Cập nhật mới

Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 82: Về Vấn Đề Con Trẻ


Chúng tôi trở về cung khi mùa sen ở hồ Thủy Tinh đang vào lúc rực rỡ nhất.

Người chồng siêng năng cần mẫn của tôi vừa trở về còn chưa kịp nghỉ ngơi lấy sức thì sớm đã bị quần thần vây lấy không thể thoát thân, tôi cũng không thể giữ anh ấy bên cạnh suốt mười hai canh giờ được.

Đôi lúc tôi cảm thấy dù chịu gian khổ ở bên ngoài thì trông chúng tôi còn giống một đôi vợ chồng hơn chốn cung cấm này nữa.

Tôi nằm trên thuyền nhỏ dưới đám sen cạnh bờ hồ Thủy Tinh, lấy một chiếc lá sen úp lên mặt để che nắng, phía trên là hàng dương liễu phủ bóng xuống mặt hồ.

Ban ngày ở Thăng Long trời nắng như đổ lửa, dù chỉ mặc giao lĩnh khoác ngoài nhưng vẫn không tránh khỏi cảnh đầu choáng mắt hoa.

Đang thiu thiu ngủ thì thuyền tròng trành một cái, tôi hé mắt thì đã thấy Trần Khâm đứng dưới thuyền từ lúc nào.

Tay anh ta đang giật cần câu, trên dây câu là một con cá chép lớn vảy bạc óng ánh dưới nắng.

Trần Khâm liếc mắt nhìn tôi, nửa cười nửa không nói:

"Nếu tôi không trực tiếp trông thấy Quốc Chẩn từ trong bụng em chui ra, sợ là cũng không xác định được nó là con của em đấy!

Thằng bé suýt nữa thì bị con cá này lôi xuống hồ rồi!"

Lúc này tôi mới sực nhớ ra bên cạnh mình vẫn còn thằng bé Quốc Chẩn, con cá to như vậy đớp mồi mà thằng nhóc này vẫn yên lặng một mình chịu đựng mà không gọi tôi.

Con mình đâu phải kẻ ngốc, chẳng những thế còn rất thông minh hiểu chuyện, nhưng chẳng lẽ hiểu chuyện quá nên thành ra có hơi hiền lành quá chăng?

Trần Khâm vốn dĩ có thành kiến với tôi về việc nuôi dạy Quốc Chẩn, tuy giờ anh ta không đề cập tới nữa nhưng trong lòng ắt hẳn vẫn mang gút mắt khó nói ra, giờ xem ra gút mắt lại càng ngày càng rối như tơ vò.

Tôi cố dùng giọng điệu hiền từ nhất có thể của một người mẹ, hỏi nó:

"Tại sao Quốc Chẩn không gọi mẹ?"

Thằng bé ngoan ngoãn đáp:

"Mẹ mệt, con không muốn đánh thức mẹ."

Tôi cau mày nhìn Trần Khâm, đã thấy anh ta ôm nó vào lòng, dịu giọng nói:

"

Sau này nếu con thấy khó chịu thì cứ nói ra, đừng cố chịu đựng một mình."

Ấy ấy, cái giọng điệu ngọt ngào như đường mật này anh ta còn chưa dùng qua với tôi đâu đấy!

Về khoản này thì nhóc Thuyên và Quốc Chẩn mang tính cách trái ngược.

Thằng nhóc Thuyên vốn bản tính lém lỉnh ranh ma, tuy rằng vẫn biết chừng mực nhưng việc gì nên tiến thì tiến nên lùi thì vẫn biết lùi, riêng Quốc Chẩn thì lại hiểu chuyện quá mức.

Thông thường những đứa trẻ hiểu chuyện quá sẽ chịu thiệt thòi, xem ra là từ lúc tôi răn dạy nó một lần đã hình thành nên bản tính sợ sệt của con trẻ.

Nhưng như vậy cũng tốt, nhóc Thuyên rất có phong thái của kẻ làm vua, còn Quốc Chẩn mang bản tính của một trung thần.

Tôi tin chắc nhóc Thuyên sẽ tin yêu em mình, còn Quốc Chẩn sẽ hết lòng phò vua giúp nước.

Họ Lý vì việc anh em tranh giành ngôi báu mà xảy ra rất nhiều vấn nạn, từ loạn tam vương cho đến sự tranh giành giữa Long Xưởng và Long Cán, dần dần đưa họ vào con đường suy vong.

Thế gian này, sự sụp đổ của cả một căn nhà chỉ bắt nguồn từ tổ mối.

Tối đó Quốc Chẩn có món cá hấp bỏ bụng, thằng nhóc Thuyên rất cơ hội chạy sang ăn chực, vừa ăn vừa tấm tắc:

"Đồ ăn của dì Hương nấu ngon nhất.

Nửa năm qua suýt nữa là quên mất vị ngon này ra làm sao luôn!"

Thằng bé Quốc Chẩn nghe thế liền than:

"Chúng ta còn sẵn thịt cá để ăn, còn dân chúng vừa trở về phải ăn gì đây ạ?"

Thằng bé Thuyên tỉnh bơ đáp:

"Em tưởng chỉ có hồ Thủy Tinh là có cá chắc?"

Tôi suýt nữa thì hóc xương.

Đêm nay thằng nhóc Thuyên ở lại ngủ với Quốc Chẩn, tôi mở cửa phòng thấy hai đứa đã ôm nhau ngủ chảy dãi mới yên tâm đóng cửa trở về.

Chỉ sợ hai thằng nhóc này mải chơi đến tận khuya, đến sáng lại không dậy đi học nổi.

Vừa trở về đóng cửa phòng, phía sau lưng đã bị một ai đó ôm chặt, hơi nóng phả vào cổ khiến tôi run rẩy cả người.

Tôi quờ quạng trong bóng tối thầm nghĩ chắc cũng có ngày mình bị dọa chết.

Trần Khâm cắn nhẹ vào cổ tôi một cái:

"Em phải bù cho tôi đấy!"

Tôi đỏ mặt, thầm hiểu anh ta muốn bù cái gì.

Đương nhiên sau đó là một màn điên loan đảo phượng.

Sau mấy tháng đưa quân về hỗ trợ dân chúng khôi phục lại cuộc sống trước đây thì mùa thu tháng tám, Trần Khâm cũng bắt đầu công cuộc luận công ban tội.

Tháng chín, đổi niên hiệu là Trùng Hưng năm thứ nhất.

Đại xá.

Ngày Mười hai, gia tôn huy hiệu cho các tiên đế và tiên hậu.

Mùa đông, tháng Mười, xuống chiếu định hộ khẩu trong nước.

Triều thần can là dân vừa lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp.

Vua nói:

"Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng phải qua đó mới xem xét được hao hụt, điêu tàn của dân hay sao?"

Quần thần đều khâm phục.

Bính Tuất, Trùng Hưng năm thứ hai.

Mùa xuân, tháng giêng, thả quân Nguyên về nước.

Trần Khâm bận rộn với công việc triều chính, còn ở sau đình chị Trinh cũng phải vất vả lo các công việc cúng kiếng ngày đầu năm.

Tôi là một phu nhân nhàn hạ, bỗng nhiên xui xẻo bị vạ lây.

Về vấn đề này chị Trinh khá là quyết liệt với tôi, giống như thật sự muốn giao toàn bộ công việc của mình cho tôi vậy.

Năm nay thằng nhóc Thuyên đã lên mười nhưng bản tính ham chơi mãi không sửa được.

Tôi tự nhủ, giúp người phải giúp cho trót, đối với thằng nhóc này mình càng phải nghiêm khắc hơn.

Nhưng nói đi phải nói lại, thật ra làm vua cũng chẳng vui vẻ gì.

Điển hình như Trần Khâm và vị vương nhàn hạ ở phủ Văn, trong khi Trần Khâm ngay từ khi chưa tròn mười tám tuổi đã phải lãnh trách nhiệm sinh con đẻ cái nối dõi, ngày đêm vì thịnh suy của Đại Việt mà lao tâm lao lực không có thời gian nghỉ ngơi thì vị kia đến hiện giờ vẫn còn chăn đơn gối chiếc không quản sự đời.

Trong nhà anh ta ngày nào cũng truyền ra tiếng đàn hát, thậm chí ngày trước tôi còn vô tình trông thấy anh ta vươn cánh tay dài của mình tới hồ Thủy Tinh câu trộm cá, quả thật là kê cao gối ngủ ngon.

Tôi thiết nghĩ đời người mấy ai được sống trong cảnh ấy, nói tôi ích kỷ cũng được, tôi chỉ sợ đứa con hiền lành trung thực của tôi mai sau ở chốn quan trường phải rơi vào tình cảnh khó khăn chồng chất.

Tôi làm người đơn giản, chẳng hề muốn lo nghĩ tới những việc phức tạp này, nhưng sống trong nhà vua khó tránh khỏi va chạm.

Dù sao thằng nhóc Thuyên này kể từ khi sinh ra đã được tiên đế lập làm hoàng thái tôn, một nửa ngôi vua đã về tay, chỉ cần không làm gì quá đáng thì chỉ cần ngồi rung đùi cũng giành được thiên hạ.

Nhưng có điều là phải xem thằng nhóc này ngồi rung đùi để học hành hay là ăn chơi.

Nếu như nó chuyên tâm chăm lo triều chính vậy thì quý hóa quá, còn bằng không e là lớp già bọn tôi phải thêm một phen đau đầu.

Vì thế kẻ làm mẹ kế như tôi mặc dù cảm thấy như có một gánh nặng đang đè xuống vai nhưng mặt khác lại bừng bừng hưng phấn, lập tức không quản cái lạnh cuối năm ở kinh đô ngồi xe ngựa đến Quốc Học viện xem bọn trẻ học hành.

Tự bản thân tôi cảm thấy mình giữ chức phu nhân cũng thật lao tâm khổ tứ.

Thầy giáo nhìn thấy tôi và Thụy Hương đứng nép bên cửa sổ thì định bước ra chào, tôi ra hiệu cho thầy im lặng, đứng khoanh tay nhìn vào bên trong thì lập tức thấy thằng nhóc Thuyên đang ngồi ngủ gà ngủ gật.

Dưới chân tôi run lên, khó khăn kìm nén ý muốn xông vào bên trong tẩn cho nó một trận.

Bên trong đã giảng đến đoạn Nhan Hồi ăn vụng cơm.

Phải công nhận một điều là thầy giáo này giảng bài hết sức "đặc sắc", một câu chuyện hay như thế bị ông ấy giảng thành một bài hát ru.

Tôi mơ màng đứng tựa vào tường, nhìn thấy những tia nắng chói mắt lọt qua những lỗ hổng trên giàn tầm xuân, bất chợt nghĩ đến chiếc sập trúc ở nhà.

Tôi bỗng cảm thấy sự đồng cảm sai trái với thằng nhóc Thuyên, năm ấy ngồi học cùng Tuệ Trung thượng sĩ ở phủ đệ Vạn Kiếp, mình cũng từng lâm vào cảnh gà gật như vậy.

Bên cạnh nhóc Thuyên có một thằng bé tầm năm sáu tuổi, gương mặt sáng sủa và đôi mắt rất có hồn.

Thằng bé này không những chăm chú nghe giảng, thỉnh thoảng còn lay nhóc Thuyên dậy.

Tôi hỏi nội hầu thì biết cậu bé đó tên Đoàn Nhữ Hài, là một học trò nhỏ ở lộ Hồng Châu hiện đang trọ tại chùa Tư Phúc.

Đứa bé này tuy còn nhỏ nhưng lại nỗ lực cho việc học thế kia, tôi thầm nghĩ có lẽ sang năm cũng nên cho Quốc Chẩn đến đây mở mang tầm mắt.

Thằng nhóc Thuyên sau khi bị lay tỉnh thì lại tiếp tục vẽ vời gì đó lên giấy, tôi khóc không ra nước mắt nhìn Thụy Hương, chỉ hận rèn sắt không thành thép.

Sau khi thầy giáo giảng xong có rất nhiều học trò giơ tay phát biểu, sâu sắc nhất thì phải kể đến Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngộ và Độ Thiên Lư.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 83: Bàn Về Câu Chuyện Nhan Hồi Ăn Vụng Cơm


Độ Thiên Lư nói, phàm là bất kể việc gì cũng không thể nhìn bề nổi, dù là mắt thấy tai nghe cũng chưa chắc là đúng, kể cả có là Khổng Tử - một bậc thánh nhân.

Vì thế nếu như muốn nhìn nhận một việc cho tận tường thấu đáp phải dùng tim mà cảm nhận, làm người sống không nên xốc nổi, việc gì cũng có nguyên nhân.

Độ Thiên Lư năm nay chắc cũng trạc mười bốn mười lăm, tầm tuổi Mạc Đĩnh Chi.

Tiếp đến là Phạm Ngộ cũng cùng trang lứa với Độ Thiên Lư, cậu ta nói tuy rằng Khổng Tử vô cùng đau xót và tự trách khi phát hiện ra người học trò mà mình vô cùng thương yêu đang ăn vụng cơm, nhưng lại không lập tức trách phạt và kết tội học trò trước các môn đệ.

Ông đã khéo léo dẫn dắt để người học trò ấy tự nhận lỗi, nhờ vậy mới phát hiện ra mình đã nghĩ sai mà không phạm phải sai lầm nghiêm trọng nào.

Người còn lại là Đoàn Nhữ Hài.

Cậu bé này tuy còn nhỏ tuổi nhưng sau khi nghe Phạm Ngộ và Độ Thiên Lư phát biểu xong, đã ngay lập tức đưa ra kiến giải theo một hướng khác không hề trùng lặp.

Cậu bé ấy nói về khía cạnh của người học trò kia, biết nhận lỗi và suy nghĩ cho thầy và các bạn là một điều hết sức đáng quý.

Tuy lén lút ăn phần cơm bẩn nhưng lại không muốn thầy và các bạn nhìn thấy, ấy là âm thầm nhận điều thiệt về mình.

Thằng bé này mang trong mình tấm lòng lương thiện, ắt hẳn sau này sẽ là một cánh tay đắc lực của nhóc Thuyên.

Thấy cả ba cậu học trò phát biểu hôm nay đều là những người tài không đợi tuổi, tôi bèn âm thầm ghi nhớ tên họ, định bụng tối nay sẽ kể lại cho Trần Khâm.

Chuyến đi này tuy nhìn thấy thằng nhóc Thuyên học hành chểnh mảng nhưng ít ra bản thân cũng hiểu thêm được nhiều điều.

Mãi nghĩ không chú ý, lớp học đã đến giờ tan tầm.

Các môn sinh còn nán lại với nhau để luận bàn kiến thức khi nãy, tôi và Thụy Hương thì quay gót trở về.

Bỗng nhiên phía sau vang lên tiếng thằng nhóc Thuyên gọi với tới, tôi quay mặt lại thì thấy nó đã đứng phía trước tôi.

Vốn dĩ tôi đã hơi nguôi giận, bất chợt trông thấy vẻ mặt tỉnh táo của thằng nhóc cười hề hề với mình khác hẳn với bộ dạng ngủ gà ngủ gật ban nãy, lập tức nổi đóa.

Tôi cau mày nhìn nó, trầm giọng hỏi:

"Con là hoàng thái tôn do tiên đế đích thân chọn lựa, sao lại không có chí tiến thủ như thế?

Một lần bắt gặp vạn lần không, hôm nay con học hành lơ đễnh khiến dì thật không tài nào nghĩ tốt cho con được, trong lòng dì thắc mắc không biết có phải ngày nào đi học con cũng không tập trung như vậy hay không?"

Thằng bé gãi đầu, xụ mặt nói với tôi:

"Tiên đế chọn con làm hoàng thái tôn khi chỉ mới có mình con được sinh ra, làm sao ngài ấy biết được sau con còn có những ai tài giỏi hơn chứ?"

Tôi chưng hửng nhìn nó.

Cũng không nghĩ ra được nó sẽ trả lời như thế này nên từ bực mình tôi chuyển sang rầu rĩ, thầm nghĩ tương lai của nước Việt có chắc chắn là nhóc Thuyên làm vua không cũng chưa thể khẳng định được, quyết tâm hừng hực của tôi bỗng nhiên nguội tắt đi không ít.

Con lớn rồi tự có suy nghĩ của riêng mình, người làm mẹ kế như tôi muốn nhọc lòng răn dạy thì tự bản thân cũng thấy mình với tay quá dài.

Suy cho cùng là xuất phát từ sự kỳ vọng quá lớn, tôi lại không kìm được mà trách:

"Dì nhìn thấy trong học đường không ai là không chuyên tâm nghe lời thầy dạy, chỉ có con là lơ là.

Nếu như sau này bọn họ lên làm thần tử mà người làm vua như con không chịu học hành thì làm sao biết được lời nào đúng lời nào sai, người nào trung người nào gian để phân biệt thị phi phải trái?

Đến lúc đó nhỡ đưa ra quyết định sai lầm, hại nước hại dân thì phải làm thế nào?"

Nghe tôi nói lời này thằng nhóc Thuyên không khỏi nghĩ ngợi, nghĩ xong thì chậm rãi phân trần:

"Thật ra trong lũ họ thiếu gì những con bò hay chữ, học tốt không có nghĩa là sau này sẽ giúp ích được cho dân.

Từ cổ chí kim cho dù là những kẻ học rộng tài cao, miệng lưỡi giảo hoạt cũng chưa chắc sẽ không vì tư lợi mà đem lòng phản trắc.

Kẻ tốt hay người xấu chỉ chênh nhau ở một ý niệm.

Thay vì tu học con nghĩ là một vị vua thì cũng nên tu tâm, lúc đó phân rõ thẳng ngay không sợ bị gian thần lộng quyền."

Tôi lắc đầu:

"Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó."

Tôi có phần chán chường.

Lúc này có mấy người học trò tiến đến cúi đầu chào tôi rồi cùng nhóc Thuyên sóng vai rời đi.

Bóng lưng nó sao mà hiu quạnh, trong lòng tôi cũng thấy buồn phiền.

Lúc tôi định trở về thì Đoàn Nhữ Hài từ trong nhà học chạy ra, trên tay cầm mấy tờ giấy gấp gáp nói:

"Con thấy người trách mắng hoàng thái tôn, nhưng mà người trách lầm anh ấy rồi.

Trông anh ấy chểnh mảng thế thôi, thế nhưng lời thầy dạy anh ấy vẫn luôn để tâm đấy ạ!"

Đoạn, lại có vẻ ngượng ngùng:

"Thật ra con có thể học ở đây, cũng là do một tay anh ấy cấp cho ăn mặc học hành!"

Thấy tôi cầm lấy mấy tờ giấy, thằng bé cũng cúi chào rồi xách tập vở chạy theo phía sau đuôi của nhóc Thuyên giống như một tên sai vặt.

Tôi thầm nghĩ làm một kẻ có số má thật tốt, lúc nào cũng có một vài tên tay chân sẵn sàng sống chết vì mình.

Nhìn bộ tướng thấp bé nhanh thoăn thoắt của thằng nhóc, tôi không nén được bật cười.

Chợt nhớ đến mấy tờ giấy trên tay, tôi lật xem thì thấy bức tranh vẽ một người đàn ông mặc Hán phục, đầu đội kim quan, mặt hổ râu rồng vô cùng khí thế.

Bên cạnh lại đề hai câu thơ:

"Tru Tần diệt Hạng cứu sinh linh,

Giá ngự anh hùng đại nghiệp thành."

Dịch thơ:

(Đánh Tần, diệt Hạng, cứu dân chúng,

Chế ngự anh hùng, hoàn thành sự nghiệp lớn.)

Tôi ngẫm một hồi mới hiểu, thằng nhóc này đang làm thơ ca ngợi Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Hán Cao Tổ nói thẳng là từ một kẻ thất phu lên làm vua, thảo nào nó lại cãi nhau với tôi về việc học hành.

Nhìn nét vẽ và cả giọng thơ, xem ra thằng nhóc này cũng là một kẻ yêu nghệ thuật.

Tôi lật xem tờ giấy bên dưới, thì thấy lộ ra mấy câu luận như sau:

"Nhan Hồi ăn vụng cơm, nhìn bề nổi thì thấy những đức tính tốt được phô bày của thầy trò Đức Khổng Tử, nhưng nhìn vào bề chìm chỉ thấy sự loạn lạc của thời đại Xuân Thu.

Kẻ thống trị tranh giành nhau từng tấc đất khiến dân chúng lầm than, người người khổ cực mà lại không thấu được cốt lõi là sự no ấm của dân chúng.

Chỉ khi dân giàu nước mới mạnh, khi đó cũng không còn cảnh đói kém khiến thầy trò trải qua gian khổ đến mức chỉ vì một nhúm gạo không đủ no mà nghi ngờ lẫn nhau.

Kẻ làm vua phải nhìn vào điều đó mà lấy làm bài học".

Tôi hết nhìn Thuỵ Hương đến nhìn về hướng nhóc Thuyên đã khuất dạng, lại quét mắt vào tờ giấy mình đang cầm trên tay, giật mình phát hiện hóa ra chính tôi mới là kẻ hồ đồ.

Thằng nhóc này có cái nhìn khách quan, nó không những nhìn thấy bề nổi của vấn đề, mà còn có thể nhìn thấu nội hàm bên trong nữa.

Chỉ vài câu chữ tuỳ tiện, viết đến nguệch ngoạc khó coi nhưng tôi giống như nghe được nỗi lòng con trẻ.

Cõi lòng bỗng chốc ấm lên, hoá ra tôi suýt thì hiểu lầm thằng bé giống như Đức Khổng Tử đối với môn hạ của mình.

Tôi đem chuyện kể với Trần Khâm, anh cười bảo:

"Đi một ngày đàng học một sàng khôn, mấy lời tôi nói không có sức nặng bằng việc tự em trải nghiệm nhỉ?"

Trần Khâm đúng là xem tôi thành một đứa trẻ con rồi.

Việc thằng nhóc Thuyên vừa qua thì cũng đến ngày cúng ông Công ông Táo.

Đây là tục thờ Ngũ tự để trả công cho năm vị thần trong nhà là Môn thần, Hộ thần, Trung lưu thần, Táo thần và Hành thần, Vua quan cúng ngày hai mươi ba, thứ dân cúng ngày hai mươi bốn và những người làm nghề chài lưới, ngư dân cúng vào ngày hai mươi lăm.

Tôi cũng chẳng biết tại sao lại có sự như thế, nhưng chị Trinh cứ nằng nặc bắt tôi phải ghi nhớ làm tôi choáng hết cả đầu, nào là cơm canh rượu nước vàng mã, nào là cau trầu thịt gà thịt lợn...

Điều đặc biệt phải có ba bộ mũ áo, hài, một hoặc ba con cá chép.

Ngày đưa ông Táo về trời cách tết âm lịch chỉ có sáu bảy ngày nên phải quét tước toàn bộ phòng ốc, thường gọi là tảo trần.

Tảo trần để bỏ cũ đón mới, quét sạch điềm xấu.

Còn phải dán cửa, dán tranh tết vân vân, rồi đi tảo mộ ông bà, xong xuôi hết thì đến Tết Nguyên Đán.

Tết năm nay vừa đánh đuổi được ngoại xâm, tuy kinh tế vẫn chưa phục hồi nhưng không khí phá lệ vui nhất trong suốt hơn hai mươi năm trở lại đây.

Thông thường vào tháng Giêng mọi người đều tạm ngưng lại công việc để tham gia hội xuân, nhưng năm nay có lẽ sẽ phải tăng gia sản xuất.

Dẫu sao thì cũng có câu: "tháng Chạp là tháng trồng khoai, tháng Giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà."

Học đường cũng cho các học trò tạm nghỉ để chơi tết, Thăng Long ngày thường vốn đã nhộn nhịp nay lại càng náo nhiệt hơn, cả quý tộc cùng thường dân đều cùng nhau chơi mấy trò chơi dân gian làm rộn ràng cả con phố.

Tôi nhìn bộ tướng thèm rỏ dãi của thằng nhóc Thuyên, cảm giác hoàng cung sắp không giữ nỗi nó nữa rồi.

Tôi kéo bọn nhỏ chơi trò cắt giấy hoa, chợt phát hiện ra thằng nhóc Thuyên đúng là một nhân tài về khoản này.

Quốc Chẩn trố mắt nhìn những tờ giấy hoa mà anh trai mình vừa cắt cắt vẽ vẽ xong, trên mặt hiện lên vẻ sùng bái.

Trong lòng tôi cũng vui vẻ, tự nhủ những năm về sau khỏi phải cực nhọc rồi.

Năm nay Quốc Chẩn làm việc rất có năng suất.

Trong hoàng thành này nó là người nhỏ tuổi nhất, lại có người cha rất mát mặt là quan gia, thế nên mới có cảnh tôi ngồi đếm tiền mừng tuổi của nó mà không khép miệng lại được.

Thằng nhóc cũng háo hức ngồi một bên xem, tôi nói rằng đây là tiền để dành sau này lấy vợ cho nó nên đạt được thống nhất giữa hai bên, tâm tình thằng nhóc cũng rất tốt.

Đón giao thừa và cúng đầu năm xong, tôi và chị Trinh cũng bắt đầu sắp xếp chuẩn bị trở về Vạn Kiếp ăn cưới.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 84: Kể Cả Đi Ăn Cưới Cũng Có Thể Gặp Được Sơn Tặc


Trước khi đi, Trần Khâm giao lại cho tôi chiếc trâm hoa dạo nọ.

Tôi há mồm kinh ngạc, thứ ngỡ đã mất từ lâu, không ngờ hôm nay vẫn còn có thể nhặt về.

Đúng là đồ của mình, thì kiểu gì cũng quay về với mình thôi.

Đây là món quà đầu tiên Trần Khâm tặng tôi làm vật đính ước, nó theo tôi suốt quãng thời gian lưu lạc.

Lần gặp lại đầu tiên phần vì thấy tôi quen mắt, phần vì chiếc trâm này mới khiến anh ta chú ý đến tôi.

Trần Khâm thấy tôi thắc mắc, liền "hừ" một tiếng, đáp:

"Có nhớ cái hôm em bị Thoát Hoan làm cho bí bách quá phải ngất xỉu để giải vây hay không, chính tôi là kẻ thu dọn tàn cuộc cho em đấy!"

Còn thu dọn tàn cuộc nữa cơ đấy, không phải vì sợ anh ta nên tôi mới phải dùng đến hạ sách này sao?

Nhưng nhận ra tôi cố ý ngất xỉu thì anh ta xem ra cũng khá.

Tôi chồm người lên tặng Trần Khâm một nụ hôn xem như lời cảm ơn.

Trần Khâm liền nhân cơ hội ghì chặt lấy tôi, hôn thật sâu khiến tôi không thở nỗi.

Phải mất một lúc tôi mới thoát khỏi móng vuốt của anh ta, đẩy anh ta ra, còn mình thì ôm ngực thở hổn hển.

Trần Khâm hả hê nhìn tôi, gương mặt rất gợi đòn.

Thấy đôi tròng mắt của anh ta dần mê man, sợ anh ta lại hóa thành con mãnh thú lao vào mình, tôi liền đánh lạc hướng:

"Vậy bao giờ Thanh Phúc đến Vạn Kiếp?"

Vạt áo Trần Khâm đã hơi lỏng, một bên bị kéo ra để lộ ra khuôn ngực rắn rỏi.

Cơ thể anh vốn đã rất đẹp, lại qua hun đúc của cuộc chiến vừa qua lại càng quyến rũ, dù có hơi gầy xuống nhưng hoàn toàn không ảnh hưởng đến xúc cảm khi chạm vào, thậm chí còn có cảm giác thích thú hơn.

Anh ta ngồi ngửa cổ ra sau, phần ý xuân để lộ ra trước mặt tôi đến quá nửa.

Trần Khâm suy nghĩ một lát, đáp lời tôi:

"Việc trong triều còn bộn bề, nhưng tôi sẽ sắp xếp."

Trong lòng tôi hơi thất vọng, nhưng nghĩ lại anh ta dù sao cũng là vua một nước, ít khi nào có thể làm theo mong muốn của mình.

Trần Khâm thấy tôi xụ mặt bèn nắm lấy hai bên gò má của tôi kéo tới kéo lui, tôi cắn môi trừng mắt nhìn anh ta, anh ta liền cười ha ha nói:

"Em cùng trang lứa với Quốc Chẩn hay sao ấy!"

Tôi cau mày né tránh bàn tay háo sắc của anh ta, Trần Khâm lại ấn tôi xuống giường, đôi môi mát lạnh đảo qua đôi gò má tôi mơn trớn.

Cả người tôi mềm nhũn, chỉ biết thầm mắng trong lòng mà chẳng thể kêu la.

Buổi sáng lúc quờ quạng tỉnh lại thì thấy bên cạnh trống không.

Tôi nhập nhèm mở mắt, bỗng dưng nhìn thấy một bài thơ trên gối.

Mùi giấy mật hương chỉ thoang thoảng bên mũi, tôi dụi mắt, thì ra Trần Khâm lại tức cảnh sinh tình.

Lần này lại là:

"Chim chậm lời ca, liễu nở đầy,

Họa đường bóng lộng, mây chiều bay.

Khách đến, chuyện đời không hỏi nữa,

Cùng tựa lan can ngắm biếc ngày."

Tôi như thường lệ lấy bút đề hai chữ "Cảnh xuân", rồi nhắm mắt ngủ tiếp.

Trong mơ lại chập chờn hình ảnh một nam một nữ đứng tựa lan can dưới mái hiên có giàn hoa leo phủ kín.

Dõi mắt xa trông chỉ thấy hoàng hôn buông mình, đàn chim én sải cánh bay về nam.

Trong gió xuân mơn man thổi, chàng trai dịu dàng khẽ vén lọn tóc mai qua vành tai của cô gái.

Không gian ngan ngát mùi giấy mật hương.

Buổi sáng tinh mơ ngày mồng bốn, cả đám chúng tôi rồng rắn kéo nhau trở về, cả người và lễ vật tính sơ cũng đã gần năm xe.

Tôi và chị Trinh nhìn nhau, tự cảm thấy đoạn đường này quá mức cực khổ.

Xe ngựa xóc nảy liên tục, tôi ngồi ôm Quốc Chẩn ngủ thiếp đi trong xe.

Trong suốt đoạn đường chỉ nghe tiếng chị Trinh ở bên tai tôi thỏ thẻ gì đó, âm thanh thi thoảng hoà trong tiếng cười nói của nhóc Thuyên, nghe thật dễ ngủ, cũng thật yên bình.

Trong cơn mê man, bỗng nhiên tiềm thức của tôi quay về lúc cùng với Đan Thanh xuất phát từ Vạn Kiếp.

Giữa thực và ảo đan xen liên tục, lúc thì tôi nghe tiếng Đan Thanh cười cười nói nói hòa cùng tiếng mưa rả rích rơi lộp bộp trên nóc xe ngựa, lúc thì tiếng chị Trinh cùng nhóc Thuyên hàn huyên gì đó bên tai làm tôi ngỡ như mình đang ở thời điểm của hơn sáu năm về trước.

Năm ấy tôi là một thiếu nữ với tâm hồn còn tươi trẻ như mùa xuân, tò mò mới mẻ với mọi thứ, trái tim nhạy cảm như một đóa phù dung, buồn man mác khi chia xa mối tình đầu.

Khi ấy Đan Thanh vẫn còn sống, còn kề cận bên tôi, và vẫn chưa xảy ra trận hỏa hoạn ở cung Quân Hoa làm cháy rụi đi tất cả.

Đang chập chờn trong cơn mộng mị thì bị lay tỉnh.

Tôi mở mắt, bỗng thấy gương mặt của Quốc Chẩn đang kề sát mình.

Nó lấy tay sờ sờ mặt tôi, rồi hỏi:

"Mẹ gặp ác mộng hả?"

Tôi đưa tay lên má, hóa ra mình đã rơi nước mắt tự lúc nào.

Chiếc xe ngựa đang xóc nảy bỗng nhiên thắng gấp khiến mấy người bọn tôi ngã nháo nhào, tôi phải ôm chặt Quốc Chẩn mới ngăn thằng bé không bị va đập vào khung xe ngựa.

Thằng nhóc Thuyên thì ngã chổng vó lên trời, nó ngồi dậy xoa đầu kêu la oai oái.

Nhóc Thuyên tức mình định vén màn xông ra, tôi bèn nhanh chóng giữ tay nó lại, ra hiệu im lặng rồi hé mắt nhìn qua khe hở trên xe.

Phía trước đương không lại truyền tới tiếng chém giết, quả nhiên đoàn xe ngựa đã gặp phải mai phục.

Lần trước là đám tàn dư của Thoát Hoan, lần này lại chẳng biết là ai nữa.

Cũng may trên đường có Cấm vệ quân đi theo bảo vệ khiến tôi bớt đi không ít nỗi lo, chỉ có điều lực lượng hai bên tương đồng, e là sẽ có thương tổn.

Hết cách, trước mắt tôi phải lo an nguy của mấy vị quý nhân trong xe, toàn là mầm non của quốc gia không đấy, tương lai đều sẽ trở thành rường cột nước nhà.

Nhìn cách ăn mặc của đám người này, tôi cũng phần nào hiểu được thân phận của bọn chúng.

"Đây là sơn tặc ư?

Thời buổi này đói ăn tới mức dân chúng phải kéo nhau ra giữa đường cướp bóc đấy à?" – Thằng nhóc Thuyên ngó qua khe hở chỗ cửa xe mà nhìn lén, nhìn xong còn lẳng lặng đánh giá cục diện.

Ban nãy không để ý, giờ mới thấy xung quanh vắng vẻ không một bóng người, con đường xuyên rừng chỉ toàn cây cối, rất thích hợp để chiếm núi chặn đường.

Miệng thằng nhóc đã bị chị Trinh bịt chặt, tôi bèn cười giảng giải:

"Cái này thì phải hỏi cha con, nào có ai vừa sinh đã ra muốn làm ăn cướp đâu chứ?"

Thằng nhóc nghe thế thì giẫy lên, cũng may miệng nó không hét lên được.

Quốc Chẩn nghe thế thì lắc đầu:

"Giàu nghèo không được chọn, nhưng làm người tốt hay xấu thì được chọn!"

Lần này tôi phải cho Quốc Chẩn một ngón tay cái.

Trận chiến bên ngoài vẫn còn chưa xong, cả người tôi ngứa ngáy hết cả, giá như lúc này có ai đó ném cho tôi thanh kiếm thì tôi sẽ lập tức vén rèm lao ra ngoài ngay.

Bọn thổ phỉ này đánh chặn ở đoạn đường gần Vạn Kiếp, hết tám phần là nghe ngóng được Vạn Kiếp có tiệc lớn, quý tộc ở kinh thành sẽ nô nức kéo về đây.

Đột nhiên có thanh đao cắm phập vào, lưỡi đao xuyên qua lớp thành xe bằng gỗ vào hết một nửa thân đao.

Tôi giật mình đẩy bọn nhóc về phía sau, cánh tay sượt qua một đường rướm máu.

Sau đấy thanh đao bị mắc ở đó không dịch chuyển nữa, tôi thấy kì lạ lại mạo hiểm vén rèm ra xem thì mới hay tên cướp đã bỏ mạng dưới kiếm của một cô gái.

Nhưng không cần tôi lo lắng, lúc này một đoàn người ngựa đi cùng hướng với bọn tôi cũng nhập bọn đánh giết thổ phỉ, trong phút chốc đã giải quyết xong.

Thằng nhóc Thuyên lên tiếng cảm thán:

"Chà, còn hấp dẫn hơn mấy vở kịch mà con xem được trong phủ của ông sáu Văn!"

Bên ngoài kịch hay đã vãn, mà đoàn người ngựa chẳng ai khác chính là của Trần Nhật Duật cùng với tùy tùng đi ăn cưới ở Vạn Kiếp ngang qua, còn cô gái nọ là ai thì tôi không hề biết.

Trần Nhật Duật mặc viên lĩnh bằng gấm trắng thêu thân trúc, chân đi hài đen, tóc không rối một sợi và quần áo cũng sạch sẽ không dấy vết máu nào.

Anh ta vẫn đang ngồi trên yên ngựa, ánh mắt thì nhìn chằm chằm vào cô gái kia.

Nàng kia mặc áo màu đỏ sẫm, quần đen, tóc cột đuôi ngựa trên đỉnh đầu, mày kiếm mắt sắc trông vô cùng khí khái, nhưng có vẻ bị cái nhìn soi mói của Trần Nhật Duật làm cho không được tự nhiên.

Chị ta cũng đang ngồi trên yên ngựa, tay cầm đao còn dính máu, nhác trông lợi hại vô cùng.

Lúc này thì thằng nhóc Thuyên đã vén hẳn rèm cửa sổ sang một bên để xem cho rõ.

Ngoài kia binh lính đang dọn dẹp bãi chiến trường, chỉ còn hai người đó vẫn giương mắt nhìn nhau, không khí có phần giương cung bạt kiếm.

Lát sau, tôi thấy Trần Nhật Duật nhếch môi cười, vẻ mặt khinh khỉnh:

"Không ngờ cô còn theo tôi đến tận đây!"

Chất giọng Trần Nhật Duật có vẻ châm chọc, tôi bỗng nghe thằng nhóc Thuyên nhỏ giọng nói:

"Ái chà...hình như trước giờ ông sáu Văn chưa từng dùng giọng điệu đó nói chuyện với ai đâu!"

Tôi khá tin tưởng lời nói của thằng nhóc Thuyên, từ nhỏ đến lớn số lần nó gặp Trần Nhật Duật nhắm chừng còn nhiều hơn số lần nó gặp tôi nữa.

Cô gái ngoài kia nhìn Trần Nhật Duật có vẻ cũng không thiện cảm mấy, bèn đáp:

"Ai nói là tôi theo anh, chỉ trùng hợp thôi nhé!

Huống hồ anh còn là kẻ đi sau!"

Bên cạnh bỗng nhiên xuất hiện thêm một người, tôi quay sang thì thấy Mạc Đĩnh Chi đã leo lên xe từ lúc nào đang chuyên chú cùng chúng tôi xem kịch.

Thấy nó, trong lòng tôi vui mừng, bèn nhân tiện hỏi ngay:

"Đĩnh Chi này, cô gái đó là ai vậy?"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 85: Cô Gái Này Là Ai?


Mạc Đĩnh Chi liền tỏ vẻ thần bí, chụm đầu lại với chúng tôi, thì thào:

"Chuyện này phải kể từ lần tiến quân vào Thanh Hoá, cô gái này đã giúp thầy sáu cùng đội quân của ngài tránh thoát được truy kích của Toa Đô khi Trần Kiện đầu hàng.

Cũng là chị ta chỉ điểm cho thầy sáu địa hình đường sá để chúng em đến cứu được chị, nói thẳng ra công của chị ta cũng không ít."

Tôi ồ lên một tiếng, rồi thắc mắc hỏi:

"Nếu vậy thì giải thích sao về thái độ của thầy sáu em đây?"

Mạc Đĩnh Chi còn chưa kịp đáp thì thằng nhóc Thuyên đã lên tiếng cắt ngang:

"Đó gọi là lạt mềm buộc chặt!"

Tôi búng vào trán nó một cái, chẳng hiểu thằng nhóc mới mười tuổi này ngày thường đã xem những gì.

Tôi định giục Mạc Đĩnh Chi nói tiếp thì nghe bên ngoài Trần Nhật Duật lại cất giọng cười chế giễu:

"Trùng hợp mà từ Thanh Hoá lại gặp nhau ở Vạn Kiếp à?

Đừng nói cô cũng được mời đi ăn cưới giống tôi đấy nhé?"

Tôi có hơi tò mò về thân phận của cô nàng này, vừa hay nghe Mạc Đĩnh Chi kể tiếp:

"Chị gái này họ Trịnh tên Ngọc Châu, là con gái của tri huyện Tế Giang ở châu Thanh Hoá.

Gia đình chị ta đều bị giết khi Toa Đô kéo vào, chỉ có mỗi chị ta là sống sót nhờ thầy sáu ra tay ứng cứu.

Giữa chị ta và thầy sáu đúng là chẳng biết được ai nợ ai, nợ bao nhiêu, e là cũng không nói rõ được."

Tôi dỡ trán, thằng nhóc này đúng là ở trong phủ của Trần Nhật Duật nghe kịch quá ba canh giờ một ngày, tùy tiện thở ra một câu cũng sến sẩm như thế.

Tôi nheo mắt nhìn nó, thở dài thườn thượt:

"Cùng lắm là mối quan hệ có vay có trả mà thôi, có gì đặc biệt?"

Lúc này phía bên ngoài có vẻ như cô gái kia đã hết kiên nhẫn, cả giận nói:

"Không cần nhiều lời, tôi cũng chẳng thèm nấn ná với anh!"

Nói xong thì định dong ngựa đi thật.

Tôi vội kéo rèm xe phóng xuống đất, nhiệt tình đề nghị:

"Hay là chị cũng đến nhà tôi...

ừm...

ăn cưới đi..."

Nói xong thì, cả cô gái nọ và Trần Nhật Duật đều chằm chằm nhìn mình, trong lòng tôi bất giác cảm thấy chột dạ, bèn gãi đầu cười giả lả:

"À...

để tỏ lòng cảm ơn về việc hôm nay..."

Tôi cá là bảy phần cô nàng Ngọc Châu này thích Trần Nhật Duật, ba phần còn lại là chị ta cũng chẳng còn nơi để đi.

Nói không chừng mấy ngày hôm nay chị ta lấp ló trong thành dò la, tìm cơ hội để vào vương phủ của Trần Nhật Duật.

Tiếc là phủ Văn cũng chẳng phải cái chợ mà chị ta muốn vào thì vào, muốn ra thì ra, thế cho nên khi Trần Nhật Duật vừa ra khỏi phủ thì chị ta liền bám theo sát nút, nhưng xui là mới nửa đường thì đương không gặp thổ phỉ.

Nhưng Ngọc Châu có vẻ cũng rất tán thưởng ý kiến của tôi, rất nhanh chóng đã gật đầu.

Trần Nhật Duật làm vẻ mặt không buồn không vui, chào hỏi qua loa với bọn tôi rồi gọi Mạc Đĩnh Chi trở về xe ngựa.

Xe ngựa của bọn tôi lại chở nặng thêm một người, bù lại trong lòng tôi khá là an tâm vì nếu có xui rủi gặp phải cướp bóc, thổ phỉ hay ám sát gì đó thì cũng có kẻ bảo vệ an toàn cho cả bọn.

Chỉ mỗi việc cô nàng Ngọc Châu này bị cả xe xa lánh vì trên cơ thể toả ra một loại mùi vô cùng khó chịu do nhiều ngày không tắm hoà lẫn với mùi máu tanh.

May mắn là từ lúc đấy đến khi chúng tôi về tới Vạn Kiếp cũng không xảy ra chuyện gì đáng kể, trị an ở những vùng lân cận Vạn Kiếp xem ra cũng rất tốt do thanh thế của cha tôi.

Mà cũng có thể là do cô nàng Ngọc Châu này chính khí quá mạnh khiến bọn gian ác không dám bén mảng.

Trước đó cha tôi đã cho mở hội trong phủ để họ hàng thân thích đến chúc tụng, thế nên khi chị em chúng tôi trở về thì vương phủ đã giăng đèn kết hoa.

Vì còn đang trong tháng Giêng nên hội cưới kéo dài suốt bảy ngày.

Dù cảm thấy có đôi chút mỏi mệt nhưng nhìn cảnh náo nhiệt trước mắt, mệt nhọc kia liền như vơi đi quá nửa, cả người thoắt cái phấn chấn hẳn lên.

Nhóc Thuyên và Quốc Chẩn lâu nay ít thấy việc tiệc tùng, háo hức theo gia nô vào trong gian chính chào hỏi, cha mẹ tôi thấy bọn nhỏ cũng mừng rỡ cưng nựng như báu vật đã mất bấy lâu.

Mấy đứa nhóc cùng trang lứa vừa gặp đã như thân từ lúc nào, tự giác kéo nhau đi chơi khiến tôi và chị Trinh nhẹ người hẳn, vấn đề duy nhất là mức độ quậy phá của bọn chúng phải nói là đạt đến ngưỡng rồng trong loài người.

Cũng may cha tôi xương cốt vẫn còn cứng cáp, có thể bên ngoài đánh giặc, bên trong trông cháu, thậm chí vẫn còn phấn khởi cười nói bọn chúng như thế lớn lên ắt hẳn trở thành rường cột nước nhà.

Rường cột thế nào thì tôi không biết, nhưng phủ Hưng Đạo sắp bị dỡ hẳn nóc nhà rồi.

Các anh tôi hiện đều đã có đất phong nên chỉ những khi có việc cần kíp thì mới trở về, hôm nay tề tựu đông đủ đúng là chuyện vui hiếm gặp.

Tôi nghĩ đến cảnh sau này lúc về già chỉ có mỗi cha mẹ ở trong phủ, trong lòng cũng không khỏi cảm buồn phiền.

Bởi vì là ngày tân hôn nên Phạm Ngũ Lão từ sớm đã trở về huyện Đường Hào, đến ngày rước dâu mới theo tục lệ đem lễ vật sang phủ đệ Vạn Kiếp.

Trước đó tam thư lục lễ rườm rà đều đã làm qua xong, chỉ chờ ngày rước nàng dâu mới trở về nhà.

Phạm Ngũ Lão chậm trễ đến giờ phút này cũng là vì công danh sự nghiệp còn dang dở, nay đã vinh quy bái tổ nên sính lễ cũng vô cùng long trọng, ngày rước dâu nhắm chừng cũng rình rang linh đình hơn hết thảy.

Phủ vương cũng là nhà trai khi anh hai và anh ba của tôi đang ở trong vai trò những chàng rể mới.

Anh hai Quốc Uất khó khăn gấp đôi bởi người cha vợ tương lai là kẻ vừa có lực vừa có quyền, trước đây lúc trong quân tôi cũng từng được chiêm ngưỡng qua phong thái.

Thế nên dù cả hai nhà từ lâu đã có hôn ước, nhưng nhắc tới vẫn khiến anh tôi đổ mồ hôi một phen.

Tôi nghĩ anh hai nhà tôi phải thỉnh giáo kinh nghiệm của anh cả, anh ấy đã từng qua ải còn khó khăn hơn đó là làm rể vua, mà trong khi trước đây chị dâu tôi còn đối với anh không chút tình cảm.

Chị Ngọc Châu lúc này đã được Thụy Hương đưa đi tắm rửa thay quần áo, lúc sạch sẽ tươm tất bước ra tôi cứ tưởng là hai người khác nhau, hóa ra câu người đẹp vì lụa là có thật.

Chị ta là con gái của quan tri huyện, cho dù gương mặt có nét sắc bén hơn những cô gái khác nhưng vẫn ẩn giấu khí chất của thư hương thế gia, dòng họ Trịnh ở đất Thanh Hóa dù sao cũng là một dòng họ lớn và lâu đời.

Đoàn người ngựa của tôi trở về phủ không lâu thì đoàn xe đưa lễ vật của Trần Nhật Duật cũng cập bến.

Tại sao lúc đấy anh ta xuất phát sớm hơn bọn tôi nhưng đến bây giờ mới tới đây?

Về nghi vấn này thì thằng bé Quốc Chẩn giải thích như sau:

"Ông sáu Văn thích làm mặt lạnh nhưng bên trong lại lo lắng cho chúng ta, sợ chúng ta lại bị thổ phỉ tập kích bèn giả vờ đi trước, nhưng thực chất là luôn theo sát chúng ta để quan sát tình hình."

Thằng nhóc Thuyên liền lên giọng hiểu biết cắt ngang:

"Em chỉ biết một mà không biết hai.

Chúng ta chỉ là phụ, còn cô Ngọc Châu kia mới là chính!"

Ái chà, điều này thì tôi hoàn toàn đồng ý với nhóc Thuyên.

Trần Nhật Duật chào hỏi cha mẹ tôi xong thì cho gia nhân đem lễ vật vào.

Trong lúc lơ đễnh liếc thấy Ngọc Châu, anh ta liền buông lời cay độc:

"Ồ, ăn dọn xong trông cũng ra người ra ngợm đó chứ?"

Gương mặt chị Ngọc Châu liền biến sắc, cánh tay chực cầm lấy chuôi đao bên hông.

Tôi bèn kéo chị ra nhà sau, kẻo đứng đó một hồi thì vương phủ có chiến tranh nổ ra mất.

Tôi nhìn chị Trinh, hoài niệm:

"Hình như trong ký ức của em chú Văn không phải người như vậy!"

Chị Trinh lắc đầu với tôi:

"Mấy chuyện tình thú ấy mà, vốn là thứ mà người ngoài chúng ta không thể giải thích được đâu."

Lúc này sắc mặt tái xanh của chị Ngọc Châu chuyển sang đỏ ửng như quả đào.

Nhân lúc mấy đứa trẻ đã ngủ thì chị em tôi liền tụ họp lại trong phòng của chị An Hoa vừa cắn hạt sen vừa trò chuyện.

Tôi nhớ ngày xưa lúc tôi còn bé vẫn luôn rất thích những bữa đám tiệc như thế này, lúc đấy dù cha mẹ có cản hay la mắng thì tôi và chị Trinh vẫn lén lút từ trên giường bò dậy đi hóng chuyện giữa khuya.

Trước ánh nến bập bùng sáng rực, mặt chị An Hoa mặt đỏ như gấc, không biết là đỏ vì ngượng ngùng hay vui sướng, hay là do ánh sáng từ ngọn nến hắt vào.

Chỉ có điều ngồi trước ánh mắt nhìn chằm chằm như hổ đói của bọn tôi, chị An Hoa dù ngại cách mấy cũng phải kể cho chúng tôi nghe mọi chuyện.

Thật ra tôi vẫn luôn thắc mắc tại sao lại hồi tâm chuyển ý với chị An Hoa, làm tôi ngờ vực rằng nếu như tôi không xuất hiện ngay lúc đó thì tình cảm của chị An Hoa đối với Quốc Tảng có thể mưa dầm thấm đất chứ không phải kéo dài tới tận bây giờ.

Nhưng cũng có một cách giải thích khác là anh ấy dùng chị An Hoa để lấp đầy khoảng trống trong lòng, nhưng tôi nghĩ rằng với tính cách anh ta sẽ không có khả năng xảy ra lý do đó.

Tôi nghĩ thế bèn lo lắng hỏi:

"Chị An Hoa, giữa chị và anh ba là như thế nào vậy?"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 86: Câu Chuyện Chó Ngáp Phải Ruồi Của Thì Kiến


Lời kể của chị An Hoa vang lên bên tai như một điệu nhạc êm đềm giữa đêm xuân se lạnh, khiến tôi giống như được tận mắt chứng kiến cái kết đẹp của chị sau gần mười bảy năm chờ đợi một người.

"Sau cuộc chiến anh ấy chỉ ở Vạn Kiếp một vài ngày, lúc anh trở về đất phong, chẳng biết sao chị lại có đủ can đảm để leo lên yên ngựa đuổi theo.

Khoảnh khắc nhìn thấy chị chật vật trên lưng ngựa, có lẽ anh ấy đã mềm lòng."

Chị An Hoa kể đến đây thì bất ngờ dừng lại, tôi nhìn vẻ thẹn thùng trên mặt chị thì trong lòng tò mò không thôi.

Lúc này chị Anh Nguyên ngồi bên cạnh liền đằng hắng một tiếng:

"Sau đấy anh ba xuống ngựa bước đến bên cạnh chị An Hoa nở nụ cười ôn nhu trìu mến, rồi anh ấy lấy ra chiếc vòng hổ phách đã chuẩn bị từ lúc nào đeo lên tay chị An Hoa, nói: "Không cần đi theo tôi, để tôi nói với cha mẹ xin rước em về thái ấp!".

Thiên thời địa lợi nhân hòa, chính chị là người chứng kiến hết thảy!"

Chị Anh Nguyên vừa nói vừa giả giọng Quốc Tảng làm bọn tôi cười rộ lên, chị An Hoa lại càng thẹn thùng.

Chị Anh Nguyên lại được nước làm tới, tiếp tục trêu:

"Chị dám cá mười phần là anh ba đã động lòng phàm từ lâu, chỉ là sĩ không dám nói vì trước đây từng chối người ta.

Đến một ngày chị An Hoa chủ động, đương nhiên anh ta phải nắm bắt ngay tức khắc, không cho người ta cơ hội đổi ý luôn.

Đúng là cô gái ngày xưa ta từng xua đuổi, nhiều năm sau nhìn lại thì thấy cô ấy từ lâu đã chiếm một chỗ trong trái tim ta!"

Không hổ là Quốc Tảng, dù trong hoàn cảnh nào cũng không hề thất thế.

Sang ngày hôm sau, vừa tảng sáng tôi đã nghe tiếng pháo đì đùng vang lên bên tai.

Với tay kéo rèm cửa bỗng thấy trước mắt mờ mịt, chỉ xòe tay ra ngoài một chốc đã âm ẩm lành lạnh hơi sương.

Tôi lay Quốc Chẩn tỉnh dậy, mặc cho nó một bộ viên lĩnh màu trắng viền đỏ thêu hàn mai ngạo tuyết, thêm một áo bông lót bên trong cho khỏi lạnh rồi đeo trên cổ một chiếc kiềng vàng có chạm chữ phúc.

Vừa thay áo cho Quốc Chẩn tôi vừa ngắm nghía hồi lâu, đến lúc trông thằng bé trắng trắng tròn tròn như cục bông, thơm tho sạch sẽ ưa nhìn mới hài lòng cho nó ra gian trước.

Hôm nay tôi búi tóc cao trên đỉnh đầu rồi uốn thành hình rẽ quạt, trâm cài hình phượng, tai đeo khuyên ngọc trai, bên hông lại treo một túi hương bằng lụa thoảng mùi hoa bưởi.

Thụy Hương ở bên ngoài đã đợi sẵn, thấy tôi ra thì bước đến dắt tay Quốc Chẩn, miệng tươi cười cất giọng khen:

"Hiếm thấy phu nhân ăn vận chỉnh chu như thế!"

Tôi cũng cười đáp lời:

"Hôm nay đúng dịp đặc biệt, tốt xấu gì cũng không nên xuề xòa!"

Cũng khá lâu rồi tôi không chải chuốt ăn dọn, ngày thường trong cung Quân Hoa cũng chỉ tùy ý xõa tóc, mặc trung y rồi khoác tràng vạt bên ngoài.

Trên chiến trường lại càng đơn giản, đa số thời gian toàn mặc giáp minh quang, mái tóc dài thường xuyên trong tình trạng bám đầy bụi cát.

Thế là tôi dứt khoát cột đuôi ngựa sau đầu, thỉnh thoảng còn cảm thấy nó cứng hơn cả lông chổi.

Sau này chiến thắng trở về, cả người đen đúa thô kệch như một gã đàn ông, suốt nửa năm mới khôi phục lại được dáng vẻ vốn dĩ nên có.

Vừa bước ra nhà chính đã thấy thằng nhóc Thuyên xếp đầu hàng nhận lì xì.

Tôi chậc lưỡi, thằng nhóc này ỷ mình là hoàng thái tôn định hớt tay trên đây, trong khi theo vai vế trong nhà thì thằng bé Tự con của anh cả mới là người lớn nhất.

Nó nhìn thấy tôi và Quốc Chẩn bước ra liền há miệng cười hì hì.

Cha tôi gọi Quốc Chẩn tới bên cạnh.

Quốc Chẩn lần này tài sản lại tăng lên không ít, chỉ trong một buổi sáng mà túi áo của nó đã rủng rỉnh.

Trong sân bọn trẻ từ các nhà quan lại tề tựu chơi trò chơi hết sức náo nhiệt, mấy trò trong dân gian cũng có, thanh nhã hơn là cầm kỳ thi họa cũng có, ầm ĩ lên hết cả.

Lại còn có mấy đứa con gái hội lại hát mấy câu: "Cô dâu chú rể, làm bể bình bông, đổ thừa con nít gì gì đó.

Tôi cảm thấy có lẽ chị Anh Nguyên sẽ làm thế thật.

Thằng nhóc Thuyên cũng kéo Quốc Chẩn sà vào một đám đang chơi ô ăn quan, trong đó có vẻ Mạc Đĩnh Chi đang là đứa cầm đầu.

Tôi lại xung phong giữ tiền lì xì cho Quốc Chẩn, nó hết nhìn tôi rồi nhìn đám trẻ đang chơi, cảm thấy nhà giàu ta chắc không giữ được nên giao cho tôi tất cả.

Khắp nơi trong phủ đều treo đèn kết hoa, dán câu đối đỏ, giống như còn trong xuân nên không khí tự nhiên cũng tưng bừng tươi mới hơn.

Tôi nhìn chị Trinh và thằng nhóc Thuyên một người thì bận rộn cắt giấy hỉ, một người thì cắm hoa bàn thờ gia tiên, bèn xung phong ra gian trước đón khách.

Nhưng không phải chỉ riêng mình tôi là vụng về chuyện hậu viện, ngoài chị Anh Nguyên hôm nay phải làm một cô dâu nền nã đoan trang chỉ ru rú trong khuê phòng ra thì vẫn có một kẻ còn vụng về hơn tôi đang chạy loanh quanh phụ việc.

Tôi nhìn chị ta hết chạy đông chạy tây, lại xoắn tay áo làm chân sai vặt cho thằng nhóc Thuyên thì rốt cuộc phải buông ra một câu: có cố gắng!

Cũng may Trần Nhật Duật là một vị khách bề trên chỉ ngồi gian trước, nếu không chẳng biết chị ta phải giấu mặt đi đâu.

Tôi lại cảm thán trong lòng, chị ta cũng đâu phải một cô dâu mới, nhiệt tình vậy làm gì?

Ngày hôm nay quý tộc khắp nơi đã tề tựu về gần như đông đủ, nhưng quý nhất phải kể đến một kẻ từng là môn khách trong phủ nay đã làm đến chức An phủ sứ Thiên Trường.

Đó chẳng ai khác chính là Trần Thì Kiến.

Trần Thì Kiến lần này trở về vô cùng nở mày nở mặt, anh ta chưa tới cổng đã vội cho dừng xe đằng xa, bước chân vừa khoan thai lại giống như có chút vội vã đến trước mặt cha tôi bái lạy.

Cha tôi đỡ anh ta lên, gật đầu hài lòng.

Tôi nhìn ánh mắt rưng rưng của Trần Thì Kiến, âm thầm cười trộm.

Trần Thì Kiến đã đứng dậy, cha tôi bỗng vỗ vai anh ta:

"Việc anh làm đã nổi tiếng gần xa, đúng là không phụ lòng ta mong mỏi!"

Nói xong thì lớn giọng cười.

Trần Thì Kiến cũng cung kính cúi đầu, khiêm tốn đáp:

"Cũng nhờ ngài khéo dạy dỗ ạ, Quốc công khen tặng làm Thì Kiến hổ thẹn vô cùng!"

Tôi nhìn hai người kẻ xướng người họa, lại không nén được tò mò.

Chẳng biết anh ta đã làm gì mà được một người kiệm lời khen như vàng là cha tôi có thể mở miệng hào phóng như vậy.

Anh cả giống như nhìn ra được chỗ thắc mắc của tôi, bèn ghé tai tôi nói nhỏ:

"Chỉ nghe ngóng được chú ta nổi tiếng thanh liêm khắp một vùng, tuy hành xử nhiều lúc lạ lùng nhưng chẳng có chỗ nào để người khác có thể bắt bẻ.

Ngẫm lại ngày trước Thì Kiến đúng thật là người như thế, tính tình thẳng thắng chẳng nể nang ai, còn suýt nữa là bị anh tư em tẩn cho một trận!"

Nghe anh cả nói thế, anh tư Quốc Hiện bèn hừ một tiếng, hằn hộc buông ra một câu:

"Biết đâu là chó ngáp phải ruồi?"

Tôi ngao ngán nhìn anh tư.

Trần Thì Kiến hôm nay được mang tiếng thơm dù sao cũng đem lại vẻ vang cho vương phủ, không phải hơn hẳn anh à?

Lúc này Trần Thì Kiến đã ôn chuyện với cha tôi xong, đương quay lại thì nghe Quốc Hiện châm chọc mình như thế, anh ta bèn thản nhiên cười đáp:

"Không thể nói chuyện băng tuyết với côn trùng mùa hạ!"

Ý bảo tranh luận với kẻ cố chấp không chịu hiểu vấn đề là một điều vô ích.

Trần Thì Kiến làm quan một thời gian, lúc quay trở lại lời nói còn nham hiểm hơn xưa nữa.

"Mi nói ai là côn trùng?" – Quốc Hiện xoắn tay áo định nhào vô.

Anh cả nhoài ngươi đứng chắn trước anh tư còn tôi thì lập tức kéo Thì Kiến lủi mất, chỉ sợ chốc lát nữa anh ta mồm miệng đi xa rồi thì khó mà giữ được bộ mặt tươi cười.

Ngày trước không ít lần anh ta thoát khỏi móng vuốt của anh tư tôi, vậy mà đến nay vẫn cái thói thích cà khịa.

Đến khi tránh khỏi tầm mắt của Quốc Hiện rồi, bản tính buôn chuyện của tôi nổi lên, vội hỏi:

"Chuyện đó là sao thế?"

"Chuyện gì?" – Trần Thì Kiến hỏi lại.

"Thì chuyện đồn đại về anh đấy.

Vị An phủ sứ thanh liêm chính trực đến mức lạ lùng trong miệng mọi người là bắt đầu từ đâu, trên trời rơi xuống à?"

Trần Thì Kiến nghe đến đó thì à lên một tiếng, lại có vẻ ngại ngùng gãi đầu:

"Không có gì to tát cả.

Dạo trước bên cạnh nhà tôi có kẻ làm giỗ, cuối ngày bèn đem biếu một mâm.

Tôi thấy giữa mình và anh ta trước giờ cũng không giao thiệp nên mới hỏi lý do, anh ta lại nhiệt tình đáp rằng chỉ vì là hàng xóm nên biếu, ấy thế mà thời gian sau gã này lại đến xin tôi ban cho chức câu đương.

Tôi chỉ là một An phủ sứ nho nhỏ, sải tay cũng không dài tới mức này, truyền đến tai quan gia thì chắc cái đầu tôi cũng không thể giữ nổi."

Tôi nghe thế thì gật gù, Trần Thì Kiến nói vậy có hơi khiêm tốn.

Cả nước ta tính từ thời tiên đế chia làm mười hai lộ, anh ta chí ít cũng là quan đứng đầu lộ Thiên Trường, tuy rằng không gần Trần Khâm nhưng lại ở dưới mắt Thượng hoàng, kẻ nọ không đến xin anh ta thì xin ai đây, chẳng lẽ lại đến hành cung của Thượng hoàng mà xin xỏ?

Tuy Trần Thì Kiến vẫn giữ cái điệu bộ không màng thế sự, nhưng trải qua khoảng thời gian rời khỏi phủ đệ Vạn Kiếp, thoạt nhìn anh ta đã toát ra loại khí chất của kẻ hiền tài.

"Vậy sau đó thế nào, anh làm cách nào nôn ra mâm cỗ đó thế?" – Tôi cười hi hi ha ha hỏi.

Trần Thì Kiến tỉnh bơ đáp:

"Tôi móc họng nôn!"

"..."

Tôi nheo mắt nhìn anh ta đầy nghi hoặc, anh ta biết tôi đang mông lung, liền mạnh dạn nói:

"Cũng không được tính là lỗ lã gì, mâm cỗ của gã đó toàn sơn hào hải vị, còn bữa hôm nọ tôi chỉ xơi ít cơm trắng với dưa cà.

Lúc nôn xong nhìn vẻ không thể tin trên mặt gã ta, tôi lại cảm thấy mình ăn một đằng trả một nẻo cũng chẳng lấy làm vinh dự, tôi đã cố bưng bít chuyện đấy lại nhưng chẳng hiểu sao càng ngày càng đồn ầm ra..."

Trần Thì Kiến nói tới đó lại thở dài, thở dài xong bỗng nhìn thấy vẻ mặt chưng hửng của tôi, vội thốt lên:

"Đó, chính là vẻ mặt đó, lần trước gã kia cũng nhìn tôi y như vậy!!"

Ừm, quyết đoán lắm, không hổ đi theo Trần Khâm bấy lâu!
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 87: Cô Gái Nhà Ai Đi Lấy Chồng


Đương buôn chuyện với Thì Kiến, bỗng từ phía sau anh hai Quốc Uất của tôi loạng choạng bước tới, khoác tay lên vai Trần Thì Kiến lôi đi, trông bộ dạng có vẻ uống không ít.

Tôi nhắm chừng sang nhà gái muốn rước được nàng dâu về ắt hẳn không dễ dàng nên hôm nay luyện tập trước cho quen đây.

Có điều anh ta như thế vẫn còn hơn hẳn kẻ đã chiến bại sớm bị đưa về phòng Quốc Tảng.

Còn nhớ dạo trước trong lúc say bí tỉ anh ta còn vô thức mò vào phòng tôi tỏ tình, chẳng biết tỉnh lại có nhớ ra mấy lời mình nói không.

Riêng khoản này thì Phạm Ngũ Lão lại có thể cho mấy ông anh vợ thành bại tướng hết, trước giờ tôi vẫn chưa thấy được lúc Phạm Ngũ Lão thật sự say.

Bận rộn cả một ngày, chừng đến chập tối thì cũng xong xuôi mọi việc.

Lúc này nam nữ quyến đều ăn vận đẹp đẽ ăn cỗ, tôi cũng vui vẻ uống vài chén rượu mơ, rượu tới đâu là cả người đều ấm lên tới đó.

Trời xuân lành lạnh, ngồi dưới tán cây uống chén rượu ấm phải nói là sướng hết cả người.

Cha tôi ngồi ở gian chính cùng với các bậc bề trên, đèn đuốc sáng trưng nên cảnh trí trông hết sức vui mắt.

Bên kia thì say sưa xem tuồng, bên đây lại đàn hát réo rắt, lại có chỗ thách đố uống rượu ầm ĩ hết cả gian nhà.

Trần Nhật Duật đang ngồi xếp bằng trên sập nghe ca kịch, tay nâng chén rượu hồi lâu nhưng đầu mày cuối mắt vẫn mơ màng, dáng vẻ nổi bật hơn hẳn những người xung quanh.

Cô nàng Ngọc Châu thì ngồi sập dưới, đang ngủ gà ngủ gật.

Đầu óc tôi đã lâng lâng, Quốc Chẩn trước mắt trở nên đáng yêu hơn gấp bội.

Tôi ôm nó hôn hít liên tục, nó ngước mắt lên nhìn tôi nhăn mặt nhíu mày, phản đối kịch liệt:

"Rượu là thứ hại thân, uống nhiều không tốt đâu ạ!

Xem mẹ đã say rồi kìa!"

Tôi cười ha ha với nó, cảm giác bên tai lùng bùng, lớn giọng nói:

"Ôi cha con đã ngăn cấm mẹ đủ đường rồi, nay đến lượt con nữa ư?"

Nói xong còn nấc cục mấy cái.

Quốc Chẩn đành cúi mặt xuống, đôi má phụng phịu căng tròn.

Lúc này ánh sáng trước mắt tôi bị che phủ bởi một bóng dáng cao lớn, tôi ngẩng đầu lên thì thấy anh Quốc Tảng đã tỉnh táo không ít, quần áo thẳng thớm bước tới ngồi xuống bên cạnh tôi, nom vừa mới rửa mặt sau giấc ngủ.

Thằng bé Quốc Chẩn rất lễ phép thưa "bác Tảng", rồi đứng dậy chạy tới chỗ đám nhóc phía trước tụ họp.

Trần Thì Kiến ngồi bên trái lại giơ lên một chén.

Đương lúc tôi sảng khoái nâng chén rượu với anh ta, bỗng nhiên cổ tay bị giữ lại, quay sang thì thấy Quốc Tảng nhìn tôi nhíu mày:

"Được rồi, đi nghỉ đi!"

Tôi giật lấy uống một hơi cạn sạch, lại cười nói:

"Vẫn còn uống được, vẫn còn uống được!"

Quốc Uất nhìn cái chén trống trơn của tôi thì liên tục chậc lưỡi than:

"Ôi ôi, chuyến này em lại mềm xương với thằng oắt kia rồi!"

Trần Thì Kiến ở bên cạnh lại ló đầu sang cười hì hì:

"Quan gia ấy à?

Chưa chắc đến được đâu, công việc trong triều nhắm chừng phải ba tháng nữa mới ổn thoả.

Em Tĩnh cứ việc vui chơi thoải mái, mai này trở về Thăng Long có mấy khi được tụ họp thế này nữa đâu."

Tôi nghe Trần Thì Kiến nói cũng có lý, lại tự mình phạt một ly, Quốc Uất lại dỡ trán kêu trời.

"Ta mà gặp nó ở đâu là ta mách đó!"

Quốc Hiện nghiến răng nhìn Thì Kiến đe dọa, đáng tiếc anh ta vốn là một tên điếc không sợ súng nên vẫn trưng bộ mặt say xỉn nhe răng cười hì hì.

Rượu quá ba tuần, ăn đủ năm vị nhưng có vẻ quan khách vẫn chưa muốn vãn.

Tôi nhìn sắc trời tối mịt, nhắm chừng đã giữa khuya nhưng tiếng đàn hát vẫn còn réo rắt, lại quét mắt qua hướng đám nhóc ban nãy thì thấy trống trơn, bèn đứng dậy chuếnh choáng định trở về.

Các anh cũng không giữ lại, chỉ sai Thụy Hương đưa tôi về.

Tôi thấy trước mắt mình không những có một mà tới ba Thuỵ Hương, mới chịu thừa nhận là mình đã say thật.

Ôi xem ra tửu lượng của mình cũng đã sa sút.

Ngủ một giấc tới gần sáng, bên ngoài bỗng nổi gió rồi rả rích mưa, giống như đem lại sức sống cho vạn vật sau mùa đông cằn cỗi.

Mưa rơi trên mái hiên nghe lộp bộp tí tách, không khí lành lạnh thanh thanh.

Rồi như có cơn gió thốc vào cửa, tôi theo thói quen kéo chăn trùm kín người Quốc Chẩn cho khỏi lạnh, lại kề mặt mình áp vào gò má mềm mại của nó, sau đấy lại kê cao gối ngủ say.

Đột nhiên "kẽo kẹt" một tiếng, cánh cửa mở ra rồi lại khép vào.

Tôi nhướng đôi mắt nhập nhèm lên nhìn chỉ thấy trong căn phòng mờ mờ thấp thoáng bóng một người đàn ông mặc áo dài màu trắng, trong lòng bỗng chốc căng thẳng.

Dụi mắt nhìn kỹ, chẳng ai khác chính là Trần Khâm, nhưng cũng không loại trừ khả năng trong người vẫn còn hơi men nên nhìn gà hoá cuốc.

Cái bóng cởi áo ngoài rồi bước đến nằm xuống bên cạnh tôi, thấy tôi đã tỉnh liền cất giọng phàn nàn:

"Mùi nồng quá, giống như được ngâm trong vò rượu rồi lôi ra vậy!"

À thế này thì đích xác là Trần Khâm rồi, chỉ có anh ta mới hay cằn nhằn tôi như thế.

Tôi quay sang thấy mái tóc của anh ta vẫn còn ươn ướt, có lẽ không tránh khỏi trận mưa.

Tôi lại giả chết liều mình nhắm nghiền mắt, anh ta cũng không lật tẩy tôi, từ phía sau vòng tay ôm lấy hai mẹ con tôi, giống như cũng mệt mỏi lắm.

Vòng tay rộng lớn ấy như muốn bao bọc cả cuộc đời tôi vậy.

Lúc trời tạnh mưa thì cũng vừa sáng hẳn.

Tôi ghé mắt vào phòng chị Anh Nguyên, thấy chị ta sáng nay đã thay một bộ đồ cưới đỏ rực, xung xung phượng kế, mặt mày cũng trang điểm kỹ càng.

Trông chị ta lộng lẫy như đoá hoa sen vừa mới nở mang khí chất thanh tao, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Tôi nhìn chị ta một hồi thì đánh giá:

"Đúng là người đẹp nhờ lụa!"

Chị Anh Nguyên sắc mặt thay đổi nhưng thoắt cái lại tươi cười, tôi biết hôm nay chị ta không thể để mặt mày mình méo mó, hôm nay chị ta là một nàng dâu đoan trang.

Tôi còn định chòng ghẹo chị Anh Nguyên thêm vài câu nhưng nhìn chị ta trợn mắt bặm môi nhìn mình thì đột nhiên cảm thấy áp lực, bèn cười hì hì lấy lòng.

Chị An Hoa thì xinh đẹp khỏi phải nói.

Từ trước đến nay cho dù là lúc ủ dột mày chau vẫn đẹp như một đoá hoa lê dưới mưa, mang một nỗi u buồn man mác.

Đêm qua mưa thưa gió dữ, thấy Trần Khâm và Quốc Chẩn vẫn còn ngủ say tôi bèn để yên không gọi, nhưng vừa từ phòng của chị Anh Nguyên bước ra đã thấy cha con anh ta ngồi chễm chệ ở gian trước thưởng trà, cùng với cha tôi và Trần Nhật Duật phải nói là vô cùng hòa hợp.

Thằng nhóc Thuyên nhìn thấy tôi, lại còn giơ tay vẫy vẫy.

Tôi hơi ngại ngùng khi thấy Trần Khâm quay sang nhìn mình, nét cười vẫn còn vương trên gương mặt anh.

Đang nghĩ ngợi thì phía bên ngoài đã nghe tiếng kèn trống dập dìu, bọn người hầu trong phủ chạy vội ra xem thì thấy quả nhiên là họ Phạm đã rình rang ngựa xe đưa lễ tới.

Ngũ Lão dáng dấp oai phong đĩnh đạc, cao lớn hiên ngang, bộ đồ cưới màu đỏ sẫm khiến anh ta càng thêm khí khái.

Phạm Ngũ Lão gia thế đơn bạc, quê nhà chỉ có anh ta và mẹ già sống nương tựa lẫn nhau, sau đó nhờ lập nhiều công to mà làm tới chức Hạ phẩm phụng ngự.

Nay vì phải mỗi ngày kề cận vua nên Phạm Ngũ Lão chuyển hẳn lên kinh thành rồi đón mẹ già theo phụng dưỡng, coi như cũng đạt tới thành tựu của đời người.

Phạm Ngũ Lão nghe đâu là cháu tám đời của một vị trung tướng tên là Phạm Hạp thời nhà Đinh, có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân ba trăm năm trước.

Thời đó Phạm Hạp còn có danh xưng là một trong Giao châu thất hùng, nay đến thời Phạm Ngũ Lão âu cũng là từ dòng dõi lương tướng sinh ra được một viên ngọc quý.

Hôm nay nhà tôi có cô con gái đi lấy chồng, của hồi môn nhiều không kể xiết.

Tôi đứng khoanh tay nhìn bọn họ làm lễ, bèn đẩy vai anh Quốc Hiện:

"Thế nên trong phủ hiện tại chỉ còn mỗi anh tư là vẫn lông bông."

Anh ta liếc xéo tôi, không thèm đáp lời.

Lại nghe thằng nhóc Thuyên trêu tức:

"Ôi chao, không khéo lại còn sau hơn cả con!"

Tôi nhìn bộ dạng lúc nào cũng khó ở của anh ta, nghĩ bụng không chừng như vậy thật.

Cha tôi cười gật đầu căn dặn Phạm Ngũ Lão mấy câu rồi để hai người họ đi cho kịp giờ lành.

Lúc chị Anh Nguyên cùng Phạm Ngũ Lão quỳ xuống bái lạy, Trần Khâm bỗng nắm lấy tay tôi thỏ thẻ:

"Hình như tôi và em chưa từng lạy cha mẹ như thế!"

Tôi quắc mắc.

Được rồi, cha mẹ tôi không có phước phận được anh bái lạy có được không?

Tiễn chị Anh Nguyên theo chồng xong là đến giờ rước chị An Hoa vào cửa, Trần Khâm lại thì thầm bên tai tôi:

"Cuối cùng em cũng yên lòng!"

Tôi quay sang nhìn anh ta, thấy Trần Khâm vẻ mặt giống như cười nhưng cũng giống như không, mịt mờ khó đoán, lại chẳng biết anh ta nói vậy là có ý gì.

Ngẫm nghĩ một lát mới hiểu ra, tôi bất giác thở dài:

"Dù sao anh ấy đến bây giờ mới thành gia lập thất, một phần cũng do em."

Trần Khâm âm thầm xiết lấy eo tôi:

"

Sau này chúng ta không nhắc lại chuyện của ngày xưa nữa."

Tôi gật đầu, trong giờ phút này những chuyện ngày xưa cũng đã trôi vào quên lãng từ lâu lắm, chỉ có hiện tại là thay lá đơm hoa.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 88: Trận Mã Cầu


Sang ngày hôm sau thì anh Quốc Uất cũng rước được cô dâu về, tôi cứ tưởng với cái tính cách cà lơ phất phơ của anh ta thì sang bên đằng gái ít nhiều sẽ bị làm khó làm dễ.

Nhưng theo như lời kể của anh Quốc Nghiễn, người trực tiếp đi theo đoàn rước dâu cho hay thì Quốc Uất lại khá được lòng người của phủ Minh.

Anh Quốc Uất vừa sang thì mấy ông anh vợ liền tay bắt mặt mừng, ba cô chị em vợ cũng hết sức tự nhiên cười nói vui vẻ, đích thị là chàng rể quý của bên thông gia.

Chị Thuỵ Hữu vừa là cô con gái được thương yêu nhất lại vừa bất hạnh gặp phải chuyện đau lòng, anh Quốc Uất lại không màng tất cả thương yêu hết mực, ắt hẳn bên kia phải nhìn anh ta với một ánh mắt khác rồi.

Tôi nghe đâu mẹ của chị ta là Phụng Dương công chúa khóc nức nở từ lúc anh tôi mới dẫn đoàn rước dâu tới trước cửa, khóc tới khi chị Thuỵ Hữu đã đi xa ngoái lại bà ấy vẫn còn trông theo.

Vua quan từ sau khi đánh đuổi xong bọn Thát Đát ra khỏi bờ cõi, suốt nửa năm nay dốc lòng khôi phục lại giang sơn xã tắc, bận tối mắt tối mũi chẳng có ai là có tâm trạng nghỉ ngơi.

Đến nay nhân dịp phủ đệ Vạn Kiếp có việc mừng, hết thảy bèn nô nức kéo nhau đến từ mấy ngày hôm trước, tới nay đã tàn tiệc cũng chẳng ai thật sự muốn về, cứ người nạnh ta ta nạnh người lôi lôi kéo kéo nằm lì chẳng chịu đi.

Chơi từ khi vương phủ còn chưa kịp giăng đèn kết hoa tới lúc cô dâu trở về lại mặt cũng còn hơn một nửa khách từ kinh thành vẫn còn lưu lại.

Tôi ngày ngày ra ra vào vào nhìn thấy cảnh bọn họ vui vẻ chè chén, lại nhìn tới vị quan gia không có tiền đồ thì thở dài trừng mắt với Trần Thì Kiến.

Anh ta nói vị quý nhân này bận phải ba tháng nữa mới được rảnh tay, còn người đàn ông vận viên lĩnh màu ánh trăng, thắt đai lưng hổ phách cùng với cha tôi và Trần Nhật Duật ngày ngày nhàn nhã uống trà chơi cờ kia là ai thì tôi không biết.

Trần Thì Kiến nhìn tôi, gãi đầu cười trừ.

Trần Khâm lại bình thản bảo:

"Cơm trong phủ Vạn Kiếp ngon hơn hẳn trong cung."

Tôi hừ mũi khinh thường, tuy nói khẩu vị mỗi người mỗi khác nhưng tôi vẫn chưa mất vị giác đâu đấy, chứ không phải nói thẳng ra là do các anh định trốn việc à?

Các cụ nói "ăn bữa giỗ lỗ bữa cày", nhìn xem đến nay đã được mấy bữa?

Tôi mang tâm tình bực bội ngồi chống cằm ở toà đình giữa hồ sen phía sau vương phủ, xung quanh là mấy người chị ruột, chị nuôi, chị dâu cũ, chị dâu mới đang tâm sự chuyện của mấy cặp vợ chồng mới cưới, rôm rã khiến người ta phải đỏ cả mặt.

Đầu óc tôi ong ong hết cả lên, cái gì mà mạnh mẽ cái gì mà dịu dàng gì đó, thật làm một mầm non như tôi không dám nghe.

Lại có tiếng chị Anh Nguyên cao giọng nói:

"Ngũ Lão nhà em không phải khen, bữa sáng đầu tiên sau khi về nhà đã xuống bếp nấu bữa ăn sáng cho em và mẹ chồng, làm em ngại đến mức không dám nhúc nhích.

Lúc này mẹ chồng mới bảo xưa nay anh ấy đều chăm sóc bà như thế, chẳng việc gì phải ngại."

Xung quanh liền có tiếng trầm trồ.

Mấy chị của tôi ở đây căn bản đều là gả cho đám con nhà quyền quý, không ba vợ bốn nàng hầu thì thôi.

Phạm Ngũ Lão chẳng qua là do nhân khẩu đơn giản, cuộc sống trước đây lại không mấy sung túc nên đương nhiên so ra sẽ tháo vát hơn rất nhiều.

Nói một thôi một hồi hóa ra là đang khoe khoang, tôi liếc mắt nhìn chị ta một cái, nói:

"Nhớ giữ cho chặt vào, đồ tốt hay bị thiên hạ dòm ngó lắm!"

Chị Anh Nguyên liền quắc mắt:

"Em Tĩnh, em xấu tính quá đấy!"

Tôi hừ giọng, sợ là đêm nay các anh tôi phải chịu không ít dằn vặt đây.

Tôi thấy vẻ mặt chị Thụy Hữu có vẻ đăm chiêu, đoán rằng là đang nghĩ cách để quản ông chồng của mình, lại giật mình kinh ngạc nhìn chị Ngọc Châu hình như cũng mang vẻ mặt đó.

Chị An Hoa lại chỉ cười cười:

"Chỉ cần lấy được anh Quốc Tảng là đủ với chị rồi."

"Mấy đôi vợ chồng son này thật khiến người ta ngưỡng mộ." – Chị Trinh cũng tươi cười tham gia.

Phía xa là đám nhóc đang chơi đá bóng da, thằng nhóc Mạc Đĩnh Chi vừa chơi vừa luôn miệng nói:

"Cái trò này ngày xưa thầy năm của thần là người chơi hay nhất Thăng Long đấy!"

Mạc Đĩnh Chi lớn tuổi nhất trong bọn, nhưng ngặt nỗi xung quanh nó toàn là đám con cháu quý tộc, lại thêm hoàng tử hoàng tôn nên xét ra thì bối phận lại ở bậc thấp nhất.

Có điều triều ta trước giờ không nề hà mấy việc lễ nghĩa rườm rà như người phương Bắc, thành ra bọn chúng chơi với nhau rất tự nhiên.

Đang lơ đãng nhìn bọn trẻ bỗng nghe tiếng vó ngựa vang lên xa xa, tôi chồm người lên nheo mắt thì thấy đám đàn ông trong phủ đang ở bãi đất trống phía trước chơi mã cầu, xung quanh là các bô lão quý tộc vây xem.

Đám trẻ con nô nức chạy đi, chị Anh Nguyên cũng dắt tay tôi nhanh chóng chạy về hướng đó.

Trò mã cầu này là một môn bóng trên lưng ngựa, mục tiêu là dùng gậy đánh bóng vào vòng tròn của đối phương.

Trò này nghe đâu chỉ mới xuất hiện từ thời tiên đế, sau khi đuổi được giặc Nguyên ra khỏi nước ta từ hồi gần ba mươi năm trước, giống như để khẳng định lại trước đây đánh giặc vẻ vang như thế nào.

Lúc tôi còn nhỏ đã từng nhìn thấy cha cùng với Chiêu Minh vương, Thượng hoàng và những vị vương hầu khác chơi qua, có điều đã quá lâu rồi nên không còn nhớ rõ là khi nào nữa.

Ngày ấy cha tôi vẫn còn trẻ trung, tôi nép trong lòng mẹ đứng từ xa ngước lên xem chỉ thấy ai nấy đều cao lớn, bụi đất mù mịt dưới chân ngựa là thứ gì đó khiến tôi ngưỡng mộ vô cùng.

Mãi tới hôm nay, tôi mới lại được trông thấy lại một cuộc mã cầu sau bao nhiêu năm đằng đẵng.

Chị Anh Nguyên lại càng hưng phấn hơn, chị vừa chạy vừa nói:

"Mấy năm rồi các anh của em mới chơi lại môn này, hôm nay mặt trời mọc ở đằng tây!"

Nghe giọng điệu của chị, có vẻ các anh tôi chơi môn này cũng rất gì và này nọ.

Đứng ở gò cao nhìn xuống phía dưới thấy được cả mặt sân bao phủ bởi màu cỏ xanh, mà bên trên hai đội người ngựa đang quần lấy nhau giẫm đạp lên cỏ.

Những nơi mặt sân còn ướt, một lớp đất đã nhanh chóng bị bới lên.

Quang cảnh thoáng đãng, gió mát thổi rì rào qua đám cỏ xanh rì vừa mọc lên sau mấy đám mưa xuân, mà phía dưới kia trận đấu cũng dần dần đi vào những giây phút đầy kịch tính.

Trên cổ mỗi con ngựa có cột một dải băng phân biệt ra làm hai đội, mỗi đội gồm có bốn người.

Có vẻ như Trần Khâm đang dẫn đầu đội màu vàng, cùng với ông chú sáu, anh Quốc Nghiễn, cuối cùng miễn cưỡng là Trần Thì Kiến trông có vẻ rất mất lợi thế.

Đội màu đỏ thì gồm Phạm Ngũ Lão cùng với ba người anh còn lại của tôi.

Tôi phấn khởi nhìn chị Anh Nguyên, nhanh chóng nhìn ra những điểm sáng trong đội hình:

"Màu vàng thì có quan gia, chú Văn, anh cả là những người có thể tin tưởng, nhưng lại vấp phải hố đen là Trần Thì Kiến.

Ngược lại bên phía đội đỏ tuy chỉ có hai người chơi tốt là anh ba và Ngũ Lão, nhưng căn bản là đội hình đồng đều, hai người còn lại vẫn có khả năng tạo ra bứt phá.

Ngang tài ngang sức đấy!"

Chị Anh Nguyên gật gật, cũng tán đồng với tôi.

Lúc này ở bên dưới, anh ba Quốc Tảng đã ghi một điểm mở đầu, quả không hổ danh là người thầy từng dạy cho tôi mấy môn cưỡi ngựa tập võ.

Nhìn anh ta phi ngựa mượt mà như bay, ánh mắt chăm chú vào quả bóng toát ra sức hút ghê người khiến toàn bộ quần chúng xung quanh vô cùng mãn nhãn.

Thoắt cái mấy vị nữ quyến ban nãy cũng đuổi theo chúng tôi đến xem, đều tập trung đứng trên gò.

Chị Anh Nguyên và Thuỵ Hữu còn hò hét với mấy thanh niên đang tham gia thi đấu bên dưới.

Đám đàn ông đó cũng chẳng biết xấu hổ, có người còn huýt sáo với đám con gái bọn tôi.

Thật sự là... quá mắc cỡ!

Chơi một hồi, quả nhiên những người mà tôi đánh giá cao ban nãy đều đã ghi điểm, thế cục trước mắt tạm thời nghiêng về đội màu vàng.

Tôi nhìn chị Anh Nguyên đứng nhấp nhổm bên cạnh, cảm thấy chỉ là trò chơi mà chị ta lại có vẻ căng thẳng vô cùng.

Không phụ lòng chị Anh Nguyên lo lắng, anh tư Quốc Hiện bỗng mất đà một cái cả người cả ngựa ngã sóng soài, vừa đúng lúc cha tôi gõ một dùi hết hiệp một nên bọn tôi liền trong chớp mắt lao xuống.

Cũng may anh tư chỉ bị trầy tay và đau chân nhẹ, nhưng có vẻ như hai đội lúc này đã rơi vào trạng thái không cân bằng.

Trần Thì Kiến bỗng lên tiếng:

"Hay là thay người đi, tôi hết sức rồi!"

Trông anh ta đúng là hơi chật vật.

Bọn tôi anh nhìn tôi tôi nhìn anh, cũng không biết thay kiểu gì cho phải.

Trong đầu tôi nảy ra một ý, bèn nói:

"Vậy mỗi đội hai nam hai nữ là công bằng!"

Vừa vặn hợp ý với phần đông người có mặt ở đây, thế nên mấy người bọn tôi nhanh chóng đã cử ra được một đội hình mới.

Đội vàng thay thế bằng tôi và Trần Khâm một cánh, bên kia là Trần Nhật Duật cùng với chị Ngọc Châu, còn chị Anh Nguyên và Phạm Ngũ Lão kết hợp với chị Thuỵ Hữu và anh ba Quốc Uất là vào đội đỏ.

Và dù đang là tháng Giêng nhưng cái nóng ở mặt sân làm cho máu huyết của tôi cũng sục sôi.

Bên ngoài cổ vũ reo hò còn lớn hơn khi nãy, đám khách còn mang cả nồi niêu ra đấu trường.

Mấy người bọn tôi leo lên ngựa, gậy cầm chắc trong tay, sẵn sàng bước vào cuộc chiến.

Tuy không phải là cuộc chiến sống còn nhất định phải giành thắng lợi như trận chiến năm ngoái, nhưng cái nghiêm túc của một trận đấu trước mặt bao nhiêu người thật làm tôi không thể lơ là.

Đang sửa lại cương ngựa, chị Anh Nguyên phía bên kia bỗng hét lên:

"Em Tĩnh, mau chịu thua đi!"

"Còn chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!" – Tôi hét lên đáp trả.

Trần Khâm dong ngựa bên cạnh tôi nhẹ giọng nói:

"Để tôi gánh!"

Ái chà, câu này Trần Khâm đúng là có chút tự mãn đó nha.

Tôi kéo kéo dây cương hai ba lần, thấy hết thảy mọi thứ đều đã ổn thoả thì nhoài người lên ngựa, lại dong ngựa đến trước mặt Trần Khâm híp mắt cười đáp:

"Thanh Phúc đừng vội coi thường người khác, lát nữa ai ghi điểm còn chưa biết đâu!"

Trần Nhật Duật vẫn im lặng nãy giờ bỗng chen vào một câu:

"Đừng ngăn cản tôi ghi điểm là được!"

Lúc này cha tôi cũng ra hiệu bắt đầu cuộc chơi, cùng với tiếng hò hét của thằng nhóc Thuyên và Trần Thì Kiến, chúng tôi nhanh chóng tập trung cao độ, ai nấy đều hết sức hưng phấn.

Quả bóng như có mắt, lúc thì ở dưới gậy của tôi lúc lại chạy tới gậy của chị Anh Nguyên, lúc thì nằm trên gậy của anh Quốc Uất.

Cuối cùng chị Ngọc Châu lại là người bắt được bóng, chuẩn xác đánh thẳng vào vòng tròn của đối phương.

Tiếng chiêng vang lên một cái, Trần Nhật Duật liền lên tiếng đánh giá:

"Học chẳng hay, thi may thì đỗ!"

Chị Ngọc Châu không thèm trả lời, lại quay mặt mải miết thúc ngựa đuổi theo trái bóng.

Tôi nhìn ánh mắt Trần Nhật Duật dõi theo chị Ngọc Châu, để lại cho anh ta sáu chữ "nghĩ một đằng, nói một nẻo" rồi cũng nhanh chóng đuổi theo.

Có vẻ anh ta vẫn còn suy nghĩ lung lắm, bởi tôi nghe từ đằng sau tiếng Trần Khâm lớn giọng nhắc anh ta tập trung.

Trần Nhật Duật lúc này mới bừng tỉnh, giật mình nhìn lại thì vòng tròn đã bị Phạm Ngũ Lão đánh vào một quả rồi.

Lần này thì đúng là người mình hại người mình, chị Anh Nguyên ở bên kia liên tục cười ha ha đắc chí.

Trần Nhật Duật lại nhướng môi:

"Chỉ là nháp thôi!"

Nói xong anh ta liền thúc ngựa chạy nhanh như bay, từng động tác nhanh nhẹn và đẹp đẽ tới mức khiến tôi ngây người, kể cả Phạm Ngũ Lão và anh Quốc Uất cùng nhau áp sát cũng không thể kìm hãm anh ta được.

Lúc này quả bóng bỗng nhiên từ chỗ Trần Nhật Duật thoắt cái bay đến trước mặt tôi, gần như ngay tức khắc tôi liền vung gậy đánh chuẩn một phát vào vòng tròn của đối thủ.

Tôi gào thét trong lòng, Chiêu Văn vương, anh đúng là có bản lĩnh.

Rốt cuộc tới ngày anh Quốc Uất đưa chị Thụy Hữu trở về lại mặt, quan gia thu xếp trở về kinh đô, thì đám khách ở lì trong vương phủ mới không còn mặt dày mà tự giác nối tiếp nhau ai về nhà nấy.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 89: Nỗi Khổ Tâm Của Chị Trinh


Sau khi trở về từ Vạn Kiếp, có lần chị Trinh bệnh một cơn thập tử nhất sinh, phải nhờ thằng bé Thuyên một mực chăm sóc cạnh bên mới giữ được mạng, nhưng sức khỏe chị từ đó lao dốc không phanh.

Tôi ngồi nghe chị dạy việc, cuối cùng chị cũng trút được gánh nặng của cuộc đời mình.

Chị Trinh năm nay chỉ sắp ba mươi, vẫn chưa đi được nửa chặng đường của đời người, ấy vậy mà dáng vẻ lại như ngọn đèn sắp cạn.

Tôi không muốn chị phải lo nghĩ nhiều, những thứ chị truyền dạy tôi học tập rất nghiêm cẩn, thằng nhóc Thuyên cũng y như tôi, gần như là liều mạng học hành.

Bây giờ nó chỉ để tâm tới hai việc, một là chăm sóc mẹ nó, hai là học cho mẹ nó vui lòng.

Căn do là vì hôm nọ khi chị Trinh vừa tỉnh lại sau hai ngày mê man.

Thấy nó khóc lóc, chị bèn cất giọng mệt mỏi, yếu đến không thể nói ra hơi:

"Trước giờ ta chưa từng khắt khe với con điều gì, hết thảy đều để con tự làm theo ý mình muốn, nhưng gần đây nghe phong thanh việc con ham chơi không thiết tới học hành làm ta cũng phải nhọc lòng lo.

Ngày xưa đức tiên đế đã phong con làm hoàng thái tôn ngay khi con mới sinh ra đời, cho dù muốn hay không thì số phận của con cũng đã được định là như thế.

Cũng như mẹ, dù muốn hay không thì khi đã ngồi vào ngôi vị hoàng hậu, phải làm tròn trách nhiệm với xã tắc giang sơn.

Nay con học hành chểnh mảng, mẹ chợt cảm thấy cố gắng của mình trước giờ bỗng dưng thành xôi hỏng bỏng không."

Chị nói xong, ho như muốn vỡ tan lồng ngực.

Tôi đau xót vuốt ngực cho chị, thằng nhóc Thuyên ở bên cạnh nước mắt cũ nước mắt mới chồng chéo lên nhau, khóc lóc đến khản giọng.

Tôi thấy nó có vẻ mệt mỏi, bèn sai nội hầu đưa nó trở về, tránh để hai mẹ con phải nói mấy lời tổn thương nhau nữa.

Tôi lắc đầu, ân cần nói với chị:

"Vậy nên chị phải cố gắng khỏe lại để nhìn con trưởng thành, chị phải sống đến ngày con được kế thừa thánh ý của tổ tiên, trở thành một minh quân hết lòng lo cho đất nước."

Lại có một hôm chị Anh Nguyên ghé sang thăm.

Giữa không gian ngập mùi huân hương phiêu đãng, liếc mắt nhìn thấy chị Trinh đang ngủ, tôi liền nhỏ giọng hỏi chị Anh Nguyên:

"Ngày trước lúc em không có trong phủ, chị Trinh đã từng bệnh như thế này rồi đúng không?"

Chị Anh Nguyên ngẫm nghĩ một lát giống như sực nhớ ra liền nói:

"Đúng là có, là một ngày đông chị ấy bị rơi xuống hồ, trước đó sức khỏe của chị cũng không đến nỗi như vậy."

Tôi lại nghĩ quả nhiên, bệnh nặng tới bất ngờ thì khả năng cao là do đã có tiền sử.

Chị Anh Nguyên lại bổ sung:

"Là sau lúc định chuyện hôn phối với quan gia.

Dạo đó chị bệnh rất lâu."

Tôi lại miên man suy nghĩ, bỗng nhiên nghe chị Trinh ho một tiếng bên tai, yếu ớt nói:

"Vô tình rơi xuống nhưng lại không muốn tỉnh, may khi ấy chị dâu nói với chị rằng chị vẫn còn trách nhiệm trên vai, vậy nên chị sống được đến hôm nay, mỉa mai thay là nhờ vào trách nhiệm.

Mọi thứ rơi vào tĩnh lặng, ngọn đèn dầu lay lắt trong không trung như chực tắt.

Mùi thuốc nồng nặc len đến từng ngõ ngách trong căn phòng kín, đáy lòng tôi cũng nặng nề.

Chị Trinh lại nhìn chăm chú vào tấm mành lụa đang lay động, gương mặt chị giống như đang suy nghĩ lung lắm.

"Quan gia về vai vế hay tuổi tác đều là em của chị, chị không thích ngài.

Chị biết nếu cứ thân cận cùng ngài thì chị sẽ khinh ghét, sẽ quá phận, vậy nên tốt nhất mỗi người cứ sống một cuộc đời riêng."

Tôi và chị Anh Nguyên nhìn nhau không biết nói gì cho phải, bèn thống nhất yên lặng để chị Trinh trút bỏ nỗi lòng.

Bao năm qua ở cùng với nhau chưa lần nào chị hé răng về những gì mà mình suy nghĩ, chỉ toàn lo nghĩ cho tôi và những người xung quanh.

Nay bệnh tình trở nặng, chị như muốn trăn trối với bọn tôi trước khi đi xa mãi mãi.

Tôi vẫn còn bình tĩnh, bên kia chị Anh Nguyên đã khóc thút thít rồi.

Chị Trinh lại tiếp tục thở dài thườn thượt:

"Tĩnh à, bao năm qua chị luôn thấy có lỗi với em, nhiều lúc muốn nói nhưng lại không thể mở miệng.

Năm đó tại sao em lại cứu chị, nếu như người bị bắt đi là chị thì tốt rồi."

Tôi nắm lấy tay chị, cũng không kìm được rơi nước mắt.

Tại sao trên đời này lại có những người cứ thích ôm vào người mọi tội lỗi, tại sao chị không trách tôi đã làm hỏng cả cuộc đời của chị lại còn trở về tranh giành, cuối cùng chị còn dằn vặt vì cảm thấy có lỗi với tôi.

"Giá như lúc đó em chết đi chị đã có thể làm lại cuộc đời mới."

Chị Trinh cau mày, giằng mạnh tay tôi ra:

"Nếu em chết, chị sẽ mang niềm ân hận cả đời!" – Đoạn, chị lại nói – "Bây giờ chị không có gì hối tiếc cả, chỉ lo Thuyên còn quá nhỏ, nếu không có mẹ chỉ sợ nó sẽ buồn bã rồi không cố gắng học hành.

Quan gia bận rộn, nếu chị không còn nữa thì chỉ biết trông cậy vào em thôi."

Tôi gật đầu, nước mắt rơi xuống ướt cả gối thêu hoa mẫu đơn của chị.

Tôi những tưởng chị Trinh sẽ không qua khỏi, nhưng khi cái lạnh của mùa đông qua đi và những ngày nắng ấm trở lại thì sức khỏe của chị dần dần tốt lên.

Có lẽ là do những chất chứa trong lòng bấy lâu nay được giãi bày nên chị cũng không quá khổ tâm như trước nữa, cũng không uổng công thằng bé Thuyên hết mực kề cận chăm nom.

Tôi viết thư về cho cha mẹ, sau đó được tin chị An Hoa đã có tin vui, xem như là an ủi cho những ngày nhuốm màu u ám.

Sau lần đó, một hôm ngồi chăm Quốc Chẩn tập viết, dù biết nó chỉ mới tròn năm tuổi nhưng vẫn buộc miệng:

"Giờ con còn nhỏ, những gì mẹ nói con đều xem là hiển nhiên và tin răm rắp, nhưng sau này lớn lên con sẽ có suy nghĩ của riêng mình.

Mẹ không thể ngăn cản được thế giới bên ngoài tác động vào suy nghĩ của con, nhưng mẹ biết con là đứa hiền lành, con phải trợ giúp cho anh con làm nên nghiệp lớn.

Tuy con vẫn có khả năng kế vị như anh của con, nhưng hãy nên học cách làm bề tôi sao cho xứng chứ tuyệt đối không được phép có ý định tranh giành bất cứ thứ gì.

Chỉ như vậy mẹ mới an tâm."

Quốc Chẩn không biết có nghe hiểu không nhưng lại ngoan ngoãn gật đầu.

Tôi xoa đầu nó thở dài, bỗng thấy tâm trạng của mình nhẹ đi chút ít.

Giữa tôi và chị Trinh tồn tại loại quan hệ khó mà nói rõ được, là chị em thì không hẳn, là tình địch cũng không xong.

Là chị em thì tại sao giữa chị ta và chồng tôi lại có con cái?

Là tình địch cũng không phải, bởi chị Trinh chưa bao giờ giành giật với tôi.

Giữa chị với Trần Khâm tựa hồ cũng không có loại tình cảm để hình thành nên cái thứ quan hệ đó.

Bệnh đến như núi đổ, bệnh đi như kéo tơ, sức khỏe của chị Trinh từ sau trận bệnh thập tử nhất sinh ấy cũng xuống dốc, thường xuyên làm bạn với thuốc than.

Tôi biết trong lòng chị khổ không kể xiết, nó cũng góp phần làm sức khỏe của chị không thể hồi phục.

Bệnh của chị Trinh vừa lui chưa lâu thì tháng hai sứ Nguyên lại tới, thái độ như thể gấp rút muốn phục thù.

Trần Khâm dùng lời lẽ cương quyết trên điện Thiên An, khiến sứ thần giận xanh mặt.

Trong lòng tôi cả cười, ngày trước nhân nhượng chẳng phải bọn chúng cũng kéo quân sang thôn tính nước ta đó sao, hy vọng gì ở một con thú dữ luôn xem mình là con mồi chứ?

Ngày xuân tháng ba, mây trên trời càng nhiều, vạn vật đâm chồi trăm hoa đua nở, cây lê phía sau cung Quân Hoa cũng lấm tấm một vài đóa hoa đầu tiên.

Những ngày gần đây Quốc Chẩn đã bắt đầu cắp sách theo nhóc Thuyên đi học, tôi khó mà có được một lúc yên tĩnh bèn kê cái sạp trúc đã cũ kĩ ra phía sau ngắm hoa lê, nghĩ thầm tầm ba bốn tháng nữa là cây lê có quả.

Hôm nọ, tôi nghe Mạc Đĩnh Chi báo tin cô Ngọc Châu vào phủ Chiêu Văn hầu đèn sách thì có phần kinh ngạc, thể loại hầu đèn sách sớm chiều kề cận bên nhau này chẳng phải hay xuất hiện trong ca kịch hay sao?

Trần Nhật Duật không ngờ cũng là kiểu người có loại thú vui như thế, đúng là con người ta càng lớn tuổi lại càng có những sở thích lạ lùng.

Nhưng tôi có điều thắc mắc, ông chú Văn từ lúc nào lại cần thư đồng vậy, trong phủ của anh ta không phải lúc nào cũng hát hò náo nhiệt hay sao?

Việc này...ừm, có vẻ hơi thừa thãi.

Trong lúc mơ màng nhớ lại mấy chuyện phong tình của Trần Nhật Duật, đột nhiên có ai ngồi xuống chiếc sập trúc cũ kĩ của tôi, làm nó phát ra âm thanh kẽo kẹt.

Mắt tôi vẫn nặng trĩu, nhưng miệng lại không kìm được lên tiếng:

"Đã ngủ rồi, ngủ rồi."

Có tiếng phì cười vang lên bên tai, tôi tiếp tục châm chọc:

"Không mấy khi Thanh Phúc đến sớm như vậy, trong lòng có gì bực tức nên tìm chỗ khuây khỏa hay sao?"

Trần Khâm cười cười, trong giọng nói lại hơi hơi kiềm chế:

"Đúng vậy, tôi đến để giải khuây."

Lại cảm giác như chiếc sập có hơi xiêu vẹo, tôi mở mắt ngó anh ta, nói:

"Làm gãy sập trúc của em thì chàng phải đền bằng sập vàng sập bạc."

Trần Khâm chỉ tay vào trán tôi:

"Sập vàng sập bạc thì không có, chỉ có tấm lưng già này thôi."

Trần Khâm đang vận bạch bào ngồi trước mặt, tuy nét cười trên miệng nhưng đôi mày vẫn còn chưa giãn ra.

Trên vai áo anh ta điểm mấy cánh hoa lê trắng muốt, sắc trắng của hoa như tan vào sắc trắng trên áo người.

Phía sau, ánh mặt trời chói mắt hé ra trên những tán lá bị gió thổi rì rào cũng bị bóng lưng của anh ta che lại.

Tôi thầm nghĩ, đúng là cảnh đẹp ý vui.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 90: Xe Đến Chân Núi Ắt Có Đường


Có một người chồng làm nông, vợ chồng gần như sẽ gặp nhau suốt cả ngày, chồng cày vợ cấy.

Có một người chồng làm quan nhỏ, trừ những khi ra ngoài làm công vụ, lúc trở về chỉ quanh quẩn với vợ con, thỉnh thoảng lại đi tiệc rượu hội hè.

Có một người chồng làm quan to, tới giờ vào triều, hết giờ thì về phủ đệ.

Có thể ba vợ bốn nàng hầu, nhưng cũng biết rõ lúc nào có thể gặp được anh ta.

Nhưng có một người chồng làm vua thì anh ta cứ thoắt ẩn thoắt hiện, anh ta có nhà riêng và chỉ khi có việc cần anh ta mới sang thăm.

Rõ ràng là vợ chồng nhưng lại chẳng giống vợ chồng, rõ ràng là nhà của ta nhưng cũng chẳng phải nhà của ta, có một đứa con nhưng lại không thể bắt nó hiếu thảo với riêng ta mà là cả thiên hạ.

Tôi đang "đau xót" cho số phận của mình thì người chồng bất đắc dĩ kia lại thở dài, lên tiếng:

"Chú năm báo về, bọn chúng đang sai đóng gần ba trăm thuyền chiến, chiêu mộ hơn năm mươi vạn binh mã định mượn cớ đưa chú ấy về để lần nữa sang cướp nước ta."

Tôi hừ giọng, đáp:

"Ba trăm tàu chiến và năm mươi vạn binh mã, chắc bọn chúng đang mơ.

Ba trăm tàu chiến không nhanh thì chậm có thể xong, còn năm mươi vạn quân kia chiêu mộ ở đâu ra chứ?

Vừa tổn hại gần bốn mươi vạn lại có thể ngay lập tức định chiêu mộ thêm năm mươi vạn, bọn chúng tưởng binh lính là lá trên cành chắc!"

Trần Khâm trầm ngâm:

"Không nhất định chỉ là người Mông Cổ, em đừng quên bọn chúng đã thôn tính được nước Tống, và đương nhiên cũng không chỉ là nước Tống!"

Nghĩ đoạn, lại nói tiếp:

"Nhưng dù sao binh lính mỏi mệt, thương thế còn chưa khỏi, chúng cũng không thể nhịn đói đi đánh nhau."

"Vậy nên không nhất định là bây giờ, ít nhất cũng phải hơn một năm chúng mới có khả năng tạo ra uy hiếp!"

Tôi cầm quạt quạt cho mình vài cái, lại quạt cho Trần Khâm vài cái, rồi đánh giá anh ta từ trên xuống một lượt.

Đây không còn là chàng trai năm đó vừa nghe phong thanh tin giặc Nguyên sẽ đánh đến đây thì cố giấu hoảng hốt trong lòng, lo lắng đến mất ăn mất ngủ.

Trên mặt Trần Khâm hiện tại tỏa ra loại khí chất sắc bén như một thanh kiếm, một loại trấn tĩnh tự nhiên từ bên trong.

Trần Khâm hưởng thụ việc tôi quạt mát cho anh ta, chốc lát lại nới lỏng cổ áo cho thông thoáng, hơi ngả người ra sau chớp mắt suy nghĩ.

"Trước tôi đã hỏi Quốc công, ngài nói "vì ngày trước thái bình dân không biết việc binh, nên khi bọn Thát sang thì có lắm kẻ đầu hàng trốn chạy.

Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa.

Vả lại chúng còn nơm lớp cái thất bại của Hằng, Quán, không còn chí chiến đấu".

Lại kết luận một câu: "phá được chúng là điều chắc chắn"."

Cha tôi không phải kẻ ăn không nói có, ông ấy đã khẳng định như thế thì tức là không gì phải lo.

Mãi về sau tôi mới nghe được rằng, bọn Thát Đát chỉ vừa nghe tới tên cha tôi là đã mất hồn mất vía.

Nghe Trần Khâm nhắc tới những kẻ đầu hàng bỗng dưng tôi lại nhớ đến đám Trần Kiện Trần Lộng, Trần Kiện chỉ bị tên bắn chết, đúng là quá lời cho hắn ta.

Tôi chồm người ngồi dậy, căm phẫn nói:

"Trần Kiện này đáng ra nên bắt sống, sau đó để cho voi giày ngựa xéo mới hả giận, ấy mới là kết cục xứng đáng cho kẻ giẫm lên xương máu của đồng bào ta."

Trần Khâm nhìn tôi chớp chớp mắt, có lẽ cử chỉ và hành động của tôi khiến anh ta lạnh sống lưng.

Anh ta ngẩn người một hồi, giống như muốn nói gì đó.

Tôi ngưng quạt cau mày, giục:

"Chàng còn gì muốn nói?"

Trần Khâm bình tĩnh đặt một tay lên vai tôi, giọng điệu ân cần, lại như an ủi:

"Hoàng cô cũng có thai rồi."

Trong lòng tôi đón một cơn chấn động, tôi giật mình hỏi lại Trần Khâm, thấy anh ta gật đầu mới dám tin là mình không nghe nhầm.

Ngẩn ra một hồi, lúc ngẩng mặt lên thì đã giàn giụa nước mắt.

Tôi bật cười khan, nói:

"Đó không phải là chuyện thiên kinh địa nghĩa hay sao?"

Trần Khâm lau nước mắt cho tôi:

"Thoát Hoan dường như rất kiên nhẫn với hoàng cô.

Mọi chuyện có lẽ không tệ như ta nghĩ."

Tôi gật đầu.

Chỉ là không biết anh ta thật sự hồi tâm chuyển ý hay chỉ xem cô ấy như cái bóng của tôi.

Nhưng dù là lẽ nào, chỉ cần trong lòng Thoát Hoan đã có chấp niệm, thì cũng đủ để hoàng quý cô có thể sống ổn ở Nguyên triều.

Trần Khâm ôm lấy tôi:

"Xe đến chân núi ắt có đường, việc đau khổ nhất là dứt áo ra đi cô ấy cũng đã làm rồi, bây giờ dù bất kể chuyện gì xảy ra e cũng không thể làm hoàng cô nao núng."

Tôi tự thấy chế giễu, nếu được sống một cách vô tư lự trong sự bảo bọc và tình yêu thương thì chẳng ai dại gì phải khiến bản thân trở nên chai sạn.

Tháng sáu, Trần Khâm ra lệnh cho các vương hầu tôn thất mộ binh, thống lĩnh thuộc hạ của mình, lại sắm sửa vũ khí chế tạo thuyền bè đề phòng khi có giặc.

Tôi đứng bên cửa sổ nhìn cơn mưa ngoài trời vẫn cứ rơi mãi trắng xóa trên mái hiên, sau đó lại đổ ào ào xuống thềm giống như muốn cuốn trôi đi từng lớp ngói từng viên gạch.

Bên ngoài có tiếng bước chân, tiếng phẩy nước trong ô nghe phần phật.

Tiếng bước chân đã đến gần bên cạnh, tôi bèn che giấu đi tâm tình, chầm chậm hỏi:

"Nó vẫn không chịu nhận lỗi sao?"

Thụy Hương lắc đầu cất giọng run run, không biết là run vì lạnh hay vì e ngại tôi nữa.

Móng tay tôi bấu mạnh vào lòng bàn tay một cái rồi lại buông ra.

Tôi thở dài, vẫn đứng khoanh tay tựa vào cửa sổ nhìn ra bên ngoài, cao cao đằng kia là mái ngói lưu ly đỏ rực của cung Thúy Hoa, khuất sau mấy bụi hồng gai leo kín cửa rào và cây lê già đã bắt đầu đón những đợt trái chín.

Tôi không nhìn Thụy Hương, lại bâng quơ nói:

"Tạnh mưa thì sai người hái một ít cho chị Trinh nhé."

Thụy Hương chần chừ một lát, cất giọng:

"Hoàng hậu đã khỏe hẳn rồi chị ạ, chỉ thỉnh thoảng rơi nước mắt thôi."

Tôi hơi đau đầu, hỏi:

"Vậy thái tôn thế nào rồi, đã được tha chưa?"

Thấy Thụy Hương dè dặt gật đầu, tôi mới thở phào một cái.

Mưa lại càng lớn hơn, trong lòng tôi bồn chồn không chịu nổi.

Lại nghe Thụy Hương giục, cuối cùng tôi với tay lấy thêm chiếc áo choàng, có hơi gấp gáp đi vòng qua gian trái.

Gian phòng tối mờ do trời đang mưa to.

Thỉnh thoảng, bên ngoài vang lên một đợt sấm chớp làm bên trong cũng lóe lên, hiện rõ một hình bóng nho nhỏ đang quỳ trong góc.

Tôi sai Thụy Hương thắp thêm đèn, căn phòng bừng sáng, không khí cũng trở nên ấm áp hơn.

Đứa bé năm tuổi này trông cao hơn bọn cùng trang lứa rất nhiều, tuy khuôn mặt vẫn chứa phần nhiều vẻ non nớt nhưng đã mơ hồ nhìn ra được những nét đẹp ẩn bên trong.

Tôi dặn Thụy Hương đóng kín cửa rồi lên phản ngồi, chốc sau thì khoác tay gọi:

"Nếu biết lỗi rồi thì đứng dậy."

Quốc Chẩn vẫn cúi thấp đầu, vừa khóc vừa ấm ức nói:

"Con không biết đã sai chỗ nào?"

"Vậy con đúng chỗ nào?" – Tôi nhẹ giọng hỏi.

Quốc Chẩn lập tức ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt trong veo như nước suối trong không lẫn một hạt bụi:

"Anh cả ham chơi lén trốn ra ngoài cung với đám bạn bè xấu, con chỉ muốn ngăn cản mà thôi.

Người sai là anh ấy, tại sao con cũng phải chịu phạt cùng?"

Ồ, nếu đã nhìn nhận được vấn đề để chất vấn ngược lại tôi thì cũng không đến nỗi.

Đầu tôi lại càng thêm đau nhức, tôi nhắm mắt xoa thái dương, cố dịu giọng hỏi:

"Có ai xúi giục con không, hay chính con tự cảm thấy như vậy?"

"Là tự con cảm thấy như vậy, không có ai xúi giục hết!"

Quốc Chẩn đã thôi khóc.

Nó cũng cố bình tĩnh mà đáp lời tôi, nhưng nước mắt hai bên vẫn chảy ròng ròng, tôi biết nó đang cảm thấy oan ức lắm.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 91: Khổng Dung Nhường Lê


Tôi hiểu rõ người sai đầu tiên là thằng bé Thuyên, thằng oắt con chỉ mới mười tuổi mà lại dám trốn ra khỏi cung chơi bời uống rượu, không biết bây giờ người trẻ đều như vậy hay thằng bé này đã bị bạn bè xấu làm hư rồi.

Nhưng an ủi là Quốc Chẩn không đến nỗi bị người khác thao túng bán đứng anh em, nó chỉ thấy việc chướng mắt thì nói.

Tôi lại hỏi:

"Con cảm thấy nếu như anh cả phạm sai lầm thì ngôi thái tử sẽ về tay con đúng không?"

Dường như nghe được điều gì khủng khiếp, nó hoảng sợ lắc đầu nguầy nguậy.

Tôi "ừ" một tiếng, lại hỏi:

"Hay là con cảm thấy mẹ mong con làm như vậy, hoặc nghĩ nếu làm vậy thì cha của con sẽ thương con nhiều hơn?"

Quốc Chẩn lại khóc nấc lên:

"Con chỉ muốn anh ấy đừng làm sai nữa thôi ạ!"

Tôi bước tới nâng nó dậy, chắc do quỳ lâu, hai chân thằng bé loạng choạng chực ngã.

Lòng tôi đau như ai cứa ai cào, vội đỡ nó lên phản, lại lót thêm một lớp vải bông dày cho khỏi lạnh.

Thụy Hương bưng lên một bát canh cá lăng còn bốc khói nghi ngút.

Tôi lấy khăn ướt lau mặt Quốc Chẩn, sau đấy bưng bát canh, toan đút cho nó.

Quốc Chẩn dùng hai tay đỡ lấy bát canh, sụt sịt nói:

"Để con, con tự ăn được ạ."

Tôi mím môi, lấy tay quệt nước mắt, vừa tủi vừa hờn.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy như mình vừa làm một chuyện tày đình, tàn nhẫn đến không thể tha thứ.

Quốc Chẩn, nó vẫn là đứa con thiếu tình thương của mẹ đến mức phải tự lập.

Quốc Chẩn sùm sụp húp canh, thi thoảng chảy nước mũi.

Tôi lấy khăn lau nước mũi cho nó, nhớ tới năm đó giặc Nguyên đánh sang thằng nhóc này vẫn còn ương bướng ngang ngược, chính tôi đánh nó một cái nhớ đời.

Sau đấy nó trở nên cực kỳ hiểu chuyện, mãi cho đến hôm nay.

Kỳ thực việc làm của thằng bé không có gì gọi là quá đáng, nó thấy thằng nhóc Thuyên theo bè bạn trốn nhà đi chơi thì lập tức chạy đi báo với Trần Khâm.

Trần Khâm nổi điên lên, sai nội hầu đi tìm về thì vừa hay bắt gặp thằng con cầu con khẩn của mình đang đánh nhau với đám thiếu niên ngoài phố trong tình trạng say xỉn.

Thằng nhóc Thuyên lớ ngớ thế nào bị bắt về tẩn cho một trận nên thân, rồi bị phạt quỳ suốt hai ngày một đêm dưới sự canh gác cẩn mật của nội hầu, ông ấy dù xót xa lắm cũng chỉ dám cho nó hớp tí nước.

Chị Trinh khóc tới bệnh cũ tái phát thì Trần Khâm mới tha cho, lúc bấy giờ nhóc Thuyên cũng ngất xỉu trước khi kịp đi thăm mẹ của nó.

Nói đi cũng phải nói lại, lần này là do thằng nhóc Thuyên tự làm tự chịu.

Về động cơ thì Quốc Chẩn không sai, chỗ sai ở đây là về cách thức, giá như nó có thể nói với tôi chứ không phải với Trần Khâm thì mọi việc đã khác rồi.

Vốn dĩ tôi định răn dạy Quốc Chẩn thật nghiêm, nhưng nhìn con trẻ lại không nén nổi mềm lòng, chỉ đành nhỏ giọng thủ thỉ với nó:

"Mấy câu mẹ hỏi con không phải là vô nghĩa.

Con thấy đó, chỉ việc con đi mách cha con thôi mà mẹ đã có thể nghĩ tây nghĩ đông xiêu xiêu vẹo vẹo, dù mẹ tin tưởng con thì chắc gì mẹ cả và anh cả sẽ tin.

Huống gì còn có cha con, còn có người ngoài, nhỡ ai đàn hặc thì chuyện nhà ta sẽ thêm rối rắm."

Nói tới đây, tôi lại thấy có lẽ thằng bé sẽ khó lòng hiểu được, bèn chuyển sang cách khác:

"Ngày xưa lúc mẹ không ở cạnh, một tay mẹ cả nuôi nấng con, lúc đó anh cả con bảo bọc thương yêu con thế nào con nhớ chứ?

Xung quanh anh ấy đâu thiếu người chơi cùng, nhưng thấy con không có mẹ ở cạnh thì thương xót con, ngày ngày chăm nom kề cận, Quốc Chẩn đã quên rồi hay sao?"

Quốc Chẩn nghe tới đó thì mếu máo, lại bắt đầu giọt ngắn giọt dài:

"Con không quên ạ!"

Tôi gật đầu, suy nghĩ một chút rồi hỏi:

"Con đi học cũng đã vài tháng, ắt hẳn đã học tới đoạn Khổng Dung nhường lê, vậy con có nhớ không?

Anh cả con bị phạt tới mức ngất xỉu, mẹ cả vì lo lắng mà cũng đổ bệnh, chuyện này Chẩn muốn xảy ra à?

Hay là con muốn sau này anh em từ mặt, rồi tranh cạnh soi mói nhau?"

Quốc Chẩn lắc đầu, lúc này tôi mới cười nói:

"Không phải mẹ muốn con che giấu cho anh cả, lỗi lầm nếu bị che giấu sẽ ngày càng nghiêm trọng, tới lúc đó ngược lại càng hại cho anh con.

Nhưng cũng không thể tuyệt tình quá.

Nếu như lúc đó con khuyên can anh, rồi đem chuyện nói với mẹ, ắt hẳn sự việc sẽ không tồi tệ đến mức này.

Anh của con bị bạn bè xấu ảnh hưởng chứ bản tính nó không phải vậy, anh em như thể tay chân, việc nó gây ra thì đồng nghĩa là con cũng có lỗi, bởi thế hằng ngày phải càng khuyên can anh."

Thuỵ Hương đưa cho tôi một bát nước lê hầm, tôi hớp một hơi thấy ngòn ngọt trong cổ họng, cũng rót cho Quốc Chẩn một bát.

"Tuyệt đối không được tranh giành, không phải vì con không bằng anh cả, mà vì sứ mạng hai đứa khác nhau."

Tôi lau nước mắt cho thằng nhóc, ngồi nghe nó kể mấy chuyện học hành, sau đó sai Thuỵ Hương đưa thằng nhóc đi tắm rửa.

Ngoài trời đã tạnh mưa từ lúc nào, trong cái ướt át của cây cỏ mới được gội rửa qua hiện ra vẻ tươi mới và mát mẻ, ngoài sân sau lại có vài tiếng ếch nhái côn trùng kêu vang.

Trong phòng tĩnh lặng như tờ, tôi mệt mỏi đứng dậy thì thấy Trần Khâm đã ngồi đó không biết qua bao lâu.

Ánh đèn lờ mờ nhấp nháy trước mặt anh, vệt nắng vẫn còn sót lại của ánh tịch dương bên ngoài len vào song cửa sổ hòa với ánh đèn dầu trong phòng tạo nên thứ ánh sáng tịch mịch.

Trần Khâm hơi mỉm cười, anh ta đứng dậy cởi đi lớp áo đối khâm, chỉ còn áo trong màu ánh trăng thắt một kiện đai lưng vàng nhạt.

"Nghe như kiểu em đang trách tôi quá mức nghiêm khắc ấy nhỉ?

Gì mà Khổng Dung nhường lê, thằng oắt cứng đầu đó mà chịu nghe khuyên bảo thì đã không có ngày hôm nay rồi, em còn định giấu cả tôi nữa."

Tôi giật mình, không ngờ anh ta đã nghe hết mọi chuyện.

Lòng tôi có hơi chột dạ, chẳng biết ban nãy có lỡ miệng nói sai gì không.

Tôi vội ba chân bốn cẳng bước tới giúp anh ta treo áo ngoài lên, lại với tay định trút đi thắt lưng cẩn ngọc.

Trần Khâm nheo mày nhìn tôi, nhàn nhạt phun ra mấy chữ:

"Trời vẫn chưa tối, tôi còn chưa ăn cơm."

Tay tôi như phải bỏng, vội buông vạt áo của anh ta ra.

Ai ngờ anh ta lại kéo tôi ngồi lên đùi mình, trầm giọng nói:

"Ban nãy dạy con hăng hái lắm mà, sao bây giờ lại như ngậm hột thị thế kia?"

Tôi nghe thế rốt cuộc cũng thở dài, đầu ngả ra sau tựa vào vai anh ta, than thở:

"Vấn đề của con trẻ, làm em vừa đau đầu, vừa đau lòng chết đi được."

Trần Khâm ôm lấy eo tôi, phì cười:

"Chỉ mới có một đứa mà đã than ngắn thở dài, tôi còn muốn thêm vài đứa nữa."

Tôi thoáng đỏ mặt:

"Chàng không cảm thấy em quá khắt khe với Quốc Chẩn sao?"

Trần Khâm đỡ tôi ngồi dậy rồi bước tới bàn tròn, đoạn, anh ta ngồi xuống lấy ngón trỏ gõ gõ lên mặt bàn trơn nhẵn.

Tôi biết ý, liền đi sai nội nhân chuẩn bị cơm canh.

Lúc quay lại thì nghe anh ta nói:

"Nó là con trai, khắt khe một chút cũng không vấn đề.

Nhưng việc này kỳ thực tôi cũng không quá tán đồng với em, việc em che giấu đôi khi cũng không thể khiến thằng bé kia vì cảm động mà từ bỏ thói xấu.

Ngược lại tôi tin nó có thể nhớ sâu sắc việc bị phạt nặng hôm nay, rằng nó đã phải chịu đựng cực khổ như thế nào, mẹ của nó vì nó mà đổ bệnh ra làm sao.

Còn Quốc Chẩn, dạy nó đạo lý làm anh em cũng tốt, triều ta vững vàng cho tới ngày hôm nay một phần cũng là nhờ tiên đế dẹp bỏ hiềm khích giữa hai nhà.

Anh em hoà mục yêu thương nhau, đó mới là điều đáng quý."

Tôi nghe Trần Khâm nói một thôi một hồi cũng thấy có lý, lúc ăn cơm liên tục gắp đồ ăn cho anh ta, làm anh ta thỉnh thoảng ngước lên nhìn tôi, chắc nghi hoặc không biết tôi có giở trò gì trong cơm canh không nữa.

Hôm sau Quốc Chẩn sang thăm thằng nhóc Thuyên.

Hai anh em ôm nhau khóc lóc một hồi, nói mấy lời khiến người ta buồn nôn một lúc lâu thì cũng xem như là hoà thuận trở lại.

Tôi thì cảm thấy lý do thằng nhóc Thuyên có thể rộng lượng bỏ qua một phần là vì mấy hôm nay Quốc Chẩn nhà tôi giúp nó chép bài, khiến cho kẻ làm anh cũng không nén được rưng rưng cảm động.

Thằng nhóc liên tục hứa hẹn với tôi sẽ không để cho em út bận lòng vì mình nữa, quyết từ nay rời bè lũ xấu xa, kết giao với hiền thần.

Nói chung nó hứa hẹn đủ điều, nhưng trong lòng tôi vốn không tin tưởng lắm.

Mùa hè oi bức rốt cuộc cũng qua đi, đến tháng mười quân đội lại một lần nữa tiến hành kiểm duyệt, diễn tập rất hoành tráng.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 92: Quả Báo Đến Sớm


Mùa đông chớm đến, gió cũng thổi se se lạnh, tôi đứng trên đài cao nheo mắt nhìn xuống chỉ thấy bên dưới hồ Dâm Đàm bảng lảng sương mù, đúng như cái tên của nó.

Năm đó cũng tại hồ Dâm Đàm, cha tôi đã chỉ huy duyệt binh và đọc Hịch tướng sĩ trước hai mươi vạn đại quân trên hàng nghìn chiến thuyền, tạo nên một cơn địa chấn với quân Thát, năm nay bên cạnh ông có Phạm Ngũ Lão cũng không kém phần oai phong.

Đứng từ trên cao, vạn vật dưới hồ như thu vào trong tầm mắt, thuyền chiến to lớn cũng hóa thành những con thuyền con con ẩn hiện dưới sương mù, mà Trần Khâm mặc triều phục đứng quan sát dưới kia giống như nổi bật lên tất thảy.

Tôi chẳng biết là do anh ta có phong thái đẹp đẽ thật, hay do tình nhân trong mắt hóa Tây Thi.

"Dâm Đàm, đúng là cảnh sắc y như tên."

Phía sau đột nhiên có tiếng cười khẽ, tôi lần theo thì thấy Trần Nhật Duật đã bước lên đài từ lúc nào, ống tay áo trắng phần phật bay trong gió.

Thân hình anh ta dong dỏng cao lại mặc một chiếc áo đối khâm rộng thùng thình khiến tôi có cảm giác bất cứ lúc nào anh ta cũng có thể bị gió cuốn đi.

Gió ngược tạt mạnh, lớp áo cũng bị dính sát vào trên người làm hiện ra những đường cong nam tính.

Trần Nhật Duật lúc mặc giáp minh quang thì có cảm giác không giận mà uy, lúc bình thường lại hay mặc mấy loại xiêm y rộng phảng phất vẻ biếng nhác.

Tôi ôm cánh tay đứng tựa vào lan can nghe anh ta nói:

"Nghe tên thì có vẻ hay, nhưng nguồn gốc của cái tên này, rõ ràng là một tấn bi kịch."

Tôi ồ một tiếng ra vẻ bất ngờ.

Trần Nhật Duật cũng không chờ tôi hỏi đã bâng quơ giải thích:

"Ngày xưa Lý Nhân Tông ngồi thuyền của Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù thì có thuyền tới gần, bên trên lại xuất hiện hổ dữ.

Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hóa ra đó là Thái sư Lê Văn Thịnh."

Tôi lại càng kinh ngạc:

"Chuyện hoang đường như thế mà cũng có người tin ư?

Nếu nói người có thể hóa hổ, thì so ra chuyện đức Thánh Gióng ba tuổi có thể nhổ tre đánh giặc và con ngựa sắt biết phun lửa còn có vẻ dễ tin hơn."

Trần Nhật Duật cũng cười phụ họa:

"Đương nhiên, ngày xưa các cụ có thể nghĩ ra mấy chuyện kỳ ảo để giải thích cho chiến thắng của một trận chiến thì ngày nay đám quyền thần cũng có thể tùy tiện bịa ra một câu chuyện nhảm nhí để lấy mạng của một trung thần.

Dù sao một kẻ dám đưa ra cải cách động chạm tới lợi ích của tập thể thì cũng dễ bị thủ tiêu lắm."

Trong lòng tôi lại nảy sinh cảm giác khó chịu:

"Lê Văn Thịnh, nếu tôi không lầm thì đây là vị Trạng nguyên đầu tiên đỗ khoa bảng ấy nhỉ?"

"Đúng vậy, ông ta còn nhờ việc đòi đất ở châu Quảng Nguyên từ nhà Tống về mới được lên làm Thái sư, rốt cuộc một thân một mình cũng không thể chống lại thời cuộc.

Trên đời phàm là những người có tài năng thường bị người ta ganh ghét, triều đại suy vong cũng do tư tưởng bảo thủ mà ra."

Tôi nghe Trần Nhật Duật thao thao bất tuyệt, không kìm được nói mỉa:

"Thế nên hiện tại trong phủ của chú sáu đàn hát suốt ngày là vì nguyên do này sao?"

Trần Nhật Duật chau mày nhìn tôi.

Anh ta ngẩn ra một lát, thế rồi trên mắt lại lấp lánh ý cười không giấu được.

Trần Nhật Duật ngẫm nghĩ, lại cười nói:

"Đừng so sánh quan gia với Lý Nhân Tông chứ, quan gia còn trẻ, còn minh mẫn lắm.

Chỉ có tôi là luống tuổi thôi."

Tôi khoanh tay ngửa đầu ra sau, nhìn chú ta nói:

"Ây cha, vậy mà đến nay chú sáu còn chưa chịu lấy vợ ư?

Chú nói kẻ khác người thường hay bị ganh ghét, trong khi người ta đều đã nếm trải nỗi khổ của việc lấy vợ thì chú cứ vô lo vô nghĩ như vậy, không sợ bị người đời ganh tỵ đỏ mắt à?

Tôi nom chú phải sống tới bảy mươi tuổi, nếu cứ định cô độc như thế thì ân oán phải sâu rộng lắm."

Trên môi của Trần Nhật Duật không còn ý cười nữa, anh ta lại đăm chiêu.

Tiên đế băng sắp được mười năm, Vũ thái phi mẹ anh ta cũng mất mấy năm sau đó, đến nay ngay cả Trần Ích Tắc cũng sang Nguyên.

Vẻ ngoài của Nhật Duật tuy là một vương gia nhàn tản thích ca hát náo nhiệt, trong phủ luôn yến yến oanh oanh, nhưng sâu bên trong vẫn không nén được nỗi cô đơn toát ra từ trong ánh mắt.

Trong đầu tôi xẹt qua một tia suy nghĩ, bèn cười nói:

"Chị Ngọc Châu vô tâm, kể ra lại hợp với người thâm sâu như chú, xem như lấy chỗ thừa bù chỗ thiếu vậy."

Ánh mắt của Trần Nhật Duật bỗng nhiên nổi lên hứng thú.

Anh ta nhếch môi:

"Kể ra chắc cũng có vài người thất vọng, nhưng chỗ tôi không nuôi mấy kẻ nhàn rỗi."

Tôi nghi hoặc nhìn anh ta, trong đầu không khỏi hiện lên mấy suy nghĩ không được lạc quan cho lắm.

Trần Nhật Duật này, đừng nói là giữ người ta bên cạnh làm một chân sai vặt nha?

"Không phải chú thích cô ấy à?"

Nói xong, chính mình cũng phải thầm khen ngợi sự can đảm của mình.

Trần Nhật Duật liếc tôi, đôi mắt cong cong như vầng trăng:

"Vạn vật đều có chỗ dùng.

Thằng nhóc Đĩnh Chi sau này cũng phải thi cử lập nghiệp, tôi tính xa chút thôi."

Tôi lại à một tiếng, thầm mắng anh ta sau này đừng có mà hối hận.

Trần Nhật Duật và cô Ngọc Châu kia sau đó có ngược nhau chín chín tám mươi mốt lần hay không thì cơ bản tôi cũng không quan tâm lắm.

Sau này có một ngày Mạc Đĩnh Chi hớt hải chạy sang cung Quân Hoa tìm tôi, báo rằng thầy sáu của cậu ta mất tích hai ngày rồi.

Ban đầu tôi có hơi chưng hửng, sau hỏi lại mới biết hóa ra là cô Ngọc Châu vì chịu không nổi anh ta đày đọa cứ thế ban đêm trèo tường trốn đi.

Tôi có vẻ thông suốt, bèn bình tĩnh bảo nó:

"Cũng không có gì đáng ngại, chỉ là một hồi tình thú mà thôi!"

Nhìn thấy vẻ mặt mờ mịt như đêm ba mươi của Mạc Đĩnh Chi, tôi lại cười gian trá nói:

"Quả báo đến sớm, quả báo đến sớm!"

Mạc Đĩnh Chi cũng là kẻ thông minh, suy nghĩ một lát thì đỏ mặt, liền cũng từ giã trở về.

Nghe nói hôm sau Trần Nhật Duật trở về tay không, cả người gầy đi không ít, sau đấy kẻ trầm mặc lại càng thêm trầm mặc.

Bởi mới nói những người hay cứng miệng nội tâm thường yếu mềm.

Việc này làm tôi bỗng dưng nhớ tới mấy vở kịch hay được xem, nữ chính vốn là công chúa quyền quý của một nước lại thầm yêu một vị vương nước lân cận, sau đấy mặc sự ngăn cản của người nhà bỏ trốn vào phủ của người ta làm nô để được hầu cận ngày đêm.

Rốt cuộc hoa rơi hữu ý nước chảy vô tình, sau một hồi ngược qua ngược lại nữ chính bỏ trốn trở về nhà.

Lúc này nam chính mới phát hiện ra tình cảm của mình đã sớm sâu đậm, lại bắt đầu chuỗi ngày người chạy ta đuổi.

Nếu theo diễn biến, lúc gặp lại nhau sau thời gian xa cách thì cũng đến đoạn phát hiện ra cô gái ấy là công chúa lá ngọc cành vàng, nhưng tiếc thay cô công chúa đã không còn yêu vương gia nữa, cô ấy đã định hôn ước với tướng quân.

Rồi cả ba người lại tiếp tục ngược nhau đến đầu rơi máu chảy, cuối cùng kết thúc vở kịch là cả ba chẳng một ai sống sót, làm người xem khóc lóc kịch liệt một phen.

Tôi lại thở hắt ra một hơi, lẩm bẩm:

"Chắc là không có đâu."

Dù thế chính bản thân tôi cũng không yên tâm mà chạy đi nghe ngóng khắp các nước lân cận xem có cô công chúa nào tầm tuổi đó không, tra xong mới thở phào.

Làm gì có cô công chúa nào ở độ tuổi của chị ta mà chưa có ba bốn đứa con cơ chứ, quả thật cùng chú sáu nhà mình trời sinh một đôi.

Sinh nhật của thằng nhóc Thuyên vừa qua, ngày hôm sau nó đã vui vẻ mời tôi sang nhà có việc.

Tôi cũng không thể giả vờ mắt điếc tai ngơ, bèn đau lòng lấy ra một cái nghiên mực hình rồng cuộn, một cái gác bút hình dãy núi bằng ngọc thạch làm quà, dắt theo Quốc Chẩn cùng Thụy Hương sang cung Thúy Hoa.

Thằng nhóc Quốc Chẩn vốn thật thà, nhìn tôi một lát rồi tìm khắp người mình, cuối cùng lấy ra một cái bánh nướng còn cắn dở.

Tôi e ngại nhìn nó, ấp úng nói:

"Đáng quý ở chỗ tấm lòng, chúc mừng một câu là được."

Thằng bé rưng rưng nhìn tôi:

"Cũng không thể đi tay không được mẹ ạ!"

Được rồi, dù sao thằng nhóc Thuyên tương lai muốn gì mà chả có.

Nghĩ thế, trong lòng tôi bỗng thấy thoải mái hơn, không chần chừ hai lớn một nhỏ kéo nhau tới cung Thúy Hoa bên cạnh.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 93: Thả Tương Nhất Tiếu Duyệt Phùng Niên


Nội nhân đưa bọn chúng tôi thẳng đến phòng trong của chị Trinh, vừa mở cửa đã xộc lên mùi đàn hương lẫn với mùi thuốc đông y nhàn nhạt.

Thằng nhóc Thuyên chạy ra đón, tôi ngó thấy chị Trinh đang ngồi tựa lưng vào gối kê bên trái phản, còn phía bên phải cũng xuất hiện bóng dáng to lớn của chị Anh Nguyên.

Trông qua cũng thấy bất ngờ, chị Anh Nguyên hôm nay một thân áo dài, bụng to vượt mặt, nào còn bóng dáng của vị nữ tướng mặc giáp minh quang ngồi trên yên ngựa ngày xưa đâu.

Chị Anh Nguyên nhìn thấy tôi thì đôi mắt sáng rỡ, gọi tôi một tiếng.

Lúc này tôi mới bước đến bên cạnh chị, cau mày:

"Sao chị lại béo lên như thế?"

Chị Anh Nguyên đứng hình, trông chị ta giống như một quả bóng bị xẹp.

"Ngày trước không phải em cũng vậy sao?"

Lúc này tôi mới gật gù, đúng là thế thật.

Nhưng dù có béo hơn bình thường một chút nhưng so ra cũng không đến nỗi như chị ta bây giờ.

Rốt cuộc tôi cũng không nói thêm, chỉ sợ chị ta đau xót trong lòng.

Một cô gái tập võ như chị Anh Nguyên khi được quý ông chồng cưng chiều thì cũng có khác gì những người đàn bà bình thường khác.

Nhắm chừng trước lúc tôi đến, chị Anh Nguyên và chị Trinh cũng đã nói với nhau hết những gì cần nói rồi, nên lúc này bầu không khí tuy vui vẻ hòa thuận nhưng cũng không đến nỗi rôm rả.

Tôi hỏi thăm chị Trinh một lát thì thấy chị cười mỉm, thái độ hoan hỉ hơn ngày thường, chị nói với Anh Nguyên:

"Hôm nay đến đây cốt yếu để nói gì em quên rồi sao?"

Chị Anh Nguyên giống như chực nhớ ra, trên mặt liền toát lên sự phấn khởi:

"Suýt chút nữa thì quên mất.

Em Tĩnh à, chị An Hoa đã sinh một bé gái."

Trong lòng tôi bất ngờ, vô thức liếc thằng nhóc Thuyên.

Ai ngờ nó đã cười hì hì với tôi, hớn hở:

"Con bé đó còn sinh cùng ngày tháng với con đó!

Đúng là trời sinh một đôi!"

Nói xong vẫn còn há miệng cười tự đắc.

Tôi dỡ trán, lớp trẻ bây giờ còn muốn tự định việc cưới hỏi hay sao?

Ngẫm chưa xong, tôi lại nghe thằng con quý hóa của mình mếu máo lên tiếng:

"Vậy còn con?"

Chị Anh Nguyên được trận cười thỏa thích, vừa xoa xoa cái bụng béo tròn vừa trêu:

"Con thì không gấp.

Con còn nhỏ, đợi bác gái của con sinh thêm một đứa nữa là được."

Tôi hừ một tiếng, liếc xéo chị ta:

"Không cần nói đâu xa, em thấy bụng của chị tròn đẹp đoán chắc là con gái.

Tuy nói là không được lấy người ngoài họ nhưng làm bé chắc là không sao.

Vậy đi, cứ cưới con của chị làm bé trước, sau đấy từ từ đợi con gái của anh ba lớn lên sau.

Tuy nói thiếp không bằng thê, nhưng đợi con của chị sinh con đẻ cái có địa vị trong nhà rồi thì vô cùng dễ ăn nói, nhiều khi có thể nâng lên ngang hàng.

Chúng ta ba người một nhà lại thân càng thêm thân, đúng là vẹn cả đôi đường."

"Em.. em..."

Chị Anh Nguyên trố mắt nghe tôi nói một hơi thì liên tục vuốt ngực, miệng chỉ biết kêu lên mấy tiếng.

Tôi vội đi vuốt lưng chị ta nhưng trong lòng thì cười thầm.

Chị Anh Nguyên trước giờ luôn dễ lừa gạt như vậy, chỉ cần nói động một chút là chị ta liền như quả bóng hết hơi.

Lúc này chị Trinh mới phì cười, bảo:

"Đừng trêu chị Anh Nguyên của em nữa, kẻ không biết đùa ấy mà."

Mãi đến đây chị Anh Nguyên mới phát hiện mình bị lừa, quắc mắt nhìn tôi.

Nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng không như tôi dự tính, chị Anh Nguyên sinh ra một đứa bé trai, chị dâu cả cũng sinh thêm một thằng cu nữa.

Tôi nhìn trẻ con trong phủ ngày một nhiều nhưng lại toàn là con trai, có cảm giác mọi ánh mắt của mấy người trong phủ như muốn đổ dồn vào anh ba Quốc Tảng.

Anh ta ban đầu giả vờ như không phát hiện ra, nhưng lâu ngày dài tháng rốt cuộc cũng chịu không nổi, mặt nhăn mày nhó quát:

"Mấy người dùng ánh mắt đói khát đó nhìn tôi làm cái gì, con bé Duyệt chỉ vừa mới sinh, đừng ai mơ tưởng tới nó."

Tôi đột nhiên cảm thông cho anh ta, để một người vốn ít nói như Quốc Tảng phải cất lên tiếng kêu phản đối thì đủ hiểu vấn nạn này đã diễn biến mất kiểm soát đến mức nào.

Rốt cuộc anh ta đến từng tuổi này cũng toát ra phong thái của kẻ làm cha.

Tôi nhìn những người đã lên chức cha còn lại thì bất chợt đau đầu, đúng là sinh con gái so với sinh con trai chung quy vẫn có điểm khác biệt.

Tôi nghe chị An Hoa nói, cái tên Duyệt này anh ba phải vắt óc suy nghĩ rất lâu mới nghĩ ra, làm một người nhiều chữ xem ra cũng có mặt hại.

Chữ Duyệt lấy trong câu "Thả tương nhất tiếu duyệt phùng niên"(Mừng vì mùa màng trong năm bội thu, luôn nở nụ cười) trong bài Đại nông tẩu ngâm của Thi Kiên Ngô thời Đường.

Con bé sinh đúng lúc thái ấp của anh ba được mùa to nên liền cứ vậy đặt một chữ Duyệt, hàm ý mọi thứ vui vẻ hân hoan, và chỉ mong con bé luôn giữ trên môi nụ cười.

Bởi thế khi bọn người quyền quý này như hổ rình mồi, anh ta liền ngay lập tức xù lông nhím.

Sau đấy đâu đó vừa hơn một năm thì chị An Hoa tiếp tục sinh thêm một đứa con gái, đặt ngay chữ Phùng kế tiếp sau chữ Duyệt, vừa hợp ngụ ý với no ấm đủ đầy.

Về việc này chị An Hoa còn đặc biệt biên thư gửi cho tôi bày tỏ sự lo lắng.

Dù sao người phụ nữ chỉ mới sinh một bề tính ra vẫn chưa có tiếng nói, ở nhà khác nói không chừng đã lo lắng sốt vó mà đi cưới vợ lẽ cho chồng.

Tôi cũng từng biết nhiều người tự tay cưới vợ lẽ cho chồng mới được coi như là tròn đạo làm vợ, cũng may anh tôi không giống những người đàn ông đó.

Các cụ ngày xưa nói rằng, mùa đông trẻ con nhanh lớn, người già nhanh đi.

Tết năm nay ở vương phủ mới mấy ngày đã nghe tin thái hậu ở hành cung bị bệnh nặng, tôi, chị Trinh và chị dâu cả liền tức tốc ngược vào Thiên Trường.

Tôi ngồi chống cằm nhìn cảnh vật bên đường.

Ngày trước tuy chị Trinh đã từng bệnh nặng, nhưng chí ít tuổi chị cũng còn trẻ, có thể vượt qua.

Còn thái hậu năm nay tuổi sắp ngũ tuần, ít nhiều cũng thêm phần lo lắng.

Huống hồ tin tức đã truyền đến đây, về sau e là rất khó nói.

Tôi bất giác nhìn hai chị, hai chị cũng nhìn tôi, cả ba đều như có cùng suy nghĩ.

Đến hành cung chỉ thấy cảnh vật đìu hiu, xa giá vua cũng chỉ thổi cho nơi đây thêm tí màu sắc.

Trần Thì Kiến đã đợi chúng tôi ở cửa cung, vừa thấy bóng dáng chúng tôi đã nhanh chân sải bước đến.

Tôi theo anh ta vào trong, hỏi dò:

"Thế nào rồi?"

Anh ta lại trầm ngâm lắc đầu:

"Thầy thuốc nói chậm nhất là ba tháng, chỉ sợ không ổn."

Nghe đến đây, chị dâu cả đã không giữ được bình tĩnh nữa, khóc nấc từ bậc tam cấp vào tới bên giường.

Lòng bàn tay tôi rịn ra mồ hôi lạnh, tuy thời gian ở cùng người không nhiều nhưng thái hậu vốn tính nhân từ khiêm tốn, hết mực thương yêu chị em tôi.

Hôm nay nghe tin người lâm bệnh nặng, trong lòng tôi không tránh khỏi buồn rầu.

Vừa vào cung Trùng Quang tôi đã thấy Trần Khâm bước ra từ phòng thuốc, vành mắt anh ta hơi đen, chắc là vừa qua một đêm không ngủ.

Trông thấy mấy người bọn tôi, anh ta cũng thả lỏng đôi chút, ra hiệu cho bọn tôi đi vào, còn mình thì chậm rãi ra ngồi trong ngôi đình dưới tán cây thạch lựu, tự rót một chén trà.

Tôi ngước nhìn mái ngói cong cong của cung Trùng Quang, thở dài lặng lẽ đi vào bên trong.

Nhác trông thượng hoàng ngồi thẳng lưng trên ghế cạnh giường, tôi bỗng cảm thấy người như già đi chục tuổi.

Đôi mắt của thượng hoàng trầm tĩnh như nước hồ thu, giống như buồn vui của đời người đều lướt qua một lượt, cuối cùng đọng lại những ký ức rồi được vĩnh viễn niêm phong.

Không biết một mai thì cận kề sinh tử, liệu có ai bên song ngồi tựa?

Trần Khâm kể với tôi, ngày trước vốn dĩ thái hậu và Thượng hoàng yêu nhau nhưng không thể đến được với nhau, bởi một người là thái tử sắp lên kế vị, một người chỉ là con thứ, mà ông nội tôi còn vừa mới tạo phản bất thành.

Trong tình huống đó ấy vậy mà cả hai người lại dám sau lưng qua lại, thậm chí Trần Khâm còn có trước khi Thái hậu được sách phong làm phu nhân.

Tôi nghe xong không biết nên buồn hay vui, nhưng một mối tình trọn vẹn như vậy cho dù đến phút cuối cũng khiến cho người ta bồi hồi, và đương nhiên sẽ không bao giờ kết thúc.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 94: Có Người Đi Cũng Có Người Đến


Vào một ngày nồm của tháng hai tôi tỉnh lại vào lúc giữa trưa, lấy tay sờ soạng thì thấy bên cạnh trống trơn, có lẽ là Trần Khâm đã lên triều sớm.

Sàn nhà ẩm ướt lành lạnh có dấu vết được lau qua, tuy thường ngày tôi thích đi chân trần nhưng hôm nay phải xỏ thêm đôi guốc gỗ.

Chậm chạp bước sang phòng Quốc Chẩn cũng thấy mọi thứ ngăn nắp trống trải, mới sực nhớ ra là nó đã đi học rồi.

Mấy hôm nay trời nồm nên trong người tôi vô cùng mệt mỏi, lại đau lưng nhức khớp, thường xuyên ngủ từ tối tới tận trưa hôm sau.

Từ lúc thái hậu đổ bệnh Trần Khâm cứ cách năm bảy bữa lại xa giá đến Thiên Trường ở một đêm rồi quay về chăm lo sự vụ, chị dâu cả cũng ở hẳn tại hành cung, để tiện bề cơm bưng nước rót.

Tôi khẽ gọi Thụy Hương, nhưng lên tiếng lại là một nô nhi ở bên ngoài, nó nhanh chân chạy vào thưa:

"Bẩm phu nhân, chị Thụy Hương đi rước hoàng tử về rồi ạ!"

Tôi thoáng kinh ngạc, lại nhìn trời vẫn còn sớm thì hỏi:

"Hôm nay có việc gì hay sao?"

Con bé kia cúi đầu, giọng hơi run rẩy đáp:

"Bẩm, hành cung truyền tới tin thái hậu đã băng nên chị Thụy Hương đi rước cậu về rồi.

Mấy hôm nay phu nhân không khỏe nên bọn em không dám gọi ạ!"

Đầu tôi như có sấm giữa trời quang, đến lúc này tôi mới để ý bộ quần áo đứa hầu này mặc đã thay ra một màu trắng ngà, mà những loại rèm cửa hay đồ vật có màu sắc nổi bật cũng thay bằng những thứ màu đơn bạc.

Trước mắt tôi mờ mịt, tôi khóc như một đứa trẻ mất mẹ.

Chị Trinh ở bên ngoài chạy tới đỡ lấy tôi, gặp chị ta tôi lại càng khóc thảm thiết, mà chị Trinh trông thấy tôi khóc cũng òa khóc theo.

Cho đến khi Thụy Hương đưa Quốc Chẩn trở về thì đầu tôi đã đau không chịu được, mơ màng một chốc rồi lịm đi.

Khi tỉnh lại thì trời đã sập tối, nhập nhèm mở mắt liền trông thấy chị Trinh ngồi bên giường, ánh nến leo lét nhảy nhót ở phía sau làm cái bóng in trên vách tường giống như đang nhảy múa.

Tôi nhìn cái bóng đến phát ngốc, rồi chợt nhớ ra chuyện trưa nay, vội bắt lấy cánh tay chị, hỏi:

"Thái hậu sao rồi ạ?"

Chị Trinh hình như đang nghĩ gì đó lung lắm, thấy tôi thình lình chộp lấy chị thì cũng giật mình.

Lát sau chị mới trấn tĩnh, chậm rãi đáp:

"Người băng rồi, trưa nay chị đã cho Chẩn và Thuyên đi Thiên Trường với Thái sư, hiện chắc cũng đã tới."

Tôi thở hắt ra:

"Vậy còn chị em mình?"

Nét mặt chị Trinh bỗng phức tạp, như buồn mà cũng như vui.

Tôi lại càng mờ mịt nhìn chị, mới nghe:

"Chị không đi nữa, em cũng không đi được, em có mang hơn một tháng rồi."

Đến lúc này tôi mới nhớ tới biểu hiện mệt mỏi mấy hôm nay của mình, hóa ra lý do là đây.

Thông thường đàn bà có mang sẽ không đến được mấy chỗ đám tang nên tôi cũng yên ổn ở cung Quân Hoa chờ chồng con của mình quay trở lại.

Đáng nói là một ngày hai buổi vẫn khóc lóc cho đến khi thiếp đi, đến mức Thụy Hương phát cáu, nghiêm mặt nói với tôi:

"Nếu phu nhân cứ khóc như thế, đứa trẻ sinh ra ắt hẳn sẽ thích khóc cho xem."

Tôi cũng chẳng thể ngăn nỗi mình, nên từ khóc công khai tôi âm thầm chuyển qua khóc một mình bên gối.

Có điều sau chuyện đó tôi bỗng dưng trở thành một tấm gương sáng của lòng hiếu thảo trong thiên hạ, trong lòng tôi thật sự là có buồn bã, và nó khuếch đại lên bởi cảm xúc của một người đàn bà mang thai.

Buổi đêm ba ngày sau, tôi đang ngủ thì thấy trên mí mắt ngưa ngứa, mệt mỏi tỉnh lại quả nhiên thấy Trần Khâm đứng nhìn tôi chằm chặp ở đầu giường, cánh tay vẫn giữ ở không trung chưa kịp thu lại.

Ánh trăng xuyên qua khung cửa sổ, hắt lên tường bóng của bụi hồng gai đang xào xạc múa reo.

Mới ba ngày không gặp mà trông anh ta gầy đi không ít.

Suýt chút thì tôi nhận không ra.

Trần Khâm cũng phát hiện ra tôi đã tỉnh, bèn nói một câu không mặn không nhạt:

"Khóc đến nỗi mắt sưng như con ếch vậy!"

Trong lòng tôi khó chịu, lại không kìm được mà khóc nấc lên.

Trần Khâm bỗng trở nên luống cuống, vội ngồi xuống ôm lấy tôi vào trong ngực, giở khóc giở cười bảo:

"Từ đồng trang lứa với Quốc Chẩn, nay sắp trở thành đứa trẻ sơ sinh luôn rồi!"

Tôi đấm vào ngực anh ta, xót xa nói:

"Chàng... gầy đi nhiều quá!"

Trên đỉnh đầu tôi truyền tới tiếng thở dài.

Thái hậu mất, không cần nghĩ cũng biết có lẽ mấy hôm nay anh ta sinh hoạt chẳng ra gì, khéo lại bỏ cả việc ăn ngủ, chẳng biết bọn nội hầu ở hành cung trông nom cái kiểu gì.

Tôi vẫn vùi trong ngực Trần Khâm mà khóc rưng rức, chẳng biết là qua bao lâu, chỉ cảm thấy bàn tay đang vỗ trên lưng mình âm ấm mới thả lỏng mà ngủ thiếp đi.

Thế rốt cuộc lại trở thành anh ta phải dỗ dành an ủi tôi ngược trở lại.

Tháng ba, Trần Khâm ra lệnh ân xá.

Sau đấy là cúng bốn mươi chín ngày.

Sau khi Thái hậu mất, Tuệ Trung thượng sĩ đã trở về viết một bài kệ ngắn để cầu siêu, sau đấy tôi nghe tin Thượng hoàng cũng lấy đạo hiệu là Vô Nhị Thượng Nhân rồi bắt đầu tu thiền ở chùa Tư Phúc.

Tôi vốn định hỏi Trần Khâm rằng khi mình chết đi anh ta sẽ giống như Thượng hoàng chứ, sau đó nhìn thấy ánh mắt buồn thương của Trần Khâm thì suy nghĩ lại.

Thôi thôi, vẫn không nên hỏi trong lúc này.

Tình trạng đó kéo dài đến hai tháng sau thì xem như hết hẳn, tôi cũng không còn cảm thấy mệt mỏi rã rời như trước nữa, dù vậy lần này vẫn cảm thấy rất khác so với lúc có mang con đầu lòng.

Ví như lúc trước lúc có thai Quốc Chẩn cũng không nghén dữ dội như thế, ăn vào bao nhiêu lại nôn ra bấy nhiêu.

Tôi càng trở nên rầu rĩ, nhắm chừng vợ chồng liền tâm, Trần Khâm gầy đi tôi cũng không thể nào mà béo lên được.

Có thai đứa thứ hai cũng không còn bỡ ngỡ như lần trước, ngoại trừ đứa nhỏ này không hiểu chuyện như Quốc Chẩn thì không có gì đáng nói.

Thế nên mỗi lần thằng nhóc bày đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi, năn nỉ tôi sinh em gái cho nó thì tôi chỉ biết cười trừ, nhẹ giọng bảo:

"Mẹ e đứa em trai này còn mạnh mẽ hơn cả con nữa!"

Những lúc đấy chỉ thấy thằng nhóc xụ mặt xuống buồn bã cả buổi, ấy vậy mà hôm sau nó lại khôi phục lại sự nhiệt tình.

Tôi thở dài, nếu đứa bé này là con gái, hẳn sẽ là một đứa con gái hết sức mạnh mẽ.

Trần Khâm vẫn thường cười trêu tôi:

"Ồ, vẫn còn có thể mạnh mẽ hơn cả em sao?"

Tôi đỏ mặt trừng mắt nhìn anh ta, lúc này oắt con trong bụng lại đạp mạnh một cái khiến tôi không thở nỗi, còn Trần Khâm thì cười đắc ý liên tục xoa bụng tôi khen "con ngoan".

Quả đúng chưa sinh ra đã biết là cái đồ phản bội, cha con cùng một giuộc với nhau.

Nghĩ vậy, tôi lại càng thương yêu Quốc Chẩn.

Thời điểm này cả nước giống như bên trong chảo lửa, cùng đoàn kết một lòng chuẩn bị cho công cuộc chống giặc ngoại xâm, già trẻ lớn bé đều hăng hái một lòng, thuần thục hết thảy mọi sự.

Trần Khâm bận đến đầu tắt mặt tối, nhưng vẫn đến thăm tôi đều đặn, tiện thể kể cho tôi nghe mấy chuyện hay ho trong triều.

Đáng nói thì phải kể đến câu nói đầy khí thế của cha tôi để phản bác lại ý xin bổ sung tráng đinh trong dân vào quân cho đủ quân số.

Lúc ấy cha tôi đã nói rằng: "Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông.

Dẫu đến một trăm vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm gì được?"

Bồ Kiên là một hoàng đế thời Tần, khi dẫn quân vào đánh nước Tấn đã huênh hoang tuyên bố: "Cứ như số quân của ta thì chỉ ném roi ngựa xuống sông cũng ngăn dòng nước lại được", sau đấy toàn quân của y chết hết.

Trong lòng tôi lấy làm đắc ý, những kẻ cầm quân đi chinh phạt từ cổ chí kim có kẻ nào mà không tự tin là mình sẽ dẹp sạch cỏ nước người đâu.

Nhưng trời không chiều lòng người, nhất là với những việc thương thiên hại lý.

Từ đầu năm đã có tin từ phương Bắc, cho dù phản quân chống đối Hốt Tất Liệt nổi lên liên miên nhưng bọn chúng cũng đã ráo riết sắm sửa quân đội ở các vùng phía Nam, khó lòng tránh khỏi một hồi đao thương chồn ngựa đá.

Trong lúc trà dư tửu hậu, tôi lại nghe được một chuyện về Thoát Hoan.

Ngày trước dù là lúc ở Nguyên triều hay khi bị mất trí ở thành Bí Giang, tôi cũng mơ hồ chứng kiến được con đường tranh đấu để lên ngôi cao quyền lực của anh ta với Thái tử Chân Kim khi ấy.

Thoát Hoan là một hoàng tử không tên không tuổi, mẹ anh ta mất sớm và tự anh ta dùng máu để leo lên được danh vị như ngày hôm nay.

Chân Kim là con trưởng của Hoàng hậu Sát Tất, sớm đã được lập làm Thái tử.

Chân Kim ngự trên ngôi thái tử an ổn gió thổi cũng không ngã, dưới anh ta còn có hai người em cùng mẹ nên vốn cũng không cần phải hoạnh họe tranh đoạt với Thoát Hoan làm gì.

Tiếc là lòng nghi kỵ của anh ta quá lớn, thấy Thoát Hoan tuổi còn nhỏ đã tỏ ra thông tuệ, lại không có nhà mẹ làm chỗ dựa liền cứ thế lấn tới, làm khó dễ đủ điều.

Rốt cục chó cùng rứt giậu, thức tỉnh con thú dữ bên trong Thoát Hoan, không may lại chính là một con hổ muốn làm bá chủ.

Thoát Hoan đánh tây dẹp đông một thời gian, tiếng nói của anh ta cũng sắp ngang hàng với thái tử.

Đầu óc của anh ta còn âm hiểm hơn cả Chân Kim, cài vào bên cạnh Chân Kim không biết bao nhiêu gián điệp.

Cuối cùng thì Chân Kim bị một người đàn bà bên gối bỏ thuốc chết dần chết mòn, mới năm trước đã ốm liệt giường một trận rồi bỏ mạng.

Có điều Thoát Hoan trăm tính vạn tính nhưng không tính được lòng dạ của cha anh ta.

Chân Kim chết đi, đừng nói là Thoát Hoan mà ngay cả hai người em cùng mẹ với Chân Kim cũng chẳng hề được lập làm thái tử.

Để kìm lại đàm tiếu của các đại thần trong triều, ông ta đưa con trai thứ ba của Chân Kim lên làm hoàng thái tôn.

Thằng cháu của Thoát Hoan ấy vậy mà chỉ là con thứ, tuổi cũng chỉ qua hai mươi.

Nhưng biết làm sao được, ông già Hốt Tất Liệt tuy đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn minh mẫn thiện chiến, trừ khi ông ta chết bất đắc kỳ tử nếu không bọn họ ngoài trừng mắt nhìn ra thì còn làm được gì?

Thoát Hoan trù tính không một lỗ hổng nhưng làm sao tính được anh ta sẽ thất bại ở Đại Việt, vì thế làm khả năng chạm tới ngôi vị lại càng xa vời.

Thế nên lần này để lấy lại uy tín có lẽ người dẫn quân sang sẽ lại tiếp tục lại là anh ta.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 95: Con Gái Mới Tốt


Tôi nằm dài trên khán, tay cầm quyển sách vẫn còn chưa động vào chữ nào, ngẩn người nhìn lên xà nhà nghĩ ngợi về Thoát Hoan, vô thức nói nhỏ:

"Nói không chừng Thoát Hoan sẽ chọn Vạn Kiếp làm mục tiêu."

Trần Khâm đang ngồi đọc tấu gần đó, ấy vậy mà lại nghe lọt vào tai, liếc tôi:

"Có vẻ em hiểu rất rõ con người gã!"

Tôi lại "ừm" một tiếng, bâng quơ đáp:

"Dù sao cũng đồng cam cộng khổ với nhau ngần ấy năm trời."

Cái loại tình cảm khi con người ta lần đầu biết yêu cộng với việc cùng nhau vượt qua gian nan sinh tử, chỉ cần nghĩ cũng biết là nó thiêng liêng đến cỡ nào, huống hồ là giống loài thích hoài niệm như là đàn ông.

Dù có nắm trong tay sự giàu sang quyền lực, ăn toàn bào ngư vi cá thì anh ta cũng khó lòng mà quên được người cùng anh ta chia sẻ miếng cơm nắm muối mè, thế nên đàn ông khó lòng quên được mối tình đầu là vì thế.

Trần Khâm cũng không hề ngoại lệ, nếu ban đầu anh ta không hề thấy tôi có nét gì đó của người anh ta từng yêu thì cùng lắm đền bù thật nhiều của cải chứ chẳng cần thiết phải lao tâm lao lực nghĩ ra cái bẫy hoàn hảo để tôi nhảy vào, còn là cam tâm tình nguyện.

Trần Khâm nói giảm nói tránh nhưng chính tôi cũng có thể cảm nhận được, cho dù anh ta cam đoan là yêu thương tôi vì tính cách thì sao, giả dụ một ngày cô nàng Tĩnh ở nơi mô nào đó thật sự quay về, ây chà, cũng khó mà nói trước chuyện gì sẽ xảy ra lắm.

Cố chấp và canh cánh trong lòng, thật ra lại là bản tính nguyên thủy của một người đàn ông.

Sắc mặt của Trần Khâm bỗng chốc đen như cái đít nồi.

Lần này thực sự không trách được tôi, kể từ khi có thai đứa bé này nó hành hạ tôi dở sống dở chết, đầu óc thì lúc nào cũng mệt mỏi ngẩn ngơ, cũng may mấy lần vọng văn vấn thiết đều nói đứa bé khỏe mạnh phát triển tốt nên tôi mới yên tâm phần nào.

Vốn dĩ cũng không nhận ra bất thường gì, đột nhiên nhóc con trong bụng đạp một cái làm tôi giật mình tỉnh lại, lại nhìn sang vẻ mặt không mấy vui vẻ của Trần Khâm mới biết mình lỡ lời, bèn cười hì hì lấy lòng:

"Không hẳn là thế, em chỉ đoán bừa thôi." – Lại lấy tay anh ta đặt lên bụng mình – "Xem con của chúng ta đang chào chàng này, lần nào gặp chàng cũng mừng rỡ như thế cả!"

Lúc này sắc mặt của Trần Khâm mới hơi hòa hoãn.

Cái đứa trẻ này quả là đồ phản bội, tôi vừa chọc giận cha nó một cái là nó liền không nói hai lời trả đũa tôi, là ai mang nặng đẻ đau mi hả?

Tôi nghĩ thế, đứa nhóc lại cựa quậy một hai cái rồi im bặt, để lại tôi tức tối trong lòng.

Trần Khâm xem tấu một lát lại quay sang đặt tay lên cái bụng tròn vo của tôi, cười cười:

"Tôi vẫn chưa có con gái đầu lòng."

"Em cứ tưởng có con trai càng nhiều càng tốt."

Thôi bỏ đi, cái đứa này nghịch như quỷ, nếu là một đứa con gái thì không chừng tính nết chẳng khác gì chị Anh Nguyên.

Đấy là chị ta chỉ là con nuôi của cha tôi mà còn như thế, nếu như chị ta là công chúa hàng thật giá thật thì chẳng biết còn ngông nghênh tới cỡ nào, khéo hai mắt lại đặt trên đỉnh đầu mất.

Nhưng nếu giống công chúa như An Tư thì thật đáng thương, từ trước đến nay việc mấy cô công chúa bị gả đi hòa thân không hề hiếm lạ.

Thời bình thì gả đến mấy vùng Tây Bắc cho tù trưởng để trấn áp, thời chiến thì gả đi để cầm chân địch, tuy dùng mỹ nhân kế chẳng vẻ vang gì nhưng chẳng phải nó đang rất hiệu quả đó sao?

Làm một hoàng tử ít ra sau này còn được ban chức tước, ban đất phong rồi làm bá chủ một vùng, chỉ cần không có lòng tham thì bình an sống một đời, con cháu vinh hiển.

Nhưng Trần Khâm đúng là thèm con gái đến phát điên rồi.

Còn cả thằng bé Quốc Chẩn và thằng nhóc Thuyên cứ cách hai ngày là lại dắt nhau sang nhồi nhét mấy câu vô nghĩa vào tai tôi, than thở một thôi một hồi làm tôi phiền muốn chết, đến nỗi đứa bé ở trong bụng nếu không là con gái thì cũng phải là con gái.

Tôi suy nghĩ méo mó rồi lại thấy không ổn, dứt khoát nằm xuống ngủ một giấc cho tịnh tâm.

Đến khi tỉnh lại đã thấy chị Trinh ngồi bên cạnh, tôi nhìn thần sắc chị tươi tỉnh hơn rất nhiều, lúc này mới cảm nhận được tác dụng của roi vọt.

Thằng nhóc Thuyên bị đánh bán sống bán chết một lần, cuối cùng cũng chịu yên thân.

Tôi vịn tay chị ngồi tựa lưng vào thành giường, khẽ cười:

"Chị Trinh gần đây giống như trẻ ra chục tuổi vậy!"

Chị ta liếc tôi, tuy vậy nhưng gò má lại có chút ửng hồng, càng ra vẻ xinh đẹp thuần thục.

Nước da chị vốn trắng, quanh năm suốt tháng lại chỉ ở trong cung Thúy Hoa, sau một trận bệnh càng thêm nhợt nhạt.

Đúng như tôi suy nghĩ, chốc lát chị Trinh đã hào hứng nói:

"Nếu thật là vậy thì cũng đáng mừng, có lẽ do thằng bé Thuyên đã ra dáng hoàng thái tôn nên chị yên tâm lắm.

Các cụ nói thương cho roi cho vọt quả không sai."

Tuy nói chị Trinh sức khỏe yếu ớt, nhưng không thể phủ nhận một phần do chị ta việc gì cũng ôm đồm vào mình.

Con người ta nếu sống chỉ có trách nhiệm mà không có niềm vui, thì muốn sống lâu sống thọ khó như là mò trăng trên biển.

Chị ta là con gái đầu lòng nhà vương tướng, không khỏi chịu cảnh quy củ khắt khe, trước lúc tôi sinh ra cho đến khi tôi gặp gỡ Trần Khâm nói không chừng chị Trinh mới là kẻ được chọn nên duyên cùng với Thái tử.

Lớn lên một chút, chị Trinh bắt đầu ôm niềm hối hận với tôi bởi tôi là người thay chị ta bị bắt cóc.

Đỉnh điểm là khi chị bị gả cho Trần Khâm trở thành người hàn gắn cho mối quan hệ của hai nhà ở đời kế tiếp, nỗi dằn vặt và trách nhiệm của chị không hề bớt đi mà ngày một nhiều.

Cộng thêm trận bệnh năm đó khiến chị càng thêm suy sụp, chỉ đến lúc thằng nhóc Thuyên ra đời mới giúp chị thiết sống hơn.

Ai ngờ thằng nhóc này lại làm người ta đau đầu nhức óc.

Tuy tôi không phải chị, không hiểu được những đắn đo của chị nhưng từ những gì tôi trông thấy thì tôi không đồng cảm được với chị Trinh.

Chị có thể chọn sống một cách vui vẻ, những gì đã qua tất cả chỉ là quá khứ, và đứa em gái bị bắt đi đó thì chỉ nên thỉnh thoảng mà đau lòng thôi chứ không cần phải canh cánh rồi tự mình làm lỡ dở, dẫu sao lỗi lầm cũng đâu phải chị gây ra.

Riêng việc chị ta với Trần Khâm lại càng ngu ngốc hơn.

Tuy Trần Khâm lúc nào cũng nhung nhớ mối tình đầu nhưng chị ta là vợ kết tóc, mặc dù không thể có kiểu tình yêu sét đánh hay nhớ mãi không quên nhưng chí ít giữa hai vợ chồng đã có con cái, vốn dĩ có thể duy trì thế cục tương kính như tân, tốt đẹp hơn thì là vui vẻ hài hòa.

Huống hồ chị Trinh tính tình hiền lành khiêm tốn, nhân hậu có lễ, kính cẩn với bậc bề trên, ai cũng yêu mến.

Nếu tôi là Trần Khâm, chỉ cần chị Trinh đối với mình gần gũi cởi mở hơn một chút, lại hết lòng quan tâm chăm sóc, lạc quan ân cần thì tháng rộng năm dài sợ gì rừng xanh không có củi đốt.

Giữa mối tình xa lắc xa lơ kia và người phụ nữ một dạ vì mình, bên nào nặng bên nào nhẹ chả lẽ Trần Khâm lại không hiểu được?

Sau này nếu như may mắn, đứa em là tôi trở về thì ván đã đóng thuyền, lúc ấy thì chỉ biết trách số phận trêu ngươi, lại tìm cho nó một nhà môn đăng hộ đối.

Phụ nữ ấy mà, nhà chồng mà tốt với chị ta một chút thì chị ta liền quên bẵng đi thanh mai trúc mã của mình là ai, hết lòng hết dạ vì chồng, đến đó thì xem như mọi thứ thật hoàn mỹ.

Đáng tiếc chị Trinh lại đối diện với Trần Khâm bằng một bộ mặt xa cách lạnh nhạt, lại cũng đáng tiếc vì tôi dùng cách này để quay về.

Vậy nên không biết phải dùng câu: "là do chị Trinh và Trần Khâm duyên mỏng", hay là câu: "do tôi và Trần Khâm duyên quá sâu" nữa.

Cuối cùng là vấn đề kế vị của thằng nhóc Thuyên.

Về vấn đề này ở góc độ của tôi nhìn vào chỉ thấy rằng tiên đế năm ấy đoán trước được mình sắp băng, cùng lúc đó thằng cháu đích tôn vừa mới ra đời nên trong lúc vui mừng, tùy tiện phong nó làm trữ.

Ai ngờ chị Trinh xem đó là nghĩa vụ lớn nhất của cuộc đời, luôn tâm niệm thằng bé nhất định sẽ làm vua rồi lại tự tạo gánh nặng cho mình, khi thấy thằng nhóc Thuyên không nên người thì liền rầu lo đến đổ bệnh.

Suy nghĩ thông thoáng hơn một chút, Trần Khâm còn trẻ, tương lai con cái đầy nhà, tới lúc ấy cứ chọn ra đứa nào xuất sắc nhất là được.

Dù sao di nguyện của tiên đế là một chuyện, an nguy của giang sơn xã tắc lại là một chuyện, thế chẳng lẽ dù thằng nhóc Thuyên hư đốn, tính tình tàn bạo, văn dốt võ nát cũng cố chấp lập nó làm vua hay sao?

Tôi thở dài, cũng may cũng may.

Thấy chị Trinh nhìn mình, tôi chọn mấy câu tốt đẹp nói với chị:

"Thằng nhóc ấy dạo này cả học vấn lẫn võ nghệ đều không thể chê vào đâu, nếu như không phải chỉ mới mười tuổi thì nhắm chừng đã cầm kiếm xông ra sa trường giết địch như Trần Quốc Toản năm đó rồi."

Dường như đúng ý, chị Trinh bỗng bật cười đáp lời:

"Quốc Toản đã định được ngày thành hôn rồi.

Là tháng sau."

Tôi nhẩm tính, nếu là tháng sau thì cái bụng mình vừa hơn tám tháng, đúng là bất tiện.

"Thông thường không phải đều tự mình cưới hỏi ư, cậu ta sao phải xin quan gia ban hôn nhỉ?"

Chị Trinh đáp lời tôi:

"Cha mẹ Quốc Toản đều không ở đây, đương nhiên phải nhờ quan gia làm chủ hôn.

Lại thêm thân phận của cô vợ chưa cưới đó có hơi đặc biệt."

"Là Triệu Ngọc Hoa?" – Tôi hỏi.

Chị Trinh lại cười:

"Thấp thì không thấp, cao cũng không cao, lại còn không phải người dân Đại Việt, thế nên việc có thành hay không phải nhờ tới quan gia rồi."

Tôi hiểu ý chị.

Triệu Ngọc Hoa là công chúa nước Tống, tuy hiện giờ nước Tống bị diệt nhưng dù sao vẫn là kẻ ngoại bang, còn là kẻ ngoại bang ở tầng lớp đứng đầu, đừng quên anh trai của cô ta là Triệu Trung vẫn còn sống sờ sờ ra đó.

Tôi không nén được vui vẻ, lại cảm khái:

"Chà, Trần Quốc Toản năm nay đang độ hai mươi, đúng là vừa đẹp."

Chị Trinh che miệng cười đầy ý vị nhìn tôi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 96: Trận Chiến Bên Ngoài Và Trận Chiến Trong Nhà


Không phụ mong đợi của toàn thể quần chúng nhân dân, tới tháng chín tôi đã sinh ra một con nhóc trắng trẻo mập mạp, Trần Khâm đặt cho nó cái tên rất kiêu là Huyền Trân.

Lúc này Trần Khâm tiếc rằng một ngày chỉ có mười hai canh giờ, lại càng tiếc vì mình không thể phân thân, hoặc chí ít là ba đầu sáu tay cũng được.

Động thái của bọn Thát ngày càng lộ rõ, anh ta phải chìm đắm trong mùi vị của chiến sự, để không lâm vào cảnh bị động khi chúng đột ngột cất quân sang.

Tôi thì lại đang ở cữ, trong vòng ba tháng kiêng gió kiêng nước nên chỉ quanh đi quẩn lại trong phòng, đa số thời gian thì nằm ngắm xem con bé này tóc tai mũi miệng ra sao.

Con nhóc Huyền Trân lại là kẻ vô ưu vô lo, suốt ngày chỉ chu môi ngủ ngon lành, vốn không biết được bên ngoài đã căng thẳng đến mức nước sôi lửa bỏng.

Kể từ khi có em gái, Thuyên và Chẩn như trưởng thành lên rất nhiều.

Những lúc ngủ thì thôi, nếu như con bé dậy mà đúng lúc các anh không bận học thì tôi lại chẳng cần trông chừng, trong nhà lúc nào cũng vang lên tiếng cười khanh khách.

Tôi bèn tranh thủ nghỉ ngơi, bởi từ khi có con bé, ban đêm giấc ngủ của tôi thường không thể nào tròn.

Lúc tỉnh lại đúng lúc gặp chị Trinh ngồi ở đó, tôi bèn giả lả:

"Hay chị cho thằng nhóc Thuyên sang đây ở đi, ghi tên nó vào danh sách trong cung Quân Hoa, để cái ăn cái mặc cứ trực tiếp chuyển sang đây là được.

Chị xem, em sắp không nuôi nổi người ăn kẻ ở trong nhà rồi."

Thằng nhóc Thuyên quay ngoắt sang nhìn tôi, ánh mắt vừa đáng thương vừa phẫn uất.

Tôi quay mặt sang hướng khác, tiếp tục giả vờ ngủ.

Nhưng mấy lời chì chiết của bà mẹ ghẻ không thể chống lại sự đáng yêu không cưỡng lại được từ em gái nhỏ.

Vừa ra tháng là con nhóc đỏ hỏn ngày nào đã trắng trẻo hẳn ra, hai gò má phúng phính thơm sữa, cái môi chúm chím hồng hào, đặc biệt là đôi mắt to tròn cùng hai lúm đồng tiền xoáy sâu khiến người ta chỉ muốn dốc lòng cưng nựng.

Tôi nhìn Trần Khâm, nghi hoặc:

"Cả em và chàng đều không có..."

Thằng nhóc Thuyên liền chỉ lên mặt mình nói:

"Con cũng có này!"

"Thế sao con lại không có nhỉ?" – Thằng bé Quốc Chẩn cũng phân bì.

À thế ra má lúm đồng tiền không phải được truyền từ cha mẹ hả?

Hồi đầy tháng có lần Mạc Đĩnh Chi đến thăm, tôi đang ở cữ nên không tiện gặp, chỉ nằm bên trong nghe loáng thoáng tiếng thằng nhóc Thuyên cùng với Đĩnh Chi chuyện trò.

Lát sau thì mới biết, hóa ra nó đến tặng mấy thứ đồ lễ linh tinh gì đó của ông chú sáu, ngoại trừ kiềng vàng và vài ba cái vòng ngọc quý theo lệ, trong rương còn có...

Tôi cầm một vật bằng lá cọ có hình dáng con châu chấu lên, thắc mắc:

"Bình thường ông sáu nhà con rảnh rỗi lắm hả?

Rồi còn cái này là cái gì đây?"

Thằng nhóc Thuyên còn chưa kịp trả lời, tôi bèn bắt lấy một thanh kiếm nhỏ bằng gỗ được điêu khắc cực kỳ tinh xảo.

Bấy giờ đúng lúc Trần Khâm rảnh rỗi ghé sang, thấy thế thì nghiến răng nghiến lợi:

"Nhà chúng ta chỉ một người lắm chuyện là đủ rồi, chú ta còn muốn cho con gái của tôi học theo nữa?"

Tôi tức thì liếc mắt nhìn anh ta, bèn chỉ vào mình, ngờ vực:

"Chàng đang nói đến em à?"

Thằng nhóc Thuyên nhìn tôi như kiểu, "dì đoán xem?".

Thôi thôi, nể mặt anh là quan gia nên tôi không chấp.

Chỉ là từ đó hễ lúc nào anh ta tới thì tôi liền quay mặt đi, suốt hai ba ngày làm Trần Khâm hết sức rầu rĩ.

Trong cái hòm đầy kỳ trân dị bảo của ông chú sáu vẫn còn rất nhiều thứ hay ho như trống bỏi, ngựa gỗ, còn có mấy con thuyền chiến thu nhỏ y như đúc thuyền chiến của quân ta, hình dáng hết sức bắt mắt.

Không ngờ ông chú nhà mình có nhiều tài lẻ như vậy, nhưng cái cách tặng quà của ông chú thật khiến người ta một lời khó nói hết, có lẽ vì xung quanh chú ta toàn những nữ sĩ cầm đao cưỡi ngựa nên chú ta sớm quên dáng vẻ thật sự của nữ nhi mất rồi.

Thằng nhóc Thuyên có kể lại với tôi, sau khi Trần Nhật Duật để vụt mất cô nàng Ngọc Châu, nói chung việc cần làm vẫn cứ làm, làm xong thì lại rơi vào trạng thái ngơ ngẩn.

Sầu hoa rụng, sầu trăng rơi, đến việc đàn hát như thông thường cũng là miễn giảm.

Nhưng ông chú sáu này hình như vẫn không nhận ra được điểm kỳ lạ của mình, vẫn tỏ ra điềm nhiên nhưng không hề biết chữ nghĩa đều đã viết hết lên trên mặt, cái đống đồ kỳ lạ này cũng từ những lúc thất thần mà sinh ra.

Khi ấy, mỗi lần làm xong một thứ thì Trần Nhật Duật giống như người trong mộng bừng tỉnh, lại ngơ ngẩn hỏi:

"Đã hai ngày rồi sao?"

Mạc Đĩnh Chi liền không nén được lắc đầu.

Thầy sáu của mình, áng chừng là bệnh tương tư nặng lắm.

Sau ngày đầy tháng không lâu, đại quân cũng lục tục chia nhau ra hành quân về các cứ điểm đã bố trí từ trước.

Trận này tôi không thể ra tận nơi hợp binh để tiễn Trần Khâm, nên đêm cuối đành bịn rịn ôm lấy anh ta mà rơi nước mắt.

Trần Khâm bật cười, nói rằng anh ta sẽ cố không để cho mẹ con tôi nhọc nhằn, nhất định sẽ đánh lui chúng trước khi chúng kịp tiến quân vào kinh.

Trong lòng tôi mặc dù có chút an ủi, nhưng nói tin hay không thì cũng không chắc được.

Lần này tôi chỉ âm thầm gửi một phong thư cho Trần Quốc Toản, chỉ có một mình cậu ta dẫn dắt Hoài Văn quân nên mọi việc phải hết sức cẩn thận.

Sau đó cậu ta cũng hồi âm, dặn tôi đừng lo lắng, cứ tin tưởng vào mình.

Chỉ vậy thôi mà tôi cảm thấy vui vẻ lắm, người có gia đình nên cũng không còn thái độ ngông nghênh, cũng biết quan tâm tới người khác rồi.

Tháng mười hai, có tin quân Thát vượt biên giới tiến đến Lộc Châu, sau đó lại chia làm hai đường đánh xuống vào Chi Lăng và Vạn Kiếp.

Tôi phải ồ lên một tiếng kinh ngạc, Thoát Hoan thật sự đưa quân về Vạn Kiếp như tôi dự đoán này!

Ngoài đường tiến quân đó, bọn chúng còn đi theo hai đường khác đánh sang.

Sớm hơn cả là cánh quân đánh từ Vân Nam xuống Bạch Hạc, nơi này chính là cứ điểm của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật.

Cuối cùng là đông đảo thủy quân từ cảng Khâm Châu vượt biển tiến vào Vạn Kiếp theo đường thủy.

Mai phục ở vùng Đông Bắc, cụ thể là Vân Đồn không ai khác chính là đội thủy quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, đi tiên phong là Hoài Văn Quân của Trần Quốc Toản, Trần Khâm cũng đứng chỉ huy đội quân này.

Nắm được bọn chúng chủ yếu tập trung ở lực lượng thủy quân nên đội quân của Trần Khánh Dư phải nói là vô cùng hùng mạnh, và nhiệm vụ then chốt thì được giao cho con át Hoài Văn Quân.

Tôi biết giặc tiến quân nhanh như gió lốc, ngày trước lúc ở trên chiến trường toàn quân lúc nào cũng hừng hực sĩ khí nên tôi cảm thấy thời gian trôi qua rất nhanh.

Hiện giờ cùng Huyền Trân lăn lộn ở nhà cả ngày, thêm phần rầu lo khiến thời gian như ngưng lại, cảm giác mãi chẳng thấy tin tức gì truyền về.

Chị Trinh trông có vẻ điềm tĩnh hơn tôi, an ủi:

"Thật ra không có tin tức mới là tin tốt."

Chị Trinh rất quen thuộc với cảnh này, nói một câu mà mặt mày không biến sắc, ra chiều rất tin tưởng vào cục diện trên chiến trường.

Mấy chị em của tôi đã từ các vùng thái ấp lân cận Vạn Kiếp lần lượt được hộ tống trở về, chị Anh Nguyên cũng rơi vào số phận y như tôi, suốt ngày chống cằm thở hắt ra trông cứ như một lá cờ treo ở nơi không có gió.

Lần này gặp lại, mẹ tôi có vẻ gầy yếu hơn rất nhiều, tuy là con cháu quây quần nhưng thời gian thật sự không chờ đợi một ai.

Tôi lại nhớ đến thái hậu vừa băng lúc trước, cõi lòng cũng thấy khó chịu.

Người vui vẻ nhất chỉ có mấy đứa nhỏ, con bé Duyệt định mệnh của thằng nhóc Thuyên (theo lời của nó) vào kinh thì nó không vui vẻ đến mức nhảy cẫng lên mới là lạ.

Nhóc này vừa qua thôi nôi, trông bụ bẫm đáng yêu hơn Huyền Trân nhiều, vừa may giúp Huyền Trân dời đi sự chú ý.

Con bé được dịp tận hưởng khoảng thời gian tự do, dứt khoát ngủ một giấc dài không thèm dậy.

Trẻ con hơn một tuổi so với trẻ con chỉ mới hai tháng tuổi rất khác biệt, đương nhiên một đứa nhóc có thể tự ngồi, tự bám để đứng dậy, có thể ăn uống làm trò sẽ hấp dẫn hơn một đứa chỉ biết ngủ và huơ tay huơ chân.

Hơn nữa con bé Duyệt lại còn vô cùng có thiên phú, mới từng đó đã i a gọi cha gọi mẹ, lại còn lẫm chẫm tập đi, trông đáng yêu vô cùng.

Chốt hạ là cái miệng hồng hồng mỗi khi cười ló ra bốn cái răng con con khiến người ta chịu không nỗi.

Ngay cả Quốc Chẩn vốn ngoan ngoãn trầm tính cũng ngây ngẩn, đến lúc này thì tình anh em khắng khít giữa thằng nhóc Thuyên, thằng nhóc Tự và Quốc Chẩn bắt đầu rơi vào đường cùng.

Rốt cuộc chỉ có thằng bé Nhữ Triết là bị bỏ rơi, lần đầu tiên bị hắt hủi bởi các anh trai bên đằng ngoại.

May mắn là anh Quốc Tảng của tôi đã theo cha đi đánh giặc từ sớm, nếu không mấy thằng nhóc có ý đồ xấu đã mềm xương.

Mất mặt nhất là thằng nhóc Thuyên già dặn nhất bọn, vậy mà vẫn cùng mấy đứa còn lại tranh giành.

Nó còn trưng ra bộ mặt bổn thái tôn ở bối phận cao nhất, cùng mấy đứa cạnh tranh công bằng đã là nương tay.

Chị An Hoa vào kinh lần này lại đang mang thai bốn tháng, đúng kiểu ba năm hai đứa là đây chứ đâu!
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 97: Có Nội Gián?


Đỏ mắt trông ngóng suốt nửa tháng, quả nhiên cái câu mà chị Trinh nói đã có hiệu nghiệm.

Không có tin tức thì thôi, vừa mới truyền tin tức đầu tiên về đã nghe được tin Trần Nhật Duật thất bại ở ải Mộc Ngột, mặc dù lực lượng tương đương nhau nhưng binh mã của chúng lại tinh nhuệ hơn.

Lúc này mới phát hiện ra kẻ cầm đầu là một vị vương tử tên là A Thai, kiểu người trẻ tuổi có tài năng thiên bẩm.

Đội quân của anh ta hết thảy đều được đích thân anh ta huấn luyện, một người có thể địch được với năm mười người.

Và mặc dù Trần Nhật Duật thành công lui về ải Phú Lương, nhưng hai tướng dưới trướng anh ta vì chặn hậu mà bị bọn Thát bắt được, hiện tại chỉ sợ lành ít dữ nhiều.

Tuy bước đầu có thất bại nhưng tầm một tuần sau truyền về tin cánh quân của chúng ở Chi Lăng tiến xuống Bắc Giang bị Cấm quân của Hưng Đức Hầu thuỷ bộ mai phục, dùng tên độc bắn chết rất nhiều người, lại phải lui về Chi Lăng trở lại để đợi hợp quân với Thoát Hoan.

Cha tôi đóng quân ở Vạn Kiếp vừa bày trận lớn lại vừa thủ sẵn đường lui, cốt yếu không cho hai cánh quân đó họp mặt.

Nhưng rốt cục vài ngày sau bọn chúng đã hội được quân, giống như vô cùng điềm tĩnh chờ đợi thuỷ quân của Ô Mã Nhi vượt sông Bạch Đằng tiến vào, chẳng hề tỏ vẻ gấp gáp tiến vào chiếm kinh thành như trước nữa.

Có lẽ từ thất bại của việc đánh nhanh thắng nhanh lần trước mà Thoát Hoan đã trở nên thận trọng hơn, anh ta trải lực lượng của mình ra thám thính rồi lại từng bước chậm rãi chờ đợi đến khi thời cơ chín muồi, sau đó sẽ há mồm ngoạm một cái thật lớn để chắc chắn tỉ lệ thành công là tuyệt đối.

Đêm nay con nhóc Huyền Trân cứ ê a không chịu ngủ, tôi dỗ nó mãi đâm ra nổi nóng nên tỉnh táo hẳn, lại bắt đầu nhìn lên xà nhà nghĩ ngợi.

Đến lúc này thì kẻ ở kinh đô mù mờ như tôi cũng hiểu rõ, mấu chốt rõ ràng đang nằm ở chỗ liệu thuỷ quân của Trần Khánh Dư có thắng lợi giữ chân đại quân của Ô Mã Nhi hay không, đội quân này khả năng rất cao là chở một lượng lớn quân lương để tiếp tế cho quân bộ.

Nếu như chiến thắng, gần như đã giành thắng lợi một nửa, còn nếu như thua thì tình thế của cha tôi ở Vạn Kiếp lại càng thêm chật vật, khả năng cao kinh thành lại phải tiến hành sơ tán.

Đang mông lung suy tính, phía cửa sổ bỗng nhiên vang lên tiếng sột soạt.

Tôi vốn nhạy cảm với âm thanh, ngay lập tức liền cảm thấy căng thẳng, tay với lấy cây đao ngắn ở phía đầu giường, cẩn thận rút nhẹ nhàng ra khỏi vỏ.

Ánh đao vừa loáng, tôi đã nhanh như cắt từ phía đầu giường phóng hai cái tới bên cửa sổ đá tung cánh cửa lao ra, bất thình lình đè người nọ xuống dưới đất khiến cho đối phương không có nổi một giây để phản ứng.

Lúc này tôi phải thầm khen mình, vừa mới sinh xong ba tháng đã hồi phục được sự nhanh nhẹn dẻo dai, vẫn còn chưa hết ngày ở cữ đã minh mẫn phát hiện ra có điều gian trá.

Hoá ra vì vậy mà con nhóc nhà tôi đến giờ vẫn không chịu ngủ, có lẽ chính nó cũng cảm thấy bất thường.

Giờ tôi mới phát hiện ra bên dưới là một gã đàn ông vừa ngoài ba mươi, trên mặt vẫn còn bùn đất và máu quện lại thành vệt khiến tôi nhất thời không thể nhận ra được mặt mũi.

Có điều bộ quần áo trên người lại vô cùng quen mắt, tôi giật mình, không phải của Hoài Văn Quân thì còn ai vào đây?

Có vẻ như lần đầu tiên thấy tôi trong bộ dáng này nên anh ta có chút thất thần.

Bây giờ tôi mới để ý bản thân chỉ đang mặc một bộ trung y màu trắng, đai lưng cột hờ, mái tóc dài quá thắt lưng tuỳ ý xoã tung như muốn quết đất.

Có điều thanh đao đặt trên cổ của anh ta cũng không phải vật trang trí, người đó thoáng ngẩn người xong lại bắt đầu tỏ ra kinh sợ.

Tôi chỉ vừa chau mày, anh ta đã nhỏ giọng lắp bắp:

"Tướng quân..không..phu nhân, xin người hãy cứu Hoài Văn quân!"

Giọng điệu anh ta vừa thành khẩn vừa run rẩy.

Tôi lạnh toát cả sống lưng, lúc này mới nhớ ra vội từ trên người anh ta đứng dậy.

Trông kỹ thì quả nhiên người này chính là Tô Thức.

Tôi đứng thẳng lưng nhìn xuống anh ta.

Bóng trăng trên đỉnh đầu soi rõ bộ dạng mệt mỏi của Tô Thức, trên người anh ta cũng không ít vết máu đã khô lại, chẳng biết là của địch hay của anh ta.

Nhưng nhìn những vết đao kiếm chém rách quần áo, có vẻ anh ta cũng không phải hoàn toàn lành lặn, đúng kiểu vừa bước ra khỏi chiến trường.

Thấy tôi đã bình tĩnh lại, Tô Thức vội quỳ lên, chắp tay kính cẩn:

"Trong Hoài Văn quân có nội gián, vốn dĩ lúc ở cửa Ngọc Sơn chỉ tiên phong đánh chặn để nắm tình hình, ai ngờ trong lúc ấy có vài kẻ đã lẻn sang thuyền địch rồi đánh tới cứ điểm của Nhân Huệ Vương ở Vân Đồn.

Thuỷ binh ở Vân Đồn bị đánh ở chỗ hiểm rất nhanh liền thất bại, quân ta chết nhiều, Nhân Huệ Vương phải ra lệnh rút lui.

Cũng may Nhân Huệ vương nhanh chân, mà bọn chúng cũng không đuổi giết, chỉ đi thẳng sông Bạch Đằng trở vào Vạn Kiếp!"

"Có gì mà may?" – Tôi quát.

Bên dưới bỗng im bặt.

Tôi khẽ hít sâu một hơi, nếu như bọn chúng trở vào Vạn Kiếp thì chắc hẳn cha tôi sắp phải gặp khó khăn chất chồng.

Nhưng nếu như hôm nay mà chúng không trở vào Vạn Kiếp thì vua tôi Trần Khâm ở Vân Đồn lại là kẻ phải gặp hiểm cảnh.

Nực cười, Hoài Văn Quân ấy vậy mà lại có nội gián.

Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, lại hỏi:

"Vậy tại sao các người lại biết là do nội gián?"

Tô Thức vội tâu:

"Lúc lui quân, Hoài Văn hầu đã phát hiện ra có vài kẻ mặc quân phục của Hoài Văn quân ở trên thuyền giặc, nhưng bọn chúng lại rất lạ mặt, đáng tiếc mấy người bọn tôi từ đầu tới cuối vẫn không nhận ra."

Trần Quốc Toản, nếu như là Trần Quốc Toản nói, thì chín phần là thật rồi.

"Toàn bộ Hoài Văn quân đều bị trói lại chờ chém, nếu không phải do Hoài Văn hầu khẩn xin quan gia nương tay để đợi tra rõ thì bọn chúng tôi đã bị chém lâu rồi.

Hoài Văn hầu nói vốn dĩ không có cách thanh minh, chỉ vì quan gia sẽ niệm tình Hoài Văn quân có công lao nên khoan dung cho thêm thời giờ, thật ra không phải là cách.

Mong phu nhân niệm tình chúng tôi một lòng vì nước mà ban ơn, Hoài Văn quân không bao giờ dám hai lòng."

Đúng là Hoài Văn quân không có hai lòng, nhưng sự sơ suất vốn là thứ không thể nào để xảy ra trong chiến trận.

Binh bất yếm trá, lúc này ngoài lấy cái chết ra để tạ tội thì thật sự không còn cách nào.

Biết vậy nhưng chính bản thân tôi lại không thể cam lòng.

Hoài Văn quân đã từng dùng một ngàn quân ít ỏi chiến thắng hết trận này tới trận khác, đây là những người đã từng tắm máu nơi sa trường, vào sinh ra tử cùng với tôi, và được tôi từng bước huấn luyện thành một đội quân sắc nhọn sẵn sàng vung gươm lấy đầu tướng giặc.

Tôi quay gót, phía sau lại vang lên tiếng người kia khẩn cầu:

"Đây là nửa miếng quân lệnh mà Hoài Văn hầu trả lại cho người, mong người suy nghĩ lại."

Miếng gỗ khảm chữ vàng loé lên phía sau lưng tôi.

Tôi bỗng nhớ ngày trước chính Trần Quốc Toản đã vung kiếm chém đôi thứ này rồi trao cho tôi một nửa, đã từng rất nhiều lần trong hiểm cảnh tôi nắm chặt lấy nó làm động lực.

Sau khi cuộc chiến năm đó kết thúc, tôi mới trả lại cho cậu ta.

Tôi quét mắt vào phòng, thấy Huyền Trân vẫn nằm huơ tay múa chân loạn xạ mãi mà vẫn không khóc, đáy lòng bỗng nhiên nặng trĩu.

Tôi thở dài một hơi, xoay người cầm lấy nửa miếng quân lệnh.

Ánh mắt của Tô Thức loé lên vui mừng, tôi trầm giọng:

"Một lần này thôi, khi cuộc chiến kết thúc các người chỉ có một chủ tướng là Hoài Văn hầu!"

Không biết kịp không nhưng tôi hy vọng là mình có thể làm được.

Tôi trở vào nhà trao lại hai đứa trẻ cho Thuỵ Hương, dặn dò sau khi tôi đi khỏi hãy giao chúng cho chị Trinh chăm sóc.

Thuỵ Hương bèn khóc thút thít, tôi lại cười bảo mình vốn có số vất vả.

Tôi vốn ngây thơ nghĩ rằng Trần Quốc Toản đã là kẻ truyền tin về sớm nhất, ai ngờ vừa mới bước ra khỏi cửa đã bị cảnh tượng trước mắt làm cho giật mình.

Xung quanh cửa cung đèn đuốc sáng choang, lính tráng gươm áo chỉnh tề đứng hàng hàng lớp lớp giống như biết trước ý định của tôi vậy.

Mấy người này tôi chẳng hề xa lạ, đây là cấm vệ quân bảo vệ an ninh của Cấm thành, người nào người nấy đều sức lực to lớn, hễ nhận nhiệm vụ gì là liều chết không thôi.

Tôi một mạch bước vào phòng, ẵm Huyền Trân từ trên tay Thuỵ Hương bước ra, tức thì Cấm vệ quân như tường đồng vách sắt cũng nhìn nhau nao núng.

Bọn họ, chẳng một ai biết tôi muốn làm gì.

Tôi bước ra cửa quỳ xuống, tay nâng Huyền Trân lên cao, lớn giọng khẩn khoản:

"Mong hoàng hậu thương xót, cưu mang đứa bé này!"

Lặp lại hai ba lần thì lạy một cái.

Thuỵ Hương lúc này hồn vía lên mây, cũng khóc lóc quỳ xuống bên cạnh tôi, với tay định đón lấy đứa nhỏ.

Tôi làm như không thấy, vẫn tiếp tục vừa nói vừa lạy, lát sau thằng bé Quốc Chẩn cũng hay tin chạy tới quỳ xuống bên cạnh tôi, khóc lóc không thua kém gì Thuỵ Hương.

Áng chừng hai khắc, phía xa bỗng có ánh đèn tới gần, binh lính tự động dạt ra hai bên, từ đằng trước bước tới một đoàn xa giá.

Tôi cúi đầu, thấy trước mặt mình là đôi mũi hài thêu rồng bốn móng, dù đã đoán trước được nhưng vẫn không nén nổi run lên.

Trên đỉnh đầu có tiếng thở dài:

"Ta tưởng mình nhanh hơn, ai ngờ vẫn là chậm một bước.

Đứng dậy đi, trẻ con không có tội, sao phải bắt nó chịu khổ vì mình?"

Tôi ngẩng đầu, nước mắt lưng tròng.

Đây đúng là Thượng hoàng mới từ Thiên Trường trở về, bên cạnh lại còn gương mặt cười cười gợi đòn của Trần Thì Kiến, hoá ra là do anh ta hộ tống Thượng hoàng về kinh.

Chị Trinh bước đến bên cạnh đỡ lấy tôi.

Thật ra ngay từ đầu tôi đã biết đây là lệnh của Thượng hoàng, nhưng chị Trinh vốn dĩ mềm yếu, thấy tôi chịu khổ há không nói giúp tôi một hai câu?

Còn Trần Thì Kiến và Thượng hoàng trở về lúc này, nhắm chừng là phía chiến trường tình thế không ổn nên chuẩn bị di tản dân chúng rời khỏi kinh đô.

Người trước mặt không giận mà uy khiến tôi không dám ngẩng đầu, chỉ cúi mặt bất đắc dĩ nói:

"Bẩm Thượng hoàng, Hoài Văn quân vô tội."

"Bao nhiêu người đã chết vì chúng, chẳng lẽ con còn không thấy sao?"

"Mong người niệm tình Hoài Văn quân công nhiều hơn tội mà cho con một cơ hội.

Nếu như con tới kịp lúc, con dám dùng tính mạng đảm bảo đưa họ lập chiến công cho quân ta!"

Thượng hoàng nhẹ giọng nói:

"Tính mạng của con bây giờ cũng không phải của một mình con nữa!

Với cả, ta làm sao tin con có thể lập công?"

Trong lòng tôi thất vọng tràn trề, ấy vậy mà lúc này Thượng hoàng lại phất tay:

"Thôi đi kẻo không kịp!"

Tôi vừa mừng vừa sợ nhìn chị Trinh, chị ta bế Huyền Trân mỉm cười.

Lúc này binh lính hai bên cũng nghe lệnh rời khỏi, chỉ còn lại một toán quân nho nhỏ khoảng chục người hộ tống tôi.

Tôi cảm động quỳ xuống tạ ơn, sau đó đợi tất cả đều rời khỏi cung Quân Hoa thì trầm ngâm ngoảnh lại nhìn tất cả.

Cuối cùng, tôi leo lên con ngựa chiến quen thuộc của mình đã được chuẩn bị sẵn, cùng với người lính của Hoài Văn quân ngược gió lên đường.

Tháng Mười Hai, hoa đào hai bên sườn đồi đã bắt đầu hé nụ, chúng tôi đi từ lúc giữa đêm đến khi mặt trời vừa ló dạng soi rõ cảnh sắc của mùa xuân thì cũng vừa tới nơi.

Từ trên sườn đồi cao xa xa, trông xuống đã thấy những chiến thuyền to lớn hùng vĩ đậu san sát, rõ hơn cả là Hoài Văn Quân đang quỳ trước một người mặc giáp minh quang sáng choang.

Người đó không phải là Trần Khâm thì còn có thể là ai nữa?

Tô Thức thúc ngựa đuổi kịp tôi, lớn giọng nói:

"Ngày hôm qua vẫn còn bận rộn lui quân nên chưa thể tra xét rõ ràng, Hoài Văn Hầu biết rõ lợi hại nên mới ngay lập tức sai tôi đi tìm phu nhân, quả nhiên sáng nay Hoài Văn quân đã bị đưa ra xử trí!"

Tôi lạnh mặt:

"Nói vậy việc Hoài Văn quân bị định tội và bao giờ xét xử chỉ là do Trần Quốc Toản suy đoán thôi ư?

Nói gì mà xin với xỏ, e là chính cậu ta cũng không có khả năng đó đâu.

Phiền phức!"

Tô Thức hiểu ý của tôi, hổ thẹn đáp:

"Tuy chỉ là suy đoán nhưng thật sự đã xảy ra, Hoài Văn hầu đã đúng, mà chúng ta cũng vừa kịp!"

Tôi không thèm trả lời anh ta, vô thức thúc ngựa nhanh hơn một chút.

Trần Quốc Toản này ấy vậy mà lại chơi chiêu với tôi.

Tính mạng của Hoài Văn quân vốn dĩ chỉ như chỉ mành treo chuông, dù tôi thật sự đi cầu xin giúp thì khả năng thành công chỉ có một phần trong mười phần, cậu ta đúng là thà để tôi chịu khổ và khó xử cũng không thể để Hoài Văn quân gặp chút tổn thất.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 98: Em Vẫn Không Tin Tôi


Tôi thúc ngựa dừng lại phía sau đám người đang quỳ, chỉ thấy ánh mắt không thể tin của Trần Khâm từ phía đối diện phóng tới, phía sau anh ta là Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản cũng đang cúi người khom lưng.

Nhìn thấy tôi, trái ngược với vẻ mờ mịt của Trần Khánh Dư thì ánh mắt của Trần Quốc Toản lại lóe lên vui mừng, sau lại giật mình tiếp tục cúi gằm mặt.

Thế nhưng tôi bắt gặp khóe môi cậu ta đang nhếch lên.

Tôi xuống ngựa từng bước tiến tới trước mặt Trần Khâm, nhìn thẳng vào mắt anh thì thấy đủ loại biểu cảm, từ kinh ngạc ban đầu chuyển sang tức giận, rồi lạnh nhạt, cuối cùng là bất lực và cam chịu.

Tôi quỳ xuống trước mặt anh, ở phía sau tôi là bảy tám trăm Hoài Văn quân quỳ hàng hàng lớp lớp.

Sau trận chiến với đội quân của Trà Luân năm đó, Hoài Văn quân đã tổn thất hết ba phần, những người còn lại ở đây đều là những người thật sự tài giỏi và thiện chiến, chưa từng nao núng trước tên giặc nào.

Tôi quỳ một chân trên đất, tay bắt thành quyền dõng dạc nói:

"Khẩn xin quan gia cho Hoài Văn quân thêm một cơ hội để lấy công chuộc tội!"

Trần Khâm quay mặt sang hướng khác, lạnh giọng:

"Phạm phải sai lầm chỉ có lấy cái chết để đền tội, còn em đến đây khi chưa có quân lệnh, đã phạm phải tội gì nữa?"

Tôi nắm chặt nắm đất cát trong tay, thanh âm khô khốc:

"Ngày xưa đám Trần Lộng Trần Kiện phạm vào quân lệnh gặp trận vẫn được tha để đi đánh giặc, Hoài Văn quân đã lập biết bao nhiêu công lao sao lại không thể tha thứ?

Đây không hoàn toàn là lỗi của họ!"

Trần Quốc Toản liếc mắt nhìn tôi.

Tôi bỗng nhớ tới ngày xưa lúc tôi xin ra chiến trường giết giặc, chính Trần Quốc Toản là người đã cho tôi cơ hội, sau đó là Hoài Văn quân cam tâm tình nguyện theo tôi.

Lúc ấy cũng là tôi và cậu ta quỳ trước Trần Khâm nói khó.

Đến nay Hoài Văn quân gặp nạn, thật lòng mà nói tôi cũng đau xót, nếu có lòng mà không thể làm gì được thì bản thân cũng không hề hổ thẹn.

Trần Khâm hừ một tiếng, cất giọng nhàn nhạt:

"Chính vì tha thứ cho chúng nên mới khiến chúng có cơ hội đem một vạn quân đi đầu hàng, ta đã phạm sai lầm một lần, làm sao lại để có lần thứ hai?"

Lúc này tôi cảm giác ở xung quanh đều vang lên tiếng thở dài khe khẽ, có lẽ Hoài Văn quân đã chấp nhận số phận rồi.

Tôi lại nghe phảng phất bên tai mấy câu:

"Phu nhân không cần khó xử, chúng tôi cam lòng chịu phạt!"

Sau đấy càng lúc càng nhiều những âm thanh như thế vang lên.

Trái tim tôi bỗng dưng thắt lại, cảm giác bất lực và buồn bực không thể thốt ra lời.

Tôi ngẩng đầu nhìn thẳng vào Trần Khâm, quả quyết nói:

"Thần đã nói với Thượng hoàng dùng tính mạng để bảo đảm, Thượng hoàng đã đồng ý rồi!"

"Nói xằng!" – Trần Khâm quát lớn.

Lúc này Tô Thức đang quỳ phía sau tôi bỗng bước tới quỳ xuống bên cạnh, không hề run sợ khẳng định:

"Thần cũng dùng tính mạng để đảm bảo là có việc này!"

Tính mạng của anh ta sẽ đáng giá bao nhiêu đây, anh ta cũng là người tham gia cuộc chiến lần này và cũng chính là kẻ mang tội.

Trần Khâm đã cố bác bỏ, ấy vậy mà Tô Thức còn muốn đối đầu, thật đúng là khờ hết chỗ nói.

Trần Khánh Dư phía trước tôi lại đột ngột lên tiếng:

"Thất bại này thần cũng có lỗi, cũng mong quan gia khoan hồng với Hoài Văn quân!"

Tôi nhìn anh ta, người này với tôi từ trước giờ hình như cũng không được tính là hòa thuận lắm.

Nhưng Trần Khâm nào phải kiểu người dễ thỏa thuận, anh ta nhướng mày nói:

"Chính anh cũng phải về kinh thỉnh tội, thôi nói giúp người khác đi!"

Mọi thứ trở nên im bặt, đến tiếng xào xạc của lá rơi cũng nghe thật rõ ràng, nhưng dường như xung quanh không ai có ý định thay đổi lòng dạ.

Ở đây nhìn về xa xa chỉ thấy thuyền bè muôn đội, cờ bay phấp phới, ba quân tuy có tổn thất và mệt mỏi nhưng vẫn uy nghiêm.

Lát sau chợt nghe tiếng thở dài, Trần Khâm bất đắc dĩ nói:

"Đứng lên hết đi."

Bên tai tôi ong ong một chốc thì vang lên tiếng hò reo như sấm dậy, lẫn trong đó là tiếng lạy tạ phấn khởi, có kẻ còn khóc lóc sụt sùi.

Đến cả tôi cũng thấy khóe mắt cay cay, vui sướng đến bất ngờ khiến tôi không thể nào đứng dậy nổi.

Một cánh tay chìa ra trước mặt tôi, ngước lên chỉ thấy ánh mắt chăm chú của Trần Khâm đang nhìn mình.

Lúc này tôi mới nhớ ra đã hơn một tháng không gặp, bỗng dưng nhìn thấy anh ở khoảng cách gần như thế lại tưởng như trong mơ.

Dưới chân tê cứng, tôi loạng choạng đứng dậy, đột nhiên cảm thấy nhiệm vụ của mình cũng xem như là hoàn thành, liệu Trần Khâm có lệnh cho tôi lập tức về thành không?

Chưa kịp lên tiếng thì Trần Quốc Toản đã giành nói trước:

"Thần tài hèn sức mọn phạm phải sai lầm, nay phu nhân đã tới, dù sao..."

Dù sao tôi cũng là chủ tướng của Hoài Văn quân trước đây, nên thay cậu ta gánh vác trọng trách dẫn dắt đội quân này.

Đáng tiếc chỉ nói tới đó đã bị Trần Khâm lườm cho một cái nín bặt.

Trần Khâm không hổ là một vị quan gia, tuy không nói nhiều nhưng đã áp chế được khí thế hừng hực của Trần Quốc Toản.

Anh ta nhìn một vòng xung quanh, trầm giọng nói:

"Chúng đã chiếm được Vạn Kiếp rồi, Quốc công dàn trận bên bờ sông Đuống, chúng ta trở về giữ kinh thành thôi."

Không nói rõ là có chấp nhận để tôi lãnh trọng trách hay không mà chỉ yêu cầu tất cả trở về, cái kiểu lửng lửng lơ lơ này thật khiến người ta khó chịu.

Nhưng Hoài Văn quân sẽ trở về được sao, nếu như chưa lập được công lao nào để chuộc tội thì khi trở về có phải sẽ bị người ta chế giễu?

Lần này e là mấy người ở đây cũng khó lòng giải thích cho cặn kẽ mọi chuyện với Thượng hoàng, huống hồ nghe đâu Thượng hoàng còn chỉ đích danh Trần Khánh Dư phải bị xiềng xích áp giải về kinh vấn tội.

Trần Khánh Dư nghe Trần Khâm nói thế vừa mới đứng dậy đã lập tức quỳ xuống phủ phục:

"Thần xin chịu lấy quân pháp xử tội, nhưng xin bệ hạ cho khất vài ba ngày để thần mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn."

Có lẽ Trần Khâm cảm thấy đây dù sao cũng là kẻ mà mình từng thật lòng thật dạ chiêu dụ quay về, bây giờ mang tội thì chính anh ta cũng thấy mất mặt nên miễn cưỡng đồng ý.

Thấy vậy tôi cũng kéo Trần Quốc Toản quỳ xuống, tát nước theo mưa xin được ở lại lập công.

Trần Khâm rất thẳng thừng từ chối.

Sau khi cho tất cả trở về ai làm việc nấy, lúc chỉ còn tôi và anh ta đứng với nhau mới nghe anh ta hòa hoãn dịu dàng với tôi:

"Thật hết cách với em!"

Tôi đứng cúi đầu nhìn mũi chân, trong lòng vô cùng rối rắm.

Trần Khâm lại chộp hai bả vai ép tôi ngẩng đầu lên:

"Nếu như không phải tôi quá quen với cái dáng vẻ bồng bột này của em, chỉ e sẽ bị em làm cho tức chết.

Bao nhiêu năm rồi, nói bao nhiêu lời rồi em vẫn không hiểu lòng tôi."

Tôi trợn tròn mắt nhìn anh ta, chẳng hay ý anh là gì?

Trần Khâm xoay người đi về phía trước, tôi cúi đầu lủi thủi đi theo sau lưng anh ta, không khí ngượng ngùng chỉ nghe độc tiếng gió thổi và tiếng bước chân loạt xoạt trên nền đất.

Trần Khâm đột ngột dừng lại, tôi đâm sầm vào tấm lưng rộng của anh ta, trán va phải bộ giáp nghe "cộp" một tiếng.

Anh ta quay về phía sau nhìn tôi, không khỏi bật cười.

Đột nhiên, trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ, cùng lúc đó Trần Khâm đã thở dài, nói:

"Tôi không định lấy mạng họ."

Quả nhiên tôi đã bị thằng nhãi Quốc Toản này dắt mũi.

Cái tên này dám rào trước đoán sau ý của quan gia, có điều là lại đoán sai bét.

Tôi bỗng lúng túng, đầu ấp tay gối bao năm mà tôi vẫn không tin tưởng Trần Khâm.

Tôi vụng về nắm lấy tay áo anh ta, anh ta vẫn điềm nhiên cười nói:

"Không sao, tôi biết tính em mà."

Thu xếp xong xuôi, tôi và Trần Khâm cùng số ít quân binh lên đường trở về.

Thấy Trần Quốc Toản có điều muốn nói, tôi bèn làm vẻ mặt nguy hiểm với cậu ta:

"Cái đồ ngốc nghếch nhà chú, ý quan gia thế nào còn không rõ thì thật hổ thẹn cho cái danh thống lĩnh Hoài Văn Quân.

Hại tôi phải khổ sở một phen."

Thấy Trần Quốc Toản còn giữ vẻ mặt mờ mịt, tôi lại nghiến răng trợn mắt nói:

"Quân lệnh này tôi giữ, chú phải giúp Nhân Huệ vương giành thắng lợi, làm cho Hoài Văn quân khôi phục lại mặt mũi nghe chưa!"

Trần Quốc Toản hoảng hốt gật đầu.

Trên đường trở về kinh tôi lại vô tình biết được mấy chuyện đồn đại về Trần Khánh Dư ở Vân Đồn, lúc đấy mới hiểu ra lời thú tội mà anh ta đã từng nói khi cầu xin cho Hoài Văn quân.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 99: Rút Khỏi Thành


Vân Đồn vốn là một quần đảo và cảng biển, người dân chủ yếu lấy việc buôn bán với người phương Bắc làm kế sinh nhai.

May mặc dựa vào khách buôn phương Bắc, quần áo, đồ dùng đều theo tục của người Bắc.

Lúc Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, thấy vậy liền ra lệnh cho quân trấn giữ để ngăn phòng giặc thì không thể đội nón của phương Bắc, sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt mà phải đội nón Ma Lôi, ai trái tất phải phạt.

Thực tế trước đó tên Trần Khánh Dư này đã ngầm sai người nhà mua nón Ma Lôi, thuyền chở nón đã đến đậu trong cảng.

Lệnh vừa ban ra là anh ta lại ngầm sai người phao tin rằng hôm qua thấy trước vùng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đến đậu.

Quả nhiên người dân nhận được tin vội vàng tranh nhau mua nón.

Ban đầu mua không tới một tiền, sau một chiếc nón đổi một tấm vải, số vải thu được tới hàng nghìn tấm.

Tôi nghe xong thì phải há hốc mồm kinh sợ, đây không còn là khôn vặt nữa, đây là gian thương, là dối trá lọc lừa!

Ngày trước Khánh Dư bán than có vẻ cũng rất khá khẩm, nếu như anh ta không sinh ra trong gia đình nhà quý tộc thì nói không chừng Đại Việt lại có một phú hộ có tài sản ngang ngửa với quốc khố.

Trần Khâm lại cười mỉa mai:

"Lúc tôi cất quân đến đây, vô tình nghe một câu của bọn con buôn phương Bắc rằng: "Vân Đồn gà chó hết thảy đều kinh sợ".

Câu này nghe giống như là mượn ý sợ uy danh của anh ta, thực chất lại là đang châm biếm."

Tôi lại ồ một tiếng, thắc mắc:

"Thế chàng không làm gì anh ta à?"

"Theo em thì phải làm gì?" –Ý cười Trần Khâm càng đậm – "Bán thì cũng đã bán rồi, bọn con buôn hầu hết cũng đầy mưu ma chước quỷ, anh ta có thể áp chế được bọn chúng cũng xem như là tài lẻ của anh ta."

Nhưng rốt cuộc thì Trần Khánh Dư cũng khiến lòng quân chán ghét vì cái thói mưu lợi của anh ta nên chẳng hết sức hết lòng, tuy nhìn qua thì việc này không phải là bề nổi nhưng cũng góp phần không nhỏ vào thất bại.

Huống hồ gã này trước nay tôi còn nghe phong thanh việc anh ta coi tướng là chim ưng, coi quân lính như gà vịt, quả thực là hống hách lắm thay.

"Bởi vậy phàm anh ta đóng quân ở nơi nào, người ở nơi đó đều rất ghét. – Trần Khâm tiếp tục bổ sung."

Tôi lại không tin Trần Khâm chịu bỏ qua cho Trần Khánh Dư một mình nuốt trọn, gặng hỏi một hồi thì anh ta mới nói:

"Thất bại lần này tổn thất không ít, sung làm của công thôi."

Ôi cái giai cấp thống trị nhà anh!

Sau khi đánh mấy trận thì cục diện hiện tại là Vạn Kiếp trở thành cứ điểm chính của Thoát Hoan, với sự hội quân của thủy binh Ô Mã Nhi cùng với nhánh quân đã tách ra từ trước, hết thảy đều thu về một mối.

Quân Thát vẫn còn một cánh đang nằm lại ở Phú Lương vì bị Trần Nhật Duật chặn đánh, hiện tại vẫn còn đang giằng co chưa rõ sống chết chờ đợi Thoát Hoan cử binh đến giải vây.

Nhưng cho dù là Trần Nhật Duật thì với khí thế này của chúng, đến ngày chúng vươn tay tới kinh thành thì ắt hẳn Trần Nhật Duật cũng sẽ bị cô lập mà thôi.

Lúc này cha tôi đang đóng ở bờ sông Đuống truyền tin rằng Thoát Hoan đã bố trí cả quân bộ và quân thủy dày đặc khắp các ngả sông, lại dựa vào thế núi Chí Linh và Phả Lại mà rất kỳ công xây dựng kho lương và thành gỗ.

Thế nên Trần Khâm vừa về đến đã cử tướng đem Thánh Dực quân đến viện trợ.

Trừ khi là trí nhớ quá kém, còn nếu không, Thoát Hoan ở Vạn Kiếp giống như con hổ thỏa sức vùng vẫy trong khu rừng.

Thoát Hoan so ra còn rành rẽ từng ngóc ngách ở đấy hơn là tôi nữa, dù sao thì cũng là kẻ từng lăn lộn tranh đoạt sự sống trong cái chết ngần ấy năm.

Anh ta đi nước cờ này quả thật là không thể chê vào đâu được.

Lần này đã có kinh nghiệm, Trần Thì Kiến cùng mấy phụ tá làm công tác sơ tán kinh thành hết sức nhanh chóng, không uổng từng ấy năm ăn cơm mặc áo của triều đình.

Bao nhiêu năm anh ta lăn lộn chốn quan trường, đến nay vợ con đuề huề, rất ra dáng một người gia chủ.

Trần Khâm đối với anh ta vô cùng ưu ái, trước là phụ tá đắc lực đi theo bên mình, nay tuy không thường xuyên túc trực nhưng có việc vẫn vô cùng được trọng dụng, phàm là việc gì đều luôn nghĩ tới anh ta trước tiên.

Riêng tôi lại cảm thấy thế đạo này lại đúng với bốn chữ "chủ nào tớ đó".

Giống như ngày trước anh ta mở miệng ra trổ tài bói toán cho tôi, nói tôi có số giàu sang phú quý lại còn ở kinh thành.

Sau này dù đúng thật là như thế, nhưng tôi lại đồ rằng liệu anh ta tự mình bói ra thật, hay là do Trần Khâm ở phía sau động tay động chân.

Khi đánh với quân Thát vào những năm trước, có lần Trần Khâm lại sai anh ta bói được quẻ Dự biến sáng quẻ Chấn là tốt.

Mùa hạ năm sau, quả nhiên quân Thát đại bại, đúng y như lời đoán của anh ta.

Tôi lại ngẫm nghĩ một phen.

Nếu lúc ấy Trần Thì Kiến đoán là quân ta thua liệu anh ta có bị đổ cho cái tội mê hoặc quân vương, làm nhục chí quần thần không nhỉ?

Kể từ dạo đó, uy tín trong chốn quan trường của anh ta càng thêm tăng vọt.

Vốn là một người trẻ tuổi chẳng hề có gốc gác, phải dựa vào phủ Hưng Đạo tiến cử vào làm quan mà nay lại được làm An phủ sứ một lộ lớn, nổi tiếng thanh liêm, có tài đoán quẻ lại chưa từng phạm phải cái sai nào.

Loại người thông minh thức thời như là anh ta cho dù đôi lúc hành xử có chút lạ lùng, nhưng sợ là vẫn còn tiến xa lắm.

Đến năm nay Trần Thì Kiến gieo được quẻ Quán biến sang quẻ Hoán, rồi đoán: "Hoán nghĩa là tan, là điềm giặc tan".

Dù tôi không tin tưởng lắm mấy trò trông qua có vẻ cao siêu này, nhưng vốn những thứ mà các cụ đã để lại, ắt hẳn cũng qua nhiều lần đúc kết mới truyền lại được cho con cháu đời sau.

Tốt xấu gì những thứ đã đi vào sách vở, thứ nào cũng đều có cái hay của nó.

Tối đó tôi ngồi bế Huyền Trân mới chợp mắt được một lát, mơ mơ màng màng đã nghe tiếng trống hiệu, biết là có sự không ổn bèn xốc lại tinh thần.

Mặc dù bây giờ tôi không đến nỗi phải mặc giáp đeo gươm, thế nhưng cũng nhanh chóng thay một bộ áo ngắn, lại tiện tay với lấy con dao găm giắt bên hông, ôm Huyền Trân bước ra bên ngoài.

Lúc này đèn đuốc đã đốt sáng rực cả một khoảng sân, Thụy Hương dắt tay Quốc Chẩn cũng thu dọn đồ đạc ổn thỏa đang đứng đợi tôi phía trước, có mấy binh sĩ cấm vệ quân đã đứng chực sẵn phía trước cửa cung.

Bấy giờ tôi mới biết hóa ra cha tôi phó thác cho Phạm Ngũ Lão đưa một toán quân tinh nhuệ trở về hộ tống bọn chúng tôi lên thuyền ra biển đi ngược lên để tránh thế giặc mạnh.

Phạm Ngũ Lão trở về gặp qua không biết bao nhiêu là gian khổ, nếu nói là gặp cướp gặp thổ phỉ thì chi bằng nói chính là lũ gian tế mà Thoát Hoan đã cho trà trộn vào.

Lúc tới nơi anh ta chỉ nói được mấy câu ngắn gọn, rằng chúng đã đánh vào các vị trí bảo vệ trên sông Đuống, cha tôi phải vừa đánh vừa rút lui về kinh.

Hiện tại thủy binh của cha tôi vừa về đến nơi, mà bên kia bờ sông Nhị Hà quân Thát cũng đã bao vây hò hét.

Cũng may trước đó Phạm Ngũ Lão đã về tới, vừa gấp rút dọn đường vừa chuẩn bị thuyền cho mấy người bọn tôi rút lui an toàn theo một hướng khác.

Tuy không nghe nói nhưng theo tôi suy đoán thì có lẽ lúc này ngay cả đội quân của Trần Nhật Duật e cũng rơi vào cảnh thất bại rồi, thế nên Thoát Hoan mới có đủ tự tin mà hoành hành ngang dọc như thế.

Trong lúc di chuyển ra chiến thuyền thì cha tôi đã sai người giả vờ đi cầu hòa, tình thế mới có vẻ êm xuôi.

Tôi suýt thì quên hiện giờ bên cạnh Thoát Hoan còn có thêm kẻ lòng đầy mưu kế Trần Ích Tắc.

Thoát Hoan là kẻ âm hiểm mưu mô nhưng chưa chắc có thể sánh ngang với Trần Ích Tắc, với ba tấc lưỡi của anh ta nói không chừng Thoát Hoan sẽ tin sái cổ cũng nên.

Hoặc giả có lưỡng lự thì có lẽ cũng đủ để bọn tôi rút lui an toàn rồi.

Đương nhiên việc này chỉ là do tôi suy đoán lung tung, việc bên trại giặc vốn là thứ khó lường mà bất cứ ai cũng không thể đoán được, có thể là một giây trước anh còn sống, một giây sau cổ của anh đã đứt lìa.

Rồng rắn kéo nhau ra bãi thuyền đã thấy cha tôi kính cẩn đứng ở đấy, dưới ánh đuốc lập lòe bóng dáng người gầy gò nhưng rắn chắc, vẻ mặt đen rám nắng, giống như những ngày gần đây chịu không ít khổ cực.

Lên được thuyền thì bên tai bỗng nhiên nghe đùng đoàng mấy tiếng, Trần Khâm đỡ lấy tôi vào trong khoang, nhỏ giọng hỏi:

"Đã bắt đầu rồi sao?"

Cha tôi gật đầu, lại chau mày đáp:

"Có vẻ là hơi sớm." – Nói xong thì quay sang ra lệnh nhổ neo – "Mau đi thôi!"

Kế hoạch ban đầu là nghị hòa, sau đó đợi Quan gia và Thượng hoàng rút lui ổn thỏa thì Chiêu Minh vương sẽ sai quân vừa bắn đá đánh lạc hướng địch, vừa chia ra nhiều tốp vào trại địch đánh phá lương thực rồi rút lui.

Đường lui đã chuẩn bị sẵn, cho dù là gặp truy binh thì cũng khó lòng ngăn cản được ta di chuyển.

Nhưng theo như cha tôi nói thì có vẻ tên Thoát Hoan này đã nghi ngờ, còn việc quân ta đánh nhau sớm hơn dự định với chúng chỉ sợ là trong lúc thương lượng đã có cảnh đổ máu.

Đoàn thuyền ban đầu chậm rãi rời khỏi bến cảng, sau lại từ từ tăng tốc, dự định ra khỏi cửa biển sẽ vòng lên Tháp Sơn.

Nơi đó có sẵn lương thảo thuốc men, viện binh đã lập đồn chờ sẵn.

Có điều người tính lại không bằng trời tính, vừa gần tới cửa biển thì trời cũng tờ mờ sáng, trong ánh dương rạng lên nơi đằng đông ngoảnh lại bỗng thấy cờ giặc tung bay lấp ló phía sau.

Tôi vén mành nhìn ra, toàn bộ chiến thuyền của chúng trông như một bầy ngạc ngư ngẩng đầu lên từ dưới đầm lầy, nhe răng há miệng lộ ra mấy cái nanh nhọn hoắc.

Lúc này ước chừng có Trần Khánh Dư ở đây lại hay, với tài năng của anh ta thì việc tạo ra một cuộc đua quy mô lớn như thế này không phải là không có khả năng khiến cho địch thủ bị bỏ xa mất hút.

Đáng tiếc là bọ Thát này quá âm hiểm, bọn chúng ấy vậy mà lái thuyền không một ngọn đuốc, không một tiếng ồn, cứ thế như con hổ dữ rình mồi cả đêm cho đến lúc này vẫn đang âm thầm bám sát.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 100: Cuộc Đuổi Bắt Trên Biển


Việc bị đuổi theo không nằm trong dự liệu.

Không ngờ tên Thoát Hoan kia lại đánh hơi được nhanh như thế, nhiều lần trông thấy anh ta bị dắt mũi lại cứ tưởng đâu là anh ta là bò thật.

Trong lòng tôi âm thầm nói lời xin lỗi với Thoát Hoan, ngoài miệng lại cảm khái:

"Thoát Hoan này quăng một cục xương ra nói không chừng anh ta còn chạy lại đớp!"

Trần Khâm ở bên cạnh hơi nhướng mày:

"Ngày đó ai nói cùng với Thoát Hoan là tri kỷ vào sinh ra tử với nhau ngần ấy năm, vừa trở mặt đã quay sang ví người ta là chó rồi?"

Tôi cười hì hì:

"Trên đời ấy mà, không có bạn bè vĩnh viễn cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn."

Khóe miệng Trần Khâm hơi giương lên, ngầm tỏ vẻ hài lòng.

Đàn ông mà, nói vài câu vừa ý thì lại vui vẻ ngay.

Bỗng, có kẻ hớt hải chạy vào khoang trong cấp báo:

"Bẩm, giặc Thát đã giương buồm sắp đuổi tới nơi, Quốc công nói mọi người hãy chuẩn bị sang thuyền nhỏ vào Thanh Hóa, Quốc công sẽ dẫn thuyền lớn vòng lên Tháp Sơn đánh lạc hướng địch.

Ngay tại ngã rẽ lập tức chia ra."

Trong khoang lại rơi vào không khí nhốn nháo, thượng hoàng liền lên tiếng ra lệnh phân ra ai ở ai đi.

Tuy nói là chia ra làm hai, nhưng cốt yếu vẫn là an nguy của Quan gia và Thượng hoàng được đặt lên trên hết.

Trên thuyền không có nhiều người, ngoài những vị tai to mặt lớn trong tông thất cùng với gia quyến và những kẻ thân tín theo hầu, còn lại trong kinh thì theo đường tắt di tản sang những vùng lân cận.

Trong số những tông thất đó đa phần là thề thốt hi sinh bản thân để bảo vệ vua, cũng không ít người bằng mặt nhưng không bằng lòng, một số người còn tuyệt vọng khóc thút thít.

Tôi lại cảm thấy ở trên thuyền nhỏ ngoài có tác dụng dễ dàng ẩn nấp do thuyền lớn dễ thu hút sự chú ý của địch thì so ra thuyền lớn lại có vẻ an toàn hơn, đi ra cái vùng biển mênh mông này bể sâu sóng cả, đúng là rất nhiều thứ khó nói.

Rốt cuộc sang thuyền nhỏ thì chỉ gồm những kẻ trong hoàng tộc và trẻ con, duy chỉ có mẹ tôi là kiên quyết cùng cha ở trên thuyền lớn.

Tôi đứng nhìn Phạm Ngũ Lão lần lượt đưa mọi người xuống thuyền, bỗng thấy chần chừ:

"Hay để em ở lại thuyền lớn giúp cha..."

Trong lúc đợi mọi người xuống thuyền, tôi cứ liên tục ngoái đầu nhìn cha mẹ, cõi lòng dấy lên đau xót và khó xử.

Đang cảnh nước sôi lửa bỏng, không ngờ cha mẹ lại phải làm nhiệm vụ chiêu dụ địch để đổi lấy an toàn cho mấy kẻ chúng tôi.

Trần Khâm đứng dưới mũi thuyền nhỏ chìa tay với tôi, cau mày nói:

"Đi thôi, có em hay không cũng không có khác biệt gì lớn."

Lúc này thuyền của giặc Thát đã đuổi sắp tới, tên bắn rào rào sang như mưa, tuy khoảng cách còn xa tít nhưng sức sát thương lại không thể coi thường.

Đang còn đứng khựng ở đó, phía sau bỗng nhiên có lực đẩy khiến tôi ngã nhào về phía trước.

Trần Khâm nhanh tay bắt được tôi, tôi quay mặt lên nhìn chỉ thấy gương mặt mẹ tươi cười nhìn mình vẫy tay, sau đó là tiếng hô vang dội của cha tôi cất lên, con thuyền lớn trước mặt rẽ sóng quay đầu chạy đi xa tít.

Đám người của chị Anh Nguyên cũng đau xót nhìn tôi, khẽ an ủi:

"Yên tâm đi, tất cả mọi người đều sẽ an toàn."

Đó cũng là thứ duy nhất mà tôi mong muốn.

Phạm Hữu Thế lái thuyền nhỏ đưa mấy người bọn tôi đi ngược hướng với cha, thoắt cái bóng dáng của cha mẹ tôi chỉ còn giống như những chấm thanh mảnh trên giấy mật hương chỉ.

Bỗng nhiên có tiếng hô hào báo động cứu giá.

Không kịp chặn kịp mấy mũi tên xé gió lao đến, rốt cuộc kẻ được cứu giá lại đỡ giúp tôi một mũi tên sắp sửa xuyên qua lưng.

Cả thuyền nhốn nháo, tôi hoảng hốt nhìn Trần Khâm bị tên bắn xuyên qua cánh tay trái, anh ta lại nhanh chóng lôi mình vào khoang thuyền.

Lúc an ổn rồi Trần Khâm mới rút mũi tên ra, không hề nhăn mày lấy một cái.

Lòng tôi căm tức, vội vén màn nhìn ra bên ngoài, cũng cảm thấy bạo gan hơn.

Tôi đoạt lấy cung tên của một binh lính, Trần Khâm nắm chặt tay tôi, dù sao anh ta chỉ bị thương tay trái nên tay phải vẫn còn rất mạnh.

Tôi gạt tay anh ra, anh ta cũng không cố gắng giữ tôi lại nữa.

Bên ngoài mưa tên vẫn còn bắn xối xả.

Đoàn thuyền của chúng áng chừng năm mươi chiếc, trên mỗi chiếc thuyền lại không có nhiều người.

Binh lính mang theo phần lớn ở trong khoang chèo, ở bên trên là đội xạ thủ không ngừng bắn tới.

Tuy chúng tôi là thuyền nhỏ đi nhanh, nhưng nếu với tình hình này chỉ e bọn chúng sẽ nắm được đường đi nước bước, sau đó cho đại quân đuổi theo thì sẽ thật gay go.

Bên ta ấy vậy mà chỉ có năm chiếc thuyền vừa, lấy một địch mười liệu có đường thắng không nhỉ?

Phạm Hữu Thế đứng ở đầu tàu chỉ huy, thỉnh thoảng chém bay vài mũi tên phóng tới, anh ta vốn là thân tín của cha tôi, là một người cực kỳ giỏi bơi lội và thuỷ chiến.

Phạm Ngũ Lão lại đứng ở phía đuôi thuyền, anh ta hình như cũng cùng suy nghĩ với tôi.

Nhác trông bóng dáng tôi lấp ló bên mạn phải, anh ta cười ha hả, lớn giọng nói:

"Không uổng công ngày trước luôn khen ngợi em."

Tôi cong môi nhìn anh ta, đáp:

"Không chỉ là ngày trước đâu, hôm nay tôi lại càng khiến anh phải luôn miệng tán thưởng!"

Ngày trước tuy Phạm Ngũ Lão chỉ dạy tôi một nửa thời gian, nhưng những gì anh ta truyền thụ lại khác hoàn toàn với anh Quốc Tảng.

Nếu như Quốc Tảng thiên về những thứ táo bạo mạo hiểm, gặp chiêu phá chiêu thì Phạm Ngũ Lão lại dạy theo cách chậm rãi mà an toàn, tính toán kỹ lưỡng.

Bởi thế trên chiến trường chưa từng thấy Ngũ Lão phạm phải sai lầm nào dẫn đến thất bại, còn Quốc Tảng, có lẽ giờ này đang đánh nhau với Thoát Hoan ở kinh đô.

Tên đã tra vào cung, Phạm Ngũ Lão bèn lệnh cho thuyền bơi chậm lại, dàn hàng trước mặt chúng.

Ước chừng còn cách địch tầm hai trăm bước, mũi tên của anh ta liền vút một phát lao đi.

Trong tích tắc, tôi bỗng thấy một kẻ đứng trên mũi thuyền té lộn cổ xuống nước.

Tức thì, xạ thủ trên mấy chiếc thuyền khác như có lệnh được bắn cũng đồng loạt cất cao dây cung, thuyền xa thì dùng cung, thuyền gần thì dùng nỏ, thoắt cái xác giặc rơi xuống khắp nơi, nhuốm dòng nước đi qua thành một màu đỏ ối.

Giống như bất ngờ vì chúng tôi dám cho thuyền đi chậm lại để trả đũa, bọn Thát liền nhao nhao lên, lại tiếp tục điên cuồng bắn trả, khiến không ít binh lính bên ta cũng rơi xuống nước.

Tôi cả giận vì Phạm Ngũ Lão bắn tên mà không ra hiệu, tức thì nhân lúc chúng đang cuống cuồng bắn một lúc năm bảy phát, lại trượt hai phát do gió to.

Phạm Ngũ Lão mỗi lần bắn ra ba mũi tên, ấy vậy mà không mảy may trượt phát nào.

Lúc này anh ta mới thôi nhíu mày, khẽ thả lỏng nói:

"Sao thế, sống an nhàn bao năm nên ngón nghề không thạo nữa à?"

Tôi có chút đỏ mặt.

Được thôi, chính tôi như thế còn vợ anh thì thế nào, chẳng phải là hăng hái chăm chồng dạy con đến mức mập mạp béo tốt ra, đến múa kiếm còn múa không nổi?

Bởi vì lính ở trên mạn thuyền bị tên bắn quá nửa nên đám lính chèo thuyền cũng bất giác bơi chậm hơn.

Thấy tình thế đã ổn, mưa tên bên cũng chỉ còn bắn sang rải rác, Phạm Hữu Thế liền ra lệnh cho lính chèo thuyền của ta bất giác chèo nhanh hơn, đi qua một khúc cua đã thành công cắt đuôi bọn chúng.

Tuy vậy, chúng tôi cũng không hề thả lỏng, năm chiến thuyền vẫn lao nhanh trên mặt biển mênh mông như những con cá buồm.

Tôi mang tâm trạng ỉu xìu chui vào trong khoang thì thấy Trần Khâm vẫn đang mặt cau mày có:

"Đã vừa lòng em chưa?"

Tôi xì một tiếng, trông thấy con nhóc Huyền Trân đang nằm trong vòng tay của Thuỵ Hương thì tâm trạng mới đỡ hơn, ngay lập tức ôm nó thơm mấy cái.

Vào Thanh Hoá không lâu bỗng dưng có một vài hạm đội thuyền tìm được vào nơi vua ngự.

Hoá ra đây là những đội thuỷ quân khi trước cha tôi sắp xếp để chặn thuyền giặc đuổi theo, tất thảy thất bại co cụm lại tìm cơ hội để tiếp ứng.

Nói về vấn đề đánh trực diện thì đám người này không cản được khí thế như thác lũ của giặc, nhưng nói về do thám hay hóng chuyện thì lại khiến người ta không thể chê vào đâu.

Hóa ra hôm đó thật sự là do trong lúc giảng hòa, một tướng là Trần Ngạc trúng tên chết, sau đó cả hai bắt đầu đánh nhau sứt đầu mẻ trán.

Bởi vì bất đắc dĩ đánh sớm hơn dự định nên Ô Mã Nhi đã gần như ngay lập tức phát hiện ra thuyền chiến của ta ngược sông ra biển, bèn tự mình dẫn một hạm đội gấp rút đuổi theo, một đường dẹp bằng sạch những cứ điểm ở Chương Dương, Hàm Tử và Tây Kết.

Sau đó ông già Nguyễn Khoái cầm quân Thánh Dực đã đứng ra tập hợp lại tàn binh, âm thầm đi theo chiến thuyền của chúng, lại lợi dụng lúc chúng đuổi theo cha tôi mà tung tin đồn nhảm nói rằng ở phía Thanh Hóa có một đạo quân lớn đang mai phục.

Ô Mã Nhi cho người đi thám thính quả nhiên là tin sái cổ, thuyền đã đuổi được nửa đường vội quay đầu trở về, nhân lúc đó Nguyễn Khoái mới lần theo tung tích tìm được đến đây.

Thật ra ý này vốn không phải là của Nguyễn Khoái, bên cạnh ông già có một cậu quân sư trạc mười sáu mười bảy, vừa lúc cùng tuổi với Mạc Đĩnh Chi tên là Trương Hán Siêu.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 101: Không Sợ Kẻ Địch Mạnh Như Hổ


Mạc Đĩnh Chi hiện giờ đang đi theo chú sáu làm quân sư quạt mo mặc dù có vẻ chú ta không cần tới lắm.

Nhưng dù sao hai cái đầu vẫn hơn một cái đầu, vậy là ông chú sáu nhân tiện đưa Mạc Đĩnh Chi đi cùng nam chí bắc, vào sinh ra tử mấy phen, sớm đã tôi luyện thằng nhóc nhút nhát ngày nào trở nên gan dạ bản lĩnh.

Nhưng Trương Hán Siêu lại khác với Mạc Đĩnh Chi ở chỗ, nếu như thằng nhóc Mạc Đĩnh Chi trời sinh xấu xí thì Trương Hán Siêu lại có dáng vẻ thư sinh nho nhã, mặt trắng môi hồng, lại tỏ ra là kẻ có tính tình cương nghị.

Trương Hán Siêu này nghe đâu là học trò giỏi nhất trong phủ của Trần Ích Tắc, thường thay thầy của cậu ta dạy dỗ các môn sinh nhỏ tuổi hơn.

Sau này khi học đường của Trần Ích Tắc vắng vẻ thì cậu ta theo cha tôi làm cố vấn, được cha tôi tin dùng.

Lần này cha tôi cử cậu ta đi chung với Nguyễn Khoái, theo lời của cậu ta là:

"Nguyễn tướng trời sinh dũng mãnh, có tôi chỉ như thêu hoa trên gấm.

Nhưng vì Quốc công tin tưởng sai đi, tôi cũng không thể phụ tấm lòng ngài."

Vào tai tôi chính là Nguyễn Khoái có dũng nhưng ít mưu, chỉ sợ gặp những lúc khó nghĩ lại mắc sai lầm.

Vì thế cha tôi đành rứt ruột giao mưu sĩ của mình cho ông ta, hy vọng sẽ chỉ đưa ra những quyết định sáng suốt.

Nhưng đấy dù sao cũng là do tôi nghĩ.

Nguyễn Khoái sống qua năm mươi năm, lại được tín nhiệm giao cho Thánh Dực quân thì cũng không phải kẻ tầm thường, dù vốn dĩ Thánh Dực quân là đội quân đáng ra nên đi theo Trần Khâm lúc nước sôi lửa bỏng.

Nói về ông già Nguyễn Khoái này thì nổi tiếng nhất là truyền kỳ về việc sức khỏe hơn người, từng dùng tay bẻ sừng trâu.

Nhưng vấn đề không chỉ dừng lại ở đó, lúc khi Ô Mã Nhi bị đoàn thuyền chiến của cha tôi bỏ lại ở Long Hưng, gã đã cho người đập phá Chiêu Lăng của tiên đế.

"Làm sao mà chúng biết?" – Tôi hoảng hốt hỏi.

Trương Hán Siêu căm giận đáp:

"Ô Mã Nhi sai người đi dò hỏi!" – Đoạn, cậu ta lại quay sang bày tỏ quyết tâm với Trần Khâm – "Quan gia yên tâm, những kẻ hèn nhát tiết lộ tôi đã cho người đi thanh trừng rồi.

Nhưng tôi còn nghe thằng khốn Ô Mã thách thức nữa, đúng là phường đầu trộm đuôi cướp."

Nguyên văn của Ô Mã Nhi là câu: "Ngươi chạy lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước".

Tôi nhìn thấy trán Trần Khâm nổi gân xanh, tay nắm thành quyền đập mạnh xuống bàn làm nước trong chén sóng sánh như muốn trào ra bằng hết.

Trần Khâm cho Trương Hán Siêu trở về, lại dặn dò không ai được bép xép cho Thượng hoàng nghe.

Tôi nhìn vẻ mặt anh ta hết phẫn nộ rồi lại lộ ra vẻ chán nản, có lẽ đang cảm thấy bất lực vì bản thân chỉ có thể trốn chạy mà vẫn chưa thể tự tay chém kẻ kia ra làm ngàn mảnh.

Tôi khoác thêm áo cho anh, nhẹ giọng nói:

"Việc gì ban đầu mà không gặp chút gian nan, như bây giờ đã tốt hơn năm đó rất nhiều rồi.

Hiện giờ chúng đang khinh ta nên không tránh khỏi chủ quan, khi địch như thế chúng mới dễ dàng thua cuộc."

Trần Khâm dần bình tĩnh lại, trong mắt giống như xẹt qua một tia quyết tâm.

Trong lúc đóng quân ở Thanh Hóa, Trần Khâm cho binh lính xẻ gỗ làm thuyền.

Thuyền to hai tầng, thuyền nhỏ bọc sắt ở đầu để đâm thủng thuyền địch, thuyền nhẹ, thuyền lửa đều đủ cả, rốt cuộc chỉ trong thời gian ngắn đã tạo nên một hạm đội thuyền hoành tráng.

Trong lúc này ở Thanh Hoá chỉ đón những trận tấn công nhỏ lẻ của địch ở những đồn trại nhỏ nằm rải rác, thực chất những trận đánh này chỉ là những trận nghi binh nhằm đánh lạc hướng chúng mà thôi.

Cho dù quân Thát liên tục thắng nhưng cũng mấy lần vồ hụt, chúng lại lâm vào tình trạng hoang mang, dần nản chí rút trở về.

Đương lúc này truyền về hai tin một tốt một xấu, Trần Khâm hỏi tôi muốn nghe tin nào trước.

Tôi bế con bé Huyền Trân thấy nó liên tục phun bong bóng nước, cái miệng nhỏ chu chu làm xấu bèn đáp:

"Tin xấu trước đi vậy!"

Trần Khâm bật cười.

Nhớ ngày tôi mới gặp lại anh ta sau bao năm dài xa cách, gương mặt của anh trắng trẻo đẹp đẽ, làn da căng bóng hồng hào mang nét trẻ trung, lại giống như vẫn còn vương chút trẻ con nơi đầu mày cuối mắt.

Ngày còn nhỏ Trần Khâm đẹp như tạc tượng, đứng cạnh anh ta giống như tắm trong cái nắng tháng ba, cả người lúc nào cũng toả ra thứ ánh sáng chói mắt làm tôi ít khi dám nhìn thẳng.

Thằng bé Quốc Chẩn ngày nay tuy giống nhưng nói thật lòng thì không bằng.

Hiện tại tuổi cũng lớn rồi, chút trẻ con khi ấy bay biến.

Gương mặt anh trở nên sắc cạnh, khi cười cũng hằn lên một đường rãnh nam tính, lại trông phong độ và cuốn hút theo một cách riêng.

"Tin xấu là kinh thành đã thất thủ, chú sáu thì rút về phía Bắc, chú ba cũng rút khỏi thành."

Đúng là đoán không sai, Trần Nhật Duật đã sớm bại trận, còn chuyện mất thành là chuyện không chóng thì chày.

Dù sao trong thành là thế cô lập, dễ thủ nhưng khó công, thủ không tốt còn dễ rơi vào hiểm cảnh.

Đương lúc mèo vờn chuột như lúc này, không loại trừ việc cha tôi có ý định câu kéo thời gian cho đến khi bọn chúng lại rơi vào tình cảnh khốn đốn như lần trước.

Hiện tại đã là tháng hai, nắng đã gắt hơn rất nhiều.

Trông vẻ mặt nhăn mày nhó của anh ta, tôi bất chợt nhếch môi:

"Thở dài cái gì, không phải ý của chàng là cho chú sáu phân tán ra để chặn đường liên lạc của chúng về Nguyên hay sao?

Còn chú ba ra khỏi thành, ngày đêm có lúc nào để cho Thoát Hoan yên ổn.

Vừa bị cô lập trong thành không liên lạc được về nước lại vừa bị quấy rối ngày đêm, Thoát Hoan không khéo lại phát điên mất."

Trần Khâm hứng thú nhìn tôi:

"Xem ra em đi theo tôi bao lâu cũng không uổng!"

Tôi dùng tay xoa nắn hai bên má của anh ta, mím môi:

"Đừng có mà tự mãn!

Còn tin tốt thì sao?"

Nét mặt Trần Khâm lúc này càng thêm phấn khích:

"Nhân Huệ vương và Hoài Văn quân lập công rồi!"

Hoá ra lần đó Trần Khánh Dư xin được ở lại Vân Đồn vì đoán được thuyền lương của địch vẫn còn theo phía sau, bèn không rút quân mà nằm ì ở đó chờ qua ngày đoạn tháng.

Quả nhiên lúc đoàn thuyền lương của chúng nặng nề đi ngang, thuỷ quân của Nhân Huệ Vương ngay lập tức chặn đánh cho trở tay không kịp, địch chết đuối rất nhiều.

Chúng chạy trối chết vào bờ lại gặp phải tập kích ác liệt hơn, rốt cuộc phải ném phần lớn lương thực xuống biển cho thuyền nhẹ lại, đào thoát ngược ra biển chẳng rõ sống chết.

Thật ra căn nguyên là Ô Mã Nhi được giao quân thủy mở đường cho đoàn thuyền lương theo sau.

Nhưng sau khi đánh lui được quân ta, có lẽ Ô Mã Nhi cho rằng quân ta thế yếu không đáng lo, bèn tiến sâu vào trong để hội binh với Thoát Hoan và dốc lòng truy đuổi Trần Khâm và hoàng thất.

Nhưng xui xẻo là gã không đoán được hành động của kẻ âm hiểm Khánh Dư, anh ta lại không sợ chạy mà lì lợm ở lại đợi bắt miếng mồi ngon phía sau, đó mới là thứ thật sự mà Trần Khánh Dư thèm thuồng.

Trần Khánh Dư chơi chiêu này quá độc, mà Ô Mã Nhi lại quá ngu ngốc, tôi tự hỏi cái gã đó không phải làm gà mái mẹ đi trước để bảo vệ gà con hay sao?

Rốt cuộc gà mẹ lại quá mải mê kiếm mồi, đàn con lại từng con từng con bị diều hâu tha đi mất.

Nếu tôi mà là người chỉ huy đoàn thuyền lương đó, ắt hẳn sẽ chỉ tay vào mặt họ Ô kia mà mắng rằng:

"Anh có trái tim không, đầu óc của anh là để cho có thôi í hả?

Không có cơm của tôi thì binh lính của anh sống thế nào, không có cỏ của tôi thì ngựa của anh ăn lá cây để chạy chắc?

Tôi mặc kệ, anh cứ chờ mà chết đói đi."

Sau đó mặc kệ sống chết của gã kia.

Các cụ có câu, không sợ đối thủ mạnh như hổ, chỉ sợ đồng đội ngu như bò.

Đích xác là chỉ họ Ô.

Nhưng đó là trong trường hợp đoàn thuyền lương có thể chống chọi được với bão lũ vùng biển Đông, thẳng một đường trở về phương Bắc chứ không xui xẻo bị lạc trên biển.

Trần Khâm nói xong, lại tiếp tục bình phẩm:

"Càng thiếu lương càng túng quẫn, càng dễ đưa ra quyết định sai lầm, quân binh ra trận cũng không thể ôm cái bụng đói đi đánh nhau.

Thượng hoàng nguôi giận rồi, không trách phạt anh ta nữa."

Đúng là tất cả thất bại từ trước tới nay gộp lại cũng không thể làm vơi đi niềm vui của trận đánh này.

Việc bị mất quân lương đối với Thoát Hoan giống như trời đang khô hạn còn ném tới một mồi lửa.

Thấy tôi trầm ngâm không đáp, Trần Khâm lại nảy ra ý trêu chọc, cười hỏi tôi:

"Em nói xem, nếu như tôi cố ý để lộ tin tức này cho Thoát Hoan thì sẽ thế nào?"

Tôi ngẫm nghĩ, bèn đáp:

"Có lẽ anh ta sẽ không tin đâu."

"Ồ, vậy sao?"

Trần Khâm bâng quơ đáp, lại chống cằm ngồi mông lung nhìn vào khoảng không, ánh đèn dầu lay lắt nhảy múa trên gương mặt đầy những nét mỏi mệt.

Mấy ngày hôm nay thường bận đến đầu tắt mặt tối, mãi cho tới khi truyền về tin chiến thắng mới khiến Trần Khâm thả lỏng mà tâm sự vài câu với tôi, thuận tiện gọi mấy đứa nhóc kiểm tra một lượt.

May mắn là bọn chúng tuy không có điều kiện học hành đàng hoàng như trước nhưng vẫn không quên ôn luyện, Trần Khâm rất hài lòng, còn người thầy bất đắc dĩ là Trương Hán Siêu cũng vô tình nhận được vài câu khen ngợi.

Lúc này nhóc Huyền Trân cũng ngủ khì khì trong lòng tôi, con bé này ít khóc hơn hẳn Quốc Chẩn ngày bé.

Tôi đặt nó xuống chiếu, nhẹ nhàng xoa bóp bả vai của Trần Khâm, cất giọng mềm mại giống như rót mật:

"Nếu là quan gia, cho dù tin hay không thì chàng cũng sẽ cho người kiểm chứng đúng chứ?"

Trần Khâm ngẩn ra một lát rồi bật cười, bỗng nhiên kéo tôi ngồi lên đùi mình, lại lấy tay nhéo chóp mũi của tôi nhỏ giọng mắng yêu:

"Em thật ranh ma!"

"Thanh Phúc quá khen, các cụ luôn nói nồi nào thì úp vung nấy!"

Trần Khâm lại càng cười lớn, suýt chút thì làm nhóc con đang ngủ giật mình.

Tôi lườm anh ta, anh ta lại còn kéo tôi vào lòng hôn lên mặt tôi mấy cái.

Tôi nhìn cánh tay trái của anh vẫn còn quấn một lớp băng trắng nhưng lại ôm tôi chặt chẽ có lực, gần như sát sao không một kẻ hở thì chợt thấy ấm áp trong lòng.

Lúc này tôi bỗng nhiên cảm thấy mình giống Tô Đát Kỷ, con yêu tinh lúc ở bên Trụ Vương thì bày mưu tính kế hãm hại tình cũ của mình.

Tôi múc một bát cháo hạt kê để lên án, chốc chốc lại giục Trần Khâm ăn, ăn xong thì như mẹ hiền giục anh ta đi ngủ, mấy hôm nay chưa ngày nào kẻ mang số khổ này có được một giấc ngủ đàng hoàng.

Gió cuối xuân thổi mơn man qua cửa sổ, phớt trên gò má tôi hồng hồng.

Từ khi sinh Huyền Trân, cả người tôi dường như lại phổng phao hơn lúc trước, nước da thêm vẻ trắng ngần khiến Trần Khâm càng si mê.

Tôi cảm thấy vẻ đẹp trí tuệ mới là thứ có thể trường tồn, nhưng đa phần con người ta thường không xem trọng đến.

Trần Khâm bỗng nhiên chăm chú nhìn tôi, nắm lấy bàn tay tôi xoa xoa, lại khẽ mỉm cười nói:

"Cảm ơn em!"

Không khí yên ắng dịu nhẹ, chỉ nghe tiếng tí tách của ngọn lửa cháy trên tim đèn, tuy mang chút tịch mịch nhưng lại rất tự nhiên.

Tôi cũng chẳng biết anh ta cảm ơn mình vì cái gì, nhưng được một vị quan gia mang ơn cảm giác thật ra cũng không tệ.

Dù vậy, trên miệng tôi lại học theo Trần Khâm mà bảo:

"Vợ chồng không cần phải nói cảm ơn."

"Ồ, em cũng biết điều đó nữa ư?" – Anh ta làm bộ không tin hỏi.

Tôi đáp:

"Dốt đến đâu học lâu cũng biết."
 
Back
Top Bottom