Lúc tôi mở mắt tỉnh dậy lần thứ năm trong ngày thì bầu trời đã chuyển sang màu đen cánh gián, lăn qua lăn lại một hồi, trong đầu vẫn rối tung như một mớ bòng bong.
Con bé Thanh như thường lệ ngày hai dạo lau chùi phòng ốc, kín đáo liếc sang thấy tôi đã dậy, bèn cất giọng mỉa mai:
"Ô!
Quý cô đã tỉnh rồi sao?
Trời vẫn còn sớm lắm!"
Tôi không buồn liếc mắt tới con ả, chỉ thấy càng ngủ thì lại càng buồn ngủ, rất thuận theo tự nhiên mà ngáp dài.
Đan Thanh chỉ biết lắc đầu, rồi bước chân nhanh như cưỡi mây đạp gió.
Tôi ở phủ Hưng Đạo đến nay đã bước sang ngày thứ ba nhưng vẫn còn mơ mơ hồ hồ, đôi lúc giật mình tỉnh giấc, thẫn thờ ngắm trần nhà một hồi lâu cũng chẳng hồi hồn rằng mình là ai, đang ngự tại chốn nào nữa.
Ký ức lâu nhất mà tôi nhớ được là non nửa tháng trước khi đang thiu thiu chợp mắt dưới chân núi Yên Tử, bất thình lình có một đám người bước thấp bước cao đạp lên người tôi, thế là tôi tỉnh lại.
Hôm ấy trời xanh mây trắng, gió thổi chim ca, quả là vô cùng thích hợp để trêu chọc con gái nhà lành.
Tôi đang ngủ ngon trớn thì bị một gã mập mặc áo lụa bóng bông đạp lên, có lẽ tưởng tôi là xác chết sống dậy hay sao mà gã kêu la oai oái, tụi tay chân của gã lúc này mới hoàn hồn túm tụm lại lôi cái thứ chết tiệt dưới đám lá khô là tôi lên.
Trước mắt tôi chợt hiện ra một cô gái nhỏ với hai hàng mi đẫm nước mắt, đôi mày cong cong chau lại vì hốt hoảng, lại thêm xung quanh là một đám đàn ông, không cần nghĩ sâu xa cũng hiểu được đang xảy ra chuyện gì.
Có lẽ do xuất hiện bất thình lình, lại thêm bộ tướng gãy một cánh tay, đầu u một cục, quần áo thì rách tơi rách tả mà vẫn còn vùng dậy vác một khúc gỗ to bằng bắp tay múa may loạn xạ, hoặc cũng có thể do trong người tôi sức lực bẩm sinh mạnh bạo hơn người mà sau khi năm sáu tên đầy tớ mỗi kẻ đều đặn bị đập lên đầu vài cái, cả lũ trong chốc lát đã chẳng thấy tăm hơi.
Tôi ngó xuống người mình, đúng là rất là có phong cách của một kẻ giang hồ nghèo khổ.
Giản lược một chút về cô gái bị đuổi bắt hôm nọ, cô này tên là Đỗ An Hoa, là cháu họ hàng xa của Hưng Đạo vương Quốc Tuấn phủ Vạn Kiếp.
Đỗ An Hoa vốn xuất thân trong nhà có gia thế, tạm gọi là có của ăn của để, có điều chỉ trong một năm mà cả cha lẫn mẹ đều lần lượt ra đi, phận tơ tằm không gánh vác nổi sản nghiệp ông bà để lại, để cho đám người trong dòng họ thao túng.
Rốt cuộc đến nay gia sản tiêu tán, còn chị ta thì bị cưỡng ép gả cho nhà giàu trong vùng, chính là gã mập mà tôi vừa đá lăn lông lốc như quả bóng ban nãy.
Đỗ An Hoa đẹp như cánh hoa lê trong mưa đương nhiên không chịu gả cho một tên vừa mập vừa lùn vừa đần độn ngu si như gã, trong đêm trước ngày hôn lễ đã dùng hết sức bình sinh lẻn đi, tiếc là qua ngày hôm sau thì bị đuổi kịp, rồi trùng hợp gặp được ngữ kì quái từ dưới đất bò lên là tôi đây.
Sau đấy kẻ mất trí theo mô tả của Đỗ An Hoa, chực ăn chực uống hơn mười ngày thì đến cổng phủ Hưng Đạo Vương uy nghi tráng lệ, chính thức dấn thân vào con đường môn khách hay còn gọi là siêu cấp ăn chực, giờ tôi nhàn nhã nằm đây ngày ngày trêu chọc con bé Thanh, nguồn cơn, nói qua loa cũng chỉ có thế.
Đỗ An Hoa, ngoài việc tên chồng hờ quá kém cỏi, lý do chính mà chị ta liều mình trốn khỏi hôn lễ không gì khác là vì trong lòng đã có một đấng lang quân.
Còn nhớ cái hôm vừa cứu được chị ta ra khỏi đám lưu manh, ngay lập tức đã thấy chị ta không nói lời nào xoắn ống quần lội xuống suối, hại tôi còn tưởng chị ta vì tình tự tử.
Nói mãi nói mãi, hóa ra chị ta muốn tìm lại chiếc vòng tay – tín vật định tình từ mười năm về trước với anh chàng kia.
Đấng lang quân nọ cũng chẳng phải ai xa lạ gì – xếp thứ ba trong số bốn vương tử tài ba nổi tiếng khắp thành của phủ Hưng Đạo Vương lừng danh – Trần Quốc Tảng.
Lần gặp gỡ định mệnh rơi vào một lần hiếm hoi Hưng Đạo Vương dẫn theo gia quyến đến phủ Long Hưng thăm em gái của ngài.
Đỗ An Hoa kể, trong cái nắng tháng ba dịu nhẹ phảng phất hương thơm hoa cúc, mấy đám lạc tiên hai bên bờ sông Lạc Hà theo gió lay động, thành nhỏ trù phú đầy kẻ mua người bán, ngựa xe dập dìu, tại thời điểm ấy Đỗ An Hoa đã gặp Trần Quốc Tảng lần đầu tiên.
Sau này mỗi khi hồi tưởng đến khoảnh khắc đó, chị An Hoa cứ ngỡ như mới hôm qua, đặc biệt là lúc người thiếu niên cúi xuống đưa chiếc khăn tay màu trắng cho chị, trên tóc mai vẫn còn vấn vương mùi hoa lan thanh nhã.
Cảnh tượng diệu huyền đó, chỉ sợ là cả đời cũng khó mà quên.
Và những ngày thiếu niên đẹp như ngọc tạc bắt đầu có mặt trong phủ nhà chị An Hoa, thì chị ta cũng bắt đầu thầm cảm mến anh chàng ấy.
Tôi nghe đến đây, trong lòng có vài điều trăn trở.
Từ mấy cuốn ca dao đọc được ba ngày nay thì tôi rút ra được một điều, những ước vọng thật sự của chúng ta thì ít, còn sự mơ tưởng thì mênh mông, tại sao chị An Hoa lại thích anh chàng đó nhanh như vậy được?
Có lẽ ban đầu chị ta chỉ hơi có cảm tình, đoạn tình cảm sau này là do chị ta tự mình suy diễn rồi mơ tưởng ra thôi.
Trong chuỗi ký ức mơ hồ của mười năm, vô số lần chị An Hoa bắt gặp thiếu niên mười lăm tuổi một mình chong đèn đọc sách.
Chỉ có chỗ kỳ lạ là anh ta luôn né tránh chị An Hoa, chỉ cần vừa phớt thấy ống tay áo từ xa là vụt mất nhanh như một cơn gió.
Cả hai đuổi bắt như thể mèo vờn chuột, mà cho đến hôm nay, chị ta vẫn chưa thể nào bắt được con chuột tinh ranh như anh ta.
Nhưng có một lần Trần Quốc Tảng lỡ tay làm vỡ vòng ngọc của mẹ chị An Hoa để lại, người anh họ lạnh lùng ấy thế mà cũng biết động lòng trắc ẩn, liền đền ngay cho chị ta chiếc vòng bằng hổ phách quý giá.
Quốc Tảng không hề hay chiếc vòng ấy vốn dĩ là một trong bốn món đồ mà mẹ anh ta đích thân chọn lựa, để làm tín vật cho vợ chưa cưới của bốn vị vương tử sau này.
Tôi bật cười bởi câu nói của Trần Quốc Tảng dạo đó: "Làm hỏng cái gì thì đền cái đó, chiếc vòng này của mẹ tôi cho tôi, dùng đổi lấy chiếc vòng của mẹ em tặng được chứ?"
Quốc Tảng ơi Quốc Tảng, nếu như anh làm hỏng cái gì cũng có thể đền bằng vật có giá trị tương đương, vậy tấm chân tình của chị An Hoa vỡ vụn, anh đền bằng cái gì thì được?
Đỗ An Hoa lúc ấy đã định trả lại chiếc vòng, nhưng Hưng Đạo phu nhân chỉ cười xoa đầu chị ta rồi ôn tồn nói:
"Con cứ cầm lấy đi."
Đương nhiên là hôn ước từ lúc đó cũng được đặt ra.
Tôi hàm hồ nghe chị ta kể đến đây, phải vỗ đùi cái đét.
Đỗ An Hoa một lòng một dạ với anh ta, hoá ra cũng do anh ta khơi mào, nếu như năm đó Trần Quốc Tảng không tuỳ tiện đưa đồ của mình cho người khác thì đâu xảy ra cớ sự ngày hôm nay, sự việc này chung quy phải dùng hai từ duyên phận.
Nhưng diễn biến tiếp theo mới là quá đáng, bởi anh họ này đối với hôn ước không phản đối cũng chẳng tán thành, vẫn tiếp tục chong đèn đọc sách của anh ta.
Chỉ có Đỗ An Hoa là vui mừng khôn xiết, còn hùng hồn vỗ ngực mà tuyên bố sau này sẽ trở thành người vợ tốt của chàng, một lòng một dạ.
Này anh, anh là người thuộc chủ nghĩa sao cũng được hả?
Nhưng tôi đã lầm, Trần Quốc Tảng khi ấy chỉ lạnh nhạt nói:
"Nếu như em không có gì phản đối thì trước mắt cứ như vậy đi.
Sau này khi lớn lên, đến lúc em thật sự tìm được người trong lòng, hãy tự mình giải trừ hôn ước."
Tôi rất lấy làm ba chấm.
Được rồi, anh ta không thích, cũng không từ chối, anh ta thích thể loại mập mờ như vậy được không?
Mấy lời của anh ta, nghe thì giống kiểu cho đối phương tự do quyết định tương lai, thực tế chính là kiểu hai bên không hề ràng buộc, hôn ước chỉ qua lời nói không có giá trị nào.
Sau khi nghe chuyện tôi còn tưởng tượng ra một trăm lẻ tám tình huống trong văn học dân gian.
Chỉ sợ tên anh họ lòng dạ sắt đá ấy vốn đã cưới vợ sinh một bầy con, chứ nhớ nhung gì cô gái từng xuất hiện trong ký ức.
Sau đấy là một màn đại chiến không khoan nhượng đến trời long đất lở của vợ lớn vợ nhỏ, hấp dẫn hơn cả cuộc đời của Tần Hương Liên và Trần Thế Mỹ ở nước Tống.
Chỉ nghĩ thôi mà máu trong người tôi đã phấn khích nóng lên rần rần.
Nhưng thực tế chứng minh trí tưởng tượng của tôi quá mức phong phú, Quốc Tảng vốn không có vợ con gì ráo, vẫn là một anh chàng độc thân hoàng kim.
À, nếu như bỏ qua chi tiết anh em nhà này lượn lờ trong tòa lầu nghe ca kỹ thì anh ta vẫn được tính là một chàng trai tốt.
Đến đây kể ra anh em nhà ấy cũng thật biết hưởng thụ.
Thành Vạn Kiếp có một chốn ăn chơi bậc nhất, gọi là Tĩnh Lầu, đủ các môn từ ăn, chơi, đàn, hát.
Tòa lầu ba tầng vô cùng tráng lệ, chỉ nhìn sơ là thấy được phía sau tòa lầu chính, đình viện nhỏ rải rác vô số kể, đoán chừng chính là nơi tiêu khiển của bọn lắm tiền nhiều của nơi đây.
Một nơi như thế lại gọi là Tĩnh Lâu, tôi mắng một câu, đúng là treo đầu dê, bán thịt chó.
Nếu muốn kể rõ ràng đầu đuôi mọi chuyện, thì phải nhắc một chút tới bốn vị vương tử lừng lẫy của Hưng Đạo vương.
Cậu cả là Quốc Nghiễn, tài mạo song toàn, tính tình đoan chính.
Cậu hai là Quốc Uất, anh dũng thiện chiến, dung mạo khôi ngô.
Cậu ba là Quốc Tảng, người tình trong mộng của chị An Hoa, thiên hạ đồn đại đây chính là người xuất sắc nhất trong bốn người, trầm tĩnh quyết đoán, mưu trí hơn người.
Cuối cùng là Quốc Hiện, đây lại đích thị là một tên đáng ghét!
Chị An Hoa nằm vùng trong phủ đã non nửa tháng vẫn không thấy bóng dáng anh ba của mình đâu, đóa hoa lê tôi gặp trước đây héo rũ đến mức người không ra người, vậy mà tên kia còn thong dong bước ngang qua bỏ lại ba chữ "trông thương nhỉ!" rồi đi một mạch vào phòng sách cả ngày.
Thế nên sau khi một cánh cửa phòng sách phủ Hưng Đạo bị dỡ, một bên chân của cậu tư Quốc Hiện bị trật thì tôi vừa hay biết được nguồn cơn.
Tôi cắn răng bỏ ra ba phần mười tiền công đưa chị An Hoa về phủ để mua chuộc bà chủ trong Tĩnh Lầu, cộng với miếng ngọc tình cờ "nhặt" được từ chỗ Quốc Hiện, dắt chị ta vượt qua mấy tòa đình.
Cũng thật không uổng công, xem như một lần mở mang tầm mắt, chỗ này thanh nhã có, lộng lẫy có, toát lên vẻ thơ ca nhạc họa.
Đặc sắc nhất chính là gian phòng mà Quốc Tảng trốn tránh mấy ngày nay.
Tiếng đàn bầu réo rắt, một thiếu nữ ngồi trên sập trúc mặc yếm lụa đỏ nhập tâm đánh đàn, trên vai chỉ khoác hờ một chiếc đối khâm mỏng tang, mái tóc buông xõa lả lướt.
Tiếng đàn lúc trầm lúc bổng, đôi khi nhẹ như hoa rơi xuống nước, đôi khi lại hối hả như mưa tuôn, sau đó là tiếng hát ê a sau mành cất lên, cái gì mà "Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, người ở đời sao khỏi tiết gian nan.."
Trong lòng tôi ai oán, không biết có phải do tác động của việc mất trí nhớ hay không mà thể loại âm nhạc này tôi không thể cảm thụ được.
Bên cạnh cô đào hát là một người đàn ông mặc áo xanh sẫm, tóc đen như thác cột hờ, nửa nằm nửa ngồi trên sập.
Trái ngược với vẻ mặt nhăn nhó như khỉ ăn ớt của tôi, anh ta lại làm ra vẻ tận hưởng âm thanh tuyệt diệu, rất có phong thái vương giả, rất biết thưởng thức âm nhạc, khiến tôi bỗng nhiên thấy mình thật quê mùa.
Không cần suy nghĩ, chiếc lư hương còn đang mơ màng nhả khói trên bàn đã rẽ gió lao thẳng, rất chuẩn xác dừng lại trước trán anh chàng kia, mà anh ta cũng rất chuẩn xác bắt được .
Tiếng nhạc bất thình lình im bặt, một ánh mắt vừa dò xét vừa hiếu kỳ hướng đến trước mặt tôi.
"Hỗn xược, ai cho phép con ả này làm càn ở chỗ đây?
Gia nhân, gia nhân đâu hết rồi?!"
Gia nhân của anh ta còn chưa đến, bỗng chốc đã bị đè lên, hai tay bị ghì dưới eo còn cổ áo thì bị túm chặt.
Một cánh tay tôi bị gãy nhưng vừa hay chỉ cần một tay hai chân đã khéo léo chèn chặt anh ta với cái tư thế này.
"Cho anh nói lại, vợ chưa cưới của anh đến tìm anh này!"
Anh ta đanh mặt, cố sức vùng ra nhưng không được, lại không ngờ cô nàng trông nhỏ bé tàn tật kia lại có sức lực lớn đến thế, vừa mới bừng bừng lửa giận đã chuyển thành khiếp sợ, vẻ mặt trở nên mù mịt, lầm bầm:
"Ai?
Cô á?"
Tôi định tặng cho anh ta thêm một bạt tay nhưng may sao cánh tay còn lành lặn duy nhất của mình đã bận.
Đúng lúc này tôi chợt nghe sau lưng truyền đến tiếng chị An Hoa thì thào:
"Anh...anh ba..."
Tên đàn ông dưới người tôi chỉ cật lực lắc đầu, cố dùng mắt ra hiệu cho tôi rồi gấp gáp nói:
"Bên kia, bên kia!"
Tôi không nhớ là mình bao nhiêu tuổi, nhưng trời ơi trong suốt những năm đó tôi cá là mình chưa bao giờ mắc cỡ như ngày hôm nay.
Tôi lập tức dừng tay, đưa mắt sang một gian phòng chỉ được ngăn lại bằng một tấm rèm mỏng cách đó mấy chục bước chân.
Trong cái nóng oi ả của mùa hè, ấy thế mà tôi lại thấy gió mát từ mặt hồ thổi tới.
Gian phòng này không phải là một gian phòng kín, một mặt phòng chỉ dùng mành trúc đơn giản che chắn, chỉ cần có gió lại va vào nhau leng keng, tạo ra âm thanh thuần túy nhất.
Thấp thoáng sau mành trúc kia là mặt hồ rộng lớn trong suốt, ánh mặt trời rọi xuống mặt hồ nóng hổi, làm cho mỗi đợt sóng nhỏ đều lấp lánh như bạch kim.
Giữa hồ, một ngư phủ lặng lẽ buông cần, lơ đễnh để thuyền theo sóng nước bập bềnh trôi.
Theo gió thổi đến, còn nghe một chuỗi thanh âm xa xa.
"Ngày ấm uyên ương xuôi nước biếc
Gió hòa hải yến lượn rèm châu".
Trước mành trúc đặt một bàn đá được chạm trổ tinh xảo, màu sắc tinh túy làm người ta nảy sinh cảm giác muốn chạm vào, chén trà bằng men sứ xanh đang tỏa khói nghi ngút tạo thành một làn sương trắng huyền ảo.
Tại đó, một chàng trai áo trắng đang ngồi, tản mát ra thứ sắc thái làm người ta chói mắt, tinh khiết thanh cao không thể chạm tay.
Trên tay anh ta vẫn cầm quyển sách đang đọc dở, mà anh ta lại hướng ánh mắt lơ đễnh về phía cảnh đẹp ngoài kia, nhìn đến quên hết sự đời.
Đôi mắt chàng trai có phần lạnh nhạt, đầu mắt đuôi mắt đẹp như tranh.
Chìm đắm vào đôi mắt ấy, thật giống như thấy được hình ảnh đêm đông yên tĩnh, khiến lòng tôi cũng cảm thấy yên bình.
Hình như bên này quá ồn ào, khiến bên kia anh ta cũng bị đánh động, quay sang dùng đôi mắt lạnh nhạt đó lẳng lặng đánh giá tôi.
Đột nhiên, tôi cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc từ đầu tới chân, gã đàn ông phía dưới tôi bèn nhân cơ hội đảo khách thành chủ, nhìn tôi cười gian trá.
Ánh nắng xế chiều hắt vào gian phòng, miếng rèm mỏng bị gió thổi tung làm ẩn hiện bóng hình chàng trai đang nhoài người đứng dậy.
Tôi thấy chị An Hoa run rẩy bước tới, khuôn mặt thoáng hiện nét âu lo, đôi gò má lại hơi hồng hồng.
Hàng mi chị khẽ lay động, đôi mắt hạnh long lanh như có nước, mái tóc dài quá thắt lưng bóng mượt vương màu của nắng chiều.
Một nam một nữ đứng đó, đẹp không khác gì một bức tranh thủy mặc.
"Lâu rồi mới gặp lại anh ba.." – Chị An Hoa nhỏ giọng nói, bờ môi run run.
"Ừ, cũng lâu rồi nhỉ."
Quốc Tảng chỉ đáp lại một câu giống như cho có lệ, gương mặt anh ta toát ra vẻ lạnh lùng xa cách, giọng điệu cũng dứt khoát vô tình.
Nói rồi anh ta khẽ gật đầu với em gái mình một cái, ngoảnh mặt cắp đít rời khỏi.
Chị An Hoa ban đầu có hơi nghệch ra một chút, nhưng cuối cùng chỉ thở dài, có vẻ như đã quá quen với loại thái độ này của Quốc Tảng.
Bóng lưng chị cô đơn dưới nắng chiều, đổ dài trên sàn nhà bằng gỗ lê.
Tôi cũng không nhớ rõ tình huống khó xử ngày hôm đó kết thúc như thế nào, chỉ thấy chị An Hoa ngày càng trầm tư.
Chị ấy không đi tìm Quốc Tảng, cũng không len lén lau nước mắt nữa, chỉ là trong ánh mắt đẹp trong suốt như mặt hồ để lại vài tia tâm sự.
Các cụ từng nói, sự chấp trước của ngày nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai, tôi vốn đã thấy rõ tình cảm từ tên anh họ đó là không thể cưỡng cầu, càng kéo dài sẽ càng đau khổ.
Tiếc thay một khi đã yêu rồi thì hàng đống đạo lý chỉ như gió thổi mây trôi mà thôi.