

Bàng phủ chung quanh đã tụ người như biển, đen nghịt cả mấy con phố, ai nấy tay cầm đao trượng, ánh mắt hằm hằm. Các tiểu thương gần đó sợ hãi bỏ cả hàng hóa mà chạy trốn.

Thác Bạt Tam Nương ngồi xếp bằng trên nóc tường, tay ôm tỳ bà làm bằng xương trắng, gảy khúc “Tần Vương phá trận nhạc”. Dây đàn đã hư hao, tiếng gảy nghẹn ngào sai nhịp, nghe mà rợn người.

Quần hùng Trung Nguyên bối rối, chẳng hiểu Tàn Dương Thất Tuyệt mời họ tới để làm gì, sao lại nghiêm phòng như nghênh địch. Giang hồ vốn ít ai tính khí hiền lành, dần dà trong đám đã có người giận dữ gào thét, khí thế căng như dây đàn.

Ngay lúc ấy, một cơn bụi mù nổi lên, tiếng vó ngựa chấn động đất trời, một nhóm hảo hán giục ngựa phi như bay đến, dũng mãnh như sơn băng thủy trút.

Người ta nhìn kỹ chính là Tàn Dương Thất Tuyệt!

Lão nhị “Động Chân Tử” Hứa Bão Chân, lão tam “Bà Âm Ma” Thác Bạt Tam Nương, lão tứ “Quỷ Thủ Kim Cương” Khâu Nhậm, lão ngũ “Chấp Hỏa Lực Sĩ” La Đầu Đà, lão lục “Tật Phong Thái Bảo” Bàng Lương Ký, lão thất “Khỉ La Lang Quân” Hoắc Thất Lang – tất cả đều có mặt.

Chỉ riêng người từng khiến thiên hạ khiếp sợ trong lễ cưới Thanh Sam Khách Vi Huấn là không thấy đâu.

Thay vào chỗ hắn là một thiếu nữ áo đỏ xinh đẹp rực rỡ, cưỡi lừa ung dung tiến tới, bên hông treo thanh kiếm Ngư Tràng trứ danh của Trần Sư Cổ bá chủ một phương, oai trấn võ lâm.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 88


Bàng Lương Ký giao Tiêu Nhiễm đang hôn mê cho tùy tùng, dặn đưa nàng vòng theo cửa sau về phủ, còn bản thân vẫn ngồi yên trên lưng ngựa, đứng giữa đám đồng môn.

Thác Bạt Tam Nương thấy bè bạn đã tụ đủ, dừng tay nắm dây đàn, hướng Bàng Lương Ký quát lớn:
“Tên què, lui xuống mà hầu hạ vợ con đi, đứng đây chỉ thêm vướng tay vướng chân!”

Bàng Lương Ký cười khổ:
“Tuy sư phụ đã đuổi ta ra khỏi môn hộ, song được các vị sư huynh sư tỷ không bỏ, Tàn Dương Thất Tuyệt cũng chẳng xoá tên ta khỏi danh sách. Vậy hôm nay có máu chảy đầu rơi, ta cũng phải ở đây mà chờ.”

Trời thu cao vợi, gió lộng bốn bề, câu nói của hắn mang theo chút u hoài và khí khái. Hắn chắp tay ôm quyền, cao giọng hướng những bậc anh hùng trong chốn võ lâm:
“Chư vị đến đây dự lễ thành hôn và nghi thức rửa tay chậu vàng của Bàng mỗ, bản phủ đón tiếp không chu đáo, trong lòng vô cùng hổ thẹn. Mọi rối ren hôm nay đều do có kẻ ác sau lưng giở trò, muốn chia rẽ Tàn Dương Viện và võ lâm Trung Nguyên…”

Chưa kịp giãi bày cho rõ ngọn ngành, trong đám đông bỗng có người the thé lên tiếng:
“Tàn Dương Viện tội ác chất chồng, ẩn náu nơi Quan Trung không yên, vừa đặt chân vào Trung Nguyên đã dấy lên sóng gió. Nếu không nói rõ chuyện Trần Sư Cổ, thì đừng mong yên ổn mà lui về!”

Giọng lạ, khẩu âm lại giống vùng Kiếm Nam. Bàng Lương Ký đưa mắt nhìn quanh mà chẳng thấy được kẻ nói kia, trong lòng rối ren khó hiểu, bèn đáp lớn:
“Tuy sư môn ta chẳng được xem là danh môn chính đạo, nhưng sao có thể mang tiếng mưu đồ tạo phản cho được?”

Giới võ lâm Trung Nguyên người nhìn người chẳng ai rõ ràng chuyện gì. Lại từ hướng khác vang lên tiếng người bén nhọn:
“Di vật Trần Sư Cổ để lại, các ngươi có chịu giao ra không?!”

Bàng Lương Ký trong bụng nghi hoặc, khi Trần Sư Cổ lâm bệnh qua đời thì hắn đã sớm về quê, nào biết có lưu lại vật gì? Nhìn quanh đồng môn, ai nấy mặt mày u ám, không nói một lời, như thể quả thật có điều chẳng tiện mở miệng.

Rồi lại từ nơi khác, có tiếng mắng thẳng:
“Đám tà ma ngoại đạo các ngươi âm mưu tạo phản, dân chúng Đại Đường đều căm giận, thấy phải trừ khử…”

Chưa dứt lời, Hứa Bão Chân bỗng trợn trừng mắt, hét lớn về phía ấy:
“Vô Lượng Thiên Tôn!”

Nội lực hắn thâm hậu, tiếng hô vang dội, khiến kẻ đang nói chuyện trong đám đông giật mình ngưng thở, khụ lên một tiếng rồi lộ diện. Định quay đầu bỏ chạy, liền bị Thác Bạt Tam Nương ném phi đao xuyên yết hầu, ngã gục xuống đất, không một tiếng động.

Song một người ngã, bọn đồng lõa vẫn chưa chịu im. Chúng ngán sợ võ công Tàn Dương Thất Tuyệt, biết không thể đọ sức chính diện, liền tung sương khói làm rối loạn rồi lui về sau, tránh xa tầm phóng ám khí của Thác Bạt Tam Nương.

Giữa khói mờ mịt, một con quái điểu chợt bay lên từ đám đông, hai cánh lớn như che kín bầu trời. Nhìn kỹ, là một người vóc dáng nhỏ bé cưỡi trên thiết bị kỳ lạ, lợi dụng gió lớn mà vút lên không trung, vừa phi hành vừa la lớn:
“Điên đảo Đại Đường, họa loạn thiên hạ!”

Thác Bạt Tam Nương nắm chặt phi đao, nhưng biết ám khí bay xa quá ba mươi bước thì lực suy yếu, không thể liều mình mà ra tay, đành đứng yên giữ thế.

Một người trong đám đông kêu lên:
“Là đệ tử La Sát Điểu của môn phái Kiếm Nam!”

Bầy quái điểu bay theo sương khói, mục đích dường như không phải giết người mà là truyền tin ra giang hồ. Ban đầu chúng định dùng tân nương giả bắt cóc Bàng Lương Ký để hỏi về di vật, nay bất thành, liền dứt khoát tung tin bôi nhọ, muốn lôi cả võ lâm về phía đối địch Tàn Dương Viện.

Một con La Sát Điểu nữa vừa kêu “Điên đảo Đại Đường”, chưa kịp dứt câu đã bị mũi tên xé gió cắm xuyên, ngã lăn xuống đất.

Kẻ bắn tên chính là Bảo Châu. Nàng lạnh mặt, rút tiếp một mũi tên từ ống sau lưng, đặt lên cung, ánh mắt như băng:
“Bọn ngươi dám giữa thanh thiên bạch nhật kêu gọi tạo phản, thật là không còn thiên lý. Nếu hôm nay không hạ hết đám yêu nghiệt này, ta còn xứng là con cháu hoàng thất hay sao?”

Nàng mắt tinh, đã sớm nhận ra đám quái điểu đều là người giả dạng. Không hề nao núng, nàng thúc lừa lướt tới. Ngõ hẻm hẹp, người đông nghịt, ngựa khó len qua, song con lừa kia lại chân nhỏ nhanh nhẹn, luồn lách giữa đám đông như lướt nước.

Bảo Châu cưỡi lừa mà bắn, mũi tên như mưa, không sai một phát, quét rơi từng con La Sát Điểu giữa không trung.

Đám La Sát Điểu võ công không cao, vốn dựa vào dịch dung, khói độc, ám khí để hại người. Người giang hồ tay ngắn, khó bắn xa, dễ bị đám này trêu đùa mà thoát thân. Nhưng hôm nay gặp phải Bảo Châu cung thủ bắn xa lừng danh, chúng liền bị dồn vào thế bí.

Thấy chẳng còn đường lui, vài tên liều mạng phóng ám khí về phía nàng. Độc tiêu như mưa trút xuống. Người xem thảy kinh hãi, tưởng nàng không tránh nổi. Nào ngờ chỉ thấy bóng hồng loé lên, Bảo Châu đã lộn người, treo mình dưới bụng lừa tránh đòn.

Chiêu ấy tên là “Đăng ẩn thân”, vốn là tuyệt kỹ bảo mệnh giữa trận vạn tiễn, cực kỳ khó luyện. Ngày trước nàng chỉ vì tranh hơn thua mà học chiêu ấy, từng ngã ngựa gãy sườn, nay lại cứu mạng chính mình.

Ám khí găm khắp yên và đất bùn, vài mũi cắm lên mình lừa, nhưng phần lớn đều lệch hướng. Bảo Châu đang treo ngược mình, từ dưới bụng lừa ngẩng lên bắn tiếp hai tên nữa, hạ thêm hai địch thủ.

Chỉ là lúc này, lừa đã bắt đầu mỏi mệt, bước chân chậm lại. “Đăng ẩn thân” thường khiến ngựa giật mình bỏ chạy, không thể tái chiến. Nàng tưởng mình phải dừng tại đây. Nào ngờ con lừa kia không chịu thua, hí vang một tiếng, rồi phóng đi nhanh hơn trước. Người xem cảm động, tự động nép sát hai bên, nhường ra một lối.

Trận đánh dậy sóng, người người hồi hộp. Nhiều người mường tượng lại trận chiến Hổ Lao Quan khi xưa, nơi Thái Tông tuổi trẻ điều quân, một mình xông pha chiến địa.

Trên không trung chỉ còn lại thủ lĩnh La Sát Điểu kẻ cưỡi cánh chim lớn nhất. Hắn thấy thế không ổn, vội vã tháo lui. Bảo Châu chuẩn bị phát tên cuối cùng, nhưng vừa đưa tay chạm túi tên thì trống rỗng. Một mũi cũng chẳng còn.

Lúc này, lừa chạy ngang cổng Bàng phủ. Nàng nhìn lên, thấy biển hiệu sáng lấp lánh, chợt nhớ lúc trước Bàng Lương Ký từng bảo có treo ba mũi tên trừ tà bên cửa để trấn trạch. Nghĩ đoạn, nàng liền đứng lên yên, vươn tay chụp lấy, quả nhiên là ba mũi bọc vàng.

Đây là mũi tên cực sắc, bắn gần thì xuyên giáp, bắn xa lại càng vững. Xưa kia Tiết Nhân Quý dùng chính loại tên này định Thiên Sơn. Nắm được trong tay, Bảo Châu mừng rỡ vô cùng.

Thủ lĩnh La Sát Điểu bay đã xa, thân hình chỉ còn như cánh én nhỏ. Biết chỉ còn một cơ hội, nàng liền gắn cả ba mũi tên lên dây, dẫm bàn đạp đứng thẳng, cong lưng kéo căng dây cung như vành trăng non.

Hơn ngàn người nín lặng. Mọi ánh mắt dõi theo nàng. Ba mũi tên rời dây, bay vun vút như cầu vồng xuyên qua trời cao. Thân ảnh La Sát Điểu cứng lại, như diều đứt dây, loạng choạng rồi rơi xuống đất.

Cả Ngọc Thành nổ tung tiếng hoan hô. Nữ hiệp áo đỏ, đơn thương độc mã, không một vết xước, tiêu diệt trọn La Sát Điểu tà phái.

Dưới muôn ánh mắt, Bảo Châu cưỡi lừa đi qua, áo đỏ rực rỡ, mồ hôi lấp lánh trên trán. Người giang hồ vốn vẫn cho rằng những lời thi nhân vẽ nên chỉ là ảo vọng, không ngờ hôm nay trước mắt lại hiện rõ:

Chính là một thiếu nữ áo đỏ cưỡi lừa, tay cung vững vàng, oai phong lẫm liệt. Thiếu niên nộ mã, sao băng bên hông, ánh kiếm lấp lánh, hệt như lời thơ trong mộng.

Tàn Dương Viện mấy người đứng trên đầu tường xa xa nhìn về phía nàng. Thác Bạt Tam Nương thở dài:
“Ta thu lời trước kia. Lời đồn đãi quả không sai. Nàng có bản lĩnh bắt sống Thanh Sam Khách.”

Giang hồ tranh giành lấy công trạng làm đầu. Những người khác không thể không gật đầu thừa nhận. Mà trong đám kia, không ít thiếu niên lòng xốn xang, má đỏ tai hồng, thầm nghĩ:
“Không rõ nàng có muốn bắt sống thêm mấy người nữa không… Nếu được, ta cũng nguyện dắt lừa cho nàng cả đời!”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 89


Bàng phủ mở toang bốn phía cửa lớn, dốc hết rượu ngon thức lạ trong kho, thiết đãi các anh hùng hào kiệt từ bốn phương tới xem lễ. Vẫn thấy chưa đủ, họ còn cho người khắp thành thu gom đồ ngon vật lạ, ngay cả đầu bếp, quán rượu và các cô gái bán rượu người Hồ cũng bị mời về phủ, lo việc tiếp khách.

Trong nhà chật không chỗ đứng, ngoài sân đông như hội, nhưng sau một trận giao tranh chấn động lòng người vừa qua, lòng người không còn hướng về rượu thịt. Khắp nơi người ta xì xào dò hỏi về thiếu nữ áo đỏ.

Nàng là ai? Có quan hệ gì với Tàn Dương Thất Tuyệt? Vì sao lại mang kiếm của Trần Sư Cổ? Vì sao lại luyện võ công trận pháp hiếm gặp trong giang hồ?

Không ít người đoán nàng là thủ lĩnh mới của Tàn Dương Viện, song không ai dám chắc. Bởi từ xưa đến nay, Trần Sư Cổ vốn hành xử kỳ dị, đệ tử ra vào đầy tai tiếng, người trong võ lâm luôn xem họ như tà ma ngoại đạo.

Nhưng cô gái áo đỏ ấy không chỉ có dung mạo kiều diễm mà còn khí độ trầm ổn, khiến người nhìn qua đã sinh thiện cảm. Nhờ nàng nâng đỡ, ngay cả đám môn sinh tang tóc y phục của Tàn Dương Viện cũng bớt phần đáng ghét.

Câu “Điên đảo Đại Đường, họa loạn thiên hạ!” vang lên lúc trước khiến nhiều người ngờ vực. Nhưng kẻ dám chất vấn giữa đám đông đã bị diệt sạch, nên giờ ai muốn cũng không dám mở lời, e rước họa.

Bảo Châu được mời ngồi tại vị trí khách quý dành cho đồng môn sư huynh sư đệ của Bàng Lương Ký. Bên trái là Hoắc Thất Lang, bên phải là Thập Tam Lang. Khách khứa liên tục đến chúc rượu, đông hơn cả lúc trước kính Vi Huấn, nhất là đám thiếu niên, đỏ mặt lắp bắp đứng bên nàng chẳng nỡ rời đi.

Trong lòng nàng vẫn canh cánh câu nói “Điên đảo Đại Đường”, nhưng vì người đông tai vách, đành nhẫn nhịn chờ về khách đ**m dò hỏi Vi Huấn.

Hoắc Thất Lang khi thì giúp nàng chắn rượu, khi thì đuổi khách, vui vẻ không kể xiết. Thập Tam Lang hoàn thành xong mệnh lệnh sư môn, trở về bên nàng, sắc mặt sáng bừng. Khâu Nhậm từ trong viện bước ra, xoa tay cười:
“Tân nương tỉnh rồi, không sao cả. Hai người vừa khóc vừa cười, sến đến ta không dám nhìn.”

Quần hào Trung Nguyên được mời đến dự lễ thành hôn và nghi thức thoái ẩn. Mọi hiểu lầm đã hóa giải, người người dâng lên lễ vật, xếp thành núi hoa trong sân viện.

Thác Bạt Tam Nương chợt hỏi:
“Mọi người đều có mang theo lễ vật chứ?”

Tàn Dương Viện ai nấy cúi đầu uống rượu, hoặc lảng đi chỗ khác, không ai đáp lời. Họ từng thấy tang sự nhiều, hỉ sự thì lại xa lạ, trước cảnh náo nhiệt này lại thấy bối rối.

Thác Bạt Tam Nương nghĩ ngợi, hạ giọng nói:
“Hay là chúng ta chung tiền, đem tân nương kia chôn sống một lần, coi như tặng cho lão Lục lễ cưới cuối cùng. Trừ gốc rễ khỏi sinh họa về sau.”

Mọi người không phản bác xem như đồng thuận. Ai trong bọn cũng có thể ra tay việc ấy, nhưng đã chia tiền, ai nấy đều phải góp công.

Bảo Châu lúc ấy bị vây quanh bởi những người mời rượu, không nghe được đoạn đối thoại kia. Tửu lượng nàng thường, uống mấy chén đã đỏ mặt, phần còn lại đều nhờ Hoắc Thất Lang chắn hộ. Mãi tới khi Bàng phủ e làm phiền nàng, mới khéo léo mời khách ra ngoài, vây hàng rào quanh phòng khách.

Hôm trước hôn lễ bị phá ngang, lễ bái chưa trọn. Lúc hoàng hôn vừa buông, chính là thời điểm thích hợp để bù lễ. Bàng Lương Ký nắm tay Tiêu Nhiễm, trước mặt quần hào Trung Nguyên, tái hành lễ hợp cẩn.

Ba mũi tên trấn trạch treo trước cửa đã mất, thanh lư hư hại, chẳng còn nghi lễ cầu kỳ. Lễ cưới nay giản dị theo tục lệ giang hồ, khách khứa uống rượu ồn ào, vui vẻ như hội.

Quần hào nâng chén chúc mừng:
“Nhị nữ lẻ loi gặp gỡ, ngũ nam sum vầy bên nhau, vinh tới chín tộc, lộc đầy ngàn kho, tiền tài thần Phật đều phù hộ, gia môn hưng thịnh.”

Tàn Dương Viện chỉ đứng xa nhìn, không bước tới gần. Dù gì, dự lễ cưới cũng vui hơn dự lễ tang.

Trở về chỗ ngồi, Thập Tam Lang chợt nói với Bảo Châu:
“Ta biết vì sao lục sư huynh bị sư phụ khai trừ khỏi sư môn.”

Bảo Châu sững người, thầm ngạc nhiên hắn biết gì về chuyện cũ. Nàng hỏi:
“Vì sao?”

Thập Tam Lang đáp:

“Lục sư huynh khác chúng ta ở một điểm huynh ấy có nhà. Những người còn lại, dẫu bị đuổi đi cũng chẳng có nơi quay về, càng không thể tổ chức được lễ cưới như thế này. Có lẽ sư phụ… chỉ ghét điểm đó của huynh ấy.”

Bảo Châu nhìn về phía đám người Tàn Dương Viện, cũng thấy khí chất họ xa lạ với hôn lễ. Dẫu vậy, biết sư đệ cũ sắp thành thân, họ vẫn đến, dù chẳng được mời. Trong lòng nàng dấy lên nỗi cảm hoài khó tả.

Hoắc Thất Lang cười nói:
“Tiểu đầu trọc nói không sai. Đám như bọn ta sống chết nơi đầu gươm mũi giáo, làm gì có chuyện thành thân. Mai sau nếu ngươi làm tân nương, nhớ cho lão Thất làm chủ hôn. Nam khách nữ khách gì cũng tiếp, không lấy tiền, đảm bảo ngươi thuận buồm xuôi gió mà xuất giá.”

Bảo Châu trừng mắt:
“Ta không lấy chồng. Tương lai ta muốn đi tu.”

Mọi người xung quanh tức thì lặng thinh, dỏng tai nghe. Hoắc Thất Lang chỉ vào đầu trọc Thập Tam Lang:
“Như vậy sao?!”

Bảo Châu lắc đầu:
“Tóc không được cạo. Ta muốn làm nữ quan.”

Hoắc Thất Lang sờ mũi nhìn Thập Tam Lang người chẳng hề kinh ngạc rồi nói:
“Trời sinh mỹ nhân như ngươi, còn trẻ thế đã định đoạn tuyệt ái tình sao?”

Bảo Châu uống mấy chén, lại được người đời ca tụng, nên phấn khởi nói:
“Ta chưa từng nói đoạn tuyệt ái tình. Khi Tiêu tiểu Nương mất tích, ta đã đoán bảy tám phần là do người chồng trước ra tay. Đó là kết quả từ bao bản án cũ ở Đại Lý Tự. Nhưng thực ra, sát hại chỉ là một phần nhỏ. Thống kê của Hộ Bộ cho thấy, nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nữ nhân tuổi sinh đẻ là tai nạn khi sinh. Cứ hai mươi người thì có một chết vì khó sinh hay biến chứng.”

“Vừa rồi mọi người chúc tân nhân sinh năm trai hai gái, nếu thật muốn có bảy đứa con như vậy, tức là phải trải qua bảy lần đối mặt tử sinh. Nặng nề như thế, nguy hiểm hơn cả ra trận. Mà hoàng thân quốc thích hay dân đen áo vải cũng chẳng tránh khỏi. Trưởng Tôn Hoàng Hậu, Vĩnh Thái Công Chúa, Hoài Dương Công Chúa, Đường An Công Chúa… đều chết vì vậy. Mẫu thân ta…”

Nàng ngừng lại, lời chưa dứt. Ký ức tang thương nơi mẫu thân mất máu đến cạn, vẫn còn in hằn sâu trong tâm trí. Vì thế nàng mới buộc Hộ Bộ và Đại Lý Tự cung cấp số liệu, mong tìm chút lý lẽ để an lòng.

“Ngược lại, nữ xuất gia làm tì kheo hay làm nữ quan đều sống thọ hơn gấp đôi người lấy chồng. Ta không muốn chết vì sinh nở. Xuất gia làm nữ quan, vừa giữ được liên hệ thân thích, vừa không chịu uy h**p sinh mạng từ nhà chồng, sống khoẻ, sống lâu.”

“Chưa kể, như Công Chúa Kim Tiên hay Ngọc Tiều triều Huyền Tông, sau khi xuất gia vẫn được đế vương sủng ái, phong đất, nuôi ở chùa, có bạn tri kỷ, có người hầu kẻ hạ. Đó là đặc quyền hoàng tộc. Nhưng lý do này, ta không thể công khai nói.”

Dứt lời, nàng nâng ly uống cạn, đắc ý vô cùng.

Mọi người xung quanh cố tiêu hóa mớ lý lẽ vừa được nghe. Hoắc Thất Lang im lặng giây lát rồi nói:
“Ta từng quen vài người xuất gia, quan hệ rất… thân thiết…”

Hứa Bão Chân rên một tiếng, định tát hắn một phát.

Hắn thản nhiên tiếp:
“Tóm lại, người xuất gia nếu không dứt tình đoạn ái, sớm muộn gì cũng… lên giường sinh nở.”

Bảo Châu ngẩn người:
“Sao có thể? Có con phải có hôn ước chứ. Dù là thiếp thất hay ngoại thất cũng phải có giao ước. Nếu không, vì sao Bàng Lương Ký lại mất công làm lễ cưới?”

Thấy nàng nói như sách vở, Hoắc Thất Lang nhận ra điểm sơ hở, liền hỏi:
“Nói vậy, ngươi nghĩ nếu không có hôn ước thì không thể sinh con sao?”

Bảo Châu quả quyết gật đầu:
“Tất nhiên. Chưa từng thấy sách nào nói khác.”

Một câu định thắng thua. Hoắc Thất Lang cười to, quay sang giơ tay đòi tiền cược từ đám người dỏng tai nãy giờ:
“Kết quả đã định, ai thua ai thắng rõ ràng chứ?”

Mọi người cười ồ. Thì ra nàng chỉ biết nói đạo lý, chứ chẳng hay gì về việc sinh nở. Nàng ngây thơ, tên kia theo nàng tự nhiên cũng vẫn còn “trinh nguyên”.

Khâu Nhậm thắng cược cười toe, Hứa Bão Chân và Thác Bạt Tam Nương thì mặt nặng như chì. La Đầu Đà ở ngoài cuộc, thầm may mắn vì mình không tham dự.

Thác Bạt Tam Nương nốc cạn ly rượu, thấy bực cả người. Bỗng nảy ra ý, cười khúc khích hỏi:
“Này, ngươi có nuôi thú cưng chưa?”

Bảo Châu ngạc nhiên:
— “Nuôi thú?”

Thác Bạt Tam Nương cười mỉa:
“Thú hoang dù có nhốt vào lồng, chỉ cần để hở một khe cửa sổ, nó cũng tìm cách trốn ra thôi.”

Bảo Châu giật mình, hồi tưởng lại khi nãy Bàng Lương Ký đưa Tiêu Nhiễm vào phòng mà chẳng hỏi Vi Huấn đâu, người vốn thân thiết nhất với hắn. Câu nói kia chẳng khác gì nhắc khéo. Mặt nàng biến sắc, chậm rãi đứng dậy.

Ngay lúc ấy, trong tầm mắt mọi người, có bóng người áo xanh nhạt trèo tường phóng qua.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 90


Bảo Châu định cưỡi lừa nhưng nó đã bị đưa về chuồng để giải độc, tạm thời không thể nhúc nhích. Nàng bước nhanh ra phòng khách, gọi Bàng tổng quản xin một con ngựa, muốn tạm quay về khách đ**m kiểm tra hành lý. Bàng tổng quản lập tức sắp xếp, cho bốn gia đinh theo hầu. Thập Tam Lang cũng vứt cả mâm rượu, lon ton chạy theo.

Mọi người lại nghe phía đầu tường có tiếng mắng ầm ĩ, như thể ai đó vừa bị cướp ngựa, khiến ai nấy đều bật cười, nụ cười chua chát pha chút giễu cợt.

Đợi hai người một trước một sau phóng ngựa hướng về huyện Linh Bảo, thoát khỏi cảm giác bị giám sát đè nén suốt cả ngày, mọi người trong Tàn Dương Viện mới đồng loạt thở phào. Nghĩ đến cảnh Thanh Sam Khách cướp đường bỏ chạy, cả bọn phá lên cười, có người thì lạnh lùng, người thì bi ai, có kẻ thì hiểm độc, khiến xung quanh ai nấy đều đưa mắt dè chừng.

Cười đã đời, Hoắc Thất Lang lại giục người thua cuộc lấy vàng ra đãi tiệc. Hứa Bão Chân vui vẻ rút túi trả liền. Riêng Thác Bạt Tam Nương thì chẳng chịu, rót mấy chén rượu, rồi khẽ cười:

“Đánh cuộc này kéo dài đến mai, ai biết được ta có thua thật không?”

Biết nàng hiếu thắng, chuyện nhỏ cũng chẳng chịu nhường, Hoắc Thất Lang cười:

“Một đêm thôi, e rằng không có gì đột phá lớn đâu.”

Thác Bạt Tam Nương nhếch môi:

“Cứ để mặc thì không. Nhưng mèo nhỏ kia đã trúng bốn năm loại độc, dù cố gắng gượng mà đánh trận, thể lực lẫn nội lực đều cạn kiệt. Nếu giờ cho hắn dùng thứ thuốc Đại Nhạc Tán thì đêm nay chắc chắn không còn giữ được thân trong sạch.”

Mọi người sững sờ. Vì một ván cược, nàng định hạ thuốc mạnh với Vi Huấn! Trong Tàn Dương Viện, gan ai lớn thì còn bàn, chứ gan Thác Bạt Tam Nương thì luôn được xem là lớn thứ hai, mà chẳng ai dám nhận mình là nhất.

Khâu Nhậm khoanh tay suy nghĩ, rồi chậm rãi nói:

“Có thể hiệu quả thật, nhưng hắn sẽ đoán ngay là do sư tỷ ra tay. Tỷ không sợ hắn trả thù ư?”

Hoắc Thất Lang phụ họa:

“Đại sư huynh xưa nay thù không để qua đêm. Hôm nay hắn thua, ngày mai hắn sẽ đòi cả vốn lẫn lời.”

Thác Bạt Tam Nương uống thêm mấy chén, âm thầm cân nhắc. Ngày mai nếu bị truy đuổi khắp chân trời góc biển cũng chẳng lạ. Mà nàng mới bị thương mấy hôm trước, tỳ bà chưa lành, có muốn chạy cũng chẳng nhanh nhẹn gì. Chỉ vì một ván cược mà gây họa như vậy, quả là không đáng.

Huống hồ Vi Huấn từ nhỏ vốn tay tàn dạ độc, đối đầu kẻ khác không hề khoan nhượng. Giờ đây trận chiến đã qua, địch thủ lần lượt xuất hiện, vị trí đầu đàn ấy sẽ liên tục bị thách thức, chẳng lúc nào được yên.

Nghĩ tới nghĩ lui, Thác Bạt Tam Nương đành bỏ lỡ cơ hội tuyệt vời này, thở dài một tiếng, tiếc nuối móc bình vàng ra trả nợ.

Bị lão tam lừa một vố, Vi Huấn đành trèo tường đoạt ngựa, một đường vội vàng phóng về huyện Linh Bảo. Hắn cưỡi ngựa không quen, mà con ngựa kia cũng chẳng phải ngựa mình. Đi nửa đường, ngựa nhất quyết không chịu chạy, hắn đành bỏ lại mà lao đầu chạy bộ.

Lúc đi ngang qua nơi Bàng Lương Ký và Tiêu Nhiễm làm lễ, hắn bất giác nghĩ: nếu nàng kết hôn, trông sẽ ra sao? Hắn biết mình chẳng có vị trí gì trong đoàn rước dâu cả. Nhưng nếu nàng không muốn lấy chồng, hắn nhất định sẽ trà trộn vào, phá vỡ nghi thức, đạp đổ kiệu hoa, giữa muôn người cướp nàng đi.

Rồi sau đó thế nào? Hắn chưa nghĩ tới. Có lẽ cũng chẳng sống nổi tới lúc đó. Huống chi, hôm nay thấy nàng một mình đấu La Sát Điểu, oai phong lẫm liệt, hắn cảm thấy có lẽ một mình nàng cũng đủ sức tiêu diệt cả quân Thổ Phiên, cần gì ai cứu.

Mải nghĩ ngợi, hắn đã tới khách đ**m. Nghe tiếng vó ngựa đằng sau càng lúc càng gần, hắn không kịp vào cửa chính, đành trèo cửa sổ nhảy vào. Rơi xuống đất, hắn vội vã đổ nước vào nghiên mực, làm bộ như vừa luyện chữ xong, rồi chui tọt vào giường, cuộn tròn trong chăn, chỉ để hở mặt mũi.

Vừa mới nhắm mắt, nàng đã đẩy cửa bước vào. Bước chân nhẹ như mèo, nhưng với hắn thì rõ mồn một. Nàng khựng lại một chút, rồi lặng lẽ ngồi xuống bên mép giường.

Vi Huấn căng cứng cả người, âm thầm chờ đợi: liệu nàng có giống như đối xử với Thập Tam Lang, nhẹ nhàng sờ trán nắm tay hắn chăng?

Từ nhỏ, hắn đã học cách không để lộ yếu điểm. Dù bị thương nặng, cũng phải giả vờ bình thản, nếu không sẽ bị giết. Chỉ khi ở cạnh nàng, hắn mới dám mơ tưởng đến sự yếu đuối, mong được nàng thương xót.

Hắn hiểu rõ: nàng là người bị hại, hắn chỉ mượn danh bảo vệ để ở gần nàng. Hắn đã hứa sẽ đưa nàng tìm lại thân thế, lời hứa ấy đánh đổi bằng tính mạng, nên hắn không thể để lộ chút tình cảm nào. Không dám chìa tay, cũng không thể mở lời.

Chính vì không thể, nên hắn càng hy vọng nàng chủ động. Mong nàng nắm tay, sờ trán, nói đôi lời dịu dàng.

Mùi hương thân quen thoảng lại, từng tấc da thịt hắn căng lên vì hồi hộp chờ đợi.

Bảo Châu bị Thác Bạt Tam Nương khơi gợi nghi ngờ, cứ ngỡ Vi Huấn đã trở lại dọn dẹp hành lý, nhưng vừa đẩy cửa thấy hắn đang ngủ trên giường thì mới thở phào. Nàng rón rén đến bên giường, ngồi xuống, ôm gối ngay ngắn.

Hắn vốn sắc sảo lạnh lùng, luôn như lưỡi kiếm bên hông, ai thấy cũng phải tránh xa. Giờ đây, khi ngủ, vẻ sắc nhọn ấy thu lại, như lưỡi đao được tra vào vỏ, khiến người ta muốn đến gần.

Trải qua một trận ác chiến, nàng nhận ra giang hồ quả thực là chốn hiểm ác, không giống triều đình nơi mưu sâu kế hiểm. Giữ mãi vẻ mạnh mẽ, kỳ thực cũng rất mỏi mệt.

Thấy hắn ngủ yên, nàng vô thức đưa tay, định thử xem da mặt hắn có lạnh như lòng bàn tay không.

Nhưng tay vừa chạm gần, nàng lại dừng. Trước đây nàng từng chăm sóc Lý Nguyên Ức, Thập Tam Lang , hay Dương Hành Giản, chưa từng e dè. Nhưng lần này, dù lòng tràn thương cảm, tay lại không dám chạm.

Tay nàng khựng lại giữa không trung, má ửng đỏ, tim đập thình thịch. Nàng tự nhủ: chắc do mình uống hơi nhiều, men còn chưa tan hết. Lại nghĩ: hắn là cao thủ, chỉ cần chạm vào sẽ cảnh giác, thôi thì đừng quấy rầy.

Do dự một hồi, nàng lặng lẽ rút tay lại.

Cảm thấy ngượng ngùng không rõ nguyên do, nàng đứng dậy, bước nhẹ tới bàn xem.

Chữ hắn luyện chỉ mới vài hàng, càng về sau càng nguệch ngoạc, rõ là vì mệt mỏi nên buông bút nghỉ ngơi. Nàng khẽ cười, chẳng giận gì. Luyện chữ vốn là cái cớ để giữ chân hắn, đâu thể mong thành tài trong một đêm.

Ngoài cửa, ánh chiều rơi nghiêng. Nhìn lại suốt một ngày biến động, lòng nàng dâng lên bao cảm xúc.

Nàng chấm mực viết tám chữ: “Tiễn vô hư phát, thù bất quá đêm”, rồi lấy chủy thủ bên hông đặt lên làm chặn giấy. Sau đó nàng khẽ khàng rời khỏi phòng.

Vừa khép cửa, nàng định gọi Thập Tam Lang đến hỏi rõ câu nói “đảo lộn Đại Đường” là có ý gì. Nhưng đi vài bước, rời khỏi bầu không khí quái lạ kia, đầu óc dần sáng lại. Nhớ lại một số chi tiết, nàng càng nghĩ càng thấy bất ổn.

Trong phòng chỉ thấy hắn mặc một lớp trung y trắng, không có áo khoác xanh hay đôi giày. Nếu nói mệt quá mà ngủ không cởi áo cũng được, nhưng giày cũng không thấy? Ai lại nằm chăn kín mít cả người như thế?

Nhớ lại câu hắn từng hứa: “Hai ngày không vận chân khí, tránh đụng độ.” Hắn nói không dùng chân khí, chứ chẳng nói không chạy nhảy. Cân nhắc từng lời, nàng bỗng hiểu ra.

Biết rõ sự thật, nàng chẳng biết nên khóc hay cười. Nhưng với thân phận nàng, làm sao quay lại kéo chăn hắn ra vạch mặt? Như thế quá xấu hổ.

Không hiểu sao, bị hắn lừa lần này, nàng lại thấy vui vui. Tự nhủ: nếu hắn được chứng kiến trận chiến hôm nay, chắc sẽ xiêu lòng vì nàng đâu nỡ bỏ đi vô ích như thế.

Thôi thì cứ làm ngơ, cho hắn đắc ý một lúc.

Nàng khẽ lắc đầu, bật cười, rồi thong thả bước đi.

Nghe tiếng bước chân nàng xa dần, khao khát chờ mong tan biến, nỗi hụt hẫng càng dâng lên dữ dội. Không lời, không tiếng, con mèo nhỏ bị thương ấy chỉ biết cuộn mình lại, lặng lẽ chịu đựng.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 91


Vi Huấn vốn dĩ lòng đã rối bời, nằm cuộn trong chăn mãi mới chịu trở dậy. Nào ngờ vừa nhìn thấy mấy hàng chữ Bảo Châu để lại trên án thư, bút tích tiêu sái, phong thái tuấn dật, tâm cảnh hắn liền rung động, ngẩn ngơ lặp đi lặp lại tám chữ: “Tiễn vô hư phát, thù bất quá đêm”. Hắn vốn tính tình ngạo mạn, xưa nay chưa từng để tâm tới mấy hư danh giang hồ, vậy mà tám chữ ấy, nhất là đôi câu ghép lại “Thù bất quá đêm” của Thanh Sam Khách cùng “Tiễn vô hư phát” của nàng bất giác khiến hắn thấy như ẩn chứa điều chi đặc biệt khó nói thành lời.

Bảo Châu trước giờ vẫn không muốn để nét chữ mình lọt ra ngoài, hễ viết rồi là phải đốt bỏ. Vi Huấn bèn lén giữ lại trang giấy này cùng với tờ đầu tiên của quyển 《Quy viên điền cư》, giấu kỹ, bụng nhủ dù sau này nàng có đổi ý, muốn tìm lại cũng không thể.

Sau trận mưa rượu đêm ấy, Bảo Châu ngủ một giấc thật yên lành.

Nhưng một đám trai trẻ máu nóng vẫn chưa chịu yên. Từ Ngọc Thành lần theo dấu vết tới tận huyện thành Linh Bảo, loanh quanh bên mấy quán trọ, chỉ mong được gặp lại thiếu nữ áo đỏ, hoặc ít nhất cũng được dắt lừa giúp nàng, hay may ra có cơ hội theo hầu. Trong số đó có kẻ biết chữ, thậm chí còn viết cả thư tình lên phi đao, găm thẳng vào cánh cửa lớn, làm ông chủ quán trọ sợ đến run chân, chẳng biết phải thắp hương ở đâu mới mong tiễn được cái “hỏa khách” ấy đi khỏi.

Thành ra Vi Huấn phải thường xuyên đi một vòng quanh địa phận, lấy quyền cước để “nói chuyện nhân sinh” với mấy kẻ thích đùa dao múa kiếm, lấy đạo đức mà khuyên đến nỗi suốt đêm không được chợp mắt.

Có lẽ thấy công chúa rơi vào cảnh hiểm nguy không người chăm sóc, Dương Hành Giản trong lòng nôn nóng, tâm vẫn một dạ trung thành với Thiều vương, thành thử bệnh tình bỗng dưng thuyên giảm quá nửa chỉ trong một đêm.

Hôm sau, Bảo Châu gọi cả Thập Tam Lang, Vi Huấn và Hoắc Thất đến đối chứng từng người, lời nói của ba người trùng khớp, không có dấu hiệu giấu giếm. Lời trăn trối của Trần Sư Cổ để lại tuy khó dò căn nguyên, người truyền tin cũng chẳng thể truy, nhưng rõ ràng bọn môn đệ của hắn đều không tỏ tường chân tướng.

Bảo Châu thật ra cũng không tin trên đời có “thần khí” nào đủ sức “điên đảo Đại Đường, đảo lộn thiên hạ”. Nàng đồng quan điểm với Dương Hành Giản, cho rằng đã là vật gắn liền với mệnh nước thì dù có kỳ dị, cũng phải nằm trong tay mình, nếu để kẻ khác cướp được mới thật là tai họa.

Nay vật kia đang gắn liền với mấy đồ đệ của Trần Sư Cổ, riêng Vi Huấn thì nàng lại thấy khác. Nghĩ tới đây, Bảo Châu âm thầm tự nhủ: dẫu sau này có mâu thuẫn gì, cũng không thể để kẻ này thoát khỏi tay mình, phải giữ thật chặt mới yên lòng.

Vi Huấn thấy nàng im lặng nhìn mình chăm chú, trong lòng có chút chột dạ. Bản sao chưa chép xong, nàng lại chẳng truy hỏi, chẳng rõ có phát hiện hắn chuồn êm hay chưa.

Bảo Châu chợt nói:
“Con lừa ngươi mua ở Trường An thật dễ dùng.”

Trong giọng nói có ý khen.

Vi Huấn nghe vậy cũng nhẹ lòng. Nào ngờ nàng lại nhắc lại chuyện cũ:
“Ta vẫn thích Hoắc Thất hơn.”

Tay Vi Huấn run lên, bóp vỡ cả chén trà, nước nóng bắn tung tóe ướt cả vạt áo, trong lòng rối rắm không rõ nàng nói “muốn” là theo nghĩa nào, đành mím môi, không dám thốt lời.

Thấy hắn thất thố, Bảo Châu suýt nữa bật cười. Nàng nói:
“Một núi không dung hai hổ, ta biết giữa các ngươi trong sư môn vốn chẳng ưa nhau. Ta sẽ không giữ nàng bên người, chỉ có cách dùng vào việc khác.”

Rồi nàng đem ý định của mình nói cho hai người nghe.

Dương Hành Giản nhắc:
“An bài như thế quả là ổn thỏa. Chỉ lo… bọn du hiệp sớm muộn cũng nhận ra thân phận thật của công chúa.”

Bảo Châu tự tin đáp:
“Đã dùng người thì không nghi, đã nghi thì không dùng. Nàng không biết chữ, tin khi đến U Châu thì người cũng đã ở cạnh A huynh.”

Vi Huấn dù có chút ngờ vực nhưng không tìm ra lý do để phản đối, đành ngầm chấp thuận.

Chợt nàng nhớ ra một việc khác, hỏi hắn:
“Ngươi từng giết một người tên Lư Tụng Chi ở Trường An chưa?”

Vi Huấn nghĩ một lúc, lắc đầu:
“Ai vậy?”

Bảo Châu nhớ lại lúc mình bị giam trong Thúy Vi Tự, không thể tin ai nên chẳng từng nói ra nghi ngờ. Nay mới có dịp cởi mở:
“Tứ phẩm gián nghị đại phu, ngoại hiệu Hồ Tiêu Khanh, chính là y.”

Vi Huấn nhớ tới món cháo tiêu hồ lẫn gan người của kẻ nào đó, lạnh sống lưng:
“Ta ngay cả hồ tiêu cũng chẳng muốn ăn, càng không muốn biết đến Khanh gì đó.”

Bảo Châu chau mày:
“Lạ thật. Lúc ta rời Trường An, hắn đột nhiên chết, thật là trùng hợp.”

Dương Hành Giản hồi lâu không nói, bỗng ho khan mấy tiếng, vẻ mất tự nhiên. Bảo Châu quay sang nhìn, thấy sắc mặt hắn trầm trọng, bèn hỏi:
“Chủ bộ có tin gì giấu sao?”

Dương Hành Giản liếc nhìn Vi Huấn, tựa hồ khó mở miệng.

Bảo Châu dứt khoát:
“Hắn là người của ta rồi, có chuyện gì cứ nói.”

Nghe đến câu “là người của ta”, da mặt Dương Hành Giản không khỏi giật giật. Trong bụng thầm nghĩ mấy hôm nay mình mê man, không biết hai người này đã xảy ra chuyện gì. Liếc nhìn Vi Huấn, thấy gã rũ mắt cười nhẹ, chẳng rõ là mừng thầm hay giễu cợt, trong lòng càng thêm nghi ngờ, định bụng sau này sẽ dò hỏi đôi lời.

Bảo Châu giục:
“Chủ bộ?”

Dương Hành Giản hoàn hồn, kính cẩn thưa:
“Bẩm công chúa, Lư Tụng Chi là do thần sai người giết.”

Một câu ấy như sấm nổ giữa trời quang, khiến Bảo Châu và Vi Huấn đều ngỡ ngàng. Vi Huấn hỏi:
“Một quan viên tứ phẩm, đi đâu cũng có bảy tám người theo hầu, ta thấy ngươi đánh không lại cả gác cổng, sao giết được hắn?”

Dương Hành Giản nghiêm mặt:
“Tự ta không ra tay, là thuê thích khách làm.”

Bảo Châu giục:
“Kể hết đầu đuôi cho ta nghe!”

Dương Hành Giản nói:
“Hôm ấy Thiều vương phái ta đi Trường An, giao hai mệnh lệnh. Một là tra rõ chân tướng cái chết của công chúa. Hai là nếu không rõ nguyên nhân, thì trừ khử Lư Tụng Chi để rửa hận thay người.”

Thấy Bảo Châu vẻ mặt kinh ngạc, hắn tiếp lời:
“Ngự y thường ngày theo hầu bên công chúa vốn là Trần Nguyên Các và Thẩm Nhạc Hiền, hiểu rõ thể trạng của người. Nhưng khi công chúa mất, ba kẻ bị xử tội lại là Triệu Thành Ích, Hoàng Chá và Chu Minh Chí. Lư Tụng Chi trông coi Thượng Dược Cục, từng có hiềm khích với công chúa, mà chuyện thay ngự y lại do y sắp đặt. Hắn là kẻ khả nghi nhất.

Triệu Thành Ích và Hoàng Chá đều là đại phu già dặn, gia thế trong sạch, quen bắt mạch cho phi tần trong cung. Việc họ thay người cũng tạm chấp nhận được. Nhưng Chu Minh Chí thì vừa ra trường, không kinh nghiệm, lại là người chẩn trị tại gia, không hợp lẽ chút nào.”

Bảo Châu siết chặt tay, sắc mặt lạnh như sương, lát sau buông một câu:
“Cáo già giảo hoạt, tâm địa độc ác.”

Vi Huấn vẫn chưa rõ, hỏi:
“Là Lư Tụng Chi sai ba người kia hại công chúa?”

Bảo Châu lắc đầu:
“Gian nịnh như hắn chẳng cần phải sai bảo ai. Chỉ cần sắp xếp một tổ hợp như thế, mọi chuyện đã dễ hỏng bét rồi.” Nàng hỏi tiếp, “Trong sư môn ngươi, ngoài ngươi ra thì ai giỏi nhất, ai kém nhất?”

Vi Huấn đáp:
“Lão nhị Hứa Bão Chân kém ta nửa bậc. Còn lót sổ thì là lão thất.”

Bảo Châu hỏi:
“Nếu gặp một kẻ khó đối phó, ba người cùng ra tay, các ngươi sẽ sắp xếp thế nào?”

Vi Huấn đáp:
“Tuy trước nay chưa từng cần liên thủ ba người, nhưng nếu phải vậy, chắc chắn ta và lão nhị ra tay, lão thất ở ngoài tiếp ứng.”

Bảo Châu khẽ cười:
“Giang hồ là vậy, nhưng quy củ triều đình lại khác. Nếu ta bệnh nặng nghi trúng độc, mà ba ngự y được điều đến gồm hai người từng trải và một kẻ non nớt, khi tình thế ngặt nghèo, hai người kia chưa chắc sẽ dốc sức. Thế là việc quan trọng rơi vào tay kẻ trẻ tuổi, một khi thất bại, hắn sẽ thành kẻ chịu tội thay.”

Vi Huấn đứng lặng người, không ngờ giữa những tầng lớp khác nhau, cách ứng xử trước hiểm nguy lại khác nhau một trời một vực. Những kẻ nơi triều đình không mấy khi đặt tính mạng người khác lên hàng đầu, điều họ nghĩ tới trước tiên lại là làm sao đùn đẩy trách nhiệm.

Dương Hành Giản khẽ thở dài:
“Đối với mấy vị ngự y, chuyến này chẳng khác nào bước đi giữa bốn bề nguy khốn. Họ tất sẽ toan tính đủ điều để giữ lấy mạng mình. Lư Tụng Chi tự ý thay người, lại cố tình sắp đặt một tổ hợp dễ sinh chuyện, rõ là dã tâm đã sẵn. Nếu không xảy ra việc gì thì thôi, bằng không cũng dễ có cớ thoái thác, nói là ngoài ý muốn.”

Nói đoạn, hắn lấy từ trong ngực ra một cây bút lông, tháo đầu bút, từ thân bút trống rút ra một mảnh giấy vàng, trải ra đưa cho Bảo Châu.

“Đây là tang vật thích khách tìm thấy trong phủ nhà Lư Tụng Chi. Thần vốn định mang về U Châu dâng Thiều Vương xem xét. Nay sự đã nói ra, cũng xin công chúa tự mình xem xét, tìm rõ ngọn ngành.”

Bảo Châu đón lấy, thấy trên giấy là một đơn thuốc, nàng tuy không rành thuốc men nhưng rõ ràng cuối đơn có bút tích ghi tên: Chu Minh Chí.

Dương Hành Giản nói:
“Đây là toa thuốc cuối cùng công chúa dùng trước khi ‘lâm chung’. Đơn thuốc trong hoàng thất vốn phải lưu giữ ở Điện Trung Tỉnh, vậy mà lại bị Lư Tụng Chi tráo đem về nhà, đủ biết trong lòng hắn có mưu. Kẻ kê đơn, chính là học trò mới ra nghề ấy Chu Minh Chí.”

Ba người ngự y, hai kẻ tắc trách, một kẻ chịu vạ thay. Nhưng chẳng ai ngờ rằng cái chết của Vạn Thọ Công Chúa lại gây rúng động đến thế, ba người đều bị xử trảm, cả nhà bị lưu đày, không một ai thoát khỏi cơn giận của thiên tử.

Dương Hành Giản kể tiếp:
“Bệ hạ ắt hẳn cũng hiểu rõ mưu toan của Lư Tụng Chi. Nhưng ngoài việc cắt bổng lộc một năm, ban chiếu đóng cửa hối lỗi, người không truy cứu thêm. Chẳng qua mấy năm gần đây, Lư Tụng Chi đưa nhiều phương sĩ vào cung, mà bệ hạ lại không thể rời thuốc, nên tạm thời bỏ qua. Nhưng công chúa là người Thiều Vương luôn thương yêu tin cậy, dẫu Lư Tụng Chi không trực tiếp ra tay, chỉ riêng việc hắn giám quản Thượng Dược Cục, đã là đủ tội để Thiều Vương quyết không tha cho hắn.”

Vi Huấn đón lấy tờ đơn thuốc từ tay Bảo Châu, đọc một lượt, trong đó ghi: qua đế, phèn xanh, thường sơn, bồ kết… Hắn khẽ nói:
“Đây là thuốc thúc nôn mạnh.”

Bảo Châu biết Vi Huấn từng đọc nhiều y thư khi chữa bệnh, tuy không phải thầy thuốc nhưng chắc cũng đoán được đôi phần, bèn nói:
“Ta nhớ lúc đó sau khi uống thuốc, quả thật nôn ra không ngừng, mật đắng cũng phun cả ra, rồi mắt tối sầm, bất tỉnh nhân sự. Vậy là người ấy kê sai thuốc thật sao?”

Vi Huấn trầm giọng:
“Thuốc này là để xử lý khi trúng độc, giúp người bệnh nôn ra thứ độc đã nuốt phải. Nếu quả thực ngươi bị đầu độc, dùng thuốc này cũng không sai lắm. Nhưng cách phối thuốc thì nặng nhẹ không đều, dược lực quá mạnh, uống vào sẽ nôn mửa dữ dội. Nếu không có người thạo thuốc theo dõi kề bên, không bù nước bằng canh muối hay nước tương kịp thời, sẽ dẫn đến mất nước nghiêm trọng, bất tỉnh mà chết. Khi ấy, có rót nước vào miệng cũng vô dụng.”

Vi Huấn hồi tưởng lại tình cảnh khi đào nàng lên từ địa cung trong mộ, thân thể lạnh toát, tay chân khô khốc, đúng là mất nước nặng, chứ không có biểu hiện da tím miệng đen của kẻ trúng độc. Nếu không nhờ cơ thể nàng vốn cường kiện, e rằng đã bị quỷ vô thường lôi đi trước khi hắn kịp mở áo quan. Hắn đã phải vận nội lực truyền hơi ấm, day ấn huyệt yết hầu, chậm rãi đút từng ngụm canh nóng, mới có thể giành nàng lại từ tay tử thần.

Nghe lời Vi Huấn phân tích, Dương Hành Giản cũng ngầm kinh hãi. Trước đây, hắn đã sao chép toa thuốc này đưa cho danh y Trường An thẩm định, kết luận cũng gần giống như vậy. Người này tuy là kẻ giang hồ lẩn khuất nơi bụi rậm, nhưng kiến thức không thể xem thường.

Dương Hành Giản nói:
“Trước khi chết, Lư Tụng Chi bị xử lăng trì, chỉ chịu nhận có động tay vào việc đổi ngự y, còn việc đầu độc công chúa thì sống chết không thừa nhận. Thần điều tra đến đó thì mất dấu. Mãi sau mới nghe từ An Hóa Môn có người đồn ‘Châu nhi’ còn sống, thần mới lần theo tin tức tới đây.”

Hắn nhấp ngụm trà cho ấm cổ, lại nói:
“Điều thần không hiểu là: dù cho toa thuốc có phần sơ suất, nhưng quanh công chúa không thiếu cung nữ thân cận, sao lại để người rơi vào cảnh kéo dài đến mức hôn mê, rồi bị cho là đã mất?”

Vi Huấn đáp:
“Người bên cạnh nàng không chỉ bị bắt chôn theo, mà đều bị tra khảo tàn nhẫn, rồi xử tử cả. Có lẽ vì nghi ngờ có đầu độc, nên hoàng đế lập tức bắt cung nữ tra hỏi, khiến ai nấy hoảng loạn, không ai dám chăm sóc nàng cẩn thận nữa.”

Dương Hành Giản lộ vẻ không đành lòng:
“Nhưng dù có bắt hết người cũ, lẽ nào không điều thêm người mới tới hầu hạ?”

Qua hơn hai tháng, lần đầu Bảo Châu nghe nói về số phận của bà vú, cung nữ thân cận khi xưa, sắc mặt liền trắng bệch, nước mắt chực trào.

Nàng khàn giọng, cố giữ bình tĩnh:
“Gần bốn mươi người bị cấm vệ bắt đi, e có kẻ bị gi.ết ch.ết ngay tại chỗ. Ngự y thấy cảnh đó ắt cũng kinh hồn, chẳng còn tâm trí nào ghi nhớ lời dặn thuốc thang. Người mới được cử đến, tâm còn run sợ, đâu dám thân thiết. Nếu làm sai chẳng khác gì rước họa diệt thân. Lúc ấy, ai cũng chỉ mong giữ mạng, không làm gì mới là cách an toàn nhất.”

Một vị công chúa từng được sủng ái như trời ban, vậy mà vì lòng người sợ trách nhiệm, uống nhầm thuốc xong không ai dám gần, cứ thế bị kéo dài cho đến chết giả. Hoàng đế sau khi uống đan dược, tính khí bất ổn, chưa thấy rõ chân tướng đã nổi giận mà trút giận lên tất cả. Nếu lúc đó còn một, hai tỳ nữ thân cận ở bên, ít ra nàng cũng có người rót cho ngụm nước.

Người mưu hại, kẻ làm qua loa, người chỉ lo bảo toàn tính mạng… bao nhiêu điều rối rắm ngẫu nhiên chồng chất, mới dẫn đến “án tử của công chúa” rơi vào bước đường này.

Nghe Bảo Châu nói, Dương Hành Giản gật đầu thở dài:
“Chỉ cần trong đó có một người làm tròn bổn phận, cũng không đến nỗi thành ra cơ sự. Tiếc là đầu mối vụ này, giờ e chẳng còn truy được nữa.”

Lư Tụng Chi đã chịu tội, nhưng Bảo Châu vẫn cảm thấy khắp nơi mịt mờ như sương phủ.

Dẫu cho nàng thực sự chỉ vì nhiều điều ngẫu nhiên dẫn đến chết giả, thì thi thể đặt quan lâu như vậy, chỉ cần có thêm một ngự y bắt mạch, cũng sẽ phát hiện điều khác lạ. Cớ sao lại vội vã hạ táng? Còn gương mặt nàng khi nằm chết, vì sao dán bùa trấn? Điều đó là có ý gì?

Một lúc lâu sau, nàng lau nước mắt, hỏi:
“Thích khách kia ra tay tàn nhẫn như vậy, ngươi làm sao thuê được?”

Dương Hành Giản đáp:
“Công chúa đã hỏi, thần xin thành thật. Là nhánh mật của Thiều Vương tại Trường An giúp liên hệ. Nghe đâu, kẻ ấy là thủ lĩnh sát thủ lợi hại nhất xứ Quan Trung. Hơn nữa…”

Hắn ho nhẹ một tiếng, mắt ánh sáng lấp lánh, giọng như kể chuyện lạ:
“Nghe nói là một nữ nhân! Một cô gái người Tiên Bi, nhan sắc khuynh thành.”

Bảo Châu và Vi Huấn cùng giật mình. Dương Hành Giản kể tiếp:
“Thần nghe mà thấy khó tin, định bụng muốn gặp mặt, nào ngờ kẻ ấy thần bí khôn lường, chẳng bao giờ tự thân ra mặt, chỉ sai người thay mình liên hệ. Nhận năm trăm lượng vàng, ba ngày sau xong việc, không nói nhiều lời, đúng là kỳ nữ giang hồ.”

Bảo Châu thầm nghĩ, mấy hôm trước ở quán trọ từng thấy nữ nhân ôm đàn tỳ bà, thân hình như ma ấy hẳn chính là người đó.

Vi Huấn đột nhiên nói:
“Giá thuê của nàng ấy giờ đã cao đến thế sao?”

Dương Hành Giản không biết mối liên hệ giữa họ, đáp:
“Không chỉ là đầu Lư Tụng Chi. Thiều Vương muốn hắn cả nhà tuyệt hậu. Năm trăm lượng là tính cho cả vợ chồng Lư thị cùng ba đứa con trai.”

Bảo Châu vẫn chưa thôi thắc mắc, buột miệng hỏi:
“A huynh ta vốn ôn hòa nhã nhặn, sao lại ra lệnh tàn khốc đến thế?”

Dương Hành Giản có chút ngượng, ậm ừ mãi mới nói:
“Thần theo hầu Thiều Vương bao năm, không dám quá lời khen ngợi, nhưng cũng chẳng thể dùng mấy chữ ‘ôn nhu lễ độ’ để miêu tả. Ngài ấy thường giấu tài, không lộ bản lĩnh, nhưng lòng thương công chúa là thật. Nếu phải chọn một từ để nói cho đúng…”

Suy nghĩ hồi lâu, ông nói:
“Thần cho rằng… ‘quyết đoán sát phạt’ mới hợp hơn.”

Vi Huấn nhếch môi cười:
“Trong giới ta, gọi thế là tàn nhẫn lạnh lùng.”

Dương Hành Giản liền gắt:
“Đừng có báng bổ! Ấy là lời ca ngợi người trên, đâu thể dùng giọng l* m*ng chốn giang hồ mà sánh ngang!”

Vi Huấn bĩu môi, không phục:
“Mấy người tự xưng thanh cao, rốt cuộc vẫn phải thuê bọn ta làm mấy việc dơ bẩn.”

Bảo Châu nghe hai người tranh cãi, lòng nàng đã sớm bay về phía U Châu. Trước kia nàng từng để ý đến Thác Bạt Tam Nương, muốn thu nàng về dưới trướng nhưng bất thành, ai ngờ huynh trưởng đã sớm đi trước một bước?

Hai anh em kia thân là hậu duệ quý tộc, sao cứ như có mối tơ duyên với đám giang hồ lùm cỏ nơi Tàn Dương Viện? Là trùng hợp, hay là số mệnh sắp đặt?

Án chôn sống của nàng nay mới hé lộ một góc, nhưng chưa thể xem là manh mối thật sự. Điều khiến nàng lo lắng hơn chính là nét âm trầm lạnh lẽo trong con người Lý Nguyên Anh.

Nàng nghĩ mãi không ra, rồi bất chợt nhớ tới một chuyện, bèn tò mò hỏi Vi Huấn:
“Khi ấy mệnh ta như chỉ mành treo chuông, lại bị chôn sống mấy ngày, nơi Thúy Vi Tự không có gì cả, ngươi làm sao cứu ta ra được?”

Vi Huấn thấy nàng nhắc chuyện xưa mà nét mặt buồn thương, ngẫm nghĩ một chút rồi cười gian, đáp lấp lửng:
“Cũng không có gì ghê gớm… chỉ là… cho nàng uống nhiều nước ấm thôi.”

Lúc này Vi Huấn đã có tình cảm vs công chúa nên sẽ gọi là nàng, công chú cũng có tình cảm nhưng mơ hồ nên mk vx giữ nguyên. Nếu mọi người thấy ko hợp lý có thể bảo mk.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 92


Nghe Vi Huấn đáp lại bằng câu nói đùa rằng chỉ “uống nhiều nước ấm”, Bảo Châu sửng người một thoáng. Nàng nheo mắt lại, định bắt bẻ hắn cái tật nói nửa vời chẳng bao giờ chịu thẳng thắn. Nhưng chưa kịp nổi giận thì ngoài cửa đã vang lên tiếng gõ.

Tiếng người canh gác ngoài đại sảnh vang vào theo mệnh lệnh của nàng:
“Cửu Nương, Thất sư huynh đã về!”

Bảo Châu lập tức quăng bỏ Vi Huấn sang một bên, bật dậy, chân không chạm đất, chạy nhanh ra ngoài.

Vi Huấn cũng thong thả đứng lên, bỗng nhớ ra điều gì, quay sang hỏi Dương Hành Giản:
“Ngoài cái gã hồ tiêu khanh kia, còn có ai từng ức h**p nàng nữa không?”

Dương Hành Giản ngẩn ra:
“Đâu ra? Công chúa vốn là con cưng chốn thiên đình, nếu chẳng bởi cớ bất trắc vừa qua, nàng vẫn là người được sủng ái nhất trong cung.”

Vi Huấn khẽ nói:
“Nàng kể sau khi mẫu thân mất, cùng đệ đệ bị đuổi khỏi điện Bồng Lai, nghe mà thấy chua xót quá.”

Dương Hành Giản chau mày:
“Chuyện đó không hẳn là bị đuổi. Theo lệ trong cung, khi mẫu thân ruột mất, công chúa hay hoàng tử còn nhỏ sẽ được giao cho phi tần khác chăm lo nuôi dạy. Ngươi hỏi chuyện ấy làm gì?”

Vi Huấn giọng nhẹ tênh:
“Bọn ta làm nghề này, có người vì tiền, cũng có người không lấy đồng nào. Ta đưa nàng về U Châu, quay lại Trường An sau chắc còn dư thời gian để giải quyết chút chuyện cũ.”

Một luồng lạnh lẽo bất giác trườn dọc sống lưng Dương Hành Giản. Hắn cố thuyết phục mình rằng đó là dư âm cảm mạo chưa khỏi, chứ không phải nỗi sợ hãi. Trước kia từng gián tiếp tiếp xúc với nữ sát thủ Tiên Bi kia, dù chẳng nhìn được mặt, hắn cũng từng có cảm giác rợn người như thế.

Dương Hành Giản kể:
“Thực ra công chúa chưa từng là kẻ sống nhờ cửa người. Lúc Quý phi qua đời, nàng chỉ mới mười tuổi mà đã dâng sớ lên thánh thượng, xin tự mình chăm sóc đệ đệ còn trong tã lót, lấy đó làm cớ xin ở riêng. Thường thì công chúa phải chờ tới khi xuất giá mới được lập phủ, thế mà nàng chưa nên người đã là chủ một điện riêng nơi Đại Minh Cung trước nay chưa từng có lệ như vậy. Nhưng năm ấy Quý phi vừa mất, bệ hạ bi thương khôn xiết, nghe nàng ngoan ngoãn cầu xin thì liền thuận ý, ban cho nàng điện Tê Phượng để cùng An Bình quận vương cư ngụ.”

Ngừng một lát, Dương Hành Giản liếc nhìn người thiếu hiệp đang im lặng trước mặt, thầm dặn lòng phải luôn dè chừng kẻ này. Võ nghệ thâm hậu, sau lưng lại có lắm sư huynh đệ chẳng dễ đối phó. Nếu một ngày nào đó hắn nổi giận mà xúc phạm công chúa, thì cả nàng lẫn mình e cũng không đủ sức cản ngăn. Cần phải gõ nhắc hắn luôn ghi nhớ lễ phép trước bậc tôn quý, cho dù công chúa hiện nay đang lưu lạc đường xa, lòng có mềm yếu đi nữa, thì thân phận cách biệt vẫn chẳng thể quên.

Nghĩ thế, hắn bèn lựa lời mà khen:
“Công chúa vốn sinh sau Quý phi, trời cho con mắt tinh đời, biết nhìn người và dùng người đúng lúc đúng chỗ. Tuy ít khi lui tới ngoài cung, nhưng nơi chốn cung đình hiểm ác, nàng cũng đã sớm biết cách tồn tại. Mai sau, nếu Thiều Vương nối ngôi, nàng sẽ tiếp tục được sủng ái; bằng không, nếu An Bình quận vương lên thay, thì cũng sẽ dùng lễ kính mẫu mà đối với tỷ tỷ đã chăm mình khôn lớn. Mà điều này không phải do ai chỉ dạy, đều là bản năng từ nhỏ đã có. Công chúa là người sinh ra mang cốt cách rồng phượng, tài trí hơn người, ấy là lẽ đương nhiên.”

Tán dương đến đây, Dương Hành Giản thầm nghĩ: huyết thống là điều gắn bó thật lòng, nhưng bản năng tự chọn đường sáng cũng là lẽ sinh tồn. Chính vì nàng có được cặp mắt bén nhạy ấy, nên mới khiến Thiều Vương thương yêu nhất mực.

Nghe lời tâng bốc của lão Dương, Vi Huấn khẽ thở ra một hơi, nghĩ thầm: hóa ra nàng từ nhỏ đã biết tự lo cho mình. Dẫn theo đệ đệ còn bế mà vẫn xoay sở ổn thỏa, trách sao tính khí lại có phần kiêu ngạo, quen việc sai khiến người, cũng biết quan tâm chăm sóc người khác. Như vậy, khi hắn rời đi, cũng không cần lo lắng cho nàng nhiều nữa.

Nghĩ rồi, Vi Huấn nở nụ cười hiểu ý, thong thả bước ra khỏi phòng.

Hoàn thành nhiệm vụ Bàng Lương Ký giao phó, Hoắc Thất Lang trở lại Trường An, tay xách theo một chồng bánh hồ vừa mới ra lò. Nàng mở từng chiếc bánh bày lên bàn, đợi nguội đi rồi gói lại làm lương khô cho chuyến đường xa.

Vừa thấy Bảo Châu từ trên lầu hai bước xuống, Hoắc Thất Lang liền cười tươi đón tiếp:
“Vừa mua về đó, ăn thử một miếng không?”

Bảo Châu chẳng đáp lời, bước tới đối diện, rút ra năm thỏi hoàng kim, mỗi thỏi mười lượng, đặt cạnh chồng bánh. Mắt nàng sáng lạnh, nhìn chằm chằm người đối diện, không chút lay chuyển.

Thấy thế, Hoắc Thất Lang liền hiểu ngay ý tứ. Mặt nàng vốn đã xấu, giờ có vá cũng chẳng được, đầu đã nhận việc thì không thể quay đầu. Nàng khoanh tay, giọng cứng rắn:
“Xin lỗi, chuyện này không thể thương lượng.”

Bảo Châu nói:
“Ta biết không thể giành ngươi khỏi tay cố chủ, nhưng ta thay mặt huynh trưởng thuê ngươi chuyến này, nhờ ngươi một mình phi ngựa ngày đêm tới U Châu, mang theo một phong thư và một người, đưa đến tận tay huynh ấy. Trên đường không cần đi chung với chúng ta.”

Lòng Hoắc Thất Lang thoáng rối bời, ngẩng lên thấy Vi Huấn vừa bước ra khỏi phòng, hai tay tì lên lan can lầu hai, nhẹ gật đầu về phía nàng.

Thấy hắn đồng ý ngầm, Hoắc Thất Lang mới buông bớt lo, hỏi lại:
“Chẳng phải các ngươi cũng đang tới U Châu tìm thân thích sao? Có chuyện gì mà phải gửi riêng như thế?”

Bảo Châu đáp:
“Trước khi rời khỏi huyện Khuê, ta đã gửi thư báo bình an về cho huynh. Nhưng dạo này thiên hạ không yên, trạm dịch gián đoạn, thư từ chậm trễ, có khi mấy tháng chưa chắc tới nơi, có khi còn chậm hơn bọn ta đi bộ. Nay có ngươi thúc ngựa đưa đi, để huynh ta sớm biết ta bình an, đỡ cho người phải lo lắng.”

Hoắc Thất Lang thấy trước mặt là năm thỏi hoàng kim sáng rực, liền nhận ra đó là vàng tốt do quầy hàng Ba Tư ở Trường An, độ tinh khiết hẳn thuộc hạng nhất. Nàng nuốt nước miếng, nửa đùa nửa thật:
“Chỉ là đưa một phong thư thôi, mà ngươi ra tay rộng rãi thật.”

Bảo Châu đáp, giọng trang nghiêm:
“Số vàng này không phải tiền công, là để lo thay ngựa, ăn uống, nghỉ ngơi dọc đường. Còn công cán thật sự, chờ tới U Châu, a huynh ta sẽ tự mình hậu tạ.”

Hào khí như mây cuộn tràn tới, làm Hoắc Thất Lang có phần ngợp thở, hỏi tiếp:
“Hộ tống người là ai? Có đi được đường dài suốt ngày đêm, vượt mưa gió núi đèo được chăng?”

Bảo Châu thản nhiên đáp:
“Đương nhiên là đi được. Người được đưa… chính là ngươi. Tới U Châu, ngươi sẽ làm thị vệ cho a huynh ta, nghe theo điều động.”

Hoắc Thất Lang ngây ra một thoáng, rồi hơi chần chừ:
“U Châu à… tám tháng gió bấc, tuyết bay trắng trời… chỗ ấy hoang vu lắm. Ta thì vẫn thích mấy chốn phồn hoa như Trường An, Lạc Dương cơ.”

Bảo Châu biết nàng ngại nơi thâm sơn cùng cốc, liền vội nói:
“Chẳng phải ở đó mãi. Cùng lắm một năm, nhiều thì hai năm, chỉ cần quãng ấy ngươi theo giúp a huynh ta, sau đó muốn trở lại Trường An, Lạc Dương, hay vào nam tới Tô Châu, Dương Châu gì cũng được. Khi ấy, ngươi chẳng khác nào đại gia nhà giàu.”

Hoắc Thất Lang nghe đến đó thì giật mình không nói nên lời. Cảm giác như thể nhà nàng ấy giàu tới không thấy đáy. Nàng liếc nhìn sang Thập Tam Lang bên cạnh, thấy y vẫn bình thản như chẳng có gì mới lạ, bèn hỏi:
“Cửu Nương đã hứa với ngươi và đại sư huynh bao nhiêu tiền?”

Thập Tam Lang thẳng lưng, nói với vẻ rất mực nghiêm trang:
“Tỷ ấy hứa cho cả đời vinh hoa phú quý.”

Lời vừa dứt, Hoắc Thất Lang thấy trước mắt rực lên ánh vàng, đầu óc quay cuồng, vội vịn bàn mà ngồi xuống. Nàng ngẩng đầu nhìn Vi Huấn, thấy hắn cười cợt chẳng nói một lời, vẻ như đang rất đắc ý.

Bảo Châu bèn hỏi lại:
“Vậy ngươi có bằng lòng nhận việc này không?”

Hoắc Thất Lang như kẻ đang mộng du, bẻ một miếng bánh hồ, nhét vào miệng nhai nhồm nhoàm:
“Nhận! Đương nhiên nhận! Cái phúc tám đời này mà bỏ lỡ thì còn gì tiếc hơn… Đi U Châu phải theo đường nào cho nhanh, còn phải mua ngựa, sắm đao…”

Nghe nàng lẩm bẩm chuyện đường sá, Bảo Châu biết mọi việc đã thu xếp thỏa đáng. Nàng mỉm cười rạng rỡ, quay đầu chớp mắt ra hiệu với Vi Huấn, ý rằng: “Xong rồi!”

“Nếu ngươi đồng ý đi, vậy ta về phòng viết thư.” Bảo Châu nói xong đứng dậy, Hoắc Thất Lang khẽ “à” một tiếng, như còn điều muốn hỏi.

“Còn chuyện gì chưa rõ?”

Hoắc Thất Lang cười mỉa:
“Không có gì lớn, chỉ muốn biết một câu… A huynh của ngươi, có giống ngươi không?”

Bảo Châu chưa hiểu ý nàng, hơi nghiêng đầu, lắc đầu nói:
“Không giống lắm. Huynh ta giống mẹ, còn ta giống cha.”

Hoắc Thất Lang chậc lưỡi:
“Nam theo mẹ, nữ theo cha. Một nhà mà ra được một người đẹp là quý lắm rồi.” Trước mắt đã là dung nhan rực rỡ bậc này, đòi hỏi gì hơn?

Bảo Châu khẽ thất thần, giọng nhỏ nhẹ:
“Đúng vậy.” So với huynh trưởng, nàng cũng chỉ thuộc hàng dung mạo thường tình, chẳng lấy gì nổi bật.

Hoắc Thất Lang thầm nhủ: mình là đi kiếm bạc chứ đâu phải đi kén rể, miễn có tiền là được. Dù cho cố chủ là ông chủ tay đeo đầy nhẫn vàng, tướng mạo như Chung Quỳ đi nữa thì cũng chẳng sao. Việc này nhận làm là thắng lớn rồi.

Sau đó, Bảo Châu lấy danh nghĩa mượn miệng Dương Hành Giản, tự tay viết một phong thư hướng về U Châu. Cả bức không nhắc đến tên thật hay thân phận công chúa, chỉ dùng những lời bóng gió như “Biển cả mất ngọc, nay lại thấy”, “Lá non cùng cành, trăng khuyết sẽ tròn”, “Ít ngày nữa mang bảo về đất U Châu” để ngầm chỉ mình còn sống.

Cho dù thư bị địch nhân chặn giữa đường, cũng không đoán nổi người đã an táng kia làm sao sống lại được.

Viết xong, nàng kẹp thư vào giữa hai miếng ván có khắc vảy cá, trét bùn trám kín, đóng dấu ấn riêng của Dương Hành Giản. Đây là cách thư tín ngầm truyền tay trong chốn quan trường. Sau đó giao cho Hoắc Thất Lang, Bảo Châu dặn tên gửi là “Vương Anh”, tự xưng là người nhà viên thứ sử U Châu tên giả này vốn do Dương Hành Giản và Lý Nguyên Anh đã bàn bạc sẵn.

Hoắc Thất Lang nhờ sư huynh Vi Huấn mà được việc béo bở, trong lòng thầm thấy tình nghĩa đồng môn đáng quý. Thấy Vi Huấn vẫn bực bội đi lại trong khách đ**m, nàng định đáp lễ một phen, bèn tạm bỏ tật quen xem trò vui, nhân lúc Bảo Châu vắng mặt mà mở lời:

“Đại sư huynh làm vậy là nhầm chỗ nặng nhẹ rồi. Ngươi chẳng nhớ sư phụ thường dạy sao: ‘Công này đánh trúng yếu hại, một chiêu phá địch’? Mặc kệ mấy người ngoài cạnh tranh ngươi nên lo chiều chuộng nàng, làm nàng vui vẻ mới là gốc.”

Vi Huấn nghe lão Thất lôi lời dạy võ ra mà chỉ điểm việc tình cảm, nhất thời ngượng thành giận:
“Ta bao giờ nhờ ngươi dạy dỗ?”

Hoắc Thất Lang cười khanh khách:
“Nói về việc này thì lão thất hơn đại sư huynh một bậc đó. Nói ngươi nghe, nàng bị tam sư tỷ dọa đến hồn vía lên mây, vốn là người nhát gan sợ ma, luôn muốn có ai đó ngủ cùng cho đỡ sợ. Đây là nhu cầu ngầm đó. Ngươi chọn thời điểm thích hợp mà an ủi nàng, hầu nàng ngủ yên. Một khi nàng quen hơi rồi, đám con báo hoang ngoài kia có mơ cũng chẳng bén mảng vào được đâu.”

Vi Huấn ngẩn người một lúc, rồi nổi giận đùng đùng:
“Cút! Từ xưa đến nay ta làm việc gì cũng hơn các ngươi một bậc, đâu cần một kẻ đến binh khí còn làm rơi xuống giếng chỉ bảo!”

Hoắc Thất Lang thấy hắn chẳng chịu nhường lời, cũng không giận, lùi lại hai bước ra khỏi ngưỡng cửa, cười tươi rói:
“Phải phải phải, lão thất này đi mua đao mới đây. Sư huynh cứ tự nhiên nhé!”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 93


Trời đã quang, bệnh tình Dương Hành Giản cũng đỡ hẳn, Bảo Châu định ngày mai rời Linh Bảo huyện, tiếp tục lên đường. Bàng Lương Ký ngồi kiệu, Tiêu Nhiễm cưỡi ngựa, cùng nhau đến khách đ**m tiễn biệt, còn mang theo một đống trang sức cùng bốn tỳ nữ giỏi chải đầu vấn tóc, định đưa cho Bảo Châu dùng trên đường.

Dù không sành sự đời, Bảo Châu cũng biết kẻ hành tẩu chốn giang hồ vốn phải giấu của che thân, không nên phô trương vàng ngọc. Song nàng lại thiếu nhất người hầu hạ chỉnh y sửa áo, trong lòng cảm động vì tấm lòng của nhóm nữ nhi ấy, suýt nữa muốn gật đầu.

Nhưng án tân nương mất tích vẫn còn đó, tin tức do bọn tỳ nữ lan ra khiến nàng cảnh giác. Trong đoàn người mới nếu để lộ thân phận, ắt sẽ nguy hiểm trùng trùng. Nghĩ tới nghĩ lui, nàng đành nén lòng từ chối, để lại đôi ba bộ nam trang và hồ phục do chính tay họ may cắt.

Nàng hỏi Bàng Lương Ký:
“Các vị sư huynh, sư tỷ đều đã rời khỏi Ngọc Thành cả rồi sao?”

Bàng Lương Ký đáp:
“Chắc là đi cả rồi. Môn phái bọn ta xưa nay không có lệ cáo biệt, cũng không quen nói mấy lời tình ý lâm ly kiểu ‘non xanh còn đó, nước biếc trôi xa, giang hồ gặp lại’. Đã đi là đi, lặng lẽ chẳng ai hay.”

Hắn từng nhờ La Đầu Đà phá mộ họ Lư, ngồi chờ bên ngoài mong bọn họ tới sinh sự, quyết phen đánh lớn, ai ngờ đối phương nhịn nhục không làm to chuyện. Bàng Lương Ký lấy làm khó hiểu, nhưng cũng mừng trong bụng, kể lại với Bảo Châu:
“Nghe nói nhà họ một mặt vội vàng phá bỏ phòng ốc, một mặt lại đào hồ nước giữa sân, khiến gà chó không yên, chẳng rõ đang náo loạn chuyện gì nữa.”

Bảo Châu nghe mà hiểu rõ trong lòng, biết họ đang moi tìm quyển tiên tri chưa từng tồn tại, liền tỏ vẻ đắc ý. Nàng dặn Tiêu Nhiễm:
“Sau này nếu hai người có con, chớ để nó giống Bàng Lục, không học hành không nghề nghiệp. Phải cố gắng đọc sách, thi đỗ công danh mới giữ được gia nghiệp. Nếu không, chỉ một tờ giấy cũng có kẻ dùng để dệt lời, hại cả nhà như chơi.”

Tiêu Nhiễm nay đã làm dâu nhà phú hộ, tóc vẫn cài chiếc thoa đồng nửa mới nửa cũ. Nàng nghiêm cẩn đáp lời, rồi cúi đầu khấu lạy Bảo Châu, trịnh trọng nói:
“Lời dạy của Cửu Nương, thiếp xin khắc ghi trong dạ. Chỉ sợ trên chẳng nghiêm, dưới sinh loạn. Về sau sẽ khuyên Bàng lang học chữ đọc sách, để làm gương cho con trẻ.”

Bàng Lương Ký nãy giờ vẫn cười ngây ngô, nghe vậy sắc mặt lập tức tái xanh, lắp bắp hỏi:
“A Nhiễm! Nàng chẳng từng nói không chê ta là kẻ thô võ đó sao?”

Tiêu Nhiễm đáp nhàn nhạt:
“Lang quân đã rửa tay gác kiếm, nay không còn là vũ phu. Sau này từ bỏ võ nghệ, theo đòi văn chương, xuân đọc hè viết, ngày ngày bên thiếp cùng nhau học chữ hành văn.”

Bàng Lương Ký rú lên một tiếng thảm thiết, khiến mái ngói cũng rung chuyển, vang vọng khắp bốn bề.

Lên đường đến U Châu là chặng dài gian nan, ven lộ có thể gặp cướp bóc hay binh đao, tất phải sắm ngựa tốt và binh khí bền. Hoắc Thất Lang có đủ lộ phí, liền đến hiệu đổi tiền, đổi ra trăm quan đồng, thuê một xe bò chở cả bạc tiền, tìm quanh Linh Bảo huyện để mua đao, ngựa. Suốt một ngày chạy ngược xuôi, cuối cùng cũng chọn được thanh đao vừa ý. Chủ tiệm phải lắp thêm chuôi, quấn dây cẩn thận, mãi tới giờ Hợi mới xong.

Đã hứa ngày đêm đi gấp, nàng không dừng lại qua đêm, liền thu xếp tay nải, chuẩn bị lên đường.

Trước khi rời đi, nàng vô tình nhìn thấy Vi Huấn nhẹ nhàng bước ra từ phòng Bảo Châu, tay khép cửa êm như không tiếng động. Hoắc Thất Lang mừng thầm, ngỡ hắn cuối cùng cũng thông suốt, ai dè hắn xoay người lại, ôm theo bộ cờ song lục.

Nàng sững người, hỏi bâng quơ:
“Ngươi chẳng lẽ định chơi cờ tới nửa đêm làm nàng mệt mà ngủ à?”

Vi Huấn gắt:
— “Liên quan gì tới ngươi?”

Hoắc Thất Lang không nhịn được hỏi tiếp:
“Vậy xin hỏi, đêm nay sư huynh thắng bại thế nào?”

Vi Huấn ngẩng đầu, đầy kiêu hãnh:
“Trăm trận trăm thắng!”

Hoắc Thất Lang tưởng tượng ngay ra cảnh cô nương nhỏ bé ấy hết thua lại thua, tức giận đến đỏ mặt, rồi mệt lả ngủ thiếp đi, mà lòng xót xa cho số phận nàng phải gặp kẻ lạnh lùng như vậy.

Nàng cố nén cười, nghiêm mặt khen:
“Đại sư huynh quả thật làm gì cũng hơn người.”

Dứt lời, nàng vác tay nải lên vai, bước nhanh ra khỏi khách đ**m, lên ngựa phóng đi về hướng đông. Mãi đến khi xa hơn hai dặm, mới cười phá lên sảng khoái, tiếng cười ngân vang dưới ánh trăng, dội mãi trong đêm vắng.

Sáng sớm hôm sau, rời Linh Bảo huyện. Lừa đã được ăn no, bò cũng buộc xong vào xe. Thập Tam Lang uể oải từ phòng Bảo Châu bước ra, trở lại phòng của mình và Vi Huấn, thấy đại sư huynh đang thu dọn tay nải.

“Sư huynh mau tới giúp, Cửu Nương đang bực, búi tóc kia lại rối tung, đệ loay hoay mãi không xong.”

Cậu vừa nói vừa đưa tay vẽ vẽ búi tóc song ốc trên đầu mình.

Vi Huấn chau mày:
“Huynh cũng đâu biết chải đầu, giúp gì được?”

Thập Tam Lang ngập ngừng một chút, rồi nói:
“Lần lục sư huynh cưới vợ, lúc trâm nương tới chải tóc, đệ thấy rõ huynh đứng bên xem rất kỹ…” Ý cậu là, Vi Huấn vốn nhớ tốt, đã thấy qua thì chắc biết làm, thử tay một lần cũng được.

Bị nói trúng tim đen, Vi Huấn nghẹn lời. Hồi còn từ Thúy Vi Tự mới xuất phát, lòng hắn còn thanh thản, làm mấy việc đó chẳng thấy có gì. Nhưng nay tâm tư đã khác, lại thấy tay mình như nặng trĩu, không thể đưa lên.

Hắn khẽ thở dài, đoạn lắc đầu dứt khoát:
“Huynh đâu phải tiểu đồng như đệ, không thể chạm đến tóc nàng. Cứ để nàng tự vấn lấy, búi lệch một bên cũng là nét dễ thương.”

Nói rồi lấy từ tay nải ra một bộ hồ phục, đưa cho Thập Tam Lang :
“Mang theo mặc mùa đông, đắp thay áo kép cũng được.”

Thập Tam Lang đỡ lấy, nhìn kỹ chất vải tinh xảo, mắt trợn tròn:
“Đây… đây là áo của tỷ ấy?!”

Vi Huấn vẫn lặng lẽ thu dọn:
“Phải. Nàng kiêu kỳ, đồ chưa rách đã không mặc. Vá lại cũng chê xấu, bỏ đi chẳng tiếc. Sang năm đệ cao hơn nàng, nếu không mặc bây giờ thì chỉ phí của.”

Thập Tam Lang ôm bộ hồ phục trong tay, cúi đầu bối rối, lí nhí:
“Nhưng… đệ không thể mặc…”

Sư huynh đệ hai người quanh năm phiêu bạt, chưa từng ngại khoác lại y phục người khác, Vi Huấn đoán rằng hắn vì e ngại, bèn nói:

“Huynh đã hỏi qua nàng, nàng ngầm đồng ý để đệ dùng.”

Thập Tam Lang co ro, lúng túng nói nhỏ:

“Nhưng… sư huynh không thấy sao? Bộ áo này… còn vương hương của tỷ ấy.”

Vi Huấn giật mình, vội đưa tay nhận lại bộ hồ phục, cúi đầu nhẹ ngửi. Mới thoáng qua, trong phòng như đỏ bừng bốn phía.

Hương thụy long ngấm sâu trong từng sợi vải, bền lâu dai dẳng, dù có giặt bao lần cũng không phai sạch. Mỗi ngày gần gũi, dần thành quen, hắn lại chưa từng nhận ra.

Siết chặt áo, Vi Huấn như kẻ mê sảng, mãi mới bật ra một câu:

“Đệ không thể mặc.”

Thập Tam Lang lúng túng hỏi:

“Vậy chỉ còn cách bán cho hiệu đồ cũ?”

Vi Huấn lắc đầu dứt khoát:

“Không được! Nếu để kẻ lạ nào mua đi mặc, lại chẳng rõ là ai…”

Vừa nói, hắn chợt nhớ lời xưa từng dọa Bảo Châu, nay lời ấy lại xoáy ngược vào lòng mình. Phát hiện ra điều đó, hắn càng không thể để bộ áo ấy chung với quần áo mình, càng không thể để người khác chạm vào.

Do dự hồi lâu, hắn chỉ có thể cất lời:

“Đốt đi. Đốt là xong.”

Ngày trước từng thấy việc đốt đồ vật, đốt thư tín là xa hoa, nay mới thấu: hễ là vật nàng dùng, người khác đều không nên chạm đến.



Hai ngày sau, vào đêm tối không trăng, nơi phần mộ tổ tiên họ Lư hiện lên một hố đất mới đào. Vài bóng người lặng lẽ đứng quanh, tay cầm cuốc xẻng, chầm chậm vun đất lấp hố.

Thác Bạt Tam Nương nhàn nhạt nói:

“Ta vẫn thích bày đầu người theo vai vế thứ tự.”

Hứa Bạo Chân bảo:

“Là hạ lễ thì nên kín đáo một chút.”

Khâu Nhậm cười:

“Đại sư huynh dặn chờ bọn họ đi rồi mới động thủ, cũng là ý vậy.”

La Đầu Đà lặng nhìn góc mộ lớn bị khai phá, trầm mặc không nói.

Tam Nương thúc giục:

“Lão Ngũ đừng lười nữa.”

La Đầu Đà đáp:

“Ta vẫn chưa hiểu một chuyện. La Sát Điểu nói rằng chúng không phục kích gần phần mộ, mà cho dù có, thì làm sao tên có thể xuyên qua vách mộ mà vào mộ thất được? Vật Bảo Châu đánh rơi khi ấy, rốt cuộc là gì?”

Lời vừa dứt, cả bọn lặng im. Cỏ hoang rì rào, gió lạnh rít lên từng hồi. Mọi ánh mắt đổ dồn về cửa huyệt đen ngòm như vực sâu không đáy.

Mãi sau, Hứa Bạo Chân mới thì thầm:

“Biết đâu, lại là một món đồ ma thật sự…”

Năm tháng tích tụ thù oán, tham lam, oán hận của người Lư gia, nuôi dưỡng nên quái vật – La Sát Điểu.

Giả giả thật thật, thật thật giả giả, chẳng ai có thể biết rõ.

Một lúc sau, hố đất đã lấp kín. Khâu Nhậm khạc một bãi nước bọt lên lớp đất mới, nhếch miệng cười:

“Chư vị yên nghỉ, lá rụng về cội.”

Mấy người ném cuốc xẻng, vỗ bùn trên tay, không một lời từ biệt, lặng lẽ tản đi. Như bụi cát giữa trời, tan vào đêm tối, Tàn Dương Viện bảy người lại chia năm xẻ bảy, chỉ để lại một bóng mờ trong truyền thuyết giang hồ.

Ngọc Thành lan truyền một chuyện kỳ dị: nhà họ Lư đột ngột phá bỏ nhà cửa, đào móng lật đất, rồi cả nhà cùng nhau biến mất không dấu tích, chẳng ai rõ đi đâu. Ngay cả áo quần, vàng bạc cũng không mang theo. Gia đinh, tỳ nữ nhà ấy đều hoảng sợ, tranh nhau cướp của rồi bỏ trốn. Cả khu nhà lớn, qua một đêm hóa thành phế trạch lạnh lẽo.

Mà lúc này, trên đường xa, Bảo Châu vừa hay nghe giang hồ đồn rằng vì nàng mà đặt biệt hiệu – “Kỵ Lư Nương Tử”.

Khoảnh khắc ấy, nàng mới hiểu vì sao Lư Tụng Chi lại hận nàng chỉ vì một ngoại hiệu “Hồ Tiêu Khanh”. Gian thần sợ nhất không phải triều đình hay dân gian, mà là bị sử sách gắn danh xấu muôn đời.

Chỉ một danh xưng thôi, cũng là bút của xuân thu.

Trận chiến Ngọc Thành không ai cố ý phô trương, nhưng nàng một công chúa Đại Đường tên tuổi sớm vang xa, từng cưỡi chiến mã, nay phải ngồi trên lưng lừa tầm thường. Tên hiệu cũng bị buộc chặt với chữ “lừa”, nghĩ mà tủi hổ, không kìm được bật khóc.

Ba người đàn ông vội vàng chạy đến dỗ dành. Vi Huấn nói:

“Nàng hãy tự chọn một tên khác, ta sẽ gọi theo.”

Thập Tam Lang thề thốt:

“Ai dám gọi tỷ là Kỵ Lư Nương Tử, đệ và đại sư huynh sẽ đánh đến khi hắn sửa miệng mới thôi.”

Dương Hành Giản tuy không hiểu đầu đuôi, nhưng vẫn nghiêm túc đưa ra mấy chục cái tên nhã nhặn, hoa mỹ để nàng chọn.

Nhưng Bảo Châu hiểu rất rõ, Tàn Dương Thất Tuyệt không đổi thành Lục Tuyệt hay tên khác, dù là người bị thương, cải trang hay đổi nghề, thì tên vẫn giữ nguyên. Một truyền mười, mười truyền trăm, tên “Kỵ Lư Nương Tử” ấy rồi sẽ theo nàng cả đời, chẳng thể xóa nhòa.

Nghĩ đến đây, Bảo Châu lại bật khóc nức nở, ngồi trên lưng lừa mà nghẹn ngào.

Cùng lúc đó, tại Ngọc Thành, chuyện về đám cưới thật giả của Bàng lang lan truyền khắp nơi. Trẻ con chạy nhảy, đóng giả hôn lễ, reo vui ca hát bài đồng dao:

“Ba huynh đệ, mỹ nhân về,
Mặt hoa da tuyết rạng mùa xuân!”

《La Sát Biến》 – Kết thúc
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 94: [Quyển 4 : Cửu Tương Quan]


Bảo Châu vội vàng bốc một nắm ngô khô từ chiếc chén sành, nước mắt theo từng hạt ngô rơi vào miệng, nghẹn ngào đến đau rát cuống họng. Vị chua xót hòa cùng ngô khô cứng khiến nàng muốn nôn mà không thể, chỉ đành gắng gượng nuốt xuống. So với thức ăn chăn gia súc, món này cũng chẳng hơn là bao.

Ngô vốn là thứ lương thực chính dân chúng nộp cho triều đình, trong cung cũng thường dùng để chế biến những món cầu kỳ như cháo ngọt, bánh hoàng kim… Từng loại đều mềm thơm, ngọt lịm. Không hiểu vì sao bữa cơm hôm nay lại thô ráp, khó ăn đến vậy.

Giữa lúc tiếng hò hét đánh đấm vang vọng ngoài sân, một gã đàn ông thấp lùn phá cửa sổ chui vào, lăn lộn vài vòng rồi nằm bất động trên sàn. Kẻ ấy chính là chủ nhân nhà trọ nơi là ổ cướp giả dạng.

Bọn giả làm gia nhân và hầu hạ đều ùa ra ngoài giao đấu, trong phòng chỉ còn lại Dương Hành Giản. Tay run run, hắn lôi ra chút tương chao dường như là món mặn duy nhất hôm nay. Hắn cẩn thận đổ ra đĩa, đặt trước mặt Bảo Châu, áy náy nói: “Hôm nay có hơi đạm bạc, đến Lạc Dương chắc sẽ có đồ ăn đàng hoàng hơn.”

Bảo Châu không đáp, chỉ cúi đầu ăn cơm.

“Đại sư huynh! Có người lên mái!”

Bên ngoài vọng vào tiếng Thập Tam Lang. Tiếng chân chạy hỗn loạn trên mái ngói, rồi một tiếng hét thảm thiết, một thân thể nặng nề rơi xuống, phá một góc mái nhà, rơi văng vào trong phòng, nằm vắt ngang đống củi không còn động đậy.

Bảo Châu và Dương Hành Giản vội vàng che lấy chén cơm, sợ bụi bay phủ đầy thức ăn. Nghĩ lại tại sao lại chọn trọ vào cái ổ trộn cướp này, cũng chỉ vì tấm bảng treo trước cửa xiêu vẹo viết vài chữ: “Ăn ở, có nước nóng.”

Dọc đường gió bụi, lại không có thân phận rõ ràng, họ không thể vào nghỉ tại trạm dịch của quan phủ. Các nhà trọ tư nhân có thể tắm rửa và nghỉ ngơi tươm tất trong vùng nông thôn thì hiếm như lá mùa thu. Có khi đi suốt đến tối mịt cũng chẳng gặp được một nơi nào có thể ngủ lại. Nàng lại không thể như Vi Huấn, gặp suối liền nhảy xuống tắm, giặt cả quần áo đem phơi lên nhánh cây.

Một thân ảnh nhanh nhẹn từ lỗ hổng mái nhà nhảy xuống, như con mèo lớn xách tên cướp, dò động mạch rồi ngẩng đầu nhìn Bảo Châu. Thấy nàng mặt mũi lấm lem nước mắt, Vi Huấn bước tới, hỏi:

“Làm gì mà vừa ăn vừa khóc? Là rau muối không vừa miệng sao?”

Dương Hành Giản chỉ vào thi thể trên đất, bực bội nói: “Tại người múa kém quá!”

Vi Huấn cười đáp: “Vậy ngươi nhảy một điệu đi, biết đâu giúp nàng ăn ngon hơn. Nghe nói ngươi cũng là cao thủ múa kiếm…”

Chưa dứt lời, Thập Tam Lang ngoài kia lại kêu lên: “Có tiếp viện!” Vi Huấn tức khắc nhảy ra cửa, thân ảnh xanh lướt đi như gió.

Bên ngoài lại vang lên tiếng binh khí va chạm, chẳng mấy chốc bọn cướp bị diệt sạch. Vi Huấn đứng bên chỉ huy, thỉnh thoảng lại để cho Thập Tam Lang luyện tay. Có lúc con lừa cũng bất ngờ đá một cước, đá trúng thì hí vang đắc ý.

Xong việc, không thấy có viện binh tới nữa, hai người mới trở lại phòng. Thập Tam Lang áo quần rách nát, chưa kịp thay đã lao vào múc cơm.

Vi Huấn thì rửa tay sạch sẽ, moi từ tay nải ra miếng chà bông cuối cùng, đưa cho Bảo Châu:

“Để bảy tám ngày rồi, hơi khô chút, ăn đỡ vậy.”

Bảo Châu lắc đầu. Nàng khóc đâu chỉ vì cơm khô với tương chao?

Sáng nay, búi tóc song ốc đã rũ xuống, biến thành tóc rối song nha. Nhà trọ này, cái gọi là “có tắm rửa” chẳng có thau nước, cũng chẳng có giường nệm tử tế, chỉ có một đống rơm sau phòng làm chỗ nằm. Hóa ra tấm bảng trước cửa cũng là mồi dụ người.

Từ khi vào đất Hà Nam, mấy ngày liền không mua nổi thức ăn đàng hoàng. Quán bánh, hàng cháo đóng cửa gần hết, nhà mở còn lại thì dùng bột mốc trộn thành bánh. Không nghe có thiên tai, mà giá gạo thì vọt lên chóng mặt từ tám mươi đồng một đấu ở Trường An, giờ đã sáu trăm đồng cũng chẳng mua nổi.

Từ sáng sớm đến giờ mới ăn được cơm. Dương Hành Giản người nhát gan sợ rắc rối mà còn phải xông pha giữa đao kiếm để lo cơm nước. Lừa thì cho ăn cỏ khô và rơm, còn đậu phộng dành cho nó lại bị Thập Tam Lang ăn mất. Hèn gì Vi Huấn nhất định phải mua lừa vì lừa dễ nuôi, còn ngựa thì không lo nổi.

Đói, bẩn, mệt, cùng cực… Thân là công chúa cao quý, nay lại như con lừa còm lưng gánh gió sương. Cơm ăn chẳng khác gì cám, mà cũng phải bấu víu từng hạt. Bảo Châu nghẹn ngào, nước mắt không ngừng rơi xuống chén.

Thập Tam Lang ngơ ngác hỏi: “Cửu Nương chưa ăn cơm khô bao giờ sao? Hay trong chén có sâu?”

Dương Hành Giản đáp: “Chắc là từng ăn, nhưng đây là ngô chỉ giã lớp vỏ ngoài, nấu chưa chín hẳn, nên mới cứng. So với gạo trắng, đúng là một trời một vực.”

Vi Huấn xen vào: “Chúng tôi thì thấy thế là chín rồi. Củi cũng không dư, lửa thì yếu, ai dám nấu cho mềm như cháo?” Dù vậy, hắn vẫn nhóm lại bếp, đổ thêm nửa gáo nước vào nồi.

“Đợi một chút nữa, sẽ mềm hơn chút.”

Hắn quay sang Bảo Châu, cố ý trêu:

“Muốn biết một người xuất thân thế nào, chỉ cần nhìn răng là biết. Các người từ nhỏ ăn gạo trắng, răng cũng chưa từng mài.”

Bảo Châu đang đói, đâu chờ nổi. Vừa khóc vừa ăn được hơn nửa chén mới ngừng, nghẹn ngào hỏi:

“Ta vừa nói muốn ở lại đây, ngươi đã tỏ vẻ khó chịu. Có phải lúc đó đã nhận ra đây là hắc đ**m? Sao không ngăn ta lại?”

Vi Huấn thở dài:

“Ta định ngăn, nhưng nàng cưỡi lừa hớn hở lao vào rồi còn cản sao nổi?”

Bảo Châu giận dỗi:

“Trước cửa còn có nước nhìn không ra có gì khả nghi. Rốt cuộc là chỗ nào lộ sơ hở?”

Vi Huấn chỉ tay ra ngoài:

“Ngay ở tấm bảng treo kia. Đối với người nghèo, chỉ cần có mái che là đủ. Chỉ những kẻ giàu mới cần tắm rửa sạch sẽ.”

Thập Tam Lang cười hề hề:

“Đệ với đại sư huynh vào đây thì là khách trọ bình thường. Chỉ có Cửu Nương vào mới thành dê béo.”

Bảo Châu bực bội:

“Bọn cướp chưa chắc biết các ngươi là người luyện võ.”

Vi Huấn cùng sư đệ nhìn nhau cười, không nói thêm lời nào. Bọn cướp không phải ai vào cũng giết. Phần lớn chỉ chờ con mồi béo đến rồi mới ra tay. Dù không đeo vàng bạc, chỉ cần nhìn là biết nàng xuất thân cao quý. Một thiếu nữ trẻ đẹp như nàng, cho dù bắt cóc đòi tiền chuộc hay bán ra ngoài, cũng đều là món hời béo bở.

Dương Hành Giản từ trước đến nay quen sống trong khuôn phép, chưa từng biết đến sự hiểm độc của những quán trọ lừa người nơi dân gian. Hắn cảm khái nói:
“Quan Trung dù sao cũng là nơi thiên tử đóng đô, trị an còn yên ổn. Vừa đặt chân vào địa phận Đô Kỳ, tình trạng loạn lạc liền xảy ra khắp nơi. Đông Đô lưu thủ và Hà Nam phủ doãn e là cũng chẳng mấy ra gì.”

Thập Tam Lang bật cười:
“Việc này đâu thể trách hết đám quan lại ấy. Cửu Nương thuê phải tay cướp lợi hại nhất trong tám trăm dặm Quan Trung theo mình mà không hay. Ở trong địa bàn Tàn Dương Viện thì yên lành là lẽ tất nhiên. Ra khỏi nơi ấy, mới có bọn cướp không biết điều tới giở trò.”

Dương Hành Giản và Bảo Châu nghe vậy nhìn nhau sửng sốt, lại nhìn sang cái kẻ đang bị gọi là “tay trộm lợi hại nhất Quan Trung tám trăm dặm” kia Vi Huấn đã cười ngặt nghẽo từ bao giờ.

Hắn khoanh tay cười nửa ngày mới nói:
“Ra khỏi Quan Trung, ta chẳng qua cũng chỉ là gã dắt lừa áo xanh thôi. Tiếc rằng bọn thổ phỉ giờ toàn là dân phiêu tán tụ tập làm loạn, chẳng còn mấy ai biết đến danh xưng giang hồ. Nếu không, chỉ bằng uy danh “Kỵ Lư Nương Tử” của nàng, đủ để dọa khiếp chúng rồi.”

Vừa nghe đến cái tên khiến mình phát rầu, Bảo Châu đang định nổi đóa, thì phía sau cổ chợt nóng ran là con lừa thò cổ từ cửa sổ vỡ, khịt mũi mấy cái, rồi tranh thủ thò miệng ngoạm một bát cơm của nàng.

“A… A!!! Đáng ghét!”

Không chỉ bị ép mang cái tên xấu xí, giờ còn phải ăn chung cơm với chính con vật gắn liền với cái tên ấy, Bảo Châu tức đến phát khóc.
“Giang hồ cái gì! Toàn là mấy kẻ quê mùa học kém. Ngay cả Trần Sư Cổ kia, làm trùm thổ phỉ mà còn biết dùng chữ “tàn dương” nghe cho văn nhã, cớ gì lại lấy cái tên tầm thường như thế mà đặt cho ta?”

Thập Tam Lang thắc mắc:
““Tàn dương” cũng là từ hay sao? Mọi người vẫn nói mặt trời là ánh sáng, chứ khi hoàng hôn xuống chẳng phải là điềm xấu à?”

“Tàn dương tây nhập yêm, nhà tranh phóng cô tăng; người như hạt bụi nhỏ, yêu ghét ngoài thân này…” — Bảo Châu lầm bầm, lại lườm Vi Huấn đang cười run rẩy bên cạnh — “Đúng là hợp dùng cho hạng người đào mộ.”

Nàng nghĩ nghĩ, rồi hỏi:
“Các người bảy kẻ xuất sư đều có danh xưng giang hồ. Vậy Trần Sư Cổ từng được gọi là gì? Có hay không?”

Vi Huấn đáp:
“Từng có thời gian người ta gọi ông ta là “Phát Khâu trung lang tướng”, nhưng ông ta không chịu nhận. Ai dám gọi vậy trước mặt là ông ta giết ngay, nên sau này chẳng ai dám gọi nữa. Cái tên Trần Sư Cổ, vừa là tên thật, vừa là danh hào.”

Bảo Châu nghe mà sững người. Nghĩ bụng: kẻ ấy tuy thô bạo, nhưng chí ít không chịu mang danh hiệu mình không ưa, thẳng tay đoạn tuyệt, cũng có chút khí phách. So với mình cứ khóc lóc oán trách, thật khiến người ta vừa kính nể, vừa hâm mộ.

Dương Hành Giản nhăn mặt:
“Một tên thổ phỉ kiêu ngạo như thế, mà suốt đời không bị quan phủ bắt giữ, lại có thể sống thọ chết già, cũng là phước lớn.”

Vi Huấn bật cười:
“Chúng ta có giấu giếm gì đâu. Tàn Dương Viện nằm ngay phía tây Trường An, thiên tử ngự ở đó, ông ta sống ở đó bốn mươi năm, vẫn đường đường chính chính chưa từng có một tên quan binh dám mò tới.”

“A! Vậy thì…”

Dương Hành Giản và Bảo Châu đều tròn mắt, Thập Tam Lang bỗng xen lời:
“Thật ra sư phụ chắc cũng có biệt danh. Có lần đệ thấy người giết kẻ thù, đứng bên cạnh thi thể lẩm bẩm một câu: “Mỗ hiệu: Phấn Mặt Quấy Bụng.” Đến nay đệ vẫn chẳng biết đó là món gì, có phải kiểu như ngỗng yên chi hay không…

Vi Huấn nghe lần đầu cũng phải bật cười:
“Đệ ăn tham đến độ thấy thứ gì cũng tưởng là đồ ăn sao. Mới mấy ngày không có cơm trắng, ăn chay từ trong bụng mẹ cũng thèm thịt à?”

Thập Tam Lang xua tay rối rít, Bảo Châu xen lời:
“Chắc chắn không phải món gì ngon lành. Chắc đệ nghe nhầm rồi.”

Dương Hành Giản vốn không hứng thú gì với chuyện bang hội giang hồ, bèn đổi đề tài:
“Công chúa nhắc đến câu “nhà tranh phóng cô tăng”, tính theo đường đi thì ngày mai vẫn chưa thể tới Lạc Dương. Hay là ghé nghỉ chân ở chùa Thiềm Quang phía tây thành. Trước đây Công bộ Thị lang Vương Tuy sau khi từ quan đã xuất gia, hiện giờ làm phương trượng ở đó, pháp hiệu là Đàm Lâm. Đại chùa ấy có điều kiện tốt hơn hẳn mấy nơi thế này, cũng an toàn hơn nhiều.”

Bảo Châu ngẫm nghĩ, thấy cái tên Vương Tuy khá xa lạ, bèn hỏi:
“Hắn là khi nào nhậm chức Công bộ? Sao ta không nhớ có người đó?”

Dương Hành Giản nghiêm cẩn đáp:
“Đàm Lâm hòa thượng nay đã ngoài tám mươi, từng trải qua ba triều đại, từ quan đã hơn chục năm. Khi còn trẻ thần từng làm chủ sự dưới quyền ông ấy, ông ấy rất mực nâng đỡ kẻ dưới.”

Bảo Châu nghĩ: ông ấy là lão thần tiền triều, nay đã thoái ẩn, chắc gì còn nhớ mặt mũi nàng. Nghe nói không để lại tiếng xấu hay danh thơm gì đặc biệt, hẳn chỉ là một người bình thường, bèn hỏi thêm:
“Người ấy tính tình ra sao?”

“Làm quan nghiêm cẩn, học rộng hiểu nhiều, giỏi bút mực, xem tướng, đoán mệnh, hiểu cổ vật và chữ xưa. Từ trẻ đã theo đạo Phật, tiên hoàng cũng sùng Phật, nên lúc về hưu phong cho ông ấy chức Kim Tử Quang Lộc Đại phu, ban phẩm trật tán quan.”

Vi Huấn chọc ghẹo:
“Sao nghe như mấy ông nghệ sĩ giang hồ xem tướng đoán số lừa người ấy nhỉ?”

Dương Hành Giản nghiêm mặt:
“Vương công tuy xuất gia, nhưng vẫn giữ quan giai tam phẩm, không được vô lễ. Gặp ông ấy thì phải hành đại lễ, quỳ chào nghiêm chỉnh, không được ngồi như ngươi bây giờ. “— Vừa nói vừa vỗ gối, ra hiệu tư thế đoan chính.

Vi Huấn lắc đầu, nghênh ngang đáp:
“Đùi của ta từ bé đã có tật, chẳng quỳ ai bao giờ.”

Bảo Châu cùng Dương Hành Giản cùng lúc trợn trắng mắt. Ai đời chân chạy như bay, trèo tường như không, lại bảo là có tật!

Bảo Châu liếc sang Dương Hành Giản, mặt lạnh nói:
“Đừng ép hắn. Lúc ta chết vẫn là nhất phẩm công chúa, ngươi có thấy hắn lễ nghi ra sao đâu, ngồi xổm là may rồi đó.

Dương Hành Giản vốn tin vào tướng số, muốn ghé thăm sư phụ cũ để xin lời khuyên, nên một mực đề nghị tới chùa nghỉ chân. Nói nửa ngày, cuối cùng cũng khiến Bảo Châu xiêu lòng vì một lý do duy nhất: Chùa Thiềm Quang có suối nước nóng nổi tiếng nhất cả thành Lạc Dương.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 95


Bảo Châu ngủ qua đêm trên chiếc xe bò. Hôm sau, đoàn người lại tiếp tục lên đường, rồi cuối cùng cũng rõ nguyên do đường khan hiếm lương thực: hai trấn lớn Quan Đông là Tri Thanh và Hoài Tây vì tranh quyền đoạt đất mà đem binh tấn công thành, tụ binh hàng vạn, chặn đứng dòng vận chuyển lương thực Giang Hoài.

Lạc Dương vốn là điểm nút quan trọng chuyển gạo từ vùng Giang Hoài ra phương Bắc. Giờ đường thủy đứt đoạn, chẳng khác nào bị bóp nghẹt yết hầu. Kho thóc ở Lạc Dương tuy còn gạo dự trữ, nhưng phải ưu tiên tiếp tế cho Trường An – nơi thiên tử ngự trị. Gặp thêm hạn hán kéo dài, nạn đói như mây đen phủ kín khắp Kinh Kỳ. Thành Lạc Dương nay đã cấm người đói vào, phòng ngừa loạn dân nổi dậy.

Dọc đường, người mặt mày hốc hác, quần áo rách nát ngày một đông. Còn có từng nhóm trai tráng ánh mắt rực lên đói khát, lang thang khắp lề đường.

Vi Huấn thu lại nụ cười bông đùa, bắt đầu đi chậm lại, khi thì dẫn cả đoàn rẽ vào bụi cỏ dại, khi thì nấp trong những ngôi nhà hoang đổ nát. Sau lần thứ ba gặp lưu dân, hắn lôi từ tay nải ra chiếc áo vải xanh, đưa cho Bảo Châu:

“Nàng mặc áo lụa quá bắt mắt, tạm khoác cái này vào che bớt đi.”

Bảo Châu lúc ấy mặc áo gấm tơ lụa Bàng Lương Ký tặng, trong lòng lo sợ, thì thầm:

“Họ sẽ cướp sao?”

Vi Huấn nói nhỏ:

“Nếu chỉ cướp thì còn nhẹ. Khi con người đói đến cùng cực, chẳng khác gì sói. Lúc đó… họ có thể ăn cả người.”

Vì kinh sợ, giọng Bảo Châu bất giác cao hơn:

“Giữa ban ngày ban mặt, sao có thể thế được?”

Ngoảnh đầu nhìn lại, thấy Thập Tam Lang đang lục lọi bụi rậm, vớ lấy một khúc gậy, nhét vào thắt lưng. Dáng điệu như đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.

Vi Huấn nghiêm giọng:

“Nhìn qua là biết nàng ăn mặc no đủ, loại người như thế dễ bị dòm ngó nhất. Mặc thêm áo vào, đừng để ta phải ra tay giết người.”

Bảo Châu vốn còn chần chừ, nhưng nghe câu ấy, lại nhớ đến chuyện xưa ở Tuy Dương, cuối cùng cũng nhận lấy áo, khoác lên vai. Dương Hành Giản đang giả làm thương nhân áo trắng, cũng tháo khăn lụa khỏi đầu, thay bằng chiếc khăn vải thô.

Đoàn người đi tiếp, thì gặp mấy chục chiếc xe bò từ phía tây kéo tới là đoàn chuyển gạo từ Lạc Dương về Quan Trung. Mỗi năm Giang Hoài chuyển lên miền Bắc cả triệu tấn gạo, nên việc thấy các đoàn xe lương là chuyện thường. Nhưng hôm nay khác hẳn, mỗi xe đều được binh lính hộ tống nghiêm ngặt.

Cả nhóm dạt vào ven đường tránh, nhưng quanh đó dân đói đã tụ đầy, hai bên đường người đứng dày đặc, lặng lẽ nhìn đoàn xe chầm chậm lăn bánh.

Túi gạo chất đầy xe, nhưng được vũ khí và binh sĩ bảo vệ nghiêm ngặt, không ai bén mảng tới được một hạt. Dân đói đứng im lìm hai bên đường, mặt ai cũng chết lặng, ánh mắt trống rỗng. Sống và chết, chỉ cách nhau trong gang tấc.

Không khí ngột ngạt, áp lực vô hình phủ kín. Các quân sĩ mồ hôi ướt đẫm, khuôn mặt căng thẳng, bóng in lấp lánh trên đầu mũi thương, chẳng ai dám mở miệng nói cười.

Bất thình lình, một người gầy đét như que củi ngã vật xuống đất, không một tiếng động. Người nhà hắn chỉ cúi đầu liếc qua rồi lại ngước mắt nhìn đăm đăm vào xe gạo. Đói quá, không còn sức mà giận, mà khóc. Tất cả chỉ còn mỗi một niệm – lương thực.

‘Không sống nổi nữa rồi, đem lên chùa Thiềm Quang đổi gạo chăng?”

“Chùa Thiềm Quang có phát cháo sao?”

“Không, họ dùng một đấu gạo đổi một xác người.”

Hai người rì rầm, vài câu ngắn ngủi đã quyết định số phận kẻ mới ngã xuống.

Bảo Châu như lạc vào mộng mị, không biết nên phản ứng ra sao. Dương Hành Giản nghe vậy cũng ngơ ngác:

“Đàm Lâm đại sư là cao tăng nổi danh gần xa, sao lại thu mua xác chết?”

Vi Huấn đáp:

“Dù gì cũng phải tìm nơi nghỉ chân, chi bằng ngươi tự hỏi chính ông ấy.”

Con lừa tiếp tục bước đi. Bảo Châu nhìn bên đường, thấy một người đàn ông gánh cái gánh tre, trong đó đặt một đứa bé tr*n tr**ng, chắc chừng ba, bốn tuổi. Đứa bé gầy gò chỉ còn da bọc xương, bụng trương phình, mắt nhìn nàng không chớp.

Trong mắt nó, trắng đen rõ ràng, lại lạnh lẽo như đã vượt ra khỏi khổ đau. Nó không khóc, không cựa quậy, chỉ lặng lẽ nhìn.

Bảo Châu quay sang hỏi Thập Tam Lang:

“Trong túi còn ít đậu phộng phải không?”

Thập Tam Lang hoảng hốt, vội thì thầm:

“Suỵt! Chớ nói ra giữa đám đông!”

Vi Huấn điềm nhiên:

“— “Cúi đầu, đừng nhìn. Nàng không cứu được nó, cũng chẳng cứu nổi đám người này. Nếu để lộ lòng thương, họ sẽ bu lấy nàng mà xé xác. Thứ họ cần không phải là hy vọng, mà là một bữa ăn.”

Hắn ngoái đầu, xác nhận Bảo Châu đã trùm mũ và áo choàng kín. Trong mắt hắn, có thứ ánh nhìn lạnh lẽo y như ánh mắt đứa trẻ nọ.

“Những người này… sẽ ra sao… “— nàng hỏi khẽ, nhưng chẳng mong chờ câu trả lời. Dù giờ có chia gạo, cũng chỉ là đổi chỗ đói cho nơi khác. Quan Trung rồi sẽ chịu đói thay.

Vi Huấn đi tiếp, một lúc sau mới chậm rãi đáp:

“Người ai nấy mang mệnh. Sống chết ở trời.”

Từ nhỏ đến lớn luôn giữ dáng ngồi đoan chính, giờ Bảo Châu gục đầu xuống, vai run run.

Sau một hồi dò hỏi, trước khi trời tối, cả nhóm cũng tới được chùa Thiềm Quang. Từ xa, chùa hiện lên nguy nga đồ sộ, mái đỏ tường son, điện các nối tiếp chồng tầng. Đông Tây Nam Bắc, mỗi góc đều có một ngọn tháp năm tầng. Quy mô ấy còn vượt cả phủ đệ của nhiều thân vương.

Từ thời Bắc Ngụy dời đô về Lạc Dương, triều đình và dân gian đều sùng Phật. Vào thời Võ Chu cực thịnh, Tắc Thiên Hoàng đế từng ở Lạc Dương suốt năm mươi năm, sau lại dời đô về Trường An, nhưng vẫn lấy Lạc Dương làm trung tâm. Để củng cố quyền thế, bà tự xưng là Phật Di Lặc tái sinh, cho biên soạn Đại Vân Kinh ban phát khắp nơi. Nhờ đó, Lạc Dương dần biến thành “đô thành của Phật”.

Trải gần bốn trăm năm hưng thịnh, chùa Thiềm Quang sớm đã thành rừng chùa lớn nhất miền Trung Nguyên. Quy mô ấy quả khiến người phải trầm trồ.

Khác với các am nhỏ chỉ có ni cô, chùa lớn thường không cho nữ nhân lưu lại qua đêm. Để Bảo Châu được đãi ngộ đặc biệt, Dương Hành Giản đưa ra thẻ quan vào trước để chuẩn bị.

Trên đường đi, bao nhiêu chuyện tai nghe mắt thấy khiến tâm trí Bảo Châu nặng trĩu. Suốt đoạn đường, nàng ngồi cứng người trên lưng lừa đến khi chân tê rần không thể nhúc nhích. Tuy vốn quen cưỡi ngựa, ngồi xe, nay mỏi mệt rã rời nhưng vẫn không chịu thừa nhận, lặng lẽ chịu đựng.

Thập Tam Lang thấy nàng không chịu xuống lừa, lấy làm lạ hỏi:

“Tỷ lại định không ở trọ chùa này? Trời sắp tối rồi, tìm nơi khác e không kịp.”

Vi Huấn nhìn tư thế cứng ngắc của nàng liền hiểu ra, vươn tay:

“Xuống đi, hoạt động gân cốt chút.”

Biết mình không thể cố mãi, Bảo Châu đành cúi người, để hắn đỡ xuống. Vi Huấn nhẹ nhàng nắm lấy nách nàng, dìu xuống đất an toàn.

Chẳng ngờ vừa mới đứng vững, Vi Huấn liền buông tay, tránh hẳn ra sau, nhét Thập Tam Lang vào lòng nàng chống đỡ. Nếu nói về chiều cao thì Thập Tam Lang đúng là tiện tay hơn, nhưng cách làm này chẳng khác nào cố tình né tránh.

Bảo Châu vốn đã không vui, nay càng thêm bực. Nàng hờn dỗi, kéo áo khoác ném trả lại cho hắn, không ngoái đầu, tập tễnh bước vào trong.

Vi Huấn nhìn áo mình bị vứt, ngẫm lại động tác ban nãy, thở dài khẽ khàng, rồi xếp áo lại nhét vào tay nải.

Trước đình, bốn năm người ăn mày đang đứng chờ, đẩy xe cút kít chở hai xác người. Cả hai xác rõ ràng vừa chết, người khô quắt như củi, vàng như sáp, chẳng khác nào da người căng trên bộ xương.

Không ngờ vào cửa đã gặp cảnh ấy, Bảo Châu sững sờ, đứng lại nhìn. Một lúc sau, từ trong chùa bước ra hai nhà sư, một cao một thấp. Người cao trẻ chừng hai mươi sáu, hai mươi bảy, dung mạo tuấn tú mà thần sắc mỏi mệt, theo sau là một chú tiểu trạc tuổi Thập Tam Lang.

Nhà sư trẻ chắp tay, cúi mình thi lễ với đám dân đói:

“Người chết như đèn tắt. Xin chư vị hãy nén đau, chùa Thiềm Quang sẽ chăm sóc họ chu toàn.”

Người dân không buồn để tâm đến thi thể người thân, một người lên tiếng:

“Nghe nói có thể đổi gạo?”

Nhà sư trẻ gật đầu, giọng buồn buồn, quay sang dặn chú tiểu:

“Diệu Chứng, vào kho lấy hai đấu gạo đưa cho thí chủ.”

Một người khác vội vàng kêu lên:

“Đại sư, xin bố thí thêm chút nữa! Nhà tôi đông người mà xác chỉ có hai người.”

Chú tiểu lưỡng lự, quay sang hỏi:

“Quan Triều sư huynh?”

Nhà sư tên Quan Triều cụp mắt, khẽ lắc đầu:

“Sư phụ đã dặn, một đấu cũng không được thêm.”

Bảo Châu sững sờ nhìn cảnh đổi gạo lấy xác. Sau vài lời trao đổi, dân đói đặt xác vào sân chùa, vui mừng đẩy xe gạo đi. Một trong hai xác là cô gái trẻ, trạc tuổi nàng, nhưng thân hình nhỏ bé, lại bị l*t tr*n như khúc thịt khô phơi ngoài gió. Quan Triều liền cởi áo cà sa của mình, gói cô gái lại cẩn thận, trân trọng bế vào trong.

Khi đứng dậy, hắn bắt gặp ánh mắt kinh ngạc của Bảo Châu. Nhưng hắn chỉ lặng lẽ nhìn qua, như xuyên qua hư không, rồi cùng một nhà sư khác mang hai xác vào chùa.

Một lát sau, Dương Hành Giản bước ra cùng hai nhà sư trung niên, giới thiệu:

“Đây là giám viện của chùa Thiềm Quang – sư phụ Quan Sơn.”

Nhà sư râu tóc hoa râm, mặt mày điềm đạm, chắp tay thi lễ.

“Còn đây là người tiếp khách – sư phụ Quan Vân.”

Người này hơi thấp, thân hình mập mạp, cười niềm nở:

“Bần tăng kính chào quý khách.”

Giám viện và người tiếp khách là hai chức danh cao trong chùa. Giám viện quản hết mọi việc, còn tiếp khách lo tiếp đãi quý nhân. Khách hành hương thường không được gặp họ, chỉ quan lại, danh sĩ, phú hào mới được đón tiếp vậy.

Thập Tam Lang nghĩ bụng: mình đi chùa thường chỉ được gặp mấy sư gác cửa, thế mà đi theo Dương công, đâu đâu cũng thấy quan lớn được kính nể.

Sư Quan Sơn và Quan Vân trong lòng cũng thấy lạ. Mang thẻ quan tới, chùa tất nhiên phải trọng đãi, huống hồ còn là người từng làm việc dưới trướng phương trượng Đàm Lâm.

Nhưng vị Dương công này cứ khen con gái mãi, lễ nghi thì đảo lộn: lẽ thường phải giới thiệu người nhà sau cùng, nay lại đưa nữ nhi lên trước, như thể không phải con mà là mẫu thân hay cấp trên vậy.

Mà thiếu nữ ấy nét mặt kiêu sa, chỉ khẽ gật đầu chào hai sư, chẳng có chút lễ độ nào.

Sư Quan Vân vẫn cười tươi:

“Dương công hạ cố tới đây, chùa Thiềm Quang thật vinh hạnh. Sư Quan Sơn đã cho người báo tin với phương trượng. Trước tiên, xin mời hai vị tham quan cảnh chùa, rồi sẽ dẫn vào bái kiến.”

Nghe vậy, Bảo Châu chẳng hứng thú gì. Nàng thẳng thắn hỏi:

“Trong chùa dùng gạo đổi xác người, là có dụng ý gì?”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 96


Nghe xong lời chất vấn của Bảo Châu, hai vị tăng nhân Quan Sơn và Quan Vân đều thoáng sững sờ. Quan Sơn vốn không quen nói dối, gương mặt thoáng hiện vẻ bối rối, ông ta hạ giọng đáp:

“Không nên tiếp đón họ ngay tại cửa chính.”

Dương Hành Giản xen lời:

“Phương Hiết hỏi đến nguyên do, việc này quả là lạ lùng, ta cũng muốn biết rõ căn nguyên.”

Quan Vân lập tức mỉm cười, cúi đầu đáp lễ:

“Nhị vị thí chủ chưa hay, đây là cách hành thiện không giống người thường của sư phụ chúng tôi — Đàm Lâm thượng nhân. Năm ấy thiên tai hạn hán dồn dập, lòng người khốn đốn, kẻ đói người cùng chẳng tránh khỏi chuyện tương tàn, ấy là nghiệp lớn. Thượng sư không đành lòng chứng kiến nhân gian thành địa ngục, nên mới nghĩ ra phương cách dùng gạo đổi lấy thi thể đói chết. Cốt để thi hài không bị phơi thây giữa trời hay bị phàm dân tận dụng làm điều tội lỗi. Họ đổi lấy chút gạo sống thêm vài hôm, còn nhà chùa thì chôn cất cẩn thận, đưa vào phần mộ riêng bên ngoài, mọi việc đều đâu vào đấy. Nếu thí chủ có nhã hứng, ngày mai có thể đến mộ viên thăm viếng.”

Dương Hành Giản và Bảo Châu nghe vậy, vẻ mặt giãn ra, nhẹ nhàng thở ra một hơi.

Vi Huấn đứng bên lừa, từ lâu đã thu xếp xe bò ổn thỏa, bấy giờ mới bước lại gần, đột ngột xen lời:

“Các vị làm sao phân biệt được người mang tới thi thể là thật sự chết đói? Lỡ như có kẻ vì miếng ăn mà ra tay sát hại rồi mang xác đến đổi gạo thì sao?”

Hai vị tăng nghe tiếng một người mặc áo xanh thốt lời chẳng kiêng dè, thoáng cau mày, tỏ ý không muốn nhiều lời. Quan Sơn trả lời ngắn gọn:

“Nhà chùa có người kiểm tra, nếu phát hiện thi thể có dấu hiệu bị sát hại, ắt phải báo quan. Mà trời sắp sụp tối, nếu đợi đến lúc hoàng hôn buông hẳn, những cảnh đẹp trong chùa sẽ chẳng còn nhìn rõ, chi bằng để bần tăng đưa các vị thăm thú một vòng.”

Dưới lời thúc giục, đoàn người theo chân hai vị tăng nhân tiến sâu vào khuôn viên chùa Thiềm Quang.

Chùa Thiềm Quang, vốn có tên là chùa Dao Quang, được dựng lên từ thời Bắc Nguỵ Tuyên Vũ Đế. Ban đầu là cô ni viện, từng bị tàn phá bởi chiến loạn cuối đời Tùy, đến đầu thời Đường mới được tái dựng. Trải qua hai lần thành Lạc Dương bị Hồi Hột chiếm đóng trong loạn Thiên Bảo, dân số chết nhiều, chùa Thiềm Quang cũng chỉ nhờ vào sự chu cấp của một vị quyền quý tại đây mà gượng dậy được.

Kiến trúc to lớn, trang hoàng lộng lẫy khỏi cần bàn đến, điều khiến người ta kinh ngạc hơn cả là lượng lớn bức vẽ Phật giáo phủ khắp bốn phía trong chùa. Không một vách tường nào để trắng, nơi nơi đều là hình tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, hộ pháp, thần tướng… được vẽ tinh xảo, từ hóa thân đến cả luân hồi sinh tử. Sắc màu rực rỡ, từng nét vẽ đều sống động.

Dọc đường ngắm nghía, Dương Hành Giản không ngớt lời khen:

“Đàm Lâm thượng nhân thanh tâm quả dục, ở nơi như chùa này tu hành quả là hợp đạo. Nhiều tranh như thế, chẳng lẽ một tay người vẽ nên cả?”

Xem Sơn đáp:

“Thượng sư tuổi đã cao, chân tay không còn linh hoạt, nhiều năm nay ít tự vẽ. Những bức vẽ ấy phần là của cổ nhân, phần là của các họa sĩ nổi tiếng ở Lạc Dương, lại có cả nét bút của các đệ tử trong chùa.”

Ông ta ngừng lại, mỉm cười đầy tự hào:

“Họa thánh Ngô Đạo Tử từng sống ở Lạc Dương nhiều năm, để lại không ít tuyệt phẩm, đều là bảo vật trấn chùa. Căn thiền đường năm ấy người từng cư ngụ, chúng ta vẫn giữ nguyên vẹn.”

Mặt trời dần ngả về tây, ánh sáng ngày càng mờ nhạt. Hai vị tăng nhân đốt đèn dẫn đường, vừa đi vừa giảng giải nội dung từng bức họa.

Đi ngang một khoảng sân rộng, Bảo Châu bắt gặp một gốc quế cổ lớn hai người ôm không xuể. Quan Vân nói:

“Đây là cảnh quan nổi tiếng thứ hai trong chùa gọi là “tường vân”. Cây này có tuổi đời ngàn năm, năm nào cũng là cây quế nở sớm nhất ở vùng Lạc Dương. Hoa đầu tiên luôn được dâng lên tín nữ cao quý nhất nơi đây. Thời Võ Hoàng còn tại vị, cung nhân đều sai người mang khay vàng đến hái về.

Dương Hành Giản cười nói:

“Giờ người nữ cao quý nhất hẳn là phu nhân lưu thủ Đông Đô rồi nhỉ?”

Hai tăng nhân gật đầu xác nhận.

Bảo Châu híp mắt nhìn lên tàng cây, thấy đã có nhiều nụ hoa lấm tấm. Hoa quế thường nở vào dịp trung thu, mà nay mới giữa tháng bảy đã đâm nụ, quả nhiên là giống quý hiếm.

Thập Tam Lang khịt khịt mũi, ngờ ngợ hỏi:

“Sao ta lại ngửi thấy mùi rượu gạo nhè nhẹ vậy?”

Chùa chiền vốn cấm rượu, nay lại có mùi nồng, khiến ai nghe cũng nghi hoặc. Quan Vân vội giải thích:

“Cây quế này được tưới bằng rượu, như vậy hoa mới thơm, đây là bí quyết riêng của chùa.”

Vi Huấn khẽ cười lạnh:

“Ngoài kia dân đói không đủ ăn, các vị còn dùng gạo ủ rượu tưới cây, thật là… thiện thay.”

Hai vị tăng ngượng ngùng, chẳng biết đáp sao. Quan Vân nhỏ nhẹ nói:

“Rượu là mua trong thành, trong chùa tuyệt không có rượu.”

Dương Hành Giản hiểu rõ rằng để vận hành một ngôi chùa lớn thế này, cần có nguồn chu cấp dồi dào, từ các mạnh thường quân bốn phương. Những danh thắng, báu vật trong chùa chính là phương tiện thu hút người thí chủ. Đàm Lâm từng làm quan mấy mươi năm, thân trải ba triều, chắc chắn là người lắm mưu lược. Những việc trong chùa này, nếu có điều thuận lợi thì cứ mặc nhiên mà hưởng, ông không nói thêm gì, chỉ cười ha ha, khen cây quế thơm, chuyện coi như qua.

Vượt qua viện, băng qua một hành lang, hai vị tăng không còn tiếp tục giới thiệu tranh vẽ, mà vội vã bước nhanh. Bảo Châu chợt nhìn về phía vách tường, cất tiếng ngạc nhiên:

“Ủa, bức này là gì vậy?”

Trên vách là bức họa kể tích “Mục Liên cứu mẹ”. Chuyện kể rằng mẹ của Mục Liên sát sinh ăn thịt, khi chết đọa vào ngục quỷ đói. Mục Liên nhìn thấy cảnh mẹ chịu khổ, dùng phép đưa cơm đến, nhưng khi tới miệng thì hóa than đen. Nhờ Phật dạy tổ chức lễ Vu Lan, trai tăng độ hồn, mẹ ông mới thoát khỏi địa ngục, được siêu sinh.

Chuyện này ai ai cũng biết, tranh vẽ cũng không lạ, nhưng điều lạ ở đây là cách thể hiện. Bức vẽ này không dùng nét viền như thường thấy, mà chỉ bằng màu sắc dày đặc đắp nổi, khắc họa rõ hình hài những quỷ đói khô héo, vàng vọt, bụng to chân nhỏ, ánh mắt rỗng hoác. Chúng như đang sống động, mắt nhìn theo người xem, đầy ám ảnh.

Trong ánh chiều tà, bức vẽ dường như sắp sống dậy, khiến người xem rợn tóc gáy. Bảo Châu bất giác rùng mình, thân thể lạnh ngắt, vô thức nghiêng người về phía Vi Huấn.

Vi Huấn lùi nửa bước, đứng chắn giữa nàng và bức họa, nói:

“Sợ thì đừng nhìn nữa, kẻo đêm nay mộng mị.”

Lời nhắc khiến Bảo Châu như tỉnh cơn mê, nhận ra mình cứ bị hút vào bức tranh ấy. Trán nàng rịn mồ hôi lạnh.

Dương Hành Giản kinh ngạc:

“Đây là tác phẩm của Ngô Đạo Tử chăng? Màu sắc mới đến thế…”

Bảo Châu lắc đầu, đáp khẽ:

“Ngô tiên sinh giỏi vẽ lan diệp, nét bút thanh thoát, bức này lại dùng cách vẽ khác, khác hẳn phong cách ông ấy.”

Hai tăng nhân không định giới thiệu bức tranh này, nhưng nghe hỏi đến, đành trả lời:

“Đây là do Ngô Quan Trừng vẽ.”

“Cũng họ Ngô? Chẳng lẽ hậu nhân của họa thánh?”

“Ngô Quan Trừng từng là sư trong chùa, sau đã hoàn tục, theo họ vợ mà đổi họ.”

Dương Hành Giản chợt nhớ năm xưa Ngô Đạo Tử từng vẽ bức “Địa ngục biến” ở chùa Cảnh Vân Trường An, khiến người xem hãi hùng bỏ nghề đồ tể, một đêm quay về ăn chay. Nhưng chùa ấy đã bị phá trong loạn Thiên Bảo.

Nay chùa Thiềm Quang có một bức vẽ như vậy, ngày mai lại là lễ Vu Lan, hẳn sẽ trở thành điểm nhấn lớn. Hai vị tăng không giới thiệu có lẽ vì họa sĩ đã hoàn tục, nên tránh nhắc tới.

Lúc ấy có một tiểu tăng trẻ tuổi bước đến, vái chào:

“Hai vị sư huynh, thí chủ, phương trượng đã sẵn sàng tiếp khách.”

Quan Sơn như trút được gánh nặng, vội nói:

“Mời đi theo chúng tôi.”

Đàm Lâm, trụ trì của chùa, không ở trong nội viện mà ở điện Quy Vô Thường riêng biệt phía bắc, nối với chùa bằng một hành lang dài. Điện cao hai mươi trượng, cửa sổ mở bốn mặt, mái ngói cong vút, trang nghiêm uy nghi. Trong nền nghiêm tịch ấy, người phàm càng thêm nhỏ bé.

Phía trên cửa điện treo biển gỗ khắc ba chữ lớn: “Quy Vô Thường”.

Quan Sơn giải thích:

“Trong kinh có dạy: “Hết thảy pháp hữu vi, đều trở về vô thường; ân ái dù sâu, ắt chia lìa; vạn vật như thế, chớ sinh ưu buồn.” Thượng sư ngày ngày đều ở đây ngồi thiền chiêm nghiệm lẽ đời.

Đoàn người theo hành lang tiến đến gần đại điện. Bấy giờ, trong làn khói hương, một mùi tanh rất khẽ thoảng qua, lẫn lộn với hương đàn, khiến người ngửi thấy khó chịu.

Vi Huấn nhíu mày, lặng lẽ đề phòng.

Thập Tam Lang nghi hoặc thì thầm:

“Đại sư huynh, sao nơi thanh tịnh như chốn Phật lại có mùi thi thể?”

Vi Huấn không trả lời, chỉ khẽ gật đầu. Hai huynh đệ một trái một phải, âm thầm bảo vệ phía sau Bảo Châu.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 97


Nhập điện một lúc sau, đập vào mắt là hai bức bích hoạ lớn treo hai bên Đông Tây. Phía Đông vẽ một mỹ nhân tuyệt sắc nằm nghiêng trên đất hoang, đôi mắt khép hờ, thân hình tr*n tr**ng phô bày, gấm vóc xa hoa đã rơi rớt trên đất, che lấp phần th*n d***, nét đẹp rực rỡ như vừa rời khỏi giấc mộng.

Phía Tây đối lại là một bộ xương khô có tư thế giống hệt mỹ nhân kia, nhưng tóc đã rụng, y phục hoa lệ xưa kia giờ như áo rách của dân đói, xương cốt trắng lạnh nằm lẫn trong bùn đất và cỏ dại.

Quan Sơn chắp tay, cúi đầu hành lễ, kính cẩn giới thiệu: “Hồng nhan rồi cũng thành xương trắng, dù đẹp đến đâu rồi cũng về với vô thường. Hai bức bích họa này là tác phẩm của Thượng sư, thể hiện cái nhìn về Phật pháp của ngài. Đây là hai bức đầu và cuối trong bộ ‘Cửu Tương Quán’ – ‘Tân tử tướng’ và ‘Xương khô tướng’.”

Dưới bức ‘Tân tử tướng’ có đề kệ:

“Một đời nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành,
Thân mềm như lụa, mới chết chưa tan.
Hoa rực rỡ chóng phai trong tháng năm,
Mệnh mỏng như lá, dễ rụng lúc thu sang.”

Dưới bức ‘Xương khô tướng’ lại đề:

“Lặng lẽ cỏ dại bám xương khô,
Cõi trần hồng nhan giờ chẳng còn.
Trước mộ người xưa trăng mờ rơi lệ,
Hồn xa phương nào, mịt mờ giấc mơ.”

Bảo Châu đứng lặng hồi lâu, bị ý nghĩa ẩn sau bức tranh chấn động tâm can. Khi lấy lại tinh thần, nàng chú ý đến nét vẽ, tranh thủy mặc dùng màu nhạt, thiên về gợi ý hơn miêu tả. Khuôn mặt mỹ nhân mờ ảo như hoa trong sương, nhưng thân thể lại được khắc họa tinh tế, trên cánh tay đầy đặn còn đeo vòng ngọc, đầu ngón tay điểm sắc đỏ như phượng tiên.

Thấy những chi tiết ấy, lòng nàng dâng lên cảm giác ngại ngần khó nói.

Cùng lúc đó, mùi tanh ẩn giấu sau hương đàn càng lúc càng rõ, khiến nàng và Dương Hành Giản phải đưa tay áo lên che mũi.

Điện Quy Vô Thường rộng lớn, dùng bình phong ngăn ra làm hai phần trước sau. Khi đoàn người bước vào phần sau, mới biết mùi ấy từ đâu mà đến.

Sau bình phong, nền nhà bị đào khoét thành một cái hố dài, sâu chừng một trượng, bên trong phủ đầy vôi sống. Trên lớp vôi nằm một bộ thi thể nửa phân hủy, da thịt khô quắt vẫn còn bám vào một vài phần.

Vi Huấn và Thập Tam Lang đều hiểu, xương khô vốn không có mùi, mùi hôi này chắc hẳn là từ thi thể đang phân rã. Vôi sống dùng để hút ẩm, che lấp mùi hôi, nếu không có, cả đại điện này e rằng không người nào trụ nổi, trừ đám người trộm mộ quen sống trong hôi tanh.

Ánh đèn chiếu xuống, làn khói đàn hương lượn lờ từ lư hương bay lên. Bên cạnh hố vôi có hai nhà sư ngồi thiền đối diện thi thể.

Một người già nua, thân gầy, râu tóc bạc trắng tựa cao tăng đạo đức. Người còn lại thì vạm vỡ uy nghi, mặt mày như sư tử trước tượng Phật, ánh mắt sáng quắc, huyệt thái dương gồ cao, bên cạnh đặt một cây gậy gỗ đỏ.

Ở góc điện còn có một tượng tăng nhân lớn bằng người thật. Theo lệ chùa, người có công cúng dường sẽ được tạc tượng hoặc vẽ tranh lưu tên.

Ngoài hai tăng thật một tượng giả, điện này không đặt thêm tượng Phật hay Bồ Tát nào. Quan Sơn và Quan Vân đưa khách tới, hành lễ rồi lui.

Trước khung cảnh kỳ dị ấy, Bảo Châu toan xoay người rời đi, nhưng lòng hiếu kỳ trỗi dậy khiến nàng nán lại, muốn biết nơi này rốt cuộc đang che giấu điều chi.

Dương Hành Giản nhận ra vị lão tăng, liền quỳ xuống đệm, cung kính hành lễ như bề dưới gặp bề trên: “Hạ quan ra mắt Vương thị lang, mười lăm năm biệt ly, chẳng hay nay thế nào?”

Lão tăng mở mắt, đáp lại bằng lễ Phật, ôn tồn nói: “Lão nạp đã vào cửa Phật, người ngoài đời gặp nhau bình đẳng, không cần giữ theo lễ nghi phàm tục.”

Tự Kính là tự hiệu của Dương Hành Giản, Đàm Lâm đã hơn bảy mươi, vẫn nhận ra người xưa gặp mặt.

Theo phép đời Võ Chu, đàn ông mới quỳ, phụ nữ không. Bảo Châu giữ thân phận cao quý, chỉ chắp tay hành lễ, rồi đoan trang ngồi xuống đệm.

Thập Tam Lang cũng ngồi xuống bên nàng.

Đến lượt Vi Huấn, hắn chưa vội ngồi, mà đi quanh điện một vòng, vờn râu tượng, ngó gậy bên cạnh vị tăng vạm vỡ, rồi cúi nhìn thi thể trong hố vôi, cuối cùng mới khoanh chân ngồi xuống, vẻ mặt thản nhiên.

Dương Hành Giản thầm thở dài, dặn dò bao nhiêu lần giữ lễ trước mặt Đàm Lâm, vậy mà đến nơi hắn vẫn làm theo ý mình, khiến ông khó xử, đành xin lỗi rằng tiểu đồng xuất thân thấp kém, chưa hiểu lễ nghi.

Đàm Lâm mỉm cười bao dung: “Lễ giáo chẳng qua là vỏ bọc của đời người, quá tuân vào đó cũng như chấp vào hình tướng, nên buông bỏ mới nhẹ lòng.”

Bảo Châu thẳng thắn hỏi: “Đại hòa thượng từ bỏ hồng trần bằng cách đặt một xác phụ nữ tr*n tr**ng cho người khác ngắm sao?”

Vi Huấn cười tán thưởng, chỉ nói thêm: “Trong hố kia, thực ra là xác đàn ông.”

Dương Hành Giản không biết làm sao, đành im lặng chịu đựng.

Đàm Lâm gật đầu thừa nhận: “Cách đó là phương pháp ta dùng để phá mê mở lối, soi sáng tâm tính. Theo Thiền môn: Phật thương xót chúng sinh mê đắm ngũ dục* trần gian, cho đó là sung sướng, mê đắm không buông, nên cứ chìm trong sinh tử luân hồi, không ngày thoát ra. Vì vậy mới dạy phải tu phép quán ‘chín tưởng bất tịnh’ tức là phép quán tưởng xác thân người chết qua chín giai đoạn phân hủy, để thấy rõ bản chất thân thể bất tịnh, dơ bẩn, từ đó buông bỏ h*m m**n, không còn đắm chấp thân thể hay dục lạc.”

Ông chỉ vào hố vôi: “Người này khi còn sống là tăng nhân trong chùa, lúc bệnh nặng tự nguyện hiến xác cho Quy Vô Thường điện, làm vật quán tưởng* cho đồng môn tu hành.”

Bảo Châu tò mò hỏi: “Chín tương là gì?”

Đàm Lâm kiên nhẫn đáp: “Như bích họa kia, cảnh đầu tiên là thân xác người mới chết còn nguyên vẹn, cảnh cuối cùng là bộ xương trắng khô. Giữa là các giai đoạn phân hủy: bụng trương phồng, da chuyển màu bầm tím, máu chảy loang lổ, mủ rỉ ra, dòi bọ đục khoét, da thịt nứt ra, trơ xương. Nhìn kỹ từng cảnh một, con người sẽ dần dứt bỏ sự mê luyến đối với thân xác và d*c v*ng. Bởi lẽ, bất kể khi sống là sang hèn ra sao, nam hay nữ, đẹp hay xấu, thì sau khi chết cũng chỉ là một thân xác hôi hám, mục nát như nhau, chẳng có gì đáng để lưu luyến cả.”

Bảo Châu vốn thông tuệ, nghe giảng một hồi cũng dần hiểu, cảm giác khó chịu khi nãy dịu đi, nhưng nghĩ lại bức tranh mỹ nhân vẫn không khỏi bất an.

Dương Hành Giản ngạc nhiên vì Đàm Lâm là người xuất thân danh gia, lại có thể chịu đựng cảnh hôi thối ngày ngày quán tưởng, còn tự tay vẽ tranh, quả thật khiến người nể phục.

Vi Huấn hỏi: “Các người dùng gạo đổi xác chết cũng để làm mấy việc này sao? Người ta chết chưa chắc đã muốn nằm đây.”

Tăng nhân vạm vỡ bên cạnh Đàm Lâm không nhịn được, quát lớn: “Thằng nhãi hỗn láo! Ngô sư dạy dỗ người khác có phương pháp, ngươi nghe không hiểu thì câm miệng cho ta!”

Vi Huấn cười nhạt: “Ta không hiểu nên mới hỏi, ngươi muốn đánh ta sao?”

Người kia vươn tay nắm lấy cây gậy gỗ, vừa định xông đến thì Đàm Lâm đã nhẹ nhàng đưa tay ngăn lại: “Quan Xuyên, đừng xúc động. Tham – sân – si là ba độc, con vẫn chưa dứt nổi.”

Bị gọi tên, người kia sững lại, rồi buông gậy, ngồi xuống.

Đàm Lâm nhìn Vi Huấn, cười nói: “Người trẻ tuổi tài cao thường có ngạo khí, không ràng buộc bởi hình thức, không mê tín mù quáng, chứng tỏ có căn tu. Thật giống với Quan Trừng sư đệ của con.”

Vi Huấn liếc mắt khinh thường, môi mấp máy tỏ ý chẳng mấy tin tưởng.

Quan Xuyên nghe nhắc đến ‘Quan Trừng’, thoáng định nói điều gì rồi lại thôi.

Dương Hành Giản và Bảo Châu liếc nhìn nhau. “Quan Trừng” trong lời Đàm Lâm có phải là họa sư Ngô Quan Trừng đã hoàn tục, từng cưới vợ không? Nếu đúng, thì hẳn Đàm Lâm thật sự xem trọng thiên tư của người ấy.

Dương Hành Giản không quên mục đích chuyến đi là xin Đàm Lâm bói quẻ xem mệnh. Đàm Lâm đã biết ý, vui vẻ đồng ý, bảo viết bát tự lên giấy.

Dương Hành Giản lấy giấy bút, viết xuống hai bộ bát tự một là của một vị quý nhân, một là của bản thân, rồi quay sang hỏi Bảo Châu: “Phương Hiết có muốn thử không?”

Bảo Châu hứng thú gật đầu, viết ngày sinh xong liền quay sang hỏi Vi Huấn: “Ngươi thử không? Ta giúp ngươi viết.”

Vi Huấn đáp gọn: “Ta là trẻ mồ côi, không có ngày giờ sinh.”

Thập Tam Lang cũng nói: “Ta chỉ biết năm sinh, không biết giờ.”

Trang giấy được trao tận tay Đàm Lâm, ông chỉ liếc qua rồi đưa cho Quan Xuyên cất giữ, dặn: “Mai ta sẽ luận đoán cho các ngươi.” Sau đó lại nhìn Vi Huấn từ đầu đến chân, nhẹ giọng thở dài: “Quan Trừng cũng là trẻ mồ côi.” Trong tiếng nói như có tiếc thương.

Cho người có bát tự thì xem qua loa, người không có thì lại cẩn trọng quan sát, khiến Dương Hành Giản khó hiểu. Phải chăng vị thanh niên này phúc bạc mệnh đoản mà lại có tiền đồ rộng mở?

Lúc này, ngoài hành lang có tiếng bước chân. Một tiểu tăng trẻ đi vòng sau bình phong, cúi lạy Đàm Lâm. Bảo Châu chợt nhận ra đó chính là tiểu hoà thượng Quan Triều từng dùng gạo mua xác phụ nữ.

“Thượng sư, hôm nay đã phát chẩn một thạch hai đấu gạo.”

Đàm Lâm hỏi: “Có ai không đáng chết mà lại chết không?”

Quan Triều buồn bã đáp: “Có một người.”

Đàm Lâm trầm ngâm: “Lát nữa ta sẽ đi xem. Những người còn lại, hãy lo hậu táng cẩn thận.”

Bảo Châu hỏi: “Không đáng chết mà chết là sao?”

Đàm Lâm đáp: “Là người khiến đời tiếc thương như trẻ nhỏ, phụ nữ, người đang mạnh khỏe. Còn như ta, già yếu, bệnh tật, thì chết là chuyện thường. Chỉ có người không nên chết mà lại chết, mới khiến lòng người động.”

Dương Hành Giản nghe Đàm Lâm tự giễu, vội nói: “Thượng nhân đừng nói thế.”

Bảo Châu cũng bất ngờ: “Chẳng lẽ ngươi đang tìm một thi thể mỹ nhân trẻ trung như trong bích họa?”

Quan Triều nói: “Không phải thầy ta tìm, mà là một đại nhân vật ở Lạc Dương nhờ vẽ bức Cửu Tướng Tân, để trừ tâm ma. Chúng ta không thể không tìm.”

Dương Hành Giản ngạc nhiên, với vị thế như Đàm Lâm mà vẫn phải nghe theo người khác, quả thật thế gian này dù tu hành đến đâu, vẫn bị ràng buộc.

Vi Huấn nghe xong càng thêm cảnh giác, thầm liếc Bảo Châu – nếu nói về trẻ, đẹp, khoẻ mạnh, nàng chính là đối tượng phù hợp. Thiềm Quang tự quả thật khiến người phải đề phòng.

Quan Triều báo xong chuyện, chần chừ chưa muốn rời. Đàm Lâm thấy ánh mắt bi thương liền hỏi: “Có chuyện gì sao?”

Quan Triều quỳ xuống, rớm lệ nói: “Thầy ơi, chúng ta còn đủ gạo trong kho dùng được ba tháng rưỡi. Sao không giúp thêm cho dân đói? Mỗi lần họ van xin, con đều phải lạnh lùng từ chối, thật đau lòng!”

Đàm Lâm thở dài, vuốt nhẹ đầu đồ đệ: “Con có lòng từ bi, nhưng còn trẻ nên chưa hiểu lòng người. Một xác người đói có thể đổi được một đấu gạo. Nếu cho nhiều hơn, sẽ có kẻ vì gạo mà giết người thân của mình. Chỉ khi gạo ngang với xác, mới giữ được lòng người không sa vào tà niệm. Đừng thử thách chỗ tối trong tâm người.”

Tiếng nói trầm trầm của ông vang khắp đại điện, như thấm vào lòng người.

Ông dịu dàng nói thêm: “Không chỉ có bố thí vật chất mới là tu hành. Bố thí pháp, bố thí chí cũng đều là tu. Ngày mai là lễ Vu Lan, siêu độ vong linh nơi địa ngục là việc lớn nhất trong chùa, pháp hội chuẩn bị đến đâu rồi?”

Quan Triều lau nước mắt, chỉnh lại tinh thần, báo cáo tường tận từng việc: pháp khí, lễ phẩm, thực trai đều đã sẵn sàng, không điều gì bị bỏ sót.

Đàm Lâm khen ngợi, rồi hỏi: “Còn Quan Trừng? Pháp hội cần hắn đến biểu diễn tài nghệ.”

Quan Triều thoáng do dự: “Nửa tháng nay chưa thấy. Có lẽ lại vào thành tìm vợ.”

Đàm Lâm lặng đi một lúc rồi thở dài, dặn dò: “Con cùng Quan Vân tiếp đãi bốn vị khách quý này, đưa họ đến khách đường.”

Ông quay sang Dương Hành Giản nói: “Quan Triều là người quản lý trai đường, lo liệu chuyện ăn uống trong chùa. Nếu cần gì, cứ tìm cậu ấy.”

Quan Triều nhận lệnh, lạy sư phụ xong liền dẫn đoàn người từ Trường An đi nghỉ ngơi.

*ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy – tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ

*quán tưởng: Quán tưởng là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích và suy nghiệm một vấn đề, giúp cho thân an và tâm không loạn động, cũng như được chánh niệm. Quán tưởng không phải là chuyện đơn giản. Thật vậy, trong thế giới máy móc hiện đại hôm nay, cuộc sống cuồng loạn làm tâm trí chúng ta luôn bị loạn động với biết bao công chuyện hằng ngày khiến cho chúng ta mệt mỏi về thể xác lẫn tinh thần, nên việc làm chủ thân mình đã khó, mà làm chủ được tâm mình lại càng khó hơn
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 98


Ra khỏi điện Quy Vô Thường, dọc theo hành lang, Bảo Châu trong lòng vẫn bứt rứt khó tả, bèn cố ý bước chậm lại, đợi người phía trước đi xa rồi mới khe khẽ vẫy tay gọi Vi Huấn.

Vi Huấn dừng cách nàng ba bước, hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

Bảo Châu tiếp tục vẫy tay ý bảo hắn lại gần, song hắn vẫn đứng yên không nhúc nhích. Bảo Châu nhíu mày, bảo: “Ngươi biết cái gì gọi là ‘ghé tai nói nhỏ’ không?”

Vi Huấn chớp mắt, đáp: “Không cần phải gần đến vậy đâu, tai ta thính lắm, có gì thì cứ nói.”

Sắc mặt Bảo Châu thoắt cái sa sầm. Gần đây, nàng chẳng hiểu sao thấy người này có chút xa cách. Ngày thường thì chuyện trò thân mật, thế nhưng thỉnh thoảng lại cố tình giữ khoảng cách. Như vừa rồi ngoài cổng chùa, chân nàng tê dại đến độ đứng không vững, hắn chỉ đỡ sơ một cái rồi buông tay. Là kiêng dè? Là dè chừng? Hay là… ghét bỏ?

Vi Huấn thấy sắc mặt nàng thay đổi, càng lúc càng bối rối, bèn vội vàng chống chế: “Trên người ta có mùi, hằng ngày hầu hạ lừa với trâu, gia súc thì vốn nặng mùi, nàng bao lâu không tắm, ta cũng bấy lâu chưa đụng nước.”

Bảo Châu ngẩn người, nhớ lại mùi hăng hăng trong điện Quy Vô Thường, lại ngửi tay áo mình, ngẫm đi nghĩ lại, cảm thấy giữ khoảng cách cũng phải.

Nàng hạ giọng hỏi: “Ngươi có thấy bức bích họa vẽ mỹ nhân phơi xác trong đại điện không?”

“À…”

Vi Huấn do dự, hồi tưởng lại bức họa kia, hình như nữ nhân chẳng mặc y phục gì. Lời này nghe có vẻ như bẫy, mà bức họa lại lớn đến chục trượng, bảo không thấy cũng khó. Hắn thăm dò nét mặt Bảo Châu rồi đáp: “Có… có thấy, nhưng ta không nhìn kỹ.”

Bảo Châu nhìn quanh, thấy không có ai, bèn dặn: “Tối nay ngươi tìm cách trộm về một vại sơn, đem bức họa kia che hết đi cho ta.”

Vi Huấn thở phào nhẹ nhõm, tưởng nàng chỉ đùa, liền gật đầu: “Chuyện nhỏ.”

Bảo Châu lại nghiêm mặt: “Không được bôi bừa, chỉ cần phủ lên như thể đắp chăn là được. Tuyệt đối không được để lại mấy nét vẽ linh tinh như con mèo què của ngươi.”

Vi Huấn răm rắp vâng lời, cười nói: “Nếu có chọc giận mấy ông đầu trọc, thì đừng để tên ta lộ ra là được. Nàng ghét bức tranh kia đến vậy sao?”

Bảo Châu chau mày: “Không phải ghét, mà là không thể chịu nổi hình ảnh một thân xác phơi giữa nơi thanh tịnh như vậy.”

Chùa Thiềm Quang xưa kia từng là ni viện thời Dao Quang, về trước là đạo tràng dành riêng cho cung nữ và phi tần Bắc Ngụy tu hành. Các danh môn khuê nữ, cả những tiểu thiếp thất sủng, đều từng cạo tóc vào chùa tu Phật, vì thế nơi đây mới có những am phòng kín đáo, thanh nhã.

Dù chùa đã trùng tu nhiều lần, những thiết kế vẫn được giữ nguyên. Hơn nữa, khi đào móng còn phát hiện được suối nước nóng, vì vậy các vương tôn quý tộc ở Lạc Dương khi muốn tu tâm dưỡng tính đều chọn nơi này làm chốn tĩnh tu.

Từ ngày rời Trường An, Bảo Châu chưa từng được ở nơi nào sạch sẽ như chốn này. Cả đoạn đường dài, tâm trí căng thẳng giờ mới được thả lỏng, khiến nàng suýt rơi nước mắt.

Theo quy củ, chủ tớ có địa vị khác biệt rõ rệt, như trạm dịch chỉ tiếp đón quan viên, tùy tùng phải tự tìm nơi nghỉ khác, ăn uống cũng không thể cùng mâm. Nhưng vì Đàm Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh “bốn vị khách quý”, người phụ trách tiếp khách và cả Quan Triều đảm trách yến tòa đều coi bọn họ như thượng khách.

Trời đã sẩm tối, đã quá giờ các tăng nhân dùng bữa. Thế nhưng Quan Triều vẫn cho người đưa cơm chay đến tiểu trai đường thanh nhã để bọn họ dùng bữa.

Cơm chay bày biện giản dị, không mượn hình mặn giả chay, chỉ có canh bánh nấm, măng tươi, da phù. Hai món rau trộn là cần và mộc nhĩ. Song vị ngon thanh đạm, tuyệt không giống thức ăn ngoài phố.

Bốn người ăn rất ngon miệng. Thập Tam Lang cảm khái: “Đệ từng ghé vô số chùa chiền, ăn không biết bao nhiêu cơm chay, chưa từng nếm thứ gì ngon như canh bánh ở đây.”

Dương Hành Giản cũng âm thầm thừa nhận. Đừng nói là một chú tiểu lang bạt như hắn, đến cả một viên quan triều đình như ta cũng chưa từng ăn món ngon đến vậy. Có lẽ vì dọc đường chỉ toàn ăn uống qua loa, nay được bữa tử tế nên vị giác nhạy hơn.

Bảo Châu ăn liền hai chén, nóng đến toát mồ hôi trán, thở phào một hơi mới nói: “Này canh là dùng hải sản vùng Đông Hải nấu ra, món rau chua cũng là dùng trái cây ủ giấm, vừa chua vừa thơm, sao mà không ngon cho được.”

Vi Huấn và Thập Tam Lang còn mơ hồ chưa hiểu, nhưng Dương Hành Giản thì giật mình. Hải sản Đông Hải vốn chỉ là đồ ăn của dân chài, rẻ ở ngoài biển, nhưng vận chuyển về đất liền thì quý như vàng. Mỗi năm Hoài Nam đều phải tiến cống thứ này cho cung đình. Bản thân y làm quan lục phẩm, chưa từng được dùng trong điện, chỉ từng nếm qua ở phủ Thiều Vương.

Lạc Dương tuy gần biển hơn Trường An, giá hải sản có rẻ hơn, nhưng dùng để đãi khách thì cũng là chuyện hiếm thấy. Xem ra chùa Thiềm Quang thực lực chẳng vừa.

Ăn xong, tráng miệng là thạch đường hoa quế, trong suốt như ngọc, giữa khối đường lấp lánh cánh hoa vàng nhỏ. Trong khung cảnh thanh tịnh của chùa chiền, nhâm nhi món ngọt thoảng hương hoa này, quả là phong nhã vô cùng.

Song khi nếm đến món thạch đường, Bảo Châu lại chợt nhớ đến cô gái bán hàng rong hôm nọ, không hiểu sao thấy món này đậm một vị chua chát. Nghe Vi Huấn nhai rộp rộp như nhai mạch nha, nàng đẩy phần mình sang cho hắn. Hắn lại đẩy qua Thập Tam Lang.

Bảo Châu ngạc nhiên hỏi: “Ngươi chẳng phải thích ăn đồ ngọt sao?”

Hắn đáp: “Ta vẫn thấy đường mạch nha mềm và ngọt hơn.”

Bảo Châu thở dài lắc đầu, nghĩ bụng: một cây đường mạch nha chỉ đáng một văn tiền, còn món thạch đường này là thứ phải cô đặc từ mật quý, chắc hắn không quen ăn thứ quý giá.

Ăn xong, một chú tiểu mang theo lò trầm hương và bộ trà cụ đến. Bảo Châu nhận ra cậu là người đi theo Quan Triều, hình như tên là Diệu Chứng. Quan Triều không tự ra hầu khách, lại sai một tiểu đồ đệ tới thay, khiến nàng có chút không hài lòng.

Nàng hỏi: “Mấy vị tăng trong chùa đều là đệ tử Đàm Lâm sao?”

Diệu Chứng đáp: “Dạ phải, bốn vị sư huynh Sơn, Xuyên, Vân, Triều đều là môn hạ của phương trượng.”

Bảo Châu hỏi tiếp: “Không phải còn có người tên là Quan Trừng vẽ tranh sao?”

Diệu Chứng ngập ngừng giây lát mới nói: “Quan Trừng sư huynh là cô nhi do phương trượng nhận nuôi, cũng là đệ tử cuối cùng. Kinh kệ và vẽ tranh đều rất giỏi, chỉ tiếc đã hoàn tục.”

Dương Hành Giản hỏi: “Thầy tu hoàn tục thì cũng thường thôi, nhưng sao lại cưới người cùng họ?”

Diệu Chứng đáp: “Quan Trừng sư huynh vốn tính tình ngờ nghệch, từng gặp chuyện chẳng giống ai, chuyện đó cũng không lạ.”

“Vậy thê tử hắn là người thế nào, sao lại dây dưa với tăng nhân?”

Chú tiểu còn nhỏ, ngây thơ thật thà, liền kể luôn: “Người đó tên Ngô Quế Nhi, nhà buôn bánh kẹo, các vị đang ăn món thạch đường hoa quế chính là của nhà nàng. Vì thường vào chùa mua hoa quế nên mới quen Quan Trừng. Hắn tuy hoàn tục nhưng vẫn ở lại làm họa sư trong chùa, không đi đâu xa.”

Thập Tam Lang xen vào: “Ngô tẩu kia chắc cũng chẳng vừa, Hoắc Thất sư huynh của chúng ta cũng từng mê tăng nhân, chỉ tiếc toàn gặp đồ dở, may mà tỷ ấy không có ở đây, không thì Quan Triều kia e cũng không thoát tay nàng.”

“Cái gì?” Bảo Châu nghe xong, trong lòng thoáng hối hận đã để nàng đi U Châu. Nhưng tên đã lên dây, khó lòng quay lại.

Vi Huấn xưa nay chẳng bận tâm chuyện nhà người. Từ lúc thấy bức họa trong điện Cửu Tương Quan có câu “Không sợ chết mà sợ chết bất đắc kỳ tử”, hắn cứ thấp thỏm không yên, lo có kẻ rắp tâm hại Bảo Châu. Bèn hỏi: “Người tên Ngô Quan Trừng kia, là dạng si ngốc thế nào? Chẳng lẽ thích vẽ thi thể?”

Diệu Chứng giật bắn mình, mặt tái xanh.

Bảo Châu kinh ngạc nhìn Vi Huấn: “Ngươi làm sao biết?”

Vi Huấn đáp: “Bức địa ngục đồ vẽ cảnh ‘con mắt cứu mẹ’ kia, muốn vẽ sống động như thật, ắt phải quan sát nhiều xác chết, chưa kể có khi còn phải lột da, moi ruột để nghiên cứu đường gân xương cốt mới có thể vẽ chính xác.”

Dương Hành Giản đang thong thả uống trà, nghe vậy sặc suýt nghẹn thở, ho đến đỏ mặt tía tai.

Diệu Chứng mặt mày trắng bệch, tay cứ mân mê cái chày giã trà, chẳng nói nên lời.

Bảo Châu nghĩ bụng, lời này nếu do kẻ khác nói ra còn đỡ, nhưng Vi Huấn vốn là người từng lặn lội bao ngôi mộ cổ, quen thuộc thi thể, vậy thì… đáng tin không ít.

Diệu Chứng cuối cùng đành kể: “Phương trượng vốn muốn truyền y bát cho Quan Trừng, nhưng huynh ấy càng vẽ càng sa đọa, từng gây ra mấy vụ động chạm thi thể, nên bốn vị sư huynh khác đều phản đối. Sau huynh ấy quen biết Ngô Quế Nhi, nảy sinh phàm tâm, bèn hoàn tục rời đạo.”

Vi Huấn hỏi tiếp: “Còn hòa thượng tên Quan Xuyên kia, vào chùa từ khi nào? Làm chức gì?”

Diệu Chứng đáp: “Khoảng bốn, năm năm trước, lúc đó con chưa xuất gia nên không rõ lắm. Quan Xuyên sư huynh phụ trách kỷ luật trong chùa, ai phạm lỗi đều do huynh ấy dùng gậy gỗ trừng phạt.”

Nói rồi ngừng lại, dường như rất sợ vị ấy, liền nói thêm: “Phần lớn thời gian huynh ấy đều ở bên cạnh phương trượng, ít khi ra ngoài.”

Vi Huấn và mọi người hỏi thêm cũng không moi được tin mới, đành cho cậu lui xuống.

Bảo Châu quay sang hỏi Vi Huấn: “Vậy hòa thượng Quan Xuyên kia có gì đáng nghi sao?”

Vi Huấn đáp: “Hắn là cao thủ, ta từng cố tình chọc tức để xem nội công hắn ra sao, nhưng bị Đàm Lâm cản, không thử được.”

Dùng cơm xong, bốn người chia nhau về thiền phòng nghỉ ngơi. Vi Huấn dặn Dương Hành Giản và Bảo Châu kiểm tra kỹ phòng ốc, rồi cùng nàng vào phòng, trèo lên xà, gõ nền gạch, nhấc cả giường lên xem xét. Sau cùng còn kiểm tra cả cửa sổ có cài then kỹ chưa.

Bảo Châu cầm giá cắm nến, nhìn hắn nhảy nhót như con khỉ, vừa buồn cười vừa thấy lòng an ổn.

Chùa Thiềm Quang mỗi phòng đều có suối nước nóng nhỏ riêng, ba mặt vây bằng vách trúc. Đêm xuống, hơi nước bốc mờ mịt, khiến người nhìn thấy cũng thấy lòng dịu lại.

Kiểm tra xong xuôi, Vi Huấn nói: “Thế là tạm ổn. Có gì thì kêu to, nhớ khóa cửa sổ cẩn thận.”

Bảo Châu nói: “Ta phải tắm cái đã, hôm nay nhìn thấy nhiều xác quá, cứ thấy mùi đó dính đầy người.”

Vi Huấn vốn định bước ra, nghe thế liền quay lại: “Mùi tử thi có khi chỉ là ấn tượng, chưa chắc có thật. Nếu cảm thấy tắm mãi không sạch, đừng kỳ mạnh mà rát da. Thử lấy nước muối nóng rửa mũi xem sao.” Dứt lời, xoay người đi khỏi.

Bảo Châu ngẩn ngơ một hồi, thầm nghĩ: lời này có phần kinh nghiệm, chẳng lẽ là từng trải qua thật sao?
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 99


Vi Huấn bước vào phòng, khép cửa lại, trong bóng tối chờ một lúc để mắt quen dần.

Ngày mai là rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan, đêm nay trăng sáng vằng vặc, ánh trăng như dòng sữa đổ xuống hiên, đủ để nhìn rõ mọi vật mà chẳng cần đến đèn đóm. Với đôi mắt quen bóng tối, Vi Huấn vốn đã nhìn rõ hơn người thường, chút ánh trăng hắt qua cửa sổ cũng đủ để cử động không trở ngại.

Hắn múc ít nước trong lu, lấy ra chiếc áo xanh mà ban ngày Bảo Châu từng khoác, ngâm vào chậu, rắc thêm chút muối và lá trà còn dư khi pha trà. Muối và trà đều có công dụng khử mùi, từ xưa sau mỗi lần trộm mộ, hắn vẫn dùng cách này để giặt sạch quần áo, xua đi mùi đất mộ và tử khí. Nay tuy chẳng còn xác chết mồ mả, nhưng trên áo lại vương mùi hương xâm xẩm, thấm tận ruột gan, hắn đành tiếc nuối mà tẩy rửa, nếu không sạch thì áo này cũng không thể mặc lại.

Vi Huấn lặng lẽ thở ra một hơi, gần như không nghe thấy.

Tháo búi tóc, cởi y phục, hắn rửa thân mình bằng nước lạnh, rồi chân trần bước vào ao nước nóng bên ngoài phòng. Nước ấm dần dần xua tan cơn lạnh cứng trong người, hắn thở ra một hơi dài, bỗng nghĩ, có lẽ thân thể người thường ngày nào cũng dễ chịu như vậy?

Ngồi giữa làn hơi nước mờ sương, hắn đưa tay nhìn mặt trong cánh tay: từng sợi gân máu xanh đen như dây leo chạy dọc từ tim ra đến bắp vai, hoa văn nhàn nhạt màu xám tro lặng lẽ len lỏi. Khí lạnh đã ngấm sâu vào nội tạng, đi qua qua các mạch, nếu chẳng phải từ nhỏ luyện được công pháp kỳ môn sư tổ truyền dạy, e rằng thân xác này đã sớm mục rữa thành tro.

Khắp người phủ kín vết tích xanh lơ như dây leo quấn chặt, chỉ còn lại vùng tim trên ngực là trống trơn. Một khi bệnh tràn tới nơi ấy, tim lạnh đi, là ngày mệnh đoạn.

Kỳ lạ thay, hắn chẳng còn sợ hãi như xưa.

Từ nhỏ đã sống cùng thứ bệnh quái ác không thuốc chữa, lúc phát bệnh đau đớn đến sống dở chết dở, suốt đời chỉ mong một liều thuốc thần cứu lấy mạng mình. Hắn từng mơ, nếu lành bệnh, nhất định sẽ nhảy cẫng lên, reo vui không thôi. Nào ngờ nay bên cạnh nàng, mỗi giờ phút đều thấy lòng nhẹ tênh, chẳng vướng âu lo, dù chẳng sống được bao lâu nữa, hắn cũng xem như đã khỏi bệnh. Nhìn từ một góc độ khác, nàng quả là phương thuốc chữa lành, còn phượng hoàng thai hay thần châu linh đan, kể ra cũng chỉ là chuyện thừa.

Trong lúc lặng thầm suy nghĩ, bên kia bức tường trúc bỗng vang lên tiếng chân người đi chân trần, ánh nến len qua kẽ trúc vàng mờ:

“Muôn pháp vốn không hình tướng, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Nếu có ác quỷ nơi địa ngục, oan hồn chốn Minh Phủ nghe được kinh này mà được siêu độ, thì xin đừng đến hại ta…”

Người cầm đèn tay run run niệm kinh, từng bước một xuống nước.

Vi Huấn ngẩn ra, chợt nhận ra phòng tắm tuy tách biệt, nhưng các ao nước nóng đều liền nhau, chỉ ngăn bởi hàng trúc cắm trong nước. Vì hắn không đốt đèn, nên nàng hoàn toàn không biết có người bên kia vách.

Nàng vừa sợ bóng tối vừa sợ ma, miệng niệm kinh, tay vốc nước, tiếng nước róc rách vang qua hàng trúc, ánh nến nhấp nhô chiếu lên bóng hình mờ nhòe, nhạt nhòa như ảo mộng.

Trong cảnh như thế, nếu cứ im lặng mà để mặc, thì thật là vô lễ. Vi Huấn bèn lên tiếng:

“Nàng biết đây là chùa chiền tĩnh mịch chứ? Dù có ma, đến chùa cũng là để ăn chay niệm Phật, sao mà dọa người?”

Trong bóng đêm bỗng vang lên giọng nam, Bảo Châu “á” lên một tiếng, co người ôm vai lặn xuống ao, ánh mắt lúng túng tìm quanh mái ngói cành cây, không thấy bóng ai, một lúc sau mới nhận ra tiếng phát ra từ bức trúc tường, càng thêm rối rắm.

Sau lời nhắc, nếu còn lặng im bỏ đi thì thật thất lễ. Vi Huấn dứt khoát nói: “Ta đi đây.” Rồi từ trong nước đứng lên, định trèo lên bờ.

Bảo Châu nghe hắn định rời đi, nỗi sợ quỷ còn lớn hơn xấu hổ, vội buột miệng:

“Này… này… chờ chút đã.” Giọng nói ra là ra lệnh, nhưng âm điệu lại run rẩy, nghe như van nài.

Vi Huấn chỉ còn biết câm lặng, ai ngờ một người đường đường trấn thủ võ lâm, từng đơn độc diệt trừ La Sát Điểu môn, tuyệt đỉnh cao thủ thiên hạ, mà khi trời vừa tối lại nhát như con thỏ, ở miếu vẫn sợ có ma. Nghĩ mãi chẳng thông, nàng làm sao có thể vừa mạnh mẽ kiêu hãnh, lại vừa đáng thương yếu mềm như thế.

Chẳng đành lòng để nàng một mình sợ hãi, Vi Huấn lại trở xuống ao, nước gợn nhẹ quanh người.

Ánh trăng rọi trên mặt nước, nhảy nhót tựa kim rơi, khói sương mờ phủ, một hồ nước chia hai nửa bởi hàng trúc, nửa sáng nửa tối, hai người mỗi người một bên, không thấy mặt chỉ nghe tiếng, mà lòng chợt lặng lẽ thông nhau.

Bảo Châu cất lời:

“Ngay cả ngọn nến ngươi cũng không đốt, thật sự chẳng sợ gì sao? Không nói đến chùa miếu, chẳng lẽ ngươi từng đi khắp hoang vu mà chưa từng thấy ma?”

Vi Huấn đáp:

“Đừng nói rừng hoang, ngay cả mộ phần sâu thẳm, ta cũng chưa từng thấy bóng ma nào. Sư phụ ta sống hơn ta năm mươi năm, từng trải qua loạn lạc thiên hạ, thấy biết chẳng thiếu máu thịt chết chóc. Có lần ông phát bệnh điên, đêm đêm cầm cờ chiêu hồn đến bãi tha ma đón ma, mà chẳng lần nào thấy gì. Nếu thật có ma, sao lại khó gặp thế?”

Nghĩ đến hình ảnh ông già tóc hoa râm, cầm cờ trắng lảo đảo trong nghĩa địa, Bảo Châu không khỏi rùng mình:

“Người như vậy điên loạn thế, sao lại đột nhiên phát thiện tâm mà nuôi ngươi?”

Từ sau bức trúc tường vang lên tiếng cười khẽ:

“Ông ấy không nuôi ta, mà là mua ta. Ngày nàng gặp bọn bán rong, ta cũng từng ngồi trong cái sọt ấy. Ông móc ra mười văn tiền, mua ta từ tay cặp vợ chồng sắp chết đói, mang về Tàn Dương Viện.”

Bảo Châu thẫn thờ nhắc lại:

“Chỉ tốn mười văn tiền…”

“Ông ấy nói ta giãy đạp cắn loạn không chịu đi, mẫu thân ta bất đắc dĩ, lấy một văn trong tiền bán thân mua cho ta một que mạch nha dụ dỗ. Giờ chẳng nhớ nổi phụ mẫu, chỉ còn nhớ que kẹo ấy là món ngọt nhất đời.”

Không biết vì khoảng cách bức tường khiến lời nói thêm nhẹ, hay do lòng muốn dỗ nàng yên tâm, mà tối nay Vi Huấn bỗng trở nên hay nói hơn thường lệ.

Hắn nhớ năm xưa, sư phụ chẳng vì lòng thương mà mua, chỉ vì nhìn thấy một đứa trẻ không che thân, dáng dấp khác người rất thích hợp luyện võ, nên mới tiện tay mua về.

Nghe xong lai lịch ấy, Bảo Châu lặng người. Hồi lâu mới buồn bã thốt:

“Ta vẫn nghĩ ngươi họ Vi, chắc cùng Thập Tam Lang xuất thân thế gia, là chi bên Vi thị kinh thành, chẳng qua vì nguyên do gì đó mà ly tán, lưu lạc giang hồ.”

Vi Huấn bật cười:

“Nàng đoán sai rồi. Ta chẳng phải công tử giấu tung tích gì cả. Lúc nãy nàng kêu ‘uy uy uy’, ấy là do tên ta mà ra. Sư phụ đặt cho cái tên ‘Uy’, nghe như ra lệnh: Uy! Nghe lời.”

*“Vi Huấn” (威訓)

“Vi” (威): uy nghi, uy lực. (phiên âm của từ này có nghĩa là uy, tức là họ của na9 nên đây mk sẽ không thay chữ uy bên trên bằng từ khác)

“Huấn” (訓): lời dạy, huấn thị.

=> Cái tên hàm chứa uy quyền và kỷ luật, có thể hiểu là: “nghe lời hiệu lệnh,” hoặc “răn dạy nghiêm khắc.”

Nghe đến đây, Bảo Châu bỗng giận dữ thay cho Vi Huấn. Trần Sư Cổ kia rõ là thông minh tuyệt đỉnh, vậy mà cố tình đặt cho hắn cái tên khinh bạc như thế, lại dùng ánh mắt trùm thổ phỉ để dạy dỗ, như thể đời hắn chỉ xứng làm kẻ trộm.

Nàng lại nghĩ, mình thường hay nhắc đến cha mẹ trước mặt hắn, còn rơi lệ than thân, chẳng biết hắn đến cái tên còn bị mua bán đổi chác, cha mẹ cũng chẳng nhớ mặt, những lời ấy chẳng phải vô tình tàn nhẫn lắm sao?

Hồi lâu sau, Bảo Châu nhỏ giọng:

“Có chuyện này, ta nghĩ mãi mới quyết nói cho ngươi.”

“Chuyện gì?”

“Bàng Lương Ký nói, ngươi theo nghề trộm mộ là vì muốn tìm linh đan chữa bệnh.”

Vi Huấn chấn động trong lòng, thoáng hoảng hốt, thầm nghĩ chẳng lẽ nàng đã biết chuyện ‘phượng hoàng thai sống hay hạt châu rồi’? Thập Tam Lang còn đoán ra được, huống gì nàng. Nếu nàng hiểu lầm hắn bày mưu tính kế, chẳng phải lòng này sẽ đau như cắt?

Hắn nghiến răng, giận Bàng Lục không giữ mồm giữ miệng, hận không thể phi ngựa quay về Ngọc Thành đánh cho hắn một trận.

Bảo Châu vẫn nói tiếp:

“Ta vốn không định nói ra, nhưng lại chẳng nỡ im lặng. Nghĩ kỹ mà xem, một viên linh đan có thể chữa bệnh nan y, sao lại giấu trong mộ? Chủ mộ khi xưa nếu thật có đan ấy, đã trường sinh bất lão, sao còn chết mà chôn cất? Đạo lý ấy nghe sao cũng không thông.”

Nghe nàng phân tích, Vi Huấn lòng nhẹ bớt phần nào. May mắn là Bàng Lương Ký chỉ nói khái quát, chưa nhắc đến tên cụ thể.

Bảo Châu nói thêm:

“Ta đoán là Trần Sư Cổ nói với ngươi về linh đan trong mộ. Ông ta tính tình kỳ quặc, lại thông tuệ hơn người, biết đâu chỉ là chuyện bịa để lừa ngươi, khiến ngươi vì hắn mà xuống mộ trộm đồ.”

Bên kia tường vẫn im ắng, Bảo Châu ngỡ Vi Huấn bị đả kích mà đau lòng, lòng chợt thấy áy náy, chẳng biết nên nói sao cho phải. Một lát sau, giọng nói trong trẻo của Vi Huấn lại vang lên, bình thản như thường:

“Ta sớm biết hắn có thể đang lừa ta.”

“Ngươi biết rồi?!”

“Trên đời này khó ai cổ quái hơn ông ấy. Lúc còn trẻ còn khỏe, một mình vẫn trộm mộ được. Già rồi xuống sức, cần người giúp việc, ấy là lý do thu đệ tử. Gọi là đồ đệ, thực chất là tay chân trộm mộ.”

Nhớ lại bao năm mộng tưởng, từ nhỏ đã được nghe về phượng hoàng thai, lòng khát khao mãnh liệt. Đến tuổi trưởng thành, lý trí dần thắng cảm xúc, nhưng bản năng cầu sinh vẫn chẳng nỡ buông tay. Vì một tia hy vọng ấy, hắn vẫn bám lấy con đường trộm mộ đến tận hôm nay.

Bên ngoài vách trúc vang lên tiếng thở dài. Bảo Châu hiểu phần nào tâm tình ấy, nghĩ mãi mới lựa lời an ủi:

“Biết đâu ngươi chẳng có bệnh gì cả, chỉ là lâu năm sống dưới đất, nhiễm âm khí tử khí mà thành. Giờ từ bỏ nghề trộm mộ, không ăn uống vật lạnh dưới mộ, bệnh sẽ dần dần đỡ.”

Vi Huấn nhìn vệt gân máu như dây leo phủ tay, bỗng bật cười:

“Nàng nói phải lắm. Hai tháng gần đây, ta thật thấy mình khá hơn nhiều rồi.”
 
Back
Top Bottom