Cập nhật mới

Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 102: Sống Cùng Sống, Chết Cùng Chết


Sau ngày hôm đó, Trần Khâm thả một vài tù binh bắt được vào trại cố tình báo tin cho Thoát Hoan, không biết là anh ta tin hay không tin, cũng không biết Trần Ích Tắc có kề tai thổi gió điều gì hay không mà Thoát Hoan lại thật sự sai Ô Mã Nhi đi ngược ra biển để kiểm chứng.

Có thể đúng như tôi đoán là anh ta thật sự không tin, Ô Mã Nhi đi chuyến này là để chờ đón đoàn thuyền lương mà Thoát Hoan vẫn cho là còn tồn tại.

Đến lúc này mà không hành động thì đúng là kẻ ngốc, cha tôi đóng ở Tháp Sơn bấy lâu tay chân hẳn đã ngứa ngáy lắm rồi, nhất là với cái kẻ đê hèn dám xâm phạm đến hương linh người đã mất.

Tiên đế ở trên cao cũng chỉ đợi ngày họ Ô đi ngang qua để nhấn hắn chìm tàu.

Tàu của Ô Mã Nhi ấy vậy mà lại không dễ chìm, tuy chủ động cướp được hơn ba trăm chiến thuyền và giết được không ít binh lính nhưng bọn chúng lại quá hung hãn, chống trả quyết liệt khiến quân ta cũng chịu tổn thất.

Giao chiến hồi lâu, lại thấy sức chiến đấu của chúng vẫn còn mạnh nên cha tôi không cố gắng gượng vô ích nữa, đem chiến lợi phẩm chậm rãi rút dần.

Mà họ Ô thấy cha tôi bắc cho mình cái thang bèn cũng thuận tiện leo xuống, thẳng tiến theo hướng lúc trước đoàn thuyền lương của bọn chúng đi qua.

Trận này nói thắng thì không thắng, mà nói thua thì lại càng không phải, chỉ là nhân tiện làm chúng tiêu hao không biết bao nhiêu là tài nguyên.

Nhưng ngẫm lại, dẫu sao thuyền lương của chúng đã đổ sông đổ biển, để Ô Mã Nhi đi một chuyến không công chờ đợi mỏi mòn, chịu sóng gió ngoài biển thì hơn hẳn việc lao đầu vào cuộc chiến làm hao binh tổn sức.

Đánh nhau ấy mà, còn gì tốt hơn việc để chúng tự chết dần chết mòn, không phí chút người chút của.

Kể từ ngày để mất tin tức của Ô Mã Nhi đến nay cũng đã ngót nghét gần một tháng.

Trong vòng chưa tới một tháng này, trông thì có vẻ vô sự, thật ra lại có rất nhiều chuyện để nói.

Đầu tiên thì phải kể đến việc Huyền Trân đã có thể bò, có thể tự ngồi, cũng có thể vịn vào thành giường đứng dậy.

Việc này lại khác với Quốc Chẩn ngày xưa, thằng bé Quốc Chẩn lúc trước thích khóc lóc ầm ĩ, kết quả biết nói sớm hơn biết đi, đến lúc bằng con bé bây giờ đã có thể phát ra mấy tiếng gọi đơn giản.

Nhóc này thì vô cùng kiệm lời, nó thường chỉ sống trong thế giới của nó, người khác gọi thì thỉnh thoảng mới phản ứng lại, giương cặp mắt xoe tròn nhìn người ta chằm chằm, lúc lười biếng thì chỉ ngáp ngắn ngáp dài không thèm quan tâm.

Tôi nhìn Trần Khâm cau mày, anh ta cũng lắc đầu chẳng biết cái tính này là giống ai, dù sao trước giờ mấy kẻ kỳ lạ tôi từng gặp qua cũng không tính là ít.

Chị An Hoa ôm cái bụng to tướng ngại ngùng bảo tôi:

"Giống bác Tảng của nó này!

Cũng may là Duyệt giống chị."

Tôi ngớ ra, đây cũng không phải là không có khả năng.

Trẻ con phát triển kỳ thực rất nhanh, mới ngày nào còn là nhóc con đỏ hỏn nằm gọn trong vòng tay tôi, đến hôm nay đã lớn thành một cục bông tròn trịa trắng trẻo, miệng cũng mọc được hai cái răng nhỏ xíu.

Tiếc là ít khi cười, nếu không sẽ càng thêm đáng yêu.

Chị Anh Nguyên thì vẫn không cưỡng lại được.

Tôi liếc chị ta, chị Anh Nguyên vô tư vô lo ngày nào cũng sắp biến thành một bà mẹ già lắm chuyện rồi.

"Muốn lấy con gái của em ư, thằng con nhà chị phải là kẻ có công danh sự nghiệp, có tài năng đức độ hơn người lại phải mạnh mẽ quyết đoán.

Không được lấy vợ lẽ, bình thường phải dịu dàng cưng chiều vợ, lúc nóng giận cũng phải nhường nhịn không la mắng đánh đập vợ.

Cha mẹ chồng là chị phải hết mực thương yêu, không được làm khó làm dễ, không được xen vào việc riêng của vợ chồng nhà người ta."

Chị Anh Nguyên nghe tôi nói tới đó liền làm động tác phản đối, hoàn toàn không muốn nghe thêm một lời nào.

Gần một tháng qua, mấy đứa nhóc đi theo Trương Hán Siêu học được thêm không ít thứ.

Ví như thằng nhóc Thuyên lúc năm tuổi có thể đọc ra bốn câu đầy thơ ca ý họa "Hợp thành thiên hạ tam kỳ nguyệt" thì năm nay đã có thể đứng lên bi thương thốt ra hai câu "Biên phong sắt sắt bức nhân hàn, chính trị đông phong tận túy gian."

Chỉ có điều Trương Hán Siêu tuy là người am hiểu thơ ca nhưng đối với việc nam nhi yêu thơ ca nhưng không chịu học hành thì lại rất kỵ, vì thế chẳng đứa nào dám chểnh mảng.

Đứa nào chẳng biết thầy Siêu bình thường đã vô cùng nghiêm nghị, lúc tức giận lên thì có thể dọa chết người.

Vua tôi ở Thanh Hóa ai làm việc nấy, kẻ nên lớn thì lớn, kẻ nên học thì học, kẻ nên họp mưu đánh giặc thì họp mưu đánh giặc.

Ngót nghét một tháng, mắt thấy tai nghe không ít chuyện hay ho.

Như việc Trần Nhật Duật ở vùng Đà Giang của họ Trịnh ngày trước không ngừng tìm kiếm, lôi kéo, khuếch trương lực lượng liên tục đánh phá và cô lập mấy đồn trại của giặc khiến cho tin tức tình báo không tài nào truyền được sang nước Nguyên.

Anh ta ở vùng Đà Giang giống như là làm bá chủ một phương, hô mưa gọi gió.

Có một bá chủ ở phía Bắc, ở phía Đông cũng không hề kém cạnh là có thêm đội hùng binh của cha tôi đang càng ngày càng nâng tầm kiểm soát ở khu vực rộng lớn, gần như là làm chủ mặt biển.

Đến mức ba ngày một trận nhỏ bảy ngày một trận to liên tục quấy rối con đường liên lạc từ kinh thành tới Vạn Kiếp của Thoát Hoan.

Có lẽ vì cảm thấy mình sống ở kinh thành cũng không yên ổn dễ dàng gì, muốn đi đánh nhau thì lại không có lương, ở lì trong thành thì bị quấy phá cô lập, họ Ô cũng đi biền biệt cả tháng không về.

Rốt cuộc Thoát Hoan đành phải thu dọn đồ đạc cuốn gói rời khỏi kinh đô, trên đường đi còn không quên thói cướp bóc.

Cha tôi lại vuốt râu nói:

"Như muối bỏ bể mà thôi!"

Đến khi hay tin Ô Mã Nhi đã mòn mỏi quay trở về Vạn Kiếp Trần Khâm mới cho rằng thời cơ đã chín muồi, lục tục tập hợp binh mã chỉnh tề ngược biển quay trở lại đóng ở Trúc Động, gần sát với nơi đóng quân của cha tôi.

Lần này người già trẻ nhỏ đều ở lại Thanh Hóa, tôi cứ tưởng anh ta sẽ để tôi ở lại, không ngờ đêm đó lúc tôi chậm rãi đeo lên thắt lưng anh ta một chiếc túi gấm đựng mấy thứ thảo dược cầm máu linh tinh thì anh ta bất giác chống cằm nhìn tôi rồi đề nghị:

"Trận này chúng ta sống cùng sống, chết cùng chết nhé!"

Ban đầu tôi khó hiểu nhìn anh ta, sau lại phản ứng được hóa ra là chuyện vui từ trên trời rớt xuống, có ngủ cũng chưa chắc mơ được nên ngốc nghếch gật đầu.

Cảm thấy chưa đủ chân thành, tôi chồm người lên hôn chụt lên môi anh một cái.

Trần Khâm được thế nắm chặt cổ tay tôi mạnh mẽ áp tôi sát vào tường, hơi thở nóng rực của anh ta phả vào cổ tôi ngưa ngứa, anh ta lại định cắn vành tai tôi.

Lúc này dù có là kẻ ngốc cũng biết anh ta muốn xơi mình, tôi bèn tránh qua một bên, hằn hộc nói:

"Ngày mai còn việc quan trọng!"

Trần Khâm rất dứt khoát buông tôi ra.

Anh ta vuốt vạt áo bào, thản nhiên đáp:

"Chỉ định hôn một cái thôi, em còn tưởng tôi định làm gì?"

Làm gì thì tự anh biết, đồ háo sắc, lưu manh!

Tôi nhìn người đàn ông dịu dàng trước mặt, bỗng nhiên cảm thấy anh ta so với người trong ký ức của mình khác lắm.

Khác, nhưng lại tốt đẹp hơn rất nhiều.

Có lẽ Trần Khâm từ trước đến nay không hề thay đổi, chỉ là bản thân tôi vô thức yêu anh ta nhiều hơn mà thôi.

Tuổi không còn nhỏ, trai gái có đủ rồi, thoắt chốc nhìn lại mọi thứ như nước chảy mây trôi, như qua cả một đời.

Rốt cuộc đến hôm nay hai chúng tôi vẫn cùng nhau nắm tay đi qua sinh tử.

Ở Trúc Động ba ngày thì có kẻ quấy nhiễu, lần này nếu như e dè lại chẳng phải là Trần Khâm.

Trúc Động không có nhiều núi cao trập trùng như chỗ đóng quân ở Thanh Hóa, nhưng xung quanh bao bọc bởi một màu nước biếc xanh trong.

Giữa màu xanh bạt ngàn của cây lá và bầu trời tháng ba cao vời vợi, nó chẳng khác gì một bức tranh thủy mặc khổng lồ.

Ban đầu tôi có thắc mắc về địa thế nơi này, chỉ sơ sơ theo tính toán của tôi đã có sáu con sông lớn nhỏ bao bọc lấy, mà Trúc Động thì vừa hay nằm chính giữa.

Nó giống như một vùng đất khổng lồ nổi lên giữa biển nước mênh mông, nếu như thật sự bị một đội quân đông đúc như giặc Nguyên vây lấy thì chỉ có nước bay lên trời.

Trần Khâm lại nói với tôi:

"Tuy đây không phải thành cao hào sâu gì, nhưng không phải là chưa từng xảy ra chiến trận."

Tôi ngẫm nghĩ một chốc.

Không uổng cơm ăn áo mặc của cha mẹ, trước đây tôi cũng từng nghe qua mấy cái tên này.

"Là Ngô Vương và Đại Hành hoàng đế?"

Trần Khâm bất chấp trước mặt tướng sĩ và cái bóng đèn Phạm Ngũ Lão ở bên cạnh, lấy tay xoa đầu tôi:

"Giỏi lắm!"

Tôi đỏ mặt kéo tay anh ta ra, Trần Khâm càng cười lớn, giải thích:

"Từ trước đến nay Quốc công chưa từng làm gì mà không có lý do."

Cùng là hai trận cọc gỗ, một đã diệt được quân Nam Hán, bắt giết Hoằng Thao, Ngô Vương cũng nhờ đó mà đoạt lại được tự chủ cho dân tộc sau hơn nghìn năm Bắc thuộc.

Sau đến lượt Đại Hành hoàng đế chống Tống, dùng y kế cũ, lại cũng bắt được Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đưa về Hoa Lư.

Mấy chuyện này không phải là tôi chưa từng nghe qua, nhưng rốt cuộc trong lòng vẫn mang nghi hoặc:

"Ngô Vương là người kiệt hiệt mà Hoằng Thao chỉ như một đứa trẻ khờ dại xa nhà.

Còn riêng nhà Tống vốn chẳng phải là đối thủ xứng tầm, chúng chỉ lợi dụng tình thế rối ren trong nước ta khi ấy để bày trò ly gián, hiếp đáp phụ nữ trẻ em.

So ra bọn Thát lại khác biệt hoàn toàn với hai nhà Tống Hán.

Cho dù là bỏ qua hết mấy điểm đó, một kế sách dùng tới ba lần, liệu còn hiệu quả hay không?"

Trần Khâm lại dường như rất thoải mái đáp lời:

"Hung Nô háo thắng thiện chiến nhưng về đầu óc thì vẫn còn non, nếu so về tài cưỡi ngựa bắn cung thì ta phải đề phòng, nhưng cái chốn rừng thiêng nước độc này thả bọn chúng xuống chúng còn sợ không bơi vào được.

Thát Đát đã bị đẩy vào tình thế co cụm ở Vạn Kiếp, ngoài rút lui theo đường sông Bạch Đằng để nhanh chóng về Trung Nguyên thì không còn đường nào khác đâu.

Quân lương sắp cạn, Thoát Hoan dù muốn hay không muốn thì hẳn y cũng sẽ bị sức ép của kẻ dưới mà phải giơ tay chịu trói thôi."

Tôi nghe Trần Khâm nói hay như hát, lại thấy vẻ đồng tình trên mặt Phạm Ngũ Lão thì cảm thấy có lẽ trận này muốn thua cũng không thua được.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 103: Đêm Nằm Gốc Thị Mơ Màng


Lúc đến nơi thì thủy quân của Trần Khánh Dư đã đóng quân đợi sẵn.

Trần Quốc Toản thì khỏi phải nói, cậu ta gặp tôi như bắt được vàng, liên tục bám lấy tôi kể lể về chiến công dạo đó, thuận tiện ba hoa cho bản thân một thôi một hồi.

Trần Khâm khoanh tay đứng chắn vào giữa hai người bọn tôi, hất hàm nói:

"Công lao đương nhiên thuộc về Nhân Huệ Vương, chú khoác lác cái gì?"

Trần Quốc Toản cũng không chịu thua kém, tuy đứng thấp hơn Trần Khâm nửa cái đầu nhưng vẫn dùng thái độ không kiêu căng không nịnh bợ, vô cùng khảng khái đáp lời anh ta:

"Thần không dám khoe khoang với quan gia!"

Ý tại ngôn ngoại, rằng: "Tôi không nói chuyện với anh, mời đi chỗ khác giùm."

Tôi ló đầu ra từ sau lưng Trần Khâm, giữa hai ánh mắt giao nhau mơ hồ nhìn thấy được mấy đường sấm chớp lập lòe trước mặt.

Trần Quốc Toản kể, lúc quân Nguyên phải đổ phần lớn lương thực xuống biển để dễ bề trốn chạy, cảnh tượng vừa hoành tráng vừa xót xa đó cả đời này có lẽ cậu ta sẽ không bao giờ quên.

Không phải là xót xa cho bè lũ cướp nước, nhưng mỗi một hạt gạo như hạt ngọc của trời, đều là mồ hôi nước mắt của người dân vô tội.

Đương lúc màu gạo trắng ngà như một cơn sóng cao sà xuống biển, Trần Quốc Toản đã rơi nước mắt.

Trong thời buổi loạn lạc này, số lương thực ấy đủ nuôi rất nhiều người trong vài năm.

Nghẹn ngào một lúc lại có vẻ tự hào:

"Nhưng cho dù là chúng không bỏ của chạy lấy người thì cũng không tránh khỏi số phận.

Thủy quân của ta lúc ấy phần thì đã lặn ngay dưới thuyền địch, phần thì dùng thuyền lửa đốt phá, chần chừ một chút là ngay cả tên chủ tướng cũng chẳng tài nào thoát thân.

Lúc đó tên phía trên bắn xuống như mưa, tuy là trong số thủy quân ta không ít người phải hi sinh nhưng đã làm đắm gần hai mươi chiến thuyền, giặc chết mấy nghìn tên, chỉ còn duy nhất một chiếc thuyền của tên chủ tướng là nhanh chân thoát được.

Tôi chỉ huy hỏa thuyền vừa đốt vừa giết, lửa ngùn ngụt cháy đến tận trời."

Trong đầu tôi ngay tức khắc có thể tưởng tượng ra cảnh tượng bi tráng mà Trần Quốc Toản miêu tả, không thể nói là có bao nhiêu hả hê, chỉ cảm giác được trong lòng bỗng nhiên thấy khó chịu.

Dùng dân để nuôi quân, thực hiện chính sách chinh phạt cướp bóc rồi cũng có ngày kẻ đầu sỏ phải gánh chịu hậu quả vì những hệ lụy mà nó gây ra, thậm chí là mất đi những gì đã có.

Quả nhiên đám người Nguyên đánh vào Trúc Động thì như đi lạc vào mê cung, đang tập trung đánh với Trần Khâm ở cánh này thì lại bị thuyền của Phạm Ngũ Lão từ ngả khác đánh tới, hoảng hốt ngược dòng trở ra thì lại bị lạc hướng tự mình chui đầu vào bẫy rập mà Trần Khánh Dư giăng ra, cuối cùng hết sức vất vả thoát ra thì lại bị tôi cùng Trần Quốc Toản đem Hoài Văn quân một mẻ diệt gọn.

Thật ra cũng không cần mấy người chúng tôi múa may, chỉ cần ông già Nguyễn Khoái lấy thuyền bơi vài vòng quanh mấy ngã rẽ thôi là đủ khiến chúng xoay lòng vòng như chong chóng rồi.

Vài lần như thế, tự nhiên là chúng cũng nản lòng, kết cục thì ai cũng biết là toán quân đó người chết kẻ bị thương dắt díu nhau quay trở về Vạn Kiếp.

Một buổi đêm trời nóng như đổ lửa, không khí oi bức làm người ta bứt rứt khó chịu trong người.

Tôi lăn qua lộn lại một hồi lại nhớ mấy đứa trẻ ở nhà, sau đó bỗng vô thức nhớ tới người mẹ hiền từ biệt dạo ấy.

Trong lúc chập chờn không tránh khỏi vài suy nghĩ mông lung, tôi bèn ngồi bật dậy chong đèn tìm giấy bút.

Ngồi thẩn thờ một hồi cũng chẳng biết phải viết gì, đành phải qua loa mấy chữ hỏi thăm, lại nhấn mạnh thêm tình trạng hiện tại của mình.

"Đến tôi còn không đọc được thì em chắc mẹ em sẽ đọc được ư?"

"Không đọc được mà lại biết em viết cho mẹ à?" – Tôi bâng quơ đáp.

Trần Khâm không biết tỉnh lại từ lúc nào, anh ta lôi ra một vò rượu ủ đặt bên cạnh tôi.

Tôi hít một hơi, hóa ra là thứ rượu mơ mình hay chôn trong sân nhà, bèn thắc mắc:

"Thứ này ở đâu ra thế ạ?"

Trần Khâm hớp một ngụm rồi đưa tôi:

"Trưng dụng trong dân."

Thấy tôi cau mày khó hiểu, anh ta lại tiếp:

"Lấy từ trên tay nhóc Thuyên đấy!"

Mùi rượu mơ vốn ngòn ngọt vào trong miệng tôi bỗng trở nên chan chát, tôi giấu vẻ gượng gạo, cười hì hì nói với Trần Khâm:

"Trẻ con đúng là không nên uống rượu."

Ngoài trời bỗng nhiên nổi lên sấm chớp ì đùng, gió mạnh nổi lên thổi ào ào, sau đó lại có tiếng binh lính nhốn nháo gia cố lại lều trại, cuối cùng là tiếng mưa rả rích rơi trên nóc lều nặng trịch.

Tiếng mưa lộp bộp, như âm thanh đang dùng dùi đánh vào mặt trống.

Trần Khâm với tay mở cửa sổ, một luồng khí lạnh lẽo đột ngột ập vào lều.

Đang lúc nóng bức đột ngột đón lấy không khí lạnh làm tôi bất giác run lên.

Gió tạt vào lều mang theo hơi nước làm ngọn nến đang cháy bỗng nhiên tắt phụt, bức thư tôi vừa viết xong cũng bay đi mất hút.

Lúc này tôi rất muốn khó chịu nhìn anh ta một cái, nhưng trong lều lại tối mờ mờ, chỉ nhìn thấy thanh kiếm ở đầu giường theo từng đợt sấm chớp bên ngoài thỉnh thoảng sáng lóe lên.

Trần Khâm lại cười nhẹ bên tai tôi.

Mấy hôm gần đây tâm trạng của anh ta rất tốt, có lẽ là cuộc chiến đấu thắng lợi nên tâm tình anh ta cũng thả lỏng hơn.

Trần Khâm biết tôi muốn nói gì, đã lên tiếng trước:

"Ngày mai Quốc công sẽ lên đường đến đây, chúng ta chờ giặc đến đánh một trận cuối."

Tôi không khỏi ngạc nhiên:

"Sao chàng biết là trận cuối?"

Trần Khâm ôm lấy tôi đặt gọn trong lòng mình.

Cơ thể anh ta to lớn như một cái bệ đá vững chãi, lồng ngực ấm áp truyền đến mùi vị nam tính của đàn ông, phía sau đầu tôi là khuôn ngực rắn chắc rộng rãi.

Hai tay Trần Khâm luồn qua eo tôi, bên tai tôi nghe anh ta thở từng đợt hơi thở nóng rực trầm thấp, khí lạnh bỗng chốc lùi dần.

Tôi ngồi trong lòng Trần Khâm như một đứa bé dõi mắt nhìn khung cảnh xa xa qua khung cửa sổ, những lúc nổi lên sấm chớp, mặt nước sông Giá lại sáng lên như một miếng phỉ thúy khổng lồ.

Mưa ngày một lớn dần làm cỏ cây xung quanh ngã rạp, Trần Khâm cũng ngày một siết chặt lấy tôi.

Tôi bỗng nhiên có một suy nghĩ hoang đường, một ngày nào đó vĩnh viễn như thế này, không âu lo không nghĩ ngợi cùng nhau ngắm chân trời xanh ngắt, cùng ngắm cơn mưa đầu hạ.

Trần Khâm nắm đôi bàn tay lạnh ngắt của tôi, đầu ngón tay tôi nhanh chóng ấm dần trong bàn tay to lớn, hằn đầy những vết đao kiếm mà vốn dĩ là không nên có ở một vị vua.

Lúc này Trần Khâm mới đáp lời tôi:

"Em xem, bên ngoài lại mưa rồi!"

Chỉ một câu không mặn không nhạt như thế nhưng tôi lại rất rõ ràng.

Năm đó cũng là một ngày mưa như thế này dấy lên hy vọng của toàn quân ta, chuyển bại thành thắng đến ngỡ ngàng.

Thật ra lúc trước phải cần đến ba bốn tháng mưa dầm thấm đất, dịch bệnh hoàng hành mới khiến quân Thát trở thành đội quân đói kém bệnh tật.

Còn năm nay, theo lời Trần Khâm thì bọn chúng như con chim sợ cành cây cong, càng về lâu về dài sẽ càng thêm cuốn quýt, lý nào lại để cho bản thân rơi vào cảnh đó một lần nữa?

Cho nên cùng là một trận mưa, sợ rằng có nhiều người cũng đang thao thức không ngủ được.

Ngồi tựa vào nhau một hồi lâu, đến khi cơn mưa lớn chỉ còn lưa thưa vài hạt, Trần Khâm bỗng nhiên lên tiếng:

"Tôi lại hỏi em, nếu như Thoát Hoan đứng trước mặt em, em sẽ đành lòng xuống tay chứ?"

Giải quyết xong tình địch thứ nhất Quốc Tảng, hình như Trần Khâm lại tiếp tục muốn giải quyết luôn tình địch thứ hai là Thoát Hoan.

Tôi không lật tẩy anh ta, cười đáp:

"Đành lòng hay không đành lòng cũng đâu còn quan trọng nữa, Thoát Hoan lần này dù sống hay chết trở về cũng không khác nhau là mấy, tất cả những lỗi lầm mà anh ta đã gây ra trước đây xem như đã trả đủ rồi."

Lúc nói ra câu này tôi hoàn toàn không biết được Thoát Hoan giờ đã giống như một người khác, anh ta chẳng còn là kẻ quyết tâm cuồn cuộn muốn giẫm lên tất cả vì tín ngưỡng của mình, ngược lại giống như đứa trẻ đã mất đi tất cả ước mơ.

Anh ta đem quân sang đây chẳng hề có một chút tình nguyện, ánh mắt mỏi mệt như một con thú hoang nằm thoi thóp bên bờ vực thẳm tối tăm và lạnh lùng, chán nản đến cùng cực.

Sau cơn mưa đêm mọi thứ trở nên ẩm ướt, bầu trời như được gột rửa qua một lượt, ánh mặt trời nóng bỏng soi bóng xuống mặt sông Giá lóa mắt làm viên pha lê khổng lồ của đêm qua lại càng thêm tỏa sáng rực rỡ hơn.

Bầu trời tháng ba trong xanh cao vợi, mặc dù chỉ mới qua giờ mão nhưng cái oi bức đã tràn lên chiếm lĩnh thứ không khí lành lạnh của trận mưa đêm hôm qua.

Đêm qua chẳng biết mình đã thiếp đi trong lòng Trần Khâm từ lúc nào, mãi đến khi cái nắng chói chang như xé toạc khung cửa sổ chui vào lều mới làm tôi bừng tỉnh, lúc tỉnh lại đều như mọi bận không thấy người đàn ông kia đâu.

Ấy vậy mà trong khi tôi có chút mệt mỏi vì không ngủ đủ thì tinh thần Trần Khâm lại dường như rất thoải mái sung sức, cảm giác như bởi vì mấy ngụm rượu mơ đêm qua mà càng thêm phơi phới, phảng phất toát ra thứ sức hút làm say lòng người.

Đúng như lời Trần Khâm nói, sáng ngày ra thì cha tôi đã dẫn quân đến tụ họp, bên cạnh người còn có Chiêu Thành Vương đã để râu quai nón luôn đứng túc trực một bên.

Kể từ trận chiến cuối cùng năm đó, đây là lần đầu tôi gặp lại Trần Thông, ánh mắt anh ta vừa lướt qua tôi đã lập tức dời đi chỗ khác như có chút hổ thẹn.

Tôi lại không bắt được biểu cảm tiếp theo của Trần Thông bởi gương mặt được bao phủ bởi bộ râu dày, cả người anh ta khoác một lớp da ngăm cùng với áo thô quần cộc, đôi mắt còn hằn lên những vết thâm giống như là:

"Đêm nằm gốc thị mơ màng, thị thơm mặc thị, nhớ nàng quên ăn".

Tôi thở dài, còn đâu là chàng trai hai mươi tuổi tươi mát tao nhã như lá sen mùa hạ năm đó nữa chứ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 104: Xẻ Gỗ Đóng Cọc


Rốt cuộc thì dù cha tôi có đến tôi cũng chẳng thể gặp được mẹ, bởi bà đã được ông cho người hộ tống ngược về Thanh Hóa cùng với đám quý tộc lần trước bất đắc dĩ phải đi theo.

Ngày thứ hai sau khi đại quân của cha tôi tới nơi, toàn quân đã bắt đầu xẻ gỗ làm cọc.

Cha tôi cấm không cho bất cứ ai bén mảng vào địa phận này, nghiêm ngặt đến con ruồi cũng không bay thoát.

Ban đầu tôi còn không mường tượng ra được, cho đến khi mấy người cha tôi với Trương Hán Siêu và Trần Thì Kiến cùng mấy bô lão sống trong vùng này họp lại bàn đối sách thì lúc ấy có vẻ trong đầu tôi cũng nhen nhóm hiểu được ý định của họ rồi.

Ngày trước dù từng nghe qua chuyện Ngô Vương và Đại Hành hoàng đế bày trận cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, tin thì có tin, nhưng đối với cách thức tôi lại cảm thấy ngờ vực.

Sông sâu sóng lớn đáy sông nhiều bùn, còn có do thám của địch, liệu chúng sẽ dễ dàng để bản thân mắc phải sai lầm lớn như vậy hay chăng?

Ngược với nghi hoặc của tôi, cha tôi lại chắc nịch đưa ra kết luận:

"Cho đóng cọc ở lòng sông để ngăn bắt thuyền giặc công hiệu gấp mười lần xích sắt chặn sông!"

Đến khi Trần Khâm đưa tôi theo cùng khi thăm dò sông Bạch Đằng thì tôi cũng phần nào lý giải được điều mà cha tôi cùng các tiền nhân khi xưa đã nhìn thấy.

Giữa mênh mông đất trời, khúc sông này rộng chừng hai dặm, có núi Tràng Kênh cao ngất lại có nhiều nhánh sông đổ vào.

Sóng lớn giáp tận chân trời, cây cối cũng um tùm che lấp bờ bến.

Ngược lại lúc buổi triều đã xuống, áng chừng mực nước lại thấp hơn đến gần cả trượng.

Thế nhưng chỗ giao nhau này lại chỉ vỏn vẹn trong vài giờ tức là lúc chiều và tối.

Tôi ngồi đến mòn đít cả ngày bên bờ sông, chẳng biết từ lúc nào đã vẽ ra được một cái sơ đồ nguệch ngoạc.

Bên dưới tôi vẽ một đường thẳng chỉ thời gian lúc triều dâng và rút, lại vẽ một đường thẳng hướng lên chỉ độ sâu của triều, mấy đường cong cong chỉ mực nước và chú thích vài chữ lúc nào nên đánh lúc nào thì nên lui.

Trần Khâm ở phía sau ngó thấy, cũng tấm tắc khen:

"Được đấy, rất nhanh đã hiểu hết đường đi nước bước rồi!"

Tôi còn chưa kịp tự mãn thì Trần Thì Kiến đứng đó từ lúc nào đã xen vào:

"Có điều việc này bọn tôi đã thương lượng xong từ lâu!"

Trần Khâm liếc Trần Thì Kiến, anh ta bèn như con rùa rụt cổ gãi đầu cười trừ.

Trần Khâm thấy tôi có vẻ ủ ê thì cười bảo:

"Bản vẽ này đơn giản dễ hiểu, dùng để cho binh lính xem qua cũng tốt."

Trong lòng tôi thoải mái lại ngay, việc nặng nhọc mình cũng không thể giúp, vậy tốt nhất nên làm những việc vừa sức thôi.

Những ngày này lại có vẻ rất thoải mái (vì tôi có phải là kẻ lên rừng đốn cây xẻ gỗ đâu), chỉ có một áp lực mơ hồ về thời gian bởi chúng tôi cũng không lường trước được sức chịu đựng của bọn chúng tới đâu và mất bao lâu để ra quyết định rút quân về nước.

Không phải chỉ riêng cha tôi và Trần Khâm, mà bất cứ ai cũng có thể hiểu rõ được rằng bọn chúng chắc chắn sẽ rút quân, không cần tốn một binh một tướng tự nhiên cũng có thể xua đuổi được quân thù.

Vấn đề là có thể đổi lấy được nền hoà bình trong bao lâu, liệu tới năm năm hay mười năm?

Vậy cho nên, chỉ còn cách đánh một trận thật lớn, diệt gọn toàn bộ những mũi nhọn của chúng, mà trước mắt chính là thuỷ binh của Ô Mã Nhi.

Sau hai lần thất bại ở Đại Việt, có vẻ chúng đã nhìn ra được nơi đây vốn không phải nơi dùng bộ binh làm thế mạnh nên lần này mới dùng thuỷ binh hùng hậu như thế.

Tôi theo cha lên rừng, lại nhớ tới thuở bé dù cha có đi bất cứ đâu cũng đưa tôi theo bên cạnh, hễ làm gì cũng đều bắt tôi phải làm.

Thuở đó tôi nghĩ cha mình bất công, anh trai chị gái đều đủ cả vậy mà việc gì cũng đến tay mình, giờ ngẫm lại nếu không có cha tôi khi ấy làm sau có được tôi ngày hôm nay?

Tính tình tôi thuở nhỏ vốn cứng đầu lì lợm, thật ra nếu như lúc đó chị Trinh là người bị bắt thì chẳng biết có thể đoàn tụ với nhau như bây giờ hay không, bởi thế cho nên dù sống một cuộc đời lặng lẽ chị vẫn không thấy giận tôi là vậy.

Giữa cái nắng sớm làm đổ rạp bóng cha xuống che chắn trước mặt tôi, như đơn thuần chỉ là một người cha bình thường mà chẳng phải là Hưng Đạo vương lừng lẫy chiến công vang dội.

Khung cảnh chợt thay đổi trước mắt, tôi như biến nhỏ lại thành một đứa bé tám tuổi, hai tay cắp đít lẽo đẽo phía sau lưng cha, tò mò bắt chim bắt bướm.

Người quay về phía sau nhìn tôi cười hiền từ, tôi trông thấy một Hưng Đạo Vương còn trẻ trung phong độ dường như thay thế đi hình ảnh khoé mắt đã đầy nếp nhăn của một vị vương tuổi trung niên.

Người đàn ông dù có ra ngoài làm bao nhiêu việc cao cả, điều quý giá nhất vẫn là một người cha, nhất là người cha đối với con gái của mình.

Cha tôi cho chuẩn bị đâu đó tầm hai trăm cọc gỗ đem đến cửa sông, cắm so le xuống nước, dài ngắn không đều, giống như răng chó cài nhau để ngầm dưới mặt nước không cho lộ thấy.

Cứ đà này thì cho dù thuyền địch có nhẹ, buồm có tốt đến đâu thì ra sức chèo cũng không tiến nỗi một bước.

Trong khi binh lính tất bật chuẩn bị thì tôi lại rất rảnh rỗi, một ngày có vài canh giờ là theo Trương Hán Siêu và Trần Thì Kiến đi thuyền nhỏ ra xem thủy triều, cũng nắm được trong vòng trên dưới ba canh giờ lúc triều bắt đầu xuống chính là thời điểm vàng để dụ địch vào bãi cọc.

Cụ thể là từ nửa đêm tới sáng sớm nước triều sẽ cao, đến giữa trưa nước triều sẽ chạm mốc thấp nhất, tầm lúc nắng cao quá đầu có lẽ sẽ là lúc địch có thể sẽ phát hiện ra được bãi cọc ngầm.

Từ đó suy ra, quỹ thời gian hành động của ta khá là hạn hẹp.

Hai người này cũng giống như tôi, mấy việc nặng nhọc thì thôi bỏ đi.

Trương Hán Siêu thì mấy bận còn ở lại xem tiến độ như thế nào, đúng sai ra sao, còn Trần Thì Kiến thì dứt khoát đám cọc gỗ kia dài ngắn thế nào anh ta chưa chắc là biết được.

Dù sao làm quân sư nhàn tản cũng phải ra dáng một quân sư nhàn tản, bàn tay người ta là để cầm bút cầm ấn, chẳng thể nào mà cầm búa rìu lên đẽo cây được.

Nghĩ ngợi một hồi tôi bỗng nghe một chất giọng quen thuộc nho nhỏ thoáng qua bên tai, hóa ra là Trương Hán Siêu tức cảnh sinh tình đọc mấy câu lầm rầm trong miệng:

"Bát ngát sóng kình muôn dặm, thước tha đuôi trĩ một màu,

Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu."

Trần Thì Kiến ngồi sau mui thuyền lại bật cười:

"Vài hôm nữa e là cậu ta phải thêm vài câu bi tráng phía sau!"

Trương Hán Siêu vẫn giữ sắc mặc không nóng không lạnh, nghiêm túc ngồi ở đầu thuyền như một pho tượng ngàn năm không bao giờ thay đổi sắc mặt.

So với anh Quốc Hiện dễ dàng sa vào bẫy, bị Trần Thì Kiến không biết bao lần đem ra chọc tức thì Trương Hán Siêu này lại dửng dưng như không.

Có lẽ cảm giác được giống như dùng mũi dao chọc vào một khối đá cuội nên Trần Thì Kiến cũng không còn hứng thú trêu chọc nữa.

Tôi cười thầm, thằng nhóc Trương Hán Siêu này cũng được lắm thay!

Tôi hiểu ý Trần Thì Kiến, nhìn con sông loang loáng sắc xanh của bầu trời, nói không chừng vài ngày tới lại trở thành một con sông máu.

Giữa cái nắng chang chang như đổ lửa, binh lính cởi trần đi thuyền nhỏ ra đóng cọc trên sông.

Cọc nhọn đa phần làm từ gỗ lim tươi trực tiếp đem từ trên rừng xuống, nặng hơn nghìn cân, sau khi gọt đẽo trơn láng thì đem ra sông lựa lúc nước triều đang rút dần bắt đầu đóng cọc.

Phần thân trên cọc buộc ván, sau đó để cho bốn binh lính to khoẻ đứng lên, lại lắc và nhấn cho cọc chìm sâu dần rồi tháo ván.

Một vài cọc được đóng nghiêng ngược hướng rút của thuỷ triều, tất cả đều bọc sắt nhọn vào đầu cọc.

Trước mắt là ba bãi cọc chắn ở ba cửa sông dẫn ra biển, tôi vốn căng thẳng khi triều lên cao, nhưng đến lúc triều xuống thấy bãi cọc vẫn sừng sững ở đó bỗng thấy khóe mắt cay cay.

Binh lính lẫn các bô lão bên dưới thì hô vang trời, những ngày vất vả cuối cùng cũng được đền đáp.

Đã hoàn thành khâu chuẩn bị, đến hiện thời chỉ còn một việc duy nhất và cũng quan trọng nhất là nghĩ cách đưa chúng vào tròng thôi.

Làm xong bãi cọc, tôi và Trần Khâm để cha ở lại duyệt binh tập trận, còn mình thì đưa quân bộ lên đường mai phục hai bên bờ dọc hướng sông mà dự đoán là chúng có thể đi qua.

Tôi nhìn làn sóng sông Bạch Đằng cuồn cuộn, lại bất chợt nhớ đến câu của một nhân vật nào đó thời Tần, rằng: "Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê, tráng sĩ một đi không trở về".

Đầu tháng tư quả nhiên có tin do thám báo về, nói rằng các vùng lân cận đã bắt đầu có bóng dáng tiên phong của địch bước vào địa phận, quân dân ở đó đang tích cực chống trả.

Chúng tôi đã sớm giáo gươm chỉnh tề phân tán lực lượng trải dài dọc hai bên bờ sông.

Những đoạn sông ở đầu không là phải quá hẹp, nhưng với số lượng thuyền chiến quá lớn thì chỉ cần dõi mắt là có thể nhìn được rất rõ những chiếc thuyền chiến đi sát hai bên bờ.

Nhưng phàm là việc binh chưa từng có việc nào là dễ dàng, chẳng biết là do họ Ô bỗng nhiên đổi tính hay là do Thoát Hoan ngày càng làm việc cẩn thận mà đoàn tàu thuyền lại lựa ngay lúc tối trời tiến thẳng ra biển, nếu như không có tiếng ào ào khua nước khuấy động đêm đen thì trong cái ánh sáng non nửa con trăng này lại chẳng biết đâu mà lần.

Tôi nấp một góc nhìn ra, thấy lờ mờ không biết bao nhiêu là thuyền chiến kéo mãi một đường tít tắp không có điểm dừng, giống như một con giao long khổng lồ đang trườn trên mặt nước.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 105: Trận Phục Kích Trong Đêm


Lúc này đội xạ binh đã vào chỗ, nghe hô "bắn" một tiếng thì tức khắc tên lửa bắn rào rào ra như mưa.

Chúng cắm "phập" lên buồm, lên thân tàu, lớp thì rơi lả tả xuống sông, mùi ngai ngái của dầu hỏa kèm với mùi cháy khét tản ra trong không trung khiến ai nấy đều ngợp thở.

Mặt sông ngay tức thì cũng sáng rực lên kèm với tiếng hàng vạn quân Nguyên hò hét, có kêu la do trúng tên, cũng có tiếng hô hào đầy khí thế.

Trong khoảnh khắc lóe lên đó, một làn mưa tên từ dưới sông cũng ngược hướng rẽ về.

Chúng tôi trong tối kẻ địch ngoài sáng, lại đã chuẩn bị đầy đủ khiên chắn, ẩn nấp kín kẽ nên kết cục ngoài một vài người bị trúng tên lửa do không dập kịp nên chết cháy ra thì cũng chẳng tổn hao bao nhiêu.

Sau một đợt tên bắn mở đầu, thủy quân từ hai bên bờ cũng lao ra tác chiến, chủ yếu là thuyền lửa, thuyền có đầu sắt nhọn và những đội thợ lặn cùng với cảm tử quân.

Bên trên có mưa tên, bên dưới lại có kẻ đục thuyền.

Tuy nhìn qua thì thấy muôn bề thọ địch, thế nhưng giặc Thát lại tỏ ra không mấy chật vật, vẫn như bầy ong dai dẳng không dứt, chết lớp này lại có lớp khác tiến lên.

Về sự lấy đông thắng ít của bọn giặc cỏ này mấy người bọn tôi không phải là chưa từng trông thấy, chỉ là lần này không lấy thắng lợi làm trọng mà chủ yếu đánh du kích để tiêu hao sinh lực địch mà thôi, có như thế tiếp theo chúng mới hoang mang mà dần chui đầu vào rọ.

Giằng co một hồi bỗng nghe tiếng gà gáy canh ba, lúc này không biết chúng có cảm nhận được hay không, mặt nước đang dâng cao dần.

Đang lúc đó bỗng nhiên từ phía sau vang lên tiếng kèn hiệu, nhắm thấy thời cơ đã đến, Trần Quốc Toản bèn cho quân vừa đánh vừa lui.

Ước chừng ban nãy thấy rằng chúng tôi tiến công cũng không nhiều nên bọn chúng cũng không liều sống liều chết đuổi theo, sau đó vẫn theo hướng ban đầu đi ngược ra biển.

Tôi nheo mắt nhìn ánh lửa le lói trên một vài chiến thuyền, chúng như một con rồng lửa đang cong đuôi tháo chạy.

Nhưng tất cả chỉ là mở đầu, quãng đường từ đây cho tới nơi mà chúng tôi đang giăng bẫy đợi sẵn Trần Khâm đã cho giăng không biết bao nhiêu thiên la địa võng chờ đợi, gần như là dày đặc hết các ngả sông.

Xung quanh đèn đuốc sáng trưng, tôi ra bãi dắt lấy con ngựa của mình rồi leo lên, Trần Khâm đã cầm kiếm dài ở ngay bên cạnh.

Một tiếng "đi thôi" của anh ta vang lên, chúng tôi ngay lập tức phi nhanh ra vùng chém giết, nơi mà Trần Thông đã cầm chân địch một lúc lâu.

Đó chính là toán quân bộ đi theo để hộ tống thủy quân của Ô Mã Nhi, để đoàn thuyền có thể thuận lợi rút lui ra biển.

Giằng co suốt một canh giờ đến khi gà rừng gáy thêm một chập nữa, tôi mới biết hóa ra đã sang canh thứ tư.

Quân địch hiện giờ đã dần mỏi mệt, vậy mà bọn tôi lại càng đánh càng hăng.

Chém giết điên cuồng khói lửa tan hoang, từng cột khói bốc lên cùng với tiếng hét và tiếng đao sắt cứa lên da thịt, tiếng chém trượt dài lên lớp áo giáp sắt khiến tôi lạnh sống lưng.

Trong suốt buổi không biết bao nhiêu lần ngựa của tôi đạp phải những mảnh thi thể trên đất không rõ địch ta, mùi máu tanh cực kỳ buồn nôn nhưng lại hong cho đầu óc tôi đến cực kỳ tỉnh táo.

Cho dù là trong lúc binh hoang mã loạn, thỉnh thoảng tôi vẫn có thể nghe loáng thoáng câu hỏi của Trần Khâm: "Em còn đánh nổi không?".

Tôi bực mình đáp:

"Chàng nên tự lo cho mình thì hơn!"

Sau đó, trong không gian loáng thoáng tiếng cười rồi chỉ còn độc mỗi tiếng chém giết la ó.

Tôi có cảm tưởng nếu như đây không phải là chiến trường máu lửa mà là bên trong một gian phòng thì có lẽ Trần Quốc Toản đã đạp cửa bỏ đi.

Dưới ánh đuốc, gương mặt đầy máu của cậu ta hiện lên như một hung thần ác sát đang liên tục lấy mạng người, bao năm cùng nhau vào sinh ra tử tôi cũng chưa từng thấy cậu ta có loại biểu cảm kinh khủng như vậy.

Phía sau có kẻ xông tới, tôi đổi thế cầm thương, một nhát đâm ngược về sau, máu văng ướt bắp chân tôi vẫn còn ấm nóng.

Phía trước đột nhiên truyền đến một trận nhốn nháo, nhìn kỹ lại thì hóa ra là kẻ râu ria Trần Thông đang hộc tốc phi ngựa trở về, trên tay cầm chặt một vật gì đó.

Tôi nheo mắt nhìn kỹ, dưới ánh đuốc của một binh lính đang giơ cao tôi rợn người phát hiện ra vật đó thế mà lại là một cái thủ cấp vừa mới cắt xuống, máu vẫn còn chảy ròng ròng.

Trần Thông vừa cưỡi ngựa vừa chém giết đến trước mặt bọn tôi, lại giơ cao cái đầu lên, hét lớn:

"Còn không mau bó tay chịu trói, thủ cấp của tướng chúng bây đang nằm trong tay tao!"

Cho dù có thể không hiểu Trần Thông đang nói gì, nhưng cái đầu kia thì ắt hẳn chúng sẽ nhận ra.

Lúc này thì không những mình tôi tỏ vẻ không dám tin mà lúc quay sang nhìn thì thấy chính Trần Khâm cũng đang kinh ngạc, Trần Thông lại có bản lĩnh lấy đi thủ cấp của tướng giặc nhanh như vậy, trên người anh ta thế mà lại không có lấy một vết thương nào.

Chủ tướng bay đầu thì kết cục của trận chiến xem như đã định, bọn chúng ngay lập tức hoảng hốt lên, sau đó không màng đang còn chém giết căng thẳng lập tức quay đầu bỏ chạy.

Trần Khâm lập tức cho quân cấp tốc đuổi theo.

Đuổi đến chợ Đông Hồ thì trời cũng tờ mờ sáng, trước mắt là một dòng sông chắn ngang mà chỉ có một chiếc cầu dây nối liền hai bờ.

Bởi vì cùng đường, một số ở phía trước đã chen lấn chạy lên cầu, kẻ giẫm người đạp ồn ào phần thoát được phần lại rơi xuống nước.

Chúng tôi không để yên cho chúng chạy, tiếp tục giáp lá cà, mục đích chính là phải chặt dây cầu để chúng không còn đường đào thoát.

Đương lúc ấy từ bên kia sông có kẻ đang cưỡi một con ngựa to rẽ gió lướt sóng phi nhanh sang đây, đạp lên cả những kẻ đang chạy trối chết trên cầu, cuối cùng dừng lại cách bọn tôi năm trượng.

Lúc kẻ đó dừng lại trước mặt, tôi mới nhìn thấy rõ ràng chẳng phải là một mà tới hai người, hắn ta cởi đi mũ áo trên đầu, tôi bỗng cảm thấy cả người mình như đông cứng lại.

Trước mắt nhoè đi, tôi phải giữ chặt dây cương mới ngăn không cho mình run lẩy bẩy, lúc này quân Thát giống như tìm được đồng minh lại càng yên tâm nối đuôi nhau về bên kia bờ.

Trần Quốc Toản nôn nóng, ngay lập tức hạ lệnh xông lên, tức thì Trần Thông râu tóc xồm xoàm như một mũi tên lao ra đứng chắn trước mặt, hét lên:

"Không, không được...!"

Tôi quệt nước mắt nhìn sang, thấy vẻ lưỡng lự hiếm khi xuất hiện trong đôi mắt của Trần Khâm, anh ta ban đầu cũng đứng bất động, đến lúc thấy Trần Thông lao lên mới giơ tay chặn Trần Quốc Toản lại.

Kẻ đang ngồi trên lưng ngựa bỗng nhiên cười lên như điên:

"Để cho chúng tao đi hay ả này phải chết là do mày chọn!"

Trần Quốc Toản ngơ ngác quay sang nhìn tôi, tôi cũng chẳng còn hơi sức để giải thích cho cậu ta, chỉ cau mày nói:

"Tên Thoát Hoan ấy hèn nhát đến mức để một ả đàn bà đem vợ anh ta đi uy hiếp địch thủ."

Cô ả đang uy hiếp tôi chẳng phải ai xa lạ, đó chính là nô nhi bên cạnh Thoát Hoan tên là Khoát Khoát Lạt, từng có cơ duyên theo hầu tôi năm đó khi tôi ở Đại Đô.

An Tư gả cho Thoát Hoan thì cô ta vừa hay đổi chủ, hiện tại thì tiện tay mang theo chủ của mình đi giết giặc lập công.

Khoát Khoát Lạt quát lên, vừa nói lại vừa rơi nước mắt:

"Con ả này chẳng xứng làm vợ của vương nhà tao, một con đàn bà bị đem đi cống nạp lại suốt ngày mê hoặc ngài.

Rõ ràng là vương đoán được chúng bay sẽ giở trò, tại sao ngài vẫn không gửi thêm viện binh?"

Còn chưa nói xong, thanh đoản đao của Trần Khâm đã găm lên giữa cổ ả, Khoát Khoát Lạt một giây trước còn mạnh mồm, giây sau đã thành cái xác khô từ trên ngựa ngã xuống.

Sau đó, An Tư bị trói tay bịt miệng cũng mất đà, Trần Thông gần như ngay lập tức lao lên ôm lấy cô ấy vào ngực.

Còn chưa kịp vui sướng khi đoàn tụ, từ bên bờ sông một mũi tên đã như xé gió găm vào giữa lưng Trần Thông, trong ánh mắt trừng lớn của người thương, anh ta từ từ khuỵu xuống.

Lúc tôi phản ứng được thì mũi tên mình vừa tra vào dây cung đã găm thẳng vào ngực trái của kẻ vừa bắn tên, anh ta mím môi nhìn tôi, nở một nụ cười.

Tôi kinh ngạc tột độ, có lẽ vì trước giờ Thoát Hoan chưa lần nào cười với tôi như thế cả.

Anh ta luôn luôn điên cuồng chiếm đoạt, dù lúc còn là Sở Quân thì khi nói mấy câu tình tứ với tôi vẫn mang chút gì đó áp đặt, nhiệt huyết sôi sục trong mắt khiến tôi chẳng thể nào cưỡng lại được anh ta, vậy mà...

Lần này nở cụ cười, nhiệt huyết tuổi trẻ đã mất, Thoát Hoan như một gốc cổ thụ cằn cỗi rụng hết lá, chỉ còn lại mỗi gốc cây đang dần dần mục rữa.

Trước khi được binh lính hộ tống trở về không rõ sống chết, tôi nhìn thấy miệng anh ta thốt lên hai từ xin lỗi.

Tôi không biết anh ta xin lỗi mình vì cái gì, người anh ta nên xin lỗi không phải là An Tư hay sao?

Tôi bất chợt nhớ ra trước đây khi mơ thấy Thoát Hoan, hình như anh ta cũng từng cười rồi nói gì đó với mình, giờ mới ngộ ra chỉ là hai từ xin lỗi cũ rích.

Câu nói của Khoát Khoát Lạt không ngừng xoay vòng trong đầu tôi, "Rõ ràng là vương đoán được chúng bay sẽ giở trò, tại sao ngài vẫn không gửi thêm viện binh?", thật sự là cho đến bây giờ, rốt cuộc thì tôi vẫn không thể nào hiểu được Thoát Hoan.

Quân Thát một nửa đã qua sông, một nửa vì bị chặt đứt dây cầu mà không chạy được, đành kẻ chết người bị bắt sống ở lại chịu trận.

Quân ta thắng trận này, nhưng lại tổn thất một kẻ bị trúng tên ngay chỗ hiểm nằm bán sống bán chết đằng kia.

Tôi xuống ngựa ba chân bốn cẳng bước tới, Trần Khâm bỗng giữ tay tôi lại, tôi thấy anh lắc đầu mới biết Trần Thông có lẽ là không cứu được rồi.

Nhưng cuối cùng sau tất cả, anh ta lại chết trong lòng của người mình thương yêu, như thế thì cái chết này còn có gì đáng sợ nữa chứ?

Năm ấy An Tư mười sáu, Trần Thông hai mươi, cả hai đều ăn vận đẹp đẽ, cử chỉ phóng khoáng.

Năm nay Trần Thông vĩnh viễn hai mươi bảy tuổi, mặc một bộ giáp cũ vấy máu không bao giờ tỉnh lại nữa.

An Tư khóc nấc lên một cái, thanh kiếm nằm trên đất đã cứa đứt cổ cô, đột ngột đến nỗi mấy người bọn tôi chẳng kịp phản ứng.

Đến giây phút sau cùng ánh mắt của An Tư cũng chỉ đặt lên người Trần Thông mà không để lại cho chúng tôi một lời gì.

Tôi xám mặt xám mày giằng tay khỏi Trần Khâm chạy đến đỡ lấy An Tư, có lẽ anh ta cũng bàng hoàng trước sự việc vừa xảy ra nên chẳng kịp phản ứng.

Lúc tôi đến bên cạnh, An Tư chỉ còn một hơi thở, mỉm cười nhìn tôi rồi cũng yên lặng ngả vào lòng Trần Thông mà qua đời.

Trong lòng tôi chua xót, giá như lúc này phía sau tôi không phải là một trận chiến đang chờ đợi thì tôi đã gục xuống tại nơi đây mà khóc rống.

Đáng tiếc kẻ tâm địa sắt đá như tôi đứng trước hoàn cảnh này chỉ lặng lẽ quệt nước mắt, sau đó sai người tạm thời chôn họ ở một nơi yên tĩnh chậm rãi đợi cuộc chiến qua đi.

Trần Khâm siết chặt cánh tay tôi, có lẽ trong lòng anh ta cũng cực kỳ khó chịu.

Tôi bỗng cảm thấy mình thật may mắn, khi cả tôi và Trần Khâm vẫn còn kề vai sát cánh cho đến giờ phút này.

Anh bỗng quay sang nhìn thẳng vào tôi, vén mái tóc loà xoà bên má của tôi ra sau tai, như thở hắt ra, nói:

"Đi thôi, họ đang đợi ta!"

Tôi mím môi gật đầu.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 106: Đại Thắng Sông Bạch Đằng


Lúc đến nơi thì trời đã quá trưa, nắng như đổ lửa dội xuống đỉnh đầu, nhìn từ phía bờ sông nơi dừng ngựa chỉ thấy cột khói nghi ngút khuất sau núi Tràng Kênh, có lẽ là đang cháy dữ dội.

Tôi và Trần Khâm ngự trên đoàn thuyền chiến mạnh nhất của cha tôi, lúc này mới lao vào trận chiến.

Không thể nói rõ là may mắn hay quá may mắn, tôi lại được tận mắt nhìn thấy trận chiến mang tầm cỡ vĩ đại thế này.

Nước sông Bạch Đằng đục ngầu, khắp mặt sông như trở thành một biển lửa.

Có những chiếc tàu chiến nghiêng ngả hơn một nửa nằm ngập trong nước, dưới mặt sông nhắm chừng cũng không ít tàu chìm, không thể đếm rõ rốt cục có bao nhiêu người đã rơi xuống nước bỏ mạng.

Tên lửa vẫn ùn ùn bắn qua liên tục, bao vây thuyền địch không một kẻ hở, thuyền lớn không cách nào di chuyển được trong bãi cọc giống như những con cá kình mắc cạn nằm phơi thây chờ chết.

Cột buồm phần lớn bị cháy, bị tên bắn rách, bị đao kiếm chặt phăng.

Dưới sông quân ta cũng theo thuyền nhỏ luồn lách trèo lên đánh giết đốt phá, mà bãi cọc giống như càng lúc càng nhô cao, khiến cho không ít thuyền to lật úp liên tục.

Quân Thát càng lúng túng thì nước sông lại càng thêm đỏ ngầu, tôi mơ hồ có thể nghe được tiếng quát nạt của tướng địch.

Tôi không hiểu bọn chúng nói gì, có thể là trấn an, cũng có thể là đe dọa, nhưng chỉ có mấy người bọn tôi biết được là bọn chúng sẽ chẳng có ai tiếp viện nữa, cách thất bại càng lúc càng gần.

Thoát Hoan, anh ta thật sự đã bỏ rơi bọn họ rồi.

Binh lính bên dưới khi thấy đoàn chiến thuyền hùng mạnh của cha tôi xuất hiện thì càng đánh càng hăng, càng thêm phấn chấn, liên tục hô to Quan gia, Quốc công, Thượng hoàng, lại gằn từng tiếng hô Sát Thát.

Tên lửa cùng lúc bắn vào như mưa, chỉ cần có kẻ nào dám phá vòng vây, ngay tức khắc liền rơi vào cửa tử.

Nghe nói trước khi bọn tôi đến thì một vài cánh quân đã bỏ chạy lên bờ sông hòng tìm đường trốn thoát, nhưng tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, toàn bộ nơi đây cơ hồ như mạng nhện, đâu đâu cũng là bẫy rập được giăng ra.

Trận chiến này làm tôi tưởng như mình là quỷ Tu La đang nắm quyền sinh sát trước ngàn vạn sinh linh bên dưới, cùng biểu cảm với tôi, Trần Khâm cũng chỉ mặc giáp đứng khoanh tay nhìn sắc trời dần tàn.

Tôi bỗng dưng nhớ tới ngày đó anh ta đang ngồi trong hồ Thuỷ Tinh câu cá, lúc nhìn thấy lũ cá đang đớp khí trong chậu, ánh mắt anh ta cũng giống như thế này.

Tựa hồ không muốn, nhưng lại không thể chống lại quy luật của tự nhiên.

Trần Khâm ra hiệu cho binh lính dâng lên bộ cung tên quý nhất.

Giống như ngày thường chỉ tay tôi cười bảo đằng kia có một khóm hoa cúc đẹp, hay trời hôm nay phá lệ trong xanh, anh ta bình thản hỏi:

"Em nhìn xem gã đó có phải là tên tướng đã phá lăng tẩm họ ta hay không?"

Tôi nheo mắt nhìn, xa đến mức chỉ thấy thấp thoáng dáng người to lớn quá cỡ của gã, nhưng chỉ cần như vậy cũng đủ để xác định kẻ đó chính là Ô Mã Nhi.

Trong suốt quãng thời gian chinh chiến nói thực thì tôi cũng chưa hề cận mặt đối chiến với gã gần nào, nhưng về sự hung hăng gian ác thì nghe đến mức đầy tai.

Thấy tôi gật đầu, Trần Khâm lại vừa nói vừa kéo căng dây cung, làm động tác nhắm bắn:

"Kẻ này không những thuộc giới quý tộc, lại còn anh dũng thiện chiến, gan dạ và thao lược, nếu như không "vì nước quên mình" trong trận chiến này thì sợ là phải trả y về nước để đẹp tình bang giao, tránh khỏi nạn đổ máu."

Trần Khâm đứng thẳng, một vài sợi tóc mai bên thái dương nhẹ bay.

Ánh mắt sắc bén của anh ta nhìn họ Ô vừa toát ra sự bình tĩnh, lại giống như căm hận đến thấu xương.

Mày Trần Khâm khẽ chau lại, sau đó tôi nghe một tiếng rít kéo dài, mũi tên xé gió lao về phía thuyền địch.

Ô Mã Nhi trúng tên nhưng chỉ ngả lăn ra thuyền, ấy vậy mà lại khiến cho một tên tướng khác vô tôi vạ mất đà rơi tõm xuống nước.

Sau đó tôi thấy Trần Quốc Toản đã sai người dùng câu liêm móc lên, trói lại, từ phía xa như thế tôi cũng có thể nghe được cậu ta đang nhếch môi đắc ý, sảng khoái mà cười to.

Với tốc độ này, nếu trúng phải da thịt thông thường cũng phải xuyên qua gần hết thân tên.

Nếu trúng phải giáp sắt, vậy thì chí ít cũng phải xuyên qua giáp cắm ngập đầu tên bên trong da thịt.

Một mũi tên làm cho kẻ như tôi phải mở mang tầm mắt, hóa ra trước giờ mình toàn múa rìu qua mắt thợ mà thôi.

Trần Khâm đưa cung cho binh lính đang đứng hầu, lại nhẹ giọng giải thích với tôi:

"Cái thứ tên độc này chẳng tốt lành gì, ngày trước em có nghe qua chuyện Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh mưa tên hay không?"

Sống lưng tôi ớn lạnh một trận, lắp bắp hỏi:

"Vậy... chẳng hay vì sao trước giờ ít thấy chàng dùng?"

Trần Khâm vuốt cái cằm lúng phúng râu, cười cười:

"Loại độc này tuy ghê gớm nhưng lại không chết ngay, dùng trực tiếp rất là phí phạm.

Với cả đồ tốt thường không có nhiều!"

Lúc này tôi bỗng nhiên có một chút đồng cảm với Thoát Hoan.

Rốt cuộc đến giờ Dậu thì toàn bộ tướng giặc bị bắt, hơn bốn trăm thuyền chiến về tay, địch chết mấy vạn không rõ, chỉ biết còn lại không tới hai vạn bị bắt làm tù binh.

Thượng hoàng sai đem họ Ô lên thuyền rót cho gã một chén rượu ấm, bây giờ tôi mới nhìn rõ được dung mạo hung ác của gã ta.

Cho dù đang bị mũi tên đâm qua bả vai, máu tuôn ròng ròng, Ô Mã Nhi vẫn giãy giụa chửi bới luôn miệng.

Thượng hoàng bình thản không nói gì, tiếp tục để hắn ở trước mặt mình làm trò.

Sau khi thắng lợi ở sông Bạch Đằng cũng vừa nghe tin Thoát Hoan đã thu dọn binh mã rời khỏi biên giới Đại Việt.

Về việc này sau đó tôi có nghe Trần Nhật Duật kể lại rằng bọn chúng đã chật vật như thế nào.

Binh lính đói ăn lâu ngày còn phải lao vào nhau mà đánh bừa đánh đại, bị thương cũng phải buộc vết thương lại mà đánh, thậm chí tên tướng giặc bị trúng ba mũi tên độc khiến đầu cổ sưng vù không rõ sống chết.

Mạc Đĩnh Chi lại thở dài:

"Tuy là bọn chúng lâm vào mỏi mệt nhưng số lượng lại hơn quân ta rất nhiều, cũng may nhờ thầy sáu bày phản gián kế.

Bọn chúng bị gián điệp ta mua chuộc như người đi trong sương, lờ mờ cứ tưởng quân ta còn đông đảo, nào đâu biết thật ra thì phần lớn đều đi theo Quốc công rồi.

Bọn Thát kia sợ đông sợ tây trối chết rút về, bị tấn công cũng không dám đánh trả."

Tôi liếc cái người bày kế đằng kia, cảm thấy vẻ mặt anh ta còn mờ mịt hơn đám người đi trong sương từ miệng Mạc Đĩnh Chi thốt ra, bèn tò mò hỏi:

"Nhưng ban đầu không phải thầy em gặp bất lợi lớn sao, làm sao lại đổi nguy thành an thế?"

Ánh mắt Mạc Đĩnh Chi liền nổi lên hứng thú, sáng quắc như con cú hoạt động về đêm:

"Chuyện này phải kể đến.."

Vừa nói đến đó, ánh mắt mơ màng của Trần Nhật Duật ngay lập tức bắn qua, Mạc Đĩnh Chi giật thót cả người, lại ấp úng cười giả lả:

"Chuyện này thật ra rất dài, hôm nào rảnh rỗi em lại kể tiếp!"

Nói xong thì như con sóc lủi mất.

Tôi ngồi đối diện với bầu không khí tĩnh mịch buồn chán xung quanh Trần Nhật Duật, cũng chịu không nỗi mà phải lượn đi, lúc trở về mới nhớ ra hình như là mình đang đi bắt cá.

Phen này phải mách lẻo với Trần Khâm rằng chú của anh ta đã ăn trắng mặc trơn lại còn hay giở trò trộm vặt.

Sau khi khải hoàn trở về, việc đầu tiên tôi có thể nghĩ đến chính là quay trở lại chiến trường trước đó để đưa An Tư và Trần Thông an táng đàng hoàng.

Tôi từng nghe qua tích xưa về hai người yêu nhau nhưng không đến được với nhau, rốt cuộc khi chết biến thành đôi cành trúc, đôi chim quấn quýt bên nhau, đêm đêm lại vang lên tiếng kêu "khắc" "khoải", nguyện sống làm chim liền cánh, chết làm cây liền cành.

Cho dù An Tư và Trần Thông khi còn sống phải chịu cảnh ly tán, nhưng đến lúc chết đi họ đã được quay trở về bên nhau.

Tôi trộm nghĩ, không biết ngày đó hai người bọn họ có giống như truyền thuyết về họ Chúc và họ Lương thời Đông Tấn ở phương Bắc mà tôi hay đọc, cùng xuống nấm mồ rồi hóa thành đôi bướm bay lượn hay không.

Suy nghĩ lạc quan nhưng đến lúc đưa xác họ lên, thấy cả hai vẫn nắm chặt tay nhau không rời, tôi cuối cùng cũng không nén được cảm xúc, chỉ biết chúc đầu vào ngực Trần Khâm khóc ướt một mảng áo bào của anh ta.

Khóc thỏa thích một trận, lúc bình tĩnh lại chỉ cảm thấy trong đầu là một khoảng trống trải.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 107: Nỗi Canh Cánh Của Quốc Hiện


Thắng lợi lần này, Trần Khâm phong thưởng rất hậu.

Công lớn như cha tôi thì được phong đến tước đại vương, anh cả là Khai quốc công, anh ba thì phong là Tiết độ sứ, Phạm Ngũ Lão được ban cho Thánh Dực quân, còn ông già Nguyễn Khoái cũng được phong Liệt hầu và một hương làm Thái ấp gọi là Khoái lộ.

Lão ta đắc ý một hồi, lần này lỗ tai không phải chịu cảnh tra tấn nữa.

Mấy bà vợ già ở nhà thì đưa về Khoái Lộ lập làng, lập ấp, cai quản kẻ dưới chăn nuôi trồng trọt, chính mình thì cùng với bà vợ lẽ mới ngoài ba mươi tận hưởng cuộc sống thích chí an nhàn nép dưới bóng vua.

Ông già này ấy vậy mà vẫn còn khỏe lắm.

Về phần nhà tôi có thể nói là một bước đạt tới đỉnh vinh quang, cả cha, anh ruột và cả anh rể đều được phong tước.

Nhưng tôi có điều thắc mắc, tại sao chỉ có anh cả và anh ba được phong nhỉ?

Trần Khâm đang ngồi thư giãn để tôi xoa bóp vai, lim dim mắt vừa lười biếng đáp:

"Anh hai em cự tuyệt ban thưởng, chỉ xin được cùng vợ từ nay không màng việc binh nữa, trở về thái ấp khai hoang mở chợ trồng dâu nuôi tằm, dạy việc bán buôn."

Tôi à một tiếng, hóa ra là học đòi theo ngài Chử Đồng Tử giúp đời giúp dân, chỉ hy vọng nửa đường không nhảy ra một Hồng Vân công chúa.

Với tính tình của anh hai tôi ấy mà, cái bẫy sắc đẹp anh ta làm sao mà vượt qua.

Lúc đó chỉ sợ chị dâu hai lại không được hiền thục như Tiên Dung, với tính tình mạnh mẽ của chị ta thì...

Ái chà, quả thật là vui nhà vui cửa.

"Thế còn anh tư?"

Nhắc tới Quốc Hiện, Trần Khâm lại hơi cau mày, tôi biết ý lại đưa ngón tay lên xoa xoa.

Trần Khâm nói:

"Ngày đó Thoát Hoan rút lui, trước tôi đã lệnh cho chú ba không được đuổi cùng giết tận.

Anh tư của em khi đó dưới trướng ngài lại vẫn cho quân đón đánh không tha.

Tôi là người muốn giết chết Thoát Hoan hơn ai hết thảy, nhưng không phủ nhận được nước ta là nước nhỏ, nếu như bọn chúng để bụng rồi bám chặt không buông thì dân chúng làm sao mà sống nổi?"

Tôi không dám bàn tới chuyện chốn quan trường, nhưng cũng hiểu rõ tầm quan trọng của việc mà Trần Khâm nói.

Không phải đương không mà chỉ sau nửa tháng Đại Việt ta phải đi sứ sang Nguyên để dâng cống phẩm, dâng biểu tạ tội và trao trả tù binh, dù việc bị đấm trả một cú rồi nhận lời xin lỗi đối với Nguyên triều cũng không được tính là vẻ vang gì.

Chừa cho nước lớn mặt mũi cũng là chừa đường lui cho chính ta.

Sau này có lần tôi hỏi dò anh tư Quốc Hiện về nguyên do, anh ấy chỉ không mặn không nhạt nói:

"Lúc đó không nghĩ được nhiều như vậy, chỉ biết khi có cơ hội đuổi giết Thoát Hoan thì trong đầu anh canh cánh mỗi việc ngày trước Bình Trọng đã chết đi như thế nào.

Hiếm khi có dịp, bây giờ nghĩ lại cũng cảm thấy không hề hối hận." – Lại thở dài – "Quan gia không trách phạt, đã rộng lượng lắm."

Tôi không ngờ tới anh tư lại là người trọng tình nghĩa như thế.

Ngày trước anh ta và Trần Bình Trọng vốn là kỳ phùng địch thủ, tôi vốn chẳng biết được trong lòng anh tôi Trần Bình Trọng còn quan trọng hơn cả sự nghiệp và công danh.

Vậy mà trước giờ tôi luôn nghĩ anh tư là kẻ tùy tiện, không tính toán tới sự thiệt hơn.

Anh Quốc Hiện nói tới đó thì trầm ngâm, có vẻ khắc khoải vì chuyện trước giờ giấu kín đột nhiên bị khơi lại, lời nói như đang kể một câu chuyện xưa:

"Ganh đua với chú ta hết ngần ấy năm, tới cuối cùng trong lúc nguy nan chú ấy lại chọn cứu anh, thế thì anh còn đấu làm gì nữa chứ, chẳng phải là anh đã thảm bại rồi sao?"

Nói tới đó, anh Quốc Hiện không kìm nén nổi nữa mà lấy tay đấm mạnh vào gốc cây.

Nước mắt anh chảy hai hàng, lớn giọng khóc tu tu như một đứa trẻ.

Tôi chưa từng nghĩ anh Quốc Hiện của mình – kẻ luôn luôn mang bộ mặt gắt gỏng lại có thể bày ra biểu hiện bi thương thống thiết đó, quýnh quáng không biết làm thế nào, hết vuốt lưng lại vỗ vai an ủi:

"Năm đó vì lúc bất đắc dĩ không còn cách nào để lựa chọn nên Bình Trọng mới vì nghĩa quên mình, không phải chỉ vì anh đâu.

Còn có Thánh Dực quân nữa, Trần Bình Trọng là vì đại cục chứ đâu phải hoàn toàn vì anh... anh không cần phải ôm hết vào mình!"

Anh Quốc Hiện vẫn nức nở, thậm chí còn khóc tức tưởi như đưa đám, gằn giọng thét:

"Là vì anh, vì anh năm đó khinh địch nên mọi chuyện mới không thể vãn hồi như thế!

Anh luôn ngạo mạn mình hơn, nhưng rốt cuộc lại để cho chú ta phải bảo vệ!

Ngày đó em đã nói với tính tình nay của anh thì cũng có ngày gặp tai hoạ, mỉa mai thay lúc ấy anh chẳng hề tin."

Hôm đó mãi đến lúc tối muộn Quốc Hiện mới phần nào khôi phục lại tâm tình, có lẽ nói ra được hết những suy nghĩ trong lòng thì dù không thể thay đổi được kết quả, chí ít anh ta cũng sẽ thấy thoải mái hơn.

Lần này anh bất chấp mọi thứ để trả thù cho Bình Trọng, thành hay bại, đúng hay sai, hình như cũng không còn quá quan trọng nữa.

Tôi biết làm được việc nghĩa như thế thì cho dù có hi sinh, người đó cũng cảm thấy an lòng.

Chuyện định công ban thưởng vừa qua, tôi mới biết được ngày trước Hoài Văn quân bị định tội phản là do một tên cận thần được tin dùng tên là Đặng Long của Trần Khâm mưu hại.

Trước đây Trần Khâm vốn đã định phong cho gã làm Hàn Lâm học sĩ nhưng bị Thượng hoàng ngăn cản, Đặng Long lúc này bất mãn nên hàng giặc, vừa giả dạng vừa cài cắm người của mình vào Hoài Văn quân làm phản, đợi lúc đi đánh tiên phong ở Ngọc Sơn thì lẻn sang thuyền giặc chỉ điểm cho chúng.

Vậy mới nói ánh mắt của Thượng hoàng vẫn còn sáng lắm.

Quân ta bại trận, gã cũng được đề bạt lên chức cao, sau này vô tình bắt được trong trận chiến ở sông Bạch Đằng, Hoài Văn quân mới được minh oan rửa tội.

Cái hay của tên tặc Đặng Long này là làm việc quá kín kẽ, nếu như không phải vô tình tóm gọn một mẻ chung với Ô Mã Nhi thì vua tôi cứ tưởng rằng gã đã thật sự bốc hơi khỏi trần thế.

Sau khi toàn bộ những kẻ thua cuộc chạy trốn được sang Nguyên, chỉ chưa đầy một tháng Nguyên chủ Hốt Tất Liệt đã sai sứ giả sang Thăng Long lần nữa.

Sứ giả cưỡi ngựa đến tận cửa cung chỉ định đích thân chủ tướng của nước thắng trận là cha tôi phải ra đón tiếp, mời vào điện Tập Hiền chiêu đãi.

Gã lại ung dung đọc chiếu thư của Nguyên chủ yêu cầu quan gia phải sang chầu, và còn thả hết các tướng Nguyên còn đang bị bắt làm tù binh.

Đến hôm nay Trần Khâm vẫn còn ngồi đây thì dùng đầu gối cũng có thể nghĩ được là anh ta lại mượn cớ thoái thác rồi.

Cái chốn Đại Đô đầm rồng hang hổ, mùa nóng thì như đổ lửa, mùa lạnh thì có tuyết rơi, chẳng phải là chỗ tốt đẹp gì.

Còn về lý do để thoái thác thì anh ta bảo:

"Đương nhiên là vì tôi tuổi già không đi xa được!"

Tôi mắt tròn mắt dẹt nhìn anh ta, hơi hơi kinh hãi hỏi:

"Nói thế...có phải là miễn cưỡng quá không ạ?"

Trần Khâm lại quả quyết:

"Không lẽ y còn muốn sai ngự y bắt mạch chẩn bệnh cho tôi à?"

Tôi bứt rứt gãi đầu, đột nhiên cảm thấy lời anh ta nói cũng rất hợp lý, muốn bắt bẻ lại không thể bắt bẻ được, cho dù tôi vẫn cảm thấy có gì đó hơi sai sai.

Trộm nhìn qua, người đàn ông này năm nay tuy đã ba mươi tuổi nhưng môi vẫn hồng răng vẫn trắng, bàn tay tuy hơi thô ráp nhưng ngón tay vẫn hồng hào.

Tóc anh ta đen như mun, mượt như tơ lụa thượng hạng, khoé mắt không có lấy một nếp nhăn.

Thế thì... thế thì đã được coi là già yếu chưa?

Dù sao vừa trải qua cuộc chiến dài ngày, nếu anh ta ở trên điện Thiên An ho mấy cái, than đau đầu mấy bận kể vẫn có chút đáng tin, với điều kiện là tên sứ giả nọ là một kẻ lương thiện dễ tin người.

Nhưng đáng tiếc gã đó lại là kẻ có thể cưỡi ngựa tới cửa điện Thiên An, nên kết quả phải ôm một bụng tức không có chỗ trút.

Nếu anh muốn trút giận, vậy thì về nói với Nguyên chủ anh lại cất binh sang đi!

Chầu thì có thể không đi, nhưng người thì bắt buộc phải trả.

Ô Mã Nhi trúng độc người không ra người, ma không ra ma, đến ngày hôm nay rốt cuộc cũng được giải thoát trên đường về phương Bắc.

Gã bị "ngộ thương" trong trận chiến nên không thể đổ lỗi cho quan gia Đại Việt được, đao kiếm không có mắt ấy mà, trúng phải tên độc không có thuốc giải thì phải quy về số phận.

Nói theo ngôn ngữ dân dã của nước ta thì là: "tới số thì chết thôi".
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 108: Niềm Trăn Trở Của Đĩnh Chi


Chuyến đi này vốn không có gì đặc biệt ngoại trừ việc thằng nhóc Mạc Đĩnh Chi (bây giờ không còn là thằng nhóc nữa mà đã là một cậu thiếu niên mười sáu tuổi) vì nhớ thương người thầy năm xưa của mình mà chủ động xin quan gia cùng đi theo đoàn sứ.

Mạc Đĩnh Chi đi theo Trần Nhật Duật có công, Trần Khâm cũng phê chuẩn cho nguyện vọng, tay xách nách mang rất nhiều thứ mà ngày xưa thầy năm yêu thích, nhưng lúc sang "hàng" giặc không kịp mang theo.

Nhưng Mạc Đĩnh Chi làm sao mà ngờ được trưởng đoàn sứ thần khi ấy lại là cái kẻ từng chỉ vào mặt cậu ta mà mắng là cái phường trộm cắp dơ bẩn hèn mọn Đỗ Thiên Hư, đến lúc này đây tôi phải thầm ngửa mặt than ý trời sao mà lúc nào cũng éo le như thế nhỉ.

Về vấn đề của Đỗ Thiên Hư lại rất thần kỳ.

Ngày đó tuy anh ta yêu giàu khinh nghèo lại còn giở đòn ghen như phường chợ búa, nhưng sau khi ăn hai mươi roi của Trần Khâm xong thì giống như thay đổi thành con người khác vậy.

Về phạm trù này thì tôi đoán rằng có lẽ là do anh ta may mắn có được người anh cả là bậc đại trí Đỗ Khắc Chung, ngày đó ai biết được ngoài hai mươi roi ra thì anh ta có còn phải chịu thêm nỗi đau đớn xác thịt nào hay không chứ?

Riêng tôi thì không tin chỉ hai mươi roi mà lại khiến cho người ta theo chính bỏ tà.

Nếu tôi mà là Đỗ Khắc Chung, ít gì cũng phải phạt Đỗ Thiên Hư nửa năm chép sách thánh hiền, chép kinh Phật đạo đức kinh gì đó, không chép xong thì không cho ăn cơm.

Cùng lúc, lại trang bị một bà vợ dữ tợn ngày đêm đốc thúc việc học hành, trong vòng hai năm nếu không dạy ra được người hiền thì tôi nguyện không dùng cái tên Trần Thị Tĩnh này nữa.

Nói thì nói thế thôi chứ đương nhiên tôi không thể đoán được chuyện lông gà vỏ tỏi nhà người khác, nhất là với kẻ mang lòng dạ khó đoán như Đỗ Khắc Chung.

À hiện giờ cũng không nên gọi anh ta là Đỗ Khắc Chung nữa, vì anh ta nhờ có công trong cuộc chiến mà cũng được ban họ Trần.

Trong trận chiến năm Thiệu Bảo thứ bảy, Trần Khắc Chung từng nhiều lần đi sứ sang Nguyên, những lần đó anh ta luôn đưa Đỗ Thiên Hư đi cùng.

Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, có lẽ Đỗ Thiên Hư dù tuổi trẻ có phần hư hỏng nhưng không phủ nhận được tài năng tiềm tàng gì đó của anh ta.

Có câu: "một gánh sách hay không bằng một người thầy giỏi", "một trăm người thầy giỏi không bằng một người cha tốt", lại có câu "anh cả như cha".

Từ tính chất bắc cầu, Đỗ Thiên Hư thay đổi trở thành người tốt cũng là chuyện hết sức hiển nhiên.

Bởi thế Mạc Đĩnh Chi lo lắng giống như lo bò trắng răng.

Người ta vốn còn nói lời xin lỗi đàng hoàng với cậu ta một lượt, suốt đường đi đều dùng lễ đối đãi, ăn mặc ngủ nghỉ hết thảy đều chu toàn.

Mạc Đĩnh Chi ngược lại mếu máo kinh hãi, đây không phải là thứ cậu ta có thể lường trước được.

Đừng nói là chán nản vì bị cái người mà mình từng ghét bỏ vượt mặt, chỉ riêng mấy thứ lễ nghi rườm rà này cũng đủ làm cho Mạc Đĩnh Chi tổn thọ mất thôi.

Nhưng những sự việc đó dù sao cũng không phải là vấn đề chính, đi vào trọng tâm thì chuyến này thật khiến người ta phải thở dài.

Năm đó khi lần đầu tiên bọn tôi gặp nhau, Trần Ích Tắc là Chiêu Quốc Vương ở tít trên cao, có ai ở trong kinh mà không biết đến ông hoàng năm thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ văn chương nhất đời, là Hoàng tử được đức tiên đế yêu mến nhất.

Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo, lại mở học đường ở bên hữu phủ đệ tập hợp văn sĩ bốn phương.

Mà Đỗ Thiên Hư, anh ta chỉ là một công tử nhà quan ăn chơi trác táng.

Lúc đó anh ta quỳ rạp dưới chân Trần Ích Tắc, nghe Trần Ích Tắc răn dạy, bị Trần Ích Tắc khinh miệt.

Đến nay đi sứ sang, Trần Ích Tắc ngồi ở tỉnh đường, Đỗ Thiên Hư chào một lượt các quan nhà Nguyên nhưng lại không chào Trần Ích Tắc lấy một cái.

Trần Ích Tắc biết thế sự đã đổi, chỉ bình thản hỏi:

"Là Đỗ Thiên Hư đấy ư?

Có phải em trai của Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung năm đó không thế?"

Đỗ Thiên Hư lại nhếch môi, không mặn không nhạt đáp:

"Việc đời đổi thay, anh cả đã thăng đến chức Đại hành khiển, còn tôi nay là sứ giả.

Cũng như quan Bình chương xưa kia là con vua nay lại là người đầu hàng giặc.

Tiếc thay anh tôi nay được ban họ Trần, còn Bình chương thì đã bị gạch tên ra khỏi tông thất."

Trần Ích Tắc chỉ mím môi cười cười, nhưng tôi biết trong lòng anh ta cũng chua chát lắm thay.

Trần Ích Tắc không phải là không thể về, chỉ là ngày nào nhà Nguyên còn ý đồ với Đại Việt thì ngày đó anh ta vẫn phải ở lại.

Đỗ Thiên Hư có thể không biết nội tình nhưng Mạc Đĩnh Chi sao mà không biết được, thế nhưng chẳng lẽ lại đứng ở giữa sảnh đường mà hét lên rằng thầy năm chỉ là làm gian tế chứ không phải thật sự hàng giặc ư?

Cuối cùng cậu ta chỉ biết đứng đó nắm chặt hai tay, trong lòng âm thầm gào thét.

Lúc trở về gian phòng dành cho sứ giả, Mạc Đĩnh Chi cuối cùng cũng không nén được tức giận, bất ngờ đấm một cú vào mặt Đỗ Thiên Hư khiến anh ta chảy cả máu mồm.

Đỗ Thiên Hư chả hiểu đầu cua tai nheo, chỉ biết ôm mặt nhìn đồng liêu chằm chặp, sau đó lại còn mơ mơ hồ hồ bị đồng liêu mắng mỏ:

"Anh thì hay rồi, bây giờ được làm quan to, cả nhà vinh hiển nên mới cố ý nhục mạ người để trả lại cái thù ngày xưa người bắt anh phải quỳ lạy trước một cô gái.

Nhưng anh nên nhớ tốt xấu gì người cũng do đức tiên đế sinh ra, không đến lượt kẻ ngoại tộc như anh mắng mỏ."

Ý nói anh cả anh không phải họ Trần hàng thật giá thật, hàng giả lại đi khinh khi hàng thật à?

Rốt cuộc Mạc Đĩnh Chi cũng không thể nói ra chân tướng, chỉ biết uất ức quệt nước mắt phất tay áo bỏ đi, để lại Đỗ Thiên Hư chẳng hiểu mô tê gì.

Đỗ Thiên Hư hiện tại không còn là Đỗ Thiên Hư khi xưa nữa, nghe lời trách mắng cũng chỉ thở dài tự chất vấn rằng mình nói sai ư, người đó không phải kẻ hàng giặc chứ là gì?

Tuy là không thể tìm được chỗ sai trong câu nói của mình nhưng cũng không thể chấp với thằng nhóc mới lớn, chỉ là ngày mai phải mang một bên mặt trái sưng vù này đi lên điện, kể ra cũng không hay.

Tối đó Mạc Đĩnh Chi xin gặp riêng thầy năm, nhưng đáng tiếc chỉ nhận được một lời từ chối và cánh cửa lạnh lùng đóng chặt.

Cũng may tôi tớ ngày xưa đi theo thầy năm sang vẫn được giữ lại trong phủ, từ bên ngoài nhìn vào vẫn bộ dáng thanh nhã của phủ Quốc ngày xưa, mấy ai biết được đã vật đổi sao dời.

Mạc Đĩnh Chi quỳ trước cửa phòng thầy mình suốt một canh giờ, cuối cùng nghe được mấy lời lạnh nhạt từ trong phòng truyền ra:

"Về đi, từ nay đừng nhắc với ai tôi là thầy anh nữa, cũng đừng nên đến tìm tôi."

Mấy chữ cuối nói ra giống như không nỡ, không thể dứt khoát.

Mạc Đĩnh Chi khóc nấc từng tiếng nghẹn ngào, hai chân giống như chôn xuống đất không nhúc nhích được, mãi một lúc lâu khi được gia nô đỡ lên mới miễn cưỡng đứng lên.

Lúc này, cậu lại bỗng nhìn thấy người gia nô trước đây luôn theo hầu thầy năm không ít lần đối tốt với mình, có miếng ngon miếng thảo đều lén cho mình thì lại khóc thêm một trận nữa.

Cuối cùng Đĩnh Chi quỳ xuống dập đầu ba cái, đọc lên mấy câu như nằm lòng:

"Trọng nghĩa, nên ta rời Đại Việt,

Trời xanh mới biết tấm lòng son.

Chẳng phải Văn Công rời Tấn quốc,

Mà như Vi Tử muốn Ân còn.

Chí nối nghiệp xưa luôn tạc dạ,

Tiếng thơm truyền mãi sử không mòn.

Một mai thống nhất giang sơn ấy,

Dòng dõi cha ông vững Việt non."

Bên trong lại vang lên tiếng quát:

"Về đi!"

Lúc này Mạc Đĩnh Chi mới thút thít giao đồ đạc lại cho người hầu.

Nào là cái nghiên mực ngày xưa thầy năm yêu thích, quả bóng da mà thầy thường đá trong sân buổi chiều tà, cái trâm gỗ lim thầy hay dùng để vấn tóc, chiếc quạt nan mà thầy hay quạt những đêm hè.

Rất nhiều, rất nhiều thứ Mạc Đĩnh Chi đã gói kỹ lại, chỉ giữ lại một tập thơ tập nho nhỏ chỉ có vài ba bài thầy ngẫu hứng viết ra, ý thơ trau chuốt, chữ viết đẹp như chữ người trời.

Mãi đến khi Mạc Đĩnh Chi kể những việc này lại với tôi vẫn không nén được mà ôm mặt khóc nghẹn.

Trần Ích Tắc dứt tình e chỉ vì muốn tốt cho đứa học trò mà mình hết mực thương yêu thôi.

Trở về sau chuyến đi này, Mạc Đĩnh Chi cũng kể lại với tôi Thoát Hoan đã bị trục xuất khỏi Đại Đô đến Dương Châu trấn thủ, mãi mãi không được về chầu.

Tôi lại thấy chuyện này đối với Thoát Hoan là một chuyện tốt, vùng đất Giang Nam trong thi ca luôn hữu tình, nếu không làm sao có người thi sĩ đã viết ra câu "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" chứ nhỉ?

Anh ta về đó nói không chừng còn thư thái hơn cả ở Đại Đô.

Mạc Đĩnh Chi lại nói:

"Chị, thật ra công chúa út mất rồi nhưng vẫn để lại hai đứa con một trai một gái.

Nghe nói chúng đều cùng Thoát Hoan đi Dương Châu rồi."

Tôi choáng váng:

"Chúng có sống tốt không?"

"Cụ thể thì em không rõ, nhưng em nghe ngóng được Thoát Hoan rất thương chúng.

Đi Dương Châu lần này, vốn dĩ Nguyên chủ định để chúng trong thành làm con tin, nhưng Thoát Hoan giao ra tất cả binh quyền chỉ mong được đưa theo hai đứa trẻ.

Hiện tại anh ta gần như mất tất cả quyền lực, chỉ là một hoàng tử trên danh nghĩa thôi."

Tôi thở dài, sao tôi lại không rõ để có được những thứ này, Thoát Hoan phải đổi chác bằng những gì chứ?

Tôi không thể hiểu nỗi, rốt cục An Tư trong lòng anh ta chiếm vị trí bao nhiêu?
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 109: Chuyện Lông Gà Vỏ Tỏi Trong Phủ Văn


Năm tháng sau, phủ đệ Vạn Kiếp sai người báo tin vào kinh nói rằng Thiên Thành trưởng công chúa qua đời, lúc đó tôi đang ngồi trong sân dưới tán cây lê già xem Quốc Chẩn viết chữ.

Trời đương vào độ cuối tháng chín, lá vàng rơi khắp mặt sân, cây lê già cằn cỗi cũng không thoát khỏi số phận đó.

Từng đợt lá tuôn xuống theo cơn gió cuối thu khiến cành cây trơ trụi chỉ còn vài ba quả héo trên cây, không biết lúc nào thì rụng.

Lúc nghe tin tôi còn chưa ý thức được, mờ mịt hỏi lại:

"Thiên Thành công chúa?"

Thằng nhóc Quốc Chẩn cất giọng run run:

"Là.. là..bà ngoại..."

Tôi giật mình đứng bật dậy, va phải cái nghiên làm mực đổ xuống đầy mặt sân.

Sau này tôi mới chợt nhớ lại lần chia tay lưu luyến bịn rịn với bà trên thuyền chiến, sau đó dù không ít lần lo lắng bất an nhưng lần cuối cùng gặp lại vẫn bị hành động cố tỏ ra khoẻ mạnh của bà đánh lừa.

Thế nên ngoại trừ lần gặp mặt cuối trước khi đóng áo quan tôi đã không còn gặp lại mẹ mình một lần nào nữa.

Tám năm dưỡng dục, một năm ở cạnh nhưng không phát hiện ra thân nhân, sau đó là vào cung rồi binh loạn.

Khoảng thời gian tôi ở cạnh bà quả thật có thể đếm trên đầu ngón tay.

Ban đầu tôi tự hỏi vì cớ gì một người đang độ hồng hào mạnh dạn như thế có thể nói đi là đi, đến hôm trở về ngày tang lễ cha tôi mới kể cho tôi nghe về lần thuỷ binh của địch đuổi theo tập kích.

Khi ấy giao chiến mấy lần không phân thắng bại, thế nhưng mẹ lại đỡ cho cha tôi một mũi tên.

Cha nói mũi tên đó nếu bắn lên người ông cùng lắm thì bị thương nửa tháng, dưỡng sức một tháng, nhưng bắn lên người bà lại lấy đi nửa cái mạng.

Lúc đó bà vẫn cố chấp nói rằng:

"Chàng mà bị thương thì ba quân tướng sĩ biết phải làm sao?"

Cha tôi khóc, nói:

"Vậy nếu mình chết thì tôi phải làm sao?"

Mẹ tôi không nghĩ được nhiều như thế, tôi cũng hiểu lòng bà.

Nếu như lúc ấy là tôi đỡ mũi tên cho Trần Khâm, dù mười lần một trăm lần tôi cũng nguyện, vì hễ mà anh ấy có mệnh hệ là đất nước cũng lâm nguy.

Tôi vô cùng ngưỡng mộ mối tình của cha mẹ tôi, cho đến hôm nay mối tình này cũng chỉ còn nằm sâu dưới cõi lòng người trong cuộc.

Có lần tôi ích kỷ trộm nghĩ, nếu như mình đi trước Trần Khâm thì tốt quá, như thế có thể mỉm cười nắm tay chàng mà nói "em đợi chàng dưới suối vàng", chứ không phải là một thân một mình cô đơn trên trần thế.

Vậy mà tôi lại không biết được cuối cùng chính mình lại là kẻ nhìn từng người từng người một rời khỏi thế gian.

Trần Khâm truy phong cho mẹ tôi thành Nguyên Từ Quốc Mẫu, có thể xem là một đặc ân vô cùng lớn.

Nhưng người đã chết rồi ấy mà, vinh quang dù sao cũng chỉ để dành cho người sống tự hào mà thôi.

Cũng như lần trước, sau khi mẹ tôi mất không lâu thì tôi lại mang thai lần nữa, giống như là ông trời muốn an ủi tôi.

Lần này là một cặp sinh đôi, đứa lớn đặt tên là Thượng Trân, đứa nhỏ gọi là Thiên Trân.

Ngày này cuối cùng cũng tới, hai đứa trẻ không còn giống Trần Khâm nữa mà giống tôi y đúc, nhất là cô chị Thượng Trân, mỗi một cái nheo mắt nhướng mày đều không sai biệt vào đâu được.

Chị Anh Nguyên rất vui vẻ, nhưng bỗng nhiên nhớ ra trước mặt chị ta là thằng bé cả con nhà anh ba, tuổi tác vừa hay lớn hơn hai cô Trân một chút.

Nhìn chị ta ỉu xìu, tôi nói:

"Chồng chị hiện giờ đã làm đến chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân, mà Nhữ Triết vẫn còn nhỏ, sau này trăm hoa khoe sắc tha hồ chọn lựa, cớ gì cứ đâm đầu vào mấy đoá hồng gai nhà em làm gì?"

Chị Anh Nguyên thở dài, sau này cũng không thấy chị ta nhắc tới việc này nữa, hình như đã chịu bỏ cuộc.

Ngay cả vợ của ông chú sáu ở bên kia hoàng thành cũng hạ sinh quý tử rồi, không sinh thì thôi, hễ mà sinh thì sinh một lúc mấy thằng con trai.

Bà thím sáu do hai lần có công đánh giặc nên được phong làm Trinh Túc hương chúa, sau lấy anh ta thì đổi thành Trinh Túc phu nhân.

Dòng họ cũng được đề bạt rất nhiều người làm quan, nhất là những người theo chị ta hỗ trợ Trần Nhật Duật năm ấy.

Cái năm mà Trần Nhật Duật bỏ phủ đi ba ngày, tính ra cho đến hôm nay khi chị ta vinh quang gả vào phủ đệ Chiêu Văn tôi mới được tỏ tường chân tướng.

Không giống với những gì mà tôi tưởng tượng năm xưa, chị ta đúng thật là con gái của tri huyện Tế Giang châu Thanh Hóa, cả nhà bị giặc giết hại, sau đó nhờ chỉ điểm lúc quân đội của Trần Nhật Duật ở xứ Thanh mới có thể giúp anh ta chuyển nguy thành an.

Sau này chị ta hầu đèn sách trong phủ của Trần Nhật Duật chịu nhiều điều tiếng thì đã thôi, còn phải chịu vẻ mặt không nóng không lạnh của anh ta.

Lúc vui vẻ thì nói nhiều hơn mấy tiếng, lúc dở dở ương ương thì hết sai cái này tới bắt bẻ cái kia, không làm cách nào cho anh ta hài lòng.

Trần Nhật Duật xuất sắc biết bao nhiêu, từng tuổi này lại chưa có gia đình khiến hầu hết con nhà quý tộc đều đỏ mắt thèm muốn, đương nhiên không chấp nhận nổi một kẻ mang thân phận hèn kém, lễ nghi không có giáo dưỡng càng không từ đâu xen vào.

Trong đám đó nổi bật hết thảy là cô con gái cả của Trịnh Giác Mật vùng Đà Giang khi xưa, cô nàng này sống lâu thành già làng, ở trong phủ Văn ít nhiều cũng có tiếng nói.

Hai người họ một là đóa sen trắng chính hiệu, một là cây xương rồng đầy gai, kẻ dùng võ kẻ dùng mưu đánh nhau sinh tử lửa, ầm ĩ không có điểm dừng.

Cuối cùng chị Ngọc Châu trở thành kẻ chiến bại, chị ta cảm thấy không thể chịu đựng hoàn cảnh như đứng giữa nước sôi lửa bỏng như thế này thêm một ngày nào nữa.

Trần Nhật Duật không đứng ra bảo vệ thì thôi còn ở giữa xem trò hay, thỉnh thoảng góp vui bằng một tràng vỗ tay, không căm tức mới là lạ đó.

Tôi nghĩ rằng lúc đó một phần vì chị ta ngán cái cảnh tứ cố vô thân, một phần vì trong lòng đã nảy sinh thứ tình cảm không nên có mới bằng lòng sống trong cảnh tạm bợ.

Mà có lẽ lúc ấy chị ta cũng chẳng biết thứ cảm giác kỳ lạ đó là gì, chỉ biết xa Trần Nhật Duật là chị ta cực kỳ khó chịu.

Giữa cái khó chịu giữa việc không thể gặp mặt Trần Nhật Duật và bị soi mói ác ý thì chị ta chọn vế thứ hai.

Đương nhiên Trần Nhật Duật vẫn là một chàng trai hết sức ngây thơ, ngây thơ thì không xấu nhưng vừa ngây thơ vừa kiêu ngạo đó mới là vấn đề.

Anh ta rõ ràng không hiểu được lòng mình, giống như sự khôn ngoan trong chuyện gió trăng lại tỉ lệ nghịch với đầu óc thiên tài của anh ta vậy.

Anh ta vẫn luôn không biết vì sao mình đặt biệt muốn tiếp cận với Ngọc Châu, mà càng muốn tiếp cận, anh ta càng làm mấy việc thiên địa bất dung.

Thế rồi ngày nọ chị Ngọc Châu bất ngờ có thư nhà.

Nhưng chẳng phải người nhà chị ta đều chết hết rồi sao?

Việc này vừa hay lại có uẩn khúc.

Chị Ngọc Châu có một người bác họ làm nghề buôn bán ở phủ Tam Giang, vừa hay tin cả nhà em gái mình đều tử nạn chỉ còn lại một mình đứa cháu gái nhỏ trốn thoát thì tình cảm thân nhân bỗng nhiên trỗi dậy, bác ta chợt nhớ tới hôn ước ngày xưa giữa cháu gái và thằng con mình, định bụng tìm kiếm tác hợp nên mối lương duyên.

Chị Ngọc Châu cảm thấy tuổi tác mình cũng lớn rồi, quyết tâm hỏi rõ Trần Nhật Duật một lần hỏi xem anh ta coi mình là cái gì, Trần Nhật Duật lại dửng dưng nói:

"Thư đồng kiêm hộ vệ!"

Chị Ngọc Châu mang một bụng ấm ức trở về, tính ra kể từ khi vào phủ hình như chưa có buổi nào là hầu hạ trọn vẹn, nếu không phải anh ta chê mực mài loãng quá thì sẽ chê chị ta vụng về quá.

Chị Ngọc Châu thì cảm thấy ngoài những lúc mình vô ý ngủ gật bên án thư ra tất thảy đều hết sức bình thường, nhưng Trần Nhật Duật ấy mà, anh ta nào phải người bình thường chứ?

Kết quả thì ai cũng biết là chị ta khăn gói ra đi, Trần Nhật Duật lúc này mới hoảng hốt lên, bỗng nhiên cảm thấy khoảng thời gian qua dường như đã quen với việc có chị ta bên cạnh, đột ngột mất mát như thế hình như trong ngực có gì đó... nhói đau?

Lúc này ngoại trừ kẻ ngu ra thì ai cũng biết bản thân mình gặp phải vấn đề gì, nhưng mưa gió đi tìm, lúc phát hiện ra thì chị Ngọc Châu đã đính hôn.

Chồng chưa cưới của chị ta là một chàng trai nhân hậu thật thà, gia cảnh cũng được xem là khá giả, lại hết sức nghe lời chị ta.

Trần Nhật Duật lẻn vào phòng chị Ngọc Châu nói rõ lòng mình, thái độ vẫn y như cũ giống như ban ơn.

Chị Ngọc Châu vừa khóc vừa mắng một trận, làm anh ta trở về như kẻ mất hồn.

Bẵng đi một thời gian vào đúng cái ngày chị ta thành hôn thì mới hay Trần Nhật Duật thất bại ở Bạch Hạc.

Chỗ đóng quân này nói gần thì không gần, nói xa cũng không xa, vừa vặn cách phủ Đỗ của ông bác mình một dãy núi, hai con sông.

Chị Ngọc Châu vội vàng tháo khăn cưới, đứng dậy kêu gọi gia nô đi hợp lực với triều đình, kỳ lạ là chồng chưa cưới của chị ta là kẻ nhiệt tình hơn ai hết thảy, gom hết lương thực gia súc đi theo đến Bạch Hạc giúp quân binh.

Có điều chị Ngọc Châu không hề biết Trần Nhật Duật thua thì đúng là thua thật, nhưng anh ta là kẻ đứng đằng sau đi tung tin cho chị Ngọc Châu để cho chị ta tự nhảy vào tròng.

Sau cùng thì lộ ra việc Trần Nhật Duật từ lúc đưa quân đến đây, hai ngày một bận đều lẻn đến phủ Đỗ, nhưng chỉ dừng lại ở việc đứng từ xa mà nhìn người thương.

Trần Nhật Duật bây giờ không vô tri như Trần Nhật Duật lúc trước nữa, đương nhiên là làm chị Ngọc Châu cảm động trong lòng, nhìn vết thương trên tay đã được băng bó của anh ta càng thêm thuận mắt.

Lúc này chồng chưa cưới của chị ta lại đứng ra huỷ hôn, tác thành cho đôi uyên ương số khổ.

Chị Ngọc Châu ở lại doanh trại ngày ba bữa cơm nước thuốc thang, Trần Nhật Duật cũng khôi phục lại thương tổn về thể xác và tinh thần một cách thần kỳ, thậm chí đánh với giặc Nguyên mười tám trận lớn nhỏ không phân thắng bại.

Hai người bọn họ ngày thì luyện tập võ nghệ bắn cung, đêm thì đàn hát, trong trại không ai là không biết cả.

Có điều nhìn tư thế oai hùng của chủ tướng và chủ tướng phu nhân tương lai, không ai dám hé răng nửa lời.

Sau đó không may người chồng hụt của chị ta tử trận, cho dù là thắng lợi trở về chị Ngọc Châu cũng không còn lòng dạ nào mà yêu với chả đương, đem xác anh chàng đó về định bụng thủ tiết.

Tôi nhớ lại vẻ mặt mờ mịt như đêm ba mươi của Trần Nhật Duật khi ấy, chắc là đang nghĩ cách nhanh nhất để đưa người thương về nhà.

Cũng may anh ta mua chuộc được gia đình ông bác nọ, ai nấy xúm lại khuyên giải chuyện mới coi như giải quyết xong.

Tất nhiên cả nhà anh chàng kia thăng quan phát tài, không phải là do Trần Nhật Duật nhúng tay mà là do bọn họ thật sự có công phụ tá, ủng hộ của cải nhân lực và cả mạng người.

Mạc Đĩnh Chi không còn than phiền với tôi về tính khí thất thường của thầy sáu nó nữa, ngược lại rầu rĩ hỏi với dung mạo của nó thì có ai chịu lấy nó hay không?

Tôi nhìn chàng trai trẻ năm nay đã ở ngưỡng hai mươi vai rộng eo thon, dung mạo vì lớn lên nên ngũ quan cũng trở nên rõ ràng, không dễ nhìn lắm nhưng lại toát ra vẻ thư sinh nho nhã, không còn là thằng nhóc nhỏ xíu đen đúa ngày xưa.

Đúng là dát chữ lên mặt còn tốt hơn mấy lớp trang điểm tầm thường rất nhiều lần.

Chắc là khi lấy nhau, vợ chồng ông chú kia ngày ngày bày ra dáng vẻ ân ái, tình ý dạt dào khiến cho người khác trong lòng cũng ngứa ngáy.

Tôi mỉm cười nhìn Mạc Đĩnh Chi, ôn tồn nói:

"Một cô gái có thể nhìn thấu được vẻ đẹp bên trong của Đĩnh Chi mới xứng đáng với em."

Giống như cảm thấy mình đang nói dối một đứa trẻ, tôi bỗng nhiên hổ thẹn.

Thôi cứ xem như mình xấu bụng đi vậy, dù sao ngày ngày đi ra đi vào nhìn thấy gương mặt đẹp trai của Trần Khâm vẫn tốt hơn nhiều lắm.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 110: Những Việc Cần Làm


Tháng hai Trần Khâm lại cất quân thân chinh đi đánh Ai Lao, lần này tôi không còn đứng ngồi không yên đòi theo nữa, ngược lại rất bình tĩnh đưa tiễn chàng ra trận.

Vị quan gia nhà tôi đã cứng cáp như một gốc cổ thụ có thể che mưa tránh gió cho tôi và con dân mình.

Nửa tháng sau anh thắng trận trở về, trên người nhiều thêm một vết thương nhưng thần sắc tươi tỉnh đắc chí, vừa tan triều là sà vào người tôi ôm hôn một hồi, sau đó thì hỏi han các con một lượt.

Tôi miễn cưỡng cười gượng nói hết thảy đều ổn.

Ôi chao, tôi làm sao có thể thú thật với anh ta là trong khi anh ta đang sống chết ở chiến trường thì thằng con quý tử của anh ta thường xuyên trốn nhà ra cung chơi với bọn công tử lêu lổng kia chứ.

Dù tôi có khi sai người giam lỏng nó lại trong cung, bằng cách nào đó nó vẫn có thể trốn ra ngoài.

Tôi thường âm thầm oán thán với Phạm Ngũ Lão, thứ võ công anh ta dạy là cái gì, có phải là công phu leo trèo hay không, ngày trước tại sao lại giấu nghề với tôi chứ?

Phạm Ngũ Lão nói võ công là tự do phát huy, phu nhân ngày đó không phải vào cung ra cung như đi chợ hay sao, trong nhà ngoài chiến trận có nơi nào là không có dấu chân của phu nhân đâu?

Thay vì oán trách thần, phu nhân nên giáo dục lại tư tưởng của con trẻ đã.

Trời ạ, con trẻ dù sao cũng mười bốn tuổi rồi, đang trong độ tuổi nổi loạn liệu anh nói nó sẽ nghe sao?

Kể ra tôi còn có thể nghiêm khắc trách mắng, chị Trinh thì sao, giống như một túi nước mắt vậy.

Tôi hoang mang cảm thấy người phụ nữ năm xưa cản voi chắn hổ đã đi đâu mất rồi.

Xui xẻo lúc Trần Khâm trở về cũng là ngày thằng nhóc Thuyên ôm cái đầu u một cục về cung, nó vừa mở cửa phòng đã bắt gặp ngay ánh mắt của ông già nhà mình đang nhìn chằm chằm.

Ông già hỏi cớ gì mà ra nông nỗi đó, nó lại bảo là do chơi đuổi bắt với bọn ngoài phố, chúng đuổi rát quá, lại vừa đuổi vừa ném khiến nó chạy thục mạng.

Lúc chạy cũng không biết là kẻ nào ném đá trúng đầu.

Ông già đang cầm quyển bài tập vài ba chữ hổ lốn của nó trên tay, tiện thể vỗ lên đầu nó, mắng:

"Chúng nó ném anh thì anh chỉ biết cắm đầu cắm cổ bỏ chạy hay sao?

Còn không biết ném lại?"

"Được...được luôn ạ?" – Thằng nhóc lắp bắp.

Trần Khâm quay mặt đằng hắng mấy tiếng, lại lườm nó:

"Thật là không biết phép tắc gì!"

Trần Khâm phản ứng như thế cũng là lẽ hiển nhiên, từ trước đến nay anh ta còn chưa để mình chịu thiệt trước ai bao giờ, đến nay thằng con mình lại chẳng có chút gì giống mình thì hỏi sao không bực cho được.

Cũng may dù sao thằng nhóc Thuyên cũng mang vài phần nể phục cộng với sợ hãi đối với Trần Khâm, nạn trốn nhà đi phá làng phá xóm tạm thời được dập tắt.

Cũng trong năm đó Thượng hoàng băng.

Tôi biết thế sự tre già măng mọc, Trần Khâm lại càng là kẻ giống như hiểu thấu hồng trần.

Trải qua hai cuộc chiến sống còn sinh tử chỉ như một giấc mộng phù vân, việc thượng hoàng băng theo như anh ta nói thì chính là trở về với liệt tổ.

Trần Khâm thực thi một loạt các cải cách mới như việc đưa quan văn đi trấn nhậm các châu để ngăn chặn việc có quá nhiều quan võ do chinh chiến lâu ngày, vừa phong quan cho người tài nhưng cũng hạn chế số quan lại trong nước.

Có lần tôi nghe tin anh ta lại còn chỉ đích danh An Phủ Sứ Diễn Châu về phạt trượng do người này nhũng nhiễu dân lành.

Tôi vừa thở dài chải tóc cho anh ta, vừa cười nói:

"Vừa qua tam tuần, cũng đâu phải là một ông lão sáu mươi, cớ gì càng ngày lại càng nghiêm khắc."

Anh ta cũng cười tươi rói đáp lời:

"Đánh xong một trận cũng cho anh ta trở về, bây giờ tương truyền câu "An Phủ Diễn Châu trong tựa nước", em nói kẻ được hời không phải anh ta sao?"

Tôi ôm cổ anh, giống như ngày xưa cọ gò má mình vào anh, cảm thấy người đàn ông này trước giờ cho dù là tàn nhẫn nghiêm khắc với ai chăng nữa, đối với mình vẫn hết sức dịu dàng chiều chuộng.

Mùa xuân năm đó tôi cùng Trần Khâm ngồi thuyền đi khắp đất trời Đại Việt, chỉ thấy dân chúng ấm no mùa màng phơi phới, chợ búa thuyền bè nhộn nhịp khác hẳn với cảnh đói kém những ngày vừa đuổi được quân xâm lăng.

Những chỗ nhà cửa, cầu đường bị đốt phá ngày trước đều được khang trang xây dựng lại.

Trần Khâm đắc ý cười với tôi, tôi cũng khen mấy lời phụ hoạ, thành ra khung cảnh cực kỳ đầm ấm.

Năm ngoái tôi nghe tin nhà Nguyên lại rục rịch định cất quân sang đánh nước ta, sau đó giặc giã nổi lên không ngừng nghỉ, dân chúng lầm than đói khổ oán than khắp nơi.

Lòng tôi thầm mắng ông già Hốt Tất Liệt này sống dai thế nhỉ, từng tuổi này rồi còn chưa chịu yên thân, suốt ngày đòi đánh đánh giết giết.

Trần Khâm lại nói, chưa chắc có thể đánh được.

Kết quả ngần ấy năm trôi qua Đại Việt vẫn quốc thái dân an, còn ông già hiếu chiến nọ thì bệnh nặng vài bận rồi cũng chịu buông tay giã từ trần thế.

Giặc giã đã vãn, cuối cùng thì cũng tới bước đầu trao lại quyền hành, dù tôi cảm thấy Trần Khâm vẫn còn trẻ và thằng nhóc Thuyên lại còn trẻ nốt, nhưng Trần Khâm tựa hồ không quan tâm lắm vấn đề đó, anh ta rất lạc quan phân trần:

"Đất nước thì thanh bình, bốn phương chúng dân đều an cư lạc nghiệp.

Tất cả những việc gì cần làm tôi đã làm hết cho nó rồi, đây là lúc thích hợp nhất để trữ quân bắt đầu làm quen dần với việc nước."

Lúc Trần Khâm nói câu đó, nhóc Thuyên mười sáu tuổi chỉ mới được lập làm hoàng thái tử.

Đời người dài chẳng tày gang, mới ngày nào gặp mặt thằng nhóc đó nó chỉ mới bốn tuổi còn đứng tới đùi tôi, bây giờ thoắt cái còn muốn cao hơn cả tôi nữa, lúc này tôi mới chấp nhận là mình đã già.

Phụ nữ qua ba mươi tuổi ấy mà, không chịu nhận mình già thì là nói dối, dù ông trời có ưu ái thì cũng không thể bì được lúc đang xuân.

Thằng nhóc Thuyên môi hồng răng trắng, vai rộng như dãy núi Tràng Kênh, tóc đen óng như màu mực Tùng Yên thượng hạng, mày mắt toát ra vẽ lãng tử của chàng trai đang độ xuân thì.

Đương lúc này Trần Khâm lại vươn tay bắt nó ngược trở lại vào chốn cung cấm.

Thằng nhóc nhác trông thấy bản thân sắp sửa bị chôn vùi thanh xuân tươi đẹp, buồn bã ủ rũ một hồi, rất có cảm giác "đêm qua rót đọi dầu đầy, than thân với bóng, bóng rày chẳng thương".

Thằng nhóc Thuyên mười sáu tuổi thì con bé Duyệt cũng vừa lên bảy, Trần Khâm nhân tiện lập nó làm Trần phi, ban cho một bà hầu già trong cung về phủ Tiết độ sứ để dạy phép tắc.

Tuy còn chưa đến tuổi có thể vào cung làm vợ người ta nhưng lệ cũ hai nhà trước giờ vẫn vậy, mà ngó khắp dòng dõi đằng ngoại thì chỉ có con bé Duyệt là thích hợp nhất thôi.

Đương nhiên trữ quân trước tiên phải có con nối dõi, trọng trách này giao cho Chiêu Hiến quận chúa.

Vị này là con gái duy nhất của Trần Bình Trọng khi xưa, đang độ trăng rằm, mày mắt như vẽ.

Tuy thằng nhóc Thuyên từ nhỏ đã luôn nói mình một dạ chung tình với cô nhóc đã thấy mặt từ lúc mới sinh ra, nhưng đàn ông ba vợ bốn nàng hầu, làm sao bắt một chàng trai đương lúc tuổi trẻ sung mãn chờ đợi ngần ấy năm chứ.

Tuy nội tâm tôi âm thầm không đồng ý, nhưng cũng chẳng có lý do để bài xích, dù sao bản thân mình cũng chẳng phải chính cung gì.

Cũng may là Chiêu Hiến được Bảo Nghĩa vương phi nuôi dạy rất tốt.

Chị ta ở góa kể từ lúc Chiêu Hiến tám tuổi, lấy việc dạy con làm niềm vui.

Chiêu Hiến sống trong tình yêu thương của mọi người nên hình thành nên tính cách phóng khoáng, làm việc không câu nệ, kính già yêu trẻ, khiến cho hết thảy người trên kẻ dưới trong cung đều tin phục.

Kể cả thằng bé Quốc Chẩn nhà tôi cũng một tiếng chị dâu, hai tiếng chị dâu, suýt thì quên mất chị dâu nhỏ hơn nó bốn tuổi vẫn còn học hành cực khổ ở phủ Tiết độ sứ rồi.

Cuộc sống thoải mái chốn thâm cung khiến tôi quên mất đã từng có rất nhiều câu chuyện bi thảm xảy ra trong hoàn cảnh này, dù sao tụi nhỏ cũng là những đứa trẻ mà tôi hết dạ thương yêu, đương nhiên không thể để xảy ra sơ xuất.

Chiêu Hiến rất lanh lợi khôn ngoan, mà tính tình con bé Duyệt lại giống chị An Hoa như tạc.

Sống hòa hợp thì tốt, nếu như xảy ra mâu thuẫn không chắc được là con bé Duyệt có chịu ấm ức không.

Tôi buồn thu sầu đông một hồi, ngược lại thằng nhóc Thuyên dưới bàn tay săn sóc che chở của vợ hiền lại ngày ngày sống rất thoải mái.



Quý Tỵ, Trùng Hưng năm thứ chín.

Mùa xuân, tháng ba, ngày mồng chín, Trần Khâm nhường ngôi cho Hoàng thái tử Thuyên.

Trần Thuyên lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Hưng Long năm thứ nhất.

Đại xá, tự xưng là Anh Hoàng, tôn Thượng hoàng làm Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế, tôn Bảo Thánh hoàng hậu làm Khâm Từ Bảo Thánh hoàng thái hậu.



Kể từ khi mẹ tôi mất chị Trinh cũng bệnh mãi không lui, cuối cùng đợi được tới ngày thằng nhóc lên ngôi cao cửu ngũ, trong năm đó chị cũng buông tay giã từ cõi đời.

Trong lúc hấp hối chị mới kể cho tôi nghe về chàng trai đã liều mạng cứu chị năm Thoát Hoan tập kích phủ đệ Vạn Kiếp, kể từ lúc đó, trong lòng chị đã sớm như quả phụ để tang.

Chị nắm tay tôi thủ thỉ, làm vợ của quan gia tốt lắm, dù sao ngoại trừ một lần đêm tân hôn thì chị cũng không chịu cảnh dằn vặt đến độ đó thêm một lần nào nữa.

Đức lang quân của chị vẫn còn ở trên trời đợi chị, cuối cùng thì cũng có thể nhắm mắt xuôi tay không màng gì nữa.

Bệnh tật mấy năm qua, gắng gượng đến ngày hôm nay đã mệt mỏi lắm rồi.

Đến lúc này tôi mới xem như có thể hiểu rõ nguồn cơn.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 111: Mỗi Câu Chuyện Đều Có Kết Cục


Sau khi cơn buồn bã qua đi, đại nạn trên đầu bỗng nhiên ập xuống.

Đang là một phu nhân nhàn tản lánh xa việc đời, tôi đột nhiên trở thành Tuyên thái hậu gánh vác sáu cung.

Đúng là lúc đương thời chưa từng lên ngôi hoàng hậu, sau cùng thì người chiến thắng lại là ta!

Cùng một sắc mặt hoang mang tột độ với tôi là thằng nhóc Quốc Chẩn cũng vừa được phong làm Huệ Vũ Đại Vương.

Tôi nghi ngờ nhìn thằng con mới mười ba tuổi miệng còn hôi sữa của mình, lại nhớ tới khi xưa cha tôi đi đánh bại Thát Đát ba lần mới được phong tước Hưng Đạo Đại vương, thầm mắng Huệ Vũ đại vương là cái khỉ gì chứ?

Quốc Chẩn ngồi trên bàn đá đối diện nhìn tôi, bóng lưng thẳng tắp, ánh mắt đẹp đẽ có thần, lông mày như điêu khắc, muốn có bao nhiêu chính trực thì có bấy nhiêu, giống như là một bức tượng hoàn hảo được tạc ra từ trên người cha nó vậy.

Thằng bé để hai tay xếp lại ngăn nắp trên bàn, hơi hơi cau mày, chất giọng không kìm nén được run run:

"Mẹ...anh cả đúng là...

ưu ái cho con quá!"

Tôi chống cằm thở dài:

"Phải gọi là quan gia!"

Thằng bé im lặng không đáp, không khí nhất thời chỉ còn tiếng nghiêm khắc dạy dỗ nho nhỏ của cô ba Huyền Trân với hai cô Trân nhỏ mới vừa lên ba.

Tuy hai phe chênh nhau về số người nhưng khí thế của Huyền Trân thì hơn hẳn hai cô Trân cộng lại, vừa nhìn đã phân rõ thắng thua.

Huyền Trân mới sáu tuổi nhưng tính tình thì như bà cụ non suốt ngày thích ra vẻ răn dạy em út, mấy đứa nhỏ đứa nào cũng sợ hãi bà chị gái của mình, hết sức ngoan ngoãn lễ phép, nhờ thế tôi cũng an tâm hưởng thụ khoảng thời gian thảnh thơi sau giặc giã.

Ấy vậy mà đương không bỗng dưng từ đâu lại nhảy ra ngôi vị Thái hậu quái gỡ này.

Quốc Chẩn nhìn bộ dạng không có tiền đồ của tôi, lại càng thêm lo lắng hỏi:

"Vậy...vậy bây giờ con phải làm gì tiếp theo ạ?"

Tôi còn chưa kịp nói thì Huyền Trân đã phóng tầm mắt sắc lẹm như dao găm sang, chỉ hận cả anh và mẹ mình đều là sắt không thể rèn thành thép, hằn hộc nói:

"Đây là quan gia ban ơn chứ không phải là trị tội.

Mẹ và anh lo được lo mất làm gì?

Vạn vật đều có chỗ dùng, lúc cần thì người ta tự khắc nói, lúc chưa cần tới thì cứ hưởng thụ đặc ân thôi."

Nghe xong, tôi với Quốc Chẩn mới ngây thơ cảm thấy đúng vậy thật.

Nhóc Thuyên là đứa hiếu thảo với cha mẹ, thương yêu em út, những thứ này không phải là mình xứng đáng được nhận hay sao, việc gì phải lo sợ thấp thỏm?

Đa số thời gian mình lại chỉ ở hành cung Thiên Trường, việc vừa hay lại xa không thể đến tay, huống hồ dưới mình còn có con dâu tài giỏi vén khéo lo trong lo ngoài.

Rốt cuộc đến khi việc rơi xuống đầu thì tôi mới âm thầm mắng con bé một trận vì tội khiến cho mình không kịp chuẩn bị tâm lý, ngày qua ngày chỉ biết sống một cách vô tri.

Việc đầu tiên phải kể đến đó là hôm nọ cha tôi dẫn đoàn ngự đến cung Trùng Quang, Trần Khâm trông thấy thằng con của mình sau bao ngày không gặp mới chợt nhớ ra một việc trọng đại, bèn nói:

"Nhà ta vốn là người hạ lưu, đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi.

Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc."

Câu này ngày xưa anh ta từng nói với tôi một lần, bây giờ nghe lại đương nhiên cảm thấy rất hoài niệm.

Còn đang mê man nhớ chuyện xưa bỗng giật mình phát hiện ra thằng nhóc kia từ lúc nào đã không thấy đâu, chỉ để lại chiếc ghế chầu vẫn còn vương hơi ấm.

Trong phòng thoáng chốc rơi vào lạnh lẽo, thằng nhóc Quốc Chẩn lúc này vẫn còn ngây thơ không biết tai họa đang ập xuống đầu, thản nhiên cúi người hùa theo:

"Vâng, phàm là những việc tổ tiên để lại thì vẫn nên cung kính tuân theo, vậy thì mai sau cơ nghiệp mới lâu bền."

Tôi nháy mắt ra hiệu nó mau im miệng, nó vẫn còn chưa biết trời cao đất dày tiếp tục nói:

"Mẹ không khỏe ạ?

Vậy con sai người đưa mẹ về cung nghỉ ngơi nhé, chỗ này chốc nữa phải làm việc hơi tế nhị, mẹ là nữ quyến ở lại cũng không tiện."

Đúng rồi đứa con chính trực của ta, lát nữa để xem con làm thế nào tự đưa đầu vào miệng cọp.

Anh cả ưu ái con lắm, nhưng đừng quên cả cha con cũng rất yêu mến con.

Tôi vừa mới từ trên sập đứng lên đã nghe Trần Khâm ở bên cạnh lạnh giọng hỏi:

"Quan gia đâu rồi?"

Bên dưới có nội nhân quỳ thưa:

"Quan gia đã về cung Trùng Hoa rồi ạ!"

Không gian ngưng đọng một lát, tôi đứng bên cạnh nghe Trần Khâm hít sâu một hơi, nén giận hỏi:

"Quan gia đã trốn rồi chăng?"

Đúng rồi, với tính tình không khiến người ta bớt lo của nó thì có thể như vậy thật đấy.

Có điều hiện giờ người ta đã là quan gia, cho dù là sợ đau bỏ trốn thì đám quần thần bên dưới cũng vô phương hặc tội, chỉ biết cúi đầu im thin thít.

Không gian yên ắng đến nỗi có thể nghe rõ tiếng mồ hôi nhỏ giọt xuống sàn nhà.

Một lúc lâu, vị Thượng hoàng bên kia cũng nguôi nguôi giận, bất đắc dĩ nói:

"Thợ xăm cũng tới cửa cung rồi, vậy Quốc Chẩn qua xăm đi!"

Lúc này kẻ chính trực Quốc Chẩn mới ngớ người hiểu được mấy cái nháy mắt kỳ lạ của tôi, cho dù trong lòng rên la ngàn lần vẫn không dám tỏ ra ngoài sắc mặt.

Chỉ là dù sao tôi cũng là mẹ nó, nuôi nó ngần ấy năm làm sao không hiểu rõ bụng dạ con mình, dù chắp tay tạ ơn nhưng hai bàn tay Quốc Chẩn vẫn không nén được run lên lẩy bẩy.

Mấy đứa trẻ này chưa từng trải qua những việc đau đớn về thể xác, phản ứng thế âu cũng là việc thường tình.

Mỗi việc thằng nhóc Thuyên trốn tránh việc của tổ tiên về sau cũng trở thành tiền lệ.

Lại như một bữa nọ vào tiết đoan ngọ tôi theo Trần Khâm về triều, nói chuyện với con dâu về việc trong cung suốt cả canh giờ, sau đó mới thấy vẻ hậm hực của anh ta quay trở lại.

Tôi cho Chiêu Hiến lui ra, cởi đi lớp áo bào nóng bức bên ngoài của Trần Khâm, lại lấy quạt nan ngồi trên sập quạt mát cho xua đi mồ hôi mới lựa lời hỏi:

"Sao Thanh Phúc vừa mới sang chỗ quan gia chưa lâu mà đã trở lại rồi?"

Trần Khâm uống một hớp trà nguội, còn chưa nuốt xuống cổ đã kêu lên "đắng quá!".

Tôi ngạc nhiên liền cầm lấy uống thử một ngụm, cảm thấy ngoài để lâu nên nguội ra thì mùi vị vẫn như ngày trước, nào có đắng như lời anh ta nói đâu.

Lúc này mới biết hoá ra không phải do tay nghề mình trở nên vụng về mà là do khẩu vị của Trần Khâm đã thay đổi.

Anh ta ăn hai miếng lê nhuận giọng, lúc này mới hằn hộc nói:

"Quan gia đúng là không làm cho người ta bớt lo."

"Quan gia?

Quan gia đã nói gì phật ý chàng ư?" – Tôi thắc mắc.

Trần Khâm hừ một tiếng, đáp:

"Rượu xương bồ ngon lắm, tôi còn chưa có diễm phúc gặp được mặt mũi nó ra làm sao đâu!"

Hoá ra là bị cho leo cây à?

Việc này kể ra thì rất dài.

Ông vua cha về cung đột xuất ăn tết, ông vua con thì chẳng hay biết gì, uống rượu cùng chúng bạn một trận thoả thích đến mức say quắc cần câu.

Đám nội nhân vào lay gọi, thằng nhóc đó thế mà lại chẳng thể nào dậy nổi.

Về việc này ngày xưa từ lúc thằng nhóc bốn tuổi tôi đã nhận ra năng lực tiềm tàng của nó, cũng may là Trần Khâm không biết việc thằng nhóc khi ấy vẫn hay uống trộm rượu của tôi, nếu không thì anh ta có thể hay không sẽ nói rằng chính tôi là người điểm mắt cho rồng?

Kể ra nhân chứng duy nhất là chị Trinh cũng đã về trời rồi.

Trần Khâm hết sức bực tức trong lòng, bèn lấy sổ sách triều đình ra xem thì ôi thôi, từ trên xuống dưới gi gỉ gì gi những chức tước to nhỏ đủ cả, thậm chí có những tước mà anh ta mới nghe qua lần đầu.

Trần Khâm chậc lưỡi mấy tiếng, lại than:

"Một nước bé bằng bàn tay mà ban chầu nhiều thế này, thì ăn hết của dân à?"

Trần Khâm nói xong, chớp mắt đã bước ra gọi người đến ban chỉ dụ:

"Tất cả các quan từ ngũ phẩm trở lên, sớm mai phải về Thiên Trường điểm mục!"

Tôi thở dài, vừa mới về cung ngồi chưa nóng chỗ đã phải sửa soạn hành lý đi tiếp, cái thân già của tôi không biết chịu đựng nỗi cha con họ giày vò hay không.

Đang than thở, lại nghe giọng Trần Khâm nói bên tai:

"Đã làm vua một nước mà còn không nên thân, chuyến này nếu còn không sửa đổi thì tôi sẽ phế nó!"

Trong lòng tôi phát hoảng, lúc này mới sực nhớ tới câu "ăn cơm chúa, múa suốt ngày", bèn lê cái thân già lén lút sai Huyền Trân đi báo tin, nói rằng quan gia mau mau dâng biểu trần tình với Thượng hoàng đi, Thượng hoàng đã có ý phế truất quan gia rồi đấy thay.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 112: Nhưng Có Quá Quan Trọng Không? (Hết)


Con nhóc Huyền Trân đi suốt nửa canh giờ mới trở về, tức tốc thưa với tôi:

"Quan gia còn chưa tỉnh rượu, nhưng bên ngoài có kẻ tự xưng Đoàn Nhữ Hài là bạn học của quan gia.

Con quýnh quá mới buộc miệng nói ra việc này cho anh ta.

Mẹ, có sao không ạ?"

Tôi lườm nó:

"Kẻ như con cũng biết sợ đấy ư?"

Huyền Trân nhăn mặt gãi đầu, xem ra cũng lo lắng lung lắm.

Nếu như bất cẩn truyền tin cho kẻ có ý xấu thì vô tình lại làm hại anh em trong nhà.

Trong đầu tôi lướt qua hình ảnh thằng nhóc năm sáu tuổi lẽo đẽo chạy sau đuôi thằng nhóc Thuyên năm đó, chợt nhớ ra đứa bé đó hình như cũng tên là Đoàn Nhữ Hài.

Nhẫm tính thằng nhóc ấy chỉ lớn hơn Quốc Chẩn một chút, xem ra cũng tới lúc nên phô bày năng lực, ngày trước thằng bé đó không phải là rất có mắt nhìn hay sao?

Trong ngực tôi nhẹ nhõm không ít, nhỏ giọng nói với Huyền Trân:

"Yên tâm đi, con tìm đúng người rồi!"

Huyền Trân lúc này mới vuốt ngực thở phào một hơi.

Rốt cuộc thật sự là Đoàn Nhữ Hài đã đến Thiên Trường dâng biểu tạ tội cho quan gia, mà thằng nhóc Thuyên thì không dám tự mình đi tạ lỗi.

Trần Khâm có vẻ vẫn còn giận lung lắm, nghe đâu là để mặc cho quỳ ở ngoài sân.

Mãi đến khi tôi ngủ trưa dậy vào lúc xế chiều ngó ra vẫn thấy cậu nhóc quỳ ở đó.

Trời mây đen quần vũ, sấm chớp nổi lên như có con rồng đen lăn lộn trong mây.

Tôi khoác tràng vạt màu tía thêu hoa sen trên cổ tay, chật vật bước ra ngoài.

Thuỵ Hương vội vàng che ô cho tôi, dù chưa mưa nhưng trời đã sẫm màu hết một mảng, gió thổi làm mấy cây kim quất trong sân như múa như reo một vũ điệu lạ lùng.

Tôi bước ngang qua cậu trai, thấy cậu ta đã trổ mã thành thư sinh nho nhã, mày kiếm mắt sắc, mà ánh mắt cũng sáng ngời.

Vừa nhác trông thấy tôi, cậu ta vội thưa "Thái hậu".

Tôi vẫn chưa quen với cách gọi này, chỉ ỡm ờ một tiếng rồi đi vào trong, lúc bước lên bậc thềm bất chợt quay đầu, nói:

"Ngày trước quên mất phải cảm ơn cậu, suýt nữa thì đã trách lầm quan gia rồi!"

Nghĩ ngợi một chút, tôi lại tiếp:

"Tuy quan gia không phải bùn vữa không trát được tường, nhưng tính tình ham chơi càn rỡ là không thể tránh khỏi.

Bây giờ quan gia còn trẻ vẫn còn uốn nắn được, nếu lỡ mai này đến lúc ta và Thượng hoàng trăm tuổi mà vẫn chứng nào tật ấy thì biết làm thế nào?"

Thấy Đoàn Nhữ Hài vẫn còn mờ mịt, tôi thở dài:

"Nếu như người ở bên cạnh mà có thể thỏ thẻ bên tai quan gia những lời hay ý đẹp thì hay quá!"

Tôi nói xong thì bước trở vào cung Trùng Quang.

Sau đó, bỗng sực nhớ ra liền nhỏ giọng nói với Thuỵ Hương đang đứng trước hiên, chốc nữa nếu như có mưa mà Nhữ Hài vẫn còn quỳ ở đó thì mang ô ra che cho nó.

Bên trong lúc này đã đèn đuốc sáng trưng, có vẻ do trời sắp mưa nên hôm nay phá lệ chong đèn sớm.

Trần Khâm vẫn đang ngồi trên sập đọc tờ biểu, đọc qua đọc lại mấy lần.

Trông bộ dáng anh ta vừa ý không thôi nhưng vẫn làm mặt lạnh, tôi rất tự nhiên ngồi xuống sập chống cằm mỉm cười.

Cuối cùng hình như kẻ này không chịu nỗi ánh nhìn chăm chú của tôi nên miệng rồng hiếm hoi phun ra mấy chữ:

"Tờ biểu này viết thật khéo quá!"

Tôi nhìn thấy nét chữ trau chuốt như rồng bay phượng múa liền biết không phải bút tích của thằng nhóc Thuyên, bèn cười hỏi:

"Nếu đã viết khéo như thế, sao Thanh Phúc lại không chịu gặp?"

Trần Khâm nhướng mày:

"Thế thì dễ dàng cho nó quá!

Nếu như kẻ này thật sự tận trung, chút khổ cực ấy có nhằm nhò gì.

Sau này quân thần là một thể, nếu như quan gia mà phạm lỗi, kẻ làm thần tử cũng không thể sống yên."

Tôi bật cười:

"Ai là thần tử, người ta chỉ mới là một thư sinh, lần này là quan gia được hời đó!"

Trần Khâm chỉ cười không nói, nhưng xem chừng đã nguôi.

Bên ngoài đã đổ mưa to, tôi lười nhác ngáp một tiếng nằm dài trên đùi anh, mùi mực thơm thoang thoảng vẫn còn vương bên mũi.

Bây giờ ngoại trừ vấn đề con trẻ, chúng tôi thật sự là sống rất an nhàn.

Giống như một câu chuyện dài, nếu như mỗi chương chỉ toàn ngập tràn niềm vui, thì sau này dù có kết thúc hay không vốn là không có gì quan trọng nữa.

Đợi mưa tan gió ngừng, tôi bật dậy nhìn ra sân thấy Đoàn Nhữ Hài vẫn còn ngồi đó, quần áo ướt sũng, hình như Thuỵ Hương cũng không thể ngăn cản được quyết tâm vì vua chịu phạt của cậu ta.

Vị trí trên sân có chút xê dịch.

Tôi trộm cười, chắc có lẽ là Đoàn Nhữ Hài đã chống trả rất quyết liệt.

Lúc này Trần Khâm mới cho nội nhân đưa cậu nhóc đó trở về.

Sau đó thằng nhóc Thuyên cuối cùng cũng có can đảm đến nhận tội.

Nghe đâu Trần Khâm đã nói như đinh đóng cột rằng anh ta vẫn còn con khác để nối ngôi, ý bảo nếu như nó còn như vậy nữa thì cái ghế này nếu không lung lay cũng sẽ tự ngã.

Thằng nhóc Thuyên mặt mày tái mét, thành khẩn nhận tội, hứa hẹn hết lời Trần Khâm mới tha cho.

Hết chuyện giải tán.

Kẻ làm vua thì vẫn làm vua, kẻ làm quan thì vẫn làm quan, nhưng lại mất đi rất nhiều vị quan vừa mới ban chức tước, nhiều hơn một Ngự sử Nhữ Hài.

Trong Ngự sử đài thì chức đó chễm chệ ở hàng thứ hai.

Trần Khâm xanh mặt, lại mắng:

"Đúng là rất hào phóng!"

Tôi bật cười thành tiếng, đáp:

"Không phải do Thượng hoàng gợi ý hay sao?"

"Ai nói?"

Phản bác mấy tiếng, giống như cảm thấy quả thật là vậy, đức Thượng hoàng bèn cắn răng im bặt.

Tôi lại phì cười.

Có điều lần bổ nhiệm đó xem như rất đúng đắn, dù có nhiều kẻ ganh ghét châm chọc nhưng cuối cùng thằng bé nọ cũng không phụ sự kỳ vọng của Thượng hoàng và Quan gia.

Một buổi sáng nọ trời trở lạnh, tôi vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngon, bèn chồm dậy vén rèm.

Bầu trời trong xanh, bên ngoài trăm hoa đua nở, bướm bay từng đàn, quang cảnh đúng là kỳ diệu hiếm thấy.

Trần Khâm vẫn còn say ngủ bị tôi kéo dậỵ, mơ màng dụi mắt, vẻ mặt giống như trẻ con mè nheo.

Tôi kéo anh ngồi thẳng dậy, háo hức nói:

"Chàng xem, hôm nay đã có không khí của ngày xuân rồi!"

Trần Khâm chớp chớp đôi mắt hơi ửng đỏ, nhào tới hôn lên gò má tôi, dịu dàng nói:

"Kể từ khi có em, với tôi ngày nào cũng là trong xuân cả!"

Trong lòng tôi thoáng yên bình.

Giặc giã đã vãn, dân chúng ấm no, con cái trưởng thành, dường như trước mắt không còn muộn phiền nào nữa.

Trần Anh Tông lên ngôi, mở ra thời kỳ Anh – Minh thịnh thế.

Thuở ấy thóc lúa đầy kho, vua quan chăm lo đê điều, bờ cõi mở rộng, Phật giáo phát triển, ngoại giao cũng đạt được sự ổn định lâu dài.

Đây chính là thời kỳ thịnh trị nhất của họ Trần, tồn tại trong suốt hơn bốn mươi năm.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Bạch Đằng Giang Phú


Cảm ơn đã đọc đến đây, hãy đợi ngoại truyện của mình nhé
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 1: Là Ai Trồng Cây, Là Ai Chăm Bẵm (1)


uộc đời của ta xứng với bốn chữ: "tuổi trẻ hoang đường".

Năm đó ta chín tuổi, nàng vừa sinh ra đời.

Lúc ta mười sáu tuổi, nàng bảy tuổi, phụ hoàng lập ta làm trữ, lập nàng làm Trần phi.

Vì thế nên ta vẫn luôn tâm niệm nàng sinh ra là để dành cho ta, định mệnh của hai chúng ta là một, bởi vì ta và nàng cùng cả ngày sinh tháng đẻ không phải sao?

Nhưng nuối tiếc của ta nằm ở chỗ, tuy ta là người gieo xuống một mầm cây, nhưng rốt cuộc lại không phải người ngày đêm vun xới chăm bẵm.

Cho đến khi cái cây đơm hoa kết trái ta mới bàng hoàng nhận ra, hình như nó đã không còn là của mình nữa rồi.

Bác Tảng của ta, cũng là cha nàng, ông ấy là một người rất nghiêm khắc.

Dạo đó phụ hoàng phong nàng làm Trần phi, suýt chút nữa là bác Tảng cưỡi ngựa xông vào tận cung Quan Triều.

Hôm ấy ta ngồi bên án thư học phụ hoàng xem tấu thì nghe nhốn nháo ầm ĩ bên ngoài, hóa ra là bác Tảng đã bị đám lính canh giữ lại.

Ta cảm thấy ngày thường tuy bác Tảng có hơi ít nói nhưng chung quy vẫn là kiểu người điềm đạm có phép tắc.

Thậm chí đôi lần phụ hoàng còn giận dữ với ta chứ bác Tảng thì ta chưa từng thấy người nổi giận bao giờ.

Có chăng chỉ là châm chọc buông mấy câu không hề nể mặt người khác.

Về việc này nhiều lần ta được chứng kiến trên điện Thiên An, bác Tảng và Hành Khiển Khắc Chung chẳng biết vì lý do gì vẫn luôn có hiềm khích.

Rốt cuộc mỗi khi thấy Hành khiển thì bác Tảng luôn liếc mắt phun ra một câu:

"Thằng này là điềm chẳng lành đối với nhà nước.

Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà Trần rồi mất về nó chăng?"

(Chú thích: Khắc có nhiều nghĩa, nhưng một trong các nghĩa là "tất", "phải".

Tương tự vậy, một trong các nghĩa của Chung là "kết thúc", "hết".

Nên dịch nguyên tên có thể là "họ Trần phải kết thúc". )

Hành khiển hít sâu một hơi, tức giận nói:

"Anh mắng tôi thì mắng, cớ gì lại mắng cha mẹ tôi?"

"Hừ, không hề!"

Quả thật trong câu không hề có lời nào là mắng cha mẹ Hành khiển cả, nhưng cái tên của Hành khiển là do cha mẹ đặt cho.

Ta lại cảm thấy về vấn đề này không thể trách riêng cha mẹ của Hành khiển, cả phụ hoàng mình cũng có một phần lỗi trong đó vì chính phụ hoàng mới là kẻ ban cho người ta họ Trần.

Trong lòng ta muốn cười nhưng vì nghĩ mình là một vị vua đứng đắn, trước tị hiềm của quần thần vốn không nên tỏ ý bênh vực ai.

Cố nhịn đến khi hết chầu đem về kể với Thái hậu, ai ngờ người lại còn cười dữ hơn ta, rốt cuộc hai mẹ con ôm bụng cười ngặt nghẽo đến khi bị phụ hoàng mắng mới chịu dừng.

Ta cảm thấy có lẽ thời điểm đó phụ hoàng đang tu thiền nên người mới có thể bình tâm như thế.

Có điều sau đấy Hành khiển đối với hành vi mắng thẳng mặt của bác Tảng có hơi sợ hãi, vẫn thường né tránh.

Bác Tảng ấy mà, dù tính tình ngày thường điềm tĩnh là vậy nhưng động chuyện thì khảng khái nào biết sợ ai.

Thế nên vào cái hôm Duyệt được phong làm Trần phi, bác Tảng đứng trước cung Quan Triều nghiến răng nói với phụ hoàng ta rằng:

"Một vở kịch mà Quan gia lại diễn đến hai lần không thấy nhàm chán hay sao?

Ngài không chán chứ tôi thì chán ngấy rồi!

Phận tôi làm thần không thể cãi lệnh vua, chứ cãi được thì tôi cũng cãi!"

Ta đồ rằng bởi vì ngài thương cái Duyệt đến mức mất trí nên mới tỏ ra nóng giận như vậy, chứ bình thường lẽ nào người minh mẫn như ngài lại không biết bất kính với vua là mang tội gì hay sao?

Ta không biết vở kịch diễn hai lần mà ngài nói là có ý gì, nhưng dạo đó phụ hoàng lại bình tĩnh một cách kỳ lạ.

Phụ hoàng chỉ bảo nội nhân nói bác Tảng hãy trở về đi, ý chỉ đã ban xuống, lẽ nào anh lại muốn quên đi ước định của hai nhà?

Nhưng phụ hoàng tuyệt nhiên không nhắc nửa lời tới việc trị tội.

Có lẽ giữa người lớn đã xảy ra những chuyện gì đó mà ta không biết, và đương nhiên ta cũng không cần phải biết.

Nhưng phận làm con và sắp sửa làm chồng ta cảm thấy mình nên có trách nhiệm với nàng, thế nên ngay hôm đó ta lấy hết can đảm lén trốn phụ hoàng đến thái ấp của bác Tảng.

Ta không sợ trốn đi không được, ta đã quá chai mặt với đám lính canh cổng thành, còn về phía phụ hoàng thì lại càng khỏi phải nói.

Cái mà ta sợ lại là vẻ mặt dọa người của cha vợ tương lai.

Ta còn nhớ lúc mình đứng trước bác Tảng, hứa sẽ tôn trọng nàng, sẽ yêu thương nàng hết lòng hết dạ, bảo vệ nàng khi nàng một mình trong chốn cấm cung thì bác ấy chỉ từ trên nhìn xuống ta mà hỏi:

"Lấy một mình nó, anh có làm được không?"

Ta chưng hửng một hồi, chuyện này quả thật là ta không làm được.

Đơn cử như việc Duyệt còn chưa chính thức vào cung thì ta đã nghe phụ hoàng sắp lấy con gái của Bảo Nghĩa Vương cho mình làm vợ lẽ.

Tuy ta chưa nhìn thấy mặt mũi nàng ấy, nhưng nghe đồn đại về bản tính tri thư đạt lễ, phóng khoáng thông minh lại vô cùng xinh đẹp của nàng, ta bèn cảm thấy nàng và Duyệt có thể sống cùng trong hòa thuận.

Tuy không chắc nhưng chẳng phải dì và mẹ vẫn hết mực thương yêu nhau đó sao?

Đàn ông ba vợ bốn nàng hầu, huống gì tương lai ta còn là vua một nước, hậu cung trăm hồng nghìn tía nhưng ta chắc chắn Duyệt sẽ là đóa hoa tuy nở muộn nhưng lại rực rỡ kiều diễm nhất.

Chí ít trong khả năng của ta, tất cả những gì ta có thể làm được ta đều sẽ làm cho nàng.

Bác gái dịu dàng đưa ta vào trong, ta ngồi chung mâm với gia đình họ ăn bữa cơm tối, ngượng ngùng nhìn bác gái liên tục gắp đồ ăn đầy bát ta.

Bác ấy lại hỏi han công việc học hành của ta, hỏi thăm sức khỏe của Thái hậu cùng các em ở nhà, suốt buổi trên

gương mặt vẫn giữ nụ cười chân thành đằm thắm.

Ta cảm thấy cái Duyệt lớn lên ắt hẳn sẽ trở thành một người y đúc bác gái, càng nghĩ càng thấy vui thích trong lòng.

Có điều bữa cơm đó tuy toàn món ta thích nhưng lại ăn không ngon, bởi suốt buổi thái độ của bác Tảng cứ không mặn không nhạt, thỉnh thoảng quét ánh mắt qua là ta cảm thấy gai ốc mình như dựng đứng.

Cũng may giữa cái băng giá của mùa đông đó ít ra vẫn còn chút hơi ấm của ánh mặt trời mà bác gái mang lại.

Ngoài ta ra thì trong nhà có vẻ rất quen thuộc với kiểu tình huống này, kể cả thằng oắt con Quang Triều mới năm tuổi, thái độ cũng rất điềm nhiên.

Đặc biệt còn có cái Phùng hoạt bát lanh lợi, suốt buổi cứ như con chim sâu hót chí chóe, bị mắng không ít vẫn mặt dày cười cười nên nhìn tổng thể vẫn thấy hơi kỳ lạ.

Ăn xong bữa cơm tối, ta thở phào một hơi.

Cái Duyệt chỉ mới bảy tuổi làm sao hiểu được chuyện gió trăng, huống hồ ta cũng chỉ đương mười sáu mới chập chững vào đời.

Hành trang trong chuyện tình cảm mà ta mang theo chỉ là mấy vở tuồng phong thanh nghe được trong phủ Văn của ông hoàng sáu.

Trong đó việc đầu tiên của nam nữ cảm mến nhau là trao vật đính ước.

Ta mò mẫm khắp người cũng chỉ có mấy món tiền bạc linh tinh, cuối cùng may trời sao lại rơi ra một gói kẹo mạch nha từ trong túi.

Cái thứ này là dạo trước ông sáu Văn đi chơi bên Chiêm Thành mang về làm quà cho mấy đưa Trân ở nhà bị ta trộm mất, con nhóc Huyền Trân vẫn còn hậm hực lung lắm, giờ nếu nó biết ta mang đi tặng người khác chẳng rõ có tức đến mức muốn cào rách mặt ta hay không?

Dù sao cũng là chị dâu tương lai, ta nghĩ nó cũng không so đo đâu nhỉ?

Cũng may Phùng và Duyệt rất thích món này, trong một chốc ta bỗng dưng hưng phấn, còn mạnh miệng nói mỗi tuần nghỉ học một ngày ta sẽ mang đến cho.

Nói xong lại giật mình, ông sáu văn mỗi tháng đi chơi vài ba ngày, hình như thứ kẹo này cũng không thể để lâu được.

Bác gái phì cười nói rằng không cần phải thế, có lòng là được.

Có điều trong lòng ta tâm niệm, nếu như mỗi tháng ông sáu Văn đi chơi một lần, thì ta cũng sẽ đến thăm nàng một lần.

Xem như là trau dồi tình cảm trước hôn nhân vậy.

Mặc dù cái Duyệt vẫn còn nhỏ, nhưng bởi nàng tương lai sẽ là vợ ta nên bên nhà nàng cũng không cấm cản chúng ta gặp mặt.

Những lúc gặp nhau đa số ta sẽ dạy nàng đọc sách viết chữ, dù ta biết mình văn dốt võ nát chẳng ra gì, nếu so ta với cha nàng thì giống như mây trên trời với cỏ cây ven đường vậy.

Có điều nàng vẫn rất mực sùng bái ta, có lẽ vì bình thường bác Tảng rất bận, mà cũng có lẽ vì bởi ta và nàng gặp nhau chẳng biết nói gì, chỉ có thể dùng việc quang minh chính đại như thế để thoải mái ở cạnh nhau.

Duyệt nói ta rất có kiến giải, tỷ như việc bọn vua quan người Nguyên luôn dùng việc lớn việc nhỏ để chèn ép nước ta, nhất là bọn ở biên ải luôn năm lần bảy lượt đánh phá cướp người cướp đất.

Quần thần luôn cảm thấy chúng là nước lớn mạnh mà e dè, trong tiềm thức luôn cho rằng chúng mới là những kẻ dấy nên đao binh trước.

Về việc này ta lại nghĩ nếu như tiếp tục để yên thì bọn quan lại bên biên giới nhà Nguyên sẽ càng phóng túng, được đằng chân lân đằng đầu, tiếp tục lấn đất cướp dân.

Còn nếu dùng sứ giả đi biện bạch thì ngày tháng dây dưa và vấn đề không giải quyết được thấu đáo.

Trong lòng ta đồ một ngày sẽ đích thân dẫn quân sang để cho chúng sự trừng phạt thích đáng.

Năm tiếp theo phụ hoàng nhường ngôi cho ta, ta phong nàng làm Văn Đức phu nhân, giống như một đóa hoa tuyệt đẹp mà ta gửi tại thái ấp của cha nàng chờ ngày hái xuống.

Sau đó cũng đến ngày Chiêu Hiến theo ý phụ hoàng vào cung.

Nàng nết na xinh đẹp, tuy không thuộc hoàng tộc nhưng vừa vào cung đã được phong danh vị Hoàng phi, có lẽ một phần do ngày trước cha nàng đã hi sinh trong cuộc chiến với bọn Thát Đát.

Nhưng hơn hết, ta biết nàng là người xuất sắc về cả phẩm cách và ngoại hình.

Cảm giác của ta với Chiêu Hiến hoàn toàn khác cảm giác với Duyệt.

Nếu như Duyệt đối với ta luôn sùng bái phục tùng, thì Chiêu Hiến răn ta lẽ phải.

Nếu như ta dạy Duyệt chữ nghĩa thi từ, Chiêu Hiến sẽ cùng nói điển tích với ta.

Nếu như ta chỉ có thể cùng Duyệt trau dồi tình cảm qua việc học hành, thì Chiêu Hiến lại có thể cùng ta làm những chuyện vợ chồng nên làm, chuyện mà theo như những đứa bạn nơi phố phường của ta gọi là thiên kinh địa nghĩa.

Rốt cuộc ta quên mất nàng.

Trong cái mới mẻ khi trở thành một người đàn ông đúng nghĩa với lưới tình đầy mật ngọt với Chiêu Hiến, trong những cuộc vui chè chén với chúng bạn, trong cái căng thẳng đến sức cùng lực kiệt những ngày đầu làm vua ta mới thừa nhận là ta đã quên mất nàng.

Lúc này ta mới bất lực nhận ra thứ như tuổi tác trong chuyện vợ chồng – thứ mà ta cho rằng chẳng đáng một xu hóa ra cũng có ảnh hưởng lớn như vậy.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 2: Là Ai Trồng Cây, Là Ai Chăm Bẵm (2)


Những ngày bận tối mắt tối mũi với đống tấu chương, tháng đầu tiên ta quên mất phải về thăm nàng.

Nàng gửi cho ta mấy thứ đặc sản nơi thái ấp, gối mềm có thảo dược giúp ngủ ngon, tuy còn vụng về nhưng lại chứa đầy tinh tế.

Lúc đó Chiêu Hiến xoa bóp vai cho ta, ở bên cạnh giúp ta vỗ về giấc ngủ, mấy thứ đặc sản mà nàng gửi rốt cuộc có đến miệng ta hay không thì ta cũng không hay.

Thậm chí có lần suốt ba bốn tháng không ghé thăm, ta lại còn cảm thấy có một thứ áp lực nào đó đè nặng lên vai, dù tất cả mọi thứ đều là do mình tự biên tự diễn chứ nàng chẳng hề đề nghị hay đòi hỏi một thứ gì.

Sau đó Quốc Chẩn nhắc ta, ta lại còn cáu gắt với chú ấy.

Lúc này ta bỗng nhiên nảy ra một ý.

Dù sao Quốc Chẩn cũng nhàn rỗi hơn ta, mà nhà nàng cũng còn con bé Phùng, liệu có nên một tên trúng hai đích hay không nhỉ?

Quốc Chẩn trước giờ chưa từng trái ý ta, ngoại trừ lần còn thơ bé chú ấy mách ta với phụ hoàng khiến ta phải quỳ gối hai ngày một đêm thì sau đó chẳng có thêm một lần nào nữa.

Quốc Chẩn vẫn luôn hết mực giúp đỡ ta, chưa từng thấy tranh giành với ta bất cứ thứ gì.

Có bọn bạn xấu đàn hặc với ta về Quốc Chẩn, nhưng cho dù ta thân thiết với chúng tới cỡ nào, ăn chơi nhiệt tình ra làm sao thì riêng những chuyện về Quốc Chẩn ta chưa từng bỏ vào tai.

Không chỉ ta tin tưởng nhân phẩm của Quốc Chẩn, hơn hết ta tin cách dạy con của Thái hậu.

Không phụ lòng ta, Quốc Chẩn trở thành kẻ truyền tin bất đắc dĩ.

Trong một hai năm đầu, chú ta vẫn còn cằn nhằn cau có với ta.

Quốc Chẩn vẫn luôn khuyên ta mọi việc quý ở tấm lòng, dù là bận rộn đến mức nửa năm hay mỗi năm một lần cũng không nên nhờ người làm hộ.

Bây giờ quan gia bận rộn đến mức nào, tại sao thỉnh thoảng có thể uống rượu vui chơi nhưng lại không nhín ra được một vài canh giờ để đến thăm nom nàng ấy?

Ta lại không cho là phải.

Cái chữ tín hảo trong người ta lại cảm thấy thà không hứa thì thôi, chứ mà đã nhỡ hứa mỗi tháng thì phải là mỗi tháng, cho dù là nhờ người khác thay thế đi chăng nữa.

Dù sao cũng chỉ là đưa đồ truyền tin, nay ta công vụ bộn bề, há lại được rảnh rỗi như khi còn làm trữ?

Quốc Chẩn lần nào về cũng tay xách nách mang.

Nhìn mấy món đồ thêu của Duyệt càng ngày càng thêm tinh xảo thì ta cũng càng lúc càng thấy vui trong lòng, thầm nghĩ cái cây mình trồng cũng đương lúc ra hoa, cách ngày có quả ngọt cũng không còn xa nữa.

Năm đó ta nhờ Quốc Chẩn đi thay mình, chú ấy mới mười lăm.

Thắm thoắt lại thêm bốn mùa lá rụng, sự nhiệt huyết tuổi trẻ của ta sớm đã bị thời cuộc mài mòn.

Trong bốn bức tường cao của cung Quan Triều và mùi trầm ngột ngạt, ta cũng đã nhận ra ngày xưa mình từng bồng bột đến nhường nào.

Quốc Chẩn mười chín, tuổi trẻ của chú ấy bất chợt làm ta ghen tỵ.

Mọi chuyện trên đời vẫn tiếp diễn theo cái guồng quay vô hạn của đó, cũng như mọi người đàn ông khác ta cũng bắt đầu làm cha.

Bởi những lần trước con ta đều chết yểu khi chưa kịp chào đời nên lần này niềm vui sướng của ta khi hoàng tử Mạnh bình an hạ sinh phải nói là gấp bốn.

Ta cảm tưởng mình đã bật khóc trong tẩm cung của Chiêu Hiến, suốt mấy ngày gần như thức trắng đêm.

Thế mà có ai thấu nỗi lòng ta, công việc từ khắp cõi Đại Việt vẫn ào ào tuôn về Thăng Long như nước sông Nhị Hà chảy hoài không dứt.

Rốt cuộc có đêm sức cùng lực kiệt, ta nằm gục trong cung Quan Triều, lúc ấy nội hầu đứng bên ngoài báo với ta có Huệ Vũ Đại vương muốn gặp.

Còn chưa kịp từ chối thì Quốc Chẩn đã đứng kiễng chân từ cửa sổ ngó vào trong, liếng thoắng:

"Quan gia, thần vừa mới phục mệnh quay về, có ít đồ phu nhân gửi tới."

Cũng như bao lần Quốc Chẩn trở về với đống đồ trong tay, nhưng lần này ta mệt đến độ không nhấc nổi mí mắt, không cần xem đó là gì trực tiếp ban hết cho Quốc Chẩn.

Lúc thì cái khăn choàng, lúc thì cái túi gấm, cũng có vài bận tặng vài ba thứ đồ nho nhỏ cho hoàng tử Mạnh mới sinh.

Quốc Chẩn chần chừ một lát rồi cũng quay gót bỏ đi, ta đuổi được đồ phiền phức là chú ấy đi rồi thì vội vàng chợp mắt ngay tắp lự.

Nhưng ta lại không ngờ được ngày ấy nàng tặng ta cái gối cưới thêu đôi chim nhân ngày nàng cập kê, ngày phu nhân của mình cập kê ấy vậy mà ta lại không nhớ tới, đáng ra kẻ như ta phải đến tận nơi để bày tỏ lòng thành.

Thứ đồ tư mật như cái gối thêu, đáng ra ta cũng không nên ban cho kẻ khác.

Ta nào biết ngày đó là ngày trong lòng nàng đã không còn có ta.

Mãi đến sau này ta vẫn không có dịp để hỏi nàng, tháng ngày chờ đợi mòn mỏi đó nàng có trách ta không, nàng có thấy thất vọng không?

Ta đổ lỗi cho chính sự, cho công vụ bộn bề, thư thả vài hôm bèn rủ Quốc Chẩn đến thái ấp.

Bẵng đi mấy năm, cô bé ngày nào đã trở thành thiếu nữ xinh đẹp tuyệt thế, ta vui sướng trong sự ngỡ ngàng.

Lúc này giữa ta và nàng dường như đã có khoảng cách, kể cả thằng nhóc Quang Triều cũng lạnh mặt nhìn ta.

Có lẽ là lâu quá không gặp, lại có lẽ là do thằng nhóc này đang trên đà trưởng thành.

Cũng chẳng có gì to tát, người lớn tuổi rồi cũng không dễ thân như ngày bé nữa, dù sao cũng là vợ và em vợ, lấy về rồi là lại như xưa ngay ấy mà.

Ngược lại Quốc Chẩn dường như rất quen thuộc với chị em nhà họ, có thể vừa ngồi trong mâm cơm vừa luôn miệng buông lời trêu ghẹo con nhóc Phùng làm nó sửng cồ, thằng nhóc Quang Triều cũng tùy thời thế chen vào mấy tiếng làm ta cảm giác trông chúng như một gia đình vậy.

Chẳng lẽ phận làm anh lớn như ta đã quá tuổi để có thể hòa nhập được với lớp trẻ rồi chăng?

Cái Duyệt rất dịu dàng, suốt buổi chỉ cười không nói.

Ta càng nhìn càng thấy nàng xinh đẹp thuận mắt, ắt hẳn lấy nàng về sẽ nghi gia nghi thất bèn ngay lập tức ra chiếu đưa nàng vào cung.

Ngày xuống chiếu chỉ Quốc Chẩn cáo ốm không lên chầu, trong bụng ta đã ngờ ngợ điều gì từ lâu nhưng vẫn không nhận ra phải quấy.

Cho đến một hôm.

Hôm đó là ngày thứ ba Quốc Chẩn bỏ chầu, ta đồ là bọn người hầu trong phủ không chăm sóc chu toàn cho chú ấy.

Trước giờ ta chưa từng thấy Quốc Chẩn tắc trách việc gì chứ đừng nói là việc quan trọng như lên điện Thiên An nếu không muốn nhừ xương với Thái hậu.

À không phải, vốn bản tính của chú ấy luôn rất trách nhiệm.

Bởi thế bao năm qua vì một lời hứa với ta mà chú ấy luôn tận tụy.

Ta nghĩ tuổi Quốc Chẩn cũng đã lớn, Thái hậu cũng chẳng thể để mắt đến mãi, việc cần kíp lúc này là tìm cho chú ấy một người nâng khăn sửa túi quản việc trong phủ Huệ.

Nếu như không có nữ chủ, khéo trong phủ lại loạn đến gà bay chó sủa hết cả lên, dạo đó kể cả là ông sáu Văn còn suýt mất vợ vì đám người lộng hành trong phủ ấy mà.

Phủ Huệ vắng vẻ đìu hiu, lúc ta đến ngoài vài người quét sân thấy ta rồi hốt hoảng quỳ xuống ra thì cũng chẳng thấy ai nữa, quả là chú ta chẳng hề quan tâm đến cuộc sống của chính mình.

Nếu so với đám yến yến oanh oanh chẳng lúc nào dứt ở Cấm cung thì phủ Huệ của Quốc Chẩn y như cái chùa vậy.

Ta đi thẳng đến phòng Quốc Chẩn mà không chút trở ngại, vừa đi vừa hoạch định trong đầu về việc cải tạo phủ Huệ, lại thầm mắng đám nội nhân có mắt không tròng, dám phạm vào quyền uy của người mà quan gia tin yêu nhất.

Thật ra so với ba cô Trân, Quốc Chẩn là người ta thương hơn cả.

Một phần là bởi dạo trước có lần Thái hậu bị bắt đi, Quốc Chẩn phải ở với mẹ con ta suốt hai năm trời, sau đó Thái hậu lại gửi chú ấy cho mẹ con ta để sát cánh cùng phụ hoàng đánh giặc.

Một phần khác là bởi Quốc Chẩn quá mức chính trực thật thà.

Huyền Trân thì ranh ma từ nhỏ không nói, bây giờ kể cả Thượng Trân và Thiên Trân cũng mang phần nào tính cách của Thái hậu, cần dũng có dũng cần mưu có mưu.

Dù sao tên của chúng gộp lại là chỉ Bắc Đế – hóa thân thứ tám mươi hai của Thái Thượng Lão Quân cơ mà.

Chỉ có Quốc Chẩn là khác, không giống phụ hoàng, không giống Thái hậu cũng chẳng giống ta, ngược lại giống với người mẹ kính yêu của ta đã qua đời.

Ta bước lên bậc tam cấp, ánh tịch dương đã chiếu vào khung cửa sổ đóng kín làm lóa mắt ta, cây bàng ở trước sân cũng tuôn từng đợt lá đỏ in bóng lẻ loi lên vách cửa.

Không khí tĩnh lặng đến kỳ lạ, đến mức ta có thể nghe trong không trung tiếng nấc nghẹn nho nhỏ không biết từ nơi đâu truyền ra.

Đáy lòng ta bất chợt căng thẳng, chỉ bước lên hành lang mà mồ hôi đã rịn ướt lòng bàn tay.

Ta dùng hết sự cẩn thận của cả đời mình đi từng bước nhẹ nhàng đến bên cửa sổ, hé mắt nhìn vào, thằng nhóc này ấy vậy mà bất cẩn đến mức không hề đóng cửa sổ.

Trong ánh sáng le lói của buổi chiều tà rọi vào, ta mắt thấy tai nghe Quốc Chẩn khóc.

Dù ngày bé Quốc Chẩn rất hay khóc, bị Thái hậu mắng cũng khóc, bị ta chọc tức cũng khóc, ngay cả cây lê trong cung Quân Hoa chết cũng khóc, nhưng lần này ta cảm thấy rất khác.

Nước mắt của cậu thiếu niên mười chín tuổi rất khác.

Chú ấy ôm cái gối thêu đôi chim dạo đó ta ban nhầm mà khóc rưng rức, giống như mưa thu mờ mịt ở Thăng Long, ướt cả gối, ướt cả chăn, và ướt đẫm cõi lòng ta nữa.

Trong miệng ta đắng chát, hai bàn tay nắm chặt cố kìm nén không cho bản thân đẩy cửa xông vào.

Ta không rõ cớ sự ra làm sao, nhưng ta thương chú ấy quá.

Hôm ấy ta còn ngây thơ nghĩ chú ấy có lẽ là đang tương tư một ai rồi bị người ta từ chối, còn thầm nhẩm tính xem giới quý tộc có cô gái nào gần đây hay tiếp xúc với Quốc Chẩn hay không?

Ta giật mình nhận ra ngoài cái Duyệt vợ ta thì chỉ có con bé Phùng tính tình ương ngạnh.

Thế nên ngay tối ta bèn tìm đến cung Thái hậu để hỏi kế sách, đến nơi thì nghe đâu người đã đến phủ Huệ thăm thằng nhóc Quốc Chẩn rồi.

Như kẻ đuối nước tình cờ chộp được cái phao cứu mạng, ta vội vàng xách đèn đến phủ Huệ một chuyến nữa, lén lút đến bên cửa sổ ngó vào.

Ai ngờ lần này cửa sổ đã bị đóng chặt, ta than thầm quả nhiên là Thái hậu, liền quẩn trí leo lên nóc nhà giở ngói ra xem.

Với thân phận ta vốn có thể hỏi rõ đầu đuôi ngọn nguồn nhưng thực tế thì ta vẫn e sợ Thái hậu, kể từ khi phụ hoàng tu học thì người càng ngày càng nghiêm khắc hơn.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 3: Là Ai Trồng Cây, Là Ai Chăm Bẵm (3)


Lúc này bên dưới Quốc Chẩn đã gục đầu khóc trên đùi Thái hậu, chú ấy nói rất nhiều, ta nghe câu được câu chăng.

Lúc kề tai xuống khe hở thì nghe chú ấy vừa nấc vừa nói:

"Xưa nay con luôn nghe lời mẹ, chưa từng tranh giành với anh ấy bất cứ điều gì, cho dù là những thứ mà con yêu thích nhất.

Con luôn tâm niệm đó là phải đạo, cũng chưa từng thấy bứt rứt hay khó chịu chỗ nào, nhưng hôm nay là lần đầu tiên con muốn tranh mẹ ạ!

Trong lòng con thấy khổ."

Quả tim ta như hẫng một nhịp, cậu thiếu niên mười chín tuổi có thể chưa hiểu nhân tình, còn ta đã hăm bốn, có vợ có con chẳng lẽ còn không hiểu gì hay sao?

Nghe Quốc Chẩn nói trong nước mắt, tim ta như bị ai bóp nghẹt, không thể nói rõ là đau lòng hay căm tức vì bị phản bội, càng không thể nói rõ là thương hại hay mất mát ra sao.

Hình như Thái hậu cũng rơi nước mắt, nhưng người điềm tĩnh hỏi:

"Quốc Chẩn đã lớn, cũng đã hiểu tình yêu là gì rồi, vậy từ trước đến nay con có thấy giữa con và quan gia khác nhau chỗ nào hay không?"

Nghe mình được nhắc tới, tim ta lại nảy lên một cái như muốn nhảy khỏi lồng ngực.

Ta đè nén tâm tình phức tạp, yên lặng nghe tiếp:

"Anh cả con tuy nay đã được phụ hoàng trao cho ngôi báu, nhưng con nghĩ lại xem ngày trước có đêm nào phụ hoàng ôm nó trong lòng như con không?

Tuy chuyện đó không liên quan đến ý con, nhưng ngay cả như thế mà anh cả con còn không chút nào ganh ghét, lại dốc lòng nâng đỡ, vậy con nói con tranh với anh con có ý nghĩa gì?"

Miếng ngói rơi bộp một tiếng nho nhỏ, đáy lòng ta cũng rơi.

Không, tuy từ trước đến nay ta luôn đối xử tốt với Quốc Chẩn, luôn tỏ ra mình quảng đại nhưng thật tình đó là vì bản thân ta không muốn trở thành người hèn kém ích kỷ chứ không phải thể hiện cho người ta thương hại.

Chỉ cần họ thật lòng thật dạ với ta thì cho dù là lý do gì cũng vậy, những thứ của đời trước ta không muốn can hệ vào.

Có lẽ do bản thân ta vô tâm trước thời cuộc, nói ta không tim không phổi cũng được, nhưng ta không tìm được lý do gì để ghét họ cho dù có những thứ ngay cả là trữ quân tương lai ta cũng chưa từng được chạm tới.

Quốc Chẩn vẫn khóc nói:

"Nhưng nếu nàng cũng khổ thì sao hả mẹ?

Chẳng lẽ vì thế mà..."

Thái hậu bỗng lên tiếng cắt ngang:

"Thứ tình cảm này sẽ trở nên huyền diệu và thanh cao chỉ khi được giấu kín trong tâm tư người trong cuộc.

Nếu như con thật lòng muốn tốt cho nàng, vậy thì hãy quên nàng đi thôi."

Quốc Chẩn lại càng khóc lớn, gần như là đem hết muộn phiền những năm tháng này trút ra.

Ta ngẩn người một lúc lâu, đến khi bên dưới tĩnh lặng như tờ, có vẻ Quốc Chẩn đã ngủ ta mới thẩn thờ leo xuống.

Chân vừa chạm đất, ta đã bắt gặp ánh mắt Thái hậu nhìn chằm chặp vào mình, người tựa vào gốc bàng khoanh tay đứng nhìn ta, dung mạo của người phụ nữ sắp bốn mươi nhưng vẫn tràn đầy nhựa sống.

Tim ta đánh thót, bèn ấp úng gãi đầu gọi Thái hậu.

"Quan gia đã nghe hết rồi chăng?"

Ta ủ rũ, định bụng bảo rằng chỉ đang hít gió nam mà thôi.

Nhưng chẳng hiểu sao lại hít gió trên nóc nhà Quốc Chẩn.

Thái hậu lại nói:

"Quan gia không cần để trong lòng đâu, cái gì là của mình thì tự khắc là của mình.

Nhưng con phải nhớ rằng, không có hạt mầm nào mới gieo đã trở thành cây cổ thụ, lần này một phần cũng là lỗi của quan gia."

Nghe người nói xong ta vẫn không phản bác được lời gì.

Ta trở về gối đầu lên đùi Chiêu Hiến, ôm một bụng khó chịu lẫn ấm ức hỏi nàng về những chuyện lộn xộn ngày hôm nay.

Nói thật ta vẫn không cam tâm lắm nhưng chẳng biết là vì cớ gì, chả lẽ lại là bởi Duyệt bỏ qua tình cảm ta trao mà đi thương Quốc Chẩn?

Hoàng tử Mạnh đã được giao cho ông hoàng sáu nuôi nấng, vợ chồng ta hiếm khi thảnh thơi như lúc này.

Ta được như bây giờ không phủ nhận một phần là nhờ có Chiêu Hiến, nàng luôn ở phía sau đưa ra những lời khuyên, khi ta sai quấy nàng cũng không ngần ngại trách mắng.

Thật sự là một người vợ hiền huệ khiến ta vừa yêu vừa kính.

Nàng xoa nhẹ hai bên thái dương đang đau nhức của ta, bàn tay mềm mại lướt đến đâu là ta cảm giác da thịt mình man mát lành lạnh đến đấy, tâm tình ta cũng thư thái hơn nhiều.

Chiêu Hiến nghe ta nói rõ đầu đuôi thì phì cười:

"Quan gia tưởng mình có tình cảm với người ta nhưng thật ra lại không phải!"

Ta trố mắt nhìn nàng, nàng lại mím môi ra chiều suy nghĩ rồi đáp:

"Chẳng qua quan gia mặc định người ta là của mình suốt bao năm, rồi bỗng nhiên một ngày bị cướp mất nên trong lòng cảm thấy khó chịu, thấy hụt hẫng.

Bây giờ mới xảy đến nên chàng còn chưa chấp nhận được, chàng chưa phân biệt được đó là tiếc hay là yêu.

Chàng nói xem, chàng yêu người ta ở điểm nào, bao lâu?"

Ta ngẫm lại, thật ra ngoài ký ức mơ hồ của mấy năm về trước thì lần gần nhất ta gặp lại Duyệt là cái hôm đi cùng Quốc Chẩn, thậm chí gương mặt nàng ta còn không thể nhớ rõ.

Hóa ra thời gian qua đi, ngay cả tấm chân tình thuở ban sơ cũng không còn nữa rồi.

"Nhưng quan gia nghĩ xem, xung quanh chàng đâu thiếu những người giống như vậy, thậm chí sau này muôn hồng nghìn tía có chắc quan gia sẽ còn cảm giác ấy không?

Ngược lại chú Chẩn ngoài nàng ấy ra thì có gì?

Trong suốt mấy năm qua em cá là chú ấy không biết bao nhiêu lần dằn vặt, nếu là chàng, chàng phải đau khổ khó xử đến mức nào mới có thể rơi nước mắt?

Chỉ e là càng cố trốn tránh thì tình cảm càng len lỏi từng ngóc ngách trong tim."

Đúng rồi, cho dù là không thể kìm chế được thì chú ấy chắc chắn sẽ không tranh giành với ta, ngay cả là người mà mình yêu mến, cuối cùng chỉ biết ôm lấy tấm chân tình vỡ nát rồi bật khóc trong uất nghẹn.

Ta biết nàng ấy còn muốn nói là do ta tạo điều kiện để họ gặp gỡ, ta ép buộc Quốc Chẩn phải đi thay ta, ta bắt Quốc Chẩn phải làm cái việc dễ nảy sinh lỗi lầm nhất.

Là ta vô tâm, nhưng người khác làm sao có thể vô tình.

Đúng như ta đoán, ngày hôm sau Quốc Chẩn với đôi mắt sưng húp đỏ quạnh xin ta ban cho chức quan trấn thủ biên ải phía nam mãi mãi không về triều.

Ta nổi giận trên điện Thiên An, cười gằn bảo chú ấy thật là kẻ vì nước quên thân, nhưng lại không thể thốt ra được mấy câu đại loại như tình cảm của chú cao thượng thật đấy, sâu đậm thật đấy, có thể vì một người con gái mà bỏ đi vinh quang vô hạn ngay trước mặt.

Rốt cuộc chính ta cũng không đành lòng cho chú ấy đi cái nơi khỉ ho cò gáy đó, chỉ trách mắng một trận mà thôi.

Cây kim trong bọc có ngày cũng lòi ra, có một ngày bác Tảng đến tìm ta, rồi trong cái sự bàng hoàng thảng thốt của ta ngài quỳ mọp xuống xin ta phế nàng.

Ta bật cười, thánh ý của thượng hoàng đã ban ra chẳng lẽ muốn phế là phế, giao ước giữa hai nhà trước nay chẳng lẽ muốn bỏ là bỏ?

Thật ra ta biết những lý do đó chỉ để ngụy biện cho sự thất bại thảm hại của ta, ta biết ta đã thua, nhưng không thua vì tình cảm của họ.

Ta thua vì lòng trắc ẩn và sự mềm yếu của chính mình.

Trong lòng ta nóng giận, bèn nhướng mày quay lưng về sau, hừ giọng nói:

"Lấy một đổi một!"

Không cần sự cho phép của ta, bác Tảng đứng bật dậy chỉ vào ta quát:

"Quan gia nghĩ mình là ai?"

Ơ thì, ta là quan gia chứ là ai?

Ta hả hê trong lòng.

Đúng rồi, cớ gì mà ta phải chịu thiệt nhỉ, tại sao bọn họ chỉ nghĩ cho hai người Quốc Chẩn mà không nghĩ cho ta, biết đâu trong lòng ta cũng buồn cũng khổ?

Ngày hôm sau ta đang ngồi đọc tấu giữa khuya, bỗng nhiên cửa sổ "phạch" một tiếng gãy đôi, một cái đầu nho nhỏ ló vào, sau đó con chuột mặc bộ quần áo màu đen chui vào phòng ta.

Ta chống cằm nhìn thân ảnh nhỏ bé vì bộ quần áo dạ hành thít chặt mà càng bé xinh đến kỳ lạ, từng động tác của cô gái nhỏ cuốn hút ta đến ngẩn ngơ.

Đôi bàn tay trắng nõn bám lên bậu cửa sổ ngó nghiêng, thấy chỉ có mình ta bên trong mới co người nhảy vào, sau đó còn vụng về đụng đầu vào cánh cửa đang mở toang nghe một tiếng "bộp".

Dường như mỗi một động tác nhỏ nhặt cũng đều thu vào tầm mắt.

Ta cố nín cười, chốc lát đã thấy cô nàng đứng trước mặt ta, một chân giẫm lên sập, hai tay chống nạnh, mắng:

"Quan gia quá đáng lắm, số mệnh của người khác mà quan gia xem như là con sâu cái kiến muốn làm gì thì làm."

Đây chẳng ai khác chính là con nhóc Phùng ngang ngược nhà bác Tảng.

Con bé này có vẻ đã lén trốn nhà đến đây, hôm sau trở về nếu nó không nhừ xương với bác ta thì tên của ta sẽ viết ngược.

"Thế thì đã sao?" – Ta hứng thú đáp.

Con nhóc lại cất giọng hùng hồn:

"Vận mệnh của tôi phải do tôi định đoạt.

Chúng ta cược một ván, nếu tôi thắng thì quan gia phải bỏ chị tôi, nếu tôi thua thì quan gia cũng phải bỏ chị tôi, nhưng tôi sẽ thay chị ấy!"

Ta bật cười:

"Vậy thì nàng có lợi quá!"

Ta có cảm tưởng tất cả những bồng bột tuổi dậy thì của ta bỗng chốc ùa về, ta buông cán bút lên gác, tựa đầu ra sau, mỉm cười ma mãnh hỏi:

"Cược gì?"

"Đổ xúc xắc!" – Con bé khẳng định chắc nịch.

Ta cau mày nhìn con bé vừa qua mười bốn tuổi, tuy chưa gọi là trưởng thành nhưng cũng đã ra dáng thiếu nữ, từng đường nét trên cơ thể trở nên mềm mại hơn nhiều.

Có điều cái tính cách này quả là không hợp với gương mặt nàng cho lắm.

Hôm ấy ta dùng tất cả các ngón nghề dạo trước vào sòng bạc ra tửu quán của mình thắng một cách rất oanh liệt, con bé đó xám mặt nhìn ta, luôn miệng lắp bắp:

"Sao, sao thế được?

Ở thái ấp tôi chưa từng thua ai?"

Đương nhiên rồi, cái thái ấp bằng lỗ mũi của cha nàng làm sao bằng được một phần vạn chốn kinh thành lắm cạm bẫy lọc lừa này chứ.

Còn cái lúc một huyền thoại như ta hoành hành ngang dọc khắp phố phường Thăng Long thì nàng vẫn còn đang bú sữa mẹ cơ!

Cho dù cảm giác mình đang lừa gạt trẻ nhỏ nhưng ta không nén được sự hưng phấn đã lâu rồi không gặp lại.

Rất lâu sau này khi nghĩ tới ta vẫn buồn cười, có người lại dùng một ván xúc xắc để đánh cược cuộc đời mình hay sao?

Ấy vậy mà sau đấy con nhóc lại không dám trở về, ta nhớ lại vẻ mặt đằng đằng sát khí của bác Tảng bỗng nhiên thấy đồng cảm sâu sắc.

Bác Tảng có thể dạy ra một đứa nhóc không biết trời cao đất dày thế này thật hi hữu làm sao.

Ta cho người đưa nàng đến cung của Chiêu Hiến, con nhóc ăn dầm nằm dề ở đó suốt hai ngày, rốt cuộc ý thức được mình cần phải về nhà tạ tội với bậc song thân bèn nài nỉ ta dùng quyền uy của đấng quân vương để cứu mạng.

Quả nhiên chờ đợi con nhóc là đầm rồng hang hổ.

Cũng may khi ấy lòng trắc ẩn của ta trỗi dậy nên giơ tay đỡ giúp nàng một roi, cũng may khi ấy ta buông lời ngọc bảo sẽ lấy nàng, cũng may khi ấy ta hứa rằng sẽ phế bỏ Văn Đức phu nhân mà nhà nàng hằng mong muốn, cũng may, cũng may...

Lúc đó ta mới biết hoá ra chính mình mới là kẻ bị ván xúc xắc đó định đoạt.

Năm nàng cập kê, có ba chiếu chỉ được ban xuống.

Một là phong Quốc Chẩn làm Nhập nội Bình chương, tương đương chức tể tướng.

Hai là phế truất Văn Đức phu nhân thành quận chúa, ban cho Quốc Chẩn làm chính phi.

Ba là sách phong Trần Thị Phùng làm Thánh Bà phu nhân thay thế chị mình.

Cái Phùng giống như đưa ta trở về năm ta còn là một hoàng tử mới mười lăm mười sáu tuổi trốn nhà đi chơi.

Ngày ta lên triều, đêm lại về cùng nàng chơi mấy trò tiêu khiển, nhất thời ngay cả Thượng hoàng cũng lấy làm lạ tại sao ta lại ngoan ngoãn đột xuất thế kia.

Sau đó việc lọt đến tai Chiêu Hiến, nàng răn ta một trận, còn muốn mắng luôn cả Thánh Bà phu nhân mới được sách phong.

Thánh Bà phu nhân lại cứ dửng dưng như nước đổ đầu vịt, rốt cuộc khiến thái hậu lại rầu lo sinh ra thêm mấy nếp nhăn nữa.

Bị Chiêu Hiến mắng hình như nàng vẫn không biết sợ, vẫn ăn ngon ngủ say.

Ta ngớ ra, kể cả bác tảng đáng sợ như thế mà nàng còn không để vào mắt thì thế gian này nàng còn sợ ai nữa?

Ngày lập nàng làm hậu, nàng ngồi cúi mặt run run trước quần thần.

Ta cứ tưởng nàng sợ hãi phát run, ai mà có ngờ nàng chỉ đang kiềm chế cơn buồn cười đến mức run rẩy.

Ta bỗng có cảm giác đồng bệnh tương liên, mà cái Phùng y như là bản sao của ta vậy.

Những thứ mà nàng nghĩ ta cũng nghĩ, chuyện nàng cười ta cũng cười, chuyện mà ta cho là phải thì nàng cũng cho là phải.

Nếu như nàng sinh sớm mười năm, có phải kinh thành sẽ có kẻ cân tài cân sức với ta hay chăng?

Ta đưa nàng đến gian phòng bí mật của mình, mấy thứ thi từ tranh vẽ linh tinh ngày thường khi hứng lên ta đều treo đầy bốn bức tường mà không ai hay biết.

Dạo theo học thầy Siêu khiến ta cảm thấy làm một vị vua chỉ nên chuyên tâm vào việc triều chính, kể cả người đầu ấp tay gối với ta là Chiêu Hiến trước giờ cũng chưa từng thấy qua, ta cảm thấy nàng ấy có lẽ sẽ không ưa những thứ này.

Ta đứng khoanh tay tựa góc tường nhìn đôi mắt nàng như phát sáng trông qua ta, trái tim xúc động đập bang bang trong lồng ngực.

Từ cái dạo đi chơi phố bị ném đá vỡ đầu, bọn trai tráng ngoài đó cũng không còn dám chơi với ta, mà cũng kể từ lần đó ta cũng không còn dám trái ý phụ hoàng nữa.

Giữa thế gian rộng lớn ta bất chợt cảm thấy nàng là mảnh ghép khuyết thiếu của đời mình.

Thuở ta lấy Chiêu Hiến là khi mình còn quá trẻ, tình cảm là yêu thương tương kính.

Nhưng ở ngưỡng tuổi hăm lăm, khi trí óc đã khai mở đầy đủ các cung bậc cảm xúc, ta gặp nàng.

Giống như lúc nào cũng muốn ôm cô gái nhỏ vào lòng mà cưng nựng, những sự hoạt bát, lanh lợi của nàng ta đều nhìn rất rất vừa mắt.

Sự ngây thơ của nàng là cái ta muốn gìn giữ nhất trong chốn cấm cung này.

Ta hơn nàng mười tuổi.

Đối với nàng ta vừa yêu vừa hận, hận là vì không thể moi móc cả tim gan tặng cho nàng, hận vì không thể đem tất cả những gì tươi đẹp nhất của giang sơn tặng nàng.

Nhìn tính cách nàng giống như không hợp với chốn cấm cung, nhưng ta biết thật ra nàng mới là kẻ hợp nhất.

Ta và nàng là cùng một loại người, cho dù gió thổi mưa vần thế nào vẫn sẽ giữ vững được chân tâm.

Người vô ưu vô lo như nàng, sẽ không bao giờ bị khói bụi nhân gian làm cho vấy bẩn.

Giống như một đoá hoa sen trắng, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Y như lời bác Tảng nói, Quốc Chẩn thật sự chỉ lấy một mình Duyệt, còn ta giữa trăm hoa đua nở mỗi người một vẻ, chỉ có một đoá sen trắng thanh thuần ngự trị trong tim.

Hưng Long, thiên hạ vẫn thái bình.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 4: Công Chúa Hòa Thân (1)


Ta là Huyền Trân, quốc muội của quan gia.

Ngay từ thuở nhỏ ta đã vô cùng hâm mộ phụ hoàng và mẹ, các bác trai bác gái, những vị anh hùng cầm kiếm cưỡi ngựa hiên ngang nơi sa trường.

Ta cảm thấy thời buổi thanh bình thịnh thế như ngày nay, đám tài tử văn nhân chẳng có ai hợp mắt ta cả.

Nhưng ta vốn biết khi mình đã là một công chúa thì việc hôn phối chẳng đến lượt ta nhúng tay, các cụ nói "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó", huống gì ta còn là một cô gái.

Ta cảm thấy việc chỉ tay vào một chàng trai rồi nằng nặc xin cưới là một việc hết sức mất phong cách dù ta thừa sức làm, phụ hoàng yêu thương ta như thế mà từ nhỏ đến lớn cũng chẳng ai dám làm trái ý ta.

Làm công chúa hưởng hết ân điển từ hoàng gia, từ cơm gạo của dân mang lại thì ta cũng chẳng dám hi vọng tới lòng riêng của mình, ngược lại rất sảng khoái đón nhận mọi thử thách.

Ừ thì với tính tình này của ta, mẹ ta luôn than phiền ta quá mức ngang tàng.

Ngày xưa bà cô An Tư cũng là một tấm gương, nếu như biết về sau phải dứt bỏ tình riêng vì nợ nước thì ngay từ đầu đừng nên yêu đương làm gì cho tốn công phí sức, kết quả thì ai cũng biết là bà cô đã tự vẫn để giữ lòng trung trinh.

Ta nể phục thì có nể phục, nhưng cảm thấy không đáng.

Còn may mắn không đi hòa thân thì thôi, ông bà ta bao năm không cần tình yêu vẫn sống với nhau đến hết đời, đơn cử như ông Quang Khải, lại đơn cử như gia đình nhỏ của con bé Thượng Trân.

Cưới trước yêu sau thật ra lại là một loại tư vị khá hấp dẫn.

Giống như lần đầu gặp Nhữ Hài, năm đó anh ta mười chín còn ta mới mười hai, gặp gỡ ta trước tẩm điện của quan gia, anh ta còn ngây ngẩn một hồi.

Ta trước tiên nói rõ việc cần nói về quan gia, sau đấy liếc mắt khinh khỉnh với anh ta một cái, lúc quay lưng chạy biến vẫn cảm nhận được ánh mắt anh ta gắt gao dõi theo mình.

Đoàn Nhữ Hài nhờ sự ưu ái của ông anh lắm chuyện nhà ta mà "vô tình" gặp gỡ ta không ít lần, nhưng "vô tình" gặp trong hoa viên hay tẩm điện của quan gia thì thôi đi, còn "vô tình" gặp nhau trên đường đến nhà vệ sinh trong lầu nghe hát của cô đào nổi tiếng nhất kinh thành thì sao nhỉ?

Trong đầu ta thầm mắng một câu lý nào là vậy, rồi nhìn xuống một thân nam trang màu xanh nhạt thì mới giật mình, gã này mà không giữ mồm giữ miệng thì ta chịu không ít phiền phức đây.

Đương lúc bối rối thì ông anh ta trong nhà vệ sinh thong thả đi ra, phía sau còn có...

Ơ khoan đã, thư đồng này chẳng phải là hoàng hậu vừa mới được sắc phong hay sao?

Bốn người tám mắt nhìn nhau, không khí có chút quái đản.

Vợ chồng son người ta trốn nhà đi chơi tìm cảm giác mới lạ không có gì đáng nói, nhưng còn cái tên kỳ đà cản mũi này thì tính thế nào đây?

Còn chưa kịp đánh phủ đầu thì ông anh nhà mình đã trỏ tay vào mũi ta, nói:

"Em đến đây làm gì, còn nữa, ăn mặc cái kiểu gì đây?"

"Đi tập võ." – Ta thản nhiên đáp.

Quan gia nọ hừ mũi:

"Lừa trẻ con chắc, có ai đến chỗ nghe hát để tập võ đâu?"

Ta nhún vai, tỏ ý biết rồi mà còn hỏi.

Đến lúc này thì chút băn khoăn của ta cũng bay biến, cùng lắm là cá chết lưới rách thôi.

Nếu như ta bị mẫu hậu mắng, thì ông anh này không bị phụ hoàng tẩn cho một trận nên thân mới là lạ.

"Còn quan gia, hôm đó khóc lóc hứa hẹn với phụ hoàng không phải hứa suông chứ?"

Anh cả Thuyên hơi hơi đỏ mặt, gãi đầu:

"Không tính, ta không tụ tập chè chén với bọn bạn xấu nữa, ta đưa hoàng hậu đi nghe hát đấy thay."

Ta hờ hững:

"Phủ Văn cũng có hát xướng mỗi ngày."

"Cái bọn nhóc phủ Văn nghịch như quỷ sứ, đau hết cả đầu."

Ta không vạch trần anh ta, sao ta lại không biết anh ta muốn trốn tránh việc chăm con chứ, thằng bé Mạnh được vợ chồng ông sáu Văn chăm bẵm kỹ lưỡng nên anh ta được lúc rảnh rỗi thế này đây.

Vị quan gia này đúng là hai mươi mấy tuổi trên đầu mà vẫn như con nít.

Đoàn Nhữ Hài bỗng chốc trở thành người ngoài cuộc, anh ta khó xử đứng nhìn anh em nhà chúng ta choảng nhau mà không dám chen vào một lời.

Ta hồ nghi rằng quan gia đưa anh ta theo để nhìn rõ sự tình mà viết biểu tạ tội nhỡ may gặp bất trắc, dù sao việc đó cũng đã từng xảy ra.

Ta gọi thị vệ trở về, được nửa đường thì Đoàn Nhữ Hài bỗng nắm lấy góc áo ta, gấp gáp nói:

"Công chúa, tôi..."

Đêm nay trăng thanh gió mát, ánh trăng rọi xuống vai áo của Nhữ Hài làm anh ta như bao phủ bởi một lớp sương bàng bạc, trông có chút hư ảo.

Ta ngước nhìn chàng thanh niên cao hơn mình một cái đầu, mày mắt hiền hòa chính trực, chẳng hiểu sao lại đi theo ông anh tinh ranh nhà ta một mực trung thành.

Nghĩ xong lại tự bật cười, người ta là vua một nước đấy, nếu không trung thành với quan gia thì trung thành với ai?

Nhưng chắc có ngày người này sẽ bị anh mình dạy hư mất.

Nhìn mặt Đoàn Nhữ Hài xong ta lại nhìn xuống bàn tay đang nắm lấy vạt áo mình, anh ta có vẻ mất tự nhiên buông ra, hơi hơi đỏ mặt.

Bất giác nghĩ thời gian qua nhanh, mới đây mà ta đã biết người này hai năm có lẻ rồi.

Ta biết Nhữ Hài định nói gì, lạnh lùng đáp:

"Bao giờ anh tìm được cái lá diêu bông thì chúng ta nói chuyện tiếp."

Vẻ mặt Nhữ Hài mờ mịt, hỏi lại ta:

"Lá...diêu bông?

Hình dáng ra sao ạ?"

"Không biết."

Ta nói xong thì chân chạy nhanh như bôi mỡ, thực ra ta cũng chỉ nói đại nói bừa chứ chẳng biết hình dáng nó ra làm sao.

Cái thứ này ta nghe trong mấy bài hát ở phủ Văn, Đoàn Nhữ Hài ít nghe ca kịch nên không biết là phải.

Mà hình như đây cũng không phải là một loại cây có thật.

Ái chà, tuy cảm thấy hơi nhẫn tâm nhưng nghĩ tới cảnh anh ta không làm phiền tới mình nữa thì ta vô cùng thoải mái.

Kỳ thực mấy chuyện gió trăng này ta không mấy để tâm.

Kết quả ông anh của ta lại chơi cái trò hèn hạ là đi mách mẹ, ta bị bắt khoanh tay quỳ suốt hai canh giờ trước ánh mắt hung ác của mẹ ta, vợ chồng anh Quốc Chẩn và hai đứa Trân ngồi cạnh năn nỉ mãi mà chẳng được.

Sau đó ta mới biết dạo trước có lần anh hai Chẩn cũng bị quan gia làm liên lụy phạt quỳ y như ta thế này.

Tầm này thì cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, quả nhiên anh cả Thuyên thấy phụ hoàng đi chơi bên nước Chiêm chưa về nên được nước lấn tới, chẳng xem đứa em được phụ hoàng xem như châu ngọc nâng niu trong tay này ra gì.

Giữa ta và anh cả Thuyên xem như đã kết thù, ta không thể để vụ này chìm được, cứ đợi khi phụ hoàng về để xem ta có đem từng chuyện từng chuyện mình mắt thấy tai nghe tường thuật rõ ràng lại không cho biết.

Ta ngậm bồ hòn làm ngọt suốt mấy tháng, rốt cuộc đợi được ngày phụ hoàng trở về, không kìm lòng được như con chim sà ngay đến cung Thánh Từ.

Lúc này phụ hoàng đang ngồi trên sập xem lại các văn thư mà anh cả Thuyên đã duyệt, những sự vụ quan trọng mà anh cả đã làm, ta bèn mượn gió bẻ măng ôm lấy chân người kể lể.

Phụ hoàng xoa đầu ta, cười bảo:

"Thời gian ta không có nhà con làm không ít chuyện hay ho nhỉ?"

Lúc này ta mới ngớ ra là mẫu hậu đã cáo trạng với phụ hoàng việc ta hay cải trang trốn nhà đi chơi.

Về vấn đề này ta cay đắng nhận ra mặc dù mình với anh cả Thuyên như nước với lửa nhưng lại giống nhau y đúc, hơn nữa nếu muốn ta còn có khả năng hơn anh ta.

Ta nhìn miếng đệm bên cạnh phụ hoàng vẫn còn lún xuống như vương hơi ấm mới nhận ra mình hơi vội vàng, mẫu hậu hình như vẫn chưa rời khỏi đây lâu.

Phụ hoàng xoay người bảo nội hầu dâng lên mấy món đồ lạ lùng cho ta, có đàn hương thượng hạng từ nước Chiêm, có bức tượng voi thần bé bằng lòng bàn tay thoảng hương quế, có chiếc bình gốm nho nhỏ để ta cắm hoa và cả món kẹo mạch nha làm từ giống lúa Chiêm mà ta say mê.

Ta bất chợt nhìn thấy trên cổ phụ hoàng có vệt đo đỏ, hỏi ra thì phụ hoàng có hơi không tự nhiên đáp:

"Vùng Chiêm là chốn rừng thiêng nước độc, phụ hoàng không cẩn thận bị côn trùng cắn."

Ta "ồ" một tiếng tỏ ra mình đã hiểu, nhưng vẫn còn thắc mắc giống côn trùng nước Chiêm độc địa tới mức người ngồi thuyền trở về Đại Việt suốt hơn nửa tháng mà vẫn còn như mới.

Phụ hoàng hắng giọng, lại hỏi:

"Năm nay Huyền Trân đã sắp mười lăm rồi nhỉ, đã có người trong lòng chưa?"

Người trong lòng ư, hình như không có.

Tuổi mười lăm là tuổi cặp kê, hóa ra mình đã lớn vậy rồi.

Thấy ta lắc đầu, phụ hoàng nói tiếp:

"Ngày xưa phụ hoàng nhớ con rất thích nghe kể chuyện xưa, nhất là chuyện cưỡi ngựa đánh giặc, bây giờ con còn muốn nghe hay không?"

Ánh mắt tôi sáng rỡ, đã rất lâu rồi tôi không có cảm giác gối đầu vào lòng phụ hoàng để nghe người kể chuyện, ngày đó tôi thích thú đến nỗi nhiều khi mơ thấy mình cầm thương sát cánh chiến đấu với cha mẹ để đánh giặc Nguyên.

Câu chuyện mà phụ hoàng kể là chuyện năm đó vua xứ Chiêm Thành là Chế Mân khi còn là Thái tử đã chống lại hơn năm mươi vạn quân Mông Cổ chỉ với hai mươi vạn quân Chiêm, mà lúc ấy Thái tử chỉ bằng tuổi ta bây giờ.

Tầm cái tuổi mười lăm thì Trần Khắc Lạng bạn ta vẫn còn lấy cái danh tiếng của ông nội hắn đi kéo bè kéo lũ khắp phố phường, học hành chẳng ra làm sao, trăm thứ nghệ cũng chẳng tinh thuộc một môn nào.

Giỏi nhất là nắm bắt mấy tin tức đại loại như hôm nay chỗ nào có hát xướng.

Ta vô cùng rầu rĩ cho tương lai nước nhà.

Trở lại câu chuyện.

Dựa vào sự yểm trợ của quân Đại Việt, thế núi sông hiểm yếu cùng với tài thao lược mà người đó đã giằng co với địch suốt nhiều năm liền, chẳng những giữ vững biên cương mà còn làm tiêu hao phần lớn số quân của Toa Đô để khi trở vào Đại Việt thì bọn chúng chỉ còn là đội quân đói khát.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 5: Công Chúa Hòa Thân (2)


Ta thiếp đi trong lòng phụ hoàng không biết đã bao lâu, đương lúc chập chờn bỗng nhiên nhìn thấy một bóng đáng mặc giáp cưỡi voi, thân thẳng như tùng, khí thế như rồng hổ.

Trên nền trời cuồn cuộn những rặng mây vàng là kim sí điểu ba mắt vàng rực phát ra tiếng hót kỳ diệu, lượn vòng quanh chàng trai như mừng chiến thắng.

Khi chàng bước đến gần, bỗng nhiên ta choàng tỉnh.

Tim ta vẫn đập bang bang trong lồng ngực bởi cảnh tượng quá mức diệu huyền, mãi một lúc lâu vẫn cảm thấy bàng hoàng như trong cuộc hội ngộ.

Lúc này phụ hoàng vẫn giữ nguyên tư thế đọc văn thư để mặc ta ngủ ngon dưới chân người, ta mở choàng mắt, cất giọng hỏi:

"Đã tới đoạn nào rồi ạ?"

Phụ hoàng bật cười trìu mến nhìn ta:

"Vừa tới lúc Chiêm Thành thắng lợi trước quân Thát, năm đó con vẫn chưa sinh ra đời."

"Vậy hẳn người đó hợp ý phụ hoàng lắm, nên cha mới ở mãi bên xứ Chiêm suốt chín tháng trời."

Ta vờ giận dỗi với người.

Phụ hoàng cong mắt xoa đầu ta, ngầm thừa nhận.

"Quốc vương là một vị vua anh minh, lại thương dân và hiếu hòa nên được nhân dân rất tôn trọng.

Ngày cha ở Chiêm quốc vương tiếp đón nồng hậu, một mực giữ cha ở lại không cho về.

Nửa tháng trước nếu cha không nằng nặc than nhớ vợ con, sợ là có ngày mẫu hậu con lột tấm da già này của phụ hoàng mất."

"Phụ hoàng vẫn còn phong độ lắm ạ!" – Ta buộc miệng phản bác.

Kỳ thực không phải vì ta muốn an ủi phụ hoàng nên mới nói thế, ở cái ngưỡng ngoài bốn mươi người vẫn mày kiếm mắt tinh, dáng cao thẳng tắp, thậm chí nhìn còn uy nghiêm hơn cả ông anh làm quan gia của ta.

Những khi hai người đứng cạnh nhau thì ôi thôi, sự khác biệt ấy lại càng rõ rệt.

Trên trán phụ hoàng nhỏ xuống một giọt mồ hôi, ta bỗng thấy vết côn trùng cắn trên cổ người càng thêm đỏ đến chói mắt.

Phụ hoàng dừng một chút, lại ôn tồn:

"Lúc ấy phụ hoàng tình cờ được biết khi con được sinh ra, ở Chiêm mây lành vạn dặm ở hướng Bắc suốt ba ngày, chim muông ríu rít.

Nhân đó mà chỉ trong ba tháng, quốc vương tiền nhiệm đã trao lại ngôi báu cho Thái tử Chế Mân.

Các giáo sĩ bà la môn đều đồng lòng bảo rằng ở miền bắc nước Chiêm tức Đại Việt ta có điềm lành với họ."

Cả người ta bỗng chốc căng thẳng, bất giác níu chặt lấy góc áo phụ hoàng.

Người vẫn hòa ái nhìn ta, ngồi chắn trước ta như một ngọn núi Nam sừng sững.

"Phụ hoàng... con.."

Ta nói không thành lời, bỗng nhiên xuất hiện cảm giác khác lạ từ trước nay chưa từng có.

Phụ hoàng như hiểu được nỗi lòng ta, gật đầu bảo:

"Chính miệng quốc vương đã nói chính là con."

Đương lúc ta còn hoang mang thì người lại chốt hạ một câu như sấm rền chớp giật giữa trời:

"Quốc vương muốn lấy con làm vương hậu."

Từ bàng hoàng ta dần lấy lại bình tĩnh, ngẫm thấy có điều không đúng bèn run rẩy hỏi lại:

"Ngài ấy mười lăm tuổi đánh giặc Nguyên, vậy chẳng phải đã luống tuổi rồi hay sao ạ?

"Vừa tròn ba lăm." – Phụ hoàng hắng giọng nói.

"Vậy chẳng lẽ chưa có vợ con?"

Lần này phụ hoàng ho hai tiếng, không được tự nhiên đáp lời:

"Không nhiều lắm, một vợ hai con, đứa lớn còn hơn con ba tuổi."

Ta cảm thấy lần này phụ hoàng thành thật quá mức cần thiết, khiến ta có chút hụt hẫng.

Ôi mặc dù nam nhi ba vợ bốn nàng hầu là chuyện bình thường, huống gì người ấy còn là quốc vương một nước, nhưng chả nhẽ vì thế mà ta lại cam tâm làm kiếp vợ lẽ hay sao?

Trong cuộc đời ngang tàng của ta thú thật thì ta chưa từng nghĩ đến sẽ làm lẽ cho ai cả, bởi ta là trưởng công chúa cành vàng lá ngọc, cả phụ hoàng cũng không nỡ nặng lời với ta một câu.

Nếu như mẫu hậu mà biết, nói không chừng sẽ còn nổi giận với phụ hoàng một trận.

Thấy ánh mắt ta mông lung chứa ánh lệ, phụ hoàng vuốt tóc ta thở dài:

"Phụ hoàng đương nhiên sẽ không tự ý quyết định vận mệnh của con, có điều phụ hoàng hằng nghĩ cái thân già này của ta có thể kinh qua bao nhiêu cuộc chiến nữa.

Quốc vương đã hứa cắt đất làm quà, dâng cho ta hai châu Ô, Lý...

đó cũng là một miếng bánh quá hấp dẫn.

Nhưng con yên tâm, phụ hoàng không ép."

Ta rầu rĩ, phụ hoàng nói thế thì khác gì ép ta đâu, nếu như ta là một kẻ ngang ngược đương nhiên ta sẽ phản đối.

Ta kề má lên đùi phụ hoàng, rầu rĩ nói:

"Phụ hoàng cũng biết con rất hiểu chuyện."

"Phụ hoàng biết." – Người bật cười đáp. – "Kể từ khi con sinh ra, con đã rất hiểu chuyện, ít nhất là đáp ứng được nguyện vọng của ta và các anh con."

Không khí trong cung bỗng nhiên chững lại, tiếng bấc đèn cháy tí tách trên giá, mành treo múa lượn phất phơ.

Ta hít sâu một hơi, ngước lên nhìn đôi mắt như thông tỏ mọi thứ của phụ hoàng, mím môi nói:

"Để con suy nghĩ cặn kẽ đã."

"Không gấp, con chỉ mới mười lăm.

Bao giờ đưa ra quyết định thì đến tìm phụ hoàng."

Ta cúi lạy phụ hoàng rồi nhẹ bước lui ra, sau đó có nội hầu tiến vào chuẩn bị bữa tối.

Ta nhìn cơm ngon canh ngọt nhưng chẳng có bụng dạ nào để ăn.

Lúc này trăng đã lên cao, ánh trăng sáng vằng vặc như soi thấu lòng ta vậy.

Ta bắt gặp Trần Khắc Lạng ở quán rượu đầu đình, gã vừa nhai lạc rang vừa ngâm nga theo câu hát, cái đầu lắc qua lắc lại áng chừng rất vừa lòng.

Ta vỗ vai gã một cái rõ mạnh, gã bèn trừng mắt nhìn ta, mỉa mai:

"Ồ, tôi tưởng công chúa chê kẻ hèn này rồi?"

Ta tự nhiên kéo ghế ngồi đối diện gã, vốc một nắm lạc rang cho vào miệng nhai nhồm nhoàm.

"Mấy hôm nay mẫu hậu làm gắt quá, phụ hoàng lại vừa về tới, ta không lẻn đi được."

"Thế giờ Thượng hoàng và Thái hậu trở về Thiên Trường rồi à?"

Ta lắc đầu, gã lại cười hề hề:

"Hay là nhớ tôi quá nên không kìm lòng được?"

Ta ném lạc chuẩn xác vào giữa trán gã, lại chống cằm thơ thẩn bảo:

"Đúng là có chuyện muốn tìm anh tâm sự đây."

Nói xong lại thở dài thườn thượt.

Ngoài kia tiếng đàn hát réo rắt, cõi lòng ta lại rối như tơ vò, nói khó chịu thì không hẳn, mà thoải mái thì cũng không xong, tóm lại cảm giác rất lạ kỳ.

Nghe ta phân trần, Trần Khắc Lạng cười ha hả mấy tiếng lấy làm thú vị, thản nhiên nói:

"Chuyện này có gì đâu mà phải trăn trở, nếu như lấy mỗi công chúa mà đổi được hai châu thì quá hời."

Ta vỗ bàn, quát vào mặt gã:

"Ô hay, thế hóa ra anh lại xem ta là vật trao đổi à?"

Khắc Lạng vội cười xun xoe lấy lòng:

"Ấy ấy nào phải, dù gì công chúa cũng sang đấy làm vương hậu chứ đâu có thiệt thòi gì?"

"Nói thì dễ lắm, sang đấy lạ nước lạ cái, cái chốn rừng thiêng nước độc ta đã sớm nghe đầy tai.

Hơn nữa anh nhìn mặt ta xem, có chỗ nào giống với dáng vẻ của kẻ đi làm lẽ không hả?" – Ta chỉ vào mặt mình, nói sa sả.

Sau đó tâm trạng tiếp tục như quả bóng hơi, ta giật phắt chén rượu trên tay gã ta nốc một hơi cạn sạch.

Vị rượu nồng đắng nghét trong cổ họng làm ta rùng mình.

"Đắng quá!"

"Đương nhiên rồi, đây là rượu xương bồ!

Không có công chúa thì làm gì có thứ rượu mơ chua ngọt thượng hạng của Thái hậu mà uống?" – Gã cười cười đáp.

Ta lại ủ rũ, ôi nếu như rời Đại Việt thì làm sao trộm được rượu mơ của mẫu hậu đây.

Khắc Lạng nói tiếp:

"Bây giờ công chúa mới mười lăm nên cứ kéo dài bốn năm năm nữa, khi ấy quốc vương bên đó đã già yếu rồi thì làm gì còn sức để mắt tới công chúa.

Phía sau công chúa là Đại Việt hùng mạnh, chả nhẽ có kẻ dám ăn gan hùm ư, huống gì giáo sĩ Chiêm còn nói công chúa là điềm lành?

Đến lúc ấy ai làm gì mặc họ, công chúa hùng cứ một phương."

Ta hừ giọng:

"Anh theo ta nhé?"

Lúc này Trần Khắc Lạng nín bặt, ánh mắt nhìn ta như nhìn kẻ điên.

"Việc của thiên hạ thì anh nhìn thấy rất dễ dàng, nhưng động tới mình thì anh chần chừ ngay."

Trần Khắc Lạng gãi đầu:

"Tôi còn lãnh trách nhiệm nối dõi...cha mẹ tôi đã già..."

"Nói cha anh lấy vợ kế là được!"

"Sao có thể..?"

"Vậy đừng quên con trưởng của Chế Mân còn lớn tuổi hơn anh!"

Ta nhún vai nhìn gã, lúc này gã mới phát hiện ra ta gài bẫy mình, ỉu xìu nói:

"Chẳng phải công chúa thích anh hùng à, người ta dù sao cũng là một đấng anh hùng!

Hơn nữa Thượng hoàng chẳng làm gì mà không có lý do, chẳng lẽ người lại xem công chúa không bằng hai châu kia sao?

À, mà cũng có khi thế thật."

Ta mặc kệ Trần Khắc Lạng nói như không nói, bèn nghĩ tới dù sao cũng là ý của phụ hoàng, dù có là hang hùm động gấu ta cũng chẳng từ nan.

Huống gì ta còn là công chúa ăn của dân mặc của dân, nếu như chỉ dùng bản thân mình mà đổi lấy đất đai và bình yên cho con dân Đại Việt thì có sá gì.

Nghĩ thế tâm trạng của ta cũng thoải mái hơn hẳn, bèn nhân lúc phụ hoàng còn chưa trở về hành cung đem suy nghĩ của mình nói ra.

Phụ hoàng có vẻ hài lòng, lại bảo:

"Sẵn đây phụ hoàng cũng có nhiệm vụ giao cho con."

Nghe tới nhiệm vụ, ánh mắt ta sáng rỡ, trần đời ta thích nhất là nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ của phụ hoàng giao cho.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 6: Công Chúa Hòa Thân (3)


Thế nên từ năm mười lăm tuổi ta đã bắt đầu học rất nhiều thứ, học làm sao để trở thành vương hậu nước Chiêm.

Trong đó có văn hóa, tiếng nói, chữ viết, cách để cai quản người trên kẻ dưới, và hơn hết là một người vợ hiền.

Đương nhiên ban đầu mẫu hậu ta kịch liệt phản đối, nhưng dưới những lý lẽ của ta đưa ra người chỉ thở dài.

Ta biết người đang nhớ tới bà cô An Tư dạo đó của ta.

Học hành là một việc rất nhàm chán, ngày trước mẫu hậu ta vào cung cũng chẳng học qua một buổi nào, nhưng may sao phụ hoàng là một người nhân từ đức độ.

Sau đó khói lửa liên miên, mẫu hậu sát cánh cùng phụ hoàng đánh giặc, vấn đề lễ tiết trung cung lại càng khỏi phải nói, đều do mẹ cả ta coi sóc.

Bất đắc dĩ lắm mẫu hậu mới trở thành người khắt khe như ngày hôm nay, hết thảy đều do ông anh cả nhà ta bỏ ra công sức.

Ta không biết quốc vương Chiêm Thành có dễ nói chuyện như phụ hoàng không, bóng dáng hôm đó và cả thỉnh thoảng ta từng mơ qua chẳng biết là thật hay giả.

Nhưng nghĩ tới người đó, đột nhiên ta cảm thấy sức lực dồi dào, mấy thứ văn hóa tín ngưỡng dị quốc này cũng chẳng làm khó ta lắm.

Bất giác đã qua hai năm, ta suýt nữa thì quên mất không khí chốn phố phường, một ngày nhân lúc tiết trời còn trong xuân, vào lễ Kỳ Yên Thượng Điền ta bèn cùng nội thị cải trang du ngoạn.

Năm nay ta đã mười bảy, cao hơn trước rất nhiều, mặc bộ quần áo nam nhi vào người trông cũng tao nhã chẳng kém thầy Siêu là mấy.

Quả nhiên lúc vỗ vai Trần Khắc Lạng thì gã nhìn chằm chằm vào ta một hồi lâu, đến khi nhận ra ta thì ánh mắt cũng rưng rưng chực khóc.

Trần Khắc Lạng đồng trang lứa với ta, hai năm trước gã còn chẳng cao bằng ta mà năm nay đã vượt quá ta ba thốn.

Ta ghen tỵ nhìn gã, gã lại xúc động mếu máo nói với ta:

"Ôi tôi cứ tưởng không còn được gặp công chúa nữa."

Ta nhướng mày:

"Chẳng phải đây là ý anh muốn sao?

Vừa hay đây là lần gặp cuối cùng của chúng ta rồi!"

"Ấy, ấy, công chúa đừng nói gỡ."

Ta nhìn mê man vào đám hát đình, chẳng thèm tiếp chuyện với gã.

Mãi một hồi lâu, Trần Khắc Lạng bỗng bâng quơ hỏi ta:

"Dạo gần đây khắp trong ngoài thành đều đi tìm cái lá diêu bông, công chúa biết thứ đó là gì không vậy?"

Tim ta đánh thót một cái, đột nhiên cảm thấy chột dạ.

"Lá diêu bông gì?

Ta không biết."

Trần Khắc Lạng ồ một cái rồi tiếp tục trầm ngâm.

Sau đó ta cho người đi nghe ngóng thì mới biết hóa ra là do Nhữ Hài tung tin vào trong dân gian, nhờ người tìm cho mình cái lá diêu bông, nguyện trả nghìn vàng.

Nghìn vàng không nhiều, nhưng với anh ta có lẽ là cả gia tài.

Chắc là thấy ta sắp sửa phải về xứ phiên bang nên muốn ngông cuồng một lần cuối, có điều cái lá ấy nào có thật đâu.

Tâm hồn ta bỗng nhiên nặng trĩu chẳng biết vì lẽ gì.

Như cái lẽ tất nhiên, đến năm ta mười tám ngót nghét mười chín, quốc vương Chế Mân y lời sai sứ đến Thăng Long đưa sính lễ, và cả việc cắt đất để đón dâu.

Trong lòng ta hồi hộp, suốt mấy ngày ăn không ngon ngủ không yên.

Quả nhiên cả triều đình chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.

Bọn họ đa số cho rằng quốc vương là phường man di mọi rợ, vốn không xứng với công chúa của Đại Việt lớn mạnh là ta.

Ta lại cảm thấy một anh hùng như quốc vương so ra còn hơn hẳn vài người chỉ biết nói đạo lý.

Trần Khắc Chung là ông nội của Khắc Lạng bạn ta, khiến ta đồ rằng có phải chính gã đã ở phía sau thêm mắm dặm muối?

Về phe phản đối, quyết liệt nhất chính là Tri khu mật viện Đoàn Nhữ Hài, mà Đoàn Nhữ Hài lại là cánh tay phải của anh cả ta, đương nhiên khiến anh ta có phần lưỡng lự mặc dù đã nghe phụ hoàng đề nghị qua rồi.

Phụ hoàng bây giờ đã tu hành ở Trúc Lâm Yên Tử, mọi sự trong nước đều do một tay quan gia quyết định nên ta có phần âu lo.

Nếu như việc không thành ta đương nhiên sẽ phấn khởi, nhưng lại cảm thấy tiếc nuối mấy năm chuyên tâm học nghệ nhiều hơn.

Sau đó hai tháng, sứ thần quay lại dâng chiếu thư cắt đất.

Lần này thì rõ ràng không phải nói suông nữa, quốc vương nước Chiêm thật sự là một lòng một dạ muốn lấy ta.

Ta mất dăm hôm không thể chợp mắt, trong lòng cảm thấy vừa bồn chồn vừa âu lo, lại kèm một chút phấn khích không thể giấu.

Đúng là tài vật hiện ra trước mắt khác với chỉ nói không, lúc này phần lớn triều thần đều đã xiêu, bắt đầu nhắc tới lời hứa của Thượng hoàng khi trước.

Tuy vẻ mặt ta vẫn bình tĩnh, nhưng trong lòng lại cảm thấy có người vì mình mà chịu bỏ ra vốn liếng như thế quả thật là rất có mặt mũi, dù người đó ta chưa từng gặp qua lần nào.

Dù ta biết đó thật ra chính là cái giá cho nhiệm vụ lần này của ta.

Cuối cùng thì ông anh nhà ta đành phải dứt áo đoạn tình với Nhữ Hài, ta đứng sau ngồi nhìn long hổ đấu, cảm thấy đây là việc tất yếu sẽ xảy ra.

Dẫu sao phụ hoàng đã hứa rồi, quan gia chẳng lẽ lại làm phụ hoàng mang tiếng thất tín ư?

Hơn nữa anh ta hẳn sẽ không để xảy ra mâu thuẫn không cần thiết giữa hai nước.

Và cả là món hời kia.

Cho nên hôm nay ta mặc đồ cưới lên thuyền sang Chiêm, chung quy cũng lắm trắc trở.

Hộ tống ta có Hành Khiển Khắc Chung, trạng nguyên Đĩnh Chi.

Hai người họ đi theo thì ta có thể hiểu, còn cái kẻ phản đối quyết liệt Đoàn Nhữ Hài tại sao lại là một thành viên trong phái đoàn đưa dâu thì ta không biết.

Đêm nay trăng sáng sao thưa, ta tựa lan can nhìn trời đêm thăm thẳm, sóng vỗ mạn thuyền ì ạch như hơi thở nặng nề của biển cả bao la.

Trong đầu ta chìm trong mê man bởi câu nói của phụ hoàng văng vẳng: "Phụ hoàng có nhiệm vụ giao cho con."

Đây là một nhiệm vụ khó nhằn, có thể lấy đi cả mạng sống bé nhỏ của ta mà chỉ ba người gồm ta, phụ hoàng và quốc vương nước Chiêm được biết.

Phía sau bỗng truyền đến tiếng bước chân, không cần nghĩ cũng biết là ai đang tiến đến.

Ta ngẩng đầu nhìn trăng sáng cố hương, cảm thấy có thể đây là lần cuối cùng được nhìn trăng nước Việt.

"Ta đôi khi tự hỏi, liệu công chúa đã từng hối hận về lựa chọn của mình chưa?"

Chất giọng thanh lạnh như ánh trăng, như làn gió biển man mát thổi tới từ đằng sau làn váy, có cung kính nhưng cũng có một chút chế giễu.

Có điều chẳng biết là chế giễu ta hay là tự chế giễu bản thân mình.

Ta không ngoảnh đầu, khoanh tay bình thản đáp:

"Hối hận ư, có gì để hối hận?

Lựa chọn ư, liệu ta có thể lựa chọn?"

Nhữ Hài sải chân bước hai bước tới gần ta, thất thố nắm lấy hai bả vai ta gằn giọng:

"Có thể, nàng có thể lựa chọn, nếu như ngay từ đầu nàng chọn ta..."

Ta nhếch môi cười với anh ta:

"Không, ta chọn giang sơn vạn dặm."

Đoàn Nhữ Hài như đóng băng, đứng bất động nhìn ta.

Nhìn vẻ mặt ngỡ ngàng của anh, ta bỗng nhiên thấy thương cảm.

Một lúc lâu sau, anh ta mới lấy lại được hơi thở yếu ớt, nghi hoặc hỏi:

"Vậy lá diêu bông mà công chúa nói, có còn tính không?"

Ta bật cười:

"Lá diêu bông?

Làm gì có thứ đó trên đời!"

Đoàn Nhữ Hài có vẻ hoang mang chực ngã, tay áo rộng thùng thình bị gió thổi như biến thành túi ba gang, thâu tóm cả đất trời.

Thoắt chốc, ta thật muốn vươn tay ra đỡ, nhưng nhìn ánh mắt hừng hực như lửa đỏ ta lại chần chừ.

Nhữ Hài thở hắt ra như trút cạn sức lực, lại khó khăn hỏi:

"Vậy ta có còn... gặp được nàng không?"

"Vào một ngày hoa sứ trắng nở rộ, có lẽ chúng ta sẽ gặp lại nhau.."

Ta mỉm cười hờ hững nói.

Có thể có, cũng có thể không, nhưng hoa sứ trắng đại diện cho một khởi đầu mới, hy vọng đến lúc gặp lại giữa hai chúng ta không nằm trong hoàn cảnh thế này nữa.

Nhữ Hài quay gót, vạt áo tung bay.

Ta nhìn anh ta, bất giác nói:

"Nếu như có ngày ta lâm vào hiểm cảnh, liệu anh có thể..."

"Thần nguyện dốc hết sức mình." – Đoàn Nhữ Hài hơi cúi đầu, sau đó sải bước trở về khoang.

Ta đối diện với trăng sáng, chợt ngâm nga:

"Nước non nghìn dặm ra đi,

Mối tình chi,

Mượn màu son phấn,

Đền nợ Ô Lý,

Đắng cay vì đương độ xuân thì..."

Hát xong lại tự cười với trăng, thật ra cũng không hẳn là nợ.

Rốt cuộc sau những tháng ngày lênh đênh trên biển, đoàn thuyền của ta cũng cập bến Chiêm Thành, trái tim đang phấn khích của ta lại càng thêm đập mạnh như trống bỏi.

Ta hồi hộp vì không biết dung mạo và tư thái người ấy có khôi ngô như những giấc mơ ta hằng mơ không.

Ta ngồi trong cỗ xe lộng lẫy nạm vàng và đá quý, được kéo bởi một con voi trắng đeo vòng hoa và trang trí những hoa văn có hình thù kỳ dị trên mình để vào vương cung.

Vén mành ra xem chỉ thấy hai bên dân chúng mặc những kiểu trang phục rực rỡ màu sắc hô hào tung hoa rợp trời chào đón, khiến lòng ta cũng dâng lên nỗi xúc động.

Tuy những thứ này ta từng đọc qua trong sách vở, nhưng tận mắt nhìn thấy quả nhiên khác biệt rất lớn.

Nắng gắt chiếu rọi trên vương quốc Chiêm với những tòa tháp cao vút bằng gạch đá uy nghi tráng lệ của kinh đô Đồ Bàn, mọi thứ như bừng sáng lên làm ta lóa mắt.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 7: Công Chúa Hòa Thân (4)


Xa giá của Quốc vương đã dừng trước cổng thành, ta lén tỳ nữ vén góc mành ra xem, chỉ thấy đối diện là một người đàn ông cưỡi voi trắng ngồi thẳng tắp uy nghiêm nhìn xuống.

Chàng mặc áo dài trắng viền vàng đính kim tuyến từ cổ xuống vạt áo, nút áo bằng ngọc cài ở giữa ngực, mũi hài thêu chỉ nổi hình chim thần kim sí điểu.

Đầu chàng đội vương miện cao cao có hoa văn thú Ma Già La quấn quanh, nạm đầy những viên đá phát ra thứ ánh sáng đủ màu rực rỡ.

Tuy người đàn ông này đã gần bốn mươi, nhưng trên mặt chàng vẫn không tìm được dấu vết của thời gian, làn da chàng ngâm màu bánh mật, mái tóc dài hơi xoăn, y như chàng trai mà ta từng mơ vào bốn năm trước.

Lúc ấy ta đã nghĩ phải chăng là do định mệnh, hay do Thiên Y Thánh Mẫu đã đưa chúng ta đến với nhau?

Mọi cử động của ta bị đình trệ, cứ mãi ngơ ngẩn nhìn chàng trai cưỡi voi tiến đến ngày càng gần, đến khi gương mặt chàng đã ở ngay trước mắt, bàn tay chàng chìa ra sát bên ta ta mới lấy lại tỉnh táo.

Lúc này ta cũng trông thấy trên mặt chàng có một tia thất thần, nhưng rất nhanh đã che giấu kỹ lưỡng.

Bàn tay nhỏ bé của ta đặt trong lòng bàn tay to lớn rám nắng hằn đầy vết chai, ta biết đây chính là những dấu vết của người cầm kiếm, trên tay phụ hoàng và mẫu hậu ta cũng có những vết y như vậy.

Làn da trắng của ta dưới cái nắng gay gắt của Đồ Bàn và làn da ngâm mạnh mẽ của Chế Mân càng trở nên lóa mắt, người dân hai bên đường nhìn ta, có lẫn ngưỡng mộ và tôn kính, như cách họ nhìn vị quốc vương của mình.

Chàng đội cho ta chiếc vương miện vàng khắc hoa văn thú Ma Già La, dắt tay ta sải bước dần về chính điện.

Trước sự dẫn dắt vững vàng của chàng, ta thực hiện hết mọi nghi lễ của nước Chiêm.

Nhưng sau này nghĩ lại, cảm giác sáng bừng trước mắt làm ta mơ mơ hồ hồ, giống như phó mặc hết cho chàng trước sự bối rối.

Ban đầu ta có phần lo lắng về việc chung chạ giữa chính hậu và các con chàng, nhưng ta có ngờ đâu quốc vương đã xây cho ta một tòa tháp mới trước khi ta được gả đến.

Tháp Cánh Tiên cao sừng sững giữa vườn Thượng uyển đầy giống hoa thơm cỏ lạ, chim chóc ríu rít cả ngày, cầu nhỏ nước chảy như chốn bồng lai.

Ta có thể nghĩ ra tất cả mọi viễn cảnh, nhưng hoàn toàn không nghĩ tới cảnh tượng đẹp đẽ này.

Xứ Chiêm vốn thời tiết khắc nghiệt, nhưng tòa tháp ta ở thì đông ấm hạ mát, ngồi bên bệ cửa có thể đón gió từ thung lũng thổi về.

Ta nhìn một vòng, bao quát là đồng ruộng xanh tươi mướt mắt, những mái tranh lúp xúp san sát nhau nối dài tận chân trời.

Từ hướng cửa khác có thể nhìn thấy Điện vua, đó là một tòa điện cao rộng, phần mái trên lợp ngói nhỏ hình thuẫn, tường điện được trang trí công phu.

Những lúc rảnh rỗi chàng thường tựa lan can nhìn sang ta, cho dù xa đến mức chỉ thấy bóng dáng nho nhỏ nhưng ta vẫn vươn tay với chàng.

Lúc ấy tỳ nữ của ta thường che miệng cười trộm.

Những khi xong việc sớm chàng thường ngồi phía sau cầm tay dạy ta viết chữ, mùi đàn hương nhè nhẹ phiêu đãng làm ta có chút mê man.

Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng ngòi bút lướt trên giấy nghe sột soạt.

Thỉnh thoảng một vài con đom đóm bay lạc vào cửa sổ lướt ngang trước mắt ta.

Hơi thở chàng phả lên cổ làm cả người ta có phần tê dại.

Nhưng niềm vui dài chẳng tày gang, một năm sau, quốc vương xảy ra chuyện.

Ta đương nhiên biết được trong hoàng cung nước Chiêm này ẩn chứa một kế hoạch kinh hoàng, kế hoạch lật đổ vương vị của vương hậu Nam Dương cùng con trai lớn của ả.

Ta mờ mịt biết được vào thời điểm không lâu khi đến Chiêm, có một hôm vương tử Chế Chí uống say xông vào phòng ta, không một ai ngăn cản.

Gã nói với ta, vương quốc sắp thay triều đổi vị, ta nên làm kẻ thức thời.

"Làn da của nàng trắng quá, người Chiêm ta không một ai có nước da xinh đẹp như thế này."

Chế Chí quỳ một chân trên giường, vừa si mê vừa tôn kính nhìn ta, nói.

Cuối cùng phải đích thân quốc vương vội vã chạy đến nơi, Chế Chí mới thôi không làm xằng bậy nữa.

Gã rời đi nhưng vẫn giữ ánh mắt thách thức và nụ cười xảo trá trên gương mặt mình, thậm chí không thèm chào phụ vương mình lấy một cái.

Nhìn gương mặt hao hao Chế Mân của Chế Chí, ta bất chợt cảm thấy rùng mình.

Lúc này ta mới hiểu ra, có lẽ quyền hạn của Chế Mân chỉ còn trên danh nghĩa.

Chàng hôn lên tóc ta, run rẩy thốt lên:

"Ôi, đóa hoa sứ trắng của ta."

Ta ngước nhìn chàng, cố giữ bình thản nói:

"Chàng có gì muốn nói với em không?"

Chế Mân nghe ta hỏi thế, có vẻ cũng biết ta đã nhìn ra mọi sự rồi.

Thì ra từ năm năm trước, hoàng hậu Nam Dương và vương tử Chế Chí đã cấu kết ngoại thần, cùng với người Nam Dương trà trộn trong nước Chiêm hòng lật đổ quốc vương.

Chàng vốn hết mực tin tưởng bọn họ, nên lúc phát hiện ra thì đã muộn, giống như một khúc gỗ mục đã mối mọt từ bên trong.

Nhưng làm một vị đế vương, để tin người đến mức này không biết là nói chàng nhân từ hay nói chàng ngu ngốc.

Quốc vương yêu dân như con, dẹp giặc ngoại xâm, nhưng đối với người nhà lại dung túng dẫn đến tai họa.

Dạo đó thực quyền vẫn còn nằm trong tay chàng, chàng bèn gửi thư cho phụ hoàng ta mời người sang chơi, nhưng thực chất là để cầu cứu.

Cũng trong lúc thực quyền còn trong tay, chàng đã hứa dâng cho Đại Việt hai châu.

Lúc này lời đã định, Chế Chí không dám nói mà không giữ lời nên chẳng thể ngăn cản Chế Mân.

Phụ hoàng ở Chiêm chín tháng, có lẽ là cặn kẽ hết đường đi nước bước xứ Chiêm, sau đó người trở về giao cho ta trọng trách.

Quân của Đại Việt không thể ngang nhiên xâm phạm vào lãnh thổ nước Chiêm mà phải cần có một cái cớ, mà ta vừa hay lại là cái cớ đó.

Có điều bốn năm qua, Chiêm Thành đấu đá không có ngày dừng, việc cầu hôn liên tục bị trì hoãn.

Đến khi quốc vương thoát khỏi kiểm soát dâng thư cầu hôn cắt đất, thì Chế Chí cũng lật mặt, bắt giữ người em khác mẹ là Chế Năng.

Cho đến hôm nay, kẻ thù tứ bề, chuyện soán ngôi đoạt vị sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Quả nhiên một ngày mùa hạ tháng năm, trong lúc tế lễ ở tháp Dương Long, Chế Mân bị ám sát.

Mà Chế Chí trong lúc cứu giá cũng bị thương, thành công giành được ánh mắt tán thưởng của người đời.

Sau đó Chế Chí được quần thần ủng hộ lên ngôi, mà ta không ngoài dự liệu bị vương hậu ép lên giàn hỏa thiêu với chàng.

Vốn dĩ người chịu hỏa thiêu phải là bà ta, nhưng một người vừa mới nắm giữ quyền hành trong tay làm sao có thể cam tâm chịu chết?

Thế nên cho dù Chế Chí có si mê ta đến mức nào thì gã cũng phải dùng ta để đổi lấy mạng của mẹ gã mà thôi.

Nhưng gã không hề hay biết thực ra phái đoàn Đại Việt đã đậu ở bến cảng từ trước.

Gã mềm lòng nghe theo lời khẩn cầu cuối cùng của ta ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về rồi sẽ vào dàn thiêu, ai ngờ đâu giữa đường quân Đại Việt ra đánh cướp, trở tay không kịp.

Ta nhìn đất Chiêm ngày một xa, trong dạ bồi hồi.

Hóa ra lâu ngày dài tháng, xứ sở đó cũng trở thành tâm hồn ta.

Sau khi ta trở về Đại Việt, Chế Chí liên tục xúi giục dân ở hai châu nổi loạn hòng đòi lại đất đai của mình.

Bốn năm sau, anh cả Thuyên ngự giá thân chinh, dưới trướng là Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Nhân Huệ Vương và anh hai Chẩn, còn có Đoàn Nhữ Hài được giao chức Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước để lo việc địch vận.

Quân Việt toàn thắng, nhưng theo di chỉ của phụ hoàng, anh cả Thuyên vẫn giao lại ngôi vị quốc vương cho Chế Năng.

Xuân tháng ba, sứ nở trắng núi Trâu Sơn, công thần phạt Chiêm là Nhữ Hài đến tìm ta.

Y đứng dưới bóng cây hoa sứ, màu áo còn trắng hơn cả màu hoa, như muốn cùng cây hoa hợp lại thành một.

"Cảm ơn công chúa đã giữ lời hứa."

Nhữ Hài mỉm cười nhìn ta, ta ồ một tiếng, hóa ra là lời hứa dạo nọ hai ta sẽ gặp lại nhau.

"Nhưng bây giờ gặp lại, Nhữ Hài đã là quan đầu triều, còn ta đã chẳng còn là công chúa nữa."

Vạt áo trắng của anh ta bay bay, ta bỗng thấy dáng dấp của chàng thiếu niên nhút nhát năm nào ở tẩm điện của anh cả Thuyên, nhưng năm nay chàng ta đã vô cùng già dặn và chính chắn.

Còn ta, ta cũng không còn là cô công chúa vô tư lự của ngày xưa nữa.

Nhữ Hài nhìn ta một lát, lại nhìn về phía sau ta, cười cười:

"Quốc vương mặc trang phục của Đại Việt trông cũng hợp lắm."

Ta quay đầu ra sau, thấy Chế Mân đã dắt Chế Năng ra trước sân.

Chế Năng năm nay đã là chàng trai mười sáu, cao gần bằng cha nó rồi.

Chế Năng khuỵu một gối xuống trước mặt Nhữ Hài, kính cẩn nói:

"Cảm ơn sứ thần đã giúp đỡ."

Thấy Chế Mân vẫn khoanh tay đứng mỉm cười, Nhữ Hài có chút bối rối đỡ Chế Năng dậy, vội đáp:

"Vương tử sắp trở thành vua một nước, sao có thể quỳ trước kẻ hèn này.

Lát nữa về Thăng Long hãy tạ ơn Quan gia, đó mới là người cứu vương tử đấy!"

Hôm nay Đoàn Nhữ Hài đến, là để đón Chế Năng về Chiêm nắm giữ triều đình.

Năm đó thật ra Chế Mân chỉ giả chết, lúc quân Việt ập tới, thuận tiện đưa cả hai cha con chàng trở về theo sự sắp đặt của chúng ta.

Ta áng binh bất động mấy năm, một phần là để chuẩn bị lực lượng, một phần là đợi vua mới trưởng thành.

Quả nhiên gốc rễ chưa vững, Chế Chí cũng chẳng thể làm gì được.

Đến nay ta cất quân chinh phạt, nhờ sự khôn khéo của Nhữ Hài, quân ta lại chẳng tổn hao mất một mũi tên.

Chế Năng đứng dậy, lại quay sang ta và Chế Mân, nói:

"Phụ hoàng và mẫu hậu hãy cùng trở về Chiêm để con được đáp đền ơn sinh dưỡng."

Chế Mân lắc đầu:

"Con đi đi, ta đã không còn ước vọng trở về nơi đó nữa.

Nếu con có lòng, lúc rảnh rỗi hãy đến thăm ta."

Nhưng chỉ e chuyến đi này sẽ khó lòng mà gặp lại.

Đến khi Nhữ Hài đưa Chế Năng rời khỏi Trâu Sơn, đột nhiên trong gian nhà vang lên tiếng trẻ con khóc.

Chế Mân mỉm cười ôm lấy vai ta, cất giọng tinh nghịch:

"Trễ rồi, vào ăn cơm thôi, ta có làm món nàng thích!"

Năm nay ta hai lăm, chàng đã bốn lăm, nhưng giữa hai chúng ta nào có khoảng cách gì đâu chứ?
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 8: Nguyên Đào (1)


Cha ta là Hưng Nhượng Đại Vương phủ Vạn Kiếp, ông nội ta là công thần đầu triều ba lần chống giặc Thát, lúc mất còn được truy tặng chức Thượng Phụ Thượng Quốc Công.

Thế cho nên từ năm mười hai tuổi ta đã được ban chức Văn Huệ vương, cùng với gã vừa được phong Uy Túc công Trần Văn Bích – cháu nội Chiêu Minh Vương được xem là kỳ phùng địch thủ.

Đương nhiên đó là do hắn ta tự ý nhìn nhận rồi truyền rao, chứ ta chẳng thấy hứng thú với bọn nam nữ ở chốn kinh kỳ.

Năm nay ta mười sáu, tự đặt cho mình hiệu là Nguyên Đào, Nguyên Đào trong "nguyên nguyên kinh ba đào hải lãng", một cơn sóng lớn như ta rõ là hơn hẳn cái kẻ chỉ có vẻ bề ngoài như Uy Túc công kia.

Ông nội mất trước lúc ta được phong Văn Huệ vương một năm.

Thuở trước người hay bảo ta y như một khuôn đúc ra của cha ta, trong số anh em trong nhà luôn tỏ ra nổi bật nhất.

Cũng bởi cái tính này mà có lần ta mải nghĩ đến một vấn đề khó nhằn trong binh thư của ông nội, thức trắng suốt ba đêm liền, cuối cùng mẹ ta phát hiện ra khóc lóc một trận mới khiến ta tạm thời quên đi vấn đề nan giải.

Ngủ một đêm dậy bỗng dưng ta phát hiện ra ăn ngủ điều độ mới khiến đầu óc minh mẫn được.

Trên ta có hai chị gái, trải qua hàng tá nhập nhằng trong chuyện tình cảm thì cuối cùng chị cả là vợ của anh họ Chẩn, chị thứ lại là hoàng hậu của anh họ quan gia.

Các chị đều đã lấy chồng ba năm trước, nên rốt cuộc chỉ còn một mình ta gánh chịu cái sự lạnh lùng xét nét của cha già.

Đương nhiên cha già nhà ta thì không những một mình ta sợ, nếu như ta chỉ âm thầm e ngại trong lòng nhưng vẫn giữ được mặt mày không đổi sắc thì mấy ông anh rể nhà ta hễ mà ngồi riêng với cha ta trong mâm cơm thì khẩn trương đến mức không dám động đũa.

Ngoại lệ thì có chị cả dịu dàng nhà ta được cha hết mực thương yêu, kế đến là chị hai đã rèn luyện đến độ điếc không sợ súng.

Giữa cha ta và mẹ ta là một thứ quan hệ gì đó mà ta không thể nói thành lời.

Qua lời kể của mẹ, cha mẹ quen biết nhau từ khi bà mới tám tuổi, lúc đó hoa cúc mùa thu đang độ nở rộ, bởi thế nên bà yêu luôn hoa cúc.

Sau đó đến khi mười tám tuổi thì bà gặp lại cha, nhưng mãi đến năm hai mươi lăm tuổi mẹ và cha mới kết tóc.

Mười bảy năm chờ đợi, chẳng biết là vì lẽ gì.

Khi còn nhỏ tuổi ta chỉ biết cha mẹ luôn yêu thương che chở cho ba chị em, gia đạo êm ấm khiến tuổi thơ của ta đẹp như tranh vẽ, chị cả và chị thứ mỗi người một cá tính giống như tô thêm màu sắc cho cuộc đời ta.

Nhưng đến khi lớn lên hiểu chuyện, rồi khi các chị lấy chồng, ta bỗng nhiên cảm giác có gì đó khác lạ.

Đương thời truyền tụng mối tình vượt trên cả lễ giáo của ông bà nội nhưng tiếc là ta lại không sống ở thời đó để chứng kiến, nhưng chỉ cần nhìn tình cảm vợ chồng của hai bà chị nhà ta thì ta rõ như ban ngày, vào mỗi dịp lễ tết hễ ngồi giữa mấy người bọn họ thì kẻ cô đơn lẻ bóng như ta chẳng hề có cảm giác tồn tại.

Quan gia tuy trong cung thê thiếp không thiếu, nhưng đối với chị thứ yêu chiều hết mực dù là những đòi hỏi hết sức hoang đường chứ nói gì tới anh Quốc Chẩn chỉ có một mình chị cả.

Chẳng hạn như trong bữa cơm, bọn họ người một miếng ta một miếng, đến ta còn ăn không nổi chứ nói chi đến cha mẹ già đã dừng đũa rời khỏi từ lâu.

Cuộc sống hôn nhân của họ phải nói là muôn màu muôn vẻ, trăm hoa khoe sắc.

Còn cha mẹ thì sao nhỉ?

Ban đầu ta nghĩ có lẽ do họ đã qua cái tuổi có thể tùy hứng như lớp trẻ sau này, nhưng bất chợt nhìn thấy bà cô Anh Nguyên và ông chú Ngũ Lão đã làm đến chức Điện soái Thượng tướng quân vẫn còn chơi trò đánh trận giả trong phủ thì ta mới bắt đầu nhìn nhận lại mọi việc.

Giữa cha mẹ dùng một câu tương kính như tân thì không đủ, phải nói là giữa họ có khoảng cách.

Cha ta là một người đàn ông lạnh lùng nghiêm khắc, mẹ lại là người hiền thục đoan trang, trong cuộc sống thường ngày cha mẹ rất hòa thuận.

Nhưng giữa vợ chồng liệu có thể hòa thuận đến mức đó ư?

Bác hai nhà ta là một người thoải mái phóng khoáng.

Tuy bình thường luôn tỏ ra ngoan ngoãn phục tùng bác gái, nhưng thỉnh thoảng cũng sẽ có lúc cãi nhau inh ỏi đến gà bay chó sủa truyền đến tận nhà ta.

Ngày ta còn bé, hễ lần nào mà có cãi nhau trong gia đình bác hai là y như rằng ta sẽ có thêm chị họ hoặc anh họ.

Lớn lên ta mới hiểu, đây gọi là đầu giường cãi nhau, cuối giường làm hòa.

Nhà ta thì yên ả đến lạ, giống như hôm nay mẹ hỏi:

"Gần đây trời lạnh, chúng ta ăn chè đỗ đen nhé?"

"Ừm." – Cha đáp.

"Sức khỏe chàng đã đỡ hẳn chưa, ngày mai lên kinh nhớ khoác cái áo em mới may cho chàng."

"Tôi biết rồi."

"Ngày kia là mùng Một, chàng nhớ ở nhà cúng gia tiên nhé."

"Tôi nhớ rồi."

"Quang Triều, con cũng nhớ có mặt đấy."

"À... vâng ạ." – Ta giật mình đáp.

Nói chung là mọi cuộc trò chuyện của cha mẹ thường tẻ nhạt và kết thúc một cách đột ngột như thế, tuy ta là một kẻ độc thân mà ta còn biết rõ giữa vợ chồng nên tâm sự bằng hết mọi chuyện cho nhau nghe.

Nhưng ta thấy kỳ lạ thì không phải ai cũng thấy kỳ lạ, điển hình là mẹ ta xem việc này là việc hết sức bình thường.

Ta có cảm giác bà ấy luôn bị bỏ lại phía sau và chưa từng thắc mắc lẫn muộn phiền, giống như đây là việc thiên kinh địa nghĩa, giống như ở bên cạnh cha ta là sứ mệnh mà bà ấy phải làm, lại giống như là một chuyện gì đó vô cùng trân quý.

Ta chưa từng yêu ai, nhưng ta hằng nghĩ, có lẽ yêu một người đến quên mình sẽ có hành động như vậy.

Cha ta không quá mặn mà với mẹ, nhưng cũng chẳng mặn mà với ai.

Ta biết cha rất quan tâm đến mấy chị em bọn ta và gia đình này, nếu như một trong mấy đứa chúng ta gặp chuyện, cha sẽ là mái ngói che mưa chắn gió cho bọn ta cho dù trả giá bằng tính mạng mình.

Nhưng mà...

Ta vẫn luôn thắc mắc là do cha tính tình như thế, hay là cha không hề yêu mẹ.

Đương nhiên phận làm con cái như ta thì việc đó chỉ dừng ở thắc mắc, chứ ta không dám và cũng không thể hỏi rõ ngọn ngành.

Dù sao thì, đó cũng là quyết định của mẹ.

Vạn Kiếp nhà ta có một nơi gọi là Tĩnh Lầu, nghe đâu đã làm ăn phát đạt hơn hai mươi năm có lẻ, càng ngày càng nổi tiếng đến tận kinh kỳ.

Có điều dân địa phương như ta lại chưa từng dời nửa gót chân đến nơi đó.

Hôm sinh nhật lần thứ mười sáu của ta, anh hai Quang Úy nằng nặc lôi ta đến.

Ban đầu ta luôn miệng từ chối, nhưng anh ta lại vỗ ngực nói rất hùng hồn:

"Chú đã mười sáu tức là đã trưởng thành rồi, sắp lấy vợ rồi, cũng nên đi thăm thú cho biết đó biết đây, tránh để sau này trẻ không chơi già đổ đốn.

Yên tâm đi, nếu như chú ba có trách tội thì ta sẽ nhận hết trách nhiệm cho, anh mà chú lại không tin hở?"

Được rồi, bởi vì là anh ta nên ta mới không dám tin.

Quang Úy là con nhà bác hai, bên ấy dạy dỗ con cái không khắt khe như nhà ta nên Quang Úy không chút kỷ luật, nhà mẹ anh ta lại là dòng chính trực hệ của quan gia nên ông anh này hầu như không sợ trời không sợ đất, kế thừa hoàn toàn tinh hoa của bác hai.

Thế nên dù ta không tình nguyện nhưng cũng không có cách nào khác, cuối cùng lôi lôi kéo kéo đến Tĩnh Lầu.

Quang Úy là khách quen ở đây, vừa vào cửa là chủ quán đã đích thân ra tiếp đón, sau đó người dưới đưa bọn chúng ta vòng vèo qua mấy tòa đình đến một nhã gian.

Nhã gian này không tệ, một mặt giáp hồ nước lớn trồng đầy dương liễu soi bóng xuống mặt hồ, ngăn cách chỉ bằng một bức mành trúc mỏng, khi có gió thổi lại va vào nhau leng keng.

Ánh nắng trưa oi ả chiếu xuống mặt hồ, ngược lại bên trong lại cực kỳ thanh mát, có lẽ là do đa phần vật dụng đều làm bằng đá và ngọc thạch.

Ta ngồi trên ghế dài chống cằm nhìn ra bên ngoài, cảm thấy cảnh sắc này còn đáng xem hơn đám yến yến oanh oanh mà Quang Úy chuẩn bị.

Tuy mang tiếng là đưa ta đi thăm thú, nhưng Quang Úy lại trái một cô phải một cô, trên sập giữa phòng lại có một cô đàn hát, nhất thời cái oi ả của buổi ban trưa cũng lùi xa.

Ta nghĩ rằng thỉnh thoảng đến đây khuây khỏa sau những giờ học căng thẳng không phải là không thể, nhưng tất yếu là đừng có sự xuất hiện của tên Văn Bích này.

Trần Văn Bích gọi Chiêu Minh Vương là ông nội, Quang Úy lại gọi Chiêu Minh Vương là ông ngoại nên tính ra giữa ta và Quang Úy là anh em chú bác, giữa Văn Bích và Quang Úy lại là anh em cô cậu.

Gã Văn Bích này tính tình trái ngược với ta nên khiến ta ghét vô cùng, gã ta cũng cùng một giuộc với Quang Úy.

Bởi thế đôi ba lần Văn Bích từ kinh thành về thăm nhà bác hai, lần nào cũng lôi kéo mấy anh em bọn ta đi Tĩnh Lầu.

Trừ anh cả Tự đã lấy vợ không đi, rốt cuộc chỉ còn ba người rồng rắn kéo nhau đến nhã gian như thường lệ.

Ta vẫn theo thói quen nửa ngồi nửa nằm bên cạnh cửa sổ hướng mắt ra mặt hồ nghe hát, đột nhiên cửa bên ngoài xoạch một tiếng mở ra, gian phòng bỗng ngập trong ánh nắng trưa oi ả.

Ngược nắng, ta nheo mắt nhìn cái bóng nho nhỏ thoắt ẩn thoắt hiện rồi xộc đến chỗ ta, vừa sấn tới đã chỉ tay vào mũi ta quát:

"Trần Văn Bích, anh đùa cợt em gái tôi xong rồi còn dám đến chỗ này hả?"

Trước mắt ta là một cô nàng đương độ trăng rằm, tuy đã là thiếu nữ cao ráo nhưng giữa đôi lông mày vẫn còn nét trẻ con chưa tan hết, ánh mắt nàng sáng rỡ như mặt nước hồ ngoài kia.

Nàng vận bộ nam trang màu xanh nhạt, mái tóc dài cột gọn trên đỉnh đầu bằng một dải lụa xanh.

Còn Trần Văn Bích trong miệng nàng đã sớm vòng qua người ta, phóng một cái nhảy xuống hồ nghe "ùm" một tiếng rõ to, có lẽ gã không biết ngoài kia là mặt hồ rộng lớn.

Ta cau mày nhổm dậy, còn chưa kịp phân trần đã nghe tiếng chị thứ của ta inh ỏi ngoài cửa, lấp ló sau lưng chị ta là một cô nàng khác có gương mặt khá giống với cô nàng đứng bên cạnh ta.

Lúc này ta bất chợt hiểu ra, có lẽ là bà chị nhà ta đưa người đến bắt gian, nhưng người ta lại bắt gian nhầm thằng em mình.

Thì ra hôm nay quý nhân trên kinh xuống, hai cô nàng lạ mặt chính là hai công chúa út Thượng Trân và Thiên Trân.

Bởi vì ta thường ngày chỉ ở trong phủ đệ, các em ấy thì ở mãi trong cung nên từ lâu lắm rồi ta chưa từng nhìn qua các em ấy trông ra làm sao.

Sự việc vừa hay đến tai cha ta, qua mấy lời thêm mắm dặm muối của bà chị thứ nhà ta, ta đinh ninh rằng cha sẽ nổi trận lôi đình vì đứa con vốn ngoan ngoãn nay lại dám trốn nhà theo phường ăn chơi trụy lạc, sau còn để cho rắc rối dính dáng với nhà Chiêu Minh vương và cả công chúa trong cung.

Sau khi đoàn quý nhân an ổn rời Vạn Kiếp, ta đã nhắm mắt chuẩn bị sẵn một trận đòn roi, cha tuy là người thấu tình đạt lý nhưng cũng không phải là kiểu người dễ thỏa hiệp.

Ta từng trông thấy cha tức giận vung roi lên lưng chị thứ chỉ vì chị ấy lén cha tự ý định đoạt, ngày đó nếu không phải quan gia vươn tay ra đỡ, không tránh khỏi có khi chị ta đã nằm giường ít nhất là vài ba ngày.

Nhưng lúc này trái ngược với tưởng tượng, ta bỗng nhiên thấy vẻ mặt cha cứng đờ.

Từ trước đến nay ta chưa từng nhìn thấy vẻ mặt này của người, vừa mất mát lại vừa có chút ưu thương, còn mẹ ta chỉ cười nhè nhẹ, trong mắt cũng chất chứa nỗi niềm tâm sự.

Ta biết chắc chắn giữa bọn họ đã xảy ra chuyện gì đó, từ rất lâu rồi.
 
Back
Top Bottom