Cập nhật mới

Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
291972849-256-k318988.jpg

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Tác giả: doanh2305
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Nào Hay Xuân Mênh Mông, nguyên gốc Hán Việt là Bất Tri Xuân Dĩ Quy, là một câu trong bài Xuân Hiểu của Trần Nhân Tông.

Xuân hiểu

Thuỵ khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.

Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.

(Ngủ dậy mở cửa trông
Nào hay xuân mênh mông
Có một đôi bướm trắng
Vỗ vỗ cánh vờn bông)

Fanpage: nào hay xuân mênh mông.

Bản audio mn lên youtube gõ tên truyện là ra.



điềnvăn​
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 1: Đầu Tiên Là Một Đóa Hoa Si


Lúc tôi mở mắt tỉnh dậy lần thứ năm trong ngày thì bầu trời đã chuyển sang màu đen cánh gián, lăn qua lăn lại một hồi, trong đầu vẫn rối tung như một mớ bòng bong.

Con bé Thanh như thường lệ ngày hai dạo lau chùi phòng ốc, kín đáo liếc sang thấy tôi đã dậy, bèn cất giọng mỉa mai:

"Ô!

Quý cô đã tỉnh rồi sao?

Trời vẫn còn sớm lắm!"

Tôi không buồn liếc mắt tới con ả, chỉ thấy càng ngủ thì lại càng buồn ngủ, rất thuận theo tự nhiên mà ngáp dài.

Đan Thanh chỉ biết lắc đầu, rồi bước chân nhanh như cưỡi mây đạp gió.

Tôi ở phủ Hưng Đạo đến nay đã bước sang ngày thứ ba nhưng vẫn còn mơ mơ hồ hồ, đôi lúc giật mình tỉnh giấc, thẫn thờ ngắm trần nhà một hồi lâu cũng chẳng hồi hồn rằng mình là ai, đang ngự tại chốn nào nữa.

Ký ức lâu nhất mà tôi nhớ được là non nửa tháng trước khi đang thiu thiu chợp mắt dưới chân núi Yên Tử, bất thình lình có một đám người bước thấp bước cao đạp lên người tôi, thế là tôi tỉnh lại.

Hôm ấy trời xanh mây trắng, gió thổi chim ca, quả là vô cùng thích hợp để trêu chọc con gái nhà lành.

Tôi đang ngủ ngon trớn thì bị một gã mập mặc áo lụa bóng bông đạp lên, có lẽ tưởng tôi là xác chết sống dậy hay sao mà gã kêu la oai oái, tụi tay chân của gã lúc này mới hoàn hồn túm tụm lại lôi cái thứ chết tiệt dưới đám lá khô là tôi lên.

Trước mắt tôi chợt hiện ra một cô gái nhỏ với hai hàng mi đẫm nước mắt, đôi mày cong cong chau lại vì hốt hoảng, lại thêm xung quanh là một đám đàn ông, không cần nghĩ sâu xa cũng hiểu được đang xảy ra chuyện gì.

Có lẽ do xuất hiện bất thình lình, lại thêm bộ tướng gãy một cánh tay, đầu u một cục, quần áo thì rách tơi rách tả mà vẫn còn vùng dậy vác một khúc gỗ to bằng bắp tay múa may loạn xạ, hoặc cũng có thể do trong người tôi sức lực bẩm sinh mạnh bạo hơn người mà sau khi năm sáu tên đầy tớ mỗi kẻ đều đặn bị đập lên đầu vài cái, cả lũ trong chốc lát đã chẳng thấy tăm hơi.

Tôi ngó xuống người mình, đúng là rất là có phong cách của một kẻ giang hồ nghèo khổ.

Giản lược một chút về cô gái bị đuổi bắt hôm nọ, cô này tên là Đỗ An Hoa, là cháu họ hàng xa của Hưng Đạo vương Quốc Tuấn phủ Vạn Kiếp.

Đỗ An Hoa vốn xuất thân trong nhà có gia thế, tạm gọi là có của ăn của để, có điều chỉ trong một năm mà cả cha lẫn mẹ đều lần lượt ra đi, phận tơ tằm không gánh vác nổi sản nghiệp ông bà để lại, để cho đám người trong dòng họ thao túng.

Rốt cuộc đến nay gia sản tiêu tán, còn chị ta thì bị cưỡng ép gả cho nhà giàu trong vùng, chính là gã mập mà tôi vừa đá lăn lông lốc như quả bóng ban nãy.

Đỗ An Hoa đẹp như cánh hoa lê trong mưa đương nhiên không chịu gả cho một tên vừa mập vừa lùn vừa đần độn ngu si như gã, trong đêm trước ngày hôn lễ đã dùng hết sức bình sinh lẻn đi, tiếc là qua ngày hôm sau thì bị đuổi kịp, rồi trùng hợp gặp được ngữ kì quái từ dưới đất bò lên là tôi đây.

Sau đấy kẻ mất trí theo mô tả của Đỗ An Hoa, chực ăn chực uống hơn mười ngày thì đến cổng phủ Hưng Đạo Vương uy nghi tráng lệ, chính thức dấn thân vào con đường môn khách hay còn gọi là siêu cấp ăn chực, giờ tôi nhàn nhã nằm đây ngày ngày trêu chọc con bé Thanh, nguồn cơn, nói qua loa cũng chỉ có thế.

Đỗ An Hoa, ngoài việc tên chồng hờ quá kém cỏi, lý do chính mà chị ta liều mình trốn khỏi hôn lễ không gì khác là vì trong lòng đã có một đấng lang quân.

Còn nhớ cái hôm vừa cứu được chị ta ra khỏi đám lưu manh, ngay lập tức đã thấy chị ta không nói lời nào xoắn ống quần lội xuống suối, hại tôi còn tưởng chị ta vì tình tự tử.

Nói mãi nói mãi, hóa ra chị ta muốn tìm lại chiếc vòng tay – tín vật định tình từ mười năm về trước với anh chàng kia.

Đấng lang quân nọ cũng chẳng phải ai xa lạ gì – xếp thứ ba trong số bốn vương tử tài ba nổi tiếng khắp thành của phủ Hưng Đạo Vương lừng danh – Trần Quốc Tảng.

Lần gặp gỡ định mệnh rơi vào một lần hiếm hoi Hưng Đạo Vương dẫn theo gia quyến đến phủ Long Hưng thăm em gái của ngài.

Đỗ An Hoa kể, trong cái nắng tháng ba dịu nhẹ phảng phất hương thơm hoa cúc, mấy đám lạc tiên hai bên bờ sông Lạc Hà theo gió lay động, thành nhỏ trù phú đầy kẻ mua người bán, ngựa xe dập dìu, tại thời điểm ấy Đỗ An Hoa đã gặp Trần Quốc Tảng lần đầu tiên.

Sau này mỗi khi hồi tưởng đến khoảnh khắc đó, chị An Hoa cứ ngỡ như mới hôm qua, đặc biệt là lúc người thiếu niên cúi xuống đưa chiếc khăn tay màu trắng cho chị, trên tóc mai vẫn còn vấn vương mùi hoa lan thanh nhã.

Cảnh tượng diệu huyền đó, chỉ sợ là cả đời cũng khó mà quên.

Và những ngày thiếu niên đẹp như ngọc tạc bắt đầu có mặt trong phủ nhà chị An Hoa, thì chị ta cũng bắt đầu thầm cảm mến anh chàng ấy.

Tôi nghe đến đây, trong lòng có vài điều trăn trở.

Từ mấy cuốn ca dao đọc được ba ngày nay thì tôi rút ra được một điều, những ước vọng thật sự của chúng ta thì ít, còn sự mơ tưởng thì mênh mông, tại sao chị An Hoa lại thích anh chàng đó nhanh như vậy được?

Có lẽ ban đầu chị ta chỉ hơi có cảm tình, đoạn tình cảm sau này là do chị ta tự mình suy diễn rồi mơ tưởng ra thôi.

Trong chuỗi ký ức mơ hồ của mười năm, vô số lần chị An Hoa bắt gặp thiếu niên mười lăm tuổi một mình chong đèn đọc sách.

Chỉ có chỗ kỳ lạ là anh ta luôn né tránh chị An Hoa, chỉ cần vừa phớt thấy ống tay áo từ xa là vụt mất nhanh như một cơn gió.

Cả hai đuổi bắt như thể mèo vờn chuột, mà cho đến hôm nay, chị ta vẫn chưa thể nào bắt được con chuột tinh ranh như anh ta.

Nhưng có một lần Trần Quốc Tảng lỡ tay làm vỡ vòng ngọc của mẹ chị An Hoa để lại, người anh họ lạnh lùng ấy thế mà cũng biết động lòng trắc ẩn, liền đền ngay cho chị ta chiếc vòng bằng hổ phách quý giá.

Quốc Tảng không hề hay chiếc vòng ấy vốn dĩ là một trong bốn món đồ mà mẹ anh ta đích thân chọn lựa, để làm tín vật cho vợ chưa cưới của bốn vị vương tử sau này.

Tôi bật cười bởi câu nói của Trần Quốc Tảng dạo đó: "Làm hỏng cái gì thì đền cái đó, chiếc vòng này của mẹ tôi cho tôi, dùng đổi lấy chiếc vòng của mẹ em tặng được chứ?"

Quốc Tảng ơi Quốc Tảng, nếu như anh làm hỏng cái gì cũng có thể đền bằng vật có giá trị tương đương, vậy tấm chân tình của chị An Hoa vỡ vụn, anh đền bằng cái gì thì được?

Đỗ An Hoa lúc ấy đã định trả lại chiếc vòng, nhưng Hưng Đạo phu nhân chỉ cười xoa đầu chị ta rồi ôn tồn nói:

"Con cứ cầm lấy đi."

Đương nhiên là hôn ước từ lúc đó cũng được đặt ra.

Tôi hàm hồ nghe chị ta kể đến đây, phải vỗ đùi cái đét.

Đỗ An Hoa một lòng một dạ với anh ta, hoá ra cũng do anh ta khơi mào, nếu như năm đó Trần Quốc Tảng không tuỳ tiện đưa đồ của mình cho người khác thì đâu xảy ra cớ sự ngày hôm nay, sự việc này chung quy phải dùng hai từ duyên phận.

Nhưng diễn biến tiếp theo mới là quá đáng, bởi anh họ này đối với hôn ước không phản đối cũng chẳng tán thành, vẫn tiếp tục chong đèn đọc sách của anh ta.

Chỉ có Đỗ An Hoa là vui mừng khôn xiết, còn hùng hồn vỗ ngực mà tuyên bố sau này sẽ trở thành người vợ tốt của chàng, một lòng một dạ.

Này anh, anh là người thuộc chủ nghĩa sao cũng được hả?

Nhưng tôi đã lầm, Trần Quốc Tảng khi ấy chỉ lạnh nhạt nói:

"Nếu như em không có gì phản đối thì trước mắt cứ như vậy đi.

Sau này khi lớn lên, đến lúc em thật sự tìm được người trong lòng, hãy tự mình giải trừ hôn ước."

Tôi rất lấy làm ba chấm.

Được rồi, anh ta không thích, cũng không từ chối, anh ta thích thể loại mập mờ như vậy được không?

Mấy lời của anh ta, nghe thì giống kiểu cho đối phương tự do quyết định tương lai, thực tế chính là kiểu hai bên không hề ràng buộc, hôn ước chỉ qua lời nói không có giá trị nào.

Sau khi nghe chuyện tôi còn tưởng tượng ra một trăm lẻ tám tình huống trong văn học dân gian.

Chỉ sợ tên anh họ lòng dạ sắt đá ấy vốn đã cưới vợ sinh một bầy con, chứ nhớ nhung gì cô gái từng xuất hiện trong ký ức.

Sau đấy là một màn đại chiến không khoan nhượng đến trời long đất lở của vợ lớn vợ nhỏ, hấp dẫn hơn cả cuộc đời của Tần Hương Liên và Trần Thế Mỹ ở nước Tống.

Chỉ nghĩ thôi mà máu trong người tôi đã phấn khích nóng lên rần rần.

Nhưng thực tế chứng minh trí tưởng tượng của tôi quá mức phong phú, Quốc Tảng vốn không có vợ con gì ráo, vẫn là một anh chàng độc thân hoàng kim.

À, nếu như bỏ qua chi tiết anh em nhà này lượn lờ trong tòa lầu nghe ca kỹ thì anh ta vẫn được tính là một chàng trai tốt.

Đến đây kể ra anh em nhà ấy cũng thật biết hưởng thụ.

Thành Vạn Kiếp có một chốn ăn chơi bậc nhất, gọi là Tĩnh Lầu, đủ các môn từ ăn, chơi, đàn, hát.

Tòa lầu ba tầng vô cùng tráng lệ, chỉ nhìn sơ là thấy được phía sau tòa lầu chính, đình viện nhỏ rải rác vô số kể, đoán chừng chính là nơi tiêu khiển của bọn lắm tiền nhiều của nơi đây.

Một nơi như thế lại gọi là Tĩnh Lâu, tôi mắng một câu, đúng là treo đầu dê, bán thịt chó.

Nếu muốn kể rõ ràng đầu đuôi mọi chuyện, thì phải nhắc một chút tới bốn vị vương tử lừng lẫy của Hưng Đạo vương.

Cậu cả là Quốc Nghiễn, tài mạo song toàn, tính tình đoan chính.

Cậu hai là Quốc Uất, anh dũng thiện chiến, dung mạo khôi ngô.

Cậu ba là Quốc Tảng, người tình trong mộng của chị An Hoa, thiên hạ đồn đại đây chính là người xuất sắc nhất trong bốn người, trầm tĩnh quyết đoán, mưu trí hơn người.

Cuối cùng là Quốc Hiện, đây lại đích thị là một tên đáng ghét!

Chị An Hoa nằm vùng trong phủ đã non nửa tháng vẫn không thấy bóng dáng anh ba của mình đâu, đóa hoa lê tôi gặp trước đây héo rũ đến mức người không ra người, vậy mà tên kia còn thong dong bước ngang qua bỏ lại ba chữ "trông thương nhỉ!" rồi đi một mạch vào phòng sách cả ngày.

Thế nên sau khi một cánh cửa phòng sách phủ Hưng Đạo bị dỡ, một bên chân của cậu tư Quốc Hiện bị trật thì tôi vừa hay biết được nguồn cơn.

Tôi cắn răng bỏ ra ba phần mười tiền công đưa chị An Hoa về phủ để mua chuộc bà chủ trong Tĩnh Lầu, cộng với miếng ngọc tình cờ "nhặt" được từ chỗ Quốc Hiện, dắt chị ta vượt qua mấy tòa đình.

Cũng thật không uổng công, xem như một lần mở mang tầm mắt, chỗ này thanh nhã có, lộng lẫy có, toát lên vẻ thơ ca nhạc họa.

Đặc sắc nhất chính là gian phòng mà Quốc Tảng trốn tránh mấy ngày nay.

Tiếng đàn bầu réo rắt, một thiếu nữ ngồi trên sập trúc mặc yếm lụa đỏ nhập tâm đánh đàn, trên vai chỉ khoác hờ một chiếc đối khâm mỏng tang, mái tóc buông xõa lả lướt.

Tiếng đàn lúc trầm lúc bổng, đôi khi nhẹ như hoa rơi xuống nước, đôi khi lại hối hả như mưa tuôn, sau đó là tiếng hát ê a sau mành cất lên, cái gì mà "Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, người ở đời sao khỏi tiết gian nan.."

Trong lòng tôi ai oán, không biết có phải do tác động của việc mất trí nhớ hay không mà thể loại âm nhạc này tôi không thể cảm thụ được.

Bên cạnh cô đào hát là một người đàn ông mặc áo xanh sẫm, tóc đen như thác cột hờ, nửa nằm nửa ngồi trên sập.

Trái ngược với vẻ mặt nhăn nhó như khỉ ăn ớt của tôi, anh ta lại làm ra vẻ tận hưởng âm thanh tuyệt diệu, rất có phong thái vương giả, rất biết thưởng thức âm nhạc, khiến tôi bỗng nhiên thấy mình thật quê mùa.

Không cần suy nghĩ, chiếc lư hương còn đang mơ màng nhả khói trên bàn đã rẽ gió lao thẳng, rất chuẩn xác dừng lại trước trán anh chàng kia, mà anh ta cũng rất chuẩn xác bắt được .

Tiếng nhạc bất thình lình im bặt, một ánh mắt vừa dò xét vừa hiếu kỳ hướng đến trước mặt tôi.

"Hỗn xược, ai cho phép con ả này làm càn ở chỗ đây?

Gia nhân, gia nhân đâu hết rồi?!"

Gia nhân của anh ta còn chưa đến, bỗng chốc đã bị đè lên, hai tay bị ghì dưới eo còn cổ áo thì bị túm chặt.

Một cánh tay tôi bị gãy nhưng vừa hay chỉ cần một tay hai chân đã khéo léo chèn chặt anh ta với cái tư thế này.

"Cho anh nói lại, vợ chưa cưới của anh đến tìm anh này!"

Anh ta đanh mặt, cố sức vùng ra nhưng không được, lại không ngờ cô nàng trông nhỏ bé tàn tật kia lại có sức lực lớn đến thế, vừa mới bừng bừng lửa giận đã chuyển thành khiếp sợ, vẻ mặt trở nên mù mịt, lầm bầm:

"Ai?

Cô á?"

Tôi định tặng cho anh ta thêm một bạt tay nhưng may sao cánh tay còn lành lặn duy nhất của mình đã bận.

Đúng lúc này tôi chợt nghe sau lưng truyền đến tiếng chị An Hoa thì thào:

"Anh...anh ba..."

Tên đàn ông dưới người tôi chỉ cật lực lắc đầu, cố dùng mắt ra hiệu cho tôi rồi gấp gáp nói:

"Bên kia, bên kia!"

Tôi không nhớ là mình bao nhiêu tuổi, nhưng trời ơi trong suốt những năm đó tôi cá là mình chưa bao giờ mắc cỡ như ngày hôm nay.

Tôi lập tức dừng tay, đưa mắt sang một gian phòng chỉ được ngăn lại bằng một tấm rèm mỏng cách đó mấy chục bước chân.

Trong cái nóng oi ả của mùa hè, ấy thế mà tôi lại thấy gió mát từ mặt hồ thổi tới.

Gian phòng này không phải là một gian phòng kín, một mặt phòng chỉ dùng mành trúc đơn giản che chắn, chỉ cần có gió lại va vào nhau leng keng, tạo ra âm thanh thuần túy nhất.

Thấp thoáng sau mành trúc kia là mặt hồ rộng lớn trong suốt, ánh mặt trời rọi xuống mặt hồ nóng hổi, làm cho mỗi đợt sóng nhỏ đều lấp lánh như bạch kim.

Giữa hồ, một ngư phủ lặng lẽ buông cần, lơ đễnh để thuyền theo sóng nước bập bềnh trôi.

Theo gió thổi đến, còn nghe một chuỗi thanh âm xa xa.

"Ngày ấm uyên ương xuôi nước biếc

Gió hòa hải yến lượn rèm châu".

Trước mành trúc đặt một bàn đá được chạm trổ tinh xảo, màu sắc tinh túy làm người ta nảy sinh cảm giác muốn chạm vào, chén trà bằng men sứ xanh đang tỏa khói nghi ngút tạo thành một làn sương trắng huyền ảo.

Tại đó, một chàng trai áo trắng đang ngồi, tản mát ra thứ sắc thái làm người ta chói mắt, tinh khiết thanh cao không thể chạm tay.

Trên tay anh ta vẫn cầm quyển sách đang đọc dở, mà anh ta lại hướng ánh mắt lơ đễnh về phía cảnh đẹp ngoài kia, nhìn đến quên hết sự đời.

Đôi mắt chàng trai có phần lạnh nhạt, đầu mắt đuôi mắt đẹp như tranh.

Chìm đắm vào đôi mắt ấy, thật giống như thấy được hình ảnh đêm đông yên tĩnh, khiến lòng tôi cũng cảm thấy yên bình.

Hình như bên này quá ồn ào, khiến bên kia anh ta cũng bị đánh động, quay sang dùng đôi mắt lạnh nhạt đó lẳng lặng đánh giá tôi.

Đột nhiên, tôi cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc từ đầu tới chân, gã đàn ông phía dưới tôi bèn nhân cơ hội đảo khách thành chủ, nhìn tôi cười gian trá.

Ánh nắng xế chiều hắt vào gian phòng, miếng rèm mỏng bị gió thổi tung làm ẩn hiện bóng hình chàng trai đang nhoài người đứng dậy.

Tôi thấy chị An Hoa run rẩy bước tới, khuôn mặt thoáng hiện nét âu lo, đôi gò má lại hơi hồng hồng.

Hàng mi chị khẽ lay động, đôi mắt hạnh long lanh như có nước, mái tóc dài quá thắt lưng bóng mượt vương màu của nắng chiều.

Một nam một nữ đứng đó, đẹp không khác gì một bức tranh thủy mặc.

"Lâu rồi mới gặp lại anh ba.." – Chị An Hoa nhỏ giọng nói, bờ môi run run.

"Ừ, cũng lâu rồi nhỉ."

Quốc Tảng chỉ đáp lại một câu giống như cho có lệ, gương mặt anh ta toát ra vẻ lạnh lùng xa cách, giọng điệu cũng dứt khoát vô tình.

Nói rồi anh ta khẽ gật đầu với em gái mình một cái, ngoảnh mặt cắp đít rời khỏi.

Chị An Hoa ban đầu có hơi nghệch ra một chút, nhưng cuối cùng chỉ thở dài, có vẻ như đã quá quen với loại thái độ này của Quốc Tảng.

Bóng lưng chị cô đơn dưới nắng chiều, đổ dài trên sàn nhà bằng gỗ lê.

Tôi cũng không nhớ rõ tình huống khó xử ngày hôm đó kết thúc như thế nào, chỉ thấy chị An Hoa ngày càng trầm tư.

Chị ấy không đi tìm Quốc Tảng, cũng không len lén lau nước mắt nữa, chỉ là trong ánh mắt đẹp trong suốt như mặt hồ để lại vài tia tâm sự.

Các cụ từng nói, sự chấp trước của ngày nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai, tôi vốn đã thấy rõ tình cảm từ tên anh họ đó là không thể cưỡng cầu, càng kéo dài sẽ càng đau khổ.

Tiếc thay một khi đã yêu rồi thì hàng đống đạo lý chỉ như gió thổi mây trôi mà thôi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 2: Thứ Hai Là Thiền Sư Đạt Đạo


Sau sự việc ngày hôm đó, cánh tay bị gãy của tôi cũng được tháo băng, tuy vẫn còn có chút ê ẩm nhưng tạm thời về mặt thẩm mỹ vẫn xem như là ổn.

Lần đầu tiên tôi thấy việc được vương phủ cưu mang cũng thật may mắn lắm thay.

Hưng Đạo Vương công vụ bộn bề lúc này mới sực nhớ tới vị môn khách bất đắc dĩ là tôi đây, nhân buổi thuyết pháp của Tuệ Trung Thượng Sĩ liền cho gọi tôi đến để nghe giảng cùng.

Tôi không khỏi có suy nghĩ rằng ngài ấy thấy mình tính tình nóng nảy nên có ý muốn nhờ bộ môn này để lòng tôi thanh tĩnh hơn, thoát khỏi nghiệp chướng sâu nặng.

Hiểu được lòng ngài chỉ vì muốn tốt cho tôi, tôi đã cố gắng ngồi thiền nhập định, tập trung nghe Thượng Sĩ nói không sót một chữ nào, nhưng lúc Thiền tôi lại ngủ quên mất.

Thiền, nó là một cái gì đó rất khó giải trình, hình như chỉ có người có căn duyên mới có thể thấu triệt được.

Trần Thì Kiến ở bên cạnh lay tôi, nhỏ giọng nhắc:

"Này, Thượng Sĩ đang gọi em kìa!"

Tôi giật bắn người một cái, lớn giọng thưa:

"Thượng sĩ gọi học trò có gì muốn chỉ dạy ạ?"

Nhìn ánh mắt như gặp phải người điên của toàn bộ người ở đây, bao gồm cả Thượng sĩ, thì tôi biết tên Trần Thì Kiến này chơi tôi rồi!

Thượng Sĩ nhìn tôi vừa thất thố, vẫn ung dung cười hỏi:

"Trò tên gì?

Xuất thân từ đâu?"

"Thưa thầy, con không biết!" – Dù mồ hôi tôi rịn ướt lòng bàn tay nhưng tôi vẫn tỏ ra bình tĩnh đáp.

Trần Quốc Hiện phía trước tôi quay đầu xuống, hất mặt lên bảo:

"Xưa nay sinh tử là việc lớn, cớ sao cô lại nói không biết?

Hay là cô giả vờ cho qua chuyện để dối gạt thầy?"

Chị Anh Nguyên ngồi bên cạnh đấm vào vai anh ta một cái đau điếng, hằn hộc nói:

"Em ấy tạm thời bị mất trí nên không biết là đúng rồi, anh làm gì khắt khe với người ta vậy?"

Trong lòng tôi khẽ đáp lời chị: thì bởi vì anh ta bị tôi tẩn cho một trận nên trong lòng khó chịu chứ còn gì!

Hơ hơ, không những là bị một ả ất ơ đánh bại, mà mỉa mai thay lúc đấy ả đàn bà kia còn ôm cánh tay băng bó do bị gãy nữa cơ, suy bụng tôi ra bụng anh ta thì quả nhiên là nhục nhã.

Chị Anh Nguyên là em gái nhỏ nhất của anh ta, nhưng là em gái nuôi được Hưng Đạo Vương nhận từ nhỏ.

Anh ta cũng còn một cô em gái ruột nữa, nghe nói đương ngự làm hoàng hậu ở trong cung.

Thượng Sĩ hình như cũng hiểu nên không hề làm khó tôi, ngài chỉ nhẹ giọng giảng giải:

"Giữa trời dù có đôi vành chuyển,

Biển cả ngại gì hòn bọt sanh."

Tôi không hiểu lắm lời ngài nói, nhưng đại loại đoán được chắc là ngài bảo xuất thân không quan trọng, sống chết cũng là chuyện bình thường.

Sau đấy ngài đặt tôi tên là Tĩnh, trước ánh mắt kỳ lạ mà tôi không hề hiểu được của bốn người vương tử, tôi vui vẻ cảm ơn ngài.

Chỉ có một chuyện tôi không mấy hài lòng, là tại sao cái tên này giống với tên của toà lầu đáng ghét kia chứ nhỉ?

Tuệ Trung Thượng Sĩ bỏ qua tôi, ngài chỉ mặt Trần Quốc Hiện lên trả lời câu hỏi.

Ngài hỏi rằng:

"Trước đây Quy Sơn tổ có hỏi ta, "sau trăm năm, lão tăng đến dưới núi làm con trâu", thì khi ấy gọi là Quy Sơn tăng hay gọi là con trâu?"

Lần này thì không những tôi không biết mà toàn bộ người ở đây cũng yên lặng không nói nên lời.

Tôi nhìn vẻ mặt mịt mờ như đêm ba mươi của Trần Quốc Hiện thật muốn ôm bụng cười một trận nhưng không dám, chỉ sợ cười lên bị gọi trúng thì coi như xong.

Một lúc lâu, Thượng Sĩ vẫn giữ vẻ mặt tươi cười, ngài cho Quốc Hiện ngồi xuống, đưa ra gợi ý:

"Nếp đỏ mổ thừa hạt anh vũ,

Ngô đồng biếc đậu cành phượng hoàng."

Lúc này trong đình cũng dần vang lên tiếng thảo luận.

Tôi nghe chữ được chữ mất, khẽ lẩm bẩm một mình:

"Nếp mà mổ được chim, cây ngô đồng lại đậu trên cành phượng hoàng, thật là ngược đời!"

Trần Thì Kiến nghe thế liền thì thầm vào tai tôi:

"Đây nguyên là hai câu "Hương đạo trác dư anh vũ lạp, bích ngô thê lão phụng hoàng chi" (chim anh vũ mổ mãi những hạt nếp thơm, chim phụng hoàng đậu hoài trên cành ngô xanh) của nhà thơ Đỗ Phủ thời Đường, thầy đang dùng lối thơ đổi ngược để giải thích đấy!

Nghĩa là người khi đã đạt đạo, sống trong các loài mà không có tâm niệm dính mắc trong các loài, đó là hạnh của các Thiền sư.

Là con trâu hay lão tăng đều như nhau cả."

Trần Thì Kiến vừa nói xong thì cậu ba Quốc Tảng cũng đứng lên giải thích một lèo, có điều về ngữ nghĩa thì tôi hiểu chữ được chữ không, nhưng đại ý chắc cũng đúng như thế vì tôi nhìn ra được vẻ mặt đắc ý của Trần Thì Kiến nhìn tôi.

Lần này thì tới lượt tôi trố mắt nhìn Trần Thì Kiến, không ngờ anh ta lại uyên bác như vậy.

Trần Thì Kiến lại rỉ tai tôi:

"Học xong ra ngoài tôi xem bói cho."

Tôi gật đầu một cái rồi lại tập trung vào bài giảng, không ngờ anh ta còn biết xem bói nữa cơ đấy.

Buổi học đột xuất kết thúc, một mặt tôi thấy cơ thể rã rời, một mặt lại thấy đầu óc lẫn tâm hồn như mở ra một thế giới mới.

Học Thiền tuy có chút khó hiểu, nhưng cái lợi rất lớn, tôi biết nó cần thiết cho cuộc sống của tôi sau này.

Hôm nay bọn tôi may mắn được gặp Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng một phần do ngài là anh ruột của Hưng Đạo Vương, bình thường ngài hay vân du đây đó, chỉ thỉnh thoảng ngẫu hứng ghé thăm đám cháu của mình.

Chỉ vài lần ngẫu hứng thế thôi cũng đủ khiến họ ngao ngán.

Tôi gặp Trần Thì Kiến ở dưới mái hiên có giàn tầm xuân leo kín, trên tay anh ta cầm một cái mai rùa với ba mảnh đồng xu, ra chiều là kẻ thật sự biết bói toán.

Tôi từng đọc qua một câu tục ngữ rằng: bói ra ma, quét nhà ra rác, cũng không biết anh chàng này bói ra cái gì đây.

Ngoài suy đoán của tôi, anh ta bói xong lại không nói kết quả, chỉ cười cười bảo thiên cơ bất khả lộ.

Tôi nổi cáu:

"Cũng đâu phải tôi bắt anh bói, bói xong rồi lại giấu nhẹm thế kia thì thà rằng đừng bói ngay từ đầu".

Thật làm tôi bực mình muốn chết.

Việc này cộng với việc ban nãy anh ta đùa tôi là ra hai việc tôi ghi nợ.

Nét cười trên môi Trần Thì Kiến càng đậm, lại càng ra vẻ thâm thúy sâu xa.

Ôi cái bộ dáng gợi đòn kia, thật khiến người ta muốn đấm một cú cho rảnh nợ.

Trần Thì Kiến là người làng Cự Xạ ở Đông Triều, anh ta năm nay chỉ mới mười chín đôi mươi, nét mặt cũng được xem là khôi ngô, chỉ tiếc đôi mắt kia cười vào cứ híp lại như sợi chỉ.

Tài đoán quẻ cùng với cái miệng lanh lợi của anh ta khiến bao cô nàng phải thầm thương trộm nhớ ngày đêm.

Ở cùng với anh ta vài ngày, tôi cũng có phúc phận kinh qua mấy màn tỏ tình ong bướm của mấy cô nàng với anh ta, đáng tiếc anh ta chỉ phớt lờ.

Đứng với Trần Thì Kiến chưa lâu thì có người gọi tôi đến thư phòng cho vương gặp mặt, tôi vội từ biệt anh ta, theo gia nô đi thẳng một đường đến phòng sách.

Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi được gặp gỡ ngài, bởi từ khi vào phủ, hầu hết thời gian ngài đều ở bên ngoài lo sự vụ, hôm nay trở về, chắc là do có anh cả Tuệ Trung Thượng Sĩ ghé thăm.

Gia nô đứng bên ngoài xin phép, sau đó đưa tôi vào.

Đây là một căn phòng đơn giản, bên ngoài trồng đầy trúc xanh ngắt một màu, loà xoà cả vào cửa sổ, dù đang lúc nắng nóng nhưng khi bước vào chỉ thấy không khí mát mẻ dễ chịu, có cảm tưởng như đang lúc đi giữa hoang mạc đột nhiên được giội lên một gáo nước.

Căn phòng toàn sách với sách, sách chất cao như núi trên giá, sách xếp ngay ngắn trên kệ, trong lòng tôi thầm nghĩ, đúng là cha nào con nấy đây mà, hèn gì cậu ba nhà này cũng yêu sách như mạng.

Lúc tôi bước vào, vương đang ngồi trên sập tre trò chuyện với Tuệ Trung Thượng Sĩ, tôi đoán vị phu nhân xinh đẹp cao quý ngồi bên cạnh hầu trà chính là Thiên Thành công chúa – phu nhân của ngài.

Vương năm nay đã sắp ngũ tuần, nhưng đường nét cương nghị trên gương mặt cùng đôi mắt sáng như ưng vẫn như không hề thay đổi, đoán chừng lúc còn trẻ chắc cũng chẳng thua thiệt gì ai.

Mấy hôm nay ở phủ, tôi được biết là nhà này thuộc hàng vương tướng trọng yếu của triều đình, phu nhân lại còn là công chúa em gái Thượng hoàng.

Nhưng kỳ lạ thay, lối sống của họ lại rất giản dị, kẻ hầu người hạ dường như rất ít khiến tôi lấy làm thân thuộc, giống như không có người trên kẻ dưới, bản thân mình càng thêm dễ dàng hòa nhập với những người nơi đây.

Nhác thấy tôi đứng đó, vương liền biểu tôi ngồi.

Tôi ngược lại không dám ngồi, cứ đứng chết trân, quả tim thì hồi hộp đập bang bang trong lồng ngực.

Vương bèn cười bảo:

"Tiểu thư tên gì, là người ở đâu?"

Tôi lúng túng, khẽ liếc nhìn Thượng Sĩ thì đã thấy ông ấy trình bày giúp tôi rồi:

"Ban nãy ta hỏi thì con bé nói không nhớ, nên ta đặt tên giúp là Tĩnh."

Lúc này cả vương và phu nhân đều có loại biểu cảm kinh ngạc y như bốn cậu ngoài kia, trong lòng tôi ngập trong thắc mắc, nhưng lại không dám hỏi.

"Thưa vương, tôi chỉ biết lúc tỉnh lại đã thấy mình nằm dưới chân núi mà mọi người gọi là Yên Tử."

Không biết tôi có nói sai gì không nhưng lại thấy phu nhân kín đáo lau nước mắt, tuy vậy nhưng vành mắt đỏ hoe đã nói lên tất cả rồi.

Vương và phu nhân nhìn tôi bằng ánh mắt lạ lẫm, vừa như suy xét, vừa như cưng chiều làm tôi lúng túng không biết phải làm sao.

Tôi cá chắc là lúc nãy Thượng sĩ đã nói gì đó về tôi, nhưng ngài là người kín đáo, tôi cũng không thể đoán được là ngài đã nói gì.

Vương dường như cũng rất xúc động, ngài hỏi tôi mà chất giọng cũng run run:

"Ta nghe An Hoa nói con đánh người cứu nó, vậy con cũng từng học võ sao?"

Tôi cũng không biết trả lời ngài ra sao, bởi nó giống như bản năng vậy, tuỳ tiện lao vào là có thể tung ra quyền cước.

Tôi không nhớ mình là ai hay ở đâu, nhưng tôi nghi có lẽ mình đã từng học qua võ thuật mới có thể luyện ra được thân thể khoẻ mạnh nhường này.

"Thưa, tôi cũng không biết, có thể là do bản năng ạ."

Vương và phu nhân nhìn nhau, tôi thấy đầu bà gật nhẹ.

Lát sau, bà quay sang trìu mến nhìn tôi rồi nói:

"Nếu như con không nhớ gì hết, vậy thì làm con nuôi của bọn ta, lấy họ của bọn ta được không?"

Trên đầu tôi nổ bùm một tiếng, tôi thậm chí còn ngỡ là mình nghe nhầm.

Nhưng thực tế chứng minh tôi không hề nghe nhầm, bởi vì bà đã bước đến trước mặt tôi, nước mắt rơi lã chã.

Tôi thắc mắc, cho dù là nhận con nuôi cũng không thể xúc động như vậy được, nhưng đó cũng chỉ là thắc mắc, bởi vì tôi đâu có biết được nguồn cơn.

Trong vô thức tôi cũng thấy hơi đau lòng, cũng cảm giác trong thâm tâm mình khát khao có cha mẹ.

Không biết trước đây cha mẹ mình là ai, nhưng với tình hình đầu óc trống rỗng như thế này, tôi nghĩ lúc mình nhớ lại vẫn còn xa lắm.

Ma xui quỷ khiến thế nào tôi lại đồng ý, không phải tôi thấy người sang bắt quàng làm họ, nhưng rượu nhạt uống lắm cũng say, con người ta vốn có lòng trắc ẩn mà, dù cho suy ra thì tôi được lợi hơn họ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 3: Có Một Tên Phóng Túng, Nhưng Cũng Có Kẻ Mặt Lạnh Như Tiền


Đúng như suy đoán, sau khi trở thành con cái trong nhà này thì cuộc sống của tôi dần trở nên đảo lộn.

Nếu là ngày xưa thì ít ra tôi vẫn có một không gian riêng, chứ không phải đến khi chuẩn bị đi ngủ, nhìn lên nóc nhà lại thấy một tên đàn ông đu xà nhà như khỉ đột thế này.

Nhưng thay vì hét toán lên như những cô nàng khác thì tôi nhanh chóng nhặt lên chiếc giày vải, ném anh ta rơi xuống nền nhà.

Vốn dĩ việc đòi lý lẽ cho chị An Hoa đã là việc bao đồng nhất tôi từng làm, đã vậy còn đòi nhầm người, thật quá mức mất mặt.

Thế nên tôi dặn lòng phải tránh xa mấy người bọn họ ra, tránh càng xa càng tốt.

Nhưng không tìm phiền phức không có nghĩa là phiền phức không tự tìm tới, nhất là tên phiền phức nhất đời tên Quốc Uất này.

Tuy bị tôi ném rơi nhưng anh ta vẫn tiếp đất rất vững vàng, không hổ là người tập võ.

Thấy tôi nhìn mình trân trân, Quốc Uất cười hì hì tiến tới giường tôi, một tay chống lên thanh gỗ đầu giường, một tay xoa cằm.

Tôi bất giác kéo chăn trùm kín đầu thì nghe tiếng anh ta lẩm bẩm:

"Người thì chỉ vài lạng thịt lại nóng nảy bốc đồng, xuất thân thì mờ ám, chả hiểu sao cha lại nhận làm con nuôi.

Ngày xưa lúc Anh Nguyên được phong làm quận chúa xuất sắc biết nhường nào!"

Tôi bực mình kéo chăn xuống tới cổ, vừa nhìn anh ta chằm chặp vừa mắng:

"Có câu anh hùng không hỏi xuất thân, tôi mất trí nên xuất thân càng trong sạch hơn ai hết, hơn nữa việc được đại vương nhận làm con nuôi cũng không phải do tôi xin xỏ.

Anh đừng có đến đây ăn nói điêu ngoa."

"Biết đâu trước khi mất trí thì em là con của loạn thần tặc tử bị thanh trừng, nhỡ đâu ít hôm em nhớ lại, thế chả phải nhà tôi tự dưng ôm họa à?"

Tôi ngồi bật dậy, ném cái gối về phía anh ta, anh ta cũng rất phối hợp bắt được cái gối, lại nhìn tôi cười cười.

Nhưng bây giờ tôi thấy nụ cười của anh ta thật chướng mắt, hai hàm răng trắng sáng kia, như ánh dao đâm vào ngực tôi vậy.

"Ấy, mới nói mấy câu mà đã nổi nóng rồi, xem ra hôm qua Thượng sĩ ngồi giảng cả ngày chỉ là công cốc."

Mắt tôi nóng lên, phần vì tức mấy lời của anh ta, phần lại thấy vô cùng oan uổng.

Anh ta không đồng ý thì đi tìm cha mình nói khó đi, cớ chi lại đến tìm tôi sinh sự.

Anh ta hình như cũng biết mình đùa hơi quá, vội cầu hoà:

"Tôi mới đùa một chút đã khóc rồi, thế thì sao xứng với danh con gái của Hưng Đạo vương.

Nói thật chứ về xuất thân của em, tôi tin Thượng sĩ không nhìn nhầm, có điều..."

"Có điều gì anh cứ nói!

Hừ, ai lại đi khóc bởi mấy lời vô tri của anh!" – Tôi tỏ ra đanh đá, lại giục.

"Không có gì, tóm lại tôi cũng không có ý kiến gì về việc em trở thành em nuôi của tôi, hôm trước sức lực của em có chỗ khiến tôi bội phục, tôi tin sau này em cũng có thể làm nên chuyện lớn."

Tôi biết anh ta cũng có điều giấu tôi, nhưng biết sao được, tôi cũng không thể cạy miệng anh ta ra.

Trong bốn cậu vương nhỏ thì Quốc Uất có thể nói là kẻ phóng túng nhất, anh ta chưa bao giờ câu nệ lễ tiết dù bản thân chí ít cũng là một vương tử.

Thông thường tôi vẫn hay bắt gặp anh ta trêu hoa ghẹo bướm ngoài đường, nhưng nghe đồn vì cái tật hay nói kháy mà anh ta thường bị quan gia quở phạt.

Đúng là vỏ quýt dày có móng tay nhọn mà.

Nhưng người như anh ta lại rất ít bạn, ví như Quốc Hiện thì thường lui tới với Bình Trọng do cả hai đam mê cờ.

Thì Kiến với Quốc Tảng thì thuộc dạng gió tầng nào gặp mây tầng đó, hai người bọn họ hễ nói chuyện với nhau thì mấy người bọn tôi chạy còn không kịp chứ đừng nói là bàn luận chung.

Quốc Nghiễn xem vợ anh ta là nhất, riêng tôi mấy hôm nay cũng kết bạn được với đám con gái trong phủ.

Bởi thế đôi lúc tôi thấy Quốc Uất có chút cô đơn, có lẽ vì vậy mà anh ta trở nên phóng túng không chừng, hoặc ngược lại chính bản tính phóng túng đó làm anh ta trở thành một người không ai dám làm bạn.

Nhưng đó là chuyện của anh ta, tôi cũng không rảnh mà quản tới, dạo này tôi bận tập luyện thêm võ thuật của vương phủ.

Bản thân tôi không rõ mình đã từng học qua võ thuật chưa, nhưng nền tảng thể lực của tôi lại phải nói là quá tốt.

Thêm nữa, tôi lại có tài học đâu nhớ đấy khiến đại vương rất vừa lòng, theo như lời đại vương nói thì cả Anh Nguyên cũng chẳng thể sánh được.

Tôi không lấy làm đắc ý bởi mỗi người có một sở trường riêng, chị Anh Nguyên thì hay mắc lỗi hấp tấp nên nhiều lúc tính toán sai đường đi nước bước, dễ dàng bị tôi đả bại, nhưng về kinh nghiệm và độ sát thương của các chiêu thức thì tôi nghĩ mình khó lòng sánh lại chị Anh Nguyên, chắc bởi vì thời gian tập võ của chị ta nhiều hơn tôi lắm lắm.

Một nguyên nhân nữa là trong tiềm thức đã có sẵn những thế võ trước kia tôi đã từng học qua, cộng với những thế võ mới của vương phủ nên đương nhiên sẽ có chỗ đặc sắc.

Chị Anh Nguyên không biết cách thi triển các thế võ của tôi, mà tôi lại hiểu rõ đường đi nước bước của chị ta, nên chị ta bị đả bại là việc bình thường.

Trong phủ thì đám con gái ngoài hai chị em bọn tôi được học võ ra cũng chẳng còn ai nữa.

Chị An Hoa không có thể lực để học, chị dâu cả lại là công chúa nên từ nhỏ được cưng chiều, chị ấy cũng thuộc dạng liễu yếu đào tơ.

Trực tiếp dạy bọn tôi học là anh ba Quốc Tảng, có lẽ vì lần đầu gặp nhau có chút lúng túng nên lúc rày anh ta đối với tôi khá là lạnh nhạt, chỉ dạy cũng không hề có tâm.

Đáng tiếc làm sao tôi để anh ta đạt được ý nguyện, chỉ trong mười bữa nửa tháng là tôi đã có thể kề đao lên cổ anh ta rồi.

Lúc đấy anh ta chỉ lạnh lùng bỏ đi, chắc là khó chịu lắm, bởi anh ta là kẻ làm thầy người ta cơ mà.

Nhưng trên đời trò giỏi hơn thầy cũng đâu phải chỉ mình tôi.

Tôi cảm thấy khả năng Quốc Tảng có thể giỏi hơn được nữa, nhưng có lẽ do sống trong môi trường đã nổi trội hơn tất cả rồi nên anh ta tự mãn với bản thân, thành ra hơi lơ đãng.

Tuy vậy tôi vẫn rất khâm phục tài năng của anh ta, rất ít khi tôi nhìn thấy người giỏi như vậy.

Cũng có thể là do mất trí không nhớ ra nhưng tôi cam đoan chí ít là so với những người tôi gặp được sau khi tỉnh táo.

Nói thế thôi chứ tôi không có ý định tự mãn, nhiều khi trận đánh kia là do tôi bị anh ta khinh thường nên gặp dịp ăn may, chứ tôi biết mình còn phải học hỏi thêm nhiều lắm.

Ngày hôm sau vương lại có chuyến đi huyện Đường Hào, nên mọi sự trong việc giảng dạy cho tôi đều đổ lên đầu Trần Quốc Tảng.

Dạy cho một học trò giỏi như tôi mà có vẻ như anh ta không được vui cho lắm, cảm giác hễ đi ra đi vào trên đầu đều có một tầng mây đen.

Tôi ước giá như chị An Hoa được học võ chắc chị ta vô cùng vui sướng, chứ đâu có khổ như tôi.

Giữa trời nắng to mà anh ta bắt tôi chạy bộ là tôi thấy không vui nổi rồi.

Chị An Hoa bôi thuốc làm dịu da cho tôi, cau mày nói:

"Từ trước đến nay anh ba luôn là người nhã nhặn lịch thiệp, em đã chọc gì anh ấy thế?"

Chả lẽ tôi lại nói cho chị ta rằng chồng chưa cưới của chị ta là một kẻ đố kị người tài?

"Làm sao em biết, hay là chị đi hỏi anh ấy giúp em nhé, sẵn tiện nói tốt vài câu về em, dù sao chị cũng là vợ sắp cưới của anh ấy!" – Tôi trêu.

Chị An Hoa bỗng chốc đỏ mặt, nhưng lại buồn bã đáp:

"Hay là thôi đi, chị có là gì của anh ấy đâu, gặp chị càng khiến anh ấy khó chịu."

Tôi không nói chị An Hoa tự ti, bởi vì sự thật là như vậy.

Mỗi lần gặp mặt chị An Hoa, anh ta giống như sẽ sống ít đi mười năm vậy, mặc dù chính tôi còn thấy chị An Hoa xinh đẹp dịu dàng, tôi là phụ nữ mà tôi còn mê huống gì một người đàn ông.

Nhưng không, anh ta vẫn dùng sự lạnh lùng để đối đãi.

Quốc Tảng tẻ nhạt vô vị như vậy đó, trên đời này hình như không có người phụ nữ nào khiến anh ta để tâm ngoại trừ mẹ và em gái anh ta, nhưng thông thường hễ mà thứ nào càng khó nhằn thì người ta lại càng muốn đâm đầu vào đấy.

Tôi bị hành lên bờ xuống ruộng đến mức cơ thể sinh ra phản xạ tự nhiên, trừ giờ tập võ, thời gian khác chỉ cần nhác thấy bóng dáng Quốc Tảng từ đằng xa là tôi đã ba chân bốn cẳng chuồn lẹ rồi, đôi lúc chỉ cần tà áo anh ta phớt ngang là trong đầu tôi tự động nhảy số.

Đến mức có lần Quốc Uất hỏi tôi nguyên nhân, nhưng chỉ cần nhìn sơ qua vẻ tiều tuỵ của tôi là đã tự có câu trả lời.

Chị Anh Nguyên đi xin anh ta, tôi không cho, chị ta không biết tôi là người cố chấp cỡ nào.

Nhờ vậy đến hôm nay tôi đã có thể vừa chạy xung quanh Quốc Tảng giữa trưa mà vẫn cười chọc tức anh ta được.

Hình như từ dạo đó Quốc Tảng càng trầm mặc hơn, về vấn đề này chắc tôi phải cảm ơn anh ta, thầy nghiêm thì trò giỏi mà.

Đến ngày thứ tám thì tin này vừa hay đến tai của mẹ nuôi tôi, bà cho gọi Tảng đến rầy la một trận, tôi ngồi bên cạnh mà mát lòng mát dạ vô cùng, càng ra sức lấy lòng bà khiến bà cười tít cả mắt.

Anh Nguyên giả vờ ghen tị bảo:

"Bây giờ mẹ có em Tĩnh rồi nên quên Anh Nguyên chứ gì?"

Mẹ nuôi liền cười an ủi chị:

"Cả hai mẹ đều xem như con gái ruột, chị Trinh con thì ở nơi xa, đám con trai kia lại chẳng được cái tích sự gì, mẹ vẫn thương hai con nhất.

Con gái thì thân với mẹ, ta còn mong cả hai con đừng bao giờ lấy chồng xa như cái Trinh, đều ở lại bầu bạn tuổi già với ta."

"Mẹ vẫn còn trẻ lắm ạ!

"– Tôi nịnh nọt, lại nói – "Mẹ kêu đừng lấy chồng chắc chị Anh Nguyên không chịu đâu!"

Chị Anh Nguyên chỉ vào trán tôi:

"Có em mới không chịu ý, chỉ giỏi nịnh."

Không biết có phải tôi hơi mẫn cảm không, nhưng cùng là con nuôi nhưng ánh mắt của mẹ dành cho hai chị em bọn tôi rất khác.

Giá như mẹ yêu chiều chị Anh Nguyên hơn thì tôi còn hiểu được, bởi vì chị đã ở với mẹ rất lâu rồi, đằng này tôi lại nhìn ra mẹ nhìn Anh Nguyên chỉ đơn thuần là yêu thương, nhưng với tôi lại kèm cả chút gì đó xót xa, dằn vặt.

Thỉnh thoảng tôi ngước lên thì thấy mẹ nhìn mình tha thiết.

Hình như Quốc Tảng cũng cảm nhận được nên suốt buổi anh ta chỉ yên lặng uống trà nhìn mẹ con tôi cười nói với nhau, thi thoảng quét mắt qua tôi.

Từ nay tôi có chống lưng rồi đấy nhé, anh đừng hòng mà bắt nạt tôi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 4: Tiếp Theo Là Cái Đồ Miệng Quạ


Thành Vạn Kiếp buổi sáng tấp nập kẻ mua người bán, ngựa chen không lọt, có mấy cỗ xe ngựa nhà quyền quý cứ liên tục hét lên tránh đường, mà dòng người đông như mắc cửi khiến ngựa của bọn họ đi không được mà lùi cũng không xong.

Tôi đứng ở cửa phủ liên tục chậc lưỡi, không đi thì hơn không đi thì hơn.

Chị Anh Nguyên ở phía sau hối thúc:

"Sao em cứ chần chừ mãi thế, có còn sớm nữa đâu?"

Tôi dùng ánh mắt bảo chị ta cứ nhìn đi sẽ biết.

Anh Nguyên nhìn tới, cũng tỏ ra ái ngại.

Chả là hôm nay tôi và chị Anh Nguyên được nghỉ phép, nên ngay từ sớm chị đã rủ đám con gái bọn tôi đi dạo chợ nhân lúc tiết trời còn trong xuân, ngoài tôi và chị Anh Nguyên thì còn có cả chị An Hoa và chị dâu cả.

Ngày mai là tiết Thanh minh, giờ ngoài đường người ta đã xúm xít bán đầy áo giấy, giấy tiền vàng mã, dòng xe của những người đi Tảo mộ cứ chảy mãi không thôi, cha nuôi tôi chắc cũng sắp về.

Chị dâu cả Quỳnh Trân có xuất thân hết sức cao quý, chị là chị gái ruột của quan gia, cho nên tôi vẫn ngại ngùng chưa chủ động bắt chuyện.

Hôm nay thấy chị cũng không khó gần như tôi tưởng tượng, ngược lại rất hiền, chị còn đích thân chuẩn bị bữa sáng cho mấy đứa bọn tôi.

Cái thứ xôi khúc qua tay chị càng thêm ngậy béo trong miệng thật làm người ta ăn vào phải gật gù tấm tắc.

Chị Quỳnh Trân có đôi lúm đồng tiền rất duyên, chị hay cười, mỗi khi cười là lộ lúm đồng tiền rất rõ, vành mắt cong cong như vầng trăng.

Nghe nói anh cả Quốc Nghiễn ngay từ lần đầu trông thấy chị dâu đã si mê rồi, nằng nặc đòi cưới.

Khi ấy với quyền hành của cha nuôi tôi thì chuyện đó cũng chẳng là gì, huống hồ mối liên hôn giữa hai dòng trong họ cũng không phải chưa có tiền lệ.

Tuy mối quan hệ trong tộc Trần khiến tôi khá là đau đầu nhưng không sao, vẫn nằm trong phạm vi tôi có thể hiểu được.

Mấy đứa con gái chúng tôi chen lấn một hồi thì không tài nào chui ra nổi, cũng may lúc nhập vào đám đông bọn tôi đã nắm chặt tay nhau, nếu không đã sớm lạc tới phương nảo phương nao rồi.

Đang loay hoay thì có một bàn tay mạnh mẽ kéo lấy tay tôi, khiến tôi mất thăng bằng ngã nhào về phía trước thoát ra khỏi đám người như nước chảy xiết, cùng lúc, cả ba người chị phía sau cũng nhân đó thoát được ra.

Khi tôi tưởng mình sắp sửa cắm cổ xuống đất thì vừa hay cắm lên ngực của một gã đàn ông, sở dĩ tôi đoán là đàn ông vì vòm ngực này vô cùng rắn chắc mạnh mẽ, trong bụng tôi vừa cảm thấy may mắn vì không ngã, lại vừa cảm thấy xấu hổ vô cùng.

Nhưng không để tôi xấu hổ được lâu, cả một đám con gái phía sau tôi cũng mất thăng bằng khiến cho cả bốn người cùng ngã nhào lên tên đàn ông xấu số đó.

Tôi trừng mắt nhìn anh ta, anh ta cũng trừng mắt nhìn tôi, lúc đấy tôi chỉ biết kêu trời.

Hoá ra anh ta chính là Trần Quốc Tảng.

Lần này thì dù võ nghệ có cao siêu đến đâu tôi cũng không phản ứng kịp, ai bảo anh ta bất ngờ kéo tay tôi lúc tôi không phòng hờ như vậy, ai bảo bốn người chúng tôi lại nắm tay nhau chặt thế này.

Ba người kia nặng đến nỗi khiến tôi ép sát vào Quốc Tảng, tôi đơ người nghe tiếng tim anh ta đập bang bang bang, hoảng hốt nhìn ánh mắt lạnh lẽo của anh ta trừng mình.

Thôi xong, nỗi ô nhục này dù có nhảy xuống sông Nhị Hà cũng không rửa sạch được.

Lúc đám người trên lưng tôi lồm cồm bò dậy tôi cũng bị Quốc Tảng hắt văng ra đất, anh hai Quốc Uất vội chạy lại đỡ lấy tôi rồi chỉ tay vào mũi con người vô lương tâm kia mà mắng:

"Em làm gì đối xử thô bạo với người ta vậy?"

Tôi cảm kích nhìn Quốc Uất, mắng hay lắm, tôi cũng muốn mắng anh ta như vậy.

Anh Quốc Uất bình thường ruột để ngoài da, mấy hôm nay thấy tôi bị Quốc Tảng hành hạ đã đành, lại thêm chuyện này nữa khiến anh ta tức không chịu được.

Chị An Hoa thấy tôi đi cà nhắc thì đến dìu lấy tôi, chị kín đáo liếc sang Quốc Tảng nhưng anh đã nhìn sang nơi khác.

Khoảnh khắc đó tôi thấy mặt anh ta hơi hồng hồng, không biết vì bị tôi đè trúng hay bị An Hoa nhìn trúng lúc thất thố này nữa.

Tôi ai oán, không hiểu sao mình lại xui xẻo thế không biết, bị ngã đã đành, còn bị ngã lên người cái tên đáng ghét kia, ai kêu anh ta đi lo chuyện bao đồng chứ.

Bây giờ anh ta bị đè trúng thì trút giận lên tôi.

Tóm lại thì do mất hứng nên đám chúng tôi quyết định trở về.

Trên đường về mới biết bọn người Quốc Tảng ra là đi xem trận cờ của Quốc Hiện và Bình Trọng, tôi nhìn trên đầu gã Quốc Hiện bốc lên luồng khí đen như muốn đánh người thì cũng đủ hiểu anh ta thua rồi.

Trần Thì Kiến đi cạnh tôi, kề tai nhỏ giọng nói:

"Hôm nay anh ta thua, mọi bận anh ta đều thắng nhưng hôm nay thật sự đã thua rất thảm đó."

Trần Quốc Hiện ấy thế mà lại nghe được câu nói của Thì Kiến, anh ta vội quay người lại tóm lấy cổ áo của tên nhiều chuyện, hằn hộc nói:

"Còn không phải tại cái miệng quạ của mày?"

Tôi và chị Anh Nguyên hốt hoảng kéo hai tên đó ra.

"Rốt cuộc hôm nay mấy anh bị sao vậy?" – Chị Anh Nguyên cuối cùng cũng nhận ra điều bất thường, lớn tiếng hỏi.

Anh cả Quốc Nghiễn bèn ôn tồn giải thích:

"Anh tư của em cay cú Thì Kiến nên mới nói thế thôi.

Bình thường nó đấu cờ với Bình Trọng chỉ có thắng không có thua, hôm nay trước khi đi bỗng được Thì Kiến gieo cho một quẻ xấu.

Anh tư em đương nhiên không tin, nhất định phải đi để chứng minh cho Thì Kiến thấy kỳ nghệ của mình, và bói quẻ gì đấy chỉ là phường lừa gạt.

Chà chà chà chà, không ngờ nó thua thật, còn thua rất thảm nữa cơ!"

Anh cả nói tới đó thì bất giác thở dài, còn chị Anh Nguyên cũng buộc miệng thốt ra mấy chữ: "thần kỳ ghê!"

Quốc Hiện tức đến dậm chân, nghiến răng nghiến lợi:

"Ai cần mày bói, rảnh rỗi quá thì đi ngủ cho khoẻ người!"

Trần Thì Kiến ngược lại rất bình tĩnh nở một nụ cười châm chọc:

"Vạn vật trên thế gian này đều đang ngày càng hoàn thiện đi lên.

Bình Trọng cũng vậy, chỉ có anh tự mãn cho là mình đã giỏi rồi nên mới thua mà thôi."

Tôi buồn cười, Thì Kiến này không hổ là học trò giỏi của Tuệ Trung Thượng Sĩ, nói đạo lý nghe cũng thật mát tai.

Lúc này đầu óc Quốc Hiện đã không còn thanh tĩnh được nữa, lao vào định thượng cẳng chân hạ cẳng tay với Thì Kiến, cũng may bọn tôi cũng không phải là hòn đất cục sỏi ven đường để mặc anh ta muốn làm gì thì làm.

Trần Thì Kiến chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, tiếp tục cười nói:

"Bản tính anh không ác, chỉ là làm việc không có đầu óc mà thôi!"

Tôi đến suy nghĩ cũng chưa kịp vội bịt chặt miệng anh ta.

Lôi kéo xô đẩy đến lúc cả hai chịu yên tĩnh thì trời cũng quá trưa, bọn tôi bèn mệt mỏi kéo nhau về, vừa đến đã thấy mẹ chờ ở cửa lớn.

Nhác thấy bọn tôi từ xa, bà liền cười hỏi:

"Hôm nay trời bão hay sao mà mấy đứa này lại đi chung với nhau vậy kia?"

Trong lòng tôi thầm nghĩ còn hơn thế nữa cơ, bọn người này không gặp mặt thì thôi, hễ xúm lại một cái là trời long đất lở ngay lập tức.

Tôi nhìn mẹ sắc mặt hồng hào, lại cộng thêm vẻ xinh đẹp đoan trang, trông bà như một người phụ nữ chỉ mới vừa qua ba mươi vậy.

Những lúc rảnh rỗi hầu mẹ, tôi thường nghe bà kể chuyện xưa, tôi thích nhất là nghe chuyện về mối tình của bà và cha thuở trước.

Ngày đấy cha tôi chỉ mới mười chín, tức là vừa bằng tuổi Trần Thì Kiến bây giờ, ở cái tuổi này thông qua những hành động của anh ta ban nãy thì tôi cũng phần nào đánh giá được đó là độ tuổi ngông cuồng nhất của người ta.

Ban nãy nếu không có bọn tôi ở đó chỉ e cái đồ mọt sách chỉ biết đấu võ mồm như anh ta đã bị Quốc Hiện tẩn cho mềm xương vì cái tội láo toét.

Ngày đó mẹ tôi là công chúa lá ngọc cành vàng, còn cha lại chỉ là một vương tử nho nhỏ chưa có chiến công gì to lớn, đã vậy phụ thân của ngài – tức ông nội nuôi tôi chưa từng gặp mặt còn từng làm ra chuyện đại nghịch bất đạo là tạo phản nữa cơ.

Nhưng trong cái rủi có cái may, cha tôi nhờ những hành vi muốn tạo phản đó của ông nội mà được tôi luyện thành một người vừa tinh thông võ nghệ, vừa thuộc lào binh pháp, thi thư, tóm lại là văn võ song toàn.

Sau đấy cha được cô cả của ngài tức là công chúa Thụy Ba nhận làm con nuôi, rồi rước về Thăng Long.

Trên đời ấy mà, chỗ nào đông người thì chỗ đó càng nhiều tai tiếng, ai bảo mẹ tôi ngày đó dung mạo lẫn tính cách quá mức nổi bật, đã khiến cha cùng với Trung Thành Vương vừa nhìn đã yêu.

Trời ơi cái kiểu vừa nhìn đã yêu lại còn kề cận nhau sớm sớm chiều chiều thì tình cảm phải nói là thâm sâu tựa biển.

Nhưng một gái không thể có hai chồng, mà mẹ đối với Trung Thành vương cũng chẳng hề có tình cảm gì sất, cho nên đám nam thanh nữ tú ở Thăng Long khi đó có ai là không biết đoạn tình cảm của mẹ với cha đâu.

Các cụ hay nói "cưới vợ phải cưới liền tay, chớ để lâu ngày thiên hạ gièm pha".

Gièm pha thì tôi chưa thấy chứ mẹ tôi chỉ vừa bước qua tuổi cập kê thôi là ngay tháng giêng đầu năm đó Trung Thành vương đã lập tức thỏ thẻ vào tai cha ngài ta là Nhân Đạo vương muốn xin thái thượng hoàng gả mẹ tôi cho mình liền.

Riêng điều này thì tôi lấy làm bái phục tốc độ làm việc hiệu quả của ngài ta, ngài ta đánh cha tôi một đòn phủ đầu cho dù cha ngay từ trước đã nắm giữ được trái tim của mẹ.

Từ đó tôi rút ra một bài học cho mình, nếu muốn lấy được ai thì trước tiên phải lấy lòng cha mẹ người ta trước.

Nhưng ngài ta vẫn thua cha tôi ở mức độ chơi liều, có câu liều ăn nhiều chính là vậy.

Trong đêm hội trước khi mẹ tôi về nhà chồng, cha tôi đã lẻn vào chỗ mẹ mà trong lớp lớp phòng ngự của phủ Nhân Đạo chẳng hề có ai hay biết.

Nhưng đáng nói ở đây, cha tôi làm việc lại rất biết chừa đường lui cho mình, trước đó cha đã sai gia nô của đi thông báo cho cô cả.

Cô cả nghe tin tuy rụng rời tay chân nhưng vẫn còn sáng suốt nghĩ ra cách giải quyết, bà lập tức đem mười mâm vàng sống đến nói khó với Thượng hoàng và khéo léo đề cập đến tình huống hiện tại.

Trước thế sự đã rồi, Thượng hoàng cũng đành mắt nhắm mắt mở mà cho người đến rước cha tôi ra.

Cuối cùng thì vị quan gia thời đó phải mất oan hai nghìn mảnh đất để bồi thường tổn thất tinh thần cho Trung Thành vương, mà kẻ chủ mưu như cha tôi lại vừa chẳng mất mát gì, vừa có được vợ đẹp.

Bởi suy cho cùng, con người ta hơn nhau là ở cái đầu, Trung Thành vương tuy có gia thế có tốc độ, cũng chẳng làm gì hơn được.

Nếu tôi mà là Trung Thành vương, sợ sẽ đổi thành Bất Trung vương mất!

Chị dâu cả Quỳnh Trân bước lên bậc thềm, mỉm cười hỏi mẹ:

"Hôm nay cha về hả mẹ?"

Mẹ cười cười gật đầu, tôi nhìn thấy mà hâm mộ không thôi.

Mai sau tôi cũng hi vọng tìm được một người như thế, không cần giàu sang, không cần quyền hành gì, chỉ cần vui vẻ cùng nhau sống tới bạc đầu là được.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 5: Có Kẻ Bị Giáo Đâm Đùi


Chừng nửa khắc sau, từ phía xa đã thấy một toán người ngựa thong thả trở về, tiếng guốc ngựa đạp trên mặt đường nghe lộc cộc.

Bên ngoài dù có chút hỗn loạn, nhưng mọi người đều như thường lệ tự giác tách ra hai bên.

Ngựa của cha dừng lại trước phủ, ngài mặc một bộ quần áo tối màu đơn giản, nhưng không giấu được anh khí ngút trời.

Cha cởi áo choàng đưa cho mẹ, rồi nhìn một lượt tất cả bọn tôi, ôn tồn nói:

"Chà, hôm nay đông đủ nhỉ!

Sẵn tiện giới thiệu với mấy đứa một người."

Cha vừa nói xong thì có một người tự giác bước lên phía trước chắp tay vái chào hết một lượt.

Đó là một anh chàng cao to, anh ta phải cao hơn tôi hẳn một cái đầu đấy, lại thêm mày kiếm mắt sắc, trán rộng mũi cao, đường nét rắn chắc mạnh mẽ, mái tóc dài cột gọn lên cao càng làm gương mặt lộ ra những góc cạnh nam tính.

Anh chàng mặc một chiếc quần màu nâu đã sờn cũ, không mặc áo để lộ vòm ngực trần khỏe khoắn màu bánh mật, hai bên lại quấn đôi bọc cổ tay bằng vải nhạt màu.

Trên người anh ta có một điểm làm tôi giật mình kinh ngạc, đó là vết thương ở trên đùi trái, tuy máu đã khô nhưng trông qua cũng đoán được là ban nãy máu đã chảy ròng ròng.

Hình như cha cũng nhìn ra được thắc mắc của tôi, liền kể lại:

"Trên đường về lúc đi ngang qua làng Phù Ủng thì gặp anh chàng này đây, anh ta ngồi đan sọt ngoài đường nhưng lại không hề biết quan quân trảy đến, lính của ta quát mãi mà vẫn cứ ngồi yên.

Lính dọn đường nóng lòng mới dùng giáo đâm xuyên vào đùi anh ta, vậy mà anh ta cứ dửng dưng như không, hỏi ra mới biết thì ra đang mải nghĩ về cuốn sách binh thư nên không hề chú ý.

Ta hỏi han thử lòng một lát, chàng này vậy mà lại đối đáp trôi chảy hết câu hỏi của ta, thế nên ta sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi đưa về cùng."

Tôi trầm ngâm, bây giờ khéo môn khách trong phủ còn nhiều hơn cả người nhà nữa cơ, cha tôi vô cùng trọng người tài, cứ nhìn tôi và Trần Thì Kiến rồi biết.

Không chỉ riêng hai kẻ bọn tôi, trong phủ này môn khách nhiều như hoa mùa xuân vậy.

Nhưng tôi chắc chắn ánh mắt của cha rất tốt, ông mà coi trọng ai, thì ắt hẳn tương lai không thể xem thường.

Anh chàng nọ nghe cha tôi nói xong mới cúi người lên tiếng:

"Kẻ hèn là Phạm Ngũ Lão."

Chị Anh Nguyên từ phía sau tôi thò đầu ra, thì thầm vào tai tôi:

"Anh chàng này được phết nhỉ, hợp ý em không chị làm mai cho."

"Vớ va vớ vẩn!" – Tôi nhỏ giọng đáp rồi đẩy nhẹ chị ta một cái.

Ai ngờ chị ta ngã ra thật, tôi đang luống cuống thì anh chàng Phạm Ngũ Lão đã đỡ chị ta lên.

Chị Anh Nguyên rối rít cảm ơn rồi quay sang nhìn tôi trừng trừng.

Tôi vội ra hiệu xin lỗi, sau đó nhanh như cắt trốn sau lưng chị An Hoa.

Nhìn thấy cái cách Phạm Ngũ Lão đối xử với chị Anh Nguyên mới thấy khác cậu ba nhà này một trời một vực, một người thì nhã nhặn lịch thiệp, một người thì hành xử kém duyên, tôi phải hên lắm mới xui được vậy.

Nghĩ thế tôi liền vô thức liếc anh ta một cái, ai ngờ lại bắt gặp ánh mắt anh ta nhìn tôi đăm đăm.

Tôi đâm hoảng, cũng không biết anh ta nhìn mình hay nhìn chị An Hoa phía trước tôi nữa.

Từ ngày Phạm Ngũ Lão vào phủ, cuộc sống của tôi như đảo lộn hoàn toàn.

Nói đảo lộn ở đây cũng không hẳn theo hướng tiêu cực, ví như việc một người võ nghệ còn cao hơn cả Quốc Tảng xuất hiện thì đương nhiên vị thế của anh ta ở trong phủ phải khác đi rồi.

Phạm Ngũ Lão vào phủ một tháng thì anh ta chính thức đảm nhận việc tập võ cho bọn người chúng tôi, bao gồm cả bốn vị vương nhỏ.

Nói về nhân phẩm, Phạm Ngũ Lão đương nhiên có nhân phẩm cực kỳ tốt, kính già yêu trẻ, khiêm tốn lễ độ.

Nói về tính tình, Phạm Ngũ Lão bình ổn chững chạc.

Nói về tác phong, Phạm Ngũ Lão thoải mái phóng khoáng.

Nói về tài, Phạm Ngũ Lão ngoài võ nghệ cao siêu, thuộc lào binh pháp, đã vậy còn là một người hay chữ thích văn chương.

Nói về nhan sắc, ái chà, anh ta tuy dung mạo không bằng mấy vị vương nhỏ kia, nhưng bộ dáng cao to, phong độ ngời ngời, mỗi khi cười là làm cho đám con gái chúng tôi điêu đứng.

Tôi cảm thấy sự xuất hiện của Phạm Ngũ Lão trên đời là một việc vô cùng hi hữu.

Tại sao ư, bởi vì anh ta hoàn hảo như một ông tiên, tôi chưa từng thấy anh ta có khuyết điểm gì để kể ra cả, đúng là tạo hoá bất công lắm.

Ngũ Lão trở thành thầy tôi, tôi không cần phải chịu nắng nôi hành hạ của Quốc Tảng, mặc dù những ngày cuối cùng làm thầy anh ta đã có chút dịu dàng, nhưng thoát khỏi anh ta vẫn khiến tôi thở phào một cái.

Tâm hồn tôi kể từ ngày đó dần được chữa lành, tôi có thể tự tin khẳng định chắc nịch một câu rằng tôi không còn sợ Quốc Tảng nữa.

Điều khó chịu ở đây là chị Anh Nguyên liên tục "tác hợp" cho tôi với Phạm Ngũ Lão, mặc dù tôi với anh ta cũng chả thân thiết gì, người thân thiết với anh ta nhất trong phủ này là Quốc Uất, sao chị ta không tác hợp cho hai người nọ luôn đi nhỉ?

Người ta bảo triệu chứng đầu tiên của một tình yêu chân thật ở người con trai là sự rụt rè, còn ở người con gái là sự táo bạo, Phạm Ngũ Lão đối với chị ta thật sự là rụt rè, còn chị ta đối với Phạm Ngũ Lão cũng rất táo bạo, là táo bạo tác hợp cho bọn tôi.

Bởi thế lần này đối tượng tiếp theo khiến tôi hoảng hốt là chị Anh Nguyên.

Tháng năm là Tết Đoan Ngọ, cũng là ngày giỗ quốc mẫu Âu Cơ.

Rằng: "Tháng Năm ngày tết Đoan Dương, là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang."

Buổi sáng vừa rời giường là Đan Thanh đã đem sang cho tôi một bát cơm rượu to, nghe bảo ăn để giết sâu bọ và bệnh tật trong người gì đấy, có lẽ chính vì thế mà ngày này còn được gọi là ngày giết sâu bọ.

Tôi rửa mặt súc miệng xong thì mang bát cơm rượu sang phòng của chị Anh Nguyên, buổi sáng chị ta hay bỏ bữa lắm.

Chị Anh Nguyên quả nhiên đang ngồi chống cằm trên bàn, tay cầm thìa chọc chọc vào bát cơm rượu còn y nguyên, mà ánh mắt thì như nhìn vào nơi nào xa xăm lắm, đến nỗi tôi đã ngồi xuống được một lúc lâu mà chị ta vẫn còn chưa hay biết gì.

Trong đầu tôi lóe lên, hôm qua thầy Lão dạy võ của bọn tôi đã rời phủ về nhà ăn Tết Đoan Ngọ với mẹ của anh ta rồi.

Tôi làm ra vẻ nghiêm trọng hô lên:

"Ủa anh Ngũ Lão, sao anh quay lại sớm thế?"

Ai ngờ chị ta thật sự tỉnh hồn, vội vàng đứng dậy sửa sang đầu tóc.

Lúc phát hiện ra tôi đùa dai, chị ta đánh tôi một cái đau điếng.

Tôi ôm vai, cười trêu:

"Sao thế, bà mối lại đi để ý đối tượng làm mai à?"

Chị Anh Nguyên nhìn tôi, ủ rũ:

"Không biết nữa, chỉ thấy trong đầu toàn hình bóng anh ta."

Tôi giả bộ xụ mặt, than:

"Chết dở, em cũng cùng lúc phát hiện ra mình có tình cảm với anh ta mất rồi."

"Vừa hay!" – Chị Anh Nguyên nằm dài lên bàn đá ủ rũ đáp.

Trong lòng tôi cười như điên, cho chừa cái tội thích gán ghép người khác.

Chị Anh Nguyên năm nay cũng mười chín vậy mà vẫn chưa có mối tình nào vắt vai, không biết bởi vì chị ta kén hay vì chị mạnh mẽ quá nên không ai dám lấy.

Nay ơn trên gửi đến một cái duyên to đùng mà chị ta còn đùng đẩy qua cho tôi, lần này xem chị chạy trốn đường nào.

Tôi vẫn chưa định nói sự thật rằng tôi chả thích Phạm Ngũ Lão tẹo nào cho chị Anh Nguyên, tôi muốn nhìn thấy chị ta phải khốn đốn rồi nói ra sự thật trong lòng mình, cũng để chị ta trả giá vì hành động gán ghép cho tôi mấy ngày hôm nay, khiến tôi không giờ khắc nào yên tĩnh.

Thành thử kể từ dạo đó, hễ gặp tôi là chị ta lại thở dài, dường như suy nghĩ rất lung.

Tết Đoan Ngọ nên bọn tôi cũng không cần phải học võ, ăn bát cơm rượu cho ấm bụng xong thì tôi và chị Anh Nguyên đến gian chính hầu chuyện với cha mẹ và anh chị trong nhà.

Chị An Hoa và chị Quỳnh Trân đã đến từ sớm, đang cùng với gia nhân làm bánh gio, mẹ thì ngồi trên sập bày cỗ cúng.

Chả hiểu sao lúc này sống mũi tôi tự nhiên cay cay, có lẽ đã lâu lắm rồi từ trước khi mất trí, tôi chưa từng nhìn thấy cảnh đoàn viên ấm cúng như vậy.

Chị Anh Nguyên lấy khuỷu tay huých tôi, càm ràm:

"Sao em mau nước mắt vậy, hở chút là khóc, cha thấy lại mắng cho."

Tôi lấy lại tinh thần ngay lập tức, trả đũa:

"Ít hôm nữa em và anh Ngũ Lão thành một đôi, để xem ai mới là người khóc."

"Hứ, chị mà khóc vì mấy chuyện vớ va vớ vẩn đấy à?"

Tuy cứng miệng nhưng nét mặt chị ta xụ xuống ngay, tôi đắc ý nhưng không vội lật tẩy chị.

Đoan Ngọ là ngày có dương khí mạnh nhất trong năm, buổi trưa oi bức đến nỗi tôi và đám con gái phải kéo nhau ra ngôi đình ở giữa ao mà ngồi hóng mát.

Tháng năm cũng là mùa sen sớm, gần một nửa ao đã ngập trong màu nắng và màu hồng cánh sen.

Giữa cái nắng tháng năm gay gắt, tôi mặc yếm được chắp bằng sợi gai và tơ nõn chuối, giao lĩnh bằng the Cát Liễu cột chéo ngang eo nằm dài trên sập, nghe chị Anh Nguyên khẽ đọc một câu ca dao:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng,

Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn."

Ngày thường chả thấy chị Anh Nguyên đọc được nửa trang sách, vậy mà hôm nay miệng ngọc lại đọc được cả ca dao, quả nhiên người ta yêu vào thì tâm hồn cũng tràn ngập thi họa.

Tôi cười hì hì nhìn chị, đáp trả:

"Thân chị như cánh hoa sen,

Chúng em bèo bọt chẳng chen được vào.

Lạy trời cho cả mưa rào,

Cho sen chìm xuống, bèo trèo lên trên!"

Chị Quỳnh Trân nhéo tay tôi giả vờ nói lẫy:

"Này, đừng có lôi bọn chị vào, bọn chị không muốn làm bèo bọt chút nào đâu."

Tôi cười nịnh với chị nhưng không đáp, trong lòng nghĩ rằng dù chị có là bèo thì cũng là một cây bèo vàng lá ngọc, tôi nhìn cách anh cả Quốc Nghiễn đối với chị Quỳnh Trân, cảm thấy nếu như mình cũng có xuất thân như chị, liệu có phải anh chồng tương lai của tôi cũng dịu dàng với tôi như thế?

Có điều dù có nói gì tôi vẫn tin anh Quốc Nghiễn đối xử tốt với chị hoàn toàn là do sự yêu thương từ tận đáy lòng.

Chị Anh Nguyên lúc này cũng hậm hực đáp trả tôi:

"Tôi thấy bây giờ tôi làm gì em cũng chống lại tôi!"

Tôi đáp "có sao?" rồi lại lười biếng nằm dài.

Đang nhắm mắt ngẩn ngơ thì nghe tiếng vịt kêu "quác quác" đằng xa, tôi mở choàng mắt nhổm dậy, đã thấy phía ao đằng xa kia có mấy người đàn ông cởi trần đã lao xuống bắt vịt, ánh mặt trời rọi xuống mặt ao loá mắt khiến tôi không nhìn rõ được ai, nhưng trông bộ dáng chắc là đám đàn ông trong phủ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 6: Lại Có Người Tương Tư Thành Bệnh


Cái ao này nằm phía sau vương phủ thuộc đất phong của cha tôi, tương đối rộng.

Xung quanh ao là những ngọn núi nhỏ xanh ngắt một màu, dưới ao trồng sen toả hương thơm ngát, cá chép bơi từng đàn.

Ở phía tả dựng đình cao hóng mát trên mặt ao, ở phía hữu là bãi bồi ao cạn, thường có vịt nước, vịt trời cùng các giống chim chóc tụ lại kiếm ăn.

Bình thường không ai quan tâm đến chúng nên bọn đấy rất gan, gặp người cũng không sợ.

Từ tận tít tắp đằng kia ấy thế mà tôi bắt gặp ánh mắt của Phạm Ngũ Lão sáng quắc nhìn về phía này, tôi giật nảy người lay chị Anh Nguyên, chị ấy ngồi quay lưng lại hướng đó nên có lẽ không thấy được.

"Chị Anh Nguyên chị Anh Nguyên, Ngũ Lão đến rồi!"

Chị Anh Nguyên đáp lời tôi bằng một chất giọng uể oải:

"Thôi em đừng có trêu chị nữa, mấy chị ở đây lại cười cho."

Lần này là chị An Hoa tiếp lời:

"Không, là thật đó, ảnh đang nhìn em kia kìa."

Anh Nguyên mới như bừng tỉnh vội vã quay đầu về hướng kia, thì quả nhiên Ngũ Lão vẫn còn đau đáu nhìn trộm.

Đang nhìn, Ngũ Lão bất ngờ bị Quốc Uất đẩy xuống ao khiến đám bọn tôi ở đây cũng hoảng hồn, lục tục kéo nhau đến đấy.

Đến nơi thì thấy Phạm Ngũ Lão đã lặn mất tăm, tôi vội cằn nhằn Quốc Uất:

"Anh ta có biết bơi không vậy, sao anh đẩy anh ta?"

Anh hai Uất gãi đầu, vẻ mặt vô tội nói:

"Anh nào biết, cứ tưởng anh ta đòi đến đây bắt vịt thì sẽ biết bơi chứ, ai ngờ anh ta ở dưới mãi chưa lên."

Trong lòng tôi kêu trời, định đạp anh ta xuống nhưng chưa gì chị Anh Nguyên bên kia đã "tỏm" một cái nhảy xuống ao, tức thì bốn phía trở nên hỗn loạn.

Chị Anh Nguyên biết bơi, nhưng cái ao này trong cạn ngoài sâu, mênh mông không thấy đáy, lại còn phải tìm kiếm một người là Phạm Ngũ Lão, tôi sợ chị ta mất phương hướng rồi đuối sức chứ chẳng chơi.

Đang ngẩn người thì nghe "tỏm" thêm mấy tiếng, mấy người vương nhỏ còn lại cũng liên tục nhảy xuống.

Tôi liếc Thì Kiến, thấy anh ta vẫn đứng lóng ngóng trên bờ, bộ quần áo vẫn sạch sẽ tinh tươm, bèn hỏi:

"Ủa sao anh không nhảy?"

"Tôi không biết bơi!" – Anh ta đáp – "Tôi chỉ đến xem thôi, ai ngờ xảy ra cớ sự này."

Trong lòng tôi thầm nghĩ, không lẽ anh ta bói ra được cái gì nên đến đây xem kịch hay chứ?

Chị An Hoa và chị dâu cả đã đi gọi thêm người giúp nên hiện tại chỉ còn tôi và Thì Kiến ngồi lo lắng trên bờ.

Lúc đám vương tử lôi được chị Anh Nguyên lên thì Phạm Ngũ Lão cũng từ xa bơi trở lại, tôi thở phào một cái, hoá ra anh ta thật sự biết bơi.

Khi bị mọi người tra hỏi dồn dập, anh ta liền trả lời một câu khiến cả đám bọn tôi hết hồn:

"Lúc nãy có người kéo chân tôi!"

"Đất có thổ công, sông có hà bá!" – Trần Thì Kiến hô lên.

Tôi thấy cơn ớn lạnh chạy dọc từ đỉnh đầu dù chưa từng nhảy xuống nước, lại nghe Phạm Ngũ Lão nói:

"Tôi bơi theo anh ta thì nhặt được chiếc giày này đây.

Vốn dĩ tôi còn bán tín bán nghi, nhưng mà anh ta có độ ấm, đánh nhau với tôi cũng được mấy hiệp, hơn nữa gương mặt anh ta, tôi nhớ đã từng thấy qua ở đâu rồi.

Có điều anh ta bơi lội quá giỏi, tôi không đuổi theo kịp."

Anh ba Tảng rất ít khi mở miệng nói chuyện, nhưng lần này lại chủ động nói:

"Chắc là Phạm Hữu Thế, anh ta giỏi bơi lội nhất ở đây.

Hôm nay chúng ta đến ngay lúc anh ta bơi nên anh ta muốn chọc phá chứ gì."

Tưởng ai chứ Phạm Hữu Thế này tôi cũng từng nghe qua, bình thường mọi người hay gọi là Yết Kiêu, là gia tướng của cha tôi.

Yết Kiêu giỏi bơi lội giỏi từ nhỏ, nghe đâu còn ngủ được trong nước nữa cơ.

Trong cơn suy nghĩ, tôi vô thức liếc Quốc Tảng một cái thì thấy anh ta cởi trần, để lộ ra khuôn ngực rắn rỏi toàn cơ với cơ, có lẽ là do luyện tập nhiều.

Tôi thoáng đỏ mặt, vội nhìn sang hướng khác đánh trống lảng:

"Thế mà làm bọn tôi hết hồn, chị Anh Nguyên còn nhảy xuống cứu anh nữa đó."

Chị Anh Nguyên nghe tôi nói thì cũng như tôi mặt đỏ hết cả lên, thế mới có chị có em chứ.

Phạm Ngũ Lão nói cảm ơn, mặt chị ta lại càng đỏ.

Chiều hôm đó bọn tôi thi nhau uống rượu, ngày tết Đoan Ngọ là phải uống rượu, uống để đám sâu bọ trong người say chết luôn.

Tôi không biết đám sâu bọ có say chết không chứ đám đàn ông trong phủ ai cũng say gần chết.

Lúc trở về với chị Anh Nguyên thì tự dưng nhảy đâu ra một Phạm Ngũ Lão chắn đường làm tôi hết cả hồn vía, trông bộ dáng thấy anh ta ngà ngà say, chắc định mượn rượu thổ lộ đây mà.

Anh ta nhìn tôi nháy mắt, tôi biết ý liền đánh bài chuồn, để lại không gian riêng cho bọn họ.

Chị Anh Nguyên bực tức nhìn theo bước chân tôi, nhưng cũng không nỡ rời khỏi.

Vậy là người có tình đến với nhau rồi chứ gì? – tôi thầm nghĩ.

Một mình tôi trở về phòng, đã là chập tối nên dù có ánh đèn leo lét gian phòng vẫn tối mò.

Tôi không quen có kẻ hầu người hạ, bình thường chỉ mỗi Đan Thanh bưng bê quần áo đồ đạc là hay ghé vào thôi.

Tôi lần mò đến bên giường, nằm xuống định chợp mắt thì trong góc tối chợt vang lên một giọng nói làm tôi giật mình tá hoả.

"Rốt cuộc em là ai?"

Trời ơi tôi phải hỏi anh là ai mới đúng, là anh đột nhập vào phòng người ta mà.

Lúc mắt tôi dần quen với bóng tối, tôi mới lờ mờ nhận ra khuôn mặt quen thuộc đến phát hoảng của Quốc Tảng.

Đôi mắt anh ta như phát sáng trong đêm, trên gương mặt này của anh ta chỉ có đôi mắt là giống cha mình nhất.

Tôi kéo chăn lên đến cổ, thầm nghĩ quả nhiên bọn đàn ông đều có xu hướng mượn rượu làm xằng làm bậy.

Lúc này tôi đã quýnh quáng, ngốc nghếch đáp một câu:

"Tôi là con nuôi của cha mẹ anh chứ ai?"

Cũng may Quốc Tảng không quan tâm lời tôi nói, chỉ cười cợt, hình như anh ta đang say lắm, anh ta nói chuyện mà mùi rượu cứ nồng nặc khắp gian phòng:

"Em là ai mà lại làm tôi rung động đến nhường này, em vào đây có ý đồ gì, là muốn bỡn cợt với tôi chăng?"

Tôi không nghe nói việc anh trai với em gái nuôi đến với nhau sẽ vướng phải chuẩn mực đạo đức gì, nhưng trước mắt anh ta đột ngột biểu lộ tình cảm như vậy làm tôi mất cả hồn vía, hoá ra anh ta trốn tránh chị An Hoa là vì anh ta có tình ý với tôi cơ à?

Trời ơi tôi phải giải thích thế nào với chị An Hoa đây, nói tôi không cố ý quyến rũ anh ta hay nói tôi không hề thích anh ta, hay là nói tôi sẽ không bao giờ nhảy vào phá hoại chuyện tình cảm của chị?

Trong đầu tôi rối như tơ vò, không ngờ có ngày chỉ một câu nói của anh ta cũng làm tôi trăn trở như vậy.

Tôi vẫn cuống quýt, giọng nói cũng trở nên lắp bắp:

"Anh có nhầm lẫn gì không vậy, tôi với anh gặp nhau mới bao lâu đâu, hay là anh ghét tôi nhưng vì tôi chuyển sang học Phạm Ngũ Lão nên anh không có cơ hội hành hạ tôi được, bây giờ anh đến để trêu đùa tôi phải không?"

Quốc Tảng dời tầm mắt khỏi khoảng không, anh ta quay sang nhìn tôi chăm chú, nhìn đến mức dù khuôn mặt anh ta trong đêm tối mờ mờ, nhưng ánh mắt ấy cả đời tôi không tài nào quên được.

Anh ta thở một hơi dài như trút hết cả sức lực, một lúc sau thì nhỏ giọng nói như thì thầm khe khẽ bên tai, làm cho lòng tôi ngưa ngứa.

"Tôi không cố ý, tôi cứ nghĩ làm thế sẽ thu hút được sự chú ý của em."

Đúng rồi, anh thu hút được sự chú ý của tôi rồi đấy!

Nhưng là chú ý có nguy hiểm...

Anh ta vẫn chê tôi chưa đủ phiền, lại tiếp:

"Hôn ước kia... từ trước đến nay tôi chỉ biết lệnh cha mẹ không thể cãi, dạo đó cứ nghĩ tình yêu chỉ là thứ vớ vẩn vô ích, lấy vợ thôi thì lấy ai chả được, cho đến khi...

đến khi gặp được em." – Trần Quốc Tảng nói đến đây, bỗng nấc lên một tiếng, rồi như than van – "Nếu biết như vậy, khi trước tôi đã quyết liệt từ chối rồi!"

Tôi không nói gì, chừng nửa canh giờ sau chắc có lẽ anh ta tưởng tôi đã ngủ nên lững thững rời đi, tôi hé mắt nhìn, thấy anh ta đi suýt chút nữa là va vào cái sập gỗ.

Tôi hết cả hồn vía, còn định chồm dậy đỡ lấy anh ta.

Quốc Tảng đã đi một hồi lâu mà tôi vẫn trằn trọc không ngủ được, đùng một cái tôi lại là kẻ thứ ba chen vào chuyện của chị An Hoa, cho dù tôi không hề cố ý nhưng bằng cách này hay cách khác, tôi vẫn cảm thấy mình là người có lỗi, bởi vì chị An Hoa chưa từng có ý đề phòng tôi.

Tôi nằm lăn qua lăn lại một hồi, cứ suy nghĩ vẩn vơ mãi mà chẳng thể ngủ được, tôi sợ mình động lòng trước anh ta thì chết toi, bèn kiểm tra lại suy nghĩ một lát, cũng may là đối với anh ta mình chưa có chút lòng riêng gì.

Nhưng cuộc sống, bằng cách này hay cách khác thì phiền phức vẫn tự tìm đến mình.

Tôi ngồi bật dậy mặc thêm áo ấm, rảo bước đi lòng vòng trong phủ.

Giờ này hình như cũng chẳng ai còn thức nữa, bốn phía xung quanh cứ im lìm, thật hợp ý tôi.

Mồng năm liềm giật, trời cứ tối mò mò, may là có bầy đom đóm lập loè soi rõ con đường đi.

Tôi cứ đi như vậy cho tới lúc gà gáy, thầm nhủ cũng sang canh ba rồi, hay là về ngủ thôi.

Có điều tôi nhận ra cuộc sống của tôi ít khi nào được như mình mong muốn, đương lúc chuẩn bị về, tôi bắt gặp một bóng người từ bên ngoài leo rào vào trong.

Động tác người kia nhanh như gió, lướt mấy bước đã vụt xa tôi một đoạn.

Tôi vỗ mặt mấy cái, ngỡ đâu mình gặp ma, cũng may chỗ tôi đứng là một đám cây cối um tùm nên gã không thấy.

Len lén bám theo, tôi vô thức bị dẫn đến khu viện nhỏ nhà anh Quốc Nghiễn lúc nào không hay.

Lúc đấy giá như tôi trở về thì đã tốt, ai ngờ bản tính tò mò nổi lên, thế là tôi cũng theo gã đó vào trong.

Nhưng nhận thấy nếu nhảy tường vào như anh ta thì hơi lố nên tôi quyết định chui lỗ chó để vào.

Cái lỗ chó này là tôi phát hiện được trong chuỗi ngày kẻ đuổi người chạy với Trần Quốc Tảng.

Sau đấy tôi lại gặp phải một chuyện động trời, chị Quỳnh Trân ấy thế mà lại xuất hiện như đã chờ đợi anh ta từ lâu vậy.

Hai người sóng vai nhau dưới vành trăng non, thậm chí tôi còn thấy tên đàn ông đó choàng tay qua vai chị ấy.

Thế này thì rõ mười mươi là anh Quốc Nghiễn của tôi bị người ta cho ăn một cú lừa rồi.

Anh của tôi giờ này chắc đang nhập nhụa trong men rượu đây, trời ơi vợ anh sắp bị người ta cướp mất rồi kìa!

Tôi dỏng tay lên nghe, loáng thoáng nghe được tên gian phu nhỏ giọng nói:

"Trân, mấy năm qua ta thật có lỗi với em."

Hoá ra là một đoạn gian tình đã kéo dài từ lâu.

Anh ta nói xong, tôi thấy chị Quỳnh Trân sờ tay lên mặt anh ta, đáp:

"Chàng không có lỗi, đối diện với vương quyền thì ai cũng vậy thôi, chàng làm sao cãi lại phụ hoàng em được."

Tôi sực tỉnh ngộ, thì ra không phải người này là kẻ thứ ba, mà chính anh cả Quốc Nghiễn của tôi mới là tên phá đám.

Trong lòng tôi thầm than, anh cả tôi đã tạo nên cái oan khiên gì thế này, người ta không đến được với nhau, bây giờ người ta lén lút qua lại sau lưng anh đó.

Tự đặt mình vào vị trí, nếu như tôi không phải là em nuôi của anh cả, liệu tôi có xúc động với mối tình ngang trái này không, từng lời anh ta thốt ra chân thật như vậy, nếu tôi là chị Quỳnh Trân thì tôi có cưỡng lại được không?

Người đàn ông nghe chị Quỳnh Trân nói thế thì cương quyết đáp:

"Chuyến này ta đến Vạn Kiếp, là muốn đưa em đi!"

Thôi xong.

Anh cả ơi, người ta sắp đưa vợ anh đi rồi này!

Chị Quỳnh Trần quệt nước mắt, thê thiết nói:

"Em biết chàng thương em, nhưng em đã không còn là công chúa trung trinh mà chàng yêu ngày xưa nữa.

Nay em đã là vợ người, chàng nhất quyết đưa em đi chỉ có hại cho chàng và công danh của chàng thôi."

Dưới ánh đèn lồng, tôi thấy anh ta nở nụ cười như có như không, anh ta bảo:

"Khi ta quyết định đến đây, có nghĩa là ta đã chuẩn bị tâm lý cho việc bị phát hiện.

Công danh có để làm gì khi bên cạnh không có người chia sẻ niềm vui với ta?

Chỉ có ở cạnh em, ta mới chân chính cảm nhận được bản thân tồn tại.

Còn em, hiện tại em có hạnh phúc không?"

Hạnh phúc hay không thì liên quan gì đến anh, lúc xưa sao anh không nói vậy đấy, bây giờ ván đã đóng thuyền, chim lồng cá chậu, gạo đã nấu thành cơm thì mới quay lại hối hận, hỏi người ta có hạnh phúc không cái cóc khô gì?

Với năng lực của anh thì thay đổi quá khứ được chắc.

Tôi suýt nữa là đứng dậy mắng anh ta, cái đồ không biết suy nghĩ cặn kẽ, người ta đã là gái có chồng, anh làm thế chỉ tổ phá hỏng danh tiết của người ta, cái gì mà chuẩn bị tâm lý cho việc bị phát hiện, hình phạt của kẻ thông dâm nặng cỡ nào anh quên rồi à?

Tôi mắng chửi một hồi, cảm thấy đám đàn ông thật quá ích kỷ, chỉ muốn được chứ không muốn mất, nếu tôi là anh ta, tôi chỉ cầu cho người đó sống một đời bình an là đủ, việc gì phải đảo lộn cuộc sống của người ta lên, trong khi chồng người ta lại cưng chiều người ta hết mực.

Quỳnh Trân ơi, chị thật nhẹ dạ quá!
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 7: Còn Thêm Một Tên Gian Phu Kỳ Quặc


Tôi tỉnh dậy trong gian phòng ẩm thấp, nhờ chút ánh sáng rọi qua từ ô cửa sổ nhỏ như lòng bàn tay trên đỉnh đầu mà tôi mới biết là ngày hay đêm.

Đây thật ra cũng chẳng phải là một gian phòng, theo tôi đoán có lẽ đây chỉ là cái hòm gỗ tiện tay mua ở làng bên cạnh.

Nhờ luồng không khí lành lạnh nên cho dù là giữa ngày trời tháng năm nắng nóng thì tôi cũng lờ mờ đoán ra chắc có lẽ chỗ này nằm trong lòng đất rồi.

Nói cách khác, nếu như không có cái cửa sổ be bé phía trên, thì tình trạng của tôi hiện tại gần giống như là bị chôn sống.

Tay chân tôi bị cột ra phía sau, miệng thì bịt chặt, chỉ có đôi mắt là hoạt động được nhưng trong không gian tối tăm này thì cũng chẳng thấy có tác dụng gì.

Tôi thở dài, lần này không dám trách số mình đen đủi, chỉ trách tôi nhiều chuyện thích chõ mũi vào việc của người khác mà thôi.

Ờ thì đầu đuôi của việc tôi ngồi đây ngày hôm nay là do hôm qua bị tên gian phu kia bắt được đấy.

Ai mà ngờ được anh ta tai thính mắt tinh thế kia, võ nghệ lại cao cường, tôi bị anh ta chộp được từ đằng sau một phát thế là chẳng kịp giãy giụa thì bị đánh ngất, lúc tỉnh lại đã thấy bị trói gô ở đây, kêu la chẳng được.

Tới mức này thì tôi thật sự hổ thẹn với công sức của những người thầy từng dạy cho tôi, trong đó bao gồm cả anh ba Quốc Tảng và Ngũ Lão.

Nhớ đến Quốc Tảng là lại thấy phiền, không biết anh ta có phát hiện ra tôi bị bắt chưa, hôm nọ giá như không tại anh ta làm tôi bức bối đến ngủ không được thì hôm nay tôi đâu ra nông nỗi, nếu anh ta không đến cứu tôi thì tôi nhất định sẽ tuyệt giao với anh.

Nghĩ đến đó tự nhiên trong lòng dâng lên cảm giác tội lỗi, thôi, chỉ cần được cứu thì là ai cũng được cả, tôi cũng không muốn mang ơn anh ta.

Áng chừng hai canh giờ sau, cảm giác trời đang dần chạng vạng, bởi ánh sáng trên đỉnh đầu tôi chỉ còn lại chút hơi tàn.

Tôi rùng mình một cái, không khí ẩm thấp lại càng trở nên lạnh lẽo.

Cũng may chỉ chốc lát, khi có tiếng "rầm rầm" tưởng chừng như trời long đất lở thì kẻ thủ ác bắt cóc tôi cũng lộ mặt.

Lúc nắp hòm gỗ trên đầu tôi được mở ra, ánh sáng nhợt nhạt tràn vào, không khí thanh lạnh ùa vào trong phổi, tôi thấy mình như được sống lại một lần nữa vậy.

Thấy tôi hít lấy hít để, kẻ kia có vẻ khá tức cười, liền trêu chọc:

"Ngạt à?

Nếu không nhiều chuyện thì giờ này hẳn là đang ăn cơm ở nhà đó chứ."

Tôi định đáp lại mấy chữ "chắc tôi muốn lắm", nhưng sực nhớ ra mình bị bịt miệng rồi nên thôi.

Anh ta nhắc tới ăn cơm, trong bụng tôi liền kêu "ọt ọt" mấy tiếng.

Anh ta cũng không định bỏ đói tôi, nghe thế thì quẳng sang cho tôi một mớ bánh gio, ái chà, đây không phải bánh gio nhà anh ta làm hôm qua còn thừa lại ấy nhỉ?

Tôi lắc lắc đầu, anh ta liền hằn học bảo:

"Đừng có kén cá chọn canh, ăn hay không thì tuỳ."

Tôi lại lắc đầu, trời ạ, anh ta bịt miệng tôi, trói tay tôi thì tôi ăn bằng mắt chắc.

Gã nọ trầm ngâm một hồi thì cũng nhận ra điểm này, liền tháo bịt mồm cho tôi.

Tôi lập tức la lên thất thanh, ai ngờ anh ta chỉ dửng dưng bảo:

"Đây là giữa rừng, lại sắp đến đêm, nếu muốn đám lang hùm tìm tới thì la lớn vào."

Tôi nhất thời im bặt, anh ta cũng tốn công ghê, vậy mà lại vác tôi đến giữa rừng.

Tôi nhìn đống bánh gio trên đất, ngán ngẩm bảo:

"Anh không cởi trói thì làm sao tôi ăn được?"

Anh ta cũng giỏi đề phòng, chắc vì nghi người trong vương phủ ai cũng thuộc dạng thâm tàng bất lộ nên không dám khinh suất, thế nên mới có cảnh anh ta ngồi bóc bánh cho tôi ăn.

Ăn được một miếng, tôi không nhịn được nói:

"Nhạt quá, không có mật thì làm sao ăn nổi?"

Anh ta hình như cũng lười nói chuyện với tôi, thấy tôi giở trò chê ỏng chê eo thì dứt khoát chọn phương pháp im lặng là vàng.

Tôi thở dài một hơi, ngả đầu ra đất, không biết bao giờ mới được về nhà, đã có ai hay tin tôi mất tích chưa?

Một lúc sau, gã đó đột ngột đứng dậy đi một mạch vào rừng, tôi hét toáng lên gọi nhưng anh ta giống như không nghe thấy, chẳng hề quay đầu lại nhìn tôi.

Tôi nhìn một vòng xung quanh, thấy chỗ này đã tối đen như mực, xa xa vẳng lên tiếng sói tru.

Một cơn gió lạnh lẽo ùa vào người, đầu tôi có muôn vàn nỗi sợ, sợ thú dữ, sợ chết rét, sợ chết đói chết khát, và còn sợ những thứ không thể nhìn thấy được.

Nhỡ may anh ta đi luôn, một mình tôi ở nơi hoang vu này nói không chừng không thể sống tới lúc bình minh.

Tôi vùng vẫy hai tay nhưng không thể nhúc nhích, anh ta cột chặt đến mức vết dây hằn sâu lên da thịt tôi đau rát.

Tôi dần cảm thấy tuyệt vọng, ký ức trong đầu vẫn trống rỗng như thế, tất cả những gì tôi nhớ được chỉ là đoạn ký ức đẹp ở Hưng Đạo Vương phủ mấy tháng nay.

Lúc đấy liệu ai sẽ nhớ đến tôi hay không nhỉ?

Tôi ngã người nằm vật xuống, nước mắt không tự chủ trào ra.

Không biết trước đây tôi là người như thế nào, bằng cách thần kỳ nào có thể sống sót dù đã mất trí và một mình nằm dưới chân núi Yên Tử, nhưng được nuông chiều trong vương phủ lâu ngày khiến tôi vô thức trở nên yếu đuối hẳn đi, tôi cũng đã biết sợ chết rồi.

"Người của phủ Vạn Kiếp sao lại mít ướt thế?"

Nghe giọng nói vang trên đỉnh đầu, trong lòng tôi mừng rơn vì anh ta không bỏ mình lại nhưng vẫn nói cứng:

"Anh quay lại làm gì?"

Tôi tự nói rồi tự cảm thấy chưng hửng, nghe câu này kiểu gì cũng giống như đang mắng yêu chồng của mình vậy.

Anh ta không đáp lời tôi, vẫn đang cặm cụi làm gì đó.

Tôi rướn người ngồi dậy thì thấy anh ta đang nhóm lửa, tiếng đá quẹt vào nhau tanh tách trong đêm khiến tôi cũng đỡ sợ phần nào.

Hoá ra ban nãy anh ta vào rừng là để tìm củi, thì ra tôi đã nghĩ oan cho anh ta.

Ngọn lửa bùng lên, tôi thấy vẻ mặt anh ta vẫn đang chuyên chú.

Dưới ánh lửa bập bùng, lần đầu tiên tôi trông thấy rõ mồn một khuôn mặt của người nọ.

Thấy rồi mới ngạc nhiên, tuy tôi gọi anh ta là "anh", nhưng tuổi tác anh ta nhắm chừng đã ngoài ba mươi, trông có nét già dặn, lại còn có cặp mắt tinh anh như kẻ từng chiến đấu nơi sa trường.

Tuy hơi "lớn tuổi" một chút, nhưng việc chị Quỳnh Trân si mê anh ta thì vẫn có thể hiểu được, bởi vì trông anh ta ưu tú quá mà.

Hình như cảm giác được tôi đang nhìn, anh ta ngẩng đầu, lườm tôi:

"Nhìn cái gì?"

Tôi quay ngoắt, lại dõi mắt vào nơi hun hút tối đen đầy nguy hiểm rình rập trong rừng.

Tôi gần như có thể cảm nhận được hơi thở hung tợn có thể xông ra vồ lấy mình bất cứ lúc nào của dã thú.

Một miếng bánh gio bất thình lình đặt trên miệng tôi, tôi ngay tức thì nếm được vị ngọt của nó, quay sang thì quả nhiên thấy một tảng mật ong rừng đặt trên lá khô.

Tôi rưng rưng mắt nhìn anh ta, lần này lại càng hiểu rõ nguyên nhân tại sao chị Quỳnh Trân lại bất chấp mình đã có chồng vẫn còn dây dưa không dứt với gã.

Bởi vì anh ta cho người ta cảm giác được nuông chiều vô điều kiện, dù lầm lầm lì lì, nhưng lại rất tâm lý.

Giải quyết xong chuyện ăn uống, tôi lại ngồi nhìn anh ta, rồi bất giác thở dài:

"Anh có định giết người diệt khẩu không thế?"

Anh ta khép hờ mắt ngồi tựa lưng vào gốc cây nghỉ ngơi, khẽ đáp:

"Cũng tuỳ tâm trạng."

...

"Anh định nhốt tôi ở đây tới chừng nào?

Anh bắt tôi chị dâu có biết không?"

Anh ta chợt trừng mắt lên nhìn tôi, quát:

"Không được nhắc đến nàng!" – Quát xong, giống như cảm thấy mình hơi quá đáng, anh ta liền nhẹ giọng lại, có điều vẫn rất cộc cằn. – "Nàng không biết, nàng là người trong sáng nhất trên thế gian."

Tôi cắn răng, trầm giọng:

"Không, anh đã làm ô uế chị ấy rồi!"

Tôi nói xong câu đó, lờ mờ thấy gân xanh nổi lên trán anh ta, không khí chợt trở nên lạnh lẽo hơn rất nhiều.

Nhưng lời thật thì mất lòng, anh ta nên biết danh tiết là thứ quan trọng nhất của người con gái.

Chị Quỳnh Trân mà thật sự theo anh ta, thì đừng nói là mất hết tất cả, ngay cả tiếng xấu cũng để lại ngàn năm.

"Tôi không biết giữa hai người đã xảy ra chuyện gì, nhưng hiện chị ấy đã có chồng, cuộc sống hạnh phúc êm ấm, anh hà cớ gì phải làm khổ người khổ mình như vậy.

Tôi từng nghe qua câu "đàn ông chỉ đau xót với cái họ mất, còn phụ nữ thì đau xót với cái mà họ không thể nhận được", tôi biết anh mất đi chị ấy thì không cam tâm, còn chị cũng luyến tiếc với cái tình cảm mà mình không thể với tới, nhưng mà anh có từng nghĩ tới hậu quả chưa?"

Anh ta không nhìn tôi mà chỉ lẳng lặng nói, âm thanh như được rít ra từ kẻ răng:

"Nếu không phải giữa đường có kẻ nhảy ra đánh cướp thì ta và nàng đã ở bên nhau rồi, ta chỉ là đến đòi thứ vốn dĩ thuộc về mình.

Chỉ trong nay mai, ta sẽ đưa nàng đi."

"Chị ấy không phải là đồ vật!" – Tôi nói. – "Trong khi chị ấy đang sống tự do trong giàu sang nhung lụa, anh lại bắt chị sống trốn chui trốn nhũi, không thể nhìn mặt người đời.

Đúng rồi, anh chỉ nghĩ cho bản thân mình thôi, còn chị ấy thế nào thì anh mặc kệ chứ gì."

Anh ta lấy dao kề lên cổ tôi, gằn từng tiếng:

"Nàng ở bên chồng không hạnh phúc, chỉ có ta mới khiến nàng hạnh phúc mà thôi."

Tôi cảm giác được lưỡi dao lành lạnh trên cổ mình, cũng không gắng sức nói nữa, chỉ sợ anh ta nổi khùng lên là coi như xong, tôi cũng không phải kẻ coi mạng người như rác, nhất là cái mạng quý giá của mình nên đành ngồi im.

Ngồi như vậy đến gần sáng vẫn chưa ngủ được, tôi cứ nhìn ngọn lửa tí tách mà rối hết cả lòng.

Yên lặng nhìn anh ta ngủ, tôi bất giác lẩm bẩm:

"Rõ ràng là ngay từ đầu anh không nên xuất hiện làm chi, con gái tụi tôi rất là mềm lòng, nói không chừng chị ấy đã yêu anh Quốc Nghiễn mà không biết.

Anh đến chỉ làm cuộc sống của chị ấy rối tung lên thôi."

Bởi vì hôm nay là ngày ước hẹn chạy trốn cùng nhau nên tôi thấy rất rõ nét bất an trên mặt anh ta, hầu như cả ngày anh ta đều không rời khỏi, chỉ có buổi trưa vào rừng đi săn chừng hai khắc là đã trở về.

Tôi tựa vào gốc cây nhìn con ngựa thong dong ăn cỏ, bốn bề xanh ngắt một màu, trời cao trong xanh vời vợi, bụng dạ cũng buồn man mác.

Cũng chẳng biết là buồn cho anh cả Nghiễn hay cho anh ta, cũng có thể là cả ba người họ.

Tôi không biết anh ta là ai, nhưng giá như anh ta có một phần bản lĩnh tranh đấu cho tình yêu như cha tôi thì có lẽ mọi chuyện nay đã khác.

Tôi chợt nhớ tới anh cả của tôi, tự hỏi anh đã biết chuyện chưa?

Có câu đời cha ăn mặn, đời con khát nước, cũng không biết có dùng được cho trường hợp này không nữa.

Trời tầm về trưa, đợi tôi ăn xong, anh ta liền nhốt tôi xuống trở lại hòm gỗ.

Tôi khẽ thở dài, cũng cầu mong anh ta niệm tình hai ngày ở cùng nhau mà tha cho tôi một con đường sống.

Tôi vừa lo vừa chán, thành ra thiếp đi lúc nào không hay, cái không khí lành lạnh dưới hòm cùng với việc đêm qua mất ngủ đã đưa tôi vào giấc ngủ sâu.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 8: Có Cành Hồng Hạnh Kịp Quay Đầu


Không biết đã qua bao lâu, tôi chợt nghe tiếng anh ta gọi "Quỳnh Trân", nhưng chất giọng trầm khàn đặc nghẹt, trong lòng tôi run lên từng hồi, chị Quỳnh Trân thật sự đi với anh ta hay sao, vậy là chị không thể cưỡng lại sự cám dỗ này ư, vậy là chị chấp nhận từ bỏ tất cả rồi.

Áng chừng nửa khắc, tôi nghe tiếng ngựa phi nước đại, trong lòng đinh ninh mười phần là anh ta và chị Quỳnh Trân đã cao chạy xa bay.

Đang rầu lo số phận của mình thì đã thấy hòm bật lên, ánh đuốc sáng loè khắp bốn phía.

Một đôi tay chồm xuống nhấc bổng tôi lên, tôi nghe tiếng người đó khẽ bảo:

"Tôi tìm được em rồi!"

Giọng nói anh ta chỉ nhẹ như gió thoảng lướt qua từng sợi lông tơ non mềm trên vành tai, nhưng tôi cá là nghe cực kỳ buồn tủi, đến nỗi chính tôi trong lúc đó cũng hoảng hốt không thể kìm được lòng mình.

Đó là Quốc Tảng, cái người mà tôi luôn trốn tránh bao lâu nay.

Anh ta thả tôi xuống, lắp tên vào dây cung làm động tác nhắm bắn.

Tôi hoảng hồn kêu lên:

"Đừng bắn anh ta, Tảng, tôi xin anh đấy!"

Anh ta chưng hửng nhìn tôi, nhưng tôi đang bận nhìn tên "gian phu" kia phi nước đại chạy mất.

Bóng lưng gã sao mà cô tịch, sao mà tang thương.

Hôm nay bị Quốc Tảng nhìn ra thân thế rồi, chỉ sợ quãng đời về sau dù chỉ có một mình vẫn phải trốn chui trốn nhũi.

Chị Quỳnh Trân và anh Quốc Nghiễn cũng hớt hải chạy đến, không biết có phải do tâm tình cá nhân của tôi hay không mà tôi lại thấy mắt chị như có một vòng nước mắt vây lấy, tôi nhìn chị trân trân, chỉ nghe chị luôn miệng:

"Không sao là tốt!

Không sao là tốt!"

Tôi cũng bất ngờ vì chị không đi, nhưng nhớ tới dáng vẻ của chị đêm gặp gã tình nhân đó, chắc chị cũng khổ não lắm.

Bọn tôi cưỡi ngựa trở về phủ, tôi bị đặt ngồi phía trước Quốc Tảng.

Anh ta như trút được gánh nặng, gương mặt đã bớt căng cứng nhưng vẫn nắm lấy cánh tay tôi không buông, như sợ chỉ cần buông ra thì tôi sẽ bị bắt cóc đi lần nữa vậy.

Thấy anh ta vừa choàng tay ngang eo giữ mình trên ngựa, vừa điều khiển dây cương bằng một tay, tôi cũng khá là hoang mang, không biết mình sẽ bị hất xuống đất lúc nào.

Nhưng cũng còn may là khả năng cưỡi ngựa của người này rất ư là tài tình, đi qua mấy chỗ xóc nảy nhưng vẫn vững vàng ghìm cương ngựa.

Anh Quốc Nghiễn và chị dâu cả cũng cưỡi chung con ngựa đi đằng trước trông rất hoà thuận êm ấm, không có vẻ gì là bất hoà khiến tôi cũng phần nào an tâm.

Nếu như chị Quỳnh Trân thật sự bỏ đi, tôi cũng không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa, số phận của đám đàn bà con gái chúng tôi thật quá mức hẩm hiu.

Tôi cố sức giằng người khỏi tay Quốc Tảng, chỉ nghe trên đỉnh đầu truyền xuống một chất giọng nhàn nhạt:

"Tôi không đảm bảo mình sẽ giữ được em trên ngựa nếu như tôi không giữ eo em, hay em muốn tôi ôm em chặt thêm chút nữa em mới chịu?"

Tôi trừng mắt nhìn Quốc Tảng nhưng chỉ thấy cái cằm đã lúng phúng râu của anh ta ngay sát tầm mắt, lần này trở về phải quyết tâm học cưỡi ngựa một phen.

Không biết lúc phát hiện tôi mất tích anh ba Tảng có biểu hiện ra sao, nhưng chắc cũng làm anh ta khổ tâm lắm.

Anh ta đã chẳng chần chừ suy nghĩ lấy một giây đã tra tên vào cung, nếu như tôi không ngăn cản kịp, có lẽ tên tình nhân đó đã chẳng thể né được một tiễn của một trong những kẻ có võ nghệ ghê gớm nhất vương phủ rồi.

Tôi đành để yên cho anh ta ôm eo mình, rồi nhỏ giọng nói:

"Dù sao cũng cảm ơn anh!"

Anh ta phì cười, giở giọng trêu chọc:

"Tôi cứu em vì em là em nuôi của tôi, chứ đừng tưởng bở là tôi có ý gì với em nhé!"

Tôi không phản bác anh ta, có lẽ anh ta đã quên béng đêm hôm kia tỏ tình với tôi mùi mẫn thế nào rồi.

Ha ha.

Về tới vương phủ thì trời cũng gần sáng.

Bởi vì việc tôi bị bắt cóc được giấu nhẹm nên cũng chẳng ai hay biết gì ngoại trừ anh ba và anh cả nhà này, ngoài ra thì chị dâu và tôi cũng được coi như người trong cuộc.

Tôi ghé phòng chị ăn chực, sẵn tiện nghe chị kể đầu đuôi mọi chuyện, dù sao chưa hiểu rõ được mọi bề thì tôi sẽ khó chịu lắm lắm.

Thì ra kẻ đó tên là Trần Khánh Dư, được mệnh danh là Thiên tử nghĩa nam của tiên đế, hiện đã làm quan đến chức Tử phục Thượng vị hầu, quyền chức Phán thủ.

Nói tới người này thì chỉ có một câu để diễn tả anh ta, đó là tài không đợi tuổi, anh ta mười lăm tuổi, tức năm cuối Nguyên Phong, đã có công nhân sơ hở đánh úp bọn Thát Đát, sau đó lại thắng lớn khi đánh người Man ở vùng núi.

Khi đó uy tín anh ta cao, nên được tự do ra vào cấm cung.

Tôi thở dài, thời đấy chắc có lẽ tôi chưa sinh ra, nên đầu cua tai nheo ra sao thì tôi không tài nào biết được.

Nói chung chị Quỳnh Trân giống như người tình nuôi từ bé của anh ta, đến khi trưởng thành thì bị kẻ khác chặng đường đánh cướp, trong tâm thế của một người chồng người cha, nói không tức mới là chuyện lạ.

Bởi thế hôm nay anh ta tìm đến đây chắc là hạ quyết tâm rồi, nhưng xui xẻo giữa đường lại xuất hiện một kẻ phá đám.

Chị Quỳnh Trân không hề cố kỵ tôi, chị kể:

"Thật ra đêm đó chị cũng có dự định đi...

- Nói đến đây chị hơi trầm ngâm, ngưng một nhịp, chị nói tiếp – Nhưng lúc chị vào trong mới hay là anh cả em đã nghe hết mọi sự.

Ngoài dự đoán của chị, anh lại xin lỗi vì đã tự ý ngỏ lời xin cưới chị với Thượng hoàng.

Chị nghiền ngẫm lại từ trước đến nay anh cả em chưa một lần để chị chịu ấm ức, chuyện thì cũng đã rồi, chị cũng không muốn để một trong hai người phải liên luỵ vì chị nữa.

Có lẽ từ đây về sau chị phải thay đổi, phải thật lòng thật dạ hơn với anh ấy mới không cô phụ một tấm chân tình.

Còn về Khánh Dư tuy anh ấy rất tốt, nhưng quá khứ ấy mà, có níu lại được đâu."

Tôi gật đầu liên tục, phần vì chị nói phải, phần vì món vịt hôm nay ngon quá.

Chị dâu lại nói tiếp:

"Nhưng không ngờ tới anh ấy lại bắt em đi.

Lúc Quốc Tảng tìm đến anh cả mách chị cũng đã hồ nghi rồi, thêm việc em mất tích trong đêm lại khiến chị càng thêm chắc chắn.

Nhưng chắc cả đời này chị cũng không quên được, lúc chị đưa Quốc Tảng và anh cả em đến chỗ hẹn, ánh mắt anh ấy nhìn chị vừa thất vọng vừa đau thương, giống như không thể tin được chị đã phản bội mình vậy."

Tôi nghe chị nói, chỉ để ý chỗ tại sao Quốc Tảng lại biết tôi mất tích trong đêm nhỉ, là anh ta quay lại tìm tôi chăng?

Tôi chỉ biết an ủi chị rằng chuyện qua rồi, hãy hướng đến tương lai.

Còn riêng Trần Khánh Dư, tôi không biết anh ta sẽ chọn con đường nào, là hận hay buông, là giải hay kết?

Có điều sự nghiệp của anh ta kể từ đây cũng coi như là tiêu tan như khói mây.

Thời gian qua nhanh, cũng sẽ chẳng còn ai nhớ tới đoạn tình cảm này ngoài những người trong cuộc, còn tôi, chỉ mang tâm lý hóng hớt của một kẻ bị liên luỵ, ăn ngủ vài bận là quên sạch sành sanh.

Mấy hôm nay tôi tập cưỡi ngựa, người chỉ dạy trực tiếp đương nhiên vẫn là Phạm Ngũ Lão, nhưng phương diện này Quốc Tảng cũng khá nổi trội nên anh ta cũng rất nhiệt tình làm cố vấn cho tôi.

Kể từ khi biết anh ta có ý đồ đen tối với mình, tôi lại càng trốn tránh anh ta hơn, nhưng giống như kiểu oan gia ngõ hẹp anh ta vẫn lù lù xuất hiện trong tầm mắt tôi bất kể lúc nào.

Tôi sợ có ngày mình yếu lòng không kìm được thì toi.

Tôi học cưỡi ngựa trong bãi, anh hai Uất cầm dây cương đảo qua đảo lại trước mặt tôi, cười hề hề:

"Này, đua không?"

Tôi quay đầu về hướng thầy giáo, lớn tiếng:

"Thầy Lão ơi, có kẻ làm phiền trò học này!"

Phạm Ngũ Lão cưỡi con ngựa đứng từ xa, quát:

"Đề nghị anh không được quấy rối học trò của tôi!"

Quốc Uất lè lưỡi rồi dong ngựa đi mất.

Dạo gần đây tôi mới có thêm một đồng minh là Phạm Ngũ Lão.

Có lẽ anh ta đang trong thời gian tán tỉnh chị Anh Nguyên nên đối xử với chị em chí thân của chị ta cũng rất nhiệt tình, về phần tôi cũng rất thích thú khi được thơm lây như thế.

Tôi cưỡi ngựa chầm chậm trong bãi, liếc mắt đã thấy Quốc Tảng đứng khoanh tay nhìn mình, dù đôi mắt anh ta tràn trề ý cười nhưng khoé môi chỉ hơi hé.

Ánh nắng chiếu lên người anh ta, tôi mơ hồ thấy được sắc xuân giữa trời hạ.

Lúc cưỡi ngựa ngang anh ta, tôi cố ý không thèm nhìn, ai ngờ anh ta chơi xấu ném ngựa của tôi.

Tôi phát hoảng, con ngựa lồng lên hí dài mấy tiếng rồi phi nước đại, phía sau truyền đến tiếng quát của anh ta:

"Bình tĩnh giữ dây cương, những gì tôi dạy em quên hết rồi à?"

Bấy giờ tôi mới sực tỉnh, lúc nãy hoảng quá nên quên mất trước khi cưỡi ngựa anh ta dặn mình cái gì.

Tập trung giữ dây cương, ánh mắt nhìn thẳng, con ngựa cũng chẳng đáng sợ như tôi nghĩ.

Về kĩ thuật và nền tảng cơ bản tôi đã có, chỉ là thiếu kinh nghiệm thực tiễn mà thôi, có điều anh ta làm thế cũng quá mạo hiểm, việc gì cũng phải có bước đầu, tôi vừa mới tập động tác bơi mà anh ta đã ném tôi ra giữa dòng suýt chết.

Tôi chỉnh tốc độ ngựa chậm lại, định quay về thì nghe tiếng huýt sáo, con ngựa ngoan ngoãn phi lại gần anh ta.

Ồ, hoá ra con ngựa này anh ta điều khiển được, làm tôi hết hồn.

Phạm Ngũ Lão hớt hải phóng ngựa tới, lớn giọng chất vấn:

"Anh làm cái gì vậy, em ấy vừa mới học cưỡi, nhỡ đâu con ngựa điên lên làm em ấy ngã thì sao?"

Quốc Tảng không mấy quan tâm, dửng dưng nói:

"Nhờ vậy mới tiến bộ nhanh thế, chứ dạy như anh biết bao giờ mới xong."

Tôi sợ Phạm Ngũ Lão nổi nóng, bèn can ngăn:

"Em không sao rồi?

Trời đất, chỉ là một con ngựa nho nhỏ sao làm khó được em." – Thấy Phạm Ngũ Lão cười cười, tôi liền rỉ tai anh ta – "Anh điên à, có còn muốn vợ nữa không, sao dám chọc anh vợ hả."

Mặt Phạm Ngũ Lão ban đầu có chút ngơ ngác, rồi mặt anh ta đỏ lên.

Đợi Phạm Ngũ Lão đi, Quốc Tảng dắt ngựa theo tôi, ở bên tai tôi lải nhải:

"Tôi dạy võ cho em cũng không phải để em chạy trốn tôi, sao vừa trông thấy bóng dáng tôi là em chạy nhanh hơn ma đuổi vậy?" – Anh ta nhẹ giọng nói, cũng không giống trách móc mà giống như tâm tình hơn.

Tôi thở dài, chẳng lẽ tôi lại nói là bởi vì anh là chồng chưa cưới của chị An Hoa hả?

"Tôi với anh cũng chẳng có chuyện gì để nói." – Tôi lầm bầm.

Quốc Tảng bỗng trầm ngâm, lúc tôi tưởng anh ta sẽ im luôn thì anh ta lại bảo:

"Tôi là anh ba của em, em cứ nói chuyện với tôi bình thường như những người khác thôi, có gì phải ngại?"

Tôi ậm ờ, không lẽ là vì tôi tự mình đa tình chứ anh ta thật sự không có ý gì với mình thật?

Được vậy thì tốt, được vậy thì còn gì tốt hơn.

Tôi nghe anh hai Uất nói, Quốc Tảng phàm là việc gì cũng rất cầu toàn.

Bởi thế ngay từ khi còn nhỏ, binh thư anh ta đọc nhiều hơn người khác một chút, luyện chữ cũng nhiều hơn người khác một chút, tập võ cũng siêng năng hơn đám anh em một chút.

Quốc Tảng sống trong vương phủ giống như một viên đá quý, vừa phát sáng vừa toả ra sự bí ẩn, trong lòng anh ta nghĩ gì, chẳng ai có thể giải thích được.

Giống như việc Phạm Ngũ Lão vừa vào đã đoạt đi vị trí đầu của anh ta chắc cũng làm anh ta khó chịu ít nhiều, đối xử với Ngũ Lão cũng không mấy niềm nở.

Hôm nay trong lúc tập võ, tôi nghe cha nhắc đến việc bên nước Tống, người Nguyên đánh úp quân Tống ở Nhai Sơn.

Quân Tống thua, Tả thừa tướng nhà Tống là Lục Tú Phu cõng vua Tống nhảy xuống biển chết, hậu cung và các quan chết theo rất nhiều.

Qua bảy ngày có đến hơn mười vạn xác chết nổi lên mặt biển, xác vua Tống cũng ở trong số đó.

Thế là ứng điềm sao sa xuống biển, nhà Tống cũng coi như xong.

Về việc này thuở trước đại loại là có một hôm Thượng Hoàng ban yến cho các quan ở điện Diên Hiền, yến chưa xong, bỗng có sao chổi xuất hiện ở phương đông bắc, đuôi dài suốt trời.

Thượng Hoàng lúc đấy ra xem thì bảo: "Ta xem sao chổi này rất sáng, đuôi rất dài, không phải là tai họa của nước ta, lệnh cứ dự xong yến."

Tôi nghe xong cũng bàng hoàng, nhà Tống khai triều lập quốc hơn ba trăm năm, cũng xem là một nước mạnh, vậy mà dễ dàng bị vó ngựa Mông Cổ giày xéo, cũng không rõ thế lực đó mạnh mẽ đến mức nào.

Tôi vô thức cầm chặt cán dao, trong người nổi lên quyết tâm lúc bình thường khó có được, âm thầm thề hẹn với non sông.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 9: Lúc Nào Cũng Có Thể Gặp Được Một Cuộc Tình Tay Ba


Tháng sáu Trần Thì Kiến được cha tôi tiến cử lên kinh, cũng coi như là kẻ thành danh đầu tiên trong đám môn khách trai tài gái đảm của vương phủ, không uổng cho một bụng kiến thức uyên bác.

Hôm đó, cha cũng trịnh trọng mở lời với đám chúng tôi:

"Thời gian qua Thì Kiến làm rất tốt, ta mong các con sau này cũng có dịp phát huy, trở thành quan lại mẫu mực, rường cột cho nước nhà."

Thì Kiến trèo lên xe ngựa, anh ta nói với tôi:

"Lần trước bói cho em được quẻ tốt lắm, chồng con đề huề, giàu sang phú quý, sau này có món gì tốt thì hãy nhớ tới người anh này.

Tôi lên kinh sẵn tiện tìm kiếm người đó giúp em, hi hi."

Thấy tôi đỏ mặt, anh ta lại nói:

"Đấng ông chồng của em không phải ở chỗ này đâu, đừng có tốn công với mấy gã ở đây, kinh thành tốt lắm đó nhé, toàn thanh niên ưu tú cả.

Tôi đi trước, ít hôm có dịp thì đến tìm tôi."

Quốc Tảng ở bên cạnh trán nổi đầy gân xanh, anh ta hậm hực đá Thì Kiến một cái làm gã kêu la oai oái, luôn miệng kêu to "cường quyền".

Trần Thì Kiến đi rồi, cũng mất đi một gã hợp ý với tôi, khiến tôi vừa vui vừa buồn.

Có điều anh ta dặn tôi ít hôm lên kinh tìm anh ta, nhưng chỉ hơn một tháng sau là anh ta lại quay trở về.

Đó là vào ngày rằm tháng bảy, ngày thành Vạn Kiếp tổ chức hội hoa đăng.

Nhưng để sau hẵng nói, hiện tại, tôi đứng dưới khóm hoa cúc mùa thu, nhìn xéo qua mái đình nghỉ mát, chỉ thấy chị An Hoa cùng anh ba Quốc Tảng ngồi đó đẹp như một bức tranh.

Đây là lần thứ hai trong số những lần hiếm hoi tôi bắt gặp hai người họ ở cạnh nhau cho dù họ trên danh nghĩa là một cặp.

Ở gần nhau như vậy, nhưng giữa họ lại có một khoảng cách không thể diễn tả thành lời.

Tôi nhìn ánh mắt đau đáu của chị An Hoa như ghi tâm khắc cốt, như tạc trong xương tuỷ, nhưng anh ta thì vẫn dửng dưng.

Bởi mới nói, chỉ có người ta yêu thương nhất mới là người làm ta đau khổ nhất mà thôi.

Không biết từ bao giờ, tôi bắt đầu hoài nghi sự xuất hiện của mình trong cuộc tình của Quốc Tảng, có phải anh ta thật sự coi tôi là em gái không, hay đó chỉ là cái cớ.

Tôi không thể giải thích được, bởi anh ta là loại người không ai có thể giải thích nỗi.

Tôi không nhìn nỗi đến cảnh chị An Hoa trả lại vòng tay cho Quốc Tảng thì đã quay đầu đi, nửa chừng thì đâm sầm vào Quốc Uất đang đi theo hướng ngược lại.

Anh ta mỉa mai nhìn tôi:

"Nghe lén người ta tâm tình bị phát hiện à?

Hay là em thích Quốc Tảng nên nổi máu ghen?"

Tôi đạp anh ta một cái, trời ơi con người này sao lại khéo đổi trắng thay đen như vậy chứ?

Thấy tôi không đáp lời mà bỏ đi một mạch, anh ta bèn lẽo đẽo chạy theo, luôn miệng nói:

"Đừng nghĩ quẩn chứ, trên đời này thiếu gì người tốt, sao đám con gái toàn đâm đầu vào mấy tên đàn ông lạnh lùng như băng giá kia vậy?

Kẻ đẹp trai ngời ngời ở đây lại không ai yêu."

Tôi cũng chẳng hứng thú mấy với mấy kẻ đẹp trai ngời ngời như anh ta, nên bước chân càng nhanh như chạy.

Đáng tiếc anh ta không định tha cho tôi, hai người bọn tôi lôi lôi kéo kéo một hồi thì vừa hay đến trước cửa Tĩnh Lầu trong truyền thuyết.

Tôi nhìn anh ta, anh ta cũng nhìn tôi, thế là bọn tôi quyết định cùng nhau ăn một bữa trước đã.

"Đồ ăn trong Tĩnh Lầu nói chung cũng tạm."

Quốc Uất liếc nhìn đống xương trước mặt tôi, cười nói:

"Ừm, cũng tạm."

Anh ta nói xong, giật phăng cái đùi gà nướng mật trên tay tôi, híp mắt bảo:

"Toà lầu này vừa hay trùng tên với em ấy nhỉ!"

Tôi không đáp lời anh ta, từ lúc tôi mang tên này là tôi đã nghĩ tới rồi được chưa?

Đánh chén xong, tới lúc tính tiền đi về thì bên ngoài mây đen ùn ùn kéo tới, mưa thu rả rích trên mái hiên tựa như một bản nhạc buồn.

Tôi chống cằm nhìn ra cửa sổ, chỉ thấy con đường vắng tanh, màu trời sẫm lại, những tán cây bị mưa xối không ngừng nhảy những vũ điệu lạ kì, cảnh vật đượm nét buồn man mác.

"Sao vậy, tức cảnh sinh tình à?" – Quốc Uất hỏi.

Tôi thở hắt ra, khẽ lẩm bẩm:

"Quốc Tảng và chị An Hoa trông quá là đẹp đôi chứ nhỉ?"

Anh hai Uất cười cười nhìn tôi, nửa đùa nửa thật:

"Phải lòng thằng oắt đó rồi sao?" – Thấy tôi lườm nhưng anh ta vẫn tiếp tục nói – "Có lẽ ngay từ đầu An Hoa đã hiểu rõ kết cuộc của chuyện này rồi, cho dù không có em thì tôi nghĩ giữa hai người đó sẽ chẳng thể nào đi cùng nhau được đâu, không cần phải tự trách mình.

Nếu người đó là em, An Hoa chắc sẽ không giận đâu nhỉ."

Tôi lại quay mặt nhìn ra cửa sổ, nói với anh ta:

"Tôi không thích Quốc Tảng, chỉ là cảm động với những việc anh ta làm mà thôi."

Quốc Uất khẽ nhìn tôi, cũng học theo tôi thở dài.

Anh ta hất mặt xuống cửa sổ, cười như không cười bảo tôi:

"Nhưng xem ra nó lại không nghĩ vậy."

Tôi nhìn theo ánh mắt Quốc Uất, chỉ thấy phía xa xa dưới làn mưa trắng xoá, Quốc Tảng cũng mặc một bộ quần áo trắng như làn mưa lạnh lẽo kia.

Anh ta đứng dưới mái đình nhỏ bé dõi mắt bất động nhìn tôi, ánh mắt như đã ở đó từ hàng ngàn năm không thay đổi.

Chiếc ô anh ta mang không che được mưa gió lạnh lẽo tạt vào người, dù thấy tôi bất ngờ nhìn sang nhưng vẫn không dời tầm mắt.

Tôi mượn ô hớt hải chạy đến bên anh ta, quát nhẹ:

"Anh làm gì ở đây vậy, sao không tìm chỗ trú mưa?"

Anh ta không quan tâm lời tôi nói, chỉ chăm chăm nhìn tôi, khiến tôi ớn lạnh.

"Tôi không lạnh ở bên ngoài, tôi lạnh ở trong tim."

Tôi không biết trả lời anh ta thế nào, đành đánh trống lãng:

"Còn không mau trở về nhanh đi, anh muốn cả hai cùng đổ bệnh hay sao vậy?"

Anh ta đúng là kẻ ngang ngược, tôi vừa thuyết phục vừa sởn gai ốc vì bị anh ta nhìn, anh ta như nhìn xuyên thấu vào tôi, giống như muốn biết trong đầu tôi rốt cuộc là suy nghĩ thứ gì vậy.

Bất thình lình, anh ta buông cả ô, nắm lấy cổ tay tôi, cau mày phẫn nộ nói:

"Em là kẻ không tim không phổi, em định giả vờ không biết đến khi nào, hay em muốn kẻ ngạo mạn như tôi phải cúi người trước em thì em mới hả?"

Tôi không rút tay ra được bởi sức lực mạnh mẽ của anh ta, chẳng phải khi nãy còn đang rất tốt hay sao, tự dưng lại nổi khùng lên như vậy.

Đúng là kẻ sáng nắng chiều mưa, giữa trưa gió mùa.

Lúc này anh ta không nắm tay tôi nữa, anh ta chuyển sang ôm lấy bả vai tôi, lắc mạnh:

"Em và anh hai đã bao lâu rồi?"

Tôi đạp anh ta một cái, thành công thoát khỏi vòng tay khiến anh ta lảo đảo thoái lui về phía sau mấy bước.

"Anh bị điên hả, tôi có gì với anh ta?"

Tự nhiên trong lòng tôi có chút giận.

Ghen tuông đúng là tồn tại trong mỗi con người như con rắn lục luôn nấp trong hang của nó.

Ngày hôm đó tôi bỏ về, cũng không biết là anh ta ở lại đến khi nào nữa, suốt hai hôm liền tôi không hề gặp anh ta.

Tôi ngồi trước thềm cửa thở dài, nhìn Đan Thanh đi ra đi vào đã bốn năm bận.

Đến ngày thứ ba thì chị An Hoa đến tìm tôi.

Tôi chỉ thấy những lúc chị vui, lúc chị buồn, chứ chưa từng thấy chị giận dỗi như vậy.

Chưa kịp hỏi, chị An Hoa đã lên tiếng chất vấn tôi:

"Chị không ngờ người anh Quốc Tảng thương lại là em."

Tôi có chút luống cuống, thật sự tôi cũng không ngờ tới điều này, nhưng nếu phủi đi hết sạch liên quan thì cũng có phần vô trách nhiệm.

Dù chẳng hề muốn anh ta thương mình, nhưng xuất hiện trong cuộc đời anh ta cũng là lỗi của tôi, tôi có quyền gì bắt ép anh ta tránh xa mình chứ?

Thấy tôi không nói, chị An Hoa lại tiếp tục, tôi thấy vành mắt chị đỏ ửng, nhắm chừng đã khóc rất nhiều.

"Hôm nọ anh ấy thất thần trở về, người ướt cả.

Chị vốn nghĩ trả lại chiếc vòng đó thì anh ấy sẽ tự do đi tìm hạnh phúc của mình, có ngờ đâu mọi thứ lại càng tồi tệ hơn.

Đêm đó chị biết ngay có điều không ổn, quả nhiên đến nơi thì đã thấy anh ấy sốt đến mê man, trong lúc ấy... anh ấy lại gọi tên em liên tục.

Chị không trách em giấu giếm chị, nhưng tại sao em có được rồi lại không biết quý trọng chứ?"

Chị An Hoa mặc váy áo xanh nhạt, áo khoác bên ngoài màu trắng trong suốt như sương, vẻ mặt tiều tụy nhợt nhạt và ánh mắt cũng vô hồn.

Chị đau lòng cho Quốc Tảng, ngược lại tự tổn thương mình, rồi đi nói lời tổn thương tôi.

Tôi thở dài, nhìn vào mắt chị thủ thỉ:

"Em không cố ý khiến anh ta phải ra nông nỗi, nhưng em cũng có suy nghĩ của riêng em, cho dù là anh ta thương em cũng không thể ép em phải thương anh ta được.

Em cứ nghĩ chị phải là người hiểu rõ nhất chứ."

Chị An Hoa nhìn tôi với ánh mắt không thể tin, lát sau trông chị như hiểu ra, lại bảo:

"Hay là em e ngại chị chăng?"

"Không, em không có ý gì với anh ba thật mà."

Mặc dù anh ta giúp đỡ tôi rất nhiều lần, tôi cũng rất biết ơn anh ta, nhưng chỉ dừng lại ở sự biết ơn.

Có lẽ chính sự biết ơn đó của tôi khiến anh ta hiểu lầm, hoặc là anh ta chỉ tin vào điều anh ta muốn.

Kể từ dạo ấy tôi cũng rất ít khi gặp Quốc Tảng, phần vì tôi trốn tránh anh, phần vì có lẽ anh ta cũng ngại tôi đôi chút.

Chị An Hoa thì vẫn như vậy, vẫn nghị lực dõi theo anh ta dù trong thâm tâm chị biết có lẽ giữa hai người cũng chẳng còn lại gì nữa rồi.

Tôi, chị Anh Nguyên và Ngũ Lão cưỡi ngựa trong bãi, hôm nay tôi đã có thể thuần thục dong ngựa, quả đúng như câu "một gánh sách không bằng một người thầy giỏi", cũng chẳng biết người thầy đó là ai, Ngũ Lão hay là người đàn ông mà tôi trốn tránh.

Tôi nhìn trời thu trong xanh cao vút, vỗ mông ngựa chạy đi, để lại cặp tình nhân phía sau vẫn đang tâm tình mà không hề hay biết.

Chạy một hơi tới bìa rừng, tôi cột con ngựa vào một gốc cổ thụ, ra bờ suối vốc nước rửa mặt.

Tôi soi mình trong nước, gương mặt này đối với tôi vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, quen thuộc vì tôi thấy nó hằng ngày, còn lạ lẫm là vì khoảng thời gian trước đây tôi không tài nào nhớ ra được, tôi cố nghĩ đến nhưng chỉ thấy chóng mặt nhức đầu.

Tôi gặp anh hai Quốc Uất nằm vắt va vắt vẻo trên cành cây, anh ta chòng chọc nhìn tôi, nói:

"Trùng hợp ghê, lúc nào cũng có thể vô tình gặp được em."

Tôi nhăn mày, cũng may là anh, chứ nếu như là Quốc Tảng thì chắc tôi nguyện ở trong khuê phòng cả đời.

Quốc Uất ngẩng mặt nhìn trời, than:

"Có những người vốn nghĩ là nhân duyên nhưng thật sự chính là nghiệp báo, tôi nghĩ em chính là nghiệp báo từ kiếp trước của Quốc Tảng rồi."

Tôi quắc mắc trả lời Quốc Uất:

"Nếu như là nghiệp báo của anh ta, thì tôi đâu còn cách nào."

"Em định trốn tránh mãi vậy sao?" – Anh ta hỏi.

"Tôi cũng chẳng còn cách nào, trừ khi tôi bỏ xứ ra đi." – Tôi đáp.

Quốc Uất bẻ gãy một nhánh cây ném xuống dòng suối, nước văng tung toé.

Tôi thấy hình bóng mình dần tan đi.

Một lúc lâu sau, tôi nghe tiếng anh ta thở dài:

"Em sẽ đi đâu chứ, kể cả mình là ai em còn không biết.

Bây giờ tuy tạm thời yên bình, nhưng nhà Tống đã bị diệt, nước Nam ta cũng không tránh khỏi một phen chồn ngựa đá.

Em dù sao cũng được coi là một nhân tài, đừng để tới lúc đất nước này cần thì lại không có."

Tôi ngồi xuống gốc cây phía dưới anh ta, khẽ cười:

"Tôi dù sao cũng chỉ là phận nữ nhi, anh đánh giá tôi cao quá rồi."

Anh ta ném quả vào đầu tôi, mắng:

"Nữ nhi ở vương phủ không ai là kẻ bất tài, cứ nhìn chị Trinh của em sẽ thấy."

Tôi ngẩng đầu nhìn trời, nói như hát:

"Tôi khát khao được như cánh chim kia, tự do bay lượn.

Mặc dù tôi không có nhà, nhưng điều đó có gì là quan trọng.

Với tôi đâu đâu cũng là nhà, mành trời chiếu đất chỗ nào cũng có thể dung thân.

Nhưng một ngày nếu như giang sơn xã tắc này cần, dù cho tôi đầu rơi máu chảy tôi cũng nguyện."

"Ai nói em không có nhà, đây mãi mãi là nhà của em." – Trần Quốc Uất cười nhìn tôi, đôi mắt anh ta lấp lánh ánh sáng, trong vắt như dòng suối thu.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 10: Đêm Hoa Đăng Bất Ổn


Anh hai Uất mấy ngày gần đây như trở thành một người khác, nét mặt lúc nào cũng đăm chiêu, ra ra vào vào như người mất hồn, chốc lát thì giật mình như gặp phải ma xó.

Ngạc nhiên là người trong nhà có vẻ như mắt mờ tai điếc, đối với biểu hiện của anh ta cũng chẳng để trong lòng, cứ như không hề thấy chuyện gì đang xảy ra vậy.

Nếu hôm qua Ngũ Lão không đề cập vấn đề này với tôi, có lẽ là tôi đã cho rằng chính mình mới là kẻ trúng tà chứ không phải anh ta.

Sáng hôm nay gặp Ngũ Lão ở nhà bếp, tôi mới biết hóa ra mình không bị trúng tà.

Phạm Ngũ Lão cũng kinh hãi tựa như tôi, sau đó từ miệng anh ta tôi mới biết được nguyên cớ.

Thì ra chuyện gì cũng có nhân quả của nó.

Tai họa bắt đầu vào một đêm hoa đăng năm năm về trước lúc anh hai Uất tình cờ gặp một cô gái.

Anh ta vừa thấy đã thích, không chần chừ một chút nào, vội vàng trong hội hoa đăng hỏi người ta có muốn theo mình về nhà không?

Cô nàng này nghe được lời bông đùa của anh hai Uất thực sự ngây thơ nghĩ rằng anh ta tỏ tình với mình, cứ thế mặc định rằng mình là người yêu của anh ta.

Chị ta bám theo anh hai Uất như kẻ biến thái, chặt gốc cây si, phá đường tình duyên, phá cầu Ô Thước, không việc ác gì không làm.

Tên của chị ta là Thuỵ Hữu.

Cha của chị Thuỵ Hữu vừa hay lại là Chiêu Minh Vương Quang Khải.

Bởi vì chị Thuỵ Hữu lúc nhỏ yếu ớt nhiều bệnh nên cha chị ta liền cho chị ta tập võ để rèn luyện, kết quả lúc sức khoẻ chị ta dần tốt lên thì chị ta cũng học được tính tình mạnh bạo như đàn ông, may vá thêu thùa chị không để vào mắt, suốt ngày chỉ động quyền động cước mà thôi.

Cũng may trong nhà cũng không phải chỉ một mình chị ta là con gái, mấy người chị nhìn em gái mình tuy xinh đẹp tuyệt vời nhưng lại thiếu đi nét nữ tính đoan trang thì không giấu được rầu lo, suốt ngày thở ngắn than dài, Chiêu Minh vương thấy thế dứt khoát cho chị ta ra quân doanh rèn luyện.

Đương nhiên ngay cả anh hai Uất cũng không có cửa đánh bại chị ta, đành để mặc cho chị ta hô mưa gọi gió.

Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi Chiêu Minh vương biết chuyện, kể đến đây cũng phải bày tỏ chút lòng khâm phục vị vương này, dù ở xa tít tận kinh thành thì tai mắt ở Vạn Kiếp cũng không thể coi thường được, không biết ngài ta hóng hớt cách nào mà sang ngày thứ ba đã sang nhà nhận thông gia.

Đến đây thì Quốc Uất chỉ trách trời cao không có mắt, Chiêu Minh vương ấy vậy mà lại có mối quan hệ vô cùng thân thiết với cha mình.

Hôn sự được đặt ra còn anh ta thì khóc không ra tiếng, thật là bi thảm lắm thay.

Cũng may sau đấy chị Thuỵ Hữu như thường lệ phải trở về quân doanh, nếu không có khi Quốc Uất phải bỏ nhà đi biệt xứ.

Có điều rằm tháng bảy hằng năm, chị Thuỵ Hữu thường cưỡi ngựa đạp gió trở về để tìm ông chồng sắp cưới có vẻ không muốn gặp chị ta cho lắm, lúc đấy, anh hai Uất lại bắt đầu công cuộc bỏ trốn của mình.

Tôi vừa ra khỏi cửa đã thấy dòng người như nước tấp nập, người qua kẻ lại xô đẩy như thoi đưa, tựa sóng biển từng lớp xô bờ.

Ánh trăng vằng vặc, phảng phất đêm rằm như sương như khói.

Bên đường, tiếng côn trùng rả rích kêu đã sớm bị tiếng nói cười của dòng người lấn át, hoa đăng rực rỡ sáng như ban ngày, từng đốm từng đốm lung linh chạy dài như một dòng lửa đỏ ào ạt tuôn tràn trên mặt đất.

Đang định hoà vào dòng người thì Quốc Tảng nắm lấy tay áo tôi, mỉa mai nói:

"Lần trước bị xoay như chong chóng còn chưa sợ hay sao?

Em thích chen lấn lắm hả?"

Trông bộ dạng thì có vẻ như anh ta đã quên đi chuyện cũ.

Tôi giằng khỏi tay anh ta, hất mặt đáp:

"Đi hội mà không xô đẩy chen lấn thì còn gọi là đi hội cái gì, tôi cũng có phải trẻ con đâu mà anh sợ lạc."

"Em không sợ nhưng tôi sợ!" – Anh ta vẫn cố cãi.

Chị Anh Nguyên đứng bên cạnh tôi khẽ xoay người sang, cằn nhằn:

"Anh ba thiên vị thế, xưa giờ cũng không thấy anh bảo vệ em như gà mẹ che chở gà con kiểu này."

"Còn không phải tại chị đã có người khác che chở hay sao?" – Tôi đáp.

Chị Anh Nguyên lập tức đỏ mặt quay đi.

Hôm nay đám bọn tôi đều đi chơi, nhưng có vẻ như mỗi người đều có người mà mình muốn ở cùng nên vừa cùng nhau ra khỏi cửa thì tôi đã mất dấu bọn họ.

Đúng là chị em bình thường sống chết có nhau, cho đến khi có đàn ông bước vào cuộc đời.

Thế nên hiện tại tôi và chị An Hoa không may phải đi cùng Quốc Tảng và tên Quốc Hiện tính nóng như lửa.

Tôi và Quốc Hiện liếc mắt nhìn nhau, năm thuở mười thì anh ta mới hiểu được ý tôi muốn nói, đột nhiên nhướng mày với tôi, thế rồi anh ta bất thình lình nắm lấy áo tôi cùng hoà vào đám người ùn ùn trẩy hội.

Tôi thấy Quốc Tảng đang đứng bên cạnh bỗng giật mình vội vàng chạy theo nhưng vươn tay ra nhưng chỉ bắt được một góc áo của tôi, đôi tay chơi vơi giữa không trung, bất lực nhìn tôi hòa vào dòng người biến mất.

Sau đó đôi bắt gặp ánh mắt anh ta ngập ngụa trong hương vị của chia ly, rồi trước lúc mất hút trong đám người tôi cũng chợt thấy chị An Hoa đứng từ phía xa dùng đôi mắt thẫn thờ nhìn Quốc Tảng.

Tôi không khỏi bĩu môi, chỉ là một đêm hội, có cần phải dùng thái độ thái quá như vậy không, thật chẳng hiểu nỗi mấy kẻ đang yêu mà.

Chạy được một đoạn nhắm chừng đã không thể đuổi kịp, tôi và Quốc Hiện chống gối ôm bụng thở phì phò nhìn nhau, cả hai cùng phì cười một cái, khó có dịp bọn tôi đồng lòng thế này.

Anh ta bỗng nói với tôi:

"Bây giờ trong phủ không ai không biết anh ba để ý em!"

Tôi liếc anh ta, bảo:

"Anh ghét tôi nên không muốn anh ba anh lấy tôi chứ gì?"

Anh ta cười ha ha không đáp, trong lòng tôi chắc mẩm cũng phải đúng bảy phần là anh ta ghét tôi, ba phần còn lại là anh ta thích chị An Hoa hơn.

Nhưng suy ra anh ta ghét tôi cũng đúng, có ai vừa mới vào cửa nhà người ta đã ra tay đánh người ta hay không, chắc chỉ mình tôi là kẻ duy nhất trên trần đời này.

Bọn tôi vô thức sải bước đến một nơi vắng người.

Trời ngày một khuya, gió đêm càng lúc càng lạnh buốt, đột nhiên anh ta trầm giọng bảo:

"Bình Trọng đã thành gia lập thất và ra làm quan rồi, còn tôi đến nay vẫn chưa có gì trong tay."

Tôi cũng không biết tại sao anh ta lại đi tâm sự với tôi, nửa đùa nửa thật bảo:

"Cái tính dở dở ương ương của anh mà ra làm quan thì cũng khá là gay go đấy, người gì mà nóng tính chẳng suy nghĩ chu toàn, không sửa sang lại thì có ngày anh cũng tự bị mình hại."

Lúc tôi nói câu đó tôi cũng không đoán được có ngày anh ta thật sự sẽ rơi vào cảnh đó.

Nếu sau này anh ta nhớ ra liệu có gọi tôi là miệng quạ như Trần Thì Kiến hay không?

Tôi đang thầm nhắc tới Thì Kiến, đột nhiên phía sau truyền đến tiếng tiếng bước chân vội vã, ngẩng mặt lên thì thấy bóng một người đàn ông quen thuộc đang quệt vội mồ hôi trên trán.

Sau đó anh ta nhanh miệng hỏi Trần Quốc Hiện đứng bên cạnh tôi:

"Người anh em này, anh có thấy một người..."

"Con quạ đen nhà mi!" – Quốc Hiện chưa thèm nghe anh ta nói hết câu đã lớn tiếng cắt ngang.

Tôi giật mình quay phắt lại thì thấy quả nhiên chính là Trần Thì Kiến vừa hẹn gặp tôi ở Thăng Long cách đây không lâu, anh ta cũng giật mình nhìn hai người bọn tôi cười trừ, điệu bộ ra chiều gượng gạo.

Lát sau anh ta như sực nhớ tới chuyện chính, vội nhỏ giọng hỏi:

"Quốc Hiện, anh có thấy một quý nhân mặc viên lĩnh màu ngọc, cao hơn anh nửa cái đầu, chân mang hài trắng hay không?"

Tôi ghé đầu vào hóng hớt, thấy Quốc Hiện ra chiều suy nghĩ, rồi như bừng tỉnh đại ngộ, hốt hoảng nói:

"Ý mày là..."

"Suỵt!" – Trần Thì Kiến với tay bịt chặt miệng anh ta lại, dáo dác đảo mắt nhìn xung quanh thấy không có ai mới thở phào nói tiếp – "Đúng là người đó, anh ta ép tôi đưa đi chơi nhưng nửa chừng thì lẻn mất, đám người hầu lại càng không có khả năng đuổi theo.

Bây giờ tôi không biết anh ta lẩn đi đâu nữa, anh ta mà có mệnh hệ nào thì tôi có mười cái đầu cũng không sống nổi.

Không, là cả nhà tôi, cả làng của tôi nữa!"

Tôi nghe hai người anh ta nói nhỏ nói to cũng hiểu ra chuyện này vô cùng hệ trọng, nhưng nhìn sang thấy vẻ mặt Quốc Hiện vẫn dửng dưng.

Đoạn, anh ta liếc Thì Kiến một cái, mỉa mai:

"Nghe đâu nhà ngươi có tài tiên đoán như thần mà, gieo một quẻ xem tên kia đã đi đến chốn nào rồi?"

Thì Kiến nổi sùng:

"Giờ phút này mà anh còn có lòng dạ bông đùa được, tôi lo sắp điên rồi!"

Quốc Hiện vẫn không có biểu hiện gì gọi là lo lắng, anh ta thong thả nói:

"Vậy là mày không biết rồi, nếu là ai thì còn nên hoảng, chứ cái thằng oắt con khốn kiếp đó thì lo lắng cũng chỉ là thừa thãi mà thôi!"

Tôi đứng nghe mà như vịt nghe sấm, chả hiểu mô tê.

Thấy Thì Kiến vẻ mặt mờ mịt, Quốc Hiện nhếch môi khinh bỉ rồi nói tiếp:

"Ngày xưa học cùng nhau ở Giảng Võ Đường, thằng này từ lúc tấm bé đã chuyên gia chơi trên đầu anh em bọn ta.

Chí ít bọn này theo tuổi tác lẫn vai vế vẫn được coi là lớn hơn nó, thế mà cũng chẳng thấy nể nang gì, toàn bày trò chọc ghẹo, hại không ít lần bọn ta phải ăn đòn oan.

Đáng giận là võ nghệ lẫn chiêu trò vẫn thua nó một bậc, chẳng thể làm gì được.

Tao nghĩ thay vì lo cho nó thì mày nên lo cho những kẻ có ý đồ bất chính thì hơn."

Trần Quốc Hiện kể lại, thái độ lại như vô cùng căm hận.

Trần Thì Kiến vô tình cố ý phớt lờ gã Quốc Hiện gọi quý nhân của anh ta là thằng này thằng nọ, vẫn sốt vó nói:

"Nhưng tôi vẫn lo lo, lỡ như..."

"Cho dù mày có lo, một tên học trò trói gà không chặt như mày thì làm được gì?"

Tôi bước đến can, hai ông thần này chả hiểu sao mỗi lần gặp nhau là lại luôn miệng cãi vã, không biết kiếp trước có nợ nần gì nhau không.

Trần Thì Kiến lúc này mới nhớ đến tôi, vội quay sang cầu khẩn:

"Nể tình chúng ta quen nhau đã lâu, tôi nhờ em và anh Quốc Hiện đây tìm người giúp được không?"

"Ăn chia thế nào?"– Quốc Hiện cộc lốc hỏi.

"Cái này...." – Trần Thì Kiến đưa tay lau vội mồ hôi, khó xử nói – "Anh biết đấy, tôi cũng đi làm chưa lâu..."

Tôi đá Quốc Hiện một cái, cười nói với Thì Kiến:

"Đừng để ý anh ta.

Tôi và anh cũng coi như là bạn bè thân thiết, không nên thấy chết không cứu.

Anh cứ mô tả người đó ăn mặc diện mạo ra sao, tôi đi tìm giúp anh."

Trần Thì Kiến mừng muốn khóc, nắm lấy tay áo tôi, tha thiết nói:

"Tôi đội ơn em lắm lắm, quý nhân mặc viên lĩnh màu ngọc, chân mang hài trắng, trạc chừng hăm mốt hăm hai, anh ta cao ráo đẹp trai ngời ngời, đảm bảo em vừa nhìn là nhận ra ngay."

Tôi không biết cách miêu tả của anh ta rốt cuộc là nhờ tìm người hay là muốn mai mối cho tôi, có điều tên Thì Kiến trước giờ cũng ít thấy khen ai, kẻ được anh ta khen chắc cũng không phải hạng tầm thường.

Thế nên hiện tại ba chúng tôi chia nhau ra dưới sự nài nỉ của Trần Thì Kiến, Quốc Hiện thì cũng không mặn mà với mối làm ăn lỗ lã này lắm, còn tôi thì mông mông lung lung bởi lời diễn tả của anh ta nên khả năng cao là lần này anh ta gặp hạn rồi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 11: Đàn Ông Đẹp Trai Chưa Chắc Là Đàn Ông Tốt


Hội hoa đăng đông như mắc cửi, hai bên đường có thêm rất nhiều hàng hóa so với ngày thường, tiếng rao cùng với tiếng nói cười hòa vào làm một.

Bên dưới con đường người người nô nức, trên các tòa nhà cũng chật ních không kẻ hở, đèn đuốc sáng rực chẳng phân biệt nỗi ngày đêm, quả thật là cảnh vui ý đẹp.

Tôi chen chúc trong đám người đi hội hết xô rồi đẩy cũng không thể tìm được đường ra, thầm nghĩ trong tình cảnh thế này nếu như có móc túi hay ám sát thì thật là quá thuận tiện.

Xô đẩy một lúc, từ phía sau bỗng dưng có người lấn lên, tôi mất đà loạng choạng ngã về phía trước, kết quả bả vai va phải một người đang đi ngược đường.

Xoay một vòng về phía sau, trước mắt là một người đàn ông xa lạ vận viên lĩnh màu ngọc, đầu đội kim quan, mày kiếm mắt sắc, anh khí ngút trời.

Tôi bỗng cảm thấy kinh hãi, mỹ mạo của người này, thật sự làm người ta kinh hãi!

Khoảnh khắc anh ta nhìn tôi, cả không gian như ngưng đọng lại.

"Thấy được dung mạo của chàng,

Tựa như gió mát trăng thanh,

Dường như đã gặp qua ở phàm thế,

Đợi chờ lưu luyến, thời gian như ngừng lại."

Trong đầu tôi tự nhiên hiện lên một loạt ca từ được nghe trong mấy vở kịch, rất hợp với hoàn cảnh.

Lúc trấn tĩnh lại đã thấy chàng kia cúi gập người xuống, phía trên đỉnh đầu anh ta lập tức có một thanh đao sáng loáng lướt ngang, không trúng mục tiêu thì xẹt qua cánh tay của mấy người bên cạnh, kéo theo cảnh tượng gió tanh mưa máu bay tứ tung hết sức thảm khốc.

Nhất thời khung cảnh thanh bình trở nên hỗn loạn, đám người bị liên luỵ cũng mắt nhắm mắt mở mà chạy trốn.

Thoáng chốc chỉ còn lại tôi và chàng kia bị đám người áo đen vây lấy.

Một chiếc lá vàng rơi xuống giữa không gian tĩnh mịch, thời gian như ngưng đọng.

Tôi nhìn thấy cây trâm của mình đang ở trong tay anh ta thì vươn tay định giật lại, đây là thứ duy nhất tôi mang theo trước khi vào vương phủ ngoài bộ quần áo đã rách nát khi rơi xuống núi, tôi còn cần nó để tìm ra thân thế của mình.

Không ngờ người đó đã nhanh hơn một bước đem nhét vào túi áo, còn nhìn tôi đắc ý cười.

Tôi không có kiên nhẫn đùa với anh ta, bực mình nói:

"Cái đó là của tôi!"

"Ai nhặt được thì của người ấy!" – Anh ta vẫn đùa dai.

Các cụ có câu nghèo cho sạch, rách cho thơm, nếu như anh ta túng quá thì tôi có thể mở lòng ra giúp đỡ, đằng này anh ta lại làm cái việc đầu trộm đuôi cướp kia thì tôi cũng không bênh nỗi anh ta rồi.

Nhưng hình như tên nghèo khổ này đang bị người ta ám sát, mà nói không chừng, chính tôi còn có nguy cơ bị cuốn vào cái loại tai bay vạ gió lãng xẹt thế này.

Mặc kệ có tìm được thân thế hay không, trước tiên giữ mạng mình đã rồi tìm cách.

Nghĩ thế, tôi định xoay người xin tha, tôi cũng không phải Bồ Tát cứu nhân độ thế gì.

Vừa cử động hai chân, phía bên kia đã truyền ra tiếng nói:

"Các anh muốn giết tôi, trước tiên bước qua xác vợ tôi cái đã!"

Tôi còn tưởng mình nghe nhầm, một lát sau, tôi nghe anh ta nói bồi thêm một câu mới chợt bừng tỉnh:

"Vợ chồng gian khổ có nhau, mình không định bỏ tôi mà đi chứ?"

Tôi nghĩ có lẽ mình sống trong vương phủ đã lâu, chỉ gặp qua những người quân tử khí khái nên hiện tại đối diện với sự thật đàn ông cũng có người này người kia thì có một chút cảm giác bất ngờ.

Nhưng không sao, cũng phải đến lúc tôi trải nghiệm cuộc sống bên ngoài, cho dù lần trải nghiệm này quá mức mạo hiểm.

Nhưng cái tôi không ngờ nhất chính là cho dù phần nhan sắc có nổi trội đến đâu cũng không thể dùng đó mà đánh giá bên trong con người được.

Lúc này ngoài mắng chửi anh ta một nghìn tám trăm lần ra thì tôi chỉ âm thầm mắng bản thân mình xui xẻo, bởi khi vô tình rơi vào hoàn cảnh oái ăm này cho dù tên đàn ông ấy có luôn miệng thanh minh cho tôi thì căn bản đám sát thủ kia cũng không để lọt vào tai.

Sát khí nổi lên bốn phía, tôi cẩn thận cảm nhận nhất cử nhất động của đám người áo đen, từng hơi thở của bọn chúng có thể dọa trẻ con khóc thét.

Tôi thầm cảm ơn khoảng thời gian tập Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhờ vậy tôi mới có thể tịnh tâm phán đoán như thế này.

Người đàn ông bên cạnh tôi dường như cũng có thể cảm nhận được điều đó, thế nhưng trông vẻ mặt anh ta chẳng có sai biệt gì, khóe môi khẽ giương lên, cười như không cười mà nhìn tôi.

Trong hoàn cảnh này lại có thể bình tĩnh như vậy thì thật hiếm thấy.

Tôi thầm mắng, đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.

Có điều cho dù là chân tình hay giả ý thì để kẻ mang nhan sắc hồng nhan họa thủy nhìn mình chằm chặp thì cũng quá dễ động lòng.

Mấy tên áo đen không để tôi thong thả được lâu, lần lượt chĩa mũi kiếm vào cả tôi và người đàn ông đó, từng chiêu thức đều rất nhanh và chuẩn, chăm chăm nhắm vào nơi hiểm yếu của bọn tôi.

Lúc đi hội tôi không nghĩ tới sẽ gặp phải tình huống này nên chẳng hề có chuẩn bị, phải nói là tay không tấc sắt, ngay cả thứ có thể gây sát thương cuối cùng cũng nằm trong tay kẻ kia.

Xung quanh đồng minh không có, bắt buộc phải liều mạng một phen rồi.

Nghĩ thế tôi quơ vội một đoạn tầm vông mà đám nam thanh nữ tú dùng để vớt đèn vứt bên đường tạm thời ứng phó.

Nhưng mà cái tên đàn ông vô dụng kia hình như không có ý giúp đỡ tôi, hay là anh ta vốn không biết võ nghệ?

Không đúng, nếu như anh ta không biết võ nghệ, thì hà cớ gì bọn người này phải đến đông như trẩy hội thế kia?

Tôi nhìn anh ta vận viên lĩnh tao nhã, lả lướt né qua né lại mũi kiếm của đám người áo đen, thuận tiện nấp sau lưng tôi hòng đem lại cho tôi một mớ phiền phức, rốt cuộc không chịu nổi mà hét lên:

"Này tên vô trách nhiệm, không có trái tim, mớ phiền phức này là anh dẫn đến, anh còn đứng nhởn nhơ ở đó làm gì?

Anh muốn cả hai chúng ta cùng chết có đúng không?"

Tên đó vẫn nhanh nhẹn né tránh, nhưng tôi thấy anh ta khẽ nhún vai, chậm rãi giãy bày:

"Nếu để bộ quần áo này dính máu thì cha mẹ tôi sẽ biết tôi ra ngoài, tôi sẽ mềm xương với họ!"

Ừ, chắc chỉ một mình anh ta có cha mẹ ý!

Trong lúc này tôi dường như nhận ra anh ta có lẽ là người mà Thì Kiến nhờ tôi tìm giúp, tôi mà gặp lại Thì Kiến thì nhất định sẽ tẩn cho anh ta một trận.

Mà tôi nghĩ nói điều đó cũng còn hơi sớm, tình hình này biết gã quý nhân này có còn giữ mạng được hay không, kể cả tôi cũng vậy.

Nhưng tôi cũng chẳng còn hơi sức mà quan tâm nữa, cả người tôi nhễ nhại mồ hôi, tuy không nhìn thấy nhưng tôi cũng có thể đoán được bộ dáng chật vật của mình lúc này.

Tôi khom người quật đoạn tầm vông gạt chân bọn người áo đen, lá khô cùng bụi đất bị cuốn bay mù mịt, từng sợi tóc bay vào mặt tôi đau rát.

Mà anh chàng vận ngọc y trong lúc đó động tác né tránh cũng đột nhiên chững lại, một đường kiếm không có mắt xẹt qua cánh tay anh ta, để lại một vệt đỏ vô cùng nổi bật trên nền áo màu ngọc quý.

Tôi quệt đi mồ hôi che khuất tầm nhìn, chau mày nhìn đám người áo đen.

Động tác của chúng đã có phần chậm lại, nhưng nhắm chừng sức lực của mình cũng không trụ được bao lâu, liền hạ giọng thương lượng với anh ta:

"Anh không đánh cũng được, mau đi tìm người tới giúp đi, xung quanh đây anh chị em của tôi rất nhiều.

Không thì mau đi tìm đến phủ Hưng Đạo cầu viện binh gấp, tôi ở đây đối phó bọn chúng hộ tống cho anh đi."

Lúc này tôi thấy thần thái anh ta trở nên khác lạ, đáy mắt dường như xẹt qua một tia hưng phấn.

Đám người áo đen nghe thấy "Hưng Đạo Vương phủ" trong miệng tôi, động tác càng gấp gáp, ra chiêu càng hiểm ác hơn.

Đúng lúc hai ba tên cùng lao đến một lượt, tôi không né tránh kịp liền bị trúng một dao, phun ra một bụm máu.

Tôi thấy ngực mình quặn đau, cảm giác tê liệt dần dần chạy từ dưới chân lên đầu, tay chân cũng dần lạnh toát.

Tôi chóng mặt quá, cái cảm giác này xảy đến đột ngột làm cho đầu óc tôi như thanh tỉnh hẳn ra, tôi biết mình đã từng trải qua cảm giác này rồi, nhưng vào lúc nào, ở đâu thì không thể nhớ được, cũng có thể là trước khi tôi quên hết mọi thứ rồi bước vào phủ Hưng Đạo.

Mắt tôi đã mờ như đêm ba mươi mà chỉ đốt mỗi một cái đèn dầu, chân thì run như gà phải nước.

Trước mặt lại thấy mấy tên cùng đồng loạt giơ dao đâm xuống, tôi cứ đinh ninh là mình đã chết rồi.

Nhưng ai ngờ trong khoảnh khắc hiểm nghèo thì một bóng dáng lướt qua mắt tôi như một cơn gió, kiếm khí sắc bén lấy mạng vài tên, thành công cứu tôi thoát chết trong gang tấc.

Trần Quốc Tảng lại cứu tôi một lần nữa, không biết có phải cảm giác vui mừng quá đỗi vì được cứu hay không, tôi đột nhiên cảm thấy anh ta đẹp trai quá xá, khả năng tôi và anh ta đến với nhau cũng không phải là không thể.

Tôi xúc động đến rơi nước mắt, được rồi, việc anh ta cầu hôn tôi có thể chấp nhận được, trở thành một đôi vui vẻ sống qua năm dài tháng rộng.

Tôi nghĩ đến đó rồi không còn biết gì nữa, bên tai chỉ văng vẳng tiếng của anh ta gọi tên mình.

Nói chung sự việc lần này tuy để lại trên người tôi một vết thương chí mạng nhưng lại mang đến cho tôi những ký ức tưởng như đã ngủ sâu trong tầng tầng lớp lớp thời gian của nơi trần thế này.

Lần đầu tiên trong suốt nửa năm qua tôi mơ về thân thế của mình, về những người thân mà tôi hằng tìm kiếm.

Nhưng trái ngược với sự mong đợi đó, tôi chỉ thấy lòng mình ê ẩm đau.

Những kẻ được coi như là người thân đó đã làm gì tôi? hành hạ, phỉ nhổ, đánh đập không chút thương tình, cuối cùng lừa tôi tự nhảy xuống vách núi.

Nếu không phải khung cảnh dưới chân núi Yên Tử quá quen thuộc, tôi cũng sẽ nghĩ đây chỉ là một giấc mơ đầy hấp dẫn do tôi đọc tiểu thuyết quá nhiều.

Còn về lý do tại sao tôi lăn xuống núi mà vẫn chỉ bị mất đi trí nhớ thì chắc là do võ nghệ không được tính là tầm thường trong người tôi, mặc dù về lý lịch của mấy chiêu thức đó thì tôi không mơ tới.

Tôi không biết có phải sự thật là như thế không hay là tôi bị câu chuyện Tấm Cám mình thích đọc đánh lừa, còn người chị gái đã hãm hại mình khi đó đã vào cung làm vợ vua thật hay chăng?

Nếu nói thế thì mình đã tới giai đoạn nào rồi, từ quả thị chui ra đi tìm công lý chắc?

Tôi thẩn thờ ngồi dậy trước ánh mắt vui mừng xen lẫn kinh ngạc của chị Anh Nguyên, cảm giác như mình vừa già đi chục tuổi, trải qua hết cay đắng khổ đau của một kiếp người.

Chị Anh Nguyên nắm tay tôi, rưng rưng nước mắt:

"Em tỉnh rồi, em đã ngủ suốt một ngày hai đêm rồi đấy!

Làm cả nhà lo chết đi được."

Đã lâu vậy rồi sao, hèn gì chỉ cảm thấy cổ họng khô khốc, bụng đói cồn cào.

Tôi mãi chìm đắm trong hồi ức, quên bẵng đi sự có mặt của chị Anh Nguyên khiến chị ấy sợ hãi.

Đến khi tôi hoàn hồn lại thì đã thấy bên giường đã đầy đủ cha mẹ và các anh chị em của tôi.

Mẹ tôi khóc đỏ hoe mắt, còn cha thì đứng bên mẹ liên tục nhíu mày lo lắng nhìn tôi.

Tôi đột nhiên thấy tức cười, bọn họ chỉ là cha mẹ, anh chị nuôi của tôi thôi mà lại lo lắng như thế, còn cha ruột, anh chị em ruột mà tôi tìm thấy trong giấc mơ lại đối xử với tôi không khác gì kẻ thù.

Nước mắt tôi ào ạt chảy ra, chẳng thể nào dừng lại được, mẹ tôi hốt hoảng chạy đến ôm lấy tôi, dỗ dành:

"Đừng sợ, con đừng sợ, không sao cả rồi!"

Mẹ chỉ luống cuống nói mấy câu như thế, bởi bà cũng không biết được chính xác là tôi đang nghĩ gì, tại sao tôi lại khóc.

Trước giờ tôi luôn là một đứa lạc quan, cứng cỏi, hẳn là trong lòng phải hoảng sợ lắm mới làm tôi khóc thương như vậy.

Nhưng mẹ tôi đâu biết trong người tôi bây giờ không phải là đứa con nuôi được mẹ và cả vương phủ bảo bọc yêu thương mà chính là một người từng trải qua cảnh bị những người thân của mình ép đến chết.

Tôi dần bình tĩnh trở lại, đột nhiên cảm giác cơ thể đau nhức, lúc này mới nhớ ra chính mình trong cuộc ẩu đả hôm nọ hình như bị trúng mấy kiếm, liền tạm thời gác qua câu chuyện thân thế của mình, tiện miệng mắng tên dở người đó một câu: đồ con rùa rụt cổ.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 12: Dưới Bóng Cây Bạch Trà


Tôi bị tên khốn đó hại tôi nằm trên giường suốt ba tuần trăng mới chịu khỏi hẳn.

Vốn dĩ vết thương không sâu, chỉ cần dưỡng thương đắp thuốc một tuần là có thể xuống giường được rồi, chỉ hiềm gã Quốc Tảng phiền phức kia nhất quyết không chịu.

Ôi chao cái lưng của tôi, vết thương vừa lành thì chắc nó cũng mất cảm giác.

Chị Anh Nguyên ngồi bên giường tôi thủ thỉ:

"Em biết không, Ngũ Lão anh ấy thế mà lại được quan gia phong làm thủ lĩnh cai quản cấm vệ quân đấy.

Bây giờ vì sợ người khác không phục, đã về quê chuyên tâm khổ luyện rồi, ba tháng sau sẽ trở lại."

Tôi không biết vì sao Ngũ Lão lại được quan gia sắc phong, thật tâm mừng cho anh ấy.

Ngũ Lão là một người có tài.

Chị Anh Nguyên nói với tôi toán người áo đen có lai lịch từ mạn Bắc, là thế lực của Trịnh Giác Mật ở nơi xa xôi hẻo lánh, giờ chúng lại ẩn náu hại người, khả năng lớn là có câu kết với kẻ nào đó ở đây.

Chị bảo hôm đấy sau khi tôi ngất đi thì mọi người cũng lần lượt tìm đến, tuy trong đêm hội nọ mỗi người ở mỗi nơi, nhưng đều đánh hơi thấy điều bất bình thường, kẻ thủ ác ẩn nấp khắp mọi nơi trong đêm hội, chỉ vì tôi xui xẻo mới đụng trúng bọn chúng trước tiên.

Chị lại nói gì đó mà tôi không nghe rõ, tôi mệt mỏi thiếp đi, trong cơn buồn ngủ, tôi nghe tiếng chị thở dài.

"Sao mới bị ốm một trận mà như già thêm mười tuổi thế kia!"

Một tháng sau vết thương cũng đã khỏi hẳn.

Bởi vì Phạm Ngũ Lão đã về quê chuyên tâm tu tập nên Quốc Tảng lại tiếp tục dạy võ cho chúng tôi, hai tháng sau Phạm Ngũ Lão quay trở lại chắc có lẽ anh ta cũng sẽ vào kinh nhậm chức, xem ra tôi lại phải gặp Quốc Tảng dài dài.

Mặc dù anh ta một hai nhất quyết không cho tôi ra bãi tập nhưng anh ta cũng không làm gì được kẻ cứng đầu như tôi.

Mặt khác tôi cũng muốn mau chóng luyện thành tài, trong lòng tôi ngọn lửa thù cứ âm ỉ không ngày nào tàn được, làm tôi day dứt như điên.

Tôi cũng không biết tiếp theo phải làm gì, chỉ biết trước mắt phải biến đau thương thành sức mạnh không ngừng tập luyện.

Từ trước tới nay chưa bao giờ tôi thấy mình bị mất phương hướng như lần này, ngay cả cha thường ngày ít nói cũng phải luôn miệng hỏi han vì sự bất thường của tôi.

Tôi nhìn cha, lại không kìm được mà ứa nước mắt, trong đầu không tự chủ xuất hiện người cha ruột lạnh lùng tàn nhẫn.

Trời ơi, ước gì những kí ức kia đừng bao giờ quay trở lại thì tốt biết mấy, nhưng trên đời, không phải việc gì cũng theo ý muốn tôi được, người ta không ai chọn lựa được nơi mình sinh ra.

Buổi sáng mùa thu se se lạnh, tôi đang chập chờn trong giấc ngủ thì nghe tiếng ai đạp lên lá khô.

Nhọc nhằn trở dậy ngồi tựa vào cửa sổ nhìn ra sân chợt thấy Quốc Tảng ngồi trên ghế gỗ đặt dưới gốc cây bạch trà trong sân vườn, từng lớp lá vàng khô sà xuống sau cơn gió, mái tóc dài của anh khẽ đung đưa.

Tôi đi rửa mặt, choàng thêm tràng vạt mỏng nhẹ bước ra sân, đạp lên đám lá khô nghe xào xạc.

Mấy ngày này Quốc Tảng cũng không còn hừng hực như trước, thỉnh thoảng sẽ vô thanh vô thức ngồi lặng lẽ trong sân vườn tôi, có đôi lúc sẽ đưa mắt nhìn lướt qua cửa, như có như không tìm kiếm hình bóng tôi.

Một chàng trai ưu tú như vậy, không hẳn là không làm tôi động lòng, lần đó tôi cũng từng nguyện sẽ cởi mở hơn, tôi với anh ta vẫn có khả năng trở thành một cặp.

Chỉ là mấy ngày nay đầu tôi có quá nhiều thứ, đối với anh ta cũng không quá mặn mà.

Tôi thừa nhận mình đối với Trần Quốc Tảng rất tàn nhẫn, chí ít là cho đến bây giờ.

Nhưng anh ta chưa hề trách tôi, thậm chí anh ta còn liều mạng vì tôi nữa, có vài lần nếu như anh không đến kịp lúc thì có lẽ tôi đã xong đời rồi.

Bây giờ dùng lòng đối diện với Quốc Tảng, tôi cũng không biết loại tình cảm này là thích hay là mang ơn.

Tôi ngồi xuống bên cạnh Quốc Tảng, phía trên từng đóa bạch trà trắng trong thuần khiết, mùa bạch trà mới vừa bắt đầu.

Trần Quốc Tảng cũng như đóa bạch trà kia, anh theo đuổi ước mơ, lý tưởng một cách bề bỉ và rất cẩn trọng.

Hoa bạch trà đã nở thì lâu tàn, như chàng trai ấy điềm tĩnh và khoan thai, ngay từ hành động cho đến lời nói đều vô cùng mực thước.

Nếu như tôi thật sự ở cạnh anh ta, thì sẽ thế nào nhỉ, sẽ rất tốt đẹp chăng?

Quốc Tảng như mơ màng về chốn nào đó, đến khi thấy tôi ngồi xuống cạnh mới thoáng nhìn qua.

Trong tiếng gió thổi lá cây xơ xác, tôi nghe tiếng anh ta thở dài.

"Cảm ơn anh." – Tôi nhẹ giọng nói.

"Chẳng cần phải cảm ơn tôi, tôi đã sớm xem an nguy của em như tánh mạng."

Không khí chợt chùng lại, chỉ còn nghe tiếng gió chớm đông.

Quốc Tảng khẽ vuốt mái tóc tôi, giọng êm như hát:

"Từ khi em tỉnh lại, em như con người khác.

Tôi vẫn thích em của trước kia hơn, dù cho có kiên quyết cự tuyệt tôi, nhưng em như một cái cây tràn đầy nhựa sống.

Sắp sang đông, em cũng thay đổi theo thời tiết hay sao?"

Tôi bật cười bởi câu nói ví von của anh ta.

Tôi không né tránh cử chỉ hơi thân mật này, đáp:

"Không biết trước kia hay bây giờ mới là tôi nữa.

Có thể là tôi chẳng hề thay đổi, chỉ là trở về chính mình thôi."

Quốc Tảng trầm ngâm một lúc rồi nghi hoặc hỏi:

"Em đã nhớ ra tất cả rồi sao?"

"Cũng không biết nữa.

Có thể là sự thật, cũng có thể là do tôi tự huyễn hoặc ra."

Quốc Tảng lại hỏi:

"Em muốn đi tìm chân tướng chăng?"

Tôi ngẩng đầu nhìn trời, hai bàn tay đan vào nhau che giấu tâm tình phức tạp.

"Có nhiều lúc cũng muốn, nhưng suy nghĩ lại, có lẽ quên đi mới là điều tốt hơn.

Anh cũng biết đó, nếu như có thể sống như bản thân mong muốn thì trên đời đâu còn gì nuối tiếc nữa."

Quốc Tảng chợt nhìn tôi thật lâu, đến mức tôi nghĩ là mình hoa mắt.

Anh ta giống như muốn đào hết lớp lớp ký ức trong đầu tôi, rồi đem ra phân tích xem tôi rốt cuộc muốn làm gì.

Lát sau anh ta dời tầm mắt, nói bâng quơ:

"Ngày đó lúc Thượng sĩ đặt tên cho em, tôi đã rất ngạc nhiên, hôm nay nhìn lại, quả nhiên rất giống."

Tôi nhìn anh ta ngu ngơ, chờ đợi một lời giải thích.

"Có bao giờ em tự hỏi tại sao cha mẹ đối với em đặc biệt như thế chưa, tại sao Thượng Sĩ lại đặt tên cho em là Tĩnh hay chưa?"– Anh ta nói.

Tôi lắc đầu.

Đúng là từ lâu tôi đã nhận ra họ đối với mình quá mức đặc biệt, nhưng tôi chưa bao giờ đặt nghi vấn dù biết trong chuyện này chắc chắn có ẩn tình.

Bởi tôi không muốn đào sâu làm gì cả, có khi sự thật không được bóc trần sẽ tốt hơn, mặt trái của sự thật đôi khi khiến người ta vô cùng khó xử.

Cuối cùng khi người ta muốn nói, thì người ta sẽ tự động nói ra.

"Gia đình tôi từng để mất đi một đứa trẻ tám tuổi tên là Tĩnh, đó là em gái ruột của tôi."

Không cần anh ta giải thích thêm, tôi cũng hiểu lý do tại sao tôi lại mang cái tên này rồi, và tôi cũng hiểu sự ân cần cùng với những ánh mắt kỳ lạ của cha và mẹ.

Có lẽ chính là nỗi nhớ khôn nguôi về người con gái thất lạc mà họ đã đổ dồn tình cảm lên hết cho tôi, khiến tôi tuy là một kẻ không chút thân thích gì nhưng lại được miếng thơm miếng thảo.

Tôi cũng không trách cha mẹ vì xem tôi là một kẻ thay thế, với tôi, một kẻ đang thiếu đi tình thương yêu phụ mẫu thì cho dù nguyên do là thế nào, tình cảm chân thật kia cũng quá mức quý giá.

"Nhưng tôi chưa bao giờ xem em là Tĩnh, tôi lại càng hi vọng em không phải là em gái của tôi."

Quốc Tảng đột nhiên nắm lấy tay tôi, đặt bàn tay nhỏ nhắn của tôi vào bàn tay to lớn thô ráp của anh ta, thủ thỉ:

"Ngày mai tôi phải đi sông Lục Đầu duyệt binh rồi, tháng sau lúc trở về, tôi muốn nghe câu trả lời của em."

Tuy không nhìn thấy nhưng tôi chắc rằng gò má mình đã ửng đỏ.

Đây là lần đầu tiên tôi nghiêm túc nghe anh ta bày tỏ lòng mình mà không hề có ý bài xích, có lẽ nào anh ta đã đánh động đến tình cảm của tôi chăng?

Ngày hôm sau quả nhiên Quốc Tảng đi thật, không chỉ Quốc Tảng mà cả ba người anh còn lại trên danh nghĩa của tôi đều đi.

Tôi nhìn bọn họ cưỡi ngựa chiến oai phong lẫm liệt, cũng tự thẹn mình chỉ là phận gái.

Quốc Tảng nhìn tôi cười cười, giống như anh ta chắc chắn khi trở về sẽ thật sự nghe được câu đồng ý từ tôi vậy.

Tôi cũng cười với anh ta, còn Quốc Uất bên cạnh thấy vậy cũng vui vẻ vỗ vai anh ta một cái.

Lúc trở vào thì thấy chị An Hoa đứng nép sau cánh cửa, thấy tôi chị vội vàng chạy đi, để lại tôi với sự khó xử ngập tràn.

Mấy vương tử đi rồi, tôi và chị Anh Nguyên cũng trở nên rảnh rỗi.

Chị ta hay rủ tôi cưỡi ngựa, mặc dù suốt quãng đường cho ngựa chạy chỉ nghe chị ta thao thao bất tuyệt về Phạm Ngũ Lão mà thôi.

Tôi giả vờ mắng chị đáng ghét, trong lòng cũng đột nhiên nhen nhóm ý định dùng Quốc Tảng để hù doạ chị ta, chị ta mà biết thế chắc kinh ngạc lung lắm, nhưng nhớ đến ánh mắt chị An Hoa hôm đó lại thấy không hứng thú gì nữa.

Cha tôi thì rất hài lòng về Phạm Ngũ Lão, chỉ còn chờ anh ta lập công có công danh sự nghiệp đàng hoàng thì sẽ gả chị Anh Nguyên, thật không uổng công tôi đứng giữa làm mai làm mối.

Tôi từng có ý định quay về những vùng lân cận dưới chân núi Yên Tử để điều tra hết một lượt trong những ngày rảnh rỗi như thế này, nhưng sự việc cha tôi từ Thăng Long về đã làm tôi quên hẳn những dự tính, và khiến cuộc đời tôi rẽ ngang.

Đó chính là tin quan gia có chiếu nạp quận chúa Trần Thị Tĩnh làm phu nhân, ban chữ Tuyên, nửa tháng sau cho kiệu đến rước vào Thăng Long nhậm chức.

Tôi ngơ ngác nhìn cha, cái tên tôi mới được ban đúng là Trần Thị Tĩnh nhưng danh hiệu quận chúa từ đâu chụp xuống đầu tôi khiến tôi dường như không thở nổi.

Mẹ tôi vỗ bàn đứng dậy, to tiếng quát lên:

"Hoang đường, đúng là hoang đường, đã mười năm rồi cái Trinh còn không đủ bồi thường cho nó hay sao.

Bây giờ phải cướp đi đứa con gái mà ta vừa tìm về được."

Tôi lại ngơ ngác nhìn mẹ, thấy bà đã khóc nấc lên.

Chuyện họ nói tôi hoàn toàn không hiểu được, nhưng có lẽ là một câu chuyện xưa, đứa em gái ruột tên Tĩnh mà Quốc Tảng đã từng nhắc qua là một mắt xích trong đó, vừa hay tôi lại là kẻ thay thế hoàn hảo cho chị ta.

Tôi không lấy làm kinh sợ nữa, chỉ âm thầm cảm ơn ngày hôm đó Quốc Tảng đã nói với tôi rõ ràng tường tận.

Cha lẳng lặng nhìn tôi, tôi nhìn thấy ánh mắt ông đầy vẻ khổ não, ông vẫn cười với tôi hiền hậu, nhẹ giọng bảo tôi:

"Nếu như con không muốn, cha sẽ lên tiếng với quan gia.

Cha là thần, nhưng chí ít vẫn là chú của nó..."

Lúc cha nói câu đó, tôi thấy vẻ bất đắc dĩ trong mắt ông.

Tôi hiểu thân làm thần tử, nghịch ý vua là mang tội gì, cho dù cha là thân phận nào đi chăng nữa thì cũng không được vì thế mà có thể cãi thánh lệnh.

Ông nói như vậy có lẽ chỉ khiến tôi tạm thời yên lòng, có lẽ cha cũng không có cách.

Tôi cười nói với cha:

"Cha để con suy nghĩ dăm hôm, con bất ngờ quá."

Tôi an ủi mẹ một hồi bà mới nín khóc, đúng là kẻ trong cuộc như tôi còn chưa lo thì bậc cha mẹ đã lo sốt vó rồi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 13: Bứt đi thì dạ không đành


Bởi vì chuyện này mà chị Anh Nguyên khóc đến mức đổ bệnh, chẳng ai khuyên giải gì được chị ta.

Tôi cười, nếu chị không nỡ vậy thì chị thay tôi vào cung nhé, cùng phận con nuôi với nhau thì chị là người thích hợp nhất còn gì.

Chị Anh Nguyên lúc này mới nín khóc bảo tôi:

"Cái này thì không được, chị đâu phải người quan gia muốn lấy!"

Tôi chống cằm, thở dài nhìn chị:

"Quan gia không muốn hay chị không muốn?

Chứ không phải trong lòng chị đã có anh Ngũ Lão rồi à?"

Chị Anh Nguyên cũng nhìn tôi, cũng bắt chước tôi thở dài:

"Vậy trong lòng em có anh ba không?"

Tôi cũng không biết phải trả lời chị làm sao, nói có thì hơi quá, mà nói không thì cũng không hẳn.

Nhưng nếu như đợi một tháng anh ta về, nói không chừng tôi sẽ đồng ý lấy anh ta.

Cho dù bây giờ tôi đối với anh ta không mặn mà nhưng sau này vẫn còn dài lắm, chưa nói trước được.

"Lần này anh ba đi vừa đúng lúc, chị e mọi chuyện cũng không đơn giản."

Thấy tôi mở to mắt nhìn, chị liền giải thích:

"Chuyện này xảy ra sau khi chị vào vương phủ không lâu, lúc đấy vương phủ bị quân Thát tập kích, cô hai nhà này cũng bị lạc mất luôn, năm đó cô hai tám tuổi, trùng tên với em."

"Chuyện này thì em biết rồi." – Tôi nói.

Chị Anh Nguyên đưa ngón trỏ lắc lắc trước mặt tôi, làm ra vẻ thâm sâu:

"Có việc chị cá là em không biết, chỉ có ba chị em chị là biết thôi nhé, không có người thứ tư đâu."

"Thì chị nói rõ ràng xem nào" – Tôi giục.

Tôi thì rất ghét cái ngữ nói chuyện lấp lửng của chị nhưng cũng rất muốn biết bí mật trong lời chị là cái gì, có liên quan tới tôi hay không.

Chị Anh Nguyên ngồi ăn hết một bát bánh đúc mới trịnh trọng nói:

"Ngày xưa chị với chị Trinh và em Tĩnh chơi rất thân vì trạc tuổi, em Tĩnh được cưng lắm vì tính tình hoạt bát, còn chị Trinh thì rất hiền.

Bọn chị từ lúc nhỏ xíu như vậy đã bắt đầu tập võ, mà em Tĩnh là người nổi trội nhất.

Vì lẽ đó cho nên cha rất hay cho em Tĩnh vào Thăng Long chơi, nghe đâu còn rất thân thiết với thái tử tức là quan gia bây giờ đó, mỗi lần về phủ còn luyên thuyên không ngừng."

Chị trầm mặc một chút rồi nói tiếp:

"Về sau vương phủ bị tập kích, em ấy vì cứu chị Trinh mà bị bắt khỏi nơi này, lần đó quân Thát bị chết quá nửa, chỉ còn đống hơi tàn, cha sai người tìm kiếm khắp nơi mà vẫn không thấy, nên cho dù không ai thừa nhận, nhưng trong lòng ít nhiều cũng hiểu em Tĩnh đã ra đi."

Vận mệnh đúng là tàn nhẫn, một người để lạc mất con gái nên không ngừng tìm kiếm trong đau khổ, một người dù có con gái bên cạnh nhưng lại đối xử tệ bạc khiến nó chết dần chết mòn.

Tôi gục đầu xuống bàn nghe chị Anh Nguyên kể:

"Ngày xưa tiên tế đưa ra di nguyện muốn hai nhà cùng nhau cai trị việc nước, đến đời chúng ta đã là đời thứ hai.

Em Tĩnh đi rồi, chị Trinh bắt buộc phải gả qua đó.

Cho dù chị không nằm trong cuộc cũng đủ hiểu mối hôn nhân này gượng ép cỡ nào, trong lòng chị Trinh có bao nhiêu khổ, còn quan gia... cũng từng kháng cự rất lung..."

"Cả hai không có tình thì làm sao lấy nhau được chứ?

Hơn nữa ngài ấy là vua một nước, chẳng lẽ không làm gì được sao?"– Tôi ngây thơ hỏi.

Chị Anh Nguyên cười buồn:

"Trên đời này được mấy người lấy nhau vì tình đâu em, có thể cư xử hoà nhã với nhau là đã tốt lắm rồi, mấy gia đình vợ chồng ầm ĩ suốt ngày cũng có hiếm đâu.

Huống gì trên vai họ còn gánh trọng trách lớn lao vừa việc nhà, vừa việc nước, không có sự lựa chọn.

Bây giờ chắc nghe tin em về nên muốn đòi lại thứ thuộc về mình đấy mà."

"Nhưng em đâu phải chị Tĩnh" – Tôi phản bác.

"Có lẽ là muốn bấu víu chút hi vọng thôi.

Em biết không, họ Trần chính là những kẻ si tình nhất thiên hạ."

Trời sang đông, lá đã bắt đầu rụng, ngoài đường người đi lại cũng thưa dần.

Giữa cái nắng trưa nhàn nhạt chưa đủ để sưởi ấm, nước hồ cũng trong veo như mặt gương, tôi cứ ngồi như vậy suốt buổi sáng, chiếc áo choàng trắng cũng trở nên khô cứng và lạnh lẽo.

Tôi đột nhiên cảm thấy lòng sầu miên man, nếu một ngày Quốc Tảng trở lại, vẫn là vương phủ, vẫn những cảnh vật này, vẫn là đêm hội hoa đăng trăng sáng vằng vặc, con đường dập dìu tài tử giai nhân, chỉ thiếu mỗi một người quan trọng nhất trong lòng anh ta thì sao nhỉ?

Anh ta có trách tôi không chờ hay không?

Với bản tính của anh ta thì chắc sẽ trách tôi nhiều lắm.

Quốc Tảng ra đi lần này cũng trùng hợp thật, nếu như có anh ta ở nhà nói không chừng sẽ náo loạn tới kinh thành chứ chẳng chơi, anh ta có sợ ai bao giờ.

Tôi ngồi gục mặt vào gối, ấy vậy mà tôi lại nhớ tới anh ta trong những lúc thế này, nhớ tới từng động tác từng cử chỉ, từng cái nhíu mày của anh ta, hoá ra hình ảnh anh ta cũng hằn sâu trong tâm trí tôi mà trước giờ tôi không hề hay biết.

Nhưng vào cung cũng sẽ giúp tôi tìm được người chị ruột đã từng hại chết mình.

Tôi muốn tìm về gốc gác thì chỉ có một con đường là tìm gặp chị ta, nếu như chị ta thật sự ở trong cung, thì chứng minh giấc mơ của tôi hoàn toàn là sự thật.

Nhưng mà liệu có đáng hay không, tôi tự hỏi lòng, liệu có đáng hay không?

Nhưng không đáng thì sao, tôi có thể làm gì đây chứ?

An nguy của vương phủ và tôi giờ đã hoà làm một.

Đã một tuần trôi qua kể từ dạo đó, trời càng ngày càng lạnh lẽo hơn, mấy đóa hoa đào trong sân viện cũng từ từ nở rộ trong cái lạnh cắt da cắt thịt.

Mấy ngày này tôi đều ở bên cạnh mẹ, chị Anh Nguyên, chị An Hoa và chị dâu cả cũng không tranh với tôi, tôi biết mấy chị cũng rất buồn.

Mẹ tôi rưng rưng nước mắt nắm chặt tay tôi:

"Ta mãi mãi coi con là con gái."

Tôi cười nhìn mẹ, khẽ gật đầu.

Câu nói này mấy hôm nay bà nói với tôi rất nhiều lần, có lẽ sợ tôi suy nghĩ rằng mình chỉ là kẻ thay thế hay đại loại vậy, đừng nói là không có, cho dù là đúng như thế tôi cũng rất biết ơn bà.

Mấy chị tôi ngồi bên cạnh cũng khóc thút thít, tôi tức cười, trêu:

"Em đi lấy chồng chứ đâu phải đi đày đâu mà mấy chị khóc."

Chị Anh Nguyên lẩm bẩm:

"Thì có khác gì đâu..."

Mẹ tôi liếc chị ta một cái, chị ta mới cúi mặt xuống im lặng.

Chị Quỳnh Trân gạt nước mắt nói:

"Nếu như em không muốn, chị và anh cả em lập tức lên kinh xin quan gia thu hồi lệnh, ngày xưa nó nghe lời chị nhất, chị nói chắc sẽ lay chuyển được nó thôi."

Tôi sợ Quốc Tảng biết chuyện nên lắc đầu, với lại ý vua là ý trời, anh ta tâm niệm suốt mười năm là đủ hiểu có bao nhiêu cố chấp, cha tôi còn không nói được thì chị Quỳnh Trân làm sao ăn thua.

Mặc dù anh ta cơ bản cũng chỉ xem tôi như kẻ thay thế, nhưng mà tôi đi cũng có mục đích không phải sao?

Ngày hôm sau tôi lấy hết can đảm tìm gặp cha.

Lúc ấy người đang mài mực, ánh mắt lại mông lung nhìn vào phương trời nào.

Cha tôi chiến công lừng lẫy, lúc nào việc bên người cũng bộn bề, hiếm thấy được lúc người lơ đãng như vậy.

Cha đã sắp ngũ tuần vẫn mày kiếm mắt sắc, nếu như không có loại anh khí thâm trầm và hơi thở của kẻ từng trãi, thì rất dễ nhìn lầm người vẫn còn trẻ lắm.

Thấy tôi bước và phòng, người sửa lại ánh mắt, lấy lại vẻ điềm nhiên hỏi:

"Con suy nghĩ kỹ rồi sao?"

Tôi cũng chẳng biết phải mở lời thế nào, bèn quỳ xuống thật thấp, trán chạm phải nền gạch lạnh buốt.

Tôi suy nghĩ đắn đo một hồi, quyết tâm nói:

"Con đồng ý vì ân cha, nghĩa mẹ ra đi.

Nguyện một lòng hầu vua để đáp đền nợ nước."

Tôi cũng không biết mình nói vậy có ổn thoả hay không, nhưng thân là kẻ ít học nên thôi chỉ nghĩ được tới chừng đó.

Cha tôi cũng không ngạc nhiên khi nghe tin, ông chỉ thoáng nét buồn thương, chẳng biết thương cho tôi hay thương cho đứa con gái thất lạc của mình.

Trung tuần tháng mười hai trời càng rét đậm, tôi cuộn người trong chăn bắt đầu chuẩn bị hành trang lên đường.

Hiện giờ cái Thanh đã trở thành nô nhi của tôi, cũng sắp sửa theo tôi lên kinh để tiện bề hầu hạ.

Đan Thanh không cha không mẹ, được cha tôi cứu về trên đường về kinh khi thị sát dân tình ở Bình Lệ Nguyên mười năm trước, cũng xem như là nô nhi lâu năm trong phủ.

Sáng dậy tôi vừa lơ đãng thổi bát cháo nóng hổi, vừa nghe Đan Thanh kiểm kê của hồi môn.

Số của hồi môn này tôi vốn không định lấy, nhưng nghĩ lại vào cung hẳn là có lúc dùng tới nên cũng không khách sáo nữa.

Mấy thứ này do mẹ cùng chị dâu cả đích thân lựa chọn, nói chung tất cả đều hoàn hảo không có sai sót gì.

Ngày tiếp theo, sính lễ cũng được đưa tới, đủ cả những thứ hiếm lạ trên đời, năm mâm vàng sống, ba rương châu báu, gấm vóc, ngà voi, trầu cau bánh trái.

Tôi nghe chị Anh Nguyên lặng lẽ hít thở, lầm bầm bảo đây có thua kém gì nhiều so với sính lễ ngày xưa quan gia dùng để cưới chị Trinh đâu.

Tôi sờ vào dòng chữ được khắc chìm trên tấm canh thiếp đỏ rực, ghi ngày sinh bát tự của mình và anh ta, trong lòng có hàng ngàn cảm xúc đang thi nhau tranh đấu mãnh liệt.

Đến bây giờ tôi vẫn còn bàng hoàng không tin được mình sắp lấy chồng, mà quý ông chồng này lại là vua của một nước.

Trên canh thiếp là dòng chữ trau chuốt được viết theo kiểu Lệ thư, đề tên bên đàn trai là Trần Khâm, sinh ngày bảy tháng mười hai năm Thiệu Long thứ nhất, tên tôi là Trần Thị Tĩnh, sinh ngày hai mươi ba tháng năm năm Thiệu Long thứ tư.

Tôi vô thức nhìn ra sân.

Đến đây cũng đã gần tròn một năm, từng con người, từng cảnh vật trong phủ đều hết mức thân thuộc.

Lần này nói đi là đi, không khỏi cảm thấy mất mát.

Đan Thanh đang gấp quần áo, ngẩng mặt lên phàn nàn:

"Cả ngày nếu không ngơ ngẩn thì thở dài, chị khiến em cũng buồn lây rồi đấy!"

"Chị đi mà không một lời từ biệt thế này, mấy người bọn họ có giận chăng?" – Tôi nặng nề than.

Đan Thanh suy nghĩ một chút thì nhận ra "mấy người bọn họ" trong lời tôi là đám đàn ông trong phủ, có lẽ cũng không muốn lại hầu hạ một người suốt ngày cứ mang bộ mặt sầu não như tôi, liền nhẹ giọng an ủi:

"Các cậu ra ngoài duyệt binh từ lâu, tuy nói cưới hỏi là chuyện trọng đại nhưng chị biết đó, cậu ba sẽ để yên cho chị đi sao?"

Đan Thanh nói xong thì thở dài, cũng ra chiều cảm thông lắm.

Trong lòng tôi tuy lấy làm phiền, nhưng nghe Đan Thanh nói xong cũng thấy tức cười.

Đan Thanh tưởng mình nói gì động chạm vào nỗi đau của tôi liền luôn miệng xin lỗi.

Tôi vội chữa:

"Em nói không sai, thật là một cô bé thông minh hiểu chuyện!"

Lúc này Đan Thanh mới thôi xin lỗi tôi, tiếp tục công việc gấp quần áo.

Có điều căn cứ vào lời trước đây Quốc Hiện tả về vị quan gia kia thì khả năng cao là do anh ta giở trò, tính tình Quốc Tảng ra sao anh ta cũng biết, nếu như chuyện anh ta thích tôi vương phủ ai cũng tỏ thì vị quan gia kia lại càng dễ đoán được nguồn cơn.

Trời ráng chiều màu đỏ ối, tôi bước qua cầu độc mộc, chợt nhiên nhớ lại lúc mình mới vào vương phủ.

Sau này vào cung, nói không chừng đây chính là khoảng thời gian tươi đẹp nhất mà tôi thỉnh thoảng sẽ nhớ về.

Đi ngang qua trước cửa phòng chị An Hoa, nhìn thấy chị ấy đang may một chiếc bọc cổ tay màu trắng, không cần hỏi cũng biết là may cho ai.

Tôi đứng cách đó năm bước, chị An Hoa vẫn không nhận ra, vẫn đang cúi đầu chăm chú từng đường kim mũi chỉ.

Tôi không biết quan gia kia mặt mũi ra sao, có khiến tôi vừa gặp đã yêu như chị An Hoa đối với Quốc Tảng hay không nữa.

Trong cung nhiều cung phi, liệu có ngày ra sa trường giết giặc, người ấy có nhờ tôi may giúp một đôi bọc cổ tay?

Đang nghĩ luyên thuyên đã nghe chị An Hoa gọi, tôi cười nịnh ngồi xuống, tiện thể châm đèn khi mặt trời đã dần khuất dạng.

Chị An Hoa bỗng nhiên trầm ngâm nói:

"Chị xin lỗi, trước đây chị cũng từng nghĩ em là kẻ phá hoại chị và anh ba.

Nhưng trong lòng chị hiểu rõ, dù không có em thì kết quả vẫn như vậy."

"Ngày mai..ngày mai tất cả sẽ ổn.

Chỉ mong chị đừng hối hận con đường mà mình chọn."

Chị An Hoa nhìn tôi một chốc, khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn xa xa:

"Sẽ không, dõi theo anh ấy là con đường đúng đắn nhất mà chị đã đi."

Xem ra tình yêu dù không được đáp lại cũng là một loại hạnh phúc.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 14: Cách xa nhân ngãi như chỉ mành thắt gan


Sáng tinh mơ hôm sau khi mặt trời còn chưa ló dạng, phủ vương còn đang chong đèn, thì Đan Thanh đã lôi tôi dậy chải tóc, thay quần áo lên đường.

Của hồi môn cùng hành trang đã sắp xếp đâu ra đó ngoài cổng lớn, giờ còn sớm nên cũng chẳng có mấy người đi lại trên đường, người có mặt cũng chỉ biết lén lút đưa mắt nhìn hâm mộ trước khí thế của đám rước dâu.

Đội rước dâu có gần năm trăm người, yên lặng chỉnh tề đứng ghìm dây cương ngựa.

Đội quân không kèn không trống, tất cả đều mặc trang phục của cấm vệ quân.

Tôi biết rằng không chỉ bao nhiêu đó, nói không chừng phía sau còn có cả một đội bảo hộ cho đoàn rước dâu.

Tai mắt của quan gia ở mọi nơi, nhiều khi chỉ là một gánh hàng rong cũng có lai lịch không tầm thường.

Tôi không vận áo cưới của cô dâu, chỉ có một bộ quần áo màu tía với đối khâm màu trắng, đầu cài kim quan mà nhà trai đã chuẩn bị, trông có vẻ long trọng mà không diêm dúa, rất khác biệt so với bình thường.

Tôi tự soi mình trong gương, tự mãn cảm thấy bản thân quả nhiên có khí thế của nhà trâm anh thế phiệt.

Đi nhanh ra cổng đã thấy cha mẹ cùng mấy chị đã đứng đợi từ lúc nào, tôi vội vàng bước đến hành lễ, giống như mình thật sự là cô gái nhỏ bước ra từ trong nhà họ vậy.

Cha mỉm cười gật đầu, sắc mặt người đã khá hơn.

Ông ôn tồn bảo:

"Đừng ham món lợi nhỏ mà hại đến việc lớn, ta tin ngày sau cho dù có là vũng nước bùn hôi tanh thì con vẫn toả hương thơm ngát.

Hãy nhớ an nguy của bản thân mới là điều quan trọng."

Tôi cúi người hành lễ tạ ơn, mẹ liền đỡ lấy tay tôi, đeo cho tôi chiếc vòng cẩm thạch trắng chữ Phúc, cười nói:

"Từ nay về sau con không còn là con nuôi của ta nữa mà chính là con gái ruột, nhớ rằng cho dù có ra sao cũng vẫn còn có phủ đệ Vạn Kiếp sau lưng."

Chị Anh Nguyên cũng tủm tỉm cười với tôi, khác hẳn với vẻ ủ dột thường ngày.

Tôi quỳ xuống làm lễ bái, nghĩ tới một kẻ lưu lạc như mình may mắn được cưu mang, lại được đối xử hết lòng, tôi liền nhận ra mình cũng khát khao tình cảm biết bao.

Hôm nay tôi có cha mẹ, có anh chị, có bạn bè, cho dù trước mắt là núi đao biển lửa, tôi cũng không sợ hãi.

"Con gái bái biệt cha, mẹ.

Con gái bất hiếu chưa kịp ở dưới gối chăm sóc cho cha mẹ, nay phụng mệnh vào cung chỉ mong cha mẹ thân thể khoẻ mạnh, ngày ngày vui vẻ, chớ đừng nhớ mong con.

Con gái ở chốn xa sẽ luôn cầu trời phật phù hộ cho cha mẹ."

Nghe tôi nói, bả vai chị Anh Nguyên run run như cố nhịn cười, tôi lườm chị, thầm nhủ đợi khi chị lấy Phạm Ngũ Lão có thế không cho biết.

Bái xong, tôi chậm rãi được Đan Thanh dắt ra cổng, ngoái lại thấy cha mẹ và các chị vẫn đứng đó, tôi nhẹ gật đầu ý bảo hãy mau vào trong.

Chỉ thấy mẹ tôi ôm mặt khóc nức nở, cha khoác tay ôm lấy vai mẹ cũng mỉm cười gật đầu nhìn tôi.

Tôi cũng thấy sống mũi mình cay cay, một ngày là cha mẹ, suốt đời là cha mẹ.

Lúc bước lên xe ngựa, ánh ban mai đã ló dạng phía chân trời.

Đan Thanh mở cửa xe ngựa dọn đường, vừa dõi mắt vào trong đã thốt lên kinh ngạc:

"Chị ơi nhìn xem này, thật là ý tứ."

Tôi chỉ tưởng rằng trong xe tinh xảo quá nên mới làm cho Đan Thanh ngạc nhiên, không ngờ chính mình bước vào cũng không nén được vui vẻ.

Xe ngựa rộng lớn, ghế dài bằng vải bông mềm mại, bàn gỗ được trải khăn đỏ thẫm thêu đôi chim quyên.

Dưới bàn là lò sưởi khiến trong xe cực kỳ ấm áp dù bên ngoài đang rét căm căm, trên bàn bày một bộ ấm trà, một nồi canh hầm toả khói nghi ngút, canh ngân nhĩ hạt sen, tôm vòng phỉ thuý, thịt nướng đôi, bánh chè lam lẫn cốm thơm phức.

Trên ghế còn sắp mấy quyển sách, chính là mấy quyển ca dao và cổ tích mà tôi thường hay đọc.

Dù có một chút hoảng hốt, tôi vẫn phải cảm thán một câu, nếu không có tâm tư tinh tế hẳn là không chuẩn bị đến mức chu đáo như thế này.

Tôi nhún vai cười với Đan Thanh một cái, vén rèm bước vào trong, chỉ cảm thấy xung quanh ấm áp, ngát hương hoa đào chớm đông, như đang nằm trọn trong vòng tay của ai đó.

Đan Thanh vào sau, cũng tinh nghịch cười bảo:

"Chị nhà có phúc ghê!"

Tôi nháy mắt với cô ả, đáp:

"Cũng thường thôi!"

Tôi thử một ngụm trà, là trà sen hồ Dâm Đàm thanh tao thơm ngọt mà cha tôi rất ít khi mang về phủ.

Chờ cả hai bọn tôi ngồi yên vị, xe ngựa cũng từ từ lăn bánh.

Tôi vén rèm, nhìn thấy ánh nắng đã bắt đầu len lỏi qua từng tán cây, ngọn cỏ, ẩn hiện trên gương mặt đẫm nước mắt của mẹ vẫn còn tần ngần đứng trong sân.

Phủ vương Hưng Đạo, xin bái biệt từ đây, An Hoa, Anh Nguyên, Quỳnh Trân, chúc các chị hạnh phúc.

Quốc Tảng, xin lỗi đã không từ mà biệt!

Tôi cất gọn tâm tư, từ sau rèm châu chống cằm nhìn ra bên ngoài, chỉ thấy xa xa luống những ngàn dâu, thành Vạn Kiếp đông đúc hoa lệ dần lùi về sau đoàn người ngựa.

Áp mặt vào khung cửa, gió lạnh tạt vào từng cơn, từng tia nắng yếu ớt của mùa đông cũng không làm nhiệt độ bên ngoài ấm áp hơn được.

Thành Vạn Kiếp cách thành Thăng Long không xa, nếu không mỗi lần có việc ra vào cung hẳn là cha sẽ rất vất vả.

Cha bảo có lẽ là ngoài trăm dặm, nhưng tốc độ của xe ngựa không nhanh lại còn phải băng đèo, qua sông qua núi, nhắm chừng phải tốn cả ngày đường.

Trước mắt tôi chỉ có hai màu xanh ngút tầm mắt, màu xanh bạt ngàn của những nương dâu và trời xanh trong soi mình xuống dòng sông Lục Đầu đã như ẩn như hiện ngay trước mặt.

Đến sông Lục Đầu, cả đoàn người ngựa đều dừng lại để xuống thuyền, con thuyền gỗ to lớn đã neo ở bờ sông từ lúc nào, trông hiên ngang, khí phách như con cá kình giữa biển.

Sông Lục Đầu là nơi hội tụ của sáu dòng sông: Nhật Đức, Minh Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức.

Bốn dòng "Đức" này hợp nguồn về đây, qua sông chính Thái Bình và sông nhánh Kinh Thầy đồ ra biển.

Tôi đứng trước mũi thuyền, xung quanh là trời cao nước xanh, núi non hùng vĩ, giang sơn như tranh vẽ thu vào tầm mắt, khiến trong lòng dạt dào nỗi tự hào của một thần dân đối với tổ quốc.

Nỗi tự hào tràn trề trong huyết quản, xộc thẳng lên đỉnh đầu khiến người tôi như có dòng điện nóng bừng, khiến da mặt tôi tê dại.

Khoảnh khắc này, tôi tự nhủ cho dù một ngày có thịt nát xương tan, giữa sự hăm he của giặc lân bang hòng đòi xâm lấn, tôi cũng quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Chợt nghe tiếng binh lính kêu la có truy binh đuổi giết, tôi giật bắn quay người về phía bờ thuyền vừa rời khỏi, tay chân như muốn rụng rời.

Thoáng chốc, bên tai tôi lúc này lại ong ong vang lên tiếng binh sĩ hô hào, rằng:

"Cậu ba phủ Hưng Đạo dẫn binh tới cứu viện rồi, may mắn quá!"

Tôi dõi tầm mắt ra xa, quả nhiên thấy Quốc Tảng đang ở giữa truy binh điên cuồng chém giết, bọn chúng bịt kín mặt mày, giống y như đám người trước đây từng ám sát anh chàng lạ mặt ở Vạn Kiếp đêm hoa đăng.

Tay tôi bỗng dưng run rẩy, một suy nghĩ đáng sợ lướt qua đầu óc tôi.

Đúng vậy, chính là mai phục, mai phục nhắm vào đoàn rước dâu đến đón tôi.

Bọn chúng không dưới ngàn người, ẩn nấp phía bờ sông, giáo gươm đã tuốt, cung nỏ đã tra, chỉ đợi tất cả lên thuyền, giữa lòng sông sẽ nhuộm màu máu đỏ.

Còn Quốc Tảng ở đây, không ngoài khả năng anh ta đã nghe tin rồi, định dẫn quân đến ngăn tôi rời khỏi, rời khỏi anh, rời khỏi một lời hẹn ước.

Nhưng trớ trêu thay, một là ngăn tôi đi, cả hai đều sẽ gặp nguy hiểm.

Hai là để tôi đi, anh ta sẽ âm thầm bảo hộ.

Ông trời thật biết cách sắp xếp, chẳng để lại một kẻ hở.

Gió thổi mây bay, giờ đây đã hai ngả hai đường.

Tôi nhìn giáp anh ta vấy máu, gương mặt đẹp ngời ngời cũng lấm lem, như một con rối không có hồn mặc sức đâm chém thì trong lòng đột nhiên đau như cắt.

Thâm tâm tôi không ngừng hỏi, rốt cuộc tại sao hai chúng tôi phải đến bước đường này, tại sao vốn dĩ tôi nghĩ mình chẳng có gì sâu nặng với anh ta, khi thấy anh ta trong hoàn cảnh này thì tim cũng nhói lên đau điếng.

Chả lẽ tôi yêu Quốc Tảng mà không biết thật sao?

Trong đầu tôi chỉ nghe "ong", "ong" từng hồi, tôi chợt cảm thấy tri giác của mình như biến mất.

Tôi vốn dĩ có thể cùng anh sống với nhau một đời, cùng phiêu bạt chân trời góc biển bởi tôi là một người lưu lạc chứ nào phải Trần Thị Tĩnh đâu, tại sao tôi phải vào cung trả nợ ân tình cho chị ta chứ.

Tôi cũng không cần trả thù, tôi là kẻ được vương phủ cưu mang, được Quốc Tảng cứu mạng biết bao lần, tôi cần làm gì thứ gốc gác đen tối tàn nhẫn đó, tại sao tôi không nghĩ tới sẽ báo đáp ân nghĩa của anh ta.

Tôi thất thần trượt dài rồi ngồi sụp xuống mạn thuyền, nhìn gốc cổ thụ già nua bên bờ sông, gió lạnh se sắt thổi qua, cuốn đi cả chiếc lá còn sót lại.

Quốc Tảng cùng với ánh mắt vừa đau đớn vừa phẫn nộ nhìn tôi, dần dần cũng mất hút khi thuyền tôi đã trôi giữa những con sóng lớn.

Tiếng binh sĩ cũng dần im bặt, chỉ còn tiếng gió rít não nề, thê lương.

Hi vọng cuối cùng cũng tàn như giấc mộng Nam Kha.

Giật mình sực tỉnh, mỹ nhân cùng lầu vàng đều không thấy.

Đời người, cứ như một giấc chiêm bao...

Nắng chiều tà chiếu rọi lên mặt sông loá mắt, sóng nước bập bềnh xô vào bờ, gió rì rào như kể một câu chuyện xưa.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 15: Cơ Duyên Từ Cái Nghiên Mực


Vừa leo lên xe tôi đã ngủ một giấc dài, đến thành Thăng Long thì mặt trời đã khuất bóng, tà dương khoan khoái đậu trên từng mái nhà san sát của toà thành giàu có bậc nhất vương triều.

Nền trời loang lổ một màu hồng nhạt, len lỏi trên những tán cây cổ thụ là khói bếp nghi ngút bay lên, có nhà ai đang nấu cơm chiều.

Giấc ngủ chập chờn trên xe ngập ngụa hình ảnh của Quốc Tảng, lúc anh ta dắt ngựa lải nhải bên tai tôi dưới ánh nắng chiều.

Tôi leo lên ngựa chạy trốn, Quốc Tảng chỉ đứng cười lắc đầu nhìn tôi, ánh mắt đầy nỗi khổ tâm khó giấu.

Dường như việc luôn chạy trốn anh ta đã sớm trở thành bản năng nên đến cả mơ tôi cũng mơ như thế, còn ánh mắt dạt dào tình ý giống như qua trăm năm vẫn vậy, vẫn luôn dõi theo tôi dù tôi ở tận kinh thành xa xôi.

Vừa vào trong thành tôi lại lập tức thấy kinh hãi, kinh kỳ không hổ là chốn kinh kỳ, càng vào sâu càng náo nhiệt, dù là thời điểm ngày tàn vẫn thấy đèn đuốc sáng trưng, người người tấp nập.

Thành Thăng Long có sáu mươi mốt phường, đoàn rước dâu đi một ngày đường vừa hay dừng chân tại phường Yên Thái.

Dù vẫn còn day dứt, nhưng ngủ một giấc dậy, phiền muộn cũng vơi bớt phần nào.

Chúng tôi dừng chân tại một toà lầu có ba tầng tất thảy, tuy tầng lầu im thin thít nhưng không che giấu được những âm thanh rộn ràng náo nhiệt bên dưới vọng lên, khiến kẻ đang "đau khổ" là tôi vẫn bị thu hút.

Hôm nay là ngày rằm tháng Chạp nên không khí hết sức vui tươi, dù chỉ đứng đón gió trên lầu cao nhưng vẫn ngửi thấy thoảng trong gió mùi thơm của món ăn lẫn tiếng huyên náo dưới lòng đường, tiếng xe ngựa lộc cộc giòn giã.

Căn phòng tôi ở có hành lang quay mặt về hướng nam, từ trên nhìn xuống chỉ thấy mái ngói san sát, đèn đuốc sáng rực uốn lượn như một con rồng lửa ngậm ngọc, mà viên ngọc to lớn nằm tít ở nơi cung đình rực rỡ, toả ánh hào quang khắp bờ cõi Đại Việt ta.

Tôi chống cằm nhìn trăng, bất giác lại liếc xuống đường phố nhộn nhịp, bụng đánh trống đùng đoàng.

Có điều khả năng ra ngoài mà không ai chú ý rất khó, lại có một đám người lẽo đẽo theo sau cũng không thoải mái gì.

Nghĩ thế, liền không nén được thở dài.

Đan Thanh chuẩn bị xong nước tắm cho tôi, thỏ thẻ nói:

"Không hổ là Thăng Long, em từ nhỏ đến lớn chưa từng thấy khung cảnh nào đẹp đẽ náo nhiệt nhường này!"

Tôi gật đầu phụ hoạ:

"Chị cũng vậy!"

Tắm rửa xong xuôi, thấy cơm nước vẫn chưa tới, tôi liền chọn bộ quần áo đơn giản gọn nhẹ mặc vào, sau đấy trước cái nhìn khiếp đảm của Đan Thanh, tôi đánh ngất hai tên lính canh, rồi lựa lối đi vắng vẻ lẻn xuống.

Tới tầng giữa, tôi dắt Đan Thanh ra hành lang, một tay bịt miệng cô ả, một tay ôm eo nhoài người nhảy xuống vườn hoa phía viện sau tạo ra tiếng động tương đối lớn.

Đan Thanh tuổi nhỏ hơi mũm mĩm nằm đè lên người tôi, "rốp" một tiếng làm gãy cả một chậu dạ lý hương đang nở rộ, cái lưng của tôi cũng tưởng như sắp gãy làm hai khúc.

May thay tiếng ngựa xe ngoài ngõ át lấy tiếng động trong hậu đình, và cũng may tôi ngậm miệng vừa kịp lúc.

Tôi đỡ Đan Thanh đang xoa mông đứng dậy, nhìn thấy lá khô đầy đầu tóc của cô ả thì bụm miệng cười.

Đan Thanh ngược lại còn chưa hoàn hồn, thấy tôi cười thì quay sang giận dỗi.

"Chị cười đi, ngày mai đến tai quan gia thì có còn cười nổi không cho biết."

Tôi thản nhiên nói:

"Quan gia cũng có phải thần tiên gì đâu."

Đan Thanh còn đang định cãi lý thì bị tôi kéo đi ra đường, mọi ưu tư trong đầu đều tạm thời bị dòng người nhộn nhịp đẩy đi xa, trước mắt chỉ còn tiếng cười nói, tiếng tấu nhạc và ánh đèn lồng vàng rực cùng mùi thơm ngào ngạt.

Tôi nhìn khung cảnh rực rỡ trước mắt, trong người bất giác tràn ngập cảm giác tôn sùng vị vua ngồi trên ngai cao kia.

Tôi từng được nghe, vua trẻ Hiếu hoàng từ khi lên ngôi đã thực thi rất nhiều chính sách cải cách trên mọi phương diện.

Trong vòng một tháng tới, ngài sẽ ra lệnh hợp nhất hệ thống đo lường để thúc đẩy mua bán trên cả nước, một bước đi mà dù kẻ mù mờ như tôi cũng đoán ra được nó sẽ là sự chuyển biến mạnh mẽ sau này.

Ăn uống no nê hết cả, lại lượn khắp phố chơi đủ trò, nào là đố đèn, cắt giấy hoa, nặn tò he, đi xem đá dế, xem múa rối nước, lúc thì tạt vào quán trà nghe kể chuyện, lúc thì ghé vào sạp xem quạt xem hoa.

Đan Thanh mắt nhắm mắt mở bị xoay như chong chóng, khẩn khoản van nài tôi làm ơn hãy đi về, ngày mai vào cung mà bộ dạng ngủ gà ngủ gật thì hỏng bét.

Trong tay tôi cơ man là thứ, nhưng khiến tôi tâm đắc nhất là mấy lọ tương Đình Đỗ này, thơm lừng ngon ngọt, ăn một miếng mà nhớ mãi không quên.

Tôi cũng hiểu cho tâm trạng của một nô nhi có trách nhiệm như Đan Thanh, bèn kéo con bé ngồi xuống một sạp nhỏ bên đường gọi bốn bát bánh đúc để ăn khuya, mà riêng mình tôi đã ăn hết ba bát.

Không thể trách tôi, nếu trách thì phải trách cái chốn kinh kỳ này sao lại phồn hoa đô hội như thế, đi mãi không hết đường, chơi mãi không hết trò, ăn mãi cũng không hết các món ăn ngon.

Vừa trả tiền xong thì đằng xa vang lên tiếng đánh nhau ầm ĩ, tôi rất biết điều định lôi kéo cái Thanh chuồn mau.

Một lần bị rắn cắn cả đời sợ dây thừng, tôi vẫn chưa quên được lần nọ vì tính bao đồng mà gây nên bao rắc rối.

Ai ngờ Đan Thanh lại chỉ tay về hướng đó, hốt hoảng:

"Trời ơi là trẻ con!"

Dưới chân tôi theo bản năng khựng lại, dõi mắt về hướng nọ thì quả nhiên thấy một đám đông đang ẩu đả.

Nhờ ánh đèn leo lét từ mấy cái đèn lồng , tôi thấy có đứa trẻ gần như bò trên đất, tay vẫn ôm khư khư một vật, bị đánh cũng không buông.

Tôi cắn răng, một lần cuối cùng nữa thôi nhé!

Đứng ở khoảng cách gần thì thấy đứa trẻ khoảng bảy tám tuổi gầy nhom, mặc một bộ y phục vá lổm chổm, tóc rối tung xoã ngang vai.

Lúc nó ngước mặt lên, gương mặt lại khiến tôi ngạc nhiên hết sức.

Thằng bé này quá mức...xấu xí, ngũ quan nó thô kệch, tay chân đen nhẻm, duy chỉ có đôi mắt tuy không đẹp nhưng sáng như sao.

Đôi mắt đó ầng ậng nước mắt, ánh lên nỗi thống hận, nỗi khổ tâm khó giấu.

Mà đám người đánh thằng bé ăn vận sạch sẽ phú quý, đứng gần là một gã trai khoảng ngoài hai mươi tuổi mặc áo gấm màu xanh, mày rậm mắt xếch, mũi cao môi mỏng, ra dáng con nhà quyền quý, không hiểu sao lại cùng với đám hầu đi bắt nạt một đứa trẻ con.

Tôi giận đến đỏ mặt, nhào đến đá văng ba, bốn tên, hai tên còn lại thì một cước vào mặt ngã nhào, riêng tên áo gấm nhà giàu kia thì bị lọ tương phang vào ngay trán u một cục, nước tương chảy xuống áo hoa của hắn bốc mùi chua lòm.

Đan Thanh cũng ôm lấy thằng bé, chạy nép sau lưng tôi trừng mắt.

Gã trai nóng máu, liền hò hét xông lên, không thèm cho cơ hội giải thích.

Tôi thầm kêu hỏng bét, không sợ kẻ liều mạng, chỉ sợ sau lưng gã có người chống lưng thì đúng là phiền.

Tôi thì không sợ phiền nhưng Tuyên phu nhân thì sợ, sau này ba mặt một lời thật là khó nói hết nguyên nhân.

Nhưng cũng không thể để gã một tay che trời, hà hiếp phụ nữ trẻ em được.

Trong chốc lát, cả bọn đã lăn kềnh ra đất.

Gã trai áo hoa hình như đã tức giận thật, vội lồm cồm ngồi dậy, run run chỉ vào tôi, lớp tương dính trên áo quyện với bụi đất thành một thứ mùi ngai ngái, cả người vừa bẩn vừa hôi mất hết vẻ đỏm dáng ban đầu.

"Con đàn bà điêu ngoa, sao mày dám chõ mũi vào chuyện của tao?"

Tôi không hề yếu thế ngẩng mặt liếc gã, còn làm động tác muốn đánh:

"Tôi không phải chõ mũi vào chuyện của anh, mà chính xác hơn là chõ mũi giày, giẫm lên mặt anh đấy!"

"Mày... mày..."

Gã ta chắc tức đến muốn ngất nhưng ngoài gọi tôi thì không nói được lời nào ra hồn.

Đan Thanh đưa cái đầu nhỏ nhắn ra, cũng học dáng vẻ tôi, lớn tiếng hỏi:

"Thằng nhóc này đã làm gì mà bọn anh lại đối xử tàn ác với nó như vậy?

Thật không bằng loài heo chó!"

Gã trai không hề buông xuống bộ mặt vênh váo gợi đòn, vẫn gân cổ lên buông lời phỉ báng:

"Thứ dơ dáy như nó đánh chỉ làm bẩn tay tao, hai ả mù bọn mày mở to mắt nhìn xem thứ nó cầm trong tay kìa.

Cái nghiên mực bằng ngọc thạch trắng nguyên khối kia quý giá đến nhường nào, một tên ăn mày như nó có khả năng mua được sao?

Tao đang làm việc trừ hại cho dân thôi!"

Tôi nhìn xuống tay đứa trẻ, quả nhiên thấy một chiếc nghiên ngọc trắng muốt chạm trổ tinh xảo hình hoa mai, dưới ánh đèn lồng phát sáng lấp lánh, đúng là vật hiếm mà đứa trẻ ăn mặt rách rưới này không thể nào có được.

Đứa trẻ xấu xí và nghiên mực đẹp đẽ để kia chung một chỗ, một trời một vực, một đen đúa xấu xí, một trắng trẻo tinh khôi, không có điểm nào ở chúng là có thể tương hoà.

Nhưng lúc nhìn thấy đôi mắt sáng ngời như tinh tú trong dãy ngân hà bao la tôi mới nhận ra, nếu không là đứa trẻ này thì e rằng là ai cũng không phù hợp với thứ đồ tưởng chừng như chỉ thích hợp với người cao sang hiển quý.

Đứa trẻ ấy, tuy xấu xí như bùn lầy, nhưng ở nó toát ra khí chất thanh cao như hoa sen.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 16: Sen Trong Giếng Ngọc


Tôi ngồi xổm xuống nhìn vào mắt đứa trẻ, cố hết sức hòa hoãn nói:

"Nói cho chị nghe, cái nghiên này từ đâu mà em có.

Đừng sợ, dù em thật sự đã lấy nó chị cũng sẽ mua nó về!"

Đứa trẻ nhỏ thó tuy đã bảy tám tuổi nhưng chỉ cao tới eo tôi.

Trên mặt nó lấm lem bùn đất, cả người dơ bẩn đầy vết bầm tím, có nhiều chỗ đã rướm máu vì bị đánh đập tàn nhẫn.

Lúc này thằng bé đã bớt sợ hãi, hoặc cũng có thể do nó biết tôi là người bảo vệ nó nên an tâm nhỏ giọng thút thít, nước mắt trong suốt từ hốc mắt chảy ra.

"Em không ăn trộm, cái nghiên này là em thắng được giải nhất chỗ hội thơ!"

Quả nhiên!

Đám người trời sinh giàu sang phú quý này luôn nhìn người nghèo bằng nửa con mắt, luôn cho rằng mình là ngọc ngà còn người nghèo mới là cỏ rác, đâu biết thứ bốc mùi bẩn thỉu lại là nhân cách của chính mình.

Gã trai nghe vậy thì ha ha cười, buông lời miệt thị:

"Mày lừa được mấy ả ngu đó chớ sao lừa được tao, một thằng cóc ghẻ như mày đừng nói là làm thơ, nửa chữ cắn đôi có khi còn không biết.

Biết điều thì giao cái nghiên đó ra đây, còn không thì lên quan!"

Tôi không cố cãi cùn với anh ta làm gì, bình tĩnh cười bảo thằng bé:

"Em đọc bài thơ đó ra là biết ngay, mắt chó sao nhìn được người cao, nếu em đọc được thì xem như anh ta đố kị người tài.

Chị giúp em đi học, mai sau có công danh thì quay về trả món nợ này!"

Tôi định bụng nếu như thằng bé thật sự có thiên bẩm, tôi sẽ nhờ người đưa nó về phủ Vạn Kiếp cho ăn học thành tài, là người thế nào cha tôi chỉ cần liếc một cái là nhận ra ngay.

Gã trai áo hoa lại cười ha hả, lần này điệu cười còn vang dội hơn:

"Bọn mày định học kiểu gì, cái ngữ thường dân mà học đòi làm quan?"

Tôi cười lạnh:

"Thường dân thì sao?

Thường dân thì không thể đi học?

Nếu như làm thường dân mà có tài, thì còn hơn một trăm tên quyền quý mà bất tài như anh.

Nói vậy chắc anh không nghe đến phủ vương Hưng Đạo ở Vạn Kiếp rồi nhỉ, còn Quốc Học Viện thu nhận con cái các nhà thường dân tham gia, đừng nói với tôi là anh chưa từng nghe qua."

Gã trai nọ vốn muốn mở miệng phản bác lại không biết phản bác cái gì, nghe ra thái độ giễu cợt mình thiếu hiểu biết thì bỗng dưng đỏ mặt tía tai.

Về lý lẽ tôi có, về sức mạnh tôi cũng hơn, thế thì kẻ yếu sức yếu lời như anh ta dĩ nhiên chịu nhục.

Gã trai còn chưa lên tiếng, bên kia bỗng nhiên truyền đến tiếng nói trầm ấm của một chàng xa lạ, chất giọng trong suốt thanh tao, hay như tiếng đàn tiếng sáo.

"Nói hơi vụng nhưng lại hợp ý ta."

Chàng trai sóng vai bên cạnh anh ta cũng tiếp lời:

"Em thì lại hơi tò mò về bài thơ của cậu bé đó đấy!"

Tôi ngạc nhiên nhìn hai anh chàng một trắng một lam nhạt đứng sóng vai nhau trong góc tối không thể nhìn rõ mặt, chỉ thấy dáng người cao ngất, tư thái nhã nhặn, từng cử chỉ đều toát lên vẻ cao quý.

Gió nhè nhẹ, tôi như ngửi được mùi dạ lý hương thơm ngát, không biết là vì lúc nãy ngã lên chậu hoa nên mùi hoa ám trên người mình, hay là từ người của hai chàng trai đứng đằng đó.

Mùi hoa vấn vương nơi đầu mũi, khiến khứu giác tôi lâng lâng.

Thằng bé nghe lời khẽ đọc:

"Hảo cảnh minh nhân nhãn,

Giang sơn chính khoát nhiên.

Yên lung sơ xuất nhật,

Ba dạng nộn tình thiên.

Ngạn liễu thuỳ kim tiết,

Đinh hoa phác hoạ thuyền.

Thê lương khoan lữ tứ,

Hoà noãn hỉ tân niên."

Dịch thơ:

(Cảnh đẹp làm mắt người sáng,

Sông núi thật rộng và thông suốt.

Khói lồng mặt trời mới ló,

Sóng sánh trời tạnh và mềm mại.

Liễu bên sông rủ những đốt bằng vàng,

Hoa ở bãi đập vào con thuyền được vẽ hoa văn.

Người lữ khách khoan thai nhớ trong cái lạnh,

Cùng với nắng ấm vui năm mới.)

Không gian chững lại, một chiếc lá khô xào xạc rơi xuống cũng nghe được rõ ràng.

Trong những người ở đây nếu ai hiểu được văn chương một chút đều có thể biết bài thơ này xuất sắc đến nhường nào.

Đúng thế, tất cả đều lặng người không tin được một đứa bé bảy tám tuổi đã có thể làm ra bài thơ hay đến như vậy.

Từ bài thơ cùng với ánh mắt sáng như gương của đứa trẻ, tôi thấy được cả giang sơn Đại Việt ta tươi đẹp đến nhường nào.

Đôi mắt nó như chiếc gương soi chứa ngàn vạn phong cảnh trong trời đất, nhìn vào đó như thấy được sông núi nước Nam, sương khói lãng đãng buổi bình minh, hàng liễu bên sông đung đưa trong làn mưa xuân rả rích, khe khẽ sóng vỗ mạn thuyền, từng cánh hoa được nước mưa gột rửa trong suốt lấp lánh như pha lê.

Nhưng tạo hóa thật trớ trêu, một đứa trẻ với đôi mắt và tâm hồn đẹp đẽ như thế, lại ban cho nó gương mặt xấu xí đến nhường này.

Cuối cùng vẫn là gã trai nhà giàu lên tiếng trước, phá đi bầu không khí đang hòa hợp:

"Oắt con, mày đã trộm đồ còn đi trộm thơ của ai nữa?

Tao phải bắt mày lên quan để từ nay chừa thói trộm cắp!"

Đến lúc này đứa bé cũng không nhẫn nhịn nổi nữa, phẫn nộ hét lên:

"Tôi không trộm cái gì hết, nghiên mực này tôi không lấy nữa, nhưng thơ là của tôi, tôi cấm anh nói tôi trộm.

Tôi không hèn hạ đến mức trộm thơ của người khác!"

"Xem mày cứng miệng được bao lâu?" – Nói xong thì quay sang đám hầu quát – "Bắt nó lại cho tao!"

Hiện giờ ngay cả gã cũng hùng hổ vung nắm đấm, hai mắt long sòng sọc nhào lên.

Đan Thanh ôm chặt thằng nhóc trong tay, sợ nó vì quá nóng giận mà lao lên ăn đòn.

Tôi thì một đấm hai đá trả đòn đám người kia, xung quanh vang lên tiếng "huỳnh huỵch" hỗn loạn, bụi đất mịt mù.

Thằng bé vừa xông lên vừa gào khóc, như mọi tủi nhục chất chứa từ lâu hôm nay đột nhiên bộc phát.

Tiếng nó vang lên thê lương ai oán, lòng tôi cũng xốn xang nhộn nhạo.

"Kiển hà vi hề trung lưu,

Hạp tương phản hề cố vũ.

Khởi hộ lạc hề vô dung,

Thán thiền quyên hề đa ngộ.

Cẩu dư bính chi bất a,

Quả hà thương hề phong vũ."

Dịch thơ:

(Giữa dòng lơ lửng làm chi,

Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.

Há rằng trống rỗng bất tài,

Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.

Nếu ta giữ mực thẳng ngay,

Mưa sa gió táp xem nay cũng thường.)

Tôi chăm chú nghe thơ, nhất thời lơ đãng bị đấm vào mặt một cái, nhắm chừng gò tôi đã trầy một đường.

Lúc này mới thấy hai anh chàng đứng xem kịch đằng kia có động thái, chàng trai áo trắng cất giọng trách, thanh âm vừa phải mà uy nghiêm:

"Đỗ Thiên Hư, còn không mau dừng tay!"

Người được gọi là Đỗ Thiên Hư giật bắn mình, lúc này anh ta mới để ý đến hai người đang đứng phía sau.

Dưới ánh đèn nhàn nhạt, trong mắt Đỗ Thiên Hư dần lộ ra vẻ kinh hãi, anh ta hốt hoảng quỳ sụp xuống, không dám ngẩng mặt lên, đám người hầu thấy vậy cũng đồng loạt cúi lạy, không khí lại rơi vào trầm mặc chỉ còn tiếng hít thở cùng tiếng khóc thút thít của đứa trẻ kia.

Hồi lâu mới nghe chàng trai áo trắng cười bảo:

"Lúc nãy thấy anh giọng điệu hùng hồn, không la mắng thì mạt sát người ta, sao bây giờ lại im thin thít thế?"

Chất giọng không giận mà uy, nghe như cười nhưng lại khiến kẻ quỳ dưới đất kia phát khóc.

Đỗ Thiên Hư đầu cúi gần như sát đất, run rẩy thưa:

"Kẻ hèn vô ý mạo phạm ông hoàng, mong ông hoàng tha tội."

Bên kia Đan Thanh mới nghe thấy đã xanh mặt, kéo áo ra dấu tôi mau quỳ xuống.

Tôi trong lòng thầm nghĩ bản thân đường đường cũng là phu nhân của quan gia, quỳ cái gì mà quỳ.

Tiếp theo mới sực nhớ hình như mình lén lút trốn nhà đi chơi, nên đành không tiếng động quỳ xuống theo cô ả.

Tôi len lén liếc mắt lên, thấy chàng áo xanh quay sang chàng áo trắng, nhỏ giọng hỏi:

"Anh năm, kẻ này là ai vậy?"

Chàng áo trắng điềm nhiên đáp:

"Em không biết à?

Đây là Thiên Hư, em trai của Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung.

Chỉ tiếc anh trai hắn kín kẽ bao nhiêu, thì hắn lại càn rỡ trịch thượng bấy nhiêu."

Đỗ Thiên Hư nghe đến tên mình, rùng mình một cái, phía trên lại vang lên tiếng cười của người áo xanh:

"Nếu là em đương nhiên cũng muốn dựa vào cành cao để càn quấy một chút!"

Tôi tò mò nhìn người một thân áo trắng gọi là anh năm kia, anh ta có đôi mắt phượng hẹp dài, sống mũi cao ngất, khoé môi hàm chứa ý cười nhưng lại có vẻ lạnh lùng.

Trên người anh ta chứa khí phách tối cao, không giận mà uy dù trông anh có vẻ nhã nhặn.

Anh ta tựa như một cơn gió thu se se lạnh, như vầng trăng thanh lạnh đẹp đẽ đêm rằm tỏa ánh sáng xuống nhân gian.

Người còn lại cùng với anh chàng áo trắng có đến bảy phần giống nhau, nếu nói người áo trắng như gió thu trăng sáng, thì anh chàng áo xanh chính là một vầng thái dương rực rỡ.

Gương mặt anh ta tinh xảo như điêu khắc, lúc cười lên thì như gió xuân, lúc không cười thì êm đềm như sóng nước mơn man trong veo trên mặt hồ.

Cả hai đứng cạnh nhau thật làm người ta kích động không thở nỗi, đáy lòng tôi như núi lửa phun trào, lại không cảm nhận được Đan Thanh cũng đang bấu chặt tay tôi run rẩy.

Ôi ôi, sắc đẹp đúng là ma quỷ mà.

Đỗ Thiên Hư dường như cảm thấy bản thân anh ta không có lỗi lầm gì, lúc này mới ngẩng đầu nói:

"Xin ông hoàng xem xét, tôi hồ nghi thằng nhóc này có hành vi trộm cắp, mong các ngài trừng trị thích đáng kẻo người không biết học theo."

Chàng trai áo xanh đứng khoanh tay, ung dung tựa lưng vào gốc cây hoa sữa, giọng mỉa mai:

"Chỉ mới hồ nghi đã ra tay đánh người, anh cũng tự tin gớm nhỉ!"

Lúc này tôi mới phát hiện thì ra mùi hương mà mình ngửi được ban nãy không phải là mùi dạ lý hương mà chính là mùi hoa sữa, gió đưa hương hoa sữa nhàn nhạt phiêu đãng vào không trung.

Đỗ Thiên Hư chỉ biết cúi người hô lớn:

"Tôi không dám, chỉ thắc mắc cái nghiên mực kia từ đâu nó có thôi.

Nếu như thật sự là nó ăn cắp, ông hoàng cũng không thể bao che cho nó được.

Tội ăn cắp là phải chặt tay chặt chân!

Tôi bật cười:

"Vậy nếu nó không ăn cắp thì sao?

Không lẽ tôi đem anh đi cắt lưỡi vì tội vu khống à!"

Đỗ Thiên Hư cả giận, trừng mắt nhìn tôi.

"Mày dám hử?"

Tôi hừ một tiếng:

"Chỉ sợ anh không dám"
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 17: Ông Hoàng Năm Và Ông Hoàng Sáu


Anh chàng áo trắng cũng bật cười, vẫn giữ chất giọng điềm nhiên như cũ:

"Nàng này nói cũng không sai, nếu như thằng bé ăn trộm ta sẽ xử theo phép nước, còn nếu nó không trộm thì sao?

Chúng ta cũng không thể để thằng bé bị đổ tội, bị đánh oan."

"Việc này..." – Đỗ Thiên Hư có hơi do dự. – "Nếu nó không trộm, tôi chấp nhận bị phạt roi theo phép nước.

Nhưng điều tra phải rõ ràng đừng vì nó còn nhỏ mà dung túng, loại như nó sẽ làm nhiễu loạn kỷ cương.

Riêng ả kia, tôi muốn nó phải quỳ xuống xin lỗi."

Thật muốn đá một phát vào mồm gã, cái loại người mà ngay cả trẻ con cũng quyết ép nó tới đường cùng, một tiếng nhắc đừng hùa nhau bao che, hai tiếng sợ người ta dung túng, rõ suy bụng ta ra bụng người.

Đứa bé đã ngưng khóc, nghe vậy thì nói:

"Tôi không cần anh phạt roi, tôi chỉ cần anh quỳ xuống xin lỗi chị ấy!"

Tôi nhìn đứa bé mà mát lòng mát dạ, đây mới chính là khí khái đàn ông đây này.

Ánh mắt hai ông hoàng đều hiện lên vẻ tán thưởng.

Ánh mắt chàng áo trắng ngập ý cười, chàng áo xanh lại có vẻ như đang xem một vở tuồng hay.

Chàng áo trắng cười bảo:

"Không cần điều tra gì đâu, cái nghiên này tên là Minh Tỉnh, là cống phẩm của xứ Chiêm Thành mà tiên đế ban cho ta, ngày thường luôn đặt trong thư phòng, nếu muốn xác thực thì cứ hỏi anh cả nhà ngươi sẽ biết."

Anh ta vừa nói vừa thản nhiên nhìn khuôn mặt đang từ từ biến xanh của Đỗ Thiên Hư:

"Còn hội thơ kia... chính ta là người ra đề!"

Chàng áo trắng vừa nhìn Đỗ Thiên Hư vừa nhún vai, ngỏ ý rằng người ta cũng không nhờ anh đi đòi đồ giúp.

Tôi ôm bụng cười ha hả, vừa đi vòng quanh Đỗ Thiên Hư vừa hả hê nói:

"Cái nghiên đi một vòng lại về tay khổ chủ, ha ha, khổ chủ không tiếc, ai cần anh tiếc thay?

Đáng đời đáng đời, cho anh chết.

Còn ngẩn ra đó làm gì, mau mau, tôi ngồi ngay ngắn rồi, quỳ lạy xin lỗi đi!"

Đỗ Thiên Hư nghiến răng ken két hướng về phía chàng áo trắng mà van:

"Cầu ông hoàng cho tôi được phạt roi, tôi đường đường là đàn ông sao quỳ lạy trước một ả đàn bà được?"

Chàng áo trắng lơ đãng nói:

"Lúc nãy đâu nghe anh từ chối hình phạt này!"

"Tôi..."

Rốt cục Đỗ Thiên Hư cũng phải cúi đầu trước quyền thế, ắt hẳn anh ta cũng đã biết cảm giác bất lực là như thế nào.

Lúc anh ta cúi đầu xin lỗi, tôi loáng thoáng nghe được tiếng nghiến răng ken két cùng tiếng hít thở nặng nề.

Hy vọng bài học này sẽ khiến anh ta ghi nhớ sâu sắc, đừng bao giờ khinh thường người khác dù chỉ là một đứa trẻ trông qua có vẻ xấu xí nghèo hèn.

Đỗ Thiên Hư đã đi, chợt nghe chàng áo trắng nói:

"Lúc nãy đang đánh hăng say, tôi nhắm chừng thêm trăm người nữa còn chưa rõ thắng bại, cớ sao lơ đãng để bị thương thế này?"

Nói xong thì lấy chiếc khăn tay bằng lụa tơ tằm trắng nõn đưa cho tôi, bên trên còn vương mùi thơm nhàn nhạt.

Tôi tránh né không nhận, giả bộ lấy tay sờ sờ vết thương còn đang rướm máu, cười nói:

"Nhất thời sơ ý thôi ạ, cảm ơn các anh.

Có thể cho tôi được biết quý danh, để sau này tôi tiện bề báo đáp."

Hai chàng đưa mắt nhìn nhau, tôi hiểu ý liền chữa:

"Phi lễ chớ hỏi, phi lễ chớ hỏi."

Chàng áo xanh không nhịn được cười, bảo tôi:

"Anh tôi thứ năm còn tôi thứ sáu, cứ gọi bọn tôi là anh năm anh sáu được rồi.

Còn báo đáp thì thôi không cần, bọn tôi chỉ tiện tay thôi."

Tôi cũng làm bộ vái hai anh chàng này một cái, dù sao bọn họ cũng đường đường là vương là tướng.

Lúc này thằng nhóc đột nhiên níu lấy áo tôi, khoé mắt rưng rưng.

"Chị, giúp người thì giúp cho trót, cho em theo chị được không?

Em không có nhà để về.

"Không, bọn chị..." – Đan Thanh buộc miệng nói.

Vừa nói tới đó thằng bé đã khóc nấc lên.

Tôi ngồi xổm xuống nhẹ giọng an ủi:

"Tụi chị có thể nhận em, nhưng em không thể đi theo tụi chị.

Chị gửi em đến trường cho em đi học được không?

Em tên gì?"

"Đĩnh Chi, họ Mạc ạ."

Thằng bé xưng tên xong lại mếu máo.

Chợt nghe có tiếng đằng hắng, anh năm đã đến bên cạnh đứa bé, trầm giọng:

"Đồ là của ta bỏ ra, đúng lý nên theo ta mới phải."

Mạc Đĩnh Chi nhìn anh năm, rồi lại nhìn tôi, rốt cuộc nói:

"Không, tôi muốn theo chị ấy."

Thấy mặt anh năm đanh lại, tôi nín cười, bảo:

"Thằng khờ, em nhìn xem, vị này học thức từ đầu tới chân còn chị thì dốt nát.

Mau, mau gọi thầy nhanh còn kịp!"

Thằng bé dụi mắt, không biết nghĩ thế nào liền quay sang anh năm rồi nói:

"Thầy năm, xin nhận của con một lạy!"

Anh ta quay mặt đi, lạnh nhạt:

"Ta nói nhận ngươi hồi nào!"

Thằng bé lại bắt đầu mếu máo.

Anh chàng sáu hai mắt tràn ngập ý cười, khiến khuôn mặt như ánh dương sáng bừng trong đêm tối.

Từ nãy giờ anh ta vẫn tựa vào gốc hoa sữa, thái độ như ung dung không màng thế sự.

Bây giờ thấy chuyện như thế, liền cười bảo:

"Anh năm bỏ ra món đồ yêu của mình thì xem như anh ấy đã thu nhận ngươi rồi.

Anh ấy hay nói cứng, còn không mau nói rõ thân thế cho anh ấy tường tận?"

Mạc Đĩnh Chi thành thật nói:

"Thầy năm ở trên, nhà tôi ở xứ Bàng Hà vốn có ông tổ là Mạc Hiển Tích từng ra làm quan.

Nhưng dòng họ gây ra sai trái bị bắt tội, nên tôi mới thất lạc thân nhân ra nông nổi này."

Anh chàng sáu nhíu mày:

"Là tội gì mà lại ra nông nỗi như thế?

Nếu như thất lạc người nhà ta cũng có thể tìm giúp ngươi."

Mạc Đĩnh Chi không hề giấu giếm, cúi đầu rưng rưng:

"Là tội... hàng giặc ạ.

Cha mẹ tôi thẹn quá tự sát nên tôi mới lưu lạc đến đây.

Thượng hoàng đã trị tội cả làng của tôi, bắt dân làm lính hầu cho các vương hầu, không cho ra làm quan..."

Nói đến đây, cả mấy người đều rơi vào trầm mặc.

Lát sau, chỉ nghe anh năm trầm giọng nói:

"Nếu như ngươi là người có đức có tài, muốn vì xã tắc lập công chuộc tội, thì ta há lại phụ ngươi?"

Mạc Đĩnh Chi dập đầu ba cái, thưa:

"Thầy năm, học trò Mạc Đĩnh Chi quyết không hai lòng, có trời đất chứng giám."

Tôi thấy cõi lòng ẩn ẩn niềm xúc động không nói nên lời.

Thoắt cái đã sang canh hai, phía lầu hát hôm nay hình như có tiết mục gì đó đặc sắc, trong lòng tôi tò mò muốn xem tuyệt kỹ của cô đào chốn kinh thành là gì, có như ở Vạn Kiếp hay không.

Có điều Đan Thanh đúng là một cô ả thích nhiều chuyện, cứ lãi nha lãi nhãi, may là hai ông hoàng và học trò nào cũng muốn đi xem.

Nghe nói người kinh thành rất chuộng nghệ thuật, nhảy múa thường xuyên được tổ chức trong cung đình, được hôm hội họp, có lẽ hai ông hoàng này muốn ra dân gian để đổi gió.

Nhưng rất nhanh tôi đã cảm thấy hối hận, tiếc mục đặc sắc hoá ra chính là màn ca trù của cô đào đắc khách nhất.

Cứ cho là tôi không có lỗ tai đi, dù rất nhiều người yêu thích bộ môn này nhưng tôi hoàn toàn không có phúc phần đó.

Thế cho nên giữa những ánh mắt say mê, giữa những cái đầu gật gù cùng tiếng vỗ tay như sấm dậy, tôi sực tỉnh trong cơn mê man, tâm trạng cũng không khả quan lắm.

Mạc Đĩnh Chi bảo tôi là con mèo ngủ, tiết mục đặc sắc thế mà cũng ngủ được làm tôi ú ớ không biết phải giải thích ra sao.

Anh sáu thì nhìn tôi mỉa mai:

"Vậy mà cũng nằng nặc đòi đi cho bằng được!"

Tôi ngáp một cái, không thèm trả lời.

Trên đời có buổi tiệc nào không tàn, trước khi đi tôi dặn dò Mạc Đĩnh Chi phải cố gắng học tập, phải biết nghe lời các thầy, có cơ hội tôi nhất định sẽ đến thăm.

Thằng nhóc lại nhìn tôi mếu máo, đôi mắt trong veo như mèo con.

Hai ông hoàng cố ý hỏi danh tính, nhưng tôi không nói.

Mạc Đĩnh Chi cũng níu áo tôi, thổn thức:

"Chị không cho em biết tên, sau này làm sao em tìm được chị để báo đáp."

Tôi nói:

"Có duyên chắc chắn sẽ gặp lại, sau này khi em thành tài, chị em ta chắc chắn sẽ gặp lại nhau."

Tôi bái biệt, lại tiếp tục chuyến hành trình dài đằng đẵng của mình.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 18: Nguyệt Vô Sự Chiếu Nhân Vô Sự


Sáng tinh mơ hôm sau tôi bị Đan Thanh gọi dậy.

Chẳng hiểu sao con ả này vẫn tràn trề năng lượng, vẫn tỉnh táo càm ràm.

Tôi đóng màng nhĩ, ở cạnh Đan Thanh không bao lâu mà tôi đã tập được khả năng chọn lọc âm thanh.

Thấy tôi bình an bước ra khỏi phòng, mấy người cấm vệ quân cũng tự hiểu, không hỏi han chuyện đêm qua.

Xuống tầng dưới cùng, đồ ăn sáng đã bày trước mặt, cấm vệ quân cũng đứng sẵn sàng trước cửa lầu từ lúc nào.

Tôi không có tâm trạng ăn, chỉ với tay lấy mấy cái bánh chưng gai rồi leo lên xe ngựa.

Hôm nay có mưa lâm thâm, tôi ngồi trong xe cuộn tròn trong chăn ngủ gà ngủ gật, lại bắt đầu nhớ đến Quốc Tảng ở Vạn Kiếp.

Trong cơn chập chờn tôi thấy Đan Thanh lúi húi giữ lửa thêm than, thỉnh thoảng còn vén chăn giúp.

Lúc ngủ mơ màng nghe tiếng chuông gióng xa, ngân nga vang vọng trong không gian thoáng đãng.

Tôi khẽ mở mắt, rèm mi còn đọng hơi sương, chỉ lẩm bẩm mấy tiếng hỏi chuông ở đâu mà đánh vang thế.

Thấy tôi thắc mắc, Đan Thanh vén rèm hỏi một anh chàng đang cưỡi ngựa kế bên, anh ta liền bảo đấy là tiếng chuông Trấn Vũ ở trấn bắc.

Đi qua cửa Đại Hưng vào trong thành, không gian cũng yên ắng hẳn.

Đây là khu vực phủ đệ dành cho các quan lại, quý tộc sinh sống.

Tôi bị cái tĩnh mịch uy nghiêm kia đưa vào giấc ngủ dài, suốt dọc đường chỉ nghe tiếng bánh xe va xuống đường lộc cộc, mùi hoa sữa thoang thoảng cùng tiếng mưa rơi rả rích.

Thỉnh thoảng chỉ thấy Đan Thanh tựa vào rèm cửa ngắm mưa.

Đến cung Quân Hoa, đầu cổ đã sớm váng vất, tôi cũng chẳng còn tâm trạng đâu mà ngắm nghía phong cảnh trong cung.

Cung nhân quỳ đầy trong sân, tôi không còn sức để nhìn họ lấymột cái, chỉ phất tay cho lui rồi chui ngay vào phòng đánh một giấc thật đẫy.

Nửa canh giờ sau phải đến quỳ tạ thái hậu cùng hoàng hậu nhưng tôi chỉ thấy đầu choáng mắt hoa, e là khó mà phụng mệnh.

Thế nên tôi vô thức đi vào giấc ngủ nặng nề, tất cả mọi âm thanh bên ngoài đều biến thành những tiếng ồn ào vô nghĩa, hòa vào tiếng mưa trầm đục rơi trên mái hiên cứ loạn xạ nhảy trong đầu như điệu thôi miên.

Trong lúc chập chờn nửa tỉnh nửa mê, chỉ nghe tiếng Đan Thanh khóc lóc.

Tôi biết không xong rồi, hoá ra cảm giác buồn ngủ vốn không phải chỉ do thiếu ngủ mà vì tôi đã đổ bệnh dẫn đến mê man.

Kể từ khi bị thương ở Vạn Kiếp, tôi cảm giác mình cũng mất đi một phần sức khoẻ, vết dao khắc vào vai tôi tuy đã lành nhưng lúc trở trời như bây giờ cũng âm ỉ đau.

Ngày ấy Quốc Tảng ôm tôi giữa bụi đất mịt mù, mùi hương trên người anh đột nhiên ùa về làm đầu tôi càng thêm váng vất.

Nhưng biết làm sao được, bọn tôi không thể chung đường, quên đi thì hơn.

Lúc tôi tỉnh lại đã là trưa hôm sau, khi cái nắng ấm áp của mùa đông giá lạnh chiếu vào cửa sổ rọi lên mặt.

Trong cơn gió thốc se lạnh chỉ nghe thoang thoảng hương hoa đào thơm ngát cùng mùi than sưởi ngai ngái dưới gầm giường.

Mới đây mà đã sắp sang xuân.

"Mẹ ạ, em ấy đã tỉnh rồi!"

Bên tai tôi vang lên tiếng nói trong trẻo êm dịu, thoang thoảng như tiếng gió xuân.

Tim tôi bỗng giật thót, ôi trời ơi, thật đúng là rồng đến nhà tôm đây mà.

Len lén mở mắt, tôi thấy một cô gái áng chừng mười chín đôi mươi đang ngồi cạnh giường.

Chị ta mặc đối khâm vàng nhạt, tóc búi kiểu phượng kế, mày mắt như tranh vẽ, quý khí như mai, mỗi một cái nhấc tay cũng nhã nhặn đến mức tôi phải căng mắt ra mà nhìn.

"Vậy sao, để ta xem.."

Cách đó tầm hai bước chân là một người phụ nữ ngoài bốn mươi, tuy tóc mai hai bên đã có vài sợi bạc, nhưng gương mặt vẫn chưa hằn dấu vết của thời gian.

Cô gái áo vàng ngồi dịch sang bên, chừa chỗ cho bà ngồi xuống.

Bà nắm lấy tay tôi vuốt ve, ánh mắt mềm mại.

"Sao sức khoẻ của em con lại yếu như vậy, ta nhớ lúc nhỏ nó là đứa khoẻ mạnh lắm."

Cô gái áo vàng vội nói:

"Em Tĩnh bị lạc đã lâu mới tìm lại được, em ấy không sống trong phủ nên đương nhiên cũng không như mấy người chúng con được ạ."

Tôi ngã ngửa, hoá ra đây là hoàng hậu và thái hậu của họ Trần.

Thái hậu nghe thế cũng không tỏ ra hài lòng, bà hơi cau mày, trầm giọng:

"Nhà này được mỗi con nhóc hiểu chuyện, biết ta thích tương Đình Đỗ, vào kinh mệt nhọc còn không quên mang cho ta.

Con nhớ phải bù đắp cho nó đấy."

Vừa may Đan Thanh còn nhớ mang mấy lọ tương vào cung để lấy lòng giúp tôi.

Đợi thái hậu đi rồi, chị Trinh mới lại ngồi lên sập gỗ, vén tay áo tôi để lộ ra chiếc vòng cẩm thạch trắng.

Chị khẽ vuốt ve, nước mắt rơi lã chã:

"Thì ra em vẫn chưa chết, mấy năm nay em đã ở đâu, tại sao không trở về?"

Tôi cuống quýt quỳ dậy trên sập, cúi đầu lạy thưa:

"Em không dám giấu chị, em chỉ là con nuôi của cha mẹ, được Tuệ Trung Thượng sĩ ban cho cái tên này.

Em chỉ là kẻ mất trí lưu lạc tới đây, cũng không hiểu tại sao mình lại bị hiểu lầm thành em chị."

Chị Trinh gật đầu như hiểu rõ, lại hỏi:

"Em vào phủ lâu chưa, tại sao cha không phái người nói cho ta biết?"

"Bẩm chị, em vào phủ cũng được một năm rồi, em không biết tới em chị, người trong phủ cũng không biết tại sao quan gia lại biết đến em."

Chị Trinh nhìn tôi khóc một hồi mới nhỏ giọng than thở:

"Em giống Tĩnh lắm, bảo sao..."

Đoạn, chị lại thở dài, tiếng thở dài của chị làm tôi cũng vô cùng rầu rĩ.

Chị nói:

"Về việc của quan gia, nếu ngài muốn biết thì tự khắc sẽ có người nói.

Thôi, nếu đã vậy thì chị cũng sẽ coi em như em gái ruột của chị mà đối đãi."

Tôi nghĩ trên đời này nếu như tôi đã mang cái tên Tĩnh thì chắc chỉ mỗi Quốc Tảng không xem tôi là Tĩnh mà thôi.

Chị Trinh nắm lấy tay tôi, sờ lên mái tóc tôi như người chị hiền lành dạy dỗ em gái mình.

"Có lẽ quan gia nhớ nhung Tĩnh lắm mới làm ra chuyện làm lỡ dở em như thế này, nếu em đã mất trí, cũng có khả năng em là Tĩnh mà ơn trên ban xuống cho chúng ta.

Em gắng hầu quan gia thay Tĩnh, quan gia rất tốt, sẽ không bạc đãi em đâu."

Nghe đến đây, tôi tuy vẫn còn chưa thông tỏ mọi bề nhưng cũng bất chợt thở dài thườn thượt.

Việc tôi vào cung hôm nay, cũng chẳng biết là do quan gia còn nhớ tình xưa hay do người đã muốn tìm vui duyên mới, sau này khi gặp tôi, không biết anh ta có còn kiên định như cái cách anh ta cưới tôi hay không?

Vì chuyện này tôi mà suy nghĩ rất nhiều, suốt một thời gian dài kể từ khi gặp hoàng hậu cũng không ra ngoài tiếp xúc với ai.

Chị Trinh nuông chiều tôi không trách cứ, nhưng ngay cả vị quan gia chưa từng gặp mặt kia cũng dường như bận rộn đến mức bỏ quên một phu nhân mới vào cung là tôi.

Ngày thứ hai sau khi gặp thái hậu, người cùng Thượng hoàng đều trở về hành cung Thiên Trường ở Tức Mặc.

Bình thường họ ngự tại nơi này, chỉ khi có việc quan trọng mới trở về cùng quan gia coi sóc.

Cũng may quan gia là người thông tuệ, là vị vua tốt nên Thượng hoàng nhàn hạ hơn rất nhiều.

Chị Trinh lại tiếp tục cuộc sống thanh tịnh của mình, nhưng bởi vì cung Thuý Hoa của chị nằm sát bên nên cứ cách vài ba bữa lại bị tôi sang làm phiền toái.

Nói chung trong cung quá mức yên ắng, cả cung phi của quan gia cũng tối giản đến mức không ngờ.

Tôi không có gì phải phiền lo, cuộc sống chỉ như một câu: Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự!
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Chương 19: Đêm Giao Thừa


Ngày xuân con én đưa thoi, mới đây mà khắp trong ngoài Thăng Long đều bắt đầu đón những ngày năm mới.

Tôi kê một cái sập trúc nằm tắm nắng ngoài sân, trên mặt úp một quyển ca dao, khoan khoái hít khí trời cùng với ánh nắng nhè nhẹ buổi ban mai tiết đầu xuân.

Nửa tỉnh nửa mê, mơ về một giấc xuân, hơi men chếnh choáng, giấc ngủ chập chờn.

"Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày."

Hoa đào rơi lả tả đầy trên đất như một bức tranh, rơi đầy trên áo, trên tóc tôi, cánh hoa phớt hồng như gò má thiếu nữ mười sáu.

Từng trận gió thổi qua, tạo thành những cơn lốc hoa nho nhỏ.

Chưa bao giờ tôi thấy việc ngủ li bì có lợi thế này, bao nhiêu muộn phiền và suy nghĩ vẩn vơ cứ thế quẳng ra sau, mặc dù đôi lúc có mơ những giấc mơ không hề muốn và khi tỉnh lại thấy lòng lõm một vết sâu.

Tôi đang sống cuộc sống dập dìu vô định, thỉnh thoảng suy nghĩ tới cũng không biết có ý nghĩa gì.

Thì thôi, có lẽ do tôi với Quốc Tảng hết duyên, hết duyên rồi nên chẳng thể có nỗi một tia hi vọng.

Đan Thanh bê một giỏ cánh hoa đào khô từ ngoài sân bước vào, lúc đi ngang tôi còn lẩm bẩm:

"Chiều chiều ra đứng bờ sông, muốn về với mẹ mà không có đò."

Thuỵ Hương ngồi tỉa hoa gần đó, không nhịn được trừng mắt:

"Này, em được chiều quá sinh hư hả?"

Đan Thanh làm mặt xấu với Thuỵ Hương rồi chạy biến.

Thuỵ Hương tuy mới mười tám nhưng lại là cung nhân lớn tuổi nhất ở cung Quân Hoa, rất cẩn thận tỉ mỉ nên được tôi giao trách nhiệm trông coi sự vụ.

Tôi lấy tay kê đầu, không lấy xuống quyển sách vẫn còn úp trên mặt mà trực tiếp hỏi:

"Hôm nay Tô cung phi lại gửi gì đến vậy?"

Thuỵ Hương đến bên sập, cúi người xuống gần sát tôi, thưa:

"Là một bộ bình sứ người Chiêm tiến cống năm ngoái đấy ạ!"

"Ồ, có thể dùng làm vò ủ rượu, sắp tới mùa mơ rồi."

Thuỵ Hương dạ một tiếng rồi lặng lẽ lui ra.

Quan gia lên ngôi chỉ mới hai năm, năm ngoái Tô cung phi được ban hẳn đồ tiến cống, chắc cũng được mến yêu.

Tôi chưa từng nhìn thấy mặt chị ta, nhưng có vẻ chị ta cũng trọng tôi lắm nên cứ cách vài ba bữa là đem đồ sang biếu, có điều không biết là trọng theo kiểu nào.

Tô cung phi là đệ tứ cung phi, xếp sau Đặng cung phi và Lý Kiều phi ở cung Liên Hoa.

Chị Trinh thì ưa thanh tịnh, Đặng cung phi sức khoẻ yếu ớt, quanh năm không ra khỏi cung, hiện chỉ có Lý Kiều Phi cùng chị ta hay tới lui với Thánh diện.

Tôi vào cung trễ nhưng xuất thân cao, vì lẽ đó nên có vẻ như chị ta cảm thấy hơi yếu thế.

Tôi chưa từng gặp ai ngoài chị Trinh và Thái hậu, không muốn gặp người khác, người khác cũng không dễ gặp được tôi.

Vị quan gia ở cung Quan Triều cũng mắt nhắm mắt mở cho qua, nhất thời Quân Hoa cung trở thành nơi bí ẩn.

Đan Thanh phàn nàn với tôi:

"Chị làm giá thật ý, ngoài kia biết bao nhiêu người muốn còn không được, chị lại chẳng để quan gia vào trong mắt."

"Vậy em muốn chị phải làm sao?

Quan gia không đến, chị phải tự mình mò vào cung Quan Triều à?"

Hôm nay đã cận kề năm mới, trong cung Quân Hoa cũng rộn ràng hơn mọi ngày, cung nhân đều tất bật dán câu đối, cắt giấy hoa, làm bánh chưng bánh dày, làm thịt đông, bày mâm cỗ.

Quan gia rất thích với trà sen, dạo gần đây cứ cách vài ba ngày là lại ban cho trà sen thượng hạng ướp từ sen trong chính tẩm cung của ngài.

Tôi chịu, không thể thẩm nổi vị đắng của thứ trà đó.

Chị Trinh thấy cung Quân Hoa hôm nay rộn ràng cũng sang hóng hớt, chị đang ngồi trên sập têm trầu, nghe thế liền cười trêu:

"Trên danh nghĩa thì em bỏ người ta đi mười năm, người ta chỉ mới giận dỗi một tí, em dỗ người ta vài câu thì sẽ chết chắc?"

Tôi liền đáp rất dứt khoát:

"Đúng là sẽ chết, sẽ bị mình làm cho mắc ói mà chết!...

Ui da..."

Tôi vừa nói xong thì lỗ tai đã bị véo một cái đau điếng, Đan Thanh và Thuỵ Hương cũng không giấu nổi vẻ hả hê trên mặt.

Phu nhân nhà mình có trái tim sắt đá, uổng cho quan gia một lòng một dạ.

Tôi lại không cho là phải, dù sao "trăng tròn chỉ một đêm rằm, tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi."

Chị Trinh liếc tôi:

"Em có tin là chị sẽ gói em lại rồi ném vào cung Quan Triều hay không?"

Tôi thầm mắng chị Trinh là đồ phản bội, sau lại thấy mối quan hệ của mình và chị mới kỳ lạ làm sao.

Mấy người chị Trinh nói gì thì nói, tôi cũng không phiền lòng.

Đầu năm nay là lúc quan gia ra lệnh hợp nhất hệ thống đo lường để thúc đẩy thương mại trên toàn quốc, bận rộn đầu tắt mặt tối, có lẽ vì vậy mà từ lúc tôi vào cung cũng không thấy mặt mũi ngài.

Hiếu hoàng là một vị vua anh minh, đương nhiên không vì đàn bà mà bỏ bê chính sự.

Kể từ lúc lên ngôi, nhà Nguyên thường xuyên lấy cớ vì quan gia lên ngôi không xin phép mà bắt ngài sang chầu, thế nhưng lễ bộ Thượng thư Sài Thung sang Đại Việt ta để ép quan gia sang triều kiến cũng chỉ về tay không.

Lòng quan gia hiểu rõ, nước ta là nước có vua, quân chủ lên ngôi không cần sự đồng ý của người ngoài, huống hồ giặc Thát luôn lăm le bờ cõi nước ta, tỏ ra hèn yếu chỉ khiến chúng càng thêm đắc ý.

Hồi đầu tháng, Hốt Tất Liệt đã giam cầm Trịnh Đình Toản trong phái đoàn đi cống nạp ở thành Đại Đô, chứng tỏ bọn chúng đã có ý khiêu khích rồi.

Đứng trước mối hiểm hoạ khôn lường như thế, khoảng thời gian này vị quan gia trẻ tuổi hẳn là tất bật chăm lo phát triển mọi mặt để Đại Việt đủ sức để chống chọi với kẻ địch mạnh mẽ và hung hãn như Nguyên Mông.

Đêm giao thừa cả cung Quân Hoa đều quây quần bên nhau chơi đố đèn dưới tán hoa đào nở bung thơm ngát, phía xa xa là ánh sáng của cung Diên Hiền vọng lại, tiếng đàn sáo réo rắt du dương, có lẽ là quan gia đang bày tiệc chiêu đãi quần thần.

Sang năm nay, hi vọng sẽ đón những đợt biến chuyển lớn.

Chơi được một lúc thì chị Trinh đến.

Tôi liền đứng dậy niềm nở cởi áo choàng giúp chị, ôm lấy nhóc Thuyên đang mặc một chiếc áo bào đỏ rực như con vẹt nhỏ, cười hì hì nói:

"Hôm nay lễ lớn sao chị và cháu không ở chơi cùng quan gia mà lại đến tệ xá của kẻ bệnh tật này?"

Chị Trinh cũng không nề hà việc tôi buông lời chọc ghẹo, chỉ cười xoà điềm nhiên đáp:

"Còn không phải lo cô đón giao thừa một mình sẽ tủi thân hay sao.

Suốt ngày rêu rao bệnh tật, cứ ở trong cung này suốt khéo thành bệnh thật thì tôi lại cười cho."

Trong lòng tôi cảm thấy vô cùng ấm áp, tay làm bộ chắp thành quyền đặt trước ngực bảo:

"Thật là quý hoá quá, đúng là rồng đến nhà tôm đây mà!"

Chị Trinh liếc tôi, trách:

"Lại nói nhăng nói cuội gì vậy?

Nhóc Thuyên đói rồi, ban nãy trong yến tiệc nó không ăn được gì, chỗ em có đồ ăn không?"

Vừa khéo Thuỵ Hương đang dọn lên nồi gà hầm nấm hương táo đỏ bốc khói nghi ngút cùng mấy vò rượu.

Cung nhân thấy hoàng hậu ngồi xuống chiếu thì không được tự nhiên, đứng một bên cung kính cúi đầu.

Chị Trinh thấy thế thì cười nói:

"Hôm nay là ngày cuối năm, cũng sắp sửa bước sang năm mới, bọn bây cũng ngồi xuống chung vui cùng chị em bọn ta cho thân mật."

Đôi lúc tôi cảm thấy một người có thể xem nhẹ tất cả mọi thứ như chị Trinh vừa khó hiểu, vừa có chút gì đó đáng thương, nếu không phải ngay từ bé đã có suy nghĩ chững chạc hơn người thì cũng bị hoàn cảnh ép phải như thế.

Đang trầm tư suy nghĩ chợt nghe chị Trinh khẽ kêu lên:

"Thuyên, không được uống, đây là rượu!"

Đợi chị ta hét xong thì thằng nhóc đã nốc hết một ly.

Nhóc Thuyên đôi má phúng phính ửng đỏ, trở trên cực kỳ hợp mắt với bộ quần áo mà nó đang mặc, nghe thế chỉ nhỏ giọng lẩm bẩm:

"Mẹ ơi cái này ngon quá, con muốn uống nữa!"

Tôi dỡ trán, thật là hết nói nổi.

Thằng nhóc này tương lai ắt hẳn là một nhân tài đây.

Cơm no rượu say thì đã bước sang năm mới, tên nhóc Thuyên đã ngủ từ lúc nào.

Tôi cứ kéo áo chị Trinh đòi mừng tuổi, chị Trinh trong người không có bao lì xì, vì thế mất oan đôi bông tai vào tay kẻ cướp trắng trợn là tôi.
 
Back
Top Bottom