Khác [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông

[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 7: Công Chúa Hòa Thân (4)


Xa giá của Quốc vương đã dừng trước cổng thành, ta lén tỳ nữ vén góc mành ra xem, chỉ thấy đối diện là một người đàn ông cưỡi voi trắng ngồi thẳng tắp uy nghiêm nhìn xuống.

Chàng mặc áo dài trắng viền vàng đính kim tuyến từ cổ xuống vạt áo, nút áo bằng ngọc cài ở giữa ngực, mũi hài thêu chỉ nổi hình chim thần kim sí điểu.

Đầu chàng đội vương miện cao cao có hoa văn thú Ma Già La quấn quanh, nạm đầy những viên đá phát ra thứ ánh sáng đủ màu rực rỡ.

Tuy người đàn ông này đã gần bốn mươi, nhưng trên mặt chàng vẫn không tìm được dấu vết của thời gian, làn da chàng ngâm màu bánh mật, mái tóc dài hơi xoăn, y như chàng trai mà ta từng mơ vào bốn năm trước.

Lúc ấy ta đã nghĩ phải chăng là do định mệnh, hay do Thiên Y Thánh Mẫu đã đưa chúng ta đến với nhau?

Mọi cử động của ta bị đình trệ, cứ mãi ngơ ngẩn nhìn chàng trai cưỡi voi tiến đến ngày càng gần, đến khi gương mặt chàng đã ở ngay trước mắt, bàn tay chàng chìa ra sát bên ta ta mới lấy lại tỉnh táo.

Lúc này ta cũng trông thấy trên mặt chàng có một tia thất thần, nhưng rất nhanh đã che giấu kỹ lưỡng.

Bàn tay nhỏ bé của ta đặt trong lòng bàn tay to lớn rám nắng hằn đầy vết chai, ta biết đây chính là những dấu vết của người cầm kiếm, trên tay phụ hoàng và mẫu hậu ta cũng có những vết y như vậy.

Làn da trắng của ta dưới cái nắng gay gắt của Đồ Bàn và làn da ngâm mạnh mẽ của Chế Mân càng trở nên lóa mắt, người dân hai bên đường nhìn ta, có lẫn ngưỡng mộ và tôn kính, như cách họ nhìn vị quốc vương của mình.

Chàng đội cho ta chiếc vương miện vàng khắc hoa văn thú Ma Già La, dắt tay ta sải bước dần về chính điện.

Trước sự dẫn dắt vững vàng của chàng, ta thực hiện hết mọi nghi lễ của nước Chiêm.

Nhưng sau này nghĩ lại, cảm giác sáng bừng trước mắt làm ta mơ mơ hồ hồ, giống như phó mặc hết cho chàng trước sự bối rối.

Ban đầu ta có phần lo lắng về việc chung chạ giữa chính hậu và các con chàng, nhưng ta có ngờ đâu quốc vương đã xây cho ta một tòa tháp mới trước khi ta được gả đến.

Tháp Cánh Tiên cao sừng sững giữa vườn Thượng uyển đầy giống hoa thơm cỏ lạ, chim chóc ríu rít cả ngày, cầu nhỏ nước chảy như chốn bồng lai.

Ta có thể nghĩ ra tất cả mọi viễn cảnh, nhưng hoàn toàn không nghĩ tới cảnh tượng đẹp đẽ này.

Xứ Chiêm vốn thời tiết khắc nghiệt, nhưng tòa tháp ta ở thì đông ấm hạ mát, ngồi bên bệ cửa có thể đón gió từ thung lũng thổi về.

Ta nhìn một vòng, bao quát là đồng ruộng xanh tươi mướt mắt, những mái tranh lúp xúp san sát nhau nối dài tận chân trời.

Từ hướng cửa khác có thể nhìn thấy Điện vua, đó là một tòa điện cao rộng, phần mái trên lợp ngói nhỏ hình thuẫn, tường điện được trang trí công phu.

Những lúc rảnh rỗi chàng thường tựa lan can nhìn sang ta, cho dù xa đến mức chỉ thấy bóng dáng nho nhỏ nhưng ta vẫn vươn tay với chàng.

Lúc ấy tỳ nữ của ta thường che miệng cười trộm.

Những khi xong việc sớm chàng thường ngồi phía sau cầm tay dạy ta viết chữ, mùi đàn hương nhè nhẹ phiêu đãng làm ta có chút mê man.

Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng ngòi bút lướt trên giấy nghe sột soạt.

Thỉnh thoảng một vài con đom đóm bay lạc vào cửa sổ lướt ngang trước mắt ta.

Hơi thở chàng phả lên cổ làm cả người ta có phần tê dại.

Nhưng niềm vui dài chẳng tày gang, một năm sau, quốc vương xảy ra chuyện.

Ta đương nhiên biết được trong hoàng cung nước Chiêm này ẩn chứa một kế hoạch kinh hoàng, kế hoạch lật đổ vương vị của vương hậu Nam Dương cùng con trai lớn của ả.

Ta mờ mịt biết được vào thời điểm không lâu khi đến Chiêm, có một hôm vương tử Chế Chí uống say xông vào phòng ta, không một ai ngăn cản.

Gã nói với ta, vương quốc sắp thay triều đổi vị, ta nên làm kẻ thức thời.

"Làn da của nàng trắng quá, người Chiêm ta không một ai có nước da xinh đẹp như thế này."

Chế Chí quỳ một chân trên giường, vừa si mê vừa tôn kính nhìn ta, nói.

Cuối cùng phải đích thân quốc vương vội vã chạy đến nơi, Chế Chí mới thôi không làm xằng bậy nữa.

Gã rời đi nhưng vẫn giữ ánh mắt thách thức và nụ cười xảo trá trên gương mặt mình, thậm chí không thèm chào phụ vương mình lấy một cái.

Nhìn gương mặt hao hao Chế Mân của Chế Chí, ta bất chợt cảm thấy rùng mình.

Lúc này ta mới hiểu ra, có lẽ quyền hạn của Chế Mân chỉ còn trên danh nghĩa.

Chàng hôn lên tóc ta, run rẩy thốt lên:

"Ôi, đóa hoa sứ trắng của ta."

Ta ngước nhìn chàng, cố giữ bình thản nói:

"Chàng có gì muốn nói với em không?"

Chế Mân nghe ta hỏi thế, có vẻ cũng biết ta đã nhìn ra mọi sự rồi.

Thì ra từ năm năm trước, hoàng hậu Nam Dương và vương tử Chế Chí đã cấu kết ngoại thần, cùng với người Nam Dương trà trộn trong nước Chiêm hòng lật đổ quốc vương.

Chàng vốn hết mực tin tưởng bọn họ, nên lúc phát hiện ra thì đã muộn, giống như một khúc gỗ mục đã mối mọt từ bên trong.

Nhưng làm một vị đế vương, để tin người đến mức này không biết là nói chàng nhân từ hay nói chàng ngu ngốc.

Quốc vương yêu dân như con, dẹp giặc ngoại xâm, nhưng đối với người nhà lại dung túng dẫn đến tai họa.

Dạo đó thực quyền vẫn còn nằm trong tay chàng, chàng bèn gửi thư cho phụ hoàng ta mời người sang chơi, nhưng thực chất là để cầu cứu.

Cũng trong lúc thực quyền còn trong tay, chàng đã hứa dâng cho Đại Việt hai châu.

Lúc này lời đã định, Chế Chí không dám nói mà không giữ lời nên chẳng thể ngăn cản Chế Mân.

Phụ hoàng ở Chiêm chín tháng, có lẽ là cặn kẽ hết đường đi nước bước xứ Chiêm, sau đó người trở về giao cho ta trọng trách.

Quân của Đại Việt không thể ngang nhiên xâm phạm vào lãnh thổ nước Chiêm mà phải cần có một cái cớ, mà ta vừa hay lại là cái cớ đó.

Có điều bốn năm qua, Chiêm Thành đấu đá không có ngày dừng, việc cầu hôn liên tục bị trì hoãn.

Đến khi quốc vương thoát khỏi kiểm soát dâng thư cầu hôn cắt đất, thì Chế Chí cũng lật mặt, bắt giữ người em khác mẹ là Chế Năng.

Cho đến hôm nay, kẻ thù tứ bề, chuyện soán ngôi đoạt vị sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Quả nhiên một ngày mùa hạ tháng năm, trong lúc tế lễ ở tháp Dương Long, Chế Mân bị ám sát.

Mà Chế Chí trong lúc cứu giá cũng bị thương, thành công giành được ánh mắt tán thưởng của người đời.

Sau đó Chế Chí được quần thần ủng hộ lên ngôi, mà ta không ngoài dự liệu bị vương hậu ép lên giàn hỏa thiêu với chàng.

Vốn dĩ người chịu hỏa thiêu phải là bà ta, nhưng một người vừa mới nắm giữ quyền hành trong tay làm sao có thể cam tâm chịu chết?

Thế nên cho dù Chế Chí có si mê ta đến mức nào thì gã cũng phải dùng ta để đổi lấy mạng của mẹ gã mà thôi.

Nhưng gã không hề hay biết thực ra phái đoàn Đại Việt đã đậu ở bến cảng từ trước.

Gã mềm lòng nghe theo lời khẩn cầu cuối cùng của ta ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về rồi sẽ vào dàn thiêu, ai ngờ đâu giữa đường quân Đại Việt ra đánh cướp, trở tay không kịp.

Ta nhìn đất Chiêm ngày một xa, trong dạ bồi hồi.

Hóa ra lâu ngày dài tháng, xứ sở đó cũng trở thành tâm hồn ta.

Sau khi ta trở về Đại Việt, Chế Chí liên tục xúi giục dân ở hai châu nổi loạn hòng đòi lại đất đai của mình.

Bốn năm sau, anh cả Thuyên ngự giá thân chinh, dưới trướng là Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Nhân Huệ Vương và anh hai Chẩn, còn có Đoàn Nhữ Hài được giao chức Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước để lo việc địch vận.

Quân Việt toàn thắng, nhưng theo di chỉ của phụ hoàng, anh cả Thuyên vẫn giao lại ngôi vị quốc vương cho Chế Năng.

Xuân tháng ba, sứ nở trắng núi Trâu Sơn, công thần phạt Chiêm là Nhữ Hài đến tìm ta.

Y đứng dưới bóng cây hoa sứ, màu áo còn trắng hơn cả màu hoa, như muốn cùng cây hoa hợp lại thành một.

"Cảm ơn công chúa đã giữ lời hứa."

Nhữ Hài mỉm cười nhìn ta, ta ồ một tiếng, hóa ra là lời hứa dạo nọ hai ta sẽ gặp lại nhau.

"Nhưng bây giờ gặp lại, Nhữ Hài đã là quan đầu triều, còn ta đã chẳng còn là công chúa nữa."

Vạt áo trắng của anh ta bay bay, ta bỗng thấy dáng dấp của chàng thiếu niên nhút nhát năm nào ở tẩm điện của anh cả Thuyên, nhưng năm nay chàng ta đã vô cùng già dặn và chính chắn.

Còn ta, ta cũng không còn là cô công chúa vô tư lự của ngày xưa nữa.

Nhữ Hài nhìn ta một lát, lại nhìn về phía sau ta, cười cười:

"Quốc vương mặc trang phục của Đại Việt trông cũng hợp lắm."

Ta quay đầu ra sau, thấy Chế Mân đã dắt Chế Năng ra trước sân.

Chế Năng năm nay đã là chàng trai mười sáu, cao gần bằng cha nó rồi.

Chế Năng khuỵu một gối xuống trước mặt Nhữ Hài, kính cẩn nói:

"Cảm ơn sứ thần đã giúp đỡ."

Thấy Chế Mân vẫn khoanh tay đứng mỉm cười, Nhữ Hài có chút bối rối đỡ Chế Năng dậy, vội đáp:

"Vương tử sắp trở thành vua một nước, sao có thể quỳ trước kẻ hèn này.

Lát nữa về Thăng Long hãy tạ ơn Quan gia, đó mới là người cứu vương tử đấy!"

Hôm nay Đoàn Nhữ Hài đến, là để đón Chế Năng về Chiêm nắm giữ triều đình.

Năm đó thật ra Chế Mân chỉ giả chết, lúc quân Việt ập tới, thuận tiện đưa cả hai cha con chàng trở về theo sự sắp đặt của chúng ta.

Ta áng binh bất động mấy năm, một phần là để chuẩn bị lực lượng, một phần là đợi vua mới trưởng thành.

Quả nhiên gốc rễ chưa vững, Chế Chí cũng chẳng thể làm gì được.

Đến nay ta cất quân chinh phạt, nhờ sự khôn khéo của Nhữ Hài, quân ta lại chẳng tổn hao mất một mũi tên.

Chế Năng đứng dậy, lại quay sang ta và Chế Mân, nói:

"Phụ hoàng và mẫu hậu hãy cùng trở về Chiêm để con được đáp đền ơn sinh dưỡng."

Chế Mân lắc đầu:

"Con đi đi, ta đã không còn ước vọng trở về nơi đó nữa.

Nếu con có lòng, lúc rảnh rỗi hãy đến thăm ta."

Nhưng chỉ e chuyến đi này sẽ khó lòng mà gặp lại.

Đến khi Nhữ Hài đưa Chế Năng rời khỏi Trâu Sơn, đột nhiên trong gian nhà vang lên tiếng trẻ con khóc.

Chế Mân mỉm cười ôm lấy vai ta, cất giọng tinh nghịch:

"Trễ rồi, vào ăn cơm thôi, ta có làm món nàng thích!"

Năm nay ta hai lăm, chàng đã bốn lăm, nhưng giữa hai chúng ta nào có khoảng cách gì đâu chứ?
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 8: Nguyên Đào (1)


Cha ta là Hưng Nhượng Đại Vương phủ Vạn Kiếp, ông nội ta là công thần đầu triều ba lần chống giặc Thát, lúc mất còn được truy tặng chức Thượng Phụ Thượng Quốc Công.

Thế cho nên từ năm mười hai tuổi ta đã được ban chức Văn Huệ vương, cùng với gã vừa được phong Uy Túc công Trần Văn Bích – cháu nội Chiêu Minh Vương được xem là kỳ phùng địch thủ.

Đương nhiên đó là do hắn ta tự ý nhìn nhận rồi truyền rao, chứ ta chẳng thấy hứng thú với bọn nam nữ ở chốn kinh kỳ.

Năm nay ta mười sáu, tự đặt cho mình hiệu là Nguyên Đào, Nguyên Đào trong "nguyên nguyên kinh ba đào hải lãng", một cơn sóng lớn như ta rõ là hơn hẳn cái kẻ chỉ có vẻ bề ngoài như Uy Túc công kia.

Ông nội mất trước lúc ta được phong Văn Huệ vương một năm.

Thuở trước người hay bảo ta y như một khuôn đúc ra của cha ta, trong số anh em trong nhà luôn tỏ ra nổi bật nhất.

Cũng bởi cái tính này mà có lần ta mải nghĩ đến một vấn đề khó nhằn trong binh thư của ông nội, thức trắng suốt ba đêm liền, cuối cùng mẹ ta phát hiện ra khóc lóc một trận mới khiến ta tạm thời quên đi vấn đề nan giải.

Ngủ một đêm dậy bỗng dưng ta phát hiện ra ăn ngủ điều độ mới khiến đầu óc minh mẫn được.

Trên ta có hai chị gái, trải qua hàng tá nhập nhằng trong chuyện tình cảm thì cuối cùng chị cả là vợ của anh họ Chẩn, chị thứ lại là hoàng hậu của anh họ quan gia.

Các chị đều đã lấy chồng ba năm trước, nên rốt cuộc chỉ còn một mình ta gánh chịu cái sự lạnh lùng xét nét của cha già.

Đương nhiên cha già nhà ta thì không những một mình ta sợ, nếu như ta chỉ âm thầm e ngại trong lòng nhưng vẫn giữ được mặt mày không đổi sắc thì mấy ông anh rể nhà ta hễ mà ngồi riêng với cha ta trong mâm cơm thì khẩn trương đến mức không dám động đũa.

Ngoại lệ thì có chị cả dịu dàng nhà ta được cha hết mực thương yêu, kế đến là chị hai đã rèn luyện đến độ điếc không sợ súng.

Giữa cha ta và mẹ ta là một thứ quan hệ gì đó mà ta không thể nói thành lời.

Qua lời kể của mẹ, cha mẹ quen biết nhau từ khi bà mới tám tuổi, lúc đó hoa cúc mùa thu đang độ nở rộ, bởi thế nên bà yêu luôn hoa cúc.

Sau đó đến khi mười tám tuổi thì bà gặp lại cha, nhưng mãi đến năm hai mươi lăm tuổi mẹ và cha mới kết tóc.

Mười bảy năm chờ đợi, chẳng biết là vì lẽ gì.

Khi còn nhỏ tuổi ta chỉ biết cha mẹ luôn yêu thương che chở cho ba chị em, gia đạo êm ấm khiến tuổi thơ của ta đẹp như tranh vẽ, chị cả và chị thứ mỗi người một cá tính giống như tô thêm màu sắc cho cuộc đời ta.

Nhưng đến khi lớn lên hiểu chuyện, rồi khi các chị lấy chồng, ta bỗng nhiên cảm giác có gì đó khác lạ.

Đương thời truyền tụng mối tình vượt trên cả lễ giáo của ông bà nội nhưng tiếc là ta lại không sống ở thời đó để chứng kiến, nhưng chỉ cần nhìn tình cảm vợ chồng của hai bà chị nhà ta thì ta rõ như ban ngày, vào mỗi dịp lễ tết hễ ngồi giữa mấy người bọn họ thì kẻ cô đơn lẻ bóng như ta chẳng hề có cảm giác tồn tại.

Quan gia tuy trong cung thê thiếp không thiếu, nhưng đối với chị thứ yêu chiều hết mực dù là những đòi hỏi hết sức hoang đường chứ nói gì tới anh Quốc Chẩn chỉ có một mình chị cả.

Chẳng hạn như trong bữa cơm, bọn họ người một miếng ta một miếng, đến ta còn ăn không nổi chứ nói chi đến cha mẹ già đã dừng đũa rời khỏi từ lâu.

Cuộc sống hôn nhân của họ phải nói là muôn màu muôn vẻ, trăm hoa khoe sắc.

Còn cha mẹ thì sao nhỉ?

Ban đầu ta nghĩ có lẽ do họ đã qua cái tuổi có thể tùy hứng như lớp trẻ sau này, nhưng bất chợt nhìn thấy bà cô Anh Nguyên và ông chú Ngũ Lão đã làm đến chức Điện soái Thượng tướng quân vẫn còn chơi trò đánh trận giả trong phủ thì ta mới bắt đầu nhìn nhận lại mọi việc.

Giữa cha mẹ dùng một câu tương kính như tân thì không đủ, phải nói là giữa họ có khoảng cách.

Cha ta là một người đàn ông lạnh lùng nghiêm khắc, mẹ lại là người hiền thục đoan trang, trong cuộc sống thường ngày cha mẹ rất hòa thuận.

Nhưng giữa vợ chồng liệu có thể hòa thuận đến mức đó ư?

Bác hai nhà ta là một người thoải mái phóng khoáng.

Tuy bình thường luôn tỏ ra ngoan ngoãn phục tùng bác gái, nhưng thỉnh thoảng cũng sẽ có lúc cãi nhau inh ỏi đến gà bay chó sủa truyền đến tận nhà ta.

Ngày ta còn bé, hễ lần nào mà có cãi nhau trong gia đình bác hai là y như rằng ta sẽ có thêm chị họ hoặc anh họ.

Lớn lên ta mới hiểu, đây gọi là đầu giường cãi nhau, cuối giường làm hòa.

Nhà ta thì yên ả đến lạ, giống như hôm nay mẹ hỏi:

"Gần đây trời lạnh, chúng ta ăn chè đỗ đen nhé?"

"Ừm." – Cha đáp.

"Sức khỏe chàng đã đỡ hẳn chưa, ngày mai lên kinh nhớ khoác cái áo em mới may cho chàng."

"Tôi biết rồi."

"Ngày kia là mùng Một, chàng nhớ ở nhà cúng gia tiên nhé."

"Tôi nhớ rồi."

"Quang Triều, con cũng nhớ có mặt đấy."

"À... vâng ạ." – Ta giật mình đáp.

Nói chung là mọi cuộc trò chuyện của cha mẹ thường tẻ nhạt và kết thúc một cách đột ngột như thế, tuy ta là một kẻ độc thân mà ta còn biết rõ giữa vợ chồng nên tâm sự bằng hết mọi chuyện cho nhau nghe.

Nhưng ta thấy kỳ lạ thì không phải ai cũng thấy kỳ lạ, điển hình là mẹ ta xem việc này là việc hết sức bình thường.

Ta có cảm giác bà ấy luôn bị bỏ lại phía sau và chưa từng thắc mắc lẫn muộn phiền, giống như đây là việc thiên kinh địa nghĩa, giống như ở bên cạnh cha ta là sứ mệnh mà bà ấy phải làm, lại giống như là một chuyện gì đó vô cùng trân quý.

Ta chưa từng yêu ai, nhưng ta hằng nghĩ, có lẽ yêu một người đến quên mình sẽ có hành động như vậy.

Cha ta không quá mặn mà với mẹ, nhưng cũng chẳng mặn mà với ai.

Ta biết cha rất quan tâm đến mấy chị em bọn ta và gia đình này, nếu như một trong mấy đứa chúng ta gặp chuyện, cha sẽ là mái ngói che mưa chắn gió cho bọn ta cho dù trả giá bằng tính mạng mình.

Nhưng mà...

Ta vẫn luôn thắc mắc là do cha tính tình như thế, hay là cha không hề yêu mẹ.

Đương nhiên phận làm con cái như ta thì việc đó chỉ dừng ở thắc mắc, chứ ta không dám và cũng không thể hỏi rõ ngọn ngành.

Dù sao thì, đó cũng là quyết định của mẹ.

Vạn Kiếp nhà ta có một nơi gọi là Tĩnh Lầu, nghe đâu đã làm ăn phát đạt hơn hai mươi năm có lẻ, càng ngày càng nổi tiếng đến tận kinh kỳ.

Có điều dân địa phương như ta lại chưa từng dời nửa gót chân đến nơi đó.

Hôm sinh nhật lần thứ mười sáu của ta, anh hai Quang Úy nằng nặc lôi ta đến.

Ban đầu ta luôn miệng từ chối, nhưng anh ta lại vỗ ngực nói rất hùng hồn:

"Chú đã mười sáu tức là đã trưởng thành rồi, sắp lấy vợ rồi, cũng nên đi thăm thú cho biết đó biết đây, tránh để sau này trẻ không chơi già đổ đốn.

Yên tâm đi, nếu như chú ba có trách tội thì ta sẽ nhận hết trách nhiệm cho, anh mà chú lại không tin hở?"

Được rồi, bởi vì là anh ta nên ta mới không dám tin.

Quang Úy là con nhà bác hai, bên ấy dạy dỗ con cái không khắt khe như nhà ta nên Quang Úy không chút kỷ luật, nhà mẹ anh ta lại là dòng chính trực hệ của quan gia nên ông anh này hầu như không sợ trời không sợ đất, kế thừa hoàn toàn tinh hoa của bác hai.

Thế nên dù ta không tình nguyện nhưng cũng không có cách nào khác, cuối cùng lôi lôi kéo kéo đến Tĩnh Lầu.

Quang Úy là khách quen ở đây, vừa vào cửa là chủ quán đã đích thân ra tiếp đón, sau đó người dưới đưa bọn chúng ta vòng vèo qua mấy tòa đình đến một nhã gian.

Nhã gian này không tệ, một mặt giáp hồ nước lớn trồng đầy dương liễu soi bóng xuống mặt hồ, ngăn cách chỉ bằng một bức mành trúc mỏng, khi có gió thổi lại va vào nhau leng keng.

Ánh nắng trưa oi ả chiếu xuống mặt hồ, ngược lại bên trong lại cực kỳ thanh mát, có lẽ là do đa phần vật dụng đều làm bằng đá và ngọc thạch.

Ta ngồi trên ghế dài chống cằm nhìn ra bên ngoài, cảm thấy cảnh sắc này còn đáng xem hơn đám yến yến oanh oanh mà Quang Úy chuẩn bị.

Tuy mang tiếng là đưa ta đi thăm thú, nhưng Quang Úy lại trái một cô phải một cô, trên sập giữa phòng lại có một cô đàn hát, nhất thời cái oi ả của buổi ban trưa cũng lùi xa.

Ta nghĩ rằng thỉnh thoảng đến đây khuây khỏa sau những giờ học căng thẳng không phải là không thể, nhưng tất yếu là đừng có sự xuất hiện của tên Văn Bích này.

Trần Văn Bích gọi Chiêu Minh Vương là ông nội, Quang Úy lại gọi Chiêu Minh Vương là ông ngoại nên tính ra giữa ta và Quang Úy là anh em chú bác, giữa Văn Bích và Quang Úy lại là anh em cô cậu.

Gã Văn Bích này tính tình trái ngược với ta nên khiến ta ghét vô cùng, gã ta cũng cùng một giuộc với Quang Úy.

Bởi thế đôi ba lần Văn Bích từ kinh thành về thăm nhà bác hai, lần nào cũng lôi kéo mấy anh em bọn ta đi Tĩnh Lầu.

Trừ anh cả Tự đã lấy vợ không đi, rốt cuộc chỉ còn ba người rồng rắn kéo nhau đến nhã gian như thường lệ.

Ta vẫn theo thói quen nửa ngồi nửa nằm bên cạnh cửa sổ hướng mắt ra mặt hồ nghe hát, đột nhiên cửa bên ngoài xoạch một tiếng mở ra, gian phòng bỗng ngập trong ánh nắng trưa oi ả.

Ngược nắng, ta nheo mắt nhìn cái bóng nho nhỏ thoắt ẩn thoắt hiện rồi xộc đến chỗ ta, vừa sấn tới đã chỉ tay vào mũi ta quát:

"Trần Văn Bích, anh đùa cợt em gái tôi xong rồi còn dám đến chỗ này hả?"

Trước mắt ta là một cô nàng đương độ trăng rằm, tuy đã là thiếu nữ cao ráo nhưng giữa đôi lông mày vẫn còn nét trẻ con chưa tan hết, ánh mắt nàng sáng rỡ như mặt nước hồ ngoài kia.

Nàng vận bộ nam trang màu xanh nhạt, mái tóc dài cột gọn trên đỉnh đầu bằng một dải lụa xanh.

Còn Trần Văn Bích trong miệng nàng đã sớm vòng qua người ta, phóng một cái nhảy xuống hồ nghe "ùm" một tiếng rõ to, có lẽ gã không biết ngoài kia là mặt hồ rộng lớn.

Ta cau mày nhổm dậy, còn chưa kịp phân trần đã nghe tiếng chị thứ của ta inh ỏi ngoài cửa, lấp ló sau lưng chị ta là một cô nàng khác có gương mặt khá giống với cô nàng đứng bên cạnh ta.

Lúc này ta bất chợt hiểu ra, có lẽ là bà chị nhà ta đưa người đến bắt gian, nhưng người ta lại bắt gian nhầm thằng em mình.

Thì ra hôm nay quý nhân trên kinh xuống, hai cô nàng lạ mặt chính là hai công chúa út Thượng Trân và Thiên Trân.

Bởi vì ta thường ngày chỉ ở trong phủ đệ, các em ấy thì ở mãi trong cung nên từ lâu lắm rồi ta chưa từng nhìn qua các em ấy trông ra làm sao.

Sự việc vừa hay đến tai cha ta, qua mấy lời thêm mắm dặm muối của bà chị thứ nhà ta, ta đinh ninh rằng cha sẽ nổi trận lôi đình vì đứa con vốn ngoan ngoãn nay lại dám trốn nhà theo phường ăn chơi trụy lạc, sau còn để cho rắc rối dính dáng với nhà Chiêu Minh vương và cả công chúa trong cung.

Sau khi đoàn quý nhân an ổn rời Vạn Kiếp, ta đã nhắm mắt chuẩn bị sẵn một trận đòn roi, cha tuy là người thấu tình đạt lý nhưng cũng không phải là kiểu người dễ thỏa hiệp.

Ta từng trông thấy cha tức giận vung roi lên lưng chị thứ chỉ vì chị ấy lén cha tự ý định đoạt, ngày đó nếu không phải quan gia vươn tay ra đỡ, không tránh khỏi có khi chị ta đã nằm giường ít nhất là vài ba ngày.

Nhưng lúc này trái ngược với tưởng tượng, ta bỗng nhiên thấy vẻ mặt cha cứng đờ.

Từ trước đến nay ta chưa từng nhìn thấy vẻ mặt này của người, vừa mất mát lại vừa có chút ưu thương, còn mẹ ta chỉ cười nhè nhẹ, trong mắt cũng chất chứa nỗi niềm tâm sự.

Ta biết chắc chắn giữa bọn họ đã xảy ra chuyện gì đó, từ rất lâu rồi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 9: Nguyên Đào (2)


Ba ngày sau cha gọi ta vào phòng riêng nói chuyện, ta mới được biết là cha đã cầu hôn công chúa Thượng Trân cho ta, công chúa Thiên Trân cũng được gả cho Uy Túc công Trần Văn Bích.

Ta với gã ta lại một lần nữa bất phân thắng bại.

Ta bàng hoàng đứng bật dậy, không tin vào tai mình, trước giờ cha nào phải là một người tùy hứng như thế?

Theo tính của cha, chắc chắn là phải đợi ta có người trong lòng, sau đó đợi ta mở lời chứ không bao giờ người tùy ý quyết định hạnh phúc cá nhân của ta một cách chủ quan và đột ngột.

Nghe ta chất vấn, cha không hề nhíu mày, chỉ nhẹ giọng hỏi:

"Con có người trong lòng rồi ư?"

"Chưa, chưa ạ..!" – Ta đỏ mặt, ấp úng đáp.

"Ta cưới nó cho con chứ đâu phải cưới cho ta, con căng thẳng như vậy làm gì?"

"Nhưng con, con với em ấy nào có ý gì với nhau đâu ạ?"

Cha ta hắng giọng, đáp:

"Hôn nhân là do cha mẹ định đoạt, cưới vợ phải cưới liền tay, nếu như không xin ngay nhỡ đâu có người giữa đường nhảy ra đánh cướp thì thế nào?"

"Nhưng em ấy là công chúa ạ..."

"Thì đã sao, nó là công chúa nên càng phải gấp rút, con nhìn Huyền Trân mười lăm tuổi đã hứa hôn cho man tộc, nếu như không ra tay trước thì có khi dăm hôm nữa quan gia lại ban cho kẻ khác để đổi đất đấy thay!"

Ta nghe chất giọng cha có phần trào phúng lẫn mỉa mai, hẳn là cũng không mấy hài lòng về việc này.

Thật ra đây không phải ý ta muốn nói, nhưng ta lại không dám hỏi lại cha.

Cha thở dài một tiếng, lại bảo ta:

"Ta biết con giống ta, nếu như giống ta, chắc chắn con sẽ thích nó."

Kỳ thực ta không hiểu rõ ý cha như thế nào, nhưng một cuộc hôn nhân rơi đùng từ trên trời xuống khiến ta vừa hoảng hốt vừa lo sợ.

Chính bởi ta vẫn chưa hiểu ý cha nên ta mới sợ, chẳng biết cha làm vậy là có ý nghĩa gì, có dự tính nào hệ trọng trong đầu hay không.

Riêng ta, cũng chẳng biết phải đối xử như thế nào với nàng cho thỏa nữa.

Buổi tối ta nằm gác tay lên trán, lúc ánh trăng xuyên qua cửa sổ chui vào phòng ta, ta bỗng nhiên nhớ tới gương mặt vừa xa lạ mà tựa như quen thân của nàng.

Năm nay nàng mới mười lăm, gương mặt tròn trĩnh non nớt như ánh trăng đêm rằm, chẳng biết nàng có người trong lòng chưa, hay vẫn đang bối rối như ta hôm nay vậy.

Kỳ lạ một điều là tuy chỉ nhìn nàng một hai lần, nhưng ánh mắt làn môi nàng ta lại nhớ rất rõ.

Làn môi ấy mượt mà như lụa, ánh mắt nhung huyền lại như bầu trời đêm lấp lánh ánh sao.

Ta bất chợt vươn tay, giống như cảm nhận được mái tóc mềm mại của nàng lướt qua, khiến ta dâng lên một nỗi xúc động.

Lúc này mùi hương hoa cúc trước sân bỗng nhiên theo gió ùa vào ngập trong gian phòng, ta nhoài người dậy nhờ ánh trăng mùa thu dõi tầm mắt ra ngoài cửa sổ, thì ra hoa cúc đã nở vàng rực cả một góc sân.

Hôn lễ của ta và nàng diễn ra khi chưa đầy một tháng kể từ ngày chúng ta gặp nhau, lúc này ta vẫn còn chưa chấp nhận được sự thật, luống cuống tay chân làm theo hết thảy mọi thứ mà anh cả Tự chỉ dẫn, bên cạnh đương nhiên không thể thiếu anh hai Úy ôm bụng cười bò.

Ta nắm chặt lòng bàn tay, thầm dặn lòng xong xuôi mọi chuyện nhất định phải tẩn cho anh ta một trận mặc kệ anh ta có thân phận gì, bất kể lớn nhỏ gì hết ráo.

Tính tình ta vốn cứng nhắc, nên ta có thể cảm nhận rõ gương mặt mình hẳn là đang đỏ lựng như quả đào chín cây.

Giữa tiết trời thu se lạnh ấy vậy mà ta lại đổ đầy mồ hôi trên trán, giọt mồ hôi lăn xuống hai bên thái dương, chảy xuống cằm rồi rơi trên tay áo ta ướt đẫm.

Cô công chúa nhỏ vẫn ở ngay bên cạnh ta, yên lặng theo ta bái lạy cha mẹ trời đất, đôi bàn tay nhỏ xíu nằm trong tay ta khẽ run.

Ta bất chợt căng thẳng, không biết dưới lớp khăn lụa mỏng có phải là cô nàng tinh nghịch đã chỉ tay vào mũi ta ngày hôm ấy hay không, lại ngẫm nghĩ hai nàng là song sinh, liệu có khi nào cha ta sẽ hỏi cưới nhầm người?

Lúc chỉ còn hai người chúng ta, trái tim ta bỗng dưng treo ngay trên cổ họng, ta chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ căng thẳng vì một người con gái như thế.

May sao lúc ta vén khăn che mặt, vừa nhìn thoáng qua một cái ta đã biết ngay đó là cô nàng ta hằng tơ vương.

Những tưởng chỉ một mình ta bối rối bởi tình huống này, ai ngờ cô nàng liều lĩnh ấy lại còn căng thẳng hơn cả ta, vừa trông thấy mặt ta đã vội rối rít xin lỗi.

Sau này theo lời nàng thuật lại, là vì hôm ấy sắc mặt ta lạnh lùng quá mức, nàng cứ tưởng đâu ta vẫn còn giận dỗi vì chuyện nàng nhận nhầm người.

Ta bật cười, lúc này nàng mới giương đôi mắt xoe tròn kinh ngạc nhìn ta, mãi một lúc lâu thì ngơ ngẩn bảo:

"Ôi, chàng cười lên trông đẹp quá."

Đây cũng là lần đầu tiên có người khen ta như vậy, quả thực khiến ta không biết phản ứng thế nào.

Thời đại bây giờ kể cả công chúa trong cung cũng có thể táo bạo như vậy hay sao?

Cha ta có vẻ rất hài lòng với cuộc hôn nhân này.

Có lẽ do ta suy nghĩ nhiều, cuộc sống tân hôn của ta, cha chưa từng can thiệp tới, có vẻ chỉ đơn thuần là cha muốn cưới một người con gái tốt đẹp nhất cho ta thôi.

Kể từ ngày đó ta và Thượng Trân sống một cuộc sống rất kỳ lạ.

Tính tình của nàng trái ngược với ta, nàng tinh ranh đến độ đôi khi ta đành phải khoanh tay bất lực nhìn nàng thở dài.

Có điều nàng không giống chị thứ hành động bất chấp theo cảm tính của ta, nàng rất có mắt nhìn, ít nhất là đối với cha ta chưa hề để lộ ra sơ hở.

Ngày đầu cùng ta làm vợ chồng, nàng vừa biết tên ta đã che miệng cười trộm rồi ấp úng bảo Cấm thành cũng có một cung điện gọi là Quan Triều.

Ta ho khan mấy tiếng, sau đó nghe cha ở bên cạnh bật cười bảo:

"Vậy gọi nó là Nguyên Đào, Nguyên Đào trong "nguyên nguyên kinh ba đào hải lãng"."

Ta kinh ngạc nhìn cha, có phần không tin vào tai mình.

Thực ra cha ta rất bài xích việc mấy đứa chúng ta học theo lề lối của bọn phương Bắc, người Việt cũng ít ai tự đặt tên hiệu.

Riêng ta cũng chỉ vì là một kẻ yêu thơ ca nhạc họa nên tự ý bày vẽ, trước giờ cha cũng chưa từng gọi ta như thế bao giờ.

Ai ngờ lần này chỉ vì Thượng Trân nói thế mà cha thay đổi, khiến ta không khỏi dùng ánh mắt khác nhìn nàng.

Cha ta hắng giọng rồi quay đi, giả vờ như không nghe không thấy chuyện gì.

Ta biết thật ra cha rất quan tâm tới ta, nếu không sao lại biết được câu "nguyên nguyên kinh ba đào hải lãng" cơ chứ?

Thượng Trân rất yêu hoa cúc, hôm đầu tiên ta với nàng cưới nhau, buổi sáng mở mắt đã thấy nàng như con chim nhỏ sà xuống giữa vườn hoa.

Ta tựa vào cửa sổ chống cằm nhìn nàng, giữa cái nắng nhàn nhạt buổi sớm, thiếu nữ xinh đẹp như át đi tất cả hương sắc của loài hoa.

Ta không buồn dời tầm mắt, cảnh tượng này mất cả đời ta cũng chẳng thể nào mà quên được, giống như vô tình nhặt được một cành hoa, may sao lại là cành hoa kiều diễm nhất.

Sau đó khắp khu vườn ta chỉ trồng mỗi hoa cúc, có loại hoa nhỏ tím biếc, có loại trắng tinh như sương, cũng có loại vàng rực như ánh mặt trời, giống như trên đời này ta chỉ cần một người là đủ.

Lúc này ta mới biết quyết định dạo đó của cha ta chuẩn xác đến độ nào.

Thượng Trân thường giả vờ cung kính gọi ta là Cúc đường chủ nhân, ta cũng cúi đầu đáp lại:

"Cúc đường phu nhân."

Sau đó cả hai ta lại ôm bụng cười.

Sở dĩ nàng gọi ta như thế vì biết ta ngày thường thích cuộc sống vẽ tranh ngâm thơ.

Ngày trước Thượng hoàng cũng thích thơ, sau này anh cả quan gia nhà nàng càng thêm uyên thâm lĩnh vực đó nên ngày thường nàng hay đem thơ của ta ra bình phẩm.

Ta kinh ngạc cảm thấy, vợ ta là người rất có kiến giải.

Bản tính ta vốn lạnh nhạt ít nói, nàng lại như con chim sáo líu lo bên tai ta suốt ngày, có lần ta đường đột nghĩ tới nếu mẹ ta có tính cách như nàng, vậy thì... thái độ cha ta có khác đi không?

Bởi chỉ trong thời gian ngắn ngủi có nàng, mà trong phủ bừng bừng sức sống hơn hẳn, gương mặt lạnh lùng như sương giá của cha cũng có độ ấm hơn rồi.

Tuy Thượng Trân là công chúa nhưng nàng lại sống rất giản dị, nàng đối xử độ lượng với kẻ hầu người hạ trong nhà, ăn mặc hết thảy đều theo sắp xếp của phủ đệ, chưa từng than trách với ta việc gì.

Những khi tựa vai ta ngắm trăng, nàng vừa ngáp ngắn ngáp dài vừa thủ thỉ:

"Ra khỏi cung cấm như thế này, em thật lòng rất thoải mái.

Ngày xưa nếu mẹ em không bị trói buộc trong cung, có khi tính tình bà ấy đã không khó khăn như bây giờ.

Ôi, chẳng có ngày nào là em không bị mẹ mắng cả."

Ta phì cười:

"Trước mặt cha ta em che giấu rất kỹ, chẳng lẽ trước mặt thái hậu lại không như vậy ư?"

Nàng xì một tiếng, đanh giọng đáp:

"Ai nói là che giấu, thật ra cha thương em nên mắt nhắm mắt mở đấy thôi.

Còn đối với mẫu hậu thì..." – Nói đến đây nàng thở dài một tiếng – "Em với mẫu hậu là cùng một kiểu người, em nghĩ gì bà ấy biết hết, ngược lại những gì bà ấy nghĩ em đều có thể đoán ra.

Khác biệt ở chỗ bà ấy là mẹ em thôi."

Ta ồ lên ra chiều đã hiểu, nàng bèn cong môi tỏ vẻ đắc ý.

Ta nhìn vẻ giương giương tự đắc của nàng, không kìm được vươn tay bấu vào đôi gò má phúng phính như trẻ con.

Vẻ nhu tình mật ý hiện lên trong mắt, cưng chiều không biết bao nhiêu cho đủ, thầm nghĩ đây mới đúng là dáng vẻ của một cặp vợ chồng.

Năm dài tháng rộng, Thượng Trân sinh cho ta được hai người con một trai một gái, ngày thường nàng vẫn hay than thở bản thân không thể như bà nội sinh ra sáu người con ai nấy đều tài giỏi cho ta dù nàng cũng là công chúa y như bà nội.

Ta lại không nén được nói:

"Con cái quý ở ngoan ngoãn không quý ở số đông, dẫu đến mười đứa mà như Lưu Bang thì cũng chẳng vui sướng."

Thượng Trân ôm bụng cười, trách ta:

"Chàng đem lời dạy của ông nội xào nấu bừa bãi, không sợ ông tìm chàng mắng à."

Ta thở hắt ra:

"Sinh thời ông nội thương ta nhất nhà, vả chăng lời dạy thì phải tùy thời mà dùng, dùng được cho mọi việc ấy mới là lời dạy đúng đắn chứ."

Nàng gật gù, xem chừng cũng tâm đắc lắm.

Thực ra thì đó chỉ là lời ta tùy tiện nói ra để lừa phỉnh nàng thôi.

Con nhóc lớn nhà ta mới bốn tuổi còn chưa học xong chữ nghĩa, nhưng ngày thường lại rất thích nghe ca dao, chỉ cần nghe qua là thuộc.

Vợ ta bảo sở thích này của nó rất giống thái hậu mẹ nàng, cho dù nếu xem xét kỹ thì bà ấy đa phần là úp quyển ca dao lên mặt rồi đi ngủ.

Con nhóc tuổi nhỏ sức khỏe tốt đương nhiên chẳng chịu ngủ nghỉ, thành ra lại hành hạ mẹ nó phải ê a cả ngày.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Ngoại Truyện 10: Nguyên Đào (3)


Được dăm hôm vợ ta chịu không nổi nữa, trốn miết trong phòng ta, lúc thì mài mực, lúc thì may áo, tự biến mình thành kẻ bận rộn nhất nhà.

Con nhóc bèn ỉu xìu đi tìm cha ta, ai ngờ cha lại chẳng nề hà con trẻ phiền phức, vui vẻ tự giác làm kẻ tiếp theo bị con bé quấy rầy.

Trước nay ta lại không biết cha thông thuộc ca dao như thế, lúc đọc còn rất để tâm giảng giải.

Ánh mắt người ánh lên vẻ tươi sáng của tuổi trẻ, giống như từng câu từng chữ đều đã nằm lòng.

"Bao giờ cây chuối có cành,

Cho sung có nụ, cho hành có hoa.

Bao giờ chạch đẻ ngọn đa,

Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.

Bao giờ cây cải làm đình,

Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta."

"Ông ơi, chạch đẻ ngọn đa là sao ạ?" – Nhóc con thắc mắc hỏi.

Cha xoa đầu con nhóc, cười đáp:

"Đại loại như một việc gì đó con rất muốn làm nhưng không tày nào làm được."

"Trên đời này có việc gì bản thân muốn nhưng không thể làm được ư?" – Nhóc con lại ngây thơ đặt nghi vấn.

"Ồ, có những chuyện phải đợi lớn lên con mới có thể thấu đáo."

"Vậy con sẽ ăn thật nhiều để lớn lên thật nhanh."

Lúc này cha chỉ vuốt râu cười cười, ánh mắt nhìn ra xa xăm như muốn nói: "Thực ra làm người lớn rất mệt mỏi, đến khi con lớn lên chắc chắn sẽ cảm thấy câu nói ngày hôm nay hết sức buồn cười."

Năm nay cha đã sắp sáu mươi, việc trên triều ta cũng khuyên người nên hạn chế.

Ban đầu cha không để tâm lắm, dẫu sao lão già Trần Khắc Chung – kình địch của cha đã làm đến chức Tả phụ, còn ông em rể Ngũ Lão của cha tuổi cao nhưng vẫn dũng mãnh đánh tây dẹp đông, lần lượt được ban Hổ phủ, Vân phù, Quy phù.

Cha nào chịu thua kém, vẫn cần mẫn lên triều, cần mẫn dùng lời lẽ sắc bén của mình để mắng Khắc Chung.

Cũng may con bé nhà ta thông minh hiểu chuyện, nhìn thấy tình cảnh như thế thì như hiểu lòng ta, trong lúc ở cạnh cha thì nó luôn bảo:

"Ông nội vất vả vì nước cả đời, đến nay cũng nên nghỉ ngơi đi thôi, nhà chúng ta còn có cha mà!"

Những lời này ta chưa từng nói với con nhóc, chẳng biết sao nó lại có thể nói cặn kẽ rõ ràng.

Ta và Thượng Trân nhìn nhau, cảm thấy sau này những việc không làm được cứ để cho con gái.

Quả nhiên có con gái tốt thật.

Sau đó chẳng biết là vì mưa dầm thấm đất hay vì lời nói của con nhóc làm rung động quả tim vì nước quên thân của cha, cha thật sự ít màng tới triều chính nữa, ngày ngày cùng hai đứa cháu nhỏ lấy việc trồng rau nuôi cá làm niềm vui.

Kể cả mẹ ta cũng hiếm hoi được cha quan tâm đến, trên gương mặt đầy nếp nhăn của cha cũng bắt đầu nhiều hơn những nụ cười.

Vợ ta đứng nấp sau vách nhà, nheo mắt nói với ta:

"Bây giờ thì em biết tại sao chàng lại cười đẹp như thế rồi, nhìn xem cha đã già nhưng cười lên vẫn đẹp trai như vậy!

Ái chà, nhìn đến giống như được gột rửa hết mọi phiền não âu lo."

Ta đắc ý đáp:

"Thành Vạn Kiếp này chưa ai qua được cha đâu, trong số bốn vị vương tử năm đó thì cha là xuất sắc nhất đấy.

Đương nhiên là cả ngoại hình lẫn tài năng.

Còn ta thì giống cha.!"

Thượng Trân xì một tiếng, bảo:

"Chàng ư?

Còn thua xa lắm!"

"Thời này của chúng ta, quả là chẳng thể sánh bằng thời của cha được." – Ta thật lòng đáp.

Rời khỏi quan trường được hơn một năm thì cha mất.

Lúc nằm trên giường hấp hối, cha nắm tay ta đặt lên tay nàng, dặn ta phải đối xử tốt với nàng, một đời một kiếp một đôi.

Ta hứa với cha, nhưng cho dù cha không dặn, trong lòng ta cũng tâm niệm đời này chỉ có mỗi một mình nàng.

Vợ ta ôm hai đứa nhỏ khóc như mưa, còn mẹ thì chỉ lặng lẽ rơi nước mắt, nhưng trong mắt bà ta thấy giống như mất đi một thứ gì đó quan trọng lắm, như là cả linh hồn.

Các chị trên kinh về không kịp, lúc tề tựu đầy đủ thì cha đã đi rồi.

Ta mặc đồ tang đứng ở cửa, ngước mắt lên nhìn trời, đời này của cha đúng là khó khăn quá.

Quan gia truy phong cho cha làm Thái úy, nhưng người đã mất rồi ấy mà, chút vinh quang này có cảm nhận được đâu.

Huống gì sinh thời cha còn là kẻ chẳng hám danh hám lợi.

Sau này có lần mẹ nói với ta, trong lòng cha quả thật có người khác.

Chỉ là người này không thể được, về tình về lý đều không thể được, vĩnh viễn cũng không thể được.

Ngày đó có lần vì chần chừ cha đã để lỡ hẹn với người con gái mình yêu, tuy lần lỡ hẹn đó kỳ thực là may mắn, nhưng nó đã để lại nút thắt khó cởi trong lòng cha.

Ngày ấy, không cần nói cũng biết cha đã hối tiếc như thế nào.

Cha như con chim sợ cành cây cong, sau này đối với việc của ta, cha không cho phép mình chậm trễ thêm một lần nào nữa.

Nếu hỏi trong lòng cha có mẹ không?

Đáp rằng có, nhưng chẳng qua đó lại không phải là thứ tình cảm cốt lõi trong mối quan hệ vợ chồng, nhìn qua thì thật sự êm đềm đầm ấm, thực tế lại lạnh lùng băng giá đến thấu xương.

Trái tim của cha rõ ràng vẫn còn một chỗ dành cho người nọ, tuy không nhiều nhưng nó vốn đã trở thành tâm niệm và tín ngưỡng, mãi mãi cũng khó lòng mà thay đổi được.

Nếu đáp rằng không e lại chẳng thoả đáng, bởi ăn đời ở kiếp với nhau bao nhiêu năm, có với nhau ba mặt con thì tính bằng gì?

Có trách thì chỉ trách cha quá cố chấp, mãi mãi cũng chẳng tài nào tháo gỡ được nút thắt trong lòng.

Nhưng ta tin vào đoạn cuối cuộc đời, có lẽ con bé nhà ta đã làm cho cha sáng tỏ.

Tuy muộn, nhưng có còn hơn không.

Mẹ ta nói ra, giống như kể một câu chuyện xưa, vô cùng bình thản.

Năm dài tháng rộng, giữa vườn hoa cúc vàng ươm, hai đứa trẻ nhà ta dần trưởng thành.

Ta cảm thấy mình may mắn hơn cha rất nhiều, ít nhất giữa cuộc đời đầy chông gai này ta biết mình muốn gì và cần gì, đương nhiên quý giá nhất vẫn là giữ trong tay thứ mình muốn.

Cha, hẳn là lúc cưới Thượng Trân cho ta, cha xem như đã đạt thành tâm nguyện rồi.

Cưới Thượng Trân được mười năm thì hay tin cô em vợ Thiên Trân bệnh mất, ta đưa vợ buồn bã đến đưa tang thì thấy Trần Văn Bích khóc lóc lăn lộn trên mặt đất, phải nhờ người đỡ mới có thể ra tiếp vua.

Vợ ta cảm động trước tấm chân tình như thác, vừa quệt nước mắt vừa hỏi ta:

"Nhỡ may sau này em chết, liệu chàng có buồn không?

Ôi, nghĩ tới cảnh này em vừa muốn vừa không, vừa không muốn thấy chàng buồn bã mà cũng chẳng muốn chàng sẽ nhanh chóng lãng quên mình."

Ta hậm hực nhìn nàng, đáy lòng dâng lên một nỗi khó chịu, đáp:

"Nàng chỉ cần không nói gỡ là ta đã đội ơn nàng rồi!"

Lúc đó ai nấy kể cả ta cũng cho rằng Văn Bích sẽ không lấy vợ khác, nhưng rồi ít lâu sau gã lại lấy công chúa Huy Thánh.

Kể ra thì triều ta có lệ phò mã thì không được tái giá, có điều Văn Bích bất chấp luật lệ như thế quả khiến ta nhìn gã bằng một con mắt khác.

Loại người nói một đằng làm một nẻo này chẳng biết lấy tư cách ở đâu mà có thể ngần ấy năm đem so với ta.

Nhưng Thượng Trân và Thiên Trân vốn là một cặp song sinh, ba năm sau khi Thiên Trân mất nàng cũng đổ bệnh nặng rồi nằm liệt giường dù ta đã cố hết sức để giúp nàng giành lại sự sống.

Đêm đó nàng tựa vai ta ngửa đầu ngắm trăng, bàn tay nắm chặt lấy tay ta chẳng muốn rời.

Nhưng cuối cùng chính nàng lại bảo:

"Nhỡ mai em chết, chàng hãy như Uy Túc công mà lấy vợ khác, đừng bận lòng cho em.

Việc này là em nói thật, không phải nói lẫy chàng.

Em không có đức, chỉ sinh cho chàng hai đứa con, chàng đừng vì cái chức danh phò mã vô dụng đó mà làm trễ nải.

Nguyên Đào, chàng là người văn võ toàn tài, không ham vinh hoa, gả cho chàng kỳ thực em không xứng.

Nhưng em chấp nhận trèo cao, em rất hãnh diện vì được làm vợ chàng."

Ta bật cười, cười đến rơi cả nước mắt.

Đêm đó Thượng Trân vĩnh viễn bỏ lại ta, đột nhiên ta hiểu được cảm giác của mẹ dạo ấy.

Ngày đưa ma nàng ta chẳng rơi nỗi một giọt nước mắt, có lẽ những đêm trông nàng ốm, nhìn nàng giành giật mạng sống với tử thần đã trút cạn đi nước mắt của ta.

Ta bình thản nhìn họ làm lễ, nhìn họ khóc lóc, đáy lòng chẳng dâng lên nỗi một gợn sóng nào.

Quan gia đanh mặt chất vấn ta, ta cũng tự hỏi, chả nhẽ mình lại là người vô tình đến thế?

Chỉ là từ đó quả tim ta như khoét đi một lõm, ta thật tình chẳng thể đối với người khác nảy sinh mảy may suy nghĩ quá phận nào, trong đầu cả đêm lẫn ngày chỉ là nụ cười và giọng nói của người vợ quá cố.

Ta biết vợ ta trước lúc lâm chung nói như thế để an ủi ta, trên đời này làm gì có người đàn bà nào lại thực lòng muốn chồng mình lấy người khác chứ?

Nhìn thấy cuộc đời chẳng còn gì ý nghĩa, cuối cùng ta tìm về cửa Phật, chẳng hỏi hồng trần.

Đám bạn thơ hay qua lại với ta gọi ta là Cúc Đường chủ nhân, đó cũng là việc cuối cùng mà ta có thể dùng để tưởng nhớ về nàng.

"Trên sông gió nhẹ mơn man,

Rượu trong, chiều xuống mênh mang, nghiêng bầu

Nước dâng, xào xạc khóm lau

Nhạn chìm mây biếc nhuộm màu trời xanh.

Chuông ngân khói bến bồng bềnh

Chèo khuya tung nước xô ghềnh lạnh thay!

Kinh xa tưởng nhớ vơi đầy

Thuyền neo sông vắng đêm này ngắm sao."

Người đương thời đem ta so sánh với Văn Bích, ta lại không mấy để tâm, dẫu sao trước giờ ta và gã bị so sánh cũng không ít lần.

Nhưng lần này xem như ta đã thắng gã một ván rồi vậy.

Đời này của ta bình yên lớn lên, bình yên cưới một người con gái, bình yên trải qua cuộc sống quan trường, cuối cùng bình yên với câu kinh kệ.

Hẳn ta được xem như là kẻ may mắn nhất rồi.
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Lời kết


Dạo gần đây tôi lướt thấy rất nhiều bài viết trên các phương tiện truyền thông đều nói về họ Trần, từ các truyền kỳ về tình yêu, về lòng yêu nước lẫn những mặt tối của thời đại đều hết sức được giới trẻ quan tâm, không phủ nhận được phần lớn những chuyện của họ Trần lại rất hấp dẫn và có tính điện ảnh.

Thật ra chính tôi cũng đột nhiên cảm thấy khó hiểu vì điều đó, còn nhớ cái ngày tôi nảy sinh ra ý tưởng của câu chuyện này (cũng có thể là vì thời đó tôi chưa có điều kiện nhiều để tiếp xúc với internet), lịch sử đối với giới trẻ là một cái gì đó rất nhàm chán và cứng nhắc.

Không nói về lịch sử cận đại, bởi nó xảy ra cách thời nay không xa và có điều kiện để ghi chép hết sức kỹ lưỡng và rõ ràng, tôi đang nói về trung đại và cổ đại.

Tôi từng nhiều lần trằn trọc tại sao mẹ của tôi lại có thể ghi nhớ được tên của một ông vua Trung Hoa nào đó từ năm mấy trăm nào đó mà lại không biết được tên của một ông vua nào ở Việt Nam, hay đơn giản là vị tướng nổi danh của Việt Nam đã được ghi vào bảng xếp hạng của thế giới.

Không dám bình phẩm nhưng tôi chỉ hy vọng nỗ lực của mình một phần nhỏ có thể tiếp cận được với bạn bè hay người thân.

Những tháng đầu năm 2016, lúc ấy tôi vô tình đọc được những bài viết nói về việc những khu lăng mộ vua Trần bị đập thủy điện tàn phá.

Đơn thuần chỉ là phẫn nộ, sau đó tiếp tục vô tri đọc thêm những đường link có liên quan về các sự kiện thời Trần, không ngờ tới lại vô cùng hứng thú.

Tôi hồ hởi kể cho mẹ nghe, Trần Khắc Chung và Trần Khát Chân là hai người khác nhau, Trần Khắc Chung trong cải lương mẹ nghe chưa chắc là tư thông với Huyền Trân được vì khoảng cách tuổi tác quá lớn, Phạm Ngũ Lão đánh đâu thắng đó chưa một trận thua.

Càng đọc lại càng cảm thấy hay, càng cảm thấy hóa ra nước ta mới thật sự là nơi có những mẩu chuyện lịch sử đầy tính nhân văn, dùng tình yêu vượt lên mọi số phận định kiến, thật sự thì..cũng lãng mạn đó chứ.

Thời Trần nhân tài vô số, dù ngẫu nhiên chỉ ra một người cũng là kẻ tài năng.

Ấn tượng nhất không ai khác ngoài chú sáu Trần Nhật Duật, lúc tôi đọc xong còn ngơ ra mất một lúc, trên đời này còn có người hoàn hảo như vậy ư?

Đáng tiếc thời đó tôi lại muốn viết một bộ cổ trang gia đấu, lại mang yếu tố điền văn, lại phải có cung đấu, còn phải kèm thêm chiến tranh, bởi thế nam chính đột nhiên rơi vào tay của quan gia.

Khai bút vào ngày 8/3/2016 với tưởng ban đầu là một bộ truyện xuyên không, trở về trả thù gia đình hại chết nữ chính, sau đó là một cuộc phiêu lưu của nữ chính vào Hưng Đạo Vương phủ, xong thì vào cung đấu một trận với toàn thể phi tần, dẫn quân ra sa trường đánh giặc Nguyên Mông, sinh con đẻ cái, cuối cùng kết thúc cuộc đời huy hoàng rồi phản xuyên.

Không phải suốt chặng đường hơn tám năm này tôi liên tục viết, mà chính là liên tục đắp chiếu, lại sửa, lại đắp chiếu.

Nội dung gốc tôi viết liền một mạch từ đầu đến khi cuộc chiến lần thứ hai nổ ra năm 1285, lúc đó Trần Quốc Toản chỉ vừa mới xuất hiện, sau đó lại vì những bộn bề của cuộc sống mà dừng lại.

Đó là năm tôi mới lên đại học.

Đến hiện tại, đọc lại những giai đoạn thuở anh ba còn là chàng trai của thanh xuân với thứ tình yêu nhẹ nhàng man mát, cuối cùng khiến cho người ta khắc cốt ghi tâm, đó cũng giống như mối tình đầu hay dang dở của mỗi con người.

Mở đầu là Quốc Tảng, kết thúc cũng là Quốc Tảng, Quốc Tảng cuối cùng lại là người khiến tôi vấn vương nhiều nhất.

Đến đây cũng xin mạn phép khép lại đoạn đường của "Nào hay xuân mênh mông", cảm ơn quý độc giả đã giành tình cảm cho truyện.

Trăm năm sau nhà Trần lụn bại, vừa hay tôi có ý tưởng mới về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Hẹn gặp lại các bạn ở "Nửa mạn phong ba", nơi vừa có yếu tố xuyên không, chiến tranh, hài hước, và chắc sẽ không thiếu yếu tố ngược.

Một lần nữa cảm ơn các bạn rất nhiều.

25/06/2023
 
[Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
Tản mạn về câu chuyện dã sử - Nào Hay Xuân Mênh Mông


1.

Đôi Lời Về Nhân Vật Chính – Trần Thị Tĩnh (Tô Linh Lan, Tuyên Phu Nhân)

Tuyên Từ Hoàng hậu

Tuyên Từ hoàng thái hậu (chữ Hán: 宣慈皇太后, ?

- 14 tháng 9, 1318), là hoàng hậu thứ hai của Trần Nhân Tông.

Tiểu sử:

Hầu như không có nhiều thông tin về bà.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà là em gái của Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu, con gái thứ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành Trưởng công chúa.

Theo vai vế, bà là dì ruột của Trần Anh Tông.

Sau khi Bảo Thánh hoàng hậu qua đời (1293), bà được quyền quản lý mọi việc trong Hậu cung.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi nhận, "Bấy giờ, Tuyên Từ thái hậu từ khi Khâm Từ băng, phải quản việc trong cung, tính người khó khăn nóng nảy, dạy bảo rất nghiêm, mà vua vâng theo rất kính cẩn".

Năm Hưng Long thứ 16 (1308), Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà.

Năm Hưng Long thứ 22 (1314), Anh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Mạnh kế nghiệp, tức Trần Minh Tông.

Theo lý thuyết, bà là tổ mẫu (trên danh nghĩa) của Minh Tông, nên có lẽ tôn làm Thái hoàng thái hậu.

Anh Tông khi ấy từng hỏi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chuyện này và tấn phong, tuy nhiên việc này chép sau khi Tuyên Từ Thái hậu băng, và rất có thể việc tấn tôn là truy tặng, như trường hợp Anh Tông đã làm khi lập Minh Tông làm Thái tử (1309), đã tấn tôn mẹ ruột Khâm Từ Thái hậu làm Thái hoàng thái hậu.

Năm Mậu Ngọ thứ 5 (1318), ngày 19 tháng 8, bà mất.

Mùa đông năm ấy, bà được an táng ở bên cạnh lăng của Nhân Tông.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Trước đây, Nhân Tông từng dặn lại Anh Tông ngày sau phải đem dì (tức là Tuyên Từ Thái hậu) táng ở cạnh lăng và vẽ bản đồ chôn cất thành huyệt hình thước thợ trao lại.

Đến đây, Thượng hoàng theo di mệnh, đào cạnh lăng để chôn.

Đất lăng nhiều bùn lầy, tiếng đào đắp vang động cả khu lăng.

Thượng hoàng có vẻ lo.

Trước đây, khi sắp chôn Thái hậu vào đấy, các quan tâu rằng không nên làm kinh động lăng tẩm.

Thượng hoàng nói: "Tiên đế có lệnh, ta không dám trái.

Nếu có tổn hại gì, ta sẽ chịu cả".

2.

Về câu chuyện tư thông của Khánh Dư và Quỳnh Trân

Trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần thứ nhất, Trần Khánh Dư là tướng trẻ, lập được công lao nên được Thái thượng hoàng đế Trần Thái Tông nhận làm con nuôi.

Nhờ đó, ông được tự do ra vào cung cấm và Trần Khánh Dư đã gặp Thiên Thụy công chúa.

Hưng Đạo vương Trần Hưng Đạo đã hỏi xin cưới Thiên Thụy công chúa cho con trai là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn.

Trần Thánh Tông đã hứa gả.

Chuyện vỡ lở, Trần Khánh Dư bị phạt vì tội thông dâm, bị xử đánh đến chết.

Tuy vậy ông được xử nhẹ nên thoát chết, bị phế truất binh quyền và tịch thu gia sản.

Năm 1282, trước Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần thứ hai, Trần Khánh Dư được phục chức.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại, Trần Khánh Dư lại không sửa hết lỗi lầm, đây có lẽ ý chỉ việc ông vẫn còn quan hệ qua lại với Thiên Thụy công chúa.

Theo dã sử, khoảng đầu năm 1284, Trần Nhân Tông buộc lòng phải lệnh cho Thiên Thụy công chúa xuất gia về một vùng quê hẻo lánh ven sông Văn Úc.

3.

Câu chuyện Phạm Hữu Thế đợi Trần Hưng Đạo

Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là Dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu.

Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì đi theo.

Đến lúc quan quân thua trận, thuỷ quân tan cả, Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi.

Dã Tượng nói: "Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền".

Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó.

Vương mừng lắm, nói: "Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh.

Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi".

Nói xong cho chèo thuyền đi, Kỵ binh giặc đuổi theo không kịp.

Vương đến Vạn Kiếp, chia quân đóng giữ ở Bắc Giang.

4.

Cuộc đàm phán của Trần Khắc Chung

Ngày 12, giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ "Sát Thát" bằng mực vào cánh tay, chúng tức lắm, giết hại rất nhiều.

Rồi chúng đến Đông Bộ Đầu, dựng một lá cờ lớn.

Vua muốn sai người dò xét tình hình giặc mà chưa tìm được ai.

Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung tiến lên tâu rằng: "Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi".

Vua mừng, nói rằng: "Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!"

Rồi sai đem thư xin giảng hoà.

Ô Mã Nhi hỏi Chung: "Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ "Sát Thát", khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm".

Khắc Chung đáp: "Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó.

Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc Vương tôi không biết việc đó.

Tôi là cận thần, tại sao lại không có?".

Nói rồi giơ cánh tay cho xem.

Ô Mã Nhi nói: "Đại quân từ xa tới, nước ngươi sao không quay giáo đến hội kiến, lại còn chống lệnh.

Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?".

Khắc Chung nói : "Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên đóng quân ở đầu biên giới, đưa thư tin trước, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi.

Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người".

Ô Mã Nhi nói: "Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc Vương ngươi nếu đến hội kiến thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may.

Nếu cứ chấp nê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát".

Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo các tướng rằng: "Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xuống là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối.

Có thể nói là không nhục mệnh vua.

Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được".

Sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp.

Ngày 13, giờ mão, Khắc Chung từ chỗ quân Nguyên trở về.

Giặc đuổi đến, đánh nhau với quan quân.

5.

Cái chết của Trần Bình Trọng

Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng (Vương là dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thuỵ Bảo, ông cha làm quan đời Thái Tông, được ban quốc tính) đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc, nay là bãi Mạn Trù) bị chết.

Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: "Có muốn làm vương đất Bắc không?".

Vương thét to: "Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc", rồi bị giết.

6.

Trần Ích Tắc

Trước kia, khi Ích Tắc chưa sinh, Thái Tông mộng thấy thần nhân ba mắt từ trên trời xuống nói với Thái Tông: "Thần bị thượng đế quở trách, xin thác sinh là con vua, sau lại trở về phương Bắc".

Đến khi Ích Tắc sinh, giữa trán có vài vết lờ mờ như hình con bắt, hình dáng giống hệt người trong mộng.

Đến 15 tuổi, thông minh hơn người, làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích.

Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam.

Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích Tắc xin hàng chúng để mong được làm vua.

Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương.

Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc. 
 
Back
Top Dưới