Cập nhật mới

Ngôn Tình Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp

Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 60


Ra khỏi thành Hạ Khuê đã lâu, quay đầu nhìn lại chẳng còn thấy bóng tường thành, Vi Huấn chợt lấy chiếc hộp sơn ra, đưa cho Bảo Châu, nói: “Tặng ngươi.”

Bảo Châu ngạc nhiên: “Đây là vật các thợ thủ công tạ ơn ngươi mà dâng tặng, ngay cả tên ngươi cũng không để lại, chẳng phải cái hộp này là thứ duy nhất còn sót lại sao?”

Vi Huấn đáp gọn: “Ta vốn đã nói từ đầu, đặt làm chiếc hộp là để tặng người.”

Dứt lời, hắn cứng tay nhét hộp vào tay nàng, đoạn giục lừa tiến về phía trước, không ngoái đầu lại. Ý tứ kia, từ đầu đến cuối, vốn dĩ đã là để dành cho nàng.

Hắn lại nói: “Ngươi cũng nghe bọn thợ thủ công bảo rồi đó, Vi đại ta số mỏng mệnh nhẹ, không chịu nổi của quý. Trong đám người này, ngươi là người có phúc phần hơn cả, chi bằng cứ để ngươi giữ.”

Hoắc Thất Lang liền chen lời: “Hai người các ngươi cứ đùn đẩy qua lại mãi, hay là đưa ta Hoắc Thất giữ, đem bán rồi chia nhau, mỗi người một phần, chẳng phải đẹp cả đôi đường sao?”

Bảo Châu mở nắp hộp, nâng viên châu lên tay, nhẹ nhàng lật qua lật lại ngắm nghía, thấp giọng nói: “Nếu bán được giá thì đúng là chuyện lạ đời.”

Thập Tam Lang thấy nàng như đang ngẫm nghĩ điều gì, có vẻ nín nhịn trong lòng, bèn hỏi to: “Cửu Nương là chê viên ngọc này còn vương máu sao? Đệ đi lấy nước suối cho tỷ rửa.”

Bảo Châu lắc đầu:

“Người thợ làm bia ấy, thân tật, mang bệnh mà vẫn một lòng muốn rửa oan cho con gái, giấu châu trong huyết nhục, dốc hết sức mình báo thù. Có thể coi là bậc sức mạnh người đời. Máu của người như vậy sao có thể gọi là dơ bẩn? Chỉ là… viên châu này có điểm lạ lùng…”

Hoắc Thất Lang vội hỏi: “Lạ chỗ nào?”

Bảo Châu thở dài: “Khó nói rõ. Chỉ là cảm thấy khác biệt so với mọi viên châu ta từng cầm qua.”

Nàng vốn mang tên thật là Bảo Châu, bởi thế hễ trong cung có vật quý nào từ bốn bể tám phương tiến dâng mà mang chữ “Châu”, hoàng đế đều đem ban thưởng cho nàng. Mỗi dịp sinh nhật, trân châu dâng lên chất đầy từng thúng. Cả đời nàng đã thấy qua không biết bao nhiêu minh châu bảo ngọc, thiên hạ chẳng ai bì kịp.

Vi Huấn biết nàng mắt nhìn tinh tường, bèn nói: “Từ khi nàng nhìn thấy vật này, sắc mặt đã có chút thay đổi. Hành trình còn dài, chúng ta có thừa thời gian nghe nàng giảng giải.”

Hoắc Thất Lang và Thập Tam Lang cũng xúm lại gần, mặt mũi đều lộ vẻ tò mò.

Bảo Châu thong thả nói: “Vậy ta nói đơn giản một chút, mọi người nghe chơi thôi. Viên châu này bề ngoài trông như trân châu, mà trân châu chia làm hai loại: một là châu biển, hai là châu sông, tức xà châu…”

Thập Tam Lang kinh ngạc: “Trên đời thật có thứ gọi là xà châu ư? Là rắn nhả ra sao?”

Bảo Châu đáp: “Không hẳn. Xà châu là trân châu nước ngọt. Tên gọi ấy từ cổ tích mà ra, chuyện xưa kể rằng rắn lớn trong sông từng nhả châu tặng người, cho nên mới gọi vậy. So với châu biển thì xà châu ánh sáng yếu hơn, kết cấu cũng kém chặt, bởi thế giá trị không bằng, nhưng cũng rất đẹp. Có điều viên này, sắc ảm đạm, vỏ không đều, loại nào cũng chẳng giống.”

Hoắc Thất Lang chen lời: “Nhưng nó thực sự phát sáng đấy! Hôm ấy ban đêm ta cố tình lại gần nhìn, quả có một tầng sáng nhè nhẹ.”

Bảo Châu lại thở dài: “Lạ là ở đó. Trân châu và dạ minh châu kỳ thực không phải cùng một loại. Trân châu là sinh vật tạo ra, như trai hay ngao. Còn dạ minh châu là đá quý được mài thành hình tròn, ban ngày màu xanh sẫm, không có ánh sáng nào lóe lên trên bề mặt.”

Hoắc Thất kinh ngạc: “Vậy dạ minh châu không phải là trân châu sao?”

Bảo Châu lắc đầu: “Dạ minh châu, người xưa còn gọi là Tùy Hầu Châu, được lấy từ trong đá, cũng chia làm hai loại: loại thông thường và loại không thông thường. Loại sáng thường hiếm có, đa phần là loại chớp sáng thoáng qua.”

Thập Tam Lang hỏi: “Chớp sáng là chỉ chợt lóe chợt tắt?”

Bảo Châu mỉm cười lắc đầu: “Không phải vậy. Loại này cần hấp thụ ánh nắng ban ngày, đến tối mới phát sáng. Nếu để lâu trong rương khóa kín, chẳng mấy mà hóa thành một viên đá thường, phải đem ra phơi nắng mới sáng trở lại. Trước kia trong kho trong cung từng có vụ án đánh tráo dạ minh châu, tra đến cùng, hóa ra không bị đánh tráo gì, chỉ vì để quá lâu không phơi sáng mà thôi.”

Mọi người nghe nàng giảng rành mạch, đều phục nàng kiến thức uyên thâm.

Bảo Châu nói tiếp: “Viên châu truyền lại từ họ Trần này, tuy bề ngoài giống nhiều loại, nhưng sắc chẳng bằng trân châu, sáng chẳng bằng Tùy Hầu Châu, thực ra chẳng ra thể thống gì. Bởi thế ta mới thấy lạ, chỉ là lúc ấy không tiện nói ra.”

Từ nãy Dương Hành Giản vẫn lặng lẽ đi sau, giờ mới cất lời: “Tuy thần không rành giám định bảo vật, nhưng về lòng người thì hiểu chút ít. Người thợ làm bia nói viên châu này là cha y mua từ tay lái buôn hồ, giá lại cao, thần nghe đã thấy ngờ. Một người không muốn sống nhờ nghề cha ông, lại không từng buôn bán, sao dám đầu tư vào món hàng quý vốn không dễ đổi? Chưa kể lái buôn vốn sành sỏi, nếu gặp người không rành nghề, càng dễ ra tay. Viên châu ấy cha y mua rồi giữ mãi không bán được, là bằng chứng rõ nhất.”

Bảo Châu giật mình: “Ý ngươi là phụ thân y bị lừa?”

Dương Hành Giản lắc đầu, thở dài: “Không dám đoán chắc, chỉ là suy luận mà thôi. Người cũng đã mất hơn ba mươi năm, còn biết tìm đâu ra chứng cớ.”

Nghe lời phân tích ấy, ai nấy đều trầm mặc, trong lòng nặng trĩu.

Bỗng Vi Huấn vươn tay, nhẹ nhàng lấy viên châu trong tay Bảo Châu, rồi kẹp giữa hai ngón, vận lực bóp mạnh. Trong tiếng kinh hô của Hoắc Thất Lang, mặt ngoài viên châu bỗng rạn ra một khe nhỏ.

Bảo Châu thất sắc. Dù là trân châu hay dạ minh châu, đều không có lõi bên trong. Dù có nghiền nát cũng chỉ thành bột mịn, lắm thì còn sót vài hạt cát. Dẫu Vi Huấn có sức tay mạnh, thân xác cũng chỉ là phàm tục, làm sao có thể bóp nát một thứ vốn dĩ rắn chắc đến thế?

Hoắc Thất Lang kêu lên thảm thiết: “Đại sư huynh sao lại ra tay nặng vậy! Dù không phải thật, đem bán rẻ cũng đủ mua vài vò rượu rồi mà!”

Vi Huấn cười đáp: “Cái này không nghiệm được, cái kia cũng chẳng thể nghiệm được, lòng ta ngứa ngáy lắm rồi. Hôm nay thế nào cũng phải làm cho ra nhẽ mới thôi.”

Hắn vốn là kẻ tính khí ngang ngược, đã quen ngạo mạn, ai khuyên can cũng chẳng lọt tai. Thế là lại vận sức, ngón tay bóp mạnh. Một luồng khí lực như muốn vỡ đá nát bia, dồn hết vào đầu ngón tay lần nữa. Viên châu kia rốt cuộc cũng chẳng chịu nổi, mặt ngoài nứt toác từng mảnh, từng lớp ánh sáng giả tạo loang lổ bên ngoài như tường ẩm bị tróc lớp vôi, từng mảng bong ra, để lộ bên trong chỉ là một viên châu thủy tinh tầm thường.

Thứ ấy ở Trường An, chỉ năm trăm đồng tiền đã mua được cả thúng, là đồ chơi của trẻ nhỏ, cũng là vật liệu làm ngói lưu ly trên mái nhà, rẻ đến không đáng đếm.

Bảo Châu vội vàng nhận lấy những mảnh vỡ trong tay Vi Huấn, cúi đầu ngắm kỹ. Nàng thấy thứ tróc ra từ viên châu chỉ là hỗn hợp của phấn trân châu và bụi khoáng nghiền vụn, chẳng rõ dùng gì làm chất kết dính, rồi phủ lên viên thủy tinh, mài nhẵn bóng loáng là giả được dáng vẻ một viên “dạ minh châu” nửa vời.

Hoắc Thất Lang trơ mắt nhìn cơ hội phát tài tan thành mây khói dưới một cái bóp tay của Vi Huấn, nét mặt như mất hồn mất vía. Cộng thêm bị văng vào mấy mảnh thủy tinh nhỏ, đôi mắt tròn xoe đỏ hoe, biết rõ nơi đây không thể ở lâu, nàng chỉ nói vài câu bâng quơ rồi vội vã cáo từ rút lui.

Trái lại, Vi Huấn lại cảm thấy mình vừa phanh phui được một âm mưu chôn sâu bao năm, trong lòng khoan khoái, khóe môi vương nụ cười mãn nguyện. Mãi đến khi nhìn thấy vẻ buồn bã thoáng hiện nơi khóe mắt Bảo Châu, hắn mới áy náy cất lời: “Xin lỗi. Là vật đã tặng cho ngươi, lại bị tay ta bóp nát.”

Bảo Châu khẽ lắc đầu, giọng nhẹ mà buồn: “Châu cỡ ấy, ta từng thấy không biết bao nhiêu, cũng chẳng lấy gì làm tiếc. Chỉ là nghĩ đến trò đùa của số phận, thật khiến người ta không khỏi chua xót. Trần Vũ vì một viên châu giả mà tan cửa nát nhà, nghĩ lại vẫn thấy đáng thương.”

Một bi kịch như nhà thợ khắc bia, một vụ án trộm báu vật làm chấn động khắp thành, rốt cuộc lại chỉ khởi đầu từ một viên châu giả do lái buôn tạo ra. Từ ba đời nhà họ Trần, thợ thủ công Thường Châu, đến cả Bảo Lãng, rồi cả Tiết độ sứ Thôi Khắc, chẳng ai có mắt tinh đời, chẳng ai nhìn thấu.

Dù có người lờ mờ nghi ngờ, cũng chẳng ai đủ can đảm như Vi Huấn, dám lấy tay bóp nát “báu vật” để thử xem thực hư. Chỉ đến khi rơi vào tay nàng, mọi giả dối mới bị lật tẩy.

Dương Hành Giản thấy Hoắc Thất Lang đã rời đi xa, chỉ còn lại người trong phe mình, bèn mới trút nỗi bực tức trong lòng, khinh khỉnh nói: “Bảo Lãng kia lòng lang dạ thú, dù có nhờ hiến châu mà được thăng chức đi nữa, đời này cũng chẳng xứng được nhìn công chúa lấy một lần. Quả là ngu muội hết thuốc chữa, còn vọng tưởng si mê.”

Bảo Châu lặng lẽ ngẫm nghĩ. Dù năm ấy không có mưu hại, nàng vẫn yên ổn trong cung. Nếu viên “dạ minh châu” kia thuận đường mà về được đến Trường An, có khi cũng được ban xuống tay nàng như bao vật quý khác, rồi lại bị nàng xem là thứ chẳng đáng bận tâm mà bỏ lăn lóc một góc.

Một vật nhỏ vô danh trong tay vương giả có khi chẳng ai buồn đoái hoài, nhưng khi rơi vào dân gian lại có thể khuấy động phong ba, khiến bao người chết thảm. Nhân thế quả thực khắc nghiệt và khó lường.

Nhưng tất cả những điều này, Trần Vũ và Huỳnh Nương mãi mãi không thể biết.

Trầm ngâm một hồi, nàng cuối cùng cũng hiểu ra điều gì đó. “Để giúp Trần Vũ rửa oan, các thợ thủ công Thường Châu không quản hiểm nguy, dốc lòng tạo nên chiếc hộp thất bảo lưu ly này. Xét đến cùng, trong cơn sóng gió trộm ngọc lần này, bảo vật quý giá nhất lại chính là chiếc hộp đầy nghĩa khí ấy. Ai mà ngờ, gùi rỗng lại đựng ngọc thật, mới chính là điều đáng mừng.”

Nàng chợt nghĩ, bao ngày lang bạt giang hồ, gió sương dãi nắng, mặt mũi bụi đường, chưa từng có một món đồ nào như gương lược để ngó lại chính mình. Nay tuy chiếc hộp này nhỏ bé, nhưng lại vừa tay, tiện dùng. Khi tới Đông Đô Lạc Dương, nhất định phải ghé qua mua ít son phấn bỏ vào. Hộp nhỏ chỗ để có hạn, nên son môi phải chọn kỹ là sắc đỏ thẫm xuân, hay hương son xứ Ngô nhẹ nhàng đây? Dù thế nào, cũng nhất định phải có một thỏi màu thạch lựu chín mọng.

Nghĩ tới việc sẽ được chọn lựa hàng chục sắc son để cất trong hộp nhỏ này, lòng nàng rộn ràng hẳn lên. Khuôn mặt ánh lên niềm vui thơ ngây, dưới nắng sớm bừng sáng như ánh chiều ráng rực, ánh mắt long lanh như sao, da thịt hồng hào như ánh tà.

Ôm hộp lưu ly trong tay, nàng tự nhiên mỉm cười, ngẩng đầu nói với Vi Huấn: “Lễ vật này ta rất thích. Cảm ơn ngươi.”

Vi Huấn bị nụ cười ấy làm cho bối rối, ánh mắt khẽ trốn tránh, vội cúi đầu giục lừa tiến bước. Trong lòng thầm nghĩ: trân châu dạ ngọc trên đời, bất kể thật giả, quý tiện, cũng đều chỉ là vật chết. Sao sánh được với người sống đang tỏa rạng trước mắt hắn đây chỉ có người như nàng, mới xứng đôi với hai chữ “Bảo Châu”.

Nếu sau này lại có vụ án nào oan sai đổ lên đầu Thanh Sam Khách, hắn đều có thể thản nhiên nhận lấy. Duy chỉ có tội “trộm châu” này, là cam tâm tình nguyện nhất.

<b>《Bạch Xà Cơ》– Hết.</b>
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 61


Gió lạnh hiu hắt, sương đêm ngấm buốt tận xương. Trong viện, lá úa cành khô rơi rụng dầy từng lớp, chẳng ai buồn quét dọn.

Trần Sư Cổ khoác tấm áo bào màu tro đã vá chằng chịt, đứng bên chậu than, tay cầm sách đọc.

Hắn thờ ơ lật thêm một trang. Đó là sách tuyển thơ văn của tân khoa tiến sĩ năm nay, tập hợp những bài thi đỗ bảng, Long Hổ bảng vừa mới ban xuống, người Trường An vì ham chuyện tốt mà góp tiền sao chép in truyền nhau xem. Hơn hai mươi người được nêu tên, đều là tuấn kiệt đứng đầu thiên hạ, tương lai rồi sẽ cúc cung tận tụy vì triều đình từ thịnh đến suy, cho đến lúc nhắm mắt.

Đại Đường sắp tổ chức yến hội Khúc Giang long trọng nhất để mừng những tân khoa này. Ắt hẳn giờ đây bọn họ đang vì tương lai huy hoàng mà phấn khích suốt đêm không ngủ. Thơ văn của họ cũng vì thế đầy tràn khí phách và hy vọng.

Trần Sư Cổ cười lạnh, vẻ mặt khoái trá khi thấy người khác gặp họa. Đột nhiên hắn ôm ngực ho khan từng cơn, rồi ném thẳng cuốn sách vào chậu than đỏ rực.

Ánh trăng lạnh lẽo rọi xuống sân vắng. Một bóng người mảnh khảnh lặng lẽ bước vào.

Không một tiếng động.

Dù thính lực hắn tinh tường đến đâu cũng không nghe thấy dù chỉ một tiếng khẽ.

Thiếu niên mặc áo xanh, đứng im dưới hành lang, không bước qua ngưỡng cửa.

“Ta phải đi.” Hắn khẽ nói.

Hắn hiếm khi gọi một tiếng sư phụ, Trần Sư Cổ cũng chưa từng gọi tên hắn. Kẻ già người trẻ, gọi nhau bằng một chữ “Vi” hờ hững. Ngay từ lúc bỏ mười văn tiền mua đứa nhỏ ấy từ một bọn dân đói, Trần Sư Cổ đã chẳng buồn hỏi tên họ, cha mẹ là ai.

Đạo lý thiên địa, đạo hiếu trung, chữ nghĩa lễ nhượng… hắn xưa nay đều vứt bỏ như đôi giày rách.

Trần Sư Cổ cười khẩy: “Không muốn học nữa sao?”

Thiếu niên đáp: “Cái gì có thể học được bằng tay ta đều đã học. Còn thứ ta muốn học, người lại chẳng chịu dạy.”

Trần Sư Cổ nhàn nhạt nói: “Không phải ta không chịu dạy, mà là thứ trong sách có độc. Học rồi chỉ chuốc lấy khổ đau, phiền lụy, chẳng đem lại được chút lợi gì cho mình.”

Lời ấy chẳng làm thiếu niên lung lay, hắn cứng đầu đáp lại: “Thế nhưng ngày nào người cũng uống độc dược.”

Trần Sư Cổ chỉ tay về phía chiếc giường một cỗ quan tài cũ nát rồi nói: “Bởi vậy ta mới thành ra thân tàn thế này.”

Hắn dạy hắn võ nghệ, dạy cả cách nhận huyệt nhưng tuyệt không để hắn học chữ. Vậy mà đứa nhỏ ấy lại bướng bỉnh khó dạy, không chịu an phận, đêm đêm lẻn lên mái nhà, lén nghe đọc sách.

Khi bị phạt, hắn còn lý sự: “Ta không có nhận lễ nhập môn, chỉ đứng nghe trên nóc nhà. Nếu gọi là trộm, thì chẳng tính là trái lệnh.”

Đó là chuyện năm năm về trước. Khi ấy, hắn còn đánh được đứa nhỏ. Ba năm sau, hắn đánh được hai ba chiêu, thì thằng bé đã thoát mất tăm.

“Chỉ có thể học lén.”

Kể từ khi thu nhận hắn làm đồ đệ, Trần Sư Cổ chưa từng cho ăn no, cũng không cho mặc ấm, buộc hắn phải tự trộm mà sống. Trộm được thì có ăn, không trộm được thì đói lạnh. Bị bắt bị đánh, đó là vì tay nghề còn non, không có gì để than trách.

Hắn đối xử với đồ đệ thực không ra gì, nên thiếu niên ra đi cũng là chuyện hợp lẽ.

Không hề có báo hiệu gì, Trần Sư Cổ bất chợt tung mình, rút kiếm đâm thẳng về phía cửa, chiêu thức như rồng ra khỏi ổ, kiếm theo nội lực dội vang rền rĩ.

Thiếu niên áo xanh nghiêng người lướt về sau, thân pháp nhẹ tênh, lui về giữa sân. Trần Sư Cổ tiếp tục lao đến, thiếu niên không quay lưng, vẫn thẳng lưng mà lui, thân pháp mờ ảo như quỷ ảnh, bước đi như khói bay.

Trần Sư Cổ đổi chiêu trong chớp mắt, chỉ trong khoảnh khắc đã xuất hơn ngàn thế kiếm, mũi kiếm luôn chực chạm ngực thiếu niên trong gang tấc, nhưng rốt cuộc chẳng thể đâm tới.

Một bóng xám, một bóng lam quấn nhau lượn vòng giữa sân, nhanh đến mức không sao nhìn kịp, kiếm khí b*n r* bốn phía, lá rụng tung bay lên như có cơn gió lốc, xoáy quanh hai bóng người như tấm lưới vô hình.

Giao đấu hồi lâu, dẫu chưa phân thắng bại, nhưng một kẻ công, một kẻ thủ, cao thấp trong lòng đã rõ.

Đột nhiên, thiếu niên tung mình, nhẹ như làn khói, phất lên ngọn cây sao, lặng lẽ bất động.

Trần Sư Cổ đứng giữa sân, kiếm trong tay vẫn chưa chạm được thiếu niên. Không phải không muốn, mà là không thể. Hắn đã già, khí lực cạn kiệt, dù có dốc toàn lực, cũng không thắng nổi đứa nhỏ ấy.

Lá rụng theo gió cuốn bay, rồi lần lượt rơi xuống. Thiếu niên đứng nơi ngọn cây, lay nhẹ trong gió thu, nhẹ tựa không khí. Dưới ánh trăng, khuôn mặt gầy gò trắng trẻo của hắn ẩn sau bóng lá, không rõ ràng, chỉ thấy đôi mắt đen như mực lấp lánh ánh sáng như thể giấu cả trời đêm vào trong đáy mắt.

Tiểu quỷ ấy rốt cuộc mười bốn hay mười lăm tuổi? Trần Sư Cổ năm đó chẳng hỏi, giờ cũng không rõ. Chỉ nhớ thuở ấy hắn còn nhỏ như con mèo con, chỉ bằng nắm tay, vậy mà cào, mà cắn, bản tính hoang dã không ai trị nổi. Hắn đối với đôi cha mẹ áo vá quần manh của mình cũng chỉ miễn cưỡng nhường lại một văn tiền để mua tạm chút đường mạch nha, vừa đủ dỗ ngọt đứa nhỏ lẫn kẻ mua người.

Hắn bướng bỉnh, cứng đầu đến lạ, lại mang theo vẻ ngạo nghễ bẩm sinh, giống y như chính Trần Sư Cổ năm xưa. Chỉ khác là, năm đó ông đã không còn trẻ, tóc đã điểm sương, mà đứa nhỏ kia nay đang độ mười lăm, tuổi xuân vừa bén rễ.

Chút ngạo khí kia, liệu có thể giữ được bao lâu giữa cõi đời tối tăm loạn lạc? Lúc chưa có ràng buộc, chẳng sợ hãi điều chi; nhưng một khi vướng bận lòng người, chưa chắc còn được tự tại như xưa.

Đến một ngày, hắn sẽ va vào hiện thực, trở về với đầy thân thương tích, ôm theo nỗi uất giận và hận thù trong lòng. Khi ấy, võ nghệ hắn mới có thể thật sự đạt đến chín bậc đỉnh cao, mới là lúc lửa luyện thép, vàng thử lửa.

Trần Sư Cổ bất giác đưa mắt nhìn vào căn phòng vắng, nơi đặt chiếc quan tài gỗ mục

“Quân mai tuyền hạ nê tiêu cốt, ngã ký nhân gian tuyết mãn đầu.”
Bên khe núi, xác quân vùi dưới đất bùn, còn ta, đầu đã nhuốm trắng tuyết nhân gian.

Người ấy, đến giờ cũng đã nằm dưới đất lạnh ngót bốn mươi năm. Trần Sư Cổ bỗng thấy mình thật sự đã già. Khi con người thường hay nhớ lại chuyện cũ, ấy là vì phía trước chẳng còn gì để đợi mong.

Cả một đời, ông ôm thù hận không nơi phát tiết, sống trong tuyệt vọng đến phát điên, cuối cùng cũng chỉ là một nắm tro tàn, vùi giữa muôn ngàn nấm mộ hoang lạnh.

“Kinh tài tuyệt diễm, bác học hơn người, văn thao võ lược, trác tuyệt một đời. Thế nhưng điều hằng mong mỏi, chung quy không cách nào thành.”

Đó là lời tiên đoán mà sư phụ ông Xích Túc đạo nhân từng để lại. Ông sinh ra từ bóng tối, từng một lần thấy được chút ánh sáng hư vô, rồi lại phải quay về chốn hắc ám lạnh lùng như định mệnh sắp đặt.

Một tiếng “keng” khô khốc vang lên. Trần Sư Cổ ném thanh trường kiếm xuống đất, vạt áo phất một cái, xoay lưng bỏ đi. Chỉ để lại một câu khẽ khàng, không biết là buông tay, là ân chuẩn, hay là từ biệt:

“Ngươi, xuất sư rồi.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 62: [Quyển 3 : La Sát Biến]


Vượt khỏi Đồng Quan hiểm trở, một hàng bốn người do Bảo Châu dẫn đầu chính thức rời Quan Trung, tiến vào Trung Nguyên.

Lúc vượt qua cửa ải, dọc đường toàn là vực sâu, núi liền núi, mây phủ mấy ngày không tan. Vi Huấn nhớ lại năm xưa loạn Thiên Bảo, đại tướng Ca Thư Hàn giữ cửa Đồng Quan, bị triều đình nghi kỵ, buộc xuất binh tử chiến, thảm bại tại nơi đây. Hơn hai mươi vạn binh lính ngã xuống, thây chất đầy khe sâu cốc thẳm. Phản quân ồ ạt tràn vào Quan Trung, vạn dân tan cửa nát nhà, xác người đầy bãi, Huyền Tông thất thủ, phải lẩn trốn về Tây Xuyên. Từ đó, Đường triều từ chốn cực thịnh dần rơi vào suy vi.

Qua khỏi Đồng Quan, tới huyện Linh Bảo, địa thế dần dần phẳng lặng, lòng người cũng như được thả lỏng đôi phần. Hai bên đường cây đào bạt ngàn trải rộng, lúc này vừa đúng mùa thu kết trái, quả đỏ chen lá biếc, trắng hồng xen nhau, trĩu trịt khắp cành, trông vừa đẹp mắt vừa mát lòng.

Thập Tam Lang kinh ngạc thốt lên:
“Sao nơi này trồng nhiều đào đến thế?”

Dương Hành Giản lúc ấy ngồi xếp bằng trên xe bò, thong thả gõ gậy trúc, vừa quạt vừa kể:
“Linh Bảo huyện vốn xưa gọi là Đào Lâm, từ thời Thương đã đầy cây đào. Vào niên hiệu Khai Nguyên, Trần Vương phủ có người tên Điền Cùng Tú nằm mộng thấy Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế ở lầu Đan Phượng bảo rằng: ‘Nơi kinh thành có một đạo linh phù, ai tìm được thì có thể đoạt lấy thiên hạ.’”

Thập Tam Lang ngơ ngác hỏi:
“Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế là ai?”

Dương lão không vội, thong thả đáp:
“Ấy là thủy tổ họ Lý, tức Lão Tử cưỡi trâu từ Đông mà đến, vượt Hàm Cốc Quan. Nơi ông lưu lại chính là Đào Lâm này. Quan lệnh Doãn Hỉ khi ấy cầu ông viết kinh thư, từ đó mà có ‘Đạo Đức Kinh’ truyền thế.”

Lão nói tiếp:
“Sau giấc mộng, Huyền Tông liền sai người đến đây khai quật, tìm được linh phù dưới nền nhà cũ của Doãn Hỉ, trên có hàng chữ: ‘Hàm Cốc bảo phù, ứng hợp niên hiệu; trời sinh vốn vô danh, xin thêm hai chữ Thiên Bảo.’ Huyền Tông tức thì đổi niên hiệu từ Khai Nguyên thành Thiên Bảo, đổi Đào Lâm thành Linh Bảo, thành ra cái tên ấy lưu truyền đến nay.”

Dù có vài chỗ nghe chưa tỏ, nhưng chuyện cổ lại rất lý thú, Thập Tam Lang tấm tắc gật đầu, chẳng khác nào được nghe chuyện lạ đầu xuân.

Vi Huấn cưỡi ngựa đi bên liền xen vào:
“Hắn đã làm vua rồi, còn muốn tìm linh phù để ‘đoạt thiên hạ’ làm gì? Chẳng lẽ là tự mình phản chính mình?”

Dương Hành Giản nghe vậy, sắc mặt sa sầm, thầm nghĩ người trẻ tuổi này thật là trái nết, nói gì cũng phải cãi.

Lão hừ một tiếng, chậm rãi đáp:
“Chuyện liên quan đến vận nước, dù có là hư ảo, cũng phải nắm chặt trong tay. Để kẻ khác lấy được thì chẳng hóa thành họa loạn thiên hạ sao?”

Vi Huấn nghe xong, nhếch môi cười khẩy:
“Huyền Tông có linh phù trong tay, cuối cùng vẫn bị An Lộc Sơn đuổi chạy vào tận Tứ Xuyên, ngay cả ngai vàng cũng chẳng giữ nổi. Vậy thì phù kia là giữ nước hay chính là mầm họa?”

Thấy hai người lại tranh cãi, Bảo Châu đau đầu, nhấc roi ngựa chọc nhẹ vai Vi Huấn, dỗi dằn nói:
“Ta khát rồi, ngươi đi hái mấy trái đào về.”

Vi Huấn lập tức bỏ chuyện hơn thua sang một bên, trao cương cho nàng, bước xuống đường tìm trái.

Dọc lối, cây đào đã bị người qua kẻ lại hái trụi, chỉ còn vài quả chín mọng ở ngọn cao. Nhưng chốn ấy nào làm khó được Vi Huấn, hắn nhún chân một cái, thân hình nhẹ như lá, trèo lên, chọn được quả vừa ý, xoa khăn sạch sẽ rồi mang về.

Biết Bảo Châu không thích gặm nguyên trái, Vi Huấn rút dao găm đeo bên hông, định cắt ra từng miếng thì nàng lập tức hoảng hốt kêu lên:
“Khoan đã!”

Vi Huấn ngẩn ra:
“Không phải ngươi nói muốn ăn đào sao?”

Bảo Châu sắc mặt tái đi, giọng run run:
“Là… là lưỡi dao này… ngươi đã dùng nó cắt đầu Bảo Lãng đúng không?”

Vi Huấn thở dài, khẽ nói:
“Ta đã rửa sạch bằng rượu rồi.”

Bảo Châu lập tức cau mày, gắt gỏng:
“Không được! Đao giết người sao có thể dùng để cắt quả? Trước kia ngươi dùng để chặt cá, ta còn nhắm mắt cho qua. Từ giờ trở đi, nhất định phải mua riêng dao ăn. Nếu không, ngươi có đem lên trời, ta cũng không đụng vào thứ ngươi cắt!”

Vi Huấn đành buông đao, tay không xé đào đưa nàng, lẩm bẩm:
“Trên đời còn thứ gì tốt bằng thanh đao này đâu…”

Mọi người cùng ăn đào lót dạ. Bảo Châu tay dính nước trái, thấy phía xa rừng đào có một con suối nhỏ lượn quanh, liền bảo cả nhóm dừng lại nghỉ chân, tiện rửa tay.

Nàng dắt Thập Tam Lang xuống khe trước, nước suối trong như ngọc, lượn quanh như dải lụa của nàng con gái, in bóng cây đào, non nước hữu tình. Thập Tam Lang đã cởi vớ, xắn áo buộc ngang lưng, thả chân xuống nước mát lạnh, mặt đầy vẻ khoái trá như trẻ thơ gặp hội hè.

Lúc này, tuy đã sang thu, nhưng hơi nóng mùa hạ vẫn chưa tan hẳn. Nước suối lạnh thấm vào da thịt như xuyên tận ruột gan. Bảo Châu rửa sạch đôi tay, lòng dấy lên chút nghịch ngợm, bèn cởi giày, tháo vớ, chân trần dẫm lên đá, lội xuống nước cùng chú tiểu đùa nghịch, vốc nước vờn cá.

Cách đó không xa, Vi Huấn buộc dây cương lên một cành đào, dỡ hết hành lý khỏi lưng lừa để nó được nghỉ ngơi một chốc. Hắn còn cẩn thận cho nó nhai hai bó đậu, thu xếp xong xuôi mọi thứ mới rửa tay sạch sẽ, định sang tìm Bảo Châu và Thập Tam Lang .

Dương Hành Giản vẫn ngồi trên xe bò, chưa hề rời chỗ. Nhìn Vi Huấn tay chân lanh lẹ, lão bất giác gật đầu, nhưng khi thấy hắn toan bước về phía con suối, liền vội vã gọi với theo:

“Khoan đã! Ngươi không được qua bên đó!”

Vi Huấn sửng sốt quay đầu:
“Vì sao?”

Dương Hành Giản trừng mắt mắng:
“Công chúa đã cởi giày vớ xuống nước, nam nhân chẳng thể tùy tiện đến gần. Phải giữ gìn lễ nghi, tránh điều tiếng thị phi!”

Vi Huấn nhíu mày:
“Sư đệ ta cũng đang ở đó, ngươi không thấy sao?”

Lão Dương nghẹn họng, thầm nghĩ: “Giải thích với giang hồ nhân như hắn thật là uổng công phí lời,” nhưng vì nể mặt công chúa, đành hạ giọng giảng giải:

“Thập Tam Lang là người xuất gia, lại còn là đồng tử, nên không phạm vào lễ tiết.”

Vi Huấn cau mày suy nghĩ, rồi lơ đãng đáp lại:
“Ta cũng là đồng tử.”

Dứt lời, chẳng để ý đến ai, hắn phóng người lao vút đi như gió, chạy thẳng tới mép suối.

Dương Hành Giản giật mình, hai mắt trợn tròn như chuông đồng, lắp bắp kêu to:
“Chuyện đó… chuyện đó đâu giống nhau?! Mau quay lại!!”
Nhưng hắn gọi trời chẳng thấu, người kia nào chịu ngoái đầu.

Lúc ấy, Bảo Châu đang nô đùa vui vẻ, chợt liếc thấy một con rắn dài hơn ba thước từ bụi cỏ bò vào suối, lắc lư tiến gần, liền thất sắc, kêu lên thảng thốt:

“Thập Tam Lang ! Mau lấy cung tên cho ta!!”

Chưa dứt lời, Vi Huấn đã khom lưng, vươn tay bắt lấy đầu rắn, nhẹ nhàng nhấc lên. Hắn không vội giết, để mặc con xà cuốn lấy cánh tay như chiếc vòng sống.

Bảo Châu thở phào nhẹ nhõm, định nói lời gì, chợt thấy Vi Huấn mỉm cười, hàm răng trắng nổi bật, mắt ánh lên tia tinh quái. Hắn siết đầu rắn, từng bước từng bước đi về phía nàng.

Bảo Châu thấy vậy trong lòng nổi lên một tiếng “lộp bộp”, mặt biến sắc, thầm biết kẻ này lại muốn đùa ác. Nàng nào chịu khuất phục, vội xách váy bỏ chạy về phía hành lý, miệng thầm thề rằng hôm nay phải bắn hắn thủng vài lỗ mới hả giận.

Thế nhưng, dù chân có nhanh nhẹn mấy, sao đuổi kịp bậc khinh công đệ nhất thiên hạ? Vi Huấn tung người một cái đã đoạt lấy cung tên, tay trái cầm rắn, tay phải giữ cung, mỉm cười tà tà:

“Lần sau nhớ kỹ, vũ khí không nên rời người. Lúc cần thì chẳng kịp xoay tay.”

Bảo Châu đứng nghiến răng bên bờ, tức đến run tay. Nàng nhìn quanh, bỗng nhảy lên bẻ lấy một cành đào thẳng dài, lột lá, hai tay cầm chắc như đao, khí thế bừng bừng, như thể quyết liều một trận sống mái.

Vi Huấn cười lớn:
“Ứng biến hay! Khí thế tốt!”

Thập Tam Lang cũng vừa chạy tới, chẳng nói chẳng rằng, đứng sau lưng công chúa ra chiều trợ trận. Sắc mặt tái xanh như tàu lá, hắn ra sức vẫy tay với đại sư huynh, ánh mắt đầy cầu khẩn: “Đầu hàng đi, kẻo muộn!”

Nhưng Bảo Châu đã vung cành đào xông tới. Nàng múa loạn như phong ba, chém tới tấp, ba người rượt đuổi, quần thảo từ bờ xuống suối, rồi lại từ suối đánh lên bờ, một phen nước văng tung tóe, như thể thủy triều dâng.

Dương Hành Giản ngồi trên xe, trố mắt như hóa đá. Lão đâu thể ngờ ba người kia lại có kiểu chơi đùa “độc nhất vô nhị” đến vậy. Muốn can ngăn mà không chen nổi vào, cuối cùng đành liều mình chạy tới, tay dang rộng, miệng la hét:

“Đừng đánh nữa! Ướt cả người sẽ nhiễm lạnh! Công chúa ơi! Xin nghe lão một lời!”

Cuộc chiến chỉ tạm ngừng khi cả ba người mệt rã rời, cơm trưa tiêu sạch, khí lực cạn khô. Ai nấy ướt như chuột lột, từ đầu đến chân chẳng còn mảnh nào khô ráo. Sư huynh đệ Vi Huấn thì chẳng lấy đó làm phiền, chỉ vắt khô áo quần, xỏ chân trần tiếp tục lên đường.

Bảo Châu lại khổ hơn. Váy áo ướt sũng dính chặt vào người, chẳng khác gì bị dán keo, ngồi trên lưng lừa mà uể oải thở than, lòng đầy hối hận vì một phút bốc đồng dám đấu lại kẻ chuyên giở trò trêu chọc.

Dương Hành Giản thì nổi trận lôi đình, miệng không ngớt mắng:
“Hai đứa các ngươi sao dám để công chúa ướt mèm thế này? Nếu bị gió độc thổi trúng sinh bệnh thì biết lấy gì chữa? Trên đường lữ thứ thiếu thuốc thiếu y, chẳng may nguy đến tính mạng thì ai gánh nổi?!”

Vi Huấn vẫn tỉnh rụi, đáp gọn lỏn:
“Chỉ là nước thôi mà, chút nắng là khô.”

Lời vừa dứt, Bảo Châu liền ôm tay hắt hơi một cái vang rền.

Dương Hành Giản hồn vía bay tứ tán, nhìn nàng như nhìn cảnh tượng Dương Phương Hiết ốm liệt giường năm xưa, run rẩy lo sợ, vội vã chạy vòng quanh lừa, miệng lắp bắp:

“Công chúa cảm thấy sao rồi? Có thấy mệt mỏi, lạnh tay lạnh chân không?!”

Bảo Châu lắc đầu, nhưng chưa kịp mở miệng thì lại hắt hơi thêm hai cái nữa.

Dương Hành Giản sợ xanh mặt, vội ép nàng xuống khỏi lưng lừa, đỡ vào xe bò, cởi áo ướt, đắp chăn gấm, đậy màn che cẩn thận, quyết không để lạnh thấu thêm chút nào.

Lúc này, Vi Huấn mới thấy trong lòng thấp thỏm. Hắn chẳng ngờ người ta lại yếu đến vậy, cứ ngẩn ngơ nhìn nàng chui vào xe, miệng thì thào như tự trách:

“Chỉ là nước thôi mà…”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 63


Đến giờ hoàng hôn, mọi việc thay đổi ngoài dự liệu mọi người.

Bảo Châu vốn khỏe mạnh chỉ cần thay y phục rồi chợp mắt một lát trong xe bò liền tỉnh táo như thường; ba người tham gia chơi nước hôm ấy, ai nấy đều không việc gì. Chỉ riêng Dương Hành Giả lại bắt đầu lạnh từng cơn, toàn thân run rẩy, đầu óc mụ mị, chẳng còn vững vàng.

Cực nhọc lắm mới tới được huyện thành Linh Bảo, bệnh sốt của lão đã bùng phát. Cả nhóm vừa mới dừng lại ở khách đ**m, còn đang định thuê phòng, thì lão đã từ trên xe bò ngã nhào xuống đất, mê man, hơi thở thoi thóp, bò mãi không đứng dậy nổi.

Vi Huấn chẳng còn cách nào khác, đành vòng tay bế ngang thân thể gầy yếu ấy, lạnh mặt đưa vào phòng, đặt nằm ngay ngắn trên giường.

Dương Hành Giản thiêu đến mức mắt mờ tai ù, tưởng như đại nạn trước mặt. Thấy Bảo Châu nước mắt lã chã, lão liền rưng rưng cáo lỗi:
“Lão thần vốn tự xưng là phụ thân của công chúa, vậy mà dám buông lời vô lễ, vượt giới hạn, lỗi đã đến cùng cực, chỉ còn biết lấy cái chết mà chuộc. Chỉ là… chưa kịp hoàn thành di ngôn của Thiều Vương, đoạn đường ngàn dặm về U Châu, công chúa chỉ còn một thân đơn độc, thần chết cũng chẳng yên lòng…”

Bảo Châu thấy lão giữa cơn bệnh mà lòng vẫn nhớ tới bổn phận, bèn ngồi bên giường, nắm lấy tay lão dịu dàng an ủi:
“Chủ bộ, hà tất nói những lời ấy? Chỉ là cảm phong hàn bình thường, uống thuốc nghỉ ngơi đôi ba hôm là khỏe lại. Lão chớ nên nghĩ ngợi nhiều.”

Dương Hành Giản nghẹn ngào nức nở:
“Công chúa không cần dỗ dành lão thần. Lòng thần đã hiểu rõ, phúc thọ đã mòn, vô phương vãn hồi. Nay chỉ cầu được lưu lại một bài tuyệt mệnh thi, mong công chúa chép lại giúp, chuyển về cho gia quyến của thần…”

Thi hứng nổi lên, lão bắt đầu ngâm vần thơ đứt quãng:
“Dặm dài về U Châu ngàn trùng thẳm, vinh nhục chẳng mong, phó mặc người cân…”

Bảo Châu vội ngắt lời, nhẹ nhàng đáp:
“Chữ ‘cân’ còn nên cân nhắc, về sau sửa lại cho tốt hơn. Đường dài vẫn còn ở phía trước, chủ bộ chớ nóng vội, từ từ gọt giũa, rồi sẽ có thêm linh cảm hay ho hơn nữa.”
Nàng duỗi tay đặt lên trán lão, nóng hầm hập, biết là bệnh đã làm mê man đầu óc.

Hai huynh đệ Vi Huấn đứng ngoài cửa lặng lẽ dõi nhìn cuộc đối thoại ấy. Thập Tam Lang thấy công chúa đối với Dương Hành Giản ôn nhu săn sóc, trong lòng nảy sinh niềm ao ước khó nói, khẽ ghé tai Vi Huấn thì thào:

“Nếu không phải đại sư huynh lúc trước ra tay đả thương người, có lẽ khi huynh bị bệnh, tỷ ấy cũng sẽ nắm tay huynh, vuốt đầu huynh, nói những lời dịu dàng như vậy…”

Lời chưa dứt đã mang mùi chua chát.

Vi Huấn bị nhắc tới chuyện cũ, lòng càng tức tối, ghen tuông lại trào lên. Hắn hậm hực nghĩ, chỉ mong lúc lão Dương còn ốm thế này sẽ cạo sạch râu dê của lão, rồi dán thẳng lên tượng đất Thành Hoàng ở miếu bên đường.

Ngoảnh đầu, hắn gằn giọng nói với sư đệ:
“Hay là huynh đánh gãy vài cái xương của đệ, để đệ nằm thử một lần xem công chúa có nắm tay sờ đầu không?”

Sau khi thu xếp xong cho Dương Hành Giản, Bảo Châu lập tức sai người mời đại phu giỏi nhất huyện thành đến bắt mạch kê toa. Đại phu bắt mạch hồi lâu rồi kết luận: chỉ là cảm lạnh thường thôi. Nhưng lão Dương đi đường suốt hai tháng nay, lúc thì bị kẻ ác hành hạ, khi thì cùng nhóm đi trộm ngọc trong lo sợ, lại dốc hết sức lực, thân thể vốn đã yếu ớt, nay đổ bệnh thì phát sốt nặng hơn người thường.

Sau khi có phương thuốc, Bảo Châu sai chủ quán đi bốc thuốc sắc sẵn. Nàng còn thuê một ông lão hiền lành chăm việc cơm nước hằng ngày cho lão Dương, lo toan mọi sự đâu ra đấy.

Huynh đệ Vi Huấn trong lòng đều thầm nghĩ: công chúa như vậy, từ nhỏ sống giữa cung vàng điện ngọc, ngỡ đâu phải kiểu ngang ngược kiêu căng, không ngờ lại vừa biết sai khiến người, vừa biết chăm sóc người. Tâm tính kín đáo, cư xử khéo léo, thật khác hẳn với những gì thường nghe đồn.

Hôm sau, mưa thu rả rích rơi, tuy không lớn nhưng cũng đủ làm đường sá lầy lội nhão nhoẹt. Dương Hành Giản cần tĩnh dưỡng vài ngày, cả nhóm đành ở lại khách đ**m tạm nghỉ, chờ bệnh lui rồi mới tính đường đi tiếp.

Bảo Châu rảnh rỗi chẳng có gì làm, liền gọi Thập Tam Lang vào phòng nhờ giúp chải đầu. Chú tiểu nghe vậy thì hoảng hốt, ra sức từ chối:
“Tiểu tăng tuy còn nhỏ, nhưng cũng là nam nhi, lại là người xuất gia, không tiện đụng vào da tóc của Cửu Nương.”

Bảo Châu hừ khẽ, giọng khinh khỉnh:
“Đệ chưa qua lễ đội mũ, lấy gì gọi là nam nhi? Lại chẳng đủ giới, cũng không ra dáng hòa thượng, đợi đến khi ngươi cao lớn bằng tỷ hãy bàn đến chuyện kiêng kỵ nam nữ!”

Thập Tam Lang đành phải buông tay đầu hàng, xắn tay áo lau khô tay, miễn cưỡng đứng sau giúp nàng búi tóc.

Tay chạm vào mái tóc dài đen nhánh như lụa, tiểu sa di không khỏi trầm trồ:
“Tóc Cửu Nương thật tốt quá, nặng đến mức tay mỏi rã. Nếu cắt đem bán, cũng đổi được mười mấy quan tiền rồi!”

Bảo Châu nghe vậy, giật mình:
“Sao? Các ngươi còn có thể đem tóc người đem bán?”

Thập Tam Lang cười khẽ:
“Không chỉ bán tóc, răng cũng bán được. Da đẹp, da xăm cũng bán. Có kẻ còn đồn rằng đầu người mới chặt, máu nóng tươi đỏ dùng để chưng bánh ăn, trị được ho khan. Những đao phủ đói khát ngoài pháp trường thường nhờ vào chén cơm ấy mà sống.”

Bảo Châu nghe đến đây, rùng mình, tay vuốt lên cổ thon dài, thầm nghĩ: “Dù có rơi vào cảnh túng quẫn thế nào, đời này ta cũng quyết không bán đi mái tóc quý giá từ nhỏ nâng niu tới giờ.”

Có chú tiểu giúp, nàng cũng chải lên được búi tóc đơn giản, chỉ là cả hai vốn không quen tay nghề nên búi tóc lệch bên, chẳng có chút dáng vẻ thanh nhã, vừa nhìn đã thấy vụng về.

Thập Tam Lang an ủi:
“Đệ nghe có kiểu gọi là búi tóc ‘ngã ngựa’, có khi là cố tình sơ cho nghiêng để tạo hình khác biệt.”

Bảo Châu cau mày nói:
“Tỷ luyện cưỡi ngựa bắn cung bao năm, chưa từng ngã ngựa, há đâu lại chịu mang búi tóc ngã ngựa? Quá xui xẻo.”

Thập Tam Lang khuyên thế nào nàng cũng không hài lòng. Cuối cùng đành thở dài:
“Nếu không phải vì kiêng kỵ, thật ra nên nhờ đại sư huynh giúp tỷ búi tóc. Trong sư môn, chẳng ai tay nhanh mắt lẹ bằng huynh ấy. Dù việc chưa từng làm, chỉ cần liếc qua một lần là học được, làm còn khéo hơn cả người dạy.”

Bảo Châu giận dữ ngắt lời:
“Chuyện đó không thể nào! Tỷ chưa từng nghe có nam nhân búi tóc cả!”

Thập Tam Lang thấy nàng không tin, cũng chẳng buồn nói nữa.

Bảo Châu vẫn ôm gương soi, càng nhìn càng không hài lòng. Nàng bực tức nghĩ: “Chắc là mặt gương dơ quá nên soi không rõ.” Nghĩ rồi, nàng lập tức rời phòng, đi về phía huynh đệ Vi Huấn, định nhờ họ đem gương đi tìm thợ mài lại cho sạch sẽ.

Vi Huấn ngoài miệng thì vui vẻ nhận lời, nhưng lại không đứng dậy tới ngay. Bảo Châu thấy hắn đang cầm kim chỉ, cúi đầu chăm chú vá đường chỉ rách, lấy làm lạ bèn bước lại gần. Vừa nhìn xuống, nàng giật mình kinh hãi, vì thứ hắn đang vá chính là chiếc áo có hoa văn quen thuộc: nền lụa trắng ngà, cổ áo thêu hoa tròn óng ánh kim là bộ đồ nàng từng mặc khi vượt tường trốn ra khỏi Hạ Khuê huyện đó sao?

Nàng kinh hãi hai lần. Một là, chiếc áo mình từng mặc sát thân lại đang nằm trong tay hắn bị lật qua lật lại, thật là xấu hổ. Hai là, hắn khâu vô cùng điêu luyện, mũi kim đều đặn, đường chỉ mịn màng, tay nghề còn khéo léo hơn cả nàng người từ nhỏ đã học nữ công gia chánh khiến nàng vừa thẹn vừa khó chịu.

Tuy thân là công chúa cao quý nhất thiên hạ, từ nhỏ nàng vẫn bị ép học nữ công, nhưng bản tính hoạt bát, không chịu ngồi yên, thà cưỡi ngựa bắn cung ngoài sân hơn là ngồi may vá. Bởi thế, kim chỉ học mãi vẫn vụng, hễ có việc cần đến thì liền giao hết cho nữ quan thân cận làm giúp, trong lòng chẳng khỏi thấy hổ thẹn. Nay thấy Vi Huấn khéo tay vá áo, nàng lại càng thêm chua chát bực bội.

Bảo Châu giận dỗi buông lời:
“Cho dù ngươi có vá xong, ta cũng sẽ không mặc lại cái áo đó đâu.”

Vi Huấn mặt chẳng biểu lộ cảm xúc, vẫn cúi đầu may, thong thả nói:
“Phải phải phải, dĩ nhiên không thể để công chúa chịu thiệt. Chiếc áo này vá lại để Thập Tam Lang mặc chống lạnh mùa đông thôi.”

Bảo Châu nghe xong, mắt mở to kinh ngạc, tưởng mình nghe nhầm:
“Cái gì?! Ngươi… ngươi dám đem áo ta từng mặc đưa cho một tiểu hòa thượng?!”

Vi Huấn ngẩng đầu, giọng điềm đạm:
“Không cho hắn mặc, thì cũng chỉ đem bán cho hàng áo cũ. Đến khi rơi vào tay ai, bị người lạ khoác lên người, e là cả đời ngươi cũng không biết nữa đâu.”

Lời nói tuy bình thản, nhưng lại mang hàm ý khiến người rùng mình. Bảo Châu nghẹn họng, chẳng biết nói gì phản bác, chỉ thấy hắn đã khâu xong, tay thoăn thoắt thắt nút chỉ, khéo léo dứt sợi chỉ thừa.

Vừa xấu hổ lại vừa nghi ngại, Bảo Châu cúi đầu nghĩ thầm: sư phụ bọn họ tính tình cổ quái, e là trong môn phái chẳng có ai chăm sóc, phải tự lực cánh sinh, nên từ nhỏ đã học cả may vá cũng chẳng có gì lạ.

Nàng buông gương đồng trong tay, xoay người định rời đi, vừa khéo chạm mặt chủ quán đang định đưa tay gõ cửa. Chủ quán sững người, kính cẩn hỏi:
“Trong này có phải là thiếu gia họ Vi tên Huấn không ạ? Có người tìm tới.”

Nghe vậy, Vi Huấn thoáng ngạc nhiên đứng dậy. Từ đầu tới giờ hắn vẫn lấy danh nghĩa người hầu mà đi theo, chưa từng công khai xưng tên, bởi vậy lúc ở Hạ Khuê huyện cũng chỉ bị truy nã với cái tên “gã áo xanh”. Từ lúc vượt Đồng Quan tới Linh Bảo, hắn càng kín đáo, không để lại dấu vết nào, ngay cả vách đá cũng chẳng còn bài thơ nào lưu bút. Nay có người chỉ đích danh tìm hắn, chẳng lẽ là kẻ thù tìm tới?

Hắn trầm giọng bảo Bảo Châu:
“Ngươi về phòng trước đi…”

Lời chưa dứt, nàng đã “thịch thịch thịch” chạy một mạch về phòng, buộc dây cung lên lưng, vẻ mặt hừng hực khí thế trở lại, theo sau là Thập Tam Lang ôm túi tên, vẻ mặt ngơ ngác.

Nhìn thần sắc nàng đầy vẻ sẵn sàng xung trận, Vi Huấn không nhịn được bật cười, chắp tay nói:
“Vậy hôm nay xin mời Cửu Nương ra trận, bảo vệ Vi mỗ một phen.”

Ba người cùng đi ra tiền sảnh. Ngoài trời mưa lất phất, khách đ**m vắng người. Chỉ thấy tám kẻ mặc y phục thống nhất, xếp thành hai hàng trước cửa, tay khoanh trước ngực. Bên ngoài có cỗ kiệu hoa dừng lại, một quản gia trung niên đội dù, đón từ trong kiệu xuống một công tử trẻ tuổi mặc gấm vóc rực rỡ.

Người kia chừng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, thân hình cao dong dỏng, dung mạo đoan chính, nhưng khí thế lại ngạo mạn, ánh mắt như muốn mọc trên đỉnh đầu, rõ là hạng công tử con nhà giàu quen ăn chơi, ngông nghênh lấc cấc.

Y bước xuống kiệu, dáng đi có phần kỳ lạ, nhấc chân từng bước nặng nề, giống như chân có tật mà không chịu dùng gậy hay để ai đỡ.

Vừa thấy Vi Huấn, nét mặt hắn liền rạng rỡ, vòng tay chào lớn:
“Vi huynh! Lâu quá không gặp! Huynh… huynh hình như cao lên không ít!”

Vi Huấn trừng mắt nhìn hắn, mặt không chút biểu cảm, trong lòng thầm hối hận vì từng quen người này. Nhớ lại gã vốn là người Ngọc Thành, quê quán gần Linh Bảo, giờ gặp ở đây cũng chẳng lạ.

Hắn nhíu mày đáp:
“Bàng Lương Ký, lâu ngày không gặp, ngươi vẫn nhiều lời như xưa.”

Người tên Lương Ký bật cười ha hả, sai chủ quán dọn ra rượu ngon thức ăn quý, định cùng Vi Huấn ôn chuyện cũ.

Bảo Châu thấy Vi Huấn không có vẻ địch ý, quay sang Thập Tam Lang hỏi nhỏ:
“Đại sư huynh, người kia là ai vậy?”

Vi Huấn thấy cố nhân, trong lòng vừa bất lực vừa phiền, đáp cho có lệ:
“Lão lục… à, từng là lão lục. Hắn bị đuổi khỏi sư môn lúc ngươi còn chưa nhập môn.”

Thập Tam Lang bừng tỉnh, nhớ đến lời đồn xưa trong môn phái: từng có một vị sư huynh xuất thân nhà giàu, vì tính ngay thẳng đụng chạm với Trần Sư Cổ, bị đánh gãy hai chân, đuổi khỏi sư môn. Nay xem ra chính là công tử ăn mặc diêm dúa, bước chân khập khiễng.

Thập Tam Lang chắp tay chào:
“Thì ra là Lục sư huynh, tiểu tăng là đệ tử thứ mười ba, kính lễ sư huynh.”

Bàng Lương Ký hình như không thể đứng lâu, trò chuyện dăm câu rồi vịn bàn ngồi xuống. Quản gia liền sai người hầu mang bộ đồ rượu ra, chuẩn bị hâm rượu cho chủ.

Bàng Lương Ký cười nói:
“Đệ nghe tin, nói trong đoàn có một gã thấp lùn, đầu trọc lóc, cứ tưởng đâu là đại sư huynh… nghĩ mãi, huynh làm gì mà mấy năm vẫn chưa cao thêm chút nào.”

Vi Huấn ngửa đầu nhìn trần, hít sâu một hơi nhẫn nại, nghĩ bụng: làm sao đẩy tên này ra ngoài bùn mà không khiến hắn bị thương nặng?

Bàng Lương Ký lại hỏi:
“Tiểu hòa thượng có ngoại hiệu gì trên giang hồ chưa?”

Thập Tam Lang ngượng ngùng lắc đầu:
“Sư phụ mất khi đệ chưa kịp xuất sư.”

Bàng Lương Ký mỉm cười nhẹ giọng:
“Không có cũng tốt. Ta hồi trẻ từng có biệt hiệu ‘Tật Phong Thái Bảo’, nay bị gãy chân, không sửa tên được, ai gọi lên cũng như châm chọc kẻ tàn phế.”

Thấy Bảo Châu mang cung bên mình, tưởng nàng là người trong giang hồ, Bàng Lương Ký hỏi:
“Ngươi là tiểu cô nương bắt sống Thanh Sam Khách trong truyền thuyết đấy sao?”

Bảo Châu thấy y ăn nói xấc xược, chẳng buồn đáp lời, quay mặt làm ngơ.

Vi Huấn cũng chẳng để tâm, nói thẳng:
“Đúng vậy. Nhưng ngươi tới đây là để báo thù cho y hay làm gì khác? Có chuyện gì thì nói nhanh đi.”

Bàng Lương Ký thoáng sững người, rồi chợt nhớ Vi Huấn từ nhỏ đã là kẻ ăn nói ngông cuồng, chẳng giống kẻ giang hồ trọng sĩ diện, chuyện nói đùa cũng thành thật, chuyện thật lại như đùa.

Thật ra lần này y đến có chuyện quan trọng, không tiện chần chừ thêm, liền nghiêm mặt nói:
“Đệ sắp thành thân với người trong mộng, hôm nay đến là để mời Vi huynh tới dự hôn lễ, làm người đón khách đại diện nhà trai.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 64


Bàng Lương Ký vừa mở miệng mời, Vi Huấn đã trừng mắt nhìn, vẻ mặt như không tin nổi, nói thẳng không kiêng dè:

“Ngươi mời ta tới đám cưới, chẳng hóa xui cả hôn sự nhà người ta sao? Trong đầu ngươi toàn nước à? Nếu nhà ngươi có tang sự, ta còn có thể giúp lo hậu sự, chứ cưới hỏi kiểu này, ta đến đó làm gì?”

Bàng Lương Ký vội vã phân trần:

“Vi huynh nghe đệ nói đã. Ở vùng này, tục ‘chặn xe nghênh hôn’ rất thịnh. Nhà đệ lại quen hành sự khoa trương, chắc chắn có lắm kẻ nhân dịp này gây chuyện. Giờ đệ đã mất võ công, chẳng còn sức tự vệ. Tới lúc đó, nếu kẻ xấu kéo đến quấy phá, cản kiệu, đánh đùa chú rể, e là không chống đỡ nổi. Nhất thiết phải có người giỏi đứng cạnh đệ lo liệu tiếp khách, may ra mới có thể an lành rước dâu về.”

Vi Huấn không mấy tin, hờ hững đáp:

“Có người chặn xe thì sao? Nhà ngươi lắm tiền, thuê lấy bảy tám kẻ giữ cửa hộ giá là xong. Trừ phi ngươi thật sự muốn ta ra tay đánh chết hết lũ chặn hôn kia giữa đám đông, lấy máu mà mở đường rước dâu, thì mới là ‘cát tường’ được chăng?”

Bảo Châu vốn định quay về phòng, vừa nghe vài câu, lấy làm kinh ngạc: cưới vợ mà cứ như đánh trận, nào là “người giữ cửa hộ giá”, nào là “đánh đuổi lũ cản kiệu”?

Nàng không nhịn được cất tiếng hỏi:

“Chặn xe là gì vậy?”

Thập Tam Lang liền giải thích:

“Cửu Nương chưa từng thấy ư? Ở thôn quê, mỗi khi cưới hỏi, dân làng hay tụ nhau cản kiệu rước dâu, chắn đường, đòi tiền, bày trò trêu ghẹo chú rể. Nơi thì cướp rượu, nơi thì cản cửa, thậm chí có khi tân lang chết trong đám cưới vì bị chuốc rượu quá mức.”

Bảo Châu nghe mà rúng động:

“Cưới hỏi chẳng phải là nghi lễ long trọng, trang nghiêm hay sao? Sao lại có thể bày ra trò bạo ngược thế kia? Chẳng phải là phạm pháp trắng trợn sao?”

Vi Huấn cười ha hả:

“Thường dân bình thường mới bị vậy. Chứ đến lượt nhà ngươi thì e chẳng ai dám làm càn.”

Bàng Lương Ký nghe họ nói chuyện, vốn chẳng hiểu mấy câu bóng gió, chỉ đành tiếp tục nài nỉ:

“Tiêu sư thì có thể tin, nhưng tục lệ vùng này là vậy. Ngoài người được chọn làm tiếp khách, chẳng ai đủ tư cách thay chú rể đỡ rượu. Từ lúc rước dâu đã bắt đầu chuốc, mỗi khách một chén, không ngừng nghỉ cho tới lúc kiệu về đến nhà làm lễ thành thân. Ngoài Vi huynh có nội lực thâm hậu, dạ dày bằng sắt, người khác khó tránh khỏi say xỉn giữa đường. Đệ đã chuẩn bị loại hoa điêu ngon nhất năm xưa, huynh coi như tới giúp huynh đệ uống rượu một bữa cũng được.”

Nghe đến “hoa điêu năm xưa”, Vi Huấn lòng cũng khẽ động, có phần ngứa miệng. Nhưng nghĩ tới Bảo Châu không ai chăm nom, cuối cùng vẫn nghiêm giọng cự tuyệt:

“Không đi. Ngươi cứ thuê thêm mấy người tiếp khách, thay phiên nhau ứng chiến cũng được.”

Bàng Lương Ký thấy hắn quyết không lay chuyển, lòng trầm xuống. Đến nước này, đành phải tung chiêu cuối, thẳng người ngồi dậy, vẻ mặt nghiêm trang, giọng rành rọt:

“Sư huynh còn nhớ năm đó huynh thiếu đệ một ân tình chứ? Chỉ cần lần này huynh chịu giúp, ân oán khi xưa coi như xóa bỏ, từ đây giữa huynh đệ không ai nợ ai nữa.”

Vi Huấn sững sờ, không ngờ hắn lại đem chuyện cũ ra đổi lấy một việc nhỏ nhặt như vậy, ngạc nhiên hỏi:

“Ngươi thật sự muốn dùng món nợ ân tình ấy để nhờ ta đi chắn rượu tiếp khách trong đám cưới? Ngươi chỉ cần mở miệng, ta có thể giúp ngươi trừ bất kỳ kẻ thù nào, hoặc đoạt về thứ ngươi muốn, dù là kỳ trân dị bảo cũng không tiếc.”

Nghe câu ấy, lòng Bảo Châu cũng xao động. Không biết năm xưa Vi Huấn thiếu gì mà sẵn sàng đáp ứng mọi điều kiện chỉ để báo đáp, kể cả lên trời xuống đất cũng không từ.

Bàng Lương Ký giữ vẻ nghiêm túc, nói chậm rãi:

“Đệ chờ A Nhiễm đã nhiều năm, khó khăn lắm mới nên duyên. Giờ có thể thuận lợi rước nàng về chính là chuyện lớn nhất đời. Đôi chân đã tàn, lòng chẳng cần kỳ trân dị bảo, cũng không muốn báo thù ai, chỉ cầu sư huynh giúp một tay lần này.”

Mấy câu nói chân thành, lời lẽ cứng rắn, nói đến mức ấy rồi, Vi Huấn biết chẳng còn đường chối từ, đành gật đầu đồng ý. Hắn trịnh trọng vươn tay, cùng Bàng Lương Ký nắm chặt một cái, coi như lời hứa đã định.

Trong toàn bộ sư môn, Thanh Sam Khách chẳng những võ công cao cường, lại là người nói lời giữ lời, tín nghĩa vang xa. Bàng Lương Ký được lời hứa ấy, biết chẳng ai có thể ngăn được đám cưới của mình nữa, vui mừng đến suýt rơi lệ, đập bàn lớn tiếng:

“Rượu lên! Rượu lên! Hôm nay không say không về!”

Lão quản gia vừa rót rượu vừa thấp giọng nhắc:

“Tiểu lang, ngài kia vẫn chưa học xong bài thơ chúc rượu và câu thơ hô đáp đâu. Uống nhiều quá e không kịp chuẩn bị…”

Bàng Lương Ký vội lau nước mắt, khẽ hắng giọng ngượng nghịu:

“Vậy… vậy ta chỉ uống một chén cho vui rồi về…”

Vi Huấn am tường việc lo tang ma, nhưng với lễ cưới thì mù tịt, đã nhận lời làm người đón khách thì cũng phải học nghi thức. Bàng Lương Ký lập tức bày biện món nhắm, cùng hắn bàn bạc tỉ mỉ các lễ tiết trong ngày cưới.

Bảo Châu chẳng hề thân quen với Bàng gia, thấy không có gì nguy hiểm, bèn buông cung tiễn, quay gót lên lầu. Thập Tam Lang cũng nối gót theo sau.

Bàng Lương Ký lấy làm lạ, hỏi:

“Không cùng nhau ăn một bữa sao? Ta tuy đã bị đuổi khỏi sư môn, nhưng cũng từng ở Tàn Dương Viện dầm mưa dãi nắng. Cô gái cầm cung ấy là ai? Thần thái thật khiến người khác phải kính nể.”

Vi Huấn đáp:

“Ta cùng Thập Tam Lang nhận lời đưa nàng đi xa tìm người thân. Không thể vì việc nhỏ mà lỡ dở đại sự. Cùng lắm trì hoãn đôi ngày, giúp ngươi lo xong chuyện này rồi lại lên đường.”

Thanh Sam Khách bấy lâu lặng bóng trong Quan Trung, nay bỗng vượt Đồng Quan, tiến vào Trung Nguyên, chuyện này sớm đã gây xôn xao trong giang hồ. Nghe Vi Huấn giải thích, Bàng Lương Ký chợt tỉnh ngộ.

Trong lòng hắn vẫn canh cánh một chuyện xưa, vốn định hỏi thăm đôi câu. Nhưng thấy sắc mặt Vi Huấn xanh xao hơn trước, thần thái lạnh lẽo, lại tưởng bệnh cũ chưa lành, cuối cùng chẳng đành lòng gợi lại.

Hắn bảo quản gia lấy từ trong kiệu ra một bộ y phục tơ lụa mới, trao cho Vi Huấn:

“Đây là lễ phục người đón khách phải mặc ngày hôm đó.”

Vi Huấn nhíu mày nhận lấy, nói:

“Ngươi chuẩn bị chu đáo quá, cứ như đã chắc chắn ta sẽ đi vậy.”

Bàng Lương Ký mặt mày hớn hở, cười lớn:

“Khó khăn lắm mới khiến chồng cũ của nàng chết vì đau gan, lại đợi nàng mãn tang, đầu năm liền định ngày hôn, mỗi ngày ta đều lo liệu từng chút một, mong sao vạn sự đều trọn vẹn, phong quang rực rỡ.”

Thấy chủ nhà lại bắt đầu nói năng bừa bãi, lão quản gia mặt mày khổ sở rót rượu:

“Tiểu lang à, cưới người từng có chồng thì cũng chẳng cần làm lớn vậy đâu. Cùng lắm cho xe bò rước về rồi làm lễ là xong. Nhà ta có tiền có thế, ngài cũng đừng gặp ai cũng kể mãi cái lý do đó chứ…”

Bàng Lương Ký chau mày dựng ngược, đập mạnh bàn, lớn tiếng quát:

“Tái giá thì đã sao?! Tái giá nghĩa là chồng trước không đủ bản lĩnh, không đủ phú quý, không xứng với số mệnh của nàng! Tuy nàng từng gả qua, nhưng ta là lần đầu lấy vợ, đương nhiên phải làm lớn, danh chính ngôn thuận!”

Lão quản gia là người của Bàng gia, nhìn Bàng Lương Ký lớn lên từ bé, biết rõ tính tình cậu chủ ương ngạnh, từ nhỏ đến lớn quen làm theo ý mình. Dù đi xa học võ hay kết thân cùng những người chẳng môn đăng hộ đối, hắn cũng chưa từng chịu nghe lời ai. Năm ấy bất hạnh bị sư phụ đánh què, trở về nhà thì tinh thần sa sút, cả nhà phải nhọc công mới khuyên được hắn chịu thành thân, bởi vậy ai nấy đều chiều chuộng, không dám trái ý.

Lúc này thấy Bàng Lương Ký lại muốn nổi loạn, quản gia vội hùa theo lấy lòng, chỉ mong cậu chủ vui vẻ là được. Lại nghĩ tiểu lang từ khi trở về Ngọc Thành đến nay chưa từng qua lại với sư môn, nay đích thân tới thăm vị Thanh Y Nhân này, hẳn là lần đầu tiên.

Quản gia lặng lẽ quan sát người sư huynh năm xưa: tuổi còn trẻ, dáng gầy, ăn mặc giản dị, không giống kẻ có thân thế lớn lao, nhưng Bàng lang Ngọc Thành xưa nay mắt cao hơn đầu, thế mà nay lại khép nép cầu người giúp đỡ, cũng coi như hiếm có. Bởi vậy, lão không dám lơ là, đứng một bên chăm sóc chu đáo.

Vi Huấn hỏi:

“Ta đổi hướng đi đông là quyết định đột xuất, chẳng báo trước cho ai. Ngươi vốn định làm sao đây?”

Bàng Lương Ký cười khì khì:

“Huynh chịu đến thì quá tốt rồi. Nhưng đệ cũng có người dự phòng. Hiện giờ người ấy cũng đến Linh Bảo huyện, thêm người thêm sức, ba ta sóng vai cùng tiến.”

Vi Huấn còn định hỏi “người ấy” là ai, thì đã thấy ngoài khách đ**m, qua màn mưa phùn, một kẻ mặc áo đen, đầu đội nón lá cao bước tới. Vừa nhìn dáng đi, hắn lập tức chau mày, ánh mắt trở nên lạnh lẽo.

Hoắc Thất Lang đứng dưới hiên, tháo nón, rũ nước mưa, sải bước vào cửa, miệng tươi cười:

“Đại sư huynh khỏe chứ? Lục sư huynh cũng vậy. Đệ đến trễ, còn phần rượu nào không?”

Dáng điệu tiêu sái, vẻ mặt phong lưu, lập tức khiến cả khách đ**m lu mờ.

Vi Huấn chợt hiểu vì sao Hoắc Thất Lang lại xuất hiện ở Hạ Khuê huyện cùng lúc với họ thì ra là chung một mục đích. Hắn vốn chẳng muốn gặp lại người này, bèn đưa tay che trán, tức giận nói:

“Sớm biết người ngươi tìm là kẻ rắc rối này, ta đã không nhận lời từ đầu.”

Bàng Lương Ký cười gượng:

“Huynh xưa nay tung hoành chẳng có chốn cố định, đệ không dám chắc gọi huynh sẽ đến. Hôn sự thì cận kề, đành phải sắp đặt trước cho yên tâm.”

Hoắc Thất Lang thản nhiên ngồi xuống, sắc mặt sầm lại, nhướng cao hàng mày tuấn tú, lạnh giọng hỏi:

“Này đồ què, ai là người dự phòng hả?”

Bàng Lương Ký chẳng đáp, chỉ giơ tay ra hiệu. Quản gia hiểu ý, lập tức mang tới một thỏi vàng to đặt trước mặt nàng. Một tiếng “cạch” nặng nề, ánh vàng chói lòa, hằn trên mặt bàn một dấu lõm rõ rệt.

Hoắc Thất Lang lập tức nở nụ cười tươi rói, đến vết sẹo dữ tợn trên mặt cũng như giãn ra:

“Thật là khéo gặp! Ta vốn sẵn họ Bị, tên Danh Dùng, nay lại do công tử Ngọc Thành mời! Ngươi cưới vợ hay vợ cưới ngươi, ta cũng sẽ gói ghém ngươi lại khiêng đến tận phủ nhạc phụ!”

Bàng Lương Ký mỉm cười mãn nguyện, lại sai quản gia mang ra một bộ y phục đưa cho Hoắc Thất Lang. Nàng mở tay nải ra, thấy là áo bào cổ tròn màu đỏ rực, bên trong là lớp lụa lành, có cả khăn vấn đầu bằng tơ, toàn bộ phục trang giá trị hơn trăm quan, đủ thấy Bàng gia đầu tư hôn sự lớn đến mức nào.

Hoắc Thất Lang nhíu mày:

“Sao lại là đồ nam?”

Bàng Lương Ký cũng nhíu mày hỏi lại:

“Chứ chẳng lẽ nữ?”

Hoắc Thất Lang ngơ ngác:

“Ngươi cất công từ Quan Trung gọi ta đến, ta cứ tưởng ngươi muốn mượn người nữ tiếp giá, đứng cạnh tân nương hộ giá, tránh để người khác làm càn.”

Bàng Lương Ký kinh hoàng, suýt hét lớn:

“Tuyệt đối không được để ngươi đến gần A Nhiễm! Không thể để ngươi gặp nàng!”

Hoắc Thất Lang xoa mũi, cười gượng:

“Các ngươi phòng ta như phòng giặc, ta có phải ăn cỏ gần hang đâu.”

Thấy vết sẹo dài do Động Chân Tử để lại trên mặt nàng, Vi Huấn và Bàng Lương Ký cùng đưa ánh mắt đầy ngờ vực nhìn nhau.

Dù sao cũng vất vả mới mời được hai kẻ giỏi nhất trong tay, Bàng Lương Ký lòng cũng yên phần nào, liền uống thêm mấy ly, bắt đầu lải nhải kể lể bao nỗi phiền lòng kể từ lúc nạp lễ tới nay: chồng cũ gây rối, cha vợ không ưa, nhà vợ dòng dõi nho gia nhiều đời, tuy đã sa sút nhưng vẫn khinh Bàng gia mới phất lên, việc gì cũng muốn làm khó. Ngày cưới vốn chỉ mong náo nhiệt như người trong giang hồ, ai ngờ lại phải chiều lòng bên vợ, bị bắt học ngâm thơ chúc rượu, làm văn chặn xe, mỗi ngày học đến choáng váng nhức đầu!

Dù miệng than vãn, nét mặt Bàng Lương Ký vẫn ánh lên niềm vui mộc mạc, vừa ngồi rung đùi vừa ngâm nga mấy câu thơ mới học.

Trời vẫn lất phất mưa, Bảo Châu không chịu nằm mãi trong phòng mốc meo, bèn rủ Thập Tam Lang mượn ô giấy của chủ quán, chuẩn bị ra ngoài dạo chơi. Khi đi ngang qua hành lang, nghe thấy giọng Bàng Lương Ký vang lên từ đại sảnh:

“Lông mày như liễu biếc, váy tựa hoa thạch lựu, đứng dưới bóng cây nhìn, tay che quạt ngọc…”

Bảo Châu sững lại, mặt khẽ biến sắc, từ trên cao nhìn xuống hỏi:

“Ngươi vừa đọc phiến thơ đó là tự viết à?”

Bàng Lương Ký lơ mơ say rượu, đáp:

“Ta đâu biết làm thơ, thuê tiên sinh viết thay đó chứ. Có phải rất hay không? A Nhiễm của ta y như trong thơ vậy đó.”

Bảo Châu nhìn vị chuẩn tân lang hồn nhiên mừng rỡ, không khỏi thầm nghĩ: chuyện này không nói thì thôi, đã nói thì đành phải nói cho rõ, kẻo đến ngày cưới hắn lại bị người ta đánh giữa sân đình.

Nghĩ vậy, nàng cất giọng lạnh lùng:

“Đồ ngốc, ngươi bị lừa rồi. Câu ‘lông mày như liễu biếc, váy tựa hoa thạch lựu’ là của Bạch Cư Dị trong bài ‘Cùng xuân muộn’, vốn miêu tả kỹ nữ trong cảnh xuân. Ngươi đem thơ ấy đọc trước mặt tân nương, chẳng khác gì tự mình vác gậy chọc vào tổ ong!”

Lời vừa dứt, mấy tay giang hồ trong bàn đều chết lặng, Bàng Lương Ký ngẩn người nhìn nàng, rồi lại nhìn sang Vi Huấn. Vi Huấn lập tức nghiêm túc gật đầu:

“Về khoản này nàng ấy giỏi nhất, bọn ta chẳng ai bì nổi, ngươi tốt nhất nên nghe theo nàng.”

Bàng Lương Ký như tỉnh rượu, run rẩy đứng lên, chắp tay thi lễ:

“Bàng mỗ thiển học nông cạn, xin cô nương chỉ giáo cho một bài thơ tử tế!”

Thật ra theo ghi chép cổ, tục chặn xe có từ vương công đến thường dân. Với con cháu quý tộc, thường chỉ dừng ở lời chúc may mắn, xin rượu xin quà. Nhưng dân gian có nơi, thậm chí có chuyện cướp kiệu, cướp dâu thật sự.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 65


Bảo Châu vừa dứt lời, bốn phía im phăng phắc, ai nấy ngẩn ngơ. Bàng Lương Ký lập tức đứng bật dậy, cúi mình thi lễ, sai người dẹp sạch rượu thịt cũ trên bàn, gọi gia nhân bày lại một mâm tiệc mới tươm tất, tha thiết mời nàng ngồi vào, nhờ nàng chỉ giáo.

Nàng cũng không khách sáo, vào chỗ ngồi, đón lấy tập giấy từ tay Bàng Lương Ký, lần lượt xem qua từng tờ. Mười sáu bài thơ dùng trong lễ cưới, vậy mà có đến bốn bài sai sót rõ rệt. Bảo Châu nhíu mày, không khỏi nghi ngờ người viết thuê này có oán thù gì với nhà họ Bàng.

Tập thơ “Cùng xuân thâm” hai mươi bài vốn không phải loại dâm thi tục khúc, mà là đại tác của Hương Sơn cư sĩ Bạch Cư Dị, trong ấy có nhiều câu thanh nhã, đề vịnh đủ loại hôn lễ: từ quan viên cho đến học sĩ, từ thư sinh cho đến bá tánh. Thế nhưng, người viết này lại nhất định chọn cho được đoạn viết về kỹ nữ để sao chép dùng trong hôn lễ, thật là cay độc.

Thậm chí có đoạn: “Thuấn cày dư cỏ cây, Vũ tạc cũ sơn xuyên” thoáng nghe tưởng ca ngợi nhà gái có tổ tông cao quý, liên hệ với hai vị thánh quân thời thượng cổ. Nhưng sâu xa lại là ám chỉ tân nương tái giá, không giữ trinh tiết, không hợp đạo lý nhà Nho. Bài này vốn do hàn lâm học sĩ Trương Trọng Tố từng viết để mỉa mai một hôn lễ tương tự, nay bị mang ra sao chép lại, quả thực là nhục mạ trắng trợn.

Bảo Châu nói rõ ràng từng chỗ sai, khiến Bàng Lương Ký tức giận đến tay run lên bần bật, lập tức muốn kéo tên viết thuê kia ra đánh một trận nhừ tử. Hắn nghiến răng chửi:
“Chúng ta thô phác quê mùa, không nghe ra ý tứ ngầm, nhưng nhạc phụ ta xuất thân danh môn, lỡ đâu nghe một câu, há chẳng phải rước họa vào thân!”

Vi Huấn lạnh lùng nói thêm:
“Lão Lục à, hôn sự của ngươi còn chưa thành, mà kẻ muốn phá đám đã ra tay trước rồi. Mấy câu chữ này chẳng khác gì ám khí trên giấy, ai cũng khó phòng.”

Hoắc Thất Lang xen vào:
“Ngươi đang gấp, hay là nhờ Cửu Nương viết giúp mấy bài mới?”

Bảo Châu thản nhiên nói:
“Ta không biết làm thơ. Nhà ta xưa nay cũng đều thuê người làm.”

Lời này nàng nói ra hoàn toàn thật lòng. Ở Đại Đường, con cháu hoàng thất và nhà quyền quý đều sính thơ phú, thơ có mặt khắp nơi, từ lễ nghi hôn tang đến tiệc tùng yến hội. Thế nhưng rất ít ai thật lòng học thơ, phần nhiều chỉ chuộng cái phong nhã bề ngoài, thích ra đề rồi ngồi chờ xem thi sĩ vắt óc xoay sở.

Mọi dịp cần thơ, dĩ nhiên có thi nhân cung đình chuyên trách lo liệu. Nhưng bất kể là kẻ làm thơ trong triều hay ngoài phường, không ai dám dùng lời mỉa mai thô tụ.c để xúc phạm đến người hoàng thất.

Bảo Châu nói:
“Đã vậy, ngươi cứ chọn thơ văn của danh gia, vừa đẹp vừa chuẩn, lại không sợ kẻ xấu thừa cơ giở trò.”

Bàng Lương Ký nóng nảy như lửa đốt, vội vã hỏi:
“Nhưng ta không biết thơ nào là danh tác để dùng! Cửu Nương, phiền nàng chỉ cho rõ!”

Đoạn quay người giục quản gia:
“Bàng thúc! Mau chuẩn bị bút mực giấy nghiên!”

“Tật Phong Thái Bảo” dù chân đã què, tính tình vẫn nóng nảy như xưa. Ông lập tức sai người bày một chiếc bàn vuông, trải giấy Trừng Tâm đường của Trì Châu, mài mực Dễ Châu Tùng Yên, chuẩn bị nghiên tím Đoan Châu, lấy bút Gia Cát Tuyên Châu dính đầy mực, cung kính đưa đến trước mặt Bảo Châu.

Nàng nghĩ bụng, mình và nhà họ Bàng chẳng chút dây dưa, không muốn vì chuyện không đâu mà hao tâm tổn trí, nên nhẹ giọng nói:
“Ta chỉ đọc cho nghe, ngươi tự tay chép lấy.”

Bàng Lương Ký sảng khoái đáp lời:
“Vậy ta chép, ngươi đọc chậm thôi, ta còn phải nghĩ cách nhớ lại nữa.”

Bảo Châu liền đọc liền mạch mười bài thơ danh gia, mỗi bài đều chuẩn chỉnh tinh tế. Bàng Lương Ký chuyên tâm chép theo, nét bút loằng ngoằng vụng về. Bảo Châu liếc qua, nhăn mặt chê:
“Chữ ngươi viết xấu thật, phí cả bút tốt giấy quý.”

Bàng Lương Ký không lấy làm giận, trái lại còn đắc ý:
“Đây đã là tiêu chuẩn cao nhất trong giang hồ rồi. Hồi trước còn có người gọi ta là Thám Hoa lang đấy.”

Hoắc Thất Lang chen vào, tỏ vẻ ngưỡng mộ:
“Nhà hắn có tiền, từ nhỏ đã được thuê người dạy riêng.”

Nghe vậy, Bảo Châu giật mình, nhớ ra lời Vi Huấn từng nói: người trong giang hồ phần lớn không biết chữ, ngay cả hắn cũng chỉ đọc được mà viết không thông. So ra, tên công tử nhìn qua có vẻ ngốc nghếch này lại nổi bật không ngờ.

Trái ngược lại, bậc tài tử đệ nhất của Đại Đường thì ai nấy đều khao khát làm hiệp khách, chuộng nếp sống giang hồ phóng khoáng. Như Lý Thái Bạch, ngày ngày đeo kiếm dạo phố, tự xưng là nhân sĩ hành hiệp. Một bên là văn nhân vọng tưởng thành hiệp khách, một bên là hiệp khách khát khao học vấn, hai tầng lớp chẳng liên quan, nhưng lại cùng hướng về nhau, nghĩ mà buồn cười.

Bàng Lương Ký vẫn ngỡ Bảo Châu là người trong giang hồ, giờ gặp nguy mà nàng ra tay giúp đỡ, trong lòng càng thêm cảm phục. Hắn nói:
“Nhà ta có mấy khu mỏ, ở Ngọc Thành cũng xem là giàu có. Nàng tài trí như vậy, đến cả chữ nghĩa trong giấy cũng nhìn thấu, chắc chắn là con nhà đại phú!”

Vừa nói xong, Bảo Châu liền bật cười “ha ha” hai tiếng. Quay đầu nhìn, thấy Vi Huấn đang ghé đầu xuống bàn, vùi mặt trong tay, cười đến run cả vai mà không dám bật tiếng.

Chép xong hết các bài, Bàng Lương Ký mới phát hiện một vấn đề nan giải khác, bèn kêu trời một tiếng:

“Chỉ còn ba ngày! Ta làm sao học thuộc hết chỗ này cho kịp!”

Thế là mọi ánh mắt lại đổ dồn về phía Bảo Châu, như thể nàng là thần tiên có phép, có thể giúp Bàng công tử mở được hai mạch Nhâm Đốc, học xong thơ phú chỉ trong một đêm.

Ngay cả lão tổng quản cũng chắp tay khẩn khoản, giọng đầy van nài:
“Tiểu lang nhà ta trước kia mất hơn một tháng mới học thuộc vài bài, giờ phải học lại từ đầu, không biết xoay xở thế nào! Xin cô nương thương tình giúp cho trót, đã tiễn Phật thì xin đưa Phật tới Tây!”

Bảo Châu ngoảnh đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy mưa phùn giăng mắc mịt mù, lòng nghĩ phen này chắc chắn chẳng thể rời đi, bèn dứt khoát ngồi xuống, gọi một ấm quế hoa ngọt, vừa uống rượu, vừa chỉ điểm từng việc.

Nàng hỏi:
“Ngươi từng nghe triều đình từng ban phép cho dân gian cử hành hôn lễ ‘nhiếp thịnh’ chưa?”

Bàng Lương Ký nghe mấy tiếng lạ lẫm thì mặt mày ngơ ngác, chỉ biết lắc đầu.

Bảo Châu mỉm cười giải thích:
“Là triều đình cho phép dân thường khi thành thân được dùng ngựa xe, lễ phục lộng lẫy như quan viên bậc cao. Dù không có chức tước gì, đến ngày cưới vẫn có thể khoác áo lễ màu đỏ cấp ngũ phẩm, mà không bị xem là quá giới hạn.”

Bàng Lương Ký đập tay một cái, reo lên:
“Thì ra là vậy! Khó trách tân lang thường mặc áo đỏ, ta còn tưởng đấy là chuyện đương nhiên, ai ngờ còn phải được triều đình cho phép.”

Bảo Châu không buồn đáp, chỉ thong thả nói tiếp:
“Đã theo nhiếp thịnh, thì không những được mặc hồng y, mà còn có thể mang hốt.”

Bàng Lương Ký phấn khích nói:
“Cái đó ta chuẩn bị rồi! Còn đặc biệt đặt làm bằng ngà voi thứ tốt!”

Cuối cùng cũng nhắc tới điều cần nói, Bảo Châu nửa cười nửa nghiêm:
“Ngươi hãy khắc mấy câu thơ cần đọc lên mặt trong của hốt, dùng chữ nhỏ nhất có thể. Đến lúc làm lễ, cứ lén nhìn vào đó mà đọc.”

Lời vừa dứt, mọi người đều sửng sốt. Bàng Lương Ký tròn mắt, thốt lên:
“Vậy mà cũng tính là… gian lận sao?”

Bảo Châu điềm nhiên:
“Dùng hốt vốn là để ghi nhớ chuyện quan trọng. Vào triều, quan lại viết lời vua, hoặc đọc công văn rắc rối, tính toán sổ sách rườm rà… mấy ông lão trí nhớ chẳng còn được bao, thường phải khắc sẵn mặt sau hốt để nhắc mình. Không thì một câu nói sai, cũng đủ chịu tội. Ngươi tưởng ai cũng mang theo một miếng gỗ to như vậy chỉ để khoe sao?”

Bàng Lương Ký vẫn chưa hoàn hồn, líu ríu nói:
“Ta thật chưa từng nghĩ tới chuyện ấy. Nghe nói các đại thần vào cung không được mang vũ khí, hay là bọn họ không phục, lấy hốt ra đánh nhau chăng? Dù gì cũng không chết người.”

Lời vừa ra khỏi miệng, Bảo Châu lập tức bật cười, suýt nữa phun cả rượu hoa quế qua lỗ mũi. Nàng hình dung ra cảnh tượng rối rắm kia, vừa ho khan vừa ôm bụng cười nghiêng ngả.

Hoắc Thất Lang theo bản năng định tiến lại đỡ lấy nàng, nhưng vừa nhích đến đã bị Vi Huấn trừng mắt cản lại. Hắn cũng muốn giúp, song thấy áo nàng mỏng nhẹ, tay vươn ra lại không biết nên đặt vào đâu cho phải, lúng túng một hồi, rốt cuộc chỉ dám lấy một chiếc khăn sạch đưa nàng lau mặt.

Hoắc Thất trông thấy cảnh ấy, nén cười đến nỗi bụng đau, mà không dám phát ra tiếng.

Chẳng trách người kia nội công chí nhu chí thuận, chỉ một luồng hơi cũng đủ chấn vỡ ngũ tạng kẻ địch, chưởng pháp cứng rắn chẳng thua Quỷ Thủ Kim Cương Khâu Nhậm danh tiếng lừng lẫy, thế nhưng khi đụng cảnh cần nhẹ nhàng săn sóc như thế này thì lại chẳng biết tay để vào đâu.

Hoắc Thất Lang nhìn mà buồn cười, cố tình không nói, chỉ chờ xem tiểu quỷ tự cao kia sẽ xử trí thế nào, phen này quả thực xem không phí công.

Ngay lập tức, Bàng Lương Ký sai người làm thêm mấy chiếc hốt mới, mặt trong khắc toàn bộ các bài thơ. Quản gia Bàng gia cười tươi như nở hoa:
“Tiểu lang nhà ta tuy không dự khoa cử, nhưng nhìn xem, cũng sắp thành Quách Phần Dương đầy giường toàn hốt rồi!”

Đoạn quay sang Bảo Châu, cung kính khom mình chắp tay:
“Tiểu nương tử ra tay giúp đỡ chủ nhân nhà ta, ân nghĩa này, họ Bàng chúng tôi ghi khắc mãi trong lòng. Cô nương biết rõ chuyện cung đình, không hay là người Trường An võ lâm? Cho hỏi quý phủ làm nghề gì?”

Bảo Châu khẽ sững người, lập tức hối hận vì nãy giờ cao hứng mà nói hơi nhiều. Nghĩ một chặp, nàng chọn câu trả lời lưng chừng:
“Nhà ta làm chút sinh ý liên quan trong cung.”

Bàng tổng quản càng thêm cung kính:
“Thì ra là hoàng thương, bảo sao hiểu rộng biết nhiều. Sau này cô nương ghé qua Ngọc Thành, cứ xem Bàng gia là nhà mình, có điều gì chỉ dạy, xin cứ mở lời.”

Ông ta ngẫm nghĩ trong bụng: Nếu tiểu tổ tông nhà ta mà vừa mắt cô nương này thì tốt biết mấy! Người đâu mà vừa lanh lợi, vừa có khí độ sang quý, nào phải loại nữ nhi nhà nho nghèo hủ lậu kia có thể sánh bằng!

Nghĩ đến người kia, tuy tổ tiên từng làm quan, nhưng nay cả nhà trắng tay, nghèo đến bữa không đủ no, vẫn còn sĩ diện. Lễ hỏi đòi cho nhiều thì Bàng gia không tiếc, nhưng nhận rồi mà vẫn khinh thường, chê bai đủ điều, thật là tức chết người.

Còn Bàng Lương Ký thì chẳng biết gì, chỉ thấy tâm sự đè nặng mấy tháng trời bỗng nhẹ tênh, vui sướng muốn phát điên, trong lòng sục sôi, chẳng biết lấy gì cảm tạ cho xứng đáng. Nghĩ đi nghĩ lại, hắn định cúi đầu vái lạy, kết nghĩa huynh muội cùng Bảo Châu tại chỗ.

Vi Huấn nãy giờ vẫn dựa đầu vào bàn, cười đến run cả vai, còn Bảo Châu chỉ lắc đầu không nói nên lời. Nàng thầm nghĩ: mình giúp một tay là do trượng nghĩa, thế mà tên ăn chơi này lại muốn nhân cơ hội mà vơ lấy cái danh huynh đệ. Trên đời sao có chuyện dễ dãi đến thế? Nghĩ đoạn, nàng không khách khí nữa, thẳng thừng từ chối.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 66


Được một phen kết giao như vậy, Bàng Lương Ký liền hết mực mời Bảo Châu cùng Vi Huấn đến dự lễ cưới sẽ diễn ra ba ngày sau.

Bảo Châu trời sinh hiếu động, khó ngồi yên một chỗ. Dương Hành Giản lần này lại mắc phong hàn, bệnh đến như sóng cuộn, mà lui thì chậm như tơ rút, tuy không nguy đến tính mạng nhưng cũng chẳng biết khi nào mới có thể lên đường. Mỗi ngày quanh quẩn trong khách đ**m đã đủ buồn bực, nay nghe Bàng gia thiết lễ, nàng liền hơi động tâm. Dù vậy, tham dự điển lễ đâu thể ăn mặc xuề xòa, tóc tai sơ sài, búi lệch nghiêng ngả, e cũng khó mà ra ngoài gặp người.

Nàng do dự nói:

“Ta khi ra đi quá gấp, chẳng mang theo nha hoàn trang điểm…”

Bàng Lương Ký còn chưa kịp mở lời, quản gia đã vội đón trước:
“Tiểu thư không cần lo. Ngày mai tôi sẽ cho người trong phủ đến hầu hạ. Ở chốn quê này tuy không bằng kinh thành kiểu cách tinh tế, nhưng nếu tiểu thư có điều chi chỉ dạy, bọn họ cũng được dịp mở rộng tầm mắt.”

Bảo Châu nghe vậy thì gật đầu cười, thầm nghĩ tuy Bàng Lương Ký miệng nhanh tay vụng, nhưng vị quản gia này lại khéo léo, chu đáo hơn nhiều. Nàng hỏi:
“Là mời ta làm người tiếp giá cho tân nương phải không? Ở nhà, ta cũng từng giúp huynh đệ tỷ muội làm mấy lần rồi đấy.”

Không ngờ câu này vừa thốt ra, cả Bàng đại lẫn Lương Ký đều vội vàng xua tay.

Bàng Lương Ký không cần nhìn sắc mặt ai, cứ nói huỵch toẹt:

“Không được đâu! Người nổi bật nhất trong tiệc cưới, tất phải là tân nương của ta. Tiểu thư thì lại… quá đẹp, lỡ đâu lấn át nàng, thì không hay.”

Lời chưa dứt, Bảo Châu đã muốn giận đến đỏ mặt. Vi Huấn liền chen vào:
“Khi xe hoa nghênh đón, người tiếp giá thường bị lôi kéo, chọc phá, cũng không phải việc gì dễ chịu. Chuyện ấy đâu thể so với điển lễ đàng hoàng.”

Hoắc Thất Lang cười khì:
“Vậy thì nên để ta tiếp tân tân nương mới đúng! Ta không sợ bị trêu chọc đâu, càng nháo càng vui!”

Bàng Lương Ký giận dữ định mắng, quản gia đã vội kéo áo hắn từ sau lưng, ra hiệu đừng nói nữa. Ông ta gắng giữ vẻ mặt ôn hòa, quay sang Bảo Châu:
“Cô nương là thượng khách, chỉ cần chịu tham dự đã là vinh hạnh cho Bàng gia chúng tôi. Không cần phải vướng bận gì cả.”

Bảo Châu khẽ gật đầu, nghĩ thầm, được mời đến xem lễ thôi mà cũng được đối đãi như vậy, xem ra hôn lễ này quả thực quy mô chẳng nhỏ. Nàng cũng cảm thấy mình được trọng vọng khác thường.

Lúc này mưa đã tạnh hẳn. Không muốn tiếp tục giam mình trong phòng, Bảo Châu bèn gọi chủ quán đến hỏi xem ở Linh Bảo huyện này có thắng cảnh gì đáng xem. Nàng tính cưỡi lừa dạo chơi một chuyến.

Chủ quán nghĩ một lúc rồi đáp:
“Từ đây đi về hướng Tây Nam chừng hai mươi dặm có phần mộ của Thái tử Lưu Thông, con trai Hán Vũ Đế. Nơi ấy có Tư t* c*ng và Vọng Tư đài nổi tiếng, từng thu hút rất nhiều văn nhân tìm đến.”

Đường cũng không xa, Bảo Châu liền quyết định đi ngay, gọi Thập Tam Lang mang ô giấy theo cùng.

Vi Huấn ngửa cổ uống cạn chén rượu cuối, cũng đứng dậy định đi theo. Bàng Lương Ký ngạc nhiên:
“Chỗ đó chỉ là một gò đất lớn, có gì đâu mà xem? Đại sư huynh chẳng lẽ định tiện tay đào luôn một phen, tìm thử địa cung?”

Vi Huấn nhếch môi cười nhạt:
“Ta đã bỏ nghề ấy rồi.”

Bàng Lương Ký trong lòng bỗng dấy lên bất an, không biết là phương thuốc kia hắn đã tìm được hay là đã bỏ cuộc hẳn. Hắn gặng hỏi:
“Vậy huynh theo họ làm gì? Chẳng thà ở lại uống rượu với bọn đệ, bàn qua nghi thức lễ cưới, chẳng phải tốt hơn?”

Ngoài cửa, tiếng vó lừa xa dần, Vi Huấn đã tỏ vẻ sốt ruột, đáp qua loa:
“Ta đi dắt lừa. Ngươi chẳng từng nghe ta bị bắt sống sao?”

Dứt lời, hắn phóng người qua bậc cửa, bóng áo nhanh như gió, chẳng mấy chốc đã biến mất khỏi cửa tiệm.

Bàng Lương Ký tròn mắt ngây người, quay đầu lại thì thấy Hoắc Thất Lang đang nén cười, vẻ mặt châm chọc lắm điều. Y nhếch mép:
“Trên đời này, không phải chỉ có Lục sư huynh mới ngốc đâu…”

Bầu trời vẫn âm u, dãy núi xa mờ mịt trong tầng mây xám, như bức họa thủy mặc dưới ngòi bút Vương Duy, màu mực loang đen nhạt trải dài bất tận. Rừng đào bị mưa rửa sạch, cành lá xanh biếc sáng rỡ, lại như tranh sơn thủy của cha con Lý Tư Huấn. Cảnh sắc trước mắt, gần xa tương phản, lại hòa hợp đến lạ, tựa một bức tranh sống động không lời.

Không khí sau mưa trong lành, chẳng nắng gắt cũng không lạnh lẽo, thật là tiết trời thích hợp để du ngoạn sơn thủy.

Trên đường đến cố tích nhà Hán, Bảo Châu cưỡi trên lưng lừa, thong thả kể lại câu chuyện vu cổ từng xảy ra bảy trăm năm trước.

Hán Vũ Đế khi về già trở nên hồ đồ, sủng ái gian thần Giang Sung. Giang Sung cùng Thái tử Lưu Thông vốn bất hòa, lo sau này bị trả thù nên giở trò hãm hại. Hắn dựng chuyện Thái tử mưu phản, gán cho tội vu cổ, khiến Lưu Thông bị ép phải khởi binh.

Nhà họ Vệ đứng về phía Thái tử, đối đầu với triều đình, nhưng thế yếu, rốt cuộc thua trận. Lưu Thông bỏ trốn đến Linh Bảo huyện, bị quân triều đình truy đuổi. Không muốn rơi vào tay kẻ thù, Thái tử quyết liệt tự vẫn, giữ trọn danh tiết.

Một năm sau, Hán Vũ Đế mới tỉnh ngộ, biết mình mắc sai lầm lớn. Ông tru diệt Giang Sung, nhưng người con hiền lương đã chết thì chẳng thể sống lại. Võ Đế chỉ còn biết than khóc, sai xây Tư t* c*ng và Vọng Tư đài để tưởng nhớ.

Thập Tam Lang nghe xong, cảm khái:
“Đời ta cũng có một vị Thái tử bị phế, may mà không đến nỗi chém giết nhau, chỉ bị giam lại thôi.”

Bảo Châu chau mày, trông trước trông sau, thấy đường vắng không ai, bèn nghiêm mặt quát:
“Lý Thừa Nguyên mà xứng so với Thái tử Lưu Thông sao? Hắn không đáng! Nếu nói có ai giống, phải là Thiều Vương, huynh ruột tỷ mới phải! Lý Thừa Nguyên ấy, bản tính thô lỗ, chẳng qua hợp với chữ “Lệ” kia thôi. Nếu một ngày tỷ có thể vùng dậy, nhất định sẽ cho hắn một thụy hiệu xứng đáng!”

Thập Tam Lang thấy nàng nổi giận, vội vàng xin lỗi, song trong lòng vẫn chưa hiểu rõ đầu đuôi.

Vi Huấn cũng sững người, hỏi lại:
“Hắn đã làm gì khiến ngươi hận đến thế?”

Bảo Châu nghiến răng:
Tội hắn kể sao cho xiết! Chỉ nói một chuyện thôi. Năm ấy Thổ Phiên sang xâm lược, triều đình thiếu lương, binh khí chẳng đủ. Lý Thừa Nguyên liền dâng sớ, đề nghị đem ta gả cho quốc vương Thổ Phiên là Xích Tùng Đức Tán để hòa thân, hòng đổi lấy hòa bình. Khi ấy ta mới chín tuổi. Còn hắn đã sáu mươi.”

Vi Huấn kinh hãi, lòng bừng giận, nhưng ngoài mặt vẫn giữ vẻ lạnh lùng, chỉ hừ khẽ một tiếng, ánh mắt tối lại như mực sâu không đáy.

Bảo Châu lại nói:
“May nhờ từ bé ta được cha mẹ yêu thương che chở, khi ấy mẫu thân còn sống, phụ thân cũng không nỡ gả ta đi xa. Lý Thừa Nguyên chẳng qua muốn nhân cơ hội loại bỏ huynh trưởng bên cạnh ta người mà hắn xem là chướng ngại lớn để cô lập a huynh.”

Thập Tam Lang nghe vậy mà sửng sốt:
“Hắn thật sự hiểm độc đến thế? Ngay cả chuyện phỉ báng huynh trưởng tỷ cũng là do hắn bày trò sao?”

Bảo Châu gật đầu:
“Đúng vậy. Lúc đó hắn đang dần thất thế, thấy huynh ta có cơ bước lên ngôi Thái tử, liền bắt tay cùng Ngụy Vương dựng nên một màn bôi nhọ, bịa đặt đủ điều.”

Thập Tam Lang chép miệng:
“Chúng bịa ra những chuyện xấu gì?”

Bảo Châu không muốn nhắc lại, chỉ mặt mày lạnh lùng đáp:
“Toàn là lời lẽ hiểm độc, tàn nhẫn chẳng ai ngờ.”

Những lời vu cáo độc địa đến mức chỉ qua một đêm đã khiến phụ hoàng nàng quay lưng, bao tin tưởng và sủng ái ngày trước tan thành mây khói. Từ địa vị Trữ quân được kỳ vọng, huynh nàng bị giáng chức, đày đi nơi biên viễn heo hút, xa rời triều đình, trôi dạt đất hoang.

Ban đầu vốn là cuộc du ngoạn vui vẻ, chẳng ngờ chỉ vì một hai lời mà vô tình chạm đến tâm khảm nàng. Cả Vi Huấn lẫn Thập Tam Lang đều có chút hối hận.

Đúng lúc ấy, họ nhìn thấy bên đường có tấm bia đá khắc bốn chữ “Hán bão cuồng phong vũ”. Bảo Châu biết đã tới nơi, liền gọi Vi Huấn dắt lừa rẽ vào con đường nhỏ.

Vì vụ án vu cổ năm xưa là một sự kiện chính trị chấn động thời Hán, các triều sau đều đặc biệt chú trọng gìn giữ phần mộ Thái tử. Chung quanh từng có rừng thông tươi tốt, trúc biếc ngút ngàn, đình đài liền kề, là nơi thanh nhã để du xuân. Nhưng sau loạn An Sử, thiên hạ tiêu điều, nhân lực tài vật kiệt quệ, cảnh cũ dần phai tàn.

Từ xa trông lại, Tư t* c*ng chỉ còn là phế tích, Vọng Tư đài cũng chẳng khác gì một mô đất lớn giữa trời.

Mộ Lệ Thái tử nằm đúng giữa Trường An và Lạc Dương, nơi xưa gọi là “hành lang hai kinh”, là điểm dừng chân ưa thích của văn nhân mặc khách. Khắp vách đá quanh mộ vẫn còn sót lại nhiều vần thơ đề vịnh từ thời xưa.

Bảo Châu chọn hai bài nổi tiếng của Bạch Cư Dị, “Cảm tại cung Tư Tử”, đọc cho hai vị sư huynh đệ nghe, rồi chậm rãi giảng giải từng câu, từng tích từ “đầu trữ” nơi nhà họ Gia, đến “xuyết ong” trong vườn họ Doãn.

Vi Huấn chăm chú lắng nghe, gật đầu nói:
“Nghe ý thơ mà đoán, thì Giang Sung dù giảo hoạt đến đâu cũng chỉ là kẻ thêu dệt thêm điều. Người quyết định cuối cùng vẫn là Hán Vũ Đế. Chính ông ấy mới là người để mặc tin đồn ly gián cốt nhục.”

Lời này khiến tim Bảo Châu như bị lưỡi dao nhọn đâm thẳng. Đau đến khó thở, nàng không đáp được nửa lời.

Dĩ nhiên Vi Huấn không sai. Dù chưa từng theo học văn đường, nhưng trí tuệ sắc bén, lại ưa đọc nghe, những lời nàng từng giảng qua, hắn đều nhớ, đều thấu. Chỉ qua vài câu thơ, hắn đã nắm rõ hàm ý thi nhân muốn gửi gắm.

Dù gian thần có vu vạ bao nhiêu, thì kết cục oan sai vẫn nằm trong tay người cầm quyền. Thiên tử lựa chọn tin vào một chiều, để lỡ mất cốt nhục đó không thể hoàn toàn là lỗi kẻ khác.

Bảo Châu hiểu đạo lý ấy từ lâu, nhưng vì từ nhỏ đã được cha thương yêu hết mực, tình cha con khó buông, nên nàng chưa từng dám nghĩ sâu vào chỗ đau lòng ấy. Giờ phút này, bị lời nói vô tâm của Vi Huấn bóc trần, nỗi đau dồn tới nghẹn cả ngực.

Vi Huấn thấy nàng thở gấp, mặt mày nhợt nhạt, lo lắng hỏi:
“Sao vậy? Ngươi thấy không khỏe ở đâu?”

Bảo Châu gắng gượng cười:
“Có lẽ vừa rồi ăn hơi nhiều bánh mật, lại uống rượu hoa quế, giờ gió thổi qua thấy đầu choáng choáng thôi.”

Vi Huấn nhìn kỹ, thấy sắc mặt nàng không hề giống người say, bèn nghĩ đến việc nàng có thể bị lây bệnh từ Dương Hành Giản, trong lòng càng thêm nghi ngại. Hắn vội đỡ nàng xuống khỏi lưng lừa, tìm chỗ sạch bên đường cho nàng ngồi nghỉ. Thập Tam Lang cũng cuống quýt lấy túi nước dâng tới, giúp nàng dịu bớt.

Hai người cứ loay hoay như muốn soi kỹ từng tấc da mặt nàng, tìm xem có chỗ nào lạ. Nhưng Bảo Châu thì ngồi yên suy nghĩ một hồi, cuối cùng cũng dần bình tâm.

Nàng tự nhủ, chuyện hòa thân năm ấy đã là dĩ vãng. Lý Thừa Nguyên nay chẳng còn vinh quang, bị bắt xé nát mặt mũi, sống dở chết dở, so với cái chết còn khổ hơn gấp bội.

Huynh nàng Thiều Vương dù chưa đến mức bị ép tự vẫn như Lệ Thái tử, nhưng cũng một thời lận đận. Nay nếu đến được U Châu, hai huynh muội tay trong tay, chưa biết chừng vẫn có cơ hội xoay chuyển vận cờ.

Nghĩ vậy, lòng nàng nhẹ bẫng. Bảo Châu hít sâu một hơi, để khí trời sau mưa thấm đầy lồng ng.ực. Nàng ngẩng đầu nhìn đàn chim nhạn bay ngang trời, ánh mắt sáng rỡ, buông một câu nửa đùa nửa thật:

“Ta bắn thử một con, xem có mang lại chút điềm lành cho đoạn đường sắp tới hay không.”

Nói rồi, nàng lấy cung khảm sừng ra khỏi bao, nhanh nhẹn lên dây, nắm chặt mũi tên. Tất cả lo toan, giận dữ trong lòng phút chốc như hóa thành luồng khí tụ vào cánh tay.

Vai hạ thấp, mắt nhìn thẳng, nàng kéo căng dây như trăng rằm, tay không hề run. Khi nhạn bay vào tầm, nàng khẽ nghiêng người, buông một tiếng “vút”.

Tên bay như gió, xuyên trời đuổi trăng, một con nhạn rơi xuống, đáp đúng ngay trên Vọng Tư đài.

Cung pháp vừa nhanh vừa chuẩn, mũi tên mạnh mẽ, khoảng cách lại xa, khiến hai sư huynh đệ nín thở kinh ngạc. Thấy vậy, họ cũng yên lòng, cùng phá lên cười lớn, khen ngợi không ngớt.

Bảo Châu nhoẻn miệng cười, quay sang Vi Huấn nói đùa:
“Mau chạy ra nhặt giúp ta, nhớ cẩn thận kẻo gãy cánh. Ta dù không mang sính lễ quý giá, nhưng đến dự cưới nhà người ta tay không thì cũng chẳng phải lẽ. Đem một con nhạn đến tặng, chẳng phải là điềm lành cho vợ chồng son hay sao?”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 67


Lăng mộ của Lệ Thái tử nay đã hoang phế, nhưng bên dưới lớp đất là kiến trúc cổ lâu năm, nhiều loài vật làm tổ, đào hang sinh sống, trở thành một vùng săn bắn tự nhiên. Cung pháp Bảo Châu như thần, mũi tên không lệch, chỉ một lúc đã bắn trúng bảy tám con mồi, chỉ tiếc không mang theo chó săn và giỏ đựng, thành ra tay không chẳng thể mang hết về.

Khóe mắt chợt bắt gặp một dáng nhỏ màu đỏ nhạt vụt qua, nàng lập tức kéo cung toan bắn, nhưng vừa thấy rõ hình dạng con vật kia, liền thả tay, không buông tên.

Vi Huấn vừa dắt về một con trĩ đuôi dài bị bắn trúng, thấy nàng lần đầu bỏ mồi, lấy làm lạ hỏi:
“Ngại con đó gầy quá sao?”

Bảo Châu đáp:
“Đó là một con hồ ly. A huynh ta thuở bé được đặt nhũ danh là Tiểu Hồ, bởi vậy ta từ trước đến giờ không bắn hồ ly.”

Thập Tam Lang đang giúp nàng buộc chặt mớ mồi, nghe vậy bèn phá lên cười:
“Tiểu hồ, mèo, toàn mấy con lông xù lông xù, nghe qua cũng có nét giống nhau đó chứ!”

Bảo Châu cũng bật cười khanh khách:
“Đệ nói cũng phải. Vậy sau này tỷ gặp mèo rừng cũng nên buông tha, kẻo lỡ tay mà đụng tới khí vận sư huynh nhà đệ.”

Vi Huấn không biết nên cười hay mếu, cúi đầu nghịch con trĩ, nhổ từng chiếc lông đuôi dài óng ánh, chẳng mấy chốc nhổ sạch nhẵn trụi.

Thập Tam Lang mỉm cười bảo:
“Trông chừng Cửu Nương và huynh trưởng tình thâm nghĩa nặng, việc gì cũng nghĩ thay cho người.”

Mắt Bảo Châu bừng sáng, giọng đầy tự hào:
“Tất nhiên rồi! Đôi ta cùng nhau lớn lên, a huynh ta là người hiền đức, lễ độ, hòa nhã, thông minh, lại dịu dàng săn sóc. Lại thêm dung mạo tuấn tú, xứng làm bậc minh quân kế nghiệp đại thống.”

Hễ nhắc đến Thiều Vương Lý Nguyên Anh, nàng nói mãi không thôi. Thập Tam Lang nhìn nàng tươi tắn, trong lòng thầm nghĩ:

“Dù không hiểu minh quân là thế nào, nhưng người thông minh, ôn hòa, săn sóc, lại xinh đẹp… nghe qua chẳng phải đang nói chính Cửu Nương đó sao?”

Chàng hỏi:
“Một nhân vật oai phong như huynh ngươi, cớ sao lại có nhũ danh là Tiểu Hồ?”

Bảo Châu hơi ngạc nhiên:
“Các ngươi chưa từng nghe chuyện “bạch hồ dẫn đường” hay sao?”

Cả Vi Huấn lẫn Thập Tam Lang đều lắc đầu.

Bảo Châu lập tức hào hứng kể:
“Vừa hay hôm nay rảnh rỗi, để ta kể các ngươi nghe một phen. Năm xưa, khi Kính Uyên nổi loạn, phản quân thiếu lương thực, bất ngờ đánh úp Trường An. Khi ấy phụ thân ta còn là Lương Vương, đang đưa Lý Thừa Nguyên cùng mấy chục thị vệ ra khỏi thành đi săn, bỗng nghe tin dữ, liền không dám trở về vương phủ. Không còn đường lui, đoàn người liền cưỡi ngựa vượt núi, men theo lối tắt về đất Thục. Thê thiếp và con cái trong phủ đều thất lạc giữa loạn binh, chẳng biết sống chết.”

Mười mấy ngày sau lang bạt trong núi hoang rừng rậm, ăn ngủ dưới trời, nửa đêm nọ, có người phát hiện một con hồ ly trắng len vào doanh trại, xua mãi chẳng đi, cứ quanh quẩn kêu gào như cố ý dẫn đường.

Mọi người lấy làm lạ, phụ thân ta quyết định theo dấu hồ ly. Qua mấy ngọn núi, tới trước một hang đá sâu kín, con hồ dừng lại, ngửa cổ kêu vang rồi đứng yên bất động.

Phụ thân ta vào hang xem thử, ai ngờ gặp được mẫu thân ta khi ấy vẫn còn là thiếu nữ đơn độc, đang lẩn trốn trong hang. Hóa ra bà được một nữ đạo sĩ kết giao với họ Tiết cứu thoát khỏi tay loạn quân, đưa tới đây ẩn nấp. Nữ đạo ấy có chút phép thuật, sai hồ ly đi tìm đường giúp đỡ, dẫn lối đến nơi.

Hôm đó Trường An xác phơi đầy đường, hoàng thân quốc thích nhà nào cũng bị cướp phá. Mẫu thân ta lại bình yên vô sự, còn nguyên y phục thạch lựu đỏ hôm chia tay, chẳng tổn một sợi tóc. Câu chuyện này ai trong cung cũng biết. A huynh ta được đặt tên Tiểu Hồ là để nhớ ơn hồ ly trắng năm ấy dẫn đường cứu mẫu thân.”

Nàng kể vừa sinh động vừa duyên dáng, Thập Tam Lang nghe mê mẩn, nhưng Vi Huấn lại chau mày.

Hắn nghĩ: “Đạo cô có bản lĩnh cứu người, điều ấy không sai. Nhưng công đầu há lại thuộc về hồ ly? Mấy chục thị vệ mang theo bên người, vậy mà gặp biến liền tháo chạy, bỏ mặc thê thiếp con cái cho loạn quân, thế thì còn mặt mũi nào gọi là nam tử đại trượng phu?”

Tuy nghĩ vậy, hắn vẫn im lặng, không muốn chạm đến nỗi đau trong lòng nàng.

Năm đó phản quân giết người không chớp mắt, nhà vương công bị truy diệt, chỉ mỗi Tiết thị may mắn thoát khỏi, còn lại vợ con thiếp thất đều bỏ mạng. Bởi vậy sau này khi Thiều Vương Lý Nguyên Anh ra đời, đã kém trưởng huynh mười tuổi.

Bảo Châu chẳng hay thân phận nữ nhi trong hoàng tộc khi rơi vào tay loạn binh sẽ gánh chịu thảm cảnh ra sao, nên vẫn xem chuyện ấy như dã sử thú vị để kể lại. Còn Vi Huấn thì rõ ràng hiểu rất rõ, chỉ là chẳng nỡ nói ra.

Cõi đời lắm nỗi đớn đau, người người chịu khổ. Cớ gì chuyện gì cũng phải tỏ tường?

Hôm ấy, Bảo Châu dùng hết sạch mũi tên mang theo, không còn sót lại một chiếc, tay không trở về nhưng lòng lại đầy mãn nguyện. Không có Dương Hành Giản quanh quẩn càm ràm, ba người đều thấy thảnh thơi.

Khi rời khỏi lăng mộ Thái tử, Vi Huấn quay đầu nhìn đám mây vờn trên gò đất, nghĩ bụng: “Đây là lần đầu tiên ta ghé thăm một ngôi mộ mà không cần nghĩ kế đào trộm. Chỉ đơn thuần là ngắm cảnh, vậy mà lòng nhẹ tênh.”

Mũi tên vốn là binh cụ dễ hao mòn, trong quân Đại Đường, một túi thường chỉ đựng ba mươi chiếc. Từ hôm rời Thúy Vi Tự đến nay, săn thú đã nhiều, nay chẳng còn mũi nào nguyên vẹn.

Thập Tam Lang dắt lừa mang xác thú về quán trọ, còn Bảo Châu và Vi Huấn đi tìm cửa hiệu rèn ở huyện thành để bổ sung. Họ đến tiệm nổi tiếng nhất vùng, mua một ống tên mới, thêm cả bao đựng cung bằng da khảm sừng, lại ép Vi Huấn mua thêm con dao ăn.

Bảo Châu nhìn quanh thấy đầy rẫy đao kiếm thương kích, trong đó có thanh kiếm chạm khắc tinh xảo, liền thuận tay cầm thử, cảm thấy khí thế lẫm liệt, liền hỏi:
“Hay là ngươi mua luôn thanh kiếm ba thước này? Trong thơ có câu: “Kiếm báu sáng như nước, ánh hồng còn vương máu. Ngựa trắng vượt đêm đen, canh ba băng tuyết lộ.” Thật đúng khí chất hào hiệp!

Nàng còn đang mê đắm trong giấc mộng thi nhân giang hồ, Vi Huấn lại chỉ cười cười lắc đầu:
“Ta chẳng quen dùng thứ ấy, vừa dài vừa vướng víu, nhảy nhót đụng đâu vướng đó. Hơn nữa… ta cũng chẳng có ngựa.’

Bảo Châu trong lòng khẽ sinh nghi. Tuy trong thơ phú nào viết về hiệp khách cũng chẳng thể thiếu bóng dáng thanh kiếm, nhưng từ khi bước chân vào chốn giang hồ đến nay, nàng chưa từng thấy ai thật sự đeo kiếm bên người. Ngay như Vi Huấn, hành tẩu thiên hạ cũng chỉ đem theo vài con dao ăn hay lưỡi chủy thủ, chẳng hề có lấy một thanh trường kiếm nào.

Nàng ngạc nhiên hỏi:
“Chẳng lẽ sư phụ ngươi không dạy kiếm pháp? Ta thấy các sư huynh đệ nhà ngươi cũng không ai dùng kiếm cả.”

Vi Huấn liền đáp thẳng:
“Sư phụ ta thì thứ gì cũng biết, nhưng ngoài ông ra, trong giang hồ thật chẳng mấy người dùng kiếm. Loại binh khí này khó học, lại khó thành, chẳng bằng đao tiện lợi, vừa rắn chắc vừa dễ dùng. Hơn nữa kiếm phần nhiều chỉ để trang trí, chứ thực chiến lại chẳng hữu dụng bao nhiêu. Không tin, ngươi cứ hỏi ông thợ rèn mà xem.”

Bảo Châu quả thật đem thanh kiếm đi hỏi chủ quán. Quả nhiên, câu trả lời không khác gì lời Vi Huấn. Người mua kiếm phần lớn là nhà quyền quý, dùng để treo trong thư phòng trấn trạch hoặc trừ tà, chứ thực tình chẳng có mấy người thật sự dùng đến. Còn những binh khí cấu tạo đơn giản, chắc chắn, dễ bảo dưỡng, mới là lựa chọn của đám hiệp khách và quân lính.

Nghe vậy, Bảo Châu bỗng hơi thất vọng. Nàng đặt kiếm trở lại, thầm nghĩ: “Chẳng biết các nhà thơ ca tụng kiếm vì thấy chữ ‘kiếm’ dễ vào vần, hay bởi nó đeo bên hông thì đẹp mắt?”
Lại nhớ đến bài thơ “Ôn Bát Xoa” miêu tả hiệp khách giữa đêm cưỡi ngựa trắng ra đi, dáng vẻ tiêu sái vô song, nhưng trong mắt nàng một người giỏi bắn cung thì đó chẳng khác gì cái bia sống giữa trời, quá mức dễ trúng đích.

Vừa suy nghĩ, nàng vừa bước ra cửa tiệm. Còn chưa kịp bước qua ngạch cửa, ánh sáng trước mặt bỗng tối sầm lại, như thể có vật gì che khuất cả mặt trời.

Trước cửa là một đôi giày to tướng như thuyền con. Nàng ngẩng đầu lên nhìn, mỗi lúc một cao, tới tận mái hiên mới thấy hết hình dáng người đang chắn lối. Là một đại hán vạm vỡ, cao lớn đến nỗi che kín cả lối vào, khiến ánh nắng chẳng thể xuyên qua.

Kẻ đó tóc búi bù xù, râu quai nón rậm rạp, đầu đội mũ đồng, tay cầm một cây trượng to như cột cờ. Trang phục kiểu đạo sĩ xuất gia, gương mặt hừng hực khí thế, cánh tay rắn rỏi đầy sẹo bỏng chằng chịt, thoạt nhìn đã khiến người ta sởn gáy.

Hai người chạm mặt ngay cửa, không ai chịu nhường ai.

Người kia dáng vẻ dữ dằn, mặt mũi hung hãn, lại mang theo đầy vết thương đáng sợ bao năm hành tẩu giang hồ, đi đến đâu cũng có kẻ tự động né đường. Nhưng Bảo Châu từ nhỏ đã sinh ra trong nhung lụa, thân là hoàng tộc, lại quen được người kính cẩn nhường lối. Ngoại trừ khi đối diện thiên tử, nàng chưa từng phải nhún mình trước ai.

Nàng từng gặp bao tướng sĩ thân hình khác thường trong quân ngũ, nên chẳng mảy may sợ hãi trước kẻ cao lớn thô kệch này.

Hai người cứ thế đứng yên một chỗ, không nói không rằng.

Gã đầu đà tưởng nàng bị dọa đến đờ người, định đưa tay nhấc nàng sang một bên. Nhưng khi cúi xuống nhìn kỹ, thấy tiểu cô nương trước mặt mặc váy vàng nhạt, gương mặt xinh tươi ngẩng cao, ánh mắt kiêu ngạo, thần thái ngang tàng chẳng khác nào một tiểu đế vương.

Gã nhìn nàng, trong lòng lại sinh hứng thú, không còn muốn dọa nạt. Bèn hơi nghiêng người sang một bên, chừa ra nửa lối cho nàng bước qua.

Tiểu hoàng điểu hất mặt bước đi, khẽ gật đầu, ung dung vượt qua ngạch cửa.

Gã định bước vào tiệm rèn, lại thấy từ trong đi ra một thiếu niên áo xanh, mặt mày xanh xao. Nhìn thấy người đó, gã chợt sững người, rồi nhanh chóng nghiêng người tránh sang một bên, thân hình cao lớn chẳng hề vướng víu, cử động lại nhẹ nhàng linh hoạt lạ thường.

Vi Huấn ngẩng đầu nhìn thoáng qua, cũng có phần kinh ngạc:
“Ngươi làm gì ở đây?”

Gã khoanh tay, giọng trầm thấp đáp:
“Lạc Dương có người cần một lượng lớn hỏa dược, là vụ mua bán tốt.”

Vi Huấn gật đầu:
“Ừ.”

Hắn chẳng hỏi thêm gì, quay người rảo bước đuổi theo Bảo Châu.

Hôm ấy, Bảo Châu dùng một con chim nhạn và đôi chim cảnh lông đỏ mỏ vàng làm lễ vật tặng cho Bàng gia. Bàng Lương Ký mừng rỡ vô cùng trong lục lễ, từ nạp thái, vấn danh, thỉnh kỳ, đến thân nghênh, đều dùng nhạn làm lễ vật thay mặt nhà trai sang nộp sính.

Thế nhưng chim nhạn trời sinh lanh lợi, bay cao bay xa, thợ săn giỏi mấy cũng khó bắn được. Kẻ có tiền nhiều khi cũng đành dùng vịt, ngỗng, hay tượng gỗ thay thế. Bàng Lương Ký trước đó đã bỏ trăm lượng bạc thưởng mới có được một con, đem dùng vào lễ nạp thái. Đến ngày cưới, vốn định ôm con ngỗng trắng đi rước dâu, nay lại có nhạn thật, tất nhiên là mừng như bắt được vàng, liền lấy lụa đỏ bọc lại, sai gia đinh mang về nhà giết rồi ướp muối bảo quản.

Bàng tổng quản trong lòng thầm ghi nhớ công ơn, âm thầm xếp nàng vào danh sách khách quý được mời ngồi hàng đầu bên dàn nhạc lễ trong hôn sự.

Về phần lão nho sĩ viết thơ gây chuyện hôm trước, Bàng gia chẳng chờ hết tiệc đã phái người đến quán dạy học mà tra hỏi. Hóa ra không có ai xúi giục gì cả chỉ là lão nho ấy vốn hết mực tin theo đạo Nho, lại mang lòng đố kỵ với kẻ phú quý, cho rằng người đàn bà góa thì nên ở vậy thủ tiết, không nên tái giá. Tức giận khi thấy kẻ nghèo như mình không được ai ngó ngàng, lại thấy nhà giàu sắp cưới con dâu tái giá mà còn mừng rỡ linh đình, nên mới ném vào bài thơ đôi ba câu bóng gió.

Hắn cứ tưởng cả nhà ấy không ai hiểu được thơ, nào ngờ đụng phải người rành văn chương, bị lật tẩy tại chỗ. Bị đánh cho một trận bầm dập, nếu không phải sắp tới đại hỉ, muốn kiêng điều dữ rước lành, e rằng hắn đã bỏ mạng trong đêm. Bàng gia tha chết, chỉ sai người đánh một trận, rồi đuổi khỏi đất Ngọc Thành.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 68


Trời đã về chiều. Hoàng hôn buông xuống màu mực nhạt nhòa. Bàng Lương Ký vốn định ở lại uống thêm một chầu lớn, nhưng nghĩ đến trăm việc rối ren trong hôn lễ vẫn chưa đâu vào đâu, đành lưu luyến ngồi kiệu trở về, được quản gia cùng đám gia nhân vây quanh tiễn đưa. Hoắc Thất Lang cũng thuận đường, hứa đi trước dò thử đường rước dâu, liền đi theo luôn.

Đám người ồn ào vừa rời khỏi, khách đ**m lập tức trở lại vẻ tĩnh lặng. Vi Huấn như trút được gánh nặng, sắc mặt cũng dịu đi thấy rõ. Tuy thân mang võ nghệ cao nhưng thính giác lại không có cách nào phòng bị. Hai vị đồng môn kia ríu ra ríu rít nửa ngày, hắn đã nhịn đến cực hạn, nếu không sớm đi, e rằng không kiềm được mà ra tay mời khách “ra cửa”.

Bảo Châu nhìn bộ dạng hắn, cảm thấy Vi Huấn vốn chẳng phải hạng người hay tham dự hỉ sự nhà người, trong bụng càng sinh hiếu kỳ, bèn hỏi:
“Rốt cuộc ngươi thiếu hắn cái nhân tình thế nào mà phải khổ vậy?”

Vi Huấn như mèo nghe tiếng nước chảy, lập tức giật tai dựng lông, cảnh giác nhìn nàng chớp mắt, rồi bỗng đứng dậy nói:
“Mặt gương đồng của ngươi còn chưa lau sạch, chẳng phải bảo sáng mai tìm người đến chải đầu sao? Mau lấy ra đi…”

Chưa kịp để nàng phản ứng, bóng người đã loáng cái biến mất, thân ảnh nhẹ như làn khói, chạy nhanh không kịp nhìn.

Người này nếu muốn đi, cho dù cả nha môn trong thành kéo đến cũng đừng mong giữ lại.

Bảo Châu bị chặn ngang câu hỏi, lòng càng thêm nghi hoặc. Quay đầu nhìn sang Thập Tam Lang, giọng đầy uy h**p:
“Ngươi nói cho ta nghe xem, vì sao Bàng Lương Ký bị đuổi khỏi sư môn?”

Thập Tam Lang hoảng hốt vội xua tay:
“Chuyện ấy xảy ra trước khi ta nhập môn, các vị sư huynh sư tỷ đều né tránh không nhắc đến, ta thật không biết gì cả. Với lại… người tu hành không được nói dối!”

Bảo Châu tức tối, muốn túm tai hắn lôi cho bằng được, nhưng Thập Tam Lang đã viện cớ nhà Phật giữ miệng, chẳng có cách gì hỏi tiếp.

Ngoài trời, mưa thu rơi lộp bộp trên mái. Bảo Châu ghé qua phòng Dương Hành Giản, thấy hắn vẫn nằm im trên giường, mê man bất tỉnh, không mảy may chuyển biến.

Nàng cùng Thập Tam Lang ăn tạm chút gì đó, vốn định trở về phòng nghỉ. Nào ngờ lúc ấy, có một người đàn ông trung niên ăn mặc lam lũ bước vào khách đ**m tránh mưa. Trên mình khoác nho sam cũ sờn, dáng người gầy gò, chân đi guốc gỗ nứt nẻ.

Chủ quán xem chừng quen mặt, đưa cho một hồ nước nóng, lại nói:
“Trời mưa thế này, tiệm không có khách đâu.”

Người nọ thở dài não nề, đặt lên bàn một cây quạt gập cũ và một khối gỗ vuông. Từ trong ngực móc ra túi lá trà vụn, tự mình thả vào bình nước nóng.

Thập Tam Lang liếc nhìn, biết ngay đây là thầy kể chuyện rong. Lúc đầu còn háo hức, mong được nghe miễn phí chuyện hay, nhưng thấy khách đ**m vắng vẻ, thầy lại chưa mở miệng, trong lòng bỗng thấy tiếc.

Bảo Châu lấy làm lạ, chỉ khối gỗ hỏi:
“Người kia chẳng giống quan lại, sao lại mang theo cả khối gỗ lớn?”

Thập Tam Lang cười:
“Đó là vật dụng của thầy kể chuyện, dùng để gõ nhịp khi giảng chuyện xưa, không phải pháp cụ của nha môn đâu.”

Bảo Châu nghe vậy cũng nổi hứng, liền hỏi:
“Vậy ông ấy thường kể những chuyện gì?”

Thầy kể chuyện thấy nàng y phục quý phái, thần sắc đoan trang, vội bỏ chén trà xuống, đứng dậy chắp tay:
“Tiểu nương tử muốn nghe điều gì? Chuyện võ có “Gia Cát Lượng sợ chết trọng đạo”, chuyện văn có “Oanh Oanh truyện”, “Lý Oa truyện”, “Liễu Nghị truyện”…”

Bảo Châu ra hiệu cho Thập Tam Lang lấy ít đồng tiền, rồi nói:
“Ông cứ kể chuyện nào người thích nhất, dễ nghe là được.”

Thầy kể chuyện ngẫm nghĩ: tiểu cô nương này còn xuân thì mười tám, hẳn ưa thích những mối tình lãng mạn. Bèn mở quạt gấp, gõ vào khối gỗ, cất giọng kể chuyện Lý Oa.

Tuy rằng trong cung cũng có ca múa giải trí, nhưng phần lớn là ca tụng đạo lý, lịch sử, hay huyền thoại Phật tiên. Dù có chuyện nam nữ, cũng luôn trau chuốt thanh nhã. Ngược lại, dân gian kể chuyện để mưu sinh, phải chiều theo khẩu vị tầng lớp bình dân, chẳng thể giữ vẻ thanh cao.

Chuyện Lý Oa là tích xưa chép bởi Bạch Hành Giản đệ đệ của thi nhân Bạch Cư Dị kể về mối duyên ngang trái giữa kỹ nữ Trường An và công tử Huỳnh Dương. Nguyên tác văn nhã thanh tân, nhưng về sau dân gian diễn lại, thêm thắt nhiều chi tiết trần tục, lời lẽ càng lúc càng phóng túng:
“Ngọc lầu uyên ương chăn gấm thêu, má phấn toát hương, gối lưu sương lạnh…”
“Uyên ương đan gối đệm, ngọc ngà lụa vướng vai…”

Những câu ấy, ở trước mặt công chúa thì chẳng ai dám hát.

Bảo Châu lần đầu nghe lối kể như vậy, nửa hiểu nửa không, mặt đỏ bừng, tai cũng nóng ran. Song cốt truyện lại cảm động lòng người, nàng chẳng nỡ ngừng lại, muốn nghe cho hết.

Thầy kể được một đoạn lại ngừng, uống ngụm trà, nghỉ một lát rồi kể tiếp. Bảo Châu thấy hay thì khẳng khái cho thêm tiền. Ngoài trời, mưa thu rơi lất phất, trời tối dần, không có khách mới, tiệm vắng lặng như tờ. Gặp được vị khách hào phóng, dù chỉ hai người nghe, thầy kể chuyện cũng thêm phần hứng khởi. Không ai để ý, trời đã sang đêm.

Chủ quán thấy có sinh ý, lại sai người đốt một trản đèn dầu, soi sáng một góc tiệm. Đốm lửa lay lay trong bóng tối, soi bóng lên tường, hắt ánh lung linh khắp gian nhà. Bảo Châu mải mê dõi theo từng câu chuyện, tâm trí ngụp lặn trong từng hồi éo le của một truyền kỳ tình ái.

Lúc ấy, ngoài màn mưa và sương mù lặng lẽ hiện ra một dáng người mơ hồ.

Một nữ nhân gầy cao cầm dù giấy rách, trên tay ôm một cây tỳ bà cũ kỹ, lặng lẽ bước tới trước cửa khách đ**m. Nàng không gây tiếng động, giống như một bóng ma đi ra từ cơn mộng.

Người ấy sắc da trắng bệch, tóc đen vấn lỏng, cài một cây trâm xương đã mẻ, xiêm y màu nhạt, vá chằng đụp, cổ áo trễ. Nhìn kỹ có vẻ là người Hồ hoặc lai dòng Tiên Bi. Nét mặt dù còn nét yêu kiều, nhưng tuổi đã xế chiều, có thể ngoài ba mươi, cũng có thể quá bốn mươi.

Nàng bước đi nhẹ bẫng như lá bay, mỗi bước như chực ngã. Tới bên hiên, nàng thu chiếc dù, lắc vài giọt mưa đọng, rồi tựa lưng vào vách, tìm một chiếc ghế gỗ cũ kỹ nơi góc tối, ngồi lặng thinh, đôi lúc lấy tay che ngực ho nhẹ, thân thể gầy guộc, khiến người nhìn cũng phải động lòng xót xa.

Chủ quán nghe tiếng ho, ngỡ có khách tới, chạy ra nhìn. Thấy là nữ nhân ấy, vẻ mặt liền đổi khác, quay vào không thèm hỏi han lấy một lời, đến cả chén nước cũng chẳng buồn đưa.

Thầy kể chuyện vừa nhấp ngụm trà, trông thấy dáng người kia thì lắc đầu, khe khẽ nói với Bảo Châu:
“Các nàng ấy già rồi thật đáng thương. Khi còn trẻ đẹp thì người tranh nhau chuộc thân, đến lúc tàn phai chẳng ai đoái hoài. Không nơi nương tựa, sống đời phiêu bạt, có khi đổ bệnh cũng chỉ còn nước nằm chờ chết.”

Bảo Châu đã liếc nhìn nữ nhân ấy mấy lần, trong bụng cảm thấy gương mặt kia có phần dễ coi, nghe vậy thì ngẩn người, hỏi:
“Du nữ là gì?”

Thầy kể chuyện cười nhạt, trong mắt hiện lên vẻ coi khinh:
“Là như Lý Oa trong truyện đó thôi. Xướng kỹ một thời hoa lệ, đến lúc tàn hương bến cũ, chẳng ai ngó ngàng, không còn nơi nương thân, lang bạt đầu phố cuối đường, lấy tiếng ca tiếng đàn đổi lấy bữa ăn qua ngày… ấy gọi là <i>du nữ</i>.”

Bảo Châu chợt rùng mình, lắp bắp kinh hãi. Trong cung, những buổi yến tiệc thỉnh thoảng cũng có vũ nữ, là gia quyến của tội thần bị sung làm nô kỹ, nhưng kỹ nữ nơi dân dã, đây là lần đầu nàng thấy. Nàng không biết người ta thường dựa vào đâu để phân biệt, chẳng lẽ chỉ cần là nữ nhân xinh đẹp, lại độc thân, đêm khuya một mình qua lại, đã mặc nhiên mang theo một ý nghĩa ám chỉ nào đó ư?

Vì hiếu kỳ, nàng nhìn thêm vài lần. Nào ngờ người kia cũng đưa mắt nhìn lại, ánh mắt giao nhau, nữ nhân ấy liền khẽ mỉm cười, ôm cây tỳ bà bước tới, thân hình nhẹ như nước lướt, ngồi xuống trước mặt nàng, khẽ nghiêng đầu, nũng nịu hỏi:

“Tiểu nương tử có muốn nghe một khúc không? Nô tỳ đàn tỳ bà cũng không tồi đâu.”

Giọng nàng ta mềm mại như rót mật, từng chữ như rót vào tai, thanh âm nhẹ nhàng mà lơi lả, tiếng cuối lượn sóng run rẩy, như muốn trêu ghẹo người nghe, khiến ngay cả Bảo Châu cũng đỏ mặt tía tai. Nói xong, nữ nhân kia lại che miệng khẽ ho, vẻ mặt mỏi mệt, ánh mắt pha trộn bệnh tật u uất.

Thầy kể chuyện thấy có người đến tranh khách, lập tức trừng mắt xua tay:

“Đồ ôn quỷ b*nh h**n, tránh xa ra một chút! Cẩn thận bẩn ghế bẩn chiếu, người khác ngồi vào chẳng thấy xui xẻo thì cũng thấy buồn nôn!”

Nữ nhân ấy vẫn cười, không giận không buồn:

” Tiên sinh đừng chấp, cùng là kẻ đầu đường xó chợ, nô chỉ muốn hưởng chút hơi ấm mà thôi.”

Bảo Châu ngỡ kỹ nữ chỉ là người mua vui bằng ca múa, thấy nàng ta tự đề nghị đàn tỳ bà, bèn nói:

“Vậy đàn một khúc nghe thử.”

Nữ nhân kia vui vẻ gật đầu, từ trong túi da không thấm nước rút ra một cây tỳ bà ôm vào lòng. Thầy kể chuyện hừ mũi một tiếng, buông quạt xếp, cầm lấy chén trà, tưởng đâu là lúc nghỉ giải lao giữa giờ.

Nàng ta không dùng miếng gảy đàn, mà đưa đôi tay dài trắng ra, khảy huyền bằng đầu ngón tay. Bảo Châu nhìn kỹ: đôi tay ấy từng trải sương gió, lớn hơn tay nữ nhân bình thường, gân xanh nổi rõ, mười ngón thon dài mạnh mẽ, không để móng tay, mỗi khúc gảy đều vang lên thanh thoát, âm sắc còn tinh khiết hơn cả dùng gảy đàn.

Từ thời Huyền Tông, hoàng thất đã chuộng âm nhạc, trong cung hội tụ khắp nhân tài bốn phương, các nhạc sư ngày đêm luyện tập. Mẫu thân Bảo Châu, Tiết Quý Phi, chính là một trong những người tinh thông âm luật, giỏi nhất múa và tỳ bà. Bản thân Bảo Châu tuy không học, nhưng được truyền dạy con mắt tinh tường, hiểu rõ điều hay dở trong âm nhạc.

Khúc mà nữ nhân kia đàn là “Lục Yêu”, bản phổ biến được yêu thích nhất trong các khúc tỳ bà. Từ cung đình đến dân gian, ai đàn tỳ bà cũng phải học. Vốn là khúc dành cho nữ tử nhẹ nhàng múa hát, mềm mại uyển chuyển, ấy thế mà dưới ngón tay của người này lại vang lên thanh âm sắc gọn, rắn rỏi, tiết tấu như từng giọt sắt rơi trên ngói đá.

Trong tiếng đàn, nàng ta thở than:

“Giọng nô vốn rất hay, tiếc rằng từng bị một tiểu lang vô tình đánh trọng thương, thương đến phổi, nên gặp tiết trời âm u ẩm ướt là ho không ngừng, chẳng thể xướng ca nữa.”

Bảo Châu nghe mà lòng động thương xót:

“Lại có kẻ nhẫn tâm đến thế, ra tay đánh đập một nữ nhân yếu đuối?”

Nữ nhân ấy ngậm ngùi, nói bằng giọng khắc khoải:

“Nô từng đem lòng ái mộ, một dạ thành tâm đối đãi, nào ngờ gặp phải kẻ máu lạnh, thân tâm đều bị hắn giẫm đạp tan tành… đến giờ nhớ lại còn rùng mình sợ hãi.”

Tiếng tỳ bà theo đó mà chùng xuống, réo rắt bi ai, dường như cả cơn mưa thu ngoài hiên cũng bị gói ghém trong từng dây tơ tiếng gảy. Bảo Châu bất giác liên tưởng tới câu chuyện Lý Oa mới nghe khi nãy, ngỡ nữ nhân này cũng từng trải một mối tình oan nghiệt, đầy đớn đau uẩn khúc.

Trời đã tối hẳn. Dù trong tiệm đã châm đèn, song ánh sáng leo lét chẳng đủ soi rõ mọi thứ. Bảo Châu nheo mắt nhìn kỹ cây tỳ bà trên tay nàng kia, mỗi lúc lại càng thấy có điều chẳng ổn.

Tỳ bà thông thường phần giữa bụng đàn sẽ bọc một lớp da mỏng gọi là “bát diện”, thường được vẽ các họa tiết thanh nhã như sơn thủy, hoa lá, Phật pháp. Nhưng cây đàn này lại vẽ một mảng hoa như máu, giữa bụi hoa là hai bộ xương người ôm chặt lấy nhau một mặc váy lụa, một khoác la bào chẳng biết đang diễn cảnh gì.

Phần trục đàn vốn dùng gỗ dâu hay gỗ tử đàn, nhưng cây đàn này lại làm từ xương trắng. Dây đàn cũng chẳng phải gân gà thông thường, mà là thứ dây trắng nhợt, không rõ từ da thịt loài gì, nhìn một cái đã thấy rờn rợn.

Bảo Châu càng nhìn càng bất an. Nàng bỗng nhớ tới một chuyện cổ quái, quay sang nhìn Thập Tam Lang thì giật mình: chú tiểu kia toàn thân mồ hôi lạnh, tay chắp trước ngực, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Nếu nghe kỹ, sẽ nhận ra đó là một đoạn chú đuổi tà trong Kinh Lăng Nghiêm.

Cảnh tượng đó khiến lòng nàng run lên. Quay đầu nhìn lại nữ nhân kia, lần này, nàng để ý đến chiếc trâm trắng cài trên đầu, lại thấy rõ đó không phải trâm thường, mà là một đầu lâu chạm rỗng bằng xương. Da gà lập tức nổi khắp người, tóc gáy dựng đứng. Cây đàn kia, người đàn kia, từ đầu đến chân đều toát ra hơi thở ma quái, âm u, khiến người ta lạnh sống lưng.

Tiếng đàn cũng đổi khác, mỗi lúc một thê lương, mơ hồ như tiếng hồn ma khóc than bên bờ suối vàng. Khúc nhạc vừa dứt, nữ nhân kia ngẩng đầu, ánh mắt sâu lắng nhìn sang Bảo Châu, dịu dàng hỏi:

“Tiểu nương tử, nô đàn khúc này có vừa ý người chăng?”

Lúc ấy, mái tóc nàng đen nhánh như quạ, da trắng như tuyết, nhưng đôi mắt lại phát ra ánh lục quái dị. Bảo Châu kinh hoàng đến tê cứng cả người, lưỡi như dính chặt vào vòm miệng, không còn biết ứng đối ra sao, cuống quýt nói đại:

“Đàn… đàn cũng được… chỉ là… âm sắc cây đàn này nghe lạ lắm, như thể bên trong… có gì đó không ổn…”

Nữ nhân sững lại, rồi đột nhiên phá lên cười lạnh:

“Ngươi quả thật không giống người thường.”

Tiếng nàng chưa dứt, gió lạnh đã thốc đến, sát khí rợn người như cuốn theo cơn mưa ùa thẳng vào phòng.

Trong đêm mưa mịt mùng, một nữ nhân xa lạ đột ngột xuất hiện cùng cây tỳ bà kỳ dị, toàn thân toát ra thứ hơi lạnh âm hàn lạ lùng. Một khúc nhạc vừa dứt, sát khí đã bủa vây khắp không gian.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 69


Bảo Châu gần như không thể thở được, toàn thân như ngâm trong nước băng lạnh mang tên là sợ hãi, cảm giác đuối nước giữa đồng khô cỏ cháy, tay chân rũ rượi không còn chút sức lực nào, mồ hôi lạnh từ chân tóc nhỏ giọt chảy xuống mặt, nhưng đến cả đưa tay lên lau nàng cũng chẳng dám.

Nàng liếc nhìn người kể chuyện ngồi bên, thấy ông ta cũng lộ vẻ kinh hãi vặn vẹo, tay run lẩy bẩy nắm chặt cây quạt, hiển nhiên cũng cảm nhận được sự thay đổi đáng sợ trong không khí.

Tiếng đàn tỳ bà trầm xuống, tiếng tụng kinh của Thập Tam Lang ở phía sau bỗng trở nên rõ ràng hơn, mưa rơi tí tách trên mái nhà, sương lạnh lững lờ từ cửa dâng lên khắp gian nhà nhỏ.

“Quỷ đói súc sinh, mù lòa câm lặng, oán ly biệt, ái chẳng thành, cầu chẳng được…” – tiếng tụng đều đều vọng vào tai, thỉnh thoảng bị xen ngang bởi cơn ho rũ rượi của người đàn bà tỳ bà.

Bảo Châu hoảng hốt nghĩ: Nàng ta là quỷ, nhất định là quỷ.

Chẳng lẽ vì đêm mưa này nàng lỡ nghe người kể truyện “Lý Oa”, đã vô tình gọi đến hồn ma vất vưởng đầu đường? Tiếng nói của nàng ta đẫm đầy oán hận, là vì chết oan uổng trong bệnh tật, hay vì yêu mà chẳng được, bị người bội bạc khiến trái tim tan nát?

Bảo Châu từ nhỏ vốn sợ ma, trong đầu bất giác hiện về những lời đồn quái đản nơi cung cấm, rằng nữ quỷ bao giờ cũng hung dữ hơn nam bởi đời sống bất công, chịu đựng nhiều oan khuất, nên khi hóa thành vong hồn thì càng mang nặng thù hận.

Cung tiễn vẫn để trong phòng, nhưng dù có vũ khí trong tay, không có cao tăng ban phép thì cũng chẳng ngăn được loại lệ quỷ ghê gớm thế này. Huống chi, chú Lăng Nghiêm cũng chẳng đủ sức xua đuổi nàng đi.

Có vẻ như nữ quỷ rất để bụng lời chê tiếng đàn của Bảo Châu, nàng điều chỉnh lại trục đàn bằng xương trắng, khảy dây thăm dò âm sắc. Nhưng tiếng tụng kinh cứ vọng đều đều sau lưng, nàng bất ngờ quát lên:

“Tên đầu trọc ồn ào! Câm miệng cho ta!”

Tiếng quát sắc lẻm như lưỡi dao, khiến đầu óc Bảo Châu ong ong, mắt hoa tai ù. Tiếng tụng kinh đằng sau lập tức ngưng bặt, Thập Tam Lang bị chấn đến mức ho sặc, khó thở. Cảm giác lạnh lẽo trong phòng lập tức đậm thêm mấy phần, khiến Bảo Châu không kìm được, nước mắt lã chã rơi.

Đến cả kinh cũng không chế ngự nổi ả ta, thì đây chắc chắn là một oan hồn tàn độc, oán khí sâu nặng.

Cố lấy hết dũng khí, nàng run run nói:

“Oan có đầu, nợ có chủ. Chúng ta nào có thù oán gì với ngươi? Hãy đi tìm kẻ từng phụ ngươi mà trả thù!”

Nữ quỷ cười lạnh, giọng khàn đục:
“Ta không nhầm đâu. Kẻ bạc tình vô lương đó… vừa rồi còn lưu lại nơi đây…”

Bảo Châu nghẹn lời, cố cãi lại:
“Nhưng… người ngươi nói, chúng ta hoàn toàn không quen biết mà!”

Nữ tử lại đổi giọng, trở nên nhẹ nhàng, mị hoặc:

“Ngươi biết đấy… người đó thích mặc áo xanh, giang hồ đồn rằng từng bị một cô nương cưỡi lừa bắt sống. Ta cũng tò mò lắm, không biết là hạng sắc nước hương trời nào khiến kẻ ấy cam tâm chịu trói. Vậy mà hôm nay gặp mặt, hóa ra chỉ là cô bé biết khóc lóc… Thật thất vọng thay cho trái tim hắn.”

Nghe vậy, Bảo Châu chết sững. Nữ quỷ kia nói chẳng phải đang chỉ… Vi Huấn?

Tỳ bà nữ lặng lẽ cười buồn:
“Hắn đối với ngươi chắc hiền lành lắm nhỉ? Nào ai biết, năm đó chính hắn lôi ta khỏi giường, ra tay đánh đập không chút thương xót…”

Chưa dứt lời, một bóng xanh vụt qua cửa như gió lướt, vung tay đánh tới như sấm sét. Tỳ bà nữ biết rõ đòn đánh nặng nề ấy không thể chống, bèn lách người tránh đi.

Người áo xanh lập tức đổi chiêu, chưởng thứ hai áp thẳng xuống vai đối thủ. Tỳ bà nữ nửa thân bị dính chưởng khí, lập tức thấy thân thể trì trệ, biết nếu trúng đòn chắc chắn bỏ mạng. Nàng bèn vung tay, móc dây đàn chắn ngang. Hai luồng chưởng lực va chạm, vang lên một tiếng “keng” rúng động, như chuông vỡ giữa núi sâu.

Kình lực dội ra bốn phía, màn rèm bay phần phật, đồ đạc rung chuyển, bụi đất lấm tấm.

Từ khi Vi Huấn xuất hiện, khí lạnh quanh người Bảo Châu dần tan, tay chân cũng cử động được. Dù không bị thương, mái tóc nàng cũng bị luồng chưởng phong xé mất mấy sợi.

Tỳ bà nữ mượn lực thoát thân, tung mình né về phía cửa. Nửa người như bị lửa đốt, khí huyết quay cuồng, nhưng vẫn cố gắng đứng vững. Ôm lấy đàn, nàng đứng đó, dáng người thướt tha mà giọng thì thê lương:

“Tiểu quỷ vô tình, lại định khiến nô đây tan nát cõi lòng một lần nữa sao?”

Vi Huấn lạnh như sắt, mắt ánh lên sát khí:

“Tự ngươi chuốc lấy.”

Tỳ bà nữ thoắt lùi, dáng như cánh bướm lướt gió, định bỏ chạy. Vi Huấn lập tức đuổi theo, tay vang lách cách, chuẩn bị ra đòn kết liễu. Nhưng nàng ta đã sớm chuẩn bị, trong tay áo rút ra ba phi đao mảnh như cánh ve, vút bay như chớp, một trong số ấy lao thẳng về phía Bảo Châu!

Vi Huấn nghe gió phân hướng, vội ném một vật ngăn chặn. “Đinh!” gương đồng rạn nứt vỡ đôi rơi xuống đất, cũng chặn được mũi ám khí.

Trong lúc giằng co, tỳ bà nữ tung mình lên, nhẹ nhàng như người giấy bay qua nóc nhà. Vi Huấn tính đuổi theo, nhưng vừa liếc thấy Bảo Châu mặt không còn giọt máu, đôi môi nhợt nhạt, cả người run bần bật, chàng bỗng chững lại. Sát khí lạnh băng trong lòng liền tan thành sóng mềm, tay cũng khựng lại giữa không trung.

Trong khoảnh khắc đó, bóng áo trắng đã khuất hẳn. Ngoài trời, tiếng cười bén nhọn giữa màn mưa u ám vẫn vang vọng, vừa đắc ý, vừa châm chọc.

Bảo Châu mềm nhũn ngồi phịch xuống, cả người run lẩy bẩy, nước mắt hòa lẫn mồ hôi lạnh, tràn đầy mặt.

Vi Huấn quay lại, bước nhanh đến bên nàng, lạnh lùng đặt tay lên cổ nàng, ấn vào một huyệt đạo gần yết hầu nơi mạch máu gần tim, có thể rõ ràng kiểm tra sinh mệnh.

Ban đầu, nàng tưởng hắn định ra tay, hoảng sợ co người lại, run rẩy. Nhưng rồi nhận ra, tay hắn không siết mà chỉ nhẹ nhàng đặt lên da thịt, lặng lẽ thăm mạch. Nước mắt nàng rơi lã chã lên mu bàn tay chàng lành lạnh, âm thầm, run rẩy như chính nàng lúc này.

Vi Huấn bắt mạch kỹ càng, xác nhận nàng không bị nội thương mới nhẹ tay buông ra, lại từ đầu đến chân cẩn thận nhìn một lượt, lúc ấy mới thực sự yên tâm. Nhưng rồi hắn mới nhận ra, mu bàn tay mình ươn ướt là nước mắt nàng rơi, lạnh đến giật mình. Trong lòng dấy lên ý muốn lau đi nước mắt ấy, nhưng tay vừa nhấc lên, lại không dám đưa tới.

“Ta về muộn.” Vi Huấn nói khẽ, giọng mang vẻ hối hận. Thập Tam Lang bình thường cũng đủ để bảo vệ nàng trước vài ba kẻ phàm tục, ai ngờ giữa trời mưa nơi đất khách này lại đột ngột xuất hiện một nữ nhân như quỷ.

Hắn bụng dạ rối bời, lại nghe Bảo Châu nức nở, giọng run run:

“Vừa rồi… thứ đó là người, hay là… quỷ?”

Vi Huấn trấn tĩnh đáp:

“Là người sống, một kẻ trong giang hồ chuyên giả thần giả quỷ để mê hoặc lòng người. Ngươi không cần sợ.”

Bảo Châu vẫn còn bàng hoàng, như chưa hoàn hồn. Một lúc sau, lại lên tiếng, giọng đầy ngờ vực:

“Nếu là người, vì sao nàng ta nói ngươi là tình lang? Rằng từng bị ngươi đánh trọng thương, tới tận đây để báo thù. Có phải là thật?”

Nghe nàng nói vậy, Vi Huấn thoáng sững sờ. Lúc này mới chợt hiểu ra: ngoài phi đao, ả đàn bà kia còn để lại một nhát đâm hiểm độc hơn gieo nghi ngờ. Hắn vội vàng biện giải:

“Nàng ta nói bậy! Không phải ca kỹ gì cả, là thủ lĩnh thích khách ở Trường An…”

Lời còn chưa dứt, chợt nghe một tiếng thét vang lên từ trong phòng, ai nấy giật mình kinh hãi.

Tiếng thét đó phát ra từ ông kể chuyện. Không có người bảo hộ, ông ta trúng phải dư âm kình lực từ dây đàn văng loạn lúc trước, khắp người chi chít những vết xước nhỏ, tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng một nhát phi đao vừa rồi đã xé toạc búi tóc và một mảng da đầu của ông.

Dao mảnh, sắc bén, đến nỗi giờ này ông mới nhận ra đau khi máu đã bắt đầu phun thành dòng. Da đầu rách toạc, lộ ra cả khối xương trắng bệch như trứng gà, máu nhuộm đỏ nửa thân, trông vô cùng rợn người.

Vốn đã bị nữ nhân kia dọa mất hồn, nay lại thêm mất máu quá nhiều, ông lập tức hoảng loạn, la hét như điên, vừa chạy vừa khóc, bỏ cả quạt, bỏ cả mộc bảng, lao thẳng ra khỏi khách đ**m, chẳng biết đi đâu trong đêm mưa.

Máu từ người ông vung vãi khắp nơi, thấm vào sàn, lan ra tận thềm cửa. Chủ quán nghe động, vừa ló đầu nhìn qua đã kinh hãi, tưởng có cướp giết người, vội vàng tụng niệm Phật hiệu, co cẳng chạy vào hậu viện trốn biệt, không dám ló mặt.

Cảnh tượng máu me khắp nơi khiến lòng Bảo Châu càng thêm kinh hoảng. Nàng đưa đôi mắt thất thần nhìn Vi Huấn, lí nhí:

“Ta không hiểu hai người từng có tình duyên oán hận ra sao, nhưng nếu là người thì tại sao hành tung lại quỷ dị đến thế?”

Vi Huấn cũng cảm thấy bất an, lòng thầm nhủ: Dù trên người có dính phải bao nhiêu vụ giết người oan uổng, thì chuyện này cũng cần làm rõ trước đã.

Hắn vội nói:

“Chỉ có thù hận, không có tình duyên! Đúng là ta từng ra tay với nàng, nhưng là vì nàng động thủ trước, bị đánh là đáng tội.”

Quay sang thấy Thập Tam Lang vẫn đứng bất động chắp tay như tượng Phật, Vi Huấn quát:

“Ngươi đừng có đứng làm Địa Tạng Bồ Tát nữa! Người ta chạy mất rồi!”

Thập Tam Lang vừa bị giọng quát như lưỡi dao của nữ nhân kia chấn động đến mức nghẹn ngào, cổ họng rát ngọt như nuốt máu. Phải mất một lúc mới ổn lại được hơi thở, hắn ỉu xìu cúi đầu:

“Xin lỗi sư huynh, đệ đã cố hết sức… thật sự không phải đối thủ của tam sư tỷ.”

Vi Huấn bực bội nói:

“Huynh đâu mong đệ đánh thắng, chỉ không muốn để ả ta vu oan cho huynh!”

Nghe đến đó, Thập Tam Lang mới hiểu ý, vội vàng nói với Bảo Châu:

“Cửu Nương đừng sợ! Người vừa rồi là tam sư tỷ của bọn ta ‘Âm Bà Ma’ Thác Bạt Tam Nương, từ lâu đã có thù sâu với đại sư huynh, gặp là đánh. Nàng ấy… từ xưa tới giờ vốn đã rất dễ dọa người.”

Tuy mở đầu bằng “đừng sợ”, kết thúc lại bằng “rất dễ dọa người”, khiến lời an ủi chẳng có chút hiệu quả nào. Rõ ràng ngay chính hắn cũng vô cùng khiếp sợ vị sư tỷ kia.

Trong đầu Bảo Châu, những tưởng tượng kiều diễm từ truyện “Lý Oa” đã tan thành mây khói, chỉ còn vương lại hình bóng của một ác linh áo trắng mang tỳ bà, quỷ khí nặng nề đến rợn người. Nàng thầm nghĩ, Sư môn của Vi Huấn sao mà kỳ dị thế, một người lại đáng sợ hơn người trước?

Gió lạnh kèm mưa bụi lùa từ cửa sổ vào, cuốn theo mùi máu tanh. Thác Bạt Tam Nương đã đi mất không còn bóng dáng, như chưa từng tồn tại. Nhưng khắp phòng đầy máu, cùng chiếc túi da đựng tỳ bà nằm ngửa trên ghế, chứng minh vừa rồi không phải ác mộng.

Mặt trong túi da phơi ra, trên nền da màu vàng nhạt lộ ra hình xăm một vị Thiên Vương với nét mực đậm, chằng chịt mụn thịt như da người, rõ ràng là một mảnh da người bị lột xuống khắc thành. Chỉ nhìn thôi cũng khiến da đầu tê rần.

Giờ biết đó là người thật, Bảo Châu càng xấu hổ vì bản thân vừa rồi hoảng loạn đến nỗi không nhúc nhích nổi. Nhưng hồi tưởng lại trận giao đấu ban nãy, một bóng áo xanh và một bóng áo trắng quấn lấy nhau, chiêu thức quỷ mị như ảo ảnh, nàng mới hiểu rõ: nếu nàng có cầm cung trong tay, cũng không chắc có thể nhắm trúng kẻ địch mà không làm tổn thương Vi Huấn.

Trong không gian hẹp như hành lang, khoảng cách gần thế, cung tên đúng là không thích hợp.

Lúc ấy mới dần bình tĩnh lại, Bảo Châu cảm thấy toàn thân đều ướt mồ hôi lạnh, tóc tai bết dính, mặt cũng lem nhem nước mắt. Từ nhỏ đã khổ luyện võ nghệ, nay ra trận chỉ biết khóc, nàng vừa thẹn vừa giận, má trắng bệch dần ửng đỏ.

Nàng muốn nhanh chóng về phòng rửa sạch mồ hôi tủi hổ. Đến cửa, quay đầu lại thấy Vi Huấn vẫn theo sau, dáng vẻ có chút chần chừ bất an.

“Ta không bị thương,” nàng nói.

Vi Huấn “ừ” một tiếng, mắt nhìn sàn nhà dưới chân nàng, khẽ thì thầm:

“Chỉ có thù…”

Bảo Châu sững người, chợt hiểu ra hắn đang lo điều gì. Nghĩ đến cảnh sinh tử kề cận khi nãy, hắn không hề lo cho bản thân, vậy mà giờ lại sợ nàng hiểu lầm vì lời nói vu vơ của đối phương. Nàng đáp:

“Ngay câu đầu tiên ngươi nói, ta đã tin rồi. So với lời của người xa lạ, ta dĩ nhiên tin ngươi hơn.”

Dứt lời, nàng bước nhanh vào phòng, xoay người khép cửa, lặng lẽ đổ nước rửa mặt.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 70


Thác Bạt Tam Nương tuổi đã gần trung niên, xưa kia thích giết chóc thành tính, nay tuy phần nào thu liễm, nhưng vẫn giữ thói ra tay khi thấy vàng thật bạc trắng. Dẫu không còn hung hăng như trước, nhưng chuyện như cắt da đầu, chặt búi tóc người khác, nàng vẫn làm nhẹ như không.

Vi Huấn không rõ nàng đến huyện Linh Bảo rốt cuộc là vì việc gì, cả đêm ngồi xếp bằng trước cửa phòng Bảo Châu nhập định, phòng khi Tam Nương quay lại gây họa.

Sáng hôm sau, hắn gọi Bàng Lương Ký tới, lạnh giọng hỏi:

“Ngoài ta và Lão Thất, ngươi còn mời ai trong sư môn đến nữa?”

Bàng Lương Ký mặt tái mét, hốt hoảng nói:

“Sao có thể chứ! Đây là hôn lễ, chẳng phải chuyện tang ma! Đại sư huynh nói vậy là có ý gì?”

Vi Huấn khoanh tay, nói thẳng:

“Hôm qua ta thấy Lão Tam và Lão Ngũ trong thành.”

Bàng Lương Ký nghe đến chữ “Tam” thì toàn thân run rẩy, sắc mặt tái xanh như tàu lá chuối.

Hoắc Thất Lang cũng thất sắc, vội nói:

“Ngũ sư huynh tuy phá phách nhưng không động đến thì còn đỡ. Chứ Tam sư tỷ mà đến thì… hôn lễ còn đổi được không?”

Bàng Lương Ký lắc đầu mạnh:

“Ngày lành đã xem kỹ càng, đổi thì phải đợi sang năm mới rước được A Nhiễm về. Huống hồ ta đã phát thiếp mời anh hùng khắp nơi, giờ không chỉ là cưới thê, mà còn là lễ rửa tay gác kiếm, từ biệt giang hồ.”

Ngọc Thành Bàng gia vốn là nhà giàu đất cát, chẳng thuộc võ lâm chính tông. Tục ngữ rằng, kẻ nghèo học văn, người giàu luyện võ Bàng Lương Ký từ nhỏ mê thích thương côn, lại có khiếu võ, nên được gia đình mời thầy giỏi về dạy. Nhờ thế mà kết giao rộng rãi, danh tiếng vang khắp Trung Nguyên, dần dà cũng có dáng dấp một môn phái.

Sau này vì muốn tiến xa trong võ học, y mới rời Quan Trung, bái Trần môn làm thầy, không ngờ gặp phải biến cố, suýt mất nửa đời người. Việc này ai nghe cũng lắc đầu.

Trần Sư Cổ tính tình kỳ quái, cả đời chuyên đào mộ cổ, không hề để tâm thanh danh, cũng chẳng màng chuyện giang hồ. Tuy không lập môn mở phái, nhưng về võ học thì xuất thần nhập hóa, cả đời chưa từng bại trận, từng được xem là người mạnh nhất thiên hạ lúc ba mươi tuổi. Chỉ vì đi theo đường tà nên không ai dám công khai ca ngợi.

Người đã mất, để lại một lũ đồ đệ võ công cao nhưng tính nết cổ quái. Người đến dự hôn lễ Bàng Lương Ký, một phần vì giao tình với Bàng gia, một phần là vì tò mò muốn xem mặt đám đệ tử tà môn kia.

Giờ ngày cưới cận kề, thiếp mời đã phát khắp nơi, quanh vùng đâu đâu cũng thấy giang hồ nhân sĩ lảng vảng.

Bàng Lương Ký sốt ruột nói:

“Tam Nương chẳng lẽ nhận tiền giết cả nhà ta?”

Hoắc Thất Lang nói:

“Từ ngày bị đại sư huynh đánh trọng thương, Tam sư tỷ gần đây rất ít rời khỏi nhà, nghe nói đang ở suối nước nóng núi Ly dưỡng bệnh. Có ai thuê cũng chỉ sai người dưới ra tay.”

Bàng Lương Ký ngạc nhiên:

“Thật sao? Vì cớ gì vậy?”

Hoắc Thất Lang đang định khoe khoang nội tình, thì bị Vi Huấn liếc mắt cảnh cáo, bèn lập tức sửa lời:

“Có đại sư huynh ở đây, thì còn sợ gì nữa?”

Vi Huấn gật đầu, giọng điềm đạm:

“Ngươi đã mời ta đến, ta sẽ giúp ngươi thành hôn suôn sẻ. Nhưng ta chỉ có hai tay, bảo vệ ngươi thì khó mà bảo vệ được Cửu Nương. Ngươi nên tìm bốn người thật đáng tin, theo sát nàng suốt lễ.”

Bàng Lương Ký lập tức hiểu ý. Thác Bạt Tam Nương vốn giỏi ám sát, bốn người kia không hẳn là để hộ vệ, mà chính là để cản đòn bất ngờ chỉ cần tranh thủ được một nhịp, đã đủ cho Vi Huấn ứng cứu kịp thời.

Y vỗ ngực cam đoan:

“Sư huynh yên tâm! Cửu Nương là khách quý, Bàng gia nhất định sẽ chăm lo chu đáo. Hơn nữa, nếu Tam sư tỷ tới, cũng là vì ta, chẳng liên can gì đến nàng ấy.”

Vi Huấn không đáp. Trong lòng nghĩ, hôm qua Tam Nương quả thực đã vào khách đ**m động thủ. Là vì trả thù một chưởng năm xưa, hay là có ý đồ với Bảo Châu, thì khó mà đoán chắc.

Từ ngày hộ tống nàng rời khỏi Trường An, trên đường phần lớn chỉ gặp bọn đạo tặc vặt vãnh, chẳng đáng nhắc tới. Nhưng nếu có kẻ biết được thân phận thật sự của nàng, mời đến cả tay thích khách số một Trường An cũng không phải không có lý.

Chỉ là… Lão Tam giết người chưa từng chậm trễ. Nếu thật muốn hạ sát thủ, lúc hắn trở về khách đ**m chỉ thấy xác người, không thể còn sống. Hơn nữa, phi đao nàng ném ra khi rút lui cũng không nhằm vào yếu huyệt suy nghĩ kỹ lại, quả thật có nhiều điểm lạ.

Ban đầu hắn không muốn cho Bảo Châu dự tiệc cưới, xem như một cách tránh né rối ren xưa cũ. Nhưng với sự xuất hiện bất ngờ của Thác Bạt Tam Nương, e rằng chỉ khi nàng ở trong tầm mắt, hắn mới có thể yên tâm.

Bảo Châu sắc mặt u ám từ phòng bước ra, cúi đầu nhìn thấy ba sư huynh đệ Vi Huấn đang tụ lại bàn chuyện nơi đại sảnh. Quay lại, lại thấy Dương Hành Giản đứng ngẩn ngơ ở cửa, chống một gậy gỗ đào, dáng vẻ ngơ ngác lẩm bẩm:

“Sao mấy chuyện quỷ quái này cứ liên tiếp xảy ra? Lại thêm một người nữa…”

Bảo Châu nghĩ bụng: Kẻ đáng sợ đêm qua, ông còn chưa thấy kia mà. Nàng mộng thấy ác quỷ suốt đêm, may thay lần nào cũng bị tiếng cành đào gõ cửa sổ đánh thức. Trước kia nghe cung nhân nói gỗ đào trừ tà nàng không tin, nay ngẫm lại, có lẽ đúng là hữu ích.

Dương Hành Giản vừa trông thấy nàng, liền nở nụ cười cung kính mơ hồ:

“Công chúa, lão thần đã khỏi bệnh rồi…”

Ông bước tới định hành lễ, ai ngờ vừa nhấc chân đã loạng choạng, ngã nhào xuống đất.

Bảo Châu thở dài, bước lại đỡ ông dậy, dìu về phòng nằm nghỉ.

Bàng Lương Ký nghe tiếng trò chuyện trên lầu, tuy chân què nhưng tai vẫn rất thính, liếc mắt nhìn lên, thắc mắc hỏi:

“Vừa rồi lão già kia gọi ai là công chúa?”

Vi Huấn không ngẩng đầu, thản nhiên đáp:

“Ngươi nghe nhầm rồi, ông ấy chúc ‘tân nhân trăm năm hòa hợp’. Ngồi trong nhà lâu quá, tai ngươi kém rồi.”

Công phu của Bàng Lục và Hoắc Thất Lang chẳng thể so với Vi Huấn, lời tuy không mấy trôi chảy, nhưng hai người không thể không tin.

Quản gia Bàng quả nhiên giữ lời, cho hai người trang điểm có kinh nghiệm đến giúp Bảo Châu chọn kiểu tóc và y phục. Phụ nữ Linh Bảo huyện vốn ưa chuộng trang sức hình hoa đào, áo quần thêu trái chín, kiểu dáng mềm mại, xinh tươi. Bảo Châu thử qua vài bộ, tuy không sặc sỡ lấp lánh, nhưng lại dịu dàng nền nã, nàng vừa ý, liền chọn lấy một bộ.

Hai ngày trôi qua trong chớp mắt, ngày lành đã tới. Trời quang mây tạnh sau cơn mưa.

Lễ cưới bắt đầu từ buổi chiều, nhưng nhà trai đã chuẩn bị từ sáng sớm. Khắp nơi tràn ngập không khí náo nức và hồi hộp. Bàng Lương Ký từ sớm đã sai người đến đón những vị khách quan trọng ở khách đ**m, chuẩn bị rước về Bàng phủ nơi Ngọc Thành.

Nắng sớm còn mờ nhạt, Vi Huấn cùng Hoắc Thất Lang đảm đương việc tiếp khách, mỗi người đều tự thu xếp chỉnh tề: tắm gội, chải chuốt, thay y phục. Từng lớp tơ lụa lần lượt khoác lên người, áo lễ rực rỡ phấp phới.

Bảo Châu được trâm nương giúp búi tóc thành dáng “Vọng Tiên”, cắm một chuỗi hoa đào bằng nhung mềm nhẹ, giữa trán dán một cánh ti hoa hình cánh đào bằng lụa, đứng trước gương soi lại, trong lòng vui vẻ vô cùng.

Nàng bước ra khỏi phòng, thấy Vi Huấn cũng đã ăn vận xong. Y phục tiếp khách là áo dài màu đỏ thắm, sắc màu rực rỡ khiến khuôn mặt vốn trắng nhợt của hắn như có thêm huyết sắc. Eo thắt đai khảm hoa văn mạ vàng, chân mang giày ô da thêu mây, phong thái giang hồ tạm lùi, thay vào đó là vẻ thanh tú trầm tĩnh lan tỏa quanh thân, thần khí trong trẻo như ánh sớm mai.

Hoàng gia xưa nay chuộng sự lộng lẫy quý giá trong y phục, bộ đồ hắn mặc hôm nay thật hợp với gu thẩm mỹ của Bảo Châu. Nàng ngắm một lượt rồi vui vẻ khen:

“Không phải rất đẹp đó sao? Ngươi nên mặc những màu tươi tắn như vậy thường xuyên, trông khí sắc khá hẳn lên.”

Dứt lời, nàng xách vạt váy, dẫm bước trên nền đá chạm cánh đào, lướt nhanh xuống lầu như cánh bướm. Búi tóc cài hoa nhung, chuông bạc leng keng ngân vang theo mỗi bước chân.

Vi Huấn vốn không quen mặc thứ quần áo bằng tơ lụa màu mè ấy, cả người có phần gò bó. Nhưng được nàng khen một câu, hắn đứng ngây ra như tượng, trên mặt thoắt đỏ ửng, không rõ là do ánh sáng hồng bào phản chiếu hay vì máu nóng dồn lên đầy ngực.

Tin Bàng công tử tổ chức đại hôn lan rộng khắp thành, không lâu sau đã có rất nhiều trẻ nhỏ vây quanh đội tiếp rước, đòi phát bánh trái lấy may. Khách trọ cũng rộn ràng kéo ra trước cửa xem náo nhiệt. Người Bàng gia đã chuẩn bị sẵn: đại táo, hạt dẻ, hạt sen, chia tay từng nắm cho đám trẻ con lấy lộc.

Bảo Châu tươi cười đứng bên cửa một lúc, thấy Thập Tam Lang sáng sớm ra ngoài chưa thấy quay về, nàng chọn lấy vài quả táo để dành cho hắn, xoay người lại liền trông thấy một người khác mặc lễ phục đỏ chậm rãi bước xuống từ lầu khách đ**m. Nụ cười trên mặt nàng lập tức tắt ngấm, những quả táo trong tay lăn lóc rơi xuống đất.

Hoắc Thất Lang lần đầu tham dự hôn lễ người ta, lại còn đảm nhiệm vai trò người tiếp giá của sư huynh, nên rất chăm chút. Hôm nay, nàng cũng đặc biệt chỉnh trang: ngực quấn phẳng, khoác lên áo dài đỏ, dáng vẻ y hệt một trang tuấn tú phong nhã. Lạ kỳ là, vết sẹo dữ tợn thường hằn trên má nay biến mất tăm, khuôn mặt trở nên trơn láng như ngọc, thần thái thanh thoát lạ thường.

Bảo Châu chỉ liếc một cái đã thấy vóc dáng, vai rộng và phong độ kia rất giống huynh trưởng Thiều Vương của mình, khiến lòng nàng chấn động, hồn vía như tan biến.

Khác với muội muội, Lý Nguyên Anh hoàn toàn thừa hưởng vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của mẫu thân Tiết Quý Phi. Được phong tước “Thiều”, chỉ riêng cái tên cũng đã mang hàm nghĩa về vẻ tuấn tú trẻ trung. Khi mới mười bốn tuổi làm lễ vấn tóc, mặc áo tím, đội ngọc quan bước lên triều, dung mạo khiến triều thần sửng sốt. Khi ấy, tể tướng Bùi thường dùng một câu để ngợi ca: “Xuân sơn sáng trong, đoan nghiêm tựa thần linh.”

Nhưng vẻ đẹp ấy chẳng mang đến lợi lộc gì cho bản thân hắn, ngược lại là tai họa. Có kẻ gièm pha gọi hắn là “gái giả làm tướng”, là “họa mạo làm loạn quốc”. Vẻ ngoài quá mỹ miều, mỗi lần cưỡi ngựa ra phố đều khiến Trường An chật kín người xem, đến nỗi không thể di chuyển, còn phải cho lính Vệ Giới đi dẹp đường. Vì thế, từ đó về sau, hắn chỉ có thể đi xe thay vì cưỡi ngựa.

Mà ở đất Thịnh Đường tôn sùng võ nghệ, cưỡi ngựa là điều quen thuộc với cả văn quan võ tướng, quý nữ lẫn thường dân. Người phải ngồi xe chỉ có hai loại: hoặc yếu ớt b*nh h**n, hoặc bất tài. Cũng vì thế, người ta dần xì xào rằng Thiều Vương không đủ tư cách kế thừa ngai vàng.

Bảo Châu nhìn Hoắc Thất Lang trong bộ áo đỏ rực, lòng lại nhớ đến ngày huynh trưởng đại hôn năm ấy. Khi đó huynh nàng đã trưởng thành, càng lớn càng giống mẫu thân. Mặc áo cưới đỏ, dung nhan phong lưu, đứng bên tân nương Thôi thị lại khiến nàng trông mờ nhạt như chim câu xám.

Phụ hoàng vì thương nhớ Tiết Quý Phi nên lâu nay đã cấm hậu cung mặc đồ đỏ. Vậy mà ngày hôm đó, khi thấy nhi tử mặc hồng bào, dung mạo phảng phất như Quý phi trở lại trần gian, liền rơi lệ giữa điện, đến lúc nói lời chúc phúc cũng nghẹn ngào, khóc không ngừng, tựa ông già gả con gái.

Từ đó về sau, vì sầu bi mà lạnh nhạt dần, hoàng đế bắt đầu xa cách Thiều Vương. Lý Nguyên Anh từ được sủng ái trở thành bị gạt bỏ, dù sống giữa Trường An nhưng nhiều năm không được gặp cha ruột. Chính khoảng thời gian ấy, gian thần thừa cơ ly gián, khiến tình cha con thêm lạnh nhạt. Khi bị đày đến U Châu, huynh ấy thậm chí không có cơ hội tự mình biện giải.

Những tháng năm đau đớn ấy, Bảo Châu đã vô số lần nghĩ thầm: nếu có thể hoán đổi dung mạo với huynh thì tốt biết bao. Nàng sẵn sàng gánh vẻ đẹp tuyệt thế kia để huynh mình khỏi chịu oán thán chỉ vì chiếc mặt nạ trời ban ấy, để hắn được tin tưởng, xứng đáng làm người kế vị.

Thật ra, xét riêng ngũ quan, Hoắc Thất Lang chẳng giống Thiều Vương là bao, lại còn mang thân nữ, vóc dáng nữ tính rõ rệt. Một người là con nhà vương giả, một người là khách giang hồ, nàng chưa từng đặt hai người lên cùng một bàn cân.

Nhưng hôm nay, khi nàng ấy buộc ngực, khoác lên hồng bào, xóa bỏ vẻ ngang tàng thường ngày, vết sẹo cũng biến mất phong thái toát ra lại như có gì đó quá giống, khiến người ta không thể rời mắt. Một người là nữ giả làm nam, một là nam bị xem như nữ, như hai đầu gặp nhau giữa lằn ranh giới mờ ảo.

Đắm mình trong hồi ức chẳng mấy vui vẻ, lòng lại ngập tràn thương nhớ người thân cách biệt, Bảo Châu đã quên cả dè chừng, cứ thế sững sờ nhìn chằm chằm Hoắc Thất Lang như bị hút hồn.

Hai người đứng bên đều cảm thấy có gì bất thường.

Hoắc Thất Lang biết bản thân dung mạo tuấn tú, từng khiến không ít người chỉ vì một ánh nhìn mà si mê. Nếu không thế, nàng đã chẳng bị Động Chân Tử nhị sư huynh ra tay phá mặt. Nay nghe tiếng răng rắc vọng xuống từ hành lang tầng hai, lạnh lẽo như từ âm phủ truyền đến, nàng biết không ổn.

Lặng lẽ xoay người, cố làm mình mờ nhạt đi, rồi nhẹ bước tìm góc khuất bên tường, lặng lẽ ngồi xuống, mong tránh khỏi ánh nhìn khiến người ta động lòng nhưng cũng dễ chuốc họa.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 71


Vi Huấn thầm thấy mình thật nực cười.

Đôi mắt vốn sinh ra để nhìn, nàng muốn ngó ai thì nhìn, ai quản được? Lão Thất vẫn luôn là Lão Thất, đâu có bỗng dưng mọc thêm cái mũi hay đôi môi gì đặc biệt.

Vậy mà cái cảm giác nôn nóng bất an đang kìm nén trong lòng, lại cứ dâng lên không dứt, còn phải cố làm ra vẻ thản nhiên. Ngọn lửa âm ỉ ấy, rốt cuộc từ đâu mà bốc lên?

Nhất là khi nàng thuận miệng khen một câu, hắn liền cứng đờ không nói nổi một lời, quay người bỏ đi, mà ánh mắt lại không rời khỏi người kia. Trong lòng hắn chợt dấy lên một nỗi hụt hẫng khó tả, như vừa từ đỉnh Nhạn Phong trên núi Hoa Sơn rơi thẳng xuống vực sâu, không nơi bấu víu.

Trước đây, hắn từng khinh thường những chuyện rối ren lòng người, chẳng hiểu vì sao có kẻ lại phí hoài thời gian và sức lực vào những điều vặt vãnh ấy. Vậy mà giờ đây, chỉ một ánh mắt, một câu nói cũng đủ khiến tâm trí hắn chao đảo, nghĩ tới nghĩ lui, không thể gạt đi được.

Lần đầu nếm trải cảm giác lạ lẫm ấy, Vi Huấn thấy môi đắng ngắt, cổ khô khốc, lồng ng.ực phập phồng không yên, trên mặt không còn lấy một chút huyết sắc.

Suy cho cùng, hắn chỉ vì nghĩa khí mà đưa nàng đi U Châu tìm người thân. Viên ngọc Bảo Châu kia vốn không thuộc về ai, cũng không ai có quyền trói buộc nàng. Hắn nắm chặt lan can, ngón tay siết đến phát run, rồi lại buông lỏng, từng mảnh vụn gỗ theo kẽ tay rơi lả tả xuống sàn. Ấy vậy mà vẫn chẳng thể thốt nên lời.

Lầu hai có ai đó như vừa đánh vỡ ngũ vị hương, mãi sau mới thấy Bảo Châu dần thoát khỏi hồi ức về huynh trưởng, tò mò bước tới hỏi Hoắc Thất Lang:

“Sao trên mặt ngươi không còn vết sẹo nữa?”

Hoắc Thất nghe vậy, trong lòng chấn động, thầm kêu nguy to. Thường ngày nàng vẫn hay nói cợt, nay lại chẳng dám nói bừa nửa lời. Đang định quay đi tránh né, thì Bảo Châu đã kề sát lại gần, nghiêng đầu quan sát, tóc rũ xuống khẽ lay động cánh hoa đào đính trên trán, xem ra chỉ cần không cẩn thận là sẽ đưa tay sờ thử.

Hoắc Thất vội lùi một bước, mắt nhìn sang nơi khác, lúng túng đáp:

“Không phải vì tham gia hôn lễ của Lão Lục sao? Ta chỉ muốn giữ thể diện cho hắn, nên dùng ít phấn che lại thôi.”

Bảo Châu kinh ngạc. Trong cung, những ai có sẹo hay mụn đều quen dùng hoa điền hoặc giấy dán mặt để giấu đi khuyết điểm. Nhưng vết sẹo của Hoắc Thất kia đâu phải chút vết nhỏ, mà là một đường kéo dài nửa gương mặt, gập ghềnh dữ tợn sao chỉ dùng phấn mà có thể che giấu hoàn toàn, trông cứ như da thịt thật?

Nàng trầm trồ khen:

“Ngươi hóa trang giỏi thật, đến mức không phân biệt nổi thật giả.”

Hoắc Thất Lang cười đáp:

“Không phải hóa trang đâu, là thuật dịch dung.”

Đôi mắt hạnh mở to, Bảo Châu càng ngạc nhiên. Không ngờ trong sư môn kia còn có nhiều thuật kỳ lạ đến thế. Nàng hỏi:

“Nếu ngươi biết dịch dung, sao ngày thường không dùng luôn đi? Để cái sẹo dọa người kia làm gì?”

Hoắc Thất Lang lắc đầu, hỏi lại:

“Ngươi mỗi lần trang điểm tốn bao nhiêu thời gian?”

Bảo Châu đáp:

“Nếu làm kỹ thì mất gần một canh giờ.”

Hoắc Thất Lang nói:

“Ta cũng vậy. Nhưng người trong giang hồ đâu cần tranh sắc, chỉ so võ công ai cao ai thấp. Ta lại xui xẻo học vào một sư môn toàn lũ quái nhân, mỗi ngày còn không đủ ngủ để dưỡng thương, làm gì rảnh mà ngồi dịch dung mỗi sáng?”

Trong lời nói thoáng chút chua xót, bất đắc dĩ.

Vi Huấn từ trên lầu bước xuống, đi ngang qua hai người họ, lạnh nhạt buông một câu:

“Nếu ngươi chịu dành chút công sức ấy luyện thêm vài chiêu, thì đã không kém đến vậy, chẳng phải phải trông chờ vào gương mặt để nổi danh.”

Hoắc Thất Lang cười khổ, nói:

“Sư huynh lại đâm thọc rồi. Chúng ta ai chẳng là hữu danh vô thực? Ta là Khỉ La Lang Quân mặt nát, Bàng Lương Ký là con ngựa què, còn huynh, tên là Huấn mà chẳng thấy chút gì giống lời dạy.”

Rồi nàng quay sang Bảo Châu cười:

“Hắn chính là quái nhân trong đám quái nhân. Người đâu mà không cần ngủ, cả đêm chiếm chỗ trước cửa phòng người ta ngồi nhập định, coi như nghỉ.”

Bảo Châu nghe mà ngơ ngác, ngẩng đầu nhìn Vi Huấn, rồi ngạc nhiên hỏi:

“Sao ngươi lại ngồi trước cửa phòng người ta?”

Vi Huấn cứng người, giả vờ không nghe thấy gì, lập tức quay lưng ra khỏi khách đ**m, làm bộ kiểm tra yên cương cho ngựa.

Bảo Châu thấy hắn lại làm ngơ mình, trong lòng bực bội, liền nói với Hoắc Thất Lang:

“Ta không biết quái sư huynh các ngươi mạnh đến cỡ nào, nhưng ta biết hắn có một điểm yếu rất rõ.”

Hoắc Thất Lang mắt sáng như sao, hớn hở hỏi:

“Thật sao?! Vi đại lại cũng có cửa yếu?”

Bảo Châu hừ một tiếng:

“Chỉ cần ai hỏi đến chuyện hắn không muốn trả lời, hắn lập tức… giả điếc. Gọi thế nào cũng chẳng thèm ứng tiếng.”

Đứng ở cửa khách đ**m, Vi Huấn tay đang buộc cương ngựa chợt khựng lại. Hoắc Thất biết với khoảng cách này thì chắc chắn hắn đã nghe rõ ràng, không nhịn được phá lên cười sảng khoái.

Bảo Châu lại tiếp:

“Còn nữa, ta dám chắc hắn chẳng biết chút gì về thuật dịch dung.”

Hoắc Thất Lang cười hỏi:

“Sao ngươi chắc vậy?”

Bảo Châu đắc ý:

“Hôm nọ ta bôi chút phấn đỏ lên mặt, vẽ thành vết thương trông như thật, hắn nhìn xong mặt tái mét, sợ chết khiếp, chẳng phân nổi giả thật.”

Hoắc Thất Lang vỗ bàn cười nghiêng ngả.

Vi Huấn lúc này lỡ tay kéo mạnh quá, đứt cả dây yên, đành lẳng lặng buộc lại. Dù bị đem ra làm trò cười, nhưng ít ra cũng là tiếng cười vì hắn, lòng khẽ dịu lại đôi chút.

Lúc ấy, Thập Tam Lang người đã ra khỏi nhà từ sáng sớm cuối cùng cũng trở về. Trong tay ôm theo một cây cột cao tám thước, phía trên không treo cờ lụa mà lại buộc một cành đào còn xanh trái.

Mọi người ai nấy đã chỉnh trang sẵn sàng, cùng nhau cưỡi ngựa lên đường đến phủ Bàng gia ở Ngọc Thành.

Bảo Châu lấy làm lạ, hỏi:

“Đệ mang cái cột này để làm gì?”

Thập Tam Lang đáp:

“Đại sư huynh chuẩn bị đó. Nói là cành đào trừ tà.”

Bảo Châu ngẫm nghĩ, có lẽ là một tập tục dân gian nào đó, thấy thú vị nên cũng không hỏi thêm. Quanh đường đi có nhiều đứa trẻ la hét đòi tiền lẻ hoặc quả đào lấy may, nhưng Thập Tam Lang xưa nay vốn ham ăn vặt, hôm nay lại chẳng màng để ý. Chỉ lặng lẽ ôm lấy cây cột treo cành đào ấy, đi sát bên nàng, không rời nửa bước.

Ngọc Thành, phủ Bàng gia cử sáu gia đinh theo sát hộ vệ Cửu nương, vây nàng ở chính giữa. Bảo Châu từ nhỏ đã quen ra ngoài có hàng trăm cung nhân và nghi trượng vây quanh, nên cũng chẳng thấy có gì bất ổn. Chỉ là Thập Tam Lang đi sát bên, Bảo Châu chợt nhận ra hắn dường như cao lên không ít so với lần gặp ở chùa Thúy Vi. Với đà này, chẳng bao lâu nữa là kịp bằng nàng, khiến nàng cảm thấy vừa lạ lẫm vừa kỳ diệu. Trong lòng không khỏi nghĩ: liệu đệ đệ Lý Nguyên Ức còn ở lại trong cung có phải cũng đã lớn hơn rồi chăng?

Phủ Bàng gia ở Ngọc Thành quả là nhà hào phú, trong khu phố sầm uất mà chiếm cứ một mảng lớn đất đai, tráng lệ rực rỡ. Từ xa trông tới, mái ngói nối nhau, hồ ao dày đặc như răng lược. Quy mô ấy không thua gì các trang viên ở phía Nam Trường An. Mà phía Nam Trường An từ lâu vốn tụ hội những nhà vọng tộc, nhất là hai họ Đỗ và Vi ở Phàn Xuyên và phía Bắc khúc sông Vi, được ca ngợi là: “Thành Nam Đỗ Vi, đi mười dặm toàn đất quý.”

Bảo Châu ngẫm nghĩ, Thập Tam Lang mang họ Đỗ, Vi Huấn thì họ Vi hai họ lớn là vậy, mà người mang họ ấy bên nàng lại chỉ là những kẻ áo vải không một đồng dính túi rong ruổi giang hồ. Đối chiếu với danh môn thế tộc kia lại càng thêm thú vị.

Vì hôn sự của công tử Bàng gia, trong ngoài phủ tất bật không ngơi tay. Khi đoàn người Bảo Châu đến nơi, Bàng Lương Ký đang đứng trước cổng lớn, đôn đốc người hầu dựng nghi trượng. Trên khay là ba mũi tên, có lẽ cũng thuộc tục trừ tà trong lễ cưới.

Thấy khách tới, Bàng Lương Ký hớn hở nói:
“Tính ra vừa kịp lúc!”

Hắn dẫn mọi người vào nghỉ ngơi. Trên người đã đổi sang bộ trang phục đỏ rực dành cho tân lang, người gặp chuyện vui thần sắc cũng rạng rỡ hẳn, bước đi nhẹ nhàng, thoáng nhìn đã chẳng còn giống kẻ què hôm nào.

Bảo Châu ngắm cảnh trong viện, thấy cây giả đều bị dọn sạch, cỏ bị cắt phẳng, người hầu bận rộn dựng rạp tre giữa sân để cử hành đại lễ ngoài trời. Người qua người lại, tiếng gọi không dứt, cả sân toàn là dấu bùn giẫm lên, chẳng còn gì gọi là phong cảnh.

Bàng Lương Ký nói:
“Mấy hôm nay mưa liên tục, rạp tre lẽ ra phải dựng từ sớm, nay gấp gáp làm e khó tránh sai sót.”

Gia nhân liền dọn ghế cho khách ngồi nghỉ, còn hắn vì quá phấn khởi mà chẳng yên nổi. Bàng tổng quản khuyên nhủ:
“Tiểu lang, lễ nghi còn phải chờ đến rạng sáng mai, ta nên giữ sức thì hơn.”

Hoắc Thất Lang bật cười trêu:
“Giữ sức để đêm động phòng còn dùng chân chứ…”

Chưa dứt lời, nàng chợt khựng lại, nghĩ hôm nay là ngày vui, không nên buông lời tục tằn, huống chi bên cạnh còn có một cô nương nhỏ tuổi.

Bảo Châu thấy trên miệng giếng phủ chiếu trúc, cối đá để giữa sân đổ đầy bắp vàng, lấy làm lạ, liền hỏi người hầu đang dọn hoa:
“Đây là định giã gạo tại chỗ sao? Mà vì sao lại phủ chiếu trúc lên giếng?”

Tôi tớ vội đặt vật đang cầm xuống, lau tay trên áo rồi đáp:
“Thưa tiểu nương tử, đây là phong tục cát tường trong lễ cưới, nhà nào cũng làm thế, nô cũng chẳng rõ nguyên do. Nhà không có chiếu hay cối đá thì phải đi mượn về dùng.”

Bảo Châu thấy tấm chiếu ấy viền gấm, thêu hoa chim sặc sỡ, trông rất xinh, liền bước tới cầm thử một góc, nhưng thấy dường như đã được cố định chắc chắn.

Theo tục lệ trăm năm, lễ cưới tổ chức ngoài trời. Mọi người tụ tập trong sân trò chuyện, gia nhân mang ghế đến, Bảo Châu ngồi xuống, lập tức có tỳ nữ dâng chậu bạc rửa tay, rồi bưng sữa, quả khô, bánh trái lên. Nàng vốn quen được cung phụng, thiên kim nhà trời, càng đông người hầu hạ càng tôn quý. Dù chẳng ai biết nàng là vị khách nào, nhưng thấy khí độ ấy, chẳng ai dám chậm trễ, đều tự giác đứng quanh hầu hạ.

Bàng Lương Ký nhìn cảnh ấy, thấy họ còn cung kính hơn cả với mình, không khỏi lấy làm lạ:
“Cửu Nương thật sự giàu đến vậy sao?”

Vi Huấn cười đáp:
“Ngươi còn chưa tưởng tượng tới được nàng có bao nhiêu tiền đâu.”

Bàng Lương Ký lại chỉ Thập Tam Lang, hỏi:
“Tiểu đầu trọc ôm cột cờ làm gì?”

Vi Huấn đáp:
“Lá cờ ấy là tín vật. Người ở đâu, cờ ở đó. Cờ đổ là ta phải chạy đến liền.”

Bàng Lương Ký bừng tỉnh, định gọi tổng quản mang thêm vàng bạc tạ ơn Hoắc Thất Lang, mong nàng giúp mình lo liệu, nhưng quay ra đã thấy tổng quản đứng bên Cửu Nương từ lâu.

Bảo Châu vừa lột long nhãn bỏ miệng, liền nghe tổng quản cung kính nói:
“Trong nhà bận hôn sự, tiếp đãi không chu đáo, mong tiểu nương tử thông cảm. Có điều gì chưa ổn, xin cứ dạy bảo.”

Nàng thầm nghĩ những việc nhỏ thì không đáng nói, chỉ có một chuyện đáng lo, tốt nhất để người có trách nhiệm biết. Nàng lên tiếng:
“Hình như chuồng ngựa trong phủ có vấn đề?”

Tổng quản sắc mặt hơi đổi, lập tức phẩy tay bảo tỳ nữ lui ra, rồi ghé gần nói nhỏ:
“Tiểu nương mắt sáng như sao, quả nhiên không gì lọt qua được. Đêm qua, có kẻ lén rải bã đậu vào chuồng ngựa, khiến lũ ngựa bị tiêu chảy, giờ đều đuối sức.”

Bảo Châu ngẩn ra:
“Thảo nào trông chúng ủ rũ thấy rõ.”

Tổng quản nói tiếp:
“May mà tân lang và người đón dâu cưỡi ngựa riêng, được chăm kỹ, không ăn phải đồ bẩn. Chúng nô sợ ảnh hưởng hôn lễ nên không dám nói ra.”

Bảo Châu gật đầu:
“Ngựa nên đưa về nghỉ ngơi, giờ còn đứng được nhưng tới chiều là không trụ nổi. Nếu không sớm cho ăn cỏ khô uống nước, đêm xuống sẽ ngã quỵ hết.”

Tổng quản hốt hoảng:
“Sao có thể để khách quý phải đi bộ? Tôi lập tức cho người ra chợ mua thêm ngựa.”

Bảo Châu nhẹ nhàng:
“Không sao, chẳng phải chỉ mười dặm thôi sao? Ta đi bộ được. Ngựa mới mua chưa thuần, dễ hoảng, cưỡi không khéo lại hỏng việc.”

Nàng nghĩ bụng: Lễ cưới này xem ra có người cố tình phá rối. Trước là gửi thơ giấu lời đe dọa, giờ lại rải độc vào chuồng ngựa. Không biết là ai oán hận đến mức muốn phá cho bằng được. Hôm nay lễ chính, e khó tránh sóng gió.

Chẳng mấy chốc, giờ lành hoàng hôn đã tới. Bàng Lương Ký trong phủ bái lạy tổ tiên và cha mẹ, rồi lên ngựa, mang theo hai sư huynh đệ, hơn trăm người hầu và một cỗ kiệu hoa lộng lẫy, đi đón tân nương Tiêu thị.

Đúng như thơ rằng:
Nơi đâu xuân thắm nở, nơi đó cưới về nhà;
Hai hàng đuốc lửa đỏ, một cỗ kiệu hoa xa.
Tân nương bước lên kiệu, hương chướng rợp đường qua;
Thơ đưa chưa viết xong, trời sao đã nghiêng tà.

Dẫn đầu đoàn rước là tân lang Bàng Lương Ký cưỡi ngựa cao, dáng dấp hiên ngang. Hai bên trái phải là Vi Huấn và Hoắc Thất Lang. Phía sau là hàng trăm người cầm đuốc và đèn lồng, đi theo ba người áo đỏ dẫn đầu, dọc đường dân Ngọc Thành đổ ra xem đông như hội, tiếng trống tiếng kèn vang dậy.

Bảo Châu cũng theo trong đoàn đón dâu, bên cạnh có Thập Tam Lang ôm cột cờ cùng sáu gia đinh đi sát.

Khi đến phủ nhà gái, so với phủ Bàng gia nguy nga rực rỡ, nơi đây chỉ là hai dãy nhà nhỏ tĩnh lặng, sân vườn hoang vắng, không một ánh đèn, cửa lớn đóng chặt.

Người dẫn lễ tiến lên gõ cửa, cao giọng xướng:
“Trộm đến thì đánh ~ khách đến thì xem ~ đem tin đến ~ chị dâu em chồng, mau mau ra đón!”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 72


Nghe tiếng tư lễ cao giọng đọc bài đón dâu, bên trong Tiêu phủ vẫn lặng như tờ. Cửa không mở, người không ra, chỉ có tiếng hô hấp khe khẽ như gió thoảng trong màn đêm rõ ràng bên trong có người, nhưng không ai chịu lên tiếng.

Tư lễ biết đây là lễ thức của nhà gái, gọi là “ra oai tế thủ”, liền chẳng giận mà vẫn tươi cười, tiếp tục cao giọng xướng:

“Trộm đến thì đánh, khách đến thì xem, người mỏi ngựa mệt, mong tẩu tẩu, phu rủ lòng thương, mở cửa tiếp đãi!”

Đợi một hồi lâu, trong phủ mới vọng ra một giọng phụ nữ trung niên, sang sảng như chuông đồng:

“Đêm càng sâu, trăng càng sáng, sao trời đầy trời, chẳng rõ phương nào khách quý, lại canh ba gõ cửa?”

Nghe được cuối cùng cũng có hồi âm, Bàng Lương Ký liền nâng tay giơ hốt bản bằng ngà, đọc vang lời đối đáp đã chuẩn bị từ trước:

“Là nhà danh giá đất Ngọc Thành, là quân tử tài danh, đến cầu người hiền đức, yểu điệu thục nữ, nguyện kết uyên ương!”

Hai bên cứ vậy mà xướng đối một hồi, mới thấy cửa lớn khẽ mở, hé ra một khe nhỏ. Bàng Lương Ký mừng rỡ, vừa định xuống ngựa tiến vào, lại thấy từ bên trong bước ra một phụ nhân trạc tứ tuần, tay bưng khay bạc, trên đặt một thùng rượu to.

Người phụ nữ cất cao giọng:

“Rượu nho ngàn tiền một đấu, mong cùng tân khách uống cạn ly này, kết nghĩa uyên ương, trăm năm gắn bó.”

Bàng Lương Ký vốn biết lễ cưới nhà giàu thường chuộng rượu lễ, không ngờ từ ngoài cửa đã bắt đầu rót rượu. Hắn tiến lên cảm tạ, nâng thùng rượu định uống. Nhưng vừa mới nhấp một ngụm, sắc mặt liền biến, mắt sáng lập tức trở nên mơ hồ.

Rượu trong thùng có vị tê tê lạ lùng chính là loại người giang hồ gọi là “lang đãng tử”, một thứ rượu pha dược, uống vào là hôn mê không biết trời đất, tỉnh lại đã là mấy hôm sau.

Phụ nhân thấy hắn ngập ngừng, liền cười đắc ý:

“Rượu nho ngàn tiền một đấu, uống cạn đáy ly mới được qua cửa.”

Bàng Lương Ký do dự không biết làm sao, đám đông xung quanh lại hò hét:

“Uống đi! Chỉ là ly đầu mà đã ngã gục thì làm rể sao nổi?”

Vi Huấn thấy thế, chau mày hỏi:

“Sao thế? Có vấn đề gì sao?”

Bàng Lương Ký hạ giọng lẩm bẩm: “Trong rượu có thuốc.”

Ánh đèn đuốc sáng rực, tiếng người ồn ã, mà ngay nơi cửa phủ, phụ nhân vẫn bưng khay, khăng khăng không nhường đường.

Ba người liếc nhau, Vi Huấn liền đón lấy thùng rượu, ngửa cổ uống cạn từng ngụm lớn, không chừa giọt nào. Rượu mạnh vào bụng, sắc mặt hắn vẫn không đổi, tay vững vàng đặt lại thùng lên khay.

Người phụ nữ sững người, không ngờ hắn uống hết mà không hề gì, chỉ đành im lặng lui vào.

Nhờ vào nội lực thâm hậu, Vi Huấn đã áp chế độc tính trong rượu, giữ cho Bàng Lương Ký được bình an. Nhưng chuyện bên trong, kẻ ngoài không biết, chỉ thấy chàng thiếu niên áo đỏ ngửa đầu cạn rượu, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng.

Qua cửa rồi, trong sân phủ sáng rực đuốc. Mấy chục phụ nhân tay cầm gậy gộc, đứng thành hàng hai bên lối vào, ánh mắt hăm hở, ý tứ dọa nạt hiện rõ trên từng nếp mặt. Đó là lễ “hạ tế”, nơi tẩu tẩu, muội phu nhà gái ra sức làm khó tân lang.

Hoắc Thất Lang rùng mình, nhỏ giọng: “Quả nhiên câu đầu gọi cửa nói ‘trộm tới thì đánh’ là không sai, hôm nay chúng ta đúng là ba tên trộm bị đánh rồi!”

Bàng Lương Ký gượng cười, mồ hôi rịn trán, không quên dặn hai sư huynh:

“Dù bị đánh thế nào cũng không được đánh lại!”

Ba người vai kề vai, bước chậm rãi vào trận địa như thể xông vào nơi hiểm địa. Ngoài cổng, người xem reo hò vang trời:

“Lễ tế là phải đánh, đánh đến sưng mặt mới tính là thành thân! Mau đánh, đánh mạnh lên!”

Dù thân kinh bách chiến, cả ba cũng không khỏi biến sắc. Trận côn này không thể chống lại, vì không chỉ tay không tấc sắt, mà đòn đến từ những người tuyệt đối không thể trả đũa các bà chị bà cô. Ăn đánh còn phải cười tươi, tiếp đón ân cần.

Gậy gộc như mưa, bủa vây ba người. Họ đành đưa tay che mặt, để mặc thân thể hứng trọn trận đòn. Có tẩu tẩu còn cười cợt, buông lời bỡn cợt khiến ai nghe cũng nóng mặt:

“Giai nhân lên kiệu hoa, nhi lang xuống ngựa tới, đêm nay ai dám ngủ sớm đâu nha!”

Giữa loạn đòn, Vi Huấn ghé sát Bàng Lương Ký, thở dài:

“Ta rút lại lời hôm qua rằng đón dâu không tính là chuyện hệ trọng. Làm đám ma còn dễ hơn, hôn sự thế này, đánh xong có khi nằm liệt cả tháng!”

Hoắc Thất Lang vừa bị đập trúng vai, vừa lẩm bẩm: “Nhà khác cưới vợ cũng thế này à? Chẳng trách người ta sợ kết hôn!”

Bàng Lương Ký cắn răng chịu đựng, mặt vẫn cố nở nụ cười: “Ta cũng là lần đầu làm rể, đâu ngờ gặp phải động rồng hang hổ!”

May mà nhóm tỷ muội nhà gái không ai luyện võ, còn ba người thân thể cứng cáp, nên tuy bị đánh rát da thịt nhưng không thương tổn lớn. Chỉ có điều, mấy lời bỡn cợt ngả ngớn kia thì còn ám ảnh hơn mọi chưởng pháp.

Bàng Lương Ký không thể bỏ chạy, hai người còn lại thì phải lo bảo vệ tân lang, đành nhẫn nhịn chịu trận. Cả ba chen vai nhau, từ từ tiến vào trung môn.

Giữa mưa gậy, Vi Huấn chợt cảm thấy phía sau có luồng sát khí ập đến. Một bóng người lao tới sau lưng Bàng Lương Ký, gậy sắt giáng thẳng vào đầu. Lực đạo tuyệt đối không phải của những người phụ nữ bình thường.

Vi Huấn xoay người, đưa tay bắt lấy, phát hiện kẻ vừa ra tay cầm trong tay không phải gậy gỗ, mà là một thanh côn thép lạnh ngắt…

Vi Huấn vỗ tay đoạt lấy cây gậy, đang định quay đầu xem là kẻ nào ra tay tàn độc như vậy, chợt một luồng gió mạnh quét ngang thốc tới, nhằm thẳng cổ chân Bàng Lương Ký mà giáng xuống. Lương Ký vốn đã thương gãy chân, thân trên còn gắng gượng được, nhưng đánh vào chân thì hoàn toàn không còn sức chống đỡ. Một gậy ấy nếu trúng chắc chắn sẽ khiến chàng quỳ rạp giữa sân, không sao đứng dậy nổi.

Vi Huấn liền đạp chân vững vàng chắn ngang, gạt lấy gậy sắt đang đánh tới rồi lại một cây gậy sắt khắc đánh xuống, lực đạo nặng nề, rõ ràng có ý đả thương. Quay sang nhìn người vừa ra tay, lại chỉ thấy một cô gái áo váy màu phấn, mặt mày nhàn nhạt, cười cợt như không có gì. Cô ta mất vũ khí cũng không hoảng, chỉ lùi lại, lẩn vào đám người hầu kề bên tân nương mà biến mất.

Hai chiêu vừa rồi, ra tay đều hiểm độc, với sức lực như vậy thì có thể khiến người ta tàn phế. Vi Huấn trong lòng sinh nghi, nhưng trong lễ thành hôn không thể đánh trả, đành đem cây gậy nặng nề ấy ném thẳng lên mái ngói, rồi quay đầu tiếp tục chen vào đoàn người.

Mỗi lần vượt qua một ngạch cửa lại phải ứng đối một câu thơ, mỗi bước trên lối đi đều là trò vặt: khi thì bị đánh, khi thì bị chuốc rượu, chẳng khác gì trận địa khảo nghiệm ý chí lẫn tửu lượng. Tựa như vượt ải, như tướng quân qua cửa ải, như sĩ tử ứng thí văn đàn. Cuối cùng cũng đến được chính sảnh.

Tại đây, một tấm màn lụa buông xuống, che kín mặt tiền. Tư lễ vội vàng bảo tân lang rút chim nhạn từ lòng ng.ực ra ném qua màn. Rồi cao giọng xướng bài thơ cầu duyên, mời tân nương ra tiếp lễ.

May mắn là có Bảo Châu dạy trước, Bàng Lương Ký giắt bên hông một thẻ hốt ngà nhỏ, trên khắc sẵn các tên hiệu văn sĩ, thi nhân nổi tiếng như Lục Sướng, Giả Đảo, Lư Trữ…, cứ thế mà niệm vanh vách, không lệch một chữ. Đám người Bàng phủ chuẩn bị từ trước cũng đồng thanh hô vang:

“Tân nương tử, mau mau ra tiếp giá!”

Giữa tiếng người hô hào, tấm màn được vén lên. Một dáng nữ nhân mặc lễ phục xanh sẫm từ từ hiện ra sau làn vải mỏng. Bàng Lương Ký vừa thoáng nhìn đã thấy đôi mắt ươn ướt sau tấm mấn phủ, lòng liền run lên, không nhịn được khẽ kêu:

“A Nhiễm!”

Nhưng chẳng ai hồi đáp. Khi tấm màn được vén hẳn, tân nương xuất hiện trong bộ áo cưới xanh lơ đậm, đầu đội mấn dài phủ kín tận đầu gối, không thấy rõ dung nhan.

Nghi lễ nhạn thư được cử hành, tân lang và tân nương lạy từ biệt cha mẹ, rồi do hai phụ nữ trung niên dìu dắt ra khỏi Tiêu phủ, đưa lên kiệu cưới do Bàng gia mang tới. Bàng Lương Ký định nhân cơ hội ấy nói với người mình thương vài lời, nhưng giữa tiếng người xô bồ, nàng đã bị đẩy lên kiệu, khăn che phủ quá dày, không nghe thấy gì cả.

Vi Huấn đi trước dẹp đường, liếc mắt đã thấy cột cờ treo cành đào vẫn đứng thẳng ngoài cổng. Lòng y chợt nhẹ đi. Lá cờ ấy vốn là để làm dấu, nhưng kỳ thực không cần giữa biển người, nàng vẫn luôn nổi bật như thế, chỉ cần ngoảnh đầu là có thể nhìn thấy ngay.

Tân lang cưỡi ngựa, hôn kiệu đi sau, đoàn người đi vòng ba vòng rồi bắt đầu rước về Bàng phủ.

Thấy Vi Huấn cưỡi ngựa quay đầu tìm kiếm, Bảo Châu liền khẽ kiễng chân, giơ tay phất nhẹ. Nàng nghĩ, bộ hồng y trên người hắn hôm nay thật đẹp, nếu về sau hắn cũng ăn mặc như vậy thì hay biết mấy. Chỉ tiếc hắn chẳng bao giờ chịu đeo kiếm, nếu không thì đúng là hình tượng thiếu niên hiệp khách trong thơ ca rồi. Lại nghĩ đến tên hiệu giang hồ của hắn vốn là “Thanh Sam Khách”, đổi áo, chẳng lẽ cũng phải đổi cả tên?

Hôn kiệu vừa rời đi, Tiêu gia bắt đầu cho người khiêng của hồi môn ra ngoài, từng gánh một, kéo dài như sóng vỗ, lên tới hơn trăm gánh. Một kẻ đứng xem bên đường trố mắt:

“Tiêu gia nghe đâu đã sa sút, vậy mà vẫn còn chuẩn bị được của hồi môn hoành tráng thế này sao?”

Kẻ khác cười nhạt:

“Ngươi ngây thơ thật. Tiêu tiểu nương tái giá, bị nhà chồng cũ tịch thu sạch sính lễ, bị đuổi khỏi nhà không một tấm áo lành, phụ thân nàng còn lấy đâu ra của hồi môn? Đống này là do Bàng gia đem đến từ tháng trước, để tân nương không phải ngượng với làng nước, cũng là để giữ thể diện.”

Người ban đầu kinh ngạc:

“Bàng gia không chỉ đưa sính lễ bạc triệu, lại còn lo cả của hồi môn? Bàng công tử thật sự mê mệt một người đã qua một đời chồng sao?”

Lại có một kẻ hớn hở chen lời:

“Chuyện này dài lắm. Tiêu gia xưa kia sống cạnh Bàng phủ, hai người là thanh mai trúc mã. Sau Tiêu gia lụn bại, bán luôn cả nhà cho Bàng gia mà dọn đi. Bàng công tử thổ hào có tiền, định cưới Tiêu tiểu nương, nhưng cha nàng khinh nghèo chê thấp, đem gả cho con nhà Lư gia. Bàng công tử buồn giận bỏ đi học võ, vài năm sau chân tật tàn quay về. Vừa hay Lư gia tử bệnh chết, Bàng công tử lại tới cầu thân lần nữa. Nhà Tiêu chẳng còn gì ăn, nên cha nàng đành cắn răng gả con đổi bạc, mặc kệ thanh danh.”

Kẻ khác chen vào:

“Nhìn bên ngoài thì long trọng vậy chứ kỳ thực là người què cưới vợ tái giá. Còn nói gì tiết hạnh với chả danh tiết!”

Bảo Châu đứng giữa đám đông, nghe đủ mọi lời đồn đãi, lòng không khỏi tức giận. Đại Đường hoàng thất từ lâu vốn dung hòa phong tục người Hồ, không bó buộc phụ nữ như Nho gia, công chúa góa chồng tái giá là thường, vậy mà dân chúng vẫn lấy chuyện “nhị hôn” ra mà giễu cợt.

Ngược lại, nàng càng thêm kính trọng Bàng Lương Ký. Biết tân nương khốn khó, hắn âm thầm chuẩn bị cả trăm gánh của hồi môn giúp nàng không mất mặt. Cái tình ấy, cái nghĩa ấy, thật không phải người thường nào cũng làm được.

Lúc ấy, đoàn người khiêng đồ đi qua, tiếng bàn tán mỗi lúc một nhiều. Có kẻ lại đem chuyện so sánh với các cô gái thành Trường An, kể rằng:

“Nói đến của hồi môn, xưa nay chưa ai vượt được Vạn Thọ Công Chúa. Nàng lấy chồng chưa đầy mười bảy tuổi, chết trẻ, của hồi môn đem đi táng theo còn phải dùng đoàn xe kéo dài mấy chục dặm!”

Kẻ khác phụ họa:

“Nếu nàng còn sống, ôi thôi, xinh đẹp lại phú quý như thế, không biết rơi vào tay tiểu tử nào cho đáng!”

Miệng lưỡi bỉ ổi, lời lẽ phỉ báng.

Bảo Châu nghe đến đoạn ấy liền biến sắc, rút roi ngựa toan đánh người. Nhưng xung quanh người chen người, không thể chen qua. Nàng tức tối giậm chân.

Đúng lúc ấy, Thập Tam Lang lặng lẽ xách cột cờ, vươn tay một cái đã chọc thẳng vào sườn gã lắm mồm kia, khiến gã khụy xuống đất, rồi thuận tay quất thêm một đòn.

Thập Tam Lang mặt mày nghiêm nghị, cất giọng trầm trầm:

“Thí chủ, người lưng cõng một con quỷ lưỡi dài, nó đang ăn dần thọ mạng đấy.”

Đám đông nghe nói là một chú tiểu đánh người, lời lẽ lại như thần ngôn, không khỏi nửa tin nửa ngờ, cùng nhau la lớn:

“Mau ngậm miệng! Bớt mồm cho yên chuyện!”

Bảo Châu thấy thế thì mừng rỡ, cười khẽ:

“Diệu kế! Biết vậy, ngày thường không uổng công thương đệ.”

Việc nhỏ đã có người trừng trị thay, nàng cũng nhanh chóng nguôi giận, quay đầu tìm lại đoàn rước dâu.

Vừa quay lại đã thấy giữa đám đông có người cõng lá cờ trắng thêu bốn chữ “Diệu Thủ Hồi Xuân”. Không rõ là ai, chỉ thấy bóng lưng thấp thoáng nhưng lại cảm thấy vô cùng quen mắt…
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 73


Khi đêm đã khuya, thường ngày dân chúng Ngọc Thành sớm đã tắt đèn nghỉ ngơi, nhưng hôm nay vì lễ cưới long trọng, náo nhiệt khôn cùng, khắp thành chẳng khác gì đêm rằm nguyên tiêu. Bà con trong thành rủ nhau đổ ra đường, đông như hội, lửa đuốc rực rỡ chiếu sáng cả hàng cây ven phố, ánh đỏ hồng phản chiếu như lửa đốt vào ngọn tiêu tre khô.

Đối với nhà trai, đoạn khó nhọc nhất của lễ cưới gọi là chặn xe hoa mới thật sự bắt đầu.

Cái gọi là chặn xe, chính là người đời bày ra trò đùa trong ngày cưới: họ đem vật cản ra chặn giữa đường, nằng nặc đòi rượu, món ngon, tiền bạc, có khi còn trêu chọc tân lang, đòi hỏi cho bằng được mới cho đi tiếp. Mà Bàng gia lại là hào phú nhất vùng, của cải đếm không xuể, bởi vậy đám người đến quấy rối đông gấp mười lần đám cưới nhà thường. Có người còn đem theo trống chiêng, vừa ca vừa múa, thật là náo động chưa từng có.

Bàng Lương Ký cứ đi một bước là phải uống một ly, chẳng trốn tránh nửa phần. Đám người chặn xe tụ trước đầu đoàn, mượn tiếng mời rượu để vòi vĩnh của ngon vật lạ, chẳng cho thì không chịu dẹp đường. May mà Vi Huấn và Hoắc Thất Lang đều là bậc tửu lượng kinh người, thường ngày nghèo chẳng có rượu mà uống, nay nhân dịp cưới xin, liền thay chủ nhà mà mở lòng uống thỏa thích. Ai đến cũng không từ chối, cười cười mà cạn ly, đã nghiền men say lại thêm lòng vui vẻ.

Trong mắt người xem, hai chàng tuổi trẻ ấy uống mãi không say, thần sắc vẫn ung dung tiêu sái, càng uống càng phong độ, khiến ai nấy đều trầm trồ thán phục.

Nhờ vào sức hai người uống rượu không biết mệt, xe hoa cũng từ từ vượt qua được bốn, năm dặm. Lúc này, một đám hán tử vai to tay lớn lại tiếp tục vây quanh, nét mặt đầy vẻ xảo trá, vừa ném rượu thịt, vừa tung tiền ra như mưa, nhưng xe hoa vẫn không tài nào tiến bước. Trong đám ấy, một người đầu trọc cất giọng sang sảng:

“Thiếu niên trẻ! Ta là kẻ danh tộc đất Cửu Châu nghe tin đại lễ cố tình đến đây chặn xe. Không cần dê béo rượu ngon, chẳng màng món lạ trăm vị, chỉ mong một góc kỳ lân, ba chân phượng hoàng, bạc vàng đầy rương, gấm vóc phủ nền!”

Khẩu khí ngang ngược, lời lẽ lưu loát, vừa nghe đã biết là kẻ chuyên làm nghề chặn xe trong hôn lễ, nay lấy cớ rượu thịt chưa đủ hậu hĩnh mà đòi thêm bạc vàng mới chịu mở lối.

Vi Huấn cúi đầu liếc nhìn tên đầu trọc một cái, ghé tai hỏi Bàng Lương Ký:

“Có thể ra tay được chưa?”

Bàng Lương Ký khẽ lắc đầu, đáp:

“Ngày vui nên lấy hòa làm trọng, vẫn chưa thể động thủ.”

Vi Huấn nghe vậy thì thở dài tiếc rẻ.

Bàng gia đã liệu trước sẽ có chuyện như vậy, tổng quản lập tức cho người đem ra mười quan tiền cùng mười bảy cuộn lụa gấm đưa cho bọn kia. Ngần ấy của cải đủ để gả chồng cho một cô gái trong nhà khá giả, vậy mà tên đầu trọc vẫn chưa vừa lòng. Hắn hét to một tiếng, đám du côn lập tức vây kín kiệu hoa.

“Đã nói là bạc vàng chất đống, gấm vóc nghìn cuộn, vậy ngần ấy đã là gì? Đại gia đây muốn xem tân nương đội gì trên đầu, mau gỡ xuống đôi trâm vàng cho chúng ta ngắm nghía một phen!”

Vừa dứt lời, hai tên côn đồ ở phía sau kiệu đã thò tay định vén rèm. Đám chặn kiệu này không khác gì cường đạo, có kẻ còn liều lĩnh bắt cóc tân nương để đòi tiền chuộc, hành vi không gì là không dám làm.

Bàng Lương Ký thấy thế liền biến sắc, hai tay bám chặt yên ngựa, định nhảy xuống cản lại. Nhưng vì chân tật nguyền không thể vận khinh công như trước, chỉ biết gấp gáp lo âu. Vi Huấn đưa mắt ra hiệu cho Hoắc Thất Lang, nàng liền tung mình lên, một cái nhảy đã đến bên kiệu, lật rèm ngăn tay bọn côn đồ, hất cả hai ngã lăn ra đất.

Đám người chặn kiệu lập tức xôn xao, định xông vào đánh hội đồng. Kỳ thực, mục đích của chúng là moi tiền bạc, chỉ chờ người nhà Bàng gia ra tay trước để lấy cớ mà phá kiệu, gây chuyện cướp của. Một khi đánh nhau loạn lên, hôn lễ cũng sẽ tan nát. Bởi vậy, Bàng gia không thể ra tay nhưng cũng không chịu nhún nhường, rơi vào thế khó xử, chỉ còn cách tranh luận với bọn người gây rối mà thương lượng giá cả.

Bàng Lương Ký cùng Hoắc Thất Lang đứng trước sau bảo vệ kiệu cưới, không cho kẻ nào đến gần tân nương. Trên đường cái, cảnh tượng hỗn loạn như nồi cháo, tiếng người huyên náo, bụi mù mịt trời.

Vi Huấn gọi tư lễ tới, hỏi rõ câu đối đáp khi bị chặn kiệu, rồi nhẹ nhàng lướt lên mái kiệu, từ trên cao nhìn xuống, cất giọng vang như chuông đồng:

“Thiếu niên trẻ! Kẻ phương nào mà dám làm càn, ngăn đường cản lối? Đã lấy của rồi, thì hãy nhìn phần thưởng, quyết chẳng phải thứ tầm thường đâu!”

Tiếng nói của y đĩnh đạc, mạnh mẽ, tựa như mưa giáng sấm vang, vang vọng khắp phố dài, mỗi người đều cảm thấy tai ù vang, nhưng từng chữ lại nghe rõ mồn một. Thậm chí chuông đồng trên kiệu cũng bị tiếng ấy làm rung động, khiến cả một dãy phố bỗng chốc lặng ngắt như tờ, ánh mắt mọi người cùng hướng về người thiếu niên đang đứng trên mái kiệu kia.

Tổng quản Bàng phủ bấy giờ nâng lên một túi bạc là bạc nguyên khối, đúc riêng để đem tặng thân hữu. Theo giá thị trường lúc ấy, năm lượng bạc ấy ngang với một lượng vàng. Nay Vi Huấn đã nói “phần thưởng không tầm thường”, ý là sẽ ném đồ quý. Đám du côn chưa từng thấy vật lạ, ánh mắt liền sáng lên, chen nhau xông lên chuẩn bị cướp lấy.

Vi Huấn từ túi da rút ra một nắm đồng tiền, tung nhẹ trong tay cho mọi người thấy rõ.

Bao ánh mắt tham lam đều đổ dồn về bàn tay hắn. Đột nhiên, Vi Huấn dồn sức vào cánh tay, ném mạnh nắm tiền về phía bên đường. Đồng tiền bay như châu ngọc, leng keng va vào nhau, rồi toàn bộ cắm phập vào cánh cửa gỗ của một cửa tiệm bên đường mỗi đồng đều ghim sâu đến nửa thân.

Tiền đồng vốn nhẹ, không sắc, lại không có gió, vậy mà tay không ném ra, lực đạo mạnh đến mức ghim sâu vào gỗ cứng khiến ai nấy đều há hốc mồm kinh ngạc, không một ai dám bén mảng tới gần cánh cửa ấy để moi tiền.

Vi Huấn nhoẻn miệng cười ranh mãnh, giọng cợt đùa:

“Thứ lỗi, ta chưa từng luyện ám khí, ném lệch tay. Lần sau nhất định nhắm cho chuẩn.”

Nói rồi lại lấy thêm một nắm tiền nữa, làm bộ định ném về phía đám người chặn kiệu.

Những đồng tiền ném lên cửa gỗ đã có uy lực như thế, nếu trúng vào thân thể máu thịt người sống, e rằng chẳng khác gì tên bắn đá chọi. Tên đầu trọc mặt tái xanh, sợ hãi quay đầu bỏ chạy. Cả đám du côn thấy vậy cũng ùn ùn giải tán.

Vi Huấn lại tung tiếp một nắm đồng bạc, lần này toàn bộ cắm thẳng vào phiến đá lát đường, ánh lửa bập bùng chiếu lên, bạc sáng lấp lánh tựa vì sao sa.

Sau màn rải tiền đuổi giặc, trước kiệu hoa chỉ còn lại một người, vóc dáng cao lớn, tay cầm tấm khiên sắt, rõ ràng là một tay giang hồ có tiếng.

Vi Huấn thấy gã đeo khiên phòng thân, liền bật cười, cất giọng:

“Đường này còn có huynh đài góp vui chặn kiệu sao?”

Gã kia lập tức lắc đầu, cởi tấm khiên giắt ra sau lưng, vòng tay cúi chào:

“Không dám. Tại hạ là Nhạc Hoằng, người đất Trung Nguyên, danh xưng ‘Tường Đồng Vách Sắt’. Thấy huynh thân thủ phi phàm, mạo muội muốn xin kính một ly. Xin cho hay cao danh quý tính, có phải cũng có tên hiệu giang hồ chăng?”

Lời cung kính, dáng người ngay ngắn, quả nhiên là đến để xin rượu chứ không phải gây chuyện.

Vi Huấn thấy người kia không có vẻ gì muốn gây hấn, liền chắp tay đáp lễ, nói:
Không dám nhận. Tại hạ là Vi Huấn, kẻ lữ hành áo xanh đất Quan Trung.
Đoạn cùng hắn đối ẩm một chén.

Tên hiệu “Thanh Sam Khách” của Vi Huấn sớm đã nổi danh trên chốn giang hồ, chỉ là tung tích mờ mịt, ít ai tỏ tường dung mạo. Lúc này, các tay võ phu đến xem hôn lễ mới giật mình nhận ra, thiếu niên dáng vẻ gầy gò, chưa tới đôi mươi này, chính là người đứng đầu “Tàn Dương Thất Tuyệt”, môn sinh đắc ý nhất của Trần Sư Cổ, võ công tuyệt đỉnh. Ai nấy trong lòng đều ngầm hốt hoảng.

Đoàn rước dâu liền thông thuận, phu xe đánh ngựa trắng lăn bánh, kiệu hoa tiếp tục đi tới. Từ đây không còn kẻ nào dám cản trở gây rối, ngược lại nhiều người trong giới giang hồ lần lượt bước ra kính rượu Vi Huấn.

Người đời đều tưởng từ khi Tật Phong Thái Bảo gãy chân, nhà họ Bàng đã đoạn tuyệt với giang hồ. Nào ngờ nay đại sư huynh đích thân xuất hiện hộ giá, mọi người mới hiểu rằng quan hệ với sư môn vẫn còn chẳng thể xem thường.

Vi Huấn vừa tiếp rượu, vừa không ngừng quan sát bốn phía, mắt thỉnh thoảng liếc về phía Bảo Châu. Bàng Lương Ký vốn thích giao du bốn phương, khách đến dự lễ không ít là người giang hồ. Trong số đó, Vi Huấn để ý mấy đạo sĩ trẻ tuổi mặc hoàng y, đầu đội mũ tròn, lẫn trong đám đông nhưng không tiến lên kính rượu.

Hắn lén đưa mắt cho Hoắc Thất Lang. Nàng cũng khẽ gật, nét mặt có phần cảnh giác, chứng tỏ đã sớm chú ý. Vi Huấn ngầm nghi ngờ, biết rằng lễ cưới này vốn đã có điều chẳng lành, nhưng giờ phút này đành tạm nhẫn nhịn.

Đoàn xe qua khỏi khu doanh trại quân đội ở Ngọc Thành, qua cầu đá bắc ngang sông đục, chỉ còn cách Bàng phủ chưa đầy hai dặm. Nhưng bất ngờ, có tiếng kinh hô nổi lên:
“Coi chừng, cột cờ đổ rồi!”

Chỉ thấy cột cờ trước doanh trại một cây cột lớn bằng gỗ lim, cao gần ba trượng đột ngột đổ sập xuống, hướng thẳng vào hôn kiệu. Chiếc kiệu hoa lúc ấy đang mắc kẹt trên cầu đá hẹp, tiến lùi đều khó, ai nấy đều thất sắc, tiếng thét kinh hoàng vang lên khắp nơi.

Vi Huấn lập tức nhún chân bật lên như chim ưng tung cánh, một cước đá nghiêng thân cột ra phía trước, khiến nó chệch khỏi hướng xe hoa. Nhưng người dân tụ tập đông nghịt, lối thoát bị bịt kín, cột đổ tới đâu cũng sẽ đè lên kẻ đó. Trong tiếng la hét hỗn loạn, thảm họa chỉ còn cách một chớp mắt.

Vừa rơi xuống đất, Vi Huấn liền vơ lấy một đoá hoa đỏ trên xe, cuốn lại thành dây lụa, nhún mình lao lên không trung. Lần này hắn như con diều đỏ rực, vút cao ba trượng, lụa quấn vào đầu cột, một cái vung tay liền kéo lệch nó sang phía đối diện, ghìm chặt thân gỗ vào một thân cây to ven đường.

Người thường thì chỉ thấy một màn náo nhiệt thót tim, nhưng các cao thủ giang hồ đã lộ rõ kinh hoàng. Hai lần tung người vừa rồi, thân pháp và lực đạo hoàn toàn khác biệt. Lần đầu, hắn đá mạnh đến vỡ cả phiến đá dưới chân; lần sau thì nhẹ như mây nổi, áo bay lụa cuốn như rồng uốn khói, khiến người ta không dám tin mắt mình.

Có kẻ luyện khinh công suốt đời cũng khó đạt được ba trượng cao, lại thêm kéo theo một cây cột nặng hàng trăm cân. Người luyện ngoại công có thể nhấc nổi, nhưng làm như hắn vừa bay trên không, vừa xoay vật thể thì là việc chẳng tưởng tượng nổi.

Hắn đứng trên chóp cột nhìn xuống, định xem ai là kẻ giở trò. Bỗng thấy một đạo sĩ trẻ tay cầm đơn câu, vội lao về phía kiệu hoa. Vi Huấn lao xuống như chim ưng bắt thỏ, ngăn ngay trước mặt, chỉ kịp nghe hắn kêu một tiếng “Sư bá…” rồi cánh tay đã bị bẻ gãy, thân thể ném văng ra xa.

Tất cả xảy ra nhanh như điện xẹt, đến người ngoài còn chưa kịp định thần. Vi Huấn thì cảm thấy cánh tay vừa rồi có phần tê dại. Hồi nãy ở nhà tân nương, hắn đã uống một chén rượu có mùi lạ tuy dùng nội lực áp chế không phát tác, nhưng khi chân khí vận hành nâng cột, độc tố dường như theo rượu lan khắp kinh mạch. Loại rượu ấy không chỉ là rượu bình thường, mà còn pha thêm độc dược làm toàn thân tê liệt như rễ cây mạn đà la.

Một cây cột to như thế, lại gãy đúng lúc đoàn xe đi ngang qua, sao có thể là trùng hợp? Vi Huấn nghĩ thầm: kẻ ra tay hoặc nhằm vào Bàng Lương Ký người đã mất võ công hoặc nhằm vào tân nương trong xe. Dù thế nào, chỉ cần sơ suất một chút là hậu quả khó lường.

Không muốn dây dưa thêm, hắn ghé sát tai Bàng Lương Ký, hạ giọng:
“Lên đường!”

Lúc này, vẻ cợt nhả trên mặt hắn đã tan biến, thay vào đó là khí chất lạnh lẽo lạ thường. Toàn thân như toả ra luồng áp lực khiến người sống không dám tới gần. Đám đông tức thì tản ra, để trống một lối. Ngựa cảm thấy bất an, hí vang không chịu tiến, Vi Huấn bèn vứt dây cương, bước lên xe hoa, đích thân cầm roi thúc ngựa.

Bàng Lương Ký và Hoắc Thất Lang hiểu rõ không thể chậm trễ, liền cùng nhau hô gọi, thúc ngựa phi nhanh. Đoàn rước như lao đi trong cơn gió lớn, chỉ nửa khắc đã tới cửa Bàng phủ. Vải đỏ trải sẵn, người nghênh nương kéo rèm, đỡ tân nương vừa mới qua một trận sinh tử xuống kiệu, mặt mày còn chưa hết bàng hoàng.

Bảo Châu theo đoàn vào trong phủ, Bàng Lương Ký kiểm người hầu, thấy không thiếu ai mới yên tâm, lập tức ra lệnh đóng cửa lớn, chốt gỗ gài lại. Thở phào nhẹ nhõm, hắn không còn gắng gượng nổi, để hai gia đinh dìu đi vào sân tổ chức lễ chính.

Nhìn người trong lòng còn đang che mặt e lệ, hắn gần như rơi lệ vì mừng, nghẹn ngào nói với Vi Huấn:
“Sư huynh! May có huynh, bằng không hôm nay coi như bỏ.”

Vi Huấn gật đầu, nét mặt vẫn chưa thư thái. Trong đầu còn quanh quẩn những sự lạ nãy giờ, càng nghĩ càng không thể bỏ qua.

Mãi đến khi thấy Bảo Châu bước vào khu trướng lễ với thân phận khách quý, hắn mới khẽ thở ra. Nàng đội trâm hoa rũ thấp, ánh mắt sáng trong, rực rỡ như đào tiên giữa nhân gian. Hắn không khỏi mỉm cười với nàng, trong lòng như vừa trút gánh nặng.

Bảo Châu cũng định lên tiếng thì tư lễ bắt đầu xướng nghi thức, khiến nàng đành im lặng.

Bên trong chỉ có mấy mươi thân tín của Bàng phủ và khách quý dự lễ. Thập Tam Lang không được vào, chỉ đứng ngoài. Tân nương hạ khăn che mặt, tay cầm quạt tròn che nửa gương mặt, cùng tân lang cúi đầu vái bái.

Chỉ còn đợi rượu hợp cẩn là lễ thành. Tư lễ hô:
“Rải trướng!”

Nô tỳ chuẩn bị sẵn hạt dẻ, hạt sen, táo đỏ, các loại quả khô mang ý chúc con đàn cháu đống, ném vào trướng theo phong tục. Nhưng vừa lúc đó, vang lên những tiếng gió rít, thay vì quả ngọt cát tường, từ trên cao trút xuống lại là ám khí: kim tiêu, dao găm như mưa sa bão táp.

Bên trái là tân lang, bên phải là Bảo Châu ám khí cùng lúc ào xuống, mà khoảng thời gian chỉ đủ cứu một bên.

Từ nhỏ Vi Huấn học toàn sát pháp, chưa từng được dạy cách bảo vệ người khác. Nhưng ngày hôm nay, hắn lại buộc phải che chở cho quá nhiều người.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 74


Một bên là sư đệ đã mất hết võ công, một bên là Bảo Châu hoàn toàn không đề phòng, tuy Vi Huấn xưa nay ứng biến linh hoạt, gặp hiểm chẳng loạn, nhưng hôm nay cũng rơi vào thế khó chưa từng có.

Bàng Lương Ký đang quỳ hành lễ, nghe tiếng ám khí xé gió, chưa kịp đứng lên, liền đổ nhào người ôm lấy tân nương. Trong khoảnh khắc loé điện rạch trời, Vi Huấn và Hoắc Thất Lang đồng loạt xoay người đá bật hai trụ gỗ chống trướng cưới. Cả gian trướng sập xuống, lớp vải bố dày phủ trùm lên cặp tân nhân, kịp thời chắn được phần lớn ám khí.

Nhưng chớp mắt ấy trôi qua, phía Bảo Châu không còn đường lùi. Nàng chưa kịp phản ứng thì Vi Huấn đã nhào tới, ôm lấy nàng lăn một vòng dưới đất.

Bảo Châu chưa hiểu chuyện gì xảy ra, chỉ nghe tiếng xé gió dồn dập, rồi tiếng trướng sập đè xuống. Trước mắt tối sầm, nàng bị Vi Huấn ghì chặt xuống đất. Cú nhào đó quá mạnh, thân hình hắn nặng mà lại dồn hết sức, ép nàng đến không thở nổi, lồng ng.ực như bị nén sạch khí. May sao hắn lập tức co eo nâng người, dồn lực sang bên, giúp nàng dễ thở hơn.

Bảo Châu vẫn nằm gọn trong tay hắn, cánh tay rắn chắc giữ lấy cổ nàng, một tay khác che chắn nơi eo lưng, khiến thân thể dù ngã nhưng không hề tổn thương.

Tim nàng đập thình thịch. Mùi hương lạnh nhè nhẹ từ cổ áo hắn phả ra như mưa qua đêm hạ, trong trẻo mà lành lạnh. Dù hơi thở hắn mang chút mùi rượu, vẫn khiến người ta cảm thấy an lòng lạ lùng.

Ám khí ngưng phóng, từ trong trướng bốc lên khói đặc mùi tanh hôi. Vi Huấn lập tức hiểu có độc, liền kéo nàng đứng dậy, xé ống tay áo buộc ngang miệng mũi nàng, rồi thắt chặt sau đầu.

Tiếng r*n r* vang lên khắp nơi. Làn khói vàng đặc sánh tràn ra, tầm nhìn mờ mịt. Vi Huấn, quen sống dưới đất, nín thở cực giỏi, mấy khắc không cần thở cũng chẳng hề gì. Biết không thể dừng lại, hắn kéo tay Bảo Châu men theo hướng gió mà đi.

Đi được vài bước, chợt nhận ra bản năng vừa rồi bóp trúng khuỷu tay nàng đúng ngay huyệt Thiếu Hải chiêu bắt người thường dùng để khống chế địch. Vi Huấn vốn lực mạnh, chỉ sợ tay nàng giờ đã tê dại. Hắn vội nới tay, lướt xuống cổ tay nắm lấy. Nhưng nơi đó lại là mạch môn điểm chí tử trong giới võ lâm, dễ bị nội lực chấn thương.

Hắn đành lùi xuống thêm một tấc, cuối cùng nắm lấy tay nàng. Bàn tay nhỏ nóng hổi, mềm mại như lụa. Lúc ấy, hắn mới thấy yên lòng. Bao nhiêu kinh nghiệm luyện võ trong đầu đều mách rằng: nắm như thế này, mới là đúng.

Nếu không vì khói độc, hắn thật muốn cứ thế nắm mãi tay nàng mà đi hết con đường. Nhưng đời nào chẳng có điểm dừng, cuối cùng vẫn phải buông.

Cứ thế đổi vị trí nắm tay mấy lượt, Bảo Châu không có phản ứng. Vi Huấn cảm thấy nàng lạ lùng yên tĩnh, cúi xuống nhìn, bắt gặp ánh mắt kinh hoàng của nàng đang nhìn ra phía sau lưng mình. Hắn biết nàng đã phát hiện, nhưng vì bịt mặt nên không lên tiếng.

Ra khỏi làn khói dày, bọn họ lần theo mùi khói mà tìm đến nguồn gốc. Trong viện có chiếc cối đá lớn dùng để đập ngô, giờ đang phụt khói lên trời. Hoắc Thất Lang đã đơn độc tìm tới, nhúng tấm màn lớn vào hồ nước rồi phủ kín cối đá, dập tắt khói độc.

Thập Tam Lang vốn không được vào trướng lễ cũng chạy đến, tay còn ôm theo cung và tiễn, như sẵn sàng ứng chiến.

Khói độc tan dần. Bảo Châu tháo tay áo bịt mặt, lắp bắp nói:
“Ngươi… sau lưng bị thương! Có… có bảy tám mũi tiêu…”

Vi Huấn bình thản đáp:
“Ta cảm giác được. c*m v** lưng ta rồi.”

Hắn xoay đầu trò chuyện với Hoắc Thất Lang, chẳng để tâm đến đám ám khí còn cắm lút trong da thịt.

Bảo Châu nghe như sét đánh ngang tai, ánh mắt vẫn dán chặt lên tấm lưng chằng chịt. Những mũi tiêu hình cánh én cắm sâu, quanh vết thương không phải máu tươi, mà rỉ ra dòng máu đen đặc quánh.

Nàng run rẩy đưa tay định rút, nhưng bị Vi Huấn giữ lại:
“Đừng chạm vào, tiêu này có độc, sờ trúng sẽ khiến tay sưng vù.”

Bảo Châu kinh hoàng bật thốt:
” Ngươi biết có độc mà còn mặc kệ sao?!”

Vi Huấn nhàn nhạt nói:
“Không phải loại độc chí mạng. Chưa chết được.”

Hoắc Thất Lang tay chân cũng dính không ít độc vật, cả người lấm lem nhếch nhác, nhưng nàng không lấy làm để tâm.

Hai sư huynh đệ một người rách nát, một người bê bết, áo cưới đỏ nay chẳng khác gì áo tang. Vi Huấn xé toạc vạt áo, lộ lưng đầy thương tích; Hoắc Thất Lang thì lau mặt một lượt, lớp hoá trang trôi sạch, để lộ vết sẹo cũ trải dài.

Không còn là thiếu niên áo gấm rực rỡ, càng không phải lãng tử cười cợt phong lưu. Thứ còn lại là giang hồ thật sự, thô ráp, dữ dằn và lạnh lẽo.

Hoắc Thất Lang chau mày, lẩm bẩm:
” Thật là kỳ quái. Bàng Lương Ký sớm đoán có người trà trộn, kiểm tra hạ nhân mấy lần gia đinh được bố trí đầy viện, vậy mà thích khách vẫn xuất hiện. Rốt cuộc là chui từ đâu ra?”

Vi Huấn lặng im trầm ngâm, trong lòng nghĩ thầm: dù có giấu vật phóng ám khí trong cối đá từ trước, muốn rải được nhiều ám khí như thế, ít nhất cũng phải có hai người, lại thêm kế sách và thời cơ. Suốt chặng đường, kẻ địch luôn ẩn mình trong đám đông, không hề lộ diện, nay lợi dụng màn khói độc làm bình phong mà phóng ám khí, rồi lẩn đi, có thể thấy không hề muốn ra mặt đối đầu.

“Các ngươi nếu chịu xử lý vết thương độc trên người ta, ta sẽ nói cho biết thích khách ẩn nấp ở đâu.”

Bảo Châu chỉ khẽ nói một câu, khiến hai sư huynh đệ sững người, đồng loạt quay nhìn nàng. Bảo Châu từ tay Thập Tam Lang đón lấy cung tên, nước mắt giàn giụa trên má, nhưng trong ánh mắt không chút sợ hãi, chỉ còn căm phẫn.

Vi Huấn thấy thần sắc nàng nghiêm nghị, vội vàng lên tiếng: “Không phải ta mặc kệ, mà giờ nếu nhổ ám khí ra, độc sẽ theo huyết mạch mà lan. Ta đã phong huyệt sau lưng, đợi mọi việc tạm yên, mới có thể vận công trị thương.”

Hoắc Thất Lang cũng rối rít: “Đừng khóc, vết thương này không lấy mạng được đâu.”

Tuy lời giải thích miễn cưỡng, cũng coi như có thể trấn an lòng người. Bảo Châu gật đầu, bước nhanh về phía giếng nước, nhặt lấy một cây gậy trúc rồi xốc tấm chiếu trúc phủ trên miệng giếng.

Trong dân gian, những vật như cối đá, giếng nước, chiếu trúc… thường thấy trong lễ cưới. Không ai mấy ai để ý hay kiểm tra kỹ càng.

Nhưng sáng nay vào phủ Bàng gia, Bảo Châu từng thấy miệng giếng phủ chiếu, tò mò định vén lên xem thì không động đậy, tưởng là chiếu bị cố định. Khi thoát khỏi khói độc, nàng lại thấy chiếu trúc đã lệch hẳn, để lộ một khe hở đáng ngờ.

Vi Huấn và Hoắc Thất Lang nhìn vào trong giếng một cái rồi ngăn không cho nàng lại gần. Trong giếng là hai xác người, áo quần đã bị l*t s*ch, thân thể co rút như bị nhét vào vội vàng, phần nửa th*n d*** chìm trong nước, da thịt trắng bệch.

Vi Huấn thầm nghĩ: hóa ra bọn thích khách giết người đêm qua, lấy áo quần giả làm gia nhân Bàng phủ, xác thì giấu xuống giếng, có thể còn giẫm lên xác nổi trong nước để ẩn mình.

Tấm chiếu trúc không ngăn gió, có thể che giấu một thời gian dài, chỉ đợi lúc tân nhân vào lễ đường sẽ nhảy ra tung ám khí. Khi Bảo Châu vén chiếu ban sáng, chính là lúc hai thích khách đang ẩn nấp bên trong, chiếu không phải được cố định từ ngoài, mà là bị giữ lại từ bên trong.

Xưa nay gặp bao hiểm cảnh, Vi Huấn chưa từng lay động. Nhưng nghĩ đến nàng đã cận kề tử vong, trên gáy hắn cũng lạnh toát, lông tơ dựng đứng, một phen bàng hoàng sau cơn thoát hiểm.

Hoắc Thất Lang nhìn thi thể trong giếng, lẩm bẩm: “Thi thể còn chưa trương lên, chắc mới chết hai ngày, bọn chúng đúng là biết giữ sức.” Nàng định nhảy xuống xem kỹ manh mối, thì từ phía lều vang lên tiếng quát tháo của Bàng Lương Ký. Ba người lập tức biến sắc, vội chạy về phía đó.

Bên trong lều, hỗn loạn không chịu nổi. Khắp nơi người nằm la liệt, có kẻ trúng ám khí, có người bị khói độc hun ngất. May nhờ Vi Huấn và Hoắc Thất Lang ứng biến kịp thời, đôi tân nhân vẫn an toàn.

Tân nương đứng giữa sân, dung mạo thanh tú, gương mặt nửa che sau chiếc quạt tròn.

Bàng Lương Ký đang nằm trên đất, tay chân ra sức đạp lui, như muốn tránh xa tân nương.

“Ngươi là ai?! A Nhiễm đâu?! Ngươi đã giấu nàng ở đâu?!”

Tiếng hắn hoảng hốt vang dội. Tân nương chỉ mỉm cười, không nói, ánh mắt dịu dàng nhìn phu quân.

Bàng tổng quản che vết thương đang chảy máu đầm đìa trên trán, hét lên: “Tổ tông ơi! Đây chẳng phải chính là người ngươi ngày đêm thương nhớ đó sao?!”

Bàng Lương Ký cãi lớn: “Ta sao có thể nhận sai người mình yêu? Lúc ngã nhào vào người nàng ta đã cảm thấy không đúng rồi!”

Phù dâu nhà họ Tiêu giận dữ, nước mắt ngắn dài: “Các người cố ý bôi nhọ nhà gái sao? Cả đoạn đường từ nhà về đây chúng tôi không rời mắt khỏi hôn xa, không phải tân nương thì ai vào đây?!”

Khách khứa xôn xao, người quen cô dâu Tiêu gia đều nói đúng người. Chỉ riêng Bàng Lương Ký cương quyết phủ nhận, cho dù dung mạo y như đúc, hắn vẫn quả quyết đây không phải người mình cưới.

Hắn tuyệt vọng nhìn sang Vi Huấn và Hoắc Thất Lang, gào lên: “Đại sư huynh! Lão Thất! Kẻ địch đã bắt A Nhiễm rồi! Người này không phải nàng, chỉ là giả mặc áo nàng, đeo gương mặt nàng thôi!”

Cả đám đông kinh ngạc. Lễ cưới tiêu hao bạc vàng, chông gai trắc trở mới rước được tân nương, giờ bái đường xong, tân lang lại không nhận cô dâu. Trưởng bối đôi bên nổi giận, suýt nữa gọi người đánh chết hắn.

Hoắc Thất Lang ngắm tân nương một lúc, nhặt hòn đá dưới đất búng nhẹ lên mặt nàng. Tân nương chớp mắt, gương mặt vẫn mỉm cười bất động như tượng.

Nàng nghiêng đầu nói nhỏ với Vi Huấn: “Có vẻ không ổn, có cần vạch trần luôn không?”

Vi Huấn lắc đầu: “Con tin đã bị bắt, vật thế này giữ lại may ra có thể trao đổi.”

Mặc kệ cảnh tượng hỗn loạn thế nào, tân nương vẫn cầm quạt tròn đứng yên, không nói không rằng, thần sắc ung dung, càng khiến người khác thêm sợ hãi.

Hôn lễ vốn là đại hỉ kéo dài suốt một đêm thành cơn ác mộng. Người trong Bàng phủ rối ren lo lắng, nô bộc bỏ trốn, kẻ trúng độc cần được trị liệu gấp.

Vi Huấn biết sẽ còn nhiều nguy hiểm bất ngờ, phải nhanh chóng xử lý vết thương. Hắn xin Bàng gia một cỗ xe ngựa, định đưa Bảo Châu về khách đ**m huyện Linh Bảo nghỉ ngơi. Hai sư đệ ở lại thu xếp hậu sự. Hoắc Thất Lang giỏi nghề dịch dung, để nàng lo liệu phần “tân nương”.

Trước khi rời đi, Vi Huấn lấy từ bên hông một ống pháo kim loại đưa cho Thập Tam Lang .

Thập Tam Lang thấy vậy liền biến sắc: “Đại sư huynh định phát tín lệnh triệu tập đồng môn sao?”

Vi Huấn bình thản đáp: “Chuyện này đã đến nước này, không mời mà đến thì cũng tới đủ rồi. Vậy thì gọi cả bọn đến khách đ**m Linh Bảo gặp huynh cho tiện.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 75


Vó ngựa lộc cộc, bánh xe rền vang, nghiến qua con đường lát đá xanh ướt đẫm sương mai. Phố xá vắng tanh, cảnh tượng chen chúc náo nhiệt đêm qua nay đã tan biến như mộng.

Trong xe, Vi Huấn ngồi xếp bằng, mắt khép hờ, chuyên tâm vận khí trục độc. Từ đỉnh đầu đến vai cổ mờ mịt bốc lên từng sợi khí trắng như sương mù. Đối diện, Bảo Châu ngồi nghiêng chăm chú nhìn hắn. Gương mặt hắn trắng bệch, ửng một tầng hơi xanh, môi và đầu ngón tay đều lạnh màu tro, tựa như người bệnh nặng mới tỉnh. Thật khó tin thân thể như vậy lại có thể trải qua một đêm vất vả không nghỉ, vừa uống rượu vừa giao đấu, tung hoành khắp nơi như cơn gió dữ.

Bỗng nghe “phụt” một tiếng, một chiếc tiêu độc từ sau lưng Vi Huấn bật văng ra, cắm sâu vào vách xe, máu đen phun trào theo. Bảo Châu nín thở, rướn cổ nhìn, dùng tay che miệng không dám lên tiếng, sợ quấy rầy hắn.

Chỉ một nén nhang sau, bảy chiếc tiêu độc lần lượt bật ra khỏi da thịt, máu đen dần đổi sắc thành đỏ tươi. Toàn thân áo sau lưng hắn ướt đẫm, vách xe lấm tấm vết máu, trong xe ngập mùi tanh. Mãi đến khi vùng lưng tê rát dần lui, Vi Huấn mới thu khí về đan điề, chậm rãi mở mắt. Vừa ngẩng đầu đã thấy gương mặt Bảo Châu nhòe lệ, nét trang điểm hoa lệ nay đã nhòe nhoẹt.

Hắn cắn răng, lòng ngổn ngang hối hận, cảm thấy có lỗi vì liên lụy nàng vào chuyện này. Nhẹ giọng nói:

” Đã xong rồi.”

Bảo Châu vội quay đi, làm bộ cứng cỏi:

“Mắt ta bị khói độc hun cay, chẳng liên quan gì đến ngươi.”

Không gian trong xe vốn hẹp, dù nàng dời mắt, mùi máu tanh vẫn xộc vào mũi. Hương máu nồng gợi ký ức tang tóc năm nào trong điện Bồng Lai cũng từng đẫm máu như thế. Nỗi đau lòng âm ỉ kéo về khiến nàng không dám nhìn chiếc áo đẫm máu của hắn.

Vi Huấn lặng lẽ ngắm nàng. Trước kia nàng mạnh miệng, hắn còn có thể đùa cợt chọc ghẹo. Nhưng lúc này chỉ thấy môi mằn mặn mùi máu, chẳng nói nên lời.

Tóc nàng xõa rối, tà váy lấm lem bùn đất, trâm hoa chẳng rõ rơi đâu mất. Từ lúc ra cửa đến giờ, nàng vốn trang điểm rạng rỡ, một thân diễm lệ, giờ đã tàn tạ. Lẽ ra hắn phải kịp thời khen ngợi, nhưng vì lão Thất có mặt nên lời nghẹn lại, thành ra lỡ mất.

Nghĩ đến đây, Vi Huấn lắp bắp:

” Ngươi… hôm qua thật sự rất đẹp.”

Bảo Châu ngỡ hắn trêu chọc, mắt trợn tròn định quở trách. Nhưng thấy vẻ áy náy trên mặt hắn, lại nghe tiếp:

” Là ta không đủ bản lĩnh, không chặn được trận đầu, khiến ngươi chịu khổ.”

Nàng bất ngờ đến nghẹn lời, định mắng cũng không được, chỉ lạnh nhạt đáp:

” Ngươi chưa đủ mạnh, chẳng lẽ muốn đội trời đạp đất? Lúc ngươi nâng cây cờ kia, ta thấy binh lính trong doanh trại đã giương cung nhắm vào ngươi. May mà ngươi mặc lễ phục tiếp giá, bằng không đã bị bắt rồi.”

Vi Huấn gượng cười, trong lòng thầm phục: giữa cơn hỗn loạn, chỉ có nàng còn quan sát được biến động nơi quân doanh. Hắn chân thành tán thưởng:

“Mắt ngươi thật tốt.”

Bảo Châu nghĩ lại cảnh trong lễ đường, nếu lúc ấy có cung trong tay chưa chắc cần hắn bảo vệ. Nàng từng được hắn dặn dò phải mang vũ khí bên người, nhưng không ngờ lễ cưới lại đầy cạm bẫy như thế. Lúc ấy vì mặc đồ lộng lẫy mà chẳng giắt cung tên, đến khi mượn được cung từ Thập Tam thì đã chậm.

Nghĩ vậy, nàng thêm áy náy. Bất chợt nhớ lại điều muốn nói từ nãy, nàng lên tiếng:

” Nói đến mắt nhìn, ta thấy gã mặt đen đồng môn của ngươi cũng có mặt trong đám đông xem lễ. Nếu hắn là thầy thuốc lang thang, có thể giúp ngươi trị độc. Người trong giang hồ hẳn tinh thông hơn thầy thuốc thường.”

Vi Huấn gật đầu:

” Ta đã phát tín hiệu triệu tập, hôm nay Khâu Nhậm sẽ đến khách đ**m, cùng với vài kẻ phiền phức khác. Ngươi đừng ra ngoài, kẻo lại sinh sự.”

Bảo Châu nhíu mày:

” Cả Thác Bạt tam nương cũng đến? Ngươi bị thương, chẳng lẽ không nên tránh nàng?”

Vi Huấn thản nhiên đáp:

” Dù có gãy tay, ta vẫn có thể đối phó lão tam. Chỉ e nàng thấy ta mới không dám đến.”

Cách hắn nói khiến Bảo Châu không khỏi nghi hoặc. Người hắn triệu tập, chẳng giống đang cầu viện, mà như gọi tới để đối chất.

Xe đã vào thành Linh Bảo, trời sáng rõ, tiếng rao bán đồ ăn vang khắp phố. Cả hai bụng đều trống rỗng sau một đêm. Vi Huấn cất tiếng:

” Muốn ăn gì? Ta xuống mua.”

Bảo Châu lập tức ngăn lại:

” Ngươi không được nhúc nhích! Một thân máu me thế kia hù chết người ta mất. Để ta.”

Vi Huấn chưa kịp phản ứng, nàng đã nhảy xuống xe. Nhưng chỉ lát sau, nàng quay lại, hai tay trống trơn, má đỏ bừng:

” Ta… quên mang tiền.”

Vi Huấn nhìn nàng, trong lòng bật cười. Vị công chúa tôn quý, lại không xoay xở nổi chuyện mua đồ ăn sáng. Hắn cười đến đau vết thương, vừa xuýt xoa vừa nói:

” May mà không mua được. Vi đại mà ăn đồ ngươi mua, chắc mất nửa cái mạng, tại chỗ mà lăn ra cũng nên.”

Bảo Châu thẹn quá hóa giận, định quở trách, nhưng thấy hắn đã hồi lại thần sắc ngày xưa, ánh mắt lại ánh lên nét cười quen thuộc. Nhớ lại lúc sáng hai người còn ăn vận tề chỉnh, một ngày qua thôi mà đã rơi vào thảm cảnh, nàng chợt buồn cười đến mức không nhịn được, bật cười giữa hàng mi còn đẫm lệ.

Vừa trở về khách đ**m, sư huynh thứ tư trong môn là Quỷ Thủ Kim Cương Khâu Nhậm đã ngồi sẵn trong sảnh. Đối diện hắn là một người vạm vỡ, lưng mang tích trượng, tóc búi cao như đầu đà, mặt mày dữ dằn. Hai kẻ một trái một phải, ngồi như chặn cửa, toát ra sát khí khiến khách trọ vừa ló đầu vào đã vội quay đi, chẳng ai dám bước vào.

Khâu Nhậm tuy treo cờ trắng với bốn chữ “Diệu thủ hồi xuân”, nhưng khí chất vẫn dữ dằn không kém kẻ trong giang hồ. Nếu gọi là đại phu, chi bằng nói là cường đạo ghé nhà xin lễ vật còn dễ tin hơn. Chủ quán khách đ**m dẫu trong lòng ngao ngán, cũng chỉ đành nuốt nước miếng, không dám hé răng nửa lời.

Thấy Vi Huấn từ xe ngựa bước xuống, hai người liền cùng đứng dậy, đồng thanh hành lễ gọi:
“Đại sư huynh.”

Bảo Châu ngẩng đầu nhìn vị đầu đà kia, chợt giật mình, nhớ ra từng gặp trong phố lò rèn, ấn tượng khắc sâu bởi tướng mạo dị thường. Nàng hỏi:
“Cũng là người trong sư môn ngươi?”

Vi Huấn gật đầu:
“Là lão ngũ.”

Hắn không định giới thiệu đôi bên, chỉ quay sang Khâu Nhậm dặn:
“Ngươi vào giúp ta khâu lại lưng.”

Khâu Nhậm gật đầu, xách hòm thuốc bước theo. Bảo Châu cũng lẳng lặng đi sau, vào tận phòng.

Khâu Nhậm mở hòm, bày kim chỉ thuốc men ra mặt bàn. Vi Huấn tháo dải lưng, định cởi áo. Thấy Bảo Châu vẫn đứng đó, mắt chăm chăm dõi theo từng động tác, hắn liền thấy khó chịu, sống lưng cũng ngứa ngáy.

” Ngươi còn chưa ra ngoài? Ra uống chén nước đi, nhìn gì mà như muốn xem ta còn thở nổi không.”

Bảo Châu lạnh nhạt đáp:
” Vì sao ta phải ra? Cũng phải xem ngươi bị đâm thành dạng gì rồi mới tính tiếp.”

Vi Huấn đảo tròng mắt, liếc Khâu Nhậm, bèn nghiêm giọng:
” Y thuật của lão tứ là bí truyền trong sư môn, không tiện để người ngoài xem.”

Bảo Châu hơi sửng sốt, thầm nghĩ sư môn gì mà lắm phép lạ quy củ lạ kỳ, nhưng đã nói vậy, nàng cũng không tiện cưỡng ép. Hừ một tiếng, nàng quay lưng rời khỏi phòng.

Khâu Nhậm cầm kim chỉ, ngẩn người một lát rồi hỏi:
” Ta cũng chỉ là đại phu trị ngoại thương, học thêm bó xương, có gì mà bí thuật không tiện nhìn?”

Đối với sư đệ, Vi Huấn chẳng kiên nhẫn như với Bảo Châu, gằn giọng:
” Ta nói không tiện là không tiện, lắm lời nữa ta đạp cho một cước!”

Nói đoạn, hắn xé toạc áo, để lộ sau lưng thương tích chằng chịt, máu thịt lẫn lộn.

Khâu Nhậm chau mày, xem xét kỹ vết thương, thấy độc phần lớn đã được ép ra, chỉ cần rửa sạch bôi thuốc, khâu lại là xong. Vừa cắm kim vá thịt, vừa lẩm bẩm:
” Nếu không phải thương ở sau lưng khó với tay, chắc cũng chẳng cần gọi ta tới. Dù sao trong sư môn, Vi đại vẫn là người khâu da giỏi nhất…”

Nhưng nghĩ tới việc hắn phải dối cô nương kia ra ngoài mới cởi áo, lại ngẫm giọng điệu nhỏ nhẹ trước đó, Khâu Nhậm bất giác rùng mình, lưng nổi da gà. Chẳng lẽ… là thẹn thùng?

Vừa nghĩ đến đó, Khâu Nhậm suýt bật cười. Kim chỉ trong tay thành mấy mũi lệch lạc như con rết, rõ ràng sẽ để lại sẹo xấu. Hắn giật mình, thầm than: Nếu sau này sư huynh cởi áo trước mặt cô nương kia, thấy lưng sẹo ngang dọc, chẳng phải sẽ tìm ta báo thù?

Khâu Nhậm nghiêm mặt nói:
” Xin lỗi đại sư huynh, lão tứ uống hơi nhiều, tay run phùng lệch, để ta tháo ra, khâu lại một lần.”

Chưa dứt lời, đã rút dao giải phẫu, gỡ từng mũi chỉ. Vi Huấn nghe vậy lửa giận bốc lên đầu, rít qua kẽ răng:
” Tên mập chết dẫm, lấy ta ra làm nơi luyện tay nghề?”

Khâu Nhậm cười trừ:
“Vừa nãy dùng chỉ thường, khâu xong cắt bỏ sẽ phiền. Để ta đổi loại tốt hơn, không để lại vết sẹo.”

Nói rồi lấy ra cuộn chỉ vàng dành riêng cho con gái nhà quyền quý, loại mịn như tơ, rút ra dễ dàng, lỗ kim khó thấy. Dùng thứ này để khâu cho Vi Huấn, đúng là nực cười, mà cũng là một chút an ủi duy nhất.

Chốc lát, thấy Vi Huấn nắm tay trắng bệch, trán rịn mồ hôi, gân tay bật cả lên, mà vẫn cố nín chịu không kêu, Khâu Nhậm vui sướng như được trả thù xưa. Gương mặt đen sì méo xệch vì nghẹn cười, may mà thương ở lưng, nếu không hắn đã bị đấm cho vỡ mặt.

Khâu xong, băng bó kỹ, Vi Huấn thay lại áo vải trúc xanh quen thuộc. Đang định quay sang hỏi tội Khâu Nhậm vì sao lại tới Linh Bảo huyện, thì thấy bóng Bảo Châu lấp ló ngoài cửa.

Không muốn nàng lo lắng, hắn bước ra. Bảo Châu liếc hắn một cái, thấy y phục đã chỉnh tề, bèn tiến lại gần Khâu Nhậm hỏi:
“Vậy là khỏi rồi sao? Không cần uống thuốc tiêu độc? Không bôi thuốc gì à?”

Khâu Nhậm hơi sửng sốt, đáp:
” Đại sư huynh không cần.

Bảo Châu cau mày, giọng không vui:
“Dù sao cũng là vết thương do độc, chẳng lẽ khâu xong là được?”

Khâu Nhậm lúng túng, thầm nghĩ người giang hồ bị thương chẳng phải đều vậy? Nếu ngồi khám bệnh đàng hoàng thì còn bày thuốc, chứ đồng môn trong nhà với nhau, ai lại dở trò?

Nhưng cô nương này khí thế rắn rỏi, khiến hắn cũng không dám qua loa, đành nói:
“Vài ba hôm tới không nên vận khí, kẻo độc sót lại chạy vào tạng phủ, để hậu họa.”

Bảo Châu quay phắt lại, trừng mắt nhìn Vi Huấn:
” Nghe chưa? Hai ba ngày phải nằm yên!”

Vi Huấn vốn đang bực vì lão tứ bày trò, lại bị nàng răn dạy như tiểu hài tử, càng thêm ngứa ngáy. Khâu Nhậm thì ngồi giữa như kẹp bánh, thở dài không thôi: “Người thường thì sợ thật, nhưng sư huynh vốn sẵn bệnh trong người, sống chẳng còn được bao nhiêu ngày, nào để tâm hậu họa gì nữa…”

Hắn không dám nói ra, chỉ cúi đầu đáp:
“Lần sau sư huynh muốn lời dặn, cứ báo trước, lão tứ nhất định ghi nhớ.”

Bảo Châu nghiêm mặt:
“Ngươi khỏi cần hỏi hắn, nói cho ta biết là được. Còn gì cần lưu ý nữa?”

Khâu Nhậm nhìn sắc mặt âm u của Vi Huấn, lại quay sang ánh mắt nghiêm nghị của Bảo Châu, không dám dây dưa, thu hòm thuốc kẹp dưới nách, buông một câu:
“Uống nhiều nước ấm.”

Rồi lật đật chạy đi.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 76


Khách đ**m Đào Nguyên ở huyện Linh Bảo hôm nay có phần khác lạ.

Từ tờ mờ sáng, khách lữ lác đác vào tiệm trọ đều chẳng giống người thường. Ban đầu là một gã thầy lang mặt mày u ám, nét mặt hung hăng, tuy xấu xí nhưng dù sao cũng mang danh đại phu, nên chủ quán vẫn niềm nở tiếp đãi. Thế nhưng người này chẳng nói nghỉ chân cũng không nhận phòng, vừa ngồi xuống liền ngồi một chỗ không đi.

Chưa kịp lấy lại tinh thần, lại thêm một người nữa bước vào, thân hình to lớn hơn cả khuôn cửa, mặt đầy râu quai nón, ánh mắt sắc như dao, vẻ mặt đằng đằng sát khí. Gã đầu đà vác theo cây tích trượng, vừa vào đã gõ nát một viên đá lát nền. Chủ quán tái mặt, tưởng là người tới hóa duyên, vội vã nhóm bếp nấu cơm chay. Ai ngờ gã ăn xong một thau cơm liền ngồi ì ra đó, chẳng rời bước.

Qua giờ ngọ, lại thêm một đoàn đạo sĩ tới. Cầm đầu là một đạo trưởng tuổi độ tứ tuần, mặt trắng như ngọc, mặc áo pháp màu tím nhã nhặn, dáng vẻ thong dong, chẳng khác gì tiên nhân hạ thế. Theo sau là bốn tiểu đạo đồng, một trong số đó bị thương, tay quấn băng treo trên cổ.

Chủ quán thấy lại là người xuất gia, còn chưa biết tiếp đãi thế nào thì đạo trưởng áo tím đã lên tiếng trước:
“Hôm nay quán không tiếp khách mới. Ai đã vào thì đuổi được cứ đuổi, không chịu đi, đừng trách đạo gia ra tay mạnh.”

Giọng điệu chẳng chút khoan nhượng, khiến chủ quán hít sâu một hơi. Nhìn lại thấy đạo trưởng vốn cúi đầu mỉm cười ôn hòa, nhưng khi ngẩng mắt lên, thần thái bỗng đổi, ánh mắt sắc lạnh như điện, toát ra sát khí lạ thường, tuyệt chẳng giống người tu hành thanh tịnh.

Lúc ấy, chủ quán mới để ý sau lưng đạo trưởng là thanh bảo kiếm, bốn tiểu đồng theo sau cũng đều mang binh khí. Cả đám ngồi xuống chiếm trọn đại sảnh, cộng thêm hai người vào trước như hung thần ác sát, chớ nói buôn bán, đến ruồi bọ cũng chẳng dám bén mảng.

Khi hoàng hôn buông xuống, bóng chiều đỏ như máu nhuộm kín mặt đường, khiến lòng người bất an, mọi vật lặng lẽ chìm vào một tầng mờ mịt. Lúc này, một thiếu phụ áo trắng tay ôm đàn tỳ bà bước qua ngạch cửa, theo sau là một đôi trai gái dung mạo thanh tú.

Chủ quán vừa thoáng thấy mặt nàng, tim đã đập mạnh, bởi nhớ lại vài hôm trước, một đêm mưa lớn cũng có một kỹ nữ già bệnh ho khan tới trọ, khuôn mặt và y phục y hệt người này. Đêm ấy từng xảy ra huyết án, tuy không ai truy cứu, nhưng chính tay ông đã lau khô từng vệt máu dưới đất, vờ như chưa hề có chuyện gì.

Hôm đó, kỹ nữ kia yếu đuối bệnh tật, còn hôm nay lại là một nữ nhân y phục trắng toát, tay ôm đàn, khí chất ung dung, phong thái ngang tàng. Duy chỉ có vẻ mặt lạnh tanh, ánh mắt oán độc, vẫn chẳng đổi thay.

Giờ đây, khách đ**m chẳng khác gì hang ổ yêu tà, không khí nặng nề đến cực độ, chỉ cần một đốm lửa là bùng nổ. Chủ quán mồ hôi lạnh chảy ròng, chẳng dám thở mạnh, thậm chí nảy sinh ý định bỏ của chạy lấy người.

Thiếu phụ kia chọn chỗ đối diện đạo sĩ áo tím, ngồi xuống, lười nhác nói:
“Sao không hẹn nơi vắng vẻ mà gặp? Giữa chốn đông người, muốn nói gì cũng chẳng tiện.”

Đạo trưởng áo tím đáp:
“Là ý đại sư huynh, người đang ở đây.”

Nữ nhân đảo mắt nhìn quanh, chau mày:
“Các ngươi kéo nhau tới đủ mặt, mà tên nhóc ấy đâu rồi?”

Khâu Nhậm đáp:
“Bị thương nhẹ, đang nghỉ ngơi. Đợi mọi người đông đủ rồi đánh thức cũng chưa muộn.”

Thiếu phụ ánh mắt chợt lóe như lửa ma trơi:
“Thương ở đâu?”

Khâu Nhậm đáp bối rối:
“Chỉ là vết ngoài da, tam sư tỷ xin đừng hành động nông nổi.”

Thác Bạt tam nương hừ khẽ một tiếng, vẻ tiếc rẻ. Vài hôm trước nàng liều lĩnh thử hắn, không những bị thương, còn mất cả con thú quý như ruột thịt. Nếu không phải để xem trò hay, chuyến đó coi như uổng công.

“Hai hôm trước ta đã tới thăm dò, biết hắn giờ khác xưa. Còn mang theo một cô nương nhỏ, cưng chiều vô cùng.”

Nghe nhắc tới việc riêng của Vi Huấn, ai nấy bỗng tỉnh táo hẳn, ánh mắt đồng loạt hướng về phía nàng.

Khâu Nhậm nhếch môi cười:
“Người đầu tiên thấy nàng là ta. Đại sư huynh xưa nay kiêu ngạo, vậy mà cam tâm dắt lừa, chạy đông chạy tây, ân cần chẳng khác gì phu quân mẫu mực. Thật không ngờ.”

Đạo trưởng áo tím tựa hồ lần đầu nghe chuyện này, kinh ngạc nói:
“Có chuyện ấy sao? Hắn vốn lạnh lùng, đâu dễ mềm lòng.”

Thác Bạt tam nương cười khúc khích:
“Nhị sư huynh mới xuống núi nên không rõ. Tin này đã lan khắp giang hồ. Ta ở Trường An nghe xong, liền xuất quan tới xem tận mắt. Ban đầu đồn rằng một cao thủ tuyệt đỉnh bắt sống Vi Huấn, ta bán tín bán nghi, bèn thử dọa cô nương ấy. Ai ngờ nàng non nớt, sợ đến phát khóc, chẳng biết chút võ công nào. Thật khiến người ta muốn tức chết.”

Gã đầu đà nãy giờ im lặng, lúc này lên tiếng:
“Không hẳn vậy. Cô nương đó có chút gan dạ.”

Mọi người đang trò chuyện, Hoắc Thất Lang cũng tới. Nàng là đệ tử chân truyền của Trần Sư Cổ, đối với các sư huynh sư tỷ rất mực kính trọng, từng người chào hỏi không thiếu ai. Chỉ khi đối mặt với Hứa Bão Chân đạo trưởng áo tím thì lộ vẻ lúng túng, chọn chỗ xa nhất, ngồi xuống hàng cuối.

Hứa Bão Chân làm như không thấy, trầm ngâm một lúc rồi chậm rãi nói:
“Các ngươi còn nhớ lời sư phụ dặn chăng? Người luyện công pháp Huyền Khí nếu vẫn còn thân đồng tử thì mới đạt tới uy lực tối cao. Nếu Vi Huấn đã động tâm, công lực có còn không?”

Thác Bạt tam nương bật cười:
“Quả nhiên chỉ có nhị sư huynh để tâm chuyện ấy. Trong sư môn, chỉ còn huynh và Vi Huấn giữ mình, nhưng huynh thì vì cầu đạo mà kìm nén, còn Vi Huấn chẳng màng tới. Nói thẳng ra, sư phụ vốn thích thổi phồng đạo lý quái gở, lừa huynh sống đơn độc đến già.”

Hứa Bão Chân không giận, chỉ nhẹ nhàng nói:
“Nếu hiện giờ chỉ còn ta và đại sư huynh võ công cao nhất, thì lời ấy vẫn chưa thể phủ nhận. Tam nương, nếu thật không tin lời sư phụ, sao lại nhân lúc Vi Huấn bị bệnh, phái người đến phá công lực hắn? Việc không thành, hắn hồi phục rồi quay lại báo thù, lôi ngươi từ giường xuống đánh đến trọng thương, có đáng không?”

Cả sư môn đều biết Vi Huấn và tam sư tỷ có oán, nhưng đôi bên kín miệng, không ai rõ chuyện gì. Nay Động Chân Tử và Bà Âm Ma vạch trần trước mặt, mọi người mới hiểu rõ đầu đuôi. Ai nấy cứng họng, không dám nói gì.

Lão nhị lão tam đối mặt, mắt toét lửa, không khí căng như dây đàn. Nhưng vì là ngày tụ hội của sư môn, bọn họ đành cố nhẫn nhịn, chưa dám gây chuyện trước mặt các huynh đệ.

Sau một lúc, Thác Bạt Tam Nương ho khan, tay ôm ngực, sắc mặt thay đổi, giả bộ yếu đuối tội nghiệp nói: “Ta cũng lựa chọn một đôi đồ đệ xinh đẹp nhất đưa tới, chẳng phải bạc đãi gì hắn, vậy mà hắn lại không biết điều, bốn chân chạm đất mà trốn mất. Sau đó ta tránh đầu sóng ngọn gió, trốn trong phòng tình nhân, định bụng sẽ vờ vô tình gặp hắn, nào ngờ tên tiểu quỷ kia chẳng hề nể mặt, ra tay tàn nhẫn, thật là tức chết người! May mà ông trời có mắt, lần này hắn cũng khổ sở rồi!”

Thác Bạt Tam Nương tuy trong võ học tinh thông ám sát hàng đầu, nhưng sự liều lĩnh ngang tàng, lối hành xử ngang ngược ấy trong sư môn chẳng ai bì kịp. Chuyện nàng nhăm nhe vị trí đứng đầu Tàn Dương Viện thì ai ai cũng biết, không ngờ lại dám dùng thủ đoạn ấy để đối phó Vi Huấn. Hắn chưa giết nàng tại chỗ, cũng là bởi nàng mạng lớn.

Cả bọn ngồi nghe, kẻ câm lặng, người nghiến răng, ai nấy trong lòng cũng nổi cơn sóng ngầm.

Hoắc Thất Lang ngồi nghe đã lâu, không nhịn được, mở lời: “Đã khó khăn lắm mới tụ họp được một lần, chi bằng mở một ván cược? Ta đặt hai mươi lượng vàng, cược rằng đại sư huynh công lực vẫn còn.”

Khâu Nhậm giật mình: “Ngươi trúng mối gì mà vung tiền lớn vậy?”

Hoắc Thất Lang cười khì: “Mới chém được một khoản từ chỗ lão Lục, không tiêu xài thì khó chịu. Các người theo không?”

Thác Bạt Tam Nương cười tủm tỉm: “Ta theo. Mấy ngày trước thử hắn một trận, rõ ràng có cơ hội giết ta, vậy mà chỉ vì ta phóng một phi đao lên búi tóc cô nương bên cạnh hắn, hắn liền quay lại chắn thay nàng. Mấy sợi tóc cũng tiếc không cho rụng, chẳng phải là si mê quá đỗi? Ta đoán là hắn đã… không còn giữ mình.”

Khâu Nhậm nhớ lại khi chữa thương, Vi Huấn thoát y trước mặt cô nương nọ mà mặt đỏ tới mang tai, lại cố lừa nàng rời đi, dáng vẻ như tiểu tử mới lớn vừa đụng chuyện tình cảm, liền nói: “Ta đánh cược với lão Thất, hắn vẫn còn là đồng tử.”

Hứa Bão Chân liếc xéo Hoắc Thất Lang, lạnh giọng: “Ngươi cả ngày lông bông, chỉ lo gái gú, chẳng trách võ công không ra gì.”

Hoắc Thất Lang gãi gãi vết sẹo trên mặt, cười không để tâm: “Nhị sư huynh mơ làm thiên hạ đệ nhất võ công, còn ta thì mơ thiên hạ đệ nhất mỹ nhân. Mỗi người một chí hướng, chẳng thể ép buộc.”

Thác Bạt Tam Nương xen lời: “Lão Nhị khỏi tức giận. Dù có một lòng luyện võ thì có ai vượt được Vi đại? Ngươi chẳng qua là núp trên núi đợi hắn chết bệnh rồi mới mon men lên làm đệ nhất. Nếu ai cũng không bì kịp hắn, hà tất làm khó lão Thất?”

Lời nàng như đâm thẳng, Hứa Bão Chân cũng chẳng phản bác, khuôn mặt tuấn tú lộ chút cười lạnh: “Vậy ta cược với tam nương một ván, xem như đầu tư dài hạn, đặt cược vào đoạn đường xuống núi của hắn.”

Hoắc Thất Lang quay sang hỏi đầu đà: “Ngũ sư huynh có theo không?”

Đầu đà lắc đầu, dứt khoát từ chối: “Ta không đánh cược việc không thể chứng thực. Dù đại sư huynh có mất công lực, chúng ta vẫn không địch nổi, ai dám chắc được?”

Hoắc Thất Lang cười: “Tất nhiên là phải có chứng cớ rõ ràng khiến ai nấy tâm phục khẩu phục mới được tính.”

Mọi người đều hiểu, ván cược này cái giá không nằm ở vàng bạc, mà nếu bị Vi Huấn biết chuyện, e là kẻ tham dự sẽ chết không toàn thây. Nhưng đám người này xưa nay chẳng để sinh tử trong lòng, máu mạo hiểm nổi lên là đánh cược sống chết không chớp mắt. Lập tức từng người đặt cược, thỏa thuận sòng phẳng.

Vi Huấn chưa tới, vị trí chính giữa đại sảnh vẫn còn trống.

Bên trái thủ tọa là Động Chân Tử Hứa Bão Chân, đối diện hắn là Bà Âm Ma Thác Bạt Tam Nương. Hai người này đều đã lập phái riêng, đệ tử đứng sau lưng, uy nghi không kém.

Tòa thứ hai bên trái là Quỷ Thủ Kim Cương Khâu Nhậm, bên phải là đầu đà to lớn mang tóc, người trong giang hồ gọi là Chấp Hỏa Lực Sĩ, tục danh La Đầu Đà.

Tòa thứ ba bên trái bỏ trống vốn thuộc về Tật Phong Thái Bảo Bàng Lương Ký, hiện đã bị trục xuất sư môn. Tòa thứ ba bên phải là Khỉ La Lang Quân Hoắc Thất Lang.

Tuy Trần Sư Cổ không lập môn phái chính thức, nhưng bảy đồ đệ tuy mạnh ai nấy đi, người đời vẫn gọi chung là “Tàn Dương Thất Tuyệt”, theo tên nơi ở của thầy họ Trần.

Tiểu đồ đệ võ công kém chưa xuất sư, không được triệu lệnh, nay đều theo chân các sư huynh sư tỷ.

Mặt trời khuất núi, bóng đêm phủ xuống, u tối dần chiếm lấy cõi trần. Hứa Bão Chân thấy người đã đủ mặt, liền sai chủ quán đóng cửa, dẹp hết khách, dọn chỗ, bố trí kín kẽ. Những kẻ không chịu rời đi, kể cả gia nhân, đều bị xử lý ổn thỏa. Chỉ còn lại hai phòng chưa ai bước vào: phòng Bảo Châu và phòng Dương Hành Giản.

Sau cùng mới truyền tin cho Vi Huấn: toàn bộ sư môn đã tề tựu.

Vi Huấn bị Bảo Châu ép nghỉ suốt cả buổi, vừa tỉnh giấc đã cảm thấy tinh thần khôi phục đôi phần. Nhưng nghĩ đến việc bỏ lỡ bữa ăn cùng nàng, lại còn phải đối mặt đám người hắn chán ghét, trong lòng bỗng buồn bực khó tả. Xuống lầu, nét mặt đã lạnh như sương khuya, khí tức băng giá quanh thân khiến ai nhìn cũng tránh xa.

Bảo Châu tay cầm chân nến, định qua thăm Dương Hành Giản. Đi ngang qua hành lang lầu hai, liếc nhìn đại sảnh, nàng chợt ngẩn người. Trong khách đ**m khi ấy như động quỷ tụ linh, tà khí ngập tràn. Người đàn bà ôm tỳ bà từng một lần dọa nàng cũng ngồi chễm chệ giữa đại sảnh.

Bảo Châu từ nhỏ đọc thơ Lý Bạch mà lớn, mơ về những kẻ sĩ phiêu dật, “Bạc yên chiếu bạch mã, đạp táp như sao băng”, hay “Sao băng bạch vũ bên hông cắm, kiếm sáng rút ra giữa trăng thu”, luôn cho rằng giang hồ là chốn phong lưu trượng nghĩa.

Nhưng giờ đây, khi tận mắt thấy những kẻ gọi là hiệp khách giang hồ, bao mộng tưởng trong nàng như tan thành mây khói. Mỗi người trong kia, chẳng ai không hợp làm hình mẫu truy nã, kể cả Vi Huấn kẻ ngồi chính giữa ánh mắt u ám lạnh lẽo, hoàn toàn khác với chàng trai nàng từng quen.

Nghĩ lại mỗi lần qua bố cáo, Vi Huấn đều là kẻ đầu tiên nhào tới xem, nàng cứ tưởng hắn tò mò tin tức thiên hạ, giờ mới hiểu, có lẽ hắn chỉ xem xem mặt mình và đồng môn có bị truy nã hay không.

Bảo Châu còn đang thở dài cho giấc mộng thời thiếu nữ thì bỗng tay bị kéo lại, Dương Hành Giản đã kéo nàng vào phòng, sắc mặt tái mét, run rẩy khóa cửa, hạ giọng nói: “Chuyện lớn rồi, công chúa mau đi báo quan! Phải điều ba trăm trọng nỏ từ quân doanh mới mong vây bắt được đám ác tặc này!”

Bảo Châu biết hắn chưa lành bệnh, đầu óc chưa tỏ, thở dài lắc đầu: “Đã chậm rồi, hiện tại… chúng ta đã cùng một thuyền với bọn họ rồi.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 77


Vi Huấn ngồi vào ghế đầu, không nói một lời, chỉ lạnh lùng lườm Thác Bạt tam nương. Nàng thì lại mỉm cười tươi tắn, nhẹ nhàng đặt tay lên dây đàn tỳ bà, rồi đưa nhạc cụ cho người theo hầu sau lưng, tỏ rõ thành ý nhún nhường, là kẻ đầu tiên tự nguyện giao nộp binh khí.

Trần Sư Cổ vốn là người tự do phóng túng, chưa từng đặt ra môn quy gì nghiêm ngặt cho đệ tử nhưng mỗi lần tụ hội đều cấm xô xát, chẳng qua là sau vài trận đánh loạn đẫm máu mới đành ngầm ước định quy củ riêng cho nhau.

Thác Bạt tam nương đã chịu nhún, kẻ khác cũng khó mà tiếp tục hung hăng. Vi Huấn cười lạnh một tiếng, tháo dao găm vẫn đeo bên hông, đặt mạnh lên bàn bên cạnh. Ngư Tràng kiếm gác xuống, như một thứ mệnh lệnh trong sư môn.

Những người còn lại cũng nối gót hạ vũ khí. Hứa Bão Chân giao phất trần và trường kiếm cho môn nhân; Khâu Nhậm, người nổi danh với ngoại hiệu Quỷ Thủ Kim Cương, vốn không dùng binh khí, từ trước đến nay đều tay không luyện công; La Đầu Đà quay người, cắm cây tích trượng nặng ch*ch xuống đất, cán trượng cắm sâu vào lớp gạch, như dựng cờ báo hiệu đã buông binh khí.

Tới lượt Hoắc Thất Lang, nàng giơ tay ra, tỏ vẻ chẳng mang theo vật gì.

Hứa Bão Chân chau mày: “Ta vừa muốn hỏi, đao của ngươi đâu rồi?”

Hoắc Thất Lang nhún vai, đáp: “Vài ngày trước kẹt tiền, đầu óc bức bối nên tạm thời đã cầm cố ở tiệm cầm đồ.”

Cả bọn tròn mắt nhìn nàng, ai nấy đều thầm nghĩ: người này phóng túng đến độ đem cả binh khí đi cầm lấy tiền tiêu, quả thực chẳng còn lời nào để nói.

Thấy ánh mắt khinh bỉ từ các sư huynh sư tỷ, Hoắc Thất Lang cười nhạt: “Đừng làm mặt nặng mày nhẹ thế chứ, xem kìa, đại sư huynh rộng rãi bao dung cỡ nào, chưa từng hỏi ta một tiếng, đao đi đâu mất.”

Hứa Bão Chân lạnh lùng: “Hắn xem chúng ta như không khí, ngươi có mang theo cái trống hay cả cái bảng, e cũng chẳng vào mắt hắn đâu.”

Hoắc Thất Lang cười nói: “Ta nhận tiền của lão Lục rồi, sau sẽ chuộc đao về, các ngươi đừng nhìn ta như kẻ phá sản.” Rồi lại đổi giọng, nói lảng sang chuyện khác: “Thật ra, ta vẫn cho rằng quy định tước vũ khí này không công bằng chút nào. Đại sư huynh vốn lợi hại nhất khi tay không, giờ bỏ hết binh khí, chẳng phải chúng ta càng thêm thiệt thòi sao?”

Vi Huấn nhếch mép cười, giọng khinh khỉnh: “Ta có tháo một cánh tay đi nữa, cũng còn mạnh hơn các ngươi, chớ lo chuyện lặt vặt.”

Cả bọn nghe vậy, chỉ tức nghẹn họng, nhưng chẳng ai phản bác nổi. Ai nấy đều thầm nghĩ: Trần Sư Cổ để lại Ngư Tràng kiếm cho Vi Huấn, hắn lại thường ngày chỉ dùng dao ăn làm vũ khí, vậy mà cũng chẳng ai dám hé môi.

Trong môn phái này, thực lực chính là lẽ trời. Vi Huấn xưa nay vẫn ngạo mạn, từng tuyên bố: “Ai thắng được ta, kẻ đó sẽ là đại sư huynh mới, có quyền cầm lấy Ngư Tràng kiếm.” Từ sau lần Thác Bạt tam nương thử thách thất bại, thân mang trọng thương trở về, chưa ai dám bước lên thách đấu lần nữa. Có lẽ đành chờ hắn bệnh chết, mới rõ ai sẽ là người kế vị thanh thần binh ấy.

“Dông dài đủ rồi chứ? Giờ mới đến chuyện chính.”

Vi Huấn nghiêm giọng, nhìn quanh đồng môn rồi hỏi: “Bàng Lương Ký không mời ai, vậy các ngươi sao lại xuất hiện tại hôn lễ của hắn?” Hắn trừng mắt nhìn đạo sĩ cụt tay sau lưng Hứa Bão Chân: “Ngươi trước, nói rõ ràng cho ta.”

Đạo sĩ trẻ bị điểm tên, giật mình hoảng hốt, liếc nhìn sư phụ cầu ý, thấy gật đầu mới rụt rè đáp: “Hồi bẩm đại sư bá, lúc đó sư phụ dặn chúng con trông chừng hôn lễ, đề phòng kẻ lạ quấy phá. Khi hôn kỳ sắp cử hành, con thấy có bóng người lẻn dưới xe cưới, nên mới xông lên…”

Vi Huấn lạnh giọng: “Vậy ta chặt tay ngươi cũng không uổng.” Lại quay sang chất vấn Hứa Bão Chân: “Ta nhớ ngươi không phải kẻ hay làm chuyện nghĩa hiệp. Phái đồ đệ đi bảo vệ hôn lễ người khác, không thấy quá thừa tình? Ngươi xuống núi vì chuyện gì?”

Hứa Bão Chân bình thản: “Ta đã bỏ Hoa Sơn, định đi chu du Trung Nguyên, tìm một nơi cắm rễ mới. Chỉ là tình cờ ghé qua Linh Bảo huyện, nghe tin lão Lục thành thân, nên tiện đường tới xem.”

Hắn từng chiếm đạo quán Hoa Sơn, lập ra Lâu Quan phái, nay lại bỏ đi, mọi người biết Hứa Bão Chân là kẻ thâm hiểm, xưa nay không dễ dàng buông tay điều gì, ai nấy đều lấy làm lạ.

Hắn lại nói tiếp: “Hoa Sơn tuy đẹp, là một ngọn núi phía Tây, nhưng gần Trường An quá, trong cung thái giám thỉnh thoảng lại lên núi tìm đạo sĩ cao tay. Ta không định vào cung hầu hạ hoàng đế già, phiền toái quá, thôi thì dứt khoát bỏ luôn chỗ ấy.”

Thác Bạt tam nương cười cợt: “Nhị sư huynh nói vậy chẳng khác nào chối khéo. Ai chẳng biết Động Chân Tử có chí lớn, hiện giờ đạo pháp được sủng ái, sư môn ta chỉ có ngươi là tinh thông thuật xem sao tính mệnh, mà vào cung chính là bước khởi đầu thuận lợi nhất.”

Hứa Bão Chân điềm nhiên: “Chính bởi ta học xem sao tính mệnh, nên mới biết không thể vào. Năm nay tháng xấu chồng chất, Vạn Thọ Công Chúa vừa mới băng hà. Ta ở Lạc Nhạn Phong đêm xem thiên tượng, thấy tướng ‘Mê hoặc phạm Tử Vi’ mà Tử Vi là sao đế vương, sao đế gặp nạn, là điềm đại hung. Ta đoán long ỷ chẳng còn giữ được bao lâu. Giờ mà vào cung, thời thế không thuận.”

Lời Động Chân Tử nói ra khiến cả sảnh rúng động. Ai nấy thầm biết ngôi báu đổi chủ, át sẽ kéo theo một trận máu đổ đầu rơi.

Vi Huấn thoáng liếc nhìn lầu hai, thấy Bảo Châu vẫn còn trong phòng, không nghe được gì, mới tạm gác Hứa Bão Chân lại, quay sang hỏi Khâu Nhậm: “Còn ngươi, sao lại đến Linh Bảo huyện?”

Thác Bạt tam nương chen lời: “Sao lại bỏ qua ta? Ta cũng có chuyện muốn nói.”

Vi Huấn chẳng buồn đoái hoài, nàng tự mình lên tiếng: “Thứ nhất, ta nghe tin ở Trường An rằng Thanh Sam Khách bị một cô nương xinh đẹp bắt giữ…”

“Ngươi mà nói thêm một chữ,” Vi Huấn lạnh như băng, “ta đánh chết ngươi tại chỗ. Quy củ không được động thủ là do ta lập, ta cũng có thể phá bất cứ lúc nào.”

Thác Bạt tam nương giậm chân, hừ một tiếng: “Thôi thì chỉ nói chuyện thứ hai. Ta định dời sang Lạc Dương sống, lần này tiện đường đi thăm dò trước, tính mua vài căn nhà làm chỗ đặt chân. Muốn đi Đồng Quan sang Lạc Dương, tất phải qua Linh Bảo.”

Đây là người thứ hai trong Tàn Dương Thất Tuyệt rời khỏi đất Quan Trung. Khâu Nhậm chần chừ một lát, hỏi: “Tam sư tỷ cũng bị ảnh hưởng bởi lời đồn đó sao?”

Thác Bạt tam nương lặng lẽ gật đầu, sắc mặt trầm hẳn.

“Di ngôn của sư phụ, không hiểu vì đâu mà lộ ra giang hồ. Trường An tuy rộng lớn, lại chẳng dễ ẩn mình.”

Một người như Thác Bạt tam nương, kẻ đứng đầu trong giới thích khách, mà còn không dám ở lại Trường An, đủ thấy sóng ngầm đã dâng cao.

Khâu Nhậm tiếp lời: “Sư phụ từng càn quét mộ cổ, trộm hết bảo vật quý giá trong lăng đế cùng phần mộ vương hầu, nay chẳng còn gì sót lại. Ta vốn muốn rút khỏi giang hồ, tập trung buôn bán thuốc men, đi theo đường chính. Ai ngờ lời di ngôn ấy lại rò rỉ ra ngoài, người đến hỏi thăm ngày một đông, rõ ràng là điềm xấu, vì thế ta cũng tính đi Trung Nguyên phát triển.”

Thác Bạt tam nương thấy Vi Huấn cau mày im lặng, bèn lên tiếng:
“Đại sư huynh xem ra còn chưa hay chuyện này. Vì võ công ngươi cao nhất, lại chẳng nhận môn nào, người đời không ai dám tới gần dò xét, chỉ mình ta là khổ sở chịu đựng. Cũng bởi lời đồn ấy, nhiều mối làm ăn với các thế gia đều tan theo mây khói.”

Trước lúc lâm chung, Trần Sư Cổ đem quyền chưởng quản giao cho lão nhị Động Chân Tử. Nhưng ai nấy đều rõ, trong sư môn, kẻ mạnh mới là người cầm quyền. Hứa Bão Chân vốn không địch nổi Vi Huấn, cái gọi là “giao y bát” kỳ thực chỉ là mảnh sân cũ cùng ít sách vở xưa, chẳng mấy ai xem là di mệnh thực thụ. Để lại vài đồ đệ nhỏ tuổi chưa ra đời, mấy thứ ấy chẳng phải gia sản, mà chỉ là dây buộc chân.

Trần Sư Cổ vốn không giữ gì riêng. Từ võ học đến tạp thư, tâm pháp khẩu quyết đều công khai. Ai học được thì chính là của người đó, nên cũng chẳng có bí kíp nào truyền lại đời sau.

Chỉ là, trước khi nhắm mắt, ông còn nói ra một câu di ngôn khiến người nghe bối rối chẳng hiểu đâu vào đâu. Lúc ấy ai cũng cho là lời mê sảng, vậy mà mấy năm trôi qua, lời ấy lại lan rộng dần dần, như hạt mầm tai họa chờ dịp trổ mầm.

Hoắc Thất Lang chợt hỏi:
“Chẳng lẽ là thứ gọi là… “điên đảo Đại Đường, họa loạn thiên hạ”?

Tám chữ vừa thốt ra, trong lòng ai nấy đều rúng động. Khâu Nhậm vội hạ giọng:
“Suỵt! Đừng nói lớn như thế.”

La Đầu Đà, bấy lâu lặng lẽ ngồi nghe, bỗng cao giọng nói:
“Sợ gì chứ! Trừ lão Lục ra thì chúng ta chẳng ai còn thân thích gần. Trong tay lại nắm món trò chơi đó, chẳng lẽ còn sợ triều đình đến tận nơi mà tru di cả họ?”

Lời vừa dứt, như chạm vào tâm can mọi người. Có kẻ cười nhạt, kẻ cười căm phẫn, người lại cười ngậm ngùi. Trong quán trọ, tiếng cười vang râm ran, trộn lẫn u uất âm thầm, tạo nên một bầu không khí nửa vui nửa sợ.

Hoắc Thất Lang vừa lau nước mắt vừa cười:
“Ta còn có mấy người họ hàng xa, chắc cũng tính là còn chút rễ.”

La Đầu Đà cười hào sảng:
” Thôi thì cho ngươi nửa điểm “còn họ”.”

Vi Huấn nhếch mép nói:
“Khi ta nghe câu ấy, đã biết sư phụ đang mê mang, nội khí đã loạn, chẳng rõ có nghiêm túc hay không.”

Mọi người cùng nhớ lại chuyện năm xưa. Khi Trần Sư Cổ buông lời “đại họa”, ai nấy tranh nhau đùn đẩy, chẳng ai muốn gánh lấy phiền phức ấy. Thứ gọi là “điên đảo Đại Đường, họa loạn thiên hạ” kia, trừ gây họa thì có ích gì? Bảo vật gì mà đến mức phải gây phản loạn như thế?

Vi Huấn khi ấy là người đầu tiên lên tiếng:
“Ta sống chẳng được bao lâu, không kịp mà “điên đảo”, để cho người khác giữ lấy đi.”

Hứa Bão Chân cũng cười gượng:
“Ta là kẻ xuất gia, không mang gươm ra trận, việc này xin nhường cho sư đệ sư muội.”

Thác Bạt tam nương thì châm chọc:
“Ta thì có lòng lấy sắc đẹp làm rối loạn thiên hạ, nhưng khổ nỗi tuổi già rồi, chẳng còn tâm tư làm Đát Kỷ hay Bao Tự nữa.”

Khâu Nhậm thì nhỏ giọng:
“Sư phụ trộm bao nhiêu lăng tẩm, chỉ để lại Ngư Tràng kiếm cho đại sư huynh. Lẽ nào không để lại cho chúng ta chút thứ gì hữu dụng?”

Mọi người cứ thế đùn đẩy, tranh cãi nhau. Đến khi định hỏi rõ xem rốt cuộc vật kia là gì, ở đâu, thì Trần Sư Cổ đã xuôi tay nhắm mắt.

Thác Bạt tam nương cười đến khúc khắc ho:
” Ta năm ấy học võ đã gần ba mươi, chẳng còn dễ bị nam nhân lừa phỉnh. Nếu thật sự có vật có thể “điên đảo Đại Đường”, lão Trần đã sớm mang ra dùng.”

Hứa Bão Chân trầm ngâm:
“Cũng chưa chắc là binh khí. Có khi là thư tịch trong cổ mộ, hoặc độc dược ghê gớm nào đó cũng nên.”

Khâu Nhậm bỗng nói:
“Cũng có thể là vàng bạc chiêu binh mua mã. Sư phụ cả đời moi mộ không ít, vậy mà vẫn sống trong cái viện rách nát, ăn mặc vá chằng vá đụp, ngủ trong quan tài cũ. Những châu báu ấy rốt cuộc đi đâu? Đại sư huynh theo ông ấy nhiều năm nhất, hẳn phải rõ.”

Vi Huấn đáp:
“Thực ra lão chẳng màng tiền của. Mục đích là lật mộ đào xác, lấy cái chết làm trò chơi, nghiền xương đốt tro mới lấy làm hài lòng. Có lần đào mộ xong chẳng lấy gì cả.”

Hứa Bão Chân cười nhạt:
“Ta biết. Sư phụ oán hận cả người sống lẫn người chết, lòng dạ lạnh lẽo vô tình. Nói thật, lúc ông ấy mất, ta cũng chẳng dám tin. Còn sợ là dùng thuật chết giả thoát thân. Thành ra ta phải canh đủ bảy ngày bên linh cữu, cuối cùng lén đâm một đao vào ngực mới dám yên tâm chôn cất.”

Hoắc Thất Lang ngẩn người:
“Nhị sư huynh… thật là… thật là chu đáo cẩn thận.”

Mọi người nghĩ lại, mới hiểu vì sao Hứa Bão Chân hôm tang lễ lại giả vờ hiếu thuận, một mực ở bên linh cữu, ai cũng tưởng hắn định tranh chức chưởng môn, nào ngờ phía sau còn có lý do ấy.

Trần Sư Cổ xưa nay vốn lãnh khốc vô tình, chưa từng thương yêu ai, đệ tử dưới tay mới trở nên phản nghịch, dửng dưng. Đến giờ nghĩ lại, cũng chẳng thấy có gì lạ.
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 78


Trần Sư Cổ vừa mất, đám môn đồ như hẹn mà không hẹn, người người đều lần lượt rút lui khỏi nghề trộm mộ, rủ nhau tìm đường sống khác. Nguyên do cũng dễ hiểu: bọn họ ai nấy võ nghệ cao cường, lại đều có bản lãnh tự lập thân, trừ mỗi Vi Huấn vì phải cầu thuốc cứu mạng nên buộc lòng tiếp tục hành nghề, còn lại đều không muốn mãi lăn lộn nơi bùn nhơ này nữa.

Lần tụ hội này của Tàn Dương Thất Tuyệt, mục đích không phải tranh đoạt di vật sư phụ để lại, mà là điều tra xem kẻ nào phá hỏng lễ cưới của Bàng Lương Ký. Dù trên giang hồ bọn họ được gọi chung một tên, thực chất bên trong lại mạnh ai nấy sống, lòng nghi kỵ chất chồng, chẳng ai thật sự tin tưởng ai.

Đồ đệ của Động Chân Tử bị Vi Huấn bắt quả tang tại chỗ, nghi ngờ là lớn nhất. Tuy đã biện bạch, nhưng Hứa Bão Chân vốn là kẻ tâm tư sâu sắc, giảo hoạt như cáo, lời hắn nói chẳng thể tin toàn phần.

Thấy thế, Hứa Bão Chân bèn giở trò “dẫn lửa về đông”, đưa tay chỉ sang Thác Bạt tam nương:
“Nghe đồn hôm đó có người nấp sau màn lụa thêu, dùng ám khí rải khói độc. Ngay cả đại sư huynh cũng trúng chiêu. Môn hạ ta xưa nay không ai dùng thứ ấy, lão tam mới là người giỏi trò ám khí kia.”

Thác Bạt tam nương nghe xong, đôi mày liễu nhướng cao, lạnh lùng đáp:
“Lão nương tuy quen tay dùng ám khí, nhưng chưa bao giờ dùng độc, chỉ nhờ vào tay nghề. Nghe đâu kẻ phục kích dùng hỏa dược vậy hỏa dược ấy từ đâu mà có, mới thật cần tra cho kỹ.”

Nói đoạn, nàng liền xoay thế cục, chuyển mũi dùi sang La Đầu Đà người ngày trước chuyên giao dịch tiêu thạch, lưu hoàng, am hiểu các loại hỏa công.

La Đầu Đà sắc mặt vẫn thản nhiên, cười lạnh:
“Nói nhảm! Nếu là ta ra tay, nhất định đã nổ tung cả xe hoa, tân lang tân nương lẫn khách khứa đều tan xác như tương. Chứ làm gì có chuyện thả chút khói rồi để tất cả còn sống sờ sờ?”

Khâu Nhậm tiếp lời:
“Ta ban ngày nghe khắp đầu phố cuối ngõ đồn rằng, tân nương tuy dáng vẻ chẳng đổi, nhưng lại không biết nói năng, Bàng Lương Ký sống chết không chịu nhận, bảo là đồ giả. Nghe là biết trò giả dạng thay mặt, dùng thuật dịch dung đánh tráo. Lão Thất ngươi, e cũng chẳng sạch sẽ gì đâu!”

Hoắc Thất Lang vốn ngồi yên xem náo nhiệt, bị gọi trúng tên, liền nổi giận:
“Ta đứng tiếp khách suốt buổi, một bước không rời đại sư huynh, lại chẳng có đồ đệ hay kẻ dưới, lấy gì mà phân thân giả dạng tân nương? Hai đứa hầu chết dưới giếng, bị kẻ nào đó vặn gãy cổ tay một cách tàn nhẫn. Còn đại sư huynh bị ép uống rượu pha mạn đà la trước cửa phòng tân hôn. Mạn đà la vốn là dược liệu gây mê dùng trong mổ xẻ, mà lão Tứ giỏi dùng Tàn Đăng Thủ, lại thông thạo y dược, đừng tưởng có thể rút lui khỏi cuộc được!”

Khâu Nhậm nghe xong, ngẩn người thốt lên:
“Vi đại ca mà uống phải mạn đà la, lại còn ầm ầm như lang sói ngoài cửa, thế mà vẫn đi hết cả hôn lễ?! Thật khó tin.”

Hứa Bão Chân nhàn nhạt nói:
“Nếu là Vi Huấn, thì có chuyện gì làm không nổi?”

Thác Bạt tam nương tuy trong bụng kinh ngạc, mặt mày vẫn như không, chỉ quay sang châm biếm Khâu Nhậm:
“Mạn đà la quý giá lắm, ngày thường ngươi trị thương cũng tiếc không dám dùng, toàn cho người ta dùng thuốc se da cầm máu. Lần này phóng lên người Vi đại, lại hào phóng thế.”

Khâu Nhậm cãi lại:
“Nếu ta biết người bị thuốc là hắn, đã thêm ô đầu, dương trịch, cho đủ vị, chứ không phải nửa nóng nửa nguội như thế. Mà ta với lão đại, lão lục chẳng có oán thù gì. Ngược lại, tam sư tỷ từ xưa đến nay hay gây chuyện, gần như người nào trong đây cũng từng xích mích, hiềm nghi lớn hơn hết.”

Thác Bạt tam nương cười khẩy:
“Nếu ta thật muốn giết lão lục, đầu người nhà hắn đã theo thứ tự bày hết trên mâm rồi. Ai trong các ngươi cũng biết ta nhập môn thế nào. Giết người diệt tộc thì được, nhưng ta xưa nay chưa từng làm cái nghề bắt cóc con gái bán lấy tiền.”

Đám người này ai nấy đều là kẻ xuất chúng, ngông nghênh tự phụ, trời sinh đã không chịu thua thiệt. Nếu để riêng ra, đặt vào bất kỳ môn phái nào, thời đại nào cũng đều được xem như bảo vật. Nhưng số phận khéo đẩy đưa, lại cùng tụ về dưới trướng Trần Sư Cổ, chen chúc nơi Tàn Dương Viện nhỏ hẹp, nhìn nhau chướng mắt, tâm tâm bất phục.

Bọn họ học nghệ nhiều năm, hiểu rõ từng người một: ai giỏi gì, ai xấu nết gì đều rõ như lòng bàn tay. Tuy chán ghét nhau nhưng khó lòng loại bỏ, mỗi khi xảy ra tranh cãi, liền lôi nhau xuống hố, kẻ đổ tội, người gièm pha, ồn ào như nồi cháo thiu. Nếu không phải có Vi Huấn ngồi trên thủ tọa giữ trận, có khi đã vung tay đánh nhau từ lâu.

Trong đại đường, lời qua tiếng lại vang rền, chẳng ai nói ra được điều mấu chốt, cuối cùng cũng chỉ toàn lôi chuyện cũ ra xào lại. Vi Huấn nghe riết mà phiền lòng rối óc, mắt không buồn dừng trên mặt bất kỳ ai, vô thức quay ra nhìn cửa sổ. Ngoài kia, bóng đào lay động in trên giấy hồ, mưa tí tách đổ rơi. Trong lòng hắn chợt nghĩ: “Giá mà giờ này có thể kéo Bảo Châu ra rừng đào, ngắm mưa, uống rượu, há chẳng hơn lãng phí thời gian bên lũ phiền phức này.”

Mọi người đấu khẩu đến khô miệng khô họng, định gọi tiểu nhị nấu chút canh nóng, mới chợt nhớ ra: sớm đã đánh bất tỉnh hết người sống trong quán, chẳng ai nhóm bếp nổi.

Hoắc Thất Lang liếc thấy Vi Huấn vẫn ngồi yên, chống cằm ngắm mưa, tưởng rằng hắn đang thâm tính suy đoán, bèn lớn tiếng:
“Cãi nhau tới sáng cũng vô ích, chi bằng để đại sư huynh chỉ đường!”

Vụ này vốn do Vi đại đứng ra triệu tập, mọi người nghe thế đều thấy phải, nhất loạt im lặng đợi hắn mở lời.

Đại sảnh thoáng chốc im như tờ. Vi Huấn giật mình nhìn quanh, thấy ai nấy đều chăm chăm nhìn mình, ánh mắt chờ đợi. Hứa Bão Chân cũng lặp lại:
“Việc này nên xử ra sao, xin đại sư huynh định đoạt.”

Vi Huấn lấy lại tinh thần, gượng kéo suy nghĩ đang trôi xa trở về, chậm rãi nói:
“Quan Trung xưa nay có chuyện gì xấu, dù chẳng liên can đến Tàn Dương chúng ta, thiên hạ vẫn muốn bọn ta gánh chịu. Lâu dần thành quen, ai nấy đều mặc định như thế. Chúng ta ai cũng đủ sức chém sạch cả nhà Bàng Lương Ký, vậy mà lại chọn cách vòng vo rắc rối quấy phá hôn lễ, lý nào lại như vậy? Lão lục võ công mất hết đã nhiều năm, nếu có oán thù, đã ra tay từ sớm.

Nếu không coi hắn là một kẻ riêng biệt, mà tính hắn là người của Tàn Dương Viện, thì hắn chính là mắt xích yếu nhất trong bảy người. Kẻ vì tám chữ “điên đảo Đại Đường, họa loạn thiên hạ” mà tới, chắc chắn không dám nhằm vào ta là chuốc lấy cái chết; cũng không dám chọc vào các ngươi vì không có lợi. Mấy tên đồ đệ chưa xuất sư thì vẫn ở bên cạnh chúng ta, không có thời cơ. Nhưng nếu gặp Bàng Lương Ký kẻ yếu nhất, lại đã tách khỏi sư môn thì là cơ hội quá tốt. Bắt tân nương để uy h**p hắn, ép hỏi tung tích di vật, cũng là lẽ thường.

Chúng ta trước nay hoạt động ở Quan Trung, giờ đều tản ra định tiến vào Trung Nguyên, tất nhiên sẽ chạm đến địa bàn người khác, trở thành cái đích cho thiên hạ dòm ngó. Nếu việc của lão lục lần này không đòi lại được món nợ, không trả đòn thật mạnh, thì cả sư môn sẽ bị người ta coi khinh, chà đạp dưới chân. Về sau tai họa cứ tới liên hồi, đến lúc đó, đừng mong ai còn chỗ đứng nơi đất Trung Nguyên nữa.”

Lời nói của Vi Huấn lần này rành rọt như chẻ tre, dựa vào lẽ võ học mà phân tích tình thế một cách rõ ràng, sáng tỏ.

Ai cũng biết “đã ra tay thì phải đánh cho đau” vốn là đạo xử thế của Vi Huấn. Nếu không có tính khí quyết liệt, hành sự dứt khoát, thù không để qua đêm, thì với tuổi đời còn trẻ như hắn, khó lòng sống sót nổi trong một môn phái hiểm ác như hang hùm miệng sói. Mà sự tàn độc ấy, ở mức độ nào đó, lại khiến đám đồng môn ít nhiều hiểu được và nể sợ.

Thác Bạt tam nương thở ra một hơi nhẹ, thản nhiên nói:
“Nếu là kẻ bên ngoài, vậy thì chẳng có gì đáng bận lòng. Cứ giết sạch là xong.”

Hứa Bão Chân lắc đầu:
“Chuyện khó là ở chỗ, kẻ thù vẫn lẩn khuất dưới làn nước đen ngòm, làm sao lần ra được kẻ giật dây phía sau mới là điều nan giải.”

Hoắc Thất Lang chen vào:
“Còn phải nhớ, tân nương của Bàng Lương Ký vẫn đang nằm trong tay hung thủ. Việc cấp thiết là tìm cách cứu người còn sống ra trước đã. Lão Lục giờ ở nhà nổi điên, cầm đao ép hỏi kẻ giả làm tân nương, bị nhạc phụ hắn liều mạng xông vào ngăn cản.”

Hứa Bão Chân hỏi:
“Vậy ngươi rời khỏi đó, không sợ con quỷ kia nhân cơ hội bỏ trốn à?

Hoắc Thất Lang đáp:
“Nó còn đang ngồi trong phòng tân hôn, hai nhà cùng nhau dòm ngó, Thập Tam Lang lấy cớ tụng kinh cầu phúc mà canh chừng sát sao.”

Thác Bạt tam nương nói:
” Ta cũng đã cho hai thủ hạ ngồi rình sẵn trên xà nhà, coi như không có kẽ hở.”

Mọi người nghe xong đều giật mình. Nhớ tới thủ đoạn của “Bà Âm Ma” xưa nay quỷ khốc thần sầu, hành tung như quỷ, chỗ nào cũng len vào được, ai nấy đều không khỏi kính nể sự chu toàn của nàng.

Nàng hừ một tiếng:
“Đã biết các người luôn nghi ta, ta chẳng bằng chuẩn bị sẵn trước một bước, miễn cho lúc cần lại mất luôn con tin duy nhất thì toi.”

La Đầu Đà lúc này đã đứng dậy, rút tích trượng, định lặng lẽ rút lui:
“Cứu người không phải sở trường của ta, lúc nào các ngươi tìm được kẻ gây chuyện thì nhớ gọi.”

Khâu Nhậm nhún vai nói:
“Ta đã nói rồi, cứu người bao giờ cũng khó hơn giết người. Nếu con tin chẳng may đã chết, thì nể tình đồng môn, ta có thể giúp khâu vá tử thi một chút…”

Hoắc Thất Lang bĩu môi:
“Quỷ xui quỷ khiến!”

Kế hoạch đã có hướng rõ ràng, chẳng cần bàn thêm. Trời càng lúc càng khuya, bụng ai cũng cồn cào. Một đám người gỡ ván cửa, định ra ngoài kiếm chút đồ lót dạ. Hoắc Thất Lang, vì áy náy với Bàng Lục, liền một mình phi ngựa quay về Bàng phủ trước.

Vi Huấn trở lên lầu, muốn hỏi Bảo Châu có muốn cùng đi ăn không, lại thấy hai phòng trong im ắng, đoán rằng nàng đã ngủ. Hắn tuy võ nghệ cao cường, nhưng cũng biết nàng là mối lo lớn nhất, không dám để nàng một mình trong khách đ**m, bèn sai người khác trông chừng, rồi quay lại phòng nghỉ, không nhắc thêm gì nữa.

Bảo Châu vốn định chờ bọn họ họp xong để hỏi lại chuyện, ai ngờ đợi mãi cùng y thiếp đi. Dạo gần đây theo đoàn cưới, ngày đêm đảo lộn, ăn ngủ thất thường, không biết đã ngủ bao lâu, đến khi tỉnh dậy, nhìn qua cửa sổ vẫn là một màu đen đặc, chẳng rõ canh mấy.

Nửa mơ nửa tỉnh bước ra cửa, nàng thấy đám người kỳ quặc lúc nãy đều đã đi, chỉ còn một người khoác áo đỏ ngồi một mình giữa đại sảnh, uống rượu lặng lẽ. Chính là người duy nhất không xuất hiện trong buổi tụ họp sư môn vừa rồi Bàng Lương Ký.

Bảo Châu bước xuống, hỏi:
“Sao ngươi còn ngồi ở đây?”

Bàng Lương Ký vẫn mặc nguyên bộ lễ phục từ buổi hôn lễ, ngẩng đầu nhìn nàng, ánh mắt ngây dại, mùi rượu nồng nặc. Hắn lẩm bẩm:
“Ta định ép hỏi con quỷ kia, ai ngờ bị nhạc phụ ngăn lại. Trong nhà còn ép ta vào động phòng với cái thứ giả đó… Ta không chịu nổi, đành chạy đi.”

Nói đoạn, hắn lại rót rượu, ngửa cổ uống cạn, khẽ cười đầy chua xót:
“Bàng gia tiểu lang, từ bé được nuông chiều, cuối cùng cũng có ngày khiến người thân mất kiên nhẫn.”

Lời hắn trĩu nặng thê lương, vạt áo đỏ lấm lem vì rượu thấm.

Bảo Châu biết hắn đang trong lúc rối bời, chẳng biết nên nương thân nơi nào, bản năng chạy đến chỗ mà trong lòng vẫn còn chút tin tưởng nơi sư huynh cư ngụ. Nàng nhớ lại dáng vẻ hắn khi chuẩn bị hôn lễ, hớn hở tận tụy, không ngờ nay lại rơi vào cảnh khốn cùng như thế.

Nàng ngồi xuống đối diện, dịu giọng an ủi:
“Khi nãy mấy vị sư huynh đệ còn bàn bạc cách giúp ngươi tìm lại tân nương. Nhìn họ… nhìn họ có vẻ rất nghiêm túc. Có khi chẳng bao lâu nữa sẽ có kết quả thôi.”

Bàng Lương Ký cười khổ:
“Năm xưa họ chẳng tốt với ta như vậy. Ai cũng kênh kiệu, mở miệng là khinh ta, động tay là bắt nạt.”

Bảo Châu ngạc nhiên:
“Vi Huấn cũng bắt nạt ngươi à?”

Bàng Lương Ký thở dài:
“Chính huynh ấy là người ra tay nặng nhất.”

Bảo Châu vốn tưởng quan hệ giữa hai người không tồi, nghe vậy bèn lặng người, chẳng biết nói chi.

Bàng Lương Ký đã say lắm, lại tiếp tục lải nhải kể chuyện cũ:
“Ta từ nhỏ đã có khiếu luyện võ, học gì cũng nhanh, ai dạy cũng khen ta là thiên tài hiếm gặp, tương lai chắc chắn thành cao thủ. Ta tin lắm, chuyên tâm luyện khinh công và các thế đá. Mới chưa đầy hai mươi đã có ngoại hiệu Tật Phong Thái Bảo, gia đình lại quyền thế, ra giang hồ ai cũng tán tụng, ta tự phụ ngút trời, tưởng không ai bằng mình.”

A Nhiễm người ta yêu bị cha mẹ ép gả cho kẻ khác vì chê xuất thân nhà ta. Ta buồn, nhưng chưa đến nỗi gục ngã. Lúc ấy chỉ nghĩ, đời mình không nên chỉ xoay quanh tình ái. Ta là thiên tài, phải trèo l*n đ*nh cao võ học. Sau cùng, ta tìm được Trần Sư Cổ người được đồn là cao thủ đứng đầu thiên hạ bèn từ biệt nhà cửa, tới Quan Trung bái sư học nghệ.

Ban đầu ta tưởng sư phụ nhận ta vì tình xưa nghĩa cũ gì đó, nhưng sau mới biết, ông ta chẳng vì tình nghĩa mà hạ mình. Ông nhận ta, chỉ vì muốn tận mắt chứng kiến ta kẻ tự cao tự đại từng chút một bị đánh cho tan tành.

Ngày đầu nhập môn, từ trong phòng đi ra một đứa trẻ mặt mày lạnh lẽo, kiêu căng khó thuần, chưa bằng tuổi Thập Tam Lang bây giờ. Thế mà đám môn đồ ai nấy cung kính gọi hắn là đại sư huynh. Ta trong lòng phì cười, đoán chắc thằng nhóc này do nhập môn sớm nên mới được đứng hàng đầu, chứ chưa chắc tài cán gì.

Trần Sư Cổ nhìn sắc mặt ta, chỉ cười cười, bảo thằng bé kia đấu một trận với ta, coi như bài kiểm tra đầu vào. Nghe nói ta giỏi công phu chân, thế thì chỉ đấu bằng chân.

Ta nghĩ phải nương tay, không thể mới tới đã đá què học trò nhà người ta. Nhưng thằng bé kia vẻ mặt khó chịu, ánh mắt đầy chán ghét. Trần Sư Cổ liền gọi nó lại, dùng dây trói hai tay nó ra sau, bắt cởi giày, để trần chân bước lên tỉ thí.

Nhìn vẻ cô đơn hiện trên gương mặt Bàng Lương Ký, Bảo Châu đã mơ hồ đoán được chuyện gì sẽ đến.

Quả nhiên, hắn tiếp lời:
“Ta tưởng mình là thiên tài hiếm thấy, nào ngờ ở Tàn Dương Viện, người như vậy nhan nhản. Mà Vi Huấn… là thiên tài trong những thiên tài. Hôm ấy, bị trói hai tay, huynh ấy đá cho ta mặt mũi bầm dập. Bao nhiêu mánh lới, chiêu trò, ta đều tung ra hết, nhưng đều vô dụng. Suốt hai canh giờ, ta hoặc quỳ hoặc bò, chẳng thể đứng vững nổi một lần trước mặt huynh ấy.”

Bàng Lương Ký khẽ vuốt bên chân đã gãy, ánh mắt bình thản:
“Từ ngày đó, ta mới hiểu, trong mắt đại sư huynh, có chân hay không có chân… thật ra cũng chẳng khác gì nhau.”
 
Đại Đường Tích Châu Ký - Phạn Tạp
Chương 79


Mấy năm ấy, là khoảng thời gian khổ cực nhất trong đời ta. Trần Sư Cổ là bậc thầy hiếm có dưới gầm trời, võ công sâu như vực thẳm, dạy dỗ không chút giấu nghề. Dù ta muốn học thứ gì, ông cũng đem hết những điều mình biết mà chỉ bảo. Nhưng đồng thời, ông cũng là người thầy tệ nhất trên đời khi trên gương mặt ông vĩnh viễn là nụ cười lạnh lẽo đầy khinh miệt, dịu dàng đến đáng sợ. Nụ cười ấy khiến người ta nghi ngờ chính bản thân mình là kẻ ngu dốt, hết thuốc chữa.

Võ công ta tiến bộ nhanh chóng, thế nhưng so với các môn đồ khác trong Tàn Dương Viện, dường như ta vẫn chỉ giẫm chân tại chỗ, không có gì đáng kể. Nhất là khi đứng trước đại sư huynh, tất cả những điều từng khiến ta tự hào như thiên tư, linh kh bỗng chốc trở thành trò cười. Dẫu ta có cố sức khổ luyện thế nào, thì cảnh giới của huynh ấy vẫn luôn là thứ xa vời, chẳng thể nào với tới.

Ta hận huynh ấy, ghen tị với huynh ấy, có những ngày chỉ muốn buông bỏ, về quê làm một tên địa chủ sống qua ngày. Nhưng từ nhỏ đã lấy võ học làm lẽ sống, thật sự nuốt không trôi nỗi uất nghẹn ấy.

Đại sư huynh không để ai vào mắt. Có khi thì lạnh lùng ra tay trừng phạt chúng ta bằng những đòn đau thấu xương, có khi lại lặng lẽ rời viện đi lo đào huyệt trộm mộ. Ta từ xưa không vì tiền bạc mà muộn phiền, lại vô cùng khinh bỉ nghề trộm mộ, cho rằng một người như huynh ấy tài năng hơn người, chẳng nên tự h* th*n thế làm việc tạp nham dơ bẩn đó. Sau mới hay, huynh ấy đã phát bệnh từ lâu, vẫn luôn vào cổ mộ tìm một loại linh dược đặc biệt.”

Bảo Châu kinh ngạc buột miệng:
” Vi Huấn trộm mộ… là để tìm thuốc chữa bệnh?”

“Phải gọi là thuốc cứu mạng mới đúng. Sư tổ Xích Túc đạo nhân từng đoán mệnh rằng, đại sư huynh khó sống qua tuổi hai mươi. Quả thật, bệnh của hắn mỗi năm một nặng. Trần Sư Cổ tuy có nội công thâm hậu, thọ mệnh dài lâu, nhưng khí âm nơi cổ mộ và độc thi tích tụ lâu ngày, khiến ông cũng dần bị hao mòn nguyên khí. Đại sư huynh vì thế càng gấp rút tìm thuốc, nhưng càng tìm, bệnh lại càng thêm trầm trọng, chẳng khác nào lao đầu vào ngõ cụt.

Hắn đi khắp nơi trộm sách thuốc, muốn tự chữa cho mình, nhưng vốn không biết nhiều chữ, đọc y thư cũng chỉ mò mẫm từng dòng. Tuy thỉnh thoảng học lỏm được ít nhiều ở thư phòng, nhưng với loại sách y thuật sâu xa này thì chẳng thấm vào đâu. Trần Sư Cổ tuy là người văn võ song toàn, học vấn uyên thâm, nhưng nhất quyết không dạy người ta đọc sách. Ông từng nói, chữ trong sách độc hơn cả khí độc trong mộ phần.

Chữ nghĩa không phải cứ có thiên tư là hiểu được, đại sư huynh mấy đêm liền ngồi vùi đầu lật sách mà như đi trong sương mù. Ban đầu ta cứ tưởng mình sẽ khoái chí khi huynh ấy lâm vào khốn cảnh, mong hắn sớm chết. Nhưng rồi thấy hắn mỏi mòn như đứa trẻ con vùng vẫy trong tuyệt vọng, ta lại không đành lòng.

Vì thế ta xen vào việc không liên quan, lúc chẳng có ai liền giúp huynh ấy đọc to vài lượt, đọc đi đọc lại, đến khi huynh ấy thuộc lòng, có thể ghép chữ lại mà hiểu nghĩa. Đại sư huynh chưa từng nói lời cảm ơn, nhưng từ đó về sau, mỗi lần luận bàn, huynh ấy luôn để cho ta một chút thể diện. Có khi thấy ta khó nắm bắt tâm pháp, huynh ấy cũng lặng lẽ gợi mở đôi lời.”

Chỉ vì một câu “khó sống quá tuổi hai mươi”, lòng Bảo Châu như rơi xuống đáy giếng lạnh, lạnh đến thấu xương. Một lúc lâu nàng chẳng nói nên lời, cổ họng khô khốc. Sau cùng, mới cất tiếng khẽ:
“Thì ra… thì ra đó là món nợ lớn mà hắn mang trong lòng đối với ngươi.”

Bàng Lương Ký cười khan, say lướt mà lẩm bẩm:
“Đúng vậy… Một chuyện nực cười nhất đời người là, ở nơi quái quỷ như Tàn Dương Viện, ta người duy nhất từng có thể giúp đại sư huynh chỉ vì hồi nhỏ trong nhà có chút bạc, thuê được thầy đến dạy chữ cho mà thôi.”

Hai người lặng lẽ ngồi đối diện nhau hồi lâu. Bàng Lương Ký lại rót thêm rượu, vừa uống vừa lẩm bẩm:
“Cho đến nay, ta vẫn không hiểu vì sao bị đuổi khỏi sư môn. Mấy năm ấy, ta luôn cố gắng nhẫn nhịn, mọi việc đều theo ý Trần Sư Cổ. Ngay cả khi bị ép theo đi đào mộ, nâng xác chết, ta cũng cắn răng chịu đựng. Nhưng hôm ấy, nhân lúc đại sư huynh đi xa, ông ta đột nhiên nổi giận, nặng tay đánh ta đến gãy gối, nát cả cổ chân. Ta nghĩ, nếu lúc ấy Vi Huấn có mặt, hẳn sẽ tìm cách ngăn cản.”

Bảo Châu thoáng nghĩ: Việc duy nhất ngươi từng làm trái ý Trần Sư Cổ, chính là đã đọc sách cho Vi Huấn nghe. Người kia nếu đã nhất quyết không muốn hắn học chữ, thì lẽ dĩ nhiên cũng không tha cho kẻ nào dạy hắn.

Võ công Bàng Lương Ký bị phế, thành người tàn tật, âu cũng là bởi một chữ “nghĩa”. Vi Huấn trong lòng rõ điều ấy, mới cam tâm vào sinh ra tử, muốn hoàn lại món nợ năm xưa.

Bàng Lương Ký ngửa mặt cười:
“Nói thật, ngày bị đuổi khỏi sư môn, tuy thân thể đau đớn đến mức chẳng thở nổi, nhưng trong lòng lại như trút được gánh nặng. Thân đã thành phế, có thể đường đường chính chính trở về nhà, đoạn tuyệt với võ học, từ đây hết chấp niệm. Nếu không có những ngày thống khổ ở Tàn Dương Viện, ta cũng chẳng bao giờ nhìn rõ đời người rốt cuộc nên theo đuổi điều gì… Như là tri kỷ, hay người thương…”

Nói đến đây, nước mắt hắn đã giàn giụa:
“Có lẽ vì trừng phạt sự ngu xuẩn bồng bột thuở nào, ông trời muốn cướp sạch mọi thứ khỏi tay ta.”

Bàng lang đất Ngọc Thành một đời thuận buồm xuôi gió, được thân bằng quyến thuộc hết mực yêu thương, nếu không gặp những cú giáng trời giáng đất, có khi mãi mãi chỉ là một thiếu gia nhà giàu sống hoang phí, không bao giờ thấu hiểu đâu là điều quý giá.

Bảo Châu chưa từng nghĩ, giữa đêm yên ắng thế này lại nghe được biết bao chuyện xưa. Lòng nàng rối như tơ vò. Nàng biết rõ, với tính cách Vi Huấn, vì để báo đáp một ân tình nhỏ, hắn chắc chắn sẽ không ngần ngại dốc sức liều mình, chẳng màng vết thương độc hại, càng đánh càng bệnh nặng thêm.

Dựa theo tính cảnh giác và thính lực của Vi Huấn, hai người đã ngồi đây trò chuyện bấy lâu, hắn lẽ ra phải phát hiện. Vậy mà đến giờ vẫn chưa thấy xuống lầu, chỉ có thể là tình hình không ổn: hoặc là thân thể quá suy kiệt, ngủ mê mệt không còn giữ được sự cảnh giác như xưa, hoặc là trúng độc khiến thần trí mê muội.

Bảo Châu khẽ nhắm mắt, hồi tưởng lại từng chi tiết vụ đánh tráo tân nương, cố gắng giữ bình tĩnh, rồi khẽ nói, giọng kiên quyết:
“Đừng khóc nữa. Ta nhất định sẽ giúp ngươi tìm lại tân nương.”

Bàng Lương Ký ngẩn ra, nhìn nàng như trong mộng. Chỉ thấy ánh mắt nàng tràn đầy quyết đoán, giống hệt khi xông pha giữa bài thơ đón dâu, thản nhiên phá tan cạm bẫy.

Bảo Châu nói thẳng, như ra lệnh:
‘Thứ nhất, ngươi lập tức về nhà, cùng Bàng tổng quản thu xếp cho ta một bộ nam trang hợp thân, hoặc hồ phục cũng được. Cả trâm nương cũng phải cùng mang tới, ta ra tay thì nhất định phải có hình dung cho ra thể thống. Thứ hai, bất kể dùng cách gì, dù phải lén trộm từ từ đường, trước hừng đông, ta nhất định phải thấy gia phả hai nhà: Tiêu gia nhà tân nương, và Lư gia nhà phu quân trước. Thứ ba, ta cần một chiếc túi cung nhỏ mang theo người, phải có thể gắn dây cốt, tiện cho ta lúc cần đối phó kẻ địch.”

Bàng Lương Ký vốn đã thấy mình đường cùng không lối thoát, giờ phút này bỗng bùng lên một tia hy vọng, thần hồn còn chưa hoàn hồn, ngơ ngác hỏi:
“Ngươi thật có thể tìm lại A Nhiễm?”

Bảo Châu ánh mắt sáng ngời, thần sắc đầy kiêu khí, đáp:
“Ngươi từng nghe vụ án Bạch Xà trộm châu ở Hạ Khuê huyện chưa? Chính tay ta là người vạch trần toàn cục, Vi đại ca của ngươi chẳng qua chỉ đến đúng lúc để ra tay hỗ trợ. Lần này người có thể giúp sức thì rất nhiều, nên cũng chẳng cần phải trông cậy vào hắn.”

Sắc trời còn mờ mịt, mọi người trong Tàn Dương Viện lục tục quay về khách đ**m tụ họp. Kẻ cắn bánh hấp nóng, người bưng chén hồ ma thơm lừng, vừa ăn điểm tâm sớm, vừa thấp giọng bàn bạc về những tin tức thu lượm được trong đêm qua.

Hứa Bão Chân nói:
“Cột cờ trước nha môn đã sớm bị cưa quá nửa, sau đó dùng màu từ hậu sơn che giấu lại. Chỉ cần xe hoa đi qua, dùng lực xô ngã là đủ, địa thế nơi đó lại gấp khúc, bị vây trên cầu, muốn tránh cũng không dễ.”

Thác Bạt tam nương tiếp lời:
“Ám khí bôi độc lần này dùng là lạn tràng thảo và nọc rắn, hai loại độc dược ấy vốn thuộc nhóm thường dùng của năm môn phái vùng Trung Nguyên, cũng không xa nơi này lắm. Ta đã cho người đi dò la từng nơi rồi.”

Khâu Nhậm góp thêm:
“Mông hãn dược cùng lang đãng tử là loại làm tê tê, thường thấy ở các hộ nông dùng để trấn trâu ngựa, hầu như nơi nào cũng có thể mua. Chỉ có mạn đà la là hiếm, ta đã dò qua tám tiệm thuốc ở Linh Bảo huyện và Ngọc Thành, đều không có hàng, chứng tỏ hai loại này chắc chắn không được mua chung.”

Hoắc Thất Lang nhíu mày:
“Kẻ giả làm tân nương dùng mặt nạ da, thủ pháp lại khác hẳn cách ta thường hóa trang. Mặt nạ ấy gương mặt cứng đờ, không thể đổi nét, ngũ quan cố định. Ta tính ép hỏi thì bị nó hăm dọa: nếu ta bẻ một ngón tay nó, thì nó sẽ chặt hai ngón tay tân nương thật.”

La Đầu Đà bật cười:
“Vậy thì ngược lại là tin tốt, chứng tỏ tân nương vẫn còn sống. Kẻ chết thì đâu bận tâm còn mấy ngón tay.”

Hoắc Thất Lang ngán ngẩm:
“Còn Vi đại ca? Giao cho chúng ta làm việc thâu đêm, còn bản thân thì lại ngủ một giấc yên lành.”

Khâu Nhậm đáp:
“Hắn trúng quá nhiều loại độc, tuy đã bức ra hơn nửa, nhưng vẫn còn vướng vào nội tạng và kinh mạch. Muốn khôi phục công lực hoàn toàn, e phải chờ thêm vài ngày.”

Mọi người đều im lặng, trong lòng mỗi người đều âm thầm tính toán. Một vài kẻ thoáng nghĩ đến chuyện nhân cơ hội này lật đổ Vi Huấn, nhưng nghĩ lại, dẫu hắn chưa khỏi hẳn, sự quyết đoán và uy thế vẫn đó, ai cũng không dám khinh suất. Huống chi chuyện của Bàng Lục còn chưa giải quyết xong, nếu thất tuyệt chi thủ lại chết vì nội đấu, thì Tàn Dương Viện có nguy cơ tan rã ngay trước mặt Linh Bảo huyện, lợi chẳng bù hại.

Đúng lúc ấy, từ lầu hai vang lên tiếng bước chân, một thiếu nữ mặc nam trang màu đỏ, lưng mang cung tiễn, dáng người nhẹ nhàng như gió hiện ra. Nàng chỉ liếc mọi người một cái, chưa nói câu nào, đã sải bước đi thẳng tới phòng Vi Huấn, gõ cửa bước vào.

Hứa Bão Chân cau mày:
“Chẳng lẽ hắn muốn đem nàng theo cùng hành động? Người không thuộc giang hồ, chỉ thêm vướng víu thôi.”

Khâu Nhậm đáp:
“Các ngươi có thấy bộ y phục nàng mặc ban nãy không? Chẳng lẽ không có chút công phu?”

Thác Bạt tam nương cười nhạt:
“Đừng nhìn lớp phấn son ngoài mặt, muốn xem một người có biết võ hay không, phải nhìn làn da và đôi tay. Tay nàng trắng đến nỗi chẳng một vết chai, không hề có dấu tích từng cầm vũ khí. Rõ ràng là tay người quen sống an nhàn. Lão Thất, tiểu cô nương kia rốt cuộc là ai?”

Hoắc Thất Lang cười đáp:
“Chỉ biết Cửu Nương là người Trường An, gia thế giàu có, đầu óc lanh lợi, lần này thuê đại sư huynh hộ tống tìm người thân. Còn công phu thế nào, ta cũng chưa thấy qua. Nhưng nếu là đối địch, thì có chúng ta là đủ. Còn nếu muốn tìm người cứu người, đem theo Cửu Nương cũng chẳng thiệt, chính nàng là người đầu tiên phát hiện giếng nước chôn xác.”

Trong lúc đám người còn bàn luận, bên trong phòng, Vi Huấn vừa kết thúc điều tức, thầm xem xét thương thế. Tuy chỉ hồi phục được sáu, bảy phần công lực, nhưng đối phó với kẻ địch cũng đã đủ dùng, chỉ sợ đánh lâu sẽ khiến độc khí thấm sâu hơn vào kinh mạch, dễ phát thành bệnh hàn khi ấy sẽ càng nguy hiểm. Nhưng vụ bắt cóc thế này, thời gian kéo dài càng lâu, con tin càng thêm nguy hiểm, không thể trì hoãn mãi.

Đang mải suy nghĩ tìm cách dùng cái giá nhỏ nhất để cứu người ra, chợt ngoài cửa có tiếng bước chân quen thuộc, rồi tiếng gõ cửa vang lên. Vi Huấn mở cửa, ngẩn người sững lại.

Bảo Châu bước vào, mình vận một thân y phục đỏ rực chính là bộ lễ phục đón khách trong hôn lễ của Bàng Lương Ký, đã được may lại cho vừa vóc nàng. Cổ áo tròn, thắt lưng khảm hoa vàng, bước chân vững vàng trong đôi ủng đế thấp gấm thêu vân.

Nam trang ấy khoác lên người nàng, không chỉ tôn lên nét rực rỡ kiều diễm, mà còn pha lẫn ba phần anh khí cương quyết. Cả căn phòng bỗng như bừng sáng.

Vi Huấn thoáng thất thần, ánh mắt như bị vẻ rực rỡ kia đẩy lùi, trong lòng thầm cảm thán: Màu sắc tươi tắn này, quả thực là dành riêng cho nàng.

Bảo Châu bắt gặp ánh mắt hắn, biết ngay bộ đồ mình mặc quá sức nổi bật, liền cười đắc ý:
“Thế nào? Là y phục tiếp khách, ta nhờ người suốt đêm sửa lại theo kích cỡ mình.”

Vi Huấn trông thấy nàng còn mang theo túi cung, dây cốt đã căng sẵn, biết nàng không chỉ mang theo cho đủ lệ, mà là thực sự chuẩn bị ra tay.

Bảo Châu từng học cung thuật từ danh sư quân đội Đại Đường, thói quen cũng như tướng sĩ thường tháo dây cốt khi hành quân, đến lúc chiến mới giương cung. Nhưng trên giang hồ, đâu cho phép thong thả như thế. Lúc giao chiến, ai nấy đều ra tay trong chớp mắt, kẻ nào lề mề căng dây, ắt thua trước một chiêu.

Nay nàng mang theo cung đã giương, rõ ràng là nghe theo lời khuyên của hắn, khiến Vi Huấn thấy yên lòng phần nào, liền cười nói:
“Xem ra hôm nay ngươi cũng định cùng ta sát phạt tứ phương một phen?”

Bảo Châu thu lại nụ cười, ánh mắt nghiêm nghị:
“Ta đi, còn ngươi thì ở lại. Nghe lời, ở khách đ**m nghỉ ngơi dưỡng thương, uống nước ấm cho mau lành.”
 
Back
Top Bottom