Cập nhật mới

Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 42: Dù Gió Ào Ạt, Dù Mưa Mịt Mù


Vào một ngày chớm thu, tôi cùng Nhật Duật đi xe ngựa ra hoàng thành, dừng trước một phủ đệ đã hoang tàn xơ xác.

Tôi bất chợt nhớ đến năm ấy khi mới đến đây, lúc đi ngang qua hoàng thành uy nghiêm tĩnh mịch, trong giấc ngủ chập chờn chỉ nghe tiếng xe ngựa lộc cộc hòa vào tiếng mưa thu rả rích và mùi hoa sữa thoang thoảng đưa hương.

Lúc ấy tôi cũng không nghĩ đến sẽ có ngày này.

Trần Nhật Duật cẩn thận đỡ tôi xuống xe, không thể tùy tiện bay nhảy như ngày xưa, tôi chợt nhiên cảm thấy lạ lẫm vô cùng.

Trời chớm thu se lạnh, Trần Khâm bắt tôi mặc thêm một lớp áo khoác dày dặn mới cho tôi đi.

Tôi nhìn Trần Nhật Duật, cười nói:

"Chú Văn học rộng hiểu nhiều, nhờ chú đặt cho đứa bé một cái tên thật oai nhé!"

Anh ta cũng cười cười nhìn tôi, nhưng nụ cười lại có vẻ ảm đạm.

Đến cổng, lính canh nhìn thấy ông hoàng sáu thì cung kính mở cửa cho vào.

Tuy tôi chưa từng bước chân vào đây nhưng nhìn phủ đệ rộng lớn, vẻ hoang tàn hiện tại không giấu nổi nét uy nghiêm của xa xưa, như có thể nhìn thấy được ngay trước mắt cảnh tôi tớ lũ lượt theo đoàn.

Bấy giờ mọi thứ hết thảy đều tối giản, chỉ có mỗi Mạc Đĩnh Chi ra cửa đón chúng tôi.

Thằng bé mặc một bộ quần áo tối màu, trông đã chững chạc hơn trước nhiều lắm, có lẽ xảy ra nhiều biến cố khiến nó như già hơn tuổi.

Nhưng sau tất cả, nó vẫn còn chịu ở lại nơi đây bầu bạn cùng thầy thì đã trọn nghĩa trọn tình.

Mạc Đĩnh Chi đứng trước cửa phòng, nhẹ tay gõ cửa:

"Thầy ơi, có thầy sáu và chị đến thăm ạ!"

Người bên trong lên tiếng đáp, chúng tôi bèn nối gót theo nhau vào.

Trong phòng có mùi trầm hương nhàn nhạt, chàng trai áo trắng ngồi chống cằm bên cửa sổ, trông anh ta vẫn giống như lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, khoé môi vẫn chứa ý cười nhưng lại đầy vẻ lạnh lùng xa cách.

Trên người anh ta vẫn mang một khí phách tối cao, không giận mà uy khiến người ta chỉ vừa gặp là nảy sinh cảm giác sùng bái cúi đầu.

Nhưng hiện giờ người này lại thiếu đi phần sinh khí, giống như một bức tranh tuyệt đẹp nhưng lại không có hồn.

Trần Ích Tắc nhìn thấy chúng tôi thì xoay người qua ngồi lại ngay ngắn trên sập, anh ta ung dung mỉm cười bảo:

"Chỗ ta không trà không rượu, không chê thì hãy cùng ngồi xuống ôn lại chuyện xưa."

Nói xong, anh ta lại quay sang Mạc Đĩnh Chi đang đứng bên cạnh, trách:

"Cô ấy đã là Tuyên phu nhân, đứa trẻ này thật không có phép tắc gì cả."

Tôi ngồi xuống ghế mộc, cũng cười với anh ta:

"Anh Năm cứ gọi tôi như trước."

Trần Ích Tắc đáp:

Ngày đó vì không biết phu nhân nên mới ăn nói bừa bãi, bây giờ đã biết rồi sao lại làm như không biết được?"

Mạc Đĩnh Chi cúi đầu thưa vâng.

Không khí đang hồi khó xử, Trần Nhật Duật bỗng lên tiếng chất vấn, giọng nói có chút khổ sở:

"Từ khi nào vậy?"

Ích Tắc không có vẻ gì nao núng.

Anh ta vẫn điềm đạm giống như trên đời này chẳng có việc gì làm nhọc lòng được anh ta, mỗi cái nhấc tay đều vô cùng thong thả, toát ra vẻ hào môn quý khí từ trong xương cốt.

Cho dù Trần Ích Tắc nay đã ngã ngựa, quyền và thế chẳng còn lại gì ngoài tước hảo Chiêu Quốc Vương, nhưng trên khóe môi anh ta vẫn mang nụ cười không bao giờ tắt.

"Bây giờ chú hỏi chuyện đó thì có ích gì đâu, chuyện đã rồi, anh không muốn liên lụy đến chú.

Nhật Duật, chú là đứa mà anh thương nhất."

"Dừng!" – Trần Nhật Duật gằn giọng – "Hai ta là anh em cùng một mẹ sinh ra, nếu anh thật sự không muốn liên lụy tôi thì anh đã không làm thế.

Hoặc chí ít, chí ít anh đã nói rõ mọi chuyện với tôi chứ không để đến khi tất cả đã không còn gì để cứu vãn mới nói mấy lời vô nghĩa đó."

Trần Ích Tắc chậm rãi đứng dậy, anh ta bước tới vỗ nhẹ lên vai em trai của mình, ánh mắt trìu mến:

"Sao anh có thể làm bẩn lòng trung như trời biển của chú?

Khi hay tin Đặng Dương tạo phản, chú đã không ngại ngần đem quân đi cứu viện dù thừa biết đó là người của anh.

Anh không hề trách chú, giữa hai ta dù không chung chí hướng nhưng sự thật chú là em của anh thì không hề thay đổi."

"Nhưng tại sao anh lại làm vậy?" – Tôi hỏi – "Tôi tin anh không phải loại người tham quyền lực giàu sang.

Anh dùng người tài cho đất nước, không quan trọng giàu nghèo, chứng tỏ anh không phải kẻ thấy lợi quên nghĩa."

Trần Ích Tắc lại cười lớn, giống như vừa được nghe một điều buồn cười nhất thiên hạ.

Anh ta trả lời tôi:

"Phu nhân ngây thơ quá, những kẻ tưởng chừng như vô tâm mới là kẻ có dã tâm nhất.

Chỉ khi phu nhân rơi vào hoàn cảnh như ta mới hiểu cảm giác của ta như thế nào."

Trần Ích Tắc dừng lại một chút, giống như đang hồi tưởng về quá khứ ngày xưa, hiếm hoi lắm mới nghe anh ta buông ra tiếng thở dài.

Anh ta lại nói, chất giọng ảo não:

"Lúc tiên đế còn sống người yêu thương ta hết mực.

Ta chuyên tâm học hành, không thứ gì là không muốn học, không việc gì là không làm, cứ nghĩ trong đám anh em kẻ nào giỏi giang nhất sẽ được nối ngôi.

Anh cả do hoàng hậu sinh ra, ngay từ khi lọt lòng đã được chỉ đích danh làm thái tử.

Còn ta, chỉ vì là con thứ mà kẻ cha coi trọng nhất như ta phải chấp nhận thoái lui."

Lần này đến lượt tôi cười với Trần Ích Tắc, bởi vì anh ta nói ra một chuyện hết sức nực cười.

"Đó chẳng qua chỉ là cảm giác của riêng anh.

Hơn nữa, nếu Thượng hoàng là hôn quân, nếu quan gia bạo ngược thì tôi đồng ý anh tạo phản.

Còn đằng này, anh có chắc rằng khi mình có được ngôi báu sẽ làm được như họ hay không?"

Trần Ích Tắc ngồi xuống sập gỗ, nhẹ giọng hỏi tôi:

"Phu nhân đang có mang đúng không?"

Thấy tôi sững lại, anh ta liền cười nói:

"Hiện giờ quan gia yêu quý phu nhân hết mực, nếu như phu nhân lại sinh ra một hoàng nam tài giỏi, liệu phu nhân có dòm ngó ngôi báu hay không?

Ta nghe nói thái tôn ham chơi, nhưng nếu chỉ vì nó là thái tôn mà ngồi được vào ngôi báu, liệu phu nhân có tránh khỏi ấm ức?

Đến lúc đó, thật muốn biết suy nghĩ của phu nhân thế nào."

Tôi lại bật cười, Trần Ích Tắc, anh đang muốn thao túng tâm lý tôi sao?

"Anh năm đừng suy bụng ta ra bụng người, cho dù sau này quan gia truyền ngôi cho ai thì đó là quyết định của chàng, tôi sẽ hết lòng tin tưởng, hết lòng phò trợ cho minh quân.

Đừng nói là tôi, cho dù con tôi có ý nghĩ không đúng mực đó thì chính tôi sẽ vì nghĩa diệt thân."

Trần Ích Tắc và Trần Nhật Duật đều nhìn tôi, cái nhìn y hệt đêm đầu tiên bọn tôi gặp nhau, lúc tôi khảng khái buông ra lời mắng mỏ tên Đỗ Thiên Hư ngông cuồng.

Tôi lại cảm thấy có làn gió nhè nhẹ, đầu mũi tôi lại như ngửi được mùi dạ lý hương thơm ngát đã từ lâu rồi không bắt gặp, như lại khiến khứu giác tôi một lần nữa lâng lâng.

Tôi lấy ra con dao găm mà Đặng phi đã giao phó trả lại cho Trần Ích Tắc, chỉ thấy ánh mắt anh ta tối sầm, sức lực phút chốc như bị trút cạn.

Tôi nghe anh ta nhỏ giọng than:

"Thì ra em ấy đã bội bạc với ta..."

"Nếu như chị ấy không bội bạc với anh, chị ấy sẽ bội bạc với đất nước này."

Con dao rơi "cạch" một tiếng xuống nền gạch.

Lúc định ra về, tôi nghe giọng của Trần Ích Tắc vang lên bên tai:

"Đĩnh Chi là một đứa trẻ có tài, nếu cứ thế này thì thật phí phạm cho nó quá, chi bằng Nhật Duật hãy đưa nó về nuôi dạy.

Gia đình nó đã có một vết nhơ, ta không muốn tiếp tục liên lụy đến nó."

Mạc Đĩnh Chi đã ôm lấy chân Trần Ích Tắc, nước mắt đọng trong hốc mắt chỉ chực chờ rơi.

Từ ban nãy đến giờ nó vẫn đứng bên cạnh không lên tiếng, nay nghe Trần Ích Tắc nói vậy thì khóc thút thít bảo:

"Lúc bái người làm thầy con đã thề mãi mãi bên cạnh chăm lo cho người, một ngày làm thầy trọn đời làm thầy, dù người có sa cơ lỡ bước thế nào con cũng sẽ không rời bỏ.

Hãy cho Đĩnh Chi ở lại chăm sóc người."

Trần Ích Tắc chưa kịp trả lời, Trần Nhật Duật đã lên tiếng trước:

"Anh học cao hiểu rộng hơn tôi rất nhiều, Đĩnh Chi đi theo anh là thích hợp nhất.

Nếu anh muốn tốt cho nó thì cứ hết lòng mà rèn giũa.

Đến một lúc thích hợp khi Đĩnh Chi đã đủ chững chạc, tôi sẽ tiến cử nó lên làm quan.

Quan gia trọng người tài, sẽ không hỏi đến xuất thân của nó đâu."

Tôi và Nhật Duật bái biệt anh ta, lần tạm biệt này không biết bao giờ mới gặp lại được.

Cố nhân khó khăn lắm mới lại gặp nhau, không ngờ lại gặp nhau trong hoàn cảnh oái ăm này.

Hai bọn tôi lại ngồi lặng im trong xe ngựa, bên ngoài tiếng mưa thu cứ rả rích đổ lên mái hiên mãi không thôi.

Tôi ngó anh ta, thấy áo của anh ta có chút mỏng manh, không biết đã lạnh trong lòng rồi thì bên ngoài có cảm thấy lạnh không nữa.

Lặng im suốt quãng đường, Trần Nhật Duật lúc này chắc cũng không muốn mở miệng, mà chính tôi cũng không biết phải nói gì để an ủi anh ta.

Có lẽ Trần Nhật Duật không chỉ cảm thấy bi thương mà còn tràn trề thất vọng.

Tôi chống cằm tựa cửa sổ ngắm mưa nhưng chỉ thấy trắng xóa một màu, tiếng xe ngựa lộc cộc quyện vào tiếng mưa rơi trên mái ngói lưu ly như một bản nhạc buồn da diết.

Đến Cấm thành, từ xa xa tôi đã nhác trông thấy bóng dáng Trần Khâm che ô đứng dưới làn mưa, ánh mắt anh ta nhìn về phía tôi dịu dàng đến kỳ lạ.

Tà áo của anh đã bị mưa tạt ướt một mảng, trông buồn cười mà cũng thấy thương thương.

Trước đây Quốc Tảng có lần cũng nhìn tôi từ xa dưới làn mưa rả rích như thế, nhưng lúc ấy tôi chỉ thấy thương cảm và ray rứt, còn lần này lại thấy thật ngọt ngào, giống như vĩnh viễn có một người đứng chờ tôi bên cổng thành như vậy, dù gió ào ạt, dù mưa mịt mù.

Xe ngựa của Trần Nhật Duật dừng lại trước cổng Cấm thành, Trần Khâm cẩn thận đỡ tôi xuống.

Anh ta bất chợt mỉm cười với tôi, tôi cũng nhìn anh bật cười.

Có lẽ đây chính là điều hạnh phúc nhất của đời người, người ấy mỉm cười khi trông thấy ta, và ta cũng cười khi thấy họ.

Trần Nhật Duật cũng xuống xe bái biệt với Trần Khâm, tôi nhìn anh ta an ủi:

"Chú Văn không cần canh cánh trong lòng, cứ để mọi chuyện đi theo quỹ đạo của nó đi."

Trần Nhật Duật cũng mỉm cười với tôi:

"Hy vọng mọi chuyện được như lời phu nhân nói!"

Tôi đứng nép mình trong lồng ngực ấm áp của Trần Khâm, nhìn cỗ xe ngựa của Trần Nhật Duật đi xa dần, khuất dạng trong màn mưa thu thăm thẳm.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 43: Bắt Gian Trên Hồ Thuỷ Tinh


Trước khi mang thai, ước mơ của tôi là mỗi ngày đều được ăn một con cá chép to ở hồ Thủy Tinh, sau khi mang thai, tôi lại ước hồ Thủy Tinh đừng sót lại một con cá nào nữa.

Hồ Thủy Tinh mùa này bạt ngàn trong sắc thắm của sen, nhưng nhắm chừng nửa tháng nữa chúng cũng bắt đầu tàn lụi dần.

Tôi nằm trên thuyền nhỏ nhìn trời xanh nước xanh, xung quanh là màu lá sen xanh mát, thi thoảng điểm màu hồng phấn của cánh hoa sen vô cùng hài hòa.

Trần Khâm ngồi chèo thuyền đối diện tôi, dưới khoang thuyền là những con cá chép lớn đang nằm đớp khí.

Tôi thoáng âu sầu, nhiều như vậy chẳng biết khi nào mới ăn xong.

Sen đang nở rộ, người ta thường tranh thủ hái những đóa hoa tươi mới nhất vào lúc sáng sớm để ướp trà.

Nghe nói sen ở hồ Dâm Đàm là thơm nhất, nhưng nhớ lại những chuyện phiền phức lúc trước, tôi đành kịch liệt tẩy chay.

Trần Khâm dùng mái chèo rẽ lối vào, tôi bất giác nhớ đến một câu ca dao, cười đọc:

"Búp sen lai láng giữa hồ,

Giơ tay muốn bẻ sợ chùa có sư."

Trần Khâm bên kia ngó qua, ánh mắt loé lên tia tinh nghịch hiếm thấy, đáp:

"Có sư thì mặc có sư,

Giơ tay anh bẻ có hư anh đền."

Tôi liếc anh ta, anh ta cũng nhìn tôi, cả hai bỗng nhiên bật cười.

Trần Khâm lại tiếp:

"Đền cho em một đứa trẻ."

Đôi gò má tôi đỏ ửng, thầm mắng anh ta không biết ngại.

Thuyền đi tới giữa hồ bỗng nghe tiếng cười nói, tôi nhìn Trần Khâm, hỏi:

"Chẳng phải cái hồ này là của riêng mình chàng thôi ư?"

Trần Khâm phì cười, nhún vai:

"Chẳng phải em và chú Văn đã chiếm dụng rồi à?"

Tôi không thể phản bác, bởi vì đúng thế thật.

Hai người bọn tôi chèo thuyền chầm chậm, nép sau đám lá sen nhô cao quá đầu.

Tôi đưa mắt nhìn vào trong, chỉ thấy một cặp nam nữ đang cười đùa, ánh mắt bờ môi đều đẹp như tranh vẽ.

Cô gái ánh chừng mười lăm mười sáu còn chàng trai cũng trạc hai mươi, họ ăn vận sang trọng đẹp đẽ, ắt hẳn cũng là lá ngọc cành vàng.

Nhìn cảnh đẹp ý vui tôi cũng không nỡ phá hỏng, chỉ là cảm thấy hai người bọn tôi ở trong hoàn cảnh này, thật giống như đang bắt gian.

Tôi còn đang đánh giá tình hình, Trần Khâm đã lên tiếng:

"Bây đâu, mau bắt trộm!"

"Tỏm" một tiếng, anh chàng nọ đã phóng nhanh xuống hồ, nhác trông như một con nhái trên lá sen vừa nghe động tĩnh là ù một cái lặn ngay xuống nước.

Tôi chưng hửng nhìn Trần Khâm, ý bảo:

"Người quân tử không ai làm thế cả."

Anh ta tỏ vẻ vô tội nhìn tôi:

"Tôi tự nhận mình là quân tử bao giờ?"

Nhìn đám sen rậm rạp dưới hồ, lại trông thấy người nọ hình như đang bám vào thân thuyền ở phía bên kia, tôi cầu mong sao cho anh ta đừng gặp phải đỉa vắt.

Ây chà, gặp phải mấy thứ đó thì phiền phức lắm đây.

Cô gái trên thuyền hốt hoảng quay đầu, lúc này tôi mới nhìn rõ vẻ quốc sắc thiên hương của cô ả.

Tôi tự đánh giá bản thân, gần đây vì có ăn nhiều chút nên trông mũm mỉm lên không ít, so với cô gái mới tuổi trăng rằm thật dễ tủi thân.

Cô nàng kia hơi đỏ mặt, lắp bắp:

"Sao...sao...sao quan gia lại ra đây, còn bắt trộm cái gì?

Không lẽ...một cái ao mà quan gia cũng nhỏ mọn...?"

Tôi mắt to trừng mắt nhỏ với Trần Khâm, miệng nói mấy chữ nhưng không phát ra tiếng:

"Nhân tình mới của chàng đấy à?"

Trần Khâm phì cười với tôi, lại quay sang bên kia đáp:

"Cô út thì tất nhiên là được, còn chú Chiêu Thành thì không được!"

"Ơ, sao lại không được?" – Cô ả nói xong thì giật mình, lại ngượng ngùng chữa – "Chú Chiêu Thành nào cơ...?

Ở đây chỉ có mỗi ta thôi..."

Tôi nhịn cười đến mức đỏ mặt, hoá ra đây là bà cô nhỏ của Trần Khâm.

Tôi không nén được chen lời:

"Cô út ơi, mau cho chú ta lên đi ạ, dưới ao nhiều đỉa vắt, khéo tí nữa chú ấy chỉ còn mỗi lớp da thôi!"

Cô nàng còn chưa đáp lời đã vội cho tay xuống nước, cưỡng ép lôi kéo người nọ lên.

Bên đây tôi còn loáng thoáng nghe được tiếng anh chàng kia luôn miệng:

"Không...không có đâu mà...đừng, trong áo tôi cũng không có...ấy, đừng chạm vào quần tôi ạ..."

Lúc này ngay cả Trần Khâm cũng không nhịn được mà cười phá lên.

Cô ả nhận ra mình bị trêu mới thôi không động tay động chân nữa mà chuyển sang trừng mắt nhìn bọn tôi.

Còn người gọi là chú Chiêu Thành thì lập tức quỳ lên thuyền, cúi đầu nói:

"Quan gia thứ tội, tôi sẽ lên bờ ngay lập tức!"

"Làm gì phải sợ nó, em gánh vác thay chàng!"

Tôi nhìn con thuyền tròng trành, bất giác bật cười.

Chú Chiêu Thành này cũng ngay thẳng thật, Trần Khâm chỉ đùa một chút mà chú ta đã hốt hoảng rồi, vậy mà còn dám cùng nhân tình lẻn vào hồ Thủy Tinh của người ta.

Hóa ra đây là công chúa An Tư, cô ruột của Trần Khâm, còn chú Chiêu Thành cũng là người trong họ hàng.

Tôi cứ tưởng Trần Nhật Duật tuổi này làm chú của Trần Khâm đã rất khiên cưỡng, hóa ra vẫn còn một người cô nhỏ tuổi hơn.

Tôi xuất hiện trong cuộc đời của An Tư giống như một kẻ vô tình biết được bí mật của cô ấy.

Ví như bình thường ta có một bí mật không dám nói với ai, đột nhiên có người biết đến thì vô thức ta sẽ muốn kể sạch sành sanh những gì liên quan đến nó để giải tỏa.

Mà An Tư với bí mật của cô ấy và Chiêu Thành Vương cũng vậy, thế nên tôi bất đắc dĩ trở thành một kẻ để An Tư trút bỏ nỗi lòng.

Tôi cảm thấy dù trước đây hay bây giờ thì việc này cũng không còn lạ lẫm nữa.

Ngày xưa ở phủ vương tôi cũng bị chị Anh Nguyên và An Hoa suốt ngày lãi nhãi, bây giờ lại xuất hiện thêm một An Tư.

Dạo gần đây tuy tôi vẫn mặn nồng với Trần Khâm, nhưng lại có cảm giác mình sắp mơ thấy chú Chiêu Thành rồi.

Chiêu Thành vương tên là Trần Thông, là con cả của Thái úy Trần Nhật Hiệu – em ruột tiên đế.

So ra vai vế thì tôi phải gọi hai người bọn họ là cô với chú, nhưng hai vị này thật không thể làm người ta bớt lo.

Một kẻ thì quá thật thà trung thực, một kẻ lại vô cùng tinh ranh, không lúc nào là không bày mưu ma chước quỷ.

An Tư công chúa này đem so với chị Anh Nguyên thì chỉ có hơn.

Sáng nay vừa mới mở mắt ra đã thấy gian trước của cung Quân Hoa ngào ngạt mùi thơm của nhãn, giờ chỉ mới đầu mùa nhãn, lấy đâu ra nhiều thế này?

Tôi hỏi Thụy Hương, hóa ra là An Tư sai người đến tận Hương Chi thu mua, tuy cảm động nhưng tôi cũng thật hoảng với cách người giàu tiêu tiền.

Thanh Vân đến chơi bắt gặp thì luôn miệng nói thứ này rất nóng, không tốt cho người mang thai.

An Tư nghe được, tức mình cãi lại:

"Làm sao ngươi biết, ngươi đã mang thai rồi hay sao?"

Câu này nói với một cô gái sống an phận không được quan gia quan tâm mấy như Thanh Vân thì cũng hơi độc.

Thế nên sau này có An Tư thì ít khi Thanh Vân xuất hiện, chắc một phần cũng tức mình vì tôi có mới nới cũ đây.

Nhưng cũng không trách tôi được, tôi không chủ động đi tìm An Tư.

Đến một ngày tôi bất giác hỏi:

"Cô An Tư này, bây giờ cả ngày cô ở cung Quân Hoa, vậy chú Chiêu Thành thế nào rồi?"

An Tư vỗ trán một cái, khẽ đáp:

"Ô, ta quên mất!

Hèn gì dạo này anh ấy có vẻ ít nói."

Đó là một ngày tôi bỗng phát hiện ra trong những câu chuyện của An Tư, Chiêu Thành vương ít xuất hiện hơn hẳn.

Thế thì chịu, cô nàng này lý nào lại mê đắm tôi hơn nhân tình của mình.

An Tư rất thích cưỡi ngựa, cô ấy hay kể với tôi về những lần cùng với Trần Thông dong ngựa vào Thanh Hóa, một cô gái còn nhỏ tuổi mà cưỡi ngựa giỏi thế thì hẳn là một điều rất phi thường.

Ngày xưa tôi học cưỡi ngựa với Quốc Tảng và Phạm Ngũ Lão, kể ra cũng cực khổ lắm thay.

Có một ngày lúc đang ngồi hóng mát trong vườn hoa đột nhiên nghe tiếng vó ngựa phi qua rầm rập, tôi ngẩng mặt lên chỉ thấy bụi bay mù mịt, một đám ngựa hung hăng chạy qua.

Quanh bầy ngựa có vài ba lính gác đang cố điều khiển chúng, nhưng có vẻ như sự việc quá bất ngờ nên với số người ít ỏi đó cũng chẳng thể làm gì.

Bất ngờ hơn là tôi chợt nhìn thấy trong đám ngựa có một người đang cưỡi lên con ngựa đầu đàn, chẳng ai khác chính là công chúa An Tư mà tôi mới quen biết.

Dù tôi cảm thấy những người xuất hiện xung quanh tôi đều giống như muốn đem lại rắc rối cho tôi nhưng dù sao cũng là bạn bè, tôi không thể thấy chết không cứu.

Tôi đứng trong hoa viên gọi với ra:

"An Tư, bình tĩnh giữ dây cương!"

Đây là câu nói ngày xưa khi bị Quốc Tảng chơi xấu, Phạm Ngũ Lão đã hét lên với tôi.

Sực nhớ ra, tôi vội quay sang Thụy Hương, gấp gáp nói:

"Mau, mau đến chỗ Cấm quân gọi thống lĩnh Phạm đến đây!"

"Nhưng, nhưng còn phu nhân..." – Thụy Hương ấp úng.

Tôi quát:

"Đi mau!"

Tôi cảm thấy mình rất có duyên với đám súc sinh này, trước là con hổ sổng ở Vọng Lâu, nay lại là đám ngựa ở Ngự Mã Giám.

An Tư ở đằng kia làm gì thấu cho nỗi lòng của tôi, cô ta đáp:

"Tôi cưỡi ngựa còn nhiều hơn cô ăn cơm."

Lời ít ý nhiều, đạp thẳng mặt người ta một cú.

Vốn đám ngựa đang chạy điên, nhưng đến đây giống như có nhiều chướng ngại cản đường nên chúng tạm thời dừng lại, có điều nếu không có cách ngăn chặn sợ là trong lúc giẫm đạp sẽ có không ít người bị thương.

Phía bên kia bỗng nhốn nháo lên, quả nhiên đã có thương tổn.

Con ngựa lồng lên một cái, An Tư từ trên ngựa suýt chút nữa thì ngã văng.

Ôi cô nàng này thật hống hách quá thể, để xem lần này cô ta có còn tự đại như thế nữa hay không.

Tôi bật cười ha ha với An Tư, lớn giọng thách thức:

"Nói cầu xin tôi đi, tôi sẽ cứu cô!"

An Tư đằng kia tay cầm cương ngựa, quát lớn:

"Cô đang mang thai đấy, mau tránh ra xa!"

Nói vừa dứt lời thì tôi đã đoạt kiếm của một tên cận vệ lao vào vòng vây, lâu không cầm kiếm, thật là ngứa ngáy.

An Tư thấy tôi một tay nắm lấy cổ tay mình tìm đường lách ra, một tay dùng kiếm hù dọa đám ngựa, cảm thán:

"Thảo nào cháu tôi thích cô như vậy!"

"Việc này còn cần cô phải nói sao?". – Tôi đáp.

Bọn ngựa này không tự nhiên lại điên tiết lên, khả năng cao là đã trúng thuốc hay gặp phải kích thích, xui xẻo thay, cô công chúa này lại cưỡi chúng vào đúng lúc hung hiểm.

Nhìn theo hướng của bọn ngựa, chắc là từ Giảng Võ Đường chạy qua đây, bởi nơi nuôi ngựa gần đây nhất chỉ có nơi đó.

Có một đám người chạy tới, trong đó bóng dáng quen thuộc của Chiêu Thành Vương.

Tôi nhìn anh ta, anh ta cũng nhìn tôi, tôi nháy mắt với anh ta một cái rồi dùng hết sức đẩy An Tư từ trong bầy ngựa văng ra, Chiêu Thành Vương cũng rất ăn ý chồm lên bắt được cô ấy.

Tên Chiêu Thành Vương này, hóa ra cũng không đến nỗi ngốc.

An Tư bên kia đã thoát ra được nhưng lại kêu gào đòi trở lại cứu tôi, cũng may là Chiêu Thành Vương đã giữ lại.

Đang loay hoay bỗng nhiên bên tai vang lên giọng nói trầm thấp như cố nén giận:

"Em lại thất hứa nữa rồi đấy!

Cả người tôi được một tấm lưng phủ lên.Tôi nghe "bịch bịch" mấy tiếng, Trần Khâm đã đỡ giúp tôi mấy cú đạp.

Tôi đã đánh giá thấp Trần Khâm, anh ta ôm tôi ra khỏi bầy ngựa mà không chút tổn hại nào.

Nhưng có lẽ ban nãy vận động hơi quá sức một chút, lúc tôi nằm trong vòng tay Trần Khâm thì cơn buồn ngủ bất chợt ùa về.

"Còn lại giao cho chàng!"

Tôi loáng thoáng nghe tiếng Trần Khâm nghiến răng nghiến lợi bên tai:

"Trời ạ, đồ ngốc này!"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 44: Người Đứng Dưới Tây Hiên


Tôi lờ mờ cảm thấy nếu lần này chết thật thì thôi, nếu mà không chết thì sẽ mềm xương với anh ta thật.

Không biết có phải do ám ảnh hay không mà tôi lại nằm mơ thấy ngựa, nhưng lần này là ngồi trong một cỗ xe ngựa.

Xung quanh mờ ảo như sương khói, bên tai tôi chỉ nghe tiếng gió ù ù, có lẽ đang mơ nên mọi thứ không được rõ ràng lắm.

Người con gái đang đánh xe phía trước có bóng lưng mảnh mai, mái tóc dài xõa tung trong gió, lần nọ tôi cũng từng đánh xe đưa Đặng phi trở về như thế này, nhưng bóng lưng đấy hình như lại chẳng phải của tôi.

Quay đầu nhìn về phía sau chỉ thấy Thăng Long ngày càng xa xôi mờ nhạt, lòng tôi bất an vô cùng.

Tôi khựng lại, hiện giờ đến mình là ai tôi cũng chẳng nhớ.

Nhưng vì nó là một giấc mơ, như nhiều lần tôi cũng bàng hoàng tỉnh dậy giữa những giấc mơ vô nghĩa, giấc mơ là một vở kịch lạ lẫm mà mình chỉ như con hát đang diễn lại thôi.

Cô gái phía trước hình như đã biết tôi tỉnh lại, hơi nghiêng đầu cười, nói:

"Ôi, kẻ phụ bạc đáng thương!"

Giọng điệu ả vô cùng ma quái.

Đầu tôi đau lên từng hồi, tôi định hỏi chị ta có phải là nhầm lẫn gì không nhưng phát hiện ra giọng nói của mình bỗng nhiên mất hút.

Tôi chậm chạp lê người lại gần, khoảnh khắc chị ta quay mặt lại tôi biết rõ đó là người quen, có điều làm cách nào cũng không thể nhớ nỗi.

Quả nhiên là mơ – tôi nhủ thầm.

Tỉnh lại đúng lúc mùi hoa linh lan từ cửa sổ phía nam theo gió tạt vào, làm cả gian phòng bừng lên mùi thơm ngọt ngào dịu mát.

Mấy đợt tiếng chuông gió bằng ống trúc non mà Sở Quân làm treo trước hiên va vào nhau leng keng nghe thật vui tai.

Thiên không vừa mới lười nhác thả xuống nhân gian tia nắng ấm áp đầu tiên xuyên qua kẻ lá, khiến mấy dặm rừng trúc đầu hè óng ánh những giọt sương mai.

Tôi mở đôi mắt nhập nhèm mới vừa ngủ dậy, đập vào mắt là bộ ấm trà bằng men sứ xanh, đây hình như là thứ có giá trị nhất trong căn phòng.

Kể từ khi tôi biết rằng mẹ mình đã mất, khi dì Nguyễn trở thành người vợ duy nhất của cha tôi thì sự tồn tại của tôi đối với họ Tô này đã như cái gai trong mắt, cái kim trong thịt, sống vật vờ đến giờ phút này có lẽ là vì ông trời đã cho tôi gặp được Sở Quân.

Anh ta thường nhìn chén trà, cảm thán sắc sứ tôn lên sắc trà, hương thơm ẩn trong mùi vị.

Tôi bật cười, người tập võ như anh ta thường chẳng quan tâm mấy thứ nhỏ nhặt đó.

Vừa ngồi dậy rót chén trà lạnh súc miệng bỗng nghe "cộp" một tiếng, thanh kiếm đen tuyền đã đặt lên bàn ngay trước mặt tôi, một bàn tay thô ráp cướp lấy chén trà.

Tôi giật mình ngẩng đầu lên thì bắt gặp chàng trai mày mắt như vẽ, anh ta mặc quần áo màu xanh sẫm, mái tóc xoăn dài đổ trước khuôn ngực rộng.

Tôi có chút mất hồn.

Hôm nay trên áo anh ta lại có mấy vết dao cứa trúng, vài chỗ còn rỉ máu khiến tôi bất giác thở dài.

"Đã nói bao nhiêu lần rồi buổi sáng không được uống trà lạnh." – Anh ta gằn giọng với tôi.

Tôi bật cười, cái bộ tướng dọa người của ông thần này chẳng thể nào mà thay đổi, nhưng đáng tiếc là tôi đã quen thuộc đến mức không còn thấy sợ nữa rồi.

Con người này trông thì hung dữ khó gần, nhưng nội tâm lại rất tình cảm.

Tôi gặp anh ta lần đầu tiên đúng vào một ngày mưa hai năm trước, khi mưa đổ ướt cả vai áo tôi trên cầu Lam, chạy về phía Tây hiên thì thấy có một chàng trai cầm ô đứng trú mưa ở đó.

Gương mặt anh ta tuy đẹp như tạc tượng nhưng sắc thái vô cùng lạnh lùng, tôi bị vẻ dữ tợn của anh ta làm vô thức lùi ra xa nép vào một góc.

Bẵng đi một lúc anh ta mới phát hiện ra tôi, đột nhiên nhìn tôi chằm chằm rồi chép miệng nói:

"A, tìm được rồi!"

Tôi không biết câu nói này có ý gì, có thể anh ta tưởng rằng tôi là người quen hoặc vừa gặp tôi đã thích, hoặc cũng có thể là cơ man những lý do khác nữa.

Nhưng kể từ lúc đó anh ta cứ lẽo đẽo theo tôi, mặc dù rất nhiều lần tôi bảo với anh ta là nhầm người nhưng anh ta vẫn mặt dày mày dạn, đến nỗi tôi dần xem việc anh ta xuất hiện trong cuộc sống như một lẽ hiển nhiên.

Sở Quân là một kẻ lang bạt, anh ta nói với tôi là mình không cha không mẹ, sống đơn độc trong giang hồ hiểm ác.

Đúng là từ khi gặp được Sở Quân ít khi nào tôi thấy anh ta xuất hiện trong bộ dạng lành lặn, lúc thì mất tay áo, lúc lại bị rạch sau lưng, đôi khi trên trán lại có một vết dao trông thảm mà cũng thật buồn cười.

Nhưng dù sao tôi cũng chưa từng thấy Sở Quân chật vật, sống trong cảnh chém giết nhưng anh ta vẫn bình thản.

Có lẽ võ nghệ của anh ta rất giỏi, tôi nghĩ rằng sẽ thật tốt nếu Sở Quân chịu dạy võ nghệ cho mình.

Rồi anh ta thật sự dạy võ nghệ cho tôi bởi anh ta phát hiện ra tôi sống trong nhà họ Tô không hề sung sướng gì, Sở Quân không tiện ra mặt cho tôi nên anh ta chỉ còn cách âm thầm dạy tôi chút võ tự vệ.

Tôi nhìn anh ta đánh nhau ba ngày một trận nhỏ, bảy ngày một trận to, cảm thấy nếu anh ta lộ mặt vì tôi ở thành Bí Giang này chỉ càng thêm phiền phức, nhỡ mà có một ngày kẻ thù anh ta kéo đến đây bắt tôi uy hiếp thì đúng là khó xử cho cả hai.

Đương nhiên tôi chẳng hy vọng mình bị anh ta liên lụy.

Hai kẻ chúng tôi một bị kẻ thù truy đuổi, một bị người nhà hãm hại, gặp nhau kể cũng có duyên.

Tôi cứ luôn hy vọng tôi và Sở Quân sẽ mãi mãi sống nương tựa nhau như thế.

Sở Quân hay nói tôi có năng khiếu về nghề võ, học hỏi rất nhanh, ra chiêu rất đẹp, lại không vì ra chiêu đẹp mà giảm đi sức sát thương.

Tôi tự mãn cảm thấy nếu như với cái đà này thì ngày tôi đánh bại được anh ta cũng chẳng còn xa nữa.

Tôi cũng chẳng biết tôi thích một kẻ lai lịch không rõ ràng như Sở Quân từ khi nào, dường như chính anh ta cũng không biết là anh ta thích tôi, nhưng những ngoại lệ mà Sở Quân đối với tôi làm tôi tin chắc điều đó.

Cho đến một ngày giật mình tỉnh giấc giữa lúc gà gáy canh ba, tôi bàng hoàng bật dậy khi bắt gặp có một ánh mắt sáng như ánh đuốc đang nhìn tôi chằm chằm.

Mặc dù trời tối đến độ giơ tay lên cũng không thấy được năm ngón, nhưng bị một ánh mắt cứ nhìn chuyên chú vào mình như vậy thì kể có bị mù cũng nhận ra.

Không gian yên ắng lạ thường, có mấy tiếng ve gọi hè gần đó kêu lên rả rích, tôi bị mất hồn một lúc lâu mới ổn định lại được nhịp thở.

Khẽ thở dài, tôi trừng mắt nhìn anh ta:

"Anh ngồi đó từ bao giờ?"

"Không biết nữa, ngày nào cũng ngồi như vậy!" – Sở Quân đáp.

Tôi cảm thấy trên đời này nếu có ai hỏi tôi đã từng thấy qua điều gì hiếm lạ nhất, tôi sẽ không ngần ngại mà nói đó là Sở Quân, một kẻ mà tôi chẳng biết gì ngoài cái tên không rõ thật giả.

Tôi tựa vào thành giường hỏi anh ta:

"Thế tại sao anh lại ngồi đây?"

Sở Quân bỗng nhiên tiến lại gần tôi, tay anh ta đặt lên mặt tôi cất giọng trầm trầm:

"Vì muốn gặp!"

Cái này... có được tính là bày tỏ không nhỉ?

Nhất thời trong lòng tôi bỗng thấy bối rối.

Mặc dù tôi là kẻ bị ruồng bỏ nhưng dù gì cha tôi cũng là quan đại tư xã, còn Sở Quân chẳng qua chỉ là một tên ất ơ sống nay chết mai chẳng biết ở xó xỉnh nào.

Dù mang một gương mặt đẹp cùng võ nghệ cao siêu, nhưng ở trong phủ Tô này cái gọi là phẩm chất không đáng nói tới.

Thế nên chị cả Ngọc của tôi vẫn ngày đêm ôn luyện tài nghệ, ôm giấc mơ vào Cấm thành để bay lên cành cao.

Sở Quân, ngay cả nhà anh ta ở đâu tôi còn không biết.

Ngoài kia gió thổi mây đen trôi đi, ánh trăng sáng trọn vẹn gieo mình xuống trần thế, mấy đám hoa linh lan sáng như màu ánh trăng đang theo gió tỏa hương trong không trung.

Gương mặt của Sở Quân dần hiện rõ, anh ta cách tôi ngày càng gần, lúc má đã kề má tôi bỗng quay mặt đi.

Sở Quân nâng mặt tôi lên, dịu giọng nói:

"Chắc là tim tôi đã có em rồi!"

Tôi nhìn Sở Quân.

Qua khung cửa sổ tôi trông thấy ánh trăng thanh lạnh bao trùm lên mọi vật, không gian thoáng đãng bầu trời không mây, những vì tinh tú trải dài như một suối tóc đen tuyền điểm xuyết vô vàn kỳ trân dị bảo.

Sở Quân hơi dè dặt nắm lấy bàn tay lạnh lẽo của tôi, nói mấy câu như tuyên thệ:

"Hiện giờ tôi chẳng làm được gì cho em vì chính bản thân tôi cũng không chắc bảo toàn được tính mạng.

Nhưng có một ngày tôi sẽ cùng em bước lên đỉnh vinh quang, để em cùng tôi hưởng thụ trời đất vạn dặm.

Tất cả những gì em và tôi phải chịu đựng bây giờ, tôi sẽ bắt họ trả giá gấp ngàn gấp vạn."

Trong đêm thanh vắng từng câu từng chữ như khắc sâu trong tim, như một chất rượu làm say lòng người, thoảng theo cơn gió dìu dặt len lỏi vào trong tâm thức.

Tôi bỗng nhiên choáng váng, có một thế lực nào đó càng lúc càng lớn mạnh như chia cơ thể tôi làm hai nửa, muốn xâm chiếm lấy thần trí của tôi.

Tôi cảm thấy trong lòng mình như dâng lên một nỗi chua xót, đau đớn như muốn xé nát cõi lòng.

Thứ cảm xúc ngày càng nặng nề như đá núi đè lên tim, căm hận như một cơn đại hồng thủy cuộn trào gào thét, nhưng lại là dằn vặt xen lẫn thương yêu.

Khung cảnh trở nên mơ hồ, thể xác tôi giống như có ai điều khiển bỗng nhiên đứng phắt dậy, nước mắt như thác không ngừng trào ra, nghẹn ngào không nói nên lời.

Tôi căm tức chỉ vào Sở Quân đang đứng đó, thét lên:

"Nói dối, anh vốn không đến tìm tôi, tôi đợi anh lâu đến mức tinh thần và thể xác đều hao mòn.

Cho đến khi tôi sắp chết tôi vẫn gọi tên anh, còn anh, anh đang vui vẻ ở chốn nào?"

Tôi ngã xuống, lúc này mới phát hiện thì ra là mình vẫn còn đang ở trong giấc mơ, trong lòng bỗng nhiên nhẹ nhõm hẳn.

Lúc tỉnh táo lại đã thấy mấy dặm rừng trúc buổi đêm tan dần như bọt nước, Sở Quân cũng dần dần tan biến theo cảnh đêm, trên môi anh ta vẫn giữ nụ cười như mãi mãi không bao giờ tắt.

Hình như anh ta đã nói gì đó, nhưng thanh âm ấy dần mất hút trong mơ, chỉ để lại trong ký ức tôi một chàng trai mặc áo xanh che ô đứng dưới Tây hiên hôm nọ, mưa rả rích trên mái hiên phủ lên khung cảnh một màu sắc u buồn.

Tôi tỉnh lại cũng trong một cơn mưa của chiều hôm sau, hoảng hốt thẩn thờ, lòng đau như cắt, trên mặt cũng đầm đìa lệ chan.

Tôi ngước mắt lên trần nhà, nhìn thấy mành trướng quen thuộc, chăn màn quen thuộc, kể cả chàng trai mặc áo màu ngọc cũng thật quen thuộc, cảm giác mọi thứ quen thuộc này khiến lòng biết bao yên bình.

Tôi bật khóc nức nở, chẳng biết là vì đau lòng cho quá khứ hay mừng rỡ vì đã trở về thực tại.

Trong giấc mộng trùng trùng, tôi chỉ cảm thấy không muốn tỉnh lại, nhưng nếu như tôi thật sự không tỉnh lại nữa thì người đàn ông đang ngồi gục đầu bên tôi ngay lúc này sẽ phải làm sao?

Trần Khâm nghe tôi khóc bỗng dưng choàng tỉnh, anh vuốt nhẹ tóc tôi, dịu dàng nói:

"Yên tâm, hai mẹ con đều bình an rồi."

Đúng là câu tôi muốn nghe nhất, cho dù quá khứ có đẫm nước mắt thế nào, có bi thương và tiếc nuối ra sao thì chỉ cần hiện giờ tôi biết mình muốn gì, cần gì là được.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 45: Ngoảnh Đầu Lại Đã Chẳng Thấy Bóng Người


Mùa đông tháng Mười, lúa ruộng ở Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông, mùa to hiếm thấy.

Từ khi họ Trần lên nắm quyền luôn chú trọng đê điều khiến mùa màng cũng không hiếm những lần bội thu.

Thằng nhóc Thuyên hôm nay về rất sớm, nó nằm lên đùi tôi lắng tai nghe nhóc con trong bụng đạp.

Tôi từng nghe nhiều chuyện về anh em kẻ sống người chết tranh nhau cái ngai vàng, Trần Ích Tắc cũng là một ví dụ, nhưng nhìn nhóc Thuyên và đứa con trong bụng tôi ước điều đó đừng bao giờ xảy ra.

Nhóc Thuyên tuy ham chơi nghịch ngợm một chút, nhưng bản tính nó hiền lành lại thông tuệ, về sau chắc chắn là một minh quân.

Nhóc Thuyên hay đến nói chuyện với đứa em chưa biết mặt trong bụng, giống như hôm nay nó bô lô ba la kể về yến tiệc ở điện Diên Hiền.

Cha nó ngồi ngáp ngắn ngáp dài trên ghế rồng, còn các quan thì cơm no rượu say xong lại nắm tay nhau nhảy múa, đúng là một quang cảnh hòa hợp hiếm thấy.

Tưởng tượng ra cảnh đó, tôi không nén nỗi bật cười, thế là bị đứa bé trong bụng đạp cho một cái không thở nỗi.

Dạo này tôi cũng không rảnh rỗi là bao, thi thoảng lại phải tiếp rất nhiều khách từ bên ngoài tới, ví như Thái hậu, ví như mấy chị em cùng vào sinh ra tử với tôi ở Vạn Kiếp cũng lũ lượt vào kinh để thăm nom.

Tôi lay lắt tấm thân nặng nề, cảm thấy sinh một đứa con phải đâu là chuyện đơn giản.

Phải làm mẹ mới biết nỗi khổ của cha mẹ, nhưng ngặt nỗi cha mẹ tôi là ai thì đến bây giờ tôi vẫn chưa rõ ràng.

Tiết trời vào đông, buổi tối thường vô cùng lạnh lẽo, tôi cuộn người cạnh bếp lò nằm ngủ mê man.

Đương ngủ ngon thì cảm giác cửa lớn mở ra, khí lạnh lùa vào phòng.

Tiếng bước chân nhè nhẹ tiến vào, tôi nhắm mắt kéo chăn lên cao một chút.

Lờ mờ cảm thấy có bàn tay ấm áp nhè nhẹ véo gò má tôi, tôi theo bản năng chộp lấy bàn tay ấy rúc vào.

Trên đỉnh đầu truyền tới tiếng cười khẽ, có một giọng nói quen thuộc vang lên:

"Hôm nay đã ngủ cả ngày, dậy xem có ai đến thăm em đây!"

Tôi trở mình thêm mấy cái thì dậy.

Trần Khâm vươn tay đỡ lấy tôi, tôi bèn dựa vào lòng anh ta lười biếng ngáp một cái.

Trần Khâm không gọi Thụy Hương vào, tự mình dùng một dải lụa cột mái tóc dài của tôi sau lưng, lại choàng thêm một cái áo lông ấm rồi đỡ tôi ra gian chính.

Một cơn gió lạnh tạt vào mặt làm tôi choàng tỉnh, mở mắt ra đã thấy mình ngồi tựa trên ghế dài, lò sưởi đã đốt còn Trần Khâm không biết đã đi đâu.

Bên tai tôi bỗng vang lên giọng nói như tiếng chuông:

"Từ lúc nào cô gái nhỏ này lại tham ngủ thế kia!"

Chị Anh Nguyên đã ngồi bên cạnh từ lúc nào, dưới chân chị ta là một đống vỏ hạt sen khô nằm ngổn ngang.

Tôi vừa giận lại vừa kinh ngạc, lại xen lẫn vui mừng nên không hiểu sao bật khóc rưng rức.

Chị Anh Nguyên lấy làm ngạc nhiên, vội hỏi:

"Ôi, lại còn khóc nữa, vào cung uất ức lắm hả em?"

Tôi quệt nước mắt, hỏi chị:

"Hôm nay có việc gì mà lại đến đây thăm em thế?"

Chị Anh Nguyên gãi đầu, đáp:

"À thì hay tin em có thai nên đến thăm, sẵn tiện..."

Tôi biết thừa chị ta đến thăm nom Phạm Ngũ Lão, mục đích chính là anh ta còn tôi mới là "sẵn tiện".

Chị Anh Nguyên cười hì hì với tôi, lại nói:

"Hôm qua quan gia có tiệc nên cả nhà kéo nhau đến ấy mà, nhưng hôm nay thấy em ngủ say quá nên không nỡ gọi dậy.

Cha đã về trước chỉ còn chị và các anh ở lại thôi, ngày mai sẽ về."

"Gấp thế ạ?" – Tôi hỏi.

"Ừm...

Chị dâu cả cũng đang có thai nên mọi người không yên lòng để chị ở nhà.

Mọi người đều mong ngóng được gặp lại em, khi nào sinh xong thì trở về thăm nhà một chuyến nhé!"

Đúng là tôi rất muốn trở về, nhưng chẳng hiểu sao vì những vướng mắt mơ hồ với Quốc Tảng mà tôi lại không lấy được dũng khí.

Dù tôi biết mình yêu Trần Khâm, nhưng với Quốc Tảng vẫn có một cái gì đó khó nói nên lời.

Tôi gật đầu, lại vươn người lấy thêm một khối đàn hương bỏ vào lư, trong lòng chợt nhiên có chút trống trải.

Hồi lâu, tôi bất giác hỏi:

"Vậy còn..."

Chị Anh Nguyên hiểu ý tôi, đáp lời:

"Anh ba cũng có đến, nhưng chắc anh ấy ngại nên không dám đến thăm, chỉ nhờ chị xem tình hình của em thế nào.

À mà ông anh này của chúng ta đúng là không bớt lo được."

Chị Anh Nguyên nói tới đây thì đưa mắt nhìn một vòng xung quanh, xác định không có ai rồi mới nhỏ giọng nói:

"Hôm em vào Thăng Long có một đám người áo đen ám sát, em có hay không?"

Tôi gật đầu, là đám người Trịnh Giác Duy chứ nào phải ai xa lạ.

Với cả chuyện ầm ĩ cả một khúc sông, muốn bịt mắt bịt tai giả mù giả điếc cũng khó.

Chị Anh Nguyên nói tiếp:

"Ngày đó anh ba đột nhiên rời vị trí đuổi theo đoàn rước dâu, chị đoán chắc là trước đó anh ấy đã phát hiện ra được có điều bất thường nên cố sức đuổi theo hòng giữ em ở lại, nhưng cuối cùng bị chặn ở sông Lục Đầu.

Chẳng biết đám giặc giời này từ đâu ra mà trùng hợp thế không biết."

Tôi buồn rầu nói:

"Đúng là quan gia vì muốn đưa em vào đây nên đã bày ra việc đi duyệt binh đấy ạ.

Còn đám giặc cỏ là từ chỗ Đà Giang xa xôi ẩn nấp ở đây, cùng với cái bọn hôm hoa đăng là một."

Chị Anh Nguyên vỗ bàn một cái bốp, vừa ui da vừa bảo:

"Chị đã nói là trong chuyện này có gian trá mà!

Vậy bây giờ em sống thế nào, có tốt không?"

Tôi chỉ cái bụng tròn vo của mình mà không đáp.

Chị Anh Nguyên dường như hiểu ý tôi, che miệng tủm tỉm cười.

Một lúc sau chị ta như sực nhớ lại chuyện chính, lại rầu rĩ:

"Hôm đó anh ba trở về người không ra người, ma không ra ma, chằng chịt vết thương lớn nhỏ.

Từ ánh mắt vô hồn của anh ấy chị cảm thấy dường như anh ấy đã chết trận ở bờ sông đó rồi, thứ trở về chỉ là cái xác vô hồn mà thôi."

Tim tôi nhói lên một cái.

Chị Anh Nguyên tiếp tục thở dài, kể:

"Những ngày tháng đó dù đối với anh ba, An Hoa, hay là cả phủ vương đều là những ngày khủng khiếp nhất.

Anh ba suy sụp ngày đêm triền miên trong men rượu, không ngày nào chỗ anh ấy không phát ra tiếng đàn hát.

Sau đấy cha đánh anh ấy một trận, cha nói: "đừng mơ mộng hão huyền nữa, đó là em gái mày, là vợ vua!"

Lúc ấy anh ba đã khóc, trời ơi từ lúc chị bước vào phủ đến nay chị chưa hề thấy anh ấy khóc một lần nào."

Tôi cúi đầu rót trà, một giọt nước nóng hổi rơi trên gối, hóa ra chính tôi cũng khóc lúc nào không hay.

Làm sao, làm sao mà không động lòng cho được, một tình cảm sâu như biển, nóng bỏng như bếp than hồng đêm đông giá lạnh.

"Sau lúc đấy anh ba lại thay đổi hoàn toàn, anh ấy tập võ đọc sách không ngừng nghỉ, thân thể chẳng mấy chốc mà tiều tụy hao mòn.

Em nói xem, anh ấy làm vậy là vì cái gì?"

Theo lời chị Anh Nguyên, trước đây ông nội tôi và tiên đế đã từng xảy ra hiềm khích, loại chuyện cướp vợ đoạt con nghiêm trọng đến mức phải vung gươm tạo phản.

Nhưng dưới sự uy hiếp của Thái sư Trần Thủ Độ thời đó mà mọi chuyện êm xuôi, ông nội tôi đành chọn cách ngậm bồ hòn làm ngọt.

Sau này lúc lâm chung, ông nội tôi dặn cha tôi nhất định phải đoạt ngôi, rửa mối thù nhà, có điều cha tôi mặc dù đồng ý nhưng lại không cho là đúng.

Cha bèn đem chuyện hỏi Phạm Hữu Thế, anh ta bảo:

"Làm điều đó tuy được phú quý một thời mà để lại tiếng xấu ngàn năm, nay vương há chẳng đủ phú và quý hay sao?

Chúng thuộc hạ thề xin chết làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu."

Cha lại đem chuyện đó đi hỏi anh cả, anh cả chắp tay thưa:

"Dẫu khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ!"

Đại khái là bọn họ đều không tán thành việc cha tôi đang nắm thực quyền mà làm phản, nhưng tới khi hỏi Quốc Tảng, anh ta lại nói:

"Tống thái tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ!"

Cha tôi tức giận tột độ, rút ngay thanh kiếm bên hông kề vào cổ anh ta, mắng:

"Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra!"

Sau đấy dù anh cả dốc lòng khuyên ngăn nhưng cha tôi vẫn tuyên thệ rằng sau này cho đến khi cha mất, lúc đã đóng nắp quan rồi mới cho Quốc Tảng vào.

Tôi không nén nổi kinh ngạc, thì ra anh ta hành hạ bản thân đến chết đi sống lại là muốn học theo ông nội vì bị cướp vợ nên tạo phản.

Đúng là điên rồ!

Chị Anh Nguyên thở dài:

"Chắc anh ấy nghĩ rằng đoạt lấy giang sơn là có thể tìm lại được em.

Các anh cho rằng anh ấy ngu ngốc nhưng chị thấy anh ấy thật đáng thương, một kẻ si tình đến mức lệch lạc."

Chắc anh ta sẽ giận lắm khi biết chính mình thì đau đớn đến chết đi sống lại, còn kẻ như tôi vẫn ngày đêm vui vầy đầu ấp tay gối với người khác mà quên béng mất mình.

Ngọn lửa từ lò sưởi tỏa ra ánh sáng bập bùng, đêm đông lạnh lẽo lùi xa, chỉ có ánh mắt nóng rực của Quốc Tảng là ngự mãi trong tâm trí.

Sáng hôm sau tôi tiễn chị Anh Nguyên trở về Vạn Kiếp, suốt đêm tâm sự làm lòng tôi cứ nặng trĩu không thôi.

Tôi vừa muốn gặp lại Quốc Tảng để giải đi gút mắt với anh ấy lại vừa không dám đối mặt, sợ nếu lúc này nhìn thấy tôi không biết anh ấy sẽ làm ra chuyện gì, mà chính anh ta có lẽ cũng sợ điều đó.

Thời gian vô tình ít nhiều cũng phần nào nguôi ngoai, nhưng hễ gặp nhau, nếu như còn đốm lửa lòng sẽ lại bùng cháy.

Tôi đứng nép bên cổng nhìn chị Anh Nguyên ngày càng đi xa, Quốc Tảng đứng dưới giàn tầm xuân vẫn xuất chúng như ngày nào, vẫn đôi mắt có phần lạnh nhạt.

Lẳng lặng nhìn anh ta, vẫn giống như thấy được hình ảnh đêm đông yên tĩnh, làm tim người ta an bình.

Quốc Tảng bỗng quay mặt về phía tôi.

Trần Khâm ôm tôi kéo vào góc khuất, tôi giật mình, suýt chút nữa thì Quốc Tảng đã phát hiện ra tôi rồi.

Trần Khâm ban đầu nhìn tôi chằm chằm, lát sau anh thở hắt ra, nhẹ giọng nói:

"Hãy để cho người ấy quên đi."

Tôi gật đầu bước đi, Trần Khâm lại khó khăn nói:

"Trước đây đúng là tôi đã làm ra hành động ích kỷ tột cùng, hoàn toàn không quan tâm đến cảm nhận của em.

Dù không nói nhưng chắc trong lòng em vẫn còn giận."

Tôi thở dài:

"Bất kể gặp được ai, đó đều là người ta cần gặp.

Bất kể xảy ra chuyện gì, đó đều là chuyện nhất định phải xảy ra.

Bất kể chuyện bắt đầu từ đâu, đó đều là thời điểm thích hợp.

Bất kể là chuyện gì, đã qua chính là đã qua."

Ai có lỗi đâu còn gì quan trọng nữa đâu, tình cảm vốn là thứ không thể phân định rạch ròi như vậy được.

Tôi nhìn về hướng ban nãy, giữa trời thắm sắc hoa tầm xuân, ngoảnh đầu lại đã không còn thấy bóng người.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 46: Thiên Hạ Tam Kỳ Tuyệt


Trung tuần tháng mười hai trời vào lúc rét đậm, phần lớn thời gian bầu trời xám xịt một màu, mưa phùn lất phất đổ lên mái ngói lưu ly nghe buồn da diết.

Vào những ngày hiếm hoi có nắng ấm, tôi thích tựa vai Trần Khâm sưởi nắng ở tòa đình giữa hồ sen.

Dù phần lớn thời gian anh ta dùng để làm việc nhưng với kẻ thích bầu không khí tĩnh lặng như tôi thì việc ngồi ngủ gà ngủ gật với Trần Khâm còn thoải mái hơn là ở cùng với bọn người ồn ào An Tư hay thằng nhóc Thuyên.

Trong lúc Trần Khâm vẫn đang ghi ghi chép chép, tôi thường ngắm mây bay trên trời.

Những ngày có hoàng hôn đỏ ối, làn gió thổi đóa sen dao động hay hàng liễu rậm lá phủ bên hồ.

Nhưng hầu hết thời gian tôi dùng để ngủ, lúc tỉnh dậy có khi Trần Khâm đã đi rồi, chỉ để lại chiếc áo khoác ngoài phủ lên người tôi và Thụy Hương ngồi ngáp ngắn ngáp dài bên cạnh.

Đó là những khi anh bận rộn.

Lúc rảnh rỗi Trần Khâm rất kiên nhẫn với tôi.

Bao giờ tỉnh lại tôi cũng thấy mình nằm trên đùi anh, trên tay anh ta cầm quyển binh pháp dày cộm, còn ánh mắt thì mơ màng nhìn ra xa.

Khi phát hiện tôi nhìn trộm, hầu như lúc nào Trần Khâm cũng mỉm cười, tự mãn nói:

"Tôi đẹp trai đến thế à?"

Khi đó tôi bỗng nhiên nhận ra trên đời này dù có đi đến đâu, gặp phải loại cảnh đẹp chốn nhân gian nào thì nơi yên bình nhất, thứ làm tôi xao xuyến nhất chỉ có nằm gục trong lòng Trần Khâm nhìn anh nở nụ cười.

Đêm rằm tháng chạp lại có một bữa tiệc nhỏ thết đãi các quan, tôi cùng nhóc Thuyên ngồi uống trà ngắm trăng ở trong sân, hít thở không khí lành lạnh của đêm đông yên tĩnh.

Thằng nhóc bộc bạch với tôi việc nó muốn vượt hoàng thành ra ngoài phường phố, được cùng bọn trẻ ngoài đấy chơi đùa.

Tôi nói với thằng bé:

"Hôm nay đúng lúc trăng sáng vằng vặc, làm một bài thơ đi, nếu hay thì hôm nào dì sẽ đưa con đi!"

Một thằng bé mới năm tuổi như Thuyên biết đọc chữ là đã giỏi lắm.

Quả nhiên nó ngồi chống cằm suy nghĩ một hồi, giận dỗi bảo:

"Dì không muốn đưa con đi nên cố tình làm khó chứ gì!"

Tôi cốc đầu nó một cái, đáp:

"Phàm là những việc trong thiên hạ nếu như càng khó thì phải ra cái giá càng cao.

Con nghĩ đưa một thằng nhóc như con ra khỏi cung là dễ lắm hả, đòi một bài thơ là đã giảm giá rồi.

Dì còn chưa tính lời đâu."

Thằng nhóc Thuyên giả bộ khóc nhưng lại không rặn ra được giọt nước mắt nào.

Trong đầu tôi bất chợt hiện ra một câu: mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.

Thằng nhóc Thuyên nhìn sắc mặt tôi lúc trắng lúc xanh vội vàng hỏi han dồn dập, đúng là một đứa con hiếu thảo.

Tôi vuốt tóc nó, bảo rằng:

"

Sau này học hành chăm chỉ một chút, đừng mải ham chơi.

Cái gì cũng phải có chừng mực, nhất là khi con mang trên người trọng trách với thiên hạ, là bậc quân vương tuy không phải cái gì cũng cần cáng đáng nhưng cũng đừng ỷ lại vào quần thần.

Thần tử có trung có gian, làm sao phân biệt được để dùng mới đúng là bậc hiền vương.

Mà muốn làm được điều đó thì phải học, phải hành, phải nhìn và cảm nhận.

Đừng nghe mọi chuyện bằng tai."

Nhóc Thuyên gãi đầu, nó hỏi tôi:

"Vậy phải nghe bằng gì ạ?"

Tôi chỉ tay vào ngực trái của nó, cười nói:

"Nghe bằng cái này này!"

Nhóc Thuyên ngồi ngã ra ghế, đôi má phúng phính trắng nõn và cái áo choàng lông màu đỏ tươi khiến nó trông bật lên như một viên ngọc quý được điêu khắc tỉ mẫn từng công đoạn.

Đôi mắt của con trẻ sáng ngời như vì sao lấp lánh ngoài xa làm người ta muốn moi hết ruột gan ra để cưng chiều.

Một chiếc áo choàng ấm phủ lên vai tôi, phía sau truyền đến giọng nói như nén cười:

"Thật có dáng dấp mẹ hiền!"

Tôi nghe anh ta nói thế thì hơi đỏ mặt, quay sang đã nghe anh ta nói với nhóc Thuyên:

"Đọc được một bài thơ hay, đích thân ta dẫn con đi thì thế nào?"

"Để con suy nghĩ! – Thằng bé nói."

Có nguồn động lực lớn dễ khiến khả năng của con người ta trỗi dậy.

Thằng nhóc Thuyên hết nhìn trăng lại nhìn tôi, nhìn quanh quẩn một lúc rồi làm dáng, đứng dậy múa một vòng, tay chỉ vào không trung mà đọc:

"Thanh phong táp địa vô hưu yết" (Gió mát thổi quanh mặt đất không lúc nào ngừng)

Tôi ngạc nhiên nhìn Trần Khâm, thấy anh ta cũng có phần kinh ngạc, sau thì đắc ý cười cười.

Nhóc Thuyên múa xong, ngẩng đầu nhìn trăng sáng đọc tiếp:

"Minh nguyệt đương không kiểu băng tuyết" (Trăng trong lơ lửng trên không sáng như băng tuyết)

Tôi lại nhìn Trần Khâm, trong lòng trộm nghĩ:

"Chà, đúng là sóng sau xô sóng trước, con hơn cha là nhà có phúc đây."

Thấy tôi và Trần Khâm có vẻ hứng thú, nó bèn lượn đến chỗ tôi, trước chỉ vào không trung, kế đến lại chỉ lên trời, cuối cùng chỉ vào tôi, vừa chỉ vừa thích thú đọc theo từng động tác:

"Thử phong, thử nguyệt dữ thử nhân" (Gió ấy, trăng ấy, với người ấy)

Lại xòe ra ba ngón tay rồi nháy mắt với tôi:

"Hợp thành thiên hạ tam kỳ nguyệt" (Hợp thành ba tứ kỳ tuyệt trong thiên hạ)

Tôi đằng hắng mấy tiếng, cảm thấy từng tuổi này rồi còn bị một thằng nhóc ranh năm tuổi trêu chọc đến đỏ mặt, thật mất mặt làm sao.

Trần Khâm xách cổ áo nó lên, cười như không cười bảo:

"Đúng là một kỳ tuyệt, nói hay lắm, đúng là con trai ta!"

Tôi đỡ lấy thằng bé đang la oai oái thả xuống, trừng mắt nhìn anh ta.

Khổ thân thằng nhóc chân vừa chạm đất liền chạy một mạch đi tìm Thụy Hương đưa về.

Trần Khâm ngồi xuống trên ghế, cảm thán:

"Tuy không quá xuất sắc nhưng cũng không phải là gỗ mục không thể đẽo."

Tôi nhếch môi:

"Đừng vội xem thường, sợ là ngọc trong đá, chỉ nhìn thôi thì không thấy được đâu."

Trần Khâm quay sang nhìn tôi, sửa lại cổ áo choàng đã rơi xuống vai từ lúc nào của tôi, cười ẩn ý:

"Thế nào là ngọc trong đá, em đối với nó rất có niềm tin nhỉ?"

Trong lòng tôi thắc mắc một chuyện, trăn trở mãi bỗng buột miệng nói ra:

"Chàng không sợ em sẽ dạy hư thằng bé à?

Dù sao em cũng sắp có con, mà chàng thì vẫn còn trẻ.

Chàng không sợ em sẽ gieo vào trong đầu thằng nhóc những thứ xấu sao?"

Trần Khâm nhấp một ngụm trà:

"Đúng là con trẻ như tờ giấy trắng, nhưng ai có ý đồ xấu thì chúng sẽ nhận ra ngay thôi.

Lòng của chúng sáng như gương vậy."

Tôi cảm thấy anh ta nói cũng đúng.

Phía bầu trời xa xa có mấy ngọn đèn trời đang bay lơ lửng như quả cầu lửa giữa không trung.

Tân Tỵ, Thiệu Bảo năm thứ ba.

Mùa xuân, tháng giêng, ngày hai mươi chín, hoàng tử Quốc Chẩn sinh.

Ngay từ lúc mới chào đời thằng bé Quốc Chẩn đã chiếm hết sự chú ý của cả hai bên nội ngoại, thậm chí cha tôi còn cãi một trận nảy lửa với Thượng hoàng xem đứa trẻ giống ai.

Tôi nhìn trái ngó phải, cảm thấy mặc dù là do mình sinh ra nhưng cũng không nói rõ được chỗ nào giống mình, từ đôi mắt, cái mũi, cái miệng đều giống Trần Khâm y đúc.

Trong lòng tôi vẫn mang một niềm tin mãnh liệt rằng có lẽ do nó còn quá nhỏ, biết đâu năm mười năm nữa tôi sẽ phát hiện điểm gì đó giống mình không chừng.

Quốc Chẩn sinh được ba tháng thì mọi việc dần trở lại như bình thường, ngoài việc có thêm một thằng bé để chăm sóc còn lại việc nào nên làm tôi đều học.

Chị Trinh càng lúc càng thành tâm hướng Phật, trên vai tôi đột nhiên cảm thấy một áp lực vô hình.

Quốc Chẩn hễ ngủ thì thôi, hễ dậy là sẽ khóc lóc ầm ĩ.

May là nhóc Thuyên lo được, may là xung quanh tôi cũng không thiếu những kẻ sẵn sàng ngồi từ sáng đến tối với Quốc Chẩn, ví như An Tư, Thanh Vân hay Thụy Hương chẳng hạn.

Nhưng phải công nhận thằng bé này rất thích khóc, chẳng biết giống ai.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 47: Giặc Tới Nhà Thì Đánh, Nước Lên Thì Đắp Đê


Tiết Đoan ngọ năm nay tôi và Trần Khâm giữ lời hứa với nhóc Thuyên.

Tôi giao Quốc Chẩn cho chị Trinh, còn mình thì cùng cha con Trần Khâm ngồi xe ngựa qua cửa Đại Hưng ra khỏi Cấm thành.

Ba người chúng tôi ngồi trên tầng cao của một tòa lầu, tầm nhìn bao quát khắp bốn phương tám hướng.

Phía đối diện là Đông Bộ Đầu, Trần Khâm nói bến Đông Bộ Đầu vừa là bến cảng của quân đội vừa là nơi diễn tập thủy chiến, lại là nơi diễn ra các cuộc đua thuyền vào mùa thu hằng năm.

Vì lẽ đó nên ở đây được xây dựng thành cụm kiến trúc rất tráng lệ, thậm chí còn cho xây dựng thêm cả sứ quán dành riêng cho sứ giả phương Bắc.

Tôi và nhóc Thuyên lần đầu được thấy, xuýt xoa mãi không thôi.

Hôm nay ba người bọn tôi cải trang vi hành, đến thằng nhóc Thuyên bình thường ăn mặc sặc sỡ cũng chỉ mặc độc một bộ quần áo màu thiên thanh.

Nó ngồi ăn hết hai cái bánh gio, miệng khen lấy khen để, lại làm thêm nửa bát cơm rượu mới chịu ngừng.

Món cơm rượu này trẻ con ít đứa ăn được, riêng thằng nhóc lại khá yêu thích.

Cơm no rượu say chính là lúc thích hợp nhất để hóng chuyện, bàn bên cạnh rất ồn ào, tôi lắng tai thì nghe rằng:

"Nam Tống diệt vong đến nay đã hơn hai năm, bọn Thát Đát lên làm chủ.

Ngẫm lại thế sự thật khó lường, phương Bắc lớn mạnh mấy nghìn năm nhiều lần mưu đồ thôn tính nước ta không được, ấy thế mà hôm nay lại mất trong tay bọn giặc Thát kia.

Vó ngựa người Nguyên thật làm người ta khiếp đảm."

Trần Khâm đang rót trà, một giọt sánh ra ngoài.

Người khác lại nói:

"Đừng vội xót thương thay kẻ khác, anh nhìn Nam Tống người đông thế mạnh còn bị diệt, xung quanh đây có nơi nào không bị giày xéo cho nát tan bờ cõi đâu?

Đại Việt nhỏ bé lại nằm chắn trước Chiêm Thành, tôi thấy lần này nếu không bị biến thành bước đà để đánh sang Chiêm thì cũng bị quân Mông cổ từ Chiêm thôn tính tới."

"Không sai, hai mươi ba năm trước bọn chúng thôn tính nước ta, tuy chưa đầy nửa tháng đã bị đánh trở về, nhưng chỉ trong bao nhiêu thời gian đó cũng đủ biết được bọn chúng hung hăng cỡ nào, huống hồ lúc đó chúng vẫn chưa bành trướng đến mức ấy.

Hơn hai mươi năm đất trời xoay chuyển, thu tóm thế lực mười phương, đến khi binh lực cực thịnh mà bọn chúng quay trở lại thì chỉ e rằng mọi thứ sẽ không dễ dàng như trước nữa.

Tình thế này có thể dùng một câu để hình dung, chính là lấy trứng chọi đá."

Lấy trứng chọi đá?

Chẳng hiểu bọn người này là người ở nơi nào, đến đây để làm nhụt chí người Đông A hay sao?

Tôi chưa kịp lên tiếng bất bình đã nghe thằng nhóc Thuyên nói:

"Giặc tới nhà thì đánh, nước lên thì đắp đê, có gì phải sợ?"

Xung quanh lập tức đồng tình:

"Đúng vậy, mấy gã đàn ông cao to vạm vỡ vậy mà thua cả một đứa trẻ nít, kẻ thù chưa đến đã cúp đuôi chạy trước không xứng đáng là dân nước Việt ta."

Người khác lại nói:

"Thắng được một lần sẽ có lần hai lần ba, bọn chúng binh nhiều của thịnh, chúng ta cũng lắm nhân tài.

Một mình già đây giết được năm mười tên giặc cũng còn dư sức.

Chỉ cần quân dân đồng lòng, dân Đại Việt ta còn sợ mấy tên ngoại bang chỉ biết cưỡi ngựa hay sao?"

Lại một tràng tiếng cười, mấy tên bị bẽ mặt bỗng nhiên nổi cáu, xăm xăm đến định thượng cẳng chân hạ cẳng tay với thằng nhóc Thuyên.

Nó hoảng hốt lùi ra phía sau tôi, tôi bật cười trêu:

"Lúc nãy thì mạnh miệng lắm, sao bây giờ trở thành con rùa rụt cổ rồi?"

Thằng bé vịn tay áo tôi, thò đầu ra bảo:

"Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, chỉ cần giữ lại rừng xanh thì lo gì không có củi đốt.

Hai mươi năm sau lớn lên lại là một bậc anh hùng!"

Tôi nghe cái lý luận có vẻ vô lý nhưng lại rất thuyết phục của thằng nhóc thì bật cười thành tiếng.

Bọn người kia càng tỏ thái độ hung hăng, luôn miệng hỏi tôi cười cái gì.

Trần Khâm đã nhịn không nổi nữa, anh đứng bật dậy, chỉ trong một chốc bọn người đó đã nằm rên hự hự dưới sàn.

Anh ta phất tay áo, bế nhóc Thuyên lên rồi nắm tay tôi rời khỏi đó, chỉ để lại một câu cộc lốc:

"Đám hèn nhát, không xứng là dân Đại Việt!"

Tôi gật gù, anh nói đúng lắm.

Bây giờ thì tôi biết thằng nhóc Thuyên giống ai rồi, đúng là cha nào con nấy.

Trần Khâm nắm tay tôi đi nhanh về phía trước.

Ngoài kia những hàng đèn lồng kéo dài từ đầu phố đến cuối phố không thấy điểm dừng, người người tràn ra từ khắp các cửa lớn ngõ nhỏ cùng tiến về cửa Triều Đông, nơi con sông Tô Lịch rộng lớn chảy dọc bờ thành.

Ánh mắt Trần Khâm hiện lên nét mê say, không chú ý đã bị đổ xô vào dòng người tấp nập.

Lần này có vẻ như vị quan gia trẻ đã đánh giá thấp sức mạnh của quần chúng nhân dân, chỉ biết nhìn bản thân vô thanh vô thức bị cuốn đi xa tít.

Tôi nhìn nhóc Thuyên la oai oái trên vai anh ta, bất giác bật cười.

Cũng vào một ngày như thế này năm ấy tôi lần đầu gặp gỡ Trần Khâm, chạm mặt nhau giữa đám đông nhìn thấy cảnh anh ta bị đuổi giết, tuy không thể nói là kề vai sát cánh chiến đấu bên nhau nhưng miễn cưỡng coi như cùng vượt qua hung hiểm.

Mới đây mà hai kẻ chúng tôi đã trải qua bao nhiêu chuyện, còn cùng nhau sinh con đẻ cái, gánh vác trọng trách trên vai.

Tôi tấp vào một hàng bánh đúc ngồi xuống gọi ra ba bát.

Thứ này đúng là không ăn thì thôi, đã ăn phải ăn liên tục mới đã thèm.

Ngày tết Đoan ngọ năm đó Quốc Tảng tỏ tình với tôi, sau đấy tôi bị Trần Khánh Dư bắt đi rồi lại được Quốc Tảng cứu về.

Thời gian như bóng câu qua cửa, mới đó đã hai năm, tôi thì đã có con còn anh ta vẫn giữ mối tình si như trước.

Ở phương diện này tôi cảm thấy đúng là phụ nữ dễ thay lòng hơn đàn ông, cả chị Quỳnh Trân cũng bị mềm lòng trước tình cảm của anh Quốc Nghiễn, còn Trần Khánh Dư cố chấp thì hiện tại chẳng biết lưu lạc ở nơi xó xỉnh nào rồi.

Trời càng lúc càng về khuya, vầng trăng như chiếc lưỡi liềm treo trên đỉnh đầu, gió hiu hắt thổi dãy đèn lồng đung đưa.

Người qua đường đã rất ít, tôi đi dạo một vòng quanh các hẻm lớn ngõ nhỏ, cảm giác như lạc giữa mê cung.

Tiếng cười nói thưa thớt dội vào lòng tôi, bỗng nhiên làm tôi lo sợ và lạc lõng.

Đám lá khô đổ xuống ào ạt, có tiếng bước chân điềm tĩnh chậm rãi đạp lên xào xạc lên lá khô, thanh âm quen thuộc như có ai mỗi sáng bước đi như vậy bên cạnh tôi, ém góc chăn cho tôi, âm thầm dặn cung nhân đừng làm tôi tỉnh giấc.

Tôi quay đầu lại, trước mắt là một chàng trai vận viên lĩnh màu ngọc, đầu đội kim quan, mày kiếm mắt sắc, anh khí ngút trời.

Anh ta bế một đứa trẻ, đứa trẻ vẫy tay với tôi, miệng không ngừng gọi tôi.

Khoảnh khắc anh ta nhìn tôi, cả không gian như ngưng đọng lại.

"Thấy được dung mạo của chàng,

Tựa như gió mát trăng thanh,

Dường như đã gặp qua ở phàm thế,

Đợi chờ lưu luyến, thời gian như ngừng lại."

Mấy cánh hoa bằng lăng trong không trung khẽ bay tán loạn, vô thức rơi trên vai áo của Trần Khâm, lưu luyến chẳng muốn rời.

Anh ta bắt lại một cánh hoa nắm trong lòng bàn tay, nghiêng đầu nhìn tôi.

Trần Khâm mỉm cười với tôi, vẻ mặt đắc ý nói:

"Xem ra tôi vẫn còn sức hấp dẫn lắm."

Một đợt ớn lạnh chạy dài xuống sống lưng, thằng nhóc trên vai cũng nhăn mày nhăn mặt giống như nghe phải chuyện gì kinh khủng lắm.

Có điều nó chỉ dám ra vẻ với tôi không lộ ra chút tiếng động nào.

Gió đêm thổi xào xạc trên tán cây hai bên bờ sông Tô Lịch làm bập bềnh mấy đóa hoa đăng leo lét ánh lửa, dạt chúng sang hai bên bờ, trông như hai dải kim tuyến trên nền lụa đen tuyền.

Người nghệ nhân đàn ở đầu thuyền say mê theo làn điệu, cô đào hát cất tiếng ca, ca rằng:

"Phủ Phụng Thiên sáu mươi mốt phường: Tàng Kiếm chuyên nghề làm kiệu, Yên Thái chuyên làm giấy, Thụy Chương và Nghi Tàm chuyên nghề dệt vải và dệt lụa, Hà Tân là nơi nung vôi, Hàng Đào chuyên việc nhuộm điều, Tả Nhất làm quạt, Tây Hồ có cá to, Thịnh Quang chuyên nghề làm long nhãn, Đồng Nhân bán áo diệp y.

Đồ cống có gấm, đồ thêu, hương xạ, cùng ba loài kim."

Khúc nhạc du dương trầm bổng vang khắp cả mặt sông, len lỏi vào tiếng nước vỗ ì ọp nơi mạn thuyền trong đêm thanh tĩnh.

Trong khoang thuyền tràn ngập bóng tối chỉ có chút ánh đèn hiu hắt bên ngoài theo kẽ hở của tấm mành trúc lách mình chui vào, phản chiếu mờ mờ bóng của vị quan gia trẻ tuổi ngồi trầm tư cạnh khung cửa.

Tay anh ta nâng chén trà giữa không trung nhưng vẫn chưa động đến, khói trà nhè nhẹ bốc lên cao.

Trong bóng tối chỉ thấy được nửa phần gương mặt của anh ta, chiếc mũi thẳng tắp như tạc, ngón tay cầm chén trà thon dài khéo léo.

Anh ta ngồi như thể một pho tượng đẹp đẽ giữa nhân gian.

Bên ngoài đã đàn đến khúc nhạc thứ năm, khúc nhạc nhẹ nhàng chậm rãi làm tôi không kìm được ngáp một cái.

Thằng bé Thuyên đã ngủ từ lâu, còn tôi thì nằm gối lên đùi Trần Khâm ngắm anh ta ngồi trầm tư nghe hát suốt buổi.

Trần Khâm đưa mắt nhìn ra lòng sông, thủ thỉ với tôi:

"Con sông này có thể vét để làm trục đường chính của kinh đô."

Tôi gật gù, từ xưa đến nay những việc liên quan đến quốc sự tôi thường không đưa ra ý kiến.

Trần Khâm nói xong câu đấy lại thở dài:

"Ban nãy hẳn em cũng đã nghe rõ rồi, người Thát hung hãn quen thói, thế lực lại vô cùng mạnh.

Chúng mang giấc mơ thâu tóm thiên hạ, nơi nào vó ngựa Nguyên Mông lướt qua cỏ không mọc nổi, dân chúng lầm than.

Biết bao thế lực đã quy hàng, hoặc là tự hàng, hoặc là bị ép phải hàng, Đại Việt ta tuy từng một lần đánh đuổi được chúng nhưng hằng năm vẫn phải xưng thần triều cống."

Việc triều cống này là nghĩa vụ của nước nhỏ đối với nước lớn, phương Bắc trước nay dù là thời đại nào vẫn luôn muốn làm bá chủ, tự cho mình là trung tâm.

Bọn chúng ỷ mình người đông thế mạnh để chèn ép các nước lân bang khác, và việc triều cống cũng không phải là chưa từng có tiền lệ.

Trần Khâm biết suy nghĩ của tôi, anh ta lại nghiến răng, từng chữ như rít ra từ trong phẫn nộ:

"Đại Việt tuy nhỏ nhưng cũng là nước có vua, cũng tồn tại mấy nghìn năm nay song song với phương Bắc, nhưng bọn man rợ đó lại bắt đích thân vua một nước phải sang cống.

Ở đời con giun xéo lắm cũng quằn, huống chi tôi lại là bậc quân vương, tôi và Thượng hoàng luôn coi khinh sự cưỡng ép đó, chưa từng khuất phục lần nào.

Trước nay toàn bộ đồ cống hết thảy đều vô bổ."

Tôi bỗng bật cười:

"Nguyên triều chưa chiếm được tí lợi ích nào của chàng, vậy chàng khó chịu gì hử?"

Trần Khâm lại than:

"Vậy nên lòng chúng bất mãn đã lâu, luôn bới lông tìm vết để dễ bề sinh sự."

Ngày xưa lúc Thượng hoàng nhường ngôi cho Trần Khâm, vua của nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt đã cho Sài Thung dẫn sứ đoàn sang Đại Việt, trách móc việc lập vua mới mà không xin phép Nguyên triều.

Thời gian Sài Thung ở Đại Việt, cậy thế nước mạnh đã có nhiều hành động ngang ngược vô phép.

Nước ta lấy đại cuộc làm trọng, hết lần này đến lần khác nhượng bộ không truy cứu.

Thông qua Sài Thung, Hốt Tất Liệt tuyên chỉ rằng nước ta dối trá, trước vì Thượng hoàng già yếu không thể đi xa còn lượng tình được.

Nay vua trẻ đang độ cường sĩ, vào chầu chịu mệnh chính là phải thời, nếu lòng không yên cố ý kháng mệnh thì cứ sửa thành đắp lũy, sắm sửa giáp binh sẵn sàng mà đợi.

Thượng hoàng lần nữa viết thư cầu hòa nhưng lập trường thì vẫn không thay đổi, sứ thần nước ta theo Sài Thung về Nguyên lập tức bị bắt giam.

Hai quân giao chiến không giết sứ giả, tôi nghĩ con thuyền này dù muốn dù không cũng phải nhắm mắt bước lên, chỉ là tất cả đều sẽ quy về ý muốn của Nguyên triều.

Tôi nghĩ nguyên nhân chuyện này một phần cũng là vì Thượng hoàng nói rằng bản thân già yếu, sau đấy lại còn để cho Sài Thung chứng kiến sự "già yếu" đó của ngài.

Phần còn lại là do Hốt Tất liệt nghe Sài Thung kể lại bộ dáng cường tráng đẹp đẽ đó của thượng hoàng nên sinh lòng đố kỵ, bèn tùy tiện bắt giam sứ thần cho hả giận mà thôi.

Trần Khâm thấy vai tôi run run, lấy ngón trỏ gõ vào trán tôi một cái, lại kể:

"Hai tháng trước nhà Nguyên gọi tôi sang chầu nhưng tôi cáo bệnh không đi, lại cử chú Di Ái sang thế, không ngờ chú ta sang đó còn được phong làm An Nam quốc vương.

Trần Di Ái thấy Nguyên chủ phong cho cũng nhận, chắc trong bụng đồ là chuyến này nhờ sức Mông cổ, may việc xong thì được làm vua, nhược bằng không xong thì sẽ đổ cho là Nguyên chủ bắt ép.

Tôi hiểu ông ta nghĩ gì và cũng đoán được rằng không lâu nữa thôi, Nguyên triều sẽ cho hộ Tống kẻ phản phúc kia về để lên mặt."

Mành trúc khẽ rung lên một tiếng, nhạc khúc bỗng đứt quãng.

Tôi bâng khuâng nhìn bóng nước dao động trên vách thuyền, thầm nghĩ binh biến sắp đến nhưng già trẻ có lẽ vẫn chưa hề hay biết.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 48: Sài Thung


Quả nhiên tháng Giêng năm Thiệu Bảo thứ năm – tức năm Nhâm Ngọ, Sài Thung được lệnh đem hơn một nghìn quân người Hán trong quân đội Nguyên hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt làm vua.

Trần Khâm huy động lực lượng chặn đánh Sài Thung ở ải Nam Quan và bắt giữ nhóm Di Ái, song vẫn nghênh đón gã về Thăng Long.

Ngày Sài Thung bước chân vào cấm thành, An Tư đã sớm đợi tôi ở cung Quân Hoa.

Năm nay Quốc Chẩn đã tròn một tuổi, không khóc nhiều như trước mà trở thành một thằng bé vô cùng hiểu chuyện.

Tôi cho nó ăn sáng xong xuôi, bồng ra ngoài thì bắt gặp An Tư ngồi chống cằm dùng ngón tay chấm nước trà vẽ nguệch ngoạc lên bàn gỗ.

Tôi bĩu môi:

"Khiếp, còn bẩn hơn Quốc Chẩn!"

An Tư thấy tôi như mở cờ trong bụng, mặc cho tôi nói lời mỉa mai, lập tức vào thẳng vấn đề:

"Nghe nói hôm nay sứ giả người Thát là Sài Thung đến, phái đoàn sang nước ta rất xa hoa.

Từ khi chào đời tôi còn chưa gặp bọn Mông cổ đó lần nào, hay là chúng ta..."

"Thì cũng hai con mắt một cái miệng, có gì khác nhau?" – Tôi cắt ngang.

An Tư nắm tay áo tôi, nài nỉ:

"Chỉ đứng xem từ xa thôi, tôi hứa là không gây ra rắc rối gì."

Tôi lại khinh thường nói:

"Bọn chúng có ba đầu sáu tay à?"

"Sau khi trở về tôi giúp cô trông Quốc Chẩn ba ngày được không?"

Tôi nhìn An Tư, lắc đầu.

"Năm ngày!"

Tôi lại lắc đầu.

"Một tuần!

Không hơn được nữa!"

"Thành giao!"

Trên đời này vốn có những người sinh ra để gây rắc rối cho người khác, mà hoàng quý cô An Tư của tôi chính là tên đầu têu của những kẻ gây rắc rối, Chiêu Thành vương lại là kẻ tiếp tay.

Vì thế ngay sáng hôm đó tôi, An Tư cùng Chiêu Thành vương nấp vào một góc hướng mắt về cửa Dương Minh hóng hớt đoàn sứ giả đến từ Nguyên triều.

Tôi âm thầm than thở, một cô gái mới mười sáu tuổi cùng chàng người yêu hết lòng cưng chiều cô ta hùa nhau làm loạn thì đã đành, sao kể cả một người phụ nữ đã có con như tôi cũng tham gia náo nhiệt chứ, thật là oan trái lắm thay.

Nhưng đúng là kịch hay chỉ xuất hiện ở những nơi hung hiểm, cửa Dương Minh hiện giờ đã náo loạn không ra hình thù gì rồi.

Từ chỗ tôi ngó qua chỉ thấy một tên cao to bặm trợn ăn vận sặc sỡ kỳ quái cầm roi ngựa quất vào lính canh, đây hẳn là tên sứ giả Sài Thung mà An Tư nhắc tới.

Sài Thung cưỡi trên con ngựa cao lớn, phía sau là một cỗ xe ngựa xa hoa được kéo bởi hai con ngựa tốt, sau nữa là một toán quân hộ tống hơn trăm người đều khôi giáp chỉnh tề, lăm lăm gươm giáo, hống hách ngang ngược đến thế là cùng.

Kẻ vào Cấm thành dù lớn dù bé vẫn phải bỏ gươm giáo, áo mũ chỉnh tề vào yết kiến quan gia, đằng này gã ta còn ngang nhiên ngồi trên lưng ngựa đánh xuống binh lính giữ thành.

Một ngàn quân đưa Trần Di Ái trở về bị chặn đánh dọc đường cho tan tác, những kẻ còn lại bước chân vào được đây sợ là cũng không phải đám người vô dụng.

Đương lúc roi ngựa sắp quật xuống lần nữa, An Tư bỗng dùng một hòn đá làm ám khí rất chuẩn xác ném trúng cánh tay đang hạ xuống của Sài Thung, hại gã không ngừng la hoảng.

Còn chưa kịp cản lại, An Tư đã nhếch môi phóng thêm hòn đá thứ hai, tên Sài Thung ở cửa Dương Minh lập tức từ trên ngựa ngã xuống đất.

Tôi trừng mắt nhìn cô ả, Chiêu Thành vương ngay lập tức ngồi chắn trước người An Tư, cô ta liền đắc ý nhìn tôi cười cười.

Thật hết nói.

Sài Thung lồm cồm ngồi dậy, gã ghé sát cỗ xe ngựa nói nhỏ gì đó, từ chỗ tôi có thể loáng thoáng nghe được "ma quỷ", "Giao Chỉ rất đáng sợ".

Nhưng do là tiếng Hán nên tôi chỉ có thể nghe hiểu lờ mờ mấy chữ thôi.

Trong cỗ xe ngựa, tôi loáng thoáng thấy được mái tóc dài xoăn của người đàn ông cột thành hai lọn đổ xuống khuôn ngực rộng.

Anh ta nâng cánh tay vén nhẹ mành che cửa sổ, đôi mắt dõi ra xa, như muốn rà soát từng tán cây ngọn cỏ.

Tôi nín thở không dám nhìn thẳng vào kẻ đó, đợi rèm che buông xuống mới khẽ thở phào.

Bên kia vang lên âm thanh trầm thấp:

"Làm theo ý họ đi!"

Tức thì toàn bộ binh lính người Nguyên đồng loạt xuống ngựa.

Lúc này lính canh cửa Dương Minh mới cho họ vào.

Sau hôm đó, tôi ôm Quốc Chẩn trong lòng ngồi trên sập nghe Trần Khâm kể lại, sống động như chính mình được ngồi xem kịch ở điện Thiên An.

Chẳng biết Sài Thung từ khi sinh ra đã mang bản tính ngạo mạn hay gã thấy nước Việt nhỏ bé mà coi thường, dù trên điện Thiên An vẫn hống hách la lối dò hỏi chuyện của Trần Di Ái.

Dù là nước nhỏ, Trần Khâm vẫn là bậc quân vương, làm sao có thể để một sứ thần như gã xem thường.

Trước văn võ bá quan, anh ta vẫn thản nhiên nói:

"Ta là vua duy nhất của Đại Việt, con dân Đại Việt chấp nhận là đủ, còn Nguyên triều nếu chấp nhận Di Ái thì cứ đưa gã về đi.

Tên giặc Di Ái làm gì ở nước Nguyên thì ta không quan tâm, những hễ bước đến địa phận của nước Việt thì chỉ có một con đường chết!"

Tôi có thể tưởng tượng được cảnh quần thần không nén nổi xúc động, quệt nước mắt hô to: "quan gia nói đúng lắm".

Tôi chọc đôi gò má phúng phính sữa của Quốc Chẩn, cười nói:

"Tên Sài Thung này cứ thế mà chịu nhượng bộ à, không giống cách hành xử của gã lắm nhỉ?"

"Em gặp gã rồi à?" – Trần Khâm liếc tôi, nghi hoặc nói.

Tôi biết mình nói hớ, vội chống chế:

"Thì nghe kể cũng phần nào đoán được!" – Lại đánh trống lảng – "Chàng không sợ gã về Nguyên sẽ gièm pha cho vua Nguyên cất quân sang đánh sao?"

Trần Khâm nói:

"Thát Đát từ lâu đã muốn thôn tính toàn thiên hạ, chỉ một Sài Thung nho nhỏ không thể đả động gì được tới quyết sách của Hốt Tất Liệt.

Tôi muốn em hiểu rõ rằng cuộc chiến này sớm muộn gì cũng phải tới, cái tôi hi vọng chỉ là kéo dài một chút thời gian để mài gươm rèn giáo, thao luyện binh mã.

Và còn... con của ta chúng vẫn còn quá nhỏ, nếu như quân địch đến sớm, tôi sợ cực khổ cho em."

Tôi thở dài, lời Trần Khâm nói quả thật không sai.

Hai ngày sau hôm đó nghe tin Thanh Vân lâm bệnh nặng, tôi vội vã thu xếp đến thăm.

Buổi sáng cho Quốc Chẩn ăn no rồi dỗ nó ngủ, tôi dặn Thụy Hương trông chừng thằng nhóc rồi nhanh chóng đến cung Diệu Hoa.

Thanh Vân nằm trên giường gương mặt xanh xao tiều tụy, không biết vì lẽ gì mà sức khỏe lại xuống dốc nhanh như thế.

Trong lòng tôi nghi hoặc, nhưng nghĩ lại có lẽ là do dạo gần đây bận rộn với Quốc Chẩn nên lơ đãng việc xung quanh.

Thanh Vân nhìn thấy tôi như nhìn thấy cọng rơm cứu mạng, đang nằm trên giường bỗng chồm ngồi dậy định nắm tay tôi.

Tôi đỡ em ấy nằm xuống, ân cần hỏi han.

Thanh Vân khóc thút thít, nói:

"Em ốm quá, chắc không sống nổi nữa đâu chị ơi!"

Tôi nghe thế thì xót xa:

"Sao lại nói vậy, em còn trẻ lắm.

Cố ăn uống vào."

Có lẽ do bệnh, Thanh Vân trở nên mềm yếu hơn hẳn lúc bình thường.

Ngồi bên mép giường bỗng cảm thấy như ai đó đang nhìn mình, tôi ngó quanh quẩn một vòng vẫn chỉ thấy một mình Thanh Vân nằm thiêm thiếp.

Trong lòng bất giác dâng lên nỗi bất an, bèn nhỏ giọng hỏi:

"Hôm nay có ai khác đến thăm em à?"

Thanh Vân hé mắt nhìn tôi, vẫn rấm rứt:

"Mấy hôm nay chỉ có mình chị đến thôi ạ!"

Cảm giác bất an vẫn còn len lỏi, câu nói của em ấy có vẻ là lạ nhưng tôi lại không nhận ra lạ ở chỗ nào.

Tôi vốn định chỉ đến thăm Thanh Vân một buổi đến khi trời xuống bóng sẽ trở về, bầu không khí ở cung Diệu Hoa thường ngày vẫn rất yên ắng.

Tôi ngồi bên giường trò chuyện cùng Thanh Vân, cảm thấy thoang thoảng hương hoa lan dễ chịu, mình thì thiếp đi lúc nào không hay.

Lúc giật mình tỉnh lại đã thấy gian phòng tối om.

Tôi mò mẫm đứng dậy trong bóng tối, không rõ đã là giờ gì.

Thanh Vân có lẽ đã ngủ say nên chưa kịp đốt đèn.

Bả vai đụng phải giá đèn, cả người tôi loạng choạng một cái, chất giọng yếu ớt của Thanh Vân chợt vang lên:

"Chị định về đấy ạ?

Trời đã tối rồi chị đừng về....

Ở lại với em một đêm nhé... em sợ."

"Vậy e không tiện, để chị sai cung nhân đến trông chừng em, em đừng sợ."

Cơn buồn ngủ ào ạt ùa về như thác đổ, có điều tôi đã đi cả ngày, thằng bé Quốc Chẩn không thấy mẹ sẽ khóc nên vội từ chối lời mời mọc của Thanh Vân, xiêu vẹo bước ra khỏi phòng ngủ.

Đến hành lang, tôi bỗng nhiên cảm giác có ai nhìn mình chằm chằm, từng bước tôi đi như có kẻ lần mò bám theo vậy.

Ban đầu tôi cho rằng vì quá buồn ngủ mà sinh ra ảo giác, nhưng tiếng vang do đế giày tạo ra trong đêm thanh vắng không thể là giả.

Cảm giác bất an lại một lần nữa tràn ngập tâm trí tôi, khiến từng sợi lông tơ của tôi đều như dựng ngược.

Tôi vốn không sợ mấy thứ ma cỏ vớ vẩn nhưng lần này lại không cảm thấy được một chút tự tin.

Rốt cuộc trong cung Diệu Hoa của Thanh Vân chứa thứ gì thế?
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 49: Thứ Trong Cung Diệu Hoa


Thình lình, một bàn tay ôm lấy eo tôi kéo về phía sau, tay còn lại bịt kín miệng tôi.

Tôi hốt hoảng vùng vẫy nhưng ở tư thế này, sức lực này tôi không tài nào nhúc nhích nỗi.

Thoắt cái tôi đã rơi vào thế bị động, giống như bất ngờ bị sa vào một vũng lầy, chới với không thể ngoi lên.

Kẻ đó từ đằng sau phả hơi thở dơ bẩn lên gáy tôi, đôi môi lạnh lẽo của gã chạm lên cổ tôi, hơi thở mạnh mẽ dồn dập như muốn ăn thịt uống máu tôi vậy.

Tôi ghê tởm đến tột cùng, run rẩy hoảng loạn, nước mắt chẳng biết từ lúc nào đã chảy tràn xuống cổ ướt đẫm một mảng áo.

Bả vai tôi bỗng nhói lên một cái, mùi máu tanh tưởi loang ra trong không trung làm hai chân tôi mềm nhũn như muốn ngã quỵ.

Gã ta đã cắn rách vai tôi.

Gã là một kẻ điên, là một con dã thú khát máu.

Trước mắt tôi quay cuồng, bên tai tôi nghe được thanh âm trầm đục như giọng gầm của một con thú dữ.

Gã thì thào bên tai tôi như tiếng của cô hồn dã quỷ lưu lạc ở nhân giới:

"Tôi tìm em cực khổ quá!"

Giống như mỉa mai, giống như khinh bỉ, nhưng đầy sự cuồng vọng muốn chiếm hữu.

Tôi lấy hết sức bình sinh đập đầu mình vào trán gã, có lẽ quá bất ngờ nên gã bỗng buông lỏng tay ra, tôi liền chớp lấy cơ hội giằng ra khỏi chạy thục mạng về phía trước.

Chẳng biết đã qua bao lâu, chẳng biết đã chạy tới nơi nào, chỉ cảm thấy sức cùng lực kiệt và cả người đau rát vì bị những nhánh cây dọc đường cào trúng.

Tôi quên cả đau, trong lòng lại có cảm giác vui mừng vì kẻ đó dường như không đuổi theo tôi nữa.

Bất ngờ lại bị ôm chầm lấy, sự hoảng loạn cùng cực khiến tôi gần như quên mất mình là ai, chỉ biết như một con thú nhỏ bị thương kêu gào khản cả cổ.

Tôi tay đấm chân đá túi bụi theo bản năng, cổ họng đặc nghẹn đắng chát, nước mắt tuôn như mưa không thể dừng.

Người nọ để tôi đánh nhưng không chống trả, chỉ cố sức ôm chặt lấy tôi, nói:

"Là tôi, là tôi đây, em làm sao thế?"

Một chuỗi câu từ có phần gấp gáp dồn dập của Trần Khâm làm tôi lấy lại phần nào bình tĩnh.

Ánh trăng thoát khỏi mây đen nhàn nhạt rọi ánh sáng xuống trần thế, tôi mới phát hiện hóa ra mình đã vô thức chạy tới cửa Thấu Viên.

Tôi nhìn gương mặt Trần Khâm gần trong gang tấc, nỗi hoảng sợ uất ức hóa thành muôn ngàn nước mắt như mưa mùa hè thấm sâu vào tận cùng lòng đất.

Trần Khâm không hỏi tôi đã xảy ra chuyện gì mà chỉ lẳng lặng ở bên cạnh an ủi tôi.

Ngủ một giấc dậy tôi mới dám nghĩ về chuyện đêm qua.

Tại sao trong cung Diệu Hoa lại có thứ đó, tại sao lại nhắm vào tôi?

Người này không hề gấp gáp, giống như gã muốn chơi trò mèo vờn chuột với tôi, làm tôi hoảng hốt, làm tôi mỏi mệt, nhưng không hề có ý muốn ra tay kết liễu tôi.

Tôi nhớ tới câu nói của gã ta, bất giác cảm thấy lo sợ.

Vết cắn trên vai tôi đau rát, kéo vai áo xuống mới thấy nó nằm ngay hình xăm mà Trần Khâm đã nói với tôi, khiến cái chuông nhuộm đỏ một màu máu vô cùng ma quái.

Tôi chợt nhận ra đây không phải là cái chuông, đây là đóa hoa linh lan, là tên của tôi và có người đã vì tôi mà khắc lên đóa hoa linh lan đó.

Đầu tôi đau như búa bổ, tại sao tất cả mọi thứ vẫn còn mơ hồ?

Người đàn ông đêm qua phải chăng là Sở Quân, chàng trai ngày trước tôi từng yêu sâu đậm.

Giờ anh ta vào cung để làm gì?

Còn Thanh Vân, dù tôi cố thuyết phục mình không tin, nhưng sự việc hôm qua nếu thêm Thanh Vân vào thì mọi thứ trở nên hợp lý đến kỳ lạ.

Quốc Chẩn khóc ré lên trong nôi, tôi giật mình choàng tỉnh khỏi cơn mộng mị.

Cho dù thật sự là Sở Quân thì thế nào, anh ta vẫn là một kẻ đã bỏ rơi tôi trong lúc tôi tuyệt vọng nhất.

Tô Linh Lan của ngày xưa đã chết rồi.

Tôi không nói với Trần Khâm nghi vấn trong lòng mình, chỉ dè dặt đưa ra phán đoán liệu có phải là một tên trong đám sứ giả người Nguyên hay không?

Dựa theo mô tả của tôi, về chiều cao về giọng nói, bằng một cách thần kỳ nào đó lại tra ra được anh ta tên là Sở Quân.

Tầm này thì tôi phải bật cười, xem ra Sở Quân cố tình tạo sự chú ý trước mặt tôi để làm tôi nao núng, khiến tôi hoảng loạn, chứ anh ta thiếu gì cách để che giấu bản thân mình.

Trần Khâm vuốt nhẹ vết cắn trên vai tôi, có chút mê man:

"Gã chọc phải tổ ong vò vẽ rồi!"

Dù đang hoang mang nhưng tôi lại không nén được bảo:

"Vậy chàng là con ong đầu đàn!"

Trần Khâm khựng lại, giơ tay véo gò má tôi:

"Đùa dai thế nhỉ?"

Với thân phận của Sở Quân thì bọn tôi khó mà làm gì gã được, huống hồ lại trong cảnh tối tăm chẳng thấy rõ mặt người, có lẽ vì thế mà Sở Quân chọn cách này để tiếp cận tôi.

Nếu như anh ta lường được có một ngày tôi dùng chính những thứ anh ta dạy để chống lại mình, liệu anh ta có thất vọng không, có đau đớn không?

Còn tôi, nếu biết Sở Quân là người của Nguyên triều, những thế võ tôi học được là của người Nguyên, tôi có hối hận vì đã từng yêu anh ta không?

Tôi vùi đầu vào lòng Trần Khâm, thủ thỉ:

"Dù sao em cũng sẽ tin chàng làm được.

Vậy chàng có hứa dù chuyện gì xảy ra chàng cũng sẽ tin em hay không?"

Đầu tôi như một mớ bòng bong chỉ biết bấu víu lấy một hi vọng nhỏ nhoi như vậy, để tôi yên tâm rằng dù có sự thay đổi nghiêng trời lệch đất nào, Trần Khâm vẫn sẽ tin tưởng tôi.

Anh ta nghi hoặc nhìn tôi:

"Sao thế, em có gì giấu tôi à?"

Tôi ngước đôi mắt ngấn lệ nhìn lên, nũng nịu thở dài:

"Không thể nói rõ là giấu hay không, chàng biết mà, đầu óc của em vẫn chưa được xem là bình thường được."

Anh ta khinh thường nói:

"Đúng vậy, không có người bình thường nào ngốc như em!"

"Em sẽ xem đó như lời khen!" – Tôi liếc anh ta, chép miệng.

Lặng đi một lúc lâu, đến khi tôi tưởng anh ta sẽ không nói gì thì anh lại đáp:

"Em là vợ tôi, dù đúng sai thế nào tôi vẫn sẽ nghe em trước."

Sống mũi tôi cay cay, giống như có hương thơm thoang thoảng nơi khứu giác, làm tôi như ngửi được cơn gió mát lành từ mặt hồ Thủy Tinh mang theo mùi hoa sen đầu hạ thổi tới.

Mấy lời này tuy khó tin nhưng lại đầy dụ dỗ.

Ngày mồng một tháng hai Quan gia bày tiệc thết đãi sứ thần, ban đầu định bày tiệc ở hành lang, sau bọn sứ thần phương Bắc phản đối mạnh mẽ quá, quần thần lại cho là không nên bèn đổi vào điện Tập Hiền.

Trần Khâm này lại định đánh đòn phủ đầu với người ta đấy.

Trần Khâm hỏi tôi có muốn đi không, theo lý là tôi sẽ né tránh nhưng nghĩ có thể xác minh được kẻ giở trò với tôi đêm hôm đó thì trong lòng thôi không kháng cự nữa.

Sợ này sợ nọ vốn không phải là tính cách trước giờ của tôi.

Tôi ngồi sau Trần Khâm, lén đưa mắt quan sát.

Phía trước có những gương mặt quen thuộc của quý tộc quan lớn, có người tôi đã từng gặp, cũng có kẻ tôi chưa từng thấy qua.

Chị Trinh ngồi bên cạnh tôi, rất nhiệt tình giới thiệu cho tôi những vị trọng thần.

Quả nhiên nhìn thấy một người trông giống Sở Quân đương ngồi cạnh Sài Thung ở phía xa xa hàng bên trái, anh ta trông y hệt người trong giấc mơ của tôi, vẫn gương mặt với vẻ lạnh lùng xa cách mê hoặc lòng người.

Chỉ có điều màu áo xanh ngày xưa đã thay bằng màu áo đỏ sẫm như máu, giống như máu của những người dân vô tội bị vó ngựa Mông Cổ giẫm qua.

Tôi sực nhớ ra một chuyện.

Thảo nào lại thấy bóng dáng anh ta rất quen, giờ ngẫm lại, anh ta rõ ràng chính là kẻ đột nhập vào địa bàn Đà Giang, là kẻ định cứu Trịnh Giác Duy chạy trốn.

Nếu vậy thì cũng là kẻ đã mua chuộc Trịnh Giác Duy tạo phản và cầm đầu thế lực quân phản loạn đã suýt mấy lần hại chết tôi.

Giải thích như thế cũng thật hợp lý với những hành động trước đây của anh ta, một con người hiếm khi xuất hiện với bộ dạng lành lặn, anh ta đánh tây dẹp đông như một kẻ gian hùng.

Nhưng thật là mỉa mai làm sao, chính anh ta lại suýt nữa thì ngộ sát người con gái mà anh ta đã từng nói yêu, từng muốn bảo vệ.

Nhân sinh nếu chỉ như lần đầu gặp gỡ, thì làm gì có chuyện gió thu thổi chiếc lá đau lòng.

Hình như phát hiện tôi đang nhìn trộm, Sở Quân bỗng đưa mắt sang nhìn tôi.

Cách một lớp sa mỏng tôi vẫn rùng mình, ánh mắt bỏng rát của anh ta xăm soi từng chút một, như dò xét từng hơi thở của tôi.

Chị Trinh thấy sắc mặt tôi xanh xao, ân cần nói:

"Hay là em về trước đi.

Ở đây đông người nhiều miệng, xem chừng em thấy không quen."

Tôi gật đầu với chị, trước nay tôi vốn không quen mấy chỗ yến tiệc đông người thế này.

Hơn nữa giờ cũng đã xác định được Sở Quân là kẻ giở trò nhơ bẩn, xem như mục đích đã xong.

Tôi nói nhỏ bên tai Trần Khâm, sau đó lén trở về bằng cửa phụ.

Thụy Hương đứng đợi tôi cạnh chiếc kiệu tía, tôi nhanh chân bước xuống bậc thềm.

Lúc chỉ còn cách mấy chục bước chân thì bất thình lình cả người bị kéo về sau, trấn tĩnh lại đã thấy mình bị ép vào trong góc khuất sau cánh cửa.

Tôi ngẩng mặt, đập vào mắt là chiếc áo khoác đỏ sẫm của Sở Quân, anh ta cau mày nhìn tôi, thần sắc có chút mỏi mệt.

Hơi rượu xộc vào mũi tôi, giống như hôm nay Sở Quân đã uống quá chén.

Anh ta nâng cằm tôi lên, mệt nhọc nói:

"Tôi tìm em thật cực khổ!"

Tôi giằng khỏi tay anh ta, đứng thẳng lưng làm bộ không hề run sợ, thản nhiên nói:

"E là sứ thần đã say nên lầm người rồi đấy ạ.

Để tôi sai cung nhân đưa ngài về nghỉ."

Sở Quân dồn tôi vào góc tường, bỗng bật cười:

"Tôi quên mất em giờ đã là vợ vua, ngày xưa là tại tôi mơ mộng hão huyền.

Tôi đối với em một lòng một dạ, vậy mà..."

Tôi đè nén lại tâm tình kích động, chẳng phải vì cảm động hay chút tình xưa ùa về mà ngược lại tôi thấy thật bất công cho bản thân.

Anh ta lấy tư cách gì nói tôi phản bội?

Nếu không tại anh ta không nói tiếng nào đã bỏ tôi đi thì tôi làm sao bị Tô Ngọc Lan lừa lên núi giết hại, trải qua biết bao thăng trầm.

Mấy năm rồi, thay lòng thì đã sao, anh ta cho tôi sống yên ổn ngày nào chắc.

Tôi mặc kệ Sở Quân ăn nói càn rỡ, gạt phắt anh ta sang một bên rồi lách người đi.

Sở Quân đang chếnh choáng say, bị tôi xô một cái thì cả người lảo đảo.

Tôi chắp tay nói:

"Nếu như sứ thần nhận thức được tôi là vợ của quan gia thì ngài cũng nên giữ thể diện cho cả tôi và ngài.

Tôi không phải người mà ngài đã nói."

Tôi nói xong thì giật mạnh tay áo, có điều Sở Quân hình như không có ý định buông tha cho tôi, anh ta vẫn khư khư nắm chặt cổ tay áo.

"Ầm" một tiếng, Sở Quân ngã xuống đất, một mũi kiếm sắc bén lóa mắt chiếu thẳng vào cổ anh ta.

Trần Khâm là người đang cầm kiếm.

Anh nhếch môi cười gằn, lạnh giọng nói:

"Một sứ thần nho nhỏ mà dám mạo phạm phu nhân của ta, hôm nay đã bắt tận tay day tận mặt thì cái mạng ngươi phải bỏ lại ở cửa điện Tập Hiền."

Trần Khâm không chần chừ đâm xuống.

Tôi rùng mình, một phần cảm thấy anh ta là sứ giả người Nguyên, dù thế nào cũng không được chết trong Cấm thành này, một phần lại thấy có chút hả dạ.

Nhưng chưa kịp ngăn cản thì Sài Thung từ xa đã chạy đến nắm lấy chuôi kiếm, hốt hoảng nói:

"Không được giết, bọn ta là sứ thần Nguyên triều, không phải người Đại Việt."

Trần Khâm nhếch môi khinh thường:

"Một sứ thần nho nhỏ mà thôi, ta tự có cách giải thích với Nguyên chủ!"

"Ai dám?

Ngài ấy là Thoát Hoan – Cửu hoàng tử của Nguyên triều!"

Ánh mắt Sở Quân hiện lên tia đắc ý.

Không, lúc này nên gọi anh ta là Thoát Hoan rồi.

Trong lòng tôi không nén được bật cười, hóa ra mình mới là kẻ bị lừa bao nhiêu năm qua.

Sao tôi không nghĩ tới, một sứ thần nho nhỏ sao có được mưu trí và năng lực lớn mạnh đến nhường này.

Ánh mắt Trần Khâm hiện lên tia ảm đạm, thanh kiếm quẳng xuống bên cạnh Thoát Hoan nghe một tiếng "leng keng".

Bữa tiệc kết thúc trong sự khó xử như như thế.

Trần Khâm đưa tôi về còn Thoát Hoan cũng ngoan ngoãn theo Sài Thung trở về sứ quán.

Đúng là có những chuyện chỉ khi làm đến độ cá chết lưới rách thì người trong cuộc mới chịu buông tay.

Chẳng ai biết được hôm đó sau khi gặp Thoát Hoan, tôi đã ngồi một mình trong phòng không ngừng kìm hãm lại trái tim đang đập kịch liệt.

Không biết đây có phải là cảm xúc chân thật của mình hay chỉ là một đoạn hồi tưởng, nhưng nỗi đau đớn như xé nát tâm can là thật, thật như vàng.

Nước mắt rơi xuống ào ạt ướt gối, giống như rơi ra từ nơi sâu thẳm nhất trong cõi lòng.

Trần Khâm nằm bên cạnh có lẽ chỉ nghĩ là do tôi quá hoảng sợ, cũng tốt, tốt nhất là anh ta cứ nghĩ như vậy thôi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 50: Chỉ Đâu Mà Buộc Ngang Trời


Tôi biết dùng lý do vớ vẩn kiểu tôi không phải Tô Linh Lan để dối gạt Thoát Hoan thì trong mắt anh ta chỉ như một trò trẻ con, bởi ai có thể quên đi được một kẻ đã kề cận cùng mình trong những năm tháng dài đằng đẵng, mà với người như Thoát Hoan thì chỉ cần một cái liếc mắt là có thể nhận ra tôi.

Cái mà tôi muốn là anh ta phải biết là tôi của hiện tại đã không còn là Tô Linh Lan đơn thuần của ngày xưa nữa, với thân phận của tôi và anh ta bây giờ thì đoạn tình cảm này tốt nhất nên cho vào dĩ vãng.

Tôi đã có chồng, có con, hơn thế nữa lòng tôi cũng đã khác.

Nhưng có một chuyện tôi không ngờ tới được, chỉ trong vài ngày mà tin đồn về chuyện của Thoát Hoan và tôi đã lan ra khắp hang cùng ngõ ngách, đến nỗi Trần Nhật Duật còn đến tìm tôi nghi hoặc mà hỏi rằng:

"Phải chăng võ nghệ của cô là học được từ Thoát Hoan.

Đám người ở Đà Giang dạo ấy cũng là tay chân của Thoát Hoan đúng không?

Vì sao cô lại có can hệ đến bọn Thát Đát?"

Tôi cầm chén canh đang uống dở, bỗng bật cười:

"Kể cả chú Văn cũng đến chất vấn tôi hay sao?"

Trần Nhật Duật đứng cạnh bức bình phong, ánh mắt anh ta nhìn tôi giống như muốn cắt gọt tâm can tôi ra làm trăm mảnh để kiểm chứng.

Tôi buông rèm mi xuống tránh cái nhìn xăm soi của anh ta, lại nghe anh ta nặng nề nói:

"Kể cả không có ý đồ xấu thì chỉ e bậc bề trên sẽ không dễ dàng tha cho cô.

Tuy chưa từng làm gì có hại cho quan gia, nhưng tôi không thể để một người có những mối quan hệ không rõ ràng như cô bên cạnh nó.

Muốn đi bằng cách nào thì cô hãy tự định đoạt."

Tôi tiễn Trần Nhật Duật xong lại cười chua chát.

Thụy Hương bước tới bên cạnh choàng áo ấm cho tôi, lo lắng nói:

"Phu nhân đã bệnh rồi, đừng cố sức nữa.

Chúng ta còn chưa biết ý của quan gia như thế nào."

Tôi chậm rãi bước xuống phản, dưới chân tự nhiên run lên.

Trước giờ trên người tôi không thiếu vết thương, giống như chỉ chực chờ đến lúc thích hợp là cùng nhau hành hạ thân thể tôi vậy.

Lòng tôi đang được dịp mỏi mệt, đã mấy ngày không thấy Trần Khâm, chắc anh ta cũng dần bị những lời đồn đại làm cho xiêu lòng rồi.

"Quốc Chẩn đã dậy chưa?"

"Rồi ạ!" – Thuỵ Hương cúi đầu thưa.

Chỉ có con trẻ là không biết nói dối, thằng nhóc vẫn trắng trẻo mập mạp nằm trong lòng tôi chính là thứ tôi có thể nhận thấy một cách chân thực nhất.

Những thứ không nắm bắt được như tình cảm vốn dĩ chỉ là hư ảo, dễ đến dễ đi.

Nhưng sợ là sau này kể cả con mình tôi cũng chẳng được gặp.

Điều mà tôi sợ nhất đó là phủ vương sẽ vì những tin đồn này mà bị ảnh hưởng, nếu như tôi có liên hệ với Thoát Hoan, vậy thì là do cha tôi không biết dạy con, hay là do ông mắt nhắm mắt mở để tôi và anh ta dan díu?

Không, tôi nghĩ chú Văn sai rồi.

Những kẻ biết chuyện giữa tôi và Thoát Hoan đều không còn nữa, đồn đoán chung quy chỉ là đồn đoán, chỉ cần mỗi một mình Trần Khâm tin tưởng tôi thì đương nhiên sóng yên biển lặng.

Nhưng lời hứa của anh ta hôm nọ không biết anh ta có nhớ không?

"Phu nhân, có thái tôn và hoàng hậu đến thăm." – Một cung nhân đứng trước cửa phòng tôi thông báo.

Tôi thở dài, ho khan một tiếng, nói:

"Bảo hoàng hậu về đi, ta đang bệnh không muốn gặp ai cả."

"Phu nhân..." – Thuỵ Hương không đành lòng nói.

Tôi mỉm cười nắm tay Thụy Hương:

"Chúng ta cứ bình tĩnh xem ý của quan gia thôi."

Tôi nằm trên chõng tre nghỉ trưa, lúc đang mơ màng bỗng thấy Trần Thì Kiến đứng ở phía bờ rào.

Đã có lệnh không gặp ai, tên Trần Thì Kiến này trong tiềm thức của tôi cũng không phải kẻ tài giỏi đến mức vô thanh vô thức ra vào chỗ này mà không ai hay biết, lần này chả biết trèo tường leo rào thế nào mà chường mặt được tới đây.

Trần Thì Kiến cười hì hì với tôi, tay chỉ vào một góc:

"Đằng kia có lỗ chó."

Tôi nhìn theo hướng anh ta chỉ, hóa ra là cái lỗ chó ngày đó Tô Bình đã chui vào định giở trò đồi bại với tôi.

Dạo này đầu óc cứ để đâu đâu nên tôi vẫn chưa sai người lấp lại.

Tôi ngồi thẳng dậy chống cằm nhìn anh ta:

"Náo nhiệt ghê thật, trong vòng một năm trở lại cũng không nhiều hơn số người tìm tôi mấy hôm nay gộp lại đâu, bây giờ lại tới lượt kẻ công việc ngập đầu như anh cũng đến rồi.

Đúng là "chỉ đâu mà buộc ngang trời, tay đâu mà bụm miệng người thế gian", lần này có nhảy xuống sông Nhị Hà cũng không rửa được tội."

Trần Thì Kiến lại cười ha hả, nói:

"Cần gì nhảy sông Nhị Hà cho xa xôi, đầu thành có sông Tô Lịch, cứ nhảy xuống đó là được."

Tôi cầm chiếc giày ném anh ta.

Trần Thì Kiến lại làm bộ mặt gian trá, bảo:

"Mấy thứ đồ linh tinh này giữ cho kỹ vào, để rơi vào tay tên dâm ác như Thoát Hoan thì hối hận không kịp đâu."

Nói xong lại cầm chiếc giày ném ngược lại về phía tôi.

Tôi trầm ngâm:

"Tin đồn đã lan khắp cả Cấm thành này rồi, đúng là có kẻ muốn khiến tôi không ngóc đầu lên nỗi."

Trần Thì Kiến xoa cằm, nhíu mày nói:

"Cũng không hẳn đâu, có thể là tên Thoát Hoan kia tự biên tự diễn không chừng."

Tôi lắc đầu:

"Làm gì có ai đẩy người khác xuống nước rồi lại tự nhảy theo chứ?"

Trần Thì Kiến tiến lại gần tôi, cây quạt phe phẩy trước ngực, trông anh ta cứ như một kẻ lưu manh dù gương mặt lại trông vô cùng đứng đắn, đặt cạnh nhau không có lấy một điểm hài hòa.

Anh ta nhếch môi:

"Thật là ngây thơ.

Hôm nay kẻ đó dám đứng trên triều xin quan gia ban em cho gã để đổi lấy mười năm thái bình cho Đại Việt thì em nghĩ chút mặt mũi này gã có cần nữa không?

Tôi thật tình cũng rất tò mò, giữa hai người đã xảy ra chuyện gì mà lại khiến gã đó bất chấp tất cả như vậy?"

Đoạn, lại mỉa mai:

"Á à, mà tên Thoát Hoan kia cũng đâu phải người Việt, hắn cần mặt mũi cái cóc khô gì ở đây?"

Tôi không tin vào tai mình, Thoát Hoan đã thành công lôi tôi xuống vũng nước đục.

Mất trí, điên cuồng như vậy, thủ đoạn quyết tiệt khiến tôi không còn đường lui.

Tôi dằn lại nội tâm nhốn nháo, mỉm cười hỏi:

"Hôm nay Thì Kiến đến đây chỉ muốn đâm chọc tôi thôi à?"

Trần Thì Kiến bỗng trở nên kích động, anh ta ngồi xuống cạnh tôi, hai tay nắm lấy vai tôi mà gằn giọng:

"Chuyện đến nước này rồi mà em còn cười được ư, em có biết ngoài kia quần thần đang ép quan gia thế nào không?

Bọn họ hùa nhau đòi đưa em lên kiệu hoa về Nguyên quốc để đổi lấy mười năm khốn nạn đó.

Tôi biết mười năm hay hai mươi năm chỉ là cái cớ, nhưng trước tình hình hiện nay dù là một năm hay nửa năm họ cũng muốn đánh đổi.

Nếu không có phủ Vạn Kiếp phía sau, em nghĩ hôm nay em còn ngồi đây ư?"

Trần Thì Kiến nói xong lại vô cùng đau xót mỉa mai:

"Chỉ e cái thân phận giả mạo này của em cũng sắp không giấu nỗi nữa."

"Tôi là người đã có chồng, làm sao có thể lại gả đi một lần nữa?" – Hồn tôi như lìa khỏi xác, mê man không biết mình đang thốt ra lời gì.

Trần Thì Kiến lại càng nắm chặt vai tôi hơn, như trút đi sự nóng giận mà anh ta đã kìm nén ở buổi triều sáng:

"Nông cạn, Vương Chiêu Quân cống Hồ không phải là phi tần của Hán Đế sao, bà phu nhân của thái sư Trần Thủ Độ không phải là hoàng hậu của Huệ Tông tiền triều sao?

Huống hồ người Mông cổ quen với vó ngựa đại mạc, phóng khoáng như gió, chuyện đó đối với họ chẳng có nghĩa lý gì."

Tôi thở hắt ra, cảm giác như toàn bộ thể lực bị trút cạn.

Tôi nhìn Thì Kiến, cắn răng hỏi:

"Vậy quan gia chọn thế nào?"

Thì Kiến buông tôi ra, xoay người đứng dậy.

Kể cả anh ta cũng đang ổn định lại khuôn ngực đang thở phập phồng.

Anh ta quay lưng về phía tôi, một lúc lâu sau mới cười cười trả lời, thái độ như đang giận dỗi:

"Em và quan gia là vợ chồng mà em còn hỏi tôi?"

Nói xong, Thì Kiến chậm rãi bước ra cửa.

Tôi tiễn anh ta, bỗng nghe anh ta nói:

"Hôm nay đến tìm em vì muốn nói với em một chuyện.

Cẩn thận kẻ bên cạnh em."

Tôi cúi người bái biệt anh ta, trong lòng bỗng thấy sầu não ruột, cười đáp:

"Tôi đã biết hết rồi.

Cảm ơn anh, Thì Kiến."

Trần Thì Kiến vỗ vai tôi, phì cười:

"Cảm ơn gì chứ, chúng ta cùng xuất thân ở phủ vương, đáng lý ra tôi phải giúp em nhiều hơn nhưng đáng tiếc chỉ làm được tới đó.

Dù xảy ra bất cứ chuyện gì đi nữa, tôi cũng tin em."

Tôi đáp:

"Tôi biết tài bói toán của anh rất cao siêu, sao không đứng trên triều bói một quẻ chứng minh tôi không phải kẻ lăng loàn trắc nết nhỉ?"

Anh ta xì một tiếng, đáp:

"Tôi mới không làm loại chuyện hung hiểm đó, khéo họ đổ cho tôi và em thông đồng với Thoát Hoan thì tôi làm sao mà cứu được em?

Xui xẻo bị đàn hặc thành kẻ mê hoặc quân vương nữa thì có ngày toi mạng."

Tôi bật cười nhìn Trần Thì Kiến, như thấy anh ta đứng ở dưới mái hiên có giàn tầm xuân leo kín, trên tay cầm một cái mai rùa với ba mảnh đồng xu của năm xưa.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 51: Chuyện Gì Cũng Phải Có Thứ Tự


Cung Quân Hoa dạo gần đây rất đông vui.

Giống như hôm qua vừa đón Trần Thì Kiến thì hôm nay vị khách không mời mà đến là Thoát Hoan cũng tới tệ xá góp mặt.

Kẻ này đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, tôi còn chưa tìm gặp anh ta hỏi tội thì anh ta đã tự dẫn xác đến rồi, đỡ phải mất công.

Tôi tỉnh lại vào buổi tinh mơ, vừa xuống giường rót chén trà lạnh thì Thoát Hoan đã ở bên cạnh quát tôi:

"Đến bây giờ vẫn còn uống trà lạnh ư?"

Tôi giật mình suýt đánh rơi chén trà, sau lại chằm chằm nhìn anh ta.

Nếu như không phải anh ta mặc bộ quần áo màu đỏ sậm thì tôi đã tưởng rằng mình lại đang mắc kẹt trong quá khứ.

Tôi liếc Thoát Hoan, lạnh giọng nói:

"Nhỏ tiếng một chút, con tôi đang ngủ."

Tôi cảm thấy câu mình nói có hơi kỳ cục, giống như tình nhân cũ sau bao nhiêu năm đi xa quay về thì thấy người mình từng yêu sâu đậm đã có chồng con.

Tuy tôi không phải anh ta nhưng lại cảm nhận được anh ta chắc cũng khó chịu lắm.

Nhìn gương mặt có chút tái xanh của Thoát Hoan, tôi bỗng thấy hả hê vô cùng.

Thoát Hoan nhìn xoáy vào tôi, mỉa mai:

"Tôi không ngờ em đã bội bạc với tôi mà còn có thể nói ra những lời không biết xấu hổ như vậy."

Tôi mặc kệ anh ta nổi khùng cái gì, hớp một ngụm trà thấm giọng, sau đó liếc mắt:

"Có việc thì nói, không thì mời đi cho."

Thoát Hoan đến gần tôi, tay đặt lên mặt tôi, nhìn tôi trìu mến:

"Ngày xưa em không nhìn tôi bằng ánh mắt như vậy."

Tôi cười một tiếng lùi ra sau, đoạn thì đổ nửa chén trà còn sót lại xuống đất, hất mặt nhìn anh ta:

"Hốt lại đi!"

"Em...!"

Từ trước đến nay, hình như lần đầu ở trước mặt tôi mà anh ta phải câm nín thế này.

Tôi cảm thấy thật nực cười, chuyện của tôi và anh ta bây giờ đã như ly nước đổ đi, có cố hốt lại cũng chẳng được.

Thấy không thể dùng mấy câu vô nghĩa đó đả động được tôi, anh ta lại bắt đầu dùng khẩu nhục kế:

"Chẳng lẽ những chuyện trước đây em đã quên hết thật rồi sao, hay em giận tôi vì tôi giấu em thân phận này?

Lúc đó tôi ốc không mang nổi mình ốc chỉ biết chém giết, nếu không thì ở nơi cá lớn nuốt cá bé như Nguyên triều làm sao tôi có năng lực để bảo vệ em.

Vốn dự định trong hai năm sẽ rước em về, không ngờ lúc quay lại thì nghe tin em đã chết.

Linh Lan, tôi khó khăn lắm mới tìm được em, em theo tôi về nhé?"

Ôi nếu như tôi còn là Tô Linh Lan của năm đó, chắc có lẽ tôi sẽ cảm động mà sà vào lòng anh ta thôi.

Anh ta nói hay như hát, cả cô đào nổi tiếng nhất Thăng Long cũng không hát hay bằng anh ta cơ mà.

Tôi ngước mắt lên, nhìn thẳng vào Thoát Hoan nhẹ giọng cười:

"Thôi anh đừng già mồm nữa, tôi quên hết rồi."

Thoát Hoan bước nhanh đến nắm lấy tay tôi, giọng nói có chút hoảng loạn:

"Tôi là Sở Quân của em đây mà."

Tôi cười phá lên, giằng tay khỏi Thoát Hoan, chỉ vào anh ta nói một tràng:

"Ngày đó lúc anh bỏ tôi đi thì vừa hay có chiếu chỉ đưa tôi vào kinh làm vợ vua, lúc đó tôi ước giá như anh đưa tôi đi thì hay biết mấy.

Tô Ngọc Lan đến nói với tôi anh là sơn tặc trên núi Yên Tử, tôi ngu ngốc tin lời chị ta đi tìm anh để cùng cao chạy xa bay, cuối cùng bị chị ta bày mưu đẩy xuống vách núi.

Tôi sống dở chết dở quên mất mình là ai, kể cả anh tôi cũng quên rồi, nên đừng tìm tôi để nhắc nhớ những chuyện xa xôi đó nữa."

Thoát Hoan nghe tôi nói xong thì đứng không vững, cả người đổ về sau chạm phải vách tường, anh ta run run định bắt lấy tay tôi.

Tôi bỗng cất giọng hô lớn:

"Cung nhân đâu hết rồi, có trộm."

Bên ngoài đột nhiên có kẻ đạp cửa "rầm" một tiếng xông vào.

Nắng sáng chiếu vào phòng, Trần Khâm mặc bạch bào cùng mũ phù dung đứng ngược nắng.

Sắc mặt lạnh lẽo, anh ta hết nhìn tôi lại nhìn Thoát Hoan, mỉa mai:

"Hóa ra chính tôi mới là kẻ chia loan rẽ thúy."

Tôi giật mình nhìn Trần Khâm, đầu tiên thì cảm thấy thật là đông vui, thứ lại cảm thấy vừa hay có thể ba mặt một lời.

Thoát Hoan này chỉ sợ thiên hạ không loạn, rất có khí phách mà phân trần:

"Đúng vậy, nàng yêu tôi trước khi vào cung làm vợ quan gia, nên xếp theo thứ tự thì quan gia là kẻ đến sau."

Chà, đúng là rất có quy tắc.

Thoát Hoan nói xong thì cười một tràng như trời nghiêng đất ngả.

Trần Khâm không thèm quan tâm đến gã điên Thoát Hoan, anh ta bước tới trước mặt tôi, có hơi kích động, hỏi:

"Tại sao em không nói với tôi chuyện này?"

Thoát Hoan chắn trước tôi, mặt đối mặt với Trần Khâm, vẫn giọng điệu bất cần nói:

"Bởi vì quá khứ của bọn tôi quan gia không có quyền được biết.

Mà nếu quan gia muốn biết thì tôi cũng sẵn lòng nói cho ngài tận tường.

Tôi và em ấy từng thề nguyền, từng sống chết có nhau, hai người bọn tôi đều bị người thân hãm hại, sống an ủi nương tựa nhau trong hoàn cảnh khốn cùng.

À, mà có nói thì kẻ sớm quen với cung vàng gác tía như quan gia cũng không hiểu được đâu."

Bởi vì Thoát Hoan chắn trước mặt nên tôi không thể nhìn thấy biểu cảm hiện giờ của Trần Khâm, chỉ thấy đôi bàn tay anh ta đang nắm chặt, chặt đến phát run.

Anh ta vẫn lờ Thoát Hoan, hỏi tôi:

"Gã nói có thật không?"

Thoát Hoan tiếp tục cười hả hê, châm dầu vào lửa:

"Tôi tìm kiếm nàng như muốn lật tung cả Đại Việt, giờ tìm được rồi, quan gia cũng nên trả người về chốn cũ đi thôi."

"Tôi muốn chính miệng em nói, tôi đã bảo chúng ta là vợ chồng, tôi sẽ tin tưởng em trước tiên." – Trần Khâm lại tiếp tục gằn giọng hỏi tôi, giống như sắp hết kiên nhẫn.

Nhưng tôi lại cảm thấy dù sao tất cả chỉ là quá khứ, dù đúng dù không thì thế nào, hiện tại không phải quan trọng nhất hay sao?

Cớ gì cứ phải vịn vào thứ vô nghĩa đó nhỉ.

Chắc có lẽ Trần Khâm chỉ giận vì tôi không nói ra ngay từ đầu thôi.

Thoát Hoan lại thêm một câu chí mạng:

"Chắc quan gia biết trên vai nàng có một đóa linh lan, đó thật ra là hình xăm tôi để lại trước khi rời Việt quốc trở về Nguyên triều.

Bệ hạ chung chăn gối với nàng bao lâu chắc rõ hơn ai hết."

"Câm ngay, thằng khốn nạn!"

Đến lúc này Trần Khâm cũng không kiềm chế được nữa, ba máu sáu cơn đấm một quyền vào mặt Thoát Hoan khiến gã ngã ngồi xuống đất, rách cả môi.

Sắc mặt tôi thoáng trắng bệch, đứng không vững tựa lưng vào tường, trước mắt chỉ thấy trắng xoá một mảng.

Cảnh vật thoáng chốc hư hư thật thật, tôi rút cây trâm trên tóc mạnh tay đâm xuống bả vai liên tục, cơn đau nhức khiến tôi tỉnh lại, nhận ra máu đã chảy ướt cả bả vai.

"Vậy tôi trả nó lại cho anh."

Trần Khâm và Thoát Hoan đều đồng loạt gọi tên tôi, tôi thì cảm thấy những lúc khó xử thế này ngất đi là giải pháp tốt nhất.

Cũng có thể là do sáng nay tôi chưa kịp ăn sáng mà phải cùng hai gã đàn ông đó chơi trò mèo vờn chuột nên tinh thần có hơi sa sút.

Tóm lại sau khi thuận lợi vượt qua tình cảnh đó, lúc tỉnh lại đã là buổi chiều tà.

Thụy Hương ngồi bên cạnh tôi không ngừng khóc lóc, bảo rằng quan gia đã ẵm Quốc Chẩn sang cung Thúy Hoa cho chị Trinh trông rồi.

Tôi gật đầu, tuy không nỡ nhưng thật an tâm.

Xem ra ngày mình bị trục xuất khỏi cung cũng không còn xa nữa.

Cho đến ngày Thụy Hương bảo Thanh Vân đến tìm tôi, tôi ồ một tiếng, tự nói với mình rằng rốt cuộc cũng phải tới ngày này.

Thanh Vân vẫn một bộ dáng ốm đói như ngày chúng tôi lần đầu gặp gỡ, nhưng khác ở chỗ là hôm nay tôi biết được bộ dáng đó vốn chẳng phải là con người thật của Thanh Vân.

Em ấy ngồi đối diện tôi, tôi cười bảo:

"Cơn gió nào đưa em đến thăm chị vào đêm hôm khuya khoắt vậy?"

Thanh Vân vươn tay vuốt mái tóc hơi rối của tôi, trìu mến trả lời:

"Chị thông tỏ mọi chuyện rồi phải không?

Em chỉ thắc mắc là chị nghi ngờ em từ bao giờ."

Tôi bước đến bên cửa sổ hít một ngụm khí của mùa xuân, lại như tưởng tượng ra được mùi sen sớm trên hồ Thủy Tinh những ngày nở rộ, như nghe được cả tiếng cá đớp bóng trong khoang thuyền.

Tôi quay mặt nhìn Thanh Vân, sắc mặt em ấy hồng hào, nào có dáng vẻ xanh xao của một người bệnh tật vừa khỏi chứ?

Tôi cười xòa, nói lời bóc trần sự thật nhưng lại thật giống như kể một câu chuyện xưa:

"Khi ở chùa khai quốc, em nhớ không?

Tên hòa thượng đó vốn dĩ có thể hạ độc tất cả mọi người nhưng gã lại tốn công hạ thuốc mê rồi tự tay giết, vừa mạo hiểm vừa dễ lộ.

Chỉ có một nguyên do là nếu như hắn bỏ thuốc vào thức ăn chung thì tất cả đều mất mạng kể cả kẻ đầu sỏ đã sai khiến hắn.

Việc chùa Khai Quốc có vật báu chị đã cố ý tiếc lộ cho em.

Về sau quan gia cho người đi lùng bắt được gã ở chùa Khai Quốc, rõ ràng em cố tình muốn thả gã về chùa Khai Quốc để tìm, một mặt lại muốn tìm vật đó trên người Đặng phi, em đẩy chị ta xuống sông là để kiểm chứng."

Tôi ngừng một chút để chờ Thanh Vân nói lời bào chữa nhưng em ấy vẫn im lặng, hôm nay Thanh Vân đến đây là muốn chơi bài ngửa với tôi chăng?

Tôi nhìn Thanh Vân đương chống cằm trông bóng nến đang lắc lư như điệu thôi miên trên vách, lại nói:

"Hôm nọ kẻ đột nhập vào phòng Đặng phi và đấu với chị là em đúng không?

Thứ võ nghệ quen thuộc đó là Thoát Hoan dạy chị, nó giống với em và những tên thuộc hạ của Trịnh Giác Duy, nếu chị đoán không lầm thì vị quý nhân trong cung mà Trịnh Giác Duy từng nhắc tới chính là em.

Em giả bệnh gạt chị đến Diệu Hoa cung chỉ để Thoát Hoan gặp chị thôi sao, vậy em và anh ta là loại quan hệ gì?"

Thanh Vân không trả lời tôi, em ấy cười mấy tiếng, hỏi tôi:

"Nếu đã nghi ngờ tôi là nội gián, vậy tại sao không quăng lưới bắt luôn một mẻ mà lại đợi tới hôm nay?"

"Là chị nhẹ dạ."

Tôi ngừng thở một nhịp, cảm thấy việc thở của mình đột nhiên khó khăn hơn rất nhiều.

"Vậy lát nữa chị sẽ cho người bắt tôi à?"

Tôi không trả lời câu hỏi của Thanh Vân, giờ này có lẽ Phạm Ngũ Lão đã nghe được tin báo của tôi rồi.

Còn kết cục của kẻ nội gián ra sao tôi cũng không rõ.

Thanh Vân vẫn giữ thái độ điềm nhiên như không, ngã lưng ra ghế tựa, lại hỏi:

"Nếu chị đã tin tưởng tôi như vậy tại sao hôm nay lại chắc chắn, nhỡ đâu chỉ là trùng hợp thì sao?"

Tôi mỉm cười:

"Hôm bầy ngựa ở Giảng Võ Đường phát điên, chị đã ngờ ngợ.

Mùi hương làm bọn chúng phát điên luôn quanh quẩn trong tâm trí chị, đó là mùi hương xuất hiện trên người kẻ mặc áo đen hôm đó, cũng là mùi hương chị phát hiện được hôm đến thăm bệnh ở Diệu Hoa cung.

Đó là lời giải thích cho việc tại sao chị lại ngủ quên đến tận tối mịt."

Thanh Vân đứng dậy vòng ra phía sau tôi, cười bảo:

"Ý chị là mùi hương này sao?

Đây là mùi hương của cây Hoà Thảo nơi Mông Cổ, nhẹ thì làm người ta ngủ say, dùng nhiều một chút thì làm người ta phấn khích, còn trộn với lá cây Mao lương đốt lên thì lại khiến cho người ta quên đi tất cả ký ức trong đầu."

Lúc tôi phát hiện ra Thanh Vân chuốc thuốc tôi thì đã muộn, Phạm Ngũ Lão ơi Phạm Ngũ Lão, anh đến chậm hơn người ta một bước rồi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 52: Tuyết Rơi Ở Đại Đô


ôi đã đón cái tuyết thứ hai ở Đại Đô nhưng vẫn cảm thấy thích thú mới mẻ, Khoát Khoát Lạt nói có lẽ do tôi mất trí nên không nhớ ra, nhưng tôi luôn cảm thấy thứ này là thứ xa lạ bản thân chưa từng nhìn thấy.

Khoát Khoát Lạt là cung nữ duy nhất của tôi ở phủ hoàng tử, tôi ở đây vì tôi là vợ chưa cưới của Thoát Hoan, còn tại sao tôi chuyển hẳn vào ở trong phủ thì là do Thái tử Chân Kim đã hãm hại tôi nhà tan cửa nát.

Hiện giờ cha mẹ tôi đều đã phạm trọng tội và bị đày đi xa, chỉ còn một mình tôi trên đời, thế cho nên tôi ở phủ này cũng không phải đạo.

Thoát Hoan cứu tôi một mạng, tôi nghĩ vì gia đình gặp tai biến nên tinh thần tôi sinh ra hoảng loạn và quên đi rất nhiều thứ.

Tất nhiên đó chỉ là những thứ mà Khoát Khoát Lạt nói chứ tôi cũng chẳng biết bản thân mình là ai ngoài cái tên Linh Lan.

Tôi ngờ vực với tất cả mọi thứ vì ngoài Thoát Hoan và em ấy ra, tôi toàn nghe bọn người ăn kẻ ở nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ rất khó hiểu.

Nếu như mất trí mà quên luôn tiếng nói thì cũng thật kỳ lạ, nên tôi đồ rằng có thể mình chẳng phải là người Nguyên.

Nhìn căn phòng rực rỡ nhưng xa lạ này, chẳng biết sao tôi lại thấy buồn da diết, tôi chưa từng nói với ai một lời, ngay cả Thoát Hoan là người vô cùng quyền lực trong phủ.

Thoát Hoan là một kẻ bận rộn.

Những ngày tôi mới tỉnh lại anh ta gần như túc trực ở chỗ tôi, nhưng thấy tôi cứ mãi nín bặt thì anh ta tỏ ra rất buồn bã.

Sau đấy tôi lại thấy anh ta tức giận suýt chút nữa thì đánh em gái mình là Trà Luân.

Trà Luân là công chúa của Nguyên triều, ngoài Thoát Hoan thì Trà Luân là người thứ hai hay đến thăm tôi, và cũng là người hiếm hoi tôi có thể hiểu được lời cô ấy nói.

Trà Luân hay đem món ngon vật lạ đến cho tôi, tôi thường ngẩn người để mặc cho cô ấy luyên thuyên suốt buổi.

Thoát Hoan có lần say rượu suýt nữa thì làm bậy, tôi biết trong người mình có món võ nghệ, không nói hai lời tự tác động vào tử huyệt Cưu Vĩ giữa ngực.

Thoát Hoan phát điên lồng lên như con thú dữ bị thương, anh ta nắm lấy bả vai tôi gằn lên từng tiếng, hỏi tôi tại sao lại quên mất anh ta?

Tôi nhìn Thoát Hoan bất lực ngồi đó thì cũng có chút cảm thông, nhưng bản thân không thể chấp nhận nổi.

Khoát Khoát Lạt nói con gái người Nguyên rất thoáng, việc này rất bình thường.

Tôi vuốt mái tóc được tết kỹ càng đẹp đẽ của em ấy khẽ lắc đầu, chắc tôi không phải người Nguyên thật.

Cũng may từ dạo đó Thoát Hoan không làm bậy nữa, anh ta hứa với tôi khi anh ta lập được đại công, nhất định sẽ xin cưới tôi làm chính phi, chúng tôi sẽ là vợ chồng đúng nghĩa.

Tôi gật đầu, cảm thấy qua một vài năm nữa có thể tôi sẽ chấp nhận được anh ta.

Thoát Hoan rất nỗ lực, anh ta bận đến tối mắt tối mũi, có nhiều đêm khi tôi đã đi ngủ thì anh ta mới trở về.

Những lúc đó anh ta sẽ đến thăm tôi, lặng lẽ ngồi bên giường ngắm tôi một lát rồi hôn lên trán tôi, lại ngồi thở dài một hồi mới trở về điện các đi nghỉ.

Tôi mở mắt nhìn bóng lưng anh ta, lòng thầm đánh giá anh ta quả thật là kẻ si tình, nhưng lại xui xẻo gặp phải một người có trái tim sắt đá.

Đông qua xuân đến, tôi đứng trong sân ngắm hàn mai đang nở bung đỏ rực trong nền tuyết trắng sắp tan, lần đầu tiên cảm thấy thật tù túng, quanh quẩn trong phủ làm người ta bức bối phát điên.

Đó là lần đầu tiên tôi đổ bệnh.

Trà Luân là người tinh ý phát hiện ra thứ tôi muốn, nàng nói:

"Ngày Tết Nguyên Tiêu này anh đưa chị ấy ra ngoài xem sao.

Cũng lâu rồi chị ấy không được ra ngoài."

Tôi cảm thấy mối quan hệ của tôi và Trà Luân có thể được cải thiện.

Đại Đô phồn vinh đến ngỡ ngàng, đường sá thẳng tắp rộng thênh thang, đứng từ đầu đường mà có thể nhìn thấy đến cuối đường được.

Tôi cùng Trà Luân sóng vai dạo khắp các hàng quán, cảm thấy trong hơn một năm nay lần đầu tiên cảm thấy vui vẻ thế này.

Một năm qua tôi như con chim bị nhốt trong lồng, hôm nay được thả ra thế giới rộng lớn vừa thấy phấn khởi vui thích lại vừa hoang mang lo sợ.

Tôi ngồi trong xe ngựa, bên ngoài đèn lồng sáng rực cả một góc trời, có điều vẫn phải chịu thua với thứ ngôn ngữ kỳ quặc ở đây.

Năm nay là năm Chí Nguyên thứ mười chín, theo như lời Trà Luân nói thì năm nay Mông Cổ đã đạt tới cực thịnh, tôi nhìn tòa bảo tháp trắng đứng sừng sững giữa Đại Đô hoa lệ, bỗng thấy lạc lõng làm sao.

Giữa những hàng quán với những thứ lạ lẫm bên đường, tôi bỗng phát hiện ra một hàng bán món ăn quen thuộc.

Vừa nhìn đã biết ngay là món bánh đúc dù trong hơn một năm qua chưa từng được ăn.

Tôi lay Thoát Hoan đang đánh xe ngựa phía trước, ngỏ ý muốn xuống.

Trà Luân đã nhảy xuống xe khi xe dừng lại, còn Thoát Hoan thì mặc tôi chống đối bế tôi xuống xe trước ánh mắt của bao người.

Tôi hậm hực liếc anh ta, anh ta lại nhìn tôi cười gian trá.

Miếng bánh vừa chạm đến đầu lưỡi nước mắt tôi bỗng trào ra, loại hương vị quen thuộc này giống như tình quê hương xứ sở.

Thoát Hoan lau nước mắt cho tôi, anh ta có chút thất thần.

Thành ra tôi ăn một lúc hết ba bốn bát.

Chủ quán là một chàng trai trẻ tuổi, vừa nhìn thấy anh ta tôi đã cảm thấy như quen thuộc tự bao giờ, trong lòng dâng lên một nỗi xúc động khó tả.

Tôi đến bên cạnh anh ta, khó khăn cất giọng:

"Anh tên gì?"

Âm thanh phát ra có chút khó nghe, có lẽ là do lâu lắm rồi tôi mới mở miệng nói chuyện, đến mức suýt nữa là quên đi giọng mình.

Thoát Hoan bỗng kích động nắm lấy tay tôi, rồi hai tay nâng mặt tôi lên, mừng rỡ bảo:

"Em vừa nói đúng không, nói lại tôi nghe."

Tôi không tiếc lời nói với anh ta, liền đề nghị:

"Tôi muốn người này nấu ăn cho tôi."

Thoát Hoan ôm chầm lấy tôi khiến tôi không thở nỗi.

Từ dạo đó chàng trai trẻ được đưa về phòng bếp của tôi.

Tôi cứ tưởng anh ta nấu được thức ăn quê nhà thì tôi sẽ có thêm người đồng hương để trò chuyện, nhưng hóa ra anh ta lại là một người câm điếc.

Tôi thở dài, phủ này có một người câm như tôi chưa đủ hay sao?

Nhưng có vẻ như việc anh chàng nọ bị câm điếc khiến Thoát Hoan rất mừng, trước giờ người ở chỗ tôi đều là thân tín của Thoát Hoan, chắc là anh ta sợ tin tức tôi ở chỗ anh ta bị lộ.

Tôi không rõ nguyên do nhưng khả năng cao là vì sợ người của thái tử phát hiện được mình lưu giữ con của tội thần.

Thoát Hoan đặt cho anh chàng đó cái tên là Trát Lạt.

Từ khi Trát Lạt đến cuộc sống của tôi như có thêm một thứ ánh sáng mới, tuy anh chàng bị câm điếc và trên gương mặt lúc nào cũng đen nhẻm nhưng những món ăn của anh cùng với cảm giác ấm áp tôi cảm nhận được từ anh khiến lòng tôi như băng tuyết tan ngày cuối xuân.

Giữa cái lạnh của Đại Đô, Trát Lạt như một đốm lửa bùng lên sưởi ấm cho tôi, soi sáng con đường tôi đi trong đêm đen tịch mịch.

Tuy Thoát Hoan thưởng cho Trát Lạt rất hậu, nhưng trước mặt anh ta tôi không dám làm ra vẻ thân thiết với anh chàng kia, tôi sợ Thoát Hoan sẽ nảy sinh nghi kỵ với người mà tôi xem trọng.

Có vẻ như Thoát Hoan rất để ý đến biểu hiện của tôi, hôm nào tôi vui vẻ, anh ta lại ban thưởng cho Trát Lạt và Khoát Khoát Lạt, bởi thế tôi cũng không ngại nói thêm mấy câu với anh ta, cười với anh ta nhiều hơn một chút.

Hôm nay Trát Lạt có áo ấm để mặc rồi.

Dạo gần đây Thoát Hoan rất hay đến.

Nhìn vẻ tiều tụy trên gương mặt anh ta, tôi cũng hiểu công việc của anh ta chắc không mấy thuận lợi.

Trà Luân nói với tôi đối thủ của Thoát Hoan trên triều là thái tử Chân Kim, vô cùng thủ đoạn.

Mẹ ruột của Thoát Hoan chỉ là thị thiếp, còn mẹ của Chân Kim lại là hoàng hậu Sát Tất nên địa vị của cả hai không thể đánh đồng, Thoát Hoan phải đổ không biết bao nhiêu máu mới đi được đến ngày hôm nay, không biết bao lần bị Chân Kim đuổi giết.

Vì thế nên nhà của tôi cũng bị liên lụy, chặt đi tất cả vây cánh của Thoát Hoan.

Chân Kim nỗ lực một phần, Thoát Hoan phải nỗ lực đến trăm ngàn, thật lắm bất công.

Hôm nay nhìn anh ta ngồi chống cằm gục trên bàn trong phòng tôi, tôi bất giác nói:

"Đừng cố quá, phải biết giữ sức khỏe."

Thoát Hoan lập tức choàng tỉnh, anh ta nắm lấy tay tôi, hỏi lại:

"Em vừa nói gì?

Nói lại lần nữa đi!"

Đây là câu Thoát Hoan nói nhiều nhất mấy ngày hôm nay, tôi buồn cười nhưng vẫn lạnh nhạt bảo:

"Anh nghe lầm đấy thay!"

Ánh mắt Thoát Hoan vẫn long lanh nhìn tôi, chỉ thiếu việc vẫy đuôi mừng nữa là y hệt con cún Trà Luân nuôi trong phủ.

Tôi thấy tâm trạng anh ta đang tốt, thuận thế hỏi:

"Tôi ở đây lâu như vậy rồi, anh có thể trả lời tôi một câu được không?"

Thoát Hoan gật đầu, tôi bèn nói:

"Tại sao tiếng nói ngoài kia tôi lại không hiểu được, rốt cuộc tôi là ai?"

Tâm trạng Thoát Hoan chùng xuống ngay lập tức, anh ta thở dài, nói với tôi:

"Triều Nguyên vừa diệt Tống mới mấy năm nay nên Đại Đô đa số là người Mông Cổ, em không biết cũng phải."

Theo ý anh ta thì tôi là người Tống à?

Tôi nghĩ có khi như thế thật, bởi chữ Hán tôi vẫn có thể đọc được nhưng đáng tiếc trong phủ của Thoát Hoan chỉ toàn người Nguyên, tôi không có cơ hội kiểm chứng lời anh ta nói.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, khi đã nép dưới mái nhà của người ta rồi, anh ta nói sao thì tôi chỉ đành biết vậy thôi.

Tiết thanh minh có ngày hội Đạp Thanh, đám hoàng thân quốc thích trong đại đô bày trò thi cưỡi ngựa.

Người Mông Cổ vốn sinh ra trên lưng ngựa nên hằng năm thay vì chơi xuân như người Tống, người Mông Cổ cho rằng việc tìm được người tài về bộ môn cưỡi ngựa sẽ có ích hơn.

Tôi nhìn Trà Luân, tỏ ý cũng muốn tham gia, tôi cảm thấy bản thân mình có vẻ không hợp lắm với lầu son gác tía, tôi chắc mình có thể cưỡi ngựa được dù chưa từng thử qua.

Trà Luân cười hí hửng bảo tôi:

"Chị cười với anh tôi một tiếng thì anh tôi sẽ ngu ngốc mà đồng ý ngay thôi!"

Tôi nhìn Trà Luân đầy nghi hoặc.

Nhưng có vẻ dạo gần đây Thoát Hoan làm việc khá suôn sẻ nên với đề nghị của tôi anh ta chỉ xem như một nguyện vọng của đứa trẻ tinh nghịch ham chơi, không mấy chần chừ đã đồng ý.

Tôi lại đề nghị cho Trát Lạt theo để tôi sai việc, anh ta cũng phóng khoáng đồng ý luôn.

Tôi đút anh ta một miếng bánh sữa dê để cảm ơn, anh ta vuốt tóc tôi cười tít mắt.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 53: Một Người Đem Gạo, Một Người Thổi Cơm


Buổi tối trong giấc ngủ chập chờn, cảm giác chăn lún xuống như có người ngồi xuống bên cạnh.

Tôi hé mắt ra nhìn thì thấy Thoát Hoan hôn lên trán, lên má mình, rồi thì thầm bên tai tôi:

"Tôi từng mong em nhớ lại, nhưng hiện giờ tôi lại mừng vì em vĩnh viễn quên đi."

Đầu tôi hơi đau, khẽ trở mình.

Thoát Hoan kéo chăn lên cho tôi rồi nhẹ nhàng bước ra ngoài cửa.

Tôi ngẩn ngơ nhìn anh ta, trong lòng rối như tơ vò.

Thoắt cái ngày Đạp Thanh cũng tới.

Tôi mặc bộ quần áo màu trắng của Mông Cổ, tóc tết đuôi sam, đầu và cổ đeo chuỗi ngọc xanh lam, hai bên thái dương lại đeo tua rua bằng ngọc trai phủ xuống ngực.

Thoát Hoan ngẩn người nhìn tôi một lát rồi đưa tay cho tôi, tôi vịn vào tay anh ta, cùng Trà Luân lên xe ngựa đến thảo nguyên ngoại thành.

Trát Lạt và Khoát Khoát Lạt thì theo sau bằng một cỗ xe ngựa khác.

Đến nơi chỉ thấy màu cỏ xanh mênh mông bạt ngàn trải dài vô cùng tận, gió xuân thổi lành lạnh trên da thịt.

Tôi hít lấy ngụm không khí trong lành mà từ lâu rồi chưa từng mơ qua, cảm thấy từ trên xuống dưới như một mẫu ruộng khô cằn được tưới ngập nước sông thanh mát.

Xung quanh tôi đã có rất nhiều nam thanh nữ tú, bọn họ mặc quần áo sặc sỡ, nói nói cười cười.

Tôi bỗng thấy vô cùng lạc lõng, vô thức đứng nép sau lưng Thoát Hoan.

Trát Lạt bước đến bên cạnh tôi, ra dấu rằng hãy yên tâm đã có anh ta rồi.

Tôi bật cười, cảm thấy Trát Lạt nên tự lo cho mình thì hơn, dù sao tôi vẫn là người có tri giác đầy đủ hơn anh một chút.

Thoát Hoan thì thầm bên tai tôi:

"Nếu như em sợ thì một lát nữa tôi sẽ không đấu."

Tôi trấn an anh ta:

"Anh và Trà Luân cứ thi, tôi ở đây với Trát Lạt và Khoát Khoát Lạt là được.

Nếu không thi, Đại Hãn sẽ lại so sánh anh và thái tử, anh sẽ yếu thế mất."

Thoát Hoan cười xoa đầu tôi như một đứa trẻ, tôi né tránh bàn tay của anh ta, anh ta cười tinh nghịch:

"Thật là hiểu chuyện."

Trà Luân bên cạnh cũng cười ha hả thúc ngựa chạy đi, tôi cảm thấy mặt mình hơi đỏ.

Bỗng cảm giác có ánh mắt nhìn mình đăm đăm, quay sang thì thấy cái nhìn không mấy thiện cảm của Trát Lạt, tâm trạng bỗng bình tĩnh trở lại.

Tôi thấy Khoát Khoát Lạt không để ý, vội thì thầm:

"Tôi biết anh và tôi là đồng hương, cũng biết anh không thích Thoát Hoan."

Tôi chỉ buột miệng nói vậy thôi, dù sao Trát Lạt cũng không thể nghe được.

Tôi thấy ánh mắt anh ta nhìn xa xăm ra trường đua, cũng nhìn theo thì thấy con ngựa mà Thoát Hoan cưỡi đã dẫn đầu phi nước đại.

Dù vẫn còn nhiều thời gian nhưng ván này không chóng thì chày Thoát Hoan sẽ giành chiến thắng mà thôi, anh ta vốn rất giỏi.

Nhưng không ngờ ngựa của anh ta và Trà Luân đang dẫn đầu bỗng nhiên chậm lại, lồng lên giữa đường đua.

Tôi thấy đám người đang xem đấu xung quanh bỗng nhiên nhốn nháo, thầm nghĩ hỏng rồi, lần này có lẽ anh ta đã bị người ta chơi một vố.

Trát Lạt bên cạnh bỗng nhiên nói nhỏ vào tai tôi:

"Nhân lúc hỗn loạn, chúng ta mau trốn!"

Tôi trừng trừng mắt nhìn anh ta, vốn không nghĩ một kẻ câm điếc như anh ta lại có thể nói được, thì ra là anh ta giả vờ.

Tôi nhìn anh ta, hậm hực:

"Tại sao phải trốn, anh là ai, sao tôi phải trốn với anh?"

Trát Lạt thất vọng nhìn tôi, tôi đoán có lẽ anh ta cũng quen biết tôi trước đây nhưng hiện tại tôi đã quên hết tất cả.

Đừng nói tôi lại là tình nhân cũ của anh ta rồi bị Thoát Hoan dùng quyền thế cướp đoạt đi nhé, đó cũng có thể giải thích cho việc tôi vừa gặp anh ta đã thấy có thiện cảm còn đối với Thoát Hoan thì không.

Nhưng dù sao đó cũng chỉ là cảm giác, Thoát Hoan tốt với tôi là sự thật và tôi nghĩ Trát Lạt cũng sẽ không tài nào đưa tôi ra được khỏi đây.

Mãi nghĩ ngợi, bỗng nghe tiếng hô vang dội của đám đông, tôi nhìn về trường đua thì thấy Thoát Hoan và Trà Luân đã bị hai con ngựa đưa đi rất xa khỏi đoàn đua ngựa.

Tôi biết Thoát Hoan rất giỏi nhưng với tình huống này thì khả năng ứng phó của anh ta sẽ chỉ chắc ăn được năm phần.

Tôi vội tháo dây rồi nhảy lên lưng con ngựa được cột gần đó, thuần thục xé gió lao đi về phía Thoát Hoan, trong lòng không ngừng tự mãn vì khả năng cưỡi ngựa của mình.

Trát Lạt thấy tôi làm ẩu cũng phóng lên ngựa đuổi theo tôi, anh ta rất nhanh đã đuổi kịp tôi, sóng vai cùng tôi trên lưng ngựa.

Tôi nhìn gương mặt chăm chú giữ yên ngựa của Trát Lạt, cảm thấy khung cảnh này có chút quen thuộc như đã từng trải qua, nhưng không tài nào nhớ được rõ ràng.

Trong chốc lát tôi đã đuổi kịp Thoát Hoan, anh ta dù chật vật nhưng cũng chưa đến nỗi.

Nhìn thấy tôi phi ngựa đến, anh ta không thể tin nhìn tôi, hét lên:

"Ngốc, mau trở về đi, chỗ này nguy hiểm lắm!"

Tôi nhếch môi cưỡi ngựa áp sát anh ta, chìa tay về phía anh ta nói:

"Mau sang đây!"

Tôi gần như có thể nghe được tiếng thở dài của anh ta trong tiếng gió ngược thét gào.

Thoát Hoan giỏi giống y như suy đoán của tôi, chỉ cần tôi đưa tay ra là đã có thể thuận lợi sang ngựa.

Tôi đưa mắt nhìn về phía Trát Lạt, thấy anh ta cũng đã cứu nguy cho Trà Luân công chúa.

Trát Lạt cưỡi ngựa giỏi như thế khiến tôi có phần kinh ngạc, nhưng tôi nghĩ Thoát Hoan cũng sẽ không nghi ngờ gì vì người Nguyên cưỡi ngựa giỏi giống như cây trong rừng cây, vô cùng bình thường.

Cái làm tôi hoang mang là chuyện anh ta có thể nói được.

Thoát Hoan ngồi sau lưng tôi, ở bên tai tôi trách:

"Thật làm người khác lo lắng."

Tôi nghĩ anh ta cũng không lạ việc tôi có thể cưỡi được ngựa thuần thục như thế, bèn nói:

"Tôi sống dựa vào cơm của anh, nếu như anh có mệnh hệ gì thì tôi đói mất!"

Thoát Hoan vui vẻ đặt cằm lên vai tôi, cười nói:

"Tính cách nghịch ngợm này của em thật chẳng thể nào thay đổi được." – Anh ta cảm thán xong, lại xiết chặt eo tôi, lo lắng bảo – "Lát nữa phụ hãn có hỏi gì cũng giả vờ không nghe không biết là được, để tôi ứng phó.

Còn tên Trát Lạt kia xem ra cũng không phải hạng tầm thường, làm một đầu bếp thật phí phạm."

Tôi nghe Thoát Hoan nói thế thì bỗng dâng lên nỗi bất an, bèn nói khó:

"Người Mông Cổ ai mà chẳng cưỡi ngựa giỏi, một tên Trát Lạt câm điếc vốn chẳng thể làm được tích sự gì.

Còn tôi thì lại chỉ muốn ăn những thứ gã nấu."

"Ồ, tôi có chút ghen tỵ với gã đấy.

Vậy đối với em tôi có được địa vị như gã không?" – Thoát Hoan hỏi.

Tôi lại chẳng mắc mưu anh ta, trả lời:

"Một người đem gạo còn một người thổi cơm, không khác nhau là bao."

Thoát Hoan chỉ cười lớn.

Quả nhiên một lúc sau Đại Hãn đã triệu kiến tôi và Trát Lạt đến gặp mặt, hai bọn tôi đóng kịch câm cùng nhau, chỉ quỳ cúi gằm mặt rồi xem mấy lời của bọn họ nói như gió thoảng.

Tôi nghe Trà Luân kể lại rằng Đại Hãn thấy bọn tôi không tồi, ngỏ ý để bọn tôi tập luyện để một ngày giúp sức cho sự nghiệp xưng bá thiên hạ của Mông Cổ.

Nhưng Thoát Hoan lại bảo hai bọn tôi là một cặp anh em bị câm điếc từ nhỏ, anh ta huấn luyện để làm sai vặt bên mình, lúc ấy Đại Hãn mới buông tha.

Tôi cảm thấy bản thân mình từ vợ chưa cưới bị giáng xuống làm chân sai vặt thì có chút rầu rĩ.

Về sự việc hai con ngựa điên lần đó nghe đâu lại là thái tử ra tay hãm hại, nhưng không có chứng cứ đành gác lại một bên.

Tôi nghĩ Đại Hãn thiên vị Thái tử, ông ta cũng không muốn làm căng quá làm gì, chuyện đã qua không chút tổn hại thì cứ xem như bọn trẻ con tranh nhau món đồ chơi.

Kể từ dạo đó cũng không nghe Trát Lạt nói thêm lời nào nữa, thậm chí nhiều lúc tôi nghĩ rằng hôm đó mình đã nghe lầm, bởi anh ta lại bắt đầu trở lại trạng thái lầm lầm lì lì như lúc mới vào phủ.

Tôi biết Thoát Hoan cũng âm thầm cho người theo dõi anh ta, thấy anh ta không có gì bất thường mới thôi không để ý nữa.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 54: Nguồn Ánh Sáng Duy Nhất


Dạo gần đây Trà Luân hay đến tìm tôi rồi ngồi ngơ ngẩn, có lần tôi nghe cô ấy vô thức thốt ra rằng:

"Trát Lạt hình như cũng không tệ lắm."

Tôi trợn mắt há mồm:

"Này này, đừng nói với tôi là..."

Trà Luân liền hoảng hồn bừng tỉnh, gò má đỏ lựng như quả mận chín cây.

Lại có ngày Trà Luân đến tìm tôi, nước mắt nước mũi tèm lem.

Tôi kinh ngạc không thôi, Trà Luân ngày thường là kẻ ngạo mạn cứng rắn hơn cả nam nhi, việc cô ấy khóc thế này đúng là lần đầu được gặp.

Tôi gặng hỏi thì cô ấy nói:

"Phụ hãn hứa gả tôi cho Thiếp Giam Can, phải làm sao đây?"

Tôi gật gù, lại hỏi:

"Thiếp Giam Can này xấu xa lắm à?"

"Không phải!" – Trà Luân quệt nước mắt đáp.

"Vậy anh ta là tên háo sắc mỗi ngày quen một cô?" – Tôi hỏi tiếp.

Trà Luân lớn tiếng nói với tôi:

"Sao lại thế được, anh ta lớn lên bên tôi từ nhỏ, đẹp trai ngời ngời, ngay thẳng chính trực lại giỏi võ nghệ, cũng chưa từng thấy yêu ai."

Tôi trầm ngâm:

"Thế thì có gì mà khóc lóc?"

Trà Luân bỗng nín hẳn, đỏ mắt nói:

"Đúng thế thật!"

Tôi giả vờ nhìn trời, thầm nghĩ có lẽ đây là triệu chứng bình thường của một cô gái khi sắp lấy chồng.

Lát sau, Trà Luân lại chậc lưỡi nói:

"Nhưng không biết sao lại cảm thấy không cam tâm.

Nếu như là anh ta có lẽ sẽ đỡ hơn chút."

Tôi nhìn theo ánh mắt Trà Luân thì thấy Trát Lạt đang quanh quẩn trong xó bếp lau lau nấu nấu.

Tôi cau mày:

"Anh ta là người câm điếc mà?"

"Câm điếc thì sao, anh ta cưỡi ngựa giỏi như thế, lại từng cứu tôi.

Này, cô phân biệt đối xử với người tàn tật à?"

Tôi cảm thấy mình đã nắm được mấu chốt của vấn đề.

Nhưng nghĩ kỹ lại khả năng giữa Trà Luân và Trát Lạt gần như bằng không.

Trà Luân là một công chúa, Trát Lạt là một tên hầu.

Trà Luân xinh đẹp tài giỏi, Trát Lạt là kẻ câm điếc xấu xí.

Trà Luân đã được ban hôn, Trát Lạt cũng lạnh nhạt vô cảm.

Trà Luân là người Mông Cổ, Trát Lạt lại có thể là một tên nội gián thân thế không rõ ràng.

Tóm lại bọn họ cách nhau như mặt trời và mặt trăng, là hai thái cực không thể hòa hợp.

Nhưng tình huống này có lẽ Trà Luân đã thích Trát Lạt khi được anh ta cứu trong buổi đua ngựa hôm đó mất rồi.

Đúng là chuyện tình cảm luôn làm người ta khổ não.

Ngày Đoan Ngọ Trát Lạt làm cho tôi bát cơm rượu.

Tôi vừa nuốt xuống cổ thì nước mắt lại rưng rưng, hương vị thân quen này đúng là làm người ta xúc động.

Có vẻ như đây cũng là một thứ thuộc về quá khứ.

Tôi hỏi Trát Lạt:

"Anh biết tôi là ai đúng không?"

Trát Lạt vẫn yên lặng đứng đó, ánh mắt nhìn tôi giống như dù trời đất xoay vần cũng không thay đổi nhưng lại không thốt ra lời.

Chắc anh ta cũng không tin tưởng mấy một kẻ mất trí như tôi.

Tôi giục:

"Anh nói đi, tôi thề sẽ không hé răng nửa lời cho Thoát Hoan biết."

Tôi không biết Trát Lạt có định nói không, tôi chỉ biết anh ta chưa kịp nói với tôi thì ngay lúc đó anh ta đã bị Thoát Hoan cho người trói gô nhốt vào hầm băng vì tội dám có ý đồ với công chúa.

Hình như vụ việc đó là do trong lúc Trà Luân đề nghị hủy hôn với Thoát Hoan mà lỡ miệng nói ra.

Tôi đến tòa đình trên hồ Uý Trì thì thấy Thoát Hoan đang xem binh thư, vội giật quyển binh thư của anh ta quẳng xuống đất, hất mặt thách thức.

"Trát Lạt chỉ là một người tàn tật mà anh cũng không tha, xem ra tôi hiểu sai về con người anh rồi."

Thoát Hoan nhìn xoáy vào tôi, trầm giọng:

"Tôi cũng không ngờ thằng khốn đó không những làm Trà Luân điên đảo mà còn làm em phải u mê.

Vốn tôi chỉ định nhốt để cảnh cáo nó, nhưng thiết nghĩ hiện giờ có nên giết nó luôn không?"

Tôi nhìn Thoát Hoan, cười mỉa:

"Tôi hỏi một lần nữa anh có thả người không?"

"Nó đáng bị như vậy!"

Tôi không nhiều lời với Thoát Hoan, lập tức từ trên đình nhảy xuống.

Tôi biết tài sản duy nhất của tôi hiện giờ chỉ là cái mạng này, thứ duy nhất có thể đả động tới Thoát Hoan cũng chỉ có cái mạng này.

Dù Thoát Hoan lao xuống hồ cứu tôi thì tôi vẫn bị cảm một trận dở sống dở chết.

Sức khỏe tôi vốn yếu ớt, lần này vì Trát Lạt mà thành ra sức khỏe lại càng tệ.

Thoát Hoan bất lực đành phải thả Trát Lạt ra, có điều dường như cái nhìn đối với Trát Lạt đã khác hẳn lúc đầu.

Trà Luân thì giống như càng ngày càng lún sâu vào cuộc tình đơn phương không có kết quả.

Tôi cũng hết cách, con người ta thường phớt lờ những người yêu mến mình và chú ý hơn đến những người phớt lờ chúng ta.

Có lẽ kẻ không toàn vẹn như Trát Lạt đối xử hờ hững với Trà Luân làm cô ấy thấy không cam tâm cho lắm.

Nửa tháng sau phủ hoàng tử lại xuất hiện thích khách, kẻ vô tội là tôi cũng xui xẻo bị dính một dao sau lưng.

Tôi cảm thấy hẳn là trước đây mình sống trên đời cũng oai phong lẫm liệt lắm, cảm giác giống như một gã võ biền chứ chẳng phải một cô gái khuê các như lời Thoát Hoan đã nói.

Ngay lúc tỉnh lại dạo đó trên vai cũng đang có một vết thương đang kéo da non.

Ngày hôm đó cũng may là Thoát Hoan không có ở phủ, nếu không vết dao này chẳng đến lượt tôi phải hứng chịu.

Bọn thích khách này võ nghệ rất cao làm sao tôi đủ sức địch lại, cũng may có Trát Lạt xả thân tương cứu.

Người tên Trát Lạt này vào phủ hoàng tử chín phần là có mưu đồ bất chính, chứ tùy tiện là một kẻ bán bánh đúc ất ơ ngoài kia cũng có thể có thân thủ tốt nhường này?

Tôi nghĩ nếu bản thân không chút tổn hại e là Thoát Hoan sẽ sinh nghi, bèn để mình chịu một kiếm sau lưng rồi giục Trát Lạt mau mau trở về xó bếp giả vờ không biết chuyện, còn tôi sẽ diễn vai đáng thương để lừa gạt anh ta.

Nhưng tôi đâu biết thật ra đây chỉ là một vở kịch của Thoát Hoan, anh ta chỉ đang muốn nhìn thấy Trát Lạt sẽ vì tôi mà không ngần ngại lộ tẩy.

Tôi cẩn thận suy nghĩ, cảm thấy mình lại đi làm chuyện ngu ngốc, trên đời này làm gì có nhiều lần trùng hợp như vậy, nếu có cũng chỉ là do người ta sắp đặt sẵn thôi.

Nếu như Thoát Hoan dễ dàng buông tha cho Trát Lạt thì đó lại chẳng phải con người của anh ta rồi, tôi đã từng nhiều lần nghe Trà Luân bâng quơ kể về những kẻ được Chân Kim thái tử cử đi hãm hại anh ta, hết thảy đều bị anh ta xử chết bằng rất nhiều cách tàn nhẫn.

Chưa từng có kẻ nào động chạm đến quyền uy của Thoát Hoan mà còn sống trở ra, huống hồ Trát Lạt trong mắt anh ta lại là kẻ vừa khiến em gái anh ta si mê, vừa có ý đồ với vợ chưa cưới của anh ta chứ?

Tôi nằm sấp trên giường cảm nhận vết thương rỉ máu, cũng cảm nhận được Trát Lạt bị giam trong ngục thất chắc phải chịu không ít khổ sở.

Thoát Hoan tự tay thay thuốc cho tôi, mỗi cử động đều hết mực ân cần dịu nhẹ, như sợ chạm mạnh một chút tôi sẽ như bóng nước tan đi.

Tôi thấy vết thương của mình lành lạnh không còn đau nhức nữa, nhưng khối óc và trái tim lại buốt lên từng cơn.

Thoát Hoan thở dài bên giường tôi, bất chợt nói:

"Em đừng nghĩ tới Trát Lạt nữa, nó chắc chắn là gian tế.

Tôi cứ nghĩ nó có mưu đồ với Trà Luân thôi, không ngờ lại ra tay với cả em nữa."

Tôi mơ màng nhìn lên bức mành treo ở đầu giường, bâng quơ hỏi:

"Vậy anh định làm gì người đó?"

Thoát Hoan vuốt tóc tôi, trìu mến trả lời:

"Em chỉ cần lo cho sức khỏe của mình thôi, những việc đó hãy giao cho tôi hết cả.

Những kẻ đã tổn thương em tôi đều xử lý hết rồi."

"Đó chẳng phải là thuộc hạ của anh sao?" – Tôi giật mình hỏi.

Thoát Hoan rít khẽ:

"Bất kể kẻ nào động tới một sợi tóc của em đều đáng chết.

Tôi cũng không dặn chúng làm hại em."

Tôi thấy rét lạnh trong lòng, liệu tôi có nên nói ra là do bản thân mình cố ý để bị thương vì Trát Lạt hay không, e là Thoát Hoan sẽ phanh thây xẻ thịt anh ta mất.

Ôi tôi đã hại thêm biết bao nhiêu mạng người chết vì mình, bây giờ lại thêm một Trát Lạt vô tội chỉ vì muốn cứu tôi.

Tôi nhìn vẻ mặt cưng chiều nhìn mình của Thoát Hoan, trong lòng bỗng thấy sợ hãi.

Tôi run rẩy nói:

"Thoát Hoan, tôi có điểm nào tốt để anh yêu đến mức mất cả lý trí như vậy?"

Thoát Hoan hôn lên trán tôi, lại thốt ra những lời chân thành:

"Từ khi gặp em tôi đã mất đi lý trí rồi.

Chính em là người mang đến cho tôi ánh sáng để vượt qua những tháng ngày tối tăm đó, tôi quyết không cho kẻ nào cướp đi nguồn ánh sáng duy nhất của cuộc đời tôi."

Một kẻ như Thoát Hoan lại có thể thốt ra được những lời chạm đến cõi lòng như vậy, nếu là một cô gái mới lớn hẳn sẽ bị những lời này quay như chong chóng mà thôi.

Còn tôi, tôi là một kẻ chằng chịt những vết thương trên người, với quá khứ bí ẩn mà sẽ chẳng bao giờ mở lòng với anh ta được.

"Thoát Hoan, tôi có thể bàn điều kiện với anh không?"

Thoát Hoan như nghe phải chuyện buồn cười nhất trên đời, anh ta bảo với tôi:

"Chúng ta sắp thành vợ chồng, vợ chồng sao lại có điều kiện?"

Tôi chống cằm nhìn anh ta, thản nhiên nói:

"Đừng nghĩ nếu như ngày ngày anh kìm kẹp tôi thì mãi mãi tôi cũng không chết được."

Thoát Hoan nhìn tôi trân trân, tôi vốn đợi một cơn thịnh nộ của anh ta nhưng đổi lại anh ta chỉ buồn bã nói:

"Lần đầu tiên tôi thấy hối hận vì đã dạy võ nghệ cho em."

Tôi bật cười:

"Dạy thì cũng đã dạy rồi, anh muốn đòi lại sao?

Gân tay gân chân này, nhiều lắm, anh cắt hết đi!"

Tôi cảm giác gân xanh trên trán của Thoát Hoan đều đã nổi lên hết, đưa anh ta từ vui sướng đến tức giận trên đời này chắc chỉ có mình tôi làm được.

Nắm giữ trái tim của Thoát Hoan tuy nghe cũng rất gì và này nọ, nhưng với tôi nó như nỗi bất hạnh mà tôi muốn thoát cũng không tài nào.

Thoát Hoan lần này thật sự chịu xuống nước, anh ta trầm giọng hỏi tôi:

"Em muốn gì?"

Tôi ra dấu cho Thoát Hoan đỡ mình ngồi dậy, Thoát Hoan ngồi lên giường để tôi ngồi tựa vào lòng mình.

Tôi đưa tay chạm vào mặt anh ta, đưa mắt nhìn anh ta mà thở dài:

"Không phải là điều kiện, xem như... tôi cầu xin anh.

Anh trả tự do cho Trát Lạt, tôi và anh ngay lập tức thành vợ chồng.

Tôi cũng chẳng cần địa vị gì cả, ngay khi vết thương lành lại hai chúng ta lạy trời đất xem như tôi đã gả cho anh.

Từ nay nguyện không hai lòng, tôi dùng tính mạng mình để đảm bảo."

Thoát Hoan cười lớn, nhưng tôi nhận ra giọng cười của anh ta chua chát làm sao.

Tôi nghĩ mình đã làm tổn thương anh ta rồi, nhưng biết làm sao hơn, ngay lúc này tôi chẳng tìm ra được cách nào để cứu Trát Lạt.

Thoát Hoan ôm tôi trong vòng tay, ánh mắt ánh lên vẻ si mê trước giờ chưa từng thay đổi, lại tự mỉa mai:

"Nếu không có hai từ Trát Lạt thì tôi đã bị những lời thâm tình của em làm cho cảm động."

"Anh thấy sao?" – Tôi hỏi.

"Tôi còn làm gì được ư?"

- Thoát Hoan thở hắt ra, bất đắc dĩ nói – "Nhưng em nên nhớ rằng, dù thế nào tôi cũng sẽ bất chấp tất cả để có được em, thậm chí là một thể xác không hồn."

Tôi phì cười, chấp niệm của anh ta sâu thật đấy, nhưng hiện tại tôi có khác gì một con rối không có linh hồn đâu.

"Với tôi Trát Lạt chỉ là một người bạn, anh ta đi rồi theo năm tháng tôi cũng sẽ dần quên.

Nhưng nếu như tôi biết anh ta chết hay gặp tổn hại gì thì chỉ e cả đời này tôi cũng sẽ không quên được người đó đã vì mình mà gặp chuyện, cũng sẽ không bao giờ tha thứ được cho anh.

Việc nặng việc nhẹ chắc là anh cũng hiểu được.

Đương nhiên đó chỉ là tôi tự tưởng tượng, còn vị trí của tôi trong lòng anh thế nào thì chỉ mình anh biết thôi."

Thoát Hoan là kẻ giữ lời nhưng tôi lại chẳng thể hoàn toàn tin tưởng anh ta, tôi muốn chính tay mình trả tự do cho Trát Lạt, cũng như ngày xưa chính tôi đưa anh ta vào chỗ hung hiểm này.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 55: Trát Lạt


Thoát Hoan dẫn tôi vào ngục thất, một mùi ẩm mốc tanh tưởi xộc lên, nơi đây vốn không phải chỗ dành cho người ở.

Thoát Hoan cho tôi vào trong, anh ta choàng cho tôi một lớp áo khoác rồi dịu dàng nói:

"Tôi ở đây đợi em, nhưng nhớ là đừng để cho gã giở trò gì trước mặt tôi nữa.

Tôi có nhiều cách khiến gã sống không bằng chết, đừng động vào giới hạn của tôi."

"Yên tâm, tôi chỉ muốn nói lời từ biệt."

Thoát Hoan gật đầu.

Tôi cúi người bước vào trong, từ xa xa đã có thể thấy bóng dáng của Trát Lạt bị treo bằng xích sắt trên vách tường.

Nhờ ánh đuốc leo lét có thể thấy mờ mờ những vết thương chằng chịt trên da thịt.

Trát Lạt tuy bị thương đến nhận không ra hình thù nhưng tôi biết đó chỉ là những vết thương ngoài da chứ không tổn hại gì đến gốc rễ, chỉ cần yên ổn dùng thuốc qua mười bữa nửa tháng sẽ có thể khôi phục phần nào.

Về việc đưa anh ta ra khỏi Đại Đô đương nhiên tôi cũng đã nhờ tới Trà Luân.

Tuy Trà Luân là em ruột của Thoát Hoan nhưng cô ấy hiện giờ là người tôi có thể tin tưởng nhất, bởi hơn ai hết Trà Luân là người mong Trát Lạt được sống trên thế giới này.

Thêm nữa, tôi tin tưởng khả năng của Trà Luân.

Tôi biết Trát Lạt vẫn nghe được tôi, bèn mở lời:

"Anh là đồng bào với tôi đúng không?"

Trát Lạt nghe tiếng tôi liền mở mắt, giống như đã đợi tôi rất lâu rồi:

"Tôi xin lỗi!"

"Vì cái gì?" – Tôi thắc mắc.

Tôi không biết anh ta muốn xin lỗi tôi cái gì, nếu như xét về mức độ ưu tiên thì tôi mới phải là người nên xin lỗi anh ta trước.

Nếu như tôi không gặp gỡ anh ta ở Đại Đô thì anh ta cũng không rơi vào bước đường này.

Trát Lạt gắng gượng ngẩng mặt lên nhìn tôi, đáp:

"Vì không cứu được em trở về!"

Tôi mở xích sắt cho anh ta, cười nói:

"Không sao, sau này anh đừng trở lại đây nữa."

Trát Lạt giống như bất ngờ vì bản thân được giải thoát, bất an hỏi:

"Tại sao Thoát Hoan lại thả tôi đi?

Không, tôi không đi, tôi phải đưa em trở về.

Thoát Hoan là kẻ dối trá, em không phải người Nguyên triều, em là..."

Tôi cắt lời anh ta:

"Không quan trọng nữa, tôi sắp gả cho Thoát Hoan, sắp làm vợ anh ta rồi.

Tôi không cần biết quá khứ ngày xưa nữa, hãy để cho tôi được nhẹ lòng."

Trát Lạt xụi lơ trên mặt đất.

Tôi nhìn bả vai anh ta run rẩy sau lớp áo rách tươm, trong lòng không nén nổi chua xót.

Tôi cởi áo khoác trên người choàng cho anh ta, đây cũng là việc cuối cùng mà tôi có thể làm cho Trát Lạt.

Chỉ mong anh ta sau này hãy quên tôi đi, chính tôi cũng sẽ quên đi anh ta và cả bản thân mình.

Trát Lạt ôm lấy bả vai tôi, nước mắt rơi ra từng trận khiến tôi cũng mủi lòng.

Người đàn ông một khi đã khóc lên thì xem ra còn đau khổ hơn cả chết.

Anh ta nắm bả vai tôi phát đau, vết thương sau lưng như rỉ máu.

Trát Lạt vẫn nghẹn ngào:

"Tôi biết rồi, em vì cứu tôi nên đồng ý lấy hắn đúng không?"

Tôi nắm lấy tay Trát Lạt, cười bảo:

"Không, dù không có anh thì chuyện này sớm muộn cũng xảy ra thôi, trừ khi anh cứu được tôi ra khỏi đây, không thì kết quả vẫn như vậy.

Nhưng đi được rồi thì thế nào, anh ta là hoàng tử của Nguyên triều, thế lực trải rộng khắp chân trời góc bể, tôi và anh sẽ náu thân ở đâu đây?

Huống hồ Tử Cấm thành bảy lớp cửa giăng, vào thì dễ ra thì khó.

Tôi chỉ có hai kết cục, một là sinh con đẻ cái cho anh ta, hai là chết, anh muốn tôi rơi vào kết cục nào?"

Tôi sửa lại chiếc áo choàng đã rơi khỏi vai Trát Lạt, dịu giọng nói:

"Ngược lại tôi phải cảm ơn anh đã có lòng đến cứu tôi, cảm ơn anh cho tôi thấy lại nắng ấm ở Đại Đô này."

Tôi bước ra khỏi nhà giam âm u, cùng Thoát Hoan đứng một góc bên tường thành nhìn Trà Luân đánh xe đưa Trát Lạt đi mất, trong lòng cũng thở phào.

Thoát Hoan choàng tay qua eo ép tôi vào người anh ta, tôi thấy đôi mắt u buồn của Trát Lạt như mất đi sự sống.

Tên Thoát Hoan này cũng có lúc giống trẻ con thật.

"Em đã vừa ý chưa?" – Thoát Hoan nhìn tôi trìu mến.

Tôi bước nhanh quay trở vào Cấm Thành, vô cùng thản nhiên:

"Về thôi, anh đã chọn được ngày chưa thế?"

"Không gấp, không gấp!"

Thoát Hoan nhanh chân bước theo tôi, cười tươi như ánh mặt trời, giống như đơn thuần chỉ là một chàng trai mới biết yêu vậy.

Một người nhiệt huyết như thế tại sao tôi lại không rung động được nhỉ?

Dù anh ta thỉnh thoảng có chút ngang tàng, nhưng kèm theo đó lại là sự nuông chiều yêu thương của một trái tim ấm nóng.

Tôi cảm giác cuộc đời này đối với Thoát Hoan quá mức tàn nhẫn.

Lúc ấu thơ anh ta lớn lên trong sự lạnh nhạt của phụ hãn mình, trưởng thành thì bị anh ruột mình hãm hại hết lần này tới lần khác, cuối cùng yêu tôi nhưng con đường tình yêu này lại quá mức trắc trở gian nan.

Đỉnh điểm là hôm nay tôi đổ bệnh, sau khi ngự y đi khỏi tôi lại bắt gặp Thoát Hoan suy sụp đến mức đứng ngoài phòng liên tục đấm vào cột đình, máu từ bàn tay anh ta nhỏ xuống nền đất thấm thành một vũng nhỏ.

Tôi không hiểu bọn họ nói với nhau những gì, nhưng từ biểu hiện của họ có thể đoán được có lẽ bản thân đã như ngọn đèn sắp tắt.

Đại Đô danh y nhiều như sao trên trời, nếu như Thoát Hoan đã suy sụp như thế thì có lẽ bản thân tôi cũng không còn hi vọng nữa.

Cũng tốt, chết là hết, cùng lắm thì ôm ký ức không rõ ràng xuống suối vàng thôi.

Tôi kéo Thoát Hoan vào phòng băng bó cho anh ta, Thoát Hoan nhìn tôi giống như muốn lột từng lớp da trên mặt tôi vậy.

Tôi nhìn đôi mắt nâu của anh ta trong buổi chiều tà, ráng chiều màu đỏ ối chiếu lên từng viên ngói một màu rực rỡ, ngoài kia, tiếng chim sẻ ríu rít gọi bầy.

"Linh Lan của tôi, ông trời lại muốn tôi lựa chọn nữa rồi!"

Thoát Hoan cười khổ, bỗng nhiên anh ta tựa đầu vào vai tôi, đôi mắt nhắm lại như mệt mỏi đến mức không muốn mở mắt dậy nữa.

Lát sau tôi lại nghe anh ta thủ thỉ bên tai mình:

"Chúng ta kết thành vợ chồng, tôi không chờ được nữa, tôi sợ một ngày em sẽ nhớ ra mọi chuyện."

"Trong quá khứ tôi ghét anh lắm sao?" – Tôi hỏi.

Thoát Hoan ôm chặt tôi, đáp:

"Không, chúng ta từng rất thương yêu nhau."

"Vậy sao anh lại sợ?"

Thoát Hoan không nói, tôi cũng thầm hiểu cuộc đời này có rất nhiều chuyện khó giãi bày.

Ngày đám cưới tôi mặc Nguyên phục màu đỏ cùng mũ đội đầu, trong phủ cũng không bày trí gì nhiều, chỉ giăng đèn kết hoa trong phòng của anh ta.

Chúng tôi chẳng mời ai, giống như thật sự chỉ là ngày cưới của hai người vậy.

Tôi và Thoát Hoan uống rượu, anh ta lại trao cho tôi một chiếc khăn trắng có gói lá trà và đường mật, nghe nói là tập tục truyền thống của người Mông Cổ, ngụ ý cho hạnh phúc ngọt ngào.

Tôi cầm lấy chiếc khăn, nhưng cơn choáng váng đã làm tôi đánh rơi nó xuống đất, xem ra thì tôi cũng không cầm cự nổi đến lúc cùng anh ta động phòng.

Tôi nghe tiếng Thoát Hoan thét lên bên tai, rồi lại nghe giọng anh ta tỉ tê bảo:

"Mong rằng sau khi em nhớ lại tất cả, đừng quên lời hứa của em với tôi!

Tôi chập chờn trong giấc ngủ, những thanh âm xa lạ cứ nối tiếp nhau vang bên tai, thi thoảng là tiếng tranh cãi của Thoát Hoan và Trà Luân cứ dây dưa mãi không dứt.

Cũng có lúc Thoát Hoan ngồi bên cạnh tôi, hôn khắp khuôn mặt tôi, vuốt tóc tôi như nhiều lần anh ta hay làm rồi nghẹn ngào nói:

"Tại sao tôi đã làm đến như vậy rồi mà ông trời cũng không thể ban em cho tôi?"

Đôi lúc tôi cũng thương cảm cho Thoát Hoan, dù sao cũng từng thề nguyền sống chết bên nhau nhưng chỉ vì những âm mưu toan tính mà cuối cùng phải bỏ lỡ.

Trong chuyện này nếu suy nghĩ lại thì chẳng thể trách anh ta được, tất cả đều phải quy cho ý trời.

Tôi nằm mơ màng suốt ba ngày liền, Thoát Hoan đều ở bên cạnh tôi mọi lúc.

Đôi lúc tôi tự hỏi nếu như trong lòng không chứa một người khác, thì có khả năng tôi sẽ yêu anh ta hay không?
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 56: Hai Tầng Ký Ức


Mãi sau này tôi mới hiểu rõ nguyên nhân, hóa ra loại độc mà khi trước Thanh Vân dùng ở Đại Việt là thứ mà tôi đã trúng đi trúng lại rất nhiều lần, sau đó việc bị nhiễm khí lạnh khi bị rơi xuống hồ cộng với vết đao trên lưng giống như một mảnh ghép cuối cùng làm chất độc đó trở nên chí mạng.

Khi ấy, Thoát Hoan phải đứng giữa hai sự lựa chọn.

Một là để tôi chết dần chết mòn trong quên lãng, hai là dùng thuốc giải, đồng nghĩa với việc tôi sẽ nhớ lại tất cả mọi thứ, ngay cả những chuyện từ trước khi gặp anh ta.

Cũng may Thoát Hoan đã chọn cách thứ hai.

Dù sao chuyện gì cũng có nhân quả, và việc tôi gặp Trần Khâm bây giờ âu cũng là do duyên số mà thôi.

Tuệ Trung Thượng Sĩ đặt cho tôi cái tên Tĩnh, có lẽ nhìn thấy tôi giống con gái của Hưng Đạo Vương ngày xưa, nhưng tôi không biết ngài ấy chỉ vô tình đặt hay thật sự đã nhìn ra tôi đúng là Tĩnh rồi.

Thượng Sĩ có ánh mắt khác với người thường và bây giờ tôi mới được lĩnh ngộ điều đó.

Tôi đúng thực là Trần Thị Tĩnh, con gái út của Hưng Đạo vương phủ Vạn Kiếp, ngày xưa cũng đúng là từng có ước hẹn với Trần Khâm và được hai nhà tác thành để cùng nhau giữ mối nghiệp lớn.

Có điều tôi không ngờ được, trải qua bao nhiêu chuyện, Trần Khâm là người đầu tiên và chính anh lại là người cuối cùng ở bên tôi trên thế gian lắm muộn phiền này.

Vào năm tôi lên tám, có một đám người Nguyên tập kích phủ Hưng Đạo hòng trả thù về cuộc chiến bại của chúng, cầm đầu là Thoát Hoan chỉ mới mười ba tuổi.

Thật ra trong trận chiến ấy cha tôi cũng chẳng phải nhân vật chủ chốt gì, nhưng có lẽ do Thoát Hoan được cử sang làm tình báo lúc thế lực tại Vạn Kiếp chưa lớn mạnh nên anh ta muốn chiếm chút lợi nhỏ và thuận tiện nắm lấy thế chủ động ở vùng này.

Nhưng cuối cùng cuộc bạo loạn thất bại và anh ta chỉ bắt được một chiến lợi phẩm là tôi, bởi khi ấy tôi đã hi sinh thân mình để cứu chị Trinh khỏi cơn hung hiểm.

Theo tôi suy đoán, có lẽ Thoát Hoan bắt tôi vì muốn rèn ra một thanh kiếm sắc bén để quay lại vương phủ làm nội gián cho anh ta, về việc này Thoát Hoan quả thật có mắt nhìn, bởi Hưng Đạo vương hiện đã là một trong những người nắm giữ vận mệnh của đất nước.

Thoát Hoan cho tôi uống thứ thuốc từ Hòa Thảo và lá cây Mao Lương làm tôi mất đi toàn bộ ký ức, nhưng đến lúc đưa tôi về thì ngoài dự đoán lại bị những kẻ tay chân của Thái tử Chân Kim trà trộn ở Đại Việt mai phục.

Thế lực của Thoát Hoan đã bị tổn hao nghiêm trọng trong trận chiến tại phủ đệ Vạn Kiếp, thế nên khi trúng kế độc của Chân Kim, toàn lực lượng của Thoát Hoan bị giết sạch, riêng anh ta thì ôm một thân trọng thương bỏ trốn khỏi căn cứ.

Tôi thất lạc khỏi Thoát Hoan và được nhà họ Tô ở Bí Giang cứu sống.

Đứa con gái ruột vừa chết bệnh của phu nhân họ Tô có gương mặt và độ tuổi hao hao giống tôi, thế nên tôi trở thành Tô Linh Lan – con gái của quan đại tư xã trấn Bí Giang này.

Đến đây phải cảm thán một câu, hóa ra cha mẹ nuôi lại là cha mẹ ruột, còn cha mẹ ruột mới là cha mẹ nuôi.

Mẹ nuôi của tôi sống cùng tôi được hai năm thì mất, tôi thân cô thế cô bị mẹ con của Tô Ngọc Lan hành hạ, còn cha nuôi tôi cũng bởi vì tôi không phải con gái ruột của ông ấy nên cũng mắt nhắm mắt mở cho qua.

Thoát Hoan mất rất nhiều năm để khôi phục thương thế, anh ta chiêu mộ người Việt làm tay sai do chẳng còn liên lạc và tin tưởng Nguyên triều được nữa.

Chắc là sau đấy đột nhiên nhớ ra trên đời này vẫn còn một con cờ mà anh ta đã dùng mạng cướp về hiện đang mất trí và lưu lạc ở Bí Giang nên mới lên đường tìm tôi.

Thoát Hoan phát hiện ra tôi ngay từ lần đầu gặp gỡ, anh ta tiếp cận tôi, truyền dạy võ nghệ cho tôi.

Nhưng chẳng hiểu thế nào anh ta lại yêu luôn con cờ đó.

Bao năm nấn ná bên cạnh tôi, Thoát Hoan đánh đông dẹp tây trừ khử đi hết thế lực của Thái tử Chân Kim luôn mở mắt trừng trừng nhìn anh ta ở Đại Việt.

Sau khi cục diện ở đây đã ổn định, anh ta trở về Nguyên triều đoạt lại vị trí lẽ ra từ đầu là của mình.

Chính tôi đã ở bên cạnh cho Thoát Hoan động lực trong những tháng ngày tăm tối đó, và tôi biết Thoát Hoan một mực muốn trở về cũng là để dọn đường cho một ngày nào đó tôi quang minh chính đại cùng anh ta trở về Nguyên triều bước lên đỉnh vinh quang.

Thoát Hoan tính toán kỹ lưỡng là thế nhưng rốt cuộc lại bại bởi một nhân vật nho nhỏ như Tô Ngọc Lan, và người tác động trực tiếp đến việc này lại là quan gia Đại Việt.

Mặc dù tôi chỉ là con nuôi nhưng Tô đại tư xã chưa từng công bố ra ngoài, vì thế trên danh nghĩa tôi vẫn là con dòng chính nhà họ Tô, và dù việc chỉ vô tình chọn trúng tôi vào cung của Trần Khâm đã khiến cuộc đời tôi bước sang một trang mới.

Lúc bấy giờ Tô Ngọc Lan biết tôi đã suy sụp đến mất đi lý trí, chị ta cũng biết tôi có mối quan hệ mờ ám với một kẻ giang hồ không tên tuổi là Sở Quân, nên đã loang tin gã là một tên sơn tặc trên núi Yên Tử.

Thoát Hoan sai ở chỗ chưa từng nói với tôi về thân thế thực sự của anh ta, nên tôi chỉ vừa nghe phong thanh tin đó liền tin sái cổ vội vàng thu xếp bỏ trốn.

Rốt cuộc tôi mắc bẫy của Tô Ngọc Lan, bị một đám sát thủ chị ta thuê đuổi giết đến rơi xuống núi.

Nhờ mớ võ nghệ mà anh ta đã dạy tôi dạo ấy, tôi lăn vài vòng xuống núi nhưng chỉ mất đi trí nhớ do xui xẻo đập đầu vào gốc cây.

Sau đấy tôi theo dòng định mệnh bước vào phủ Vạn Kiếp sau mười năm thất lạc với những ký ức bị mất đi, giống như câu lá rụng về cội, con người ta luôn tự tìm về nơi cội nguồn gốc rễ của mình.

Trước ngày Thoát Hoan bỏ tôi trở về Nguyên triều, anh ta khắc lên vai tôi đóa hoa linh lan, thề nguyền với tôi về một tương lai tươi đẹp, lúc đó chắc anh ta không biết được ngày hôm ấy chính là ngày cuối cùng của cuộc tình mà anh ta đã hết lòng xây đắp.

Giờ đây khi đã hiểu ra tất cả mọi chuyện tôi cũng không còn trách anh ta nữa, chỉ cảm thấy tất cả do số mệnh quá éo le mà thôi.

Chính anh ta là người cướp tôi khỏi Trần Khâm và cuối cùng cũng chính Trần Khâm tự tay đoạt lại.

Đóa hoa linh lan ngày đó anh ta để lại trên vai tôi, hiện giờ cũng chỉ còn là một vết sẹo mờ.

Lúc tôi tỉnh lại, trong đầu chỉ có duy nhất một ý nghĩ, hiện tại khi tôi muốn sống sót hơn bao giờ hết thì lấy gì để uy hiếp một kẻ điên cuồng như Thoát Hoan đây?

Thoát Hoan ngồi bên cạnh lau vòng lệ vòng quanh mắt của tôi, thấy tôi tỉnh lại thì mừng rỡ nói:

"Em tỉnh rồi!"

Tôi trân trối nhìn anh ta không đáp.

Mãi một lúc lâu Thoát Hoan mới phản ứng được, bỗng trở nên dè dặt hỏi:

"Em...

đã nhớ lại tất cả rồi ư?"

Tôi mỉm cười, đáp:

"Anh em các người tự biên tự diễn cũng lâu rồi đấy.

Vở kịch này cũng đến lúc hạ màn rồi đúng không Thanh Vân?

Không, lúc này phải gọi là Trà Luân công chúa."

Trà Luân đang nép sau lưng Thoát Hoan có chút chấn động rồi lại thở hắt ra giống như đã biết trước kết quả này.

Cô ta bước đến trước mặt tôi, cười nói:

"Đã lâu không gặp, chị Tuyên!"

Tôi bỏ qua ánh mắt của Trà Luân đang dừng trên người mình, hỏi:

"Sao anh lại tìm ra được tôi vậy?

Vốn dĩ kẻ đi sứ chỉ cần một mình Sài Thung, nhưng anh giống như biết trước được tôi ở Thăng Long mà cố tình đi tìm.

Tôi nhớ Thanh Vân chưa từng gặp qua tôi trước đây, ban đầu chính cô ta còn muốn giết hại tôi nữa?"

Thoát Hoan không có hứng thú với câu hỏi của tôi, anh ta nhắm mắt xoa mi tâm tựa hồ mỏi mệt.

Chốc sau mới miễn cưỡng đáp:

"Ở Đà Giang tôi đã phát hiện ra em rồi, theo dõi em suốt quãng đường nhưng không thể nào ra tay được cho tới khi em trở lại Thăng Long.

Tôi chắc chắn đó là em do em đã trở về phủ Tô lần ấy."

Tưởng tượng đến cảnh Thoát Hoan theo dõi tôi và Trần Khâm suốt quãng đường từ Đà Giang đến Thăng Long, tôi bất chợt rùng mình ớn lạnh.

Cả tôi và Trần Khâm khi ấy, lại không hề phát hiện con mắt sáng rực của anh ta.

"Cũng may tôi dừng tay kịp lúc."

Trà Luân cười nói với tôi như khi cả hai vẫn còn là chị em thân thiết ở hoàng cung Đại Việt, như lúc tôi mất trí cô ấy vẫn luôn bên cạnh chăm sóc bầu bạn với tôi.

Tôi cũng chẳng thể hiểu đâu mới là bộ mặt thật của cô ta, và trong những lúc mưu tính, có khi nào Trà Luân thật lòng đối xử?

Tôi quay mặt đi, mỏi mệt nói:

"Bao nhiêu đó là đủ rồi, các người để tôi thở đã."

Thoát Hoan lại thở dài quay đi, tôi nghe tiếng mở cửa và giọng nói của anh ta trong gió:

"Em nghỉ ngơi cho khỏe, hai ngày nữa ta lại tiếp tục đám cưới còn chưa thành."

Tôi bật cười không đáp, nỗi chua xót bỗng dâng lên tới cổ rồi nghẹn lại ở đó không nuốt xuống được.

Tôi đợi Thoát Hoan và Trà Luân đi xa một lúc lâu, lên tiếng:

"Ra đây đi, họ đã đi hết rồi."

Một bóng người áo đen từ trên xà nhà nhảy xuống, tôi nhìn khuôn mặt tiều tụy của anh, nước mắt uất nghẹn từ trong đáy lòng tuôn ra ào ạt.

Tôi có thể cứng rắn đối diện với Thoát Hoan, tôi có thể không đổi sắc mặt khi cận kề cái chết, nhưng ngay lúc này tôi lại không ngăn được mình yếu đuối.

Tôi muốn yếu đuối một lần với người thân thuộc mà tôi hết lòng thương yêu.

Tôi chẳng đợi người đó tiến về phía tôi, chính tôi đã lập tức chạy vào lòng người đó ôm thật chặt.

Tôi nấc nghẹn trong vòng tay anh, mãi một lúc lâu mới thốt được nên lời:

"Em nhớ ra rồi Quốc Tảng, anh là anh ruột của em!"

Vậy mà trong suốt những năm tháng ngày xưa, suýt chút nữa là chúng tôi đi vào con đường không thể cứu vãn.

Thật mừng vì tôi đã nhớ ra, đoạn tình cảm phớt qua như cơn gió xuân thổi nhẹ tà áo, cứ để nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng trong tâm khảm mỗi người.

Tôi và Quốc Tảng là anh em ruột, và anh ấy đã không ngần ngại hiểm nguy trùng trùng tìm đến Đại Đô để cứu tôi, ẩn nhẫn qua bao nhiêu tháng ngày gian khổ đen tối.

Quốc Tảng, tôi đã nợ anh ấy quá nhiều, nhiều đến mức không thể nào đong đếm được.

Quốc Tảng cứng đơ để tôi ôm, anh ấy nhìn tôi bằng ánh mắt hoang mang tột độ, có không cam tâm, có bất đắc dĩ cùng buồn rầu, giống như phát hiện ra những chấp niệm từ trước giờ của mình đều là vô nghĩa.

Nhưng hãy tin tôi, đây là kết cục tốt đẹp nhất cho cả hai chúng ta rồi.

Bỗng nhiên cửa phòng đổ ầm một tiếng, Thoát Hoan từ bên ngoài loạng choạng bước vào.

Anh ta cười, tiếng cười giữa đêm tịch mịch thê lương.

Rồi Thoát Hoan chỉ vào Quốc Tảng, gằn giọng:

"Khá khen cho Trát Lạt!

Không, giờ phải gọi mày là Trần Quốc Tảng mới phải.

Vậy mà tao lại không nhận ra kẻ năm đó đã phá hỏng kế hoạch của tao.

Hôm nay để tao bắt được coi như mày tận số!

Mau, mau giam nó vào thủy lao!

Vừa nói xong, một toán binh lính xông ngay vào phòng vây lấy Quốc Tảng.

Dù cho hai người bọn tôi võ nghệ không tệ, nhưng năng lực của hai kẻ vừa mới hồi phục có hạn, lại thêm lấy ít địch nhiều nên chỉ trong chốc lát đã bị Thoát Hoan chế trụ.

Tôi thấy Quốc Tảng lại bị đưa đi trước mắt mình một lần nữa, uất ức phun ra một ngụm máu tươi.

Sau đó tôi bị Thoát Hoan đánh ngất.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 57: Đoàn Tụ


Tôi chưa từng nhìn qua thủy lao, nhưng tôi biết nơi đó sẽ cực kỳ kinh khủng, bao nhiêu kẻ thù của Thoát Hoan đã chết dần chết mòn ở đó.

Quốc Tảng đã bị nhốt một đêm, nếu để đến khi nước ăn vào cơ thể, da thịt anh sẽ bị rửa ra mà chết.

Tôi bị Thoát Hoan giam lỏng trong phòng, hôm nay là ngày tôi và anh ta làm tiếp chuyện hôm nọ còn lỡ dở.

Trong lòng tôi nóng như lửa đốt, đang suy nghĩ phải tự sát bằng cách nào để anh ta tin tưởng.

Nhưng giống như Thoát Hoan quá hiểu con người tôi, anh ta biết khi đã nhớ ra tất cả quá khứ tôi sẽ chẳng thể nào dám tàn nhẫn ra tay với bản thân mình.

Đã quá giờ vẫn chưa thấy Thoát Hoan đến, trong lòng tôi trăn trở không yên.

Thoát Hoan gặp phải chuyện gì quan trọng tới mức quên mất đi tôi, có phải anh ta chịu không nổi nên đã ra tay giết Quốc Tảng?

Cánh cửa phòng hé mở, gió lạnh bên ngoài ùa vào, tôi giật thót đưa mắt nhìn thì thấy Trà Luân đã lách mình bước tới.

Ả không lời thừa thãi, vừa thấy tôi đã vội phân trần:

"Anh tôi bị thái tử giữ chân ở tiệc rượu rồi, chúng ta nhân lúc này gắp lửa bỏ tay người, tôi đưa chị đi."

"Làm sao tôi tin cô được?" – Tôi nghi hoặc hỏi.

Trà Luân kéo tay tôi:

"Ngoài tin tưởng tôi ra chị không còn lựa chọn khác."

Đúng là thế thật.

Tôi theo Trà Luân đi dọc hành lang, dọc đường giết đi không ít người canh gác và tránh đi không biết bao nhiêu là bẫy rập.

Lúc này tôi mới hoàn toàn tin tưởng Trà Luân thật sự muốn cứu mình.

Nước trong thuỷ lao đã cao tới cổ và đang không ngừng nhỏ xuống từ đỉnh đầu Quốc Tảng, cảnh tượng làm người ta không nỡ nhìn.

Tôi choáng váng nhìn Trà Luân cũng đang run rẩy mở cửa, chỉ sợ bọn tôi đến trễ thêm một đêm nữa là Quốc Tảng đã không giữ được mạng.

Tôi không biết Trà Luân làm cách nào để có thể lấy được số chìa khóa qua bao nhiêu cánh cửa, nhưng tôi biết một khi Thoát Hoan phát hiện ra thì dù có là em gái ruột đi chăng nữa cũng không biết anh ta sẽ xuống tay ra sao.

Đúng là khi yêu vào con người ta sẽ bất chấp, kể cả có phản bội đi những người ruột thịt.

Trà Luân mở được cửa ngục vội chặt đi xích sắt, rất cẩn thận tránh né cơ quan đỡ lấy Quốc Tảng lên khỏi thủy lao.

Nhìn anh mềm oặt nằm trong lòng Trà Luân, lòng tôi đau như ai xé, nhưng tôi biết mình không thể mềm yếu trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này.

Trà Luân lại đưa bọn tôi đến một mật đạo khác, lúc này cô ấy mới thở hắt ra, có phần không nỡ, nói:

"Đây là mật đạo anh tôi tạo ra để tránh bảy lớp cửa thành, tiện cho việc đối phó với thái tử.

Bảy bước phải bảy bước trái sẽ tránh được cạm bẫy, hãy cẩn thận."

Tôi nhíu mày:

"Vậy còn cô?"

"Tôi là em ruột của anh ấy, anh ấy không làm gì tôi đâu.

Lát nữa chị đi rồi tôi sẽ châm lửa đốt phủ này giá họa cho thái tử, trước mắt giấu được lúc nào hay lúc đó vậy.

Bên ngoài mật đạo tôi đã chuẩn bị sẵn một cỗ xe ngựa tốt, hãy nhớ đưa người trở về an toàn."

Trà Luân nói xong thì bước đến bên cạnh Quốc Tảng, cẩn trọng vuốt gương mặt anh, nghẹn ngào nói:

"Thì ra người tên Quốc Tảng, tại sao tôi không gặp người sớm hơn?"

Quốc Tảng chậm rãi mở mắt, lấy hết sức nói với Trà Luân hai tiếng "cảm ơn".

Trà Luân mỉm cười rơi nước mắt, có lẽ vui sướng, cũng có lẽ đau buồn khi phải chia xa với người mình yêu.

Cô ấy nói với Quốc Tảng:

"Đừng cảm ơn em, em mới phải là người xin lỗi chàng.

Sau này đất Việt trời Nguyên chỉ còn có thể gặp lại nhau ở hai đầu chiến tuyến, lúc đó đừng vì hôm nay em đã cứu chàng mà nương tay.

Nếu có vô tình gặp xác em trên sa trường, chàng hãy đắp cho em một mảnh áo, như vậy là đủ trả nợ ân tình rồi."

Tôi không biết Quốc Tảng cảm thấy thế nào khi nghe những lời đó, còn tôi bỗng thấy sống mũi cay cay.

Trà Luân nói xong thì đẩy tôi vào mật đạo, đôi mắt long lanh ngấn lệ của nàng lóe lên như ánh đuốc sáng rực giữa đêm không trăng.

Tôi đưa Quốc Tảng an toàn đi hết mật đạo, ngoái lại chỉ thấy rực lên màu lửa bao trùm Tử Cấm thành, tôi biết mình đã thoát khỏi đầm rồng hang hổ.

Hai năm rồi, ấy vậy mà tôi đã ở nơi này được hai năm, từng ngóc ngách phủ hoàng tử của Thoát Hoan tôi đều gần như quen thuộc.

Tôi nghĩ không phải do Trà Luân sợ Thoát Hoan trách tội, cô ấy sợ nếu như để Thoát Hoan sớm phát hiện ra tôi bỏ trốn, có lẽ tôi sẽ không rời khỏi được Đại Đô khi bên cạnh tôi vẫn còn một người đang trọng thương là Quốc Tảng.

Trà Luân tuyệt đối sẽ không cho phép điều đó xảy ra.

Bên ngoài đã có xe ngựa mà Trà Luân chuẩn bị sẵn, tôi theo trí nhớ của Quốc Tảng giục ngựa trở về Đại Việt, ròng rã suốt một tháng trời cuối cùng cũng đến được biên cương.

Qua khỏi biên cương Đại Việt, tôi cùng Quốc Tảng ngồi trên lưng ngựa phi nước đại trở về.

Tôi chợt nhớ lần đó khi anh ấy cứu tôi khỏi tay Khánh Dư cũng cưỡi chung một con ngựa, có điều khi ấy giữa chúng tôi không có thứ cảm xúc này.

Tôi nhìn sông núi nước Nam, bầu trời mùa thu cao vời vợi, ký ức của mười mấy năm nay như một dòng suối nhỏ len lỏi qua tâm trí.

Từ ngày đầu cùng cha vào Thăng Long rồi gặp gỡ Trần Khâm, cho đến buổi học với Tuệ Trung Thượng sĩ trong phủ đệ Vạn Kiếp, tất cả đều ở tại nước Nam mà đâm chồi.

Tôi và Quốc Tảng dừng chân ở trước phủ Hưng Đạo, ngay cả lính canh khi nhìn thấy hai người bọn tôi cũng đều xúc động nghẹn ngào.

Tôi ra dấu cho bọn họ im lặng, cùng với Quốc Tảng âm thầm trở về chốn cũ ngày xưa.

Quốc Tảng tuy đi sau nhưng để cứu được tôi cũng phải mất cả năm ròng nằm gai nếm mật, trông anh gầy hơn lúc còn ở Vạn Kiếp rất nhiều, nét mặt cũng in hằn nét phong trần rắn rỏi.

Chúng tôi đi dọc hành lang vào căn bếp, từ cửa sổ ngó vào thấy chị An Hoa đang lúi húi nấu cơm, chị Anh Nguyên dọn bát còn mẹ thì ngồi têm trầu trên sập gỗ.

Ánh nắng chiều theo kẽ lá len qua khung cửa sổ hắt vào bên trong, bóng lá theo gió đung đưa như một điệu reo vui hắt lên vách.

Đúng là dù cho có đi xa bao lâu đi chăng nữa, trở về nhà mẹ vào bữa cơm chiều thì tất cả hờn tủi muộn phiền cũng đều tan biến như bọt nước.

Tôi bất giác quay sang nhìn Quốc Tảng thì thấy ánh mắt anh rơi lên người chị An Hoa.

Tôi ghé tai anh, nhỏ giọng nói:

"Đi khắp năm châu bốn bể, trở về nhà nép bên khung cửa nhìn người vợ nhỏ bé lụi cụi trong căn bếp, mới thấy cả thiên hạ như thâu vào bóng dáng một người.

Anh ba, anh đang cảm thấy vậy đúng không?"

Quốc Tảng giật mình quay sang nhìn tôi, ánh mắt hoang mang trên gương mặt ửng hồng.

Tôi che miệng cười, có lẽ anh ta giật mình vì không hiểu sao tôi lại nói trúng tim đen của anh ta.

Nhân lúc Quốc Tảng đang thẩn thờ, tôi nói:

"Cũng hơn mười năm rồi, anh cũng nên cho bản thân mình một cơ hội."

Quốc Tảng thở dài:

"Tôi chưa từng nghĩ qua sẽ đối với em ấy như thế nào."

Đang lời qua tiếng lại thì trong căn bếp "xoảng" một tiếng, tôi quay mặt sang thì thấy chị An Hoa đứng chết trân nhìn qua chỗ bọn tôi, tay chị để lên miệng che đi tiếng nấc nghẹn ngào, nước mắt thì theo dòng tuôn ra hối hả.

Qua mấy hồi gặp gỡ rồi ly biệt, nước mắt nếu hứng được chắc cũng ra một xô đầy.

"Sao thế?"

Tiếng chị Anh Nguyên bên kia vọng qua sao nghe thân thuộc đến thế, giống như vừa mới hôm qua tôi còn cùng chị tập võ bên đình.

Tôi ghé mắt qua khung cửa sổ, cười nói:

"Vừa đúng lúc đói bụng, muốn cùng mọi người ăn một bữa cơm."

Tiếng cửa "xoạch" một cái mở ra, mẹ tôi đã nhanh chân bước tới ôm lấy tôi vào lòng, bà nói trong nước mắt:

"Ôi con của mẹ đã về đấy ư?

Là thật hay mẹ đang mơ vậy?"

Chị Anh Nguyên đứng bên cạnh giả vờ ganh tỵ nói, nhưng chất giọng lại không giấu nỗi sự vui mừng:

"Mẹ ơi mẹ thiên vị quá, anh ba cũng đã về rồi đây này!"

"Tốt quá, cha con cũng sắp về, ông ấy cũng đợi ngày này lâu lắm."

Buổi tối ăn bữa cơm đoàn viên, tôi kể lại cho mọi người nghe về thân phận thật của mình, ai cũng sụt sùi cảm động.

Hai năm qua ở Nguyên triều tuy là ở chốn hung hiểm, nhưng cũng xem như trong họa được phúc, đã không có gì tổn hại lại có thể tìm ra thân phận thật của mình.

Tuy trải qua đau đớn gian khổ, nhưng có sá gì đâu.

Khung cảnh này dù có là giấc mơ tôi cũng không dám mơ ước, một mái ấm gia đình của riêng mình, ai ai cũng yêu thương nhau bằng cả tấm lòng, và yêu thương tôi hết mực.

Tôi trở về phòng cùng với Anh Nguyên và An Hoa, phủ đệ tuy thiếu đi đám môn khách ngày xưa nhưng lại có thêm một sinh linh bé nhỏ.

Thuở xưa chị Quỳnh Trân mang thai cùng lúc với tôi, giờ cũng sinh ra một thằng con trai bụ bẫm rồi.

Vậy là tôi dẹp mộng làm thông gia với anh Quốc Nghiễn, bèn liếc Quốc Tảng, nửa đùa nửa thật nói:

"Đợi anh và chị An Hoa sinh con gái nhé?"

Chị An Hoa mặt đỏ ửng, chị Anh Nguyên thì lại trách tôi:

"Thế còn chị thì sao?

Cũng không thể cho chị ra rìa được."

"Chị thì e là phải đợi lâu lắm, đợi anh Ngũ Lão gây dựng cơ nghiệp xong thì chị đã chống gậy được rồi."

Tôi thấy chị Anh Nguyên thở dài, trong lòng bèn cười trộm.

Cũng không ngờ trong đám người tuổi trẻ nhiệt huyết này tôi lại là kẻ đầu tiên theo chồng từ bỏ cuộc chơi.

Ngày thứ hai ở phủ vương, buổi tối có một thân ảnh không quản gió sương dừng ngựa trước cửa nhà tôi, tà áo choàng bay theo bước chân nhanh như chạy.

Chị Anh Nguyên ghé tai tôi nói:

"Đấy đấy, có kẻ không đợi được đến bắt vợ rồi."

Tôi nhéo vào eo chị ta, từng tuổi này rồi vẫn còn thích đùa được.

Trần Khâm đi đến sân viện nhà tôi, dọc đường người người quỳ xuống gọi quan gia anh ta đều phất tay miễn lễ.

Trần Khâm gấp gáp đến độ không thèm quan tâm đến những ai, nhất thời tiếng tung hô như một chuỗi âm thanh dài bất tận không có điểm dừng.

Tôi bước ra sân, trước mặt là chàng trai đẹp như tranh vẽ, sắc thái như vàng, tà áo choàng tung bay trong gió.

Tôi đang định cúi người, chàng trai bỗng nâng tôi lên, ôm trọn cả người tôi vào vòng tay rộng lớn, trân quý như ôm cả giang sơn vào lòng mình.

"Em để tôi đợi lâu quá."
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 58: Là Người Quen!


Trước mắt tôi là gương mặt quen thuộc, quanh mũi tôi là mùi hương quen thuộc, bên tai tôi cũng là giọng nói quen thuộc, quen thuộc đến độ nhiều lúc trong giấc ngủ chập chờn vẫn còn mơ tới.

Vậy mà hôm nay người đã ở trước mặt, tôi như một người phàm dạo chơi trước cửa tiên, nửa thực nửa mơ không ngừng thổn thức.

"Em mừng vì chàng hôm nay vẫn đứng đây chờ em, và không quên nhiệm vụ của mình với đất nước."

Kể từ lúc nghe tin Quốc Tảng đưa tôi trở về Trần Khâm đã cưỡi ngựa ngày đêm không nghỉ.

Tôi đã nghe cha tôi kể lại ngày tôi bị Thoát Hoan cướp đi, Trần Khâm dù là một vị vua cũng không nén nổi cảm xúc điên dại.

Cha tôi trách:

"Là một vị vua không phải chuyện gì cũng có thể làm theo ý mình.

Nay xã tắc đang lâm nguy, cho dù nó có chết nơi đất khách quê người thì kẻ làm chồng làm cha như chúng ta phải biết biến đau thương thành sức mạnh chứ không phải ngồi đó bi lụy khóc lóc."

Tôi ngồi tựa vào vai Trần Khâm, bật cười:

"Lúc đó chàng nói sao?"

Trần Khâm tỉnh bơ đáp:

"Tôi nói, "vương không phải cha ruột em ấy nhưng tôi là chồng em ấy"!"

Tôi càng cười lớn hơn, anh ta là kẻ đầu tiên dám chọc tới cha vợ đấy.

Nhưng cuối cùng Trần Khâm cũng phải thỏa hiệp trước sự đoàn kết của quần thần, cũng may Trần Khâm là kẻ biết nghĩ cho đại cuộc.

Chuyện sau đó đến tai Quốc Tảng, anh ta vượt cung cấm tìm đến Trần Khâm, tự tin nói rằng nhất định sẽ đưa được tôi trở về.

Vậy rồi anh ta cứ thế đi suốt hơn một năm.

Trong thời gian qua Trần Khâm không ngừng củng cố binh lực đất nước, lại nghiêm khắc truyền dạy tất cả cho Thái tôn.

Tôi không biết anh ta muốn làm gì nhưng cũng may hôm nay tôi đã trở về được, không phải lo vì mình mà xảy ra những điều không đáng có nữa.

Tôi xoay người nằm lên ngực Trần Khâm, mặt đối mặt với anh ta, thở dài:

"Chàng nói bậy rồi, đó thật sự là cha ruột em!"

Trần Khâm cau mày nhìn tôi, lặng người một lát mới hỏi:

"Vậy có nhỏ máu nghiệm thân chưa?"

"Vớ vẩn!" – Tôi xì một tiếng đáp.

Trần Khâm không nói, tôi lại hỏi:

"Vậy chàng yêu Tĩnh hay là Linh Lan hơn?"

Anh ta đáp:

"Cả hai!"

"Ơ thế thì chàng là kẻ một dạ hai lòng à?"

Anh ta nắm đôi gò má của tôi véo mạnh, hừ một tiếng:

"Vậy em yêu Trần Khâm hay Thanh Phúc?"

Tôi: "..."

Trần Khâm dù ngày xưa hay bây giờ vẫn luôn là một kẻ hết sức ranh ma, tuy nói tính tình tôi hoạt bát hiếu động nhưng chưa hề chiếm được phần thắng nào ở trước mặt anh ấy.

Đừng nói là tôi, ngay cả các anh tôi đều bị anh ta bày mưu tính kế hết ráo, bởi thế anh tư Quốc Hiện có vẻ rất thù.

Sở dĩ tôi về hôm qua mà đến tối nay Trần Khâm mới có mặt ở phủ đệ là do tên Quốc Hiện đứng giữa bày mưu tính kế.

Thuở nhỏ có lần Trần Khâm tặng tôi chiếc áo ấm, dạo đó tôi theo cha đi tận vùng Thiên Quan, nên nửa tháng sau mới trở về.

Ai ngờ vừa mới bước vào thì các anh tôi kẻ bó chân người ôm tay đủ cả.

Tôi bị bốn người của anh mình lạnh nhạt ngót nghét một tuần thì chị Trinh mới chịu kể với tôi, chị ta cũng thù lung lắm.

Hoá ra trong lúc tôi không có nhà thì Trần Khâm đem áo đến quý phủ, hai ngày sau các anh tôi lên kinh đi học thì quăng cái áo trước mặt Trần Khâm, tiện thể quăng một bức thư mà theo lời Quốc Hiện nói là thư xin lỗi.

Đên bây giờ tôi vẫn không thể quên được bài thơ con cóc đó, bất giác đọc:

"Cái áo trông khá đẹp,

Nhưng chẳng hợp với ta,

Chắc là hàng giảm giá,

Chàng nên mang về nhà."

Trần Khâm đang uống nước, nghe tôi đọc xong thì không kìm được bị sặc một trận.

Tôi ôm bụng cười ha hả, lại hỏi:

"Thế rốt cuộc tại sao chàng biết bọn họ lừa?"

Trần Khâm nhếch môi đáp:

"Vì chữ em rất xấu!"

Tôi bĩu môi nhìn anh ta, nhưng lại bàng hoàng nhận ra hình như mình đã hiểu rõ vấn đề rồi.

"Thì ra lần đó chàng bắt em chép thơ là để..."

Trần Khâm lúc này mới thở dài nói:

"Ừm, cái nét chữ như gà bới đó của em chẳng lẫn đi đâu được, nhưng tôi chỉ ngờ ngợ thôi.

Sau đó tôi cố tình đưa em về phủ Tô, ai ngờ được dịp ăn may thật.

Nhưng kể cả như vậy, trừ khi là em tự mình nhớ ra."

Xem ra Trần Khâm cũng không bất ngờ lắm với kết quả này.

Thật ra lần đó thương tích của đám anh trai cũng không phải do Trần Khâm ra tay, anh ta chỉ bày kế để đám người này chọc giận thầy giáo, cụ thể là mấy cái lá mắc mèo.

Thuở đó đám anh trai nhà tôi trừ Quốc Tảng ra còn lại đều nghịch như quỷ, rốt cuộc tội lỗi đổ lên đầu, còn Trần Khâm chỉ bàng quan ngồi nhìn long hổ đấu.

Thầy giáo không quản đường sá xa xôi đến Vạn Kiếp khởi binh vấn tội, đám anh trai của tôi trước sức mạnh áp đảo bị mẹ tôi đánh đập một trận ra trò.

Muốn kêu oan ư, trước tiên sửa lại thái độ học hành trước đi đã.

Vì thế kể cả anh ba vô tội cũng bị vạ lây, mông bị ăn mấy roi rướm máu.

Chị Trinh là người trực tiếp chứng kiến nỗi bất công như trời biển đó, đương nhiên cũng giận rất lung.

Ký ức ùa về, tôi bỗng cảm thấy trên đời không còn niềm vui gì có thể sánh hơn được nữa.

Trước đây ký ức tôi chỉ là một mảng trắng xoá, bây giờ chìm đắm trong sắc màu của tuổi trẻ được pha trộn bởi biết bao nhiêu người thân, mà Trần Khâm, anh ta là thứ màu sắc rực rỡ nhất.

Trần Khâm ở vương phủ đến ngày thứ ba thì phải trở về Thăng Long lo việc nước.

Tôi bỗng trộm nghĩ ngày xưa lúc lấy nhau cũng chưa từng có ngày lại mặt đàng hoàng, hôm nay xem như bù đắp vậy.

Đứa con rể quý như anh ta không được lòng nhà vợ cho lắm, liền tranh thủ té đi càng sớm càng tốt.

Tôi nhìn những ánh mắt như lang hổ rình mồi của đám anh trai mình, cũng thấy thương cho kẻ thân cô thế cô như Trần Khâm.

Cũng may anh ta là vua một nước, không đến nỗi phải chịu thiệt thòi như Phạm Ngũ Lão ngày xưa, trộm nghĩ làm rể nhà này đúng là không dễ dàng.

Nghĩ một hồi lại thương cho chị Trinh, nếu như biết tôi sẽ sống sót quay trở về thì phải chăng chị Trinh đã không phải vì tôi mà trả món nợ ân tình đó.

Mặc dù chị áy náy bởi tôi vì cứu chị mà gặp họa vong thân, nhưng tôi cũng không cần chị dùng hạnh phúc đời mình để đánh đổi.

Hai người chúng tôi ngồi thuyền xuôi dòng sông Đuống về kinh, đến bến Bình Than thì bâng quơ nghe Trần Khâm kể về cuộc hội nghị năm đó có Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản tuổi mới mười lăm mười sáu nhưng lại muốn dự họp cùng các bô lão.

Anh ta thấy Quốc Toản tuổi còn trẻ nên không cho vào chầu, nhưng trọng vì tuổi trẻ mà biết yêu dân yêu nước nên ban cho quả cam quý, ấy vậy mà Quốc Toản bóp nát quả cam lúc nào không hay.

Tôi nói:

"Hoài Văn Hầu tuy còn trẻ nhưng chí lớn, biết đâu đưa ra được ý hay thì sao?"

Trần Khâm cười bảo tôi:

"Tuy vậy nhưng khoảng cách tuổi tác là một cái gì đó rất ràng buộc, tôi có thể chấp nhận nhưng các bô lão thì làm sao chấp nhận được một đứa trẻ ranh đứng ngang hàng với mình?"

Tôi thiết nghĩ, ngày xưa Thoát Hoan cũng là kẻ mười ba tuổi xông vào tập kích phủ Hưng Đạo đấy mà.

Tôi ngồi trên mui thuyền đón gió Nam, từng chút kể cho Trần Khâm về những chuyện mình đã trải qua trong hai năm qua, đương nhiên có lược bỏ đi ba ngàn chữ nhưng Trần Khâm vẫn cau chặt đôi mày.

Dù sao đã qua cơn bỉ cực đến hồi thái lai, những chuyện đó tôi cũng không còn canh cánh nữa.

À, nhưng anh ta thì lại rất canh cánh.

Bỗng dưng sóng nổi lớn một cái, tôi mất thăng bằng ngã nhào vào lòng Trần Khâm.

Anh ta bỗng cười gian, mỉa mai nhìn tôi nói:

"Có gì về cung rồi tính, giữa thanh thiên bạch nhật mà em gấp gáp quá thể."

Tôi nhíu mày, trong lòng liền dằn xuống ý niệm mưu sát vua giữa chốn thưa người này.

Hóa ra phía xa xa có chiếc thuyền lớn chở than củi đi ngang, thuyền đi nhanh nên tạo ra sóng lớn.

Ôi kẻ này lại dám vượt mặt thuyền vua à?

Tôi liếc Trần Khâm, anh ta cũng ngầm hiểu ý tôi bèn cho quân hầu đi nhanh hết tốc lực.

Tôi ôm bụng cười, trộm nghĩ vị quan gia này cũng thật biết chơi.

Nhưng đúng là núi này cao có núi khác cao hơn, chiếc thuyền trông qua có vẻ đẹp mắt của bọn tôi lại không địch nỗi với thuyền chở than của kẻ đó.

Tôi nghĩ một kẻ lái thuyền giỏi như thế hẳn cũng có chút tài năng, bèn đứng trên mui thuyền trông ra.

Người lái thuyền là một người đàn ông dáng dong dỏng cao, đội nón lá, mặc áo ngắn, không thể nhìn rõ mặt.

Tôi kéo áo Trần Khâm, chỉ về hướng đó hỏi:

"Kẻ này ta gặp chưa nhỉ, cảm thấy có hơi quen mắt."

Trần Khâm nhìn theo hướng tôi chỉ, ngẫm nghĩ một hồi chợt ngộ ra:

"Nhân Huệ Vương, là Nhân Huệ Vương."
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 59: Oan Gia Thường Hay Ngõ Hẹp


Tôi không biết Nhân Huệ vương mà anh ta nói là ai, số vương hầu trong triều cũng không ít, tùy tiện kể ra nhắm chừng từ sáng sớm đến tối mịt vẫn chưa xong, thế nên tôi chỉ chống cằm ngồi đợi thuyền lớn của người đó dừng lại.

Đến cửa Đại Than thì thuyền lớn dừng, Trần Khâm cho quân hầu bơi thuyền nhỏ ra, lại dặn:

"Nói với ông lái có lệnh vua gọi."

Quân hầu tuân mệnh rời khỏi, chốc lát sau cũng chỉ một mình anh ta trở về, anh ta cúi người tâu:

"Bẩm quan gia, lão ấy nói là người buôn bán, có gì mà phải gọi."

Tôi tưởng Trần Khâm sẽ giận, không ngờ anh ta lại đập tay tỏ ý như mình đoán đúng rồi, kẻ bình thường làm sao dám nói thế, liền tự mình ngồi trên thuyền nhỏ rồi sai quân hầu chèo đi.

Tôi nhanh nhảu nhảy xuống thuyền theo anh ta làm con thuyền tròng trành một cái.

Tôi ngồi an vị sau lái, Trần Khâm dỡ trán, bất lực bảo:

"Mau lên thuyền lớn đợi tôi, sông nước nguy hiểm lắm."

Tôi ngẩng mặt nhìn Trần Khâm thách thức:

"Đừng hòng bỏ lại em!"

Ra đến cửa Đại Than quả nhiên gặp người lái thuyền đang bận rộn chuyển than, nghe Trần Khâm gọi anh ta quay mặt lại.

Tôi nhìn thấy gương mặt đen nhẻm của anh ta, liền giật mình kinh ngạc thốt lên:

"Tên gian tặc Khánh Dư!"

Đừng nói là hiện giờ anh ta trông bần hàn nhếch nhác, gương mặt đen nhẻm vì bụi than, cho dù anh ta có hóa ra tro tôi cũng nhận ra kẻ dạo trước đã bắt cóc tôi, hại tôi suýt làm mồi cho thú dữ.

Hôm nay gặp anh ta tại đây âu cũng là do ý trời muốn anh ta phải đền tội trước tôi.

Trần Khánh Dư nghe tôi gọi cũng giật mình liếc qua, vừa thấy tôi mắt anh ta đã long lên sòng sọc.

Trần Khánh Dư chỉ tay vào mũi tôi, mắng:

"Con ả nhiều chuyện, hôm nay gặp lại ta coi như mi tận số!"

Tôi cười khiêu khích:

"Có ngon thì nhào vô!"

Đương lúc tôi định nhảy lên thuyền lớn của anh ta thì Trần Khâm ở mũi thuyền quát lớn:

"Được rồi, các người không xem ta ra gì đúng không?"

Lúc này Trần Khánh Dư mới như người trong mộng bừng tỉnh, vội chèo thuyền nhỏ tới trước mặt Trần Khâm cúi đầu kính cẩn, hoàn toàn khác xa với vẻ ngang ngược ban nãy khi đối đầu với tôi:

"Lão xin ra mắt quan gia!" – Lại quay sang tôi, bứt rứt gọi – "Phu nhân!"

"Không dám!" – Tôi bĩu môi chắp tay đáp lễ.

Trần Khâm nhìn Trần Khánh Dư một lát, bèn chắc chắn nói:

"Quả đúng là Nhân Huệ vương rồi!

Nam nhi mà lại đến nông nỗi này đúng là cùng cực.

Sao ngài phải làm thế?"

Tôi thấy Trần Khánh Dư có vẻ ấp úng, biết anh ta cũng không muốn khơi lên chuyện xấu của mình dạo trước, tôi bèn nói:

"Nhân Huệ vương đã không muốn nói, chúng ta cùng đừng nên hỏi khó anh ta."

Trần Khâm gật gù:

"Mặc kệ là chuyện gì, hiện tại xã tắc đang lâm nguy, một người tài như Nhân Huệ vương trốn tránh ở đây phó mặc việc đời e là không thỏa đáng."

Trần Khánh Dư lại cúi người thật thấp, tôi biết anh ta cũng rơi vào tình trạng bất đắc dĩ mới chọn cách lánh xa thế sự như vầy.

Một phần là do sợ người của phủ Hưng Đạo vạch trần chuyện xấu trước mặt Trần Khâm và quần thần, một phần cũng vì có lẽ ngọn lửa trong lòng đã tắt, chẳng còn muốn hơn thua với đời nữa.

Trần Khánh Dư lại băn khoăn:

"Thần cũng vì có chuyện khó nói...

Hôm nay xin tạ tội với quan gia."

Tôi đứng bên cạnh cũng không nhịn nỗi:

"Chuyện gì mà còn quan trọng hơn đền ơn dân nợ nước đây Nhân Huệ Vương?

Đừng quên trước đây vinh hiển quyền uy của ngài là do ai ban cho, bây giờ xã tắc cần ngài thì cho dù có chuyện kinh thiên động địa quan gia cũng sẽ dốc lòng bảo vệ, ngài không cần phải hoang mang lo lắng."

Trần Khâm bên cạnh liếc tôi, đằng hắng một cái, nói:

"Có công thì thưởng, có tội thì phạt!"

Trần Khánh Dư trố mắt nhìn tôi, chắc anh ta cũng không tin tôi sẽ giữ kín chuyện, nhưng trước mặt Trần Khâm nghe lời này của tôi thì trong lòng chắc cũng dao động phần nào.

Là bậc nam nhi, lại là vương tướng đã quen với quyền uy thì làm sao từ chối nổi món ăn béo bở này được?

Trần Khánh Dư lưỡng lự một lát, bèn quỳ xuống trước mặt Trần Khâm, tuyên thệ:

"Nếu vậy Khánh Dư xin tuân mệnh!"

Tôi cảm giác khóe miệng Trần Khâm khẽ nhếch lên.

Buổi tối hôm đó tôi trân mình chịu đựng Trần Khâm tra tấn mình, anh ta uy hiếp tôi nói ra bí mật với Trần Khánh Dư.

Bình thường cạy miệng tôi ra không dễ, lại thêm tuy tôi không chính miệng nói ra mình hứa với Trần Khánh Dư nhưng có vẻ Trần Khánh Dư cũng tin tôi là một người giữ chữ tín nên tôi cắn răng chịu đựng, quyết không thể nào bội ước được.

Có điều...

Tại sao tên quan gia này hôm nay lại khỏe thế nhỉ?

Cuối cùng tôi nuốt nước mắt vào trong, giơ tay đầu hàng vô điều kiện.

Khánh Dư ơi, anh nào hiểu tôi vì giữ bí mật cho anh mà phải chịu gian khổ từng nào.

Dù sao nếu như quan gia bắt anh nói anh cũng không thể mím chặt miệng cả đời được, Trần Khâm không muốn làm mất mặt anh trước tôi nên buổi sáng không gặng hỏi, nhưng trong lòng không phải không bâng khuâng.

Tôi biết giấu vua là trọng tội nên đành sửa sang lại quần áo, ngồi dựa vào vách thuyền thở hổn hển một lát mới bình tĩnh phân trần:

"Thì trước đây Trần Khánh Dư có lần mò tới Vạn Kiếp rủ chị dâu bỏ trốn chứ chi."

Trần Khâm có vẻ bất ngờ, dù sao lần đó cũng chỉ có mấy người bọn tôi biết rõ cớ sự chứ chưa từng đồn ra ngoài, ngay cả với cha mẹ bọn tôi cũng không hề nhắc đến.

Chuyện xấu trong nhà ấy mà, nếu không phải hôm nay vô tình gặp anh ta ở đây tôi cũng đã giấu nhẹm đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Trần Khâm trầm ngâm một lát, bất giác thốt ra:

"Ngày xưa thấy Nhân Huệ Vương ra vào cung cấm hằng ngày tôi đã có lòng sinh nghi, không ngờ lại là sự thật.

Chị của tôi đã lấy chồng rồi mà y vẫn không buông tha."

Tôi nghĩ đàn ông các người vốn dĩ là những kẻ có lòng tham không đáy.

Như Thoát Hoan rõ ràng biết tôi đã có chồng con vẫn cố chấp bắt tôi về đấy thôi, tôi tưởng họ Trần thời tiên đế đã mang tư tưởng thông thoáng lắm rồi, ấy vậy mà bọn người Mông Cổ làm tôi càng mở mang tầm mắt.

Trần Khâm mang tâm thế của kẻ hóng hớt, tiếp tục hỏi:

"Sau đó chị của tôi có đi không?

Làm sao mà em biết được?"

Trong lòng tôi thầm mắng anh bị ngốc à, nếu đi rồi thì nhà tôi còn không tới cửa nhà anh kiếm chuyện đập phá, làm gì đến hôm nay anh mới biết được cơ sự?

Tôi liếc anh ta, mỉa mai:

"Đương nhiên là vì em nghe lén được bọn họ âm mưu bỏ trốn trong đêm, sau đấy Khánh Dư phát hiện ra rồi bắt em đi tự lúc nào em cũng không hay biết.

Nhắc đến đúng là làm người ta không nén nổi thở dài, suýt nữa thì làm mồi cho sói rồi, anh ta vậy mà lại hẹn chị dâu ở bìa rừng."

Trần Khâm liền liếc mắt ngược lại tôi, trách:

"Tôi biết thừa cái tính này của em."

Đoạn, lại nghi hoặc hỏi:

"Không ngờ em lại có sở thích rình rập hóng chuyện nhà người ta đấy.

Thế làm sao mà thoát được?"

"Trùng hợp, trùng hợp thôi!" – Tôi cười hì hì nói.

Tôi cũng không thể đáp là do khi ấy bị Quốc Tảng đang say rượu lẻn vào phòng tỏ tình, sau đó vì cảm thấy bức bối trong người nên mới nửa đêm ra ngoài đi lang thang rồi vô duyên vô cớ bị người ta bắt.

Nghĩ xong lại hoài niệm:

"Khi ấy là anh ba đã cứu em."

"Ồ, lần nào em gặp nguy nan anh ta cũng kịp thời có mặt." – Trần Khâm nghe tới đây lại giở giọng châm chọc.

Được rồi, người ta là anh trai tôi có được hay không?

Trần Khánh Dư qua lời kể của anh cả là một kẻ văn võ song toàn, đường gươm như tuyết rơi hoa nở, có thể xông vào đám quân cả ngàn người như vào chỗ không người.

Đúng là cháu nội của Trần Thủ Độ, một kẻ gian hùng.

"Đã biết được hết chân tướng rồi, chàng vẫn sẽ coi trọng anh ta chứ?" – Tôi nghi hoặc hỏi.

Trần Khâm cũng tựa vào khoang thuyền, tự mãn nhìn tôi đáp:

"Tôi là người công tư phân minh."
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 60: Trẻ Nhỏ Không Dạy Sẽ Hư


Giáp Thân, Thiệu Bảo năm thứ sáu, Nguyên Chí Nguyên năm thứ hai mươi mốt.

Mùa xuân tháng giêng, Trần Khâm y lời đã nói, cho vét sông Tô Lịch.

Tháng hai đất ở Xã Đàn nứt ra, dài bảy thước, rộng bốn tấc, sâu không thể lường.

Mùa thu tháng tám, Hưng Đạo Vương điều các quân của vương hầu duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, chia quân đóng giữ Bình Than và những nơi xung yếu khác.

Tháng chín ngày mồng bốn, mặt trăng và sao Kim mọc ban ngày hướng Tây Nam, chỉ cách nhau độ một thước.

Mùa đông tháng mười một, Trần Khâm sai Trần Phủ sang hành tỉnh Kinh Hồ nước Nguyên xin hoãn binh.

Tháng mười hai Trần Phủ từ Nguyên trở về, tâu rằng vua Nguyên sai bọn Trấn Nam Vương Thoát Hoan, Bình Chương A Lạt và A Lý Hải Nha đem quân lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành.

Trần Khâm nhận được thư đòi mượn đường của Thoát Hoan bèn sai sứ đi từ chối, bảo rằng chẳng có con đường nào thuận đến Chiêm Thành.

Thượng hoàng triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng ban yến và hỏi kế đánh giặc.

Các phụ lão điều nói "đánh", muôn người cùng hô một tiếng như bật ra từ một miệng.

Nghe tin từ nước Nguyên rằng Thoát Hoan được phong Trấn Nam Vương, tôi không khỏi cảm thấy châm biếm.

Xem ra Thoát Hoan cũng đã biết tôi vẫn còn.

Có tin tình báo Thoát Hoan đã vào Lộc Châu, đạo quân này chia làm hai mũi tiến quân theo đường Khâu Ôn và núi Cấp Lĩnh, đại quân của Thoát Hoan đi sau mũi thứ hai mà cha tôi là kẻ chỉ huy trực tiếp đối đầu với anh ta.

Nói vậy rất nhanh Thoát Hoan cũng sẽ gặp lại kẻ khắc tinh của mình là Trát Lạt.

Trần Nhật Duật cũng dẫn đầu chặn đánh một toán địch chỉ với hơn một nghìn quân.

Ngoài ra vẫn còn một đạo quân nữa.

Năm ấy lúc ở Đại Đô tôi có nghe phong thanh việc một viên tướng tên là Toa Đô dẫn hai mươi vạn đại quân với một nghìn thuyền chiến tấn công Chiêm Thành, nhưng từ đó đến nay đã gần hai năm nhưng vẫn chưa có tin Chiêm Thành bị chiếm.

Tôi đồ rằng chiến sự kéo dài, có lẽ Toa Đô ở Chiêm Thành cũng không chiếm được ưu thế, ngược lại không chừng binh số đã tổn hao.

Nếu bây giờ Thoát Hoan đã trực tiếp đem quân sang Đại Việt, ắt hẳn không sớm thì muộn, Toa Đô cũng sẽ từ phía nam tràn lên mà trà trộn vào Đại Việt.

Ba mũi tiến công từ ba hướng, Hốt Tất Liệt hẳn là muốn dùng số lượng để đánh nhanh thắng nhanh.

Trước vì Chiêm Thành câu kéo làm chậm trễ, có vẻ như ông ta đã không đợi được nữa rồi.

Mặc dù đã nắm được đường đi nước bước ban đầu của địch nhưng liên tiếp trong vài ngày tin bại trận truyền về kinh gần như liên tục.

Các ải chặn đầu tiên đều đã vỡ, binh lính phải rút do chênh lệch lực lượng quá lớn, thậm chí có hai tướng đã bị bắt sống.

Chỉ còn ải Khâu Cấp do lợi thế địa hình vùng núi hiểm trở nên mới có thể tạm thời trấn giữ được, nhưng rốt cuộc do bị cô lập cũng phải rút quân.

Đến khi hai ải do cha tôi trấn giữ đều bị Thoát Hoan chiếm đóng, tướng Trần Sâm bị giết thì Trần Khâm luôn giữ sắc mặt bình tĩnh cũng phải nhíu mày.

Tôi biết trong lòng anh đã căng thẳng lắm, uống trà cũng để bị bỏng lưỡi.

Nhưng hiện giờ ở kinh thành có trà nóng để uống đã là quý lắm, còn tướng sĩ ở sa trường đạp gió dầm sương nhịn đói nhịn khát, ngày ngày đối mặt với hiểm nguy gian khổ kia mới đáng để bận tâm.

Trần Khâm bảo tôi:

"Nếu như theo đà này thì ngày quân Thát tràn vào kinh đô sẽ không còn xa nữa, giờ chỉ hy vọng các tướng lĩnh ngoài biên ải có thể cầm chân được chúng lâu một chút để có thể kịp thời sơ tán dân chúng khỏi kinh thành."

Hiện giờ tuy phần lớn quân lính từ các trang ấp và lính chính quy đều theo ra chiến trường, nhưng tại kinh thành Trần Khâm vẫn còn một lực lượng thủy quân đông đảo ngày đêm tập luyện đào hào đắp lũy.

Tôi và An Tư cũng theo chân Trần Thì Kiến đi sơ tán người dân, bọn tôi mỗi người một ngựa mang theo hơn nghìn binh sĩ có trang bị vũ khí.

Tôi hồ nghi liếc Trần Thì Kiến, anh ta liền cười hề hề bảo tôi:

"Dân chúng thì cũng có tốt có xấu, lát nữa xem tôi nói có sai không?"

An Tư đá vào chân Trần Thì Kiến khiến anh ta la oai oái, bặm môi:

"Lát nữa có dân chúng bị thương thì kẻ đầu tiên tôi phạt là anh."

Thực tế chứng minh lời tiên liệu của Trần Thì Kiến không sai chỗ nào được.

Ngoài những người dân lương thiện răm rắp tuân theo lệnh vua thì chúng tôi cũng đã nhanh chóng khoanh vùng được những kẻ chống đối.

Bọn họ rêu rao là quan quân cướp đất của dân, tự tạo thành một nhóm với gậy gộc cuốc xẻng trong tay sẵn sàng hành động bất cứ lúc nào.

An Tư nhìn tôi, chậc lưỡi:

"Phiền quá, mau nghĩ cách giải quyết nếu không sẽ thành bạo động chứ chẳng chơi!"

Tôi nói:

"E có kẻ địch lẫn trong đám người này rồi.

Người Việt ai nấy đều có lòng yêu nước, sẽ không dại gì mà nghĩ đến những cái lợi trước mắt trong giờ phút nước sôi lửa bỏng."

Trần Thì Kiến và An Tư đều đồng ý.

Nhưng hiện tại làm sao để tìm được kẻ địch trong dân đây?

Tôi nảy ra một ý, bèn cùng với An Tư giả trang thành dân sơ tán, lại nói với Trần Thì Kiến:

"Lát nữa tôi ra hiệu thì cho quan binh ập vào bắt nhé!"

Thì Kiến gật đầu, chúng tôi cũng lẫn vào đám đông.

Tôi quay sang bảo An Tư:

"Tôi có việc cần hoàng cô giúp đây."

"Có việc gì cứ nói, không cần câu nệ." – An Tư tha thiết nhìn tôi.

Tôi cười hì hì chỉ xuống đất, nói:

"Cô nằm xuống đó giả chết đi!"

"..."

An Tư nằm dưới đất mà tôi còn thấy cô ấy run run, có vẻ đang giận lắm.

Tôi nén cười rồi bỗng quỳ xuống khóc lớn:

"Trời ơi em của tôi, hu hu..."

Trong những người dân di tản có người dừng lại hỏi han có người an ủi, cũng có người ngỏ ý muốn giúp nhưng tôi lại bắt đầu nghe được những tiếng hô hào "quan binh giết người rồi" ngay phía sau lưng bọn tôi.

Trần Thì Kiến ngồi trên ngựa đối diện tôi, tôi ra dấu, đôi mắt tinh như chim ưng của anh ta vừa đảo một cái thì quân binh liền ập vào dùng gươm giáo trấn áp mấy người đang hò hét kia.

Bọn người đó dường như cũng phát hoảng, không biết vì sao lại bị phát hiện nên càng phản ứng dữ dội hơn, có kẻ còn nằm bò ra đất ăn vạ.

Tôi đứng dậy tiến về phía chúng, lần theo thắt lưng bọn này lấy được mấy con dao ngắn được giấu kỹ càng, phía chuôi dao còn khắc chữ Thát ném ra, dân chúng bèn xôn xao một trận.

Trần Thì Kiến nhảy xuống ngựa đến bên tôi nói nhỏ:

"Thật là táo bạo!"

Tôi không quan tâm tên Trần Thì Kiến nhiều chuyện, bèn đứng ra phía trước dõng dạc nói:

"Bà con đã thấy sự nham hiểm của bọn Thát Đát chưa?

Quốc công cùng với tướng sĩ đang dùng tính mạng mình để bảo vệ bà con và lãnh thổ Đại Việt, bọn chúng người đông thế mạnh đã đánh tới biên quan, kinh thành bây giờ đã không còn an toàn nữa.

Quan gia đang rèn luyện quân binh để chống giặc, chúng ta cũng phải góp một phần công sức, di dời tất cả mọi nguồn lương thảo có thể tiếp ứng cho địch, bà con có làm được không?"

Tôi nghe bên dưới trăm miệng hô "được", trong lòng cũng thở phào.

Quân dân đồng lòng, trận này xem như đã thắng phân nửa.

Người dân di tản, trên đường gia súc cũng từng đàn nối đuôi nhau ra khỏi thành.

Ra đến ngoại ô, Trần Thì Kiến xuống ngựa cho quân binh nổi lửa đốt sạch nương rẫy.

Tôi nắm lấy cổ tay anh ta, trong lòng cảm thấy không nỡ.

An Tư cũng nhảy xuống ngựa chạy đến can ngăn, luôn miệng quát:

"Các người làm cái gì vậy?"

Trần Thì Kiến khẽ lắc đầu:

"Lúa đang sắp vào mùa gặt, không giữ được!"

Tôi nhìn thấy trong đám đông di tản có nhiều người không nén được khóc lớn, cũng cảm khóe mắt mình cay cay.

Khó khăn lắm mới được mùa to, giờ vì lũ xâm lăng mà phải thiêu trụi toàn bộ công sức trong gần nửa năm của dân trong một giờ một khắc, nhưng đây chỉ mới là một phần rất nhỏ về sự tàn khốc của chiến tranh.

Trần Thì Kiến đứng khoanh tay, trầm ngâm:

"Tập làm quen đi, sau này sẽ còn nhiều thứ đáng buồn hơn nữa."

Chúng tôi dong ngựa lên đồi cao, nhìn thấy hàng hàng lớp lớp dân chúng lũ lượt di tản, xung quanh lửa bốc lên nghi ngút, khói bay đến tận trời xanh.

Tôi thở dài, cuộc chiến đã chính thức bắt đầu rồi.

Tôi vốn không thể cùng với Trần Khâm dự bàn chính sự, với tính cách của anh ta chỉ mong tôi không biết gì, đương nhiên sẽ không thể thật thà thẳng thắng mà đối diện nhau.

Tôi giả vờ không màng đến, thực tế là tận dụng hết các mối quan hệ xung quanh để nghe tất cả mọi thứ dù lớn dù bé, như hôm nay tôi giả dạng thành một tên lính cúi đầu đứng gác ngoài điện Thiên An.

Trong điện có người khẩn trương nói:

"Hiện giờ cánh quân nhỏ của Bột La Hợp Đáp Nhĩ đã phá vỡ Khâu Ôn tiến đánh Chi Lăng, nếu như ải Chi Lăng còn không giữ được thì tình thế của Quốc công rất cam go."

Tim tôi đập bang bang như trống trận, phải nắm chặt nắm đấm mới ngăn được dòng máu nóng đang cuộn trào.

Cha tôi đã thất thủ ở ải Nội Bàng rút về Vạn Kiếp, cánh quân của Bột La Hợp Đáp Nhĩ nếu như lại giành thắng lợi ở Chi Lăng thì với lãnh địa bị chiếm rộng thênh thang như thế, cha tôi sẽ bị co cụm lại.

Ngay từ đầu cha tôi đã cho rải binh để trấn giữ các ải, đừng nói là tập kích bất ngờ, cho dù Thoát Hoan hẹn ngày nghênh chiến thì cũng khó mà trấn thủ.

Tôi lại lắng tai nghe, có tiếng Trần Khâm trầm giọng hỏi:

"Chi Lăng hiện giờ thế nào?"

Một viên tướng nói:

"Chỉ e là lành ít dữ nhiều!"

"Vậy thì ta thân chinh tiếp viện." – Trần Khâm nói.

Tôi nghe tiếng hàng loạt người đang quỳ xuống, bên trong các bô lão và các quan đều hô quan gia hãy suy nghĩ lại.

Tôi loáng thoáng nghe Trần Khâm nói như đinh đóng cột:

"Bại trận liên tiếp e lòng quân cũng đã lung lay.

Ý ta đã quyết, các khanh không cần phải nói nữa."

Chân tôi như rụng rời.

Mãi đến khi cuộc hội nghị kết thúc và Trần Khâm đứng cau mày trước mặt tôi thì tôi mới tỉnh hồn.

Anh chỉ nhìn tôi không nói, nhưng tôi cảm giác Trần Khâm nhìn vào thấu tận tâm can tôi.

Tôi thất thần trở về cung Quân Hoa, đến trước gian chính thì nghe Quốc Chẩn đang khóc lóc ầm ĩ.

Tôi xoa trán bước vào, Thụy Hương đưa ánh mắt cầu cứu nhìn tôi, tôi mệt mỏi hỏi:

"Có chuyện gì mà Quốc Chẩn khóc dữ thế?"

Thụy Hương cúi người với tôi, thưa:

"Phu nhân ơi, hoàng tử không chịu ăn ạ.

Bình thường ngài rất thích ăn món này."

Tôi liếc xuống bát cháo cá lăng còn chỉ mới vơi đi một ít, lại nhìn đứa con vừa mới gặp lại không lâu của mình.

Lúc rời Đại Việt nó chỉ vừa tròn một tuổi còn đi chập chững, hiện đã ba tuổi cao tới đùi tôi.

Thằng bé trắng tròn, đôi gò má hồng hào y hệt Trần Khâm, càng lúc càng không nhìn ra nét nào giống tôi cả.

Hoàn cảnh không cho tôi ở bên con trẻ được lâu, lúc nó đang cần mẹ thì tôi lại ngơ ngẩn ở Nguyên triều, còn giờ khi tôi đã trở về thì lại một lòng hướng về nơi biên ải.

Tôi ngồi xổm xuống bên cạnh Quốc Chẩn, mỉm cười hỏi nó:

"Bình thường con thích ăn nhất món này, sao hôm nay lại không chịu ăn?"

Quốc Chẩn tủi thân ôm lấy tôi, quệt nước mũi nói:

"Ngấy quá ạ, con không muốn ăn nữa, con muốn ăn món khác."

Một nỗi tức giận không biết từ lâu xộc lên đỉnh đầu tôi.

Nơi chiến trường binh lính cơm không có ăn, vì ai mà phải chịu đói rét gian khổ?

Tôi đánh mạnh vào mông Quốc Chẩn, đẩy nó ra, quát:

"Chị Trinh nuông chiều quá nên nó hư rồi.

Nó chịu thì ăn, không thì thôi, bao giờ đói thì tự nó phải xuống nước."

Thụy Hương nhăn mặt nhìn tôi, lắp bắp:

"Nhưng hoàng tử vẫn còn bé lắm ạ..."

Tôi cau mày lảo đảo bước vào trong, trong ngực như có tảng đá đè nặng đến không thở được.

Bỗng phía sau có tiếng Thụy Hương quỳ bái, tôi nghe chất giọng không giấu được mỉa mai của Trần Khâm vang bên tai:

"Em không nuôi nó nên không biết xót, nhưng đừng quên em là mẹ ruột nó."

Anh ta có vẻ đè nén, tôi thì cười lạnh trong lòng.

Trần Khâm trách tôi vì tôi đã để bản thân rơi vào tay Thoát Hoan hay sao?

Tôi nhìn vào mắt anh ta, lạnh nhạt nói:

"Trẻ nhỏ không dạy sẽ hư!"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 61: Cung Quan Triều Giấu Rồng Giấu Hổ


Đêm về, tôi nằm gác tay lên trán trằn trọc mãi không ngủ được, chẳng biết ngoài biên ải cha tôi đã đi nghỉ hay vẫn còn đỏ mắt nghĩ về cuộc chiến ngày mai.

Chẳng biết binh sĩ đã no bụng chưa hay vẫn còn đói rét canh gác quân thù từng giờ từng khắc.

Lại nghĩ đến toàn bộ ruộng nương của dân trong thành đều bị đốt trụi, sau khi cuộc chiến kết thúc họ sẽ sống như thế nào đây?

Giờ này cung Quan Triều vẫn đang chong đèn, chắc Trần Khâm vẫn đang cùng quần thần bàn kế sách để nhanh chóng đi tiếp ứng.

Tôi lặng lẽ ôm Quốc Chẩn vào lòng rơi nước mắt, đứa bé này thiếu tình thương của mẹ đã lâu, tôi biết mình không nên đánh nó.

Quốc Chẩn dường như cảm nhận được tôi đang khóc, dụi mắt ngồi dậy, dùng chất giọng non nớt hỏi:

"Mẹ ơi mẹ khóc ạ?"

Tôi xoa đầu con trẻ, dịu giọng hỏi nó:

"Chẩn có giận mẹ không?"

Quốc Chẩn lắc đầu sụt sùi:

"Không ạ, con sai rồi, nhưng mẹ đừng bỏ Chẩn đi nữa nhé."

Tôi lại thấy lòng quặn thắt, càng không kìm được khóc to hơn.

Quốc Chẩn hiểu chuyện đến thế, tại sao tôi có thể xuống tay đánh nó nhỉ?

Tôi hôn con, dùng lời ngọt ngào dỗ nó:

"Mẹ không muốn bỏ con đi, nhưng nếu như có nhiều người cần mẹ hơn con thì con sẵn lòng cho mẹ đi chứ?"

Tôi dùng lời lẽ dễ hình dung để nói với Quốc Chẩn, ấy thế mà nó giống như hiểu được lời tôi, khẽ gật đầu:

"Dù có chuyện gì con vẫn sẽ ủng hộ mẹ!"

Gần sát ngày Trần Khâm dẫn quân đi tiếp viện, trong người tôi cứ bứt rứt không yên.

Mấy hôm rồi vẫn không gặp được anh ta, tôi cũng không thể xông vào lúc quần thần đang bàn việc nước được.

Theo lời nội nhân trong cung Quan Triều, mấy hôm nay Trần Khâm bận mất ăn mất ngủ, thăm dò thì biết vào giờ Sửu hằng ngày các bô lão sẽ trở về nghỉ, Quan gia cũng sẽ nghỉ ngơi hai canh giờ.

Ngày mồng bốn ải Chi Lăng bị phá, tôi bần thần như ngồi trên đống lửa.

Theo tình hình này thì bọn chúng một là sẽ kéo về Nội Bàng hội quân với Thoát Hoan, hai là sẽ đánh thẳng một đường xuống Phả Lại.

Trần Khâm đem thủy quân đi tiếp viện nhưng trên bộ vẫn chưa có người đứng ra đi thăm dò.

Tôi nghĩ trước khi Trần Khâm xuất binh hẳn sẽ có tiên phong đi đầu, nhưng trước mắt nếu tôi muốn đi thì quân lính nên dùng phải xin ở đâu?

Binh lính ở các trang ấp của các anh tôi cũng không ở gần, nếu Trần Nhật Duật còn ở đây thì anh ta chắc chắn cho tôi mượn, đáng tiếc anh ta đã đi từ lâu rồi.

Nhưng kể cả là có đi nữa cũng chưa chắc Trần Khâm sẽ đồng ý cho tôi đi.

"Phu nhân, áo của chị..."

Tôi nghe Thụy Hương gấp gáp bước tới thì giật mình, hóa ra góc áo của tôi đã dính lửa cháy xém một mảng.

Tôi lấy tay dập lửa qua loa rồi kiểm tra nồi canh hầm không bị sao mới khẽ thở phào.

Tôi chậc lưỡi, lại quay sang hỏi Thụy Hương:

"Quốc Chẩn đã ngủ rồi chứ?"

Thụy Hương gật đầu đáp:

"Đã ngủ lâu rồi ạ!"

Sắp tới giờ Sửu, tôi để canh vào thố rồi lén mò tới cung Quan Triều.

Đợi các quan đã đi hết tôi mới rón rén từ góc tối đi ra, sau đó mở cửa xộc vào, thấy Trần Khâm đang ngồi trên ghế rồng ở chính giữa.

"Đã có tiên phong đi dò đường chưa, nếu chưa em xin chàng cho em nhận nhiệm vụ đó!"

Nói xong, tôi quỳ xuống trước anh, cung kính như một viên binh mã.

Trần Khâm hơi không kiên nhẫn, nói:

"Em về đi, đừng nói xằng nữa!"

Tôi ngẩng mặt lên định phản bác, nhưng còn chưa nói gì thì đã nghe bên tai tiếng cười:

"Ta lại thấy rất được đó chứ!"

Tim tôi đánh thót một cái.

Trong cung Quan Triều tuy đèn đóm vẫn chưa tắt hết nhưng dưới trời khuya vẫn không thể tỏ như ban ngày, tôi không phát hiện ra bên phải Trần Khâm vẫn còn có người đang ngồi đó.

Nheo mắt nhìn kỹ, hóa ra là Thượng hoàng đang ngồi trên sập uống trà, khi tôi nhìn sang thì trên môi người vẫn nở nụ cười nhàn nhạt.

Tôi lại càng cúi thấp đầu.

Lúc này tôi ước mình có thuật độn thổ, độn một phát về tới cung Quân Hoa cho xong.

Không khí có chút ngại ngùng, thượng hoàng lại nói:

"Có món gì đó, mau đem lên đây!"

Vừa nói xong thì có nội hầu đem thố canh mà tôi đã mang đến đem đi hâm lại, mặt tôi nhăn như khỉ ăn ớt lén lút liếc nhìn Trần Khâm, anh ta cũng nhìn tôi nhún vai tỏ ý không liên quan rồi lại lớn giọng nói:

"Tôi không đồng ý.

Em là đàn bà, không tiện."

Tôi liền bức xúc, nếu như đang ở riêng là tôi đã đứng ra cãi tay đôi với anh ta rồi.

Đáng tiếc lúc này tôi chỉ dám mọp đầu trước Thượng hoàng giận, lẩm bẩm:

"Không tiện là không tiện làm sao, ngày xưa bà Trưng bà Triệu không phải đều là đàn bà đấy à?"

Thượng hoàng bên cạnh cũng cười hỏi:

"Đúng rồi, rốt cuộc là chỗ nào không tiện?"

Trần Khâm chưng hửng một lát, giống như không lường trước được Thượng hoàng sẽ lên tiếng bênh vực tôi.

"Không kinh nghiệm, không binh tốt, vậy đã đủ chưa ạ?"

Thượng hoàng chậm rãi bước tới đỡ tôi dậy, ôn hòa nói với Trần Khâm:

"Chẳng phải có kẻ đã tự mình chiêu mộ binh mã đến đây cầu xin ư, người mới thì nhiều bất ngờ, nói không chừng chẳng kẻ nào địch nổi ấy chứ."

Tôi sửng sốt quay sang trái thì thấy có kẻ đã quỳ ở đấy từ lúc nào, có lẽ là trước khi tôi xông vào đây, chắc là có thuật ẩn thân nên từ nãy đến giờ tôi không hề hay biết.

Đây là một thiếu niên mắt ngọc mày ngài, chừng mười bảy mười tám tuổi, gương mặt tuy trông non choẹt nhưng lại toát ra một loại khí chất rất ngông.

Tôi nhìn kỹ thêm một lượt, thấy không còn ai nữa mới thở phào.

Cung Quan Triều đúng là nơi giấu rồng giấu hổ.

Cậu thiếu niên nghe Thượng hoàng nói thế thì vội lạy tạ.

Xong lại quay sang Trần Khâm, thái độ có vẻ gợi đòn:

"Thần cảm thấy quan gia nói thế là không thỏa đáng, nếu nói về bậc nữ nhi cầm kiếm bình thiên hạ thì mẹ thần không phải là một ví dụ hay sao?

Mẹ thần uy danh không kém gì nam tướng, sau lại lập công được phong làm Vũ Thắng Công chúa.

Tuy bọn chúng thần vẫn còn trẻ nhưng người tài thường không đợi tuổi, dưới trướng thần có hơn nghìn gia nô và người nhà, vũ khí và thuyền chiến đều tự tay thần sắm sửa."

Tuy chưa biết khả năng thằng oắt này tới đâu nhưng nghe lời này thì ít nhất cũng là một kẻ có gốc gác.

Thượng hoàng cười lớn:

"Quyết định vậy đi, cả hai theo hai đường thủy bộ đi trước, đại quân sẽ xuất phát sau hai ngày."

Trần Khâm định phản bác nhưng Thượng hoàng đã tươi cười cắt ngang:

"Quan gia chưa từng ra chiến trường giết địch thì so với bọn nó cũng như nhau thôi.

Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, chuyện gì cũng phải có lần đầu.

Thôi hai con cứ từ từ mà bàn bạc với nhau."

Ngài nói với Trần Khâm xong lại quay sang nội hầu bảo:

"Món này đem về cung Thánh Từ, Quốc Toản theo ta, ta có mấy lời căn dặn."

Hóa ra thiếu niên này chính là Trần Quốc Toản mà Trần Khâm đã từng nói qua với tôi.

Trần Khâm lấy tay che lại bát canh, hằn hộc nói:

"Cái này là của con!"

Tôi vội lên tiếng:

"Là làm cho Thượng hoàng!"

Thượng hoàng nhìn Trần Khâm bằng ánh mắt của kẻ thắng cuộc, sau đó cùng với bát canh nghênh ngang rời đi.

Đợi họ đi khỏi, quả tim đang treo lơ lửng của tôi cuối cùng cũng được hạ xuống.

Tôi ngước mặt nhìn Trần Khâm, thấy anh ta mang vẻ mặt đen thui sải bước lại gần mình, theo bản năng ngồi xuống ôm đầu thốt lên:

"Em xin lỗi, em xin lỗi, chàng đừng đánh em!"

Chốc sau, cằm tôi được nâng lên.

Mặt đối mặt với anh ta, tôi nghe thanh âm như rít ra từ kẽ răng của người đó:

"Cái đồ thấy lợi quên nghĩa, nâng trên đạp dưới nhà em!"

"Sao... sao chàng lại nói thế được, đất nước này do chàng đứng đầu, em là vì nghĩa quên thân."

Tôi lại nghe Trần Khâm thở dài, có vẻ mệt mỏi:

"Chiến trường là nơi hung hiểm thế nào em có biết không?"

"Chàng cũng không biết!" – Tôi phụng phịu đáp.

"Không biết nên mới lo sợ.

Dù sao tôi cũng là một thằng đàn ông!"

Tôi bĩu môi:

"Chàng nói em là người đàn bà đanh đá, giống một tên võ biền còn gì?"

Trần Khâm ôm chặt lấy tôi, mùi hương dịu nhẹ trên người anh thoang thoảng quanh mũi.

Cũng lâu rồi tôi không ở gần anh như lúc này, có lẽ quân thù đã làm tâm tình tôi và anh trở nên lạnh nhạt.

Tôi hít đến nghiện, lại cười bảo:

"Ngày xưa em nói nếu chàng làm vua thì em sẽ làm tướng!"

Trần Khâm khinh thường hừ nhẹ:

"Tôi vốn không tin!"

Tôi rúc vào lòng anh nghịch ngợm nói:

"Nhưng xem ra lại sắp thành sự thật rồi."

Tôi cười hì hì, tuy không nói gì nữa nhưng trong tim cả hai đều tự có đáp án và cùng chung một ý niệm.
 
Back
Top Bottom