Cập nhật mới

Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 62: Hoài Văn Quân


Rạng sáng hôm sau tôi và Trần Quốc Toản cùng chuẩn bị lên đường, đêm qua tôi gần như không ngủ được vì hồi hộp lẫn háo hức.

Tôi tưởng như mình đang mơ như bao lần khác vì có thể tự mình ra chiến trường giết địch, mà có lẽ Trần Quốc Toản cũng thế.

Tôi mặc giáp Minh Quang đứng trên mũi thuyền nhìn lá cờ thêu sáu chữ vàng của Trần Quốc Toản bay phấp phới trong nắng sớm, Trần Khâm mặc triều phục tiễn tôi, phía xa là Quốc Chẩn được chị Trinh bế trên tay và An Tư cũng đang sục sùi.

Tất cả đều thu vào tầm mắt tôi, rực rỡ như giang sơn Đại Việt.

Trần Quốc Toản tuy còn trẻ tuổi nhưng trông đầy vẻ kiêu hãnh, cậu ta đã cao hơn tôi một cái đầu.

Chúng tôi xuất phát từ sông Đuống, vượt sông thì sẽ chia ra hai đường thủy bộ.

Trước đây Thoát Hoan tập kích phủ Vạn Kiếp hẳn còn để lại tàn dư, tuy chúng chỉ là một lực lượng nhỏ nhưng vô cùng tinh nhuệ, ngày trước nếu không nhờ Quốc Tảng phát hiện thì chỉ e là để lại hậu quả khó lường.

Mặc dù lần này Thoát Hoan không trực tiếp chỉ huy nhưng khi cha tôi rút lui về căn cứ Vạn Kiếp, mọi thứ phải thật sạch sẽ không thể có sai sót.

Huống hồ đằng sau còn có đội thủy binh sắp tới của Trần Khâm.

Tôi nhìn thằng oắt mới tí tuổi mà đã tỏ ra kiêu ngạo, cảm thấy những kẻ kiêu ngạo một là thùng rỗng kêu to, hai là kẻ tài năng vượt bậc.

Chẳng biết Trần Quốc Toản này thuộc loại nào.

Tôi khoanh tay đứng tựa mạn thuyền, nói:

"Cảm ơn chú, nếu không có đội quân của chú chắc quan gia sẽ không cho tôi đi đâu."

Trần Quốc Toản cũng đưa mắt nhìn tôi, khẽ cúi người:

"Tôi mới phải cảm ơn chị, bởi quan gia cũng không có ý định cho tôi đi.

Tôi còn định chém trước tâu sau nữa."

"Vậy tôi và chú kẻ thiếu danh người thiếu lực trùng hợp bổ sung cho nhau!"

Trần Quốc Toản phất tay:

"Trùng hợp!"

Bóng dáng Trần Quốc Toản khuất sau khoang thuyền, tôi cũng muốn xem thử cậu trai trẻ này lấy gì để tự mãn như thế.

Tôi lần theo trí nhớ tìm tới hang ổ của Thoát Hoan khi trước, dù có nhiều khả năng là anh ta đã di dời đi nơi khác rồi, nhưng tôi nghĩ ít nhiều vẫn có tai mắt khắp mọi nơi.

Lần này tôi chỉ có năm trăm người, tôi biết nếu chỉ bao nhiêu người thì e không thể dụ được rắn ra khỏi hang bèn dùng muôi gỗ cột trên thân ngựa giả tiếng ngựa phi, ban ngày lại đi trong hẻm núi để âm thanh dội vào nhau tạo ra thứ tiếng như hàng vạn móng ngựa đạp lên sỏi đá, sau đấy lại lẩn vào rừng.

Quả nhiên tối đó đám tay chân của Thoát Hoan đã lộ diện, nhưng đáng tiếc chúng tôi đều đã leo lên ngọn cây, vừa nghe tiếng động liền lập tức xả mưa tên xuống những đống lửa đã đốt từ trước.

Rạng sáng quả nhiên thấy xác người la liệt dưới tán cây.

Tôi chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ ra tay tàn nhẫn như vậy.

Trong suốt quãng đường từ kinh thành đến sông Lục Đầu, chỉ dùng cách đó mà giết được gần hai nghìn tên, trong khi năm trăm gia nô của Trần Quốc Toản vẫn không chút tổn hại.

Những kẻ ban đầu không cam tâm tình nguyện theo tôi hiện đều đã tin nghe răm rắp.

Tôi thiết nghĩ quả nhiên Thoát Hoan cây cao bóng cả, vậy mà gốc rễ lại ăn sâu như thế, nếu như bọn chúng kết hợp bất ngờ với nhau thì chỉ sợ cha tôi sẽ khó lòng mà chống đỡ.

Lần này nếu anh ta không biết nội tặc trấn giữ ở đây bị tôi dẹp sạch, nói không chừng còn đưa ra phương án sai.

Tôi và quân binh chờ đợi đội thuyền chiến của Trần Quốc Toản ở bến sông nhưng suốt nửa canh giờ vẫn không thấy, nếu tính tốc độ của thuyền chiến và đội quân vừa đi vừa đánh như chúng tôi thì hẳn thằng nhóc ấy đã đến trước từ lâu rồi.

Tôi ngồi tựa vào gốc đa, nghi hoặc hỏi một thân tín của cậu ta tên là Tô Thức:

"Có khi nào chủ của anh đã đi trước tranh công rồi không?"

Người đó vội chắp tay cung kính, cúi đầu nói:

"Chắc chắn là không đâu, cậu tôi không phải người như vậy!"

Tôi thấy anh ta khẳng định chắc nịch như thế, trong lòng đã có quyết định, lập tức đứng dậy leo lên lưng ngựa:

"Nói vậy là tôi đã suy bụng ta ra bụng người.

Hãy mau quay ngược hướng con sông, chỉ e chủ của các anh đã gặp rắc rối!"

Chúng tôi dọc bờ sông Đuống quay ngược trở lại, đi được một quãng đường dài đã thấy lấp ló thuyền chiến của Trần Quốc Toản co cụm lại ở bờ sông.

Ngựa tôi xông về phía trước bỗng nghe tiếng Trần Quốc Toản:

"Mau dừng lại, có mai phục!"

Tôi còn chưa thấy mai phục thì đã có vài mũi tên từ trong bờ bay về phía Trần Quốc Toản, tôi cũng hoảng hồn dùng hết sức bình sinh thét lên với cậu ta:

"Đồ ngốc mau trở vào khoang thuyền!"

Nhưng đã muộn, có một mũi tên đã xước qua cánh tay trái của cậu ta.

Tôi phóng ngựa đến đó thì thấy lác đác chừng vài chục người mai phục bên bờ sông, nhưng chỉ vài chục người cũng không đáng để Trần Quốc Toản chùng bước.

Rất nhanh tôi đã tìm được nguyên do, hóa ra những kẻ đó dùng người rơm mặc đồ đen lấp ló trong các bụi cây ven sông để đánh lừa Trần Quốc Toản, có lẽ cậu ta nhìn thấy quân địch đông quá nên không dám tiến lên trên.

Biết được nguyên cớ, chẳng biết thằng nhãi này sẽ có biểu hiện gì.

Đội quân của tôi thành công áp chế được đám người áo đen và trói gô chúng lại.

Tôi bước xuống bờ sông, hét lớn:

"Mau cho thuyền vào bờ, tôi bắt được hết bọn tôm tép này rồi!"

Mãi một lúc sau khi thấy lá cờ thêu sáu chữ vàng tung bay, thuyền của Trần Quốc Toản mới có phản ứng, vội nối tiếp nhau trở lại bờ.

Tôi thấy cậu ta chui ra khỏi khoang thuyền thì bật cười nói:

"Chỉ vài tên tép riu không ngờ lại làm khó được Hoài Văn Hầu tiếng tăm lừng lẫy đấy!"

Trần Quốc Toản lẩm bẩm:

"Sao có thể?"

Tôi không nhiều lời với cậu ta bèn châm lửa đốt hết những hình nộm kia, lúc này Trần Quốc Toản mới ngớ ra, biết bản thân bị lừa.

"Thừ người ra làm gì, trên bộ tôi đã xử lý xong, mau để tôi lên thuyền về Vạn Kiếp."

Trần Quốc Toản đúng là có chút không cam lòng, tôi nhìn cậu ta làm mặt lạnh với tôi, châm chọc nói:

"Với cái tính này của chú đừng nói tới chạm trán quân địch, chỉ sợ chưa được ra giao chiến thì đã bị người ta tính hết đường đi nước bước rồi.

Kẻ cầm quân phải giữ cái đầu lạnh, đừng động một chút là biểu lộ hết cảm xúc ra."

Tôi thấy Trần Quốc Toản đỏ mặt, nghĩ mình chắc nói hơi quá.

Ai ngờ cậu ta lại cúi đầu với tôi, ấp úng nói:

"Cảm ơn chị!"

Đúng là trẻ nhỏ dễ dạy!

Chia tay với Trần Quốc Toản ở bến sông, tôi lại tiếp tục vượt rừng lên núi Phả Lại hội quân với cha, thầm nghĩ lúc này có lẽ viện binh của Trần Khâm đã lên đường, chỉ cần cầm chân được Thoát Hoan, đợi viện binh đến là có thể hợp lực chống lại được đợt địch càn quét ồ ạt.

Năm trăm gia nô của Trần Quốc Toản ngỏ ý muốn cùng tôi vào sinh ra tử.

Tôi nhìn Trần Quốc Toản, thấy thằng nhóc ấy gật đầu mới trở mình lên ngựa.

Đúng là có phong thái của kẻ giàu sang, vung tay một cái là tặng không một nửa binh mã.

Nếu đã như vậy, tôi liền lớn giọng nói:

"Nếu như các anh đã bằng lòng theo tôi thì chúng ta sống chết có nhau.

Chúng ta lấy Hoài Văn hầu làm tên, từ nay gọi là Hoài Văn quân nhé!"

Trần Quốc Toản nhìn tôi, mắt long lên ánh nước, chắc cậu ta xúc động lắm.

Tôi vỗ vai Trần Quốc Toản, nói:

"Cố lên, Quan gia và Thượng hoàng rất mong gặp lại một Quốc Toản trưởng thành!"

Nói xong, tôi cùng Hoài Văn quân thúc ngựa rời khỏi.

Trần Quốc Toản sẽ ở đây đợi họp mặt với Trần Khâm, chỉ hy vọng cậu ta bình an tới lúc đó.

Ngựa tôi phóng sâu vào đường rừng, ngoảnh lại vẫn thấy Trần Quốc Toản mặc giáp Minh Quang đứng đó, trên đầu là lá cờ thêu sáu chữ vàng tung bay.

Nửa ngày băng rừng, đến lúc áp sát được doanh trại của cha tôi thì trời đã tối mịt.

Tôi cho binh lính xuống ngựa nghỉ ngơi còn mình thì một mình tiến vào doanh trại.

Ai ngờ kẻ gác trại vừa thấy tôi đã kề dao lên cổ, Hoài Văn quân ở phía xa lập tức tuốt gươm sẵn sàng xông vào.

Tôi ra dấu cho họ dừng lại, còn mình thì vẫn bình tĩnh nói:

"Hãy vào báo với Quốc công, có Tuyên phu nhân đưa quân tiên phong đến!"

Kẻ đó nghe tôi nói thì bật cười:

"Tuyên phu nhân đương ở kinh thành, có lý nào lại lẩn khuất nơi rừng núi.

Rõ ràng là nội gian!

Để tôi đem giao cho Phạm gia tướng lãnh thưởng."

Trong lòng tôi nghĩ thầm, Phạm gia tướng mà anh ta nói chính là Phạm Ngũ Lão chăng, nếu vậy cũng được.

Nhưng tôi chưa kịp mở cờ trong bụng thì anh ta lại nói:

"Không cần phiền phức vậy đâu, trực tiếp chém đầu đem đi được rồi!"

Tôi tức giận quát:

"Hãy mau gọi cấp trên của anh ra đây, bất cứ ai cũng đều có thể nhận ra tôi!"

Viên lính kia cũng không để vào tai lời tôi nói, cười ha hả đáp:

"Cấp trên của tôi chứ không phải hàng tôm tép ngoài chợ mà muốn gặp là gặp!"

Tôi không dây dưa với anh ta, nhanh như chớp tránh khỏi thanh kiếm đặt ngay cổ, quân lính trong doanh liền ào ào xông ra dàn thành vòng vây lấy tôi.

Thật là đau đầu, tôi chỉ e khi mình trở thành bại tướng của quân Nguyên, còn chưa bị bọn chúng giết chết, bỏ chạy về quân ta đã bị hiểu lầm là gian tế.

Thật là một tên không hiểu lý lẽ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 63: Trống Trận Vang, Tập Hợp


Hoài Văn quân nấp sau tôi lúc này đều nhất tề xông lên, chưa kịp bảo dừng thì hai bên đã nổ ra ác chiến.

Đánh một hồi quả nhiên đã có vài kẻ nắm giữ quyền hành ra mặt, trong số đó có một cô gái mặc giáp.

Tôi vừa trông thấy bóng dáng quen thuộc vội kêu lên:

"Chị Anh Nguyên, là em đây!"

Chị Anh Nguyên nghe tiếng tôi thì ngay lập tức hô tất cả dừng lại, tuốt gươm xông vào cuộc hỗn chiến.

Tôi thở phào một hơi, cũng may là không có thương tổn gì nghiêm trọng.

Chị Anh Nguyên tức giận lên tiếng hỏi:

"Là kẻ nào có mắt như mù?"

Quân lính tự dàn ra hai bên, chừa lại kẻ ban nãy làm khó tôi đang lúng túng cúi thấp người.

Chị Anh Nguyên hỏi lại một lần nữa, thấy anh ta gật đầu xác nhận mới dõng dạc nói:

"Kẻ này mạo phạm bề trên, đem đi xử theo quân pháp!"

Tôi cản chị Anh Nguyên, lắc đầu nói với chị:

"Hay là thôi đi, tình hình hiện nay đúng là không thể lơi lỏng được, em dẫn quân đến đây giờ này cũng không trách được anh ta."

Chị Anh Nguyên chau mày nhìn tôi, thắc mắc hỏi:

"Đội quân này là thế nào, sao bọn chị không nghe tin tức gì thế?"

Tôi nhỏ giọng thì thào vào tai chị:

"Quan gia tự mình dẫn quân đến tiếp viện, em sợ trên đường có mai phục nên đã xin đi do thám trước.

Đây là Hoài Văn quân của Trần Quốc Toản, hai chúng em mỗi người một nửa chia ra hai đường thủy bộ đến đây."

"Ồ, thằng oắt con keo kiệt Quốc Toản lại hào phóng thế à?

Còn tên Thanh Phúc đó nỡ để em đi tiên phong hay sao?"

Tôi lấy tay che miệng chị ta lại, ngó nghiêng xung quanh rồi nói:

"Ở đây tai vách mạch dừng, chị dám gọi quan gia tùy tiện vậy hả?"

Chị Anh Nguyên gãi đầu, lại sắp xếp ổn thỏa cho Hoài Văn Quân rồi cho mọi người giải tán, sau đấy thì đưa tôi đến doanh trướng của cha.

Dọc đường đi, tôi thắc mắc hỏi chị:

"Bình thường ở đây canh gác cẩn mật đến vậy sao, muốn một thân một mình vào trong thưa chuyện cũng không được?

Vậy nếu có người của ta ở nơi khác đến đều sẽ bị coi là nội gián hay sao?"

Chị Anh Nguyên ngẫm nghĩ, đáp lời tôi:

"Bình thường lính gác cũng không đến nỗi cực đoan như thế.

Nhưng bên phía quân Thát có một ả nữ tướng đầy mưu kế, bọn ta đánh nhau đã lâu còn chưa gặp được một sợi tóc của Thoát Hoan.

Ngày trước ở Nội Bàng nhất cử nhất động của ta đều bị ả nhìn thấu, tuy nói lực lượng của ta ở Nội Bàng khá mỏng nhưng cũng không thể phủ nhận năng lực của ả ta."

Chị lại thở dài:

"Lần đó mặc dù cha đã cho lui binh nhưng vẫn có một tướng là Đoàn Thai cố chấp dẫn binh lính dưới trướng mình định lợi dụng rừng cây để mai phục, không ngờ lại bị ả đó đoán trúng.

Vì tiếp ứng cho đội quân đó, suýt nữa cha đã không kịp rút binh."

Tôi giật mình hỏi:

"Vậy sau đó thì sao, cha vẫn bình an chứ ạ?"

Chị Anh Nguyên đáp:

"May có Phạm Hữu Thế.

Thủy quân của ta đã tan cả, vốn dĩ cha định rút quân theo đường núi nhưng một gia tướng khác của cha là Dã Tượng lại khẳng định chắc nịch rằng Phạm Hữu Thế không thấy cha nhất định sẽ không dời thuyền.

Đến Bãi Tân quả nhiên thấy anh ta vẫn một mình đứng đó."

Tôi trầm ngâm:

"Hình như em đã từng gặp cái bóng của anh ta dưới nước!" – Tôi chợt nhớ ra, bèn hỏi chị Anh Nguyên – "Ban nãy nghe binh sĩ đó nhắc về Phạm gia tướng, chắc là Phạm Hữu Thế nhỉ?"

Chị Anh Nguyên gật đầu, tôi lại tiếp tục hỏi:

"Vậy còn Ngũ Lão?"

"Anh Ngũ Lão của em đã làm tướng quân rồi."

Nhìn chị Anh Nguyên đỏ mặt, trong lòng tôi cười trộm.

Nếu Phạm Ngũ Lão tận dụng được cơ hội lần này, chắc chắn tương lai là biển rộng trời cao.

Tôi mừng mừng tủi tủi gặp lại cha, chỉ cần nhìn qua bộ giáp dính đầy máu khô trên người tôi là cha có thể đoán được tôi đã trải qua những gì trên đường.

Cha không ngừng vỗ vai tôi, xúc động nói:

"Từ lúc con còn nhỏ cha đã biết sẽ có ngày này.

Con của cha không làm cha thất vọng!"

Mắt tôi cũng long lên ánh nước, được sát cánh cùng cha trên chiến trận tôi còn mong mỏi nào hơn.

Theo lời cha, tôi được biết mẹ và nữ quyến trong nhà đã chia nhau ra sơ tán dân chúng ở Vạn Kiếp, hiện giờ chắc đang trên đường vào kinh hội họp.

Mẹ tôi cũng ở phía sau dẫn đầu thực hiện công tác ở hậu phương.

Tối đó tôi nằm trằn trọc trong quân doanh mãi không ngủ được, chẳng biết Trần Khâm hiện tại đang làm gì, vẫn đang hội bàn việc quân hay đã đi nghỉ.

Chỉ mới vài ngày không gặp đã cảm thấy nhớ nhung, chẳng biết chinh chiến trường kỳ sẽ còn bao nhiêu khao khát.

Các anh tôi đang tập hợp quân binh từ các trang ấp lân cận miệt mài trở về, cộng thêm lực lượng tàn binh thua trận cũng hội tụ về Vạn Kiếp.

Buổi sớm tôi và chị Anh Nguyên đứng trên đồi cao, nhìn quân binh từng toán lũ lượt kéo về doanh trại.

Kẻ hăng hái người mệt mỏi, kẻ lành lặn người bị thương đều đủ cả, tôi biết đã có không ít người đã da ngựa bọc thây.

Đúng là lúc này nếu như Trần Khâm không đưa thêm viện binh tới chỉ sợ lòng quân rệu rã, cho dù ban đầu họ có quyết tâm đến nhường nào.

Từ phía xa xa có một đoàn quân ùn ùn kéo đến, nối đuôi nhau dài tới chân trời, lá cờ vàng thêu chữ Trần tung bay trong gió.

Gần như ngay lập tức, tôi phóng lên ngựa phi như bay về đại doanh, bỏ đằng sau tiếng chị Anh Nguyên bảo tôi đợi.

Tôi không màng tất cả, ngay lúc này tôi chỉ mong được thấy gương mặt quen thuộc đã khắc sâu vào trong trí nhớ kia, dù tôi biết có lẽ gương mặt ấy sẽ tiều tụy đi nhiều.

Đội quân của anh Quốc Hiện cũng đến cùng lúc.

Tôi nhảy xuống ngựa chạy đến bên cha, thấy chủ tướng của viện quân triều đình ấy vậy mà lại là một chàng trai trẻ tuổi có gương mặt xa lạ.

Tôi có đôi chút thất vọng, có lẽ Trần Khâm đã đóng quân ở bến Bình Than rồi.

Chị Anh Nguyên đến bên cạnh nói nhỏ vào tai tôi:

"Đây là Trần Bình Trọng, đối thủ của anh tư đấy!"

Lúc này tôi mới để ý ánh mắt Quốc Hiện nhìn Bình Trọng đúng là có vẻ đố kỵ thoáng qua.

Sực nhớ ra người này ngày xưa là kẻ đánh cờ không bao giờ qua nổi anh tư, nhưng Trần Thì Kiến tiên đoán một phát anh ta liền thắng.

Khi ấy còn nghĩ Trần Thì Kiến là một kẻ miệng quạ, nhưng giờ nhìn thấy phong thái quân tử đĩnh đạc của người này, lại trong một thời gian không dài trở thành tướng lĩnh nắm viện binh do Trần Khâm phái đến, thiết nghĩ anh ta cũng không phải hạng tôm tép tầm thường.

Trần Bình Trọng xuống ngựa hành lễ với cha tôi, cùng lúc này Quốc Nghiễn, Quốc Uất và Quốc Tảng cũng lần lượt đưa quân trở lại.

Anh hai Quốc Uất bỏ qua màn chào hỏi, nghi hoặc nhìn Trần Bình Trọng, lại hấp tấp chạy đến bên cạnh chị Anh Nguyên nhỏ giọng hỏi:

"Này, cô ả kia sẽ không đến chứ?"

Chị Anh Nguyên chau mày suy nghĩ một lát thì như hiểu ra, tủm tỉm cười bảo:

"Anh đoán xem?"

Tôi bật cười, kề vai anh ta nói:

"Quan gia có lẽ đang đóng quân ở Bình Than, mà với tình hình hiện giờ ngày hợp quân cũng không còn xa nữa, anh biết thái sư cũng nắm giữ một lượng lớn binh quyền mà."

Quốc Uất lúc này đúng là khóc không ra nước mắt, tôi như thấy được một tòa thành sụp đổ trước mặt anh.

Tôi vô tình đưa mắt nhìn Quốc Tảng, thấy anh đứng khoanh tay nhìn mấy người bọn tôi cười cười, trên tay đeo một đôi bọc cổ tay màu trắng.

Tôi híp mắt cười với Quốc Tảng rồi chỉ vào cổ tay mình, anh ta có vẻ hiểu ra liền đỏ mặt giả vờ ho khan quay sang chỗ khác.

Có lẽ trong lòng Quốc Tảng cũng không còn chấp niệm nữa, tôi thấy mừng cho anh.

Quân số hiện giờ đã hơn hai mươi vạn, hai mươi vạn tuy không ít nhưng đối với quân Thát thì không nhiều.

Nhất là trong những ngày bọn chúng im hơi lặng tiếng, ắt hẳn là đã tính toán kỹ lưỡng.

Chúng tôi tập hợp binh lực, bọn chúng chắc cũng chẳng khác hơn.

Nhưng chúng tôi vốn không hề nao núng, ngay từ đầu mục tiêu mà cha tôi đưa ra là lấy ít địch nhiều.

Đại Việt là một nơi có địa hình sông núi phức tạp chứ không phải là thảo nguyên rộng lớn như ở Mông Cổ, kỵ binh không thể hoành hành ngang dọc như ở nơi chúng sinh ra.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 64: Tại Núi Phả Lại


Cha tôi đứng trước tấm bản đồ núi Phả Lại, tính toán một lát rồi bình thản nói:

"Trận này đánh chủ yếu thăm dò thực lực chúng, ta muốn dựa vào địa thế vùng này triệt tiêu một phần binh lực và sĩ khí của địch, nếu thấy không ổn lập tức lui về Bình Than họp binh với quan gia lui về kinh thành."

Trần Bình Trọng chắp tay:

"Lần này quan gia đích thân ra trận, sợ là quân Nguyên như hổ đói rình mồi sớm đã dò la được chỗ đóng quân.

Nếu như bọn chúng cùng lúc tấn công từ hai hướng, mạc tướng e trở tay không kịp."

Tôi bèn trấn an Trần Bình Trọng:

"Quân Thát chủ yếu là kỵ binh, quan gia nắm giữ thủy binh, bọn chúng muốn vượt sông cũng không phải một sớm một chiều, cho dù có đóng thuyền cũng không đáng lo ngại.

Như Quốc công đã nói phần lớn chúng sẽ tập trung đổ bộ về Vạn Kiếp, chúng ta cứ vừa đánh vừa lui.

Càng kéo dài chúng sẽ càng gấp rút, ta càng có lợi."

Phạm Hữu Thế gật đầu:

"Về việc này tướng quân cứ yên tâm, đội thủy binh do chính tay tôi thao luyện đều là những thợ lặn cừ khôi, từ sớm đã đến Bình Than giúp sức cho quan gia."

Phạm Ngũ Lão nói:

"Hốt Tất Liệt muốn đánh nhanh thắng nhanh chắc chắn là e sợ thủy thổ Đại Việt không hợp với quân Mông Cổ.

Quân lương có hạn, bọn chúng không thể vận chuyển liên tục từ phương Bắc sang đây, lương thực hoa màu thì chúng ta đã đốt hết cả."

"Vậy nên đánh thế nào?" – Chị Anh Nguyên hỏi.

Quốc Tảng tiếp lời:

"Núi Phả Lại hiểm yếu chắn giữa hai quân, bọn chúng muốn ồ ạt xông lên chắc chắn sẽ không thể cùng lúc triển khai sức mạnh cả một đội.

Ta cứ nấp trong rừng đánh du kích, cho đội tượng binh dùng đất đá từ triền núi ném xuống, lên bao nhiêu diệt bấy nhiêu."

Mọi người đồng lòng như một, tất cả đều nín thở chờ đợi một cuộc tập kích có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Sau đó tôi vừa chợp mắt một chút thì đã nghe tiếng cấp báo dồn dập, địch đã ồ ạt tiến lên chỉ cách vị trí đóng quân của ta mười dặm về hướng bắc.

Tôi phóng lên ngựa cùng Hoài Văn quân đứng trên đồi cao nhìn xuống, chỉ thấy phía xa xa bụi giăng mù mịt đầy trời, đoàn kỵ binh như một cơn bão cuồn cuộn kéo đến núi Phả Lại.

Tiếng trống trận vang rền dội vào núi, tiếng ngựa hí vang trời, và dù tôi đã tưởng tượng trăm ngàn lần trong đầu cảnh tượng này nhưng sự hùng tráng của nó vẫn làm tôi ngạt thở.

Đội tượng binh đã vào vị trí, ngay khi quân Nguyên vừa chạm tới ranh giới thì ngay lập tức những tảng đá và gốc cây khổng lồ đã không ngừng lăn xuống từ triền.

Xung quanh là rừng già nên bọn chúng không thể nào cùng lúc chen chân vào chém giết, những kẻ xông lên trước tiên đều bị đá cùng với cây gỗ lớn đè nát cả người lẫn ngựa, còn những tên đánh vào bên hông núi thì bị quân ta từ mọi ngóc ngách lao ra phủ đầu.

Tuy quân Thát hết lớp này lớp khác lao lên nhưng cả hai bên vẫn chưa có ai chiếm ưu thế.

Tôi nhìn chiến trường đẫm máu tươi, kẻ bị voi giày ngựa xéo kẻ bị chém đầu lìa khỏi cổ, kẻ lại bị thương cụt cả tay chân mới chân thực thấy cảnh giết chóc dã man như thế nào.

Mùi máu tanh tưởi xộc lên mũi tôi nghẹn nơi cổ họng, trước mắt tôi nhòa đi bởi máu trộn lẫn với mồ hôi, muốn nôn nhưng không thể nôn được.

Tôi quan sát xung quanh, tuy quân ta cũng có kẻ nằm xuống nhưng dường như Hoài Văn Quân vẫn sừng sững như những gốc cổ thụ, tôi chém lấy đầu một gã, giơ cao thanh kiếm lên hô vang:

"Giết giặc Thát, báo ơn vua!"

Dường như tất cả lại được tiếp thêm sức mạnh, lại điên cuồng chém giết.

Bên tai tôi sượt qua tiếng xé gió, Quốc Tảng ở phía sau kéo tôi tránh khỏi đường gươm.

Chưa kịp cảm ơn thì đằng trước đã vang lên tiếng cười như chuông bạc:

"Gặp lại nhau sớm quá nhỉ!"

Đó chẳng ai khác chính là công chúa Trà Luân.

Cô ta mặc bộ chiến bào màu bạc ngồi trên tuấn mã, trong lúc cười nói với tôi đã hạ cùng lúc vài người.

Tôi nghiến răng xông tới đánh với ả, hóa ra đây chính là vị nữ tướng mà chị Anh Nguyên đã kể với tôi, thật trùng hợp làm sao.

Trước đây đã từng đụng độ trong chốn cấm cung, nay lại gặp nhau ở ngay chiến trường khốc liệt này.

Ánh mắt Trà Luân nhìn Trần Quốc Tảng có một tia khác thường, tôi nhân đó chém một kiếm về phía ả, đường kiếm tuy được Trà Luân né kịp nhưng cũng cắt đi một lọn tóc của ả ta.

Tôi nhếch môi:

"Binh bất yếm trá!"

Sức lực của tôi có hạn, chẳng biết chị Anh Nguyên và Phạm Ngũ Lão ở triền núi bên kia có ổn không.

Hiện giờ đất đá cũng đã cạn, toàn quân đều phải tự dựa vào sức mình để chống đỡ.

Giống như trong một trận túc cầu, đội đối phương liên tục thay người còn đội của tôi vì thiếu người nên vẫn là những gương mặt quen thuộc trong sân từ đầu chí cuối, rốt cuộc sức cùng lực kiệt trơ mắt nhìn từng người ngã xuống trên chiến trường.

Quân Nguyên giống như càng đánh càng hăng.

Tôi loạng choạng ngã xuống, anh Quốc Uất từ phía sau đỡ lấy tôi, trên gương mặt anh cũng đầy vệt máu.

Anh thay tôi vung lên vài kiếm, gấp gáp bảo:

"Rút thôi, anh chống giữ chỗ này, mau chỉ huy quân thành nhiều hướng rút về Bình Than!"

Tôi không nói nhiều lời bèn ra lệnh rút quân, Trà Luân từ xa tít tắp vẫn lớn giọng hét:

"Muốn chạy?"

Ả vừa nói xong tôi đã nghe tiếng ngã ngựa, có lẽ bị người nào đó đánh lén.

Tôi cũng không có thời gian quay lại xem, chỉ một mực chỉ huy tàn quân rút dần về bên kia núi, vừa đi vừa đánh được thêm một lượng nhỏ quân Thát rải rác ở triền núi bên này.

Rời căn cứ cùng lúc chạm mặt chị Anh Nguyên đang theo một hướng khác rút quân, trông chị ta còn nhếch nhác hơn cả tôi nữa.

Nếu như là lúc trước thì tôi đã cùng chị ôm bụng cười một trận, nhưng trong tình cảnh này quả thật là cười không nổi.

Chị Anh Nguyên rút quân được nhờ sự bảo hộ của Phạm Ngũ Lão, anh ta cũng bị thương rồi.

Đội quân mà tôi và chị Anh Nguyên dẫn đầu tầm năm vạn men theo đường mòn rút về Bình Than, phía sau lần lượt là những toán quân khác của cha và các anh cũng đang nối gót.

Trên đường gặp một ngã ba, lúc tôi và chị Anh Nguyên đang phân vân thì có một người lính từ bên trái chạy xộc tới, anh ta mang thương tích rất nặng, vừa gặp chúng tôi liền khuỵu xuống:

"Tướng quân xin đừng rút hướng này, Bình Than đang bị quân Thát dùng thủy quân tập kích, Thượng hoàng và Quan gia đang dốc toàn lực chống đỡ!

Hướng ngược lại là thuyền chiến chuẩn bị sẵn cho toàn quân rút về Thăng Long, tướng quân hãy mau đưa quân đi vội."

Tay chân tôi rụng rời.

Tôi nhìn chị Anh Nguyên, lại nhìn đoàn quân rệu rã phía sau, quân lương chỉ đủ cho hai ngày thì liệu nên rút theo hướng khác hay trực tiếp đi về hướng đó để hỗ trợ cho Trần Khâm?

Chị Anh Nguyên hình như cũng cùng suy nghĩ với tôi, bèn đứng giữa ba quân hô lớn:

"Các anh cũng nghe rồi đó, hiện giờ Thượng hoàng và Quan gia đang chống Thát ở Bình Than, những kẻ muốn theo ta đi cứu giá thì rút theo hướng này.

Còn đã mệt mỏi thì rút về hướng kia, dưỡng sức chờ tiếp viện."

Toàn quân ấy vậy mà lại một lòng cùng hướng về Bình Than, tôi và chị Anh Nguyên xúc động trong lòng, ngay lập tức đưa quân đi thẳng theo hướng đã định.

Lúc này mặt trời đã ngã về tây, đoàn quân chúng tôi xuyên màn đêm vượt rừng già tìm về với thủy quân của Trần Khâm, nhưng lại ngoài dự định là cả đội bị lạc trong rừng.

Lúc này phần vì mệt và đói, phần vì trời đã tối càng đi chỉ càng thêm lạc nên chúng tôi quyết định dừng chân nghỉ ngơi, dù tôi biết mỗi một giờ một khắc hiện tại đều rất cấp bách.

Quân binh đốt lửa dựng tạm lều trại ngủ qua một đêm, những người bị thương cũng tranh thủ băng bó.

Tôi nhìn bầu trời sao và tiếng sói hú dài trong đêm, lại cảm thấy thủy binh của Trần Khâm không lý nào lại dễ dàng bị rơi vào thế bị động như vậy được.

Tôi leo lên lưng ngựa chạy vài vòng quan sát, thầm nghĩ sẽ trùng hợp đến mức có kẻ vô tình trốn chạy gặp được đội quân của tôi rồi đem tình hình báo lại hay sao?

Nghĩ tới đó tôi bỗng rùng mình, nếu như thật sự như thế e rằng chỉ cần một mồi lửa, toàn quân của tôi sẽ trở thành tro bụi.

Tôi phi ngựa về lều thấy kẻ đó đang ngồi thiêm thiếp trước đống lửa, bèn lấy kiếm kề cổ anh ta, quát:

"Mày là gian tế đúng không?"

Chị Anh Nguyên giữ cổ tay tôi lại, hoảng hốt hỏi:

"Sao lại là gian tế, anh ta đem tin tức về đây cho ta mà?"

"Nếu thật sự là thuỷ binh của ta, vậy ta có bao nhiêu thuyền chiến, đội của mày ai là người trực tiếp chỉ huy?"

Quả nhiên vừa nghe tôi hỏi, kẻ đó liền cầm lấy mũi kiếm của tôi cứa cổ mình lăn đùng ra chết.

Một đợt ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi, kẻ này đã chuẩn bị sẵn tâm lý để chết có nghĩa là chỗ đóng quân của tôi đã không còn an toàn nữa.

Khốn kiếp, tại sao tôi lại để cho lòng dạ đàn bà của mình làm cho mất tỉnh táo thế này, chỉ một câu nói không rõ ràng đã đưa quân vào bẫy của địch.

Toàn quân người này truyền tai người kia, tất cả đều trở nên nhốn nháo.

Hiện giờ đội quân này đã mất dấu đại quân của cha tôi bị lạc trong rừng, nếu như kẻ chỉ huy như tôi còn không trấn tĩnh lại thì binh sĩ biết tin vào ai?

Tôi xốc lại tinh thần, liền hô hoáng:

"Tất cả tập hợp, ngay lập tức hành quân khỏi nơi này!

Hoài Văn quân bọc hậu, tôi thề chết đưa toàn quân an toàn rời khỏi không thiếu một ai!"

Chị Anh Nguyên có vẻ cũng hoảng hốt trong lòng nhưng vẫn cố gắng trấn tĩnh vỗ vai tôi:

"Để chị bọc hậu, em đi tiên phong dẫn quân rút lui đúng hướng!"

Tôi gật đầu với chị, ngay trong đêm đốt đuốc tìm đường.

Nhưng vì trong rừng nên tôi cũng chẳng dám đốt nhiều, chỉ lác đác vài cụm đủ để không sa vào đầm lầy và dọa sợ thú dữ.

Cũng may đêm nay trăng sáng vằng vặc, đóm bay lập lòe mới khiến chúng tôi trông không quá mức thảm hại.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 65: Trong Làn Nước Lạnh


Loanh quanh mãi vẫn chẳng thể ra khỏi, bỗng nhiên có người hô lên rằng đằng sau đã nghe tiếng vó ngựa, quân Nguyên đuổi tới rồi.

Tôi không sợ quân Nguyên đuổi tới, tôi chỉ sợ lòng quân bất ổn.

Trong lòng tôi âm thầm hạ quyết tâm, nếu như tìm đường không được vậy cứ đi thẳng.

Tôi thúc ngựa chạy, chị Anh Nguyên cũng hiểu ý tôi từ đằng sau đôn đốc quân lính.

Càng chạy, ngọn lửa phía sau đã ùn ùn cháy lên tới đỉnh đầu.

Áo tôi đã ướt đẫm, không biết là do sương đêm hay mồ hôi, suốt đêm không ngủ làm tinh thần tôi có hơi hoảng loạn.

Tôi mệt mỏi và đoàn quân của tôi cũng rã rời.

Ánh mặt trời ló dạng đằng đông, từ đối diện tôi đã nghe thấy tiếng người ngựa.

Theo phản xạ, tôi định quay đầu, nhưng từ xa đã thấy lấp ló lá cờ thêu sáu chữ vàng, trong lòng như một mảnh đất khô cằn đón được cơn mưa đầu mùa tưới mát.

Tôi hô lên với ba quân:

"Tìm được đường ra rồi, Hoài Văn Hầu đến cứu viện chúng ta rồi!"

Toàn quân lại một lần nữa nhốn nháo, nhưng lần này họ hò reo vui mừng.

Tôi sững trên ngựa nhìn Trần Quốc Toản và năm trăm quân của cậu ta lục tục kéo tới, nụ cười đã lâu không xuất hiện bỗng nở trên môi.

Trần Quốc Toản từ đối diện hét lên với tôi:

"Cười cái gì?

Lửa cháy đến mông ngựa rồi kia kìa!"

Tôi gấp rút tiến quân theo đường đã được Quốc Toản đánh dấu, an toàn đưa toàn quân thoát khỏi khu rừng già.

Lúc này ánh bình minh đã bao trùm vạn vật, tôi ngoảnh đầu lại chỉ thấy cột khói ngùn ngụt bốc lên cao, chỉ e nếu chậm một khắc thì tất cả đã chôn thây trong biển lửa.

Lúc này điều tôi muốn nhất chính là xuống ngựa cúi đầu nói cảm ơn với Trần Quốc Toản, nhưng có vẻ cậu ta cũng biết điều đó nên vừa ra khỏi rừng đã nghênh mặt nhìn tôi, kiêu ngạo nói:

"Không cần cảm ơn, tôi xót cho Hoài Văn quân thôi!"

Tôi bèn nuốt lời định nói vào bụng.

Quốc Toản sở dĩ tìm được chúng tôi là vì đội quân của cha tôi đã rút ổn thỏa về Vạn Kiếp đang chống chọi với thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy, vừa đánh vừa rút lên thuyền về kinh thành trấn giữ, nhưng lại phát hiện thiếu đi năm vạn quân do tôi và chị Anh Nguyên chỉ huy rút lui.

May nhờ đám cháy mà Trần Quốc Toản tìm được tôi, nếu không dù chúng tôi không bị quân Nguyên giết chết thì cũng sẽ bị bỏ lại nơi này.

Còn mấy chuyến thuyền cuối, tôi đứng nhìn ba quân đã yên ổn lên thuyền mới theo thuyền nhỏ ra giữa dòng để quân binh kéo lên.

Nhưng chưa ra được đến đó đã nghe tiếng ngựa hí vang trên bờ, tôi thoáng nhìn ra sau thì thấy Thoát Hoan một thân chiến bào đẫm máu ngồi trên ngựa chau mày nhìn xuống.

Một mũi tên sượt qua vai anh ta lao về phía tôi, nhanh và chuẩn xác đến độ tôi chẳng kịp phản ứng thì trên bả vai đã nhói lên một cái.

Tôi rơi ùm xuống nước, bên tai chỉ còn nghe tiếng Trần Quốc Toản, tiếng chị Anh Nguyên, tiếng thảng thốt của ba quân tướng sĩ cùng ánh mắt hoảng loạn của Thoát Hoan.

Nước xộc vào khoang mũi, làn nước lạnh mùa xuân khiến cả người tôi như tê cóng.

Dù biết bơi nhưng tôi chẳng thể nào bơi nỗi bởi sự ê ẩm lan ra khắp người.

Lúc này tôi chỉ hi vọng Quốc Toản giữ chặt chị Anh Nguyên một chút, đừng để chị ta làm ẩu mà nhảy xuống đây.

Xung quanh đã nghe nhiều tiếng nhảy ùm xuống nước, có lẽ quân binh cũng phản ứng kịp, cử người thi nhau nhảy xuống cứu tôi rồi.

Tôi bỗng thấy Thoát Hoan mơ hồ dưới dòng nước lạnh đang bơi nhanh về phía tôi, tôi cứ tưởng những con ngựa Mông Cổ như anh ta là những con vịt cạn chứ, ai ngờ bơi cũng thật cừ khôi.

Sự mơ hồ đó giống như những giấc mơ ngày trước tôi từng mơ qua, gương mặt Thoát Hoan như thực như ảo, vừa đẹp tựa thần tiên, vừa đáng sợ như loài thủy quái.

Nhưng tôi không nhìn anh ta được lâu, bởi hơi thở của tôi dần biến mất, sự đau đớn nơi bả vai khiến tôi không thể làm gì được mà dần rơi vào giấc ngủ triền miên.

Nhưng tôi vẫn biết phía sau mình có một bàn tay mạnh mẽ kéo tôi lại, nhanh như cắt đưa tôi ngược về phía sau.

Mà Thoát Hoan cũng dần mất hút trong làn nước, có lẽ anh ta cũng được binh lính kéo lên bờ rồi.

Lúc tôi tỉnh lại đã thấy mặt sông loang loáng ánh lửa, tên bắn như mưa, còn tôi thì đang tựa trong lòng Trần Khâm trên thuyền chiến.

Trong lòng tôi như mở hội, mới vừa xa cách non nửa tháng mà cứ ngỡ là ba thu.

Trần Khâm ôm lấy tôi, ánh mắt anh lộ ra vẻ xót xa, nhưng lại giở giọng trêu tức:

"Tôi không biết em lại thích nước như vậy!

Cũng may Phạm Hữu Thế còn thích nước hơn em!"

Tôi hừ một tiếng, lại là Phạm Hữu Thế.

Trên khắp gầm trời cuối đất nào có ai bơi lội qua anh ta?

Tôi ngồi trong khoang thuyền được chắn bởi lớp lớp thủy binh.

Từ chỗ tôi nhìn ra chỉ thấy một vùng trời rực lên màu đỏ, những mũi tên tẩm lửa bắn ra như mưa từ hai bên.

Đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi cũng đã đuổi tới, tiếng chém giết vang lên khắp cả mặt sông.

Tôi chồm người ngồi dậy nhưng lại bị Trần Khâm ấn xuống.

Bả vai tôi lại nhói lên.

Anh ta có vẻ vẫn điềm tĩnh trước tình huống hiện tại, trấn an tôi:

"Em cứ ngồi đây xem, lấy kinh nghiệm cho trận chiến kế tiếp."

Tôi định phản bác thì thấy thuyền chiến của quân Thát có một chiếc đang rung lắc dữ dội.

Tôi chồm người lên xem, quả nhiên thấy quân địch nháo nhào tháo chạy sang một con thuyền khác, còn con thuyền đó thì đang chìm dần.

Tôi lại ngạc nhiên nhìn Trần Khâm, anh ta đắc ý nói:

"Nếu ở trên đất bằng thì quân Thát đúng là chiếm ưu thế, nhưng nói đến dưới nước thì chúng làm gì có khả năng bì kịp với người Việt quanh năm sống ở vùng sông nước như ta!"

Tôi biết họ Trần xuất thân từ nghề chài lưới, lại kích động hỏi:

"Nếu vậy sao chúng ta không phản công tại đây, thừa thắng xông lên nhỉ?"

Trần Khâm lắc đầu nói:

"Nói em ngốc thì em không chịu, thợ lặn chúng ta không có nhiều, trong vài ngày mà đã tử thương không ít.

Hiện giờ chỉ cố giữ lợi thế để đưa toàn quân về kinh trấn giữ mà thôi, không dùng lâu dài được."

Tôi hiểu ra, đúng là bọn này đông đến nỗi đánh mãi không biết mệt, ngoài kia tuy thuyền đã đắm một vài chiếc nhưng mưa tên vẫn cứ bắn không ngớt sang đây.

Bộ binh của Thoát Hoan chắc cũng đang rục rịch bắt cầu phao kéo về kinh thành, quân ta càng chần chừ bọn chúng sẽ càng có cơ hội đánh đuổi kịp.

Trần Khâm kể với tôi trong mấy ngày này tướng Nguyên là Ô Mã Nhi bất ngờ tập kích vào thuyền chiến của quân ta.

Rõ ràng bọn chúng chỉ kéo qua bằng kỵ binh nhưng chỉ trong vài ngày ngắn ngủi mà đã trang bị được thuyền chiến, đủ hiểu rằng việc lúng túng khi gặp phải địa hình của nước ta chỉ là lúc đầu, bọn chúng sẽ rất dễ dàng để phá giải.

Thế nên dù đã giết được tướng Nghê Nhuận, Trần Khâm vẫn cho lui quân về kinh.

Tôi nhìn thuyền chiến của ta càng ngày càng xa quân Thát, thầm nghĩ có lẽ đã an toàn rút được toàn bộ quân binh rồi, trong lòng cũng nhẹ đi.

Nghĩ thế, tôi lại chìm vào mê man, thôi thì thừa lúc tạm thời sóng yên biển lặng chợp mắt một chút, cả mấy đêm không được ngủ ngon giấc rồi.

Tôi ngủ một giấc dài đến khi thuyền đã về tới Thăng Long, lúc tỉnh lại thì mới hay tin Trần Khâm đã đi lập các chiến lũy bằng gỗ ở bờ Bắc sông Nhị Hà nghênh chiến, mà bọn chúng cũng đã ráo riết đuổi tới kinh thành.

Hóa ra trong lúc tôi mê man thì Thoát Hoan lần lượt chia quân thành hai cánh, trên đường truy đuổi đã chiếm được châu Gia Lâm, một cánh quân khác cũng chiếm được lộ Bắc Giang và không ngừng áp sát phía bờ kia sông Nhị Hà.

Tôi choàng người ngồi dậy trong doanh trướng bởi tiếng đùng đoàng vang dội cả đất trời, vội mặc giáp lên ngựa phi về phía chiến lũy trên sông.

Đến nơi quả nhiên thấy Trần Khâm đang trực tiếp chỉ huy Thánh Dực quân dùng súng bắn đá bắn về phía bờ đối diện.

Nếu như tôi đoán không lầm thì hiện tại Thoát Hoan đã đuổi kịp và đóng quân phía đó, nếu vậy Trần Khâm tấn công sang đó để chặn Thoát Hoan bắc cầu phao sang, hay chỉ đơn giản thách thức?

Trần Thì Kiến cưỡi ngựa lướt qua trước mặt tôi, một thời gian không gặp trông anh ta vô cùng nhếch nhác, râu ria đã mọc lúng phúng trên gương mặt điển trai.

Trần Thì Kiến không nhìn thấy tôi, xuống ngựa bước về phía Trần Khâm ở bến sông, thấy vậy tôi cũng đuổi theo anh ta đi về hướng đó hóng chuyện.

Trần Thì Kiến quỳ xuống trước mặt Trần Khâm, tâu rằng:

"Bẩm quan gia, trong thành ngoài thành đều đã thu xếp ổn thỏa không còn một hạt bụi.

Đảm bảo cho bọn chúng một bất ngờ lớn!"

Tôi ngớ ra, thì ra trong lúc tôi loay hoay ở chiến trường thì ở kinh thành Trần Thì Kiến đã cho thu dọn tất cả mọi thứ.

Trước đây có lần nghe cha tôi kể về kế "vườn không nhà trống", trong cuộc chiến giữ thành vào hai mươi bảy năm trước do Tiên đế và Thượng hoàng chỉ huy, kế sách ấy đã cô lập và triệt tiêu ý đồ xâm chiếm nước ta của bọn Thát Đát.

Nhưng đã qua một lần mắc bẫy, liệu chúng có chủ quan nữa hay không?

Trần Khâm gật đầu, lại nói với Trần Thì Kiến:

"Vậy báo với Quốc công sắp xếp đưa toàn quân rời khỏi trong đêm nay!"

Đợi Trần Thì Kiến đi khuất tôi mới nhanh chân bước lại gần.

Trần Khâm nhìn thấy thì tiến về hướng tôi vài bước, lấy áo choàng đang mặc khoác lên vai tôi:

"Gió sông thổi lạnh, sao em không ở trong lều nghỉ ngơi đi?"

"Nghe tiếng đá nổ không ngủ được." – Tôi buồn rầu nói.

Vết thương trên vai tôi vẫn còn đau âm ỉ, vai trái này của tôi trước giờ không ít lần quấn vải trắng, đến mức nhìn mãi cũng thành quen.

Trần Khâm giống như hiểu được tâm sự của tôi, trầm ngâm nói:

"Vờ tấn công chỉ để qua mặt chúng, thật ra đánh trực diện không được.

Nếu cứ im lặng mà đi thì chúng sẽ nghi ngờ."

Tôi biết Trần Khâm định bụng sẽ âm thầm đưa quân rời thành trong đêm tối để dụ Thoát Hoan vào nơi cung thất nhẵn không, đến lúc ấy bọn chúng sẽ vừa mất phương hướng vừa khủng hoảng do không tìm được lương thực trong thành, ắt rơi vào bế tắc.

Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy, kế hoạch này liệu có qua được con mắt tinh ranh của Thoát Hoan hay không, hắn ta cũng không phải kẻ chỉ có cái vỏ rỗng.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 66: Lịch Trình Di Chuyển Phức Tạp


Vua quan và phần đông thủy binh cùng lên thuyền, chỉ chia lại số ít quân dàn hàng mỏng dọc bờ sông làm lá chắn đánh lừa quân Thát, chưa đến tối thì do thám báo lại, quân Thát đang lục đục cất quân sang.

Trong lúc cấp bách thì có kẻ đứng ra xin đi cầu hòa, kẻ không biết thì mắng mỏ, người biết thì vừa nhìn đã hiểu đây chỉ là một kế hoãn binh.

Gió xuân thổi qua sông Nhị Hà càng trở nên rét buốt, trời không nắng, dưới sông là một đoàn thuyền được canh gác cẩn mật.

Người sứ giả mặc bộ triều phục, cưỡi gió đạp sóng về phía hàng vạn cung tên giáo mác bên kia sông mà không chút run sợ, đứng sừng sững như một ngọn núi nam.

Tôi nheo mắt ra xa, không nhìn rõ mặt mũi người nọ mà chỉ thấy một vóc dáng rắn rỏi dong dỏng cao.

Trần Khâm bảo đây là Đỗ Khắc Chung, anh ruột của Đỗ Thiên Hư.

Xưa nay tuy nói hai quân đánh nhau không giết sứ giả, nhưng với những kẻ hiếu chiến như Mông Cổ thì chưa chắc, anh ta tự tin ứng cử có lẽ cũng tự tin được phần nào.

Đỗ Khắc Chung đi rồi, bên phía địch liền không còn động tĩnh.

Tôi cũng có điều nghi ngại, Thoát Hoan sẽ dễ dàng bị lừa như thế sao?

Nếu thật sự trúng kế của ta thì chỉ có hai khả năng tôi có thể nghĩ ra được, một là do Đỗ Khắc Chung quá tài giỏi, hai là do Thoát Hoan vẫn chưa thể tiến quân bộ kịp về đây.

Nếu là khả năng thứ hai thì khả năng ta rút được êm xuôi rất lớn, chỉ với một đội quân của Ô Mã Nhi thì chưa chắc chúng dám làm ẩu tiến đánh kinh thành ngay lập tức đâu.

Trong lòng tôi vẫn còn một nỗi lo, tôi gọi Tô Thức, phó thác:

"Anh chạy ngược lên Thu Vật đem tin tức chúng ta đã bỏ kinh thành nói tận tai Chiêu Văn Vương!"

Tô Thức chắp tay thưa vâng.

Trần Khâm không biết đứng sau tôi từ lúc nào, lên tiếng:

"Trong lúc nguy cấp thế này em vẫn không quên được chú ta."

Tôi dời bước, Trần Khâm đi theo tôi, lại hỏi:

"Em chắc chú ấy sẽ tin tưởng ư?"

"Sẽ tin." – Tôi đáp.

Trần Khâm "ồ" một tiếng rồi không nói nữa.

Chúng tôi đưa thuyền chiến theo sông Nhị Hà đi ngay trong đêm, nhưng vì e ngại bọn chúng đuổi đến quá nhanh nên tại bãi Đà Mạc, Trần Bình Trọng và anh Quốc Hiện đã tự mình dẫn sáu trăm Thánh Dực quân cùng binh lính từ trang ấp đóng tại đó để cản bước địch nếu chúng đuổi tới.

Cha tôi lại bày thêm một trận cọc và đắp bờ chắn để ngăn kẻ thù ở Hải Thị gần đó, như một màn thiên la địa võng khiến chúng trở tay không kịp.

Tôi muốn ở lại cùng cha và các anh nhưng do đang bị thương, chỉ sợ vướng tay vướng chân họ nên đành cùng Trần Khâm trở về Thiên Trường.

Thuyền chiến neo ở bến sông Nhị Hà, chúng tôi lên bộ về hành cung.

Thuở nhỏ, thỉnh thoảng có những ngày tiên đế từ đây trở về Thăng Long, tôi gặp dịp là sẽ nài nỉ ngài kể lại.

Tiên đế bận bịu, ngài chỉ cười đọc một câu:

"Nhất đẹp con gái làng Cầu,

Khéo ăn khéo mặc khéo hầu mẹ cha."

Trong lòng tôi và Trần Khâm canh cánh hồi lâu, tuy là nói cũng như không nói nhưng tiên đế đã thành công chuyển hướng chú ý của tôi từ Thiên Trường sang con gái làng Cầu.

Trần Khâm lúc nhỏ có lắm cách chọc tức tôi, anh ta vẫn một hai cam đoan là những cô con gái nơi đó trông giống như là tiên dưới phàm vậy.

Tóc dài chấm gót, ba con mắt bốn lỗ tai, còn tôi thì há hốc mồm kinh ngạc cho là anh ta am tường lắm.

Sau này lớn hơn một chút đi theo cha ngang qua làng Cầu tôi mới biết hóa ra là anh ta bịp, thành thử mấy năm chấp niệm của tôi bỗng chốc tiêu tan.

Tôi nhìn Trần Khâm đang cưỡi ngựa bên cạnh, bất giác hỏi:

"Năm nay con gái làng Cầu đã mọc mắt mọc tai lại chưa?"

Trần Khâm giật thót một cái, sau đó ôm bụng nhịn cười.

Cứ cười đi, sau khi Thăng Long bị chiếm xem anh còn cười được không.

Một lúc sau anh ta bình tĩnh lại, đằng hắng một tiếng, nói:

"Đừng quan tâm, trong mắt tôi không ai vượt qua em cả!"

"Em vẫn muốn chính mắt nhìn thấy, vừa hay đúng dịp."

Trần Khâm chưa kịp phân bua thì chị Anh Nguyên đã từ phía sau cưỡi ngựa chồm lên, bực mình nói:

"Các người bớt mùi mẫn đi, giờ phút nào rồi!"

Đúng lúc tôi và Trần Khâm đang lúng túng thì chị Anh Nguyên ở đâu tự chui đầu vào rọ, kẻ thủ ác liền được dịp chuyển mũi dao sắc nhọn lên người chị ta.

Trần Khâm lạnh mặt, nói:

"Phạm tướng sắp ba mươi, quận chúa là gái lỡ thì.

Hẹn ngày chi bằng đúng lúc, đến Thiên Trường thì lập tức lạy cha mẹ trời đất đi."

Tôi nghe Phạm Ngũ Lão ho không ngừng phía sau, cũng không biết do khoảng thời gian này lao lực mắc bệnh ho hay vì mừng đến choáng váng khi nghe Trần Khâm đề nghị chuyện tốt như vậy.

Hoặc cũng có thể là do hoảng sợ quá mức không chừng.

Phạm Ngũ Lão cố nén lại cơn ho, ấp úng nói:

"Thần không dám ạ!"

Chị Anh Nguyên cũng thẹn quá hóa giận, vừa cung kính vừa không kìm được gắt gỏng:

"Không phải lỡ thì, là... không muốn!"

Một thoáng im lặng, bên tai tôi lại nghe tiếng Phạm Ngũ Lão:

"Thần tạ ơn quan gia ban hôn!"

Trần Khâm cong môi, lại quay sang chị Anh Nguyên hỏi:

"Quận chúa không muốn ta cũng không ép.

Vậy thiệt cho Phạm tướng phải chờ một mối hôn sự khác rồi."

Có hai giọng nói lập tức thốt lên:

"Không thể được!"

Tôi che miệng cười trộm, lúc này cả hai bọn họ dường như mới phát hiện ra mình bị trêu.

Trần Khâm thúc ngựa tiến lên phía trước:

"Vậy cứ quyết định như thế!"

Tôi cũng không nghĩ chuyện tình cảm lằng nhằng của bọn họ có thể giải quyết êm xuôi trong chốc lát thế này.

Quả không hổ là Trần Khâm.

Đến làng Tức Mặc, Trần Khâm cho ba quân dựng trại để nghỉ ngơi.

Là nơi ở của Thượng hoàng, mọi thứ dù đơn sơ nhưng cũng không đến nỗi quá tệ.

Gia quyến đều ở hành cung, gặp lại tất cả mọi người, tôi cảm giác giống như trở về thời thơ ấu khi chưa lưu lạc.

Năm ngày sau khi chúng tôi dừng chân ở Tức Mặc, tôi nghe tin Ô Mã Nhi đã rút quân về kinh thành không truy đuổi nữa, cha tôi đã chặn được bước tiến của chúng.

Cha và các anh trở về, tuy mục đích đã đạt được nhưng không thấy trên mặt họ có chút niềm vui, ngược lại còn có vẻ ảm đạm.

Cha tôi bước lên phía trước, chưa kịp nói thì Quốc Hiện đã quỳ xuống trước mặt Trần Khâm:

"Xin quan gia trách phạt, Bình Trọng vì cứu tôi mà bị giặc Thát bắt ở Đà Mạc không rõ sống chết.

Tôi lại không thể quay lại cứu người.

Thật đáng hổ thẹn."

Hóa ra là do anh Quốc Hiện khinh địch nên bị bọn Ô Mã Nhi tập kích tại bãi Thiên Mạc, vì cứu anh tôi mà Trần Bình Trọng đã mở con đường máu, nhưng không may bị trúng mưa tên.

Trong lúc anh tôi đưa quân Thánh Dực rời khỏi thì không biết Trần Bình Trọng bị bỏ lại từ lúc nào.

Lúc này phần vì bọn chúng đuổi bắt, phần vì cha đang ở Hải Thị chờ tin nên chẳng thể quay lại cứu người được.

Thế nên dù ở Hải Thị ngăn chặn được Ô Mã Nhi và khiến chúng nghi ngại quay về, nhưng rốt cuộc bên ta lại mất đi một vị tướng giỏi.

Kể lại chỉ trong vài lời, nhưng trong mắt anh tôi là cả ngàn vạn chữ.

Kết cục thì anh tôi bị đánh hai mươi roi, Trần Bình Trọng được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.

Tuy vậy nhưng tôi biết trong lòng Trần Khâm có nhiều nuối tiếc, một kẻ nắm giữ quân Thánh Dực ắt hẳn không phải kẻ tầm thường.

Cho đến khi địch đã chiếm được hầu hết các vùng phía Bắc của nước ta và phần lớn tôn thất đều tập trung ở Thiên Trường thì điều tôi lo lắng nhất chính là đội quân của Trần Nhật Duật.

Anh ta là một trong những người xuất trận đầu tiên kể từ khi quân Thát kéo đến, nhưng kể từ đó trở đi chẳng nghe được tin tức gì.

Dù khả năng của anh ta luôn khiến người ta bất ngờ nhưng với tình thế hiện nay, tôi sợ anh ta bị cô lập giữa vòng vây quân địch khi kinh thành đã bị chiếm.

Trong những ngày tôi lo lắng không yên, lính canh Thiên Trường báo với Trần Khâm có một kẻ xấu xí được tìm thấy trong trạng thái ngất xỉu ở vệ đường.

Nghe được tin đó, tôi ,mừng đến mức ngồi bật dậy.

Trên đời này kẻ xấu xí không ít, nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng tôi chỉ có thể nghĩ tới một người – Mạc Đĩnh Chi.

Chính xác là Mạc Đĩnh Chi.

Sau khi tỉnh lại, Mạc Đĩnh Chi nhìn thấy tôi thì ôm mặt khóc lóc, lại ăn uống như hổ đói một trận mới kể lại đầu đuôi sự tình.

Tôi thấy nếu oắt con này còn có tâm trạng khóc lóc ăn uống thì bên phía Trần Nhật Duật chắc cũng không đến nỗi.

Có điều bắt một đứa trẻ mới mười hai mười ba tuổi vượt đường sá xa xôi đói khát đến đây thì Trần Nhật Duật cũng thật là biết hành xác người ta.

Tôi thở dài, đây xem như là một loại rèn luyện.

Phía Trần Nhật Duật nói chung cũng rất ngắn gọn.

Cánh quân của địch tiến xuống nhanh chóng chiếm được châu Quy Hóa rồi tới cửa ải của Trần Nhật Duật.

Sau khi giao chiến vài trận nhỏ anh ta mới nhận thấy không thể đối đầu trực diện nên bèn hạ lệnh theo dọc sông Lô rút quân.

Mạc Đĩnh Chi vừa nhai nhồm nhoàm lương khô vừa nói:

"Lúc này thầy sáu đi thuyền xuôi theo sông Lô, nhưng truy binh của giặc Thát chỉ đuổi theo chậm rãi.

Ngài nghi vấn, truy kích thì phải nhanh, nay chúng lại đi thong thả thì sợ có quân phía trước đón chặn.

Thầy sáu sai người đi do thám thì quả nhiên thấy quân Thát đã cho quân chặn ngang ở hạ lưu."

Mạc Đĩnh Chi nói đến đó thì sặc lương khô ho sặc sụa.

Tôi rót nước lạnh cho nó, chẳng hiểu Trần Nhật Duật làm thầy người ta kiểu gì mà đến lương khô nó còn ăn ngon lành vậy được không biết.

Đĩnh Chi hớp miếng nước lấy bình tĩnh, lại nói tiếp:

"Thầy sáu bèn cho toàn quân lên bộ rút về kinh thành, đến Bạch Hạc thì người của chị báo là kinh thành thất thủ.

Thầy sáu mới cho em đi trước báo tin cho chị, còn ngài ấy thì vẫn gian khổ trèo đèo lội suối tìm về đây."

Tôi nghe câu chuyện có vẻ cảm lạnh này, cảm thấy không những Thoát Hoan phải chật vật đi tìm đội quân thoắt ẩn thoắt hiện là chúng tôi, kể cả quân đồng minh cũng không thể nào nắm bắt được lịch trình di chuyển phức tạp mà Trần Khâm đã dự tính.

Cũng may tôi đã đoán trước được nên cho người đi báo tin, không thì e là anh ta phải chịu thêm không ít gian khổ.

Tôi không biết khoảng thời gian đóng quân ở kinh thành Thoát Hoan có khốn đốn vì thiếu thốn hay không, nhưng riêng những mâu thuẫn ở Thiên Trường cũng đủ làm tôi và Trần Khâm phải căng não.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 67: Trâu Buộc Ghét Trâu Ăn


Kể từ khi giặc Thát cất quân sang ngót nghét cũng đã hơn một tháng, chỉ trong một tháng mà chúng đã nắm hầu hết các cứ điểm kể cả Thăng Long, khiến toàn bộ quân số của ta phải co cụm lại.

Có câu: nơi nào càng đông người càng lắm thị phi.

Đương nhiên tôi không nói đến những rường cột nước nhà ăn chung ngủ chung với quân lính, lăn lộn qua những cuộc chiến mà già đi.

Nhưng trong lớp quý tộc hội tụ về Thiên Trường có không ít những kẻ chỉ mới lần đầu tham gia chiến sự, những con báo mới lớn còn háo thắng và ngông nghênh.

Quân binh ở Thiên Trường thì đông nhưng lương thực lại có hạn.

Lúc chưa đến mức đánh nhau đương nhiên có thể ăn thức ăn tươi ngon như chim rừng cá suối, nhưng để đề phòng quân địch tập kích bất ngờ thì phần lớn đều được đem đi phơi khô.

Dù vậy thì cũng phải mặt mũi cỡ vương tướng mới được động vào những thứ đó, binh lính phần lớn đều gạo, sắn, ngô, khoai, ngon thì có cơm nắm muối mè.

Nhưng đạo lý ở đời trâu buộc ghét trâu ăn, cho dù là một con trâu đầu đàn đi chăng nữa.

Việc xấu lần này nói ra cũng bắt nguồn từ một con trâu.

Giống như hôm nay trong lúc đang ăn cơm, Quốc Chẩn bỗng hỏi tôi:

"Dạo này không có cháo cá lăng à mẹ?"

Tôi xoa đầu Quốc Chẩn, lựa lời bảo nó:

"Chúng ta còn được ăn thịt khô cá khô, thỉnh thoảng cũng có món ngon của lạ, những binh sĩ ngoài kia chỉ được ăn cơm gạo lương khô còn cực khổ đến mức nào?

Binh sĩ chiến đấu vì đất nước, Quốc Chẩn là hoàng tử càng phải làm gương nghe chưa."

Quốc Chẩn hiểu được lời tôi nói, gật gật đầu.

Rồi lại mắt tròn mắt dẹt nhìn tôi thắc mắc:

"Vậy sao con nghe Văn Chiêu hầu nói sẽ mổ trâu ăn ạ?"

Mấy người phụ nữ trẻ em bọn tôi trố mắt nhìn nhau, đây đương nhiên lại là một phạm trù khác.

Không phải khó khăn đến mức độ chúng tôi bắt buộc phải ăn cơm trắng muối mè hay thịt khô cá khô, nhưng chiến tranh qua đi cũng còn phải sống tiếp, những gia súc như trâu, bò, phải hạn chế đụng đến của người dân.

Đừng nói đang lúc chiến sự, kể cả ngày thường một dân tộc dùng nghề nông và coi trọng lúa gạo như nước Nam thì một con trâu cũng là cả một cơ nghiệp, quý giá hơn cả bạc vàng.

Tội giết trâu phạt tám mươi trượng và năm mươi quan tiền, nếu không có tiền thì sung làm người hầu trong quân đội.

Huống gì đây còn là ăn trộm của dân, phải phạt thêm hai mươi trượng nữa.

Thằng nhóc Thuyên ngồi bên cạnh lập tức giãy lên:

"Có chuyện vô lý đến thế ư, con là hoàng thái tôn mà bây giờ cảm giác mình sắp biến thành con cá khô luôn rồi, mùi vị trâu bò kia từ nhỏ đến lớn con còn chưa có ngửi qua đâu."

Tôi dùng đầu đũa gõ lên trán nó:

"Còn chưa biết thực hư." – Lại quay sang chị Trinh hỏi –"Văn Chiêu hầu này là ai thế chị?"

Chị Trinh cũng cau mày:

"Anh ta tên là Trần Lộng, vốn là con trai của Nhân Thành Hầu Trần Duyệt, là đại tướng trấn thủ vùng sông Tam Đái.

Có điều người này danh tiếng rất tốt.

Chẩn có nghe lầm không?"

Quốc Chẩn đôi mắt rưng rưng chực khóc.

Chị Anh Nguyên bỗng nhổm dậy, bất bình nói:

"Thực hư thế nào đi nhìn là rõ, nhiều người nhìn bề ngoài đạo mạo nhưng nội tâm thì thối nát.

Là một tướng quân quen hô mưa gọi gió chưa chắc anh ta chịu ăn uống cực khổ.

Em tin Quốc Chẩn không nghe lầm."

Chị Anh Nguyên nói rồi vội vơ nhanh bát cơm, chưa kịp nuốt xuống đã tức tốc chạy ra ngoài.

Tôi cũng bỏ bữa chạy theo, sợ với tính cách của chị ta lại gây họa.

Mấy ngày nay tuy đóng quân ngơi nghỉ nhưng binh lính vẫn thao luyện ngày đêm và nơm nớp lo sợ địch bất ngờ tập kích, tinh thần mọi người đã đủ căng thẳng rồi.

Chị Anh Nguyên cưỡi ngựa chạy một vòng trong quân doanh, mãi tôi mới đuổi kịp chị, ở bên cạnh nói:

"Chỉ có kẻ ngu mới làm chuyện đó ở đây!"

Chị Anh Nguyên lúc này mới ngớ ra, không nói hai lời đã phóng thẳng ngựa về phía bìa rừng.

Khi thấy một cột khói nhỏ bốc lên, chúng tôi mới lần theo dấu vết đến trước một hang động.

Tôi và chị Anh Nguyên nấp sau tán cây, ngó thấy một toán lính tầm khoảng hơn ba mươi người cởi trần đang xẻ thịt trâu.

Bởi vì họ cởi trần nên tôi nhìn thấy trên lưng, trên bụng họ đều có xăm hình rồng.

Tôi nhìn chị Anh Nguyên, chị Anh Nguyên cũng gật đầu nhỏ giọng nói, có điều lại giống như rít ra từ kẻ răng:

"Quả là lính của Trần Lộng.

Bọn họ trấn thủ ở sông Tam Đái nên rất sợ loài thủy quái, ai cũng xăm Thái Long trên người.

Không ngờ lần này bọn họ lại dám qua mặt vua mà ăn vụng."

Theo tập tục thì không chỉ những người trấn thủ ven sông mà bất cứ ai cũng được xăm mình, nhưng vì tính đặc thù của công việc nên những người trẻ hiện tại ví như các anh tôi cũng không mấy ai xăm nữa, nếu xăm một loạt toàn bộ như thế thì chỉ có những người lính thủy quân mà thôi.

Tôi và chị Anh Nguyên định bụng một người ở lại canh, một người trở về báo cho cha cơ sự nhưng vừa quay đi thì bên kia đã ầm ĩ lên, hóa ra đã có người phát hiện ra rồi.

Tôi ngó thấy bóng dáng một người con gái ngồi trên ngựa mặc bộ quần áo màu tím sẫm, tóc cột cao trên đỉnh đầu đang chất vấn một kẻ trông có vẻ ăn vận sang trọng trong đám người kia, thái độ không hề yếu thế.

Nhưng dù sao cũng chỉ là một cô gái, thử tưởng tượng bọn người kia sợ quá hóa liều thì dù là ba cô gái chúng tôi cũng khó lòng địch nỗi ba mươi tên đàn ông lực lưỡng trong quân.

Tôi đá vào chân chị Anh Nguyên ra dấu cho chị mau chạy đi tìm người ứng cứu nhưng cũng muộn mất rồi, trước mặt chúng tôi sớm đã có thêm một gã trai cưỡi ngựa chắn trước.

Gương mặt anh ta cũng sáng sủa khôi ngô, ánh mắt có vẻ ôn hòa nhưng lại chứa đầy địch ý.

Trên mặt anh ta bị dính một vệt khói đen nên nhìn tổng thể có vẻ không tương xứng với nhau.

Người đó vừa nhìn thấy chị Anh Nguyên hai mắt liền phát sáng, kích động nói:

"Quả nhiên là Anh Nguyên, lâu quá mới gặp được em!"

Chị Anh Nguyên cầm mũi giáo chỉ vào anh ta, quát:

"Trần Lộng, đúng là anh đã làm ra chuyện đê hèn này!"

Trần Lộng cười ha hả nói:

"Có gì là đê hèn, đại quân của tôi vào sinh ra tử vì quan gia thì chẳng lẽ một con trâu cũng không được mổ?"

Tôi hết ngó chị Anh Nguyên lại ngó kẻ được gọi là Trần Lộng kia, hóa ra là bọn họ quen biết nhau từ trước, thảo nào vừa nghe tên thì chị Anh Nguyên liền tỏ vẻ như hiểu rất rõ con người của anh ta vậy.

Tôi cũng chẳng muốn xen vào mớ bòng bong này, nhưng nghe anh ta nói vậy thì trong lòng liền thấy giận dữ, đáp:

"Chẳng lẽ chỉ có đội quân của anh mới vào sinh ra tử hay sao.

Người có tài cán thì vào rừng săn thú, chỉ có kẻ bất tài mới cướp gia súc của dân!"

Vừa dứt lời, thanh kiếm trên tay anh ta đã lao về phía tôi.

Phàm trên đời sẽ có loại người nói được làm được, có loại người chỉ nói nhưng không làm, cũng có người nói một đằng làm một nẻo nhưng Trần Lộng thì lại thuộc kiểu người không nói mà làm.

Tôi nắm chặt thanh kiếm trên tay mình muốn cùng Trần Lộng lao vào đánh vài trăm hiệp.

Nhưng phía bên kia nghe tiếng ngã ngựa, đoán chắc cô gái áo tím cũng không chống nổi những kẻ võ biền bèn lượn một vòng quay đầu thúc ngựa về hướng đó.

Trần Lộng không đuổi theo tôi, có lẽ đã bị chị Anh Nguyên giữ lại.

Cô gái áo tím ngã trên mặt đất, đứng chắn phía trước cũng là một chàng trai trẻ tuổi, anh ta khoanh tay nhìn chằm chằm xuống.

Tôi thấy cô gái này khá quen, giống như từng gặp qua nhưng không nhớ rõ là gặp nơi nào.

Tôi bỗng thấy chế giễu, đúng như chị Anh Nguyên đã nói có những kẻ vẻ bề ngoài trông vô cùng đạo mạo đàng hoàng, nhưng lại làm những việc hèn mọn, một miếng ăn mà đi lộn gan lộn ruột.

Tôi phóng xuống ngựa đỡ cô gái ấy lên, chị Anh Nguyên phía sau cũng phóng ngựa tới, gằn giọng:

"Chẳng biết kẻ nào lại to gan dám mạo phạm cả quý nữ của Thái sư đương triều!"

Thảo nào thấy quen như vậy, thì ra chính là cô gái năm đó đuổi theo anh Quốc Uất trong đêm hội hoa đăng.

Nét mặt chị Thụy Hữu tái xanh, hừ lạnh:

"Nếu không phải ta bị thương vì cuộc chiến ở Bình Than, thì lũ chúng mày không có cửa!"

Tôi nhìn cả người chị ta run run đau đớn, có vẻ là bị thương không nhẹ, chẳng hiểu tại sao lại còn chạy ra ngoài để gặp phải đám người vô sỉ kia.

Trong đám người đối diện bỗng nghe tiếng xì xầm, có kẻ tỏ ra thất vọng nói nhỏ:

"Cô gái xinh đẹp như vậy hóa ra lại là kẻ không thể chạm vào.

Thật xui xẻo!"

Vẻ mặt chị Thụy Hữu càng trở nên khó coi hơn.

Từ đó suy ra đám người này cũng chẳng phải là những kẻ lương thiện, tệ nhất là trong lúc trấn giữ nói không chừng còn quấy nhiễu nhân gian.

Chị Anh Nguyên cầm thương chém tới, chàng trai đối diện liền nhanh như chớp dùng kiếm hất ra, ngạo mạn:

"Giết người của tôi ngay trước mặt tôi à?

Cô còn chưa có khả năng đó đâu."

Trần Lộng cũng đã đuổi kịp, lớn giọng nói với chàng trai kia:

"Kiện, mau dừng tay, đó là người của tôi!"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 68: Kẻ Ác Cáo Trạng Trước


Lúc này lại đến lượt tôi há hốc miệng, quay sang chị Anh Nguyên nhỏ giọng hỏi:

"Từ lúc nào chị trở thành người của Trần Lộng vậy?"

Chị Anh Nguyên lườm tôi:

"Có cái cóc khô ấy, đỉa đeo chân hạc!"

Ồ, tôi còn chưa nói người ta dù sao cũng là họ Trần hàng thật giá thật, còn chị mới là đồ giả đấy.

Tôi trộm nghĩ giờ mà Phạm Ngũ Lão xuất hiện ở đây chắc là chúng tôi có kịch hay để xem.

Vừa nghĩ thế thì phía xa bỗng truyền đến tiếng vó ngựa, tôi quay đầu quả nhiên bắt gặp Phạm Ngũ Lão cùng các anh tôi đã đến đây.

Tôi cảm thán một câu, đúng là cầu được ước thấy.

Tính tình Phạm Ngũ Lão vốn ngay thẳng chẳng hề vòng vo, vừa thắng ngựa tới đã quả quyết:

"Quan gia đã ban hôn cho tôi và Anh Nguyên, mong Văn Chiêu Hầu cẩn trọng lời nói.

Còn việc hai người chủ trương mổ trâu của dân khao quân tôi cũng sẽ bẩm lại với Quan gia!"

Trần Kiện bỗng nhiên lên tiếng:

"Toàn quân đang đồng lòng chống giặc, chỉ cần một mâu thuẫn nhỏ cũng đủ làm quân ta mất đoàn kết.

Trong lúc nước sôi lửa bỏng này anh nghĩ quan gia sẽ trừng phạt bọn tôi sao?"

Quốc Tảng thúc ngựa lên trước, lạnh nhạt nói:

"Trừng phạt hay không tự quan gia quyết định.

Còn bọn tôi thấy sai phải báo."

Quốc Uất cũng xuống ngựa đỡ lấy chị Thụy Hữu, tôi thấy chị ta ngồi trong lòng anh tôi rất vui vẻ, đôi má ửng đỏ khác hẳn vẻ ngang ngạnh khinh bỉ khi đối diện với bọn Lộng Kiện vừa rồi.

Dù sao các anh tôi cũng đã ra mặt, tôi cũng chẳng còn lý do để nấn ná bèn thúc ngựa trở về.

Trên đường mãi nghĩ, chẳng lẽ thật sự như Trần Kiện vừa nói, vì tránh nhiễu loạn lòng quân mà chẳng thể trừng phạt hai người bọn họ ư?

Không, nếu như là Trần Khâm chắc chắn sẽ không tha cho hai kẻ này.

Lúc này tôi cũng được biết Trần Kiện kia là Chương Hiến hầu, con trai thứ của Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang.

Nói vậy theo vai vế thì Trần Khâm phải kêu Trần Kiện bằng anh họ.

Chúng tôi về hành cung thì lập tức đi tìm Trần Khâm báo lại.

Nhưng ngoài dự đoán, lúc cho người đi tìm thì biết được trước cửa cung Trùng Quang bọn Trần Kiện Trần Lộng đã dẫn quân quỳ đầy hàng hàng lớp lớp trước rồi.

Tôi chưng hửng nhìn chị Anh Nguyên, thấy chị ta cũng dùng ánh mắt không thể tin được nhìn mình, lòng thầm than hỏng bét.

Đây chẳng phải là chiêu ác nhân cáo trạng trước hay sao?

Thượng hoàng đã tọa trước cửa cung, Trần Khâm thì mới bước ra phía trước.

Tôi hỏi một nội nhân đang đứng hầu, anh ta nhỏ giọng kể:

"Chương Hiến hầu và Văn Chiêu hầu đến để thú tội ạ!"

Ai chẳng biết họ đến thú tội, họ không đến thú tội chẳng lẽ đến để tố cáo bọn tôi à?

"Vậy họ thú tội như thế nào, xin nói cho tôi được tỏ!"

Vị này là nội hầu của Thượng hoàng, tôi cũng không dám bất kính.

Cũng may ông ấy không giấu giếm tôi, bèn đáp:

"Bọn họ nói rằng con trâu đó bị bệnh chết nên đám binh sĩ nghĩ là nhẹ tội, binh lính mấy hôm nay không được ăn thịt nên thèm quá hóa liều.

Làm thì cũng đã làm rồi, hai người ấy làm tướng nhưng không răn được binh sĩ dưới trướng mình nên đứng ra nhận tội.

Đám binh sĩ đó cũng có tình nghĩa, thấy vậy thì hết người này đến người khác cũng đứng ra, kết quả toàn bộ quỳ trước sân thế này."

Hay cho một màn chém trước tâu sau, cũng khá khen cho một màn binh tướng thâm tình.

Quả nhiên thấy Thượng hoàng đã gật đầu bỏ qua.

"Lần đầu cũng như lần cuối, sau này kẻ nào tái phạm thì phạt theo quân pháp."

Tôi thấy Trần Khâm định nói gì đó nhưng Thượng hoàng trực tiếp bỏ qua rồi cho tất cả trở về, sau đó người vào cung Trùng Quang đi nghỉ.

Chị Anh Nguyên nghe thế thì giận quá định bước lên, tôi nắm tay chị giằng lại khẽ lắc đầu.

Mọi việc đã đến tai Thượng hoàng, việc nên nói cũng đã nói với Trần Khâm, hiện giờ bọn chúng cũng chủ động đứng ra nhận tội.

Tội đã không đến mức nghiêm trọng nay lại càng thêm nhẹ, nếu tôi là Thượng hoàng thì cũng xử lý như vậy thôi.

Lời nói của họ tuy là một phía nhưng cũng không ai chứng minh được lời của chúng tôi là thật.

Có điều tôi vẫn cảm thấy Thượng hoàng có vẻ không muốn truy cứu, hay là bởi bọn Trần Kiện và Trần Lộng biết mình được Thượng hoàng thiên vị nên lợi dụng điều đó mà đến cung Trùng Quang nhận tội chăng?

Lúc toàn quân đã rời khỏi, hai kẻ đó dừng trước mặt chúng tôi.

Trần Lộng mỉm cười châm chọc còn Trần Kiện vẫn giữ nét mặt lạnh nhạt nhưng lại có điểm đắc ý thật là gợi đòn, nếu không có ai ở đây tôi đã đấm cho mỗi đứa một cái.

Tôi nhìn vẻ mặt muốn giết người của chị Anh Nguyên, lặng lẽ thở dài.

Trần Khâm đến bên cạnh tôi từ lúc nào, lạnh giọng nói:

"Đáng ra nên báo cho tôi!"

Tôi xụ mặt:

"Chàng không thấy à, bọn chúng nhanh chân hơn em!"

Chuyện lần này cũng chẳng phải chuyện gì to tát, hiện giờ điều quan trọng là củng cố lại lực lượng và nâng cao tinh thần của binh sĩ cho cuộc chiến tiếp theo.

Giờ đã là đầu tháng ba, chúng tôi cũng bắt đầu thăm dò những vùng lân cận.

Chúng tôi chia quân ra làm nhiều tốp, tôi và Trần Quốc Toản dẫn Hoài Văn quân đi thám thính từ căn cứ Thiên Trường cho đến gần Tây Kết, vào buổi đêm chỉ dám bơi thuyền nhẹ ra xem.

Bỗng nhiên trên bờ có một trận náo động, tên bắn rợp mặt nước nơi chúng tôi vừa đi qua, may là Trần Quốc Toản kịp thời dụi tắt ngọn đuốc nép vào đám cây đổ.

Lính của Hoài Văn quân thấy thế cũng ngay lập tức dừng mọi hành động, đợi đến khi đám lính người Thát đi khỏi mới tạm yên tâm.

Xem ra vùng Tây Kết này được bọn chúng đặc biệt để ý, đêm hôm vẫn cho quân đi tuần.

Tôi đoán nếu như đã thò mũi đến Tây Kết thì ắt chúng cũng sẽ dàn quân rải rác ở rất nhiều chỗ, vậy lực lượng đóng ở kinh thành khả năng cao là mỏng hơn rất nhiều so với ban đầu.

Nếu như lúc này cho quân tập kích bất ngờ thì có khả năng thắng hay không?

Không, cái đầu xảo quyệt của Thoát Hoan chưa từng làm việc gì mà không nắm chắc cả.

Mãi nghĩ ngợi, phía bên kia Trần Quốc Toản bỗng kêu lên một tiếng.

Tôi giật mình hỏi:

"Sao thế, bị tên bắn trúng à?"

Trần Quốc Toản nghiến răng:

"Không, tôi bị rắn cắn."

"Hả?"

Tôi với lấy mái chèo nhẹ nhàng bơi vào bờ, lại ra tín hiệu cho toàn quân rút về bờ sông bên kia, lúc xác định đã không còn gì nguy hiểm mới cho người dìu Quốc Toản lên bờ.

Hôm nay lại là một đêm không trăng, đóm bay lập lòe trên những chạc cây và tiếng gió xì xào như thì thầm một bài hát.

Các binh sĩ nhóm lửa sưởi ấm, tôi nhìn đóm lửa bập bùng, lại nhìn trên cánh tay của Trần Quốc Toản có bốn chấm tròn nhỏ, quả nhiên là bị rắn cắn.

Tôi lấy dao găm thuần thục sơ cứu cho cậu ta, cũng may cậu ta đã dùng vải áo quấn chặt bắp tay lại để ngăn độc rắn chạy về tim.

Tôi lại sai người đi tìm cây bòn bọt đắp lên vết cắn.

Trần Quốc Toản ngồi tựa vào gốc cây, hỏi tôi:

"Chị nói thật đi, tôi không cứu được đúng không?"

Tôi nhắm chừng từ lúc cậu ta bị rắn cắn đến giờ cũng đã hơn một canh giờ, đã nằm ngoài khoảng thời gian an toàn.

Tôi thở dài nhìn cậu ta, lại nghe cậu ta nói tiếp:

"Xem ra tôi cũng không cầm cự được bao lâu nữa, khi tôi chết rồi Hoài Văn quân giao lại cho chị nhé!"

Trong quân có người khóc nấc lên gọi cậu ta, Trần Quốc Toản yếu ớt trấn an họ:

"Các anh cũng cùng với Tuyên phu nhân vào sinh ra tử, khi tôi chết hãy trung thành với chị ấy như trung thành với tôi.

Tôi tin chị ấy sẽ đưa các anh lập nên những chiến công vang dội."

Tôi không biết Trần Quốc Toản lấy sức lực ở đâu mà trăn trối nhiều như thế, có điều một nghìn Hoài Văn Quân tinh nhuệ xem ra cũng khá hấp dẫn với kẻ mới ra sa trường lập nghiệp như tôi.

Tôi gật đầu với cậu ta, cậu ta lại nói:

"Tôi có thể nhờ chị một việc được không?"

"Việc gì chú cứ nói!" – Tôi đáp.

Trần Quốc Toản thiêm thiếp cố mở mắt ngước lên trời, giọng nói càng lúc càng nhỏ như mất hút trong đêm đen:

"Chị đừng đem xác tôi về, tôi không muốn cái chết của bản thân trở thành trò cười của hậu thế.

Dù sao ra trận giết giặc nhưng bị rắn cắn chết cũng không vẻ vang gì."

Cậu ta nói thế rồi thiếp đi thật, Hoài Văn quân rơi vào trạng thái bi thương.

Tôi cũng mệt mỏi sau chuỗi ngày hành quân đường xa nên cũng tựa lưng vào gốc đại thụ chợp mắt.

Sáng hôm sau chúng tôi nhổ trại rời khỏi, lúc phóng lên ngựa bỗng nghe phía sau có tiếng càm ràm:

"Tôi vẫn chưa chết, chị gạt tôi?"

"Tôi đâu có nói là con rắn đó có độc!"

Tôi nói xong thì thúc ngựa đi thẳng, bỏ lại đằng sau tiếng Trần Quốc Toản không ngừng chửi chó mắng mèo.

Ôi cái thằng nhóc này ngay cả rắn độc và không độc còn chẳng phân biệt được nữa mà còn học đòi đi đánh giặc.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 69: Gióng Trống Khua Chiêng Làm Bậy


Về tới Thiên Trường thì tôi hay tin cha tôi báo về, rằng Vạn Kiếp không có quân Thát đóng giữ, đây thật sự là tin tốt nhất từ lúc chiến sự xảy ra đến nay.

Cha tôi cho thuyền chiến chạy dọc theo sông Thái Bình dẫn quân tái chiếm Vạn Kiếp mà không gặp bất cứ trở ngại nào, có lẽ vì khúc sông này lắm dây nhiều mối nên Thoát Hoan không thể kiểm soát được vị trí của cha tôi.

Vạn Kiếp, Thăng Long và Thiên Trường hình thành nên thế vạc ba chân, nếu Thoát Hoan tiến đánh một trong hai thì chắc chắn sẽ bị bên còn lại đánh úp.

Cha tôi biết Thoát Hoan không dám động thủ, liền cử tướng Nguyễn Lộc đi ngược lên Vĩnh Bình chặn đường tiếp tế quân lương, tạm thời giành được lợi thế.

Tôi và Trần Quốc Toản trở về đúng lúc Phạm Ngũ Lão dẫn thêm quân đến Vạn Kiếp hỗ trợ cho cha tôi, anh Quốc Nghiễn và Quốc Tảng cũng lên đường hỗ trợ cho đội quân của Nguyễn Lộc, còn Quốc Hiện và Quốc Uất thì đi do thám vẫn chưa trở về.

Trong số những người chưa trở về còn có bọn Trần Kiện, Trần Lộng, cả chị Anh Nguyên và chị Thụy Hữu.

Không phải tôi đặc biệt chú ý đến họ, nhưng những mâu thuẫn xảy ra từ trước khiến tôi vẫn nơm nớp lo sợ dù bọn họ cũng không đi chung.

Sáng hôm sau Quốc Uất và Quốc Hiện cũng trở về, duy chỉ bốn người nọ vẫn bặt vô âm tín.

Trong lòng tôi nhác thấy điềm chẳng lành, bèn xin Trần Khâm đích thân dẫn quân đi hỗ trợ.

Trần Khâm còn đang lưỡng lự thì cả hai anh của tôi đều xin được đi theo, anh ta mới gật đầu.

Chúng tôi lần theo dấu chân ngựa về hướng họ từng đi qua.

Chị Anh Nguyên và Thụy Hữu được lệnh đi dọc theo dòng sông Đáy hướng dần về kinh thành, theo dấu vết để lại thì chúng tôi đang đi đúng hướng.

Tôi cho quân vừa đi vừa cảnh giác dọc đường, sợ rằng chị tôi vì bởi trúng tập kích của quân Nguyên nên không về được.

Nhưng chỉ đi được nửa đường thì lính tiên phong báo đã gặp được đội quân của bọn Trần Lộng, đi thêm một lát tôi đã thấy doanh trướng của quân ta lúp xúp sau tán cây.

Quốc Hiện dẫn đầu đám chúng tôi, bỗng nói:

"Kỳ lạ, có cả những người mà Anh Nguyên mang theo, bọn họ đi chung từ bao giờ thế?"

Quốc Uất ngay lập tức thúc ngựa lên phía trước, chưa đợi tới gần đã từ trên ngựa phóng xuống lao vào trong doanh.

Tôi cố sức chạy theo nhưng đã bị anh bỏ xa một khoảng.

Phía đó bỗng truyền tới giọng nói của vài binh sĩ:

"Đây là trại của Văn Chiêu Hầu, các người là tướng lĩnh ở đâu!"

Anh tôi không nhiều lời trực tiếp đá văng tên đó qua một bên, binh sĩ đều đứng dậy tuốt gươm, tôi nhanh chân dẫn quân vào trong dõng dạc nói:

"Đây là Hưng Hiến vương ở Vạn Kiếp, kẻ nào dám cản?"

Trong đám binh lính gần phân nửa là người mà chị Anh Nguyên mang theo, lúc này mới đồng loạt bước ra nói:

"Bẩm vương, binh lính của Văn Chiêu hầu và Chương Hiến hầu bảo rằng bị quân Nguyên tập kích nên chạy đến xin cứu trợ, Chương Hiến hầu đổ bệnh nên được hộ tống đến đây trước, Văn Chiêu hầu thì đi sau tìm cách cắt đuôi quân Nguyên.

Sáng nay nghe tin Văn Chiêu hầu trong lúc lui quân trúng phải mai phục, Anh Nguyên quận chúa gấp rút đưa chúng tôi đi tiếp viện cho y, đến nơi thì nghe tin Văn Chiêu Hầu bị thương đang trú trong hang đá.

Lát sau tôi thấy quận chúa ra khỏi hang, nhanh chóng rút quân trở về."

Quốc Uất nghe thế, ngay lập tức trầm giọng hỏi:

"Vậy ban đầu chỉ có một mình Thụy Hữu bên trong thôi sao?"

Anh tôi chỉ hỏi vậy thôi chứ không đợi trả lời đã nhanh như cắt bước về phía doanh trại, lửa giận của tôi bốc lên ngùn ngụt, tôi cầm kiếm chỉ vào đám binh lính của Văn Chiêu hầu, gằn giọng:

"Lần này đám các ngươi chết chắc!"

Vừa nói xong đã nghe xoạch một tiếng, cửa doanh trướng mở ra.

Tôi thấy chị Anh Nguyên đang dìu chị Thụy Hữu bước ra cửa, trên tay chị vẫn cầm trường thương như trước, ánh mắt long sòng sọc.

Chị Thụy Hữu nhìn thấy anh tôi thì cả người run lên một cái, lại cúi mặt nép vào chị Anh Nguyên.

Trong lòng tôi có dự cảm không lành, dù đã nắm chắc được bảy phần nhưng vẫn hy vọng mình đoán trật.

Chị Anh Nguyên thấy bọn tôi thì quát lên:

"Đến đúng lúc lắm, mau giết tất cả bọn chúng!"

Trần Kiện và Trần Lộng lúc này cũng từ doanh trướng đi ra.

Nghe chị Anh Nguyên nói vậy, Trần Kiện liền đáp:

"Có sai phạm gì thì về cho Quan gia định đoạt, không đến lượt các người ở đây giễu võ giương oai."

Anh Quốc Uất lập tức đấm cho hắn một cú khiến hắn hộc cả máu mồm.

Từ trước tới nay anh tôi đối nhân xử thế rất ôn hòa, sống trong phủ vương luôn là người chịu thiệt.

Vậy mà bây giờ anh tôi giận tới mức ra tay đánh người, đủ hiểu anh đã vô cùng căm tức.

Tôi biết vẫn nên xem trọng chuyện lớn trước, nhưng nhìn Trần Kiện bị đánh lăn quay ra đất vẫn không nén nổi sảng khoái trong lòng.

Gương mặt điển trai của Trần Kiện bị đánh đến méo xệch, vẫn nhếch môi cười ngồi dậy.

Anh ta lau máu trên khóe môi, liếc mắt nhìn anh tôi cười khiêu khích:

"Yên tâm, tao sẽ chịu trách nhiệm với vợ chưa cưới của mày!"

Tôi kéo anh Quốc Uất lại, sợ anh tôi giận quá mất khôn.

Chúng tôi đưa chị Thụy Hữu trở về, trên đường về chị ấy từ chối đi chung ngựa với anh tôi, chỉ ngồi tựa đầu lên vai chị Anh Nguyên nhìn về nơi xa xăm nào đó.

Tôi cũng ngại hỏi chị Anh Nguyên đã xảy ra chuyện gì, suốt dọc đường bầu không khí rơi vào trầm mặc.

Chị Thụy Hữu bắt đầu nhốt mình.

Chị Anh Nguyên thở dài nhìn tôi, trước mắt là muôn vàn tự trách.

Tôi chỉ biết an ủi chị.

Chị Anh Nguyên cầm cây thương chọc chọc xuống mặt đất dưới chân, rầu rĩ nói:

"Chị còn nghĩ Trần Lộng không mau chóng trở về, ngu ngốc dây dưa làm gì để quân Thát mai phục đến nỗi bị thương cầu cứu, hóa ra chính chị mới là kẻ ngu.

Chị mang quân đi tiếp viện thì rơi vào bẫy của anh ta, em nói xem lúc chị vào hang đá thì anh ta đã làm gì?

Nếu như chị bất cẩn không mang theo cây thương này vào trong thì kết cục có phải cũng giống như chị Thụy Hữu?"

Thật ra trong tình huống đó ai mà nghĩ được bọn họ sẽ giở trò hèn hạ gì, là phận nữ nhi khoác chiến bào ra trận, còn chưa bị địch giết thì đã bị những kẻ gọi là đồng đội vũ nhục đến chết rồi.

Bọn Kiện Lộng sau khi trở về ngay lập tức đã bị triệu đến cung Trùng Hoa, đây là một cuộc xét xử kín giữa những người trong tộc, còn mấy người chúng tôi do là nhân chứng nên cũng may mắn được vào chầu.

Tôi nhìn anh Quốc Uất đứng tựa vào gốc lê ngoài sân, nhỏ giọng bảo anh cùng vào.

Anh lắc đầu cười nhẹ, nói rằng sợ mình không thể kiềm chế trước mặt bề trên.

Tôi nép mình trong góc quan sát cuộc thương lượng đang diễn ra, Trần Khâm và Thượng Hoàng ngồi ở thượng vị, hai bên tả hữu là Chiêu Minh Vương Quang Khải, Tĩnh Quốc Vương Quốc Khang, Nhân Thành Hầu Trần Duyệt, chỉ thiếu cha tôi hiện đang trấn giữ ở Vạn Kiếp chưa hay tin.

Tôi không dám thở mạnh trước bầu không khí căng thẳng này, tất cả đều hướng mắt xuống hai kẻ đang quỳ bên dưới là Trần Kiện và Trần Lộng, tôi còn mơ hồ nghe thấy tiếng hít thở nặng nhọc của Chiêu Minh Vương.

Thượng hoàng là người lên tiếng phá vỡ cục diện rối rắm, giọng nói ngài vẫn bình thản trước hai kẻ hèn mọn:

"Biết sai mà vẫn phạm thì mang tội gì?"

Trần Kiện và Trần Lộng lúc này không còn mang vẻ giễu cợt tự mãn khi đối mặt với chúng tôi mà tỏ ra rất ngoan ngoãn hiểu chuyện.

Trần Kiện cúi đầu, cung kính đáp:

"Thượng hoàng cho phép thần được nói!"

Sau đó hắn ngẩng gương mặt trông qua có vẻ vô tội của mình lên, nhìn thấy Thượng hoàng gật đầu mới nói tiếp:

"Thần có tình với quận chúa từ lâu, nhưng biết nàng đã có nơi chốn nên không dám mơ ước.

Hôm qua bất cẩn bị quân Thát phát hiện, chúng thần mới tìm đến chỗ đóng quân của quận chúa.

Thần vô dụng đổ bệnh, trong lúc sốt cao mê sảng không nhớ rõ bản thân đã làm việc gì, tỉnh táo lại mới hay đã phạm phải lỗi lầm không thể cứu vãn.

Tội lỗi đã gây ra thần không còn gì chối bỏ, nguyện lấy thân chịu phạt."

Vòng vo một hồi thì ra là tự biện minh.

Tôi nhìn vẻ thành khẩn của anh ta, dạ dày trào lên từng trận.

Còn nhớ hôm đó anh ta chẳng chút lưu tình đánh chị ấy ngã ngựa, hôm nay làm chuyện đồi bại này không loại trừ khả năng muốn ra oai với chúng tôi.

Đội quân của Trần Kiện và Trần Lộng cũng toàn những kẻ ma mãnh, tám phần là bọn họ đã thông đồng cùng nhau.

Trần Kiện lấy lý do mê sảng không làm chủ được bản thân, tôi không tin anh ta tài giỏi đến mức đương lúc bệnh nặng lâm đầu mà có thể áp chế được một người như chị Thuỵ Hữu.

Không gian đang trầm mặc thì chị Anh Nguyên bỗng lớn giọng hô:

"Nói láo, chính anh đã thông đồng với Trần Lộng ức hiếp hai chúng tôi.

Trần Lộng gạt tôi ra ngoài để anh thuận tiện ra tay với chị Thuỵ Hữu.

Chính Trần Lộng cũng vậy, nếu như tôi không cảnh giác thì bây giờ ngay cả anh cũng đạt được mục đích rồi.

Bây giờ bọn anh xong việc rồi muốn nói gì mà không được?"

Tôi không kịp ngăn cản chị Anh Nguyên nên chỉ nắm tay áo chị kéo lại.

Nhưng dường như lúc này ngay cả sức lực của tôi cũng không bì được chị, chị như một con thú bị thương lồng lên, không một ai ngăn cản được sự cuồng nộ muốn giẫm đạp lên tất cả mọi thứ trong tầm mắt nó.

"Anh Nguyên, trước mặt bậc cha chú hãy nói năng cẩn thận, Thượng hoàng còn chưa hỏi tới!"

Anh tư Quốc Hiện lên tiếng quát nhẹ.

Chị Anh Nguyên cũng không đặt anh tư ở trong mắt, chỉ vào bọn Trần Kiện mà mắng:

"Hai người hèn hạ bọn mày, nếu cha tao có ở đây thì bọn mày không còn mạng để ngồi bao biện đâu!"

"Câm ngay!"

Tôi giật thót một cái, hoá ra là Tĩnh Quốc Vương đã tức giận tới mức đập bàn.

Tĩnh Quốc Vương là cha của Trần Kiện, không khó hiểu khi ông ấy tức giận vì những lời lẽ của chị Anh Nguyên.

Chị Anh Nguyên dường như cũng nhận ra mình hơi quá phận bèn ôm mặt khóc thút thít.

Chiêu Minh vương thở dài nói:

"Thôi Anh Nguyên hãy ra ngoài đi."
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 70: Gióng Trống Khua Chiêng Cướp Vợ


Đợi chị Anh Nguyên đi rồi, Chiêu Minh vương mới hỏi Thượng hoàng:

"Vậy bây giờ Thượng hoàng quyết định thế nào?

Con gái tôi cũng không thể chịu ấm ức như vậy được, nó đã có đính ước với phủ Hưng Đạo, tôi không thể làm kẻ bội tín."

Trần Kiện đang yên lặng bỗng nhiên lên tiếng:

"Tội lỗi con gây ra không thể xoá được, nhưng con nguyện dùng cả đời để sửa sai.

Nếu thượng hoàng cho cơ hội thì con nguyện đời này chỉ lấy một mình Thuỵ Hữu quận chúa, không lấy vợ lẽ.

Sau này con của quận chúa sinh ra sẽ kế thừa hầu tước của con."

Chiêu Minh Vương quát:

"Nhà tôi không thèm cái chức hầu cỏn con đó của anh, Quang Khải tôi cũng không có đứa con rể hèn hạ như anh!"

Trần Kiện cúi gằm mặt âm thầm hít một hơi.

Từ góc độ của tôi có thể thấy anh ta cũng không dễ chịu gì, nếu hôm nay may mắn cưới được chị Thuỵ Hữu, chưa chắc quãng đời sau chị Thuỵ Hữu có thể sống dễ dàng.

Nỗi nhục hôm nay trước bao nhiêu người, làm sao anh ta có thể chịu đựng?

Tĩnh Quốc Vương lúc này cũng đứng dậy đến trước mặt thượng hoàng nói khó:

"Chuyện đã đến nước này, các chú định giết nó hay sao?

Nó là cháu ruột của các chú, tuy làm người chẳng ra gì nhưng ít nhất cũng còn trông cậy được vào việc đánh giặc.

Nó là con trai anh thì anh cũng nên chịu một phần trách nhiệm, thôi thì mũi dại lái chịu đòn, muốn mắng muốn phạt thì các chú cứ phạt anh luôn đi."

Chiêu Minh vương cau mày đứng dậy bước đến bên cạnh Tĩnh Quốc Vương, nghi hoặc:

"Anh nói vậy là muốn ép tôi phải nhượng bộ?

Con trai anh là con vàng con ngọc, vậy con gái tôi là sỏi đá ư?

Nếu nó biết trước biết sau, là người đàng hoàng thì chính anh cũng sẽ không khó xử.

Tôi mà có đứa con như vậy, tôi đánh gãy chân nó!"

Thái độ của cả hai, giống như có thể lao vào đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán bất cứ lúc nào.

Cuối cùng Tĩnh Quốc Vương thở dài, xuống nước:

"Quang Khải, anh biết mình không có tài năng gì nổi trội, không thể cùng các chú so về mưu lược hay văn võ, bây giờ ngay cả tranh luận cũng không nói lại chú.

Anh chỉ là đứa con ngoài giá thú, chẳng phải là máu mủ chính thống của tiên đế, so với các em thì chỉ là gà trong bầy hạc."

Chiêu khổ nhục kế của Tĩnh Quốc vương quả nhiên có tác dụng, ngài ấy vừa nói lấp lửng như thế, thượng hoàng đã không cầm lòng được mà buông lời an ủi:

"Anh cả đừng nói vậy, còn nhớ ngày xưa anh cả thường cùng ta chơi đùa trước mặt tiên đế.

Tiên đế mặc áo bông trắng còn anh thì múa kiểu người Hồ, tiên đế bèn cởi áo ban cho.

Lúc đó ta cũng học đòi múa kiểu người Hồ để đòi thưởng áo bông."

Khi ấy Tĩnh Quốc Vương đã nói rằng:

"Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi.

Nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?"

Lúc ấy tiên đế bèn cười bảo:

"Vậy ra Quốc Khang coi ngôi vua cũng chỉ như cái áo bông này thôi à?".

Thượng hoàng hồi tưởng xong, dừng một chút lại cười nói:

"Anh cả và ta tuy không cùng cha, nhưng chúng ta ở cạnh nhau từ nhỏ tới lớn thì không nên nói những lời như vậy.

Thôi thì giữa Quang Khải và anh cả là anh em cùng mẹ, giữa anh cả và Quốc Tuấn cũng là anh em cùng cha, ta tin Quốc Tuấn sẽ bỏ qua chuyện này.

Quang Khải hãy nhượng bộ một bước để Thuỵ Hữu gả cho Trần Kiện, đều là con cháu trong nhà hết mà, trẻ nhỏ không hiểu chuyện thì chúng ta từ từ dạy."

Đầu tôi đã rối như mớ bòng bong, thầm nghĩ quan hệ nhà mình đúng là quá mức phức tạp.

Lúc này Chiêu Minh vương không nói được gì nữa, bèn hít mạnh một hơi, đáp:

"Thượng hoàng đã đứng về phía anh ấy thì tôi còn có thể nói gì.

Nhưng sau này nếu như có chuyện ngoài ý muốn xảy ra, chính tay tôi sẽ kết liễu nó!"

Nói xong thì ngài mở tung cửa, ưỡn ngực đi thẳng.

Tôi nghe tiếng Trần Khâm vang lên bên tai:

"Bây đâu, đem Trần Kiện và Trần Lộng đánh mỗi đứa năm mươi roi!"

"Quan gia..?" – Tĩnh Quốc Vương lập tức nhảy dựng lên hỏi.

Trần Khâm nói với Thượng hoàng và Tĩnh Quốc Vương đang nghi hoặc, thanh âm chắc như đinh đóng cột:

"Chú cũng đang gọi tôi là quan gia đấy!

Phép nhà thì đành nghe theo bậc cha chú định đoạt, nhưng về phép nước thì phải nghe theo tôi!"

Cái vẻ mặt xấc láo của Trần Khâm đúng là làm tôi ấn tượng lắm thay.

Tôi nhìn thái độ không cam tâm của Tĩnh Quốc Vương, âm thầm cười lạnh, mọi chuyện ngay từ đầu nên diễn ra theo hướng này.

Tôi tha thiết nhìn Trần Khâm, mong anh có thể rút lại ý chỉ của Thượng hoàng, nhưng rốt cuộc anh lại dời ánh mắt đi.

Tôi hiểu mọi chuyện giờ đã như đinh đóng cột.

Tôi nối đuôi theo đoàn người rời khỏi cung Trùng Hoa, từ xa nhác trông thấy Quốc Uất vẫn đứng cạnh cây lê già, trông bộ dạng vừa có chút bất cần lại như mang vẻ lo lắng không yên.

Tiệc tàn người tan, kịch hay cũng vãn, chỉ có anh ấy là vẫn trông ngóng một kết quả dù biết nói ra chỉ khiến ta càng thêm thất vọng não nề.

Nghe tiếng bước chân tôi lại gần, Quốc Uất ngay lập tức bừng tỉnh.

Chân tôi chần chừ không muốn bước, anh ấy đã sải bước tới nắm lấy góc áo tôi, gấp rút hỏi:

"Kết quả thế nào rồi?"

Tôi không dám nhìn vào mắt anh, ấp úng nói:

"Thượng hoàng...

đã ban hôn cho họ rồi."

Trước đây tôi vốn nghĩ anh tôi đối với chị Thụy Hữu chỉ như hoa rơi cố ý, nước chảy vô tình, nhưng xem ra hiện giờ mọi chuyện không đơn thuần là vậy.

Cũng chẳng biết là do anh tôi che giấu quá giỏi hay lúc mất rồi mới bất chợt nhận ra, nhưng dù thế nào thì chuyện cũng đã muộn màng.

Anh Quốc Uất loạng choạng một cái rồi thở hắt ra, miễn cưỡng cười đáp:

"Cũng tốt..."

Vẻ bất cần là thứ tôi thường thấy nhất trên gương mặt anh, tôi tưởng đâu cả đời này anh sẽ luôn mang vẻ bất cần như thế.

Anh buông vạt áo tôi ra, giọng nói như bị hụt hơi:

"Chấp nhận thôi... nên chấp nhận thôi.

Từ trước đến nay anh chưa từng gieo hy vọng cho em ấy, xem như việc tốt đẹp nhất anh đã làm cho em ấy rồi.

Trần Kiện, trước con mắt nhìn chằm chặp của Thượng hoàng, tốt xấu gì nó cũng sẽ không dám càn quấy."

Tôi đứng sóng vai anh, nhỏ giọng hỏi:

"Chị ấy đã như thế, anh không suy nghĩ gì ư?"

Quốc Uất khoác vai tôi, lại cười vô tư lự:

"Em còn chưa hiểu anh hai em hay sao, anh giống kẻ coi trọng những thứ nhảm nhí đó hử?"

Xưa nay những kẻ thường tỏ ra thờ ơ mới là những kẻ nặng tình.

Ngày xưa cha tôi dùng chiêu cướp dâu ngay trước mũi tiên đế, Trần Kiện lần này dùng cách tương tự nên không loại trừ khả năng Thượng hoàng cũng chẳng muốn truy cứu tới cùng.

Tĩnh Quốc Vương dùng khổ nhục kế, hẳn trong lòng cũng nắm được chín phần, phần còn lại may mắn cho ông ta vì cha tôi đang bận việc quân ở Vạn Kiếp, muốn ép nhà chúng tôi vào thế đã rồi.

Mọi chuyện còn chưa kịp lắng xuống và bọn Trần Kiện Trần Lộng còn chưa bị trừng trị thích đáng thì do thám của ta ở vùng Bố Chính báo rằng quân của Toa Đô đã từ nam đánh ra.

Tuy biết đây chỉ là sớm muộn, nhưng trong lúc chúng tôi đang giữ thế chủ động thì việc có một lực lượng khác cầm mũi giáo chỉa từ sau lưng khiến tình thế của cuộc chiến này đã rẽ sang hướng khác.

Trần Kiện và Trần Lộng ngay lập tức xin dẫn một vạn quân đi lấy công chuộc tội.

Tuy không biết bọn họ có thành công ngăn cản được quân Thát hay không, nhưng việc Toa Đô tiến ra bắc đã cứu hai gã này một bàn thua trông thấy.

Lần này tôi không có ý kiến với quyết định của Thượng hoàng, tôi biết việc cấp thiết nhất là đuổi quân địch đi trước đã, còn việc nhà cứ từ từ tính sau.

Trần Kiện và Trần Lộng tuy làm người tệ hại, nhưng nói về việc quân thì không thể phủ nhận bọn họ chiếm được lòng tin nhất định từ phía Trần Khâm.

Dù vậy nhưng chẳng hiểu sao nhìn hai gã dẫn quân rời đi, trong lòng tôi bỗng dâng lên cảm giác lo sợ.

Chẳng lẽ vì đã từng thất vọng nên dù có làm cách nào cũng không thể lấy lại niềm tin chăng?

Kiện Lộng dẫn quân đi chặn Toa Đô thì phía đại quân của chúng tôi cũng bắt đầu chuẩn bị để đánh về kinh thành.

Khi cha tôi đang đóng ở Vạn Kiếp tiếp ứng thì chúng tôi phải tranh thủ thời cơ, hy vọng Trần Kiện không phụ tin tưởng, giữ chân Toa Đô cho đến khi chúng tôi tái chiếm lại Thăng Long.

Sáng sớm hôm sau, Trần Khâm tập hợp tất cả những binh lính tinh nhuệ chuẩn bị tiến về phía thuyền chiến đang neo đậu ở bãi sông Nhị Hà.

Tiếng trống cùng tiếng tù và nổi lên như muốn làm đất bằng dậy sóng, lá cờ vàng thêu chữ Trần màu đỏ rực phấp phới bay trên nền trời buổi bình minh, quân ta liên tục hô vang hai chữ "Sát Thát".
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 71: Trong Thành Bố Vệ


Trần Quốc Toản là người đầu tiên nhận ra sự khác lạ của tôi, có lẽ do cậu ta đứng cùng với tôi trong hàng ngũ của Hoài Văn Quân.

Cậu ta đứng quay lưng về phía tôi, vừa sửa yên ngựa vừa như bâng quơ hỏi:

"Trận chiến sắp tới sẽ còn ác liệt hơn lúc đầu, sao nhìn chị cứ như ở tận đâu đâu?"

Tôi cũng chẳng biết nói sao, nếu nói ra thì cậu ta chắc chắn sẽ nghĩ tôi mang thành kiến quá lớn.

Tôi ậm ừ tiếp tục nghĩ ngợi, lát sau lại vô thức hỏi:

"Chú nghĩ đám Trần Kiện liệu có đủ năng lực để đảm đương trọng trách này không?"

Tôi cứ tưởng Trần Quốc Toản sẽ nói tôi múa rìu qua mắt thợ, nhưng cậu ta lại phì cười:

"Nếu chị nghi ngờ thì sao không tự mình đi kiếm chứng?"

Tôi chỉ vào mũi mình, ngốc nghếch hỏi:

"Kiểm chứng?"

Trần Quốc Toản lại cong môi cười tỏ ra đắc ý, rồi nghiêng đầu về phía sau nhìn tôi:

"Nếu sợ thì tôi đi cùng chị!"

Cảm giác như có người nhìn thấy mình đốt nhà người khác còn tốt bụng mang thêm một thùng dầu.

Tôi vô thức nhìn về phía Trần Khâm, thấy anh vẫn đang kiểm tra quân số trước khi xuất trận, thỉnh thoảng lại liếc sang tôi giống như muốn nghe tôi và Trần Quốc Toản đang nói gì.

Tôi nheo mắt nhìn Trần Quốc Toản, nghi hoặc nói:

"Lần này tiến quân về kinh là cơ hội tốt để chú lập công đấy!"

Trần Quốc Toản thở dài:

"Kể từ lúc tôi giao Hoài Văn Quân cho chị thì số mệnh của tôi và chị đã bị buộc chặt vào nhau rồi!"

Câu này của Trần Quốc Toản nghe ra có vẻ không đúng lắm.

Sau này thiên hạ thái bình, cậu ta tuỳ tiện nói với vài cô gái cả tin những câu tương tự thì e là lại thêm lần nữa đổ máu.

Đoàn quân đã bắt đầu chuyến hành trình đến bến sông Nhị Hà, tôi nhìn lớp lớp quân binh lần lượt rời khỏi nhưng hơn một nghìn người của Hoài Văn quân vẫn đứng im như phỗng bên cạnh thì hết sức ngạc nhiên.

Trần Quốc Toản nhoài người phóng lên ngựa, nghiêng đầu nhìn tôi:

"Nhân lúc này không đi còn chần chừ đến khi nào nữa?"

Tôi chỉ ngẩn ngơ một chút rồi nhanh chóng mỉm cười tự tin bước lên ngựa, nhân lúc đại quân đang tiến lên như vũ bão thì tôi cùng Trần Quốc Toản và Hoài Văn quân rẽ gió đi ngược về phương Nam.

Có lẽ lúc Trần Khâm phát hiện ra thì tôi đã bị tụt lại phía sau lâu lắm rồi.

Một vạn quân của Trần Kiện đóng ở Thanh Hóa, tôi dự tính cùng với Trần Quốc Toản đem Hoài Văn Quân trà trộn vào trong quân của Trần Kiện để tiện cho việc theo dõi.

Chỉ trong nửa ngày, Hoài Văn quân đã ép sát chỗ đóng quân của Trần Kiện ở thành Bố Vệ.

Tôi và Trần Quốc Toản cùng hơn nghìn Hoài Văn quân nằm chờ thời cơ bên ngoài thành Bố Vệ, ngựa chiến để lại cho lính canh ở bìa rừng, nhân lúc Trần Kiện duyệt binh trở về đi ngang qua núi Đá Chẹt bèn âm thầm lẻn vào trong.

Bên dưới sườn núi là bóng râm của những tán cổ thụ già nua và ánh chiều tà đổ lên vách núi, chúng tôi như những bóng ma chui lên từ lòng đất len lỏi vào giữa đội quân hàng vạn người.

Trần Quốc Toản mặc trang phục bình thường của binh sĩ, nhỏ giọng bảo tôi:

"Sao không quang minh chính đại vào thành cho rồi."

Tôi liếc cậu ta, khinh thường đáp:

"Không có lệnh vua mà ngang nhiên vào đây, bộ chú muốn Hoài Văn quân bị tên bắn như con nhím trước cổng thành Bố Vệ hả?"

Trần Quốc Toản hậm hực quay đi, tôi thầm nghĩ cái tên này chẳng biết có làm hỏng việc lớn của mình không nữa.

Tôi vừa đi vừa nghĩ ngợi, bẵng đi một lúc bỗng nhiên đâm sầm vào một tấm lưng cứng như đá, ngước mắt lên thì thấy trước mặt là một gã đàn ông cao hơn tôi một cái đầu, râu tóc lúng phúng nhìn không rõ ngũ quan, đích thị là dáng vẻ của một người lính lăn lộn nơi trận mạc.

Anh ta cúi đầu nhìn tôi, tôi chưa kịp lấy lại tinh thần thì Trần Quốc Toản đã kéo tôi ra sau lưng cậu ta cười giả lả:

"Cậu ta là lính mới, anh đừng để bụng!"

Tôi nhìn cái điệu cười tởm lợm trên mặt Trần Quốc Toản thì bỗng thấy không quen.

Gã đàn ông nọ cau mày, cáu gắt nói:

"Nếu là lính mới thì mau về thành canh gác đi, đừng phiền bọn tao."

Lúc này tôi mới để ý gã đàn ông đó và toàn bộ những người đang cởi trần bên cạnh con suối đều có hình xăm thái long, chính là toán lính của Trần Lộng.

Tôi chẳng muốn dây dưa với đám này, bèn cùng với Trần Quốc Toản và vài người khác định lủi đi, nhưng bất thình lình lại có kẻ khác nắm lấy cổ tay tôi, bảo:

"Trước lạ sau quen, anh cho chú nhập bọn!"

Xung quanh rộ lên tiếng cười châm chọc, tôi cảm thấy tình huống này có lẽ là việc dễ xảy ra nhất khi một cô gái giả trai.

Vì đề phòng mà tôi đã cúi gằm mặt và không hề lên tiếng suốt quãng đường, ai ngờ vóc dáng thấp bé lại khiến những kẻ thiếu thốn này nổi lên hứng thú.

Tôi nhìn Trần Quốc Toản, cảm thấy cậu ta còn trắng trẻo đáng yêu hơn gương mặt già nua của tôi, ít ra cậu ta chỉ mới mười bảy tuổi còn mơn mởn xuân thì, rất có hương vị.

Nhưng cốt yếu là cậu ta chẳng khác gì ông cụ non, nên trông thật nhàm chán.

Trần Quốc Toản nắm lấy cổ tay tôi giằng lại.

Nhìn ánh mắt như muốn giết người của cả hai, đột nhiên tôi nổi da gà.

Trong lúc tưởng chừng xảy ra một cuộc ác chiến thì bỗng vang lên tiếng tù và, gã đàn ông đang nắm tay tôi "hừ" một tiếng buông tôi ra, tất cả bọn họ cùng mặc lại áo nhanh chóng bước trở về thành Bố Vệ.

Trong lòng tôi vỡ oà, nhanh chân bước theo họ.

Đi một đoạn, Trần Quốc Toản bỗng kề tai tôi nói:

"Bị ức hiếp như vậy cũng không biết chống trả hả?"

Tôi cười bảo:

"Chẳng phải có chú đấy ư?"

Mắt Trần Quốc Toản loé lên tia tinh nghịch, bèn đáp:

"Tôi cảm thấy tắm chung cũng là một hình thức trau dồi tình cảm, nhỡ đâu trong lúc tắm có thể nghe được một vài tin tức hay ho thì sao?"

"Được rồi, tắm cùng vài lần bọn họ sẽ đè chú ra xăm mình đấy lính mới ạ!" – Tôi nói.

Lúc này Trần Quốc Toản mới chịu im, xem ra cũng biết sợ.

Tôi lại thoáng nghĩ tới dòng dõi đế vương cũng xăm mình, chẳng biết có đau lắm không, tuy hình xăm trên đùi xem qua cũng có vẻ rất ngầu.

Chúng tôi theo lệnh trở về thành.

Theo lý mà nói, những tòa thành sắp có chiến loạn quân lính sẽ làm công tác sơ tán người dân ra khỏi thành đến khu vực an toàn, nhưng tôi thấy trong thành Bố Vệ này giống như quân binh vẫn bình chân như vại, quan đi đường quan dân đi đường dân.

Có nhiều tốp người tự mình rời thành trong hỗn loạn, thậm chí đôi lúc còn giẫm đạp lên nhau.

Thấy binh mã hành quân đi vào, bọn họ liền tự động tránh ra.

Trần Quốc Toản chỉ tay vào một đám binh lính đằng xa, gằn giọng:

"Nhìn kìa, bọn chúng bắt bớ dân lành!"

Tôi nhìn theo hướng cậu ta, chỉ thì thấy đám lính đó bắt cả gia súc, khuân đi lúa gạo, quá đáng hơn là bọn chúng còn dám ra tay với cả những cô gái trẻ trong thành.

Trong lòng tôi dâng lên một nỗi căm phẫn nhưng lý trí vẫn chiến thắng, tôi lên tiếng can ngăn Trần Quốc Toản:

"Đừng quên chúng ta chỉ là bọn giả mạo.

Khoan nóng lòng, họ sẽ nghi ngờ đấy!"

Trần Quốc Toản hít một hơi thật sâu, lại quay mặt tiếp tục đi thẳng, nhưng chỉ có tôi là trông thấy cậu ta đang nghiến răng ken két, sợi gân xanh trên trán cũng dần hiện ra.

Lần trước bọn người này đã lén lút mổ trâu, nay đơn lẻ đưa quân đến Bố Vệ lại càng như cá gặp nước.

Xem ra Toa Đô còn chưa tới thì người dân đã phải chịu cảnh ly tán, mất người mất của rồi.

Buổi tối đến lượt tôi và Trần Quốc Toản canh cổng.

Tôi ngồi ngáp ngắn ngáp dài, Trần Quốc Toản thì đứng khoanh tay nhìn chăm chú vào khoảng không dường như suy nghĩ lung lắm.

Tôi ném viên đá trúng vào cánh tay cậu ta, hỏi:

"Chú cũng có chung suy nghĩ với tôi đúng không?"

Trần Quốc Toản đáp:

"Tôi tưởng chị quên mất rồi!"

Nhìn thái độ hằn hộc cậu ta, chắc là còn đau đáu về chuyện kia hơn cả tôi nữa.

Sắc trời đã quá nửa đêm, không gian tĩnh lặng như tờ, dù là một chiếc lá rơi cũng nghe rất rõ.

Trong khung cảnh tưởng yên bình như thế, đâu ai biết đôi khi ngày mai lại có một cuộc ác chiến xảy ra.

Tôi gọi hai người của Hoài Văn quân thế chỗ, cùng Trần Quốc Toản lần mò đến nơi giam giữ những cô gái bị bắt lúc chiều.

Hơn nghìn người của Hoài Văn quân len lỏi trong đội quân của bọn Kiện Lộng giúp tôi nắm được đường đi nước bước của chúng, ví như những cô gái này bị nhốt trong một căn phòng phía tả đối diện vườn hoa.

Phàm là đi làm những việc lén lút thế này thì càng ít người càng tốt, thế nên tôi và Trần Quốc Toản chỉ mang theo năm người tinh nhuệ nhất của Hoài Văn quân, cùng đi giải cứu những cô gái gặp nạn.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 72: Hai Đầu Chiến Tuyến


Tìm và cứu những cô gái này không khó, cốt yếu là làm sao để tránh tai mắt của đám người Trần Kiện, nhưng việc này cũng không phải nan giải đối với tôi.

Từ xưa đến nay, bất cứ nơi nào, bất cứ chuyện gì, dù có kín kẽ bao nhiêu thì vẫn có lỗ hổng, chúng tôi đã tìm được đường tắt ra khỏi thành mà không cần tốn chút sức.

Nhưng vấn đề phát sinh vào lúc bọn tôi đưa người đi, ấy vậy mà lại vô tình phát hiện ra bọn Trần Kiện Trần Lộng và đám tướng dưới quyền của đang tiệc tùng đình đám.

Tôi nhìn qua khe cửa thấy bên trong rượu thịt ê hề, đàn hát thoả thích, quả là chốn lạc thú của nhân gian.

Nhưng khi đem so với hiện thực đất nước đang bị ngoại xâm giày xéo, người dân không đủ cơm ăn thì đúng là một trời một vực.

Chà chà, không biết Trần Khâm sẽ cảm thấy thế nào khi bậc vua chúa như anh ta phải ăn cơm trắng cá khô, còn đám thần tử này lại sau lưng ăn thịt uống rượu đây nhỉ, nghĩ tới thôi cũng thấy thật đặc sắc.

Tôi định chỉ đứng ngó qua một lát rồi sẽ đưa người đi ngay, nhưng trời xui đất khiến thế nào lại nghe giọng của Trần Lộng cất lên sang sảng giữa những tiếng đàn réo rắt:

"Do thám báo lại là Toa Đô đã kéo quân đến trại Nghệ An rồi, anh có đối sách gì chưa?"

Tôi dỏng tai nghe, thầm nghĩ Toa Đô bắc tiến nhanh thật.

Tôi tưởng ông ta lăn lộn ở Chiêm Thành ngần ấy năm chắc chỉ còn cái vỏ rỗng bọc lấy đội quân đã đói khát kiệt quệ, không ngờ tốc độ tiến quân lại thần tốc thế này.

Trong lúc vô thức tôi lại càng ép sát vào vách phòng, lại nghe giọng Trần Kiện đáp lời, thái độ dửng dưng như không:

"Không có, cũng không cần."

Tôi vô cùng ngạc nhiên, ngay cả cha tôi quen với việc quân còn phải lúng túng khi gặp đội quân hùng mạnh như Thát Đát, còn Trần Kiện lại chẳng hề nao núng trong lòng.

Chả lẽ anh ta là thiên tài quân sự nghìn năm có một?

Tôi nghe giọng của Trần Lộng có vẻ khẩn trương:

"Ngày thường anh luôn là kẻ suy nghĩ sâu xa, sao hôm nay lại thờ ơ vậy?

Hay là..."

Trần Kiện chợt cắt ngang:

"Không có mưu kế gì cả, trận này tôi vốn không định đánh!"

Tôi giật thót cả người vội quay sang nhìn Trần Quốc Toản, tuy chỉ có chút ánh sáng lờ mờ từ mấy ngọn đèn lồng nhưng tôi gần như thấy được sắc mặt cậu ta đã tái xanh.

Trần Lộng bên trong có vẻ cũng bất ngờ, hốt hoảng nói:

"Đừng nói với tôi là anh muốn hàng giặc đấy nhé?"

"Như vậy thì sao!" – Trần Kiện điềm nhiên đáp.

"Anh còn hỏi tôi thì sao ư?"

Tôi lại nghe tiếng Trần Kiện thở dài:

"Hơn hai năm trước Toa Đô dẫn hai mươi vạn quân đánh Chiêm, tuy bọn chúng chiến đấu vất vả khiến quân số tổn hao không ít nhưng với một vạn quân này của chúng ta thì cũng chỉ như muối bỏ bể thôi.

Nếu như thất bại trở về thì tội chồng lên tội, anh có mấy cái mạng để thế chấp?

Tuy nói cha tôi là anh cả của Thượng hoàng nhưng thực quyền không có, ta đắc tội Chiêu Minh Vương, Hưng Đạo Vương, và có vẻ quan gia cũng không hề đứng về phía ta.

Tuy tránh được năm mươi roi nhưng đợi chúng ta ở nhà không phải là nhung gấm lụa là, mà chính là nước sôi lửa bỏng!"

Lại ngừng một lúc rồi bất đắc dĩ nói:

"Nhưng nếu đầu hàng, mai sau nếu như người Nguyên thắng thì vinh hoa phú quý anh hưởng không hết đâu, không khéo lại được làm vua một cõi!"

Tôi nghe tiếng đập bàn, thứ âm thanh réo rắt bỗng đứt quãng:

"Nhưng không phải vì thế mà chúng ta lại đi làm chuyện bán nước hại dân!"

Trần Kiện bỗng nhiên cười lớn:

"Anh nghĩ mình còn đường để thoái lui sao, ngay từ đầu tôi và anh đã ngồi chung một chiếc thuyền.

Chúng ta có hoạ cùng chịu, có rượu thịt thì cùng hưởng, nếu hàng giặc thì cả hai cùng hàng, ha ha ha!"

Ồ, hai kẻ này đúng là anh em tình thâm, một đôi bạn cùng tiến.

Nhưng có vẻ đôi bạn này sắp sửa nảy sinh mâu thuẫn đây.

Bỗng nghe tiếng bàn ghế đổ vỡ, cánh cửa phòng đột ngột mở tung, tôi vội nép sát vào bóng tối bên cạnh giơ tay làm động tác im lặng với Trần Quốc Toản.

Nhưng lúc nghĩ rằng mọi chuyện êm xuôi rồi thì một mũi kiếm từ trong phòng xuyên qua vách, đâm ngang mạn sườn tôi, tuy không trúng nhưng chỉ cần một li nữa thôi là tôi đã rơi vào cảnh hồn một nơi xác một ngã.

Trong lúc thế này tôi chỉ biết dùng ánh mắt giục Trần Quốc Toản mau đưa người đi, còn mình thì lao ra giữa bốn bề toàn địch.

Cũng may Trần Quốc Toản làm người có đầu óc, không nói hai lời đã mất hút trong đêm đen.

Lúc này người quan ngại lại là tôi, tôi cũng không rõ là do Trần Quốc Toản biết nghĩ cho chuyện lớn hay cậu ta thật tình muốn vứt bỏ tôi nữa.

Tôi cầm chân bọn Trần Kiện cho đến khi cảm thấy có lẽ Trần Quốc Toản đã an toàn rời đi thì cũng đến lúc sức cùng lực kiệt, hi vọng cậu ta nhanh chóng đem tin tức này về báo cho Trần Khâm nhanh lúc nào mừng lúc đấy chứ tôi cũng chẳng cần cậu ta quay lại cứu tôi.

Bởi vì rơi vào trong tay hai kẻ điên này thì số phận của tôi cũng xác định.

Tôi phun ra một búng máu trên mặt đất, Trần Kiện tiến tới, chậm rãi đạp lên.

Ánh sáng từ chiếc lồng đèn của Trần Lộng phía sau làm bóng anh ta hắt lên người tôi, từ góc độ của tôi nhìn lên chỉ thấy gương mặt của anh ta méo mó đáng sợ chìm trong bóng tối, có điều đôi mắt sáng trưng như cú vọ vẫn đang nhìn xoáy vào tôi.

Lần trước chạm mặt anh ta với thân phận là phu nhân của quan gia.

Lần này gặp lại, anh ta là tướng trấn giữ một vùng còn tôi lại là một tên không rõ lai lịch trà trộn vào trong quân, vừa nghe lén chuyện cơ mật vừa ra tay đánh nhau với chủ tướng.

Trần Kiện nếu muốn một kiếm đâm chết tôi ngay lúc này cũng không có gì là ngoài khả năng.

Tôi cười hì hì nhìn anh ta, hỏi:

"Lâu rồi không gặp, các anh vẫn khỏe chứ?"

Trần Kiện là kẻ không hề biết đùa, kề dao lên cổ tôi:

"Cô đã nghe được những gì?"

Chất giọng của Trần Kiện trầm thấp lành lạnh trong đêm khiến người ta sởn gai ốc, nhưng anh ta hỏi một câu thật là ngu si.

Nếu như tôi trả lời là có anh ta sẽ lập tức giết tôi, nếu như tôi trả lời là không, anh ta cũng sẽ không tin và lập tức giết tôi, nếu thế thì thà một kiếm chém chết cho rồi.

Trong lòng tôi lúc này chỉ hi vọng Trần Quốc Toản trở về nói tốt cho tôi một chút, tốt nhất là được ghi tên lên sách sử như một người hùng.

Thấy tôi ngoảnh mặt làm ngơ, thanh kiếm trên tay Trần Kiện lại càng kề sát, tôi thậm chí cảm nhận được lưỡi dao sắc lạnh đã cứa rát cổ mình.

Nhưng tôi vốn là kẻ sống kiếp con đỉa, đôi lúc muốn chết cũng chẳng thể chết được.

Trần Lộng tiến hai bước tới giữ lại thanh kiếm trên tay Trần Kiện, cau mày nói:

"Nếu như anh muốn hàng giặc thì người không nên giết nhất chính là cô ta!"

Lần này không những Trần Kiện ngạc nhiên, mà chính tôi cũng một lần nửa phải dỏng tai lên thỉnh giáo.

Trần Lộng thấy Trần Kiện vẫn chưa buông tay, bèn nói:

"Trước đây có lần Thoát Hoan đã đứng trên điện Thiên An đòi quan gia gả cô ta cho mình để đổi lấy mười năm thái bình cho Đại Việt, không đạt được mục đích thì cất công bắt cóc cô ta về Nguyên, rốt cuộc hôm nay để cô ta chạy thoát.

Cô ta vừa trở về không lâu người Nguyên liền tràn qua biên ải, cho dù tên điên Thoát Hoan đó muốn cô ta sống hay chết thì việc anh tận tay dâng người cho gã nói không chừng còn lợi lộc hơn cả việc hàng Toa Đô."

Hoá ra lại là chuyện quái quỷ này à?

Chính tôi cũng không ngờ bản thân mình qua miệng Trần Lộng lại có tác dụng lớn như vậy, thật ngoài ý muốn.

Từ Đại Đô trở về cũng được một thời gian, đến hôm nay tôi mới biết được cái nhìn khách quan mà người ngoài cuộc dành cho mình.

Lần này lại nhờ Thoát Hoan nên tôi mới giữ được mạng, nhưng cũng không vì thế mà tôi biết ơn anh ta.

Bọn Trần Kiện nhốt tôi trong một chiếc cũi sắt, dự định lúc đưa quân đi hàng vừa tránh cho tôi chạy thoát vừa có thể giúp tôi an toàn trong lúc binh hoang mã loạn.

Đêm qua tôi bị bọn Trần Kiện đánh đến nội thương, trong lúc mơ màng thiếp đi trong cũi sắt.

Rất lâu sau tỉnh lại, tôi bỗng nhiên thấy mình đã bị lôi đến giữa chiến trường, trước mặt là Trần Kiện đang cưỡi ngựa chiến.

Gió từ triền núi cuốn theo cả bụi đất thốc vào mặt tôi, ở giữa thung lũng quân binh hai bên đang giáp lá cà, mùi máu tươi xộc vào khoang mũi tanh nồng đến mức khiến tôi buồn nôn.

Nhưng điều đáng nói ở đây là xung quanh tôi ấy vậy mà lại có hàng vạn quân Nguyên hiếu chiến đang lăm le chỉa mũi giáo vào tôi.

Từ phía xa xa, tôi trông thấy một bóng dáng quen thuộc đang ngồi hiên ngang trên lưng ngựa.

Người ấy mặc giáp màu bạc, dung mạo như vầng thái dương rực rỡ làm cơ thể đang lạnh lẽo của tôi cũng bất giác cảm thấy ấm áp hơn.

Dù lúc này gương mặt anh ta tỏ ra nghiêm nghị, dù trên gương mặt tuyệt trần dính không ít máu tươi nhưng với tôi, chàng trai này luôn toát ra một vẻ gì đó rất điềm nhiên, chưa hề nao núng hay run sợ trước thứ gì.

Tuy đứng ở hai đầu chiến tuyến nhưng ánh mắt của anh ta vẫn vượt qua lớp lớp giáo gươm nhìn về phía tôi.

Tôi mỉm cười với anh ta, trong lòng chợt cảm thấy nhẹ nhõm.

Sau này tôi mới biết thì ra sau khi tôi và Trần Quốc Toản lên đường vào Thanh Hoá không lâu thì Trần Nhật Duật cũng tốc hành đem quân dí sát, thậm chí chặn đường tiến quân của Toa Đô tại trại Nghệ An, dùng lượng quân binh ít ỏi mai phục và chiếm được lợi thế trước đoàn quân tuy đông nhưng đã quá mòn mỏi.

Nhưng đáng tiếc là người tính không bằng trời tính, đúng lúc này thì Trần Kiện đem quân ra hàng giặc, cộng với sự uy hiếp với tính mạng của tôi thì Trần Nhật Duật lại rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Cũng may anh ta là kẻ sống bằng lý trí, khi thấy tình thế bất lợi liền lập tức rút quân trở về.

Tôi ngồi tựa đầu vào cũi sắt mệt mỏi đến mức hai mắt nhắm nghiền, nhưng vẫn không nén được buồn cười nói:

"Các anh không bẫy được kẻ ranh mãnh như chú ấy đâu!"

Nhất là bên cạnh còn có một tên khôn vặt Trần Quốc Toản và đứa bé Mạc Đĩnh Chi thông minh kia nữa.

Có mấy người bọn họ đến cứu trong lòng tôi lại càng thêm yên tâm, nhưng cái chính là đừng để Thoát Hoan nhanh chân hơn, tôi chẳng muốn gặp lại anh ta chút nào.

Trần Kiện nghe tôi nói liền quát lớn:

"Câm ngay!

Tưởng cái mạng của cô quý lắm chắc!"

Tôi hừ một tiếng rồi quay mặt sang hướng khác, ít nhất bây giờ bọn người anh ta cũng đâu dám làm gì tôi, mạng của tôi đôi khi còn quý hơn mạng của hai người anh ta đó chứ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 73: Tình Chị Em Cây Khế


Toa Đô chiếm được Nghệ An lại được Trần Kiện chỉ đường đánh ra Thanh Hoá, mặc dù tôi chỉ ngồi trong cũi sắt nhưng cũng chiêm ngưỡng được sức mạnh của bọn chúng khủng khiếp bao nhiêu.

Có điều quân của Toa Đô hiện giờ cùng lắm cũng chỉ còn bảy tám vạn, trong hai năm ở một nước nhỏ yếu như Chiêm Thành mà ông ta để thất thoát gần mười ba vạn quân.

Quanh quẩn trong hai lý do, một là cái chốn rừng thiêng nước độc Chiêm Thành quá ghê gớm, hai là Toa Đô cũng chẳng có gì đáng sợ.

Tôi thì lại thiên về vế thứ nhất hơn, bởi tôi mới vừa được nghe về tiểu sử người này.

Toa Đô là một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, vóc dáng cao lớn với cái đầu trọc cùng hàm râu quai nón trông có vẻ dữ tợn, nhưng theo như tôi thấy thì ông ta so với bọn Trần Kiện hơn hẳn về phong cách làm người .

Những truyền kỳ về Toa Đô không thiếu, ví như việc ông ta là kẻ kiêu dũng thiện chiến, nhờ chiến công mà có ngày hôm nay.

Toa Đô từng chỉ cầm một nghìn quân giữ Thái Xuyên, có trận chỉ một mình mà chém được đầu của ba trăm quân Tống.

Những chuyện đó do con trai của Toa Đô tên là Bách Gia Nô đích thân kể cho tôi nghe, gã này không những nói sỏi tiếng ta mà còn biết nói cả tiếng Chiêm Thành, xem ra việc chịu cực chịu khổ ở Chiêm suốt hai năm qua đã tôi luyện anh ta thành một người thông thái.

Bách Gia Nô tuy thiện chiến nhưng tâm tính rất dễ nắm bắt, tôi chỉ dùng vài câu chuyện lừa lọc là đã lừa được anh ta tin mình sái cổ rồi.

Chẳng biết bao năm qua trên chiến trường hiểm ác kẻ này làm sao mà sống sót nữa.

Lúc Trần Kiện dâng tôi lên, Toa Đô chỉ nhìn tôi một cái, thế nhưng Bách Gia Nô lại rất tốt bụng ném cho tôi chiếc áo choàng, thật làm kẻ đang rơi vào cảnh khốn cùng như tôi lấy làm cảm kích.

Chuyện đời tư của Thoát Hoan có vẻ rất kín kẽ nên Toa Đô chỉ nghe bọn Trần Kiện nói qua rồi để đó chứ không mấy bận tâm.

Tôi thì lấy điều đó làm may mắn, nếu như ông ta xác định được là thật thì với tính cách này có khi tự mình đem tôi áp giải về Thăng Long.

Nhưng cũng có thể là ông ta cảm giác được tôi là thứ hồng nhan hoạ thuỷ nên chẳng thiết tha để tôi gặp lại chủ mình.

Ngày mười ba, tôi lại chính mắt nhìn thấy đội quân của Chiêu Minh vương đến Thanh Hoá hỗ trợ Trần Nhật Duật bị quân của Toa Đô do Trần Kiện chỉ điểm tập kích.

Giới hạn chịu đựng của tôi chắc cũng không còn lâu nữa, việc trải qua đói khát lâu ngày trên một chặng đường dài làm tôi cảm giác mình như mất đi rất nhiều thịt.

Lâu ngày dài tháng ở cái chốn hung hiểm như chiến trường làm tôi chỉ muốn trở về cuộc sống chăm chồng dạy con.

Bách Gia Nô lại ngồi bên cạnh tôi sau cuộc chiến, trông thần sắc anh ta có vẻ mỏi mệt nhưng lúc kể với tôi đội quân của anh ta đã giết được hai tướng của Đại Việt, gương mặt bỗng trở nên hào hứng.

Tôi căng thẳng đến tột cùng vì chỉ qua những lời nói chung chung của Bách Gia Nô tôi chẳng biết được họ là ai, nhưng dù là ai đó cũng là một sự tổn thất to lớn.

Đôi bàn tay nằm dưới cũi sắt của tôi nắm chặt vào nhau đến rướm máu, càng thêm hận hai kẻ Lộng Kiện.

Bách Gia Nô bỗng nhiên luyến tiếc nói với tôi:

"Chiếm được Thanh Hoá thì ngày mai ta phải đưa quân đi hội quân với Trấn Nam Vương, không được trò chuyện cùng mi nữa rồi."

Có vẻ Toa Đô thắng trận này không dễ, chắc là đang tìm cách hội quân với Thoát Hoan để kiếm thêm lương thảo cho đoàn quân đói khát.

Nếu tôi đoán không lầm, Toa Đô sẽ không dại gì mà ở lại giằng co với Chiêu Minh Vương, gã sẽ cho Bách Gia Nô đi dò đường trước sau đó đại quân sẽ về Thăng Long hội họp.

Sự nhiệt huyết trong tôi bỗng ùa về, tôi bày ra vẻ mặt chân thành nhất có thể, thở dài:

"May mắn thật!"

Bách Gia Nô nheo mắt nhìn tôi, tôi lại nói:

"Kiếp này tôi không thể gặp lại chàng, bao giờ anh đến Thăng Long thì nói giúp tôi một câu thương nhớ!"

Bách Gia Nô lại nửa tin nửa ngờ hỏi:

"Thế chẳng phải dạo đó mi từ Đại Đô trốn về à?"

Tôi lại vờ như đau lòng tột độ, nước mắt như hạt châu rơi xuống song sắt, nghẹn ngào nói:

"Nói ra chắc anh không tin.

Ngày đó khi chàng gây dựng thế lực ở Đại Việt chỉ có tôi ngày đêm ở bên, nhưng lúc chàng trở về Nguyên triều thì tôi bị vua Đại Việt bắt về làm vợ.

Sau này chàng vượt đường sá xa xôi đến đây tìm mọi cách đưa tôi về Đại Đô, nhưng ai ngờ tôi bị gian tế bí mật đưa về nước.

Thật ra tôi chưa hề muốn rời xa chàng."

Bách Gia Nô lại nhíu mày càng sâu:

"Ít hôm nữa chẳng phải mi sẽ được về cùng đại quân hay sao, khóc lóc cái gì?"

Tôi ho khụ khụ mấy tiếng, yếu ớt nói:

"Chỉ e cái mạng này không đợi được!" – Đoạn lại cười bảo – "Nhưng anh yên tâm, nếu là chàng chắc chắn sẽ không trách tội cha anh đâu, chàng thương tôi như vậy mà.

Anh cứ bảo rằng tôi chết nhưng vẫn sẽ ở dưới cầu thắng lợi cho chàng, chàng đừng trách những người vô tội."

Đúng vậy, nếu chết tôi sẽ nguyền rủa anh ta đánh đâu thua đó, tuyệt tử tuyệt tôn.

Bách Gia Nô thoáng giật mình, có vẻ thấy được sự việc lần này có thể can hệ tới cha con anh ta.

Người trên đời là vậy đó, chỉ cần không liên quan tới mình thì dù có sóng thần động đất cũng không lo, nhưng hễ mà có liên quan thì dù chuyện có bằng một con kiến cũng phải lo sốt vó.

Bách Gia Nô ngẫm nghĩ một lát, bèn nghi hoặc:

"Làm sao ta tin tưởng mi được?"

Tôi quệt nước mũi trăn trối một tràng giống như ngày mai thì mình sẽ chết thật vậy, sau đó chẳng biết chó ngáp phải ruồi thế nào lại nhắc đến Trà Luân.

Nghe đến Trà Luân, Bách Gia Nô lập tức nhổm dậy, đôi mắt như phát sáng:

"Mi nói Trà Luân công chúa là bạn thân của mi, có thật không?

Khéo quá, ta cũng rất thích nàng!"

Lần này tới lượt tôi mắt tròn mắt dẹt:

"Ơ, lần đó không phải nói Trà Luân sẽ lấy Thiếp Giam Can à?"

Bách Gia Nô vỗ đùi cái đét:

"Đến việc này mà mi cũng biết nữa thì chắc chắn là bạn của Trà Luân rồi.

Trời ạ cái thằng khốn Thiếp Giam Can đó làm sao xứng với nàng, giống như gì ý nhỉ..?

Là là...à, hoa nhài cắm cắm cái gì ý?"

Thằng cha này đúng là...dốt mà còn học đòi chơi chữ.

"Hoa nhài cắm bãi phân trâu!" – Tôi ảo não nói.

"Đúng rồi!

Đúng như vậy đấy!" – Bách Gia Nô lớn tiếng khẳng định.

Tôi khinh thường nhìn anh ta, Thiếp Giam Can không xứng thì anh xứng chắc, nếu lần đó tôi không chính tai nghe Trà Luân kể về chồng sắp cưới của cô ả thì không chừng đã bị bộ dạng ngu ngốc của thằng oắt này lừa.

Bách Gia Nô như tìm được đồng minh, liên tục luyên thuyên về Thiếp Giam Can không xứng với Trà Luân thế này thế nọ làm tôi váng vất cả đầu, nhờ thế sự yếu ớt bệnh tật của tôi càng trông có vẻ thuyết phục.

Lần đầu tiên tôi cảm thấy tình chị em của tôi và Trà Luân dạo đó có tác dụng, dù chỉ là tình chị em cây khế động là đổ.

Bách Gia Nô nói đến mức khô nước miếng rồi thở dốc nhìn tôi, bộ dạng hả hê vô cùng.

Tôi lại khen anh ta và Trà Luân xứng đôi như thế nào, ngày trước Trà Luân kể về anh ta ra sao dù tôi biết ả ta nhiều khi còn không nhớ được mặt của gã ngốc này.

Gương mặt của Bách Gia Nô đúng kiểu trông qua là quên ngay, xấu không xấu đẹp không đẹp, là kiểu rất chung chung.

Đứng trong một toán lính không thể biết anh ta là người nào nếu như bộ quần áo không có phần xa xỉ.

Ước chừng Bách Gia Nô đã xiêu, tôi lại giở giọng buồn rầu:

"Thật ra tôi chỉ cần đi theo Trần Kiện cũng có ngày được gặp lại chàng ấy, nhưng tôi cũng đến lúc sức cùng lực kiệt rồi, sợ là chết trên đường đi gian khổ.

Phần vì tôi cực kỳ ghét hai kẻ đó nên chẳng muốn chúng lập công trước mặt điện hạ, phần lại sợ anh bị liên luỵ, nhỡ đâu tôi chết Thoát Hoan nổi trận lôi đình thì sao?"

Bách Gia Nô lấy tay đấm lên cũi sắt một cái, nổi giận quát:

"Không, ta sẽ không để mi phải chết!"

Tôi nhìn song sắt bị lõm vào một mảng, khẽ nuốt nước miếng đánh "ực", không những có tài bắn cung cưỡi ngựa mà quyền cước của tên này cũng thật là...

Rốt cuộc cũng có lúc tôi thoát khỏi cái cũi sắt khốn nạn này.

Lúc Bách Gia Nô đỡ tôi dậy, cả người tôi không một chút sức ngã nhào vào người anh ta.

Bách Gia Nô đánh giá:

"Gầy quá, xem ra ta không cứu mi thì chỉ vài ngày nữa là mi đi chầu ông bà ông vải rồi!"

Đúng rồi, nhờ ơn anh tất, lần này tổ quốc sẽ ghi công anh.

Chuyến đi về Thăng Long lần này Bách Gia Nô cùng với hai tướng dưới trướng dẫn theo một cánh quân khoảng hai vạn từ Thanh Hóa đi ngược lên.

Bách Gia Nô hết tám phần tin tưởng vào câu chuyện mà tôi bịa ra, để tôi ngồi trước ngực anh ta trên ngựa.

Tôi có chút khó chịu, hằn hộc bảo:

"Như thế này Thoát Hoan không xé xác anh ra mới là lạ!"

Bách Gia Nô cười hề hề có vẻ không để tâm, đáp:

"Quân lính của ta chỉ toàn là kẻ thô bỉ, ta phải đưa mi an toàn trở về mới dám nhận công chứ!"

Mọi chuyện thường không được suôn sẻ như ta suy nghĩ, tôi ngồi trên lưng ngựa suốt nửa ngày đường nhưng vẫn không có cơ hội chạy trốn khỏi ánh mắt như chó săn của Bách Gia Nô.

Trừ những lúc đi vệ sinh còn lại anh ta đều không cho tôi chút cảm giác riêng tư nào cả.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 74: Chiến Thắng Từ Cơn Đau Bụng


Đoàn quân đến chân núi thì Bách Gia Nô cho dựng trại nghỉ ngơi.

Tôi nhìn lướt một vòng, trong lòng giống như được khai mở nút thắt.

Tôi bèn vờ ôm bụng khóc lóc, Bách Gia Nô trông thấy thì cau mày:

"Mi rốt cuộc có muốn gặp lại Trấn Nam Vương hay không đây?"

Tôi trừng mắt nhìn anh ta, quát:

"Còn không phải do mấy thứ đồ ăn quái lạ của người Nguyên các anh hay sao?

Bây giờ anh muốn đưa tôi đi hay để tôi giải quyết lại chỗ?"

Bách Gia Nô lại càng cau chặt đôi mày, nhưng cuối cùng vẫn phải thỏa hiệp, anh ta đưa tôi đến chỗ vắng người rồi quay mặt đi chỗ khác.

Tôi nhìn gương mặt có chút đỏ lên vì bực tức của anh ta, trong lòng cũng không nỡ, dù sao cũng đã cùng nhau trải qua bao nhiêu ngày hàn huyên đàm đạo.

Có lẽ anh ta không hề biết ngày này năm sau chính là ngày giỗ của mình.

Lúc này giống như Bách Gia Nô đã phát hiện ra điều bất thường, tức khắc quay người lại nhìn tôi.

Nhưng từ phía sau tôi, hàng nghìn mũi tên từ triền núi bắn xuống, rẽ gió lao vào người anh ta.

Bách Gia Nô phản ứng không tệ, nhưng lần này có vẻ quá bất ngờ thành ra trên người không ít chỗ bị tên bắn trúng.

Tên đã bắn ra tức sẽ kinh động đến quân Thát, tôi không chút chần chừ lao đến kết thúc mạng sống của anh ta.

Tôi chỉ thấy ánh mắt cả Bách Gia Nô hoảng hốt lẫn khó tin nhìn mình, sau đó đầu lìa khỏi cổ trong uất hận.

Có lẽ anh ta có rất nhiều lời muốn nói với tôi, nhưng cổ họng chẳng thốt được nên lời.

Tôi bỗng cảm giác mình như một con sói mắt trắng, trong lúc bị giam cầm đói khát thì lừa gạt người ta cầu cứu, khi đã thoát khỏi cảnh khốn cùng liền trở mặt.

Không, chỉ e không chỉ tôi mà kể cả Bách Gia Nô cũng nghĩ như vậy.

Bách Gia Nô chết rồi quân Thát như rắn mất đầu, cho dù còn lại hai mãnh tướng dưới quyền thì tôi tin chỉ trong chốc lát nữa đây chúng đều phải đền mạng.

Tôi vững vàng đứng dậy, Trần Nhật Duật bước ra từ phía sau, nhỏ giọng đánh giá:

"Lấy đầu kẻ địch cũng thật mát tay!"

Tôi mỉm cười nhìn anh ta, nhưng nụ cười có vẻ đắng chát.

Dù sao Bách Gia Nô cũng vừa cùng tôi nói nói cười cười.

Trần Quốc Toản cũng hào hứng hỏi tôi:

"Chị phát hiện ra bọn tôi lúc nào vậy?"

Tôi nhướng mày:

"Tác phong của Hoài Văn quân chỉ lừa được bọn người Thát quen sống nơi đại mạc, làm sao qua mắt được tôi!"

Thật ra hướng Bách Gia Nô đến vùng núi cao này là do trong lúc trò chuyện cùng anh ta tôi vờ như vô ý thốt ra.

Trên con đường đến đây tôi đã nhìn thấy những ký kiệu mà Trần Quốc Toản để lại, và theo phán đoán có lẽ họ sẽ bí mật đóng quân trong vùng núi này.

Đến nơi quả nhiên thấy Trần Nhật Duật đã mai phục bên triền núi.

Năm ấy, lần đầu tôi và Trần Nhật Duật gặp nhau, anh ta đứng tựa vào gốc hoa sữa toát ra vẻ đẹp không nhiễm bụi trần, hôm nay anh ta lại thành một vị mãnh tướng chém giết không ghê tay.

Còn Trần Quốc Toản kiêu căng ngạo mạn của lúc trước ánh mắt đã điềm tĩnh hơn, xông vào giữa hiểm nguy mà không hề nao núng.

Cứ thế chỉ chưa tới một vạn quân, chúng tôi đã giết được hơn hai vạn quân đã gần như suy kiệt của Bách Gia Nô, trong khi tổn thất của quân ta chưa tới một nghìn.

Gió núi gào thét dữ tợn như tiếng loài ma quỷ kêu khóc, tôi đứng giữa cuộc chiến tàn nhìn lớp lớp xác người la liệt chất cao như núi, từng mảnh cơ thể văng tung toé chẳng rõ là của ai, trong lòng bỗng dâng lên nỗi buồn vô hạn.

Từ khi chiến tranh xảy ra có lẽ đây là lần đầu tiên tôi thật sự đánh thắng một trận, nhưng chẳng thể cảm thấy vui mừng.

Trên tay tôi là máu của vô số sinh linh, có kẻ giết người như ngoé, cũng có kẻ chưa từng hại ai.

Lẫn lộn trong đám người Thát lại là sinh mạng của biết bao đồng đội.

Trước mắt nhoè đi, tôi giơ bàn tay đầy máu ra xem, hoá ra tôi đã rơi nước mắt tự bao giờ.

Trần Nhật Duật bước đến bên cạnh tôi, bấc đắc dĩ nói:

"Lần đầu tiên tôi thấy có kẻ khóc vì thắng cuộc!"

Tôi nhìn gương mặt đầy máu của anh ta, cười nói:

"Lần đầu cũng như lần cuối."

Chúng tôi cho quân lính thu dọn tàn cuộc rồi cùng trở về doanh trướng ở triền núi bên kia.

Lúc đang ngập trong niềm vui chiến thắng thì bỗng thấy bóng dáng thằng nhóc Mạc Đĩnh Chi từ đằng xa cưỡi ngựa tới.

Vừa trông thấy tôi, thằng nhóc ấy đã nhanh chân chạy đến, liên tục nắm tay tôi xót xa:

"Chị của em ơi, sao lại gầy như vậy, bọn chúng bỏ đói chị ư?"

Tôi liếc mắt nhìn hai kẻ kia, ý bảo "nhìn xem, đây mới là con người".

Trần Nhật Duật xách thằng nhóc ra, lúc này nó mới lấy lại bình tĩnh, kính cẩn cúi đầu tâu:

"Thưa thầy, Chiêu Minh Vương cho người gọi chúng ta mau lập tức trở về Thiên Trường, chuẩn bị lên thuyền rút quân về Tam Trĩ Nguyên!"

"Cái gì?

Mấy hôm nay đã xảy ra chuyện gì thế, quan gia thất bại rồi sao?"

Tôi hốt hoảng nhìn xoáy vào Trần Nhật Duật, những ngày bị giam cầm bởi bọn Trần Kiện tuy tôi như bị bịt chặt tai mắt, nhưng chỉ vừa mới mấy ngày chẳng lẽ lại có thay đổi đến độ nghiêng trời lệch đất chăng?

Thực tế, lúc tôi vừa đi không lâu thì Trần Nhật Duật đã được cử tới đón đánh Toa Đô.

Sau đấy Trần Khâm từ Thiên Trường đánh ra kinh thành, đến Thiên Mạc thì đụng trận lớn với quân Thát.

Có vẻ như những ngày dưỡng sức là quá đủ với Thoát Hoan, quân của Trần Khâm vừa đánh ra liền bị bọn chúng chờ đợi tấn công như vũ bão.

Bất đắc dĩ Trần Khâm phải cho quân rút trở lại Thiên Trường, ngay cả cha tôi ở Vạn Kiếp khi hay tin Trần Khâm thua trận cũng phải bỏ Vạn Kiếp để về tiếp viện.

Trong khi tôi chuẩn bị lên kinh cùng Bách Gia Nô để hội quân với Thoát Hoan thì Thoát Hoan lại kéo quân vào Nam để truy đuổi vua tôi bọn họ, đương nhiên đại quân của Toa Đô trên đường tiến quân ra Bắc cũng thuận tiện góp vui.

Phải nói tình thế của Trần Khâm lúc đấy giống như ngàn cân treo sợi tóc, chỉ nghe qua đã thấy toát cả mồ hôi.

Lúc này Mạc Đĩnh Chi đã ngừng câu chuyện.

Tôi nhìn thằng bé, thúc giục nó mau kể tiếp.

Mạc Đĩnh Chi liếc mắt nhìn Trần Nhật Duật, thấy anh ta không có vẻ phản đối mới trầm ngâm:

"Trong lúc hiểm nguy đó thì công chúa út xin tự mình mang cống cho Thoát Hoan để tìm kế hoãn binh ạ!"

Thanh kiếm trong tay tôi bất giác rơi xuống đất "keng" một tiếng, tôi cảm thấy trời đất như quay cuồng, hai bên tai ù lên và cảm giác khô khốc trong cổ họng.

Tôi nắm chặt hai vai nhỏ bé của Mạc Đĩnh Chi, bàng hoàng hỏi:

"Công chúa út?

Chẳng lẽ là..."

Trần Nhật Duật giữ lấy cổ tay tôi lại, cảm giác đau đớn truyền đến khiến tôi hoàng hồn.

Lúc này lời nói của Trần Nhật Duật như sấm động bên tai:

"Chính là An Tư, em gái út của ta!"

Lồng ngực tôi nghẹn đến không thể thở nổi, chẳng hiểu vì cớ gì mà An Tư lại làm ra loại chuyện điên rồ này.

Cô ấy có lường được Thoát Hoan là kẻ như thế nào chăng?

Tôi trân trối nhìn Trần Nhật Duật, bất chợt nhớ ra một chuyện:

"Vậy Chiêu Thành Vương, Chiêu Thành Vương chú ta không phản đối ư?"

Tôi nghe tiếng Trần Nhật Duật thở dài:

"Nó là kẻ tán thành đầu tiên!"

Tôi xiết chặt nắm đấm:

"Cô ấy đi lúc nào?"

"Sáng nay, theo tiến độ có lẽ sáng mai sẽ tới trại địch."

Tôi nhặt lấy thanh kiếm rồi nhoài người lên chiến mã, Trần Quốc Toản giữ cương ngựa của tôi, gắt gỏng nói:

"Chị định làm gì, bọn tôi khó khăn lắm mới cứu được chị, nay chị định nộp mạng mình cho loài lang sói nữa hay sao?"

Tôi gạt tay cậu ta ra mãi mà không được, bàn tay Trần Quốc Toản lúc này nặng tựa Thái Sơn.

Trần Nhật Duật lạnh nhạt nói:

"Để cô ấy đi đi, cậu không cản được đâu!" – Lại quay sang tôi dặn – "Trễ nhất là trưa mai, tất cả lực lượng sẽ tụ về cửa Giao Hải!"

Tôi ghìm cương ngựa, quay đầu nói với Trần Nhật Duật:

"Yên tâm, tôi sẽ không trở thành gánh nặng của mọi người đâu!"

Tôi ngồi trên lưng ngựa phi nước đại, dù ánh mắt nhìn mọi thứ rất rõ ràng nhưng trong lòng cảm thấy mê man.

Tại sao An Tư lại làm chuyện thừa thãi như thế, không phải cô ấy không biết chuyện của Thoát Hoan và tôi, cho dù cố tình không muốn biết, nhưng Trần Khâm, anh ta cũng không phản đối sao?

Hay bọn họ nghĩ An Tư có khả năng làm chậm tiến độ của địch, xoay chuyển được Thoát Hoan?

Tôi càng nghĩ càng không hiểu, lại cảm giác có thể đây đã là đối sách cuối cùng trong lúc nguy cấp rồi.

Nhưng kể cả Chiêu Thành Vương cũng...

Tôi định bụng tìm gặp An Tư hỏi rõ, nếu như cô ấy bị ép buộc thì dù thế nào tôi cũng phải cứu cô ấy trở về, đáng lẽ ra kẻ nên đi phải là tôi.

Cưỡi ngựa không ngừng nghỉ cho đến khi tiếp cận được doanh trại nghi là đoàn đưa dâu thì sương đêm đã xuống lạnh hai vai, tôi nhìn ánh đuốc lập lòe bên kia sông, đoán rằng có lẽ doanh trại địch đã ở ngay bên ấy.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 75: Vỡ Chậu Tan Gương


Tôi nhẹ bước tới gần doanh trướng quan sát kỹ một vòng, thấy không có người mới lách mình bước vào trướng.

Gió đêm theo kẽ hở tôi mở ra khẽ lùa tới, An Tư đang ngồi xoay lưng về phía tôi, chiếc lược ngà vẫn còn giữ trên mái tóc dài như thác đổ.

An Tư chỉ mới là cô gái mười tám tuổi, cuộc đời tươi đẹp chỉ mới mở ra, vậy mà chỉ sau đêm nay mọi thứ sẽ nát vụn.

Tôi bỗng nhớ tới lần đầu tiên tôi gặp An Tư, cô gái nhỏ bé như một búp sen xinh còn chưa hé nụ ngồi trên con thuyền tròng trành giữa hồ sen xanh ngát.

Như nghe được tiếng bước chân, An Tư từ phía trước nói vọng tới:

"Chàng đã đi rồi sao?"

Hoá ra đã có người đến đây trước tôi.

Có lẽ đó chính là Chiêu Thành vương tôi vừa nghĩ tới.

Thấy không có tiếng trả lời, An Tư quay đầu lại.

Vừa nhìn thấy tôi, ánh mắt An Tư bỗng bàng hoàng, sau đấy lại cười tự giễu:

"Hôm nay náo nhiệt ghê!"

Tôi không đáp mà trực tiếp bước tới bên cạnh, hỏi:

"Rốt cuộc mọi chuyện là như thế nào?"

An Tư quay mặt đi, lạnh nhạt đáp:

"Đã thấy rồi còn hỏi!"

"Tôi muốn biết nguyên nhân! – Tôi nhỏ giọng quát."

Tôi nhìn cô ấy vừa trầm tĩnh vừa lạnh nhạt thì trong lòng bỗng thấy đau đớn.

Tôi nắm chặt hai vai cô ấy, không kiềm chế được tức giận:

"Là ai ép cô phải đi?

Thượng hoàng, Trần Khâm, các bô lão?

Hay là...

Chiêu Thành Vương?"

Ba chữ cuối nói xong, giống như trút cạn đi sức lực.

An Tư trừng mắt nhìn tôi:

"Không ai cả, là tôi tự nguyện."

Tôi không thể tin nhìn An Tư, cái tôi muốn không phải là câu trả lời này.

Nhưng cái tôi muốn nghe là gì chứ, là một lời phủ nhận rồi sau đó tôi sẽ mắc tội khi cứu cô ấy trở về hay sao?

An Tư giống như sợ tôi sẽ thật sự làm những việc trái đạo đó, bèn chậm rãi nói:

"Ngoài là bạn của cô, là người trong lòng của Trần Thông, tôi còn là công chúa của vương triều này.

Nhìn thấy quân binh đầu rơi máu đổ lòng tôi cũng đau đớn khôn nguôi, tôi không thể ích kỷ chỉ nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình được.

Cô có thể cầm quân ra trận giết giặc, tôi cũng phải làm gì có ích cho non sông mới đúng."

Tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại, khó khăn lắm mới cất được giọng đáp lời An Tư:

"Nhưng cũng không cần phải hy sinh thân mình như thế.

Chưa chắc Thoát Hoan anh ta sẽ..."

"Tôi biết Thoát Hoan luôn mang cố chấp với cô, nhưng cũng vì lẽ đó mà tôi mới phải đưa ra quyết định này.

Nếu tôi không đi thì một ngày nào đó sẽ lại là cô, tôi không muốn tên Thoát Hoan đó đạt thành tâm nguyện, cũng không muốn cháu mình kẻ thì mất vợ, kẻ thì mất mẹ đâu."

An Tư lại thở dài:

"Hơn nữa, nhìn thấy toàn quân bị bao giữa vòng vây của địch, tôi bỗng nhận ra sứ mệnh với đất nước này."

Tiếng nấc nghẹn còn chưa cất lên thì phía bên ngoài đã vang lên tiếng đao kiếm cứa lên da thịt lạnh toát, có người rên lên một tiếng rồi im bặt, chỉ còn đọng lại trong không khí chút tàn dư quái dị của âm thanh.

Có tiếng nội hầu hét lên:

"Không được vô lễ, đây là xa giá của công chúa!"

Một giọng nói ngang tàng rít lên trong đêm:

"Vương đến xem mặt vợ sắp cưới, kẻ nào dám cản?"

Tôi và An Tư nhìn nhau, cô ấy còn phản ứng nhanh hơn cả tôi lập tức đẩy tôi ra khỏi doanh trướng.

Tôi lách người theo hướng ban nãy mình lén lút đi vào, vừa kịp thời tránh được ánh mắt của Thoát Hoan.

Tôi bỗng thấy mỉa mai, tại sao tôi lại phải hèn kém sợ hãi một người đàn ông như thế chứ?

Một ngày nào đó đứng trước Thoát Hoan, tôi sẽ thẳng thừng đối diện như hai kẻ tử thù, chỉa mũi kiếm vào trước ngực anh ta mà không chút nào nao núng.

"Ngẩng mặt lên!"

Thanh âm quen thuộc của Thoát Hoan vang lên trong trướng làm tôi giật thót, trống ngực tôi đập liên hồi, trái tim tưởng chừng có thể trong tích tắc mà nhảy ra.

"Chúng ta chưa thành hôn, ngài làm vậy e..." – Tôi nghe giọng An Tư có phần đè nén.

Thoát Hoan không đáp lời An Tư, chỉ tỏ ra thất vọng nói:

"Quả nhiên là không phải."

"Mong ngài tự trọng, ngày mai sứ thần sẽ đưa tôi sang!"

Thoát Hoan hừ giọng:

"Câm ngay đi, không cần giở thói dạy đời!"

Ngày hôm nay khi gặp lại, tôi đã không còn nhận ra Sở Quân của ngày xưa nữa.

Tôi đứng như chôn chân bên ngoài doanh trướng, bịt chặt lấy hai tai, đôi mắt nhắm nghiền.

Lúc này đây tôi ước mình có thể mắt mù tai điếc, để những chuyện trái tai gai mắt đang xảy ra ngoài kia đừng làm cho ruột gan tôi phải thắt lại như thế nữa.

Không biết gió thét mưa gào đã qua bao lâu, tôi nghe "xoạch" một tiếng, An Tư đã đứng trước tôi.

Vai áo cô ấy bị kéo lệch về một bên đầy những vết bầm tím, khoé môi vẫn còn vệt máu đọng.

Tôi ôm chặt lấy cô ấy nấc nghẹn.

An Tư vỗ vai an ủi tôi, lau nước mắt trên mặt tôi, thoắt cái trông cô ấy đã như già đi chục tuổi.

Tôi biết vì sao hôm nay cô ấy không khóc, có lẽ là vì kể từ đây về sau, ngày nào cũng sẽ tăm tối và đau khổ như đêm nay vậy.

"Mau đi đi, còn chần chừ nữa sẽ không kịp!" – An Tư nói xong thì dúi vào tay tôi mấy cái bánh gai. – "Có đói thì ăn lót dạ, đây là thứ đặc sản quê mẹ tôi, nhưng có lẽ ngày mai phải bắt đầu theo phong tục của người Thát rồi."

An Tư dìu tôi lên ngựa, lại dặn dò:

"Đừng trách Trần Thông, là tôi ép chàng phải làm như thế!"

Tôi gật đầu, sửa lại bả vai áo bị lệch của An Tư, nói lời tạm biệt rồi dong ngựa rời khỏi.

Kể từ đây kẻ nam người bắc, ở phương trời xa lạ chỉ mong cô ấy bình yên một đời.

Tôi mang nỗi niềm ấy lên đường, không biết bao lần vì mệt mỏi mà muốn ngã xuống từ trên lưng ngựa, nhưng chính ánh mắt của An Tư khiến tôi lấy lại được quyết tâm.

Trăng đêm nay sáng quá, soi rõ con đường trước mặt, và cả con đường mù mịt trong tim tôi.

Tôi cũng không nhớ làm cách nào mình có thể đến được cửa Giao Hải, nhưng hiện tại ngay trước mắt tôi đã hiện ra một đoàn thuyền chiến kiêu dũng như những con thủy quái khổng lồ nằm đợi lệnh.

Tôi run rẩy bước xuống ngựa, Trần Khâm đỡ lấy tay tôi, ánh mắt anh vẫn như ngày đầu nhìn tôi đầy ánh rạng rỡ của niềm tự hào.

Tôi phải bám chặt vào cánh tay Trần Khâm mới có thể đứng vững, cổ họng tôi khô khốc.

Tôi ôm lấy anh ta khóc nghẹn, giống như tiếng khóc ngày bé vừa lọt lòng, khóc gục trong lòng Trần Khâm làm anh ướt cả một mảng áo.

Tôi biết anh có rất nhiều thứ muốn nói với tôi, sẽ trách tôi tại sao bỏ đi mà không nói một lời nào, trách tôi luôn xem thường sống chết, xem những lời anh như gió thoảng mây trôi, cuối cùng là trách tôi tại sao để bản thân ra nông nỗi.

Nhưng cuối cùng Trần Khâm chỉ thở dài thốt ra được một câu:

"Còn sống là tốt rồi."

Tôi nghe chất giọng trầm ấm của anh, lại càng thêm nức nở.

Gặp lại anh, giống như con thuyền lênh đênh trên biển bao phen chịu gió mưa bão táp gặp lại bến bờ, dù có đi xa cách mấy thì trong lòng tôi luôn đinh ninh rằng Trần Khâm vẫn luôn ở đó chờ tôi.

Tôi vẫn còn canh cánh tại sao Trần Khâm lại chấp nhận cho hoàng quý cô đi cống, anh ta đáp:

"Đều là kế sách cả!

Cô ấy chỉ đi trước một bước thôi!"

Tôi vẫn còn mù mờ, cho tới khi lên thuyền rút về Tam Trĩ Nguyên tôi mới phần nào hiểu được thứ kế sách mà Trần Khâm đã nói.

Rất nhiều quý tộc đã nối gót Trần Kiện Trần Lộng theo hàng quân Thát lúc Trần Khâm bị yếu thế và rút quân về Thiên Trường trong cuộc đụng độ ở Thiên Mạc, trong đó có cả Trần Ích Tắc.

Lúc nghe tin thậm chí tôi phải hỏi lại vài ba lần vì sợ mình nghe lầm, sau đấy tôi lại nhớ tới lời của Trần Khâm, cảm thấy hình như mình đã thông tỏ.

Mạc Đĩnh Chi liên tục lắc đầu với tôi:

"Chị phải tin thầy Năm, thầy ấy là một người luôn đau đáu nỗi niềm yêu nước."

Trần Thì Kiến chống cằm, cảm thán:

"Có hai lý do, thứ nhất là chú ta chỉ giả vờ trung quân ái quốc, thực tế là kẻ vì lòng tham mà bất chấp tất cả.

Thứ hai là lòng yêu nước của chú ta không đủ vượt qua nỗi sợ hãi nên kết cục phải hàng giặc trước để giảm nhẹ nỗi đau xác thịt khi quân ta thất bại."

Tôi nhìn ánh mắt Mạc Đĩnh Chi long lên, Trần Thì Kiến này lại sắp đánh thức một con mãnh thú.

Trần Nhật Duật lên tiếng:

"Không vào hang cọp sao bắt được cọp?"

Trần Thì Kiến liếc mắt nhìn anh ta, đáy mắt bắn ra tia lửa.

Tôi thấy Mạc Đĩnh Chi lại dùng ánh mắt kích động nhìn Trần Nhật Duật, lơ đễnh nói:

"Việc này phải đợi thời gian trả lời!"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 76: Trời Xanh Mới Biết Tấm Lòng Son


Trần Nhật Duật không buồn đáp lời tôi mà tập trung nhắm mắt nghỉ ngơi, có vẻ mấy hôm nay anh ta khá là căng thẳng.

Thằng nhóc Mạc Đĩnh Chi vẫn còn không cam tâm, ánh mắt nhìn tôi như muốn nói mà không dám nói, tôi cười cười nhìn nó, đôi lúc người ta phải nhìn vào sự thật chứ không phải cảm nhận chủ quan của riêng mình.

Trần Khâm bỗng bước vào khoang thuyền, nhỏ giọng bảo tôi:

"Được rồi, đừng đùa nữa."

Nói xong, anh ta bèn đưa cho Mạc Đĩnh Chi một bức thư còn niêm phong, có vẻ đây là thứ mà Trần Ích Tắc để lại riêng cho em ấy.

Mạc Đĩnh Chi vừa cúi người nhận thư đã lập tức mở ra, đọc xong bèn ôm mặt khóc nức nở.

Sau đó em ấy đưa thư cho tôi, trên thư viết:

"Đương niên trượng nghĩa xuất Nam bang,

Cảnh cảnh đan trung đối bi thương.

Bất vị Văn Công đào Tấn nạn,

Thử ky Vi Tử kế Ân vương.

Cơ cừu vị mẫn tiên nhân chí,

Giản sách ưng lưu vạn cổ phương.

Hoàn vũ xa thư hội đồng nhật,

Cố gia tông tự Việt sơn trường."

Dịch thơ:

(Trọng nghĩa, nên ta rời Đại Việt,

Trời xanh mới biết tấm lòng son.

Chẳng phải Văn Công rời Tấn quốc,

Mà như Vi Tử muốn Ân còn.

Chí nối nghiệp xưa luôn tạc dạ,

Tiếng thơm truyền mãi sử không mòn.

Một mai thống nhất giang sơn ấy,

Dòng dõi cha ông vững Việt non.)

Tôi đọc xong thì thở dài.

Bỗng thấy Trần Nhật Duật nhướng mày nhìn Thì Kiến, bộ dạng có chút hả hê.

Trần Ích Tắc cũng chỉ gửi thư lại cho Mạc Đĩnh Chi chứ nào phải anh ta, anh ta hả hê cái gì?

Trong lòng tôi bỗng có chút giật mình, có khi nào tất cả mọi chuyện từ tạo phản đến việc bị cách chức, và cuối cùng là hàng giặc hôm nay đều nằm trong dự tính của anh ta hay không?

Nếu là người khác thì tôi sẽ không tin, nhưng với kẻ như Trần Ích Tắc thì có thể lắm.

Trong lúc này có tin Trần Ích Tắc đã được phong làm An Nam Quốc Vương.

Cái chức An Nam Quốc vương này giống như một miếng thịt bị tẩm độc, nhìn thì có vẻ ngon đấy, nhưng ăn vào có khi lại chết lúc nào không hay.

Có điều miếng thịt này lại có quá nhiều những kẻ thèm khát, đầu tiên là Trần Di Ái, thứ là Trần Kiện, nay lại có thêm một Trần Ích Tắc chẳng rõ thực hư.

Nếu như Trần Ích Tắc thật sự hàng giặc, đối với Đại Việt ta đúng là một mối nguy lớn.

Trong khi Thoát Hoan đang lùng sục khắp các hang cùng ngõ hẹp ở Thiên Trường thì chúng tôi đã đi ngược ra tới Tam Trĩ Nguyên.

Lệnh của cha tôi là ém quân không giao chiến khiến chúng rơi vào trạng thái mất phương hướng, đợi thời cơ chín muồi.

Mấy lần vồ hụt vào khoảng không, e là sự kiên nhẫn của Thoát Hoan cũng lúc càng không giữ được.

Không biết nếu anh ta phát hiện ra lần đó tôi chỉ đứng cách anh ta một lớp vải, anh ta sẽ cảm thấy thế nào?

Một buổi sáng tháng ba trời còn lành lạnh, tôi đứng tựa vào lan can trên thuyền chiến nhìn đại quân tập trận.

Tôi bỗng thèm một tách trà sen đắng đến nao lòng dù cái đắng đó làm tôi phải tê đầu lưỡi và trước đây tôi cũng khó hiểu tại sao Trần Khâm lại rất ưa vị đắng của trà sen.

Mãi đến sau này tôi mới hiểu, hoá ra không phải Trần Khâm thích trà sen, cái anh ta thích là mùi vị của ký ức.

Tôi bỗng nhiên cảm giác như mình bị phản bội, dù người trong ký ức của anh ấy vẫn là một mình tôi.

Quốc Chẩn và nhóc Thuyên vẫn còn ngủ say, mấy tháng này chúng nó đã quen với cuộc sống rày đây mai đó, cũng học được cách im lặng khi có nguy hiểm.

Thằng nhóc Thuyên hiện đã biết cầm kiếm múa quyền, thuộc lào binh pháp và thi thư nhưng bản tính ham chơi vẫn vạn năm không đổi.

Tôi hay trêu đùa nó, nếu cứ mãi như thế thì chẳng thể nào mà lấy được vợ.

Thằng nhóc Thuyên gãi đầu, bảo rằng đương không rước về một bà mẹ trẻ làm gì, bản thân nó có hai người mẹ đã là quá đủ.

Chị Thuỵ Hữu và anh hai Quốc Uất ở chiến thuyền bên kia đang chơi trò người đuổi ta chạy, nhưng lần này ngược lại là anh tôi đang chủ động đuổi theo.

Tôi bật cười cảm thán:

"Đúng là quả báo không chừa một ai!"

Trần Khâm đã đến bên cạnh tôi từ lúc nào, anh khoanh tay đứng ở đối diện nhìn tôi, cười bảo:

"Chắc em cũng không ngờ mình lại yêu một kẻ lừa lọc."

Tôi thoáng đỏ mặt nhìn chóp mũi cao cao của anh ở ngay phía trước mình.

Trong cái tiết trời cuối tháng ba tôi thấy mồ hôi của Trần Khâm thấm qua lớp áo, mấy sợi tóc của anh ta lòa xòa trước trán, trên cằm cũng lúng phúng râu.

Gió biển tạt vào mặt tôi có chút bỏng rát, tôi bỗng nhớ tới cơn gió mùa hạ dịu nhẹ lướt qua vùng sen trên hồ Thủy Tinh.

Lần đầu tiên gặp Trần Khâm, sen nở rộ chưa từng có.

Thuở ấy anh vẫn còn là hoàng tử, cả Thượng hoàng và Tiên đế đều hết mực thương yêu, vậy mà lại bày đủ trò để đưa tôi vào tròng.

Từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ tôi thoát khỏi tầm ngắm của anh.

Tôi ồ một tiếng, đáp:

"Nếu không yêu thì uổng một hồi mưu ma chước quỷ quá!"

Trần Khâm bật cười, đường rãnh nam tính kéo dài từ cằm lên tới tận gò má, hình như anh ta lại gầy đi.

Những ngày gần đây trong số chúng tôi, Trần Khánh Dư lại là kẻ bận rộn nhất.

Anh ta giữ nhiệm vụ lái thuyền ngự bỏ trống đi ngược lên phía bắc ra cửa biển Ngọc Sơn để đánh lừa quân Nguyên.

Về vấn đề này thì tôi tin tưởng Trần Khánh Dư hoàn toàn, nói về việc quân thì tôi không biết, còn nói về việc ôm cua bẻ lái, Khánh Dư tự nhận thứ hai thì chắc không ai dám nhận thứ nhất rồi.

Trong suốt mười ngày không dài cũng không ngắn, rốt cuộc Thoát Hoan đã đánh hơi thấy dấu vết của quan quân Đại Việt.

Không ngoài dự liệu, anh ta đã trúng phải kế nghi binh của cha tôi khi cho toàn bộ thuỷ quân đuổi theo đoàn thuyền trống của Trần Khánh Dư ở cửa biển Ngọc Sơn.

Trong lúc Trần Khánh Dư chơi trò chơi tốc độ với thuỷ quân của Thoát Hoan thì chúng tôi ngay lập tức lên bộ hành quân, lên thuyền mới đi ra cửa biển rồi đánh vòng ngược lại Thanh Hoá.

Nhưng Thoát Hoan cũng không phải kẻ đơn giản, chúng tôi đóng quân ở Thanh Hoá còn chưa nóng chỗ thì anh ta đã bắt hơi được ngay.

Có điều đừng nói tới những binh lính nhỏ bé đang bơ vơ trên đất khách như người Thát, ngay cả tôi nếu như rơi vào trạng thái chỉ bắt toàn trượt như bọn chúng chỉ e cũng không thể kiên trì nỗi.

Sở dĩ biết được những thông tin quan trọng đó là do mạng lưới tình báo mà Trần Ích Tắc giăng ra đã bắt đầu phát huy tác dụng.

Lại được tin Thoát Hoan phái Ô Mã Nhi cùng Toa Đô quay trở lại Thanh Hoá, Trần Khâm bèn cử Chiêu Minh Vương và Phạm Ngũ Lão chặn đánh ngay khi bọn chúng tiến quân vào thành.

Tuy Trần Khâm an ủi rằng trận này chỉ cần giằng co câu kéo thời gian ắt sẽ thắng nhưng quả tim tôi vẫn như treo trên cột cờ thành Bố Vệ.

Rốt cuộc một tuần sau binh lính ở vùng chiến báo về, Chiêu Minh Vương đã đánh lùi được Ô Mã Nhi và Toa Đô chạy ngược ra Bắc trong tuyệt vọng, quả tim đang treo trên cột cờ của tôi mới được hạ xuống.

Mấy người chúng tôi ở trong thành liên tục hò reo, ngay cả Quốc Chẩn đang ăn dở bát cơm cũng buông đũa nhảy cẫng.

Toàn thành được một trận vui như trẩy hội, đánh lâu như vậy rốt cuộc cũng có trận thắng lớn trong vẻ vang.

Tôi đứng trên tường thành nhìn ngọn cờ tung bay trong gió, thấy chị Anh Nguyên đang dùng ánh mắt vui sướng trông về phương xa, bèn đẩy vai chị nói nhỏ:

"Lần này còn có việc vui hơn cả thắng trận nữa đấy!"

Chị Anh Nguyên vẫn còn đang trong trạng thái lâng lâng nên chẳng để tâm đến tôi là ai mà bâng quơ đáp:

"Có sao?

Là chuyện gì thế?"

Tôi kề tai chị thì thầm:

"Lần này thắng trận công lao của chị không ít đâu!"

"Hả, sao vậy?

Lần này chị đâu ra chiến trường?" – Chị Anh Nguyên giật mình hỏi.

Tôi làm bộ dáng thần bí bảo chị:

"Ngũ Lão nói với cha nếu như thắng trận này, anh ấy xin cha được lấy chị làm vợ.

Cha cũng đồng ý rồi nhé!

Lần này đúng là hai việc vui cùng đến một lượt."

Chị Anh Nguyên càu nhàu:

"Vậy nếu lỡ thua thì sao?"

Tôi nhất thời không biết trả lời chị làm sao, xem ra chị còn gấp hơn cả Phạm Ngũ Lão.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 77: Mưa Rơi Tháng Tư


Sau đó vào một trận mưa đầu mùa như trút cạn hết nước của trời, Trần Khâm khoanh tay đứng cạnh tôi tuyên thệ:

"Trong vòng ba tháng nữa, tôi sẽ đưa em trở lại Thăng Long!"

Tôi không biết Trần Khâm lấy tự tin từ đâu để nói ra câu nói đó khi quân ta vẫn áng binh bất động trước sự chắn giữ của Chiêu Minh vương, nhưng trong suốt tháng tư, trời cứ lúc nắng gắt cháy da lúc thì mưa âm ỉ không dứt, khiến tôi cũng dần nhận ra được điều mà Trần Khâm đã nhìn thấu.

Cũng trong tháng tư, tôi được tin Trần Kiện bị bắn chết bởi một gia tướng của cha tôi ở Chi Lăng, khi hắn ta đang được người Nguyên đưa về phương Bắc.

Cái kết này là quá nhẹ nhàng cho lũ tham sống sợ chết, nếu như theo luật nhân quả thì hắn ta có chết ngàn lần cũng không hết tội.

Đầu tháng năm có tin quân Nguyên vì những trận mưa lũ kéo dài mà dẫn đến ngập lụt trong doanh trại, thuyền chiến hư hại và binh sĩ phần lớn cũng bị dịch bệnh hoành hành.

Tôi từng nghe qua phương Bắc vốn khô hạn, nước mưa quý như dầu, chắc là bọn chúng chẳng thể nào đón nhận được ơn huệ của trời đất phương Nam, từ một con hổ trên chiến trường biến thành một con mèo ốm đói.

Hóa ra thời cơ mà cha tôi nói chính là lúc này đây.

Trong lúc quân Nguyên bị mưa đầu hè làm cho ốm đau bệnh tật thì tôi ở Thanh Hóa cũng rơi vào cơn sốt mê man.

Với bộ dạng ốm yếu của tôi bây giờ, không đổ bệnh mới là lạ.

Lúc tôi mơ màng tỉnh lại thì cảm giác bên cạnh có người, bên ngoài đã ngả sang màu đen sẫm.

Thằng bé Quốc Chẩn là người phát hiện ra tôi tỉnh lại đầu tiên, reo vang cả căn phòng.

Tôi bám vào tay Thụy Hương nặng nề ngồi dậy, khẽ hỏi:

"Chiến sự thế nào rồi ạ?"

Mẹ tôi lau nước mắt rơm rớm, nhỏ giọng quở trách:

"Đừng mải quan tâm đến đấm đá ngoài kia nữa.

Để cha và các anh con lo!"

Chiến sự như một tảng đá treo nặng nơi đầu quả tim tôi, cho dù đã quen với sự ác liệt của nó nhưng tôi vẫn không thể thả lỏng một giây một phút.

Chị Trinh bỗng đứng dậy bước về phía tôi, ngồi xuống bên cạnh tôi chậm rãi nói:

"Thắng rồi đấy em!"

"Nhanh thế ạ?"

Tôi thoáng vui mừng, không ngờ chỉ trong một lúc mê man, tỉnh lại đã truyền về tin chiến thắng.

Từ đầu cuộc chiến đến nay chưa có một chiến thắng nào nhanh chóng như thế cả.

Thì ra toàn quân chia làm hai hướng đông tây phản công lên doanh trại của Toa Đô và Ô Mã Nhi ở Tây Kết.

Phía đông do cha tôi chỉ huy thuỷ quân vượt biển quay về Thiên Trường và Trường Yên len lỏi qua các sông.

Phía Tây do Thượng hoàng và Trần Khâm cùng với Chiêu Minh vương chia làm hai đường thuỷ bộ đi dọc theo hướng sông Nhị Hà về kinh.

Hiện giờ tạm thời cha tôi đã thắng ở ngã ba sông Nhị Hà.

Thì ra tất cả mọi người đều đã sẵn sàng hết cả, chỉ cần một hiệu lệnh là hành động ngay.

Ba tháng mà Trần Khâm nói với tôi sợ là có hơi dư dả.

Chị Trinh cười bảo:

"Tin tức của quan gia cũng truyền tới, toàn bộ vùng đất từ Thanh Hóa đến Khoái Châu chúng ta đã kiểm soát được.

Em hãy mau khỏe lại rồi cùng trở về Thăng Long thôi!"

Trong cái oi nóng đang dần hiện rõ của tiết trời Thanh Hóa, tôi bỗng thấy được mùa sen tháng sáu rực rỡ.

Hai ngày sau, tôi cùng đoàn quý tộc bắt đầu lên đường trở về kinh kỳ.

Tôi và Trần Thì Kiến cưỡi chiến mã đi trước, mặc dù giữ trọng trách đưa người an toàn về kinh nhưng không thể phủ nhận trong lòng tôi có cảm giác bị bỏ rơi.

Trần Thì Kiến cưỡi ngựa song song với tôi, giở giọng châm chọc:

"Không tin được ngoài kia đang binh hoang mã loạn thế mà em Tĩnh vẫn bình tĩnh ở đây sóng vai với tôi!"

Tôi liếc anh ta, đáp:

"Thì tại không thể tin tưởng anh chứ sao!"

"Tiếc cho chúng ta đã vào sinh ra tử bao phen!" – Trần Thì Kiến giả bộ thở dài.

Tôi vô thức thúc ngựa nhanh hơn, bên tai như có tiếng hô hào sát Thát của quân binh cùng tiếng va đập vào nhau của đao kiếm.

Việc đưa tất cả mọi người an toàn trở về cũng là một nhiệm vụ lớn được đặt ra, mặc dầu so ra tôi vẫn muốn cùng Hoài Văn quân sống chết có nhau ở nơi chiến trường hơn là nhàn tản dong ngựa.

Hừng đông, đoàn người nhổ trại tiếp tục lên đường, tôi bỗng thấy phía xa xa có đoàn người ngựa rẽ gió rầm rập lao tới.

Từ khẩn trương tôi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, trong lòng còn tràn ngập nỗi hân hoan.

Đúng là cầu được ước thấy, phía xa kia chính là đội quân với lá cờ thêu sáu chữ vàng.

Thấy tôi đứng sững người nhìn về một hướng, Trần Thì Kiến lại nói:

"Hoài Văn quân không bỏ rơi em nhỉ?"

Đúng là Hoài Văn quân đã trở lại, chàng trai trẻ dong ngựa chạy đằng trước chẳng ai khác chính là thủ lĩnh của Hoài Văn quân – Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Cậu ta hiên ngang dừng ngựa trước tôi, giọng điệu gấp gáp lẫn vui mừng, không chần chừ nói:

"Chiêu Văn vương sai tôi đến báo tin, chúng ta đại thắng ở Hàm Tử, thắng vô cùng vẻ vang.

Cả Hàm Tử quan và Tây Kết đều treo cờ Đại Việt, chị không thấy được bọn Toa Đô và Ô Mã Nhi cuống cuồng chạy trốn thế nào đâu.

Toa Đô cất quân từ Tây Kết đến Hàm Tử chi viện, Hoài Văn quân bèn đưa người phục kích Tây Kết, lần này Hoài Văn quân của chúng ta lập công to rồi!"

Tôi như được bước vào câu chuyện đáng tự hào của Trần Quốc Toản, trước mắt tôi là cảnh khói lửa nơi chiến trường, Trần Nhật Duật mặc chiến bào màu bạc sáng choang cầm thương cưỡi ngựa chiến chỉ huy ba quân giết giặc.

Trần Quốc Toản cũng oai phong không kém, trong vài chiêu đã chém đầu được chục tên.

Trên người ai nấy trong Hoài Văn quân đều nhuốm máu địch, không ai tỏ ra run sợ hay nao núng.

Tất cả quyện lại thành một bức tranh nhuốm màu bi tráng hiện trong đầu óc tôi.

Trần Quốc Toản vẫn còn đang chìm trong hồi ức, lại tiếp tục thao thao bất tuyệt:

"Chiêu Văn vương chỉ cần dùng vài mũi tên giấy ly gián đám người Tống chiến đấu trong hàng ngũ quân Mông Cổ đã khiến bọn chúng lục đục nội bộ, đa phần chuyển sang đầu hàng quân ta.

Lần này kể ra Triệu Trung và Triệu Ngọc Hoa cũng đóng góp công lao không nhỏ."

Tôi quệt nước mắt, mắt tròn mắt dẹt hỏi:

"Triệu Ngọc Hoa?

Ai vậy?"

Trần Quốc Toản giật mình nhìn tôi, trông bộ dạng có chút ngơ ngác, hình như cũng không ý thức được mình nói gì.

Trần Thì Kiến bỗng ho khụ khụ mấy tiếng, cảm thán:

"Bao giờ cho gạo bén sàng?

Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh?"

Lúc này Trần Quốc Toản mới hoàn hồn, đỏ mặt quát:

"Ăn nói xằng bậy!"

Tôi dùng ánh mắt đồng cảm nhìn Trần Thì Kiến, cảm thấy anh ta tiện miệng đọc hai câu ca dao không đầu không đuôi cũng chẳng quá đáng gì, chỉ có kẻ có tật giật mình là Trần Quốc Toản là đang chột dạ.

Ái chà, không nói không nhớ, thiếu niên này năm nay cũng đến tuổi lấy vợ rồi.

Nói một hồi hoá ra Triệu Trung là hoàng tử nước Tống đã vong quốc, anh ta cùng tàn binh được Trần Nhật Duật giữ lại ở vương phủ.

Triệu Ngọc Hoa là em gái của anh ta, cũng chính là công chúa nước Tống.

Đúng là cùng sinh tử trên chiến trường thật dễ nảy sinh tình cảm với nhau.

Trần Quốc Toản trở về tuy nói để báo tin chiến thắng và giúp tôi hộ tống quý tộc về kinh, nhưng theo lời Trần Thì Kiến nói thì Hoài Văn quân tuy là đội quân của Trần Quốc Toản nhưng mất tôi như thiếu nửa linh hồn.

Tôi cảm động nhìn Trần Quốc Toản, thấy cậu ta ngoảnh mặt sang bên, nhưng cả đội quân đều hướng về phía tôi chắp tay cúi đầu, thật làm người ta dâng trào xúc cảm.

Đoàn người ngày đi đêm nghỉ rồng rắn thêm hai ngày thì đến được chỗ đóng quân ở Khoái Châu.

Lúc này Hàm Tử và Tây Kết đều đã không còn bóng giặc, bọn chúng đều mạnh ai nấy chạy về phía đông toan rút ra ven biển.

Lúc tôi tới nơi thì cha tôi đã đưa quân ngược về Vạn Kiếp, chuẩn bị đón quân Nguyên rút chạy.

Trong lòng tôi vẫn có chút gì đó bất ngờ, bởi mới ngày nào bọn chúng còn ráo riết truy đuổi quân ta, mà hiện tại mọi thứ gần như đảo ngược.

Tôi tự hỏi Thoát Hoan sẽ có biểu hiện gì.

Tôi dong ngựa dọc bờ sông Nhị Hà nhìn quân binh đang thu dọn tàn cuộc.

Giữa ánh tà dương tịch mịch loang loáng dưới mặt sông, xác người ngựa chồng chất và mùi máu tanh vẫn còn thoang thoảng nơi đầu mũi, tôi bỗng bắt gặp một hình ảnh thân quen.

Trần Khâm đang dong ngựa về từ phía đối diện, thần sắc sáng ngời, khí thế toả ra trên người anh sắc bén đến kỳ lạ.

Giữa tiếng sóng vỗ ì ạch vào bờ thời gian như ngưng đọng, dường như lúc này thế gian chỉ còn lại chúng tôi.

Ánh mắt anh nhìn tôi, chứa muôn vàn thâm tình cô đọng lại.

Tôi trìu mến nhìn anh, cười nói:

"Lần này chàng không ngăn cản em lập công nữa nhé!"

Trần Khâm ấy vậy mà lại gật đầu:

"Nghe theo em cả!"

Tôi và Hoài Văn quân theo Chiêu Minh vương tiến quân giành lại kinh thành.

Lần này Chiêu Minh vương được cử làm chánh tướng, Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản làm phó tướng.

Tôi liếc Phạm Ngũ Lão cười cười, xem ra trong năm nay, tôi và Trần Khâm phải vét sạch quốc khố để đi ăn cưới.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 78: Mai Phục


Trần Khâm và Thượng hoàng tiến quân về vùng Thiên Mạc.

Buổi sáng xuất quân, tôi cưỡi ngựa phía sau mấy người Chiêu Minh Vương và Phạm Ngũ Lão, xem bọn họ uống rượu thề.

Gió sông Nhị Hà thổi tạt vào mặt, bên tai tôi vang lên bài Hịch tướng sĩ, dù cha tôi không có ở đây nhưng khúc ca hào hùng như đều nằm trong tâm khảm của từng binh lính.

Tôi nhìn Trần Khâm lần nữa, thấy anh cũng đang mỉm cười với tôi.

Tóc Trần Khâm búi cao, toàn thân mặc giáp, hiên ngang trên con ngựa to khỏe như một chiến thần.

Chúng tôi nhìn nhau, không cần nói nhưng đều âm thầm thề hẹn.

Có tiếng tù và thổi lên vang vọng, đoàn quân của tôi cũng dời gót.

Lá cờ thêu sáu chữ vàng trên nền cờ đỏ rực của Hoài Văn quân nổi bật lên giữa đội quân Thánh Dực của Chiêu Minh Vương, mọi giác quan của tôi như mở ra hết cỡ.

Toàn quân mai phục ở bến Chương Dương đợi tin, đây là cứ điểm quan trọng để tiến quân về kinh thành.

Tôi và Trần Quốc Toản thường xuyên dẫn Hoài Văn quân dùng thuyền nhẹ chèo ra thăm dò, sau mấy ngày quan sát quả nhiên nhìn thấy được sự rệu rã đến mức bọn chúng còn phải giết ngựa chiến để bỏ bụng.

Tôi không khỏi lắc đầu nhìn Trần Quốc Toản, nếu như tình hình cứ tiếp tục giằng co như thế, có phải chăng bọn chúng sẽ giết cả người để ăn hay không?

Kể từ ngày chúng tôi kéo quân đến mai phục, hằng ngày đều có những xác chết do bệnh bị ném xuống mặt sông, và dù chúng tôi đã ở ngay sát bên cạnh nhưng dường như bọn chúng vẫn chưa đánh hơi được hiểm họa đang tới gần.

Chắc có lẽ mũi chúng đã bị bịt bởi mùi xác thối dưới lòng sông nên chẳng hề hay biết.

Hướng tiến quân của ta khiến bọn tàn binh phải đâm đầu về phía Hải Đông mà chạy, chẳng có cơ hội để quay ngược về kinh đô báo cáo tình hình.

Về việc này phải nói rằng Trần Khâm làm việc rất có năng suất, anh ta cầm quân tiểu trừ hết đám tàn binh, khiến cho đại quân của Thoát Hoan như mắt mù tai điếc.

Quả nhiên ba ngày sau Trần Thông dẫn thêm một cánh quân từ Thiên Trường đến hội quân, báo rằng Trần Nhật Duật đã cầm chân được Toa Đô, Chương Dương hoàn toàn bị cô lập, chính là lúc thích hợp nhất để đánh phá.

Tôi trông thấy Trần Thông, trong lòng bỗng có muôn điều muốn nói mà chẳng biết phải mở lời thế nào.

Nhưng chưa đợi được cơ hội để nói ra thì ngay trong sáng ấy, đội quân của chúng tôi dưới sự chỉ huy của Chiêu Minh Vương đã bắt đầu tập kích bất ngờ.

Lần này quân Thát nằm trong thế bị động, lại thêm tâm lý tự mãn chủ quan nên bị dọa cho sợ mất mật.

Thát Đát chinh chiến quen thói trên sa trường làm gì lại chịu để bản thân trở thành một con ngựa ốm mặc người chém giết, bọn chúng sau một thời gian bị động đã dần chấp nhận được tình thế, co cụm lại chờ đợi đợt tiến công cuối cùng.

Lúc này bên trong nội bộ quân ta lại có động tĩnh, một toán quân nhỏ vài chục người mặc quần áo Mông Cổ mở đường máu xông vào.

Tôi nheo mắt nhìn, cảm thấy bọn chúng hình như đang bảo vệ một cô gái đang ngồi trong xe ngựa.

Bên ngoài đao kiếm giao tranh, máu tạt lên cả mành xe, còn sắc mặt cô gái cũng tái xanh như không còn giọt máu.

Lúc tôi tìm được đường rẽ giữa ba quân đang hỗn loạn, thúc ngựa chạy đến thì cô gái đã không còn hơi thở, xung quanh mấy chục người Nguyên cũng ngã rạp như cỏ khô.

Tôi nhảy xuống ngựa đến gần, Trần Quốc Toản giơ tay ngăn cản tôi:

"Đừng động vào, nhỡ đâu có gian trá!"

Tôi liếc cậu ta, đáp:

"Vậy cậu kiểm tra giúp tôi đi!"

Trong lúc Trần Quốc Toản chần chừ tôi đã nhanh tay thò vào kiểm tra trên người cô gái.

Nếu như bọn chúng đã liều mạng bảo vệ người con gái này thì chắc chắn trên người ả ta phải có bí mật gì đó, huống hồ ả còn ngồi trong tư thế co rúm giống như che giấu thứ gì.

Tôi không nghĩ bọn người này có chiêu trò bởi khả năng để tiếp cận chủ tướng bên ta là rất thấp, muốn dùng từng ấy người để tạo ra sóng gió gì đó thì chắc chỉ xảy ra trong mơ.

Trong khi Trần Quốc Toản chưa phản ứng kịp thì tôi đã lôi ra từ thi thể cô gái được một bức thư.

Đọc xong, trong lòng bỗng nhiên bàng hoàng.

Lúc này tiếng của Trần Thông từ phía xa vọng đến bên tai tôi:

"Là An Tư, đây là người của An Tư, không được giết!"

Tôi ngước lên thì thấy anh ta đã thúc ngựa đến nơi, vẻ mặt điển trai còn nhuốm máu giặc trở nên tái nhợt, đôi mắt tối mịt tỏa ra u ám.

Nhưng bọn họ đã chết, tôi cũng chẳng thể thay đổi được điều này.

Trần Thông nhoài người phóng xuống ngựa, nắm lấy cổ tay tôi, gắt lên:

"Sao cô lại giết hết bọn họ rồi?"

Trần Quốc Toản đẩy anh ta ra, quát:

"Ai nói bọn tôi giết, lúc bọn tôi đến đây thì họ đã chết rồi!"

Trần Thông giống như không nghe thấy lời của Trần Quốc Toản, tiếp tục gằn giọng:

"Đây là cung nhân Thụy Khê đi theo An Tư về trại giặc, hôm nay bất chấp tính mạng đột ngột xông vào đây chắc chắn có việc hệ trọng.

Các ngươi giết người rồi thì phải làm sao đây!"

Trong đầu tôi lướt qua một khả năng, không kịp suy nghĩ đã leo lên chiến mã, hét lớn:

"Hoài Văn quân lập tức chỉnh đốn quân trang, tập hợp đợi lệnh!"

Lúc này cả Trần Quốc Toản cũng trở nên nghiêm túc, răm rắp nghe theo.

Tôi nhìn Trần Thông, nghiêm mặt nói:

"Hãy mau đi báo cho Chiêu Minh vương rằng kinh thành đang bị động, xin ngài sắp xếp cho quân tìm đường khác tấn công vào cổng thành, tất dễ dàng hơn nhiều!"

Tôi nói xong, liền cùng Hoài Văn quân xé gió lao đi.

Bức thư trên tay cũng vô thức bị nhàu nát.

Tôi dường như lấy hết sức bình sinh để phi ngựa, dù trên gò má đỏ ửng vì gió cát, dù cả người bị những tán cây hai bên đường cào rát cả lên nhưng vẫn mặc kệ.

Tim tôi co thắt từng cơn, trên bức thư ghi chỉ vỏn vẹn mười chữ bằng máu, rằng: "Chương Dương cửu giặc tỏ, rồng rắn dọc Nhị Hà".

Tôi không biết nếu bức thư lọt vào tay ai khác thì họ có hiểu không, nhưng riêng tôi chỉ cần liếc qua liền có thể thông suốt ngay được.

Tôi không biết An Tư dùng cách nào để có thể đưa người đi trót lọt, tôi cũng không biết liệu Thoát Hoan có biết sự tình hay không, nếu biết rồi thì anh ta sẽ xuống tay như thế nào?

Nhưng bức thư này có lẽ An Tư chỉ muốn gửi riêng cho tôi.

Trần Quốc Toản vẫn ghìm chặt dây cương bám sát tôi, lúc này mới dám lên tiếng hỏi:

"Nói đi là đi, chị không thể giải thích câu nào cho ra hồn hay sao?"

Tôi hét lên với Trần Quốc Toản:

"An Tư gửi mật thư báo rằng Thoát Hoan đã biết tin bị tấn công, hắn đã đưa quân chi viện đi dọc sông Nhị Hà về tiếp cứu cho Chương Dương rồi!"

Thoát Hoan hành động như vậy đối với ta mặc dù có hại, nhưng nếu biết nắm bắt thì khả năng cao có thể đảo khách thành chủ.

Tiếp viện cho Chương Dương đúng là có thể tạm thời ngăn cản được Chiêu Minh vương giành thắng lợi, nhưng lực lượng của anh ta ở kinh thành sẽ mỏng đi rất nhiều, nếu như bất ngờ chịu một cuộc tập kích với quy mô lớn chưa chắc có thể thủ được.

Bến Chương Dương mặc dù là nơi hiểm yếu và cứ địa quan trọng cho đội quân của Thoát Hoan ở kinh thành, nhưng ngay lúc này mà cất quân đi ứng cứu thì không được tính là thượng sách.

Xem ra Thoát Hoan cũng đã đến lúc bí lối cùng đường.

Không biết kẻ dẫn quân chuyến này sẽ là ai đây?

Bất kể là ai, khi quân tâm ở Chương Dương đang rệu rã, tôi nhất định phải ngăn cản không cho chúng hội tụ lại.

Khả năng xấu nhất là Thoát Hoan đích thân đưa quân chi viện đi.

Thấy chủ tướng, quyết tâm gấp đôi, thế thì đừng nói tới lực lượng quân tiếp viện, chỉ e cho dù là những tên tàn binh cũng cố vùng dậy để giữ chân chúng tôi.

Đoạt lại Chương Dương sẽ trở nên khó nhằng, đúng là lợi bất cập hại.

Tôi vẫn chưa quên được khi bọn chúng vừa mới tràn qua biên ải với lợi thế số đông, bọn chúng đã ngang tàng như lũ quét thế nào, khó khăn lắm mới chờ được ngày quân số của chúng bị dàn mỏng.

Trần Nhật Duật đã cầm chân Toa Đô ở Thiên Trường, tôi cũng phải quyết toán đám viện binh này mới vẹn.

Tuy thế, tôi cũng chẳng biết lời nói của tôi có đến được tai Chiêu Minh vương hay không, dưới trướng ngài ấy hiện giờ có Phạm Ngũ Lão, có Trần Thông, có chị Thuỵ Hữu, và hơn ai hết chính ngài ấy là người có khả năng nhất để đánh tới kinh thành trong lúc này – một lưới bắt trọn.

Máu nóng chảy rần rần từ dưới gót chân lên tận đỉnh đầu tôi.

Đã lâu không gặp Thoát Hoan, chẳng biết khi gặp lại anh ta sẽ bày ra bộ mặt gì, có nghiến răng nghiến lợi khi bất ngờ trông thấy tôi hay không nhỉ?

Trần Quốc Toản nghe tôi nói thế thì quát:

"Nếu như tin tức đó là giả thì sao?"

"Cho dù khả năng chỉ năm phần tôi cũng phải thử!

Nghe đây, nếu lát nữa có chiều hướng xấu thì chú phải giữ lại mạng quay về báo với Chiêu Minh Vương!"

"Ai cho chị cái quyền tự ý ra quyết định hả?" – Trần Quốc Toản nghiến răng gằn giọng.

Nhưng nếu là thật mà tôi lại cứ chần chừ thì đúng là uổng phí một phen tâm sức của An Tư.

Đi đến nửa đường tới một đoạn có vẻ hiểm yếu, tôi ra hiệu cho Hoài Văn quân dừng lại, chúng tôi dàn trận tại đây.

Nơi đây vừa có bờ sông Nhị Hà vừa có thế núi tựa, ở giữa là đường mòn, đúng là khó thủ dễ công.

Phía bờ sông dàn thành ba tốp, trên triền núi lại cho quân lính nấp thành ba tốp song song, kỵ binh chặn phía trước mặt, chỉ cần tàn binh của chúng vừa chạy tới là lập tức rơi vào mai phục.

Tôi đứng ở nơi cao quan sát xuống phía dưới, chỉ cần tôi ra hiệu Hoài Văn quân sẽ lập tức hành động ngay.

Quả nhiên chỉ nửa canh giờ sau phía xa đã truyền tới tiếng vó ngựa lộc cộc.

Chim chóc xung quanh tôi bị động bay lên tán loạn, phía trước bụi khói mịt mù khiến tôi chẳng nhìn rõ ai là ai, chỉ thấy phấp phới lá cờ Mông Cổ.

Tôi nhướng mày nhìn về hướng Trần Quốc Toản, nhưng xa quá chẳng biết cậu ta có trông thấy tôi đang đắc ý không.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 79: Tập Kích


Quân Thát tiến tới càng lúc càng gần.

Tốc độ phi ngựa khủng khiếp và khói bụi bốc lên ngùn ngụt từ mặt đất như dưới chốn âm ti, cùng với âm thanh vang động của vó ngựa va vào nền đất muốn ù tai khiến chúng chẳng hề hay biết được trước mặt chính là một thiên la địa võng, chờ chôn xác chúng xuống mười tám tầng địa ngục.

Thấy bọn chúng đã vào tròng, tôi giơ thanh đao ra hiệu, toàn bộ cung tên như mưa bắn xuống.

Tức thì tiếng ngựa hí vang trời dội đến bên tai tôi, tiếng giẫm đạp náo loạn cả một vùng sông Nhị Hà.

Ấy vậy mà giữa tiếng vó ngựa, đám người phía sau vẫn không hay biết gì, tiếp tục lao lên phía trước tạo nên một cuộc hỗn loạn đẫm máu.

Tôi nhanh chân nhảy lên ngựa chiến lao xuống nơi mà trước đó kỵ binh đã mai phục sẵn, thong dong ngồi đợi đám tàn quân để chặn đầu, đợi hơn nửa khắc mới thấy chúng như tắm máu rũ rượi thúc ngựa chạy ra.

Lần này chỉ mang theo sáu nghìn mũi tên, nếu tôi đoán không lầm tổng quân Thát được phái đến tầm một vạn, nhẩm tính trong đợt mưa tên ban nãy thì quân số của chúng tiêu hao quá nửa.

Đám tàn binh lúc này tinh thần hỗn loạn, đừng nói là mấy nghìn loạn binh, cho dù gấp đôi thì một nghìn Hoài Văn quân của chúng tôi cũng đủ để diệt gọn đám người hoảng hốt như chúng.

Tôi nheo mắt chăm chú nhìn về phía trước, lúc thấy được thủ lĩnh thì trong lòng chợt động.

Hoá ra tôi đã quá đề cao Thoát Hoan, anh ta cũng chẳng dám bỏ thành mà tự mình dẫn quân đi Chương Dương.

Nhưng nếu thật sự là anh ta bỏ thành rời Chương Dương, thì đám viện binh này hôm nay liệu sẽ trúng mai phục?

Xem ra tình hình của quân Thát ở kinh thành cũng không mấy khả quan, nếu như Chiêu Văn vương có thể nắm bắt được tình hình để công thành, khả năng chiến thắng là không thấp.

Tôi ngẩng cao đầu, nhếch môi nhìn vị chủ tướng trước mặt, châm chọc nói:

"Sao lại nhếch nhác như thế hả cô công chúa oai phong ngời ngời của tôi?"

Tôi nhìn nét mặt tái xanh của Trà Luân, thâm tâm không nói rõ được là vui hay buồn.

Lần gần nhất tôi gặp ả ta là tại trận đánh ở núi Phả Lại, lúc ấy ả mặc chiến bào màu bạc xua quân đuổi giết tôi, nhưng không may bị tôi cắt đi một lọn tóc và bị Quốc Tảng ném cho ngã ngựa.

Còn lần đầu tiên tôi gặp Trà Luân là lúc nào nhỉ, hình như là lúc tôi ngất xỉu ở bờ hồ Thuỷ Tinh, khi ả ta còn trong thân phận là chủ cung Diệu Hoa.

Thế sự xoay vần, bãi bể nương dâu.

Ả ta từng cứu tôi, từng làm bạn với tôi, từng đối tốt với tôi, từng bắt cóc tôi về Nguyên quốc, từng đưa tôi thoát khỏi cung thất của Thoát Hoan, cũng từng muốn dồn tôi vào chỗ chết.

Hôm nay thật sự đối mặt ở hai đầu chiến tuyến một mất một còn, rốt cuộc cũng không thể nói rõ được giữa chúng tôi tồn tại loại quan hệ nào.

Là bạn bè ư?

Không phải.

Là kẻ thù chăng?

E rằng cũng không phải!

Mấy chuyện thật thật giả giả này, chuyện nào là thật chuyện nào là giả, đến lúc này tôi cũng chẳng thể phân biệt được.

Mà dù có phân biệt được rạch ròi cũng đâu còn có ích gì.

Trà Luân trông qua có vẻ khốn khổ, trừng mắt nhìn tôi nói:

"Không ngờ lại gặp mi trong hoàn cảnh này, biết vậy ngày xưa cứ để mi rục xương ở Nguyên quốc!"

Tôi cười đáp:

"Vốn cô cũng đâu định cứu tôi!"

Đúng rồi, kẻ mà ả muốn cứu là anh tôi cơ mà.

Trà Luân khẽ dao động, giống như bỗng dưng bị nhắc đến vết thương lòng.

Bây giờ ả ta so với ngày xưa càng cao quý động lòng người hơn, trên gương mặt lộ ra vẻ chết chóc như một đoá hoa độc nở nơi chiến trận.

Trà Luân cười khẩy với tôi, ngay lập tức ra hiệu cho toàn quân xuất kích.

Tôi liếc mắt nhìn Trần Quốc Toản, tức thì cả hai bên cùng xông lên giáp lá cà.

Trận chiến này đánh từ giữa trưa tới chiều tối, rốt cuộc giết địch một vạn, tự tổn ba trăm.

Tôi lau vệt máu trên khoé môi, đoạn trường thương cắm xuống đất, có cảm giác như đứng không vững nữa.

Trần Quốc Toản hoảng hốt đỡ tôi, lo lắng hỏi:

"Chị bị thương ở đâu à?"

Tôi bật cười:

"Có chú mới bị thương ấy!"

Trần Quốc Toản khinh thường nói:

Một đám người yếu ớt thế này mà đòi đả thương tôi ư?

Còn non lắm!

Tôi thấy dưới đùi cậu ta cũng ướt một mảng máu nhưng vẫn còn mạnh miệng thế thì bất chợt phì cười.

Tôi lê tấm thân mỏi nhừ về phía trước, nhìn thấy Trà Luân đã trút đi hơi thở dưới bụi tầm xuân đã tàn lụi, vẻ mặt thanh thản như đi vào giấc ngủ sâu, duy chỉ có vết đao khủng khiếp ở giữa ngực là nổi bật lên hết thảy.

Không biết trước lúc chết ả ta có nhìn thấy bóng dáng của kẻ mà ả luôn tâm niệm, để rồi hôm nay rơi vào bước đường này hay không.

Chắc là sẽ hối hận nhỉ?

Nhưng việc ả cứu anh em tôi một mạng, tôi thật tình rất biết ơn.

Tôi cởi áo khoác ngoài đắp lên người Trà Luân, đứng cúi đầu trước cô ta hồi lâu.

Trần Quốc Toản thấy thế liền hỏi:

"Chị làm gì thế?"

"Trả nợ ân tình cho một người." – Tôi đáp.

"Ai thế?" – Trần Quốc Toản hỏi.

Tôi phì cười:

"Đồ nhiều chuyện!"

Nói xong, tôi quay mặt về phía Hoài Văn quân hô lên:

"Đi thôi!

Về kinh!"

Lần này tuy nói Hoài Văn quân chúng tôi diệt được toán quân tiếp viện của Thoát Hoan, nhưng tổn thất là nỗi đau mà không phải dùng ngôn từ có thể diễn tả được.

Tôi lệnh cho đội trưởng của các tiểu đội ghi lại danh sách những binh lính đã hy sinh trong trận chiến này để đến khi giặc tan, tôi sẽ tâu lên triều đình truy phong cho họ.

Trần Quốc Toàn nghẹn ngào gật đầu.

Tuy lúc bình thường trông cậu ta có vẻ vô tư lự nhưng nhìn những người từng một dạ trung thành với mình lần lượt nằm xuống, trong lòng ắt hẳn không khỏi cảm thấy mất mát đau thương.

"Chúng ta có quay lại Chương Dương hay không?" – Trần Quốc Toản hỏi.

Tôi đáp lời cậu ta:

"Không cần đâu, Chương Dương chỉ là một cái vỏ rỗng.

Nếu như Chiêu Minh Vương hiểu ý tôi thì giờ này quân ta đã vây thành rồi.

Ta vừa đi vừa thăm dò, nếu đúng thế thì ngài ấy sẽ đưa ra tín hiệu."

Thu dọn xong tàn cuộc, ăn một chút lương khô, tôi và Hoài Văn quân biến đau thương thành sức mạnh tiếp tục đoạn hành trình gian nan hung hiểm.

Tôi leo lên ngựa, lại vô thức quay đầu nhìn về cô gái đã ngủ yên trên bãi chiến trường mãi mãi.

Đúng là con gái Mông Cổ, có chết cũng phải chết oanh liệt nơi trận mạc chứ không phải vùi thân nơi gác tía cung son.

Tuy hôm nay Trà Luân là kẻ chiến bại nhưng chưa chắc trong lòng cô ta thấy khổ.

Chỉ có điều tâm nguyện của Trà Luân đêm hôm đó suy cho cùng cũng không thể đạt thành, mà Quốc Tảng chắc gì vẫn còn nhớ đến cô ta.

Tôi đồng cảm với Trà Luân biết bao, chỉ mong kiếp sau Trà Luân chỉ là một cô gái bình thường, có thể tìm thấy được một Trát Lạt chỉ đơn thuần là Trát Lạt.

Chúng tôi đóng quân trong một hẻm núi cách kinh thành năm dặm, màn đêm đã buông xuống từ lâu khiến xung quanh chỉ còn một mảng tối đen.

Binh sĩ mỏi mệt đi nghỉ trong lều, chỉ còn tôi và Trần Quốc Toản ngồi trước đống lửa làm nhiệm vụ canh gác.

Trần Quốc Toản ngẩn người nhìn đống lửa một hồi lâu, bỗng nhiên thở dài:

"Không biết chị đã nghe qua chưa, tôi vốn sinh ra ở nước Tống, đến khi lên mười hai tuổi nước Tống diệt vong, tôi mới theo đoàn người vong quốc của Triệu Trung trở về.

Bọn họ nương nhờ phủ đệ của Chiêu Văn Vương, còn tôi thì được phong làm Hoài Văn hầu."

"Chú nương nhờ Triệu Trung trở về, sau đó nẫng luôn em gái người ta à?"

Mặt Trần Quốc Toản bỗng chốc như đống lửa đằng kia.

Tôi chống cằm nhìn gương mặt cậu ta lập lòe dưới ánh lửa, cũng không biết tại sao hôm nay lại có nhã hứng nói những việc này với tôi.

Lời cậu ta nói bất chợt làm tôi nhớ tới khoảng thời gian ở nhà họ Tô khi ấy, cũng nhớ lúc bản thân muốn làm rõ sự thật đến nhường nào.

Tôi thêm củi vào đống lửa, hoài niệm nói:

"Còn năm tôi bị bắt cóc là khi lên tám."

Trần Quốc Toản trợn mắt nhìn tôi, giống như tin tức này cậu ta mới nghe lần đầu.

Tôi không buồn giải thích thêm, mà cậu ta cũng không dám hỏi khiến bầu không khí trở nên vô cùng gượng gạo.

Tôi chợt thắc mắc, hỏi:

"Vậy cha mẹ chú làm gì ở đất Tống thế?"

"Cái này... là bí mật quốc gia đấy!

Trên đời người biết đến chỉ đếm trên đầu ngón tay!"

Tôi phì cười không đáp, thằng nhóc này còn bí mật với ai cơ đấy.

Nhưng nếu đã là bí mật quốc gia thì... tôi có nên tìm Trần Khâm để buôn chuyện hay không.

Trần Quốc Toản thấy tôi không chút tò mò, bỗng dưng bày ra bộ mặt khó chịu.

Lát sau bèn hỏi:

"Chị không muốn biết à?"

"Nếu không cần thiết thì không biết cũng không sao!" – Tôi đáp.

Bản mặt Trần Quốc Toản càng trở nên khó coi.

Tôi cười thầm, xem ra nội tâm của bất kỳ người đàn ông nào, dù có là vương là tướng thì vẫn chứa một phần trẻ con.

"Nếu cần thiết thì chú cứ nói đi vậy!"

Trần Quốc Toản không mấy quan tâm tới biểu hiện vô thưởng vô phạt của tôi, liền trút nỗi lòng:

"Cha tôi vốn là Tổng Trấn vùng biên giới phương Bắc.

Năm đó sau khi đuổi giặc Thát ra khỏi bờ cõi, cha mẹ tôi cùng vài tướng lĩnh được cử sang giúp Tống chống Mông Cổ.

Ở đất Tống tôi cũng từng có rất nhiều bạn bè."

"Vậy khi nhà Tống bị diệt, tại sao cha mẹ chú không về?"

Trần Quốc Toản vỗ đùi cái đét:

"Đúng rồi, vấn đề là ở đó đó!"

Đoạn, cậu ta lại thở dài, nhìn vào ngọn lửa nhẹ giọng nói:

"Chắc chị không biết ở phương Bắc ta có cả một đường dây tình báo để đưa thông tin về Đại Việt đâu nhỉ?

Cha mẹ tôi cùng một số người sang Tống năm đó là để thực hiện nhiệm vụ bí mật này."

Nghe Trần Quốc Toản đề cập tới, trong đầu vô thức nghĩ ngay tới một người, hóa ra anh ta chẳng phải là người đầu tiên lấy thân mình trà trộn vào hang cọp.

Giữa Đại Việt và Nguyên, ai là gà ai là thóc xem chừng vẫn chưa thể nói chính xác.

Sau cuộc chiến này, Trần Ích Tắc chính là thế hệ tiếp theo của đội ngũ tình báo, cho đến hiện tại anh ta vẫn làm rất xuất sắc và chưa phạm phải một sai lầm nào.

"Vậy còn chuyện của chị thì sao?" – Trần Quốc Toản đưa ánh mắt khát khao nhìn tôi.

Tôi phẩy tay, trả lời qua loa:

"Còn lâu mới nói!"

Trần Quốc Toản còn đang định phản bác thì đột nhiên bị tôi bịt chặt miệng.

Tôi nín thở cảm nhận, nếu như không lầm hình như có một đội hùng binh đang tiến tới đây.

Lúc này Trần Quốc Toản cũng phát hiện ra rồi, liền đi thông tri cho binh sĩ.

Hoài Văn quân phản ứng rất nhanh, chỉ trong chốc lát đã thu dọn tất cả lều trại chuẩn bị rút đến nơi an toàn.

Tôi dập đống lửa đang cháy dở, dùng đất đá che đi vết cháy đen trên bề mặt rồi âm thầm leo lên ngựa, dẫn Hoài Văn quân rút sâu vào hẻm núi.

Hiện tại không rõ địch ta, việc trước mắt là nên tìm chỗ an toàn rút quân trước đã, sau đó mới thăm dò xem là người của ai.

Còn nếu là giặc Thát?

Phần đông quân Thát hiện tại không phải chỉ co cụm trong kinh thành thôi sao?

Nhưng dù sao cũng không loại trừ khả năng là tôi và Trần Quốc Toản đã đoán nhầm.

Rốt cuộc sự thật chứng minh rằng chúng tôi đã đúng.

Hoài Văn quân vừa mới quay đầu đã trúng phải tập kích của địch, mưa tên vù vù rơi xuống sau lưng chúng tôi, đã có vài người phía sau ngã xuống.

Tôi nghiến răng nghiến lợi, tại sao lại đột ngột như thế, giống như bọn chúng đã biết chắc được chúng tôi ở đâu, trong khi mặt mũi chúng ra sao tôi còn chưa kịp nhìn thấy.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 80: Lại Lâm Vào Hiểm Cảnh


Là do tôi đã quá chủ quan khinh địch!

Vừa đánh xong một trận chưa kịp hồi sức, cung tên còn chưa kịp bổ sung, trên người không một mũi tên thì làm sao phản công ở tầm xa như vậy được.

Hiện giờ mắc kẹt trong hẻm núi, địch phía trên ta phía dưới, cho dù cố câu kéo thời gian thì cũng không đầy một nén nhang là đội quân của chúng tôi chẳng còn lại manh giáp nào.

Lúc này đã nghe thấy tiếng hô hào ngay sát trên đỉnh đầu, đội kỵ binh của chúng quả nhiên là tiến quân thần tốc, tôi đã thấy bóng dáng của thần chết đã kế bên tai.

Nhưng trong lúc hoảng loạn tôi nghe tiếng Trần Quốc Toản vọng đến:

"Ở đây có hang động!"

Tức thì tôi đáp:

"Mau bỏ ngựa, chúng ta vào hang cố thủ!"

Sự việc nói thì chậm mà xảy ra thì nhanh, trong một thoáng dựa vào ánh trăng vằng vặc trên cao Hoài Văn quân đã rút lui êm xuôi vào hang động.

Đáng tiếc đây chẳng qua cũng chỉ là cái hang cùng miệng hẹp thân rộng, thành ra vừa đủ để cố thủ nhưng cũng chẳng có đường nào khác để thoát thân.

Một đám người chúng tôi căng thẳng đến không dám thở, bởi nếu chỉ cần bọn chúng ào ạt xông vào dùng người lấp hang thì e chúng tôi sẽ trở tay không kịp.

Nhưng dù sao khả năng đó cũng khá hy hữu nên đáng lo nhất chỉ sợ bọn chúng đốt lửa tại cửa hang, um cho chúng tôi thành chuột hun khói mà thôi.

Trần Quốc Toản gằn giọng:

"Chị mới là chuột ý!"

Tôi liếc cậu ta:

"Ý cậu là cả phủ Hưng Đạo đều là chuột chứ gì?"

Trần Quốc Toản tự giác im miệng.

Chừng nửa canh giờ sau bắt đầu có những tên giặc Thát mò mẫm vào hang, sau khi hết tốp này đến tốp khác bị chúng tôi tập kích giết chết thì rốt cuộc bọn chúng cũng bắt đầu đốt lửa ngoài cửa.

Trần Quốc Toản thở dài:

"Trong điều kiện cái hang này có khe nứt thì chúng ta cầm cự tối đa hai ngày.

Còn trong điều kiện đây là hang kín thì chưa chắc được tới sáng mai."

Tôi ồ lên, chợt nhớ ra một chuyện:

"Nhưng nếu muốn cầm cự tới sáng mai thì điều kiện tiên quyết là phải tìm ra tên nội gián đã tiết lộ đường đi nước bước của ta trước đã.

Nếu không tôi và chú chết cũng không biết mình chết thế nào!"

Trong hang lập tức tĩnh lặng như tờ, có tiếng hít thở nặng nề trầm thấp.

Trần Quốc Toản cầm ngọn đuốc chậm rãi đi sâu vào hang, thanh gươm trên tay tôi cũng vô thức bị xiết chặt.

Đúng là cẩn thận không thừa, trong Hoài Văn quân từ lúc nào đã có một tên lạ mặt.

Nếu tôi đoán không lầm thì kẻ đó đã thừa cơ lẻn vào trong trận đánh cùng với Trà Luân sáng nay.

Quả nhiên không thể xem thường ả ta được, cho dù ả đã chết nhưng vẫn để lại ở chỗ tôi một con rắn độc, vừa có cơ hội là quay lại cắn tôi một phát ngay.

Đáng tiếc, vậy mà chúng tôi lại không nhận ra.

Sau khi kẻ đó tự rút dao tự sát, trong hang động lại lần nữa rơi vào khung cảnh tịch mịch, bởi tôi đã dần cảm nhận được mùi khói xộc vào mũi rồi.

Cái hang này thực ra không phải là hang kín, nước mưa từ trên vách đá len lỏi qua những kẻ hở bé như sợi chỉ nhỏ giọt xuống tạo thành những thanh âm trong trẻo lồng lộng trong hang như tiếng chuông, đọng thành những vũng nước nho nhỏ trên đất.

Tôi xé một mảnh áo thấm nước rồi bịt mũi lại, tạm thời che chắn khỏi đám khói đang xộc vào hang.

Nhưng đáng tiếc ở đây là vài trăm người, tất nhiên không đủ cho tất cả cùng sử dụng.

Khi vũng nước cuối cùng bị lau khô, thấy Trần Quốc Toản trầm ngâm, tôi buộc miệng:

"Thật ra ta có thể thử dùng... nước tiểu chẳng hạn..."

"..."

Thấy Trần Quốc Toản mọi khi vẫn luôn rất lắm lời mà lúc này đột nhiên nín bặt, tôi chột dạ nói:

"Đương nhiên chú có thể chọn cách hít khói rồi từ từ chết.

Dù sao cầm cự chỉ để tăng khả năng sống sót nếu có viện binh, hoặc đợi bọn Thát nản lòng bỏ đi, hoặc khi chúng lơ là thì ta phản công liều chết, chứ một khi đã chui vào hang thì như cá trong rọ, khác mỗi chỗ là chết cùng nhau hay chia ra để chết thôi."

Trần Quốc Toản hít sâu một hơi, tự nhiên nói:

"Xin lỗi..."

Tôi bật cười:

"Tôi tưởng chú đã chuẩn bị tâm lý cho việc toàn quân có thể thất bại bất cứ lúc nào."

Nhưng thực tế chứng minh Trần Quốc Toản đúng là một con người kiên cường không hề nao núng trước khó khăn gian khổ.

Cho đến khi ánh sáng của mặt trời le lói xuyên qua những kẻ hở trong hang và cửa hang không còn mùi khói nữa thì Trần Quốc Toản vẫn không đến nỗi chật vật lắm.

Cậu ta vẫn chống thanh đao trước mặt, ngồi trong góc nhắm mắt thiếp đi cho qua cơn cực khổ.

Thấy thế, tôi khẽ đẩy vai cậu ta, Trần Quốc Toản trầm giọng nói:

"Tôi chưa chết!"

"Chưa chết là tốt, chưa chết là tốt!" – Tôi thở phào.

Tiếng chém giết càng ngày càng lớn truyền từ cửa vào trong hang.

Trần Quốc Toản mở bừng mắt nhìn tôi, tôi cũng trừng cậu ta, cả hai đều nhổm dậy định lao ra ngoài.

Có câu kẻ thù của kẻ thù chính là bạn, không cần biết ngoài đó là ai, chỉ cần có xung đột với quân Thát thì tức là người nhà.

Hình như bây giờ cũng không có ai đứng ngoài cửa hang canh chừng nữa.

Trần Quốc Toản giơ tay ra cản tôi, dùng thanh kiếm của mình dò la bên ngoài trước, tôi cảm nhận được cậu ta cũng đang căng thẳng vô cùng.

Tôi theo sát Trần Quốc Toản, Hoài Văn quân cũng từ từ ra khỏi hang.

Suốt một đêm sống trong hoàn cảnh ngột ngạt khó thở, rốt cuộc cuối cùng cũng được thoải mái hít khí trời.

Còn chưa kịp ổn định trạng thái đã nghe tiếng của Trần Quốc Toản hô lên:

"Là Chiêu Thành vương, Hoài Văn quân chỉnh đốn hàng ngũ sẵn sàng giao chiến!"

Hiện giờ phía Chiêu Thành vương đang chiếm lợi thế, lại thêm Hoài Văn quân từ trong hang bất ngờ xông ra nên giặc Thát chết như ngã rạ.

Bọn chúng mạnh ai nấy chạy, lớp chết lớp bị thương, thiệt hại hơn quá nửa.

Chúng tôi đuổi theo chúng tới kinh thành, nhưng lúc này kinh thành đã sớm bị Chiêu Minh Vương chiếm giữ còn Thoát Hoan đã đưa quân rút đi từ lúc nào.

Đám người Thát lại như rắn mất đầu, tiếp tục rẽ hướng khác mà rút chạy.

Nhìn tòa thành sáng bừng trong nắng, đáy lòng tôi bỗng dâng lên nỗi xúc động bồi hồi.

Nửa năm rồi, nửa năm gặp lại tuy có chút điêu tàn nhưng Thăng Long vẫn giữ được vẻ trang nghiêm sừng sững không hề thay đổi.

Trần Khâm, Thăng Long đã trống, sao chàng còn chưa về?

Về sau tôi mới biết thì ra Trần Thông được lệnh đi tìm chúng tôi, sau đấy bắt gặp được toán quân của Giảo Kỳ ở gần kinh thành.

Vì chưa biết Thoát Hoan đã tháo chạy nên hắn ta vẫn dẫn đầu đi hội quân, thế nên mới chạm mặt chúng tôi ở hẻm núi ấy.

Chỉ bất ngờ là quân của Chiêu Minh vương còn chưa kịp phá cổng thành thì Thoát Hoan đã vội tìm hướng khác rút chạy, tuy việc này không giống lắm với tác phong của Thoát Hoan, nhưng tôi hiểu nếu như là người có đầu óc chắc chắn sẽ làm vậy.

Tôi, Trần Quốc Toản cùng với Chiêu Thành vương dẫn quân đuổi đến sông Đuống, vừa nhác xa xa đã thấy quân của cha tôi chặn đầu, toàn quân liền hô hào vang dội khắp mặt sông.

Lúc này lượng quân đông đảo của Thoát Hoan đã phát huy tác dụng.

Dẫu thế, tuy có thể vượt sông chạy thoát nhưng số tử thương cũng không hề ít chút nào.

Hoài Văn quân càng đánh càng hăng, kẻ đuổi người chạy thoắt cái đã vờn nhau đến bờ sông Như Nguyệt.

Từ xa xa, tôi trông thấy bóng dáng dong dỏng cao của Thoát Hoan ngồi trên lưng ngựa, anh ta cũng cùng lúc quay mặt về phía tôi, hai mắt long lên đỏ như máu nhìn chằm chằm tôi.

Thoát Hoan ấy vậy mà lại đặt An Tư ngồi trước ngực, mũi tên đang giơ cao trên tay tôi cũng từ từ hạ xuống.

An Tư đẫm nước mắt nhìn tôi, như muốn nói với tôi hãy ra tay đi.

Nước mắt tôi bất chợt lăn dài xuống gò má, tôi khẽ lắc đầu mỉm cười.

An Tư, sao tôi có thể ra tay được?

Tôi khẽ liếc nhìn Chiêu Thành vương ở bên cạnh, bất đắc dĩ hỏi:

"Có bao giờ anh hối hận về quyết định của mình chưa?"

Chiêu Thành vương không đáp, tôi thấy anh ta là kẻ đặt lợi ích đất nước lên trên cả tình riêng.

Có lẽ cho đến nay anh ta chưa từng hối hận về quyết định này, chỉ có tôi là luôn canh cánh.

Giặc Thát đang bắt cầu phao qua sông, quân ta cũng ào ạt lao vào chém giết, tôi bất chợt nhìn thấy Trần Ích Tắc cũng đang ở trong hàng ngũ.

Cầu phao đã bắt xong, Thoát Hoan cũng thúc ngựa về phía bên kia bờ.

Bỗng dưng bất thình lình ở đâu xông ra một chàng trai trẻ chỉ vào Trần Ích Tắc mà mắng:

"Quân hèn mọn, yếu đuối như một gã đàn bà vậy!

Đại Việt lấy làm hổ thẹn khi có một vương như mi!"

Tôi chưng hửng nhìn nét mặt Trần Ích Tắc trở nên tím tái, anh ta còn chưa nói gì thì phía xa xa đã vút đến một mũi tên găm thẳng vào cổ của chàng trai.

Toàn quân ta trở nên nhốn nháo, thì ra Thoát Hoan đã dùng một tiễn để kết thúc mạng sống của người nọ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 81: Khởi Giá Hồi Kinh


Đó là Hoài Nhân Vương Quốc Kiện, người này chỉ tầm tuổi Quốc Toản.

Sau khi cậu ta chết, tôi cũng như bừng tỉnh lập tức cùng ba quân ngăn cản bọn giặc Thát vượt sông.

Trong trận này quân Thát rơi xuống sông chết chìm quá nửa, xác chết như muốn lấp đầy sông Như Nguyệt.

Thoát Hoan vẫn chạy trốn được cùng đám tàn quân, anh ta quay đầu lại nhìn tôi, ánh mắt như rắn độc.

Lúc ấy cầu phao cũng đứt lìa, kéo theo ngàn vạn quân Nguyên chìm xuống lòng sông.

Sau này tôi lại nghe nói Thoát Hoan cùng đám tàn quân chạy tới Vĩnh Bình đã bị các anh tôi phục kích.

Mưa tên đổ xuống, Thoát Hoan đã phải nằm trong ống đồng để binh lính khiêng về Nguyên.

Lúc nghe tới đó tôi từ trên giường nhổm dậy, có chút không thể tin.

Thời thế thay đổi, bất cứ ai cũng không thể chống lại vận mệnh của trời, đội quân hung hăng tàn bạo nhất cuối cùng cũng thất bại trên đất Đại Việt.

Còn nhớ năm xưa khi Thoát Hoan lần đầu xuất hiện ở Thăng Long, kiêu căng ngạo mạn chẳng khác gì con của trời, khí thế đến mức chẳng ai dám nhìn thẳng.

Vậy mà hôm nay lại sa cơ lỡ vận, chạy trốn như loài chuột lang.

Nhưng cũng phải thôi, theo lời Trần Khâm, quân ta có món tên độc mà ngay cả kẻ tự mãn như Thoát Hoan cũng phải hoảng hốt.

Sau trận đánh ấy tôi lại đưa quân đi họp mặt với quân của Trần Khâm ở Thiên Trường.

Ngày nhớ đêm mong khiến tôi có chút gấp gáp, ngựa phi nước đại vượt cả non cao núi thẳm khiến Hoài Văn quân phía sau thở không ra hơi.

Trần Quốc Toản bị bỏ xa một đoạn, hét lên với tôi:

"Còn như vậy nữa thì ngựa không chịu nổi mất!"

Tôi nghe tiếng được tiếng không, ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm, trong lòng khẩn trương đến toát cả mồ hôi tay.

Đại quân dừng trước doanh trại, tôi vừa thắng yên ngựa đã thấy Trần Khâm đứng đó từ lúc nào.

Trông thấy tôi, người ấy nở nụ cười như nắng ấm, giống như đã sớm biết trước được tôi sẽ đến đây.

Trần Khâm giơ tay ra trước mặt tôi, nhẹ giọng nói:

"Tôi biết chắc em sẽ thắng mà!"

Tôi nở nụ cười tươi rói với anh, đặt tay vào lòng bàn tay anh, thuận thế nhoài người xuống ngựa.

Sau đấy, tôi khuỵu một gối trước mặt anh, hô lớn:

"Bẩm quan gia, thần đưa quân tiếp viện đến rồi!"

Phía sau tôi, toàn quân cũng một loạt quỳ xuống, cùng hô vang khắp một vùng:

"Chúng thần đến trễ!"

Trần Khâm bật cười đỡ tôi dậy, dịu dàng nói:

"Trông tôi chật vật lắm hay sao?"

"Phòng bệnh hơn chữa bệnh!" – Tôi nói.

Vẻ mặt của Trần Quốc Toảng như sắp nôn oẹ đến nơi.

Năm ngày sau chúng tôi nghe tin Toa Đô đã đưa quân trở lại Tây Kết, bèn dẫn quân đi chặn đầu.

Bằng một cách nào đó mà đội quân đói khát của Toa Đô đã tồn tại một cách thần kỳ lại còn dẫn quân ngược ra Bắc để gặp Thoát Hoan sau bao ngày lênh đênh tìm kiếm, đáng tiếc chủ tướng của ông ta đã bỏ rơi toán quân này rồi trở về phương Bắc từ lâu.

Toa Đô làm người trung liệt nhưng cấp dưới của ông ta lại không được như thế.

Trên đường tiến quân ra Tây Kết, tổng binh Trương Hiển đã đầu hàng quân ta, sau đấy dựa vào sự dẫn đường của Trương Hiển thì đội quân của Toa Đô bị diệt ở Tây Kết mà ta không tốn chút sức lực.

Chỉ trong vài ngày, toàn bộ quân Nguyên ở Tây Kết đã tan rã.

Toa Đô bị chém chết tại trận, tàn quân trốn chạy ra vùng Hải Đông bị giết nhiều không kể xiết, bắt sống đến hơn năm vạn tù binh.

Lúc Trần Khâm nhìn thấy thủ cấp của Toa Đô, anh cởi áo choàng phủ lên rồi bất chợt nói:

"Người làm tôi phải nên như thế này!"

Nói xong anh ta sai người khâm liệm tử tế cho Toa Đô.

Tôi đứng bên cạnh Trần Khâm, bỗng dưng cảm thấy có lẽ Toa Đô cũng sẽ được an ủi phần nào.

Vậy là kết thúc một cuộc đời vừa oanh liệt vừa bi thảm của một vị tướng.

Lúc này chúng tôi cũng nhận được tin của Chiêu Minh vương báo rằng kinh thành đã ổn thỏa, dân chúng đều từ những vùng di tản bắt đầu trở về.

Tuy nói là đại thắng nhưng chém giết vẫn xảy ra trên đất nước ta, bao nhiêu hoa màu và nhà cửa bị hủy hoại, lúc này chính là thời điểm để Trần Khâm thể hiện được năng lực trị quốc.

Chiến tranh xảy ra gần như khắp cả nước Việt, nơi nào có dấu chân của bọn giặc Thát lướt ngang cỏ không mọc nổi, nhưng cuối cùng cũng có ngày đuổi được hết chúng ra khỏi lãnh thổ Đại Việt ta.

Chiêu Minh vương đưa đại quân đến Tây Kết rước vua, lá cờ Đại Việt có thêu chữ Trần bay phấp phới kiêu hùng trong gió, tiếng hò reo vang trời làm tôi xúc động đến ngộp thở.

Một ngày trời ban nắng đẹp, trả lại niềm tươi sáng cho non sông gấm vóc này.

Hiệu lệnh dở trại đã cất lên, quân lính cũng chấn chỉnh lại, sẵn sàng hộ tống vua và áp giải tù binh về triều.

Trần Khâm ngồi trên con ngựa chiến màu đen, mái tóc vẫn cột gọn trên đỉnh đầu, trên người vẫn mặc giáp minh quang sáng choang màu bạc.

Và dù mang vẻ tiều tụy nhưng đôi mắt vẫn có hồn, đôi lông mày đã thôi không còn nhíu chặt lại như những ngày phải cân nhắc đắn đo, bày mưu tính kế.

Trần Quốc Toản ở bên cạnh tôi lại bắt đầu giở giọng châm chọc:

"Đột nhiên cảm thấy người ấy ở khoảng cách rất xa à?

Nhìn đôi mắt tình ý dạt dào như mưa ngâu rơi hoài không dứt của chị kìa."

Tôi lườm cậu ta, thấy cậu ta nở nụ cười nham hiểm.

Tôi hừ một tiếng, mắng:

"Đồ con nít quỷ!"

Trần Quốc Toản lại cười ha hả:

"Ngày mai trở về hầu gia đây sẽ xin quan gia ban hôn, tới lúc đó tôi đã là người trưởng thành, xem ai cản tôi nói lời trăng gió?"

Tôi bất lực lắc đầu.

Đúng là thời đại thay đổi, lớp trẻ cũng càng ngày càng trở nên táo bạo.

Trên đường về kinh, đột nhiên ba quân cất giọng đọc vang một bài thơ, rằng:

"Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan,

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san."

Hóa ra đấy là bài thơ do Chiêu Minh Vương khởi xướng, cả Trần Khâm và Thượng hoàng nghe xong đều vô cùng tán thưởng.

Lúc trời còn tờ mờ sáng, tôi bỗng cảm giác có một lực mạnh mẽ xốc dậy, mở choàng mắt thì thấy mình đã ngồi trên con ngựa đen của Trần Khâm, đầu tựa vào ngực anh còn eo thì được anh ta dùng một tay giữ lại.

Tôi hốt hoảng quay mặt ôm lấy anh rồi nhìn anh phi nước đại trên cánh đồng hoang tít tắp đến tận chân trời.

Đã là tháng nóng nhất trong năm, tuy lúc tinh mơ mặt trời còn chưa mọc nhưng không khí cũng không mấy lạnh lẽo.

Gió thốc vào người tôi man mát, trên đôi gò má cũng thấy âm ẩm vì hơi sương.

Tôi mơ màng trông thấy sao Mai đã mọc trên đỉnh đầu, vạn vật lúc này như đứng bất động, chỉ có con ngựa của Trần Khâm là vẫn miệt mài chạy trên cánh đồng cỏ mênh mông.

Tôi ngồi sát vào người anh nghe tiếng tim đập mạnh mẽ trong lồng ngực và hơi thở nhè nhẹ phả lên tóc tôi vừa chân thực vừa hư ảo, cảm giác giống như một giấc mơ đẹp mà trước đây tôi đã từng mơ về.

Tôi lặng lẽ xiết chặt lấy áo anh, âm thầm hít mùi hương thanh thanh từ thảo mộc trên ngực áo.

Trong cảnh khói lửa liên miên, chẳng biết bao nhiêu lần tôi đã từng ước ao điều đơn giản như vậy.

Tôi không hỏi anh sẽ đưa mình đi đâu, vì dù lúc này có đến nơi chân trời góc bể tôi vẫn sẽ không chút do dự.

"Em ước gì sau này ta đừng rời xa thêm lần nào nữa!"

Trần Khâm không đáp, anh bất thình lình thắng ngựa lại khiến con ngựa như lồng lên, hai chi trước giơ cao làm cả hai chúng tôi ngã nhào xuống đồng cỏ.

Quả tim tôi từ trên lưng ngựa rơi xuống, quát nhẹ:

"Sao chàng luôn thích chơi mấy trò cảm giác mạnh thế này hả?"

Trần Khâm ấy vậy mà lại xót xa nói:

"Nửa năm theo tôi chịu khổ, giờ cả người chỉ còn da bọc xương."

Tôi nằm trên ngực anh, nhìn xuống đôi mắt phượng dài cười tươi đến mức híp lại, nhưng giữa mi tâm của người nam nhi chỉ mới hai mươi bảy tuổi lại ẩn hiện những vết nhăn mới tinh.

Tôi có thể tưởng tượng ra được những lúc anh phải thức thâu đêm suốt sáng, vắt óc suy nghĩ đến mức tiều tụy như thế nào.

Trần Khâm rướn người lên định hôn tôi, tôi lăn khỏi người anh nhưng lại bị đảo khách thành chủ, rốt cuộc nhìn thấy gương mặt của anh ngày càng gần.

Tiếng gà rừng ở đâu gáy vang khắp trời đất, lúc này cả tôi và anh đều lặng người nhìn vầng dương dần ló dạng nơi chân trời phía đông, những giọt sương còn đọng trên lá cỏ trở nên lung linh như một loại hổ phách.

Hóa ra Trần Khâm đưa tôi đến đây là vì muốn tôi xem được khung cảnh tráng lệ này.

Trần Khâm vuốt nhẹ khuôn mặt tôi, dịu dàng nói:

"Lần trước nhìn thấy mặt trời mọc ở đây lúc quân địch đuổi sau lưng, tôi đã nghĩ giá như có một ngày cùng em bình yên ngắm mặt trời mọc thì tốt quá."

"Chúng ta đã thắng rồi!" – Tôi đáp lời anh.

Mặt trời mọc lên rạng rỡ ở giang sơn Đại Việt, như một khởi đầu mới.
 
Back
Top Bottom